📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI - TẬP 2

0 trả lời, 7 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.08.2016 07:20:19 bởi phanvy>
PHAN VỸ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI
 
            
 
(TẬP II)
 
 
 
 
 
 
 
 
1999 - 2000
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Để kính dâng – thương nhớ:
 
Hiền mẫu
 
Hiền tỉ
 
Hiền thê
 
và con Gái
 
những người đã gian khổ và hy sinh vì tôi . . .
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Và để tưởng nhớ:
 
 -  32 ANH đã bỏ mình tại trại tù HÀ TÂY.
 -  57 ANH đã bỏ mình tại trại tù NAM HÀ.
… Hai trại TÙ mà tôi đã bị giam cầm 13 năm.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
( Tiếp theo TẬP I từ 1945 đến 1963 – của 4 lần Tù)
 
Nay tiếp theo – sau 3 năm Tù từ HUẾ về NAM
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
MỤC LỤC
 
 
-- Mấy lời thưa trước của Tác Giả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .7   
-- Bài thơ Anh Đoàn Thái . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 11
( Cùng gian khổ 13 năm Tù Cải Tạo của Cộng Sản )
 
CHƯƠNG V:- Cuộc đời viết sách
 
-- Tổ chức Ngày Tưởng niệm người chết,
    đoàn kết kẻ sống . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  13
-- Trung Tướng Nguyễn Khánh mời vào gặp
   tại Tổng Tham Mưu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  16
-- Cẩm nang Hành Chánh hay là 
     Kinh nghiệm Sống tổ chức Nông thôn . . . . . . . . .. . . . . . . . . . 21
--  Kiến Hòa mời tổ chức thí điểm Dân Ý Vụ . . . . . . . . . . . . . . . 29
-- Bộ Xây Dựng Nông Thôn mời . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .36
-- Bị Tù lần thứ 5 tại khám Chí Hòa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 37
-- Phát hành tác phẩm thứ hai
    ( đừng lạm dụng danh nghĩa nông thôn ) . . . . . . . . . . . . . . . . .47
-- Được Cụ Ký Thân ủy nhiệm soạn thảo và phát hành
     tác phẩm thứ ba: Từ Yên Báy đến Côn Lôn . . . . . . . . . . . . . . 49
 
CHƯƠNG VI:- Trở lại cuộc đời Chính Trị
 
-- Mở quán nhậu Hương Bình . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 52
-- Khẩn đất lập Chùa tại Núi Ông Trịnh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 54
-- Bị tù lần thứ 6 tại lao Bà Rịa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . .63   
-- Tổng Bí Thư VNQDĐ mời tái tham gia
    được bầu Tổng Ủy Viên Nghiên Huấn Trung Ương . . . . . . . .66
-- Đi nói chuyện với cơ sở tại Tam Kỳ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 69
 
(Tiểu mục 3: Kinh nghiệm nấu ăn và mở quán) . . . . . . . . . . . . .74
 
n Nghĩ gì về Chính Phủ Ba bên . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .82
 
CHƯƠNG VII:- Cộng Sản vào chiếm Sàigòn
 
-- Cây muốn lặng gió không ngưng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  83
-- Trình diện tại trường Nữ Trung Học
    Lê văn Duyệt Gia Định . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 87
-- Xe chuyển về trại Thủ Đức . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 91
-- Ngày chuyển tù ra Bắc – Trại Hà Tây . . . . . . . . . . . . . . . . . . .107
-- Học tập khai báo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 110
-- Cái chết của nhà Cách Mạng TRẦN VĂN TUYÊN . . . . . . . .118
-- Đấu tranh chống lao động . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .136
-- Câu chuyện ăn cắp cơm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 140
-- Bị “cách ly” đúng 100 ngày . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 154
-- Những bài thơ THIỀN giá trị . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 169
-- Bắt đầu tịnh khẩu suốt 6 tháng, 8 ngày . . . . . . . . . . . . . . . . . .184
-- Cuộc đời tù văn nghệ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 181
-- Tin chiến tranh với Trung Cộng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  188
-- Về Hà Nam Ninh, Trại Nam Hà . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  191
-- Xác định lập trường với Nguyễn Tú . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  212
-- Những ngày bầm dập trước khi được ra đi . . . . . . . . . . . . . .  230
 
CHƯƠNG VIII:- Kinh nghiệm sống trên đất Mỹ
 
-- Những kinh nghiệm sống trên đất Mỹ . . . . . . . . . . . . . . . . .   239
-- Sáu tháng sống vô bổ tại Maryland . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 241
-- Bắt đầu cuộc sống tại VIRGINIA . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 245
 
THAY LỜI KẾT LUẬN                                                     
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
MẤY LỜI THƯA TRƯỚC CỦA TÁC GIẢ
 
 
 
TẬP I đã được hai nhà Cách Mạng và cũng là nhà văn Nhị Lang và Vũ Ký viết Lời Tựa và Giới Thiệu, bởi đã biết nhau từ thuở thiếu thời của những năm từ 1945.  Thì nay – TẬP II nghĩ rằng không gì hơn là nhờ những người đã biết, đã chứng kiến hay rõ mình qua những chuyện sẽ kể từng đoạn đường không thiếu gian nan trên 35 năm sau, cuối cuộc đời – mà người đọc dễ nghi ngờ là thiếu trung thực.
 
Người bạn trẻ, chú Văn Thanh trước có phục vụ dưới quyền, hiểu rõ nhiều, đã viết thư thăm hỏi, xin được trích một vài đoạn để chứng minh không phải như có một chú đã nói trong TẬP I, và cũng xin được chứng minh câu: “Dụng nhân như dụng mộc”, đã không tỏ ra chút gì ăn năn lại hết lời thống trách mà trong tác phẩm tiếp theo nay mai của truyện ngắn HAI THẾ HỆ sẽ được giãi bày cho chú thông cảm, bởi tác giả không muốn tạo cho bất cứ ai không được vui, trừ kẻ ấy là kẻ thù chính trị.
 
Người thứ hai là anh Đoàn Thái, nguyên Đảng viên cao cấp Đại Việt Cách Mạng, thời Nguyễn Khánh anh giữ chức vụ Đổng Lý Văn Phòng Bộ Nội Vụ.  Cùng sống chung với tác giả suốt 13 năm trong trại Cải Tạo, từ Nam ra Bắc, qua tất cả các nhà giam của Cộng Sản, những lúc đói khổ, hay khi nhận được quà tiếp tế thăm nuôi . . . sau rồi lại đói, để chứng minh tinh thần sau thử thách của những dịp đấu tranh, của những ngày tu học, những ngày tịnh khẩu, của kiên cường không khoác lác, mà gần đây anh đã gửi tặng một bài thơ, xin đăng lại nguyên văn, khỏi quảng bá, khỏi bị nghi ngờ ca hát cho nhau, thiếu trung thực.
 
Thầy Thích Kiến Khai, Chùa Hoa Nghiêm cũng cùng sống với nhau như anh Đoàn Thái, nhưng khi hỏi ra thì Thầy đi vắng xa và khá lâu, nên chỉ mượn bài thơ anh Đoàn Thái xem như cũng tạm đủ của những năm tháng trong tù.
 
 
 
Đấy là lý do phải thưa rõ cùng chư tôn, chưa nói rằng đây là TẬP II khi mà tác giả phải làm sao để nói hết lòng mình trong phần kết luận của tác phẩm. Ước mong được quí vị cho những lời khuyên để tác giả xem như đấy là khuôn vàng thước ngọc của hai tác phẩm cuối cùng cuộc đời sau này.
 
 
                                                                                     Trân trọng biết ơn, 
                                                                                                                       
                                                                                             PHAN VỸ 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trích thơ của chú Văn Thanh (Chicago) nhớ lại tình nghĩa sau khi đọc KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI.
 
Kính thăm và cảm ơn Anh đã tặng KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI.  Đáng lẽ phải hồi âm sớm, nhưng thích đọc cho hết mảng đời của người hùng xứ Quảng, xin lỗi Anh.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Anh Vũ Ký tặng Anh danh hiệu “nhà Cách Mạng”, tôi lại thích gọi Anh là: “Người Hùng”.  Nghĩ rằng khi tác phẩm KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI đến tay (nhất là ai đã nghe tên hay đồng hương hay đã tiếp xúc Anh một lần) chắc chắn Anh còn được tặng những danh hiệu bất ngờ và lý thú hơn. Đó là thói quen của độc giả thường thích tặng cho những nhà văn “hiện thực” của mình.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Ước mong TẬP II và truyện ngắn HAI THẾ HỆ sớm đua nhau ra đời một cách hồ hởi như sông Thu Bồn xuôi về Cửa Đợi.  Người ta nói Anh là hình bóng Trương Phi, nhưng trong tế bào Anh đã nhuốm hẳn huyết thống của cả Quan Công và Lưu Bị, về đức trung hậu và lòng nhân ái.  Thật may mắn! Bởi mất yếu tố này trong cơ thể Anh thì những ngày đầy đủ uy quyền của luật pháp còn lỏng lẻo tại các quận Thăng Bình, Tam Kỳ và Quế Sơn khi mới vào tiếp thu Cộng Sản (để bọn họ đi khỏi vĩ tuyến 17) sẽ là những ngày ngút ngàn tang tóc, trùm kín lên đầu dân nghèo, dốt nát, hiền lành và vô tội vạ.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Anh chống Chủ Nghĩa Cộng Sản, thù hận chính sách vô thần, nhưng không chống con người.  Tôi nói thế, vì không phải là anh Vũ Hạnh (tức Nguyễn Đức Dũng) nhà văn thân Cộng, Lê Quang Kiến nay là Trung ương Ủy viên của Cộng Sản và nhiều tay khác đâu còn sống trong những ngày hỗn loạn ấy. Tình thương của Anh thật tuyệt vời, thật cao cả!
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Thành thật khen Anh cả về tài nhận xét người và tả chân.  Chỉ qua một vài nét đơn sơ, người đọc gặp nhân vật Anh tả như đã quen nhau tự bao giờ.  Em có may mắn quen biết đôi người trong KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI TẬP I Anh đã nói đến, phải công nhận là Anh tả chân đúng 100%.  Em cũng nhấn mạnh là tâm lý độc giả khi đã kiểm chứng vài sự việc là đúng – họ sẵn sàng vui vẻ trao cả lòng tin của mình cho tác giả.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Và, đọc Anh đi Tù. Tù tiếp Tù để nghe đâu Anh được bạn bè tặng cho danh hiệu “Ông già lăn lửa” hẳn không quá đáng!
 
Hy vọng và nghĩ là chắc, Anh còn sẽ làm được nhiều chuyện gay go như những ngày xa xưa mà ai đã biết, đã nghe về Anh.  Tất cả sẽ được ghi vào các tác phẩm “chất lượng của xứ Cờ Hoa” cho bạn bè và đám môn đệ Anh ngày nay hầu như có mặt gần hết, họ sẽ hãnh diện về Anh.  Phải thế không Anh?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NGUYỆN ƯỚC
 
Gửi bạn đồng thuyền
 
 
Cùng ngục tù luôn chân thành cương trực
Nêu thanh cao, tỉnh thức bạn chung “tàu”
Dòng Lạc Việt một tâm nguyện trước sau
Tô điểm sơn hà, kết hoa chiến thắng.
 
Anh thi gan, đợi chờ ngày ấm nắng
Rời ngục tù, tiếp nốt chặng đường chung
Trời Bắc Mỹ, không phải để đóng khung
Sống thụ hưởng, quên kiên trung, nghĩa khí
 
Ngưỡng mộ các anh hào hùng, dũng trí
Kiên cường chiến đấu, ngự trị kiêu căng
Mặc kệ tuổi cao, không nỡ trùm chăn
Thế nước biến! Bao trở trăn thao thức
 
Đến Đại hội tưng bừng vui, kính chúc
Liên minh phục quốc, chính nghĩa hoằng khai
Chống gián ly, lũng đoạn, để trong ngoài
Triệu bàn tay, vung hoài thành bão táp
 
Ngoài ra, trong muôn lòng chung giải pháp
Tay nắm tay, định bãi đáp, hướng đi
Sức mạnh toàn dân, lực lượng chính quy
Tấu hùng ca, uy nghi chờ quang phục
 
Dân nước Việt tháo xích xiềng tủi nhục
Bày Cộng nô, lúc nhúc lũ vô thần
Rút tủy xương, bảo vật của toàn dân
Vơ vét sạch “bườm” dần ra ngoại quốc.
 
Đất nước mình vượt qua cơn bão lốc
Vun bồi đạo lý đốt đuốc vinh quang
Tự Do, Độc Lập đường rộng thênh thang
Vì hậu thế, xây lầu vàng Hạnh Phúc
 
Trời Xuân thắm, nòi Nam tình cốt nhục
Có Nhân Quyền, Dân Chủ đẹp non sông
Xiết vòng tay, kết chặt mối tương đồng
Dựng nên nghiệp, phú cường Đông Nam Á
 
 
                                            XUÂN 1999
 
                                         ĐOÀN THÁI
 
 
Kính tặng bạn Phan Vỹ, một Chiến Sĩ Việt Quốc trung kiên, đã cùng chia sẻ vui buồn từ Long Thành, Thủ Đức, Hà Tây và Nam Hà.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG V
 
CUỘC ĐỜI VIẾT SÁCH
----------------
 
TỔ CHỨC NGÀY TƯỞNG NIỆM
 
người “CHẾT”, đoàn kết kẻ “SỐNG”
 
 
Sau ba năm Tù từ Huế về, gia đình tan nát đành đến sống nhờ người anh em chú bác, dù lòng chẳng vui chút nào bởi biết anh này là Đảng viên Cộng Sản từ trước 1945.
 
Trước kia, khi còn làm Quận trưởng Thăng Bình, anh đã cho vợ con vào nhờ nhắn lời với Quận trưởng Đại Lộc cho anh được đem vợ con vào Sàigòn sinh sống, như đã nói trong TẬP I, nhưng biết làm sao hơn, đành tạm giải quyết rồi sau sẽ liệu.
 
Trong thâm tâm dự định sẽ viết sách vì tin tưởng bao nhiêu điều đã ôm ấp từ lâu, chưa nói là sau 3 năm trong tù, sau bao nhiêu nỗi niềm đã chịu đựng, có nói trong TẬP I, viết đến ngày nào mới hết!  Cũng có nghĩ, nếu cùng lắm sẽ tìm đến bạn bè dẫn dắt vào ngành “Báo giới”.  Bởi có quan niệm là nếu thiếu điều kiện này thì không hẳn đã dễ chen chân.  Đang phân vân thì anh Hoàng Hữu Nghị đến rủ cùng lại nhà ông Hồ Hữu Tường bàn chuyện tổ chức ngày lễ “tưởng niệm người Chết, đoàn kết kẻ Sống”.
 
Niềm vui của những ngày ra Tù là gặp lại những bạn bè cùng gian khổ trước đây.  Đến nơi thấy ông Tường đã mời được khá đông mà một số quen biết  như Hoàng Hữu Nghị, Vương Phu, Nguyễn Thành Vinh, Nguyễn Chữ hay Ngô Đức Mão làm sao quên được!
 
Sau một hồi thảo luận, toàn thể đã quyết định việc bầu một Ban Tổ chức gồm ông Tường – Trưởng Ban, anh Vinh – Tổng Thư ký, tôi Phan Vỹ - Phó Tổng Thư ký, anh Vương Phu – Tài chánh và Thủ quỹ, anh Nghị - Kiểm soát.
 
Chương trình đang xúc tiến thì hai hôm sau ông Tường mời Ban Tổ chức đến và cho biết anh Nguyễn Thành Vinh xin rút tên không hoạt động.  Tôi đang ngẩn ngơ thì anh Nghị đã ghé nói nhỏ bên tai: anh Vinh nghe đồn ông Tường thân Cộng nên không cộng tác.
 
Anh Vỹ, nghĩ sao về việc này?
 
Không để ông Tường suy nghĩ lâu, tôi trả lời ngay:  nếu anh Vinh rút tên, tôi xin nhận lãnh tất cả công việc.
 
Anh Vương Phu tỏ ra thích thú, giọng lơ lớ Trung Hoa, tán thành ngay, và tất cả anh em cùng tán thành theo.
 
Tôi bắt đầu thay anh Vinh và lo mọi việc để ngày lễ được tổ chức đúng ngày tại Nhà Hát Lớn, sau này là trụ sở Hạ Viện.
 
Mọi việc đều suông sẻ chẳng có gì rắc rối, cho đến ngày khai mạc thì thấy đông đủ những nhà tai mắt thời ấy như Cụ Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Thế Truyền và các ông Hồ Hữu Tường, Trần văn Tuyên, Phan Quang Đán v. v. .
 
Chương tình khai mạc đang xúc tiến tốt đẹp thì khi bàn đến mục thảo luận Bản Kiến nghị để trình xin Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu ban hành sắc lệnh ân xá cho những anh em tù nhân Chính trị Quốc Gia trước đây, hội trường đang trật tự thảo luận, bỗng một anh trung niên đưa tay xin phát biểu và khi được phép, anh lên nắm lấy micro giọng lè nhè như uống “đã” rồi, nói chẳng ai nghe được gì, nói không dứt.  Nhiều người nhìn nhau như hỏi “biết anh ấy là ai không?”.  Và hầu như đều lắc đầu không hiểu anh là loại Tù gì, ở trại nào?
 
Người nóng tính là anh Ngô Đức Mão như không chịu nổi, muốn lên chặn lại.  Một số tỏ ra nghi ngờ và đâu đây có tiếng thì thầm “một tên tù Cộng Sản ở Long Khánh”.
 
Thấy không nên nóng nảy, tôi ra dấu cho anh Mão ngồi xuống và lanh ý lại nói nhỏ vào tai anh bạn giữ máy amplifier:
 
-         Khi tôi lên thì anh tắt ngay micro bên lão ta đang nói, để tôi trình bày là xong chuyện!
 
Và, quả nhiên khi tôi lên, anh bạn phụ trách amplifier đã làm đúng như lời dặn, anh kia chẳng biết, cứ nói nhưng chẳng có tiếng vì amplifier đã cúp điện, tôi đề nghị:
 
-         Thưa Quý Cụ, Quý Chiến hữu!  Nếu cứ thảo luận thì chẳng biết bao giờ xong. Vậy Ban Tổ chức đề nghị tạm ngưng việc thảo luận kiến nghị nơi đây, Nếu Vị nào có ý kiến gì khác xin mời chiều nay đến nhà Cụ Tường thảo luận tiếp, hoặc gửi thư cho biết.  Hạn chót là đến chiều mai chúng tôi sẽ đúc kết và chính thức làm phúc trình đệ lên Quốc Trưởng vào ngày mốt.
 
Cả hội trường vỗ tay hoan nghênh trong khi anh bạn kia lầm lũi xuống và lặng lẽ ra khỏi hội trường từ hồi nào chẳng mấy ai để ý.
 
Khi buổi lễ vừa tan, những vị lớn tuổi như quý anh Trần Văn Tuyên, Hồ Hữu Tường . . .  đã không tiếc lời khen tôi lanh trí – bởi nếu không ta đã bị Việt Cộng “phá bĩnh” thì chẳng còn ra sơ múi gì nữa.
 
Được các bậc đàn anh để ý, tôi có dịp dấn thân hơn vào lãnh vực chính trị, mà đến ngày anh Phan Bá Cầm thành lập tổ chức Hội Ái Hữu Chính trị phạm Quốc Gia, đã khuyên tôi nên nhận lãnh trách nhiệm giữ chức Ủy viên Tổ Chức, cũng như chính anh Cầm đã đến tận nhà bàn với tôi về chuyện thành lập Lực Lượng Dân Tộc Việt mà ngay ngày đầu anh đã không tiếc lời giới thiệu tôi làm Ủy viên Báo Chí, nhưng sau nhượng lại cho anh Phan Ngô và giữ chức Ủy viên Tổ Chức.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trung tướng NGUYỄN KHÁNH mời vào gặp
 
tại Tổng Tham Mưu
 
 
Tình hình chính trị bước vào giai đọan xào xáo.  Tôi nghĩ ngay đến việc bắt liên lạc với vài tay trong chính quyền để biết rõ hơn – ngoài suy đoán của mình.  Người nhắm đến trước hết là anh Nguyễn Cao, ngày nay đã là Đại Tá và đang là người tin cậy của Tướng Nguyễn Khánh, Tôi quen anh khá nhiều khi còn ở trong tổ chức Dinh Điền, thời mà anh mới là Trung Tá nhưng đã thay ông Bùi Văn Lương giữ chức Tổng Ủy Trưởng ngang với chức Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống.  Tôi đã đoán đúng!
 
Sau những lần gặp nhau, đã biết qua những gì mà trong hàng Tướng lãnh dự định làm khi mà lá bài Dân Sự đi vào con đường thất thế.
 
Anh Cao biết về tôi khá nhiều, nhất là khi ông Cẩn còn đang đầy uy quyền sẵn sàng dành cho nhiều cơ hội của quyền thế, nếu khuất phục, nhưng tôi có thái độ nào, thì anh Cao biết rất rõ.
 
Cho đến một ngày, sau đó không lâu, một tài xế mặc quân phục chững chạc tìm đến nơi tôi đang cư ngụ và nói:
 
-         Thưa Ông, Trung Tướng Thủ Tướng mời Ông vào gặp Trung Tướng.
 
Tôi vờ như không biết gì và chưa kịp trả lời thì anh nói tiếp:
 
-         Thưa Ông, Trung Tướng Nguyễn Khánh mời ông vô chơi ạ!
 
Qua một phút ngạc nhiên, tôi đoán được ngay sự việc, bởi nghĩ chắc là anh Cao giới thiệu.
 
Mời anh vào ngồi chơi và hỏi: “Ông Trung Tướng muốn gặp tôi tại đâu?”
 
-         Thưa, tại Tổng Tham Mưu ạ!
 
Thay y phục xong, tôi thản nhiên theo anh ra xe.  Dọc đường nghĩ ra vài chi tiết để chuẩn bị cho cuộc đối thoại, vì đây là thói quen cơ hữu của tôi.  Cách đây mấy hôm được nghe anh em trong Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Quốc Gia bàn chuyện Đảng Đại Việt do hai ông Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký tham chánh như thế nào rồi.  Đây là điều có thể xảy ra trong câu chuyện khi gặp Tướng Khánh, tôi nghĩ thế!
 
Xe chạy thẳng vào Tổng Tham Mưu, như có dặn trước, xuống xe, tài xế đưa tay mời tôi vào dãy nhà gần cửa phía tay trái.
 
Vừa xuống xe, thoáng thấy một người mặc y phục dân sự từ trong nhà bước ra, tôi nhận ra ngay là Trung Tướng Thái Quang Hoàng.
 
Bước vào cửa, ông Khánh đã ra bắt tay và mời vào.  Mở đầu câu chuyện, ông Khánh hỏi ngay tôi như đã dự đoán, chẳng khắc nào ngày đầu tiên khi gặp ông Cẩn.
 
-         Nghe ngoài Trung anh là một tay “dám ăn, dám nói” nên mời anh đến chơi để nói chuyện và nghe những gì anh biết về tôi, để giải quyết thời cuộc”.  Không một phút suy nghĩ, cố ý để ông Khánh phải đánh giá ngay là tôi nói những gì tận đáy lòng.
 
-         Tôi ít thích nói vừa lòng người khác, nhất là khi họ cần nghe mình, như Trung Tướng vừa tâm sự.
 
Ông Khánh cười một cách thích thú “Chính vì vậy tôi mới mời anh đấy chứ!”
 
Nhưng ông ta không thể không ngạc nhiên khi nghe tôi giở ngay “chiêu” thăm dò thông lệ của những tay làm chính trị.
 
-         Tôi chỉ biết nói ngay, mà lời nói ngay thì thường rất khó nghe. Hơn thế, như Trung Tướng vừa nói là muốn tôi nói hết sự thực thì tôi không thể nói cho vui lòng Trung Tướng được, vì như thế là “dua nịnh” mong Trung Tướng thông cảm cho.
 
Cũng chẳng vừa, ông Khánh đánh “phủ đầu” ngay khi tôi vừa dứt câu.
 
-         Nói nịnh, nói để nghe êm tai thì cả ngày tôi nghe đã mệt lắm rồi, những người chung quanh đều thường như thế.  Nhưng nay tôi muốn nghe những lời phê bình thẳng thắn.  Tôi được nhiều bạn bè cho biết rằng nếu muốn như vậy thì chẳng ai hơn anh, nên mời anh, anh cứ nói, tôi sẵn sàng nghe!  Tôi muốn biết ở ngoài người ta đang nói gì về tôi?
 
Ngưng một lát để cân nhắc, tôi không ngần ngại:
 
-         Ngoài dư luận, nhất là trong chính giới đang đồn đãi là Trung Tướng đang hình thành một Chính phủ ĐạiViệt.
 
Vừa dứt lời, ông Khánh đã xô ghế đứng dậy đưa tay mặt lên cao và xẵng giọng nhìn tôi:
 
-         Tôi không có Đảng nào hết, tôi chỉ có Nhân Dân là Đảng thôi.
 
Cố giữ vẻ thản nhiên không tỏ chút gì trước câu nói mỉa mai của ông Khánh.
 
-         Nhưng ai tin được?  Vì ông Nguyễn Tôn Hoàn đến Hà Thúc Ký, đều là lãnh tụ của Đại Việt kia mà!
 
Thoáng đọc được trên mắt ông Khánh một “hàm ý”, tôi bèn tấn công ngay.
 
-         À, tôi hiểu ngay Trung Tướng muốn nói gì rồi, phải chăng Trung Tướng muốn nói rằng trong Chính Phủ này có hai ông Lê Đình Duyên và Phạm Thái ở Bộ Thông Tin là người của Quốc Dân Đảng chăng?
 
Không để ông Khánh giải thích hay biện bạch, tôi nói tiếp:
 
-         Ông Duyên hay ông Thái là chỗ quen biết với ông Ký trong thời gian ở tù chung vừa qua.  Tôi nghĩ thế chứ không có thâm ý muốn nói rằng ông Ký giới thiệu ông Duyên như là một Lãnh tụ Quốc Dân Đảng, đó chỉ là một trò làm cho Quốc Dân Đảng tự đánh phá nhau, vì lẽ ông Duyên đâu phải là Lãnh tụ của Quốc Dân Đảng?
 
Ông Khánh ngồi nghe như cố phân tách lời nói của tôi, cuối cùng ông hỏi:
 
-         Vậy có cách nào để chính giới thông cảm và hiểu rằng tôi không phải là người của Đại Việt chăng?
 
Như bắt được cơ hội bằng vàng, không một phút do dự:
 
-         Ở đời không có bệnh nào lại chẳng có thuốc trị, không có bài toán nào lại không có lời giải, trừ phi mình coi thường dư luận và không cần giải thích thôi!
 
-         Vậy theo Anh thì tôi phải làm gì?
 
Tôi nói như trả bài của đám trẻ học thuộc lòng:
 
-         Bây giờ chính phủ đã là Đại Việt hẳn nhiên nếu ta mời các Đảng khác thì chưa chắc họ đã nhận lời tham gia.  Tuy nhiên, theo thiển kiến của tôi, Trung Tướng cứ lên tiếng mời mỗi Đảng một hai người, hẳn nhiên là trong hạng Trung cấp – rồi thành lập một tổ chức, như Tham chánh hay Tham lý gì đó để họ quan sát hành động của Trung Tướng trong ý thức giúp những công tác không va chạm gì với số Cán bộ Đại Việt. Khi đó họ sẽ nhận thấy Trung Tướng không phải là Đại Việt, khỏi cần thanh minh, thanh nga gì nữa.
 
Ông Khánh tươi hẳn và quay lại hỏi Anh có thể giúp tôi việc liên lạc với các Đảng phái không?
 
-         Tôi không bảo đảm trước, nhưng sẽ cố gắng làm cái việc trung gian này giúp Trung Tướng.  Vì tôi hiện là Ủy viên Tổ chức của Hội Cựu Tù nhân Chính trị Quốc Gia, các Đảng phái hẳn biết.  Tôi sẽ giúp Trung Tướng, nhưng việc thành hay bại, lâu hay mau là do nhiệt tình của Trung Tướng!
 
Đang định nói tiếp thì ông Khánh đã chặn lại:
 
-         Anh đừng lo gì, tôi đã biết rõ sự việc và hẳn nhiên là rất mong ước các Đảng phái thấy được thiện chí.
 
Nói đến đây, ông Khánh bấm chuông kêu người cận vệ và ra lệnh chuẩn bị cho tôi những nhu cầu cấp thời như phương tiện xe cộ, và ông tiếp tục nói chuyện khoảng nửa giờ đồng hồ, sau đó tôi cáo từ ra về.
 
Ngay đêm hôm đó, tôi qua kể lại chuyện với anh Cầm và đi liên hệ với những Đảng phái mà theo anh Cầm khuyên nên giải quyết trước.
 
Các Đảng phái lớn như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Duy Dân, Dân Xã v. v. .  trừ Đại Việt.  Tôi đến trình bày và đặc biệt chỉ cho họ chiếc xe mà Phủ Thủ Tướng giao sử dụng để quý vị ấy không nghi ngờ.  Tôi cũng nói rõ cho họ biết chuyện đêm qua với ông Khánh đề nghị cử người để tham gia với tính cách quan sát này, chẳng mất mát gì. Hầu hết đều đồng ý.
 
Hôm sau trở lại Phủ Thủ Tướng và nơi ấy đồng ý nhờ tôi soạn thảo một Nội quy thành lập tổ chức này với danh hiệu Ủy Ban Tham Chánh lấy cơ sở cũ của Đệ Nhất Cộng Hòa đã dùng.
 
Nhưng, câu chuyện chỉ hai ngày sau trên nhật báo Người Việt Tự Do đăng tải tin như tôi đã làm. Thoạt đầu nghĩ là một trong Đảng phái đã tung tin này hay ông Khánh cho tung ra để thăm dò dư luận.  Nhưng sau mới vỡ lẽ là có một số người có lẽ ở trong Chính Phủ lúc bấy giờ không “vui” vì tin này, phóng lớn lên để mong triệt hạ thì đúng hơn.
 
Nghĩ thế, vì ông Khánh không lưu tâm lắm hay là tình hình lúc bấy giờ khiến ông coi nhẹ tầm quan trọng của các Đảng phái như những ngày đầu mà ông đã có ý nhờ tôi liên lạc.
 
Bỗng nhiên, văn phòng Dân Ý của ông Vàng ở số 2 đường Thống Nhất, cạnh Phủ Thủ Tướng mời đến gặp.  Ông Vàng cho biết là lệnh Phủ Thủ Tướng lo văn phòng, lương hướng, nhưng tôi chỉ liên hệ công tác Chính trị của Phủ Thủ Tướng.  Tôi trả lời ông Vàng, trước đây nhận liên hệ các Đảng phái, nay chỉ một mình “xé rào” vào thì không thể nào nhận lời được.
 
Ông Vàng lắc đầu và biết ông hoàn toàn không biết gì về việc ấy.  Tôi ra về và liên lạc với bên văn phòng có gặp ông Nguyễn Cao, hồi ấy đã chính thức là Đổng Lý Văn Phòng Phủ Thủ Tướng, từ đó không liên lạc gì nữa.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Chuẩn bị cho tác phẩm
 
CẨM NANG HÀNH CHÁNH hay là KINH NGHIỆM
 
“SỐNG” tổ chức NÔNG THÔN
 
 
 
Đây là lúc bạn bè khuyên nên lập lại gia đình, bởi họ thấy vài cô gái cũng bắt đầu để ý.  Họ để ý vì thấy thỉnh thoảng đi lại bằng công xa số VN của Chính Phủ, đã lớn lại cu ky chẳng con cái gì.
 
Biết cuộc đời làm chính trị, việc tù đầy là một cửa ngõ luôn sẵn dành, nên chẳng dám nhìn cao xa, tôi quyết định và ngỏ ý với một cô gái tuy nhỏ tuổi nhưng khá đảm đang, lại cũng trong hoàn cảnh bị gia đình ép buộc làm một việc chẳng vừa ý.  Đơn giản để cùng sống chung rời gia đình người bà con khác chí hướng nói ở đoạn trước, đến thuê một căn nhà nhỏ ở đường Nguyễn Huỳnh Đức.
 
Một anh bạn đồng hương sẵn lòng chỉ cho bà vợ làm nghề đi bỏ mối thuốc tây tạm đủ sống.  Đặt cả tâm trí vào việc chuẩn bị cho việc viết và phát hành tác phẩm CẨM NANG HÀNH CHÁNH hay là KINH NGHIỆM “SỐNG” tổ chức NÔNG THÔN.
 
Cái may là tìm lại được mớ tài liệu trước kia (1960) khi đi tù gia đình tan nát thì bà chị thu dọn đem gửi nơi gia đình anh bà con chú bác này.
 
Đây là tài liệu trước kia khi còn làm Tổng Đoàn Trưởng Quân Thứ Lưu Động để huấn luyện Cán bộ, tài liệu Tư Pháp khi còn làm Quận trưởng Tam Kỳ đã trình lên và được ông Chánh Án Đà Nẵng khen tặng, nhất là những gì đã áp dụng cho Chiến Dịch Tố Cộng được Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tưởng thưởng Đệ Nhất Đẳng Chương Mỹ Bội Tinh v.v. . . để nói lên trong tác phẩm.
 
Tất cả những kinh nghiệm đã áp dụng với đối tượng nhìn vào là cấp Xã, Ấp hay dùng cho cả những Quận Trưởng đều được chi tiết đề cập.
 
Sách được chia ra làm Ba Chương:
 
I – Những đức tính căn bản:
 
-         Tâm lý
 
-         Tháo vát
 
-         Sáng kiến
 
-         Minh mẫn, sáng suốt ( biết xét người, xét mình, biết phân biệt việc trọng, việc khinh)
 
II – Bí quyết phương pháp bình định:
 
-         Tranh luận với đối phương và giải đáp thắc mắc quần chúng.
 
-         Xử trí khi gặp đấu tranh
 
-         Gây tín nhiệm quần chúng (từng thành phần – Lão thành – Phụ nữ - Trẻ em)
 
-         Vận động quần chúng
 
III – Tổ chức:
 
-         Văn phòng cố định
 
-         Văn phòng lưu động
 
-         Tổ chức hội đồng Xã (hiểu rõ khái yếu vai trò Xã, Thôn qua các Triều đại)
 
-         Kỹ thuật tổ chức Xã của mỗi hoàn cảnh
 
-         Khái yếu về Tư Pháp
 
-         Tổ chức định cư (khi có những cuộc di dân)
 
Ở mỗi Phần trong các Chương, ngoài việc nêu lên nguyên tắc là đưa ra những thí điểm kinh nghiệm điển hình để người đọc hình dung được những điều có thể xảy đến.
Trong phần Hành Chánh, về thời bấy giờ người Cán bộ ngoài việc sắp xếp được thông thường của những hồ sơ Đi và Đến, Thường và Mật còn phải biết thật thuộc những danh từ để thế nào là gửi lên của Kính bẩm hay Kính tường và gửi cho cấp ngang hàng hay cấp trực thuộc tri tường hay tri hành…
 
Sách phải chỉ cho văn phòng biết tại sao một văn thư khi đánh máy gửi đi phải đánh trước ở góc dưới con số của những bản sẽ đánh là 3 hay 5 bản.   Đây là nguyên tắc để không bị nhân viên thừa hành đã được đối phương tổ chức đánh dư một bản gửi về cho cơ sở bí mật của địch.
 
Sách cũng chỉ cho người Chỉ huy (cấp Xã, Quận) khi được trình duyệt xét phải phê ra sao để các phần hành biết mà làm theo chỉ thị của mình.
 
Kinh nghiệm hồi ấy có một việc đáng nhớ là một chú nọ muốn có một bản sao như đã thi đậu Trung học dùng nộp hồ sơ xin vào Công nhật, đã thông đồng với phần hành Văn thư chen vào trong hồ sơ trình Phó Tỉnh trưởng Hành Chánh ký, một bản ký.
 
(Không có bản chính – để có một bản sao được Tòa Tỉnh Trưởng chứng nhận).
 
Về kinh nghiệm Sách còn chỉ rất rõ để đừng nên coi thường người Cận vệ hay anh Bí thư.  Cứ chắc mẩm nơi Ông Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng nhưng quên rằng sau này chính những người Bí thư, Cận vệ lại nhỏ to, thưa vào thưa ra dễ hỏng cả việc lớn.  Chính cùng câu chuyện na ná trên Sách còn dí dỏm kể lại rằng ngày xưa những đám nhà gái thường dành cho mấy chú đội mâm quả một bàn ăn khá chu đáo, vì chính những chú này thường là cung cấp những nhận xét giá trị sau này.
 
Vài chương mục trong tác phẩm đáng lưu ý, hôm nay xin được nhắc lại là:
 
-         Cách xưng hô trong cấp bộ Hành chánh
 
-         Khái yếu về Tư Pháp
 
-         Cơ cấu Hành chánh qua các Triều đại
 
Về cách xưng hô trong các cấp Hành chánh được tóm tắt:
 
Viết cho cấp trên – Viết cho ngang hàng – Viết cho cấp dưới
Trường hợp dùng:
 
Kính trình – Kính tư –  
 
Để trình bày tin báo hay chỉ thị:
 
Kính thông tư
 
Nếu trường hợp gửi cho nhiều chỗ:
 
Thông tư – Thông cáo – Quân thẩm - Xét
 
Dùng trong trường hợp không yêu cầu giải quyết hay phúc đáp nghĩa là tùy cấp trên xét việc đáng làm thì làm:
 
Thẩm hành – Xét làm – Tri hành
 
Việc xin giải quyết hoặc cần thi hành:
 
Tri hành – Thi hành – Thẩm định – XétPhúc tư
 
Việc xin định đoạt phúc đáp:
 
Thẩm phúc – Xét phúcPhúc trình
 
Đối với cấp dưới buộc phải trả lời:
 
Thẩm chiếu –  Tri chiếu
 
Việc trình hoặc tin cho biết thôi, không cần phải trả lời:
 
BiếtChâu tri
 
Tin báo cho nhiều cơ quan hoặc nhân viên thuộc quyền biết một việc gì:
 
Đều biết
 
Về khái yếu Tư Pháp được tóm tắt như sau:
 
Trong công tác tổ chức Nông thôn, người cán bộ cấp Quận, Hành chánh lưu động và nhất là ở cấp Xã, Thôn, thường nhầm lẫn về Tư pháp bởi quan niệm “phép vua thua lệ làng” chứ không như trong một chế độ Cộng Sản, một vùng do Cộng Sản kiểm soát thì nạn luật rừng là việc luôn xảy ra.
 
Bởi lý do trên trong tinh thần dân chủ cần nêu lên những khái niệm về Tư pháp là điều cần, trong ấy có các trường hợp:
 
-         Án mạng
 
-         Trộm cắp (Điều 344 Luật Hình)
 
-         Lừa gạt và Dối trá (Điều 362 Luật Hình)
 
-         Lạm thủ và Bội tín (Điều 366 Luật Hình)
 
-         Quyền hạn của Hội viên Cảnh Sát
 
-         Những điều cần biết về vi cảnh phạm pháp quả tang, các loại trát thuộc Tư pháp.
 
Ở mỗi trường hợp nói trên đều được chi tiết hóa khá tỷ mỷ.  Nhờ công tác này khi trình về Tòa rộng quyền Đà Nẵng, ông Chánh Án đã gửi văn thư khen thưởng và sao gửi các Tỉnh dùng làm Kim chỉ nam cho các đơn vị hành chánh và nhờ vậy mà sau này khi gửi cho các Trung tâm Huấn luyện Cảnh Sát Rạch Dừa, Tam Hiệp đều được hoan nghênh.
 
Về các cơ cấu Hành Chánh qua các Triều đại được nhắc nhở:
 
Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thì Xã là một tổ chức bắt đầu có từ năm 939 trong thời Ông Khúc Hạo người tỉnh Hải Dương vùng lên chống người Tàu để lập ra Giao Châu tức Bắc Việt sau này.
 
Tuy có thay đổi chút ít, nhưng đại để tổ chức Xã Thôn có thể chia ra làm 5 giai đoạn:
 
-         Thời tiền Pháp thuộc (thời Vua Chúa)
 
-         Thời Pháp thuộc (1862)
 
-         Thời 1945
 
Thời Đệ Nhất Cộng Hòa và những ngày đầu của Đệ Nhị Cộng Hòa.
 
-         Giai đoạn 1965 (lúc tác phẩm này ra đời)
 
Vài thay đổi có thể nhận thấy như sau:
 
Thời Pháp thuộc:  Qua mỗi Triều đại thường có thay đổi. Tuy nhiên có thể phác họa như sau:
 
-         Nhà LÝ:  Đơn vị căn bản là Làng, chia ra làm nhiều Giáp, mỗi Giáp có độ 15 dân đinh.
 
-         Nhà TRẦN:  Làng được gọi là Xã và chỉ thay đổi là trên mỗi Giáp có một Quản Giáp chỉ huy.
 
-         Nhà HỒ:  Đổi Xã thành Lý, mỗi Lý lại chia thành 10 Giáp, mỗi Giáp có 10 hộ, mỗi Lý có một Lý Trưởng cầm đầu.
 
-         Nhà LÊ:  Xã chia thành nhiều Thôn và do Xã Trưởng cầm đầu.
 
-         Nhà NGUYỄN (Gia Long) giống chính sách nhà Lê, nhưng Xã lớn thì thêm một Phụ tá và trong Xã giao cho 3 Hương chức:
 
               Hương trưởng:  Hành chánh và Kiểm soát.
 
               Hương mục:  Đất đai, tài sản.
 
               Trùm trưởng:  Cảnh sát.
 
Đời MINH MẠNG (1820 – 1840):  được Dân chủ bầu cử Xã Trưởng, song không dùng danh từ Xã Trưởng nữa mà dùng danh từ Lý Trưởng như thời nhà Hồ và danh từ này được duy trì suốt thời kỳ Pháp thuộc.
 
Tuy là cuốn sách đầu tay, tôi cũng đã nghĩ ngay việc lưu ý của “LỜI NÓI ĐẦU”, không có người viết lời giới thiệu.  Thế là nặng nghĩ đến tâm lý để viết “LỜI NÓI ĐẦU”.
 
Vài lời của Tác Giả:
Kính thưa Quý vị,
 
Thưa Quý Bạn,
 
Một tài liệu nghiên cứu thường rất khô khan, nhất là tài liệu ấy lại thuộc về hành chánh. Thoạt tiên nghĩ đến việc viết quyển “CẨM NANG HÀNH CHÁNH” lo ngại sự khô khan ấy sẽ làm độc giả ít ham thích để chịu ngồi đọc suốt 200 trang này hơn là lo nghĩ mình không phải ở một phẩm trật hành chánh cao cấp, một địa vị quan trọng trong chính quyền, nếu không phải vì độc giả cố tình nghiên cứu những kinh nghiệm.
 
Tuy nhiên, nghĩ đến việc sắp xếp tài liệu với những nghiên cứu kỹ càng, dẫn chứng cụ thể, tôi hy vọng sẽ được quý vị và quý bạn:
 
-         Xác nhận hợp lý với phần I về những đức tính căn bản của Cán bộ lãnh đạo.
 
-         Hào hứng với những mẩu chuyện lý thú do kinh nghiệm “sống” trong dịp đối phó với địch để thu phục nhân tâm, cải tiến xã hội.
 
-         Mến yêu vì tác giả biết đặt tinh thần tự giác, tự kiểm điểm được những sai lầm.
 
-         Tin tưởng nhờ ở những tài liệu nói rõ tầm quan trọng của Xã, Thôn qua các thời đại, những chủ trương của Cộng Sản, tài liệu Tư Pháp và nhất là nêu lên lý do thất bại của tổ chức Dinh Điền hay đầu voi đuôi chuột của Chiến Dịch Tố Cộng.
 
-         Tha thứ cho Tác giả vì hoàn cảnh phải nói lên vài sự thực chứ không có mục đích khoe khoang.
 
-         Và, dù sao cũng ước mong được nhiều sự chỉ dẫn của Quý vị để tu chỉnh bản thân mình, xây dựng tài liệu cho một tác phẩm sẽ được ra mắt tiếp theo là “Đừng lạm dụng danh nghĩa Nông thôn”.
 
Thành kính mong Quý Vị và Quý Bạn thông cảm.
 
 
                                                                                         Phan Vỹ
 
Chưa có kinh nghiệm nên kiểm duyệt thuê in, nộp bản chỉ nhắm vào các Tỉnh mà tiêu thụ.  Cho người nhà đem sách về các Tỉnh xin gặp Ông Tỉnh Trưởng để hy vọng được mua.  Đây là lúc các Tỉnh Trưởng thường cũng dành cho các nhà văn chút tình cảm, mua để cấp cho các Xã hay Quận.
 
Nhắm vào các Trung Tâm Huấn Luyện, nhất là của Cảnh Sát, tôi đã khá thành công, khi được biết dành một tỷ lệ giúp Trung Tâm bỏ vào Câu lạc bộ. Vì vậy chẳng bao lâu sách đã được tái bản.
 
Rồi đến một hôm, người nhà mang sách về Kiến Hòa xin gặp Ông Tỉnh Trưởng Trần Ngọc Châu để giới thiệu, dĩ nhiên là có thơ gửi kèm theo – thì được ông dành nhiều ưu tiên và nói người nhà về mời tôi xuống chơi để ông bàn một việc rất quan trọng.
 
Thế là cuộc đời bắt đầu lên hương!
 
Khi người nhà cho biết sự niềm nở của ông Châu, tôi chuẩn bị hôm sau đi Kiến Hòa.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
KIẾN HÒA mời tổ chức thí điểm Dân Ý Vụ
(Sau này được gọi là Giáp mặt với Phụng Hoàng)
 
 
Thật là một câu chuyện khó quên!
 
Đến Kiến Hòa, tôi vào ngay Tòa Tỉnh Trưởng và không ngờ đang có cuộc họp.  Nghĩ rằng mình đã có báo trước, ông Châu đã cho xe ra đón tại Rạch Miễu thì hẳn nhiên cuộc họp này không ngăn trở cuộc gặp mặt. Tôi nghĩ đúng!
 
Vừa vào, ông Châu đã bước ra bắt tay và mời vào.  Có một quan điểm ít giống ai, tôi tuần tự đi quanh bàn họp bắt tay từng người.  Trong số này chỉ có anh Trần Huỳnh Hội con Cụ Trần Cảnh (sau này là Thượng nghị sĩ trong Liên danh Mặt Trời) là có biết nhau trước (và chính anh Hội kể cho nghe chuyện bắt tay hôm nay, sẽ nói ở đoạn sau).
 
Và, cuối cùng mới bắt tay ông Châu, ngồi vào chỗ để nghe ông tiếp tục nói về tổ chức mà ông mời xuống thiết lập với danh xưng là Dân Sự Vụ, sau này đổi thành Dân Ý Vụ.
 
Ông Châu nghiêm giọng nhắc các Quận Trưởng rằng đây là một tổ chức được Tòa Đại Sứ Mỹ hết lòng yểm trợ để làm thí điểm cho toàn quốc, nghĩa là nếu thành công thì sau này sẽ được các Tỉnh Trưởng khác thực hiện.
 
Sau hơn tiếng thảo luận ông Châu tuyên bố bế mạc, các Quận Trưởng và Trưởng Ty giải tán, nhưng giữ tôi lại.  Trong câu chuyện ông Châu nhắc rằng ông Cụ thân sinh ông trước là Tri phủ Tam Kỳ mà tôi có nghe kể, khi vào nhậm chức tại đây năm 1955 – 1956, đó là Cụ Trần Đạo Tế.  Khi tôi giữ Quận Trưởng Thăng Bình thì ông Châu cũng là một Tiểu Đoàn Trưởng đóng gần Quận lỵ, nên ông khá biết về tôi.
 
Ông Châu mở lời, tôi được ông Edward G. Lansdale quyết lòng hỗ trợ để tổ chức này khi còn là Thiếu Tá Tỉnh Trưởng tại đây.  Nhưng việc chưa thành thì phải đổi về làm Thị Trưởng Đà Nẵng thời ông Diệm, cho đến khi trở lại Kiến Hòa lần này được ông ấy nhắc và hết lòng yểm trợ.
 
Ông Châu kể qua về những gì phải làm của tổ chức, cốt để dân chúng cảm mến mà cung cấp tin tức chứ không phải “mua tin” như các tổ chức tình báo khác.
 
-         Vậy anh nghĩ sao về tổ chức này?  Tôi chưa kịp trả lời thì ông Châu đã tiếp ngay.  Tôi không tìm ra được người nào, nghĩ là có thể làm được việc này, thì hôm qua được tin anh khi người nhà vào bán sách, mừng quá nghĩ rằng, “chỉ có anh mới là người tôi tin tưởng để gửi gắm hết  ước mong này”.
 
 
-         Cảm ơn ông Tỉnh Trưởng, sau ba năm trong tù, tôi nghiền ngẫm chuyện đất nước và nghĩ rằng cuộc chiến này không thể giải quyết được bằng quân sự mà chỉ bên nào giành được Dân bên đó thắng!
 
Ông Châu nghe nói xong, cười một cách khoái trá, dù ông ta có một nét mặt rất trầm tĩnh, ít cười.
 
Ông nói về quyền lợi, lương bổng, nhà ở cho tôi yên tâm và thuê trường Bác Ái gần Tòa Tỉnh để làm văn phòng.  Chỉ thị cho anh Thiện, Trưởng Ban 2 Tiểu Khu, người đang tạm thời chỉ huy tổ chức này là ngày mai bàn giao mọi việc.
 
Thông cảm ông Châu ngày mai về thu xếp việc nhà và xuống ngay để bắt tay vào việc.
 
Đây là một tổ chức lấy tên Dân Sự Vụ, và theo nguyên tắc của tổ chức cứ 500 người Dân có một Cán bộ phụ trách.
 
Người Cán bộ phải chia ra thời khóa biểu, mời người chủ nhà đến văn phòng mỗi tháng một lần tiếp xúc và đặt ba câu hỏi để biết gia đình có ai đau yếu gì không, có nghe trong vùng quanh lối xóm có ai đau khổ, oan ức gì không và cuối cùng sẽ hỏi xem có nghe biết tin tức hoạt động của Việt Cộng trong vùng không?
 
Quan trọng là phải hỏi dù họ trả lời ra sao.  Phải giữ đúng 15 phút sau mới bắt tay từ giã, người nào cũng vậy, để họ khỏi nghi ngờ.  Ghi vào sổ tất cả kết quả của ba câu hỏi và trình cho Quận biết những oan ức và tin tức Việt Cộng nếu có, đồng thời bản sao gửi ngay về Trung tâm, Trung tâm sẽ theo dõi để biết Quận Trưởng có giải quyết những oan ức và giải quyết thế nào để Tỉnh Trưởng biết.  Về tin tức Việt Cộng thì cho Ban 2 Tiểu khu biết, khi mà những oan ức được giải quyết tốt đẹp thì dân chúng sẽ lần hồi tin tưởng cung cấp tin tức tốt cho ta.
 
Nhiều xích mích, thù oán trong địa phương cũng được dàn xếp, bởi các Quận Trưởng đã biết rõ thiện chí của Tỉnh Trưởng nên chẳng bao giờ dám bênh vực cấp Xã, Ấp mà áp chế nhân dân.  Có trường hợp một cán bộ tham nhũng, lấy cắp, được nhân dân phát giác, nay không giải quyết được thì Tỉnh Trưởng khéo léo lấy quỹ riêng ra thanh thỏa và tạo một hiểu biết không để cán bộ thù oán người đã tố cáo mình.
 
Bất ngờ một Chủ nhật tôi ra phố gặp anh Trần Huỳnh Hội lúc bấy giờ đang là Quận Trưởng Hàm Luông về chơi, kể lại câu chuyện bữa gặp nhau tại cuộc họp ở tòa Tỉnh.
 
-         Anh có biết lúc Ông Tỉnh nghe báo có anh đến, đã loan báo cho hội nghị biết, nhất là các Quận Trưởng.
 
-         “Tôi vừa mời được một tay cừ khôi về đây, trước đã là một Quận Trưởng nổi tiếng ở một quận miền Trung.  Anh ấy về đây giúp chúng ta trong việc tổ chức thí điểm Dân Sự Vụ này.  Các Ông phải tận tình giúp đỡ và nếu có gì khó khăn không giải quyết được báo cho tôi biết!   Lưu ý là không thể che chở cho cấp dưới làm hại cho mục đích chung”, rồi anh nói tiếp:
 
-         Khi Ông Tỉnh Trưởng vừa nói xong thì tên Bửu – Quận Trưởng Bình Đại, tay đầy thế lực của Tướng Quang, Tư lệnh Quân Đoàn 4, đã nghiêng tai tôi nói nhỏ:  “Chờ xem tên này chưởng lực đến độ nào mà Ông Tỉnh Trưởng ca tụng dữ vậy!”  Và anh nói tiếp:  Không ngờ khi anh vào và đi quanh bắt tay mọi người, sau mới bắt tay ông Tỉnh, Bửu đã cười và nói nhỏ:  “Đúng là tay cao thủ võ lâm thật!”
 
Về tổ chức và phương tiện thì được Cố vấn ORELLI cung cấp rất đầy đủ và sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu khi cần.  Về nhân viên, ông Châu đã cho mời cựu Phó Quận Trưởng ở Vĩnh Long là Huỳnh Cao Năng làm Phụ tá Hành chánh, cựu Trung úy Sĩ quan Tình báo Nguyễn Hữu Đức làm Phụ tá Tình Báo, cựu Trưởng ty Cảnh Sát Hoàng Đình Nghị làm Phụ tá Kiểm Tra và văn phòng được trang bị từ phòng tối in hình, các máy chụp hình, các máy móc dùng văn phòng v. v. . . 
Một hôm có nhân viên đem về tờ truyền đơn của Việt Cộng in dưới hình thức tờ quảng cáo phim chiếu bóng, nhưng mặt sau là nội dung truyền đơn của Việt Cộng.  Nhìn thoáng qua tưởng dân chúng đọc quảng cáo phim, nhưng thực ra đọc truyền đơn của địch.  Và chúng ta cũng hiểu rằng trong miền Nam Kiến Hòa là nơi Việt Cộng hoạt động mạnh nhất, cũng như miền Trung là Quảng Nam.
 
Khi nghe tin Quận Hương Mỹ báo cáo tình hình hoạt động Cộng Sản khá nặng nề, tôi phái ông Trưởng Ban Lưu Động về quan sát tình hình, ngay chiều hôm đó, nhận được báo cáo khi đến nơi ông Trưởng Ban đã bị ám sát chết.
 
Tìm hiểu cán bộ cấp dưới đã đành, tôi cũng cố tìm hiểu thêm về ông Trần Ngọc Châu, vì người Mỹ đánh giá ông Châu trong lý luận rằng cuộc chiến tranh này không nhất thiết phải giết chết Du Kích.  Theo ông Châu thì cái trò giết người đếm xác không thể thích hợp mà lại còn có hại.
 
Nhưng theo người Mỹ, nhất là họ đang chiến đấu tại đây thì dĩ nhiên đa số không chấp nhận lý luận này, nhất là khi họ nghe ông Châu thuyết trình rằng đây là cuộc chiến diễn ra trên ba góc độ, mà tiềm lực quân sự của Cộng Sản gồm có:
 
-         Quân đội Chính Quy được hỗ trợ bởi các Đội Du Kích.
 
-         Các đội Du Kích thì được yểm trợ và ủng hộ của các tổ chức chính trị cơ sở.
 
-         Và các tổ chức chính trị cơ sở thì dựa vào nhân dân trong vùng chúng tạm chiếm.
 
Vì vậy theo ông Châu, nếu ta muốn giành được thắng lợi thì phải trước hết đánh tan, phá vỡ các tổ chức chính trị cơ sở của chúng.
 
Rồi một hôm ông Châu đến cho biết “Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia sắp xuống kinh lý tỉnh Kiến Hòa”.   Ông Châu và tôi phải thuyết trình tất cả các tổ chức này.
 
Ông đưa ý kiến là trong buổi thuyết trình làm sao phải có một bản đồ tinh vi, chi tiết, để khi nhìn vào thấy rõ, một Quận có bao nhiêu Xã, Xã có bao nhiêu Ấp và mỗi Ấp bao nhiêu gia đình, trong những số gia đình này bao nhiêu có Sổ Gia Đình, bao nhiêu người có Thẻ Kiểm Tra v. v. . .
 
Phải ghi tất cả các sự kiện xảy ra trong một Xã hoặc Ấp, để khi nhìn vào biết ngay Ấp nào đã xảy ra bao vụ oan ức, ức hiếp đã giải quyết được bao vụ còn bao nhiêu vụ chưa giải quyết, và chiều hướng giải quyết như thế nào v.v. . .
 
Khi ông Châu ra về tôi ra tiệm hớt tóc để cho họ làm massage cho khỏe, xong về ngồi yên để tưởng tượng ra một bản đồ như ông Châu muốn.
 
Suy nghĩ và bắt tay vào thực hiện tấm bản đồ, làm suốt cả một ngày gần đến tối mới xong.  Nhưng khi nhìn vào bản đồ đâm ra hoảng sợ, bởi cảm giác như một “màng lưới nhện giăng”, không làm sao hiểu và giải thích nổi.
 
Quá mệt óc vì suy nghĩ, vào phòng nằm thiếp đi.  Sau tiếng đồng hồ tỉnh dậy, đầu óc thấy khỏe khoắn và sáng suốt hơn.  Bỗng như một giấc mơ, tôi chợt nghĩ ra, đặt giả thuyết như mình được kẻ khác thuyết trình.  Cho xe đi mời chú em tin cậy.  Hai anh em cùng cố làm theo giác quan, như lúc mới bừng tỉnh và tôi cho thực hiện các dấu hiệu cho các Ấp là một hình chữ nhật, bốn góc có ghi rõ Dân số, Gia đình và lên cấp Xã là một hình vuông và cuối cùng cấp Quận là hình tròn v.v. . .
 
Còn một hôm nữa, Trung Tướng Thiệu xuống, nhưng ông Châu vì lo ngại, đến cơ quan tôi khá sớm để xem xét công việc tiến hành đến đâu. Khi trình bày sáng kiến nghĩ ra những hình giác tượng trưng cho các đơn vị Ấp, Xã và Quận với những con số theo từng màu, đủ nói lên các sự việc xảy ra và đã giải quyết hay chưa v.v. . . ông Châu cho biết ngày mai ông Thiệu xuống.
 
Hôm sau đón Trung Tướng Thiệu tại Văn phòng, và từ ngoài sân thấy anh Nhuận theo sau.  Anh Nhuận lúc này đã là Đại Tá Chánh Võ Phòng. Quen anh Nhuận từ khi làm Trưởng Khu Dinh Điền ở Pleiku – Kontum, lúc đó anh Nhuận là Đại Úy Trưởng Phòng 3 của Đại Tá Đỗ Cao Trí.
 
Anh Nhuận nhìn tôi như thầm nhắc lại cái thuở vàng son, vừa cười vừa nói nhỏ “mình cứ tưởng bạn chết đâu rồi” trong khi theo ông Thiệu vào phòng. 
 
Buổi thuyết trình được ông Thiệu rất vừa lòng và ông Châu cũng vui ra mặt.
 
Sau không lâu, ông Châu được lệnh thuyên chuyển về Saigon.  Lúc đầu nghe ông Châu sẽ làm Tổng Trưởng Xây Dựng Nông Thôn, nhưng sau đó lại nghe ông ra làm Chỉ Huy Trưởng trại Huấn Luyện Cán Bộ tại Vũng Tàu.
 
Khi ông Châu được lênh thuyên chuyển về Saigon, có gặp và nói với tôi nên ở lại Kiến Hòa, không nên theo về Saigon, để tránh chuyện thiên hạ nghĩ như “phe phái”.
 
Mấy ngày sau Saigon cho một trực thăng xuống đón tôi để thuyết trình cho các Tỉnh nghe tổ chức.  Buổi thuyết trình được diễn ra tại một biệt thự ở Bà Chiểu, mà sau này được biết đó là trụ sở của cơ quan CIA.
 
Sau đó, những tỉnh như Gò Công, Quảng Ngãi được thành lập lấy tên là Dân Ý Vụ, chứ không phải như lúc đầu làm thí điểm ở Kiến Hòa là Dân Sự Vụ.
 
Hai hôm sau trong bữa cơm thân mật, có ông Phó Đại Sứ COLBY đến dự.  Trong lúc đàm luận, Ông COLBY nói rằng:  “Cố Vấn địa phương chỉ là người yểm trợ cho Tỉnh Trưởng và các ông (nói chúng tôi) chứ thật ra chữ Cố Vấn hoàn toàn không đúng nghĩa”.  Tôi mạnh dạn trình bày sự thực với ông COLBY rằng:  “Các Cố Vấn địa phương nắm rất nhiều quyền hành chứ hông phải chỉ là yểm trợ”.  Khi nghe trình bày xong, ông COLBY hứa sẽ tập họp các Cố Vấn địa phương về Saigon chấn chỉnh lại tình trạng.
 
Kinh nghiệm cho thấy, thiện chí của ông COLBY  tuy có, nhưng họ không thấu hiểu được những sâu sắc nên kết quả đã đem lại cho tôi thêm một kinh nghiệm nhỏ, chẳng khác gì hồi còn làm ở Dinh Điền đã ngay thẳng nói về những thiếu thành thật của cấp dưới, hay ngay cả vài ông Bộ Trưởng dưới thời Tổng Thống Diệm mà họ đã thừa dịp làm tôi thất điên bát đảo.
 
Ông Châu được thuyên chuyển về Saigon lẽ ra được cử giữ chức vụ Thứ Trưởng Xây Dựng Nông Thôn nhưng nghe đâu đám chung quanh ông Kỳ không muốn có một người nổi hơn bọn họ, nên đã đày ông ra Trung Tậm Huấn Luyện Vũng Tàu mà người thay thế ông Châu là Trung Tá Nguyễn Phát Đạt.  Về ông Đạt, xin khỏi nói nhiều, chỉ nêu lên một chi tiết khá lạ lùng, là ông ra lệnh làm lương “Cán Bộ Ma” tức là làm gian lương (có tên mà không có người) ông Đạt nói:  Làm để hàng tháng có một số tiền đưa biếu Cố Vấn Mỹ.  Nghe vậy ngạc nhiên vô cùng.
 
-         Xin lỗi Ông Tỉnh Trưởng, tôi không hiểu sao lại có chuyện lạ lùng này.  Trước đây thời Trung Tá Châu tôi thấy Cố Vấn Mỹ trao cho Trung Tá Châu một triệu đồng để tùy nghi sử dụng chứ họ không hề kiểm soát chứ đừng nói đến việc làm lương Cán Bộ Ma để lấy tiền đưa Cố Vấn.  Tôi khẳng khái nói với ông Tỉnh Trưởng.
 
-         Nếu Ông Tỉnh Trưởng bắt tôi làm việc này thì tôi xin từ nhiệm, vì không thể nào và không bao giờ làm được.
 
Khi nghe nói ông Đạt lộ vẻ hớn hở:
 
-         Vâng, thế thì ông cứ việc nghỉ, tôi sẽ tìm người khác thay thế, chứ trong lúc này mà thanh liêm như ông thì làm sao làm việc được!
 
Tôi đưa ý kiến và đề nghị đánh máy ngay tại văn phòng đơn xin từ nhiệm, làm biên bản bàn giao cho người phụ tá là ông Huỳnh Cao Năng, xong đưa ông ký và qua Văn thư lấy số để ngày hôm sau từ giã Kiến Hòa về Saigon.
 
Trong thời gian làm việc, dành dụm được gần 100.000 đồng, mua một căn phố nhỏ để ở, trong khi vợ tiếp tục công việc cũ.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bộ XÂY DỰNG NÔNG THÔN mời
 
 
Về Saigon được hơn một tháng, Bộ Xây Dựng Nông Thôn cử Thiếu Tá Việt đến mời lên cộng tác.  Đến Bộ Xây Dựng Nông Thôn tôi được đề cử thay thế anh Nguyễn Đình Huy, giữ nhiệm vụ Chuyên viên Chỉ Đạo.
 
Khi giữ nhiệm vụ này, tôi đề nghị với Bộ, yêu cầu các Bộ Tư pháp, Nội Vụ, Nông Tín, Tài Chánh, Thuế Vụ biệt phái mỗi Bộ, Sở một vài nhân viên để làm việc bên cạnh Bộ Xây Dựng.  Lúc này Trung Tướng THẮNG là Bộ Trưởng Bộ Xây Dựng Nông Thôn, nên đối với các Bộ khác Tướng Thắng tương đối có quyền, nên việc đề nghị lập văn phòng phối hợp công tác giữa các Bộ với Bộ Xây Dựng Nông Thôn là điều hợp lý.
 
Khi các Bộ cử người đến, chúng tôi lập ngay một văn phòng tại Nha Cán Bộ làm việc.  Công việc phối hợp các Bộ với Bộ Xây Dựng Nông Thôn tương đối có hiệu quả nhiều, và lúc bấy giờ phía Mỹ cung cấp cho một máy bay loại 5 chỗ ngồi (loại CESNA) để làm phương tiện di chuyển đi công tác các Tỉnh khi cần.
 
Trong chuyến công tác đầu tiên, bay thẳng tới Quảng Ngãi Bình Định xong về Bình Dương, Kiến Hòa tìm hiểu tượng trưng của mỗi Vùng.
 
Khi đến nơi thường là các Tỉnh Đoàn Trưởng thuyết trình, sau đó dành cho các Bộ phỏng vấn, đặt câu hỏi, tìm hiểu những trục trặc nào đã hay có thể xảy ra không ăn khớp giữa các Bộ.  Cuối cùng mới đến tôi đặt câu hỏi với Tỉnh, và cứ như thế chúng tôi có những nhận định rõ ràng để về Saigon hoặc điều chỉnh hoặc báo cáo lên Bộ.
 
Cái quan trọng là khi biết rõ những bi quan của ngành này tôi bắt đầu nản chí và cũng là lúc các Bộ cảm thấy sự không cần thiết sự có mặt nữa.
 
Thì lúc đó một ngẫu nhiên lại đến với tôi.  Lúc trước, khi đi kiện chiếc xe bị ông Dự Thẩm phòng 2 cười bảo “Tại sao đi kiện Chính Phủ”.  Nhưng đột nhiên đến nay họ lại lôi vụ này ra xử - vụ Dinh Điền.
 
Vụ việc được đưa ra Tòa Thượng Thẩm, và bởi vì thủ tục của Tòa Thượng Thẩm là họ mời lại và giữ một đêm trước khi ra Tòa.
 
 
LẠI VÀO TÙ LẦN THỨ 5
 
 
Thế là lại một lần nữa vào tù khám Chí Hòa ngủ một đêm, nhưng cũng mang tiếng là Tù, bởi lần đầu tiên biết khám Chí Hòa.
 
Thường nghe kể rằng vào khám Chí Hòa hay bị “ăn đòn Hội Chợ” của đám anh chị, nên phải trổ thủ thuật mà giữ mình.
 
Vừa bước đến cửa phòng giam, tôi dừng ngay lại để quan sát guốc dép của họ ra sao mình sẽ làm theo mà không làm trái.
 
Xong việc để giầy dép ngay ngắn như anh em, tôi vào đưa cao tay mặt “Chào tất cả anh em” và vui vẻ nói tiếp – Xin cho tôi ra mắt anh Trưởng Phòng.
 
Thế là trong phòng có tiếng cười khúc khích – họ biết đã gặp phải tay cao thủ.
 
Một cậu ý chừng là Trưởng Phòng cười, ra dấu và nói:  “À, ngon lành!  Thôi cứ mời vào đây!”  Bước lại, ra dấu lịch sự, xin ngồi cạnh.
 
Anh này hỏi:  “Chắc ở ngoài ông anh làm không nhỏ.  Cấp bậc gì?”
 
Lịch sự không kém đáp:  “Khi còn trẻ đã làm Tổng Đoàn Trưởng Quân Thứ tức là lực lượng bán chính quy, rồi làm Quận Trưởng nhiều nơi.  Nay họ móc chuyện cũ lôi ra Tòa chơi, thế thôi!”
 
-         Chắc chẳng có gì đáng lo!  Ông anh sẽ ở tạm đây ngày mai họ nhận, ra Tòa Thượng Thẩm rồi nếu có án thì trở vào, còn nếu không có án thì về luôn.
 
Nghe cậu ấy nói một hồi, tôi nghĩ họ rành thật, vì quả đúng như vậy.  Nhưng nghĩ chuyện này làm sao có án được, nên yên tâm.  Qua đêm nằm nghe các cậu ấy nói chuyện “Giang Hồ” hay thật!  Vì đây không phải là phòng giam chính trị, nên không khí hoàn toàn khác với cảnh trước kia đã từng vào Tù Chính Trị.
 
Hôm sau được đưa ra xe, tới Tòa Thượng Thẩm Saigon để xử.  Luật sư tự nguyện cãi cho tôi trong vụ này là Luật sư Trần Văn Tuyên.  Anh gặp qua cười bảo – Yên tâm!
 
Nhưng tôi cũng tranh thủ vội vàng trình bày một câu ngắn với anh rằng:  Đây chỉ là một vụ án Chính Trị, vì sao trước kia yêu cầu đưa ra Tòa xử thì họ xếp, vì sợ động chạm tới ông Ngô Đình Cẩn, nay lại moi ra xử khi mà việc ấy đã xảy ra từ 9 năm về trước.
 
Đúng như dự đoán, khi xong thủ tục và Luật sư trần Văn Tuyên cãi.  Luật sư Tuyên đã nêu các dữ kiện để xác định đây không phải là một vụ án thông thường mà là một vụ án có tính chất Chính Trị, hơn nữa những nhân chứng quan trọng trong vụ án này nay không còn.
 
Kết quả, tòa tuyên án “TREO” một cách vô cùng miễn cưỡng.
 
Thế là tôi mỉm cười cho một trò chơi dân chủ, khi chẳng dân chủ chút nào.
 
Không quên câu chuyện khi Hồ Văn Ánh đã ra Tòa chịu không nổi, khi mà bị buộc tội cố sát một tên Cộng Sản khi nó chưa kịp rút “lựu đạn” kịp.  Anh đã không chịu nổi, đã phải làm một việc thiếu văn hóa là chửi thề một câu trước khi ra khỏi Tòa.
 
Anh dám làm như vậy vì nghĩ rằng Tòa chẳng dám làm gì hơn, khi mà cái án 5 năm đã được lệnh Cụ Tối Cao Cố Vấn chỉ thị.
 
Thì hôm nay cũng vậy, chuyện  trước kia không dám đưa ra Tòa và chính ông Dự Thẩm Tòa Saigon đã mỉa mai khi đi kiện đòi chiếc xe thì nay lại móc ra xử.
 
Dù Tòa xử như vậy, nhưng dĩ nhiên tôi cũng thôi việc không làm ở Bộ Xây Dựng nữa.  Về nằm nhà được vài tháng, bèn mở quán Phở, vừa vận động thống nhất Đảng.
 
Một chú bạn trước kia cũng là Cán bộ Việt Quốc can trường nổi tiếng, đã từng chiến đấu chống Cộng Sản ở chiến khu Bắc Việt, sau ở Quận Thăng Bình, cũng bị hàm oan, bị đưa ra Tòa và mất chức.  Đến thăm và ngỏ ý muốn đền ơn tôi đã giúp đỡ anh trong những ngày tháng mất việc, nên chỉ vẽ cho vợ tôi một nghề mới.  Đó là nghề nấu phở, vì việc buôn bán thuốc Tây có phần ế ẩm bởi “mật ít ruồi nhiều” đông người cạnh tranh, nên vợ tôi hoan hỷ đón nhận thiện chí của anh ấy.
 
-         Nhưng em có dám đứng bán ở một xe Phở không?  Trước hết phải tạm đóng một xe phở để thử thời vận ra sao rồi sau sẽ tính đến chuyện mở tiệm!
 
-         Em đã từng sống kham khổ thì không ngại gì . . .
 
Thế là nhờ người đóng cho một xe Phở và bán ở trước nhà thờ Phú Nhuận.  Anh bạn này nguyên trước là Bếp chánh của Bảo Hiên Rồng Vàng, sau về mở tiệm Phở Hai Cây Dừa ở Biên Hòa, cho đứa con trai lớn về chỉ dẫn cách nấu Phở cho đúng nghề nghiệp.
 
Dùng chữ “Đúng nghề nghiệp” vì lẽ Phở là một nghề của người miền Bắc, anh lại là Bếp có hạng thì nghề này anh rất thiện xảo.
 
Người Bắc ăn Phở thường chê Phở nào không tẩy sạch mùi gây của Bò, nước Phở không trong mà hầu hết các tiệm, quán Phở khi chưa nắm vững kỹ thuật đều bị thực khách chê hoặc không đến ăn nữa
 
Anh trao truyền đúng nghề nghiệp cho vợ tôi, và cũng xin được phép nói kinh nghiệm này ở mục “NẤU ĂN LẬP QUÁN” trong một đoạn sau.
 
Trong khi vợ hàng ngày ra ngồi bán Phở trước Nhà Thờ Phú Nhuận là lúc tôi ngồi viết quyển sách thứ hai “ĐỪNG LẠM DỤNG DANH NGHĨA NÔNG THÔN”.
 
Trong khi đang viết sách thì cũng là lúc được một số anh em đến hàn huyên bàn chuyện vận động Thống Nhất Việt Nam Quốc Dân Đảng, và ngồi thảo luận cùng nhau để xác nhận rằng:
 
-         Nếu không Thống Nhất được Đảng thì mong gì chiến thắng được Cộng Sản?
 
-         Không Thống Nhất được Đảng thì đối với Quốc Dân ta ăn làm sao nói làm sao?
 
Và bởi Đảng không Thống Nhất được là tại các anh lớn – lãnh tụ - còn những dị biệt không dung hòa nổi với nhau.
Mà hoạt động hay không, hẳn nhiên phải nói là Cán bộ Trung Cấp đóng vai trò chính.  Vậy chúng ta là Cán bộ Trung Cấp tại sao không làm việc này?
 
Đồng ý nhau và người có nhiều nhiệt tâm nhất là anh Đính, nguyên Phó Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến (cụ Đinh Xuân Quảng là Chủ Tịch).
 
Ngoài anh Đính còn các anh Trần Bích Kiện, Khúc Thừa Văn, Phan Minh Thám, Lê Ngọc Giản và ba anh nữa với tôi cùng bàn kế hoạch.
 
Chúng tôi đến tận nhà những lãnh tụ của các hệ phái, mời các anh cùng đến họp bàn tại nhà anh Trần Văn Tuyên.  Hôm họp, tôi được anh em cử làm đại diện.
 
Mở đầu cuộc họp tôi nói:  “Tôi cúi đầu xin lạy các anh ngồi lại với nhau để Thống Nhất.  Có Thống Nhất được thì ngoài những điểm vừa nêu trên, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu mới khó xé lẻ mình để mua chuộc.”
 
Trình bày xong các Anh có hai ý kiến:
 
-         Phải thực hiện “Chủ Tịch chế”.
 
-         Trong các hệ phái chắc chẳng mấy anh em đồng ý “Chủ Tịch chế”, mà muốn thật sự gạt bỏ được những dị biệt ngay lúc này, là phải áp dụng “Tổng Thư Ký chế”.
 
Thế là chúng tôi nhìn nhau não nề, và dù chính tôi đã lập biên bản cuộc họp có chữ ký của tất cả những anh em tham dự, cũng nghĩ rằng “Chẳng đi đến đâu nữa rồi”.
 
Đành cam thất bại!  Thua keo này, bày keo khác.
 
Chúng tôi lại bàn với nhau, im lặng và giữ bí mật, thử dùng một phương pháp khác, in ra một số thư gửi đi tất cả anh em trong các hệ phái kể rõ thất bại này.  Và đặt ra một số câu hỏi xin được trả lời, làm sao Thống Nhất được Đảng?
 
Tạm mệnh danh là “Hội Nghiên Cứu Cách Mạng Việt Quốc” và tạm dùng một hộp thư để liên lạc nhau.
 
Nhưng lại bị anh em nghi ngờ!  Quay về nghề bán Phở.
Đến một hôm, bất ngờ anh Trần Thanh Chiêu, trước có quen biết, đến tiệm Phở vào khoảng 9 giờ sáng là lúc vợ tôi đi chợ, phải tạm đứng bán thế.
 
-         Cho hai tô tái!  Không nhìn, như thường lệ vừa cúi xuống làm và nói:  “Có, hai tô tái.”
 
Anh Chiêu chạy lại ôm cười: 
 
-         Nghe hai anh bạn “rũ áo từ quan” về bán quán.  Mai học Dược bán bún bò Huế tại đường Cao Thắng và anh bán Phở tại đây.  Ngỡ anh mướn người bán nhưng không ngờ anh lại chính tay làm.
 
-         Mời ngồi chơi!  Chờ làm xong phở cho ông khách ta sẽ nói chuyện!
 
Chiêu cười ngất nga ngất ngưởng, ngồi chờ.
 
-         Tại sao anh làm nghề này?  Chiêu hỏi.
 
Tôi trả lời, không suy nghĩ: 
 
-         Nếu ngày hôm qua đến mượn tạm anh 100.000 đồng chắc anh còn lưỡng lự suy tính, nhưng nay thấy tôi làm ăn như thế này, mà hỏi mượn số tiền ấy thì chắc anh mở tủ cho mượn ngay phải không?
 
Chiêu cười – Đúng!  Đúng!  Nhưng hỏi thật anh, tại sao làm nghề này?
 
Không để Chiêu thắc mắc lâu.
 
-         Làm nghề này vì ba mục đích.  Thứ nhất là như đã nói với anh, thứ hai là tôi đang làm chính trị, đang vận động Thống Nhất Đảng.  Nếu anh em không chứng kiến cảnh đang sống rất dễ bị nghi ngờ là được Chính Quyền Thiệu giúp đỡ tài chánh hay là được ngoại nhân ban bố ân huệ.  Và điểm thứ ba là suốt đời ra làm việc đều gặp may, không bao giờ phải đi xin xỏ và cũng chẳng bao giờ bị làm Phó cho ai.  Vì lẽ ấy, anh em thường nghĩ rằng nhờ “cái Miệng” nói hay mà nên.  Nay suốt ngày bị làm tay sai, có 40 đồng vào ăn tô phở là có quyền đòi hỏi “Hành  trần”  “Nước béo”  v.v. . . Bất kể ai, phải phục vụ mọi người chứ đâu còn ngồi chỉ tay năm ngón!  Anh thấy chưa?
 
 
Chiêu nhẹ nhàng hơn:  - Em xin đầu hàng, không làm được việc này!
 
Rồi vài câu xã giao thăm hỏi nhau sức khỏe, Chiêu ra về.
 
Đau lòng trước thiện chí mà chẳng làm nên được gì trong việc Thống Nhất Đảng, tôi nghĩ đến xuất bản cuốn sách thứ hai.
 
Trong khi vừa bán phở vừa đi học tiếng Nhật tại một lớp dạy tiếng Nhật ở hẻm đường Trương Minh Giảng, và cặm cụi viết:  “ĐỪNG LẠM DỤNG DANH NGHĨA NÔNG THÔN”.
 
Quyết định viết tác phẩm thứ hai này, vì thấy ngoài việc không thể nào thành công với Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn của Chính Phủ, mà đi đến đâu cũng nghe thấy hai tiếng Nông Thôn, trong khi họ hoàn toàn không nắm vững những đòi hỏi của Nông Thôn!
 
Trước hết gửi thư cho mỗi Tỉnh để xin họ gửi cho Địa Phương Chí, Địa Phương Chí là một tài liệu mỗi Tỉnh phải có, trong ấy bao gồm Dân Số, Địa Dư, Chính Trị, Tôn Giáo v.v. . . chưa nói đến các Tỉnh còn sưu tra được những tài liệu về nhân vật lịch sử và những thay đổi về địa dư của những ngày xa trước.
 
Xin được Địa Phương Chí của các Tỉnh không phải là chuyện dễ, vì thường các tài liệu này trên nguyên tắc, phải giữ bí mật, không cung cấp cho bất cứ ai.  Nhưng vì với vai trò trước kia là Chuyên viên Chỉ Đạo của Bộ Xây Dựng và với tư cách nhà văn chuyên về vấn đề Nông Thôn, hơn nữa trong thư cũng nói rõ mục đích tài liệu này là viết cho cuốn sách “Đừng Lạm Dụng Danh Nghĩa Nông Thôn” thì không Tỉnh nào từ chối.  Các Tỉnh sẵn sàng cung cấp, gửi biếu Địa Phương Chí.  Một vài Tỉnh biết tôi viết cuốn sách này, họ còn mong được nói lên những cái khó khăn của Tỉnh mà trong công tác họ gặp phải.
 
Khi đã có tài liệu trong tay, còn phải thường xuyên đến các thư viện ngồi sưu tra, nghiên cứu những gì mình chưa nắm vững, và khi cần phải biết đến những tài liệu của một vài quốc gia khác, đành phải nghĩ đến chuyện trợ giúp khác.
 
Giả thử, muốn nói rằng dân trí của người Nhật cao và nhờ đấy họ phát triển thuận tiện, thì lúc đó hoặc phải tìm tài liệu ở thư viện, hoặc tìm đến những người bạn nào đã từng đi Nhật hoặc sống ở Nhật để hỏi rõ từng chi tiết, hoặc xin tài liệu.
 
Nhưng một hôm, muốn dẫn chứng Nông Thôn ngay (thời điểm lúc bấy giờ) tại Việt Nam đang có chiến tranh phá hoại của Cộng Sản, việc thực hiện các phương pháp trợ giúp như Đài Loan không thể nào được.  Đem một máy bơm nước đặt ở Nông Thôn thì chắc chắn chỉ nội ngày hôm sau sẽ bị Việt Cộng cho nổ mìn tung ngay, làm sao nói đến việc áp dụng đường lối như Đài Loan tại Nông Thôn được?
 
Nghĩ vậy, tôi tới Tòa Đại sứ Trung Hoa Dân Quốc xin gặp ông Đệ Tam Tham Vụ Sứ Quán, Đặc trách Văn Hóa hỏi, và sau khi nghe trình bày thiện chí, Ông giới thiệu nhân vật nào của Tòa Đại Sứ hầu tham khảo tài liệu.
 
Có điều phải nói ngay rằng những chuyện thối nát của nền Đệ Nhị Cộng Hòa lúc bấy giờ tôi có dữ kiện hoặc được nghe vài anh em Dân Biểu tâm sự như việc “Mua Quan Bán Tước”, việc “hụi sống, hụi chết” của mấy bà Phu nhân Tướng Tư Lệnh Vùng, nhất là Vùng IV thì làm sao nói lên được cái ước mơ thanh toán tình trạng này để được như Đài Loan?
 
Lại phải tìm đến những Chiến hữu, những người đã từng đau khổ vì hai tiếng Cách Mạng để đặt thành câu hỏi, mong có được một kết thúc cho tác phẩm.
 
Thế là ba tháng sau hoàn thành tác phẩm với những tài liệu như đã trình bày.
 
Trước hết dẫn chứng rằng các địa phương không đều nhau, Tỉnh thì đất đai quá rộng dân ít, trong khi đó lại những Tỉnh đất hẹp người đông, dĩ nhiên kinh tế không thể nào giống nhau được.
 
