📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Dị hương - Sương Nguyệt Minh 🔒

10 trả lời, 19 lượt xem — Trang 1 / 1
Tập truyện ngắn Dị hương
Tác giả: Sương Nguyệt Minh
 
 
Dị hương
 
Nhợt nhạt. Khô xác. Và thất sắc.
Nằm đườn đưỡn tựa hồ cái xác vô hồn. Dị hương sang trọng quý phái thanh tao biến mất. Yểu điệu dịu dàng chỉ còn trong hình cũ bóng xưa. Không còn là mỹ nhân thanh mai trúc mã thuở nào. Chẳng còn ngọc ngà sắc nước hương trời ngày trước. Cứ mỗi lần ân ái xong là Đức phi tam cung Ngọc Bình như con cá ươn nằm trên thớt. Hết sạch hứng thú, lòng lạnh nguội, Nguyễn Ánh chỉ muốn đạp Đức phi ra khỏi long sàng. Đã đôi lần Ánh tức giận và chán chường, muốn gọi thái giám đem nàng đang khỏa thân héo rũ giam vào lãnh cung. Cái gì đã làm cho nàng tàn tạ, ươn lạnh?
Cung tần qua đêm với Ánh, dù ngực hẳn đầy vết hồng đỏ của bàn tay thô ráp cầm kiếm, hai đùi nhiều vết răng bầm tím, sáng ra vẫn nhuận sắc, nuối tiếc trong niềm hân hoan, mắt sáng long lanh, mặt mày rạng rỡ. Mỹ nữ trong vòng tay vần vò của Ánh, dù khi chính ngọ hay lúc chiều tà, ái ân xong vẫn cười tình tứ, mắt ướt rượt, thịt da căng mẩy, no nê, thỏa mãn. Còn Đức phi tam cung, Ánh chiều chuộng nâng niu, vuốt ve, mơn trớn, đam mê cuồng nhiệt. Vậy mà nàng vẫn ở ngoài trái tim tráng niên sung mãn của Ánh. Điều gì khiến lòng nàng băng giá, thờ ơ? Ánh không cắt nghĩa được. Còn một điều kỳ lạ, cứ mỗi lần Ánh ra khỏi long sàng mặc quần áo thì thân thể Đức phi lại nhuận sắc hồng hào, tươi mởn. Dị hương lại vấn vít quyến rũ không dứt... Cũng là điều Ánh không hiểu nổi.
* * * * *
Nguyễn Ánh nhớ lại.
Vó ngựa phi đến bờ sông An Cựu thì dừng đột ngột. Con ngựa tía chân xước sát bởi cành lá quệt gai đâm không chịu cất thêm nửa bước. Nó nghênh nghênh đầu lắng nghe những câu hát của bọn trẻ chăn trâu thả ra khắp triền sông.
Hơn hai mươi năm trường
Nếm mật nằm gai
Chí cao ngút trời xanh
Vó ngựa xéo nát bàn dân thiên dạ
Trước mặt máu chảy đầu rơi
Sau lưng xương trắng đống gò...

Sự lạ? Một vùng hoang vu. Quạ đen bay rợp trời. Xác binh lính chết như ngả rạ. Đồ khí giới quẳng vô tội vạ. Ngựa què nằm bẹp, máu tím bầm đen. Ruồi trâu bay vù vù. Xe mộc bỏ vương vãi. Đồng không mông quạnh. Xơ xác. Tiêu điều. Thật ai oán thê lương nước lửa và ống đồng. Ánh vốn lạnh lùng đến độc nghiệt, cũng không khỏi xót xa, cô đơn và buồn.
Đường dọc ngang bôn tẩu
Dị hương bay bất chợt
Vương tướng lòng dạ xốn xang
Ngỡ ngàng say người đẹp châu sa
Đôi chân đạp đổ thành phá lũy
Bồi hồi không qua ải mỹ nhân.
- Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai chồng làm vua.

Những câu hát xa gần man mác, hoang liêu vẫn cứ rót vào tai người máu lạnh.
Sinh thời Ánh trọng võ hơn văn. Đất nước tao loạn, ru rú thù tạc những vần thơ cũ mèn nhạt nhẽo thử có ích gì? Chẳng ai lấy được thiên hạ từ những bài thơ kẽo kẹt, à ơi. Bất quá, mua vui được chốc lát qua miệng con hát con đào. Lưỡi gươm chém vào trời xanh mới đáng mặt anh hùng. Ánh rất ghét bọn hủ nho làm thơ. Chúng thường xúm vào tâng bốc, ngợi ca Ánh như một bậc kỳ tài trong thiên hạ chí lớn ngùn ngụt. Cứ như chỉ có Ánh mới đáng mặt lấy thiên hạ từ tay anh em Nguyễn Huệ. Nghe mãi cũng chán. Thực ra, bọn hủ thơ chỉ rặt một lũ ăn bám. Chẳng ích tóp gì. Huống hồ mấy câu hát vặt của trẻ con...
Nhưng sao bọn trẻ chăn trâu cắt tóc để chỏm lại hát:
Gái đâu có gái lạ đời.
Con vua lại lấy hai chồng làm vua?

Có điềm gì tốt hay lành như lời sấm truyền đang rơi xuống bầu trời Phú Xuân?
* * * * *
Dưới trướng của Ánh có một nhân vật rất kỳ dị tên là Trần Huy Sán. Sán vốn là bộ hạ của Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Huệ thấy Chỉnh hẹp hòi, đố kỵ, gian hùng lòng dạ hai nơi nên giết đi. Sán bơ vơ ở Thăng Long một thời gian rồi bỏ vào Nam theo Nguyễn Ánh. Sán người lùn tịt. Chân tay ngắn tủn. Cổ bé, dài ngẵng, chằng chịt những mạch máu như đường gân xanh. Nhưng, đầu to như cái chõ xôi. Tóc búi tó củ hành to như vốc tay. Thật dị biệt. Trí lực hơn người. Tính tình khảng khái. Gàn dở hết chỗ nói. Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Y có cái yếm thắm nhỏ và hai cái dải đứt rời nhau, lúc nào cũng mang theo bỏ trong túi áo. Lúc ngủ thì đắp cái yếm lên mặt. Nhòm rất tức cười. Có một điều kỳ lạ, yếm thắm có mùi hương rất dị biệt. Mỗi lần lấy yếm ra khỏi túi áo là hương bay dìu dịu thoang thoảng xa gần quyến rũ. Bí ẩn hương thơm kỳ lạ ấy từ đâu thoảng đến, chỉ mình y biết. Y có tài văn thơ, hiểu nho y lý số. Những ý nghĩ dù u tối hay ranh mãnh, sáng sủa trong đầu Ánh đều không qua mắt Sán. Ánh tin dùng lắm, luôn cho đi theo cùng trời cuối đất. Kho tàng tri thức Nho học của Sán đã giúp Nguyễn Ánh được cái danh thâm sâu, khỏi tiếng võ biền mà cánh sĩ phu Bắc Hà cao ngạo thường mỉm cười coi rẻ.
* * * * *
Thấy minh chủ mặt hằn những điều âu lo, ngẫm ngợi, băn khoăn, Trần Huy Sán liền phán rằng :
- Hạ thần nghĩ, cứ theo những câu hát kia thì âu cũng là điềm trời thả xuống nhân gian. Phen này chúa vương lấy được Phú Xuân, thống nhất bờ cõi là chuyện đại sự dễ như thò tay vào lồng bắt chim sẻ. Nhưng, chúa vương cũng sẽ bắt đầu sống vật vã thật với chính lòng mình, đó cũng là sự lớn của đời người.
Giương cặp mắt nhìn u ám đầy nghi ngờ, Ánh bảo :
- Ngươi nói ta không hiểu. Ta đồ rằng riêng ý tưởng này cao siêu quá, ngươi lại nói những điều viển vông như đám nho sĩ Bắc Hà rồi. Rõ nực cười.
Sán lại tâu :
- Thưa chúa vương. Ý chí phục tộc của vương quyết liệt cháy ngùn ngụt như ngọn lửa trong lò bát quái. Người đứng trên thiên hạ nên không thèm để ý đến các điều nhỏ nhặt trong cõi nhân gian và chính mình. Song thần nghĩ, thực ra chúa vương tự hiểu được mình rồng mới là điều khó nhất, hiểu lòng thiên hạ chỉ mới là cái khó thứ hai thôi.
- Sao ngươi có lắm điều tâm sự thế? Lòng dạ đang ngổn ngang rồi. Có phải ngươi đã nhìn thấy trước mọi việc sẽ xảy ra với ta?
- Chính phải. Quang Toản là tên bất tài, bạc nhược. Chúa vương sẽ lấy được tất cả những gì thuộc về Toản kể từ cõi bờ thiên hạ, cung tần mỹ nữ đến con chó con lợn. Chung quy cũng bởi đại anh hùng Nguyễn Huệ vắn số.
Nghe Sán nói, mặt Ánh tối sầm lại, rút phắt gươm ra, quát :
- Ngụy Huệ thiên tài thực, nhưng chỉ là tên giặc cỏ.
Sán vươn cổ cò dài ngẵng nổi chằng chịt những đường gân xanh rợn chờ một ánh chớp. Ánh chùn tay, tra gươm vào bao. Sán im lặng, không nói gì, lui ra. Sán vừa đi vừa nghĩ: Mai mốt chúa thượng sẽ hân hoan, mình thì khốn nạn, bẽ bàng không kể xiết. “Sự đâu có sự lạ đời/ Con vua lại lấy hai chồng làm vua”. Miệng Sán cứ lảm nhảm mãi, như thằng tâm thần.
* * * * *
Nguyễn Ánh lấy được Phú Xuân dễ như trở bàn tay. Được một ngày hân hoan mừng vui, hôm sau buồn hẳn. Ánh đeo gươm đi ra đi vào rồi ngồi ủ dột nhìn sông Hương xanh rợn phẳng lì như ngưng chảy. Mấy con đò vắng khách neo vào bờ, có lẽ chủ sợ hãi loạn binh đao bỏ của chạy lấy người. Nguyễn Văn Thành đang đốc quân truy quét, bắt bớ gia thất, quan lại Tây Sơn lẩn trốn và chuẩn bị cho ngày ra Bắc đánh Thăng Long. Y thấy minh chủ lặng trầm liền hỏi :
- Phú Xuân đã vào tay chúa công. Ba quân nhảy nhót reo ca. Sao Chúa vương có điều gì không vui?
Ánh thở dài, bảo :
- Giờ ta mới thấy Sán nói đúng. Ngụy Huệ là bậc đại anh hùng thiên hạ thực. Huệ chết bất đắc kỳ tử, ta mới lấy Phú Xuân dễ dàng như đi vào chỗ không người. Vậy phỏng có vẻ vang kiêu hãnh gì với bậc Chúa vương đại nguyên súy như ta? Tiếc y không còn sống để ta thi thố đường gươm vó ngựa.
Trần Huy Sán lúc đó đang ngồi thảo bài chiếu yên dân, liền ngừng bút, bẩm :
- Thưa Chúa vương, đất nước mệt mỏi, binh đao loạn lạc đồng không xương trắng đã quá lâu. Chả lẽ, chúa công lại muốn Nguyễn Huệ sống lại để thi thố tài năng trên xương máu dân đen con đỏ?
- Ta biết... ta biết... rồi binh đao cũng đến hồi kết. Ngụy Huệ hoặc ta chết sớm thì cuộc chiến tranh mới mau chấm dứt. Nay mai ra Bắc, bắt ngụy Toản cũng chỉ dễ như bắt cua bỏ giỏ. Chả lẽ nước Nam này chỉ còn mỗi mình ta là bậc đại anh hùng? Bờ cõi sẽ thuộc về ta, hạt lúa củ khoai trong thiên hạ, đến cung tần mỹ nữ nhà Tây Sơn cũng thuộc về ta nốt.
Sán nghĩ thầm trong bụng: Thiên hạ này chỉ có hai kẻ cao ngạo, Sán là một, có dễ Ánh là người thứ hai. Trước sau rồi mình cũng chết dưới lưỡi gươm của Ánh. Lòng dạ Sán ngao ngán, nhớ lại câu hát, lòng vừa phục Ánh lại vừa thầm ghen với Ánh.
* * * * *
Phú Xuân yên ổn, Ánh muốn lòng tĩnh lại, tìm về những ký ức mù xa thiếu thời êm đềm và đẫm nước mắt chạy loạn Tây Sơn. Ánh bảo Trần Huy Sán kêu quân lấy thuyền rồng của Quang Toản bỏ lại, ngược dòng Hương Giang.
Nước sông xanh ngắt. Mây trôi dưới dòng. Bao la một vùng non sông cẩm tú. Ánh đứng ở đầu mũi thuyền. Tay nắm đốc gươm báu đeo hông. Đôi mắt hướng lên phía thượng ngàn. Vẫn buồn. Cô độc.
Thuyền ngược dòng đến đoạn ngang Hương Uyển Sơn, Ánh nhìn núi non giống như con sư tử đang nằm thò đầu xuống sông uống nước, liền hỏi một viên quan già. Y kính cẩn tâu rằng :
- Chúa vương bôn tẩu thiên hạ hơn hai mươi năm quên mất rồi ư? Xưa núi này có tên Hương Uyển Sơn, sau đặt lại là Ngọc Trản Sơn, dân gian gọi nôm là núi Chén Ngọc; bởi trên đỉnh núi có chỗ đất trũng xuống, đường kính vài mét, chung quanh có vòng đá dựng như bờ giếng. Hễ mưa xuống thì nước đọng lại trông như cái chén đựng nước trong. Ngày xưa người Chàm thờ nữ thần Ponagar ở Hương Uyển Sơn. Sau đó người Việt theo Thiên Tiên Thánh Giáo tiếp tục thờ bà với danh xưng...
Ánh bảo :
- Ta phải lìa xa Phú Xuân chạy nạn binh đao từ thuở thiếu thời. Những nơi linh thiêng như thế chưa kịp đến. Thật tiếc lắm thay.
Viên quan già khép nép tâu tiếp :
- Thưa Chúa vương! Nữ thần Ponagar là con của Ngọc hoàng Thượng đế được sai xuống trần gian. Bà tạo ra trái đất và các loại gỗ, kỳ nam, lúa gạo,... và làm cho chúng tỏa hương. Ngọc Trản Sơn lúc nào cũng có mùi hương thơm lạ lan tỏa vấn vít.
Ánh nghe thấy có vẻ lạ lẫm và thần bí lắm, bèn vẫy quân chèo thuyền cập bến. Bấy giờ, trong đầu Trần Huy Sán đang đầy ắp sự nghĩ ngợi mông lung, vội bừng tỉnh. Y liền quỳ rạp xuống can ngăn :
- Đêm trước vào thành Phú Xuân, hạ thần thấy hồn khí ngút trời. Hồn phách rồng, hổ, giao long, rắn rết, khỉ, chó, lợn... chạy loạn tán loạn, bỏ cung điện thăng thiên tìm nơi lẩn tránh. Hạ thần đồ rằng: Ngọc Trản Sơn này cũng là nơi ẩn náu của gia thất hoặc quan quân nhà Tây Sơn. Xin Chúa vương cẩn trọng.
- Đừng lo. Ta ngửi mùi ta biết ở nơi nào có binh khí, tên độc, nơi nào có mùi hơi người, hơi cầm thú. - Ánh đeo gươm bước ra khỏi thuyền.
Phía Tây mặt trời đã gác núi. Hoàng hôn đỏ bầm như máu. Sông Hương xanh trong cũng quặn mình ngả màu đỏ hồng lai láng.
Bỗng nhiên lòng dạ Ánh xao xuyến bởi mùi hương lạ ở đâu đó thoảng bay lãng đãng. Đúng như viên qua già tấu, mỗi bậc đá xanh lên núi lại ngửi được mùi hương đậm hơn. Bước thêm vài chục bậc nữa thì gặp người con gái mặc áo thôn nữ. Thị có vẻ ở nơi thâm cung nhàn nhã no đủ, chẳng giống thôn quê đói rách. Tóc đen óng ả buộc sau gáy thả dài chấm gót. Cổ trắng. Tay cũng trắng. Thị đứng án trước mặt Ánh gần như cản đường. To gan lớn mật nhỉ! Mặt mũi sáng sủa, nhưng lem nhem vết nhọ than. Ánh hỏi :
- Người có biết hương thơm lạ lùng từ đâu bay tới?
Thị lo sợ. Mặt lộ vẻ hốt hoảng :
- Dạ. Hoa cỏ... núi Hương Uyển.
- Thì đã rõ! Ta bôn tẩu khắp Đàng Trong, có loại cây cỏ nào ta chẳng biết. Nhưng, còn một hương thơm lạ lùng nữa không phải từ thảo mộc.
Thị lại càng ấp úng :
- Thưa! Từ thân thể... tiện thiếp... tỏa ra ạ.
Ánh tức giận, thoáng nghĩ: Con hầu người ở chẳng phải. Cành vàng lá ngọc càng không. Áo xô gai. Chân đất. Như đám đàn bà con gái lần đầu đi làm thợ sơn tràng. Lại dám khi quân ư? Ánh đưa một đường gươm. Chớp lóe sáng lên phạt ngang cổ thôn nữ. Máu đỏ phun lên như mạch nước ngầm hở miệng. Lọn tóc dài tung lên trời bay liệng hình con rồng rồi quấn vào cành cây.
Ánh bước chục bậc đá xanh nữa lại một thị nữ xinh xắn, ưa nhìn, án giữa đường dốc lên. Thêm một con rồng tóc bay lên trời xanh. Ánh lên đến đỉnh Ngọc Trản Sơn thì cũng kịp vung gươm phạt bay năm đầu thị nữ.
- Ta muốn biết hương thơm dị biệt ở đâu bay đến?
- Hoa cỏ đất trời Ngọc Trản Sơn chỗ nào cũng có, thưa tráng sĩ.
- Bàn chân ta xéo nát thiên hạ. Có loại cỏ cây nào ta không biết. Có một thứ hương thơm quý phái nữa không phải từ thảo mộc.
- Dạ... thưa. Từ thân thể tiện thiếp.
Ánh lại vung gươm nhưng nửa chừng thì hạ xuống. Ánh bỗng chùn tay không dám chém người người đẹp thứ sáu.
* * * * *
Trong điện thờ, lòng dạ Ánh vẫn bồn chồn. Ánh bước ra ngoài. Lai láng ánh trăng non vàng. Mùi hương lạ cứ vấn vương đâu đó. Tiếng nước xối chảy tong tóc lúc xa lúc gần. Ánh bảo quan quân đứng chờ. Dường như ma đưa lối quỷ đưa đường, không, có thể là nữ thần Ponagar dẫn dụ Ánh đi đến bên giếng nước.
Không thể tin được! Một cô gái đẹp như nữ thần Ponagar khỏa trần đang tắm ở thềm giếng. Một tì nữ quăng gầu múc nước. Thân thể ngọc ngà. Những đường cong mẩy nuột nà tưới đẫm trăng non. Ánh bèn lẩn vào bên lùm cây, kéo cành lá, mặt đần ra mê đắm nhìn mỹ nhân tắm. (Sau này Trần Huy Sán viết Phú Xuân thực lục đổ ấn cho Ánh nhòm trộm. Bởi khi nhìn thấy con gái đẹp tắm thì hoàng đế quyền nghiêng thiên hạ hay thằng ăn mày rách rưới cũng giống nhau thôi. Y còn bình rằng: Thật ra, Ánh dòng vương giả hoàng thân quốc thích, nhưng bôn tẩu 25 năm trong thiên hạ gian nan, vất vả, nhiều phen ngủ bờ ruộng chui bụi cây, rập rạ, khốn cùng, tuyệt vọng... Bấy giờ, bỗng dưng bắt gặp con gái đẹp khỏa thân tắm giữa đất trời cây cỏ thì như lạc vào cõi vừa trần tục vừa thanh cao, không nhòm trộm mới là giống nửa đàn ông nửa đàn bà. Điều này không biết thực hư thế nào).
Mùi hương lạ lúc ngào ngạt lúc vấn vương thoảng bay. Ánh nhận ra mùi hương da thịt con gái đang hứng tình nồng nàn trộn lẫn mùi bạch lan đài các và cỏ thi dân dã quý hiếm. Ánh ngẩn ngơ bởi dị hương và vẻ đẹp con gái khỏa thân giữa cây cỏ thiên nhiên. Bất ngờ, tay Ánh vô tình làm gẫy cành cây nhỏ. Con tì nữ ngang ngạnh hắt gầu nước về phía tiếng động và lớn tiếng quát. Quần áo người hùng vừa lấy kinh thành Phú Xuân ướt lướt thướt. Ánh bèn phải bước ra.
Trăng đầu tháng chênh chếch. Bóng Ánh đổ dài kéo thành vệt đến giếng nước. Mỹ nhân vội khép hai đùi, một tay che hai trái tuyết lê căng mẩy, một tay che đám lông mu đen mượt. Thực ra, mỹ nhân không cần phải hốt hoảng che đậy vì chỏm đầu của Ánh đã đổ bóng đen lên ngực nàng.
- Tự nhiên... Nàng cứ tự nhiên như thể ta chưa từng nhìn thấy.
Mỹ nhân có vẻ trấn tĩnh lại song vẫn lóng ngóng, chân gạt đổ ào lu nước. Cái lu gốm đất nung lăn lông lốc. Ánh lưỡng lự, nửa muốn bước vòng qua thành giếng tiến lại gần, nửa muốn đứng im nhìn mỹ nhân trong bóng trăng mờ ảo. Cuối cùng thì Ánh quay gót trong sự ngập ngừng nuối tiếc.
- Tráng sĩ đã tha mạng cho tiện thiếp, thì hoàng hậu chắc chắn sẽ bình an. Xin hoàng hậu đừng sợ.
Hoàng hậu! Sao lại là hoàng hậu? Thảng thốt trong lòng, Ánh quay lưng, bước lại. Mùi hương dị biệt lại ào vào mặt Ánh. Con tỳ nữ đứng án ngữ che gần hết thân người đẹp. Ánh dùng sống gươm khều xiêm y đang treo vắt vẻo trên cành cây bứa hất mạnh. Xiêm y bay vèo qua giếng nước. Tì nữ giơ hai tay đón được.
- Mặc xống áo vào cho mỹ nhân.
Ánh nói xong rồi ngồi vắt lên thành giếng xây bằng đá xanh. Bao gươm xệ một bên hông. Bóng Ánh đổ xuống hòa lẫn mặt nước tối om. Lòng dạ ngẩn ngơ, miệng Ánh cứ lẩm bẩm :
- Mỹ nhân... Hoàng hậu... Mỹ nhân...
Người đẹp đã trấn tĩnh lại bước đến gần, buông gót nhẹ nhàng, êm ái, giọng nói thanh và tự tin, phong thái ung dung :
- Này tướng Gia Định. Ngươi hãy về nói với Nguyễn Vương rằng ta đã chờ cái thời khắc này từ lâu rồi.
Ánh sửng sốt. Bao nhiêu cái đầu lăn lóc dưới đôi chân bôn tẩu của Ánh. Nàng đã không hề sợ lưỡi gươm sáng lạnh. Ánh thầm khen và kêu quân hầu đưa mỹ nhân xuống thuyền, rồi đứng dậy đi trước.
Còn một người nữa lòng dạ đầy ngổn ngang bước chân nặng chình chịch đi theo sau là Trần Huy Sán. Y đã chợt nhận ra người xưa. Vẫn vẻ đẹp trẻ trung ấy, nhưng đã pha màu đậm đà. Y cũng nhận mặt bọn tì nữ ăn mặc theo lối nhà quê trốn sự truy tìm của quân nhà Nguyễn. Y bồi hồi nhớ lại thời còn ở kinh kỳ Thăng Long...
* * * * *
Mỹ nhân là cô bé lên mười hai tuổi đã phổng phao, sáng rỡ, tóc dài đổ óng mượt chấm gót. Y mê mẩn nàng đến nỗi mỗi khi gặp là cứ lẽo đẽo bước sau lưng. Lại làm không biết bao nhiêu thơ lấy cảm hứng từ nàng. Một lần có trận lốc khủng khiếp. Vòi rồng cuốn cả kho tiền đồng, quần áo vua quan, xiêm y cung tần mỹ nữ trong cung bốc lên trời rồi ào ạt ném tóe loe, vương vãi ra ngoài thành. Lúc đó, y đang ngẩn ngơ đi lẽo đẽo sau người đẹp cũng bị chìm trong lốc giông. Lòng tham mỗi người một vẻ. Đám thảo dân, binh lính đi tuần tranh nhau nhặt tiền đồng, trang phục vua quan, xống áo cái ướt cái khô... đến bươu đầu mẻ trán trong mù bụi. Chỉ riêng y lại chạy đuổi theo cái yếm thắm chao liệng như cánh diều hồng trên không trung. Chân y ngắn tũn chạy liến thoắng đến mức đám tì nữ cười ngặt nghẽo, quên cả cơn mưa tiền, mũ mão, xiêm áo. Cuối cùng y cũng nhẩy cẫng lên tay nắm “cái diều hồng”. Lập tức lòng dạ Sán mê mẩn bởi mùi hương kỳ lạ thoang thoảng từ cái yếm. Bọn tì nữ theo hầu nhận ra yếm thắm của mỹ nhân.
- Trả lại yếm cho công chúa út đi.
Sán không chịu, còn ấp cái yếm thắm lên mặt. Bọn tì nữ quát :
- Đồ vô lễ. Ngươi muốn chết à?
Sán cứ khư khư giữ chặt vật báu trong tay. Rồi vươn cổ như cổ cò gân xanh nổi chằng chịt ra đợi chém.
Công chúa nhỏ hồn nhiên nhìn cái đầu to đùng cắm vào cổ dài ngẵng kỳ dị thích thú quá, bảo :
- Yếm nhặt được là yếm vô hồn. Ngươi cầm giữ phỏng có ích gì?
Sán lưỡng lự đôi chút, dứt phắt hai cái dải yếm rồi mới trả. Công chúa nhỏ không giận. Lúc đó, tự dưng nàng cảm động, trong lòng trào lên một niềm yêu quý không cắt nghĩa được. Cả đám quan quân và thảo dân tranh nhau hôi của vòi rồng cuốn không ra thể thống gì. Chỉ mỗi mình y bỏ qua tiền của, theo đuổi cái yếm thắm. Cũng là một con người dị thường.
- Yếm không dải còn làm gì được nữa. Thôi, ta tặng ngươi.
Y bất ngờ quá, đứng trân trối.
- Tiếc rằng ngươi không dũng mãnh anh hùng như Nguyễn Huệ; kỳ tài, nhẫn nhịn nuôi chí đoạt lại thiên hạ như Nguyễn Ánh để ta chọn làm chồng. Ánh còn bôn tẩu nơi chân trời góc bể. Huệ đã lấy Ngọc Hân chị ta, lại cũng đã chết sớm rồi. Thật hoài phí lắm thay.
Công chúa than thở rồi vẫy đám tì nữ bước đi. Những bóng hồng xa mờ mà Sán vẫn đứng nghệt mặt nhìn theo. Tay nắm dải, tay nắm yếm chặt cứng...
* * * * *
Đèn lồng và nến sáng rực. Mặt nước sông Hương lung linh ánh trăng non lẫn ánh đèn. Ánh khoác trang phục màu vàng uy nghi, ngù vai, vương hiệu lóng lánh trên ngực áo. Bấy giờ, mỹ nhân mới nhận ra Nguyễn Vương, lòng đầy cả thẹn, e lệ và mừng vui. Thực ra, nàng nhận ra cái thân hình ngắn tũn kỳ dị và cái mặt bần thần của Trần Huy Sán trước, muốn hỏi thăm vài câu về Thăng Long mà chưa tiện.
Giọng vương giả, quyền uy, Ánh hỏi :
- Có phải nàng là công chúa Ngọc Bình - con gái vua Lê Hiển Tông?
Khoan thai, ung dung tự tại, mỹ nhân đường hoàng thưa :
- Chính phải. Thần thiếp còn là Chính cung Hoàng hậu nhà Tây Sơn Cảnh Thịnh Hoàng đế Nguyễn Quang Toản, thưa Nguyễn Vương!
Ánh cau mày, tức giận, quát to đến nỗi bao gươm đeo bên hông gõ xuống ghế rồng cạch cạch. Không gian tràn ngập mùi binh khí lạnh lẽo rợn đến ghê người :
- Tây Sơn chẳng qua là một lũ giặc cỏ, chẳng có tên nào là đế vương trong mắt ta. Ta không muốn nghe nàng nhắc đến tên Toản đớn hèn, bất tài.
Mỹ nhân bỗng thở dài. Các huyệt, và những lỗ chân lông đóng chặt cứng. Mùi dị hương biến mất. Nỗi buồn tê tái lộ rõ vẻ thất vọng trên gương mặt quý phái :
- Thời nhỏ, thần thiếp nghe đồn chỉ có Nguyễn Vương mới sánh được bậc đại anh hùng trong thiên hạ Nguyễn Huệ. Thần thiếp đã lâu vốn lòng kính phục, yêu dấu. Té ra Nguyễn Phúc Ánh cũng hẹp hòi nhỏ nhen chưa bằng Quang Toản chồng ta vậy.
Nói rồi mỹ nhân lao đầu vào sập rồng tự sát. Ánh nhanh tay túm được vạt xiêm. Mỹ nhân mất thế, loạng choạng đổ nhào. Ánh đỡ được mỹ nhân, ôm choàng vào lòng. Thân thể Ngọc Bình mềm oặt trong tay Ánh. Lụa xiêm mềm mại mát rượi. Hơi thở mỹ nhân nóng hổi vấn vít mùi hương. Máu bốc hỏa lên đầu Ánh dịu hẳn. Tay phải Ánh vẫn nắm chặt mảnh xiêm y vừa bị xé toạc.
- Sao nàng lại liều thân như thế. Nàng đã ở bên ta đâu mà biết được đâu là vương giả đâu là tiểu nhân, đâu là vàng thau?
Mỹ nhân vẫn nhắm hờ mắt, như chết lịm. Nỗi buồn lặng thầm hằn trên gương mặt khả ái làm vẻ đẹp của nàng càng thêm mặn mà. Lòng Nguyễn Vương quặn thắt, suýt nữa thì làm vỡ ngọc quý :
- Sao mỹ nhân nói rằng, mỹ nhân chờ đợi thời khắc gặp Ánh này đã lâu?
Ngọc Bình chợt nhớ ra điều gì đó. Nàng như từ xa xăm trở lại trần gian.
- Nguyễn Vương thừa biết thần thiếp chờ đợi điều gì rồi còn hỏi.
Nói rồi, Ngọc Bình nép sát đầu vào ngực Ánh. Lòng dạ Ánh nôn nao, cồn cào như sóng biển Tây Nam. Bọn Lê văn Duyệt, theo hầu lúc đó bối rối nửa muốn đi nửa ngồi lại. Trần Huy Sán rầu lòng quá, lại thêm chút bẽ bàng, thò tay lấy yếm thắm trong túi áo ra lúc nào chẳng biết. Mùi binh khí khét lẹt lạnh lẽo nhạt dần, mùi dị hương thoảng đưa. Ánh chợt nhìn thấy Sán cứ bần thần mân mê yếm thắm. Ánh lộn tiết, cho rằng Sán chơi trò ma thuật phù thủy, bèn quát lính lôi ra chém. Y lại vươn cổ ra.
Ngọc Bình ngăn Ánh lại, kể vắn câu chuyện vòi rồng hút kho tiền ở kinh kỳ Thăng Long, rồi tâu :
- Thưa Nguyễn Vương! Thần thiếp cũng không ngờ Sán giữ cái yếm từ dạo ấy. Thần thiếp thật cảm động.
Ánh bảo :
- Hóa ra, dị hương lãng đãng tỏa ra từ cái yếm thắm của nàng chứ không phải từ cơ thể thằng khốn này.
Đoạn Ánh quay ra bảo Sán :
- Vậy là, người hạnh phúc trước cả ta rồi.
Sán nhét cái yếm thắm vào túi rồi rũ tay áo, cung kính tâu :
- Dạo còn ở kinh kỳ Thăng Long, hai đấng kỳ tài mà công chúa khao khát được thành thân hoặc là Nguyễn Huệ hoặc Nguyễn Ánh, chứ không phải hạ thần.
Bấy giờ Lê văn Duyệt mới lên tiếng :
- Lúc nãy, Trần Huy Sán có ghé vào tai thần hỏi rằng: Có thấy bóng con giao long cái đang lướt trên mặt sông không? Hạ thần nhìn chỉ thấy trăng, nước, khói sương và cái dáng Ngọc Bình rất mềm mại, co rút, uyển chuyển bước lên thuyền. Lòng hồ nghi vô cùng mà không dám nói. Vì mối an nguy cơ nghiệp, xin Chúa vương cẩn trọng.
Trần Huy Sán đứng bên Duyệt, tâu :
- Hạ thần nghe đồn thổi từ thời còn ở kinh kỳ Thăng Long, công chúa Ngọc Bình thường ra sông Nhị Hà tắm và nô giỡn với con giao long đực. Chuyện thực hư thế nào, chỉ có thể hỏi nàng mới biết được.
Ánh nghĩ, bọn hạ thần này quá lắm. Chúng đang dệt huyền thoại và ngăn cản bậc đế vương. Ánh đưa ánh mắt soi mói nhìn mỹ nhân tìm nỗi đồng cảm. Nàng cung kính.
- Quả thực. Hồi còn ở kinh kỳ, thần thiếp có trốn vua cha ra hồ Dâm Đàm tắm chứ không phải tắm sông. Thần thiếp có nô giỡn với bọn thủy tộc cua cá, ba ba, thuồng luồng, chứ tịnh như không biết giao long là con gì.
Duyệt đang định tâu thì Ánh phẩy tay, bảo :
- Thôi, các ngươi không nói nữa. Nàng là giao long càng quý, là thuồng luồng cũng chẳng sao. Đừng dèm pha ta nữa.
Lê văn Duyệt vẫn cố nài nỉ.
- Chúa thượng bình sinh khắp thiên hạ, binh đao nước lửa từng qua, lụa là châu báu, gái đẹp không thiếu. Hà cớ gì phải hạ mình trước con đàn bà vợ ngụy Quang Toản? Bọn thần lấy làm đau lòng và bẽ bàng lắm lắm.
Ánh cười gằn, bảo :
- Bọn các ngươi không nghe câu thơ cổ: “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng”. Nàng còn hơn cả danh tướng. Ta được nàng như được nửa cuộc đời.
Cả bọn thấy Ánh cười gằn lạnh như ánh chớp đường gươm thì không ai bảo ai, đều lui ra.
* * * * *
Đêm ấy, Ánh hạ lệnh neo thuyền rồng giữa sông Hương, bày trò hát múa. Nửa chừng cuộc vui, Ánh đã xao xuyến, thổn thức nhìn Ngọc Bình âu yếm lắm. Ánh cảm thấy có lỗi với nàng, than thở, ra chiều thương xót bọn cung nữ đã bị mình chém ngang cổ. Mỹ nhân nhìn Ánh, trìu mến cười hiền hậu, thưa :
- Ơn trời! Vương đã không phạt đầu đứa cung nữ nào của thiếp. Của đáng tội, chúng mất mái tóc dài cũng tiếc, nhưng được toàn thân. Chúa công không thấy chúng đang xúm quanh thiếp đấy sao.
Ánh kinh ngạc lắm, chẳng hiểu mình đã làm gì với đám cung nữ. Dọc đường cầm gươm lên Ngọc Trản Sơn cứ hư thực tựa hồ như trong mơ vậy. Nhìn đám cung nữ xinh đẹp của Ngọc Bình, tóc đứa nào cũng bị phạt thả lòa xòe chấm vai, trông rất ngộ. Ánh cứ luôn miệng lẩm bẩm :
- Chả lẽ... chả lẽ... gươm của ta chưa vấy máu cung nữ.

Nguyễn Ánh uống rượu đến tận khuya rồi vào khoang đã kê long sàng ngủ với Ngọc Bình. Ánh cầm gươm đưa những đường tuyệt kỹ như múa, nhẹ hơn gió thoảng. Loáng một cái cắt nát xiêm y, lụa bay tung lên rồi rơi xuống tơi tả. Như bị bóc trần, mỹ nhân khỏa thân hoàn toàn, mà mũi gươm không hề chạm đến da thịt ngọc ngà. Thuyền rồng lắc lư, dềnh lên dập xuống. Sông Hương nổi sóng. Tiếng rên rỉ trong niềm khoái lạc tột cùng của Ánh tựa hồ tiếng binh khí chạm vào nhau lan ra mặt sông làm váng đầu quan quân. Cá chép ở thượng nguồn xuôi về. Con đực bám đuôi con cái, quẫy ùm ũm giao phối không đợi mùa động dục. Cả khúc sông Hương nổi đầy màng nhầy trong suốt lấm tấm trứng cá, nồng nàn mùi đực cái. Từ lính, quan đến cung tần không ai ngủ nổi.
Lại có một người ngũ đoản, cổ dài, đầu to đứng còm cõi ở mũi thuyền. Một lúc sau, cũng không chịu được tiếng rên lạnh lẽo của Nguyễn Ánh, y rút gươm khỏa lia lịa xuống dòng sông. Cá chép động dục bị các đường gươm cắt đôi nổi trắng, máu loang đỏ bầm. Kỳ lạ thay, chỉ những con cá đực bị chết tức tưởi mà chẳng biết lý do gì.
Trên long sàng, Nguyễn Ánh cảm thấy dễ chịu, thỏa mãn và kinh ngạc phát hiện ra điều bí mật :
- Ta không thể tin được nàng vẫn còn trinh trắng.
Hai mắt sáng rỡ, lấp lánh. Nụ cười tươi tắn đầy thõa mãn, Ngọc Bình úp mặt vào vồng ngực vâm váp của Ánh, thưa :
- Thần thiếp đội ơn nhuần mưa móc của người. Sáu năm thần thiếp làm vợ Quang Toản, chưa một ngày được làm đàn bà đúng nghĩa. Phải như vương năng lượng đế vương thừa thãi, tính dục đàn ông dồi dào. Thần thiếp lấy làm sung sướng mãn nguyện lắm.
Ánh bảo :
- Ta thấy làm lạ. Hóa ra, ngụy Toản là thằng vua liệt dương! Thật phí đời mỹ nhân cành vàng lá ngọc.
- Toản lấy thần thiếp chỉ để ngắm nhìn, để ngửi mùi hương. Thần thiếp như cây trầm hương bị phong bao trong lầu son. Không! Như cây khô héo trên cánh đồng mùa hạn.
- Ta thương nàng giường chiếu với một thằng trẻ ranh èo uột, trí đoản. Hắn đâu xứng với nàng.
Hai người lại chìm vào biển ái ân nóng bỏng. Đang lúc Ánh sướng quá tru lên như con ngựa hoang động đực, Ngọc Bình rợn người, sững lại. Hai chân dài khép chặt. Người lạnh giá như đồng. Ánh thấy lạ hỏi :
- Sao nàng rùng mình, co rút người thế?
- Bỗng dưng, thần thiếp ngửi thấy mùi máu tanh tưởi, mùi cháy khét của binh khí chạm nhau lẩn quất ở long sàng này.
Ánh nghênh mũi hít ngửi.
- Làm gì có! Làm gì có!
- Xin vương cất kín thanh gươm đang treo lủng lẳng kia đi. Thần thiếp sợ hãi lắm.
Nửa đêm về sáng, Ngọc Bình mệt quá, mềm oặt, nằm không động đậy, như con cá chuối chết. Ánh nhìn thân thể ngọc ngà đang có chiều trắng bệch, xót xa, bảo :
- Có phải ta quá ham vui làm nàng mệt mỏi?
- Không! Tự nhiên thần thiếp thấy mình trống rỗng. Lúc đầu ân ái đam mê cuồng nhiệt bao nhiêu thì sau đó lãnh cảm bấy nhiêu.
Ánh thở dài. Lại nghĩ: Ngọc Bình nhìn long sàng, thuyền rồng mà nhớ nhung Quang Toản trong lúc ái ân. Đang khi tranh tối tranh sáng, Ánh kêu quân hầu mang võng tía lên sườn núi tìm cây giăng mắc. Ánh bế Ngọc Bình đi lên theo. Sương đêm lành lạnh bay mỏng nhẹ như màn buông. Gió sông vẫn thổi không dứt quằn quặn. Gai người.
Đại giám quân Lê văn Duyệt thức khuya, mệt phờ phạc ra sức can ngăn :
- Chúa công hãy giữ mình rồng. Trước đây bôn tẩu gặp đâu ngủ đấy, cùng đường chạy giặc cỏ thì không nói làm gì. Nay đã có kinh kỳ Phú Xuân vàng son lộng lẫy, chúa vương nên về long sàng mà ngủ. Sao người cứ phải vui thú dập dạ trên cỏ cây như lối bọn thợ sơn tràng hạ dân.
Ánh đang ẵm mỹ nhân, tức giận quá một tay quắp nàng một tay chỉ vào mặt Duyệt :
- Sao đế vương khổ thế? Ta muốn sống như một người dân bình thường không được ư? Chả lẽ cái việc ngủ với đàn bà con gái mà còn phải hoãn cơn động cỡn lại chờ về nơi lầu son gác tía? Ta là chúa vương tối cao, ta thích sang trọng sẽ được sang trọng, ta muốn dân dã, lấm láp là được lấm láp. Ta không bằng một thợ cày sao? Đêm nay ta muốn ngủ với nàng trên cỏ cây như một thảo dân vô học.
Mắng xong, Ánh bế phắt mỹ nhân đi như chạy. Bọn Lê văn Duyệt không dám kêu can nữa. Còn vài canh về sáng, Ánh ngả mỹ nhân ra võng. Mỹ nhân chân dài quắp chặt hông lưng Ánh như hai con trăn. Hai tay vít chặt lưng vai Ánh, mặc cho võng bùng nhùng, dập dềnh. Rồi võng lắc hơn bị bão gió. Lá xanh rụng tơi tả. Hai đầu dây võng thay nhau giật cục thân cây. Có lúc hai ngọn vít vào nhau rồi bật trở ra. Chim chóc đang ngủ ban đêm bị đánh thức bay toán loạn. Voi, gấu, hổ, lợn lòi ở khu rừng bên cạnh vểnh tai nghe và nhăn mũi hít ngửi, động rồ chạy đi tìm đồng loại khác giống. Cả một vùng non ngàn rộn rã bước chân thú và tiếng kêu van vỉ gọi bạn tình, ầm ĩ như động rừng...
Sáng ra, Ánh thức dậy, ngái ngủ và mệt bã. Các khớp xương lục cục, mỏi rã rời. Ngọc Bình nhợt nhạt, mất hồn, thất sắc. Dị hương không còn, chỉ có mùi cỏ cây ải mục ngai ngái xông lên. Ánh ngạc nhiên thấy dây võng đứt mà vẫn đưa chao trên mặt đất. Té ra, nối hai đầu võng với thân cây là hai con trăn. Trăn đực, trăn cái đều ngóc đầu nhìn Ánh thân thiện, hiền từ và nhẩn nha vặn mình đưa võng nhè nhẹ. Ánh phát kinh nghĩ đến chuyện ma quỷ liền nhảy xuống đất, tháo thân lên thuyền giục quan quân giong buồm về Phú Xuân.
* * * * *
Trơ trọi một mình nằm trên long sàng. Ánh kinh hoàng ngỡ mình vừa trải qua cơn mê, bèn gọi Lê văn Duyệt lại hỏi. Duyệt xác nhận câu chuyện ma quỷ ấy là có thật và khuyên Nguyễn Vương hãy vì đại sự quốc gia mà quên nàng Ngọc Bình. Ánh cũng thấy chút bẽ bàng của bậc quân vương, gật đầu chấp thuận.
Nguyễn văn Thành chuẩn bị chiến thuyền, binh bộ trong cả tuần trăng cho cuộc tiến quân ra Bắc thì cũng ngần ấy ngày Ánh sống trong ủ ê, héo rũ. Có hôm bỏ bữa quên ăn. Người gầy đi mấy phần. Ánh không thể quên được nàng Ngọc Bình. Lúc nào cũng cảm thấy mùi hương lạ thoang thoảng xa gần. Không chịu nổi nỗi nhớ dày vò, Ánh lại kêu quân lính giong thuyền ngược sông Hương. Ánh leo lên Ngọc Trản Sơn. Núi vắng teo. Điện thờ thánh mẫu Thiên Yana quạnh hiu, không hương khói. Ánh nhìn quanh chỉ thấy những lọn tóc đen dài như con rồng quấn trên cành cây. Ánh cảm thấy cô độc, trống rỗng vô cùng.
Về Phú Xuân, Ánh ốm liệt giường. Lúc nào cũng chìm trong mộng mị ân ái với nàng Ngọc Bình ở Ngọc Trản Sơn. Ánh ân hận, cứ nghĩ mình bỏ rơi nàng lại Ngọc Trản Sơn. Ngày phát lệnh tiến quân ra Bắc đến gần mà bệnh tình của Ánh không nguôi. Việc đại sự quốc gia có nguy cơ hỏng. Bọn Lê văn Duyệt và Nguyễn Văn Thành biết minh chủ ốm tương tư liền kêu nhau phủ phục tận long sàng thưa :
- Ngụy Toản vẫn còn. Giang sơn chưa về một mối. Chúa vương suốt ngày thương nhớ một con đàn bà đến ốm o, mòn mỏi thì thần dân biết trông cậy vào ai?
Ánh bảo :
- Người xưa nói: Anh hùng khó qua ải mỹ nhân.
Lê văn Duyệt lại phủ phục :
- Thưa chúa vương! Công chúa Ngọc Bình xinh đẹp sắc nước hương trời thật, nhưng lại là hoàng hậu nhà Tây Sơn, vợ kẻ thù hận.
Ánh cả giận, mắng :
- Ta đoạt lại thiên hạ từ giặc cỏ Tây Sơn, thì cành cây ngọn cỏ cũng thuộc về ta, huống chi là vợ Quang Toản. Vả lại, các ngươi là anh hùng thời loạn chỉ biết hùng hục đánh nhau chém giết, có biết yêu thương bao giờ mà hiểu được lòng ta. Các ngươi là hạng đàn ông võ biền chỉ nghĩ đến chuyện đực cái trần tục, đâu có biết cái thứ mùi hương kỳ lạ thanh tao tỏa ra từ ngọc thể của nàng.
Nguyễn văn Thành thì đỏ mặt. Đại giám quân Lê văn Duyệt vốn là kẻ ái nam ái nữ ngượng ngùng, bẽ bàng quá. Hai đại thần không thể ngấm ngầm giấu mỹ nhân Ngọc Bình mãi, đành phải đưa nàng lại bên Ánh. Ánh cả mừng. Bao nhiêu bệnh tật trong mình bay biến hết. Ánh bảo :
- Mỹ nhân tự cổ như danh tướng. Tội các ngươi đáng chém. Ta được nàng là được thêm một “danh tướng”. Ta không muốn được danh tướng mới thì mất danh tướng cũ. Thôi, ta tha.
Lưỡng lự một lát rồi Ánh túm ngực áo gầm lên :
- Sao các ngươi không hiểu lòng ta nhỉ?
Bọn Thành, Duyệt ngơ ngác và bất lực, lui ra.
Suốt mấy tuần sau đó. Tiếng cười như binh khí chạm vào nhau đêm nào cũng văng vẳng trong không trung. Đất trời Phú Xuân sáng láng, tưng bừng. Cứ y như mùa xuân về sớm. Cây cối, cầm thú rạo rực mùa động tình.
* * * * *
Nhiều năm trôi qua.
Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Gia Long, lập Ngọc Bình làm Đức phi tam cung và yêu chiều vô cùng. Ánh sai đúc bồn tắm bằng vàng, thả những cánh hoa lan trắng cho đức phi tắm. Lại sai người lên tận rừng rú miền tây Quảng Nam tìm hương trầm về đặt trong cung của nàng. Và Đức phi tam cung cũng kịp đẻ cho Gia Long hai hoàng tử và hai công chúa.
Nhưng, thật trớ trêu, Ánh càng yêu quý đức phi Ngọc Bình bao nhiêu thì nàng lại càng thờ ơ, lạnh lùng bấy nhiêu. Ánh không hiểu nổi, trong lòng ủ dột vô cùng.
Bỗng dưng, Ánh nhớ đến chuyện xưa từ biệt nàng Tống thị Lan với thoi vàng chặt đôi. Dạo ấy là mùa thu năm Quý Mão, Ánh bị quân Tây Sơn đuổi chạy dài. Đường cùng phải phiêu dạt ra Phú Quốc, đói khát hiểm nguy, tuyệt vọng tưởng tận số. Trước lúc sang Xiêm La, Ánh lấy thoi vàng ra chặt vát làm đôi, đưa cho Nguyên phi một nửa, rồi bảo :
- Nay ta phải đi Xiêm. Nàng ở lại cung phụng quốc mẫu. Ta bôn tẩu nơi chân trời góc bể chẳng biết ngày nào gặp lại. Đành lấy vàng này làm tin vậy.
Nguyên phi phục xuống khóc dòng, vâng lời. Bao nhiêu năm nàng tần tảo hầu hạ mẹ chồng và thân hành may dệt trang phục giúp việc quân. Sau này, Ánh thu lại bờ cõi, có sum họp với đức nguyên phi nhưng dần cũng thưa vào ra cung nàng.
Bấy giờ, đang ủ ê với nàng Ngọc Bình, Ánh nghĩ: Mình lạt lẽo với Đức nguyên phi quá. Gắn bó với nhau lúc khốn cùng thì chẳng có mỹ nhân nào bằng nàng. Ánh bèn bảo thái giám đưa đến cung Nguyên phi.
- Nàng còn cầm giữ nửa thoi vàng xưa không?
Nguyên phi cung kính dâng :
- Thần thiếp dù nhịn đói, mặc rách, chứ quyết không bội tín.
Ánh cầm nửa thoi vàng bị nhát kiếm chặt vát ngày xưa, cảm động lắm :
- Nàng còn giữ được vàng xưa là do ân trời đất giúp lúc khó khăn hoạn nạn. Ta không thể quên lãng. Phải để dành vàng này cho con cháu mai sau biết.
Nói dứt lời, Ánh lấy nửa thoi vàng mình đang giữ, ráp với nửa thoi vàng của Nguyên phi thì vừa chằn chặn. Rồi giao hết cho nàng cất giữ.
Đêm ấy, Ánh ở lại cung Nguyên phi. Cảm giác ái ân vội vàng, thấp thỏm lúc chạy nạn quân Tây Sơn đuổi lại ùa về. Ánh quên hẳn mình đang ở giữa kinh thành Phú Xuân lộng lẫy vàng son.
* * * * *
Sau này, Trần Huy Sán bất đắc chí với đời. Y không còn được Nguyễn Ánh tin dùng như trước nữa. Y có viết một chương trong Phú xuân thực lục (tác phẩm này về sau lẩn khuất bởi cất giấu trong dân quê xóm mạc) trích đoạn rằng:
Thật là trớ trêu ở đời! Nguyễn Huệ Quang Trung chồng Ngọc Hân công chúa; Nguyễn Phúc Ánh Gia Long lại là chồng công chúa Ngọc Bình; hai kẻ cừu địch không đội trời chung bỗng dưng lại trở thành anh em “cột chèo”. Ta đồ rằng: Gia Long lấy Ngọc Bình chẳng phải là yêu chiều cành vàng lá ngọc mà là núp dưới chiêu bài tâm lý chiến bẩn thỉu để đoạt lại đến tận cùng nhà Tây Sơn, kể cả cái dị thường hư ảo. Ánh làm chính trị thâm độc, nghiệt ngã và khôn ngoan hơn Nguyễn Huệ...
Một đoạn khác viết:
Những năm cuối đời, Ngọc Bình sống trong cô đơn và thất vọng. Mỗi lần ở bên Ánh, nàng không chịu đựng được mùi binh khí lạnh lẽo va chạm vào nhau. Ta đồ rằng: 25 năm bôn tẩu, ý chí phục tộc ngút trời cao, Ánh đã bước qua bao nhiêu xác người, xác ngựa; đi qua bao nhiêu mộc, khiên, câu liêm, giáo, mác, gươm, kiếm... nhuốm máu. Mùi tanh của máu người, mùi khét lẹt của binh khí va chạm tụ lại thành mùi chết chóc ngấm vào da thịt Ánh. Vì vậy cứ mỗi lần ân ái xong là dị hương bị hút kiệt. Không! Mùi máu tanh tưởi và mùi khét binh khí đã lấn át trùm lấp, không cho dị hương của nàng tỏa ra.
Người xưa nói: Nhất tướng công thành vạn cốt khô. Ta đồ rằng: Nguyễn Huệ Quang Trung có sống lại cưới Ngọc Bình công chúa thì khát vọng của nàng cũng chìm trong bi kịch tuyệt vọng y như đoạn đời nàng sống với Nguyễn Ánh Gia Long.

