📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Những ngày diễm ảo - Nhất Linh 🔒

19 trả lời, 28 lượt xem — Trang 1 / 1
Tập truyện ngắn Những ngày diễm ảo
Tác giả: Nhất Linh
 
 
Những ngày diễm ảo
 
I
 
- Em có thấy lạnh không?
Hiệp vừa hỏi vừa cho ngựa tiến sát bên xe, cái mình với chiếc khăn len, âu yếm quàng lên vai Diên. Diên mỉm cười thu hai tay áp vào ngực, rùng mình một cách nũng nịu :
- Nghe anh hỏi, em mới thấy lạnh. Tiện tay anh buộc khăn cẩn thận lại cho em, kẻo gió bay.
Rồi nàng nghiêng mình về phía Hiệp, ngửa cổ lên cho Hiệp buộc hộ nút khăn. Hai con mắt nàng dưới ánh nắng thu trông lấp lánh sau hai hàng mi đen và dài. Hiệp toan nói :
- Mắt em lúc này đẹp lạ!
Nhưng chàng giữ lại, vì thấy Sơn, người cháu của chàng đã ở phía bên kia đường cầm dây cương bước lên xe. Hiệp buộc vội nút khăn, ngửng hỏi Sơn :
- Cháu cho đi thong thả, kẻo đường xóc, sợ thím mệt.
Chàng giật mạnh dây cương: con ngựa trắng của chàng nhảy chồm hai chân trước ưỡn cổ, hí lên một tiếng dài.
Thấy Diên nhìn một cách tò mò, Hiệp hỏi :
- Nhà có biết cưỡi ngựa không?
Diên lắc đầu, Hiệp tiếp theo :
- Rồi mợ sẽ tập cưỡi. Cũng không khó gì!
Tuy Hiệp thích cưỡi ngựa, nhưng chàng vẫn lấy làm khó chịu vì không có ô-tô ra đón. Chàng hỏi Sơn :
- Tài xế vẫn ốm? Ốm gì mà lâu dữ thế? Cháu đã bảo rửa xe cẩn thận rồi đấy chứ?
Sơn thấy nói đến ô-tô, nét mặt hoạt động hẳn lên, hình như ở đời chỉ có chuyện ô-tô là đáng cho cậu để ý.
- Thưa chú, cháu phải xoay trần rửa mất một ngày mới hết bùn đấy. Cháu toan lái ra đón chú thím, nhưng sợ chưa vững tay, cho ô-tô xuống ruộng. Cái xe êm lạ, đi đường này êm như trên sân đất. Chủ đổi xe cũ phải các bao nhiêu?
Diên hỏi Hiệp :
- Có phải cái xe tôi đi hôm nọ không?
- Không, đấy là xe cũ. Đây là xe mới để thỉnh thoảng đưa nhà về Hà Nội cho tiện.
Diên mỉm cười sung sưóng. Câu chuyện không được tự nhiên của hai người nói trước mặt đứa cháu đã cho Diên cảm tưởng êm ái được là vợ Hiệp một cách chính thức. Tuy không một phút nào nghi ngờ cái tình của Hiệp đối với mình, nhưng vì thói quen, Diên vẫn phập phồng lo sợ: biết bao nhiêu người đã yêu nàng, và nàng đã yêu mà bây giờ đâu? Nàng cũng biết rằng hiện giờ nàng yêu Hiệp một cách thành thực, nhưng nàng vẫn sợ lòng nàng hay thay đổi.
Mới đây lúc nhận làm vợ Hiệp, nàng đã quyết định xóa bỏ cả quãng đời đã qua và lập nên một đời mới. Nhưng chưa chi nàng đã thất vọng vì Hiệp không muốn ngỏ cho cha biết: đám cưới của hai người chỉ có một bữa tiệc mời mươi anh em bạn thân đến chứng kiến. Thế rồi Hiệp đưa nàng về đồn điền nói là để yêu nhau trong một cảnh thần tiên. Nhưng nàng thì nàng cho là đi trốn.
Vì vậy nên những tiếng nhà, tiếng mợ kiểu cách của Hiệp, tiếng kêu nàng là thím đối với đứa cháu đã làm cho nàng vững tâm và tin rằng hôm nay nàng là một cô dâu mới về quê hương nhà chồng, quê hương của nàng từ nay.
Một chiếc lá rơi vụt qua mặt Diên, Diên ngửng lên, nói :
- Rặng cây cao nhỉ.
Hai bên đường, những cây gạo lên thẳng tắp; thân cây to lớn vẫn đứng im trong khi các lá tới tấp rung động, tiếng lá rào rào lẫn với tiếng một đàn chim sáo đen, Diên tẩn mẩn đưa mắt ngắm những chiếc lá rời cành rơi mãi mói xuống tới đất.
Hiệp quay lại nói :
- Mợ làm như cả đời không được thấy cây gạo.
Diên âu yếm nhìn chồng :
- Hôm nay em trông cảnh gì cũng thấy đẹp... Nhà cho em mượn cái mũ đội cho khỏi chói mắt.
Hiệp quay lại vứt mũ vào lòng vợ. Diên giơ tay đỡ lấy, đội nghiêng trên đầu. Hiệp nhìn vợ, nói :
- Nhưng không cảnh nào đẹp bằng em lúc này.
Chàng vội để tay lên miệng, trợn mắt nhìn người cháu. Sơn tinh ý, sợ chú ngượng, nên vờ nhìn con ngựa, miệng suỵt suỵt và giật mạnh dây cương để thúc ngựa đi mau hơn. Hiệp vội chữa :
- Chúng mình trẻ con lạ.
Rồi chàng cho ngựa chạy nước kiệu, vượt lên.
Dưới chân ngựa một làn bụi gió thổi tạt ngang bay là là trên ruộng ngô non.
Diên ngồi duỗi thẳng hai tay và giao hai chân lại với nhau, yên lặng để thấy rõ nắng thấm qua mấy lần áo vào làm cho nàng ấm áp trong da thịt. Nàng thấy người dễ chịu, nhẹ nhõm; nàng âu yếm nhìn những đầu ngón tay tròn trắng và những cái móng tay nhuộm hồng bóng loáng in trên nền áo lụa xanh nhạt. Cái gì cũng sáng sủa, sạch sẽ. Lòng nàng lúc đó sung sướng, rạng rỡ như chan hòa ánh sáng thu trong.
Xe ngựa ra khỏi rặng cây, đi ngang qua mấy cái nhà tranh tồi tàn, lụp sụp bên vệ đường. Diên tự nghĩ :
- Ta sẽ khổ sở đến đâu nếu phải sống cái đời khốn nạn trong những gian nhà khốn nạn kia.
Thoáng một lúc nàng nhớ lại cái cảnh trụy lạc, nghèo khổ của nhà nàng năm năm trước đây.
Tiếng gọi của Hiệp làm Diên thôi nghĩ, nhìn Hiệp. Hiệp nói :
- Khỏi cái đồi này là đồn điền.
Diên vui mừng :
- Ồ! Thế ra sắp đến nhà rồi!
Hiệp nói :
- Cũng còn ba cây số nữa.
- Đồn điền rộng nhĩ?
- Rộng. Nhưng mà nhiều rừng ít ruộng. Đồn điền ở dưới Thanh Miện mái tốt. Thầy hiện ở đó với bác cả.
Diên hỏi :
- Đồn điền này bao nhiêu mẫu?
Hiệp nói như người đọc thuộc lòng :
- Ba trăm bốn hai mẫu, sáu sào, hai mươi lăm thước.
- Sao cậu nhớ kỹ thế?
Hiệp nói :
- Mợ cũng phải học thuộc lấy.
- Để làm gì?
Hiệp đáp :
- Đất cát của mợ mà mợ còn hỏi nhớ để làm gì?
Diên cười và nói khôi hài để che cảm động :
- Họa chăng em chỉ nhớ được mấy chữ hai mươi lăm thước, vì đúng với tuổi em hai mươi lăm.
Nàng ngước mắt nhìn Hiệp, nhắc lại :
- Hai mươi lăm... Em già rồi phải không?
Hiệp nói :
- Mợ khéo ỡm ờ lắm!
Son cũng nói chen vào :
- Thế mà cháu trông thím tưởng thím chỉ độ hơn hai mươi.
Diên cười :
- Hơn hai mươi thì khác gì hai mươi lăm.
Nhưng câu nói ngớ ngẩn của người cháu đã làm cho nàng vui sướng vì nàng biết chắc chắn rằng nét mặt nàng còn trẻ.
Xe ngựa vừa lên tới đỉnh một cái dốc. Trên cao gió thổi mạnh hơn. Diên một tay giữ mũ cho khỏi bay, một tay vén mấy mọn tóc tỏa xuống mặt, nhìn về phía tay Hiệp chỉ. Hiệp nói :
- Kia là nhà của chúng ta.
Bên một dải nước trắng lấp lánh ánh sáng, mấy nóc nhà gạch đỏ tươi ẩn hiện sau những chòm cây long não màu xanh vàng. Hiệp ngồi thẳng người lên, tấn hai chân xuống bàn đạp, đưa mắt nhìn bao quát đồn điền một lượt rồi quay lại ngắm vợ. Chàng cho rằng đất ấy và người ấy thuộc về chàng là một sự dĩ nhiên. Chàng không hề tự hỏi tại sao thế và hồn nhiên để hưởng cái thú được là chủ tất cả những thứ đó. Diên nói :
- Bây giờ nghĩ đến Hà Nội thật là xa lơ xa lắc.
Hiền đáp :
- Nghĩ đến làm gì nữa. Suốt đời em sẽ sống ở đây... với anh.
Chàng giơ tay chỉ vòng tròn những đồi ruộng, thôn xóm rải rác trước mặt bảo vợ :
- Tất cả những cái này từ giờ là thuộc về của em.
Chàng nghĩ bụng :
- Còn em thì từ nay thuộc về riêng anh.
Nhưng chàng không nói ra, chỉ mỉm cười và đắm đuối nhìn Diên.
Diên vờ không biết là Hiệp nhìn mình; nàng đưa tay vuốt tóc mai, hai mắt luôn luôn chớp và đôi môi thắm hé mở có vẻ một người đương lặng lẽ ngẫm nghĩ đến một sự sung sướng âm thầm.

II

Xe ngựa rời đường cái đi rẽ vào một con đường dốc đất đỏ, hai bên trồng toàn long não. Sau những chùm lá rung động, thấp thoáng bức tường trắng bao bọc quanh nhà. Sơn vui vẻ luôn tay bóp còi xe ngựa, báo hiệu cho người nhà biết. Nghe tiếng mở cổng, Sơn ghì cương ngựa lại. Hiệp xuống ngựa chạy lại đỡ Diên. Nàng vin vào tay chồng lẹ làng nhảy xuống đất, rồi mỉm cười cầm mũ đội lên đầu chồng. Nàng ngửng mặt nhìn ngang nhìn ngửa, hai con mắt nàng to, lộ vẻ sung sướng, ngây thơ như mắt trẻ con.
Con đường dưới bọng cây như thêu hoa mà bóng ba người đi đến đâu làm mất đến đấy. Hiệp mê man không để ý đến mấy người nhà quê nép mình bên vệ đường, ngả non chào. Thấy hai đứa cháu ở trong nhà chạy ra reo: “Chú Tham đã về” rồi đứng lại ngơ ngác nhìn Diên, Hiệp nói :
- Thủy và Trúc không chào thím đi.
Diên không ngờ lại có một cô dâu về nhà chồng một cách tự nhiên như nàng. Nàng thấy ngay vẻ thân mật, và tưởng mình là chủ nhà này đã từ lâu lắm. Đời đối với nàng trong phút đó giản dị một cách lạ thường. Nàng cúi xuống hôn mỗi đứa cháu một cái, rồi dắt tay chúng nhẹ nhàng bước theo chồng.
Qua khỏi cổng, nàng có cái cảm tưởng rằng trời bỗng nắng to hơn; ánh sáng phản chiếu ở một cái sân gạch rộng thênh thang khiến nàng phải nhíu mắt lại cho khỏi chói. Mấy con chim bồ câu đương ăn, thấy tiếng động vụt bay lên làm tỏa ra trên nong thóc một đám bụi đục lờ, gió thổi tan ngay.
Hiệp đứng lại ngắm nghía cái ô-tô màu xanh để ở dưới gốc cây hoàng lan. Ánh sáng chiếu vào làm nẩy những ngôi sao sáng trên nền sơn và trên những gọng kền bóng loáng, Sơn nhìn chú và sung sướng khi thấy chú ngắm mãi cái ô-tô tỏ vẻ bằng lòng.
Diên vẫn dắt theo hai đứa cháu, bước lên thềm nhà. Nàng vào cái buồng khách cực kỳ sang trọng một cách thản nhiên, vì nàng đã quen sống trong những cảnh đó. Từ ngày cha mẹ nàng mất đi, mấy năm trời sống trơ trọi, nàng không hề biết qua cảnh nghèo, vì một người đẹp như nàng không thể nào nghèo được, nhưng lúc nào nàng cũng phập phồng lo ngại. Mấy năm trời, vì luôn luôn sợ cái nghèo khổ nó đến, nên nàng đã nhắm mắt đắm mình trong một cuộc đời hoan lạc tạm bợ, để khuây những nỗi ghê sợ về mai sau. Nhưng hôm nay, lần đầu tiên nàng thấy vững tâm, lần đầu tiên nàng không sợ tương lai.
Diên đặt mình xuống cái ghế bành phủ nhung màu tro, với điếu thuốc lá, đánh diêm châm hút. Nàng vòng một tay ra phía sau rồi ngả đầu vào lưng ghế, quay mặt nhìn ra ngoài sân. Trên thềm ánh nắng xiên chếch: bóng cây và bóng những nan dại dàn nho in rõ ràng  trên nền gạch. Khói thuốc lá bay trong bóng tối thanh khiết có vẻ thanh hơn, nhẹ nhàng hơn, mềm mại lượn vòng ra cửa, rồi lẫn vào ánh nắng. Xa xa có tiếng gáy trong rừng.
Diên lim dim mắt lại thở dài một cái rất nhẹ, bỗng nàng giật mình ngước mắt nhìn lên. Hiệp đứng sát vào lưng tựa ghế, cúi mặt mỉm cười, và khẽ đặt tay vào lòng bàn tay vợ. Chàng nhìn quanh một lượt, rồi nói :
- Mọi lần, khi có công việc phải về đầy trông cảnh buồn tẻ, lạnh lẽo hết sức.
Nói đến hai chữ lạnh lẽo, chàng nghĩ ngay đến cái hơi nóng của hai bàn tay áp vào nhau :
- Mọi lần, chỗ này dùng để chứa thóc. Bộ đồ này, anh mới mua về được mươi hôm. Cứ đặt bừa vào đây, hôm nào thư thả em bày biện lại, tùy ý em muốn...
Hiệp nắm tay Diên kéo dậy :
- Bây giờ lên xem buồng ngủ của chúng ta.
Lúc lên thang gác, sau khi quay lại nhìn không thấy ai theo sau, Hiệp giơ tay quàng vai vợ và đặt một cái hôn nhẹ lên má. Tuy đã biết quãng đời quá khứ của Diên, chàng vẫn coi Diên như một cô gái trong sạch, trong sạch riêng đối với chàng: chàng hôn Diên như hôn một người vợ mới cưới, vừa kính vừa yêu. Chàng sung sướng tự nhủ :
- Nếu cái tình của ta đối với Diên cứ được như thế này mãi.
Khi nhận lấy Diên làm vợ, chàng biết rằng cái tình yêu có thể làm chàng quên được hết cả những điều tiếng xấu về Diên, chàng chỉ coi Diên như một người yêu chàng và chàng cũng hết tâm hồn yêu lại.
Có lẽ vì tại có tư tưởng ấy, nên những cử chỉ của Hiệp có vẻ nhút nhát, khiến Diên cũng phải lấy làm lạ. Nàng không ngờ một người có tiếng là chơi bời đứng riêng với nàng trong một căn buồng ngủ lại bẽn lẽn như vậy. Nàng cũng ngượng nghịu và nắm lấy tay Hiệp một cách vụng về. Bỗng nàng hiểu. Nàng bỗng thấy rõ những ý nghĩ của Hiệp về nàng lúc đó. Nàng cảm động yên lặng nhìn chồng bằng hai con mắt mở to, đã bắt đầu ướt lệ. Nàng thở dài ngẫm nghĩ: “Có thể như thế được mãi không?”
Hiệp ngạc nhiên nói :
- Em khóc đấy à, em Diên?
Diên chớp mắt thật nhanh rồi lắc đầu :
- Không, không sao, em khóc vui đấy, đùa anh một tí thôi.
Hiệp mỉm cười vuốt má vợ :
- Nhưng đừng khóc quá lại hóa khóc thật đấy.
Chàng ngây người nhìn vào cái gương tủ đứng, bóng Diên in vào tấm gương với hai con mắt đen và đôi má hồng tươi, chàng trông như cái hình ảnh hoạt động của hạnh phúc chàng :
- Nhìn bóng em trong gương anh tưởng tượng như nhìn thấy em lần đầu tiên.
Diên mỉm cười lẳng lơ ngắm bóng mình. Nàng giơ tay sửa lại mái tóc: mấy ngón tay mềm mại lùa vào trong tóc đen đã trắng lại trắng hơn. Trên cổ tay tròn trĩnh, chiếc vòng bạch ngọc Hiệp vừa mua tặng nàng hôm trước, nàng thấy trong và mát như nước mưa. Nghe tiếng động dưới vườn, Hiệp chạy ra sân gác. Diên cũng ra theo. Xã Mịch, một người đầy tớ của Hiệp đương phát giậu găng, thấy Hiệp vội đặt dao và chắp tay vái :
- Bẩm quan.
Xã Mịch nhìn Diên và cúi đầu :
- Bẩm bà lớn.

III

Quả Diên đoán không sai, ông giáo Thái chính là người nàng quen; tuy vậy lúc ông giáo đứng dậy cúi đầu chào, nàng cũng cúi đầu chào lại một cách rất nghiêm trang, như đối với người chưa quen biết bao giờ. Hiệp giới thiệu vợ mình với Thái bằng tiếng Pháp. Thái cúi đầu một lần nữa. Trước cái vẻ đẹp lộng lẫy tươi thắm của Diên, chàng bối rối và thấy quả tim đập mạnh.
Diên hơi khó chịu vì Thái là người có biết nàng và có lẽ cũng không lạ gì quãng đời quá khứ của nàng; nhưng cái khó chịu ấy chỉ thoảng qua nhường chỗ cho cái cảm giác thú vị rằng sắc đẹp của mình đã làm một người luống cuống, và từ nay trở đi, cái tình của mình với Hiệp ở chốn quê hẻo lánh này có được một người thứ ba chứng kiến.
Diên tinh nghịch liếc mắt nhìn hai cô gái nhà quê xinh xắn đứng nép sau một cái cột, vừa ngắm Diên từ đầu đến chân vừa thì thầm bàn tán. Diên chỉ nghe lõm bõm một vài tiếng nhưng nàng cũng đoán ra được lời nói của hai cô gái quê :
- Người đâu mà đẹp như hoa.
Mấy người đàn bà chăm chú nhìn đôi dép quai và những móng chân nhuộm đỏ của nàng, có lẽ cho là một cảnh lạ từ thuở bé chưa được thấy.
Hiệp nhìn những người nhà quê rồi ngắm và có cái cảm tưởng rằng Diên không phải người cùng giống với họ; Diên thuộc về một nhân loại cao quý, trên nhữngngười kia xa lắm.
Diên thấy ai cũng nhìn nàng và cho nàng đẹp, nên vừa nói vừa cười để lộ hai hàm răng trắng nhỏ và đều. Nàng nũng nịu đứng sát vào Hiệp, ngước mắt nhìn Hiệp và hỏi chuyện vẩn vơ. Nàng thấy tiếng nàng trong trẻo, đài các. Tuy hai cô gái xinh xắn đã thôi không nói chuyện, chỉ đứng yên dương mắt nhìn nàng và Hiệp, nhưng bên tai nàng như văng vẳng câu :
- Rõ thật là tốt đôi quá, sung sướng như tiên.
Thái từ lúc nãy vẫn cúi đầu giở sổ, vờ tìm tòi để khỏi ngượng. Diên hỏi, lấy giọng thân mật :
- Bác giáo đã xong công việc chưa? Mời bác sang xơi chén nước.
Thái mỉm cười cảm ơn. Hiệp giục :
- Thì bác cử để đấy. Cho họ đợi.
Một người đàn bà nhà quê có vẻ sợ hãi tiến lại gần Thái nói van lơn :
- Bẩm ông thương cho.
Thái xua tay :
- Thương gì? Hãy trả nốt chỗ cũ đi đã.
Thái gập sổ lại. Người đàn bà mếu máo :
- Ông không thương thì cả nhà năm mẹ con nhịn đói. Từ sáng ngày chưa có hột cơm trong bụng. Xin ông nghĩ lại.
Thái mỉm cười :
- A thế ra chị đi vay về để ăn. Đẻ vừa vừa chứ!
Hiệp và Diên lấy làm khó chịu, đi lảng ra ngoài. Thái cũng ra theo. Hiệp vừa đi vừa bứt những lá ở giậu dâm bụt, có vẻ nghĩ ngợi. Chàng bỗng lẳc đầu mấy cái khẽ rồi đứng lại rút thuốc lá mời Thái và lấy một điếu hút. Chàng nhìn bóng những cành hoàng lan lướt thướt đưa qua lại trên bức tường trắng, thở dài một cái và thấy mình nhẹ nhõm như người vừa xua đuổi được một ý nghĩ nặng nề.
Thái đi lùi lại và vô tình ngắm Diên bước một cách chậm rãi trước mặt, Thái ít khi về Hà Nội nên hình dáng người thiếu nữ tân thời và mùi nước hơa thơm bay trong gió đem lại cho chàng cái hương vị thanh thú của chốn phồn hoa bấy lâu xa cách. Chàng thờ thẫn ngắm mái tóc đen quấn lỏng rơi lệch xuống một bên cổ, những nét tà áo rung chuyển trước gió nhịp nhàng rủ xuống chiếc quần lụa bạch mỏng, nhẹ và gót chân xinh xắn mỗi lần ấn lên  trên đế giầy lại ửng hồng như thẹn. Diên không quay lại, nhưng có cái cảm giác rằng Thái đương nhìn mình. Đột ngột nàng nói :
- Quái lạ, trông ông giáo quen quen như đã có gặp ở đâu một lần mà không nhớ ra.
Thái đáp :
- Thưa bà, đã lâu lắm. Hồi mười năm về trước, khi cụ nhà còn làm Tri phủ ở Xuân Trường là quê chúng tôi.
Tuy hai năm trước đây, Thái vẫn luôn luôn gặp Diên, nhưng chàng vờ không biết để Diên khỏi ngượng.
Diên như cất được một gánh nặng, tươi cười mời Thái ngồi vào bàn nước :
- Bác uống nước trà với đường? Một viên hay hai?
Diên vừa hỏi vừa gắp đường bỏ vào chén của Thái. Nàng ân cần hỏi :
- Bác vừa đi đâu về?
- Tôi lên trên ấp Hạ trông coi họ vỡ mấy mẫu đồi để trồng cà phê.
Hiệp ngẫm nghĩ: “Vỡ mấy cái đồi mà đi vắng gần tuần lễ. Thôi chắc là lên trên ấp với cô nào đấy chứ gì?”
Thái vừa khuấy đường vừa thẫn thờ nói như người kể lể :
- Ở đây những khi nào buồn quá, tôi đánh ngựa rồi vác súng đi. Có khi đi vài ba ngày, gặp đâu thì ngủ đấy... Bây giờ có hai bác về ở đây thì còn gì vui bằng.
Chàng nhìn vào trong buồng khách rồi lại nhìn ra vườn.
- Vườn mùa thu trông tiều tụy quá. Bác thích cây gì để tôi về dưới tỉnh mua?
Diên mỉm cười cám ơn :
- Tôi thích nhất hồng, nhưng về mùa thu, hồng lại không có hoa.
Nàng quay lai phía chồng nói :
- Vườn mà không hoa thì tẻ ngắt.
Hai người nhìn nhau và cùng nghĩ đến cảnh trơ trọi của Thái.
Trong lòng tràn ngâp tình yêu, Hiệp và Diên không hiểu sao trước kia trong bao năm đã sống nổi những ngày lẻ loi và cùng bùi ngùi thương cho thân phận Thái, ý tưởng thương hại ấy đã làm cho Hiệp và Diên êm ả, ấm áp trong lòng vì đã nhắc Hiệp và Diên nghĩ đến cái sung sướng hiện thời của riêng hai người.
Hiệp duỗi thẳng hai chân và ngả đầu vào lưng ghế. Qua khung lá nho đen, chàng thấy lộ ra một khu vườn cảnh với con đường viền tóc tiên, trên rải đá cuội trắng toát. Trong ánh sáng thu, một sợi tơ trời nhẹ lướt qua.
Hiệp thốt ra một câu bằng tiếng Pháp :
- Đời đẹp lạ thường!
Diên ngửng mặt, cầm một viên đường đưa lên miệng, vô cớ mỉm cười, Thái nhìn Diên và thấy có một sức mạnh vô hình bắt chàng chăm chú vào đôi môi đương âu yếm ngậm lấy viên đường trắng. Thái nói tiếp câu của Hiệp.
- Có lẽ vì cảnh đẹp.
Ngoài sân những người nhà quê gánh thóc đi qua từng lũ, nói chuyện ồn ào. Ánh nắng thu trong càng làm rõ vẻ bẩn thỉu của những bộ quần áo rách rưới đã bạc màu, càng làm tăng vẻ khốn nạn của những bộ mặt tiều tụy, hốc hác vì nghèo đói.

IV

Từ hôm về quê, Hiệp và Diên lần đầu tiên dậy trước khi mặt trời mọc. Lúc hai người xuống đến chuồng ngựa thì Thái đã đứng đó sai bảo người nhà đóng yên ngựa.
Diên rét run đứng sát vào chồng, hai tay bưng lấy má và miệng xuýt xoa. Thái cầm cương dắt một con ngựa trắng nói với Diên :
- Con ngựa này chạy khỏe và êm nhưng phải cái hơi dữ.
Chàng cười và nói tiếp :
- Nhưng bà chị tôi bây giờ đã cưỡi ngựa thạo rồi không sợ ngã như hôm nào.
Diên cũng cười theo :
- Tôi cưỡi ngựa lại có phần giỏi hơn cả nhà tôi đấy.
Nhìn vào bếp thấy có lửa đỏ, Diên hỏi :
- Quay gà đấy phải không?
- Không, đấy là đun nước. Đồ ăn và các thứ tôi đã buộc vào yên ngựa, đủ hết rồi. Hai bác cứ việc yên tâm đi.
Được biết Diên và Hiệp muốn vào rừng săn, Thái dậy từ ba giờ sáng để bảo người nhà sắp sửa. Chàng làm những công việc đó vì thích, chứ không phải vì bổn phận hay vì muốn chiều lòng Hiệp. Mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, chàng vẫn sống một đời hiu quạnh, thiếu thốn tình yêu thương dịu dàng. Từ hôm có Diên về đến nay, chàng thấy công việc của chàng làm có thú vị hơn, chàng thấy cần có một người để chàng chiều chuộng và hết lòng săn sóc đến. Diên đối với chàng không phải là người thiếu nữ tân thời, có vẻ đẹp lộng lẫy làm chàng ngây ngất nữa; hơn hai tháng trời sống gần nhau, cảm vì lòng tử tế của Diên, chàng bắt đầu coi Diên như một người bạn gái, như một ngươi chị mà chàng kính mến.
Dĩên khoan khoái và hơi lấy làm lạ rằng ai cũng tìm cách chiều mình, ai cũng kính trọng mình nữa. Nàng cầm lấy dây cương, giơ tay đập vào cổ con ngựa mấy cái, rồi lẹ làng nhảy thoắt lên mình ngựa.
Ngồi trên mình ngựa cảm thấy cái khỏe mạnh của mình, nàng đưa mắt nhìn ra chân trời điểm sao thưa và mơ màng nhớ lại những buổi sáng mùa đông lạnh lẽo ở Hà Nội, mỏi mệt trở về nhà sau một đêm mê man với những thứ nhục dục. Nàng như còn trông thấy rõ trước mặt cái cảnh những đầu phố vẳng với một, hai người phu xe đứng ủ rũ đợi khách chơi đêm.
Thấy Hiệp đã nhảy lên ngựa giục đi, nàng hỏi Thái :
- Bác không đi cho vui?
Thái đáp :
- Tôi bận lên coi đẵn gỗ trên rừng chàm.
Một lát sau chàng nói tiếp :
- May ra gặp hai bác cũng chưa biết chừng.
Chàng từ chối vì biết rằng Hiệp và Diên chỉ mượn cớ đi săn để vào rừng, chàng đi sẽ bất tiện cho hai người.
Hiệp và Diên qua khỏi một cái suối đến một khu rừng cây cao vút. Diên ngửng mặt lên hỏi :
- Rừng gì mà đẹp thế này? Lá cây to quá nhỉ!
Hiệp đáp :
- Rừng “teck”.
Diên cắm đầu thúc ngựa phóng nước đại, chân ngựa dẫm lên những đám lá khô nghe rào rào khiến Diên quay lại bảo Hiệp :
- Em tưởng như là ngựa dẫm lên những chiếc bánh đa nướng giòn.
Hiệp không đáp, mải ngắm ánh sáng trên cao rọi xuống lướt mau trên tấm áo hồng của Diên và trên mình con ngựa trắng, về phía xa, in lên nền cây xanh sẫm những chiếc lá nhỏ lăn tăn rơi xuống không ngớt như một trận mưa vàng.
Diên bỗng ghì cương ngựa đứng dừng lại đợi Hiệp tiến lên. Hiệp cho ngựa mình đứng sát cạnh ngựa Diên rồi giữ chắc lấy dây cương nghiêng mình giơ tay phải nhẹ ôm lấy Diên kéo về phía mình. Diên nghiêng nón, vừa giơ ra đôi má đỏ ửng, lẳng lơ đợi chồng hôn. Nàng mỉm cười nói :
- Mệt nhưng mà thú quá.
Hai ngươi cố ghìm cưong cho ngựa đứng yên kề má nhau, yên lặng nhìn xuống một cái thung lũng nhỏ. Bên một dòng suối, mấy nóc nhà tranh ẩn trong nương sắn trông êm đềm như một bức tranh vẽ cảnh đời xưa. Diên nói :
- Giá chung mình được ở trong cái nhà tranh kia mà yêu nhau suốt đời thì thú biết bao.
Hiệp cười nhạt, đáp :
- Mình vẫn hay có tính đứng núi này trông núi nọ. Đó là nhà ông khóa Điền trước kia giàu có nhưng bây giờ nghèo xơ nghèo xác.
- Ta vào chơi đấy đi... để hưởng cảnh nghèo trong ít lâu cho nó lạ.
Hiệp lắc đầu nói :
- Không thể nào chiều ý em được, vả lại anh đã thấy đói, chứng mình sang bên kia, có một chỗ thú lắm.
Hai người phải xuống dắt ngựa lần theo một con đường nhỏ. Đi được một quãng, bỗng Diên kêu lên một tiếng :
- Có lẽ em dẫm phải gai.
Hiệp vội vàng quỳ xuống cỏ, nhấc chân vợ lên và tháo quai dép ra xem.
- Không việc gì, em ạ. Chắc em dẫm phải hòn sỏi nhọn. Em đã hết đau chưa?
Diên nũng nịu :
- Hết đau rồi. Anh lồng giầy vào cho em.
Hiệp vẫn gìữ bàn chân Diên, lấy tay xoa nhẹ để phủi sạch những hồn sỏi nhỏ bám vào da.
- Một người có bàn chân xinh như em không thể nào vất vả nghèo khổ được.
Diên cười :
- Anh lại biết xem cả tướng chân nữa kia à?
Bỗng nàng ngừng bặt, chau mày nhìn chăm chú; trong cỏ có để một cái rổ rách đựng một bát cơm đầy nén chặt mấy quả cà héo đen, bữa ăn của người đàn bà đang bắt cua dưới ruộng. Thoáng trong một giây nàng nhớ đến những bữa cơm khoai nàng phải ăn cho khỏi chết đói, hồi cha mẹ nàng mới mất. Nàng ngẫm nghĩ từ bấy đến nay mình không nghèo nữa là chỉ nhờ ợ cái sắc đẹp, song cái sắc đẹp một ngày kia sẽ tàn. Nàng vội xua đuổi ngay cái ý tưởng ngờ vực mà lần đầu tiên, từ hôm về với Hiệp, nàng mới thấy vụt qua trong óc.
- Cái gì thế, mình?
Diên tươi cười đáp :
- Không. Anh xem tướng thế mà đúng đấy. Em không bao giờ phải khổ sở nếu...
Nàng xô chân vào giầy, ngửng lên và cầm tay chồng kéo dây :
- ... Nếu anh cứ mãi mãi yêu em như thế này.
Qua khỏi mấy khu ruộng, hai người lại lên ngựa. Đi được một quãng, Diên hỏi chồng :
- Sắp đến chưa? Em mệt quá rồi.
- Sắp đến nơi.
Trèo qua một cái đèo, hai người thả ngựa cho ăn cỏ, rồi tháo túi đựng các thức ăn. Diên ngả nón. sửa lại mái tóc và lắng tai nghe :
- Róc rách có tiếng suối chảy đâu đây mà nhìn không thấy.
Hiệp xách túi đồ ăn bảo Diên :
- Thôi ta ra suối mà rửa mặt rồi ăn cơm.
Đến nơi Hiệp chọn một chỗ có bóng cây bên bờ suối và trải trên cỏ một tấm vải trắng trong lúc Diên ra suối vốc nước rửa mặt.
- Nước lạnh buốt cả tay, mình ạ.
Hiệp nhìn ra nói đùa :
- Và trôi cả phấn.
Diên tháo giầy lội xuống suối. Nàng cúi nhìn nước gợn bọt và vẩn cát bên cổ chân, rồi đứng yên đợi cát lắng dần, bàn chân nàng lai lộ rõ ra dưới làn nước trở lại trong. Một con cào cào xòe cánh xanh đỏ bay bám vào áo Diên.
Nàng vồ lấy và bắt chước hồi còn nhỏ cầm hai càng con cào cào giơ lên và hát nghêu ngao:
Cào cào giã gạo cho nhanh,
Tao may quần đỏ áo xanh cho mày.

Nàng xắn cao hai ống quần, lội ra giữa dòng nước suối, quay lại hỏi Hiệp :
- Ở chỗ này hay có người qua lại không?
- Không có ai đâu, tha hồ. Để tôi nhắm mắt lại cho mình khỏi thẹn.
Bỗng có tiếng ngựa hí và tiếng sột soạt trong lá cây, Hiệp hỏi :
- Ai đấy?
Có tiếng hỏi lại :
- Ai đấy?
Diên luống cuốn kêu :
- Chết!... Ai như anh Thái.
Nàng vội quay trở lên bờ, nhưng không kịp. Thái đã đến nơi và dừng ngựa bên suối. Chàng cố giữ vẻ tự nhiên, nói với Diên :
- Chị đừng ra quá. Ở đây có cái vực sâu lắm.
Diên vẫn đứng yên dưới suối đáp lại :
- Chỗ nào ở vùng này, anh cũng thuộc cả?
- Nhất là chỗ này. Vì mùa hè tôi vẫn tắm ở đây luôn.
Diên đăm đăm nhìn Thái ngồi trên mình ngựa; không biết tại sao lúc đó, nàng thấy Thái giống một tình nhân cũ của nàng, một tình nhân đã vì quá yêu nàng mà tự tử ba năm trước đây, nay như đột ngột hiện ra với nàng giữa cảnh núi rừng hùng vĩ. Trong một lúc nàng quên cả Hiệp, nhìn Thái bằng hai con mắt thèm thuồng và thấy Thái ngồi vững trên lưng ngựa có một vẻ đẹp cứng cáp khỏe mạnh khác thường. Nàng lấy làm thẹn với ý nghĩ của mình, vội lấy giọng thân mật như chị nói với em, hỏi Thái :
- Anh coi đẵn gỗ chưa?
Thái đáp :
- Tôi vừa ở trên rừng chàm về. Toan vào đây nghĩ, lại gặp ngay được anh chị, tình cờ quá.
Thái đã nói dối: Chàng không lên rừng chàm coi đẵn gỗ bao giờ.
Sau khi Hiệp và Diên đi, thì chàng cũng cưỡi ngựa vào rừng. Chàng muốn gặp mặt hai người, nhưng lại sợ; từ sáng đi lang thang khắp các rừng, chàng thấy việc đi tìm Diên là một cái thú lạ, nhưng chàng không đám phân tích lòng mình để xem vì sao lại là một cái thú.
Diên bảo Thái :
- Anh ở đây ăn luôn thể. Có đủ ba người ăn.
Thái buộc ngựa và đến giúp Hỉệp bầy các thức ăn lên tấm vải. Diên lại gần nói :
- Hai ngài làm giúp hộ, tôi mệt quá.
Rồi nàng đặt mình xuống bãi cỏ, nằm ngửa nhìn trời, hai tay quặt ra phía sau đặt dưới đầu làm gối. Nàng lim dim mắt, thở mạnh một cái, nói :
- Cỏ ngoài nắng thơm la.
Mấy cây cẩm lai cành lá xòe ra ngay trên chỗ Diên nằm, nhưng vì cao quá mà lá lại thưa, nên Diên tưởng như bóng cây không chiếu được tới đất. Lá nhỏ lăn tăn và xếp đều in lên nền trời trông tựa như một bức thêu hoa trên nền lụa xanh màu lam nhạt. Một con bướm trắng bay lăng quăng trong cành cây rồi bỗng như chiếc lá rụng là là rơi xuống chỗ Diên nằm.
Hiệp xếp xong gọi vợ :
- Xin mời nàng tiên dưới suối lại uống rượu vang.
Diên vừa cười vừa lại ngồi sát cạnh chồng. Nàng nhìn đồ ăn nuốt nước bọt và cầm cốc để lên môi :
- Mời hai ngài.
Vì mặt Diên vừa rửa xong không có phấn nên Thái thấy nàng lộ vẻ đẹp riêng khác mọi ngày thường - có cái hương vị mát mẻ của rau nguồn mới hái. Hiệp lấy làm khó chịu về dáng điệu lả lơi của Diên khi đưa cốc lên môi khiến chàng nghĩ đến rằng trước kia với những người khác, nàng đã có cái dáng điệu đó. Chàng không trách gì Diên cử chỉ của nàng rất tự nhiên, thẳng thắn, chàng khó chịu chỉ vì có Thái ngồi đó.
Suốt bữa cơm, Diên luôn luôn cười đùa: hơi rượu bốc lên làm nàng đỏ bừng má và quên cả giữ gìn trước mặt Thái. Hiệp ngồi yên không nói gì Diên tinh nghịch nhìn chồng :
- Hôm nay nhà ít lời nhỉ?
Hiệp đáp lại vắn tắt :
- Tôi uống rượu vào không hay nói lôi thôi.
Thái hiểu ý, ăn vội vàng cho xong rồi đứng dậy cáo từ :
- Xin lỗi hai anh chị, tôi phải về sớm, còn bận việc ở nhà.
Khi Thái đi rồi, sau một lúc yên lặng khó chịu, Diên nói :
- Tính nết mình lạ quá.
Hiệp đáp :
- Mình bây giờ trách cả tôi đấy à?
Câu trả lời có vẻ trịch thượng làm Diên tủi thân.
Nàng nén giận, dịu dàng nói :
- Mình không nên thế. Mình không nên để anh Thái anh ấy giận,
- Nhưng tôi có làm gì đâu. Anh ấy giận thì tôi cần gì.
- Không phải thế. Nhưng không nên làm mất lòng một người đã chịu ơn mình. Nên thương người ta thì mới phải.
Hiệp nhìn vợ nói thong thả :
- Thương, mình thì ai cũng thương.
Diên rơm rớm nước mắt, cười nhạt, nói :
- Ra mình nghi cả cái tình yêu của em. Sao mình nỡ nói những câu tàn ác như thế. Em đã muốn quên...
Hiệp biết mình đã nói quá lời :
- Anh trót lỡ lời, xin lỗi em. Em yêu anh, tin ở anh thì em đừng nghĩ xa gần, tranh lòng vì một câu nói lỡ...
Chàng âu yếm đặt đầu Diên vào vai mình, rút khăn lau nước mắt, nói như van lơn :
- Anh xin lỗi em... Khổ quá! Chứng mình hóa điên hay sao? Em đã biết anh không có em thì anh không sống nổi.
Diên giơ hai tay ôm vòng lấy cổ Hiệp :
- Em cũng vậy.
Nàng nhìn thẳng ra trước mặt, thì thầm kể lể :
- Có anh thì em mới sống được đến bây giờ, em mới thấy sống là vui. Nếu một ngày kia, anh không yêu em thì em không biết sống ở trên đời này làm gì nữa... Em sợ lắm, anh ạ.
- Không, em không sợ...
Hiệp nhìn Diên ngạc nhiên vì chưa thấy lúc nào nàng đẹp như lúc đó. Chàng mê man nói :
- Trời, em đẹp quá. Yêu em quá không biết nói làm sao nữa!
Diên và Hiệp đều lấy làm lạ rằng câu chuyện vừa xảy ra như đã kích thích hai người yêu nhau đằm thắm hơn lên.
Hiệp cầm lấy tay Diên lẩm bẩm :
- Anh không sao tưởng tượng lại có thể sung sướng được đến như thế này!
Diên nhắm mắt lại gục đầu vào cổ Hiệp, nói tiếp :
- Những lúc sung sướng em cứ nhắm mắt lại để nhận thấy rõ cái sung sướng của mình hơn.
Hiệp lay cho Diên mở mắt ra và mỉm cười nói :
- Em nên mở mắt ra nhìn kỹ lấy cảnh chỗ này, để sau dễ nhớ lại một kỷ niệm êm đềm nhất trong đời chúng mình.
Lúc bấy giờ đã quá trưa. Trời im gió, ánh nắng lấp lánh trên dòng suối như những ngôi sao sáng trôi sau cỏ thưa.
Hiệp và Diên lắng tai nghe: trong bài cỏ trước mặt có tiếng chim hót ríu rít. Đưa mắt nhìn mãi, Diên thấy lộ ra trên cỏ cái đầu một con chim sơn ca rung động thật nhanh, lông bờm và lông cổ sù ra. Con chim đột nhiên bay vụt lên cao, vừa bay vừa hót. Hai người đưa mắt nhìn theo; con chim mỗi lúc một nhỏ, nhỏ dần chỉ còn là một chấm đen lớn lên trời, song tiếng hót ríu rít trên cao nghe vẫn rõ. Một con chim nữa ở trong đám cỏ cũng vụt bay lên, trong khi khắp các nơi tiếng của những con chim khác cùng nổi ran một loạt như khúc hòa nhạc để tiễn đưa. Bỗng chim ở trên không rơi thẳng xuống, như một hòn đất ném từ trên cao; khi gặp con bay sau thì hai con dìu cánh vào nhau, rồi là là xuống cạnh suối. Chim đã khuất trong cỏ nhưng tiếng hót vẫn còn ríu rít mãi chưa thôi.
Diên ngây thơ nhìn chồng hỏi :
- Chúng nó làm gì thế, mình?
Hiệp đáp se sẽ :
- Đó là hai vợ chồng con chim sơn ca...
- Chỉ có tình yêu làm mình thấy đời là qúy và sống ở đời là vui.


