📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Bóng chiều - Thoại Văn 🔒

12 trả lời, 28 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2016 03:14:42 bởi casau>
Tập truyện ngắn Bóng chiều
Tác giả: Thoại Văn
 

 
Bóng chiều
 
Ở đây âm khí nặng nề
Bóng chiều đã ngả, dặm về còn xa
(Kiều)


 
Buổi sáng rất trong. Chùa lặng. Thầy trụ trì từ trai phòng đi lên.
- Mô Phật đệ tử đến đây có việc gì chăng?
- Bạch thầy con xin nương nhờ cửa Phật thời gian, nguyện công quả cúng đường Tam Bảo cho tâm hồn con tìm chút bình an.
- Mô Phật. Cửa chùa luôn rộng mở tịnh độ những trầm luân.
- Bạch thầy, đời con nhiều sóng gió quá, con cầu xin đức từ bi nhiệm mầu dìu ba đào về hướng khác. Nhiều khi muốn từ bỏ chôn trần gian này nhưng thọ thân con còn vướng nghiệp chưa trả hết.
- Mô Phật! Con có lòng hướng nguyện về bờ giác, ơn trên gia hộ cho con sớm thoát cõi vô minh.
Tôi bước vào chùa, để lòng lắng dịu. Hy vọng những đau thương dồn nén bây lâu theo kinh kệ mà hóa giải phần nào. Tôi quyết định ra đi trước đám cưới Thông. Quyết định như vậy vì không thể chịu đựng được nhiều hơn nữa. Thông khóc rất nhiều. Tôi nói: “Không được đâu em ơi, đời chị chắc phải thế. Đây là nghiệp quả mà, kiếp này chị phải trả. Em ở lại vui hạnh phúc”. Nhưng kinh kệ chưa được mấy hôm, tôi phải quay về. Chiều nay tôi trở lại miền đất đỏ bazan lòng nặng nhiều hơn lúc ra đi. Còn nhớ cách đây không lâu Phượng trong chiếc áo dài bẽn lẽn. Ánh mắt sóng sánh hạnh phúc chắp tay bên Thông khi tôi nói lời thưa gửi. Tôi làm chủ hôn trong lễ đính hôn này. Trầu cau đã được mua sắm nơi phiên chợ ồn ào, mồ hôi và bụi đỏ. Phiên chợ vùng biên xa ngái. Từ ngày sinh bé Bi, tôi cố quên mình, quên tất cả. Cay đắng và ngọt ngào. Tất cả dồn nén thành nước mắt. Nước mắt tê cóng, lạnh lẽo thê thiết len vào cõi đêm cao nguyên. Hy vọng sau đám cưới Thông mọi chuyện có thể đổi thay.
Tôi là con gái lớn, niềm kiêu hãnh của gia đình. Ngay năm đầu đỗ ba trường đại học. Ba bỏ quê lên phố đạp xích lô. Nắng mưa và bụi bặm. Ba sạm lại nhưng ước mơ cứ roi rói tươi lên. Ngày tôi mặc áo cử nhân, nhận bằng tốt nghiệp hạng ưu, thầy trưởng khoa và bạn bè tặng hoa chúc tụng. Bất chợt cuối hội trường, có ánh mắt ngọt ngào rưng rưng hạnh phúc. Ánh mắt của người đàn ông đen đủi, quần áo tuềnh toàng. Tôi òa khóc, lao về phía ấy. Người đàn ông kịp lách đám đông ra khỏi cổng trường, mọi người ngơ ngác nhìn theo. Thấp thoáng lưng áo trắng vệt mồ hôi mặn mãi lòng tôi đến bây giờ. Ở một góc phố nào đó, nơi quán cóc vỉa hè, vài ly rượu đế, mấy trái xoài già, chia sẻ cùng bè bạn, niềm vui tràn qua khóe mắt. Niềm vui vớt lên từ khổ ải, lóng lánh khát khao. Tôi chưa thấy núi Thái Sơn lấy gì sánh được? Tôi làm ở công ty nước ngoài. Ba bỏ phố về quê. Bỏ càn xe, cầm cày cầm cuốc, đọc sách và làm thơ. Tôi nhận lời cầu hôn. “Khi người ta đến xin dâu. Mẹ cười rất tươi mà bố thì rưng lệ. Lời thưa ngập ngừng nghẹn giữa câu. Bố chẳng buồn đâu, ai lại buồn trong một ngày như thế?. Bố chỉ thương con vất vả từ thuở bé...”, ba đọc thơ Nguyễn Hoàng Sơn trong tiệc cưới. Ba khóc. “Xe hoa đưa con đi, căn nhà đột nhiên trống trải...”. Đây là ngày tôi về nhà chồng. Chồng tôi, một sinh viên khá điển trai, hào phóng. Cách tư duy và quan niệm của anh, tôi thích. Dân toán yêu văn. Văn thơ giúp tâm hồn mềm lại trước xơ cứng cuộc đời. Ngày xưa ba hay nói vậy. Yêu và đang yêu trần gian toàn hoa hồng và mật ngọt. Nhưng cuộc đời thì khác. Cuộc đời không giống như ta nghĩ. Cuộc đời đã làm anh thất bại ngay từ bước khởi đầu. Sự thất bại đã đẩy anh về khởi điểm, về lại hoang sơ của tâm hồn. Sự trở về đầy bất trắc cho anh và cho tôi. Thời gian đã vênh tróc các mỹ từ. Một ngày anh nói :
- Bỏ việc, ngày mai em phải bỏ việc về quê.
- Bỏ việc? Rồi làm gì? Tôi hỏi. Tôi hỏi mà nghe cổ họng đắng chát, về đâu? Vùng đất đỏ xa ngái, quanh năm nắng gió và sương. Sương chiều, sương sáng. Sương dày đặc vây tỏa những cánh rừng. Tiếng trẻ khóc chênh chao lưng mẹ khập khiễng len theo dốc đỏ ráng chiều. Những dúm tóc hoe vàng. Tôi nghĩ đến những điều không dám nghĩ... Tôi không phủ nhận nhưng nghi ngại những gì anh nói. Cánh cửa ở lại thành phố trong anh đã khép. Có nghĩa là tôi phải từ giã nơi đây. Từ giã phố phường náo nhiệt. Từ giã thiên đường ánh sáng, từng lấp lánh trong tôi. Từ giã ước mơ của ba, của mẹ. Tôi rẽ sang ngã khác. Và từng đêm uống cạn ly rượu đời mình. Ly rượu đã hết hơi men còn đọng lại đáy lòng mùi đắng chát.
Ngày chuyển dạ, anh đưa tôi xuống Từ Dũ. Tôi yêu lắm. Không sinh được. Đành phải mổ. Lần đầu tiên trong cuộc đời tôi hiểu thế nào là đớn đau và hạnh phúc. Hạnh phúc nào cũng ngầm chứa đớn đau. Có thật vậy không? Những câu hỏi mơ hồ lẩn khuất chìm dần vào cơn mê. Tỉnh dậy, quanh tôi trơ trọi. Ba không, mẹ không. Giọt máu của tôi người ta cách ly đâu đó. Lẻ loi ngập tràn... Cố lắm mới mở được mắt, tôi cần thấy anh. Tôi cần anh bón cho tôi thìa nước, cần anh nắm lấy bàn tay hỏi han. Cần sự chia sẻ chính anh. Nhưng không. Tôi ngơ ngác, bơ vơ. Chưa bao giờ tôi thấy mình đau đớn hụt hẫng đến vậy. Con tôi nằm trong lồng kính. Người y tá nói anh đã bỏ đi. Tôi biết lúc này anh đang ở đâu. Lớp hào hoa rách toạc. Chuyến xe rẽ sang hướng khác. Tôi bàng hoàng đau đớn. Tôi cắn răng từng đêm chịu đựng. Giữa đất khách quê người, giữa núi rừng xa lạ, tôi chia sẻ với chính tôi. Tôi để lòng mình lạc vào những cơn gió cao nguyên. Vào những đêm mưa rừng ướt sũng. Những cơn gió thê thiết từng đêm xoáy vào sườn đồi, đá núi. Bóng dáng của cha, tình yêu của mẹ, hơi ấm gia đình, tôi khát thèm những nụ cười quen thuộc. Khát thèm những lời nói chân thật. Những lời nói khô hiền ấm nóng yêu thương. Như dự cảm được điều gì sau lần tôi về thăm, ba viết: Mai con về lại quê chồng, mẹ đâu có khóc mà lòng rưng rưng.
Tất cả hy vọng, tất cả ước mơ, tất cả những gì ba mẹ đặt vào tôi, cuộc đời đã giật phắt, quăng quật vào một xó xỉnh nào đó. Nhìn dáng vẻ gầy gò tiều tụy lần tôi về giữa khuya, ba buồn thăm thẳm. Chẳng hỏi gì, ba mải miết nhìn vào khoảng không. Tôi biết trong sâu thẳm lòng ba đang nấc lên từng tiếng. Và nỗi đau đang lớn dần trong ba. Có lẽ những cuốc xe trưa rước khách về ngoại thành hồi ấy không làm ba rã rời như lúc này đây. Tình yêu? Hạnh phúc? Những cám dỗ đời thường, những khát khao hy vọng chợt khói sương, mơ hồ lãng đãng. Lúc bùng lên, lúc lắng xuống, lúc vò xé nát tan. Tạo hóa bày ra trò chơi nghiệt ngã. Tạo hóa đặt con người trước những đam mê phỉnh dụ. Tôi dấn thân vào tình yêu như bước vào cõi mộng, không tính toán so đo. Với tôi, tình yêu là thiêng liêng, cao cả. Tình yêu rạng ngời ánh sáng. Thứ ánh sáng vĩnh cửu bùng cháy trong tim, trong một không gian tình người chân thật. Tôi đi về phía anh, trông chờ và đón nhận. Tất cả nhẹ nhàng. Tất cả dịu êm. Để một lần giữa khuya, ướt sũng say khướt tả tơi, anh mò về. Tôi đón lấy những xỉ vả đau đớn, những lời lẽ thô tục, tưởng chừng anh hốt lên từ đám bùn đen nào đó. Hôi tanh tởm lợm.
- Mày là cái đinh rỉ gì? Hả? Cái bằng đại học của mày đem mà vứt đi. Đ.m. mày là người hay là giống gì?...
Tổn thương. Tâm hồn tôi đã bị tổn thương. Vết thương ấy thành tỳ chứng đớn đau. Tôi không còn là tôi nữa... Nhiều khi thắt thỏm giữa khuya, tôi ôm con tháo chạy khỏi mùi rượu trộn lẫn mùi thức ăn đã lên men. Tiếng quát tháo, tiếng ly vỡ, bàn ghế ngã đổ. Bi mới dúm tuổi nhưng đã cảm nhận được sự chẳng lành “Mẹ ơi! Mẹ ơi!” Nó co rúm người lại, rồi nôn thốc tháo ngụm sữa vừa mới nuốt. Nước mắt, nước mưa hòa lẫn. Gió cao nguyên lạnh lùng táp vào da thịt. Lạnh lùng se thắt niềm đau. Sỏi đá dưới chân, núi rừng trước mặt. Bóng tối mênh mông đồng lõa với bao điều bất trắc. Liệu tôi có bước qua được nghịch cảnh này không? Bao nhiêu ước mơ thắp lên ở sân trường đại học lụi tắt trong bóng đêm giá lạnh này. Bi tím tái sợ hãi. Ký ức non nớt của một đứa trẻ, có lưu giữ lại hình ảnh này không? Cầu Trời Phật cho nó chóng quên. Nhưng nó là đứa bé thông minh, nhạy cảm. Sợ rằng ngày kia khi nhận ra điều bất hạnh này tâm hồn nó sẽ ra sao? Nghĩ đến đó lòng tôi thắt lại. Không biết kiếp trước tôi có nợ nần gì với anh không? Kiếp này tôi đang phải trả? Tôi xin được việc làm ở cơ quan kinh tế huyện. Lương chẳng là bao nhưng dẫu sao cũng còn chỗ cho tôi bám víu với cuộc đời. Còn chỗ để mỗi ngày nuôi dưỡng thêm hy vọng. Hy vọng rằng anh sẽ bình tâm. Sẽ tìm thấy giá trị đích thực cuộc sống ngay chính trong mỗi bình minh thức dậy. Rằng anh sẽ không chối bỏ những gì tôi dành cho anh. Nhưng không, những cơn say như ngựa hoang chở anh về thật gần với cánh đồng bản năng tội lỗi. Anh tung phá chệnh choạng giữa bóng tối và ánh sáng, giữa thiên đường và địa ngục. Giữa người và ma. Bàn tay anh không đủ sức níu kéo quá khứ và cũng không chạm nổi đến tương lai. Nhiều lúc bình tâm tôi nghĩ lại liệu mình có góp phần tạo nên ẩn ức cho anh? Tuyệt nhiên là không. Ngọn lửa nào đã thiêu rụi tâm hồn anh? Câu hỏi còn bỏ ngõ. Có điều chắc chắn trong cuộc tình này tôi đã trắng tay. Làm gì bây giờ? Tôi biết về đâu? Giá như...! Hạnh phúc lẩn ra ngoài tầm ước vọng. Anh không còn là anh nữa. Là hiện thân hãi hùng những đêm khuya. Tiếng kêu cửa, tiếng bước chân khệnh khạng, những lời lẽ tục tằn thô bỉ. Bao lâu đã dìm tôi vào những cơn ác mộng... Bỗng dưng tôi thấy mình thừa thải bên anh... Một “Đời thừa” thật sự đang hiện hữu. Mà anh đâu phải là “Hộ” tài hoa. Một “Hộ” luôn nuôi ước vọng lớn lao, muốn mang lại hạnh phúc cho người khác. Và sẵn sàng “Giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình”. Anh nát rượu như Chí “chửi trời và chửi đời”. Nhiều khi tôi thấy mình hoài phí cho một điều vô ích. Cứ nghe tiếng anh ngoài cổng là con bé lấy tay chùi nước mắt. Những giọt nước mắt trong vắt ấy lẽ ra là thứ vũ khí vòi vĩnh trong vòng tay âu yếm. Nhưng không, nó đã rơi xuống từ sợ hãi, rơi xuống bóp nghẹt trái tim tôi. Người ta nói mọi cái đều có giới hạn. Không biết chịu đựng của tôi đến giới hạn nào? Tôi cố nhai lấy nhạt nhẽo mỗi ngày. Nhạt nhẽo khốc liệt.
Ngày tôi đi hỏi vợ cho Thông, anh đang vùi đầu trong những cơn say. Những cơn say lú lẫn, say tiếp nối, say điên cuồng, say mê muội, say vật vờ, say cuộn tròn trong những cơn say. Thông, đứa em trai kế anh ít học nhưng tử tế. Hy vọng nó sẽ là người đàn ông bản lĩnh gánh vác công việc gia đình. Và sự thật nó đã gánh vác gia đình từ khi bố anh mất. Hy vọng Thông sẽ xốc lên, sẽ tạo dựng lại nền nếp gia phong. Và chỗ dựa cho con tôi sau này. Nhưng mà... Chiều nay ra khỏi chôn thiền môn bước về thế tục. Lẽ ra hoa đăng và nhạc sống. Những ly rượu tràn môi hạnh phúc. Những lời chúc tụng nói cười cho đôi uyên ương Thông- Phượng. Nhưng....
Lại mưa. Cao nguyên đang vào mùa mưa. Mưa chiều ào ạt, mạnh mẽ, tàn nhẫn và lạnh lùng. Tiếng nấc vỡ òa trong mưa. Con đường phía trước nhão nhoét bùn đỏ. Phượng lịm trong tiếng nấc. “Một tuần nữa thôi anh ơi!” Lời tiếc nuối. Một đau đớn tột cùng của kiếp người. Ảnh chụp cho đám cưới ngày hôm qua còn đây. Môi anh vẫn cười, mắt anh vẫn sáng. Thứ ánh sáng của hạnh phúc. Em sẽ về bên anh, sẽ làm dâu nơi này. Em gác bỏ mọi thứ. Em không ước mơ gì hơn. Em cần có anh. Phượng lảo đảo trong bóng chiều nhá nhem. Lảo đảo trong thân phận tình yêu. Phượng biết rồi ngày mai, ngày mai mình cô lẻ hơn cả gốc thông già đang bật gốc ngả nghiêng kia. Mình sẽ chơ vơ, chông chênh trên vùng đất bazan này. Liệu mình có chịu nổi những cơn gió xé lòng vào những đêm khuya? Tại sao cuộc đời bẻ bàng cay đắng đến thế? Tại sao anh không kịp nói điều gì? Anh lặng yên trong chiều nay. Và đời cũng lặng yên nơi đây. Trên đỉnh đồi hoang vắng này. Cỏ lau và gió hú. Hố huyệt thẳm sâu đen ngòm khép lại. Hết rồi, vùi chôn tất cả anh ơi! Có và không, mất và còn, đớn đau và hạnh phúc trong cuộc tồn sinh này. Một kiếp người! Em bỏ cho anh nắm đất hay một trái tim, một mối tình, hay một tâm hồn và nhiều ước vọng. Chiều đi đã hết! Không gian mênh mông, thời gian thăm thẳm. Chúng ta đã cưới nhau ư? Chúng ta đã đến với nhau trong tận cùng đớn đau này. Mà chỉ có em là người cảm nhận tất cả. Đôi dép anh để lại dưới cầu thang. Đôi dép còn hơi ấm. Chút hơi ấm cuối cùng trước lúc anh đi. Dòng điện nghiệt ngã qua anh. Lưỡi dao ngọt ngào qua trái tim em!
Đây là những đau đớn khi tôi dìu Phượng từng bước trở về. Đám cưới của Thông và Phương vĩnh viễn không còn bao giờ có được. Tôi nghĩ đến Phượng đến tôi, đến những số phận mỏng manh và bèo bọt. Tại sao anh không nhận ra điều này. Tại sao anh không biêt quý trọng những giây phút bình yên. Những khoảnh khắc vô giá trong cõi đời này để sưởi ấm cho nhau bằng thứ tình cảm thiêng liêng: TÌNH YÊU.
Chúng tôi dìu nhau đi trong bóng chiều đã hết, những bước chân hụt hẫng trên khoảng đường trước mặt, gió cao nguyên lạnh lùng thổi qua khoảng đồi vắng lặng... Đâu đó mang mang tiếng chuông chùa.