Nghe đồn Đức tam phi đọc được đoạn này thì gật đầu. Nước mắt chảy lã chã hai hàng đỏ như máu.
Một đoạn khác Sán viết:
Ánh là Tà hương, là âm u, lạnh lẽo, thiên về sức mạnh độc đoán. Ngọc Bình là Dị hương, là mùi thơm vừa trần tục vừa thanh tao, dịu dàng mà quý phái, cuồng dại mà thanh bình... chỉ hợp với Sán này.
Có kẻ bên cung Nguyên phi ghen ghét Sán, trộm được Phú Xuân thực lục bèn dâng lên Nguyễn Ánh Gia Long. Ánh nghĩ: Té ra dị hương chưa bao giờ thuộc về mình mà lại thuộc về Sán. Có lẽ cái yếm thắm như một trò ma thuật. Y lại còn dám rủa ta là tà hương.
Ánh cho gọi Sán đến, mắng :
- Rút cuộc, ngươi cũng là loại phù thủy chọc gậy vào bánh xe.
Sán bảo :
- Hạ thần chưa một lần xảo trá, luôn nghĩ và nói đúng sự thật.
Ánh rút gươm khều lấy cái yếm thắm trong túi Sán, rồi mắng tiếp :
- Không những ngươi ám ta mà còn giở trò ma thuật để hút hồn đàn bà con gái đẹp.
Sán im lặng trơ lì như đá.
- Lại còn cao ngạo nữa. Coi trời bằng vung. Tội ngươi thực đáng chém đầu.
Sán vươn cổ cò ra như thách thức.
Một chớp sáng ngoằng như sét đánh giữa trời quang mây tạnh. Lần này, Ánh chém thật. Cái “chõ xôi” lăn lông lốc, rồi dừng lại, mắt Sán hấp háy, miệng nhếch mép cười cợt. Bỗng dưng, mùi dị hương ở đâu đó dào dạt xông lên rồi, mất hẳn. Về sau, có kẻ phán bừa rằng: dị hương ở yếm thắm đã tẩm hết vào người Sán. Khoảnh khắc đầu lìa khỏi cổ, chút dị hương còm ấy rút ra kết vón lại theo hồn vía Sán thăng thiên.
* * * * *
Đêm ấy, lòng dạ Ánh bồn chồn không yên.
Lúc mơ lúc tỉnh, Ánh thấy mình nghẹt thở. Cựa quậy không nổi bị đè chặt cứng. Ánh cố mở mắt, vùng vẫy ngồi dậy và chợt thấy một đống xương người trắng rợn đang chất ngất lên thân thể. Các đốt sống thì vãi lên bụng Ánh, xương lạnh ngắt như đồng. Lại thấy xương xẩu rời từng đốt ngón mà vẫn hình bàn tay đang bóp chặt hạ bộ. Cái đầu lầu thì úp vào mặt; lỗ mồm, lỗ mũi và hai lỗ mắt sâu hoắm, tối om. Xương cẳng chân dài chẹn ngang cổ họng tức thở. Mùi máu tươi tanh tưởi, lợm miệng muốn nôn ọe. Lạ kỳ. Nằm trong giữa đống xương mà Ánh lại nhìn thấy bên ngoài sương trắng bay lập lờ. Nhìn rõ cả gò xương trắng chất lên mình lúc ẩn lúc hiện. Mênh mông cảnh tiêu điều. Hoang lạnh. Hiu hắt. Quạ đen ở đâu đó bay về chi chít nhiều vô kể trên bầu trời đáp xuống như ném đạn đá. Những hình ảnh đứt đoạn, nhảy cóc đến cảnh cái yếm thắm đỏ rực bay liệng chập chờn trên đống xương, chẳng hiểu là điềm lành hay dữ. Rồi lại đàn quạ kêu quà... quà và cãi nhau inh ỏi. Hai chân con quạ đen nào cũng quắp một gióng xương, hoặc cục xương thi nhau thả xuống. Đống xương đang đè lên Ánh cứ to dần, chất cao dần thành... núi xương trắng. Ánh khiếp đảm, gào lên những âm thanh không rõ lời. Bỗng giật mình, tỉnh dậy hóa ra là giấc mơ. Mồ hôi mồ kê ướt đẫm áo hoàng bào. Mùi âm khí lạnh lẽo bay ngùn ngụt trong cung.
Trăng hạ tuần đã gác mái điện Cần Chánh, Ánh vẫn không ngủ được. Ánh bảo thái giám đưa mình đến cung Đức tam phi Ngọc Bình.
Mỹ nhân đang tắm trong đêm khuya khoắt. Nàng ngập mình trong bồn vàng ngập nước thả đầy cánh hoa lan bé mỏng manh trắng muốt. Dị hương lãng đãng xa gần, quyến rũ vô cùng. Lòng Ánh nôn nao, không chịu nổi mùi gợi dục, vội vã cuống cuồng. Ánh hấp tấp y như chàng trai mười sáu tuổi lần đầu nhìn thấy thân thể người đẹp trắng nuột nà, nhào vào bồn tắm, làm nước tràn ra quá nửa. Nguyễn Ánh và mỹ nhân quấn lấy nhau như đôi thanh long giao phối đêm mưa bão. Từng chập từng chập nước sóng sánh tràn ra ngoài. Chỉ một lúc dập dềnh, nước dạt ra ngoài bồn tắm gần hết. Bao nhiêu cánh lan trắng nát bấy dính vào bồn tắm, nổi trên mặt nước thơm rập rờn bên da thịt mỹ nhân.
- Thưa Chúa thượng! Người cầm cái chi trong tay, cứ chạm vào da thịt thần thiếp nóng hổi?
Ánh đang ôm cổ mỹ nhân, vội bỏ tay ra, quơ quơ trước mặt nàng cái vật màu đỏ sũng nước lập lòe như đốm lửa.
- Cái yếm thắm của nàng. Ta chém đứt cổ cò thằng khốn ấy rồi.
Trần Huy Sán đã chết? Đức phi Ngọc Bình cảm thấy như tắc thở bởi mùi máu tanh tưởi và khét lạnh rợn ngợp của binh khí chạm vào nhau. Nàng rùng mình. Gân cơ co rút lại. Người thẳng đơ, cứng ngắc. Rồi thân thể ngọc ngà từ từ lạnh ngắt.

Lúc bọn thái giám vào, thấy Ánh đã khoác hờ tấm hoàng bào, ngồi bệt xuống sàn, thả một tay vào bồn tắm. Mặt ngơ ngác như người mất hồn vía. Hai mắt Đức phi tam cung nhắm hờ như ngủ. Tóc mây xõa lập lờ trong nước. Hai đùi dài khép sát. Thân thể đã mềm mại và trắng hồng trở lại. Thần sắc đã hồi. Những cánh lan mỏng manh tội nghiệp bị đè ép, chà đi xát lại nát bấy vương trên thân thể ngọc ngà của nàng.
Văng vẳng đâu đó như có câu ca vọng vào tam cung:
Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai vua làm chồng.

Bỗng dưng, một trận gió lớn từ phía sông Hương thốc thác thổi đến. Gió bò trên mái ngói điện Cần Chánh, và theo dọc vòm cung tam phi. Gió lay cuốn trướng rủ, màn che phần phật. Nguyễn Ánh chợt tỉnh nhìn ra ngoài, trời đang rạng. Bàn tay Ánh lỏng dần. Cái yếm thắm vụt khỏi tay Ánh chấp chới lượn đi lượn lại rồi thăng thiên.
Ban mai, cả kinh thành bàng hoàng sửng sốt. Một đám mây trắng kỳ dị hình con giao long khổng lồ mặc cái yếm đỏ như lửa lập lòe trên bầu trời Phú Xuân.

📎 dh1
0
Đời con gái
 
Tôi ra đảo Man.
Hòn đảo nhỏ nhoi giữa trùng khơi vịnh Bái Tử Long. Rừng nguyên sinh nhiệt đới ẩm ướt, rậm rạp nhiều tầng, cây cổ thụ, cây tạp và dây leo nhằng nhịt. Khỉ mạnh bạo hơn người biết trêu đàn bà, lại biết vào chùa chắp tay khấn vái. Trăn khoanh như cuộn trão sưởi nắng trên mỏm đá, nhưng cũng biết căng mình ngang đường dọa người. Đêm trăng mờ thổn thức, nai rủ nhau ra khoảng trống làm tình. Mùa động dục các loại cá kéo nhau về đặc sệt vụng biển phía nam đảo gần cửa sông Man phối giống. Dân đảo thưa thớt, biệt lập đất liền, mang nhiều nếp sống sinh hoạt và tập quán văn hóa xưa cũ đầu thế kỷ 20. Thân phận người đi biển rất nhỏ bé mong manh so với đại dương mênh mông, biển hắt hơi thì lật thuyền người chết đuối, hàng năm xác người xấu số vẫn dạt vào đảo. Dân vạn chài lập miếu cô hồn, thổ địa, đền thờ thần linh... ở nhiều nơi trên đảo. Mấy năm nay, luồng gió kinh tế thị trường thổi tràn ra đảo Man; vẫn chưa đủ mạnh để đảo hết hoang sơ, âm u, huyền hoặc, bí ẩn. Đó là những gì tôi biết được, trước khi ra đảo Man.

Bấy giờ, đêm đã khuya.
Trăng biển đỏ quạch. Trăng đỏ báo hiệu sự bất thường trên mặt nước; có thể giông bão ngoài khơi xa, hoặc biển động tôm cá về vụng lánh nạn. Gió lặng. Sóng ngừng vỗ. Không gian ngưng đọng, bức bối rất khó chịu.
Bỗng dưng, tôi bị đánh thức bởi tiếng nước đổ oang oãng. Như thể bản năng xúi giục, hoặc là ảo ảnh, tôi hình dung ra cảnh người con gái tắm đêm đang ngời ngợi dưới ánh trăng khuya. Tôi còn ngửi được mùi nước giếng cổ thơm mát quyện lẫn mùi hương da thịt con gái đầy dục cảm, quyến rũ. Bỗng chốc người tôi căng cứng, ngột ngạt... Cái đẹp đang bòn rút sinh lực thằng con trai là tôi.
Tôi vùng căng dậy. Rừng trâm cổ thụ, cây cành gầy guộc, lá lăn tăn xanh mướt. Khách sạn nhỏ mới xây vẫn im lìm, du khách chìm sâu vào giấc ngủ sau nửa ngày mệt mỏi ngồi tầu biển từ đất liền vượt vịnh Bái Tử Long ra đảo. Ánh đèn điện yếu ớt vàng vọt đổ quầng lên cát trắng. Chẳng thấy giếng cổ đâu, không có tòa thiên nhiên con gái khỏa trần trong mơ; nhưng lại nghe văng vẳng tiếng hát con gái từ xa vọng đến; và tiếng kéo hồ buồn bã trên đường xuyên đảo.
Tiếng kéo hồ nức nở và bóng người dật dờ như say rượu đổ xuống đường làm tôi nhận ra ông Trần. Ông Trần sống độc thân, vốn là chỗ quen biết cánh nhà văn nhà báo, từng tiếp “thượng vàng hạ cám” từ ông tiên chỉ làng văn làng báo đến cô sinh viên năm thứ nhất mặt non choẹt ra đảo thực tế. Ông có một kho văn hóa dân gian, có bài viết in tạp chí Văn nghệ tỉnh nhà. Biết các câu truyện huyền thoại, ma quỷ, thần linh trên đảo nên ông trở thành hướng dẫn viên du lịch tự do lúc nào chính ông không nhớ. Trước đây vốn là thợ săn cá không hiểu lý do nào, ông giải nghệ lên bờ. Ban ngày thì mò mẫn đến miếu cô thần, thổ địa, hang động, giếng cổ tìm kiếm cái gì đó. Ban đêm, dật dờ như ma đói đi lang thang ở rừng trâm, bãi cát thạch anh, đường xuyên đảo; miệng lẩm bẩm như phù thủy bắt quyết trừ tà, và tay kéo hồ. Ông Trần có bộ tóc dài quá vai, dị mọ, lất phất như tóc đàn ông bộ lạc da đỏ ở Mê hi cô. Cơn cớ gì mà ông Trần thức đêm như con vạc? Chịu! Ông Trần kéo hồ vào loại hay. Tiếng hồ nức nở cất lên:
Ta nghĩ đến thói bạc tình
Ta ngẫm về nòi giăng hoa
đàn bà học nhau
rất lạ
Mây ơ hờ chiều đông
Gió ơ hờ tháng hạ
Phù dung sớm nở tối tàn
Nín lòng nhặt cuống hoa rơi
Cơn mưa bóng mây thoảng qua
Tim ta tật nguyền, chai cứng
Không có đàn thì ta khốn khổ,
có rồi còn khốn nạn hơn...

Ông Trần nhận ra tôi, đóng vĩ kéo lại. Ông mặc áo diềm bâu, thêu loằng nhoằng họa tiết dây lá thổ cẩm. Mặt hồ bưng da kỳ đà, chỗ tay cầm cần và vĩ kéo ngấm mồ hôi lên dấu thời gian, bóng mịn. Ông Trần bảo :
- Tiếng hồ của ta ma mị không? Chú chơi một bài nhá.
Tôi không thạo đàn hát lắm. Hồi đi viết chân dung bà Mầu - nghệ nhân xẩm chợ cuối cùng của tỉnh N, bà có dạy tôi điệu Phồn huê; tôi ghép lời, chơi cũng tàm tạm. Tôi cầm lấy hồ, so dây dạo:
Tôi lại nghĩ về cánh đồng liêu trai đàn bà
ươm hoa cho người ta hái
Tôi nghĩ đến bàn chân con gái
đạp trên ruộng chiêm khô mùa hạ
ngâm vào vụng biển lạnh mùa đông
quấn quýt rong rêu, cuống dạ.
váng phèn vàng nhệch móng non

Bàn chân bước qua thời con gái
Xất xước,
thô ráp,
chai sần
Mùa thu liêu trai đàn bà
Đi ngang vết chân chim
Lửa lòng thôi reo đã tắt
thừa đống gốc tre khô, đống rơm đống dạ
không đốt nổi cái chăn nhàu mùa bão giông.

Ông Trần gật gù :
- Tiếng hồ của chú buồn, nhưng là cái buồn sang trọng; lại có ý thương hại đàn bà. Chú tốt lắm! Sau này, chuốc khổ vào thân. Tiếng hồ của ta nỉ non, oán thán, nức nở. Đàn bà nghe, động lòng hơn. Đêm nay, bao nhiêu đứa không ngủ. Có đứa nằm bên chồng cũng cồn cào ruột gan, dỏng tai nghe tiếng hồ của ta chỉ chực chạy ra, chứ lị.
Hoang tưởng. Tôi trề môi, trả cái hồ cho ông Trần. Hay gì cái thói chinh phục đàn bà. Tôi bảo :
- Cái đời làm tội cái thân. Cơn cớ nào mà ông dị mọ, lẩn thẩn vậy?
- Lẩn thẩn là thế nào? Ta sẽ cho bọn đàn ông đảo này điên đầu và đàn bà bỏ chồng theo ta hết.
Ông Trần cười khanh khách như ma vừa rời cửa mả :
- Chú không thấy gái đồng trinh ở miếu cô hồn thức dậy đang lang thang ở ngã ba đường, gốc trâm, bãi biển... lắng nghe tiếng hồ của ta à?
Tôi nhìn xung quanh, không bóng dáng ai. Chỉ thấy trăng đỏ độc trên trời và tiếng chim giật mình thả tiếng kêu đơn lẻ vào thinh không. Ông Trần lắc mái tóc dài xõa như phù thủy làm phép hô nhập tràng, rồi dật dờ đi, bỏ tôi đứng một mình. Tiếng hồ lại nức nở rơi trên đường khuya vắng.
Những hình ảnh trong đầu cắt rời, đứt đoạn, lẫn lộn. Tôi quay về nhà nghỉ, băng rừng phi lao đứng ủ rũ như chết. Một con chim xanh ngủ gật, xập xòa cánh trên cành cây. Bất ngờ, tôi bắt gặp một người con gái khoác tấm lưới đánh cá đi tha thẩn trên bãi cát thạch anh trắng ngời. Ánh trăng đổ tràn vào những mắt lưới, các nút thắt đọng nước bắt sáng lung linh làm tôi liên tưởng đến người cá từ dưới biển đi lên ướt lướt thướt. Nàng: Ngực to, núng nẩy. Chân dài. Eo thắt. Mắt tròn to. Cằm hơi xẻ gợi dục. Bước chệnh choạng, dấu chân nàng in không đều trên cát chạy dằng dặc hút xa tầm mắt về phía cuối chân trời. Nàng hát, giọng trầm buồn. Hát rằng:
Đi qua cánh đồng liêu trai đàn bà
Vô tình tháng tháng năm trôi
chăm chỉ vạt tép vơ bèo
cần mẫn đào xới, cuốc cày...

Ai biết cơn khát chờ mưa?
Hững hờ lửa than
ủ trong chăn lạnh?

Giọng hát đầy trách mọc, giận hờn. Tôi bước ra đứng chặn trước mặt nàng. Đẹp quá trời! Lòng tôi rạo rực. Xốn xang. Thèm. Tôi nuốt nước bọt đánh ực. Trời sinh ra đàn bà để làm đàn ông phạm tội. Nàng cười với tôi, nụ cười hồn hậu, gần gũi. Nàng bảo :
- Anh kéo hồ điệu Phồn huê mủi lòng quá. Khốn khổ cái thân đàn bà con gái chúng em thế đấy. Anh có nghe em vừa hát tiếp đoạn anh chơi dở không?
Tôi gật đầu.
- Em đi tìm anh mãi, bây giờ mới thấy.
Tình yêu sét đánh rồi. Nhìn cái mặt yêu quá. Tôi vươn người vồ lấy nàng, giống tư thế con báo đực đuổi theo con báo cái đúng tầm với. Hất tấm lưới rớt xuống bãi cát thạch anh tinh khôi, tôi và nàng quấn vào nhau như đôi rắn hổ mang mùa động dục. Nàng cắn ngập răng vào vai tôi. Đau nhói. Mặc kệ, khoái cảm đang trào dâng cuồn cuộn. Từng lớp từng lớp sóng biển ào ạt xô bờ. Dập dềnh như trên bè nứa thả trôi trên vịnh Bái Tử Long. Tôi vục đầu vào ngực nàng. Thơm tho. Nóng ấm. Cùng lúc ấy, linh tính mách bảo tôi rằng: Có những thằng đàn ông khác đang giương mắt hau háu thèm khát nhìn. Rồi tay tôi chạm phải nhiều bàn tay chai sần, thô ráp. Hóa ra, tôi đang nằm đè trên lưng những thằng đàn ông. Trên người nàng chồng lớp lớp đàn ông. Da thịt đàn ông va chạm cọ xát vào thịt da đàn ông, dơ quá. Bẽ bàng quá. Khốn nạn! Yêu với chả đương. Trời tru đất diệt cả thế giới đàn bà đi. Tôi ngã người sang bên. Cát chạm vào vai dằm dặm; cát vô hồn đâu biết nỗi sượng sùng, đau đớn của tôi. Tôi nhìn quanh lần nữa, chỉ có tôi và nàng trơ chọi trên cát. Nàng xuôi tay, bất lực, nằm ngửa lặng im như bức tượng trắng ngời ngợi ngắm trăng. Trăng cũng dòm nàng. Trăng đổ xoãi ánh bạc lên da thịt nàng, gió cũng quấn quýt mơn man cặp vú trần của nàng. Tôi hả hê, nhìn thấy vài vết máu đỏ tươi ngấm vào cát thạch anh trắng... Đột nhiên, lại mấy thằng đàn ông nhập nhòa hiện ra trước mắt tôi. Thế này là thế nào? Ma chắc? Các gã đàn ông cũng đang thỏa mãn niềm vui trần thế nhìn vết máu tươi ngấm xuống cát. Không thể tin được. Tôi đập chân vào thành giường đau điếng, tê dại. Thức dậy. Hóa ra, là giấc mơ. Mồ hôi vã như tắm.

Sáng sớm hôm sau, nhìn cánh nhà văn trẻ, thân xác đứa nào cũng hao mòn, dật dờ; nét mặt đăm đăm, nghiêm cẩn. Thảng hoặc lại nở nụ cười thầm, khoảnh khắc ấy gương mặt rạng lên, đầy mãn nguyện, thích thú và bí ẩn.
Giữa lúc lòng tôi hồ nghi không dứt thì ông Trần đến đón cả bọn đi ăn sáng. Gió sớm thổi mát rượi, lật vạt áo ông Trần lên. Tôi nhìn thấy chỗ tì bầu hồ phía trên xương cạng hơi lõm xuống, đã chai sần. Tôi hỏi :
- Đêm qua, gặp tôi xong, ông vác hồ về sớm không?
- Chú này mê ngủ rồi. Đêm qua, ta mải kéo hồ, hơi sức đâu mà gặp chú.
Tôi chẳng hiểu ra làm sao cả. Nhìn ông Trần rất bình thường, đi lại nhanh nhẹn, lợi khẩu; tôi nghi ngờ cả bản thân tôi. Ông nhìn suốt lượt đám nhà văn trẻ, bảo :
- Các chú đêm qua có mơ thấy gì không?
Điệu cười khẩy hơi đểu; cứ như ông ta đã biết hết mọi chuyện, đang đi guốc trong bụng chúng tôi. Tôi đành thú thật, kể lại từ đầu đến cuối giấc mơ đêm qua. Cả bọn đều ồ lên và đứa nào cũng nói mình có giấc mơ giống hệt tôi.
Ông Trần bảo như mắng :
- Ấy đấy, cuộc đời lại ra nông nỗi ấy đấy. Bất ngờ. Sinh động. Bí ẩn lắm. Thế mà, buồn thay. Đám nhà văn trẻ các chú viết nhạt hoét, toàn những điều sống sít. Làm thằng đàn ông phải có danh. Đã lao vào nghệ thuật là phải hơn thua; nếu viết văn phải hay hơn những thằng khác; nếu chơi đàn thì thằng khác phải thua mình. Để bọn đàn bà con gái đã một lần đọc văn, một lần nghe đàn là không dứt được, đánh đổi cả cuộc đời theo mình.
Tôi buồn cười, nhận ra điều triết lý điên điên đang dạy dỗ đám người hậu thế từ ông Trần.
- Vậy xin hỏi, ông đi dọc đường xuyên đảo kéo hồ là để quyến rũ con đàn bà nào, để hơn thua thằng đàn ông nào?
Ông Trần thở dài hàm chứa sự bí ẩn không lời :
- Có đàn bà đã khốn nạn rồi; không có, còn chó má hơn...
Ông Trần đánh trống lảng, kể câu chuyện liên quan đến giấc mơ đêm qua :
- Các chú không biết chứ cái vụng biển này là vụng Đàn Bà, đồi kia là đồi Con Gái, bãi cát đây là bãi cát Khỏa Trần. Cái tên Đàn Bà, Con Gái, Khỏa Trần có từ bao giờ chẳng rõ, khi ông nội ta chim bé hin hin như quả ớt chỉ thiên đã thấy dân đảo gọi thế rồi. Ơ này, cười cái đếch gì. - Ông Trần nhíu mày; chúng tôi lại im bặt, nghe - Linh thiêng. Huyền hoặc lắm. Đàn Bà nguyên là cô gái trẻ cùng gia đình thuyền chài nào đó bị bọn hải tặc hiếp chết rồi quẳng xuống biển. Một buổi chiều tối, thân xác cô gái trôi dạt vào mỏm phía bắc đảo. Chẳng biết cô gái chết bao lâu mà da thịt vẫn tươi hồng, núm vú thắm như son, hai đùi dài thẳng trắng mịn hơi rạng ra. Vồng ngực, vai và eo bụng có nhiều vết răng cắn, tím bầm máu. Dân đảo chưa kịp chôn, sáng hôm sau mối đã đùn lên xác cô thành ngôi mộ hình người con gái khổng lồ.
Ông Trần chợt dừng kể, nheo nheo mắt lươn :
- Các chú dóng theo tay ta chỉ nhá. Có phải cái hình quả đồi con kia giống hệt người con gái nằm ngửa không?
Chúng tôi căng mắt nhìn. Tất cả à lên. Giống thật. Một quả đồi con gái nằm ngửa đón nắng sương, sinh khí của trời đất trăng sao.
- Các chú nhìn ra đồi con gái thì cứ gọi là đồi Con Gái; chứ người từng trải như ta lại nhìn ra đồi Đàn Bà.
Đám bạn tôi lau nhau, hỏi vì sao ông tinh tường đến thế.
- Chuyện ấy lúc khác. - Ông Trần gạt đi, say sưa kể tiếp - Dân đảo lẫn lộn, người thì kêu đồi Đàn Bà, kẻ thì gọi đồi Con Gái. Đàn ông, con trai đi qua đồi ấy, y như rằng đêm ấy, nằm mơ ngủ với người con gái đẹp không quen biết. Những thằng giai kéo lưới, đánh cá ở cái vụng này; chẳng biết sóng biển có vỗ mơn man vào quần lót hay không mà nhảy cẫng lên cởi bằng sạch quần áo, thân trần úp thìa, bò lê bò càng chà sát trên cát. Bãi cát có tên Khỏa Trần là vì vậy. Các chú lại cười à? Không nói điêu đâu, dạo ta còn trẻ làm thợ săn cá Mõm Lợn, ít nhất cũng chín chín lần như thế. Cái tay trưởng thôn Bắc còn hứng đến mức cởi quần áo cả đêm nằm úp thìa trên quả đồi Đàn Bà đấy. Ma mị vô cùng! Đàn bà nó mê dụ lắm! Chết rồi vẫn làm cho đàn ông chúng ta khốn khổ khốn nạn. Nhưng mà, thằng nào chưa bị đàn bà nó lừa dối thì chưa ra giống đàn ông.
Lại có chuyện này mới lạ. Một tối bức bối, ngột ngạt, oi nồng. Rồi sinh ra giông bão mịt mùng, sấm sét ì ùng, nhằng nhịt vệt sáng, mưa trút ào ạt. Nửa đêm tạnh, côn trùng rỉ rả, trời đất mát mẻ, dân vạn chài ngủ mê mệt. Sáng sớm dậy, đàn ông cả thôn đều hí hửng khoe nhau giấc mộng mình ân ái với người con gái đẹp trên đồi Đàn Bà. Có điều tức cười, ngồ ngộ: Ân ái xong, nàng bảo: Chàng về thì về, để lại cho thiếp cái sinh thực khí. Thiếu nó thiếp phát cuồng chạy rông, ngượng lắm. Ngày hôm ấy, vạn chài kéo lưới, cá tôm bộn khoang, con nào con nấy tươi rói nhảy đanh đách. Dân đảo thấy ngôi mộ linh ứng, bèn lập bát hương, làm cái miếu kèo gỗ lợp cỏ gianh, thờ. Hương, vàng mã thờ thì rõ rồi, còn thêm đồ sinh thực khí nam đẽo bằng gỗ lim nữa. Cái sinh thực khí nam rất hoang dã, man rợ dài những 25 cm, chu vi to ngang cái khoanh đòn xóc gánh củi, sơn đỏ choét. Nhìn kỹ thấy ngồ ngộ, vui mắt. Cái đồ đàn ông chúng mình cũng có giá thật...
Các chú mà ra đảo đúng dịp Hội chài thôn Bắc, xem dân đảo tụ tập ở đồi Đàn Bà nhộn nhịp lắm. Người ta rước sinh thực khí nam từ trong miếu ra. Ông trưởng Vạn chài cởi hết quần áo, mình trần tô hô, tay cầm sinh thực khí nam chạy đi chạy lại chỉ khắp bốn phương nam bắc tây đông, rồi chỉ thẳng vào miếu nhiều lần. Cuối cùng, ông ta cầm sinh thực khí nam chạy đến khe lõm quả đồi chỗ hai chân người con gái rạng háng, đâm nhịp nhàng nhiều lần xuống khe lõm có cỏ lá kim ken dày xanh mướt mát viền xung quanh, cứ như chày giã xuống cối gạo...
Khói nhang bốc lên mù mịt; hương thơm ngào ngạt; dân vạn chài cúi rạp lưng cầu xin Bà phù hộ cho họ đánh bắt nhiều tôm lắm cá, đào được nhiều sa sùng. Quả nhiên, chiều tối thuyền cập bến cá Bắc đảo đầy khoang hải sản. Và rất bí ẩn, khi hội chài tan, dân đảo về hết thì lũ khỉ trên rừng lũ lượt kéo nhau đến đồi Đàn Bà; chúng cũng bắt chước hành lễ, cúng rước sinh thực khí nam... như dân vạn chài.

Ăn sáng xong, ông Trần đưa chúng tôi thăm giếng Ngọc. Giếng bị cỏ cây trùm xung quanh. Rêu xanh phong trên đá ong thành giếng. Nước trong vắt, vài ba đám bèo nhởn nhơ cùng rong rêu. Ông Trần cúi xuống khỏa nước vốc lên tay. Ông bảo :
- Nước giếng thiêng đấy. Các chú uống vào sẽ thấy nhẹ nhõm thanh thản vô cùng; mọi ham hố đời thường bay biến mất.
Chúng tôi làm theo, vốc nước rửa mặt và uống ừng ực. Quả thật! Lòng dạ đang nóng bỏng, cồn cào, mồ hôi nhễ nhại bay biến sạch. Mát mẻ lạ lùng.
Giếng Ngọc vốn là nơi mạch nước ngầm phun lên ở giữa đảo. Từ xưa, nước giếng thơm mát, trong lẻo, nhìn thấy sỏi đá dưới đáy và con rùa vàng đang rụt cổ ngủ. Nước giếng chứa một chất gì đó rất huyền hoặc, con trai uống vào kích thích da thịt nóng bừng. Lòng rộn rạo, xốn xang thèm muốn đàn bà con gái không kìm nén được. Có điều lạ! Nước giếng Ngọc chỉ linh thiêng khi trăng non đầu tháng gác ngọn tre. Con gái Đoài thôn kén chồng xứ lạ, lén múc nước giếng cho người mình thương uống. Nước giếng Ngọc ngấm vào mạch máu tế bào, hóa thành sinh khí con trai; hứng tình tuyệt đỉnh. Người con trai sẽ đưa bạn tình lên chót đỉnh mê mẩn sung sướng hạnh phúc, để rồi đặt dấu chấm hết thời thiếu nữ.
Sau này, có thầy địa lý bên Tàu sang. Ban ngày đôi mắt chim cắt của gã dòm khắp đảo. Tối về nhà dân ở trọ, ngồi thềm hè đón gió Nam mà mình mẩy gã cứ bải hoải. Té ra, cái nước Nam này còn nhiều long mạch, huyệt thiêng sinh nhân kiệt. Nhìn thấy cái ang nước cô gái con chủ nhà vừa đi múc về; gã thò hai bàn tay vào vốc nước uống ừng rực. Ngửa mặt lên, trăng non đầu tháng đang treo trên ngọn tre. Chó cắn inh ỏi. Cô gái nhà lành đang mở cổng đón khách. Khách là một thương lái mặt sáng, từng trải. Khách mới, khách cũ chưa kịp chào nhau thì gã đã thấy người rậm rựt, thèm muốn con gái vô cùng. Gã chếnh choáng như người say rượu, nhưng còn đủ tỉnh táo đi khỏi nhà chủ để không vồ cô gái trẻ đẹp. Và gã đã vồ mụ nạ dòng đào sa sùng về nhà muộn đang chổng mông rửa ráy ở giếng đào. Gã tụt quần, cởi chuồng nồng nỗng rồi tốc váy mụ nạ dòng lên. Không chịu, mụ tri hô ầm ĩ; giai làng chạy đến, nện cho một trận tơi bời và đuổi gã khỏi thôn. Thì ra, thầy địa lý uống phải nước giếng Ngọc cô gái múc định cho chàng trai thương lái uống để cầm chân chàng ở lại đảo. Bẽ bàng và hận thù cộng lại thành quyết tâm triệt hạ đất đảo linh thiêng. Gã mời mấy tay phù thủy trên tàu buôn Trung Hoa xuống, bí mật gồng sức lại yểm. Giấy bản viết những ký tự lằng ngoằng, đọc âm u, đốt và thả than xuống. Đêm chớp sáng loè rạch trời. Sáng hôm sau, dân đảo đi quảy nước sớm thấy con cóc cụp gớm giếc, da mọc gai, sần sùi to như thúng cái nổi lên. Khiếp quá! Chẳng ai dám uống nước giếng Ngọc nữa. Từ đó, giếng mất thiêng, lâu ngày bỏ cỏ mọc rêu phong, tù đọng. Con gái làng đảo mất luôn bảo bối.
Nghe ông Trần kể, chúng tôi sợ quá, nôn oẹ, móc họng. Thằng bạn tôi bảo :
- Ông đểu quá. Thế mà còn xui chúng tôi uống nước giếng.
- Đấy là huyền thoại. Tin làm đếch gì.
Yên lòng, tôi bảo ông Trần :
- Thu phục người mình thương không bằng da thịt, tâm hồn, trí tuệ mình mà phải mượn đến nước giếng cổ. Con gái xứ đảo này rẻ giá quá.
Tưởng ông Trần phật ý, tự ái. Ai dè ông tỉnh bơ, thủng thẳng nói :
- Cái giống đàn bà nói chung là xí sớn; đều phải cầu viện trang sức, mỹ phẩm hoặc siêu nhiên.
Đêm hôm đó, tôi cứ thao thức hoài không ngủ. Tôi nghĩ đến ông Trần láu cá. Ông ta vừa uyên bác vừa dân dã, ranh mãnh. Cái đảo nhỏ hoang dã chơi vơi ngoài khơi này có lắm điều lạ kỳ, bí ẩn không thể cắt nghĩa nổi.
Gần sáng, tôi mơ màng. Giấc mơ đến khó nhọc. Tôi lại bắt gặp người con gái hôm trước khoác lưới đánh cá trên bãi cát; rất mến yêu, nhưng tuyệt nhiên không hề có cảm giác chung chạ nam nữ. Nàng hát:
Trăng tà
trăng chẳng tỏ
Chàng đi khơi theo cánh buồm đỏ thắm,
em vò gối cùng chăn
Trăng tà
trăng không tỏ
Chàng vui vầy với gió cùng mây
Đắm say mùa cá nam động dục
Nổi nênh em một đời con gái
Cặp vú trần đêm thao thức
Ơ hờ cát trắng cháy khô.

Nàng ngừng hát, cười e lệ :
- Em biết, anh thế nào cũng ra đây.
Tôi bảo :
- Nàng hát hay hơn tiếng hồ ai oán hàng đêm trên đường xuyên đảo.
- Tiếng hồ ấy như tiếng bò hẹn. Em không nghe được. Tiếng hồ thật ở dưới bến chết lâu rồi.
Chúng tôi lên con thuyền nhỏ đang chao lắc nhẹ bởi sóng vỗ. Chông chênh trên ván gác thuyền tôi bước như kẻ mộng du. Thuyền thả trôi. Chúng tôi nằm trên sàn mũi gác đầu lên bai chèo, ngửa mặt lên bầu trời bàng bạc ngắm trăng. Trăng xanh xao, lạnh. Trời không có mây bay. Và sao cũng biến mất. Nàng bảo :
- Cảm ơn anh! Đêm qua, em biết thế nào là hạnh phúc ái ân khác giới, để thành đàn bà. Đêm nay, chúng mình ngắm trăng biển và làm tình nhé.
Nàng ôm choàng lấy tôi, người lạnh ngắt. Tôi rùng mình; chẳng có hứng thú gì hết. Một thoáng ngại ngần, xấu hổ chợt đến; không có cảm giác bừng bừng ân ái như lần trước. Đêm qua, tôi rất thô bạo đối với nàng.
Bất chợt, nàng ngồi dậy, thở dài se sẽ và kéo tấm lưới cá khoác lên người. Tôi vẫn nhận ra các đường cong mỹ miều qua mắt lưới; nhưng tịnh như không có một chút hưng phấn.
Nàng bảo :
- Cái lão Trần ấy, nó hại anh rồi. Có phải sáng nay, nó cho anh uống nước giếng Ngọc không?
- Phải. Uống no nữa đằng khác.
- Vậy là đời giai của anh vô cảm rồi. Cái giếng cổ ấy bỏ hoang, chẳng ai dám dùng. Từ khi giếng bị yểm, đàn ông múc nước uống thì diệt dục.
Tôi rùng mình, hoảng sợ. Toát mồ hôi. Tay chợt sờ xuống khoảng giữa hai háng chỉ thấy nhẵn thín, không thấy cái vòi đi đái. Tôi khóc ông ổng như cha chết mẹ chết.
- Em thương anh thật lòng. Em cho anh sự thật này, anh viết có khi anh trở thành nhà văn lớn.
Tôi lại thấy lòng nhẹ bẫng, không âm u, lo sợ nữa.
- Có phải nàng bước ra từ cái miếu trên đồi Con Gái kia không?
- Không! Em làm sao mà linh thiêng được thờ phụng như thế. Em là vợ lão Trần sáng nay dẫn các anh đi uống nước giếng Ngọc ấy.
Tôi lại rùng mình. Bỏ mẹ, mình lại mơ rồi. Ai lại đi tình tự với vợ ông Trần.
- Em khổ lắm. Phận đàn bà khổ lắm. Em chết lâu rồi. Người chết trẻ cứ trẻ mãi. Người ta không cắt dây trần thế cho em nên cứ phải hiện về.
- Nhưng sao lại ra nông nỗi này?
Nàng sụt sịt, gục đầu vào vai tôi. Tôi vỗ về, an ủi nàng vài câu. Nàng trấn tĩnh, rồi kể :
- ... Lão Trần hơn em ba mươi tuổi. Ngày trước lão Trần là tay săn cá số một ở đảo này. Ham lắm, cửa khơi, luồng lạch, mùa cá nổi, mùa cá động dục... gã biết tường tận. Em lấy chồng vì phục lão giỏi. Đàn ông tài giỏi trong mắt đàn bà con gái ít học quê mùa lúc nào cũng đẹp lung linh, rất đáng phục. Đánh cá cũng là một nghề phải không anh; mà lão đánh cá giỏi nữa, phục quá đi chứ. Đám cưới em, ba ngày ba đêm, lão rước dâu bằng thuyền đánh cá, cả vạn chài rước em đi vòng quanh đảo. Chả có đám nào danh giá hơn.
Vậy mà, em bất hạnh. Em ra nông nỗi này là do cá Mõm Lợn. Anh không tin à? Miệng cá giống mõm lợn nên vạn chài gọi là cá Mõm Lợn. Săn cá Mõm Lợn phiêu lưu hoang mang, sợ hãi nhưng kỳ thú lắm. Khoảng tháng ba hoặc tháng tám âm lịch là cá Mõm Lợn rúc đầu vào vụng nước cát pha bùn tìm thức ăn. Chúng cày rũi, ăn rong biển, ốc, điệp hải sâm trắng, ghẹ... Dân Vạn chài tinh thông nghề chỉ cần ngửi mùi cá xông lên có thể đoán biết được cá mòi, cá đối hay cá Mõm Lợn mà đánh bắt. Cá Mõm Lợn đi đơn hoặc từng đàn năm sáu con; có con nặng tới năm tạ, sức quẫy quật khởi không lưới nào chịu nổi. Thuyền nhỏ, đi đúng tầm cá ngóc lên thở nó đội luôn mạn thuyền, lật úp như bỡn.
Lão Trần - chồng em săn cá Mõm Lợn bằng lao phóng. Đầu lao là mũi sắt nhọn khoảng ba mươi cm, có ngạnh ngược như ngạnh lưỡi câu. Phía trên mũi sắt là tông có khuy tròn buộc một đầu dây, dây dải ra dài khoảng 50 mét; cuối đầu dây buộc vào một ống luồng to dài khoảng 60 cm gọi là Lỗng. Đầu lao được gắn với cán lao dài khoảng 3 mét. Cá ăn ngầm dưới mạn thuyền lâu phải nhô lên khỏi mặt nước thở. Trai ngư cầm vuốt dọc cán lao đâm theo tư thế phóng thật mạnh vào lưng hoặc đầu cá. Cá dính mũi lao bao giờ cũng phóng vùn vụt ngược ra phía biển. Em cầm bai chèo thuyền cật lực nhắm cái phao Lỗng mà theo, không nhanh là mất dấu. Cá chạy hết tầm, cũng là lúc cá mệt lại lao vào bờ, không động đậy nữa là cá chết hoặc lả. Chồng em kêu vạn chài đến trục vớt cá lên thuyền. Công việc săn cá thường là như thế. Nhưng hôm ấy, chẳng biết dây rợ thế nào ấy, nó quấn thắt nút cổ chân em. Khi cá Mõm Lợn bị chồng em phóng lao, nó hăng máu phóng vùn vụt ra ngoài khơi, nó kéo luôn em xuống biển. Em trở thành cái phao Lỗng thứ hai lướt băng băng theo con cá khổng lồ. Lão Trần không chèo thuyền theo cá đâu, anh ạ. Khi hết tầm; con cá Mõm Lợn quay lại phóng vào bờ. Em và cái phao Lỗng lướt theo con cá lần nữa. Dân Vạn chài trục cá và vớt em lên; dây chão nghiến da thịt chân em đến tận xương.
Làm ma cho em xong, lão Trần bỏ thuyền lên bờ; chấm dứt những ngày lênh đênh trên biển với cá mú. Vạn chài không ai biết cái chết bí ẩn của em; đến em, em còn không biết nữa là. Người thì bảo tai nạn nghề nghiệp; kẻ lại nói cái lão Trần nuôi mưu chằng dây thắt nút cổ chân vợ.
- Nhưng ăn ở với nhau có điều gì không?
- À. Chuyện buồn nhiều hơn vui.
Rồi nàng kể câu chuyện tình buồn trên đảo nhỏ. Giọng nàng lúc ai oán, lúc lạnh tanh, và cứ thầm thì nhỏ dần cho đến khi có bóng người lướt qua mặt làm tôi chợt thức giấc. Tôi thấy mình nằm ngửa trơ trơ ở khách sạn. Chẳng có chiếc thuyền và người con gái khoác áo lưới đánh cá nào. Toàn mộng với mị, ghê chết; người tôi bải hoải bài hoài. Tôi hình dung lại phần sau câu chuyện, định bụng sáng đi hỏi ông Trần cho ra nhẽ. Theo nàng thì: Nàng lấy chồng không có đêm tân hôn. Lão Trần, càng cường tráng bao nhiêu thì “chim” lão càng sun vòi bấy nhiêu. Lão vật vã trên cơ thể căng mẩy, tròn trịa, eo ót của đứa con gái đảo mặn mòi mười bẩy tuổi. Lão phát điên, ngoặm, cắn, vầy vò nàng suốt năm canh. Nàng đau đớn, chịu cực hình, nước mắt cứ trào ra giàn dụa. Cực thân nàng lắm!
Hết đêm, nàng tơ tướp như một cây chuối non bị bão biển. Còn lão Trần thì mệt mỏi, hai mắt thâm quầng. Lão bảo: “Em ở nhà, giữ gìn, bảo trọng. Ta lo lắm”. Nàng ngước mắt nhìn chồng, lòng thương nổi lên: “Anh đi, em ở nhà chờ. Sao phải lo?”. “Người ta bảo: Đàn ông đi biển mà vợ ở nhà ngoại tình thì thế nào cũng xảy ra bất trắc ở ngoài khơi”. Nàng lặng im, vân vê gấu áo, chỉ chực khóc.
Từ đó, lão ít về nhà; không ra khơi thì nằm lì dưới thuyền; thảng hoặc lão mới ăn nằm với vợ. Mỗi đêm chồng vợ là một lần nàng như bị cực hình. Khiếp sợ chồng, nhưng nàng vẫn thương.
Con gái đang sức xuân tràn trề, năm này qua năm khác, nhiều đêm không ngủ, thèm đàn ông vô kể. Nàng sống khép mình, ít giao du vì rất sợ ánh mắt đàn ông bốc vác ở bến cá hau háu nhìn. Nàng sợ tiếng hồ réo rắt ở cái thuyền buôn nào đó vọng lên. Chồng đang đi biển, nàng phải giữ mình.
Cho đến một đêm, lòng nàng như có ổ than hồng. Nàng ra giếng Ngọc múc nước tưới từ đầu đến chân; vẫn không dập tắt được ngọn lửa lòng. Nàng lướt thướt đi qua rừng trâm cổ thụ để về nhà. Những bóng đen lẩn quất rồi lẫn vào các gốc cây mà nàng không hề biết. Đêm chưa vào sâu. Dưới bến, thuyền buôn vẫn lập loè ánh lửa. Trăng mờ sáng. Tiếng hồ khi khoan khi nhặt, lúc nỉ non lúc nức nở làm nàng mê mẩn, không rời bước. Lưng tựa gốc trâm cổ thụ, nàng lắng nghe tiếng hồ ngân và lời người đàn ông xa vắng nỉ non. Hát rằng:
Tôi là cánh đồng khô hạn
khao khát cơn mưa rào tháng hạ
Tôi đi tìm
Chỉ thấy mưa bóng mây
xa ngái cuối chân trời

Có người con gái thức đêm
mòn gối
Thèm đàn ông...

Cái đẹp không bao giờ song hành cùng cái ác. Tai họa bủa vây lúc nàng mê mẩn rung nhịp đập con tim cùng tiếng hồ rạo rực. Những bóng đen cởi trần áo vắt vai chồm đến. Nắm lá trâm vò nát nhét vào miệng nàng không kêu được. Nước trâm đắng nhặng. Trước lúc phó mặc đời, nàng còn kịp nhớ đến hình ảnh người chồng đêm tân hôn; nàng ứa nước mắt. Từng con đực thay nhau quần đảo vầy vò nàng. Nỗi khiếp sợ qua nhanh, cảm giác sướng thú dần dần lan tỏa.
Có con chim rừng giật mình thức giấc, bay vụt lên. Lá trâm rung xào xạc. Nàng ngước nhìn. Một khuôn mặt đàn ông âm u không rõ. Người đó lấy áo chua lòm mồ hôi lót xuống lưng nàng. Lá trâm khô hết lạo xạo dưới lưng, êm ái và mát. Mùi đàn ông hoi nồng xộc vào mũi nàng. Đấy là những gì nàng nhớ nhất trong đám đàn ông lạ dấu mặt. Và cánh đồng con gái hạn khô nứt nẻ được tưới nhuần có cả tiếng hồ từ dưới bến vọng lên. Nàng nghe rất rõ khúc hồ dồn dập rạo rực. Nàng trôi phiêu du cùng tiếng hồ và nhịp nhịp ái ân.
Gần sáng, nàng biến thành cây chuối đổ bão. Trong ánh sáng lờ mờ của trăng tàn lọt qua kẽ tán cây, nàng đau xót nhìn tấm thân trần căng mẩy của mình đầy thương tích, nhan nhản vết cào, véo, vết răng to nhỏ. Những bóng đen đến chóng bao nhiêu thì biến nhanh bấy nhiêu. Rừng trâm vắng lặng đến rợn người.
Sau trận bão đời, nàng lê bước về nhà. Lão Trần vẫn đang mê mải cá mú ở xó biển nào đấy. Sáng bạch, nàng vội thay quần áo để ném vào xó nhà, tẩy trần; nhưng lạ chưa kìa: áo quần nàng vẫn ướt át dán vào người. Da thịt vẫn mẩy căng, tròn trịa không một chút xất síu. Hai đùi vẫn trắng mịn màng như vừa niêm cất trong nhà lành ra. Không thể thế được. Nàng đã sống thực cảm giác cưỡng ép ân ái khác giới. Nó là đời sống trần tục chứ không phải là mơ. Hay là mình mộng du? Nàng không lý giải nổi chuyện gì đã xảy ra với mình.
Cảm giác sợ hãi và thích thú trộn lẫn cứ đeo đẳng nàng suốt cả tuần. Như người ăn dở lúc nào cũng thòm thèm. Nàng cố quên, cố chạy trốn cái đêm rừng trâm nhập nhoạng ấy thì mùi đàn ông hoi nồng, cái áo lót dưới lưng chua lòm mồ hôi và tiếng hồ rạo rực lại cồn cào trở về. Nó làm nàng mê mẩn, bứt rứt không yên. Đêm đêm, nàng lại đến giếng Ngọc tắm, lướt thướt đi qua rừng trâm để lắng nghe tiếng hồ; nàng tựa lưng vào cây trâm cổ thụ và mong đợi mơ hồ cái điều gì đó xảy ra. Chẳng có gã đàn ông nào nữa, chỉ tiếng hồ vẫn từng đêm nức nở vẳng lại.