📎 nnda
0
Lan rừng
 
Quang xuống xe rồi đi vào một cái nhà ở đầu phố để hỏi thăm đường đi Bản Lang và để thuê ngựa. Người cho thuê ngựa hỏi :
- Ông vào nhà ai trong đó?
- Vào nhà ông Vi văn Hoài. Ðường vào đấy có xa lắm không?
- Ðộ mười cây số thôi. Nhưng ông phải đi ngay kẻo trời tối mất. Ðể tôi lấy con ngựa thật khỏe ông đi cho chóng. Ông vào trong ông Hoài, thì tôi không cần cho người đi theo giắt ngựa về, khi nào ra, ông đem ngựa trả lại tôi cũng được.
Rồi người cho thuê ngựa chỉ tay về phía một con đường lên dốc, bảo Quang :
- Ông cứ đi theo con đường đó. Ðến một cái chùa đã đổ nát, thì ông rẽ sang bên tay phải, rồi đi thẳng, khi nào đến một cái cầu gỗ là đến Bản Lang.
Lên hết chỗ dốc, Quang cho ngựa chạy phóng để kịp đến trước khi tối trời.
* * * * *
Ði vài cây số gặp một cái chùa đổ nát, chàng theo lời người cho thuê ngựa rẽ về bên tay phải, rồi lại cho ngựa phóng. Nhưng đi được ít lâu, chàng có cái cảm tưởng là lạ rằng con đường đương đi theo không phải là đường về Bản Lang, tuy chưa lần nào chàng về Bản Lang cả. Chàng tự cho mình nghĩ thế là vô lý, rồi cứ cắm đầu quất ngựa.
Ði đã lâu lắm, đáng lẽ phải tới nơi rồi, mà vẫn chưa thấy cây cầu gỗ. Chàng nhìn ra không thấy một cái nhà nào để có thể hỏi thăm được. Chung quanh chỉ toàn rừng già: những cây cao vót, ngọn nghiêng ngả, rào rào trước ngọn gió chiều vừa bắt đầu nổi lên. Chàng thấy rờn rợn, sợ hãi trước cảnh non cao rừng cả, nhưng vẫn quất ngựa cho phóng nước đại, tiến lên.
Ðường thấy khó đi dần. Hai bên toàn một thứ cỏ cao, hoa trắng như bạc, lá nhọn và sắc. Sương chiều dần dần tỏa xuống. Quang phải cho ngựa đi từ từ, vì cách năm thước không nom thấy rõ đường.
Bỗng chàng ghì ngựa lại, lắng tai, mừng rỡ. Trong sương, chàng vừa nghe rõ tiếng người, tiếng thanh thanh của một người con gái :
- Có ai cưỡi ngựa trắng đi trên đường.
Quang cất tiếng hỏi :
- Ai đấy?
Thấy có tiếng động ở sau lưng. Quang quay nhìn lại. Một người con gái Thổ vai gánh hai cái giỏ, đi với một đứa bé con tiến đến phía chàng.
- Ðến Bản Lang còn xa không, cô?
Quang vừa nói vừa nhìn cô gái Thổ và để ý đến nước da trắng và đôi mắt đen của cô bé. Chàng lấy làm lạ rằng cái sợ hãi lúc nãy đã biến đâu mất và tủi thẹn rằng mình được yên tâm như thế là nhờ ở một cô con gái yếu ớt.
Quang nhắc lại câu hỏi.
- Ðến Bản Lang còn xa không, cô?
Người con gái thản nhiên đáp :
- Ông đi nhầm đường rồi.
Quang buộc mồm kêu :
- Bây giờ làm thế nào?
Chàng toan quay ngựa thì cô gái Thổ như đoán được ý chàng, nói :
- Ông không quay được nữa đâu.
- Nhưng mà đêm nay có trăng.
- Có trăng, nhưng nhiều sương không nom thấy rõ đường.
Thấy Quang lưỡng lự, cô gái Thổ nói tiếp :
- Vả lại ông phải đi qua một cái rừng có nhiều hổ.
Cô con gái quay lại vẫy đứa em :
- Chúng mình về đi thôi, kẻo ở nhà mong.
Quang không muốn quay lại nữa, hỏi cô bé :
- Nhà cô ở gần hay xa?
- Gần đây.
- Tôi muốn về nhà cô có được không?
Cô gái Thổ vừa đi vừa nói :
- Ông cứ về.
Quang nhảy xuống ngựa, rồi yên lặng rẽ cỏ đi theo hai chị em cô Thổ.
Chàng tưởng mình đi trong một thế giới huyền ảo vì chung quanh cũng chỉ có một màu sương trắng mờ dưới ánh trăng.
Ði khỏi mấy khóm cây, bỗng chàng nghe thấy một tiếng gì ở xa, ồn ào như tiếng họp chợ.
- Tiếng gì thế cô?
- Tiếng thác. Thác Lình Hai ở gần nhà em.
* * * * *
Vì trời không lạnh lắm, nên Quang bảo cô gái Thổ cho mượn cái chiếu để chàng nằm ngủ ngoài sân sàn. Chàng vừa ăn cơm no, và uống ít rượu nên thấy trong người dễ chịu, khoan khoái. Bữa cơm chỉ có một dĩa chả trứng và một bát canh măng mai, nhưng chàng ăn rất ngon miệng; xưa nay chàng không thích rượu mà bữa cơm ấy chàng cũng uống nổi hai chén, vì thứ rượu đó chàng thấy có một hương riêng phảng phất như hương lan. Cha mẹ cô gái Thổ đối với chàng rất là ân cần. Chàng mừng rằng lỡ đường lại gặp một gia đình tử tế như vậy, và nhất là được gặp một cô gái Thổ xinh đẹp. Chàng mỉm cười, sung sướng, đánh diêm châm thuốc lá hút và đợi cô gái Thổ mang chiếu ra để được nhìn lại nét mặt cô dưới bóng trăng. Trải chiếu xong, chàng nằm một lát rồi ngủ thiếp đi.
Lúc Quang sực thức dậy thì trăng đã lên cao, sương đã tan hết. Trời trong lắm, nên những ngọn núi trông như ở sát ngay cạnh nhà, mấy dải rừng đen trên ngọn núi in rõ nền trời đầy sao.
Nghe có tiếng dệt vải sau nhà, Quang tìm đến chỗ dệt vải định xin nước uống và nhất là để gặp mặt cô gái Thổ, vì chàng chắc rằng chính cô đương ngồi dệt vải.
Cô gái Thổ ngừng thoi, mỉm cười, nhìn Quang hỏi :
- Ông chưa đi ngủ?
Quang hỏi lại :
- Thế cô chưa đi ngủ?
- Em còn dệt vải.
- Còn tôi thì khát nước, nên không ngủ được.
Cô gái Thổ lại cúi xuống bắt đầu dệt.
- Ông ra suối mà uống.
- Tôi sợ lắm, sợ hổ ăn thịt.
Cô gái Thổ bật cười. Quang thấy hết cả ngượng nghịu, chàng tiến lại đứng sát bên khung dệt, hỏi :
- Tên cô là gì?
- Tên em là Sao.
Quang mỉm cười nói :
- Thảo nào mà cô ta đẹp như sao trên trời.
Cô Sao ngây thơ đáp :
- Em chẳng đẹp.
Nhưng câu đó cô ta nói bằng một thứ giọng cố làm ra nũng nịu, và vừa nói vừa đưa mắt nhìn Quang một cách tinh nghịch.
Bỗng Quang thấy thoảng qua một cơn gió thơm ngát mùi hoa, và ngay lúc đó Quang nhận thấy nét mặt cô gái Thổ tươi lên bội phần. Nàng nói :
- Nửa đêm rồi.
Quang lấy đồng hồ xem thì kim chỉ đúng mười hai giờ. Chàng ngạc nhiên hỏi :
- Sao cô biết đúng thế?
- Vì hoa lan nở. Ông không ngửi thấy mùi thơm à?
- Có, nhưng mà lan gì vậy?
- Hoa lan rừng, nở đúng nửa đêm.
Cô Sao đặt thoi xuống, rồi nhìn thẳng vào mắt Quang, nói :
- Ông có đi chơi rừng không... đi xem lan nở, và nhân tiện em đưa ông ra suối uống nước.
Quang thấy một cô con gái rủ mình đi chơi rừng đêm, lấy làm ngạc nhiên vô cùng, song chàng nghĩ rằng người đường rừng có tính tự nhiên, chất phác, nên sự đó, họ cho là thường chăng.
Quang để cô Thổ đi trước mình một ít. Qua mấy thuở ruộng ngô non, hai người đến một cái khe suối, nước chảy lấp lánh như bạc sau những ngọn cỏ đen.
Quang hỏi :
- Nước này uống có sợ sốt rét không cô?
- Không sao. Ngày nào em cũng uống. Anh trông người em tươi tắn thế này thì đủ biết.
Quang bạo dạn tiến lên trước rồi quay lại cúi vào nhìn tận mặt cô Thổ, mỉm cười nói đùa :
- Thử xem mặt cô Sao có tươi tắn thật không nào.
Chàng đứng lặng nhìn không chớp mắt: màu da cô Thổ dưới bóng trăng, chàng trông trắng mát như màu một cành hoa phong lan và đôi mắt đen phảng phất như hai chấm đen trên cánh hoa. Bỗng Quang thấy một thứ hương thơm thoảng qua, cũng một thứ hương thơm như ban nãy.
Cô Sao nói :
- Ở bờ suối đây có một cây lan. Cây này ít khi có hoa lắm. Nếu có thì chỉ nở một cái hoa là cùng. Ông muốn xem?
Quang lấy làm lạ: chàng vừa ví mặt cô Thổ với hoa lan thì cô ấy đột nhiên nói đến hoa lan như là đã đọc được ý nghĩ của chàng.
Nhìn theo phía ngón tay trỏ của cô Thổ, Quang thấy một bông hoa trắng na ná như một bông huệ to, nhưng hai cánh phía trên có hai chấm đen như mực. Thật là một thứ hoa lạ, chàng chưa thấy bao giờ.
Quang tiến lên toan ngắt, thì cô gái Thổ vẻ mặt sợ hãi giơ hai tây giữ lấy tay Quang :
- Em xin ông. Chỉ có mỗi cây này gần nhà, em quý lắm. Chốc nữa vào rừng vô số, ông tha hồ bẻ... Ông uống nước, rồi ta đi.
Quang cúi rạp xuống mặt suối uống nước và tưởng mình lúc đó như một con hổ đương uống bóng trăng.
Lúc ngửng lên, chàng để ý đến một vật gì trăng trắng ở giữa dòng suối. Nhìn kỹ thì là một hòn đá. Hòn đá ấy, kỳ dị thay, Quang thấy phảng phất giống hình một cái vai của một người con gái trắng trẻo nằm dưới làn nước. Chàng lại thấy hòn đá ấy như có “vẻ sống” nữa. Chàng bảo cô gái Thổ :
- Trông hòn đá như vai người con gái, cô Sao ạ.
Cô Thổ cười bảo đùa Quang :
- Sao ông không đánh thức cô ta dậy để cùng vào rừng chơi... Nhưng mà cô ta còn mải tắm, chúng mình đi thôi.
Chữ “chúng mình” Quang thấy cô Thổ nói một cách thân mật, âu yếm. Lúc đó chàng cũng bắt đầu coi cô Thổ như một người tình nhân quen biết đã từ lâu. Chàng nắm lấy tay cô Thổ, nói :
- Chúng mình cùng nhảy qua suối, nào.
Lúc qua bên kia bờ suối, Quang hỏi cô bạn :
- Sao tay em lạnh thế em?
- Lúc nãy em vừa rửa tay ở nước suối.
Quang không để ý nên không biết là cô Thổ vừa nói dối chàng.
Hai người đi qua một bãi cỏ, rồi vào một cái rừng thưa. Bóng cành cây in trên đất, trên áo hai người lại càng tăng vẻ sáng của đêm trăng. Cô Thổ nói :
- Qua một cái rừng nữa thì đến chỗ lan nở.
Hai người đi vào bóng tối đen của rừng già. Quang có cái cảm tưởng như người vừa ở ngoài nắng vào trong rợp, chàng hơi sợ, nắm chặt lấy tay cô Thổ.
Ði khỏi một cái dốc, chàng thấy hiện ra ở trước mặt một mảng trắng xóa dưới bóng trăng.
- Rừng lan.
Cô Sao mừng rỡ vừa nói vừa kéo tay Quang chạy vào trong đám hoa. Hương thơm ngát, Quang thấy đầu óc choáng váng: chàng mơ màng thấy cô Thổ kéo mình ngồi xuống giữa rừng lan. Chàng lắc đầu dụi mắt để cố nhìn cho rõ, nhưng không thể được. Trong lúc bàng hoàng, chàng thấy hình như tất cả những bông hoa trong rừng đều ngả cả về phía chàng, những bông hoa mềm và mát rung rinh bên má chàng như mơn man ve vuốt...
... Lúc chàng mở mắt ra chàng thấy mình nằm ở trên bãi cỏ, chung quanh chỗ nằm, những bông hoa đều ngả dẹp xuống đất. Chàng thấy có bóng đen che khuất ánh trăng, liền quay đầu nhìn lại: cô Thổ đứng bên cạnh chàng, tay cầm bó lá to, mỉm cười :
- Sao ông ngủ say thế. Em đánh thức mãi, ông mới tỉnh.
Quang ngạc nhiên :
- Tôi vừa ngủ? Thế mà tôi không biết đấy.
Ngẫm nghĩ một lát, chàng nói tiếp :
- Có lẽ không phải tôi ngủ đâu, vì say hương lan thiếp đi một lúc đấy.
Quang nhìn cô Thổ một lúc rồi trong lòng sinh ra một mối nghi ngờ: hay cô con gái này “không phải là người”. Chàng vừa sợ vừa hỏi :
- Sao đầu tóc cô rối bời thế?
- Vì em phải chui qua bụi rậm để bẻ trộm ngô.
Cô Thổ vứt xuống bên cạnh Quang một bó ngô.
- Ông có diêm không để nướng ngô ăn?
- Không, tôi không mang diêm theo.
- Thế thì đi về đi, ông đi về nhà ăn ngô, em đói lắm.
Nghe tiếng cô Thổ nói, và trông điệu bộ, Quang lại thấy hết cả nghi ngờ. Lạ nhất là đêm khuya ở giữa rừng có một mình mình với một cô con gái yếu ớt mà chàng không thấy có cái ham muốn của một người con trai khi gần người con gái. Chàng lại có cái cảm tưởng mà chàng cho là vô lý là người con gái ấy đã thuộc về chàng rồi.
Cô Thổ bảo Quang :
- Bây giờ ông muốn hái hoa thì tha hồ hái. Em không cấm nữa đâu.
Quang đứng dậy thấy trong người mỏi mệt lạ thường. Chàng không thiết hái hoa nữa; chàng chỉ muốn về ngay vì không chịu nổi hương lan thơm một cách hắc quá.
- Về đi, cô Sao.
* * * * *
Sáng hôm sau thức dậy, Quang nhìn phong cảnh chung quanh không thấy có vẻ huyền ảo như đêm qua nữa. Cô Thổ bưng ra một bát cháo nóng mời chàng một cách thân mật :
- Ông xơi cháo.
Quang đăm đăm nhìn cô Thổ. Dưới ánh sáng mặt trời, chàng thấy cô Thổ có cái vẻ đẹp hồng hào của một người con gái khỏe mạnh.
Ăn cháo xong, Quang xin đi một cách vội vàng. Chàng chỉ mong đến nhà ông Vi văn Hoài thu xếp cho chóng xong công việc, khi về chàng sẽ rẽ qua đây.
Quang nhìn cô Thổ :
- Ðến mai xong công việc, đi qua đây tôi sẽ rẽ vào thăm cô.
Cô Thổ gật :
- Ðể em tiễn ông ra khỏi rừng, sợ ông lạc đường.
Quang dắt ngựa đi theo cô Thổ. Ði qua một cái suối, Quang hỏi :
- Hòn đá trắng đêm qua đâu mất rồi.
Cô Thổ đáp :
- Ở về phía sau nhà em cơ. Rừng lan cũng ở về phía ấy.
Bỗng Quang thấy trước mặt sương dày đặc như khói. Cô Thổ bảo :
- Ðây là khe núi, sáng nào cũng có sương. Phải quen đường mới đi qua được... Vì thế em mới tiễn ông ra tận đây.
Ra khỏi chỗ sương, Quang nhảy lên ngựa từ biệt cô Thổ.
Ngựa đi được mươi bước. Quang quay đầu nhìn lại vẫn thấy cô Thổ đứng trong sương mù nhìn theo. Quang giơ tay nói to :
- Ðến mai...
Lúc lên tới đường cái, Quang để ý đến hai cây trò lên cao vút như hai cái cột quét vôi trắng.
* * * * *
Hôm trước, Quang đã lầm đường vì người cho thuê ngựa quên không nói rõ cho chàng biết rằng: dọc đường, trước khi đi đến cái chùa đổ, có một cái miếu cũng đổ nát.
Quang mới đến cái miếu đã rẽ về bên tay phải. Chàng không trách gì người cho thuê ngựa, vì sự lầm đường ấy đã cho chàng biết được cảnh thú vị.
Chiều hôm sau ở nhà ông Hoài ra, chàng cho ngựa phóng hết sức mau, vì chàng nóng lòng được gặp mặt cô Thổ. Ðến cái miếu đổ nát, chàng rẽ tay trái, rồi cứ đi mãi vào trong. Gặp hai cây trò, chàng cho ngựa đi rẽ xuống. Chàng lần theo vết cũ, rẽ cỏ đi được ít lâu thì đến cái thung lũng có nhà cô Thổ. Chàng cho ngựa nhảy qua cái suối hôm nọ, nhưng lúc ngửng lên nhìn thì bỗng chàng biến sắc mặt, nắm chặt lấy dây cương, mắt mở to nhìn thẳng về phía trước: ở chỗ đất mà chàng chắc là có cái nhà của cô Thổ, “thì không có cái nhà nào cả”. Ðấy chỉ là một bãi cỏ.
Chàng nghĩ mình lầm đường và cho rằng tại cảnh đường rừng phần nhiều hay giống nhau. Chàng tiến ngựa lên trên bãi cỏ không thấy một dấu vết gì có thể chứng rằng ở chỗ ấy mới hôm qua đây còn có người ở, còn có nhà cửa.
Chàng lắng tai nghe: xa xa có tiếng thác chảy. Chàng lẩm bẩm :
- Rõ tiếng thác Lình Hai!
Chàng cho ngựa xuống và đi theo men dòng suối. Bỗng chàng ghì cương lại: sau đám cỏ chàng trông thoáng thấy một vật trăng trắng. Chàng nhảy xuống ngựa đến gần xem thì đó là một hòn đá trắng; chàng kinh ngạc thấy hòn đá đó trông phảng phất giống hòn đá gần nhà cô Thổ, nghĩa là cũng giống hình như một cái vai của người con gái trắng trẻo nằm dưới làn nước.
Quang lúc đó tưởng mình đang mê ngủ. Chàng muốn định thần trí lại để cố nghĩ cho hiểu sự lạ lùng ấy, nhưng không thể được. Hòn đá chàng thấy như có vẻ sống và dưới ánh sáng mặt trời chàng trông rõ một tia đỏ chạy ngang hòn đá như một tia máu.
Chàng cúi xuống giơ hai tay múc nước để rửa mặt cho tỉnh. Nước suối lạnh làm chàng rùng cả mình mẩy. Bỗng chàng thấy - rõ ràng chàng thấy - bên cạnh bóng mặt chàng in xuống đáy nước có bóng một người khác nữa, mặt một người con gái Thổ chàng trông phảng phất giống cô Sao.
Chàng rợn người, đứng thẳng lên, nhìn quay lại thì không có ai cả. Chỉ có con ngựa của chàng đứng sau đang rứt cỏ ăn. Thoáng thấy hương lan, chàng nhìn quanh quẩn. Lúc ngửng lên, chàng thấy ở ngay trên đầu có một bông lan, hoa trắng nuột, cánh điểm hai chấm đen... bông lan rừng.
Quang toan giơ tay hái bông hoa, nhưng có một nỗi sợ vô cớ làm ngừng tay chàng lại. Văng vẳng bên tai chàng tưởng như nghe thấy tiếng cô Sao nói với chàng đêm hôm trước.
- Em xin ông, chỉ có mỗi một cây này gần nhà, em quý lắm.
Lúc ra đến ngoài đường cái, Quang đợi mãi mới gặp được một người Thổ kiếm củi đi qua. Chàng gọi lại hỏi :
- Ở trong kia có nhà ai ở không?
Người Thổ đáp :
- Quanh đây không có nhà ai cả. Ai dám ở đây. Nhiều hổ lắm.
Quang bảo người Thổ lắng tai nghe tiếng thác, rồi hỏi :
- Có phải thác Lình Hai không?
Người Thổ ngạc nhiên không hiểu :
- Thác Lình Hai? Lình Hai... Không phải, đấy là thác Na Pang. “Ở khắp châu này không có thác Lình Hai”.
* * * * *
Mấy hôm sau, người cho thuê ngựa thấy Quang sáng nào cũng đến thuê ngựa, rồi cứ chiều tối mới đem ngựa về trả.
Bẵng đi mấy tháng, người cho thuê ngựa lại thấy Quang đến, nhưng lần này chiều không thấy đem ngựa về. Ngày hôm sau cũng không thấy bóng ông khách thuê ngựa đâu. Nửa đêm nghe tiếng động ở cửa, người cho thuê ngựa đem đèn ra soi thì thấy con ngựa của mình đứng bên giậu, hục hặc tìm lối vào.
Trên lưng ngựa, yên còn đóng nguyên mà người thuê không thấy đâu cả.

0
Bóng người trên sương mù
 
Ở ngoài, đêm tối như mực. Trong toa hạng nhì, riêng tôi ngồi đối diện với Trạch - một người bạn cũ, tình cờ gặp vì đi cùng trong một chuyến xe. Mười năm trước, bạn tôi còn là một người cầm lái xe lửa, cũng hàn vi như tôi; bây giờ gặp lại nhau trong toa hạng nhì, hai người cùng ngạc nhiên và cùng mừng cho nhau.
Lúc nói chuyện, tôi thấy bên bạn có cái hộp khảm rất đẹp liền cầm lấy xem, rồi tình cờ mở hộp ra; bạn tôi có ý không bằng lòng nhưng vì nể tôi nên không nói gì. Tôi nhìn vào hộp thấy lạ: hộp bịt kín, ở trong có một con bướm rất to, hai cánh đã xơ xác. Tôi hỏi bạn :
- Con bướm này vùng tôi thường thấy luôn, quý gì mà anh giữ cẩn thận thế này?
- Vâng, bướm thường, nói cho đúng thì là một con ngài, nhưng đối với tôi... Vừa nói đến đấy, xe rầm rập đi qua một cái cầu sắt. Bạn tôi lắng tai nghe rồi nói :
- Xe đi qua cầu N.G. Tôi bắt con bướm chính ở giữa cái cầu này đã mười năm nay...
Thấy bạn có vẻ khác, tôi đoán có chuyện gì, liền hỏi :
- Con bướm này chắc cũng có sự tích gì đây?
- Vâng, những sự tích buồn... Chuyện đã ngoài mười năm trước độ anh đi Sài Gòn thì tôi còn là anh cầm lái tàu hoả. Chính độ ấy tôi chạy con đường này, tình cảm tôi độ ấy anh đã rõ.
- Cũng như tình cảnh tôi...
- Nhưng có một việc tôi không nói cho anh hay là độ ấy tôi có lấy một người vợ, nhưng giấu nhà, giấu mọi người, giấu anh. Chúng tôi sống trong cảnh nghèo khổ mà thật lấy làm sung sướng. Nhưng vì cảnh nghèo, vì nhà tôi không quen chịu được kham khổ nên người mỗi ngày một yếu dần.
Về sau, nhà tôi bị bệnh nặng mà tôi thì vẫn phải đi làm, không ai trông nom ở nhà. Một đêm nhà tôi yếu quá ngất người mấy lần, mà chính đêm ấy là đêm tôi được ông Chánh cử đi cầm lái chuyến xe riêng chở quan an toàn quyền. Thật là một dịp rất hay cho tôi. Nhưng tôi biết không thể nào đi được, liền thưa với ông Chánh, nói là vợ ốm. Ông Chánh đập bàn, đập ghế, gắt :
- Tôi không biết! Một là mười giờ đêm nay anh phải có mặt ở ga, hai là từ giờ này trở đi anh đừng bước chân tới đây nữa. Thôi anh ra.
Lời ông Chánh nói quả quyết, tôi phân vân không biết nghĩ sao: lúc về nhà, ngồi ở đầu giường, nhìn đến vợ mới biết rằng không đi được, dẫu mất việc làm cũng không cần.
Nhà tôi thấy tôi có vẻ lo nghĩ, hỏi duyên cớ vì sao, tôi liền đem việc ấy ra kể cho nhà tôi nghe. Nhà tôi nghe xong, vẻ mặt tươi hẳn lên, bảo tôi rằng :
- Thế cậu đi chứ! Việc gì phải ngần ngừ! Tôi không việc gì đâu, đã thấy đơc nhiều. Chiều mai về nhớ mua cái gì làm quà cho tôi đấy.
Tôi thấy nhà tôi cười vui vẻ, tôi vững tâm, thay quần áo ra ga. Ðến ga đúng mười giờ. Nhưng khi cho xe chạy rồi tôi mới thấy lo, tôi mới biết là tôi liều. Lúc đó tôi có cảm giác lạ lắm: hình như tôi đi thế này, lúc về chắc không nhìn thấy mặt vợ nữa. Tôi cố định trí để cầm lái nhưng chỉ được một lúc thôi.
Bỗng cả chuyến xe lửa nghiêng về một bên, rồi lắc lư như muốn đổ. Người “ét” của tôi vội bỏ cái xẻng xúc than, níu lấy tôi, nói :
- Ô hay! Hôm nay ông làm sao sao thé? Chỗ ấy đường cong nguy hiểm thế mà ông không hãm máy. Ông ngủ à?
Tôi không ngủ nhưng người tuy ở đây mà trí còn nghĩ tới người vợ nằm đợi chết một thân, một mình trong gian nhà nhỏ kia. Mắt tôi hoa lên, mồ hôi ướt đẫm cả người.
Xe đi vào khe núi, hết lên cao lại xuống thấo như có vẻ nhọc nhằn. Tôi thò đầu ra cửa nhìn thẳng trước mặt, nhưng đêm ấy, sương mù đầy trời, không nhìn rõ gì cả, chỉ một màu trắng xóa dưới ánh hai cái đèn ở đầu toa. Bỗng tôi thấy... rõ ràng, tôi thấy in trên sương mù một cái hình người đàn bà mặc áo rộng đứng dang tay. Tôi dụi mắt tưởng mình trông hoảng, nhưng không, hình người đàn bà vẫn đấy. Tôi gọi người “ét” lại cửa toa, bảo ông ta nhìn rồi hỏi :
- Bác có thấy gì không?
Vừa nói xong, hình người vụt biến mất. Bác “ét” thò đầu ra và bảo tôi :
- Chỉ thấy sương mù! Ông lại mê ngủ rồi
- Không, rõ ràng tôi thấy có hình người đàn bà in trên sa mù nhưng vừa biến mất.
Người “ét” cười ra vẻ không tin, lấy xẻng xúc thanh cho vào lò, còn tôi vẫn đứng nguyên chỗ cũ đăm đăm nhìn thẳng trước mặt. Ðược một lát, hình người đàn bà hiện ra, lần này rõ ràng hơn, hai tay vẫn dang thẳng như muốn ngăn đường, không cho xe chạy lên nữa.
Tôi gọi người “ét” nhưng bác ta làm bộ không nghe thấy, cứ cắm đầu xúc than cho vào lò. Tôi biết tôi không mê, tôi biết là cái hình người ấy có thật. mà ai nhìn cũng phải thấy. Tôi đến cầm tay bác “ét” kéo bác ra xem rồi bảo, quả quyết :
- Nhìn xem.!
Bác ta há hốc mồm giương to đôi mắt hốt hoảng nói :
- Lạ thật!... Ma ông ạ!
Xe tiến đến đâu, cái hình bóng người lui đến đấy, có lúc mờ, có lúc rõ, lơ lửng giữa lưng chừng trời.
Rồi cái hình người ấy vẫy hai tay một cách thong thả, như có ý bảo chúng tôi đừng tiến lên nữa, có sự nguy hiểm.
Tôi bảo bác “ét” :
- Bác này, lại có sự gì lại sắp xảy ra.
- Vâng, sao cái hình lại như lấy tay làm hiệu bảo ta đứng lại.
Cái hình người trước còn vẫy tay thong thả, sau vẫy thật nhanh như người tỏ ra ý thất vọng vì bảo chúng tôi không nghe.
- Hay ta dừng xe lại xem sao, chắc là ma!
- Không được, tự nhiên vô cớ.
Còn tôi lúc bấy giờ tai ù như người mất trí khôn, tôi văng vẳng như có tiếng người ở thật xa đưa lại, tiếng một người đàn bà bảo tôi :
- Ðỗ lại! Ðỗ lại!
Tôi lắng tai, tay nắm chặt lấy cái phanh như định hãm lại rồi lại không dám hãm.
Một lát sau, tôi lại nghe thấy tiếng người đàn bà, rõ hơn lần trước, giục tôi :
- Hãm lại! Hãm ngay lại!
Lúc bấy giờ tôi không biết nữa, nhắm mắt hãm phanh thật mạnh. Các toa rùng một cái, bánh xe kêu rít lên trong đêm thanh vắng, xe chạy từ từ một quãng rồi đỗ hẳn. Tôi chưa kịp bước xuống, đã thấy người “xếp tanh” cầm đèn chạy lên hỏi :
- Việc gì thế?
Tôi luống cuống không biết trả lời làm sao, vì nói thật ai tin mình. Tôi trả lời một cách mập mờ :
- Chắc có sự gì lạ. Ðể tôi cầm đèn đi xem trước đã.
Lúc bấy giờ mấy ông hầu quan Toàn quyền cũng vừa đến, rồi thấy lạ, đi theo chúng tôi. Vừa đi được một quãng thì nghe có tiếng nước chảy ầm ầm. Tôi định tâm mới nhớ ra rằng đó là cầu N.G
Mấy đêm ấy mưa lũ, nước chắc chảy xiết, nên mới réo to như vậy. Ðến bờ sông, giơ đèn lên soi, mấy người đều kinh hoảng: cái cầu N.G bị nước nguồn chảy về xoáy gãy làm đôi.
Một tý nữa, nếu không hãm kịp thì cả một chuyến xe riêng chở Toàn quyền đâm nhào xuông sông sâu, chắc không sống sót một ai: tưởng không có cái tai nạn nào ghê gớm hơn, thế mà chính nhờ tôi, nên mới không có cái tai nạn ấy. Tôi đứng ngẩn người không hiểu ra sao cả.
Người “xếp tanh” mừng cuống quít hỏi tôi :
- Sao ông biết mà hãm?
- Tôi cũng không hiểu.
Mấy người quan hầu có vẻ mừng lộ ra mặt, xúm xít quanh tôi hỏi dồn, tôi không biết trả lời ra sao, một lát mọi người đứng dãn ra. Quan Toàn quyền đến: ngài không nề tôi là người lao động, trong lúc mừng quá, ngài giơ tay bắt tay tôi, cái bắt tay đầu bụi than rồi ngài tỏ lời khen.
Tôi chắc rồi sau thế nào cũng được trọng thưởng, nhưng trọng thưởng lúc đó đối với toi cũng như không, tôi chỉ nghĩ đến nhà tôi ở nhà, không biết ra sao. Tôi đi trở lại và thoáng thấy con gì bám ở cái đèn để ở đầu toa, nhìn kỹ thì ra một con bướm thật to, vướng vào đèn đương đập cánh để tìm đường thoát. Chính là con bướm trong cái hộp này đây.
Trông thấy con bướm, tôi thốt nghĩ ra ngay. Chính phải rồi, chính cái hình người đàn bà lúc này là cái bóng con bướm này in lên trên sương mù, đầu con bướm là đầu hình người mà hai cánh con bướm đập là hai cánh tay người vẫy.
Tôi bắt con bướm rồi định thả nó bay đi; sau nghĩ con bướm đã giúp mình được việc, nên giữ lại làm kỷ niẹm. Tôi nhìn vào đồng hồ trong toa, thấy kim chỉ đúng hai giờ đêm...
Hôm sau tôi vừa về đến cổng nhà thì thằng nhỉ chạy ra báo tin nhà tôi mất, mất vào khoảng một giờ đêm qua.
Tôi không tin nhảm, tôi chắc đó là một sự tình cờ, một sự ngẫu nhiên, nhưng tôi vẫn yên trí là linh hồn nhà tôi đã nhập vào con bướm này để phù hộ cho tôi tránh được tai nạn đêm hôm ấy. Nhưng tránh được tai nạn mà làm gì, tôi thoát được thân tôi mà làm gì, giàu sang phú quý bây giờ đối với tôi cũng như không, tôi cũng chỉ như con bướm này, xác đấy mà hồn tận đâu đâu.
Bạn tôi kể xong chuyện, đậy cái hộp khảm lại rồi thẫn thờ nói :
- Bây giờ chỉ còn lại cái xác bướm không hồn.

0
Thế rồi một buổi chiều
 
I

Dũng rảo bước trên con đường làng. Ban trưa, đường vắng tiếng gió thổi kẽo kẹt trong những rặng tre già lẫn với một vài tiếng gà gáy xa xa đưa lại và tiếng trong trẻo của mấy đứa trẻ nô đùa dưới ánh nắng ấm áp. Dũng cứ cắm đầu bước, tuy chàng vẫn biết rằng lần này khó lòng thoát được; từ nửa đêm đến giờ, chàng đã chôn chân, đi hết làng này sang làng khác, nhưng không có một nơi nào để chàng tạm ẩn.
Bên đường, cạnh vào gốc thông già, mấy người con gái xúm quanh một cái giếng khơi đương kéo gầu lấy nước. Dũng khát ráo cổ, nhưng vẫn không dám ngừng lại xin nước uống, sợ người ta nhận biết mặt mình. Chàng cắm đầu đi, văng vẳng nghe sau lưng tiếng gió reo trong rặng thông, tiếng cười nói của mấy cô con gái và tiếng nước chảy từ gầu xuống giếng sâu.
Đi gần hết làng, Dũng trông xa ra: ở tận chân trời, thấp thoáng có mấy nóc nhà gạch. Chàng biết đó là dãy phố huyện V.D., chàng biết chàng đã cùng đường, tiến không được nữa, lui tất gặp người đuổi mình. Chàng rẽ liều vào một cái ngõ con, đi hết một quảng, gặp một cái cổng chùa, nửa khép nửa mở. Dũng chép miệng :
- Cứ liều.
Liều, vì chàng biết rằng vào đây chỉ là đợi người ta đến bắt. Dẫu sao, khi đã khép cổng lại rồi, Dũng thở dài, người như nhẹ hẳn. Một dãy hồng nở hoa, thoang thoảng đưa hương thơm. Dũng đi qua một cái vườn rộng, vừa vào đến gần chùa, thì một vị sư bà chạy ra nói :
- Ấy chết mời thầy ra ngay cho, chùa này là chùa sư nữ ở.
Dũng ngần ngừ nhìn sư bà, rồi trả lời ngớ ngẩn :
- Nhưng tôi đã trót vào rồi thì để tôi vãn cảnh chùa đã.
Rồi Dũng nhìn ngang ngửa như một nhà khảo cổ, ngắm nghía vẻ đẹp của nếp chùa. Thật ra chàng đương loay hoay tìm cách ẩn thân, ngắm nghía mãi rồi sư bà cũng đến mời ra thôi.
Mười lăm phút sau, khi đã xét khằp nơi tìm chỗ trốn, Dũng đứng vờ đọc những chữ mà chàng không hiểu trên một tấm bia cổ. Bỗng có tiếng người đẩy cổng chùa. Chàng giật mình, lắng tai nghe, nhưng lại yên tâm ngay vì thấy có tiếng cài then cửa lại. Chắc có người nào ở trong chùa mới đi đâu về. Dũng thấy động sau lưng, quay lại: đôi mắt hoa đương đăm đăm nhìn chàng, đôi mắt ngạc nhiên của một cô sư trẻ tuổi.
Dũng như không để ý đến người sư nữ, lại vờ nhìn bia.
Một lát sau, sư bà lên cùng đi với sư cô trẻ tuổi, vừa cất tiếng mời Dũng ra, thì ngoài cổng có tiếng đập mạnh. Ba người cùng lặng yên, lắng tai. Dũng tiến gần sư bà, van lơn :
- Bạch sư bà, tôi sống chết bây giờ là ở tay sư bà, xin sư bà thương mà cứu tôi. Họ sắp vào bắt tôi, tôi... một người...
Tiếng sau cũng chàng nói thật khẽ, nhưng hai nhà sư cùng nghe rõ, và thấu ngay tình cảnh nguy cấp của người khách lạ thăm chùa.
Sư bà đưa mắt nhìn sư cô, còn sư cô vẫn đăm đăm nhìn Dũng không chớp. Tiếng gõ cổng ngoài một lúc một mạnh.
Dũng nói :
- Sư bá cho phép tôi đi trốn... Nhưng ẩn đâu. Ẩn đâu bây giờ?
Trong lúc sư bà còn đương lưỡng lự chưa biết xử trí ra sao, thì sư cô điềm nhiên, nói một cách bình tĩnh như không :
- Được, ông vào buồng tôi mà ẩn.
Rồi cô lấy tay chỉ về phía nhà trai, bảo Dũng :
- Ông xuống ngay đi!
Tuy đương lo sợ, hốt hoảng mà Dũng cũng phải lấy làm ngạc nhiên về cử chỉ của cô sư. Chàng thoáng thấy một vẻ đẹp oanh liệt, lạ lùng hiện trên nét mặt dịu dàng của người sư nữ đã điềm tĩnh tìm cách cứu chàng, che chở chàng như một người chị.
Trong lúc Dũng ở trong buồng tối, nép mình sau mấy bức hoành phi và câu đối, thì sư cô lên tiếng hỏi người gõ cổng.
Một lát sau, Dũng thấy có tiếng người đàn ông nói :
- Lạ thật! Có người bảo đi vào ngõ này mà tìm đâu cũng không thấy.
Và tiếng người sư nữ đáp lại :
- Chùa này lúc nào cũng đóng cứa, ai vào được đây.
- Họ trèo tường vào.
- Các ông thử đi tìm xem.
Tiếng sư cô trả lời bình tĩnh như không. Im một lát, rồi Dũng thấy tiếng chân đi về phía cổng và tiếng cài then. Chàng vững tâm lại gần cửa nhìn qua khe ra ngoài, thấy hai nhà sư đương đứng ở sân bàn chuyện.
Sư bà nói với sư cô :
- A Di Đà Phật! Bây giờ làm thế nào?
- Bạch sư bà con nghĩ nên cho người ta ẩn đến chiều.
- Thế ngộ làng nước...
- Bạch sư bà... ai biết được.
Thoát nạn Dũng bước ra, đến gần hai nhà sư ân cần tạ ơn và xin đi ngay để khỏi phiên lòng hai nhà sư.
- Không sao, ông cứ lánh ở nhà chùa, đợi đến sâm sẩm tối hãy đi. Bây giờ ra ngay thế nào được. Họ biết thì lôi thôi đến cả nhà chùa nữa.
Sư bà gật cho là phải và khi thấy Dũng có vẻ mệt, liền ân cần hỏi :
- Thấy chắc đói lắm.
Rồi quay sang bảo sư cô :
- Sư cô lên lấy ít oản chuối xuống đây để thầy ấy ăn cho đỡ đói.
Sư cô lên chùa rồi đem xuống một đĩa đầy oản chuối, đặt trên bàn, mời :
- Có ít lộc Phật, ông vào xơi nước.
Bây giờ Dũng mới để ý đến giọng thanh tao của vị sư nữ, đến đôi ban tay xinh xắn, trắng trẻo đương nhẹ nhàng xếp lại mấy phẩm oản, và đôi bàn chân nhỏ nhắn trong dép da mộc mạc.
Chàng đói bụng, nên ăn có dáng ngon lành. Rồi trong khi uống nước, chàng nói chuyện với hai nhà sư về cuộc đi trốn của chàng trước khi đến chùa; thấy hai nhà sư ân cần hỏi han, chàng đem đời mình ra kể qua loa bằng một giọng thành thực và tự nhiên. Chàng sẵn có tài nói, nên dễ cảm động người nghe. Sư bà chốc chốc lại điển hai tiếng: tội nghiệp. Dần dần, Dũng biết rằng ông cụ thân sinh ra sư bà trước kia cũng gặp cảnh ngộ giống như cảnh ngộ chàng. Bấy giờ chàng mới hiểu vì cớ sao sư bà không sợ gì tội lỗi, hiềm nghi, để yên cho chàng ẩn vào buồng sư cô. Còn sư cô từ nãy đến giờ vẫn ngồi yên, không nói nửa lời, mắt nhìn ra sân vẻ mặt lạnh lùng, bí mật, có dáng nghĩ ngợi.

II

Trời đã sẩm tối. Gió lạnh nổi lên vù vù lọt qua khe giại. Lấm tấm có vài hạt mưa. Dũng biết đã đến lúc từ biệt hai nhà sư: tuy ra ngoài chưa chắc thoát khỏi những nơi canh phòng, nhưng Dũng biết rằng không thể nào đêm hôm lại ở trong chùa, chỉ có một mình mình với hai sư nữ. Sư bà chắc cũng nghĩ vậy, nên khi Dũng tạ ơn xin đi, không giữ lại, thương hại bảo Dũng :
- Thầy cầm vài phẩm oản để đêm có đói thì ăn.
Sư cô vội can :
- Bạch sư bà... ông ấy chá dám nhận. Của nhà chùa không nên để ông ấy mang theo mình. Thôi, để con đưa ông ấy ra cổng.
Trời đã tối lúc ra không dám đem đèn mà Dũng lại không quen đường, nên phải lần từng bước, theo bóng sư cô.
Khi thoang thoảng ngửi có hương hoa hồng, chàng mới biết đã ra gần đến cổng chùa. Gió lạnh thổi mạnh hơn, mưa đã bắt đầu rơi nặng hạt. Dũng rùng mình: nửa vì lạnh, nửa vì nghĩ đến những sự nguy hiểm đợi chàng trên những con đường làng mà chàng không thuộc lối, đêm hôm canh phòng nghiêm ngặt, hai người cùng đứng lại dưới mái cổng. Sư cô hình như trù trử chưa muốn mở then cửa, quay lại phía Dũng. Trong bóng tối mờ mờ Dũng đoán thấy hai mắt nhà sư đang nhìn chàng. Một lát sau sư cô nói rất khẽ :
- Này ông...
- Sư cô dạy?
- Tôi ngại cho ông lắm. Đêm hôm...
- Sư cô không ngại, tôi đi được, tôi đã quen đi đêm, đã quen lạnh rồi.
- Thưa ông, tôi không ngại gì đêm lạnh nhưng tôi sợ...
Sư cô ngừng một lúc rồi nói tiếp :
- Tôi sợ ông không thoát được.
Dũng chép miệng :
- Đành liều vậy? Thôi, xin chào sư cô ở lại. Thật không biết lấy gì tạ ơn sư cô. Suốt đời tôi, còn sống được ngày nào, tôi không dám quên.
Sư cô chừng như hiểu thấu sự cảm động của Dũng :
- Ông tạ ơn giời, Phật. Còn đi... thì bây giờ ông chưa đi được. Vâng, ông không thể nào đi được. Ông nghe tôi... Tôi chắc thế nào ra, họ cũng bắt được ông...
Dũng cứ yên lặng để sư cô nói, chàng cũng chưa hiểu sư cô định ý ra sao.
- Ông...
- Dạ.
- Ông đi theo tôi.
Ngoan ngoãn như đứa trẻ dễ bảo. Dũng lẳng lặng theo sư cô.
Hai người đi qua một cái vườn rộng, đi vòng ra sau chùa. Dũng chỉ thấy cái bóng trắng lờ mờ của bức tường và nghe tiếng sột soạt của lá khô dưới gót chân hai người. Sư cô đứng dừng lại sẽ bảo Dũng :
- Ông cẩn thận, có mấy bực gạch.
Rồi hai người trèo lên mười bực thang gạch vào một cái buồng nhỏ: Dũng đoán là một cái gác chuông hay gác khánh bỏ hoang. Sư cô bảo Dũng :
- Ông đứng yên ở đây để tôi về qua chùa, kéo sư bà thấy tôi đi lâu người quở.
- Thưa cô... thưa sư cô, sư cô cho biết...
- Ông cứ ở đây, ông hãy tạm lánh ở đây một vài hôm. Ông chớ để sư bà tôi biết. Rồi chúng ta sẽ liệu...
Dũng lại ở một mình trong gác tối, còn lấy làm ngạc nhiên về cử chỉ lạ lùng của cô sư. Trên ngọn mấy cây thông gần đấy, gió vẫn thổi rì rào, Dũng giơ tay ra ngoài cửa sổ hoa thì thấy mưa chưa tạnh. Chàng bình tâm lại mới biết mình đòi đi ngay đêm nay là dại dột không biết ngần nào.
Đương suy nghĩ bối rối, Dũng thấy có bóng lửa lập lòe dưới chân thang. Sư cô bước lên, tay cầm một cây đèn con, đặt ở bực gỗ rồi lại xuống ngay. Một lát sau lại lên, lễ mễ cắp một bó chiếu nặng.
Dũng vội vàng chạy ra đỡ giúp :
- Sư cô tử tế quá.
Sư cô nhìn bó chiếu :
- Đêm nay mưa lạnh lắm. Thế này chưa chắc đã đủ ấm. Nhưng mà ở chùa chỉ có chiếu thôi.
- Thưa sư cô, xin đủ lắm rồi. Cảm ơn sư cô...
Dũng cảm động. Dưới ánh đèn, nét mặt sư cô nhiễm một vẻ đẹp thần tiên: hai con mắt từ bi dịu dàng nhìn Dũng thương hại, như an ủi chàng.
- Ông có khát không?
Sư cô bước xuống thang còn quay lại đưa cho Dũng một bao diêm :
- Thôi, ông đi nghỉ ngay kẻo mệt.
- Ông nên tắt đèn đi, nhỡ có người trông thấy.
Dũng cầm đèn chiếu xuống cầu thang. Sư cô vội can :
- Thôi ông nên tắt đèn ngay đi thì hơn. Tối tôi đi cũng được.

III

Sáng hôm sau, khi Dũng thức dậy, ánh nắng đã xiên qua cửa sổ, chiếu vào sân, ngoài gác khánh, tiếng chim buổi sáng ca hót hòa với tiếng lá thông rì rào. Dũng ngồi vào chỗ có ánh nắng để sưởi, vì trong người thấy lạnh buốt.
Qua cửa sổ, chàng trông thấy một cái vườn rậm rạp trồng toàn ổi và chuối. Dũng toan đứng dậy xuống gác xem xét, bỗng có tiếng chân người bước lên bậc thang. Sư cô tay cầm tích nước và cái chén bước lên, thấy Dũng vẻ mặt sợ hãi thì cười nói :
- Ông tha lỗi, tôi làm ông sợ. Nhưng ông cứ yên tâm, sư bà tôi không ra vườn sau này bao giờ. Mời ông xơi chén nước chè nóng. Đêm qua ông nghỉ yên?
Dũng thấy sư cô hỏi han ân cần, có vẻ thân mật hơn hôm trước, nên cũng mỉm cười, đáp lại :
- Đa tạ sư cô, tôi mới vừa dậy được một lát, thì sư cô lên. Tôi chưa kịp định liệu việc gì.
- Ông chớ vội vàng, ông cứ tĩnh dưỡng cho khỏe, vì rồi ông còn phải đi nhiều. Để tôi ra ngoài xem tình hình thế nào đã.
Khi nhà sư đi rồi, Dũng ngồi yên một chỗ, chờ đợi tin tức. Đợi lâu, chàng đoán lúc đó vào quãng mười giờ cũng chưa thấy sư cô về. Bụng chàng đã thấy đói, mà ở nhà chùa phải đúng giờ ngọ mới được ăn cơm. Chàng cũng không hiểu sư cô dọn cơm cho chàng ăn ra làm sao, bằng cách nào. Rồi chàng mỉm cười một mình, lẩm bẩm :
- Chắc lại ăn cơm nắm, muối vừng thôi.
Ăn cơm nắm mà ngồi bó gối trong cái gác nhỏ hẹp này! Có trốn đi để khỏi ở tù mà không khác gì ngồi tù.
Rồi mệt quá, chàng dựa lưng vào tường, ngủ thiếp đi. Có tiếng đập vào vai. Dũng thức giấc lơ mơ tưởng thấy một người tiên nữ đang cúi nhìn mình. Chàng mơ màng giơ hai tay lên mỉm cười... bỗng có tiếng :
- Tôi đây mà... mời ông dậy dùng cơm.
Dũng giật mình tỉnh hắn, hơi thẹn, nói chữa :
- Tôi ngủ mê quá... xin sư cô tha lỗi cho.
Nhà sư hai má đỏ ửng, không trả lời, đặt xuống sàn một cái khay trong có một liễn cơm, một cái bát và một đĩa vừng rang.
Hai người cùng đứng yên một lúc. Dũng nhìn xuống khay cơm, nói pha trò để che sự ngượng nghịu của hai người :
- Khổ, tôi chẳng khác gì đứa trẻ ốm liệt giường, liệt chiếu.
Rồi chàng nghiêm mặt hỏi :
- Thưa sư cô, tin tức ở ngoài ra sao, xin sư cô cho biết.
- Ông chưa thể đi được, mà có lẽ còn lâu ông mới có thể đi được.
Rồi sư cô kể cho Dũng nghe rành mạch vì cớ gì. Dũng lo lắng :
- Làm thế nào bây giờ?
- Làm thế nào? Thì ông hãy cứ lánh thân đã. Ông hay nóng ruột vô ích. Ông có việc gì vội không?
- Tôi thì lúc nào cũng việc vội. Nhưng bây giờ chỉ có một việc cần nhất: đi trốn.
- Ở đây không là trốn sao?
Dũng cũng vẫn đã nghĩ như vậy rồi, nhưng chàng cho là ở đây không phải nơi trốn. Ngập ngừng, chàng trả lời :
- Thưa sư cô... nhưng...
Không thấy Dũng nói hết câu, sư cô hỏi :
- Ông bảo sao?
- Thưa cô... sư cô tha lỗi cho, tôi mang ơn sư cô, nhưng đời tôi, tôi có kể làm gì, tôi rất ngại cho sư cô. Tôi biết rằng tôi ở đây được yên thân không sợ gì, nhưng tôi vẫn ngại. Sư cô là người tu hành, tôi là một người... một người trần tục...
Chàng không dám nói hết câu. Sư cô ôn tồn đáp lại :
- Tôi cũng đã nghĩ đến điều đó, nhưng đã là kẻ tu hành, thì chỉ cốt có lòng thương người, xin ông đừng quan tâm gì cả. Việc này chỉ có Trời, Phật và ông với tôi biết mà thôi, can gì ông phải nghĩ ngợi. Vậy xin ông cứ an tâm và xin ông dùng tạm hứa cơm chay.
Hai người nhìn nhau; sư cô vội vàng quay mặt đi, và lật đật bước xuống thang về chùa.