Về Tín Ngưỡng các Tôn Giáo cũng không giống nhau.  Việc thực thi của Cán bộ nếu cứng nhắc sẽ tạo nên nhiều khó khăn và trở ngại.
 
Dân chúng miền Thượng, các sắc dân Radhé, Jarai, Bahnar, Sedang v.v. . . hoàn toàn không giống nhau, trong khi đa số dân Radhé và Bahnar tại Ban Mê Thuột và Kontum lại theo đạo Thiên Chúa Giáo, văn minh hơn thì việc đối xử không thể nào cứng rắn giống nhau được.
 
Như đã trình bày trong tác phẩm “CẨM NANG HÀNH CHÁNH”  hay  “KINH NGHIỆM SỐNG TỔ CHỨC NÔNG THÔN”, người dân mỗi miền đều có sinh hoạt khác nhau, dân Miền NAM và Miền TRUNG đều có những điều kiện khác nhau khi muốn đến tổ chức hay thực hiện chính sách của Chính Phủ.  Vì những lẽ trên, tôi đưa ra một nguyên tắc hoàn toàn chống đối  những điều đã có “Đếm Đầu Chia Xôi” của ngành Hành Chánh.
 
Không đồng ý là trên Bộ ra một chỉ thị rồi Tỉnh cứ sao y nguyên bản cho Quận và Quận cũng sao y gửi cho Xã, Ấp thi hành.  Nơi nào làm được hay không chẳng cần biết đến.
 
Dĩ nhiên tình trạng này dễ đưa đến việc nhiều nơi làm rất nhanh, nhưng cũng chẳng thiếu nơi không thể nào giải quyết được.
 
Tôi dẫn chứng kinh nghiệm ngày xưa khi còn làm Quận Trưởng Thăng Bình, một Quận xa lại rộng và dân cư khá đông – hơn 90.000 cử tri Tỉnh cũng chỉ cung cấp bút chì văn phòng, xăng nhớt hàng tháng như một Quận ở ngay sát Tỉnh và dân số chỉ có 18.000 cử tri!  Thật là vô lý!  Việc này đã bắt buộc phải lên tiếng phản đối Tỉnh và ông Tỉnh Trưởng đã khó trả lời.
 
Khi đưa ra một vấn đề phản đối, phải tự trả lời ngay được thì người đọc mới khỏi thắc mắc.  Vì vậy, tôi hỏi tại sao không có những bộ phận chuyên nghiên cứu chính sách cho chu đáo và khi đưa ra một công tác là phải phân loại A, B hay C và phải hướng dẫn thực hiện mỗi loại ra sao.
 
Cũng cùng với quan điểm này, khi viết xong tác phẩm, tôi đã xin đối thoại với Chính phủ về đường lối và chính sách.
 
Thư gửi lên Phủ Thủ Tướng và Bộ Xây Dựng Nông Thôn để xin “đối thoại” không được đáp ứng.  Cho đến một hôm đem chuyện này ra tâm sự với anh em và được bạn bè hỗ trợ bằng cách chất vấn anh bạn Dân Biểu Đặc Trách Liên Lạc Quốc Hội, nguyên là người tin cậy với Thủ Tướng Hương, để mong cho tôi được gặp.  Quả nhiên mấy hôm sau thư mời, nhưng lên Bộ Xây Dựng Nông Thôn gặp Thiếu Tướng Hoàng Văn Lạc, Thứ Trưởng Bộ.
 
Tướng Lạc mời tôi vào và bắt đầu câu chuyện, Tướng Lạc cho biết là thừa Ủy nhiệm của Thủ Tướng Trần Văn Hương, kiêm Tổng Trưởng Xây Dựng Nông Thôn tiếp.  Vào đề, tôi bày tỏ quan điểm là ai cũng có cái hay, cái tốt, nhưng bên cạnh thường là cái xấu, cái dở.  Tiếc thay, cái xấu và cái dở lại nhiều hơn và nguy hại cho chính sách hơn.  Tôi bắt đầu đưa ra những cái hay của các Bộ, của cá nhân vài ông Tướng, rồi đi vào việc mổ xẻ những cái dở, cái xấu.
Xong đến chính sách và đường lối, đã tuyên bố ngay từ lúc đầu nhập cuộc, chỉ nói chuyện một giờ đồng hồ, nên đến lúc tôi kết thúc câu chuyện.
 
Tướng Lạc thành thật nhận rằng chưa gặp ai hiểu rõ các BỘ và nhất là từng cá nhân như vậy.  “Nhưng tiếc thay, tôi không phải là người của ông Thiệu và cũng không phải là người của ông Hương, nên việc thay đổi chính sách, tôi xin chân thành nói thật, mong ông thông cảm.”
 
Là một kẻ khá am tường về chính quyền Miền Nam, chứ không nói với mấy ông Tướng nhiều về chính trị, tôi không tranh cãi với ông Lạc.
 
Sau khi nghe Tướng Lạc muốn mời trở lại cộng tác với Bộ Xây Dựng Nông Thôn, nhất là ra Trại Chí Linh để cùng anh Nguyễn Bé đào tạo cho số Cán bộ Áo Đen khả dĩ có thể tranh chấp thắng lợi với Cộng Sản.  Không ngần ngại trả lời Tướng Lạc rằng:  “Tôi chỉ gặp người đại diện Chính phủ nói cho hả hơi thôi, chứ hoàn toàn không có ý mong tìm việc làm khi mà việc làm ấy chỉ để sống.  Mong Tướng tin rằng tôi rất nghèo, nhưng sẵn sàng chịu cảnh nghèo mà không thể làm hay phục vụ cho một chính sách trái ngược với lòng mình.
 
 
Từ giã Tướng Lạc ra về và tiếp tục cuộc sống với nghề bán Phở, vừa đi học tiếng Nhật, vừa hoàn tất tác phẩm thứ hai.
 
Bởi lập trường xác định – tác phẩm thứ hai này đi đến kết luận rằng:  Đừng lo Cộng Sản hoạt động, đừng nghĩ nhiều về việc chống Cộng mà hãy lo sao cho guồng máy chính quyền trong sạch.  Muốn có một guồng máy chính quyền trong sạch, thì trước hết phải – không chỉ cần thanh lọc ngay guồng máy trong lúc đầu – mà làm sao cho người Cán bộ đủ sống, không phải vì miếng cơm manh áo mà tham nhũng!  Khi có được chính sách, nếu người Cán bộ nào còn tham nhũng thì chẳng nên tha thứ mà phải áp dụng biện pháp mạnh.  Nhưng muốn làm được chỉ mỗi giai đoạn này việc “Tối quan trọng” là người lãnh đạo phải trong sạch trước!  Trong sạch thật sự từ bản thân mình trước rồi vợ con và ngay cả những người thân cận mình nhất như Bí thư, Tùy viên, Tài xế v.v. . .
 
Trung Tướng Thắng đã làm vài việc mới xem qua tưởng như hay lắm, không cho vợ đi hội họp vì nghĩ rằng các bà đi hội họp là gặp mấy bà rồi tụ tập bàn chuyện “áp phe”, không cho Tài xế vào nhà mà chỉ dừng lại trước ngõ để ông tự đem xe vô, vì sợ trong nhà lợi dụng Tài xế bắt những người cùng đi công tác tại các Tỉnh, như hôm đi Bình Dương, phải chung tiền trả tiền bữa cơm do Tỉnh Trưởng thết đãi.  Nhưng biết đâu người Bí Thư của Ông, lại quá hư tệ, chẳng ai nghe được.  Người lãnh đạo tối cao của Đất Nước phải trong sạch thật sự, chỉ một mình ông biết – với đường dây điện thoại ĐỎ - do những người xứng đáng để giao trách nhiệm “CẢNH CÁO TRƯỚC, THANH TRỪNG SAU” chứ cứ dùng thành phần ngoan cố thì guồng máy chánh quyền tránh đâu khỏi những đau buồn, chứ chưa nói đến sự kiện các Bà xen vào làm hư hỏng.
 
TÁC PHẨM THỨ HAI – ĐỪNG LẠM DỤNG DANH NGHĨA NÔNG THÔN, xuất bản năm 1968 (cũng được lưu trữ trong Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ).
 
Trong phần mở đầu “Vài lời của Tác giả” ở đoạn sau có nói rõ, kết luận vào những nguyên tắc:
 
-         Phải thực tế với Nông Thôn và thực tế như thế nào?
 
-         Phải đạt được mức quan trọng của từng công tác trong hiện tại, cảnh chiến tranh và chuẩn bị cả cho tương lai, khi thanh bình của từng thành phần trách nhiệm.  (Chính quyền Trung Ương và Địa Phương, Chính Trị và Tôn Giáo, Lãnh đạo tinh thần, quần chúng và ngay cả mỗi công dân của mỗi vùng khác nhau.)
 
-         Phải thực tế mà không lý thuyết để chẳng bao giờ làm được – tiến từ cuộc Cách mạng bản thân – dẫn đầu cho Cách mạng xã hội.
 
-         Phải tin rằng đến lúc ấy Cộng Sản sẽ không thể nào đem chiêu bài Cách Mạng Xã Hội để bịp bợm lôi kéo nhân dân theo con đường Máu của chúng.
 
Mong rằng trước những tài liệu chứng minh với kết luận không trừu tượng, không chủ quan, với nhận xét không đả kích mà thiếu xây dựng, tác phẩm ĐỪNG LẠM DỤNG DANH NGHĨA NÔNG THÔN  sẽ được vang đến tai các cấp lãnh đạo chính quyền, được các bậc sĩ phu tham khảo và quần chúng nghe biết, mà trở về cho tác giả những lời chỉ giáo để bổ khuyết.
 
 
                                                                                             Chân thành
                                                                                             PHAN VỸ
Sách được chia:
 
 
 
Phần thứ I -  Thử soát xét vấn đề địa phương.
 
Phần thứ II -  Ảnh hưởng chung quanh vấn đề Nông Thôn.
 
Phần thứ III -  Nguyên nhân nào gây nên tình trạng Nông Thôn ngày nay.
 
Phần thứ IV -  Nhìn sang các nước bạn để rút kinh nghiệm (Đài Loan – Nhật Bổn).
 
Phần thứ V -  thử hình dung một Nông Thôn ngày mai.
 
Phần thứ VI -  Giải pháp nào để thực hiện?
 
Chỉ ở phần IV Tác giả đã nói khá nhiều xin trích một đoạn ngắn:
 
-         Trước một kẻ thù gian ngoan như vậy, đang nằm sát nách, trong khi bên Tự Do Miền Nam lại toàn đa số là người thối nát, chia rẽ, tự ái, ngập chìm dưới ảnh hưởng của đám vong bản mãi quốc, có tiền, có thế lực, chiến tranh gây nên chẳng bao lâu là phần thắng đã nghiêng về phần chúng.
 
Và lắm đoạn, tác giả đã xác định chiến tranh này chỉ giải quyết bằng chính trị thì may ra mới thắng được Cộng Sản.  Nhưng các cường quốc, đám người lãnh đạo như đã nói, ai cho phép giải quyết bằng chính trị ngay từ đầu?
 
Khi phát hành, vừa bán tại hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc, đủ vốn thì Trung Ương đã ra lệnh “cấm đọc” nên đành để lại tặng người thân, quen.
 
Xin dừng lại câu chuyện tác phẩm nơi đây để kể một giai thoại về chú Phan Bá Phụng lanh lợi đã có nói đoạn trước về việc in sách và bán chạy như tôm tươi thời ấy.
 
Thoạt đầu chú làm một việc tôi không đồng ý, vì cứ nghĩ chú không giữ được lương tâm chăng,  chú đến những nhà Cách Mạng thời bấy giờ như Cụ Phan Khắc Sửu, Ông Hồ Hữu Tường, Ông Trần Văn Tuyên . . . để xin viết bài cho một tờ báo Xuân.  Sau khi được các ông nhận lời và chỉ cần biết trước cái “Tít” của bài, chú về in một số quảng cáo để bắt đầu từ Long Khánh, Bình Tuy đi lần ra Miền Trung.  Đến mỗi Tỉnh, chú vào gặp Tỉnh Trưởng để giới thiệu việc xuất bản tờ báo Xuân có những nhà Cách Mạng viết, và xin Tỉnh tài liệu về những trận đánh để đăng vào báo.  Chú không quên nhắc Ông Tỉnh Trưởng về vài hình ảnh có Ông trong đó, và thế là ngay ngày mai chú lại vào xin Tỉnh đặt mua cho một số, và xin ứng tiền trước.
 
Mới nghe đến đây, tôi hoặc ai cũng vậy, đều nghĩ rằng chú có giữ lời hay lại như bao trò bịp bợm đã xảy ra trong thời ấy.  Khi nghe tin này, lại lấy danh nghĩa Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Quốc Gia, tôi lấy xe xuống nhà anh Phan Bá Cầm, Chủ Tịch Hội để hỏi có biết việc này không, bởi tôi là Ủy Viên Tổ chức.  Cái rủi là vì quá gấp và chưa có kinh nghiệm đi xe HONDA lúc bấy giờ mới có, bị ngã gãy tay mặt phải vô nhà thương bó bột.
 
Sau nghe Phụng làm việc này rất chu đáo, không hề lừa bịp ai, nhưng điểm đáng khen mà tôi muốn nói, là anh ấy đã mượn vốn làm nên việc, không hề lường gạt.  Cái tên Phụng . . . ít người không biết.
 
Trong khi dưỡng bệnh vì tay mặt bị băng bột, nhưng vẫn tiếp tục đi học tiếng Nhật và vẫn đến lớp ngồi nghe hoặc khi viết thì dùng tay trái.  Lúc này là lúc các lão đồng chí của Việt Nam Quốc Dân Đảng như các Cụ Ký Thân Nguyễn Hải Hàm, Cụ Dũng, anh Hoàng Văn Úy v.v. . .  vẫn chí tình hoạt động với danh nghĩa Hội Đồng Bô Lão.
 
Tôi và anh em trẻ thường liên hệ với các Cụ để học hỏi kinh nghiệm, mỗi lần đến gặp Cụ Ký Thân thấy Cụ nằm sấp trên sập để viết hoặc đọc.  Cụ không mang kính.  Ngạc nhiên về sức khỏe của Cụ.  Ngược lại, khi Cụ thấy anh em chúng tôi vẫn chưa thông cảm và tha thứ cho nhau, thì Cụ thường khuyên:  “Thôi hãy bỏ qua cho nhau đi.”
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHUẨN BỊ VIẾT HỒI KÝ CỤ KÝ THÂN
 
NGUYỄN HẢI HÀM
 
 
Cho đến một ngày, thấy Cụ đang soạn lại và chuẩn bị viết Hồi Ký những ngày còn trai trẻ, hoạt động.  Nghe tôi đã hai lần xuất bản tác phẩm tự mình viết ra, Cụ ngỏ ý là khi Cụ soạn lại bản thảo xong sẽ giao tôi “chuốt” lại để phát hành.  Cụ hoàn toàn không có ý kinh doanh, mục đích Cụ viết ra là muốn nói lên ý chí, lòng can trường của mình cho hậu thế biết.  Điều quan trọng nữa, là Cụ muốn kể lại kinh nghiệm vụ thất bại trận khởi nghĩa YÊN BÁY trong năm 1930 mà chính Cụ là người cầm cánh quân này.
 
Thế mà từ trước chẳng hề được nghe nói, lòng tôn kính đối với Cố Đảng Trưởng, tôi cứ nghĩ rằng Đảng Trưởng đã đích thân cầm quân tại Yên Báy đêm hôm ấy.
 
Quá vui mừng khi nghe Cụ ngỏ ý, nhưng chỉ còn một điều suy nghĩ là lấy tiền đâu để in?  không phải dễ dàng như ngày nay, khi nhắc lại điều ấy thì có người sẽ bảo:  “Khi nói ra hiếm gì người sẵn sàng bỏ vốn”, nhưng sự thực không phải thế!
 
Đem tập bản thảo về nhà nằm đọc, trước hết nghĩ phải đặt cho tập Hồi ký này một cái tên.  Vì Cụ kể lại cuộc khởi nghĩa tại Yên Báy và kết cuộc của Cụ lại lạ lùng, không bị đem ra xử chém, dù chính lúc đầu Cụ đứng vào hàng thứ 5 trong 13 người của danh sách bị chém.  Nhưng không hiểu sao Cụ lại “lọt sổ” và bị đày ra Côn Đảo giam mãi đến ngày Nhật đảo chính Pháp Cụ mới được đưa về đất liền, và nương náu với một người quen ở Rạch Giá.  Và những ngày sống tại đây, Cụ đi dạy học cho đến ngày được người bạn cũ nhớ lại, tìm cách đem về Saigon giúp đỡ.  Hàng ngày cụ ở nhà một người quen tại xóm Kiến Thiết đường Trương Minh Giảng.  Sau khi nằm đọc hết tập Hồi Ký của Cụ, tôi đề nghị đặt tên cho cuốn Hồi Ký là “Từ YÊN BÁY đến CÔN LÔN”, Cụ đồng ý và bảo toàn quyền phát hành.  Bây giờ là lúc tìm người bỏ vốn ra in, Cụ Ký đến gặp ông Trần Quốc Bửu, Tổng Liên Đoàn Lao Động, để nhờ Ông bỏ ra một số vốn in cuốn Hồi Ký, nhưng Ông Bửu từ chối.  Sau đó tôi bàn với anh Khúc Thừa Văn về chuyện xuất bản, anh Văn đồng ý là mỗi người bỏ ra một nửa số tiền in, tức là tổng số 300.000 đồng in 2.000 cuốn, thì mỗi người 150.000 đồng.  Khi in xong sách chia làm 2, anh Văn lấy 1.000 cuốn mang về Miền Trung phát hành còn tôi 1.000 cuốn phát hành trong Miền Nam.  Đọc Hồi Hý của Cụ, mới biết trước kia Cụ gia nhập vào hàng ngũ Phong trào Hoàng Hoa Thám, nhưng vì phong trào này thất bại, quay về gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng với Đảng Trưởng.  Như vậy tuổi Cụ lớn hơn tuổi Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học.  Văn của Cụ viết rất giản dị, tuy còn vài chỗ về phương diện hình thức phải trình lại Cụ sửa chữa.
 
Sau này khi tới Mỹ được may mắn gặp anh ký giả lão thành Nguyễn Tú và cháu Trần Tử Thanh con của Cố Luật Sư Trần Văn Tuyên, đến Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ tại Washington D.C tìm thấy cả ba cuốn còn lưu trữ tại đây.  Nhờ anh Nguyễn Hòa, Quản thủ Thư viện giúp photocopy cuốn này trước xuất bản tại Hoa Kỳ, nhưng có thêm hình ảnh lúc các liệt sĩ lên đoạn đầu đài tìm được tại Ba Lê trong tờ PARIS MATCH.
 
Từ Yên Báy tới Côn Lôn, ngoài lời nói đầu là lý lịch:
 
Gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng
 
Cuộc khởi nghĩa Yên Báy
 
Giờ lịch sử
 
Yên Báy ngày khởi nghĩa
 
Sau ngày thất bại
 
Lao tù Yên Báy
 
Hội đồng Đề Hình Yên Báy
 
Hỏa lò Hà Nội
 
Ngày Yên Báy
 
Duyên nợ Côn Lôn
 
Ngày chung cuộc của Đế quốc Pháp
 
Cảm nghĩ sau cùng.
 
Như vậy, ba tác phẩm xuất bản tại Việt Nam rõ ràng với mục đích:
 
-         Hướng dẫn Cán bộ các cấp Quận, Xã biết để làm tròn trách nhiệm mình từ văn phòng đến công tác thu phục nhân tâm và chính là phải am tường việc tranh thủ nhân dân với Cán bộ Cộng Sản, với một niềm tin sắt đá là chúng ta đang thực hiện chính sách “Vương đạo” chứ không bịp bợm và “Bá đạo” để chiến thắng Cộng Sản.
 
-         Nói  với cấp Lãnh đạo là mọi việc thành hay bại đều do cấp Lãnh đạo hiểu được câu tu thân, tề gia rồi mới mong trị quốc chứ đừng nói đến bình thiên hạ.
 
Riêng tác phẩm thứ ba, Hồi ký của Cụ Ký Thân, tôi chỉ sắp xếp lại cho hoàn chỉnh một tác phẩm chứ không dám sửa sai ý Cụ.
 
Sau ba tác phẩm này đang định hoàn tất để phát hành tập truyện ngắn lấy tên là “SỨC MẤY”  hay là  “100 động cơ của thối nát”.  Nhưng khi viết xong định đưa ba người của ba Miền Bắc, Trung và Nam là quý anh Trần Văn Tuyên, Hà Thúc Ký và Phan Bá Cầm để xin viết lời giới thiệu.
 
Nhưng khi xem xong, anh Tuyên đã khuyên:  “Dù chú nói kín đến đâu thì khi Thiệu nghe biết cũng sẽ kiện.  Ngay với những mẩu chuyện ấy, chú có thể bị phạt ít nhất là trên 1 triệu đồng!”
 
Tác phẩm này nói toàn những chuyện thâm cung bí sử - do nhiều anh trong số Dân Biểu và bạn bè kể cho nghe, như chuyện ái nữ ông Thiệu, chuyện thầy bói Diễn đường Hiền Vương, chuyện một bà lớn vơ vét chẳng ai nghĩ được trong khi ông chồng đã dùng hành vi thối nát nhất trong đám dân sự vì e rằng xuất bản bị Thiệu kiện thì rắc rối khó lường trước được.
 
Sau 13 năm, gia đình hoàn toàn tan nát, bản thảo cũng chẳng còn, ngồi nghĩ lại thầm tiếc.  Nhưng lòng đã quyết định, trong nay mai, khi hoàn tất tác phẩm này sẽ cố gắng nhớ lại bao nhiêu cũng tốt, những mẩu chuyện ngắn lúc bấy giờ để viết vào tác phẩm “Hai thế hệ” đã bắt đầu chuẩn bị cho một ngày không xa.
 
 
 
 
 
CHƯƠNG VI
 
TRỞ LẠI CUỘC ĐỜI CHÍNH TRỊ
----------------
 
 
Mở quán Phở Bắc - Trung - Nam rồi quán nhậu HƯƠNG BÌNH.
 
Nghe tên Quán, nhiều bạn đã thắc mắc, bởi nó đượm mùi Chính Trị với ba chữ BẮC – TRUNG – NAM.
 
Sau ngày đưa đám Cụ Nguyễn Thế Truyền vào mai táng trong cổng Phi Long, gần mộ Cụ Phan Chu Trinh, anh em thấy trên mộ Cụ Phan có ba chữ Bắc Trung Nam đều đặt câu hỏi – Phải chăng tôi đã lấy đó làm tên Quán.
 
Nhưng tôi thành thật trả lời không có ý định đặt cho Quán mình cái tên ấy mà vì bán cả ba thứ, Phở của Miền Bắc, Bún bò Huế của Miền Trung và Hủ tíu của Miền Nam, chỉ có thế thôi!
 
Nhưng anh em thường chẳng tha cho nhau dễ dàng, nên đặt ra khá nhiều câu hỏi về nghề nghiệp, tôi xin phép dành lại cho tiểu mục 3 sẽ nói sau.
 
Mở quán tuy không ế lắm, nhưng khổ nỗi bà chủ nhà chỉ cho mướn để bán phở, còn giữ lại phần bán nước uống.  Đây là một nỗi khổ tâm.  Buổi sáng nhiều người vào ăn, nhất là sáng Chủ nhật khi đi lễ Nhà Thờ về, đều ghé lại ăn và đều khen là “Gu” phở này là “Gu” Phở Tầu Bay.  Đúng!  Tôi giữ hương vị phở giống như mùi của Phở Tầu Bay.
 
Nỗi khổ tâm, vào buổi chiều, mấy anh “xích lô máy” thường ghé lại gọi một “Tô Tái” để nhậu trong khi chờ đợi khách phi trường ra – nhất là lúc ấy còn khách Mỹ.  Các anh ăn nhậu rồi nhổ bừa bãi nên chẳng còn mấy người vào.
 
Điều đình cách nào bà chủ cũng không chịu nhường nốt cả gian nhà cho mướn, đành dọn và nghe lời người bạn hướng dẫn ra Bến Đình, Vũng Tầu mở quán nhậu.
 
Quán nhậu được mang tên Hương Bình, vì bán khá nhiều món ăn của xứ Huế như Bánh Khói tức Bánh Xèo của Huế, Bún bò Huế, Mì Quảng tức Mì Quảng Nam và các thứ nhậu.  Kinh nghiệm mở quán ở đây có hai điều:
 
1-     Phải có người đỡ đầu.
 
2-     Phải biết cách quảng cáo.
 
Việc tìm người đỡ đầu, đến thăm Cụ Cố Thân phụ Đề Đốc Trần Văn Chơn, xin giúp đỡ và được Cụ vui vẻ nhận lời hết lòng.  Cụ thường lấy cái gương tôi để dạy các cháu tránh mặc cảm trong khi làm một nghề chính đáng để sống.
 
Khi nào được khách mời đi nhậu, thường thông cảm đến giúp cho Quán Hương Bình.  Vì lẽ ấy, tuy trong cảnh đơn sơ nghèo nàn, nhưng cũng đủ sống không lo gì ế ẩm đáng ngại.
 
Về quảng cáo, thì tôi nghĩ ngay ra một lối để những du khách đi Vũng Tàu, trước khi vào thị xã xe phải ghé lại trạm kiểm soát.  Tôi cho một em nhỏ đứng trực tại đó, khi xe nào đến em cũng đưa một miếng giấy quảng cáo của Quán.
 
Du khách đọc thấy quảng cáo không rườm rà, lại khiêm nhượng với những giòng “Lấy công làm lời”  và  “Chính tay chủ đứng nấu” v. v. . . khi đến nơi, họ đều ghé lại ăn thử cho biết, vừa có lòng ủng hộ, nhất là khi trực diện với chủ quán!
 
Nhưng rồi, sẽ được trình bày về bí quyết mở quán trong một phần sau (tiểu mục 3) được có người đến bàn chuyện khẩn đất lập Chùa sẵn sàng hợp tác.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Khẩn đất lập CHÙA tại Núi Ông Trịnh
 
 
Cũng lại anh Phạm Vũ Xương, người trước đây hướng dẫn cách nấu Phở, nay cũng ra Bà Rịa mở quán phở, được người rủ đi khẩn đất tại vùng Núi Ông Trịnh lại bàn với tôi.  Theo anh, trước đây Sư Thích Giác Nhiên thuộc Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ có khẩn một miếng đất tại cây số 84 trên đường đi Bà Rịa – Vũng Tàu nhưng nay đã bỏ.
 
Người bạn cùng anh đến gặp Sư, mới biết rằng người đệ tử của Sư là người đứng ra khai khẩn miếng đất này nay đã bỏ ra Hòn Tre tu, Sư muốn ủng hộ, nhường lại cho bất cứ ai muốn tiếp tục làm.  Lúc đến gặp Sư thì Sư lại đưa ra điều kiện là làm ăn khá phải hoàn lại số tiền  60.000 đồng mà trước đây Sư đã xuất cho người đệ tử chi phí.
 
Chúng tôi bàn nhau và đưa ra ba điều:
 
-         Phải xem đất này có hợp pháp không?
 
-         Phải đến tận chỗ tìm hiểu xem đất có tốt không?
 
-         Phải xem xét quan sát tình hình an ninh có cho phép chúng ta khai khẩn không?
 
Tìm đến Trưởng Ấp và Xã Trưởng để hỏi thì được biết rằng Sư Thích Giác Nhiên có cho người đến khai khẩn thật, nhưng khi Chính quyền Tỉnh có thông báo mời đến họp để qui định đúng theo pháp luật và sau đó sẽ cấp giấy tờ cho khai khẩn Sư không chịu đi mà cũng chẳng cử người đi thay thế.  Vì vậy đối với pháp luật Sư hoàn toàn không có quyền hạn gì.
 
Chúng tôi đi khảo sát đất đai, lấy một ống nước đóng sâu xuống khoảng 6 tấc và đem về nhờ anh bạn đưa đến Bộ Canh Nông phân chất.  Ngoài ra với kinh nghiệm của Dinh Điền thấy rằng đất tại đây có hai điểm tương đối khá, không có cây “bù xít và cứt gà” là biểu hiện của đất quá xấu và nhất là vùng này khá gần nước.
 
Điểm nữa là nơi này cách Đồn 200 thước, lại nằm sát quốc lộ không sợ bị ảnh hưởng của Cộng Sản.  Đồng ý trở lại gặp Sư Thích Giác Nhiên để hỏi rõ điểm thứ nhất theo Ấp Trưởng và Xã Trưởng cho biết thì Sư không ngần ngại trả lời:
 
-         Tôi đâu cần đi họp với chính quyền!  Vì chính quyền có quyền gì đòi tôi đi họp?
 
Nhưng khi nghe thuật lại những lời của Ấp, Xã đã nói thì Sư không trả lời .
 
Trong khi ấy vùng đất thuộc Song Vĩnh lúc ấy của anh Vũ Hồng Khanh có đủ giấy tờ để khai thác.  Tôi nghĩ đối với Sư, ta cũng nên “hỉ xả” và vì vậy bàn với hai anh bạn hoàn nhà Sư số bạc 60.000 đồng.
 
Và chúng tôi thảo một hợp đồng giữa ba anh em cùng chung vốn, phân công và khai thác.
 
Hợp đồng đã giữ đúng những nguyên tắc hành chánh là sau này người nào bán đất riêng của mình, bỏ ra đi thì những quyền lợi còn lại không được đòi hỏi hay khiếu nại gì cả.
 
Chúng tôi khởi sự tạm thời mướn người khai phá sát gần quốc lộ để trồng rau muống.  Một kinh nghiệm mỉa mai là không nghĩ thấu đáo đến việc tiêu thụ, nên khi trồng rau rồi đến lúc thu hoạch không có chỗ tiêu thụ, đành phải bán thốc bán tháo thua lỗ!
 
Ngoài số tiền phải trả lại nhà Sư và thua lỗ, chúng tôi cảm thấy phải suy tính lại, và quyết định mướn xe ủi một con đường vào thẳng chân núi, trong đó sẽ tạo nên một khu canh tác cho bất cứ ai muốn khai phá cũng được, miễn là hoàn lại cho chúng tôi số tiền sở phí về ủi phá rừng.
 
Khu định cư, ngoài này cho làm nhà, vườn.  Xin nói thêm rằng khu đất này ở cách một bờ rào với khu đất của ông “Đạo Vuốt”, nhưng ông Đạo Vuốt thì đã bị chính quyền tỉnh Bà Rịa và Tòa Án bắt giam, can tội dùng bùa ngãi mê hoặc và gây chết người.
 
Khi vào rừng thì tôi thấy rất nhiều bảng nhỏ viết bằng sơn trắng với giòng chữ “Đất Cô Nhi 2.000 mẫu” của ông Đạo Vuốt đóng vào các thân cây.
 
Khi ủi xong con đường vào chân núi, đang tiếp tục thì Chính quyền Xã đến báo chúng tôi hay, Tòa Án hôm nay cho Cảnh Sát lên giải tỏa hết những chòi tranh của Đạo Vuốt, vậy xin các ông không cho xe vào núi.
-         Nhưng nếu chúng tôi muốn khai phá vùng này thì phải làm thế nào?
 
Vì trước đây chúng tôi có đến chào hỏi và nhờ ông Xã Trưởng giúp đỡ, nên ông Xã Trưởng Phước Hòa đã hướng dẫn khéo léo.
 
-         Lúc này các ông chỉ nên mướn người vào chặt các cây cho sát gốc của những vùng nào định khai phá và không nên đốt, đợi sau yên ổn sẽ thuê máy ủi cũng không muộn.
 
-         Nghe Xã Trưởng nói hợp lý chúng tôi làm theo, khi đất đã dọn sẵn con đường vào núi, hai bên dành làm khu nhà ở.  Dành sát quốc lộ mỗi bên một lô 50 x 50m để xây cất Chùa sau này.  Và ba người chúng tôi mỗi người một lô 30 x 50m, tặng cho người đệ tử của Sư Thích Giác Nhiên, là người có công giới thiệu với Sư, một lô.
 
Từ đây vào chân núi mỗi bên khoảng 20 lô, mỗi lô 25 x 50m dành cho bất cứ ai muốn đến lập nghiệp chỉ phải hoàn lại sở phí về ủi đất khai phá là 25.000 đồng.
 
Thế là chúng tôi thu lại được số tiền vốn, kể cả tiền thua lỗ và trả cho nhà Sư lúc đầu.
 
-         Việc khai khẩn ở đây tương đối thành công với kinh nghiệm sẵn có, với địa thế khá đẹp, đã hấp dẫn một số bà con Saigon ra điều đình để nhận những lô đất trong Khu Định Cư làm nhà.  Xong về chợ Bình Tây mua các loại cây “Rép” ra trồng.
 
Chỉ một thời gian ngắn, vùng này đã được những du khách đi vũng Tàu chú ý.
 
Nhưng, đây cũng là lúc Cộng Sản trong núi bắt đầu nghĩ đến.  Nhưng sau này mới nghĩ ra rằng sở dĩ Cộng Sản không dám ra sát quốc lộ hoạt động, như lúc ban đầu chúng tôi nghĩ đến, là bọn chúng sợ lính trên đồn thường xuống phục kích ở Cống Quốc lộ, chưa nói là bọn Cộng Sản chẳng có bao nhiêu.
 
Từ ngoài quốc lộ vào, phía tay mặt chừa 50m là vườn tôi.  Vườn ở sát một con suối nhỏ, mùa nắng nước chỉ chảy lai rai, nhưng mùa mưa chảy rất mạnh và rất đẹp.
 
Nghĩ cách xây thành một ngôi vườn dành cho tuổi già, tôi thuê người làm trên bờ suối, trong vườn một nhà “lục giác” bằng cây rừng, mua mấy khúc cây họ cưa từ trong rừng ra làm ghế ngồi, để có một chỗ tiếp khách và ngồi chơi rất đẹp mắt.
 
Thuê người tráng xi măng con đường dài khoảng 50m từ ngõ vào, cốt để vừa đẹp mắt vừa làm chỗ rải thức ăn cho súc vật.  Tôi nuôi đủ thứ nào là gà, ngỗng, vịt xiêm và một chuồng bồ câu.
 
Lại mua dừa về trồng theo bờ suối, gần đấy là chôm chôm và trong vườn trồng nhiều nhất là xoài cát “Rếp”.
 
Biết một anh đệ tử ông Đạo Vuốt làm nghề thợ nề khá giỏi, tôi mướn anh xây cho hai trụ vôi trước ngõ và gắn vào đấy hai câu thơ chữ nho:
 
-         LÝ THỊ VĂN CHƯƠNG MAI MÃN XUÂN THÀNH THI ĐỐI THỦ
 
-         ĐÀO CÔNG THÚ VỊ CÚC KHAI THU PHỐ TỬU DOANH TÔN
 
Và dịch ra hai câu đối nôm đính kèm hai bên, nghĩa như sau:
 
-         VĂN CHƯƠNG DƯỜNG LÝ BẠCH THƠ SẴN CẦM TAY, NGẮM MAI NỞ ĐẦY VƯỜN VUI XUÂN ĐẾN
 
-         THÚ VỊ TƠ ĐÀO – TIỀM, RƯỢU NGON CẢ BÌNH, NHÌN CÚC ĐƠM RỢP PHỐ ĐÓN THU VỀ.
 
Vế thứ nhất, tả nhà thơ Lý Bạch, vế thứ hai vịnh ông Đào Tiềm về ở ẩn, ví như mình chẳng còn ham công danh phú quý chi nữa!
 
Hai bên đường từ ngôi vườn vào thẳng chân núi đã có người đến ở, cảnh trí thật nên thơ!  Tôi mơ ước, một ngày không xa, sẽ biến cảnh này thành một thắng cảnh cho những du khách đi Vũng Tàu mỗi thứ Bảy, Chủ nhật về ghé lại ăn thịt rừng, mướn ngựa chạy chơi quanh núi . . .
 
Và leo lên cụm núi sát phía ngoài lối 50m, dùng sơn vẽ lên tảng đá lớn, xoay mặt ra phía quốc lộ một chữ “VẠN” của nhà Phật, thuê người cất một nhà lục giác như nhà đã làm bên bờ suối, trồng một số cây, hy vọng sẽ là ngôi Chùa khá đẹp để tu sau này.
 
Nhưng chẳng may, ngôi nhà lục giác đó bị các em đi kiếm củi, vứt tàn thuốc cháy sau đó không bao lâu.
 
Cây trái trong vườn phát triển rất nhanh, chỉ một năm sau là những cây xoài cát ra trái, cảnh vườn vô cùng hấp dẫn, khách đi Vũng Tàu về đều ghé lại chơi.  Anh Vũ Ký có nhắc trong lời giới thiệu tập I.
 
Tôi bắt đầu xây hai cổng lớn từ ngoài quốc lộ dựng lên một bảng đề chữ “Núi Ông Trịnh” để khách đi ngang chú ý.
 
Hai anh bạn cùng chung khai thác, sau khi trồng một ít cây bắt đầu có trái thì có người hỏi “sang” hai anh “sang” ngay, vì đây là đất công không ai có quyền bán mà chỉ có quyền “sang nhượng” lại mà thôi.  Hai anh này được người “sang” mỗi vườn với giá 200.000 đồng, trong khi trước kia lúc vào khai thác chỉ phải đóng 25.000 đồng mà với hai anh thì không phải đóng số tiền này, thế là các anh sang lại và ra đi không còn giữ giao ước như đã ký trong hợp đồng lúc ban đầu.
 
Các anh không ngần ngại ra đi, vì các anh cũng thấy rằng tôi đã dựng ngôi Chùa bên phía tay phải và về phía tay trái thuê người đào ao sen.  Các anh cũng nghĩ rằng tôi không có ý chiếm luôn hai khoảnh đất phía ngoài.  Dĩ nhiên hai miếng này đắt giá hơn, bởi vì đã làm Chùa và đào ao thả sen, quyết ở lại đây để xây dựng một ngôi vườn khá đẹp.
 
Cũng xin nói thêm rằng, tôi hoàn toàn không hiểu tại sao ở đây lại gọi là Núi Ông Trịnh, trong khi đó lại tìm được ngôi mộ ở gần chân núi, mà khi đọc những dòng chữ khắc trên bia đã mờ thì thấy ghi là:  NGUYỄN TƯỚNG CÔNG CHI MỘ.
 
Hỏi những Cụ lớn tuổi trong Xã thì được kể rằng:
 
“Truyền thuyết cho biết ngày xưa có một vị Tướng đi đánh giặc bị chém, đầu bay về đây – về quê nhà – mà tại đây có miếu thờ sát quốc lộ đồng thời cũng có cả miếu thờ Bà thân mẫu vị Tướng ở gần trụ sở Ấp”.
 
Khi người ở đã đủ, tôi hỏi:  Ai muốn khai khẩn đất trong núi thì ghi tên cho biết và chỉ phải trả tiền thuê phát hoang bằng dao lúc đầu là 7.000 đồng một mẫu.  Xong tùy ý muốn thuê máy ủi vào thì lúc này cũng đã thực hiện được.  Nhưng, điều kiện đưa ra là Hội Đồng sẽ họp để bốc thăm, ai bốc trúng đâu phải nhận đấy.  Ai cũng lo bốc phải những mẫu ở xa sát trong núi.
Việc đáng nhớ, là trước ngày phân định để có thể phác họa ra một sơ đồ gồm 54 mẫu, tôi đã vô cùng vất vả chưa nói đến là rất nguy hiểm nếu thật ở đấy có Cộng Sản.
 
Như đã nói ở đoạn trước, sau ngày 30 tháng Tư lúc đầu cán bộ trong núi ra, chúng tôi mới biết rõ là trong họ không hơn 10 người, bởi họ sợ lính ta vây từ vùng Núi Thị Vải bọc phía sau là không có lối thoát.
 
Để đi đo đất, tôi đã cùng vợ dùng một sợi dây dài, kẻ đi trước người đi sau cầm hai đầu dây để đo ước lượng từng mẫu.  Sợ rằng trong lúc đang đo, đám Cộng Sản trong núi bất thần xuất hiện, nên dặn vợ trong lúc đi trước, nếu thấy gì khả nghi thì dùng cái nón mà quạt để làm dấu.  Lúc vào, đang làm việc độ hai giờ sau, vợ tôi bỗng dưng “quạt”.  Tôi hồi hộp cố liếc mắt nhìn xem có gì lạ không, nhưng vẫn chẳng thấy gì mà hỏi thì thật không tiện, bởi nhỡ có tên Việt Cộng nào ở đấy thì chạy sao cho kịp, mà ra dấu hỏi thì thấy bà ấy cứ quạt và quạt.
 
Cố giữ bình tĩnh và nói lớn:  Thôi ta tạm nghỉ đây một lát và xuống vùng dưới đo lần lên!
 
Nhưng thật ra chẳng còn can đảm nào mà lần lên nữa, nên cuộn dây lại, và tháo lui quay ra nhanh.
 
Ra đến ngoài mới hỏi:  “Thấy gì mà bà quạt dữ vậy”.
 
Nhà tôi cho biết “Chứ anh không thấy một người ngồi trong lùm cây hay sao?”  Và bà ấy chỉ về phía bụi cây “Nơi bụi cây gần gốc cây lớn đó.”
 
Đi ngay về vườn, leo lên cao dùng ống nhòm – cái ống nhòm do anh em biếu – để nhòm vào xem tên này làm gì đây, vì nếu là Việt Cộng thì báo cho Đồn biết.
 
Nhưng không, chẳng thấy y làm gì, ngồi mãi cho đến khi có một xe chở củi bằng bò kéo từ ngoài vào, tôi ra hỏi khéo mới biết là dân trong ấp cho xe vào chở củi và ngồi đợi xe vào để chở chuyến khác chứ chẳng phải Việt Cộng Việt Cỏ gi!
 
Sau hơn nửa tháng, xong bản đồ vẽ phân chia 52 mẫu đất canh tác cho bà con, họp và bốc thăm để phân định phần sở hữu của ai.  Họ sẽ làm đơn xin chính quyền khai thác vừa bắt đầu cho người vào dọn dẹp để trồng trọt.
Dành lại khoảng 19 x 30m nơi ngôi mộ ông TRỊNH để làm Nghĩa Trang Công Cộng.  Việc làm này được bà con hoan nghênh nhất là các vị cao tuổi.  Một việc khác cũng khó quên là trong khu dự định làm nghĩa trang công cộng có một bộ lưỡi cày máy bỏ lại từ lâu, mà lúc đầu vì không kinh nghiệm, cứ nghĩ rằng đây là một trở ngại, rồi phải thuê người kéo ra, dọn dẹp cho khu nghĩa trang đẹp mắt, nhưng đâu ngờ đó là cả một số tiền lớn!
 
Một anh bạn cũ chủ nhà hàng Đại Dương tại Cam Ranh, nghe tôi lập vườn tại đây và nhiều người đồn là tôi có nhiều kinh nghiệm, anh ra thăm, anh cũng đang dự định mở một nông trại trên Cao Nguyên gần đất của Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ.  Khi nghe kể đến khu Nghĩa Trang Công Cộng, anh vào xem thấy bộ lưỡi cày máy:
 
-         Anh định để giàn lưỡi cày ấy làm gì đấy?
 
Tôi chợt nghĩ ra “Anh bạn này hỏi là muốn gì đây?”
 
-         Cũng làm nhiều chuyện, nhưng nay lại thôi ai cần mua thì mình sẽ nhượng lại!
 
Thế là trúng ý anh.
 
-         Thế à!  Vậy để lại cho tôi!
 
Tôi ởm ờ, nhưng mừng là trúng được cơ hội tốt.
 
-         Cậu muốn lấy thì lấy, nhưng nhanh lên chứ để đấy bạn bè thấy hỏi mình không để, thì họ trách.
 
Anh bạn không suy nghĩ, mở bóp viết ngay một chi phiếu 50.000 đồng.
 
-         Tạm đưa anh 50.000 đồng về đến Saigon mình sẽ thuê xe ra kéo và trả cậu thêm.
 
Thế là trúng được món tiền khá lơn.  Hai ngày sau anh cho xe ra chở và đưa thêm 200.000 đồng nữa, chở bộ giàn cày đi.
 
Đỡ lo nghĩ chuyện mướn người trục kéo, lại có số tiền khá lớn.  Giao cho vợ một nửa để trả tiền nhân công, còn đi mua ngay một máy đèn Honda của Nhật cả dây, bóng và trụ trồng.  Chỉ một tuần sau khu vườn tôi đều được giật máy sáng từ 7 giờ đến 11 giờ đêm.
 
Nhưng lại lo ngại mấy chú Việt Cộng trong núi khuấy phá, nên tôi đặc biệt dành vườn tối om, để không còn ai nhìn biết mình nằm ở góc nào, mà chỉ cho sáng ngoài đường và xung quanh vườn.
 
Việc bốc thăm chia đất trong núi cũng lại là một chuyện khá ly kỳ.  Sau phiên họp, tuyên bố lý do và nguyên tắc, phần tôi lãnh hai mẫu còn lại 50 mẫu là số bà con đến khai thác chia nhau đóng tiền.  Lúc bốc thăm, mọi người ngạc nhiên là tôi trúng ngay hai mẫu ngoài cùng ngay chỗ mộ Ông Trịnh.  Mọi người đều có ý giống nhau, vừa tin tưởng, cũng vừa khó tránh thắc mắc.
 
Nghe được ý nghĩ ấy, tôi triệu tập một phiên họp khác, cách đấy một tuần để tuyên bố cho bốc thăm lại và khi được mọi người hoan hỷ, nhờ người đứng lên lo bốc thăm, tránh ác ý nghĩ rằng mình lươn lẹo trong việc này.
 
Thế là tất cả đều vui vẻ và cùng có cảm nghĩ “Ông Trịnh đã linh thiêng nên nghĩ người có công dành cho tôi may mắn ấy!”
 
Nhưng rồi một rắc rối lại xảy đến!
 
Bởi thấy mình khá thành công, nên một người từ Saigon ra cũng khai thác tại đây, đồng thời là chủ chơi “ĐỀ” từ cả vùng này đến Vũng Tàu âm mưu với một ông già cố sang đoạt.  Họ gạ tôi sang lại và cũng để nói chơi xem sao, tôi ra giá 6.000.000 đồng, họ chỉ trả 4.000.000 đồng.
 
Họ sắp đặt thành một câu chuyện vô cùng thiếu lương tâm, để vừa gây chuyện với gia đình tôi, vừa vận động với Trưởng Ty Công An Phước Tuy sắp đặt mưu kế hại tôi.  Được viên Trưởng Ty Công An bày vẽ là phải có lý do Tòa Án mới cho khám xét nhà, nên chính ông già này khai là tôi có vũ khí bất hợp pháp!
 
Ty Công An Phước Tuy trình với Tòa Án và được biết lúc ấy chính viên Chánh Án này cũng được mụ Chủ Đề đến vận động trước.  Ông Biện Lý Trần Thành Đô – dù được nhân dân khá mến trọng vì tương đối thanh liêm cũng đành ra lệnh cho Cảnh Sát khám nhà.
 
Một buổi trưa, cả một xe Cảnh Sát chạy xuống, vào nhà đưa cho xem giấy Tòa và lục xét.
 
Sau hơn một giờ, họ chỉ thấy một bánh pháo không đốt từ Tết trước để lại, và cái máy đánh chữ dùng để viết sách – ra lệnh tịch thu mời về giam giữ lại.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
ĐẤY LÀ LẦN THỨ SÁU TÔI VÀO TÙ
 
 
Vợ tôi chạy kêu Tỉnh Trưởng nhưng cũng vô hiệu, ra tận Vũng Tàu nhờ Cụ Trần (thân sinh Đề Đốc Trần Văn Chơn) vào xin cũng không kết quả, mà đâu đâu cũng khuyên là chờ họ kết thúc hồ sơ ra sao đã . . . !
 
Sau gần tuần lễ nằm tại nhà lao Phước Tuy, tôi vô cùng nản chí cho chính quyền phe ta.  Bảo vợ về Saigon kêu cứu anh Trần Văn Tuyên và bạn bè.
 
Nói đến lao Phước Tuy của lần tù thứ sáu trong đời, là lại biết đến một nhà lao của tỉnh lẻ.  Khi thấy tôi, mấy chú Tù đã tỏ ra biết điều hơn nhiều.  Họ rất lễ phép và cho người lo lắng giúp đỡ rất chu đáo, từ ăn uống, nước non.
 
Vợ tôi về Saigon, gặp anh Trần Văn Tuyên.  Anh liền điện thoại cho Biện Lý Trần Thành Đô – nghe đâu trước cũng là học trò của anh – để nhờ ông Đô cho tại ngoại.  Trong khi đó, vợ tôi qua gặp anh Lý Trường Trân đang là Dân Biểu Quảng Nam trong Quốc Hội.  Anh Trân điện thoại cho các anh bạn khác như Lê Đình Duyên, Phan Thiệp và hầu hết các anh đều đồng ý đánh điện can thiệp “bảo lãnh”, bảo đảm hành động chính trị của tôi, nhất là khi các anh lại nghe rằng họ buộc tội liên hệ với Cộng Sản trong núi.
 
Sau khi vợ tôi trở ra cho biết sự việc, chỉ một ngày sau được lệnh tại ngoại.  Khi được tại ngoại thì số người âm mưu ám hại để cướp đoạt tài sản đâm ra bực tức.  Họ lo lót cho tên Trưởng Ty Cảnh Sát với điều kiện giam tôi lại lâu để họ gạ gẫm mua lại khoảnh vườn mà họ nghĩ rằng lúc ấy vợ tôi sẽ buồn lòng dù rẻ hay đắt cũng bán mà về Saigon cho yên.
 
Nhưng thấy tôi về, họ chạy tìm cách khác, xin gác lại chuyện, lúc này tái tham gia vào Chính Trị xin thuật rõ ở đoạn sau, và xin tiếp tục trình bày câu chuyện ám hại như đã đề cập.
 
Bấy giờ được chuyển qua phần hành Dự Thẩm để xét hỏi.  Ông Dự Thẩm này nghe đồn thuộc nhóm của Chánh Án, không trong sạch, thanh liêm như Biện Lý Trần Thành Đô, nhưng bởi thấy tôi được can thiệp khá mạnh ở Saigon nên cũng không dám ăn.  Một hôm tôi vào phòng ông ta để khai báo, thì viên Lục Sự làm việc cho Dự Thẩm, bởi không rõ biết, mà chắc cũng theo thường lệ - gạ vợ tôi hối lộ cho Dự Thẩm qua y.  Anh ta khuyên vợ tôi nên chịu tốn với Dự Thẩm để khỏi đi tới, đi lui Tòa nữa.  Cuối cùng vợ tôi hứa chịu một lượng vàng.  Thế là, trong khi Dự Thẩm đang hỏi cung, anh ta đưa vào một mảnh giấy con trình Dự Thẩm xem.
 
Dự Thẩm liếc mắt, sắc mặt thay đổi ngay!
 
Ông viết vào mảnh giấy mấy chữ cho mang ra viên Lục Sự.  Và khi về nhà, vợ tôi thuật lại chuyện ấy, tôi cũng có kể lại sự việc nhận xét khi viên Lục Sự đem giấy vào.  Hai ngày sau, lúc gặp lại thì Dự Thẩm đã hỏi ngay:  “Ông về nhà bà nhà có nói gì không?”
 
Tôi giả vờ như không hề hay biết gì.
 
-         Thưa không hề kể gì cả ạ!
 
Lúc ấy – gẫm lại khen cho Dự Thẩm này.  Thấy không ăn được của tôi, vì Saigon can thiệp mạnh quá, mà nếu không làm việc cho ra lẽ, thì viên Chánh Án cũng chẳng để yên, bởi viên Chánh Án đã ăn của đám người kia.
 
Vì vậy, mỗi sáng Dự Thẩm mời cả đám đến.  Chủ chốt 3 người và số “theo đóm ăn tàn” 4 người.  Anh cho cả 7 người đứng sát tường, cứ hỏi người này một vài câu lại hỏi người khác.  Trong lúc ấy anh ta không nghỉ ăn trưa mà bảo tùy phái đem cho một ly cà phê đen thật to để uống cho đỡ buồn ngủ.  Cứ hỏi như vậy, và lâu lâu cho người ra cửa gọi tôi vào hỏi, khi thấy cần.  Bởi anh ta cho gọi tôi đến nhưng ngồi ngoài cửa chờ.
 
Làm như vậy chỉ ba hôm, số người “theo đóm ăn tàn” bỏ cuộc và không đi hầu Tòa, xin rút tên không chịu làm chứng nữa.  Đây là một kinh nghiệm dù không phải kinh nghiệm tốt đẹp gì.
 
Đám người này thấy khó hại được tôi, nghĩ ra một kế khác.  Họ cho người về Saigon triệu thỉnh Sư Thích Giác Nhiên ra kiện với lý do như tôi chiếm đoạt đất ấy của Giáo Hội ông khai thác trước kia.
 
Sáng hôm thứ Năm, Dự Thẩm có vẻ tin chắc ăn!
 
-         Tôi báo cho ông biết là nay ông rất khó khăn, bởi vì ông gặp một đối thủ khá cao tay.
 
Thấy tôi im lặng, không tỏ ra chút nao núng, ông tiếp:
 
-         Nay thì Sư Pháp Chủ của Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ đã đến kiện ông.  Như vậy là cả một Giáo Hội kiện chứ không phải cá nhân kiện ông chiếm đoạt đất của Giáo Hội đã khai phá.
 
Tôi bình tĩnh
 
-         Thưa ông Dự Thẩm, xin ông mời Ông Pháp Chủ ấy hỏi giúp cho tôi hai câu:
 
-         Câu thứ nhất là nếu đất ấy của Giáo Hội hay của ông ta thì ông đưa trình cho Tòa thấy bất cứ một giấy tờ gì để chứng minh.  Riêng tôi, thì tôi có biên lai đã nạp thuế đất Chính Phủ qua xã Phước Hòa liền 2 năm nay.
 
Câu thứ hai là tuy không có gì chứng minh sở hữu chủ của đất, nhưng ông có nhận của tôi 60.000 đồng không?  Ông không thể nào nói là không có nhận, vì tôi trả ông bằng chi phiếu.
 
Thấy tôi nói rất hợp pháp và chứng minh đủ mọi lý lẽ, ông Dự Thẩm ngồi bình thản lặng im.
 
Và như vậy là vụ đất từ đó im luôn, cho đến sau ngày 30 tháng Tư – 1975 vào Tù gặp nhau tại Trại Long Thành – trước khi bị đưa ra Bắc, ông Dự Thẩm này gặp tôi, chắc nghĩ mà hú vía.  Vì nếu trước ăn của tôi một lượng vàng thì hôm nay gặp nhau sao khỏi ngỡ ngàng!
 
Chỉ thương hại cái anh Trưởng Ty Công An, có ăn hối lộ để hại tôi và lúc thấy tôi còn chút lưng dựa của Saigon, cũng đâm ra ngán.  Anh nhờ một người bà con hiện thường tới lui với anh, bởi anh này có xe be chạy Xuyên Mộc – Bà Rịa, đến khuyên tôi, “nên cho qua đi và chẳng nên kiện đến Cảnh Sát làm gì”.  Tôi không trả lời vì lúc ấy cũng thừa hiểu thủ đọan của họ.  Nhưng sau khi vào tù tại miền Bắc lúc được chuyển vào Nam Hà, nghe cái chết của y, dù giàu sang tột độ, khi chết bởi ăn sướng quá mà bị áp huyết cao, cũng chẳng có một bộ quần áo che thân.  Con anh từ Mỹ về xin cải táng, thấy anh ta chỉ  được chôn “trần truồng”, bởi bọn hình sự lột hết áo quần trước khi lấp đất, tôi nghe kể cũng cảm thấy thương tâm.  Thảm thương thay.
 
 
 
TỔNG ỦY VIÊN NGHIÊN HUẤN VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG
 
 
Lúc ấy chưa bán căn nhà ở Saigon nên thường ra vào thăm viếng vườn tược.
 
Một hôm vừa ăn sáng xong thì một thanh niên khoảng 40, mặc quần áo nhà binh vào.
 
-         Đây có phải nhà ông Phan Vỹ không?
 
Tôi vui vẻ mời ngồi, nhưng anh không ngồi, mặt lầm lì.
 
-         Trước kia ông giết Cha tôi chôn ở đâu?
 
Nghĩ rằng đây là một dụng ý, chủ trương gì đây, tôi bình tĩnh không nao núng.
 
-         Ngồi thong thả sao nóng vậy, rồi trả lời tôi trước đã!  Cha chú làm gì mà bị giết?  Và bị giết ở đâu?
 
-         Cha tôi là Quốc Dân Đảng – Xã Kỳ Hưng (Tam Kỳ) bị Ông giết vì Ông theo Ngô Đình Cẩn!  Vậy Ông chôn ở đâu?
 
Tôi thoáng hiểu ra lý do, bình tĩnh cười:
 
-         Nếu Cha chú là Quốc Dân Đảng mà lại bị tôi giết thì chú không nên tranh luận.  Tôi tưởng chú nói Cha chú là Cộng Sản thì còn mất công nói chuyện nhiều!  Và như chú đã nói, Cha chú là Quốc Dân Đảng mà lại bị giết thì chú nên về phát đơn kiện Tòa Án sẽ đòi tôi hầu và xét xử.
 
Thấy y không nói gì thêm, tôi nghĩ đã có phần đoán ra nguyên ủy nên giải thích thêm:
 
-         Một Quận Trưởng không bao giờ đi giết ai, nhất là giết một người Quốc Gia.  Nếu chú nghĩ như vậy thì nên về kiện!  Sẽ còn nhân chứng!  Và Tòa đòi, tôi sẽ trình bày.  Rồi nghĩ nên cứng rắn hơn
 
-         Bây giờ Dân chủ chú có quyền kiện!  Mà tôi cũng có quyền trình bày, chứ chẳng ai dọa nạt, uy hiếp được ai?
 
Anh bạn này thấy tôi nói cứng, im lặng mươi phút rồi ra đi.  Sau khi anh ra khỏi, tôi tự làm bài luận giải.
 
Và tự đoán biết rằng “tên này đã do một người nào nhờ lại uy hiếp, để rồi không cho ta ở yên.”
 
“Họ sẽ đến thuyết phục ta tái tham gia chính trị với họ, chắc là vậy thôi!”
 
Tôi tính lại chu đáo lời giải đáp!
 
Và dĩ nhiên đã biết rằng ngoài dự đoán như đã nói, không còn lý do nào khác, bởi lẽ nếu chú ấy nói Cha chú là thường dân bị nghi là Cộng Sản thì còn phải suy xét lại!
 
Sau một thời gian ngắn, anh Tổng Bí Thư của hệ phái Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất Nguyễn Đình Lương đến thăm chơi.  Trong câu chuyện hàn huyên và nhận định tình hình, anh đề nghị tôi trở lại sinh hoạt với các anh.
 
Như có nói rõ trong một đoạn trước, các Đảng phái đang ở trong tình trạng chia rẽ, chứ không riêng gì Quốc Dân Đảng.  Mà nói đến Việt Nam Quốc Dân Đảng thì chính thức có 3 hệ phái:
 
-         Hệ phái Vũ Hồng Khanh do anh Vũ Hồng Khanh là Chủ Tịch.
 
-         Hệ phái Thống Nhất do anh Nguyễn Đình Lương làm Tổng Bí Thư, nhưng Cụ Vũ Huy Chân là Chủ Tịch.
 
-         Hệ phái Miền Nam do anh Trần Văn Tuyên làm Tổng Bí Thư, nhưng anh Nguyễn Hòa Hiệp là Chủ Tịch.
 
Ngoài Ba hệ phái này còn có những Lãnh tụ đứng riêng lẻ, không thành hệ phái, nhưng cũng có một số anh em gần gũi như quí anh Xuân Tùng, trước cũng ở Hệ phái Vũ Hồng Khanh sau gia nhập với Lực Lượng Dân Tộc Việt của anh Phan Bá Cầm với tư cách Quốc Dân Đảng.
 
Anh Lê Ngọc Chấn thường gọi là Chấn Quang Minh.
Và những anh hoạt động riêng lẻ khác như Lê Hưng, Nguyễn Văn Cảnh tức Phúc Trắng, Nguyễn Văn Lực và rất nhiều anh khác.
 
Nghĩ rằng, nếu nói đến Miền Trung, quê hương tôi, và nhất là số anh em có biết đến nhau nhiều, hay có dính líu đến vụ ly khai năm 1954 – 1955 ở Chiến khu Nam Ngãi thì chính là Hệ phái Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất.
 
Vậy còn gì hơn là tái tham gia vào hệ phái này để chính các anh sẽ phải tự xác nhận mình không tán thành việc các anh ly khai ngày ấy đúng hay không?
 
Nhận lời mời của anh Tổng Bí Thư Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất.
 
 Anh đưa ngay một vé máy bay mời về Đà Nẵng dự Đại Hội Toàn Quốc. 
 
Đại hội này sẽ bầu lại Ban Chấp hành Trung Ương.  Hai hôm sau, đáp máy bay về Đà Nẵng họp Đại hội.  Và chính trong Đại hội đã giới thiệu và bầu tôi là Tổng Ủy Viên Nghiên Huấn Trung Ương.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
BUỔI NÓI CHUYỆN VỚI CÁN BỘ CƠ SỞ TẠI TAM KỲ
 
 
Suốt thời gian phục vụ trong vai trò này, ngoài những việc thông thường như thay mặt Cụ Chủ Tịch lên thăm Tỉnh bộ Long Khánh trong dịp tất niên, dự vài cuộc họp với Trung Ương và về dự đại hội tại Phú Yên, không thể nào quên ngày về nói chuyện với cơ sở, cấp Xã Ủy tại tỉnh Quảng Tín.
 
Buổi nói chuyện được tổ chức tại Tam Kỳ.  Trong hội trường khá đông, tôi dòm thấy gần như đủ mặt những anh em cũ, khi tôi còn làm Quận Trưởng của những Quận Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ v. v. . .
 
Sau nghi thức và giới thiệu, tôi bắt đầu nói chuyện với tư cách Nghiên Huấn.
 
Một miền đất chống Cộng nổi tiếng, một quan niệm luôn luôn nghĩ rằng tôi chẳng bao giờ chịu thay đổi chiến lược trong việc chống Cộng của cử tọa quá quen biết mình, thì hôm nay tôi đưa ra một quan niệm hơi đặc biệt!
 
“Bây giờ không còn là lúc chúng ta chống Cộng như một vài năm trước đây, mà chúng ta phải xác định rõ ràng kẻ nào Thắng được lòng Dân là kẻ ấy Thắng!  Vậy chúng ta phải xem xét lại hàng ngũ ta, làm sao cho trong sạch, để có vậy ta mới nói được với chính quyền hiện đang quá tệ, quá xấu!
 
Tôi nghĩ rằng nếu ta còn giữ quan niệm cũ trong việc chống Cộng, diệt Cộng là sai!  Bởi ta giết một tên Cộng Sản thì cha mẹ, vợ con họ sẽ càng theo Cộng Sản mạnh hơn, chưa nói là nhân dân thường bị chúng ru ngủ, mơn trớn nay thấy ta giết họ, sẽ dao động, bỏ ta, không nói là tiếp tay với họ.  Ta phải làm sao để xứng đáng là người Đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, tách rời nhân dân ra khỏi Cộng Sản, cô lập họ thì mới mong thắng được Cộng Sản.”
 
Một vài tiếng xì xào trong đại hội đã có, bởi họ không ngờ lần này tay diệt Cộng nổi tiếng lại đề nghị chiến lược mới!
 
Qua phần nói chuyện, đến phần để cơ sở nêu thắc mắc.  Tưởng anh em sẽ thắc mắc trước hết là đề tài vừa nói, nhưng không!  Một bạn hay đúng hơn một đồng chí đã đưa tay.
 
Tôi mời!
 
-         Tôi muốn hỏi đồng chí Tổng Ủy viên Nghiên Huấn dù là chuyện cũ,   nhưng sẽ đánh giá được buổi nói chuyện của đồng chí!  Tại sao trước kia khi còn nắm chính quyền tại địa phương này đồng chí không cùng anh em ly khai chống gia đình họ Ngô.
 
Nhìn hội trường thấy không khí có phần sôi động, chưa tỏ là tán đồng với câu hỏi ấy hay không, tôi chậm rãi hỏi lại cử tọa:
 
-         Một đồng chí đã hỏi câu vừa rồi, tôi nghĩ là trong chúng ta còn nhiều dị biệt nhau.  Vậy trước tiên tôi muốn hỏi có đồng chí nào muốn trả lời câu hỏi vừa rồi hay không?
 
Vừa dứt lời đã thấy cuối phòng họp vài cánh tay giơ lên, nhưng rồi hình như họ nhường cho một người.  Tôi chỉ về phía ấy.  Thì ra anh Hội, một đồng chí cũng đã từng bị Cộng Sản giam giữ nhiều năm tại lao Tiên Hội, Tiên Phước.
 
-         Xin mời đồng chí!
 
Một giọng nói khao khao, nhưng khá rõ ràng của những người thường tranh cãi.
 
-         Xin phép đồng chí Tổng Ủy viên Nghiên Huấn được trả lời câu hỏi này!  Vì nếu không thì lại có ý nghĩ là ai cũng thắc mắc như đồng chí vừa hỏi.
 
-         Tôi nghĩ rằng, trước khi muốn hỏi đồng chí Tổng Ủy viên hay nói đúng hơn là nguyên Quận Trưởng Tam Kỳ chúng ta cần xác định lại hai việc.
 
Thứ nhất là chúng ta phải hỏi lại rằng việc ly khai lúc ấy có đúng không? Nếu đúng thì tại sao ra đi rồi lại trở về dễ dàng như vậy?  Và nếu chúng ta đã làm đúng mà đồng chí PHAN VỸ không làm theo thì mới buộc tội đồng chí được, còn nếu chúng ta ly khai không hẳn đã đúng thì chớ trách!
 
Việc thứ nhì là dù không tán thành và không làm như chúng ta, nhưng lúc đó đồng chí có sát hại hay ám hại anh em chúng ta không?  Chứ không nói rằng đồng chí đã giúp gì được cho chúng ta.
 
Khi xác nhận hai sự kiện trên, chúng ta sẽ hỏi đồng chí.  Rồi anh quay lại hội trường.
 
-         Có phải vậy không các đồng chí?
 
Một không khí sôi nổi và nhiều nơi đã nói lớn “Anh Hội, đồng chí Hội nói đúng!”
 
Anh bạn hỏi tôi lúc đầu, đã đưa hai tay lên cao “nắm lại như bắt tay” và cười như hoan hô đồng chí Hội.
 
Thế là không khí đại hội đã thể hiện rõ lập trường đới với tôi, chứ không kể như những đoạn trước đã nói, và việc khi mà các anh được anh Tú lên liên hệ ở Chiến Khu, khi mà anh Vũ Khắc Trạch sau khi ký biên bản tại nhà thờ Tam Kỳ v.v. . .
 
Sau ngày đi nói chuyện tại Tam Kỳ (miền Trung) về tôi lại trở ra núi Ông Trịnh, sống với vườn cây, và sinh hoạt vào Tỉnh hội PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT PHƯỚC TUY với chức Phó Tổng Thư Ký của Tỉnh Hội.
 
Cho đến một ngày, miền Nam bắt đầu rơi vào tay Cộng Sản tôi vẫn còn liên hệ với anh bạn Tổng Thư Ký của Hội Đồng Dân Cử Ấn Quang, Lý Trường Trân, người bạn thân thiết của đời tôi mà theo anh thì sẽ có một Chính phủ hòa giải Ba Bên.
 
Nào ngờ, sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975 lại đến, quá não lòng trong kinh nghiệm tin tưởng của những người có thẩm quyền đối với Cộng Sản mà đành chịu chung số phận đi tù.
 
Ở ngay Bà Rịa, nhưng không ra Vũng Tàu cùng nhiều bạn bè quen biết để đi, nay nói ra khó tránh bởi vài anh em cho rằng mình tự bào chữa.
 
Chỉ nhắc lại rằng, lúc ấy tôi lập luận Cộng Sản sẽ không giết như những năm trước, vì đàn anh họ là Nga, Tàu sẽ khuyên họ cố vận động vào Liên Hiệp Quốc, mà không giết nhiều.  Chỉ có điều là đi tù thì chắc chắn phải rất khổ, nhưng xin xem chương cuối cùng để mời quí  bạn phán xét.
 
Có một điều cũng cần nói là khi đi trình diện để đi tù, tôi chỉ có một băn khoăn duy nhất, đây là câu chuyện đối với anh bạn đã cùng tôi đóng vai trò tương đối quan trọng trong Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất, anh là Tổng Ủy viên Tổ Chức, nắm gọn trong tay các cơ sở Đảng, còn tôi là Tổng Ủy viên Nghiên Huấn.
 
Trong những năm gần đến ngày Cộng Sản gạt được chính quyền Miền Nam, đồng chí này đã lang thang về gia đình, vì nghe người bày chạy xuống Sa Đéc, không thành lại chạy về, chưa tìm ra nơi để gia đình tạm ổn.  Thấy vậy, tôi nghĩ đến tình đồng chí, bàn với anh tạm ra chỗ tôi ở.  Tôi sẵn sàng nhường lại không lấy tiền bạc gì mà dành cho anh một miếng vườn ở, với điều kiện là anh không được bán.
 
Cả gia đình anh dọn về cùng tôi ở chung.  Nhưng đến ngày đám người muốn chiếm đoạt tài sản tôi và vận động Công An bắt tôi như đã nói, anh đành để gia đình anh, chẳng bênh vực tôi thì chớ, lại sẵn sàng ngấm ngầm trợ giúp cho họ.  Tôi buồn lòng nói thẳng với anh, và cuối cùng trước ngày 30 – 4 – 1975 không lâu, cả gia đình anh dọn lên cách tôi ở 10 cây số, vào trong chiến khu Hắc Dịch của Cộng Sản ở.
 
Dĩ nhiên là ngày đi tù tôi nhìn anh với tất cả một hoài nghi chính đáng!
 
Nhưng thôi!  Nay anh em ta, dù có tệ đến đâu, cũng xin tất cả hãy tha thứ cho nhau!
 
Tôi muốn nói chung đến cả những người nhẹ dạ, hay vì một lý do nào đó không giữ được chút chí khí cần phải có, mà làm tay sai cho bọn cán bộ Cộng Sản, thì chúng ta nên ĐỪNG NHỚ ĐẾN NỮA!
 
Nói thế không phải là tôi đòi hỏi những cảnh đau lòng của những anh em bà con, thân nhân với những người đã chết như Trương Đăng Hậu tại Hà Tây, hay Trần Hằng tại Nam Hà.  Hãy tha thứ cho những người phạm phải lỗi lầm trong những cái chết đáng thương nhớ ấy!
 
Không dám đề cập đến những trường hợp này!
 
Tôi chỉ mong chúng ta hãy tha thứ cho những sai lầm đã xảy ra, để có thể đoàn kết trước các âm mưu thâm độc của Cộng Sản.
 
Riêng với những anh em đã phạm lỗi lầm!  Xin các anh tự biết, tự làm sao cho mọi người vui vẻ, chứ đừng nên nghĩ, lo, mưu này kế nọ nữa.
 
Tôi phải nói ra những điều vừa rồi, trước khi đi vào chương cuối cùng mà 13 năm đã chịu, trong đày đọa của Cộng Sản.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TIỂU MỤC 3
 
KINH NGHIỆM NẤU ĂN, MỞ QUÁN
 
 
Trước hết là kinh nghiệm nấu ăn
 
 
Dĩ nhiên ngày nay, trong chúng ta chẳng mấy ai còn không biết chút gì về nấu nướng.
 
Nhưng những điều nói ra sau đây tưởng là những điều có phần khá đặc biệt, mà tôi tin chẳng ai từ chối đọc cho biết.
 
Trước hết, ta thường nghe câu ĂN BẮC, MẶC KINH.  Hẳn nhiên phải hiểu rằng ĂN thì các món ăn người Bắc thường khá đặc biệt hơn, cũng như lối MẶC của người Trung, hay nói đúng hơn là người Huế có gì phải nói như vậy!
 
Người Bắc ăn uống rất cầu kỳ và ngon.
 
Nói ngay đến vấn đề nước chấm.  Món nào chấm với “nước chấm” gì là phải  “ĐÚNG”.  Không thể ăn chả giò, ăn bì cuốn, ăn bánh khói lại cũng cùng một thứ nước chấm!
 
Và, người Bắc có những món ăn không giống các miền trong.  Phải nắm đúng kỹ thuật, chứ không phải nấu sao cũng được.
 
Trước hết, phải nói là PHỞ!
 
Người Bắc có PHỞ, người Trung có BÚN BÒ HUẾ, người Nam có HỦ TÍU.
 
Mà nấu PHỞ là đòi hỏi khá nhiều kỹ thuật.
 
Vào trong một tiệm PHỞ mà thực khách chưa thừa nhận chủ nhân đã đến kỹ thuật cao trong việc “TẨY BÒ”  hết  “GÂY” là chưa đúng nghề nghiệp!  Nhiều tiệm trước đây đã không nắm vững kỹ thuật này nên chỉ áp dụng lối “VỚT BỌT” khi đang nấu hay cho vào đại hồi để bớt gây.
 
Như vậy là còn yếu về kỹ thuật.  Và khi gặp một thực khách đúng người Bắc, lại khó tính, thế nào cũng được mời lên cho một bài học “NGẮN”!
 
Vậy nấu PHỞ phải làm thế nào để khỏi “GÂY BÒ”.
 
Trước đây, các chủ tiệm PHỞ thường dấu nghề, khi sắp sửa ra tay là bảo người làm đi làm việc này, việc nọ, để khỏi thấy bí quyết của họ.  Xương bò nên cố mua xương ống chân, và tránh mua xương sườn, vì chỗ sườn thường có vị chát, thiếu ngọt.  Xương bò mua về rửa thật sạch, cho vào thùng cùng lúc bỏ các xách thịt mà ta sẽ dùng làm NẠM, CHÍN, GẦU lên trên để vớt ra khi đúng lúc.
 
Đổ nước xấp miệng thùng xương và thịt.
 
Và, đây là lúc thường dấu kỹ thuật!
 
Đổ vào trong thùng ấy khoảng một chén DẤM, rồi bắt đầu nấu.  Khi nước vừa sôi “TIM” nghĩa là chưa sôi “VÙNG”, ta đổ ra rửa sạch – đừng tiếc vì sợ mất nước ngọt!  Rửa sạch xong, cho vào thùng nấu thật sự.
 
Khi nấu chỉ cho muối,  (chứ chưa cho nước mắm vào)  củ gừng nướng, hành tây nướng và nếu có mùa xu hào thì cho xu hào vào.  Vài nơi nấu củ cải trắng cũng rất ngọt, nhưng phụ nữ rất ngại ăn củ cải trắng, nên họ hay vớt ra không cho thực khách thấy.  Chớ vội cho đại hồi, vì có số thực khách không chịu được mùi thơm của “bông đại hồi”.
 
Nấu độ 3 giờ sau thì coi chừng, vớt xách, thịt gầu và nạm treo cho ráo nước, còn xách thịt chín để thêm vài giờ sau.
 
Nếu nồi PHỞ này nấu để đến sáng mai mới bán thì độ 6 tiếng đồng hồ sau vặn lửa thật nhỏ, để đấy sáng ngày mai bắt đầu sử dụng.
 
Lúc sắp sửa bán, nồi này được vớt nước béo để riêng, cho nước mắm và nêm cho vừa.
 
Thế là ta có một thùng PHỞ đúng điệu!
 
Món thứ hai của người Bắc được sắp vào hàng sang trọng là món Gỏi Cá (cá sống).
 
Thường thì Gỏi Cá làm cá Hồng, bởi thịt cứng.  Cá được lóc thịt ra thật mỏng.  Xương, đầu, băm thật nhỏ để làm thành một nồi “Sauce”.  Ngon hay không là tại nồi “Sauce” này.
 
Cá được thái mỏng, dùng giấy “hút nước” sắp vào cho hút nước, để cá khô ráo, trộn thính gạo cho thơm.
 
Ăn Gỏi Cá là có nhiều rau thơm, nhưng không thể thiếu được món rau Mơ mà người Trung thường gọi là “Lá Thúi ****”.  Rau này dùng ăn thịt Cầy và Gỏi Cá.
 
Người Bắc còn một món ăn khá bình dân nhưng ngon.  Có thể nhậu, mà cũng có thể dùng ăn bún.  Đó là món “giả Ba Ba”.
 
Món này đa số người Bắc đều phải biết vì nấu thịt ba chỉ, tàu hũ chiên, chuối già còn xanh, mẻ và Ốc Bươu.  Điều tôi muốn nói ra đây là kinh nghiệm làm Ốc Bươu.
 
Ốc Bươu có quá nhiều, phải làm thế nào cho nhanh mà không đập vỏ?  Thường chúng ta lại hay được ăn món Ốc Bươu nhồi lá gừng.  Vậy làm thế nào để lấy ruột con Ốc Bươu ra mà không đập vỏ?  Bởi món Ốc Bươu lá gừng nghĩa là lấy Ốc Bươu ra rồi, chỉ lấy đầu con ốc, bởi ruột ốc thường đắng, nên bỏ đi.  Khi lấy đầu ốc rồi bằm với thịt, tôm, lót lá gừng vào Ốc Bươu nhận thứ thịt và đầu ốc bằm này vào, ta đậy cái vỏ ốc lại như cũ và hấp, ăn nhậu khá ngon.  Nhưng nhắc lại món này là để hỏi phải làm sao lấy ruột Ốc Bươu ra sống mà không đập vỏ?  Đấy là một kinh nghiệm!
 
Bạn hãy lấy đầu mũi dao nhọn khía nhẹ lấy cái nắp trên miệng con ốc để đấy, xong dùng ngón tay, hay một chiếc đũa nhỏ nhấn mạnh xuống chỗ mép con ốc, cho đứt hẳn cái “gân”.  Xong bạn nắm ốc lại lắc, lắc nhẹ vài cái, xổ ra rất dễ dàng.
 
Món giả Ba Ba như đã nói trên, là một món ăn tuy bình dân nhưng khá ngon của người Bắc.
 
Người Bắc có món PHỞ thì người Trung có món BÚN BÒ HUẾ không đòi hỏi kỹ thuật nhiều.  Điều ấy cũng đúng, nhưng không phải, nếu không biết qua thì khó có mùi vị của món này.
 
Nấu BÚN BÒ HUẾ là phải mua thịt bò nơi “bắp vải” nghĩa là “GÂN” nấu mới ngon.  Chân heo được nấu và trong khi đang nấu thì bỏ miếng thịt bò này vào luộc cho vừa tái – cốt để khi xắt lát thịt sẽ thẳng, đẹp chứ không nhụn lại như ta xắt thịt sống.  Đem thịt bò xắt xong cho xào với một tí ớt bột và sả.
 
Nhớ là không nên xào nhiều ớt qua, vì nếu người không ăn cay được, tô bún sẽ bỏ dở.  Ta nên xào riêng một số ớt, người nào ăn ớt nhiều cứ ăn, còn muốn đẹp thì trong nồi này cho vào một ít bột “điều” để màu nồi thịt đẹp.
 
Khi nồi thịt bò xào, nêm thấm đổ hẳn quá nồi chân heo nấu chung.  Nếu để bán, chứ không phải trong nhà ăn, thì sau khi nấu xong, vớt chân heo để riêng, có khách vào gọi hãy vớt ra cho vào nồi thịt cho nóng mà bán.  Ta phải làm như vậy vì nếu để tất cả chân heo trong nồi thịt, bán chậm, chân heo sẽ mềm nhừ ra ăn mất ngon.
 
Số Sả xắt nhỏ đã xào cùng thịt bò khi nãy, còn số Sả cây đập dập cắt bỏ chung vào nồi nấu cho thơm.
 
Người Huế thường nấu Bún Bò có “Ruốc” nhưng người Nam và Bắc không thích ăn “Ruốc”.  Ruốc cho vào chén đổ tý nước vào đánh rồi trút nước mà nấu, chứ không ăn xác ruốc!  Thường ăn Bún Bò Huế không có rau, nhưng sau này thấy nhiều tiệm lại cho rau, đó là không đúng như trước.
 
Rau rất cần cho mỗi thức ăn.  Ăn Bún Riêu phải có rau muống chẻ, ăn chả giò phải có xà lách rau thơm, và đặc biệt như ăn Mì Quảng thì nhất định phải có rau bắp chuối hột hay ít ra cũng là bắp chuối “Mốc” không bao giờ ăn bắp chuối già vì đắng.
 
Và chắc rằng trong những món ăn, thường nghe đến danh từ MÌ QUẢNG, mà nhiều người muốn hiểu đúng nghĩa là thế nào.  MÌ QUẢNG đây là MÌ QUẢNG NAM, chứ không phải Quảng Đông hay Quảng Tây bên Tàu.
 
Tại Quảng Nam có món ăn địa phương này rất đặc sắc.  Điểm quan trọng là đứng giữa ranh giới của Phở và Hủ Tíu.
 
Có người gọi là “Mì Gỗ”, ý nói Mì này cứng như gỗ!  Đây là loại bánh phở nhưng dày hơn, và thường khi thuê bánh tráng bánh, bỏ vào chút bột nghệ cho có màu vàng.
 
Tại Quảng Nam ngày xưa món này được áp dụng trong mọi thứ thịt.  Từ thành thị làm sang thịt heo “ba chỉ” nấu với tôm và thịt cua “Ráy” lấy nạc.  Hoặc tại Hội An thì có Mì Cua lột vỏ, và dù là cả thịt cá, thịt vịt đều có thể làm mì được.  Riêng nông thôn có cả mì thịt cá “Tràu” tức là cá “Lóc”.
 
Khi mua Mì, Bánh Phở về xắt nhỏ như bánh phở.  Trước khi xắt bánh người ta thoa một tí dầu để khỏi dính nhau.  Thứ đến là rau.  Phải có rau bắp chuối hột, hay ít ra là bắp chuối “Mốc”, xắt thật nhỏ, ngâm cho trắng.  Lúc gần ăn sẽ trộn vào một ít rau thơm (húng, ngò).
 
Quan trọng là nồi nước “Nhưn”.  Người giàu có thường làm nồi “Nhưn” ngon.  Mua xương heo hầm lấy nước.  Cua mua về luộc lấy thịt.  Cố lấy được những cái “càng” không bị bể, cho đẹp.  Tôm (tép) nhớ không lột vỏ, mà chỉ cắt đuôi, mõm.  Thịt heo ba chỉ xắt nhỏ.  Xong rồi xào nhưn.
 
Tôm, Cua, Thịt Heo đổ vào trong nồi nước hầm xương, nêm cho vừa ăn.  Nên làm vừa không mặn, vì chốc nữa khi ăn có nước mắm ớt tỏi, tươi mới ngon.  Nay có thứ bột “nêm” mì Quảng, lúc xào nhưn cho vào một ít rất đúng ‘điệu”.
 
Ngoài những thứ kể trên, phải có bánh tráng dày nướng, chanh xắt lát nhỏ, ớt xắt và nhất là có đậu phụng rang giã nhỏ.
 