Ngoài khơi xa có bão.
Chiều tà. Ráng mỡ gà quầng ở chân trời rồi rực lên đỏ ối. Nàng thấp thỏm âu lo và cầu mong chồng bình yên. Một tuần, hai tuần chẳng thấy lão Trần về. Một tháng, nàng không còn kiên nhẫn đứng ở bãi cát ngóng ra ngoài khơi xa nữa thì lão về thật. Sóng đập vỡ thuyền, lão ôm được mảnh ván lênh đênh trên biển cho đến khi người ta cứu sống. Tả tơi. Rũ rượi. Gầy nhom như khỉ. Mặt quắt như ngón tay chéo. Chỉ có hai mắt là ra giống người. Nàng đổ cháo phục thuốc cho chồng, thêm một tuần nữa lão lại người.
Chồng nàng bảo :
- Đừng hòng qua mắt ta. Những ngày ta đi biển, em đã làm gì sai trái?
Nàng nhận ngay :
- Đêm, em ra giếng Ngọc tắm, đi qua rừng trâm về nhà. Tiếng hồ từ dưới bến vọng lên da diết lắm. Em cứ đứng dựa lưng vào cây trâm nghe.
- Có trai trên gái dưới không, dù là trong ý nghĩ?
- Em... khô... ông... chắc.
Nàng khóc và thuật lại cho chồng tất cả những gì đã xảy ra. Lão Trần khóc hu hu, vác phảng nhằm gốc trâm mà chặt, lóc ra từng mảng gỗ trắng vàng. Rừng trâm mênh mông, lão chặt sao cho hết.
Hôm sau, lão Trần bảo :
- Từ nay, em không ở nhà nữa. Đi biển với ta.
Nàng nhẫn nhịn, lẳng lặng theo chồng. Biển, muôn đời vẫn kỳ bí đối với con người. Chồng đánh cá, vợ chèo thuyền; đến bữa thì nấu cơm, chồng chan vợ húp; ấm áp bình yên.
Ở biển sự lãng mạn bao giờ cũng dạt dào hơn đất đảo. Đêm biển huyền hoặc, lung linh bởi trăng dát bạc và muôn triệu vì sao li ti rắc xuống nước. Gió mát phóng khoáng. Con người cởi mở, gần gũi với nhau hơn. Nhu cầu yêu và được yêu bộc lộ không giấu diếm, công khai dưới màn trời chiếu... sàn. Lão Trần và nàng - chồng trên vợ dưới tình tự ngay trên sàn thuyền mặc mùi cá mú, hơi biển mặn mòi xộc vào mũi. Phúc bảy mươi đời nhà lão Trần, chức năng đàn ông tự nhiên vận hành rất tốt. Đêm biển mới là đêm tân hôn. Nhưng, đúng lúc lão gần đến đỉnh hưng phấn nhất thì nàng bảo :
- Anh lót cho em cái áo xuống dưới lưng.
Lão giật thột mình. Áo khỉ gì. Cần gì áo. Nàng nói như mê sảng :
- Lót áo dưới lưng cho em đi. Thích lắm. Em nghe được cả tiếng hồ rạo rực từ dưới bến vọng đến.
Lão Trần suội người ngã vật sang bên. Thân xác mềm như bún. Hiểu ra rồi! Lão Trần ngóc đầu, gào to :
- Cái thằng kéo hồ ấy là thằng chó nào? Nó hơn tôi điểm gì?
Nàng giật mình tỉnh lại hết mơ màng, ôm lấy chồng van xin :
- Người ta ở thuyền dưới bến. Em không biết.
Lão Trần gạt con vợ trẻ lăng loàn ra, đứng dậy đi đến mũi thuyền ngồi phịch xuống. Hai chân thả thõng đung đưa, lão quên là mình đang cởi chuồng nồng nỗng dưới ánh trăng bạc. Cay đắng quá! Dù là trong suy nghĩ, con đàn bà đã ân ái với ai, sẽ mang theo người ấy cùng xuống mồ.
Nàng khóc nức nở. Giận mình. Giận đời.
Lão Trần lầm lì không nói. Vợ chồng thức trắng đêm trên con thuyền nhỏ. Và hôm sau, ngày săn cá Mõm Lợn tôi vừa kể đoạn trên thành ngày định mệnh tăm tối... Nàng biến thành cái phao Lỗng bị con cá Mõm Lợn kéo đi vun vút ra khơi rồi lại vào bờ. Cái đẹp bị tàn phá giết chóc không thương tiếc...
Thưa bạn đọc!
Tôi chỉ cần chép nguyên những gì tai nghe mắt thấy ở đảo Man cũng đã thành thiên truyện ngắn. Nhưng, vẫn chưa yên tâm rời cái đảo xa, âm u, bí ẩn ấy. Tôi tìm đến nhà ông Trần.
Ông Trần đi vắng. Nhà tuyềnh toàng, cửa không đóng. Bất chợt, tôi bắt gặp cái áo cổ tròn vải diềm bâu và cái hồ bưng da kỳ đà treo trên vách. Tôi nhìn ra ngoài, đồi Con Gái nằm ngửa tênh hênh hứng sinh khí của biển đảo trăng sao trời đất.


0
Đêm thánh vô cùng
 
Chuyến bay Sài Gòn - Hà Nội chậm gần năm tiếng đồng hồ.
Ba thằng mệt mỏi, ủ ê ở nhà ga. Cái nhà ga là nơi đưa đón những số phận. Hẹn hò ngày gặp lại? Chia tay rồi mãi mãi xa nhau? Tôi đã đi qua những nhà ga thế này, có những lần hớn hở vui, có những khi u uất buồn, lòng trĩu nặng.
Cả ba thằng chúng tôi đều rỗng túi sau chuyến đi dài lăn lóc qua Cần Thơ, Đất Mũi, Rạch Giá, Phú Quốc... Chặng đường phía trước thăm thẳm. Ai biết trước được điều gì sẽ xảy ra khi con chim sắt chứa trong bụng nó mấy trăm người bỗng dưng trở chứng.
Máy bay đến khoảng Tây Nguyên thì mưa to và gió lớn. Lắc kinh khủng. Tròng trành. Hành khách náo loạn, hoảng sợ. Một bà già lẩm nhẩm, cầu trời khấn phật. Một anh chồng điện thoại cho vợ, sám hối, nhận lỗi về mối tình vụng trộm và xin nàng tha thứ. Một cô gái trẻ sợ quá ngất đi. Một cô vợ điện thoại cho chồng biết khoản vốn riêng phòng thân mấy cây vàng chôn giấu ở chân giường và khóc lóc xin chồng ở vậy nuôi con, đừng lấy vợ... Hoang mang, hoảng sợ, không ai kiểm soát được ai. Tôi hoàn toàn không tự kỷ ám thị về sự nguy hiểm, mà thực sự trứng đang treo đầu đẳng. Thôi đành phó thác cho số phận.
Vậy mà tai qua nạn khỏi. Cứ y như là giấc mơ khủng khiếp vừa trôi qua. Nhưng, cái chết vẫn theo đuổi ám ảnh tôi. Xuống sân bay, tôi mới biết mình còn sống.
Hà Nội không hề có mưa. Đúng tối Noel, trời rét, nhưng khô ráo. Ở nhà chờ, người ta dựng cây thông Noel có dễ cao đến bốn mét, điện màu nhấp nháy, lấp lánh giấy tráng kim. Đêm Giáng sinh đã thực sự đến với mọi người. Nhà ga, vẫn những cuộc đón đưa. Ai sẽ cười? Ai đang khóc? Cái dòng đời vô tận này ai sẽ hạnh phúc hơn ai?
Cuối cùng, tôi cũng về đến nhà sau chuyến đi nhọc nhằn, và một chuyến bay trục trặc, đầy hiểm nguy.
Vợ tôi mở cửa. Con bé giúp việc đang xới cơm. Con gái đang so đũa. Con trai bé ngồi vào mâm, vẫn dán mắt vào truyện tranh. Vợ tôi bảo :
- Anh vào ăn cơm. Các con đang đợi.
Con gái bảo :
- Bố vào ăn cơm, con còn đi chơi Giáng sinh.
Con trai bảo :
- Bố vào ăn cơm để con còn chơi game.
Sao vợ tôi không hỏi: “Anh đi đường có mệt không?”. Sao con gái không bảo: “Con thấy bố bơ phờ, mất hồn, người gầy đi đến mấy cân”. Sao con trai tôi không hỏi: “Bố có mua gì cho con không?”. Hoặc ít ra, chúng nó giận dỗi, trách cứ bố điều gì đó, để tôi có cớ thanh minh, xin lỗi. Hoặc ít ra, vợ tôi cũng tỏ ra coi thường cái thằng chồng vô tích sự, hay kém hấp dẫn, để tôi phải cun cún khép nép trong nỗi mặc cảm, sợ hãi.
Tôi thả cái samsonai bên chân cầu thang. Tôi bước vào phòng vệ sinh. Tôi muốn khóc quá mà không khóc được. Cái mặt méo xệch trong gương.
Bữa cơm nhiều món ăn. Nhà tôi, ăn theo khẩu vị, không bắt buộc ai ăn giống ai để chiều lòng nhau. Vợ tôi thích xúc xích Đức, nàng vẫn thường mua vài cân để trong tủ lạnh, ăn dần. Con gái lớn bốn mùa ăn thịt thăn quay. Con trai bé quanh năm ăn thịt gà luộc. Tôi toàn thích món ăn nhà quê. Tối nay, vợ tôi bày ra món thịt lợn ba chỉ chấm mắm tép và canh cua cà pháo. Tôi bảo :
- Ngon quá. Lúc nào bố chết, cúng 100 ngày, các con nhớ cúng món này nhé.
Chẳng có ai trả lời. Mọi người lầm lũi ăn. Tôi hỏi vợ :
- Em ở nhà thế nào?
Nàng bảo :
- Bình thường, anh ạ.
Tôi lại hỏi :
- Thi hết học kỳ một thế nào con gái?
- Bình thường, bố ạ.
Tôi lại hỏi con trai :
- Còn con?
- Bình thường, bố ạ.
Bình thường! Cuộc sống bây giờ “gạo châu cùi quế”, bó rau muống mùa đông héo quắt: 6.000 đồng, cân thịt bò: 100.000 đồng, lạng thịt lợn ba chỉ: 5.000 đồng... vớ được hai chữ bình thường đã là hạnh phúc lắm.
Bình thường! Thời buổi này đầy bất trắc, bất ổn, ra đường sợ tầu xe đâm, đến cơ quan nhìn cái bản mặt nào cũng thấy tối tăm, đầy toan tính, về nhà thấy nước da con cái không bợt bạt, tóc tai không bù xù, mồm miệng không ngáp vặt, chảy nước dãi... là mừng. Mong ước giản dị được hai chữ bình thường coi như cuộc sống hạnh phúc, yên ổn.
Nhưng, hai chữ bình thường từ miệng vợ con tôi có bình thường không? Hững hờ, vô tình hay vô cảm?
Tôi gác đũa nhìn vợ. Xa lạ quá. Nàng như không còn là vợ tôi nữa. Ngày trước, Noel tôi đã từng đưa nàng lang thang trên những con phố đêm đến nhà thờ xứ đạo Hà Đông, nhà thờ Nam Đồng, nhà thờ Cửa Bắc, nhà thờ Lớn Hà Nội... cũng vài lần về quê đi xuống tận nhà thờ đá Phát Diệm. Lãng mạn, chân thành và nỗi niềm tâm sự muộn phiền sâu lắng nhất là đêm Giáng sinh ở Sa Pa mù sương. Những ngọn đèn đường màu vàng ệch và nến thắp sáng lung linh trong nhà thờ đã giảm bớt cái lạnh lẽo của phố khuya. Những ngọn núi hình răng cưa và thửa ruộng bậc thang chìm vào đêm đông lạnh lẽo. Sương mù như tấm voan mỏng nhẹ trắng đục trùm lên nhà thờ đá cổ Sa Pa rêu phong, tôi vẫn nhận ra màu xám bạc và vẻ trầm tư đến cô độc. Nàng dịu dàng khoác tay tôi, khe khẽ hát Bài Thánh ca buồn “Rồi những đêm thánh đường đón Noel. Lang thang qua miền giáo đường dấu yêu. Tiếng thánh ca ngày xưa vang đêm tối. Nhớ quá đi thôi giọng hát ai buồn...”
Thảng thốt, tôi giật mình. Nàng đang hát cho nàng? Hay nàng hát cho tôi và Theresa ngày xưa? Lòng chợt se lại. Bất chợt tôi bắt gặp những bước chân trần của người dân tộc Mông, Giáy... ở các bản Tả Phìn, Lao Chải, Cát Cát, Mường Hoa cũng vừa từ nhà Chánh xứ bước ra, bắt đầu tản dần trên đường phố nhỏ ngoằn ngoèo heo hút. Tôi và nàng dùng bữa reveillon ngay trên con dốc phố núi có những bậc đá lát cũ màu xanh. Bếp than hồng ấm sực, rượu thóc San Lùng thơm lừng, thịt lợn cắp nách nướng và ngô bắp cũng nướng. Bỗng dưng, nhớ món bánh bột lọc và cá chép nấu cháo đêm Giáng sinh năm xưa, miệng tôi chợt đắng ngắt. “Em không ăn được nữa” - Nàng bảo. “Sao vậy em?”. Tôi cảm thấy như mình có lỗi, ái ngại hỏi. Nàng ngần ngừ một lát rồi bảo: “Anh nhìn kìa. Những đứa bé người Mông mặc quần áo đen hơn màn đêm, bước chân trần trên đường nhựa buốt giá”. Tôi lặng im. Nàng thương bọn trẻ người Móng đến giờ này còn phải đi bán khăn thổ cẩm và sợi chỉ màu buộc tay kiếm từng đồng bạc lẻ? Hay nàng buồn vì đọc được nỗi lòng trĩu nặng của tôi đang trào dâng ký ức xưa cũ? Tôi nhận ra, nàng và tôi ấm áp, gần gũi, tin cậy biết bao nhiêu...
Vậy mà, bây giờ, cái gì đã làm cho vợ tôi lột xác, đổi thay? Nàng không còn nhớ hay không muốn hát Bài Thánh ca buồn nữa. Đến nỗi buồn còn không có chỗ cư trú thì con người nàng đang rỗng ra rồi. Tôi hỏi :
- Em làm sao thế? Hay anh có lỗi gì à?
Nàng lắc đầu :
- Không. Em có phàn nàn gì đâu.
Tôi lại hỏi :
- Các con này, hay bố có lỗi gì với các con?
Con gái bảo :
- Việc bố làm, con không quan tâm.
Con trai bảo :
- Con chẳng để ý gì.
Tôi lắc đầu ngao ngán.
Bữa ăn vẫn diễn ra đều đều, có phần tẻ nhạt. Không hào hứng. Không ồn ào. Không xuýt xoa khen ngon. Không phàn nàn mặn nhạt. Không kêu ca cay đắng. Tôi kể :
- Máy bay bố đi đến vùng trời Tây Nguyên thì gặp thời tiết xấu. Giật. Lắc. Rung. Bố bị ù tai, hoa mắt, chóng mặt. Có lúc máy bay qua chỗ không khí loãng, rơi tụt xuống cả trăm mét...
Đứa con gái không nói gì. Thằng con trai im lặng. Vợ tôi bảo :
- Khiếp! Anh kể nghe rợn tóc gáy. Ghê chết đi được.
- Ừ. Sợ lắm! Anh cứ tưởng không về được với mẹ con em.
Con gái lên tiếng :
- Máy bay mình không hiện đại bằng máy bay Tây, bố ạ.
Con trai vẫn vừa ăn vừa dán mắt vào truyện tranh Đôrêmon, thủng thẳng nói :
- Hôm nào, bố cho con đi để con thử cảm giác mạnh.
Vợ tôi bảo :
- Em nghe nói. Máy bay rơi, mỗi người chết được đền bù 60.000 đô-la. Nhà nào túng bấn cũng đỡ một phần, anh nhỉ?
Họng tôi nghẹn cứng. Không nuốt được. Tôi bỏ đũa, đứng dậy. Con gái hỏi :
- Bố thôi ạ?
Vợ tôi bảo :
- Chắc đi đường mệt. Bố ăn ít.
Tôi bước vào phòng ngu. Đóng ập cửa lại. Tôi ngó quanh. Súng không có. Dao, kiếm cũng không. Tôi nằm vật xuống giường. Sao cái nhà này chẳng có ai hiểu tôi? Giá có khẩu súng, chưa biết số phận tôi đã ra sao.
Tôi biết mình khốn nạn trong nhà từ lâu, nhưng chưa bao giờ hình dung ra nông nỗi này. Lúc ngồi vạ vật ở sân bay, thằng A, thằng Z, đứa nào cũng mong ngóng về nhà nhanh. Con người có cái nhà cũng như con chim có cái tổ trú ngụ lúc gió mưa, giá rét. Cái nhà y hệt cái hầm trú ẩn cuối cùng. Khi xênh xang mũ áo, lúc sa cơ lỡ bước, thất thế ngoài đời không còn đường thoát cũng phải quay về nhà tránh nạn.
Về nhà, lúc ấy mỗi thằng một tâm trạng...
Thằng A ngồi xao xuyến nhớ ba đứa con trai còn ở tít tận Tây Nguyên chưa tha ra Hà Nội được. Ôi trời! Một năm hai lần nhảy ô-tô cỏ về đất đỏ bazan thăm nhà. Vợ chồng chưa kịp ôm hôn, quấn quýt đã giận nhau. Giận bóng. Giận gió. Giận hờn. Giận dỗi. Giận vì những chuyện chẳng đâu vào đâu. Đổ rồi xa nhau lại ò e í e điện thoại nước mắt ngắn nước mắt dài. Thương thương. Nhớ nhớ... Vợ nó sai thằng lớn điện thoại: “Bố ơi! Về nhà đi. Chúng con nhớ bố lắm”. Con nhớ bố hay vợ nhớ chồng? Hắn nghĩ: Giá mà bây giờ được về nhà ôm thằng cu bé nhất, vục mặt vào háng nó, ngậm miệng vào chim nó. Bốn bố con đùa nghịch cười như nắc nẻ thì sung sướng biết bao. Thằng này, bất giác bật lên một câu thơ: Vợ dại con thơ l... một cái/ Nhà tranh vách đất dái tám hòn. Rồi cười như... mếu.
Thằng Z lại nghĩ, về đến nhà có cách gì để làm đẹp lòng vợ. Cả tuần đi công tác, gã ăn uống kiêng khem, món ăn nào ảnh hưởng đến tình dục là chừa ra, chỉ sợ về nhà mất sức chiến đấu, vợ nó chì chiết cho thì khổ. Thằng này nghĩ: ào vào phòng khách thế nào cũng thấy chị giúp việc đang ẵm con bé. Thằng này chầm bặp ôm đứa con bé bỏng vào lòng. Cũng định vục mặt vào háng đứa bé hôn hít, nhưng chợt giật mình nhớ ra đứa con thân yêu của mình là... gái. Đã là bé gái thì không thể úp mặt vào háng hôn hít như thằng A ngậm chim con được. Thằng này hôn chùn chùn vào má con bé khiến nó sợ khóc thét lên. Cô vợ trẻ đưa mắt lườm chị giúp việc. Biết ý chủ nhà, chị vội vàng ẵm lấy đứa bé :
- Thôi, thôi để chị bế sang “hàng xóm” chơi, chú đi đường bụi bặm, tắm táp, nghỉ ngơi đi.
Chị ô sin tay phải ẵm đứa bé, tay trái lôi xềnh xệch đứa lớn đang nhai kẹo dừa Bến Tre cùng đi, rồi khuất hẳn. Thằng này mừng rơn. Bất chợt, gã bắt gặp cái nhìn thèm khát của cô vợ trẻ cao một mét bảy hai, to lừng lững, béo trắng như lợn cạo đã tắm rửa sạch sẽ, sức nước hoa đang sốt ruột chờ. Má rừng rực đỏ, cháy bỏng, khát thèm, muốn. Không còn biết trời đâu đất đâu. Thằng này rúc vào nách vợ. Nắng lâu, dưa ngấu. Lần này, thì cô vợ mặt nở hoa, mãn nguyện. Hạnh phúc quá trời! Tối đêm, gã ghi vào sổ: Vợ đẹp con khôn l... ba cái/ Nhà cao cửa rộng dái hai hòn.
Thằng A, thằng Z, mỗi đứa một hoàn cảnh, nhưng đứa nào cũng ngời ngời hạnh phúc. Ấm áp. Da diết. Xao xuyến. Run rẩy. Cứ y như thời đang yêu đầm thắm say mê. Cứ y như tuần trăng mật. Cứ y như tháng trăng mật. Cứ y như trái đất này chỉ có hai ta và những đứa con bé bỏng.
Còn thằng tôi, tôi đã hình dung ra một cái ao tù đọng ngay trong nhà mình. Máy bay có chậm giờ đổi chuyến. Máy bay có dừng bay hôm nay, ngày mai, mãi mãi cũng chẳng làm tôi sốt ruột, mong ngóng. Nếu có chút lo lắng, chỉ là nỗi sợ mất việc làm. Ước mong một cái nhìn đằm thắm của vợ, một cử chỉ suồng sã hay quấn quýt đầm ấm của con vẫn xa vời. Có khi sợ về nhà. Lâu ngày, ngụp lặn trong lạnh lùng, vô cảm, sống cũng quen dần.

Một lúc sau.
Tôi ngóc đầu dậy. Con gái vừa đánh răng xong, đang mặc thêm áo ấm.
- Con đi ô-tô hay mẹ?
- Mẹ đi.
- Con không đi cùng mẹ?
- Không! Con muốn đi một mình.
Một mình. Sao các người lúc nào cũng muốn một mình? Con gái tôi lặng lẽ ra khỏi cửa. Cái lưng nó như còng xuống. Sao già sớm thế hả con? Con gái đẩy chiếc xe Dylan mới mua hơn trăm triệu đồng ra sân. Khổ thân, nhà có túng thiếu gì đâu mà con bé gầy mảnh; cái xe thì to nặng.
Vợ tôi đang trang điểm. Nàng tô thêm son lên làn môi đỏ chót. Nàng thay cái nhẫn vàng mặt lá cỏ bằng cái nhẫn mặt đá hồng ngọc. Nàng khoác áo choàng lông thú màu đỏ cổ viền trắng. Nàng quay lưng lại mặt gương, hỏi :
- Anh có đi nhà thờ với em không?
Tôi lắc đầu, đột nhiên lỡ lời :
- Anh muốn ở nhà một mình.
Nàng dường như chẳng nghe, hoặc nghe nhưng không phàn nàn trách móc, thản nhiên, bảo :
- À quên. Lúc tối, có anh bạn gì làm nghề đánh cá, cùng học phổ thông với anh, điện thoại ra bảo không liên lạc được với anh.
- Chắc lúc dó anh đang trên máy bay. Tắt di động. Anh ấy bảo sao?
- Bảo anh về dự khánh thành nhà thờ đạo mới xây, tiện thể dự lễ Giáng sinh luôn. À, em bảo này, nếu về quê, anh cứ khóa cửa ngoài, lúc nào về em tự mở.
Nàng đi xuống cầu thang. Cái áo choàng lông thú màu đỏ mất hút vào đêm mùa đông.
Tiếng xe ô-tô Camry rì rì nhỏ dần rồi im bặt. Nàng đi, khoảng trống sau lưng nàng và tôi cứ rộng hoác ra.
Đêm Giáng sinh. Tôi bơ vơ, cô độc như con sói lạc đàn. Thà rằng bị giận hờn, trách móc như thằng A! Thà rằng thấp thỏm âu lo “đóng thuế” cho vợ và tràn trề thỏa mãn như thằng Z! Chúng nó có khuyết thiếu chỗ này, có vênh váo cập kênh chỗ kia, nhưng vẫn sẵn nơi để nhớ để mong, vẫn sẵn người chờ đợi, vẫn sẵn kẻ khát thèm. Còn tôi, tôi không có chốn dung thân ngay trong nhà của mình.
Căn biệt thự nhiều phòng rộng, vắng vẻ. Quạnh hiu. Tôi muốn đập phá quá. Bom bay hoặc tên lửa tomahawk của Mỹ phóng đến cái nơi ở u uất này cũng được; nó sẽ vỡ tung ra, biến mất.
Bỗng dưng tôi nhớ đen con trai đang ở nhà. Vẫn còn hai thằng đàn ông trong cái không gian chật hẹp, tù đọng, bức bối này. Mọi muộn phiền, đơn độc, uất ức dịu hẳn.
Tôi vào phòng con trai. Thằng bé chơi game xong đã nằm lăn ra ngủ. Đầu nó nghẹo sang một bên. Thương quá! Thằng bé lạnh lùng ngay từ trong bụng mẹ. Suốt chín tháng mười ngày không hề quẫy đạp. Lì lợm không thèm đếm xỉa gì đến chiến tranh, giá cả leo thang, thời tiết nóng lạnh ở bên ngoài. Tôi vành tai úp vào bụng mẹ nó, nghe tim thai. Im ỉm. Lặng phắc. Lúc đẻ nó ra, vợ tôi thiếu sữa, phải nuôi bộ. Mười hai giờ đêm, mắt vẫn thao láo thức. Nóng sốt. Sài đẹn. Tôi ôm ấp, ẵm bế, chăm chút như người mẹ. Con vàng con bạc, con hồng ngọc, con kim cương của tôi.
Tôi nhấc đầu thằng bé, tuồn cái gối bông gạo xuống gáy. Rồi nhẹ nhàng nằm xuống bên ôm lấy con trai. Lòng rưng rưng, da diết. Có nỗi niềm máu mủ ruột thịt nào hơn. Tôi thức đêm thức hôm kẻ, vẽ, viết, làm dự án kiếm tiền cho vợ con. Tôi đi công tác chắt chiu từng đồng tiền thanh toán, chỉ tiêu đồng lẻ cũng vì vợ con.
Mái tóc thằng bé nhuộm hoe hoe vàng, xịt keo thẳng đứng. Áo thổ cẩm xám xịt. Mồ hôi thằng bé. chua chua. Tôi nhận ra mùi mồ hôi mình. Cha nào con nấy. Tình thương yêu ruột thịt trỗi lên thật mãnh liệt. Tôi kéo đầu thằng bé vào lòng mình.
- Bố.
Thằng bé gạt tay tôi ra khỏi bụng nó. Tôi nhẹ nhàng, âu yếm :
- Ừ. Bố đây. Cho bố ngủ với con một lúc với.
Thằng bé đẩy tôi ra :
- Bố về phòng bố đi để con ngủ.
- Con đuổi bố đấy à?
Thằng bé càu nhàu :
- Không! Con chỉ muốn một mình.
Lại “một mình”, nhà này ai cũng một mình! Lâu lắm rồi, tôi chưa được ôm thằng bé vào lòng. Tôi năn nỉ :
- Bố muốn ngủ với con.
- Bố ngủ ở đây thì con đi phòng khác.
Thằng bé nhỏm dậy, cau có, quơ cái gối rồi bỏ sang phòng bên cạnh. Tiếng cánh cửa đóng sầm, và tiếng lách cách gài chốt. Chốt cửa, một thế giới riêng biệt khép lại. Thằng bé “một mình” rồi. Tôi không thể bước vào cõi ấy được nữa. Tôi cảm nhận mình đang bất lực. Và tôi nhận ra mình đang nằm trơ trọi trên giường, cô độc ngay trong nhà của mình. Tôi bất lực và hoang mang thật sự!
Tôi hình dung cô vợ thằng A lại xui con điện thoại từ Tây Nguyên ra năn nỉ bố :
- Bố ơi, về nhà đi, chúng con nhớ bố lắm!
Và nàng ta đang tủi thân, tức tưởi: Đàn bà xuân sắc có thì/ Năm một lần phép còn gì là xuân. Tôi tưởng tượng đến cái mông cô vợ thằng Z đang ưỡn lên, cái ngực đang chường ra. Và nàng bảo: “Nhanh lên anh, còn ăn cơm rồi đi lễ Giáng sinh”...
Chẳng lẽ lại khóc. Đàn ông đã khóc là xảy ra một cái gì đổ vỡ, nát tan lắm. Vợ tôi không có tội. Con tôi không có lỗi. Tôi sống ngay ngắn, tử tế trong nhà ngoài đường. Hà cớ gì, nguồn cơn nào vợ chồng, bố con không gần gũi được nhau? Tôi muốn vạch trời xanh kêu và hỏi cho ngọn ngành. Tôi cố kìm tiếng lòng tấm tức khỏi bật ra. Chẳng lẽ chốn này không có chỗ tôi dung thân?
* * * * *
Về quê!
Về quê ngay!
Ý nghĩ hồi hương chợt lóe lên đầu. Tôi gọi taxi, đi về quê ngay trong đêm. Vẫn còn kịp gặp bạn bè thời chăn trâu cắt cỏ, thời đi học phổ thông trong đêm Giáng sinh. Tôi đang điên? Tôi đang chạy trốn khỏi căn nhà của mình?
Tôi là người xa quê đã lâu. Sống ở thành phố nhiều năm nhưng chưa bao giờ tôi là người phố phường. Bạn bè bảo tôi là người khó đổi thay. Dân dã. Chân mộc. Nhưng, lãng mạn. Và nặng tình.
Quê tôi rất nhiều nhà thờ đạo. Nhà tôi lại đi lương. Một xóm đi lương lọt thỏm giữa làng mười một xóm đi đạo. Ký ức xao xuyến trầm buồn của tôi là những mái nhà thờ hình chóp chọc lên trời xanh, cây thánh giá trên đỉnh gác chuông dầm trong dãi dầu mưa nắng. Và những cô gái mắt bồ câu, tròn, to lúc nào cũng mơ màng như mắt Đức Mẹ Maria.
Hơn mười giờ. Xe ô-tô về đến đầu làng. Làng đạo đang mùa vọng, rộn rịp đêm Giáng sinh. Người chen vai người trong ánh điện sáng choang. Cái rét mướt đêm đông dường như ấm lại. Nhà thờ đạo mới xây còn thơm mùi ve vữa. Uy nghi. Và trầm mặc. Nhà thờ như một hình ảnh thu nhỏ của nước Chúa.
Tôi vẫn nhớ, cái nhà thờ xưa bị bom Mỹ đánh sập thành đống gạch vỡ, chỉ còn tháp chuông cao vòi vọi vươn lên tận trời xanh. Lâu ngày, um tùm cỏ, dây tóc tiên leo, và cây xấu hổ mọc trên gạch vỡ, hồ nát. Gần đây, người ta xây nhà thờ mới, nhưng vẫn giữ lại cái tháp chuông xưa.
Tôi như người chết sống lại. Bồi hồi, kỷ niệm xưa cũ dào dạt hiện về. Cứ như vừa mới hôm qua. Cứ như tôi đang sống những năm tháng tuổi thơ ở làng.
... Tôi học cấp ba trường huyện, cùng lớp có người bạn gái Hoàng thị Mùi ở xóm đạo. Mùi mang tên thánh là Theresa. Con gái xóm đạo ít khi được học lên cao như Mùi, thường chỉ hết tiểu học là nghỉ ở nhà dệt chiếu cói, hoặc dệt vải xô gai rồi lấy chồng. Theresa bạn tôi mắt to, tròn như mắt bồ câu, lông mi dầy cong vắt, màu mắt đen xanh mơ màng như mắt Đức Mẹ Maria. Làn da trắng nõn. Theresa bằng tuổi tôi, đã là thiếu nữ dịu dàng với những đường cong mềm mại gợi cảm. Nàng học khá, và khôn ngoan, hiểu biết hơn cánh con trai cùng lớp vựng dại như gà tồ. Cả lớp tôi đều gọi nàng là Theresa Mùi.
Đêm Noel, Theresa mời cả lớp đi dự lễ Giáng sinh. Tôi và thằng bạn con nhà chài lưới cuốc bộ sang bên kia sông đến nhà thờ Quảng Phúc thì người đã đông nghịt. Thằng bạn con nhà chài lưới bảo :
- Đêm nay gặp Theresa Mùi, mày nhường cho tao nói chuyện một lát nhé.
Tôi thủng thằng bảo :
- Ai cấm mày?
- Đừng giận. Là tao thấy Theresa Mùi có vẻ mến mày. Lúc nào có mặt Theresa là mày độc chiếm, nói như điên không ai chen ngang được. Tao con nhà chài lưới, Theresa có để ý đến tao đâu.
- Tao nhường cho mày nói chuyện hết đêm, được chưa?
Nói để mà nói, chứ tôi nhường sao được. Lòng tôi rạo rực, trái tim xốn xang mỗi lần gặp Theresa Mùi. Cái cổ cao ba ngấn của nàng trắng quá. Cái khuôn ngực vồng căng và mùi da thịt nàng ám ảnh theo tôi vào giấc mơ trẻ trung, háo hức. Tôi ao ước, mơ tưởng sau này có đứa con gái, mắt to xanh đen mơ màng như mắt nàng. Con gái tôi cũng sẽ đứng cùng các trinh nữ trong ca đoàn nhà thờ...
Đèn nến thắp sáng lung linh, màu hồng ấm áp tràn ngập, cố len vào trong cùng nhà thờ, chúng tôi tìm Theresa. Tôi ngạc nhiên, thích thú ngẩn ngơ ngắm nhìn tượng Chúa Hài đồng, Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse, những con cừu nhỏ, máng cỏ và hang dá nhân tạo... lấp lánh trong ánh sáng màu hồng rực rỡ. Vị linh mục đang giảng đạo. Tôi nhìn người bằng con mắt ngưỡng mộ và thành kính: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương...”. Cha giảng Thánh kinh, cha nói đến bổn phận con chiên phải kính Chúa, yêu nước; đến nghĩa vụ người dân chăm chỉ lao động sản xuất; sám hối và chăm cầu nguyện...
Theresa chưa ra đón chúng tôi được, nàng đang đứng trontỊca đoàn. Ca đoàn là các cô gái đồng trinh mặc áo choàng trắng, đội mũ trắng, quàng khăn trắng. Một màu trắng ngời ngời, xao xuyến.
Thánh lễ Tạ ơn Chúa. Theresa Mùi lĩnh xướng bài ca Đêm thánh vô cùng:
Đêm Thánh vô cùng.
Giây phút tưng bừng.
Đất với trời se chữ Đồng.
Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ.
Canh khuya Giáng sinh trong chốn hang lừa.
Ơn châu báu không bờ bến...
Ôi Chúa Thiên đàng.
Cam mến cơ hàn.
Nhấp chén phiền vương phong trần...
Sai con hiến thân để cứu nhân loại
Hang chiên máng rêu tạm trú
Bốn bề tuyết sương mịt mù...

Thánh lễ linh thiêng, trang trọng và thành kính. Giọng hát chậm dìu dật, da diết ngợi ca Đức Chúa! Jesus hiến thân cứu thế. Hình ảnh này, giọng hát này dội vào cái đầu và trái tim non nớt của thằng con trai đang tuổi lớn, cứ mãi mãi đi theo tôi suốt cuộc đời, để rồi thổn thức và nuối tiếc hoài...
Nửa đêm, chúng tôi về nhà Theresa Mùi. Bữa ăn reveillon được dọn ra. Sau này, tôi mới biết bữa ăn nửa đêm Giáng sinh ở phương Tây gồm ba thứ đồng hành là: Thủy (cá chép, con hàu); Không khí (gà tây, ngỗng); Mộc (thịt lợn). Con bữa ăn nửa đêm Giáng của người dân xóm đạo người đạo ấy chỉ có bánh bột lọc làm bằng bột dong riềng và cá chép nấu cháo. Mẹ Theresa Mùi là một con chiên ngoan đạo, nhân đạo, hiền lành, nhìn lũ trẻ háu đói ăn uống ồn ào, bà mỉm cười âu yếm.
Nấn ná, dùng dằng quá nửa đêm mà chẳng đứa nào muốn về...

Vợ tôi gọi điện, nàng bảo :
- Giáng sinh ở quê thế nào, anh?
Tôi bảo :
- Vui. Đầm ấm. Còn em, cái nơi em đi ấy?
- Như Giáng sinh những năm trước. Không náo nức. Không vui. Không buồn.
Có nghĩa là nàng cảm thấy suông, bình bình. Nàng không hỏi tôi bao giờ về. Và cũng không nói lúc nào về với tôi. Nàng thờ ơ. Nàng không hề biết tôi đang vui hay buồn, đang đắng cay hay ngọt ngào. Con tôi không biết tôi có nhu cầu chia sẻ, và chúng cũng chẳng cần chia sẻ với ai.
Nhà tôi, bấn bíu vì ai. Sáng ăn uống tùy nghi di tản, vợ phát cho mỗi người 20 ngàn đồng. Buổi ăn trưa công nghiệp 50 ngàn đồng ăn vội vàng ở tiệm, ở quán theo sở thích từng người. Bữa cơm tối gia đình mới tập trung. Tập trung nhưng mà không sum họp. Ăn uống lầm lì, im lặng, ít khi nói chuyện. Tôi nghĩ, cứ thế này thì trầm uất cả nhà. Tôi gợi chuyện, hỏi vợ :
- Em đang nghĩ gì?
- Em đang nghĩ, nước mình mỗi ngày tai nạn giao thông chết 33 người. Có phải quân số bằng một trung đội không anh?
- Trung đội đủ thì thiếu, trung đội thiếu thì thừa. Còn con gái nghĩ gì?
Con gái tôi ậm ừ :
- Con bạn cùng lớp con chiều qua dọn ra ở riêng. Nó ở một mình, không muốn sống chung với bố mẹ. Nó có cái súng xịt hơi cay của Mỹ, bố ạ.
- Con trai nghĩ gì?
- Hôm nay, bố bảo lúc bố chết cúng 100 ngày bàng thịt ba chỉ mắm tép, canh cua cà pháo. Hôm trước, bố báo cúng lòng lợn tiết canh. Hôm trước nữa, bố bảo cúng thịt chó mắm tôm lá mơ. Hôm trước nữa, bố bảo cúng ốc nhồi hấp lá chanh. Hôm trước nữa... Cái bàn thờ to như sân vận động Mỹ Đình mới đặt hết đồ ăn. Giá người chết mà biết ăn sạch trơn thì chẳng ai dám cúng, bố nhỉ.
Giá người chết mà biết ăn sạch trơn... Tôi nổi gai ốc. Vợ chồng, bố con, chị em đang ở rất gần, đang ngồi cùng mâm cơm mà mỗi người một mảnh. Toàn là ý nghĩ xa vời. Chúng tôi đang ở bên nhau mà chẳng nghĩ gì đến nhau; cùng một gia đình mà cứ rời ra.
Hiện thực cay nghiệt quá, mà tôi không trốn chạy được.
Giá như trốn chạy được về dĩ vãng. Giá như được sống lại những ngày xưa ấy...

Ngày xưa ấy là... mùa vọng năm sau.
Chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ tràn ngập miền Bắc. Mùa đông 1972 lạnh lẽo mà đỏ lửa. Bom đạn tung tóe khắp làng quê. Tôi và hơn chục trai làng học cùng lớp khám sức khỏe đi bộ đội.
Ngày nhập ngũ cũng là ngày định mệnh của Theresa. Ô-tô tải chở chúng tôi đi khỏi làng mấy cây số thì máy bay Mỹ đến, bom rơi trúng nhà thờ. Những thằng trai làng vỗ vào ca-bin bộp bộp, bắt ô-tô quay trở lại.
Hoang tàn. Đổ nát. Ngổn ngang. Nhà thờ chỉ còn mỗi tháp chuông sứt mẻ nham nhở bên đống gạch vụn. Chúa đã không che chở được những con chiên của người. Theresa Mùi như cây non bị phạt ngang gốc. Mảnh bom tiện đứt hai đầu gối nàng. Người ta đang ga rô cầm máu cho nàng. Một vệt máu nhỏ tươi hồng ứa ra từ vồng ngực căng đầy chảy xuống cổ ba ngấn trắng ngần. Đôi mắt bồ câu tròn cứ mở to nhìn trời xanh tức tưởi...
Sau này, ra quân, tôi về quê. Tôi đi tìm Theresa Mùi. Mẹ tôi bảo, nàng vẫn còn sống. Sức sống con người thật diệu kỳ. Tôi chẳng hiểu vì sao Theresa lại vượt qua cái chết mười mươi. Mẹ tôi bảo :
- U đi chợ qua xóm nhà thờ gặp Mùi. Nó hỏi: “Anh ấy viết thư về cho bác, có nói gì về cháu không?”
Sự vô tình nhiều khi cũng có tội. Tôi không vô tình. Nhưng tôi đã lảng tránh. Lảng tránh có phải là tội lỗi với một người tàn phế như nàng? Vài ba lá thư gửi cho Theresa Mùi, tôi hỏi thăm sức khỏe, sản xuất chung chung, lời lẽ bình thường, không thân mật, chẳng vồ vập, tình cảm hững hờ, xã giao.
Tôi về xứ đạo, ván đóng thuyền rồi, nàng đã lấy chồng. Chồng là thằng bạn cùng lớp tôi - cái thằng năn nỉ tôi nhường để được nói chuyện với Mùi đêm Giáng smh năm ấy. Ngày ngày, chồng tung lưới đánh cá trên sông Cái, đầm Vạc. Vợ ngồi nhẩn nha dệt chiếu cói cùng đứa con gái mắt cũng tròn to như mắt mẹ. Bình yên. Giản dị. Ấm áp. Tôi chẳng có lý do gì lưu luyến, nán lại bên Theresa nữa. Dù đôi mắt tròn to của nàng mọng nỗi buồn...
Những ngày xưa cũ chưa thật xa lắm. Theresa bây giờ vẫn vẹn nguyên là Theresa ngày xưa. Nhưng, vợ tôi đã không còn là vợ tôi nữa. Tôi nhận ra cái nửa kia không phải của mình từ lần vợ chồng nằm bên nhau, trần truồng trong chăn. Tôi rúc vào nách nàng. Tay ve vuốt mông tròn và vòng eo thon. Tôi chìm vào đam mê, thăng đồng trần thế. Bất chợt, nàng bảo :
- Anh ạ. Mả mẹ cái con hàng tôm. Bán cho em năm lạng về nhà cân lại chỉ còn bốn lạng chín.
Tôi thụt chim lại. Lửa lòng tắt ngấm. Lạnh ngắt như đồng. Tôm với cá thì có họ hàng hang hốc, có liên quan đếch gì đến chốn giường chiếu? Nàng đang ôm ấp cùng tôi mà đầu nghĩ đến cá tôm. Nàng tha nhân ngay cả lúc tôi đang quẳn quại trên bụng nàng.

- Mùi! Theresa Mùi?
Tôi ngỡ ngàng quá. Cũng đôi mắt bồ cầu tròn to mơ màng ấy, cũng dáng hình thanh thoát, dịu dàng ấy, cũng vồng ngực căng đầy ấy.
- Bác ạ! Cháu là Mai mà.
- Xin lỗi! Bác nhầm thật. Có phải cháu là... Theresa Mai?
- Vâng! Cháu con mẹ Mùi.
- Bác nhận ra rồi. Cái con bé mắt to cứ ngồi bên go quấn sợi cói vào đầu lao cho mẹ dệt chiếu phải không?
- Vâng ạ! Bác có khỏe không ạ?
- Bác khỏe. Cháu thế nào?
- Cháu học năm thứ nhất Ngoại thương. Nghỉ Giáng sinh, cháu rủ mấy đứa bạn trai gái cùng lớp về chơi. Ca đoàn dạo này thiếu người lắm bác ạ, cháu phải đứng vào hát.
- Ừ. Lớn lên là chúng bay rủ nhau xa xứ hết. Cháu hát Đêm thánh vô cùng chứ?
- Vâng ạ! Silent night. Chốc nữa bác nghe cháu hát nhé.
- Ừ. Đêm nay bác bồi hồi lắm.
- Bố mẹ cháu cứ mong bác về suốt. Bữa ăn đêm Giáng sinh năm nào mẹ cháu cũng nhắc đến bác. Mẹ bắt cháu làm bánh bột dong riềng và nấu cháo cá chép. Mẹ cháu bảo, nhất định Giáng sinh năm nay bác sẽ về.
Ấm lòng. Gần gũi. Thân thuộc quá.
Tôi có cảm giác mình vừa đi qua hoang mạc vô cảm, lạnh lùng miền băng giá đến cánh đồng cỏ mênh mông tươi xanh đầy nắng gió nhiệt đới. Tôi bắt gặp cái thuần hậu, da diết, vô lận đêm Giáng sinh. Tôi nghĩ đến túp lều đánh cá của người bạn chài lưới. Con thuyền nan có mui. Tiếng gỗ ván xua cá lốc cốc. Tiếng go và lao cói dệt chiếu lách cách. Theresa Mùi, Theresa Mai có đôi mắt Đức Mẹ... Tôi nghĩ đến căn biệt thự của tôi...

Tôi bước vào trong nhà thờ.
Máng cỏ. Hang đá. Chúa Hài đồng. Những con cừu nhỏ... Ấm nồng. Đêm đông khuya khoắt rét mướt chỉ còn ở bên ngoài.
Theresa Mai đứng kia, trong ca đoàn trinh nữ. Một màu trắng bình yên, xao xuyến. Giọng hát trong ngân. Da diết.
Silent night. Holy night
All is calm. All is bright.
Round your virgin Mother and Child
Holy infant so tender and mild
Sleep in heavenly peace...

Bao ký ức ngày xưa lại trở về, tôi yêu mến Đêm thánh vô cùng.

0
Đàn bà
 
Đàn bà dễ có mấy tay
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan?
 
1.
Mặt hơi xanh, cổ đài ngẳng ra. Xương ức hõm xuống. Con bé đứng dựa hẳn vào cánh cổng lớn, rụt rè vê tà áo mỏng, ngập ngừng mãi vẫn không cất thành lời. Giọt nắng lọt qua tán hoa giấy rắc loang lổ lên mái tóc và bờ vai gầy bé bỏng. Đôi môi mắm lại và mi mắt chớp chớp mọng nước.
- Cô ơi! Đây có phải nhà... anh...
Nói chưa hết, con bé đã giật mình, y như vừa lỡ lời, muốn thu lại câu hỏi vừa thả ra gió mà bất lực. Tay nó nắm chặt lại tấm các vi-dít, mà thoáng qua chị cũng biết là của chồng mình. Chị bắt gặp cái nhìn cầu cứu của con bé. Tội nghiệp! Đũng quần nó ướt đẫm, hình như là máu? Chị nhận ra tình cảnh lê lết của mình hai chục năm về trước cũng giống y hệt thế này. Bằng sự nhạy cảm của người đàn bà đã qua thời sinh nở, chị nghĩ con bé đang đến bước đường cùng. Chị bảo :
- Cháu có chuyện gì quan trọng phải không?
- Dạ... - Vẫn e dè, con bé ngập ngừng.
- Cô cũng là người chân lấm tay bùn ở nhà quê ra phố. Cháu đừng ngại, có điều gì cứ nói. Cô sẽ giúp.
Con bé lưỡng lự :
- Cô là...
- Cô là ô sin nhà bác Nam Lê. - Rất nhanh chóng, chị biết chị cần phải làm gì. Phải nói dối con bé. Nói dối một cách trôi chảy và tự nhiên - Nhưng, về quan hệ dòng tộc, cô là em họ. Cùng làng ở ngoài Bắc vào đất Sài Gòn này giúp việc gia đình bác ấy mà.
- Thế ạ? Anh Nam Lê luôn tắt máy... Con không biết xoay xở thế nào. - Mắt con bé lấp lánh.
- Bác Nam Lê nhận được công trình xây dựng thủy điện ở bên Lào. Bác gái thì sang bên Anh quốc thăm đứa con gái lớn đang học ở đó rồi. Có lẽ tháng sau mới về. - Chị lại nói dối. Nói dối một cách trơn tru, nhẫn tâm với con bé ngây thơ, ngờ nghệch và khốn cùng - Bác Nam Lê dặn, ở nhà xảy ra mọi việc đột xuất thì cô thay mặt bác ấy giải quyết.
- Cô ơi!... Con... con không còn nơi nương tựa...
Hai gối nó khuỵu dần. Người lả đi. Đổ sập xuống. May mà chị đỡ kịp. Chị dìu con bé vào đi văng. Máu đỏ dây ra cả mặt da màu huyết dụ làm chị lo sợ và lóng ngóng. Nó khóc thật sự. Khóc như mưa như gió. Khóc như khi manh áo cuối cùng vừa bị đánh mất thì ông Bụt hiện ra.