IV

Đã ba hôm ròng rã, Dũng ở luôn trong gác khánh, chưa đi được mà cũng không dám bước xuống vườn. Hết đứng lại ngồi, và mỗi ngày mấy lần sư cô vào thăm chàng đưa cơm nước.
Vẫn biết rằng ngồi một mình buồn bã, ắt là mong có người vào thăm, nhất là khi nào người đến thăm đó lại là một người sư nữ vừa dịu dàng, xinh đẹp, lại vừa lanh lẹ, vui tính. Đó là một sự thường lắm. Nhưng dần dần Dũng thấy sự mong mỏi của mình vượt ra ngoài sự thường đó; chàng tha thiết được gặp mặt sư cô như người khát mong được uống nước suối trong. Mỗi lần sư cô bước lên thang gác, chàng ngồi đếm từng bước chân, và khi trông thấy mặt sư cô, Dũng cảm thấy trong lòng êm ả, quên hẳn cái thân trốn tránh, tưởng tượng như người đương đi nắng thấy thoang thoảng có hương sen theo ngọn gió mát ở đâu đưa lại.
Khi Dũng nhìn sư cô và thấy vẻ mặt sư cô nhìn lại mình, Dũng biết rằng sư cô cũng có một cảm tưởng như chàng. Dần dần hai người trông thấy nhau có vẻ thẹn thùng, ngượng nghịu như kẻ lẩn lút làm một việc gì không chính đáng. Có lần Dũng buột miệng, nói :
- Nhỡ sư bà biết!
Dũng lấy làm lạ sao mình chỉ nghĩ đến việc sợ sư bà biết mà không nghĩ đến việc trốn. Dũng lại lấy làm lạ rằng mỗi lần chàng ngỏ ý với sư cô muốn đi khỏi chùa thì sư cô tìm được những chứng cớ chắc chắn, rõ rệt để khuyên chàng không nên đi vội. Mà lần nào chàng nghe sư cô nói cũng thuận tai, cho là phải. Chàng chép miệng như người thất vọng :
- Biết bao giờ mới được đi!
Nhưng nói xong Dũng lại ngượng với mình, vì chàng thấy sư cô nhìn chàng như đã hiểu rằng chàng vừa nói một câu không đúng với ý nghĩ.
Thế rồi một buổi chiều...
Một buổi chiều yên tĩnh. Sư cô một mình thơ thẩn đợi giờ thỉnh chuông. Gió bắc nhẹ nhàng thổi như đem theo với cái lạnh lẽo của buổi chiều đông những nỗi buồn xa xôi, không duyên cớ. Tiếng rì rào của mấy cây thông già lọt vào chùa nghe phiêu diêu như tiếng than vãn của không trung.
Sư cô thấy tâm hồn mình lạnh lẽo với gió hiu hiu, rung động với lá thông reo rì rào. Hương thơm từ trên Phật tòa theo gió đưa xuống phảng phất, bao bọc lấy người sư cô, chiều hôm ấy, đem lại cho sư cô những cảm giác mới lạ, gợi trí sư cô nghĩ tới những nỗi ái ân, yêu thương của quãng đời mà sư cô tưởng đã xóa mờ trong trí nhớ. Nàng quên cả những nỗi đau đớn về sự thất vọng nó đã bắt nàng, giục nàng lánh đời ba năm nay, mà chỉ nhớ tới những ngày đầm ấm của tuổi xuân như còn để trong tâm hồn, trong da thịt nàng cái dư vị không bao giờ phai của những sự yêu thương cũ.
Sư cô vùng người thở dài một cái như để xua đuổi những ý nghĩ nó đến ám ảnh, rồi vội vàng lên gác thỉnh chuông.
Tuy miệng đọc chú, tay đánh chuông nhưng trí nghĩ của sư cô chập chờn theo tiếng chuông ngân nga, lăn xa ra mãi...
Thỉnh chuông xong, sư cô lặng yên một lát rồi uể oải bước xuống thang gác. Nàng lững thững lần theo dẫy hành lang qua cửa vườn sau, không để ý đến những hạt mưa rơi lấm tấm, rồi như người không ý nghĩ đi lần về phía gác khánh bỏ hoang. Thấy trên gác có ánh sáng, nàng bước lên sẽ hỏi :
- Ông còn thức sao?
Dũng vui vẻ hỏi lại :
- Sư cô phải không? Vâng tôi còn thức đây, có việc gì thế, sư cô?
- Không.
Rồi hai người yên lặng. Một lát có tiếng sư cô :
- Người ta mới biếu nhà chùa bao chè ngon, để mời ông xơi nước.
Dũng giơ đèn soi đường cho sư cô :
- Vâng, tôi đương khát, xin mời sư cô lên.
Dưới ánh đèn, Dũng thấy hai con mắt sư cô long lanh sáng như hai ngôi sao. Sư cô mỉm cười, nói một cách thân mật :
- Nhưng ông hãy thong thả, để tôi về đun nước đã.
- Vậy tôi xin đợi. Sư bà bây giờ...
Sư cô vội đáp :
- Sư bà hôm nay mệt, đã đi nghỉ...
Hai người đều có một cảm tưởng như nhau: lẩn lút hẹn hò một cuộc gặp gỡ.
Nửa giờ sau, sư cô đem khay chè và siêu nước lên.
Trong căn gác nhỏ ấm áp, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn con, hai người ngồi đối diện bên mấy chén trà nóng, hơi lên nghi ngút. Bên ngoài bắt đầu mưa to. Dũng cất tiếng nói trước :
- Đã mười hôm nay mới được uống chén nước ngon! Lúc này thật quên những nỗi khó nhọc, vất vả vừa qua.
Chàng khoan khoái không muốn nghĩ đến những sự nguy hiểm đương đợi chàng ngoài kia, giam mình chốc lát trong một cảnh đời như thực như hư.
Dũng thấy sư cô ngồi yên lặng, nhìn chàng đăm đăm như nghĩ ngợi điều gì, chàng hơi ngượng phải cúi mặt xuống. Một lát Dũng thờ thẫn hỏi :
- Sư cô vì sao lại đi tu?
Câu hỏi tình cờ, đột ngột, thốt nhiên nói ra làm cho sư cô luống cuống, ngửng nhìn Dũng :
- Tôi cũng không biết.
- Sư cô không biết... nhưng tôi, tôi trông người sư cô tôi biết không phải vô cớ, không phải tự nhiên mà sư cô đi tu.
Dũng thấy đôi mắt sư cô luôn luôn chớp như cảm động, chàng nói tiếp :
- Chắc là sư cô có một nỗi khổ ngấm ngầm, một điều gì thất vọng.
Câu nói của Dũng nhắc sư cô nhớ lại những ngày đau đớn của quãng đời tục lụy ba năm về trước đây, hồi còn là một thiếu nữ mười chín, hai mươi tuổi. Một sự thất vọng về tình ái đã làm cho sư cô chán nản đến tuyệt vọng, đành đem thân nương cửa Phật để quên... Nhưng nào có quên được. Ba năm ròng rã, tiếng chuông chiều với mùi nhang thơm chỉ như gợi cho nàng nghĩ đến sự lạnh lẽo của một đời cô độc, khô khan, gợi cho nàng mơ ước những sự yêu thương vơ vẩn, những tình ái bâng khuâng.
Quên đời, nàng vẫn biết là không sao quên được, nàng càng muốn lánh xa sự đau khổ thì sự đau khổ lại càng như ác nghiệt đuổi theo. Trong lúc tâm hồn như vậy, thì sự tình cờ đã run rủi cho nàng gặp Dũng, một thiếu niên có chí khí mà ngay lúc buổi đầu khi tìm cách che chở, nàng đã đem lòng ái mộ. Xúi giục Dũng ở lại chùa, tìm cách giúp đỡ cho Dũng trốn tránh, đó không phải là lòng thương mà chính vì lòng yêu, yêu người mình đã cứu giúp. Nàng lấy làm sung sướng đã mười hôm nay, lần này là lần đầu, Dũng hỏi đến chuyện đời riêng của nàng. Nàng cảm động, thở dài sẽ nói :
- Đó là chuyện cũ, chuyện ngày xưa. Tôi không muốn nhớ tới nữa, không muốn nhắc đến nữa, tôi ao ước được quên hẳn...
- Thế nghĩa là bây giờ sư cô chưa quên...
Tiếng rì rào trong rặng cây thông như âm thầm hòa nhịp với tiếng thở dài của hai người. Dũng nói tiếp :
- Tôi thì tôi cho là khó lòng quên được, đi tu không phải là để quên, nhất là để quên những thất vọng về đường tình ái. Tôi nghiệm như tôi, bận bịu nhiều việc, lòng tôi như đã khô héo, không bao giờ nghĩ đến những sự yêu, sự thương, thế mà mới đến chùa này ít lâu, những khi ngồi một mình, nghe tiếng chuông, tiếng mõ... tôi thấy...
Nói đến đây, chàng đưa mắt nhìn sư cô :
- Xin sư cô tha lỗi cho.. tôi thấy... tôi thành ra khát khao yêu đương, tôi thấy tôi dễ yêu vơ vẩn. Nếu sư cô muốn lánh xa tình ái mà vào đây thì thực là nhầm. Sư cô tưởng tìm được con đường đi tới sự quên, con đường ấy chỉ đưa người ta đến sự nhớ mà thôi.
Dũng bỗng ngừng bặt, chàng nghiệm ra rằng chàng vừa nói nhiều quá, nói những câu mà có lẽ sư cô không sao hiểu được. Chàng có biết đâu sư cô đang đăm đăm ngồi nghe như người khát được uống nước. Những câu của Dũng nói ra, sư cô cho là rất phải, rất hợp với tâm hồn sư cô. Nàng thật đã cảm thấy như vậy, nhưng cảm thấy một cách lờ mờ, nay lấy làm lạ rằng Dũng đã tìm được lời để diễn những ý nghĩ ngấm ngầm của mình đúng được đến thế. Nàng nói :
- Ông nói rất phải. Trước, tôi cũng tưởng rằng tôi sẽ quên đi.
Nàng chép miệng :
- Tuy vậy cũng còn hay, vì khi người ta gặp sự đau khổ quá thì chỉ có hai cách: một là quyên sinh, hai là nương thân cửa Phật, hai cách khác nhau nhưng chỉ là một. Cửa Phật tuy không an ủi hẳn được tôi, nhưng đã giúp tôi không đến nỗi quá liều mà đến hủy thân mình đi. Tôi nghĩ không còn cách nào nữa.
Dũng đáp :
- Sư cô tưởng vậy... nhưng hình như cũng còn nhiều cách khác để mình quên được. Tôi thiết nghĩ không những chỉ có hai cách như sư cô tưởng, sư cô nghĩ xem.
Dũng biết chàng định nói gì rồi, nhưng chưa vội nói ra. Sư cô thì trong lòng sung sướng, không muốn nghĩ ngợi gì, ngồi lặng yên chờ đợi. Nàng tưởng rằng lời Dũng nói ra sẽ là lời mà nàng khao khát muốn nghe. Nàng gợi trước :
- Người ta ở đời không gì khổ bằng muốn quên mà không sao quên được, không có gì có thể giúp cho mình quên...
Dũng đáp lại :
- Thưa sư cô, sư cô muốn quên... như ý tôi nghĩ...
Lúc đó, Dũng thấy sư cô nhìn mình một cách nồng nàn, chàng ngập ngừng nói tiếp :
- Sư cô là người tu hành. Tôi nói ra sợ làm ngăn trở sự tu hành của sư cô. Nhưng tôi cần nói rõ để tùy ý sư cô suy nghĩ. Theo ý tôi tưởng, người ta muốn quên.. không gì hơn là quên mình trong sự hành động. Vâng, chỉ có sự hành động làm cho người ta quên hẳn những nỗi khổ riêng. Cái đời yên tĩnh ở chùa không sao giúp mình quên được, muốn quên phải dấn thân vào một cuộc đời náo động...
Rồi Dũng đem đời riêng của mình kể cho sư cô nghe, chàng kể lại những sự đau khổ của đời chàng. Trước kia, chàng cũng tưởng những vết thương đó không bao giờ mất được, nhưng từ ngày chàng dấn thân vào một cuộc đời hoạt động, một cuộc đời sống vì người khác, chàng đã quên hẳn được những vết thương cũ, đời chàng tuy vất vả nhưng tâm hồn chàng lúc nào cũng thư thái.
- Thưa sư cô, tôi vì chán đời mà hành động, ngờ đâu chính sự hành động đó đã đem lại cho tôi cái vui vẻ, cái hăng hái sống ở đời... cho đến bây giờ... cũng vì thế mới được cái vui mừng gặp sư cô ở đây...
Trời đã bắt đầu đổ mưa to, gió nổi lên thổi mạnh ào ào, ngọn đèn lập lòe muốn tắt. Sư cô không để ý đến ngoại vật, lẳng lặng ngồi nghe; lời Dũng nói như đưa tâm hồn nàng đến một mảnh đời khác hẳn cảnh đời lạnh lẽo ở nơi am vắng này, một cảnh đời tươi tốt mà tiếng đàn, tiếng sáo thay vào tiếng chuông tiếng mõ mà hương thơm nồng nàn của trăm thức hoa thay vào hương trầm, hương nhang thanh đạm. Ngoài tiếng nói du dương của Dũng, tiếng gió rì rào trong vườn rậm, nàng mơ màng nghe thấy một tiếng khác thiết tha hơn: đó là tiếng gọi của tình thương yêu không thể dập tắt trong lòng, tiếng gọi của đời tục lụy, đời ái ân mà trước kia nàng muốn lánh xa.
Nhớ tới mối tình thất vọng thuở trước, nhớ tới những ngày buồn nản, quạnh hiu, liên tiếp nhau đã ba năm nay, lại nghĩ đến cuộc đời mới sắp đem lại cho nàng biết bao hy vọng, nàng thấy trong người êm ái, bâng khuâng, nàng cảm động quá; hai giọt nước mắt long lanh từ từ rơi trên má, hai giọt nước mắt sung sướng của một người đã trở lại với đời, đã trở lại với tình yêu.
Dũng vội nói :
- Tôi làm phiền lòng sư cô...
Nhưng chàng ngừng bặt ngay vì chàng vừa nhận thấy một cách rõ ràng rằng người ngồi trước mặt chàng lúc đó không phải là một người tu hành nữa, mà chỉ là một cô thiếu nữ nồng nàn tình yêu. Chàng vừa sung sướng vừa lo sợ.
Một cơn gió mạnh thổi tạt vào gác khánh làm ngọn đèn suýt tắt; sau một tiếng chớp lóe, một tiếng sét dữ dội làm vang trời đất. Mưa đổ như trút, qua cửa sổ nước mưa hắt cả vào hai người. Sư cô đứng dậy toan bước xuống gác, Dũng can :
- Sư cô...
Nhưng sư cô không quay lại, vội vã bước xuống bực thang.
Dũng cầm đèn bước theo xuống :
- Mưa ướt hết.. sư cô nghe tôi... sư cô điên hay sao...?
Sư cô luống cuống chưa biết mình lùi hay tiến; nàng thấy Dũng xuống theo mình, vội đứng né ra một bên, ép lưng vào tường và hai bàn tay bám chặt lấy tường. Dũng vừa xuống tới nơi.
Nàng ngửng mặt lên nhìn Dũng: hai con mắt sáng quắc, đôi má đỏ bừng và cặp môi hé mở. Se sẽ nàng nói như van lơn :
- Ông để mặc tôi... về chùa... Tôi van ông...
Thốt nhiên Dũng hiểu, Dũng biết rằng người con gái đắm đuối đứng trước mặt chàng lúc đó chỉ còn đợi chàng tiến lên một bước, nói lên một câu... Nhưng câu ấy chàng không dám nói.
Trong khi chàng lùi lại sau thì sư cô đâm đầu bước vội xuống như người đi trốn, rồi vụt biến vào trong bóng tối đen.
Dũng tay còn cầm cái đèn đứng yên như bức tượng... ngoài vườn tối, tiếng chân dẵm trên lá khô mỗi lúc một xa.

V

Dũng đi đi lại lại trên gác khánh không biết bao nhiêu lần. Lúc ấy vào quãng bốn giờ chiều; Dũng chỉ định xâm xẩm tối là đi khỏi chùa, từ biệt nơi yên tĩnh, nơi mà chàng tạm dừng bước nghỉ đã hơn mười hôm nay, để lại dấn thân vào cuộc đời hoạt động, cuộc đời mà chàng đã chịu nhận sống cho đến hai tay buông xuôi. Bỗng chàng chép miệng thở dài... chàng chợt nghĩ đến sư cô, đến cái đêm mưa gió mấy hôm trước. Chàng lẩm bẩm :
- Làm thế nào bây giờ?
Chàng chưa biết xử trí ra sao. Đã lâu lắm, chàng luyện cho lòng chàng khô khan và tránh xa những sự tình ái, yêu thương, những sự mà giữa lúc non sông mờ cát bụi, chàng đâu dám nghĩ đến. Nhưng lần này... chàng thấy tâm tính chàng đối với sư nữ không phải chỉ là một thứ tình có thể theo thời gian mà phai lạt được.
Chàng chép miệng nhắc lại :
- Làm thế nào bây giờ?
Không tìm được câu trả lời, chàng lại tự nhủ chàng rằng dầu sao cũng đã cứu được một tâm hồn chán nản mà đạo Phật không thể yên uỷ được. Rồi sau này, câu chuyện xoay ra làm sao, chàng không nghĩ tới, mà cũng không muốn nghĩ tới. Chàng cho rằng sư cô vì chán sự sống mà đi tu nghĩa là đã muốn đi tìm cái chết trong đạo Phật thì còn sợ gì những sự xảy ra sau này.
Chàng có cảm tưởng rằng chốc nữa không phải chỉ là một mình trốn khỏi chùa, vì sau đêm ấy, chàng thấy sư cô không những không tìm cách giữ chàng ở lại mà còn xúi giục chàng trốn đi như ngầm bảo: “Hai ta cùng trốn”.
Cùng trốn! Hai tiếng đó đối với chàng có một âm hưởng réo rắt lạ lùng. Chàng không nghĩ ngợi gì nữa. Chàng mê man như người liều. Chàng thoáng thấy hiện ra trước mắt chàng một con đường đầy gió bụi, xa lắc xa lơ, mà trên con đường đó có hai bóng người ra bước cùng đi, hai người mà trước kia sự chán nản ở đời đã làm cho tâm hồn khô héo, rỗng không, nhưng nay lại trở về với cái đời đầy đủ, cùng đem theo hai tấm tình yêu và hai tấm lòng hăng hái ham sống và ưa hành động.
Chiều hôm ấy, sư bà không thấy sư cô đâu, cặm cụi lên gác thỉnh chuông. Mỗi tiếng chuông nổi lên rung động văng vẳng như ở cõi hư vô đưa lại, rền rĩ, tha thiết như tiếng gọi...
Nhưng ngoài cánh đồng làng, trên con đường lờ mờ trắng, hai bóng người ra bước cùng đi như không nghe thấy tiếng chuông gọi. Họ đi... đi xa chốn hư không tịch mịch, không đoái nhìn lại, đăm đăm như theo một tiếng gọi khác réo rắt hơn ở tận phía trước xa xa đưa đến: tiếng gọi của đời tục lụy, đời ân ái.
Sau lưng hai người, tiếng chuông chùa liên tiếp nhau mỗi lúc một nhỏ, rồi như đua nhau, theo nhau dần dần tan vào quãng hư vô...


0
Cái tẩy
 
Nếu không có một việc cần bất ngờ, thì có lẽ cả đời không bao giờ Vượng đi tới con đường quê hẻo lánh ấy. Đã thế ô-tô đương đi tự nhiên ngừng hẳn lại. Thấy gần đấy có một cái chợ và mấy lớp nhà, Vượng để mặc tài xế chữa xe, đi rẽ xuống một con đường nhỏ tìm quán uống nước.
Chàng vào một cửa hàng tạp hóa, đưa mắt nhìn xem có chai nước chanh nào không. Bỗng chàng ngạc nhiên, kêu :
- Anh!
Một người mặc áo cộc trắng đương ngồi cặm cụi cho lạc rang vào chai, ngửng nhìn Vượng một hồi lâu, rồi đứng thẳng dậy như cái máy, reo một tiếng thật to, và cũng kêu như Vượng :
- Anh!
Vượng còn đương đứng ngẩn người nhìn bạn từ đầu đến chân, thì người bạn đã nhảy xuống đất rồi cứ chân không chạy ra kéo tay Vượng vào :
- Phải, tôi đây. Huy đây! “Huy địa dư” đây!
Vượng không ngờ đâu người bạn học cùng một trường với chàng đã hai lần đi thi tú tài, nay đương ngồi cho lạc vào chai ở một cửa hàng tạp hóa nhỏ, cạnh một chợ quê tiều tụy.
Huy gọi với vào trong nhà bảo pha nước, hỏi chuyện rối rít, làm Vượng không kịp trả lời: tuy vậy, Huy vẫn không quên cho nốt chỗ lạc rang còn thừa vào chai. Chàng lấy một cuốn sổ mỏng gập đôi lại rồi thả lạc trôi dần dần vào chai, và phồng má thổi mạnh cho vỏ lạc bay ra ngoài.
Vượng chưa kịp nói câu gì, vì chưa biết bắt đầu ra sao. Vừa mới nói được một tiếng “anh” thì bạn đã gật lấy gật để đáp ngay :
- Phải tôi.
Vượng gắt :
- Ai chẳng biết là anh. Nhưng anh làm gì ở đây?
Huy đáp :
- Nhà tôi đây... Anh chưa biết à?... Mà anh biết làm sao được. Anh ở Tây về bao giờ?
- Tôi về đã hai năm nay.
- Đỗ gì rồi?
- Đỗ kỹ sư.
- Khá đấy!
Huy khen bạn một cách thản nhiên không mảy may lộ chút thèm muốn, hình như đã lâu lắm chàng không nghĩ đến những sự thi cử, học hành...
Một người đàn bà không đẹp không xấu, mặc áo nâu cài khuy, chân đi guốc ở trong nhà bước ra. Huy nói khẽ :
- Nhà tôi...
Rồi chàng chỉ Vượng giới thiệu với vợ :
- Đây là bác ký Vượng ở trên Thái xuống chơi. Mình bảo nó làm cơm bác xơi.
Vượng lấy làm lạ không hiểu tại sao Huy tại tự tiện cho mình là một ông ký. Chàng mỉm cười ngẫm nghĩ :
- Có lẽ vì trong kỹ sư có chữ kỹ, đổi một cái dấu thì thành ký ngay.
Vượng không hỏi bạn vì lẽ gì, đành tạm cho mình là một ông ký vậy. Chàng từ chối không nhận ăn cơm, lấy cớ chỉ đợi tài xế chữa xe xong, lại phải đi ngay. Huy hỏi khẽ :
- Bác đi ô-tô... Ô-tô của bác? Thế thì bác bảo tài xế ở ngoài xe đừng vào đây, sợ nhà tôi biết. Rồi tôi sẽ cho bác hiểu vì sao.
Thấy có người vào mua hàng, Huy vội đứng lên :
- Xin lỗi bác...
Chàng tươi cười hỏi khách :
- Chè đầu xuân mới về, tôi vẫn để dành ông một bao đấy.
Chàng rút ra một bao, mở nắp để mũi vào hít ngửi mấy cái, rồi cẩn thận gói đưa cho khách, vừa đưa vừa thân mật hỏi :
- Thế nào, ông đã lo được tiền đăng cai cho cháu chưa?
Vượng để ý nhìn bạn vẫn thấy bình tĩnh như thường, không lộ vẻ khó chịu vì phải nói một câu đãi bôi, trái với ý tưởng. Chàng ngẫm nghĩ :
- Cái học trong bấy lâu thật vất đi cả... Hay là anh đã đổi cả tâm tính đi rồi.
Vượng lắc đầu chán nản, vì chàng nghĩ rằng sự nghèo khổ không nguy hiểm cho người ta bằng sự trụy lạc về tinh thần.
* * * * *
Người nhà bưng mâm cơm lên và đặt ngay ở giữa giường.
Đồ ăn tuy nhiều nhưng vì để trong những cái đĩa đàn trên một cái mâm gỗ đã bong sơn, nên trông không có vẻ ngon lành.
Vượng quay mặt cho bạn khỏi ngượng, vì chàng đoán chắc bạn cũng ngượng như chàng. Huy ngồi vào mâm so đũa nhìn mâm cơm, nói với Vượng :
- Hôm nay không phải phiên chợ, bác xơi tạm bữa cơm dưa muối. Thức ăn đã chẳng có gì, mà người nhà lại vụng về.
Nói vậy, nhưng Vượng thấy bạn có vẻ mặt khoái trá của người sắp được dự một bữa tiệc rất sang; chàng thấy bạn so những chiếc đũa sơn cong queo một cách âu yếm, và gượng nhẹ đặt ngay ngắn bên cạnh mâm.
Vượng thấy nét mặt và cử chỉ của bạn có vẻ tự nhiên, là những nét mặt và cử chỉ vẫn thường có hàng ngày chứ không phải tô tạo ra để cốt làm vui lòng một người bạn.
Ăn cơm xong thì trời vừa chiều. Huy rủ Vượng ra hiên sau ngồi uống nước.
Bên cạnh một giàn mướp đầy hoa vàng có để một cái bàn cũ và cái ghế tre dài. Vượng vừa hút thuốc lá vừa nhìn ra: cái cảnh khu cánh đồng bùn lầy, nước đọng phẳng lì đến tận chân trời gieo vào tâm trí chàng một nỗi buồn mênh mang, với những ý tưởng chán nản về cuộc đời sống ở những chốn quê hẻo lánh.
Bên một cái giậu nứa đã đổ nghiêng dưới sức nặng của những cây mồng tơi, một con lợn sề gầy gò, ve vẩy đuôi, lê bụng đi từ từ giữa một đàn lợn con chạy loăng quăng.
Huy ngả người vào lưng ghế, giang thẳng hai tay có vẻ khoan khoái bảo Vượng :
- Cái hiên này, mùa hè đến, mát lắm.
Vượng thấy bạn có vẻ hồn nhiên lạ lùng, hình như từ thủa bé chàng vẫn sống trong cái cảnh này, và chàng còn muốn sống trong cái cảnh đó cho hết đời. Lúc ấy Vượng mới nhận ra rằng mình buồn, mình thương bạn, không phải vì thấy bạn gặp cảnh nghèo, mà thật ra vì thấy bạn không thể nào thoát khỏi cảnh nghèo được, không có sức để cất đầu lên được nữa. Chàng lẩm bẩm một câu bằng tiếng Pháp :
- Thật là hết!
Chàng toan nói cho Huy rõ ý tưởng đó, nhưng chàng biết là vô ích, nên lại thôi. Huy không sao hiểu được nữa.
Hai người ngồi yên lặng một lúc lâu. Bỗng Huy quay lại phía Vượng hỏi đột ngột như đã đoán được ý nghĩ vấn vương trong óc bạn :
- Anh thấy tôi đổi khác trước nhiều có phải không? Bảy tám năm rồi còn gì?
Trời tối hẳn; Vượng và Huy không nhìn rõ mặt nhau, nhưng tiếng nói của Huy vẫn đều đều lọt vào tai Vượng; lúc nói chuyện, hai người cùng sống trở lại những ngày vô tư lự của cái đời học trò chín năm trước. Có tiếng vợ Huy ở trong nhà hỏi :
- Sao mình không thắp đèn lên?
Huy vội ngắt lời vợ :
- Thôi, không cần.
Rồi chàng lại bắt đầu kể chuyện cho Vượng nghe :
- ... Thế là tôi rớt về địa dư và lịch sử, mặc dầu anh em đã gọi tôi là “Huy địa dư”.
Vượng nói :
- Anh rớt, có lẽ vì tại anh học thuộc quá, thuộc cả chấm câu, chấm phẩy và số trang.
Huy cười :
- Anh không nhớ có lần làm bài về địa dư, tôi bắt đầu ngay bằng một câu: “Như tôi đã nói ở trang 45, mục 7...” nghĩa là tôi cứ viết theo nguyên văn trong sách. Của đáng tội, trí học của tôi không lấy gì làm sáng suốt cho lắm, tôi chỉ được một cái chăm và học thuộc lòng. Mà chăm như thế, chỉ vì cốt thi đỗ để lấy Liên. Chắc anh đã biết Liên?
- Lạ gì, Liên con cụ Tuần Đạo.
- Chính đó. Nhưng năm đầu tôi rớt, Liên và nhà Liên đành lòng đợi tôi năm sau. Cái mộng được làm một ông tham, lại được lấy một người đẹp, con nhà giầu, cái mộng to lớn nhất trong đời tôi lúc đó, vì thế vẫn còn. Tôi chăm học bằng hai năm trước và học thuộc lòng cũng gấp hai trước... Thế rồi chỉ vì một cái tẩy...
Nói đến đây, Huy cười khẽ một cái, với điếu thuốc lá, đánh diêm châm hút.
- Kỳ thi năm sau, tôi trả lời các bài trôi chảy cả. Chỉ còn địa dư và lịch sử, tôi để lại sau cùng. Lúc vào phòng thi, tôi lo sợ phấp phỏng. Ông giáo chấm thi hỏi tôi câu đầu, tôi đáp ngay được. Ông bằng lòng lắm. Ông tươi cười toan cho nốt, nhưng gió quạt máy cứ chực lật tờ giấy chấm thi. Sẵn có cái tẩy, ông lấy chặn lên một góc giấy. Nhưng cái tẩy không chịu được sức gió, lăn ra ngoài, giấy cuốn cong chạm vào bút; ông hất ra mấy lần không được, đập tay xuống tỏ vẻ khó chịu và bảo tôi ra tắt quạt máy đi.
Ông hỏi sang địa dư... Thấy trán ông lấm tấm mồ hôi, sợ ông vì nóng quá đâm ra gắt gỏng nên tôi ra vặn quạt cho chạy. Ông mỉm cười khen :
- Tốt lắm, con ạ. (Très bien, mon enfant).
“Con” sung sướng lắm, hỏi đâu đáp đấy, trôi như nước chảy.
Ông cầm bút cho nốt và tiện tay lấy cái tẩy chặn lên góc giấy. Tôi lo lắm, chỉ lo tẩy nhẹ quá, gió lại hất giấy vào bút làm ông phát bẳn không cho nốt cao. Hai mắt tôi nhìn đăm đăm vào cái tẩy như bị thôi miên. Cái tẩy khẽ rung động. Tôi lẩm nhẩm :
- Này nó sắp lăn... nó sắp lăn.
Cái tẩy lăn đi một vòng. Tôi nín hơi đợi, nhưng vì lúc đó sức gió yếu, nên nó đứng lại ngay. Cái tẩy lại rung động, tờ giấy lật mạnh; thấy cái tẩy bị hất ra ngoài, sắp lăn xuống đất, tôi nghiêng người toan chạy lại; ông giáo vừa cho xong nốt, nhưng bị tờ giấy hắt vào bút, mực dây cả ra tay.
Ông ngửng nhìn tôi, và thấy tôi đương nghiêng người về đằng trước, chăm chú vào tờ giấy cho nốt, có vẻ khả nghi. Ông đập bàn :
- Được lắm, anh muốn nhìn nốt, tôi sẽ dạy cho anh cách nhìn nốt... Anh vừa gan vừa khéo nịnh... à, tôi nhớ ra... lúc nãy anh vặn quạt máy cốt để giấy lật, anh nhìn nốt cho rõ.
Ông liền xóa nốt cũ đi, cho tôi một con số khác, không phải hình quả trứng thì cũng hình cái gậy.
Lẽ cố nhiên là tôi rớt. Nhà cô Liên và cô Liên lẽ cố nhiên là không đợi tôi và đợi chức tham biện với số lương hơn trăm đồng mong ước kia. Tôi đau, tôi khổ, tôi kêu trời, kêu đất mất gần nửa tháng. Trí tôi không lúc nào không nghĩ đến cái tẩy. Nếu cái tẩy ấy nó nặng hơn một tí, một tí nữa thôi, thì tôi đã đỗ, cô Liên đã lấy tôi, tôi đã sung sướng...
Huy ngừng lại một lúc lâu, rồi nói tiếp một cách chậm rãi như cân nhắc từng tiếng :
- Bỗng một hôm tôi nghĩ ra. Tôi sực tỉnh. Tôi tự bảo: nếu bao nhiêu điều mình mơ ước, nếu hy vọng của cả đời mình chỉ dựa vào cái tẩy bé con, một cái tẩy khốn nạn, vô lý, thì hạnh phúc ở đời mình không thể nào chắc được. Đi đuổi tốn công. Phải làm thế nào cho hạnh phúc ở đời phải ở mình, chỉ ở mình thôi.
Huy nhắc lại :
- Hạnh phúc chỉ ở lòng mình, hạnh phúc chỉ ở sự yên tĩnh của tâm hồn. Khi mình đã có cái bình tĩnh đó, thì không cái tẩy nào làm mất được, thật là chắc chắn, kiên cố. Thế là từ hôm đó, tôi khỏi buồn, người tôi đổi khác hẳn. Tôi lăn lộn rất nhiều nơi, có lúc làm lụng vất vả trong các nhà máy, các hầm mỏ, có lúc giầu, có lúc nghèo... Ngồi bán chè ở cái chốn quê xơ xác này, nhưng chỉ cảnh ngộ đổi khác, còn ở trong vẫn không thay đổi. Nếu cái tẩy làm tôi vất vả thì trái lại nó đã cho tôi thấy hạnh phúc trong tám năm nay.
Một hôm lang thang đến đây tôi gặp nhà tôi, tính ra đến nay đã được hơn một năm. Tôi chưa biết là ở tạm, hay là ở hẳn vì đằng nào cũng vậy. Nhà tôi không rõ quãng đời trước của tôi, tôi phải tự tiện cho anh là một ông ký, vì tôi làm gì có một người bạn kỹ sư, sang trọng, có ô-tô nhà như anh.
Huy cười nói thật khẽ :
- Nhà tôi cứ tưởng là tôi cũng dốt như nhà tôi vậy.
Mặt trăng từ từ lên sau mấy thân cau viền trắng; ánh trăng chiếu vào in rõ lên quần áo Huy những bông lá mướp gió lay động. Vượng lại nhìn rõ nét mặt bạn. Nhưng bây giờ chàng thấy bao nhiêu những ý tưởng buồn bã, chán nản về bạn tự nhiên tiêu tan hết.

0
Nắng mới trong rừng khuya
 
Ðến chân đồi thông, Phương đứng lại tần ngần như e ngại.
Bên kia đồi là đồn điền của ông Hàn Trí. Chàng chắc rằng ông Hàn bà Hàn hiện còn ở Hà Nội, ở nhà chỉ có một mình cô con gái. Chàng đợi mãi mới có dịp may mắn như thế, lấy cớ vác súng đi săn, lần mò hơn một trăm cây số để được gặp người yêu, nhưng lúc đến nơi, chỉ còn cách có cái đồi thì chàng hết cả can đảm, trong lòng hồi hộp như người đi ăn trộm.
Bỗng tự nhiên trời nắng to, những cây trên đồi gió thổi vào như múa như reo, lá cây nhấp nháy ánh sáng như vui mừng đón chàng, giục chàng dấn bước để được gặp người mà chàng phải xa cách đã hơn sáu tháng nay. Chàng đi vòng hết sườn đồi, thấy sừng sững trước mặt ba tòa nhà gạch quét vôi vàng, chung quanh cây bao bọc. Mấy cây chò trắng mà thẳng lên cao vút như chạm đến trời xanh, xanh biếc và trong.
Chàng vừa đến cổng, tiếng chó cắn ran, trong nhà có người đi ra. Chàng làm như quen thuộc, hỏi một cách thân mật :
- Quan Hàn có nhà không bác?
- Bẩm ông, ông bà con lên Hà Nội vắng.
Chàng làm ra bộ thất vọng. Rồi cứ xăm xăm đi thẳng vào. Trong sân vì trời nắng mới, nên trên các dây thép quần áo phơi la liệt, gió thổi bay phất phơ. Sau một bức màn the, thoáng thấy bóng người con gái, chàng đứng lại. Người con gái cũng vừa nhìn ra, thốt nhiên kêu :
- Anh!
Rồi nàng ngạc nhiên chạy đến gần, giương mắt nhìn Phương, ngạc nhiên khẽ nói như người đương mê :
- Anh lên đấy ư?
Phương thấy nàng hỏi vồn vã mình trước mặt người nhà, ngượng quá không biết nói ra làm sao. Nàng hiểu ý bảo :
- Thầy đẻ em đi vắng. Ðây toàn là người nhà cả, anh đừng ngại.
Rồi nàng vui mừng cuống quít bảo :
- Anh vào đây! Anh vào đây!
Nàng gọi người nhà pha nước uống và lấy thau rửa mặt, rồi ngồi xuống trước mặt Phương, nhìn chàng, tươi cười như người sung sướng quá :
- Sao anh trông buồn thế kia?
Phương nhìn chung quanh mình xem có người nhà không, rồi hỏi nàng một cách nghiêm trọng như có ý trách :
- Anh thật chưa hiểu vì cớ gì tự nhiên em bỏ Hà Nội lên đây, không cho anh biết một lời; có phải là ông Hàn bà Hàn bắt em lên đây, để không cho anh được gặp mặt em nữa không? Dẫu thế nào di nữa, sao em không có một lá thư nào cho anh cả? Vì cớ gì vậy em Minh?
- Vì cớ gì? Chẳng vì cớ gì cả. Còn gửi thư cho anh thì ở đây không có nhà dây thép, em biết gửi ai. Nhưng thôi... Nhắc lại làm gì. Chỉ biết rằng anh gặp em được có một ngày, ta hãy vui đã, vui đi, mặc chuyện đó ở đấy. Anh vẫn còn cái tính hay nghĩ lôi thôi lắm!
Rồi nửa giờ sau nàng gọi người nhà bảo lấy đôi giày tây trắng, để nàng đi chơi rừng.
- Ta vào rừng nói chuyện thú hơn.
Phương sửng sốt :
- Người ta có cười cho không?
- Cười gì? Ở đây có ai mà cười.
- Người trong đồn điền?
- Toàn người nhà, không bao giờ họ cười em cả.
Phương thấy nàng bảo sao làm vậy, vác súng lên vai. Nàng buộc giày xong, khoác vào mình một chiếc áo lụa trắng, rồi từ trên thềm nhảy xuống sân như người điên.
Một bác người nhà cung kính bước ra nói :
- Cô yếu, con sợ cô đi chơi xa mệt.
Minh cau đôi mày, đợi Phương đi ra đến cổng, rồi khẽ mắng bác người nhà :
- Tôi cấm anh không được đả động đến sự tôi yếu hay tôi khỏe trước mặt ông này! Anh nghe chưa?
Ra đến ngõ Phương quay lại hỏi Minh :
- Em yếu đấy ư?
- Không, em cảm xoàng; đã khỏi hẳn rồi. Ta đi đường này vào rừng, rừng này lắm chim, nhiều chỗ cảnh đẹp lắm.
Rồi nàng nói, nàng nói mãi. Phương không hiểu nàng nói gì nữa, nhưng cứ được nghe tiếng nàng là đủ rồị Ðang đi, thỉnh thoảng chàng quay lại nhìn, thấy nàng tươi cười, trong lòng chàng hớn hở quên cả những nỗi nhớ thương trước, chỉ nghĩ đến cái vui chan chứa lúc bấy giờ.
Ðường bỗng tối hẳn lại: đã đến rừng.
Hai người thấy lành lạnh, ngửng lên nhìn trên đầu, cây chằng chịt, lá xanh rờn. Dưới chân, trên con đường tối mỗi khi cơn gió thoảng qua là các chấm ánh sáng thi nhau lay động như nhẩy, như múa. Trông ra xa, chỗ nào thoáng cây, ánh nắng xuống trắng xóa, rực rỡ. Phương nói :
- Không biết hôm nay, vì cảnh đẹp mà ta vui hay vì ta vui mà cảnh đẹp thế này! Nhưng đẹp mà làm gì, có được hưởng mãi đâu! Ngày mai...!
- Anh nghĩ làm gì đến ngày mai. Em thì lúc nào cũng vui, dẫu đến chết cũng vui. Tính em thế, không bao giờ nghĩ đến việc trước hay việc sau cả, chỉ biết hôm nay hai ta còn đây, gặp nhau đây, vui mừng... ta hãy biết có thế.
Hai người vừa đi vừa nói chuyện, đi hết chỗ rợp đến chỗ nắng, lên đèo xuống dốc mải câu chuyện không biết rằng đã vào đến rừng sâu. Chung quanh đồi núi bao bọc, trước mặt một cái thung lũng rộng chừng năm mẫu, giữa có lạch nước con đi lượn khúc, lúc ẩn lúc hiện sau mấy chòm cây lấm tấm ánh sáng.
Ðến một bãi cỏ xanh mát và sạch sẽ, Minh bảo bạn :
- Ta ngồi ở đây thôi, đi đã mỏi chân rồi.
Phương cũng nghe lời đặt súng xuống cỏ, rồi hai người ngồi cạnh nhau. Minh ngửng đầu nhìn ra cảnh vật, nét mặt hớn hở, trên má đỏ hồng, mấy sợi tóc mai phất phơ theo chiều gió. Nàng mỉm cười nói :
- Hôm nay nắng mới, trông vui tệ. Kìa anh, trên cây dọc có hai con vàng anh đẹp quá.
Không thấy Phương trả lời, nàng quay lại thấy bạn ngồi thừ ra, có vẻ tư lự, liền nói có ý gắt :
- Sao anh buồn thế? Lúc em đương vui, em không muốn thấy có người buồn bên cạnh.
- Sao lại cứ bắt người ta phải vui? Tính em lạ quá, em đã đổi khác nhiều. Anh thật không thể nhận em là người con gái thùy mị, dịu dàng trước kia nữa. Em như có sự gì rất bí mật giấu anh!... Chuyện gì! Em nói thật, anh mới có thể vui cùng em được.
- Ðấy anh lại sắp hỏi lôi thôi rồị Ðã bảo không có chuyện gì cả mà. Gặp nhau được có một ngày, vui đi anh Phương ạ. Em bảo anh rằng lần này là lần cuối cùng anh không được nghĩ đến ngày mai... Hãy biết vui hôm nay... Em, bao giờ em cũng vui.
Phương cũng phải cười, bảo đùa bạn :
- Em như người điên ấy.
- Vâng, thưa anh, em điên. Em điên vì anh mà chỉ còn điên một ngày hôm nay nữa mà thôi.
Nàng kéo tay Phương lôi dậy, đặt súng lên vai bạn rồi nhanh nhẹn đi trước, chạy thung thăng để mặc gió đưa các tà áo phất phơ, mái tóc xõa cả xuống vai, xuống cổ, như đứa trẻ thơ. Phương đi sau nhìn theo, thấy nàng thế, mỉm cười, trong lòng vui vui, quên cả những điều lo nghĩ trước.
Mà Minh lúc đó như người điên thật. Ðương đi, hễ gặp một cây dây leo là nàng níu ngay lấy, nhún mình đánh đu, gặp cây nào có quả ăn được như khế, như mơ, là nàng nhẩy lên níu cho kỳ được, sát cả tay mà không biết đau; thấy bên sườn đồi có dẫy sậy hoa phơn phớt bạc, nàng chạy ra bẻ một vài cây rồi đưa cho Phương một cây làm gậy chống. Má nàng đỏ bừng, hai con mắt thêm trong, tóc dán vào hai bên thái dương lấm tấm mồ hôi, trông nàng có vẻ đẹp lạ lùng, khác nào như bao nhiêu tinh hoa lúc đó đều phát ra cả ngoài.
Mải vui quên cả trời đã chiều. Trên đồi cao còn thừa từng mảng ánh vàng, bóng cây in dài lan từ đồi này sang đồi khác. Phương rủ bạn ngồi dựa vào một gốc cây thông. Minh suốt ngày vui đùa quá sức, chiều đến thấy mỏi mệt, ngồi thừ ra, con mắt lờ đờ, nhìn ra xa rồi lẩm bẩm nói một mình :
- Thôi chiều rồi! Hết...
Phương nghe tiếng bạn có vẻ buồn, lấy làm lạ, quay lại, thấy nàng đổi hẳn sắc mặt!
- Em Minh, em làm sao thế?
Nàng cau đôi lông mày, mím môi, như cố nén lòng mình, rồi như không sao giữ nổi, hai hạt lệ long lanh rơi xuống má. Phương ngạc nhiên hỏi :
- Em khóc đấy à?
Nàng gượng cười :
- Em có khóc đâu! Vui quá thành ra như thế đấy. Lúc này thật em sung sướng quá, trời đẹp như thế lại được gần anh, ở giữa chốn rừng sâu. Vũ trụ này là riêng của hai ta, ai mà cướp được...
Nói chưa dứt câu, nàng lại lấy tay ôm mặt nức nở.
Phương kéo tay nàng ra rồi nhìn đăm đăm vào mặt nàng hỏi :
- Em có sự gì giấu anh. Em đừng chối. Từ sáng đến giờ anh thấy em khác lắm.
Nàng cúi nhìn xuống đất thong thả nói :
- Thôi, bây giờ em cũng chẳng giấu anh làm gì nữa, em vẫn muốn cho anh biết đã lâu, nhưng em không nỡ.
Rồi nàng lấy vạt áo lau nước mắt, hai con mắt ráo hoảnh, nhìn Phương :
- Cái chết em không sợ, mà em chắc anh cũng có can đảm như em đây. Sáu tháng trước, hồi em xa anh về đồn điền, thầy thuốc bảo em mắc bệnh ho. Em giấu anh vì em tưởng lên đây khí hậu tốt chắc khỏi dần, nhưng đến bây giờ, em mới biết em không còn sống được bao lâu nữa... cho nên gặp anh hôm nay, một ngày hôm nay nữa mà thôi, em quên đi để vui với anh. Em đã làm được như thế, em đã nén lòng em đi để cho anh vui từ sáng đến giờ, mà em, em cũng đã vui, vui một lần chót, trước khi từ giã cõi đời, trước khi vĩnh biệt anh. Cảnh vật hớn hở tặng đôi ta bao vẻ đẹp, thì em cũng gượng cười để hiến anh một ngày vui cuối cùng, để gọi là tạ lòng anh đã yêu em bấy lâu...
Phương nghe nàng nói xong, tê mê, lặng người đi, nhìn nàng, không nói lên được một tiếng.
Bấy giờ trời đã sâm sẩm tối, cảnh vật dần dần ngả vào trong đám sương mù... Ngày đã tàn...
Ðôi bạn, tay cầm tay, nhìn nhau yên lặng.
Trên đầu, gió rì rào trong cành thông, như tiếng than vãn của buổi chiều.

0
Hai vẻ đẹp
 
Anh phải luôn luôn tự nhủ rằng đời người có thể đẹp đẽ hơn; đời của anh và đời của những người khác.
André Gide
 
I


Doãn cầm cốc cà phê nguội, uống một hơi cạn, rồi đứng dậy xin phép mẹ nuôi và bà khách về phòng ngủ.
Bà Thượng nhìn cốc cà phê bảo Doãn :
- Đêm con cần ngủ mà cứ uống mãi cà phê vào.
Rồi bà quay lại phía bà khách, tiếp theo :
- Ấy cháu cả ngày chỉ vẽ. Mà sao thích vẽ thế. Từ độ ở Tây về vẽ có đến hàng trăm bức tranh, không biết thế nào là chán...
Bà khách mỉm cười hỏi đùa Doãn :
- Ông cử luật có muốn lấy vợ, để tôi làm mối cho một cô thật xinh. Về tha hô mà vẽ.
Lan, Tuyết và Dung cũng cất tiếng cười lên một loạt. Tuyết nói :
- Để trước mắt anh con một người thật đẹp, anh con vẽ một lúc thành người xấu như ma lem.
Dung tiếp luôn :
- Mà càng vẽ lại càng xấu hơn. Càng vẽ càng không giống. Lâu dần trông không ra hình người nữa, thành ra một hộp bánh bích qui.
Lan kết luận :
- Nhiều khi anh con vẽ một cái hộp bánh bích qui lại thành một cô gái tuyệt đẹp.
Tuy đã nghe ba cô em gái nói những câu đùa ấy không biết bao nhiêu lượt, mà Doãn cũng cất tiếng cười thẳng thắng đáp lại. Chàng không giận ai bao giờ và không bao giờ để tâm đến những lời bình phẩm của mọi người xung quanh. Chàng cho vẽ tranh là một sự cần thiết cho tâm hồn chàng, chứ không phải để lấy tiếng khen.
Doãn bước sang phòng bên và khóa trái cửa lại. Phòng của chàng là một cái buồng rộng chia làm hai ngăn; một ngăn để ngủ, còn một ngăn làm xưởng vẽ. Mỗi lần vào đấy, Doãn thấy người khoan khoái như con cá ở trong chậu được thả xuống nước ao. Trong buồng, cái gì Doãn cũng trang hoàng, xếp đặt lấy; từ cái giường ngủ, cái tủ áo, bộ bàn ghế tối tân, cho đến bức thảm dệt kiểu Tàu, các thứ đồ dùng bất cứ lớn, nhỏ đều do chàng tự chế lấy kiểu.
Trên tường, trên bàn, ở góc nhà, chỗ nào cũng có tranh. Thỉnh thoảng, nể lời anh em, chàng đem những bức tranh đó về Hà Nội trưng bày một vài hôm. Nhưng chàng không cần bán, vì chàng đã giàu.
Trước kia, những tranh của chàng gửi sang Pháp bán rất chạy; hơn một năm trời, chàng có tới gần chục vạn bạc tranh, và số tiền đó, chàng đem gửi cả bà mẹ nuôi để tậu ruộng trong làng.
Doãn ngã lưng trên giường, quặt hai bàn tay ra phía sau đầu làm gối, đưa mắt ngắm bức tranh sơn vẽ dở để dựa vào tường. Chàng cau mày tỏ ý không bằng lòng, lắc đầu nói một mình :
- Hỏng cả! Nếu vài hôm nữa không mưa to thì đành quẳng nó một chỗ.
Bức tranh ấy chàng mới vẽ hôm kia. Khi ngồi trước giá vẽ, chàng say đắm vẽ màu tươi mát của lá cây, mái nhà, nước ao, về cái vẻ đẹp của thứ ánh sáng trong mát, một buổi sớm tạnh ráo sau một đêm mưa.
Trong hai giờ đồng hồ, chàng hồi hộp vẽ ngấu, vẽ nghiến như người đương đói vớ được bát cơm gạo tám thơm; tuy vẽ hết sức mau mà chàng cũng không kịp ghi lên vải những màu đẹp đẽ và mong manh ấy, đành phải bỏ dở bức tranh.
Chàng quên không nghĩ đến hơn trăm mẫu ruộng của chàng hiện bị úng thủy, chỉ ao ước đêm nay mưa thật to để mai lại có được thứ ánh sáng chàng mong mỏi. Chàng nhìn bức tranh và tưởng tượng đến những màu ở ngoài cảnh thật, ngầm nghĩ :
- Tại mình còn kém lắm. Một nghìn phần chưa đúng một phần.
Doãn đưa mắt ngắm một bức tranh khác; bức tranh vẽ một người đàn bà cởi trần, quần lĩnh vén lên gần đầu gối, để hở cả quần trắng trong, ngồi cạnh mấy cái cốc sâm-banh đầy rượu và ba quả dưa chuột.
Chàng không hề để ý đến sự vô lý của bức vẽ, và chỉ để ý đến những màu, nhất là màu đen của chiếc quần lĩnh bên cạnh màu trắng và màu da thịt người; những màu đó chàng thấy nó hòa hợp, đăng đối nhau và mỗi lần nhìn đến, chàng có cái khoan khoái như được nghe một điệu đàn du dương bằng hình sắc. Thấy bức tranh đặt nghiêng, Doãn đứng dậy lấy mấy cuốn sách cũ kê đệm xuống dưới. Biết là khó ngủ, chàng cầm một cuốn sách về giường nằm để xem trong khi đợi giấc. Chàng giở mấy trang sách, lẩm bẩm :
- Không biết quyển tiểu thuyết này ở đâu lạc loài đến?
Doãn chỉ mua toàn sách về mỹ thuật và khi còn ở bên Pháp, muốn chìu bà Thượng, chàng phải học luật thì chàng chỉ mua toàn sách luật, ngoài ra không để y đến một thứ sách gì khác.
Chàng vứt cuốn truyện xuống dưới thảm chân giường. Nằm yên một lúc, vẫn không thấy buồn ngủ, bất giác Doãn giơ tay với cuốn truyện, vươn vai một cái rồi cúi nhẩm đọc trang đầu.
... Đồng hồ điểm ba tiếng. Doãn vẫn còn ngồi trên giường cố đọc hết quyển truyện.
Đã lâu, chàng không thức khuya nên vừa đọc vừa để ý đến các thứ tiếng ở ngoài: tiếng dế lẫn với tiếng nhái, tiếng tre lắc rắc và tiếng tù và thổi xa xa.
Chàng có cái cảm tưởng rằng nơi chàng ngồi với những trang sách trắng xóa dưới ánh đèn là một cái cù lao sáng nổi lềnh bềnh ở giữa một khoảng tối tăm vô hạn.

II

Đợi gần hai tháng trời mới lại có một đêm mưa to vả một buổi sáng tạnh ráo.
Doãn lim dim mắt nhìn cái mái nhà gió đêm qua thổi bay từng mảng để hở cả rui tre. Chàng toan chữa lại bức tranh, nhưng sau lại thôi, vì chàng cho thế là vẽ vụn vặt quá. Những cái mái nhà thủng làm chàng lo sợ; nếu mai kia họ đem dạ mới lợp lại, màu mái nhà đổi khác thì bức tranh của chàng đành vứt đi. Chàng cúi xuống vẽ thật mau. Được một lúc chàng tự nhiên mỉm cười vì một cái ý ngộ nghĩnh thoáng hiện trong óc.
- Mình chỉ cốt vẽ, muốn cho người ta ở nhà dột mãi, không cho người ta lợp lại mái nhà nữa.
Rồi chàng buồn rầu tự hỏi không biết làm sao họ lại có thể sống trong cái nhà đó được. Mấy mảng bè rau rút màu xanh già, mùa thu rắc hoa vàng lấm tấm, lại càng làm tăng vẻ bẩn thỉu của vũng ao tù, nước đen đặc những váng vá sặc mùi bùn. Ngay bên cạnh chỗ chàng ngồi là một đống phân phủ bùn kíp và những đám rác đầy ruôi nhặng; từng dòng nước vàng từ từ chảy về phía ao bên những đám cỏ xanh, ngọn lên cao vút; non tươi, khỏe mạnh.
Một đứa bé con trần truồng, đi ra cầu ao, bụng to và hai chân lẳng khẳng trông tựa một con nhái dựng đứng. Nét mặt Doãn bỗng tươi hẳn lên: chàng thấy bức tranh của mình như thiếu cái gì, nay có màu hung của da thịt đứa bé vào, các màu khác trông hoạt động hẳn lên; chàng sung sướng pha màu và điểm mấy nét thật khéo vào bức tranh. Khi chàng phác gần xong hình đứa bé có một người đàn bà đi ra, tay cầm cái gáo. Người đàn bà kéo đứa bé ngồi xuống, rồi múc nước ao dội lên đầu và cầm lấy tay kỳ ghẻ. Đứa bé vừa phủi nước trên mặt vừa kêu rét, khiến người đàn bà quát lên :
- Người bẩn như ma thế này mà không chịu tắm à? Phải tắm cho sạch chứ. Bẩn không ai chịu được.
Câu nói của người đàn bà làm Doãn nghĩ đến thứ nước dùng để tấm cho sạch và mỉm cười, lắc đầu.
Vẽ xong đứa bé, chàng lúi húi vờn lại nền trời và chữa lại màu mấy đám mây bay sau ngọn tre, cố diễn được cái ánh sáng rất trong tự phía đông chiếu đến. Vẽ được một lúc, tuy mắt chàng vẫn nhìn vào bức tranh nhưng trong trí chàng thấy hiện ra những cảnh ở đâu đâu, những cảnh đời do trí tưởng tượng của chàng tô tạo nên, dựa theo những cái chàng đã được thấy lẫn lộn ở bên Pháp, ở trên màn ảnh, ở trong báo, sách. Những cảnh hiện trong trí chàng khác hẳn cái cảnh trước mắt, chàng đương cố ghi lên vải, đó là những cảnh đời sáng sủa mà nội khắp mọi người ở chung quanh, chỉ có chàng, có mình chàng là trông thấy. Nhưng chàng thấy nó cao xa, không bao giờ có thể thành sự thật được, khác nào những đám mây kia đương hờ hững bay trên trời, xán lạn, sạch sẽ quá không có liên quan gì đến cái cảnh nhà tranh tiều tụy, ao tù bẩn thỉu ở dưới này.
Bỗng chàng sực tỉnh, nhận thấy mình đương ngừng bút và tự trách mình đãng trí quên cả vẽ. Đã mấy tháng nay rồi, chàng không có cái bình tĩnh như độ trước nữa. Doãn nhớ lại hôm đọc cuốn truyện thức đến ba giờ sáng, nhưng chàng không biết rõ rằng vì cuốn truyện đó, vì những cuốn sách chàng mua đọc về sau hay là tự nhiên không tránh được, có ngày chàng phải thế, phải băn khoăn không tin hẳn ở cái nghệ thuật của mình nữa.
- Hôm nay cháu thấy ông phải nghĩ nhiều rồi mới vẽ, nên nét bút nhiều chỗ tài tình.
Tiếng nói làm Doãn giật mình lên, ngạc nhiên.
Người con trai mặt rỗ ngày nào cũng ra xem vẽ, đứng đây lúc nào chàng không biết, Doãn mỉm cười vì thay có người vô công rỗi nghề đến nỗi ra đứng hàng giờ quên cả mỏi chân để xem vẽ một bức tranh mà không tài nào hiểu được vẻ đẹp. Người mặt rỗ thấy Doãn mỉm cười, ý hẳn cho là Doãn biểu đồng tình, liền nói tiếp :
- Đứa bé chưa có mắt con chắc ông còn đợi vì chưa phải giờ điểm nhỡn.
Doãn không thể nhịn cười được :
- Bác này cũng khá đấy. Biết xem tranh. Chắc bác có học chữ Nho.
Người mặt rỗ lộ vẻ sung sướng, đáp :
- Bẩm không, cháu theo đòi chữ Tây. Cháu đỗ tốt nghiệp được ba năm nay...
- Dễ thường trong làng chỉ có bác đỗ Tây học đấy nhỉ?
- Bẩm vâng... trừ nhà cụ lớn ra.
Doãn mỉm cười ngẫm nghĩ :
- Thế là trong làng có hai nhà thông thái thì một nhà bận vẽ, còn một nhà bận xem vẽ.
Doãn đứng dậy gấp ghế vả giá vẽ lại. Người rỗ mặt nói :
- Cháu cũng phải ra đình họp việc làng.
- Bàn việc gì đấy?
- Bẩm bàn việc sửa lại đường làng và đào cái giếng. Mãi hôm nay mới mời được thầy địa lý về tìm chỗ đào cho khỏi động.
Doãn lững thững xách tranh và giá vẽ theo con đường lầy bùn trở về nhà, trí vẫn quanh quẩn nghĩ đến anh chàng Tây học rỗ mặt. Chàng lẩm bẩm :
- Không hiểu cái học của anh chàng dùng để làm gì?
Chàng không ngờ hoàn cảnh thay đổi người ta mau như vậy; chàng không thể nào tưởng tượng được rằng một cậu học trò lớp nhất mới sau có ba năm đã biến thành một anh kỳ mục vớ vẩn, ngu tối hình như cả đời chưa bao giờ cầm đến cuốn sách. Doãn khó chịu vì chàng không thể rời bỏ được cái cảm tưởng vô lý rằng anh chàng rỗ mặt đó là cái bóng của chàng in trong chiếc gương để nhìn vào đấy chàng sẽ nhận thấy rõ hình dáng chàng. Doãn cũng thấy cái học của mình vô dụng như cái học của người kia; gác một bên bao nhiêu cái biết, đắm đuôi mê man với nghệ thuật để lấy một cái khoái chật hẹp, ích kỷ về tinh thần, chàng thấy chàng không khác gì cậu học trò vô tâm kia, cả ngày không biết làm gì, ra đứng xem vẽ tranh để mua vui cho qua thì giờ.
Doãn buồn bã lạ thường. Chàng rẽ vào nghỉ trong một cái quán, đặt bức tranh ở góc tường, và đứng lui ra xa ngắm lại. Chàng thấy các màu hỏng hết, lắc đầu chán nản.
Nhưng chính cái chán về nghệ thuật ấy đã an ủi Doãn trong lúc băn khoăn: lòng ích kỹ bao giờ cũng mạnh, xui chàng bo bo giữ lấy cái thú vẽ là cái thú độc nhất của đời chàng. Doãn vẫn như không muốn nhận có sự thay đổi đương náo động trong tâm hồn nên tìm cớ giảng giải cái bứt rứt của mình :
- Mình chán nản không yên tâm, có lẽ vì độ này mình vẽ không ra hồn, hỏng luôn.

