📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI - TẬP 1

0 trả lời, 23 lượt xem — Trang 1 / 1
PHAN VỸ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                             Để kính dâng – thương nhớ
 
                                   MẸ
 
                                   CHỊ
 
                                   VỢ
 
                                   CON GÁI
 
              Những người đã gian khổ và hy sinh vì tôi…..
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
          Và tưởng nhớ
           -  32 Anh đã bỏ mình tại trại Hà Tây
           -  57 Anh đã bỏ mình tại trại Nam Hà
           … Hai trại tù mà tôi đã bị giam suốt 13 năm
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TẬP I
 
 
 
KINH NGHIỆM ĐỂ  ĐỜI
 
 
Phan Vỹ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                                          
 
 
 
 
                                      MỤC LỤC
 
 
 
   Tựa…………………….. Nhà văn NHỊ LANG……………….7
   Giới thiệu……………… Nhà văn VŨ KÝ……………………10
   Lời nói đầu……………………………………………………..14
 
 
                      CHƯƠNG I:- Vào đời chính trị
 
   --Thói hư tật xấu.........................................................................20                                                                       
   --Kinh nghiệm dự hội nghị…………………………………….23
   --Nghệ thuật tranh cãi………………………………………….28
   --Hoạt động công khai Tỉnh-bộ QDĐ………………………….32
   --Những ngày tháng làm văn nghệ……………………………..50
 
   (Tiểu mục 1: Ngày xưa đi coi mắt vợ - đi làm rể là gì?)……...64
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                      CHƯƠNG II:- Nếm mùi tù tội
 
   --Vụ cạy cầu Chiêm-sơn-Tây………………………………….69
   -- Bị giải tòa thì bị Quân đội Pháp bắt………………………..125
   --Phải chăng ta đã làm Việt gian?.............................................128
 
 
                      CHƯƠNG III:- Oán thù chồng chất
 
   --Chiến dịch Lê Hồng Phong của Cộng Sản (Trận Phù Kỳ)… 152
   --Bình định nông thôn………………………………………...171
   --Tiếp thu vùng Cộng Sản chiếm đóng……………………….201
   --Chiến dịch Tố Cộng toàn Quốc……………………………..230
   --Quốc Dân Đảng Nam Ngãi ly khai…………………………240
 
 
                      CHƯƠNG IV:- Số phận thăng trầm
 
   --Phải chăng ta đã phản bội Đảng?...........................................263
   --Sự thật về Chính sách Dinh Điền…………………………...298
   --Sau vụ đảo chánh 11-11-1960……………………………....321
 
 
   (Tiểu mục 2:-Kinh nghiệm trồng cây lập vườn)……………..333
 
 
   Giới thiệu Tập 2……………………………………………..339
 
 
 
 
 
TỰA
 
 
Nếu chỉ nói riêng về thế kỷ 20 này, thì dân tộc Việt Nam ta hầu như không có một ngày nào được sống trong thanh bình hạnh phúc. Ách thực dân Pháp chưa thanh toán xong, đã tròng thêm cái ách quân phiệt Nhật. Rồi ngay sau đó, lại tiếp đến cái dịch Cộng Sản “Việt Minh” đột ngột lan tràn đất nước, khi toàn dân chưa kịp hiểu chúng là ai. Cả ba mối họa to tát kia thay phiên nhau nhận chìm dân tộc ta trong một hoàn cảnh cực kỳ đen tối, trong lầm than nô lệ, suốt từ đầu Thế kỷ cho tới nay.
 
Vì vậy mà mấy chữ Độc Lập Tự Do đã trở thành một khẩu hiệu sống động trong tâm hồn người trai Việt. Và người trai Việt có chí khí đấu tranh bảo vệ giang sơn bờ cõi và duy trì nền đạo đức ngàn xưa của Tổ Tiên, bắt buộc phải chọn một con đường, khi tới tuổi chen vai gánh vác nghĩa vụ.
 
Hãnh diện cho những ai đã sáng suốt nhận chân được cái họa Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế ngay từ đầu, mà quyết tâm đánh đổ nó, thì cái lý tưởng “Phục Vụ Quốc Gia Dân Tộc” chính là cái lý tưởng cao quý nhất đối với họ. Tôi vẫn thường nghĩ rằng, giữa buổi nước nhà loạn ly mà chọn được một người kết tình đồng tâm đồng chí, để suốt đời khỏi phải băn khoăn lo nghĩ về lập trường và tư cách của người ấy qua bao cuộc biến thiên, thì quả là một diễm phúc hiếm có vậy.
 
Người đồng tâm đồng chí tôi muốn nói đây là ông Phan Vỹ, tác giả cuốn sách “KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI” mà tôi được hân hạnh viết lời giới thiệu hôm nay.
 
Trong hàng ngũ quốc gia Miền Nam thuở xưa – đặc biệt là trong “gia đình” Việt Nam Quốc Dân Đảng – Phan Vỹ không là người xa lạ. Tôi biết ông vừa tròn nửa Thế Kỷ, biết từ thuở tập đoàn Cộng Sản Hồ Chí Minh mới xuất đầu lộ diện. Và tôi đã tìm thấy ngay nơi ông những đức tính hiếm quý lạ thường. Đó là tấm lòng thiết tha với Quê hương, là thái độ dứt khoát với kẻ thù Cộng Sản, là cái nết ngay thẳng trong cách cư xử với đời, là dạ thủy chung với anh em bằng hữu. Và sau hết, là nỗi say mê hoạt động cho lý tưởng bình sinh, bất chấp nghịch cảnh hoặc tuổi tác.
 
Phan Vỹ còn sống sót tới ngày nay quả là sự lạ, theo chỗ tôi hiểu biết. Với thành tích một cán bộ chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, và với chiếc “Thẻ bài” Việt Quốc đeo trên ngực, nhà Chiến sĩ Cách mạng họ Phan đã bán cho tập đoàn Cộng Sản xâm lược mất 13 năm quý báu của cuộc đời mình – 13 năm trải thân dưới những đày đọa báo thù cực kỳ nhỏ nhen đê tiện của bọn Việt gian, trong các trại Cải Tạo miền Bắc. Nhưng Phan Vỹ không đầu hàng đối phương. Trong thời gian ngồi tù, ông đã nhiều lần chửi thẳng vào mặt lũ cai ngục. Và khi Cộng Sản định phóng thích ông, chẳng những ông không lộ nét vui mừng, mà còn tuyên bố một câu cứng cỏi khí phách; “Ta không cần về. Nay tu rồi. Đâu tu được là ở, cũng chẳng sao!” Túng cùng, quân Việt Cộng khát máu đành phải tổ chức một buổi lễ, có sự tham dự của báo chí bên phía Tự Do, để “tống khứ” người tù nhân bất khuất ra khỏi trại giam cho rảnh mắt!
 
Phan Vỹ mới sang Hoa Kỳ chưa tròn sáu tháng đã vội bày tỏ nỗi say mê hoạt động, như tôi vừa nói trên. Ông viết sách! Viết với hoài bão lưu lại cho các thế hệ mai sau những kinh nghiệm máu xương  của chính bản thân mình, trong cuộc đấu tranh một mất một còn với loài quỷ đỏ. Tên sách “KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI”, tự nó, đã nói lên ý muốn của tác giả.
 
Đọc bản thảo, tôi nghiệm thấy tác giả quá nôn nóng bộc lộ tâm can, nên dường như ít quan tâm trau chuốt về mặt văn chương, mà chỉ muốn ghi chép làm sao cho thật đầy đủ tất cả nhưng bước thăng trầm, những nghịch cảnh, những éo le, những chua xót, mà ông đã bắt gặp trên đường phục vụ Tổ Quốc. Có thể nói, cuộc đời Phan Vỹ là cuộc đời đầy sóng gió – sóng gió hơn ai hết – mà nếu cá nhân không được võ trang bằng một lý tưởng kiêu hùng sắt đá từ buổi hoa niên, thì có lẽ ông không còn là “Phan Vỹ” đáng kính phục, đáng thương yêu như ngày nay.
 
Tôi còn muốn nói thêm, nhà cách mạng lão thành họ Phan không hẳn chỉ mong “để đời” cho lớp đàn em những kinh nghiệm đấu tranh về mặt chính trị mà thôi. Hơn thế nữa, ông còn cho chen lấn vào giữa tác phẩm những trang đặc biệt nói về một số các công cuộc bên lề, có giá trị không kém. Chẳng hạn ông bàn về Canh Nông, Dinh Điền, Thủy Lợi, Di Dân, Trồng Cây, Ướm Hạt v.v… Ngoài ra tác giả cũng lại không quên truyền thụ các kinh nghiệm bình dân, mà số phận đã trớ trêu bắt ông “lạc bước vào nghề” để duy trì cuộc sống. Tôi coi đây là những “nụ cười khinh mạn” rải rác vang lên giữa chuỗi tháng năm đầy “nước mắt”, nó giúp người đọc bớt thấy ngậm ngùi cho số kiếp bạc bẽo của tác giả!
 
Riêng về mặt đấu tranh chống cộng, tôi tưởng cũng nên nhấn mạnh ở đây để đồng bào biết rõ, chính Phan Vỹ đã là người chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa thừa nhận là “Cha Đẻ” Chiến Dịch Tố Cộng, một chiến dịch đã gây cho đối phương biết bao điêu đứng trong thập niên 1950.
 
Những ai đã có lúc phán xét sai lầm việc làm của Phan Vỹ trong suốt 50 năm chìm nổi gian truân, giờ đây hẳn sẽ thấy lòng nhẹ nhõm, sau khi đọc xong các trang sách “KI NH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI”, nơi đó Phan Vỹ không còn dấu diếm một điểm nhỏ nhặt nào trong trái tim bồng bột và ngay thẳng của ông. Mặt khác, những ai chỉ mới nghe biết Phan Vỹ, mà chưa được gần gũi chiến sĩ cách mạng trung kiên này, hẳn cũng sẽ cùng chung ý nghĩ với tôi, rằng Phan Vỹ quả thật là người anh em đồng hội đồng thuyền quý báu của chúng ta, tức là của hàng ngũ Quốc Gia chống Cộng vậy!
 
Đằng đẵng 20 năm qua, sách Việt xuất bản tại hải ngoại cũng khá nhiều. Nhất là các tập Hồi ký của cựu tù nhân Cải Tạo càng không hiếm. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ mỗi người mỗi vẻ, dù có bao nhiêu diễn tả về tội ác của lũ sát nhân nơi Bắc Bộ Phủ kia cũng vẫn chưa đủ, cũng vẫn không thừa. Vì vậy mà thêm một tiếng nói của người họ Phan trên văn đàn tố Cộng âu cũng là một đóng góp quý giá, nhằm thức tỉnh lương tri của bọn hàng binh, bọn đón gió trở cờ.
 
Bằng mấy lời mộc mạc trên, tôi trang trọng đặt vào tay bạn đọc cuốn hồi ký “KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI” của nhà văn Phan Vỹ, với niềm ước mong nó sẽ được nhiều người niềm nở đón tiếp.
 
                                                         Mạnh Thu Giáp Tuất (1994)
 
                                                                  NHỊ LANG         
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bài của nhà văn  VŨ KÝ
 
 
GIỚI THIỆU
 
 
“KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI” của PHAN VỸ
 
 
 
Chúng tôi thường biết anh Phan Vỹ hành động. Nhưng thiệt tình chưa biết anh Phan Vỹ viết sách, dù anh có sáng tác một số ấn phẩm, và tuy quen với anh đã lâu qua tình đồng chí từ hồi nào đến bây giờ ở xứ Quảng.
 
Đúng như anh trình bày qua “Lời Nói Đầu”, anh là một con người đã sống qua nhiều, lăn lóc với bao nhiêu dằn vặt, bão táp trong một cuộc đời nhiều trầm hơn thăng, trên con đường hoạt động cho Đảng, cho Đời và cho Đạo. Cho nên chừ đây anh tịnh tâm ngồi viết tự truyện là lẽ tất nhiên. Tôi toan dùng hai tiếng Hồi Ký như gần đây người ta vẫn thường dùng, nhưng vì cái dịch Hồi Ký trên thị trường chữ nghĩa hải ngoại mất giá quá nhiều chỉ vì tác giả của những lưu bút để đời ấy tự cảm thấy họ còn “thiếu tự cao” và “thừa khiêm nhường” quá nhiều trong tác phẩm của họ nên họ chưa cho thế nhân và độc giả nhìn thấy đúng mức cái xuất chúng và phi thường không bao giờ có của họ. Đó là sự thật, không phải là mỉa mai của người viết. Chính do đó mà thể loại hồi ký gần đây có phần nào – tôi nói phần nào – trở nên một lối đầu độc độc giả, hay nhẹ hơn là một tiểu thuyết hư cấu vụng về trong nền văn chương Việt Nam ở nước ngoài vì thiếu trung thực và kém lương thiện của tác giả.
 
Với Phan Vỹ, qua tác phẩm này, KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI – dày 500 trang – không như thế. Anh nói thật, nói đủ, nói rõ những gì ở con người Chiến Sĩ Cách Mạng mà các bạn bè, đồng chí quen thân với anh đã biết về Anh. Đó có thể là cái ẩu bướng, trí trá, mưu lược, thủ đoạn của Anh mà ít người làm được với kẻ thù Cộng Sản trực diện, với nhân dân trên khắp nước từ suốt 1/2 thế kỷ nay. Lại có nhiều người rất biết và hiểu anh càng thêm thương cho tính gan lì, xảo thuật giai đoạn và phiêu lưu vốn là bản chất cố hữu của Anh vì Đại cuộc, vì Đảng. Nhất là họ thương mến chân thành cái bất cần dư luận, và thực tâm bộc lộ nhược điểm của anh trước các đồng chí, đồng hương và bạn bè của anh, trong đó có người viết lời giới thiệu này.
 
Trong các hoạt động tranh đấu Cách mạng, nhiều khi anh gấp rút và khẩn cấp đến nỗi vội vàng, hấp tấp; anh năng động đến nỗi tản lực, mất hiệu năng như ý muốn. Chính vì thế mà ở Quảng Nam, ít nhiều đã có một hiện tượng Phan Vỹ.
 
Và, trong buổi chiều của sự xuất hiện hiện tượng ấy, đối tượng ở buổi cuối đời nhớ lại ký vãng của mình, phơi trần không che dấu lòng mình cho Đời, cho Đạo, cho Đảng… để tỏ bày, vơi dịu cho đời sau nhiều kinh nghiệm xương máu đấu tranh Cách mạng đã làm cho chính anh chết điếng nhiều phen hơn là làm cho anh thỏa mãn trong cảnh đắc thắng trước kẻ thù!
 
Bây giờ, tôi lặp lại, anh muốn nói ra và viết lại đủ hết về cái tôi mà anh cho là bướng bỉnh, không mấy tốt đẹp của mình – có khi cái bướng ấy lại là điều thành công đáng khâm phục trước kẻ thù tàn bạo, Nhưng chủ đích duy nhất cũng của anh theo độc giả - cũng chỉ để phụng sự lý tưởng và đại cuộc mà thôi. Anh viết ra không rụt rè, không xấu hổ, khép nép bào chữa mà cũng không tự đắc, tự hào. Một dấu son lóe sáng, lấp trên bao nhiêu nét tối của cuộc đời năng động của chính tác giả.
 
Sự dũng cảm ấy ở anh Phan Vỹ quả thực vô cùng ngoạn mục nếu ta nhìn thấy ở một số người lại có thừa nghệ thuật để tô son điểm phấn cho những tầm thường vô đạo của mình, nhiều lỗi lầm vô sỉ để tự ca tụng mình, khi phải nói đến cái quá vãng của mình. Điều thực đặc biệt nên nói ở đây là chính anh Phan Vỹ, người đã chịu đựng bao tiếng thị phi chỉ trích của thế nhân từ nhiều phía, nhưng cũng bù lại được đón nhận lời khen ngợi, biểu đồng tình, và sự thông cảm sâu xa của số nhiều người đã hiểu bản tính anh, mà thương mến thêm anh hơn nữa. Những đặc trưng muôn hình vẻ ấy trong cuộc đời Phan Vỹ, tôi tưởng, không ai giàu hơn tác giả. Cho nên hoạt động Cách mạng thăng trầm suốt cuộc sống phong phú như vậy, đúng như anh suy nghĩ, đã làm xứng đáng cho tác phẩm lưu bút của anh hữu ích cho các thế hệ mai sau, và mai sau nữa…
 
Nhà Văn hào Nga Dostoievski có nói: “Ở cuối cuộc đời của một người, không có gì cao quý, lành mạnh, vững chắc và hữu ích hơn là những hoài niệm của mình trong quá khứ, nhất là khi hoài niệm ấy liên hệ với thời thơ ấu và tuổi thanh xuân dồi dào sức sống. Nếu một con người đã trưởng thành mà chất chứa càng nhiều kỷ niệm thì theo tôi, con người ấy nhất định được xem như rất an toàn ở đoạn chót cuộc sống mình rồi vậy. Và nếu trong tim họ chỉ còn ấp ủ đơn độc có một kỷ niệm nào đó mà thôi, thì chính kỷ niệm ấy một ngày nào, sẽ trở nên như một phương tiện giải thoát và cứu nguy nhiệm mầu cho họ vậy.”
 
Ở trường hợp anh Phan Vỹ, đọc tác phẩm này, ta mới thấy lời nói trên của nhà văn hào thực chí lý. Suốt cuộc sống của anh, không phải chỉ có những hoài niệm vui tươi thỏa thích, để hoàn thành lý tưởng, mà còn có những kinh nghiệm chết người, những hoàn cảnh tử sinh, sinh tử, trải qua bao nhiêu biến cố, mà ngẫm lại có lúc tác giả phải giật mình, tại sao mình còn sống đến ngày nay mà nhìn thiên hạ, và nghe thiên-hạ-sự? Cuộc tranh đấu gay gắt, một mất một còn với Việt Cộng suốt gần nửa thế kỷ, những xảo thuật, mưu lược, lý luận anh tự mình chiêm nghiệm để tìm phương kế chiến thắng chúng nó. Bao năm tù tội kéo dài, sau vụ Cầu Chiêm Sơn, Viêt Cộng ở Quảng Nam dựng đứng lên vào năm 1946 để tiêu diệt VNQDĐ… rồi đảng Việt Quốc ly khai ở Nam Ngãi để chống độc tài phong kiến, tất cả, tất cả biến cố ấy chừ đây lắng chìm trong một ký ức Cách mạng chín mùi hằn sâu trong tâm can tác giả những oán thù và oán thù, bất cộng đái thiên với Cộng Sản. Rồi kinh nghiệm của Dinh điền; để rồi vì sao Dinh Điền phải thất bại? Cũng chỉ cái mộng Đảng chẳng phải thời, không hợp thế, mà anh lại khẩn đất lập Chùa, với Phật tượng sơn son thếp vàng, chất ngất trên tòa sen, mà tôi có dịp năm nào chiêm ngưỡng ở núi Ông Trịnh, Phước Hòa trước 1975. Và, trở lai, anh là Tổng Ủy Viên Nghiên Huấn của V.N.Q.D.Đ Thống Nhất. Tôi không hiểu tại sao anh Nguyễn Đình Lương, Tổng Bí Thư VNQDĐ Thống Nhất không giành cho anh chức Ủy Viên Đặc Công Trinh sát Trung ương Đảng? Đó mới thực là nhằm chỗ, đúng người, hợp năng khiếu của anh.
 
Bao nhiêu hoạt động đa diện, đa dạng, và cuối cùng cũng như các Chiến sĩ Quốc gia kiên  cường khác… đời anh trôi qua 13 năm trọn vẹn trong cái “ngục sáng – còn hơn ngục tối” nữa – lầm than, bị bóc lột đọa đày tận xương tủy từ Nam chí Bắc VN. Để có dịp anh đấu lý, thi mưu chước với các cán bộ ngu đần CS bảo vệ, quản giáo trong các trại tập trung. Bao điều ngoạn mục và khác thường ấy kiểu Phan Vỹ (Style Phan Vỹ) người đọc phát hiện được trong ấn phẩm này với một thích thú vô song ở con người một đảng viên nhiều lần thoát vòng cương tỏa của Đảng Kỷ.
 
Trong lời nói đầu tác giả có thuật một em bé đến thăm ông Đồ xin lửa. Lúc ra về ông Đồ ngạc nhiên thấy em bỏ cục than hồng trên nắm tro nguội đầy tay, em đang cầm bình tĩnh, ông Đồ khen em bé khôn hơn mình. Ở trường hợp anh Phan Vỹ, nếu là em bé, tôi nghĩ Phan vỹ không làm như thế mà bốc ngay cục than hồng rực lửa, dồi qua dồi lại thật nhanh trên hai bàn tay mình, cho khỏi nóng mà giữ than vẫn cháy để về đến nhà. Tuy chắc sẽ bỏng không nhiều thì ít, nhưng không sao! Phan Vỹ tìm cái thú vị trong sự nguy hiểm mình tự chọn lựa ấy với chút mưu lược của mình.
 
Xin lặp lại, ở miền đất Quảng, nói đến anh Phan Vỹ là nói đến một hiện tượng. Hiện tượng của một chiến sĩ gan dạ, ẩu bướng, phiêu lưu, mạo hiểm, nhưng cũng là hiện tượng của bộc trực, liều lĩnh, bốc đồng lì lợm nổi tiếng nhất trong nội bộ Đảng, trong Đạo và trong Đời.
 
Và ở đây không ai nỡ trách anh mà thực tình là cảm mến khâm phục cái can đảm, chân thành bộc trần con người cùng cá tính của tác giả đầy nhược điểm cũng như ưu điểm.
 
Anh Phan Vỹ là nhà Cách Mạng. Phan Vỹ không phải là nhà văn, nhưng mà là một nhà văn đích thưc đúng nghĩa, vì theo Aldoux Huxley, văn hào Anh Quốc “KÝ ỨC VÀ CUỘC ĐỜI PHONG PHÚ CỦA MỖI NGƯỜI CHÚNG TA CHÍNH ĐÓ MỚI LÀ NỀN VĂN CHƯƠNG CÁ NHÂN CỦA TA ĐÓ VẬY!”
 
 
                                                  Bruxelles, 20-08-94 – Trời vào Thu
 
 
                                                                              VŨ KÝ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                                                                                                 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
LỜI NÓI ĐẦU
 
 
Thấy một kẻ quá nhiều đau khổ (7 Lần vào tù ra khám) có khá nhiều kinh nghiệm (lên voi xuống chó, nhiều lần đổ vỡ gia đình, làm đủ nghề ngỗng…) nên từ bạn bè, đến cả con cháu thường đề nghị viết lại những KINH NGHIỆM để đời. Nhưng bởi nghĩ rằng viết lại những kinh nghiệm, lưu bút thì phải đề cập đến cái “TÔI” quá tầm thường, đôi khi còn quá thô bỉ của mình… vì phải nói thật, nói hết, cả cái tốt lẫn cái xấu.
 
Rồi lòng lại nghĩ, viết làm gì khi mà những điều nói ra – đáng lẽ chỉ để khuyên kẻ đi sau, trong khi mình chẳng có thằng con nào, nên cứ do dự và chưa muốn viết.
 