📎 bc
0
Ngõ sau
 
Kính tặng mẹ và chị K
 
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trong về quê mẹ ruột đau chín chiều
(ca dao)


 
Con bé lia vội túi xách xuống hè, chạy đến ôm chầm lấy ngoại. Ngoại đưa tay che mắt hỏi phải con Hoa không? Con về hồi nào đó? Mẹ của con đâu? Mắt ngoại rưng rưng. Bao giờ cũng vậy, sung sướng hay đau buồn, mắt bà vẫn thế. Đôi mắt ấy như một định mệnh đeo đẳng suốt một đời người. Bà hỏi: “Thành phố đông người không con? Có đứa nào ăn hiếp con không?”. Trong ký ức của bà hình như Hoa nhỏ lắm, mới năm ba tuổi. Tháng Bảy, nó tốt nghiệp đại học. Chuẩn bị làm đề tài. Trường cho nghỉ. Nghe ngoại yếu, nó tranh thủ về. Lấy ra một gói nhỏ trong túi xách, nó nói: “Ngoại cầm đi, khi nào ra trường đi làm, con sẽ mua nhiều quà cho ngoại”. Ngoại xoa đầu nó: “Cái con này, để mua sách vở, mẹ mày cực lắm con ơi!”. Tôi đứng bên, nhìn tay mẹ run run mà nước mắt cứ tràn ra. Tôi cực khổ vất vả sao bằng đời mẹ. Những đau đớn mất mát của mẹ dường như thời gian không làm chìm khuất được. Năm tháng ấy đã lùi xa, sao trong tôi vẫn còn mồn một như mới vừa hôm qua...
* * * * *
Chúng tôi có bốn chị em. Chị Nghị lớn nhất. Khi chúng tôi có chút ít trí khôn đã nhận ra những điều không may của cuộc đời. Lúc đó, Thành đứa em trai út, còn nhỏ. Chị Nghị thường cõng nó trên lưng. Chị cõng nó thơ thẩn đi qua những buổi chiều, qua những đám ruộng nứt nẻ. Những đám ruộng đã bị chúng tôi nhổ hết gốc rạ đem về nấu bếp. Thứ gốc rạ khô, âm âm cháy khói quần ngập kín căn nhà. Trên gác bếp, đen thui mòng hóng, mẹ treo mấy chùm lúa và mấy trái bắp làm giống cho mùa sau. Chúng tôi nhổ gốc rạ chất đống, bỏ vào giỏ ngựa gánh về. Những buổi chiều như vậy, mẹ thường ra ngõ sau ngồi đợi. Ngõ sau hun hút hàng tre. Ở đó, mẹ có thể nhìn thấy cánh đồng, thấy núi Hông Lân sừng sững tím ngắt rồi đen thẫm chìm trong hoàng hôn. Và hoàng hôn cũng đầy trong mắt mẹ. Nén tiếng thở dài, mẹ đứng dậy trở vào. Bao nhiêu buổi chiều như thế, bao nhiêu đêm đã qua. Mẹ lặng lẽ. Chỉ những lúc nhìn chúng tôi cười đùa dưới trăng, mẹ tươi hơn một chút. Nhưng thường những đêm trăng sáng là những đêm mẹ mất ngủ, sáng ra mắt mẹ quầng thâm. Cũng vào một đêm trăng. Có lẽ là trăng tháng Tám. Trong ký ức mẹ, một đêm trăng lạnh và trong suốt. Đêm đó, ở vườn chuối sau nhà, giọng mẹ khẽ khàng. Lời mẹ chìm vào đêm. Nó như những hạt sương rơi động trên tóc, trên vai, trên mắt mẹ. Mẹ nói điều gì? Những âm thanh chùng xuống, quá nhỏ chỉ đủ chuyền qua người nghe bằng đôi bàn tay ấm nóng. Rồi bước chân hai người lặng lẽ dưới trăng, ra khỏi ngõ sau, về phía cánh đồng. Và mẹ biết đi hết cánh đồng sẽ đến dòng sông. Ở đó có con đò đang đợi. Chuyện sắp đặt đã ba hôm trước. Vào một buổi trưa, người bán chiếu, đưa cho cha miếng giấy nhỏ. Và từ đây mẹ bắt đầu thấm đẫm những ngày cô đơn. Những ngày trong căn nhà đã thực sự vắng bóng đàn ông. Thằng Thành thi thoảng hỏi cha đâu hở mẹ? Mẹ buồn buồn nói cha đi cày. Cha đi cày sao hổm rày không thấy về? Mẹ quay đi, giấu cái nhìn vào vạt áo. Cây cỏ, ruộng đồng và dòng sông rất đỗi hồn nhiên. Nhưng chúng tôi lớn lên không chút hồn nhiên. Không có bàn tay cha, cuộc sống cả nhà vốn khó khăn giờ trở nên thảm hại. Mỗi ngày chị em tôi cắt đầy bốn giỏ ngựa cỏ. Bốn giỏ cho bốn con bò. Đó là tài sản của cha để lại. Mẹ đập đất trên đồng từ lúc hừng đông, khi mặt trời đứng bóng mới về. Mùa đông, trời lạnh cắt da. Mẹ biểu dắt bò ra đồng. Đi sau, mẹ vác cày. Cái áo tơi mẹ để cho tôi. Còn phần mẹ là một tấm lá. Tấm lá chuối mẹ khoét ở giữa gấp lại mang vào che mưa. Tôi bì bõm lội trong bùn, dắt bò cho mẹ. Những đường cày xiên xẹo. Con bò giở chứng, lúc đứng, lúc đi. Mẹ quất roi vào nó. Mưa quất roi vào mẹ và tôi. Mắt mẹ ướt đẫm. Trên cánh đồng mùa đông lạnh lẽo ấy, những cây mạ non cấy xuống cứ run rẩy mãi. Chúng không đủ sức chống chọi với cái rét để cuối mùa cho ra những dé lúa toàn là hạt lép. Những hạt bui ấy còn biết phơi khô rồi đun bếp. Chúng tôi trông chờ vào những vạt củ lang, củ mì trồng tít trên gò. Ăn củ lang nhiều ngày quá! “Nhuận trường” quá! Thằng Thành đi ngoài suốt. Phân toàn vỏ củ lang tím vắt. Da nó hơi xanh, bụng nó õng ra. Mẹ nói nó phát thủng. Đó là bịnh thiếu chất cám gạo. Mẹ đi đâu không biết xin về được ít cám, rang đều rồi trộn mật vào viên tròn, cho nó ăn. Ăn được hai hôm, Thành nghe bụng đau âm ỉ. Rồi đau thắt. Bịnh lỵ đã hành hạ nó. Cứ một chặp nó lại đi cầu. Đi suốt đêm, đi lòi trôn trê. Mẹ cũng thức suốt đêm. Gà gáy, mẹ đem chiếu ra sông giặt. Mất ngủ nhiều, mẹ gục xuống nước, cả chiếu và người trôi đi. Nhưng dòng sông không trôi hết nỗi buồn. Cuộc đời đã níu mẹ lại. Người ta vớt lên đưa mẹ về nhà. Chúng tôi cả ngày ngồi quanh mẹ. Mắt mẹ đượm buồn. Mẹ nhìn ra sân. Nắng xiên khoai. Nắng đổ dài bóng cây ổi trước nhà. Cây ổi Tàu ra trái quanh năm. Nó mọc ngay ở chân hè, chỗ bước vào cửa chính. Nhiều khi đói quá chúng tôi bứt cả ổi già xuống ăn với muối “Ăn nhiều vào rồi chết nghe con”. Mẹ nói mà không đành ngăn. Thứ ổi già chà xát qua từng đoạn ruột chúng tôi, mà lòng mẹ đau thắt lại. Cái đói triền miên vây hãm. Đói cả trong giấc ngủ, cả khi cắt cỏ, tắm sông. Một hôm, hình như mẹ đi rửa dùm chén cho đám giỗ ở nhà họ xa bên ngoại. Lúc về, mẹ gói trong vạt áo nắm cơm. Nắm cơm to bằng trứng ngỗng. Chính giữa mẹ chôn hai lát thịt. Bốn chị em bập vào, loáng cái hết ngay. Thằng Thành trợn ngược nuốt thẳng cổ, mẹ ứa nước mắt. Chị Nghị không đành, chị nhịn phần mình cho em. Bây giờ nghĩ lại thương chị quá chừng. Mọi chuyện trong nhà, mẹ giao cho chị. Chị quán xuyến mọi việc và chăm sóc em. Mười sáu tuổi, chị xinh đẹp như trăng. Có người nói vậy. Dãi nắng, dầm mưa mà sao da chị trắng như bông bưởi. Tóc chị suông và dài chấm mông. Mỗi lần gội đầu, chải tóc cho chị, mẹ thường nhìn xa xăm. Mẹ nghĩ sẽ có ngày chị phải xa mẹ, làm dâu nhà người. Chị cũng sẽ một nắng hai sương trên đồng. Sẽ lam lũ héo hắt vì chồng vì con. Chị cũng sẽ chắt chiu hạnh phúc từ những lá rầu riều, bọ hôi, mè đất. Những lá rau tập tàn hòa quyện với mùi cơm lúa mới mà chị nghe hạnh phúc đâu đây. Hạnh phúc hiền hòa giản đơn như lá rau cộng cỏ. Nó giống như ngày mẹ về với cha. Sau bữa cơm ngày cưới là tiếp nối những bữa cơm độn củ thật nhiều. Buổi sáng, cha dậy sớm xách nước vô lu, và vội miếng cơm rồi vác cuốc ra đồng. Buổi tối, cha đi chặn đăng bắt cá. Những con cá chép, cá trê mẹ rộng trong ảng. Thi thoảng mẹ đem ra chợ bán, mua thêm lon gạo. Cha cười cười lau mồ hôi trên tóc mẹ. Cha đốn tre đan thúng, đan sàng. Những sợi nan cha chuốt mỏng tang mềm mại. Tay cha thoăn thoắt đan cái giỏ, cái lờ, mẹ nhìn mà mê lắm. Mẹ bưng bát nước chè tươi nóng hổi và cục đường đen ra nói cha nghỉ tay uống nước. Không biết mẹ yêu cha từ đâu? Có lẽ từ cái rắn rỏi, giỏi dang và cả tính cương nghị của cha. Thỉnh thoảng cha còn đọc vài câu Chinh Phụ Ngâm và lẩy Kiều cho mẹ nghe. Cha nói nội là người giỏi chữ, là cụ đồ nho thế hệ cuối mùa. Cha học được phong cách khí khái nhà nho của nội. Đêm cuối cùng rời khỏi căn nhà, cha đi từng bước nhẹ nhàng, bưng đèn soi mặt bốn đứa con. Rồi cha lặng lẽ quay ra. Ngoài kia trăng vẫn sáng. Sợ làm chúng tôi thức dậy, cha nói gì rất khẽ với mẹ ở phía sau nhà. Đó là đêm cuối cùng mẹ nén lòng mình để khỏi bật ra tiếng nấc. Cha đi chưa được ba năm, hơi hướng chiến tranh đã đến. Mẹ thường giật mình trong tiếng đại bác cầm canh. Tấm mành mành che cửa đã mục. Ánh hỏa châu lập lòe xuyên qua kẽ nan. Ánh hỏa châu vàng võ rơi ở cuối trời có hình giọt nước mắt rơi. Mẹ thở dài. Chị Nghị càng lớn càng xinh. Đã có tiếng sáo con trai thổi nơi đầu ngõ. Chúng tôi vẫn thường cắt cỏ ngoài đồng và dắt bò ra sông uống nước. Vào một ngày mùa hạ, nước sông trong vắt mát lành. Chúng tôi lùa bò ra sộng, tập bơi, rồi tắm. Đó là một buổi sáng kinh hoàng trong đời tôi. Một buổi sáng, mẹ như điên như dại, chạy vụt ra cánh đồng chết giấc. Tôi điếng hồn ngẩn ngẩn ngơ ngơ. Không còn gì nữa! Hết rồi. Trong mắt mẹ bầu trời đen lại. Tất cả đang sụp đổ. Hàng tre già ngõ sau oằn xuống trong gió sớm. Người ta xúm lại khiêng chị Nghị về đặt dưới bóng tre. Mẹ đau đớn tận cùng, nửa tỉnh nửa mê. Chị nằm đó, bụng xáp ve. Chén củ lang mẹ để phần cho chị còn nguyên. Chị Nghị ơi, chị vĩnh viễn xa rồi! Chị đi vào cõi khác ở tuổi trăng mười sáu. Chị hụt chân lạc vào vùng nước xoáy. Mẹ hụt hơi kêu khản đứa con mình. Lòng tôi quặn lại từng cơn. Nấu nước bồ kết, lá bưởi, mẹ gội đầu cho chị lần cuối cùng. Tóc chị đen và dài quá. Mẹ vuốt từng lọn tóc mà lòng se thắt. Những mơ ước giản đơn của mẹ ngày xưa không còn nữa. Không còn những đêm trăng sáng, chị em đùa chơi trước ngõ. Thằng Thành hái hoa dũ giẻ thơm lừng cài vô tóc chị. Bây giờ, chiều nào mẹ cũng ra ngõ sau đứng mãi. Mẹ đứng như ngóng, như trông bước chân ai đó trở về. Ngoài kia, một nắm cỏ xanh. Và phía núi xa, hoàng hôn rượi rượi xuống. Nắng ngoa ngoắt thắp lên màu võ vàng trên cánh đồng. Cây chiêm chiêm đầu ngõ ơ hờ trổ mấy chùm hoa khắc khoải. Mẹ nói đó là cây cha trồng. Cha đào đâu ở bờ sông đem về làm cây chất rạ, chất rơm. Bây giờ nó đã to ra, cái đọt nhong nhỏng cao vươn khỏi tầm hàng tre như cố nhìn về phía núi Hông Lân. Nhìn về phía núi. Mẹ nhìn như thế bao nhiêu năm rồi. Và bóng người đi đã chìm vào bóng núi. Tôi đã có chồng và sanh con. Con Hoa gần tốt nghiệp đại học. Mỗi lần thăm mẹ, về lại vườn xưa, lòng tôi nao nao buồn. Mẹ đã già lắm rồi, mắt mẹ không nhìn thấy rõ. Mẹ vẫn lần hồi ra đứng ở ngõ sau.
Chiến tranh kết thúc. Tôi nhớ vào một ngày tháng Sáu. Hôm ấy, mẹ đang sàng gạo. Ngoài ngõ có tiếng chó sủa rồi một người khách cao cao đi vào. Người khách mặc bộ kaki màu nhạt. Khách đưa cho mẹ tờ giấy. Mẹ đi giật lùi, tay vin vào bậu cửa. Mẹ đánh rơi sàng vung vãi gạo ra sân. “Thôi, chiến tranh mà!”. Người khách nói. Chúng tôi vỡ òa trong tiếng nấc. Tất cả vì chiến tranh. Khi cha đi tóc mẹ còn xanh, bây giờ tóc mẹ đã có nhiều sợi bạc. Có còn chăng là niềm sâu thẳm trong lòng. Nhưng lòng mẹ mơ hồ như bị ai vò xé. Rồi từng chiều, mẹ nhìn về phía ngõ sau. Cái ngõ sau đêm nao lênh láng ánh trăng, mẹ tiễn cha đi. Cái ngõ sau kê bộ ngựa cho chị Nghị nằm chờ khâm liệm. Và cái ngõ sau ngó ra cánh đồng trong ráng đỏ hoàng hôn.
Chừng ấy tháng năm. Chừng ấy thời gian đi qua trong một đời người. Đủ cho dịu lại những vết thương. Nhưng vết thương trong lòng mẹ thì bao giờ mới dịu? Đời mẹ sao mãi còn những rêu xanh. Mẹ giấu nỗi buồn vào ngõ tối. Thằng Thành bây giờ tệ lắm, là nhà báo, nhà thơ gì đó, nó đi đâu đi miết. Mẹ yếu nhiều, vẫn nắng xiên khoai ngoài sân. Mẹ cười cười nắm tay con Hoa, mắt mẹ xa xăm...

Minh Long tháng 03/2007

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2016 03:32:52 bởi casau>
Chuyện xóm bên cầu