III

Biết là có phiên chợ, Doãn dậy sớm ra ngồi ở hàng nước đầu làng để đón những người gồng gánh đi qua. Chàng cần lấy dáng điệu một bọn người gánh hàng, vì chàng đương làm dở một bức tranh phong sơn vẽ cảnh chợ nhà quê.
Doãn vẽ đã mỏi cả tay mà vẫn còn muốn vẽ. Giở cuốn sổ tay xem lại, chàng thấy nhiều dáng rất linh động. Nhưng chàng vẫn nhận thấy nó sai hẳn sự thực; người ở trang giấy đẹp đẽ, sạch sẽ khác xa những người thật xấu xí, bẩn thỉu, tiều tụy đi diễn qua trước mắt chàng từ sáng đến giờ. Thấy một bọn người đi ngang, Doãn lại cắm đầu phác họa; mê mãi với những hình; những nét hoạt động trước mắt, Doãn lại quên được một lúc không nghĩ ngợi lôi thôi.
Thấy vẽ tranh hỏng mãi, Doãn đã hai tháng nay ở lì trong xưởng vẽ, làm mấy bức bình phong bằng sơn Việt Nam. Từ việc tô nét vẽ lên gỗ, bôi son, rắc vàng đến việc ngồi mài sơn cho lên nước, nhất nhất chàng đều làm lấy cả. Chàng không muốn bắt chước nhiều họa sĩ khác để thợ làm thay mình: Chàng cho thế là mua pháo mượn người đốt. Làm chỉ cốt lấy thích cho mình, nên có người nhà giàu đã trả tới bốn trăm bạc một bức bình phong nhỏ mà chàng còn ngần ngại chưa bán. Nhưng cái cớ chính khiến chàng không muốn bán là thấy người nhà giàu không hiểu một tí gì về nghệ thuật, mua bức bình phong chỉ cốt để khoe sang với mọi người. Chàng không muốn bức sơn của chàng dùng vào việc đó.
Doãn cầm bát chè tươi uống một hớp rồi mỉm cười chua chát. Vẽ tranh cho bọn nhà giàu, chàng thấy không khác gì những bọn thợ ngày xưa hết lòng, hết sức ngồi chạm trổ rất công phu tỉ mỉ những đầu rồng cánh phượng chỉ cốt làm đẹp mắt các bậc vua chúa, còn thân phận khốn khó của mình thì không bao giờ nghĩ tới, không bao giờ tìm cách làm cho đời mình đẹp đẽ hơn lên. Nhưng Doãn cho mình hơn bọn thợ ngày xưa vì chàng có học, chàng hiểu. Nghĩ đến đó, Doãn lẩm bẩm :
- Cần gì hiểu với không hiểu, chỉ biết rằng công việc của mình giống hệt công việc của họ. Họ vì thích làm đẹp mắt người trên còn mình vì lòng thích nghệ thuật, cái thích có khác nghĩa; nhưng công việc đều ngu muội như nhau.
Bên vệ đường, một người ăn mày vừa ngồi xổm vừa lê chân đi miệng xuýt xoa kêu khóc. Trong dáng dấp hay hay, có vẻ đặc biệt Việt Nam, Doãn toan phác để cho vào bức sơn vẽ cảnh chợ song chàng lại thôi vì thấy ngượng tay.
Doãn vứt một xu vào giá người ăn mày, bảo im không được kêu, nhưng chỉ một lúc sau, khi người ăn mày đã đi khuất sau lũy tre, tiếng kêu khóc lại thấy rền rĩ, tha thiết.
Tiếng người ăn mày, Doãn nghe như một lời than não nùng tự thời vãng xa xăm cứa chàng đưa lại. Cái xã hội nghèo khổ của chàng hồi thuờ bé, hơn hai mươi năm qua, chàng lại thấy nó hiện y nguyên trước mặt. Chàng tưởng như cảnh vật không thay đổi chút nào và có lẽ không bao giờ thay đổi nữa. Đổi khác trước họa chăng chỉ có một mình chàng.
Một người đàn bà gánh vàng mã và mũ thổ công đi lại. Doãn mở to mắt chăm chú nhìn, cảm động; nhưng lúc đó chàng không phải là một nhà họa sĩ hồi hộp khi được ngắm những hình sắc đẹp nữa. Chàng chỉ là một người ngây ngất vì thấy một cảnh nhìn đã quen mắt hơn hai mươi năm trước, nay hiện ra, như sống lại. Người đàn bà cúi chào Doãn. Doãn mỉm cười nói :
- Kìa, bác Trạch.
Người đàn bà sung sương lộ ra mặt, đáp :
- Quan còn nhớ đến tên tôi kia à?
Đã nhiều lần Doãn gặp những người đàn bà láng giềng nghèo của chàng ngày trước; nhưng chỉ lần này là chàng để ý và nhớ lại tên. Chàng bảo người đàn bà vào ngồi ở hàng nước và hỏi xa gần, nhắc đến những chuyện ngày xưa, có lúc cảm động, chàng tự hỏi :
- Sao lại chỉ có mình là đổi khác trước?
Chàng hối hận rằng vì nhờ có bà Thượng đem về làm con nuôi, chàng đã một mình trốn tránh được cái nơi nghèo khổ mà đáng lẽ chàng phải sống. Nhờ có trí thông minh, cậu bé mồ côi cha mẹ, mặc quần áo nâu vải, đan lờ đem ra chợ bán để khỏi chết đói, nay đã trở nên một người có học thức, sống một đời sung sướng sang trọng.
Ngồi đối diện với người đàn bà là bạn của mẹ chàng, nét mặt tiều tụy, quần áo rách rưới, trong bao nhiêu năm vẫn vất vả kéo dài cái đời khốn khó, nghĩ đến cảnh đời không đáng sống của mẹ chàng ngày trước, của hết thảy những người chung quanh chàng, Doãn thấy tâm hồn rung động, rạo rực về một mối thương man mác. Trong phút đó, chàng đã nhận thấy rõ rệt cái trống rỗng ghê gớm của đời chàng mà lòng yêu nghệ thuật dẫu đắm đuối đến đâu cũng không sao che lấp được.
Bác Trạch cầm nón đứng dậy nói :
- Xin phép quan, tôi phải ra chợ thu nhập tiền nong để vào nộp cụ. Tôi nhờ vả cụ nhiều quá nên không dám chây lười, phải cố cầm bán đi mà trả, lần này còn lần khác. Nếu không đủ, quan làm ơn nói giùm họ.
Doãn nói :
- Bác thiếu bao nhiêu?
- Bẩm năm chục.
Doãn sửng sốt. Bác Trạch nhận thấy vẻ ngạc nhiên trên nét mặt Doãn, liền giảng giải :
- Thường thường tôi chỉ đến nhờ cụ năm ba đồng để lấy tiền buôn bán. Lần này nợ nhiều như thế là vì hồi năm ngoái, thầy cháu mất, phải cần mấy chục bạc đưa ma. Giá độ ấy cụ không thương mà giúp cho thì thật không biết xoay sở thế nào.
Doãn đã toan cất tiếng trách bác Trạch vay tiền để tiêu một cách vô lý, nhưng chàng cho là việc đã qua rồi; chàng định chốc nữa về xem sổ nợ để xin mẹ nuôi cho bác Trạch số tiền lời, chỉ đòi lại số tiền gốc thôi.
Sắp về đến cổng nhà, Doãn phải đi thong thả lại vì chợ họp đã đông. Chàng cúi đầu đi rẽ qua dãy lều bán chuối để ra phía sau chợ theo đường tắt về nhà như người đi trốn. Mỗi lần nhìn những người nhà quê nhem nhuốc ngồi bệt xuống đất, bên những đống rác hôi hám, hàng bán lèo tèo mấy thức quà vặt bẩn thỉu, đầy cát bụi, và mỗi lần ngửi thấy mùi quần áo, mùi mồ hôi người lẫn với trăm nghìn thứ mùi khác ở các hàng xông lên, Doãn có cái cảm tưởng khó chịu về sự bất di dịch của xã hội quê, bao giờ cũng khốn nạn, cũng nghèo xơ xác như bao giờ. Chàng thấy cảnh ấy hai mươi năm trước cũng vậy; chàng buồn bã đoán rằng mấy mươi năm sau nữa rồi cũng thế này thôi, không có chút hy vọng gì về sự thay đổi hoàn toàn và kịch liệt như một trận gió mạnh nổi lên thổi sạch hết bụi cát, rác rơm.
Doãn so sánh túp nhà lụp sụp, tối tăm ở hai bên vệ đường với những mái nhà gạch cụ Thượng đỏ tươi lẫn sau chùm lá hoàng lan phơi phới ánh sáng. Bên trong bức tường cao, ngọn cắm đầy mảnh chai vỡ, là một thế giới khác, biệt lập và sự nghèo khổ, bẩn thỉu hình như đến bức tường là ngưng hẳn lại.
Lúc đó Doãn thấy cái nghệ thuật của chàng không khác gì bức tường cao kín kia bấy lâu đã che khuất mắt chàng không cho nhìn thấy những cảnh tiều tụy ở bên ngoài. Chỉ ít lâu nay, chàng mới mở mắt nhìn, nhưng không phải tìm cảnh để vẽ như trước; Doãn nhận thấy nghệ thuật của chàng như bức tường lở dần dần, mỗi ngày lại để lộ ra trước mắt chàng thêm một mẫu phong cảnh, tuy xấu xí nhưng một lần đã in vào trí não thì không tài nào xóa bỏ được nữa.
Khi vào đến sân, nhìn những bọn người đi rải rác khắp nơi đợi vay thóc vay tiền, Doãn có cái cảm tưởng rằng sự nghèo khó đã theo chàng ùa vào trong nhà. Màu quần áo họ, thảm đạm như màu đất, trái ngược hẳn với màu vàng sáng chói của giá lộ bộ, của những chữ đại tự trên hoành phi, với màu trắng xanh cùa mấy chiếc thống lớn đặt trước thềm.
Doãn trông thấy có cả bác Trạch ngồi đợi ở một góc nhà. Bà Thượng đứng trên hiên thấy Doãn về liền mỉm cười nói :
- Quan cử về xem sổ hộ. Thư ký hôm nay lên tỉnh vắng.
Lần đâu Doãn để ý đến và khó chịu vì lời xưng hô kiểu cách của mẹ nuôi. Lúc vào ngồi ở bàn, thấy mấy người đứng cạnh khúm núm chắp tay sợ hãi, Doãn cau may nhìn họ tỏ vẻ tức bực. Chàng ngẫm nghĩ :
- Họ sợ hãi mình thì lạ thật. Hay là vì họ cho mình là con nhà quyền quý, lại biết luật nên có thể trị họ được... Nhưng sao họ lại chỉ nghĩ đến việc mình có thể hại họ, trị họ.
Nể lời bà Thượng và đã trót hứa với bác Trạch lúc nãy nên Doãn đành cố ngồi lại, giở sổ xem. Chàng gọi tên một người nhà quê, bảo đứng lại gần rồi lẩm nhấm đọc :
- Ngày 12 tháng 4 năm ngoái lấy bốn thùng thóc với năm đồng bạc, ngày mùng 4 tháng 7 vay bốn đồng nữa, tháng tám trả năm đồng, tháng chạp lại vay một chục tiêu về việc làng. Thành tất cả bây giờ phải trả mười bốn đồng bạc với bốn thùng thóc.
Có tiếng vịt kêu. Doãn nhìn xuống thấy dưới chân người nhà quê, bên cạnh mấy thùng thóc, có đặt một cái lồng lớn trong có bốn con vịt.
Doãn hỏi :
- Đem vịt đi đâu thế này?
Người nhả quê vừa đặt tiền vừa xuýt xoa nói :
- Chúng con lòng thành mong cụ lớn và quan nhận cho.
Doãn gắt :
- Tiền và thóc nợ thì tôi nhận, còn vịt thì đem về ngay.
Người nhà quê ngạc nhiên, nhưng sợ hãi vì câu nói gắt cùa Doãn không dám khẩn khoản, vội xách lồng vịt lùi ra, có vẻ tủi thân. Doãn không để ý đến, cặm cụi giở sổ đọc, trong lòng hơi vui, vì thấy nhà mình đã giúp cho bao nhiêu người túng thiếu được nhờ. Ngẫm nghĩ một lát, Doãn mở cuốn sổ xuất, đối chiếu với cuốn sổ nhập. Chàng lặng người ngồi yên, mắt mở to nhìn vào trang giấy không để ý đến những tiếng ồn ào chung quanh, không để ý đến mấy người đứng cạnh bàn đương đợi. Không phải chàng ngạc nhiên vì số lãi nặng, cũng không phải chàng ngạc nhiên vì thấy mẹ nuôi cho dân vay để lấy lãi tuy nhà đã giàu, tiêu không hết của. Chàng bâng khuâng như người vừa ra khỏi một giấc mộng, lờ mờ được thấy chút ánh sáng lọt vào buồng tối.
Chàng nhận thấy rằng tiền bạc ăn học cùa chàng trong bao năm là tiền của những người nhà quê đói khổ ngồi kia, hay tiền của những người nhà quê ở những nơi khác, chỗ cha nuôi chàng làm quan. Trước kia chàng cũng biết thế rồi, nhưng chàng không để tâm nghĩ đến và nhất là không lúc nào chàng đã cảm thấu sự khốn nạn của điều đó mãnh liệt, sâu xa bằng lúc này.
Lúc nãy khi đến cổng, chàng cho bức tường cao vây chung quanh nhà là để ngăn cản những người nghèo khổ; ai ngờ đâu chính những ngưởi nghèo khổ đó đã van lạy xin vào để bị bóc lột mà vẫn thản nhiên không biết. Doãn ngửng lên, nhìn qua những người nhà quê một loạt, và thấy họ có vẻ những người chịu ơn nhà chàng nhiều lắm, hình như ơn ấy họ cho là dầy nặng, họ còn phải kiếm các thức ngon lành, nhịn ăn đem đến biếu tạ ơn, tạ ơn người đã hại họ.
Bà Thượng lại gần nói :
- Anh không đọc sổ cho người ta. Để người ta đợi mãi, tan chợ mất.
Doãn quay vào và ngơ ngẩn ngắm nét mặt của bà Thượng; lạ thay chàng thấy nét mặt của bà Thượng lúc đó như nhiễm đầy vỏ phúc hậu, dịu dàng. Đã trong bao nhiêu năm, bà làm hại bao nhiêu người mà bà vẫn hồn nhiên không biết.
Doãn cắn đầu bút chì ngẫm nghĩ và thoáng một lúc chàng đã tìm được một nhẽ lý cùa những sự trái ngược ấy.
Chàng nhớ lại đêm đọc cuốn truyện, nhớ lại cái cảm tưởng rằng nơi chàng ngồi đọc sách là một cái cù lao sáng nổi lềnh bềnh ở giữa một khoảng tối tăm vô hạn. Tất cả những người chung quanh chàng lúc đó, từ mẹ nuôi chàng cho đến những người nhà quê ngồi kia, như bị chìm đắm vào trong đêm tối; họ đã quen đi rồi, mà từ xưa tới nay không có một người nào bảo cho họ biết tình cảnh của họ. Doãn lấy làm lạ rằng đến ngay như chàng cũng đã bao lâu ở trong đêm tối tăm đó mà không ngờ gì cả.
Tiếng còi ô-tô ở xa đưa lại khiến Doãn mừng rỡ đứng lên nói :
- Chắc thư ký đã về.
Thấy tâm trí bối rồi, Doản muốn được yên tĩnh để nghĩ ngợi. Chàng lại gần bà Thượng, nói giúp hộ bác Trạch, rồi đi rẽ xuống sân toan về phòng. Vừa lúc đó, một cái ô-tô hòm kiểu mới tiến vào trong sân, bóng loáng như một con bọ cánh cam khổng lồ. Mấy người nhà quê sợ hãi, chạy tạt ra hai bên, rồi khúc khích cười, vui vẻ đưa mắt nhìn Lan, Tuyết và Dung ở trên xe bước xuống. Doãn tưởng như vừa thấy ba cô tiên xán lạn ở trên bồng lai bước xuống cõi trần thảm đạm. Chàng để ý đến những người nhà quê và thay họ khi nhìn không mảy may lộ chút thèm thuồng hay đau đớn vì so sánh hai cảnh khác nhau. Họ cũng như chàng, nhìn Lan, Tuyết và Dung như nhìn thấy cô tiên lộng lẫy ở trong tranh không có liên lạc gì đến cái đời lầm bụi của họ.
Doãn mỉm cười :
- Giá mà họ biết rằng ba cô em mình được sang, đẹp và sống nhàn rỗi là nhờ họ, nhờ ở cái số tiền lãi bao nhiêu năm súc tích lại!
Trong lúc chàng nghĩ, tiếng một người nhà quê kêu xin năn nỉ với bà Thượng éo le lọt vào tai chàng như làm tăng sự cay chua của ý nghĩ :
- Xin cụ lớn rủ lòng thương cho khất lại số tiền lời đó. Cụ lớn bắt trâu thì chúng con xin chịu, nhưng xin cụ lớn đoái tưởng đến vợ chồng, con cái chúng con sống chết ở tay cụ lớn mà rộng lòng thương cho.
Xuống xe sau ba cô em chàng là Bảng và bà nghị Tuệ thân sinh ra Bảng. Tuyết thấy Doãn nhìn về phía ô-tô mà không chào bà nghị, liền cất tiếng cười nói đùa :
- Anh tôi lại mải ngắm vẽ. Nhưng xin đừng vẽ chúng tôi đấy.
Doãn giật mình, chạy ra bắt tay Bảng và cúi chào bà nghị, Lan nhí nhảnh nói :
- Bác nghị trách anh mãi đấy. Bác bảo anh không biết việc gì khác, chỉ biết cắm đầu vẽ, không được tích sự gì cả. Bác bảo anh phải đi chơi để mở mắt ra. Anh đừng giận em nhé, vì em chỉ nhắc lại lời của bác... nguyên văn. Cam đoan không thêm bớt một chữ.
Doãn cười nhạt nói :
- Anh cũng sắp mở mắt. Hiện giờ mới mở hé thôi. Cũng tạm đủ nhìn.
Bảng ôn tồn bảo Doãn :
- Độ này tôi thấy chú gầy lắm. Chú phải liệu làm việc có chừng thôi. Nên đi chơi luôn cho giải trí.
Doãn đáp :
- Làm việc có bao giờ yếu người đi. Chỉ yếu khi nào mình lo nghĩ.
Doãn biết rằng Bảng không tài nào hiểu được sự lo nghĩ của chàng, nên nói tránh đi cho Bảng khỏi hỏi lôi thôi :
- Nhưng mà tôi lại không lo nghĩ gì cả. Bao giờ tôi cũng vui vẻ.
Nói vậy nhưng lúc đó Doãn có cái cảm tưởng như một người ở trên bờ vừa bước xuống chiếc thuyền con bập bềnh, đương ngả nghiêng giơ hai tay tìm chỗ víu cho khỏi ngã mà chưa tìm thấy. Nhìn Bảng đứng vững chải chống hai tay vào cạnh sườn, nét mặt hồng hào, tóc bôi dầu bóng mượt, hình như suốt đời không bao giờ phải suy nghĩ, bứt rứt, Doãn lấy làm thèm; chàng thầm ước được như Bảng, người mà chàng vẫn khinh xưa nay. Giờ chàng mới biết rằng trước kia hồi chàng còn bình tĩnh cắm cúi vẽ tranh, chàng không có quyền gì khinh Bảng cả. Chàng lẩm bẩm :
- Mình phải tìm cách thoát ra khỏi bước này.
Bỗng tự nhiên, thoáng trong một lúc, Doãn thấy yên trong dạ. Chàng nhìn thấy ngọn cau in như cắt hình lên nên trời không vẩn mây; cái cảnh điềm nhiên của cây cỏ tự nghìn vạn năm vừa khiến chàng tự trách mình gàn dở và không đâu chuốc lấy những nỗi băn khoăn vô nghĩa. Chàng thấy dân quê trong bao lâu cũng hồn nhiên sống như cây cỏ và cái ý tưởng so sánh dân quê với cây cỏ ấy an ủi được chàng trong giây lát.
Nhân lúc bà Thượng chạy ra rối rít hỏi chuyện bà Nghị và Bảng, Doãn yên lặng bước lên hiên về phòng. Mỗi lần gặp bất cứ việc gì khó chịu, hễ vào tới xướng vẽ đóng cửa lại, là Doãn thấy trong người nhẹ nhàng ngay, quên được hết mọi sự. Lần này chàng cũng cố quên, nhung không thể được vì cái phiền muộn nó ở trong thâm tâm chàng nảy ra chứ không phải ở ngoài đưa đến.
Doãn ngồi chống khuỷu tay xuống đầu gối, hai bàn tay ép lấy hai bên má như người bị lạnh, lông mày dương cao làm da trán nhăn thành mấy nép, mắt mở to vơ vẩn nhìn những bức tranh treo trên tường.
Những bức tranh ấy vẻ đủ khắp các cảnh quê chàng gặp ở trong làng và ở các vùng lân cận. Những thứ ánh sáng đẹp đẽ, những màu diễm lệ trong mấy năm trời chàng đã tốn bao công phu ghi được trên vải, coi đó là cái khoái độc nhất của đời chàng, nay không làm rung động lòng chàng nữa. Cùng với cái mộng của chàng, vẻ kỳ ảo cùa những màu trong tranh đã tan đi chỉ còn lại những hình dáng khô khan, trơ trẻn lại làm Doãn lại nhớ tới cảnh thực bên ngoài. Cảm tưởng của chàng lúc đó không khác gì cảm tưởng của chàng khi đứng xem người ta vớt bèo trên ao; mảnh bèo xanh đẹp như một bức thảm gấm đã mất đi và để lộ ra màu đen bẩn của nước ao tù.
Có tiếng động ở bên xưởng vẽ, Doãn đứng dậy chạy sang. Người con gái quê làm kiểu mẫu cho chàng, như mọi ngày đã ngồi đó ngoan ngoãn đợi chàng sang vẽ.
Doãn nói :
- Hôm nay cho chị nghỉ. Tôi hơi mệt.
Chàng quay ra để người con gái thay áo và nghĩ đến bao nhiêu sự khó khăn chàng đã phải vượt qua, bao nhiêu công phu luyện tập mới có được một người con gái biết ngồi làm mẫu. Lần này là lần đầu có người ngồi làm kiểu sẵn sàng, trời có đủ ánh sáng mà chàng không thiết vẽ.
Đợi cho người con gái đi rồi, Doãn lấy ra một tấm bình phong đã khô sơn, đặt lên bàn, rấp nước và lấy than mài. Chàng không nghĩ ngợi, tay đưa đi đưa lại miếng than như cái máy; mỗi lần chàng té nước vào chỗ mài thì những nét bạc lại lộ ra lấp lánh. Nhà cửa và cây cối dần dần thành hình trên nền sơn đen như cảnh vật ở trong một thế giới mộng. Chỉ được một lúc, Doãn lại thấy những ý nghĩ lan man đến quấy rối. Nhìn cái cảnh đời đẹp đẽ, sạch sẽ hiện ở dưới bàn tay đen những than của chàng, Doãn lại nghĩ đến một câu văn đã đọc trong sách. Chàng lẩm bẩm nhắc lại :
- Lúc nào anh cũng phải tự nhủ rằng đời có thể đẹp hơn lên được, đời của anh, đời của những người khác.
Doãn vừa mài vừa ngẫm nghĩ. Chàng thấy đời chàng sống bấy lâu thật đẹp đẽ, nhưng đó chỉ là một cái đẹp ảo mộng, như một làn mây mỏng hơi có trận gió là tan ngay. Nghĩ đến ông Thượng, bà Thượng, đến nhà cửa, ruộng nương, nghĩ đến thứ tiền của đã giúp chàng đi học, Doãn cũng như nhà văn nọ không muốn nhận cái đời đầy đủ, sung sướng xây trên sự thiếu thốn của người khác.
Doãn giật mình vội gạt nước nhìn: trong lúc đãng trí, chàng đã quá tay mài mất một nét vẽ. Chàng chép miệng rồi lại đều đều đưa miếng than để trí theo đuổi cái ý tưởng đương bỏ dở.
Chàng tự nhủ :
- Nhưng mình không làm thiệt hại đến ai, mình có quyền sung sướng được không?
Trước kia chàng đã sung sướng, nhưng chàng sung sướng một cách vô tri vô thức, đến nay đã sực tỉnh, đã hiểu biết; nếu cái sung sướng ấy không vững thì tất nó không thật, không chính đáng. Chàng mang máng thấy cần phải tìm một cách sống khác, một quan niệm khác về hạnh phúc có thể đem ra đời với những cảnh thực đau đớn bên ngoài mà không rung chuyển. Một khi đã nghĩ đến, chàng không thể khư khư ôm lấy cái thú chật hẹp của chàng trước kia được nữa; hạnh phúc của chàng từ nay đã thấy rõ rệt rằng nó phải có liên lạc với hạnh phúc của những người chung quanh; đời chàng, đời một người dân đã nhờ sự may mắn được sáng sủa, cần phải ăn nhịp với đời đám dân quê tối tăm, bạn cũ của chàng. Sự nhịp nhàng ấy cần cho hạnh phúc đời chàng cũng như sự hòa hợp của các màu cần cho vẻ đẹp những bức tranh chàng vẽ.

IV

Ăn đã gần xong bữa, Doãn buồn rầu nhìn mâm cơm đầy cao lương mỹ vị mà không ai đả động tới. Chàng vừa ăn vừa cúi mặt xuống vì chàng không muốn để Vĩnh ngượng mỗi khi chàng nhìn thẳng vào mặt Vĩnh. Từ ngày Vĩnh xin ra làm Tri huyện hai người ít khi gặp nhau, nên Vĩnh đối với Doãn cũng gần thành một người xa lạ, Doãn không thể nào tưởng tượng được rằng người mặc quần áo ta, đội khăn tề chỉnh, cổ áo viền sợi dây đỏ trước mặt chàng lúc đó, trước kia đã nhiều lần cùng chàng vừa hát nghêu ngao vừa nện mạnh gót giày trên các đường phố ở Pa-ri những đêm mưa tuyết. Cùng đỗ cử nhân luật một năm, cùng về nước một chuyến tàu, Vĩnh lo xin ra Tri huyện, con Doãn thì ở yên nhà quê, miệt mài với nghề vẽ. Hôm nay Vĩnh về để nói cho mẹ biết rõ việc dân kiện chàng vừa mới xảy ra.
Bà Thượng chỉ món chim hầm, âu yếm bảo Vĩnh :
- Con ăn đi chứ.
Vĩnh gắp lấy lệ cho mẹ bằng lòng. Doãn để ý thấy Vĩnh chan nước rau, ăn mấy miếng cá, và rồi lua cho hết bát cơm. Cơm tuy trắng, tuy mềm dẻo nhưng lúc đó đối với Vĩnh cũng khô ran, khó nuốt như cơm gạo đỏ của bọn dân nghèo. Doãn thấy bà Thượng khi gặp biến lại yêu con hơn lúc thường; từ khi biết tin, bà chỉ lo tìm cách cho con thoát khỏi bước khó khăn, chứ không hề tự hỏi tại sao con bà đã thừa tiền, lại còn ăn hối lộ. Bà chỉ thỉnh thoảng than phiền cùng Doãn :
- Tao đã bảo nó năm nay năm hạn phải nên cẩn thận, nó cứ không thèm nghe.
Ăn xong, Doãn và Vĩnh cùng bước sang bên xưởng vẽ, Vĩnh khép cửa lại hỏi Doãn :
- Tôi cần ít tiền, anh có thể cho vay được không?
Doãn mở tủ lấy ra tập phiếu nói :
- Chú lấy bao nhiêu để tôi ký.
Vĩnh cầm tờ phiêu tay run run, khiến Doãn động lòng thương hại. Đột ngột, chàng nói với Vĩnh :
- Nên tính trước những sự có thể xảy ra được. Nếu chú phải cách thì làm sao?
Vĩnh đáp giọng quả quyết :
- Không thể nào xảy ra thế được. Nhưng nếu xảy ra thì...
Vĩnh cau mày ngừng một lát rồi tiếp theo :
- Nếu cách nào làm cho tôi khỏi mất danh giá thì tôi dùng cách đó.
Doãn biết là Vĩnh định nói đến cách tự tử. Chàng hỏi Vĩnh như chàng tự hỏi mình :
- Vì cớ gì?
Vĩnh nói :
- Tôi còn mặt mũi nào nữa!
- Nhưng nếu là một việc xấu thì đằng nào cũng xấu rồi cơ mà.
Nói câu ấy vì Doãn đã tin chắc ngay từ lúc biết chuyện rằng Vinh thật có lỗi, bị kiện không phải là oan. Vĩnh sửng sốt. Doãn vội phân trần :
- Chú đừng giận tôi. Tôi biết chú lắm. Tôi hiểu cái đau khổ của chú hơn ai hết, hiểu hơn cả anh em ruột thịt. Hơn mười năm trời cùng học cạnh nhau.
Thật tình Doãn chỉ thương em chứ không khinh, vì chàng biết Vĩnh là một người rất tốt; Vĩnh thành ra như vậy chỉ vì đã sống một cách sai lạc, hay nói cho đúng hơn, không bao giờ nghĩ đến việc tìm cách sống.
Vĩnh đưa mắt nhìn qua những bức tranh mà chàng không tài nào hiểu được vẻ đẹp. Chàng bảo Doãn :
- Chỉ anh là sung sướng, không lo không nghĩ, cả ngày mê mệt với tranh ảnh. Giá tôi cũng thích vẽ như anh.
Doãn lại phía cửa sổ, cạnh chỗ Vĩnh đứng, rồi hai tay chống cằm nhìn ra ngoài vườn thong thả nói :
- Chúng mình sống phơ phất... sống như vậy khong thể nói đến sung sướng được; nếu đó chỉ là cái sung sướng trong giấc mê, lúc tỉnh là tan mất ngay.
Doãn ngửng lên nhìn vẻ mặt bơ phờ cùa Vĩnh và trong trí so sánh lo nghĩ của chàng trong mấy tháng nay với cái lo nghĩ của Vĩnh. Hai cái lo thật khác nhau xa. Chàng cảm động nói :
- Chú không thể ngờ rằng mấy tháng nay tôi đã khổ sở đến bực nào. Tôi không thể thích vẽ như trước được nữa, cái thích độc nhất trong đời tôi.
Vĩnh có vẻ không hiểu, Doãn nói, giọng tha thiết :
- Chú thứ nghĩ lại xem. Chú, dầu chú bị tù tội cũng không sao, nhưng tôi, nếu tôi không qua khỏi bước này, thì tôi không hiểu tôi sống, tôi sống đây để làm gì?
Hai người lúc đó cũng nhìn ra phía hàng rào ở cuối vườn. Qua lũy tre, một đám khói xanh tỏa lên mấy nóc nhà tranh lụp sụp đứng thu hình dựa vào nhau như có vẻ sợ hãi. Nhìn ngọn lửa vàng lập lòe sau lá cây, Doãn nghĩ đến mấy miếng cà Vĩnh vừa ăn cho trôi bát cơm trắng và những đĩa cà héo đen của người làm ruộng suốt đời ăn cho trôi cơm lấy sức làm việc. Quanh năm vất vả, hết nắng thiêu lại đến gió buốt, mà họ không có chút hy vọng gì thoát khỏi cái đời lầm than của họ. Họ không bao giờ nghĩ đến điều đó nữa. Suốt ngày còng lưng nơi bùn lầy nước đọng, đêm về chui rúc trong những gian nhà tối tăm, chiếu hôi, giường bẩn, cảnh đời như thế lúc nào cũng ở trước mắt chàng mà sao trước kia chàng không nom thấy, thờ ơ đi tìm những vẻ đẹp mỉa mai của hình sắc. Doãn nghĩ đến những ổ rơm bẩn thỉu, những đứa trẻ gầy còm ốm yếu, cố sống cầm hơi chờ khi lớn để kéo dài mãi cái đời nhem nhuốc của ông cha.
Doãn mang máng như sắp nghĩ ra một điều rất quan trọng trong đời mình. Vì có Vĩnh đứng bên cạnh nên chàng không muốn cố tìm.
- Lát nữa ta sẽ đi chơi và nghĩ cho kỹ hơn.
Nhìn lại Vĩnh, tự nhiên chàng đem lòng khinh rẻ, chứ không thương nữa. Chàng lẩm bẩm trong miệng bằng tiếng Pháp :
- Tàn nhẩn mà không ngờ mình tàn nhẫn.
Chàng không biết đó là câu để mắng Vĩnh hay là để tự mắng mình. Tuy thấy Vĩnh cũng nhìn một nơi nhưng chàng biết là cảnh ấy không gợi trong óc Vĩnh cùng những ý tưởng như chàng. Chàng cất tiếng nói to cho Vĩnh nghe thấy.
- Chúng mình phải mở mắt nhìn. Tuy đau đớn thật, nhưng lúc cần thì phải biết đau đớn.
Chàng thấy Vĩnh tuy đứng cạnh nhưng đã xa chàng lắm. Người bạn học của chàng, người đã cùng chàng chung một văn hóa, một ngày một xa chàng mãi. Chàng biết rằng nói với Vĩnh là vô ích. Muốn cho Vĩnh thay đổi thì Vĩnh cũng phải cảm thấy như chàng. Doãn đi lại phía bàn rút điếu thuốc lá hút.
- Nhưng để làm gì? Đến mình đây, mình cũng chưa tìm nổi cách cứu được mình, nữa là.
Bà Thượng mở cửa hỏi :
- Hai anh em bàn gì trong đó?
Rồi bà bảo Vĩnh :
- Con ra đi thôi. Ô-tô đã về đón kia rồi.
Đợi cho Vĩnh ra khỏi, Doãn cởi áo ngoài, ngồi dạm nét vẽ lên trên gỗ. Chỉ được một lúc, chàng vứt bút chì, vứt tẩy, đứng dậy đi đi lại lại trong phòng. Chàng ra hiên đứng nhìn trời cho khỏi nhức đầu rồi hai tay đút túi quần, đi qua vườn mở cổng sau ra đường làng.
Vài cái lá tre khô rơi ngay trước mặt Doãn, gió bấc thổi lũy tre kêu lắc rắc. Mùi bèo mới vớt ở ao lên để cạnh đường đi gợi trí nhớ Doãn tới thuở bé, nhớ lại mẹ chàng, người mẹ mà chàng không nhớ rõ mặt, nhưng tin chắc rằng đã sống một đời khổ sở cho đến lúc chết. Trong chiếc nhà tranh gần đây, vẫn có tiếng xay thóc và tiếng ru em như năm xưa...
Không lúc nào Doãn cảm thấy thân mình trơ trọi và đời mình quạnh hiu bằng lúc đó. Bao nhiêu người yêu của chàng, cha mẹ, anh em, đều lần lượt theo nhau khuất dần; nghệ thuật, người bạn cuối cùng bấy lâu vẫn an ủi chàng cũng bỏ đi nốt để chàng lại một mình chơ vơ. Chàng không hiểu còn cái gì, cái gì nữa giữ chàng sống ở đời... Doãn khoanh tay ôm chặt lấy vai như người lạnh; hai con mắt chàng mở to nhìn - Một chiếc lá tre khô từ trên cao rơi thẳng xuống nước; Doãn nhìn chiếc lá tre theo gió trôi trên mặt ao, lắc đầu lẩm bẩm :
- Thế nào mình cũng phải tìm một thứ khác thay vào!
Chàng nghĩ đến những họa sĩ bạn của chàng và cho mình có cái óc hơi khác thường. Tự nhiên mất lòng yêu nghệ thuật mất hết bình tĩnh trong tâm hồn mà không có ích lợi gì. Chàng đoán có lẽ tại ở nhà quê lâu ngày, bị hoàn cảnh ám ảnh.
- Có lẽ ta phải lên Hà Nội. May ra có thể lại yên tâm làm việc được.
Cái ý tưởng đi trốn ấy khiến Doãn mỉm cười, vì chàng cho là vô ích. Chàng cần tìm một lý tưởng để nó đem lại cho chàng sự bình tĩnh trong tâm hồn, nhưng cái bình tĩnh ấy phải chắc chắn ở vào hoàn cảnh nào cũng không mất được.
Doãn thấy mình không có quyền đi trốn, chàng phải sống ở đây, chàng phải giam mình trong cái đời bẩn thỉu kia như giam mình trong vũng bùn lầy; chính những nỗi khổ của người chung quanh sẽ đem lại cho chàng cái lẽ để mà sống. Nhìn những lũy tre các làng ở chân trời không bao giờ thay đổi hình dáng, nghĩ đến đời của đám dân trong bao nhiêu năm đóng nguyên một chỗ như vũng nước tù, Doãn nhớ lại điều chàng nhận thấy hôm giở sổ cho vay nợ: họ khổ sở vì phải chịu sống mãi trong đêm tối vì không có ai soi sáng họ, dạy họ biết một cách sống khác, gợi họ mơ ước một cảnh đời đẹp đẽ hơn. Doãn càng thấy rõ cái vô lý của công việc chàng bấy lâu; mê man đi tìm những thứ ánh sáng huyền ảo trên các nóc tranh, không bao giờ tưởng quá tới sự thực thảm đạm: những cuộc đời tối tăm trong các gian nhà tối tăm. Nghệ thuật mục đích để tìm cái đẹp, làm cho người đẹp đẽ hơn lúc đó đối với chàng chỉ là một sụ mỉa mai đau đớn!
Doãn đi rẽ sang con đường nhỏ để lên trên đê. Một người đàn ông đương cày một thửa ruộng và hai đứa bé đóng khố đứng dưới lạch nước lẫn sau hàng cói lơ thơ làm chàng nghĩ đến một bức tranh vẽ cũng cảnh ấy gửi bày ờ Hà Nội. Chàng lại nhớ tới câu khôi hài chua chát của một người bạn nói với chàng khi ngắm bức tranh :
- Vật nhỏ mọn, đê tiện thế kia, thật không đáng cho người ta để tâm thương đến.
Nhưng hồi đó chàng không hiểu; bức tranh đối với chàng chỉ là một vẻ đẹp, ngoài ra không có ý nghĩa gì khác. Doãn lẩm bẩm :
- Đẹp thiếu gì cái đẹp... Sao mình lại chỉ yêu có mỗi cái đẹp về hình sắc.
Doãn tự nhiên thấy trong lòng mình man mác; chàng biết là sắp tìm ra được cách sống thế nào để có thể hòa hợp được hai sự trái ngược nhau: lòng yêu nghệ thuật và lòng trắc ẩn trước những cái đau khổ ở bên ngoải.
Doãn giơ tay hất bờm tóc gió thổi xõa xuống che khuất một bên mắt. Chàng nhìn ra phía sông, thở mạnh và lắc đầu như thể xua đuổi hết những lo nghĩ rối loạn trong óc và để sẵn sàng đón tiếp những ý tưởng quang đãng nó như sắp ở xa theo gió đưa lại.
Doãn đi rẽ sang qua đê cũ lượn sát bờ sông để ra chỗ “bụi tre một” cạnh một cái bến đò bỏ không. Chàng ngồi xuống một mô cỏ, ngay chỗ mà hồi còn bé đã nhiều lần chàng ngồi đợi mẹ đi chợ qua đó về. Cũng như hai mươi năm xưa, bên làn nước gợn sóng lăn tăn, xác những con vờ vướng ở ngọn cỏ phất phơ trước gió chiều...
Doãn táy máy rứt một cây cỏ đưa lên miệng nhai lá. Mùi đất ở rễ cỏ chàng tưởng như một mùi thơm của thời quá vãng còn vương lại, để chàng nghĩ đến cái ý nghĩa của quê hương. Doãn thấy mình đã bao lâu nay sống ở giữa chốn quê mà đối với quê như một người xa lạ; bây giờ chính những cảnh nhem nhuốc của quê hương đã kích thích chàng, xui giục chàng quay về với quê hương và mong mỏi cho quê hương trở nên đẹp đẽ. Đời của đám dân quê đã bao lâu bị chàng thờ ơ, lạnh nhạt, bỏ quên như xác những con vờ bên kia sông, từ nay chàng sẽ săn sóc tới.
Thoáng một lúc chàng thấy hiện ra, trên những làng xóm ngủ yên, in bóng xuống các ruộng nước trắng rải rác ở chân trời, những cảnh đẹp khác hẳn những cảnh đẹp chàng vẫn phô diễn trong tranh: đó là những cảnh đời đẹp đẽ sáng sủa mà mấy tháng trước đây chàng có lần tưởng đến, nhưng cho là không bao giờ thành được sự thực. Doãn ngẫm nghĩ.
- Ta phải hết lòng đi tìm cái đẹp ấy cho người khác cũng như là bấy lâu ta đi tìm cái đẹp về hình sắc để ghi trên vải lụa.
Ý nghĩ ấy làm chàng vui vẻ vì nó thỏa được lòng yêu nghệ thuật cố hữu của chàng.
- Trong công việc tô tạo vẻ đẹp của đời người, ta sẽ khoan khoái và lòng ta cũng rung động một cách êm ái như trong khi tìm những màu hòa hợp để vẽ nên tranh... Cảnh đời đẹp đẽ của dân quê đối với ta cũng là một bức tranh đẹp.
Doãn ngồi không dám động đậy sợ những điều chàng mới nhận ra như con chim còn nhút nhát bay vụt mất.
Mấy ngôi sao chiều yếu ớt mới mọc ở chân trời mờ sương lúc ẩn lúc hiện. Nghĩ đến cái sung sướng bắt đầu nhóm trong lòng Doãn lẩm bẩm :
- Ước gì lòng ta cứ mãi mãi được như thế này.
Chang mỉm cười vì nghĩ đến rằng mình giàu có, sang trọng ai cũng tưởng như vậy là đủ sung sướng, không ngờ đâu hạnh phúc của cả đời mình lại dựa vào một cái vô hình, mỏng manh không có giá trị gì đối với mọi người.
* * * * *
Doãn đi vòng ra phía chỗ đê về cổng trước. Lúc đó trời xâm xẩm tối. Hai dãy nhà bên đường đã đóng cửa gần hết: thỉnh thoảng qua phên giậu thấp thoáng ánh đèn.
Bóng tối nặng nề như đè các mái tranh thấp sát xuống đất; cảnh tượng thảm đạm mọi ngày trông càng thảm đạm hơn, nhưng Doãn, chiều hôm nay, nhìn đến không còn buồn nản một cách khó chịu nữa. Chàng có cảm tưởng là lạ rằng vừa đi du lịch ở một nơi rất xa nay trở về quê, thấy cảnh vật có vẻ thân yêu chàng và đón mừng chàng như đón một người bạn cũ. Lúc đi ngang qua túp nhà Doãn ở trước, nay lại tồi tàn hơn xưa, hình như trong bóng tối mờ mờ. Doãn thấy mẹ chàng ăn mặc theo lối một người dân nghèo, đứng ở cổng có vẻ mong đợi chàng đã lâu. Doãn tưởng trông thấy mẹ mỉm cười mừng rỡ, mừng rằng nay chàng lại biết đoái hoài tới những người bạn hèn cũ, chìm đắm trong tối tăm; bên tai, Doãn nghe văng vẳng như có tiếng hỏi dịu dàng âu yếm :
- Con đã về?