Khi khách ngồi vào ăn, nhà bếp cần trụng số bánh và để ráo nước, đựng trong một đĩa lớn.  Nếu thực khách chưa biết ăn thì chủ nhà phải hướng dẫn cách ăn Mì Quảng.  Ăn bằng “Bát” hay “Tô” chứ không ăn bằng chén nhỏ.  Bỏ rau bắp chuối (có trộn rau thơm sẵn) vào dưới cùng.  Xong Mì (Bánh Phở) để lên vừa đủ để trộn, xong chủ nhà cho bưng nước “nhưn”” lên, thật nóng, chan nhưn vào tô.
 
Lấy cho đủ thứ, có Tôm, Cua, Thịt và bỏ đậu phụng, rau, ớt bẻ bánh tráng nhỏ trên cùng xong trộn thật đều và bắt đầu ăn.
 
Thấy chưa vừa miệng thì có sẵn một chén nước mắm. ớt, tỏi, chanh.
 
Khi ăn hết tô, còn nước ta đổ bỏ và làm lại tô khác.  Không tiếc nước còn lại, vì bắp chuối đã làm chát.
 
Ở Quảng Nam còn một món địa phương nữa là “Lòng Thả”.
 
Thịt gà sống thái tất cả thịt và lòng ướp trong tô, nhất là có vắt chanh cho tái thịt.
 
Xương gà, nấu thành một nồi cháo thật lỏng, và khi ăn bỏ thịt vào tô, cháo đang sôi và bóp bánh tráng nướng vào.  Thịt tai tái nhưng ăn rất ngọt.
 
Và cũng bởi món lòng thả Quảng Nam, tưởng cũng nên nói đến một món ăn mà dân nhậu thường đặt tên cho ngày xưa gọi là Maréchal Pétain (!).  Cũng không biết từ đâu mà có danh hiệu này, nhưng về sau được gọi là HỒNG HÀ TẮM LỬA.  Tên này thì dễ hiểu, vì khi châm lửa lên giống như Ngài Hồng Hài Nhi đang trong trận lửa.
 
Món này cũng giống như món “Lòng Thả” của dân Quảng Nam, nhưng tác dụng là khi bợm nhậu ngà ngà rồi, chủ nhà cho ăn để giảm bớt cường độ “Rượu” say, mà có thể tiếp tục cuộc vui.  Đấy là thịt gà và lòng gà được thái thật mỏng, ướp vào một tô bằng “nhôm” nhưng không cho nước mắm vào! đó là điểm cần nhớ!  Khi sắp được mời, cho vào trong tô “dấm” vừa xắp xắp thịt!  Bưng để trên bàn, tô thịt được đặt trong một cái đĩa và trên đĩa đổ Alcool.  Bắt đầu ta châm lửa cho Alcool cháy, cảnh giống như Hồng Hài Nhi trong lửa!
 
Chỉ vài phút sau dấm và thịt trong tô bắt đầu sôi.  Thực khách được quyền dùng đũa trộn tô thịt và múc vào chén riêng, có cả nước, nhậu.  Dấm bây giờ không còn chua mà rất ngọt, thứ nước dấm này sẽ làm cho bợm nhậu giảm cường độ “SAY”.
 
Lại một món nhậu khác, tùy chữ muốn đặt cho tên gì hấp dẫn cũng được và nhất là càng không có nghĩa càng làm cho thực khách thắc mắc.
 
Đấy là hột vịt lộn, vừa áp mề, nghĩa là không già quá, mà cũng không còn quá non, luộc xong đập ra chỉ lấy hột vịt, nước ngon không dùng!
 
Lúc thực khách sắp sửa dùng đến thì hột vịt được bỏ vào trong một tô bột, để “phít”, có trộn hột gà đánh sẵn.  Gắp từng hột vịt có bột, thả vào trong một chảo dầu đang sôi, chiên vừa vàng, gắp ra để vừa nguội, cắt hai sắp vào trong một đĩa có trình bày rau răm, muối tiêu.  Món này ăn vô cùng hấp dẫn.
 
Người Trung lại có một món nhậu gọi là “TAM HỮU” tức là có “Cả Ba”, ý nói rằng nếu trong một đĩa “GỎI” ta gắp được món này, mất món khác, nhưng Tam Hữu là có đủ. 
 
Một con Tôm nhỏ luộc kèm theo một cọng hành lá cũng đã luộc và một lát thịt heo ba chỉ, nếu cần cho thêm tí bún và lấy sợi hành luộc cuộn tròn những món ấy lại để thực khách chấm vào một chén nước chấm chua ngọt.  Đó là món Tam Hữu của miền Trung.
 
Nói đến các thức ăn khác thì miền Trung còn Bánh Lá Chả Tôm, Bánh Khói, hay miền Nam có Bò Bảy Món, Tạp Pí Lù, Cá Lóc nướng v.v. . . thì ăn sao chẳng phải nhớ thương!  Chẳng phải thèm thuồng!
 
Nhưng nay, khi tha hương như tại Mỹ chúng ta cũng không khó khăn gì khi muốn đến các tiệm ăn người Việt.  Đủ cả chưa nói là không bị giới hạn mùa này mới có thức ấy, mùa kia mới có thứ nọ.  Ở MỸ bất cứ mùa nào cũng có, dù là những thứ khó tìm, nếu không phải đúng mùa như Sầu Riêng, Măng Cụt v.v. . .
 
Vậy chỉ trình bày những món hơi lạ để làm vui!  Hoặc để cùng làm cùng nhậu, vì sao, tiệm thường quảng cáo thì hay mà ăn thì vẫn chưa mấy vừa ý!
 
Bây giờ xin nói đến những kinh nghiệm mở quán.  Kinh nghiệm thông thường mà người muốn mở Quán bắt buộc phải lưu ý trước hết là gì?
 
Phải xem thực khách của vùng này có đáp ứng với việc mở Quán và bán món ấy không?  Có nhiều Quán đã cùng bán thức ấy trong vùng này không?  Có chỗ đậu xe không?
 
Xưa kia trong khi mở Quán, tôi thường kể cho bạn bè nghe rằng mở quán phải có đủ 5 điều kiện:
 
1-     Quán phải nấu ăn ngon.
 
2-     Quán không bán giá quá đắt, so với nơi khác.
 
3-     Quán phải sạch sẽ, mát mẻ.
4-     Và, người Chủ quán thường phải vui vẻ.  Vì người Chủ quán mặt mày bậm xị, lầm lì hay làm cho khách chán nản, nhất là ngày hôm ấy ra đi làm ăn, mua bán bị thất bại, thường đổ “Sáng nay ghé ăn thấy mặt Chủ quán Cô hồn, nên thất bại”.
 
5-     Cuối cùng, nếu là quán nhậu thì nên có vài thiếu nữ vui vẻ, dễ coi, nhưng cần dặn các cô không vô tình dành cho một thực khách nào đặc biệt hơn người khác, dù chỉ một cái cười.  việc này sẽ dễ gây nên cảnh đập phá Quán, chứ chưa nói là ngày xưa “Lựu đạn nổ”.
 
Kiểm lại những tiêu chuẩn kia để xem mình có đáp ứng được phần nào chưa? 
 
Và, quanh vùng nếu có một Quán cũng cùng bán món ăn như của ta, thì người chủ quán nên tạo một cơ hội đến ăn thử để so sánh với Quán mình.
 
Mỗi khi làm xong, nấu xong, luôn luôn nếm thử để xác định trước khi bán.
 
Thực khách đến ăn, nên cố để ý đến, để tránh tình trạng người khách cho rằng ta chẳng để ý đến họ.  Và việc chú ý này còn có một tác dụng khá quan trọng, là khi có người muốn phá hoại, khi gọi thức ăn lên, bỏ vào một con ruồi chết rồi đổ rằng Quán ta làm ăn “bê bối”.
 
Việc quảng cáo và nhờ khách giới thiệu cho cũng đứng vào hàng đầu của việc mở Quán.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NGHĨ GÌ VỀ CHUYỆN CHÍNH PHỦ  (3)  BA BÊN?
 
 
Lúc này là lúc chuyện chiến trường như đã đi vào giai đoạn kết thúc, mà ngoài chuyện ông Vũ Văn Mẫu đã đi nhiều nơi để nói chuyện “Phải có một tình trạng chuyển tiếp” trong ấy có chuyện ông cùng phái đoàn về ngay Chùa Tỉnh hội Phước Tuy chủ tọa cuộc họp.  Không còn biết sợ chính quyền nữa, nên cá nhân cũng lên Chùa Vạn Hạnh (Xã Phú Mỹ) tổ chức nói chuyện, mà sau này mới biết là mấy đám cán bộ trong núi cũng đã ra nghe.
 
Ngoài những chuyện của ngày tranh tối tranh sáng ấy, tôi lại thường về Saigon thăm dò tin tức.  Ngoài việc lại anh Tuyên là ghé anh Lý Trường Trân, lúc ấy đang là Tổng Thư ký Khối Dân cử Ấn Quang (Hội đồng Tỉnh, Dân Biểu và Nghị Sĩ) để hỏi cho ra sự việc.  Biết anh Trân liên hệ rất chặt chẽ, chứ không nói “kẻ trong cuộc” đã cho biết đến chuyện chẳng thế nào tránh việc “Chính Phủ Ba Bên” do Thầy Trí Quang được Đại Sứ Pháp Marillon làm trung gian, để tạm thời sắp xếp tình trạng.  Thật ra thâm tâm chẳng sao tránh khỏi nghi ngờ xảo quyệt, gian hùng của Cộng Sản, nhưng đúng là lúc “gái nhà đã lỡ chửa hoang” chỉ còn biết che dấu cho làng xã, ba bên bốn phía khỏi nghe biết thêm nhục nhã, chứ chẳng vinh dự, thơm tho gì.  Nhưng không muốn nói ra tâm trạng này mà bạn bè chẳng vui, chưa kể nói để làm gì, khi mà thâm tâm uất ức đến tận cổ, chỉ còn nghĩ đến chuyện làm một cuộc lật đổ đám Cộng Sản, qua liên lạc và vận dụng được thành phần người Nam trong cái Chính Phủ Giải Phóng.  Tức thì nghĩ vậy thôi, chứ nguyên tắc của sự gian hùng không thiếu trong Cộng Sản.  Và Hoa Kỳ, Chính Phủ Miền Nam đã cao bay, xa chạy, thì ước mơ của mình phải chăng chỉ là ảo vọng!
 
Quả nhiên việc dự đoán đã hoàn toàn đúng khi mà sau này, lúc Cộng Sản vào vội tống ngay Marillon ra khỏi Việt Nam, nuốt ngay lời hứa “Cuội” và tuyên bố là đánh thắng, khi cho xe húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập.
 
 
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG VII
 
CÂY MUỐN LẶNG, NHƯNG GIÓ KHÔNG NGỪNG
---------------
 
13 Năm tù đầy bởi Cộng Sản:
 
 
Sáng ngày 30 – 4 – 1975, từ mờ sáng đã thấy lính Địa Phương Quân trên Tiểu Đoàn lặng lẽ kéo về Bà Rịa.  Tôi vào lấy xe cùng vợ lái về Tỉnh xem sao và việc trước tiên là vào Trại gia binh Trung tâm Huấn luyện tỉm biết tin tức chú em vợ (Đại Úy Trường).
 
Cảnh vật hoang tàn, nghĩ rằng gia đình chú chắc đã chạy về bên gia đình vợ ở Suối Nghệ, đành về lo liệu chuyện cá nhân thôi.  Nghĩ đến chuyện anh Trần Thích đã vào sống trong Mật khu Hắc Dịch, có nói ở một đoạn trước, mà mình lo chuyện chẳng lành,  nên yên lặng toan tính.  Nhớ lại trước đây hai hôm, bao nhiêu bạn bè vượt biển ghé lại rủ cùng đi, mình đã khẳng định không đi, đã lập luận lần này Cộng Sản sẽ không giết bởi họ phải và mong vào Liên Hiệp Quốc, đã mạnh miệng rằng “quên với chuyện tù đầy” thì nay tại sao còn lo nghĩ. 
 
Dân trong Ấp kháo nhau là Cách mạng (!) đã giải phóng hoàn toàn, đã đánh chiếm Long Thành, ở hướng trên, và vào chiếm Tỉnh lỵ Bà Rịa, ở hướng dưới, còn chúng ta ở đoạn giữa này, không lo gì, mà đám cán bộ từ lâu trong núi đã từ từ kéo ra.
 
Họ thông báo dân chúng may cờ, cả cờ Việt Minh và cờ Mặt trận Giải Phóng, treo ngay sáng hôm ấy.
 
Thế là cuộc đổi đời bắt đầu!
 
Lúc đám  Cán bộ trong núi ra, chỉ vỏn vẹn ba tay, hai người địa phương và một Cô trước là học sinh ở Saigon, nghe tuyên truyền hay bất mãn gia đình theo họ vào núi, nay cũng ra, đi lại thăm từng nhà.  Những tay sống trong Ấp nhưng từ lâu có công với họ như đem tin tức vào núi, mua thức ăn, thuốc cung cấp cho họ, hay đã chống đối với chính quyền Xã, Ấp tại đây, đương nhiên đã là những tay sắp đặt nhau công khai nắm lấy chính quyền Xã, Ấp.
 
Cô sinh viên nói trên vào thăm.  Cô nhìn ra tôi ngay và trong câu chuyện đã nói “Sống trong gọng kìm của Ngụy (!) mà Bác cũng thật gan dạ, dám đương nhiên chống đối chúng.  Hôm Bác nói chuyện ở Chùa Vạn Hạnh, Phú Mỹ, tôi có ra nghe”.  Tôi cười nhưng không trả lời vì nghĩ rằng chắc hôm ấy, sau khi nghe câu chuyện của kẻ dám đả kích chính quyền họ mới nghĩ rằng cái Dân Chủ của Chính quyền Miền Nam không giống như họ lầm và họ nghĩ!
 
Rồi ngày hôm sau, một thanh niên ở Ấp Công giáo gần đây đến thăm.  Có lẽ chú ấy lo ngại cho chuyến đi tù của tôi lần này, nhưng thấy ông già quá yên tâm, bình tĩnh, chú đã nói một câu chuyện khá hay.  Chuyện này đã có nhắc trong lời nói đầu của Tập I, nơi trang14, nay xin phép được sơ lược:
 
Trong tình vong niên, ngày Bác ra đi, cháu đến thăm và chẳng có gì, chỉ có mẫu chuyện để biếu Bác làm quà.  Bởi thấy Bác tuy tuổi cao, nhưng lại thích nghe tuổi trẻ tâm tình, cháu nghĩ, đây là mẩu chuyện rất có ý nghĩa.
 
-         Hồi xưa có một Cụ Đồ trong lúc đang nằm trên “sập” xem sách, thì một em bé lối xóm vào chắp tay thưa “Xin Cụ tí lửa ạ!”  Cụ Đồ nheo mắt nhìn, thoạt nghĩ bụng, sao bố mẹ nó không dạy mang theo cái gì để lấy lửa.  Nhưng say mê xem sách Cụ chỉ dặn với nó “vào trong nhà mà lấy!”  Rồi Cụ tiếp tục đọc.  Vài phút sau, em bé trở ra cúi đầu thưa “Lạy Cụ con về ạ!”  Cụ Đồ chồm lên, nhìn và vô cùng ngạc nhiên khi thấy nó đã vốc một nắm tro nguội bỏ lên trên một cục than đỏ.  Cụ nghĩ thầm “Rõ còn nhỏ mà khôn hơn mình!”  Anh bạn trẻ chấm dứt và thưa:
 
-         Câu chuyện chỉ có thế thôi ạ!  Câu chuyện này đủ nói lên lối sống của Bác – tuy cao tuổi, nhưng thường chịu lắng nghe chúng cháu tâm sự. Tôi bật dậy khen:
 
-         Hay!  Hay đáo để!
 
Câu chuyện này mãi về sau và ngày nay chẳng sao quên được.
 
Chúng tôi kéo về Saigon chơi mấy hôm rồi ra, bởi còn lo thu xếp vườn tược, vì chắc chẳng còn mấy ngày là đi Tù.
Ngày nào cũng có bạn bè ghé lại rủ cùng ra Vũng Tầu để đi.  Nhưng nhìn qua lối rủ rê của Bạn không tránh một cảm nghĩ tự ti, tránh đâu bạn bè không lại nghi ngờ mình sống một nơi thiếu an ninh như thế này, bởi như đã nói ban ngày thì sợ đám Cảnh sát Quốc Gia đến hỏi, để rồi mượn chút ít, mà mình khó từ chối, ban đêm – nghe chó sủa là đã ren rén bò ra khỏi nhà với quả lựu đạn trên tay.  Nhưng đã nói “không đi – vì chắc chắn lần này Cộng Sản bởi cần vào Liên Hiệp Quốc sẽ không giết bừa bãi, còn chuyện tù đầy chẳng đáng lo sợ, bởi ngay từ ngày đi tù lần đầu tiên khi mới hai mươi tuổi đầu đã sẵn sàng chấp nhận với lập trường làm chính trị không sợ ở tù kia mà.  Nên ở lại dù có chết, thì tuổi này cũng vừa rồi.
 
Trong khi đó khó quên mẩu chuyện là vài năm trước đây, nghe anh em kháo nhau anh Đỗ Hưng Long, bạn với ông Tường chấm số Tử vi rất hay, nên đến nhờ anh làm cho một lá số.  Sau mươi hôm đến lấy về thì những điều về quá khứ rất đúng, nhưng lạ lùng là anh chỉ làm tới tuổi 52 rồi không nói gì thêm.  Tôi nhớ rằng khi còn nhỏ Mẹ có nhờ thầy làm số thì bảo là tuổi thọ rất cao sao nay lại chỉ có 52 tuổi?
 
Nay câu chuyện mới vỡ lẽ!  Ta phải chết chăng?
 
Không phải thế!  Đáng lẽ phải chết!  Vì Cộng Sản không thể nào tha thứ để tôi sống!  Trong khi chống đối công khai, mà theo bạn bè thì ở vào một Trại khác, nhất là những trại Quân Đội miền Núi nhất định họ không bắn cũng sẽ làm cách khác cho chết chứ không bao giờ để sống.
 
Nhất là xem suốt 13 năm này khi người đời thường bảo “ĐƯỢC BẠC LÀ ĐAU, ĐƯỢC VÀNG LÀ CHẾT” mà tôi đã được gần 3 lượng vàng, sao lạ vậy?
 
Hôm từ Saigon chơi, ra đến Trại một em bé cũng từ Saigon ra báo tin với Cha em về đi cải tạo đã lớn tiếng từ ngoài đầu cổng “Tất cả phải về đi cải tạo kể cả Đảng Trưởng, ý em muốn ám chỉ tôi vì em thường nghe Ba em nói là tôi thuộc diện “Đảng Phái”.
 
Hỏi lại em rõ ràng và vào thu dọn đồ đóng cửa, về nhờ Chị tôi ra giữ trại để đi tù.  Tôi cùng vợ đi xe đò về Saigon.  Lúc xe vừa đến Ngã Tư Hàng Xanh dừng lại, cho chúng tôi bước xuống, đi được vài bước, vợ tôi thấy một vật giữa đường “chói sáng”.  Cúi xuống lượm lên, thì là một cái đồng hồ phụ nữ rất xinh.
 
Vợ tôi an ủi:  - Thế là ơn trên cho tiền để anh đi rồi đấy!
 
Về đến nhà anh bạn Lý Trường Trân, ghé vào để thăm dò sự việc, trước khi đi Tù.  Anh kể cho nghe hôm qua có đến anh Trần Văn Tuyên thì anh chỉ thở ra mà hẹn cùng nhau đi Tù thôi.
 
Anh Tuyên còn kể rằng hôm qua Tòa Đại Sứ Mỹ có điện thoại để hỏi anh có đi không sẽ giúp phương tiện, nhưng anh từ chối, họ có hẹn 2 giờ để suy nghĩ nếu quyết định đi thì họ sẽ cho xe lại đón.  Nhưng anh đã cảm ơn và ở lại.  Tôi vô cùng sung sướng khi nghe tin này, bởi anh Cả còn nghĩ vậy thì việc mình ở lại đâu phải là sai!
 
Chúng tôi đem cái đồng hồ ra xem lại, thì ra là một cái đồng hồ hiệu LONGINE khá đắt tiền.  Anh Trân nghe tôi đi Tù không có tiền đóng, nên vui vẻ cho 15.000 đồng để đóng tiền và khuyên để đồng hồ lại cho vợ bán mà tiêu dùng.
 
Về nhà Bố vợ sống hai ngày.  Đúng như họ đã tuyên bố sáng hôm sau đến Trường Nữ Gia Định trình diện.
 
Trước khi từ giã vợ, chúng tôi vào ăn một bữa Phở Quyền chia tay.  Nhớ hôm ấy là ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, vừa ăn Đoan Ngọ tại nhà!
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Vào trình diện tại Trường Nữ Gia Định
 
 
Sau khi xuất trình giấy tờ là dứt khoát không còn được trở ra, yên trí vào trong cùng anh em.
 
Thấy gần như đủ mặt, nhất là Hệ Phái Thống Nhất Việt Nam Quốc Dân Đảng, chỉ thiếu có một mình Luật Sư Phan Thế Ngọc, Ủy viên Tư Pháp, và anh Nguyễn Mậu, Phó Chủ tịch.  Hỏi ra thì Cụ Vũ Huy Chân được họ cho về vì Cụ quá già.  Nhìn qua Hệ phái Vũ Hồng Khanh thì có Chủ Tịch, Phó Chủ tịch, nhưng cũng còn thiếu nhiều, trong khi ấy Hệ phái Miền Nam không có anh Nguyễn Hòa Hiệp – Chủ tịch nhưng có Cụ Phó Chủ tịch, Anh Tổng Bí Thư Trần văn Tuyên, anh bác sĩ Trương Như Quýnh và vài người nữa.  Nhìn qua cánh Đại Việt Cách Mạng thấy rất ít, Đại Việt Cấp Tiến tương đối nhiều hơn còn thì khá nhiều Đảng gần như chỉ có Tổng Bí Thư mà chẳng thấy người nào khác.
 
Đến bữa ăn ai cũng ngạc nhiên, vì thấy Nhà hàng Đồng Khánh và Majestic đến dọn, cũng có khăn bàn, có người nhà hàng đưa đến thức ăn không tỏ tí gì là đi Tù, dù không sang trọng, như đi nhà hàng.
 
Thật chẳng nghĩ được là họ sẽ xử trí ra sao, mà lại cho nhà hàng đến lo cơm nước!
 
Nhưng, không phải lâu!  Chỉ một ngày sau, tất cả được chở về Trại Long Thành, nơi trước đây là Trại Cô Nhi.
 
Trại Long Thành chia thành 5 khối ở riêng nhau:
 
-         Khối Đảng Phái
 
-         Khối Hành Chánh – rộng và dài hơn
 
-         Khối Cảnh Sát
 
-         Khối Tình Báo
 
-         Và, nhà dành riêng cho Tù Nữ
 
Vào đến nơi, họ đã chia thành từng Tổ, Đội và đã nhắm người sẵn, theo trong hồ sơ và có lẽ là theo những người được gửi gắm, thế lực (!)
 
Hằng ngày cử người xuống nhà bếp lãnh cơm, cháo.  Thời gian đầu, họ giao cho một số nhà thầu là người Chợ Lớn, nhưng dĩ nhiên cũng là những kẻ có công với Cộng Sản trước kia.  Họ tổ chức bán “Căng tin” để anh em có tiền ăn uống tha hồ, nào là Vịt quay, La ve, Cà phê sữa, Hủ tíu v.v. . .  chỉ có những người như tôi thì thủ phận, ngoài cơm lãnh nhà bếp.  Điều cảm động là mỗi lần đi lãnh cơm, thấy con người trước đây không lâu mình gặp không được bắt tay v.v. . .  vì đang bị Tù, là Biện Lý Trần Thành Đô của Tòa Án Bà Rịa, thì nay anh cũng đi khiêng cơm cũng tay nắm cục cơm cháy ăn ngon lành!
 
Ngoài việc đọc báo lãnh cơm là đi lao động – không có chút gì đáng kể so với tôi, nhưng nhiều anh đã cảm thấy lo sợ bởi trước đây quen lối sống “Kẻ hầu người hạ” nay sao khỏi than Trời trách Đất.
 
Nói như vậy, là bởi ngay đây, cũng đã có người thất chí nổi điên, tự đào một cái lỗ nhảy xuống lấp đất lại, hay một người nhảy lên nóc nhà đứng la như điên.
 
Trại này có một anh bạn nguyên là Cảnh Sát, to lớn vô kể, khoảng 120 cân, Anh không thể nào ngồi trong xe thong thả, không thể cùng ăn một tiêu chuẩn như chúng tôi.  Bạn bè kể, nghe rằng lúc còn ở quê nhà, anh có thể một mình ăn hết 5 ổ bánh mì lớn và hai con vịt quay một cách thong thả.  Thế là Trại báo cáo và cho anh được lãnh tiêu chuẩn nhiều hơn.
 
Tôi thường đi lãnh ăn chay, mặc dầu lúc ấy tôi chưa ăn chay trường, mà chỉ ăn 10 ngày trong tháng.
 
Một hôm, đi lãnh phần ăn, thấy hai em Nữ Sinh trước học Gia Long đang phát thức ăn chay, nghe cũng cùng tên với anh Nguyễn Vỹ nên tưởng tôi làm báo.  Các em hỏi và khi biết rằng trên Khối này cũng có Nguyễn Kiên Giang, nhưng không phải Kiên Giang Cộng Sản các em muốn gặp.
 
Lên bảo với Kiên Giang không Cộng Sản, xuống cho các em gặp vì nghĩ may ra có cơ hội liên hệ ra ngoài.
 
Mỗi chiều trước giờ vào ngủ thường ra vườn ngắm xe chạy, lại nghĩ đến cái vườn Núi Ông Trịnh mà nhớ thương da diết!
Anh em thì trong lúc lao động trồng rau muống để bán lại cho các Khối khác mua thêm Cà phê, thức ăn.
 
Có anh bạn trong Khối, anh Thạch Kiên thi sĩ và là Ủy viên Báo chí của Hệ phái phụ trách ở nhà không đi lao động.  Anh chỉ lo lặt rau muống, luộc cho anh em.  Thế mà đã than – giọng nhà thơ – rằng mỗi sáng vừa mở mắt dậy sờ vào trán là thấy ngay “Đọt bông rau muống mọc ngay ở trán!”  Anh em nghe chỉ cười, vì trách anh làm gì cho tội nghiệp.  Có  người thấy thương hại đưa anh mượn tiền uống cà phê anh lại than rằng “Sau này ra đời bạn bè đến đòi nợ này cũng đủ chết!”  Rõ đáng thương, vì bạn bè đã thương giúp, thì ai lại đến nhà đòi mà anh lo sớm thế!
 
Đến một hôm cả trại bầu người hướng dẫn canh nông, trồng trọt, thì tôi lại được anh em đề cử.
 
Chiều ra sân chơi tôi hỏi anh Trần Ngọc Châu ở Khối Hành Chánh là không hiểu tại sao nhiều anh em cả Khối Tình Báo hay Công An có biết gì tôi đâu, sao lại bầu tôi?  Anh Châu cho biết là họ nghe làm Trưởng khu Dinh Điền nên cứ nghĩ anh thành thạo hơn mấy ông Kỹ sư Canh Nông nên bầu thôi.
 
Đến một hôm, tôi hướng dẫn trồng rau cho mấy chị Khối Phụ nữ.  Có chị nguyên là Dân Biểu Tỉnh Biên Hòa đã hỏi – rau muống trồng bằng gì?
 
Tôi muốn bật cười vì câu hỏi ấy, nhưng nghĩ “Cô này chắc ở nhà cũng chẳng hề bếp núc gì, thì làm sao biết được rau muống trồng bằng gì.”
 
Giải thích và phân tách cho Chị biết trồng Hột thì sao, trồng Đọt thì sao, trồng Gốc thì sao.
 
Đến mục hướng dẫn trồng hành.  Khi nghe bảo là hành phải được cắt bỏ 1/3 chót trên, thoa tro vào trước khi trồng, nhưng vì tiếc của tôi dặn thêm:
 
-         Khi cắt bỏ đọt trên 1/3 ấy các Chị dành lại cho tôi.
 
Thế là các Chị phá lên cười mà cho rằng tôi muốn lấy cái ấy dầm dấm để ăn, chứ không hiểu rằng cắt để củ hành “tức” mau nẩy mầm.  Còn việc thoa tro là để tránh tình trạng những củ yếu quá sẽ thúi sớm.  Còn việc xin các đọt non ăn tôi không chối cãi, nhưng không phải vì mục đích ấy mà buộc các Chị phải cắt bỏ.
 
Tuy thế, các Chị cũng thông cảm và làm theo yêu cầu của tôi.
 
Sống tại Long Thành vài tháng sau, là bỗng một hôm vào gần chiều có lệnh nghe điểm danh số dẫn ra xe.
 
Anh em tha hồ bàn tán.
 
Nhưng hình như cũng có vài anh thạo tin “mò nơi Cán bộ” biết rằng số ra xe sẽ được chuyển về Trại thủ Đức.  Trong số ra xe có tôi.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Xe chuyển về Trại THỦ ĐỨC
 
 
Xe chuyển về Trại gần chợ Thủ Đức, trước đây là nơi giam giữ Tù Nữ.
 
Cũng lại chia thành từng Khối, có Hội trường.  Trại Trưởng trại này là một chú Cộng Sản “Nón Cối Dép Râu” của Quảng Ngãi, nhưng kèm theo có một anh Chính trị viên, có vẻ khá hơn, gọi là anh Tư, người miền Nam.
 
Đây là giai đọan chuẩn bị để rồi đưa chúng tôi đến nơi giam giữ cuối cùng – sau này mới biết là ra Bắc, nên họ tranh thủ chứng minh là họ có đủ tài lãnh đạo chúng tôi.
 
Và, thỉnh thoảng lại có một vài chú Cán bộ từ ngoài Bắc đưa vào thăm dò.
 
Chính vì vậy mà một hôm tôi đã làm cho đám này sáng mắt, bỏ thói coi thường chúng tôi.
 
-         Được biết anh là người khá lịch lãm, nhiều kinh nghiệm nên tôi mời anh lên hỏi vài chuyện!
 
-         Vâng, Cán bộ cứ hỏi!
 
-         Anh hãy cho biết cảm nghĩ về việc Cải Tạo của Chính Phủ và Đảng đối với các anh hiện nay!
 
Muốn chú ấy không ngờ rằng tôi không cần suy nghĩ:
 
-         Chắc các Ông nghĩ rằng Cải Tạo là làm cho con người của chế độ cũ sẽ thành ngoan ngoãn hay sẽ sai bảo gì cũng nghe.  Chứ chắc chắn không bao giờ các ông nghĩ rằng sẽ biến họ thành những người như các ông được.  Tôi chắc điều ấy nhưng tôi nghĩ khác các ông sẽ thỏa mãn là trả được món thù để hả lòng tức giận.  Tất cả đối với tôi đều không là cái gì được cả! 
 
Biến chúng tôi ngoan ngoãn thì không bao giờ, trừ ra số người vì quá sợ sệt nhưng chỉ là lúc đầu thôi chứ gặp cơ hội là họ sẽ cho các ông thấy sự thực.  Bảo gì họ cũng nghe à!  Nhờ để làm thỏa mãn các ông, nhưng lòng căm hận không thể nào tránh khỏi.  Chỉ có việc trả thù cho thỏa lòng thì đúng hơn!
Nhưng các ông đã hỏi lại hỏi đúng tôi người không bao giờ chịu nói dối.  Tôi xin nói thật với các ông rằng:  các ông giam giữ lâu sự đau lòng sẽ xảy đến . . . gia đình tan nát là căm thù càng chồng chất thôi.  Còn như tôi vừa nói là các ông chỉ cần trả thù và càng thấy chúng tôi càng đau khổ là các ông xem như thỏa chí đã trả được hận ấy.
 
Thấy nét mặt anh này hoàn toàn khó chịu gần như không muốn nghe nói nữa, nên kết luận sớm cho xong.
 
-         Mà, quả thật các ông chỉ chờ chúng tôi rên xiết than khổ.  Chắc chắn trong số ấy không có tôi.  Tôi đã thề từ ngày ra làm chính trị là không sợ ở Tù, và ở Tù là không sợ cực, không than khổ.
 
Tôi cười một cách kiêu mạn rồi tiếp:
 
-         Các ông đổi danh từ cho vui gọi là Cải Tạo chứ cái gì là Cải Tạo.  Ở Tù thì nói ở Tù cho dễ nghe!
 
Hình như nhớ sực lời Đảng dạy không tỏ vẻ tức giận, mà im lặng vài phút, rồi trả tôi về phòng.
 
Câu chuyện này được anh em biết ngay và chiều hôm ấy Mai học Dược, Khối Hành Chánh đã gặp:
 
-         Sáng nay vừa cho nổ “quả bom nguyên tử” phải không?
 
Tôi cười:
 
-         Phải nói ngay trong những ngày đầu này chứ không thể để họ chủ quan rằng đã lừa được bọn chúng ta.
 
-         Nhưng phải đề phòng bọn chó má!  Và nhất là trong anh em cũng nhiều xao xuyến rồi đấy.
 
Đề phòng là vừa!  Anh Dược dặn thêm.
 
Trước sự hoang mang của anh em, tôi nghĩ cần giữ nét mặt bình thản để tất cả tạm tin tưởng, nhất là lúc đang vừa lo sợ vừa thương nhớ gia đình.
 
Nằm chung một Đội hầu hết là anh em Dân Xã Hòa Hảo (trừ anh Cầm), đủ mặt từ các anh Lâm Thành Nguyên, Trương Kim Cù, anh Lài, anh Phẩm v.v. . .  và vài anh khác như Lê Ngọc Chấn, Trịnh Quang Quỹ.
 
Đáng thương tâm nhất là anh Nguyên.  Trong lúc bệnh càng ngày càng nặng nên thường đòi ăn những thứ tai hại, mà anh em nghĩ chắc anh chẳng sống được bao lâu nên những vật từ gia đình gửi vào, để anh ăn tự do, không kiêng cữ.  Còn anh Trương Kim Cù thì tai điếc chẳng ý thức được những điều anh em trong Đội khó chịu.  Mỗi tối, khi anh em đã ngủ yên, nhất là lúc gần sáng anh dậy soạn đồ để đi vệ sinh, lôi giấy ni lông sột soạt làm anh em mất ngủ, nhưng nào có hay biết.  Hôm sau, tôi phải dẫn anh ra sân ngồi chơi, nói thật to giải thích cho anh hiểu.
 
Trại Thủ Đức ăn uống đã bắt đầu thấy tệ.  Mỗi người nhận được một gô cơm, nhưng thức ăn thì chỉ một tí thịt hay cá chừng bằng ngón tay cái.  Ăn đủ hay không mặc kệ, họ chẳng cần biết.  Cụ Trần Trung Dung giàu có như vậy, nhưng nay chưa có liên hệ để nhà gửi quà cho, nên mỗi lần anh em có tiền mua chuối ăn, để dành biếu Cụ.  Nghĩ rằng giàu có như Cụ, bạc đốt chết người nay cực khổ như vậy thật đáng thương hại.
 
Nằm soát xét lại Đảng phái lúc này, mới thấy cái miền Nam chúng ta quả đáng tội, để cho chó nhảy lên bàn thờ là đúng!
 
Ai đời một tên ma cô tự khoác cho mình cái lốt “lãnh tụ” đã dựng bảng, kết bè cùng một số người tại Khánh Hội rồi hôm nay cũng mang nón vào Tù.
 
Một thời gian không lâu, Trại đề cử trên mười người ra đi lao động.  Luôn luôn hai tiếng Vinh Quang đã làm cho anh em khó chịu, tuy nhiên ở nhà mãi cũng thấy chán, nên cứ trông được ra ngoài cho thoải mái.  Vì vậy khi nghe sẽ có trên 10 người được đề cử ra vườn trồng rau và dọn dẹp xung quanh ai cũng chẳng từ chối.
 
Và, 12 người được đề cử ra làm, trong số đó tôi được cử làm hướng dẫn trồng trọt, còn anh Đỗ Như Thân là Tổ Trưởng.
 
Mỗi sáng tên Sáu, người Quảng Ngãi, Cán bộ “Dép râu nón cối” dẫn ra vườn giao công tác.
 
Khi ra làm, mới biết rằng có một phòng nhốt anh em bị bắt sau ngày trình diện hết hạn, trong đó có anh Nguyễn Mậu. Phó Chủ tịch Hệ phái Thống Nhất chúng tôi và một số đông mà tôi không quen biết.
 
Đây là khu C.  Thường lệ, đến nửa buổi tên Sáu cho cử một người vào nhà bếp xin cơm cháy.  Nhưng y không gọi là “cơm cháy” mà bảo gọi là “ngũ cốc”.
 
Rõ bọn này quái dị, cơm cháy thì cứ nói cơm cháy!  Lại thích dùng danh từ cho đẹp!
 
Chúng tôi lấy cơm cháy ra ăn để tiếp tục làm.  Nhưng tôi vì răng yếu không ăn được, nên thường lấy phần mình, thu dấu đến khi về tìm cách “vứt” vào cho anh em Khu C này.
 
Đến khi Trần Thế Minh, Thượng Nghị Sĩ “Tâu trắng” biết được, thường yêu cầu tôi đem về cho anh, bởi anh to sức, ăn nhiều, mà với tiêu chuẩn của Trại không đủ no.
 
Vì vậy nghe đâu sau này khi bị đưa ra Bắc anh đói quá, ăn”sắn” sống và bị trúng độc, chết không cứu kịp.
 
Ở Thủ Đức tuy thời gian không lâu, nhưng cũng lắm chuyện vui buồn da diết.
 
Thường bữa cơm, tôi hay nghĩ mình ăn mau nhất.  Nhưng lạ lùng thấy hai người là Cụ Trần Trung Dung và anh Trần Vỹ vừa phát cơm xong đã thấy đi rửa “ca”.  Tôi thắc mắc nghĩ rằng không lẽ hai người này để cơm lại.  Một hôm chứng kiến, mới não lòng.  Cơm vừa lãnh đến tay là hai ông đã ăn hay nói đúng hơn là đã “cho vào” không phải nhai gì cả.  Nhanh không thể tưởng tượng được!
 
Thấy cảnh này mà nhớ lại ngày xưa, cảnh sống của Cụ Trần Trung Dung hay của anh Thạc sĩ Y khoa Trần Vỹ thì ai chẳng thấy não lòng.
 
Còn ra ngoài hiện trường lao động, thì chuyện của Phan Văn Đức, Tổng Thư ký Hưng Quốc Đảng của Cụ Hoàng Cơ Bình là chẳng sao nín cười được.
 
Một hôm tên Sáu buộc Đức phải bứng cây ớt đem trồng chỗ khác!  Mà, đây là lần thứ ba Đức bị như vậy.  Trồng chưa cứng cây ớt vì cứ bứng đi trồng lại nhiều lần như vậy thì biết lúc nào cây mới đủ sức để ra hoa kết trái?
 
Đức giận quá không còn kiêng dè gì nữa.
 
-         Trồng cây gì lạ vậy?  Trồng kiểu cách mạng các ông, bứng rồi lại bứng thế này, thì nó chết mất còn gì?
 
Tên Sáu bực mình không kém.
 
-         Anh Đức!  Anh nói cái gì nói lại tôi nghe thử nào.
 
Tôi ngại không khí chẳng thuận lợi, nháy mắt ra dấu Đức không nói nữa.
 
Thế nhưng đã yên đâu.  Một hôm Đức đào đất trúng phải một cái “niềng xe đạp”.  Đức hai tay đưa cao lên và kêu lớn:
 
“. . . Ồ!  Ồ!  Trống đồng Ngọc Lũ đây rồi!  Anh em lại cười rũ rượi, biết cũng là một lối mỉa mai của Đức.  Nhưng tôi nhìn thấy tên Sáu đứng xa, chắc chẳng nghe nên, khuyên anh em tiếp tục công tác.
 
Lại một hôm, anh chàng Đức này!  Trại cho viết thư về gia đình.  Đức viết thư bảo vợ con dỡ nhà – lợp bằng tôn – bán gửi tiền vào cho anh.  Anh em khuyên Đức không nên viết như vậy vì để nhà cho vợ con ở.  Nhưng Đức lý luận “Tôi đã nuôi mẹ con nó và nếu ở tù về tôi còn sống mới nuôi được mẹ con nó chứ?”  Lập luận của Đức không lay chuyển dù anh em muốn nói gì thì nói.
 
Nhưng ai ngờ Đức cũng thành công, nghĩa là thư vẫn về tới nhà và vợ Đức đã dỡ bớt nửa mái nhà bán gửi quà vào cho chú ấy.
 
Ngày Tết lại đến, và Tết năm ấy câu chuyện khó quên là chuyện anh Bác sĩ Trương Như Quýnh.
 
Anh Quýnh có người em ruột là Trương Như Tảng làm Bộ Trưởng Tư Pháp trong Chính Phủ Giải Phóng, nên nghĩ chắc em mình sẽ bảo lãnh cho về ngay trong dịp Tết?
 
Thế là vài người thân đã lại gửi gắm, nhắn nhe.
Chiều 30 Tết, Quýnh ra ngồi ngoài ghế đá trước cửa chờ tin.  Đã chiều quá rồi vẫn chẳng thấy tăm hơi gì.  Mệt mỏi nhưng lòng vẫn còn hy vọng, thì, cửa Trại mở, một xe hơi bóng loáng sơn đen chạy vào!
 
-         Đúng rồi!  Xe vợ chú ấy đấy!
 
Anh Quýnh đứng dậy lòng mừng rỡ.  Nhưng rồi, không khỏi hồi hộp, khi nhìn thấy nét mặt của người em dâu khác thường!
 
Vợ anh Tảng chậm rãi, uể oải lại gần và thì thầm một vài phút, rồi đưa anh một gói ‘rất nhỏ”.
 
Trông người anh Quýnh lúc này thật thảm não.
 
Anh không nói gì, nhìn theo xe người em dâu ra khỏi cổng, không buồn nói chuyện với ai, trở vào buồng.
 
Một anh bạn thân, nằm sát anh Quýnh thì thầm hỏi, và ra cho chúng tôi hay tin buồn của anh.
 
-         Chúng – Cộng Sản – không đồng ý cho anh Trương Như Tảng bảo lãnh cho anh Quýnh!
 
Anh em lại thì thầm, sự rạn nứt trong bọn nó đã có rồi đấy.
 
Thế là cả Trại đã đồn nhau về chuyện anh Quýnh không được Tảng bảo lãnh.  Thương hại anh Quýnh.  Nhưng trong mọi người chúng tôi không khỏi cho đấy là tin vui, vì khi mà giữa bọn Giải phóng Miền Nam và Cộng Sản miền Bắc đã “Nổ”.
 
Một cái Tết không mấy vui đã đến với chúng tôi.
 
Nhất là Tết này, cái Tết thứ nhất xa gia đình, hẳn mọi người khó tránh nổi nhớ thương, nhất là những anh có con nhỏ!
 
Là người có tín ngưỡng, nên không chỉ đau khổ mới biết cầu nguyện, mà hằng đêm anh Tướng Hòa Hảo Trương Kim Cù cũng như tôi, thường ra ngoài nhà ăn, vắng vẻ, cầu nguyện. Thấm lại cảnh đời nhiều đau khổ, vất vả, tôi luôn nghĩ rằng nghiệp chướng vẫn còn quá nặng, chưa trả dứt, nên chỉ ước mong được trả xong ở kiếp này!
Cầu nguyện Đức Quan Thế Âm Bồ Tát!
 
Thật ra, chẳng mấy khi ước mong gì, nhưng rồi nhớ lại những ngày qua, nhất là khi ra đi, gia đình quá túng quẫn, nên vẫn ước mơ làm sao có được số tiền để thanh thỏa các nợ nần còn lại.  Tôi nhẩm tính kể cả bạn bè quen biết cho mượn, đến nay còn nợ trên triệu bạc.  Với số bạc ấy, tôi ước ao làm sao có được khoảng hai lượng vàng thì sẽ giúp gia đình thanh thỏa được hết.  Nhưng ước mơ là một chuyện, mà nghĩ ra còn làm sao có được số tiền!
 
Rồi cũng lại trái ngược với lòng mình, khi nghĩ đến “đừng được của thiên hạ đánh rơi”.  Thật là tự mâu thuẫn lấy mình.  Nhưng vẫn cứ ước mơ!
 
Cho đến một hôm, tôi mơ thấy một giấc mơ đoán ra, sắp có hoạnh tài (!)
 
Hoạnh tài gì đây?  Nếu lại không phải là của người khác đánh rơi?
 
Nhưng nhớ lại điềm chiêm bao hồi 1945 khi đi tù Cộng Sản lần thứ nhất (có nói trong tập I) mà mình đã đoán đúng như Thần, thì lần này tôi lại càng tin hơn nữa!
 
Nói “ lái “ lại điềm chiêm bao để đoán thử xem!  Tôi quả tuyết rằng vật mà sắp được sẽ ở cạnh một bức tường.  Thế là trong giờ đi lao động, tôi luôn luôn để ý nhìn gần những bức tường, nơi đang thu dọn để trồng rau theo lệnh tên cán bộ Sáu.
 
Lại một lần nữa, và nếu nhớ không sai thì đây là lần thứ ba (1) tôi vẫn thấy điềm mơ như cũ.  Sáng hôm sau ra lao động, như người đang ngái ngủ “nên cứ nhìn ngược nhìn xuôi”.  Anh bạn tên Danh, người Đảng Đại Việt, nhà gần Ngã ba Ông Tạ thấy lạ.
 
-         Nhìn gì mà nhìn tứ tung thế?
 
Anh lại nghĩ như tôi có tin người nhà lén lên ở sau vườn hay sao, mà tôi cứ nhìn như vậy.
 
-         Hay là có tin người nhà lén lên thăm?
 
-         Không, chẳng ma nào thăm đâu!
 
Rồi lại tiếp tục xách cái “Xô” dưa vào đống gạch rác, đá để Danh xúc đổ cho đem đi nơi khác.
 
Bỗng nhiên!
 
Một tiếng “kẻng” trong đống gạch vụn rơi vào Xô.  Và, tôi lén nhìn, thật không lầm nữa!
 
Một thanh kim khí màu vàng trong đống rác đã vào Xô.
 
Mừng quá, lượm ngay bỏ vào túi.  Nhưng sợ anh bạn Danh nghi ngờ, tôi ởm ờ:
 
-         Lượm những thanh kim khí về gò các lon sữa guigoz thì rất hữu dụng.
 
Thế rồi; lại tiếp tục công tác.
 
Đấy là một đống vật dụng trước kia, trại này là trại giam tù Nữ, nên các cô ấy, có thể là Chính trị, có thể là gái làng chơi hay buôn lậu, bị bắt giam tại đây hoặc vứt bỏ, hoặc trong các “nịt vú” rồi lúc chết đã bị vứt ra.
 
Trong đống này có đủ các lọ dầu thơm thứ đắt tiền, lon “guigoz”, áo quần, nịt vú, quần lót v.v. . .
 
Vừa công tác, chờ cho hết buổi, nhưng quá hồi hộp.  Khi ra chỗ vắng, tay cứ táy máy mò vào xem chừng.
 
Thường nghe kể rằng, nếu là Vàng thì không bao giờ bị sét, dơ làm dính, mà chỉ cần phủi nhẹ sạch ngay, dù bị chôn vùi bao lâu.
 
Buổi lao động chấm dứt.  Trưa hôm ấy tôi ra sân ngồi, len lén nhìn xem có ai để ý không.  Giả vờ như đọc báo, nhưng xem lại thanh kim khí cho chắc.
 
Thật đúng là Vàng, theo tôi nghĩ!  Thanh Vàng thẻ này chiều dài khoảng hai tấc (0m20) bề ngang hơn một phân và dày khoảng một ly.
 
Sực nhớ ra trong Đội, có anh Lâm Văn Lệ, thuộc nhóm Dân Xã, có tiệm cầm đồ ở Long Xuyên, tôi nghĩ cách gạ hỏi anh cho chắc.
 
Tối hôm ấy lại gần anh Lệ và từ những chuyện làm ăn, gia đình, tôi bắt đầu “Vậy trước có tiệm Cầm Đồ”, chắc anh phải biết xem đồ giả hay thật chứ?
 
-         Dĩ nhiên là vậy rồi!
 
Hỏi từ Kim cương, đến Hột Trai rồi mới lần gợi đến Vàng.
 
-         Vậy Vàng thì làm sao biết thật hay giả?
 
-         Vàng dễ coi nhất, vì Vàng mềm không cứng như Đồng hay Sắt.  Vàng lại có đặc tính là cầm thả xuống đất nó không nhảy lên.  Và như nhớ ra, anh nói thêm.
 
Vả chăng, thường các tiệm mua bán Vàng có một “cục đá” để thử Vàng.  Ta cọ vào cục đá, nếu là Đồng thì sẽ có màu Đỏ, nếu là Thau thì có màu Trắng và nếu là Vàng thì nó Vàng, dễ biết lắm!
 
Lại nói sang chuyện khác.
 
Đêm hôm ấy cứ trăn trở không ngủ được.
 
Tôi có cái “Tật” hơi lạ hơn bạn bè.  Mỗi khi gặp chuyện bực mình, lo sợ, tức giận là ngủ rất dễ.  Nằm xuống ngủ ngay!  Nhưng khi có việc gì vui mừng thì xao xuyến, khó khăn, gần như cả đêm không ngủ được.
 
Thế là thu dấu vào một nơi kín đáo, tiếp tục đi lao động.
 
Nhưng, ai nghĩ được rằng, ngày hôm sau ra lao động, cũng chính nơi này lại lượm được một “cục đá” lớn hơn ngón chân cái mà tin chắc là “Cục đá thử vàng”!
 
Thế là tối hôm ấy, đem cả hai, lại tâm tình với anh Lệ.  Nói dối với anh là đem theo chút ít Vàng để phòng thân.  Khi vừa “kín đáo’ đưa xem, anh đã ngạc nhiên vì sự cẩn thận, chu đáo của tôi, bởi khi thấy có cả cục đá thử Vàng.
 
-         Anh này quá cẩn thận!  Đã đem theo Vàng còn đem theo cục đá nữa.
 
Rồi anh chỉ cho cách thử, nhẹ vạch thanh Vàng vào cục đá.
 
-         Đấy anh xem, là Vàng thì Vàng ngay, rõ ràng, còn Đồng thì nó Đỏ hay Thau thì nó Trắng!
 
Anh còn thành thạo giải thích:
 
-         Đây là Vàng thẻ, Vàng này đúng 16 thẻ là một cân.  Anh đưa ra chỗ sáng, nhìn bỗng anh mừng rỡ chỉ cho tôi xem.
 
-         Anh xem, có con dấu hiệu rất nhỏ đóng trên góc Vàng lá.
 
-         Vậy một thẻ này là bao nhiêu lượng?
 
-         Một thẻ là 2 lượng 6!
 
Giả ngồi chơi một lát, và như vậy là chuyện vô cùng huyền diệu, hy hữu!
 
Tôi lại ra phòng ăn cầu nguyện Tạ Ơn Trên đã thương cho!
 
Từ hôm ấy, tính nhẩm ra thành tiền.  Quả nhiên cầu nguyện của tôi đúng như mơ ước!
 
Trong Đội lại có anh Ph. M. Th. . . là một đồng chí nhưng tâm tánh anh nhiều lúc khó lường.  Tuy nhiên thấy cảnh anh tôi không nỡ.  Anh thường thèm thuốc Lào không chịu được, dám đổi cả bữa ăn, lon cơm, để lấy hai bi thuốc Lào hút hai hơi rồi nhịn đói.
 
Trong khi ấy sức khỏe anh càng ngày càng suy yếu.
 
Nghĩ không đành, nên tâm sự với anh:
 
-         Anh đừng đổi cơm lấy thuốc Lào nữa, cứ ăn mà lấy sức.  Cần tiền tôi sẽ cho mượn một Chỉ Vàng, lúc ra đời hay khi có chị vào thăm sẽ hay.
 
Anh Th. hỏi ngay, vì anh biết tôi quá nghèo.
 
-         Anh làm gì có Vàng mà cho mượn?
 
Muốn trả lời cho xong chuyện.
 
-         Đi lao động được, hỏi làm gì cho lôi thôi!
Không ngờ lòng dạ của anh!  Hai hôm sau anh lên báo cáo với Cán bộ Quản giáo là tôi đi lao động được Vàng.
 
Khi Cán bộ gọi lên hỏi, tôi lanh trí, cười rất tự nhiên.
 
-         Sao Cán bộ lại tin báo cáo như vậy.  Đi lao động thì làm gì có Vàng mà được?  Tôi thấy anh em lười biếng không chịu đi lao động nên phải nói dối thế thôi.
 
Tên Cán bộ nghe nói có lý nên cho qua.
 
Nhưng vẫn chưa hết, lại đến một lần khác.  Bởi tôi phụ trách đọc báo cho cả buồng nghe, mà tôi nói tiếng Quảng Nam nên có đoạn đọc là “Cải tạo cái củ. . .” thì chính anh Th. lại báo cáo là tôi xuyên tạc đọc “Cải tạo cái củ!”  Làm tôi phải đính chính và bực mình, xin không đọc báo nữa.
 
Mười ngày sau Trại Thủ Đức ra lệnh ai có đem theo Vàng, Bạc phải khai báo.  Ở đây chỉ mới khai báo chứ chưa đăng ký thật sự hay đem gửi Cán bộ giữ vào kho.
 
Trong anh em có anh Thiên, thuộc đảng Đại Việt Tỉnh Thừa Thiên đem theo đủ thứ, nào là một lượng Vàng lá, tiền Quan Kim của Trung quốc vả bạc mặt khá nhiều.  Ngoài ra là tôi.  Nhưng tôi chỉ khai có đem theo một lượng Vàng.
 
Anh Phẩm, trong số Dân xã, nghe tin sẽ được về tôi tâm sự và nói thật nhờ anh về nói lại với vợ tôi biết, để tìm cách xin vào thăm sẽ đưa về cho làm ăn và trả bớt nợ nần.  Trước đây, trong khi được phép viết thư về gia đình tôi có nói vắn tắt là “Lúc ra đi anh có đem theo chút ít Vàng mà trước đây anh không cho em biết.  Vậy nếu có thể vào xin thăm anh sẽ đưa cho về làm ăn và trả nợ nần”.
 
Thì, vợ tôi đã vô cùng ngạc nhiên, vì lúc ra đi nhà chẳng có chỉ Vàng nào, ngoài hai ngàn đồng.  Thậm chí tiền đóng lệ phí đi ở Tù cũng nhờ anh bạn Lý Trường Trân cho!  Vì vậy, vợ tôi đã viết thư vào có câu rằng “nghe anh nói thì biết vậy thôi.”  Bởi biết tôi làm gì có Vàng?
 
Tại Trại này thỉnh thoảng có một tên cấp bậc Thiếu tá, gốc người Quảng Nam thường đến nhìn chúng tôi, như để khoe khoang với cấp bậc của y.  Bỗng một hôm, y gọi tôi lên và hỏi rất kỹ về một chuyện mà chúng tôi hoàn toàn không đoán được.  Ấy là câu chuyện một cô con gái gốc người Thăng Bình, con một vị quan lại cũ, nhan sắc kể ra cũng đáng vào hạng khá.  Nhưng nghe đâu cô này lấy một người trước có làm dưới quyền tôi là Nguyễn Vĩnh Phương, con Nguyễn Vĩnh Mậu ở Tam Kỳ.  Y hỏi rất kỹ về gia đình này.
 
Xuống bàn lại nhau, chúng tôi, những người có quen biết với gia đình này đoán chắc, có lẽ sau khi anh chồng làm Quận trưởng ở Kiên Tân, Rạch Giá bị chết, cô này đang được một tên cao cấp nào của Cộng Sản định lấy làm vợ nên chúng điều tra kỹ đến thế!  Đấy là một chuyện mà chúng tôi thường gặp phải trong hàng ngũ Cộng Sản khi chúng lấy một người của phe ta là Đảng chúng điều tra rấy kỹ!
 
Nhưng rồi lại im cho đến lúc sau này, lúc ra Bắc cũng lại được hỏi đến việc này, một vài lần nữa.  Bỗng một hôm, được nghe tin rằng sẽ chuyển Trại.
 
Trong Tù, thường có những thay đổi mà anh em tù nhân ngán nhất.  Đấy là đổi buồng, đổi chỗ nằm. Nhưng quan trọng nhất là chuyển Trại.  Vì khi có chuyển Trại là còn hơn cả câu tục ngữ Tây phương thường nói:  “Ba lần dọn nhà bằng một lần cháy nhà”.
 
Anh em xao xuyến lo ngại!
 
Nhưng rồi hầu hết ai cũng mong việc xảy ra cho rồi để mong ngóng nóng ruột.  Chỉ có những anh có gia đình thường gửi quà, hay thăm, nhờ thế lực thì vô cùng lo ngại.
 
Một hôm, vừa sáng có lệnh tập trung ngoài sân, để nghe danh sách việc chuyển đi nơi khác.
 
Tất cả đồ đạc phải được chuyển ra sân ngồi sắp hàng chờ nghe tên mình.
 
Đến đây lại chứng kiến một cảnh não lòng khác!
 
Một anh bạn thường ngày vào hạng đáng kính trọng trong anh em, nhưng ăn uống, quá kỹ, nghĩa là ít khi giúp đỡ anh em nghèo.
 
Hôm nay thấy gọi thu dọn ra sân và nghe rằng cuộc đi có lẽ nhiều vất vả, nên lại ngỏ ý với tôi:
 
-         Chú liệu lấy giúp mấy thứ đồ của tôi cho chú Do giúp!
 
Tôi bực mình thái độ này vì từ lâu sao không giúp đỡ cho Do, một đồng chí mà cũng lại là người trẻ, thường gánh vác việc nặng nhọc cho anh em, nay đến lúc này mới lại nhớ tới.
 
-         Chà khó lòng thực!  Nay thì ai cũng muốn nhẹ nhàng.
 
Nhưng lại sực nghĩ ra cái khó tính của ông Anh này, vì nghĩ chưa hẳn anh cho không có điều kiện nghĩa là cho chút ít nhưng khi đi thì phải mang giúp đồ cho anh.  Khi nghĩ ra việc ấy, thì chính anh cũng cảm thấy khó chịu, nên lại thay đổi ý kiến.
 
Trong khi quá bận rộn vì ai cũng tranh thủ mang đồ mình ra sân, tôi đành để anh bạn đứng tự giải quyết và không để ý đến anh nữa, mang đồ mình ra sân.  Cuộc điểm danh chỉ được tính cứ 60 người ngồi vào một khối.  Thế là trong anh em lại có người đã đoán ra.  60 người cùng đi một chuyến xe, hay một máy bay.
 
Sau khi lấy đủ số, họ cho vào trở lại và, như vậy là tôi chưa đi chuyến này.
 
Khi gọi họ đọc theo vần A, B, C . . . mà vừa hết vần T . . . là ngừng lại.
 
Trở vào buồng, hoang mang , bàn tán, sôi nổi . . .  Nhưng chẳng mấy ai đoán đúng. 
 
Ngày có việc chuyển Tù ra Bắc, không đi lao động nữa, và nằm chờ.
 
Hai ngày sau, lại được gọi ra và cũng như trước.
 
Lần này thì đi khá sớm.  Tôi cũng cùng trong Toán đi sau này.
 
Ra, xe chạy về ngả Saigon dọc theo chợ Bà Chiểu theo đường Chi Lăng.
 
Nhớ cảnh trước đây, thường ra ngồi ăn phở sáng ở đầu ngõ cư xá Chu Mạnh Trinh, mà mơ ước thấy một người nào trong gia đình.  Nhưng không gặp, thấy ai quen cả.
 
Xe chạy lên sân “Gôn” (golf) đường Võ Di Nguy . . .  rồi ngả sau của sân bay Tân Sơn Nhất.  À, thế là đi Tân Sơn Nhất rồi!
Anh em lại nhỏ to đoán đủ thứ.  Riêng tôi, thì quen theo lối ‘liều”!  Chẳng cần đoán!
 
Vừa sáng, họ lùa chúng tôi lại gần máy bay loại C.130 và cho lên.  Trời hừng sáng.
 
Nay là lúc mà những người tiếp nhận chúng tôi đưa đi có phần nhã nhặn hơn.
 
Loại máy bay này của nhà binh, ngồi hai hàng xây mặt lại nhau và không có cửa sau.
 
Khoảng độ năm Cán bộ áp giải, ăn mặc khá nghiêm trang và người nào cũng có nét mặt tương đối bớt “Cô hồn” hơn trước đây.
 
Họ mở xiềng tay tôi.
 
Khi máy bay chuyển động và cất cánh tất cả lại nhắm hướng mà đoán!  Một lúc sau, biết rằng máy bay đang bay ngoài biển.
 
Chú Cán bộ đứng đắn thấy tôi có vẻ lớn tuổi nên lại gần.
 
-         Anh có biết các anh đi đâu không?
 
Cái bọn quỷ này thì đáng tuổi Bố hay Ông Nội chúng cũng gọi bằng anh cả!  Tôi nghĩ thế.
 
Có thói quen lên máy bay là khó chịu, mệt lử cả người nên thấy y hỏi không vui lắm.
 
Các anh đem chúng tôi ra giữa biển rồi nghiêng cánh trút xuống biển chứ còn đi đâu nữa!
 
Tên này biết tôi bực mình!  Nên quay qua hỏi anh bạn nguyên Tỉnh trưởng Phú Bổn Lò Văn Bảo, cũng bị xiềng chung với tôi.  Anh không nóng tính như tôi, nhưng cũng chẳng vừa.
 
-         Chắc là đưa đi Côn Đảo thôi chứ còn đi đâu nữa!
 
Hình như chúng nháy mắt nhau và không hỏi gì thêm đưa nước chanh đường làm sẵn trong một cái thùng lớn mời chúng tôi.  Thấy chúng tử tế, tôi lại lo ngại cho số mệnh, vì tôi luôn luôn có mặc cảm là Cộng Sản tử tế là sắp giết không nhờn tay.  Một lúc sau cố nhìn ra ngoài để nhận định lại, thì thấy như cảnh Thành phố Đông Hà.  Thế là không còn muốn đoán nữa.
 
Nhưng, máy bay đã từ từ đáp xuống.  một số anh em rành hơn lên tiếng:
 
-         Ra Hà Nội rồi!  Sân bay Nội Bài.
 
Họ cho chúng tôi từ từ xuống và sắp hàng.
 
Một viên chức cao cấp của chúng đến nói chuyện.
 
Y như người Quảng Ngãi, mặt mày không mấy thông minh nhưng, chắc chắn là loại quan trọng của Đảng.  Y mặc một “Complet” màu xám.
 
-         Các anh sẽ được đưa đến một nơi có điện, nước.  Và, ở đây các anh có điều kiện để cải tạo tốt.  Tôi sẽ gặp lại các anh trong một ngày không xa.
 
Chẳng cần nhớ nhiều!  Chỉ nhớ được bấy nhiêu. 
 
Thế rồi chúng tôi được đưa lên loại xe chở hành khách trưng dụng để chở, nhưng hai bên đóng cửa kín.
 
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cố nhìn ra ngoài cho biết cái thành phố nguy nga của bọn họ ra sao, nhất là những anh em đã được chúng tuyên truyền Thủ đô Hà Nội giàu sang đủ chuyện.  Điều khó quên là có anh đã được tuyên truyền ngày còn ở Long Thành, Thủ Đức là dọc đường từ Hải Phòng về Hà Nội lỉnh nghỉnh những máy cày máy xới chứ không nghèo khổ như miền Nam!
 
Nhưng than ôi!  Dù chạy ngoài ven thành phố Hà Nội để rồi qua cầu Thăng Long chúng tôi không thấy một cửa hàng nào.  Chỉ cần so sánh với vùng Bình Chánh hay Thủ Thừa chứ đừng nói đến Thủ Đức, Gia Định đã khác nhau xa.
 
Một vài nơi bán thức ăn thì thấy một điếu cày, để cạnh một đèn dầu với vài cái bánh “Tày” tức là loại bánh “Tét” gói nhỏ bằng cườm tay trẻ em hay vài hột vịt, vài miếng đậu hũ sống.  Một anh bạn trong chúng ta đã thấy nóng:
-         Ngoài này có trái cây không Cán bộ?
 
Tên Cán bộ ngồi cạnh không ngần ngừ, trả lời ngay:
 
-         Ngoài này không thiếu gì cả.  Đủ thứ trái cây.
 
Thì một chú bạn ngồi cạnh đã nhanh nhẩu:
 
-         Có xoài không Cán bộ?
 
-         Có, xoài thì hiếm gì.
 
Anh lại hỏi các thứ trái cây hiếm, quý, sầu riêng, măng cụt, nhãn lồng.  Mà, thứ nào chú Cán bộ cũng không ngần ngại trả lời ngay là có . . . có hiếm gì.
 
Thì, đâu ngờ anh bạn trẻ “nói lái”.  Và, “trái dứng” có không ạ?
 
Chú Cán bộ đâu có ngờ, và người Bắc chắc chẳng biết lối nói lái “trái dứng” tức là “trứng dái” cũng trả lời là “có”!
 
Tôi và vài anh ngồi cạnh suýt bật cười, nhưng dừng lại được.
 
Vào sát ven thành phố Hà Nội, thấy một vài tiệm may quá đáng thương.  Một bàn máy may với vài cái sơ mi treo trên nóc!
 
Thì ra Hà Nội là vậy!
 
Xe qua cầu rồi rẽ vào Nam nhìn hai bên đường càng thêm ảo não!
 
Lúc vào đến đoạn Hà Đông, một nửa chạy thẳng, còn một nửa, trong ấy có tôi rẽ vào ngả Bình Đà.  Tôi biết địa danh này, bởi trước có loại pháo Bình Đà khá nổi tiếng.
 
Rẽ vào Bình Đà không bao xa là đến trại Hà Tây nơi giam giữ chúng tôi.
 
 
 
 
 
 
Và đây!  Trại HÀ SƠN BÌNH  ( HÀ TÂY )
 
 
Tất cả xuống xe, từ từ vào buồng.
 
Mỗi buồng trên 50 người.  Chia làm hai tầng leo lên bằng một cây cột có đóng những mảnh gỗ để bám chân.
 
Bọn chúng đã chia theo danh sách với chủ trương và kế hoạch có sẵn, chứ không phải ai muốn vào đâu nằm đâu cũng được.
 
Tất cả mệt nhoài người nên có chỗ là ngả người.
 
Độ vài giờ sau có thông báo cho biết chuẩn bị xuống nhà ăn.
 
Bọn Cộng Sản cố tạo cho chúng tôi một nguyên tắc nên bất cứ ở đâu cũng có khẩu hiệu.
 
Nhà ăn thì “sạch bát, ngon cơm”.  Ăn uống không nói chuyện!  Phòng, buồng ở thì “chiếu thẳng, dép ngay”!
 
Khi tất cả được xuống nhà ăn việc tuyên bố như đã đập ngay vào đầu anh em một “cuộc sống mới!”
 
-         Các anh ăn uống lịch sự!  Ăn uống trở đũa để giữ vệ sinh!
 
Bữa ăn hôm nay để đãi chúng tôi, khá sang trọng.  Nhưng tôi nghĩ, trong ấy hẳn nhiên có khá nhiều lý do, nào là để đãi những người mới đến, nào là để làm dịu đầu óc chúng tôi đang khá căng thẳng, nào là để khoe sự giàu sang của chúng.  Nhưng một chú Cán bộ đã lại nói thầm vào tai anh bạn ngồi gần tôi “ăn dư cứ cất lại chiều ăn”.
 
Anh bạn chưa hiểu ý, thì y nói ngay.
 
-         Hôm nay đặc biệt, chứ không phải lúc nào cũng có vậy đâu!
 
Tôi bỗng cảm thấy xây xẩm không còn muốn ăn, vì tôi có bệnh đi máy bay là “mệt” gần như muốn đau, đã có nói.
 
Đám Cán bộ lại hỏi, tôi xin phép lên nằm nghỉ.
 
Bọn họ thoạt đầu tưởng tôi có ý gì nhưng sau thấy giải thích bởi đường xa mà sức khỏe không mấy khá.
 
Họ bảo cho các “Chị nuôi” của họ cho ăn cháo.
 
Tôi nằm mệt, nhưng lại nghĩ đến cái cảnh ăn quá ngon này mà từ chối một cách không luyến tiếc hẳn họ cũng khó tránh một suy nghĩ.
 
Anh em được một bữa ăn thịnh soạn, vô cùng thích thú.  Còn tôi, sau vài giờ, được họ cho bưng lên một phần cháo “cảm” rất chu đáo.  Đây là loại cháo cảm nấu với thịt và tiêu, hành rất hấp dẫn.
 
Mọi người thấy thế đều trầm trồ khen.
 
Đau mà ăn cháo thế này thì chẳng còn chê vào đâu được.
 
Đúng như buổi sáng đã dự liệu, đến hôm sau ăn với rau muống luộc, nhưng cũng còn khá, vì có nước chấm khá ngon.  Ăn uống trở lại bình thường và kỷ luật được bắt đầu tuyên bố sau buổi sáng hôm ấy.
 
Mấy hôm sau, đến lúc các đội, tổ được chia và sẵn sàng những cuộc họp sơ khởi dưới sự chứng kiến của cán bộ giảng huấn từ Hà Nội về.
 
Mỗi đội khoảng trên 20 người, và như vậy là mỗi buồng được chia thành 2 đội.
 
Mỗi đội có hai cán bộ, một Quản giáo của Trại giao đặc trách cho đội, và một cán bộ từ Hà Nội về ngồi nghe sinh hoạt theo hướng dẫn.
 
Việc đầu tiên là tự giới thiệu để trong đội hiểu nhau, nhưng chính là để cán bộ nắm vững.
 
Tất cả mọi người đều gọi bằng “Anh” chứ không được gọi nhau bằng chức vụ cũ, hay Thầy, hay Bác.
 
Sau giờ đầu tiên ấy, lúc vừa được nghỉ giải lao tên cán bộ Hà Nội đã lại liên hệ ngay với tôi.  Y cười nhẹ nhàng:
 
-         Anh bị Tù khá nhiều lần chắc có nhiều kinh nghiệm để nhận xét.  Vậy theo anh, anh có thể nhận xét cho tôi biết cảm nghĩ từ ngày đi Cải tạo đến nay không?
 
 
Bởi lúc ngồi nghe y biết tôi đã bị tù cả thảy 7 lần nên có ý mà tôi biết mục đích là đánh lạc hướng không cho tôi nói rằng đây cũng là lần đi tù.  Tôi cũng đánh lạc hướng y ngay.
 
Thật ra ở tù thì 7 lần nhưng chẳng lần nào giống nhau.  Dù tôi là tù Chính trị, chứ không hề bị tù Hình sự.  Nhưng mỗi chế độ đều nhìn người bị tù khác nhau nên nhận định sớm quá, e không chính xác lắm!
 
Thấy y tỏ vẻ chưa bằng lòng, tôi tiếp:
 
-         Ngay cả chế độ cũ, nhưng với một người lính gác hay một Giám đốc nhà lao của miền Nam và một Giám đốc của Cần Lao khi tôi bị đưa về Huế cũng đã khác hẳn rồi huống chi nói đến những nhà lao của Pháp rồi nay của Chính phủ tôi ngập ngừng một giây như chưa quen miệng và nói tiếp, rồi nay Chính phủ Cách Mạng!
 
Y tỏ vẻ hiểu được một con người vừa bước vào ngưỡng cửa của chế độ y đang sống, và đang phục vụ, nên nói lảng sang chuyện khác.  Giờ giải lao cũng hết, y đành để tôi uống nước vào lại buổi họp.
 
Chúng cho giải lao, nước non khá quyến rũ, với trà chanh đường, thấy mà ham.
 
Và đến bữa ăn chúng lại đem cái trò nhân đạo ra giải thích:
 
-         Các anh đang thời kỳ phải được bồi dưỡng để có đủ sức khỏe mà khai báo.  Vì chắc các anh chưa quen lao động không mất sức khỏe bằng làm việc bằng tinh thần động não!
 
Không biết các bạn tôi thì sao nhưng tôi nghe đến câu nói này của bọn chúng, đã liên tưởng đến một ngày sẽ có người “điên loạn” bởi sự khai thác của bọn chúng nhất là khi chúng chưa thỏa mãn.
 
 
 
HỌC TẬP KHAI BÁO
 
 
Tiếp tục buổi họp chúng bảo cho biết là trong nay mai sẽ được tổ chức khai báo.
 
-         Với Cách Mạng không có vấn đề ép buộc hay đòi hỏi sự khai báo của các anh bằng hình thức (!) khác mà phải là tự nguyện.  Các anh phải tự nguyện khai báo.  Các anh sẽ được thấy rằng không một giấu giếm nào có thể qua mặt được Đảng và Chính phủ vì chính những người trong các anh đã khai hay chính gia đình các anh đã khai.  Lúc ấy các anh sẽ thấy rằng lòng nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với các anh như thế nào?
 
Chỉ những câu nói trên của bọn chúng đã làm cho anh em mất ăn mất ngủ!
 
Lúc ấy ai cũng nghĩ – Dấu làm gì nữa!  Thì cứ nói ra cho hết!
 
Thế là tất cả đã lọt vào “rọ” bọn chúng, mà chẳng cần đánh đập cũng phải khai.
 
Hai ngày sau, chúng bắt đầu phát giấy bút cho tất cả khai báo.  Và chúng không quên căn dặn:
 
-         Không sợ hết giấy không kể hết giờ.  Cứ nói thật nói từ chuyện lớn quan trọng, đến những chuyện vui, buồn không quan trọng.  Vợ lớn, vợ bé, bồ bịch ân oán tất cả từ từ nhớ lại từ lúc bé thơ để khai.
 
Lâu lâu chúng lại bổ túc thêm để khai.
 
-         Cha mẹ có công đẻ ra ta nhưng, không dạy dỗ ta trở thành con người của Đảng của Nhân dân là có tội!
 
Chỉ một câu nói đơn sơ như vậy là trong anh em tự buộc tội mình, buộc tội Cha Mẹ mình một cách tự nghĩ là vô cùng có lý.
 
Chúng đi các buồng kháo nhau.
 
Có anh đã khai đến số trang 300.
Và chúng cũng không quên nhắc rằng:
 
-         Buồng B . . .  có anh chỉ khai có 10 trang đã hết chuyện.  Nhưng anh em trong đội đã khuyến cáo và nay lại xin khai tiếp.
 
Buồng C . . .  đang đề nghị đưa anh Y, Z . . .  ra khỏi phòng để khỏi lây bệnh ngoan cố, trây lười.
 
Và, trại buộc lòng phải thi hành.
 
Chỉ những câu nói khích động tinh thần ấy làm anh em khó ngưng lại không bươi móc ngay trong đầu để nhớ lại.  Thậm chí, có anh còn dựng lên những mẩu chuyện tưởng tượng để khai!
 
Việc khai báo đến một độ mà chúng gần như tạm “chấp nhận”, thì cho một số nghỉ, trong khi làm cho số khác cố gắng “vươn lên” hoàn tất việc khai báo.
 
Trong thời gian khai báo, việc ăn uống tương đối khá, nhưng vừa chấm dứt, là lại bình thường  để chứng minh lời nói trước đây là khai báo “động não” phải được bồi dưỡng chu đáo, là chính sách.
 
Thỉnh thoảng Hà Nội cho cán bộ về xem chừng có kết quả không hay có phản ứng gì không.
 
Riêng tôi mà bọn chúng cố biết cho được những điều dấu kín nhưng chúng không tin lời khai của tôi đúng sự thực.
 
Bọn chúng có biết những mẩu chuyện “thủ tiêu” Cộng Sản hay những việc xảy ra trong những ngày vào tiếp thu vùng họ chiếm đóng sau Hiệp định Genève 1954.  Tôi khai mới đọc qua thì thấy như khá chân tình nhưng đầu tôi luôn luôn nghĩ đến ngày mai!
 
Cái ngày mai mà tôi bị đập mạnh vào đầu, là sau này chúng sẽ sai bảo tôi làm gì cũng cần cố làm nếu cãi lại, chúng sẽ đem những lời khai này ra để đốt cháy tôi.
 
Đây là những khủng hoảng khiến tôi phải kiên định lập trường.
 
Nhưng, Cộng Sản không dễ dãi như mình nghĩ.
Cái quan trọng, là sau khi cân nhắc được tôi, chúng đã phải giở ngón “tuyệt chiêu” ở một đoạn sau này để chứng minh cái thâm độc khủng khiếp của bọn chúng!
 
Đợt khai báo được kết thúc.  Chuyển sang thời kỳ “đấu tranh tư tưởng” mà chúng sẽ dùng “diễn đàn” để chính chúng ta lên nói cho hết tư tưởng và đào sâu tư tưởng kẻ khác.
 
Trong bữa đầu tiên, khó ai quên được câu chuyện anh bạn nguyên Quận trưởng Tân Châu – là em rể Tướng Lâm Thành Nguyên.  Anh bạn đã khóc lóc rên xiết vì hối hận Cha Mẹ đã không dẫn dắt anh vào con đường Cách Mạng!
 
Hôm nay ngồi nhắc lại chuyện này không phải để chế giễu, để cười chê anh bạn, mà chính là để nhắc lại cái thâm độc của Cộng Sản.  Chúng đã làm cho tư tưởng ta tự đào sâu để không bao giờ tự tha thứ, tự bào chữa.  Chính ở điểm này, chẳng mấy người dấu được lầm lỗi, mà không khai báo.  Khi khai báo là cảm thấy một sự khoan hồng của Đảng, lại thấy một cánh cửa mở rộng chờ đón ta.  Đây!  Người không đi tù Cộng Sản thường phê phán những việc xảy ra trong tù một cách quá phiến diện.
 
Họ cứ tưởng không thể nào dấu được Cộng Sản.
 
Họ cứ tưởng tại sao lại khùng điên mà nói sự thực.
 
Rồi họ lại mặc cảm như Cộng Sản là một nỗi kinh khủng làm sống, chết.  Đừng bàn đến nữa!  Nhưng họ không biết rằng vào hoàn cảnh này hoàn toàn không như họ tưởng.  Đây là chưa nói đến hoàn cảnh của những anh em quân nhân đi tù ở những Trại miền Núi:  Sơn La, Vĩnh Phú.  Với những anh được đưa về Trại Trung Ương gần Hà Nội, hoàn toàn không giống nhau nhất là với những người chưa chịu cảnh tù đầy này.
 
Một anh bạn lên diễn đàn thường là những buổi để cho chúng theo dõi thật sát tư tưởng cá nhân anh ấy, mà cũng là dịp chúng cho nghe ngóng trong anh em có những diễn biến gì?
 
Trong ta đã có những người bắt đầu lệch lạc tư tưởng, tưởng chịu cho chúng sử dụng để làm tay sai, theo dõi anh em, báo cáo lại với chúng những điều chúng cần biết.
 
Nhưng, cái quan trọng và nguy hiểm, là vài người đã đánh mất lương tâm không chỉ báo cáo những điều nghe biết, mà còn thêu dệt để làm vừa lòng chúng.
 
Đấy là lúc chúng cần chia rẽ nội bộ ta.  Cương quyết không cho chúng ta giúp đỡ nhau theo tinh thần thương yêu như trước, mà phê bình nhau là dịp chúng xác định rất cần để xây dựng (!) nhau.
 
Lúc này, những anh em nguyên là Bộ Trưởng, Tổng Trưởng của Miền Nam chưa được về và bọn chúng thường theo dõi thật sát để xem chúng ta có còn nể nang nhau qua chức vụ cũ hay không.
 
Cuộc sống cứ dĩ nhiên không thể một sớm một chiều đã thay đổi ngay được, nên trong vài cử chỉ, nếp sống từ rửa mặt, hút thuốc của các anh vẫn còn phong thái cũ.  Thế là chúng bày vẽ cho những người trong chúng ta tìm cách xây dựng, phê bình hay ngay cả phá phách để chấm dứt.
 
Không ai quên được cái cảnh của những ngày “diễn đàn” này.
 
Mà, có lẽ ngay cả chính những anh bạn trước đây hùng dũng hay lâm ly trên diễn đàn ngày ấy, nay nếu nhớ lại chắc cũng xem như một nỗi khổ tâm chẳng muốn ai nhắc lại!
 
Trong chúng ta có hai hạng người mà anh em thường chú ý lắng nghe.  Một là những người mà anh em hằng kính mến ngoài đời, như anh Trần Văn Tuyên hay ngược lại, những người mà chúng ta quá xem thường nhưng nay lại được Cộng Sản đề cao, nghe để mỉm cười!
 
Trong thời gian này là thời gian có thanh lọc của bọn chúng.  Và cũng vì vậy, mà trường hợp anh dân biểu Tiếp phải chuyển trại lên “Cổng Trời” để rồi sau này nghe đâu đã bỏ mình vì dã man của Cộng Sản.
 
Sau thời gian khai báo là đến thời gian chuẩn bị để đi lao động.
 
Trước thời kỳ đi lao động, là lúc mà miền Bắc lạnh, cái lạnh khủng khiếp, nhất là những người miền Nam chưa bao giờ nếm thử!
 
Bọn họ buộc lòng phải cho được dùng củi để đốt ngay trong phòng cho đỡ lạnh.
 
Cũng vì lạnh quá nên trâu, bò chết.  Thế là ngày hôm sau lại có món thịt trâu vì chết được nấu cho ăn.  Ăn thịt trâu chết cũng ngon thôi, nhưng nhất là được ăn “da trâu” nấu lại qua đêm như ta để trong tủ lạnh đông cứng như miếng “a dao” dùng để bỏ vào vôi quét tường.  Nhưng, cũng ngon thôi.
 
Hôm sau được lệnh viết thư về thăm gia đình và xin quà.
 
Viết thư là được hướng dẫn ngay mục đích “để khuyên gia đình đóng góp với địa phương, làm ăn lương thiện”.  Vì theo giảng giải của Cán bộ thì những gia đình được chính quyền địa phương tuyên dương sẽ quyết định cho việc về sớm của Cải tạo viên.
 
Lạnh quá!  Run không còn viết được.  Nhưng rồi ai cũng hăng hái viết.  Riêng tôi, phải cước chú để gia đình biết rằng “vì lạnh quá mà chữ run” để gia đình khỏi thắc mắc nét chữ không giống chữ thường viết ở nhà!
 
Ngày TẾT đã đến!
 
Cái Tết đầu tiên, bọn họ cho ăn được chút ít thịt, vài cái bánh chưng nhỏ.
 
Như thế là đã quá hồ hởi rồi!
 
Nhưng rồi lại đến ngày, phải ra đi lao động lại.
 
Cái hay của bọn chúng là tạo được một không khí cố dành nhau để đi lao động vì đi lao động là vinh quang.  Và, dĩ nhiên đi lao động là hy vọng tìm thêm được cái rau, cây củi để về chụm nấu.
 
Nhưng muốn giá trị của những việc này có ý nghĩa, Cộng Sản đã cố xiết chặt lại cho ngăn cấm, soát xét.  Có như vậy thì việc giành nhau, tranh nhau được đi lao động mới có ý nghĩa và đánh tan được ý nghĩ là “bị bắt đi lao động.”
 