Hơn thế, đôi lúc lại nghĩ – khi đọc sách mình viết khó tránh cảnh người đọc sẽ vứt sách chửi “đổng” khi đọc đến chỗ mình nói thật cái “tệ lậu”, cái “ngu xuẩn” của mình – và, vì chẳng sống trong hoàn cảnh mình, người đọc sẽ cho là mình nói “dóc” nói láo – thêm mắm thêm muối – chứ làm gì có chuyện ấy!
 
Nhưng thôi! Nay nghĩ rằng cứ hẳn làm việc mà mình đã suy nghĩ kỹ - vì cũng đúng lúc – làm mà lòng không cắn rứt, không e ngại xấu hổ. Bởi lẽ ấy, xin quí vị, quí bạn tha thứ cho, để được tự nhiên dùng tiếng “tôi” không ké né, không rụt rè, cho câu chuyện tự nhiên hơn, chân tình hơn.
 
Quan niệm rằng khi rút tỉa kinh nghiệm thì ít ai theo cái xấu, cái dở, dù nghĩ rằng sẽ có lợi cho mình – mà tránh cái xấu, cái dở mới là hành động của kẻ “TRÍ”.
 
Trước đây tôi thường nói Cộng Sản hồi 1945 không gần giới trí thức, mà chỉ ưu tiên đề cao, thu nạp bọn lưu manh, trộm cướp. Chúng chủ trương như vậy vì bọn lưu manh khi được thu nạp sẽ  hết lòng với chúng, bảo giết ai, thủ tiêu ai cũng chẳng từ chối, chẳng chùn tay -  còn dùng bọn trộm cắp là để học kinh nghiệm đâm heo, thuốc chó, học cách cắt kẽm gai (để đánh đồn, vu khống người vô tội) – còn ai hơn?
 
Tôi cũng kể mẩu chuyện khi đụng độ với cán bộ Cộng Sản, mà họ biết khó hơn ta là hứa “sẽ về thỉnh thị cấp trên” rồi sẽ trả lời – chứ không trả lời liều, trả lời bừa (bướng). Ngoài ra, họ còn có cái hay là “nhịn” rất giỏi. Nhịn nhất thời để áp dụng đủ âm mưu, kể cả “ chết người” ngày hôm sau, chứ không như cán bộ ta, nhất là mấy anh cảnh sát miền Nam trước đây, nổi giận lên, là đá, là chửi thề cho đã nư giận.
 
Trong KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI này, tôi sẽ cố nói hết, và nói thật – để rồi mai đây nếu vì tín ngưỡng xem như lần cuối “rũ sạch nợ đời” hay nhẹ nhàng ra đi theo người trước – lòng sẽ an nhiên, không hối tiếc, không ân hận.
 
Dùng hai tiếng “không hối tiếc, không ân hận” vì tôi tin rằng quí vị và quí bạn sẽ hoan hỷ tha thứ cho những sai lầm, thiếu sót, và riêng những bạn trẻ sẽ thông cảm rằng quí bạn không sống cùng thế hệ tôi, không ở vào hoàn cảnh tôi lúc bấy giờ.
  
Nói thế, nghĩa là, có thể ở thế hệ tôi chưa văn minh, tiến bộ, nhưng cái điều chắc chắn, là quyết giữ truyền thống cũ – hoàn cảnh tôi không học nhiều như các bạn, chỉ “đời” dạy nhiều hơn sách vở. Hay nếu bị phê phán là “sao hèn nhát thế” “sao khờ dại thế?” thì cũng mong các bạn thương mà nghĩ rằng tôi dám nói thật cái “ngu” cái “tệ” của mình - bởi không phải nói kinh nghiệm để làm giàu, để vinh thân, mà để trao lại kinh nghiệm “thấy xe trước đổ, xe sau tránh” – phải thế không các bạn?
 
Tôi còn nhớ, trước ngày đi tù (1975) một thanh niên gần nhà đến thăm. Chú ấy có lẽ cũng lo ngại việc đi tù của tôi lần này, nhưng thấy tôi bình tĩnh, yên tâm, chú vào đề:
 
“Trong tình vong niên, ngày Bác ra đi, cháu đến thăm và chẳng có gì – chỉ có một mẩu chuyện để biếu Bác làm quà. Bởi thấy Bác tuy cao tuổi nhưng lại thích nghe bọn trẻ tâm tình – cháu nghĩ, đây là một mẩu chuyện rất có ý nghĩa.
 
Hồi xưa, có một cụ Đồ, trong lúc đang nằm trên “sập” xem sách, thì một em bé lối xóm vào chắp tay thưa “xin cụ tí lửa ạ!” Cụ Đồ nheo mắt nhìn thoạt nghĩ bụng, sao bố mẹ nó không bảo mang theo cái gì để lấy lửa. Nhưng bởi còn say mê xem sách cụ chỉ dặn với nó “Vào nhà trong mà lấy!” rồi cụ tiếp tục. Vài phút sau, em bé trở ra cúi đầu thưa “Lạy cụ con về ạ!” Ông Đồ chồm lên nhìn, và vô cùng ngạc nhiên khi thấy nó đã vốc một nắm tro nguội, bỏ lên trên ấy một cục than đỏ. Ông tự nghĩ thầm “Rõ nó khôn hơn cả mình!” Anh bạn trẻ chấm dứt.
 
Câu chuyện chỉ có thế thôi ạ! Cháu nghĩ chuyện nầy đủ nói lên lối sống của Bác – nay cao tuổi hơn cháu nhiều, nhưng thường chịu lắng nghe chúng cháu tâm sự.”
 
Tôi bật dậy khen chú ấy “Hay! Hay đáo để!”
  
Từ câu chuyện này suốt dêm tôi liên tưởng đến ý thức – phải biết nhiều, ngoài cái học, mà WILLIAM SHAKESPEARE đã viết “Adversity’s sweet milk: PHILOSOPHY” Gian lao là thầy dạy triết lý ở đời.
 
Chỉ bấy nhiều thôi chứ chẳng dám đề cập thêm đến những tư tưởng Mạnh Tử, hay những gay gắt nặng nề của Lão Tử.
  
Còn với Cộng Sản, thì khỏi nói, bởi trước kia, của thời 1945-1946 chính quyền trong tay họ - và ngay cả ngày nay, lúc mà sanh mạng tôi thuộc quyền sanh sát của họ, tôi cũng chẳng hề nao núng. Suốt 13 năm lưu đầy khổ sở tại đất Bắc, tôi đã nhiều lần nói thẳng với họ - có kể rõ ở Chương cuối – có nêu đích danh những nhân chứng, chứ không hề “phịa”. Điển hình nhất là lần sau cùng, trước Nguyễn Tú, đại diện chính quyền Trung Ương tại Nam Hà mà khi đọc thấy, tôi nhắc lại các anh hẳn bực mình, vì không xem đấy như một kinh nghiệm. Cái kinh nghiệm đúng ra các anh phải học nằm lòng để đừng nghĩ rằng đám người mà các anh ghép cho cái danh xưng là “ngụy” không hẳn “ngu” hay “hèn” như các anh thường lầm tưởng. Hẳn các anh đã được báo cáo về hành động của tôi lúc ấy, khi mà tôi chỉ tay lên cao “ý nói chỉ có Trời, có định mạng” mới quyết định được việc về hay ở của chúng tôi. Chứ không phải như các anh đã “lừa gạt” chúng tôi là học tập tiến bộ để được khoan hồng (!). Ngay lúc ấy tôi đã thách đố tên Đỗ Công Thành, chủ tọa buổi nhồi sọ ấy cứ vào biên bản lời tôi nói.
 
Tôi biết rõ cái “yếu” của các anh là “mềm nắn rắn buông” nên đã nhiều
lần công khai đấu tranh chống lao động mà hai lần chẳng mấy người quên là chửi ngay vào mặt tên lính coi tù bằng những lời nặng nề (trong khi anh nghệ sĩ Diệp Tùng cũng bắt chước tôi thì bị kiểm thảo ngay tối hôm ấy) và một lần đấu tranh chống lao động tàn nhẫn giữa một buổi trưa gay gắt trong khi đói run người, đã được toàn đội hưởng ứng ngay những người khác chính kiến chính trí với tôi như các anh Nguyễn Đình Huy hay Đồng Tuy trong Cấp tiến cũng đồng lòng làm; các anh phải thuyên chuyển tên lính coi tù đi trại khác. Hẳn các anh không quên chứ! Còn lưu giữ trong hồ sơ chứ?
 
Chính những lần này mà anh em đã tặng cho tôi cái “hỗn danh” là “ÔNG GIÀ LĂN LỬA”. Tôi tin ở định mạng nhưng dù các anh muốn cắt ngắn bộ râu tôi, hay dù chính phủ và đảng các anh đã cho “13 con ma” vào Thanh Nghệ Tĩnh nghiên cứu để mưu lập một trại giam giữ chúng tôi đến chết rồi cuối cùng cũng không thành.
 
Cuối cùng cũng lưu ý các anh đừng vội hí hởn vui cười khi thấy Mỹ bỏ cấm vận, bang giao, và thiết lập tòa Đại sứ!
 
Đừng trẻ con như vậy! Và cũng đừng chủ quan cho rằng các anh đã “mà” được mắt Mỹ! Làm chính trị là phải hiểu người và biết mình. Các anh còn lạ gì chuyện ấy!
 
Người am hiểu chút ít về chính trị sẽ quả quyết các anh hẳn phải gặt hái một hậu quả vô cùng tai hại. Người tin tưởng ở luật “TRỜI  ĐẤT” cũng đang nhìn xem hậu quả bác Hồ các anh đã gieo nhơn, nay quả đã sắp chín và chín thì sẽ như thế nào đây?
 
Đừng vội chủ quan ở kế hoạch đem con cháu ra học tập và làm con tin ở các nước trời Âu, vì cái gì thuộc Bá Đạo cũng khó tránh luật Bá Đạo đã dành sẵn!
 
Và, bởi luật tạo hóa đã an bài… biết cái của các anh sẽ phải đổ, và vì càng đổ chậm nên càng thấm đòn đau hơn. Các anh phải hiểu cái luật ấy cũng như các anh đã thấy rõ ngay trước mắt hiện tương càng “duy vật” bao nhiêu thì đến khi dẫm vào “tâm linh” lại càng sa đọa, càng mê tín dị đoan hơn gấp bao nhiêu lần!
 
Sau cùng, xin thưa cùng những ai không chịu được cái chủ thuyết vô thần, không chấp nhận chuyện bắt tay bừa bãi để bị bọn ngoan cố lừa bịp. Hẳn các bạn đã thấy rõ càng bám víu vào quyền lợi, bọn ngoan cố hoặc sợ chết vì đã lỡ đu trên ngọn cây cao, thì làm sao còn nghĩ được đến Tổ Quốc, đến Dân tộc. Xin mời các bạn xem hết quyển sách này, vì tôi nghĩ dù sao cũng thêm được cho quý bạn thấm thía cái quỷ quyệt của Cộng Sản, nhất là khi chúng thay hình đổi dạng, đặt mọi mưu mô để lũng đoạn ta, chia rẽ ta.
 
Và cũng xin đừng vội bi quan mà nghĩ rằng đã hết thuốc chữa vì không có cơn bệnh nào mà chẳng có thuốc trị, dù là bệnh AIDS.
 
Đọc kỹ những kinh nghiệm, nhất là kinh nghiệm tìm hiểu và thấu đáo mưu mô của Cộng Sản để áp dụng đúng quy luật như ngày nào đã dùng trong Chiến dịch Tố Cộng. Đổi chiến thuật nhưng giữ đúng quy luật.
 
Đây là xét lại các sai lầm của ta để sửa chữa và giúp nhau sửa chữa. Chưa doàn kết được tất cả thì, từng nhóm, trong sạch cá nhân, tập thể để quần chúng đặt niềm tin. Phải tha thứ cho nhau và luôn luôn tự quan niệm rằng những đố kỵ, xích mích trong chúng ta, dù nhỏ hay lớn đều là một “trợ lực” cho Cộng Sản bẻ gãy chúng ta, như mẫu chuyện “bó đũa” trong tinh thần “đoàn kết” mà chẳng ai không nghe kể.
 
Nếu chúng ta an tâm thụ hưởng, nếu chúng ta mặc tình cho Cộng Sản làm tan nát quê hương mà chỉ được về thăm nhà rồi lại ra đi, thì đừng bàn đến chuyện TỔ QUỐC, đừng nhắc đến chuyện DÂN TỘC.  
 
Ngược lại, nếu còn tha thiết đến hồn thiêng của tiền nhân, nếu còn cương quyết không để bọn vô thần dẫn dắt con em ta lạc bước vào “ngạ quỷ” thì nên hiểu thật rõ, thật chính xác bọn chúng mà Kinh Nghiệm Để Đời đã lột trần những đau thương mà tác giả đã trải qua thử thách.
 
Các bạn đừng lo không có đề tài hấp dẫn để viết. Các bạn đừng nghĩ rằng cứ viết chuyện chống Cộng, chống Cộng, độc giả sẽ chán ngấy.
 
Tôi hoàn toàn không tin như thế! Mới qua đất này chẳng bao lâu nhưng tôi thấy quý bạn tài tình đa dạng, trừ một thiểu số.
 
Vậy nếu dùng tài ấy đập kẻ thù, chỉ rõ những thủ thuật “khèo nhẹ” xui ta đập ta của chúng, thì hay biết bao nhiêu!
 
Đừng chụp mũ nhau, hãy tha thứ cho nhau những lầm lỗi cũ mà sửa đổi những sai lầm của chính bản thân mình!
 
Đây là tài liệu của “nhân chứng SỐNG” về lắm chuyện đã xảy ra trong quá khứ như thủ đoạn bố trí nhân dân khi chúng rút đi mà ta sẽ đến thay thế, về Chiến dịch Tố Cộng, về Dinh Điền, về cái gì là “Chiến dịch Phụng Hoàng”, về thủ đoạn Cộng Sản khi gài ta về thế bị động, về thủ đoạn sát hại lẫn nhau khi chính Võ Nguyên Giáp đã bắn Phan Bôi tức Hoàng Hữu Nam, về cái chết của cố lãnh tụ Trần Văn Tuyên, về thủ đoạn làm ta lầm lạc nghĩ rằng cụ Phan Khôi đã theo chúng từ lúc đầu và… vô số chuyện được xem như là kinh nghiệm.
 
Và, khi đã đọc xong để thấy rõ cái bí quyết “phải luôn luôn đặt kế hoạch buộc Cộng Sản đối phó thay vì hoang mang trước vài hành động của chúng mà chạy theo đuôi chúng.”
 
Đừng quên rằng Cộng sản từ thoa nhẹ, sẵn sàng thỏa mãn ta một vài quyền lợi để sử dụng ta. Cuối cùng sẽ chẳng còn quyền lợi gì, nhưng nếu ta có cưỡng hay không làm vừa ý chúng là chúng sẽ công khai hóa những quan hệ ấy để trong chúng ta tự chia rẽ nhau. Đừng quên những thủ đoạn căn bản ấy của chúng và chúc quý bạn vui nhiều khi đọc xong quyển sách này.
 
Mong quý độc giả thông cảm.
 
 
                                                                          Tác giả: Phan Vỹ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                                                                        
 
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG I 
 
VÀO ĐỜI CHÍNH TRỊ
---------------
 
 
THÓI HƯ TẬT XẤU
 
 
Vào đời quá sớm – chỉ mới hai mươi – nay nhìn lại những bạn trẻ cùng lứa tuổi với mình lúc ấy, phải tự lấy làm lạ, và “lạ thật”. Nhưng nếu nhớ lại câu cổ nhân thường bảo “bộc phát bộc tàn” thì tưởng là đúng - nhưng nghĩ đến tuổi già và trí óc, cùng sức khỏe hẳn càng khó tránh thắc mắc hơn. Lạ và thắc mắc vì đáng lẽ với cái tuổi 75 (bảy mươi lăm) như ngày nay hẳn phải thủ phận, an hưởng – về vườn, thì đúng hơn – vì chắc chắn đầu óc khó tránh điều lú lẫn.
 
Nhưng hằng ngày vẫn còn viết lách, còn ngày hai buổi lái xe đi học và còn nhớ rất rõ viết Kinh Nghiệm Để Đời này!
 
Nhớ ngay cái buổi thiếu thời ấy mà đã có nhiều ý nghĩ khá đặc biệt – có vài tính tình đáng khen, cũng như đáng chê, đáng đánh đòn!...
 
Ý nghĩ sao khá đặc biệt?
 
Khá nhiều, so với bạn bè, nhưng hai trong những ý nghĩ được xem là độc đáo. “Dùng một kẻ chính trị như người phương Tây ăn ổ bánh mì… Ít người thích ăn bánh quá nóng vì sợ đau bao tử nhưng hẳn cũng chẳng ai ăn bánh mốc. Họ thường ăn bánh vừa hết nóng. Dùng một kẻ chính trị cũng vậy -  số non trẻ, mới ra đời hẳn nhiên thường nông nổi thiếu kinh nghiêm – vì chính trị không phải là chuyên môn, kỹ thuật. Nhưng cũng chẳng ai chấp nhận thứ chính trị quá cũ, quá lỗi thời.
 
“Tình vợ chồng, nghĩa thủy chung thường bị ám ảnh bởi một định kiến khắt khe là người vợ thường thủy chung khi không bị quá phũ phàng, không bị quá thua sút. Khi mong ước đơn giản là được, khi ham thích không cầu kỳ là có, thì chẳng mấy người lại bị quyến rũ để mong đáp ứng ước vọng và ham thích kia, Nhưng cứ nhìn sang chị bạn rồi chỉ cái áo, cây dù không mong sao có được thì dễ gây nên cảnh mất thủy chung, hay ngay cả đổ vỡ…
 
Người chồng thì ngược lại, khác hẳn. Khi nghèo cực thì rất thủy chung, thậm chí thường có những câu “chỉ có em thôi! Luôn luôn vì em!” Nhưng khi giàu sang, phú quý thì thường viện cớ này, lẽ nọ để ham đó bỏ đăng. Thường viện những lẽ “phải có người đủ ngoại giao, đi về không được an ủi v.v. và v.v…” Đành rằng lúc ấy là lúc mấy cô ham giàu sang đủ nhan sắc sẽ chẳng buông tha “ chàng” thì làm sao “chàng” tránh được câu giàu đổi bạn sang đổi vợ. Thật là hai ý nghĩ khá độc đáo đã đến trong khi tuổi đời chẳng là bao!
 
Nhưng ngoài sự kiện “ngựa hay có chứng” sẽ nói tiếp sau, thì tôi cũng có hai năng khiếu bạn bè trong vùng thường cổ võ. Rất lanh lẹ.
 
Trong mọi trò chơi, nhất là trò chơi ấy đòi hỏi một sự lanh lẹ thì ít người theo kịp, chơi đá bóng chẳng hơn ai, nhưng chuyển qua vai trọng tài – đòi hỏi đôi mắt thật nhanh, đầu óc thật bén nhạy, thì chẳng bao lâu tên tôi đã được đồn khắp vùng, cùng cả tỉnh để rồi những trận quan trọng là được nghe tiếng “còi” của P.V! Rồi trọng tài quyền Anh, đánh chẳng hơn ai, nhưng ngay cả trận đánh của hai  bậc “thầy” mình, cũng được ban tổ chức đồng ý để  P.V. cho chắc bụng.
 
Còn chuyện văn nghệ của những ngày xa xưa ấy thì khỏi nói. Có một đêm văn nghệ từ xa xôi cũng đèn đóm dắt nhau đi xem cho được. Nhất là khi nghe chính tôi về đạo diễn – hay nói đúng chữ lúc bấy giờ, là tập dượt – chẳng mấy người từ chối không đi xem, không đạo diễn như lối mấy anh
“mũ cối, dép râu” chỉ luôn là chuyện “bắt Tây, diệt Tề” mà thường có những sáng kiến độc đáo để dựng lên chuyện như “cuộc hội đàm giữa Gracey và Leclerc” chẳng đếm xỉa đến chuyện “ tìm đường cứu nước của Bác Hồ” mà cũng không khó kích thích người hâm mộ.
 
Nhưng thường tình dễ bị “ngựa hay có chứng”, nên tôi phạm không ít tật xấu, thói hư. Ngày mới tham khảo ý kiến bạn bè về ý định viết quyển “Kinh Nghiệm Để Đời”, đã được một vài bạn hoăc viết thư, hoặc gọi điện thoại ngay. Các anh ấy vì thương tôi và biết “thằng ruột ngựa” này hay vụng tính – mà sẽ nói hết, mới đầu nghe cũng hay, nhưng tránh đâu được búa rìu dư luận để rồi những chuyện lăng nhăng quá nhỏ có thể đốt cháy cả rừng vàng bể bạc thì quá uổng. Các anh khuyên tôi nên tránh bớt ý định ấy, nên tôi đành dẹp bỏ bớt mà chỉ nêu lên vài điều biếu bạn trẻ làm vui hay làm kinh nghiệm, tùy ý!
 
Tính nóng nảy, nóng chẳng thua gì Trương Phi thời Tam Quốc. Dù đôi lúc lửa cháy phừng phừng trong gan phổi đã dằn lại được nhờ nhớ đến Mẹ hiền!  Lúc mới ra đời Mẹ tôi thường khuyên bảo “Mẹ thấy con đủ khôn ngoan, lanh lợi ra đời rồi đấy! Nhưng còn một khuyết điểm cần sửa chữa lại ngay, ấy là tính nóng nảy con phải dằn lại được thì mới khỏi bị thất bại, nhất là khi đối phương biết mình có tính ấy họ sẽ chọc cho con tức lên là thua ngay!” Nóng mất ngoan, giận mất khôn! Phải nhớ lấy!
 
Lời Mẹ khuyên là một liều thuốc kinh nghiệm mà trong đời đã nhiều lần vấp phải, suýt sa vào lỗi lầm đã giật mình nhớ lại!
 
Bệnh thứ hai, hay nói đúng hơn, là tật xấu quá nhiều lần vấp phải, tội “đa tình”. Kiểm điểm lại thói xấu nầy tôi vẫn khó quên lời mẹ tôi ngày nào “con gái bạ đâu yêu đấy đã là tai hại, nhưng con trai… cũng chẳng phải không đáng quan tâm!” Một gã con trai, yêu càn, yêu bậy, thì còn gì đáng chê trách bằng. Chỉ cần một chuyện là giá trị bị biến thái, tầm thường, khi làng trên, xóm dưới hay biết cũng khó tìm đươc một người vợ đứng đắn. (Xin các bạn trẻ đang sống vào thế hệ ngày nay chớ vội mỉm cười và luôn nhớ cho rằng
tôi đang kể nghe vui về thời xa xưa ấy!) Mẹ tôi nhấn mạnh “khi có vợ, cảnh ghen tuông dù là chuyện đã cũ, sinh ra nói xấu nhau – thì tránh đâu cảnh cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt cho được.”
 
Mẹ tôi còn tỉ mỉ dặn thêm “Đấy là không nói đến một tai hại khác, quan trọng không kém. Chuyện con rơi con rớt, để rồi sau này khi lớn lên biết đâu cảnh Hòn Vọng Phu lại không tái diễn, mà lúc ấy phần mất “Âm đức” gã
con trai gánh lấy đủ”.
 