0
Tháng ngày qua
 
Ðầu hiên, về phía trông ra vườn, một cái vườn trồng toàn roi, Minh và Giao cặm cụi ngồi học.
Bấy giờ đã quá trưa. Trời trong biếc. Trên giàn thiên lý, mấy chùm hoa sẽ đưa trước gió, một vài tiếng gà gáy xa xa.
Giao đang học, tự nhiên thấy có cái cảm giác rất lạ, chàng không ngửng đầu lên mà biết chắc có người đứng nhìn chàng. Giao gấp sách lại, quay mặt ra phía vườn, thấy vợ bạn đương đăm đăm nhìn mình :
- Hú vía! Chị Minh! Tôi thoáng thấy bóng trắng trắng lại ngỡ là ma.
Người vợ trẻ của Minh hơi có ý ngượng vì thấy Giao bắt gặp mình nhìn trộm, mỉm cười nói chữa :
- Hai anh em học chăm quá, người ta đến gần mà không biết.
Lúc bấy giờ nàng đứng tựa đầu vào cái ghế dài, như có vẻ mỏi mệt, cặp môi hơi hé, hai gò má phơn phớt đỏ và đôi mắt trong trẻo, sáng sủa như ánh nắng rực rỡ mùa hè. Nàng có cái vẻ đẹp lộng lẫy quá, khiến Giao không dám nhìn lâu, nhất là không dám nhìn hai con mắt của nàng, hai con mắt huyền bí như có cái mãnh lực vô hình làm cho Giao rạo rực, náo nức cả trong lòng.
Nàng đưa ra mấy cánh hoa nhài và bảo chồng :
- Này cậu, cây nhài hôm nọ tôi mua ở chợ về, có hoa rồi đấy, cậu lấy cốc cho nước vào để cắm hoa.
Minh, mắt vẫn để vào sách nói :
- Tôi rất ghét thứ hoa nhài. Ngửi nó đâm ra nhức cả đầu.
Nhưng Giao không nghĩ thế, chàng hiểu vì cớ gì mà người vơ. Minh đem hoa đến, chàng cảm động. Từ hôm nói chuyện với Minh rằng ở trên đời chàng không thích hoa gì bằng hoa nhài, thì chàng thấy vơ. Minh mua ngay cây nhài về trồng trong vườn, tưới xới săn sóc đến luôn luôn. Hôm nay cây nhài nở mấy bông hoa đầu, vơ. Minh ngắt hoa có cái ý nghĩa gì, Giao đã hiểu.
* * * * *
Ðã hơn một tháng nay, Giao cố sức chống lại với cái sức mạnh của ái tình, nó như ngọn sóng gió muốn lôi cuốn chàng đi. Chàng mới có mười bảy tuổi, cái tuổi còn non nớt lại gặp ngay mối tình mãnh liệt mà éo le.
Tuy Minh hơn Giao những bảy tuổi mà hai người cùng học một lớp ở trường Trung học, Giao trọ ở nhà một người quen trong làng N, nhưng vì bên nhà Minh có vườn mát mẻ nên thường hay sang cùng ngồi học với Minh, nhân tiện chỉ bảo giúp Minh, vì Minh học lực rất kém. Thế rồi ngày một ngày hai, khi đi lại, lúc ra vào, Giao cảm vì cái sắc đẹp rực rỡ của vơ. Minh mà xem chừng vơ. Minh cũng vì cái tình ngây thơ của một cậu học trò còn trẻ tuổi đối với mình.
Nhưng hai người cùng sợ, cùng rụt rè, không dám tìm cách để gặp nhau, nhưng cũng không nỡ xa nhau, cứ để mặc cho cái mùi hương nguy hiểm của ái tình nó mê đắm cả hai người.
Giao biết, biết là có một ngày kia chàng sẽ phạm vào tội lỗi đối với bạn, chàng biết là sẽ làm một việc rất xấu, nên chàng hết sức chống lại. Có khi chàng giữ hai, ba ngày không sang nhà bạn nhưng cái vẻ đẹp kia, đôi má hồng, hai con mắt sáng kia như có sức mạnh bắt chàng không thể nào quên được. Giao lại sang, tự an ủi mình rằng ngắm một người đẹp đã tội lỗi gì đâu.
Cứ mỗi lần Giao sang ngồi học với Minh thì người vợ hay lân la đến chỗ hai người nói chuyện vơ vẩn. Một hôm Giao sang học bên nhà bạn, thấy cửa đóng, gõ thì người vợ ra mở. Nàng thấy Giao làm ra bộ ngạc nhiên :
- À anh Giao! Tôi lại tưởng có người đến hỏi nợ, đã lo!
Rồi nàng cười, cười tít đi, đôi má lại càng đỏ, hai con mắt lại càng trong, khiến Giao cuống quít, không biết nói làm sao. Nàng vừa cài then cửa vừa nói :
- Hôm nay anh Minh đi vắng!
Rồi nàng nhìn Giao như dò ý tứ. Giao vội nói :
- Thế chị để tôi về thôi, mai sang.
- Về nhà bức chết, anh cứ vào mà ngồi học... việc gì.
Rồi nàng nhìn lên cây, vỗ tay nói một cách ngây thơ như đứa trẻ vui mừng :
- Roi chín rồi, để tôi lấy sào chọc mấy quả anh ăn. Ngọt, giòn, mát như đường phèn.
Nàng vừa nói vừa chép miệng, rồi làm bộ như nuốt nước bọt thèm, nhìn Giao cười.
Giao nhìn lên cây roi thấy trong đám lá xanh mấy chùm quả nặng trĩu, sắc da mát và hồng, như muốn trêu giục người ta hái xuống ăn ngấu ăn nghiến, lại nhìn đến người đàn bà đôi má hồng, tự nhiên trong trí chàng nảy ra một sự so sánh chùm quả ngon với người con gái đẹp. Trong lúc say đắm về cách cử chỉ của nàng, Giao không nghĩ gì cả, nhưng Giao sợ, sợ không thoát khỏi! Chàng biết chàng như con cá riết con đã mắc vào lưới, không tài nào thoát, nhưng cũng giẫy giụa trước khi chịu khuất phục.
Một lát vơ. Minh đi vào, tay cầm một chùm roi, tóc xõa xuống má, nhìn Giao hớn hở.
Giao đứng ngay dậy, thì nàng cũng vừa bước lại gần sát bên cạnh: bốn mắt gặp nhau. Giao nhìn nàng thấy nàng đổi khác hẳn mọi khi: cặp môi nàng mấp máy, dưới tấm áo mỏng, ngực nàng phập phồng, hai con mắt nhìn đăm đăm vào chàng có vẻ lẳng lơ, nồng nàn như đắm tình.
Một lát, nàng sẽ nói :
- Mời anh xơi roi...
Lúc bấy giờ Giao như người mất hồn, mặt nóng bừng, không nghĩ gì nữa, như bị hai con mắt đẹp huyền bí của nàng làm tê mê... Giao khẽ để tay lên tay nàng - tay nàng còn cầm chùm roi - nàng để yên không kéo ra, cúi đầu e thẹn. Bỗng tự nhiên, nàng giật mình kéo mạnh tay ra, lùi lại một bước, kêu :
- Con sâu! Trong quả roi có con sâu...
Giao nhìn, quả nhiên thấy trong một quả roi to nhất, đẹp nhất, có con sâu từ từ bò ra leo lên tìm đường thoát. Giao vội vàng ném quả roi ra vườn. Nhưng từ lúc đó, chàng như người ngủ mê mới tỉnh: con sâu trong quả roi đã làm cho chàng biết rằng chàng sắp phạm một tội xấu xa, mà trong lúc mê man vì sắc đẹp chàng không nghĩ tới. Chàng ném quả roi xong, quay lại thấy vợ bạn đương nhấc bức mành, bước vội vào nhà như người đi trốn. Giao thở dài, cắp sách về nhà trọ, và từ đấy, chàng không tới nhà bạn nữa.
* * * * *
Bảy năm sau... trong bảy năm đó vì việc nhà, Giao phải cách biệt hẳn Hà Nội, phiêu lưu nay đây mai đó: trên đường đời, chàng đã gặp biết bao nhiêu là mỹ nữ, nhưng chàng không sao quên được người xưa.
Bảy năm sau, nhân về Hà Nội, chàng thuê xe xuống làng N... để thăm người bạn học mà chàng phải xa cách, mà nhất là thăm người mà bảy năm về trước có cái sắc đẹp đã làm rung động tấm linh hồn ngây thơ của chàng.
Tình cờ lúc đó lại vừa đúng tháng sáu đúng mùa roi chín.
Tuy đã lâu năm, nhưng chàng nhận ngay được ngõ vào nhà bạn, cái cổng gỗ bây giờ đã cũ, mấy cây roi có to hơn, nhưng trong đám lá xanh mấy chùm quả nặng trĩu vẫn một sắc da mát và hồng như trước.
Chàng gõ cửa, thấy trong nhà có tiếng người đi ra. Cửa mở, một người đàn bà, tay bế con, thấy Giao buộc mồm kêu :
- Anh Giao!
Nàng nhận ngay ra được cậu học trò, bạn học của chồng ngày trước.
Nàng mừng quá, chỉ nói được thế thôi rồi đứng nhìn Giao từ đầu đến chân. Nhưng Giao trông nàng lấy làm lạ, ngạc nhiên, hơi ngờ ngợ. Chàng lãnh đạm hỏi :
- Bác trai có nhà không, bác?
Nàng vừa cài then cửa vừa nói :
- Nhà tôi đi vắng.
Giao bước vào thấy cảnh sắc vẫn nguyên như cũ: vẫn giàn thiên lý ở đầu nhà, dăm chùm hoa nở, vẫn cái án thư, hai cái kỷ ở đầu hiên, chỗ mà chàng vẫn ngồi học với Minh năm nọ.
Lúc ngồi nói chuyện, uống nước với vơ. Minh, Giao cố ý ngắm kỹ nàng, vì Giao không nhút nhát như trước mà không dám nhìn lâu nữa - nhưng bây giờ còn đâu cái đẹp nồng nàn, còn đâu đôi má hồng, hai con mắt trong trẻo sáng sủa như nắng rực rỡ mùa hè...... Tháng ngày qua... sắc đẹp tàn...
Nàng thẫn thờ nói :
- Chóng thật! mới ngày nào, bây giờ đã...
Nàng ngẩng nhìn lên tường thấy bóng mình in trong cái gương to để đấy, cái bóng một người đàn bà đứng tuổi, không có vẻ gì là vẻ thanh xuân, nàng chạnh tưởng tới cái sắc đẹp lộng lẫy khi xưa nay đã tàn. Nàng nhìn Giao, Giao nhìn nàng, hai người cùng một ý nghĩ như nhau.
Nàng buồn rầu, nhắc lại :
- Chóng thật!...
Rồi nàng cố gượng làm bộ vui tươi, bảo Giao :
- Bác đến may quá, vừa đúng mùa roi chín... để lấy mấy quả bác xơi.
Giao ăn roi nhìn nàng nói nửa đùa nửa thật :
- Roi vẫn ngọt, vẫn mát như đường phèn... nhưng bây giờ không có sâu nữa.
Rồi hai người cùng mỉm cười, cái mỉm cười chua chát, biết bao ý nghĩa, như nhắc hai người ôn lại chuyện xưa. Giao bùi ngùi nhớ lại cái mơ mộng ngày trước, cái mơ mộng yêu một cách thiết tha và không chánh đáng, một cái sắc đẹp mà bây giờ chàng mới biết là ảo mộng, mong manh không có giá trị gì!
Chuyện vẩn vơ một lúc, Giao đứng dậy xin cáo từ. Nàng cũng tiễn theo ra.
Lúc đi qua chỗ ngồi học ngày trước, chàng thấy trên án thư một cái cốc không có cắm mấy cành nhài mà lúc vào chàng không để ý đến. Mấy bông hoa nhài trắng như mấy cái nụ cười âu yếm nhắc lại trong trí Giao câu chuyện tặng hoa ý nhị năm xưa. Mấy bông hoa có lẽ vô tình cắm đó đã làm cho Giao có cái ảo tưởng rằng trong bảy năm nay, lúc nào nàng cũng còn nhớ đến cậu học trò, cậu học trò đã trót mê nàng vì cái sắc đẹp mà bây giờ không có nữa. Cái ảo tưởng ấy làm cho Giao man mác trong lòng.
Trước khi từ biệt, Giao nhìn thẳng vào mắt nàng như để tỏ lời cám ơn nàng trong bấy lâu vẫn để bên lòng một chút tình thương yêu chàng, chút tình ấy kín đáo hơn cái sắc đẹp kia, nhưng lâu bền hơn.
Tháng ngày qua... sắc đẹp tàn... nhưng cái hương thơm của tình thương yêu tuyệt vọng, u uẩn của nàng đối với Giao còn phảng phất không bao giờ phai.

0
Mười năm qua
 
Ngày 25 tháng 10 năm 1924
Anh Trung yêu dấu,
Chắc anh còn nhớ mấy giọt nước mắt của em đã thấm ướt tay anh đêm qua. Anh hẳn không ngờ rằng đêm qua lại là đêm em phải vĩnh biệt anh, vĩnh biệt người đầu tiên đã cho em biết thế nào là tình yêu ở đời. Anh hỏi em vì cớ sao mà khóc, thì em chỉ mỉm cười, nũng nịu đáp lại: vì yêu anh quá, vì sung sướng quá. Anh có ngờ đâu em khóc vì em phải xa anh, vì em đã quyết phải rời anh ra.
Vâng, em cần phải xa anh. Em sẽ đi, đi thật xa. Anh đừng tìm kiếm em làm gì vô ích, vì không bao giờ, không bao giờ nữa, anh có thể gặp được em, gặp được Lan Hà yêu quý của anh nữa. Anh chỉ biết rằng ở một nơi xa xôi mà không bao giờ anh đi tới, em vẫn dùng những ngày tàn sót lại để hối hận những sự lầm lỗi đã qua và để luôn luôn tưởng tới anh...
Anh ạ, em không muốn làm hại đời anh, vì vậy nên em phải miễn cưỡng xa anh, để anh “lập lại cái đời niên thiếu của anh”.
Xin anh tha lỗi cho em đã làm anh đau khổ, xin anh tha lỗi cho con Lan Hà khốn nạn này đã đến làm vẩn đục quãng đời ngây thơ, trong sáng của anh. Em chỉ là một cô gái giang hồ dầy dạn phong trần mà ai cũng có thể khinh được. Nhưng anh thì anh chỉ thương em mà không nỡ khinh em. Vì gái giang hồ này đi tỉnh ngộ biết mình là hòn đá chắn ngang bước đường tiến thủ của một gã thiếu niên chứa chan hy vong về tương lai như anh... vì không muốn làm hỏng đời một người yêu, gái giang hồ nay đã biết hy sinh cả hạnh phúc ái tình.
Thôi xin vĩnh biệt anh và anh cho phép em hôn anh một lần cuối cùng. Cái hôn ở ngoài ngàn dặm, em chắc nó tinh khiết, thanh cao hơn những cái hôn tục tĩu khác trong những giờ phút điên rồ.
Xin vĩnh biệt anh... không gặp anh nữa, nhưng xin anh nhớ cho rằng ở nơi phương trời mù mịt không lúc nào là em không để hồn nhớ tới anh...
Sang năm, hễ lúc nào em thấy lá thu rơi, gió heo may thổi như hôm nay thì em sẽ viết thư cho anh để nhắc anh nhớ lại trong giây phút cái tình của em đối với anh, cái tình trong sạch trong cuộc đời nhơ nhuốc của em.
Em sống ở đời chỉ còn mỗi một cái vui sướng đó thôi.
Người yêu anh: LAN HÀ

Ngày 25 tháng 10 năm 1925
Anh Trung yêu dấu,
Hôm nay em thấy gió heo may thổi ở ngoài vườn nắng... lá vàng rơi. Một năm đã qua.
Em viết thư để nhắc anh nhớ đến em giây lát, chỉ giây lát thôi, vì em không muốn làm huyên náo cái đời yên tĩnh của anh.
Một năm qua, em chắc đã đủ làm cho anh dịu được vết thương cũ, hồi đôi ta mới vĩnh quyết. Em muốn anh thỉnh thoảng tưởng nhớ đến em, đến người bạn gái ở chốn xa xôi này, nhưng em ao ước rằng lòng tưởng nhớ đó không đến nỗi làm buồn anh nhiều quá, mà chỉ cho anh biết rằng ở đâu đó có một người đương tha thiết yêu anh, và mong mỏi cho anh được sung sưóng.
Chắc anh vẫn thường tự hỏi: nhưng Lan Hà bây giờ ở đâu? Em dám chắc rằng không bao giờ anh có thể biết được, vì em ở một chốn quê hẻo lánh, mà không đời nào anh bước chân tới. Hiện nay em sống một đời bình tĩnh lạ thường. Em đã đổi khác trước nhiều, giá anh có tình cờ trông thấy em, anh cũng không nhận ra. Em muốn trong ít lâu - có lẽ độ mười năm - sống một đời giản dị, trong sạch để xóa nhòa hẳn cái quá khứ nặng nề kia đi, vì biết đâu sau này em lại không có cái hy vọng được gặp anh, nhưng bây giờ thì chưa thể được. Bây giờ thì em chỉ có thể trở lại với anh trong tưởng tượng mà thôi, và gặp gỡ anh trong những giấc mơ ngắn ngủi. Bây giờ thì em chỉ còn có cái hy vọng đợi đến mùa thu sang năm...
LAN HÀ

Ngày 25 tháng 10 năm 1934
Anh Trung,
Mười năm qua...
Đã mười năm trời... em xa anh.
Đã mười năm trời... em rời bỏ cõi trần.
“Em rời bỗ cõi trần”?...
Vâng, Lan Hà của anh chết rồi... chết đã mười năm nay rồi.
Nếu anh dở mười lá thư của em đã gửi cho anh, anh sẽ thấy cùng một nét chữ viết, cùng một màu mực, cùng một thứ giấy và anh sẽ rõ sự lạ lùng kia.
Phải, chỉ mới đêm qua chúng ta chia tay nhau. Mới đêm qua gục đầu vào ngực anh, em còn thổn thức, mặt lệ sầu tuôn thấm ướt tay anh.
Mới đêm qua, sau khi biệt anh, em về thu xếp đồ đạc như sắp đi xa... rồi sáng hôm sau, mặc một chiếc áo nâu cũ kỹ để không ai nhận ra được em nữa, em vào nằm đợi chết... trong nhà thương.
Trong mấy tháng em vẫn giấu không cho anh biết rằng em mắc bệnh lao, không có hy vọng gì chữa khỏi. Đó là thứ bệnh thông thường để kết liễu đời những gái giang hồ như em.
Rồi nằm trong nhà thương, em dùng những ngày cuối trong đời em để viết luôn mườii bức thư này. Em dặn một ngươi thân, cứ theo đúng ngày, tháng, năm gởi tới cho anh.
Thế rồi mai, kia, cùng với lá vàng rơi... em về cõi chết, để lại trên đời một tập thơ thay người. Bức thư cuối cùng em viết từ “đêm nay” mà mãi... “ngày nay” anh mới đọc. “Ngày nay” tức là... mười năm về sau của “đêm nay”.
Mười năm sau em mới ngỏ cho anh biết rằng em lừa dối anh. Xin anh tha lỗi cho em và xem những dòng sau đây, anh sẽ biết vì cớ gì em lừa đối anh.
Đau lòng cho em quá! Đến lúc được cái hạnh phức anh yêu đến, yêu bằng một thứ tình khác xa với những thử tình giả dối kia, thì lại là lác em phải từ giã cõi đời. Em đau lòng, rồi em ghen với hết cả mọi người được sung sướng, em không muốn cho anh biết là em đã chết, để mong kéo dài cuộc tình duyên này mười năm nữa.
Nhìn lại cuộc đời rỗng không, hiu quạnh của em, nghĩ đến nay mai phải về chốn “nghìn năm yên lặng”, không còn ai nhớ đến nữa, em thấy lạnh cả người, em sợ lắm. Mười bức thư này sẽ an ủi em khi nhắm mắt, vì, em chắc rằng ở trên đời, mười năm sau ít ra cũng còn có anh tưởng nhớ đến em. Bây giờ biết sự thực rồi, anh có thể khinh em được, khinh em mà vẫn phải thương em. Em chỉ cốt có thế thôi, cốt còn có người thương đến em mười năm sau khi em chết. Người đó không là anh thì còn là ai?
Em không cần giấu chỗ ở của em nữa. Chốn quê hẻo lánh em nói trong những bức thư trước ở ngay gần anh... anh cứ xuống nghĩa trang N.T. và tìm đến mộ nào bia có đề những chữ: Nguyễn thị Kim 25 tuổi, mất năm 1924. Chỗ ở cuối cùng của em đó.
Nhưng lúc anh nhận được bức thư này, thương nhớ đến em mà xuống thăm, em chỉ sợ mấy chữ bia đã mờ rồi, anh không nhận ra được mộ em nữa.
Thôi anh Trung yêu dấu, em biệt anh... biệt anh hẳn. Từ nay không còn có những bức thư của em cứ năm năm mỗi khi thu sang lại đến làm bận rộn đời anh nữa.
Nhưng mỗi năm hễ anh thấy lá vàng rơi, thấy hơi gió heo may đến mơm man tóc anh, má anh, thì xin anh coi nó như cái hôn âu yếm của người đã khuất từ lâu, cái hơi thở cuối cùng của Lan Hà năm xưa.
Người yêu anh: LAN HÀ

0
Giết chồng báo thù chồng
 
Liệt nức tiếng là xinh nhứt làng Nghi Hồng. Ðôi khi quán sớm, chợ chiều, cái sắc đẹp tươi tắn, cái vẻ duyên mặn mà của nàng đã làm xiêu lòng bao khách đi đường.
Nhà nàng rất nghèo. Cha mất sớm, nàng phải lo làm ăn để phụng dưỡng mẹ già, nên đã hai mươi tuổi mà không tưởng gì tới đường chồng con. Mẹ nàng nghĩ đến việc ấy vẫn áy náy không an tâm; bà mẹ phần nghĩ đến con, phần nghĩ đến mình nên hai đường chưa dứt. Người trong làng thì không ai xứng mà xa xôi thì không tiện. Năm qua tháng lại mẹ con vẫn sum vầy vui vẻ.
* * * * *
Tổng bên kia, cách làng Liệt một con sông, có một ông chánh tổng tuổi còn trẻ, người rất hào hoa, dân làng Nghi Hồng vẫn thường sang vay mượn. Ông chánh vốn có mươi mẫu ruộng bên Nghi Hồng, sợ đi lại không năng nên có nhờ người làng làm mối cho một người vợ lẽ để trông nom ruộng nương thay. Họ mời ông sang xem mặt Liệt, thấy nàng có chút nhan sắc thanh tao bằng lòng ngay.
Liệt nghĩ mình nhà nghèo, cũng có kiếm được tấm chồng danh giá, thấy ông chánh là người tử tế, còn trẻ tuổi, tuy phận lẽ mọn nhưng được ở gần mẹ già lại có sẵn ruộng nương của ông chánh cày cấy làm ăn, nên ngỏ ý nhận lời.
Có cheo cưới hẳn hòi, song chỉ riêng bên làng Nghi Hồng, còn bên vợ cả thì không ai biết. - Ông chánh thỉnh thoảng lại sang dâm bữa nửa tháng, lấy cớ sang thăm ruộng, thu tiền. Hai vợ chồng rất là tương đắc.
Người bên Nghi Hồng sang vay thóc gạo, vợ cả ông chánh thường bắt nọn :
- Các ông xem bên Nghi Hồng có người nào nom được và chịu khó thời các ông làm mối cho một người để trông nom ruộng nương bên ấy.
Mọi người đều thưa :
- Dạ thưa bà, nghĩ thế rất phải nhưng con gái làng chúng cháu thời toàn xấu như ma, đen như bồ hóng, chả có người nào tươm tất trông được cả. Nếu có thì chúng cháu xin hết lòng.
Người vợ cả thấy nói vậy, nên không nghi ngờ gì nữa. Liệt cũng được yên thân, mà tình chồng vợ ngày đêm khắng khít.
Bỗng một hôm nhà ông chánh bị cướp vào đốt sạch cả. Khi cướp tẩu thoát, ngọn lửa còn rực trời, người nhà không thấy bóng ông chánh, bà chánh và người con dâu, lấy làm lạ đổ xô đi tìm cũng biệt tăm. Người nói bị cướp bắt đi, người đoán chết trong đống lửa.
Hai hôm sau, người ta thấy xác người vợ và người con nổi trên sông, còn ông chánh, ông chánh cũng không còn sống vì có người tìm thấy cái áo của ông vướng vào bờ sậy.
Có người sang báo tin cho Liệt biết, nàng cứ thờ ơ như không. Mẹ nàng bảo dẫu sao cũng là vợ chồng, nên sang bên ấy chịu tang mới phải.
Nàng thưa :
- Sự cưới xin chỉ riêng bên này biết mà thôi. Con sang lễ, nhận làm vợ để chịu tang người nhà bên ấy ai biết con là ai, ngộ lỡ họ đuổi ra, có phải là nhục không? Xin mẹ cứ để con không sang là hơn.
Người trong làng trước khen Liệt thế nào bây giờ lại chê như thế. Ai ai cũng nói :
- Cái con ấy thế mà bạc, ăn ở với người ta gần một năm trời, bây giờ cứ thờ ơ, lạnh nhạt như không. Con người vô tình quá.
Liệt nghe thấy lời mai mỉa cứ thản nhiên nét mặt lại tươi lên bội phần, cười đùa luôn.
Ði đâu nàng ăn mặc cho thật gọn gàng đẹp đẽ, cái khăn vuông thắt thế nào cho thật xinh, săn sóc làm dáng để tô điểm cái vẻ đẹp sẵn có. Bà mẹ cũng không hiểu vì sao con mình lại vô tình đến thế.
* * * * *
Mấy tháng sau, Liệt bỏ nghề dệt vải, làm nghề chăn tằm, ngày ngày đi hái lá dâu các làng quanh đấy - trước còn mua dâu bên này sông, dần dần qua đò sang bên làng ông chánh. Lân la mỗi nhà mua một ít, hễ gặp bà cụ nào ngồi rỗi thì nàng đến vẩn vơ chuyện hão.
- Cụ này, năm ngoái chúng cháu đến nhà ông chánh mua dâu thấy nhà ngói cây mít san sát, mà bây giờ cháu đến thì không biết sao trông tiều tụy thế?
- Ấy, năm ngoái nhà ông ta bị cướp đốt phá, nó lại giết cả hai vợ chồng với đứa con.
- Khốn nạn! Ông ta vẫn là người tử tế, ai ai cũng có bụng mến.
Liệt lại đến mua dâu làng khác, gặp mấy người lại kề cà mở túi trầu nói những chuyện đâu đâu, rồi mới đá động đến :
- Gớm nhà ông chánh bây giờ cướp phá tan tành không còn gì. Tôi đến đấy mua dâu nghe họ nói đám cướp ấy to lắm. Các quan cho người về dò xét cũng không ra, chuyện ấy lại lỉm đi. Thương hại ông chánh người tử tế mà bị cướp nó giết.
- Cướp gì đấy, lại người trong tổng nó thù nó giết chớ gì - cướp với kiếc gì...
- Ấy chết bà nói khẽ chứ... mình dám đâu chắc, ngộ lỡ thì oan gia.
Bà kia lại càng nỏ mồm :
- Ở đây ai chẳng biết, còn phải giấu diếm gì... Chỉ có lão Bá Mịch làng Ngang. Hai nhà ấy họ vẫn thù hằn nhau đã lâu, nó cho mấy đứa đầy tớ giả vờ làm cướp giết phăng đi... ai biết đó là đâu.
- Sao bảo có mật thám về xét.
- Mật thám về mà làm gì. Biết, nhưng tang chứng không có.
Bây giờ Liệt chỉ còn tìm cách gần lão Bá Mịch.
Nàng lại ngày ngày cắp rổ đi mua dâu, gặp ai cũng than thở :
- Ðộ này túng quá, nghe nói có cu. Bá bên này, muốn sang vay mượn ít đồng mà không biết có ai quen đưa đến.
Họ mách có nhà bà Hậu là thân với ông Bá lắm. Hôm sau Liệt đến mua dâu nhà bà Hậu đáng độ hai, ba xu thì trả tăng lên bốn năm xu. Ngày nào cũng đến, dần dần không mặc cả, cứ hái xong là trả tiền về. Có khi lần khân ở lại nói chuyện, thấy việc gì thì làm.
- Cái sân này rác quá, bà đưa chổi cháu quét đỡ.
- Cối thóc này xay dở, bà đưa cháu xay một lúc thì xong chứ gì.
Liệt làm gì cũng nhanh nhẹn thoăn thoắt, bà Hậu thấy vậy đem lòng mến có khi sẵn cơm thì giữ lại ăn cơm, lâu lâu thân như người nhà. Hỏi đến cha mẹ nàng thì nàng nói cha mẹ đã mất lâu, ở với chú thím tận dưới làng Ðoài.
Một hôm về buổi chiều, bà Hậu thấy Liệt đến, mang cái khăn gói to, lấy làm lạ, hỏi thì nàng khóc như mưa, vật mình than thở :
- Chú thím tôi định ép tôi lấy một đứa rất hèn hạ, chỉ đáng xách dép cho tôi mà thôi. Cưỡng quá, tôi phải bỏ nhà đi, không mặt mũi nào mà lấy thằng ấy được. Bây giờ tôi đi đâu không biết, nhưng thế nào cũng phải đi. Tôi thấy có bà là chỗ tử tế nên đến đây chào bà để đi, mà đi phen này thời không biết có về nữa không.
Nói xong lại khóc, lại nói, thật là thảm thiết.
Bà Hậu mọi lần thấy nàng vui vẻ, nay thấy nàng như vậy động lòng thương, nhất định giữ lại không cho đi đâu. Liệt khăng khăng nhất định đòi đi, bà Hậu phải giấu kín khăn gói mới giữ được nàng ở đây.
Ở đấy được hơn một tháng, thấy bà Hậu nói chuyện sang vay thóc bên cu. Bá nàng xin đi theo gánh thóc.
Trước khi đi, nàng vào trong buồng trang điểm giấu bà Hậu.
Lúc ra ngõ thấy bên giậu có bông hoa hồng mới nở, Liệt bỗng nảy ra một ý hay, liền hái trộm bông hoa, trở về buồng, vò nát mấy cánh hoa, rồi xoa lên má: đôi má hồng như tăng cái sắc của nàng lên nhiều lắm.
Ông bá đương nằm ở sập thấy bà Hậu vào vội ngồi dậy. Ông vội ngồi dậy không phải vì bà Hậu nhưng chính vì thấy bóng Liệt thấp thoáng theo sau. Ông bá mới trông thấy đã mê mệt. Còn Liệt bước vào khúm núm, e lệ ngồi ở tràng kỷ, lát lát lại đưa mắt nhìn trộm ông Bá, nửa như ngây thơ, nửa như lơi lả.
Ông Bá góa vợ đã lâu, ý muốn tìm người vợ kế, nên hôm sau mời bà Hậu lên chơi, hỏi xem Liệt là ai, người ở đâu, và nhờ bà Hậu lo giùm cho, sẽ tặng riêng rất nhiều tiền.
Bà Hậu thường đêm khuya, tỉ tê nói chuyện khuyên lơn Liệt :
- Chẳng lẽ cô cứ ở vậy sao? Lấy người trai tơ thường nhà nghèo khó cả, vả lại lấy phải những đứa vũ phu, lỡ xảy việc gì nó thượng cẳng chân, hạ cẳng tay thì khổ. Giá đi lấy lẽ những người danh giá giàu có mà con, thời tôi tưởng cũng là sung sướng lắm chứ.
Liệt đáp :
- Bà cứ nói chuyện không đâu, những người ấy thời ai lấy đến những hạng như chúng cháu.
Bà Hậu biết nàng thuận, liền đem việc ông Bá nói lại. Liệt trước còn khăng khăng cự tuyệt, tìm cớ chê bai, sau thấy bà Hậu nói mãi, cũng làm bộ xiêu dần.
* * * * *
Thế là Liệt vài tháng sau đã nghiễm nhiên là vợ ông Bá. Nhưng từ hôm cưới trở đi, hễ ông Bá vào buồng thì nàng ôm bụng kêu trời kêu đất :
- Ông ra ngay, không thời nó đâm chết tôi bây giờ, tôi đau lắm... kìa có ba đứa nó theo sau ông, hai người đàn ông và một người đàn bà, nó đương cầm dao sắp đâm tôi đấy, mau lên không thời chết cả bây giờ.
Một hôm Liệt đón ngõ gọi một người thầy bói vào xem, có cả ông Bá ngồi đó.
Ông thầy bói gieo quẻ, nói :
- Nhà này như có oan hồn lẩn quất, phải lập đàn giải thoát không thì tai họa (hôm trước Liệt đã có cho tiền và dặn phải nói như thế).
Lúc thầy bói đi rồi, Liệt gọi ông Bá lại, rươm rướm nước mắt, nói :
- Ông muốn cho tôi sinh nở với ông, thời phải lập đàn giải thoát cho oan hồn ấy. Việc là việc hệ trọng, ông không nên coi thường. Nếu không thế thì cho tôi về thôi, chứ vợ chồng với nhau thế này thì cả hai đều cực cả. Bây giờ làm chay cho oan hồn đi nơi khác thì mới mong vợ chồng ăn ở với nhau được.
Liệt nói xong, lấy tay ôm mặt khóc nức nở.
Ông Bá nói :
- Oan hồn nào, chỉ cái thằng Chánh ở Cốc chứ gì, ừ làm chay thì làm chay.
Liền cho người đi thỉnh các sư ở vùng ấy đến, lập đàn chay giải oan, tiếng chiêng, tiếng trống rộn rịp ba bốn ngày trời. Người trong làng rủ nhau đến xem như hội.
Bỗng một hôm, Liệt đương ngồi đối diện ông Bá, giật mình như vừa nghĩ ra việc gì hệ trọng rồi nói với ông Bá :
- Tôi quên mất, bây giờ mới nghĩ ra. Ừ thì lập đàn, nhưng cúng ai, cúng ai mới được chứ?
Chuông trống long tong cả ngày thế này thì còn có nghĩa lý gì nữa.
Rồi nàng ghé vào tai ông Bá nói :
- Việc không nên hở cho ai biết. Vậy ông phải làm tờ sớ viết tên tuổi những oan hồn ấy.
- Nhưng đừng cho người ngoài biết mới được.
- Chính vậy, ông viết xong, ông đưa tôi để tôi đem lên cho vào hòm sớ, rồi chính tay tôi đốt, việc này không thể để các nhà sư được, lỡ lộ thì lôi thôi.
Tối hôm ấy, ông Bá lấy giấy viết tên tuổi cẩn thận gập lại đưa cho vợ. Liệt đã gấp sẵn một tờ giấy như thế, lúc lên đàn, gặp khi bối rối, nàng bỏ tờ giấy có chữ ông Bá vào trong yếm, đem tờ giấy trắng ra đốt.
Sáng hôm sau, ông Bá không thấy Liệt đâu, cho người vào buồng xem thì buồng không, đi hỏi khắp các nhà quen cũng không ai gặp Liệt cả.
Trong lúc đó, trên con đường đá, Liệt nhẹ bước, cắm đầu đi thật nhanh.
Ở nhà, ông Bá đợi mãi... đến trưa không thấy nàng về ăn cơm... Ðến chiều... lính trên phủ về có giấy bắt ông Bá giải đi. Các sư lục tục giải tán. Xôi, nến, chuối, vàng, oản, lổng chổng khắp mặt đất. Tin ông Bá bị bắt, vợ ông Bá trốn, đồn rầm khắp nơi.
Lão Bá lên đến phủ, quan hỏi còn một mực chối, đương gân cổ cãi, thì ở buồng bên cạnh, Liệt lững thững bước ra. Lão Bá giương mắt nhìn tưởng mình chiêm bao, định há miệng nói, thì ông phủ giơ ra trước mặt một tờ giấy trên có mấy dòng chữ. Lão Bá thấy rõ chữ mình mới viết đêm qua, không thể cãi vào đâu nữa, kêu lên :
- Trời ơi! nói giết tôi rồi!
Mấy hôm sau, lính giải lão Bá về chỉ chỗ chôn ông Chánh. Liệt gần hai năm nay nuốt lệ, gượng vui, bấy giờ trông thấy xương chồng không sao cầm được nước mắt, than khóc rất là thảm thiết.
Những người đi xem và người làng xưa kia vẫn chê nàng bạc bẽo, vô tình, thấy thế ai cũng cảm động.

0
Đầu đường xó chợ
 
Đầu đường xó chợ!
Từ năm Thầy tôi mất, anh chị tôi rời bỏ chốn quê nhà đi tha hương cầu thực, đến ở một túp lều tranh ở ngay đầu chợ C.. Bắt đầu từ đó, tôi bỏ cái đời cũ là cái đời một cậu con quan ăn sung mặc sướng, bước chân vào một cuộc đời riêng mới cho tôi: tôi gọi là một cái đời đầu đường xó chợ. Năm ấy tôi mới mười ba tuổi.
Cái xã hội xó chợ ấy khác hẳn với cái xã hội quý phái của tôi ngày trước: nhà gia đình bác Tèo bán bánh đúc, vợ chồng bác xã Tắc kéo xe, mẹ con nhà hai Lộc bán nồi đất.
Từng gia đình nho nhỏ lúc nhúc trong những gian nhà xiêu vẹo, tối tăm, bẩn thỉu. Trước nhà một cái rãnh dài, đầy những vỏ dưa, lá chuối, giẻ rách.
Thật là một xã hội xấu xa, mà xấu xa vì nghèo khổ quá. Tự nhiên tôi đem lòng mến những đứa trẻ cùng trạc tuổi tôi của những gia đình hèn hạ ấy: Cái Nhớn, thằng Cu, con Tẹo là bạn tôi cả. Tôi đã trông thấy chúng nó ăn cả bữa cơm có dúm muối, vài quả cà thâm hay đĩa rau sam luộc; tôi đã thấy chúng nhặt những gốc mía người ta vứt đi mà chia nhau hít cho đỡ thèm, nên tôi thương. Chiều mát tôi đi với chúng ra đồng, xem chúng đặt những cái lờ vào các lạch con để bắt tôm cá. Chúng được nhiều tôm cá, tôi cũng mừng hộ và tôi đợi đến bữa cơm của chúng để xem trong mâm có được thêm đĩa cá rôi kho hay mấy con tôm đỏ nào không.
Người mà tôi quý nhất hồi đó là chị Hiên, vợ một người phu xe ở xế cửa nhà tôi.
Nguyên anh chị tôi được lĩnh một cái ty bán thuốc phiện, nên chị Hiên thường lui tới mua thuốc cho chồng. Lần đầu tôi trông thấy chị ta, tôi đem lòng thương hại ngay. Bây giờ tôi mới rõ rằng tôi có cái cảm tình đó vì chị Hiên còn trẻ, xinh và có duyên, lại lấy phải anh chồng nghiện ngập, xấu xí.
Nhưng chị Hiên thì không nghĩ như tôi. Cả ngày chỉ cặm cụi ngồi đan lờ trong khi chồng đi kéo xe vắng. Hôm nào chị bán lời được một hào, chị mua cho chồng một hào thuốc thì chị lấy làm vui vẻ, sung sướng lắm.
Chị không nghĩ gì đến thân chị, có cái ao nâu đã bạc, đã vá tay, vá vai, vá lưng mà chị không chịu để dành tiền may áo mới.
Trí non nớt của tôi không sao hiểu được các hành động của chị đối với một người chồng nghiện ngập, hèn hạ như thế.
Một hôm, tôi sang bên nhà chị, thấy chị ngồi gục đầu vào cánh tay, bên cạnh mấy chiếc lờ đan dở. Tôi vào chị ngẩng lên nhìn, hai con mắt như có ngấn lệ. Tôi vừa định quay ra thì chị tay vẫy tôi lại gần nói khẽ :
- Này cậu, cậu có một hào, cậu cho tôi vay vài hôm tôi trả.
- Tôi làm gì có tiền cho bác vay! Bác vay làm gì?
Chị Hiên lẳng lặng chỉ vào trong buồng. Tôi hỏi :
- Bác trai đau phải không? Ốm hay sao mà rên dữ thế?
- Cậu ạ, hai ngày hôm nay, nó lên hai cơn sốt rét, không đi kéo xe được. Nhà không có tiền, tôi phải nhịn cơm từ hôm qua, nhưng nguy nhất là hết tiền mua thuốc. Ðã ốm mà cơn nghiện lên thì chết mất. Hay cậu về nhà ăn cắp ở nhà một hào chỉ cho tôi vay.
Tôi mỉm cười, lắc đầu :
- Chiều tối bác mang tiền lại mua thuốc, tôi thêm cho ít nhiều thì họa may... còn tiền thì tôi không thể nào có được.
Vừa lúc ấy con gà trống to của anh chị tôi nuôi lởn vởn đến bên cạnh mẹt vừng của chị Hiên phơi trước cửa. Chị Hiên tay xua con gà miệng nói đùa :
- Giá được con gà này mà bán thì chồng tôi tha hồ hút.
* * * * *
Ðã khuya, nhà tôi đóng cửa đi ngủ, bỗng có người gọi mua thuốc.
Tôi nhanh nhẹn cầm cây đèn Hoa Kỳ ra vì tôi biết chắc đấy là chị Hiên mua thuốc cho chồng.
Qua khung cửa bán thuốc, một cái bàn tay thò vào cầm một cái vỏ hến trong có một hào chỉ đã nhẵn mặt. Chị tôi cầm lấy đồng hào nhìn đi nhìn lại rồi nói :
- Ðưa hào khác thì bán, hào này nhẵn mặt lắm không tiêu được.
Tôi lo lắm, và tôi chắc chị Hiên đứng ngoài còn lo gấp mấy. Tôi vội bảo chị tôi :
- Thôi, chị cứ nhận cho người ta, mai trả nhà đoan cũng được.
Tôi không dám nói rõ vì tôi biết chị tôi ghét vợ chồng nhà này lắm.
Khi chị tôi cân thuốc xong, quay lưng đi, tôi vội cầm cái que thuốc rỏ thêm vào trong hến một giọt. Lúc đưa cho chị Hiên, tôi bảo khẽ :
- Thêm cho rồi đấy nhé.
Tôi vừa đóng xong cái cửa bán thuốc thì ở ngoài bỗng có tiếng kêu :
- Chết tôi rồi, cậu cho mượn cái đèn, đổ hết cả rồi!
Tôi đưa đèn ra xong rồi nhìn qua khe cửa thấy một cảnh tượng không bao giờ tôi quên được: hến thuốc đổ sấp xuống đất, thuốc bắn tung ra thành từng chấm đen nhánh. Chị Hiên cúi xuống lật cái hến lên; cái hến chỉ còn rây một ít thuốc; trong lúc hấp tấp chị lấy ngón tay quệt thuốc dưới đất cho vào hến, nhưng thuốc lẫn cả với đất còn hút gì!
Không làm sao được, chị nhặt cả những hòn đất có rây thuốc để vào bàn tay - rồi chị cứ ngồi đấy khóc thút thít. Sau thấy chị tôi giục đem đèn vào, tôi phải để mặc chị Hiên ngồi khóc trong bóng tối. Tôi vừa đặt mình xuống giường nằm thì vẳng có tiếng người cãi nhau, tôi chắc là ở nhà chị Hiên, chồng chị đương đánh mắng chị ta.
Sáng hôm sau, tôi sang nhà chị Hiên sớm, thấy chị ngồi dựa vào tường, đầu tóc bù xù, vẻ người mệt mỏi, trên trán có một chỗ sưng tím lên. Tôi không thấy cái lờ nan đan dở để đấy, liền hỏi :
- Bác bán lờ đi rồi phải không?
- Không, tôi cất ở dưới bếp.
- Thế hào chỉ hôm qua?
Chị ta thấy tôi hỏi đường đột, nhìn tôi có vẻ sợ hãi, nói một cách hoảng hốt :
- Tôi vay của... Không! người ta trả nợ tôi.
- Bác mà có người nợ tiền?
- Ấy nợ cũ... đã lâu.
Vừa nói đêm đấy thì nghe bên nhà tôi có tiếng người nói to, con nhỏ nhà tôi chạy ra ngơ ngác, như tìm một vật gì. Tôi hỏi thì nó trả lời :
- Nhà mất con gà, con gà trống thiến to nhất...
Chị Hiên hỏi tôi :
- Con gà nào thế cậu nhỉ?
- Ấy con gà hôm qua nó sang đây mổ vừng của bác ấy.
Chị Hiên thốt nhiên nói :
- Chết tôi rồi! Gà nhà cậu?
Tôi hỏi :
- Làm sao mà chết?
Chị Hiên luống cuống như định nói lại thôi, nhưng cái trí non nớt của tôi đã hiểu rõ, đã đoán ra hết. Tôi ngắm lại chị ta thấy vẻ mặt tái mét, nửa vì đói, nửa vì lo mà tôi đem lòng thương hại vô cùng. Vì hết lòng với chồng phải đi ăn trộm gà lại bị chồng mắng. Tự nhiên tôi muốn tìm cách chống chế cho người đã ăn cắp gà nhà tôi. Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo chị ta :
- Ðược! Bác đừng lo, bác để mặc tôi!
Rồi tôi về nhà chạy thẳng ra cổng sau nhìn xuống sông, bảo chị tôi rằng :
- Nhà mất gà phải không, thôi đừng tìm nữa vô ích, hôm qua tôi thấy con gà giống con gà nhà ta đậu ở dưới thuyền buôn nồi đất. Bây giờ họ đi họ cuỗm đi rồi. Còn biết ai mà hỏi.
Tôi lấy làm tự đắc rằng đã tìm ra một kế hay và rất mừng cái kế đó hiệu nghiệm, vì chị tôi coi như mất hẳn con gà rồi, không cho người đi tìm nữa.
Tôi còn bé không hiểu rằng giúp đỡ một người ăn cắp thế là tốt hay xấu, tôi chỉ biết rằng trong lòng tôi lúc bấy giờ vui vẻ lắm, vui vẻ vì cứu thoát được một người khổ sở, đáng thương.
Về sau, tôi càng ngày càng cách biệt với cái xã hội đầu đường xó chợ ấy. Ðến nay đã gần hai mươi năm, cái cảnh đời cũ đã lờ mờ trong trí nhớ, nhưng câu chuyện của chị Hiên thì không bao giờ tôi quên được.
Cái đời đầu đường xó chợ ấy ngay từ thuở còn nhỏ đã dạy cho tôi hiểu rằng: muốn cho người ta dễ có lòng thiện thì phải làm thế nào cho người ta khỏi nghèo khổ, mà một xã hội nghèo khổ thì bao giờ cũng dễ thành một xã hội xấu xa.

0
Hai cảnh ngoài phố
 
I    Lòng tử tế

Trời vừa mưa xong, đường phố lầy lội. Bên cạnh những cửa hàng đầy tơ lụa màu rực rỡ, Sửu cúi đầu đi thong thả, hai con mắt đỏ ngầu và đầy rử nhìn thẳng ra trước, không để ý đến một vật gì. Trông hình dáng chỉ biết đó là một người nghèo khổ, chứ không hiểu thuộc về hạng nào. Có lẽ người đó đã làm đủ nghề: đi ở, kéo xe... nhưng hiện nay chắc không có nghề gì, vì người bẩn thỉu và ốm yếu quá. Hai con mắt nhìn một cách dại dột, mồm bao giờ cũng há hốc và hai bàn tay lúc nào cũng run run bảo cho ta biết rằng người đó chỉ còn có việc là đi hành khất để chờ ngày vào nhà điên.
Một cơn gió thổi mạnh, Sửu vội giơ tay lên giữ lấy cái mũ đội trên đầu, một cái mũ dạ màu xám rộng thênh thang đội úp xuống che gần khuất hai con mắt. Muốn tránh một người quét hè, Sửu đi rẽ xuống đường. Vừa lúc đó một người mặc âu phục rất sang, đầu tóc chải mượt và đôi giầy bóng loáng, đi vội ở trong một hiệu thợ cạo ra, giơ tay vẫy một cái xe cao su. Vì hai bên cùng vội cả, nên người ăn mặc sang trọng và người ăn mặc rách rưới đụng vào nhau một cái thật mạnh. Người vận âu phục kêu lên một tiếng to, rẩy Sửu ra, mắng mấy câu theo lệ thường, rồi toan bước lên xe. Nhưng đến lúc nhìn xuống thấy mũi giầy của mình bị bàn chân đầy bùn của người kia làm bẩn be bét, thì chàng ta không giữ nổi giận được nữa. Chàng giơ thẳng tay bớp tai người nghèo kia một cái, làm cho chiếc mũ dạ tung ra, rơi ngay vào cái xe tay, trên tấm thảm cao su để chân. Chàng cho thế là đủ giận bèn phủi tay, nhấc hai ống quần cho khỏi mất nếp, và ngồi lên giục phu kéo đi. Thấy cái mũ ngay dưới chân, chàng toan hất xuống trả, nhưng không biết nghĩ được một điều gì hay hay, chàng mỉm cười lấy cái mũi giầy còn sạch thọc vào mũ rồi đặt lên cái mũi giầy lấm bùn cọ đi cọ lại như người đánh giầy.
Chàng lấy làm khoan khoái, ngắm nghĩa mũi giầy bóng trở lại gần như trước. Nhìn cái mũ dạ dúm dó, bẩn thỉu, chàng hơi hối hận, nhưng vội tặc lưỡi nói một câu để tự an ủi :
- Chắc thằng cha mới ăn cắp được của ai... Đáng kiếp!
Rồi chàng bảo người kéo xe :
- Cho anh cái mũ này.
Sửu bị cái tát tai đứng lặng hồi lâu cho khỏi choáng váng, rồi lắc lư cái đầu tìm xem mũ mình rơi đâu. Một người tài xế thương hại bảo :
- Mũ rơi vào xe ông ta rồi còn đâu.
Sửu nhìn theo cái xe chạy đã xa, không hiểu và lẩm bẩm tự hỏi :
- Thầy ấy lấy mũ của tôi?
Rồi Sửu lại cắm đầu đi, mắt nhìn thẳng ra trước một cách dại dột, mồm há hốc và hai tay run run... Trong lúc đó thì ở đầu phố một thầy đội xếp thong thả đi lại phía Sửu, cầm cái gậy lỏng lẻo bằng hai ngón tay và nghịch đưa đi đưa lại như một quả lắc đồng hồ. Đó là cử chỉ thông thường của thầy mỗi khi thầy sắp có dịp ra oai. Đứng xa, tuy thầy đội không nhìn rõ, nhưng thầy đã “đoán” ra được hết. Thầy đoán rằng người ăn mặc rất sang kia vào hiệu mua hàng, lúc ra bắt gặp tên này ăn cắp mũ, liền bợp tai giằng lại cái mũ kia rồi tha... Nhưng thầy thì thầy không tha. Thầy không tha không phải vì bổn phận bắt buộc, nhưng thầy muốn tỏ cho mọi người biết rằng mình tinh mắt. Đến lúc nhìn rõ Sửu thì thầy không còn nghi ngờ gì nữa: những điều phỏng đoán của thầy đã hiển nhiên biến thành sự thực, sự thực có một không hai.
Sửu thấy thầy đội xếp đến gần mình, theo thói quen, đi khép nép tránh sang một bên. Thầy đội chạy săm lại nắm lấy tay Sửu và nghiến răng bóp thật chặt. Thầy nhìn mặt Sửu thấy đáng ghét một cách lạ lùng và bóp chặt thêm một tí nữa cho bõ ghét.
- Về bóp! Hừ, quân bay bạo gan thực, dám giở thói ăn cắp ra trước mắt ông.
Sửu hốt hoảng, lúng túng nói :
- Thầy ấy lấy mũ của con...
Thầy đội trợn mắt, vụt một cái ngang lưng Sửu và nhếch mép cười nhạt :
- À, ra thầy ấy ăn cắp mũ của mày. Quân này to gan thật!
Cái trí khôn lu mờ của Sửu báo cho Sửu biết rằng phân trần không có lợi. Sửu bèn van lơn :
- Con lạy thầy, thầy tha cho con.
Thầy đội cười một cách đắc chí :
- Tha thế nào được, con ơi!
Người tài xế lúc này tiến đến gần nói :
- Ông đội tha cho nó, nó oan. Nó dẫm phải giầy ông kia, ông ấy cho nó cái tát cũng đã đáng đời lắm rồi. Nó lại mất thêm cái mũ... cái mũ khổ ấy mà...
Một vài người đứng gần đó cũng xin hộ.
Nghe mọi người nói, thầy đội lấy làm khó chịu vì mình đoán sai cả và thầy nhìn mặt Sửu càng thấy đáng ghét hơn trước. Thầy lấy ngón tay trỏ hất cằm Sửu lên và nói :
- Cái mặt gian chưa. Ngữ này thì thế nào cũng có ngày ông cho tù mọt gông.
Thầy đội quay ra nói với mọi người, vẻ mặt vui tươi để tỏ rằng mình sẵn lòng khoan dung :
- Lần này các ông các bà xin hộ thì tôi tha cho nó. Lần sau nó phải liệu mà chừa đi.
Bỗng thầy nhìn cái đầu bù tóc của Sửu, nghĩ ngay được một câu để che ngượng :
- Cái mũ ấy mà không ăn cắp của ai thì tao cứ đi đằng đầu. Cũng may phúc cho mày khi lấy cái mũ ấy lại không gặp tao... Bây giờ thì cút đi ngay.
Nói xong, thầy cầm gậy gõ mạnh vào đốt ngón tay Sửu hai cái. Sửu đau quá, nhưng không dám nhăn mặt, không dám kêu, vì Sửu sợ rằng biết đâu không vì một tiếng kêu mà thầy lại đổi ý kiến không tha nữa.
Thấy thầy đội quay lưng đi, Sửu mừng quá...
Yên lặng như một cái bóng, Sửu cắm đầu đi, mồm há hốc và hai tay run run, nhưng lần này hai con mắt Sửu không dại dột nữa... lại sáng lên một cách khác thường. Trong lúc mừng, Sửu luôn mồm lẩm bẩm :
- Suýt nữa thì vào bóp, may quá, gặp được thầy đội tử tế.
Sửu quên cả đau tay, quên cả mất mũ, chỉ nghĩ đến cái mừng được thoát khỏi bóp. Thấy có cái ngõ con, Sửu vội vàng rẽ vào, yên tâm rằng đã đi khuất mắt thầy đội. Sửu cười và nói một mình :
- Sao lại gặp được thầy đội tử tế đến thế!
Câu ấy vì nhắc đi nhắc lại mãi, dần dần biến ra :
- Sao người ta lại tử tế đến thế.
Lúc đó cái óc tối tăm của Sửu như có ánh sáng chiếu rọi làm cho Sửu lần đầu tiên trong cuộc đời khốn nạn của mình nhận thấy một cách rõ ràng cái lòng tử tế của người đời!
- Suýt nữa thì vào bóp!
Nghĩ đến đó, Sửu vô tình quay nhìn lại...
Mấy hôm sau, Sửu bị bắt vì không có chỗ ở và nghề nghiệp nhất định. Ở nhà pha được ít lâu, thầy thuốc khám nghiệm bảo Sửu có bệnh điên. Thầy thuốc chỉ biết rằng Sửu có bệnh điên là tại cha mẹ trước kia mắc bệnh giang mai. Không ai biết Sửu điên hẳn vì cái bớp tai của người mặc quần áo sang trọng làm cho khối óc đã yếu sẵn bị rung chuyển mạnh quá... hay nói cho đúng, chỉ vì đôi giầy bóng bị lấm bùn.
Được cái bệnh điên của Sửu rất lành, không hại đến ai. Cả ngày, Sửu lúc nào cũng mỉm cười sung sướng và thỉnh thoảng lại lẩm bẩm nói một mình :
- Sao người ta lại tử tế đến thế!
Còn như người ta có tử tế như Sửu tưởng hay không thì đó lại là câu chuyện khác.