Bởi nghĩ chắc đây là chủ trương của chúng, vì những người khai đau ở lại Trại, không đi lao động đâu phải dễ dàng! 
 
Phải khai báo, phải đi bệnh viện.
 
Nhưng nào phải cháo ăn no để cố ở nhà ăn cháo trây lười lao động.
 
Phải thấy thật rõ, phải kinh nghiệm được cái “xảo thuật” tinh vi của Cộng Sản mới thấy được những hành động của chúng.
 
Ra hiện trường lao động thì khỏi nói!
 
Ăn không đủ no, áo quần không ấm, mà phải lội xuống nước lạnh thấu xương thì không phải là thứ vinh quang như chúng nói.
 
Đây là thời điểm chúng bắt tất cả phải khai có đem theo tiền bạc, vàng, đồ quý.  Những anh có đem theo đồng hồ đắt tiền như:  ROLEX, OMÉGA . . . hay nhẫn vàng, đều lo ngại.  Nhưng dĩ nhiên phải chấp hành đem nộp cho nữ Cán bộ của chúng.  Thế là tôi cũng phải làm theo.  Nhưng chỉ đem nửa số vàng được ở Thủ Đức, tức là “một lượng ba chỉ” mà tôi đã chặt thành hai còn một nửa cũng bằng như vậy, thu giữ để phòng.
 
Khi đem nộp, người Cán bộ ấy, như đã được huấn luyện, chỉ dùng bút vẽ hoặc bôi mực rồi in cạnh thoi vàng.  Trong giấy nhận chỉ nói là “có nhận hai thanh kim khí màu vàng” chứ không nói rõ là “vàng” như ta nghĩ.
 
Đành chịu vậy thôi.
 
Họ lại khôn khéo cho biết khi nào có người nhà đến thăm sẽ cho nhận lại đem về.  Nhưng cái ngày ấy, quả thật chẳng hy vọng chút nào.
 
Còn một nửa thu dấu trong người, tôi luôn hoang mang sẽ bị khám phá ra.  Mà, khi đã bị khám phá ra là sẽ bị tịch thâu, chưa nói là còn bị nhiều rắc rối khác như không chấp hành mệnh lệnh hay âm mưu, thu dấu để trốn trại v.v. . . .  Nhưng đã quyết chí tôi chẳng lo ngại gì những nguy hiểm ấy sẽ xảy đến.
 
Nhưng thói thường, khi có một chút gian dối lòng ta hay thấp thỏm.  Thu số vàng trong chỗ này nằm thấy không yên, lại thu qua chỗ khác.  Nay dưới chân mùng để dấu rồi lại bỏ.  May dưới gấu quần để thử nhưng lại cảm thấy trống trải!
 
Có lần lại nghĩ hay là ta bỏ dưới đáy lon, rồi đổ đường lên trên.  Nhưng cũng không yên tâm lại lấy ra.
 
Còn nói đến việc thu dấu nơi khác không phải trong áo quần hay vật dụng của mình, thì hoàn toàn không dám, vì nghĩ đến lúc phải đổi buồng hay đổi Trại làm sao lấy kịp.  Thế là cuối cùng lại để gần bên cạnh mình cho tiện.
Rồi một ngày ảm đạm đã đến.
 
Theo lệnh Hà Nội này chúng dự đinh sẽ cho một số cá nhân được cấp trên chúng chỉ định là phải phát biểu cảm tưởng.
 
Trong số này chúng thường có trò đánh lạc hướng, xen lẫn một vài kẻ chẳng ra gì, để mình đoán không ra chủ trương của chúng.
 
Người quan trọng mà chúng nhắm trong lần này là anh Trần Văn Tuyên.
 
Trước đây độ tuần lễ, Trần Cảnh Chung, nguyên Trưởng ty Cảnh Sát và cũng là nguyên Dân biểu Quốc Hội có rỉ tai với tôi rằng:
 
-         “Anh Tuyên khuyên bọn tôi là nên ngó chừng anh khi thấy anh Cứng hay Mềm, Cương hay Nhu, trong tình thế đối với Cộng Sản mà Tiến, Thối đúng lúc.  Anh luôn nhắc bọn tôi là khó ai hiểu được Cộng Sản tinh vi bằng anh.”
 
Rồi Chung cười và dặn nhỏ:
 
-         Nhớ nhắc chừng bọn này nhé!
 
Cười theo Chung thôi, vì nghĩ rằng việc đối phó với Cộng Sản không đơn giản như những anh bạn sống trong nếp sống tự do của miền Nam ta!
 
Và, bởi chúng đã chỉ định anh Tuyên sẽ phát biểu trong đợt này.  Anh hỏi tôi để biết những tay nào cũng bị chỉ định trong dịp này không?  Nhưng tôi trình bày với anh “đừng nên lưu ý”!  Vì đấy chỉ là thủ thuật của bọn chúng muốn “đánh lận con đen làm ta không đoán nổi.  Chứ mục đích chính là chúng nhắm vào anh mà thôi.”
 
Anh tâm sự với tôi trước đấy hai ngày . . .
 
Vỹ ơi!  Lần này nếu mình nói cho chúng vừa ý là “tiêu” luôn cả sự nghiệp đấu tranh của mình bao lâu.  Nhưng nếu nói ra tận lòng mình!  Thì chắc chắn chúng không tha!
 
Nghĩ anh nói hoàn toàn đúng nhưng chỉ biết im lặng nhìn anh chứ không dám nói lên sự đồng ý ấy!
 
Và sau đây là câu chuyện anh Trần Văn Tuyên chết mà sau này ngày giỗ thứ 20 của Anh tại Hoa Kỳ, chúng tôi đã tổ chức và in tài liệu này phân phát khách tham dự.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
MỘT LINH HỒN BẤT TỬ
 
 
Nhà Cách Mạng TRẦN VĂN TUYÊN
 
Trích trong KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI của PHAN VỸ
 
 
Gần đây, hàng năm cứ đến ngày cuối tháng Mười Dương lịch, nhiều nơi tại hải ngoại đều có hoặc bạn bè, chiến hữu, môn đệ hay thân thuộc giỗ Ông để tưởng nhớ, để ghi lại những nét hào hùng, hoặc đáng yêu của người Lãnh tụ , người Đồng chí.
 
Nhưng gần như chưa thấy người cùng sống chung trong phút cuối cùng này, hay nói cho đúng hơn đã ngồi ngay trước Ông khi chứng kiến cảnh Ông “gục” xuống từ giã cõi đời, để lại bao thương tiếc người đã có một cuộc sống hào hùng và đáng kính.
 
TRẦN VĂN TUYÊN, người Lãnh tụ, người Đồng chí vô cùng đáng kính!
 
Riêng với tôi, lại thêm nghĩa là một ân nhân đã hai lần thọ ơn, nên xin gọi đúng nghĩa tiếng ANH như ngày ấy, để nhắc lại những điều không bao giờ quên được.
 
Và, làm sao quên được!
 
“Trại Hà Tây là một trong hai Trại Trung Ương mà chúng đưa về đây cả số tù chúng tập trung từ Chính phủ Miền Nam gồm Hành chánh, Đảng phái, Công an và Tình báo (Trại thứ hai là Trại Nam Hà tức Hà Nam Ninh, gần Phủ Lý, Nam Định).
 
Ra đến Hà Tây không lâu, bọn Chủ ngục đã thừa lệnh Đảng, bắt đầu đi ngay vào kế hoạch khai báo với danh hiệu mỹ miều Học Tập.  Kế hoạch khủng khiếp này khỏi nói dài dòng hẳn chẳng mấy người không ghê tởm.  Chúng nghiên cứu tinh vi để làm sao chúng ta phải “khai hết, khai đúng” mà không cần đánh đập hay áp dụng biện pháp.
 
Xin chi tiết hóa một “điểm nhỏ” chỗ này để chứng minh . . .  hiểu đúng thủ thuật và thủ đoạn của chúng.
 
Đấy là thấy chúng ta thấm đói, đã bắt đầu thèm ăn . . .  (mà trong anh em đã có vài hành động không mấy đẹp về ăn uống) là chúng bắt đầu.
 
Chúng nói với một giọng nhân đạo – thời gian học tập nay mai các anh sẽ được ăn ngon và đầy đủ hơn – Cách Mạng khoa học xác định rằng lao động ít đòi hỏi dinh dưỡng – mà chỉ cần no, nhưng làm việc trí óc cân não phải đầy đủ dinh dưỡng để có đủ sức nhớ lại những điều quá khứ xa xưa . . .  các anh sẽ được ăn thịt!
 
Rồi, chúng cho ăng ten (antenne) rà kỹ để tạo nên những người tình nguyện ghi tên lên diễn đàn kể lể, giận Cha, trách Mẹ, đã không hướng dẫn mình đi vào con đường Cộng Sản, Cách Mạng nên ngày nay phải có tội với Nhân dân và Đảng.
 
Vừa tạm đủ, chúng cho chuyển ngay sang giai đoạn khai báotố giác.
 
Khai báo thì ngày nào chúng cũng vào các buồng nói lên những tin tức ở buồng A, buồng B có anh đã khai trên 500 trang, nhưng nay còn xin thêm giấy để khai cho đủ và cho hết.  Rồi những tin khác, ngược lại anh không chịu khai, ngoan cố, sẽ bị đưa đi nơi khác.
 
Chúng làm bộ, nói nhỏ cho biết “nơi khác” là Cổng Trời ở biên giới, chỉ có chết, chứ chẳng mong có ngày về.
 
Chúng lại lần nữa kêu gọi lên diễn đàn để thử thách.
 
Và, khi không thấy những người chúng cần như anh Tuyên, bằng chuyển ngay sang kế hoạch khác, ngưng khai báo để học tập!  Chúng truyền miệng với những Đội trưởng là “học tập thấm nhuần mới chịu khai báo!”
 
Thế là kế hoạch học tập và thảo luận được bắt đầu.  Các đề tài được sắp xếp kỹ thuật:  Chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà Nước – để thấy rằng tất cả đều trong “tội chết” nhưng nhờ chính sách của Đảng và Nhà Nước nên được khoan hồng.  Phải biết ơn mà lo đền đáp!
 
-         Tội ác của Mỹ Ngụy để chúng tha hồ vẽ nên những thứ tội.  Dù phía nào cũng là có tội.  Đừng ngây thơ tưởng rằng mình “đối lập” trước kia là vô tội.  Đấy mới là tội nặng, vì đã tô son, phết phấn cho Mỹ Ngụy.  
 
-         Phồn vinh giả tạo để ý thức rõ rằng những hiện tượng của Miền Nam trước đây là thứ phồn vinh “xây nhà trên cát” không đáng tin cậy chút nào!
 
Chúng tạm ngưng và quỷ quyệt hơn hết là mở ra hai giai đoạn: 
 
-         Tố giác để xây dựng làm cho trong chúng ta không còn che dấu cho nhau, chia rẽ và tố giác – chưa nói là vu khống, bịa đặt, khi không thỏa mãn nhau.
 
-         Báo công để nói rõ trước kia có công với Cách mạng, đã che dấu kháng chiến hầu mong được về sớm.  Đây là lúc buồn lòng nhất, khi thấy những người trước đã bán đứt quê hương, xứ sở. bà con cho Quỷ Đỏ.
 
Cán bộ ngồi theo dõi để rút kinh nghiệm và xét lại biên bản.  Sau khi tạm ngưng các tài liệu, chúng bước vào giai đoạn thảo luận và quy định mỗi buổi phải có ba người phát biểu cảm tưởng về những tài liệu đã học tập sau khi đối chiếu lại bản thân.  Và, đến đây là phần “thảo luận” để toàn Đội nhận xét về thái độ thành khẩn của đương sự.  Dĩ nhiên là tên Cán bộ chủ trì theo dõi và hướng dẫn kỹ càng, chu đáo chưa nói là gay gắt!
 
Đây là lúc những người trước ở trong các Đảng phái, Đối lập và Tuyên úy bị chiếu cố nhiều nhất.
 
Lúc này đến giờ nghỉ chẳng còn không khí vui vẻ như trước mà mọi người đang lo tìm cách đối phó, chẳng ai tin ai.  Khi hết giờ, cửa đóng lại để tiếp tục . . .  là in như thấy kẻ thù đang chờ giờ . . .  đưa mình lên máy chém.
 
Tối lại, chỉ có chí thân với nhau mới mượn cớ uống trà xì xầm nho nhỏ nhưng hẳn nhiên đề phòng tuyệt đối với vài người đã bị anh em biết là “antenne” vì cũng chính lúc này họ mới có dịp “làm việc”.
 
Anh Tuyên thì khác!
 
Anh thường nằm thẳng người, tay gác lên trán suốt đêm.
 
Anh sẽ phải phát biểu vào ngày mai và nhất là biết rõ phải chuẩn bị để trả lời những nhát “búa” ghê gớm tên Cán bộ đang chờ sẵn.  Đa số anh em đều biết việc ấy!
 
Bởi vì đã có một sáng tên này “đay nghiến” anh những lời xác định trong bản tự khai mà chúng buộc anh ngoan cố.  Anh đã nói gì?  Một Cán bộ mà anh em ta đã mua chuộc được rỉ tai cho biết rằng Trung Ương của chúng vô cùng tức giận khi đọc thấy Anh khẳng định lời khai từ trước “Tôi không có tội gì với Tổ Quốc và đồng bào cả.  Nếu có tội chăng là tội chống Cộng Sản.”
 
Mà ngày mai là lúc chúng vận động rỉ tai với anh em trong Đội, nhất là những người đã lung lay lập trường, những người chỉ mong được tha về sớm phải lên tiếng “ĐẤU” đến cùng, không tha thứ trước khi Cán bộ Trung Ương nhận xét.
 
Đấy là điểm “quan trọng” mà Anh phải chuẩn bị.
 
Như từ mấy hôm cứ tối lại tôi thường qua chỗ Anh nằm để săn sóc nơi cổ chân cho Anh, bởi vì thiếu dinh dưỡng và gian khổ nên nơi cổ chân Anh bị “xùi” và ngứa như bị phong thấp.  Tôi dùng “pommade” và “alcool” đã mang theo từ trong Nam hoặc anh em tặng, xoa chữa lợi dụng cúi sát vào Anh nói nhỏ:
 
-         Ngày mai là ngày Anh phải chịu trận với chúng.  Thấy Anh im lặng tôi tiếp: 
 
-         Bọn nó chỉ chờ mong có thế!
 
Anh thở ra nhè nhẹ:
 
-         Rất khó chú Vỹ ơi!  Chỉ cần nói cho chúng không bực tức chứ đừng nói là vừa ý thì cũng đã tiêu ma cả công trình đấu tranh của mình rồi.  Mà nói đúng lòng mình đúng lương tâm thì chắc chắn chúng chẳng để mình yên!
 
Nhất là khi nói trước mặt anh em trước mặt toàn Đội!
 
Anh im lặng.  tôi cúi đầu như thông cảm không nói gì thêm vì muốn tôn trọng cái giây phút quan trọng của người mà mình đã biết nhiều lần.  Vì đại cuộc hơn vì toan tính riêng.
 
-         Thôi Anh nghỉ!
 
Về chỗ lại nhìn sang thấy Anh vẫn gác tay lên trán.  Tôi thương Anh quá!  Bởi hoàn cảnh và địa vị Anh chứ đâu phải như tôi mà dám liều hoặc đánh nước cờ xả láng với bọn chúng!
 
Một đêm khá dài mà tôi chắc Anh không thể nào ngủ được.
 
Sáng ra, sau những việc làm như mọi ngày và lại vào thảo luận.
 
Tôi thuộc Đội khác, ngồi đối diện với Đội Anh Tuyên, chỉ cách con đường giữa buồng.
 
Lính tính như biết chẳng an lành nên thỉnh thoảng lại cứ nhìn sang đến nỗi chẳng còn lưu ý ở Đội mình ai nói và nói những gì.
 
Bên Đội Anh, người thứ nhất nói xong, đang thảo luận.  Tiếp người thứ hai được giới thiệu thì, đột nhiên mọi người xôn xao, tôi nhìn sang thấy rõ.
 
Anh Tuyên gục xuống trong khi hai bàn tay như nắm chặt lại nhau.  Trong buồng xôn xao:
 
-         Anh Tuyên ngã!  Anh Tuyên trúng gió!  Anh Tuyên ngất xỉu!
 
Hai tên Cán bộ ra dấu mọi người giữ yên lặng và chúng cho 4 người đứng lên, trong số ấy tôi còn nhớ anh Vũ Văn Vị, anh Trần Cảnh Chung khiêng Anh qua chỗ nằm cách độ 5 thước và bảo mọi người ngồi lại tiếp tục.
 
Người tinh ý sẽ nhận thấy vài chi tiết trong buồng lúc này hai thái độ rõ ràng!
 
Nhìn nhau như nghi ngờ và hốt hoảng.  Nghi ngờ tại sao lại ngất xỉu đột ngột như vậy?  Trong số này có tôi.  Mất bình tĩnh đến độ cứ nghĩ như có kẻ đã mưu sát Anh, đã dùng súng hãm thanh bắn Anh.
 
Và, ngược lại một vài người lộ thái độ khác nghĩa là không nói ra nhưng mỉm môi như nghi ngờ vì chắc hẳn họ nghi ngờ Anh giả vờ, Anh đóng kịch.  Đấy là những người đã bị bùa mê của Cộng Sản, đã được chúng hứa hẹn sẽ cho về nay mai.
 
Nhưng đa số thì thầm nhau “Anh trúng gió!”
 
Trần Cảnh Chung nói nhỏ với tôi.
 
Anh rất yếu chỉ thì thầm không sao!  Không sao nhưng mê man.
 
Bọn Cán bộ trên Trại nghe báo cáo, xuống chỉ định 4 người khiêng Anh về trạm xá.
 
Đến lúc này không ai bảo ai, nhưng đều cảm thấy hai thái độ lúc nãy đều sai cả.  Vì không ai hạ sát Anh mà cũng chẳng phải Anh đóng kịch.  Anh vì căng thẳng thần kinh mà bị đứt mạch máu não.
 
Buồng bên cạnh có vài người chạy sang như muốn hỏi tin tức nhưng thấy trong này còn đang thảo luận nên rút lui, vài người chạy theo xuống trạm xá.
 
Lúc vừa tan giờ thì số anh em này lên cho biết Trại đã chở Anh về Tỉnh ngay.
 
Đến đây ta hẳn nên nín thở im lặng vài giây để tưởng tượng xem họ chở Anh bằng gì và có cho ai trong số anh em mình theo không?
 
Chiều lại . . .  ai cũng nghe rõ ràng . . .  chúng chở Anh bằng xe chở đá, bỏ Anh nằm phía sau xe – vì anh em làm ở trạm xá đều chứng kiến – mà không cho ai trong chúng ta cùng đi theo.
 
Người am hiểu Cộng Sản, không bị bùa mê của chúng hẳn phải thở dài lắc đầu!
 
Chiều nay anh em hầu như bớt nhút nhát như những ngày qua của cái không khí học tập, thảo luận mà qua lại bàn chuyện Anh Tuyên.  Đa số đã kết luận, vì căng thẳng thần kinh để nghĩ cách trả lời, cách đối phó với bọn Cộng Sản chủ trương trong dịp này hỏi cho ra lập trường xác định của Anh về hai tiếng “vô tội” mà Anh đã bị đứt thần kinh.  Anh biết rõ chúng sẽ cho đấu Anh đến cùng.
Anh em buồn rầu đi đi lại lại như để van vái cầu nguyện cho Anh.
 
Đêm nay một đêm mà suốt đời tôi khó quên!
 
Cửa buồng vừa đóng, ngồi cầu an cho Anh xong tôi nằm thao thức mong mau sáng để đi hỏi tin tức.
 
Tôi bị ám ảnh – vì tình cảm người Ơn, người Đồng chí, người Anh Cả mà cứ nằm nhớ lại từng chi tiết như một cuốn phim dài.
 
-         Nhớ ngày cùng bị giam tại Tổng Nha Cảnh Sát sau vụ đảo chính 11 tháng 11 tại dãy biệt phòng A với cùng các anh Phan Bá Cầm, Nguyễn Đại Thắng với bao tình tiết đối với người có thẩm quyền lúc bấy giờ với bạn bè với số đàn em.
 
-         Nhớ ngày Anh ra Tòa Thượng Thẩm để biện hộ cho tôi mà Anh đã lý luận rằng “đây là một vụ án Chính trị” để Tòa xét lại án tội cho tôi.
 
-         Nhớ ngày tôi hàm oan vì bị số người vu cáo quan hệ với Cộng Sản trong Núi mà Anh đã cùng Dân biểu Quảng Nam cương quyết can thiệp cho tôi.
 
Đặc biệt là nhớ rõ câu chuyện đoàn thể lúc ấy tôi đã cùng số anh em Trung cấp vận động các Lãnh tụ ngồi lại thống nhất – bên cạnh sự ủng hộ nhiệt tình của Anh – mà khi bất thành Anh đã nhìn chúng tôi với cả một ánh mắt thông cảm vô cùng khôn tả.
 
Và còn khá nhiều chuyện cứ thế kéo dài đến lúc mệt mỏi vừa chợp mắt thì kẻng Trại đánh thức.
 
Thăm dò không lâu được một Cán bộ anh em đã mua chuộc từ lâu kín đáo cho biết:
 
-         “Anh Tuyên đã chết trên đường xe chạy về tỉnh.”
 
Thật là một tin kinh khủng!  Một tin vô cùng đau đớn đối với chúng tôi!
 
Chẳng ai nói với ai nhưng hẳn nhiên câu giải đáp không khác gì nhau – “xe chỉ cần một cái lắc nhẹ trong khi cố tình chạy trên một tảng đá lớn là mạnh khỏe như chúng ta cũng rêm mình nhức mẩy chứ đừng nói tình trạng hôn mê như Anh.”  Đấy là không kèm theo các giả thuyết khác mà chẳng mấy người không nghĩ đến . . .  chúng đã bóp cổ Anh chết!  Trời nào biết được?
 
Tại sao chúng tôi quả quyết là chúng đã giết Anh.
 
Mặc dù sau này nghe đâu bọn chúng cố tìm cách giải thích với gia đình Anh, nhưng người có chút kinh nghiệm về Cộng Sản phải phân tách vô tư để biết rõ tại sao chúng cần giết Anh trong lúc này!
 
-         Tại sao chúng cho bà chị anh Vũ Hồng Khanh từ Vĩnh Phú xuống nhận lãnh về quản thúc tại gia . . .  sau khi tổ chức một cuộc mít tinh (meeting) cả vùng quê anh để tuyên bố với đồng bào mà trong ấy chúng biết chắc là có những Đảng viên hay người có cảm tình với Quốc Dân Đảng rằng:  Vũ Hồng Khanh trốn chạy đường trời thì Đảng và Nhà Nước cũng bắt được!
 
-         Tại sao chúng cương quyết giam anh Nguyễn Duy Xuân, Tiến sĩ Viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ – chết trong tù – dù anh bị ung thư kéo dài và hành hạ thân xác vô cùng đau đớn?  Mà nếu chúng muốn cho về thì chỉ cần gọi gia đình ra nhận là được ngay.
 
-         Tại sao chúng cho anh Đại Tá Khương được về, dù anh bị què, không đi được mà bị cấm khẩu . . .  chỉ còn ớ . . ớ?  Phải chăng chúng muốn trả thù mà trước đây chúng cố tình ghép cho anh Khương cái “ô danh” – khét tiếng về Chuồng Cọp Côn Đảo – vì anh phụ trách công tác này ở Côn Sơn, để rồi hôm nay cho về trong lúc người anh đã hoàn toàn bị bại liệt, câm mà cảnh cáo với dân chúng sự trừng phạt của Đảng và Nhà nước Cộng Sản.
 
Phải suy tính nếu ai còn chưa biết được thủ đoạn của Cộng Sản chứ đừng nói như một vài kẻ ngây thơ đã cho rằng “có bắn vào đầu, đâm vào họng chết” mới là giết.
 
Và, có biết thật rõ như vậy mới dứt khoát rằng Cộng Sản đã giết anh Tuyên đúng lúc chúng cần, không sợ ai dị nghị là chẳng cho người đi theo xe, chẳng cần người làm chứng!
 
Tôi nói rõ, không vu cáo, không buộc tội một cách vu vơ.  Và nghĩa là tôi không ức đoán.  Đã nhiều lần thực sự “dẫm” vào sự việc, thấy rõ quá nhiều hành động của Cộng Sản.
 
Và, rồi ngày chôn Anh, chúng cũng để nắm cơm, cái trứng cũng cho vài anh em ra dự để chụp ảnh sau này làm chứng.  Chúng cứ nghĩ là mọi người đều tin, vì chẳng ai khôn hơn chúng.
 
Sau đây, còn vài chuyện khác như quý Anh trong Quốc hội ta ngày xưa do anh Tiếp chủ xướng tổ chức truy điệu Anh, những buổi “mạn đàm” để nhắc lại tổ chức Nhân Quyền mà Anh là sáng lập viên Hội Bảo Vệ Nhân Quyền và Dân Quyền Việt Nam, nhắc lại Tổ chức Quốc Dân Đảng mà anh là người Bắc nhưng lại làm Tổng Bí Thư cho Xứ Bộ Miền Nam của Tướng Nguyễn Hòa Hiệp, để nhấn mạnh ý nghĩa đoàn kết – không chia rẽ - hoặc đặc biệt nhắc lại câu chuyện không chịu ra đi khỏi Việt Nam trước ngày 30 – 4 – 1975 dù Tòa Đại sứ Mỹ đã 3 lần điện thoại lưu ý dành sẵn chỗ cho Anh và gia đình ra đi, nhưng Anh trả lời là ở lại để sống chết với đồng bào, đồng chí . . .  Anh không đi thì gia đình Anh đâu chịu ra đi!
 
Vì bao nhiêu điều kính phục Anh như đã nói, chưa kể là còn khá nhiều chi tiết để khỏi làm mất thì giờ quý vị - mà cũng trong giờ phút này tại Cali có Tổ chức Hội Luật Gia kỷ niệm Anh, viết lại một Kỷ Yếu, tôi có gửi bài khá dài đóng góp, thì xin được trình bày với quý vị tóm tắt như vừa qua, để được nói lên lần nữa là đầu bìa tôi có để dòng chữ:  một linh hồn bất tử với ước mong khắc đậm giữa không gian, ghi sâu vào giòng lịch sử khi hồn thiêng Anh, khí tiết Anh còn phảng phất nơi đây Anh Trần Văn Tuyên!
 
Sau ngày Anh Tuyên chết bọn chúng biết tinh thần anh em ta có nhiều dao động, nên nghĩ đến việc đưa đi lao động.  Chúng chia ra thành nhiều Đội, như Thợ Nề, Trồng Rau, và riêng những người chúng thấy không thích hợp với các Đội này thì chúng gọi là Tổ “đan dát” để bày nhau chẻ tre, vót lạt, đan rổ.
 
Tổ này phần đông là những anh em lớn tuổi không tiện cho vào các Đội kia.  Nhưng nhìn vào số “đan dát” hầu hết những tay trước là cấp Chỉ huy ở Miền Nam . . .  như Bộ trưởng Tư Pháp, Tài Chính hay Tổng Giám Đốc v. v. . .
 
Đội này chỉ làm việc yếu ớt một thời gian ngắn thì chúng viện lý do không có tre . . .  và bổ xung vào các Đội khác.  Trong số này có tôi.  Đây cũng là lúc chúng cho về bớt những anh em trước là Bộ Trưởng, Thứ Trưởng mà xét không lợi gì, trong việc giam giữ những anh này.
 
Tôi được bổ xung về Đội trồng rau.
 
Nhưng một thời gian ngắn chúng lại bảo ở nhà và giao trực sinh tại buồng.  Chủ trương của bọn chúng không để cho mình đoán, vì thay đổi thường xuyên công tác của ta.  Bởi vậy nếu ta vừa nghĩ rằng chúng để ta ở nhà để theo dõi hay vì thấy ta ra ngoài lao động hay rỉ tai xách động những anh em trẻ thì cũng chưa hẳn đúng.  Ta vừa nghĩ ra là chúng lại thay đổi công tác khác, mà dự đoán trước của ta đã không còn đúng nữa.
 
Trong lúc này, thì có một số từ miền Nam đưa ra thêm.  Tất cả số này là từ Trại Mỹ Phước Tây (Định Tường).  Số này có cả người chỉ là Dân vệ, hay Cán bộ Áo Đen.  Như vậy thì việc đưa ra Bắc là những người được chọn lọc hay nguy hiểm đã hoàn toàn không đúng!
 
Số này phần lớn mạnh mẽ, nhưng cũng có ông già Tám Hưu trên 80 là Trưởng đồn Nghĩa Quân, hay anh Bé hơi khùng khùng chỉ là Dân vệ.  Lại có chú Nguyễn Huệ điên hẳn.  Chú này xưng mình là Trung tướng Nguyễn Huệ, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 32 . . .  và khi bình tĩnh thì chú cho biết chỉ là Chuẩn Úy.  Và cũng có anh bạn kép cải lương Diệp Tùng vì là Cán bộ Áo Đen nên cũng đi cải tạo.
 
Khi có số này ra, thì những việc đoán chừng trước đã tiêu tan mà chẳng ai còn muốn nhận định hay đoán mò nữa.
 
Nhìn những anh em đi làm lao động nặng hay những anh trong Đội “NỀ” phơi nắng cả ngày là ta phải nản chí.
 
Cơm ăn hàng ngày đã bắt đầu sụt giảm và tình trạng đói đã làm tất cả lo buồn.
 
Tôi, ở nhà trực sinh.
 
Mỗi buổi sáng sau khi anh em vừa đi lao động, việc đầu tiên là đổ thùng.  Có một chú tù “hình sự” mạnh khỏe gánh một đôi thùng lại phía sau “cầu tiêu”.  Tôi phải ra xách những thùng phân đi suốt ngày hôm qua, đổ qua thùng cho chú ấy gánh đi.  Ta gánh nước lại dội cho những thùng này sạch xong dội nước phía trong chùi cầu.  Xong việc dọn cầu là quét nhà, quét sân, nghỉ chơi một lát là đi lãnh rau hay cơm về chia cho các gô, ca anh em đã để sẵn trước khi đi lao động.
 
Tôi liên hệ được với một chú tù “Hình sự”, nghe đâu cũng là Kỹ sư của Cộng Sản.  Chú này hàng ngày đi lại các buồng sửa các đường dây điện nếu bị hư hỏng.
 
Gạ bán “vàng” cho chú ấy.  Chú lại về hỏi ý kiến vợ tên Trại trưởng.  Và, thế là hôm sau chú chịu giá mỗi “chỉ” bảy chục đồng (70$00).  Nhưng chú đưa điều kiện là phải chờ đem về Hà Nội thử có thật “vàng” không mới chịu.
 
Cả một chuyện khá rắc rối, nhưng nếu không thỏa thuận thì chẳng bán được.  Tôi lấy dao chấn ra tương đương bằng một cái “khâu” thường đeo và phỏng chừng một “chỉ”.  Ngày sau đúng hẹn, giao cho chú ấy, hẹn rằng chỉ lấy 10$00 tiền “phiếu” còn là lấy các thức ăn.  Phải lấy tiền “phiếu” vì ở Trại không cho mua bán bằng tiền, mà chúng cắt bìa xanh hình bằng 5 phân x 3 phân, đóng dấu để tiêu thụ như 1$00.  Dùng phiếu này khi Trại có tổ chức bán bánh nướng hay thịt mới mua được.  Tôi chỉ lấy 10$00 phiếu, còn hẹn là lấy đường, sữa và thịt kho.  Đường mỗi kí giá 7$00, sữa mỗi hộp 7$00.
 
Năm ngày sau chú “Hình sự” này đem về đủ số và còn cố “gạ” tôi để mua thêm nữa.
 
Nghe anh em kháo rằng vàng lúc ấy tại Hà Nội giá 300$00 một chỉ.  Tôi từ từ ăn vì cốt để dành chứ không ăn vội.  Một vài người thân mới dám mời nhau vì còn ngại anh em nói ra là vô vùng tai hại.
 
Nhưng chẳng quên chuyện khi được chỉ định qua đội Văn nghệ.  Trong Đội có hai người là Khiêm, một tay đờn Guitare rất hay – và một anh bạn trẻ tên Linh cũng nằm gần.  Hai anh là người Công giáo.  Đến ngày Giáng Sinh trong cảnh quaá khổ, tôi nảy ý cả ba cùng ăn NOEL.  Dùng đường và mỡ heo thay làm Beurre.  Mua lại bánh của những người dư thừa và dùng sữa để đêm ấy hưởng một Giáng Sinh tuy đạm bạc nhưng cũng khá đặc biệt.  Thế mà, sáng hôm sau bọn Cán bộ đã gọi lên chất vấn.
 
-         Anh làm gì có sữa và bánh mà ăn Noel?
 
-         Tôi chỉ có bánh để dành, còn sữa là của chú bạn Linh.
 
Biết tên Cán bộ này đang lúc rất cần nhờ Linh này làm cho những cái ‘lược” khá đẹp để đem về cho vợ, nên nói thế là sẽ yên.  Tuy nhiên, vừa ra khỏi, là tôi liên hệ ngay với Linh để căn dặn:
 
-         Nếu Cán bộ hỏi thì anh nói sữa của anh nhé!
 
-         Khỏi lo!  Tên Cán bộ này đang rất cần nhờ tôi!  Nói gì mà chẳng được.
 
Hôm sau trong giờ lao động, tên này lại vào tìm tôi và vừa nói chuyện vu vơ, y gợi lại chuyện hôm qua.
 
-         Anh không phải người Công Giáo sao cũng ăn Noel?
 
-         Trong Nam trước đây, đến ngày Noel là người nào muốn thưởng thức, cũng đều chơi cả không luận có Đạo hay không.
 
Thế là câu chuyện được cho qua.
 
Và, lúc này nghe đâu Bộ Nội Vụ bắt đầu cho thông báo để những gia đình có khả năng được xin phép ra thăm chồng.
 
Chủ trương của bọn chúng không phải vì nhân đạo.  Bởi thấy sức khỏe anh em bắt đầu sa sút, họ nghĩ chỉ có cách này gia đình sẽ giúp cho anh em chúng tôi may ra phục hồi được phần nào sức khỏe.
 
Thì một buổi sáng có lẽ là người sớm được thăm nuôi.  Tôi được Trại cho biết có gia đình ra thăm.
 
Ngạc nhiên không còn cách nào nghĩ được nhưng tôi chỉ nghĩ rằng hôm anh bạn Dân Xã được tha về có nhắn nói thật cho vợ tôi biết về số vàng đã được để vợ tin mà tìm cách ra thăm.
 
Thế là tôi được vào Cán bộ giữ vàng để xin nhận lại số vàng giao cho gia đình đem về.  Khi vào ký giấy người nữ Cán bộ này soạn ra giao lại cho tôi.  Cô ta như người “từ trên núi mới rơi xuống hết nhìn hai thanh vàng lại nhìn tôi.”  Nghĩ rằng có lẽ cô này chưa hề thấy vàng thẻ nên ngạc nhiên thế thôi.
 
Nhưng ngờ đâu sự việc lại là một chuyện khác.  Sau một tuần, ngày tôi nhận vàng ra giao cho gia đình thì cô nữ Cán bộ này đã tổ chức cướp sạch tất cả của quý mà chúng ta giao cho giữ.  Những anh đã giao giữ đồng hồ, nhẫn vàng đều được báo là cô ấy bị trộm lấy sạch.  Bọn họ chỉ còn “hô hoán” với nhau, rồi làm đủ thứ biên bản hội thảo.  Và, cô Cán bộ này được chuyển đi nơi khác mà bọn họ cho là cô đã bị tù.  Nhưng nghe đâu, cô này là con của một Trung tá Cộng Sản có thế lực.  Chắc rồi!  Cũng im thôi.  Và, hèn gì có thế lực mới được giao cho công tác tin cậy như vậy.
 
Trò ăn cướp của Cộng Sản là vậy.
 
Sau này chúng cũng có việc bồi thường, nhưng trăm ngàn lần thì bồi thường một phần nhỏ, mà phải qua lắm thủ tục khai báo, nên nhiều anh em vì muốn ra về cho yên, cũng đành “xí cô hồn” cho xong chuyện.
 
Riêng tôi, nghĩ lại cái hôm nhận vàng mà cô ấy “ngớ” người lên nhìn thì nay mới nghĩ ra cái “tiếc rẻ” không ra tay sớm của cô ta.
 
Trở lại câu chuyện khi nhận xong vàng, và ra gặp vợ, chỉ hỏi cho qua chuyện mới được biết rằng vợ tôi đâu có xin được phép đi thăm nuôi, nhưng đã đi lén, và lúc đến Ga Hàng Cỏ ở Hà Nội lanh trí khai bị kẻ gian cắp mất cả giấy tờ đi thăm chồng, nên Công an Ga Hàng Cỏ chứng nhận cho, và vì vậy được vào thăm.
 
Nhà chẳng có gì nên chỉ đem ra cho một xoong “nhỏ thịt kho trứng và vài gói kẹo”.
 
Tôi đã nhanh nhẹn trong khi Cán bộ vô ý, vứt ra thêm cho khoảng 3 chỉ, ngoài số vàng nhận của Cán bộ và dặn vợ về Hà Nội bán 3 chỉ này mua thêm đồ ăn vào cho.
 
Tội nghiệp có 3, 4 anh em cùng sống gần nhau, quá đói.  Tôi đã cho các chú ấy ăn đủ thứ cho thật no, đã thèm.
 
Thế là một con “ngỗng quay,” một nồi chè nếp, khoai môn và nồi xôi, các chú ăn hết ngay trong ngày.  Tôi dành dụm ăn tằn tiện trong lúc anh em quá đói.
 
Nhưng của chẳng có là bao, giúp được người nào quý người ấy, chứ làm sao giải quyết được số lớn!
 
Sau thời gian này, tôi bắt đầu nghĩ đến việc ăn chay trường luôn, chứ không ăn 10 ngày mỗi tháng như từ trước.
 
Vấn đề nghiệp thức rõ ràng chẳng sao nói được!
 
Trong khi tôi có ý nghĩ ấy và viết thư về cho Chị tôi biết là tôi sắp sửa ăn chay trường đừng gửi cho các thức ăn mặn như tôm kho, cá sặt khô như trước.  Thì cũng chính là lúc may mắn niềm được Đạo bắt đầu đến với tôi.
 
Trong Đội có Cụ Chủ tịch Đảng Cấp Tiến, nguyên là Kỹ sư người nhà gửi vào cho bộ sách Thiền Học Giảng Thoại.  Từ các sách như Thiền Lâm Bảo Huấn và những sách quý khác cũng được lén lút đưa vào.
 
Thế là chúng tôi đêm ngày mượn về, ngồi viết lại cốt để cố nghiên cứu, chứ không chỉ đọc xong rồi trả lại.
 
Qua những sách nói trên tôi đặc biệt đọc kỹ và tu theo Đạo Thiền.
 
Như nhiều người đã từng nói là Tu Thiền phải có Thầy nếu không rất dễ bị sai lạc mà ta thường gọi là tẩu hỏa nhập ma.
 
Trại Hà Tây là Trại tập trung đủ 4 khối:  Hành Chánh – Công An – Tình Báo – và Đảng phái của Chính phủ Miền Nam.  Về phương diện Quân đội thì nơi đây lại là nơi giam giữ các Tướng, Đại Tá, chỉ có một ít cấp nhỏ.  Về Hành chánh thì có đủ, từ cấp Thủ Tướng đến các Bộ Trưởng.  Về Tư Pháp có Tối Cao Pháp Viện đến các Tòa án – Lập Pháp có cả Thượng viện lẫn Hạ viện.  Còn nói về Tôn giáo thì đây cũng có đủ các Tôn giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Tin lành, Cao đài, Hòa hảo.
 
Thật là một sự góp mặt đầy đủ của Miền Nam.  Có những tay tử vi nổi tiếng, chỉ tay, tướng số rồi Thiền Tông, từ Thiền xuất hồn của phái Vô Vi đến Thiền Phật giáo của Như Lai Thanh Tịnh thiền.
 
Về nhân tài thì nhiều điều đáng nói của những tay kiệt hiệt trong nhiều lãnh vực.
 
Vì lẽ ấy, khi nói đến việc tôi nghiêng hẳn về Thiền Tông không phải chẳng có lý do.
 
Trước kia dù sống với Tịnh Độ Tông, bởi là đệ tử của Hòa Thượng Thích Đôn Hậu nhưng cũng đã có nhiều bạn bè muốn tôi nghiên cứu để bước lại với Thiền nhưng chưa có cơ duyên.
 
Nay trong cảnh này, và nghĩ rằng cơ duyên đã đến, tôi đọc kỹ các sách về Thiền và quyết chí tu Thiền.
 
Từ suy tư đến thực hiện tôi dè dặt, nhưng không phải không có nhiều dữ kiện để tự tin mạnh mẽ.
 
Sự dè dặt phải có là vì thường nghe bè bạn lúc ở ngoài đời, cũng như nay trong tù, khuyến cáo cẩn thận kẻo “lạc” – mà thế gian thường gọi là “tẩu hỏa nhập ma”.  Nhưng đã quyết định, tôi luôn luôn cảnh giác mình, không say mê để “dễ bị lạc” xem chừng những biến tướng trong lúc “hành Thiền”.
 
Trong khi ấy thì được xác nhận các dữ kiện để tự tin vững chắc.  Dữ kiện đầu tiên là nhớ lại thời còn thanh niên – lúc mới 25 tuổi, đã học thôi miên qua người anh hướng dẫn.  Khi thu nhận bước đầu của thành quả về thôi miên, tôi đã luôn luôn tự hỏi rằng “tại sao hai người, mà mình dùng sức mạnh nhân điện sai khiến người kia được?  Chỉ một giải đáp này cũng đã khiến tôi tin tưởng rằng người có luyện tập – hay nói đúng hơn là tu luyện về phương diện tinh thần, về phương diện tâm linh . . .  mà một khi nhân điện của mình mạnh hơn thì mình sẽ sai khiến người trước mặt dễ dàng.  Thôi miên chỉ là một bước rất thấp của Thiền.  Hành Thiền khi tự chữa bệnh mình, không còn đam mê trong lục dục (ham tiền, ham danh, ham sắc, ham ăn, ham ngủ, và ham nhàn).  
 
Thất tình là:  (hỷ là vui, nộ là giận, ai là buồn, cụ là sợ, ái là thương, ố là ghét, dục là ham muốn).  Thì xem như mình đã thoát tục, đã không còn bị ràng buộc bởi những thường tình ấy, tất nhiên mình nhẹ nhàng.  Mới nghe qua tưởng khó lắm không thể làm được.  Nhưng khi đã tập luyện từ ngồi Thiền, đến lúc không còn chỉ là ngồi, mà trong bốn oai nghi:  hành, trụ, tọa, ngọa tức là đi, đứng, ngồi, nằm đều sống trong Thiền thì không gì lo nữa.
 
Chỉ bấy nhiêu khiến tôi nhớ lại thời thanh niên khi học thôi miên, đã nghĩ có thể làm được.  Chưa nói rằng qua sách vở từ ngoài đưa vào lần lần có đủ để tu học, nên việc tu Thiền đã đến với tôi một cách vô cùng mầu nhiệm.
 
Đã thế, lại được may mắn gặp vài Thiện Tri Thức bàn bạc nhau để ý thức những lời dạy trong Vô Lượng Thọ:
Hữu Thiền vô Tịnh Độ
 
Thập nhơn cửu ta lộ
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Hữu Thiền hữu Tịnh Độ
 
Du như đới giác hổ
 
Hiện thế vi nhân sư
 
Lai sanh tác Phật Tổ
. . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Mà đại ý những câu này tôi nhớ rõ:
 
Tu Thiền mà chẳng Tịnh Độ
 
Mười người thì đã chín người lạc đường!
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . .
 
Vừa tu Thiền lại tu cả Tịnh Độ
 
Chẳng khác nào cọp mọc thêm sừng
 
Sống giữa trần gian là Thầy thiên hạ,
 
Và sẽ về cõi Phật trong kiếp lai sanh
 
Nhưng những câu này, khi qua đến Mỹ đem hỏi Hòa Thượng Thích Thanh Đạm, trụ trì Chùa Giác Hoàng thì Ngài đã bổ túc đầy đủ như sau:
 
Hữu Thiền hữu Tịnh Độ
 
Do như đới giác hổ
 
Hiện thế vi nhân sư
 
Lai sanh tác Phật Tổ
 
Vô Thiền hữu Tịnh Độ
 
Vạn tu vạn nhân khứ
 
Nhược đắc kiến Di Đà . . .
 
Hà sầu bất khai ngộ
. . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Hữu Thiền vô Tịnh Độ
 
Thập nhân cửu ta lộ
 
Âm cảnh nhược hiện tiền
 
Miệt nhi tùy tha khứ
. . . . . . . . . . . . . . . . . . .
 
Vô Thiền vô Tịnh Độ
 
Vạn kiếp dư thiên sanh
 
Thiết sàng tinh đồng trụ
 
Một cá nhân y hô.
 
Và, như đã nói, hàng đêm trước khi đi ngủ đều có ngồi Thiền sau khi trì niệm Kinh Pháp Hoa . . .
 
Từ từ, được may mắn không hề bệnh tật, sức khỏe thể hiện rõ ràng và tâm tánh tuần tự thay đổi . . .
 
Tuy vậy, cũng vẫn chưa diệt được tính nóng nảy cần có.  Nhiều bạn bè lại thường đổ lỗi là tại tôi hay trì tụng  Kinh Kim Cang, mà anh em cho rằng những người tụng Kinh Kim Cang thường bị nóng nảy.
 
Sự nóng nảy đã xảy ra hai lần không cầm được.  Lần thứ nhất, là một hôm tôi cùng đám anh em trở lại lao động trong vườn sát buồng ngủ.  Một chú Cán bộ, có lẽ vì cố ý thách thức, như để dò xét thái độ chúng tôi, ra lệnh chúng tôi phải nhổ sạch cỏ trên các liếp rau muống mới được về.
Vô cùng bực mình về thái độ chú Cán bộ chưa sạch “mũi” này, nhưng nghĩ rằng phải làm cho hết trách nhiệm, mà y còn gay cấn, đấu tranh mới hợp lẽ, tôi cố nhổ thật sạch cỏ trên hai liếp rau muống của phần mình.  Đứng ra như để báo cho y biết, “tôi đã làm xong” thì y bước lại kiểm tra và tìm thật kỹ, đưa lên cao một cọng cỏ nhỏ bằng cây “tăm” xỉa răng, nói lớn là tôi làm dối!
 
Quá tức, chẳng còn nghĩ đến hậu quả, tung người lên, dùng đủ danh từ như kẻ mất trí, chửi thẳng mặt y, thách thức đem cây cỏ kia cho mọi người xem!
 
Y chưa có phản ứng gì, thì chú Diệp Tùng, anh kép cải lương, nhưng bởi là Cán bộ “Áo Đen” của Xây Dựng Nông Thôn nên phải đi tù Cải Tạo, cũng đã nổi lên chửi y, và cho rằng “mày không bằng tuổi con tao ở nhà!”
 
Sau buổi lao động hôm ấy về, tên Cán bộ giả lờ với tôi, nhưng gọi Diệp Tùng ra kiểm điểm. 
 
Tùng vừa ngạc nhiên, khi không thấy đả động gì tôi, vừa hậm hực với những người nằm gần:
 
-         Tại sao cụ Vỹ chửi nó, nó không nói gì, lại bắt tôi kiểm điểm?
 
Anh em cười bảo Diệp Tùng:
 
-         “Mềm nắn rắn buông” chú không biết à?
 
Đến đây mới nghĩ ra rằng chắc hẳn Diệp Tùng phải tự nghĩ:  “Tại sao cao hứng nhào ra trong khi y có nói gì Diệp Tùng đâu”.
 
Đây cũng là kinh nghiệm cho thấy với bọn y khi cần đấu tranh, cố tránh cảnh y sẽ ‘thua me gỡ bài cào” mà Diệp Tùng đã vấp phải tình trạng này.
 
Diệp Tùng nay sang Mỹ ở một tiểu bang nào đó, không xa lắm, bởi gần đây nghe anh em trong Liên Minh Dân Chủ nói có Diệp Tùng về họp, nhưng tiếc là không gặp được chú ta.
 
 
 
 
 
 
ĐẤU TRANH CHỐNG LAO ĐỘNG
 
 
Đây là câu chuyện quan trọng nhất của suốt 13 năm tù đầy không thể nào quên được!
 
Mùa nắng như thiêu như đốt.  Tên Quản giáo bắt mọi người xuống nhổ gốc “rạ” để đem về.  Trong cảnh đói khát, lại nắng nôi, còn ai làm nổi!  Nhưng phải làm.  Vừa lên ngồi nghỉ vài phút, đã bị y thúc hối xuống lại.  Thấy không khí đã đến lúc mình cần thực hiện kế hoạch.
 
Tôi suy nghĩ sách lược “Phải tạo cơ hội cho địch mắc vào bẫy ta!”  Tức là phải làm sao cho tên này phạm phải lỗi lầm trước.
 
Tôi thấy giờ quyết định đã đến!
 
Bắt đầu xuống ruộng, rồi lại lên, nhập nha, nhập nhằng, cố ý cho y chịu không nổi.
 
Quả đúng, y đã mắc kế!  Y đứng lên, phùng mang hét lớn:
 
-         Con chó la nó còn biết sợ!  Con người đã già râu tóc bạc rồi, còn lỳ lợm hơn con chó hay sao.
 
Thế là tôi phóng hai tay, nhào ra giữa đường la thất thanh (như y đã giết tôi.)
 
-         Ới!  Trời ơi!  Nó giết tôi rồi!  Trời ơi!  Trời ơi!  Tiếng la vang cả đám ruộng, vang vào tận văn phòng.
 
Tên Quản giáo rối lên, không nghĩ được cách nào hay, ra lệnh tên lính võ trang, chỉa súng lên không trung bắn ba phát:  đoàng!  Đoàng!  Đoàng!
 
Cả hiện trường sôi động!
 
Tôi lại la lớn như khi nãy một lần nữa.  Xong lại trước mặt y, vạch áo:
 
-         Đừng bắn trên không!  Có ngon bắn vào ngực tao đây này!
 
Tên Quản giáo bối rối, trong khi anh em toàn Đội cùng la:  “Ới!  Ới!”  Vang dội.
 
Trong văn phòng cho hai tên chạy ra.  Chúng bàn nhau vài phút, thì tên Quản giáo hỏi lớn:
 
-         Ai lao động đứng qua phía này!  Ai không lao động đứng qua phía kia!  Tất cả đã đứng qua phía tôi, ngay cả những anh từ trước không đồng chính trị như Nguyễn Đình Huy, Đồng Tuy cũng đứng qua phía tôi – không lao động – trừ hai người trong Ban Tự quản.
 
Biết không xong, tên Quản giáo lại gần tôi nói nhỏ:
 
-         Thôi anh xuống làm thêm dăm ba phút nữa, tôi sẽ cho cả Đội về.
 
Biết cờ đã về tay, thì còn “dại” theo kế y, tôi vừa nhào xuống, vừa la lớn:
 
-         Tôi xuống đây!  Nhưng nếu tôi chết thì Cán bộ phải chịu trách nhiệm đấy!
 
Y vội chạy lại kéo tay tôi, và bảo Đội trưởng cho về!
 
Những Đội quanh đấy, khi thấy Đội chúng tôi được về, không hiểu gì vẫn tiếp tục lao động.
 
Về đến nơi, anh em rửa ráy, chuẩn bị nhận cơm.  Riêng tôi ngồi gần bờ giếng kỳ cọ, vừa suy nghĩ để đoán những gì sẽ xảy ra.
 
Lúc này trong buồng, trong Đội chẳng ai nỡ phiền trách tôi, trừ hai chú trong Ban Tự quản Đội.  Nhưng họ nhìn tôi với sự im lặng, hoặc cúi mặt nhìn nơi khác.
 
Hai giờ sau, tên Quản giáo, như đã được lệnh trên vào ngay buồng gặp tôi.  Y hằn học, như căm hờn và đầy thách thức:
 
-         Anh chỉ được tài lợi dụng sơ hở, nóng giận của Cán bộ mà “đấu tranh.”
 
Trả lời ngay, không suy nghĩ:
 
-         Cán bộ giở hồ sơ tôi mà xem!  Đã từng bị giam chung với Cán bộ Cộng Sản – không phải cỡ Cán bộ đâu – mà là Tỉnh Ủy, Xứ Ủy tại Huế suốt ba năm.  Tôi chỉ học được bấy nhiêu thôi.  Đấu tranh là phải hợp pháp, nếu không sẽ bị vặn gãy họng!
 
Nghe đến đây, y “nguýt” một cái dài rồi ra.  Hôm sau nghe đâu y bị đổi đi một Trại khác.  Đây là một kinh nghiệm phải chú ý hai chiều:
 
Chiều thứ nhất là Cộng Sản không bao giờ để cho ta thấy cái “thua” của họ.  Trong trường hợp này, họ không có cách nào khác, phải đành!
 
Vậy mặt thứ hai là riêng về ta, đừng chủ quan, đừng coi thường, mà họ sẽ nhân cơ hội khác trả lại món nợ này.
 
Vì lẽ ấy, tôi rất đề phòng, chưa nói là không bao giờ tỏ ra kiêu ngạo, xem thường họ!
 
Trong câu chuyện này, càng thấy được sự nóng nảy đáng lưu ý của mình.
 
Vài anh bạn trong số quân nhân, từng ở các Trại núi Hoàng Liên Sơn, Yên Báy, từng thấy những tra tấn dã man của họ, bảo cho tôi rằng:  “Nếu trường hợp anh ở những Trại miền Núi, bọn họ sẽ “dần” cho anh nát xương.  Nhưng rồi lại cũng có những người giải thích rằng:
 
-         Trại này là Trại Trung Ương ở sát nách Hà Nội của chúng, nên chúng cũng cố tránh những tai tiếng không lợi!
 
Anh Tường, Đội trưởng Đội Đại Tá, hai hôm sau mới dám liên hệ với tôi.
 
-         Anh Vỹ ơi!  Anh thông cảm dùm tôi nhé!  Thật ra đáng lẽ khi thấy các anh “ngon lành” như vậy là chúng tôi ít ra cũng phải yểm trợ tinh thần các anh.  Nhưng anh biết rằng, trong chúng tôi thật ra cũng có vài con “sâu” mà chúng tôi không muốn để chúng lợi dụng cơ hội!  Nên nhìn các anh mà thán phục, rồi lại im lặng nuốt căm hờn.  Xin thông cảm nhé!
 
-         Anh đừng ái ngại!  Chúng tôi rất thông cảm hoàn cảnh và, ngay trong chúng tôi cũng chẳng muốn trách ai hưởng ứng, ai không tán thành.
 
Ngay từ ngày ấy, tôi cố tránh bớt những cơ hội nào khả dĩ để chúng ám hại được mình, và nhất là ngoài mặt không bao giờ tỏ ra “tự mãn” với sự việc đã thắng lợi.  Đấy là kinh nghiệm!
 
Từ đấy anh em trẻ nhất là chú Hà Lý Luận thường thích thú với việc làm của tôi đã tặng cho tôi cái hỗn danh là “Ông Già Lăn Lửa!”  Vài bạn không hiểu tại sao có cái hỗn danh ấy, thì ai đã từng đi xem tuồng hát bội Tam Nữ Đồ Vương hẳn nhớ rằng lúc ông già Tạ Ngọc Lân đã liều chết lăn trong lửa liều mình để giết cho được đứa con bất hiếu, bất trung Tạ Kim Hùng.
 
Nhưng phải biết rằng Cộng Sản không bao giờ cho ta đoán được việc làm của họ!
 
Cho đến một hôm, sau những ngày tháng im lặng ấy xảy ra với tôi một câu chuyện khá nhiều thử thách!
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Đây câu chuyện ĂN CẮP CƠM sự thật là sao?
 
 
Tôi chia cơm cho anh em ăn, thì thường sau khi rửa thùng, rửa vá, đũa thì cũng kiếm được non chén cơm.  Chưa kể khi chia cho con số 50, 60 người, thế nào cũng còn lại khoảng một vài muỗng mà chẳng cách nào hơn là “vốc” bỏ vào phần nào đấy cho xong chuyện.
 
Trong sự kiện trên, trong Đội có một vài anh em hoặc quá nghèo hoặc không cách gì chịu nổi vì đói lúc mà sức khỏe đã đến hồi sa sút.  Nghĩ giúp đỡ cho họ chút ít trong khi chẳng phải ăn cắp của ai.  Chỉ cần không phải bừa bãi vứt chén cơm còn lại cho ai cũng được.  Tôi nghĩ thế nên thời gian ấy là thời gian anh bạn P. M. T. . . .  (người chết xin viết tên tắt) sau này vì bệnh hoạn đã chết  trong Trại.  Tôi bảo anh cứ để thêm một cái lon nhỏ khác, ngoài túc số của toàn thể anh em khi có dư, tôi sẽ cho.
 
Anh TH . . .  thường đưa cái lon, cũng là loại lon Guigoz nhưng ngắn hơn.  Có dư tôi cho anh, không thì thôi.  Hôm ấy, thật ra không còn cơm dư, nên tôi để sang một bên.
 
Hai anh bạn trong Đội, thật ra chẳng thù oán gì tôi, hình như nghi ngờ, nhưng không hỏi trực tiếp, mà chỉ liếc nhìn cái lon rồi đi.
 
Ngày hôm sau, hai anh báo cáo với Cán bộ và xảy ra câu chuyện!  Họ đòi tôi lên cật vấn.
 
-         Hôm qua anh ăn cắp cơm phải không?
 
Dĩ nhiên với Cộng Sản tôi ngu dại gì nhìn nhận, nhất là câu chuyện không phải họ bắt được mà phải trình bày.  Đằng này họ lại bảo là “hôm qua” nên tôi nghĩ rằng họ hoàn toàn không có lý luận để buộc tội.
 
Thoáng suy nghĩ một phút rồi xin họ hỏi lại.
 
Họ cũng dùng y câu hỏi như trước.
 
-         Tôi hoàn toàn ngạc nhiên trước câu hỏi của Cán bộ.  Vì tại sao Cán bộ không hỏi cách khác, nghĩa là tôi có bị bắt quả tang ăn cắp cơm kia chứ?
Tên Cán bộ gọi hai anh bạn kia ra, và cả hai đều nói là hôm qua thấy tôi để thêm một cái lon khác trong thùng, định lấy trộm cơm.
 
Tôi biết họ hoàn toàn chỉ đặt nghi vấn.  Nên phải viện dẫn những nguyên tắc lý lẽ cãi lại.
 
-         Nếu hôm qua các anh thấy tôi có âm mưu định ăn cắp cơm thì sao các anh không hỏi ngay lúc ấy hay lại bắt quả tang.  Nay mới lại hỏi một câu vu vơ như vậy?
 
Thế là câu chuyện được đem ra trước toàn Đội trong tối hôm ấy.
 
Cuộc đấu tố bắt đầu và toàn Trại đều nghe bàn tán,  Đội trưởng là người được Trại đôn đốc chủ tọa buổi thảo luận.  Họ yêu cầu tất cả mọi người trong Đội thay nhau phát biểu ý kiến.  Hầu hết phải nghe theo ý kiến nhận định như tôi có lỗi và khuyên tôi hãy nhận “tội”.
 
Luôn luôn giữ lập trường “tại sao hôm qua không nói hay bắt quả tang tôi phạm lỗi, mà ngày hôm sau mới đem ra câu chuyện không bằng chứng để buộc tội?”
 
Nhưng Cộng Sản không phải đơn giản chịu thua ta, chúng cương quyết giữ lập trường như khuyên ta “thành khẩn”.  Thế là tôi đổi chiến lược.
 
-         Nếu Cán bộ muốn nhận tội?  Tôi sẽ nhận, nhưng nhận tội thì nhận, mà thật sự không ăn cắp!
 
Bọn chúng không chịu, cho rằng lập luận của tôi không thể chấp nhận được.
 
Câu chuyện cứ thế, kéo dài gần hai chục đêm, từ sau lúc cửa buồng đóng lại, khoảng 7 giờ tối đến gần hai giờ sáng.  Tôi cương quyết giữ lập trường, để tùy chúng, muốn gì thì muốn.
 
Một buổi sáng ra lao động, anh Triệu Huỳnh Võ (nay là Chủ tịch CTNCT ở Sacramento) là người rất đứng đắn, trước làm đến Thứ trưởng Bộ Thông Tin, cháu gọi Cậu Bảy Võ An Khương bằng cậu – vừa cúi nhổ cỏ, vừa thì thầm cho tôi đủ nghe:
 
-         Hồi sáng nay cả tên Cán bộ và Đội trưởng đều phê bình là tại sao tôi không đóng góp với Đội khuyên anh nhận tội, tôi chẳng biết nói sao, cứ ầm ừ với bọn chúng.
 
Tôi an ủi:
 
-         Tôi rất thông cảm các anh.  Vậy tối nay anh cứ phát biểu và làm theo bọn nó hướng dẫn.  Tôi chẳng giận anh đâu!
 
Anh không nói gì, im lặng, nhưng nhìn tôi với cặp mắt vô cùng ái ngại.  Nhưng chắc hẳn anh không tránh khỏi ý nghĩ rằng:  “Anh già này chịu chơi thiệt!”
 
Từ câu chuyện chia cơm này, tôi sực nghĩ đến hai chuyện liên quan trong ý niệm đối đầu trước Cộng Sản.  Chuyện thứ nhất là khi tranh cãi về tín ngưỡng như đã nói ở một đoạn trước bọn chúng đành gác lại và chờ một dịp khác để xem tôi “ngoan  cố đến độ nào”.  Và, chuyện thứ hai là trong khai báo, chúng hoàn toàn không tin tưởng rằng tôi đã thành thật  khai về số Cán bộ chúng đã chết trong thời gian tôi phát động Chiến dịch Tố Cộng của năm 1955.  Nên chúng ấm ức về những khai báo ấy.  Nhưng tra khảo để tôi nói những điều chúng mong mỏi thì không bao giờ tôi chịu làm.  Chỉ có những anh em vì tin tưởng chúng sẽ quân tử, chúng sẽ khoan hồng hay vì quá yếu mềm mới lầm chúng mà thôi.
 
Tên Quản giáo đã cho người khuyên tôi nên nhận, sẽ được đề cao và đề cao thật rộng lớn – mà tôi biết chuyện ấy và có trước đây, bởi biết rằng Cộng Sản sẽ đề cao thật “nổ” rồi sẽ khuyên tôi nói thật chuyện “Tố Cộng” , bởi Cộng Sản cứ nghi ngờ về cái chết của Võ Bình, cháu của Võ Chí Công, lúc ấy là Chủ tịch Nước, đã bị giết vì Bình là Chánh Án Tòa Án Liên Khu V.
 
Rồi lại cứ thế tiếp tục, đêm nào cũng cái trò ấy tiếp diễn.  Và, cuối cùng tôi cũng hỏi lại chúng muốn tôi nhìn nhận không, tôi sẽ nhận, nhưng hoàn toàn không có ăn cắp!  Thế là đúng 27 đêm chúng đành gác lại và không kết thúc được vở tuồng này.  Tôi vẫn nhìn hai anh bạn làm nhân chứng cho chúng không khiêu khích mỉa mai, mà cũng không oán hờn, dù có nghĩ rằng khi câu chuyện vừa xảy ra, thì Cộng Sản đã thừa cơ chụp lấy cơ hội để thực hiện mưu đồ của chúng.  Chuyện này chẳng khác nào câu chuyện cạy Cầu Chiêm – Sơn Tây hay chuyện Ôn Như Hầu mà chúng đã thực hiện để chụp mũ anh em Quốc Dân Đảng!
 
Thật là một mẩu chuyện khá ly kỳ trong nhận định kinh nghiệm khi phải hiểu và đối phó với Cộng Sản!
 
Và giờ đây nói lại là cuộc sống của Trại.
 
Những người lớn tuổi thì khá nhiều chuyện chẳng bao giờ quên.  Anh Hoàng Văn Úy, một người lớn tuổi, tư cách khá vô cùng đứng đắn, không bao giờ vì được bọn Cộng Sản dùng trong một vài công tác chuyên môn, gần gũi chúng mà lấy việc gần Cán bộ làm hãnh diện, chưa nói là sẵn sàng giúp đỡ anh em.
 
Mẩu chuyện anh Tổng Thư ký Tối Cao Pháp Viện, là một gương sáng hiếu thảo với Mẹ đã được kể lại cho nhau nghe.
 
Rồi, “tấm drap” của anh Xảo, Đại Tá An Ninh Quân Đội Vùng IV có thêu hàng chữ “Đắp ấm để luôn nhớ đến Mẹ” cũng được anh em kể lại rằng anh rất chí hiếu với Mẹ.  Ngày còn ngoài đời khi Mẹ anh có điều gì không vui, chứ đừng nói là giận dỗi, anh lấy cây “roi” lại đưa cho Mẹ.
 
-         Mẹ đập con mấy roi cho bớt giận, con xin Mẹ tha lỗi cho con!
 
Và, anh nằm chờ Mẹ đánh, nhưng khi nghe Bà Mẹ tha tội và bảo đứng lên anh mới dám đứng dậy. 
 
Những mẩu chuyện hiếu thảo như trên đã được kể cho nhau nghe vô cùng cảm động.
 
Trong Trại có Đại Đức các Tỉnh trong Thanh Hóa lần lượt được đưa ra, nên các lễ Phật Giáo được tổ chức tuy đơn giản nhưng không kém phần trang nghiêm.
 
Riêng việc ngồi Thiền thường bị bọn Cán bộ đi tuần khuấy phá.  Khi chúng đi tuần ngoài sân thấy còn một ai ngồi Thiền là gọi để biết lý do “Tại sao ngồi”.  Mà người phải chịu sự phá phách nhiều nhất là tôi.
 
Tôi đã ngồi Thiền khá lâu, và lần lần cũng dàn xếp được tính nóng nảy phần lớn.
 
Trong buồng thường có anh Sâm, nguyên là Trung tá về Truyền tin, tu hành công phu, tinh tấn đáng phục.  Trong nhà Phật có bộ Kinh gồm cả các Thần Chú Lăng Nghiêm bằng tiếng Phạn là khó thuộc nhất, nhưng Sâm đã thuộc nằm lòng.  Anh có trì Thần Chú Lăng Nghiêm lại rất thuần hậu.
 
Anh chỉ chào hỏi thông lệ với các Thầy, nhưng biết Bác không mấy vui, chỉ vì Bác giữ Giới rất cẩn trọng.
 
Bởi nếp sống ấy nên một số bạn trẻ như Đào Văn Bình rất mến anh, thường được anh hướng dẫn tu hành.
 
Một hôm tôi muốn nhờ anh nói Kinh Pháp Hoa cho những anh bạn trẻ nghe, vì quan niệm chung thì Kinh Pháp HoaVua trong các Kinh.  Niệm Kinh Pháp Hoa thì công đức vô lượng.  Và khi thấy tôi đưa ý kiến ấy, anh nhận lời ngay.
 
Lợi dụng ngày Chủ Nhật, anh em tha hồ nấu nướng ăn uống hay văn nghệ, ca hát, tôi đã tổ chức tại nhà ăn và báo tin cho 5, 6 anh em đến tham dự nghe Bác nói.
 
Tôi cũng sắp xếp chỗ ngồi cho những người ngồi nghe và chỗ Bác Sâm ngồi nói chuyện, tôi xếp một cái mền đặc biệt mời Bác ngồi.
 
Ngoài số 5, 6 anh em Phật tử tham dự nghe Bác Sâm nói Kinh Pháp Hoa, thì tôi thấy có anh Thuần (Đại Tá) đứng dựa cột nghe.
 
Buổi nói chuyện ấy đã được có người báo cáo lên với Cán bộ Trại.  Và thế là hai hôm sau tôi được gọi lên Phòng An Ninh Trại.  Cán bộ An ninh buộc tội tôi tổ chức tuyên truyền Tôn giáo.
 
-         Anh đã tổ chức, ăn mặc chỉnh tề và trải mền cho người tuyên truyền Đạo ngồi cao.
 
Thoạt đầu tôi nghĩ tại sao nếu là sự việc như vậy thì họ buộc tội Ông Sâm thay vì buộc tội tôi, nhưng tôi thừa biết đây là một lý do riêng đối với tôi.
 
-         Chúng tôi tu hành theo đạo Phật, mà trong các Kinh còn có chỗ quên, nên tôi mời anh bạn còn nhớ hơn để nói lại cho nghe chứ không có gì đặc biệt cả.
 
-         Vậy tại sao lại ăn mặc tề chỉnh?
 
Tôi không phải suy nghĩ một giây phút nào cả.  Vậy Cán bộ lại không được báo cáo là có người như anh Thuần, mặc quần đùi áo lá.  Và anh Thuần lại là người đạo Thiên Chúa chứ đâu phải đạo Phật!
 
Biết còn nói nữa cũng chẳng ăn được tôi, họ chỉ nói tôi vài câu lấy lệ, rồi cho trở về buồng.
 
Và đây là thời gian “đói” kinh khủng.
 
Tất cả chỉ ăn bo-bo, thứ chưa xay, nghĩa là mỗi người được lãnh một chén, ngồi nhai nuốt nước hoặc nuốt luôn cả vỏ.
 
Tội nghiệp những anh đau bao tử thì không dám nuốt cả vỏ, mà đành ngồi nhai nuốt nước rồi nhả vỏ ra.
 
Còn trường hợp như anh Trác Quang Trường, nguyên là Luật sư, bởi tham gia với tư cách Ủy viên Tư Pháp của Đại Việt mà cũng ở tù khá lâu.  Anh Trường thường cứ mỗi buổi trưa lãnh bo-bo ngồi lấy một cây tăm cứ xóc từng hột bo-bo nhai, vừa nhai cứ đếm cho vui.  Nghỉ trưa gần đến giờ thức giấc lao động buổi chiều ra thấy Trường còn ngồi tôi ái ngại:
 
-         Không ăn cho xong vào nghỉ, rồi còn đi lao động, ngồi làm gì cho khổ thế?
 
Trường không ngần ngừ, trả lời ngay:
 
-         Bác nghĩ ở đây còn cái thú gì nữa ngoài ăn, ăn cho vui, chẳng cần biết no hay không.  Vì vậy tôi ngồi đếm cho biết chơi.
 
-         Vậy anh đếm mỗi chén được bao nhiêu hột bo-bo.
 
-         Hôm qua đếm được hơn 500 hột bo-bo.  Hôm nay đếm không được vì nó nấu hơi nát dính chùm đếm khó quá!
 
Nghĩ thương hại cho anh bạn quá nên đành lảng sang chuyện khác rồi vào buồng.
 
Họ thường thay đổi công tác thoạt cho ở nhà rồi lại bắt đi lao động.  Mang tiếng là đi lao động nhưng ra đến hiện trường tôi ít bị làm việc nặng.
 
Sáng nay chứng kiến hai cảnh ngoài hiện trường càng làm tôi vô cùng ảo não.
 
Một bác tuổi cũng đã khá cao nghe đâu trước là Thư ký của Tối Cao Pháp Viện.  Bác này thường được anh em kể chuyện rất hiếu thảo với Mẹ nên anh em rất mến bác.  Bác cũng lâm vào tình trạng đói, nhưng không đến nỗi quá kiệt quệ, vì vậy cũng cố gắng lết theo anh em đi lao động.
 
Làm việc độ nửa buổi tôi liếc thấy bác nhìn xung quanh xem có ai chú ý không.  Bởi bác cẩn thận như vậy vì một hành động nào cũng dễ bị số người cố lập công với Cán bộ - mà anh em thường tặng cho cái hỗn danh là ‘Bán cái”, bởi hai chú này bắt đầu bằng hai chữ B và C tức là Báo Cáo – sẽ báo cáo.  Biết bác ngại nên cũng chẳng để cho bác thấy là tôi đang để ý xem bác làm gì.  Bác lượm những rong khô ở dưới ruộng, trông như những lá “phổ tai” mà ta thường nấu chè đậu xanh bỏ vào.  Bác nhét vào trong mũ đang đội để rồi sau đấy khi ngồi nghỉ giải lao len lén nhai cho đỡ đói.
 
Đến giờ tập trung gần về Trại ngồi cùng nhau gần một cây rơm khô nghỉ cho khỏe trước khi vào.  Thì đột nhiên một chú bạn trẻ táy máy lôi đống tranh mục gần đấy thấy trong đó có 4, 5 con chuột con vừa đẻ đỏ choét.  Anh bạn la “ơi ới” rồi chạy bỏ đi chỗ khác.  Nhưng một chú bạn khác lại là người quá đói không còn suy nghĩ gì bốc ngay mấy con chuột con bỏ vào miệng nuốt chửng không nhai.  Mọi người chứng kiến cảnh này đều trố mắt nhìn.  Nhưng rồi giây phút ấy cũng trôi qua ngay . . .  vì chẳng ai thắc mắc lâu khi mà cái đói đang đe dọa mọi người.
 
Chỉ có Trời mới chứng kiến được cho cảnh này.  Trưa về tôi đem câu chuyện này kể lại với tâm sự đau lòng cho mấy anh bạn cùng buồng nghe.  Thì, một người đã kể cho nghe một chuyện khác não lòng hơn gấp bội.
 
-         Đấy là bác không chứng kiến một cảnh khác còn ghê tởm hơn bao nhiêu lần . . .
 
Tôi chăm chú nghe anh kể:
 
-         Hôm qua ở Đội Hình sự làm gần ngang Đội.  Tôi chứng kiến một chú Hình sự vốc bên bờ ruộng một đống “phân” một người nào “vãi’ ra từ mấy hôm đã khô.  Đống phân này là số bo-bo còn nguyên vỏ, chắc là bao tử của chủ nó không nghiền nổi nên hột còn nguyên.  Tên này vốc cả đem lại gần vũng nước rửa, thấy vậy hỏi rửa làm gì thì nó không ngần ngại trả lời ngay là đem về - phơi khô rồi rang cháy như cà phê mà uống cho đỡ đói.
 
Cảnh đói không còn bút mực nào tả.  Nhưng lao động thì vẫn phải làm.  Cho đến một hôm chính mắt tôi chứng kiến một cảnh khác.
 
Một anh bạn vào hàng trí thức khá cao, nghĩa là cỡ như tôi không thấm bằng học trò anh ấy.  Địa vị ngoài đời thì cũng chẳng bao giờ mơ với đến được.  Nhưng khi đã đói thì còn ai giữ nổi, khi lòng mình không kìm hãm nổi.  Hôm nay nhân thu hoạch xu hào, nên Cán bộ cho Đội được hưởng một số đem về để nấu mà chia nhau ăn, gọi là “bồi dưỡng”. 
 
Trong khi đang ngồi lặt lá thì anh bạn kia đã len lén không cho người khác thấy, dấu một củ vào trong áo để rồi chốc nữa ăn sống cho qua cơn.  Tôi quá cảm động, cúi đầu coi như chẳng thấy gì và lòng mình chỉ còn biết niệm Phật, bởi nhờ số vàng mà qua trận đói này không đến nỗi chua xót như anh em.
 
Đã thế, tôi lại phát nguyện không ăn sau giờ “NGỌ”, nghĩa là chỉ ăn buổi sáng và trưa, trước 12 giờ thôi.
 
Lúc đầu nhiều người không tin về hành động ấy, họ cố rình xem, hoặc có người nhận có gia đình thăm nuôi, nấu chè đem lại biếu, tôi đều từ chối.  Một số đã ngạc nhiên, vì trong lúc mọi người đang đói, ăn không đủ mà tôi lại không ăn sau giờ Ngọ.  Họ không nghĩ rằng không có gì mạnh hơn Đức Tin.  Tôi đã thành công nhiều trong lãnh vực này.
 
Vượt qua “Vô ký” nói chuyện như thần thông.
 
Những chuyện về Đức Tin, về tâm linh mà nay nói lại biết chẳng đủ cho mọi người đều tin.  Nhưng lòng tôi phải nói, cũng như quyết rằng mai sau khi viết xong quyển hồi ký này, lại sẽ viết tiếp “Từ đi tù đến đi tu”, hẳn nhiên còn nhiều chuyện gần như huyền thoại, mà chỉ có người có lòng tin mới hiểu được.
 
Lúc này vừa trì tụng Kinh Pháp Hoa vừa ngồi Thiền.  Kinh pháp Hoa trước hết được biết anh Nguyễn Tự, nguyên Tỉnh trưởng Ninh Thuận đem vào, sách in từ Nhật Bổn, nhỏ cỡ ba ngón tay và chữ không thể nào đọc bằng mắt thường được, nên phải có một kính “lúp” tức hiển vi, kèm theo được gửi vào.
Thế là chúng tôi dựa nhau sang ra viết tay thành 4 hay 5 quyển vở mới xong bộ Kinh.  Mỗi tối thường ngồi trì tụng và dựa vào Khai, Thị, Ngộ, Nhập để soi rọi tâm tính.  Trong cảnh này quả vừa có ơn Trên gia hộ, vừa có hoàn cảnh và cơ duyên, chúng tôi – nhất là tôi chí thành, chí tâm tu học.
 
Cho đến một hôm, mơ thấy “Sống với Pháp Hoa” một cách tuyệt đối, đến nỗi một đám quỷ dữ đến khuấy phá tôi.  Chúng phá mãi không thành công, bằng dùng tình cảm nhập vào cô em chúng tôi để hy vọng tôi phải nhẹ tay với chúng, tôi dũng mãnh đến độ hét lớn bảo cô em gái tôi tránh xa cho tôi đối phó với đám quỷ ấy.  Và chúng cương quyết không buông tha, cuối cùng tôi phải “đưa cao” quyển Kinh Pháp Hoa chiếu vào chúng, thế là lửa cháy mạnh, chúng phải chịu thua tránh xa.
 
Câu chuyện này kể lại cho anh em nghe, hoàn toàn không có dụng ý tuyên truyền và cũng không có ý thêm thắt.
 
Lòng tin của chúng tôi đã khá mạnh.  Riêng về Thiền, ngồi không xao lãng, không lo ngại, vì lạnh như cắt da cũng dậy đúng giờ, ngồi kiên trì và tiến mạnh.  Người tôi lúc này đã hoàn toàn khác xưa, tôi sống nhẹ nhàng mà vài anh em đã lạm dụng tặng danh từ tự tại.  Tôi cảm thấy sáng suốt, gần như không biên giới và thường nhã nhặn khuyên bảo anh em những điều mà họ cảm thấy “Không hiểu tại sao” tôi biết và nói thế?
 
Rồi chẳng ai tuyên truyền mà Cán bộ Quản giáo và Võ trang dẫn đi lao động đã bắt tôi “xem quẻ” cho họ.  Thoạt đầu tôi từ chối vì không nghĩ xem quẻ hay xem tướng là gì, nhưng bỗng không hiểu vì sao, một hôm tôi nói với tên Cán bộ:
 
-         Cán bộ đừng lo ngại chuyện bị hăm dọa hay bị chuyển đi nơi khác!  Họ không làm gì được đâu, chiều nay sẽ có tin từ xa, có lẽ từ Hà Nội cho biết!
 
Thế rồi tôi không nói gì thêm và tên Cán bộ này cũng vô cùng ngạc nhiên không hiểu tại sao tôi biết được một tin mà ngoài chính bản thân y, chẳng ai biết việc này.
 
Thì ra câu chuyện xảy ra đúng như đã nói, hôm sau y vô cùng mừng rỡ, khi ra hiện trường hỏi tôi:
 
-         Còn rắc rối gì nữa không?
-         Không, Cán bộ cứ yên tâm, Cán bộ có tin về Thần linh không?
 
Y ấy úng chưa dám trả lời dứt khoát, nhưng vẫn dè dặt gật đầu.
 
-         Nếu Cán bộ lo ngại thì tối nay về mua mấy nén nhang ra đứng giữa Trời, lúc mọi người ngủ hết, van vái các Thần Linh giúp đỡ cho!
 
Câu chuyện tôi nói với y đã lọt đến tai tên Cán bộ Võ trang.  Và thế là ngày hôm sau vừa ra đến hiện trường tên này cùng với hai tên khác dẫn tôi vào một nhà tranh nhỏ gần đấy, họ khép cửa lại và nhẹ nhàng nhờ tôi:
 
-         Anh làm ơn coi giúp cho tôi một quẻ gia đình.  Còn ngần ngừ chưa chịu nhận lời thì y đã nói ngay:
 
-         Tôi biết anh có tu luyện và biết được, anh hãy giúp tôi.
 
Nghĩ sao, chính bây giờ tôi còn ái ngại trước hành động này.  Tôi gật đầu và y cũng ngồi xuống, thế là tôi ấn tay trái của y xuống chiếu, dùng hai ngón trỏ và giữa – còn tay mặt đặt vào cổ tay y, như Thầy đang bắt mạch, và hỏi y vài câu:
 
-         Gia đình ở xa đây không?  Bố Mẹ còn sống cả chứ?
 
Và chỉ sau hai câu hỏi ấy, y vừa trả lời xong là một linh cảm kỳ lạ đã đến với tôi và ngưng không hỏi nữa.
 
-         Sao lại có chuyện kỳ lạ thế này?
 
-         Chuyện gì mà anh bảo là kỳ lạ!
 
-         Chuyện này nếu ở trong Nam thì rất thường, nhưng ngoài này thì tôi chẳng tin là có thể có, nên nói là chuyện lạ.
 
-         Chuyện gì vậy?  Anh cứ nói đừng e ngại gì cả.  Ngưng một phút, nghe rõ âm thanh từ trong tiếng mạch nhảy của y, không ngần ngại và trả lời:
 
-         Tại sao nhà Cán bộ lại có người “lên Đồng”, làm gì ngoài này có chuyện ấy?
 
Cả hai tên đi theo với y đều tỏ vẻ vô  cùng ngạc nhiên, không phải ngạc nhiên như tôi mà chính họ cũng ngạc nhiên tại sao biết!
 
Tôi hỏi lại lần nữa:
 
-         Có hay không?  Cán bộ nói tiếp rồi tôi sẽ nói thêm cho nghe.
 
Y không che dấu mà thành thật:
 
-         Đúng, như anh nói, Bố tôi vừa rồi tự nhiên bỗng “lên Đồng” làm cả nhà tôi vô cùng thắc mắc.
 
-         Chẳng có gì đáng thắc mắc, bởi càng không tin, nên phải xảy ra, lại xảy ra chính trong nhà mình thôi.
 
-         Chuyện như vậy rồi có thể xảy ra gì không”
 
-         Chẳng có gì, người “lên Đồng” sẽ bị rắc rối bởi chính quyền địa phương.  Nhưng nay nếu Cán bộ về tới nhà thì biết rằng chuyện chẳng còn gì đáng nói nữa.  Bố Cán bộ không muốn nói chuyện với ai, ngay cả với Cán bộ và đã chấm dứt việc làm “Đồng” rồi.
 
Thế rồi có tin Trại ra thanh tra hiện trường, nên họ cho tôi ra làm việc lại như thường lệ.
 