Cả hai tật xấu này thật đã nhớ lời Mẹ khuyên mà nhiều lần dằn lại được khi suýt tức giận chẳng còn kể gì nguy hiểm, gánh vạ vào thân, chứ không nói – có lần đã khạc ra máu vì uất ức. Và cũng nhờ đấy nên ngày nay còn được một sức khỏe, một đầu óc không quá bệ rạc bởi chưa đến độ trác táng như vài người đã hiểu lầm.
 
Nếu những kinh nghiệm vừa kể đáng cho các bạn trẻ không chê thì cũng mong xem là nên được nhắc nhở, dù ở vào bất cứ thời đại nào.
 
KINH NGHIỆM HỘI NGHỊ (1945)
 
Sau ngày Cộng sản lợi dụng kết quả cuộc họp ở Liễu Châu và lòng yêu nước hăng say của thanh niên -  mà ngày giải giới quân đội Nhật đã biến thành cuộc “Cách Mạng Mùa Thu” để tưởng rằng đất nước được thoát ách thực dân thì lại chính là ngày “đen tối bao trùm lên quê hương yêu dấu”.
 
Đăc biệt tại quê hương tôi – Quảng Nam, Quảng Ngãi, chính trị đã bước vào lãnh vực vô cùng lạ lùng, mà đến nay kể lại chắc cũng lắm người không hiểu nổi.
 
Cha con, chồng vợ, anh em thường chẳng đồng quan điểm chính trị với nhau. Bởi lẽ ấy, khi đến chơi nhà nào lần đầu, thường phải nhìn trước ngó sau, khi được cho biết sẽ bắt đầu câu chuyện. Người trong nhà mà ta thông cảm sẽ ra dấu, hoặc nháy mắt cho biết “cẩn thận mồm miệng” là phải giữ thế!
 
Còn khi đi tuyên truyền, hay đi bán tín phiếu cho Đảng ta, đoàn thể ta lại càng cẩn thận, nếu chưa được mời vào và cho biết trước lập trường từng người một trong nhà.
 
Cha mẹ chẳng giống con cái, chồng vợ cũng thường khác nhau, chứ đừng nói là dâu, rể hay đăc biệt là người giúp việc trong nhà – và, người láng giềng vừa thấy ta vào đã vội vã ghé sang chơi, để theo dõi.
 
Trí thức, ngay những ngày đầu đã bị hạ bệ, số người trước đây làm thuê làm mướn, và đặc biệt là người làm rẽ (tá điền) trở thành những nhân vật quan trọng, những người có đầy đủ thẩm quyền trong các cuộc hội họp.
 
Họ phải khai thác cho được những thù hận trong hai tầng lớp, giai cấp này, ngược lại là xem như “bao che”.
 
Vì những lẽ trên mà Bác tôi – cụ Phan Khôi – thường chỉ vào Anh Phan Bá Lân trước là Hiệu trưởng trường Chấn Thanh ở Sàigòn, con đầu của nhà
Cách Mạng Phan Thành Tài (bị chết chém trong tổ chức Văn Thân) đang bị chúng bắt buộc hằng đêm xách gậy, mõ ra đình làng canh gác để khuyên bọn chúng tôi xem đấy mà nghĩ đến mình.
 
Cụ thường khuyên chúng tôi nên nhân cơ hội ở Tỉnh hay Phần có hội họp, tổ chức văn nghệ, văn hóa gì mà đi đi, để vừa nghe ngóng tin tức!
 
Quan niệm của Cụ nói lúc bấy giờ về hai chữ “tin tức” cũng đã hàm ý cho chúng tôi hiểu rằng “ngoài cái đất nước đen tối này còn phải tin đến sự ràng buộc với Quốc tế, chứ chưa phải là lúc “thúc thủ” để chờ chết!
 
Và vì vậy, khi được tin Tỉnh kêu gọi văn nhân nghệ sĩ về họp để bầu cơ cấu Văn hóa của tỉnh là chúng tôi chuẩn bị lên đường.
 
Nhưng việc trước tiên, vào thăm Bác như mọi lần, sau khi thăm dò người trong nhà, nhất là Phan Cừ - con thứ hai của Bác – đang là chủ nhiệm Việt Minh Xã Hoàng Diệu bận ra cơ quan, để được Bác chỉ dạy cặn kẽ những điều cần thiết.
 
Khi được Bác cho phép – và, câu đầu tiên là làm thế nào để được cử, dính vào Ban chấp hành thường trực tại Tỉnh, Bác mỉm cười vì thông cảm sự nôn nóng ấy.
 
-         Trước khi buổi họp bắt đầu, qua lại thăm nhau, ta phải tinh tế nhận biết được ai là đồng minh, ai là đối thủ. Dĩ nhiên, những người trước đây đã biết họ là trí thức, khoa bảng, địa chủ, phú hào,văn nhân, nghệ sĩ là đồng minh – trừ một số bị chúng nghi ngờ hoặc đang còn e dè. Còn những tay của họ là đang xum xoe qua lại to nhỏ bàn nhau, hay lúc này đang họp kín, để sắp đặt “mâm bát.”
 
Chậm rãi việc tiết lộ quan điểm riêng của mình.
 
Không bình phẩm, khen chê, đả phá ai sớm cả.
 
Vào cuộc họp, ta nên chọn giữa phòng, không ngồi trên cùng, mà cũng không ngồi cuối phòng vừa đủ dễ nghe vừa lời ta cũng làm cho người khác dễ chú ý.
 
Quan trọng nhất là lời nói đầu. Phát pháo đúng lúc, và đúng chỗ. Muốn chắc ăn và được hội nghị chú ý ta nhắm ngay kẻ nào nói nhiều đang gây một không khí bất lợi – tấn công ngay!
 
Biết đã được hội nghị chú ý, ta không nên “được trớn”, mà im lặng như “hổ rình mồi”. Đừng vội gây thù oán với phe chủ trì – tức là Việt Cộng sớm. Tất nhiên buổi họp đang có thiện cảm với ta, nhìn ta. Ta cứ mỉm cười, tránh tự kiêu! Chờ một trường hợp khác chắc ăn lại làm thêm một “pha” nữa, là chờ đến lúc bầu bán.
 
Nghe Bác dặn, ghi hẳn làm lòng – ngoài trách nhiệm nghe ngóng để về thông báo cho anh em hay biết.
 
Bác còn bày kỹ phương pháp “tranh cãi” (sẽ nói ở mục sau) để thực hiện khi cần mà lúc chào Bác (bởi vừa nghe có tiếng Phan Cừ từ cơ quan Xã về) tôi cứ nghĩ như vừa nhận lãnh một vinh dự, một trách mhiệm, còn hơn cả một bằng cấp.
 
Về thu xếp, để tối lại ra ghe (thuyền) về Tỉnh (Hội An) họp văn hóa.
 
Thành phố Hội An thân thương làm sao quên được!
 
 “Muốn nhớ - không gì hay hơn là giở Tập San Quảng Đà – của Thái Tú Hạp để ghi lại, nhớ lại những âm hưởng ngày nào”.
 
Suốt đêm, gần như thao thức nhớ lại những lời Bác dạy, nhớ lại ánh mắt “Mẹ hiền” vì tin tưởng con mình đã được Bác Tú chỉ dạy cho – chẳng ngủ được bao nhiêu thì cái âm vang của “bờ sông Phố Hội” đã làm tôi nao nao bồi hồi!
 
Ngoái cổ ra ngoài khoang thuyền để nhìn cảnh vui, nhưng không ồn ào phức tạp – nhộn nhưng không hỗn độn, xô bồ của bờ sông phố Hội – một buổi sáng sớm!
 
Nhớ lại ngày còn nhỏ mỗi khi được theo Chị xuống Hội An chơi, là sáng ra thế nào cũng được ăn món hến bẻ bánh tráng thơm phức, hay ít ra cũng tô cháo cá cơm, chứ không phải như đã có lần theo ông bà con “quá kít” mà chỉ được ăn khoai lang, với lời bào chữa khéo của ông “Khoai lang bổ lắm”; thì hôm nay, với buổi đi họp Văn Hóa, mẹ tôi đã dặn kỹ “Sáng ra ngồi ngay trong đò mà ăn bánh mì la gu con nhé!”
 
Mẹ tôi chu đáo và thương con đáo để!
 
Chờ chú Tàu bán bánh mì la gu đến, ăn uống xong là lên bờ, vào Ty thông Tin để họp.
 
Theo đúng “sách” Bác đã dặn, qua lại vài lần, nhận diện được ngay những đồng minh, khá đông và đáng kể.
 
Vững bụng vì có cả các anh Phan Ngô, Thái Lân, chưa kể một số không ít bạn bè quen nhau qua những ngày đi tập kích tại Đại Lộc, Duy Xuyên. Chỉ nói sơ qua về ý định Bác đã dặn, nhất là kế hoạch giới thiệu cho nhau để khỏi bỏ lỡ dịp.
 
Và, quả đúng như Bác tôi đã liệu trước, khi bước đến giai đoạn bầu cử Ban chấp hành, bọn họ đã có chủ trương, giới thiệu Phan Thao. Bên họ thì hoan nghênh rầm rĩ, nhưng đám bọn tôi cũng phải biết thời, biết thế -  nên chức Chủ tịch đương nhiên là Phan Thao.
 
Anh Phan Thao là con đầu của Bác tôi.
 
Nhiều người đã nghe đến chuyện Bác trách mắng anh này tại một lần ở diễn đàn. Nhưng anh trầm tĩnh hơn, người em là Phan Cừ, lúc ấy đang là chủ nhiệm Việt Minh xã Hoàng Diệu, mà trong bà con chúng tôi chẳng ai còn không hay biết chuyện cha con không cùng ngồi ăn chung, vì anh ương ngạnh chẳng phải như anh Phan Thao.
 
Đến Phó Chủ Tịch chúng cũng giới thiệu tên Lê Khắc Thuật. Nhưng chúng đã phải ngạc nhiên vì có một người trong đám anh em cảm tình với tôi – giới thiệu Phan Vỹ.
 
Biết rõ thế trận và lời dặn của bác, vì Thuật là tên Cộng Sản hạng nặng, đã từng đi Côn đảo nhiều năm, vả, chức Phó Chủ tịch không phải là cái điểm để thường trực – tôi đưa tay đứng lên xin từ chối và không quên vừa cảm ơn anh bạn đã giới thiệu, vừa khéo léo hứa sẵn sàng nhận một chức vụ để gánh vác việc chung.
 
Cứ nghĩ thế là mình đã tạo được một “nước cờ” sắp đến.
 
Nhưng, ai ngờ được, đến chức Tổng Thư ký, trong bọn họ lại nhanh tay, và giới thiệu Lưu Quý Kỳ. Tôi bắt đầu cảm thấy nao núng, vì biết rõ Kỳ. Y người gốc Minh Hương (Tàu) cũng theo Cộng Sản từ khá lâu, tù tội cũng nhiều, chắc ăn không nổi! Lại có người lên tiếng giới thiệu tôi. Nhưng hình như Lưu Quý Kỳ nhận thấy được không khí ấy. Y chẳng e dè, ngại ngùng gì – đứng lên phát biểu là y sẽ mời tôi cộng tác làm Phó Tổng Thư ký cho y.  
 
Thật là một “luật rừng” bởi chẳng cần gì nguyên tắc, nội quy trong việc bầu bán, mà nay nghĩ lại phải giật mình cho thứ dân chủ của Cộng Sản.Hơn thế, sau này mới hiểu ra Lưu Quý Kỳ đã biết y sẽ không cờn ở lại tỉnh bao lâu nên ý của y là ý Trời. Bởi chỉ trong vòng 3 tháng y đã được triệu dụng
về làm tại Thông Tin ở Trung bộ (Huế) và, rồi về làm Tổng Thơ ký Báo chí toàn quốc đến ngày chết (1992).
 
Tôi thoạt nghĩ, đây cũng là cơ hội tốt cho việc thường trực tại Tỉnh, nên khéo léo nhận lời Kỳ.
 
Và cuối cùng, đến chức Thủ quỹ, Tài chánh là Trần Quang.
 
Buổi họp xem như thế là yên – và, tôi được ở lại tỉnh, ăn cơm chung với họ hằng ngày tại Ty Thông tin và phớt phơ ra chỗ Câu Lạc bộ “Tri tân” làm việc.
 
Trở về làng báo cáo sự việc cho Bác hay, “mà mắt” địa phương là thường trực văn hóa tại tỉnh, nhưng thật ra -  sau khi tuyên thệ chính thức vào Việt Nam  Quốc dân Đảng trước anh Phan Bá Lân, có sự giới thiệu của Phan Long – bí thư Quận Điện bàn tôi đã là Ủy Viên Trinh Sát của Quận -  ngoài việc hoạt động tuyên truyền cho Đảng còn lo phát triển tài chánh bằng cách đi bán tín phiếu tại các Quận bạn.
 
Ngoài những lẽ trên, một thời gian không lâu sau, thấy chẳng gì cần phải dấu diếm tôi hoạt động công khai.
 
Biết rõ điều ấy, một hôm về làng, tôi được Bác bảo “con nên ra cho Ủy ban Xã biết ý định là muốn nói chuyện với dân chúng về ý niệm của con với cuộc bầu cử Quốc hội sắp đến – để nhân cơ hội này chửi ngay vào mặt bọn chúng về cái trò ma giáo của bầu cử mà chúng đang sắp đặt.” Tôi chưa kịp trình bày thì Bác đã nói thêm “Con đang làm ở văn hóa Tỉnh, bọn nó sẽ không phản đối ý định con – chưa nói là chắc chắn chúng còn nhân cơ hội để biết con sẽ nói gì?
 
Tôi cúi đầu vâng dạ, thì Bác đã nhắc lại “Hôm nay đã trễ, ngày mai – sau khi gặp Ủy Ban xong, nên vào đây nghe lại những nguyên tắc khi cần “cãi” nhé!
 
Cúi chào Bác, ra Ủy Ban Xã báo và ngồi chờ họ thảo luận nhau xong - mà quả đúng như Bác đã nói – sau vài phút nhỏ to nhau, họ gật đầu đồng ý ba hôm nữa, lúc 8 giờ tối dân chúng trong Xã sẽ họp tại chợ!
                               NGHỆ THUẬT TRANH CÃI:
 
 
Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, nghĩa là biết chắc Phan Cừ đã ra Ủy Ban Xã, tôi vào – và khi vừa thấy, Bác đã hỏi “Họ đồng ý chứ?”
 
-         Thưa ba hôm nữa, vào lúc 8 giờ tối tại chợ ạ - tôi lễ phép trình bày
 
Như mọi lần, Bác lại ngồi thật gần, vì không muốn câu chuyện được người thứ ba biết, dù là các con Bác.
 
-         Trước hết là bài nói chuyện phải được xem đi xem lại kỹ, đừng coi thường, vì thành phần đến nghe, ngoài số ít là dân chúng trong vùng, còn hầu hết là bọn “họ”. Có hai điều Bác cần dặn con. Thứ nhất là khi nói xong, bọn họ đã bố trí, sẽ có người đưa tay chất vấn. Con cứ bình tĩnh ! Đã có anh em bố trí sẵn cho con – nghĩa là, ngay cạnh diễn đàn, gần chỗ con đứng, cũng như bốn góc xa,  đều có sẵn người trả lời thay cho con.
 
-         Thưa Bác, nhưng họ sẽ không chịu cho người kia trả lời, vì họ sẽ đòi chính diễn giả!
 
-         Điều ấy con khỏi lo! Người thay thế con mà trả lời đâu ngô nghê để không chỉ đám họ, mà ngay đồng bào cũng thắc mắc – tại sao không phải là diễn giả trả lời.
 
Anh em này sẽ rào đón trước khi nói, để không còn ai thắc mắc, mà dù nếu phải là con sẽ lên tiếng sau đấy, thì thời gian kéo dài là một kế “hoãn binh” cho con tha hồ nghĩ ra những ý kiến hay. Chưa nói là trong đồng bào cũng thêm được một ý niệm “con không cô đơn – lời con cũng còn có người tán thưởng hoặc đồng ý”.
 
Cái quan trọng là ta có tương trợ nhau – để người trên diễn đàn đủ thời giờ suy nghĩ, không bối rối.
 
 Bác lo tôi quên đi điều quan trọng mà Bác sắp truyền thụ, nhấn mạnh.
 
-         Nhưng sau đây mới là điều đáng nói – phải cãi giỏi, nghĩa là khi ở vị thế này ta cãi, đến khi họ cảm thấy đuối lý – ta dám, dành cho họ thay vào vị thế ấy – ta đứng vào vai trò họ lúc nãy, và cãi, cho đến khi họ lại cũng cảm thấy khó ăn – đấy, mới là cãi giỏi.
 
Tôi hoàn toàn ngac nhiên về lý luận này! Và, thầm nghĩ “hèn gì lắm người đã bảo câu – lý luận Phan Khôi!
 
-         Thưa Bác, làm sao lại có thể có được cái kỹ thuật kỳ lạ ấy ạ?
 
Bác cười lớn, một cái cười chủ quan, mà sau này nhớ lại, tôi không thể nào quên được ngày hôm ấy.
 
-         Sao lại không? Phải làm được chứ!
 
-         Bí quyết là ở chỗ - ta phải bình tĩnh – nhớ cho được những mâu thuẫn trong chính họ, trước nói khác nhưng sau lại mâu thuẫn nhau - Và, điều quan trọng nhất là đầu óc minh mẫn để luôn luôn tạo cho mình “thế chủ động” tuyệt đối không bao giờ đứng trong “thế bị động”.
 
Như cảm thấy tôi đang cố hiểu cái “gút mắc” về thế chủ động, Bác chậm rãi giải thích, vừa chỉ vào tách nước trước mặt.
 
-         Nếu họ hỏi “đây có phải là tách nước không?” ta không trả lời và hỏi ngay lại “tại sao anh không hỏi đây có phải là ly nước không, mà lại hỏi là tách nước” người kia sẽ không chịu mà phản ứng “tôi đang hỏi anh tại sao không trả lời mà lại hỏi tôi”.
 
Ta sẽ giải thích “Tôi hỏi anh tức là trả lời đấy chứ” - vì, anh hỏi như vậy tức là anh đã mặc nhiên xác nhận đây là tách nước. Anh đã xác nhận như vậy, thì tại sao anh còn hỏi để làm gi?
 
Ta lại hỏi, nghĩa là ta luôn luôn chuyển câu hỏi của đối phương thành một câu hỏi, mà không trả lời, vì nếu ta trả lời, họ lại tiếp tục hỏi. Như vậy ta sẽ luôn luôn ở trong thế bị động. Hỏi là chủ động.
 
Tôi đang miên man suy nghĩ về đáp số của bài toán một cách lý thú, thì Bác cười và nhắc thêm:
 
-         Bửu bối của ta là lanh lợi, nhận ra được ngay cách chuyển từ bị động thành chủ động, mà khi đã cãi với đám cán bộ Cộng Sản, con nên tin rằng, họ không bao giờ dám đi ra ngoài sách vở đã học thuộc lòng, như con vẹt, nếu con có chút sáng kiến dẫn họ ra khỏi phạm trù đã được đào tạo là họ thua ngay. Muốn tôi càng hiểu thêm chỗ vừa nói, Bác giải thích “họ ví như xe lửa chạy trên đường rầy, nếu ta có sáng kiến lách họ một chút xíu thôi, là tàu họ đang lái sẽ lật nhào, không làm sao giữ được. Bởi vậy con thường nghe họ hứa “xin về thỉnh thị ý kiến cấp trên rồi sẽ giải thích” là vậy đó.
 
Thấy tôi tỏ ra thích thú, như đã học được một “chiêu” tuyệt kỹ, Bác cho phép tôi rút lui sau khi nhắc lại điều tin tưởng “sẽ có yểm trợ của anh em đứng dưới”.
 
Và, tối hôm ấy chúng tôi đã thành công, sau khi tự giới thiệu với đồng bào mình là Tổng thư ký Văn hóa Tỉnh, đã theo dõi diễn tiến – thật sự, chứ không phải chỉ nghe đồn về tổ chức bầu cử. Tại sao lại dám khinh thường tầm hiểu biết của dân trí đến độ như vậy được? Tại sao lại đặt ra những bài vè
    …………
   Quế Sơn đồng chí Phan Diêu
   ………….
   Phan Thao, Võ Sa từng quen ta nhiều
 
để giới thiệu, như bắt ép dân chúng trong cuộc bầu cử sắp đến.Tôi chế diễu họ một cách rất tế nhị và tuyên bố “hoàn toàn phản đối những việc làm như vậy”. Ước mong đồng bào nghĩ rằng không phải ai ai cũng tán thành hành động ấy!
 
Quả đúng như dự liệu của chúng tôi khi vừa chấm dứt là một chú Việt cộng mới ra lò – bởi họ tránh mặt mà chỉ bày cho những chú non dại – đưa tay chất vấn. Thừa biết rằng chẳng lẽ làm thinh, nên họ phải cố gắng vậy thôi, chứ mấy chú bị xúi bẩy ấy bao lăm hơi, chưa nói là tại đây biết nhau cả, biết cả hành tung, lý lịch, thì ăn chúng tôi sao nổi, để rồi âm thầm giải tán – mà người, rõ tai lắm mới sẽ nghe Phan Cừ nghiến răng nói lời nguyền rủa.
 
-         “Thật là nuôi ong tay áo!”
 
   Dĩ nhiên, ngày hôm sau báo cáo được chạy về Quận, Tỉnh – mà đến sau này chúng tôi không khỏi thắc mắc là chẳng nghe những tay tại văn hóa nói
lời gì tỏ ra trách cứ - ngoài thái độ lạnh lùng – khiến tôi phải đề phòng, cho đến ngày rút lui khỏi cơ quan.
 
Nhưng, nay nghĩ lại khuyết điểm đáng đánh đòn đã phạm phải lúc ấy là tại sao không đề phòng mà vẫn lăng nhăng “tình ái” rất dễ bị họ lột trần thì còn gì uy tín của Đảng, tôi đang công khai hoạt động. Lúc ấy, là thanh niên rất được chú ý trong một thành phố nhỏ như Hội An, nhiều khi tôi ngu dại gần như “trên đầu nào biết có ai” và vì thế, cảm tình với phái nữ tôi đã liều lĩnh, gần như chẳng còn nhớ gì đến lời mẹ dạy, như đã có nói ở một đoạn trước.
 
Tôi đương nhiên ra hoạt động công khai cho Tỉnh Bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng Quảng Nam.
 
Ngay ngày đầu, ngày rời văn hóa, gặp lại anh Thái Lân Nhị Lang – mà đáng lẽ anh đã phải thay tôi ở vị thế này. Trái lại, anh cười xoa nhẹ vai tôi, nói rất nhỏ “Một đồng minh – một đồng chí ! chú rút lui là đúng lúc!”
 
Nghe đâu lúc ấy Nhị Lang đang hướng dẫn Đoàn Văn Nghệ của quận anh đi lưu diễn, mà tôi thầm nghĩ “anh ấy rồi cũng như ta – phải công khai, chứ làm sao che mắt bọn họ lâu được!”
 
Tôi nghĩ đúng, vì sau đấy, gặp lại anh một lần tại cơ sở bí mật Đảng, tiếp đến là ngày anh ngồi bó gối tại nhà Bí thư Tỉnh sáng hôm tôi vào Công an Tỉnh để đi tù, còn anh cùng anh Bí thư ra Hà Nội để sang Tàu (sẽ nói ở một đoạn sau) nhưng lại bị bắt giải về tỉnh nhà, trước khi tạo nhiều tiếng vang đáng kể.
 