     Hồi trước, tôi dạy học một trường miền núi. Trường bên sông. Sông hơi rộng. Có cầu bắc qua. Một phần ba cây cầu là bê-tông, phần còn lại là cọc tre và gỗ bạch đàn ghép lại. Đầu cầu có chợ chồm hổm, năm ba lều quán xúm lại. Buổi sáng, tôi ghé quán bà Móm dằng bụng mấy cái bánh xèo trước khi lên lớp. Bà Móm hồi ấy cũng đã móm, nhưng các thứ còn tinh lắm. Đặc biệt là tai và mũi. Rất xa, nghe tiếng sên líp rọt rẹt, bà biết tôi sắp tới. “Lấy cho thầy chén nước châm thiệt ngon, đôi đũa thiệt ráo với trái ớt thiệt cay, nghen con”. Bà kéo dài tiếng “thiệt” ra dẽo như bột bánh, trong khi bà khom lưng chỏ ống thổi lửa vào bếp . Đứa con gái mới lớn leo xuống giường, vừa dạ, vừa dụi mắt đi tới đi lui, cái đầu chênh chao nặng trịch như những giấc mơ còn đặc quánh trong ấy chưa tan. Đứa con gái mười sáu hay mười bảy gì đó da trắng như bông bưởi, mặt tròn, má hồng như hồi nào cũng đang thổi lửa. Có điều khi cười mắt nó híp lại, chân mày nở ra, rất con cháu Thúy Vân.
Vào một ngày mùa đông, nước trắng sông. Cây cầu gầy nhom run rẩy. Nước hùng hổ, bọt bèo hăm hở đổ về. Nước liếm chân hè quán bà Móm. Không sao, nước khách ấy mà, nói xoan qua chút đỉnh rồi đi, không ở lại đâu. Nhưng quán bà Móm hôm ấy có ông khách cố tình ở lại. Từ ngoài chợ, ông khách khom lưng chui vào kêu rượu và bánh xèo. Khách chưa già, chân cao, mang theo cây súng nòng dài. Loại súng săn. Không biết là khách đi săn hay bọn sơn tràng? Khách uống mấy xị rượu thuốc, cũng không mời ai, cứ xếp bằng trên cái chõng tre rung đùi mà uống. Đứa con gái bà Móm đi lên, đi xuống dọn hàng, khách ngó nghiêng ngó dọc. Khách nhìn từ chân lên đùi, lên mông, lên ngực con bé rồi cúi xuống đánh ực một cái, làm như con bé là đồ nhấm. Trời không lạnh, nhưng gió nhiều. Gió lật mấy tấm tôle che bếp, nước vào tro bếp lễnh loãng. Bà Móm dọn dẹp, làu bàu “Ông trời n.c. máu, mới hồi sáng nắng đây bây giờ lại mưa”. Bà muốn tống ông khách đi, sập cửa tôle lại cho đỡ gió, nhưng chưa được. Đến tối mịt, khách mới chịu đứng dậy kêu con bé lại tính tiền. Khách đưa cho con bé gấp nhiều lần số tiền phải trả. Con bé chưa kịp hỏi, khách kéo nó lại hun đánh chụt lên má rồi lách chân ra cửa. Bà Móm lụi cụi dưới bếp. Con bé so se nắm tiền. Trong đầu nó, quần jean, giày cao gót mũi nhọn và quần lót Thái đang nhảy múa. Thiệt tình mà nói con bé cũng dễ nhìn. Các thầy qua đây, thỉnh thoảng cũng nhìn một chút. Tất nhiên là những cái nhìn từ tốn và rất mô phạm, trừ một ít thầy có máu xấu. Thầy có máu xấu biết liền. Dò bài xong, chưa chịu cho điểm, cứ nhìn theo cái mông học trò ngoăn ngoắt xuống lớp. Khi tôi về đây, con gái bà Móm đã nghỉ học. Nghe nói hồi ấy thầy thể dục hay dò bài thực hành con bé. Sau vụ uống rượu cãi vả với phụ huynh, suýt nữa bị xô xuống cầu, thầy được cấp trên điều đi trường khác. Con bé học đến lớp chín thì nghỉ. Thầy Liễm chủ nhiệm dạy môn công dân đến động viên, nhưng con bé không học. Ở trường, thầy Liễm vào hạng nhất nhì. Trừ thầy hiệu trưởng ra, thầy Liễm là người duy nhất có xe máy. Xe 81 đời chót. Sau soạn bài, thời gian còn lại thầy “đầu tư” nhiều nhất vào việc kỳ cọ cái xe. Thầy cũng ít khi về nhà. Thầy nói mùa mưa đi về nhiều hao nhông hao sên (xích) lắm. Tôi nói mùa mưa về nhà nhiều hao sức khỏe lắm! Trước khi mùa đông năm đó đi qua, trời để lại một cơn bão lớn. Bão thổi từ lúc chặp tối đến gà gáy đầu mới dứt. Các thầy chuôi dưới gầm bàn tránh bão. Bão giằng từng cánh cửa sổ lớp học quẳng ra sân. Bão nhổ cây gòn hơn người ôm ở cổng trường để nằm chằng ngang xuống đó. Buồn hơn, bão lột gần hết mái quán bà Móm nhận xuống sông. Sáng ra, bà Móm khóc đứng khóc ngồi nhìn dòng sông u u chảy mà không biết nó vùi mái nhà bà ở chỗ nào? Khóc xong bà biểu con bé theo người ta xuống chợ huyện mua ít khuôn bánh xèo và mấy cái rổ nhựa. Con bé cũng khóc ít, nghe nói đi chợ huyện thì nín ngay. Ở chợ về, nó dẫn theo hai người đàn ông với mấy tấm tôle. Bà Móm chưa hiểu gì, họ đã kéo tôle lợp nhà. Xong xuôi họ leo xuống ra về. Bà Móm đòi trả tiền, họ nói đã có người trả. Nhà lợp hai hôm, bà không ngồi ở bếp. Ngồi ngay trên giường, bà khóc. Bà nghẹn ngào: “Nó bỏ đi rồi thầy ơi!”. Tôi há miệng nhìn lên mái nhà. Bà cũng nhìn theo, tôi biết lúc này lòng bà đang thắt lại vì một cơn bão lớn. Quán bà Móm vắng con bé, coi vậy mà buồn xo. Ở chợ người ta xì xào rằng con bé ăn trúng bùa ngãi của lão sơn tràng. Lão sơn tràng đã giương nòng bắn con chim non. Nòng súng dài thòng hằng chi đạn nó độc quá! Mấy bà bán thịt cười giòn tan, còn bà Móm thấy như có ai xát muối trong lòng.
Ở miền núi nghiệt lắm. Nắng dữ và lạnh cũng hung. Thiên nhiên vốn thích bạo liệt, còn con người vẫn ưa hiền hòa. Nhưng ưa mà có được đâu. Năm ngoái bão, năm nay lụt. Mới mưa có một đêm mà nước trắng lăng. Vừa mở mắt đã thấy nước xấp xỉ đoạn cầu gỗ rồi. Trường đánh một hồi trống bãi. Học sinh nháo nhào đội mưa chạy ra coi nước. Thầy nói phải đi về nhà, ở đó sụp nước chết trôi. Có đứa không nghe cứ ở lỳ coi người ta vớt củi. Củi ở đây không thiếu. Nhưng người đời cứ hay tiếc của giữa trời. Vì tiếc của giữa trời nên đôi khi mang họa. Năm kia cũng vớt củi đã có người lộn nhào xuông sông, bảy ngày sau mới tìm được xác. Vậy mà bây giờ họ không sợ. Họ cầm cuốc chĩa, bồ cào, cù nèo đứng trên đoạn cầu bê-tông vớt củi. Đoạn bê-tông này là phần còn lại của cây cầu sau khi chiến tranh đi qua. Bây giờ người ta chắp thêm một đoạn bằng tre và gỗ vào để thông thương qua lại hai bờ. Đoạn cầu gỗ ưa nhún nhảy, đỏng đảnh như đứa con gái. Đi xe qua, cầu nẩy lên bần bật. Bây giờ thì nước đã xoan. Nước ngập đoạn cầu này hơn mắt cá chân. Không biết có gì đột xuất không, sao hôm nay thầy Liễm lại dắt xe ra về? Có đứa học trò định nói ở lại đi thầy ơi qua cầu nguy hiểm lắm. Nhưng sợ thầy la nên làm thinh. Tôi nói trời thế này thầy về làm gì cho mệt với lại nước mưa hại xe lắm. Thầy chần chừ một lúc nói là ở nhà có chuyện nên đẩy xe qua cầu. Thầy ra được một quảng, cách bờ độ mươi mét, phía thượng nguồn lừng lững trôi về hai khúc gỗ mục. Gỗ cạp vào thân cầu. Có tiếng kêu “rắc”, đoạn cầu tách rời chỗ nối chậm rãi đưa thầy và xe trôi về phía hạ lưu. Đám học trò kêu khóc thất thanh trên bờ. Bọn người vớt củi cầm bồ cào, cuốc chĩa chạy tới chạy lui giống như đám đệ tử Đường Tăng gặp nạn nhưng có làm được gì đâu! Thầy Liễm đã mười mươi cầm chắc cái chết trong tay. Mạng thầy mỏng manh hơn sợi tóc. Chỉ cần chao một cái nhẹ là thầy và xe vùi sâu dưới dòng nước bạc. Các cô giáo nín thở lấy tay che mặt, nức nở quay vào trường. Nước đã lên đến ngực thầy rồi. Thầy cứng ngắc như trời trồng. Chân thầy như có đinh đóng xuống mặt cầu. Hai tay thầy nắm chặt cây xe như nắm chặt bàn tay người tri kỷ cùng thầy trong chuyến đi định mệnh này. Bỗng như có bà đỡ, đoạn cầu vươn vào bùi nhùi chà chơm đâu chỗ mé sông ngoặc thầy tấp vào bụi tre cuối bãi. Đưa thầy lên bờ, đám học trò vừa la vừa khóc. Mắt thầy cứ mở to nhìn vào khoảng không vô tận nào đó. Có lẽ thầy vừa ra khỏi giấc mơ.
Mấy hôm sau nước rút. Thầy đến trường thần sắc chưa hoàn hồn. Mừng từ cõi chết trở về, thầy nhờ phụ huynh tìm mua một con heo. Loại heo đen chạy rông ngoài rẫy. Làm mâm cơm tạ ơn trời đất đã cứu thầy thoát chết, cứu chiếc xe 81 cáu cạnh của thầy khỏi phải đăng ký lưu hành ở chôn thủy cung. Mọi người đang chấp tay đăng đàn vái tạ ơn trên, bỗng có tiếng khóc òa của bà Móm. Bà Móm nhìn trân trân con bé da tái xanh ôm bọc quần áo bước vào nhà. Bên kia đầu cầu, thằng Dũng khùng ở trần cà thọt chạy tới kêu: “Em Liễu ơi (con gái bà Móm) cho anh thương cái đi. - Rồi cũng tự nó nói - Thương gì được nữa. mà thương, chửa hoét rồi mà thương?” Bà Móm nghe thắt lòng, nước mắt càng chảy dữ.
Buổi tiệc bên bờ sông hôm đó, kẻ khóc, người cười. Buồn vui lẫn lộn. Thằng Dũng cỗm đâu một cái tai heo cuộn tròn lại làm mi-cờ-rô cứ đi vòng quanh đọc hoài câu thơ không biết ở đâu nó có:
Nòng dài đạn độc Liễu ơi!
Ăn nhằm bùa ngãi nát đời gái tơ

Con Liễu nằm trong buồng khóc rấm rức. Nó nẩy lưng gỡ bớt móc quần jean.
Nghe nói khi nó tháo bớt móc quần, thì lão sơn tràng cũng vào tù. Con Liễu nơ cái bụng chang bang ra sông giặt áo. Nó soi mặt xuống sông mơ hồ không nhận ra mình, mơ hồ làm rớt tuổi thơ xuống nước. Nước xao xuyến chảy, xao xuyên trôi đâu mất cái tuổi mà thầy giáo dạy văn hay nói là đẹp và hồn nhiên nhất cuộc đời. Tuổi thơ nó đã theo sông ra biển tan vào mênh mông . Cũng như nắm tiền lão sơn tràng đưa cho nó thành nắm lá mục tan vào rừng thẳm. “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, nó thường nghe lão nói như vậy. Người ta đã lục túi xách lấy đến đồng bạc cuối cùng trước khi đuổi nó ra khỏi chỗ ở. Bây giờ nó nhận thấy bếp lửa của mẹ là ấm hơn cả và dòng sông bên cầu này là trong nhất. Nhưng chắc chắn không thể rửa sạch vết nhơ nặng trĩu nó đang mang nặng trong lòng.

Minh Long Mùa Lũ năm 2000


0
Gió se
 
Không thể chờ hơn, Thành băng bộ qua cánh đồng làng. Lũ cò rúc trong lúa hốt hoảng bay lên rồi liệng quanh nuối tiếc. Chúng tiếc nuối vì lúa qua thì con gái, nòng nọc đứt đuôi nhảy lên bờ mơ việc đổi đời. Những cú nhảy ngây thơ thường hấp dẫn kẻ săn mồi. Còn người làm ruộng thì hơi bị phiền. Cò đẳm bừa, đẳm phứa lên lúa, thấy ghét. Đấy là hồi Thành còn làm ruộng, còn sục chân trong bùn, theo mẹ nhổ cỏ. Thành không thích lũ cò, mặc dù chúng có dáng thư sinh trắng trẻo. Thành nhớ cả mùi bùn, mùi cỏ. Tết này về khi chán hãy ra thành phố. Với lại ở phố, bụi và ồn. Ồn ào trong mưu sinh quá... Kẻ danh, người lợi ma mảnh và tinh vi.
Phía bìa làng, thấp thoáng hoa sầu đông tim tím. Thành chợt nhớ màu tím hoa xương rồng bên những bờ rào ngày xưa...
Tháng Chạp, gió lướt nhẹ trên sông. Mặt sông gợn sóng. Thành thức dậy trời còn đẫm sương. Sương ngái ngủ là đà trong bờ tre, chòm cỏ. Sương tràn vô mui thuyền, se lạnh. Mẹ trên bờ cát, loay hoay bên bếp lửa. Mùi cá kho lá gừng thơm phức. Bờ cát màu ngà ngà, ngổn ngang dấu chân bò và chân lũ trẻ. Cảnh ấy cứ lặp lại ở mỗi đoạn sông. Thành theo mẹ đi chài lúc lên ba, suốt ngày ngồi trong mui chơi vỏ ốc. Cha quăng chài, thả lưới, mẹ gõ vào mạn thuyền. Tiếng gõ đều, vang vang thành thứ âm thanh kỳ lạ. Thỉnh thoảng cha rút mái chèo đập mạnh trên mặt nước. Nước tung tóe bắn cả lên thuyền. Nghe hoài thành quen, Thành trôi vào giấc ngủ bằng điệu ru sông nước này.
Tháng Chạp, những bãi mía ven sông xao xác gió. Tiễn mùa đông năm cũ, cờ mía màu trắng bạc lơ phơ. Gió mang theo mùi nước chè hai, có cả mùi hoa cau, mùi lúa, trộn lẫn mùi bùn đất ẩm sau những ngày mưa dài.
Bảy tuổi cha cho Thành lên bờ ở với ông bà nội, kiếm cái chữ. Nội dắt Thành tới lớp cũng trong một ngày tháng chạp. Tháng Chạp, đường làng hơi khô, những vết bùn cong lại, nham nhở chân người. Ông giáo già có đôi guốc mộc và cái mục kỉnh xệ xuống sống mũi. Ông nhìn chằm chằm như muốn nuốt chửng. Nội nói: “Tôi gửi thầy thằng cháu, nhờ thầy cho nó cái chữ...” Ông thầy, gỡ mục kỉnh ra, cúi xuống :
- Ngó mặt cũng sáng, chắc là học được, nhưng có nghịch lắm không?
Nội nói: “Cũng có”. Ông giáo chỉ vào đống xơ mít góc hè: “thuốc” kia. Đây là “thuốc” ông giáo biểu đám học trò lượm về từ chợ. Bài thuốc coi vậy mà hiệu nghiệm. Nó trị dứt bịnh thọc lét, búng tai, bôi mực. Không đứa nào dám ho he. Thành học nửa năm thì biết đọc, biết đồ. Tháng Chạp năm sau đã thông được vần ngược, vần xuôi. Cha Thành mừng quá, bán mớ cá mua cho Thành áo mới. Hoa xương
rồng chút xíu lẫn vào với bao thứ gai góc bên rào, vậy mà bọn trẻ phát hiện ra sớm nhất. Hoa xương rồng báo hiệu mùa đông đã hết. Và cũng đồng nghĩa với việc được ăn những cái bánh nổ, bánh in. Những cái bánh mẹ ngồi cả buổi lượm thóc rồi bỏ vào khuôn, trộn đường đóng huỳnh huỵch. Những cái bánh thuẫn hình hột xoài trơn lu, trọc lóc. Mẹ giận hờn quăng ra: “Đó ăn đi, đứng trù ẻo hoài”. Rồi mẹ đốt thêm vào bếp cây nhang, van vái cho những cái bánh sau đừng láng o tịt lít. Bọn trẻ ngược lại. Chúng xớ rớ đâu đó chực chờ cơ hội là nhào vô kiếm chác. Kiếm chác đâu riêng gì lũ trẻ. Người lớn kiếm chát còn độc địa hơn! Mẹ vùng vằng nói tại cái vía mày nặng quá, sang năm chắc làm ăn chẳng ra gì. Gì thì gì lũ trẻ cũng chẳng sao. Miễn bây giờ được ăn bánh, và được mặc áo mới. Được hít thở gió se từ cánh đồng làng. Những sợi gió thổi vào bếp hừng niềm vui con trẻ và cháy lên âu lo người lớn. Nhưng lo thế nào Tết vẫn đến. Gác lại mớ nợ nần năm cũ, mẹ bưng mủng đi chợ. Mua ít củ kiệu, củ gừng, mấy lon gạo nếp. Mẹ chung thịt heo với người hàng xóm. Con heo đen mõm dài, thường ngày xổng chuồng ủi trốc vồng lang đầu ngõ. Con heo như trái bí đèo. Mỗi người một xâu thịt cỏn con treo lơ lửng trên dàn, nước còn nhỏ tong tong xuống bếp. Mẹ nói với cha: “Ra sau vườn cắt cho tôi tàu lá chuối.” Tàu lá mẹ trải ra nong gói bánh. Những cái bánh thon dài buộc  

bằng lạt tre thật chặt, chặt như mối tình của mẹ và cha. Cha đi đâu về kẹp trong nách áo một chai rượu trắng. Tay kia cầm gói gì đó so se. Cha nói: “Mua cho mẹ mày cái này”. Mẹ ngạc nhiên cầm lấy mở ra. Một niềm vui lướt qua trên khuôn mặt âu lo. “Trời, chi mà phí quá, bày đặt guốc dép làm gì, để tiền đong thêm vài lon gạo, ông này thiệt tình”. Nói vậy nhưng hạnh phúc lấp lánh trong mắt mẹ và mẹ cũng thấy hình như Tết đã về đâu đây.
Thời gian cứ trôi đi. Tết rồi lại Tết. Thành lớn lên không theo nghiệp của cha, cũng chẳng nghề của mẹ. Có ít chữ trong đầu (đọc thông viết thạo). Thành theo bạn đi buôn. Người ta nói “có phước làm quan có gan làm giàu”. Thành có gan. Chẳng mấy chốc đã là ông chủ hiệu. Thành là người phố thị. Phố thị, Tết rộn ràng phía ngoài cửa hiệu còn trong nhà thì tỉnh queo. Vợ Thành không phải bưng mủng đi chợ. Không cắt lá chuôi, không chung thịt heo.
Sáng nay, vợ Thành mở két rồi nghiến lên: “Thôi chết rồi, hết rồi”.
- Có việc gì vậy em? - Thành ngạc nhiên hỏi.
- Năm cục tiền tôi để trong này ai lấy đi một cục?
- Coi lại chớ, mấy đứa nhỏ chưa đứa nào về, ai vô đây lấy? Kẻ trộm thì không thể...?
- Tất nhiên đây không phải người ngoài. - Vợ Thành đưa mắt về phía chồng.
Mặt Thành đỏ lên. Bấy lâu sống với người đàn bà lúc nào cũng tiền và tiền, còn mấy ngày nữa, hết năm mà không qua được. Thành ngán ngẩm. Hay con mụ đưa nhầm cho người ta. Tháng Chạp lu bu, thức đêm đoảng người. Đàn bà mất tiền như hổ mất con. Con mụ lồng lên, như ai bóp hầu, bóp họng. Thôi kệ, Thành lên xe. Ở quê yên lành thật. Mặt quê phẳng phiu, không nhăn nhúm. Không cau có hằn học. Quê không tất bật vội vàng. Tiền bạc thì ai chả quý nhưng lấy nó làm cứu cánh cho đời thì buồn biết mấy!
Thời gian làm đổi thay tất cả. Vẫn cánh đồng làng ngày xưa nhưng dáng mẹ không còn nữa. Cả ông giáo già và những miếng gai mít nhọn hoắt đâm nát da đầu gối chỉ còn lại trong ký ức. Thành ra nghĩa địa, đốt nhang cho mẹ, cho thầy. Gió đồng se thổi, cờ mía và lò đường cũng biến đi đâu. Đám học trò lớp vở lòng ngày ấy, giờ lên lão, lên ông. Thành tìm lại chút gió Tết ngày xưa, một chút thôi nhưng gió chỉ miên man thổi qua miền ký ức... Bỗng máy điện thoại reo.
- Alô, anh đó hả, em tìm ra gói bạc rồi nghe, trong đầu tủ đi-văng, quên tưởng để trong két. Bao giờ về?
- Không về gì cả, tôi ở đây...
- A! Anh nói sao? Hay là đang ôm con nhà quê nào đó hả? Đang đốt tiền của tôi đấy hả?
- Tôi đang ở nghĩa địa, không có con nhà quê chỉ có ma quê. Ma quê hiền hơn ma chợ. Người gì mà... Tút tút.
Trời buông gió, Thành nghe se thắt trong lòng.