2.
Bây giờ thì con bé nằm kia. Cảm giác như nó chui gọn vào trong bộ quần áo ngủ của chị. Như con mèo con. Co ro trong căn phòng nhỏ tầng trệt dành cho người giúp việc.
Bây giờ thì nó đã ăn được nửa bát cháo tim gan, chị mua vội ngoài ngõ.
Bây giờ thì cái áo thun vàng, bộ đồ underwear hiệu Triumph màu đỏ và quần bò đũng đẫm máu... đang quay trong máy giặt.
Bây giờ thì, còn việc gì chị chưa kịp làm cho nó nhỉ? Nó chỉ bằng tuổi con chị. Có lẽ chỉ bằng tuổi thằng bé đang học ở Pháp. Không! Phải bằng tuổi đứa con gái lớn đang học ở Anh quốc. Vậy là, anh cũng đáng tuổi cha mẹ nó rồi.
Nó - con bé gặp chồng chị trong một buổi anh đọc thơ ở trường đại học X. Anh là doanh nghiệp xây dựng mà vẫn làm thơ. Thiên hạ lắm gã có tiền bạc, biệt thự, xe hơi, có quyền chức... vẫn phấn đấu làm nhà thơ. Tiền bạc tiêu lắm cũng chán, trót đẻ thằng con phá gia chi tử thì chỉ một đêm đánh bạc nó đốt hết. Biệt thự, xe hơi, chết không mang theo được, vớ phải con vợ lăng loàn, hết tuần cúng ba ngày lại tót lên xe cầm tay lái đưa thằng bồ trẻ đi Mũi Né, Nha Trang chơi bời, đập phá. Quyền chức, nghỉ hưu thì cũng hết. “Còn duyên kẻ đón người đưa”, nghỉ hưu là cửa nhà quạnh vắng, chả ma nào nó mang đô-la và rượu ngoại đến ngọt ngào một điều thưa anh, hai điều thưa sếp nữa. Chỉ còn có thơ. Thơ để lại cho muôn đời con cháu mai sau. Con cháu chút chít chụt chịt sau này sẽ tự hào lắm lắm, rằng ông cha cụ kỵ nó cũng thuộc dòng văn gia. Thơ để cho thiên hạ biết ta đâu phải thằng võ biền trọc phú, cũng lịch lãm, cũng lãng mạn trữ tình và đẳng cấp văn hóa cao... Cái loại thơ này bỏ tiền túi ra in chất đống ở góc nhà, quẳng hàng bao tải trong cốp xe, đi đến đâu tặng đấy, gặp ai cũng tặng. Tặng từ ông sếp trên cao ngất ngưởng trong nhà đầy tranh thuê sinh viên mỹ thuật chép và hầm rượu, không một quyển sách... đến chị công nhân trộn vữa trong nhà chỉ toàn vật liệu làm vàng mã bán kiếm thêm tiền cho con ăn sáng. Thiên hạ rất ít nhà thơ chỉ có đọc sách, làm thơ và đi tìm kiếm một tình yêu lãng mạn bền vững thiêng liêng. Thơ dính với chuyện chức quyền và cơm áo gạo tiền dị mọ là hồn thơ hết tuyết nhung và thiếu sự sâu lắng. Thơ toàn những bài làng nhàng, nhàn nhạt cũng là điều dễ hiểu.
Nhưng, anh không thuộc loại nhà thơ rởm đời này. Anh là nghệ sĩ thật sự. Anh có đẳng cấp thơ toàn quốc. Anh xây ngôi nhà tình yêu không chỉ bằng cát sỏi, sắt đá xi măng mà cả bằng hồn thơ và sự lãng mạn cần có của một nghệ sĩ. Chị cảm anh, yêu anh bắt đầu từ những bài thơ nồng nàn hoa phượng cháy tặng chị từ thời sinh viên. Anh mài đũng quần, hoa mắt với bản vẽ công trình ở Đại học Xây dựng, còn chị đang mơ mộng với các vần thơ đồng quê của Exenhin, thơ tình đắm say của Xuân Diệu và mênh mông vũ trụ của Huy Cận... ở Văn khoa. Anh là niềm tự hào của chị, là tình yêu của chị. Vậy mà anh đã phụ tình chị.

- Má ơi!...
Con bé rên khe khẽ, kêu má nó. Lúc ngủ êm ái, lúc mê, lúc đau. m thanh nhỏ và chìm tõm vào đêm tối.
- Con buốt lắm... má ơi!
Lại tiếng kêu đau như xé ruột. Chị lần đến bên con bé. Trán nóng hầm hập. Sốt quá. Có lẽ nạo hút thai bị sót rồi.
Chị thay đồ. Chị mở ga ra, đánh ô-tô ra ngoài. Chị quay lại dìu con bé.
Đường phố khuya khoắt. Người và xe thưa thớt. Chị vẫn hình dung ra gương mặt con bé nằm còng queo ở ghế sau. Môi mắm chặt, không chịu nổi đau thì kêu. Lúc nó hôn chồng chị thì sao không kêu đau? Con bé gồng mình, chảy nước mắt, cẳng chân co lại và khép chặt đùi, thỉnh thoảng lại kêu: “Con khổ quá cô ơi”. Lúc dạng háng ra ôm chồng chị, sao nó không kêu khổ? Con bé - tình địch của chị. Con bé cùng đường lê lết gục ngay cổng nhà chị. Con bé vô tình hay cố ý là bệnh nhân bất đắc dĩ của chị. Con bé đánh cắp tình yêu của chị, nhưng chị đang phải chăm sóc hầu hạ. Sao lại ngẫu nhiên thế này? Sao lại trớ trêu bẽ bàng như vậy?

3.
Trong phòng phụ sản.
Bà y tá già không chồng đang trong cơn ngái ngủ bị dựng dậy, gắt gỏng.
- Tụt quần ra để còn tiêm vào đùi.
- ...
- Mặt non choẹt thế này mà đã đú đởn. Bụng kễnh ra thì lại lén lút đến phòng mạch tư nhân. Nó nạo hút tầm bậy tầm bạ bị sót, đau đớn mới mò đến đây.
- ...
- Ô-tô bóng lộn. Chả chào ai. Cậy giàu có coi thường cái bệnh viện nhà nước của tôi hả?
Sao bà ta cứ mắng sa sả thế nhỉ? Ngồi ghế chờ ở bên ngoài, chị cảm thấy như mình bị xúc phạm và ngượng ngùng. Khổ thân con bé, nó ngây thơ bảo :
- Dạ... hổng phải. Con mắc cỡ nên đi lén đến...
- Mắc cỡ? Thế cái lúc dạng háng ra cho trai... có mắc cỡ không?
Con bé im lặng chịu trận. Chắc thế. Chắc cũng ngượng nữa.
- Tên?
- Mót ạ.
- Cái gì? - Bà y tá già quát to.
- À quên. Thưa... con tên là Mai ạ. - Con bé sẽ sợ dúm người lại cho mà xem. Chị đoán vậy.
- Lúc thì Mót, lúc thì Mai. Biết ghi bệnh án thế nào?
- Lúc ở nhà ba con đặt tên là Chín Mót. Chả là má con đẻ tám trai. Má thèm con gái, cứ cố mãi rồi cũng tòi thêm con. Khi lên thành phố học, con đổi thành Mót thành Mai.
Bà ta dịu giọng :
- Họ? Đã khai thì khai cho đầy đủ chứ.
- Dạ. Trần thị Hoàng Mai.
- Hoàng Mai có nghĩa là mai vàng. Phú quý, sang trọng, no đủ đây. Lại đến nông nỗi này. Nghề nghiệp?
- Con đang sinh viên năm thứ nhất?
- Tuổi?
- Mười tám ạ.
- Trẻ thế này mà đã phải nạo hút thì có mà tịt đẻ. Khốn khổ. Có người muốn giữ thì trời không cho. - Chị nghe rõ tiếng thở dài của bà ta. Hình như cũng không phải loại người quá tệ. - Có thai tuần thứ mấy?
- Dạ con hổng biết.
- Hổng biết! Ngủ với nhau lần cuối bao giờ?
- Hai tuần trước ạ.
- Trước nữa?
- Một ngày ạ.
- Trước nữa?
- Cũng một ngày ạ?
- Mất kinh lúc nào?
- Tháng trước. À... tháng trước nữa. Hổng phải. Hình như...
Con bé hoang mang, bắt đầu nói lung tung. Chị hình dung cái mặt nó méo xệch đi. Thương quá. Chị không đành lòng, thò đầu vào phòng sản phụ, năn nỉ bà y tá già: 
- Chị ơi, con bé này tôi cũng làm phúc đưa đến... Xin chị đừng làm cháu sợ hãi.
- Vô duyên. Làm việc phải có nguyên tắc. Chị đừng xen vào công chuyện của tôi. Đóng cửa lại.
Chị bẽn lẽn quay lại ghế chờ. Ngồi. Bồn chồn. Chị lại nghe bà ta giễu cợt, tiếng lọt qua cửa sổ.
- Cái thằng Sở Khanh ấy làm gì?
- Dạ... làm...
- Cô khai thật đi thì chúng tôi mới làm tiếp. Còn không thì trả lại cho cái phòng mạch tư nhân giết người ấy làm.
- Dạ... ảnh là nhà thơ.
- Tôi biết ngay mà. Cái bọn thơ phú lăng nhăng ấy chỉ ỡm ờ nhân tình nhân ngãi thôi. Làm con người ta ễnh bụng ra rồi bỏ của chạy lấy người. Bây giờ bọn họ đang đọc thơ trên mây ấy. Lên đấy mà tìm. Dại cho chết.
- Không. Con thấy anh ấy là người tốt. Người tốt nên mới làm thơ.
- A, cái cô này láo. Thế tôi không làm thơ, tôi là người xấu à?
Con bé sụt sịt. Anh bác sĩ trẻ có vẻ không hài lòng.
- Thôi mà, chị.
- Tôi phải kiểm tra lại coi có đúng tên ghi trong bệnh án không. Nhiều đứa trơ trẽn nói dối như cuội. Tên một đằng khai một nẻo, tôi là chúa ghét.
- Trong những trường hợp này, cô bé chỉ là nạn nhân. Chị phải thông cảm chứ.
Bà y tá già còn cố lẩm bẩm với thêm một vài câu gì đó nghe không rõ. Chị rủa thầm trong bụng.
Tiếng máy hút thai chạy ro ro. Tiếng panh, kéo loảng xoảng trên khay i nốc. Ớn lạnh. Ghê người. Bỗng chốc bụng chị cũng trồi lên. Có cảm giác như có trăm ngàn lưỡi kéo cắt và mũi kim đâm trong dạ con.

4.
Chị đã kịp cất bức ảnh chị chụp chung với anh, bức ảnh cả nhà chụp lúc hai thằng con chưa đi nước ngoài học. Con bé sẽ không hề biết bóng dáng chị là bà chủ căn biệt thự này.
Và lạy trời! Con bé đã tai qua nạn khỏi. Da thịt đã hồng hào trở lại. Mặt mũi tươi tỉnh. Lúc này, chị cũng chột dạ. Giá không may, cái đêm khủng khiếp ấy, con bé có mệnh hệ gì xấu ở ngay tại ngôi nhà mình thì chị biết giải thích, thanh minh với ai. Chị hỏi :
- Bây giờ cháu tính sao?
Con bé bối rối :
- Con cũng hổng biết tính thế nào. Con nợ tiền mấy tháng, chủ nhà hổng cho ở nữa rồi. Tiền học phí kỳ hai cũng chưa có để đóng nữa. Tiền ăn tuần này là nhuận bút mấy bài thơ con in ở báo Sinh viên. Mà thơ thì cũng in lúc chắc lúc lép. Chắc con phải bỏ học về quê quá.
- Cái bác Nam Lê này hư đốn thật. Tình ái... rồi ngủ với con gái người ta đến có thai mà vô trách nhiệm.
- Cô đừng trách anh ấy. Anh có nói, anh nuôi con ăn học hết đại học, anh xin việc cho. Nhưng con hổng nhận. Con biểu: “Em cám ơn anh. Anh giúp em làm thơ là nhất rồi. Anh là nhà thơ nổi tiếng yêu em, em cực kỳ hạnh phúc. Thật quá sức tưởng tượng rồi. Em con nhà nghèo, lợi dụng lòng tốt của anh là hổng có được. Em đi gia sư cũng đủ tiền ăn học”.
- Tự trọng và nghị lực thế là tốt. Cô tin. Nhưng, sao lại dám đến gõ cổng nhà này. Cháu không nghĩ là sẽ gặp bác gái à?
- Con liều thân, cô ơi. Không một xu dính túi, trước còn trông vào đi gia sư. Nhưng, vài tuần nay cái thằng nhóc con cứ đòi yêu con. Học trò đòi yêu cô giáo, kỳ cục thấy mồ. Con bỏ.
- Khổ thân cháu.
- Vả lại, anh Nam Lê cũng biểu, chờ khi vợ anh đi Anh quốc thăm con trai, ảnh sẽ đưa con đi du lịch Thái Lan. Con nghĩ thời gian này vợ anh ấy đã lên máy bay rồi. Vậy mà, trúng phóc, cô ạ.
- Cô thì không có gan đàn bà như cháu đâu.
- Thì anh Nam Lê cứ tắt điện thoại hoài. Con nghĩ anh ấy phụ tình. Con đi phòng mạch tư nhân bỏ phắt cái thai. Bỏ xong, tự dưng thấy tủi thân quá, cô à. Người ta lường gạt mình dễ dàng vậy cà. Chả lẽ chịu. Con tính tìm đến nhà anh ấy quậy cho một trận tơi bời rồi ra sao thì ra. May con gặp cô. Y như gặp bà Tiên vậy.
- Thì cô là người nhà mà. Ngày xưa, cô và bác Nam Lê học chung một lớp...
- Hóa ra anh ấy chưa đến mức tệ bỏ con. Người làm thơ bao giờ cũng tốt vậy, cô ạ.
Con bé nói một thôi một hồi. Nói như chưa bao giờ được nói, được tâm sự cởi mở, chia sẻ. Lòng nó đã thanh thản. Còn chị, buốt giá tận sâu thẳm tâm can. “Người làm thơ bao giờ cũng tốt vậy”. Sao anh tốt với con bé, còn với chị thì không?
- Cô biết cháu đã cùng đường. Cô sẽ tìm thuê phòng trọ cho cháu. Hoặc nếu cháu muốn, cô sẽ thu xếp cho cháu ở lại nhà này, vừa giúp việc vừa có chỗ ở, vừa đi học.
- Ấy chết. Hổng có được, cô ơi. Vợ anh Nam Lê về, chị ấy biết có mà chôn sống con. Cũng đâu còn mặt mũi nào mà nhìn chị ấy. Con chỉ xin trú vài hôm rồi đi học và tìm nhà trọ, cô à.
- Cháu tính thế cũng phải. Cô sẽ đi tìm phòng trọ cho cháu. Nhưng, dứt khoát phải chờ bằng được bác Nam Lê về, cháu mới ra khỏi cái nhà này. Cháu mà đi, ông ấy về đuổi việc cô đó.
- Dạ.
Con bé “dạ” thật dễ thương. Mười tám tuổi đầu, như con chim ra ràng bị mưa chan bão dập. Y như chị hơn hai mươi năm về trước.
Dạo ấy, anh chưa gặp chị. Hắn chạy làng. Chị vác cái bụng lùm lùm tìm đến nhà hắn thì gục ngay ở cổng. Bà mẹ hắn nhai trầu bõm bẽm dìu thân xác chị tã tượi vào trong nhà. Nhà mái ngói âm dương âm u u âm âm, sặc mùi thuốc đông y. Dao cầu. Cân đĩa. Máng nghiền. Các ô ngăn kéo đựng thuốc rế cây, củ quả, ghi nắn nót: đỗ trọng, đại hồi, phục linh, đương quy, hà thủ ô...
Mẹ hắn gọi chồng :
- Ông ơi! Hình như con bé nó động thai.
Bố hắn mặc áo the khăn xếp, ngấm mùi thuốc bắc, bảo :
- Để tôi xem...
Bắt mạch. Kê đơn. Sai người nhà sắc thuốc. Chị uống. Về nhà. Rồi nửa đêm về sáng, chị xổ thai...
Thật khó mà yêu thương được lần thứ hai với người mà mình đã hết yêu thương. Chị dứt tình với hắn. Hơn hai mươi năm rồi mà chị chẳng thể quên. Cứ nghĩ đến cái mùi thuốc Đông y ấy là chị lại nôn khan. Cái ngày lê lết đó cứ ám ảnh mãi không thôi.

5.
Ba ngày sau.
Bạn chị đến chơi.
Con bé đang hí hoáy lau cầu thang dẫn lên tầng trên. Nó mặc quần soọc trắng của chị. Cái áo thun màu mỡ gà cũng của chị nốt. Hai đùi nó trắng nuột nà. Ngực căng nhức áo chỉ muốn tuột chỉ. Cặp vú vẫn đang mưng to. Đôi mắt con bé ngời ngời sáng. Cổ tròn trịa, da mịn màng và cái cằm hơi xẻ gợi cảm. Bạn chị thì thào :
- Con bé vú nẩy mông to. Tướng mạo “Hồng diện đa dâm thủy. Trường túc bất chi lao” thế này nên ông Nam Lê nhà mày chết là phải.
- Ừ, “Mi trường hộ tố mao” nữa chứ. Kể ra thì con bé cũng đẹp, cũng đáng thương thật.
Chị thấy nhói buốt trong lòng. Da chị đã bắt đầu khô. Tóc bắt đầu xơ. Đuôi mắt có nhiều đường chân chim. Vú đã bắt đầu nhão... Chị cảm thấy mình đang thua trận. Tình địch lợi thế hơn hẳn chị. Nhưng, còn hai đứa con, kết quả tình yêu của anh. Còn ký ức nồng nàn. Còn những bài thơ tình anh tặng chị...
- Mày cũng đừng quá đau đớn. Chồng mình còn có con bé trẻ đẹp yêu, chứng tỏ chồng mình có đai có đẳng.
Chị bảo bạn :
- Mày không đùa đấy chứ?
- Thật. Tao nói thật lòng. Thế tao hỏi mày: Bây giờ chỉ có một sự lựa chọn: Hoặc lão chồng doanh nghiệp giàu có, làm thơ hay lại lãng mạn trót có nhân tình như chồng mày bây giờ; hoặc thằng chồng cù lần, nghèo rớt mùng tơi, mặc quần ông bô suốt ngày lau nhà, chổng mông thổi bếp than tổ ong phù phù nhưng chung tình, hầu vợ. Mày chọn đằng nào?
- Tất nhiên là tao chọn chồng tao bây giờ.
Bạn chị cười nghiêng ngả :
- Té ra, trong nhiều cái tệ, nàng chọn cái bớt tệ hơn.
Bỗng nhiên, bạn chị không cười nữa. Như chợt nhớ ra điều gì ai oán.
- Phận đàn bà chúng mình thì lúc nào cũng thiệt thòi, cũng khốn khổ...
Vẫn chưa thấy lối thoát, chưa thấy ánh sáng leo lét cuối đường hầm, bạn chị hỏi :
- Thế mày định cho con bé ở luôn nhà này làm ô sin à? Hay chờ ông Nam Lê về rồi nhường phắt chồng cho nó?
Chị bảo :
- Tao đang nẫu ruột lên, chưa biết giải quyết thế nào?
- Tống cổ con bé ra khỏi đường. Dắt tay nó về miền Tây giao cho ba má nó. Hoặc ra lên tận giảng đường nó học, làm toáng lên.
- Không ổn. Làm thế tội nó.
- Cái thứ chủ nghĩa nhân đạo bao la của mày chỉ làm cho xã hội ngưng đọng, trì trệ, giẫm chân tại chỗ. - Bạn chị gân cổ lên - Loại gái cướp chồng mình, mà lại tha? Thế còn lão kia, mày định thế nào?
Chị trầm ngâm nghĩ :
- Cũng chưa biết làm sao. Hai đứa con mình biết được thì... chúng nó còn coi bố ra gì.
- Cắt đất. Ra tòa. Không tha thứ gì hết. Anh đi đường anh, tôi đi đường tôi. Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.
“... Tình nghĩa đôi ta có thế thôi!”. Bạn chị - một người đàn bà đáo để. Bạn chị - một người đàn bà tuyệt vời. Bạn chị tình cờ thấy chồng mình dắt gái vào nhà, lại trai trên gái dưới mới lộn ruột chứ. “Xin lỗi... tôi xin lỗi. Hai người cứ tự nhiên”. Nàng bình tĩnh khép cửa lại rồi lạnh lùng đi. Chồng nàng và cô bạn tình hoảng hốt mặc quần áo, chạy xuống phòng khách, quỳ trước mặt nàng xin. “Cả hai đứng dậy. Người tử tế không bao giờ biết quỳ. Anh đánh ô-tô đưa cô ấy về đi, khi nào hết ngượng với tôi thì hãy quay trở về”. Hai ngày sau, nàng điện thoại cho chồng: “Hết ngượng chưa? Em đang chờ ở nhà”. “Anh xin em. Ngượng chưa hết, nên anh chưa dám về với em”. Nàng nhã nhặn: “Ừ. Thôi anh ạ. Đừng về nữa. Tôi đã có thằng trai nhảy, bằng tuổi con trai lớn của anh rồi. Anh về, đâm ngượng thêm”. Rồi cúp máy. Chồng nàng tức điên người, lao xe ô-tô với tốc độ 120 km về nhà, sầm sầm lao lên tầng hai, chuẩn bị ăn sống nuốt tươi vợ. Chàng trai trẻ mặc quần sịp, cởi trần nằm ngáy khò khò trên giường... đập vào mắt thằng chồng đang cơn ghen tột đỉnh. “A. Con vợ lăng loàn. Chồng đi vắng đưa trai về nằm ngay trên cái giường đã từng ân ái với chồng”. Chàng trai trẻ giật mình thức dậy, chẳng biết nguồn cơn ra làm sao. Chồng nàng quát tiếp: “A. Con đàn bà lừa dối, trơ trẽn...”.
Chồng nàng giơ tay định tát vợ thì chàng trai trẻ bẻ quặt bàn tay anh ta ra đằng sau. “Ông không được đánh dì tôi”. Chồng nàng ngơ ngác nhìn chàng trai, anh bắt gặp hình ảnh trẻ trung của mình hai mươi năm về trước. Nàng nhẹ nhàng bảo: “Thôi, anh bình tĩnh để em trình bày. Em đã tìm được đứa con rơi của anh mười năm rồi đó”. Chồng nàng bảo: “Cô diễn cái trò gì đấy?”. “Em đang làm ơn làm phúc cho anh lần cuối cùng đấy”. Nàng quay sang chàng trai trẻ: “Xin lỗi cháu, dì đã phải mượn từ “trai nhảy” chọc tức để bố cháu quay về. Cháu ơi. Cháu lấy cái ảnh chụp mẹ cháu và bố mặc đồ tắm biển ôm nhau bên cái phao ra mà nhận nhau”. Chồng nàng càng ngơ ngác, ngạc nhiên. Nàng lại bảo: “Thôi nhé, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi. Em đi đến trường đón con gái rồi đi luôn. Đừng tìm em nữa”. Rồi nàng xách va-li ra khỏi nhà. Đằng sau là tiếng gọi dì ơi... dì ơi của chàng trai trẻ đuổi theo lưng. Nàng quay lại bảo: “Thôi, về đây mà ở với bố, cháu ạ”. Và quay đầu đi thẳng.
Không thể tin. Khi ấy, nghe người bạn gái kể, chị cứ ngỡ chuyện tình trong tiểu thuyết.
- Mày kể chuyện bỏ chồng hệ trọng mà cứ tưng tửng như thể đùa cợt.
- Ừ, tao không nói điêu. Thật trăm phần trăm. Cũng chẳng ai tin, mày ạ. Thà rằng khuất mắt trông coi thì đỡ lộn tiết. Đằng này, hắn rước gái lên đúng cái giường mà chúng tao đã từng ái ân đẻ ra con Hin tẹt. Tao đau lắm.
- Nhưng không có cách nào khác giải quyết à? Mày ghê gớm thật!
- Chứ sao. Hắn cạch gái đến già nhé. Ngoan ngoãn, tránh xa chuyện bồ bịch rồi. Hắn đón đứa con trai bỏ rơi ấy về nuôi, vì mẹ nó mất năm ngoái. Hai bố con cứ năn nỉ mẹ con tao quay về. Nhưng, đừng hòng. Hắn sẽ cứ ám ảnh tội lỗi đến hết đời...
Chị dựa hẳn lưng vào đi văng, hai tay dang rộng đặt trên thành ghế, mặt ngửa lên nhìn trần nhà có cái quạt đang quay tít. Đúng là đàn bà dễ có mấy tay... Bạn chị có thể làm thế được. Còn chị?

6.
Có thể yêu nhiều lần với những người khác; nhưng không thể yêu lần thứ hai với một người? Chị còn yêu anh hay trong lòng đã trống rỗng?
Chị tưởng tượng ngày anh về.
Con bé ra mở cổng. Miệng con bé lắp bắp, không nói nên lời. Anh trân trối, rồi chợt choàng tỉnh khỏi cơn mê. Anh giơ ngón tay cái lên miệng, cặp mày nhíu lại ra hiệu cho bé im lặng.
- Con chào bác ạ.
Con bé khoanh tay trước ngực, gối hơi chùng, đầu hơi cúi chào kiểu con nhà gia giáo. Bỗng dưng con bé đóng kịch xuất thần. Và anh cũng đang đóng kịch. Nhưng, họ không thể qua mắt chị. Chị gặng hỏi :
- Ủa. Hoàng Mai... như thế này là thế nào?
- Dạ, thưa cô, đây hổng phải người con đã nói chuyện với cô.
- Không phải thì càng mừng, cháu ạ. Hôm nay vui nhà mình phải liên hoan.
Con bé ì ạch xách đồ vào trong nhà. Cái va-li nặng quá khiến nó còng lưng, y như cuộc đời đang đè nặng. Chị chạy ra đỡ.
- Ấy chết! Cháu vừa bệnh trọng, đang bấy như con cua lột. Xách cái nhẹ thôi. - Chị quay sang anh trách - Sao anh lại trút gánh nặng cho phụ nữ chúng tôi thế.
Mặt mũi anh đỏ bừng lên, không biết trả lời thế nào. Chị giục giã con bé :
- Nói vậy thôi chớ bác Nam Lê cũng đang gánh cực lên non, mồ hôi toát ra kia kìa. Cháu vào tủ lạnh lấy cho bác Nam Lê hộp nước yến. À thôi, cháu đi pha cho bác ấy cốc nước cam, nhớ bỏ ít đá thôi nhé.
Anh ngồi ở đi-văng đón cái khăn lạnh từ tay chị, lau mặt. Tiếng thìa khuấy đá lanh canh. Nét mặt anh có vẻ dịu đi và đang nghĩ ngợi lối thoát hiểm. Chị bảo: 
- Nước cam vắt cháu nó mang đây rồi. - Chị múc một xíu đưa lên miệng nếm rồi âu yếm đưa cho anh - Con bé này pha cam vắt ngon lắm. Anh uống đi. Anh chả kể thời bao cấp nghèo, hai vợ chồng vào quán chỉ dám uống chung một cốc nước chanh. Giờ thì chắc chả bao giờ uống chung nữa, anh nhỉ?
Nước cam trong miệng anh đắng chát. Anh đặt cốc nước uống dở xuống. Cái mặt anh méo xệch loang loáng trên mặt kính.
- Để anh uống sau. Anh muốn đi tắm một chút.
Chị bảo :
- Em đã bật bình nóng lạnh rồi đấy. Bộ kimono đây anh, tắm xong thì choàng vào. Đẹp chưa?
- Đẹp. Cô nhỉ. Của Nhật ạ?
Con bé này trơ trẽn thật. Chị thoáng nghĩ. Vừa mới đây, nó còn thật thà, tội nghiệp, đáng thương. Thế mà bây giờ... Có khi nó nói vô cảm như cái máy. Hay nó đang diễn vai?
- Ừ. Vợ bác ấy mua ở Tokyo tặng mấy năm rồi. - Chị nói to lên để anh cũng nghe được - Thời mới cưới, bác ấy có mỗi một bộ quần áo vải đờ luyn nhăn như lò xo. Bàn là điện không có, vợ bác ấy phải là quần áo cho chồng bằng hơi nóng từ than củi bỏ vào cà mèn. Lúi húi, người cầm cà mèn là, người gắp than nguội bỏ ra thay than đỏ vào. Giản dị. Đơn sơ. Ấm cúng biết bao. Bây giờ, đời sống sung sướng, cái cà mèn ấy không còn nữa. Có lẽ vợ bác ấy không còn có dịp là quần áo cho chồng nữa rồi. Thật đáng tiếc...

7.
Bây giờ thì anh về thật. Anh về đúng vào ngày Chủ nhật.
Nước da đen sạm vì cháy nắng. Nhớ chị quá, chỉ thiếu ôm chầm lấy hôn. Nhưng, anh đã kịp nhìn thấy con bé đang gập người lau sàn phòng khách. Anh bàng hoàng không tin ở mắt mình. Anh bối rối. Anh đần mặt ra.
Là người tình đầu tiên của người đàn ông phỏng có ý nghĩa gì, khi chị luôn muốn làm người tình - người vợ cuối cùng của chồng. Huống hồ là con bé này còn không được làm người đầu tiên của anh. Ranh con. Vắt mũi chưa sạch. Chị nhã nhặn bảo anh :
- Mình ạ. Em mới kiếm được con bé giúp việc. - Đã chuẩn bị trước cho tình huống này, chị nói nhỏ vừa đủ cho anh nghe - Con bé học năm thứ nhất Văn khoa, nó thông minh, chăm chỉ, chịu khó ra phết. Một buổi đi học, một buổi giúp nhà mình. Cửa nhà rộng rãi, em cho con bé ăn ngủ ở đây luôn, mình ạ.
Anh chống chế một cách yếu ớt :
- Sao em không hỏi anh một tiếng?
- Chuyện nhỏ mà, anh.
Chị đóng cánh cổng rồi quay mặt vào trong nhà kêu con bé :
- Hoàng Mai ơi! Bác Nam Lê về rồi nè. Cháu ra giúp bác ấy một tay đưa đồ lên tầng hai đi.
Con bé dạ ran trước khi ngẩng mặt lên.
Nó đứng như chết trân trối.
Cán chổi lau nhà rời khỏi tay rơi đánh cạch một tiếng khô khốc.
0
Mùa trâu ăn sương
 
1.
Hăm ba tháng Chạp.
Bỗng nhiên trời hửng. Gió hơi se se lạnh. Nắng mới rọi trên mái nhà phố cũ. Những ngày mùa đông ảm đạm, bầu trời xám xịt, lạnh lẽo dường như tạm lánh, biến mất. Bọn sinh viên đã lác đác rời ký túc xá, nhà trọ về quê. Quất cành, hoa tươi từ ngoại ô theo xe thồ, gồng gánh vào phố cũ. Lá dong, đào rừng Lạng Sơn, Cao Bằng, Sơn La... cũng theo người xuống núi về Thủ đô. Không khí sắm Tết đã tràn ngập đường phố. Người ta đang vội vã, hối hả trở về quê sum họp, sau một năm đi xa nhọc nhằn, vất vả. Còn tôi vẫn phải đi mổ trâu.
Tôi bảo, cho tôi về que thôi đừng bắt tôi cắm mặt ở cái lò mổ này nữa. Tết nhất đến nơi rồi, nhà quê bao nhiêu việc. Áo mới cho con chưa mua. Ao cá chưa lát. Thịt lợn chưa biết đụng với nhà ai. Lá dong, gạo nếp, dưa hành... chẳng biết vợ lo đến đâu. Nóng ruột lắm.
Nàng bảo, đang là mùa trâu ăn sương, về thế nào được.
Nàng bảo, kéo giúp cái khóa móc xanh tuya sau lưng lên giúp nàng.
Nàng bảo, chuyện vặt, điện thoại về nhà bảo con vợ ra chợ là có hết.
Nàng bảo, trưa ba mươi Tết ăn tất niên xong, về cũng kịp chán. Một trăm cây số đáng là bao, nàng cho xe ô-tô chở về đến tận nhà.
Thợ mổ trâu còn gọi là đồ tể. Đồ tể chẳng dính dáng chi với cái luận văn cao học tôi sắp bảo vệ. Mổ trâu là nghề cực nhọc, sát sinh man rợ. Làm thạc sĩ vãn chương là cái cần câu cơm ốm đói mà lãng mạn. Dao búa, máu me ghê răng và có tiền, so với thanh sạch trữ tình, là hai phạm trù đạo đức đối lập, phủ định nhau. Miếng cơm manh áo và sĩ diện, chọn một hay hai?
Mùa đông năm trước, tôi liều đưa chân nhắm mắt, chọn bừa cả thạc sĩ văn chương và mổ trâu.

2.
Tôi nhớ như in cái ngày đầu học việc.
Nửa đêm về sáng. Đường phố không bóng người, tôi lọ mọ đến lò mổ. Tiếng mài dao quẹt... quẹt miết xuống đá ráp nghe rợn gáy. Trâu thức giấc đánh sừng cộc... cộc. Vài cái ngáp ngủ uể oải, khê nồng.
Chị chú lò mổ bảo :
- Người ta bảo giáo viên tay trắng trói gà không chặt, chỉ quen cầm nổi viên phấn.
- Ngày xưa, tôi đã đánh trâu đực cày vỡ đất lật cỏ ba sào một ngày. Tôi đánh trâu cày được thì cũng mổ trâu được.
Chị chủ cười, cái cách cười của kẻ lõi đời và thương hại thằng đàn ông vụng dại.
- Xuất phát vào đời thầy cũng ngang tôi. Thầy đi cày, tôi là con ở làm thuê. Thời gian nó làm cho người ta khôn lên. Thầy giáo ngây thơ bỏ bà. Cày trâu là làm đất mầu mỡ, cho mầm xanh chồi non nẩy nở khai sinh phát triển. Mổ trâu diệt sinh, khai tử. Chả lẽ thầy giáo đứng cả về phe phát triển lần phe hủy diệt?
Sinh với chả diệt, chết với chả sống! Tôi bất ngờ quá. Hóa ra, đi cày với mổ trâu có liên quan đến nhau thật. Triết lý trụ sinh văng ra từ mồm chị chủ ít học, lại còn lớn tiếng dạy đời.
- Tôi sẽ cố gắng. Còn khi làm không được, tự tôi sẽ ra đi chứ không để bà chủ đuổi việc.
- Gọi tôi là Mộng Hoa. Gọi là chị, là bà. Tủi lắm.
Tủi lắm! Sao người đàn bà sắt đá này lại có phút mềm lòng, tủi thân?
Kỳ lạ! Ăn nói chao chát. Đưa đẩy, ngoa ngoắt. Chị chủ thuộc loại đàn bà rách trời rơi xuống, có cái tên mỹ miều chẳng hợp với nghề băm chặt. Mộng Hoa lấy làm bút danh văn chương hơn là tên người đàn bà đồ tể.
Bất chợt, tiếng xe lăn ken két trong đêm đến mỗi lúc một gần. Nghe rợn tóc gáy. Chị chủ cũng nháo nhác nhìn quanh. Tôi quay lại, bắt gặp một ông già tóc bạc trắng. Đôi chân liệt, buông thõng, tong teo. Hai bắp tay to chắc như đô vật. Mặt choắt như mặt chuột. Mắt lóe sáng như mắt mèo. Câm lặng. Chập chờn như bóng ma.
- Sao lại để ông ra đây lúc đêm hôm thế này?
Chị chủ rít gằn giọng. Một anh đồ tể dạ ran, chạy đi làm phận sự. Ông già và anh đồ tể mất hút vào màn đêm. Tôi hoang mang quá. Chẳng hiểu ra làm sao, cứ như vừa mê man vào giấc mơ quái dị.
Chị trở lại câu chuyện, bình thản, coi như chẳng có chuyện gì xảy ra. Giọng nhiệt tình, chèo kéo :
- Tôi có bài thơ mới làm, đọc cho thầy giáo nghe nhá.
Lại còn thế nữa! Tôi đến lò mổ là để làm thuê kiếm tiền chứ đâu phải nghe đọc thơ. Sự đời cứ cứ tréo ngoe. Thôi thì cố chịu dựng.
“Con trâu có một hàm răng
Ăn cỏ đất bằng, uống nước bờ ao
Hồi sống mày đã thương tao
Bây giờ mày chết, cầm dao xẻ mày
Thịt mày tao nấu linh đình
Da mày bịt trống tùng dinh sân đình
Sừng mày tao tiện con cờ
Cán dao, cán mác, lược dày, lược thưa...”

Một bài thơ về trâu dậy mùi ẩm thực và tiện ích thực dụng. Nhưng, nó là vè chứ đâu phải thơ. Nhầm to, nhầm to rồi! Sao chị chủ lại nhận thơ mình sáng tác? Tôi buột miệng bảo :
- Nói chị chủ đừng giận. Đây là ca dao. Nó trong giáo trình Văn học dân gian thầy giáo dạy tôi từ năm thứ nhất đại học.
- Ủa, thế là tôi nhận vơ à? Mà tôi chép trong đầu ra đấy chứ. Chả lẽ...
Tôi nhận ra cái hồn nhiên bản năng đáng yêu của chị. Có lẽ chị đọc ở đâu đó rồi thuộc, nó cứ ám ảnh trong đầu trở thành máu thịt. Có dịp cảm xúc thăng hoa, nó tuôn ra như đê vỡ, chị cứ nghĩ mình sáng tác.
- Chết thật! Không có thầy thì tôi thành con đạo văn.
Giá như người khác thì ngượng, xấu hổ, nhưng chị lại hồn nhiên như chẳng có chuyện gì phải bận lòng. Chị bảo, bây giờ đang là mùa trâu ăn sương. Trâu càng ăn nhiều sương, thịt càng chắc, thơm. Tôi chẳng lạ gì. Ở quê tôi, đêm trước giết trâu bao giờ người ta cũng đóng cọc buộc ra ngoài bãi cỏ. Đêm trâu hít thở sinh khí đất trời, tinh tú. Khoan khoái ngẩng đầu há miệng đưa dài lưỡi đón những giọt sương bay, hoặc cúi đầu nhấm nháp các giọt sương đậu long lanh trên lá cỏ. Con trâu thanh sạch, thu nhận tinh khí vũ trụ, lắng đọng trong da thịt huyết... Thịt ngon quý hiếm là mùa trâu ăn sương.
Chị bảo, chị có bài thơ Mùa trâu ăn sương, tôi đọc thầy giáo nghe nhé:
... Mùa trâu ăn sương
Hai mươi ba tháng Chạp gió lùa se lạnh
Trai thanh gái tú bỏ phố về quê
Lệ làng mổ trâu làm cỗ chia phần
Cái ách vai trôi dạt đến nhà nào?
Tế Thánh thần,
đầu trâu đầm đìa máu
Sừng cánh ná
chống trời, ngang ngạnh.
Thao láo mở mắt trâu
gương cầu đựng cặp vú nạ dòng, con gái
soi mặt đàn ông, con trai
và in hình non sông đất nước.

Đọc xong, niềm hãnh diện sung sướng ngời ngời trên gương mặt chưa kịp son phấn, chị bảo :
- Câu lạc bộ thơ Hoa Sữa, ai cũng khen bài này. Còn thầy giáo?
- Thơ lạ. Hình ảnh lấp lánh, lại mới mẻ nữa.
- Thảo nào cậu em tôi biểu, thầy giáo bình thơ hay lắm; lúc nào rỗi xướng họa với tôi nhá.
Thơ như là thứ hương quế, là rượu chưng cất thanh khiết, cao sang. Không phải ai cũng chạm đến cõi thơ bí ẩn kỳ vĩ được. Người ta yêu thơ mà làm thơ. Chẳng làm được việc gì mới đi làm thơ. Tiến thân bằng thơ. Mua danh bằng thơ. Sợ mang tiếng trưởng giả cũng làm thơ... Đủ cả. Lúc rỗi rãi hoặc cảm hứng bất chợt tôi cũng sáng tác.
- Tôi có làm thơ, in ở Tạp chí Văn nghệ tỉnh nhà. Nhưng, xướng họa thì chưa.
Bà chủ có vẻ nể thằng đầy tớ làm thuê. Tôi nhận ra ánh mắt chị đằm thấm hơn. Thế mới biết sức mạnh của thơ phú đến nhường nào.
Đàn bà rất lạ! Phàm khi được chia sẻ, đồng cảm, người ta dốc bầu tâm sự, lòng rộng mở, buôn chuyện quên cả việc chính. Chị chủ Mộng Hoa khoe: ông nhà thơ tóc dài búi tó, chân đi guốc mộc đưa chị vào cõi thơ. Chị cảm phục, chị coi ông là người thầy thơ đầu tiên. Ông cho chị biết cái chân giá trị: bà chủ lò mổ trâu Mộng Hoa giàu có thật, nhưng không bằng cái móng tay nữ thi sĩ Mộng Hoa. Bà chủ lò mổ trâu chỉ mấy anh đồ tể, cùng lắm là ông phòng thuế biết; nữ thi sĩ thì cả nước biết, thơ truyền đời... Rồi chị phàn nàn, chì chiết cái bọn ghen ăn tức ở biểu chị háo danh, làm thơ con cóc. Thơ con cóc mà lại được mấy anh nhà thơ ở Hội Văn nghệ thành phố khen?
Tội nghiệp chị. Xưa nay, mấy ông thi sĩ vẫn thường khen vống lên. Khen đã chết ai đâu. Khen thơ mình, khen thơ bạn bè. Người đẹp làm thơ càng được khen. Nghe các ông nhà thơ thì thân tàn ma dại.

3.
Tôi theo người đàn bà vào lò mổ.
Điện sáng trang. Chị chủ khoảng bốn mươi tuổi, rất gợi cảm và môi mỏng như thằng lớp phó bạn tôi. Đúng là chị sao em vậy, cùng nòi giống. Cấm cãi.
Bốn con trâu đã ăn sương, vừa hạ thủ một con. Đầu trâu cắt rời ra, mõm chổng lên trời, hai mắt mở thao láo đầy uất ức. Đám đồ tể đang phanh da róc thịt. Chậu tiết luộc nóng hổi bốc khói nghi ngút. Món lót dạ bồi dưỡng lúc đêm hôm khuya khoắt quá hấp dẫn. Đồ tể vừa làm vừa dừng tay dao quay ra bốc một cục tiết luộc bỏ vào miệng.
Mấy anh đồ tể dừng tay dao, chờ hạ thủ con tiếp. Mặt anh nào cũng lạnh, lì và u ám. Một anh cầm dao bầu mũi nhọn hoắt. Một anh dắt con trâu sừng cánh ná ra. Một anh bưng chậu hứng tiết. Một anh cầm cái búa quả nhót đưa cho chị. Bỗng dưng, tôi dúm người, sởn gai ốc. Không khí như đặc sánh lại.
Con trâu dái sừng cánh ná rất dữ, đã từng húc chết người. Vía nó rất mạnh, mạnh đến nỗi vía trâu át vía người. Cứ cầm búa lại gần là nó trợn ngược mắt trắng đã nhìn giận dữ, khiến các đồ tể lỏng tay không hành sự nổi. Họ cúi đầu lép vế, phải cậy nhờ đến vía và sức mạnh của chị chủ.
Người ta bảo, đàn bà là giống cái yếu đuối, không bao giờ dám cầm dao cắt tiết nổi một con gà. Đàn bà nhìn con chuột mới đẻ đỏ hỏn liền run rẩy, nhìn máu chó cắt tiết là người nhũn ra, ngất xỉu. Nhưng, một khi đã biết cầm dao và cầm chắc chuôi dao thì chỉ có vung tay, đâm trúng tình địch là tình địch chết ngay, còn đâm chệch vào người tình sẽ không rút dao ra được. Chị chủ lò mổ trâu là loại đàn bà nào? Lúc nãy, chị là nữ thi sĩ đọc thơ du dương, trầm bổng, có vẻ rất thơ mộng lãng mạn. Bây giờ, chị là bà chủ lò sát sinh. Tay trái kéo mũi con trâu ngang tầm thắt lưng. Tay phải cầm cái búa hình quả nhót. Con trâu dái mặt nổi gân, khô như mặt ngựa. Mắt đỏ. Chân cứng đanh. Rất ngoan ngoãn, thậm chí nó ngu dần trước chị. Khổ thân, con trâu dái không lường nổi cái chết được báo trước bởi bàn tay người đàn bà đẹp.
- Các anh phải biết rằng: Con trâu ít khi giữ đầu một tư thế, thường ngẩng lên cúi xuống - Chị chủ Mộng Hoa vẫn bình thản cắt nghĩa - Người giỏi ra đòn là khi trâu cúi xuống, bất ngờ đập búa dứt khoát, đập chắc, nhanh trúng huyệt gáy...
Độp. Tôi chỉ kịp nghe một tiếng đập lạnh, khô khốc thì con trâu dái đã ngã qụy, miệng kêu ồ... ồ rồi lịm hẳn, mắt trợn ngược, trắng dã. Tôi bàng hoàng, cứ như bị đánh mạnh một cú vào gáy. Mấy gã đồ tể xuýt xoa khen nịnh lấy lòng bà chủ. Một gã cao hứng, gân cổ gào lên ư ử một câu vọng cổ: “Trời ơi! Thế là xong một đời lam lũ, một kiếp trâu lấm láp kéo... cày”. Cả bọn cười nói xôn xao. Không khí đêm khuya loãng dần. Tội nghiệp! Kiếm được miếng rất nhọc nhằn.
Chị chỉ ngón tay trỏ vào gáy trâu, giảng giài cho tôi nhận biết vị trí và hình ảnh mơ hồ của yếu huyệt. Rất khó hình dung. Đã từng có người yếu bóng vía hoặc vụng, đập búa không trúng huyệt. Trâu bị đau quá, hung dữ lồng lên húc tung cả người lẫn búa, có người bị sừng trâu vặc gãy chân, có người bị đá thọt dái. Nghề này bạc lắm, không dành cho người bản lĩnh yếu, run rẩy, hồi hộp.
Đúng là nhất nghệ tinh, mỗi người một nghề. Người đàn bà này thoáng qua là biết huyệt gáy trâu; cũng như tôi giảng văn mùi mẫn quyến rũ bao nhiêu đứa con gái cấp ba trường huyện, nức nở khóc cùng anh Pha, chị Dậu, hoặc run rẩy với thơ tình Xuân Diệu Xuân Quỳnh; xao xuyến với các bài thơ áo trắng rung cảm đầu đời của tôi.
Công việc còn lại không xa lạ gì với đám đồ tể. Tôi mới đến chưa quen máu nên làm việc vặt: múc nước, làm lòng, quét lông, rửa phản.
Đám đồ tể rất thạo việc. Lại một anh phụ bưng chậu bố chuẩn bị hứng. Một anh kéo sừng cho cổ trâu căng ngẳng ra. Một anh đồ tể đưa lưỡi dao bầu ngang cổ trâu. Máu đỏ xối ộc ộc...
Mặt mũi tối tăm, tôi toát hết mồ hôi hột.

4.
Trời rạng sáng.
Tôi vội vã đạp xe về lớp học. Chưa vào học đã buồn ngủ gà gật. Tôi gục đầu xuống bàn. Cái bàn học thời nào cũng thế, lớp vỡ lòng hay lớp sau đại học cũng chỉ là nơi học trò mài cùi chỏ và đỡ cái mặt ngủ gật úp xuống. Lò mổ chập chờn hiện ra: Những con trâu mắt thao láo mở nhìn xương đồng loại chất thành đống. Mấy gã đồ tể vô học, thô tục. Bộ mặt lạnh của nàng Mộng Hoa...
- Ông thạc sĩ tương lai, ở lò mổ ổn chứ?
Thằng bạn lớp phó vỗ vai tôi, hỏi. Giật mình nhỏm dậy, tôi ngơ ngác. Thằng này cười nhăn nhở, ghé sát miệng thì thào, hơi kẹo cao su phả vào lỗ tai tôi :
- Chị Mộng Hoa gọi điện bảo tao: Cậu có anh bạn thật thà lắm, lại biết làm thơ nữa, trông ngồ ngộ mà đáng yêu ra phết. Bỏ mẹ, chị ấy mà yêu mày thì chết tao.
- Hư... ừm. Để tao chợp mắt.
Tôi lại gục đầu xuống tránh cái nhìn bạn bè xói vào đôi mắt tôi đỏ dọc ngái ngủ vì thức khuya. Hình ảnh thằng bạn lớp phó chuyên lo tài chính, tổ chức liên hoan, du lịch, đối ngoại lại đuổi theo vào đầu. Thằng này đô con, đẹp giai, sát gái. Chỉ phải cái khốn nạn là môi mỏng và học dốt. Nhập học được hai tháng, thằng này dẫn tôi về quán cầy tơ của vợ nó bên Hồ Tây, đãi một trận thịt chó mắm tôm nhớ đời. Có vợ béo ị, được cái nước da trắng kéo lại và nhiều tiền, hiếu khách. Hai thằng ngồi phòng VIP so đũa, gật gù cụng chén. Nầm, chả, lòng, dồi... và lá mơ, mắm tôm, riềng... toàn gia vị gắt cứ trôi vèo vèo vào cái bụng đói khát của tôi.
Rượu ngà ngà, thằng bạn lớp phó thật thà dặn: “Tao đi học lấy cái bằng thạc sĩ để làm sang cho con vợ bán thịt chó mắm tôm thôi. Chứ danh giá chó gì”. Tôi bảo: “Đã là lao động thì nghề đếch nào chằng vinh quang, cũng đổ mồ hôi sôi nước mắt. Con vợ tao ở nhà đi cấy, mò cua bắt ốc thì sao nào?”. Thằng ấy thở dài: “Đành rằng thế, nhưng cái dân mình sĩ diện hão, cứ nghĩ bằng cấp mới là trí thức, mới là sang. Chẳng qua con vợ tao nó cú với thân phận bán thịt chó mắm tôm. Muốn làm sang với mấy con bạn cùng lớp 12, giờ đang dạy mầm non. Dạy mầm già hay mầm non thì vẫn cứ là giáo viên danh giá. Con vợ tao nằm mơ cũng chẳng bao giờ có được. Khổ thế! Đời cứ tréo ngoe, mày ạ...”.
Những hình ảnh chập chờn đứt đoạn qua nhanh. Tôi chìm vào giấc ngủ sâu rồi ngáy. Tiếng ngáy to, tiết tấu khoan nhặt, có nhịp điệp bổng trầm. Tiếng ngáy đạt đến nghệ thuật hò khoan, tựa như chiến sĩ thi đua ngành lâm nghiệp kéo gỗ. Cả lớp cười rộ mà tôi chẳng biết. Cái Lan có đôi má bánh đúc ngồi bên, khó xử quá. “Má bánh đúc” liền nhổ một sợi tóc mai, nhằm lỗ mũi tôi... ngoáy. Tôi giật mình, tỉnh ngủ. “Má bánh đúc” thì thào vào tai tôi vừa đủ nghe :
- Đêm qua, anh đi đâu khai mau?
- Học... anh học suốt đêm... hỏi làm gì?
- Người anh toàn máu. Đi giết người à? Khiếp!
Bàn tay có những ngón búp măng xinh xinh, móng hồng giơ gương trang điểm ra trước mặt tôi. Cái vai áo, cái cổ... dính máu khô. Tôi chợt nhớ ra là máu... trâu. Mấy gã đồ tể cắt tiết trâu, máu bắn phạt vào người lúc nào chẳng biết. Đỏ mặt. Miệng ngậm hột thị. Ấp úng :
- ... Anh đi làm thêm ở... lò mở...
Tình cảnh dở khóc dở cười của tôi, “má bánh đúc” hiểu ngay, nàng ái ngại thật sự. Nàng tỏ ra thương hại và thông cảm, nhét vào tay tôi cái khăn mùi soa. Tôi phi tang thật nhanh các vết máu khô đã đông cứng đanh. Mùi máu trâu tanh tanh, hương thơm nước hoa con gái phảng phất, mùi hồ khăn mùi soa mới, hình như cả mùi nước đái trâu khai mù nữa... quyện lẫn. Mặc cảm. Ngượng ngùng. Ê chề. Chỉ muốn biến thành con kiến chui xuống lỗ nẻ. Nhưng, lại có cảm giác mơ hồ, thinh thích sự âu yếm, dịu dàng, quan tâm khác giới.
Có ai hiểu nỗi lòng của tôi không?