                            
 
 
                             
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                              
 
 
HOẠT ĐỘNG CÔNG KHAI
 
TẠI TỈNH BỘ VIỆT QUỐC
 
 
 
Ra công khai đi tuyên truyền và nhất là bán tín phiếu cho Đảng tại Hội An, Duy Xuyên (nửa quận dưới) và Đại Lộc, tôi đã liều lĩnh đầy mình!
 
Lúc bấy giờ khá dễ tìm biết ai là người ta có thể đến tuyên truyền ngay, ai là người còn phải dọ dẫm chờ giới thiệu. Nhưng chắc ăn nhất là cứ nhằm ngay thành phần trí thức, địa chủ!
 
Nhưng cũng có một điểm tế nhị là khi cần tuyên truyền thì không nên quá e dè, dễ khiến họ sợ mà không dám tham gia, hưởng ứng.
 
Có lần về Duy Xuyên sau khi đi bán tín phiếu tại nhà anh Nguyễn Rô – một cảm tình viên hạng 1 tại Long Phước, lúc trở về ghé lại một cửa hàng ở Cống Đôi để tuyên truyền, vì theo anh Rô, anh bạn này đáng được thu nạp. Vừa bước đến cửa gặp một hoàn cảnh mà tôi đã phải giở trò ngược ngạo không ai bằng. Chưa kịp ngồi, thì chợt thấy người bước vào sau, là một anh bạn học cũ hồi ở bậc tiểu học – anh Chức.
 
Anh chủ nhà giật mình, nhưng trấn tĩnh được ngay, xuề xòa giới thiệu.
 
-         A! Hà… hà… xin giới thiệu, đây là anh Chức – chủ nhiệm – rồi anh quay lại tôi, và đây  là (anh ngần ngừ như chưa kịp nhớ ra tên)… anh Phan Vỹ ở Bảo an.
 
Biết tâm trạng anh chủ nhà lo ngại, tôi lỡ ngon trớn tuyên truyền, thì chẳng lợi cho anh, nên tôi làm liền cái trò “cả vú lấp miệng em” để đến nỗi anh quá ngạc nhiên há hốc, nhìn tôi không nháy mắt.
 
À! Anh Chức, Anh Ba khỏi giới thiệu. Tôi và Chức là bạn học từ hồi lớp nhất ở trường quận, biết nhau nhiều. Rồi tôi quay qua bắt tay Chức, không quên tiếp tục.
 
-         Hà! Chức lúc này làm lớn quá ể hả? Chắc là lý luận đầy người! Gặp dịp
     tốt cho mình nếm vài “chiêu” chơi!
Thật là cả một lối khiêu khích quá coi thường đối phương. Nhưng, như đã nói, cái trò “cả vú lấp miệng em” ấy cũng thường là cái trò áp đảo tại chiến trường để buộc đối phương không kịp trở tay, mà tôi thường áp dụng khi biết rõ người trước mặt cũng như đã thừa liệu sức mình.
 
Mới không lâu đây, cùng học một lớp, Chức thường ngại phải cãi lý với tôi, chưa kể là nhiều khi chính tôi đã giúp anh trong việc phải tranh cãi với bạn bè khác.
 
Chức cười, một cái cười đáng yêu, trong khi nắn nắn tay tôi: - Thôi Vỹ ơi! Tranh luận mà làm gì. Bọn mình đã thương nhau nhiều kia mà!
 
Rồi anh cười, rõ nét nhẫn nhịn, làm tôi sau này khi nhớ lại cảm thấy ăn năn.
 
Biết chẳng nên làm già hơn nữa, tôi quay qua hỏi mua gói thuốc bắt tay hai anh ra về.
 
Tuổi trẻ, nhiều khi thật quá nông nổi, xem thường hậu quả, mà về sau sẽ có dịp ngồi nhớ lại hẳn không khỏi hối hận thì chuyện đã qua mất rồi.
 
Câu chuyện đối với Chức hôm ấy chưa đáng kể vào đâu, so với những liều lĩnh khác. Cách đấy không lâu, và tại vùng này, một buổi chiều cũng những công tác thường lệ, lúc về ngang đây tôi gặp Thiệu, tên Trưởng Công an quận Duy Xuyên. Hơi chột dạ, vì thường nghe tên này thuộc hạng độc thủ cần kiêng dè, nhất là hẳn y cũng đã có báo cáo về công tác đi về tại vùng này của tôi. Nhưng có một khía cạnh nhỏ tôi nghĩ chắc y cũng không hẳn xem thường, đấy là trước đây tôi có cưới một cô vợ, bà con rất gần với y, nhưng chỉ sau một tháng, ngày Cộng Sản cướp chính quyền, tôi và cô ấy vì khác chính kiến, bỏ nhau không kèn không trống.
 
Thiệu ra dấu bảo tôi ngừng xe lại. Y không cần xin lỗi xin phải gì, thò tay vào xét cặp tôi. Chỉ qua một phút, lấy lại bình tĩnh, tôi vẫn cái giọng gan liều như từ thuở nào.
 
-         Anh xét tôi là đúng quá! Làm gì lại chẳng có, phải không anh?
 
Tiếp theo ngay, tôi cười, rất tự nhiên.
 
-         Nhưng tôi đâu lại dại khờ mang theo tài liệu trong người… nhất là qua đến địa phận của một “cao thủ võ lâm” như anh!
Tôi chỉ một người đang đi phía trước
 
-         Anh có nghĩ rằng tôi nhờ bà ấy mang giúp tài liệu cho không”
 
Rồi quay phắt lại phía sau xa
 
… hay nhờ chú em nhỏ kia! Chứ dại gì mang trong người phải không anh?
 
Tuy như chẳng chú ý gì lời tôi nói, lòng Thiệu hẳn phải “cho là có lý” y chữa thẹn:
 
-         Gặp dượng, xem chơi cho biết, chứ xét hỏi làm gì.
 
Y lơ đãng nhìn ra xa, để tôi lên xe đi.
 
-         Cám ơn anh!
 
Tôi chậm rãi từ từ đạp xe đi, lòng hồi hộp, tim đập mạnh, vì “hú vía” nghĩ
 rằng “nếu y xét, chốc nữa biết đâu lại không lòi – rồi câu chuyện sẽ ra sao?”
 
Câu chuyện đâu có thế, - mà như đã nói – lúc tự phê, mới hối hận, nhưng khi lâm trận thì “thói nào vẫn tật ấy” cái tật hay gây rắc rối và tinh quái của tôi.
 
Chỉ không đầy một tuần sau, lại gặp Thiệu ở Vĩnh Điện. Chẳng phải nghĩ rằng đây không phải vùng Thiệu kiểm soát hay ỷ vào câu “rừng nào cọp ấy” mà khinh thường, nhưng như đã nói – vừa thấy y là như có được dịp “chọc tức cho bõ ghét”. Chỉ có thế thôi. Dĩ nhiên, chẳng có gì phải hồi hộp, vì hôm nay về tỉnh nên không mang theo tài liệu hay tín phiếu gì. Lần này tôi lại ra dấu để anh ta ngừng xe. Cười bắt tay xong, tôi làm ngay một “cú” xỏ ngọt đáng tiền.
 
-         Hôm kia, nếu anh xét kỹ chút nữa, là tôi “kẹt”! Bởi thấy gay cấn quá nên tôi tung “mê hồn trận” với anh đó thôi, chứ tài liệu sao lại cho người khác mang được, chưa nói là sao người ấy lại đi lè kè bên tôi như thế ấy?
 
Thấy Thiệu vô cùng cay cú, không nói là đang nghĩ cách đáp ứng cái trò “xỏ ngọt” của tôi, nên tôi rất nhanh, giả lả.
 
-         Nhưng dù sao cũng cảm ơn anh. Tha nhau một chuyến có sao đâu, phải thế không anh Thiệu?
 
Thiệu nhìn tôi, dù y cố cười, nhưng khó tránh nét căm hận như muốn ăn tươi, nuốt sống tôi cho hả giận, tôi phớt lờ chào y, lên xe nhắm phía tỉnh, từ từ đạp.
 
Nhưng chưa đâu! Các bạn chẳng vội tin những gì tôi vừa kể, thì xin được nhắc tiếp thời gian ra công khai đấu lý với họ tại trường trung học Phan Châu Trinh trong tuần lễ triển lãm năm ấy.
 
Nói đến quê hương, thì dù ở nơi lộng lẫy phồn hoa, hay chốn thâm u tĩnh mịch cũng đều đã gieo vào ký ức ta ít nhiều thương nhớ khó phôi pha, ngoại trừ một thiểu số người ít nặng tình cảm.
 
Nhưng với thành phố Hội An, chắc đa số phải nhìn nhận cái đặc biệt về khía cạnh này. Nếu không thế thì làm sao có được những lời thơ, những bài lưu bút vô cùng súc tích, mà khi đọc lại Tập san Quảng Đà chẳng ai chịu bỏ sách ngay, mà phải tựa lưng vào ghế, ôm bài văn vào lòng để lắng lại với bao kỷ niệm u hoài thời quá khứ.
 
Tôi cũng vậy. Đang ở vào tâm trạng này dù kỷ niệm trôi qua đã hơn nửa thế kỷ, dù những người muốn nhắc lại, chắc gì đã còn được bao nhiêu. Và, nhất là cuộc đời không chỉ sương gió, tù đày mà từ Nam ra Bắc chỉ trừ một vài tỉnh nhỏ, không nơi nào chẳng có lần định xem như quê hương thứ hai, rồi thứ ba, hay thứ mấy của mình!
 
Nhớ Hội An quá! Nhất là khi nhớ lại thời vàng son ấy!
 
Lúc này là thời kỳ đang có Chánh Phủ Liên Hiệp ngoài Bắc, nên tại các tỉnh, nhất là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Việt Minh không dám khủng bố mình,
nhưng chính vì thế mà cái trò “chụp mũ” khi nào cũng phải đề phòng.
 
Nhân kỷ niệm ngày Cách mạng thành công (sic) tháng tám năm ấy Việt Minh tổ chức triển lãm tại trường trung học Phan Châu Trinh, có mời VN Quốc Dân Đảng tham gia. Chẳng phải họ tốt bụng gì, nhưng thâm ý là trong dịp náy sẽ tìm cách hạ uy tín chúng tôi tại các quận nơi mà họ đã nghe báo cáo là Quốc Dân Đảng đang phát triển khá mạnh. Sở dĩ chủ quan như vậy
là vì họ tin chắc chúng tôi làm gì có được những thành tích chứng tỏ có công trong cuộc Cách Mạng Mùa Thu năm ấy, Nhưng họ đã tính toán sai lần này.
Tỉnh bộ Quốc Dân Đảng Quảng Nam, ngoài anh Phan Bá Lân là Bí thư bí mật, thì hầu hết Giáo sư Trường Trung học, ngoại trừ tên Huỳnh Lý, trước theo Phản đế (đệ tứ) sau theo Cộng Sản, tất cả đều trong tỉnh bộ Quảng Nam. Anh Hoàng Tăng là Bí Thư, và anh Vũ Ký là Ủy viên Tỉnh trẻ nhất.
 
Khi được tin Cộng Sản mời tham gia triển lãm, các anh đã họp bàn khá chu đáo. Mọi dự trù lợi hay hại đều được đưa ra thảo luận kỹ.
 
Hội nghị nhất quyết tham gia… tuy phần nhân sự có vài gay cấn nhỏ mà ngày hôm sau anh Hoàng Tăng đã họp lại tại Thành Ủy Hội An. Anh Châu Tường Thám là Bí thư Thành ủy (sau này, ngày tản cư đã bị Cộng Sản thủ tiêu).
 
Sau nhiều phân tách, tất cả đã đi đến kết luận anh Hoàng Tăng sẽ đại diện Đảng tại diễn đàn để đối đầu với Cộng Sản không còn nghĩ chuyện đưa Nguyễn Xuân Nhỉ, Bí thư tỉnh, mà sẽ để Trần Tống được xem như lý thuyết gia số một ra đấu trường. Anh Tăng đặt ra cho anh em thấy rõ và bàn kỹ ai sẽ đứng thường trực tại phòng triển lãm để trả lời chất vấn của người xem, nhất là của cán bộ Cộng Sản, và ta sẽ trưng bày những gì đây.
 
Về trưng bày, anh Thám hứa triệt để ủng hộ và bàn tới, bàn lui cũng chỉ là di ảnh cố Đảng Trưởng, Đảng kỳ, bản đồ Việt Nam cùng lư trầm. Nhưng tất cả như tin tưởng ta sẽ gây nhiều chú ý của người xem, bởi mấy ai đã biết được những hình ảnh ấy.
 
Đến phần nhân sự, thoạt đầu ai cũng muốn anh Phan Ngô phải gánh vác vai trò này, bởi từ trước anh em đã thừa hiểu khả năng và tài anh. Nhưng sau một vài đắn đo, anh Tăng lên tiếng:
 
-         Chú Ngô thì thừa sức! Nhưng theo tôi, sau chuyến này, nhất là khi họ cảm thấy bị thua sút trong khi thanh thế ta lại lên cao hơn thì chắc chắn hậu quả sẽ khó lường.
 
Anh ngưng một phút, rồi tiếp:
 
- Bọn họ sẽ tìm cách bắt chúng ta, nhất là những người họ đang bực tức.
                                                                    
Chú Ngô – vợ con bận bịu, khó quá. Anh quay lại nhìn tôi, và giọng nhỏ hơn – “tôi nghĩ, chú Vỹ, cũng lanh lợi không kém, lại rảnh tay hơn, hay là” – anh dứt khoát – “chú Vỹ ra thường trực triển lãm nhé!”
Tôi không chần chừ:
 
- Thưa anh, và quý đồng chí! Tôi xin sẵn sàng nhận trách nhiệm, nếu được
   Đảng tin cậy!
 
Thế là cả buổi họp chấp nhận ngay, trong khi anh Thám nhìn tôi
 
-         Sẵn sàng đi tù nhé!
 
-         Dù chết cũng không ngán! Tôi luôn luôn có sẵn một bộ áo quần nhuộm đen để phòng những giây phút ấy. Và trong khi chưa ai nói gì tôi vẫn cương quyết:
 
-         Đã làm chính trị thì không sợ tù; và, đã đi tù thì không bao giờ than khổ!
 
Anh em tuy không ồn ào, nhưng cùng nhau vỗ tay tán thưởng.
 
Thế là chương trình và kế hoạch cho ngày ra công khai tham dự triển lãm được thực hiện nhanh, gọn nhưng không thiếu uy nghi và hấp dẫn.
 
Một buổi sáng lịch sử của thành phố Hội An!
 
Ngoài số người trong thành phố còn dè dặt lững thững sau 9 giờ mới vào xem, thì cán bộ các quận xa về từ hôm qua, đã ào ạt vào cửa, sau khi lễ khai mạc được cắt băng… Họ nhắm hai phòng đối diện nhau – như đã được truyền miệng trước – bên kia sân là phòng của công an mà trong ấy chúng tôi đã được người anh Thám cho biết “công an trưng bày những hình chụp vụ Ôn Như Hầu ở Hà Nội”. Đối diện bên này sân, họ dành cho chúng tôi.
 
Biết chắc sẽ có nhiều “pha” cụp lạc, mà không thể không lo trước! Tôi đang nghĩ thế, và luôn luôn sẵn sàng.
 
Sau 9 giờ, thành phần dân chúng bắt đầu vào xem. Nhìn những người trước đây từng quen nhau, những chủ quán ăn người Tàu, những nữ sinh, những anh em hướng đạo sinh, tôi cảm thấy vui quá, và gần như tinh thần tự nhiên phấn chấn, không còn e ngại như ngày hôm qua và sáng nay.
 
Một anh bạn trong Đoàn kịch Cương Quyết của Hội An, nhưng lại có cảm tình với chúng tôi, đi sát lại gần, nói rất nhỏ.
-         Ngoài kia vui lắm! Nhất là họ nói về diễn đàn! Ý anh muốn cho tôi biết
     anh Hoàng Tăng đã được dân chúng tán thưởng nhiệt liệt.
 
Nhưng rồi như sợ có người nghe, anh lại thêm.
 
-         Thượng Chùa Cầu, hạ Ông Bổn mà lị!
 
Câu này trong anh em Hội An thường nói với nhau có ngụ ý là thành phố Hội An nhỏ bé nên bất cứ một tin gì cũng được truyền đi rất nhanh, bởi thành phố đầu trên cửa vào là chùa Cầu (thời Nhật Bổn đã xây dựng) và cuối dưới ngõ xuôi về Cửa Đợi (biển) là chùa Ông Bổn.
 
Tôi biết anh Tăng đã nắm vững yếu tố đây là một thành phố hầu hết người Trung Hoa hay Minh Hương, thành phần tiểu thương, đang nơm nớp lo sợ chính sách và đường lối của Cộng Sản cố tạo nên giai cấp đấu tranh – để nói sao cho họ thấy được chủ trương, đường lối của Đảng mình.
 
Đã thế, nay khi vào xem triển lãm thấy chúng tôi, tuy đơn giản – nghĩa là trên tường, chính giữa có di ảnh cố đảng trưởng Nguyễn Thái Học, treo dưới bản đồ Việt Nam – trông uy nghi và khá đẹp mắt; hai bên từ trên xuống là Đảng kỳ. Nền đỏ, giữa một hình tròn màu xanh và trên hình tròn màu xanh ấy là một ngôi sao năm cạnh – mũi đứng thẳng lên – màu trắng.
 
Một vài người gan hơn, lại hỏi cho biết về ý nghĩa Đảng kỳ.
 
Giữa phòng là một bàn trải khăn, trên đặt lư hương, xem như bản đồ Tổ Quốc.
 
Chỉ có thế, nhưng đã tạo cho người xem đứng nhìn chăm chú và cảm mến.
 
Một anh bạn, có lẽ vì cảm tình, muốn nhân cơ hội này để tôi được dịp tuyên truyền với số người đứng xem – gần như đều vô tư – bước lại cười và hỏi:
 
-         Anh có thể cho biết ý nghĩa lá cờ được không?
 
Xem như cơ hội đã đến, tôi bắt tay anh.
 
Rất mong có người hỏi như anh, chứ sao lại không?
 
Và tôi thao thao, nhưng mục đích chính, là giải thích về lá Đảng kỳ.
-         Thưa quý bác và quý bạn! Đảng kỳ Việt Nam Quốc Dân Đảng nền đỏ tượng trưng cho ý thức tranh đấu, giữa có hình tròn màu xanh là tự do, và ngôi sao năm cánh là sĩ, nông, công, thương, binh. Nghĩa là “tranh đấu để bảo vệ quyền tự do của Dân tộc”
 
Trong phòng không khí bỗng sôi sục lên, vì không ai để ý trong những người đứng nghe có vài chú cán bộ cuồng tín, từ các quận về, không chịu nổi khi nghe tôi nói, anh xô mọi người, không kể gì lịch sự, bước lại nhìn tôi, mặt hầm hầm sát khí.
 
-         Này anh! Anh nói hay đấy. Nhưng tại sao có những vụ Ôn Như Hầu bị bắt và chụp ảnh, treo bên phòng công an, kia vậy.
 
Anh vừa chỉ bên kia sân, phòng triển lãm của công an mà tôi đã biết.
 
Rồi như chưa đã, anh ta còn gằn giọng:
 
-         Tôi muốn hỏi các anh Việt Nam Quốc Dân Đảng là một đảng giết người man rợ như thế phải không?
 
Tôi bình tĩnh, cười:
 
-         Anh nói xong chưa?
 
Y làm thinh không trả lời.
 
-         Bây giờ, anh nghe tôi giải thích! Đấy là một sự việc oái ăm và bí mật
     đâu phải chỉ nhìn bên ngoài mà biết được sự thật.
 
Biết lời tôi chưa thể nào đả thông với số người đứng xem, y làm già hơn:
 
-         Sao lại oái ăm? Còn gì bí mật, khi đã sờ sờ ra như vậy được?
 
Nhìn những người vô tư đứng quanh, tôi cảm thông ngay sự nôn nóng của      họ, đang muốn tôi nói nhanh, “làm mạnh”! Vì chắc họ cũng lờ mờ nghi ngờ Cộng Sản chụp mũ, nhưng không hiểu thật rõ về sự việc.
 
-         Đây là một bí mật mà anh không ở trong sự việc nên không thể nào biết
         được. Đảng tôi không bao giờ chủ trương giết người. Việc tung ra
         ngoài chỉ là thủ thuật hạ uy tín đối phương để tuyên truyền, chứ tôi
         chưa nói là một hành động “ngậm máu phun người”.
 
Nhớ lại lời Bác (Phan khôi) đã dạy, cần giữ bình tĩnh – có cương có nhu – tôi lại phải giảng giải thay vì tấn công quá mạnh.
 
-         Chính quyền đang ở trong tay các anh, thì việc hình ảnh đâu phải là chuyện không làm được. Còn những xác chết trưng ra để nói là chúng tôi đã giết, cũng vậy, hẳn gì đấy là những nạn nhân chúng tôi giết?
 
Tôi có nghe rằng đây là những xác chết của một số lính “Tàu” trước đóng tại đây, khi mới sang vì không hạp thủy thổ, vì ăn uống không kiêng cữ nên chết mà cấp chỉ huy họ ngại đem ra ngoài mất uy tín, nên đã cho đào ngay trong khuôn viên này mà chôn. Nay thấy uy tín Việt Nam Quốc Dân Đảng trong Chính Phủ Liên Hiệp đang trên đà lên cao, Cộng Sản không từ một thủ đoạn nào, nên đã dựng lên vụ giết người tại đường Ôn Như Hầu bằng cách ra lệnh công an bao vây, lục soát rồi đào lên, để đổ tội, đó là thủ đoạn cố hữu của họ khi muốn hạ gục đối phương.
 
Nhưng chú Việt Cộng vẫn vịn vào sự kiện này, đâu đã chịu thôi.
 
-         Sự việc sờ sờ như vậy, mà còn bảo là vu cáo được sao? Còn gì để bào chữa tội giết người, tội dã man được chứ!
 
Tôi bình tĩnh hơn, nhưng trong thái độ nghiêm túc, như một nhà giáo đang trên bục giảng bài.
 
-         Anh bạn cho là dã man, là tệ hại lắm phải không? Vậy, anh đã nghĩ gì về chuyện trong cùng đoàn thể, cùng Đảng giết nhau, như tại Đồng Hới, Quảng Bình vừa rồi? Mà chẳng mấy người không hay biết. Theo anh, thì giết nhau như vậy có dã man không, có tệ hại không?
 
(Lúc bấy giờ vừa xảy ra vụ trong cùng Đảng Cộng Sản, nhưng vì tranh dành quyền lợi, và ảnh hưởng, họ đã giết nhau rồi bỏ vào bao, vứt xuống sông Nhật Lệ, cả tuần lễ sau xác nạn nhân mới nổi lên, hầu hết miền Trung đều nghe biết.)
 
Chắc anh cán bộ này cũng đã phải nghe, nhưng anh không dám hỏi vì e rằng tôi lại có dịp phơi trần cái nhục của họ trước đám đông, mà Đảng anh cần dấu nhẹm. Đặc biệt anh phải hiểu rằng khi tôi đã nói ra như vậy tất nhiên tôi có thể còn biết rõ hơn chính đám họ.
Anh gầm mặt xuống “Hứm”  một tiếng dài, rồi dắt tay đám đàn em, ra khỏi phòng.
 