Minh Long, tháng chạp Đinh Hợi 2007


0
Những con ốc chữ
 
Tôi cẩn thận gói những tờ bạc. Mẹ cẩn thận lựa ốc vào rổ. Rổ ốc mẹ cất dưới gầm. Tờ bạc tôi mua phiếu thầy. Thầy nói tôi cần tiền, các em cần chữ. Cứ đầy rổ ốc, tôi mua được một phần năm buổi học. Học nhiều buổi quá, mẹ phải độn rau câu, ghẹ đá vào phiếu. Cha nói thiên hạ cùng mình. Lưng cha cháy đen kéo từng tay lưới. Những tay lưới lấp lánh hy vọng. Và cha kể: “Từ buổi hồng hoang trời sai một vị thần đem xuống cho trần gian chiếc bình đựng đầy các thứ, chờ đến bình minh thì mở nắp. Vì hẹn lỡ cuộc nhậu với bè bạn trên thiên đình, thần đã mở nắp trước khi trời sáng. Các thứ trong bình vụt bay đi, chỉ còn hy vọng”. Cha nói sự sống sẽ héo khô nếu hy vọng không còn. Hy vọng của cha đuổi nhau trên đầu con sóng. Cha nhặt nhạnh gói trong mồ hôi đem về. Cha biểu cầm đi. Tôi cầm đến lớp học thêm.
Lớp học như nêm cối. Những cái nêm bị thúc bách từ nhiều phía. Cha nêm tôi đến lớp. Thầy nêm tôi chỗ ngồi. Không sao, nêm càng nhiều, túi càng chặt. Thầy dùng loa rắc từng nắm chữ như người ta rắc thóc cho gà. Những con gà không háu đá, không cựa quậy (chật quá làm sao cựa quậy), yên lặng nhặt thóc. Lép có, bui có, tất nhiên là có những hạt chắc. Phải chăm nhặt vì ngoài kia có biết bao nhiêu gà đang chầu chực bơ phờ. Những con gà đến đây thảy hiểu một cách tường tận rằng trong mỗi chữ nhặt lên đều thấm đẫm ngọt ngào và mặn chát. Còn thầy, thầy đã lèn kỹ chữ trong bồ. Trước khi làm cuộc đổi trao này, thầy vốc ra từng vốc ngâm vào khay đạo lý và rắc một ít hạt tâm lên đó. Nhưng có thầy đã lia ra những hạt sần sùi, thô mộc. Những con gà có chút “sĩ khí” phải “rụt rè” nhặt lấy. Có khi bội thực. Có khi nghiền nát cả diều mà không thấy nghĩa đâu! Nghĩa lặng lẽ chùi ra khỏi chữ, ngúng ngoẩy, ném chuỗi cười diễu cợt, trôi về phía thị trường. Cái vỏ chữ buồn xo, ơ hờ lăn lóc. Tôi lơ ngơ nhặt được. Chưa kịp chào thầy đã có tiếng ai chõ vào tai. “Thầy chưa cần đâu”. Hóa ra đàn gà đến lớp để so cánh, đánh vai, để có tên trong sổ học thêm. Tôi học thêm tất thảy các môn. Học nhiều quá sinh mụ mẫm. Tôi gù lưng cõng dãy Trường Sơn bài tập. Tôi gục trên bàn và thiếp đi khi đang làm bài. Tôi thấy mình hóa thân thành Tề Thiên Đại Thánh có bảy mươi hai phép thần thông, cùng lúc, học bảy mươi hai lớp học thêm. Đến lớp thứ bảy ba thì không thể. Tôi bị vòng “kim cô” quay bài siết lại. Bài không thuộc, tôi khóc đi xuống lớp. Mẹ hỏi sao vậy con? Giật mình, dụi mắt đã đến giờ học thêm, tôi đạp xe thục mạng.
Bình minh hay chiều tối? Nắng gắt hay mưa dầm? Có gì phải để ý? Thế giới chung quanh với tôi gần như vô cảm. Có lẽ cha hiểu được điều này. Cha tìm đâu ra những bài thơ. Cha nói đây là bài Đất Nước, đây là bài Quê Hương và đây là bài Tình Mẩu Tử, hay lắm đọc đi con. Đọc cho tâm hồn mềm đi một chút. Tôi đọc một lèo. Nhìn vào mặt tôi khô lạnh, cha thở dài. Dúi bài thơ vào tay cha, đã đến giờ học thêm rồi, tôi chạy. Cha nói không được. Con phải ngồi lại. Hôm nay cha sẽ dạy con một chữ. Tôi ngạc nhiên quá đỗi. Cha có chữ nào trong bụng đâu? Cũng chẳng có giáo án, giáo trình, làm sao cha dạy? Tôi nghi ngờ. Cha không theo trình tự “năm bước”, không có những câu phát vấn vỡ vụn. Sợ cha chẻ nát bài văn, sợ cha không có năng lực làm khô cứng những bài thơ thấm đẫm tình người. Làm sao cha có bài mẫu cho tôi học thuộc? Nhưng không, cha bắt đầu bằng một cái nhìn xa xăm ngoài sân vắng. Tuổi thơ cha theo sợi gió lùa về. Cha nói điều gì, không rõ. Chỉ nghe trong hơi thở cha có lụa vàng của nắng. Có những bình minh rực rỡ ngoài kia. Có những viên bi lăn tròn trong ký ức. Chập chờn cánh bướm, giấc ngủ trưa hè. Cha gửi tuổi thơ vắt vẻo mạn thuyền, ê a trang sách. Trang sách có dấu chân còng gió, dã tràng, có tiếng sóng ầm ào một ngày biển động và một dòng sông trong vắt ngây thơ. Tôi lắc đầu không chịu. Bây giờ sông bẩn lắm cha ơi! Đầy rác rưởi... nghẽn dòng, trôi không được. Cha nói rác rưởi rồi sẽ trôi đi. Cha lại kể về chuyện thằng cháu ông Hai. Ông Hai vác cuốc ra đồng, thấy hang dế mới, ông lấy nón vục nước đổ vào, con dế trồi lên. Mừng quá, ông cho vào túi áo. Gọi thằng cháu khản tiếng, ông mới thấy nó từ đầu xóm chạy về. Ông thọc tay nó vào túi. Nó cầm con dế lia mạnh xuống sân. Rồi mò tiếp túi ông kẹp được tờ giấy hai ngàn, nó vù ra quán chơi game. Ông ngẩn ngơ chống cuốc nhìn theo... Bỗng cha vùng dậy nắm tay tôi đi về phía bờ sông. Trời chiều, những sợi khói thuyền chài mỏng manh lặng lẽ. Những sợi khói mơ màng thong thả gửi lưng trời những nỗi niềm riêng. Tôi à lên một tiếng, con nhớ rồi cha ơi. “Nhớ gì” - Cha hỏi. “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Thấy khói, con nhớ bếp! Cha cúi xuống, bước chân nặng nề dẫm lên bờ cát ướt như có gì đau đáu trong cha.
Tôi lại phải đến lớp học thêm. Thầy hơn hẳn các vị thần xưa. Thầy không đời nào hẹn lỡ. Kẹp bình đựng chữ vào nách, thầy ầm ầm phóng xe đến lớp sau khi vui vẻ tới bến với bạn bè. Thầy bật nắp, những con chữ mang hình đồng xu bay lượn.
Cũng may trong tôi còn hy vọng và mớ ốc mẹ mới xúc chiều qua.

Minh Long 10/2007

0
Máu chó
 
Vút. Oẳng! Rờn rợn tiếng xe máy tốc độ cao. Đêm mênh mông.
Sáng, thằng Lưu lầm bầm trong miệng. Con vợ quét sân vừa chửi. Chửi không ai nghe, chửi cho hả giận. Chửi cho máu bớt dồn lên não, bớt ứ lên mắt, cho nhìn nhau khỏi nghiến răng. Lưu nghĩ, con người đôi khi cũng dã man. Rất dã man. Mà không phải bây giờ từ buổi hồng hoang. Từ hồi nguyên sơ, ngơ ngác đứng nhìn hoàng hôn đỏ ngầu màu máu. Con người ngấu nghiên cắn vào miếng thịt đỏ tươi, cắn vào đam mê và tỉnh táo. Khi thò được một chân vào cánh cửa văn minh, con người đã tỉnh táo hơn. Đã biết cách tân bản năng. Đã phỉnh phờ được chính mình và đồng loại. Rồi đứng hẳn hai chân trên nền văn minh, thỉnh thoảng lại ưa thò một chân về nơi hoang dã. Thình lình và tinh vi, những cú thò làm rách nát cái vốn dĩ muốn được nguyên lành. Thằng Lưu cũng muốn nguyên lành. Nó cắc củm con chó trong nhà. Nhưng đêm khuya có đứa thò vào. Cái thòng lọng siết cổ con chó lôi đi. Tức trào máu họng.
Buổi chiều, Lưu về mặt đỏ phừng, lắc đầu nhìn vợ: “Dò la khắp nơi rồi, không thấy hơi hướm con Mun đâu hết”. Lưu nghĩ Mun đã nhảy lên cái đĩa nghi gút khói, thơm phức, béo ngậy mùi riềng, mùi sả, mùi lá mơ rồi. Người ta nghiêng ngả cụng ly chúc nhau, gắp bỏ cho nhau từng miếng đau khổ của Lưu. Mùi dồi chó theo gió tỏa ra. Theo gió chào hàng đó đây. Mẹ kiếp, thằng nào chả nuốt nước bọt. Lưu cũng nuốt nước bọt. Đủ mọi cách quyến rũ phỉnh dụ nhau. Trần trụi và tinh vi. Nhưng thịt chó vẫn là thịt chó. Thời nào chẳng ăn thịt chó. Chó biến thành dồi, thành chả, thành tái chó, phay chó, còn ngón nghề hơn là tiết canh chó... Vậy thôi. Cũ mèm. Người ta vẫn khoái ăn? Mẹ kiếp thằng “thực bất tri kỳ vị”. Mẹ kiếp thằng xào nấu xỏ xiên. Lưu chửi lộn tùng phèo. Nó chửi hoảng vì mất chó. Nó chửi vì có thằng hoang dã đêm khuya. Nó chửi vì hoang dã chưa chịu chia tay với loài người. Và hình như loài người đôi khi còn nuối tiếc. Tiếc nuối rất bản năng. Lắm kẻ thích nhìn ngó thiên đường bằng con mắt đớn đau của đồng loại, thích theo đóm ăn tàn. Buồn. Thật buồn. Thượng đế chơi khăm, thằng hoang dã lấp ló trong nách áo văn minh. Ừ lắm điều. Và nó chửi nó. Chính nó vừa làm mấy ly. Chính nó bước đi không dứt vì cái mùi cách tân nghiệt ngã. Nó nhai vội vã, cố nhai, cố nuốt. Cố trộn lẫn vào nhau. Trộn đam mê và tỉnh táo. Nó ngờ ngợ mình cũng đang làm một cú thò chân. Đồng lõa với tội lỗi. Nhưng rồi nó lại tỉnh ra. Nó thấy ngon. Ngon thiệt. Một ngụm rượu nữa. Mùi sả thơm lên tận óc. Thần kinh giãn ra. Cơn giận chùng xuống. Có lý, ăn hút làm người ta dễ chịu. Mọi cái đôi khi trở nên dễ chịu, trước chén rượu và đĩa mồi. Ít nhất cũng mở đầu cho đồng cảm và chia sẻ! Nhưng mà không. Tại sao phải chia sẻ với thằng kẻ trộm? Trời ơi, mẹ kiếp. Vậy thì còn cái thá gì? Không còn thá gì khi vợ Lưu đanh đá chõ mồm ngoài đường. Khi con Mun đang đánh đu với số phận. Cuối cùng nó chẳng biết giận ai? Ai nên giận? Tốt hơn là không nhân danh điều gì. Không khát thèm bông phèng chân lý. Thứ chân lý rẻ tiền. Nhưng nó đau đớn lắm, xót lắm. Đêm nằm nghe chó hàng xóm sủa, giật mình ngồi dậy. Nó ngây ngây trong đầu. Nó nhớ con Mun hồi mới đem về tròn như hột mít. Mắt đen láy ngây thơ. Chỉ biết ăn và ị bậy. Vợ Lưu vừa giải quyết hậu quả vừa cằn nhằn. Còn Lưu ôm Mun nựng như một đứa trẻ. Động vật được thuần dưỡng thường đánh mất tính đa nghi. Dễ tin vào hành vi thân thiện. Kể cả những cái thân thiện chết người. Những cái thân thiện trở tay không kịp! Nhưng Lưu đã thân thiện chân thành. Không mưu toan ve vuốt. Mun tin Lưu, tin người, bằng niềm tin thuần khiết, không phản trắc. Mà cuộc đời thì trái khoáy. Đôi khi sự phản trắc đến từ phía vuốt ve. Cũng may, Lưu còn chút đa nghi. Bây giờ chỗ con Mun thường nằm đã lạnh. Nhưng trong đầu Lưu vẫn nóng, cảm giác Mun quanh quẩn đâu đây. Tiếng xe máy giữa khuya vun vút. Tiếng xe lao vào đêm sắc nhọn. Gầm rú điên cuồng. Lũ chó hốt hoảng sủa toáng lên. Loài động vật trung thành phản ứng ngây thơ bản năng. Ban ngày chúng lim dim ngủ, con đường xe cộ lại qua. Những cuộc gặp gỡ vồn vã của loài người. Nụ cười và tiếng khóc. Niềm vui và nỗi buồn. Người ta bịt mặt, bịt mồm, từ chối mọi nhận diện, xa lạ trong thế giới quen thuộc. Phía sau lớp vải và miếng kính là cái rất thật. Cái thật đáng được tôn vinh, bảo vệ và gìn giữ. Bóng tối bảo vệ hoang dã? Loài chó không quan tâm, gác mõm lên chân, lim dim nhìn đời. Và đời cứ trôi đi trên bề mặt tĩnh lặng dửng dưng.
Hai đêm không ngủ. Đêm thứ ba về sáng, Lưu bật dậy. Một tiếng động lớn. Tiếng động từ phía ngoài đường. Tiếng động đột ngột cắt đứt một đoạn âm thanh xe máy. “Rầm”. Khô và lạnh. Tiếng chó sủa vang.
Trời sáng, Lưu đến. Hai vũng máu. Một con chó gầy nhom thoi thóp. Sao lại là con Mun? Trời ơi con Mun đã thoát lưới tìm về? Mầy chịu đói bao nhiêu ngày? Chiến đấu với bao nhiêu đồng loại trước khi lết về đây? Còn mấy sải tay nữa thôi. Còn mấy sải là đến được bến bờ bình yên. Mày đã băng qua đột ngộ khi nhận ra thứ âm thanh rờn rợn đó. Lưu đứng lặng rất lâu nhìn xuống hai vũng máu. Hai vũng máu cùng màu đỏ sậm không thể phân biệt được.