5.
Chị chủ lò mổ có đứa con gái gần hai mươi tuổi đang du học ở Mỹ. Mấy anh đồ tể buôn chuyện bảo: Mười lăm tuổi chị trôi dạt vào cái lò mổ này. Lúc đầu cũng chỉ là con ở làm nhân công sai vặt, quét dọn, tuồn lòng, gánh nước, rửa phản... Sau, càng lớn càng mẩy, phổng phao, tươi tắn. Rồi thành vợ ông chủ. Đôi uyên ương ấy cách nhau hơn hai mươi tuổi.
Câu chuyện chỉ đến đó, cạy răng họ cũng không kể nữa, cũng có thể họ chẳng biết gì hơn.
Chị chủ có sở thích đi vũ trường, và dự các cuộc sinh hoạt câu lạc bộ thơ phường. Chị bảo tôi :
- Tối nay đưa tôi đi có việc, được không?
Ngày trước, tôi học Sư phạm Vinh; giờ mới ra Hà Nội; phố phường Thủ đô lạ hoắc. Tôi lơ ngơ lắm. Xe cộ, người ngợm chi chít như đàn kiến trôi trên đường. Mài miết. Hối hả. Nhìn phát sợ. Chẳng biết người ta đi đâu lắm thế. Tôi bảo :
- Đêm hôm, đi xe máy tôi sợ lắm.
- Ai biểu thầy giáo nhà thơ cầm tay lái Honda mà sợ. Đi ô-tô của tôi.
Đi thì đi. Tôi không quá ngạc nhiên. Chị chủ lò mổ có ô-tô riêng, có tài xế riêng chẳng có gì lạ.
Con xe Camry 3.5 màu đen bóng loáng, hàng hiệu từ Hoa Kỳ, hơn tỷ dồng, sang quá. Người đàn bà và tôi cùng ngồi ghế đằng sau. Nước hoa phun quá tay thơm ngát mũi. Lúc này, tôi thực sự cận kề bà chủ Mộng Hoa. Phồn thực quá. Thân hình phốp pháp, ngực vú vồng to ninh ních dưới làn áo thun màu mỡ gà. Váy đỏ ngắn nửa đùi. Giầy cao gót màu trắng, cổ tay đeo đồng hồ vàng Omega lấp lánh. Bàn tay dầy, ngón to và ngắn như quá chuối mắn. Đúng là trời chẳng cho không ai cái gì. Bàn tay chị thô ráp, dường như nó được sinh ra chỉ để cầm búa đập huyệt gáy trâu và lách dao bầu lột da xè thịt. Và lấp lánh chiếc nhẫn mặt đá hồng ngọc ở ngón áp út. Một vẻ xấu - đẹp lẫn lộn, cái cao sang đi cùng cái kệch cỡm.
Tài xế lạng xe lách người. Chúng tôi nghiêng sang phải, dạt sang trái, khi phanh gấp người dúi lên phía trước. Chị chủ sợ, cứ ôm níu lấy vai tôi. Tim chị đập thình thịch. Tim tôi đập liên hồi. Xe bon bon, bằng lặng, chị chủ vẫn nắm tay tôi, vô tình đặt lên đùi. Đùi chị nóng hôi hổi.
Chật vật mãi, cuối cùng chúng tôi cũng đến nơi cần đến. Người đàn bà xuống xe. Ngực hơi ưỡn về phía trước theo thế “vú tấn công mông phòng thủ”. Chị khoác tay tôi như cặp tình nhân bước vào sảnh vũ trường.
Chốn này không dành cho bọn choai choai híp hốp giật đùng đùng. Toàn nạ dòng và đám đàn ông hói trán nghỉ hưu đến tập nhảy.
Công thành danh toại, nhiều tiền, nhưng cuộc sống lẻ nhạt quá: tập nhảy.
Nuối tiếc một thời hoài phí tuổi xuân ở chiến trường: tập nhảy.
Mất đứt quãng đời nhọc nhằn mưu sinh lo miếng sống miếng chín chưa kịp ăn chơi, nay “trả thù” đời thua thiệt: tập nhảy.
Kẻ chết chồng, người chết vợ; quý bà, quý ông đi tìm bạn tri âm: tập nhảy.
Có người mong nâng cao sức khỏe và thu nạp thêm một nét văn hóa hiện đại cũng: tập nhảy.
Nhạc êm dịu. Điệu valse nhẹ nhàng. Vụng về và thành thạo. Uyển chuyển và lóng ngóng.
Vô cảm và đắm say... Cái gì cũng lạ: Đèn màu lung linh. Rượu ngoại. Nước hoa phụ nữ. Mùi dầu gội đầu X.men. Vai trần. Đùi hở. Bắp chân trần. Tôi ngơ ngác. Ngượng.
Nàng giới thiệu tôi với các bạn tập nhảy. Nàng kéo tôi vào sàn khiêu vũ. Nàng sung sướng sát cánh kề vai với thằng đàn ông trẻ hơn chục tuổi. Đắm say. Ngất ngây. Dịu dàng. Bà chủ lò mổ với những ngón tay thô, ngắn hình quả chuối mắn như lột xác thành tiên.
Nàng hướng dẫn tôi. Chân bước chuyển. Tay ôm eo. Mặt hơi vênh... Ối trời. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tôi nào đã gặp nông nỗi này. Mặt tôi thộn ra. Lóng ngóng. Giầy Adidat giẫm lên guốc cao gót của nàng.
Tôi bỏ ra ghế ngồi. Mặt nóng bừng bừng. Âm thầm nghĩ đến cô vợ ở nhà. Nàng thật thà như hạt lúa củ khoai. Nàng lam lũ. Nàng nhọc nhằn, lấm láp. Nàng đang rửa đít cho con? Nàng đang lặng lẽ ngồi trong bốp dạ đun cám lợn?

6.
Công việc ở lò mổ toàn lúc nửa đêm về sáng.
Lâu dần, tôi đã biết cắt tiết trâu thành thạo và máu không dây ra áo và người nữa. Đánh búa quả nhót vào huyệt gáy trâu cũng khá. Mất ngù. Ban ngày đi học mệt quá, tôi toàn gà gật. Mỗi lần gà gật rồi kéo gỗ lại mất một cái tóc mai của cái Lan má bánh đúc. Cứ đà này không khéo tóc mai “má bánh đúc” sẽ trụi thùi lụi như người Mán sơn đầu. Bỏ việc thì tiếc tiền, không dám. Thạc sĩ và thợ mổ trâu, cái nào cũng quan trọng.
Có hôm tôi vẫn đến lò mổ, nhưng lại ở nhà trên và chẳng để làm gì, sẵn sàng làm một thằng sai vặt. “Thầy giáo lấy giúp tôi đôi giầy đỏ”. “Thầy giáo lấy giúp cái nịt vú trong tủ mang vào nhà tắm cho em với”. “Thầy giáo ngâm chân nước gừng nóng cùng không?”... Nhưng, việc chính là biên tập, chính sửa thơ cho bà chủ. Đại khái, bài vè tôi nắn nót lại cho bớt vè hơn. Bài thơ kể lể, tôi ngắt vụn câu ra thành nhịp điệu nhanh chậm. Bài dở dang, tôi làm nốt đoạn thơ kết. Có bài hay đáo đổ, cứ như của ai đó làm hộ, chứ không phải đứa con tinh thần của chị.
Tôi luôn luôn bị ám ảnh có hình bóng nào đó thấp thoáng trong nhà đang âm thầm theo dõi. Cứ như mọi hành động của mình không qua mắt cái bóng mơ hồ ấy. Mọi suy nghĩ, tâm trạng của mình dường như bị bóc trần ra.
Chị chủ đang ở phòng tắm, tôi đi tìm sự bí ẩn với sự tò mò không kìm nén được. Tôi bắt gặp chiếc xe lăn có ghế nệm ở gầm cầu thang. Y như chiếc xe lăn ông già mắt mèo đã đi đêm nào. Tôi nhìn ngược lên giếng trời. Tay vịn cầu thang và những con tiện nâu bóng. Một gương mặt choắt đang cúi xuống nhìn vội thụt lại. Như vậy là đã rõ, rất có thể ỏng già đang ở tầng trên và hàng ngày ông chiếu đôi mắt mèo kiểm soát sự có mặt của những thằng đàn ông lạ.
Ngao ngán quá. Sao tôi lại rơi vào tình cảnh vụng trộm, trớ trêu này?

7.
Câu lạc bộ thơ Hoa Sữa tổ chức ra mắt tập thơ đầu tay của nữ thi sĩ Mộng Hoa. Con mắt đầy hãnh diện tự hào như muốn nói: Hội thảo thơ tôi đấy. Bao giờ thơ của thầy giáo được hàm mộ thế này? Tôi liên tiếp bị bất ngờ, ngạc nhiên. Mọi người đến khá đông, gần kín hội trường phường. Mộng Hoa rối rít xin lỗi đến muộn vì tắc đường. Mọi người đều thông cảm thể tất, bởi lẽ bây giờ đến đúng giờ, không tắc đường mới là sự lạ. Với lại, bà chủ lò mổ Mộng Hoa đã tài trợ tài chính cho câu lạc bộ hoạt động đều đặn ba năm nay, công lớn lắm, ai nỡ trách.
Thằng lớp phó và Lan má bánh đúc đã ngồi ngay bàn đầu. Tập thơ Mùa trâu ăn sương chất cao ngang cằm “má bánh đúc”. Hai đứa nhìn thấy tôi cùng cười te tởn.
Ông nhà thơ tóc dài muối tiêu, búi tó củ hành điều hành hội thảo. Chân đi guốc mộc. Hai túi áo thổ cẩm lèn chật các tập thợ nặng trĩu vạt. Thi nhân đi dọc theo khoảng trống giữa hội trường, đảo mắt như rang lạc liếc gái, chẳng nể gì các cụ ông cụ bà. Cứ người đẹp nào cổ hở, ngực to mông nẩy là ông dán mắt vào. Cứ như đi tìm cảm hứng nghề nghiệp. Cứ như không có gái thì thơ bay biến mất, buổi hội thảo bất thành.
Ông nhà thơ giới thiệu tập thơ Mùa trâu ăn sương. Hội trường phường có nhiều tiếng xì xào. Dân gian đã có bao nhiêu thành ngữ, ca dao hay về trâu rồi, nay lại thêm một thi phẩm độc đáo toàn viết về trâu.
Gân cổ. Nghiêng tai. Lim dim mắt. Tay chém gió. Như lên đồng. Càng nói, nhà thơ tóc búi tó càng hưng phấn, cảm xúc dào dạt. Giọng rất hách và quyền uy phát lộ. Thi sĩ đúng là vua không ngai, nàng thơ là hoàng hạu. Khối kẻ phát thèm. Và ghen tị.
Ông ta giới thiệu Lan má bánh đúc đọc minh họa một bài thơ của nữ thi sĩ Mộng Hoa. “Má bánh đúc” vốn yêu thơ đến độ mê tín. Nàng ngửa mặt lên trần nhà, mắt nhắm nghiền, miệng tròn chữ O, môi uốn chữ Z đọc thơ như lên đồng:
Mùa trâu ăn sương
Cánh đồng trơ cuống rạ
Đi từ đêm sang ban mai,
bước chân trâu đóng dấu hoa đất
móng guốc in hình sẹo đất.
Vũng sương chân trâu đọng vành trăng cuối tháng
Tôi vục mặt uống như húp vũng mồ hôi
Mồ hồi trâu lẫn mồ hôi người trộn mồ hôi đất
Giọt mồ hôi nào hơn giọt mồ hôi nao?
...

Lại bài thơ Mùa trâu ăn sương tôi đã nghe chị chủ đọc. Nhọc nhằn quá. Ai đã thấy trâu đổ mồ hôi chưa nhỉ?
Nhà thơ đi guốc mộc bảo :
- Giọng em rất truyền cảm. Nóng bỏng. Đam mê.
Ông ta đi vài bước, nói tiếp.
- Anh nào vớ được cô gái này yêu, sướng một đời.
Cái ông này vô duyên. Đang thơ thẩn lại ngoằng một cái sang tình ái. Tôi đưa nhìn thằng bạn lớp phó, cảnh báo. Thằng này cười tủm. Cái cười rất gian manh, báo hiệu một cái gì đấy nhập nhằng.
Ra mắt thơ Mộng Hoa, mà nhà thơ đi guốc mộc lại mang thơ mình ra tặng. Loáng cái, hai túi thổ cẩm lèn chặt thơ hết sạch. Cái vạt áo lại nhẹ tênh.
Nhà thơ dừng lại bên “má bánh đúc” hơi lâu. Cái con bé này vô ý, cổ áo mở phanh ra từ lúc nào chẳng biết, hay nhà thơ nhìn sắc quá, tia bật cúc áo nó ra để lộ cả khe vú?
- Lúc nãy, em đọc thơ diễn cảm lắm. Đọc diễn cảm đắm say thì cũng có thể làm được thơ hay. Sao em không làm thơ nhỉ?
“Má bánh đúc” đỏ bừng mặt.
Thằng lớp phó bạn tôi cau mày.
Nữ thi sĩ Mộng Hoa vẫn cắm cúi nhiệt tình ký tặng tập thơ đầu tay.

8.
Càng gần Tết, mùa trâu ăn sương càng nhộn nhịp. Trâu mạn Sơn La, Yên Bái về càng nhiều. Ô tô chở trâu về ban đêm, lùa vào chuồng đóng gióng. Con nào sắp thịt, đồ tể buộc ra ngoài trời cho ăn sương.
Nửa đêm về sáng, các hàng thợ xẻ đi xe đạp, xe máy, gồng gánh đổ về lò mổ lấy thịt, lòng trâu kìn kìn. Những cái đầu trâu máu me tiếp tục bị quẳng sàn, mõm chổng lên trời, mắt thao láo mở uất ức.
Cánh đồ tể đánh búa vào huyệt trâu, lột da, xẻ thịt nhiều cũng mệt. Gã nào mặt cũng u ám, xơ xác tóc.
Tôi cũng bị cuốn vào công việc lò mổ đến mộng mị.
Rồi tôi bị trâu húc.
Con trâu điên bất chợt. Vừa tháo dóng dắt ra khỏi chuồng nó đã hục hậc, đánh sừng lung tung. Anh đồ tể nào cũng run tay cầm búa không vững. Tôi bảo: “Để tôi”. Cái số không may, lúc đó tôi có uống chút rượu vào, không biết sợ là gì. Chỉ muốn vung búa lên chứng tỏ mình không phải thầy giáo tay trắng chỉ cầm nổi viên phấn. Búa quả nhót giáng xuống đầu trâu, rồi trượt xuống trán. Con trâu điên phản ứng tự vệ tức thì. Vặc đầu húc. Cái sừng đánh đúng vào bụng dưới và hạ bộ. Tôi ngã lăn bất tỉnh. Con trâu phóng vọt ra khỏi lòi mổ, lao vun vút trong đêm tối. Nó chỉ dừng lại và đổ uych xuống thành đống thịt da khi húc phải bức tường rào đá có chân móng dầy gần một mét...
Tôi mơ màng thấy ông già thò cái đầu tóc bạc lòa xòa nhìn tôi. Ông vắt hai chân liệt lên cổ. Ông nắm thành cầu thang tụt xuống vèo vèo. Ông đắp cho tôi một tấm chăn mỏng. Ông nhìn tôi bằng con mắt buồn bã, thương hại. Và ông thở dài.
Tôi chợt tỉnh dậy.
Ông già vội vã chống tay lết đi ngay. Lết đi vì ông không muốn cho tôi nhận ra con người tàn tật sống trong bóng tối. Ông bám thành cầu thang nhoăn nhoắt leo lên tầng. Thoắt hiện. Thoắt ẩn.
Tôi nhận ra mình nằm trơ trên tấm phản làm lòng trâu. Anh em đồ tể khiêng đặt tôi nghỉ tạm ở phòng khách bà chủ, lúc nào chẳng biết. Tôi ngây ngấy sốt. Tấm chăn mỏng làm tôi đỡ rét run. Giếng trời một vuông sáng trắng, vẫn cái đầu tóc bạc lòa xòa và đôi mắt mèo ẩn hiện, lấm lét nhìn trộm.
Đau quá! Bụng dưới căng tức. Tôi sờ xuống hạ bộ. Hai hòn dái sưng to như vốc tay. Nóng hổi. Nhức buốt.
Một anh đồ tể sao lá ngải nóng đắp cho tôi. Cái đau dịu dần. Tôi hất đầu lên cái người tàn tật đang câm lặng đang thập thò đầu phía trên giếng trời. Anh đồ tể nhóng mắt nhìn theo, bảo :
- Chồng bà chủ đấy. Ông ấy bị nặng hơn anh.
- Sao thế?
- Trâu đá vào dái; chưa đã nó còn bổ móng lên sống lưng. Liệt, cấm khẩu. Cái nghề này bạc lắm.
Khốn nạn. Ê chề quá!
Tôi không khóc mà nước mắt cứ trào ra.

9. Đoạn kết
Tôi lặng lẽ về quê.
Thằng bạn lớp phó và “má bánh đúc” đánh xe ô-tô đuổi theo.
- Chị Mộng Hoa nhà tao đang vừa khóc vừa làm thơ về mày. Cũng là lỗi tại tao.
Tôi lặng im. Thằng bạn tôi đâu có lỗi gì. Nó muốn tôi có tiền ăn học, giúp gia đình. Nó muốn chị nó khuây khỏa nỗi buồn thân phận.
- Thôi, cũng may. Mày về đi. Từ giờ đến Tết kiêng nhá, giao thừa xong hãy ngủ với vợ. Năm mới mày sẽ đẻ một trăm con trâu. À quên, đẻ một trăm con trai.
Tôi vẫn lặng im, chỉ gật đầu.
“Má bánh đúc” cứ nhìn tôi cười ngặt nghẽo.
Tôi ngượng ngùng quá.

Chiều ba mươi Tết.
Xe ô-tô Camry 3.5 màu đen bóng dừng ở cổng làng, rồi quay bánh.
Tôi đi dọc bên đường làng. Bước chân lâng châng. Một nỗi niềm khó tả. Nhiều nhà đã gói bánh chưng. Khói xanh mơ màng bay trên mái bếp. Có bố con nhà nào đang hò nhau dựng cây nêu. Người làng đi xa vẫn đang lục tục trở về.
Nhà tôi đang đánh cá ao. Lưới thả xuống chọp chọp. Nơm úp xuồm xuồm. Cá tươi quẳng lên bờ giãy đành đạch. Bọn con cháu, em út kéo nhau đến giúp, ngếch mặt lên chào tôi, cười tí tởn. Hai hàm răng đánh lập cập. Đầm dưới nước lạnh thế này thì cả lũ rét thâm dái.
Hai đứa con gái mong bố về, chạy ào đến mừng rỡ. Đứa ôm chân. Đứa xách túi. Chúng kéo bố về nhà khoe với mẹ. Vợ tôi đang ngồi trong chuồng trâu đốt lửa sưởi cho con nghé mới đẻ. Lại nghé với trâu! Lại mùa trâu ăn sương. Tôi giật mình. sờ xuống hạ bộ. Chim cò thụt lại như quả ớt chỉ thiên.
Vợ tôi quay ra. Mừng quá! Đôi vai nhỏ nhắn rung lên. Nàng cười, như khóc. Hai má hồng rực vì lửa ấm. Con nghé đứng dậy chệnh choạng bước. Nó nghiêng đầu dúi cái mỏm xinh xinh cọ vào háng tôi.
Người tôi cũng nóng bừng, rạo rực.
0
Bên dòng Tonle Sap
 
Đêm đã vào sâu.
Vườn cây xào xạc lá. Ngoài cửa sổ, trăng cuối tháng lúc đổ tràn ánh bạc, dát lên những tán lâu niên. Lúc mây trôi dày đặc gói mảnh trăng cong lưỡi liềm giấu biệt vào âm âm u u. Người ta bảo, mỗi con người là một tiểu vũ trụ có mối liên hệ vô hình với vũ trụ mênh mông vô tận. Mặt trăng rất ảnh hưởng đến cảm xúc, tình cảm con người. Đêm nay, có thể đang động trời, làm Kiên thao thức, không tài nào ngủ được. Nhưng, nỗi buồn da diết thì không phải do mảnh trăng hạ huyền bị mây che lúc tối lúc tỏ kia. Nó bắt đầu từ ký ức trào lên bất chợt ùa về lúc cuối ngày, nó đeo bám dai dẳng, ám ảnh Kiên không dứt.
Giật mình! Ngỡ ngàng. Kiên không tự chủ được, lòng xao xuyến, khi người cuối cùng bước vào trả lời phỏng vấn là cô gái người Khơ Me nói tiếng Việt khá sõi. Váy bò te tua, bắp chân thon chắc màu bánh mật, tóc xoăn đen, mắt bồ câu lóng lánh. Hình như, Kiên đã bắt gặp cô gái ở đâu đó rồi? Anh cố moi trong ký ức mù mờ, xa lắc một hình ảnh quen thân nào đó mà vẫn tịt mít không ra.
Kiên hỏi :
- Tên bạn là Sa Von?
- Vâng, tên em là Sa Von, thưa ông.
- Bạn đang làm việc ở Công ty viễn thông AIS -Thái Lan, lương cao, gần nhà. Tại sao bạn lại thi tuyển vào Công ty Viettel Cambodia do Viettel đầu tư ở Campuchia.
Cô gái Khơ Me chớp chớp đôi mi dầy, cong. Đôi mắt bồ câu ướt long lanh, miệng tươi như hoa :
- Thực ra em không phàn nàn gì khi làm việc ở công ty cũ. Nhưng, công việc em đang làm được ví như cái áo quá chật; và em không muốn da thịt mình lớn căng phá bung các đường chỉ may. Em muốn được mặc cái áo rộng hơn ở Viettel Cambodia.
Kiên ngạc nhiên thực sự :
- Ô, thì ra là như vậy, Sa Von. Bạn có hiểu gì về cái nơi mình sẽ đến làm việc không? Ví dụ như triết lý thương hiệu của Viettel chúng tôi là Caring Innovator?
Bặm môi một lát, cặp môi đỏ hơi dầy và gợi cảm, cô gái trả lời :
- Thưa ông, trong tiếng Anh: Caring là tính từ, có nghĩa là QUAN TÂM, CHU ĐÁO; còn Innovator là danh từ, có nghĩa là NGƯỜI SÁNG TẠO; NGƯỜI ĐỔI MỚI. Em nghĩ: Người Viettel các ông chọn triết lý này vừa kết hợp được hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây: Caring vừa hướng nội quan tâm, chăm sóc, dịu dàng, chu đáo; Innovator vừa sáng tạo, đi trước mở lối, đột phá... mang hơi thở của khoa học kỹ thuật hiện đại, hướng đến nhân văn và tôn trọng con người...
Tự tin. Chững chạc. Trả lời rất khác biệt, theo cách của riêng mình, lưu loát, khúc triết và hàm xúc, Sa Von mang phong cách trẻ trung, có cái gì đó hơi nổi loạn phá phách của bọn trẻ Tây Âu. Nhưng, Kiên “đọc” được ở cô gái này sự chân thành nồng nhiệt của người Khơ Me kết hợp với cái nhanh nhẹn, quyết liệt với lối sống hiện đại có thể được rèn giũa trong thời gian làm việc ở Công ty viễn thông AIS - Thái Lan. Hình thể: Đứng ở tốp đầu. Chuyên môn: Giỏi. Kinh nghiệm chuyên môn: Ba năm. Phỏng vấn: Xuất sắc. Vượt qua tất cả những thí sinh khác, nhất là phần thi phỏng vấn, cô gái Khơ Me sõi tiếng Việt, mắt bồ câu trúng tuyển đầu sổ, không hề có sự ưu tiên, cảm tình riêng nào...
* * * * *
Vẫn câu hỏi: Mình đã gặp cô gái ấy ở đâu đó rồi?
Và Kiên không trả lời được. Khỉ thật! Hơn bốn mươi tuổi, độc thân, anh đang ở độ chín của đời người. Vài ba mùa trận mạc ở đất nước Angkor, rồi về nước học hành đến nơi đến chốn, quân hàm thượng tá, kỹ sư, thông minh hơn người, Kiên có lối tư duy lý trí hài hòa với duy tình trực quan sinh động. Không lẽ, cô gái Sa Von người Khơ Me vừa gần gũi quen thuộc vừa xa xăm kia vẫn là một ẩn số gói kỹ trong đầu Kiên?
Áo quân phục khoác hờ vai, Kiên bước ra ngoài ban công. Anh nhận ra: Sông Tonle Sap vẫn quặn lòng chảy xa xá và thở than như mấy chục năm về trước. Đã mất ngủ thì thao thức luôn cùng sông nước đất trời Phnompenh cả đêm, Kiên tự nhủ, chẳng mấy khi trở lại cái nơi mình từng gắn bó thời trận mạc đầy mồ hôi, nước mắt và cả máu nữa. Bên kia sông, nếu Kiên nhớ không nhầm thì nó vốn là một dải đất bãi, bạt ngàn dây bí đỏ, quả lớn quả bé lúc nhúc như lợn con. Trận địa cao xạ của Hanh - thằng bạn cùng làng đóng ở đó. Kiên đã vài lần chèo thuyền vượt sông Tonle Sap sang chơi. Một buổi sáng, cả khẩu đội không thấy Hanh đâu, bổ nhau đi tìm. Giời đất ơi! Hanh mặc độc cái quần lót, bị căng người ra. Một cọc tre tươi đóng vào miệng. Bốn cọc nữa đóng vào hai bàn tay, hai bàn chân ghim chặt cứng xuống đất. Máu chảy ra đông đặc, xám xịt. Kiến đen chi chít, râu ria ngoe ngẩy, bâu vào các đám máu khô. Quân Pôn Pốt dã man. Người ta phỏng đoán, đêm Hanh đi tiểu, tàn quân Pôn Pốt mò vào tóm được anh, điểm huyệt và lôi ra bãi bí ngô hành quyết kiểu man rợ thời trung cổ. Từ Campuchia về trường sĩ quan Thông tin nhập học, Kiên được nghỉ phép kết hợp thì người ta cũng đã báo tử Hanh trước đó vài năm. Mẹ Hanh chạy cùn cụt đến nhà, cứ ôm lấy vai Kiên, khóc ời ời: “Kiên ơi! Khi đi thì có anh có em, sao lúc về cháu không rủ em về với cô...”. Rủ làm sao được nữa cô ơi. Kiên không dám kể về cái chết tang thương của người bạn chí cốt, anh nuốt nỗi đau vào lòng...
Cũng bên dòng Tonle Sap này, nơi thượng nguồn xa lắc, lính ta ở phía bắc mặt trận kể: Sau một cuộc phục kích bất ngờ vào tổ lính thông tin, bọn tàn quân Pôn Pốt bắt được một người lính bị bắn gãy chân. Rất khốn nạn! Lính cao xạ, lính thông tin phải cầm súng bộ binh đánh giặc có nghĩa là không chuyên nghiệp, khốn nạn rồi. Thương quá. Lính ở phía Nam mặt trận thì lại kể: Bọn tàn quân Pôn Pốt bắt được người lính bị thương gãy chân ấy. Chúng giật đứt đường dây hữu tuyến của ta đang liên lạc và lấy cả dây còn nguyên trong cuộn, quấn từng vòng từng vòng dây đôi đen nhánh chồng lên nhau kín hết thân thể người lính. Và đào lỗ... chôn sống. Tất nhiên, chúng không quên gạt cả những người lính quân tình nguyện đã chết xuống cùng chung một hố... Ôi trời! Ký ức một thời đầy máu và nước mắt nhức nhối, ám ảnh Kiên không thể nào quên được.
Có thể là ban đêm, Kiên không nhận ra cái vườn xoài và khu biệt thự có tường đá xanh rêu ẩm ướt ở chỗ nào. Cả bến tắm nữa cũng biến mất vào thời gian hoang phế. Hai cái bến tắm có thể lui về phía thượng nguồn gần cây số. Đứng ở đây, Kiên chỉ thấy nước sông chảy xa xá, mênh mông. Bọn Kiên đã từng chèo thuyền, thả lưới đánh cá, ngụp lặn, đùa giỡn với dòng sông. Và con sông xưa ôm ấp vỗ về những thằng trai đánh giặc quanh năm khô hạn ở trong lòng.
Ngày ấy, cứ chiều chiều là bọn Kiên ra bến sông tắm. Cách nhau khoảng vài chục thước, bến đàn ông ở phía thượng nguồn; bến con gái, đàn bà ở phía cuối nguồn. Phải rất lâu, sau này Kiên mới nhận ra, phụ nữ Khơ Me tắm sông khác phụ nữ Thái vén váy tắm suối. Con gái Thái lội ra sâu nước từ từ ngập thì cũng từ từ vén váy lên cho khỏi ướt; nước ngập mông thì vén lên ngực. Lội ra sâu tiếp thì vén váy cao thêm, vén dần qua ngực; vú chìm trong nước thì cởi váy quấn lên đầu. Rất kín đáo, dịu dàng, ý nhị và lãng mạn, dù đứng gần mấy thước cũng không nhìn thấy da thịt tươi mởn của người con gái. Nước suối trong mát tha hồ mà đùa giỡn, mơn man, vỗ về da thịt.
Người Khơ Me gọi váy là xà rông; con gái tắm sông cứ để nguyên váy áo lội xuống nước. Ngụp lặn. Bơi lội. Rồi thò tay vào váy áo kỳ cọ. Bến xa nhà, thì mang theo xà rông, áo tìm chỗ khuất trên bờ thay đồ. Ở gần thì cứ thế lướt thướt, váy áo mỏng dán vào da thịt, nước chảy theo bước chân về nhà mới thay.
Bọn Kiên khi ấy còn rất trẻ. Nhìn xuống bến tắm con gái, một thoáng lòng xao xuyến và ngượng ngùng qua mau, cả lũ con trai hò hét vang mặt sông. Bến bên này trêu ghẹo bến bến kia; bến bên kia hò đối lại bến bên này; có lúc còn ngụp xuống lấy bùn đất ném sang. Lúc đầu, hai bến còn xa, trêu chọc nhau hóa thân mật, gần gũi, và do cả nước chảy người trôi nữa; hai bến nhập một lúc nào chẳng biết. Không còn e thẹn, ngại ngùng, Kiên, Chương còn chìa lưng cho Sa Ly, Dên và chị Rêu kỳ cọ. Bọn Kiên thi nhau bơi, ngụp lặn. Tuổi thơ Kiên bì bõm với con trâu sừng cánh ná đen bóng dưới dòng nước, đi tát múc ở đồng sâu, thùng đấu nên các cuộc thi nào Kiên cũng nhất. Có lần, Kiên lặn sâu xuống nước và chẳng lên. Mọi người hốt hoảng lội uồm uồm, ngụp lặn tìm anh. Nhưng rồi, bất chợt Kiên ngóc đầu chuồi lên. Ngẫu nhiên, hoặc do định phận sắp đặt để cái đầu Kiên vô tình chui vào giữa hai đùi Sa Ly và đội xà rông ngoi lên ướt sũng. Vạt xà rông lập lờ trên mặt nước. Một trận cười vang mặt sông. Kiên cũng cười ngượng ngùng, cứ vuốt mãi vuốt mãi gương mặt đẫm nước. Sa Ly e thẹn, cúi đầu, vốc nước vã lên gương mặt đỏ rần rần...
Ôi trời! Cái bến nước ngày xưa chỉ còn trong ký ức mù xa. Nhưng, nó không hề mất đi, cứ lấp ló ẩn hiện trong những buổi chiều hoàng hôn cháy đỏ nơi quê nhà, và những đêm thao thức không ngủ ở Hà Nội. Kiên chẳng ngờ cuộc đời như một vòng tròn, đi loanh quanh mỏi mệt rồi cũng có lúc quay về bến bờ xưa cũ xa lăng lắc. Bây giờ, Kiên đã trở về bên dòng Tonle Sap.
Gió đầy hơi nước. Mát rượi. Sóng vỗ ì oặp. Kiên nhận ra phía bờ bên kia, lui lên mạn bắc vài cây số là Hoàng cung, vẫn ánh điện hắt xuống dòng sông, nhưng ánh sáng trắng rực rỡ, chứ không yếu ớt, đổ xuống mặt nước vô vàn ánh lân tinh xanh đỏ như ngày xưa nữa. Cây xanh trên bờ ít lắm và nhà cao tầng chen nhau mọc lô nhô. Cái hoang sơ, trữ tình bên bờ sông Tonle Sap ngày xưa ấy chỉ còn trong dĩ vãng.
Nhanh quá! Thế mà đã hơn hai mươi năm.
* * * * *
Thời gian công tác của Kiên ở Viettel Cambodia sắp hết thì xảy ra câu chuyện khá nan giải. Có một Trạm BTS phát sóng di động, theo tính toán của bộ phận thiết kế thì phải đặt ngay trong vườn nhà Sa Von. Bà mẹ Sa Von kiên quyết không chấp nhận dù đã vận động, thuyết phục. Đội trưởng kỹ thuật năn nỉ Sa Von giúp, về thuyết phục mẹ đồng ý. Cô lý sự: Việc nào ra việc ấy, không phải vì cô đang làm ở Viettel Cambodia mà nhất nhất phải đặt cái cột ấy trong vườn nhà cô, dù mỗi tháng sẽ được trả đều đều một món tiền không nhỏ. Mẹ cô là một tiến sĩ văn học dân gian Khơ Me chứ không phải một người dân bình thường; bà không đồng ý, chắc chắn có lý do riêng xác đáng. Cô tôn trọng mẹ cô như tôn trọng một cá thể trong xã hội.
Kiên nghĩ: Cô bé bướng bỉnh này sắc sảo và bao giờ cũng chủ động kết thúc mọi việc, cần phải biết lắng nghe. Và, phải có một chuyện gì đấy nếu không rất hệ trọng thì cũng có hại? Ví dụ như đặt Trạm BTS ở đó sẽ làm mất cân bằng mỹ thuật, thậm chí làm xấu không gian khuôn viên, nên bà mẹ Sa Von mới kiên quyết lắc đầu. Hoặc một lý do nào đó thuộc về đời sống riêng tư? Kiên tự nhủ: Mình sẽ đến đó xem sao? Cần phải tìm hiểu, cần phải lắng nghe và tôn trọng những cá thể riêng biệt; đó là triết lý sống của Kiên.
* * * * *
Mùa xuân năm ấy.
Bọn Kiên đóng quân ngay bên bờ sông Tonle Sap, cách cầu Monivong hơn một cây số. Bên kia vườn cây là khu nhà ở của Tổ phiên dịch. Mười cô gái, chàng trai người Khơ Me biết tiếng Việt, chị Rêu khoảng ba mươi tuổi còn lại sàn sàn mười tám, mười chín, hai mươi. Chị Rêu khá sành tiếng Anh và tiếng Pháp, chị đang học năm cuối khoa tiếng Anh thì giải phóng Phnompenh; bọn Pôn Pốt từ rừng về thành phố, trường đại học bị đóng cửa. Bên này vườn cây là khu nhà ở của Tổ công tác dân vận thuộc Sư đoàn bộ. Kiên và mấy chàng chuẩn úy ở chung một nhà. Còn mấy anh nữa lớn tuổi hơn ở một nhà khác. Gọi là nhà nhưng thực ra là các biệt thự làm theo kiểu nhà sàn, cột, ván làm bằng gỗ pơ mu. Nhìn kiến trúc, cây cối trong vườn có thể đoán được các chủ nhân của chúng là những người khá giả, sang trọng. Lúc bọn Kiên vào tiếp quản Phnom-penh; các nhà đều vắng chủ, im ỉm cửa đóng, có nhà cửa giật bung ra, nhưng điều hòa nhiệt độ vẫn chạy ro ro. Có thể họ đã chạy đi nước ngoài hoặc bị bọn lính Pôn Pốt xua đuổi đang phiêu dạt ở một phương trời nào đó.
Dạo ấy, quân tình nguyện bọn Kiên còn rất trẻ. Công việc sau ngày giải phóng Phnompenh bận rộn và vất vả. Bọn Kiên hàng ngày phải chia nhau về các phum, sóc ở vùng ven đô giúp chính quyền địa phương của bạn ổn định đời sống nhân dân. Thủ đô Phnompenh nhỏ, hoang tàn như thành phố chết rất thưa vắng người. Đi khỏi nơi đóng quân độ một giờ đã gặp rừng: rừng thốt nốt, rừng cây tạp um tùm và suối nước chảy trong veo.
Ngày nào, Kiên cũng gặp từng đoàn người lớn, trẻ con lũ lượt trên đường tìm về quê cũ. Người ở Battampong về, người ở Xihanucvin lên, người ở Kompongcham xuống... Cả đất nước Campuchia đang lầm lụi làm cuộc hành hương khổng lồ. Lúc đầu, dân các phum còn ít, sau người về cứ đông dần. Bà con giúp nhau dựng, sửa lại nhà, làm vệ sinh phum, sóc, bầu phum trưởng... Mấy ngày đầu về Tổ phiên dịch, Sa Ly, chị Rêu, Dên... còn là các cô gái gầy yếu, xanh xao, gương mặt đờ đẫn, ngơ ngác thì sau một thời gian ngắn da dẻ đã căng mịn, mặt mũi tươi tỉnh và nụ cười luôn ở trên môi. Đúng là cả dân tộc Campuchia hồi sinh, các cô gái cũng tươi tắn có hồn. Sa Ly cũng vậy, càng ngày cô càng đẹp ra. Mẹ Sa Ly là người Việt, bố người Khơ Me. Cô mang gene trội, được thừa hưởng những gì tốt đẹp nhất của dòng máu hai dân tộc nên cái đẹp vừa gần gũi vừa xa lạ. Vẻ đẹp âm thầm ấy cứ dần dần, ngấm ngầm chinh phục Kiên.
Chương cùng lứa Kiên được phong vượt cấp từ trung sĩ lên chuẩn úy ngay ở chiến trường và họ khá thân thiết với nhau. Tóc xoăn tít, lông mày rậm, nước da như đồng hun, mình Chương chắc lẳn như con cá trắm đen. Về sau, Kiên mới biết mẫu con trai lý tưởng như Chương là niềm ao ước, thèm muốn của không ít con gái Khơ Me. Chương ở đại đội thông tin trực thuộc trung đoàn, được điều về Tổ công tác dân vận của Sư đoàn bộ sau Kiên vài tuần. Có lẽ, câu chuyện nỗi buồn phiền, day dứt và ám ảnh Kiên bắt đầu từ khi Chương có mặt ở đây.
Đêm Lăm vông. Kiên đã ngây ngất nhìn Sa Ly cùng các cô gái múa, hát Chô thây nam thơ mây. Thân hình thon thả uốn, xoay, uyển chuyển như lướt nhẹ trên mặt đất. Các ngón tay Sa Ly như búp măng trắng hồng cong cong theo điệu múa. Hình như Chương cũng có cảm tình với Sa Ly, mắt rực cháy có đốm lửa. Ngắm Sa Ly múa, Chương mê quá thốt lên: “Trời đất! Như vũ nữ trên tường đá Angkor”.
Kiên còn nhớ, dạo đó kỷ luật dân vận rất nghiêm, quân tình nguyện không được phép lấy bất cứ thứ gì dù nhỏ nhất như cái kim sợi chỉ của dân. Toàn bộ lương thực, thực phẩm của quân tình nguyện Việt Nam đều chở từ bên nước sang. Tổ công tác dân vận xuống phum phải mang theo lương khô hoặc cơm nắm để ăn trưa. Tối về, đi qua vườn cây, chân bước đạp lên quả xoài chín nẫu vừa bị gió đập rụng, tay va vào quả vú sữa chín mọng, nhưng vẫn không ai dám tơ hào một miếng. Đêm, nằm ngủ cành xoài lòa xòa, thò cả quả chín mũm mĩm vào cửa sổ cũng chỉ nuốt nước miếng chống cơn thèm, quyết không vin cành bứt quả.
Chuyện cái kim sợi chỉ nhỏ nhoi đã phải giữ gìn nghiêm khắc như vậy huống hồ là chuyện yêu đương với con gái nước bạn. Kiên biết mình đang vướng vào một chuyện động trời, nhưng trái tim có nhịp đập riêng của nó. Càng cố kìm nén tình cảm, Kiên càng khát khao yêu mãnh liệt, âm thầm. Nếu có thể quên được Sa Ly thì Kiên đã đỡ phải xốn xang, thẫn thờ. Những tối không họp hành, Kiên đều tranh thủ sang nhờ Sa Ly dạy thêm tiếng Khơ Me, một phần kiếm cớ để gặp cô. Có hôm sang đã thấy Chương đến trước ngồi ở đó rồi. Lúc ra về, Sa Ly tiễn Kiên xuống chân cầu thang là quay trở lên. Nhưng, cô lại thường xuyên tiễn Chương đi thêm một đoạn đến chỗ cây vú sữa rồi mới quay lại.
Chương sống chân tình, bộc trực, hồn nhiên. Kiên kín đáo, giấu mình. Cái kim bọc lâu ngày cũng chui ra khỏi vải. Hóa ra, Chương và Sa Ly thân thiết từ lúc Chương còn đang ở đại đội thông tin. Chương đưa quân đi dải dây hữu tuyến qua bến tắm và họ đã quen nhau. Lúc đầu định thả dây ngầm xuống tận đáy, vượt sông, Chương và đồng đội đã bơi và khảo sát nhiều lần. Nước sâu quá, lại chảy xiết nên phải chấp nhận phương án hình chữ U, tốn dây đi vòng xuống qua cầu Monivong rồi dẫn ngược lên. Chương đã nhiều lần ngồi thu lu giấu mình trong bụi cây, ngó trộm Sa Ly tắm... Biết chuyện này, Kiên buồn bã, đêm mất ngủ, ngày bơ phờ. Nhưng, Chương vẫn không hề hay biết tình cảnh thảm hại của Kiên.
Kiên vẫn nhớ có một buổi trưa im gió, anh ngồi trên ban công nhìn xuống vườn cây. Chương và Sa Ly đang đứng dưới bóng râm đổ dài từ tán lá thốt nốt. Mái tóc Sa Ly dài óng mượt xõa xuống bờ vai trắng ngần. Cô vừa gội đầu xong, đang bưng chậu quần áo đứng tần ngần bên Chương. Hai người nói chuyện với nhau, Kiên nghe rõ mồn một.
Sa Ly hỏi :
- Dạo anh còn ở đại đội thông tin, em thấy một anh khoác cái máy to như cái máy lạnh nhỏ, có hai cần ăng-ten vắt vẻo như râu con xén tóc, hành quân đi ngang qua?
Chương bật cười.
- Máy vô tuyến điện PRC 25W đấy cô bé ạ. Ở hai phương trời hai máy, người ta có thể đánh mật mã liên lạc với nhau xa hàng chục cây số, hàng trăm cây số, em ạ.
- Có nói được với nhau không?
- Được chớ. Nhưng, thông tin quân sự hoàn toàn bí mật, liên lạc mà nói chuyện như anh và em sẽ lộ.  Bom đạn dội xuống đầu ngay.
- Phnompenh không còn bom đan nữa. Ước gì anh và em mỗi người có một máy để nói chuyện với nhau nhỉ?
Chương chợt buồn lặng :
- Ngày anh còn ở đơn vị cũ, có hôm đi kiểm tra đường dây ở bờ bên kia nhìn thấy em như cái chấm nhỏ, anh gọi khản tiếng mà em vẫn lặng lẽ đi xuống bến tắm.
Sa Ly bảo :
- Thì em có nghe được đâu. Sông rộng quá mà.
- Ừ, em không nghe được. Anh chỉ muốn bơi sang với em. Lúc đó, anh ước mơ giá như có cái máy đàm thoại phát sóng vô tuyến chỉ to bằng hòn gạch thôi, bỏ vào túi xách, hay túi cóc ba lô cũng được. Máy của hai người kết nối qua một trung tâm với cùng bước sóng. Chúng ta bấm số như điện thoại hữu tuyến là trò chuyện được với nhau.
- Ôi. Thích quá nhỉ.
- Em sẽ gọi nói chuyện suốt ngày, suốt đêm với anh chứ?
- Nói suốt ngày suốt đêm? Anh sẽ chán em ngay?
- Không. Em hãy nói theo cách của riêng em thì anh sẽ không chán.
- Và anh sẽ chăm chú lắng nghe em nói chứ.
- Tất nhiên. Anh cũng sẽ nghe em nói suốt ngày suốt đêm, nói và nghe đến khi cái máy nó nóng bỏng rẫy lên, em yêu ạ.
- Rồi em sẽ may cho anh một cái túi thổ cẩm to bằng viên gạch đựng vừa cái máy đàm thoại của anh.
Câu chuyện nghe rõ mồn một, tình tứ quá. Dù buồn bã, Kiên vẫn cố kìm nén được tình cảm, không để phát lộ ra ngoài. Kiên cay đắng, cười khẩy một mình: Hãy nói theo cách của riêng em. Cách gì? Cách của tình yêu ư? Máy đàm thoại bé bằng hòn gạch ư? Hão huyền. Ước mơ rồ dại, viển vông. Làm được thì người ta đã làm rồi, chẳng ai dại gì mà dùng cái máy nặng mười mấy cân, khoác è cổ. Nhưng, Kiên phải công nhận rằng: Thằng cha này có ý tưởng rất hay. Cấp trên nên điều chuyển phắt nó về nước, tiếp tục học năm thứ hai Khoa Vô tuyến điện ở Đại học Bách Khoa, vài chục năm sau thằng cha này thành nhà khoa học. Rất có thể nó làm nên chuyện đấy. Tất nhiên, mình chỉ cần loại được một tình địch.
Câu chuyện tình của bộ ba Kiên - Sa Ly - Chương sẽ chẳng xảy ra to tát nếu như tối hôm sau Kiên kìm nén được tình cảm của mình.
Đêm ấy, trăng lên sớm ngoi lên và neo trên những ngọn cây thốt nốt. Dòng sông Tonle Sap tràn ngập ánh vàng. Gió dưới sông rười rượi thổi, cầu Monivong mờ xa im lìm mệt mỏi nối hai bờ. Kiên tắm muộn; ngụp lặn dưới sông xong, vơ quần áo ướt đi về nhà. Vườn xoài đang mùa trĩu quả chín, thỉnh thoảng lại có trái rơi bộp... bộp. Đi ngang qua khu nhà Tổ phiên dịch, đến gần cây thốt nốt lỗ chỗ vết đạn ghim đã cũ, Kiên bất chợt nghe tiếng con gái gọi Chương thì thào :
- Boòng Chương. Anh Chương.
- Sa Ly. Sao lại đứng một mình ở đây?
- Em đứng chờ anh.
- Sa Ly lên nhà đi. Đứng thế này không tiện. Đêm hôm ngại lắm, mọi người nhìn thấy. Nguy hiểm lắm.
À thì ra là dấm dúi gặp nhau cơ đấy. Tay Chương ghê thật. Kiên nghĩ miên man.
- Boòng sơ lanh on tê? (Anh có yêu em không?). Bất ngờ quá, Chương đâm hoảng :
- Trời đất ơi. Anh trả lời nhiều lần rồi. Yêu thương để trong lòng, không nhất thiết phải nói ra từ miệng. Chúng mình đang phải giấu. Em đừng nói thêm lời nào nữa. Nguy hiểm lắm.
- Boòng sơ lanh on tê?
Vẫn lại câu hỏi ấy, giọng quyết liệt, nồng nàn, rồi Sa Ly choàng hai cánh tay thon thả ôm chặt cứng hai vai Chương. Tấm thân nuột nà, mông căng tròn và eo hông hơi thắt, bờ vai nhỏ run rẩy như đánh đu trên vai Chương, như vít đầu Chương xuống. Kiên nghe được cả tiếng thở gấp hào hển của Sa Ly.
Bỗng nhiên mặt Kiên nóng bừng bừng, máu chạy giần giật thái đương. Lòng dạ cồn cào, Kiên đã không kìm được sự ghen tuông nhỏ nhen, đố kỵ.
- Đồng chí Chương. Đồng chí có nhớ kỷ luật dân vận không?
Đôi tình nhân giật mình, buông nhau ra. Chương ngượng nghịu, hai tay vò vò mái tóc xoăn đen, giọng nói đầy lo lắng :
- Ki...ên. Mình...
- Tại em. Anh Chương không có lỗi. - Sa Ly khẩn khoản.
- Thôi. Cô không phải bênh no...ó.
Giọng Kiên lạnh lùng, nghe ghê răng như miệng ai đó đang nghiền mảnh sành chai xào xạo. Dường như không kìm nén được nữa, Chương bóp chặt tay Kiên, nói nhỏ nhẹ và kiên quyết :
- Cậu hãy để cho trái tim chúng tôi nói bằng cách của trái tim.
- Văn hoa, triết lý quá. Câu chuyện tiếng nói trái tim này không hợp ở chiến trường đâu. Lạc lõng lắm! Cá nhân! Khác biệt lắm!
Tình huống căng thẳng dần lên, sẽ diễn biến thành chuyện to tát nếu lúc đó không gặp trung tá Chủ nhiệm Chính trị họp ở Bộ chỉ huy Sư đoàn về muộn đi qua. Kiên báo cáo luôn mọi sự việc một cách nhanh gọn, trôi chảy, hào hứng như vừa lập được chiến công ngoài mặt trận. Ông trung tá dạn dày kinh nghiệm sống và đầy nhân ái bảo đừng làm mọi chuyện ầm lên, không có lợi cho công tác dân vận, về phòng làm việc của ông giải quyết.
Kiên vừa đi vừa thấy hả hê trong lòng. Kiên liên tưởng đến cái mặt bạc phếch, van xin và lo sợ của Chương trước ông Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn. Không bị tống ra chiến trường thì Chương cũng bị kỷ luật đưa về nước. Chương sẽ mất mặt trước Sa Ly...
Trái với suy nghĩ và sự liên tưởng của Kiên, gã tóc xoăn đen ngồi trước mặt ông trung tá trình bày một cách bình tĩnh, rõ ràng, rành mạch, xin nhận tất cả lỗi về mình và chấp nhận bị kỷ luật. Còn Sa Ly thì sụt sịt. Cô bảo: “Mẹ cháu cũng là người Việt Nam. Chúng cháu đều chưa vợ chưa chồng, chả lẽ không được yêu nhau à?”. Rồi cô lại nhận lỗi hết về mình. Sa Ly khóc, năn nỉ: “Cháu xin chú đừng kỷ luật anh Chương”. Ông Chủ nhiệm Chính trị bảo: “Cháu bình tĩnh lại nào”. “Không! Hãy để cho cháu nói từ cách nghĩ của cháu. Cũng là do cháu quá thương, không kiềm lòng được. Chúng cháu yêu nhau thật lòng. Dù lúc này đang thời chiến, chưa cho chúng cháu yêu nhau, lấy nhau thì khi thanh bình cháu cũng tìm về Việt Nam, cháu muốn sống với anh Chương trọn đời”. Rất quyết liệt! Một cô gái nhỏ bé mong manh, yếu ớt nhưng ngùn ngụt ý chí bảo vệ tình yêu. Kiên ngỡ ngàng. Chương ngỡ ngàng. Và ông trung tá Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn cũng ngạc nhiên. Hai mắt Sa Ly mọng nước, lấp loáng ánh đèn và đầy kiên nghị.
Sự việc không như Kiên nghĩ, họ đã yêu nhau hết lòng, yêu theo cách của họ và sống chết vì nhau. Cái kiểu yêu đương này thật lạ! Kiên thấy mình tẽn tò quá, tự nhiên thừa ra, đơn độc, thấp bé và đớn hèn quá. Ông Chủ nhiệm Chính trị ngẫm nghĩ, cân nhắc, mặt ông đanh lại. Ông điềm đạm, từ tốn nói, đại ý rằng: “Chính quyền nước bạn còn rất non trẻ mà công việc đang bộn bề, phức tạp. Tàn quân Pôn Pốt chưa diệt xong. Hai nước chưa chính thức có hiệp định về hôn nhân. Lúc này, cần phải biết tạm gác hạnh phúc riêng tư và chờ đợi, đừng để kẻ xấu lợi dụng chuyện đó phá hoại tình đoàn kết hai dân tộc..”. Ông còn nói nhiều về tuổi trẻ, ước mơ, tình bạn, sự chờ đợi, hy sinh cho đất nước khi cần thiết...
Và cuối cùng chuyện được khuôn lại chỉ có chừng ấy người biết.
Từ hôm sau, bộ ba Kiên - Sa Ly - Chương có một sự thuyên chuyển vị trí công tác nho nhỏ. Sa Ly đi với tổ dân vận khác xuống phum, Kiên đi với Dên, còn Chương đi với chị Rêu. Thỉnh thoảng gặp, sáp mặt với nhau, Chương vẫn nói chuyện, trao đổi bình thường không có ý giận, coi như chưa có việc gì xảy ra. Kiên cảm thấy thèn thẹn, có một chút ân hận, ngại ngùng. Nhưng, anh vẫn biện hộ , cho việc làm của mình là đúng với tinh thần chấp hành kỷ luật dân vận, với ý thức trách nhiệm của người lính.
Một tuần sau, Chương khoác ba lô đến chào Kiên :
- Mình trở về đại đội thông tin của Trung đoàn cũ chiến đấu. Làm thằng lính chiến mà ở nơi yên ả thế này, chán quá. Nằn nì mãi Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn mới cho chuyển. Thôi mình đi kẻo xe chờ.
Quá đỗi bất ngờ, Kiên bảo :
- Hượm đã, Chương. Sa Ly biết cậu đi chưa?
- Sa Ly không biết đâu. Biết, càng khó đi. Mà mình sẽ quay lại cơ mà.
Kiên gãi tai, bối rối. Tự nhiên lúc đó, Kiên có nhu cầu thanh minh, giãi bày. Không nói ra được điều day dứt, ân hận chứa chất trong lòng thì biết bao giờ nói được. Chiến tranh vẫn còn liên miên. Cái giống tàn quân Pôn Pốt đánh lại quân tình nguyện toàn dùng chiến thuật du kích tập kích ban đêm. Lính pháo, lính tăng, lính thông tin... cũng phải cầm súng bộ binh truy quét địch. Rừng, nơi tàn quân địch trú như thiên la địa võng, ai biết trước được đây không phải là cuộc chia ly cuối cùng.
- Chuyện hôm trước, thực lòng tớ không muốn làm thế... Tớ trẻ con quá.
- Thôi, chuyện qua rồi, Kiên ạ.
- Dưới đơn vị bom đạn ác liệt lắm... Mình muốn nói sao Chương lại...
- Mỗi người sống và hành động theo cách của mình, không ai giống ai đâu, Kiên ạ. Thôi, mình đi đây.
Chương nắm tay Kiên rất chặt rồi bước nhanh.
Một thoáng ngây người rồi chợt tỉnh ra, Kiên vùng căng chạy sang khu nhà Tổ phiên dịch. Từ chân cầu thang, Kiên gọi toáng lên: Sa Ly...y. Sa Ly...y.
Như có linh tính báo điềm chia ly, Sa Ly tối sầm mặt, lập cập chạy ra. Kiên bảo: “Chương về đơn vị cũ rồi. Chạy nhanh kẻo xe chạy mất”. Họ chạy đến nơi tập kết thì xe đã bon bon trên đường cuốn bụi mù. Sa Ly gục đầu vào vai Kiên khóc. Tóc bết nước mắt, nhòe vai áo. Lúc ấy, Kiên cảm thấy mình như vừa bị mất một cái gì đó rất lớn lao mà không gọi tên được.
Mùa khô qua rồi lại mùa mưa.
Người ta thuyên chuyển Kiên đến công tác ở Ban chỉ huy tiền phương của Sư đoàn đóng tận Amleng cách xa Phnompenh cả trăm cây số. Một thời gian sau, Kiên về nước học ở Trường sĩ quan Thông tin. Từ đó, họ không còn gặp nhau nữa.
Chuyện cũ buồn vương vấn. Tự nhiên, vang ngân trong lòng Kiên một tiếng gọi thì thầm, thành khẩn: “Chương ơi! Anh Chương ơi! Có thể bây giờ anh đã phục viên, chuyển ngành; anh đã có vợ con hạnh phúc; có thể anh vẫn còn ở quân đội như tôi. Anh có còn nhớ Sa Ly, nhớ chị Rêu và Dên... không? Anh còn nhớ hay anh đã quên cái chuyện ngày xưa ấy, tôi - Sa Ly và anh khi chúng ta còn rất trẻ”.
* * * * *
Trước ngày ra sân bay về nước, Kiên đến thăm nhà Sa Von theo lời mời của cô vào một buổi tối nhiều sao trời. Kiên nghĩ: Chắc bà mẹ đã suy nghĩ lại về cái trạm BTS sẽ đặt ở vườn nhà mình, hoặc cô bé định thanh minh điều gì đó. Không! Có thể chỉ là lời mời thăm nhà xã giao lịch sự bình thường. Thực ra, anh cũng muốn đến nhà Sa Von với tư cách như một người quản lý, lãnh đạo đến thăm nhà nhân viên; một phần cũng vì việc đặt cái trạm BTS ở đó không thành. Và lặng thầm trong lòng Kiên cũng náo nức muốn tìm kiếm, khám phá tiếp những điều bất ngờ, bí ẩn nơi cô gái Khơ Me khác biệt, xinh đẹp này.
Xe qua cầu Monivong. Sao trời rắc chi chít xuống dòng Tonle Sap. Mỗi lần bắt gặp con sông huyền bí, dịu dàng chở bao nhiêu kỷ niệm một thời, lòng Kiên lại xao xuyến, thổn thức. Bất chợt, chuông điện thoại reo. Ô lại 098...; còn quá sớm, không phải số điện thoại của Sa Von mà là của bố.
- Con Kiên đây, bố ơi.
Đang gọi, bất chợt ông lặng im, ở đầu đằng kia im lìm đến phát sợ. Kiên hốt hoảng :
- Bố ơi, có chuyện gì đấy?
Giọng bố anh chậm dãi, da diết :
- Kiên ơi! Bố già rồi. Bảy mươi tuổi rồi, sống chẳng được là bao nữa. Bố mong có cháu đích tôn. Xấu đẹp gì con cũng lấy vợ đi cho bố mừng. Đừng sống độc thân mãi như thế! Con khổ. Mà bố cũng khổ...
Kiên lặng người. Lại câu chuyện lấy vợ của anh. Thương bố đến nao lòng, nhưng anh chưa tìm cách diễn đạt thế nào để bố hiểu? Đã vài ba cuộc tình đi qua đời Kiên. Bạn bè hỏi: Toàn cô gái trẻ trung xinh đẹp tốt nết, nghề nghiệp ổn định, mà sao mày cứ yêu rồi thôi? Kiêu không trả lời cụ thể. Độc thân có phải là một cách sống? Tình yêu ơi ở đâu? Anh vẫn chưa tìm thấy cái nửa thật sự của mình. Cái nửa phải rất khác biệt, không thể lẫn trong đám đàn bà, con gái ồn ào, nhạt nhẽo và nông cạn. Hay hình ảnh cô gái Khơ Me ngày xưa đã choán hết tâm hồn tình cảm của anh rồi?