Số đông đang đứng nghe, tưởng còn nhiều lý thú – đã cụt hứng – nhìn đám cán bộ ra đi, đặc biệt là những anh trong hướng đạo sinh, văn nghệ không dám cười lớn bụm miệng, quay mặt vào tường, rồi nhìn tôi như tán thưởng.
 
Thế là, sau một lúc, lại thấy chén chè “hạt sen” để cạnh của người vô danh tặng cho!
 
Nửa giờ sau, hai bạn trẻ trong Đoàn văn nghệ Cương Quyết đi ngang trước phòng, nghiêng đầu, nhoẻn miệng nhìn tôi, đưa ngón tay cái, nói:
 
-         Gắng lên ! Còn nhiều gay cấn lắm đấy!
 
Ý chừng bên ngoài đã nghe biết tin bọn họ tìm cách hạ độc thủ chúng tôi. Tôi chưa nghĩ đến độ ấy, mà đoán rằng đám người cuồng tín của Mác Lê đang chỉ cần đấu lý cũng tin đủ ăn chúng tôi rồi.
 
Nhưng bởi chủ quan của tuổi trẻ, với đầy lý tưởng và tuyệt đối tin ở đường lối Đảng mình, tôi không lo ngại.
 
Rồi, ngày hôm sau đến. Lại một gay cấn khác.
 
Một thanh niên trạc tuổi tôi, mặt mày sáng sủa, không phải loại “nón cối dép râu” hay “bọn phạm pháp hình sự trộm cắp” mà họ đã mất công tuyển chọn.
 
Thấy thanh niên này có vẻ khác lạ, tôi ngầm liếc mắt hỏi anh Lê Thiệp, huynh trưởng hướng đạo sinh đứng cạnh, thì được anh “gầm mặt xuống, mím môi” để tôi phải đủ thông minh hiểu rằng “hãy cẩn thận, coi chừng! gặp đối thủ cao tay rồi đấy!”
 
May thay, tôi sực nhớ - đây là một thanh niên trí thức duy nhất của Hội An đã vào đảng Cộng Sản – mà trước đây anh Thám có kể cho nghe. Chú này đã đỗ Trung học thời ấy gọi là Diplome, và hiện là Bí thư Thành ủy Hội An.
 
Dĩ nhiên tôi thận trọng, vui vẻ, nhưng như “chú gà chọi” vừa bước vào đấu trường, đang thủ thế, chờ đối phương.
 
Anh bước lại gần, chậm rãi:
-         Xin lỗi anh! Đây là triển lãm Cách Mạng thành công Tháng Tám phải không ạ?
 
Rồi như không cần nghe câu trả lời của tôi, anh tiếp:
 
-         Phòng nào tôi cũng vào xem, thấy họ trưng bày các thành tích kỷ vật đã có công trong cuộc cách mạng mùa Thu, hay nói rõ hơn, là từ những năm tháng hoạt động bí mật, gian lao khổ sở, đến những ngay cướp chánh quyền, đem lại độc lập, vẻ vang cho đất nước.
 
Anh nhìn tôi như thăm dò, xem tôi đã đoán được anh muốn nói gì không. Nhưng anh không lường được thái độ tôi – cái thái độ đối với những ai đã bị nhồi nhét lý thuyết Mác Lê, là đang chờ nghe để thấy chỗ hở của anh, để tung đòn đánh trả. Anh ngừng hơi lâu, không phải đang tìm đề tài, tôi lịch sự:
 
-         Mời anh nói tiếp!
 
-         Từ nãy đến giờ, vào đây, tôi cố tìm, nhưng gần như thất vọng vì phòng triển lãm các anh không có cái gì chứng tỏ đóng góp cho cuộc cách mạng mà chúng ta đang nói. Phải thế không anh?
 
Như nắm chắc phần thắng, anh dằn mạnh.
 
-         Xin anh chỉ cho xem!
 
Tôi nghĩ ngay. Đúng! Tên này trình độ có khác, hỏi một câu khá hóc búa!
 
Nhưng bài vở đã sẵn, có gì đáng lo! Tôi giữ “bình tĩnh”, và khi đã sẵn sàng thì không thể quên cái nguyên tắc đối với những anh chàng Cách Mạng giờ thứ “25” này phải làm gì. Tôi áp dụng khá lý thú.
 
-         Anh bạn khá đấy! Đúng là người có học thức, chứ từ hôm qua đến nay tôi đã đâm chán quá rồi.
 
Câu nói tuy đơn giản, nhưng không thiếu sâu sắc, bởi nó ngụ ý rằng “chỉ có anh là số một! Còn cả lũ họ dốt quá!” Ngoài ý thức sâu sắc, thì đây cũng là thủ thuật sở trường “hoãn binh chi kế” – để nhớ lại cho đầy đủ - khi đã nhớ lại xong, tôi ngước nhìn anh – như lúc Quan Vân Trường vận chuyển thanh long đao – với giọng tự tin, vô cùng quả cảm.
-         Anh bạn thật quên, hay cố ý giả quên?
 
Cuộc Cách Mạng Tháng Tám đâu phải bỗng dưng mà có! Nó là kết tinh và hậu quả của bao nhiêu đấu tranh gian khổ từ ngàn xưa, từ bà Trưng, bà Triệu ảnh hưởng trong tinh thần đấu tranh giành độc lập, đến thời cố Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của chúng tôi phải lên đoạn đầu đài.
 
Không dấu được chút kiêu hãnh, tôi hỏi:
 
-         Ai dám phủ nhận những trang sử oai hùng đã lưu lại trong giòng máu
     chúng ta?
 
Biết anh cảm thấy tôi muốn nói nhiều hơn, dù anh tỏ ra nóng ruột, tôi cứ như không lưu ý.
 
-         Đừng nôn nóng! Tôi sẽ chỉ và nhắc lại cho anh nhớ rằng, nghe biết rõ
     ràng ngày mồng năm, tháng mười, năm một ngàn chín trăm bốn mươi
     ba – thấy anh như có phần lo ngại khi chưa biết tôi sẽ nói gì, nhưng  
     trước một kẻ nhớ rõ từng ngày từng tháng – tại Liễu Châu, bên Tàu đã 
     có một cuộc hội nghị và sau đó phân công cụ Nguyễn Hải Thần  sang
        Tàu ngoại giao xin viện trợ, nhất là vũ khí, còn cụ Hồ về nước lãnh đạo
     chúng ta cướp chánh quyền. 
 
Tôi ngưng chưa nói tiếp, đứng nhìn nét mặt của anh Bí thư Cộng Sản thành bộ Hội An – mà gần như – thương hại, - thương hại thật sự. Nhưng rồi chuyện chẳng đặng đừng, tôi tiếp:
 
-         Còn ngày ấy – đi cướp chính quyền, đâu phải mình các anh đi. Mà,            chúng tôi cũng không vắng mặt. Cũng với thủ thuật cũ, ngưng một phút, tôi tiếp:
 
-         Chưa nói là lúc nào chúng tôi cũng gan lì, xung phong đi trước cùng những nông dân hăng hái chất phác. Anh bạn cảm thấy tôi đã có lối nói “đâm hông” nghĩa là ám chỉ “không đi sau vì sợ nguy hiểm – của đám cán bộ nồng cốt.”
 
Tôi nhẹ nhàng hơn:
 
-         Đấy là tôi không gán ghép danh từ nặng nề, như “cướp công toàn dân, hay gì gì nữa”.
Đến đây phải thấy rõ rằng anh không tỏ ra tức giận như tên cán bộ quận ngày hôm qua, cười bước qua xem triển lãm của anh em hướng đạo sinh rồi đi ra.
 
Qua hai ngày, báo cáo đã được gởi lên anh Bí Thư Hoàng Tăng.
 
Tối lại, trong giờ gặp nhau thường lệ, anh Bí thư vừa như tán thưởng vừa như lưu ý tôi.
 
-         Khá lắm đấy!Nhưng cũng nên lường trước hậu quả - sẽ không xa – nghe không chú em?
 
Một lần nữa để anh yên tâm, tôi nhắc lại:
 
-         Như hôm trước có nói – tôi đã khẳng định, làm chính trị, làm cách mạng là không sợ đi tù và đã đi tù là không sợ than khổ. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng, khi nào họ đến gọi là vào xách ngay áo quần đi tù ra, không chậm, cốt cho họ thấy ta chấp nhận việc ấy, nhưng không từ chối chống đối họ.
 
-         Khá, khá lắm! Cả anh Bí thư và anh Thám, nhìn tôi cười.
 
Ngày nào cũng có ít nhất là năm bảy người vào xem và hỏi, nhưng hầu hết là hỏi để biết – vì rất dễ nhận ra họ, không giống đám cán bộ Cộng Sản.
 
Hai ngày sau, nghĩa là vào ngày thứ tư, một nữ cán bộ Cộng Sản vào.
 
Tôi nhận diện được cô này ngay – cán bộ huyện.
 
Vừa bước vào, nhìn tôi, như căm thù từ thuở nào, áp dụng ngay chiến thuật uy hiếp – bởi có lẽ cô chưa biết tôi đã nhận diện được cô. Cô khởi thế tấn công.
 
-         Tôi muốn hỏi đường lối và chủ trương của Đảng anh?
 
Vừa chỉ nói:
 
-         Đảng tôi chủ trương Tam Dân Chủ Nghĩa, nghĩa là Độc lập dân tộc, Dân quyền tự do và Dân sinh hạnh phúc.
 
Thì cô đã đưa tay chận tay tôi lại, như sợ tôi lợi dụng tuyên truyền với những người đứng nghe.
 
-         Đảng anh làm quái gì mà giở giọng ăn to, nói lớn ấy được chứ!
 
Cô nhìn tôi với vẻ mặt như ngày xưa mấy bà cụ thường ám chỉ những cô gái đanh đá, hàng tôm hàng cá. Nhưng với loại này tôi nghĩ, không thể ôn hòa, nên dù cũng tươi cười, nhưng đanh thép ra vẻ kẻ cả:
 
-         Chớ nên dùng danh từ hỗn láo ấy! Trước khi muốn áp dụng cái trò xung kích thì nên nhìn rõ lại đối tượng! Người đứng trước cô là ai? Người đã dám ra đứng “đầu sóng ngọn gió” này, ít ra cũng không thể là kẻ quá tầm thường, để cho mọi người bắt nạt!
 
Thấy cô có lẽ đã nhớ ra tôi, đã nghe những hành động trong những ngày tháng vừa rồi mà đôi khi tôi đã coi loại đàn anh, đàn chị cô chẳng ra gì, thì nay xem như cô đã tự dấn thân làm một việc ngoài tầm vóc mình, cô im lặng chờ nghe.
 
-         Ngoài tư cách là người thay mặt cho một Đảng – mà chính Bí thư Trần Tống của cô đã kêu gọi, mong mỏi hiểu nhau, thông cảm nhau – thì khả năng hẳn dư sức trả lời câu hỏi của cô. Tôi chưa nói rằng ý đồ mong giở trò hỗn ẩu của cô, tôi cũng thừa sức nhắc lại đám người “trời đánh thánh đâm” hay chủ trương “ngậm máu phun người” của đoàn thể cô đang phục vụ, lúc đấy còn đâu là hợp tác!
 
Đến đây tôi cảm thấy “đủ rồi”! cần dịu lại, nên giọng nhẹ nhàng hơn.
 
Cô còn muốn tôi giải thích chủ trương đường lối của Đảng tôi cho cô nghe nữa hay không? Đáng lẽ ra cô nên bình tĩnh nghe thêm khi mà tôi nói đến một chủ trương “tự thực kỳ lực” một đường lối “dân tộc sinh tồn”.
 
Thật ra cô cũng chẳng còn muốn nghe tôi nói nữa, nhưng trong khi cô đang cố moi óc tìm ra một phương thức khác hoặc để đánh lạc hướng tôi, hoặc để tạo cho người nghe đang đứng chung quanh nghi ngờ lời tôi… thì tôi cứ như không để ý.
 
-         Tự thực kỳ lực là làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, không làm không ăn.
      Chẳng ai bóc lột ai. Người bàn giấy tính theo công bàn giấy, kẻ lao
      động tính theo sức lao động, kẻ có công, người có vốn, thỏa thuận thì
         làm, không thỏa thuận thì thôi.
 
Biết cô cán bộ không mấy vui khi Đảng cô đã nhồi nhét vào đầu óc cô các danh từ tư sản, địa chủ, cường hào ác bá, cũng như gây đủ thứ căm hờn trong đầu óc đảng viên, tôi với giọng êm ái như lời mẹ hiền khuyên nhủ con thơ:
 
-         “Dân tộc sinh tồn” là lẽ sống của dân tộc phải TRƯỚC HẾT!
 
Thấy cô như “ngố” lên vì có lẽ chưa nghe ai nói chuyện này. Và, đảng cô
cũng chưa dạy cho cô biết chuyện này! Tôi được dịp:
 
-         Ta yêu chính ta trước, yêu vợ chồng con cái trong gia đình ta, yêu bà con làng xã ta,yêu đất nước ta. Cái tuần tự ưu tiên ấy không thể nào thay đổi hay xê dịch được, nghĩa là, ta không thể yêu người khác hơn tự yêu ta, yêu gia đình khác hơn gia đình ta, yêu làng xã khác hơn làng xã ta, yêu đất nước khác hơn đất nước ta.
 
Có lẽ đến đây cô biết tôi sắp nói gì thêm, nhưng lúc này còn làm sao chận
lại được, cô nhìn sang hướng khác trong khi tôi cứ thao thao:
 
-         Ta không thể vì một giai cấp nào đó để diệt giai cấp của ta.
 
Cô thấy đang có thuận lợi để chận tôi lại mà tuyên truyền cho giai cấp công nông, tôi đã nhanh hơn:
 
-         Ta có thể nào diệt một đồng bào Việt Nam vì quyền lợi của một anh Nga Sô, một bạn Trung Quốc được không chứ!
 
Tôi quay ngay sang hai bên, như phân bua:
 
-         Phải thế không các bạn?
 
Có vài tiếng xì xào phía trước mà tôi chưa nghe rõ, nhưng hình như họ cho
là tôi nói có lý, cô cán bộ thay vì “đánh hết cuộc cờ” đã mặc nhiên bỏ dở, quay ra.
 
Ở vào những lúc này tôi càng nhớ lời Bác Tú (cụ Phan Khôi) đã căn dặn  “cãi với cán bộ Cộng Sản là cố tìm cho cơ hội – nhích họ ra khỏi trục” như toa xe lửa ra khỏi đường rầy, mà họ đã học được, tàu sẽ ngã đổ ngay. Họ luôn luôn nói là “Lê Nin dạy, Đảng dạy” nhưng nếu ta khéo léo dắt họ bước ra khỏi cái “trục” ấy là họ cuống cuồng ngay.
 
 Chỉ còn một hôm nữa là bế mạc.
 
 Cảnh triển lãm đã mang màu xơ xác.
 
Tôi đang nghĩ “chắc chẳng còn ai vào thăm hay hỏi nữa”, nhưng lòng lại tự nhủ “đừng vội hí hởn với những cú đấm thôi sơn của những ngày qua”, mà cứ đề phòng.
 
Vừa lúc ấy, vài chú lính giải phóng “nón cối dép râu” bước vào.
 
Nhìn các chú ấy, tôi cảm thấy ái ngại, thương hại… Nhưng oái ăm thay, một chú trong số, ý chừng là tay chính trị viên, tay đàn anh, bước lại gần, như trả bài, nói không vấp:
 
-         Nè anh! Tại sao lại để sao trắng mà không phải là sao vàng? Anh chỉ vào Đảng kỳ của chúng tôi.
 
Tôi nghĩ ngay, với những anh này không nên lý luận, không nên cay cú sớm, mà hẳn dẫn anh vào “quỹ đạo”:
 
-         Vậy tại sao để sao vàng mà không để sao trắng?
 
Quả nhiên, anh đã bước vào “mê hồn trận”, không ngần ngừ:
 
-         Sao vàng là sự chói lọi của năm châu
 
Tôi không thể để anh ta đi thêm xa hơn, mà lập luận vì nghĩ rằng anh nghe sao nói vậy, học được bao nhiêu nói bấy nhiêu. Nhưng dù thương hại, tôi thấy cũng cần bớt màu “đỏ” anh đã trót bị “quân đảng” nhồi nhét.
 
-         Rõ đáng thương hại! Kẻ nào đã giải thích với anh một cách chủ quan như vậy! Người ấy đã coi thường anh, coi như chú học sinh, ngây thơ, bé bỏng. Mà, đã coi anh như vậy, lại cho anh đi “đá” thì đá sao lại với loại gà “cựa dài” “vấy sọc” như cỡ tôi, anh bạn ơi! Anh hãy nghe tôi giải thích!
 
Rồi tôi chậm rãi, bình tĩnh:
-         Này nhé! Nếu nói như anh thì tôi lại nói là màu trắng tượng trưng cho sự trong trắng, tinh anh, được không? Còn năm cạnh là thuộc phương diện mỹ thuật. Chẳng lẽ ngôi sao lại ba cánh hay sao? Bốn cánh thì lại giống như cái chong chóng, hay nhiều cánh lại giống ngôi sao của Tàu mất. Tôi cũng có thể giải thích với anh năm cánh là tương trưng cho Sĩ, Nông, Công,Thương và Binh, anh nghe có được không?
 
Mấy anh lính đi theo, không dám cười, nhưng thúc nhau, làm tôi nghĩ chắc nay họ mới thấy vấn đề sáng ra!
 
Thấy anh như vừa hiểu thêm, dù trong Đảng đã dạy, tôi vui vẻ nói tiếp:
 
-         Anh để ý cho kỹ! Sao vàng của các anh đứng nghiêng cạnh sang bên, trong khi sao trắng của chúng tôi đứng thẳng sừng sững mũi nhọn lên trên.
 
Rồi tôi không quên làm sao cho anh mất hẳn cái không khí lúc mới vào, nhìn nhau như thù địch.
 
-         Nhớ rõ để sau này còn giảng giải cho đồng đội! Và, về Trại nếu gặp chính trị viên khó tính thì chẳng nên nhắc chuyện chúng mình vừa nói với nhau hôm nay mà mấy ông ấy thường chủ quan “đánh trận nào cũng phải thắng nhé!”
 
Tôi cười thông cảm với các chú.
 
 Khi các anh ra khỏi phòng, tôi còn thấy thương thương những chàng trai ngây thơ chỉ biết yêu nước! Không bao giờ nghĩ đến chuyện bị ai lợi dụng!
Ngày hôm sau bế mạc, không khí Hội An mãi còn bị ảnh hưởng của tuần lễ triển lãm khá lâu, mà ngay từ mới sáng, trước cửa quán ông Hương Lan vài người như đã hẹn nhau, hay mỗi chiều tại quán bánh xèo của chú Cường – tay chạy đua nhanh nhất của cả tỉnh thời ấy – vẫn còn nghe nhắc nhau vài chuyện lý thú, chẳng mấy người e ngại!
 
Cũng bởi  cái sinh khí ấy, uy tín của Quốc Dân Đảng lại càng dễ hoạt động tuyên truyền hơn trước. Người dân thường chỉ biết có thế, không mấy ai nghĩ chuyện gì rồi sẽ xảy ra.Nhưng, chúng tôi từng hiểu Cộng Sản, và nguyên tắc làm chính trị là phải biết người, biết mình nên không chỉ đề phòng, mà cái chính là dự liệu trước để khi việc gì sẽ xảy ra ấy, có đến, chúng tôi vẫn sẵn sàng. Hơn thế, phải hiểu Cộng Sản một cách cụ thể, nghĩa là họ không từ một hành động nào mà chẳng làm, thì họ luôn luôn thay đổi để đánh lạc hướng đối phương.
 
Trong ý thức ấy, chúng tôi cũng phải lo liệu.
 
 
 
 
                
            
               
              
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NHỮNG NGÀY THÁNG QUAY VỀ
 
LÀM VĂN NGHỆ
 
 
 
 
 Biết Cộng Sản đang cho người theo dõi sát nút, và, để đúng sách lược, tôi nhẹ nhàng tham gia văn nghệ.
 
Sách lược này trước tiên là để cho Cộng Sản xem như dễ thấy chúng tôi đã làm gì, họ khỏi cần khổ công theo dõi. Trong tư thế ấy chúng tôi lại không vì chiến thắng của những ngày qua mà giương giương tự đắc, nhưng đề phòng họ chụp mũ, vu khống đồng thời cũng không vì thế mà sút giảm hoạt động tại các quận xa, khỏi làm buồn lòng đồng chí, tổ chức.
 
Tôi cộng tác với anh Thọ tổ chức đoàn văn nghệ Trường Sơn, và chuẩn bị tập dượt vở kịch thơ Duy Tân của Thao Thao để trình diễn trong vài tháng đến. Anh Thọ trước đã có viết và cho diễn, cũng kịch thơ, vở Nợ Ô Ly, lúc ấy chưa có tôi. Nay được tôi tham gia, anh như rất vui, thường cố gắng dung hòa không khí trong anh em để tranh đua cùng Đoàn kịch Cương Quyết của thành bộ.
 
Cũng lại cái tính tình của tuổi trẻ, mà chẳng bao giờ quên.
 
Vở kịch thơ Duy Tân, anh Thọ đóng vai Bùi Viện, một chàng trẻ tuổi, cho tôi… Đến vai Nguyễn Trường Tộ, một lão quan – có râu – anh dành cho Phú, anh bạn thường khó dấu ý đồ ganh tỵ với tôi, mỗi tối đến tập dượt.
 
 Một hôm, trước giờ vào tập, đến trễ hơn, khi vừa vào, tôi chợt nghe Phú nói với một giọng, đã có từ trước:
 
-         Nếu Vỹ không muốn diễn, hay làm khó, thì ta tìm người khác thay thế vậy.
 
Thật đúng như ta thường nghe câu “hai cô ca sĩ không thương nhau cùng”, tôi lên tiếng:
 
-         Xin đừng nóng! Có Vỹ nó đây rồi!
Nhưng như đã nói, tuổi trẻ thường là vậy. Ngoài mặt như chẳng có gì xảy ra, nhưng trong lòng ngay từ ngày ấy, tôi đã nghĩ “phải cho Phú một bài học”. Mà bài học phải làm sao không ai nghĩ đến, phải làm sao không thiệt thòi cho tập thể! Đấy mới là diệu kế! Tôi cố nghĩ làm sao để anh Thọ không trách được, mà Phú cũng cảm thấy một ván cờ đã phân rõ hơn thua!
 
Tôi chẳng mất khá lâu để suy nghĩ. Giữ đúng những chi tiết hằng ngày tập dượt cho đến hôm trình diễn. 
 
Thường lệ, khi gặp Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện chỉ kể lại lúc gặp Nguyễn Văn Tường với các câu thơ:
 
   Tường mới sang, tưởng giết ngay tức khắc
   Nào ngờ đâu, hắn rót rượu chuốc mời
   Rượu ngà say, hắn rung đùi tự đắc
  Bảo “đời nay, nào mấy mặt biết người!” 
 