0
Đạo câu
 
Hồi giờ người ta nghe nói đạo này, đạo nọ, gắn liền với tín ngưỡng, tôn giáo nào đó. Không ai nói đến đạo câu. Chỉ có nghề câu. Nhưng hắn nâng việc đi câu lên thành một thứ đạo, gọi là “đạo câu”. Hắn là “sư phụ” của các “sư phụ” trong nghề đi câu. Tất tật ao đìa, sông suối một vùng rộng lớn, với hắn chỉ trong bàn tay. Loại cá gì, ở đâu, ăn mồi gì, ở nước cạn sâu, hắn biết. Hắn có tài. Người ta gọi hắn là tay sát cá. Trong đời đi câu, ai cũng có ít nhất một lần về tay không. Nhưng hắn chưa bao giờ. Có lời đồn đại rằng hắn có bùa, có thuốc. Điều đó chưa ai xác minh. Buổi sáng, hắn chắp tay sau đít, đứng nhìn chằm chằm xuống dòng sông. Hỏi để làm gì? Hắn điềm nhiên nói: coi con nước. Coi con nước là cách khảo sát thực địa của hắn. Khác gì nhà thầu khảo sát công trình. Chỉ khác là hắn không lên phương án, ăn chia, không A, không B. Tóm lại là không có tỷ lệ phần trăm. Một mình, một cõi đất trời bao la, không ai theo dõi, không bị điều tra. Bởi hắn quá rõ ràng. Không đánh lận con đen theo kiểu “bê-tông cọc tre”. Hắn muốn câu loại cá gì là được loại ấy. Dân câu trong xóm kêu hắn là “sư phụ”. Có mấy đứa lau nhau xin làm đệ tử. Được mòi, lên nước, hắn nói :
- Phàm làm nghề gì cũng có tổ. Đã có tổ thì phải bái tổ. Không cần nhiều chỉ một xị rượu với cái đùi gà là được. - Hắn cao giọng - Câu không khó nhưng không phải ai cũng làm được. - Hắn cười khà khà. Cái mặt vênh vênh đầy vẻ chiêm nghiệm. Hắn tiếp - Người ta nói chăm cây để sửa tính, nuôi cá để dưỡng tâm. Còn đi câu là để rèn luyện.
- Bịa, dóc, đi câu mà rèn luyện con mẹ gì?
Có người phản bác. Hắn khoác tay :
- Bình tĩnh nghe tui nói đã.
Mâm giỗ im lặng. Tất nhiên bây giờ mặt hắn đỏ lừ. Tật hắn uống rượu vào ở chỗ người! đông là nói độc một chuyện đi câu.
Hắn nói: “Móc mồi lia xuống cả giờ không thấy động đậy mà vẫn tiếp tục đợi chờ là kiên trì. Người qua đường dừng lại, không thấy cá ăn, nóng ruột thốt ra: ‘Đến ngõ chợ là nhanh nhất’. Im lặng. Đó là chịu đựng. Thử hỏi kiên trì và chịu đựng nếu không rèn luyện làm sao có được? Phải không các thầy?” Thấy trong mâm rượu không ai phản bác hắn tiếp: “Đi câu đêm, nhìn lên trời thấy các vì sao để học sự bao dung của trời đất. Đào mồi, nhìn đàn kiến đi để hiểu sự nhẫn nại của loài kiến và ngồi câu nhìn dòng nước chảy để lòng thả trôi đi những tỵ hiềm”.
Mọi người yên lặng. Tất nhiên là câu nói ấy hắn nghe lóm đâu đó rồi độ lại. Nhưng cho dù của ai, thì hắn đã nói ra đúng lúc. Vâng lúc này mọi người cùng mâm đã ngà ngà say. Họ gật gù nghe hắn nói :
- Khi ngồi nhìn cái phao bắt đầu động đậy là tâm lực, trí lực tập trung vào đó. Mọi phiền toái ưu tư cuộc đời gần như tan theo gió. Thình lình cái phao nhấp nháy chìm xuống mất hút dưới làn nước, “vút”, một động tác kéo ngược. Người câu nghe rần rần qua sợi cước, hồi hộp đến kỳ lạ. Trong khoảnh khắc, thấp thỏm giữa được và mất, giữa sung sướng và đau khổ, giữa hy vọng và thất vọng giành giật nhau làm thần kinh căng lên tột độ. Và cái gì đã căng lên tột độ, đến lúc cũng chùng xuống. Vâng, khi chùng xuống là lúc con cá đang giẫy giụa, người câu bật ra hơi thở nhẹ nhàng. Nó giống như cầu thủ sút trái quyết định găm vào lưới đối phương.
Hắn nói say sưa như đang rao giảng một bài chân kinh nào đó. Đang lúc cao hứng thì từ ngoài sân, một người đàn bà xây xẩy đi vào. Thoạt nhìn đã biết ai rồi. Còn ai vào đó nữa. Một phụ nữ đậm người, thấp, cái mặt câng câng, bạnh ra. Hàm răng đang thít chặt, dậm chân xuống đất :
- Đúng ngay mà, tui đoán đâu có sai. Không đi nhong nhỏng ngoài bờ sông, bờ suối thì dứt khoát là ngồi mâm rượu mà.
Hắn như trái bóng xì hơi. Im re, đứng dậy hắn xin phép mọi người ra về. Mọi người tỏ vẻ cám ơn hắn rất nhiều vì hắn đã dắt họ đi vào thế giới của “đạo câu”. Chiều đó, có anh chàng điển trai trong xóm đến nhà, xin hắn làm đệ tử. Coi vậy mà tính hắn rộng lượng, hắn thu nhận không điều kiện gì. Chàng điển trai nói :
- Vậy là chiều mai “sư phụ” qua nhà rủ tui đi với nghe. Bây giờ tui về sắm ít dụng cụ.
Buổi hẹn diễn ra trọn vẹn. Hắn câu được nhiều cá, còn chàng điển trai ngủ gà, ngủ gật bên bờ sông.
Buổi câu kết thúc, chàng điển trai về nhà nói với vợ :
- Hôm nay thất bại quá, nhưng được cái là tinh thần thanh thản, thật thú vị.
Thêm một cuộc hẹn hò. “Sư phụ” cùng chàng điển trai ra đi. Qua khỏi chỗ khúc quanh, đệ tử bỗng mất dạng. Đến sông hắn móc mồi lia xuống được một lúc, máy có tin nhắn “xe xẹp đừng chờ.” Vậy là “sư phụ” ung dung ngồi câu, còn đệ tử câu chỗ nào không biết! Chỉ biết rằng buổi tối hôm ây, bữa cơm nhà đệ tử rất vui. Đệ tử vừa nói vừa gắp cá bỏ vào chén vợ :
- Cá này béo lắm, ăn đi em, nhưng cái nòi câu còn sướng hơn ăn!
Chàng điển trai nhanh chóng là một đệ tử trung thành của “đạo câu”. Vẫn những buổi chiều cuối tuần mồi mỡ, cần câu sẵn sàng một sự chuẩn bị khá chu đáo. Cả buổi sáng thứ Bảy đầy bồn chồn háo hức. Chàng điển tra nhìn vợ nói :
- Cái đạo này mê lắm. Hèn chi “sư phụ” đi miết. Hấp dẫn lắm em ơi!
Vợ chàng điển trai liếc cười chia sẻ niềm vui với chồng.
Tình cờ trong một lần đi chợ, người vợ thấp thoáng thấy bóng chồng trong buổi chiều nhá nhem. Ông này đi câu rồi mà, lại vào hàng cá làm gì? Người vợ tự hỏi.
Vẫn những buổi đi câu cuối tuần đầy thú vị. Nhưng chàng điển trai cứ qua khúc quanh thì mất dạng. Và những cái tin nhắn thật ngắn gọn: “hư bu-gi”.
Thằng cha này đi câu không hư cần, hư lưỡi, cứ sao hư “bu-gi”? Sư phụ nghĩ. Còn vợ người điển trai bắt đầu một cuộc theo dõi.
Vẫn chiều thứ Bảy, công việc đi câu đã sẵn sàng. Cách đó không xa, ở bưu điện, có một phụ nữ chân dài bước vào phòng máy rồi trở ra. Người phụ nữ cẩn thận bịt khẩu trang, đeo gương, đội mũ và mang găng tay tới nách trước khi vội vàng đề xe.
* * * * *
“Ăn đi em, cá này béo lắm”. Chàng điển trai vui vẻ nói với vợ trong lúc ăn cơm tối.
Người vợ nhanh nhảu trả lời :
- Ừ béo, nhưng nếu anh không câu được, nó cũng chết thôi.
- Là sao? - Người chồng ngạc nhiên hỏi.
- Thì cái nòi cá phải ở dưới nước đúng không? Đằng này cứ ở trên cạn, ở trong những quán cà phê vườn tối om. - Người vợ cười cười nói.
Chàng điển trai mặt mày lấm lét, ỉu xìu, lỡ nuốt lỡ nhả miếng cá trong miệng... Người vợ nghiêm mặt nói: “Từ nay, ưng ăn cá gì nói tui mua. Tui mua ăn cho ngán, đừng bao giờ đi câu nữa!”
Không biết chuyện này tai vách mạch rừng thế nào tới tai “sư phụ”. Buổi sáng “sư phụ” đến, vợ chàng điển trai hắng giọng :
- Lại rủ ổng đi câu chứ gì?
- Không. Tui đến có việc hệ trọng.
- Chuyện gì mà hệ trọng? Nói đi. - Người vợ giục.
“Sư phụ” thong thả chắp tay đưa lên ngang mặt cung kính theo kiểu trong phim kiếm hiệp, nhìn anh chàng điển trai nói :
- Từ nay trở đi tui xin bái ông bạn câu của tui đây làm “Sư phụ”!
- !!!???
Ngoài ngõ, có tiếng chó sủa và bóng một phụ nữ đậm người cũng đi vào.

0
Thằng Đẩu
 
Gà gáy, thức dậy, lão vo gạo bắc lên bếp, quấn thuốc hút. Ngoài trời đầy sương. Sương này chắc còn nắng dữ. Nắng thì đỡ hơn. Mưa quẩn lắm. Lão không muốn mưa. Mưa không đi được xa với lại mưa lạnh, bụng mau đói. Mà nòi ác nhơn, đã đói cái chân mỏi rã rời, đạp xe không nổi. Không phải bây giờ, hồi trẻ cũng vậy. Nên trước khi đi, lão đểnh một ruột thiệt no, còn gói theo một mo cơm. Gói cơm to như cây bánh tét, lão cột dưới đòn dông xe, đồ nghề cột sau ba ga. Lão quấn thêm điếu thuốc nữa, ra khỏi ngõ trời vừa sáng. Nghề này làm đã lâu, lão không nhớ bắt đầu từ bao giờ. Thời gian làm lão quên nhiều quá. Nhưng cái ngày gặp bà Mầu lão không thể quên được...
Trưa nắng. Tiếng chó sủa dồn. Đám trẻ con trong ngõ im bặt, nhìn theo người đàn ông lạ. Người đàn ông đội mũ lưỡi trai, đi xe đòn dông, có giỏ phía trước, ba ga phía sau, chở những cái lỉnh kỉnh không biết để làm gì. Hình như những thứ ấy được vớt lên ở mé sông, bờ ao nào đó. Hay từ đống rác thải của ông thợ gò đầu chợ. Rất quý. Người đàn ông rất quý thứ mà cuộc đời bỏ đi. Ông sắp cẩn thận trong giỏ. Như thể ông làm nghề đồng nát, thu mua sắt vụn. Nhưng không. Ông làm nghề khác. Một con dao xếp, một cuộn chỉ đen và cái kim làm bằng cây kèo dù để trong túi vải, treo lủng lẳng trên cái ghi đông nhôm chữ U hiệu Pô-vít bóng nhẵn. Ông đi khắp làng nọ, xóm kia. Ông rao giọng nửa ngâm, nửa hát.
“Ai!... Heo đực thiến dái, heo cái thiến hông
Mấy chị không chồng Mầu đây cũng thiến”

“A! cái ông này ngộ thật”. Có vài phụ nữ lên tiếng. Lời rao nghe vừa châm chọc vừa khiêu khích. Chị em không chồng nghe hầm lắm. Hầm vì bị coi thường, xúc phạm. Còn cánh đàn ông thấy vui tai, chỉ cười.
Bốn mùa, ông mặc độc bộ ka ki không phân biệt được màu tro hay màu đen. Bên ngoài là cái áo rộng, không tay, rất nhiều túi giống như áo của anh họa sĩ hay anh thổi kèn gì đó. Nó lỡ dài lỡ ngắn, không cần nút, cứ để cho hai cánh tự thòng xuống hai bên giống như con gà bị điều gắp hụt. Có điều cả áo trong và ngoài không thấy dấu hiệu của sự giặt. Cứ thế quanh năm, ông chào hàng với hai câu lục bát tréo ngoe. Đi đêm hoài cũng gặp ma. Đận ấy ông rảo qua xóm An Điền. Xóm An Điền vào mùa nhổ mạ, phụ nữ ra đồng hết trơn có ai ở nhà đâu mà heo với gà. Ông lân la chỗ rìa làng, nơi chị em đang lúi cúi, khom lưng trên đám mạ. Điệp khúc chào hàng cất lên. Liền có tiếng tằng hắng :
- Cha chả, có thiệt hông đó?
- Sao lại không, đây là nghề gia truyền mà! Không tin thử biết liền hà.
Ông rút con dao xếp trong túi vải ra, xòe bàn tay liết xoèn xoẹt rất điệu nghệ. Lại có tiếng hỏi :
- Là nói cái đoạn sau đó, dám không? Sao làm thinh vậy, nói đi chớ?
Ông đánh bạo :
- Đó chịu thì đây cũng chơi luôn, đâu ngán hè hè.
Bỗng có một chị ngước dậy, lấy nước vuốt sơ mấy vết bùn trên quần, bước lên bờ thẳng tới. Cả đám nhổ mạ vỡ ra sau tiếng cười. Ông đi giật lùi một chút rồi nắm chặt hai tay vào ghi đông xe. Ông định vù. Không kịp. Người phụ nữ đã giữ được cái ba ga. Ông đứng trơ ra như Từ Hải, chịu trận. Chị nói :
- Bây giờ ông đi với tui. Nhà tui ở đằng kia, thiến gì cũng phải vào đó đã.
Nghe kinh quá, ông luýnh quýnh. Nhìn bộ tịch của ông, chị cười :
- Nói vậy mà không phải vậy. Tui có con heo chưa thiến.
Ông lấy lại bình tĩnh rất nhanh, mặt rạng ra. Ông dắt xe theo. Người phụ nữ đang xây xẩy bước đi phía trước. Không biết chồng con thế nào mà ngó còn ngọt quá. Quần chị xăn đến gối, trái chân tròn lẳn, trắng ngần... Ông cười, cất giọng “Ai! Heo...”
Ông “tác nghiệp” thành thục, loáng cái con heo trói gọn, treo ngược lên cột hiên nhà. Ông nói :
- Chị cạo cho tui chén lọ nghẹ, bứt nắm lá ớt và chút dầu hôi.
Ông giã lọ nghẹ lá ớt bóp dầu trộn đều rồi liếc dao xoèn xoẹt. Con vật bị đau kêu om sòm, điếc đầu điếc óc. Chó được dịp sủa vang. Ông xỏ chỉ, may chỗ thiến lại bằng cái kim kèo dù và xoa lọ nghẹ vào đó. Xong xuôi ông nhìn chị ỡm ờ :
- Sao, còn chị?
Chị ngó ông nguýt dài :
- Ông có điên không vậy? Trời cho cái đó để dùng, dại gì mà thiến.
Ông nhìn trước sau thấy vắng, nói đại :
- Nhưng tui thấy hình như chị có dùng đâu, để làm chi mai mốt già cũng không đập lấy hột được?
- Sao ông biết tui không dùng, chưa dùng chứ sao lại không? Nhưng mà đồ nghề của ông tui e lụt quá coi bộ chẳng nhằm nhò gì đâu!
- Này! Đừng có coi thường địch thủ nhé. Đồ nghề này là thứ thiệt, ác chiến lắm đó. Có điều là hồi giờ chưa mở hàng . “Ring” cứng.
- Thôi tiền đây, nói một chút cho vui. Nếu chưa vợ con gì, trưa có ăn cơm ghé đây tôi nấu cho ăn. Chuyện đó tính sau.
Đấy, đơn giản vậy mà con heo xoa lọ nghẹ hôm đó, sáu tháng sau được dùng vào buổi tiệc mừng họ.
Thằng Đẩu sinh ra, lớn xôi xổi nhưng hình như hơi đần. Đẩu được tám tuổi bà Mầu mất. Ông Mầu buồn cả tháng trời không đi làm. Chiều nào cũng cõng thằng Đẩu ra đồi Dông Mộ, ông ngồi đến khi tối xẩm mới về. Thằng Đẩu lang thang trong khu mộ địa, ngơ ngẩn nhìn trời. Đồi Dông Mộ toàn gai tông tốc, cây sằm. Bọn trẻ cột bò vào những bụi gai, xuống bàu mò ốc. Bây giờ hai câu lục bát chào hàng của ông thành câu đồng dao của đám chăn trâu. Chẳng bao lâu nó lan đi khắp làng khắp xóm. Và người ta biết ông, không chỉ nghề thiến heo mà còn kiêm lang băm, bán thuốc thương thực, no hơi. Cứ theo đồn đại thì thuốc của ông hay lắm, hiệu nghiệm như thần. Viên đen đen, mốc mốc giống như kiểu thuốc “ăn được ngủ được” của bà Bèo. Ai ăn không tiêu, chỉ cần uống hai viên là mửa vọt ra ngay. Ông tự đặt “thương hiệu” thuốc Kỳ Nam Nực. Có người thắc mắc không biết ông bào chế từ loại thảo dược gì? Có thấy ông đi tìm thảo dược bao giờ đâu? Riết rồi cũng có người phát hiện ông điều chế bằng nguyên liệu “tự có”. Ông không tắm bao giờ. Những lúc nắng to, mồ hôi đổ ra, ông thò tay vào nách kỳ cọ cáu ghét rồi viên lại nên mới có tên là “Kỳ Nam Nực”. Chuyện đó hư thực thế nào chưa rõ, nhưng việc thiến heo và bán thuốc thì ai cũng biết. Những lúc ông đi, thằng Đẩu ở nhà một mình tự kiếm củi nấu cơm. Bữa đó không biết thế nào Đẩu làm rơi tàn lửa, khi bà con phát hiện nhà ông Mầu chỉ còn một đống tro. Thằng Đẩu chạy ra trước sân dậm chân, há miệng, khóc không thành tiếng. Chiều về, ông ôm thằng Đẩu ngồi thu lu dưới gốc xoài. Ông nhìn trời, trời cao rộng quá, sao phận người hẩm hiu nhỏ bé thế này?
* * * * *
Thằng Đẩu làm nhà cùng lúc người ta san ủi khu đất rộng sáu chục ha làm khu công nghiệp làng nghề. Nhà nó đổ một tấm, mặt tiền. Việc coi ngó tính toán được giao cho thằng Lộc, anh con Dung bán cà phê. Quán cà phê con Dung ở cạnh khu công nghiệp. Đẩu buổi sáng mặc quần lửng ngồi quán, gác chân lên ghế hút thuốc nhìn con Dung cho sướng. Con Dung đẹp quá đi chớ. Nó thuộc loại chân dài, da trắng, mắt lá răm và sắc. Sắc hơn dao xếp ông Mầu. Tội gì mà không nhìn. Nhìn nó cười là tít mắt thôi. Có lẽ trời cho nó cái cười. Nó cười bằng mắt, bằng môi, và bằng cái gì đó nữa, thằng Đẩu nghĩ miết không ra, nhưng mà... say, say lắm. Con Dung khôn đáo để, nó biết khai thác “tiềm năng” và phát huy “nội lực” của mình. Buổi sáng, anh buôn dừa, bẻ cau, chở heo... đến đó để nhìn con Dung cười một cái cho đã. Cà phê ngon dở không cần, trà đậm hay nhạt chẳng sao, miễn là anh nào cũng tự nghĩ rằng cái miệng có duyên đó đang cười riêng cho mình một chút. Có anh mang cả nụ cười ấy lên tận ngọn dừa, buồng cau mà huýt gió. Nhưng chắc không có anh nào dám mang về nhà. Nếu có thì cũng giấu như mèo giấu cứt. Dại gì lộ ra cho bị cấm vận. Con Dung mở quán là thực hiện chiến lược “đón đầu”, nhằm hốt khách khu công nghiệp. Nhưng khu công nghiệp xây chậm quá, ba năm mới xong một con đường. Con đường cấp phối chạy thẳng từ tỉnh lộ lên tận đồi Dông Mộ. Chưa có công nhân thì nông dân. Nông dân quanh đây nhiều anh đã tình nguyện làm bạn hàng thường xuyên của Dung cả rồi. Nhưng đời hay cắc cớ. Đơm cá gặp cua. Khách làng đông mà thiếu chịu nhiều quá. Cứ ghi sổ chờ hết bận dừa, bận cau mới thanh toán một lượt. Chán lắm. Chỉ có thằng Đẩu là tội nghiệp. Ngày còn làm khuân vác, nó ít vào quán. Có vào cũng ngồi ở một góc riêng với mấy ông bạn lấm lem của nó. Nhưng tiền nong rất sòng phẳng. Thỉnh thoảng cũng ngước nhìn con Dung cười một chút.
Chỉ tội là nó hơi tàng tàng. Đầu không đội mũ, chân không đi dép. To con, trạy trạy như Tây đen. Hồi mới đi làm, nó vác một lần hai bao xi-măng như chơi. Làm nhiều, ăn ít mau xuống sức. Chưa đầy ba năm mà nó gầy thấy rõ, lại còn ho khằng khặc nữa. Mới đây, trong một lần bốc hàng xong, trời nhá nhem. Nó được bà chủ hàng đưa tiền sau cùng. Không biết vô tình hay cố ý bà lận vào tay nó một xấp. Nó toan trả lại thì bị đồng nghiệp kéo đi. Hôm đó nó uống thật say. Sáng thấy nhức đầu quá trời. Nó buồn buồn bước vào quán cà phê. Con Dung nhìn :
- Sao mà yểu xìu vậy ông Đẩu. - Đẩu chỉ lắc đầu, cười.
Nó kêu một ly cà phê và một điếu thuốc, đúng hai ngàn. Khi đứng dậy móc tiền, trong túi chỉ vỏn vẹn năm tờ vé số. Nó hỏi con Dung hôm nay là ngày mấy và nhìn vào tấm vé. Nó hồn nhiên cười :
- Cho tui trả bằng cái này nghen. Biết đâu chiều nay...
Con Dung muốn thử vận may, với lại thấy Đẩu cũng tội đành cầm.
Thánh nhân đãi kẻ khù khờ. Thằng Đẩu trúng độc đắc vé cặp không ai tin. Người ta không tin, bởi có ai thấy nó mua vé bao giờ đâu. Không mua mà trúng mới chuyện lạ. Có người nói như vậy. Trớ trêu quá nên có kẻ vò đầu bức tóc. Thằng Đẩu làm nhà mà buồn. Buồn vì ông Mầu không còn để nhìn cánh cửa thiên đường đang mở ra với nó. Ông đã nằm xuống trong một ngày mùa đông mà trong mắt ông, trời còn cao và rộng quá! Ông chưa kịp truyền lại bài thuốc cho đời. Mà đời đang còn nhiều, nhiều người bội thực.
Còn con Dung thì khác. Dung nằm ngửa sung rơi vô miệng. Tự nhiên có năm chục triệu trong tay. Nó hí hửng quá chừng. Thằng chồng cũ đi ngang ngó vào, nó không cười. Các bà vợ của mấy tay chở rọ, bẻ cau thì ca cẩm, các bà oang oang ngoài chợ:
“Gái bỏ chồng như nứa trôi sông, Không dập đầu nọ cũng toác đầu kia”. Toác thì chưa thấy toác nhưng lần này con Dung có cơ hội đổi đời.
Thằng Đẩu làm nhà được ba tháng thì ngã bịnh. Bác sĩ nói trong phổi nó nhiễm quá nhiều bụi xi-măng. Nó ốm liệt giường, con Dung phải tận tay chăm sóc. Mấy anh lái heo nổi ghen, hát “Vai mang túi bạc kè kè...”
Biết không qua được, trước phút lâm chung nó hỏi Dung xin cây viết và tờ giấy. Xong, nó dặn khi nào chôn cất đâu vào đấy hãy lấy tờ giấy ra, nó để trong góc tủ thờ. Con Dung hồi hộp quá.
* * * * *
Mưa. Cơn mưa làm sạch bụi bám trên những lá cây trên con đường cấp phối đến đồi Dông Mộ. Đám tang đi trong mưa, buồn thê thiết. Theo sau chỉ vài anh bốc vác và con Dung. Nước mưa hay nước mắt không biết, nhưng trên má con Dung bị trôi đi gần hết lớp phấn kem. Đồi Dông Mộ có thêm một cái mả mới nằm song song với hai cái mả cũ. Con Dung nhanh chân quay về, cánh cửa tủ đã mở toang. Thằng Lộc móc trong túi ra tờ giấy đập mạnh xuống bàn :
- Thôi đem giao cho Ủy ban đi!
Con Dung như biết được sự việc vào nhà đánh lại lớp kem rồi bắt đầu những nụ cười thu hoạch khác.
Theo ý người đã mất, Ủy ban giao lại căn nhà cho hội từ thiện. Mấy năm sau, hội từ thiện đập căn nhà thằng Đẩu, xây lại cơ ngơi hoành tráng hơn.
Có người nói: “Mười năm sau có thể người ta sẽ đập đi và xây lại cái nhà mới nữa, nhưng hai câu lục bác của ông Mầu cho dù có bao lâu thì cũng không ai có thể đập ra viết lại thành câu khác được, cho dẫu đó là một câu hoành tráng!”