Có một điều đáng tức cười là tên Cán bộ này rất khó chịu, thường nghiêm khắc không cho anh em đi tìm chút rau, cây củi, nhưng từ giờ phút ấy chính y đã dễ dãi đối với toàn thể anh em trong Đội.  Mà chính hai anh Đội trưởng và Đội phó cũng đã tâm sự với tôi cố gắng tạo cơ hội cho Cán bộ bớt khó khăn cùng anh em trong giờ lao động.
 
Tôi không trả lời các anh, chỉ lặng thinh.  Thì hai hôm sau có lẽ tin đồn này đã truyền trong đám Cán bộ một cách nhanh chóng lạ thường.
 
Hôm nay lại một tên võ trang khác, cũng bắt tôi và cùng 5, 6 tên dẫn vào căn nhà lá nhỏ hôm trước, y nhờ tôi xem hộ cho y, biết khó tránh, nên tôi đồng ý.
 
Cũng như lần trước và sau khi cho “thông mạch” – giữa y và tôi, hỏi qua vài câu, bỗng tôi im lặng.
-         Sao?  Có gì không mà anh im lặng như vậy?
 
-         Cũng lại như lần trước.  Chuyện này lạ thật.  Tại sao ngoài Bắc lại có chuyện này?
 
-         Anh biết gì thì cứ nói, đừng ngại.  Và y quay lại đám kia đang thì thầm.
 
-         Im lặng đi!  Để anh ấy nói!
 
-         Nhà Cán bộ có người đau rất nặng, người nhà đã đi xem Thầy và Thầy cho biết nhà này có người con gái chết trẻ, oan ức nên thường về khuấy phá, có vậy không?
 
Cả đám đứng nghe nổi lên cười, gã này đưa tay.
 
-         Im đi!  Các cậu đừng cười.
 
Và y quay lại nhìn tôi:
 
-         Anh nói hoàn toàn đúng, Bố tôi đau quá nặng, U tôi lên Gia Lâm xem Thầy thì Thầy bảo như vậy.
 
Bỗng tất cả im lặng một cách vô cùng thành kính . . . . .    và bỗng ngay lúc ấy cửa bị xô mở tung ra.  Tên Trung sĩ đi tuần, bởi thấy ngoài hiện trường không có lính coi Tù làm, nên chạy đi tìm.  Nhờ người chỉ biết vào đây, y đưa tay chỉ vào tôi:
 
-         Anh Vỹ đứng lên!  Thế là tôi phải đứng lên, nhưng tên Cán bộ đang nhờ tôi coi, lại xấp xỉ cấp bậc với tên kia, nên chẳng chịu thua.  Y sừng sộ và dùng nhưng câu chửi của miền Bắc:  “Đ. . M. . Đ. . B. .” với tên Trung sĩ trước khi chịu để tôi ra hiện trường lao động lại.
 
Nhưng câu chuyện hôm nay không đơn giản chỉ có thế, mà tên Trung sĩ đi tuần về báo cáo lại với An ninh Trại ngay.
 
Thế là ngay hôm sau tôi được An ninh Trại gọi lên:
 
-         Anh trả lời với Trại về hành động xách động Cán bộ đi vào con đường duy tâm.
Bọn Cộng Sản thích dùng danh từ mà không chịu nói ngay là hướng dẫn bọn nó mê tín, dị đoan.
 
Tôi bình tĩnh hơn bao giờ, nhất là khi phải tranh luận với bọn Cộng Sản:
 
-         Xin Cán bộ chứng minh cho một bằng chứng nào?
 
-         Anh cãi lý với tôi à?
 
-         Không phải cãi lý, nhưng Cán bộ chứng minh cho bất cứ một người nào, một Cán bộ nào đã bị tôi hướng dẫn chuyện mê tín, dị đoan?
 
Y ngồi im lặng giờ lâu không trả lời.
 
Ngược lại, tôi chưa chịu thua nên đưa thêm cho y một thế đứng khác:
 
-         Hay là, nếu có người nào, Cán bộ nào đã hỏi mà tôi nói không đúng, nói sai cũng xin Cán bộ nêu ra tôi hoàn toàn chịu tội.
 
Như thế là quá chủ quan chăng?  Nhưng không!  Từ ngày có câu chuyện này đã làm cho họ khiếp sợ nhiều chuyện khác nữa, mà trong hồi ký này không muốn kể lôi thôi dài giòng làm chi.
 
Trước một câu hỏi như vậy, mà tên Cán bộ An ninh Trại cũng đành làm thinh, để rồi chỉ nói được một câu, trước khi cho tôi về buồng lại.
 
-         Anh về suy nghĩ lại hàng động của anh và nghỉ không đi lao động nữa chờ lệnh!
 
Tôi trở về phòng, kể lại chuyện cho anh em nghe, ai cũng tỏ vẻ buồn và lo lắng cho tôi, riêng lòng tôi thấy một nhẹ nhàng luôn luôn đến từ trong hơi thở, chẳng khác nào lúc tôi đang ngồi Thiền.
 
Và, mặc nhiên chờ đợi giờ phút ấy một cách hoàn toàn tự tại.
 
Đây là những giờ phút quý giá nhất của người biết tu.  Vì tôi tự sáng suốt nhận định.
 
-         Những gì mình chưa được không hẳn là rủi .
 
-         Những gì mình được, chưa hẳn là may.
 
-         Mình đang còn trong mê, đừng vội nghĩ rằng cái mình nghĩ là đúng.
 
-         Sẵn sàng trả hết những nợ đã vay, để không còn gì nợ nần trong nghiệp thức.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bị CÁCH LY TRỪNG PHẠT đúng 100 ngày
 
 
 
 
Cho đến 3 ngày sau, khi anh em đi lao động xong, khoảng 9 giờ sáng, tên An ninh Trại bảo tôi thu dọn đồ.  Anh em xầm xì, chuyển Trại rồi đấy!
 
Như đã nói ở một đoạn trước danh từ “chuyển Trại” đối với Tù nhân là rất đáng sợ.  Trong khi ấy vài người lại lo nghĩ đến tin đồn của những Trại miền Núi, nhất là ở biên giới “Cổng Trời” mà lo lắng cho tôi.
 
Tối bắt đầu niệm Phật, vì ngoài những giây phút vận dụng “tự lực” của Thiền, tôi luôn nhớ tới “tha lực” của Chủ Thiên.
 
Sau này tôi cố nhớ rằng, trong giây phút này, có một anh bạn nào đấy lại cho một cái ‘đĩa lớn” dùng để ăn cơm.  Tôi cảm ơn cất vào bao, mà chẳng lưu ý người nào đã cho mình.
 
Tên An ninh vào bảo theo y ra khỏi buồng, anh em nhìn theo và có người đã chúc tôi “đi gặp điều may mắn!”
 
Ra khỏi buồng, tôi ngạc nhiên thấy y hướng dẫn không ra ngả cửa chính mà đi về hướng tay trái, rẽ xuống dãy nhà ‘cách ly” của Trại dành giam số Tướng.
 
Y mở cửa ngoài và bảo tôi vào, vài người trong ấy nhìn ra thấy tôi ngạc nhiên.  Còn tôi, lần đầu tiên mới đặt chân vào đây, ngẩn ngơ như người từ cung trăng rơi xuống!
 
Buồng này cũng trong khu Tướng, nhưng chỉ dành giam 4 anh Đại Tá.
 
Đấy là các anh Đại Tá Huấn, Hồ, Đức và một Trung Tá.  Cửa ngoài đóng lại, các anh bắt đầu chỉ cho tôi cách xếp cất đồ đạc và vui vẻ nhìn nhau.
 
Đây là một căn nhà khá lịch sự, làm theo lối biệt thự nhỏ, cũng đủ chỗ vệ sinh, sân ra chơi, phòng ngồi ăn, nhưng cũng ngủ trên “bục” xây bằng xi măng trải chiếu.
 
Vài anh đã hỏi, tôi không ngại kể hết cho các anh nghe và thế là cuộc sống càng dễ chịu hơn lúc ở ngoài.
 
Xong buổi cơm trưa, rồi cơm chiều và sau khi một tên vào kiểm soát lại, chúng lùa tôi vào buồng, đóng cửa lại.
 
Nằm gần nhau, im lặng mới kể hết cho nhau nghe cuộc sống ngoài này.  Tối hôm ấy, cửa buồng bỗng mở và một chú bạn trẻ từ Trại khác đã chuyển về đây, được lùa vào ở chung với chúng tôi.
 
Tuy có chật, nhưng vẫn còn hơn tình trạng bên ngoài, chú bạn trẻ này cho biết là ở Nam Hà bị đưa ra và vì tội mượn radio của Cán bộ nghe đài B.B.C, bị phát giác nên bị chuyển về đây để họ điều tra tiếp tục.
 
Câu chuyện này sau biết ra thì chính chú bạn trẻ này bị mua chuộc, thú nhận với Trại Nam Hà và cũng chính vì vụ này mà anh Hằng – Trưởng ty cảnh Sát Tỉnh Quảng Tín đã bị chúng tra tấn đến chết.
 
Vì nghi ngờ chú bạn trẻ này chưa hẳn đã “tốt” nên từ đêm hôm ấy chúng tôi chỉ nói chuyện với nhau những chuyện mà biết rằng chẳng có hại gì, bởi vì phải dè dặt, vì Cộng Sản thường đặt “Antenne” theo dõi ta khi chúng muốn có đủ dữ kiện để buộc tội ta.
 
Nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn sau chú bạn này được đưa đi nơi khác và chúng tôi cũng chỉ còn lại 5 người. Số người chỉ có thế, nên có chuyện gì cũng đem ra kể cho nhau nghe, nhất là trước khi đi ngủ.
 
Người kể chuyện có duyên nhất là anh Lê Hữu Đức nguyên Tỉnh trưởng Bến Tre, anh là người chứng kiến những ngày cuối cùng của Tướng Lê Quang Vinh tức Ba Cụt, và cũng là người chứng kiến chiếc Thiết Giáp trong ấy có thi hài của hai anh em Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu vào giờ chót.
 
Anh kể lại cho nghe, phải tiếp nối thành nhiều đêm mà thính giả chẳng bao giờ từ chối.  Còn tôi, ngoài những mẩu chuyện lên voi, xuống chó, những kinh nghiệm nấu ăn, lập vườn, anh em đã hỏi về chuyện coi quẻ cho Cán bộ trước khi bị đưa vào đây.
 
Tôi kể lại cho các anh nghe một câu chuyện tương đối đặc sắc nhất.
 
Trong thời gian thường bị Cán bộ bắt phải xem quẻ thì nhất là đám hình sự cứ ước mong được xem cho chúng.  Nhưng đặc biệt là tên hình sự đã ở quá lâu nên được đưa ra nuôi heo gần chỗ hiện trường chúng tôi lao động.  Y thường lân la ra chỗ chúng tôi, rồi mời tôi bước vào trong chỗ y sống.  Y nấu trà, thứ trà “móc câu” mà người Tù nào cũng ham thích, nhất là lúc trời càng rét lạnh!
 
Dĩ nhiên cảm ơn y đã mời, và mấy hôm sau y tỏ thiệt là rất mong mỏi được xem cho một quẻ.
 
Thoạt đầu vẫn tìm cách từ chối, nhưng rồi thấy y quá cầu khẩn, tôi chấp thuận, sau dăm phút “thông mạch”.
 
-         Anh rất khó được xét hồ sơ, vì mỗi khi hồ sơ anh được giở ra là đã có ba “oan hồn” che kín lại.  Thế là họ xếp qua thôi!
 
Y vô cùng e ngại, năn nỉ:
 
-         Thưa Cụ, vậy ai mà đến Ba oan hồn?
 
Tôi trả lời ngay:
 
-         Vợ, con anh và một người Tù cùng nằm gần anh buồn trách rằng lúc chết anh không giúp cho họ.
 
Y ngẩng lên nhìn và rất tự nhiên, cãi lại:
 
-         Vợ tôi đang sống, sao Cụ nói thế?
 
Tôi xua tay giọng trầm nhẹ hơn:
 
-         Thế à!  Nếu tôi nói sai là đã lộn quẻ, chẳng tin làm gì, rồi tôi định đứng dậy.  Y chồm theo giữ tay tôi:
 
-         Cứ ngồi chơi chốc lát đã, nôn nóng gì thế!
 
Rồi như để cho không khí yên lặng theo, y hỏi:
 
-         Thưa Cụ, thường nếu như vậy thì có cách gì cứu gỡ, giải quyết được không?
Tôi bình tĩnh nhưng đầy vẻ tin tưởng giải thích:
 
-         Không có bài toán nào mà không có lời giải, cũng không có bệnh nào chẳng có thuốc chữa.  Chỉ có điều mình có lòng thành không thôi.
 
Y như chưa hiểu ý:
 
-         Nghĩa là thế nào?  Thưa Cụ!
 
-         Nghĩa là ta chí thành cầu nguyện cho những oan hồn ấy được siêu thoát và ta phải ăn năn những hành động của ta, để những oan hồn ấy vui vẻ thỏa mãn mà không còn khuấy phá ta nữa.  Chưa nói là nếu ta chí thành và được ơn trên gia hộ cho họ được siêu thoát lại quay ra cảm thọ ơn ta, giúp ta là đằng khác.
 
Y cúi đầu im lặng, trong khi tôi bước ra cửa theo anh em làm việc, rồi về buồng.
 
Thì sau đó độ 4, 5 hôm, một buổi tối đang ngồi chơi trước cửa ngoài sân với anh bạn Nguyễn Hữu Đức, Quận phó tại Gò Công, chú hình sự này chạy lại ngồi gần, y nói thật nhỏ đủ cho tôi nghe – và tôi ra dấu là Đức rất thân, không ngại gì, cứ nói:
 
-         Thưa Cụ, hôm nay cháu không dám dấu nữa, xin thú thật để nhờ Cụ thương cứu cho.  Đúng, vợ cháu, cháu đập chết.  Còn con cháu, cháu cho người ta nuôi cũng chết sau đó!
 
Vừa nghe y kể đến đây, tôi bỗng lạnh cả người, như có một luồng “điện” chạy từ chóp đầu xuống lưng và chạy ùn ùn xuống đến xương cụt.  Tôi ra dấu bảo y:
 
-         Thôi đừng kể nữa, để tôi ngồi một phút.
 
Y vô cùng sợ sệt, im lặng nhìn tôi, độ ba phút sau, tôi bình tĩnh yêu cầu y kể tiếp:
 
-         Thưa Cụ, còn người bạn cùng ở tù mà Cụ nói, con không nhớ, y thò vào trong tay áo như đang dấu gì trong ấy.
 
-         Hôm nay con đã mua được “nhang” đem theo nhờ Cụ cầu nguyện giúp cho con!
 
Ra dấu bảo y đừng rút nhang ra, vì lỡ bọn Cán bộ từ trên nhìn xuống thấy.
 
-         Được rồi, anh về lấy một mảnh giấy viết tên tuổi, quê quán vợ con, nhớ ngày tháng đã chết càng tốt.  Rồi chốc nữa đưa lại cho tôi.  Nhưng tối nay, nhớ lời tôi dặn, sau khi cửa buồng đóng độ một giờ, phải ngồi im lặng hướng về phía buồng tôi.  Đấy là lúc tôi bắt đầu cầu nguyện cho anh.  Anh phải chí thành ăn năn tội lỗi mình, cầu xin Phật cứu độ cho các hương linh được siêu sanh, tự hứa không còn hung dữ.  Phải biết làm những điều tốt, giúp đỡ người nghèo để chuộc lại tội lỗi này.
 
Tôi ngồi che lại để y đưa nhang cho, đem vào.  Anh Đức đã hỏi rõ câu chuyện và mừng rằng từ nay ai cần cúng, cần hương đã có Cụ!
 
Đêm đó tôi đã giữ đúng lời hứa, cầu nguyện cho chú.  Mười ngày sau, cũng chú mời tôi vào, sau câu chuyện, xem lại và thấy gia đình y đã được hồng phúc giải tỏa những oan nghiệt, nhưng lại sửng sốt khi nghe tôi nói tiếp:
 
-         Hiện nay ở nhà anh có một người đàn bà đang săn sóc con anh, vậy nếu được về, anh chớ vội lấy người này, phải làm đủ lễ với Vợ anh.  Nếu không chỉ trong hai năm sau, người em của cô này sẽ gây ra án mạng mà anh có liên can, lại bị đi tù nữa đấy nhé.
 
Y cúi đầu nói thật nhỏ, như xác nhận là việc người đàn bà ấy hiện đang có ở gia đình anh.
 
Về sau câu chuyện này đem kể lại với bạn bè và nhất là với Hòa Thượng Trụ trì Chùa Giác Ngạn, thì Ngài cũng chỉ nhìn tôi không đưa ra ý kiến gì cả.
 
Câu chuyện kể lại cho anh em trong buồng nghe hôm ấy, không lâu sau anh Tường Vi – một tay đờn Vọng cổ khá hay, quê ở Thủ Thiêm đã gửi vào gói trà và cho biết là của tên hình sự này được tha về, gửi biếu để tri ân.
 
Buồng này kể ra khá thanh tịnh nên việc ngồi Thiền rất nhiều cơ duyên tốt.
 
Và, ngày TẾT lại đến.
 
Thấy ăn chay nên các anh trong buồng thường giúp đỡ cho muối mè, hay đậu phộng.
 
Tết năm nay, đặc biệt Trại phát – nhưng sau biết là họ bán với giá rẻ - mỗi người một chai “BIA”.
 
Trong tù mà lại có BIA thì thật là một hồ hởi quá đáng của anh em, hỏi ra mới biết là đặc biệt chỉ biệt phòng cách ly dành cho đám Tướng mà thôi, chứ ở ngoài không có.
 
Phần tôi cũng có một chai.  Nhưng tôi tuyên bố là không uống và để dành ngày đầu năm chú em nào ở ngoài nhảy rào vào chúc Tết sẽ lì xì.
 
Tuy đây là nơi nghiêm cấm đặc biệt, nhưng không phải vì thế mà mấy chú bạn trẻ ngán!  Tôi đoán không sai!
 
Sáng mùng Một Tết, chú Khiêm, người đàn Guitare hay nhất Trại đã nhảy vào chúc Tết!
 
Nhớ cái NOEL đã cùng chung vui, mà tôi đã bị Cán bộ Trại chất vấn, lòng chú luôn cảm mến, nên Tết này nhảy vào thăm.  Anh em trong buồng thấy lòng quyến luyến giữa đám trẻ với tôi, cũng vui lây.
 
Họ mời Khiêm nhấm, còn tôi bảo Khiêm cất chai BIA, lúc nữa đem về buồng nhâm nhi cho vui qua một cái Tết . . .
 
Sau Tết ấy, thì có một hôm Cán bộ có lẽ cũng vào hạng lớn từ Hà Nội về thăm.  Y được trại trưởng hướng dẫn vào từng buồng.  Lúc y vào đến buồng, là lúc tôi ngồi xếp chân, xây mặt vào tường, để đĩa cơm trước mặt, không chào hỏi, cứ thỉnh thoảng xúc một muỗng cho vào miệng.
 
Cơm có trộn muối mè, nhưng y tưởng tôi ăn cơm không, và ra dấu hỏi Trại trưởng, rồi lại hỏi anh Đức:
 
-         Anh này sao vậy?  Đau?
 
Anh Đức trả lời ngay:
 
-         Vâng, anh ấy đau ạ!
 
-         Đau từ bao giờ?
 
-         Đau từ hôm qua.
 
Y nhìn tôi một lát rồi ra.  Anh Đức le lưỡi và nói nhỏ đủ nghe:
 
-         May mà ông ấy hỏi anh đau gì chắc tôi phải nói là anh đau cổ!  Không nói được.  Rồi Đức cười thích thú.
 
Sau những ngày này tôi càng đặt tâm trí đi sâu vào Thiền.  Và quyết định từ nay cả cuộc đời này phải hướng về Phật Pháp, chứ không thể để cho Ma Quỷ đưa đường dẫn lối!
 
Lòng tự nhủ phải luôn luôn TU, phải thấy đúng chữ TU!  Tôi xa lánh ý niệm sáng nhất thời của hiện tại mà người đời lầm tưởng như mình có thần thông để tìm ra cái SÁNG vĩnh cửu.
 
Cương quyết dứt khoát với quan niệm và việc làm xem tướng, xem quẻ.
 
Thì một buổi sáng, được gọi theo anh em ra lãnh quà từ Nam, Chị tôi gửi ra.
 
Vợ tôi từ ngày ra thăm và nhận được số vàng không còn liên lạc gì nữa, mà chính Chị tôi đi làm thuê cho người để lấy tiền mua quà gửi cho.  Cảm động không còn bút mực nào tả hết.
 
Hôm nay, trong lúc ra đi, có cả Tướng Cảnh sát Bùi Văn Nhu.  Lại một chuyện, làm tôi vô cùng ái ngại ngày hôm ấy.  Anh Nhu lúc này sức khỏe đã kiệt quệ nhiều, không còn lanh lợi và sắc bén như xưa.
 
Khi quà anh được soạn ra, thì cùng một lúc một anh bạn khác cũng được xét, nhưng anh bạn này đã cố ý, hay vô tình lấy luôn gói “lạp xưởng” chị Nhu gửi cho anh.
 
Trên đường trở về buồng, anh Nhu tâm sự với tôi:
 
-         Không biết tại sao nhà tôi có gửi cho một cân “lạp xưởng” mà nay soạn không thấy.  Tôi vô tình, nay ngồi chờ đọc lại thơ thì không thấy quà!
 
Câu chuyện “lạp xưởng” thật là một oan trái của anh em tù nhân.
Khá nhiều chuyện xảy ra cũng vì nó!
 
Khi nghe anh Nhu nói, tôi không có ý kiến gì, mặc dù tôi thấy khi nãy một anh trong phòng soạn ra thì có, mà anh này cũng được xét quà cùng lúc với anh Nhu.
 
Tôi rất thương anh Nhu, buồn nhưng không dám nói gì.
 
Về buồng, đem chuyện kể lại với anh Đại Tá Hồ và nhờ anh Hồ hỏi anh bạn kia xem lại thơ vợ có gửi “lạp xưởng” không.  Nếu không xem lại mà trả cho anh Nhu kẻo tội!
 
Nhưng anh bạn này tuyên bố sẽ gửi thư hỏi lại vợ.  Anh còn nói thêm rằng, nếu anh Nhu muốn thì anh có thể chia cho anh Nhu mượn một nửa rồi chờ thơ sẽ hay.
 
Như vậy theo quyết đoán của tôi thì trong thơ gửi quà của gia đình anh này không có món “lạp xưởng” giết người ấy!
 
Ở một đoạn sau, tôi sẽ nói đến cái ác nghiệt của “lạp xưởng”, bởi nó là món ăn khi nướng lên “thơm” không chịu nổi, khi mà trong cảnh đói, thèm ăn này, chẳng mấy người không khó chịu vì nó!  Ôi!  Trong tù, nhất là cái tù đói khổ của Cộng Sản, chưa nói là chúng ma giáo làm cho chính mình càng thấm thía chua cay chừng nào thì chúng càng hả hơi, hả dạ, đã trả được thù.
 
Bỗng, ngày Rằm tháng Giêng năm ấy, tôi được gọi ra, và chính tên Phó Trại trưởng – Nhẫn – Chính trị viên gặp tôi.
 
Y vui vẻ rót nước mời tôi uống và trở giọng như hiền lành, nhân đạo.
 
-         Thôi!  Mọi chuyện cũ nên bỏ qua, đừng nhớ tới làm gì nữa nhé!  Nay tôi để anh ra ngoài sinh hoạt với anh em.
 
Và y cố tình lập lại câu nói cũ.
 
Thôi!  Đừng nhớ chuyện cũ làm gì nữa!
 
Không muốn hỏi y chuyện cũ gì?  Bởi hỏi làm gì với bọn họ.  Chỉ trớ trêu, nhân cơ hội này:
 
-         Đáng lẽ các ông cần để cho tôi yên tĩnh mà Tu, chứ không nói là càng nên khuyến khích Tu, vì chỉ có Tu mới an tịnh.
 
Thấy y ngồi làm thinh, tôi tiếp:
 
-         Các ông đâu biết rằng trong nhà Phật có kinh VIÊN GIÁC, PHẬT dạy rằng “Phải coi kẻ thù như Cha, Mẹ mình” có thế mới Tu được.  Tôi chưa làm được việc ấy!  Tôi chỉ không oán hờn gì các ông thôi, chứ làm như lời Phật dạy thì chưa làm được.
 
Thấy y bắt đầu lo ngại, tôi sẽ nhân cơ hội mà tuyên truyền đạo pháp.  Đã nghĩ đúng, vì y đưa tay ra dấu ngăn tôi . . .
 
-         Thôi hết giờ rồi, để lần khác ta sẽ tiếp tục nói chuyện.  Nay tôi để anh ra ngoài sinh hoạt với anh em.
 
Bị cách ly đúng 100 ngày, nay trở về lao động lại.  Thế là y cho người dẫn tôi lại phòng lấy quần áo, đồ dùng trở về buồng cũ.
 
Anh em thấy tôi trở ra, hoan hỷ vui mừng, hỏi han đủ chuyện, nhất là Khiêm, chú bạn cũ mà tôi đã tặng chai “bia” hôm Tết.
 
Nghỉ hai hôm, lại đi lao động.  Tha hồ kể cho nhau chuyện những ngày xa cách.  Người muốn nói chuyện với tôi trước hết là anh Sâm.
 
-         Hôm Bác vào cách ly, tôi đã khuyên anh em cùng Tu học với ta, “Bác Vỹ đã thọ khổ thay chúng ta, vậy chúng ta cứ yên tâm tu hành, không còn gì phải lo ngại cả.”
 
Vài ngày sau anh bạn trẻ Đào Văn Bình đã nhân có quà nhà gửi ra, nấu vài món chay, nhân ngày Rằm mời tôi cùng vài người đến mừng xum họp.
 
Điều quan trọng là sau đấy anh Sâm dẫn tôi ra trước ghế đá ngồi chơi, tỏ cho biết nguồn sáng của lòng TIN chẳng bao giờ quên được!
 
-         Khi hôm tôi nằm mơ thấy một vị mà thần trí lúc ấy nghĩ như là một Vị Bồ Tát, đến khuyên rằng:  từ nay con hãy gắng Tu, đã có Thiện Tri Thức ở gần rồi, đừng lo lắng gì nữa!  Thế rồi bỗng nhiên Vị ấy biến đâu mất.  Tôi vừa trông thấy Bác từ ngoài đi vào, tay cầm một cuộn giấy đưa cho tôi và bảo:  “Hãy treo lên mà Thờ.  Nói xong bác biên trên cuộn giấy ấy chữ gì tôi không còn nhớ.”
 
Chúng tôi nhìn nhau, cái nhìn của những kẻ cùng một niềm tin, vô cùng quý giá và cao cả !
 
Nay là lúc các Vị Tu sĩ nguyên là Tuyên Úy Phật Giáo từ các Tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An được lần đưa ra Trại này.
 
Và, cũng là lúc, cái nạn trốn Phái đoàn khá làm phiền anh em.  Khi được Hà Nội cho biết là Phái đòan về thăm, dù là Phái đoàn của các nước Cộng Sản, họ cũng cố dấu.  Họ bắt Trại dẫn đi dấu trong các làng xa, chỉ để lại mỗi buồng độ 20 chiếu, thay vì 60 chiếu (người).
 
Đặc biệt họ chọn những người nào đủ tin, nói tất cả những gì họ dặn, và không được nói sai ý họ, cho ở lại đón Phái đoàn.
 
Những lúc này chúng tôi được dẫn vào làng xa, chẳng lao động, ngồi nói chuyện chờ hết giờ.  Khi có lệnh mới được trở về Trại.
 
Trước đây, có kể chuyện một anh bạn thân và cũng là đồng chí, đã hai lần phản bội, dù tôi cố giúp đỡ.  Thì đến nay bệnh tình anh trở nên vô cùng nguy kịch.
 
Hàng ngày, Bác sĩ Trần Vỹ được trưng dụng giúp tại bệnh xá Trại săn sóc anh.  Và anh đã “hộc” ra từng lon máu. Càng ngày càng xanh xao, rõ ràng triệu chứng chẳng còn sống được bao lâu.
 
Điều mà chúng tôi thường tâm sự với nhau về lương tâm của người “Bác sĩ” thật đáng ca ngợi!  Lúc chưa được xuống phục vụ bệnh xá, có lần anh Trần Vỹ xích mích với anh TH. mà anh TH. thường hay ác tâm, lúc lao động đặt chuyện “tiếu lâm” để tha hồ nói xấu anh Trần Vỹ, nói xấu đến độ mọi người đều chỉ còn lắc đầu!
 
Nhưng hôm nay anh TH. đau như vậy, anh Vỹ như chẳng hề nhớ đến bởi lương tâm thầy thuốc với bệnh nhân là trên hết, thật đáng phục!
 
Chiều hôm ấy anh TH. lên tìm tôi:
 
-         Anh Vỹ ơi!  Tôi chắc phải chết.  Từ 20 năm trước đã có một Bác sĩ người Pháp báo cho biết đến khoảng này tôi phải chịu bệnh như ngày nay và phải chết.  Nay lên thăm anh và xin anh tha thứ cho.  Tôi đã ăn ở không tốt với anh.  Và dù vậy anh vẫn thương, xin anh tha thứ cho để tôi được yên tâm.
 
Tôi ngăn anh,
 
-         Đừng nói vậy!  Tôi không bao giờ hờn giận anh.  Tôi luôn luôn cầu nguyện cho anh!
 
Bệnh anh TH. càng ngày càng nặng và sau thời gian ngắn anh qua đời.
 
Anh TH. chết khoảng tháng sau thì chị TH. ra thăm.  Trại có gọi tôi ra gặp Chị để kể cho Chị nghe về bệnh tình của anh.
 
Trong tù rất nhiều chuyện đáng nói, mà nhất là những con người, những mẩu chuyện chẳng bao giờ quên được.
 
Về con người thì vô số.  Nhưng nên nhớ lại vài anh em để chứng minh cho cái chí bất khuất của những người dù đói khổ, dù gian lao cũng không bao giờ chịu khuất phục trước Cộng Sản.
 
-         Anh Nghiêm người ở Hố Nai, cấp bậc Đại Úy hay thiếu Tá gì đó.  Không ai quên rằng anh chống đối bọn Cán bộ không ngừng.  Không dễ gì bắt anh lao động theo ý muốn của bọn nó và kỷ luật đối với anh chỉ là thừa.
 
Mỗi lần từ hiện trường về Trại, anh không phải răm rắp đi vào hàng ngũ như bọn nó đòi hỏi, dù chẳng muốn vì mình mà anh em trong Đội sẽ gặp khó khăn.
 
Khi vào cổng rồi, trước lúc vào buồng anh luôn đấm mạnh gần như muốn đập cho bể gãy cả cánh cửa.
 
Anh em nhìn anh cười, vì lúc này đâu còn trong hàng ngũ của Đội mà Cán bộ làm khó cả Đội được.
 
Chú bạn trẻ Bửu Uy, nay ở Portland, đã cho anh em thấy một thái độ ít có!  Cha chú trước theo kháng chiến và là cấp bậc Trung Tá.  Một hôm vào thăm, được chú sẵn sàng cho biết rằng:
 
-         Tình Cha con thế đủ rồi!  Đường Ba, Ba đi đường con, con đi.  Từ nay xin đừng vào thăm con nữa.
 
Đấy là chưa kể những lần phải đấu với bọn Cán bộ chú bạn trẻ Bửu Uy đã làm cho vài anh em nhút nhát, cầu an cảm thấy lòng chẳng vui chút nào.
 
Còn chú bạn trẻ nhất, mà anh em thường gọi hỗn danh là “Nhái” – bởi con nhái là con vật khá nhỏ.  Chú tên là Hà Lý Luận.  Chú Luận có một cái cười rất hồn nhiên và nhìn chú không ai có thể nghĩ rằng chú sẽ ngoan ngoãn với bọn Cán bộ hay có thể nghi ngờ là chỉ đóng kịch trước ta!
 
Còn khá nhiều con người đáng kính phục nữa!
 
Về chuyện, thì vô số chuyện được nghe kể, nhất là cái nguyên tắc, cái “Luật” của “Tạo Hóa” càng khổ bao nhiêu càng đấu tranh nhiều, càng chua xót bao nhiêu càng trung cang nghĩa khí bấy nhiêu.
 
Nhưng vài trong bao nhiêu mẩu chuyện tôi chứng kiến hoặc xảy ra tại Trại đang sống phải kể:
 
-         Chị vợ anh Võ Quốc Thanh, một hôm khăn gói từ miền Nam ra thăm chồng.  Thường khi nghe có gia đình ra thăm một người nào là anh em cố lén viết thư tìm cách đưa nhờ gia đình này chuyển lại cho.  Vì lẽ ấy anh em đã tập trung thơ lại hầu gửi cho chị Thanh.  Nhưng chẳng may, việc bại lộ, bọn Cán bộ trại bắt được.  Chúng thường tức giận về hàng động này, bởi lẽ những lá thư này, những lá thư gửi lén là những lá thư nói rõ sự thật dã man, tàn ác của bọn chúng, chứ không phải nói dối theo hướng dẫn của chúng.
 
Thế là chúng cấm anh Thanh không được ra thăm và bảo chị Thanh phải khăn gói ra khỏi Trại, về Nam ngay.
 
Dù hết lời giải thích, nhất là kể cái khó khăn, khổ cực từ Nam ra đây, nhưng bọn chúng cương quyết từ chối.  Anh Thanh thì không có thế lực hoặc không rõ được đường dây hối lộ bọn chúng, nên thế là chị Thanh phải ra về.
 
Nghe được chuyện này ai chẳng não nề!  Không chỉ nghĩ đến anh Thanh mà nhất là chị,  Nhưng cái mà toàn thể ai nghe cũng kính phục là, sáng hôm ấy chúng tôi ra lao động, chị Thanh cố chờ khi chúng tôi ra, chắc không phải để nhìn anh Thanh một lần trước khi về.  Ai cũng sửng sốt khi thấy bóng chị nặng nề khuân vác những quà đã bị từ chối.
 
Chị đứng thẳng người, giơ cao tay, miệng cười vui vẻ, nói rất lớn cho chúng tôi đủ nghe, dù bọn Cán bộ trong Trại đứng nom theo, hay bọn Cán bộ dẫn chúng tôi đi lao động đứng nhìn:
 
- Cứ vui vẻ . . .  đừng ngán!  Đừng buồn!  Bọn này sẽ về lo dạy con!  Không ngán!  Đừng ngán!
 
Chúng tôi cũng đưa tay chào chị và rồi ai cũng cúi đầu khâm phục những người đàn bà như chị Thanh!
 
Đến chuyện vợ anh Đại Tá Phan Cao Đông, nguyên Tỉnh trưởng Quảng Nam, anh Đông được viết thư về thăm gia đình, theo thông lệ của trại nghĩa là thư phải qua Cán bộ kiểm duyệt.
 
Có lẽ cũng vì vậy mà anh Đông quên mất cái chí khí của vợ mình.  Một thời gian sau, không biết là chị Đông ra thăm hay chị gửi cho ai, chứ chắc là không gửi theo hệ thống Trại thơ anh Đông đã bị chị dùng bút chì đỏ gạch khá nhiều dòng, chưa nói là những dấu (?) những chữ bị chị gạch, bỏ để cảnh cáo ý thức (!) hay tinh thần của anh ở đâu?
 
Chị Đông là con Cụ Chánh Sáu ở quán Rường, Tam Kỳ.  Cụ là cấp lãnh đạo Liên Khu của Quốc Dân Đảng, tinh thần chống Cộng thì khỏi nói!
 
Nghe kể chuyện này, và vài người chí thân được anh Đông cho xem “bài vở” bị cô giáo phê phán quá độ.  Anh em vô cùng thán phục chị Đông, mặc dù người chê anh Đông cũng có mà người bào chữa cho anh Đông cũng không phải không có.
 
Lại chuyện cô em gái Tướng Lê Minh Đảo.  Nghe đâu cô này tên là Tuyết và hiện nay đang sống tại Cali.  Một hôm cô ra thăm anh, thì có một anh bạn đang khốn khổ từ lâu chẳng được tin tức gia đình, nhà ở tận Nha Trang.  Anh bạn trẻ tìm cách kể lại cho cô Tuyết nghe và nhờ cô về nhắn lại hoặc bày vẽ cho bà Mẹ ra thăm!  Cô Tuyết về gửi thư căn dặn bà Cụ này vào Saigon, cô hướng dẫn và giúp đỡ cả tiền bạc cho đi thăm.  Bà Cụ từ Nha Trang vào, và được cô giữ lại nhà mấy hôm bày vẽ thủ tục cũng như giúp dỡ tiền bạc ra thăm con.
 
Nghe kể lại chuyện này anh em khá ảo não và cảm động về lòng tốt của những người cùng hoàn cảnh.
 
Trong khi kể vài chuyện trong hàng trăm, ngàn câu chuyện hay cũng nên nhắc đến một câu chuyện chẳng vui chút nào.
 
Đành rằng trong hoàn cảnh tù đày của Cộng Sản, có nhiều hoàn cảnh cần thông cảm và tha thứ cho nhau.  Nhưng câu chuyện của chú Đỗ Công Thành, nguyên Quận Phó Tân Châu, Châu Đốc thì chẳng ai quên được.
 
Chuyện lập công với Cộng Sản mà đến cỡ như Đỗ Công Thành thì nhất định chẳng ai bằng và vô cùng khó thanh minh, bào chữa.
 
Thành hung dữ hơn cả bọn Cán bộ, Thành soát xét khi anh em vào Trại để thu lại chút rau, củi và còn mạnh tay với anh em là đằng khác.
 
Có lẽ, vì vậy mà hôm ấy Thành được chỉ định vào ngồi cạnh chiếu Đội tôi để theo dõi buổi học tập, thảo luận.
 
Tôi đã không ngán và còn nghĩ rằng nhân cơ hội này nói cho Thành biết.  Đến mục thảo luận về hai chữ “tiến bộ” Thành đã kết luận rằng:
 
-         Về hay không là do có tiến bộ hay không.
 
Tôi đưa tay xin phát biểu:
 
-         Tôi hoàn toàn không đồng ý về điểm này, vì không bao giờ tiến bộ mà được về sớm.
 
Đang ngon trớn thì Thành cắt ngang:
 
-         Anh Vỹ không được quyền phát biểu bừa bãi như vậy!
 
Không chịu thua, dứt khoát, nói với thư ký buổi họp:
 
-         Xin Thư ký cứ vào biên bản là tôi, Phan Vỹ nói, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời phát biểu của mình.  Tôi khẳng định lại lần nữa là việc về sớm hay muộn không phải do tiến bộ như anh Thành đã nói.  Tôi quyết định rằng về sớm là trước có công với Kháng chiến mà phải là công to.  Thứ đến là phải có thân nhân gần nhất như Cha, Mẹ, anh em, vợ chồng làm thật lớn trong Đảng Cộng Sản mới bảo đảm, ngoài ra không thể nào vì tiến bộ mà về sớm được.
 
Thành vừa định tấn công lần nữa, thì tôi đã đanh thép hơn, chỉ thẳng vào y:
 
-         Nếu tiến bộ mà về, thì ai tiến bộ hơn anh, anh hơn cả Cán bộ sao chưa về?
 
Thành hậm hực, nhưng có lẽ, y thú vị vì câu nói này của tôi nên im lặng.
 
Sau buổi họp, vài anh em đã cười nói đùa với tôi:
 
-         Nếu được, Thành sẽ không tiếc đãi anh một ‘chầu” vì câu nói của anh hôm nay, Thành tin sẽ được về.
 
Mấy hôm sau, một số được tha về, trong ấy có những người từng gắn bó nhau trong việc tu hành như Đào Văn Bình, Nguyễn Sâm . . .
 
Lúc sửa soạn để chờ lãnh giấy, Bình lại trước tôi, rất chân tình:
 
-         Chúc Cụ ở lại chuyên tâm tu hành, sau này ra đời sẽ tìm Chùa nào có Sư Cụ Tâm Hiệp là Bình vào đảnh lễ!  Bình chắp tay xá tôi.
 
Ôm Bình tôi cảm động, ngày xa nhau.  Và cũng bởi tình lưu luyến của những người đồng đạo ấy, tôi soạn lại những bài thơ đã làm từ lâu, tiếp tục viết thêm với hoài vọng ngày về hoặc tìm cách gửi ra đời cho bạn bè quen thân.
 
Đây là một số trong khá nhiều bài, với hoài vọng để dành cho tác phẩm “Từ đi Tù đến đi Tu” viết ra để kính tặng những người đồng cảnh ngày xưa lại sớm bước vào ngưỡng cửa của Thiền Môn, trong ấy có Ngài Thích Kiến Khai, trụ trì Chùa Hoa Nghiêm hiện nay.
 
 
 
 
 
 
 
 
Bài thơ:                    KHAI BÚT TẾT TÂN DẬU
 
 
Đầu năm khai bút hạ thơ đề
 
Phúc đức “tâm nguyền, ấy chữ phê”
 
Hết khổ trăm nhà – lòng sung sướng!
 
An vui làng xóm – dạ hả hê
 
Nhớ rõ Pháp Hoa lời Phật dạy
 
Ghi lòng viên Giác, chữ Kinh thề
 
Ngồi Thiền, thấy được “Không như Có”
 
Quán rõ tâm mình, lúc tỉnh mê.
 
 
Bài thứ hai (khi thấy một số ra về)
 
 
KẺ ĐI, NGƯỜI Ở
 
 
Đường xưa Tuyết Đậu (1) mượn lời thơ
 
Nhắn kẻ ra đi, kẻ đợi chờ
 
Trách nhiệm mỗi bên không hơn kém
 
Vai trò nghiêng ngửa, chỉ đường tơ
 
Khác trước, xem đời dường ảo ảnh
 
Vì sau, dọn sạch bóng mây mờ
Chứng kiến xiển đề (2) ngày tuyệt diệt
 
Cùng nhau dẫn dắt, tránh bùn nhơ.
 
 
Bùn nhơ Phật tánh vẫn y nhiên
 
Lục dục thất tình, khó đảo điên
 
Phúc, họa phân minh, không nhầm lẫn
 
Bạn thù chẳng động được tình riêng
 
Giải thoát đó đây, cùng giải thoát
 
Ưu phiền nhu thuận với ưu phiền
 
Tiểu ngã vui về cùng đại ngã
 
Thảo đường (3) vang dội những chiều chuông.
 
 
(1)     Tuyết Đậu là vị Tổ dùng văn thơ biểu thị ý chí Thiền.
 
(2)       Xiển  đề dịch tiếng Phạn là tàn ác, không tin nhân quả như Cộng Sản.
 
(3)       Thảo Đường là Tông phái Thiền đời nhà Lý ở Việt Nam theo đường hướng Tổ Tuyết Đậu.
 
 
 
NGHIỆP
 
 
Sao đau khổ lai than Trời, trách Đất?
 
Đổ oan gia, vu nghiệp chứng quá nhiều
 
Nhìn người sang, mà ganh ghét đủ điều
Khinh kẻ khó, rồi kiêu căng, hợm hĩnh!
 
 
Lắng lòng lại, cho Tâm mình xác định!
 
Rằng, ta mang lấy Nghiệp đã bao lâu?
 
Nghiệp theo ta, ngay từ phút ban đầu
 
Ta với Nghiệp, chẳng rời nhau giây lát
 
 
Đừng chối bỏ!  Đừng cầu mong khao khát
 
Đừng ước mơ, thoát Nghiệp khổ ngày nay
 
Diệu dụng kia, như đã khéo sắp bày
 
Nghiệp đau khổ, là đặc ân quý báu
 
 
Có dứt khổ, mới mong ngày thoát khổ
 
Không khả năng, thì sao có cơ năng?
 
Để vươn lên, để vượt khỏi thăng bằng
 
Để chứng NGỘ, đâu là “vô sai biệt?”
 
 
Đến giờ ấy, Nghiệp lo gì phải diệt
 
Vì Tâm ta “tự tại vô ngại” rồi
 
Khổ đau kia đâu còn dễ lăn trôi
 
Chẳng cấu xé, chẳng dày vò được nữa
 
 
“Thiền Hạnh” đã về đây chan chứa
Tương ứng nhau và hòa hợp cho nhau
 
Riêng là chung, yêu ghét đủ trăm màu
 
Không là có, có không thiền vĩnh cửu
 
 
Rồi Tâm giác, chính khổ kia đã cứu
 
Để cảm thông, ta là cả của nhau
 
Sẽ thương yêu lẫn người khó, kẻ giàu
 
Sẽ vui khổ, khi chung quanh vui khổ
 
 
Và giờ chót đưa Khổ, Vui đến chỗ
 
Nhẹ lâng lâng như hương gió . . .  ngày Thu.
 
 
 
TÂM và TRÍ
 
 
Tâm vừa sáng, trí kia liền mất
 
Ai thấy đâu? – Chỉ giúp dùm cho
 
Giờ đây là cảnh ban đêm
 
Trí không tác dụng, nhũn mềm đường tơ
 
 
Vậy thử hỏi, lúc nào Trời sáng
 
Khi lòng không vướng bụi đường trần
 
Khi Tâm nhẹ nhõm lâng lâng
 
Dục tình, kiến vọng (1) đổi gần thành xa
 
 
Tâm như vượn, lời xưa Phật dạy
 
Đổi liên miên, khó định, khó an
 
Trí thời dành lấy khôn ngoan
 
Lấy quyền khuấy động, lấy quyền khen chê
 
 
Tâm là sống vì người trước nhất
 
Lo làm lành, làm tốt là Tâm
 
Trí luôn tự phụ chẳng lầm
 
Khôn ngoan, lanh lợi chẳng lầm, chẳng mê
 
 
Nhưng khôn dại, nào ai đã chịu
 
Như lời thơ, nói chuyện dại khôn (2)
 
Rồi ra xét lẽ sanh tồn
 
Đời là ảo ảnh, chiều buồn, trong mơ . . .
 
 
Thì ra thế!  Mất Tâm là Trí
 
Và chẳng quên, nhờ Trí có Tâm
 
Để rồi Tâm đã không lầm
 
“Bình thường thị đạo” lẽ ngầm sâu xa.
 
 
Phải dũng mãn, vượt Tâm khỏi Trí
Vượt hẳn Vô sai Biệt mới an
 
Tâm linh hiện đến rõ ràng (3)
 
Là giờ phát Huệ, ngỡ ngàng gì đâu?
 
 
Ta đẫ vứt cái “Tôi” sọt rác
 
Và trở thành quê dại ngây ngô
 
Biết mà không biết mơ hồ
 
Nghĩ mà không nghĩ, quật mồ một phen
 
 
Ải Đại tử ta qua thanh thoát
 
Dục tình đâu?  Sai biệt là đâu?
 
Tâm là Bát Nhã muôn màu
 
Trí là Bát Nhã, thâm sâu cửa Thiền
 
 
Ngày mùng Một, tháng Ba, năm Tân Dậu
 
 
(1)     Phải xa lìa lục dục thất tình, kiến chấp vọng tưởng.
 
(2)     Bài thơ “ Thế sự đua nhau nói dại khôn.”  Của Tú Xương
 
(3)     Xem tiếp bài ngày Rằm tháng Ba, làm sao để Trí rũ liệt cho Tâm sáng tỏ.
 
 
 
 
 
 
 
 
ĐẠI TRÍ  -  CHƠN TÂM
 
(Rằm tháng Ba)
 
 
Thơ Tâm Trí phải nói thêm
 
Kinh nghiệm dẫn chứng lại kèm cổ kim
 
Đương khi sắc dục đắm chìm
 
Mê mờ nào biết – đạo Tâm, lối vào!
 
Thiền sư Phổ Chiếu đồn rao  
 
Dạy ta dứt tuyệt đường Tâm lúc này
 
Là làm cho trí ngây say
 
Tác dụng phân biệt, biến ngày thành đêm
 
Làm cho rũ liệt, yếu mềm
 
Làm cho cùng kiệt, hết thèm hơn, thua
 
“Muốn Tu đâu phải vào Chùa”,
 
Cứ xét Công án – như đùa mà chơn
 
Khi đã Ngộ, rõ thiệt hơn
 
Đại Trí Bất Nhã – CÓ, KHÔNG – nhẹ nhàng
 
Chơn Trí, mới thật khinh an
 
Nội tâm tự phát, sáng từ trong tâm
 
Không do học hỏi mê lầm
Chẳng do thấy Đạo mà sanh tâm này
 
Học mà có Trí, thường thay!
 
Kiến văn giác trí, hỏi rày là chi?
 
Cũng chỉ là “Trí tác vi”
 
Còn trong phiền não, sân si đủ điều
 
Trí mà than vãn, kêu rêu
 
Mong chi giải thoát cảnh nghèo cho Tâm?
 
Ai ơi!  Chân, Trí, cố tầm
 
Như gương lau sạch, rỗng không, sáng ngời
 
 
Trí, Tâm thơ nhắn mấy lời
 
Muốn tìm Tâm đạo người đời nên lo
 
“Tu tâm quyết” đã chỉ cho!
 
Chơn tâm trực thuyết dặn dò kỹ hơn
 
Của Ngài Phổ Chiếu ra ơn
 
Dạy người Tâm đạo thiệt hơn rõ ràng
 
Đừng ngại khó, đã rõ ràng
 
Đức tin vững mạnh, ngỡ ngàng nữa sao?
 
Gương Lục Tổ, một thuở nào
 
Kim Cang nghe tụng lòng ao ước rồi
 
Tìm hiểu diệu lý, quyết ngồi là yên!
Đâu còn nói chuyện ưu phiền
 
Đâu còn sanh tử, nối liền khổ đau
 
Gương xưa trong sáng làu làu.
 
 
(1)     Tìm đọc tu Tâm Quyết và Chơn Tâm Trực Thuyết của Phổ Chiếu Thiền Sư sẽ thấy tâm rõ dường nào.
 
(2)     Xưa Lục Tổ Huệ Năng nhờ nghe tụng Kinh Kim Cang khi đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”  -  (không chấp trụ vào nơi nào cả mới sanh Tâm)  mà Ngộ.
 
(3)     Suốt từ tháng Tư tác giả tịnh khẩu nên không làm thơ.  Tuy nhiên thời gian này có sáng tác Liên khúc diễn đạt cúng dường Kinh Kim Cang, theo lối thơ mới, phá thể.  Và sau đây còn nhiều, nhất bài thơ CHUA Tướng số, khi thấy anh em thường nhờ xem thử bao giờ có thăm nuôi, thơ còn nhiều, lén đem được về.  Xin chờ tác phẩm “Từ đi Tù đến đi Ttu”!
 
 
Còn khá nhiều bài đáng được nhắc đến như Cúng dường hay thơ Chua Tướng số, nhưng muốn dành lại cho tác phẩm “Từ đi Tù đến đi Tu” sau khi tác phẩm truyện ngắn “Hai thế hệ” đang được kết thúc, để rồi chấm dứt nghiệp Văn Thơ tìm cho mình những ngày yên tĩnh.
 
Và đây là lúc chúng tôi, những người thọ “trai trường” hay những người muốn Tu thường họp nhau ngoài sân mỗi chiều Chủ nhật lấy cớ uống trà, nói chuyện gẫu để qua mắt Cán bộ, hầu trao đồi nhau về các hiểu biết hay kinh nghiệm trong đường tu học.
 
Chiều Chủ  nhật như đã nói là những dịp anh em tùy sở thích tổ chức văn nghệ, ca hát, to nhỏ nhau những chuyện tín ngưỡng hay kể chuyện Tàu, chuyện nấu ăn v. v. . .
 
Riêng chúng tôi khoảng 7, 8 người, gồm có quý anh Đoàn Thái, Huỳnh Tấn Phát (nay đã xuất gia là Thầy Thích Kiến Khai, Chùa Hoa Nghiêm) v. v. . .  Trong số này có hai anh thích chuyện cầu cơ, mà chúng tôi không dám lên tiếng là mê tín dị đoan, bởi nói ra chẳng lợi lộc gì, lại thêm buồn lòng nhau, chưa nói là trong nhóm sẽ bớt một hai người là điều chúng tôi không muốn. Vì lẽ ấy, khi nói đến Pháp Hoa thường là tôi phụ trách trình bày và lúc nhắc đến Khai, Thị, Ngộ, Nhập chỉ sâu sắc, rõ ràng nói Khai, Thị, Ngộ mà ngưng lại ở chỗ Nhập bởi lý do vừa nói.
 
Có lúc anh em đã hỏi, đành nhẫn nhịn thông cảm là khi đi vào Nhập thì việc cầu cơ hay lên đồng đâu còn ý nghĩa, chứ đừng nói là thuận lẽ.
 
Trong trại những lúc sau này thường bắt đầu là 3 tháng, sau đổi 6 tháng, phát giấy cho nghỉ lao động một hôm ở nhà làm ‘kiểm điểm”.  Đây là mục đích họ muốn kiểm điểm tư tưởng để nói hết những gì đã nghĩ, chưa đụng nói là đã làm – để hy vọng xem như giác ngộ, tiến bộ mà được tha.  Tha hồ anh em, tùy quan niệm mỗi người, nhưng riêng tôi, nghĩ rằng đây là cơ hội nhắc cho chúng thấy cái thất bại chứ không phải thành công như họ nghĩ về chủ trương “cải tạo”.  Người thường được tôi cho xem sau mỗi lần làm xong bản “kiểm điểm” là Cậu Bảy Khương, tức ông Võ An Khương, Giám đốc Nhân viên Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo.  Vì lẽ ấy, lần này Cậu Bảy không e dè như trước, cười một cách khoái chí:
 
-         Ai thì không biết, chứ Cụ Vỹ thì không xem cũng biết Cụ viết những gì rồi, nhất là câu mở đầu “bất di, bất dịch!”
 
Chú Trân – nguyên Phó Ty Đặc biệt Long An, Long Khánh, một tay cao thủ võ lâm trong nghề Tình Báo, giọng nghiêm túc hỏi Cậu Bảy:
 
-         Cụ Vỹ viết gì mà Cậu Bảy biết trước hay vậy?
 
Như thuộc nằm lòng, không cần suy nghĩ, Cậu Bảy pha hài ngay:
 
-         Cụ ấy luôn luôn mở đầu bằng câu “chẳng còn gì phải lo nghĩ, hoàn toàn an tâm vì gia đình đã tan nát rồi – nghỉ một giây, Cậu tiếp:
 
-         Còn gì mà chẳng an tâm Cải tạo!
 
Cậu Bảy nghiêng vào tai tôi nói nhỏ:
 
-         Viết câu ấy còn hơn chửi cha họ!
 
-         Viết thật lòng mình mà!  Trại muốn mình nói thật kia mà, cậu Bảy!
 
Chúng tôi cùng cười chua chát.  Và đây cũng là lúc tôi sắp rời Đội này để sang Đội Văn nghệ bởi một lý do phải nhớ đến chết!
 
Việc rời Đội Rau để sang Đội Văn nghệ có khá nhiều lý do, trong ấy có vài nguyên nhân chính khá quan trọng.
 
-         Nhân một hôm Cán bộ Quản giáo hướng dẫn học tập và khi đề cập câu “lấy nông thôn bao vây thành thị” thì tôi đã mỉm cười, yên trí về lý thuyết này bởi trước khi vào tù, ngày viết tác phẩm “Đừng lạm dụng danh nghĩa Nông thôn” đã đến thư viện nhiều lần để nghiên cứu tài liệu cho tác phẩm.  Do đó, biết rõ lý thuyết này là của Mao Trạch Đông, và có lần tên Quản giáo cũng lặp lại như vậy.  Nhưng lần này anh chàng Đội trưởng ý chừng muốn nâng bi Bác Hồ yêu quý nên cho rằng đây là lý thuyết của Bác Hồ.  Chịu không nổi, tôi lên tiếng cãi và đòi Cán bộ Quản giáo xem lại, mặc dù như đã vừa nói trước đây, chính y cũng xác nhận như vậy.  Nhưng nay không muốn để đội viên “sửa lưng”  Đội trưởng, anh ta hứa sẽ xem lại ( đến ngày rời Đội chính tên Quản giáo đã xác nhận sự kiện này.) 
 
Chuyện thứ hai là chuyện của Trương Đăng Hậu, Hậu nguyên là Thiếu Úy trong đám Công giáo Hố Nai.  Hậu đau mụn nhọt nơi mông đít, rất khổ sở khi phải di chuyển chứ đừng nói là lao động.  Tên Quản giáo, chắc đã được chỉ thị của Trại sau khi báo cáo sự việc, nên đổi em về Đội này, một Đội dành cho những tên cứng đầu và buộc em phải đi lao động.
 
Tôi là một trong 4 Tổ trưởng của Đội.  tên Quản giáo đưa Hậu về Tổ này cốt để xem tôi xử sự ra sao (đây cũng là một kinh nghiệm với Cộng Sản, cần ý thức.)
 
-         Em cứ cố gắng chống gậy ra hiện trường, ở nhà anh không có quyền, nhưng ra hiện trường là do anh.  Ra đấy chắc chắn chẳng ai dám động đến, khi anh quyết định cho em ngồi trên bờ nghỉ, đến lúc Đội về, ai hỏi, để anh trả lời!
 
Nghe lời tôi, hàng ngày Hậu chống gậy ra hiện trường, chẳng tên nào hỏi han gì, thì đây cũng là cái cớ thứ hai họ quyết định chuyển tôi ra khỏi Đội.
 
-         Chuyện thứ ba, chuyện anh Nguyễn xuân Phong, nguyên Tổng trưởng Chiêu Hồi và phút chót là Trưởng Phái đoàn Việt Nam trong Hội nghị Ba Lê.  Anh Phong bị đưa vào Đội này và vào Tổ tôi, có lẽ cũng vì vậy.
 
Nằm sát nhau thường chuyện vãn tâm tình, anh Phong dần dần thông cảm tôi không phải tay sai của đám lập công với Trại.  Anh kể đủ chuyện, chẳng dấu gì.  Anh kể cả mối tình đầu với một cô sinh viên người Nga, đến những chuyện vui, buồn khi Hội đàm Ba Lê, và ngày chót về Việt Nam nhận chức thì bị kẹt lại.
 
Phong rất sợ phê bình, nên luôn luôn lao động gần như quá vô lý.  Mỗi người được phân chia 3 hay 4 liếp rau muống phải săn sóc.  Cả ngày anh nằm dưới ấy, hết nhổ cỏ, lại tưới nước, hết tưới nước lại dùng liềm để vun bờ cho nước chảy.
 
Nếu chưa phải giờ về, không bao giờ anh lên bờ.  Nhiều lúc tôi khuyên anh lên nghỉ như mọi người thì anh lại năn nỉ để anh lo cho tròn trách nhiệm.
 
Chẳng hiểu hai tiếng trách nhiệm anh muốn nói gì, nhưng nghĩ thôi để anh yên!
 
Có một điều tôi phải lên tiếng phản đối và làm cho Đội trưởng tìm cách tống ra khỏi Đội.  Ấy là mỗi tháng, cứ gần đến ngày họp giữa Đội là Đội trưởng họp trước với các Tổ trưởng.  Đây là lúc Đội trưởng buộc chúng tôi, những Tổ trưởng phải báo cáo tư tưởng (!) của Tổ viên.  Tôi lên tiếng phản đối kịch liệt.
 
-         Báo cáo công tác lao động chứ sao lại báo cáo tư tưởng?  Đố anh nào biết được tư tưởng tôi mà tôi lại biết tư tưởng của Tổ viên để báo cáo.
 
Tôi buộc lòng phải dùng vài danh từ không mấy lịch sự để phản đối việc này và xin nghỉ không chịu làm Tổ trưởng nữa.
 
Anh Huỳnh Tấn Phát cũng là Tổ trưởng.  Nay đã xuất gia, người hiền lành, năn nỉ:
 
-         Thôi anh cố gắng ở lại, có anh làm Tổ trưởng tôi mới làm.  Anh nghỉ họ ăn hiếp, tôi chịu thôi!
 
Đấy là ba lý do để hôm nay họ đưa tôi sang Đội Văn nghệ.
 
 
Và đây!  CUỘC ĐỜI TÙ VĂN NGHỆ . . .
 
 
Người lên thay tôi là Võ Hữu Thu, và có vậy họ mới thực hiện được việc đem chú Hậu ra đấu suốt hơn 30 đêm, đến nỗi chú kiệt quệ, đưa đi một nơi khác giam, và chú phải tự tử chết!
 
Sang Văn nghệ nhưng thường hỏi thăm tình hình Đội ra sao, vì cứ nghĩ anh Phong sẽ bị khó khăn nhiều với Đội trưởng.
 
Nhưng có anh em giải thích rằng lúc này Thụy lên làm Trưởng ban Văn hóa mà Phong và Thụy rất thân nhau, chú Đội trưởng phải biết điều, Phong không đến nỗi gì, tôi yên tâm.
 
Qua Đội Văn nghệ, sau khi Diệp Tùng – Đạo diễn – xem chừng khá thích tôi, bởi có khả năng nhiều trong Văn nghệ.  Nhưng chỉ đưa một điều kiện duy nhất là không được bảo tôi “cạo râu”.  Vì tôi đã để bộ râu từ bao năm rồi.
 
Trong tù bọn Cán bộ không cho để râu, nhất là những bộ râu về phương diện mỹ thuật không được “dễ coi”.
 
Tâm trạng tôi qua Văn nghệ, thoạt tiên là vấn đề “nhồi nhét trong đầu đám tù nhân” mà Cộng Sản chủ trương trước hết.  Nhưng sau một thời gian thấy rằng Cộng Sản đã thấy rõ anh em chúng ta không dễ gì nhồi nhét, theo ý chúng. Văn nghệ chỉ là những đêm để anh em giải trí, sau những ngày tháng lao động quá cực, chứ dùng một đề tài để có ý thức nhồi nhét vào đầu đám người này, thì bọn chúng đã ý thức rõ.  Vì vậy những vở tuồng, đành rằng chúng thường có ý xuyên tạc sự thật, hay nói xấu Miền Nam, nhưng cũng phải có ý né tránh để có phần Văn nghệ đôi chút.  So sánh với thời xưa, khi mà tôi đã được bọn tuyên truyền kháng chiến dụ dỗ, thì ngày nay hoàn toàn khác hẳn.  Vì lẽ ấy, dù nhất thiết không được hát nhạc Vàng “tức là những nhạc du dương của Nghệ sĩ miền Nam ta”, bọn chúng cũng phải né tránh không dùng hẳn những “nhạc Cộng Sản”.  Vì vậy, sau này chúng đem ra vở tuồng Dương Vân Nga để tập, sau khi thành công vở “Chiếc nhẫn ngọc”.
 
Đội Văn nghệ gồm có những anh em trong Tân nhạc và Cổ nhạc.  Sau một thời gian tập dượt kỹ, chúng cho diễn tại Trại vào những dịp Tết hay lễ lạc.  Và, mỗi dịp diễn như vậy xong, anh em được bồi dưỡng.
 
Khó quên nhất là khi được về Trại Bắc Sơn, một Trại nhỏ cũng thuộc Hà Tây quản lý để trình diễn.
 
Chiều hôm về vừa tới nơi, anh em được cho phép dọn đồ xong, đi Chùa Hương chơi.  Tôi không đi vì ngại leo núi khó khăn, nên chịu ở nhà giữ đồ.
 
Anh em đi quanh núi sau Trại Bắc Sơn và ra Chùa Hương trong vòng vài tiếng.  Khi về, nghe kể lại cũng thích, nhưng khá vất vả.  Trong đám Văn nghệ, có chú Tuấn, nguyên Thiếu Úy Cảnh sát, chuyên môn đóng vai nữ rất hay và rất giống.  Khi Tuấn được cải trang lên hát hay đóng vai nữ, ít người nhận ra được em là trai.  Ngoài Tuấn còn có một em khác tên là Đẹp.
 
Chiều hôm các chú ấy đi Chùa Hương, tôi ở nhà lân la với số tù Biệt Kích.  Anh em này trước kia đã được đưa ra nhảy dù ở Bắc, nhưng phần lớn, vừa nhảy xuống đã bị phát giác và bị bắt ngay, dù là nhảy tại quê hương các chú.
 
Đến đây mình mới không hiểu tài của các tổ chức này, trước kia tại sao không điều nghiên cho chu đáo.  Với Cộng Sản, nhất là chúng đã tuyên truyền lừa gạt dân chúng, thì rất khó lòng không bị dân chúng truy lùng và bắt được.  Hồi mới đưa ra Hà Tây dân chúng đã nhìn chúng tôi với cặp mắt hoàn toàn thù hận.  Và, chính vì thế, Tù thuộc các nhóm quân nhân, khi đưa ra các Trại Yên Báy, Sơn La, phải đi bằng xe lửa, và chúng ta đã nghe kể chuyện khi xe đang chạy, một số dân chúng ném đá, nhiều người bị thương.  Đấy là chính bọn chúng làm, đổ cho nhân dân.  Cộng Sản đã tuyên truyền là chúng ta ăn gan, uống máu rất nhiều người.  Những người có để bộ râu như tôi thường bị dân chúng gọi là “Giặc lái” – tức những người lái máy bay.
 
Họ tuyên truyền:  Trong Nam cứ lên một cấp là phải “hiếp dâm” được bao nhiêu phụ nữ, chứ không phải nhờ tài cán mà được lên cấp.  Từ Thiếu Úy phải hiếp dâm đủ bao nhiêu người mới lên Trung Úy và Trung Úy lên Đại Úy cũng vậy.
 
Chính vì lối tuyên truyền này của Cộng Sản đã đem lại cho chúng một thất bại khá lớn sau này.  Khi chúng ta vừa ra Bắc là bị cấm tiếp xúc với dân chúng.  Nhưng trong những lần đi lao động, dĩ nhiên một lúc nào đó, cũng ghé vào nhà dân chúng.  Thoạt đầu họ không muốn nhìn chúng ta, chứ đừng nói tiếp xúc.  Nhưng dần dần thấy ta, rồi nói chuyện.  Anh em ta thấy họ quá rách, đem lén quần áo ra cho, thấy họ đau đem thuốc cho họ uống.  Dần dần họ cảm mến.  Có anh em được họ làm gà, nấu xôi cho ăn, khi thấy ta cho, biếu họ một món quà.  Khi có những lần như vậy là hoặc Cha Mẹ tiếp ta, còn con cái ra ngồi trước sân trông chừng bọn Cán bộ hay người hàng xóm, láng giềng . . .
 
Nhắc lại rằng anh em Biệt Kích rất thương nhau và không bao giờ có chuyện báo cáo nhau như tình trạng đi tù của chúng ta.  Họ bắt được một con mồi hay có vật gì để ăn là chia cho nhau.
 
Sau đêm văn nghệ tại Bắc Sơn, ngoài việc ăn uống, Trại này đãi cũng khá, còn bồi dưỡng cho một nồi chè ngọt, nấu nếp và đường.  Thấy mình cũng tạm đủ rồi, nên khi được lon chè ngọt, tôi lại nhớ đem về cho Phong, người bạn nằm cạnh khi còn ở Đội Lao động. 
 
Được lon chè, Phong nhìn tôi với tất cả sự ngạc nhiên, tôi phải giải thích cho Phong hiểu.
 
Chỉ mấy ngày sau Phong được về cùng một số anh em.  Khi xe đưa ra khỏi Trại, Phong quay nhìn anh em, đưa tay vẫy chào như khá nhiều thương nhớ.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bắt đầu TỊNH KHẨU, suốt 6 tháng, 8 ngày
 
 
Một thời gian sau, tôi lại trở về Đội Lao động.  Sau nhiều suy tính, nhân ngày mồng 8 tháng 2, ngày Phật Tổ xuất gia, tôi tịnh khẩu, không nói gì cả và định đến ngày Rằm tháng Bảy mới xả giới.
 
Trước khi có ý định này, vài anh em thân đã ngỏ ý bàn với tôi, nhất là anh Lò Văn Bảo, cựu Tỉnh trưởng Phú Bổn:
 
-         Nếu Bác tịnh khẩu, họ ngăn cấm thì tính sao?
 
-         Họ cấm là cấm nói nhiều, chứ làm sao lại cấm không nói.
 
Tôi bắt đầu tịnh khẩu, tính ra là 5 tháng 8 ngày, nhưng năm ấy “Nhuận” tháng Tư thành ra 6 tháng 8 ngày mới xả giới.
 
Một vài anh em thương tình làm cho một miếng carton có lót vải nhựa lợp nhà và trên có lớp nylon.  Khi muốn viết gì cho ai cứ viết trên có lớp nylon, người trước mặt sẽ đọc được ý mình.  Khi gỡ lên, là lại viết lần khác.
 
Đấy chỉ là những trường hợp đặc biệt, chứ ngoài ra anh em lại mượn gì hay hỏi gì chỉ “lắc đầu” hoặc “gật đầu” là họ hiểu ý.
 
Cuối tuần ấy Đội họp thảo luận về công tác trong tuần.  Tôi cũng ngồi nghe như mọi người.  Nhưng sau khi anh em phát biểu xong thì tên Cán bộ quay lại hỏi:
 
-         Mọi người đã phát biểu ý kiến, vậy anh Vỹ hãy phát biểu!
 
Tôi lắc đầu và không nói
 
Lần này thì Đội trưởng tỏ vẻ không như trước, cái không như trước, không riêng anh ta mà nhiều người đã có, sẽ nói sau!
 
-         Từ mấy hôm nay anh ấy không nói ạ!
 
Tên Cán bộ biết rằng hỏi cũng chẳng được gì thêm, nên yên lặng.  Tự nghĩ như thế là mình đã thành công!
 
Xin nói điểm về “cái không như trước” là bởi gần đây anh em nghe tin chắc chắn Mỹ có dự định sẽ thương lượng với Cộng Sản để họ chịu cho anh em ra và đi Mỹ.  Đây là tin đáng tin cậy.  Ngoài ra thì thôi, tha hồ vẽ hươu vẽ vượn đủ thứ!
 
Vì lẽ đó, những tay trước hay báo cáo hoặc lập công với Cộng Sản, chẳng kể gì đến thiệt hại cho anh em nay cũng bắt đầu thấm.
 
Một hôm đi làm, Đội tôi đi trước, Đội các anh Đại Tá đi tiếp theo sau.  Tôi nghe rõ một anh nói với người đi cạnh:
 
-         Tôi thách cậu làm sao cho ông ấy, chỉ tôi, nói một lời là chiều nay tôi nhịn phần cơm cho mà ăn!
 
-         Mày khùng hay sao?  Sao lại chọc ông ấy!  Người ta tu hành làm việc như vậy mình phải kính hơn là chọc, mang tội đầy đầu đấy!
 
Nghe mà cảm động về chút lòng của anh bạn vừa nói.  Trong Đội có anh Đại Tá May, nguyên Tỉnh trưởng Cần Thơ, có lẽ cũng ý thức được việc tịnh khẩu, nên bắt đầu, dù phải bị anh em chọc ghẹo.  Nhưng anh chỉ giữ được một tháng rồi “xả giới”, và anh lại nói nhỏ với tôi:
 
-         Tôi chỉ giữ được một tháng, rồi sau muốn tiếp sẽ hay!
 
Tôi gật đầu cảm phục và chắp tay xá anh, nhưng rất mến phục anh.
 
Trong Đội tôi có anh Võ Văn Tôn, Thiếu Tá Thiết Giáp, người Tỉnh Bến Tre, tuy người Thiên Chúa Giáo, nhưng cũng rất mến tôi về việc làm này.  Tuy nhiên, tính tinh nghịch của anh đã vài lần chọc tôi, khiến suýt bật cười.  Chiều lại, khi sắp hàng vào buồng, anh kề tai tôi nói nhỏ:
 
-         Tôi có để phần biếu đĩa lòng heo trên “kệ”.  Chốc nữa vào buồng cứ lấy ăn!
 
Tôi chắp tay xá anh và anh cười vui vẻ.  Nhưng có một hôm, anh Tôn vô ý đánh rơi xâu chuỗi có Thánh giá của anh dưới đất.  tôi nhìn thấy và đã cúi xuống trân trọng lượm, leo lên chỗ anh nằm, móc trên cao, nơi anh thường  treo.  Vừa lúc ấy, anh Tôn đi vào thấy, cười cám ơn, và từ đấy không còn tinh nghịch với tôi nữa.
 
Anh Tôn sau vì đau bao tử, biến chứng loạn trí, xuống nằm bệnh xá của Trại một thời gian, rồi chết.
 
Cũng trong thời gian tịnh khẩu này còn một chuyện cũng làm anh em cười.  Anh Trung Tá, Võ phòng của Thượng viện thấy nhiều người tán thành việc tịnh khẩu, cũng phát tâm tịnh khẩu một tuần lễ.  Nhưng chỉ mới một hôm bị anh Tôn nghịch phá. Làm anh bạn này không chịu nổi, rượt đuổi anh Tôn và la hét, để rồi không giữ được ba ngày.
 
Cũng vì trường hợp này nên mọi người mới thấy việc làm ấy không phải là dễ!
 
Tôi thì lại khác, chỉ có thời gian đầu hơi khó khăn bỡ ngỡ.  Nhưng sau một tháng, thấy quá dễ chịu và gần như chẳng còn muốn tha thiết gì, mà đời thường phải chú ý hay tranh hơn thua.
 
Tôi giữ đúng đến ngày Rằm tháng Bảy mới xả giới.
 
Ngày xả giới, cổ họng như “teo” lại, nói the thé như tiếng con gái, mãi gần mươi hôm mới bình thường.
 
Đành rằng đây là điều cấm kỵ, Lục Tổ Huệ Năng đã khuyên, nhưng trong cảnh tù đầy, cũng nhờ đấy tôi ý thức được khá nhiều việc, nhất là mỗi khi nóng giận, rất dễ cảnh giác để nhẫn nhịn.
 
Sau thời gian ngắn, khi chấm dứt tịnh khẩu thì cháu tôi, Phan Phúc Bình, Giáo chức trong Nam đã tháp tùng theo phái đoàn tham quan nhân dịp hè, ra Bắc, xin thăm tôi.
 
Thấy cháu – nhưng tôi coi như con đẻ - vì Cha cháu chết, cháu lấy họ Mẹ.  Quá nghèo mà thương hại.  Nhưng dù sao cũng mừng là có người đến thăm suốt bao nhiêu năm chẳng bao giờ nghe nói đến.
 
Bình chẳng mang cho gì, chỉ một chút trên tay nhưng là cả một chuyện đáng nhớ.
 
Khi được Trại gọi có người đến thăm anh em đã kháo nhau:
 
-         Hôm nay chờ xem Phan Vỹ cạo râu!
 
Vì đi tù mà mỗi lần có người nhà đến thăm là chúng buộc phải cạo râu mới cho ra.
 
Nghe anh em bàn nhau, tôi không nhịn được:
 
-         Các bạn chờ đấy, xem tôi đối phó!
 
Nói với bạn bè như vậy, nhưng lòng cũng đã phải chuẩn bị, chốc nữa đây, khi ra chúng bảo vào cạo râu thì phải nói sao?  Tôi sắp sẵn lý luận để hỏi chúng  “Có biết ai thăm tôi không?”  Dĩ nhiên chắc chỉ là đứa cháu nào đấy thôi, chứ tôi đâu có vợ con gì.  Và đã là đứa cháu nào đó thì nhiều lắm cũng chỉ một hay hai kỳ quà là cùng.  Bộ râu tôi đã để từ bao năm rồi.  Không cho thăm thì thôi, cương quyết không cạo râu.  Tôi lập luận sẵn trong đầu như vậy!
 
Và, lúc ra cửa, nhiều anh em nhất là Cậu Bảy đứng dòm theo, không phải để nhạo báng, vì Cậu rất thương tôi.  Nhưng vì ái ngại cho hoàn cảnh tôi thì đúng hơn.
 
Khi ra đến cổng, tên Trưởng An ninh Trực đứng đấy.  Y thấy tôi bước ra, liền quay mặt nơi khác để tôi ra.
 
Cậu Bảy quay vào, sau này mới nghe Cậu kể lại rằng;  Cậu lăn đùng ra cười và nói lớn trong buồng  “Rõ ràng mềm nắn, rắn buông!”
 
Tôi ra thăm cháu, và quả như đã đoán, chỉ một ít quà lấy tình, trong cảnh nghèo.  Vả chăng, nếu không có dịp này thì chẳng bao giờ cháu ra thăm được.
 
Lại một trò cười được chúng tung ra là “tăng án.”  Chúng tôi chẳng hiểu chúng làm việc này để làm gì.  Vì tăng hay không cũng chẳng ai làm gì chúng được.
 
Thế mà cũng bày nên cái trò tăng án, để anh em sợ, mà Cải tạo, hay để làm gì với những mảnh giấy vô giá trị của Cộng Sản, Quốc tế hay Luật pháp nào thèm dòm đến!
 
 
 
 
Tin CHIẾN TRANH với TRUNG CỘNG . . .
 
 
Tin tức chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc không sao dấu nhẹm được.
 
Trong bọn chúng cũng đã có những tên chịu “xì” cho anh em ta biết, chưa nói là có người ra thăm thì tin tức gì mà chẳng rõ.  Thậm chí có tên Cán bộ đã nói với chúng tôi rằng “các anh biết tin nhanh hơn chúng tôi!”
 
Bọn chúng rất tiếc khi biết chúng tôi sắp chuyển đi nơi khác.  Tiếc vì bấy lâu nay chúng đã nhờ vả khá nhiều vào Tù.
 
Nuôi một con heo, điều đình với Trại làm thịt đem bán, nhất là phải bán những nơi ngon nhất như gan, tim, cật cho Tù, để lấy tiền cho con ăn.  Nuôi một con gà được vài cái trứng cũng đem bán cho Tù.
 
Nay nguồn lợi này sắp mất, làm sao không tiếc?
 
Và, trong những đêm sắp rời đây, chúng tôi cùng nhau bàn tán đủ chuyện.  Những người có ý thức chính trị bàn đến cái Trại Hà Tây này trước có giam Tù binh Mỹ.  Nghe nói có lần Mỹ đã nhảy dù xuống đây định cứu, nhưng Cộng Sản biết trước và di chuyển đi nơi khác.  Lại những phòng dưới cùng, nay dùng tạm giam Hình sự vẫn còn bút tích, và nghe đâu trên tường có tên tuổi, chữ ký của những binh sĩ này.
 
Một số khác, thì lại tin “cầu cơ”, để biết số phận ra sao.  Trớ trêu nhất là ngay cả vài anh em tin Phật nhưng cũng lại tin “cầu cơ”. Cơ lên tán dương anh này hết lời, khen anh kia hết chữ và lần nào cũng như lần nào, đều gieo cho những mơ ước không xa.
 
Ngày rời Hà Tây đã đến!
 
Trước hai hôm, tôi có một chú nhỏ Hình sự, có thế lực trong đám cộng Sản, vì Cha em là Trưởng phòng lương thực Quận Ba Đình – Hà Nội thường lại chỗ tôi chơi.  Đôi lúc cũng hỏi về tương lai, số mạng.  Em báo tin cho biết ngày rời Hà Tây đã đến.  Em nói chắc như vậy.  Vì Cha em cho biết trại Hà Tây tháng này không có lương thục nữa.
 
Sáng hôm ấy đang thu dọn đồ đạc thì tên Quản giáo vào chơi, thấy thế, y lên tiếng hỏi:
 
-         Anh làm gì mà soạn đồ đạc như thế?
 
Tôi cười, nhưng đầy vẻ mỉa mai:
 
-         Thôi Cán bộ ơi!  Cán bộ mà không biết thì còn ai biết được nữa?
 
-         Nhưng biết cái gì mới được chứ?
 
-         Thì còn biết gì nữa.  Rời khỏi Hà Tây rồi!
 
Y tỏ vẻ ngạc nhiên thật sự:
 
-         Ai nói với anh thế?
 
-         Thế mà tôi biết.
 
-         Không đâu!  Đừng nghe đồn nhảm nữa!
 
-         Thôi!  Cán bộ nói thế, nhưng ngày mai phải dọn đi, thì chính Cán bộ lại vào hối thúc dọn cho mau.  Y không nói gì thêm, nhìn chúng tôi đầy vẻ ngạc nhiên, rồi ra khỏi buồng.
 
Anh em ngồi quanh, ai cũng mỉm cười,
 
Tôi tự nhiên tiếp tục dọn như không có gì xảy ra.
 
Đêm ấy vài anh em nghe kể đến chuyện Cha của chú Hình sự ấy nói, cũng theo tôi dọn lần đồ đạc.
 
Đúng như vậy, sáng hôm sau, Trại Hà Tây đã ùn ùn có lệnh dọn đồ đạc để chuyển Trại.
 
Như đã nói ở một đoạn trước, nhìn bọn Cán bộ thầm tiếc, len lén, có người đã phải lẻn vào chỗ vắng để khóc!
Khoảng gần trưa, tất cả phải tập họp và chuẩn bị lên xe.  Điểm đáng mừng là lên xe lần này không bị xiềng tay – theo lệ tù khi ra khỏi Trại – mà được sắp hàng có trật tự.
 
Tuy chật chội, nhưng tay không bị xiềng, nên anh em vui vẻ, vì cứ nghĩ là “một bước tiến ngay những ngày tù đầy.”
 
Xe chạy đến chiều, tới Trại Nam Hà.  Đây là một Trại Tù mà trước kia đã nổi danh  “Trại Đầm Đùn nước độc” ai nghe cũng khiếp!
 
Số anh em trước kia cũng trong Nam ra và khi toán trước chạy thẳng, tức là vào đây, còn nửa đoàn xe sau tách chạy vào Hà Tây.  Vì lẽ ấy, vào đây là cả anh em quen biết.
 
Xe chạy đến Phủ lý rẽ tay mặt vào Núi, qua xã Ba Sao.  Vừa đến nơi, anh em trong Trại đã nhìn thấy chúng tôi, reo mừng!
 
Sau khi xuống xe, được chỉ định vào các buồng trống.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Về HÀ NAM NINH, Trại NAM HÀ . . .
 
 
Tại đây, anh em cấp Tướng cũng chỉ ở một buồng như chúng tôi chứ không có khu đặc biệt như Hà Tây.  Yên ổn đâu đấy xong, tôi và các anh như Phan Ngô, Nguyễn Đình Lương trong Quốc Dân Đảng Thống Nhất tìm lại thăm nhau, hỏi han đủ chuyện.  Trại này là một vùng núi non được phá ra để làm Trại Tù, chứ không phải ở đồng bằng như Hà Tây.  Nước uống, mùa mưa không mấy khó khăn, vì nhờ các giếng đã đào, nhưng gặp mùa nắng là cả một nỗi khổ.  Theo anh em kể lại thì mùa nắng nhiều lúc không có cả nước nấu ăn chứ đừng nói là nước tắm.
 
Cuộc sống Nam Hà khác biệt với Hà Tây, chưa nói là đi lao động, không phải xuống ruộng mà vào rừng.  Điểm dễ chịu hơn Hà Tây là ở đây việc tìm củi đun nấu khá dễ.
 
Chúng tôi được chia thành từng Đội, nhưng Văn nghệ thì khỏi nói, vì tại đây có anh Đại Tá nguyên Phụ tá Tư Pháp Cảnh Sát, khá giàu sang nên được chỉ định lo Đội Văn nghệ.  Anh này giàu có, vợ đã ra khỏi nước, nhưng có người nhà lo thăm nuôi, quà cáp nhiều mà anh em thường gọi anh MAN HÁT TÂN.
 