Sa Von mở cổng đón Kiên. Xe chạy thẳng, chui vào gara. Kiên và Sa Von quành sang đi bộ thư thả trên lối nhỏ rải sỏi màu trắng.
Căn biệt thự nhỏ xinh xắn, thoảng hoặc có đám rêu phong và cây trắc lá nhỏ mỏng leo chân tường ốp đá sần. Khuôn viên khá rộng. Kiên bắt gặp một phong cách kiến trúc khá độc đáo, chứng tỏ chủ nhân của nó là một người sống không nhạt nhòa, không dễ lẫn vào đám đông. Đèn ở vườn sáng tỏa nhẹ. Thảm cỏ Úc xanh ngắt mịn như nhung hứng những cái bóng đổ dài từ lùm cây thốt nốt. Các lối nhỏ lát đá dẫn đến mảnh hồ bán nguyệt có hòn non bộ và các vòi phun nước. Mùi hương hoa hồng dìu dịu phảng phất xa gần lẫn mùi hương hoa ngọc lan xao xuyến. Bước chân người lính mách bảo rằng, anh đang ở một nơi sang trọng và quý phái.
- Hôm nay, em sẽ dành cho ông một bất ngờ lớn. Kiên bảo :
- Đời tôi luôn luôn là một chuỗi bất ngờ. Thêm một bất ngờ nữa cũng thú vị đây.
Người giúp việc ra, chào lễ phép bằng tiếng Khơ Me. Kiên đáp lại cũng bằng tiếng Khơ Me làm chị ta ngạc nhiên. Sa Von kêu một cà phê đen đá. Kiên gọi một ly cà phê nâu. Dưới ánh đèn neon xanh dịu, nhạc nền dân ca Khơ Me nhẹ nhàng đầy ắp căn phòng, Sa Von có vẻ hiền từ, dịu dàng hơn lúc ban ngày làm việc ở công sở. Kiên lại bắt gặp hình ảnh gương mặt và mái tóc xoăn thân quen trong ký ức. Anh bồi hồi nhớ buổi khảo thí tháng trước với kiến thức vững chắc và khả năng biến hóa ứng xử của cô bé Sa Von. Thật thú vị. Chưa bao giờ anh gặp một thí sinh thông minh và sắc sảo như vậy.
Hôm ấy, Kiên hỏi :
- Say it your way - Hãy nói theo cách của bạn. Câu slogan này của Viettel, bạn hiểu ý nghĩa của nó như thế nào?
Cô gái Khơ Me tóc xoăn ngước đôi mắt bồ câu đưa một ánh nhìn đối thoại chứ không phải trả lời :
- Thưa ông! Em nghĩ, Người Viettel muốn nói với khách hàng là: Viettel đã, đang và sẽ luôn luôn quan tâm, lắng nghe và nỗ lực đáp ứng làm thỏa mãn mọi khát vọng riêng biệt, nhu cầu giao tiếp thông tin liên lạc của mỗi người. Chọn Say it your way, Người Viettel muốn khẳng định sự quan tâm, lắng nghe, thấu hiểu của lãnh đạo đối với từng cá nhân trong ngôi nhà chung Viettel. Thông điệp khuyến khích mọi người phát triển bản sắc cá nhân và ủng hộ mỗi cá thể sáng tạo để làm phong phú tư tưởng và hành động của Viettel... Thưa ông! Em muốn làm một người khác biệt trong ngôi nhà chung Viettel của các ông. Vì chính các ông tôn trọng, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được nghĩ, được sống, được yêu, được nói theo cách của riêng mình để sáng tạo và hành động là một trong những nguyên nhân mà em thi tuyển vào Viettel.
Kiên lại hỏi :
- Sa Von. Còn nguyên nhân nào nữa? Dù không trả lời câu hỏi này, bạn vẫn chắc chắn trúng tuyển hàng đầu vào Viettel.
- Chuyện riêng tư của gia đình. Xin ông hãy hiểu: Chính cái nguyên nhân không nói thành lời ấy là động lực lớn nhất làm em bỏ công ty cũ đến với Viettel Cambodia của Việt Nam các ông một cách quyết liệt.
Không phỏng vấn nữa. Chẳng có gì đáng phàn nàn, Sa Von sắc sảo, giàu hàm lượng tri thức chuyên môn, xã hội, được trình bày cô đọng với một giọng trầm ấm, vang ngân. Lúc đó, Kiên đã nghĩ: Cô gái này sẽ còn đầy bí ẩn.

Bây giờ, cô gái Khơ Me mắt bồ câu sẽ mang điều bất ngờ lớn nào đến với Kiên nữa đây? Kiên đưa mắt nhìn quanh căn phòng khách khá rộng. Một cây chuối lùn nở hoa đỏ chói chang ở góc nhà. Một bình cổ đất nung màu đỏ nâu. Một bức sơn dầu phong cảnh đền tháp Angkor hùng vĩ. Và một bức ảnh nhiều người đen trắng to bằng nửa cái cánh cửa. Ôi trời ơi! Có lẽ nào mình đang ngự trên bức tường kia?
Kiên bật dậy. Đây rồi! Là Kiên, là Rêu, Dên, Sa Ly, và Chương. Bức ảnh đen trắng chụp từ dạo bọn Kiên ở Tổ công tác của Sư đoàn bộ ngày xưa... Kiên đưa bàn tay lóng ngóng đặt lên vai, rờ rẫm từng gương mặt, rồi gục đầu vào bức ảnh. Kiên lặng người...
- Đó là nguyên nhân lớn nhất để cháu bỏ công ty cũ về làm ở Công ty Viettel Cambodia. Mẹ con cháu bao nhiêu năm nay đi tìm hai người đàn ông trong ảnh.
Kiên buông một tiếng thở dài :
- Và mẹ con cháu đã từng thất vọng?
- Vâng! Thất vọng rồi lại hy vọng, dù hy vọng rất mong manh.
- Mẹ cháu đã kể những gì?
- Cha cháu hy sinh mà không biết mặt con. Mẹ ít nhắc lại vì mỗi lần kể là một lần đau lòng. Mẹ khóc. Đội quy tập mộ liệt sĩ từ Việt Nam sang tìm kiếm cất bốc, nhận ra hài cốt cha cháu dưới hố chôn bởi trùng điệp những sợi dây thông tin hữu tuyến quấn quanh. Người ta đưa hài cốt cha cháu về quê hương Việt Nam. Mẹ theo đưa tiễn cha về tận cửa khẩu Mộc Bài. Về nhà, mẹ nằm bệt, âm thầm khóc. Cháu thì quá nhỏ để chưa biết việc đời việc tình việc nghĩa. Ba ngày sau, mẹ dậy trở lại hố cải táng. Mẹ cháu đào lại hố chôn, lặng lẽ nhặt nhạnh những sợi dây thông tin hữu tuyến lấm đất ấy mang về chôn ở vườn nhà. Mẹ giữ kỷ vật đau thương linh thiêng trong lòng đất...
Kiên lặng im. Có một vùng ký ức thời loạn mênh mông trước mặt anh. Kiên hình dung ra hình ảnh thiếu phụ Khơ Me trong dáng chiều tà hoang vắng ngồi khóc bên đống dây thông tin hữu tuyến dính bùn đất. Những con chim kiếm ăn xa đập cánh xập xệ tìm về nơi tổ ấm...
“Thực ra, lúc đầu mẹ cháu rất ngại đặt cái cột trạm phát sóng di động BTS ở trong vườn nhà mình. Mẹ bảo: Cứ mỗi lần nhìn thấy cái cột ấy, mẹ sẽ nhớ lại chuyện ngày xưa. Sau đó, nghĩ lại, mẹ bảo: Mẹ đang ở rất xa, bọn con ở nhà không biết lại đào phải nơi chôn đống dây thông tin hữu tuyến ấy. Mẹ cần có thêm thời gian để nghĩ về việc này...”.

Sáng, Kiên phải ra phi trường Pochentong để về Việt Nam. Anh không còn thời gian để chờ Sa Ly đáp máy bay từ Paris về Phnompenh. Đêm hôm ấy, anh chìm đắm trong một giấc mơ huyền ảo.
Sa Von và anh ngồi ở quán café Bến xưa. Đèn màu hồng lung linh sáng. Cái lầu vọng nguyệt nhô ra mặt nước sông Tonle Sap. Trăng đổ tràn ánh bạc. Kiên thấy lòng mình bâng khuâng, cảm giác gần gũi, ấm cúng đầy ắp. Sa Von vẫn cái giọng tinh nghịch theo lối xưng hô phương Tây :
- Sáng mai, ông về Việt Nam. Em muốn dành cho ông một bất ngờ cuối cùng.
Lại bất ngờ! Kiên cảm thấy thật thú vị.
- Ông hãy nhìn kìa...
Kiên nhìn ra cửa theo tay Sa Von chỉ. Một thiếu phụ mặc xà rông màu lửa, áo trắng thêu vài họa tiết nơi ngực trái, khoan thai bước vào quán. Kiên nhấp nhổm và đứng phắt dậy, bàng hoàng.
Thiếu phụ cũng quá đỗi bất ngờ, ngạc nhiên khi nhìn thấy Kiên. Chị dừng bước, hai chân bủn rủn khuỵu xuống. Sa Von nhào ra đỡ và dìu thiếu phụ đến bên bàn. Không thể tin ở mắt mình, Kiên thảng thốt :
- Sa Ly...y? Có phải Sa Ly không?
Thiếu phụ nức nở :
- Kiên. Anh Ki...ên.
Hai bàn tay nắm chặt hai bàn tay. Rồi thiếu phụ nhào đến, gục đầu vào bờ vai xưa cũ của Kiên như ngày xưa thẫn thờ thất vọng nhìn xe ô-tô chở Chương về đơn vị trong bụi cuốn mù. Da diết quá! Kiên cảm thấy tim đang đập thình thình. Cuộc gặp gỡ bất ngờ không hẹn trước sau mấy chục năm. Thời gian làm cho nàng đã đi vào mùa thu cuộc đời, nhưng vẻ đẹp ngày xưa thì vẫn còn lưu lại không hề mất đi.
- Thưa ông! Tối nay, xin ông nán lại ngồi với mẹ tôi. Và xin nhường không gian này cho mẹ và ông.
Sa Von ý nhị chào rồi quay bước. Sa Von cầm khăn mùi xoa chấm nốt giọt nước mắt cuối cùng, nàng cười.
- Con bé này đã làm tất cả mọi điều cho mẹ vui vẻ. - Giọng nàng chậm rãi, bâng khuâng - Lâu quá rồi anh Kiên nhỉ. Anh còn nhớ cái bến tắm ngày xưa?
- Vật đổi sao rời. Anh không nhận ra.
- Cũng phải thôi, hơn hai mươi năm rồi còn gì nữa. Chúng ta đang ngồi bên cái Bến xưa đấy, Kiên ạ.
Bến xưa? Cái bến nước ngày xưa lại vang vọng trong lòng Kiên, nhưng không phải tưởng tượng ra hình ảnh Sa Ly nữa. Nàng đang ngồi trước mắt anh, bằng thân hình eo thắt mềm mại, bằng mùi hương da thịt thật sự. Lúc này, quán vắng, dường như chỉ có hai người. Lòng Kiên nôn nao một nỗi vui buồn khó tả. Ký ức ngủ yên lại một lần thức giấc. Những hình ảnh mờ ảo cứ rõ nét dần và như hiện ra ngay trước mặt anh...
Tỉnh dậy, và trên đường ra phi trường Pochentong bay về nước, Kiên cứ tiếc hoài một giấc mơ.

0
Cha tôi
 
Nhà tôi có bốn người.
Cha tôi thế hệ 5X, chớm già. Sinh năm Canh Dần, theo tuổi bà mụ, tính đến nay cha vừa tròn năm mươi chín tuổi. Hơn nửa thế kỷ có mặt trên đời thì bốn mươi năm cha mặc áo nhà binh, cầm súng và xa nhà. Cha tôi lấy vợ muộn và lại muộn đường con cái bởi đi chinh chiến hết miền Nam rồi sang Campuchia đến năm 1989 mới về nước, sau ở lì Tây Nguyên thỉnh thoảng mới về nhà.
Mẹ thế hệ 6X, sinh sau cha hơn một giáp, luôn chịu cảnh xa chồng. Nay mẹ đang ở tuổi hồi xuân rực rỡ (đấy là nhận xét của bạn cùng thời với mẹ, chứ tôi đâu biết thế nào là hồi xuân). Có lúc mẹ mặc áo hai dây trong suốt, để vai trần, đi xe máy @. Mẹ làm chủ cửa hàng mỹ phẩm Hàn Quốc, và rất thích ngâm mình trong bồn tắm thả ngập cánh hoa hồng Đà Lạt.
Chị Mai tôi thế hệ 7X đã gần ba mươi năm nhìn thấy ánh sáng mặt trời, yêu ngầm thì nhiều, nhưng chưa tìm được chàng trai nào đáng làm chồng. Chị tôi mắt đen buồn, tóc xõa ngang vai, sống nội tâm ẩn mình khép kín, yêu thích phim Hàn Quốc. Tốt nghiệp đại học, chị đi làm cho một doanh nghiệp Nhật Bản, suốt ngày ăn cơm tiệm.
Tôi, thế hệ 8X, mười chín tuổi, tốt nghiệp phổ thông hạng làng nhàng, thi vào đại học hai lần đều trượt. Sống theo ý mình luôn là cảm hứng thường trực và tự do muôn năm. Mẹ tôi lúc nào cũng bận tối mắt tối mũi với cửa hàng mỹ phẩm Hàn Quốc, chẳng để ý gì đến chuyện học hành của con mà khoán trắng cho gia sư. Sống tự do theo ý thích, tôi suốt ngày chơi bời, đàn đúm. Chỉ trong có mấy năm phổ thông trung học, tôi đã kịp đánh mất ba xe cuốc, cắm quán hai con Dream, đầu tóc thì đổi kiểu xoành xoạch, hết nhuộm hoe hoe vàng lại hấp màu lông chuột. Tôi với mẹ hợp tính ưa nết. Tôi với cha như nước với lửa, như mặt trăng với mặt trời.

Cha khoác ba lô về hẳn nhà, nghỉ hưu. Một ba lô quân phục màu cứt ngựa. Hai đôi giầy đen một cũ một mới. Một mũ kê pi. Chín cái huân, huy chương đỏ rực, vàng chóe. Một đôi dép đúc mòn vẹt gót. Nghe nói cha cất giữ từ hồi ở Trường Sơn.
- Cha đi bộ đội, xa nhà hơn một phần ba thế kỷ mới về mà không có gì tặng mẹ con à?
Tôi rất láu cá hỏi cha, và chỉ sợ mẹ mắng. Cha tôi cười trừ.
- Thì cha đã tặng mẹ một đứa con gái, một thằng con trai rồi còn gì nữa.
Tôi thoáng thấy mẹ lặng buồn. Mẹ nhìn nhanh xuống cổ, xuống tay; toàn dây chuyền, vòng kiềng, nhẫn mặt đá quý lóng lánh mà mẹ tự mua để... tặng mình.
Cuộc sống nhà tôi bước sang trang mới kể từ khi cha có mặt ở nhà. Hình như mọi thứ đều đảo lộn. Hình như mọi người không hiểu nhau.
Cái bếp nhà tôi quanh năm không đỏ lửa. Thay đổi đầu tiên là việc cha bắt mẹ tôi hàng ngày phải đóng cửa hàng mỹ phẩm lúc 5 giờ chiều, về nhà sớm nhóm bếp nấu cơm.
- Căn nhà có cái bếp, cái bếp phải đỏ lửa mới ra cái bếp các con ạ.
Cha tôi lại bảo :
- Ngày xưa nấu toàn nồi đất chứ đâu được bếp âm, nồi i nốc, chống dính như bây giờ...
Bếp không đỏ lửa. Cha tôi buồn. Cha phàn nàn đứa con gái gần ba mươi tuổi mà vụng về, lơ là bếp núc. Bếp lạnh tanh. Nồi niêu xoong chảo để mốc, lăn lóc, toàn cứt gián. Cha mang vào phòng vệ sinh cọ rửa sáng bong. Cha bảo chị Mai :
- Cha không hiểu sau này con về nhà chồng, con sẽ nấu nướng thế nào?
Chị tôi nhấm nhẳng :
- Cha đừng lo. Con không lấy chồng đâu. Chẳng có thằng đàn ông nào đáng làm chồng con.
Cha tôi buồn suội. Nếu là tôi, ông đã “ục” liền; nhưng với con gái, cha tôi lại nhẹ nhàng, không hề cáu giận. Ngày xưa, bằng tuổi chị Mai bây giờ, bà nội đã đẻ ba bác và cha tôi rồi. Chị Mai gần ba mươi tuổi mà chưa đứng đầu đứng số, cứ sống trơ trơ bên bố mẹ. Cha tôi tỏ ra sốt ruột và lo lắng. Con gái nước Nhật lấy chồng muộn hơn, có khi còn không chịu xây dựng gia đình, ở một mình khi thích đàn ông thì cặp, chán lại bỏ, lấy chồng như đeo gông. Nhưng đấy là nước Nhật, chứ không phải nước Nam ta. Càng nghĩ, cha tôi càng buồn phiền. Giọng ông nghèn nghẹn, có phần đau xót.
- Con đừng nói thế, cha đau lòng.
Chị tôi chợt thấy ân hận :
- Lo gì cha ơi. Con có về nhà chồng thì bếp cũng không cần đỏ lửa. Con chọn chồng giàu, không phải nấu nướng, đi ăn tiệm tiện hơn. Khỏi phải rửa bát.
Mẹ tôi hóng chuyện, nói chõ vào :
- Ấy là tôi chưa duyệt. Con rể tôi mà quanh năm xa nhà như ông, thì con gái tôi vò võ chờ đợi, thèm chồng cũng héo hon gầy mòn như mẹ nó thôi.
Mặt cha tôi có vẻ rạng lên một chút và ngượng ngùng như người có lỗi, cha tôi đánh trống lảng.
- Con thấy mẹ trách bố khéo chưa. - Rồi cha quay sang nói với mẹ tôi - Em biết rồi còn gì nữa, anh lúc nào cũng là một người lính.
Rồi cha tôi căn dặn mẹ :
- Đồ ăn hàng ngày em đừng mua bán cầu kỳ. Ba cái đồ xúc xích, lạp sườn, thịt hun khói, ba tê... sang thì sang thật nhưng của người Tây, không hợp với nhà mình. Cứ canh cua, cà pháo, cá bống hay thịt trâu xào rau cần tỏi, hoặc thịt lợn ba chỉ rim mắm tép như ngày xưa anh ăn ở quê là thú nhất.
Mẹ tôi cười rộn, đùa vui với cha.
- “Ông thộn” ơi, đặc sản quý hiếm đấy. Nấu một bữa canh cua cho cả nhà ăn cũng hết đến 70 ngàn đồng. Một đĩa thịt trâu như anh nói không dưới năm mươi ngàn. Để tôi đưa “ông thộn” và cả nhà đi quán “Hương quê” ăn cho tiện. Mắc quá hết hai triệu đồng là cùng.
Cha tôi chối đây đẩy, bảo ăn nhà vẫn hơn, bảo bão lụt miền Trung còn bao nhiều người khổ hơn mình. Cha lập lại trật tự: trừ bữa trưa tùy nghi di tản, còn lại “cả nhà xum họp”. Hết tiệt những ngày mẹ phát cho tôi ba chục nghìn, muốn gì tự mua nấy mà ăn. Hôm nào mải ùng oàng với thế giới game, ăn qua quýt hoặc nhịn, mẹ cũng chẳng bao giờ biết cả. Ăn uống không điều độ, bữa đực bữa cái nên tôi gầy như que củi. Bây giờ đến bữa cơm, cha ngồi bên gắp thức ăn đầy bát bắt con ăn. Đứa lát chả, đứa khoanh giò, song chị em tôi khảnh ăn lại gắp ra hết bỏ vào đĩa. Mặt tối sầm lại, cha bảo :
- Nhìn các con ăn nhỏ nhẻ, cha buồn quá. Cứ như lính tráng của cha đánh ục một cái là bốn bát cơm đầy có ngọn. Ăn được thì mới chạy nhảy, hành quân rèn luyện được, chứ như các con, nhìn cớm nắng lắm. Ngày xưa, cha chỉ có bo bo với cháo rau má. Xanh cả ruột. Năm hết tết đến mới có tí thịt mỡ bôi mép, nhìn miếng thịt mà mắt sáng lên.
Lại ngày xưa, cái điệp khúc ấy tôi đã nghe nhiều lần đến phát chán rồi mà cha ngày nào cũng nhắc lại. Ngày xưa cha sống kham khổ cả năm vào dịp Tết mới có miếng thịt bạc nhạc... Ngày xưa cha vất vả suốt ngày đi trâu tóc cháy nắng đỏ như râu ngô, phải đi tát múc kiếm con cua con cá cờ nấu dấm, chứ không sung sướng như các con bây giờ đâu... Những lúc ấy tôi thầm nghĩ, cha nói quá vậy thôi, làm gì đến nỗi khổ thế. Tôi chẳng tin. Cái ngày xưa của cha đi vào đầu chúng tôi rồi biến mất ngay, chẳng hề lưu lại một chút gì gọi là hình ảnh hay ấn tượng. Cha và tôi, đúng hơn là cha và cả nhà khác biệt quá nhiều thứ. Dường như bắt nguồn từ việc cha đi bộ đội, xa gia đình quá lâu. Đời sống bộ đội nghiêm chỉnh, niêm luật nhà binh ngấm vào máu cha rồi, và cha mang nguyên phong cách sống ấy về nhà.
Cha vẫn tự hào :
- Cha về nhà nghỉ hưu, nhưng cha vẫn có một tiểu đoàn quân trong thành phố. Cha ới một tiếng là các bác, các chú ấy có mặt ngay.
Mẹ tôi bảo chồng :
- Anh đã cầm quân một sư đoàn. Bây giờ về còn cần gì nữa?
Cha bảo :
- Là anh nói: anh em cùng đơn vị phục viên, nghỉ hưu, chuyển ngành về thành phố này đông tới vài trăm người. Ấy là chưa kể cán bộ chiến sĩ trưởng thành từ sư đoàn anh chuyển công tác về các cơ quan Bộ, đương tại ngũ, đội mũ đeo sao. Lúc trái gió trở trời bằng ấy người xúm vào thì lo gì. Anh mà chết thì có cả một tiểu đoàn quân đưa tiễn.
Mẹ tôi không nói, chỉ thở dài.
Đúng là bạn bè, cấp dưới của cha nghỉ hưu, phục viên, chuyển ngành về thành phố đông cỡ vài trăm. Ông nào cưới con, đem danh sách đồng đội cùng sư đoàn X trải ra trước mặt, bốc điện thoại lên vừa xướng vừa mời là có mặt gần đủ. Khách đến dự mặc toàn sắc phục nhà binh, cũng là dịp để các ông đương binh, cựu binh gặp nhau hàn huyên.
Cha trở về, cha mang theo nguyên hình vị đại tá tại ngũ. Sáng mới năm giờ, cha đã gọi tôi dậy lên sân thượng tập thể dục. Cha hô một hai, một hai, con cũng hô một hai... một hai... đến mức sáng bảnh bà hàng phố ngó đầu sang bảo: “Nhà mày đang huấn luyện tân binh à?”. Mẹ tôi không giận cứ cười ngặt nghẽo.
Cha tôi đọc báo nghe đài, xem ti vi. Ông càng lo cho tôi, đứa con trai độc nhất. Nó mà dây vào nghiện hút thì không những đời nó tàn mà cả nhà khổ, ông sẽ mất con. Lúc nào, cha tôi cũng cảm thấy bất ổn. Đi ra đường thì sợ tai nạn giao thông, về nhà thì chỉ sợ con hư hỏng, sợ vợ làm ăn đổ bể... Suốt cả đời, cha tôi quen rèn luyện người khác, quen chăm lo người khác nên nó ngấm vào máu, thành thuộc tính cố hữu rồi.
Tối, cha bắt cả nhà đi ngủ sớm. Riêng điểm này thì tôi khó chịu lắm, cứ mặt nặng mày nhẹ với cha. Bấy lâu nay quen sống tự do, tôi học hành ấm ớ rồi lướt web, chơi game, hoặc chat với mấy đứa “chíp con” cùng lớp đến một, hai giờ sáng. Một tuần, mẹ tôi sáu ngày đến vũ trường nhảy nhót, hoặc đi uống cà phê đến khuya mới về. Chị Mai mải xem phim Hàn Quốc liên miên. Cái thứ phim toàn khóc lóc, thất tình, ung thư, hoặc bệnh máu trắng rồi ân hận, sám hối... có gì đáng đồng tiền bát gạo mà lấy mất thời gian của chị tôi đến thế? Cha về. Cha thiết quân luật. Đừng hòng ai thức khuya quá mười một giờ đêm. Cha bảo: “Cứ như đơn vị bố thì chín giờ rưỡi là kèn báo ngủ đã tèn teng... tèn teng... Anh nào có muốn đọc nốt bài báo cũng không được vì trực ban... tắt điện”. Chị Mai tôi than thở: “Cứ thế này thì tao đến phải lấy chồng mất thôi, chạy trốn vào nhà bà mẹ chồng có khi còn tự do hơn”.
Tuy có ca thán về cha, nhưng chị Mai thương cha vô cùng. Cái dạo chị mới năm sáu tuổi, cha về phép. Một cái khung xe đạp, một con búp bê tóc vàng, vài mảnh vải cho vợ con; vậy mà cả nhà vẫn đầm ấm, hạnh phúc, vui vẻ. Cha rất quý con gái. Ngày ấy, gia đình tôi chưa chuyển lên Hà Nội ở. Chiều chiều, cha tôi dẫn con gái đi dọc triền đê nhìn đồng quê sông nước. Hình ảnh cha vận sắc phục nhà binh, đeo quân hàm đỏ chói, bàn tay to dầy thô dắt đứa con gái nhỏ bé lích chích đi tha thẩn, nhàn hạ, thanh bình trên triền đê đầy hoa cỏ may cứ đi theo chị tôi suốt tuổi thơ đến bây giờ. Nhưng, ám ảnh, sợ hãi nhất là khi cha khoác ba lô trả phép. Ngày ấy, bên chiến trường Campuchia đánh bọn Pôn Pốt vẫn đang ác liệt. Cha phải đi, bên ấy có nhiều việc đang chờ. Con gái và cha vừa ấm hơi, quen nhau thì cha đã ra đi. Cha không muốn mẹ đưa ra tận ga tàu, cha sợ những giọt nước mắt sụt sùi. Mẹ và chị tôi tiễn chân cha ra đầu làng. Cha âu yếm nhìn vợ, rồi ôm hôn con gái, cha bảo mẹ tôi: “Em và con về đi”. Cha thả con gái xuống và quay lưng rảo bước, những bước chân dài đạp trên đá mạt rào rạo, vội vã, thỉnh thoảng quay lại vẫy vẫy tay. Bỗng chị tôi khóc thét lên và cùn cụt chạy theo cha. Cha tôi quay lại ôm choàng lấy con gái. Nước mắt chị tôi nhoen nhoét vào gương mặt dãi dầu từng trải của cha. Mẹ tôi bảo: “Hay anh ở lại, mai hãy đi”. Cha tôi bảo: “Em đừng buồn. Anh mà ở lại thì anh không đi được nữa. Thôi nào con, cho bố đi nào”. Cha chuyền tay trao con gái cho vợ rồi quay gót. Lần này, bước chân ông quả quyết, thật nhanh, không ngoái đầu nhìn lại. Mẹ và chị tôi thầm thũi khóc nhìn bóng cha tôi cứ xa dần, mờ dần.
Hầu như tôi không có kỷ niệm ấu thơ với cha. Cha nhẹ nhàng với con gái bao nhiêu thì nghiêm khắc với con trai bấy nhiêu. Hễ lần nào tôi đi học luyện thi về là cha hỏi han từng li từng tí: “Hôm nay con học môn gì? Con có tiếp thu được không?..”. Tất nhiên, tôi khó chịu ra mặt, trả lời qua loa đôi chút. Lúc cha chưa về, mẹ chẳng bao giờ xét nét tôi như thế.
Mẹ tôi đi làm, buổi sáng nào nhanh cũng hết ba mươi phút trang điểm. Có hôm mẹ mặc váy ngắn trên đầu gối, vai mẹ để trần, môi và móng tay tô màu trầm. Cha bảo mẹ, giọng buồn buồn, nhưng kiên quyết lắm: “Em còn trẻ trung gì nữa đâu. Để đôi vai trần cho đám đàn ông nhìn, chướng lắm”. Mẹ không nói gì. Chỉ thấy sau hôm đó, mẹ mặc đồ dài tay, cao cổ và không bao giờ đụng đến váy. Nhẫn mặt đá, dây chuyền, vòng ngọc mẹ không đeo, bỏ tất cả vào hộp, niêm phong. Mẹ ngoan quá, biết nghe lời chồng, biết hạ cơn nhiệt của người mình thương yêu. Nhưng tôi đã nhầm, mẹ chống đối cha theo kiểu tù nhân đồng tâm... tuyệt thực.

Một tuần sau ngày cha thiết quân luật, tôi cố tình quên để chuông đồng hồ đánh báo ngủ 10 tiếng. Tôi miệt mài rồi bị cuốn hút bởi mấy nhân vật trong trò chơi Võ lâm truyền kỳ với những Thiếu Lâm, Võ Đang, Đường môn... đầy máu lửa. Cha đến đằng sau mà tôi chẳng hề hay biết. Đang hào hứng, tôi như lên đồng cùng Võ Đang thì cha tắt - bật ổ cắm điện ba lần, màn hình tắt ngúm. Tôi sửng sốt ngước nhìn lên. Cha nghiêm nét mặt, buông lời lạnh tanh, kiên quyết: “Cha đã nói con bao nhiêu lần rồi? Về phòng ngay. Đi ngủ”. Nghẹn cổ. Chân bước nặng như đeo đá, tôi còn nghe được tiếng mẹ khóc thút thít vọng ra qua cửa buồng ngủ. Tôi chui vào màn cứ tưởng đang ở tù.
Nhà tôi như trại lính, mà cha là vị tướng chỉ huy cao nhất. Cha bảo: “Đừng để cái thân lười nhác. Lao động cho khỏe người con ạ”. Cha bắt chị em tôi phải làm những việc vặt mà trước đó chẳng bao giờ phải mó tay vào: quét nhà, lau bàn ghế, cọ rửa phòng vệ sinh... Ngày trước, mẹ thuê ô sin mỗi tuần hai lần đến lau chùi toàn bộ căn nhà để anh em tôi có thời gian học. Nhưng mẹ nào có biết tôi đã lơ là việc học từ lâu lắm rồi. Về nhà tôi sống với thế giới Võ lâm truyền kỳ, bài tập cô giáo ra mười bài thì bỏ chín. Đến lớp lại ngồi mơ màng nhìn mây nhìn lá cây ngoài cửa sổ, và thường ngủ gà gật vì thức khuya. Kiểm tra thì toàn quay cóp đứa ngồi bên cạnh, lúc “quay phim” được thì điểm 9 điểm 10 đỏ tươi, lúc thầy cô coi thi gắt quá thì điểm 2 điểm 3 xám ngắt. Lại một kỳ thi đại học sắp đến gần mà trong đầu tôi kiến thức thực chất gần như là số 0.
Thằng con lêu lổng dần dần hiện lên rõ nét trong đôi mắt cha quen nhìn lính tráng chỉnh tề răm rắp. Cha giận lắm. Ông thở dài, trách mắng tôi mải chơi không biết thương mẹ. Cha giận mẹ vì không để ý gì đến con cái, tối ngày chỉ ăn diện.
Mọi nếp sống tự do đều thay đổi, tôi có cảm giác bị gông cùm, lẽ dĩ nhiên tôi bực mình và khó chịu lắm. Tự nhiên có một ông già xa xưa, cũ kỹ, khó tính như từ trong chuyện cổ tích đi ra làm đảo lộn cả cuộc sống của mình thì bố ai chịu được. Quả thật, cha là “người âm lịch” hết nói và đáng thương hơn đáng giận. Cha như ông già Khốttabít đi vắng xa trái đất mấy trăm năm nay bỗng dưng nhớ quê trở lại. Nhiều lúc cha làm mẹ con tôi phát cười đến rung rốn vì sự quê mùa của ông. Lọ sữa tắm Flex đượm mùi nhân sâm mát da thơm thịt, giá tám trăm nghìn đồng của mẹ thì cha lấy ra gội đầu. Nhanh hết quá, mẹ không biết cứ cằn nhằn cái Mai trẻ con sao dùng sữa tắm của người lớn. Xoong chảo trong nhà, cha lấy búi giẻ sắt đánh làm bay cả lớp mạ chống dính. Cha thích nghe các bài hát Hành quân đêm, Lá đỏ, Hãy yên lòng mẹ ơi... và các điệu chèo làng Côi Trì. Còn chúng tôi thích nghe nhạc rock thì cha bảo tắt đi chờ cha sang nhà bạn đánh cờ tướng thì hãy mở kẻo rác tai cha...
Chiều muộn trên thành phố, ánh nắng cuối ngày sắp tắt trên những khối nhà bê-tông thì đứa bạn gái cùng lớp tôi đến chơi. Cha tôi không thiện cảm với cái mặt lấc cấc và cái đầu cắt tóc ngắn dựng đứng, nhuộm đỏ hồng như cầu thủ Johnmar người Thụy Điển. Của đáng tội, con bé cũng hơi bất nhã vì áo lưới ngắn tũn hở cả cái rốn lồi đeo vòng khuyên bạc (nhưng cha không biết nó đang là mốt bây giờ). Vừa đến cổng nó tưởng như mọi khi bấm chuông inh ỏi. Cha tôi ra mở cổng - ông đại tá về hưu ra đón khách, thấy nó, chưa gì ông đã phủ đầu, hỏi dồn dập như bắn súng liên thanh: “Cháu tìm ai? Cháu con cái nhà ai? Cháu đã là Đoàn viên thanh niên cộng sản chưa?”... Sau một hồi tra lên hỏi xuống, căn vặn kỹ càng ông mới cho nó vào nhà. Cứ tưởng yên chuyện rồi, nhưng không ngờ ông chẳng để cho chúng tôi một không gian của riêng mình. Ông bảo hai đứa tôi ngồi ở phòng khách nói chuyện đoàng hoàng. Ông xách phích nước ân cần đưa cho tôi pha nước mời bạn uống. Ông mở toang cửa chính, cửa sổ cho ánh sáng tràn vào... cứ như sợ chúng tôi làm gì mờ ám trong bóng tối. Hai đứa chúng tôi nói chuyện mà cứ mắt la mày lét ngó trước nhìn sau. Thỉnh thoảng cha tôi lại đảo qua một tí, có ý như nhắc nhở “sắp thi đại học đến nơi rồi, cháu về đi cho con bác học bài”. Ngày cha chưa về, tôi đưa bạn gái lên phòng riêng chơi cả buổi có chuyện gì xảy ra đâu. Cha tôi phòng xa quá, ông đem cách đánh nhà binh về phòng bị ngay cả trong nhà mình.
Đến tận lúc về, con bé bạn tôi còn chưa hết hãi :
- Khiếp! Ông già mày ghê quá. Hỏi tao mà cứ như mật thám hỏi cung các chiến sĩ cộng sản trong nhà tù đế quốc thực dân ấy.
- Bố tao nghiêm thế. Nhưng mà thương vợ con và mọi người lắm.
- Tao đếch thích kiểu thương ấy. Bận sau nếu có chuyện gì tao với mày ra quán cà phê cho tiện.
Cánh cổng khép lại. Tôi mang theo nỗi ấm ức của thằng con trai mới lớn.
- Cha cứ làm kiểu này thì con hết bạn, hết chỗ chơi. Từ bây giờ có giời bảo cũng chẳng đứa nào dám đến nhà mình nữa.
- Mẹ con con ăn uống, đi lại, ngủ nghỉ, chơi bời không ổn chút nào. Ma túy, tệ nạn xã hội đầy ra đấy. Các con còn non nớt. Rất dễ sa ngã.
Tôi tức quá cãi lại :
- Bao nhiêu năm qua không có cha, mẹ con con vẫn sống tốt cơ mà. Cả cuộc đời cha ở trong quân đội, ngoài việc sinh bọn con ra cha đã làm được cái gì cho cái nhà này chưa mà cha trách mắng mọi người...
Nói chưa dứt, mắt tôi đã hoa cả lên. Một cái tát nổ đom đóm mắt từ bàn tay thô ráp quen cầm súng nhà binh. Tôi ngã dúi. Cha quát to :
- Chả nhẽ cha đi bộ đội bao nhiêu năm cống hiến cho đất nước là để cho con nói với cha bằng cái giọng chợ giời ấy hả? Bà ấy đâu rồi? Con hư tại mẹ.
Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. Bà tôi mất từ lâu lắm rồi còn mẹ ở cửa hàng mỹ phẩm vẫn chưa về, chị Mai ngoan ngoãn thì đi học thêm Anh văn. Dường như lòng tự trọng của đứa con trai mới lớn chấm hết. Tất cả kìm hãm, dồn nén sự khó chịu của tôi từ lúc cha về đã quá đủ. Cha - một người cha đi tăm tăm biền biệt bao nhiêu năm để rồi bỗng dưng về nhà xới tung lên mọi thứ với kỷ luật nhà binh. Tôi nói với cha :
- Thôi cha! Đừng bao giờ nói với con về những ngày tháng cha đi bộ đội. Thời oai hùng xa lắm lắm rồi, cha ạ.
Sắc mặt của cha tôi đỏ hồng lại tím nhanh dễ sợ. Môi ông lắp bắp :
- Mà... mày... nói... ca... cái... gì?
Ông ôm đầu, đau đớn, ngồi phịch xuống giường gấp.
- Chẳng có gì cả! Con nói là, - Tôi nhấn mạnh từng chữ - con chán ghét cha và cả những điều cha nghĩ, những gì cha nói và cha làm. Cha đã biến cả nhà ta thành trại lính.
Tôi cãi lại cha và tôi lao khỏi nhà. Tôi bỏ đi lang thang trên phố.
Đêm tôi không về. Sau này, khi “trời yên biển lặng”, tôi mới biết: Suốt đêm ấy, cha lo lắng sợ tôi dạt vòm đi bụi đời. Ông điện thoại báo hung tin về thằng con quý tử bỏ nhà cho bạn bè, đồng đội đã phục viên, xuất ngũ, nghỉ hưu biết. Người nọ vội vã gọi người kia lan truyền theo cấp số nhân, như thể chiến tranh sắp nổ ra, huy động gần hết một “tiểu đoàn quân” đi tìm... tôi.