Minh Long hè 2006

0
Chuyện một bức thư
 
Qua khỏi dốc đường tàu, rẽ phải là con đường đang mở. Người ta san ủi, bùn đất lung tung. Gặp đợt mưa cuối mùa, lầy lội quá chừng. Nước đọng lòng đường, nước chực tràn vào chỗ bộ ván kê gần cửa nhà ông Phán. Ông lụi hụi tìm gạch xếp chồng, trát đất sét ngăn nước. Ngôi nhà xấp xỉ tuổi ông, nó cũng hao gầy, teo tóp. Ông lấy cây bạch đàn, cây keo, neo giữ. Bốn vách ngả nghiêng, những viên gạch lùa thanh tre xâu lại. Dẫu sao cũng ngăn được gió. Ông nghĩ vậy. Nhưng ánh sáng thì không ngăn được. Thứ ánh sáng ma mị hằng đêm của đoàn tàu đi qua lia vào đánh thức những khắc khoải trong ông. Và ông ngồi đốt thuốc cho đến khi ngoài đường có tiếng người đi chợ sớm. Ông nhớ rành rành, đó là một ngày tháng Mười một...
Mưa. Người đàn bà thức dậy, tìm khạp gạo vo, bắc niêu cơm lên bếp. Ngọn lửa bập bùng cháy hắt ánh sáng ra làm mặt người đàn bà như hồng lên. Ông ngồi trên bộ ván, vấn thuốc hút, nhìn mưa. Mưa thế này không biết những cây mạ cấy xuống có bị ông trời chụp nước không? Năm ngoái vừa cấy xong, nước trắng lăng đồng, đến khi nước rọt, ruộng đám nào cũng trơ gốc mạ. Những tép mạ non liêu xiêu bệu bã, xõa ra vàng khè như dưa muối. Sợ lắm, sợ mất mùa lắm. Nhưng sao sáng nay, lòng ông thấy có gì âm âm. Niêu cơm bưng lên đặt trên cái rế tre, dở nắp vung ra, mùi củ lang khô quyện mùi gạo thơm phức. Chén mắm cái, giã mấy trái ớt tươi hái ngoài vườn, ngon miệng quá trời. Bưng chén cơm, ông nhìn người đàn bà nói: “Ăn đi, đừng ngại”. Người đàn bà nhìn ông, một thoáng cười trên mắt, ánh mắt của kẻ chịu ơn và hình như còn chứa đựng điều gì xa xăm. Chị bước vào căn nhà này hôm qua, lúc chạng vạng tối. Lúc nhà ai cũng đã đốt đèn. Ông Phán cũng vừa đốt đèn thì có bóng người thụt thò ngoài cửa. Cái bước chân ngập ngừng đó làm ông bưng đèn soi tận tận mặt. Ồ một người đàn bà. Ông lạnh lùng: “Chị hỏi gì?” Luồng gió lùa qua, ngọn đèn lung lay. Người đàn bà rùng mình, ấp úng: “Ông làm ơn cho tui ở lại đây đêm nay được không? Tui lỡ đường!” Một khoảng yên lặng trôi qua. Ông Phán nói: “Tui ở một mình nếu chị không ngại thì cứ tự nhiên. Nhà tui chẳng có gì, bộ ván kia và cái võng đây. Chị muốn nghỉ đâu cũng được”. Treo tay nải trên cột nhà, chị nói: “Mấy hôm trước tui nhảy tàu ở chỗ Cống Đôi. Chỗ đó tàu qua chậm lắm. Họ đang sửa đường. Bữa nay, tàu chạy nhanh, tui không lên được”. Ông Phán có vẻ cảm thông. Lạ gì, lúc trước cũng có vài người vứt hàng từ trên tàu rồi nhảy xuống đây, và cũng có người gửi hàng đây, nửa đêm khuân lên tàu. Chuyện mua bán nhì nhằng ấy mà, ông đâu để ý làm gì. Đôi khi người ta cũng gửi ông ít hào trà lá, gọi là trả công. Ông hờ hững cầm không chê nhiều ít. Ông chuyên chú làm ruộng và đôi khi sửa hộ ai đó cái máy may. Tất nhiên là nghiệp dư thôi. Những cái máy may đâu thời Pháp thuộc còn lại, nó hay bị rối chỉ hỏng kim, hoặc hư thuyền, hư suốt gì đó. Không biết ông học nghề này ở đâu. Ông gọi tên từng bộ phận máy rành rọt. Nhưng tính khí ông bất thường. Cái bất thường đó, làm đàn bà con gái ít ai muốn gần. Ông ít nói, hoặc nói như bổ củi. Nhưng lần này không biết sao, ông lại dịu dàng đến thế. Ông nói: “Hôm nay tui nhổ mạ. Có chút ruộng, không người, một mình làm mệt quá. Chị ăn cơm xong, có việc cứ đi”. Bỗng dưng ông thấy lòng chùng xuống. Ông thấy hình như vô cớ mình quăng mất cái rổ, cái rá còn dùng được ra sân. Nhưng cái rổ quăng ra còn lượm lại, đằng này... Người đàn bà và hết miếng cơm trong chén, bỏ đũa đứng dậy đi xuống bếp. Chị bưng lên cái mo đài đầy nước chè tươi, hôi hổi nóng. Chị nói: “Nước này”. Ông bỏ dở điếu thuốc đang vấn, đỡ lấy, lơ đễnh nhìn ra sân. Chị thu vén chén đũa. Tợp ngụm nước chè, bập hơi thuốc, lòng ông thấy nôn nao. Một cái gì, ừ một cái gì không rõ, nó mơ hồ mong manh, khó nói. Người đàn bà ngồi rửa chén chỗ ghè nước trước nhà. Ai đó làm đồng sớm, ngang qua liếc vào, nói lời gì bay trong gió. Chị điềm nhiên ngồi rửa, thỉnh thoảng ngước nhìn ông. Ông nói: “Tui ra đồng, chị ở nhà rồi đi nghen”. Nhưng không, chị đã theo ông ra đồng. Chị nói: “Cho tui đi với, ngày mai mới có tàu vô, nằm nhà một mình buồn lắm”, “Ừ, đi thì đi” - Ông nói. Đưa siêu nước cho chị xách, ông vác cuốc, cầm nắm lạt mạ đi trước, chị theo sau. Vẫn cái bờ ruộng đã mòn chân ấy, mà ông bước đi hơi luýnh quýnh. Trưa hôm đó, gió bay khắp xóm. Gió mang theo câu nói cửa miệng mọi người “Lão Phán có vợ rồi”. Có người cải lại: “Bậy mà, có vợ sao không nói với ai một tiếng. Ít ra cũng có con gà con vịt mời bà con ly rượu chớ. Cái ông coi mà tệ thiệt”. Đây là nói vậy thôi, biết đâu mà lần, thằng cha hâm hấp đó. Lời bình phẩm bàn đi tán lại, loan xa. Mặc kệ. Ông Phán bình chân như vại. Để lâu cứt trâu hóa bùn. Bây giờ bà Thi là vợ ông Phán. Cuộc tình duyên trớ trêu, xuôi dầm mát mái được mấy năm. Đến khi bà Thi đẻ đứa con trai. Theo người ta nói đứa con trai giống hệt ông Phán từ cái mũi, con mắt đến cái miệng. Cái miệng nó cười dài nhằng hệt như cha nó. Là theo cách nói của bà Năm xóm trên. Nhưng ông Phán thì khác. Ông lằng ằng mãi. Cứ nửa đêm ông dựng bà Thi dậy. “Thằng Tùng con của ai, mầy nói đi?” Con ai bây giờ bà làm sao nói được? Bà ở với ông, sống với ông thì con ông chứ còn con ai vào đây? Đấy là sau lần đem hàng qua biên giới, bà trúng mánh đậm. Mang về một mớ tiền, bà nói: “Ông coi có kíp thợ nào hay hay kêu xây lại cái nhà. Mai tui nói đổ vật liệu”. Ông tỉnh queo: “Không nhà cửa gì cả, cứ để vậy, tui ở từ hồi nào giờ có chết đâu?” Những cuộc cãi vã hàng đêm, những chuyến đi về của bà thưa dần. Đống gạch bà mua đã lên rêu. Nó ngạo nghễ nằm ở hông nhà như một thách thức đợi chờ. Nó đợi chờ cái ngày được thành tường, thành vách, được ăm ắp hứng lấy tiếng cười, tiếng nói nói trẻ con. Nhưng không, nó đã thất vọng. Nó nằm đây từ bao nhiêu đêm rồi, chỉ nghe toàn những tiếng cãi vã, tiếng sụt sùi của người đàn bà. Còn đống cát lụi dần, mấy con chó hàng xóm, ác quá cứ bươi ra làm xấu vào đó. Bà Thi nhìn mà ngao ngán. Tưởng rằng bến cuối này bà sẽ được yên. Sóng gió gác lại bên kia đường tàu. Cái chơn chất, bùn đất của người đàn ông này sẽ cho bà những tháng ngày êm ấm nhất. Bà cố quên một quá khứ cay đắng đời mình. Đấy là lần bà rời khỏi quê nghèo miền biển lên thị thành kiếm sống. Đêm đầu tiên nằm ở thành phố, bà nghe như có tiếng sóng dội mãi vào lòng. Tiếng gió dặt dìu thổi qua rừng dương và cả tiếng chim bìm bịp kêu ngoài bãi bắp. Quê hương là cái gì không biết. Sao nó cứ ăm ắp trong lòng. Rồi bà gặp gã thanh niên điển trai nói lời đường mật. Bà nghe theo, bị gán nợ cho một người bên kia biên giới. Phải mất đến mấy tháng trời, bà mới trốn khỏi. Bà không dám về quê. Lầm lũi ở một thành phố đông người, cái nón mê với rổ vịt lộn trên tay, bà lặng lẽ đi qua chặng đường gian nan đó. Theo những chuyến tàu xuyên suốt Bắc Nam, bà quyết tâm làm lại cuộc đời. Rồi một đêm tình cờ bà ghé vào đây. Để bây giờ, đêm qua không ngủ, bà trằn trọc mãi. Bà ôm thằng Tùng trong lòng. Nó ngủ ngon lành. Giấc ngủ bình yên. Vài tiếng đồng hồ nữa, thức dậy nó không còn thấy bà. Nó mếu máo khóc. Nó kêu mẹ ơi! Nghĩ đến đó, bà thương nó quá. Nhưng biết làm sao? Thật tình bà không muốn xa ngôi nhà này. Nhưng ở lại thì... Bà đắn đo lắm. Vả lại công việc xong bà quay lại tìm cách dẫn Tùng theo. Đây là buổi sáng cuối cùng người đàn bà rời khỏi căn nhà. Căn nhà bà tình cờ đến và ... tình cờ đi. Nó giống như cái ngẫu nhiên nào đó của cuộc đời. Chỉ tội thằng Tùng. Tùng lớn lên trong đay nghiến của cha, và mỏi mòn chờ mẹ. Tám tuổi nó đi chăn trâu cho người hàng xóm. Mười hai tuổi nó mê đánh bài. Ông Phán kêu về cho một trận. Nó bỏ nhà đi luôn.
Đấy là chuyện của hai mươi mấy năm về trước. Hai mươi mấy năm. Một khoảng thời gian khá dài đủ để làm đổi thay mọi cái. Nhưng cái tính khí ông Phán vẫn không thay đổi. Ông đã già lắm rồi, bước đi chậm chạp. Căn nhà ọp ẹp vẫn còn nguyên đó. Những đất đá ngổn ngang trước cửa. Con đường lầy lội quá, mà ông cũng ít khi ra khỏi nhà. Thỉnh thoảng ông hé cửa, nhìn theo đoàn tàu lao đi vun vút về phương Nam. Một đêm sau giấc ngủ, ông thấy mình không dậy được. Miệng đắng chát. Có lẽ cái ngày ra đi của ông cũng gần kề. Một mình trong quạnh quẽ, bỗng dưng ông thèm một bàn tay. Một lời hỏi han chia sẻ. Nhưng không, đã ba hôm rồi, chỉ có những con chuột kiếm ăn đùa giỡn trên xà nhà cùng tiếng thạch sùng chặc lưỡi. Và đêm qua ông đã hôn mê. Khi tỉnh dậy, ông thấy mình nằm trong một căn phòng sáng trưng. Từng giọt nước theo ống dẫn chảy vào cổ tay ông. Một người đàn ông ngồi cạnh lộ vẻ vui mừmg. “Cha! Cha tỉnh rồi hả. Con là Tùng đây. Thằng Tùng mấy chục năm trước mê đánh bài để trâu ăn mạ người ta đây mà”. Ký ức mơ hồ trong ông lờn vờn những mảng sáng tối, những đan xen giữa mất và còn, giữa có và không. Bỗng dưng ông nắm lấy bàn tay Tùng: “Con”. Một giọt nước len ra từ khóe mắt khô cằn trên khuôn mặt hốc hác. Thằng Tùng lấy khăn tay trong túi, mắt nó cũng ngấn nước. Nó run run đánh rơi tờ thư.
* * * * *
“Thành phố biển ngày... tháng... năm...
Tôi muốn lòng mình được thanh thản trước lúc đi xa nên viết mấy dòng này mong ông tha thứ. Ông hãy tha thứ tội lỗi cho người đàn bà lỡ bước ghé vào nhà ông, ghé vào cuộc đời ông. Thật tình tôi cố nén lòng giấu đi một quá khứ đọa đày để cùng ông chung sống cho đến cuối cuộc đời. Nhưng lương tâm tôi không cho phép. Lương tâm tôi cứ mãi xót xa. Mấy chục năm nay, tôi cố làm lụng nuôi thằng Tùng ăn học. Bây giờ nó đã trưởng thành. Tôi muốn nói rõ điều mà ngày xưa hằng đêm ông thường gạn hỏi. Thằng Tùng không phải là con ruột của ông. Chào ông”.
Người đàn bà đã nương nhờ ông đêm lỡ bước.
Thi
Đây là bức thư được viết cách đây mấy tháng, trước lúc bà Thi lâm bịnh nặng và qua đời.
Tùng vò vè mãi tờ thư, rồi xin phép ra ngoài. Một ngọn lửa xanh chập chờn cháy. Và sợi khói mong manh bay lên trong sương sớm. Bệnh viện bắt đầu một ngày làm việc. Nó cảm nhận được một cái gì đó. Hình như hạnh phúc không ở đâu xa. Và Tết này, ông Phán đón xuân ở một thành phố biển.