Tôi cũng nghề cũ, ở nhà trực sinh, chia cơm.  Nên nhấn mạnh rằng, ngày xưa ở Hà Tây, sau vụ bọn chúng cố ép tôi nhận tội “ăn cắp cơm” không thành, cũng lại để tiếp tục công tác.  Chúng không phải dễ dãi và đơn giản như ta nghĩ.  Một anh bạn bị “tố” là “hối lộ” anh em trong đội khi có quà – để được nhẹ lao động – sau khi bị đem ra trước Đội phê bình không bao giờ chúng để cho làm trách nhiệm cũ.  Một anh khác, bị tội nông nổi bắt quả tang cắp một gô cơm cũng mất chức luôn. Trường hợp tôi, chúng nghĩ sao chẳng hiểu nổi!  Sau mấy hôm, về đến Nam Hà, là một số cũ tại Trại này được chuyển về Nam.
 
Những mẩu chuyện được nghe kể ngay những ngày vừa đến Nam Hà, đặc biệp nhất là chuyện mướn Radio để nghe BBC mà kết quả là anh Hằng, Trưởng ty Cảnh Sát Quảng Tín bị tra khảo đến chết.
 
Còn có người nghĩ đến việc tổ chức chính trị, hay nói đúng hơn là tổ chức như một Chính Phủ trong Tù.  Nghe chuyện này tôi không nín cười được, vì không hiểu sao các anh quá ngây thơ đến thế!  Ngây thơ vì nhiều lý do, nhưng đặc biệt nhất là cái lý do đơn giản “quá đói, quá khổ” sẽ đi tố cáo, mà đây là chuyện khó tránh.
 
Vì lý do này, một anh bạn vừa bàn với tôi, liền bị tôi không tán thành ngay, nhất là chỉ rõ cho anh thấy khi một người bị đói, mà anh có thăm nuôi, lại tiếc không giúp đỡ, sẽ bị phản bội ngay.  Khi nghe lý do nhỏ ấy, anh bạn ý thức được ngay, vì sự thực anh bạn này cũng có cái máu “không mấy rộng rãi” đáng trách ấy.
 
Ngoài Trại không xa, chỉ khoảng vài ba cây số có một làng nhỏ, có chợ, hay nói đúng hơn là vài người ngồi buôn bán, mà bọn chúng gọi là chợ BA SAO.  Lâu lâu chúng cho anh em cử người đi chợ Ba Sao mua vài thứ cần dùng.  Người được ưu tiên hay nói đúng hơn, có khả năng là anh chàng MAN HÁT TÂN của Trại.  Mấy người buôn ở chợ khi thấy anh em ra, chạy về nhà, vơ vét có gì cũng đem ra bán cho “TÙ ÁO HOA”.  Thấy chúng ta mặc quần áo Cảnh Sát Dã Chiến ngày trước, nên gọi là “TÙ ÁO HOA”.  Họ rất thèm muốn cảnh sống chúng ta, đến nỗi một Cán bộ đã không giấu giếm kể rằng đứa con chị ấy khá ngoan, khi nghe hỏi:
 
-         Lớn lên con sẽ làm gì?
 
Đã không ngần ngại nói rằng:
 
-         Lớn lên con sẽ làm “TÙ ÁO HOA.”
 
Trại này vì ở trong một cụm che khuất bởi núi, nên bệnh ‘Suyễn” là một bệnh khá trầm trọng.  Nhiều bạn vì bệnh này đến độ không thở nổi.  Nhưng đặc biệt khi chuyển về Phủ Lý, và xe chạy ra đến chợ Ba sao là cơn bệnh đã biến đâu mất.
 
Vì vậy, những người bị bệnh này nặng, thường được anh em ghép sau tên mình, khi trong Trại có hai tên trùng nhau, như Long suyễn hay Phùng suyễn.
 
Có một buồng dành riêng cho những người phụ trách dịch các sách tài liệu Bộ Quốc Phòng của chúng.  Buồng này được nhiều ưu tiên như chỗ nằm không chật quá như các buồng khác, nước dùng được dễ dãi hơn.  Khi được mua những thức ăn cũng ưu tiên hơn, chứ chưa nói là có gia đình ra thăm được hưởng quyền lợi hơn.  Ngoài ra, lâu lâu một Đại Tá hay nhân viên cao cấp của Bộ Quốc Phòng về thăm là có quà hay trả tiền thù lao về việc dịch.  Cụ trần Trung Dung tuy không phụ trách công tác, nhưng bởi già, nên cũng được ở vào buồng này, chỉ lo tưới cây kiểng.
 
Tại Nam Hà được xem báo chí – dù chỉ là của Cộng Sản – nhưng khá đầy đủ hơn Hà Tây.
 
Và, cũng bởi xem báo chí, nên anh em được biết ra vài chuyện đáng nhớ.  Chuyện đầu tiên là ngày báo chí đăng tải tin Mẹ anh Liệu tại Tam Kỳ được tha.  Đây là câu chuyện được bàn tán khá nhiều.
 
Nguyên tại Tam Kỳ có một gia đình chống Cộng nổi tiếng.  Anh Liệu sau nhiều chứng minh được phía Mỹ yểm trợ cho thành lập một Đại Đội hầu hết là Quốc Dân Đảng, đóng đồn riêng trấn giữ Cộng Sản hoạt động tấn công từ miền Biển lên.  Lực lượng này sau được nổi tiếng vì chiến công, đến độ lúc bấy giờ Đại Tá Tỉnh trưởng Quảng Tín, nhiều lúc tin tưởng số anh em này hơn là lực lượng khác trong Tỉnh.  Những trận cuối cùng của 1975, anh Liệu vẫn quyết tử và không nghe lời Đài Phát Thanh, hay Tỉnh đầu hàng để rồi phải tự tử, chết trong sự khâm phục của những người Chống Cộng, trong sự luyến tiếc của Đoàn thể.  Trận đánh cuối cùng, chính Mẹ anh, tuổi già, cũng như bao lần trước, lo hết mình trong công tác tải đạn đến các lỗ châu mai, để rồi đành bị bắt, bị Tù khi gia đình hoàn toàn tan nát.  Bà khẳng khái trong suốt bao năm, và cuối cùng Cộng Sản cũng đành chịu để Bà ra về trong bệnh tật, chỉ còn da bọc xương!
 
Cùng nhau kể lại những gương này, không nói ra, nhưng anh em đã vô cùng xúc động, dù một vài người đã cảm thấy không mấy vui khi biết rằng chính mình đã chẳng bằng bà già anh Liệu!
 
Câu chuyện báo chí thứ hai – là ngày . . . năm 1987, khi đọc tin Phạm Văn Đồng tuyên bố.  Được phỏng vấn – Việt Nam còn giam giữ tù Chính trị không?  Đồng đã trả lời:
 
-         Tất cả tù Chính Trị toàn quốc đã được tha về, con số còn lại chỉ là những tên “nợ máu, ác ôn đối với nhân dân!”  Không thể cho về được.
 
Khi nghe Đồng tuyên bố, một vài người đã đâm ra lo sợ.  Một bạn đã quay hỏi tôi:
 
-         Thế Bác Vỹ nghĩ sao khi nghe lời tuyên bố này?
 
Tôi cười:
 
-         Đi lao động đã nhắm tìm một nơi nào sau này nằm xuống, chứ còn nghĩ gì nữa!
 
Nhưng sợ bạn bè hiểu lầm, tôi phải tiếp theo ngay.
 
-         Nói thế cho vui, chứ họ nói là một chuyện, còn làm được hay không là chuyện khác.  Họ còn muốn vào Liên Hiệp Quốc, họ còn có đàn anh Nga, Tàu thì dễ gì làm theo ý họ được.
 
Cũng nhân câu chuyện này, anh em nhắc lại ngày xưa, khi bị đưa lên miền núi:  Yên Báy, Sơn La.
 
Lúc mới đến, đã bị những người trước nguyên là địa chủ hay chính quyền, sau 1945 lên đây sống, đã chỉ cảnh sống của họ mà khuyên:
 
-         Các Bác cứ xem chúng tôi đây mà làm gương.  Đừng hy vọng có ngày về, vô ích!  Cứ nghĩ như chết bỏ xác đây thôi!  Rồi họ còn buộc tội.
 
-         Ngày ấy ở đây đã may cờ trắng tất cả.  Đánh sắp thắng sao lại ngưng đi!  B.52 chỉ cần dội 2 ngày nữa là đây phải đầu hàng rồi!
 
Họ còn nói nhiều, nhiều cho đã nư, nhưng anh em biết là việc ngoài tầm tay!
 
Họ nói rất đúng, bởi khi còn ở Hà Tây, Cộng Sản đã giúp những người có nhiệt tâm với họ hoặc có chuyên môn, gồm 13 người có “hỗn danh” 13 con ma, để vào Thanh Hóa xem địa thế nhắm thuận lợi dành làm nơi cho chúng ta đem vợ con, gia đình ra đấy sống muôn năm!  Nhưng bởi họ không thể tiếp tục được mà đành giải tán, vì nghe đâu sau đấy đàn anh họ - Nga, Tàu khuyên bỏ ý định ấy đi, khi còn muốn gia nhập Liên Hiệp Quốc.
 
Sau đó nhờ xem báo, và dù họ khéo nói tới đâu – chưa nói là gia đình ra thăm, đã biết tin Tổng Thống REAGAN cử Tướng hồi hưu VESSY sang Việt Nam, ngoài việc điều đình cho kế hoạch tìm người MỸ mất tích còn có vấn đề tù nhân chính trị Việt Nam.
 
Rồi những ngày lễ lạc, chúng tôi thường được phép, ít ra mỗi năm một lần, đi chăm sóc những ngôi mộ của anh em ta đã chết.  Một hôm “Man Hát Tân” rủ tôi cùng đi, để mong cầu siêu cho anh em.  Lúc tới nơi, không ai tìm thấy mộ anh Hằng, người đã bị đánh chết trong vụ mướn Radio nghe đài BBC.  Tìm mãi vẫn chẳng hy vọng, mà phải về trước, vì không ở cùng trong Đội hôm nay có trách nhiệm làm công tác này.  Tôi cứ niệm Phật, gắng cùng hai anh cố tìm.  Thì may thay, một lát sau, tìm ra mộ anh Hằng.  Mộ bị chúng vùi trong một hóc khó tìm.  Nhưng khi tìm được, chúng tôi giao cho chú bạn trẻ Lương Trọng Lạc lấy các loại cây có hoa trồng nhiều để đánh dấu sau này cho dễ.
 
Lúc này là lúc các vị Linh Mục từ Thanh Hóa được đưa ra, nhớ rõ có Cha THIỆN, Cha LỄ và một Cha người Ninh Bình.  Cha thường làm đủ phép tắc trong các ngày Chúa Nhật.  Từ lúc ấy dù lén lút nhưng anh em thường được tổ chức cầu nguyện, an tâm hơn trước.
 
Về phía Tin Lành hầu hết các Mục Sư đều quen biết, từ vị Tuyên Úy Trưởng Dương Kỳ đến các vị khác như Mục Sư Nghi đều là người đồng hương.  Quý vị ấy cũng đã chẳng ngán Cộng Sản, mà khéo léo thực hiện việc truyền giáo trong cảnh này khá công phu.  Riêng về Phật Giáo khá đông, từ Thầy Thanh Long trước trụ trì Chùa Giác Ngạn là Tuyên Úy Trưởng đến các Tuyên Úy của 4 Vùng Chiến Thuật trước kia, nay đã hiện diện, dù có số đã được về trước.  Vì lẽ ấy những ngày Vía lớn thường được tổ chức đơn giản nhưng đầy đủ ý nghĩa.
 
Thầy Thanh Long rất thương tôi và thường tỏ ra khá tin tưởng nơi tôi.  Có lần, nhân ngày Phật Đản, tôi quyết định tổ chức cùng nhau ăn chung bữa ‘chay” trưa ấy.  Đa số đều lo ngại.  Họ lo ngại vì sợ Trại ngăn cấm.  Riêng Thầy Diệu thấy trời u ám quá, sợ mưa, không thể nào tổ chức được, nhất là con số dự định đến 50 người.  Thầy Thanh Long quay nhìn tôi:
 
-         Bạch Thầy, khỏi lo sợ việc Trại ngăn cấm, vì con có ngỏ ý mời Trưởng ban Văn Hóa – cũng là tù nhân, nhưng đại diện cho toàn Trại và là người tương đối có uy tín và thế lực đối với Trại.  Nếu e rằng Trại sẽ ngăn cấm thì Trưởng ban Văn Hóa cho biết, đằng này anh ta nhận lời là ta tin chắc thôi!
 
Thầy cười và nói với ông Diệu:
 
-         Còn việc mưa gió thì đừng lo!  Khi chú Vỹ tổ chức là chẳng nên lo việc ấy!  Chú ấy “Phật lực” khá đầy đủ!
 
Tôi cười nhìn Thầy:
-         Nắng mưa là chuyện của Trời, lo mà làm gì phải không Thầy?  Ta chỉ lo việc tổ chức.
 
Tôi hỏi lại lần nữa:
 
-         Phải thế không Thầy?
 
Thầy cười và bảo ông Diệu về lo phụ giúp tôi chứ đừng nghĩ đến việc ấy nữa.
 
Quả đúng như vậy.  Trưa hôm ấy, khi mọi thức ăn đã được dọn ra thì Trưởng ban Văn Hóa đến.  Chúng tôi yên tâm nhờ Thầy Thanh Long tuyên bố và cùng vui bữa cơm đạm bạc nhân ngày Phật Đản, toàn rau cải lao động đem về và chút ít mì nấm anh em đóng góp.  Khi bữa ăn vừa dứt mây từ xa ùn ùn kéo lại.  Một trận mưa lớn đổ xuống, anh em vội chạy trong khi còn nghe tiếng Thầy Thanh Long:
 
-         Đấy, hay chưa!  Chú Vỹ tổ chức là vậy đấy!
 
Lại đến câu chuyện ăn thịt heo liên tiếp!
 
Bọn Cộng Sản thường tổ chức mổ heo trong những ngày Rằm và mồng Một.  Thật ra thì chúng chẳng cho ăn được nhiều!  May ra mỗi người được một lát bằng hai ngón tay, nhưng rất mỏng.  Nhưng trong cảnh đói khát, thèm thuồng, hẳn nhiên có người sẽ chẳng chịu nổi.  Và cũng vì vậy một số người đã phải nghĩ rằng “cực khổ quá rồi, để sau về nhà sẽ tu.”
 
Nhưng chưa hết.  Bỗng nhiên Trại trưởng cho mổ lợn và phát mỗi tù nhân 3 lạng (300gram).  Ba lạng thịt thật quá nhiều trong cảnh này!  Thế là anh em bàn tán đủ chuyện, nhất là việc phát thịt cứ tiếp tục mỗi tuần phát một lần, kéo dài hai ba tháng.
 
Thôi thì tha hồ, bao nhiêu giả thuyết được đưa ra.
 
-         Đây chắc là tiền Mỹ cung cấp, họ mới cho ăn chứ tiền đâu, có điên mà cho ăn nhiều và lâu như thế.
 
Lý luận ấy được đứng vững nhất, vì chẳng ai đưa ra một giả thuyết nào khả dĩ nghe được hơn!
 
Anh em đưa ra tin, nào Mỹ chịu trả cho tù nhân mỗi ngày 3 dollar, trừ khoản này khoản nọ, chưa nói là Cộng Sản ăn đầu đủ thứ, trước khi chi cho ta.
 
Đấy là thời kỳ vui vẻ nhất!  Tôi thì không ăn thịt và đã ăn chay trường từ 1979 nên dặn chú bạn trẻ Lương Trọng Lạc cứ đến nhận phần thịt mà ăn.  Nhiều lần quá, Lạc ái ngại nên bàn để chú mua tàu hũ biếu lại.  Qua những lúc này, mới thấy được mình rõ ràng hơn, khi lòng đã quyết tu.  Không ở vào hoàn cảnh và vị trí ấy thì hẳn khó xét được chính mình.
 
Sau một thời gian ngắn, vỡ lẽ rằng được ăn thịt như vậy là bởi anh Trại trưởng ấy còn chút lương tâm, khi thấy quyền lợi của tù, mỗi năm được ăn bao nhiêu thịt, đã bị kẻ trước cướp đoạt mất, nên cho ăn bù lại.  Nhưng rồi sau đấy, anh được thăng lên một cấp và cho “phục viên” ngay, nghĩa là cho về vườn!  Cộng Sản là vậy!  Khá dễ hiểu!  Thế nhưng còn nhiều người vẫn chưa hiểu!
 
Lại đến câu chuyện bắt các Tướng đi lao động.  Tất cả các Tướng, khoảng 30 người được giam chung và chẳng đi lao động.  Bọn chúng cố tìm đủ cách để thuyết phục việc này hầu báo cáo với cấp trên như chúng đã thành công.  Vì vậy, lúc ở Hà Tây có lần người em của Tướng Lê Minh Đảo ra thăm, chẳng biết chúng thuyết phục thế nào, và sau đó anh Đảo đã ra ngồi vừa nói chuyện vừa nhổ cỏ trước sân.  Chúng chụp được những tấm hình, để tuyên truyền.
 
Hôm nay chúng lại muốn làm việc ấy, nên nghe đâu muốn nhờ anh Đảo là người xung phong trước trong việc đi lao động.  Bởi lý do chúng viện ra với anh là vì anh còn trẻ, mạnh.  Nhưng anh Đảo đã phản đối:
 
-         Thôi, các Anh đã lừa tôi một lần rồi, nay xin thôi.
 
Thấy không thuyết phục được anh Đảo chúng phải giở trò “tầm ăn dâu”.  Trước hết, cho đám hình sự sau khi đi nhổ sắn (khoai mì) về, đem thẳng vào đây đổ giữa sân.  Chúng yêu cầu đại diện buồng Tướng, chia cho anh em chặt và phơi.
 
Nghĩ rằng đây cũng là một việc không nên từ chối, chưa kể hoạt động cho khỏe và nhân cơ hội này nếu thấy anh em bên ngoài có người nào cần vì thiếu ăn sẽ giúp đỡ, nên các anh thực hiện lời yêu cầu của chúng.
 
Được thể, chúng gạ lần để anh em chịu ra ngoài, lên dựa triền núi gần đấy tưới những gốc bí đỏ, mà các Đội đã trồng.  Thấy mấy ông Tướng đi tưới bí, ai cũng nín cười, vì mỗi anh xách một cái lon, trong ấy có đựng nước, lên những chỗ thấp của các triền núi, tưới từng lon “sữa bò” nước cho gốc bí!
 
Đấy là lao động!  Nhưng chúng nghĩ là đủ để báo cáo.
 
Trong Tướng thì không tránh khỏi một vài người khó giữ được khí tiết, còn hầu hết tuy im lặng, nhưng là những người mà đám trẻ kính mến.  Đấy là những anh như Tướng CHƠN, Tướng LẠC, Tướng DI.  Riêng một vài anh hoặc lên tiếng hoặc im lặng, nhưng tinh thần đáng kính như Tướng ĐỖ KẾ GIAI.
 
Và, một câu chuyện khá đau lòng, nhưng đối với người Phật giáo cũng cần lưu ý xét lại, khi nghĩ đến giáo lý.  Đây là câu chuyện anh Nguyễn Văn Xuân, Viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ khi lâm bệnh.
 
Đa số anh em Hòa Hảo khi vào tù đều rất siêng năng nghiên cứu giáo lý nhà Phật, trong đó có anh Xuân.
 
Anh Xuân tính tình rất hiền hòa và hiếu khách, sau nhiều ngày quen biết và hiểu nhau, anh thường nhắc tôi, cứ mỗi chiều Chủ nhật sang phòng anh để cùng thảo luận giáo lý.  Vô cùng cảm kích khi nghe anh chịu ngồi cặm cụi chép lại bộ kinh Pháp Hoa khá chu đáo và đẹp mắt.
 
Nhưng bệnh tình bộc phát, thoạt tiên mặt nổi những vết xanh mà lúc đầu lầm tưởng anh thoa thuốc gì.  Nhưng một hôm, nghe anh đặt mua khi trại có bán thịt heo, một cái đầu heo, về nấu một nồi cháo và mời hết những người trong đạo Phật đến ăn.  Nghe kể lại, một anh bạn đã hỏi, tôi chẳng biết trả lời sao, chỉ tiếc thầm.
 
Chẳng hiểu anh Xuân nghĩ sao, vì nếu anh có lòng tốt, nhất là những người của đạo Phật như vậy, thì sao không mua biếu mỗi người một lon đậu phụng hay nấu một nồi chè ngọt.  Tôi áy náy và như linh cảm có gì đây!
 
Không lâu sau, anh đem bộ kinh Pháp Hoa biếu cho một người, mà anh này chẳng bao giờ tụng niệm gì cả.  Trong khi còn biết bao người cần có kinh để trì niệm lại không có.  Tôi lấy làm lạ về hành động của anh Xuân, nhưng nghĩ về chuyện này, và chuyện nấu nồi cháo đầu heo, hẳn là cùng một động cơ, cái động cơ thuộc tâm linh vô cùng khó hiểu mà tôi hoàn toàn không dám giải thích, chỉ cầu nguyện!
 
Đến một hôm, anh Xuân phát bệnh nặng, được đưa xuống bệnh xá.  Mấy ngày sau, nguồn tin bệnh xá cho biết anh đã chính thức được xác nhận bị ung thư và thường lăn trở vô cùng đau đớn, khổ cực!
 
Cảm thấy như niềm tin tâm linh có phần đúng.
 
Bệnh tình anh Xuân càng trở nên nguy kịch.  Khi còn trong buồng, mặt mày ngoài những vết xanh nổi lên, lại cho biết nhiều lúc ngứa ngáy đau đớn.  Thì lúc này càng thảm hại hơn.  Anh em bàn nhau, nhờ một người, ngoài việc thương và chí tình còn phải là có đủ sức mạnh để khi anh Xuân trở bệnh, có thể giữ cho anh bớt đau đớn.  Người tình nguyện đó là anh Trung, một võ sĩ, một Phật tử, nay là đại diện Tu viện Pháp Vương ở Virginia.  Anh Trung chỉ là huấn luyện viên võ thuật cho Cảnh Sát với cấp bậc Đại Úy, nhưng vì khai thiếu rõ ràng nên chúng cứ căn cứ trên những chức vụ huấn luyện viên Cảnh Sát mà giam khá lâu!  Nay anh đang tu với Pháp danh Huệ Minh.
 
Anh em thương mến anh Xuân nhưng cũng đành chịu.  Và rồi ai cũng thừa hiểu sự độc ác của Cộng Sản ở trường hợp này, bởi lẽ chúng không chịu buông tha anh, báo tin cho người nhà ra nhận, hay cho về trong dịp có người khác để nhờ đưa anh về.  Mà với những người có tên tuổi, chúng sẽ để chết tại trại, đấy là thủ đoạn của Cộng Sản!
 
Như đã nói trong tài liệu về anh Trần Văn Tuyên.
 
Tin anh Xuân chết!
 
Trước mấy hôm Thầy Thanh Long ngỏ ý với tôi để dạy tôi nên cầu nguyện cho Anh, nếu bệnh thuyên giảm hay lành là quá quý, còn nếu không thì cũng xin ơn trên cho anh được sớm siêu thoát nghiệp dữ, vãng sanh – cho bớt đau khổ thân xác.
 
Nay, anh Xuân đã giã từ chúng tôi.
 
Tin anh Xuân chết làm anh em trong trại buồn thương, vì bản chất anh hiền lành và không hề gây một buồn phiền nào đối với ai, trong mọi hoàn cảnh.
 
Cháu Phan Bá Phụng ra thăm . . .
Mấy hôm sau, được người cháu tên Phan Bá Phụng ra thăm, Phụng nhận đem quà của gia đình anh Trần H. Hội ra, và bởi sẵn là tay lanh lợi như đã nói trước kia, khi còn là Trưởng khu Hành chánh ở Việt An – quận Thăng Bình, hay sau lên làm Địa điểm trưởng Dinh Điền ở Dapsy tỉnh Kontum – nên việc xin thăm tôi và cả vài người bạn của Phụng không phải là khó.
 
Phụng dùng chút quà tặng cho Trại Trưởng, người Cán bộ hướng dẫn ra thăm nuôi, thì Phụng gần như muốn gì cũng được.  Mà đấy là cái sở trường lanh lợi của Phụng từ trước, chưa kể là với một lũ tham lam như Cộng Sản, Phụng chẳng khó gì mà không thành công.
 
Tội nghiệp, lúc ra nhà thăm nuôi tôi nhìn đôi mắt cảm động của Nhiều, vợ Phụng khi thấy áo quần, râu tóc tôi mà hai chú cháu gần như khó cầm được nước mắt.
 
Vợ Phụng chỉ còn biết an ủi:
 
-         Chú yên tâm, khi về Chú sẽ có nơi tu hành theo mơ ước của chú.
 
Được Phụng, ngoài quà tặng còn thêm cho mỗi người mấy trăm, tưởng là một nỗi vui khó tả.
 
Đi tù mà chẳng hề có người ra thăm, hay lúc gọi tên ra lãnh quà cũng chẳng bao giờ được nghe đến tên mình thì thật là buồn tủi.
 
Riêng trường hợp tôi, sau lần vợ ra thăm hồi 1978 và nhận số vàng giao đem về là biệt luôn, không hề thăm hay quà nữa, mà chính Chị tôi, một bà già không chồng con từ nhỏ, lại chẳng giàu có gì, vì Bà đi làm mướn cho người, để hàng tháng cố tìm người đi thăm nuôi để gửi quà cho
 
Đáng thương hại nhất là từ khi không ăn mặn nữa, mà bắt đầu ăn chay, Chị tôi càng cố tìm người để gửi cho được món quà, nhất là khi thấy người khác gửi quà, lại thêm kinh nghiệm gửi những thứ ăn chay tác dụng.
 
Trong các món quà Chị kín đáo, cuộn tròn vài trăm bạc, bỏ lẫn trong các gói rơm khô, hay đường, nếp có, mua dùng những thứ khác khi trại bán.
 
Cũng trường hợp này đa số anh em bị phát giác, ngoài việc bị chúng tịch thu lấy mất tiền còn bị “kiểm điểm”.  Nhưng tôi chưa hề bị mất lần nào.  Khi nhận quà vào buồng, ngồi kín đáo, không cho kẻ khác thấy, tránh những người xấu bụng sẽ đi báo cáo với Cán bộ lục tìm, và chắc chắn lại có mấy trăm để dành.
 
Không có nỗi cảm động nào bằng khi mà biết rằng Chị tôi đi làm mướn cho một người bạn gái bán “bún riêu” tại chợ Phú Định để lấy tiền nuôi em!  Và, nhất là khi món quà ấy lại do anh Bình ở Khánh Hội hay anh Tài ở Chợ Lớn có người nhà ra thăm chuyển lại, tôi hình dung Chị đã phải lần mò qua tận Khánh Hội, lên tận Chợ Lớn để gửi.
 
Bạn bè thân thiết hoặc nằm cạnh như Cậu Bảy Khương, mỗi lần có thăm nuôi lại nghe tôi có quà, thường tỏ ra thắc mắc không hiểu bà Chị tôi làm gì có tiền, luôn luôn lo quà như vậy?  Tôi kể lại chuyện chị tôi đi làm mướn để lấy tiền nuôi, thì ai cũng lấy làm cảm động.  Tôi thường tự an ủi nói lên hai câu hát ví “Chị em là ruột là rà, vợ chồng như áo cởi ra thì rồi.”
 
Và, bởi quá nhiều lần đi tù đầy, nên tâm tư thường rất khác với bạn bè, khi phải xa nhau.  Tôi xem như đây là một gia đình và nhiều nhớ thương khi sắp phải xa nhau!  Sống chung từ hơn chục năm, bao nhiêu gian khổ, lúc vui buồn!  Hơn thế mỗi lần ra tù là lại phải thay cả nếp sống, vì gia đình đâu còn?  Anh em khác, về xum họp gia đình, còn tôi phải thay đổi từ cái áo lót, cái quần đùi!
 
Chưa biết rồi sẽ ra sao!
 
Năm 1945, khi đi tù Cộng Sản, trước đấy còn xum họp vui vẻ, khi về gia đình phải tản cư qua núi Chiêm Sơn.
 
Năm 1946 khi bị Pháp bắt, rồi sau còn gì đâu.  Gia đình bị Cộng Sản chỉ định nơi cư trú vùng rừng núi Tiên Phước, trong khi ấy, tôi lưu lạc ra Đông Hà rồi Quảng Trị.
 
Năm 1961, đi tù sau cuộc đảo chính 11-11-1960, đến lúc được về sau cuộc đảo chính 1-11-1963, lại phải ăn gửi nằm nhờ nơi người bà con ở Hàng Xanh – Thị Nghè.  Và lần này đã thấy hẳn!  Khi về sẽ ăn đâu ở đâu.  Trong khi bà Chị thì làm mướn nhà người.  thấy rõ cái đại gia đình Nam Hà này, nếu phải chia tay thì thật đáng buồn!
 
Do đó, hàng ngày tôi nhìn anh em như một niềm thương yêu vô hạn.  Chú bạn trẻ Lê Văn Sang, Thiếu Tá Không Quân, bởi thấy trong ngành, những người cùng cấp bậc và ngay cả rất nhiều người cao cấp hơn đều đã về, chú buồn vì nhớ mẹ, nhớ vợ, nhớ con.
 
Tôi thường gần chú ấy, dùng những lý luận ngoài đời như chuyện “Tái ông thất mã” mà khuyên nhủ, rồi nói đến chuyện Đạo.
 
Có lẽ khi dùng chuyện Đạo chú mau ý thức hơn.  Sang được nhiều bạn trong trại mến, vì tính tình, vì hát hay mà cũng khá đẹp trai.  Nhưng cũng bởi cái nợ đẹp trai này mà anh em thường chế riễu Sang là ở tù, đi kiếm củi cũng được vài cô gái trong chợ Ba Sao thương đứt ruột.
 
Chẳng trách lúc ngoài đời, vợ Sang dễ sinh ra tật “ghen’ là đúng.
 
Tôi hướng dẫn Sang hiểu nhiều về Đạo và chú ấy đã ngồi viết cả bộ kinh Địa Tạng.  Tháng Bảy năm ấy, chú ngỏ ý để xin ăn chay cùng.  Rồi sau đấy một thời gian khá cảm động khi nghe chú ấy kể rằng:
 
-         Mẹ con nghe con ăn chay với Cụ suốt tháng Bảy, Bà mừng lắm!
 
Những chuyện này ngoài đời kể ra chẳng có gì đáng nói, nhưng trong tù thì thật rất đáng khen, vì như trong một đoạn trước đã nói đến nhiều người cứ hẹn ra đời sẽ tu, vì đã khổ nhiều quá rồi, nhưng tôi thường khuyên Sang là tu không nên hẹn, bởi đã quá trễ rồi.  Nếu hẹn ra đời thì lúc ra đời lại hẹn rằng tù quá lâu thôi hãy đợi khi nào qua Mỹ sẽ tu.  Và, lúc qua Mỹ thì rượu thì dollar làm sao tu được?  Sang biết nghe lời tôi khuyên, nên chí tình tu học.
 
Như đã nói, trong tù không ý thức được nạn thèm ăn thì rất dễ bị tổn thương danh dự.  Mà, trước miếng thịt, nhất là trước mùi thơm của “lạp xưởng” dễ dàng dẫn ta đến hư hỏng.
 
Anh bạn NG. Đ. H.  cũng vì cái nợ này, một lần làm cho những người thương anh, nhất là anh Đ. T phải đi điều đình để mong ém nhẹm câu chuyện gần đứt hơi.
 
Nhân có một anh bạn tên Sơn có người nhà gửi kèm theo trong khi vợ anh H. ra thăm, một số thức ăn, nhất là trong đó có cà phê và lạp xưởng.  Thế là H. im lặng hưởng hết, đến khi Sơn biết tin, vì có thư nhà cho biết, lại hỏi H. đành ấm ớ không trả lời được.
 
Câu chuyện xảy ra, anh Đ. T. , bạn chí thiết của H. và cũng là người bảo vệ danh dự cho H. , bởi cùng đoàn thể, chạy đi điều đình với Sơn bằng cách mượn của người khác trả lại để mong không làm lớn chuyện.  Dù vậy, anh em cũng hay biết và những người biết chuyện, bớt sự mến phục H. cũng như lấy cái gương “lạp xưởng” soi thêm mình lần nữa.
 
Phải đả đảo lạp xưởng thì đúng hơn, vì nó đã nhiều lần làm khổ anh em!
 
Nhân nhắc lại chuyện này ai cũng không quên trước kia đã có lần, trong lúc nạn đói ghê gớm của những năm 1979 – 1980, một chú bạn trẻ, chồng cô Đẹp, cùng lớp trung cấp của Trung Ương Tình Báo, nhân có người nhà thăm, gửi cho lạp xưởng.  Thế là trưa ấy chú nướng mùi thơm bay làm khổ lỗ mũi anh em đến độ.  Đã thế.  Lúc bỏ 2 cái lạp xưởng trên đĩa cơm.  Anh không im lặng mà ăn, lại còn nói cho thỏa chí, mà không biết rằng đấy là một lối chơi khá “ác” đầy khiêu khích.
 
. . .  Kẹt . . .  kẹt . . .  ăn sơ vài cái lạp xưởng chơi, vậy! 
 
Thế là Diệp Tùng, anh chàng kép hát to con đã đứng lên sấn đến!
 
-         Mày nói cái gì?  Nói lại đi!  Trong lúc anh em đang đói khát thèm thuồng, mày có cứ ăn, sao lại chơi ác như vậy?
 
Rồi Diệp Tùng sấn lại, anh em phải can mới khỏi có chuyện xô xát.
 
Ý thức được tâm trạng lúc bấy giờ, anh Đ. T. bạn của anh N. Đ. H. đến bàn với tôi để anh cùng ăn chay một tháng.
 
Cùng anh Đ. T. ăn chay một tháng, nghĩa là anh góp một ít thức ăn chay sẵn có, tôi sẽ nấu giúp cùng ăn.
 
Luôn lấy làm vui khi giúp được một bạn nào ăn chay hay hỏi về giáo lý khi chưa hiểu, hoặc chỉ vẽ và theo dõi giúp một bạn nào muốn tu thiền.
 
Cầu kinh Pháp Hoa cho vợ anh Dương Huy Nam!
 
Câu chuyện tương đối đáng lưu ý là chuyện anh Nam có tin nhà, chị Nam bị đau ung thư, trại báo tin cho biết.  Anh Nam đem chuyện này kể lại Thầy Thanh Long nghe, Thầy khuyên anh:
 
-         Ở đây có chú Vỹ có thể giúp anh cầu nguyện Pháp Hoa cho chị ấy.  Chú ấy Phật lực khá vững chắc vậy nhờ chú ấy đi!
 
Anh Nam lại tỏ thiệt câu chuyện để nhờ tôi.  Ngay phút đầu nghĩ rằng anh Nam có thế lực với Cộng Sản, nghĩa là có bà con gửi gắm, mà họ muốn cho anh về nhưng phải viện ra lý do như vậy.  Nhưng dù sao, đứng trên lẽ Đạo tôi phải chí thành cầu nguyện và nhận lời anh Nam.  Ngay từ hôm ấy bắt đầu khai kinh Pháp Hoa để cầu nguyện cho chị Nam.  Sau ba đêm chí thành được cảm ứng cho biết sẽ đạt thành  sở nguyện.  Nhưng phải có sở nguyện của chị Nam.  Ngày thứ tư, tôi tin cho anh Nam là việc cầu nguyện được ơn trên cảm ứng, nhưng ước gì trong miền Nam, chị Nam cũng cùng chúng ta nương Pháp Hoa để giải nghiệp thì quý biết bao nhiêu!  Anh Nam chỉ yên lặng vui mừng, còn việc thông báo với chị Nam thì đang chờ đợi dịp thuận tiện.
 
Bỗng mấy hôm sau, anh Nam được thư nhà, chị Nam cho biết là nhờ người quen hướng dẫn, đã về chùa Pháp Hoa ở Long Thành để chữa bệnh, và nay bệnh tình đã thuyên giảm một cách màu nhiệm, nhưng không thể diễn tả cho anh biết chi tiết, hẹn sẽ kể cho anh nghe.  Sau thời gian ngắn, anh Nam có bạn ra thăm chồng báo tin cho biết chị Nam đã lành bệnh.  Tôi và Thầy Thanh Long vui mừng.  Mấy hôm sau “Lễ tạ”, nấu cơm chay và mời Thầy Thanh Long cùng anh chung vui.
 
Nhưng khoảng một tháng sau, lại được thư chị Nam cho biết bệnh tình lại tái pháp!  Anh hỏi:
 
-         Có nên tiếp tục cầu nguyện lại không?
 
Và, dĩ nhiên là tôi hoàn toàn hoan hỷ, xin hoa về tụng Pháp Hoa.  Thầy Thanh Long muốn chúng tôi vững niềm tin, kể cho nghe câu chuyện:
 
-         Ngày trước có một gia đình ngoài Bắc, người vợ mắc phải bệnh “cùi” nên bên chồng để chị ấy về sống với cha mẹ.  Chị buồn khổ vô cùng, nhưng may thay chị gặp được một ân sư hứa cầu nguyện kinh Dược Sư cho chị.  Lúc ấy vào mùa lạnh, nhưng Sư khấn nguyện xin hồ sen trước Chùa có một hoa sen để cầu kinh lấy nước cho chị uống.  Thế mà hồ sen tự nhiên có được một đóa hoa sen.  Đấy chỉ là chí thành của Sư ước mong được cảm ứng ơn trên, chứ không hẳn phải hoa sen là một linh dược!  Cụ đặt hoa sen trước bàn thờ Phật, cầu nguyện xong lấy nước cho chị uống, đủ 49 ngày nhưng bệnh tình không thuyên giảm.  Sư đổi ý, khuyên chị nên thu dọn lên sống hẳn trên Chùa lại tiếp tục để một ly nước trên bàn thờ Phật tụng kinh Dược Sư xong đưa cho chị hướng về phương Đông cầu nguyện để uống.  Sau thời gian chị lành hẳn bệnh và hiện nay đang sống tại trong miền Nam, có con cái thành đạt Kỹ sư, Bác sĩ.
 
Thầy kết luận cho biết rằng lòng thành cứ cầu nguyện, cũng cùng thứ thuốc ấy trước chưa có cơ duyên, sau có cơ duyên là đạt hiệu quả, chứ đừng suy nghĩ giải đoán không đúng!
 
Nghe lời Thầy giảng, tôi chú tâm tiếp tục cầu nguyện.  Đồng thời trại cho anh Nam về, vì chị Nam đã đến thời kỳ hấp hối.  Lúc anh Nam sắp về lại gặp tôi.
 
Tôi quả quyết chị Nam chưa chết!  Nếu anh về, anh khuyên chị dựa vào thân lực của Pháp Hoa mà tu.  Tôi quả quyết chị còn sống ít nhất cũng 3, 4 năm nữa.  Nhưng dặn anh Nam là về nói chị Nam hoặc gửi ra cho tôi một tấm hình hoặc viết cho ít dòng chữ, để tôi hình dung được qua nét chữ chị mà cầu nguyện cho nhanh chóng hơn.
 
Anh Nam về, và sau đấy tôi nhận được thư chị Nam gửi ra, trong thư chị hết lòng cảm ơn và xin tôi nhận chị là cháu.
 
Còn gì quý hơn khi nghĩ đến đúng nghĩa của chữ tu.
 
Xin nói thêm rằng, ngày tôi về - sau anh Nam khoảng hơn năm, thì chị Nam đã bình phục, nhưng còn yếu.  Và đến năm 1990 chị mất.  Lòng tin của tôi càng thêm vững mạnh qua khá nhiều chuyện đã kể - của một người có đức tin.
 
Bấy giờ luôn nghĩ tới anh em mà tôi sống như một gia đình, trong khi nghĩ đến ngày về xa cách nhau nhớ nhung, như đã nói ở một đoạn trước.  Tôi muốn nhận định chút ít về anh Nam.
 
So với các Trưởng ban Văn Hóa thì anh Nam không hách dịch hay có hành động như kiểu Thành ở Hà Tây mà đoạn trước có nói.  Tuy nhiên ở vào địa vị này hẳn nhiên không phải ai cũng chấp nhận lòng tốt của anh.  Người bực tức anh có lẽ phải nói đến anh Tuệ.  Lúc bấy giờ mọi người đều bị trại tìm đủ cách để ép buộc lao động, mà ngay cả các anh trong đám Tướng, như đã nói cũng vậy thôi.  Nhưng một hôm Nan đã phản ảnh lên với đám Cán bộ là trong lúc anh em phải lao động thì có người lại ở nhà hàng ngày đi “ngồi mạt chược”.  Có người đã nghĩ Nam nói như thế còn có ý ám chỉ rằng Cán bộ đã được hối lộ hay dung túng cho vài người ở nhà chơi mạt chược.
 
Và thế là, không biết bọn Cán bộ có hở mí ra không, ngày hôm sau, và có lẽ bây giờ mối bất hòa giữa hai anh bạn này vẫn chưa giải tỏa được.
 
Khi Nam được về thì anh Phạm Bá Hoa được cử lên thay thế.  Từ anh Hoa hay anh Vị sau này, chẳng có gì đáng trách, nhưng rồi đến nay các anh luôn luôn lo ngại có người đã chẳng hiểu mà thù oán!
 
Khi còn ở trong trại, những mẩu chuyện bên ngoài luôn luôn được đưa vào, và khi được tin là nhanh chóng truyền cho nhau.
 
Bên ngoài kể chuyện rằng, một hôm anh Võ Hữu Thu đi xe buýt vừa đến chợ Bến Thành gặp một bạn trẻ, chận Thu lại đánh một tát tai.
 
-         Tao chỉ cảnh cáo sơ sơ mày bấy nhiêu thôi!
 
Rồi hắn lẻn vào đám đông đi mất, mà anh Thu thật ra cũng chẳng dám làm gì hơn, chưa nói là gọi lính hay chống cự.
 
Anh Thu bị ghép vào tội thừa hành lệnh Cán bộ đấu tố chú bạn trẻ vì mụn nhọt không đi lao động được đến nỗi chú ấy phải tự tử (anh Hậu).
 
Chuyện anh Hoa qua Mỹ nhưng phải dời chỗ cư trú từ Texas, vì sợ có người thù oán trong thời kỳ làm Trưởng ban Văn Hóa tại Nam Hà, cũng với ý thức này.
 
Lại chuyện anh Đại Tá L. Đ. C.  lúc ở Nam Hà làm Trưởng phòng “Dịch” – được sống khá đầy đủ.  Vừa qua đến Mỹ, đăng trên báo mời anh em đến dùng chén rượu chia vui.  Ngày hôm sau người con, nhân có tờ báo trên tay, viết một bài “tả oán”  vừa  “đề cao”  vừa  “chạy tội”  cho cha mình, thì một tờ báo khác đã lên tiếng phản ứng với lý do, sẵn báo trên tay để bào chữa cho cha, và v.v. . .  và v.v. . .  làm cho cả hai cha con cụt hứng không làm rượu mừng nữa!
 
Lại đến chuyện “tủ thờ” của vợ anh “Man Hát Tân”.  Vợ anh đã sang Hồng Kông sống và giao cô em gái ra thăm nuôi anh thường xuyên, do nguồn tài chính của chị gửi về.  Lúc sau này chị thường nhắc trong thơ, câu chuyện “tủ thờ” mà anh em xem đấy như một khích lệ đáng chú ý.  Chị ám chỉ như những người bị “tù” là cái “tủ thờ” rất đáng giá.
 
-         Tủ thờ nhà ta đã ngã giá rồi, chỉ còn chờ ngày họ đến chồng tiền là khiêng đi – lúc ấy dù sao cũng đỡ lo túng thiếu!
 
Hay câu chuyện thay đổi bằng lối ám chỉ “gái sắp lấy chồng”. 
 
-         Nhà trai đã lễ hỏi cẩn thận mà nhà gái cũng sẵn sàng gả cho xong.  Chỉ còn chờ ngày lành tháng tốt!
 
Mỗi lần anh được thăm nuôi là cả trại đều xôn xao, khá nhiều người hy vọng sẽ được gia đình đến gửi kèm theo, anh em dùng danh từ “quà tải”.  Hàng năm, bảy người được gia đình gửi quà hay tiền ra trong dịp này.
 
Riêng phần anh – chẳng còn ai nhớ đến tên Quy mà chỉ gọi anh là Man Hát Tân” – ít nhất cũng được 4, 5 xe ba – gác.
 
Và tối vào, ở buồng bên nghe anh với mấy người bạn cùng ăn chung, ngồi kiểm điểm, đếm từng món.  Nghe không cũng đủ no, vì mỗi thứ cả hàng chục ký, từ đường, dầu ăn, chưa nói đến những thứ từ ngoại quốc như Nhật, Pháp gửi về.
 
Anh nuôi nàng chục con gà “trống thiến” sau trại để cứ mỗi tuần lại thịt một con.
 
Thế nhưng, có một hôm thấy nhiều anh em trông ngóng hay buồn khi thấy gia đình gửi cho quà ít, tôi khuyên giải:
 
-         Các anh đừng mơ ước mà phải sống thủ phận thì cuộc sống mới vui vẻ được.
 
Các anh phải nhớ rằng trong kinh Phật “Bát Đại Nhơn Giác Kinh” có câu “thường niệm Tam y, ngỏa bình Pháp khí”.  Và đừng tưởng anh Quy là sung sướng hẳn đâu!  Mỗi lần thăm nuôi xong là lo nghĩ đủ chuyện, nát cả đầu!
 
Thấy anh em chưa thông cảm, phải nói thêm:
 
-         Quà vào, tính cho ai biếu ai, ai nhiều, ai ít.  Chưa nói kẻ này giận, người khác trách.  Rồi cất giữ hư mốc . . .  lại Cán bộ, rồi trại, đủ thứ!  Đâu phải nhiều quà là sung sướng là hạnh phúc.
 
Thấy anh em im lặng cả, tôi chêm thêm vào cho vui:
 
-         Nhất Quận Công, nhì không quà mà lỵ.
 
Không ngờ anh Man Hát Tân qua chơi lúc nào ngồi trong góc, nghe nói thế lên tiếng:
 
-         Cụ Vỹ nói đúng!  Nói đúng!
 
Cả buồng cười vang, cảnh sống chung thì cũng lắm người dễ là trò cười cho anh em.  Nhưng cũng lắm người dễ làm cho anh em cảm mến.
 
Có một chú bạn trẻ được tặng “hỗn danh” là Rè.  Lúc đầu tôi không hiểu, hỏi anh em thì anh em cười và bảo chờ cơ hội sẽ cho biết.  Đến một hôm trại phát thịt, mà mỗi lần phát thịt sống là trực buồng xuống nhận về cắt ra cho đủ số, nhắm để tránh phần quá nhiều, phần quá ít.  Xong cứ theo chỗ nằm gọi ra lãnh.  Như vậy nghĩa là lúc chia đã ai biết phần nào sẽ về mình.  Nhưng chú bạn này rất khó tính, chú cứ đứng chỉ, hết phần này mỡ đến phần kia nạc.  Rồi thì nhiều, ít làm cho người chia phải điên đầu.  Lúc ấy anh bạn gọi tôi ra chỉ cho thấy cái “RÈ” của chú bạn trẻ.  Thật chẳng đáng trách, vì trong cảnh khổ, làm sao tránh được sự việc ấy, chưa nói còn bao buồn lòng khác.  Cộng Sản đã nhắm đúng “chỗ” để làm cho chúng ta mất đi cái nhuệ khí, mất cả tình thương nhau.  Mà chúng hằng lo “ta sẽ cùng nhau âm thầm tổ chức chống đối”.
 
Anh em đã lần lần được về, từ những đợt nhiều, đến những đợt chỉ một vài người.
 
Mỗi lần chúng cho vài người về, nhất là giai đoạn đã ở quá lâu, thường đặt ra những mưu mô để làm cho những người ở lại không phẫn uất mà gây xáo trộn.  Trong âm mưu ấy thường là bảo khai:
 
-         Lúc về sẽ ở địa chỉ nào?
 
-         Gia đình nếu ra ngoại quốc thì người còn ở lại trong bà con ai là người gần nhất v.v. . .  và v.v. . .
Số người tạo được cảm mến anh em cũng không ít!  Đấy là những người biết giúp đỡ nhau, những người cố giữ việc “ăn chay”, để chứng minh không nặng việc ăn uống.  Trong số này là những anh Lê Đình Luân, Huỳnh Tấn Phát, Vũ Văn Vi, Đoàn Thái v.v. . .  cả thảy 7 người.
 
Anh Lê Tấn Bửu cũng ăn chay, nhưng không chung cùng số 7 người này.
 
Ngoài ra, cũng có vài mẩu chuyện thường được bàn tán, nhưng có lẽ đến ngày ra ngoài đời mới hiểu đúng nghĩa.
 
Chuyện anh Dương Kỳ, Tuyên Úy Trưởng Tin Lành.  Theo anh em kể thì ngày ông BUSH còn là Phó Tổng Thống có gặp Nguyễn Cơ Thạch, Ngoại trưởng của Cộng Sản.  Trong câu chuyện Ông đặt câu hỏi “tại sao những người chỉ lo truyền giáo như ông Dương Kỳ lại cũng bị giam lâu như vậy?”
 
Dĩ nhiên Thạch không thể trả lời với ông BUSH như đám Cán bộ thường giải thích với tù là C.I.A.nọ, hay C.I.A. kia, mà y hứa “sẽ”.  Nhưng, rồi ngày lại qua ngày, công tác bù đầu, hay vì đấy chỉ là lý do cho việc “hứa cuội”.  Mãi đến ngày sắp thôi việc Thạch mới để ông Kỳ ra về và đi Mỹ.
 
Và chuyện Nguyễn Đình Huy tại sao lần nào sắp có đợt tha, bọn Cán bộ cũng đều báo tin:
 
-         Trong đợt này, nay mai thôi, có tên anh!
 
Thế là Huy đem đồ đạc biếu cho người thân, và rốt cuộc chẳng thấy được gọi tên, vẫn còn ở lại.
 
Kéo dài, tái diễn chẳng phải một hai lần mà khá nhiều lần.  Trong khi đó thì anh em đã xầm xì Huy lấy người vợ có chồng trước kia là Cộng Sản khá lớn, khi đi tập kết để lại một đứa con gái cho Huy nuôi.  Chị ấy cũng là Đảng viên Cộng Sản!  Chưa nói là bà mẹ của chị đã từng nuôi Mai Chí Thọ trong nhà v.v. . . nhưng đấy chỉ là tin đồn thôi!
 
Thật ra, câu chuyện anh Huy không đơn giản, mà đến nay, trước câu chuyện của anh và người Mỹ Stevenson nào đó, tuy im lặng, rồi lại tái diễn.  Xin hãy chờ xem!
 
Trong lúc này, còn khá nhiều anh em nghèo túng, quá khổ!
 
Nhưng với những người nghèo túng, đáng lưu ý hơn là những Tướng, đã một thời chẳng đến nỗi nào.  Trong số ấy, các Tướng như Đức, Lam Sơn và Hậu.
 
Tướng Đức thì trước ngày đi tù cũng hơi bất bình thường, còn Lam Sơn sau thời gian khá dài túng thiếu, đột nhiên có quà từ Pháp gửi về.  Để đền bù lại thời gian quá lâu cực khổ, ăn uống đến nỗi sau này cũng bán ngay những thứ khá cần để tiêu dùng, như cả chiếc áo jacket dùng cho những ngày buốt lạnh.  Còn anh Hậu, chỉ dùng thời gian hết buồng này qua buồng khác chơi cờ để giải khuây.  Thấy các anh mà cám cảnh!
 
Sống trong tinh thần thoải mái của người tu, lại nhờ ngồi thiền nên sức khỏe khá tốt.  Vì lẽ ấy, việc ăn uống dù chẳng có gì, nhưng bữa nào cũng rất ngon miệng.  Anh Lê Thọ Trung nguyên Tỉnh trưởng Sa Đéc, thường mỗi bữa xách gô cơm lại trước mặt ngồi ăn.
 
-         Thấy Bác ăn chẳng có gì nhưng quá ngon miệng, nên lại ngồi trước Bác ăn để ngon miệng lây!
 
Rồi như đã nói, anh Nam, Trưởng ban Văn hóa về, anh Đại Tá Hoa lên thay và khi anh Hoa về, anh Thụy lên thay.  Những thời gian sau này, người làm Trưởng ban Văn hóa cũng chẳng có gì quan trọng nữa, mà chỉ là người trại cho làm liên lạc với tù.  Anh Thụy cố làm cho qua ngày, để mong được ra về thôi.
 
Riêng khi nghe những anh từ Thanh Hóa ra kể lại các anh trong ấy sống tinh thần rất đáng nể.
 
Từ anh Nguyễn Mâu đến anh Nguyễn Hữu Thời đều có những thành tích mà khi kể ra chẳng ai dám chê.  Anh Thời gần như suốt thời gian bị tù đều bị “CÙM” vì tội chống đối.  Riêng chuyện anh Phan Nhật Nam, tác giả cuốn Mùa Hè Đỏ Lửa lại càng đáng phục.
 
Một hôm đi xuống bếp lãnh cơm, thấy vắt cơm và muối để cạnh.  Biết ngay là dành riêng cho người bị giam trong kỷ luật cách ly, tôi hỏi anh Thảo thì được anh nói nhỏ:
 
-         Của NAM, tác giả Mùa Hè Đỏ Lửa đấy!  Từ Thanh Hóa mới đưa ra đây!
 
Không chịu im lặng vì còn thắc mắc:
 
-         Đưa ra, sao lại thế này, mà không sống chung với bọn mình?
 
Thảo nói nhỏ “Nó chuyển HỒI KÝ ra ngoài qua ngoại quốc xuất bản.  Bọn này nó biết được nên “CÙM” ngay từ lúc còn ở Thanh Hóa.”
 
Thật đáng phục!  Tôi thầm nghĩ và ao ước được gặp con người trẻ tuổi anh hùng này để khen một phát!
 
Thế rồi, đến ngày 2 tháng 9 năm 1987, Cộng Sản cho một số khá đông được về.  Buổi lễ cũng được tổ chức long trọng, nhưng chỉ có phái đoàn và báo chí Cộng Sản!
 
Chính sau buổi lễ này, như một đoạn trước có đề cập, việc Phạm Văn Đồng tuyên bố, anh em chẳng nhiều hy vọng, dù có nghe phong thanh việc Tướng hồi hưu VESSEY do Tổng Thống REAGAN cử sang Việt Nam điều đình.
 
Lúc này lao động cũng tương đối không gắt gao như trước, ngược lại các tổ chức văn nghệ, thể thao, bóng tròn được lấy đó làm lý do cho đám tù bớt căng thẳng tinh thần, vì chúng lo ngại các xáo động.
 
Thành phần Tướng Tá thì những anh hồi hưu hay một số khác đã được về, Chính trị các cấp Tỉnh cũng vậy.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Xác định lập trường với NGUYỄN TÚ
 
 
 
Bỗng một hôm, vào khoảng tháng 12 – 1987 một tay Cán bộ Cộng Sản từ Hà Nội về.  Anh em đồn nhau tên này về để xét tha, y tên là Tú (cháu Nguyễn Cơ Thạch).
 
Trong những người được y lần lượt gọi lên gặp, có tôi.
 
Đã chán ngấy cái trò “ma giáo” của Cộng Sản, nên không do dự trong thái độ khi được y gọi.
 
-         Tôi đã tu rồi, nên chẳng thiết gì việc về hay ở.  Nơi nào tu được là tôi cần.  Nay ở đây tôi đang tu, hẳn như ông biết hàng ngày tôi làm những việc của người tu (ý tôi muốn nói rằng y đã được báo cáo rõ những người gọi lên, hành động của tôi hàng ngày như xin quần áo rách về vá lại hay để hai nồi trước mặt, xin anh em ăn dư, đổ riêng số còn tốt và số đã “thiu”, cho tù Hình sự quá đói khổ - hẳn y cũng đã biết.
 
Nghĩ y sẽ bực mình khi nghe nói thế.  Nhưng Tú làm thinh.
 
-         Anh không nên có ý nghĩ ấy!  Anh cần phải về, vì ngoài đời bạn bè biết bao nhiêu người đang chờ đợi anh!
 
Rồi y cho tôi về buồng, yên trí lời nói của y chỉ là một cách để tôi hy vọng, nên cũng chẳng đem chuyện này kể anh em nghe làm gì!
 
Mấy hôm sau, có đợt gửi quà từ Nam ra.  Lần này Chị tôi gửi cho tương đối khá nhiều hơn.  Trong số này có cả của vợ Nam gửi cho.  Hơi ngạc nhiên về đợt quà này, nhưng lại nghĩ rằng có lẽ Chị tôi thấy họ về nhiều mà em mình chưa được về, nên cố chạy cho khá hơn để an ủi, để khỏi buồn – tôi nghĩ thế!
 
Sau ngày Tú về lần ấy, thì đúng 3 tháng sau y trở lại lần nữa.  Và lần này Tú cũng gọi tôi lên.  Theo nguồn tin anh em cho biết thì lần này là để “xác định tội lỗi” trước khi cho về.  Đây chỉ là một trò “căn bản” của Cộng Sản.  Chúng cố tạo ra nguyên tắc ấy, bởi nhiều nguyên nhân, mà nguyên nhân chính là khi mình mong về tất nhiên phải thấy rõ, chưa nói là đào ra những chuyện “không nói thành có” mong chúng tha về.  Trong khi ấy chúng ghim vào hồ sơ để “TỰ” cho rằng chúng không giam ta oan (!)
 
Ít nhất cũng phải hiểu như vậy!  Và vì lẽ đó, đã dành sẵn những câu trả lời, khi được gọi lên.
 
-         Anh có thấy trước đây đã có tội với cách mạng và nhân dân chưa?
 
Không đắn đo, tôi trả lời ngay:
 
-         Tội lỗi?  Câu ấy xin ông đừng hỏi tôi!  Nếu ông hỏi những anh Tướng kia thì nghe hoặc đã giết 5 hay 10 người, còn tôi thì chẳng tự tay giết ai – tôi ngưng một giấy lát rồi tiếp – nhưng các ông đã chết nhiều vì Chiến Dịch Tố Cộng do tôi đề xướng.
 
Vừa nghe đến đây thấy y tỏ thái độ bất bình thường, tôi không bỏ qua cơ hội, nói như say:
 
-         “Ông đừng ngạc nhiên!  Đúng, Chiến Dịch Tố Cộng các ông đã bị thiệt hại khá nhiều.  Nhưng xin các ông nhớ lại, ai đã làm tôi phải căm hờn đề ra Chiến Dịch ấy?”
 
Ai đã giết Mẹ và Vợ tôi trước?  Khi còn ở trong Quân đội Pháp, vì tốt với anh em Kháng Chiến đã bị Pháp nghi thân Cộng, bắt gia đình vợ tôi và vừa quay lại làm việc với Quốc Gia – vừa nói đến hai tiếng này tôi cảm thấy như y muốn chặn lại, nhưng tôi lờ cứ nói không ngừng – thì các Ông bắt Mẹ và Vợ tôi đem lên núi bỏ chết đói.  Tôi uất hận còn làm sao hơn?  Nên đề ra Chiến Dịch Tố Cộng vẫn còn cảm thấy chưa thỏa mãn!
 
Thấy đủ rồi nên ngừng lại, chờ nghe y nói.  Nhưng y chẳng nói gì, ngồi một lúc cho trở về buồng.
 
Về buồng thấy anh em đang chờ nghe, tôi chưa hết bực, nói một mình “nói cho đã, đến đâu thì đến”.  Và yên trí thế nào chúng cũng sẽ giam đến chết!
 
Nhưng nào ngờ, sau mươi hôm, ngày họ đọc tên những người được tha, tôi biết thân phận nên chẳng lên hội trường, ở lại buồng nấu nước trà uống cho yên.
 
Một lúc anh em lên nghe chạy về la lớn từ ngoài:
-         Cụ Vỹ ơi!  Lần này có tên Cụ về rồi!
 
Chưa vội tin, nhưng khi thấy anh Phan Ngô về hỏi lại mới biết mình có tên thật – lại nói một mình – “Hừ, nếu có tên thì phải dẹp đồ nấu lại, lên nghe tuyên bố việc chuẩn bị!”
 
Lên hội trường nghe giải thích việc “ngày lãnh tiền bạc còn dư, ngày nhận tiền mua vé, ngày lên hội trường mua vé tầu và ngày ra dự tổ chức trả tự do.”
 
Thu dọn đồ và chuẩn bị cho anh em những gì còn dư, nhất là quà, Chị gửi ra vừa rồi dùng chưa hết.
 
Những người cần chú ý trước hết là những anh em hoặc nghèo, hoặc đã có “phải không” từ trước.  Số nghèo thì đến nay chẳng còn ai đáng chú ý, nhưng những người có “phải không” như anh Lê Đình Luân, Nguyễn Đình Lương.  Nhìn lại mấy chú bạn trẻ chống Cộng đầy mình và bởi là Phó Ty Cảnh Sát Đặc Biệt mà thương mến vô hạn.
 
Trong số này, không thể quên những mẩu chuyện chú bạn trẻ Nguyễn Ngọc Trân, trước có vợ ở Kiến Hòa, phút chót làm Phó Ty Long Khánh.  Nằm gần, nghe chú kể mẩu chuyện nội gián của Cộng Sản tại Vĩnh Long, khi chú làm ở đấy mà phải thầm phục, cho những chuyên môn của chú, nay vẫn chưa về.
 
Lương Trọng Lạc, cháu Cụ Lương Trọng Hối, ở chẳng mếch lòng ai, rất dễ mến.  Nhưng đọc nơi chú không thể nào chẳng đoán ra được rằng chú rất lo và thương vợ con đang sống hẩm hiu, chẳng biết còn ở Vĩnh Long không, nơi nhiệm sở cuối cùng năm 1975 hay đã về Saigon, tôi thương quá!
 
Đem chút quà lại biếu các chú, nhưng khi về mới hay rằng trong gói đậu Chị gửi ra, cuộn tròn trong ấy 400 đồng, mà món quà này đã may mắn vào tay anh Võ Trạng.  Đúng, chú Trạng chẳng có thăm nuôi, vì còn cu ki, chưa vợ con thì chú ấy trúng 400 là đúng!
 
Cũng có chút đem lại anh Lương và nhất là anh Luân, người đã cùng tôi hưởng ứng việc “chay trường” trong những ngày tù tội.
 
Đi nhận tiền còn dư, thì tôi chẳng có đồng nào.  Nhận tiền để chờ mua vé tầu về Nam và tiền ăn đường thiệt ra chẳng đủ gì, nhưng có vẫn còn hơn không!
Thu xếp xong là đi thăm những anh bạn chưa được gọi tên lần này, chẳng còn bao nhiêu người.
 
Bên Tướng còn lại các anh Trần Bá Di, Đỗ Kế Giai, Lê Minh Đảo.  Những anh Lý Tòng Bá, Nguyễn Vĩnh Nghi đều được về trong dịp này.
 
Về phía Đảng phái, mỗi Đảng – Cấp Tiến và Quốc Dân Đảng còn tương đối nhiều hơn.
 
Hàng Đại Tá chỉ còn những anh trong ngành An Ninh Quân Đội.  Riêng đám trẻ tuổi, đặc biệt là tất cả những chú trước là Phó Ty Đặc Biệt của Cảnh Sát còn lại.  (Mỗi Ty Cảnh Sát dưới quyền Trưởng Ty có hai Phó Ty, một phụ trách số Cảnh Sát Tư Pháp và Văn Phòng tức là Cảnh Sát sắc phục, còn Phó Ty Đặc Biệt chỉ chú trọng vấn đề Cộng Sản, Chính trị).  Cộng Sản rất căm thù số anh em này.  Đám tuổi trẻ thứ hai là những chú của đơn vị 101 tức Phòng 7 chỉ công tác về hoạt động Cộng Sản vùng Rừng núi.  Chính những đơn vị này đã làm Cộng Sản điêu đứng.  Lực lượng này dưới quyền anh Lê Đình Luân, ngoài ra là những bạn trẻ trong Trung Ương Tình Báo, trong ngành An Ninh Quân Đội v.v. . .
 
Đến từ giã nhau, không quên giải thích để các chú tin tưởng rằng Cộng Sản dù muốn dù không cũng chẳng thể giữ chúng mình đến chết như trước kia đã chủ trương.
 
Ngoài công tác trên, hàng đêm trong những ngày sắp về, tôi luôn luôn cầu nguyện:
 
-         Để tạ ơn trên gia hộ cho anh em vượt qua những gian nan nguy hiểm và riêng mình đã về trong dịp này.
 
-         Để cầu an cho những người còn ở lại, vượt qua những buồn cực và khỏe mạnh.
 
-         Và để cầu nguyện cho những người đã quá cố được siêu sanh.
 
Nhìn vào danh sách của 32 người chết tại trại Hà Tây và đến nay là 57 người chết tại Nam Hà, tôi đã hỏi những người đến trước, để mỗi khi lễ lạc đem ra cầu nguyện.
 
Đắn đo không biết có nên tìm cách đem về số danh sách này không, vì nghĩ rằng nếu đem được về là điều quý giá vô cùng, bởi có ghi chú được hầu hết ngày chết của anh em.  Nhưng nếu nhỡ bọn chúng lục được, vì từ trước mỗi khi về chúng xét rất kỹ, phòng ta mang theo thơ từ anh em gửi về thì vô cùng tai hại.
 
Bởi lẽ ấy, đành cầu siêu cho anh em rồi để lại cùng những Bộ Kinh viết tay.
 
Và, đã đến ngày chúng tổ chức buổi lễ Trả Tự Do khá long trọng, từ trước chưa hề có.
 
Dùng tiếng “từ trước chưa hề có” vì theo anh em kháo với nhau, thì lần này chúng phải mời tất cả báo chí truyền thông của phe Tây Phương Tự Do tham dự.
 
Buổi lễ TRẢ TỰ DO đặc biệt.
 
Chúng cho sắp hàng và từ từ ra khỏi cửa trại, nghĩa là không muốn cho số báo chí Tây Phương vào trong cổng, bởi cái lý do sẽ biết rõ!
 
Ra khỏi cửa, thấy đông như chưa bao giờ có, xe cộ đậu từng hàng và nhìn vào đám báo chí, chúng tôi hiểu ngay là của Tây Phương, Tự Do từ phong cách đến ăn mặc.
 
Vào một phòng rộng lớn và dù buổi lễ chưa bắt đầu, nhưng báo chí tha hồ chụp ảnh, hỏi chuyện.  Những anh bạn càng ốm o, gầy gò, càng được đắt khách chiếu cố.  Vì vậy, tôi với bộ râu dài, khá đẹp được chiếu cố khá đông.  Nhất là một cô nữ Phóng viên người Ý, cứ chụp phía trước, phía sau, rồi chụp nghiêng, đủ kiểu.
 
Buổi lễ bắt đầu!
 
Chúng làm đủ chuyện, từ tuyên bố với giọng đầy “Nhân đạo, Bác ái” và bắt một anh trong chúng tôi lên phát biểu:
 
Phải nói thêm rằng, trước khi ra khỏi cửa, bọn chúng cho Cán bộ đến gần, nhất là những người mà chúng biết chẳng sợ và những người biết ngoai ngữ.
 
-         Chốc nữa khi ra ngoài, chẳng nên nói nhiều, dù là với phóng viên nhé!
 
Chúng nghĩ lúc này nên đề phòng ý nghĩ của chúng tôi, chẳng mấy người còn biết sợ chúng, nên tiếp:
 
-         Vì thì giờ rất ít.
 
Tuy căn dặn, nhưng vừa chấm dứt nghi thức và anh em vừa đứng lên, là phóng viên ào lại phỏng vấn, chuyện trò.  Dĩ nhiên bọn chúng đã tăng cường từ Hà Nội, nhưng làm sao đủ sức, nhất là số Cán bộ này chỉ có một ít biết ngoại ngữ.
 
Anh Phóng viên tờ PARIS MATCH tay xách máy có cần dài lại hỏi tôi:
 
-         Anh có bà con ở ngoại quốc không?  Và anh chỉ máy đang đeo – với máy này, chiều nay gia đình anh ở ngoại quốc sẽ biết tin hoặc nghe tiếng nói của anh!
 
Lại có cả báo chí Tây Đức, Nhật Bản!
 
Thế là tôi có dịp thử xem còn nhớ chút ít tiếng Nhật không, và với những câu dễ để chuyện trò, trước khi đành trở lại thứ Anh văn chưa thông thạo!
 
Riêng anh bạn Thiếu Tá nguyên Chỉ huy Đội Chữa lửa Đô Thành thì náo nức nhiều.  Anh tha hồ chạy lại đám này rồi đám khác, cố nói hết những điều mà bọn chúng đã tàn ác, nhất là ở các Trại Miền Núi.  Anh phải cố nói như vậy, vì ở Trại này một Trại Trung Ương của Chính quyền Miền Nam trước, lại gần Hà Nội, chúng không dùng được hết những thủ đoạn dã man, nên nếu là người vô tình sẽ lầm tưởng như chúng nhân đạo!
 
Có lẽ sau khi được nghe anh bạn Thiếu Tá này nói về chú bạn trẻ Phan Nhật Nam, tác giả “Mùa Hè Đỏ Lửa” đã được chuyển từ Thanh Hóa ra và bị “cùm” trong phòng kỷ luật, nên vài anh Ký Giả đã đứng trên cao, leo lên tường chụp cho được những tấm ảnh về phía xa trong, chỗ của những nơi nghiêm cấm Cộng Sản đang cho kỷ luật.  Bọn chúng lấy lý do cấm chụp những nơi không được phép, để yêu cầu anh bạn Ký Giả ngoại quốc này ngưng chụp và leo xuống!
 
Ý chừng chúng muốn lại để dành giật máy ảnh, nhưng tay Ký Giả này cũng không vừa. 
 
Và có lẽ bọn cao cấp Hà Nội nháy mắt chú Cán bộ kia nên mọi việc cũng được dàn xếp.
 
Tôi được một Ký Giả Đức và Cô Nhiếp ảnh viên Ý phỏng vấn và chụp nhiều.
 
Bọn chúng nháy nhau và tìm cách, coi như “đủ rồi” để ngăn hoạt động nữa giục chúng tôi trở vào trong.
 
Trước khi trở vào, vài Ký Giả ngoại quốc, nhất là anh người Nhật và anh Tây Đức còn lại hẹn tôi:  “Sẽ vào máy bay trước và đón tại Ga Saigon”.
 
Khi vào trong, số anh em chưa về dịp này được nghe kể buổi tiếp xúc báo chí Tây Phương vô cùng vui vẻ.
 
Hôm sau, cho biết chuẩn bị lên xe chở ra Ga Nam Định về Nam!
 
Sống gian khổ buồn vui suốt 10 năm chưa có cảnh nào buồn như những giờ phút này.  Đành rằng với bạn bè, đang trông chờ giây phút gặp lại gia đình thì khác, nhưng trong cảnh mình, gia đình tan nát, nhà cửa chẳng còn, vợ đi tái giá, chưa biết ăn đâu, ở đâu, thì việc chia ly với những người thân thiết hôm nay không bút mực nào nói được.
 
Chỉ với hai tiếng “đấu tranh” chứ chẳng dám cao mạn, nghĩ đến hai tiếng “Cách mạng” như các bậc tiền bối, mà cuộc đời tù, rồi tù đến giờ này mới thấy ngập tràn một chua cay.  Thương những người ở lại chỉ mong được ra về lo cho vợ con như Nguyễn Ngọc Trân, Lương Trọng Lạc v.v. . .  thì mỉa mai thay nghĩ đến mình, thấy “về” càng thêm chua chát, mà nào ai đã hiểu?
 
Rồi nhìn vào trong, xa xa, cảnh đồi núi, như thấy mờ mờ hình ảnh những người anh em đã bỏ mình trong uất ức của Đại Úy Trần Hằng, hay bao nhiêu người khác vì đói, vì uất ức mà chết!  Đang nhìn ra để nhắn gửi những kẻ ra về đừng quên đi mối hận này!
 
Lúc lên xe xong, xe từ từ chạy, vài anh trong số còn lại ra vẫy tay chào.  Đám trên xe im lặng cúi đầu, với trăm ngàn ngổn ngang, vui thầm cũng có, mà thương nhớ người ở lại cũng có, vô vàn cay đắng
 
Hẳn một số đã hú vía vì lần này không phải lục xét hành lý, trong số ấy có tôi, chỉ lo nơm nớp cho tập thơ “Trong Tù” viết bằng loại giấy súc của chế độ giàu sang kháng chiến Cộng Sản, còn đem dùng mãi đến ngày nay.
 
Mừng thầm, những bài thơ sẽ được dùng trong nay mai!
 
Xe chạy qua khỏi chợ Ba Sao, mà lâu nay thường nghe mấy anh được đi chợ về kể lại, rồi đến Phủ Lý.
 
Nghe tên chợ Ba Sao, cứ tưởng ít ra cũng có dăm ba hàng quán, chứ ngờ đâu một khoảng đất không hơn hai chục thước vuông, với một căn lều lụp xụp, cơ khổ đến độ này!
 
Còn Ga Phủ lý, mà xưa kia của thời 1943, đã có lần ghé lại trước khi vào Phủ Bình Lục, trong đây mươi cây số để thăm người Cậu ruột đang làm quan tại đây, nay hình dung chẳng thấy gì thay đổi.
 
Đến Nam Định, trời về chiều, mưa bay lất phất, nhìn lại thành phố nổi tiếng xưa kia đã có lần ghé lại của thời trai trẻ đi Hà Nội nhận báo cho Đảng, rồi dùng đường thủy theo sông Hồng từ Hà Nội về đây, để thay hình đổi dạng trở về Nam, nay nhớ lại phải ngạc nhiên cho cảnh nghèo túng xác xơ mà Cộng Sản cứ tuyên truyền cho no ấm dưới Xã Hội Chủ Nghĩa!
 
Anh em văn nghệ vào một quán nhỏ bên đường cùng Man Hát Tân tha hồ nhậu nhẹt ca hát.
 
Tôi thu xếp gửi đồ cho hai anh bạn không đi chơi, tản bộ ra những phố gần.  Nhưng, điện quá mờ, chẳng giống nơi nào trong Saigon cả.  Vừa ra khỏi sân Ga, phần trời mưa, phần đường xá dơ bẩn, lầy lội – giống như một vài ngõ hẻm bên Khánh Hội ngày xưa – đành quay lại.
 
Bạn bè hỏi:
 
-         Tại sao trở về sớm thế mà không dạo chơi cho biết!
 
-         Thì các anh đi cho biết mùi, tôi giữ đồ cho!  Đường xá dơ bẩn vô kể mà đèn đóm thì lu như đèn dầu!
 
Có anh khuyên:
 
-         Thôi đừng đi cũng là phải.  Nhỡ ra chúng tưởng tù trong Nam giàu có, đánh cướp là oan mạng!
 
Thế là chúng tôi ngồi lại gần nhau, moi thức ăn ra chờ đợi khoảng gần khuya có lệnh lên tầu.  Gần đấy là một toa chia thành hai, hành khách một nửa, chúng tôi một nửa.  Nếu đi xa về phía trước có hẳn một toa dành cho tù.  Cùng hai anh bạn rủ nhau chịu khó gồng gánh về phía trước.  Tội nghiệp, giờ này gặp Tướng Hậu, không biết ai cho gì hay gửi gì, mà đồ đạc nhiều quá sức vác không nổi.  Thấy một chú bạn trẻ, nhờ mang hộ, nhưng anh này cũng từ chối vì riêng của anh ta cũng đã quá nhiều.  Thế là anh Hậu phải vất vả khá lâu mới khuân được mấy bao hành lý lên tầu.
 
Đến nơi, lên tầu, biết là mỗi ghế thay vì hành khách 3 người thì chúng tôi sử dụng chỉ hai người.  Như vậy, hai ghế đối diện nhau có 4 người.
 
Cất xong hành lý là thảo luận, đồng ý rằng ban ngày cùng ngồi trên hai ghế, nhưng tối lại khi cần ngủ, thì mỗi ghế một người nằm, còn một bạn có võng treo lên cao ngủ.  Riêng tôi, quen với những ngày còn trai trẻ thường đi tầu, tình nguyện trải chiếu nằm dưới hai ghế.  Thỏa thuận và yên trí có chỗ ngủ trong suốt thời gian từ đây về Nam.
 
Thường nghe rằng phải đi mất ba đêm, ba ngày mới đến.  Nhưng lần này vì đặc biệt mà cũng là ngày sắp Tết (27 Tết rồi) sẽ chạy sao để về đến Saigon vào chiều cuối năm.
 
Đúng tin đồn, tầu chạy đến sáng hôm sau vào khoảng Nghệ An, anh “Xếp tầu” mà Cộng Sản gọi là “Trưởng Xa” lại gần chúng tôi lân la bắt chuyện.  Phong thái anh dĩ nhiên không phải loại bần cố, nhưng ít ra cũng được cải biến, nên mới lên đến chức vụ này.  Anh cho biết “bất cứ giá nào cũng phải về đến thành phố Hồ Chí Minh chiều cuối năm – 29 Tết”.
 
Vừa mờ sáng, kỷ niệm ngày còn thanh niên theo Cậu ra học tại đây, tôi ngoái cổ nhìn ra ngoài.  Đây!  Ga Quán Hành, nơi có cam Xã Đoài ngon nổi tiếng.  Vào thêm đoạn nữa là ga nhỏ Nghi Lộc bên cạnh Trường Tiểu Học Nghi Lộc.  Và vào trong là Huyện đường, mà trước kia nghe kể rằng dân Nghệ An đã đấu tranh, giết chết Tri Huyện khi về thu thuế, chém luôn cả con ngựa Ông đang cưỡi.
 
Đến đường tách xuống Cửa Lò, một biển tắm nổi tiếng, có loại mắm “Rươi” ngon đặc biệt.  Con rươi “sống trong nước, dưới cát.”  Dân địa phương cào vớt về làm mắm ăn và bán.  Mắm rươi ăn với thịt heo ngon đáo để.
 
Không xa nữa, tầu vào Vinh.  Đây trường Trung học, rồi trường Cao Xuân Dục mà tôi khó quên cảnh học “gạo” của dân Quảng Nam mới mong theo kịp đám Nghệ An con cháu Cụ Phan Bội Châu, nhà Cách Mạng quý mến đáng kính của người Việt.
 
Và, cũng là nơi sinh ra già Hồ quái ác!
 
Từ đây, về đến Quảng Nam, quê hương tôi, lại tiếp tục nhìn Đồng Hới, với Ga Minh Lệ của những thời trai trẻ ra Bắc vào Nam, đến Đông Hà - Quảng Trị, nơi sinh trưởng của người vợ hiền đã hy sinh vì tôi trong trận đánh Phù Kỳ năm 1952 (có nói trong tập I), rồi qua Huế, để khỏi mấy hầm là Đà Nẵng -  Quảng Nam.
 
Lúc tầu dừng lại Đà Nẵng, nghe văng vẳng có tiếng người hỏi Nguyễn Văn Sang thuộc đơn vị 101, trước có làm với tôi trong Tổng đoàn Quân Thứ 11 – nay chưa về, bỗng tiếng chị Sang khóc lớn.  Khi nghe anh em kể, định chạy xuống thăm Chị thì tầu đã lại chạy, nên đành thôi.
 
Tầu qua Ga Bàu Sấu, nơi đã nhảy xuống bị trật tay, vì mang báo Việt Nam Chính Nghĩa cho Đảng, đến cầu Chiêm Sơn Tây.  Cây cầu oan nghiệt mà Cộng Sản đã dựng lên “vụ cậy cầu – có nói trong tập I – để triệt hạ Quốc Dân Đảng.”  Nhớ lại Mẹ, Vợ, Con, Chị, Em làm sao cầm được nước mắt!
 
Thế là, lại nho nhỏ ngâm bài thơ Nhớ Mẹ:
 
     Mẹ hỡi!  Chiều nay bên nấm đất
 
     Con quỳ đây, trên đám cỏ lơ thơ
 
     Mắt như thấy Mẹ dù đã khuất
 
     Vẫn nhìn con qua khói hương mờ
 
    - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - -
 
Tàu tiến về Nam, qua Quế Sơn, đến Thăng Bình nơi vào tiếp thu sau Hiệp Định GENEVE 1945, nơi vợ bị tù Cộng Sản đến chết, nơi tổ chức Chiến Dịch Tố Cộng toàn quốc đầu tiên.
 
Đến Ga Tam Kỳ, tầu vừa dừng, cố nhảy xuống để gửi mấy chữ nhờ người ở gần Ga chuyển cho cô em gái và cháu để biết mình đã được về.
 
Đâu nghĩ rằng chúng đã giam giữ, đày ải như vậy mà người thân, chứ không nói là Vợ, Con – bởi đây chỉ là em gái, chúng cũng chẳng tha.  Sau này biết ra trong thời gian bị giam ngoài Bắc – năm 1983, chúng đã tổ chức một đám lâu la đến đập phá nát ngôi nhà, khi còn làm Quận trưởng xây cất tại đây, sau đó đã cho cô em gái ở.  Việc làm này chúng không thể nói rằng nhân dân oán hờn, vì từ 1975, ngày chúng cưỡng chiếm miền Nam đến 1983, dân chúng đã biết tất cả sự thực.  Dân chúng nào oán hờn để đi đập phá nhà tôi?  Nhớ rõ đến nay em gái tôi còn sống khổ sở tại đây!
 
Tầu về đến Saigon, lại nhìn ra ngoài.  Là chiều ngày cuối năm – vì năm ấy tháng thiếu, chiều 29 Tết mọi nhà đang chuẩn bị cúng.
 
Vào thành phố, tầu chạy chầm chậm vào Phú Nhuận, rồi Gò Vấp.  Cạnh đường xe lửa, nhà san sát đấy đang nấu những thùng “bánh tét”, càng gây cảnh nôn nao khó tả.
 
Riêng tâm tư mình, chẳng ai hiểu nổi!
 
Bởi bây giờ phải về nhà chị đang làm mướn ở Chợ lớn.  Rồi ngày mai sẽ lên Chùa, đến bạn bè, chua chát thay!  
 
Tàu ngưng lại Ga Hòa Hưng.  Anh em đón nhau la ơi ới.  Mấy anh Ký giả hẹn nhau hôm ở Nam Hà có sẵn, họ lại chụp hình khi gia đình ra đón mừng hay khóc thương! 
 
Quá đông, chưa biết phải làm sao ra được, thì anh Ký giả Nhật Bản đã chạy trước như mở đường để đón chụp tấm ảnh.  Nhờ đấy tôi thoát ra.
 