0
Cái nón mê thủng chóp
 
Con gái làng tôi chân to. Vợ tôi chân cũng to, mông càng to. Người ta bảo, do lội ruộng trũng nhiều, gồng gánh lắm nên phát triển chiều ngang. Dân làng lam lũ. Vợ tôi cũng lam lũ. Suốt ngày cắm mặt xuống ruộng cấy những dảnh mạ. Chân đất. Quần xắn đến bẹn. Đầu đội nón mê. Khi nón mê thủng chóp thì úp che vại cà; mua được nón mới cũng dềnh dang so đi tính lại cả tuần vì tiếc tiền. Tôi xa nhà, phận nghèo đổ lên vai vợ gánh.
Tôi tên là Bần, vợ tên là Tèo. Hai con trai ngoan hiền, học nhàng nhàng mỗi năm một lớp. Gia cảnh đầu tắt mặt tối quanh năm mới đủ ăn. Tôi là tay công chức làng nhàng của một cơ quan văn nghệ ở Hà Nội. Mỗi tháng một lần nhảy xe đò mang lương ba cọc ba đồng về quê nịnh vợ.
Vậy mà, đùng một cái tôi trúng to cổ phiếu chứng khoán. Cái thời ban đầu rất nhộn nhạo; chứng khoán tôi mù tịt. Bạn tôi là phóng viên kinh tế báo N rủ: “Tao đi Trung Quốc, mấy thằng cha làm ở Nhân dân nhật báo xui: Mày có tiền chơi ngay chứng khoán đi. Nước nào cũng thế, lúc đầu nó nhốn nháo thật giả, vài năm sau đi vào niêm luật, quy củ thì hóa bằng gửi tiết kiệm”. Tôi bốc giời, bảo: “Tôi có ba mươi triệu đồng vợ dành dụm tiền bán gà ngan, lúa khoai, đang định mua con xe máy cưỡi đi về. Đánh liều, tôi đưa hết cho ông”.
Thời tiết thị trường nóng lạnh, bạn tôi thính hơi lắm, mua mấy vạn cổ phiếu. Tôi theo đóm ăn tàn, được bạn bày mưu tính kế mua giúp ba ngàn cổ phiếu của Công ty F mệnh giá mười ngàn đồng một cổ phiếu. Một thời gian sau, mệnh giá lên gấp sáu mươi lần; chỉ số VN - Index vượt qua ngưỡng 1.170. Bở quá. Tôi tính bài ăn non, bán vội được cả đống tiền; buôn bán gì cho lại. Bõ công ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân, tôi mua căn nhà liền kề bốn tầng. Ôi trời ơi! Cứ như nằm mơ một bước lên thiên đường.
Tôi đưa vợ lên Hà Nội xem nhà mới. Cái sân nhỏ có cầu thang ngoài đi riêng lên tầng hai; tầng một cho Văn phòng địa ốc thuê, thừa tiền cả nhà sống sung túc. Nàng mừng run người. Cái thân cạo giấy quèn của thằng Bần tôi bỗng chốc vụt sáng lung linh và đáng trọng nể trong mắt nàng. Thằng cha Giám đốc Văn phòng địa ốc sực mùi đàn ông, mắt chớp chảo như xe đạp sang vành, đứng dưới sân nói chõ lên: “Gớm bà chị nái nẩm nhỉ?” Tôi bảo: “Nạ dòng. Sề rồi”. Gã đàn ông cười giả lả: “Vài tháng nữa chả “trơn lông đỏ da” ngay cho mà xem. Khối anh giai chết mê mệt đấy”. Vợ tôi dụi đầu vào vai áo chồng, cười tít mắt: “Cái anh gì vui tính, thích nhỉ”.
Cũng phải chuẩn bị một số đồ dùng trước khi đưa con rời làng ra phố. Tôi chở vợ đến siêu thị Big C mua đủ bộ nhà bếp từ xoong chảo, đĩa bát sứ đến con dao, cái thìa, lọ đựng hạt tiêu... Nàng bảo: Bao nhiêu năm ở quê dùng toàn đồ đạc cũ, cái thì sứt xíu, cái thì cóc cáy; nay phải dùng đồ mới cho sang trọng và xứng tầm nhà mới. Chẳng hiểu sao vợ tôi nhanh thích nghi thế.
Buổi chiều, vợ tôi giục đi mua tủ sách. Nàng muốn các con bất ngờ và khách đến chơi nhìn chỗ nào cũng thấy sách. Nàng lý luận, một căn nhà hạnh phúc và học thức phải là nhà có sách. Tôi rất ngạc nhiên, nàng nói giống như cha tôi. Lời lẽ cao siêu từ ông đồ nho còn sót lại ở thế kỷ 20, từ một trí thức, hoặc ít ra là người yêu môn xã hội nhân văn nào đó, chứ không phải từ miệng người đàn bà chân lấm tay bùn. Ở nhà quê, làm lụng tối ngày có bao giờ nàng đọc sách báo đâu; nghe hát thì toàn những bài sến ỉ eo đến não lòng. Chiều lòng vợ, tôi lên một danh mục sách, bảo xích lô chở nàng ra phố Nguyễn Xí cứ thế mà chọn. Nhưng nàng chọn sách theo ý mình, cứ quyển sách nào dầy cộp, đóng bìa cứng là nhặt. Ba xe xích lô chất ngất toàn sách là sách, lăn lóc như chở mứt Tết thu hồi vì quá đát; hết gần hai mươi triệu, đồng tiền nóng rát lên.
Về nhà, nàng hì hụi xếp sách vào ba cái tủ kính khung gỗ mới bóng sáng choang. Chả ra đề ra mục, lộn xộn, cứ cao bằng nhau là cho vào cùng ngăn; văn chương xếp lẫn với kỹ thuật làm bèo hoa dâu, Triết học Hêghen đứng chung với Kỹ thuật trang điểm cô dâu. Phân tâm học Freud sống cùng Phương pháp nuôi chó cảnh. Rồi tập san thơ câu lạc bộ người cao tuổi Gừng càng già càng cay, tiểu thuyết diễm tình chữ to, Ái ân vợ chồng cần biết... cứ loạn cả lên. Vợ tôi bảo: Bạn bè anh toàn trí thức, nhìn thư phòng này có mà bái phục. Không đứa nào khinh được nhà mình vô học. Tôi dở khóc dở mếu, muốn tìm cái lỗ nẻ chui xuống. Thì ra, lâu nay vợ chồng ít gần nhau, tôi hiểu nàng rất lơ mơ.
Tôi bảo vợ: Thôi, còn việc nữa là về báo cáo bố mẹ việc chuyển nhà ra phố. Từ nay, chúng ta sống cho ra cuộc sống con người. Đừng mặc cảm quê mùa nhếch nhác mà cũng không hoắng quá; cứ chầm chậm tiến dần đến giàu sang.
Chúng tôi bước sang chương sử mới từ quê ra phố.
Sau mấy đêm trằn trọc mất ngủ, tôi quyết định thưa với cha. Quả thật, không dễ dàng chút nào. Ông luôn nghĩ tôi đã lấy vợ làng, sinh con ở quê, nhà cửa bố mẹ sắm cho đuề huề vườn rau ao cá; bố con anh em quây quần vui vẻ, còn đi đâu nữa.
Cha tôi bảo :
- Gọi cả chị Tèo ra đây tôi biểu. Anh Bần này. Anh đứng số tha hương, bỏ làng. Tôi biết thế nào cũng đến ngày này.
Tôi lặng im. Vợ tôi từ buồng ra, khép nép ngồi bên chồng.
- Ngày này thế nào cũng đến - Cha tôi đai lại, giọng đơn côi, buồn day dứt, đầy bất lực - Nhưng sao nó nhanh quá. Cứ như đứa con bị giằng khỏi tay mình.
Tôi không dám nhìn vào đôi mắt già nua của cha.
- Cha đừng bận tâm quá. Chúng con đi rồi chúng con lại về.
- Anh Bần này. Đời con anh, cháu anh; liệu chúng nó có về không?
Tôi không trả lời nổi câu hỏi của người cha. Chắc chắn đời con tôi sẽ thưa lần về, đời cháu tôi sẽ ít nữa; rồi đời chút, chít, chụt, chịt... sẽ thôi hẳn. Cha tôi là người từng trải, bất đắc chí. Ông có hẳn “một bồ chữ” thánh hiền trong đầu, nhưng Nho học thất thế, lỗi thời, đành bỏ đi làm thợ mộc, một năm đến mười tháng ăn cơm thiên hạ suốt từ Tuyên Quang, Thái Nguyên đến Nghệ An, Sơn La... Lúc tuổi già mãn bóng mới chịu về quê hẳn.
Cha tôi nhìn bóng nắng xế chiều rưng rưng ngoài sân, cái nắng rất dễ làm người ta xúc động :
- Chị Tèo này. Anh chị mang được cái gì ở nhà này đi thì tùy. Ở phố không thiếu, nhưng chỉ vác cái thân ra khỏi nhà là tôi tủi lắm.
Vợ tôi nhìn chồng, hai mắt chờ đợi. Tôi hoang mang, nửa muốn ra đi nửa muốn ở lại. Không ngờ giây phút rời nhà lên phố lại nặng nề, khó nhọc thế.
Cha tôi có hai người con trai, tôi là út. Thời trước, nhà chỉ có hai đinh, kể như là hiếm. Đẻ anh cả một thời gian rất dài, sau mới sinh thêm tôi. Thoát cảnh độc đinh, cha tôi làm thịt con lợn bảy chục cân đãi cả làng. Cha mẹ tôi là người cả nghĩ hay lo. Bất cứ thứ gì ông bà cũng sắm hai: Hai cái nhà, hai cái xe đạp, hai cái mâm đồng, hai cái chày giã cua, hai cái thớt gỗ nghiến, hai đồng bạc trắng hoa xòe để đánh gió... Tất nhiên là để cho hai xuất đinh là anh cả và tôi. Anh cả tôi ra ở riêng từ lâu và anh đã được mang nửa số đó đi theo.
Bây giờ, nhà tôi ở Hà Nội mặt phố to đùng, bán đi có thể mua hết đất làng Yên Hạ, đồ dùng modern sang trọng chẳng thiếu thứ gì. Cha già mẹ héo chẳng biếu xén, nuôi dưỡng lại cuỗm đi thì còn ra cái giống gì. Vợ tôi một mực chỉ xin đồng bạc trắng hoa xòe. Hóa ra, nàng cũng là dâu thảo, không tham. Mẹ tôi khóc sểu sớn, kể lể. Mới vài tuần trước cô con dâu còn cắp củm cất giữ đôi bát chiết yêu, lau chùi mâm đồng sáng choang, ngắm nghía thích thú quá; vậy mà nay nó dửng dưng. Cứ như của để dành bà sắm ra con cái chẳng cần, thành đồ thừa; rồi sẽ đến lúc hai cái thân già này cũng thành đồ thừa nốt. Cứ như con cái đi ra phố là đi mãi, không có ngày về. Hóa ra, cái sự đi - ở nặng nề hay nhẹ nhàng là do tâm sự con người mà ra cả.
- Còn cái nón mê thủng chóp đậy vại cà kia; tôi cũng muốn anh chị mang đi theo.
Tôi cứ tưởng tai nghe nhầm. Cái nón mê thủng chóp! Chẳng đáng giá gì. Nón mê ở cái làng quê nghèo kiết này, nhà nào cũng có. Nó gắn liền với tuổi thơ tôi lam lũ đi tát múc, đi trâu bò..., lúc nào cũng đội trên đầu thòi cả tóc ra. Thói nhà bần hàn tham công tiếc của, tận dụng được là chẳng bao giờ chịu vứt.
- Anh Bần này. Chẳng biết anh có hiểu ý tôi không? - Cha tôi hỏi.
Đọc được sự khó chịu của vợ, tôi đánh mắt lườm và nhanh miệng :
- Vâng. Ý cha dạy thế là phải.
Rồi tôi rảo bước ra vại cà nhót lấy cái nón mê thủng chóp, lấy cái rổ úp thay vào...

Cái nón mê thủng chóp theo vợ chồng tôi ra phố. Hai thằng con tôi dửng dưng, thoát khỏi làng quê tù túng, chật hẹp, chúng đã có niềm vui thú riêng. Dù vợ không muốn, tôi vẫn treo cái nón mê thủng chóp lên tường phòng khách ở tầng hai. Căn phòng ấy được bạn tôi là họa sĩ mỹ thuật công nghiệp thiết kế lại nội thất, phối màu trần trắng, tường màu be sáng; treo cái nỏ săn cũ kỹ và duy nhất bức tranh chép Người đàn bà xa lạ của một họa sĩ Nga. Nay lại thêm cái nón mê thủng chóp cũ kỹ ngự cùng người đàn bà xa lạ quý phái.
Nhà mặt đường, vuông sân để xe, chậu cây cảnh. Tầng một cho Văn phòng địa ốc thuê hai mươi triệu đồng mà vẫn được thêm lời cảm ơn. Chi tiêu rủng roảng, nhưng vợ tôi vẫn đòi đi làm. Tôi cười cười, bảo :
- Tèo ơi! Một bước Tèo lên tiên rồi, cứ an hưởng thái bình cho bõ những ngày mò cua bắt ốc.
Nàng không giận :
- Phải giàu nữa. Em muốn làm cái gì cho gia đình mình giàu hơn nữa.
- Em chỉ quen việc đồng áng, biết làm cái gì ở đất này. Thôi, chịu khó chăm ba bố con anh.
- Cơm nước, dọn dẹp thì đã có con bé Ôsin rồi. Xem ti vi nhiều cũng... cha...án. Ngồi dũa, sơn móng chân và buôn dưa lê với mấy chị hàng phố cùng cảnh nhà quê mới chuyển lên phố mãi cũng nhạt.
Nàng làm bộ giận. Ngúng nguẩy ngồi thụp nhanh, cái mông như mỏ cối giã gạo dội xuống đi văng. Váy ngắn bị gió tốc lên thành cái nơm rồi lật vải lên để lộ cả hai cặp đùi to như cây chuối hột. Giọng vẫn khi dỗi :
- Bạn bè cũng chẳng có, ăn không ngồi rồi, chân tay bí bách lắm.
Tôi chữa bí bách chân tay cho vợ bằng cách gọi lắp đặt internet dịch vụ trọn gói. Thế giới truyền thông làm cho người ta khôn nhanh quá thể. Hướng dẫn vài buổi tối, nàng đã gõ bàn phím nhoay nhoáy, biết lang thang mê mải trong thế giới mạng.

Tôi đưa cha tôi lên phố chơi ít ngày. Thực ra ông không muốn, vạn bất đắc dĩ phải đi vì muốn xem con cháu ăn ở thế nào. Cũng là dịp báo hiếu, tôi dặn con bé Ôsin thực hiện nghiêm ngặt chế độ thực đơn chăm sóc ông. Người già thường đi ngủ sớm và dậy sớm; cứ tám giờ tối ông đã lên giường và bốn giờ sáng tỉnh giấc. Nhưng đêm đầu tiên ở nhà con cháu, ông mất ngủ. Sáng hôm sau, ông uể oải :
- Tối qua mới chợp mắt một lúc, tiếng gì cứ huỳnh huỵch, bình bịch ở tầng trên dội xuống đầu làm tôi tỉnh giấc. Thế là thức đến sáng luôn.
Tôi chợt nhớ đến cái máy tập thể hình. Tối nào vợ tôi cũng mặc áo thể thao màu đỏ chót liền mảnh hở đùi hở nách hở vai, chạy bịch bịch trên đường băng tải cao su, rồi lắc mông, thụi eo, véo mặt... Chiến thuật hạ vòng eo mẹ sề từ 100 xuống vòng eo 60 của hoa hậu đang diễn ra quyết liệt.
- Cha không để ý cái máy tập thể hình ạ? Vợ con tối nào cũng tập. Tiếng động hơi to, nhưng vài bữa là cha quen. Để con bảo nhà con nhẹ nhàng...
Cha tôi không nói gì.
Hai thằng bé ăn sáng xong lễ phép chào ông rồi đi học bằng xe ô tô nhà trường đưa đón. Cha tôi chợt nhớ cái xe đạp :
- Cái xe tôi mua cho anh đi học ngày trước đâu rồi?
Tôi không biết nói với cha thế nào. Cái xe đạp Thống Nhất khung gióng ngang cọc cạch theo tôi từ thời trung học phổ thông. Nó cõng tôi ngày đông tháng hạ và chính nó biết tôi chữ nhiều hay ít, ngoan hiền hay nghịch ngợm suốt thời học trò.
Đến lượt vợ tôi cũng kẽo kẹt đạp xe đi chợ Bút, chợ Lồng bán rau mua muối. Mùa màng bận rộn ít dùng, để lâu lốp xẹp hơi, bụi phủ, sợ bọn trẻ nghịch làm đổ, cha tôi lấy dây chuối buộc neo chặt vào song cửa sổ. Trúng quả cổ phiếu, tôi mua nhà, mua luôn con xe máy Dylan, cái xe đạp càng thành đồ thừa. Hôm chuyển nhà, thồ xong mấy thứ lặt vặt ra ô tô con đậu đầu làng, tôi cho phắt thằng bé hàng xóm, kèm theo thói lên mặt dạy đời :
- Ông sắm cho chú đi học từ thời quần áo một bộ diện bốn mùa. Được như ngày nay là từ cái xe cà tàng này đấy...
Vợ tôi hóng chuyện, chen vào tông tốc kể chồng đem cho cái xe đạp cũ. Cha tôi thở dài bảo :
- Đã xử thế, tôi còn biết nói thế nào nữa. Tôi cứ nghĩ anh chị giữ lấy làm kỷ niệm. Cả như tôi thì tôi cho thằng bé tiền để nó mua cái xe khác...
Vợ tôi vốn tính nhanh nhảu, nghĩ gì nói nấy :
- Loáng một cái, nhà con mua con xe máy hơn trăm triệu đồng bằng cả đàn trâu của làng ta; con tính chẳng cho cái xe đạp cà tàng đi thì để làm gì? Chật nhà!
Cha tôi tím bầm mặt. Ông bước ra ngoài lan can, lặng lẽ hút thuốc lào. Tôi vội kéo vợ vào trong phòng, trừng mắt lườm :
- Sao cô ăn nói đoảng thế?

Bạn bè tôi đến chơi.
Tất nhiên, cái nón mê thủng chóp gây ngạc nhiên đầu tiên cho khách. Nó không được yên thân với đám bạn tôi luôn coi trời bằng vung, lắm chữ nghĩa lại phũ miệng: Thời gian của người... Tân cổ giao duyên... Uống nước nhớ nguồn... Hồn quê... Hoài niệm... Đi tìm ký ức... v.v và v.v... Chúng bạn ra sức đặt tên bình phẩm cái nón mê thủng chóp; cứ như nó đã là tác phẩm nghệ thuật phi phàm có sức chinh phục ghê gớm.
Không biết cha tôi nghe rõ hay loáng thoáng mà không thấy tỏ thái độ gì. Tôi bảo :
- Cha đừng để ý. Cái bọn văn nghệ sĩ bạn con độc miệng lắm. Cha tôi vẫn lặng im. Hay là ông không thèm chấp.
Tiễn khách xong, vợ tôi mặc váy ngủ mỏng tang, co một chân lên ghế, nhẩn nha cắt từng khoanh dưa chuột đắp vào mặt dưỡng da. Mỗi lần mất ba mươi phút, nàng nằm ườn trên đi văng với tay vặn to núm điều khiển âm thanh. Cái âm li Nhật kỹ thuật số nhẫn nại tua đi tua lại bài hát Chuyện tình Lan và Điệp não nề buồn héo hắt. Chân nàng bắt chéo gác lên tay ngai ghế. Hai gót chân vẫn còn vết nứt nẻ; ở quê thì bảo do váng phèn chứ ở phố ăn trắng mặc trơn mà sao nó lâu khỏi thế. Vợ tôi thích diện váy ngủ màu hồng, xức nước hoa hiệu Chanel... Cũng do vài cô bạn hàng phố mới quen bày cho chứ nạ dòng nhà quê ra phố, biết gì.
- Cái đám bạn anh ngộ chữ, một tấc đến giời. Chỉ được cái giỏi tán nhăng tán cuội. - Vợ tôi nói, những miếng dưa chuột trên má cũng rung theo, rất tức cười.
- Em nói thế là nghĩa làm sao, hả?
- Nghĩa là cái nón mê chỉ là nón mê. Nó giống như rế rách chổi cùn. Cô hàng phố sang chơi nhìn cái nón mê, cười chảy nước mắt ra. Em phát ngượng.
Tôi lặng người. Yết hầu trồi lên, tức nghẹn cổ. Mở toang tủ lạnh, chỉ chưa đến mức chui vào trong, tôi tu ừng ực hết sạch chai nước khoáng Lavie nửa lít.
Cha tôi gọi tôi đến phòng ông đang ở :
- Tại anh không biết dạy vợ ngay từ ngày mới rời nhà ra phố. Bảo nó làm gì thì làm chỗ khuất. Hai thằng con trai lớn rồi. Nhìn chướng lắm.
Tôi ừ hữ cho qua chuyện. Tôi chưa bao giờ định sống suốt đời nơi phố phường. Cái khó bó cái khôn, lấy tiền đâu mua nhà, rồi vợ con làm gì để sống ở cái nơi phồn hoa đầy khắc nghiệt. Thành phố không chứa tôi, chỉ là nơi tôi ở tạm để rồi khi về hưu sẽ vui cảnh ao cá vườn rau. Vậy mà, nhà cửa to đẹp như trên trời rơi xuống. Tự nhiên nảy nòi ra một con vợ mà đến chồng cũng không nhận ra. Tôi đã làm cho cha nhọc lòng.
Cha tôi phàn nàn hai thằng cháu ít trò chuyện với ông. Ngày trước còn ở nhà ông cháu chơi đùa, thằng bé túm râu ông giật giật, ông quỳ gối làm trâu cho thằng lớn cưỡi; ông cháu cười tít mắt. Bây giờ, chúng như người dưng nước lã. Đi học về chào ông lấy lệ rồi thằng nào tót vào phòng thằng ấy. Chán mớ đời! Tôi giải thích: Bài vở các cháu học ngập trời; khoác túi đựng sách giáo khoa còng lưng như khoác ba lô thời chiến trận. Với lại chúng mải vào mạng internet thôi, chứ không phải hững hờ ít tình cảm với ông. Dường như còn rất nhiều điều uất ức chưa có dịp nói ra, cha tôi cáu :
- Cái bản mặt anh công chức quèn khó đổi thay, nhàn nhạt, đều đều như kim giây đồng hồ chạy. Đếch biết cái gì ngoài cái thân anh. Anh có biết thằng Giám đốc Văn phòng Địa ốc hay chạy xe máy chở vợ anh ra khỏi nhà không?
Tôi lại giải thích :
- Vợ con muốn làm ăn. Đang bàn đặt sổ đỏ cái nhà này vào ngân hàng vay tiền đánh quả nhà chia lô. Chắc đi với nhau để xem đất cát, nhà cửa.
- Nói như anh, tôi nói làm đếch gì. Chúng nó về đến sân này còn tranh nhau hơn thua, ai nhảy đẹp hơn ai. Tôi còn nhìn thấy cả vết son môi trên mặt trên gáy thằng kia; của vợ anh hay của con nào? Mà con vợ anh vừa thoát khỏi cảnh chân lấm tay bùn, mò cua bắt ốc thì biết gì để buôn bán địa ốc ở cái nơi lạ nước lạ cái này cơ chứ?
- Xin cha đừng nóng. Để từ từ con liệu.
- Từ từ thì con vợ anh sẽ biến thành con gì? Anh có biết từ Hán - Việt suy đồi nghĩa là gì không? Là tình trạng suy tàn và hư hỏng đến mức tồi tệ về phẩm chất đạo đức, tinh thần. Con vợ anh nó suy đồi rồi.
Suy đồi! Tôi chết lặng người. Cha gay gắt kết tội và dành cho vợ tôi lời lẽ nặng nề quá. Tèo không thể như thế. Con người ta có thể đánh mất mình, nhưng không thể nhanh như vậy. Nếu có chăng, vợ tôi đang có xu hướng tha hóa mà thôi.
Tôi xin phép cha đi nằm. Vật mình xuống giường, ngực dềnh lên từng đợt sóng, đợt sóng nào cũng đau. Bao nhiêu tiếng ong ong trong tai. Vợ tôi vừa đi ra ngoài về. Dường như không biết chồng đang khó ở, nàng kêu nóng bức, tụt cởi hết sạch không còn mảnh vải, thỗn thện chạy vào phòng gạt vòi nước hoa sen chảy xoe xóe.
Tôi đẩy cửa phòng tắm, lao vào giơ tay tát cho một cái; nhưng chưa kịp thì nàng đã cầm vòi hoa sen xịt xối xả nước vào mặt tôi; hệt như những lần hai vợ chồng đùa nghịch lúc tắm chung. Nước lạnh làm tôi hạ hỏa. Còn nàng cười nghiêng ngả tấm thân trần; đôi vú to gần bằng cái ấm tích vật bên này rồi lại vật sang bên kia.

Cha tôi bỏ về quê.
Tình đầu là con mèo hoang ở đâu đó tha về nhà tôi một hĩm, hai cu mèo con. Chúng bé tí hin, mũi xinh xinh phớt hồng, móng chân trắng nhỏ xíu như lộc xoan mới nhú đầu xuân, lông màu đen tuyền rất đáng yêu.
Thằng con bé bắc ghế đứng lên, với tay hạ cái nón mê xuống. Con bé Ôsin lấy nắm giẻ lau bàn khô phủ lên chỗ chóp nón thủng lót thành cái ổ cho ba con mèo nằm đặt ở gầm cầu thang. Ngày ngày, hai đứa bớt phần cơm và đầu cá len lén giấu mọi người đem nuôi mèo.
Bỗng vợ tôi nhận ra mùi cứt mèo, đi lục lọi tìm. Nàng nhăn mũi: “Mèo đến nhà là khó, chó đến nhà là may”. Rồi nàng tru tréo: “Con Ôsin đâu, cứt mèo chua lòm mà mày ngửi được à? Dọn mau”. Con bé dạ vâng rối rít. Nàng càng giận dữ, bốc hỏa mắt khi nhìn thấy cái quần xilip viền đăng ten, thêu bông hoa hồng của mình đang lót ổ lũ mèo hoang. Nàng không nhận ra cái xilip ấy đã ngả màu cháo lòng, ố màu nước chè. Thưa bạn đọc! Viết đến đây, tôi cần phải thanh minh ngay cho con bé Ôsin tội nghiệp vì cái tính cố hữu tận dụng triệt để, nhưng hay quên của người vợ. Nàng thải quần áo cũ ra, rất thích cầm kéo cắt các dây dợ lằng nhằng của cái cooc xê - từ thuần Việt là nịt vú; lấy nguyên hai mảnh trần mút cong như núi đôi để làm cái lót tay bưng nồi xoong khi nấu nướng. Xilip thải ra còn gọi là quần lót, nàng cuộn lại làm giẻ lau bàn. Con bé Ôsin cùng giới chả sao; nhưng để chồng, hai thằng con trai, và bố chồng phải lót tay bưng nồi và lau bàn bằng những cái khỉ gió ấy, khó coi lắm; khách đến chơi nhìn thấy càng ngượng. Tôi nhặt ném vào thùng rác mấy lần rồi. Vài ngày sau, đã thấy Tèo lấy cái khác hoặc moi trong thùng rác ra dùng lại. Không thể cắt nghĩa được chuyện này. Có thể thông cảm với vợ; nhưng việc nàng quát tháo tống ngay lũ mèo đen ra khỏi nhà thì rất đáng giận. Ở quê chả sống quây quần với chó mèo, mùa rét con mèo mướp còn chui vào trong chăn ngủ cùng ấy chứ. Vậy mà, nàng ca thán cái nhà đẹp đẽ, sang trọng, quý phái mà lại thèm chứa đồ mèo đen hôi hám, chua lòm.
Xả hết cơn bực tức, nàng xồng xộc xuống sân. Chỉ một lát, tiếng xe máy rồ lên gắt gỏng.
Cha tôi biết chuyện. Ông thở dài ngao ngán. Ông ngăn bọn trẻ đừng vứt mèo đi, rồi vào phòng thu xếp quần áo. Ông bảo các cháu chịu khó học hành, ngoan ngoãn; ông phải về, ông về kẻo bà mong. Một tay giữ túi khoác vai, một tay ông ôm nón mê thủng chóp đựng ba con mèo bé tí hin, đi ra khỏi cổng. Hai thằng cháu trai và con bé Ôsin ngỡ ngàng không kịp nghĩ giữ ông lại. Chúng nó đứng lặng nhìn ông đi ra bến ô-tô cho đến lúc bóng ông khuất hẳn ở cuối phố.
Tôi về nhà, cha tôi đã đi khỏi từ lâu. Mở tủ rượu, dốc chai tu một hơi, tôi bỏ lên phòng nằm bẹp... Tôi không khóc mà nước mắt cứ trào ra. Tôi buồn chán. Tôi cô đơn ngay trong chính ngôi nhà mình.
Cái nón mê thủng chóp là năm tháng tuổi thơ của tôi. Làng tôi nghèo, dường như nhà nào cũng nén vại cà. Cơm thì bữa nguyên bữa độn, lúc cháo lúc rau và cà thì nén quanh năm. Cà vào bữa đực bữa cái tháng ba ngày tám, cà lên mâm cỗ Tết, cà ra ngoài đồng với thợ cày thợ cấy. Nhà quê thiếu thốn đủ thứ, đến cái vung, cái nẹp đậy vại cà cũng hiếm. Cái nón nắng mưa dãi dầu trên đầu mẹ tôi, đến lúc bẹp mê rồi, và thủng chóp đút nắm tay luồn qua được mà cũng không bị vứt đi. Phần cuối đời nón vẫn còn có ích làm bóng râm che mát vại cà.
Cha tôi bắt con mang nón mê thủng chóp lên thành phố là có lý của người cha. Nhưng tôi chưa kịp nói cho vợ con biết sự có mặt của nó rất cần thiết trong căn nhà mới này. Bây giờ, cái nón mê thủng chóp lại về đúng nơi nó ra đi rồi.

0
Ánh trăng trong lò mổ
 
Nhạc giao hưởng là cái gì đó xa xí với đám nhà nghèo và lạ hoắc với người giàu. Thói trưởng giả, tiền bạc có thể đầy ự, nhưng thưởng thức nhạc giao hưởng y như phèng la gõ tai trâu. Cả năm, dàn nhạc chỉ đôi ba lần biểu diễn. Nghệ sĩ đói dài. Tá hỏa mỗi người chạy một nơi kiếm ăn: Biểu diễn phòng trà. Gia sư. Kèm cặp bọn trẻ thi vào nhạc viện... Đủ cả. Vẫn không lại với tiền thuê nhà và nuôi sống mình trong nội thành.
Chờ đợi. Ngóng trông. Hy vọng một cái gì đó rất xa vời.
Tôi xách va-li, vác theo cái đàn ghi-ta ra ngoại ô thành phố ở trọ.
Hàng xóm nhà tôi là một lò mổ heo. Lò mổ chứa đựng bao nhiêu thứ cặn bã thì cũng có bấy nhiêu tinh thơm cao quý. Nó là một mớ hổ lốn thật giả, xấu tốt, thiện ác. Nhàn vi cư cầm đàn, tiếng ghi-ta
của tôi thả ra không trung làm đám thợ mổ suốt ngày làm bạn với máu tươi, lòng mề, phân gio, nước đái hôi mù dỏng tai nghe. Hân hoan quá. Ít ra thì trong lúc bụng tôi rỗng không, cũng làm tươi xanh những tâm hồn cỗi cằn, mệt mỏi bên kia hàng rào. Ai bảo tiếng đàn không dẫn dụ, chinh phục được những anh đồ tể ít học, lấm láp, cục cằn?
Nhưng, đến ngày thứ tư thì tiếng đàn của tôi bị tiếng heo ở lò mổ át đi. Các ngày sau, tiếng heo rống càng thê thảm, oan ức, tức tưởi và càng to hơn, nuốt chửng tiếng đàn ghi-ta, mà không cắt nghĩa được. Hóa ra, ông chủ lò mổ ghét tiếng đàn ghi-ta của “thằng nhạc sĩ”. Ghét vì thợ dỏng tai nghe, mất việc làm. Ghét vì thằng ranh con da trắng gân xanh nổi đầy tay cứ ra vẻ ta đây là nghệ sĩ thả tiếng đàn ra coi khinh cái nghề mổ heo nhếch nhác của mình. Ghét vì mình thì trần lưng kiếm từng đồng tiền lấm láp, nó thì cứ nằm khểnh chơi đàn tưng tửng. Ghét, ông chủ bảo: “Cứ mỗi lần đàn ghi-ta của thằng nhạc sĩ cất lên, thì chúng bay chọc tiết heo cho tao. Hết máu con này thì chọc tiếp con khác cho nó tru rống lên, chỉ khi nào tiếng ghi-ta im bặt thì thôi”.
Một sự thật thách đấu của gã quái sát sinh cậy giàu. Tôi tự ái và cảm thấy tổn thương. Tôi thi gan. Đàn suốt ngày đêm. Và tiếng heo tru rống vẫn ai oán, kinh hoàng không dứt.
Cho đến một ngày ông chủ lò mổ heo rinh về một chiếc đàn piano mới cứng cựa thì cuộc tỉ thí giữa tiếng đàn ghi-ta và tiếng lợn rống mới đến hồi kết. Người ngồi chơi đàn dương cầm ấy là một cô nữ sinh viên khoa văn hóa quần chúng. Nàng bắt đầu một kỳ nghỉ hè và sống hoàn toàn bên chồng. Đám thợ mổ không xa lạ, xôn xao. Nhưng, tôi thì bất ngờ đến kinh ngạc.
Có điều gì thật trái khoáy trong gia đình ông chủ. Không cắt nghĩa nổi! Một người tinh tế, dịu dàng, lãng mạn mà lại lấy một kẻ gần như vô học, trưởng giả. Khớp vào nhau thử hỏi coi được không? Vậy mà, những điều phi lý tưởng chừng không có đất sống ấy thì lại tồn tại ngang nhiên giữa trời quang mây tạnh ngay trong nhà ông chủ mổ heo.
Đêm đêm, bà chủ mặc áo dài màu hoàng yến ngồi trước cây đàn dương cầm dạo nhạc. Thấp thoáng qua dải đăng-ten trắng muốt, tôi bắt gặp cái dáng ngồi hơi cúi, cong cong như vành trăng khuyết sa vào cửa sổ. Chỉ tội một nỗi là đàn mới mua cân chỉnh chưa chuẩn nên nhiều nốt bị phô. Cô chơi bản Sonata Moonlight giai điệu trở nên khàn đục, hơi chói tai, không diễn tả được khúc mơ tưởng. Ôi trời! Giá mà mình được sở hữu cái dương cầm ấy nhỉ? Điên tiết, tôi lôi ghi-ta ra dạo luôn bản Sonata Ánh trăng ấy. Mê mải đến mức, bà chủ lò mổ heo vạch hàng rào sang nhà tôi trọ, đứng ngẩn ngơ nhìn tôi đàn, và nghe đắm say. Chỉ khi gảy nốt cuối cùng và đi hợp âm chùm kết thúc thì tôi mới biết người đẹp đang đứng trước mặt.
Tôi trở thành thợ “lên dây đàn”, tôi thành gia sư cho bà chủ xinh đẹp. Tôi trở thành thân tình với gia đình ông chủ lò mổ heo từ đó. Tôi gọi nàng là Ánh Trăng Xanh.
* * * * *
Cứ năm giờ sáng là thợ lò mổ mài dao.
Cứ năm giờ sáng là bản nhạc Sonata Moonlight của Beethoven vang lên.
Cứ năm giờ sáng là ông chủ lò mổ heo thức dậy.
Thức dậy bởi ông chủ không ngủ được nữa. Đời sống được mấy nỗi mà cứ phải ngủ? Ngủ là biểu hiện của sự rã rời, mệt mỏi. Ngủ có cái gì đó như cầu an, yếm thế. Ông chủ lò mổ không yếm thế và cũng chẳng cầu an. Ông là một sinh thể hừng hực bản năng ham muốn luôn bị kìm hãm, o bế.
Ông chủ lò mổ có một hứng thú sát sinh và nghe nhạc cổ điển kỳ dị. Tiếng đàn dương cầm dạo bản Sonata Ánh trăng vang lên là đàn heo vón lại rống eng éc. Tiếng kêu khiếp đảm báo hiệu một sự chết chóc ghê rợn và tang thương. Nhưng bản nhạc Sonata Moonlight cứ tuôn chảy dào dạt trên những phím đàn trắng đen. Giai điệu êm nhẹ, dịu dàng như một dải khăn voan bạc vắt hờ hững trên non xanh đại ngàn. Lấp ló ánh trăng non vàng lúc mờ lúc tỏ trải rộng bao la xao xuyến trên thảo nguyên xanh rợn. Ánh sáng huyền ảo mơ màng dát vàng bạc xuống dòng sông dịu hiền uốn khúc. Ánh trăng tràn ra biển cả mênh mông và nô đùa trên sóng nước lăn tăn... Giai điệu dịu êm dẫn dắt người nghe đặt chân đến một thế giới mơ mộng huyền hoặc và trữ tình. Nó chỉ là khúc dạo đầu khi ông chủ chưa bước vào chuồng heo.
Không thể tưởng tượng được, nàng nữ sinh chân dài đã chuyển giai điệu Ánh trăng mê mị sang khúc mơ tưởng một nụ cười trong sáng mà buồn bã, cô đơn thê thảm thì đúng lúc ông chủ uống cạn bát rượu đế như một nghi lễ nghề nghiệp. Ông đi ủng đen cao gần đầu gối. Áo xắn quá khủyu, chìa cánh tay béo mũm mĩm. Các ngón ngắn tủn cầm chày gỗ lim dài một mét sẵn tư thế hạ thủ. Chả mấy chốc rượu ngấm, ông gồng thân, co rút cơ thể ục ịch... rắn đanh lại, cứ y như bao nhiêu mỡ bị vắt chảy đi hết. Người ông thành một khối chắc nịch đằng đằng sát khí. Ông chủ bước đến đằng đông, đàn heo sầm sập chạy tới phía đằng tây. Ông quay bước chần về phía nam, đàn heo cuống quýt dạt trôi phía bắc. Bỗng chốc, ám khí ngùn ngụt bốc lên dày đặc trại nuôi heo.
Và khi tiếng đàn vang lên dồn dập, nhanh mạnh hơn như chuyển sang một chân trời mới lạ thoát ra khỏi nỗi u buồn và cô độc, đau khổ gông cùm ở khúc cuối Sonata Moonlight thì chày lim chắc nịch vung lên. Độp. Một nhát chày ngang gáy. Một con heo quay lơ. Độp... Độp. Hai con heo đổ ập. Giãy đành đạch. Một tiếng e...éc. Hai tiếng kêu e... éc kéo dài rồi... tắt hẳn. Từng con một, từng con một... hóa kiếp, bước sang một vòng luân hồi khác. Thợ lò mổ chỉ còn việc túm hai chân sau kéo sền sệt, quẳng lên bàn mổ là sàn xi-măng lạnh trơ cứng rồi... chọc tiết. Heo vừa chết không còn giẫy giụa. Chọc tiết nhàn nhã, ung dung. Máu xối ồng ộc. Bốc khói. Nóng hổi. Công việc tiếp theo là cạo lông. Bây giờ không ai còn đun nước nóng, nhúng cả con heo vào chảo nước sôi ùng ục nữa. Dao bầu mài sắc lẹm, cứ thế cạo sồn sột. Da lợn trắng ởn, nhưng chân lông vẫn còn nguyên. Ăn thịt heo ăn luôn cả chân lông. Hết tiếng ồng ộc máu xối xả thì cũng là khi tiếng đàn dạo bản Sonata Moonlight ngưng bặt. Tôi cảm thấy thân thể rã rời, người bạc nhược. Chim cò thụt ráo lại. Nhìn qua ô cửa sổ, tôi nhận ra cái dáng người nàng hơi cong hình trăng khuyết đã gập xuống thành chữ L xoãi trên bàn phím piano. Lúc này, cái áo màu hoàng yến đã nhợt đi và biến thành màu lá xanh xao. Tôi nhận ra nàng như một ánh trăng xanh bị giam hãm, cầm tù trong lò mổ heo.
Ông chủ lò mổ heo quay trở lại nhà lúc trời vẫn chưa sáng, ủng đen lột khỏi chân. Quần áo trút khỏi người. Sau nửa giờ cầm chày lim đập vào gáy lợn và chọc tiết, ông chủ nhào vào nhà. Vợ ông vận áo dài tân thời đang gục đầu xuống nắp hộp đàn dương cầm. Ông kéo “ánh trăng” lên giường. Ông giúp Ánh Trăng Xanh thoát khỏi cõi âm thanh tràn đầy mộng tưởng, lãng mạn và khổ đau, buồn bã, cô đơn. Nàng mở hàng cúc chéo, lật vạt áo trước ngực và khỏa thân. Nàng nằm đườn đưỡn sẵn, như một thói quen đợi chờ chồng chằm bặp, vần vò. Lúc này, đến tạo hóa nhìn thấy cơ thể của hai người đàn ông đàn bà cũng phải bật cười. Ông chủ lò mổ heo và nàng là hai cá thể đối nghịch nhau cả thân xác và tâm hồn. Ánh Trăng Xanh đẹp. Chân dài trắng nuột nà. Ngón tay búp măng xinh xắn. Cổ cao trắng ngần. Ngực vun đầy. Hai vú tròn mẩy, căng nhức. Nhũ hoa tươi màu phấn hồng. Gương mặt sáng hình trái xoan, sống mũi nàng hơi cao, thẳng và thanh tú. Còn chồng nàng: Chân ngắn. Tay ngắn. Lưng cũng ngắn. Hai bàn tay chỉ có chín ngón ngắn tủn, đù đẫn như những quả chuối mắn to nhỏ khác nhau. Thân người ông ục ịch béo tròn. Mắt trắng dã trợn ngược giống y mắt heo đực. Giọng nói bao giờ cũng kèm theo âm đệm hộc... hộc cũng như heo rống. Ánh Trăng Xanh là con cái tươi mởn, tràn đầy sức sống. Còn chồng nàng là con đực lốp, bễu, mềm, bị phong bế ham muốn. Một quả không còi cọc mà lốp thì gieo trên phù sa mầu mỡ, phì nhiêu cũng không thể nảy mầm.
Tôi hình dung Ánh Trăng Xanh đang bị cắn xé, vầy vò. Những tiếng hô...ộc... hô...ộc... của ông chủ lò mổ heo từ trên giường vọng ra. Đám thợ mổ heo người ngợm nóng bừng bứt rứt không yên thân. Âm thanh kỳ dị kích động khơi dậy bản năng tính dục lũ đàn ông vai u thịt bắp, thô tục. Mắt thằng nào cũng lấp lóa ánh đèn trong không gian lò mổ nửa tối nửa sáng. Gã thợ râu ria xanh rậm cứng như rễ tre, bặm trợn, gan lì đang chọc tiết heo cũng xốn xang, nôn nao lòng dạ. Dỏng tai nghe thứ âm thanh khàn đục rạo rực đến mức dao chọc vào tim heo rồi mà gã quên không rút cán ra cho máu xối vào chậu. Một thằng nhà quê mới vô lò mổ không chịu nổi cơn kích động đàn ông, kêu rống lên như bò bị cắt tiết. Thằng ấy ôm hạ bộ chạy bịch bịch đến góc nhà bê nguyên cả thùng đá lạnh đang tan đổ ào lên cả quần áo để hạ hỏa, đến mức nước lạnh thì tóe ra còn đá cục rơi lỏng chỏng xuống sàn xi-măng đầy lông heo và máu me. Con bé Ô sin đang lúi húi quét lông lợn, cũng bị một bàn tay rậm lông lá, trơn nhờn mỡ lợn bất chợt thọc vào ngực, bóp vú đau điếng. Tôi ở bên này hàng rào không chịu được, nhảy đại vào bể nước, chìm nghỉm, mãi mới ngóc lên được.
Rất may, đúng lúc chiếc xe máy đầu tiên rồ ga vào tận sân lấy thịt heo cắt đứt cơn động đực của đám thợ mổ. Xúc cảm tính dục xa gần, ngân nga thêm chút nữa, yếu dần rồi tắt hẳn. Cũng là khi ô-tô tải hạng nhẹ, xích lô, cả xe đạp hối hả đến lấy thịt chuyển đi các nơi. Rồi lần lượt giáng oạch oạch từng con một lên cân tấn, tịnh từng mã sau đấy lại hò nhau quẳng lên ô-tô. Lò mổ heo bỗng chốc như cái chợ nhỏ. Nhốn nháo. Nhộn nhạo. Và dường như lúc ấy, những tiếng tru hô...ộc... hộc trong nhà cũng tắt hẳn.

Một ngày bận rộn, mệt mỏi trôi qua. Buổi tối, nàng Ánh Trăng Xanh nằm chềnh ềnh trên giường ga nệm Hàn Quốc trắng phau phau cho con bé Ô sin mát xa như thường lệ. Hai bờ vai trần nuột nà. Cổ áo khoét rộng và sâu. Váy ngủ màu mỡ gà óng ả tụt ra. Tênh hênh. Hở hang, vết cào xước ở đùi non, ở bụng thon, ở eo thắt, vết răng cắn tím bầm ở ngực, ở vú... Tấm thân ngọc ngà của nàng bị chà sát, vày vò tàn bạo. Không nỡ lòng nào và con ô sin cũng chẳng dám đấm, véo, vỗ vào cơ thể tràn đầy sức sống hằn thương tích của nàng. Con giúp việc ấy xức dầu xoa bóp Đông y lên da thịt người đẹp. Nhẹ nhàng. Mơn trớn. Một lúc sau làn da trắng mịn nhiều thương tích của nàng bỗng nóng bừng.
* * * * *
Mọi việc ở lò mổ heo xáo tung lên tất cả bắt đầu từ lúc thằng vai u thịt bắp mồ hôi dầu xuất hiện. Tôi ghét. Tôi ghen tị. Tôi gọi nó là thằng Vai U. Thằng Vai U cao một mét bảy tư. Vồng ngực xếp đầy thịt rắn chắc như ngực thần Hecquyn. Bắp đùi dế của cầu thủ bóng đá. Và đôi bàn tay rắn cứng quẳng liên tục những con lợn gần một tạ lên sàn xi-măng không biết mệt. Vai U bế nàng Ánh Trăng Xanh nhẹ nhàng như thằng tôi cầm bó hoa lay ơn trong ngày sinh nhật. Thằng này vận động viên ném đĩa biên chế ở Trung tâm thể dục thể thao. Hơi đần độn, chỉ được cái khỏe mạnh, cường tráng. “Đầu óc ngu si tứ chi phát triển”, văn chương không đọc, phim truyện, sân khấu không xem, truyền hình không ngó. Ban ngày tập luyện, tối ngủ khò, đêm về sáng đến lò mổ heo làm thêm kiếm tiền ăn học.
Lúc thằng này mới bước vào sân lò mổ đã vênh vênh cái mặt, mũi khịt khịt. Một anh thợ mổ đang mài dao, ngước mặt, hỏi :
- Khiếp mùi phân heo a?
- Không. Tôi thấy âm u, lạnh lẽo quá.
Anh thợ lò mổ ngửa mặt cười sằng sặc, rồi bảo :
- Thằng cha này nói lạ. Lò mổ heo, lúc nào khí sát sinh chả bốc lên ngùn ngụt.
- Tôi không nói dóc đâu. Âm khí cuồn cuộn đấy. Tôi sẽ làm cho cái lò mổ này sôi lên sùng sục.
Thằng Vai U ngạo mạn. Nó sẽ làm được gì trong cái lò mổ heo này? Cùng lắm là khiêng lợn, cạo lông, tuồn lòng. Vậy mà, nhãn tiền hiểm họa là khi thằng Vai U nhìn bà chủ đăm đắm. Ánh mắt đàn ông vâm váp hút hồn người đàn bà trẻ óng ả. Mặt bà chủ đờ đẫn, bối rối trước thằng Vai U bắp thịt cuồn cuộn. Thằng này liền giả tảng không biết những xáo động trong lòng nàng. Giá như ông chủ lò mổ về bắt gặp cảnh tượng này nhỉ? Thằng Vai U sẽ bị đuổi việc ngay tức khắc. Lúc đó, tôi chỉ muốn lao đến nhảy vào giữa hai người, tách họ ra thật xa, chẳng hạn như thằng trai nhảy ra tận rừng rú mỏm địa đầu Lũng Cú, còn nàng sống tận chót Mũi Cà Mau.