Minh Long cuối đông 2006

0
Đêm ốc nổi
 
Con gái xóm Đồng Vinh như rổ trái cây. Rốt cuộc đều có người lựa hết, cả trái sâu sia sứt sẹo. Cứ theo cách nói ấy, thì Phượng là trái hấp dẫn nhất, tròn trĩnh, mướt mát, có vẻ thơm tho nữa. Phượng nổi trội trong đám với dáng thon, tóc dài, da trắng. Phượng xinh tự nhiên. Tự nhiên như bông súng, bông sen, mọc hoang trên đồng, như trái vú sữa chín mọng trong vườn. Anh nào thấy cũng muốn cắn còn nói gì nữa - thanh niên cứ rập rình bờ rào, chọc chó sủa rân. Không tối nào yên. “Mệt lắm, đứa nào ưng, tao gả quách”. Cha Phượng nói vậy. Ấy là nói cho cái tai được im. Cho được rảnh mà nghe thời sự tối ở cái loa trên cây gòn. Nhưng có yên đâu, bờ rào vẫn có đứa thụt thò, chó vẫn cứ sủa. Người ta nói con gái lớn trong nhà như có trái mìn nổ chậm. Mìn nổ chậm thì chưa sợ mấy. Chỉ sợ thằng cha căng chú kiết nào đó, lẻn vào gài ngòi rồi bỏ chạy, mới tai họa chứ. Nghĩ đi, nghĩ lại, cha Phượng đốt hết điếu này, nối điếu kia. Tàn thuốc đầy góc nhà. Mỗi lần quét, Phượng càu nhàu: “Bớt hút thuốc đi cha”. Bớt sao được, khi mày chưa có đám nào thì trà thuốc là bạn tao trong đêm. Cha Phượng nghĩ vậy. Đến hôm có người dạm hỏi, lòng ông khấp khởi. Chẳng ai đâu xa, thằng Dần xóm trên. Ừ thằng Dần cũng được. Coi vậy mà nó chí thú. Ông mừng. Làm cha mẹ ai chẳng mừng khi con cái nên gia, nên thất. Nhưng vợ chồng nó đang làm ăn xôi xổi, đùng một cái, đưa nhau ra tòa. Chẳng ai hiểu. Cha Phượng cũng không hiểu. Nghĩ mãi, ông đốt thuốc nhiều hơn. Và chiều nay mưa, ngồi trên bộ phảng kê trước hè, gió hơi lạnh, nhìn phía bàu Đưng thấy toàn là nhà và nhà, ông nghe hình như vừa mất cái gì. Cái gì mơ hồ, không rõ nhưng tiếc lắm...
* * * * *
Cơm tối xong, Phượng dọn rửa rồi học bài. Ông Nậm ngồi vân thuốc hút. Bà Nậm tìm mấy cái rổ, bao tải và đèn pin. Mùa đông trời tối nhanh. Mới hơn bảy giờ, ngoài đường ngửa bàn tay không thấy. Từ nhà đến đồng bàu Đưng không xa, nhưng đường nhão nhớt quá. Mưa có đến vài tuần, cứ riu riu nhẹ, mà ngày nào cũng mưa, mưa hoài không dứt. Cánh đồng bàu Đưng trắng nước. Nước lên đến đầu gối, có chỗ sâu hơn. Đêm tối, đồng vắng. Chỉ có gió và gió. Gió lướt trên mặt nước, gợn lao xao từng chùm ốc đánh đu vđi nhau. Ở đây toàn là ốc bưu. Ban ngày, chúng nấp vào gốc rạ. Ban đêm, nổi lên bám vào nhau, chèo kéo nhau, gặp gỡ nhau vừa kiếm ăn vừa vui chơi, thành ngày hội của chúng. Đây là mùa vợ chồng ông Nậm làm ăn. Với cái đèn pin, dầm chân trong nước, từ đầu hôm đến nửa khuya, ông kiếm có khi được cả bao tải. Vừa sáng, bao tải ốc được phân làm hai. Ông Nậm bán chợ xa, bà Nậm lên chợ huyện. Rồi ốc đi đâu nữa không biết, có khi cũng vào các quán đầu chợ. Một đêm, đang bì bõm trong nước, ông Nậm nghe hình như có tiếng chân người, tiếng chân đi trong đêm trên đồng vắng, chuyện lạ? Ông Nậm dừng lại nghe ngóng, quét đèn pin về phía bao ốc trên bờ, có bóng người đi qua, mất hút. Chuyện ấy mình Ông Nậm biết. Sáng ra, ngoài chợ thấy bà Phi bán ốc, bà Nậm hỏi mua.
- Ốc tui mới bắt đêm qua, ngon lắm, mua đi, nhưng mà ai chứ bà mua làm gì?
- Ờ, tui mua về cho chúng khỏi lạc bầy. - Bà Phi mặt tái đi.
Đích thị rồi. Nhưng không bắt được tay làm sao day được cánh? Với lại chắc túng quá làm liều, thôi kệ. Bà Nậm nghĩ. Thường bà Phi đến chợ với cái rổ trống không. Cái rổ và miếng lá chuối vậy thôi. Nhưng hôm nay có cả mủng ốc. Bà Phi mặc độc cái quần đen vải gì không rõ, cứ mỗi lần đứng dậy là hai ống quần xoắn lại nhun nhún như hai cái lò xo. Hai cái lò xo về đến ngõ, có tiếng người la trong sân. Thôi chết rồi. Bà hồi họp đợi chờ. Thực ra việc chẳng đặng đừng. Ai mà không biết. Nhưng biết làm sao? “Bần cùng sinh đạo tặc”. Bà tự an ủi. Hú vía không phải, ông Phi đang hòa giải chuyện con Phượng với thằng Đàn. Thằng Đàn đánh nhau với con Phượng đâu lúc đi học về. Ông Phi lớn tiếng răn đe. Ông cao lêu nghêu như cây sào lò. Suốt ngày, ông đội mũ rộng vành, cầm sào cời than, đẩy củi. Ông xin được chân đốt lò cho hợp tác xã gạch ngói, sau ngày ở trại cải tạo về.
Chuyện đã mười mấy năm. Mười mấy năm bay vèo như cơn gió. Mới hồi tháng Chạp đây, vợ chồng ông Phi về nước. Xe đón, xe đưa. Xe chạy tới tận cổng. Cái cổng to tổ bố, có chấn song xanh trắng, tay nắm mạ vàng. Ông Phi lêu nghêu bước ra, mở cửa dìu bà Phi xuống. Bà Phi váy đầm củn cởn, thưởng thẹo. Ừ thì Việt kiều mà. Đồng đô-la xanh dễ làm người ta mướt ra. Nhưng cũng dễ làm cho đời mọc các thứ nhánh nhóc, các thứ đọt chồi. Thằng Đàn không làm hộ chiếu được, nên đành ở nhà với vợ. Vợ chồng nó quẳng cây sào, không thèm chăn vịt, tập đánh bài, hát karokê và uống bia. Thằng chồng uống bia ở nhà hoài chán, chuyển sang uống ở quán. Quán bây giờ có mà đầy. Ở quán được rót, được mời. Được vuốt những đuôi mắt dài, tình ngắn. Người ta lấp cánh đồng bàu Đưng, xây nhà, xây quán san sát. Trong ký ức của ông Nậm thì con đường nhựa này, hồi xưa là đường đất gầy nhom chạy về xóm Đồng Vinh. Bây giờ, đầu đường là quán café treo nhiều dây đèn màu nhấp nháy. Buổi sáng, có mấy đứa con gái trẻ măng, đầu tóc ướt mem, (xả bớt mưa vần, gió vũ đêm qua) đến quán bắt chéo chân khuấy café, hút thuốc. Mà mấy đứa này kỳ lắm, ăn mặc sao chẳng giống ai. Áo váy mỏng tang, còn hở vai, hở đùi nữa... Cứ mỗi bước ném hai làn mông sóng sánh phía sau. Thằng Đàn mãi nhìn theo. Con kia ngoái lại, cả hai cười. Hình như chúng quen ở đâu rồi. Còn ở đâu nữa? Có người nói thế. Chỉ tội thằng Dần. Dần lụi cụi suốt ngày. Con Phượng sai làm mù mắt, tắt đèn. Việc gì nó cũng làm (mà làm giỏi nữa nghen). Bẻ cau, suốt lúa, cả chích thuốc, chuyền tinh heo... Nhiều tối, Phượng rủ nó ra quán đầu làng hát karaokê, Dần lấy tay che miệng ngáp dài. Trèo cau tối ngày nắng thấy mụ nội lấy sức đâu mà hát? Vả lại tiền hát một giờ có khi bằng công chuyền tinh heo cả buổi. Nghĩ thế nên nó lắc đầu. Nhưng hát đã thành phong trào rồi. Cả xóm, hầu như ai cũng hát. Có người hát ở quán không đã, sắm máy hát ở nhà. Hát để giải phóng sinh lực thừa. Ông Nậm nghĩ khác. Ông nói “Ăn no rỡn mỡ”. Mới đây thôi, mới hồi ông đi bắt ốc, cầm được cái củ mì, mừng hơn cầm mi-cà-rô. Còn bây giờ khác xa, ngày nào con Phượng không hát, thấy trong người sao sao ấy. Thứ ác nhơn, đi hoài thành quen, nhịn chịu không được, ai rủ đi liền. Phượng có hai đứa con, đứa nào cũng xinh như mẹ. Nhưng mẹ hát con không khen hay mà mấy thằng cha bợm nhậu trên quán khen hay mới chết người ta chớ. Trong số đó tất nhiên có thằng Đàn. Từ ngày ông Phi định cư ở Mỹ, thằng Đàn nổi tiếng vung tiền qua cửa sổ. Có lần ông phải nói: “Mày tiêu vừa vừa chứ, bên đó tao đi hái bông vải gần chết đâu có sướng ích gì”. Thằng Đàn ngược lại, nó thấy tiền đô tiêu sướng hơn tiền bán vịt. Cứ vài đêm đi hát một lần. Mà lần nào nó cũng nhắn nhe con Phượng. Phượng có giọng hát hay, phấn son suốt ngày, móng tay, móng chân đỏ chót, chảnh lắm. Phượng nói: “Thỏi son môi này giá hơn tạ thóc đó nghe, à quên gần vài chục đô đó”. Mấy bà đi chợ lè lưỡi, có bà cố nuốt cho trôi miếng nước bọt cứ lờn vờn trong cổ. Một lần đi hát Đàn làm rớt mi-cà-rô, Phượng cúi xuống lượm, để mấy ngấn cổ trắng ngần, Đàn ghé môi vào đó.
- Đừng anh. - Nhưng Phượng đã choàng tay vít cổ Đàn vào ngực. Cái ngực lồ lồ hâm hấp nóng... Và thời gian trôi. Ánh đèn mờ ảo, hơi men và những đồng giấy bạc lạnh lùng, đã kéo Phượng đi... Bàn chân Phượng bước khỏi những đám ruộng bùn đi về miền ảo ảnh. Ở đó có thứ ánh sáng ma mị hoang hoải thắp lên hàng đêm màu phỉnh dụ.
Cán cân công lý cân hai cuộc đời. Một bên tiền bạc, phấn son. Bên kia mồ hôi, nắng gió. Hai cuộc đời không gắn kết vào nhau. Đồng bạc vô tri lách vào ở giữa. Mỏng và sắc. Nó cắt đứt những gì thiêng liêng, cắt đứt dây neo chồng vợ. Dần nghe tòa tuyên bố :
- Hai đứa con, một đứa theo cha, một theo mẹ...
- Không, con không chịu đâu!
Đứa lớn ôm đứa nhỏ khóc. Những giọt nước mắt nóng hổi tinh khôi. Những giọt nước mắt chưa hề vướng bụi không làm tươi lại được những số phận con người. Dần thấy rã rời. Hai đứa nhỏ cứ ôm nhau. Chúng nhìn mẹ, nhìn cha. Nhìn mọi người với ánh mắt van xin cầu cứu.
Bên kia bờ đại dương, tuyết lạnh lùng rơi, gió vẫn thổi và những cánh đồng bông vải bát ngát. Thiên nhiên không có tội. Nhưng biết làm sao bây giờ? Từ hôm bà Phi oang oang ngoài chợ: “Đây này, bà con xem đây”. Thoạt nhìn thấy trắng hếu như con heo cạo. Nhìn kỹ đó là hình một phụ nữ truồng nhồng nhổng. Ngực chảy xệ. Bà Phi lấy máy, chụp người bu lại coi hình. Kẻ hiếu kỳ ngày càng đông. Họ xem hình hay xem người cho coi hình? Có lẽ cả hai. Người cho coi lạ quá. Tóc có bao nhiêu cũng chòm vàng chòm đỏ. Áo pul đã chật còn màu mè quá cỡ. Lại nữa, quần đùi jean ngắn ngủn, ống xé te tua (để khỏi thành lò xo), cẳng chân có phần trắng hơn nhưng đã nhăn nheo. Bà Phi cười cười, hàm răng trắng muốt đâu còn bợn cơm vàng khè như ngày xưa. Bà nói: “Thằng Đàn say, bỏ cái điện thoại trên bàn, con vợ nó thấy, đem rọi lớn, tưởng ai té ra Phượng, con nhà Nậm”. Bà Nậm bán trái cây gần đó nghe điếng hồn, tay chân bủn rủn. Mồ hôi chảy thành dòng. Bà thấy mất đi một cái gì quá lớn. Lớn gấp trăm ngàn lần rổ ốc mất ngày xưa. Ngày xưa vì khó mà đùm nhau. Còn bây giờ (...) ai đùm được miệng bà Phi?