II    May quá

Nhiêu Tích ra tỉnh chơi, đương ngơ ngác ở một đầu phố thì có một người vận âu phục đi xe đạp phóng thật nhanh đâm sầm ngay phải. Cả Nhiêu Tích và người kia đều ngã lăn ra đường. Người hàng phố xúm lại xem đông.
Nhiêu Tích ngồi nhỏm dậy, sờ đùi, sờ vế chỉ thấy hơi đau vài chỗ. Nhưng Nhiêu Tích lo sợ phấp phỏng, thầm hỏi :
- Người ta đi xe đạp chắc là phải thạo luật đi đường lắm, nếu họ đụng vào mình thì tất là mình có lỗi. Xe đạp của họ gẫy thì mình bán gia tài đi mà đền.
Nhiêu Tích vừa nắn đùi vừa đưa mắt nhìn trộm người kia, dò la ý tứ. Nếu Tích thấy người kia không nói gì, hay nhìn mình mỉm cười thì tất người kia có lỗi; lúc đó Tích sẽ nằm lăn ra đường và kêu thật to rằng què chân không đứng dậy được. Nếu nhỡ xe người kia có gẫy thì mình không phải đền, vì mình đã bị gẫy mất chân.
Trong lúc những ý tưởng phức tạp ấy lộn xộn trong đầu Nhiêu Tích, thì những ý tưởng cũng phức tạp như thế lộn xộn trong đầu người vận âu phục. Chàng nhìn Nhiêu Tích ngẫm nghĩ :
- Trái thì lẽ cố nhiên mình trái, vì họ đi bên tay phải, mà mình thì quên không bóp chuông. Nhưng nếu giờ ta yên lặng thì lão này biết là ta trái, tất sinh sự...
Nghĩ vậy, chàng liền đứng lên, vẻ mặt hầm hầm tiến lại gần Nhiêu Tích, dang thẳng cánh tát cho Nhiêu Tích một cái thật mạnh. Không thấy người kia nói gì, tiện tay chàng tát luôn cái nữa. Thấy vậy Nhiêu Tích biết ngay là mình trái, vội vã đứng lên, quên cả chân đau. Tích quấn lại khăn rồi cúi đầu đi thẳng. Đi được một quãng, Tích quay cổ lại và lấy làm mừng rằng người kia không đuổi theo. Tích lẩm bẩm sung sướng :
- May quá, xe thầy ấy lại không gẫy cái gì.
Người vận âu phục vẻ mặt hãy còn hầm hầm tức giận. Chàng vừa nhấc xe đạp lên xem xét vừa nói thật to :
- Rõ thật nhà quê lên tỉnh. Đi thì nghênh nghênh ngáo ngáo, có hai mắt cũng như không.
Tuy ngoài mặt giận dữ, nhưng chàng không khỏi cười thầm với mình.


0
Hai buổi chiều vàng
 
Lòng ta chôn một khối tình...
K. H.

I

Chưa để Kính đọc hết, Triết giật lấy từ báo, đưa mắt tìm chỗ đăng tin hội đồng Bề hình nay mai xử mấy vụ hội kín. Chàng đọc lại đoạn nói về bị cáo nhân Nguyễn văn Lộc, một đảng viên quan trọng âm mưu phá rối cuộc trị an. Triết đặt từ báo xuống bàn nói một mình :
- Nguyễn văn Lộc quán ở Vĩnh Yên!... Chính Lộc ấy.
Triết ngước nhìn một cái khung kính dán đầy ảnh chăm chú vào tấm ảnh con đặt ở góc, chụp một cặp vợ chồng trẻ: ảnh Lộc và Thoa, vợ Lộc, lúc hai người mới lấy nhau.
Kính nói :
- Vụ này, mỗi anh ít ra cũng hai mươi năm khổ sai.
Nghe đến mấy tiếng “hai mươi năm khổ sai”, Triết giật mình ngơ ngác. Chàng nhìn vào hình Thoa trên bức ảnh, hai con mắt mơ màng, thầm gọi :
- Em Thoa...
Đã ba năm nay chàng chưa gặp mặt, nhưng hình ảnh của Thoa lúc nào cũng phảng phất trong trí tưởng. Mặc dầu Thoa đã lấy chồng, đối với Triết, Thoa lúc nào cũng là một người bạn gái, chàng đã yêu trong quãng đời hoa niên xa xăm mà chàng biết rằng còn yêu, yêu mãi... Bức ảnh chụp hai vợ chồng Thoa, chàng không muốn cắt đôi ra sợ mọi người nghi ngờ, chàng đem dán lẫn với những tấm ảnh khác để lúc nào cũng có trước mặt mà chỉ có riêng đối với chàng. Bức ảnh chụp lâu ngày, nay đã mờ và bị những chấm trắng lấm tấm lan gần khắp; hình Thoa trên tấm ảnh một ngày kia sẽ mất, nhưng ở trong lòng chàng thì không bao giờ phai lạt.
Triết thăm tính :
- Hai mươi năm... Bây giờ Thoa hai mươi bốn tuổi...
Chàng với điếu thuốc lá châm hút để được bình tĩnh vì chàng không muốn nghĩ ngợi tìm cách xử trí, trong óc chàng bối rối bị những ý tưởng trái ngược nhau dồn dập đến một loạt.
Nhìn theo khói thuốc lá từ từ lan ra phía cửa sổ, chàng thẫn thờ để tâm trí phiêu diêu nhớ đến cảnh quê cũ: mấy nóc nhà tranh bên vài cây cau thân trắng, khóm chuối xơ xác và những ao bèo đầy lá khô, những bè rau rát mỗi khi thu về điểm hoa vàng lấm tấm... nơi mà chàng đã cùng Thoa sống những ngày vui không trở lại nữa.
* * * * *
Nhà Triết và Thoa cạnh nhau. Hai người, trong bao nhiêu năm cùng chơi bời đua nghịch, cùng đi học một trường, nên quen nhau và hiểu nhau như hai người bạn trai. Triết hơn Thoa ba tuổi. Vì Thoa là con một, mồ côi cha từ bé, nhà lại sa sút hơn nhà Triết, nên Triết tự nhiên săn sóc, che chở Thoa như một người em gái. Tuy nhà Triết chỉ đủ ăn, mà Triết cũng cố nói với mẹ giúp đỡ cho Thoa được cắp sách đi học.
Dần dần Triết thấy tình bè bạn hai người đổi khác trước; trong những lúc chơi đùa, cả Thoa và chàng cầm tay nhau đã thấy hơi ngượng.
Một hôm, hôm đó Thoa lần đầu tiên quấn khăn. Nàng sang chơi bên nhà Triết để khoe. Triết đương đứng với mẹ ở hiên, lấy tay chỉ nói với mẹ :
- Kìa mẹ trông! Cô Thoa... nhà tôi.
Rồi chàng và cả mẹ chàng cùng cười ngặt nghẽo. Bỗng Triết ngừng hẳn lại, đăm đăm nhìn vào mặt Thoa: lần đầu chàng thấy Thoa đẹp, lần đầu chàng để ý đến nhan sắc của Thoa, không nhìn Thoa như một cô bé nữa, mà lại là một cô gái xinh đẹp đương tuổi dậy thì... Thoa mỉm cười hỏi Triết :
- Cô Thoa nhà anh làm sao cơ?
Mẹ Triết cười nói :
- Trông cô ra dáng một cô dâu lắm rồi.
Thoa tinh nghịch nhìn Triết hỏi :
- Nhưng còn ai là chú rể?
Triết không đáp, nhưng chàng đã hiểu ý của Thoa...
Năm mười bảy tuổi, Triết phải lên Hà Nội học. Lần đầu tiên hai người xa cách nhau nên cùng thấy buồn vơ vẩn. Hôm đi, Triết không thấy Thoa vồn vã ân cần như mọi ngày; nàng chỉ đứng ngoài hè nhà yên lặng nhìn Triết xếp quần áo, sách vở. Lúc lên xe, Triết không dám quay mặt nhìn lại.
Mỗi lần Triết nghỉ học, hai người lại sống lại những ngày vui cũ; nhưng cái vui dần dần nghiêm trang hơn trước; hai người không đùa nghịch nữa tuy vẫn cả ngày gần nhau.
Triết còn nhớ lại hôm cùng Thoa đứng bên bờ ao hai người không biết làm gì, vơ vẩn nhìn những lá tre khô rơi xuống mặt nước. Thoa một tay vịn cành ổi, lấy chân hắt nước lên trên bè rau rát để ngắm những ngọn lá bị động dần dần cúp lại và rủ xuống như lá héo. Nàng nói :
- Anh có nhớ hôm nào phải ăn canh khoai rau rút trừ cơm không?
Triết cười đáp :
- Thế mà chưa bữa cơm nào ngon hơn.
Một lúc, Thoa vẻ mặt hơi buồn, chép miệng nói :
- Em ước ao chẳng bao giờ phải gặp nông nỗi ấy nữa.
Triết hỏi :
- Cô sợ nghèo lắm à?
Thoa yên lặng không đáp. Triết nhìn tấm áo trắng vá vai, chiếc khăn đã cũ của Thoa, chợt hiểu và đem lòng thương hại nỗi lòng của người bạn gái có nhan sắc nhưng vì nghèo không dám nghĩ đến sự điểm trang. Chàng nói đùa để an ủi Thoa :
- Tôi ăn bữa cơm khoai hôm đó ngon hơn bữa cơm sang trọng, cũng như tôi nhìn cô măc bộ quần áo nghèo này đẹp hơn khi cô mặc bộ quần áo sang.
Thoa mỉm cười nói :
- Sao anh biết? Vì em chưa mặc bộ quần áo nào sang trọng cả.
Triết đáp :
- Cũng chả mấy lúc nữa.
Chàng nói câu ấy vì chàng nghĩ rằng không mấy lúc nữa chàng thi ra, chàng sẽ đi làm và lúc đó không sợ thiếu tiền để giúp nhà Thoa nữa. Chàng sẽ lấy Thoa làm vợ và hai người sẽ mãi mãi sống gần nhau như đã sống gần nhau từ trước đến nay. Triết yên trí rằng đó là một việc tất nhiên, không thể khác dược.
Đột ngột Hoa hỏi :
- Chỉ còn một năm nữa anh đã thi ra rồi, nhỉ?
Triết sung sướng nghĩ thầm :
- Thoa cũng một ý nghĩ và một ước vọng như mình.
Mấy ngày trước khi lên Hà Nội, nhân một buổi mẹ Thoa đi vắng, Triết sang bên nhà Thoa và nhất quyết định tỏ cho nàng biết cái tình yêu ngấm ngầm của mình trong bấy lâu. Chàng phấp phỗng lo sợ, vừa đi vừa lựa trước những câu sẽ phải nói với Thoa.
- Anh Triết đi đâu mà vội vàng hấp tấp thế kia?
Câu hỏi và một tiếng cười giòn theo luôn sau làm Triết giật mình ngửng lên. Thoa lúc đó đương đứng bên một cái lồng chim treo ở cành cây nhãn.
- Anh cho hộ em con chim này vào lồng.
Triết hỏi :
- Sao cô bắt nó?
Thoa đặt con chim vào lòng bàn tay Triết, nói :
- Em có bắt nó đâu. Nó ở trong lồng bay ra, em đuổi mãi mới tóm được anh chàng... Mệt quá.
Vì Triết đứng gần sát nên thấy hơi thở của Thoa đưa mơn man qua má chàng. Lúc cho con chim vào lồng, Triết có ý để đầu chàng chạm vào khăn Thoa. Thoa cứ đứng yên, chăm chú nhìn con chim, vờ như không để ý đến. Triết hỏi :
- Sao cô lại cử nhất định cho nó vào lồng?
Thoa nhìn Triết, ngây thơ đáp :
- Cho nó có đôi kẻo nó buồn. Em không hiểu sao nó lại dại dột đòi bay ra.
Rồi nàng hạ giọng như muốn ngỏ cho Triết một sự gì bí mật lắm :
- Hai vợ chồng nó đấy.
Triết đậy cửa lồng chim lại cẩn thận, rồi đứng lui dựa vào cái giậu nứa, thờ thẫn nhìn Thoa. Chàng nhận ra rằng ý định của chàng lúc này không cần nữa. Nhìn hai con mắt Thoa, chàng thấy một cách rõ ràng rằng Thoa đã hiểu tình của chàng rồi và Thoa cũng yêu chàng như chàng yêu Thoa. Hai người đã yêu nhau và đã biết thế từ lâu rồi thì cần gì phải nói nữa. Chàng thấy sự yên lặng của hai người lúc nhìn nhau phô diễn nhiều ý hơn những lời nói nồng nàn...
- Anh táy máy làm đứt cả lạt ra thế kia.
Triết nhìn xuống, thấy mấy sợi lạt bị chàng vô tình rứt xổ tung cả ra. Triết mỉm cười. Thoa đến đập nhẹ vào bàn tay Triết, nũng nịu trách :
- Hôm qua mưa to, giậu đổ, em phải buộc mất cả buổi sáng đấy.
Triết nói :
- Tôi xin buộc đền.
Rồi chàng quên cả câu chuyện kia, loay hoay cùng Thoa buộc lại cái giậu nứa.
Triết yên tâm lên tỉnh học. Ít lâu chàng nhận được của mẹ chàng một bức thư, vội vàng mở ra xem:
Anh Triết,
Anh lại nói với bác cả mua hộ một tấm áo lượt tây màu trứng gà và khi về nghỉ, anh lại lấy đem về cho tôi để tôi làm quà cho cô Thoa. Cô ấy nay mai sắp lấy chồng lấy cậu Lộc ở trên tỉnh, cháu ông Vịnh ấy mà. Có lẽ hôm cưới đúng ngày nghỉ, anh về mừng cho em. Anh nhớ dặn bác mua cho được thứ màu trứng gà vì xem ý cô Thoa chỉ thích màu đó.

Đọc xong đã lâu mà Triết vẫn ngồi yên nhìn chòng chọc vào mấy dòng chữ.
Chàng cau mày như người chưa hiểu, lẩm bẩm :
- Thế này là nghĩa lý gì?
Chàng đọc lại những dòng chữ do tay em chàng viết một lần nữa, thầm mong em chàng viết đùa chới. Nhưng không, em chàng còn nhỏ chưa hề đùa như vậy được. Chàng cầm cái phong bì lên xem dấu nhà dây thép. Bỗng chàng để ý đến nét chữ :
- Chính chữ của Thoa.
Ở nhà chỉ có Thoa là đề nổi phong bì, nên Triết không lấy làm lạ; chàng tự hỏi :
- Nhưng Thoa biết trong thư viết gì không? Triết toan xin nghỉ học để về ngay, nhưng nghĩ không tiện, nên đành đợi đến ngày nghỉ.
Hôm về tới nhà gặp mẹ, chàng cố giữ vẻ thản nhiên vứt gói vải xuống giường, nói :
- Áo của cô Thoa.
Mẹ chàng vội hỏi :
- Mua được thứ màu trứng gà đấy chứ?
Thấy mẹ hỏi vậy, Triết biết ngay là chuyện thật.
Chàng đáp :
- Vâng... nhưng cô Thoa lấy chồng thật đấy ư mẹ?
- Chẳng thật thì giỡn sao.
Triết thấy mẹ yên trí rằng Thoa phải lấy người khác đến nỗi không cho câu hỏi của chàng là lạ. Chàng hỏi :
- Sao bác Huấn lại biết nhà Lộc?
- Bác Huấn có biết đâu. Em Thoa lên tỉnh mua hàng, rồi hai ngươi mến nhau; mãi bác Huấn mới thuận đấy, vì cậu ấy nghèo, mồ côi cả cha lẫn mẹ, ở nhờ nhà ông Vinh.
Cả đời Triết chưa thấy giận ai bằng giận Thoa lúc đó. Có tiếng động, chàng quay lại. Thoa ở ngoài đi vào tươi cười mừng rỡ chào Triết.
- Anh đã về.
Triết như người ngây dại, chỉ gói áo để trên giường nói :
- Áo cưới của cô đấy.
Thoa ngồi xuống giường giở gói áo hỏi :
- Anh mua cho em?
Triết gay gắt đáp :
- Không, của bác, tôi thì đâu dám tặng cô những thứ ấy.
Bà mẹ Triết nói đùa :
- Chắc anh sẻ làm quà cho cô thứ khác quý hơn nhiều. Đấy là thứ quà quê mùa của tôi.
Thoa giơ tấm vải, vắt lên tay soi ra ánh sáng, mỉm cười nói tiếp :
- Cháu lấy chồng nghèo, tấm áo này là quý lắm rồi.
Thấy mẹ đi sang buồng bên, Triẽt lại gần Thoa, hỏi mỉa mai :
- Sao cô bảo cô sợ nghèo lắm kia mà?
Thoa mở to mắt nhìn Triết, không hiểu, và trên mặt hơi thoáng qua vẻ buồn. Triết như không để ý đến, nói luôn :
- Cô bảo cô chưa mặc chiếc áo sang trọng nào, bây giờ tôi muốn xem cô mặc áo cô dâu ra làm sao?
Triết thấy mình tàn ác và nói những câu không có nghĩa lý gì. Chàng hối hận, nhưng hễ muốn dịu giọng nói một câu để mừng nàng, thì Triết thấy nghẹn ở cổ. Chàng biết mình không sao giữ nổi giận, nên đi lảng ra ngoài vườn. Trong nhà có tiếng Thoa nói sẽ với mẹ chàng :
- Độ này anh Triết lo học thi nên trông người gầy sút hẳn.
Vì biết là Thoa yêu Lộc như một người tình nhân, mà chỉ coi chàng như một người anh, nên sau một đêm băn khoăn, Triết nghĩ không gì hơn là bỏ đi và để khỏi làm bối rối Thoa vô ích. Chưa hết hạn nghỉ, chàng đã từ biệt mẹ lên Hà Nội.
Ngày cưới của Thoa lại đúng vào dịp tết: nể lời mẹ nói khẩn khoản nên Triết phải về để đi đưa Thoa về nhà chồng. Hôm đón dâu, Thoa mặc chiếc áo lưọt màu trứng gà phủ ngoài chiếc áo xa tanh da đồng, chiếc áo lượt mà chính tay chàng đã mua về. Nàng thân mật hỏi Thiết :
- Anh trông em thế nào?
- Cô dâu thế kia thì đến nhạn cũng phải sa!
Chàng thấy Thoa đẹp và đáng yêu hơn trước: lạ nhất là tuy cảnh ngộ thật mỉa mai đau đớn mà Triết thấy lòng mình bình tĩnh như không, có phần hơi vui nữa.
Chàng vừa cười nói vừa ngắm Thoa ngồi vấn tốc và nói chuyện với chị em bạn. Thỉnh thoảng Thoa ngửng lên; khi hai con mắt nàng gặp mắt Triết, nàng có ý ngừng lại nhìn lâu một chút. Triết thấy hai con mắt Thoa như nói riêng với chàng :
- Em sung sướng.
Triết mỉm cười sẽ gật như đáp lại :
- Anh cũng thấy thế.
Trong lúc đưa dâu, Triết không thấy mặt Thoa nữa. Mãi đến khi họ nhà gái về, cô dâu đứng ở cửa buồng chào mọi người, Triết mới gặp lại.
Thoa như người mất hồn, ngơ ngác nhìn, nước mắt chạy quanh. Đoán là Thoa đưa mắt tìm mình. Triết đi lại gần; chàng thấy Thoa khi nhìn chàng hình như có vẻ bớt lo, vì được có một người bạn thân đứng cạnh.
Thoa chắp tay, nghiêm trang chào Triết :
- Lạy anh ạ.
Rồi bỗng nàng ứa nước mắt, cúi mặt khóc nức nở. Một người trong họ nói :
- Cô dâu chưa chi đã nhớ nhà rồi.
Tuy đó là cử chỉ rất thông thường của các cô dâu mà Triết cũng sinh ra nghĩ ngợi mãi. Chàng nơm nớp sợ Thoa chưa hẳn đã được hoàn toàn sung sướng.
Nửa năm sau, Triết mới có dịp biết rõ.
Lúc đó bà Huấn đã rời quê nhà lên ở với con rể dạy học tư trên Vĩnh Yên.
Nghe tin mẹ chàng mệt, bà Huấn và Thoa về thăm. Triết thấy Thoa có phần gầy sút hơn trước, chàng đoán là vì lo nghĩ nhiều. Nhưng sau mấy hôm, Triết nhận ra rằng nàng vẫn giữ được cái tính vui như ngày còn con gái. Nàng hay nói đùa hơn trước, và thấy Triết ngạc nhiên, nàng phân giải :
- Em bắt chước nhà em đấy, vì nhà em nói đùa luôn miệng. Có khi em cười suốt ngày, quên cả ăn.
Triết mỉm cười đáp :
- Cười mà no thì chắc chẳng phải ăn canh rau rút trừ cơm như độ nào nữa.
Thoa có vẻ bâng khuâng, nói một mình :
- Anh nhắc đến làm em lại tiếc... độ ấy vui quá nhỉ?
- Thế bây giờ cô buồn à?
Thoa quay vào ngẫm nghĩ một lát, rồi hỏi lại Triết :
- Thế anh có tiếc độ ấy không?
- Tiếc lắm chứ.
- Thế bây giờ anh có buồn không?
- Không.
- Thế sao anh lại bảo em buồn. Em nghèo nhưng lúc nào cũng vui sướng là đủ rồi.
Triết chữa lại :
- Có, tôi có buồn, vì tiếc những ngày ấy có cô ở bên cạnh.
- Em thì em tiếc vì những ngày ấy em được ở gần anh.
Triết nhìn ra ngoài vườn, hai con mắt mơ màng, sẽ nói :
- Sao chúng mình không được như thế mãi... cả đời?...
Chàng nói xong, giật mình vì chàng đã quên bẵng không nghĩ đến rằng đương nói với một người đàn bà có chồng. Chàng vội chữa :
- Xin lỗi cô. Tôi cứ tưởng ngồi nói chuyện với cô Thoa bé bỏng ngày xưa.
Thoa nhìn Triết một lúc lâu rồi nói thong tha như cốt để cho Triết hiểu cái ý ngầm của mình :
- Thì em cũng là Thoa, chứ có khác gì trước. Chỉ khác là không được ở gần nhau mãi thôi.
Triết hiểu; chàng biết Thoa muốn tỏ cho chàng hay rằng Thoa chỉ coi chàng như một người bạn, trước kia cũng như bây giờ. Nhưng một việc khác - việc đó Triết không biết là hữu ý hay tình cờ - đến làm cho chàng bứt rứt. Thoa đương ngồi xem cuốn truyện, thấy Triết đến liền ngửng lên hỏi :
- Anh đã đọc chưa?
- Truyện gì vậy?
- Truyện “Tình tuyệt vọng”.
- Có, tôi đọc rồi...
Thoa nói :
- Có bài thơ dịch hay quá nhỉ?
Rồi nàng sẽ đọc:
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu.
Tình tuyệt vọng nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ơi, người đó ta đây,
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân

Thoa lật trang. Triết tự nhiên đọc theo:
Dẫu ta đi trọn đường trần,
Truyện riêng dễ dám một lần hé môi.
Người dù ngọc nói hoa cười,
Nhìn ta như thể nhìn người không quen.
Đường đời lặng lẽ bước tiên,
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình.
Một niềm tiết liệt đoan trinh,
Xem thơ nào biết có mình ở trong.
Lạnh lùng, lòng sẽ hỏi lòng,
Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây.

Thoa hỏi :
- Anh đọc thuộc lòng được à?
Triết cười, nói như nói đùa :
- Vì tôi cũng gặp một cảnh ngộ ấy.
Thoa ngẩn ngơ nhìn Triết :
- Thế à, em không biết đấy.
- Cô biết thế nào được.
Hai ngươi trầm ngâm một lát, rồi Thoa nói một câu như để bình phẩm truyện :
- Em tưởng gặp cảnh ngộ ấy, chỉ có thế là hơn cả.
Triết thì cho câu bình phẩm ấy là một câu khuyên chàng. Câu khuyên ấy đã bốn năm nay lúc nào cũng nghe văng vẳng bên tai. Chàng không cô dịp gặp Thoa nữa nhưng càng ngày càng yêu Thoa hơn lên. Chàng chưa hiểu rõ Thoa mà chàng cũng không muốn tìm để hiểu rõ nữa; cái tình trạng mập mờ ấy đã cho chàng cái cảm tưởng êm thu rằng trong cuộc đời hiu quạnh của chàng có một người yêu chàng mà chàng yêu, hai người yêu nhau lúc nào cũng nghĩ tới nhau và không ai dám tự thú nhận. Chàng cho ở đời chỉ có cái tình yêu như vậy là lâu bền nhất.
Trong thời kỳ đó, chàng vừa bận làm lụng để kiếm ăn vừa bận học để thi tú tài. Chàng hợp sức với Kính, một ngươi bạn thân để mở ở Hà Nội một buồng giấy làm đơn từ và trông nom về mọi việc kiện tụng. Chàng đã vào học trường luật được một năm và dự định về sau sẽ hết sức làm những việc mà chàng vẫn hoài bão và đã nhiều lần nói chuyện ngỏ cho Thoa biết.
Nhiều khi, trong những lúc làm việc vất vả, hoặc trong chán nản, chàng ngửng mặt nhìn ra cửa sổ, lặng yên tưởng tới Thoa: chàng lại thấy cái vui vẻ phấn khởi trở tại trong tâm hồn. Lăn lộn trong chốn phồn hoa, gặp bao nhiêu người đẹp mà chàng không hề để ý đến ai. Vì Thoa là cái biểu hiệu linh động của quãng đời thơ ấu của chàng; chàng nghĩ đến Thoa lúc nào là thấy hiện ra những hình ảnh đáng yêu mến của những ngày vui cũ ở quê nhà.
Không ai thấy được Thoa trong lòng chàng, vì người ta một đời chỉ có một tuổi thơ. Tuổi thơ của chàng đã qua, qua hẳn và Thoa cũng không bao giờ trở về với chàng nữa.
Một hôm, hôm đó tự nhiên Triết thấy vui vẻ lạ thường. Chàng biết cái lẽ khiến chàng vui, nhưng chàng không dám tự thú. Như một cái máy, Triết lấy vé xe lửa lên Vĩnh Yên. Chàng tìm đến nhà Thoa ở và sẽ lấy cớ rằng có việc đi qua Vĩnh Yên vào thăm bà Huấn và Thoa trong lúc đợi giờ xe về Hà Nội. Cái cớ ấy tự nhiên lắm, Triết cũng thấy thế, nhưng không biết tại sao, đến khi nhìn thấy cổng nhà Thoa, chàng cho là không thể được. Chàng không còn đủ can đảm để nói dối nữa mà chàng lại tin chắc chắn rằng thế nào Thoa cũng biết là chàng nói dối.
Sẵn có cái quán gần đấy, chàng vào ngồi uống nước. Cổng nhà Thoa lúc đó đóng kín. Sau bức giậu găng ta lẫn dâm bụt chỉ lộ ra một cái mái tranh và một ngọn cau in trên nền núi cao.
Trời đã về chiều, một buổi chiều vàng người ta thường thấy những khi bắt đầu mùa hạ. Ánh chiều tà lướt trên áo chàng,  trên bãi cỏ ngay trước cổng và nhuộm vàng những thân cau trong sân nhà Thoa. Triết ngồi yên lặng, nghe rõ tiếng mình thở. Chàng tin rằng lúc đó Thoa đương ngồi chơi mát ngoài sân mà ánh sáng của buổi chiều vàng chàng đương ngắm đây, ở bên kia giậu, cũng lấp lánh trong đôi con mắt của Thoa.
* * * * *
- Anh nghĩ gì vậy?
Nghe tiếng Kính hỏi. Triết vứt điếu thuốc lá cháy dở ra cửa số, quay lại.
Triết nhấc tờ báo lên, đưa cho Kính xem, nghiêm trang nói :
- Vài hôm nữa tôi lên Vĩnh Yên mở trên đó một buồng giấy.
- Về kiện tụng?
Triết gật :
- Về kiện tụng. Anh tính chừng này người bị bắt cũng nhiều công việc lắm chứ?
Kính nói :
- Anh điên?
Triết nói, giọng quả quyết :
- Việc ấy tôi đã nhất định rồi. Anh đừng bàn, vô ích, Thế nào tôi cũng đi.
- Thế còn việc học của anh, còn tôi?
- Việc học hãy tạm để đấy. Còn anh thì anh chịu khó buồn vậy.

II

Lên Vĩnh Yên, Triết cố ý thuê một căn nhà ngay đầu tỉnh để khi nào Thoa ra chợ phải đi ngang qua. Chàng bày biện cho có vẻ một cái buồng giấy và treo ở ngoài cửa một tấm biển thực to, khiến ai đi qua cũng phải để ý.
Mỗi lần nhìn cái biển, chàng không khỏi mỉm cười, nghĩ thầm :
- Nếu mong có khách đến để mà sống thì chắc là chết đói trước khi có ông khách đầu tiên.
Mở buồng giấy chỉ là một kế để chàng được ở gần nhà Thoa không ngại vì lời dị nghị. Chàng có thể giúp Thoa, mà giúp một cách rất tự nhiên, cả đến Thoa cũng không ngờ được cái dụng ý của chàng.
Thấy Thoa ở phía xa đi lại, Triết vội cởi áo ngoài cho có vẻ một người đương làm việc. Khi đi ngang qua trước cái biển, Thoa chậm bước lại, ngước mắt đọc. Đứng sau bức bình phong nhìn trộm Thoa, thấy nàng gay sút hẳn, vẻ mặt bơ phờ tiều tụy, Triết động lòng thương hại và nhận thấy việc mình định giúp là rất cần. Chàng chạy vội ra chào :
- Kìa cô...
Thoa giật mình :
- Kìa anh Tú.
Rồi nàng mừng rỡ cuống quít nói luôn :
- Anh làm em hết hồn vía... Anh lên chơi đây bao giờ?
Triết lùi lại nhường cho Thoa vào trước, cố lấy giọng bình tĩnh đáp :
- Tôi lên mở buông giấy trên này. Định lên thăm bác với cô, nhưng chưa xếp dọn xong nhà cửa... May quá, lại vừa gặp ngay cô đi qua.
Thấy Thoa đưa mắt nhìn cái bàn giấy như có vẻ nghi hoặc, Triết vội vàng phân giải :
- Đây là buồng giấy phụ, mở ra cốt để giúp người anh em. Nhưng lúc đầu, tôi phải lên để lấy khách.
Rồi chàng cố hết sức giữ vẻ tự nhiên, hỏi :
- Trường bác giáo dạy học có gần đây không?
Thoa ngơ ngác nhìn chàng :
- Anh chưa biết tin em à?
- Chưa, tin gì?
- Nhà bị em bắt rồi.
Thoa bảo Triết đưa mình vào nhà trong vừa khóc vừa kể sự tình cho nghe. Triết nói :
- Tôi đọc nhật trình không để ý. Nếu biết thì tôi đã lên đây ngay. Tôi có ngờ đâu.
Rồi chàng thân mật trách :
- Sao cô không viết thư cho tôi biết?
Thoa lau nước mắt, nói :
- Ừ, sao em không nghĩ ra! Thật lú cả trí khôn. Bây giờ có anh đây, sao em vững tâm quá.
Triết thầm cảm ơn Thoa, đứng dậy nói :
- Bây giờ ta về thăm bác đã.
Hai người lững thững đi, không ai nói câu gì. Khỏi dãy phố, Triết thấy hiện ra cái mái tranh nhà Thoa với bức giậu và mấy ngọn cau. Nhưng Thoa không cách chàng một bức giậu nữa. Nhớ đến mấy tiếng “hai mươi năm khổ sai”, Triết có cái cảm tưởng rằng Thoa lúc ấy lại là người hạn thửa bé của chàng. Nhưng Triết lấy làm mừng một cách chân thật rằng cái cảm tưởng ấy chỉ là một cái cảm tưởng làm cho chàng thấy thoáng vui trong lòng chứ không phải là cái cớ đã xui giục chàng về giúp Thoa. Chàng về giúp chỉ vì thương bạn, muốn an ủi bạn chứ không phải để mong mỏi thứ gì khác. Đến chỗ rẽ vào nhà Thoa, Triết cứ đi đi thẳng. Thoa gọi giặt lại :
- Anh quên đường rồi à, anh Tú?...
Triết quay lại, lo sợ nhìn Thoa nói :
- Tôi đã biết đường đâu mà quên. Sao cô lại cho là tôi biết đường?
- Em nhớ hình như anh đã đến chơi một lần rồi.
Triết bối rối đáp :
- Chưa, bây giờ tôi mới đến là một.
Thoa nói :
- Có lẽ em nằm mê.
Thấy Thoa hai lần gọi mình là “anh Tú”, Triết khó chịu. Chàng hỏi :
- Sao cô lại gọi tôi bằng anh Tú?
- Vì anh đỗ tú tài.
- Sao cô biết?
- Anh làm việc gì mà em không biết.
Triết thẫn thờ buông hai tiếng :
- Thế à?
Buổi chiều hôm ấy, ngồi ngoài sân nói chuyện với bà Huấn và Thoa, Triết tưởng sống lại những năm ở quê nhà. Bà Huấn nói :
- Trông anh Tú vẫn thế.
Triết đáp :
- Cháu trông bác cũng không khác mấy, cả cô Thoa cũng vậy.
Chàng giơ tay che miệng mỉm cười, nói :
- Chết chửa, cứ quen như ngày trước.
Triết nghiệm ra rằng có chàng ngồi đấy thì bà Huấn và Thoa yên tâm, và sau khi nghe chàng nói, hai người rất hy vọng Lộc sẽ được tha. Bà Huấn nói :
- Không có anh thời mẹ con tôi chịu, chẳng biết xoay xở ra làm sao?
Thoa buồn rầu nói tiếp :
- Mấy hôm nọ em lo quá. Giá nhà em bị từ chung thân thì em khó lòng mà sống nổi. Em sợ quá. Anh Triết, liệu nhà em có được tha không anh?
Câu hỏi ấy không biết Thoa hỏi đã mấy lần. Triết gượng cười đáp :
- Tôi chắc thế nào cũng được tha. Bác và cô cứ yên tâm, tôi xin lo liệu.
Trời đã xâm xẫm tối mà Triết cũng không nghĩ đến về. Thoa mời :
- Anh ở luôn đây ăn cơm với em.
Bà Tuấn nói :
- Cơm có gì mà mời anh ấy ở lại.
Thoa mỉm cười nhìn Triết :
- Anh không từ chối chứ?
Triết đáp :
- Tôi chẳng dám từ chối cô cái gì.
Thoa vui vẻ đứng lên, nói :
- Để em vào bếp làm cơm.
Đi mấy bước, nàng quay lại nói với Triết :
- Hôm nay có canh rau ngót nấu tôm. Ngày trước anh thích ăn lắm cơ đấy. Để em vào nấu thật ngon cho anh xơi.
Triết nhìn thoa mơ mộng :
- Cô nhớ lâu nhỉ?
Tuy vẫn chân thật định tìm hết cách làm cho Lộc được tha, mà Triết lúc đó thấy mình thầm mong cho Lộc phải tù chung thân. Nghĩ đến hai sự trái ngược ấy, Triết mỉm cười.
Bà Huấn bỗng bảo khẽ Triết :
- Anh cố giúp em nhé. Bác lo quá, bác chỉ sợ có làm sao thì em nó hóa điên mất, anh ạ.

III

Thoa đứng ở bờ ao, tay vin cành ổi, khoắng nước rửa chân. Triết lững thững đi lại gần, vừa đi vừa có cái cảm tưởng là lạ rằng chàng đương sống lại những phứt mà một năm nào trước kia chàng đã sống qua một lần rồi. Chàng cố nghĩ nhưng không nhớ ra.
Chính quãng đời trong ba năm chàng sống trở lại bên cạnh Thoa, từ khi Lộc bị bắt, chàng thấy nó giống quãng đời tuổi trẻ của chàng quá, nên những kỷ niệm của hai thời kỳ lẫn lộn với nhau, không sao phân biệt rõ.
Đối với Thoa, chàng đã cố hết sức nhưng không làm thế nào được, vì chính Lộc đã tự mình rước lấy tội vào thân. Lộc mới nhập hội kín, chưa kịp hành động việc gì đã bị bắt ngay. Khi lấy cung, đứng trước mặt anh em, Lộc không từ chối điều gì, nhiều việc không hề nhúng tay qua, Lộc cũng cứ nhận liều. Lộc bị án hai mươi lăm năm phát vãng. Sau khi Lộc ra ngoài Côn đảo thì bà Huấn đưa Thoa về nhà quê. Triết nói với mẹ giúp Thoa mở một ngôi hàng tấm để lấy kế sinh nhai, chàng thì thỉnh thoảng lại về chơi y như là độ chàng còn học trong trường mà Thoa chưa đi lấy chồng. Nỗi đau khổ của Thoa cũng nhẹ bớt dần. Thấy vậy Triết rất mừng, nhưng thật chàng mừng cho Thoa chứ không phải mừng cho chàng. Chàng tha thiết mong có một ngày kia Thoa quên hẳn được.
Trước kia khi Thoa đi lấy chồng, trong lúc tuyệt vọng, lẩn thẩn chàng đã nghĩ đến hai cảnh khiến Thoa trở về với mình: Thoa bỏ chồng hay góa chồng. Bây giờ tuy nàng không góa mà cũng như góa: không một cớ gì có thể bắt người đàn bà giữa tuổi xuân chờ đợi cho đến khi già. Nếu Thoa có thể quên được thì phải giúp cho nàng quên đi. Triết đã băn khoăn nghĩ ngợi mãi mới dám quyết định về việc ấy. Huống hồ chồng Thoa không phải là người quen chàng, không phải là bạn chàng.
Đêm nằm nghĩ đến việc đó, Triết cho là rất dễ dàng, nhưng hễ cứ thấy mặt Thoa là chàng ngượng nghịu và lưỡng lự không biết có nên không.
Thoa thấy Triết đi lại phía mình liền mỉm cười hỏi :
- Sao lần này lâu anh mới về, chắc anh bận gì lắm.
Triết đáp :
- Tôi bận học thi.
- Thi gì?
- Thi bằng “cô-vê”.
Hai người cùng cười. Thoa nói :
- Độ anh thi cái bằng đó sao ở nhà lo thế. Em còn nhớ một lần bác cúng cho anh đỗ, bác khấn đến hai chữ “cô-vê” làm em không thể nhịn cười được.
Trên mặt ao, những làn sóng từ chỗ Thoa đứng lan ra làm cho bè rau rút bập bềnh cùng với bóng mấy đám mây in đáy nước. Thấy bè rau rát, Triết nhớ ngay ra hôm nói chuyện với Thoa về sự giàu nghèo trong khi Thoa hắt nước lên bè rau để nhìn ngọn lá cúp lại. Triết nhìn nàng nói :
- À, tôi nhớ ra rồi.
- Anh nhớ ra gì cơ?
Triết lắc đầu :
- Tôi lại quên mất rồi.
Chàng nói đùa lẩn quẩn để đỡ ngượng và để tìm dịp khơi câu chuyện dự định cho được tự nhiên, khỏi đột ngột. Chàng lại gần đứng dựa gốc ổi, nhìn vơ vẩn :
- Phong cảnh chẳng đổi khác trước một tí gì, mà chúng mình cũng vậy, rắc rối một độ rồi lại về đứng nguyên ở cái bờ ao này. Chỉ khác một điều là mỗi người già thêm mấy tuổi. Tôi ba mươi tuổi rồi đấy...
Thoa tiếp theo :
- Em kém hơn anh ba tuổi, thành ra em...
Nàng ngừng lại tỏ vẻ ngạc nhiên :
- Thế ra em hai mươi bảy tuổi rồi à? Em không kịp nghĩ đến tuổi nữa... Chóng quá.
Thấy trên gương mặt Thoa thoáng qua vẻ buồn, Triết hiểu ngay là Thoa nghĩ đến cái năm xa lắc xa lơ chồng nàng được về, cái năm không bao giờ đến.
Triết nói :
- Những ngày sung sướng thường đi rất mau...
Thoa cúi mặt, nghịch lấy ngón chân cái ấn xuống đất, có vẻ ngẫm nghĩ. Một lúc lâu nàng buồn rầu nói :
- Như mấy năm ở Vĩnh Yên sao mà chóng thế.
Ba năm vừa rồi sao lâu quá chừng... Thế mà còn hơn hai mươi năm nữa...
- Sao cô cứ nhắc đến làm gì. Tôi vẫn mong cho cô quên đi.
Triết nhìn Thoa âu yếm nói tiếp :
- Chúng mình cố coi những năm vừa rồi như không có và bây giờ bắt đầu sống lại như sống từ năm còn 17, 20 tuổi trở đi. Đấy, cô xem, hôm nay chúng mình đứng đây thật chẳng khác gì cái hôm nào cô nghịch đá nước lên bè rau rút mươi năm về trước. Cô còn nhớ không cô Thoa? Lúc nãy, tôi nói: nhớ ra rồi, là nhớ hôm ấy đấy.
Thấy Thoa vẫn đứng yên như lắng tai nghe, Triết bạo dạn nói tiếp, tiếng chàng mỗi lúc một khẽ dần, nghe đều đều dịu ngọt như tiếng ru :
- Xa nhau ít lâu rồi lại gần, đời chúng mình hình như có liên lạc gì với nhau. Ba mươi tuổi mà tôi chưa có vợ thì cô cũng có thể coi như là chưa có chồng, sao không thế được.
Thoa ngửng lên nhìn Triết ngập ngừng như không dám hiểu những lời Triết nói, Triết lại thấy ngượng, sợ rằng mình nói quá rõ, nên vội nói tránh đi :
- Tôi không nghĩ đến lấy vợ, vì có lẽ vợ chưa chắc đã là người bạn... mà bạn thì đã có rồi.
Thoa ngắt lời :
- Vợ chồng khác mà bạn khác.
- Nhưng cô có thể lấy tình bạn để khuây khỏa được không?
Triết hồi hộp đợi câu trả lời của Thoa. Chàng mừng rằng đã nói được câu chàng định nói từ bao lâu. Nhưng Thoa lại hiểu ra cách khác, nàng đáp :
- Em không có anh thì khó lòng mà sống nổi được đến bây giờ.
Thấy Thoa hiểu câu hỏi của mình ra ý khác Triết biết rằng không bao giờ chàng còn có can đảm hỏi Thoa lại một lần thứ hai như thế nữa.
* * * * *
Cách đó một tháng, Triết chưa có dịp nào về quê thăm Thoa, thì bỗng được tin chính phủ dự định ân xá các chính trị phạm. Chàng vội vàng đáp ngay xe hỏa đêm về báo tin cho Thoa biết.
Mười giờ tối chàng về tới nơi. Bên nhà Thoa còn đèn sáng: chàng cầm bức thư của người bạn bên Pháp gửi về chạy vội sang.
Thoa cầm đèn ra hiên soi, ngơ ngác không hiểu có chuyện gì mà Triết về khuya khoắt vậy. Triết mỉm cười giơ tay đỡ lấy cái đèn :
- Cô để tôi cầm hộ... tôi sợ nó vỡ.
Sau khi đặt đèn lên bàn cẩn thận, Triết mới đưa bức thư cho Thoa. Chàng nhìn Thoa, nói :
- Có lẽ anh ấy được tha về.
Thoa hai tay run lẩy bẩy, giơ bức thư ra ánh đèn. Lẩm nhẩm đọc qua vài dòng rồi nàng đưa thư cho Triết :
- Anh đọc hộ em...
Triết vừa đọc xong, Thoa đã giằng lấy bức thư chạy vào buồng, cuống quýt gọi bà Huấn dậy :
- Nhà con được tha, mẹ ạ.
Nàng lại chạy ra ngoài nhà, hai bên má nước mắt giàn giụa lấp loáng dưới ánh đèn. Bỗng nàng ngừng lại, vì thấy Triết ngồi gục bên bàn, vẻ mặt buồn rầu ủ rũ. Nàng lo sợ nghi ngờ hỏi :
- Có đúng thế thật không anh?

IV

Triết mua hoa xong, thuê chiếc xe bảo kéo thật mau. Chàng ngẫm nghĩ :
- Ở nhà chắc bác Huấn và Thoa đương nóng lòng đợi.
Chàng nói một mình :
- Thôi chỉ còn hai hôm nữa...
Câu ấy chàng không biết để than thở cho mình chỉ còn được hai hôm ở gần Thoa hay là để mừng cho Thoa sắp được gặp mặt chồng.
Đã mấy hôm bà Huấn và Thoa lên Hà Nội ở nhà chàng, để đợi tin tức về Lộc; chiều hôm nay ra sở mật thám hỏi, Triết mới biết đích xác lẳng ngày kia thì người ta giải Lộc lên Vĩnh Yên. Triết đoán chắc rằng biết tin rồi thì bà Huấn và Thoa sáng mai sẽ từ giã chàng để đi lên trên ấy đón Lộc.
Triết vừa xuống xe thì trời bắt đầu mưa nặng hột. Qua lá cây, chàng thoáng thấy bóng Thoa. Chàng lững thững đi vào không cần gì mưa, cốt để được thong thả ngắm Thoa đương đứng ở hiên đợi chàng như một người vợ đợi chồng đi làm về.
Triết nói ngay :
- Đến ngày kia, cô ạ.
Thoa nhìn bó hoa Triết ôm bên người hỏi :
- Anh mua lắm hoa thế?
- Mua về để mừng cô.
Thoa xuống mấy bực thềm, giơ tay đỡ lấy bó hoa :
- Anh để em cầm cho. Hoa đẹp quá nhỉ... Thơm lạ.
Thoa ôm bó hoa vào ngực: mặt nàng phản chiếu ánh phớt hồng của bó hoa lộ ra một vẻ đẹp rực rỡ, nồng nàn. Triết quay đi vì nhìn gò má và cặp môi của Thoa bên những bông hoa hé nở thoang thoảng hương thơm, Triết thấy sinh ra những ý nghĩ thèm muốn làm chàng ngây ngất một cách khó chịu.
Thoa hỏi :
- Nhà có bình cắm hoa không anh?
Triết mỉm cười đáp :
- Không có. Nhưng không sao, để tôi lấy cái này thay vậy.
Chàng lại bàn giấy lấy một cái liễn Bát Tràng cổ vẫn dùng để cắm thước và cắm những cuộn giấy. Thoa cười :
- Nhà không có đàn bà có khác.
Triết tiếp theo luôn :
- Mà chẳng bao giờ có đàn bà nữa.
Chàng giơ tay chỉ trên trần nhà nói :
- Cô xem màng nhện giăng khắp cả thế kia.
Thoa cắm hoa vào liễu, và cặm cụi xếp đặt những bông hoa cho đẹp mắt. Thoáng nghĩ đến cái đời sống cô độc của Triết, Thoa đột nhiên nói :
- Anh ở đây hẻo lánh quá nhỉ những hôm trời mưa thế này mà về đây một mình thì buồn chết.
Triết nói :
- Lâu cũng quen dần... vả lại cả đời cứ phải sống thế không quen cũng không được.
Thoa nghiêng đầu ngắm cái liễn hoa :
- Ở trong nhà có ít hoa trông vui hẳn len. Đấy anh xem.
Triẽt cười nói đùa :
- Cô nói nghe cũng có lý đấy.
Rồi như mới nghĩ ra được điều gì, chàng nhìn Thoa, vẻ mặt bâng khuâng :
- Tôi cũng nghe cô. Để mai kia, khi cô lên Vĩnh Yên rồi, tôi sẽ dùng cái liễn này để cắm hoa. Ngày nào cũng mua hoa về cắm cho vui nhà.
Bỗng chàng hỏi Thoa đột ngột :
- Cô thích thứ hoa gì nhỉ?
Thoa đáp :
- Em thích nhất hoa hồng.
Triết lẩm bẩm nói một mình :
- Hoa hồng có quanh năm...
Rồi như sợ Thoa đoán được ý mình, chàng nói tiẽp :
- Chơi hoa hồng vừa rẻ tiền lại vừa tiện. Hoa hồng đẹp, nhưng mà phải cái thường quá.
Nghe tiếng bà Huấn ở trên gác, Thoa giật mình nói :
- Để em chạy lên gác báo tin cho mẹ em biết.
Triết uể oải ngồi xuống ghế. Quên mình đi, khó nhọc mấy tháng trời để tìm cách cho Lộc về với Thoa, mong mỏi mãi cho đến ngày có kết quả, nay ngày ấy đã đến Triết thấy buồn bã lạ thường. Bắt đầu từ ngày mai chàng không còn được gần gũi Thoa nữa.
Ngoài nhà, mưa vẫn rơi tầm tã.
Một cơn gió lạnh thổi vào làm rung động mấy bông hồng và đưa lại phía chàng một ít hương thơm nhẹ. Triết lẩm bẩm :
- Éo le vô cùng...
Rồi chàng chống hai khuỷu tay lên bàn, với một bông hồng, áp vào môi, nhắm mắt lại, rưng rưng muốn khóc.
* * * * *
Ăn cơm xong, bà Huấn kêu nhức đầu lên gác nghĩ, chỉ còn Thoa và Triết ngồi bên bàn nói chuyện. Mưa đã tạnh: nước đọng ở mái nhà rơi từng giọt một xuống rãnh, nghe đều đều như điểm thời khắc qua.
Triết thẫn thờ nói :
- Thế là ngày kia anh ấy đã về rồi.
Chàng thấy câu nói của mình rõ ràng có vẻ là một câu than thở, lo sợ sắp đến ngày Lộc về. Chàng đưa mắt nhìn Thoa. Nàng thở dài một một cái rất nhẹ, yên lặng không đáp. Triết nói :
- Lần này đi dễ chừng đến tết cô mới về thăm quê nhà được.
Thoa đáp :
- Chắc em về luôn, vì còn ruộng nương của em. Anh không biết à? Bác mới sang tên cho em mấy mẫu ruộng ở ngay ngõ đi vào.
- Tôi không biết.
Thật ra, chính vì chàng nói nên mẹ chàng mới nghĩ đến việc cho Thoa mấy mẫu ruộng ấy Thoa nói :
- Ngày cưới; bác cho em áo, bây giờ bác lại cho ruộng.
- Chỉ có tôi là không có gì tặng cô.
- Sao anh lai nghĩ thế. Anh thì phải cần gì cho em nữa.
Triết ngồi cúi nhìn về phía Thoa, ngập ngừng sẽ gọi :
- Cô...
Triết định nói cho Thoa hiểu hết cải tình u ẩn của mình. Chàng nghĩ bây giờ Lộc về thì có thể nói cho Thoa biết được, vì Thoa vẫn yêu chồng và cái tình của chàng tuy có ngang trái, nhưng vẫn là một tình bè bạn trong sạch. Chàng nghĩ nói ra cũng không có hại cho ai, can gì mà giấu diếm Thoa trong bao nhiêu năm.
Thoa thấy Triết gọi, ngửng lên nhìn.
Lần này cũng như lần Thoa chưa đi lấy chồng, Triết nhìn hai con mắt Thoa thấy một cách rõ ràng rằng Thoa đã hiểu chàng rồi và đã biết chàng định nói gì. Chàng không cần phải nói nữa.
Thoa thấy Triết đăm đăm nhìn mình nên cúi mặt xuống; nàng mỉm cười buồn rầu sẽ nói :
- Lạ quá, không có gì cả, nhưng hễ em cứ sắp đi đâu là em thấy buồn.
Triết nói :
- Tôi bận việc, nhưng đến vụ gặt, cô về quê trong coi ruộng thì tôi cũng cố về.
Thoa tiếp theo :
- Nhưng chẳng cứ gì trông thấy mới là gặp.
Triết nắm chặt hai bàn tay lại với nhau để cố giữ vẻ cảm động và âu yếm nhìn Thoa nói :
- Tôi hiểu cô lắm. Như trước kia, khi cô ở Vĩnh Yên ba, bốn năm, tuy không trông thấy cô, mà lúc nào cũng như gặp cô, vì lúc nào cũng nghĩ tới cô, mong cô sung sướng. Cô khổ thì tôi không thể nào vui được.
Thoa ngước mắt nhìn Triết, mỉm cười :
- Cám ơn anh. Em được sung sướng ngày nào là nhờ ở anh cả. Nhưng em biết lấy gì để đền ơn anh.
- Cô nói làm gì đến ơn nghĩa. Cô hiểu tôi như tôi hiểu cô, thế là đủ. Suốt đời tôi, tôi không mong ước gì hơn nữa.
Hai người nhìn nhau, tự nhiên thấy ngượng. Mắt Thoa tỏ vẻ bối rối, nhưng có thoáng một nỗi vui mới lạ. Triết đứng lên ra tựa cửa sổ, trông ra ngoài vườn. Quả tim chàng đập một cách êm ái, không có gì cả nhưng từ lúc đó chàng biết chắc là Thoa cũng bắt đầu yêu chàng như yêu một người tình nhân. Một lúc lâu chàng nói :
- Mưa xong mà có trăng, trời trong lạ. Trong đời, tôi chưa thấy đêm nào đẹp như đêm nay...
Câu tả cảnh trời đẹp ấy, Triết chỉ cốt mượn nó để mong diễn cho Thoa biết cái vui sướng đương tràn ngập cả tâm hồn chàng, cái vui sướng mà chàng thấy nó trong sáng hơn cả bầu trời đêm hôm đó.
Nhưng cái tình của chàng với Thoa đẹp đẽ quá, khiến chàng nghi ngờ không biết cái vui của mình có thể thật được không. Hay đó chỉ là cái ảo tưởng diễm lệ của một sự khao khát về tình ái không bao gìờ được mãn nguyện.
Triết nhìn ánh trăng đọng trên lá cây ướt, ngẫm nghĩ :
- Miễn là cái ảo tưởng ấy hai người cố giữ sao cho được lâu bền mãi, suốt đời.