Rồi, cười khảy, như cay cú câu nói của Nguyễn Văn Tường. Nhưng hôm nay, trên sân khấu Hội An, khán giả đang say mê theo dõi, Bùi Viện (tôi) đã cố tình, khi câu thơ sắp chấm dứt – hít hơi vào rồi, chấm dứt bằng một “tràng cười” vang to và dài, rung động cả rạp. Khán giả vỗ tay “vang” khen ngợi tài nghệ của kép Bùi Viện làm anh Phú (Nguyễn Trường Tộ) bối rối, quên hẳn những câu thơ đối đáp của mình. Nhìn anh mà thương hại, và cũng không muốn chốc nữa anh Thọ, dù chẳng trách được, nhưng cũng phiền mình không nâng đỡ nhau, tôi nhích lại gần anh hơn, trong khi thấy anh – tay vuốt râu – nhưng nói đủ tôi nghe:
 
-         Gì? Vỹ! Nhắc tao với nào!
 
Tôi phải nhắc anh và tiếp tục vở tuồng. Khi màn buông xuống cho một lớp khác, Phú nhìn tôi, trách nhẹ:
 
-         Cậu làm mình quên ! Sao hôm nay lại trở gió thế?
 
-         Nào có gì đâu. Thì cũng vậy thôi.
 
Rồi giả như nhớ ra, tôi xoa dịu Phú:
 
-         Thì ra Phú cũng yếu thế. Mình cứ nghĩ cậu kinh nghiệm đầy mình chứ!
 
-         Kinh nghiệm mà làm gì lúc ấy? Nếu là cậu thì làm gì nào?
 
Không để Phú nghi mình có chủ định “sửa lưng”, tôi vừa trả lời vừa lại rót nước uống:
 
-         Tớ ấy à? Gặp tớ thì tớ sẽ ứng ngay một hai câu để kịp lấp vào đấy chứ còn làm sao hơn.
 
Thật là một câu nói “bướng” mà không nghệ sĩ nào lại dùng, vì lẽ làm như vậy sái với nguyên tắc sân khấu – đã sửa lời văn của nguyên tác.
 
Và rồi, cũng trong những ngày tháng này, tôi lại vì cái hào hoa của văn nghệ, quên cả những lời mẹ căn dặn, yêu… rồi yêu! Tôi quên mất rằng lúc này nếu đối phương (Cộng Sản) muốn chơi tôi thì chẳng phải chụp mũ hay bôi nhọ gì cả, chính bản thân tôi đã sai phạm, rất dễ cho Cộng Sản làm
cho quần chúng thấy tôi hư hỏng, dù tình yêu ấy chính đáng hay không.
 
Những kinh nghiệm này mới nghe qua như chẳng mấy gì quan trọng, nhưng trong những năm tháng trong tù, nằm suy xét, phê phán, thấy vô cùng tai hại.
 
Tôi nghĩ “biết rằng sau này khi đem những kinh nghiệm này trao gởi lại anh em trẻ, họ có thấy đúng hay sai?” Nhưng dù sao, ngay từ lúc ấy tôi đã nghĩ đến những buổi mạn đàm hay hồi ký, mà mình không thể coi nhẹ. Tôi quyết định phải làm.
 
Lúc này là lúc tuyên truyền kháng chiến thường cho người lại gạ gẫm tôi.
 
Nhưng cũng đồng thời lúc ấy có đoàn kịch Anh Vũ của Vũ Đức Diên và Thế Lữ từ Hà Nội lưu diễn vào miền Trung. Sau mươi hôm trình diễn tại Hội An, Anh Vũ dọn lên ngay làng tôi (Bảo An) mượn ngôi đình làng để hát cho dân chúng xem.
 
Tôi quay về làng, và được anh em rỉ tai cho biết doàn Anh Vũ lên tận làng quê để diễn là có lý do. Cái lý do dễ hiểu là họ có trách nhiệm liên hệ với Cụ Tú Phan Khôi, mà người đóng vai chính là nhà thơ Thế Lữ. Nếu không phải vì lý do này thì một đoàn kịch lớn như vậy mà về tận làng quê ở khá xa thành phố, làm sao đủ “sở hụi”.
 
Quê hương tôi, là một “gò nổi” trong dòng sông Thu Bồn. Sông bắt nguồn từ thượng du chảy xuống đến làng Vân Ly, tách ra hai cánh, chảy dài xuống đến làng An Trương nhập lại, ra cửa Đợi (Hội An). Chỗ rộng của bề ngang chỉ khoảng 3 cây số. Thế mà ngay từ cạnh làng Vân Ly là làng Tư Phú – quê hương của nhà Cách Mạng Trần Cao Vân, tiếp bên phải là làng La Kham của các cụ Lê Đình Dương, Lê Đình Thám, xuống đến làng tôi. Làng Bảo An, quê hương của nhà Cách Mạng Phan Thành Tài (bị chết chém trong vụ Cần Vương) bố đẻ của các anh Phan Bá Lân, Phan Thuyết, Phan Út (các trường Chấn Thanh, Tân Thanh, Đạt Đức). Và trong họ Phan còn Phan Thanh (cha đẻ ra phong trào truyền bá Quốc Ngữ) anh ruột của Phan Bôi
tức Hoàng Hữu Nam (Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ của cụ Huỳnh Thúc Kháng) (1) , anh em chú bác ruột của cụ Phan Khôi (trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, tác giả chuyện Chú Năm Chuột, bài thơ Mối Tình Già) – xuống đến làng Xuân Đài của cụ Hoàng Diệu (Tổng Đốc tử tiết ngày Hà Thành thất thủ), rồi cạnh đến là làng Dinh Trận của cụ Phạm Liệu (một trong Ngũ Phụng Tề Phi), sát về phía tay trái là làng Đông Bàn của cụ Phạm Phú Thứ (ông của Phạm Phú Quốc).Vào giữa để rồi xuôi về cuối là làng Phú Bông của giòng giõi họ Trương (Trương Xuân Mai – một thời Tổng Đốc).
 
Với một dải đất dài chỉ hơn mươi cây số, ngang chẳng quá ba cây, mà đã có bao nhân tài, bao nhà cách mạng như vừa kể, chưa nói là lắm chuyện đã ghi vào lịch sử dân gian (như vè Phan Thanh – sau khi bị Pháp cố tình giết chết bởi hài tội thực dân – cô lập đến phải bỏ mình sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm của cụ Phan Khôi – hay cái chết của Phan Bôi mà Cộng Sản đã cố tình bưng bít) thì việc đoàn kịch Anh Vũ lên trình diễn hầu hết dân chúng chẳng cho là lạ, trừ những người trong cuộc như chúng tôi lúc bấy giờ.
 
Thật ra chúng tôi chỉ được biết – giới hạn – cụ Phan Khôi là cấp lãnh đạo của Quốc Dân Đảng Liên Khu V, trong khi ấy anh Phan Bá Lân là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam (bí mật).
 
Đoàn Anh Vũ, ngoài vở kịch thơ Tục Lụy, còn làm cho giới trẻ chúng tôi ham thích nhất là hai vở Phạm Hồng Thái ám sát Toàn Quyền Merlin và Nguyễn Thái Học trong giờ nguy cấp.
 
 
 
 
 
(1) Sau này Phan Bôi bị Võ Nguyên Giáp bắn chết trên một con đò lên mạn ngược để thực hiện Chính Sách Tiêu Thổ Kháng Chiến mà ông Bôi vừa nói “Tiêu Thổ Kháng Chiến, nhưng nếu thất bại thì ngày mai có ai đã nhận tội này trước Đảng và Nhân Dân không?” Chứ một Thứ Trưởng dễ có chuyện đi tắm rồi bị chết trôi như họ thông báo.
Vở Nguyễn Thái Học được trình bày theo lịch sử Đảng – Một hôm Sở Mật Thám  được tin Ông Học đang có mặt gần bến xe tỉnh lỵ bèn ra lệnh bao vây
cả vùng để lục xét. Trong khi cả nhân viên dưới quyền điều động của tên Chánh Sở hò hét vào ra trước văn phòng để thực hiện công tác thì khán giả thấy một ông phú hộ từ quê lên xin với tùy phái cho vào gặp Chánh Sở. Dĩ nhiên anh tùy phái biết là người có máu mặt nào đấy đã muốn gặp ông chủ anh, nếu không phải vì một chỗ thân tình hay biếu xén như anh thường biết thì cũng là người cộng tác viên bí mật mà ở địa vị anh không dám có chút hành động nào hỗn láo. Anh mời nhà phú hộ ngồi chơi trong khi ông Chánh Sở còn bận công tác. Phú hộ vui vẻ ngồi đợi, và một hành động ngoạn mục đã xảy ra. Ông giả vờ cần bao thuốc quý ngoại quốc, thế là anh tùy phái sốt sắng giúp ông ra quán ngay trước sở mua. Phú hộ không quên hào phóng tiền bạc để anh này ra khỏi sở, và, ông đã nguyệch ngoạc viết vội vào sau tấm bản đồ trên tường lời nhắn gởi, ung dung ra khỏi sở. Ngay lúc ấy cũng là lúc nhân viên được lệnh rút về bởi không sao tìm thấy Nguyễn Thái Học nữa!
 
Về đến sở họ vô cùng bực tức, nhưng Chánh Sở vừa thấy một mảnh giấy con để trên bàn của tùy phái, cầm lên đọc thì thấy giòng chữ “Xin lật sau bản đồ trên tường để thấy lời cảm ơn – Nguyễn Thái Học”. Ông ta lật bản đồ ra, thì không còn sự giận dữ nào bằng, vì sau bản đồ đã có câu viết mới toanh chưa ráo mực “Cảm ơn Sở Liêm Phóng đã cho tôi trú ẩn – Nguyễn Thái Học”. Họ lồng lộn, và khi anh tùy phái vừa bước vào đã bị cả đám người tru tréo, mắng chửi.
 
Họ đâu ngờ rằng vì bị bao vây gấp rút, ông Học phải cho người chở mình tạm đứng trước cửa. Ông vào thực hiện kế hoạch, khi vừa xong là quay ra leo lên xe cho người chở đi mà ông cũng đã đoán được tính tự cao, thiếu lường trước việc làm của đối phương trong nhóm người của Sở Liêm Phóng nên ung dung trong thành công dễ dàng.
 
Vở kịch khi được kéo màn lại là chẳng ai không hoan hô, chẳng mấy người không trầm trồ thán phục.
 
Có một điều là trước khi vở kịch này được trình diễn, Anh Vũ cho trình bày một hoạt cảnh, kèm theo giọng thơ ngâm dài:
 
     “Một buổi sáng tinh sương năm Canh Ngọ
      Máu Việt Nam nhuộm đỏ một phương trời,
     Lưỡi dao trên đoạn đầu đài,
     Nơi pháp trường Yên Báy, đã kiệt đời kiên trung
     Của mười ba (13) vị anh hùng thuở ấy
     Sống vì non sông, mà thác cũng vì non sông.”
 
(Để rồi sau đấy, khi tung một số kịch thơ ra trình diễn trong ấy có hai vở được khen ngợi là Thanh Kiếm Trúc Lâu và Hai Nấm Mồ, tôi đã diễn lại vở này của Thế Lữ với bổ túc… đoạn sau)
 
    Ví dù Đảng tan rã, thân ta phải thác,
    Số trời đâu? Tài sức của ta đâu?
    Nếu phải chết, miễn Đảng ta sống mãi
    Muôn đời sau, muôn thế hệ mai sau
    Rừng cây dù lá thay màu,
    Chồi xanh rồi sẽ đua nhau nẩy mầm.
 
Trong thời gian còn diễn tại làng, tôi đã hướng dẫn một vài bạn yêu văn nghệ đến thăm Đoàn theo lời mời của nghệ sĩ Vũ Xuân Khoát. Đây cũng là một dịp vui kèm theo chút kinh nghiệm nho nhỏ.
 
Sau khi chuyện trò, anh Khoát hỏi cảm tưởng chúng tôi.Biết chúng mình làm sao sánh được với đàn anh, tôi chỉ nhã nhặn ngâm nhỏ:
 
-         Châu chấu gồng mình mới chống xe!
 
Anh Thế Lữ vui vẻ khuyên chúng tôi tự nhiên hơn. Và, muốn tôi phải nói nhiều, anh hỏi tôi còn nhớ vè Phan Thanh mà khi vừa về đây đã nghe có người hát. Đáp lễ, tôi trình bày là không thuộc nhiều, chỉ nhớ một đoạn đầu. Anh đề nghị, hát lại. Tôi không từ chối và cũng với giọng ngâm vè xứ Quảng:
 
     Tin đâu sét đánh ngang đầu
     Từ Nam chí Bắc đâu đâu cũng hãi hùng.
     Anh Thanh vừa mới lâm chung,
    Người người rơi lụy vô cùng mến thương.
    Than ôi số kiếp đoạn trường,
    Tuổi vừa băm mốt (31) dứt đường trần gian
    Anh sinh mồng một tháng Juin (1-6)
    Năm một ngàn chín trăm tám, Bảo An quê nhà
    Vốn người ở tổng Đa Hòa
    Thuộc Điện Bàn phủ, tỉnh là Quảng Nam
    Mẹ cha buôn bán quanh năm
    Nuôi anh ăn học tiếng tăm lẫy lừng
    Thầy yêu bạn mến vô cùng
    Đậu bằng sơ đẳng, rồi thành chung chẳng mấy hồi.
    Đến năm băm bảy anh thôi (?)
    Bổ đi trợ giáo ra ngồi tỉnh Thanh
    Ai ai cũng biết tiếng anh,
    Dạy Châu Ngọc Lạp, nổi danh thầy tài
    Tính anh ưa viết ưa coi
    Đọc báo Chuông Nứt (La Cloche), viết bài báo An Nam
    Người ta để ý ngó dòm
    Cho anh khi ấy đã làm lôi thôi
    Nên anh phải bị thải hồi
    Học trò thương tiếc “thầy ôi là thầy
    Thương thầy phải kiếp đọa đày
    Cuộc đời đen bạc đắng cay cho đời”   
    Dạy vừa đặng một năm trời
    Trò yêu bạn mến dứt lời ra đi
    Than ôi sinh chẳng gặp thì (thời)
    Hùm thiêng thất thế chịu suy đợi thời
    Nghĩ mình còn nặng nợ đời
    Quyết lìa quê cũ đến nơi Hà Thành
    Lại cùng với bạn đầu xanh
   Quyết lòng dạy dỗ các ngành trường tư
   Ai ai cũng biết danh sư
   Trường nào anh dạy đều dư học trò
  Thăng Long trường ấy đã to
  Hàng năm thường có học trò đậu cao
  Lòng anh, ai biết đặng nào
 Thanh niên chú trọng cần lao đỡ đần
 
Nhưng chưa hết! Khi tôi xin phép ngưng lại vì không nhớ được nhiều, thì anh Vũ Xuân Khoát chỉ vào một anh bạn cùng đi với tôi, mà từ nãy anh đã không dấu được khó chịu khi thấy anh này bô bô, hết chê người này, lại coi thường người khác, ngay cả với những người trong Anh Vũ, đáng lẽ phải kính nể nhiều mới đúng.
 
Anh Khoát đề nghị anh này cho biết cảm tưởng, thì anh đã đúng là kẻ “điếc không sợ súng” tiếp tục cái lối kheo khoang thường lệ. Chúng tôi rất khó chịu nhưng chưa tìm ra được lời nào để “thắng”  bớt đà… mà anh rất dễ sa vào hố!
 
Chúng tôi đã đoán đúng!
 
Anh Khoát vui vẻ “để đáp lễ” tặng anh này một vở kịch “câm” không lời, mà đây cũng là bài học cho những ai thường “coi trời bằng vung” bởi mắc phải bệnh “điếc không sợ súng”.
 
Tất cả chú ý, trong khi anh Khoát tay cầm một khúc gỗ nhỏ - thay cho cây súng – chân rón rén, lưng lom khom như người đi rình tìm chim để “bắn”. Anh loanh quanh, một vòng, khi vừa đến trước chỗ anh bạn này ngồi, thì như vừa chợt thấy một con chim trên cành. Anh xem lại ổ đạn trong nòng súng – rồi càng rón rén – để người ngồi xem phải như chờ đợi, muốn biết anh sẽ làm gì.
 
Bỗng nhiên anh ôm bụng, quằn quại… vì càng lúc càng đau nhiều hơn.
 
Và, kết cuộc là, anh đã “xén” quần ngồi ngay trước anh bạn khi nãy “như trút cả đồ dư trong bụng ra… không thiết gì chim hay chóc!
 
Chẳng mấy người vỗ tay khen vở kịch, có lẽ vì thương anh bạn này. Nhưng riêng chúng tôi được dịp chiều nay có cuộc kiểm thảo nội bộ.
 
Sau ngày đoàn Anh Vũ ra đi, được tin là trở về Bắc, bởi cụ Phan Khôi khuyên không nên tiến vào Quảng Ngãi, mà cái gương Tạ Thu Thâu đã xảy ra không lâu, chẳng mấy người không hay biết.
 
Đây là thời gian tôi dấn thân vào công tác Đảng!
 
Lấy cớ đi buôn hàng tuýt xo từ Quảng Nam ra Hà Nội, tôi nhận trách nhiệm đem báo Việt Nam và Chính Nghĩa về phân phối cho địa phương.
 
Cùng công tác với tôi là Phan Huy Tùng. Thật là một công tác khá nguy hiểm mà nhiều khi chúng tôi phải áp dụng kế hoạch như những tay buôn lậu.
 
Học hỏi từ anh em kể lại hoặc chính mình dấn thân thử thách. Anh em có kể cho nghe rằng một ngưởi phụ nữ buôn thuốc phiện, trong khi bị lính “Đoan” đòi mở va ly cho họ xét, đã gian ngoan đến độ, miệng tươi cười, yêu cầu các nhân viên đứng yên chờ bà ta tuần tự mở ra cho mà xét. Bà cứ tuần tự, và như đã quá quen với hành trình.
 
-         Đây là thùng thuốc bổ! (đưa cho họ xem xong, để bên cạnh).
 
-         Đây là xấp lụa Hà Đông mang vào Nam làm quà…
 
Và, như đã biết tàu vừa đến một cây cầu lớn, bà ung dung xách lên một bó bọc vải kín:
 
-         Đây là thứ mà các ông cần tìm (thuốc phiện). Là bà vụt ngay qua cửa, xuống sông, trong khi cả hai tên lính Đoan, không kịp trở tay.
 
Họ vô cùng hăng tiết, nhưng còn làm gì hơn… trong khi bà ấy nhã nhặn:
 
-         Thôi các ông cũng vui lòng cho. Tôi chỉ biết làm được thế thôi.
 
Và còn khá nhiều chuyện mà chúng tôi nghe như để rút làm kinh nghiệm.
 
Chúng tôi chia nhau, Tùng nhận báo nhưng sau đó hẹn với tôi tại một địa điểm để giao lại, nghĩa là một người nhận, một người phụ trách chuyên chở.
Tại một quán phở hay một cửa hàng thuốc tây, kẻ vào trước người vào sau, cùng mang một cái xách nhưng khi Tùng trở ra là một xách khác. Vì vậy dù Tùng có phải bị xét, nhất là tại sân ga trước khi lên tàu, thì cũng chẳng có gì, ngoài áo quần, trong khi ấy báo đã vào tay tôi.
 
Nhờ những thủ đoạn như trên chúng tôi trót lọt dễ dàng.
 
Lúc ấy anh em thường kể cho nghe chuyện “vai đeo kiếm vàng của người chiến sĩ Việt Quốc” mà tôi thường ước ao, nhất định phải làm được.
 
Theo lời Long (Bí thư Điện Bàn) thì người đảng viên tháo vát, gan dạ và trung kiên – nhất là lập được nhiều thành tích cho Đảng sẽ được đại hội tuyên dương Tráng Sĩ. Sau khi được tuyên dương người đảng viên này được thêu vào vai “áo lót” hai chữ “TRÁNG SĨ’.
 
Long cũng dẫn chứng cho biết anh Phan Xuân Thiện tức Phan Kích Nam người quán làng Cẩm Sa – Điện Bàn, hiện đang có mặt tại trụ sở Ôn Như Hầu là một trong số hàng chục tráng sĩ của Trung Ương Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Nghe thế tôi lại lòng dặn lòng “phải làm cho kỳ được”.
 
Và đam mê phục vụ cho Đảng tôi chẳng sợ gì nguy hiểm.
 
Một chuyến từ Hà Nội về trên con tàu suốt vào Nam, ở các tỉnh phía Bắc chưa xảy ra gì đáng ngại. Nhưng lúc rời ga Đà Nẵng, Tùng ngồi gần cửa ra vào đã ám hiệu cho biết có “mật thám” lên xét!
 
Tôi bình tĩnh để tránh tai mắt những hành khách trên “toa” mà nhỡ có cộng tác viên của mật thám – xách bao đựng báo từ trước để kín dưới chân, lên chỗ ngồi – như sắp đến ga mình phải xuống. Ngoái đầu ra cửa sổ “xem như tàu đến ga nào.”
 
Mặt mày tươi tỉnh không lộ chút gì lo ngại.
 
Tôi bước lên chỗ mình ngồi, nhìn ra ngoài như “chờ đến ga để nhắn một người quen biết thôi” – nhưng trong đầu đã định sẵn vị trí – và thu cả can đảm!
 
Khi qua cầu, tàu thường chạy thật chậm, nhưng vừa qua xong là sẽ mở tốc lực chạy nhanh. Tàu “hú” một hồi còi dài. Tôi đinh ninh – sắp qua cầu Bàu Sấu. Và tôi quyết định lao mình, ôm theo bao báo phóng xuống đường theo ngã cửa sổ!
 
Nhưng vẫn còn nghe tiếng những người ngồi trong toa la lên, như – đa số tưởng tôi ngã tàu – chỉ trừ một vài người, quen với cảnh này hiểu rõ “một tay buôn lậu” nhất là khi họ lại vừa thấy ngoài cửa mật thám từ từ tiến vào trong, xét hành lý của hành khách.
 
Qua khỏi cầu, như đã nói, tàu chạy hết tốc lực thì đám công an xét trên tàu muốn gì cũng chẳng kịp nữa.
 
Tôi ôm chặt bao báo, lăn tròn mất vài vòng, mới ngồi dậy được.
 
Tỉnh trí, nhìn xem gần đấy có ai không. Và khi biết chắc là chỉ đồng không mông quạnh… tôi lững thững về làng ngoại, cách đấy độ hai cây số.
 
Chỉ trặc và hơi đau nơi vai, nhưng cố giữ bình tĩnh để ngoại khỏi lo, tôi dặn em nhỏ giữ trâu cho ngoại, ngày mai vào làng tôi cắt cỏ, dấu bao báo dưới giỏ đem vào cho tôi.
Thế mà, ngay hôm sau tên công an trong làng, đã đến nhà, ỡm ờ hỏi:
 
-         A! Mới đi Hà Nội về có báo Việt Nam, Chính Nghĩa hoặc tin tức gì hay không anh bạn Cu Dê Đê?
 
Chỉ cười, trả lời cho qua chuyện với bọn chúng.
 
Thật là những ngày tháng chúng tôi coi thường nguy hiểm và, gần như “chấp nhận” tất cả.
 