0
Qua sông
 
Trời nóng. Nóng gần đến bốn mươi độ. Lại mất điện, Thắng điều hành cuộc họp đến cuối buổi. “Này, anh đưa tôi ra bờ sông”. Thắng nói với người lái xe. Ra bờ sông sẽ đỡ hơn. Đó là cách giải tỏa bức bối cả bên ngoài và bên trong. Suốt bốn tiếng đồng hồ, căng quá, chưa có buổi họp thi đua nào căng đến vậy. Thắng nghĩ, quyền lợi là cần thiết, nhưng đôi khi cũng làm người ta khó xử. Ra bờ sông có gió, với lại có anh chủ quán tếu táo vui tính, Thắng thấy dễ chịu hơn. Thắng nói: “Độ này trông bác có vẻ hơi gầy đó”. Anh ta cười cười, “A! gầy hả, gầy thì tốt, người ta nói mình gầy mà...” Chủ quán vừa nói vừa ngó sang bà vợ béo. Bà vợ ném cái lườm nóng hổi như trả than về phía gã. Gã cười xởi lởi. “Hôm nay sao xếp ra muộn thế?” Chủ hỏi. Thắng nói: “À, cơ quan họp xét thi đua”.
- Chà! Thi đua hả, thi đua có gì căng lắm đâu, tôi kể anh nghe chuyện hội thi này nhé.
Anh ta bê thùng bia, lăng xăng với mấy cái ly và nắm giẻ lau trên tay, anh kể: Có một cụ vào tuổi trung niên, bản tính thiệt thà, làm biếng nghĩ xa, ưa nghĩ gần. Nghĩ gần khỏi mệt cái óc đó là lời cụ nói. Bù lại thằng con trai cụ thông minh, nó làm công tác phong trào. Phong trào gì nó cũng tham gia, nhất là các phong trào hội thi, mà nòi bất nhơn, hễ nó tham gia là đạt giải, một lần người ta thi “tìm hiểu về giới và những vấn đề liên quan”. Sau buổi thi, con cụ trở về ôm theo bó hoa.
Cụ nói :
- Kể tao nghe coi, sao hoa hòe nhiều thế? Thắng lợi hả con?
- Tất nhiên. - Thằng con trả lời kiêu hãnh.
- Nhưng mày hãy kể tao nghe thử coi. Thi cái gì vậy?
- Có gì đâu, dễ ẹc à. - Thằng con thản nhiên.
- Dễ là thế nào? - Ông già hỏi.
- Thì người ta hỏi ở giới phụ nữ, bộ phận cơ quan nào có vị trí quan trọng nhất? Thí sinh dự thi có vẻ ậm ừ, điếc đặc, còn con trả lời ngon ơ, người ta vỗ tay kịch liệt.
- Mày trả lời sao mới được chớ? - Ông già hỏi.
- Cơ quan có vị trí quan trọng nhất của giới phụ nữ là “Hội Liện Hiệp Phụ nữ”.
- A thế, vậy mà tao tưởng... - Ông già chậm rãi.
Cuộc thi hôm sau lại tiếp tục và lần này thằng con trai ông cũng ôm bó hoa trở về.
- Thắng lợi chứ con. - Ông già hỏi.
- Tất nhiên rồi!
- Lần này người ta hỏi sao?
- Phụ nữ thích cầm nắm cái gì nhất của người đàn ông?
- Câu hỏi này có vẻ căng đây. - Ông già lo lắng - Rồi mày trả lời sao? - Ông già hỏi.
- Lần này người ta vỗ tay càng nhiều hơn.
- Trả lời sao nói lẹ nghe coi.
- Cái người phụ nữ thích cầm nắm nhất của người đàn ông là... lương, lương tháng ấy mà.
- Hoan hô, trên cả tuyệt vời, vậy mà tao tưởng...
Đúng là ông già hay tưởng... - Chủ quán nhận xét trong tiếng cười - Chủ quán tiếp :
- Ông già thích nghĩ gần theo cách ông nghĩ. Nhưng cuộc đời gần xa quanh quẩn cũng bấy nhiêu thôi, phải không xếp?
Bà vợ bỏ mớ lá ngò xuống, chúm chím lườm: “Hỏi vậy mà cũng hỏi. Vô duyên”. “Hôm nay xếp lai rai món gì để em làm?” - Bà vợ nhìn Thắng hỏi.
- Món gì cũng được, tôi vẫn thích các món chuyện thập cẩm của ông nhà, chủ yếu là vui thôi mà.
Được trớn, anh chủ quán tiếp tục, những mẩu chuyện dây cà dây muống, tào lao hết cỡ của chủ quán. Anh kể về chuyện một người qua sông bị cô lái đò lấy tiền gấp đôi. Người khách tức giận hỏi tôi cũng như mấy người nầy, có mang theo gì đâu sao cô lấy tiền tôi nhiều thế? Cô lái đò nói có đấy. Tôi chở anh qua sông nhưng anh mang theo những núi đồi. Cô vừa nói vừa kéo cổ áo thun hơi bị trễ xuống. Người khách hết giận liền, móc tiền và xin trả đến những gấp ba. Cô lái đò ngạc nhiên nói tôi đòi hai sao anh lại trả ba? Người khách cười cười nói núi đồi có nặng đây nhưng suối khe còn vất vả hơn! - Anh này thật thà và dũng cảm quá. Sẵn sàng nhận “khuyết điểm” về mình, không chạy chối quanh co. Trung thực, rất trung thực. Chủ quán cười khà khà, lấp cả lời cằn nhằn của vợ. Nhưng lần này Thắng không cười. Qua đò. Thắng nhớ lại chuyện qua đò cách đây gần ba mươi năm về trước. Cũng trong một lần sang sông, Thắng còn day dứt đến bây giờ. Đó là vào khoảng năm bảy tám, bảy chín gì đó. Hồi ấy Thắng làm thủ kho. Thủ kho lương thực...
* * * * *
Mưa. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Bầu trời xám như chì. Thắng dắt xe đạp, lội bùn đi được một quãng. Bỗng dưng Thắng quay lại, quay lại đến bờ sông thì trời tối. Mặt sông mờ mờ trong mưa. Thắng nghĩ nếu mình không trở lại trong đêm nay, nhỡ khi lũ về, kho hàng có thể nhấn chìm trong nước. Chìa khóa mình cầm, anh em biết làm sao. Nhưng giờ này, sông vắng ngắt. Con đò đã kéo lên cột vào gốc tre. Làm sao có thể qua sông lúc này? Câu hỏi càng lúc càng thúc bách. Người lái đò không phải là cô gái như trong chuyện kể. Vả lại nếu giờ này có trả gấp ba, gấp bốn anh cũng bươn qua. Nhưng lái đò là một ông cụ già. Một cụ già, với con nước này, không làm gì được. Hình như cụ đã tiên liệu cả rồi. Cụ cẩn thận cột đò trên bãi. Chừng mươi lăm phút đắn đo, Thắng đi đến nhà cụ. Mưa ào ào đổ. Thắng nhìn qua khe líp. Ánh đèn hột vịt còn yếu hơn sức cụ, vừa đủ soi bóng ba người trên tấm vạt tre. Hai già một trẻ. Đứa trẻ chừng lên mười. Nó liên tục hỏi ông về con nước. Ông cụ vừa và cơm vừa trả lời. Ông chậm rãi nói: “Với lối mưa này nước có thể vào nhà trong đêm nay. Thôi ăn nhanh lên cháu, rồi ta liệu”. Thở dài, Thắng không nói nửa lời lặng lẽ quay ra. Thôi được, mình sẽ cố gắng tự chống sang bên kia rồi hãy hay. Thắng nghĩ. Nhưng cuộc đời vốn không như người ta nghĩ. Thắng lầm lũi đẩy đò xuống sông, nước chảy mạnh. Mới ra chưa được con sào, nước cuốn đò trôi về phía hạ lưu. Thắng nghiến răng cố ghìm giữ, nhưng càng giữ càng bị đẩy trôi. Không buông xuôi số phận, hơn nửa giờ vật lộn với nước, cuối cùng Thắng đã tấp được vào bờ bên kia. Bấy giờ nước đã lên đến rìa những ruộng lang, ruộng bắp. Nơi này cách xa bến đậu có đến non cây số. Ở đây toàn lau lách. Tìm mãi không có chỗ neo. Thắng cố lôi đò lên ruộng bắp, cắm sào và neo vào đó, neo thật kỹ. Thắng nghĩ đến kho hàng, nghĩ đến ông cụ. Kho hàng có thể giải quyết trong đêm nay, nhưng ông cụ? Ông cụ chèo đò trên bến đã lâu. Đò thì có bến. Còn đời ông thì hết chỗ neo rồi. Cần câu cơm cho người vợ già và đứa cháu mồ côi là mái chèo này. Tuổi trẻ ông từng làm sơn tràng, lên rừng xuống bể. Sức lực gân cốt thời trai đã chia chát cho dòng sông cuộc đời. Cuối cùng tại bến sông này, một ngày khi cuộc chiến sắp kết thúc. Ông đã vét hết nước mắt, đem chôn đi hai đứa con trai cùng lúc. Đấy là lần bè tre ông ngang qua đây. Bỗng có tiếng máy bay gầm rú, rồi những tiếng nổ kinh hoàng. Ông bị hất tung trên bờ lau. Khi tỉnh dậy mới biết hai thằng con trai đã cùng số phận. Và ông chọn bến này làm chỗ neo đậu cho cuộc đời mình. Nhiều khi Thắng ngồi trên bến đợi khách hút thuốc với ông, nghe ông kể mà cám cảnh.
- Nhanh tay lên, mình khuân nốt những bao này nữa là xong. - Đấy là giọng của người làm việc với Thắng.
- Nếu anh Thắng không trở lại, bọn mình bó tay thôi. - Một người thêm vào.
- Không có anh Thắng chắc là phải phá cửa nhà kho, nhưng phá thì rắc rối lắm.
- Đúng vậy, mình nghĩ anh Thắng không quay lại, mấy tấn thóc chắc phải nấu mạch nha.
Cuối năm, Thắng và số anh em ấy được được biểu dương trong đại hội thi đua, là những gương mặt tiêu biểu xuất sắc của ngành. Thắng được nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua. Có người bảo anh phải “thể hiện sự phấn khởi” chứ? Mà phấn khởi thiệt, cầm bằng khen trên tay, Thắng sung sướng lắm. Sung sướng vì đã cứu kho thóc, hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Nhưng Thắng đã từ chối. Thắng nói: “Tôi cám ơn sự quan tâm của cấp trên đối với bản thân. Nhưng thành tích này xin dành cho tập thể. Còn khoản tiền này tôi xin phép được gửi tặng cụ chống đò ở bến sông ta”. Người ta không ngạc nhiên mấy khi nghe Thắng phát biểu như thế. Bởi tính Thắng xưa nay vốn vậy. Tưởng thế là lòng nhẹ đi. Nhưng không, hình như trong Thắng vẫn có điều gì day dứt cho đến một ngày khi Thắng đã chuyển sang ngành khác và...
Đấy là một buổi sáng nhiều năm sau đó, một lần công tác lên miền ngược, tình cờ Thắng gặp lại bà cụ, vợ người lái đò năm xưa trong một túp lều bên đường. Bà cụ thều thào kể:
“Sau đêm lũ lớn ấy, con đò nhà tôi trôi mất. Không biết làm sao tậu lại, cả nhà dắt díu nhau lên đây kiếm sống lần hồi. Được ít lâu ông cụ bị bệnh mất. Thằng cháu nội được thêm ít tuổi, thì cũng bỏ tôi đi luôn. Nó theo người ta đi đào vàng đâu xa lắm. Mấy tháng đầu còn có tin, sau đó biệt tăm luôn. Nghe nói nó bị sốt rét, sập hầm gì đó bỏ xác trong rừng sâu. Có người nói nó đi buôn đá quý trên biên giới. Tôi già yếu quá làm sao mà tìm hở cậu?” Câu chuyện của bà cụ nghe buồn thê thiết. Buồn như bờ lau xơ xác ven đồi. Đành rằng lũ lụt là chuyện tai trời ách nước. Nhưng ít nhiều Thắng thấy như có gì day dứt trong lòng. Và sao mình không chịu nói ra sự thật. Tại sao mình không dũng cảm đứng ra nhận sự bất cẩn về mình? Mà có thật là bất cẩn không? Mình đã làm được việc chung. Việc chung thì tốt. Nhưng còn sơ xuất bất cẩn thì. Và ở đời, đôi khi sự bất cẩn của ai đó sẽ đẩy những số phận con người về phía khác.
Trong cuộc họp chiều nay, người ta nói nhiều đến thành tích, ai cũng muốn được cấp trên khen thưởng. Ai cũng muốn mình là người đổ mồ hôi nhiều nhất cho xã hội. Điều đó đúng thôi. Nhưng liệu, ở tận sâu xa trong lương tâm mỗi người chắc gì không có những điều trắc ẩn? Cũng như ngày xưa Thắng có điều trắc ẩn mà không dám tỏ bày. Bây giờ tại bến sông xưa, người ta đã bắc qua một cây cầu. Cây cầu hiên ngang vững chãi. Những bước chân qua đó cũng vững chãi hiên ngang. Và hình như người ta quên đi dưới chân cầu có một con đò từng gối bãi. Từng đưa biết bao người lên đò đi về phía lợi danh. Thắng cũng vậy. Có điều đôi mắt mờ mờ của bà cụ năm xưa hình như cứ muốn nhìn thấu vào ruột gan mình.

Minh Long, tháng 03 /2008

0
Ngộ
 
Ở đời ai chả có cái mặt. Có người mặt lanh, có người mặt đần. Có người mặt chơi được và có người “không chơi được”. Còn tôi thuộc loại mặt bờm. Tự dưng thành mặt bờm, tức không? Tức thì tức mà phải đành ngậm miệng. Thấy tôi về lắc đầu, ném túi hồ sơ xuống bàn, vợ nhìn nói :
- Lần này thì chắc rồi.
- Chắc cái gì? - Tôi hỏi.
- Thì tại cái mặt bờm quá chứ cái gì?
Đã bực, giờ thêm một lần run, tôi bỏ ra quán. Ở quán, gặp xui. Thằng hũ chìm ngồi đó. Thấy tôi nó hỏi: “Mày làm gì đây?”. Tôi trút bực lên đầu nó: “Không uống vào đây làm con mẹ gì”. Nó không giận, mà còn sướng vì có người sẻ chia. Nó kéo ghế, tôi ngồi. Thấy nó chưa đủ “đô”, tôi hỏi: “Tao hỏi thiệt mày nghen, cái mặt tao ra sao? Có bờm lắm không?” Nó trố mắt ngạc nhiên: “Sao hôm nay mày hỏi kỳ vậy? Hình như mày vừa bị...? Thôi uống đi. Đàn bà bao giờ họ cũng có cái lý của họ. Trên đời này anh nào có vợ, mà không bị ‘sao bà’ chiếu mạng mới là tài! Thôi uống đi”. Tôi nói: “Không, không phải, là chuyện khác. Còn xót hơn như thể...”
* * * * *
- Uống đi, ly tận cùng của khôn ngoan - Nó đẩy ly về phía tôi - Tận cùng của khôn ngoan là lọc lừa. Uống đi. Khôn ngoan từ ngoài mà vào, lọc lừa từ trong mà ra. Khôn ngoan và lọc lừa đôi lúc nháo nhào. Nhưng tất cả rồi sẽ qua đi, kể cả đời mình.
Nó cười ngạo nghễ bất cần. Cái mặt thằng bất cần này thấy hay hay. Ừ! Dại gì ôm cả nháo nhào cuộc đời vào cho nặng bụng. Tôi nói :
- Mày say rồi.
- Không, tao không đời nào say.
- Không say thì ngồi xuống.
Nó ngồi xuồng. Có anh nào uống rượu mà nhận mình say? Nó đưa tay lên búng “trốc”: “Tuyệt, thơ mày hay tuyệt. Nhưng phải uống vào mới cảm nhận hết cái hay”. Nghe nó khen mà sướng. Tôi đẩy vào một ly đầy khí thế. Làm thơ ai chả sướng khi có người khác khen. Cho dẫu lời khen trong hơi rượu! Rượu say và thơ hay. Bài thơ vượt qua bờ vùng, bờ thửa, bay lên tận đường bê-tông của xã rồi. Cả xã ai cũng biết cái mặt tôi làm thơ. Cái mặt lúc nào cũng ngơ ngẩn đẩu đâu! Được vài câu khen vặt, tôi càng bờm ra, gối đầu lên mây. Và thấy đời đáng yêu lắm lắm. Nhưng không. Đời có cách nghĩ của đời. Vợ tôi nói: “Lạy ông, thứ đó không ăn được, người ta hết gạo xách rá đi mượn gạo, không ai đi mượn thơ. Thơ không nấu được, không độn được, ông viết để làm gì? Ai đọc? Ai nghe? Này để tôi đếm cho ông thấy. Một là thằng xe cộc cạch đầu ngang, hai là thằng Hùng thợ mộc, ba là thằng Chín xẻ heo. Ba thằng này nó nghe ông vì ngày xưa nó học ít. Giờ có chút tiền rỏn rẻn, nó muốn mượn ông để làm sang mà! Còn những người khác...?” Tôi la lên: “A! Mẹ mày công nhận thơ làm sang cho đời nhé! Vậy thì người làm ra thơ tất phải sang chớ. Đúng không?”.
- Đúng thì đúng, nhưng tôi nói rồi. Cái sang ấy để qua một bên vì không bỏ vô nồi được, suốt ngày ông hoang tưởng, lúc nào cũng hết mình cho... cái gì? A! Nghệ thuật thi ca! Ông càng hết mình thì mấy đứa con ông càng hết chỗ thở.
Tôi đuối lý và cay đắng nhận ra điều đó. Đã nhiều năm tôi vác mặt đi khắp các cơ quan xí nghiệp (tất nhiên không cầm xấp vé số trên tay). Nhưng người bán vé dạo còn được chia sẻ bằng cái lắc đầu hay nụ cười đáp lại. Còn tôi, đáp lại là những câu nói nửa vời. Những câu nói cực kỳ thông minh. Cực kỳ kinh điển. Cứng như đá, chặt như nêm và cũng ơ hờ lỏng lẻo. Đủ cho cái mặt tôi phờ ra, ngây lên. Hồn nhiên mừng, hồn nhiên lo! Bữa đó tôi chạy hơn sáu mươi cây số đến khu kinh tế mở, giữa đường gặp sếp :
- Ông đưa hồ sơ tôi xem nào. Ừ được, tốt quá. Tuần sau đến thử việc.
Tôi về khoe với vợ. Vợ tôi mừng quýnh, mua cái đầu heo, trước là tạ ơn trên, sau mời bà con chòm xóm uống ly rượu mừng. Ngày mai con bé đi làm. “Đi làm phải có xe máy và điện thoại”, sếp nói. Cái đó tôi thấy mình lo được. Đấy cũng là phương thuốc giảm “stress” cho con bé. Sáu năm rồi, nó ra trường chờ đợi trong mỏi mòn, hồn nhiên vui tươi, hăm hở vào đời của nó đã héo hắt lụi tàn. Khuôn mặt nó đọng đầy đắng cay, thất vọng, nhìn mà xót. Lần này gia hạn lại ước mơ. Thấy nó phụng phịu vì mỗi bữa phải gói cơm theo, tôi nói: “Hữu khổ thành thân, phải biết chịu khó, mình vui là vì làm được việc khó”. Tôi kể chuyện ngày xưa cho nó nghe. Nó không tin. Tôi nói: “Thật đây, hồi học trường tỉnh, Ba chỉ có một cái áo thôi. Gặp lúc ướt mưa, phải cởi ra vắt rồi mặc vào học tiếp. Vậy mà còn học được, làm thơ được. Bây giờ sướng quá thành hư”. Nó cãi lại: “Lúc nào Ba cũng nói hồi xưa, hồi xưa khác, bây giờ khác. Ai đời xài điện thoại di động lại ăn cơm nắm”. Tôi nói: “Điện thoại là điện thoại mượn, khi nào có lương sẽ tính. Đang thử việc không lương, sao đòi xài sang”.
Tháng sau sếp nó gọi tôi đến :
- Ông mua cho cháu cái vi tính. Ai đi làm cũng phải có một cái để đây - Sếp chỉ vào góc phòng - Của ai nấy dùng.
Tôi run người. Run vì mừng ít lo nhiều. Lấy đâu ra? Tiền nhuận bút năm khi mười họa mới có một bài. Mà lãnh một bài, rượu nợ đã mười bài! Phen này chắc chết. Tôi chạy bay về nói với vợ. Vợ tôi chép miệng ngó ra sân. Sân vắng, con gà không thèm đến. Tôi bấm bụng vác sổ đỏ lên ngân hàng. Anh ngân hàng nhìn tôi từ đầu đên chân, thấy tóc tai bù xù, mặt mày hốc hác sinh nghi, cứ lật đi, lật lại cái sổ hoài. Cho vay thì được nhưng lấy gì trả? Mà những thằng cờ gian bạc lận này thì liều lắm. Anh ngân hàng nghĩ ngợi khá lâu. Bỗng dưng tôi thấy buồn. Chỗ bạc tiền khó không phân biệt vàng thau. Lấy sổ, tôi về. Vợ xòe nắm tiền mới cáu :
- Bốc nóng! Tôi biết tính ông, nên không đợi. Thôi mua cho nó đi.
Kêu được xe chở tới cơ quan con bé, tôi khệ nệ bưng máy xuống, thì sếp tới :
- Ông ôm cái gì đấy?
- Dạ cái máy cho cháu làm.
- Không được, chở về đi.
Đang ngày mùa đông, mồ hôi tôi cứ chảy thành dòng? Chảy tự do, chảy cẩu thả như mưa rào... Có lẽ mệt quá, đoảng người, nghe nhầm. Tôi hỏi lại cho chắc :
- Sếp nói sao? Đem... vào đâu?
- Đem về, chứ đem vào đâu. Nó không có năng lực, cho nghỉ, hồ sơ đây.
Bây giờ thì tai ù thiệt. Mắt tôi nhòe ra. Vẫn con người ấy, khuôn mặt ấy. Cách đây có hai ngày thôi mà. Hai ngày cách đây, năng lực nó vẫn còn! Bây giờ bỗng dưng mất đi một cách khủng khiếp!? (bốn năm đại học chỉ hai ngày là mất trắng) Mặt tôi phờ ra thảm hại. Muôn ngàn cái máy vi tính đang nhảy múa, muôn ngàn nụ cười diễu cợt trong tôi. Những mặt người chao lượng. Những mặt người biến dạng, đổi thay ngoa ngoắt đến kinh người. Những con mắt trắng dã bạc tiền. Còn cái miệng sếp thì vẩu thêm ra. Sếp nhìn vào nơi nào đó. Một nơi khác lạ. Một cái nhìn lưỡi dao, hiểm hóc, dứt điểm, lạnh lùng.
Ngồi ghi lại mấy dòng này mà nước mắt tôi cứ ứa ra. Bán đổ bán tháo cái máy trả cho chủ nợ được một nửa, còn nửa kia biết chỉ vào đâu? Vợ tôi bỏ cơm. Con bé vùi mặt vào gối. Tôi ngộ ra một điều. Cho dẫu những bài thơ có hay đến đâu, có đắng đến đâu, có chua đến đâu, cũng đành bất lực, vì không vẽ hết khuôn mặt người đời.
 
Trại sáng tác Tuy Hòa 10/2006

 
HẾT
0
Tập truyện ngắn Bóng chiều - Thoại Văn
Đã mang vào thư viện
 
cảm ơn và chúc casau luôn vui
 
📎 thank-you-image




0