V

Một buổi chiều vàng... Thoa lững thững ra ngoài cổng chơi mát. Ngửi thấy mùi lúa chín thơm gió đưa thoảng qua, nàng lẩm bẩm :
- Đã hai vụ gặt rồi chưa về thăm quê.
Nàng lại gần quán nước hỏi chuyện bà hàng :
- Mấy hôm nay có hội, hẳn là đông khách.
Bà hàng lắc đầu :
- Ế quá, mợ ạ. Nhưng cũng may hôm nay có được một thầy mặc quần áo tây vào ngồi uống có một bát nước trơ cho những năm xu. Thầy ấy làm ở lục lộ. Ngồi một lúc, cháu thấy thầy ấy giở cuốn sổ tay họa mấy cái nhà này và biên chép mãi.
Thoa đã toan đi, bỗng một ý nghĩ vụt hiện đến làm nàng thấy lặng cả ngươi. Nàng hỏi :
- Hay là ông tham lục lộ?
- Không phải, người này trẻ hơn. Vào trạc ba mươi tuổi.
Yên lặng một lúc rồi bà hàng tiếp theo :
- Hình như thầy ấy trước đã có đến một hai lần rồi.
Thoa không cần hỏi nữa, vì nàng đã biết người ấy là ai.
Nàng quay mặt ra phía đường xe lửa xuôi Ha Nội, đứng lặng yên đưa mắt nhìn theo hàng cột dây thép nhỏ dần rồi khuất sau quả đồi xóm Rùa làng Khai Quang; trên mỏm đồi, về phía đầm Vạc, trơ trọi đứng một cây thông cằn in lên nền trời xa, hiu quạnh.
Hai con mắt mơ màng, Thoa se sẽ lắc đầu và thở dài rất nhẹ.


0
Chết dở
 
Khương chống hai tay xuống chiếu, lê dần người ra một góc giường, rồi giơ tay mở ngăn kéo bàn. Chàng cúi mặt nhìn vào trong ngăn kéo, nhưng vì buồng tối, không nom rõ, nên chàng cho tay vào lục lọi, năm ngón tay xòe ra quờ quạng bốn góc. Tìm một lúc lâu, chàng đậy ngăn kéo lại, có vẻ thất vọng. Khương nhớ rõ một hôm có vứt vào ngăn kéo một điếu thuốc lá hút dở, thế mà nay biến đâu mất. Chàng cau mày lẩm bẩm :
- Chắc lại thằng nhỏ khốn nạn ấy nó xoáy của mình rồi.
Bỗng Khương chợt thấy một mẩu thuốc lá nằm gọn ở chân cái mễ. Chàng cầm lên, thổi mạnh cho hết bụi, để vào mũi ngửi.
- Thuốc lá Ăng-lê. Chắc là của thằng cha Hạp lại thăm mình hôm nọ.
Khương nhỏm dậy và lấy ngón tay cời thuốc cho tơi. Chàng nhìn dúm thuốc trong lòng bàn tay, vui mừng nói :
- Cũng được một điếu nhỏ.
Móc túi một lúc lâu, Khương lấy ra một tập giấy thuốc lá, ngồi loay hoay quấn. Chàng làm công việc ấy rất thong thả như có ý kéo dài cái thời kỳ chờ đợi được hút một điếu là rất ngon.
Từ ngày bị liệt hai chân - đến nay đã gần bảy năm - Khương lúc nào cũng quanh quẩn bên giường.
Không làm việc gì cả, nên chàng lấy cái nghiện thuốc lá làm một cái thú độc nhất để khuây khỏa nỗi buồn. Nhà chàng nghèo dần; chàng còn sống được đến bây giờ là nhờ ở người vợ có ít lưng vốn mở một cửa hàng bán gạo tẻ.
Khương đánh diêm châm điếu thuốc lá, nhưng vì thuốc ẩm, hút mỏi mồm cũng không được tí khói nào. Giấy ướt nước bọt, rách tung; Khương nhổ mạnh cho những sợi thuốc khỏi bám lấy môi rồi tức mình quẳng điếu thuốc đi.
Khương nằm im một lúc, toan gọi thằng nhỏ, thì có tiếng vợ chàng thét ở ngoài nhà. Chàng định bảo thằng nhỏ xin tiền mua thuốc lá, nhưng thấy vậy, chàng đành nhịn thêm đợi lúc khác. Nửa giờ sau, nghe ngóng biết là ở ngoài cửa hàng không có khách nào, Khương khẽ gọi :
- Nhỏ ơi!
Không thấy thằng nhỏ vào, và biết là nó bận luôn tay, nên Khương cứ thỉnh thoảng lại gọi khẽ một tiếng, may ra lọt vào tai nó chăng. Sau cùng, thấy thằng nhỏ vào, chàng ngập ngừng dặn :
- Em ra xin mợ tiền mua cho cậu bao thuốc lá.
Lúc thằng nhỏ ra ngoài nàng cất tiếng hỏi, chàng đã đoán trước được những lời của vợ chàng :
- Cậu mày hút gì mà hút lắm thế. Cậu mày hút nửa, thì mày cũng hút vào đấy một nửa. Đánh mãi cũng không chừa được thói ăn cắp của chủ.
Theo sau lời nói, một tiếng cốp mạnh lên đầu thằng nhỏ, nhưng Khương chỉ để ý đến tiếng mở tráp và tiếng xu, hào chạm nhau. Đưa tiền rồi, vợ chàng còn lẩm bẩm nói một mình :
- Hút vào chỉ tổ ho, chứ có được tích sự gì đâu.
Thằng nhỏ vào buồng, nửa như đặt, nửa như vứt bao thuốc lá trên nắp cái ấm giỏ, rồi bước vội ra ngay. Khương không nhận thấy cử chỉ khinh thị ấy của đầy tớ, chàng chỉ khó chịu về nỗi phải lê mãi mới tới cái giỏ để lấy bao thuốc. Chàng trân trọng mở bao ra, quấn một điếu thật to, rồi nằm ngửa hút luôn mấy hơi dài.
Khói thuốc khi bay ngang qua những tia nắng xiên chếch từ khe cửa sổ xuống đất hiện rõ ra những đám mây, rồi một lúc sau lại biến mất vào trong bóng tối gian phòng. Khương đau đớn nghĩ đến cái thời kỳ cường tráng từ năm hai mươi nhăm đến năm ba mươi tuổi, cái thời kỳ còn chứa chan hy vọng về cuộc đời, lúc nào cũng hoài bão những công cuộc to lớn, bồng bột chí khí hùng dũng. Học trường Luật được hai năm, Khương bị đuổi, rồi từ đấy, chàng bắt đầu hành động. Vợ chàng, người đàn bà cằn cỗi, chua ngoa, ngồi bán gạo ở cửa hàng hồi đó, còn là cô Liên, một thiếu nữ mảnh dẻ dịu dàng, hai con mắt đẹp lúc nào cũng như đương mơ một giấc mơ xuân. Liên lấy chàng chỉ vì phục chàng là người có chí rộng. Nhưng nay cái chí khí của chàng, cũng như cái sắc đẹp của Liên không khác gì làn khói thuốc lá đã bay qua tia nắng biến vào bóng tối đen.
Từ khi bị chân tê liệt, tuy vẫn nghĩ đến những việc hoài bão cũ nhưng Khương dần dần thấy không tha thiết nữa, cho những việc ấy là không cần. Chàng thờ ơ với mọi việc, thờ ơ với cả vợ chàng là người chàng tưởng yêu đến khi nhắm mắt. Vợ chàng cũng không yêu chàng nữa, và sau bảy năm vất vả, khổ sở, nàng chỉ coi chồng như một cái bao nặng trên vai, muốn vứt đi nhưng không nỡ.
Khương chỉ mong vợ bỏ hẳn mình, vì có thế, chàng mới có can đảm định liệu lại đời chàng. Còn có người nuôi cơm ăn, thì chàng còn như thế này mãi, vì chàng đã hết cả nghị lực, không thể tự mình vùng dậy được.
Khương quấn luôn điếu thuốc lá thứ hai hút tiếp; trong phòng khói um như có sương mờ. Chàng thấy rức đầu và rạo rực trong người. Tiếng vợ chàng the thé mắng đầy tớ ở ngoài nhà khiến chàng bịt tai lại. Tuy vậy, chàng cũng vẫn nghe rõ và lần này khác hẳn mọi lần, chàng lại để ý nghe.
- Vừa mới thấy bóng ở đây đã chạy rúc vào buồng ngủ. Ngủ gì mà ngủ lắm thế. Tao nuôi mày để mày ườn thây ra ngủ và ăn hại tao à?
Vợ chàng hứ lên một tiếng dài rồi tiếp theo :
- Sao mà cái số tôi số khổ sở thế này. Những tội, những nợ nặng chình chịch cả người.
Khương xoay mình úp tai xuống gối nằm yên như người không muốn nghĩ ngợi gì cả. Nhưng trí chàng vẫn cứ quanh quẩn nghĩ về mấy tiếng mắng :
- Mình bịt tai thì mình chỉ không nghe thấy. Nhưng những tiếng ấy vẫn có.
Chàng vùng ngồi dậy, máu rực lên làm chàng nóng bừng mặt.
Chàng cất tiếng gọi :
- Nhỏ!
Liên chạy ngay vào, vì thấy tiếng chồng gọi to khác thường, đoán là có việc gì nguy kịch :
- Gì thế, cậu?
- Mợ ngồi xuống đây, tôi nói câu chuyện.
Liên nhìn quanh quẩn biết là không xẩy ra việc gì, liền gắt :
- Cậu làm gì mà rối lên thế?
- Mợ ngồi xuống đây đã nào?
- Cậu muốn nói gì thì cứ nói ngay đi. Tôi đương giở bận...
Khương nói như quát :
- Thì tôi bảo mợ ngồi xuống!
Liên cũng quát lại :
- Cậu muốn mắng tôi đấy, có phải không? Ồ lạ chưa?
Khương hạ giọng xuống :
- Tôi tưởng khi mợ mắng đầy tớ, thì mợ cũng nên nghĩ đến tôi mà liệu giữ gìn lời nói. Mợ cũng phải có ý tứ một chút chứ?
- Bây giờ cậu lại cấm đoán không cho tôi mắng đầy tớ nữa sao. Tôi giận thì tôi nói cho sướng mồm, tôi không rỗi hơi đâu mà nghĩ đến ai cả... Khổ tôi chưa, muốn yên thân mà người ta không cho tôi yên thân. Thế này thì chết đi cho rảnh.
Khương đợi cho vợ im hẳn rồi cố lấy giọng ôn tồn nói :
- Mợ khổ thì tôi cũng không sung sướng gì. Nhưng mợ nên nghĩ lại ngày trước mà thương tôi. Sao vợ chồng mình...
Khương muốn nhắc lại cái thời kỳ hai người yêu nhau ngày xưa, nhưng nhìn vợ thấy nét mặt lạnh lùng, hai con mắt khô khan, chàng biết rằng không bao giờ, không bao giờ nữa, còn mong sống lại được những ngày hạnh phúc đã qua.
Liên không hiểu chồng định nói gì, trước khi quay ra, nàng cười gằn, nói :
- Làm người ta mất cả thì giờ! Chả được tích sự gì, chỉ được cái nhắng hão.
Hai tiếng “nhắng hão” khiến Khương uất người lên, vì nhắc Khương nghĩ đến cái tính hăng hái của chàng nay đã nhụt. Chàng muốn ngoài chàng ra không ai được nhận thấy sự trụy lạc của tâm hồn mình. Chàng nghiến răng, nắm tay giơ lên trước mặt vợ :
- Mợ phải biết, nếu tôi không tàn tật...
Nhưng dáng dấp hùng hổ của Khương chỉ làm cho Liên cười nhạt :
- Cậu không phải dọa. Cậu dọa nhiều lần rồi. Cậu tưởng tôi sợ cậu lắm hay sao...
Nàng đi ra lẩm bẩm :
- Anh hùng rơm!
Khương nắm cái nắp ấm toan ném theo vợ. Nhưng chàng lại hạ tay xuống. Chàng tự bảo :
- Có hơn được gì đâu. Nó cũng đã khổ chán vì mình. Giờ nó thành ra khốn nạn như vậy, đâu phải lỗi tại nó.
Khương chán nản, nằm vật xuống giường. Chàng cố nhấc hai chân lên, nhưng không thể được.
- Mình cũng như thằng chết rồi!
Mắt chàng bỗng để ý đến con dao díp, lưỡi thuôn thuôn nhọn vì đã bị mài nhiều lần. Con dao đó chàng mua từ ngày còn khỏe mạnh, và đã nhiều lần dùng để hộ thân, vì độ ấy chàng có bao nhiêu người thù, người sợ chàng! Nhìn cái mũi dao nhọn hoắt, chàng lại nhớ những hôm hội họp với các bạn ở nhà ả đào dùng mũi dao để mở những hộp thuốc phiện mới mua về. Chàng còn như trông thấy rõ trước mắt bàn tay của cô đào yểu điệu tìm chỗ chích, rồi mũi dao cắm xuống, làm phọt lên một ít thuốc phiện đỏ sẫm như máu đào. Khương bất giác với con dao díp, lấy ngón tay trỏ vờn lưỡi để thử xem sắc, nhụt. Chàng nắm chặt cán dao trong lòng bàn tay, đưa lên gần cổ. Chỉ một cái chích nhẹ vào gáy, một ít máu phọt ra, thế là hết. Văng vẳng bên tai chàng mấy tiếng :
- Anh hùng rơm! Anh hùng rơm!
Chàng sẽ yên lặng không kêu một tiếng nào để tỏ cho vợ biết rằng mình cũng có can đảm, cái can đảm cuối cùng, biết chết một cách lặng lẽ.
Bỗng chàng sợ hãi, hai con mắt mở to chăm chú nhìn bàn tay nắm con dao. Cánh tay tự nhiên ngả dần dần xuống chiếu và bàn tay mở ra; con dao lăn trên mấy ngón tay rồi rơi khẽ xuống nền đất. Khương lẩm bẩm bằng tiếng Pháp :
- Không! Ta không thể được.
Cánh cửa sổ hé mở bị một cơn gió đóng sập lại. Trong buồng tối om. Khương thấy lạnh cả người; những câu nhiếc của vợ, sự nhát gan lúc định quyên sinh đã làm cho chàng trông thấy rõ cái chết của tâm hồn chàng. Chàng cảm thấy cái chết ấy ghê sợ bằng mấy mươi cái chết thật, vì nó bắt chàng phải sống mãi, sống để mà biết.
Khương duỗi hai tay, nhìn lên mái nhà. Một tia nắng lọt qua khe lá làm chàng nghĩ đến cảnh vui sống của cuộc đời bên ngoài. Chàng tưởng tượng các ngọn cây đương phấp phới ánh sáng, ngả nghiêng đùa với gió và những đám mây trắng đương nhẹ nhàng trôi trên trời xanh cao...
Mấy cô con gái vừa đi ngang qua vừa nói chuyện. Khương tưởng tượng họ đẹp lắm, người nào cũng khỏe mạnh, má rám hồng vì nắng, và mắt trong sáng vì phản chiếu ánh trong trẻo của trời thu.
Một tiếng cười giòn sau một câu nói đùa, Khương nghe như là ở trên cõi sống đưa xuống, mà cái buồng tối này chàng tưởng như là một cái áo quan lớn để chôn sống chàng.

0
Nước chảy đôi dòng
 
Nước xuôi dòng, buồm thuận gió. Hai bên bờ sông hai dãy đồi dài, sương buổi chiều đã lờ mờ phủ chân đồi; trên ngọn đồi vài rặng thông như mấy vết mực nhạt... trời lạnh và trăng trong...
Sinh ngồi ở ngoài khoang thuyền kéo cổ áo lên che cho khỏi lạnh, quay ra phía sông vơ vẩn nhìn cảnh nước trôi, trăng giải. Chàng lặng yên để tâm trí phiêu lưu, không nghĩ gì, không vui, không buồn, có cái thú bình tĩnh vô tư.
Sinh lên chơi người quen ở Phả Lại, khi trở về, nhân có chiếc thuyền nâu cũng xuôi nên xuống thuyền, bao giờ đến nhà thì đến, vì chàng không vội gì. Mà Sinh cũng không bao giờ biết vội. Chàng là con quan, nhà giàu có, nên sống một cuộc đời nhàn nhã, cứ để năm tháng đi qua hết ngày nọ đến ngày kia... đi qua như dòng nước chảy xuôi.
Sinh đương ngồi vơ vẩn, bỗng nghe trong khoang có tiếng cười nói rất thanh tao. Sinh lấy làm lạ, vì lúc xuống thuyền chỉ có hai vợ chồng người lá đò đã già. Sinh quay lại thấy một người con gái trạc độ mười tám tuổi, mặc chiếc áo tứ thân vá vai đã cũ, chiếc khăn vuông đã bạc màu, tóc rũ xuống mà rối bời, nhưng nét mặt xinh đẹp tuyệt trần, hai con mắt trong và sáng, trông thanh tao có vẻ con nhà khuê các. Sinh ngạc nhiên, giương mắt nhìn. Người con gái không để ý, không chút e lệ, ngây thơ nhìn Sinh, hơi mỉm cười, sẽ nói :
- Mời ông vào xơi nước.
Trên chiếc chiếu trắng, Sinh thấy có để ấm nước và khay gỗ đựng mấy chiếc chén sứt miệng. Người con gái rót nước vào chén, hơi lên nghi ngút, mời Sinh uống, rồi lại lui về khoang cuối thuyền, vừa cầm lái vừa đun bếp. Sinh cầm chén nước lên nhưng không uống, vẫn đăm đăm nhìn theo: dưới ánh lửa, hai con mắt người con gái lại càng sáng, đôi má lại càng hồng.
Sinh ngẫm nghĩ :
- Quái, không lẽ hai vợ chồng lái đò cục kịch thế kia lại có người con gái thanh tao như vậy. Cái thân kia phủ tấm áo đã bạc rách, nghĩ kể cũng đáng thương, đôi má kia nỡ nào để chịu gió sương mà hai tay kia tháng ngày dầm nước lạnh, mó cá tanh, sao cho xứng đáng.
Sinh đến gần chỗ đun nước, bảo người con gái :
- Trên thuyền có củi, cô cho mấy thanh củi to để tôi ra sưởi; đi thuyền không quen, chân tay tôi giá lạnh giá cả.
Người con gái rút ở dưới khoang thuyền mấy thanh củi, rồi nói :
- Thưa ông, ông chịu khó ngồi róm lửa lấy mà sưởi, cháu còn mắc cầm lái.
Sinh tò mò hỏi chuyện :
- Cô ngồi cả đêm thế không lạnh sao?
- Thưa ông, quen đi... vả lại cháu chỉ ngồi đến nửa đêm, thầy cháu đi ngủ sớm, nửa đêm lại ra thay.
Sinh nói đùa :
- Cô có lạnh vào mà sưởi, để tôi ra cầm lái cho.
- Ông cầm không quen, đâm vào bờ thì chết!
Cô nói xong cúi mặt, mỉm cười. Sinh giơ hai tay lên sưởi, nói :
- Thuyền này to mà sao ít người thế cô?
- Chuyến về, xuôi nước thuận gió, chúng cháu không phải lấy thêm người chở đò.
- Làm nghề này về mùa rét vất vả lắm nhỉ?
- Chúng cháu quen đi...
- Cô xuống làm dưới thuyền này được bao lâu?
Người con gái ngửng lên, hình như lấy làm lạ cho câu hỏi vẩn vơ nhưng cũng trả lời :
- Chúng cháu làm nghề này từ thuở bé; thầy u cháu đã già, tuy nghề vất vả nhưng vẫn phải làm, vì không làm không có cái ăn.
Sinh nhìn kỹ tay người con gái, thấy tay tuy nhỏ nhắn, xinh xắn nhưng làm lụng nhiều nên đã sàm sạm đen, nhiều chỗ thành chai, tự nhiên đem lòng thương; tự sự thương một người con gái đẹp đến sự yêu tưởng không xa lắm. Sinh nhìn vào mặt người con gái hỏi vẩn vơ :
- Cô cả đời ở dưới thuyền chắc buồn lắm nhỉ?
Bấy giờ ngoài mặt sông bóng trăng rọi xuống như sắc hoa bạc trên làn sóng... còn ngoài xa thì sương đêm mờ mờ, chiếc thuyền như đi trong một thế giới mơ mộng, mà trong cái cảnh như thực hư ấy, Sinh tưởng chừng đương ngồi đối diện một người tiên nữ trá hình làm người con gái chở đò...
- Cô vào ngồi đây sưởi cho đỡ lạnh, bây giờ đương ở giữa sông thì bẻ lái thẳng mặc cho thuyền nó đi.
Người con gái nghe lời, vào ngồi bên lửa giơ tay sưởi. Sinh để tay lên tay người con gái nói :
- Tay cô lạnh giá cả, tội nghiệp quá!
Nhìn đến cô bé thì cô bé vẫn điềm nhiên như không, cho Sinh sờ tay mình là tự nhiên, cười nói một cách ngây thơ :
- Ngồi đây ấm quá nhỉ, nhưng ấm quá chốc nữa ra lại lạnh.
- Ấy cứ ngồi bên tôi là ấm.
Người con gái lại cười một cách ngây thơ. Sinh âu yếm hỏi :
- Cô em năm nay bao nhiêu tuổi?
- Mười tám hay mười chín tuổi, tôi cũng chẳng nhớ.
- Thế cô em tên gọi là chi?
- Tên tôi là Duyên.
Sinh ngạc nhiên :
- Tên cô là Duyên à?
- Vâng tên tôi là Duyên, có gì mà ông lạ.
- Lạ vì tên tôi là Kim, tên hai người chắp lại thành Kim Duyên.
Người con gái như không hiểu, hỏi :
- Kim Duyên nghĩa là thế nào?
- Là cô với tôi có duyên với nhau.
Cô bé cười... nhưng vẫn cái cười ngây thơ như trước.
Sinh nói mấy câu ngụ ý, người con gái đều không hiểu cả, chỉ trả lời bằng mấy câu mộc mạc, hay cười một cách ngây thơ. Sinh càng nhìn người con gái càng thấy xinh đẹp, cái vẻ đẹp lộng lẫy dẫu ai trông thấy cũng phải cảm, huống chi như Sinh ngồi đối diện tha hồ ngắm nghía, trên trời dưới nước, riêng mình một tuyệt thế giai nhân.
Nhưng Sinh lấy làm chán nản vì không ngờ tấm linh hồn chất phác, mộc mạc ấy lại có thể ẩn dưới cái hình sắc đẹp đẽ đến như thế, khác nào chiếc áo nâu bạc rách bao phủ lấy tấm thân ngà ngọc, tuyệt mỹ kia.
Sinh ngồi sát vào người con gái: cô con gái không nói gì, vẫn một nét mặt thản nhiên, hai con mắt xinh đẹp vẫn một vẻ vô tình. Sinh nắm lấy tay người con gái, nhìn thẳng vào mặt, âu yếm hỏi :
- Cô Duyên...
Cô bé, khẽ hất tay ra, gọi to :
- Thầy ơi, sắp đến đống mía rồi, thầy ra mà kéo dây.
Sinh đứng dậy lùi vào trong khoang, vờ cầm chén uống nước - nhưng mãi cũng không thấy ông cụ lái đò ra. Sinh biết người con gái lúc nguy cấp vờ gọi cha cầu cứu, lại toan đến gần chỗ người con gái ngồi, nhưng chép miệng nói một mình :
- Vô ích! Ra làm gì? Ích lợi gì? Một người con gái xinh đẹp đến thế mà ta không thể nào yêu được, mà người đó cũng không thể nào yêu ta, không biết yêu là cái gì! Còn làm xiêu lòng người để mua vui một lúc thì không nỡ... thôi chỉ thế này thôi, chỉ thế thôi để gọi là giữ cái kỷ niệm một đêm đông trên thuyền cùng người con gái đẹp. Rồi sau đây... cuộc đời mỗi người đi về mỗi ngả...
Sinh giở chăn đắp, ngủ một giấc, tờ mờ sáng hôm sau mới dậy. Lúc bấy giờ thuyền vừa đến làng Sinh. Sinh từ giã hai vợ chồng lái đò và người con gái lên bờ. Người con gái còn đứng trên mũi thuyền trông theo, gió trên sông đưa mấy tà áo nâu bạc phất phơ... Sinh lát lát quay cổ trông với lại để thu vào trong trí nhớ cái hình ảnh của một người con gái đẹp chắc không bao giờ Sinh lại còn thấy một lần nữa.
* * * * *
Nhưng một sự tình cờ lại làm cho Sinh gặp người con gái ấy một lần thứ hai... từ lần gặp gỡ trước đến bây giờ đã mười năm.
Trong mười năm ấy Sinh đã lấy vợ, đã có con, cuộc đời vẫn đi như dòng nước chảy.
Sinh một hôm, bận chút việc phải đi đò liền gọi một chiếc thuyền đánh cá thuê chở. Một người đàn bà, bế con ở trong khoang thò đầu ra hỏi :
- Ông muốn thuê thuyền...
Sinh nhìn kỹ người đàn bà, sửng sốt buột miệng nói :
- Cô Duyên!
Người đàn bà cũng ngạc nhiên :
- Ông biết tên tôi?
- Cô không nhớ sao... Cô không nhớ người đi đò từ Pha? Lại mười năm về trước...
Sinh nhìn người đàn bà thì người ấy vẻ mặt ngẩn ngơ như không hiểu, không nhớ ra mà Sinh thì không thể lầm được.
Người đàn bà không để ý đến Sinh, quay mặt vào trong khoang nói :
- Thầy cháu ra có ông khách hỏi thuê thuyền.
Người chồng đi ra, đầu quấn chiếc khăn nâu, mình mặc áo cộc nâu, quần vuông lá tọa, vẻ mặt xấu xí, nói :
- Mời ông xuống, chúng cháu chở...
Sinh ngồi xuống ở mũi thuyền, nhưng vẫn nhìn đăm đăm vào người đàn bà; mười năm đã qua, mà trông vẫn phảng phất như người con gái năm xưa. Tuy đã đứng tuổi nhưng vẫn một vẻ đẹp lộng lẫy, tươi tắn như khi còn là con gái. Sinh nhìn người đàn bà, nhìn đến người chồng, đến đứa con trong lòng mẹ, nghĩ đến cái mơ mộng của mình mười năm về trước, thở dài lẩm bẩm :
- Cuộc đời! Cuộc đời người ta như thế đấy! Mà chỉ có thế! Ta tưởng người con gái đẹp thì không thể nào sống trong cảnh nghèo hèn được, ta ái ngại, ta thương... nhưng người con gái đẹp mà ta thương đây không biết mình là khổ, không bao giờ nghĩ đến xem mình có khổ không, vô tình thản nhiên sống theo cảnh đời họ... như dòng nước sông kia chảy trong lòng sông.
Sinh bùi ngùi, cúi mặt ngắm dòng nước, ngắm mấy cái rác, tan tác mỗi cái trôi về một phía... khác nào hình ảnh cuộc đời của Sinh với cuộc đời của người con gái chở đò, mỗi bên đi về mỗi ngả, không bao giờ gặp nhau.
Người đàn bà không để ý đến Sinh, vẻ mặt thản nhiên như không biết mình vui hay khổ, không biết mình là xinh đẹp, như không bao giờ nghĩ đến rằng người đẹp như mình có xứng đáng với cái cảnh đời ấy không... vô tình khẽ cất tiếng hát ru con:
... Nước chảy đôi dòng...
... Con sông Thương... nước chảy đôi dòng...


0
Nghèo
 
- Mình đã đỡ chưa?
Thấy vợ ngồi dựa vào tường, mắt có ngấn lệ, Trọng không biết là nàng khóc hay vì tại trong nhà đầy khói. Chàng thở rất khó, ngồi ghé vào đầu phản, hai khuỷu tay chống nặng nề xuống đùi và bàn tay bỏ thõng, có vẻ mệt nhọc. Tuy trời nóng như hâm, mồ hôi ra ướt đầm áo trong mà Trọng cũng không buồn cởi áo bành tô xanh đầy vết dầu xe ô-tô.
Nhìn qua cái mành rách sang góc nhà bên kia, Trọng thấy bác Phác, người đàn bà bán hàng rong ở chung với chàng cũng đương ngồi, hai khuỷu tay chống vào đùi có vẻ ngẫm nghĩ. Trọng thấy buồn cười nên vội vàng ngồi khác kiểu đi: ở trong một cái nhà lúc nhúc hơn mười gia đình, lúc ăn lúc ngủ, ai cũng nhìn thấy ai, nên Trọng luôn luôn khó chịu, cử động không được tự do.
Người đàn bà đột nhiên chửi lên mấy tiếng, rồi tiếp theo một tràng dài :
- Đôi guốc bà vừa để đây, ngoảnh đi một cái, hừ đã mất biến! Vật thứ không là bao, nhưng mà tức chứ! Hừ, ở lẫn với những quân ăn cắp!... Xin đừng ai chạnh lòng. Tôi mất của thì tôi nói, chẳng ông bà nào cấm được tôi.
Trọng biết là người ấy nói đã lâu rồi, mà nói câu ấy có lẽ đã hơn vài chục lượt. Họ vừa ngồi nghỉ cho đỡ mệt, nay lại bắt đầu. Vì chiều nào, những người ở trong nhà cũng tìm dịp to tiếng với nhau, nên chàng không để ý. Nhưng đến lúc thấy người đó mon men lại gần chiếc mành, cúi nhìn xuống gầm cái giường của chàng, vừa nhìn vừa nói: “Vụt một cái biến mất, nhậy thực!” như có ý đổ cho vợ con chàng lấy đôi guốc, thì chàng không giữ được giận, muốn chạy ra nắm tóc người ấy dúi xuống thềm gạch cho bõ tức. Chàng lẩm bẩm :
- Hừ, quá lắm. Dám nghi cho mình ăn cắp.
Nhưng chàng vẫn ngồi yên: hai tay nổi gân bám chặt lấy thành giường. Chàng trấn tĩnh lại ngay, tự bảo :
- Mình hãy còn giữ những thói của cuộc đời sang trọng cũ. Nếu cứ tức giận họ thì tức giận cả ngày.
Quay lại, thấy vợ vẫn ngồi yên trong góc giường. Trọng đoán là nàng không biết chuyện. Bảo thấy chồng nhìn mình chăm chú, nên nhếch mép hình như nàng phải cố hết sức, phải khó nhọc lắm mới nhếch nổi một nụ cười đón chồng.
Trọng đau đớn nghĩ đến rằng vợ chàng con một nhà gia thế, lấy chàng không phải vì tình yêu, cũng không phải vì chàng có tài cán, mà chỉ vì cha mẹ nàng ham cái gia tài của chàng. Hơn sáu năm ở với nhau, lúc nào chàng cũng nhận thấy lòng khinh rẻ của vợ đối với mình, mặc dầu lòng khinh rẻ ấy rất kín đáo. Ngờ đâu nay nàng ngồi kia, mình mặc chiếc áo cánh vá vai, chiếc quần lĩnh bạc màu, gày gò, ốm yếu, ở lẫn với những người nghèo cùng mạt trong xã hội, mà lại còn nghèo hơn họ.
Xảy ra như vậy chỉ vì mấy cái tai nạn dồn dập đến một cách bất ngờ. Chàng không biết lo xa, quá tin ở của cải mình. Sau khi gia tài khánh kiệt, chàng sống vất vơ vất vưởng, ngửa tay xin anh em quen thuộc mỗi người một ít để nuôi vợ, nuôi hai đứa con đẻ và hai đứa cháu bồ côi cha mẹ mà chàng đã nhận làm con nuôi. Như thế được mấy tháng, sau không ai giúp nữa, chàng đưa vợ đến đây, thuê một cái giường năm hào một tháng và đã kiếm được việc làm ở một nhà chữa ô-tô.
Một người gánh nước đi ngang qua, nước bắn vào bàn chân làm chàng giật mình. Chàng nhìn cái nền gạch long lở ướt sũng nước, nhìn những làn khói tỏa ở các bếp hỏa lò ra, lẩm bẩm :
- Ở thế này chỉ vài tháng là ho lao.
Trước kia, khi còn có nhà cho thuê, chàng chỉ cốt thu về nhiều tiền, không bao giờ cho thế là vô nhân đạo. Nay chàng mới nhận thấy một cách rõ rệt, tuy rằng cách cho thuê ấy đã giúp chàng có nơi trú ngụ bằng một giá rất rẻ. Chàng cần đến, nhưng chính vì sự cần ấy mà việc cho thuê như vậy là độc ác. Chàng ngẫm nghĩ :
- Nếu phen này ta có nhà cho thuê thì ta nhất định bỏ.
Chàng mỉm cười nói :
- Phen này!
Tự nhiên chàng thấy vui vẻ và nghĩ thầm :
- Bây giờ mình đâm ra có lòng tốt, lạ chưa.
Chàng nhận thấy chàng trước kia tàn ác, mà tàn ác chỉ vì vô tâm và ích kỷ. Bây giờ chàng mới biết không ai muốn giúp mình lúc nghèo, chỉ vì lúc giầu mình không nghĩ đến ai. Chàng sung sướng, mà cái sung sướng ấy mới lạ lắm, chàng thấy vụt có cái quan niệm cao quý về nhân phẩm của mình. Trọng ngửng lên nhìn vợ, mà lần đầu chàng nhìn vợ không có ý thẹn lại có vẻ hơi kiêu.
Mấy đứa con chàng ở ngoài chạy vào, cười nói, đứa nào cũng thở hồng hộc. Trọng âu yếm hỏi :
- Các con đi chơi đâu về?
- Chúng con đá bóng ở bờ sông vui quá.
Trọng nhìn những gò má hồng hào, lẩm bẩm :
- Chỉ ít lâu nữa là hết cả hồng.
Thấy một đứa kêu đói, chàng mới sực nhớ đến giờ nấu cơm. Chàng cho tay vào túi áo, vân vê ba đồng hào một cách âu yếm, vì ba hào chỉ ấy là tiền của chàng kiếm ra lần đầu tiên. Nó lại quý nữa là vì không có nó tất chàng và vợ con phải nhịn đói.
Tuy trước kia giàu có hàng nghìn, hàng vạn, mà bây giờ chàng mới thấy mình “có tiền”. Chàng kều mấy hào chỉ ở đáy túi vào lòng bàn tay và nắm lấy thật chặt.
Trọng thấy tiếng guốc của mình nện trên gạch hè đường kêu to một cách khó chịu vì chàng đi guốc chưa quen. Chàng tưởng như tiếng guốc xui bảo mọi người để ý đến mình. Trước khi rẽ vào một cái hàng cơm, chàng tự nhiên quay đầu nhìn lại phía nhà ở, có vẻ một người vụng trộm. Chàng rẽ vào đấy ăn quà sáng để lấy sức làm việc, trong khi vợ con chàng phải nhịn. Chàng không muốn ăn ở nhà một mình trước mặt vợ con.
Vào hàng, Trọng mua một xu xôi đậu đen, vì chàng đoán thứ quà đó no lâu. Chàng lấy đũa xắn từng miếng chấm muối vừng rồi nhai thong thả, vừa nhai vừa ngẫm nghĩ, nghe ngóng. Chàng gật gù lẩm bẩm :
- Càng nhai lâu càng thấy bùi miệng.
Bà hàng tưởng chàng khen xôi của mình thổi khéo, liền mời :
- Bác ăn xu nữa!
Trọng không ngờ xôi đậu đen lại ngon đến thế; chàng đặt đũa xoa hai tay với nhau, có vẻ khoan khoái, bảo bà hàng :
- Bà cho tôi thêm một xu. Bà lấy ở đáy rá cho nóng.
Trọng lấy làm tiếc rằng một thức ngon thế này mà ăn vụng trộm, vợ con không được hưởng. Chàng cảm động nghĩ đến những cái vụng trộm khác, trốn vợ đi hát mở từng chai sâm banh, và lấy làm lạ rằng những lúc đó sao không áy náy bằng khi ăn có hai xu đậu đen chấm muối vừng rang mặn.
Công việc của chàng cả ngày hôm ấy là nằm dưới gậm ô-tô thay “láp” xe. Trên má chàng, những giọt mồ hôi hòa với dầu máy từ từ chạy xuống tai, xuống cổ. Mới đầu, chàng tưởng không sao chịu nổi, nhưng sau chàng nghiệm ra rằng sự nóng bức càng tăng lên, sự khó chịu càng bớt dần. Nếu chàng là một người giàu có đứng ở ngoài, tưởng tượng phải làm việc như vậy, tất ghê sợ lắm, cho cuộc đời là khốn nạn, không đáng sống, không có nghĩa lý gì.
Trước kia, chàng cũng tưởng thế, vì chính chàng giàu có; trước kia không thiếu thứ gì, không bao giờ phải mệt nhọc đến thân mà không lúc nào chàng được yên tĩnh, luôn luôn tự hỏi sống để làm gì, và cố tìm một cái nghĩa cho sự sống của mình, của mọi người mà không tìm ra.
Bây giờ cái băn khoăn ấy đã mất hẳn. Chàng thấy công việc chàng có nghĩa lắm, vì nhờ nó mà chàng và vợ con chàng được no bụng. Cái nghĩa ấy không cao thượng gì cho lắm, nhưng nó có. Còn hơn là trước kia chàng không biết làm gì để sống, tuy bụng lúc nào cũng no. Bây giờ chàng mới hiểu rằng xã hội khốn nạn không phải là xã hội những người làm việc, tuy làm việc một cách khốn khổ.
Đương khi những ý nghĩ ấy lộn xộn trong óc, Trọng vẫn không quên cắn răng lấy hết sức xoay “bù loong”. Mồ hôi chẩy ròng ròng trên cánh tay chàng. Mồ hôi chảy cả vào mắt làm chàng hoa mắt nhìn không rõ. Chàng thấy hiện ra một cốc nước chanh với một miếng nước đá trong veo, chàng đã uống bên bờ biển Đồ Sơn một buổi chiều mùa hạ năm nào...
Trọng chúi đầu vào một góc màn nằm duỗi thẳng chân tay, thiu thiu ngủ.
Hé mắt nhìn qua vải màn, chàng thấy lấm tấm ở các góc nhà tối om những ngọn lửa đèn Hoa Kỳ xanh lè nhỏ bằng hạt thóc. Một vài tiếng ho, tiếng khạc nhổ, rồi lại đến những tiếng ngáy đều đều, tiếng vo ve của những con muỗi chui qua lỗ màn rách bay vào. Hơi nóng làm mờ những ngôi sao ló trong khung cửa sổ. Không có một làn gió nhẹ; vải màn rủ nặng nề xuống chiếu. Trọng tưởng như nằm trong một cái địa ngục tối, và tưởng thấy thấm vào người hơi nóng của một cái vạc dầu để gần đó. Chàng gục đầu vào cánh tay, nhắm chặt mắt lại và muốn đắm mình trong giấc ngủ như một người đắm mình trong cõi chết.
Nửa đêm Bảo thức giấc ngồi dậy. Nàng vừa phe phẩy quạt, vừa đưa mắt nhìn chồng, rồi chép miệng nói :
- Ngủ gì mà quên cả thay quần áo.
Trọng nằm ngủ cứ để nguyên cả quần áo làm việc: một cái quần tây nát nhầu và một cái áo “sơ mi” rách vá vai, dầu dây be bét.
Bảo dịu dàng ngắm nghía chồng nằm ngủ mê mệt; thấy đứa con cựa quậy, nàng chỉ lo sợ chồng tỉnh giấc, mất một giấc ngủ rất cần để lấy lại sức mai làm việc.
Nàng ngồi lại gần chồng, gượng nhẹ nhắc đầu chồng, đặt lên đùi mình. Lần đầu nàng thấy yêu người chồng đã vì nàng làm lụng vất vả suốt ngày, không có một lời than vãn.
Nàng giơ tay phải quạt rất nhẹ, còn tay trái âu yếm vuốt ve những làn tóc ướt đầm mồ hôi của chồng. Nàng thấy thổn thức trong dạ, rồi tự nhiên nước mắt ứa ra chẩy ướt đẫm hai bên má. Nàng không giữ được nữa, cúi xuống hôn một cái lên trán chồng, và như người mê man, nàng ôm lấy chồng, gục đầu vào vai, không nghĩ gì đến mồ hôi và mùi dầu máy khét ở quần áo chồng xông ra nồng nặc. Trọng thức dậy hơi lấy làm lạ về cử chỉ khác mọi ngày của vợ; chàng hiểu và sung sướng ngẫm nghĩ :
- Có lẽ lần đầu tiên mình và vợ mình biết thế nào là tình yêu.
Tuy hiểu vậy nhưng chàng không nói ra, chỉ hỏi :
- Hôm nay em làm sao thế, em Bảo?