Đã thế, lại không quên tìm cách đe dọa ngầm bọn họ hay ít ra cũng gieo vào lòng dân chúng những câu hỏi “Đã biết ai hơn ai?”
 
Trong đám cùng theo tôi để học nghề buôn bán xa – với Hà Nội – lúc ấy có chú Phan Dung, chẳng thuộc phe chúng tôi, mà cũng không ưa gì đám Việt Cộng. Tại quê nhà thì chú thường thấy cảnh ngửa nghiêng “năm ăn năm thua” nhưng ra đến Hà Nội tôi cố ý cho chú biết cuộc sống của những “Tráng Sĩ” Ôn Như Hầu,  mà mỗi lần hoặc thấy hay nghe, chú chỉ biết le lưỡi kính phục.
 
Khi về đến làng là chú kín đáo, nhưng kể lại cảnh sống chú đã biết “không ngán gì Việt Cộng – mà đôi khi chính Việt Cộng lại ngán anh em Quốc Dân Đảng, là đằng khác”. Mượn miệng chú để tuyên truyền là thượng sách!
 
Trong khi bọn Cộng Sản đang âm mưu thực hiện kế hoạch thâm độc thì một “oái oăm” lại xảy đến.
 
Chúng đang tìm cách tách cụ Phan Khôi ra khỏi chúng tôi, câu chuyện ai ngờ lại trái ngược!
 
Đấy là ngày phái đoàn Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Duy Trinh từ cấp trên về thăm các tỉnh miền Trung… Họ thông báo Quảng Nam mời nhân sĩ Phan Khôi đến dự. Một cuộc mít – tinh (meeting) quan trọng đã được tổ chức tại Điện Bàn.
 
Khi các cấp đã khoe khoang thành công thắng lợi – địa phương hát theo bài địa phương, trung ương hát theo bài trung ương. Vừa xong, họ mời cụ Phan Khôi phát biểu ý kiến.
 
Họ đâu ngờ câu chuyện lại xảy ra không mấy đẹp cho họ. Chắc là bởi từ lâu địa phương chỉ chuyên báo cáo “dân chúng hoan hô, dân chúng nhiệt liệt hưởng ứng.”
 
Cụ Phan Khôi từ từ chống “can” bước lên bục. Cụ chẳng trịnh trọng chào hỏi như họ nghĩ, mà chỉ lịch sự thông thường, rồi bắt đầu, chua chát.
 
-         Chắc  quí ông đã nghe biết tôi hút thuốc phiện từ quá lâu! Nhưng các ông có thể nghĩ được rằng khi nghe cụ Hồ nỡ hạ bút ký Hiệp định
        “Fontainebleau” để mong được Pháp nhìn nhận Việt Nam Độc Lập
        trong  Liên Bang Đông Dương, tôi đập ngay bàn đèn không hút nữa!
  
Cụ dộng mạnh nhiều lần cây “can” xuống bục, và đổi giọng vừa thống thiết, vừa hùng hồn.
 
Vậy Liên Bang Đông Dương là cái gì?
 
Cụ không cần đợi ai trả lời.
 
Liên Bang Đông Dương phải chăng là cái “cùm” cái “gông” – nó cùm đầu, gông cổ Việt Nam vào trong ấy chăng?
 
Giọng thống thiết hơn. Cụ hét như khóc.
 
Ôi đau khổ quá! Ôi nhục nhã quá!
 
Cụ cứ nói, cứ hét trong khi cả đám Cộng Sản ngồi nhìn nhau như tượng đá. Cụ thản nhiên chẳng lời chào ai, ôm đầu xuống chỗ ngồi.
 
Phái đoàn và chính quyền địa phương nhìn nhau như vừa bị ai trút cả thùng nước lạnh lên đầu. Họ nghiêng tai nói nhỏ nhau, rồi buổi mít – tinh (meeting) âu rầu chấm dứt.
 
Phái đoàn nhã nhặn mời cụ cùng lên xe về tỉnh.
 
Trên đường về chúng tôi hơi hoang mang, nhưng rồi bàn nhỏ nhau rằng chắc họ chưa dám làm gì cụ - cứ yên tâm!
 
Ngày hôm sau cụ được cán bộ từ tỉnh cử, đưa về tận nhà giao lại cho bà cụ (!). Đến đây chúng tôi mới hiểu rằng họ sợ để cụ ra về dọc đường nhỡ gặp một vài tên khát máu “thịt” cụ thì mang tiếng – mà chuyện này thường dễ xảy ra tại đây.
 
Bởi những mẩu chuyện như trên, địa phương báo cáo về trung ương – chắc là cả đề nghị - nên người em chú bác của cụ là Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam) lúc bấy giờ đang là Thứ trưởng Bộ Nội Vụ, đang “kèm” cụ Huỳnh Thúc Kháng, tạo một công điện giả kèm theo 500$00 và một vé tàu hạng II mời cụ ra Bắc.
 
Tôi và Phan Huy Tùng được cử cùng đi với cụ dịp này.
 
Trên đường cũng khá chuyện hay, mà công an đã bàn giao bí mật bốn lần chúng tôi đều rõ biết.
 
Nhưng khi ra đến Hà Nội, vào Bộ Nội Vụ, gặp cụ Huỳnh thì cụ Huỳnh lắc đầu cho biết không rõ gì về việc này. Ta hẳn nghĩ cụ Phan Khôi đã bực tức đến độ nào!
 
Cụ quay qua nhà ông Bôi để hỏi lý do, ông Bôi chỉ trả lời ỡm ờ rồi kết luận “Nhưng thôi! Nay đã ra đến đây thì anh ở lại đây, rồi qua bên Bác Cổ với anh Lê Dư (Sở Cuồng – em rể cụ Phan Khôi) cho vui, chứ về trong ấy mà làm gì?
 
Cụ hiểu câu chuyện, quay ra quán nước nói với chúng tôi đang ngồi đợi tại đấy.
 
-         Thôi hai cháu về nói lại anh em, Thế là bọn nó giữ khéo Bác lại ngoài
này rồi.
 
Sau khá lâu lặng cả người, nhìn cụ, như lần cuối.
 
Làm sao tả được giây phút này của chúng tôi, khi chia tay cụ.
 
Sau ngày ấy, chúng tôi không còn tin tức gì về cụ, ngoài những tin như Nhân Văn Giai Phẩm, hay ngay cả từ ngày vì “chính sách tiêu thổ kháng chiến” mà cụ đã cùng lên chiến khu Việt Bắc.
 
Không chỉ vụ Nhân Văn Giai Phẩm, mà ngay cả những mẩu chuyện được cụ nhắc lại của thời tranh luận về Duy Tâm Duy Vật với Hải Triều, đến cuộc sống hằng ngày trước những người con (chỉ trừ một chị lấy chồng họ Bùi) đã bị Cộng Sản bắt mất cả hồn lẫn xác, chúng tôi phải hiểu được tinh thần
chống Cộng của Cụ ra sao.
 
Cho đến trước ngày Cụ phải xuôi tay nhắm mắt, mà theo lời giáo sư Đang – năm 1960 đã vươt tuyến vào Nam – kể lại trong một dịp nhà văn Nguyễn Vỹ nhờ Phú Đức (Cố Vấn Chính Phủ lúc bấy giờ) tổ chức truy điệu Cụ tại tòa Đô Chính Sàigòn có mời thân nhân tham dự - rằng trước khi vượt tuyến vào Nam, ông ta có đến thăm, nhưng chỉ được đưa qua cửa sổ gói trà tặng Cụ, vì Cụ bị quản thúc, không ai được đến gần hay thăm viếng.
 
Những sự việc như trên, chúng tôi chỉ mong những nhà viết sử xem lại, để khỏi bị xuyên tạc hay làm mờ đi tinh thần chống Cộng bất khuất của Cụ.
 
Cuộc sống say sưa dấn thân vì Đảng, tôi cùng anh em đã bất chấp hiểm nguy. Chúng tôi bước vào giai đoạn Cộng Sản giở trò dựng lên vụ cây cầu Chiêm Sơn Tây, chẳng khác vụ Ôn Như Hầu bao nhiêu, để triệt hạ, tiêu diệt chúng tôi, mà ngay lúc ấy những người dân bình thường cũng chẳng mấy người không hay biết.
 
Họ dựng lên câu chuyện như Quốc Dân Đảng âm mưu giật sụp một chuyến tàu đưa chiến sĩ vào Nam để toan cướp khí giới, cướp chính quyền.
 
Câu chuyện mới nghe qua đã là quá trẻ con, chứ chưa nói rằng khi hiểu thấu (mời xem tiếp chương sau) thì hẳn không ai nín cười được! Thế mà chẳng hiểu nhiều người vẫn ngây thơ không hiểu chúng, cứ tin chúng, mới là lạ!
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TIỂU MỤC 1
 
NGÀY XƯA COI MẮT VỢ - ĐI LÀM RỂ LÀ GÌ ?
 
 
Kể lại những mẩu chuyện xa  xưa, nhất là những chuyện “coi mắt vợ” hay “đi làm rể” chắc chỉ làm các bạn trẻ bật cười, hoặc cho là vô dụng, cổ hủ!
 
Nhưng đây là những chuyện trong cuộc đời tác giả, không xa xưa lắm, cũng còn là vài giai thoại vui vui, nếu không dám nói là không hẳn hoàn toàn vô bổ, nên xin bạn đọc cứ nán xem!
 
Biết cho vui, chẳng hại gì – phải thế không các bạn?
 
Nói thế, những ngày còn trong tù, nhất là những ngày tháng rét buốt tại miền Bắc, vài chú bạn trẻ như Hà Lý Luận hay trội tuổi hơn như Nguyễn Ngọc Trân cũng thường yêu cầu kể đi kể lại khá nhiều lần. Các chú ấy lý luận rằng nghe những chuyện này còn ý nghĩa hơn những anh bạn vì tiếc nuối dĩ vãng, của thời vàng son chỉ yêu cầu kể cho nghe những món ăn nào đặc sắc nhất, để ghi chép vào sổ - như sẽ về nấu ăn cho thỏa chí, hoặc đấy cũng là một bữa tiệc “hình dung” cho đỡ thèm.
 
Chiều ý Hà Lý Luận và Trân tôi thường kể hoặc của chính bản thân, hoặc từ nghe mẹ tôi kể mà ghi nhớ.
 
Hồi ấy, ngoài các cuộc hôn nhân do cha mẹ đặt đâu ngồi đấy, thì thường là có tổ chức, bố trí cho chàng trai xem mặt vợ (người mình muốn hỏi làm vợ thì đúng hơn) cho mãn nhãn để sau này khỏi trách cứ người làm mai “hát hay” hoặc cha mẹ đã bắt ép.
 
Đấy là chưa nói đến trường hợp khi đi hỏi cô em, mà lúc cưới lại là cô chị, hay oái oăm hơn là, khi biết thì đâu có, “tật” này, “tật” nọ, nhưng sau ngày cưới lại xảy ra đủ chuyện.
 
Khi xem vừa ý rồi, mới nhờ người mai mối. Nhưng thường là cha mẹ gạ tiếng với ông chú bà cô “kiếm cho cháu nó tấm chồng” cho yên bề gia thất, hoặc cậu trai có bạn bè điềm chỉ, môi giới cho cô em họ, hay cô em vợ mình được cùng về nơi cho mát mặt!
 
Trong tuổi lớn khôn, mẹ tôi thường dạy khá kỹ trong việc đi xem mắt vợ này.
 
Theo mẹ tôi, muốn biết người con gái ấy có đảm đang không người trai thường đến tận nhà, mà nhất là tìm cách vào tận bếp. Bếp núc sạch sẽ, tươm tất chứng tỏ người con gái ra sao. Vì vậy khi được bạn bè nhờ tìm biết một cô gái nào, tôi đã thực hiện việc ấy trước. Đành rằng có trường hợp làm ăn quá bận rộn, không còn thời giờ để ngăn nắp, nhưng đâu phải đấy là lý do để bào chữa cho những “đáng trách.”
 
Ngoài việc nhà cửa là tướng diện. Sau này khi lớn lên tôi mới được nghe thêm những câu như “tướng bất tùng tâm” nghĩa là tướng tuy tốt nhưng còn phải có một tấm lòng – của người tốt, và câu “hữu tướng vô tâm tướng tùy tâm diệt, hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sinh”, nghĩa là tướng diện tuy tốt nhưng lòng dạ chẳng ra gì thì tướng kia sẽ mất, trong khi – lòng dạ tốt mà dù tướng diện trông khó coi, cũng có ngày tướng sẽ thay đổi, hoặc dù không thay đổi thì cũng chẳng hại gì.
 
Mẹ tôi dạy sơ cho biết tướng đàn bà, trên mặt: trán không vồ; vì trán vồ là tướng của người gàn, bướng. Mũi không hốc, mũi hốc như “chống rèm” là tướng nghèo hèn, miệng không rộng vì có câu “đàn ông miệng rộng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà”, miệng quá hẹp cũng không phải người sang, cằm không hỏn. Và quan trọng nhất là đôi mắt. Bà dạy rằng đôi mắt là cửa sổ của linh hồn. Nhìn đôi mắt người “giỏi” có thể biết rất nhiều về ta. Lại có câu “những người ti hí mắt lươn, trai thời trộm cướp, gái buôn
 chồng người”, và cũng có câu “nhứt lé, nhì lùn, tam hô, tứ sún”. Nhưng câu này thường được châm chế. Ngoài những điều trên, mẹ tôi thường bày là cố làm sao cho cô gái đi, để ta xem cô có bị chân chữ bát không.
 
Tướng thì còn nhiều chi tiết, nhưng đại khái là vậy.
 
Tuy nhiên có điều quan trọng là cố tìm biết nề nếp gia phong, và hỏi những người vô tư trong làng xóm mới rõ thêm được những điều tai tiếng quan trọng.
 
Rồi sau những tướng số thông thường mẹ tôi thường kết luận một câu mới nghe qua như “ba phải”, nhưng sau này khi hiểu thêm về đạo lý, tôi hoàn toàn nghĩ, mẹ tôi thật khá uyên thâm, dù bà học chẳng bao nhiêu, và cha tôi chết khi mẹ tôi mới hai mươi bốn (24) tuổi đầu mà đã tay bồng tay bế ba con, nuôi cho khôn lớn, Đấy là lời mẹ tôi kết luận “Nhưng tất cả cũng do phước đức nhà ta cả. Khi có phước thì người kia dù chẳng ra gì, về nhà ta cũng sẽ vươn lên cao cho giòng họ. Nhưng ngược lại, khi nhà ta đã hết phước thì người ấy dù tài giỏi nết na cũng tự nhiên biến thành người hư thân, mất nết”. Vậy ta cần hiểu chữ PHƯƠC ĐỨC ấy mà thực hành thì tướng số chỉ là trợ nhân mà thôi.
 
Khi chị hoặc em gái tôi ngồi nghe, sẽ không khỏi hỏi bà “vậy còn tướng con trai thì sao hở mẹ?”
 
Để chiều lòng chị và em gái tôi, mẹ tôi cũng nói thêm về tướng người đàn ông.
 
Bà lưu ý là tướng đàn ông cũng chỉ khác đàn bà ở vài điểm nhỏ. Đàn ông mà  trán thấp quá là u mê, tối dạ, miệng hẹp quá là tướng bần, vai xuôi quá cũng bần, tay ngắn quá là khổ. Nhưng cũng như đàn bà đôi mắt là rất quan trọng.
 
Mẹ tôi còn kể đến chuyện cưới hỏi. Vô cùng quan trọng, và chẳng giống như ngày nay, nhất là tại ngoại quốc bên nhà gái phải chịu mọi sở phí. Ngày xưa cưới vợ cho con vô cùng tốn kém. Sau lễ hỏi, phải trải qua bao nhiêu lễ tết, bao nhiêu thủ tục mà nhà trai luôn mong mỏi được nhà gái chấp nhận cho cưới càng sớm càng hay.
 
Rồi trước ngày cưới mẹ tôi dạy đủ điều. Bà bắt phải tập “lạy” cho bà xem. Lạy như thế nào, khi lui ra không quay lưng lại phía bàn thờ. Còn rất nhiều chi ly từ ngồi ăn với bố vợ, đến hôm sau đi thăm bà cô, ông chú.
 
Bà ví von kể rằng “thời nay” ý nói thời của chúng tôi – dễ đấy! Chứ thời của bố con hay xa hơn tý nữa, lại có chuyện “đi ở rể” mà những chuyện “bửa củi, gặt lúa” đâu phải là chuyện dễ coi thường…
 
Ngưng một lát, mẹ tôi kể cho nghe những chuyện như huyền thoại. Bà kể rằng ngày xưa đâu có giường gỗ như ngày nay mà thường là giường tre. Bởi vậy lúc sắp gả con lấy chồng, gia đình thuê người chặt tre ngâm dưới ao nước thật lâu mới dùng để đóng giường. Tại sao vậy ? Chuyện kể rằng ngày xưa có một đám cưới không lưu tâm, chặt tre vào đóng giường ngay. Nhưng trong một cây tre đã bị “rắn đẳng” vào ở trong ấy. Đêm động phòng chú rể “tận số”đã bị rắn thò ra mổ cắn nơi chân, chết không ai tìm ra manh mối. Sau nhờ một vị quan tài giỏi đã khám phá ra. Vì vậy chẳng ai không nhớ câu chuyện này mà làm kinh nghiệm.
 
Cũng ví von như câu chuyện trên mẹ tôi kể tiếp cho nghe “ăn trúc đào” bên Tàu thuở trước. Chuyện kể rằng sau trận mưa gia đình đã lấy nước mưa hứng trước mái hiên vào uống, rồi bị chết. Kiện với quan, quan nhiều lần thân đến tại nơi nhưng không sao tìm ra manh mối. Cho đến một hôm, nhân vị quan thanh tra đang thi hành chức vụ cột con ngựa cạnh gốc cây “trúc đào” vào nhà, thì một trận mưa xảy đến. Mưa gió lớn, gãy đổ nhánh lớn của cây trúc đào này, nên “mủ” cây chảy ra, ngựa liếm phải, lăn đùng ra chết. Nhờ vậy mới biết rằng, “mủ” trúc đào rất độc, uống phải là chết ngay.
 
Mẹ tôi tiếp tục câu chuyện làm rể mà đến hôm tôi đi làm rể, đã phải vô cùng ngạc nhiên, bởi tại sao những gì mẹ tôi nói đều xảy ra không sai, không chạy.
 
Bà nói rằng thường những nhà có gả con theo lối “gởi rể” nghĩa là sau lễ cưới chú rể ở lại nhà gái đủ ba hôm, thì trước cửa buồng có kê sẵn một giường hay “ván ngựa” để tối đến chú rể xem như nơi tạm nằm chơi trước khi vào với vợ.
 
Dù còn nằm chơi, nhưng bố vợ có bổn phận xem chừng kẻo “trẻ tuổi ham ăn ham ngủ” là hư chuyện. Ông sẽ đập thức dậy “nhắc” vào trong ngủ. Bà còn kỹ lưỡng dặn thêm, tuy vậy cũng giả như mình đang ngủ, “dạ, dạ” rồi lại nằm yên. Chờ ông gọi lần sau sẽ vào. Theo bà, sở dĩ phải làm như vậy để chứng tỏ không phải ham hố, nôn nóng gì, vì dù đàng nào cũng của mình rồi!
 
Đúng! Đúng tất cả như lời mẹ tôi đã nói. Lạ thật!
 
Ngược lại, khi vào trong, lại thấy người vợ cũng cái “ngữ” ấy, nghĩa là nàng nằm xoay mặt vào trong. Thì ra bên nào cũng có cùng một sách!
 
Đến “trang” này mẹ tôi căn dặn, dù không hút thuốc cũng nhớ bỏ trong túi một hộp quẹt. Ta giả vờ đánh rơi vật gì trong túi, rồi quẹt diêm cúi xuống tìm, nhưng, chính là xem dưới giường có ai không. Tại sao bà nói thế. Theo bà thì có trường hợp cô gái này đã yêu một chàng trai khác, nhưng cha mẹ đem gả cho ta. Tức thế, chàng thanh niên kia sẽ liều mình trong đêm tân hôn vào “sát hại” chàng rể cho đã cơn giận.
 
Ngoài ra, phải đặc biệt lưu ý, không để cho người con gái dẫm vào bóng ta trong đêm tân hôn, nghĩa là nếu bóng ta chiếu từ đèn, mà để cho người vợ dẫm lên thì rồi người vợ sẽ “ăn hiếp” chồng trọn đời.
 
Nay chỉ mới nghe đến đoạn này không một ai chẳng khó chịu, nhưng ngày xưa là vậy, xin kể tiếp, phải không các bạn!
 
Khi thấy người dâu nằm xoay mặt vào trong, chàng rể sẽ nhẹ nhẹ thức cô ta dậy và bảo xuống “pha” cho cốc nước! Đấy chỉ là lối làm quen thôi, chứ có gì phải khát nước sớm thế?
 
Lúc cô đem nước lên ta sẽ gạ hỏi dù là chuyện chẳng mấy quan trọng, như “ông bác khi mai mặc áo đỏ là ai? Bà cụ mặc áo vàng là ai?
 
Là đủ phá tan cái không khí ngỡ ngàng không riêng cho ta, mà cả cho người vợ mới cưới.
 
Mẹ tôi có dặn một điều mà nay nói lại chắc sẽ bị phản ứng ngay, nhưng cứ nói! 
 
Bà bảo là “Chẳng mất đâu mà vội! Đêm đầu cứ nói chuyện nhau thôi! Có thế sau này người vợ sẽ thêm nể nang mình nhiều.
 
Bà dạy nhiều chuyện khác nữa, nhưng nay chẳng nên nói, bởi với thời nay ai chấp nhận đấy là chuyện đang nói “ như chuyện trinh tiết”, bởi lẽ chuyện “tiền dâm hậu thú” đâu còn là chuyện lạ? Phải thế không các bạn trẻ?
 
Thật là cả một vấn đề, ngày nay chẳng sao còn được giá trị. Tuy nhiên, tôi nghĩ không hẳn chẳng có người muốn biết ngày xưa ông bà ta, cha mẹ ta đã có cuộc sống thế vào trong vấn đề hôn nhân hay sao.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG II
 
NẾM MÙI TÙ TỘI (1946)
---------------
 
 
VỤ CÂY CẦU CHIÊM SƠN TÂY
 
 
 
Như đã nói ở Chương I, sau ngày Tỉnh bộ V.N.Q.D.Đ Quảng Nam ra công khai, uy tín tăng lên quá mạnh, không riêng ở Tỉnh hay các Quận lỵ mà tại các Xã cán bộ Việt Cộng vô cùng bực tức, nhất là khi nghe trong dân chúng chẳng còn nể nang hay tin cậy họ nữa, Trước tình huống này, và với sở trường cố hữu, rập khuôn như ở Ôn Như Hầu Hà Nội, họ tạo nên một “cớ” để tiêu diệt cho kỳ được Quốc Dân  Đảng. Họ rỉ tai: “Vụ cầu Chiêm Sơn Tây bị Quốc Dân Đảng mướn người cạy để sụp đổ chuyến tàu từ Bắc chở binh sĩ vào Nam mong cướp vũ khí, phân công nhau cướp chánh quyền!”
 