Vừa ra khỏi cửa, gặp anh Đại Tá Minh (Không quân) Anh về trước 6 tháng, tức là về trong dịp 2 – 9 – 1987.  Anh đưa tay định vác giúp, nhưng tôi đã bảo:
 
-         Có chú Sang đồ nhiều, ra sau, Anh lại tìm giúp chú ấy đi!
Anh Minh hôn tôi, rồi xông vào trong tìm Sang.  Nóng lòng gặp lại Chị, và hôm về, anh em có cho hai cái “mền” cũ dặn khi vào Nam, trên tầu sẽ có số người hỏi mua, bán lấy chút tiền.  Nhưng gần Tết, số người đón mua không có.  May thay có một chú bạn trẻ nghe tôi muốn bán, đã giúp tôi được hai ngàn đồng (2.000 đồng).
 
Thì nay tiếc gì, không thuê ngay xích lô đạp về gặp Chị gấy, dù Chú xích lô này có giải thích là chuyến xe cuối cùng còn để về cúng, đòi tôi 2.000 đồng.  Xích lô chạy từ Hòa Hưng về Phú Định – nơi chị tôi đang ở - kể cũng khá xa, cứ ỳ ạch, chậm rãi.  Nóng muốn gặp Chị, nhưng cũng không nôn nữa vì muốn xem lại cảnh này đã ngoài 13 năm xa cách.
 
Về đến nhà, Chị tôi tạm sống ở đường Hậu Giang.  Người nhà trố mắt nhìn và Chị tôi mừng rỡ chạy ra đón em.
 
Sau 13 năm gian khổ, làm thuê, làm mướn lấy tiền gửi nuôi em, còn cám cảnh nào hơn!  Tôi muốn quỳ xuống lạy Chị hai lạy!  Để xem như lạy Mẹ ngày nào.  Vì Chị sống không chồng con từ nhỏ, nên lòng thương em vô hạn.
 
Vừa qua Mỹ một năm thì tin Chị tôi chết.  Nhắc lại quá đau lòng cho số kiếp của Chị.
 
Đời Chị tôi khá đặc biệt, nhắc đến chẳng mấy khác so với chuyện nói về Mẹ!
 
Sống không chồng con từ nhỏ, lại cũng bị tù đầy bởi Cộng Sản, hai lần vì tôi.
 
Chị có số “cực”, không ăn thức ăn sang được, bởi ăn vào sẽ đau bụng ngay.  Không ngồi trên nệm “mousse” vì chóng mặt không chịu được.
 
Đột nhiên chiều cuối năm, đang hì hục nấu trong bếp, Chị thấy thằng em lù lù bước vào, còn nỗi vui nào bằng.  Nhưng nhìn Chị, cảm thấy ngay một nỗi lo âu.  Chị lo vì không biết rồi đây “nó sẽ ăn đâu, ở đâu?”
 
Cảnh tù về, ngày xưa của sau 3 năm từ Huế về sau ngày Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ, so với nay hoàn toàn khác.  Ngày ấy không thiếu gì người đón tiếp, mời ở lại.  Nhưng ngày nay, luôn luôn bị theo dõi. Phải báo cáo ăn đâu, ở đâu, có ai đến thăm, đi những đâu thì chắc chắn chẳng ai ham chứa chấp mình.
 
Tuy nhiên Chị tôi và người chủ nhà cũng lo cho chút thức ăn chay, vì đã biết tôi ăn chay trường từ hơn mười năm nay.  Biết tôi chẳng yên tâm, Chị lại gần khe khẽ an ủi:
 
-         Ở chơi xong ba ngày Tết, sẽ đi tìm chỗ ăn ở, chẳng lo gì!
 
Hiểu Chị, tôi gật đầu thông cảm.  Ngày hôm sau, mồng Một Tết, chờ gần trưa, vì ngại đến nhà người khác sớm quá, mà tục lệ “xông đất” có thể làm chủ nhà không vui, bắt đầu đến thăm vợ chồng Dương Huy Nam.  Nhìn xem không khí và cách cư xử may ra mình có thể tạm dung thân được không.  Nhưng bên ngoài đã không tiện, vì nhà Nam lúc này làm ăn quá đông đảo, bởi anh ấy đang chung làm máy may cung cấp cho các nơi.  Phần tôi nghĩ anh Nam hẳn cũng chẳng tự tung tự tác chứa chấp tôi trong nhà, mà không được ý kiến người che chở cho anh, như đã đoán biết trước.  Nhận chút ít lì xì, tôi xuống ngay Chùa Pháp Hoa ở Hạnh Thông Tây, nơi có Thầy Thích Tâm Chơn, người anh em bà con và cũng là đồng Bổn sư với mình.
 
Vừa thấy tôi, Thầy mừng, một cái mừng chân thành, rối rít chuyện trò và dọn ngay bánh tét cùng ăn.
 
Đã biết từ trước, chưa nói rằng khi nghe thuật lại bao nhiêu tu hành tinh tấn trong tù, Thầy nhiều nể nang, chưa nói là tỏ thái độ yêu cầu tôi cùng ở đây với Thầy.  Tôi ngỏ ý sẽ hướng dẫn số đệ tử tại đây tu thiền, bởi không khí tu thiền đã bắt đầu nảy nở trong một số Chùa gần đây.
 
Nhưng Thầy phải đến Công An và Mặt Trận để dọ hỏi, chưa nói là trình xin.
 
Trong khi để tôi ở lại chơi, Ông đi ngay lại Công An, vừa như để chúc Tết nhưng cũng để dọ hỏi.
 
Ngồi chờ đợi, tôi thăm dò và được biết những đệ tử chung quanh, gần Thầy tại đây.  Hai chú thanh niên đã xuất gia học Phật với Thầy, còn quá buông lung mà đa số Phật tử Chùa này là người đồng hương Quảng Nam.  Tôi nghĩ, Thầy cũng gặp không ít khó khăn trong các giải quyết, nhất là trong giai đoạn khó khăn mọi mặt.
 
Sau non tiếng, Thầy về với nét mặt không mấy vui.  Tôi hiểu câu chuyện ra sao, trong khi thấy Thầy tỏ ra thương hại vừa cười vừa nói nhỏ:
 
-         Họ không chịu và nói rằng:  “Ông Vỹ chưa thể ở Chùa được” rồi nói như lơ đãng:
 
-         Hầu hết Công an Gò Vấp là người ngoài mình cả.  Ý Thầy muốn nói Công an Thành phố này đa số là người Quảng Nam, nhất là người ở Điện Bàn, họ rất biết tôi.
 
Tuy nhiên Thầy an ủi:
 
-         Họ không đồng ý anh ở lại Chùa, nhưng ban ngày anh có thể đến chơi như người đi Chùa thỉnh thoảng ở lại, ai cấm cản được!  Hoàn toàn thông cảm Thầy, nhưng nghĩ rằng:  “còn nước, còn tát”.  Tôi lại ra đi thăm những nơi khác và cũng với mục đích may ra tìm được chỗ chịu chứa chấp.
 
Thuận đường ghé thăm anh Nguyễn Tất Thinh, nguyên Tỉnh trưởng Bến Tre, trước trong tù tại Hà Tây cùng hiểu nhau nhiều.
 
Mừng rỡ kể lại cảnh trong tù, sau những ngày anh ra về và ngược lại anh cũng cho biết cuộc sống, nhất là của những người trong tù ra sẽ ra sao.  Nhưng những điều anh nói là của thành phố, chứ các Tỉnh lẻ thì hẳn không phải thế.  Các Tỉnh lẻ, tùy theo địa phương, vài nơi nghe ra may mắn chẳng đến nỗi nào, nhưng đa số là sống dở, chết dở, hoàn toàn không chịu nổi.  Ở lại thành phố chưa hẳn là chuyện dễ, chưa kể những người từ lâu nay gia đình sống tại các Tỉnh lẻ thì nay dễ gì được về đây sống, như tôi.
 
Sau khi từ giã anh Thinh, nhắm vào hai người bà con vùng Bà Chiểu.
 
Người thứ nhất, như đã nói, sau 3 năm tù của ngày Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ đến sống nhờ.  Nhưng nay khác, vì gia đình này dù là Chú, Bác với nhau – bên nội – nhưng thân Cộng, hẳn nhiên khó ở yên.  Riêng người thứ hai, chị em bạn dì, bên ngoại – nhưng cũng là nạn nhân Cộng Sản, chắc dễ thông cảm hơn.  Về Hàng Xanh, nơi gia đình người anh em chú bác, thì anh này đã qua đời, mà theo lời Chị tôi có kể lại , anh ấy rất tốt, nhưng người Cộng Sản là như vậy.  Anh ấy đã từ chối việc Chị tôi xin đến ở nhờ.  Anh không vui nên phải đi làm mướn cho người ở Chợ Lớn là vậy.  Vợ con anh, bên ngoài cũng vui, nhưng bởi mặc cảm và méo mó nghề nghiệp, tôi không hoàn toàn tin ở cái tốt bên ngoài của họ.  Vả chăng lần này đến chơi không nghe họ hỏi “ăn đâu, ở đâu” dĩ nhiên phải nghĩ gì, từ giã tiếp tục đến nhà người chị bạn dì.
 
Thoạt đầu được chị niềm nở, một thứ niềm nở thật sự chứ không như ở gia đình người anh em chú bác.  Tuy nhiên nghe chị kể đến vài người trước đây cũng tù về, được chị cho ở rồi sau chẳng tốt đẹp gì, tôi có phần lo ngại, và hiểu chị muốn nói gì.
 
Đã thế, thấy cảnh sống của chị đang nhờ vào đứa con gái cũng không chồng con, đang sống bằng cửa hàng nhỏ trước bệnh viện Nguyễn Văn Học, Gia Định, có phần phát triển, nhất là biết ý cháu nhỏ này cũng đang mơ ước chuyện đi Mỹ nên nghĩ nơi đây đáng cho mình ngỏ lời xin ở nhờ hơn.
 
Vừa nghe tôi ngỏ lời, chị không cần đợi hỏi lại con, mà thuận ngay.  Lại có con gái thứ hai, có chồng vùng Lăng Cha Cả đến thăm, mà cháu rất tán thành việc tôi về đây ở.  Người chồng của cháu này là một quân nhân của ta, người Công giáo, rất trung thực và tốt.
 
Mọi người tán thành, nên việc dọn về ở nhờ đây đã dứt khoát, trong khi chờ đợi có thể được tin con từ lâu mất tin tức, rồi sẽ hay.
 
Thế là, đến ngày mùng 8 Tết, tôi dọn hẳn lại đây.  Tại đây, thời gian đầu phải nhờ bà về vấn đề chợ búa, dù sau khi bà đi chợ mua cho những thức ăn chay, tôi tự nấu nướng lấy.  Nhưng sau đấy một thời gian, khi có được tiền bạn bè bà con gửi từ ngoại quốc về, đã chia xẻ đủ thanh thỏa chi phí của bà.
 
Sau mấy hôm, nghĩa là theo lệ, từ những ngày tháng còn ở quê nhà tại Quảng Nam, dịp Tết đến ngày Kỳ An – mà tại đây những anh em đồng hương cùng tổ chức chung vui để tưởng nhớ lại những ngày xưa cũ ở quê nhà.  Sáng 12 Tết được hai bạn Lê Bửu và Phan Bá Thôn xa nhau sau những ngày họ theo kháng chiến đến thăm, cốt mời tôi đến nhà hàng Ái Huê – Chợ Lớn chung vui cùng đồng hương.
 
Nhận lời và chiều hôm ấy đạp xe về Chợ Lớn.  Dù sau những năm tháng khổ cực, nhưng với cảnh của các nhà hàng này đối với tôi chẳng lạ lùng gì, bởi cuộc đời trước kia đã từng lên đứng “đầu voi” nên chẳng mấy ngạc nhiên trước sự sang trọng mà chắc anh em trong bữa tiệc hầu hết là những người theo Kháng chiến hơn 30 năm, đang xem chừng sự ngỡ ngàng của tôi, nếu có.  Thản nhiên bước lên lầu nhà hàng, bắt tay mọi người như chẳng có gì quan trọng hay khó chịu.  Hầu hết những người hiện diện làm khá lớn trong Chính phủ Cộng Sản mà nay đã phục viên – tức là về hưu trí – Đây, anh bạn khá thân ngày xưa, Đại Tá Quân báo, một ông bác trong họ - em chú bác với Cụ Phan Khôi – là Ủy viên Trung Ương của Cộng Sản, một chú bà con trong họ là Đại diện Phái đoàn Cộng Sản tại Hội nghị Ba Lê v.v. . .  Có thể nói, hầu hết theo Kháng chiến và làm khá lớn.  Một chú vừa bắt tay vừa cười và nói nhỏ “chỉ có hai người là tôi và anh là không theo Kháng chiến thôi!  “Vừa ngồi vào bàn, một chú người Xuân Đài bước đến bắt tay và không ngỡ ngàng, chú hỏi:
 
-         Hồi ấy, trận Phù Kỳ anh trốn đâu mà hay thế.  Chính tôi tìm anh suốt cả đêm không thấy!  Rồi chú cười không tỏ vẻ gì hằn học hay oán giận.
 
Tôi trả lời rất tự nhiên:
 
-         Hồi ấy anh làm gì mà tìm tôi dữ vậy?
 
-         Tôi là Đội trưởng Dân quân.
 
Bắt tay chú:
 
-         Tôi nói thì anh cũng chẳng tin.  Tôi là người tuyệt đối tin ở Đạo Phật.  Thấy không còn chạy đâu kịp nữa, bởi lực lượng Kháng chiến quá đông và đã tràn vào.  Tôi ngồi cạnh cửa ra vườn sau, gần một bể đựng nước, chí thành cầu nguyện xin Đức Phật Quán Thế Âm che chở cho.  Đến khi các anh rút khỏi, tôi vựơt ra ngoài thôi!
 
Họ không dễ dứt, chờ nhau lại gần tôi.
 
Đến phiên một chú bà con trong họ, đồng thời có học tôi trong những tháng nghỉ hè.  Chú này là đại diện Chính phủ Cộng Sản tại Hòa đàm Ba Lê, cấp bậc tương đương hàng Thứ trưởng, lại ôm vai tôi nói rất nhỏ:
 
-         Thôi Anh Vỹ, đừng nhớ lại chuyện cũ làm gì!  Ngưng một phút chú nói tiếp với giọng tràn đầy tình cảm – Tôi cũng chẳng dám nghĩ rằng anh sai, tôi đúng!  Chúng ta hẵng quên chuyện cũ!
 
Nhìn chú không phải để dò xét, mà để xem tự đáy lòng chú ấy có thật với lời nói ấy không?  Câu chuyện này xảy ra trước những ngày các nước Đông Âu hay Cộng Sản Nga Xô sụp đổ - nên lúc ấy tôi cảm thấy nhiều suy nghĩ về lời nói của chú!  Nếu là nay thì chuyện dĩ nhiên!  Sau đấy, còn khá nhiều người lại hỏi thăm sức khỏe, đặc biệt chẳng thấy người nào dám hỏi về sự khổ cực của những năm tháng “tù đầy”.  Đó mới là điểm đáng chú ý!
 
Đến một chuyện vô cùng hy hữu và lý thú!
 
Phan Đắc Lập – người mà sau này liên can đến vụ Dương Thu Hương nên bị Chính phủ bắt giam khá lâu, may nhờ báo Tuổi Trẻ lên tiếng kêu gào về công lao và Đảng tịch của chú nên mới được trả tự do – đã đứng lên nói khá lớn:
 
-         Hôm nay là ngày vui, ta phải nói rằng Phan Vỹ là mũi nhọn (!) của bữa tiệc.  Tôi xin có ý kiến hỏi tất cả bạn bè, bà con có ai biết, nghe Phan Vỹ trước đây có giết ai chưa?
 
Dù gan dạ đến đâu, nhưng nghe Lập hỏi câu ấy, tôi hơi chột dạ, lo ngại, chưa biết việc gì sẽ xảy ra đây!  Và cũng như những ngày nào, chuẩn bị một thái độ.
 
Lập hỏi đi, rồi hỏi lại đến lần thứ ba:
 
-         Đây là lần thứ ba tôi muốn lập lại và hỏi thêm rằng:  “Có ai nghe, ai biết Phan Vỹ trước đây có giết ai không?  Và cũng muốn hỏi thêm rằng:  Có ai biết Phan Vỹ đã từng làm đau khổ, hành hạ ai không?”
 
Ngưng một phút, thấy không ai lên tiếng, Lập lại tiếp:
 
-         Tôi hỏi đến 3 lần, chẳng thấy ai trả lời!  Vậy ta có thể xác nhận rằng trước đây trong mọi người chúng ta ai cũng nghe đồn Phan Vỹ là tay hung ác nổi tiếng, nhưng nay không thấy ai đưa ra một bằng chứng nào cả.  Tiếng đồn chắc hẳn không phải là không có, nhưng đồn thì có mà hành động thì không.  Phan Vỹ ngày ấy không nổi tiếng thì chắc anh ta đã phải bị giết bởi chính trong hàng ngũ anh ta rồi. Vì vậy, chúng ta phải thấy cái hay của Vỹ!  Tôi muốn đem việc ấy ra đây nói là bởi, ngược lại, Vỹ đã làm một hành động mà trong chúng ta không ai dám làm, bởi nếu chúng ta làm là bị kỷ luật, kiểm điểm ngay!
 
Mọi người đang ngạc nhiên lời nói của Lập, thì anh đã thong thả kể rằng:  “Ngày ấy Phan Vỹ đang là Quận Trưởng Quận Tam Kỳ.  Một hôm vào meeting tại xã Kỳ Trân mà Chủ tịch xã này khét tiếng là sát Cộng.  Trước lúc được Hội đồng mời lên nói chuyện với dân chúng, Vỹ thấy Cha tôi đang ngồi trong đám dân chúng, anh bước lại gần và hỏi nhỏ:  Chú ở đây có bị làm khó dễ gì không?”
 
Phan Vỹ hỏi Cha tôi câu ấy, vì tại đây ngoài Cha tôi còn hai ông nữa cũng có con theo Cộng Sản và làm khá lớn.  Cha tôi e ngại nên chỉ trả lời:  “Khó cũng chẳng khó, mà dễ thì cũng chẳng dễ”.  Thế là đến lúc được mời lên nói chuyện với dân chúng, sau những chuyện thường, Vỹ quay lại các Hội đồng mỉa mai rằng:  “Các ông Hội đồng không nên vì thấy một vài vị tại đây có con theo Cộng Sản mà cứ khư khư cố chấp, thì chẳng bao giờ giải quyết được tình trạng xây dựng quê hương.  Các ông nên nhớ rằng - Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.”  Những năm tháng sống với Cộng Sản họ phải phục vụ cho Cộng Sản.  Và con làm con chịu, chẳng can dự gì đến cha mẹ.  Các Ông phải có quan niệm rõ ràng ấy để bỏ qua chuyện cũ đi.  Thế là dưới này từ cha tôi đến hai bác kia đều nhìn nhau một cách nhẹ nhàng và cũng chính từ ngày ấy, chẳng còn bị ông Chủ tịch Xã Kỳ Trân ấy gây khó khăn nữa.
 
Đấy, các bà con có nghĩ rằng trong chúng ta có ai làm được việc như Phan Vỹ không?
 
Bữa cơm đầu năm ấy tại nhà hàng Ái Huê, trong đám Cộng Sản hầu hết là những tay Kháng chiến quan trọng, không thể bảo là vì thân thích mà che chở tội lỗi cho mình.  Thật là cả một an ủi, một điểm son cho những ngày đầy uy quyền, luật pháp còn lỏng lẻo, mà mình có quyền ghi lại cho tuổi trẻ con cháu khi đọc lại, khi nhắc đến mẩu chuyện này.
 
Không riêng những ngày còn kháng chiến, mà ngay cả sau này, thời khởi đầu của Đệ Nhất Cộng Hòa được Tổng Thống Diệm thương mến, dù chống đối với ông Cẩn khi mà xung quanh ông quá nhiều tay chỉ biết nịnh nọt để hư cả một chế độ, lòng vẫn trong sáng, chịu nghèo nhưng không làm những điều trái với lòng mình, mà người tin ở Đạo Phật nghĩ là “thất đức.”
 
 
 
 
 
 
 
 
Những ngày bầm dập, trước khi được ra đi . . .
 
 
Được tin anh ra khỏi tù, cô em gái từ Tam Kỳ đã thu xếp dẫn con vào thăm.  Cháu Bình, xem như đứa con đáng thương.  Phin, đứa con đầu lòng đã chết lúc vào tù sau ngày đảo chính 11 – 11 – 1960, nhắc lại chú con nuôi Phan Minh Hùng và cô con gái sau, nay chẳng biết trôi giạt nơi nao?
 
Riêng bà vợ ở Bà Rịa, sau ngày ra Hà Tây thăm được trao cho hơn lượng vàng về, nghe đâu mua bò nuôi bị đám Cán bộ làm khó bắt giam, bò cũng mất, Cô ấy lại lấy tên Cán bộ Nông nghiệp và đi khỏi đây từ lâu.  Lòng không muốn oán ai mà chỉ lo nhớ để trả ơn những người đã cưu mang, nên không cho em, cháu nhắc đến chuyện bà ấy nữa.
 
Trong giai đoạn này, anh bà con, chú ruột của Phan Bá Phụng, anh Bảy Quy, đã thường xuyên giúp đỡ tiền bạc, bởi anh nhờ con cái ở Mỹ gửi về.  Anh lại luôn cầu mong tôi sớm ra đi để hưởng chút sung sướng sau bao ngày gian khổ.
 
Từ lâu, nghèo cực thì chẳng sao. Nay có chút tiền Chị tôi lại mờ lần đôi mắt, trong khi vẫn còn làm cho chị chủ cũ, nghĩa là hàng ngày qua chợ Phú Định giúp chị ta bán “bún riêu”.  Mắt Chị kém là điều đáng lo ngại, khi phải đi qua đường.
 
Biết chuyện, anh Bảy Quy ngỏ ý đưa Chị đi mổ cườm mắt tại nhà thương Saint Paul tốn kém bao nhiêu anh sẽ đài thọ.
 
Vô cùng cảm kích lòng tốt của anh, nhưng vừa về đến nhà, nhận được giấy báo có tiền của chú em bà con cô, cậu Nguyễn Văn Bách ở Úc gửi cho 100 tiền Úc.  Lúc bấy giờ tiền Úc 100 đổi ra được 100 ngàn tiền Cộng Sản, nên đưa Chị đi khám và để mổ mắt.
 
Anh em rủ nhau mua hồ sơ đăng ký đi Mỹ.  Tôi cũng lại Ty Công An Bình Thạnh.  Họ từ chối vì lý do:  “Chỉ giải quyết cho diện Quân nhân, Chính trị chưa có lệnh”.
 
Lại đi về thôi!  Nhưng mấy hôm sau, hai anh Vũ Văn Vi và Phạm Nam Khanh cũng cùng diện đảng phái, cũng cấp bậc cao và cũng cùng trong quận này cho biết đã mua hồ sơ, đã nộp và có biên nhận rồi.  Lại đến lần nữa và họ lại từ chối:
 
-         Đấy là trường hợp hôm nhiều công tác xuất cảnh, các đồng chí được tăng cường không nắm vững, nên khi thấy đưa giấy “ra trại” tức là giấy tha về là bán hồ sơ.
 
Và khi họ đem đến nộp thì thu vào cất đấy thôi chứ không giải quyết.
 
Lại trở về!  Tôi xin chính thức cư trú, địa phương từ chối, và sau mấy hôm nhận được giấy họ buộc phải trở về Đồng Nai sống chứ không được ở thành phố!
 
Chạy hỏi thì đâu, đâu cũng từ chối, tôi nghĩ đến việc từ giã anh em để lo chuyện phải sống.
 
Khi đến từ giã anh chị Nam, kể rõ câu chuyện này, (ngày ấy chị Nam còn sống), anh Nam quay hỏi vợ:
 
-         Anh có thể giúp việc cư trú này chứ?
 
Tôi nghĩ chị Nam có người bà con làm việc, mà người này trước đã xin và bảo đảm cho anh Nam về, khi chị Nam được báo đau ung thư, như đã nói ở đoạn trước.
 
Có lẽ chị gật đầu, anh ngỏ ý:
 
-         Thôi được anh cứ đi chơi mươi hôm, tôi sẽ chạy xin, nếu được sẽ báo tin anh.
 
Bàn với anh Nam là đi Vĩnh Long, xuống cháu Bình chơi, và nếu anh xin được thì tin cho bà Chị tôi đang ở nhờ, điện báo sẽ về ngay.
 
Đi Vĩnh Long chơi, sau một tuần lễ, được điện về gặp anh Nam.  Anh chỉ tôi lại gặp người bà con để nhờ họ giúp đỡ can thiệp.
 
Họ lấy lý do, già không nơi nương tựa, cho ở lại thành phố.  Bạn bè ở ngoại quốc từ từ gửi tiền về cho.  Người thường xuyên cho và cho nhiều là Phan Giản, vừa là bà con, mà cũng là người cùng bị đánh bắt trong trận Phù Kỳ năm 1952, cùng bị giam chung với gia đình tôi.  Giản lại đã chứng kiến cái chết đau khổ của vợ tôi tại nhà Lao Thăng Lãnh, quận Thăng Bình.  (Sau này ngày sang Mỹ, Giản đã giúp rất nhiều, sẽ nói ở đoạn sau.)
 
Những người giúp cho như anh Bảy Quy, bà cô Trợ Bậc, hay cả chú con anh bạn là Nguyễn Cả, vì nhớ lại chút ân nghĩa cũ, cũng không quên.
 
Cuộc sống không còn túng quẫn nữa, chưa nói là khuyên bà Chị không làm mướn nữa, chờ ngày tươi sáng hơn, khi mình qua Mỹ.  Những người ân, làm sao quên được!  Rồi một hôm ghé nhà anh Phan Ngô chơi, nghe kể chuyện bị từ chối về hồ sơ xuất cảnh, anh khuyên:  “Nên làm một lá đơn, không phải để khiếu nại, mà để phân bua rằng có đến mua hồ sơ, nhưng họ từ chối.”  Nói như thế, cốt để sau này họ sẽ bào chữa là bán hồ sơ công khai, nhưng mình không muốn đi, lúc ấy khiếu nại với ai được nữa.
 
Làm y lời anh Ngô chỉ, gửi Công an Thành phố.  Một tuần sau, lúc đang nằm chơi ngoài sân được chú Công an đến:
 
-         Ngày mai đến Công an quận Bình Thạnh giải quyết vụ hồ sơ xuất cảnh!
 
Sao lại có chuyện lạ lùng vậy?  Và nếu không nghe lời anh Phan Ngô chỉ, thì sau này sẽ ra sao?  Lối làm việc như vậy người dân chỉ có nước chết!
 
Hôm sau đi Công an, họ bán như hội chợ, tha hồ mua!  Thế nghĩa là thế nào?  Đồng thời, lúc này báo Công an đăng tin những người có con nuôi cũng được khai xin đem theo.  Tôi bảo đứa cháu gái, con bà Chị, đang ao ước được đi, chuẩn bị lo hồ sơ cùng đi.
 
Thì một chuyện buồn xảy đến, nhớ rõ hôm ấy là ngày chủ nhật, gặp cháu Trịnh Gia Minh báo tin Hòa thượng Thích Tâm Chơn vừa được đưa vào bệnh viện và đã qua đời.  Một tang lớn cho Phật tử chùa Pháp Hoa và cả cho tôi.
 
Về lo tang lễ cho Thầy, nhưng cũng trong dịp này tìm được đứa con gái từ trước bởi gia đạo không an, và cũng bởi tình hình Cộng Sản, nhờ một người bạn chí thiết nuôi dưỡng tại miền Tây.  Gặp lại, vui mừng khôn xiết và cũng từ ngày ấy dọn về ở với con.
 
Cháu ở Gò Vấp, dù không đầy đủ lắm, nhưng không lo, bởi có bạn bè như đã nói.  Cái vui nhất là nay cháu không còn mặc cảm như trước, bởi biết bà vợ trước tái giá, chung sống ở Bà Rịa nay dã có chồng khác.
 
Nói đến hồ sơ xuất cảnh là cả một bầm dập đã phải chịu với Cộng Sản.  Họ buộc phải ra tòa để lo đủ thủ tục ly dị với bà vợ trước đã sống ở núi Ông Trịnh, dù chính bà ấy bị Việt Cộng bắt sau khi đi Bắc thăm về, có chút tiền rồi lấy tên Việt Cộng đi mất.  Thế là phải chạy ra xã Phước Hòa xin Công an xã chứng nhận, bà ấy đã có chồng khác.
 
Tưởng thế là yên, thì vài tháng sau họ lại gọi đến bảo phải trở ra Phước Hòa xin xác nhận bà ấy không còn hộ khẩu tại địa phương.
 
Thật là cả một đòi hỏi vô cùng lạ lùng, bởi đã có những chứng nhận trước rồi.  Nhưng ở hoàn cảnh mình, đâu dám phản đối, lại phải chạy ra Phước Hòa.  Mà, mỗi lần ra xin, dù là một chuyện đơn giản đến đâu cũng vậy, đâu phải nói chuyện tày, lại ăn chay, không nhậu nhẹt, phải gói thuốc thơm là cái chắc.  Nhưng rồi cũng xong!  Mấy hôm sau, họ lại đòi đến đem bản thông báo ra nhờ xã niêm yết:  “Nếu bà ấy không ra hầu tòa, xem như tòa sẽ xử vắng mặt.”
 
Mỗi lần ra Phước Hòa, nhìn thấy vườn cũ nơi chân núi Ông Trịnh với bao gian khổ trước kia mà đau lòng.  Họ ngang nhiên để cho bà ấy bán, dù đất đai, vườn tược đều do tên tôi đứng nộp thuế.  Và nhân đó họ mới cho người vào ở đây để rồi lại mua bán, vì là nơi dễ bán nhất, khi mà Vũng Tàu là vùng khai thác dầu mỏ.
 
Hồ sơ xuất cảnh hoàn tất, như đã nói:  “Trầy da tróc vẩy”.  Lúc này Hạnh, đứa con nói trên, đã được một người bỏ vốn cho mở tiệm bán đồ điện ở khu Ngã Năm khá thành công.
 
Nhờ vào đấy, thêm sự ủng hộ của vài bà con như chị Năm đường Nguyễn Minh Chiếu cho mượn, hay vài người từ Mỹ về thăm nhà giúp đỡ như vợ anh Tiến sĩ Nguyễn Đình Tuyến, tôi đã giúp cháu xây dựng lại nhà cửa khá khang trang, mà nghĩ rằng nếu cháu không đi Mỹ được (bởi khác hộ khẩu) thì sẽ gửi tiền về, và sau sẽ tìm cách bảo lãnh.
 
Trong lúc này Thầy Thích Thanh Long chùa Giác Ngạn, trước có đi tù vì là Tuyên Úy Phật Giáo viên tịch.  Những anh em có đi tù, biết Thầy cũng như Phật tử, đã tổ chức lễ tang Thầy khá long trọng.
Việc hồ sơ xuất cảnh đang đi vào giai đoạn chịu tốn kém!  Hai quận Bình Thạnh và Phú Nhuận ác ôn nổi tiếng!  Mỗi hồ sơ phải chịu tốn một chỉ vàng mới chịu chuyển đi Nguyễn Du.  Rồi lại có tin đăng ký tại đường Võ Tánh!  Phải gắng chạy với anh em.  Họ sao mình vậy!  Nhưng rồi Võ Tánh lại không nhận hồ sơ nữa.  thì chú Sang đến chỉ cho một đường dây khác, tốn hai chỉ để mong họ nhận hồ sơ, không kể còn phải đóng tiền khi muốn chuyển ra Hà Nội.  Đấy!  chuyện giấy tờ của những kẻ cùng cực còn là vậy, thì sau này chuyện làm ăn đầu tư dễ gì qua được tay Cộng Sản.
 
Về hỏi lại cháu Truyền, con bà chị ở nhờ trước đây cùng hộ khẩu, cháu hứa chịu tốn hai chỉ cho xong việc.
 
Hôm sau, tìm đến Sang, được chú kể cho biết là chú vừa tốn hai chỉ nay đã xong.  Nhưng theo chú, anh em bày lên cư xá Thanh Đa hỏi anh Nguyễn Lý Tưởng sẽ biết cách khác, khỏi tốn hai chỉ.
 
Theo lời Sang, lên Thanh Đa.  Một trò khá lý thú, không tốn hai chỉ lại đạt kết quả ngoài mong muốn!
 
Khi nhận được hộ chiếu, biết mình thuộc diện H.O. 19.  Vài hôm sau, trong số báo Công an Thành phố:  “Theo yêu cầu của Phái đoàn Mỹ, một danh sách sẽ được ưu tiên cấp hộ chiếu”, mà theo dư luận của anh em thì đây là dành cho những người ở “lâu”, diện R.D. 2, mà vài người đã suy luận là viết tắt của những chữ “Rapid Départure 2”.  Trong danh sách này chỉ vài hàng đầu đã có tên tôi!  Nhưng hơi khác là họ trước, tên sau như kiểu Việt Nam chứ không phải như bạn bè theo lối Mỹ, tên trước và họ sau.  Nhưng chẳng cần đính chính!
 
Vài tháng sau có tin trên báo là sau khi Phái đoàn Mỹ họp với Cộng Sản Việt Nam tại Bangkok, chúng tôi được cứu xét đặc biệt nên được đổi thành H.O. 15 thay vì H.O. 19 như trước.  Thế là chỉ còn chờ ngày phỏng vấn.
 
Ngày ấy đã đến!  Dẫn cháu Truyền cùng đi, nhưng dặn Hạnh cũng nên đến ngồi chờ dưới phòng, may ra xin được càng tốt.
 
Vào phòng, gặp Bà Trưởng Phái đoàn, người khó nổi tiếng mà nhiều người đã nghe đồn, hơi lo!
 
Quả nhiên khi trình bày sự việc, Bà không chịu cho cháu Truyền đi với lý do H.O.  không chấp nhận cho cháu, mà chỉ là vợ chồng, cha mẹ, con ruột thịt thôi.  Thường nghe một người bà con với cháu Truyền, con anh Huỳnh Hòa, có làm cho Mỹ, đến chơi kháo tin, và ngay cả báo chí Cộng Sản cũng loan tin, những nguời nuôi mình cũng được đem theo, nên tôi hết lời khẩn khoản trình bày là cháu Truyền có công nuôi suốt 13 năm tù.  Nhưng sự thực thì chính Chị tôi nuôi, chỉ đến ở nhờ cháu sau ngày ra tù.  Nhưng Bà không chịu, Bà giải thích là việc nuôi anh là ơn riêng, sau này anh trả, chứ trong luật không có chuyện ấy.
 
Khi nghe Bà nhắc tới chuyện con ruột, tôi khéo léo trình bày là “có” nhưng vì thất lạc, nay mới tìm ra, không cùng hộ khẩu.  Bà vui vẻ chấp nhận ngay và quay lại nói với người Thông dịch bên cạnh cho con tôi khác hộ khẩu lại văn phòng đường Võ Tánh điều chỉnh.
 
Truyền cố trình bày hoàn cảnh gia đình cũng chống Cộng, Cha bị Cộng Sản giết, Mẹ trước có bị Cộng Sản giam cầm, mà Truyền quên rằng người Thông dịch ngồi đây là nhân viên của Cộng Sản.  Câu chuyện càng bị sớm gác lại, trong sự uất ức của Truyền.
 
Tôi ra về, xuống phòng dưới, nơi có Hạnh đang ngồi chờ, báo tin và lo chạy về văn phòng đường Võ Tánh điều chỉnh hồ sơ.
 
Sau câu chuyện này, anh em nghe biết ngạc nhiên và thường nhắc rằng chỉ có hai người, một anh Đại Tá nào đấy ở Sông Bé và tôi là được Bà này cho đặc ân lạ lùng.
 
Bạn bè cháu Hạnh chạy lại mừng cho cháu, nhất là họ biết từ lâu cháu đã tìm đủ cách không được thì nay may mắn bất ngờ đã đến.
 
Lại cũng như trường hợp cháu Phin có nói trong tập I, vài người đã đặt câu hỏi là “con nuôi hay con đẻ” buộc lòng tôi lại phải giải thích nguyên tắc “có phước cùng vô phước”, bởi con đẻ chưa chắc đã bằng con nuôi, mà thế gian đã lắm chuyện xảy ra trong sự kiện này và ra đi một mình để những ngày đau yếu, những lúc xuôi tay ai lo cho?
 
Sau này, qua đến Mỹ, lời tôi đã được minh chứng khi mà chẳng ai lại không nghe chuyện con nghe lời Mẹ nỡ đánh Cha, đi chứng thương và suýt ra tòa, nếu không có bạn bè khuyên giải, con đuổi Cha ra khỏi nhà, dù đã học hành cũng Kỹ sư như ai, con theo Mẹ bỏ Cha v.v. . .  nào thiếu.
 
Sau đấy là bữa cơm chay khá, chứ không phải chỉ tương chao, được mời bạn bè đến dự chia tay.  Trong bữa cơm, điều làm mình khó quên là khi một chú bà con tên Phan Nhẫn theo Cộng Sản làm gần như Thứ Trưởng, đã nghiêng tai nói nhỏ:
 
-         Anh đã chọn đúng con đường để đi.
 
Đây là lần thứ hai chú đã nói.  Nhã nhặn không cười, nhưng hiểu ngay Nhẫn muốn nói gì.  Phải chăng theo Mỹ có khác hơn là theo Nga như các chú ấy!
 
Sau một thời gian, Hạnh làm xong các thủ tục bổ túc, thế là hoàn tất việc xuất cảnh, Truyền lên tiếng đòi phải trả năm chỉ vàng, Hạnh lo chạy trả cho yên chuyện.
 
Nhưng còn một cửa ải mà anh em ra đi ai nghe cũng ngán.  Đấy là giấy tờ của Sở Nhà đất.  Chính tại đây mới chứng minh mình không còn nợ nần, không dính líu hoặc xem như đủ điều kiện xuất cảnh.
 
Bởi nghe chính bọn chúng trả lời, tôi không có nhà cửa gì, còn cháu Hạnh thì chỉ mới gia nhập hộ khẩu một thời gian quá ngắn sau này, nên cháu được quyền bán.
 
Vì lẽ ấy, một chú Nha sĩ của Việt Cộng đến thỏa thuận mua.  Nhưng khi đến Sở Nhà đất không thuận với lý do thuộc về người mua, vì thời hạn cũng đã quá gấp, cháu Hạnh nghĩ chỉ còn cách là làm giấy ủy quyền cho Ba nuôi của cháu mới mong đi kịp thời hạn.
 
Nhưng không dễ như ta nghĩ!  Trước hết là họ moi móc, bảo rằng trước kia tôi khai về nhà ở Phú Định, nhà bà Chị đang làm mướn thì nay phải xuống đấy để được Công an xác nhận.  Họ viện lý do là có thể đấy là nhà của tôi(!)
Quá uất ức, nhưng cũng đành chạy xuống Công an đường Hậu Giang xin chứng nhận.  Lúc này lại đến mấy chú Công an ở đấy viện lý do hết giờ.  Gần như uất ức muốn khóc, nhưng nghĩ có nổi nóng như lúc ở tù thì cũng chẳng lợi gì.  Hai giờ sau nhận được tờ giấy đem lên.  Trong khi đang chạy tơi bời như vậy thì Sở Nhà đất lại ra văn thư “chưa đủ thủ tục” và hủy chuyến máy bay không cho đi, thông báo cùng khắp.
 
Thế là không sao dằn được cơn tức giận, nhất là lúc này lại nhớ hôm chú Sang sắp đi cũng đã cho biết:  “Xí cô hồn” cho bọn chúng.  Nhà của chú trên Xóm Mới là nhà vợ chú tạo ra trong khi chú đi tù, nghĩa là vợ chú có quyền bán, nhưng bọn chúng gạ gẫm vợ chồng chú chịu nhận 4 cây vàng thay vì đã chịu bán cho người khác 9 cây, thì lấy giấy tờ yên thấm ra đi.
 
Nhớ lại câu chuyện chú Sang đã kể, trước khi bán cho bọn cô hồn ác ôn ra đi, tôi muốn nổi điên lên!
 
Vào gặp tên Trưởng Phòng Chính Sách.  Gã vừa mở miệng đổ lỗi làm trễ, tôi rút ngay trong túi ra một tập sổ con.
 
-         Ông xem đây!  Kẻ đã viết quyển “Cẩm nang Hành Chánh của Miền Nam trước kia, tất nhiên tôi không dốt về Hành Chánh!  Đây đã ghi rõ ngày nào đến gặp ông, ông bảo gì, tôi đã làm gì.  Rồi sau đấy và mãi đến hôm nay, như vậy tôi có làm trễ đâu?
 
Y vừa định nói thêm, tôi dằn lại khi muốn chửi ngay vào mặt bọn chúng tội tham nhũng của Sở Nhà đất, nhất là đem ra vụ của Sang, vụ của anh Đại Tá Đức v.v. . .
 
Cố dằn lại, mà chỉ khoát tay, nói giọng đầy phẫn uất, nhưng cũng đầy thách đố!
 
-         Tôi không tranh luận với các anh!
 
Hầm hầm bước ra ngoài, gặp cháu Hạnh tôi bày cháu:
 
-         Bố đã chém nó, thì con nên vào cho thuốc!  Đấy là thủ đoạn ở đời!  Con vào nói với nó:  “Bố tôi đã nổi tiếng là nóng nảy, vậy xin ông đừng chấp làm gì!”
 
Đúng như dự kiến, khi cháu Hạnh vào được chính gã này trách tại tôi buộc tội gã bê trễ.  Nhưng sau khi lên hội ý với tên Giám đốc, y trở xuống hẹn với Hạnh ngồi chờ đánh máy lại bản văn.  Đây cũng là một kinh nghiệm!
 
Lúc ấy gần tan sở, ngồi chờ một lát, bản văn làm xong, gã yêu cầu phải chạy báo tin Sở Ngoại vụ, Văn phòng I.O.M.  Xong mọi việc, về nhà thu xếp để khuya lên phi trường.
 
Tưởng thế đã yên!  Nhưng khi lên phi trường theo anh em chỉ vẽ, chịu hối lộ 50.000đ00 để khỏi xét hành lý, đành làm theo.
 
Và, lúc ra phi trường bỏ sẵn tiền như đã được chỉ bày để hối lộ cho trạm cuối cùng.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG VIII
 
NHỮNG KINH NGHIỆM SỐNG TRÊN ĐẤT MỸ
----------------
 
-         Tại sao sau 2 ngày hành lý mới được nhân viên hàng không đem lại?
 
Sau một ngày ghé lại Hongkong, Nhật Bản rồi qua Seattle, trước khi ghé ngang Chicago để về Thủ Đô Wasshington.
 
Đến phi trường Dulles Washington giữa đêm khuya, đèn đuốc làm tôi lóe mắt.
 
Vừa bước qua khỏi cửa, nhận ra ngay người sponsor, anh bà con bạn dì, mà lúc trước khi được Phái đoàn phỏng vấn, từ chối người cháu ruột của ông này có nói ở đoạn trước – bởi lẽ H.O. không cho đem cháu, vì cũng là cháu bạn dì, thì tôi đã gửi thư sang Bangkok và I.O.M. không đi theo ông, vì cháu này không chịu thông cảm lời từ chối của Phái đoàn phỏng vấn đâm ra oán hờn tôi.  Nhưng có lẽ, vì hoặc ông vẫn giữ lập trường đỡ đầu cho tôi, hoặc vì Mỹ muốn tôi phải đến một nơi có người quen, nên nay thấy ông ra đón.
 
Chờ lãnh hành lý, máy chạy hai vòng vẫn chưa có, tôi đề nghị ra về mai hãy hay.  Hai ngày sau, một người Mỹ chở đến trước cửa gọi ra nhận.  Đến đây tôi mới vỡ lẽ!
 
Cái trò, không biết nên dùng “danh từ” gì cho đúng để chỉ đám Cộng Sản bên nhà, khi thấy tất cả hành lý được giữ lại để xét, bởi dây “ràng” gây giờ là dây tại Nhật Bản.  Giở ra xem và như đã dự trù bọn quỷ Cộng Sản Việt Nam, nên trước khi đậy thùng lại, đều có để một mảnh giấy bằng tiếng Anh, đại ý nói:  “Sau lời tuyên bố của Cộng Sản Việt Nam năm 1987, tôi không hy vọng ra khỏi Việt Nam, nhưng nay nhờ Tổng Thống Reagan cử Tướng hồi hưu Vessy sang mà chúng tôi được ra đi.  Chúng tôi rất biết ơn nước Mỹ” đã bị chúng lấy mất.
 
Nghĩ “càng hay”, bọn chúng càng hiểu mình hơn!
 
Hôm nay sống trên đất Mỹ, việc đầu tiên là phải học cho thông thạo ngôn ngữ người Mỹ và lo cho con một quyết dịnh sáng suốt về tương lai.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Sáu tháng sống vô bổ tại MARYLAND
 
 
Hỏi anh sponsor để được đến trường Northwood Center, nơi dành riêng cho người tị nạn, hai bố con cùng học.  Và lo cho xong các thủ tục trợ cấp.
 
Học thì thú thật, bởi hàng ngày đến đây gặp toàn những người cùng hoàn cảnh như mình, mọi nhu cầu đều được cung cấp thời gian đầu, còn gì phải lo nghĩ mà không cố học.
 
Còn thủ tục trợ cấp thì khá gian nan, bởi anh sponsor này trước đã tính sai cuộc sống, không cờ bạc, không rượu chè, không đàng điếm, nhưng nay chẳng biết sao nợ quá nhiều.  Mỗi lần anh chở đến sở Xã Hội, xin được “số” ra xe nằm ngủ, bởi suốt đêm phải đi làm, khi nào sắp đến số mình thì ra đánh thức gọi anh vào giúp, bởi lúc ấy chưa quen, Anh văn lại quá kém.
 
Lận đận suốt nửa năm, lại là một năm “tuyết” khá đậm.
 
Có lẽ ảnh hưởng tu tập trong tù, nên đầu óc tương đối khá sáng suốt.
 
Đây là câu chuyện chú “gà rừng” trên đất Mỹ đã khó quên!  Không lâu sau, tự nhiên từ đâu, một chú gà rừng đến luẩn quẩn và ở như đã nuôi quen tự bao giờ.  Đây là gà rừng thật sự, tôi không lạ lùng với cái “tách trắng” đã nhìn trước kia hàng ngày ở núi “Ông Trịnh” mà trên đất Mỹ đâu có chuyện lạ lùng ấy.
 
Cảm thấy một chuyện khác thường, nhưng không nói gì mà chỉ khuyên anh chủ nhà nên cố niệm Pháp Hoa hàng ngày.
 
Gà rừng đen, tách trắng, không nhầm được, đã đến quấn quít hàng ngày để chờ được cho ăn, mà bạn bè ghé chơi không ai chẳng ngạc nhiên.  Tôi rất thương chú và đã có lúc hỏi để biết căn nhà này trước kia của ai, để đặt nghi vấn là biết đâu chủ nhà đã chết, còn luyến tiếc, mà chưa nỡ rời nơi đây.  Nhưng khi được giải thích rằng, đây là đất Mỹ, ai chết cũng đưa vào bệnh viện, chứ đâu như tại Việt Nam mà nghi ngờ.
 
Cho đến một hôm Phan Giản, có nói trong tập I, nay làm ăn khá tại Cali, hay tin tôi sang Maryland, gọi điện thoại liên lạc, mua hai vé máy bay cho hai bố con về Cali chơi.  Khi chuẩn bị ra đi, anh chủ nhà, người đỡ đầu đã đưa ra nhận xét là chúng tôi ra đi nhưng chắc sẽ không về lại, vì trước đây có người nhắc đến bà con khá giàu ở Cali sẽ giữ lại.  Nhưng chúng tôi đã dứt khoát sẽ trở về Vùng Thủ Đô.
 
Về Cali được Giản đón, tạm dẹp mọi việc làm ăn cho người Quản lý, đưa hai bố con đi thăm bà con, đi chơi thăm Chùa Vạn Phật suốt cả tuần lễ.  Phụng, người cháu có nói trong tập I đưa bố con về chơi, và vợ Phụng nhắc lại chuyện năm xưa ra thăm tại Nam Hà với ý đẹp, nghĩ đến chuyện tu hành cho, nhưng phải giải thích vì nghiệp chưa xong, lo Hạnh tạo xong cuộc sống, lòng chẳng yên, đành gác lại.
 
Trong một đêm tâm sự, hỏi Giản để biết là lúc còn ở Việt Nam nghe Giản là chủ của rất nhiều tiệm Phở Hòa.  Nghe vụ này bị bắt lôi thôi lắm, sao nay thấy chú vẫn tỉnh bơ chẳng gì rắc rối, thì được Giản giải thích là chú ấy chỉ là Cố vấn kinh nghiệm nghề nghiệp, còn chuyện lôi thôi pháp lý, là chuyện tiền bạc, Giản không can dự gì.
 
Khi sắp ra về, Giản dẫn cháu mua cho đủ thứ và bỏ túi một ít để về mua chiếc xe cũ đi lại.
 
Thật đã đúng như câu “Phù Kỳ đau khổ sao quên được, Mỹ quốc ân tình hẳn nhớ dai!”  Đã nhờ họa sĩ Vũ Hối họa trên đĩa gửi chú làm kỷ niệm.
 
Trở về Maryland, anh chủ nhà không khỏi ngạc nhiên, khi nghe kể cả câu chuyện Giản cố giữ lại sống với chú, mà tôi đã trả lời ra sao.
 
Mùa tuyết qua, tạm dễ chịu, nên thường đi chùa Giác Hoàng.  Mọi đi lại lúc này thường nhờ anh Nguyễn Văn Thắng, bạn anh chủ nhà, nhất là hay nhờ vả anh, từ việc tìm mua thuốc men bởi chưa xong các thủ tục.
 
Học ở Northwood Center sắp qua, vì đã xong lớp cuối, trong khi ấy Hạnh lên lớp này với bà giáo Ellen, một bà giáo rất tốt, đặc biệt thương người tị nạn Việt Nam.
 
Thì một sáng, Giản nhờ một chú em có tiệm buôn ở Virginia qua thăm chừng bố con.  Lúc đến nơi, chú thấy tôi nằm ngủ nơi phòng khách, trên chiếc sofa, nên bàn chuyện chở về Virginia sau một câu nói đầy tình cảm “Anh Giản đã nhờ tôi thăm Chú và Hạnh, nay anh lên thấy Chú ngủ trên sofa, chắc sẽ không vui đâu.  Để chở Chú về Virginia, gần nhà tôi cho tiện!”  Thế là anh ta hẹn ngày trở qua, mà tối hôm ấy tôi đã báo tin với anh chủ nhà chuyện di chuyển.
 
Đang chờ ngày chuyển về Virginia thì câu chuyện chú “gà rừng” xảy đến.  Hôm ấy, sau khi đi chợ về, trời đang mưa lâm râm, thấy chú ‘gà rừng” kêu rối rít, hốt hoảng như đang bị ai rượt đuổi, của một sự cố đặc biệt nào.  Có thói quen hay nói chuyện với thú vật như đang nói chuyện với một người vô hình nào, tôi lên tiếng bảo gà “yên trí!  Ông cất đồ xong sẽ đem con vào nhà!”  Vì tôi nghĩ gà đang chạy mưa.  Nhưng lúc đang cất thức ăn vừa mua ở chợ về, thấy qua cửa sổ một đàn quạ la hét inh ỏi trên bờ rào.  Tôi nghĩ:  “hay là lũ quạ cố bắt gà chăng?”  Vứt đồ chạy ra ngay, nhưng vừa đến sân, thoáng thấy một chú “diều hâu” hung ác đang rượt gà vào bụi cây, gắp ngay được gà, và phóng bay mất, trong sự ngơ ngác của đàn quạ.  Đàn quạ vẫn vang hét như một trận giặc, nhìn theo diều hâu bay mất!
 
Linh cảm ngay trước sự việc, tôi yên lặng niệm chú “Vãng sanh” cho gà.  Miệng niệm, nhưng lòng như chua xót trước cảnh một người thân vừa bị hại.
 
Vào nhà kể cho con nghe và anh chủ nhà vừa về, tôi tường thuật đúng sự việc, với kết luận:  “chú gà có duyên nợ với tôi, nay tôi phải rời đây ra đi, nó đã được giải thoát”.  Và không quên nói rõ:  “ở đây chẳng ai nỡ ăn thịt một chú gà con, toàn xương với da ấy, thì chuyện giải thoát bởi chú diều hâu là lẽ đương nhiên vậy.
 
 
TIN ĐAU BUỒN:
 
Khi biết tin người Chị thân thương nhất đời ra đi vĩnh viễn.
 
Bỗng một tối, điện thoại từ quê nhà, cháu Phan Phúc Bình báo tin Chị tôi qua đời.  Như một tiếng sét đánh, bởi Chị đã đau khổ quá nhiều vì tôi, chưa được một ngày sung sướng, nay chẳng còn.  Trả lời cho Bình biết, tạm mượn tiền ai “lo liệu tang ma cho Cô chu đáo và khỏi buồn lòng Cô, Cậu sẽ gửi tiền về ngay ngày mai!”  Sẵn tiền Giản vừa cho, chưa mua xe, ngày mai gửi ngay về cho Bình.
 
Đầu óc bây giờ là lúc liên miên nhớ lại cuộc đời Chị!
 
Chị đã bị tù sau ngày tôi thoát qua Vùng Quốc Gia cùng cả gia đình, Chị lại bị tù lần thứ hai sau trận Phù Kỳ (1952) mãi đến sau Hiệp định Genève, Chị sống gian khổ, không hề biết ăn món ngon, nhất là sau 13 năm tù tại đất Bắc, Chị đã làm thuê làm nướn gửi quà cho, thậm chí bạn bè không khỏi ngạc nhiên, khi vợ đã lấy chồng khác.
 
Cuộc đời Chị tôi, có nói trong Tập I chưa hề hay có thể nói là chưa được chút sung sướng, nay vừa vui mừng thấy em thoát cảnh tù đầy cơ cực, mà lòng cứ ao ước nay mai có tiền già, sẽ dành gửi về Chị mỗi tháng chút ít để nhàn thân, thì Chị đã ra đi!  Hơn thế nữa, qua thư từ của cháu Bình sau lễ tang ma cho Chị, có gửi hình ảnh tổ chức tại Chùa Pháp Hoa – Gò Vấp – tâm sự về cái chết của Chị không vui, bởi một phần vì người chủ nhà đã gây nên.
 
Cầu ơn trên tiếp dẫn hương linh Chị.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
BẮT ĐẦU CUỘC SỐNG TẠI VIRGINIA
 
Vào đường Chính Trị - vừa đi học NOVA
 
 
Buồn mất hai hôm thì chú bạn kia đến chở về Virginia, thuê phòng tại nhà anh Thành, nguyên sĩ quan Không Quân – tại đường Poplar street.
 
Nay là lúc có tiền già, việc trợ cấp đã dần hết cũng chẳng mấy lo, trong khi Hạnh được anh bạn kia cho ra làm “Cashier” tại tiệm buôn.
 
Thi vào NOVA – Campus Annandale, trong khi Hạnh chuyển nghề may, vừa đi học nghề “Tóc”.  Khuyên cháu là mình qua đã trễ, đừng nên nghĩ chuyện làm ra tiền để làm giàu thêm cực xác, mà nên cố học cho có một nghề, xong lại lo học cho có chữ.  Hai việc phải làm sao cho thành để khỏi uổng phí lòng mong ước, mà khỏi phụ sự giúp đỡ của Hoa Kỳ đối với người Tị nạn Cộng Sản như ta.
 
Cháu Hạnh hàng ngày đi làm nghề may, mà trước đây cháu có chút kinh nghiệm tại quê nhà, vừa theo học lớp “Tóc” không xa nhà lắm.
 
Không muốn cho cháu học nghề “Nail” bởi e ngại chất hóa học của nghề này.  Hôm đi Cali về, ngoài việc mua sắm cho, Giản bỏ túi hai ngàn để mua xe, thì sau khi gửi về Việt Nam tang lễ cho Chị, còn được chút ít mua chiếc xe cũ.
 
Đúng 49 ngày lên Chùa Vạn Hạnh làm Tuần cho Chị.  Khá cảm động, bởi có nhiều bạn bè tham dự và nhất là hai vợ chồng Phương từ Philadelphia về.
 
Cuộc đời trở lại mái trường Nova, của tuổi “thất thập cổ lai hi” cũng khá nhiều vui, buồn làm kinh nghiệm cho đám tuổi trẻ và nhất là người Tị nạn.
 
Cũng thế, cuộc đời viết lách, trong hoàn cảnh chưa kinh nghiệm, còn thiếu đủ thứ nhu cầu làm sao quên được!
 
Về học, thì câu chuyện của chương trình ESL, lúc đang lớp 12 của sau một năm học với bà Tiến Sĩ người Trung Hoa, ghi lại đây để làm kỷ niệm.  Đấy là lúc học cuốn Growing up của Russel Baker, một quyển sách bán khá chạy hồi bấy giờ.  Gần cuối sách, đề cập lúc Nhật đầu hàng Đồng Minh, bà giáo vừa giải thích là “Nhật đầu hàng vì sợ Quân đội Nga hùng mạnh”, tôi đã đưa tay xin cãi.  Tôi hỏi bà:  “Có đánh nhau đâu mà mạnh với yếu!”  Tôi quả quyết “Nhật đầu hàng vì hai quả bom nguyên tử của Mỹ”.  Bà tỏ ra vô cùng bực tức.  Nhưng đến hôm thi Final, mãn khóa, Bà đưa cao bài thi “Thi Final anh dư điểm, nhưng các kỳ thi đầu anh thiếu điểm”.  Tôi thản nhiên, không lên tiếng, trong khi vài em Việt Nam cùng học trong lớp đã nói nhỏ “Tại vì Bác cãi với Bà về chuyện Growing up nên nay Bà không cho lên đấy thôi!”  Tôi đã cho các em biết là sẽ không thôi câu chuyện này, khi nào hết học.  Sẽ đem lên hỏi nhà trường.  Qua mùa sau, được học với Bà Calobrisi, một Bà giáo dạy nổi tiếng và đến khi mãn khóa được Bà cho lên lớp, vào cảm ơn, để hỏi lại chuyện “đầu hàng của Nhật”.  Bà không do dự trả lời ngay về hai quả bom nguyên tử.
 
Về chuyện viết lách, đến nay ngồi nhớ lại mà thương hại cho mình!
 
Quyển sách xem trước tiên là Duy Văn Sử Quan của Cụ Hoàng Văn Chí do chú Hùng cùng mướn phòng chung sống trong nhà tặng.  Sau khi đọc ngấu nghiến xong, bắt đầu viết bài “Nhân đọc Duy Văn Sử Quan của Cụ Hoàng Văn Chí” với khá nhiều nhận xét, mà phải nói trước tiên là chỗ hiểu biết về Cụ.  Cụ Chí quê gần làng tôi, mà bà Chí là Lê thị Hồng Phấn, con của Sở Cuồng lê Dư và bà Phan Thị Diệm thường được gọi là Bà Ba Roa.  Cụ Chí gọi Bác tôi, Cụ Phan Khôi bằng Cậu ruột, như vậy tôi gọi bà Diệm bằng Cô.
 
Như có nói ở đoạn trên về chỗ tự thương mình vì viết tay, dùng kim chỉ may mà gửi tặng bạn bè đều bị than phiền là “sao sống trên đất Mỹ, mà anh viết và đóng tập khổ như vậy?”
 
Trong bài này, đính chính về chỗ có người đã nghĩ về Bác tôi – Cụ Phan Khôi theo Kháng chiến là bởi lầm Cộng Sản, chứ họ không nghĩ là ông Phan Bôi tức Hoàng Hữu Nam cho mời ra rồi giữ lại (như đã kể rõ trong Tập I).
 
Sau đây xin kể lại chuyện Cẩm Nang Thần Kỳ.  Chuyện Cẩm Nang Thần Kỳ khá dài khỏi ghi lại nơi đây, nhưng Cụ Chí kết luận – “Đúng vậy!  Chỉ vì cái Cẩm Nang Thần Kỳ mà ông Hồ đã hóa thành Cọp Mác Xít, đâu còn nhớ cái tên Nguyễn Ái Quốc lúc ra đi tìm đường cứu nước.  Ông Hồ đã quên hẳn lời răn quý báu của lịch sử “Trong khi đeo đuổi một mục đích cao cả chớ nên sử dụng phương tiện bất chính, rồi trước sau phương tiện cũng sẽ trở thành cứu cánh”.
 
Quyển Duy Văn Sử Quan của Cụ Hoàng Văn Chí đã giúp tôi nhiều mở mắt, bởi sau 13 năm tù, qua Mỹ chưa bao lâu mà đã kết luận, để ngày nay ngồi nhẩm lại tự khen mình khá sớm có nhận xét, mãi đến nay vẫn còn giá trị.
 
Nhận xét vừa nói là “đọc Duy Văn Sử Quan của Cụ Hoàng Văn Chí kẻ hèn này chỉ biết trình bày lên một số cảm nghĩ về lý luận và lược giải của Cụ, khi Cụ muốn nói đến vai trò Văn Hóa và Dân Tộc.”
 
Trong những ngày sắp đến, tâm sự của kẻ sau 13 năm tù, từ địa ngục sang Mỹ, xin lần lượt nhắc lại những cái hay trong tư tưởng chống Cộng để mong các bậc cao minh, khơi lại ngọn đèn Lam Sơn, tỏ lại ánh sáng Nguyễn Trãi cho Dân tộc soi đường, nhất là trong những ngày đến.
 
Trong những ngày đến, xin nhắc lại những cái hay trong các sách đọc được, để mong với kinh nghiệm của hơn 70 tuổi đầu, với quá nhiều đau khổ, nhất là với Cộng Sản, mà đầu óc chưa đến nỗi lú lẫn hầu quý vị với mong ước là:
 
-         “Thôi, hãy dừng lại các xâu xé nhau, chửi rủa nhau, nếu chưa đoàn kết được, thì từng nhóm nhỏ xây dựng nhau, rút các ưu, khuyết điểm, bởi chưa muộn!”
 
Tìm cách yểm trợ thật sự cho nòng cốt tranh đấu ở quốc nội hay ít ra cũng tiếp hơi cho họ đủ sức chịu đựng!
 
“Tuổi già xin đừng tham vọng, cứ thành tâm giúp đỡ các kinh nghiệm, không chê tuổi trẻ là non nớt, nhưng cũng đừng dua mị tuổi trẻ là thành phần lãnh đạo sau này, vì kẻ thù đang giở đủ đòn phép sau cùng để cố chia rẽ, đập nát ta bằng bất cứ giá nào”.
 
Tài liệu này còn giữ lại vài bản đến ngày nay, vì sau mỗi năm lục giấy tờ cũ vứt bỏ, nhưng cũng không quên lưu lại làm kỷ niệm.  Khi xem lại mới tự khen mình là lúc ấy mới sang, đã có những nhận xét không tệ!
 
Bỗng một hôm có anh Vĩnh Liêm ở Maryland dắt theo hai chú bạn trẻ, trong đó Long, con Cụ Ninh đến thăm.  Anh Liêm cho biết là Cụ Nhị Lang báo tin có một ông bạn già sang định cư tại đây, nên nhắc các chú ấy lại xem chừng giúp.  Anh Liêm còn cho biết có ông Cao Thế Dung đang chờ ngoài quán.  Tôi nhận lời ra EDEN, và đây là lần đầu tiên gặp ông Dung.  Gặp nhau tôi nhận thấy ông Dung có nhiều kiến thức, chẳng khác nào khi còn trong tù tôi đã phục anh Thái “thọt” lý thuyết gia của Tân Đại Việt.
Mấy hôm, một chú em từ Cali gửi lên một tập báo khá nhiều, đầy giọng đả kích ông Dung, nhưng tôi không vội tin.
 
Lại một lần nữa, điện thoại từ Cali cũng giọng như trên và khuyên tôi dè dặt trong việc giao tiếp với ông Dung.  Để trả lời, tôi khẳng nhận ông Dung có thật tài.  Và khi nghe họ có luận cứ như thù hận tự thuở nào, mà cho rằng những viết lách của ông Dung là bởi một số tài liệu có sẵn sao chép, làm tôi một lần nữa lên tiếng hỏi:
 
-         Vậy nếu tôi tìm những tài liệu dù bất cứ đâu, hay cả ngay trong thư viện, anh có thể sao chế được như ông Dung không?
 
Anh kia mới chịu không tranh cãi nữa.
 
Lúc này là lúc tiến sâu vào việc học khá say mê, để không ít bạn bè phải trách là học làm gì nữa, vì đã lớn tuổi, có lấy được bằng cấp cũng chẳng làm gì.  Tôi phải thanh minh rằng không bao giờ nghĩ đến chuyện bằng cấp, bởi suốt đời hoàn toàn khó khăn trong thi cử.  Học để biết những gì chưa biết, vì sớm theo nghiệp chính trị và tù đầy, không may mắn theo học như bất cứ ai trong thời son trẻ.
 
Bắt đầu học với Doctor Judge Sage về History.  Ông là một Giáo sư rất giỏi, chưa nói là thích sinh viên Việt Nam.  Hỏi ra mới biết trước kia ông ở trong Quân đội và có sống ở Đà Nẵng.
 
Qua kỳ thi đầu, ông cảm thấy tôi không thể nào theo kịp đám tuổi trẻ dù rất ham học, bởi mỗi lần ông giảng tôi đều có đem theo máy ghi âm để về nhà nghe lại, nên dành cho tôi khá nhiều dễ dãi.  Sau vài tháng bắt kịp anh em và trong những bài luận văn, luôn được ông hết lời khen.
 
Trong bài American Revolution, ông phê khen, thì đến bài Regarding to American how do I think about my Vietnam Country?  Ông đã phê “Very good essay!  Thank you very much, I think you are correct in your hope!  May your people be succesful!”  Làm tôi càng say mê học Sử nước Mỹ.  Cho đến ngày học về Hiến Pháp, ông đã cấp cho một giấy khen sau khi thi xong:  “This is certify that VY PHAN has completed a special examination on the Constitution of the United Stastes during the course in Early American History (U.S. History 121) at Northern Virginia Community College and is herebe declared an Expert On The Constitution Spring Semester 1997 – JUD SAGE – Associate Professor History.
Trong lúc này Nguyễn Phương đang sống tại Philadelphia tìm xuống thăm, giúp đỡ và ước có ngày mời lên chơi.  Phương đã thành công về con cái, cháu lớn đỗ Bác sĩ trong khi đã có chồng và hai con, cháu thứ nhì đỗ Dược sĩ, dù trước đây khi ở Việt Nam chỉ học lớp chín, hai trai ra trường, đứa Kỹ sư Điện tử, đứa đang học Kiến trúc.
 
Riêng Phương đang làm, sắp hưu lại có tên trong Ban Biên Tập báo Văn Nghệ Tiền Phong.  Phương gọi tôi bằng Cậu họ, đã theo tôi suốt cuộc đời son trẻ.  Thường khuyên Phương khi thành công thì càng phải tu nhiều, bởi Phật thường dạy “Kẻ giàu khó tu, người nghèo khó bố thí”, để tránh cho ngày mai khỏi gặp những không may vào phút chót.
 
Rồi một hôm được anh Ký giả lão thành Nguyễn Tú, trước viết cho Chính Luận Saigon, cùng cháu Trần Tử Thanh, con anh Trần Văn Tuyên rủ đi Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ở D.C. để tìm, may ra có thấy các sách đã viết khi còn ở Việt Nam chăng.
 
Quá vui mừng khi tìm thấy cả ba cuốn sách “Cẩm Nang Hành Chánh hay Kinh Nghiệm Sống Tổ Chức Nông Thôn”,  “Đừng lạm dụng danh nghĩa Nông Thôn”  và  “Từ Yên Báy đến Côn Lôn”  có đủ tại đây.  Rối rít khoe với cháu Thanh, trong khi cháu chỉ tìm được một cuốn của anh Tuyên, còn những cuốn khác không thấy.  Đang định mượn lại máy photocopy in ra thì anh Nguyễn Hòa có quen với anh Tú, đang làm Quản Thủ Thư Viện tại đây, vui vẻ hứa in và gửi cho, mà tôi chỉ đang cần quyển thứ 3 này để tái bản.  Chỉ mấy hôm sau anh Hòa gửi cho, Nguyễn Phương hứa sẽ cho mượn ít tiền tái bản quyển này.  Thế là mãn nguyện!
 
Đây là lúc cháu Hạnh học xong nghề tóc và đang chuẩn bị thi.  Cháu có cái may mắn là từ nhỏ thi cử rất dễ dàng.  Hôm nay cũng vậy, khóa này là khóa chót, từ khóa sắp đến không cho Thông dịch viên, nên cháu cố nhờ người Thông dịch dùm, bởi Anh văn còn quá yếu.  Một anh bạn ở cùng chỗ Locwood – Elmwood, hứa ẩu trong khi đã nhận lời thi cho người khác, nên khi bị nhà trường báo tin từ chối, cháu đành tự học “gạo” để quyết thi một mình.  Sáu trăm câu phải học, nhưng cháu thi đỗ ngay.  Thế là có License tóc, bỏ nghề may, mà từ lâu luôn bực mình vì cái cô Manager trong hãng, luôn gây gổ, đành chịu đựng cho đến ngày nay.  Cháu đã theo đúng lời khuyên dạy của tôi, lấy nghề may, nuôi nghề tóc.  Và khi làm nghề tóc sẽ nuôi cho việc học Nova quyết có được một mớ chữ đủ dùng cho cuộc sống tại Hoa Kỳ.  Tôi vui mừng cho tương lai của cháu.  Còn việc chồng con, nghĩ rằng là một chuyện “duyên số”, không ép cháu, chỉ dạy có chút khôn ngoan để tránh những lừa bịp của đời.  Ngoài việc luôn tạo cho cháu những dịp giao du, mong có được nơi vừa ý.
 
Tại Nova, mùa học tiếp theo, đăng ký học Sociology với bà Lancaster.  Gần cả tháng chưa nắm vững những gì Bà hết lòng giảng giải.  Mãi đến hôm ý thức về môn này tôi bắt kịp anh em, để Bà giáo phải hỏi rằng:  “Tại sao gần tháng nay anh như không hiểu gì, nay anh lại bắt kịp như vậy?”  Tôi thành thực trả lời:  “Theo Bà giảng con người do từ I.D. cũng như Đạo Phật, bởi chủng tử tạo thành, nên từ đó tôi hiểu được”, bà Lancaster cười thông cảm.
 
Trong lúc này học cả tiếng Pháp và tiếng Nhật.  Ở cả hai lớp đều bị hai Bà giáo hỏi:  “Anh học ngoại ngữ này có mục đích gì?”  Thì với Bà tiếng Pháp tôi trả lời rất thông suốt:  “Bởi trước là Thông ngôn cho Pháp, hiện đang xin Thẻ Cựu Chiến binh Pháp, nếu có tôi sẽ đi Pháp một chuyến cho biết”.
 
Riêng Bà dạy tiếng Nhật, có lý lẽ khác:  “Tôi tu về Thiền, mà nước Nhật là một nơi dễ dàng tiếp nhận được không thiếu kinh nghiệm và ý thức về môn này, nên cố học để hy vọng ngày có điều kiện sẽ đi Nhật”.  Bà rất vui khi nghe kể, tôi lại tiếp theo:  “Nghe bạn bè kể người Nhật có một dân trí rất cao, nghĩa là đến Nhật không biết nói tiếng Nhật sẽ khó khăn trong việc giao dịch.  Ngược lại, biết tiếng Nhật sẽ được nhiều người niềm nở giúp đỡ khi cần”.  Bà giáo nhìn tôi khá lâu khi nghe câu chuyện vừa kể.
 
Chuyện học còn dài dài.  Và quyển  “Từ Yên Báy đến Côn Lôn” có nói trong Tập I, nay tìm được trong Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ, được Nguyễn Phương và Giáo sư Đặng Đình Khiết gửi gấm với hiệu sách Thế Hệ làm tổng phát hành, nên việc phát hành không khó khăn lắm.  Cái đẹp hơn là cháu Thanh có quen với vài bạn ở Ba Lê, nên xin được một hình chụp trong báo Pháp, lúc 13 vị Anh hùng đang thọ tử hình trên đoạn đầu đài, cho in vào sách.  Khi đọc sách dù lời văn Cụ Ký Thân tôi không dám sửa nhiều, có đôi chỗ chưa ổn, nhưng với bức hình vừa nói, rất dễ gây xúc động cho người đọc, chưa nói rằng đây là một tài liệu quý giá nói chung hay một quyển sách không thể thiếu của người Đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng.
 
Lấy lại được vốn trả Nguyễn Phương và ông Khiết, lòng thấy nhẹ nhõm, dù đến nay vẫn còn.  Nhưng để khi có ai hỏi mua hay phải để biếu đã có sẵn.  Nghiệp nhà văn là vậy, chứ không phải sách bao giờ cũng bán dễ dàng để hốt bạc như vài quyển ta thường nghe kể.
 
Và, nay là lúc phải ra nhận chức Chủ Tịch Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Tiểu bang Virginia.  Nhận công tác này tôi bị ngay vài anh bạn ở Cali không vui lắm, bởi nể nên chẳng nói gì nhiều, ngoài việc các anh đem chuyện ở Cali Phan Ngô ra tranh chức Chủ tịch Cựu Tù Nhân Chính Trị?  Tôi hiểu các anh muốn nói rằng tại sao không để việc ấy cho người khác làm, chưa nói là các anh muốn hỏi việc  “đặt nhẹ giá trị”.  Không tranh luận, nhưng chỉ nhắc lại chuyện  “Tây Hớn” ngày xưa, Hàn Tín đã chịu làm chức gần như Quản kho, mà không đưa thơ giới thiệu của Trương Lương cho Hán Cao Tổ để có một chỗ xứng đáng.  Hàn Tín quan niệm rằng ở vào vai trò nào anh ta cũng có tài hơn kẻ khác, chứ đâu phải chỉ chức lớn.  Ra làm Chủ Tịch Hội Cựu tù Nhân Chính Trị còn một lý do khác mà lúc ấy chỉ có ông Nguyễn Cao Quyền và Trần Tử Thanh hiểu được.  Hai người này cố thuyết phục để tôi chịu nhận vì trong lúc ấy có một chú không chịu bầu, bởi sợ không trúng cử, nhưng ai lên thay là sẽ “quậy” mà tin rằng chỉ có tôi mới đủ làm cho chú kia xếp cái “quậy” lại, nên tâm sự thuyết phục để tôi chịu nhận.
 
Sau khi nhận trách nhiệm này, cũng là lúc thường nói chuyện trên Đài Phát Thanh Việt Nam Hải Ngoại của anh Ngô Ngọc Hùng, được thính giả chú ý.  Trong việc thích thú những bài nói, thính giả thường cũng ưa nghe lối nói chuyện rõ ràng và dứt khoát của tôi.  Trong lúc này có chú Thư là Tổng Thư ký cho Hội, khá tháo vát, và cô Châu thường giúp đỡ khá năng động.  Một thời gian sau Thư không giúp thêm, cô Châu giúp tôi được khá nhiều việc, nhưng vì bệnh, nhất là sau này thường nổi tức khó dằn được nên làm tôi cũng xính vính.
 
Những bài phát thanh của Chương trình Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị lúc bấy giờ được nhiều người thích thú, gọi điện thoại khuyến khích.  Những bài mà sau này nhiều người gọi xin, trong ấy không thể quên bài nói về:
 
-         13 con Ma trong tù.
 
-         Chuyện Chính phủ chú Chánh.
 
-         Chuyện Hồi ký của Đại sứ Marillon với ngày 30 – 4 – 1975.
 
Mà đã khéo léo chia thành những tin tức, một bài bình luận ngắn và nhất là “câu chuyện cũ dài dài kể lại cuộc đời đi tù” của Trại dành cho tù Chính Phủ miền Nam trước, tai Hà Tây rồi Nam Hà cho đến ngày trả tự do lớn nhất của năm 1988.
 
Về chuyện 13 con Ma, mà nhiều người có nghe kể nhưng chưa hiểu tại sao có danh từ ấy.  Buổi phát thanh đã nhắc lại Cộng Sản Việt Nam muốn giết chết tất cả nhân sự của Chính Phủ miền Nam cũ, nên cho thành lập một nhóm gồm 13 người là các Kỹ sư, Bác sĩ, Kiến Trúc sư v.v. . .  cầm đầu một người được chúng tín nhiệm nhất là Trung Tướng Nguyễn Hữu Có.  Họ cử vào Thanh Hóa để nhắm nơi nào khả dĩ thành lập được giam tù và gia đình, sinh con đẻ cái ở đây cho đến chết.  Nghĩ ra việc này là bởi sau 1953 hay trước kia xa hơn, họ bắt tất cả những ai thuộc thành phần trí thức, địa chủ, phú hào đều phải mang gia đình lên vùng biên giới Bắc Việt sinh cơ lập nghiệp tại đấy.  Họ tin đã thành công, nhất là khỏi lo nghĩ lôi thôi.  Thì nay lại nghĩ việc giam giữ nhân viên Chính Phủ miền Nam như vậy.  Công việc đang xúc tiến thì Cộng Sản Việt Nam bị ngay hai tay đàn anh lưu ý là “Có định vào Liên Hiệp Quốc không, có định vay tiền của Tư bản Quốc tế không?  Nếu có thì nên dẹp ý định này!”  Đám Bắc Bộ phủ đã suy nghĩ nhiều, nhất là khi thấy cao trào dân chủ thế giới đang lên cao, không thể nào “lội ngược dòng” nên đành cho giải tán.  Tổ chức này mà họ đã nhen nhúm từ Hà Tây, Hà Sơn Bình, nên chúng tôi biết rất rõ.  Nay nhắc lại trong chương trình phát thanh không chỉ trong Vùng nghe biết mà đã được nhiều nơi tán thành.
 
Bài thứ hai, nói về Chính phủ Nguyễn Hữu Chánh.  Chưa nói bao nhiêu nơi khác, từ Âu sang Úc hay Mỹ, bao nhiêu Chính phủ lưu vong ra đời.  Nhìn vào thành phần, chẳng ai ngây thơ không hiểu đây là một số ước mơ, một số vì cả nể nhau, hay cái phần ăn chắc là một số chẳng chịu nhìn xa, cứ nghĩ rằng người Việt lưu vong chỉ những người sống quanh ta, ta hằng nghe biết hay khá hơn là, biết qua báo chí, biết qua bạn bè v.v. . .  nên đã nuôi mộng ngồi chung nhau trong một bữa nhậu, ngồi chung nhau trong một dịp mà tình hình chung, cảm như đã đến nơi, chứ không nói là vì cả nể nhau, vì “kẹt” một khía cạnh nào đó.  Chỉ nghe sơ đã có hơn Mười Chính phủ lưu vong.  Đấy là chưa kể những người còn dè dặt, cũng lăm le, chưa tiện công bố, chưa tiện cho người khác biết nhiều.
 
Trong khi ấy thì quanh Vùng Hoa Thịnh Đốn, ngoài vài tin nghe có người nói đến, cái rậm đám hơn là Nguyễn Hữu Chánh.  Tiếc rằng cái Chính phủ Nguyễn Hữu Chánh này có vài nhân vật, trước đây chính mình cũng có cảm tình, nhưng khi nghe ra câu chuyện, không hiểu sao anh này, ông nọ lại có tên trong danh sách đó.
 
Khi câu chuyện mới bắt đầu, trong một đêm vừa thiu ngủ bỗng có tiếng điện thoại reo và đây là anh Chữ Bá Anh.  Tuy chưa quen nhau, nhưng cũng biết qua bởi vài ly, anh hỏi ngay:
 
-         Bác có một chú đàn em tên Nguyễn Hữu Chánh phải không?
 
Biết rằng đây là câu chuyện mà lúc chiều có người từ Maryland đã “quậy” mình khá lâu.  Tôi không ngạc nhiên, hỏi lại:
 
-         Nhưng có gì không bác?
 
Anh báo tin là Nguyễn Hữu Chánh lập một Chính phủ và trong câu chuyện cho biết có nói trong báo Phụ Nữ Diễn đàn khá rõ.  Anh nhắc là hiện không còn để tặng, nhưng nếu muốn biết rõ, ngày mai ra tiệm sách mua một tờ.  Sau câu chuyện khá lâu, khi nghe trình bày là tôi có một tay em cũng tên Nguyễn Hữu Chánh, trước là Thiếu Tá Địa Phương Quân cũng lanh vô kể, hiện nay đang sống tại Úc, nhưng chắc không phải là Chánh này.  Chánh này khoảng 40 tuổi, người Bình Định, trong khi Chánh đàn em tôi năm nay đã trên 60 tuổi, người Quảng Trị và là cháu Đại Tá Nguyễn Quang Hoành.
 
Chưa hết!  Cũng trong đêm đó Phương, cháu tôi, bút hiệu Trung Nhân trong Ban Biên tập báo Văn Nghệ Tiền Phong, lại gọi điện thoại cật vấn nữa.  Với cậu này tôi khuyên nên hỏi ông Cao Thế Dung, bởi nghe đâu ông Dung có tên trong Nội các Chính phủ của Chánh.  Quả nhiên sau không lâu, Phương gọi điện thoại lại và cho biết chính ông Dung xác nhận ông là Cố vấn cho Chánh.
 
Cân nhắc kỹ về thành tích, nhân sự, thành phần và mục đích v.v. . .  và quyết định hôm sau viết một bài phát thanh về sự việc này.
 
Cái rõ ràng là đưa ra trình làng bài này để nhắc lại những ngày trong tù, quá khổ cực, thèm các món ăn ngày xưa, bởi nạn đói khát cùng cực.  Anh em thường tổ chức những bữa ăn tưởng tượng mỗi tối.  Thay phiên nhau, người kể món này, người kể món kia nào là Bún Bò Huế, nào là Chạo Tôm, các món ăn Bắc như Chả Cá Thăng Long, Ốc nhồi v.v. . .  ngồi nghe nuốt nước miếng cho đỡ thèm, chưa kể có người đem giấy bút viết lại như để mai sau ra đời nấu ăn cho đã!
 
Và, kết luận là cũng vậy, bao cảnh lên Voi xuống Chó, đội trên đạp dưới nay còn đâu?  Chỉ có cách tham gia vào các Chính phủ kia để cũng áo lớn Complet, cũng chụp hình, quay phim là chuyện dễ hiểu, có gì phải thắc mắc.  Thương hại vài người, vì cả nể, vì “kẹt” như đã nói.
 
Cũng như bài “13 con Ma”, bài Chính phủ Nguyễn Hữu Chánh được khá nhiều người hỏi.
 
Và, bài thứ ba, bài Hồi ký của Cựu Đại sứ Pháp Marillon.  Như có nói trong Tập II này, trước khi Việt Nam mất vì Cộng Sản, không hẳn phải vì thua như vài người đã không muốn lôi thôi, mà nói mau, nói gọn thì trước ngày ấy có nghe anh Lý Trường Trân, người bạn chí thân, đương kim Dân Biểu, vừa là Tổng Thư ký Khối Dân cử Ấn Quang, kể lại câu chuyện của cái “Ba Bên” do Đại sứ Pháp Marillon làm trung gian này.  Ai nói sao thì nói, nhưng với tinh thần chống Cộng, chống đích thực Chủ nghĩa này, nghĩ rằng anh Trân hiểu biết sâu đậm hơn mình, chứ không có điểm nào để mình nghi ngờ.  Vì lẽ ấy, mọi việc đều tin ở Anh.
 