0
Vết thương
 
Dung nhìn qua nét chữ trên phong bì lẩm bẩm :
- Lạy trời có tin mừng.
Tuy miệng nói vậy, nhưng trong thâm tâm nàng lại mong ngày có tin mừng còn lâu mới đến, hay không bao giờ đến. Nàng vội vàng xé phong bì, dở bức thư ra đọc:
“Chị Dung,
Xin báo tin để chị hay rằng anh Địch và anh Kỳ đã được tha. Đó là một tin đích xác. Hiện giờ đã ở Hà Nội, còn như bao giờ người ta giải về làng, em không được rõ. Vậy chị bảo tin ngay cho chị Địch và chị Kỳ rõ”.
Dung vội buộc băng cho người đau chân đến xin thuốc, rồi đội nón để về nhà báo tin cho hai em.
Nàng vừa đi vừa lẩm bẩm :
- Hai cô tha hồ mà mừng.
Hai con mắt Dung mơ màng nhìn ra chân trời xa lắc như cố tìm bóng một người mà nàng biết không còn bao giờ trở về nữa. Hoạch, chồng nàng, cũng bị đày ra Côn Đảo cùng một chuyến với Địch, em chồng nàng và Kỳ, em rể. Ba chị em từ lúc chồng bị đầy vẫn ở chung một nhà và an ủi lẫn nhau cho nhẹ bớt nỗi khổ. Cách đây trên một năm, Dung được tin chồng mất ở Côn Đảo. Hai em nàng hết sức khuyên giải chị và thường nói :
- Đã bị đầy chung thân thì sống với chết cũng thế thôi. Vả lại, ba chị em ta đã quyết coi như là chồng đã chết hằn, thì can gì chị phải quan tâm đến sự sống, chết. Đằng nào chúng mình cũng là ba người đàn bà góa rồi.
Dung nhờ có hai em nên khuây dần; ba người lại sống trở lại những ngày bình thường, lúc nào cũng gần gũi nhau và thân yêu nhau. Cho đến khi nhà nước ân xá các chính trị phạm; Dung mừng cho hai em, săn sóc hỏi tin tức các bạn ở Hà Nội về Địch và Kỳ; nhưng nàng không khỏi ghen thầm, ghen đến nỗi chỉ mong cho Địch và Kỳ không được ân xá. Nàng tự mắng :
- Sao mình lại nhỏ nhen, khốn nạn đến như thế được.
Đau đớn nhất là nàng vẫn yêu hai em và mong cho hai em sung sưóng.
Dung rút bức thư ở trong túi ra đọc lại rồi lẩm bẩm :
- Cốt nhất là mình phải giấu kín nỗi buồn riêng, mình không có quyền làm vẩn đục cái vui của người khác.
Tiếng bà Nhiêu Bình ở sau lưng làm Dung giật mình quay lại :
- Thư gì đó cháu? Đã có tin mừng gì chưa? Sao lại khóc thế kia?
Dung đáp :
- Hai chú ấy được tha cả rồi, bác ạ. Cháu mừng quá, không giữ nổi nước mắt.
Nhưng bà Nhiêu Bình đã hiểu vì cớ sao Dung khóc. Bà lắc đầu thươg hại, nói :
- Rõ tội nghiệp cho cháu tôi quá.
Sợ về ngay hai em tất biết là mình vừa mới khóc. Dung rẽ vào tam quan chùa làng và đứng một lúc lâu đợi cho khô hẳn nước mắt.
Khi Dung về tới nhà, Thuận và Trinh đang đứng ở hiên thì thầm nói chuyện. Dung thấy hai em quay ra nhìn mình một cách khác thường. Nàng hỏi :
- Có việc gì thế?
Trinh và Thuận vẫn yên lặng nhìn chị Dung chợt hiểu.
- Hai cô đã biết tin rồi à?
Thuận nói :
- Bà Nhiêu Bình vừa vào đây báo tin.
Dung rút bức thư bảo Thuận :
- Cô đọc thư xem. Hai chú ấy đã về tới Hà Nội.
Bỗng nàng nghĩ đến rằng bà Nhiêu bắt gặp nàng đương khóc, tất thế nào cũng kể chuyện lại với hai em. Trinh và Thuận vì thương hại nàng, không dám lộ vẻ vui mừng. Dung cảm động nói :
- Mong mỏi mãi... nhận được thư... chị mừng quá hóa khóc.
Nàng nghẹn ngào ở cổ, rồi nước mắt ứa ra chảy ròng ròng trên má, rơi cả xuống lá thư còn cầm ở tay. Nàng mỉm cười, ngượng nghịu nói :
- Rõ thật chị hay mau nước mắt quá. Đấy... lại khóc rồi đấy...
Nàng bỏ chạy vào trong nhà nằm gục trên giường. Trinh và Thuận đưa mắt nhìn nhau yên lặng.
* * * * *
Dung trải khăn bàn và lấy bát đũa ra bày. Khi nhìn cái bát lẻ loi để riêng ở một góc bàn, chỗ mà chốc nữa nàng sẽ ngồi một mình giữa hai cặp vợ chồng mới đoàn tụ, Dung phải hết sức giữ mới khỏi ứa nước mắt. Nàng nhớ lại câu của chồng khuyên hôm từ biệt để ra Côn Đảo.
- Em phải biết rằng vì khóc mới thành ra buồn, chứ không khi nào mặt vui tươi mà buồn được. Muốn không bao giờ buồn thì đừng bao giờ khóc cả.
Dung mỉm cười, nhưng không phải nàng muốn làm theo lời chồng dặn: chỉ vì nàng thấy câu của chồng nàng có vẻ ngộ nghĩnh. Nàng chạy xuống bếp rồi đứng ngắm Trinh đương phồng má thổi lửa, bụi tro bay lên phủ trắng cả vành khăn nhung.
- Thế nào, các cô nhà bếp mau chân mau tay lên. Đức anh chừng đi thăm các nhà quen đã sắp về tới kia kìa.
Trinh ngửng lên, hai má đỏ ửng, mắt long lanh. Nàng vừa thở vừa nói :
- Khéo không hỏng tiệt cả.
- Hỏng gì mà rối rít lên thế?
- Hỏng mất món đồ ăn này của em. Gió gì mà gió ghê gió gớm thế này, cứ chốc chốc lại tắt bếp.
Dung nói :
- Khê cháy ăn cũng ngon. Hay nói cho đúng, có làm ngon cũng vô ích. Còn ai nghĩ gì đến ăn nữa.
- Không việc gì, thơm lạ... Nhà em lúc... sinh thời chỉ thích ăn có một thứ này. Chị tính xem sáu năm nay làm gì có món này mà ăn.
Dung bẻ :
- Dùng chữ nho không biết đường mà dùng. Ai lại nói lúc sinh thời... trong khi chú ấy còn sống sờ sờ, dẫn xác về...
Thuận ở ngoài đi vào, tay bưng một đĩa cây cải non vừa đem ra rửa ngoài bể nước mưa. Nàng nói :
- Cô ấy nói sinh thời thế mà đúng, đã coi như là chết đi, nay sống lại thì hồi trước là sinh thời.
Thuận lấy tay vốc những cây cải non đầu mùa, nói :
- Em phải cho nó sang xin tận bên bác cả, chỉ được có ngần này, ít quá.
Thuận vừa cho cải vào nồi vừa nói một mình :
- Chắc là ăn phải khỏe, chừng này chẳng đủ được.
Rồi nàng quay lại phía Dung :
- Chị có thấy nhà em khỏe hơn độ trước không?... Phải cái đen tợn.
Trinh tiếp lời chị :
- Cả đến tiếng nói cũng đổi khác trước. Tiếng nhà em, em nghe là lạ... đến hay.
Dung nói :
- Thế nào mà chẳng hay.
Nàng đứng vịn tay vào cánh cửa bâng khuâng nhìn em vừa cặm cụi nấu nướng vừa hí hửng nói chuyện đến chồng mình. Dung mỉm cười và nghe những lời nói của hai em, nàng có cái cảm tưởng của một người tỉnh ngồi trong một bữa tiệc chung quanh ai cũng say cả. Dung thấy trong lòng hơi vui vui; có lẽ nàng đã bắt đầu có thể lấy cái mừng của hai em làm cái mừng chung cả cho nàng, Nàng tưởng tượng suốt đời hai em ở cạnh nàng mà cũng yêu thương người chị xấu số đã riêng chịu phận lẻ loi.
* * * * *
Trời tối dần dần, nhưng Dung vẫn đứng tựa cửa nhìn ra khu vườn con. Tiếng gió rít trong lũy tre lẫn với tiếng nói chuyện thì thầm của hai vợ chồng Địch lọt vào tai nàng. Dung không còn cái hy vọng được hai em ở cạnh mình nữa; từ sáng đến giờ, Kỳ và Địch chỉ bàn đến chuyện xin phép đi nơi khác làm ăn và đem cả vợ đi. Trinh và Thuận cũng tỏ ý thích như vậy, không nghĩ gì đến nàng cả. Nàng không trách gì hai em, nàng chỉ đau đớn nhận ra rằng từ giờ trở đi, trong đời Trinh và Thuận, nàng là một người không kể đến nữa. Nàng sẽ ở lại nhà một mình trơ trọi, không còn ai để an ủi mình và suốt đời sống với những nỗi thương nhớ chồng không bao giờ nguôi.
Trong nhà, tiếng Địch và Thuận nói với nhau nhỏ dần. Sợ làm mất tự do của hai em, Dung nói :
- Thím bảo nó đóng cửa cẩn thận. Tôi buồn ngủ quá, phải đi ngủ đây.
Nàng vào buồng đóng cửa lại. Vừa nằm vật xuống giường, nàng thấy nước mắt chảy ra giàn giụa. Nàng phải nức lên mấy tiếng cho khỏi khóc to. Ở ngoài kia, tiếng nói chuyện vừa im. Dung chắc hai vợ chồng đương hôn nhau. Nàng kéo cái gối bông áp vào mặt để làm mất những tiếng nức mỗi lúc một to. Ngực nàng khó thở, quả tim nàng như ngừng lại. Nàng tưởng giá khóc lên được mấy tiếng thì sẽ nhẹ nhàng xiết bao. Sợ không giữ nổi, Dung vứt cái gối đi, lấy cánh tay đè mạnh ngang miệng. Bỗng nàng tối tăm cả mày mặt. Để giữ một tiếng kêu thét xuýt thốt ra, hai hàm răng nàng vội cắn nghiến lấy cánh tay nàng. Dung ngất đi.
Ở ngoài nhà, Thuận muốn dò xem chị đã ngủ chưa, hỏi to :
- Lúc nãy chị dặn em gì thế?
Không thấy tiếng đáp, Thuận âu yếm nhìn chồng, thẫn thờ nói :
- Chị ấy đến tài. Bao giờ cũng vậy, cứ đặt mình xuống là ngủ ngay được.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.08.2016 21:57:37 bởi casau>
Câu chuyện mơ trong giấc mộng
 
Một đêm trăng mờ trên sông Thương. Con thuyền lờ đờ trôi bên cạnh một dãy lau cao, gió thổi qua xào xạc. Sinh ngồi dựa vào mạn thuyền, đôi mắt mơ màng nhìn một thiếu nữ tóc trần, mặc áo lụa trắng, đương ôm lỏng một cây đàn, hờ hững gẩy vài tiếng rời rạc. Sinh hỏi thiếu nữ :
- Ở giữa sông, mà lạ thật, có mùi hoa lài thơm lạ.
Thỉếu nữ nghiêng đầu để Sinh nhìn rõ mấy bông hoa lài trắng cài trong làn tóc đen, rồi thiếu nữ đăm đăm nhìn nước trôi cạnh thuyền như muốn ôn lại trong trí những việc xảy ra thời quá khứ xa xăm. Một lát, thiếu nữ thở dài, buồn rầu nói :
- Em thích nhất hoa lài... vì hình như kiếp trước, đời em là đời hoa lài.
Sinh cười nói đùa :
- Tuyết của tôi có linh hồn một nhà thi sĩ...
Tuyết nghiêm nét mặt..
- Em không nói đùa đâu. Anh không thấy người ta vẫn bảo hoa lài là một bông hoa đĩ, vì hoa chỉ nở ban đêm, thế mà đời em - em nói ra cũng không hổ thẹn - là đời một gái giang hồ...
Rồi nửa buồn rầu, nửa đùa cợt, Tuyết cất tiếng hát:
... Ngẫm xem hoa ấy thân này...
Tuyết đặt đàn, ngối sát lại gần Sinh :
- Anh muốn hay không là tùy ý anh, nhưng em thì em cho đời em với đời hoa lài có liên lạc với nhau. Mà người ta bảo hoa lài là một thứ hoa đĩ thật đúng lắm. Để em kề anh nghe lại cái hồi em mới bắt đầu bước chân vào cuộc đời giang hồ này:
Năm ấy em mới mười sáu tuổi. Một đêm nhà vắng, cũng như mùa hè và có trăng mờ như đêm nay. Em nằm một mình ở ngoài hiên cho mát và vơ vẩn nhìn ra ngoài. Bỗng em thấy trên cái sân gạch rộng, lờ mờ dưới bóng trăng, hiện ra ba người con gái mặc toàn đồ trắng, nhẹ nhàng đi lướt qua sân. Em lấy lạ, vì trong nhà ngoài em ra không có một người con gái nào khác nữa. Em ngồi nhỏm dậy nhìn ra ngoài thì thấy ba người con gái đi đi, lại lại, chơi bời, cười nói trên sân coi như nhà họ. Em ngạc nhiên toan bước ra sân, toan hỏi, thì cả ba cô con gái cùng đến xúm lại quanh em, cầm tay em tỏ nỗi mừng rỡ, rồi bảo em :
- Chị Tuyết đây rồi! Chúng em tìm chị mãi.
Thấy em ngạc nhiên, một cô nói :
- Chị quên chúng em rồi sao? Sao mà chóng thế. Bạn của chị đây mà, chị nhớ ra chưa?
Thế là từ lúc ấy, em mang máng nhớ dần ra, rồi em thấy hình như có gặp họ ở đâu nhiều lần rồi. Em chỉ nhớ mang máng thế thôi, chưa kip nghĩ ngợi gì cả, thì cả ba cô cầm tay em kéo đi, vừa đi vừa nói chuyện, nói chuyện lâu lắm, nhưng em không nhớ nói những chuyện gì. Lúc đi với họ, em thấy trong người nhẹ nhõm và quanh người lúc nào cũng phảng phất một thứ hương thơm mát, nhưng không đoán ra được thứ hương gì. Bỗng một cô nói :
- Thôi khuya rồi, xin từ biệt chị.
Rồi cả ba cô xáp lại người em, ôm lấy em: em thấy hoa cả mắt, và hương thơm ở ngoài ba cô bạn làm em choáng váng, tê mê, thiêm thiếp đi một lúc. Khi tỉnh dậy thì cả ba cô đã biến đâu mất và khi giơ vạt áo lên thì thấy đẫm mùi hoa lài. Có tiếng cười khúc khích... Em giật mình thức dậy mới biết là mình vừa nằm mê.
Em quay mặt ra ngoài cho tỉnh hẳn thì thấy ngay ở đầu phản bên gối em ba bông hoa lài trắng và to vừa mới nở, gió thổi chúm lại với nhau và quay cả về phía em nằm, hương thơm đưa thoang thoảng.
Sinh cười bảo Tuyết :
- Nằm bên hoa, ngửi thấy mùi hoa, mê như thế là thường.
Tuyết nói :
- Anh để em kể hết đã... Từ lúc ấy trở đi, em thấy em đổi khác hẳn, rồi ngay ngày hôm sau, em gặp một chàng trẻ tuổi, em mê người ấy và từ đó, em không còn là một cô con gái mười sáu tuổi trong sạch nữa. Em trở về nhà thì mấy bông hoa hôm trước, cánh đã héo tàn, vàng úa. Bắt đầu từ đó, em bước dần mãi vào con đường nhơ nhuốc... cho đến ngày nay. Nhiều lúc em muốn trở về với cái đời trong sạch kia, nhưng không thể nào được nữa, hình như có một sức mạnh vô hình bắt em phải sống, phải mãi mãi sống cái đời khốn nạn này.
Tuyết nhấc cây đàn lên gẩy xong bài Xuân nữ thán, rồi mặt cúi buồn rầu, hai bên má nước mắt chảy giàn giụa. Muốn khuây buồn cho người bạn một đêm, Sinh giơ tay khe bứt mấy bông hoa lài ở mái tóc Tuyết, rồi cầm vứt xuống sông. Hai người cùng nhìn theo mấy bông hoa trôi theo dòng nước. Một cơn gió thoang qua. Sinh nói :
- Để làm gì cái bông hoa ấy nó quấy rầy cuộc vui của hai người đêm nay.
Hết hoa, một cơn gió thoảng qua là hết cả hương thơm ám ảnh...
Tuyết mỉm cười chua chát :
- Hết thế nào được. Cái hương ấy nó thấm sâu vào trong da thịt em, nó đã tẩm cả linh hồn em, gió nào thổi cho sạch được.
Mặt trăng lộ ra: trời sáng hẳn. Tấm áo của Tuyết đã trắng lại trắng thêm, nổi hẳn lên nền lá sậy đen. Bỗng Sinh chăm chú nhìn vào mặt Tuyết, và ngạc nhiên thấy mặt Tuyết dưới ánh trăng mỗi lúc mỗi trắng dần... trắng như màu trắng của một bông hoa lài mới nở. Chàng ngạc nhiên hơn nữa, khi một cơn gió thoảng qua đưa lại phía chàng mùi hương lài thơm nức như ở trong áo Tuyết bay ra.
Sinh giụi mắt. Lúc bỏ tay ra, thì thấy ánh sáng soi vào giữa mắt mình và thấy mình nằm trên cái ghế mây dài ở đầu hiên nhà. Lúc đó Sinh mới hay rằng mình vừa mới mê một giấc chiêm bao. Thấy lẫn trong gió có mùi thơm hoa lài, Sinh quay mặt nhìn ra: ngay ở đầu ghế, một cành lài gió thổi hắt về phía chàng để lộ ra trong đám lá một bông hoa lài mới nở trắng nuột dưới ánh trăng. Hương thơm vẫn thoang thoảng và bóng hoa rung rinh trước gió, Sinh tưởng tượng như đương còn thì thầm kể lại câu chuyện mơ chàng vừa được nghe trong giấc mộng.

0
Thương chồng
 
Thân tặng Mẹ, để kỷ niệm những ngày nghèo khó ở Cẩm Giang, mẹ phải thức khuya dậy sớm đi cân gạo để nuôi chúng con ăn học.
N. L.

Trời lạnh và gió rét. Nhung lắng tai một lúc lâu nhưng chỉ nghe thấy tiếng thở đều đều của chồng nằm bên cạnh. Sẽ nhấc mép chăn, nàng ngồi dậy rất nhẹ để khỏi làm mất giấc ngủ của chồng, đi lần ra phía cái bàn con tìm bao diêm. Nàng châm đèn, vặn bấc cao dần dần sợ ánh sáng đột ngột làm chói mắt chồng rồi lấy một tấm bìa cứng dựng cạnh cây đèn cho bóng tối rọi đúng góc nhà chỗ giường ngủ. Nhung rùng mình một cái, với chiếc áo cánh bông khoác lên vai. Kim chiếc đồng hồ quả lắc cũ kỹ treo trên vách chỉ ba giờ sáng. Còn sớm quá. Nàng kéo nhẹ cái màn treo, thò đầu nhìn vào gường ba đứa con nằm. Giữa giường, Nhung chỉ thấy hiện ra một đống chăn, không có một cái đầu nào hoặc một bàn tay nào thò ra ngoài.
- Ngủ thế này thì ngạt hơi chết.
Nhung mỉm cười gật gật đầu vì nghĩ đến ba đứa con suốt ngày đánh đấm nhau chí chóe bây giờ ôm ghì lấy nhau ngủ một cách rất yên lành hòa bình; nàng kéo lại cái màn che cho kín gió rồi ra sau nhà đun nước rửa mặt, vừa đun vừa giơ tay hơ trên bếp sưởi. Má nàng nóng ran và hồng lên vì ánh lửa nhưng hai cạnh sườn vẫn lành lạnh, nàng quặt tay kéo mép tà áo cánh bông áp mạnh vào lưng cho ấm.
Trong lòng tuy vui háo hức nhưng Nhung vẫn lo sợ: sáng hôm ấy là sáng đầu tiên nàng đi cân gạo, bắt đầu một công việc chưa làm bao giờ. Nhà túng quá rồi nếu không cân được nhiều gạo giao cho người ta, không kiếm được đủ lời để chi tiêu thì đành bó tay không biết xoay sở ra sao. Bích, chồng nàng đã gần hai năm nay đi kiếm việc nhưng làm ở đâu cũng chỉ được ít lâu lại bị người ta thải ra. Có lần Bích ra đi biệt tích sáu tháng liền; Nhung tưởng chồng mình bỏ đi hẳn. Vì cớ gì? Nàng cũng không hiểu, chỉ biết ngấm ngầm buồn khóc, nhất là những buổi tối lúc đi nằm. Thấy cái gối không của ngươi chồng yêu đặt cạnh, nàng ôm lấy gối áp vào má và hít ngửi cái mùi tóc quen thuộc. Tuy nàng cố ý không giặt áo gối để giữ lấy hơi hướng của Bích nhưng lâu dần mùi tóc của chồng nàng cũng phai lạt chỉ còn lại mùi tóc của chính nàng. Thế rồi một hôm Bích lại trở về, chiếc áo độc nhất nàng mới sắm đã thấy sờn ở hai vai, khuỷu tay. Từ đấy thỉnh thoảng có nhiều người về thăm Bích; những người nàng không hề thấy mặt một lần nào nhưng gặp Bích đã thân với Bích, như những người bạn lâu năm. Họ thì thầm bàn tán với Bích có khi cả đêm không ngủ. Tuy những người bạn đó tính xuềnh xoàng và tỏ ý chỉ thích ăn cơm với rau dưa nhưng bổn phận làm vợ vẫn buộc nàng cố sao cho mâm cơm trông tươm tất. Mỗi lần một người bạn đi, Bích chỉ thở dài trông theo. Lâu dần Nhung đoán hiểu tính cách của các bạn qua lại và biết chồng mình trước kia lên Yên Thế đi gặp Đề Thám. Bích rất hiền lành không hề gắt với nàng bao giờ; đối với người ở khi có lỗi chàng cũng chỉ dùng lời nói dịu dàng dạy có khi không nói gì cả.
Sau cuộc đi Yên Thế dò đường đất, Nhung biết là Bích có điều gì không vừa ý, nên từ dạo ấy không đi đâu nữa mà cũng không nghĩ cả đến việc đi tìm chỗ làm. Hôm nào vay đâu được ít tiền, Nhung lại mua rượu, sắm thức nhắm ngon rồi hai vợ chồng cùng uống rượu với nhau. Rượu ngà ngà say, Bích ngâm thơ cho vợ nghe; giọng ngâm của Bích nổi tiếng là hay từ lâu trong chốn bạn bè của chàng cũng như của Nhung.
Cách đây ba ngày, bà chủ hiệu Vĩnh Phát đã bỏ vốn để Nhung đi cân gạo lại cho nàng mượn cân, Nhung đã thuê được căn lều cân gạo tuy cách nhà gần cây số nhưng ở vào một địa thế rất thuận tiện.
Nhung rửa mặt xong vào nhà mở tráp đếm lại tiền, xếp đặt cho có thứ tư để khi trả tiền các người hàng xáo được mau chóng và không lầm lẫn. Nàng lấy khăn trùm đầu, tay cắp tráp tiền, tiến về phía Bích nằm, đặt lên trán Bích một cái hôn rất nhẹ cho chồng khỏi thức giấc rồi gọi người nhà dậy.
- À, thưa mợ, hôm nay mợ đi cân gạo. Nhưng còn sớm quá.
Nhung đáp :
- Càng đi sớm càng đón được nhiều hàng xáo. Chị ở nhà khi cậu và các em bé dậy phải chạy đi mua xôi ở nhà bà hai Dậu. Muối mè hôm qua chị làm khéo đấy. Nhớ lấy cậu xơi.
Trời lạnh nên Nhung phải đi thật mau cho ấm người. Ra tới dãy phố cân gạo, Nhung thấy bà phán Trình, bà trợ Thân đã ra nhưng đương sửa soạn chưa bắt đầu cân. Bỗng Nhung chớp mắt nhìn một cách ngạc nhiên vui sướng; ở trước cửa nhà bác Tẹo mà nàng đã thuê để đặt cân và đổ gạo, hàng xáo ngồi đợi đông lắm. Bà đồ Minh kế cạnh tuy chưa ra nhưng chung quanh cân bà ta không có một người nào thế mà cửa hàng cân gạo của bà đồ Minh xưa nay vẫn có tiếng là đông khách nhất. Chính lúc thuê nhà bác Tẹo, Nhung vẫn lo ngại về điều ấy và bà đồ Minh cân gạo đã lâu năm, quen thuộc nhiều, tính nết lại rất khéo léo mềm mỏng.
Nhung cúi đầu lễ phép chào bà trợ Thân và bà phán Trình.
- Con gái nuôi của tôi đấy; mợ ấy thực đảm đang. Chồng bị thất nghiệp...
Những tiếng sau cùng của bà trợ Thân, Nhung không nghe thấy vì tiếng những người bán hàng xáo nhao nhao nổi lên một loạt :
- Mợ để cháu mở hàng cho mợ.
- Mợ để tôi.
Bác Nhiêu Đạt cầm lấy cánh tay Nhung nói :
- Cháu đợi mợ mãi.
Bác Đạt đã tới thật sớm; bác mưu mô với Tráng, người Nhung thuê để phụ giúp việc, nên đã đặt hai bị gạo của bác lên trên mặt cân và bác đứng chống tay vào đòn gánh, canh không cho ai nhấc xuống. Bác vốn quen biết Nhung từ lúc Nhung chưa lấy chồng, nên nghe tin nàng cân gạo, bác vui mừng lắm và nhất quyết mở hàng cho Nhung.
Thấy mọi người có cảm tình với mình, Nhung vừa sung sướng vừa hồi hộp. Nàng hơi ngượng ngập rút trong túi ra một cuốn sổ tay và bút chì vì nàng không quen dùng bàn tính. Đưa mắt nhìn mọi người bao vây quanh mình, Nhung mỉm cười.
- Đông quá mà ai cũng muốn mở hàng, tôi biết làm thế nào?
Nhung ngồi xuống ghế, cái tráp đặt trên hai đùi dùng làm bàn viết.
- Nào, ai mở hàng cho tôi bây giờ?
Những tiếng “cháu”, “tôi” nổi lên chung quanh nàng, bác Đạt khó chịu vì không thấy Nhung nhìn mình. Nhưng bác không đời nào chịu để ai bỏ gạo của bác xuống cho người khác mở hàng. Nhung đã biết là bác Đạt có gạo để trên cân; vốn biết bác từ lâu và vẫn mến bác vì tính thẳng thắn - tuy hơi bướng - nên nàng cũng muốn bác mở hàng mình và cho đó là sự may mắn. Giá bác còn đứng ở xa, Nhung cũng gọi đến, nhưng muốn được lòng cả mọi người, nàng vẫn không nhìn bác Đạt đưa mắt và mỉm cười với tất cả mọi người.
- Ai thì tôi cũng muốn để mở hàng nhưng không biết chọn ai, vậy người nào đến trước nhất thì mở hàng cho tôi.
Bác Đạt cũng đưa mắt nhìn tất cả mọi người, nhưng lườm họ và tỏ cái đắc thẳng của mình, Nhung giơ tay xê dịch quả cân: tuy chưa quen nhìn gạo mà biết được đúng số cân nhưng nàng cũng đoán hai bị gạo của bác Đạt độ bốn mươi cân. Nàng xê quâ cân đến nấc năm mươi vẫn thấy cán cân bong lên; nàng vừa xê quả cân vừa lẩm bẩm :
- Bác Đạt còn khỏe nhỉ gánh nổi hơn năm mươi cân tây gạo.
Nhung xê quả cân đến nấc năm mươi lăm vẫn thấy cán cân bổng.
- Lạ nhỉ hay là cân hỏng?
Nàng ngửng lêu nhìn bác Đạt, bác Đạt nói :
- Thế nào ấy chứ chỗ gạo của cháu chỉ độ bốn mươi cân thôi.
Bỗng Nhung bật lên cười :
- Trời đất ơi! Thảo nào gần sáu mươi cân. Tôi có mua đòn gánh và cả người bác đâu.
Lúc đó bác Đạt mới chợt thấy mình đương đứng tựa cả người vào cái đòn gánh mà đầu đòn gánh lại chống lên mặt cân.
- Ồ, thế mà cháu không biết.
Mọi người đều nhao nhao lên, cười nói một lúc. Có tiếng người bảo bác Đạt xấu tính, nhân lúc mợ Bích mới đi cân lần đầu chưa thạo nên nghĩ mưu đánh lừa. Bác Đạt giơ đòn gánh lên, đưa mắt tìm xem người nào nói thế; nếu biết chắc là ai thì bác sẽ đập một cái mạnh vào đầu cho bõ tức, nhưng không chắc hẳn là ai nên bác đành hạ đòn gánh xuống. Nhung bật cười :
- Bác định sinh sự đánh nhau ngay trong lúc tỏi khai cân?
- Nhưng mà cháu tức lộn ruột. Nó lại dám bảo là cháu đánh lừa mợ. Thế còn trời đất nào nữa không? Thế mợ, mợ có bảo là cháu định đánh lừa mợ không?
- Thì chính bác đã nói với tôi là của bác chỉ độ bốn mươi cân thôi.
- Đấy nhé, có mợ làm chứng nhé... Cha đời vạn mớ đứa nào vu oan cho bà, nó chết hết đời cha đời ông nhà nó, cả họ xa họ gần nhà nó, chết băm chết bầm, chết đâm chết chém, chết...
Không đánh được, bác chửi vì bác nghĩ chửi thì chắc chắn lọt vào tai người nói. Nhung lại can :
- Không đánh nhau bác lại xoay ra chửi nhau thì cũng thế. Thôi, ba mươi bảy cân vào đổ gạo đi.
Hết việc bác Đạt, lại đến hai người khác cãi nhau: tuy là một người đàn ông và một người đàn bà nhưng cả hai đều khỏe ngang nhau và cùng đặt được thúng gạo và cân đều nhau, nên không ai chịu nhường ai, miệng thì nói còn tay thì ấn thúng gạo, cứ giằng co như thế một lúc lâu. Nhung mỉm cười vì thấy họ tranh nhau để được cân sớm một tí mà lại thành chạm gấp mấy không tranh nhau. Nhưng Nhung cũng không khỏi cắn chặt hàm răng, cứng cả gân người như lấy sức hộ người đàn bà khi thấy người đàn bà đã đẩy được thúng gạo của người đàn ông ra gần khỏi mặt cân. Nàng cũng muốn cho người đàn bà thắng và thấy vui thích khi người đàn bà đẩy được thúng gạo của người đàn ông xuống đất và phủi tay, sửa lại khăn, mỉm cười với nàng. Cân xong, Nhung lại thấy một người đàn bà khác đặt được thúng gạo của mình lên cân trước người đàn ông. Người đàn ông có vẻ tức lắm, nhắc thúng gạo của mình đặt trên thúng gạo người kia lấy cớ là đã lỡ lượt trước thì lượt này phải được cân. Lý người đàn bà cũng cứng: ai đặt được gạo lên cân là được cân trước. Rồi hai người cãi nhau một hồi, không ai chịu ai. Sau mọi người chung quanh đều nói người đàn ông trái. Nhung cân xong cho người đàn bà, lại đợi xem lần này người đàn ông có cho được gạo mình lên cân không hay lại bị người khác tranh mất.
Bây giờ Nhung mới biết là họ cần tranh nhau: giá nàng có gạo đem cân nàng cũng phải tranh, không phải vì sớm được một lúc nhưng bị như người đàn ông kia thì tức chết.
Thế là Nhung bận rối rít; xê quả cân, tính giá tiền, bốc gạo xem, đếm tiền trả họ và bận nhất là hồi hộp xem họ tranh nhau, xem họ cãi nhau đến vui. Được cái hôm nay giá gạo số chẵn nên nàng làm tính nhân rất nhanh, không sợ lầm. Bà đồ Minh lúc đó cũng bê tráp tiền ra cân; thấy cửa hàng Nhung đông khách và cân mình vắng không một ai, bà rẽ đến chỗ Nhung cất tiếng to và nói vui vẻ :
- Mợ Bích ơi, mợ tranh hết cả khách hàng của tôi rồi.
Nhung ngẩng lên nhìn bà đồ Minh; thấy mặt bà ta có vẻ vui một cách thực tình nàng cũng vui vẻ cười lại với bà ta; hôm nay nàng thấy ai cũng tử tế với mình.
- Bà cứ nói thế. Hôm nay khai cân ai cũng đến mở hàng cho tôi.
Nhung khó chịu là vì cửa hàng bà đồ Minh vắng khách nên bà nói chuyện luôn mồm. Nhung đã bận tíu tít lại phải chú ý lắng tai nghe rõ bà nói khôi hài về chuyện gì, nàng cũng phải cố gẳng cười gượng gạo. Chốc chốc nàng lại phải chen vào những tiếng nói hưởng ứng bà Minh mà không công phạt :
- Thế à bà?
- Thế cơ à?
- À ra thế.
- À thế đấy.
Đến chín giờ sáng thì người đến đổ gạo đã vãn. Nhung lúc đó mới thấy mỏi nhừ cả vai và cánh tay phải. Hai đùi nàng gần như bị tê liệt, nàng đứng lên vươn vai, thấy hơi chóng mặt nặng đầu và cho là vì tại xem họ tranh nhau, cãi nhau nhiều quá. Nàng định ngày mai cũng phải bắt chước các bà kia, nghĩa là cứ thấy gạo ở trên cân thì cân, đừng để ý đến mọi người. Họ muốn cãi nhau, đánh nhau, đâm chém nhau để được gạo lên cân là việc của họ. Nàng mệt một phần vì hồi hộp xem họ tranh nhau và cứ lấy gân, cứng người như là chính nàng phải tranh với họ.
Quay nhìn vào trong nhà, nàng thấy hai đống gạo trắng và đỏ đã lên đến nửa cột nhà và chân hai đống gạo đã gần chạm vào nhau. Mai có lẽ phải vây vót. Mệt nhưng Nhung cũng phải vào trong nhà, giữ miệng bao để Tráng đổ gạo. Nàng thấy Tráng chăm làm, săn sóc công việc từng ly từng tí và lúc nào cũng vui tươi, làm vừa lòng cả mọi người. Tráng nói với Nhung giọng vui vẻ :
- Chưa nhà nào một hôm mà cân được nhiều thế này, mợ ạ!
Nhung nói :
- Càng cân nhiều càng mệt vào thân, này anh Tráng giữ miệng bao; tôi mỏi tay lắm rồi.
Suốt mấy giờ đồng hồ giơ tay cân nay lại giơ tay giữ bao, làm những công việc nhẹ ấy, Nhung thấy mỏi cả hai cánh tay; nàng định tâm xúc gạo, cử động một cách khác và làm một việc nặng nhọc hơn có lẽ không mệt nữa. Thế là nàng ra xúc gạo; một lúc lâu nàng phải cởi cả áo cánh bông, và mồ hôi ra lấm tấm ở trán. Công việc ấy tuy mệt nhưng nàng thấy trong người nhẹ nhàng dễ chịu hơn và hết nặng đầu. Nàng lại ra xúc gạo không ngừng tay, làm cho Tráng cũng lấy làm lạ về sức khỏe của nàng. Bà trợ Thân và bà đồ Minh cũng chạy sang cửa hàng; Nhung làm như chưa trông thấy hai bà ấy và cứ cặm cụi xúc gạo.
Bà đồ Minh nói :
- Kìa anh Tráng, sao anh không xúc gạo lại để mợ ấy xúc?
- Bẩm bà, mợ con đòi xúc, nói cầm miệng bao mỏi tay.
Nhung rướn thẳng người lên, lấy tay gạt mồ hôi trán. Bà trợ Thân nói :
- Hôm nay mợ cân dễ đến gần trăm bạc.
- Vâng, thưa bà cháu chưa tính nhưng cũng đến gần chín mươi đồng rồi.
Bà trợ và bà đồ đi khỏi, Nhung mỉm cười sung sướng. Lúc đó nàng mới thấy đói vì từ sáng chưa ăn gì; vả lại nàng cũng mê mải với gạo quên không nghĩ đến ăn. Nàng định bụng cố nhịn đói, lát nữa giao gạo xong nàng sẽ rẽ qua chợ mua sứa vì nàng rất thích ăn sứa và Bích lại còn thích hơn nàng. Nhung vội vàng cúi xuống nhặt cái thau xúc gạo vì nàng thấy Tráng đứng mở miệng bao chờ đợi. Xúc được mấy thau, Nhung bỗng ngừng lại và mỉm cười nhìn Tráng. Tráng không hiểu tại sao Nhung lại mỉm cười với mình, chàng mở miệng bao cho thật rộng, ung dung đứng đợi, làm như Nhung thuê mình chỉ cốt để giữ miệng bao, còn việc xúc gạo nặng nhọc thì là việc Nhung phải làm. Nhung đưa cái thau cho Tráng, đứng thẳng người, vươn vai cho rãn xương cổt.
Sau một giờ làm việc cũng chỉ mới đổ hết đống gạo trắng, đống gạo đỏ vẫn nguyên. Vừa lúc đó người thư ký của bà chủ hiệu Vĩnh Phát đem năm người phu đến để khiêng gạo ra cho kịp lên toa. Nhung nói :
- May quá, tôi không ngờ cân được nhiều thế này. Ông bảo giùm phu đổ hộ chứ hai thầy trò tôi không sao đóng bao kịp. Tôi mệt quá rồi.
Giao gạo xong, Nhung thở nhẹ một cái. Nàng bảo Tráng :
- Anh cầm cái liễn đi với tôi ra chợ để tôi mua sứa và mua ít kẹo hoa cỏ [1] ở hàng chị Nguyệt cho mấy đứa bé.
Nghĩ đến Nguyệt, Tráng mỉm cười nói :
- À hàng chị Nguyệt. Mợ không cần đưa tiền, chị ta không bao giờ lấy tiền của cháu. Để cháu biếu các cậu mừng hôm nay mở hàng phát tài.
Nhung thấy Tráng không đợi nàng đưa tiền, chạy thẳng ra gốc cây đa chỗ Nguyệt ngồi bán kẹo. Nguyệt thấy Tráng chạy lại vội gắt :
- Này, lại sắp ra quấy rầy người ta có phải không?
Tráng nhận rõ là Nguyệt tuy cau nét mặt lại nhưng vẫn không giấu được nỗi vui gặp mặt chàng.
- Người ta đến người ta ăn kẹo hộ, thích chết người lại còn vờ vĩnh.
Tráng ngồi xuống mở cái quả định cho tay vào lấy một chiếc bỏng ngô thì đã bi Nguyệt đập mạnh một cái vào tay và hất ra. Tráng kêu đau và cười :
- Sao hôm nay đằng ấy ác thế?
- Đằng ấy đằng này gì? Có đi ngay cho người ta bán hàng không? Đã ế hàng lại còn đến ám. Có muốn một cái đòn gánh vào lưng thì bảo.
Tráng chợt nghĩ Nguyệt chưa biết mình có công việc mới :
- À này chị Nguyệt ạ, bây giờ tôi không đi đóng cối nữa. Mợ Bích thuê tôi trông nom cân gạo, nhàn lắm và lại có nhiều tiền, chị tha hồ bán kẹo.
- Nhàn, thảo nào mà ra đây ngồi tán hão, có cút ngay đi không.
Tráng nghiêng đầu chống cằm trong lòng bàn tay, rồi ngồi yên nhìn Nguyệt ngắm nghía từ cái lông mi, lông mày rồi lẩm bẩm đếm xem có bao nhiêu nốt tàn nhang trên hai gò má: một hai, ba... Nguyệt thấy Tráng ngắm nét mặt mình lại càng cau nét mặt lại. Ngẫm nghĩ một hồi lâu, rồi Tráng nói :
- Hừ người thế mà cũng có duyên.
Nguyệt giơ đòn gánh đập vào lưng Tráng một cái :
- Này, có đi không? Người thế là người thế nào?
Tráng vội né người ra một bên cho đòn nhẹ hơn.
- Thôi, không đùa nữa, kẹo hoa cỏ chị bán một xu mấy chiếc?
Nguyệt đặt đòn gánh xuống, hơi ngạc nhiên thấy Tráng hỏi giá như có ý mua thật.
- Một xu năm. Hôm nay kẹo ngon lắm.
- Cho tôi mua hai xu. Hai xu thì bao nhiêu nhỉ?
- Hai xu thì mười chiếc. Có thế mà cũng không tính ra.
Tráng lẩm bẩm :
- Hai xu mười chiếc. Nhưng chỗ tôi với chị, chị cho thêm hai chiếc là mười hai chiếc tất cả. Có được không?
- Ừ cho nhà anh thêm hai chiếc.
- Thế à, chị. Chị cho tôi hai chiếc à?
Tráng vừa nói vừa giơ tay bốc hai chiếc kẹo, bỏ lọt vào mồm rồi đứng ngay lên chạy đi. Nguyệt giơ đòn gánh đập nhưng không kịp, nàng vội quăng đòn gánh theo Tráng :
- Cái nhà anh phải gió.
- Thì chính chị bảo chị cho tôi hai chiếc mà.
Hai người cùng bật cười.
Thấy Tráng, Nhung hỏi :
- Kẹo đâu.
- Thưa mợ, cháu ăn hết rồi.
- Anh mua mấy xu mà ăn chóng hết thế.
- Thưa mợ không phải mua. Cháu cướp giật được có hai cái.
- Thế mà anh nói khoe mẽ kẹo không mất tiền. Thôi tiền đây anh lại mua cho chị ấy ba xu. Tôi cần phải về không trẻ nó đợi.
- Thưa mợ không cần tiền. Để cháu đến lần nữa; lần này cháu chịu đòn đau một ít, các cậu tha hồ ăn kẹo.
Thế rồi Tráng lại chạy vụt đi. Chàng rút sẵn ra ba xu khi đến gần chỗ Nguyệt ngồi, chàng xòe bàn tay cho Nguyệt thấy rõ là có tiền để phòng xa tránh một cái đòn gánh báo thù về hai chiếc kẹo lúc nãy.
- Chị bán cho tôi ba xu.
Vừa nói, Tráng vừa bỏ ba đồng xu rơi xuống mẹt. Nguyệt ngạc nhiên hết sức vì lần đầu tiên Tráng bỏ tiền ra mua kẹo; sợ Tráng mới nghĩ được mưu mẹo gì để đánh lừa nên Nguyệt vội bỏ ngay tiền vào túi áo. Nàng đếm kẹo, gói lại đưa cho Tráng và khi Tráng đi xa rồi, Nguyệt mới dám chắc là sáng nay đã thật bán được kẹo. Nguyệt nhìn theo Tráng, mỉm cười. Lúc nãy đáng lẽ gói mười tám chiếc nàng bớt đi hai chiếc Tráng ăn lừa nàng và lấy làm lạ rằng Tráng không nghĩ đến đếm lại kẹo. Nguyệt chắc lát nữa Tráng tất phải quay lại và nàng ngồi hồi hộp đợi. Tuy là tốn kẹo nhưng Nguyệt vẫn mong Tráng đến trêu đùa mình; nàng thích nhất là những lúc đánh được Tráng một hai cái đòn gánh. Nàng thấy càng đánh mạnh càng thích tay nhưng nàng vẫn giữ đà không đám đánh mạnh quá sợ Tráng thấy đau đến khó chịu tất sẽ không dám trêu nàng nữa. Nhưng lần này Nguyệt lại ngạc nhiên hơn nữa vì đợi mãi không thấy Tráng trở lại hàng mình.
Tráng giơ tay đưa Nhưng gói kẹo. Nhung hỏi :
- Chỗ này bao nhiêu?
Tráng vội vàng đáp :
- Thưa mợ cháu không biết.
- Lại cướp giật kẹo có phải không. Nhiều thế này người ta lại không đánh cho vỡ đầu ra à?
Tráng cười :
- Thưa mợ, họ chỉ đánh gẫy lưng thôi.
Nhung đếm kẹo rồi nói :
- Chỗ này dễ đến ba xu, có mười sáu chiếc tất cả.
Tráng nói :
- Mười tám chiếc chứ mợ.
- Không chỉ có mười sáu chiếc.
Tráng buột miệng kêu :
- Thôi, chết tôi rồi! Con ranh nó trừ đi hai chiếc ăn cướp lúc nãy.
Nhung bật lên cưìri :
- Anh Tráng nói dối nhớ. Anh đã mua ba xu mười tám chiếc. Thôi tôi trả anh ba xu. Thế là đáng lẽ anh biếu các em kẹo lại thành ra anh ăn chặn của các em hai chiếc đấy nhé.
Nàng cho gói kẹo vào tráp, bảo Tráng bưng hộ liễn sứa. Khi đi ngang qua cửa hàng kẹo. Nhung thấy Nguyệt mỉm cười, mắt có vẻ tinh nghịch rồi cúi xuống, mặt áp vào đầu gối. Nhung bảo Tráng :
- Chị Nguyệt xinh đấy chứ. Anh có bằng lòng thì để tôi đứng lên làm mai cho; tha hồ ăn kẹo, mà các em ở nhà cũng vô số kẹo ăn không còn lo bị thiệt hai chiếc như hôm nay.
* * * * *
Về gần tới nhà. Nhung thấy hai đứa con lớn của mình mỗi đứa cầm một que tre đương đấu kiếm với nhau; thằng bé nhất đứng ngoài, tay cũng cầrn một cái que giữ miếng và rình. Thỉnh thoảng, nó lại xốc quần cho khỏi tụt rồi nhảy vào đâm trộm hai anh nó. Đâm trúng nó thích trí cười to, giơ cánh tay quẹt ngang mũi thò lò một cái rồi lại lùi ra xa giữ miếng. Lần sau cùng nó vội quá không kịp xốc quần, thành thử vừa nhảy vào nó bị vướng và ngã sóng soài ra giữa trận. Thấy vậy, hai anh quẳng cả kiếm nhảy ùa vào đè lên em, miệng kêu :
- Bắt được giặc rồi, Bệ hạ ôi!
Rồi chúng nó vật lộn nhau, lăn lộn trên đường khiến bụi bay lên mù mịt. Nhung mỉm cười cất tiếng nói to :
- Kẹo hoa cỏ!
Mấy tiếng hô ấy như có phép tiên làm ba ông tướng buông ngay nhau ra, cùng đứng thẳng dậy và cùng chạy thật mau về phía mẹ. Thằng bé nhất lần này không quên vén ống quần tận bẹn, chạy thục thân nhưng cũng không sao đuổi kịp hai anh; nó đứng lại và cất tiếng khóc thật to. Thế là Nhung phải chạy lại, đặt tráp xuống đất và kéo bé lại gần, lấy tay phủi bụi trắng bám đầy áo, đầy tóc, trông y như phấn bột người ta rắc lên kẹo cho khỏi dính. Nàng đưa cho nó hai chiếc kẹo; nó cho cả hai chiếc vào miệng mỗi chiếc ngậm phồng một bên má rồi đưa mấy ngón tay dính mè mút đi mút lại kỳ cho sạch mè và sạch cả bụi đường.
Nhung vừa bước vào trong nhà, quay mặt nhìn ra đã thấy lũ con nhặt gươm que và bắt đầu cuộc hỗn chiến. Nàng lắc đầu, mỉm cười; đã bao lần rồi, dùng đủ mọi phương pháp mà không sao cấm được lũ con đánh lộn nhau. Chồng nàng không khuyến khích nhưng cũng không nói gì cả, chỉ khi nào chúng nó lăn cả vào người chàng, chàng mới đẩy nhẹ chúng nó ra và khẽ nói :
- Sang giường bên kia mà chơi đi, để tao nghĩ.
Sự thực thì chàng không nghĩ gì cả; sau khi đã lên gặp Đề Thám và biết rõ ràng, chàng chán nản hết cả mọi sự. Gặp anh em đến nhà, chàng cùng anh em chỉ nói những chuyện vẩn vơ hoặc làm thơ làm phú than thân trách phận sinh không gặp thời; vì họ nói chuyện với nhau bao giờ cũng nói thì thầm nên Nhung tưởng chồng vẫn hằng lo những việc “đại sự”, mình là đàn bà không được dự bàn vào. Tình thế ấy khiến người vợ kính phục chồng và giúp người chồng có thể điềm nhiên ngồi nhàn nhã ở nhà mà không sợ ngượng với vợ cùng họ hàng nhà vợ.
Thấy chồng ngồi sưởi bên cạnh hỏa lò, Nhung vén áo ngồi xuống bên bảo chồng :
- Hôm nay cân được nhiều gạo quá. Chắc phát tài to.
Mâm cơm đã dọn lên. Nhung mời chồng ăn vã sứa trước, rồi bảo người nhà chạy sang bên bác cả Lạc mua một cặp chả nướng và hai cút rượu con hươu :
- Hôm nay phải uống rượu ăn mừng chứ?
Nhung uống một chén lớn. Nàng say loạng choạng và mặt đỏ hồng. Cất tiếng gọi mấy đứa con, nàng mới biết lưỡi mình đã líu lại nhưnng người nàng phiêu phiêu rất dễ chịu. Bích mỉm cười vì thấy vợ tuy say nói nhiều và nói huyên thuyên nhưng chỉ nói toàn những chuyện cân gạo. Nói chán rồi, Nhung ngồi lẩm nhẩm tính toán, có khi đưa bát lên gần miệng lại đặt xuống mâm. Đứa con lớn bảo đứa thứ hai.
- Mợ niệm Phật, mày ạ.
- Không phải mợ niệm Phật. Niệm Phật thì phải nam mô chứ.
Bích nói đùa :
- Mợ niệm Thần tài đấy, thần kẹo hoa cỏ ấy mà.
Nhung vì say nên tính nhẩm mãi không ra; đến chiều bà chủ Vĩnh Phát mới cho giá đích xác nên nàng phải dựa theo giá trung bình của ba ngày trước để tính đại khái. Mấy đứa trẻ ăn cơm xong lại đến khám túi mẹ xin thêm kẹo. Nhung gạt chúng nó ra :
- Yên để tao tính.
Rồi đuổi chúng nó xuống nhà dưới.
Tuy tính không ra nhưng nàng cũng quay lại phía chồng mỉm cười nói :
- Lãi được một đồng bảy hào rưỡi, cậu ạ. Một tháng được gần sáu chục bạc, bằng ba số tiền lương của cậu đấy.
Nhung ngừng lại nói chữa :
- À nhưng cân gạo chỉ có mùa, bằng thế nào cậu đi làm lãnh lương đều quanh năm.
Nói xong, Nhung lại thấy câu nói chữa phạm tới chồng hơn là câu nói trước vì chồng nàng làm ở sở nào lâu lắm chỉ ba bốn tháng là bị ngươi ta mời ra vì bất lực.
Nàng lấy keo hoa cỏ đưa Bích ăn tráng miệng, rồi dịu giọng nói :
- Nếu sau này cứ được mãi như hôm nay thì cậu chẳng cần đi Hòn Gay tìm việc ngoài mỏ than nữa. Vừa vất vả vừa nước độc.
Việc đi Hòn Gay, Bích chỉ nói sơ qua với vợ để vợ yên tâm, chứ thực ra không bao giờ chàng tính đến việc ra làm ngoài mỏ cả; Nhung cũng đoán vậy nên mới nói thế để chồng tưởng nàng vẫn yên trí là lúc nào chàng cũng hằng bận tâm lo việc nhà cửa, vợ con. Nhà càng lâm vào cảnh túng thiếu, Nhung càng phải giữ gìn lời nói, vì nàng biết chồng hay tủi thân, lỡ sơ ý phạm vào lòng tự ái của chồng thì chồng sẽ bỏ đi, cho dẫu biết là ra đi phải chết đói chăng nữa. Đã có một lần, độ ấy nàng mới ốm khỏi nên thành ra bẳn tính, nàng đã nói chồng hơi quá lời. Bích không cãi lại, luôn mấy ngày hôm sau chàng ngồi đăm đăm không nói qua với ai một lời nào. Khi lũ trẻ đến đùa nghịch đánh nhau trước mặt, chàng chỉ thở dài rồi lặng lẽ đội khăn bỏ ra đi, đến nửa đêm mới về nhà. Chiều hôm sau Nhung đi chơi về thấy Bích đương ngồi viết ở bàn, bỗng nàng thấy Bích có vẻ luống cuống, đương giấu vội tờ giấy viết dở dưới một chồng sách; Nhung đã nhìn thấy cử chỉ khả nghi ấy. Nàng đem thúng quần áo ra ngồi khâu ở trong buồng, nhất định không rời chồng nửa bước, đợi cho đến khi đi nằm. Nàng trằn trọc không ngủ; đến nửa đêm nàng ra nhấc chồng sách, rút tờ giấy đem xuống dưới bếp thắp đèn nhằm đọc. Đó là bức thư chồng nàng gửi cho một ngươi bạn ở Hà Nội nhờ tìm xem có sở cao su nào ở trong Nam cần một người thư ký, lương tháng bao nhiêu cũng được và dầu cho nước độc cũng cứ nhận và báo tin cho chàng biết ngay. Đọc xong Nhung cúi đầu, tay ôm mặt khóc nghẹn ngào. Nàng biết là nếu chồng đi mà nhất là đi vào Nam làm sở cao su nước độc thì nàng không còn đủ can đảm mà sống nữa. Nàng lặng lẽ trở vào để bức thư xuống dưới chồng sách như cũ, rồi ôm lấy Bích, đánh thức chàng dậy, vừa nức nở khóc vừa xin lỗi chồng vì những lời gay gắt mấy hôm trước. Bích cũng khóc theo, hai người áp má vào nhau cùng hòa nước mắt, rồi nhìn nhau mỉm cười làm lành. Sau việc xảy ra ấy, hai vợ chồng lại càng yêu nhau đằm thắm hơn trước.
Hôm nay trong lúc say phiêu phiêu, câu nói chữa lỡ lời lại nhắc Nhung nghĩ đến cái đêm hai vợ chồng ôm nhau cùng khóc ấy. Nhung chớp chớp thật mau nhưng không ngăn được hai giọt lệ ứa ra và ngưng lại long lanh ở khóe mắt. Nàng ngáp một cái dài làm như chảy nước mắt vì ngáp buồn ngủ rồi đưa mắt nhìn chồng và cúi mặt để giấu một nụ cười sung sướng.
- Mới đi cân chưa quen mỏi nhừ cả tay cả lưng. Sáng nay dậy sớm thành buồn ngủ quá.
Nàng vươn vai, đặt mình nằm xuống giường, áp mà trên đùi Bích và cựa quậy mấy cái như đứa trẻ thơ rúc vào lòng mẹ. Bích lùa bàn tay vào trong tóc Nhung xoa xoa, thật nhẹ. Nhung thấy có một thứ gì rộng rãi và êm êm từ trên cao tỏa xuống bao phủ lấy thân thể và cả tâm hồn nàng nữa; nàng nhắm mắt nằm yên thiu thỉu đợi giấc ngủ đến.
Bích vẫn để tay yên lặng trong tóc vợ. Đùi chàng mỗi lúc một tê dại nhưng chàng không dám động người, sợ vợ mất giấc ngủ; chàng nhìn thẳng, đầu óc chàng lúc đó không để ý đến chuyện gì cả nhưng hai con mắt chàng, có lẽ vì thói quen từ lâu, nên có vẻ như đương trầm ngâm suy tính những việc “đại sự” không bao giờ đến trong đời chàng.
---------------------------------------
[1] Kẹo hoa cỏ: một thứ kẹo mè đặc biệt chỉ riêng một vài nơi có bán.
 
[font="verdana"][size="3"][color="#ff0000"]HẾT
[/color][/size][/font]
0
Những ngày diễm ảo - Nhất Linh
 
Đã mang vào thư viện, Cảm ơn và chúc casau ngày đầu tuần vui vẻ
 





0