Con ô sin sang gọi tôi chỉnh dây đàn cho bà chủ. Con này ghê thật. Nó dám thuật lại những gì nó nhìn thấy trên da thịt người đẹp để đánh vào lòng trắc ẩn của tôi, đánh vào sự bất lực tuyệt vọng của tôi. Cứ như bảo rằng: “Đàn ông như anh hèn lắm. Nhìn thấy cái sự sỗ sàng mà cứ gương cộ mắt nhìn”. Cái mặt con bé giúp việc này câng câng, hờn dỗi :
- Lúc này, đang cần người giúp bà chủ thoát khỏi tình cảnh này. Anh không ra tay thì có người khác đấy.
Tôi cười gượng, khuôn miệng méo mó và thảm hại :
- Ai làm nổi anh hùng cứu mỹ nhân giữa đám thợ mổ heo thô lậu này?
- Em chỉ biết thằng Vai U nghe anh đàn xong, biểu: Cái trò tán gái rẻ tiền quá. Nhạc với nhẽo thì làm nên nông nỗi gì. Thằng ấy biểu anh: Chẳng hiểu đếch gì đàn bà.
Tôi tím bầm mặt, nhưng vẫn cố gượng cười.
Tôi lò dò sang. Nàng bảo :
- Em cảm ơn anh, mỗi ngày đều tặng em một bông hoa.
Những bông hoa ấy tôi nhờ con ô sin mua giùm. Cứ mỗi ngày nó mang hộ tôi đến tặng nàng một bông hồng trắng. Nắng cũng như mưa, ngày nào nó cũng làm tròn phận sự và ông chủ hoàn toàn không biết, cứ ngỡ hoa nhà mình do vợ bảo con giúp việc mua.
- Anh sẽ tặng hoa em suốt đời.
- Nhưng em cần cái khác cơ.
Nói rồi nàng khóc. Nàng vạch áo chìa eo, ngực, kéo tụt quần hở mông, đùi. Những vết cào xước, vết răng cắn bầm tím vẫn còn in trên làn da trắng nõn. Tôi không lạ gì những vết bầm tím này. Tối hôm trước, ông chủ đi miền Tây ký hợp đồng thu mua heo, nàng xé rào sang với tôi. Đêm thanh vắng. Nàng khỏa thân. Và dâng hiến. Nuột nà. Căng mẩy. Trinh nguyên. Những vết bầm tím dù đã hơi mờ nhưng cũng làm nhói lòng tôi. Đúng lúc tôi rạo rực, cuồng mê nhất thì tiếng heo éc...éc... tru rống lên như bị chọc tiết. Mất hứng. Người bải hoải, rũ như tàu lá chuối non nhúng nước sôi. Chim nhẽo nhèo, nhũn như con đỉa. Nàng tức tưởi khóc. Những giọt nước mắt tủi phận, ai oán, tiếc nuối bởi khát vọng ái ân cháy bỏng không thành. Tôi đã mặc áo lại cho nàng. Tôi xót xa. Ái ngại. Tôi đụng phải vết bầm nơi cánh tay trần đang xỏ ống áo. Nàng rụt tay lại kêu đau. Tôi nhìn nàng ai oán :
- Tiên sư thằng chồng em bệnh hoạn.
- Đừng anh. Tuy thế, nhưng ảnh hết lòng yêu em.
- Nên em cứ định sống mãi trong địa ngục trần gian ấy?
- Thì biết tính sao? Hay anh với em bỏ trốn khỏi nơi này đi.
Bỏ trốn! Tôi thuỗn mặt ra. Tôi là nghệ sĩ biểu diễn dương cầm thất nghiệp. Nhạc giao hưởng không nuôi nổi tôi, huống chi nuôi thêm người nữa. Giàu thì sang. Nghèo thì hèn. Tôi đang nghèo. Chưa kiếm được cái cần câu cơm. Lò mổ heo với tiếng heo rống eng éc không cần nhạc giao hưởng.
Tôi bảo :
- Anh là thân ốc chẳng lo nổi mình ốc sao mang cọc cho rêu...
- Đừng nghĩ phải cưu mang em - Nàng âu sầu, thở dài - Em không cần những bông hoa của anh nữa. Anh là đồ hèn.
Nàng mắng tôi rồi quay ngoắt bước về nhà.
Tôi bế tắc. Tôi buồn bã. Tôi nhớ đến thằng Vai U cứ như bóng ma lẩn khuất trong lò mổ heo. Tôi vớ cây đàn ghi-ta trên vách, bập bùng so dây. Tôi chơi lại bản Sonata Ánh trăng trong tâm thế buồn mênh mang xa vắng.
Thằng Vai U đứng ở sân nói chõ qua cửa sổ :
- Tiếng đàn của anh mềm yếu, lả lướt quá. Ích tóp gì!
- Giàu có như ông chủ lò mổ heo thì ích tóp à? Thằng Vai U cười khẩy :
- Tiền không phải là tất cả, nhá. Cả anh, cả gã chủ lò mổ đều là những thằng đàn ông vô tích sự.
Tôi phớt lờ, không trả lời, càng đánh đàn càng tức nghẹn cổ. Thằng Vai U nhún vai, bỏ vào lò mổ.
Tôi ngồi bệt ở nhà, chơi đàn liền ba ngày thì ông chủ lò mổ về. Mặt ông đỏ từng bừng, chắc là uống rượu quá chén. Nghe tôi đờn xót xa quá, ông bảo :
- Cái giống nhạc nhẽo chú em đờn, nghe nẫu ruột. Nó hợp với hoa và con gái đẹp. Nhưng mà chú cũng là người lưỡng lự, không quyết đoán. Người như chú em thì thiệt thòi suốt đời. Miếng ăn ngon đến miệng lại tuột đi. Chú em là thằng hèn. Tui còn hèn hơn.
Tôi giật thót mình. Có phải ông chủ đã linh cảm thấy sự hiểm nguy đang rình rập và lo ngại bởi cái mặt nhơn nhơn của thằng Vai U xuất hiện? Có phải ông chủ đã biết những bông hoa mỗi sáng tôi tặng nàng Ánh Trăng Xanh? Có phải ông chủ biết người vợ trẻ đã xé rào sang với tôi? Nhìn tôi đăm đăm, cái nhìn như mách bảo đã nhòm thấy hết lục phủ ngũ tạng của tôi. Ông âu sầu, bảo :
- Buồn. Buồn. Tui cứ sáu câu vọng cổ tui mần, chứ không ẻo lả đờn như chú em.
- Sao ông còn bắt vợ đàn bản nhạc ấy mỗi khi ông cầm chày sát sinh?
- Nó là nghi lễ, nó là nỗi bức xúc lòng tôi không được giải thoát mừ. Với lại, để tạo cho chú em một ấn tượng mạnh, thêm vốn sống mà viết. Chú em có thể viết được một bản giao hưởng thật hay về số phận con người.
Nói xong, ông chủ cao hứng hát luôn sáu câu vọng cổ và đổ liền một mạch, không ngắt hơi, nghe buồn não nề: Cái em cần thời anh hổng có. Cái anh có thời em hổng cần... Em ở bên anh đêm dài ngày ngắn như đôi đũa lệch vênh so so mãi chẳng... vừa. Tằng tằng... tăng tăng... tăng tằng tăng... tằng.
Ông chủ bảo :
- Lò mổ heo nhà tui phải là một môi trường văn hóa nghệ thuật. Sẽ có cả cải lương, bài chòi, chèo, quan họ, nhưng cũng có nhạc cổ điển. Tiếng nhạc sẽ đầy ắp từ trang trại nuôi heo vào trong phòng ngủ của tui đến tận lò sát sinh. Vợ tui sẽ đắm chìm trong âm nhạc, nàng sẽ không bao giờ xa tui. Bây giờ tui học sẽ Lã Bất Vi và Mạnh Thường Quân đãi khách. Cứ hàn nho, sĩ tử, nghệ sĩ nào thất cơ lỡ vận thì đến đây tui nuôi tuốt. Chú em đồng ý thời dọn sang nhà tui đi. Chỉ mong họ và chú em sáng tác được những tác phẩm lớn cho đời.
Tự nhiên tôi thấy tôi hèn quá. Nhạc sĩ mà hèn thì sáng tác sao nổi? Rồi sẽ đến lúc sáng tác èo uột, nịnh hót, vô hồn và cân chỉnh âm đàn vốn là sở trường cũng không làm nổi. Người đàn bà đẹp, mầu mỡ cũng y như là cây xanh tươi tốt. Cây xanh tươi tốt không được chăm sóc, tưới nhuần thì cây héo hon.
* * * * *
Ánh Trăng Xanh vẫn không chửa đẻ con cái. Tiếng đàn mơ tưởng vẫn ngân nga lúc nhập nhoạng tối trời. Những con heo vẫn hóa kiếp luân hồi. Và tiếng hộ...ộc... hộ...ộc của chồng nàng vẫn tru rống lên như heo sắp chết. Lò mổ cũ kỹ không có gì đổi thay trong sự ngưng đọng và mòn mỏi. Thằng Vai U xuất hiện làm đảo lộn cả cuộc sống lò mổ heo cũ kỹ cũng là điều dễ hiểu.
Thằng này không ngần ngại bảo :
- Cái nhà này kỳ dị. Sát sinh heo trong tiếng đàn dương cầm thì thật là quái đản.
- Tất cả là bắt đầu từ em.
Hai người mới gặp đã gọi nhau, xưng anh em ngọt xớt, dù bà chủ hơn thằng Vai U mấy tuổi. Thằng này đặt hai tay choàng eo nàng, bảo :
- Anh không thể hiểu nổi những con người ở đây. Lạ quá.
- Em biểu chồng em rằng: Ông Beethoven viết Sanata Moonlight tặng nàng nữ sinh mười bảy tuổi Giulietta Guicciardi. Nàng ta yêu thầy dạy nhạc Beethoven nhưng lại bỏ đi lấy chồng vì nàng con quý tộc thượng lưu còn chàng dù thiên tài nổi tiếng nhưng con nhà bần hàn, lại bị điếc đặc. Chênh lệch địa vị sang hèn đã chia ly họ mỗi người một nơi. Beethoven viết Sonata Moonlight đã làm cho một nàng tiểu thư dớ dẩn có tên Giulietta Guicciardi bất tử thế đấy. Anh có gì để em bất tử từ cái lò mổ heo này không nào? Nhắc đến lò mổ heo, chồng em mặc cảm đỏ mặt. Anh ấy chỉ thạo sát sinh, nhìn con nhiều nạc, con nhiều mỡ biết ngay, nhưng âm nhạc thì lơ mơ. Nghĩ một lát, chồng em bảo: Cái bản nhạc ấy nói lên điều gì? Em bảo: Mỗi người cảm nhận và hiểu một vẻ đẹp khác nhau. Em thì cho rằng đó là khúc mơ tưởng về một người tình lãng mạn, trong sáng với nỗi buồn bã, đau đớn, chia ly, cô đơn tận cùng cô đơn và vượt thoát. Chồng em biểu: Em và anh cũng lệch chênh nghề nghiệp, địa vị sang hèn đấy. Mỗi lần anh dậy sớm đập chết heo để chọc tiết thì em cũng thức dậy chơi bản nhạc ấy. Mỗi lần em chơi đàn, anh tặng một triệu đồng làm vốn riêng. Cái thằng nhạc sĩ chết đói dạy đàn cho em sẽ sáng tác về câu chuyện của chúng mình. Em vừa có tiền mà vừa bất tử nhé.
Thằng Vai U nghe xong, bảo :
- Chồng em cũng là giống quái đản. Anh thì sống đời hơn. Để rồi xem tiếng đàn còn thánh thót trong nhà này nữa không?
Bàn tay thằng Vai U ôm riết eo bà chủ. Người ngợm nàng đờ đẫn, như con cua yếu vía, cụp hết chân càng lại cho ếch nuốt gọn. Thằng Vai U ngông ngênh, không coi ai ra cái gì. Đến tiếng đàn huyền hoặc như thế mà nó còn khinh thường. Sức mạnh của nó là ở đâu? Có phải sức mạnh ở chỗ nó bặm trợn, thích là nhào dô, áp sát đè ngửa người ta ra không? Có dễ thật, nó đè ngửa bà chủ ra giường rồi mà. Tôi nhìn thấy bốn chân thòi ra khỏi cái chăn mỏng ngọ nguậy, mà không biết phải làm gì. Chỉ biết lôi đàn ghi-ta ra đánh đến mức móng tay tóe máu và dứt đứt gần hết, chỉ còn dây... to và chùng nhất.

Thời gian này, ông chủ lò mổ lái con xe thể thao du lịch New Carens mới coóng đưa vợ đi vũ trường dầy hơn. Chả lẽ giữ vợ bằng đi vũ trường? Vũ trường là chốn vui vẻ trẻ trung đốt tiền của kẻ giàu, là chỗ xóa bỏ mặc cảm, và học làm sang của người nghèo. Ông chủ chân ngắn, người ngắn, bước đi lũn cũn. Bà chủ chân dài, người cao, bước đi uyển chuyển. Bà chủ như mệnh phụ phu nhân thượng lưu. Ông chủ không ra quý ông mà cũng chẳng giống chủ lò mổ heo. Ông ta là thứ hỗn tạp vừa bần tiện, gian manh vừa hào nhoáng giả tạo.
Nhạc nổi lên. Ông chủ giơ tay dắt... vợ. Bước nhịp nhàng. Bước dướn. Bước xoay. Người thấp tủn, khi giao lưu tình cảm, ông chủ phải ngước mặt lên tình tứ với vợ. Hết điệu khai mở, bạn nhảy tíu tít đến mời bà chủ ra sàn. Nhạc lại nổi lên, họ đi điệu Valse. Có thằng trai nhảy tay ôm eo, tay nâng tay bà chủ. Mặt tươi. Mắt liếc. Sóng tình dào dạt.
Ông chủ ghen. Đi vũ trường thật không ổn. Ông chủ gọi tài xế, kéo vợ về sớm hơn thường lệ.
Ông chủ uống rượu ngà ngà, bước sang nhà tôi :
- Hóa ra, thằng Vai U thịt bắp làm thợ lò mổ nhà mình cũng biết nhảy thầy giáo ạ. Nhảy với vợ tôi, ôm eo vợ tôi, mắt đưa tình với vợ tôi, âu yếm với vợ tôi lắm.
Trong lòng tôi cũng nổi cơn một cơn ghen thoảng qua. Tôi định bảo: Thì tối nào ông chủ đi vắng, bà chủ chả lái xe đưa nó đi khỏi nhà đến khuya mới về. Thấy tôi im lặng, ông chủ lại bảo :
- Thầy giáo có nghĩ rằng, vợ tôi sẽ chơi bản nhạc Sanata Moonlight đến khi nào tôi không còn mổ heo nữa không?
Tôi định bảo: Ngày kết thúc sắp đến rồi, nhưng lại thôi.
* * * * *
Cho đến một sớm mai.
Thợ lò mổ bị dựng dậy bởi tiếng nổ ô-tô, xe máy xinh xịch, tiếng người ồn ào, cáu gắt bởi không lấy được thịt heo. Không lấy được thịt heo, họ mất khách. Đám người và xe nhốn nháo, quát tháo ầm ĩ, chửi đổng choang choác như đám mổ bò một lúc rồi giải tán. Trời đất! Chẳng hiểu sao chúng tôi lại có một đêm ngủ mê mị và bị bóng đè kỳ lạ. Không còn nghe tiếng đàn dương cầm vang lên, cũng không có tiếng chày lim đập vào gáy heo sát sinh lúc bốn giờ sáng. Tiếng ông chủ hô...ộc, ...hô...ộc như heo tru rống lên càng không. Thằng Vai U mất tích. Và bà chủ cũng biệt tăm.
Chúng tôi thấy ông chủ lò mổ heo mặt mày tối tăm, héo hon, ngồi ủ rũ, lưng khọm xuống, già đi đến chục tuổi.
- Bỏ đi rồi.
Tôi hỏi lại :
- Bỏ đi thật rồi sao?
- Đi thật mà. Tui đã làm mọi cách để kéo nàng ở lại mà không giữ được. Kể cả việc mua cái đàn dương cầm và đàn mỗi buổi sáng tui sát sinh heo.
Tôi bảo :
- Đừng tiếc nuối nữa. Cô ấy không dành cho mình. Đi là phải.
- Ờ. Chú em... À quên, thầy giáo nói đúng. Đi là phải. Thầy giáo ơi, có biết cô ấy ở đâu không? Tui muốn tặng cô ấy chiếc đờn dương cầm kia kìa.
Tôi xót xa nhìn cái đàn dương cầm vô chủ. Âm thanh lãng mạn, đau khổ, bất hạnh, buồn vui... từ nay sẽ lịm tắt. Ghế ngồi và bàn phím đã vắng hơi nàng. Ông chủ nói như mê ngủ :
- Giá như bây giờ tui được nghe tiếng đờn nhỉ?
Xót lòng quá! Tôi lặng lẽ ngồi vào ghế, đúng cái chỗ nàng Ánh Trăng Xanh của tôi hay ngồi. Tôi lướt ngón tay trên hàng phím trắng. Bản nhạc Sonata Moonlight vang lên. Khúc mơ tưởng dào dạt tuôn chảy. Thật lạ kỳ! Không còn thấy tiếng heo rống. Chẳng có tiếng chày lim đập. Còn gương mặt ông chủ lò mổ heo thì hiện lên rạng rỡ. Vợ bỏ đi mà lại vui kìa. Trời đất ơi! Gương mặt ông không còn u ám, tối tăm nữa, mà sáng sủa, tươi tắn như cái lẽ thường tình phải thế.
Bất chợt, tôi nhòm thấy một ánh trăng xanh biếc trong lò mổ heo.

0
Đêm mùa hạ tuyết rơi
 
Tôi thường có thói quen mua sách cũ.
Sách cũ ở quầy có người mua và có cả người bán. Mua cân thì bán cân, bán quyển thì mua quyển. Ố vàng. Mối xông. Mọt đục. Giấy xấu in lem nhem từ thời bao cấp. Đứt chỉ, bong gáy. Trang nọ tuột khỏi trang kia như sồi ruột vãi gan... Sách mới đóng xén ra khỏi nhà in vừa cấp phát cho cơ quan chưa kịp đọc cho đến quyển bìa cứng, giấy mỏng dai láng bóng mới nguyên tặng nhau được vài tuần cũng góp mặt ở đây và lập tức biến thành sách cũ.
Tôi từng bắt gặp tiểu thuyết của nhà văn A, trường ca của nhà thơ H, tập truyện ngắn của nhà văn N, tập khảo luận văn chương của nhà phê bình Y... lăn lóc, rập rạ trên vỉa hè. Chúng lẫn lộn với sách cũ quyển còn màu hồ, quyển mất bìa thiếu trang, rây mực lem nhem, như: Kỹ thuật nuôi lợn nái, Chữa bệnh đường tiết niệu, Tuổi dậy thì cần biết, Sinh con trai gái theo ý muốn, Điều trị ghẻ, hắc lào... Đương nhiên, các tuyệt phẩm văn chương kia đều có kèm theo là lời đề tặng nắn nót và chữ ký như rồng bay phượng múa của các tác giả lừng danh. “Yêu quý tặng Z. đứa con tinh thần của mình để nhớ những ngày ở chiến trường” hoặc “Kính tặng nhà văn T với lòng biết ơn vô bờ người thầy văn chương” hay “Yêu thương tặng em N.N để nhớ mãi ngày bên nhau”.
Tất cả sách, tất cả lời kính trọng, thương yêu,... đều ra vỉa hè, đều thành sách cũ. Sách cũ - kho tàng tri thức, tâm hồn, nhân văn quý báu bị người đời hắt hủi, thờ ơ, ghẻ lạnh... đang bị bán bằng cân.
Cuộc đời này rất lạ, rất trớ trêu, “cũ người mới ta” miết hóa ra chuyện thường nhật. Có thứ thiên hạ dửng dưng vứt ra đường thì mình lại quý giá chằm bặp y như báu vật của đời, trân trọng bỏ tiền mua và rước về nhà.
Tôi biết nàng qua sách báo. Nàng là một nhà văn trẻ đang lên. Trước lúc gặp tôi, nàng đã trải qua vài chục cuộc tình. Cuộc chóng vánh. Cuộc dài lâu. Cuộc na ná tình yêu, tình yêu thành tình dục. Cuộc đích thực, tình dục thành tình yêu. Tôi là đạo diễn điện ảnh cực kỳ đam mê sách. Nàng hỏi tôi bên sạp sách báo cũ :
- Nếu bây giờ buộc phải đánh đổi; anh chọn em hay là sách?
Tôi bảo :
- Em là người viết văn. Sách là em, em cũng là sách.
- Anh khôn thật!
- Không đúng à? Sách mà tặng sai chỗ thì cũng giống như tình yêu trao nhầm người.
Nàng trầm tư oán trách :
- Có phải vì vậy mà anh chưa làm bộ phim nào tặng em? Em là người khó hiểu và chẳng đáng tin phải không?
Tôi lặng im. Quả thật, nàng vẫn là thế giới vợi vời, lạ xa. Tôi hiểu những quyển sách cũ của tôi hơn là hiểu biết nàng.
* * * * *
Tôi đưa nàng lên sân thượng building 170 tầng bên sông Hồng gió lộng.
Đêm tuyết rơi. Mùa hạ, ở Hà Nội lại có tuyết rơi? Thật kỳ lạ! Tất cả các bàn đều trống trơn khách. Sinh tố, nước cam nguyên chất ưng cốc, đều bỏ dở chưa uống hết và vô tình hứng các cánh tuyết rơi. Thậm chí vài phin café còn đang tí tách nhỏ từng giọt nâu sẫm. Tám giờ tối mà vắng tanh. Cứ như thiên hạ biết tôi và nàng lên đây đùa giỡn với tuyết rơi và những chòm sao nên lặng lẽ rút đi trước.
Tôi mặc cái áo thổ dân da đỏ miền Tây hoang dã nước Mỹ có in hình con dao quăng ở lưng, nàng tặng từ hôm về nước. Khi ấy, nàng bảo :
- Nước Việt Nam chỉ duy nhất cái áo này và chỉ anh mặc mới xứng.
Nàng vận đầm dài màu đỏ điểm những giọt nắng tròn trắng, tay để trần nuột nà. Mềm mại các ngón búp măng móng hồng đan vào ngón tay tôi cứng cáp, quằn quại vân hoa như những đường kỷ hà. Mây bay. Gió thổi. Và ánh điện màu mờ ảo. Trên đầu, lung linh những vì tinh tú diễm lệ tựa hồ vô vàn hạt châu sa. Bầu trời biến thành giàn nho mênh mang rợn ngợp. Mỗi quả nho xanh tím hồng là một vì tinh tú. Mỗi chùm nho tím là một chòm sao sa. Đây chùm sao Bạch Dương. Kia chòm sao Hổ Cáp. Và kia nữa chòm sao Cự Giải, Thiên Bình...
Gió thổi mạnh dán vải vào đường cong, gò cao tươi mởn. Gió tốc tác lật váy dài. Gió đùa giỡn, quấn quýt. Gió mơn man gò ngực trần, vai trần ngọc ngà chưa bao giờ lẫn vào bóng đêm của nàng. Gió thông thốc thổi gợi tình. Những cánh hoa tuyết rơi xiên xiên. Nàng nép vào ngực tôi. Tôi vòng tay cuồn cuộn cơ bắp ôm khít eo nàng mềm mại và mát rượi. Một tâm hồn bé tí, rách nát chẳng làm nên tình yêu lớn mênh mông hoàn hảo. Đôi môi gợi cảm của tâm hồn lớn không chỉ nhuốm màu bản năng tình dục mà chứa đựng cả tình yêu.
Sau này tôi mới nhớ thư nàng viết:
Những gì anh có là những gì mà em đang tìm kiếm. Và trong tình yêu này, mọi thứ đúng như em đã hình dung về một tình yêu đích thực, thậm chí vượt quá cả những gì em hình dung.
Nàng bảo:
Buổi tối hôm nay rất kỳ lạ, em có cảm giác êm đềm hơn, dịu ngọt hơn, điên cuồng hơn, và yêu anh nhiều hơn nữa. Thật đấy.
Nàng bảo:
Hãy cho em ở bên cạnh anh lúc vui cũng như lúc buồn.
Chúng tôi hôn nhau bao nhiêu lần, bao nhiêu lâu? Chịu, không nhớ! Chỉ biết, khi tôi bất chợt rời khỏi cảm giác mơ hồ quyến rũ thì trời đã vào khuya. Hoa tuyết rơi đậu trắng đầu tóc, vai áo tôi và nàng. Thời gian trôi nhanh khủng khiếp. Bên nàng lúc nào tôi cũng thấy ngắn ngủi và thiếu thì giờ. Hai mắt lim dim, khép hờ, nàng như nũng nịu làm duyên. Tôi bảo :
- Em nè. Em nhìn sao trời nè. Thích không?
Hai môi nàng ướt hồng vẫn đợi một nụ hôn. Nàng không chờ nghe câu hỏi đó. Ôi trời thật đáng yêu.
- Em... - Tôi lay vai nàng. Tôi kéo nàng về thực tại. Tôi giúp nàng thoát khỏi bến mê - Em nhìn kìa. Những vì tinh tú tuyệt vời không?
Mắt nàng vẫn lim dim. Hơi thở khẽ đều đều trong đêm. Bầu trời không còn cao vời vợi mà sà thấp xuống như giàn nho. Chỉ cần hơi kiễng chân là với được các vì tinh tú lung linh sáng.
- Anh sẽ hái sao trời cho em.
- ...
- Em chọn chùm sao nào?
- ...
- Cự Giải? Bạch Dương?
- ...
- Hay Thiên Bình trong đêm tuyết rơi này, hả em?
- Mùa hạ có tuyết rơi hả anh? - Nàng mơ màng - Em... em lại muốn đi thuyền đêm trên vịnh Bái Tử Long cơ...
Giọng nàng thì thầm, đắm say. Tôi thầm mỉm cười sung sướng.
- Là anh hỏi: Em muốn hái vì sao nào?
- Không!... Em muốn nhìn sao sa xuống biển Bái Tử Long. - Nàng vẫn nhắm nghiền mắt, thì thầm giọng chỉ đủ xao xuyến - Anh nè! Anh còn nhớ...
- Nhớ?
- Đêm ấy... cái đêm chúng mình trên thuyền thúng câu cá mực trôi lênh đênh giữa vô vàn vì sao rắc xuống biển mặn...
Biển nào? Tôi bắt đầu nghi ngờ.
- Cái đêm chúng mình tắm trăng vàng ngời ngợi...
Ôi trời! Tôi có đang mơ hay không đây? Không hề có một đêm cùng nàng như thế. Nàng vẫn cứ gục đầu vào ngực cổ tôi thì thầm kể. Trước mắt tôi là màn hình tua lại những hình ảnh lộng lẫy: Trăng biển. Sao băng. Gió mặn mòi. Con thuyền thúng câu mực. Tôi và nàng ôm nhau. Cặp vú căng mẩy nóng hổi xốn xang vầng ngực trần vâm váp của tôi. Trăng bạc tưới trên da thịt chúng tôi. Trần tục giữa biển khơi. Những vết răng rớm máu trên ngực nàng. Nàng rất hạnh phúc. Nàng bảo tôi là hiệp sĩ trên thảo nguyên...
Hỡi trời cao đất giầy! Tôi thực sự hoang mang. Mắt nổ hoa cà hoa cải. Tôi không hề có một đêm như thế. Và hiệp sỹ? Hiệp sỹ trên thảo nguyên là cái thằng mả mẹ nào? Tôi muốn cầm kiếm ra đấu trường cùng hắn. Tôi muốn quát vào tai nàng với biên độ 5.000 đề xi ben cho nàng rách toác màng nhĩ. Tôi muốn ôm nàng từ sân thượng tòa nhà cao 170 tầng nhảy xuống đất. Xuống đất, váy nàng sẽ tốc lên. Hai chân dài dạng ra thẳng thớm, đẹp như chân người mẫu. Không! Chân nàng ngắn tũn khuỳnh ra hình chữ bát. Cái xi líp màu đỏ lộ rõ. Cặp đùi phơi trần. Vai ngực hở tận chân vú. Nàng sẽ hóa đá và biến thành tượng đài, tượng đài của lòng phản trắc...
Có rất nhiều người, hầu hết là đàn ông đến tượng đài tưởng niệm. Họ xót xa cái đẹp bị đày ải phơi nắng mưa và bụi bặm hơn là lòng thương cảm. Họ kính cẩn đặt bộ đồ underwear đỏ thay vì mang hương trầm hoặc hoa tươi. Tượng đá nàng vẫn trơ trơ vô cảm, mặc gió mưa, rêu mốc và mặt trăng, mặt trời lướt qua mỗi ngày. Tôi hình dung ra, mỗi buổi sớm mai, mấy chị nạ dòng lao công ở công viên lại nhặt nhạnh thu gom đồ lót chất đầy thùng mấy xe chở rác. Chẳng biết họ chở những đồ lót nhức mắt, loằng ngoằng ấy đi đâu. Còn tôi, tôi tách khỏi dòng người đông như kiến cỏ mệt mỏi trôi mải miết trên đường phố. Tôi lặng lẽ đứng bên nàng. Trầm tư. Nghĩ ngợi. Dứt khoát sẽ làm một phim về sự bạc tình... Tượng đá rùng mình, đổ mồ hôi. Hai mắt đẫm lệ. Chẳng biết tượng đá ứa nước mắt, hay là sương đêm?...
Sau này tôi mới nhớ thư nàng viết:
Em càng hiểu rằng định mệnh đã mang anh đến cho em thì định mệnh cũng sẽ làm điều ngược lại nếu em không biết giữ gìn nó.
Nàng bảo:
Em thực sự cần có anh. Không ai yêu em như cách mà anh yêu em cả.
Nàng bảo:
Em yêu anh, với một tình yêu an lành, thanh thản, da diết và sự đam mê điên cuồng. Bên anh, em luôn cảm thấy yên bình. Anh không hiểu được đâu, cái cảm giác yên bình là sự em chưa bao giờ có được. Mãi mãi ở bên anh.
Còn nghi ngờ gì nữa tình yêu của nàng. Vậy mà, mặt nàng đang xịu xuống, nặng trịch. Mắt nàng long lanh nước. Chuyện gì đã xảy ra trong buổi tối đẹp trời đầy trăng sao và tuyết rơi này? Tôi hoang mang :
- Anh xin em! Anh đã làm gì nên tội?
- Anh vừa kể, anh ôm em nhảy xuống đất và em biến thành tượng đá. Còn anh thì vẫn sống... Cái giọng anh rất nghiệt, chì chiết và độc...
- Ơ... Anh đã lảm nhảm chuyện gì nhỉ? Hay là mơ?!
- Anh tỉnh hơn sáo. Anh đã xúc phạm em khủng khiếp...
Mặt tôi nghệt ra, chắc chắn là như vậy. Không thể là mơ màng. Bởi tôi bẹo vào hông mình vẫn thấy đau. Tôi vẫn cảm nhận được dưới kia là sông Hồng quặn mình chảy xa xa, thở than. Trên kia bầu trời vẫn chi chít hằng hà sao lấp lánh, tôi chưa kịp hái tặng nàng. Và... không hề có tuyết rơi. Thế này thì chết tôi rồi! Tôi đã xúc phạm nàng? Tôi đã...
Nhưng, nàng cũng làm tôi tổn thương, tan nát cõi lòng. Tôi mơ tuyết rơi thì nàng mơ khỏa thân cùng thằng cha trời đánh nào đó ở vịnh Bái Tử Long. Nàng đã trao và dâng hiến. Cái thằng cha giấu mặt ấy có xứng với chân giá trị và tình yêu của nàng không?
- Em yêu, thế còn câu chuyện dưới thuyền thúng, em đã lấy ánh trăng làm áo quần?
- Chẳng có câu chuyện nào cả. Đó là kịch bản hư cấu và anh là đạo diễn tồi, anh tưởng tượng ra tuyết rơi. Vậy mà anh định ném em xuống đất, còn rủa em thành tượng đá...
- Còn em thì lẩm bẩm tên thằng cha căng chú kiết nào đó trong cơn mê. Mỗi lần gọi tên hắn là một nhát dao chọc ngực anh.
- Lại có cả chuyện ấy nữa? - Nàng ngạc nhiên, ngước mắt nhìn tôi, nghi ngờ - Thật không?
- Ừ. Rất thật. Anh không nói điêu.
- Chả lẽ... Chả lẽ... - Nàng ngồi phịch xuống xích đu. Hai dây xích rung lên bần bật. Gió trời lại tốc tác lật váy lộ hai đùi non. Nàng nghệt mặt ra, như người có lỗi bị bắt quả tang.
* * * * *
Buổi tối hái sao trời bỏ dở dang. Tôi dìu nàng rời sân thượng tòa nhà cao hơn nửa cây số vào thang máy. Chúng tôi vẫn không thể xa nhau, tiếp tục hôn bảy lần thì thang máy dừng lại ở tầng thứ 100.
Chúng tôi đan ngón tay vào nhau.
Chúng tôi làm tình trong phòng trên nền nhạc guitar mướt rượt của Carlos Santana.
Ở tầng thứ 100 gió sông Hồng lại thổi, thứ gió nồng nàn mùi phù sa non và ngô sữa đang kỳ đọng hạt. Lá vàng Levitan bời bời óng ả trong bức tranh Mùa thu vàng treo trên tường. Mùa thu trong tranh tràn xuống căn phòng rộng làm chúng tôi bồi hồi chìm ngập vào không gian đất trời giao mùa thu đông chứ không phải mùa hạ. Chẳng có mùi lá cây ải mục, chỉ có hương đất mới xông lên và mùi lá vàng ứa nhựa hăng nồng nàn nuối tiếc dùng dằng chưa muốn lìa cành. Cái mùi rất giống mùi đàn ông hòa lẫn mùi mồ hôi, lẫn mùi trống mái.
Tôi không còn bắt gặp năm hình con bò cạp nhỏ xíu đen nhánh bí ẩn trên da thịt nàng nữa. Hai con âm thầm mai phục ở hai má đùi non. Một con kiêu hãnh phởn phơ như thể vừa hút no nê sữa non ở nhũ hoa; rồi đang nằm kềnh ra ở khe ngực một cách đầy thỏa mãn. Một con bền bỉ, mải miết bò trên bụng. Một con khiêm tốn nằm bẹp ở mông trái. Dữ dội. Cuồng nhiệt. Và dịu êm. Chúng kích thích sự tò mò, đào sâu bản năng, dẫn dụ ham muốn. Chúng bắt người tình phải chú ý, nghĩ ngợi. Chúng gợi đến sự kỳ bí của cái đẹp. Nhưng, bây giờ chúng bò đi đâu rồi? Nàng cười tinh nghịch, bảo :
- Ngốc ạ! Ảnh bò cạp dán chứ không phải hình xăm. Chúng chỉ tồn tại trên người em khoảng một tuần. Em sẽ dán hình trăn rắn, hoặc sư tử, hoặc bộ mặt râu ria trùm khủng bố Bin La Đen, nếu anh muốn.
Ôi trời! Dại khờ biết bao, tôi lơ ngơ như bò đội nón. Nước trong lành mềm mại qua các lần nàng tắm đã dội cuốn trôi những con bò cạp đi rồi. Hóa ra, nàng hiển hiện trong cuộc đời tôi chính ở cái sự hấp dẫn luôn luôn lạ lẫm, mới mẻ, trẻ tươi và bí ẩn. Chưa biết chừng, một lúc nào đó, ảnh của tôi sẽ âm thầm ngự ở đùi non của nàng.
Ngày chưa yêu.
Lúc nào nhìn thấy nàng, tôi cũng có cảm giác đang đứng trước một con gà mái hoa mơ tươi tắn, rực sỡ. Lũ đàn ông tội lỗi như đàn gà trống vè vè, đạp chân, đập cánh, gáy ầm ĩ vây chung quanh nàng. Có gã như con gà trống cồ, từ xa cong đuôi dài, mỏ nhọn cứng mổ vân vê đảo đi đảo lại viên sỏi và kêu “thóc thật... thóc thật”, dụ dỗ con mái hoa mơ dẫn xác đến. Tôi không phải là con gà trống. Tôi như con sư tử bờm dài lặng lẽ, kiêu hãnh, có một chút ngạo nghễ thầm cười cợt khinh thường những con gà trống mào lông trộn màu loe loét, bắng nhắng.
Còn bây giờ, chúng tôi trôi vào miền cực lạc. Nuột nà. Căng mẩy. Và nóng hổi. Tôi kéo váy nàng lên. Tôi úp mặt, chằm bặp vào má đùi non mịn màng của nàng. Tôi cảm thấy các mao mạch li ti đang chuyển động cùng trái tim nàng run rẩy đập. Chẳng có kiêu hãnh và cũng không có mặc cảm, tự ti; chỉ có tình yêu đầy ắp căn phòng lá vàng rơi tao tác. Có cả da diết và rưng rưng. Dịu dàng rồi sâu lắng. Và chập chờn bến mê, tôi lại thấy hoa tuyết bay bay ngoài ô cửa kính.
* * * * *
Bỗng nhiên chợt nhớ ra điều gì đó, dừng yêu, nàng bước đến xoay ngược bức tranh Người đàn bà xa lạ úp vào tường. Vải bố, khung gỗ mộc trần sì và màu vẽ lem luốc ở mặt trái bức tranh lộ ra trơ khấc. Nàng bảo :
- Một Mùa thu vàng là quá đủ rồi. Em không chịu được ánh mắt nhìn bí ẩn của Người đàn bà xa lạ trong bức tranh này. Cứ như có một con đàn bà nào đó đang chen vào giữa chúng ta. Mất tự nhiên.
Nhạy cảm và tinh tế. Yêu quá đi thôi. Tôi gục đầu vào ngực nàng như trẻ nhỏ tìm vú mẹ. Nàng âu yếm, suông những ngón tay búp măng vào mái tóc rối bù của tôi.
- Tiểu thuyết Đêm mùa hạ tuyết rơi ra rồi, anh ạ. Buổi chiều hôm qua chờ ở nhà in sốt ruột toát cả mồ hôi mới lấy được ba quyển biếu tác giả. Mừng vui và bồn chồn nhớ ngay đến anh, chỉ muốn gặp để tặng cuốn đầu tiên.
Có niềm hạnh phúc nào hơn thế? Lúc buồn, người đầu tiên nàng muốn nhìn thấy đôi mắt hoang vắng cô độc... là tôi. Lúc vui, kẻ đầu tiên nàng muốn chia sớt cảm xúc hưng phấn cũng là tôi. Niềm nhớ nhung. Nỗi khổ sở, dày vò. Giọt nước mắt. Bộ underwear mới mua. Kết luận của bác sĩ về cái u lành như trái nho ở vú trái... Tất cả mọi điều mọi thứ trên đời nàng đều muốn tôi là người đầu tiên biết, người thứ nhất được chia sẻ, người duy nhất cảm nhận; hoặc chỉ đơn giản tôi chứ không là ai khác ngắm nhìn... Tôi hôn nàng thật sâu, rồi bảo :
- Anh thật hạnh phúc vì có em.
Nàng lấy tập tiểu thuyết mới in ra khoe. Hương thơm da thịt nàng phảng phất át cả mùi mực mới in. Khi ở bên nàng thì sự nghiệp, chức vụ, tiền bạc chất thành núi và ngay cả Giải thưởng điện ảnh Oscar danh giá của Hoa Kỳ là niềm khát khao cháy bỏng treo trước mắt cũng chỉ là con số không tròn trĩnh vô hồn đối với tôi. Nàng là số một, là duy nhất, là bầu trời mặt đất của tôi.
Phải dùng lý trí để buộc mình tỉnh táo, tôi cảm nhận: Mùi mực in mới. Giấy mới. Tập tiểu thuyết này lẽ ra tôi đã được nhận từ ngay cái buổi chiều nàng bồn chồn, da diết nhớ ấy. Cũng chẳng sao, tập sách ở bên nàng càng lâu càng được ướp mùi hương da thịt nàng.
Tôi khen cái bìa đẹp, sang trọng. Con mắt người họa sĩ này đáng đặt bên ngòi bút người sáng tác. Nàng lưỡng lự, cái sự lưỡng lự trong sự nôn nao rối bời của người đang yêu.
- Nhưng mà, em... đề tặng anh thế nào được nhỉ?
Tôi bảo :
- Tùy cưng.
Nàng nghĩ ngợi, đôi mắt lấp lánh sáng reo vui như loài người vừa tìm ra lửa :
- Em sẽ ký tặng anh bằng dấu son.
- Dấu son?... Thôi, tùy em.
Khác đời quá đi mất! Nàng thường sống và yêu dị biệt chẳng giống ai. Đắm say sống. Cuồng nhiệt yêu. Sống và yêu như lửa cháy ngùn ngụt thiêu đốt trụi cả cánh rừng nhiệt đới. Sống và yêu cần thiết như ánh sáng, thiếu nó thì tăm tối đần độn; như không khí, thiếu nó thì ngạt thở, đông cứng.
Tôi hình dung nàng đã chúm chím môi in một hình trái tim đỏ hồng lên trang đầu nơi các tác giả thường ký tặng. Son môi không bị in phẳng bẹt trên giấy trắng mịn mà bóng nổi hình khối trái tim hồng, có những đường xẻ mảnh gợi cảm thân thuộc gần gũi. Bao nhiêu dấu son như thế này đã từng in ở mắt, má, cổ, ngực, đùi tôi...? Không nhớ. Tôi tưởng tượng nàng đóng dấu son môi vào tập sách, và nàng cũng đóng luôn dấu son vào trái tim tôi đang run rẩy...
- Em sẽ in cuốn bút ký chân dung văn nghệ sỹ, mà anh là nhân vật đầu tiên.
Tôi vẫn không thôi ngắm nghía Đêm mùa hạ tuyết rơi của nàng. Lật từng trang, soi từng chữ cứ như là báu vật của mình. Tôi đã nghĩ đến việc chuyển thể Đêm mùa hạ tuyết rơi sang phim, nó sẽ là quả bom tấn ném vào nền điện ảnh nước nhà đang èo uột, đang như cái ao tù đọng, tẻ nhạt.
- Ơ kìa. Em nói anh không nghe à?
- Ờ... ờ... Anh nghe... anh nghe.
- Này nhé, bút ký chân dung sẽ in hai vạn cuốn khổ 14×20,5, dầy 200 trang, giá tiền mỗi cuốn 27 ngàn đồng. Nhuận bút 10 phần trăm sẽ là 54 triệu đồng, anh ạ. 54 triệu sẽ mua được 100 bộ đồ lót giống như bộ underwear màu lửa anh tặng em...
Nàng không nhận ra tôi cau mày và nặng mặt. Tôi đang thẫn thờ trôi cùng sao trời đêm tuyết rơi mùa hạ với đôi môi hình trái tim thay câu đề tặng, thì nàng lại đồ lót, sách dầy mỏng, giá tiền đắt rẻ, với... nhuận bút. Văn chương và đồ lót. Giời ạ! Tình yêu trữ tình lãng mạn bị gói kín cầm tù trong cái quần lót màu lửa. Tôi hoang hoải. Chỉ muốn chui trốn vào giữa cuốn tiểu thuyết của nàng. Nhưng một đêm bên nhau thật quý báu, hiếm hoi. Tôi không muốn thân xác và tình cảm biến thành cây nước đá tan chảy giữa trưa hè sa mạc Sahara châu Phi. Tôi gạt mọi bẽ bàng và tất cả những ý nghĩ tồi tệ về nàng. Tôi tìm lại cảm giác hồi hộp, nhớ những đoạn thư của nàng.
Nàng viết:
Có thể chỉ nắm lấy bàn tay của anh cũng là đủ, nhưng có thể suốt cả cuộc đời này cũng là chưa đủ.
Nàng viết:
Em nghĩ đến anh lúc đang đi trên đường, lúc năm giờ sáng chạy vòng quanh hồ Hoàn Kiếm, lúc lên cầu thang gỗ đã ngả màu thời gian trong ngôi biệt thự kiến trúc Pháp, lúc ăn trưa ăn tối, lúc viết cứ một lúc phải dừng lại, lúc nói chuyện với người khác nữa, luôn không tập trung được, không hiểu người ta nói gì. Và tất nhiên, trước khi đi ngủ, khi vừa tỉnh giấc buổi sáng hay giật mình thức giấc giữa đêm cũng nhớ anh.
Còn nghi ngờ gì nữa, đích thực là tình yêu.
Có lẽ tôi phải viết kịch bản phim nhựa và tự làm đạo diễn cũng không đủ ngợi ca tình yêu của nàng. Sách khổ to khổ bé, 54 triệu đồng nhuận bút, bộ đồ lót màu lửa và chuyện cơm áo gạo tiền đời thường trần tục bay biến mất. Trước mắt tôi, chỉ còn là đôi tay trần nuột nà, gương mặt nàng khả ái với đôi môi hồng gợi dục. Trong đầu tôi, chỉ còn lại một nửa cuộc đời mình yêu dấu, tôi sẽ cắp đi theo khắp chân trời góc biển. Trong trái tim nhân hậu của tôi, chỉ một tình yêu xao xuyến da diết bù đắp, tựa đỡ, san sẻ và dâng hiến tận cùng. Tôi quấn vào nàng, nàng bện chặt vào tôi.
Chuông điện thoại reo. Nàng ngừng yêu vồ lấy máy.
- Em vừa tỉnh dậy.
“Nàng đang lựa lời tránh cuộc tra vấn giữa đêm khuya khoắt”. Tôi thầm nghĩ. Lòng kiêu hãnh nổi lên khiến tôi kiên quyết không thèm nghe tiếng đàn ông èo ẽo thô lậu trong máy điện thoại vọng đến. Sao nàng lại có chơi được với gã đàn ông èo uột ái nam ái nữ thế nhỉ?
- Thế ạ? Vậy mà em không biết là vừa có động đất khủng khiếp.
Hóa ra, chúng tôi làm tình mải miết, cuồng điên... không hề biết cửa kính rung cầm cập. Và dưới đường, người Hà Nội đang hoảng loạn túa ra từ các tòa nhà bê tông lạnh lùng, nháo nhác sợ hãi lo lắng vì quả đất vừa rùng mình hắt hơi sổ mũi ở đâu đó.
- Em bình an. Anh đừng lo.
- ...
- Vâng! Tiểu thuyết ra chiều qua, in đẹp, anh ạ.
- ...
- Ở hiệu sách cũng bán đấy.
- ...
- Chỉ còn mỗi một quyển. Nhưng, là quyển đầu tiên đã định...
- ...
- Thì em bận rộn cho sách ra, còn tâm trạng nào mà nhớ cuộc hẹn hò của anh nữa...
- ...
- Chỗ đang ở rất đẹp, ấm áp. Sao anh lại từ bỏ, chuyển đi dễ dàng thế?
Tôi bắt gặp nỗi buồn nuối tiếc tê tái trên gương mặt nàng. Cái ánh mắt hốt hoảng ấy mách bảo tôi rằng: Nàng đã đến chốn ấy rất nhiều lần. Và sắp phải xa một nơi thật thân thuộc đầy kỷ niệm, mà nàng không hề muốn.
- Vâng... vâng ạ! - Nàng bỏ máy. Không nghĩ ngợi - Đồng chí ấy là người yêu cũ... muốn em tặng sách...
Ôi trời! Có một cục nghẹn cồn lên giữa cuống họng tôi. Không! Nó là trái cấm nàng Eva tặng Ađam - người đàn ông đầu tiên trên trái đất nuốt không trôi.
* * * * *
Tôi không biết lúc rời căn phòng ở tầng thứ 100 khoảng thời gian nào. Chỉ loáng thoáng nhớ trước lúc ra khỏi cửa, nàng bảo :
- Đêm mùa hạ tuyết rơi của em, anh đọc hết rồi nhỉ.
- Thì em bảo: anh là đạo diễn, đọc giúp em xem những đoạn thoại có ổn không mà.
- Thôi, anh đọc quyển này, hay lắm.
Nàng lôi quyển tạp văn Chuyện kể lúc 0 giờ mới mua đưa cho tôi. Nó là tập sách gom lại các câu chuyện bạn đọc chia sẻ với Đài Tiếng nói trong đêm không ngủ về đủ sự nhân tình thế thái. Nàng hớn hở kể :
- Trong này có câu chuyện rất hay, và cười ra nước mắt, anh ạ. Một anh chàng mua tặng cô người yêu mới bộ quần lót nhân ngày sinh nhật; mua cái váy rộng xòe tặng cô người yêu cũ đang mang bầu. Chẳng hiểu sao, chàng tặng nhầm quà người nọ cho người kia. Nàng người yêu mới nhìn cái váy màu nâu đen rộng như cái nơm đại, buồn rầu ngay trong đêm sinh nhật, bảo: “Em đã nói size đồ lót cho anh rồi. Cứ tưởng tượng nó rất đẹp. Chắc chắn sẽ vừa vặn, ôm khít thân thể em đến không thể tin được. Vậy mà...”. Chàng trai bối rối, chẳng biết xử lý tình huống đã trót xảy ra, đành viết thư chia sẻ với nhà đài. - Nàng hỏi tôi - Anh yêu! Là anh, anh sẽ khuyên chàng trai lơ đãng và ngốc nghếch ấy thế nào?
Hình như lúc ấy tôi không trả lời. Hình như lúc ấy tôi thấy nàng cầm lại tiểu thuyết Đêm mùa hạ tuyết rơi bỏ vào túi xách. Hình như nàng hôn tôi nồng nàn. Hình như nàng rời căn phòng có bức tranh Mùa thu vàng ở tầng thứ 100 trước tôi. Hình như lúc đó tôi nghi ngờ trí nhớ của mình. Không thể như thế. Nàng đã tặng Đêm mùa hạ tuyết rơi cho tôi. Hình như tôi giật mình mở cặp, lật tung gối ga, chui xuống gầm giường tìm Đêm mùa hạ tuyết rơi. Hình như tôi lật lại bức họa Người đàn bà xa lạ, rồi ngẩn ngơ buồn lặng ngắm nhìn nàng đội mũ lông trên tường mà chẳng hiểu nổi cái nhìn bí ẩn ấy. Chả lẽ tôi mơ? Không thể như thế được. Vậy là tôi chưa gặp nàng? Chưa có chuyện hái sao trời? Chưa có tuyết rơi? Chưa làm tình bên Mùa thu vàng Levitan? Và chưa có chuyện nàng tặng sách cho tôi? Vậy thì sao tôi ở bên Người đàn bà xa lạ?
Cục nghẹn gồ lên tắc giữa cổ họng tôi. Ôi tổ tiên Eva ơi, sao người không nuốt trọn trái cấm ngày xưa ấy. Nuốt trôi vào dạ dày là tiêu hóa hết. Cục nghẹn là tình yêu. Vườn địa đàng đã biến thành vườn tình yêu cũng bởi sự nuốt dở dang. Tôi nhận ra cổ đàn bà đẹp hơn cổ đàn ông, cái đẹp phẳng phiu giản đơn, không u cục, chồi mấu. Chỉ có đàn ông mới có cái cục đau khổ và hạnh phúc này. Tôi đồ rằng: Con người bắt đầu biết yêu từ đàn ông, và tội lỗi cũng bắt đầu từ tình yêu. Tôi liên tưởng đến đám đàn ông giống tựa lũ gà trống mào lông diêm dúa sặc sỡ. Nhưng, nguyên nhân sâu xa mọi tội lỗi lại bắt đầu từ đàn bà.
* * * * *
Hơn một tuần sau.
Nỗi buồn xa vắng dâng đầy đã dịu đi. Cục nghẹn bớt chồi lên. Nhưng, kịch bản thiên tình sử tặng nàng vẫn chưa ra được cảnh đầu tiên. Tôi quay lại niềm say mê với sách cũ.
Hiệu sách cũ nhộn nhịp bán mua. Tôi chọn được tập 1 của bộ Đại từ điển bách khoa Larousse mối xông từ trang giấy lót xuyên qua ruột đến tận bìa bốn lỗ nhỏ như hạt đậu xanh mà giá chỉ bằng một bát phở. Mua được tập Thơ tình thế kỷ 20 dày 400 trang có cả lời đề tặng và chữ ký loằng ngoằng của một người nào đó tặng cho ai đó, mà chỉ ngang một que kem Bờ Hồ... Bất chợt, tôi bắt gặp tiểu thuyết Đêm mùa hạ tuyết rơi cùng vài quyển sách nữa của nàng trong đống sách cũ vừa đổ từ bao tải ra. Không thể tin được! Là dấu son môi của nàng!? Dấu son môi có những đường xẻ mảnh gợi cảm hình trái tim in ở trang đầu thay cho lời đề tặng và chữ ký. Tôi nhận ra dấu son quen thuộc, gần gũi đã từng in khắp nơi trên thân thể tôi. Tôi còn cảm nhận được cả mùi hương da thịt đàn bà quen thuộc vẫn còn vấn vương trong từng trang tiểu thuyết. Tôi dám chắc, nếu có kính hiển vi, sẽ nhận ra ngay vân hoa tay của mình đã từng in chi chít lên trang lót, trang trong và trang bìa Đêm mùa hạ tuyết rơi.
* * * * *
- Sách mới đẹp... Thật hoài phí.
Tôi buột miệng nói trong vô thức. Chị chủ sạp sách cũ mặt hớn hở, mua được của rẻ, bảo :
- Người ta dọn chuyển nhà, vừa thải một bao tải. Cái anh kia kìa.
Tôi nhìn theo tay người chủ sạp sách cũ. Chỉ thấy cái lưng áo thổ dân da đỏ in hình con dao quăng của thằng cha đang dắt xe máy xuống lòng đường. Chả lẽ nước Nam này còn chiếc áo thứ hai?
Bất giác tôi thở dài ngao ngán. Buồn hoang hoải. Đau thắt lòng. Và bẽ bàng...
- Đồ điên! Đồ tâm thần. Muốn chết à.
Tôi giật mình. Ô-tô vừa phanh cháy mặt đường, khói đen đang mù mịt. Quyển tiểu thuyết tuột khỏi tay tôi rơi xuống đường nhựa. Suýt chết. Xe máy và tôi đang trước mũi ô-tô tải trọng 24 tấn, chỉ cách 10 cm.
Sau tiếng quát là những lời rủa của người đi đường.
Mơ! Hay là tôi đang mơ nhỉ? Tôi đang sống trong một không gian ảo với những câu chuyện ảo? Gió tốc tác lật từng trang Đêm mùa hạ tuyết rơi.
Hoa mắt. Chập chờn. Tôi vẫn kịp nhận ra cái dấu son môi in ở trang đầu tiểu thuyết đỏ chói.
 
HẾT
0
Dị hương - Sương Nguyệt Minh
 
Đã mang vào thư viện
 
Chúc casau luôn vui
 
📎 Thank-you1




0