Theo Anh, những người khác đều nằm trong quỹ đạo của Cộng Sản, mắc mưu tên Lê Đức Thọ qua trung gian Đại sứ Pháp Marillon cả.  Vì lẽ ấy, sáng ngày hôm sau Marillon đã phải xách valise ra khỏi Việt Nam ngay, bởi Cộng Sản nói chung và Lê Đức Thọ nói riêng, Tổng Tư lệnh Chiến trường miền Nam không muốn câu chuyện bị các báo chí hồi bấy giờ khai thác.
 
Vì vậy, sau 13 năm tù hay ngay cả từ ngày sang Mỹ đến nay không hề chấp nhận quan niệm chiến trường miền Nam bị Cộng quân chiến thắng.  Ngoài lý do trên, còn bao nhiêu sự kiện khác, khi nghĩ đến, ngay cả Cộng Sản Hà Nội còn nghĩ, ít ra cũng năm ba năm nữa mới giải quyết xong chiến trường miền Nam, hay ngay cả những người biết chuyện, kể lại cái chết của các Tướng đã tuẫn tiết, trong ấy như trường hợp Tướng Nguyễn Khoa Nam, khi bị bắt buộc buông súng đầu hàng, ngay cả cái ngây thơ, chứ chưa dùng chữ “phản bội” của Tướng Dương Văn Minh, khi chẳng hiểu được em mình (Dương Văn Nhật) có chút quyền hành gì không, ở trong hàng ngũ Cộng Sản, để hy vọng làm trung gian, chứ đừng nói chuyện mơ tưởng lật lọng Cộng Sản được.
 
Đến những phút này mới có người nghĩ ra chuyện “giá thử miền Nam còn Tổng Thống Ngô Đình Diệm” hay mới nghĩ ra chuyện tài ba xuất chúng của ông Thiệu (!) có thật không, mà than thở, thì chuyện đã rồi!
 
Chỉ có điều, cứ mỗi lần đến ngày 30 – 4 – 1975 lại mở cassette để nghe Hồi ký của Đại sứ Marillon, nghĩ mà thương, mà tủi cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam ta!
 
Bài thứ ba cũng là một trong hàng trăm bài phát thanh được thính giả của mục Chuyện Cũ Dài Dài trong Chương trình Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Virginia hỏi xin.
 
Trong thời gian làm Chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Virginia có thể gói lại trong hai câu đối nôm đã đọc trong bài Chúc Tết Mậu Dần:
 
-         Đón Tết Cựu Tù Nhân Chính Trị nghĩ gì về đất nước, hãy nói nghe chơi!
 
-         Mừng Xuân người còn thương tưởng quê hương chẳng lẽ đến đây ngồi thụ hưởng?
 
Chùa Hoa Nghiêm ở khá xa, nhưng Thầy trụ trì là ông Huỳnh Tấn Phát, lúc ở chung trong tù, có nói ở đoạn trước, gian khổ nhiều, thông cảm nhau, nên thường đi Chùa Thầy.  Đạo hiệu Thích Kiến Khai.  Một hôm Thầy làm tôi thấy ái ngại khi nhắc lại chuyện cũ trước vài vị sư trong Chùa:  “Bác Vỹ là người đi trước tôi – ý Thầy là đi trước về sau – bởi trong tù chính Bác đã hướng dẫn chúng tôi học hiểu nhiều về giáo lý, nhất là Kinh Pháp Hoa!  Tôi thầm nghĩ, chỉ có một tâm hồn rộng rãi bao la như Thầy mới nói ra những câu ấy, trước các vị sư trong Chùa Thầy đang tu, nên từ ấy càng kính phục Thầy nhiều.
 
Tháng Mười dương lịch năm ấy, bàn với cháu Trần Tử Thanh, làm lễ Giỗ lần thứ hai mươi (20) nhà Cách Mạng Trần Văn Tuyên tại trường Đại Học Luật George Mason, rất trang trọng.
 
Bạn bè và Môn đệ của Ông cũng như quan khách tới tham dự rất đông, chưa nói các cháu gái có chồng ở New Jersey.  Buổi lễ được tổ chức khá trang nghiêm về hình thức, và đã gây cảm động cho người tham dự, nhất là khi nghe kể về cái chết của Ông, mà tôi là người chứng kiến giây phút cuối cùng.  Tài liệu được viết lại rõ ràng phân tách xác thực, thuật lại những lời Ông nói:  “Tôi không có tội gì với Tổ Quốc và Đồng bào cả.  Nếu có tội, phải chăng là tội chống Cộng Sản”.  Tài liệu đã in ra trong dịp này tặng quan khách và thân hữu.  Trong tài liệu chúng tôi không quên nhắc lại những thủ đoạn của Cộng Sản đã cho ai về, giữ lại ai, cho đến chết hay quyết lừa lúc để cho chết, mà nhà Cách Mạng Trần Văn Tuyên đã bị Cộng Sản sát hại chứ không phải chúng tôi vu cáo vô căn cứ.
 
Việc học Nova bước vào giai đoạn sâu hơn, khi xin đăng ký học cả tiếng Y Pha Nho, học Political Science, để chính vài bà giáo thắc mắc không hiểu tại sao tôi có đầu óc để nhớ được?  Phải đem chuyện Napoléon có một bộ óc như hộc tủ có nhiều ngăn, mỗi ngăn là một văn kiện khác nhau, hay kể lại bạn bè nghe câu chuyện khi còn trẻ đã làm cùng một lúc ba việc mà không bao giờ lẫn lộn nhau (có nói trong Tập I), khi tiếp anh Trịnh Hữu Phu, cần chinh phục anh, lúc biết rằng theo anh thì bên Cộng Sản có Chế Viết Tân, chứ phe Quốc Gia chưa có ai làm anh phục, để dễ thông cảm.
 
Đây là lúc bạn bè thân hữu gieo cho tôi khá nhiều tâm tư hơn hết.  Từ anh Bác sĩ Trực ở Maryland, Bác sĩ Bá, Cụ Lê Văn Ba, anh Trương Văn Thuần, và nhất là câu chuyện anh Lê Xuân Sướng.  Mất khá nhiều suy tư, khi viết đến đoạn hồi ký này, bởi phải nghĩ và xác định, viết là để lại cho ngày mai, chứ không phải chỉ cho những ngày sắp đến, hay khi tác phẩm được ra đời.  Hôm nay, anh bạn đang khen ta, đang phục ta nhưng biết đâu ngày mai anh ta sẽ không phục nữa, không muốn khen nữa, bởi một lý do nào đó thì sao?  Phải xác định là ngoài việc có một nhận xét tinh tế không vì cá nhân mình, thì dù ngày mai có sự thay đổi như vừa nói cũng chẳng sao!
 
Tôi nghĩ thế!  Và một vài người trong vô số mình mến phục.  Câu chuyện anh Lê Xuân Sướng là một.  Trước đây chưa được hân hạnh biết anh, dù nghề nghiệp “Địa Ốc” với nhà anh ở không xa chỗ mình cư trú, mà sau này được dịp ghé, tôi thầm nghĩ như một “Chateau” nho nhỏ khá hấp dẫn.  Một hôm, chú em cùng quê mà lúc ở quê nhà xem như đứa em đáng mến, nay cũng theo nghề Địa Ốc ở Maryland, tên Lê Thịnh gọi điện thoại giới thiệu anh Sướng muốn nói chuyện.  Theo Thịnh thì anh Sướng nghe nhiều lần nói chuyện trên Đài, từ câu chuyện đến giọng đọc, cảm thấy thích thú, nên một hôm hỏi anh bạn quen là Thân Trọng Kỳ “có biết Phan Vỹ không, giới thiệu nói chuyện chơi!”  Anh này hứa sẽ giới thiệu với Lê Thịnh, vì biết chắc Thịnh biết tôi.  Thịnh cười và nói đùa:  “Dẫn ăn tô phở sẽ giới thiệu ngay!”  Nên có câu chuyện ngày hôm nay.  Anh Sướng đến chơi, đem tặng một thùng “Sâm” khá lớn với nhã ý khuyên nên thường dùng để có sức khỏe mà phục vụ đồng hương.  Trong buổi tâm sự, anh Sướng cứ tiếc rẻ tại sao tôi không được trọng dụng trước, mà phải qua khá nhiều gian truân, như đã có kể trong Tập I, buộc tôi giải thích rằng:  “Con người luôn có định số, không hẳn có tài hay có đức là thành công trong phút chót”.  Từ đó anh Sướng luôn chuyện vãn tâm sự, nghe tôi trình bày về tình hình chính trị, nhất là trong nước.  Anh thông cảm là dù trước anh cũng ở trong số Quốc Gia Hành Chánh, cũng luôn theo dõi tình hình, nhưng nay bận chuyện làm ăn, không còn ý thức làm được gì cho đất nước.
 
Đến Cụ Lê Văn Ba, một vị cao niên trên 80 tuổi, trước là Chủ tịch Liên Hội, nay tuy chẳng giữ chức vụ nào trong Cộng Đồng nhưng luôn tham dự đóng góp ý kiến trong mọi việc.  Cụ Ba có nhiều điểm đáng được kính mến, Cụ vẫn còn sáng suốt, còn sức khỏe để tự lái xe đi hội họp chứ không phải nhờ ai, đủ phân tách một cách vô tư khi có những gì xảy ra trong nội bộ Cộng Đồng, dù Cụ cũng thường không muốn bị gọi là rắc rối để lên tiếng khi biết dễ gây xích mích.  Quan điểm chính trị của Cụ tôi thường kể cho những người đồng quan điểm rằng khi nghe tôi phân tích chuyện chính trị và xác định nhiều người lo ngại chuyện đảng phái, nhưng họ không nghĩ rằng chỉ có người sống trong một tổ chức đảng phái mới biết được giá trị của kỷ luật là gì, chứ đừng nói rằng chính đồng phái mới có việc “tam ngu thành hiền” không có cá nhân, không vô kỷ luật.  Ngoài ra, khi nghe trình bày tình hình đất nước ngày nay (1999) đã chín mùi cho thấy Cộng Sản không còn chuyện ngoan cố mà phải đến lúc dân chủ hay đa đảng thật sự (chứ không phải trong hỏa mù của Cộng Sản).  Cụ Ba đồng ý, tán thành quan điểm ấy, để xác định rằng “ngày ấy không phải là các Cộng đồng ở hải ngoại sẽ về tham dự trong việc tranh chấp với Cộng Sản.  Kính phục Cụ, nên mỗi sáng luôn chờ nghe Cụ gọi điện thoại nói chuyện, sau khi đến chỗ làm việc.  Tâm sự với Cụ Ba tôi không hề dấu gì khi mình hay biết, chưa nói là đôi khi hỏi Cụ những gì đang phân vân, bởi nghĩ rằng “người ngoại cuộc thường sáng việc hơn ta!”
 
Người thứ ba phải nói là anh Trương Văn Thuần.  Ngay những ngày đầu, khi anh còn là bạn của các anh Vĩnh Liêm, Lý Văn Phước ở Maryland.  Cho đến ngày cùng anh rủ nhau ra ứng cử Cộng Đồng cùng liên danh, nhưng lúc ấy các bạn trẻ trong Cộng đồng đã là mấu chốt của vài chuyện không vui, để anh thì ra đi Tiểu bang xa, anh thì bị vài người trong Cộng đồng thắc mắc, đến mùa bầu cử tiếp theo chúng tôi đắc cử vào Cộng đồng.  Thuần hiền lành, thường nhận xét chính trị cũng như những người đã tiếp xúc qua sự hiền lành của mình.  Làm tôi lo ngại, dù rất mến anh.  Mỗi lần đi công tác về, nhân cơ hội rủ cùng đi ăn, kể tất cả những chuyện từ quốc tế đến tình hình trong nước và nhất là trong Cộng đồng cho anh nghe.  Anh Thuần luôn có một quan điểm rất lý tưởng gần như một nhà tu, không thích nghe chuyện xích mích nhau, mặc dù những lý lẽ sự việc tôi đưa ra với anh luôn dẫn chứng cái hiện tượng “dù muốn an lành cũng rất khó, khi đối diện, luôn là những trở ngại cho thiện chí của ta”.  Tôi luôn nghĩ rằng khi phải tranh chấp với Cộng Sản công khai thì một người như anh Thuần dễ là đầu mối cho sự thua thiệt.
 
Tiếp theo là anh Đào Đình Trọng, chủ tiệm buôn bán xe hơi.  Cái đặc biệt phải nói trước là trên nóc tiệm buôn của anh có treo hai lá đại kỳ Việt – Mỹ luôn tung bay, chẳng lo ngại như vài người, dù rất hăng không bao giờ chịu để một phá phách nào, nhất là của đám nằm vùng và của những người ganh tỵ làm ăn.  Anh Trọng rất hăng khi nói chuyện, và hành xử những công tác nào của tinh thần sẵn có.  Hôm đắc cử vào Cộng đồng không lâu, anh khẳng khái khi nghe bị một số người công kích:  “Cụ trên 76 tuổi còn tham gia Cộng đồng, còn hăng quá nên trách nào họ chẳng vui.  Nếu Cụ cũng an phận thì ai biết mà phản đối hay phê bình nữa!”  Đến một hôm, chú bạn vì bất mãn một chuyện riêng tư trong cuộc sống cùng chung cư, đã nhân tờ báo Con Ong lên tiếng buộc tội dựng quỹ Trust Fund cho anh Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng giải quyết các hồ sơ H.O. gặp trở ngại, sao tờ Con Ong này đi đến vài người quen để bôi nhọ.  Lúc gặp anh Trọng, vừa đưa ra, bị anh dứt khoát:  “Người bị nói xấu là Cụ Vỹ, chưa hẳn đã xấu, trong khi hành động như anh mới thật là xấu.”  Anh này nghe đâu sau câu chuyện với anh Trọng và cũng đã dính líu với một bà ở Tiểu bang nào khác, dọn đi khỏi Virginia từ lâu.
 
Về thân nhân gần nhất, như đã nói, thì ở Cali có Phan Bá Phụng, Phan Giản, ở Philadelphia có Nguyễn Phương và sau này biết thêm một người cháu khá gần, kêu bằng Ông là Phan Văn Phong, Phong trước ở đơn vị Quân Cảnh Vũng Tầu, nay đang định cư tại Minnesota cùng gia đình, con cái khá đông, cũng khá thành công vì học hành tốt, gia đình lại biết cách sinh sống bằng cách chế biến các món ăn Việt pha lẫn Tây phương, mở tiệm ăn rất thành công.
 
Cái đặc biệt phải đề cập đến câu “Phú quý bất quy hương, như y cẩm dạ hành” đã được chú này chú ý khá đặc biệt.  Nghe đâu làm ăn thành công, biết quê nhà quá khổ cực, chú đã nhiều lần về thăm và giúp đỡ.  Đặc biệt nhất là khi biết được nỗi niềm bà con ước ao kiến thiết lại nơi thờ tự, mà trước đây nói đến họ Phan của Bảo An ai chẳng nghe đến, thì nay quá điêu tàn.  Thông cảm nỗi niềm ấy Phong đã sẵn lòng đóng góp đáng kể để bà con đạt được nguyện ước mà họ Phan Bảo An đã có ngôi nhà Thờ làm cho Làng trên Xã dưới đều khen ngợi.
 
Phong cũng đã đóng góp khi nghe tôi viết quyển Kinh Nghiệm Để Đời Tập I và sau này luôn tỏ ý không riêng gì mình mà kêu gọi những chú bà con thân thiết vừa nói trên như Phụng, Giản phải làm sao cho Tập II được ra mắt, khi mà Tác Giả có lòng nhưng không đủ sức!
 
Dù Giản đóng vai chính, chịu xuất tiền ra cho, nhưng không phải vì thế mà Phong chịu chẳng lưu tâm.  Tập II Kinh Nghiệm Để Đời ra, cũng khó quên đến Phong, Phụng và Giản!
 
Bà con thì còn vô số người đáng quý mến, nhưng đồng hương Quảng Nam, Đà Nẵng thì đâu phải là chuyện có thể quên nhắc đến.
 
Vùng Cali, Hội Đồng hương Quảng Đà đã qua cái tên Thái Tú Hạp của mỗi dịp Xuân về với Tập Xuân Quảng Đà, thì vùng Texas, anh bạn Nguyễn Rô, Chủ tịch Hội này tại đây đâu đã chịu vô tình.  Hay ngay cả vùng Georgia, Louisiana, Massachusetts Quảng Đà đã làm sôi dậy.
 
Đúng!  Ai có thể quên được những câu Ngũ Phụng Tề Phi hay dí dỏm của câu Quảng Nam hay cãi, ai có thể chẳng nhớ lại cái thành phố cổ kính Hội An thân thương mà quên việc thành lập Hội Quảng Đà trong Vùng.
 
Vì vậy mà trong một dịp Tổng Hội Quốc Gia Hành Chánh tổ chức ngày giỗ Giáo sư Nguyễn Văn Bông tại Chùa Giác Hoàng mới hay anh Chủ tịch Hội này là Lê Hữu Em cũng là người Quảng Nam, quê làng Khuất Lũy, Điện Bàn.
 
Thế là được dịp bàn với Anh cùng cháu Lê Tống Mộng Hoa đứng ra lập Hội Đồng hương Quảng Đà.  Cả hai đồng ý, nhưng yêu cầu tôi phải nhận chức Cố vấn.  (Lê Tống Mộng Hoa là con Cụ Tống Khuyến, cháu gọi Cụ Tống Quyền bằng Bác, vị Tỉnh trưởng Quảng Nam đã mời tôi quay về Tỉnh nhà cộng tác làm Trưởng Khu Hành Chánh Phù Kỳ, trước trận đánh Phù Kỳ năm 1952).
 
Việc thành lập Hội Đồng hương Quảng Đà là một ước nguyện trong những ngày tị nạn ly hương tha thiết nhất.
 
Rồi đến bạn bè thân thiết của cái tuổi già, mong lưu lại trong Tập Kinh Nghiệm Để Đời không thể là điều chẳng đáng lưu tâm?
 
Như đã có nói, trước khi đề cập đến vài ba người bạn già, trẻ, cũng không quên nhấn mạnh đến vô số người mình kính mến hay muốn nhắc để sổ đời ghi vào như Vẻ Vang Dân Việt, đã làm trên một khía cạnh khác.  Nhưng nghĩ rằng sau tác phẩm này sẽ còn truyện ngắn Hai Thế Hệ, mà trong đó đưa vào thành truyện ngắn của bao Ông già đáng kính, đáng làm gương, cũng như chẳng thiếu ông già chỉ nên xem như “già dịch”, thì đám trẻ cũng vậy, trẻ đáng nêu gương cũng nhiều, mà trẻ mất gốc cũng không phải là không có.  Vì vậy việc đề cập đến những nhân vật vừa kể, để cho tác phẩm “Truyện ngắn Hai Thế Hệ” hay hơn!
 
Được tạm ổn đời sống, cũng là lúc cho ra tác phẩm Kinh Nghiệm Để Đời.  Nếu bảo là một thiên Hồi ký thì không hẳn đúng, nhưng nếu xét theo tên sách thì cũng khó tránh một nghiêm khắc của bạn bè khi họ muốn hỏi “Sao dám bảo là kinh nghiệm để đời?”  Chỉ nội bấy nhiêu thôi cũng đã mất khá nhiều thì giờ suy nghĩ cho lời rào đón, tránh cái khắt khe của người đọc, để hiểu mình muốn bộc lộ nỗi lòng trong chân tình không phải “kinh nghiệm” để làm giàu, để thành công mà chỉ để rút tỉa được những cái hay, cái tốt và cũng là để nhìn thấy những cái dở để tránh theo câu:  -“Thấy vết xe trước đổ xe sau nên tránh”.  
 
Vừa đi học, vừa viết sách, mà Hội Cựu Tù nhân Chính trị lúc này chẳng còn mấy người phụ giúp, nên chỉ một việc đi biểu tình nhiều lúc muốn “giơ tay đầu hàng” chứ đừng nói còn bao nhiêu chuyện khác, bao nhiêu cuộc hội hè, họp hành phải tham dự.
 
Khi được anh Trương Văn Thuần rủ đi dự buổi ra mắt của Liên Minh Dân Chủ tại Hội trường Crystal, gặp anh Nguyễn Đại Thắng, nhìn ra anh vui mừng khi nhớ lại những ngày xa xưa của vụ tù sau cuộc đảo chính hụt năm 1961, cùng nằm chung ở Biệt phòng Tổng Nha Cảnh Sát đường Võ Tánh cũ.  Nghĩ ra chuyện cùng anh Thắng và anh Nguyễn Tú do anh Ngô Ngọc Hùng, Đài Phát thanh tán thành những buổi hội luận trên Đài.  Ngoài đề tài về Cộng Sản mà câu chuyện hoàn toàn bổ ích và tốt đẹp, thì đến hôm đề cập vấn đề Xây Dựng Dân Chủ, tạo niềm tin cho quần chúng, anh Nguyễn Tú đưa ra chuyện Mặt Trận Hoàng Cơ Minh là bắt đầu đi vào gay cấn.  Anh Hùng không muốn tranh cãi dễ gây nên chuyện đả phá nhau, trong khi tôi thì lại nghĩ khác, mặc dù trong lòng chẳng hở ra chút nào sự nghi ngờ đã có.  Tôi ngờ anh Tú đã được một người thường qua lại chơi với anh, mà anh này vừa có việc tranh tụng với Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, mớm y.  Dù rất kính nể anh Tú, không dám nghĩ nhiều về sự việc này.  Khi câu chuyện được anh Thắng lên tiếng mạnh hơn, cũng là lúc anh Ngô Ngọc Hùng, đề nghị ngưng không nên đề cập nữa.
 
Thế là cuộc hội luận gián đoạn từ đấy, mà chỉ còn viết và nói chuyện về Cựu Tù Nhân Chính Trị.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CỘNG ĐỒNG VÙNG THỦ ĐÔ ĐƯỢC BẦU LẠI
 
 
Bởi vừa đúng nhiệm kỳ hai năm.  Nghe đâu kỳ này ông Nguyễn Cao Quyền cương quyết không tái ứng cử.  Trong khi ấy tâm tư ông, mà sau câu chuyện anh Nguyễn Đình Thắng, Chủ tịch Chấp hành đi Việt Nam về, nhiều lời ra tiếng vào, cũng là một lý do khác.  Họ không quên nhắc đến cái ngày của Thiên niên kỷ mới, cái ngày mà Cộng Sản sẽ tấn công mạnh ở Hải ngoại làm đầu đề cho cuộc bầu cử Cộng đồng Vùng Thủ Đô phải được đề cập và lưu ý.
 
Thật ra không sợ gian khổ, nhưng không muốn ôm đồm trong khi tuổi đã khá cao, mà chỉ cái chức vụ Chủ tịch Hội Cựu Tù nhân Chính trị Virginia nhiều khi cũng đã mệt.  Lại được biết đến giai đoạn như vừa nói, của vị trí Trung tâm quyền lực Hoa Kỳ, nơi có Sứ quán Cộng Sản, nơi mà dư luận cứ nói đến chuyện Mặt trận Hoàng Cơ Minh với bao nhiêu vẽ vời trong tưởng tượng, chưa nói là có người còn đề cập đến một chuyện lỗi thời của đám tay em Nguyễn Văn Thiệu.  Có người yêu cầu mình ra ứng cử trong dịp này.  Không hứa gì, nhưng nghĩ, đến xem tình hình ra sao rồi sẽ quyết định.  Vài người thân, trong đó, đặc biệt là Trần Tử Thanh, thường rất nặng lòng với địa phương, bàn nên ra, và còn nói thêm rằng nếu ra thì nên ủng hộ anh Lý Văn Phước làm Chủ tịch Chấp hành, chú không nên để lọt vào tay khác mà hư chuyện.  
 
Vì những lẽ trên, khi thấy không thể chẳng ra trong lúc này, tôi nhận lời giới thiệu của anh Trương Văn Thuần ra ứng cử.  Tiếp theo đã có người giới thiệu anh Đoàn Hữu Định.  Phải nói là rất vui, vì không gì bằng phải ra “độc diễn”.
 
Sau nhiều lần Ban Tổ chức hỏi, chẳng thấy ai ra thêm, nên xem như chỉ có hai người.
 
Cuộc bầu cử bắt đầu theo thủ tục nhưng khi vừa khởi sự vài phút, anh Định đã lại nói nhỏ vào tai tôi là tôi sẽ thắng.  Anh còn chân tình nói rằng anh có ý rút tên, nhưng nghĩ ra thì đã muộn rồi.
 
Tôi không có ý xã giao, nhưng cũng chân thành nói với anh Định là nên để hai người  cho vui, chứ độc diễn trông chẳng ra gì.
 
Sau khi khui thăm, dầu sao cũng hồi hộp.  Nhưng độ sau hai người, phần thắng đã thấy rõ về tôi.  Nhiều người nhìn tôi mỉm cười, hoặc đưa một ngón tay “cái” lên để xác nhận sự “thắng” rõ ràng.
 
Tôi thắng anh Định 45 trên 52.
 
Trên nguyên tắc, Cộng Đồng tạm thời cứ dùng văn phòng cạnh Boat People S.O.S. của anh Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng cho đến khi giải quyết.
 
Lại được thơ của hai tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Cali mời về Đại hội.  Trước kia hai tổ chức này cùng chung trong Liên Châu, thành lập cách đây vài năm, nhưng nay vì xích mích chia rẽ nhau thành hai Khối.
 
Một là của các anh Hoàng Văn Úy, Phạm Nam Khanh và một của anh Lê Hưng, Chu Tử Kỳ.  Đã có nghe chuyện hợp nhất, rồi lại chia rẽ, bởi khai trừ nhau, chụp mũ nhau, tôi không có nhận xét nào quá sớm, nên nay về họp cả hai bên để có một nhận xét chính xác.
 
Gọi điện thoại, rồi đi thăm hầu hết anh em Đảng viên hoặc Đảng tử tại vùng Thủ Đô, với ý định đi quan sát như vừa nói, thì được tất cả tán thành.  Chuẩn bị sau khi báo tin, hỏi lại ý định quan sát cả hai bên Đại hội xem họ có đồng ý không, thì được trả lời tán đồng.  Nghe nhiều nơi tán thành quan niệm ấy, khi mà việc chia rẽ đã làm nhiều đồng chí đau lòng.  Nay lại nghe ý định mà không ít người tin tưởng lòng trung thực, chân thành của tôi.  Thế là tin ngay anh Thu, chủ nhà in ở Maryland, với hoàn cảnh, để nhờ anh in cho quyển “Kinh Nghiệm Để Đời” trong 6 tuần lễ kịp đi Đại hội.
 
Có sách mang theo sẽ ra mắt, có ít tiền, khỏi mang tiếng là do bên nào cung cấp chi phí.  Trong sách sẽ nói rõ việc ly khai của Quốc Dân Đảng miền Trung, mà hầu hết số này, nay nằm trong khối các anh Lê Hưng, Chu Tử Kỳ, trong khi người cho mượn vốn để in sách lại là chị Bảo Quyên, một Trung Ương Ủy viên của các anh Lê Hưng thì còn gì “danh chính ngôn thuận” bằng.  Phải nói thế, vì nhiều người đã hiểu sai về chuyện ly khai lúc ấy, nhất là chú Phan Như Toản, muốn tự đề cao mình, luôn rêu rao như tôi chạy tội.  Tôi không hiểu mình tội gì, trong khi chưa hề được Đảng nâng đỡ như kiểu các chú Phan Như Toản, cũng được ra Dân Biểu mà khi phải gánh vác, phải chịu trận lại là chính mình.  Tôi lên tiếng khi về Đại hội cũng như khi ra mắt sách, là trong Tập I có nói rất rõ về chuyện này, chuyện ly khai, nếu đồng chí nào thấy không đúng xin nói cho biết, tôi còn đây, chứ đừng để khi nhắm mắt qua đời rồi, công, tội sẽ khó phân minh sáng tỏ.
Anh Thu Maryland đã cố in sách cho kịp ngày đi Cali.  Chuyến đi Cali này với 4 thùng sách, nếu không có anh Nguyễn Văn Tần, thường được gọi hỗn danh là Tần Lửa, giúp đưa lên sân bay thì chẳng dễ gì!
 
Chuyến này cho Hạnh cùng đi chơi, nhưng chỉ sau ngày khai mạc, Hạnh được ra ngoài, và sẽ về trước cho kịp ngày học.
 
Trước hôm dự định đi tham dự với tư cách quan sát, đã gửi một thư cho Tổng Bộ Chấp hành của các anh Lê Hưng, Chu Tử Kỳ, trong thư mở đầu bằng câu:  “Sau khi nhận được đầy đủ tài liệu của quý Tổng Bộ, chúng tôi đã nghiên cứu kỹ và sau hai hôm lại được thư mời của tổ chức Đại Hội bên kia ký tên lão đồng chí Hoàng Văn Úy.  Dù đã nghe biết từ lâu việc chẳng mấy vui này và cũng vì có theo dõi tình hình trong và ngoài nước, tình hình nội bộ ta, cũng như địch, chúng tôi không thể trình bày ra đây đầy đủ mà chỉ xin về tham dự để được biết sự việc của cả hai bên và xin quý đồng chí trả lời cho những thắc mắc hầu trở về thảo luận với nhau.  Từ trước tại Hoa Thịnh Đốn chưa hệ thống hóa tổ chức.
 
Trước lúc ra đi, chúng tôi đã đồng ý là không đứng về phe nào, nói chuyện “lỗi phải”.
 
Vì vậy mong Tổng bộ Chấp hành cho biết là có vui lòng cho được về tham dự  với tư cách ấy hay không?  Xin phúc đáp trước ngày 15 – 8 – 1995  và cũng xin thưa trước là chúng tôi mong được Tổng bộ Chấp hành dành cho ít phút để trình bày hoàn cảnh và đề nghị của Vùng Hoa Thịnh Đốn.
 
Rồi, bên Đại hội kia, với danh xưng là Liên Châu kỳ II, cũng có thư, đại ý như vậy và được đồng chí Trần Thắng (tức Bác sĩ Đỗ Văn Hội) thay mặt ban Tổ chức Đại hội, nên chúng tôi về phó hội.
 
Cứ nghĩ rằng ra đi với danh chính ngôn thuận như trên, để tránh vài đồng chí còn hạn hẹp sẽ dùng hai tiếng “chàng hảng”, tức là dang cả hai chân hai bên.  Dự đoán không sai, mà nghĩ lên tiếng để làm gì, nên chỉ cười cho những người hoạt động chính trị như vậy, thì mong gì thống nhất được nội bộ, chống chỏi nổi với một đám quỷ quái như Cộng Sản Việt Nam.
 
Về họp với Đại hội thứ nhất, nhận xét khá tỉ mỉ, nhất là tình hình nội bộ, tinh thần “đại lượng” phải có, mới mong có ngày bên kia thông cảm.  Hơi thất vọng!
 
Thấy rõ không khí của vài người cứ giả quên hay quên thật, về câu chuyện “ly khai” ngày trước, với cái áo oai hùng của Chiến khu Nam Ngãi, nhiều lần buộc phải lên tiếng xin ai thắc mắc cho rằng tôi nói trong Kinh Nghiệm Để Đời không đúng, mời lên tiếng!  Chẳng thấy ai lên tiếng, nên cứ nghĩ chẳng lẽ nhóm bên kia của anh Úy, Sinh tức là trong hệ phái Vũ Hồng Khanh thì còn ai thắc mắc để làm gì!  Chuyện Chiến khu Nam Ngãi bên ấy chẳng có mấy người nghĩ đến.  Nhưng, đêm nay, nằm ngủ chung giường với Hồ Văn Ánh và Nguyễn tường Chi, từ San José về dự cũng như Trần Thế Khiêm, đều với tư cách quan sát như mình càng nghe rõ.
 
Rời Đại hội thứ I, ra ngoài một hôm là Phụng và Lành đến lo giúp chuyện ra mắt sách tại nhà hàng Paracel của Giản.
 
Ngày ra mắt sách có khá nhiều anh em xưa cũ ở Quảng Nam như Hồ Xuân Thứ, Châu Đình Chương.  Có cả Nguyễn Thạch Kiên, nguyên Ủy viên Báo chí của Trung Ương ngày xưa, anh Phan Ngô, Võ Đại Tôn, Lê Khắc Lý, Nguyễn Mậu Quý cũng tới dự.
 
Kinh nghiệm cho thấy rằng ra mắt sách tại một tiệm ăn khá lớn cỡ Paracel mà không nói rõ, cũng rất dễ làm cho người tham dự ngại về chuyện ăn uống, mặc dù hôm ấy Phụng đã cố tình mời ca sĩ địa phương đến góp vui phần văn nghệ.  Tỏ ra lo lắng cho tôi, hôm nay ngoài vài người có lòng như Kỳ tức Sơn, Phụng, Lành, phải nói là anh Lý Trường Trân và nhiều bạn quen Hội An hay quê cũ của Nhượng.
 
Hôm đó có cả anh Chủ tịch Cộng đồng Thăng.  Đọc được trên anh một cảm nghĩ “anh già này kể ra cũng lắm chuyện, Cộng đồng chưa đủ lo sao, mà còn sách với vở!”
 
Xong buổi ra mắt sách lại vào với Đại hội của Liên Châu, các anh Hoàng Văn Úy, Phạm Sinh và Trần Thăng.
 
Theo dõi khá tỉ mỉ để sau này về báo cáo cho đầy đủ!  Nhưng trong lòng đã nghĩ ngay rằng hai anh Úy và Sinh tuy thiện chí vẫn còn, nhưng sức khỏe quả thật làm cho mình và ngay cả nhiều đồng chí trong Đại hội không khỏi có một ý nghĩ tương tợ.  Anh Úy bị suyễn quá nặng, gần như chẳng phút nào thấy bệnh tha cho anh, còn anh Sinh thì đôi mắt đã mờ, không còn xem được các giấy tờ dễ dàng chứ đừng nói là lái xe, viết bài . . .
 
Nhận xét các chi tiết cần thiết này, và đọc được ngay trong đôi mắt của cả anh Trần Thăng, biết ngay việc nội bộ Liên Châu ra sao, chứ không nói đến hai chữ cơ sở (!) mà nhiều người đã thường dùng làm lợi khi không thỏa mãn nhau.
 
Tối hôm ấy Đại hội của anh Trần Thăng có bữa cơm liên hoan nhau.  Có tham dự mới thấy quan niệm từ lâu nay thường tâm sự với anh em quả chẳng “ngoa” chút nào.  Cái quan niệm về ăn chay tuy không “lợi” là chẳng làm sao ngoại giao, mời mọc hay thết đãi ai.  Nhưng ăn chay ngoài những cái lợi cho sức khỏe, mà trong giao tiếp còn cái lợi là khi người khác ăn nhậu tha hồ nói, nói cả ruột gan, thì mình uống nước ngọt, trà, tỉnh bơ, mà ngồi nghe!  Bởi vậy hôm bữa cơm của anh Thắng đã nghe và thấy được các anh ấy khá chi tiết của câu chuyện nhận xét.
 
Đi Cali chuyến này, được dịp hiểu thêm về anh Cao Thế Dung!  Như đã nói, không thân với anh Dung vì nếp sống không giống nhau, nhưng lòng chẳng bao giờ không mến anh.  Trong chuyến này có người đã nói như anh Dung không phải Quốc Dân Đảng, tôi đã lên tiếng.
 
Đỗ Quý Sáng và Lê Thành Nhân đã từ giã anh Dung, để Nhân – con người còn phải xem xét lại kỹ! – Dẫn số người đến dự với Liên Châu, trong khi anh Sáng tách hẳn thành Việt Nam Quốc Dân Đảng Quốc Ngoại không luyến tiếc.  Tôi đã lên tiếng:  - “anh Dung trước đã tuyên thệ với anh Đính “cụt” sống trong xóm Bàn Cờ ở Việt Nam.”  Và muốn rõ ràng hơn, tôi kể anh Đính là đàn em của anh lê Hưng, thì anh Hưng đã cười và thanh minh:  - “Anh Đính là bạn chứ không phải đàn em tôi” mà anh em ai cũng thông cảm rằng đây là “nết” quen sống của anh Lê Hưng.  Câu chuyện là như vậy, nhưng khi về lại Hoa Thịnh Đốn, đọc trong một tờ báo, anh Dung thường hay viết đã thấy anh công kích mỉa mai, như đi nói xấu anh.  Cũng khỏi thanh minh!
 
Đi Cali về lập bản nhận xét về hai Đại hội đã nói, mà chính hai Đại hội này cũng mong được biết.
 
Bản nhận xét khá dài, nhưng có thể tóm tắt bằng khởi đầu:  “Đây là sự rạn nứt từ một tổ chức trước là Liên Châu do Đại hội 1994 bầu ra, nhưng bởi cơm không lành canh không ngọt.  Phải nói thế, vì ngoài hai Đại hội này cũng còn vài nhóm nhỏ bởi tự ái, bởi danh vị mà người đảng viên nặng lòng vì Đảng sẽ hiểu rõ.”
 
Nhận xét là chuyện đổ lỗi cho nhau không phải là hết thuốc chữa.  Thành phần trẻ đủ sức cáng đáng thì chia nhau, chẳng có bao người, chưa nói là đám già chính là cái “gai” cần phải nhổ v.v. . .  mới mong yên chuyện.
 
Kết luận:  - “Đứng trên tinh thần xây dựng chung, ngoài những đau buồn phải có trong lòng người đảng viên, khi chưa thấm nhuần thông suốt lời phát biểu của các đồng chí Đông Âu là  “THANH LỌC”  để bài tiết một quá trình thống nhất”.  Tôi không thể nào nín giữ được, cầm được nỗi uất nghẹn tận đáy lòng “khóc òa” cúi lạy chân dung Cố Đảng trưởng Nguyễn Thái Học trước lúc Hội trường chia tay lần Đại hội thứ Nhất.
 
Và đề nghị cả hai bên “Làm sao bẻ được những gai nhọn trong số “già” ngăn cản sự thống nhất.  Phải độ lượng thay vì chụp mũ nhau khi không đưa ra một bằng chứng hiển nhiên của đám trẻ.  Mời một vài người đứng ra làm trung gian”.  Và nếu thấy rằng độ lượng chưa sẵn có, thì cứ hoạt động trong lãnh vực mình, phạm vi mình mà không đánh phá nhau, hoặc chỉ dùng cơ sở để thống nhất như trước kia tôi đã làm tại Việt Nam năm 1968 – 1969.
 
Quay qua chuyện Cộng đồng, thấy rõ rằng Ban Chấp hành cũ, anh Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng cùng các anh Nguyễn Tự Cường hay Trương Văn Thuần, Trần Tử Thanh thường cảm thấy khó chịu khi gặp phải sự tránh né đáng lẽ không nên có của Tân Ban Chấp hành của ông Lý Văn Phước, mà tôi là Chủ tịch Hội đồng Đại biểu, hay nói gọn là Chủ tịch Cộng đồng, mới mong tránh được sự chia rẽ nhau, mới mong tạo tạo hiệu năng trong công tác.  Một số người ông Phước mời vào thường thích biểu diễn trước đám đông hơn là thích thực sự phục vụ, đã làm mình lo ngại.  Việc lo ngại ấy đã thể hiện khi mà chị Jackie Bông cộng tác, mừng chưa được bao lâu, đã có người thiếu thông cảm, tạo nên việc để chị từ chối không giúp đỡ nữa. 
 
Rồi bước vào thiên niên kỷ mới chẳng còn bao xa, mà bao nhiêu việc trong ý thức tranh chấp với Cộng Sản trước mắt.  Sau ngày có sự hiện diện của tù nhân lương tâm Đoàn Viết Hoạt tại Vùng Thủ Đô thì nào là ngày trao giải thưởng, ngày ra mắt trước Quốc Hội, đã chẳng mấy lúc Chủ tịch Cộng Đồng vắng mặt.
 
Cái quan trọng là Sứ quán Cộng Sản tại đây tung bao nhiêu đám nằm vùng dưới sự chỉ đạo của phòng Phản gián chúng, buộc ta không thể lơ là, chưa nói nguyên tắc đối phó với Cộng Sản, không phải chỉ theo đuôi mà phải tung đủ đòn phép từ trong quốc nội, tạo đủ cách ly gián để làm suy yếu tiềm lực chúng.
Cũng trong ý thức này, một hôm khi cuộc tiếp xúc của Tiến sĩ Đoàn Viết Hoạt tại một Thư viện ở D.C. đang diễn tiến thì một chuyện khá hay xảy đến.
 
Quan khách tham dự đang lắng nghe Ban Tổ chức trình bày, đến lượt ông Hoạt thì người phụ trách trong Ban Tổ chức, mà lúc nãy lúc mới vào Phòng đã vui vẻ tiếp chuyện và trao cho tôi tấm danh thiếp, đã như sực nhớ, lên tiếng giới thiệu về sự hiện diện của tôi “Mr. PHAN, Chairman of Metropolitan Area!”
 
Dĩ nhiên, tôi nghiêng đầu chào quan khách buổi họp, nhưng “nghề nghiệp” phải chú ý và nhìn quanh phòng.
 
Thì ra có hai chú trẻ Việt Cộng vừa vào Phòng với một cô gái người Nam Mỹ, ngồi ngay ở dãy ghế gần cửa ra vào.  Liếc nhìn lại cái cười khá đặc biệt của anh bạn Mỹ trong Ban Tổ chức nói lúc nãy, để bắt gặp cái nhìn khá đặc biệt của anh.
 
Phải hiểu ngay là gì, nên quay lại anh bạn có máy ảnh mang theo, để bắt gặp anh cũng chẳng vừa, theo nghề nghiệp chụp quanh vài Poses rồi quay sang ba người kia “bấm”.
 
Thế là chúng tôi có một tấm hình lý thú.  Chỉ tiếc không được vỗ vai hai chú Việt Cộng kia để nói rằng:  “Đây là xứ Mỹ, tự do nghe!  Tự do ghi chép!  Nhưng chớ dại nghĩ rằng tất cả đều ngây thơ, đều thiếu “đỉnh cao trí tuệ” như các chú, lãnh lấy phần thua lỗ nhé!”
 
“Các chú được quyền xem như đây là chìa khóa phản của ngành phản gián, thì chúng tôi cũng vậy thôi!”
 
Và rồi biểu tình và biểu tình.
 
Cho đến Tết năm ấy, Đài Phát thanh Á Châu Tự Do dành cho Chủ tịch Cộng đồng Vùng Hoa Thịnh Đốn gửi lời chúc Tết đồng bào Quốc Nội, mà nghĩ rằng đây là một dịp tốt để nói cho đồng bào Quốc Nội yên tâm, đừng lo những kẻ ra đi chỉ biết hưởng thụ, yên tâm là luôn có hậu thuẫn của Hải ngoại, của Quốc tế, mà cùng nhau đấu tranh buộc Cộng Sản phải từ bỏ ngoan cố, đất nước được tự do, no ấm.  Buổi phát thanh này thâu vào tape sau cho bạn bè, nhất là những người được tin từ trong nước là có ý nghe bài chúc Tết ấy.
Dù bận rộn tới đâu và dù nghĩ rằng ngày Yên Báy không còn là một lễ của Đảng, bởi lẽ Hai Bà Trưng cũng do Hội Cao Niên tổ chức, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương cũng vậy.  Nên ngày 17 – 6  năm nay, có điều kiện hơn, nên bàn với Trần Tử Thanh tổ chúc tại MASON DISTRICT.
 
Buổi lễ khá thành công, dù khó tránh vài khuyết điểm nhỏ, như khi giới thiệu quan khách tham dự hay không lường được vài bất đồng trong nội bộ đồng hương mà có chuyện “đả đảo” nhau.  May chẳng đến nỗi gay cấn để phải bị Cảnh sát hỏi thăm sức khỏe, bởi đây là một phòng họp nhỏ trong Ty Cảnh sát.
 
Hôm ấy được Đài Á Châu Tự Do đặt một số câu hỏi, nghe đâu tại Cali, chị Bảo Quyên và Tổng Bí Thư cũng có trường hợp tương tự.
 
Riêng tại đây, hai câu hỏi đặt ra, được tôi trả lời và tối hôm đó đã nghe phát thanh lại.
 
Câu thứ nhất:
 
Vị Anh hùng Nguyễn Thái Học đã để lại câu châm ngôn:  “KHÔNG THÀNH CÔNG THÌ THÀNH NHÂN”.  Một số người trẻ bây giờ nghĩ rằng 60 năm về trước THÀNH NHÂN là rất cao quý, nhưng thời đại này phải đặt THÀNH CÔNG là mục tiêu, nhất là chiến đấu cho Tự Do Dân Chủ thành công rồi tiếp tục lý tưởng để thành nhân thì quý hơn.  Xin cho biết ý kiến.
 
Trả lời:  (của Nguyên Tổng Ủy viên Nghiên Huấn Trung Ương Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống Nhất)
 
-         Đừng dẫm vào vết xe cũ của Cộng Sản Việt Nam “Chỉ cần thành công mà không đếm xỉa gì đến Dân tộc và Tổ Quốc”.  Và, đừng hiểu chữ “NHÂN” chỉ có nghĩa là người, mà nó còn có nghĩa là nguyên nhân, nguồn gốc như hạt nhân.  Dù chưa thật sự thành công ngày Yên Báy, nhưng đã đạt được “hạt nhân” trên chính nghĩa đủ để cho hậu thế noi gương, ấy là lời nói của Nguyễn Thái Học.  Nếu chiến đấu cho Tự Do Dân Chủ, vì chính nghĩa trong chính nhân thì chẳng khác nào câu nói của Anh hùng Nguyễn Thái Học.  Nếu chiến đấu cho Tự Do Dân Chủ vì chính nghĩa trong chính nhân thì sự thành công càng dễ dàng và kết quả sẽ lâu bền và vĩnh cửu.
 
Ngược lại, chỉ cần thành công mà không cần gì phải có chính nghĩa do chính nhân như Cộng Sản Việt Nam hay một số người đã đánh mất lương tri, thì sẽ bị hủy diệt, chưa nói là rất tai hại.
 
Câu thứ hai:
 
Vai trò của Việt Nam Quốc Dân Đảng trong công cuộc tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ tại Việt Nam hiện nay?
 
Trả lời:
 
-         Tại Việt Nam còn rất nhiều đồng chí của chúng tôi đã hoặc âm thầm trong bí mật hoặc công khai hòa mình vào quần chúng đấu tranh chống Cộng Sản.  Đấy là đường lối chung của Đảng.
 
-         Tại Hải ngoại cũng vậy, không chuộng hư danh mà giữ vững sách lược, kẻ công khai đấu tranh, người đứng sau yểm trợ, để phải dùng khi cần đến.  Tất cả hướng về Quốc nội, yểm trợ.
 
-         Đây là vai trò của Việt Nam Quốc Dân Đảng chúng tôi trong công cuộc đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ hiện nay.
 
Phải tổ chức buổi ra mắt sách tại Galaxy, trước đây ra mắt sách tại Paracel ở Cali, đã vấp phải một kinh nghiệm là không nói cho rõ, để rồi sau đấy có người nhắc khéo là nhiều “ngại” tại nhà hàng lớn mà không đi.  Nghĩa là phải nói, quan khách tham dự đã có giải khát do Ban Tổ chức cung cấp, trừ ra ăn uống mới phải trả tiền cho nhà hàng.  Thì nay lại một kinh nghiệm khác, không đạt giấy mời cá nhân, mà chỉ tin tưởng có đăng báo, nhờ Đài Phát thanh, nên số quan khách tham dự chỉ là những Vị trong Hội đoàn.
 
Do đó, buổi ra mắt lần này không thành công lắm.
 
Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, Trung tâm quyền lực Hoa Kỳ, đúng với quan niệm ấy, nên hầu hết các tổ chức từ các nơi luôn về đây “múa may” là chuyện dĩ nhiên.
 
Mọi tổ chức chính trị như Liên Minh Dân Chủ hay của Chiến sĩ Võ Đại Tôn, đến ngay cả cái bà Vô Thượng Sư gì đó cũng không quên.  Và cũng vì vậy, Chủ tịch Cộng đồng luôn phải đến tham dự để nghe biết, chứ không nói khi bị mời phát biểu – thì đừng mong cử người đại diện, bởi họ chỉ cần tiếng nói, ý kiến của mình.
 
Còn về chuyện với Cộng Sản thì khỏi nói!  Sau khi hò hét ở công trường La Fayette trước Tòa Bạch Ốc là đến đường Massachusette của Sứ quán Lê Văn Bàng.  Ở đây người tham dự, Ban tổ chức thường rất độc đáo ở chỗ không bao giờ dễ dãi thấy ông Chủ tịch Cộng đồng vắng mặt, ông Chủ tịch Cộng đồng chỉ buông xuôi hai tay, đi qua, đi lại mà phải hò la phát biểu!
 
Đến câu chuyện Trần Văn Trường xảy ra tại Nam Cali, am hiểu chính trị chút ít phải hiểu rõ rằng Cộng Sản không cần làm lớn chuyện ở Vùng Thủ Đô mà chỉ nhằm vào những nơi người Việt đông, nhất là tại Cali, Texax hay San Jose.  Tại sao vậy?  Cộng Sản luôn có quan niệm rằng những nơi người Việt tị nạn đông mà chúng thắng được là làm nản lòng đám tị nạn.  Gây tại Thủ Đô, thắng chẳng sao bằng những nơi ấy, mà thua là bẽ mặt với chính quyền Mỹ, chưa nói là khi người Việt phẫn uất gây nên một tình trạng cao độ, tên Đại sứ Cộng Sản sẽ khó tránh việc hỏi thăm sức khỏe, bởi nghi ngờ là Cộng Sản chủ trương, là tên Đại sứ ra lệnh, không thể nào yên hơn các nơi khác.  
 
Tuy nhiên sau vụ Trần Văn Trường treo cờ máu và hình Hồ tặc tại Cali, Cộng đồng Vùng Thủ Đô cũng lên tiếng hưởng ứng ngay, và triệu tập buổi họp tại trụ sở Hội Cao Niên để thành lập Chiến dịch bảo vệ Cờ Vàng ba sọc đỏ và nhân quyền cho Việt Nam, đồng thời mở ngay Quỹ Chính Nghĩa để cung ứng cho nhu cầu.  Khi nghe Cali, Hồ Anh Tuấn mời các nơi về họp bàn kế sách đối phó với Cộng Sản trong những ngày sắp đến, nghĩ ngay ra những gì có thể xảy như vấn đề tiền, vấn đề Cộng Sản tìm cách đối phó mà không thể lặng yên.  Mua 2 vé máy bay để cùng Chủ tịch chấp hành Lý Văn Phước chuẩn bị đi Cali.
 
Một anh bạn hăng say tình nguyện xuất tiền túi mua vé, cùng đi Cali chuyến này.  Đấy là anh Đào Đình Trọng, có tiệm bán xe hơi.  Anh trọng không ngại chuyện phá hoại  của đám nằm vùng với một thương gia mà sau này đã có xảy ra, nhưng lòng hăng say chống Cộng của anh vẫn thắng.
 
Đến Cali, nhận thấy ngay một sự kiện thiếu đoàn kết, khi mà câu chuyện Trần Văn Trường vừa tạm ổn, cho phép ai cũng phải nghĩ ngay rằng anh Hồ Anh Tuấn đang ở trong một hoàn cảnh dễ bị thúc đẩy sau lưng, để mất đi cái lưng tựa quan trọng là “các Hội đoàn”. 
 
Chúng tôi im lặng nghĩ ngay nguyên tắc đưa Hồ Anh Tuấn gần lại với các Hội đoàn, may ra tránh được “đòn phép” khác mà đám nằm vùng sẽ tung ra để chia rẽ hàng ngũ ta, đánh phá ta bằng bùa phép khác.
 
Vào dự buổi họp sơ bộ, không thấy các Hội đoàn, thay vào đó là một anh từ Thủ Đô về đang cố lèo lái Tuấn.  Nghĩ vậy, vì có người đã thầm cho biết anh này về đây do Tuấn mua vé máy bay cho.  Không còn nghi ngờ gì nữa, nhưng cái nguyên tắc như đã có nói trong đọan trước khi còn trong tù “đấu tranh chống lao động” với Cộng Sản, là phải tạo ra cơ hội mà phần sai quấy phải về phía đối phương trước.  Tôi im lặng chờ đợi, chưa nói là mở một con đường cho họ phạm vào cái sai quấy như đã nói.
 
Nhìn thấy anh bạn kia được Tuấn cho ngồi bàn chủ tọa cùng vài người khác, mỉm cười và chờ đúng lúc.  Đến khi được trình bày “tình trạng đất nước ngày nay không phải quốc ngoại biểu tình mà mong lật được Cộng Sản, cũng không phải trong nước nổi dậy mà dẹp được Cộng Sản, lại cũng không phải do Quốc tế dùng vấn đề tiền tệ o ép được họ.  Nhưng cả ba đều là “cái kiềng ba chân để hỗ tương nhau cho một động cơ chính lật đổ được Cộng Sản”.  Vừa nói đến đây thì quả nhiên anh bạn kia trên bàn chủ tọa đã giơ tay ngăn tôi đang phát biểu ‘ông Vỹ đã nói ra ngoài đề” và anh ta cắt đứt không cho nói thêm.  Như một cái máy, đã đạt được mục đích, tôi đứng lên không phân bua, ôm cặp định rời khỏi phòng họp.  Một số đông, trong đó có các anh Trương Như Phùng (Texas), Nguyễn Tường Thược (New Jersey) ngăn, yêu cầu tôi tiếp tục ở lại, đừng để âm mưu đen tối kia được thực hiện.  Buổi họp như đã bại lộ, chờ cuộc họp chính thức ngày mai khai mạc.  Đây là lúc tôi thông báo ngay cho các đoàn thể, trong ấy ngoài Cộng đồng là hai đảng lớn Đại Việt và Quốc Dân Đảng biết, để chặn đứng hành động này trong ngày mai.
 
Hôm sau, anh kia như cảm thấy không còn ý định dùng bàn chủ tọa thực hiện mưu đồ, trong khi ấy ngoài ba vị khác là Chủ tọa thì hai Đại diện Đảng phái vừa nói cũng có mặt.
 
Câu chuyện được chuyển qua hướng khác, mà có lẽ Hồ Anh Tuấn đã được mách nước đưa từ cái thế Cộng đồng thành cái lực “Ủy ban Bảo vệ Chính nghĩa Quốc Gia”.  Nhưng đến khi giới thiệu thành phần Ủy ban Cố vấn, ngoài Thượng tọa Thích Giác Lượng là Chủ tịch, đến tôi.  Phan Vỹ và anh Phan Ngô, thì có người đã lên tiếng giới thiệu cũng cái anh bạn hôm qua.  Thấy không thể ôn hòa hơn, mà sau này sẽ dễ gẫy đổ, tôi vội bước ngay lên bàn Chủ tọa hỏi:  “Ai đã giới thiệu anh này làm Cố vấn?  Có biết anh là ai không?”  Đang tiếp tục nhắc mọi người biết rằng anh công khai tại Vùng Thủ Đô là Cố vấn cho một tổ chức “hai mang” do Cộng Sản giật dây, mà đã có lần về tại đây, CALI bị đồng bào tẩy chay.  Đang còn muốn nói rõ hơn nữa, thì có người đã lớn tiếng cho biết anh đã rút tên.  Nghĩ rằng đã đủ, chúng tôi thôi tấn công thêm.  Hôm sau, còn một ngày trước khi trở về Thủ Đô để báo cáo sự việc, tôi tiếp xúc những người không thuộc phe nhóm để biết thật rõ mưu lược, thiện chí của Cộng đồng tại đây, của những gì Hồ Anh Tuấn đang chủ trương để rút thêm cho mình một kinh nghiệm, và cho mai sau.  
 
Sau câu chuyện Đại hội Chính Nghĩa không thể nào chẳng đặt ra một nghi vấn về câu chuyện khi mà Hồ Anh Tuấn tách rời Cộng đồng và Hội đoàn để lấy cái lưng dựa của anh kia để mưu dựng nên cái Ủy ban Bảo Vệ Chính Nghĩa Quốc Gia, có thể là cả Quốc Tế.  Đặt khá nhiều về giả thuyết đối với Tuấn, khi cứ hồ nghi đến câu chuyện từ TIỀN mà nảy sinh, nên nhiều nghi ngờ bắt đầu vẩn vơ.  Chiều hôm ấy theo lời hẹn sẽ nhờ cháu Nhân chở đi thăm anh chị Trần Ngọc Châu và ăn cơm tối với anh.
 
Nghe tôi cho biết, anh Lý Trường Trân đã tâm sự “gần đây nghe đồn là anh Châu có mời Thiệu ghé chơi thường!  Ghé thăm và ăn cơm, Cậu nên tìm hiểu câu chuyện ấy chắc không phải vô bổ đâu nhé.”
 
Anh Châu ở khá xa, tại thành phố trước đây đã xảy ra cuộc động đất, hỏi thì Nhân cho biết cháu rất biết vùng này, đừng lo.  Xe chạy khá lâu, mất gần hai giờ đồng hồ, Nhân rất thạo, yên tâm, nhưng khi hỏi cháu mới biết là trước có ở vùng này.
 
Cuối cùng, xe đến nhà anh Châu hơi khuya, mừng quá, vì nào ngờ hôm nay gặp lại nhau.  Nhưng điều ân hận là quên không báo tin với chị Châu mình ăn chay trường từ trên 20 năm nay, trong khi thấy chị dọn cho một bữa cơm rất ngon.  Khi nghe trình bày để chị thông cảm cho việc thiếu lưu ý ấy, chị Châu đã cười.
 
-         Nếu biết anh ăn chay, tôi đã nấu đãi anh một bữa chay thích thú – bởi chị cũng có tài nấu cơm chay, người Huế mà lỵ!
 
Thế là anh Châu và cháu Nhân ăn bữa cỗ ngon lành ấy.  Tôi giải quyết đơn giản để nói chuyện đã ước mong từ lâu.  Anh Châu chân thành nhắc lại những thâm tình dành cho, khi nghe tôi nhắc lại tình cảm ngày mời về Tổ chức Dân Sự Vụ như đã nói.
Được dịp kể lại anh nghe bao nhiêu người quen biết không hiểu về anh và câu chuyện xảy ra khi ông Thiệu cho bắt, vì liên hệ với Trần Ngọc Hiền.
 
Không chỉ hiểu lầm, mà không ít người đã đơn giản nghi anh thân Cộng hay ác ý hơn cho rằng anh thuộc loại “nằm vùng”.  Tôi phải dẫn chứng chuyện tính tình anh, nhất là khi nói ngay câu chuyện Mỹ cho bắt Huỳnh Văn Trọng, Cố vấn của Thiệu thì Thiệu cho khui chuyện Trần Ngọc Hiền để bắt Châu, không chỉ để dành độc quyền quan hệ với Cộng Sản, giữa Mỹ và Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, mà còn là bao nhiêu khúc mắc của cái thế dành lẽ phải về phần mình!
 
Trong câu chuyện, anh Châu đã kể cho nghe những cuộc họp sau này với bạn bè quen biết người Mỹ, mà anh đã mỉa mai khi nhận xét không dân tộc nào ngạo mạn như người Mỹ, khi đem một Tổng Thống, biểu tượng Quốc Gia ra làm bất cứ gì, rồi ngày mai lại đưa biểu tượng này đi đến để quyết định một thế đứng Quốc Tế!
 
Khi nhìn lại chuyện cũ, của cái thế đứng Quốc Gia với đám người đang làm theo lệnh Quốc tế Cộng Sản, anh Châu vẫn giữ đúng những quan niệm ngày xưa mà tôi rất tán thành, là không thể giải quyết để thắng Cộng Sản bằng chiến tranh.
 
Khi về xem lại một bài viết của cựu Thượng Nghị Sĩ Phạm Nam Sách về cuộc phỏng vấn của tuần báo Thời Luận, ngày Chủ Nhật  24 – 7 – 1994, nhân dịp nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí minh, tức Saigon cũ, xuất bản và phát hành bản dịch cuốn “FACING THE PHOENIX” bởi nhà xuất bản W. W. NORTON ở Nữu Ước phát hành vào năm 1991 càng thấy anh Châu rõ ràng hơn, nhất là nhận định của mình.
 
Trong bài báo nói trên, khó quên nhất là ông Sách đã viết rằng “Đem so sánh ông Thiệu và ông Châu, hiển nhiên về gia thế, về học thức, ngay cả về quân sự thì ông Châu bỏ xa ông Thiệu nhiều”.  Ông Sách còn nhận xét “Ông Thiệu không có đường lối rõ rệt, ông sử dụng trực giác thực tiễn, mềm dẻo và bén nhạy chạy theo biến chuyển thời cuộc để củng cố địa vị.  Ông Trần Ngọc Châu có đường lối, ông sử dụng tư duy xã hội và chính trị cương quyết, cứng rắn theo đuổi con đường ông lựa chọn.  Ông Thiệu đi vào guồng máy thời đại, ông Châu muốn tạo dựng thế riêng của Việt Nam.
 
Anh Châu cho biết thêm là không lâu nữa sẽ có tác phẩm “Vụ án Trần Ngọc Châu” do một Nữ Ký giả Hoa Kỳ phát hành, trong đó có khá nhiều bài trích của Bà Elizabeth Pond của Dr. Daniel Ellsberg báo Los Angeles Times để chứng minh cho lập trường của anh đối với đất nước.
 
Thấy quá khuya, tôi từ giã anh chị Châu.  Nhưng trước lúc chia tay, đi ngang nơi anh dùng đọc sách, anh đã quá thâm tình, giới thiệu cho thấy một tủ sách mà anh treo khá nhiều hình ảnh trong quá khứ, vừa cười vừa chân tình chỉ cánh cửa tủ sách.
 
-         Với người khác thì chỉ giới thiệu những hình ảnh bên ngoài, nhưng với anh Vỹ thì phải giới thiệu những hình ảnh dán “bên trong”.  Cả hai cùng cười, trong khi tôi cố phân tách những tấm hình đáng quý ấy.
 
Và nghĩ rằng đã đến lúc phải hỏi câu của anh Lý Trường Trân căn dặn trước lúc ra đi.
 
-         À, quên hỏi anh là ngày gần đây có người nói anh hay mời ông Thiệu ghé chơi đây phải không?
 
Anh Châu đứng phắt lại nhìn tôi, không phải tức giận, nhưng có ngạc nhiên thì đúng hơn.
 
-         Anh Vỹ, hẳn anh hiểu tôi nhiều, đã biết tôi và ông Thiệu quen nhau từ quá lâu, thân nhau từ ngày ở Đà Lạt.  Anh ngưng một giây, rồi lại chẳng còn bút mực nào tả ra chuyện hờn giận, chứ không nói là thù oán nhau của những ngày sau đấy, thì nay tại sao tôi mời ông Thiệu đến để làm gì?
 
Rồi anh chỉ chiếc SOFA bên cạnh và tiếp:
 
-         Đây vợ chồng ông Thiệu về và ngồi nơi đây.  Còn chuyện tại sao về đây để làm gì, chắc tôi không nói, anh thừa sức hiểu!
 
Tôi lịch sự, ngắt lời anh, không nói gì, nhưng phải hiểu, như anh Châu đã nói.  Chúng tôi chia tay nhau, và trên đường về, cháu Nhân đã nhẹ nhàng cho biết là chưa bao giờ được nghe một người am hiểu tình hình đất nước như ông Châu.
 
Hôm sau về gặp lại anh Trân kể rõ chuyện anh Châu và không quên về lục lại những tài liệu cũ, nhất là quyển sách anh Châu cho mượn quyển “CIA và sự thất bại chính trị của Hoa Kỳ ở Việt Nam của ZALIN GRANT”.
Xem sách cũ, nhớ chuyện xưa, khi đem so sánh với bạn bè quen biết, mới thấy rõ sự hạn hẹp kiến thức của mình đến độ nào.  Nhưng rồi tự an ủi của cái thời trai trẻ gửi gấm theo đấu tranh quá sớm thì trách gì, miễn là hiểu được để còn sống còn học, còn trau dồi, còn hoạt động cho đất nước không chỉ an hưởng hay quan niệm như một số người đã gặp.
 
Và cũng vì vậy, nghĩ ngay đến việc khi nào Tập II “Kinh Nghiệm Để Đời” ra đời, nên mời phải có anh Trần Ngọc Châu, một trong những người góp ý nhận xét về mình hay về tác phẩm mình trong những ngày cuối cuộc đời, mới phải lẽ.
 
Về lại Thủ Đô, đem những nhận xét ra báo cáo với đồng hương.  Nhưng dĩ nhiên không dám bộc lộ hết những nghi ngờ, những hiểu biết thu nhận được ở Cali, bởi thấy ngay vài người thiếu ý thức hay nói đúng hơn là quan điểm, đáng lẽ nên tin lời mình.  Dự trù trước là câu chuyện sẽ bị lợi dụng trên một khía cạnh khác, để tẩu tán số tiền đồng hương góp tại Cali.  Nhưng cũng thấy ngay được những ai coi thường quần chúng, chỉ là những người đã đi vào quỹ đạo của Cộng Sản đã tự đốt cháy ngay cá nhân mình và có tội làm mất lòng tin đồng hương.
 
Không quá nghi ngờ, nhưng nghe một chú đến hỏi mình nhiều câu hàm ý rằng:  “Lúc trước anh có về Trại Chí Linh Vũng Tầu của Nguyễn Bé để tìm hiểu anh Bé do Bộ xây Dựng Nông Thôn nhờ, vậy anh có cảm nghĩ gì về Hồ Anh Tuấn khi anh ấy nói Phụ tá cho anh Bé, mà ngược lại có người cho rằng anh ấy là một trong những Chiêu Hồi được sử dụng?
 
Trả lời bằng sự im lặng, bởi chưa biết dụng ý của người hỏi.
 
Câu chuyện Trần Văn Trường đi vào một ngã rẽ khác, thì tiếp sau là chuyện tôn giáo của Hòa Thượng Thích Giác Lượng.  Nhưng bởi không phải câu chuyện Hòa Thượng Thích Giác Nhân có nói trong đoạn trước, mà cũng không phải nghĩ đến chuyện Hồ Anh Tuấn lại đang dùng đây làm lá bùa thứ hai, sau khi lá bùa đã nói, không hiệu quả nữa. Trước đây Hòa Thượng Thích Giác Lượng lên tận nhà anh Trần Thiện Hiệu, nhờ Trần Lam Thanh đón về để muốn giúp Thầy tại địa phương, như người đại diện tổ chức.  Nhưng thành thật tỏ với Thầy là hiến chương không thể nào cho phép làm việc ấy, mà chỉ ủng hộ Thầy như đã ủng hộ các tổ chức Quốc Gia khác.
 
Có lẽ Tuấn hay Hòa Thượng Lượng cũng thấy được cái kinh nghiệm sau bao nhiêu đau khổ của 76 tuổi già, mình e dè, cẩn thận không phải là điều quá đáng.
 
Dĩ nhiên, ngày tổ chức của Thầy Thích Giác Lượng bên cạnh có con bài Hồ Anh Tuấn, đưa ra nhiều việc khá quan trọng của “Rước Quốc Kỳ” đã không thành công như ý muốn, vì đồng bào Thủ Đô hẳn đã ngửi thấy một điều gì còn thiếu trong sáng, nên dù là Chủ tịch Cộng Đồng có lòng cổ động, có tham gia cũng chỉ trong cô đơn, đáng thương hại!
 
Nhưng tối hôm ấy, trong bữa cơm Cộng Đồng mời các đại diện các Tiểu ban về tham dự, tại nhà hàng Hương Quê, lắng nghe mới biết câu chuyện đã hướng về khía cạnh Mặt Trận Hoàng Cơ Minh mà với bao nhiêu kinh nghiệm đau thương như đã nói, cố giữ cho mình khỏi lạc vào quỹ đạo, làm con bung xung của vài chống đối mình chưa nên vội dấn thân.
 
Thì sau những ngày quá bận rộn, bê bối giấy tờ bỏ ngập phòng, sáng nay ngồi sắp xếp lại, bỗng thấy một tài liệu ai gửi đến với đầu đề “Một đêm tâm sự với người bạn trẻ” của Luật sư Hoàng Duy Hùng.  Ngồi đọc ngấu nghiến, thấy rằng đây là một tài liệu khá hữu dụng, nên phổ biến cho những người có tinh thần chống Cộng, nhưng chưa sâu sắc.  Tài liệu giúp ta trả lời những câu rất thông thường “Cộng Sản đâu còn mà chống?”  hay  “người Việt hải ngoại đấm đá nhau như vậy thì mong gì hơn nổi Cộng Sản!” v.v. . .  Nảy ý định phổ biến bài này lên buổ phát thanh ngay hôm ấy và hẹn ai cần gửi hai con tem sẽ gửi biếu.  In ra nhiều bản, và thế là ngay vài hôm sau đã có nhiều bạn từ khá xa gửi thư hỏi xin.  Không gì vui bằng khi làm được những việc như trên chứ đâu phải lấp biển vá trời mới là chống Cộng!
 
Thỉnh thoảng lại nghe điện thoại anh Nguyễn Bá Long từ Canada gọi qua để hỏi đã nhận được số báo vừa qua anh gửi sang chưa.  Trong ấy có bài phát biểu của Chủ tịch Cộng Đồng đăng trên trang 3 tờ Đối Lực.
 
Nhớ lại ngày anh đưa tổ chức Đại Hội Hải Ngoại vận động toàn dân nổi dậy chấm dứt chuyên chính tại Thủ Đô, và muốn dụ Trần Tử Thanh làm đại diện, đã chân thành nói anh biết rằng với Quốc Dân Đảng, việc của Ba cháu mà cháu còn chưa vội giải quyết, thì không nên đem cháu vào một việc khác.  Mình đã đoán đúng, vì tuy không phải Đảng, nhưng nay đã chính thức gọi là Liên Minh các Lực lượng Dân tộc Việt Nam, thì hẳn là tổ nội Đảng rồi!
 
Câu chuyện Mặt trận Hoàng Cơ Minh hay nay là Liên minh Việt Nam Tự Do đã tạo nên không ít người thực sự hiểu biết mà chỉ nghe đồn là tin.  Mình không thể như vậy!
 
Theo dõi những bài của anh Đại Dương trên báo Người Dân và ngay cả trên Internet, E Mail để biết thực rõ!  Hôm được bài của anh Đặng Vũ Chấn trả lời với Đại Dương, đem kể lại ông bạn già Nguyễn Đại Thắng, với hai lập luận của anh Chấn là việc chết của ông Minh phải do gia đình ông lên tiếng hay việc thắc mắc về tiền bạc quyên góp nên dành cho người có đóng góp đứng ra chất vấn.  Mới nghe như đơn giản, nhưng khi được Cụ Nguyễn Đại Thắng không đồng ý quan niệm này, một cách khá hữu lý, mới thấy lời nói của anh Đại Dương cần suy nghĩ lại.
 
Dù sao, tùy địa phương, bởi nếu tại Vùng Thủ Đô ta lại tấn công Mặt Trận kỹ quá thì chắc chắn sẽ gặp vài trở ngại nhỏ, bởi một số cao niên nhân sĩ tại đây không đi sâu vào vấn đề mà chỉ nhìn qua cái lịch sự dễ thương của Bác sĩ Chấn, Cơ sở Trưởng của Mặt Trận, của Ngoại vi Mặt Trận như Cụ Đinh Mạnh Hùng hay anh Đinh Hùng Cường hẳn việc tấn công kỹ của ta không mấy lợi.  Vừa qua đi Phila và Lancaster nghe ra thì ở đây đa số tham gia Mặt Trận là thành phần chống Cộng.
 
Nói thế, nhưng đọc vài tờ báo ở Cali, thấy chuyện Luật sư Hùng quyết tranh luận với nhóm đầu não Mặt Trận, ta hẳn lại đặt thêm nhiều dấu hỏi khác.  Rõ thật là rắc rối!
 
Hôm hai anh của Quốc Dân Đảng về thăm Vùng Thủ Đô, tôi đã đứng ra tổ chức giúp một bữa cơm để gặp vài chục đại diện Đảng phái, thân hào tại nhà hàng Saigon House.
 
Cứ nghĩ như trước đây anh Đức, Tổng Bí Thư Liên minh Việt Nam Tự Do về Thủ Đô và Cụ Đinh Mạnh Hùng tổ chức tại nhà hàng đường Graham, không mấy lưu tâm trong việc tiếp xúc, nên sau này nghe ra vài bạn chí thân nói với tính cách xây dựng, mình nghĩ cũng là một kinh nghiệm vậy!
 
Bởi hai anh này quên đi việc phải làm là tiếp xúc nhiều hơn!
 
Tuổi trẻ thắp sáng quê hương!
 
Vùng Thủ Đô được tuổi trẻ hăng hái tổ chức khá thành công, trong khi một số em khác vì thiếu thông cảm hay vì “Gà ghét nhau tiếng gáy” đã làm Chủ tịch Cộng Đồng cũng không ít nhức đầu.  Đêm Thắp Sáng Quê Hương thành công tại đài kỷ niệm Lincoln ở Washington D.C. xong là có một số trẻ khác do em Phương in ra đủ thứ truyền đơn chống đối.
 
Không bênh vực nhóm nào, nhưng giải thích cho các em trước biết rằng “cố tỏ ra biết ơn người lớn đã giúp mình thành công”, trong khi cho nhóm thứ hai hiểu rằng “Các em kia có nói gì là chống Việt Nam Cộng Hòa hay chống Mỹ đâu”, chưa nói rằng muốn tìm hiểu họ ta phải vào trong tổ chức họ, chứ không nên đứng ngoài!  Bác đã cho mấy em vào hoạt động với nhóm Tuổi Trẻ Lên Đường chứ không phải chỉ nghe mà chẳng hay biết sự thật.
 
Rồi đến câu chuyện Cộng Đồng của Ban Chấp Hành với chuyện Việt Nam House hay cả chuyện Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân về ngày Nhân quyền cho Việt Nam, tôi cố giữ hai nguyên tắc:
 
-         Vì danh dự chung, không vì cá nhân.
 
-         Mọi việc qua rồi đều nên cho qua để khỏi bị đám nằm vùng khai thác, trừ ra việc ấy có liên quan đến chính trị dễ gây nghi ngờ của đồng hương.
 
Ngày bước vào thiên niên kỷ thứ ba sắp đến và đến quá nhanh trong khi nào là ngày July 4 thành công ở Washington D.C, chuyện Đại hội Tổng hội Cựu Sinh viên Quốc Gia Hành Chánh, buổi gây quỹ của Tu viện Pháp Vương ở Galaxy, đến trại Tuổi trẻ Lãnh đạo và vô số chuyện khác thì hợp đồng lay out quyển Kinh Nghiệm Để Đời Tập II phải nhanh chóng dứt khoát để kịp đưa về Cali nhờ Phan Giản giúp cho việc thuê in, mong phát hành trước ngưỡng cửa năm 2000.
 
Cuối cùng của những ngày đến là ngày giỗ Mẹ nhân lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, 19 tháng 6 âm lịch, đúng vào ngày 31 – 7 – 1999 này.
 
                        Phải nói gì cho những trang
 
                         THAY LỜI KẾT LUẬN?
 
 
 
 
 
 
THAY LỜI KẾT LUẬN
 
 
Hoàn tất tác phẩm sau hai năm, trong khi phải vừa đi học tại NOVA của gần suốt các môn, cốt biết môn ấy dạy gì, hay ngoại ngữ, để nếu không thông thạo thì ít ra cũng biết chào hỏi, xã giao khi giao tiếp.
 
Trong khi ấy lại cố đọc để biết những tác phẩm và có giá trị như Duy Văn Sử Quan của Cụ Hoàng Văn Chí, hay các sách của bạn bè mình quen biết, kính phục như của Nhị Lang, Vũ Ký, vừa viết cho xong tác phẩm ao ước.
 
Cái quan trọng là khi tác phẩm hoàn tất, phải nói lên được gì, bởi nếu là tự truyện, là hồi ký như với cái tên Kinh Nghiệm Để Đời thì ít ra cũng nói được “Để Đời” chỗ nào?  Tất cả không phải để thanh minh, nhưng như trong Lời Nói Đầu đã hứa “nói thật, nói hết, nói đủ” những sai lầm để xe sau thấy mà tránh.
 
Vậy đối với Đời, với Đạo và với Đảng ít ra phải có những câu hỏi:
 
-         Phải chăng ta đã làm Việt gian?
 
-         Phải chăng ta đã phản bội Đảng?
 
-         Phải chăng ta đã làm những điều bất nhân, ác đức?
 
Hay ít ra những thắc mắc của bạn bè trong dư luận.
 
-         Dinh Điền không trồng cây giả hay sao?
 
-         Vậy chuyện Cộng Sản đấu tố (mà sau này có đăng ở một tờ báo vùng TEXAS) là bạn ăn cắp cơm, có không?
 
Tất cả những việc trên, và khá nhiều việc khác, tác phẩm phải được nhắc lại rõ ràng, mới đúng nghĩa của mấy tiếng Kinh Nghiệm Để Đời!
 
Lại, bạn bè, người thân đang nghe biết bạn sẽ thôi làm chính trị để đi TU, có đúng không?
 
Và, đặc biệt là những năm làm Thông ngôn cho Pháp, làm Quận Trưởng rồi vào tiếp thu vùng Cộng Sản vừa ra đi theo Hiệp Định Genève, mà pháp lý còn lỏng lẻo, bạn đã có gì để chứng minh hành động mình?  Với quan niệm Việt gian hay đàn áp dân chúng?
 
Còn với Đảng, đã có minh chứng nào trong việc không theo anh em ly khai lên Chiến khu NAM NGÃI  (1954 – 1955)  là đúng, và nay vẫn không đứng vào hệ phái nào!
 
Vậy khi đọc xong để biết rằng với Pháp, vì không chịu quan niệm làm việc của một tên Việt gian nên gia đình đã bị bắt, suýt nữa thì tính mạng cũng chẳng còn.
 
Với Đảng, thì lúc gian nan lãnh đủ, khi có cơ hội chẳng bao giờ được nhờ, nhưng lòng luôn chỉ biết “Đảng” với lời thề chẳng vì danh vọng hay tiền tài mà suy giảm.
 
Ngoài ra những chuyện như đối với người dân vô tội, với sự lừa dối cấp trên của dư luận về Dinh Điền, với chuyện cắp cơm đã nói rõ trong sách.
 
Và, thử nhắc lại bữa tiệc do Cán bộ Cộng Sản tổ chức tại nhà hàng ÁI HUÊ trước ngày ra đi, đủ chứng minh và đủ cho phép tác giả hãnh diện về cái dĩ vãng đối với đồng bào thấp cổ bé miệng tại quê nhà.
 
Với Đảng của ngày ly khai lên Chiến khu Nam Ngãi đúng hay sai, đã hại hay cứu đồng chí thì khi đọc đến đoạn làm Tổng Ủy viên Nghiên Huấn, nói chuyện với cơ sở tại Tam Kỳ, hay đến ngày nay tại Hải Ngoại, về dự hai Đại hội tại Cali, hưởng ứng việc vận động thống nhất của nhóm chủ trương tại Cali, chắc khỏi thanh minh dài dòng cũng đã đủ.
 
Đấy là ĐẢNG!
 
Còn Đạo thì sao?  Của việc tu hành trong tù, của câu chuyện Thầy Kiến Khai hiện nay là trụ trì chùa Hoa Nghiêm đã có nói trong sách, và khi công phu hành thiền, vượt qua “vô ký” qua kiên trì của 6 tháng 8 ngày tịnh khẩu, nhờ ân sủng mà vẫn sáng suốt từ bỏ ảo ảnh “diệu dụng” thế gian lầm tưởng là “thần thông”, giữ đúng lời, “chay trường” đến nay ngót 23 năm, sức khỏe và đầu óc vẫn còn tốt, còn minh mẫn, với ước nguyện khi trả hết nợ đời hẳn đất nước thanh bình sẽ TU HÀNH theo “Độc giác Phật”.
 
Nhìn đời, với bao nhiêu điều phải nói, nhưng trong đoạn văn cuối cùng khi đề cập đến chuyện Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, đến chuyện Tối Huệ Quốc, vì nghĩ rằng Việt Nam phải đi về đâu thì lòng chỉ còn biết nghĩ đến chuyện Thống Nhất từ Đảng, từ Phe để rồi người Quốc Gia thật sự, sẽ phải tự hiểu nhau, tự biết thực lực nhau, tự biết uy tín của quần chúng đối với Đảng mình, phe mình, mà đứng lại cùng nhau thành một Tập họp Quốc Gia, để chỉ thấy có một kẻ thù trước mặt là Cộng Sản.
 
Và cuối cùng, khi hỏi đến kinh nghiệm thì khỏi lo.  Từ những kinh nghiệm nhỏ của cá nhân, đến kinh nghiệm vai trò lãnh đạo không quên việc “dụng nhân như dụng mộc”, đến kinh nghiệm đối với đồng bào, dân tộc và đất nước – tác phẩm đã nhắc qua, mỗi lần dẫn chứng.
 
Riêng kinh nghiệm với Cộng Sản!  Khỏi nói!
 
Không bao giờ quên rằng “tuyệt đối không tin Cộng Sản!”  Khi họ nói tốt là có mục đích.  Họ cho ta một quyền lợi nhỏ nào cũng có lý do và mục đích.  Họ luôn chia rẽ để dễ bề khuynh loát.  Họ luôn nghĩ chuyện làm cho mọi người NGU MUỘI để dễ lếu láo, để dễ lừa bịp.  Trong họ, rồi cũng thanh trừng nhau, thì làm sao tin họ được mà mong lại gần họ.
 
Ta đừng bi quan khi thấy nhiều kẻ trí thức, hay ngay cả văn minh, khôn ngoan như nhiều quốc gia trên thế giới vẫn còn lầm lẫn khi nói đến chuyện thương thuyết, hay bàn thảo với Chính Phủ họ, cấp cao của họ, mà quên rằng dù cấp cao trong Chính Phủ có thảo luận cũng phải vào trình với Bộ Chính Trị quyết định.  Chính Phủ không có quyền gì cả.
 
Đừng bi quan!  Đọc lại và ghi kỹ những lúc phải tranh chấp với họ, mà thấy rằng với Cộng Sản, không phải lúc nào ta cũng cam chịu sự thua thiệt.  Cái thua, có chăng chỉ là nhất thời.
 
Và suốt tác phẩm, hẳn nhiên lời văn không mấy hấp dẫn, bởi là một đoạn đường dài của hơn nửa thế kỷ với bao nhiêu kinh nghiệm nói rõ, nói hết. 
 
Mong rằng cũng trong đường hướng này, nhưng tác phẩm nay mai tiếp theo của truyện ngắn HAI THẾ HỆ, không còn là lối kể chuyện đã qua, mà là một trình bày của lời văn phải nhẹ nhàng hơn, thanh thoát hơn, dù cùng mục đích cho một cái gì, có lợi cho ngày mai, cho một thế hệ tiếp nối, đọc mà suy nghĩ, dù trên khía cạnh khác.
 
Mong chư tôn quân tử thông cảm và nhận nơi đây lòng biết ơn của người viết cũng như người sau, khi đọc lại sẽ không thắc mắc, một người trước mình, đã viết!
 
 
                                                          Virginia, ngày 15 tháng 5 năm 1999.
 
                                                                              PHAN VỸ
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0