Họ không cần nghĩ rằng dân chúng làm sao tin được một chuyện làm trẻ con như vậy lại do một đảng phái nhiều kinh nghiệm, đầy trí thức mà ngu xuẩn đứng ra làm. Ngu xuẩn vì cướp chánh quyền chỉ một tỉnh này rồi sẽ làm gì?
Và tại sao lại đi mướn người cạy, nhất là khi nghe rõ câu chuyện, và thấy mặt mày tên thợ mộc bị bắt quả tang tay đang cầm cái “bù lon” vừa vặn ở cầu Chiêm Sơn làm tang chứng!
 
Nhưng Cộng Sản là vậy. Họ không cần gì hơn, và nghĩ rằng chánh quyền đang trong tay họ, thông tin của họ, nói gì lại không được!
 
Chỉ một vài người địa phương mới chứng kiến giây phút ấy, giây phút mà anh thợ mộc chất phác kia đang mân mê cái “bù lon” với ý định sẽ đem về thuê thợ rèn “đánh” cho một cái đục, thì bị tự vệ cật vấn và bắt đem vào xã.
 
Câu chuyện đâu chỉ có thế mà xong. Và, từ chỗ này, ta phải suy rộng ra rằng chẳng lẽ chỉ một hành động của một tên thợ mộc bị tự vệ bắt có một cái bù lon trong tay lại báo cáo lên tỉnh hay sao. Ta phải, và có quyền suy luận, đặt nghi vấn là vấn đề tìm mọi cách để triệt tiêu Quốc Dân Đảng đã được âm thầm nhưng sâu rộng trong đầu óc bọn chúng, nên từ cấp xã, khi bắt được cơ hội chỉ đơn giản như vậy cũng có sáng kiến báo cáo về quận hay tỉnh.
 
Chính những nơi này mới xem như được có cơ hội tốt cho giải tên thợ mộc về, để rồi từ đấy toan tính thành chuyện vu khống và bày đặt thêm cho câu chuyện thành ra đầy đủ.
 
Đầy đủ nhất với chúng là dựng thêm nhân chứng để rồi hẹn với dân chúng sẽ công bố cho toàn dân!
 
Thế là, sau khi tên thợ mộc được giải về đến tỉnh, mà theo lời anh Châu Tường Thám, Bí Thư Thành Bộ Hội An cho chúng tôi rõ, Trưởng Ty Công An Tỉnh Huỳnh Lắm, đã xem như cơ hội bằng vàng. Lắm ra lệnh không tỏ ra dù một hành động nhỏ nào để anh thợ mộc lo sợ, trái lại cho ăn uống ngon lành. Có người đã kể cho biết bọn họ cho anh ăn cả “gà hầm”, một món ăn mà lúc ấy không phải ai cũng có để ăn dễ dàng. Chúng chỉ cần anh khai đúng như lời chúng đã căn dặn.
 
Sau này khi cùng giam chung nhau, nghĩa là khi câu chuyện đã được đóng kín lại rồi, chúng tôi mới biết rõ về anh. Đáng thương hại, anh chỉ là một nông dân chất phác, không học, mặt mày cũng xấu xí. Mắt lé, trán vồ, nhất là lời ăn tiếng nói – cho đến dáng điệu, cử chỉ thông thường, quá cục mịch – không thể nào để ai tin được rằng đấy là một đảng viên Quốc Dân Đảng, bố trí một công tác quan trọng như lời Cộng Sản kể. Phải nghĩ rằng, giả thử đến lúc bại lộ, nguy khốn, với con người ấy, sao đủ khôn ngoan, lanh lợi, chưa
nói là đủ can trường để hy sinh vì Đảng.
 
Cộng Sản thêm thắt câu chuyện là Phó Đảnh mướn anh này cạy cầu theo lệnh Quốc Dân Đảng, để với mục đích trước tiên, bắt anh Bí Thư bí mật Phan Bá Lân, cùng một số các đồng chí tại các quận như: Duy Xuyên Phan Ngô, Bùi Hoành; Quế Sơn Hà Cư; Tam Kỳ Nguyễn Ân, Võ Tụng v.v…
 
Đến đây phải nói thêm rằng khi đề cập Quảng Nam mà chỉ nói những anh như Hoàng Tăng, hay số Giáo sư Phan Châu Trinh như Huỳnh Hòa, Vũ Ký… là chưa đủ, chưa nói là còn thiếu sót lớn, khi không đề cập đến Phan Bá Lân.
 
Anh là người tôi đã tuyên thệ trước sự chứng minh của Phan Long khi gia nhập đảng tháng 6 năm 1945.
 
Anh Phan Bá Lân là con đầu của nhà Cách Mạng Phan Thành Tài, hiệu Đạt Đức, cụ Phan Thành Tài cùng thời với các cụ Tiểu La Nguyễn Thành, Trần Quý Cáp, Nguyễn Duy Hiệu… Nhưng cụ bị Pháp xử trảm tại Vĩnh Điện (nay con cháu đã về lập lăng miếu thờ cụ nơi pháp trường ngày ấy). Cái cần nói, là cha chết như vậy thì ai nuôi anh để sang Pháp học thành tài? Khi thành tài anh đã đem hai em là Phan Thuyết (trường Đạt Đức) và Phan Út (trường Tân Thanh, Tân Thạnh) cùng du học sau đỗ cử nhân và kỹ sư về nước mở trường dạy học như anh.
 
Viết đến đây lại xin kể một câu chuyện “phiếm” mà lúc trà dư tửu hậu thường được nói đến. Đấy là câu chuyện kể cho vui nhưng để đánh giá dân tộc tính của vài nước thường nghe nói như Anh, Pháp và Mỹ. Câu chuyện được kể rằng “khi vào tiệm nước, gọi lên một ly cà phê sữa. Chẳng may, khi sắp uống, phát giác trong ly có một con ruồi chết. Nếu là khách “Ăng Lê” (người Anh) anh sẽ vớt con ruồi bỏ trên tách, chỗ dễ thấy, rồi lặng lẽ ra đi (phớt tỉnh như Ăng Lê). Nếu khách là người Pháp, sẽ gọi người hầu bàn đến, lịch sự trả tiền, không uống rồi ra đi. Nhưng nếu khách là người Hoa Kỳ anh sẽ gọi thêm một ly khác để uống, nhưng đến lúc trả tiền anh sẽ chỉ con ruồi cho hầu bàn thấy, rồi lấy tay gạch “đôi” ám chỉ cho biết chỉ trả tiền ly mình uống mà thôi.
 
Câu chuyện được kết thúc rằng “người Pháp đúng là thực dân siêu đẳng”, người Anh thường lạnh lùng nên có câu “phớt tỉnh như Ăng Lê”, còn người Mỹ là ai ăn nấy trả, có ăn có trả, bởi đất nước khai sáng trong một hoàn cảnh quá khó khăn, nên nay chẳng dễ dàng đưa ra mà không có lợi cho họ.
 
Trở lại câu chuyện gia đình anh Phan Bá Lân, sau khi cụ Phan Thành Tài bị xử trãm, cũng như ở một xã lân cận là Phong Thử có cụ Cử Diện đồng hoàn cảnh, nên anh Phan Bá Lân con cụ Phan Thành Tài và ông Phan Minh con cụ Cử Diện đều được Toàn quyền Pháp lúc ấy là Pasquier nhận đỡ đầu sang Pháp ăn học. Nhưng hai người chẳng giống nhau, anh Lân học thành tài về nước mở trường Chấn Thanh ở đường Huỳnh Khương Ninh. Lúc bấy giờ. anh dành riêng một ký túc xá cho người đồng hương Quảng Nam.
 
Anh Lân được giới trí thức đương thời kính phục, và rất nhiều người là học trò anh. Thế nhưng, sau ngày Cộng Sản cướp công nhân dân (tháng 8-1945) anh phải thu mình lại, ra làm Chủ tịch xã Hoàng Diệu một thời gian ngắn cho yên thân.
 
Trước đấy anh có mở lớp dạy tiếng Nhật tại nhà, rất nhiều người trong tỉnh đã đến học. 
 
Con cái anh hiện giờ đang ở Pháp như Bác sĩ Phan Hoàng Đình cùng các em gái. Riêng vài cháu gái đã về xây lăng cho ông nội, nay sống tại Sàigòn
 
Sau vụ cầu Chiêm Sơn được dàn dựng, anh Phan Bá Lân bị bắt trước, rồi lần lượt tại các quận như Duy Xuyên các anh Phan Ngô, Bùi Luận, Bùi Hoành; Tiên Phước Nguyễn Long; Tam Kỳ Võ Tụng, Nguyễn Ân, Trương Phước Tường; Quế Sơn Hà Cư và Điện Bàn Phan Long, Phan Văn Đức, Phan Bá Cầm, Phan Huy Tùng, nghĩa là hầu hết các cơ sở đều bị bắt ngoại trừ những người ra công khai chúng chưa đả động đến.
 
Những anh dạy taị trường trung học Phan Châu Trinh như Huỳnh Hòa, Phan Khoang, Vũ Ký cũng cùng một lượt vào tù.
 
Sau mấy hôm Cộng Sản cho phát thanh kể vanh vách câu chuyện theo “tưởng tượng” chúng đặt ra mà trước đây đã từng nghe kể.
 
Lúc này là lúc không khí Quảng Nam vô cùng sôi động. Người đảng viên gần như coi thường vì đã dự đoán việc này từ lâu, nhưng chỉ thương hại cho những người như chú Phan Dung đã có nói ở một đoạn trước, chẳng dám ra đường chứ đừng nói là gặp anh em chúng tôi.
 
Và, riêng tôi, việc phải đến, đã đến!
 
Nhận được giấy mời – hay nói đúng hơn là “lệnh bắt” trình diện Ty Công An Tỉnh tại Hội An – chỉ được biết trước một hôm.
 
Cả nhà – mẹ, chị, em gái, và Phin đứa con gái tôi – đều nhìn nhau không nói lời nào, vì biết giờ chia ly đã đến!
 
Đến những giây phút này mới thấy được cái “khí khái” hiếm có của một từ mẫu đáng kính phục và thương yêu nơi “mẹ tôi!”
 
Từ khi bắt đầu bước vào tuổi 18, mẹ tôi luôn có một lối dạy con khá đặc biệt như đã có nói ở một đoạn trước. Dù tôi là con trai duy nhất, và dù cha tôi chết sớm – lúc ấy bà mới 24 tuổi, cái tuổi mà bây giờ nhìn đến đám bạn gái cùng lứa này ta hẳn không thể nào tưởng tượng được – trong khi bà con lối xóm thường nói đùa là “hũ mắm treo đầu giàn”, bà vẫn chủ trương không bo bo giữ con bên “nách”. Mẹ tôi luôn khuyến khích tôi theo Bác Thừa Hai đi Chùa mỗi tối, vào thăm để nghe và học được cái khôn của bác Tú Khôi hay chú Tú Chước, những người từng nổi danh một thời. Bà không ngăn cấm việc giao du với bạn bè, miễn là bạn tốt. Mẹ tôi thường nói “đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”, vì bà khẳng định là “đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Mẹ tôi có sở trường là gặp trường hợp nào bà cũng đã có sẵn ca dao, tục ngữ, nói ngay mà không cần phải nhớ. Vì vậy những câu vô cùng ý vị, và rất đúng như “lụa tốt xem biên, người hiền xem tướng”, “cọp chết để da, người ta chết để tiếng”, hay “trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa đám ba quân”. Bà thường nói cho nghe hoặc giảng giải khi cần, chưa nói là bà lưu ý “trong nhà chưa rõ ngoài ngõ đã hay” cho cả trai cùng gái biết mà không nên coi thường dư luận.
 
Mẹ tôi dạy quá đầy đủ. Khi rời gia đình, nhất là sau này, những năm tháng trong tù, nằm nhớ lại rõ ràng, như lời mẹ còn văng vẳng bên tai.
 
Suốt đời mẹ tôi chẳng bao giờ đi xa, chứ đừng nói là va chạm với đời, hay giao du với xã hội nhiều, thế mà bà biết rất tỉ mỉ trong mọi giai tầng, trong nhiều hoàn cảnh, khiến tôi đã có lần nghĩ rằng “chắc chỉ thời con gái, bà được ngoại tôi dạy mà thôi!”
 
Mẹ tôi gọi lại gần và nói nhỏ:
 
-         Con xuống tiệm hớt tóc cho ngắn, vì vào tù nóng nảy khó chịu! Và, tiền đây! Con cầm lấy xuống tiệm ăn. Thích món gì cứ ăn! Rồi bà nhìn chị tôi mặt buồn bã, như muốn khóc, bà trách nhẹ:
 
-         Không buồn gì cả! Chuyện này đã biết trước từ lâu – là sẽ xảy ra kia mà! Rồi bà quay lại tôi:
 
-         Cứ ăn ở tiệm! Không nên mua về nhà.
 
Như để giải cho hiểu ý ấy, giọng bà đanh thép hơn:
 
   -  Bọn nó theo dõi, và sẽ cho là gia đình ta ăn uống chia tay! Thôi! Con đi
       đi!
 
Tuy còn nhỏ tuổi, chỉ mới hơn hai mươi, chưa kinh nghiệm nhiều, nhưng khi nghe mẹ tôi giục như vậy, tôi phải hiểu ngay rằng bà không muốn nhìn tôi lâu, rồi biết đâu, sẽ rơi nước mắt, mà làm tôi rùn chí!
Cầm tiền mẹ đưa cho, quay lưng lại, nhưng tôi lại cúi xuống sửa đôi dép, liếc nhìn, như lòng bảo rằng, mẹ ta khóc chăng?
 
Đến tiệm hớt tóc quen, mà nếu là những ngày trước thì tránh đâu những chuyện vui đùa xởi lởi vì biết gặp được tay “chẳng ngán Việt Cộng” tha hồ mà đùa. Nhưng hôm nay, không khí chung căng thẳng chẳng ai không hay biết, nhất là khi anh nghe tôi bảo “hớt thật ngắn” anh phải hiểu ra được
nguyên nhân nào rồi. Anh cứ cặm cụi hớt, chẳng chuyện trò, mà cũng chẳng hỏi “mô tê” gì.
 
Vào quán ăn cũng vậy. Tuy là thôn quê, nhưng làng tôi thuộc vùng thanh lịch ăn chơi, quán chú Phước thật ra chẳng thua gì những tiệm ăn cỡ trung của Đà Nẵng hay Hội An tỉnh lỵ.
 
Thấy tôi gọi thức ăn hôm nay có phần đặc biệt hơn mọi ngày, chú Phước cũng chẳng hỏi. Cứ lấm lét nhìn tôi, như chờ xem tôi có “tâm sự” gì không. Nhưng lúc này là lúc tôi càng thủ thế kỹ, chẳng dám bừa bãi tin càn như mọi hôm, im lặng ngồi ăn. Miệng như “đắng” chẳng thấy gì ngon, nên tôi trả tiền ra về.
 
Hôm nay, trên đường từ nhà xuống quán, rồi về, tôi lưu ý người quen nhìn mình có phần khác lạ, chẳng giống mọi hôm chút nào. Tôi thầm nghĩ “chắc họ hay biết rồi cả sao! Tôi đâm ra suy diễn, như thấy người thương nhìn mình ái ngại, dù là hé môi nhau, thì cũng chỉ là một cái nhếch môi như cười an ủi. Còn thuộc gia đình Việt Cộng, thì khỏi nói! Với cả một hằn học, như muốn nói thẳng mặt mình hai tiếng “đáng kiếp” không! Không phải tôi suy diễn. Mà hôm nay tôi rất dễ nhận thấy hai chữ nhân tình, thế thái hơn mọi ngày!
 
Chiều nay, trời mau tối quá. Nhìn như bóng tối vội vàng sụp xuống nhanh!
 
Dù gan dạ, coi thường nhưng đến lúc này cũng cảm thấy buồn!
 
Mới hơn hai mươi tuổi đời đã nhúng mùi “tù” – các bạn trẻ ngày nay nghĩ sao? Cơm tối hôm ấy, thật chẳng ai nói với ai, cứ nhìn nhau. Và chắc chẳng ai thấy ngon miệng, dù chị tôi cố ý cho ăn những món ăn mà gia đình thường ưa thích.
 
Bé Phin mới 7tuổi – lấm lét nhìn tôi, như rơm rớm nước mắt.
 
Vuốt tóc bé, tôi nói vừa đủ cho bé nghe : “Ở nhà ngoan với bà, và hai cô nghe không con!”
 
Cháu cúi đầu nói rất nhỏ “Dạ”, rồi vùng chạy vào bếp “khóc.”
 
(Viết đến đoạn này, và cũng như mọi lần, tôi không thể nào nén được xúc động. Và tôi nghĩ bạn đọc chắc cũng ngạc nhiên khi nghe tôi bảo Phin là
con gái – trong khi tôi mới hơn 20 mà cháu đã lên 7 – là sao? Xin phép và được cầu linh hồn cháu cho tâm sự giây lát ở điểm này, Cứ đem cuộc sống của tôi và cháu ra để luận bàn thì những ai thường quan niệm con nuôi hay con đẻ là hoàn toàn không trung thực. Ngày nay, và ngay bên cạnh chúng ta không thiếu trường hợp con đẻ chẳng coi cha hay mẹ nó ra gì, chứ đừng nói đến trường hợp đã xử tàn nhẫn độc ác với người sinh thành ra nó. Như vậy thì đừng quan niệm con đẻ là quí, trong khi thiếu gì người con nuôi đã hiếu thảo khôn cùng, đã báo đáp công nuôi với câu “sinh dưỡng đạo đồng” không làm cho ta thán phục hay sao. Vì vậy gia đình tôi rất buồn khi nghe ai hỏi “Cháu là con nuôi hay con đẻ?”
 
Cháu Phin rất ngoan. Ngày tôi hoạt động trong bí mật, khi biết có người đến bàn chuyện ở nhà sau, cháu không đợi ai bảo, lấy “xa” kéo vải ra ngồi ngay giữa lối đi làm việc. Khi có người muốn vào, cháu lên tiếng hỏi để tôi cảnh giác đề phòng.
 
Và sau này nghe chị tôi kể lại những năm tháng gia đình bị chỉ định cư trú tại vùng rừng núi Tiên Phước, vì tôi về hoạt động vùng địch (!) – 1948 – chỉ một mình cháu được ra ngoài (những người lớn không được ra khỏi ngõ) để lội ruộng bắt ốc, vào chân núi tìm rau, kiếm củi đem về cho hai cô lo bữa qua ngày.
 
Bé Phin đã chết một tháng sau ngày tôi đi tù của vụ đảo chánh 11-11-1960, lúc ấy cháu mới hai mươi tuổi, chuẩn bị thi tú tài. Như vậy là trong những lần gia đình tôi bị gian khổ tù đày cháu Phin đều có mặt, chỉ trừ lần bị đánh đồn, sẽ thuật lại ở một đoạn sau của trận Phù Kỳ 21-7-1952, khi lên đến nơi Cộng Sản đuổi cháu về, vì còn nhỏ.
 
Sách viết đến đoạn này, như đã nói, tôi ngưng lại hai lần, vì quá cảm xúc, nước mắt trào ra, dù câu chuyện đã xảy ra gần 50 năm qua.
 
Đến thắp hương trên bàn thờ, nhìn ảnh mẹ, chị, vợ và cháu Phin – mất khá lâu – mới yên tâm ngồi lại viết tiếp.
Gia đình đã hy sinh vì tôi quá nhiều!
 
Nhắc lại hôm ấy, sau bữa cơm tối, gần 8 giờ, mẹ tôi giục thu dọn để ra đò đi Hội An. Chị tôi đi cùng, nhân tiện mua ít hàng về bán, nhưng mục đích, là tiễn tôi, sáng ngày mai.
 
Lúc sắp đi – mẹ tôi, một hành động “nhớ suốt đời” bà gọi lại gần.
 
-         Con hãy uống một tí mà nhớ lời mẹ dặn.
 
Bà nguưng một giây như cố nén phút cảm động, rồi nói tiếp:
 
   -    Cố giữ lấy phổi con! Phải làm sao để tránh bị họ “đập” vào ngực, vì
         phổi con yếu. Khôn ngoan! Khéo léo!
 
Chỉ một giây sau, giọng bà trở nên đanh thép:
 
-         Nhưng nói thế, không phải là ta phản bội anh em. Phải giữ chặt dạ trung kiên, bất khuất! Cái khó là ở chỗ ấy. Nhưng mẹ biết con làm được!
 
Rồi giọng nhẹ hơn, bà nói câu tục ngữ thường được nhắc lại “cọp chết để da, người ta chết để tiếng” nghe không con!
 
Mẹ tôi im lặng, nắm tay tôi – nhìn, rồi từ từ bà buông ra, quay mặt nơi khác.
 
Mới nghe lời nói ấy, hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên, khó hiểu bởi làm sao tránh khỏi bị đập, mà không phản bội anh em? Và lúc ấy đâu có đi bác sỉ, sao bà khẳng định tôi yếu phổi?
 
Xin mời đọc tiếp, cũng cùng chương này, đến câu chuyện “nhứt lộ phước tinh” của Trình Giảo Kim trong truyện Thuyết Đường, sẽ thấy phải làm gì, nói khích như Trình Giảo Kim hay khác hơn để tránh bị đập, mới là sự lanh lợi trong lúc cùng thế của cái lanh ngay từ những ngày quá trẻ tuổi, không phải ai cũng dễ có được.
 
Nhìn gia đình một lần nữa, tôi theo chị ra đi.
 
Đêm nay, nằm trên đò, tâm trạng chẳng giống như bao nhiêu lần trước mà nghe tiếng nước đập vào mạn thuyền, chờ khi thuyền xuôi độ nửa đêm, để rồi xa xa lại gặp một đò khác, như đã biết sẵn nhau, hay như con gà cất tiếng gáy thánh thức chỉ cần cất giọng hát một câu “ỡm ờ” là được ngay đò bên kia cùng xáp lại gần nhau hát ân tình, hát mỉa mai, hát đố. Tất cả những tâm  
trạng ấy đêm nay hình như không nghĩ đến.
 
Nằm thao thức, nghĩ đủ chuyện, từ cách phải đối phó khi gặp cảnh này, hay trái lại phải xử sao, khi gặp cảnh khác. Rồi nhớ đến các đồng chí giờ này đang bị tra khảo, nhớ những thằng bạn thân thường ngày rủ nhau ra “bãi” đá bóng như của hai bộ ba Vỹ, Tý, Tài, Xong, Xe, Lai hay nhớ những chú nhỏ thường vác mìn đi xáng cá của Thịnh bà xã Tôn, Đơi con ông Đợi. Và, nhất là nhớ người yêu, nhớ gia đình.
 
Nhớ mệt, chớp mắt lúc nào không hay, giật mình thì đò đã cập bến Hội An.
Nhưng trời chưa sáng. Khách chưa được lên bờ! Cứ nằm vậy chờ đợi!
 
May thay có người trong đó vì đau đột biến, cần vào bờ ngay nên người chủ đò lên tiếng xin với lính trên trạm gác, họ cho cập bến.
 
Hoàn cảnh hơi đặc biệt, thường cảnh giác cao độ. Chị tôi ra dấu bảo: “chậm rãi đừng vội!” Nhưng khi thấy tình hình không gì đáng lo, chị bảo:
 
-         Em có thể lên sớm, nhưng độ gần 8 giờ, yên trí có chị ngồi gần xế xế trước cửa ty. Em cứ vào!
 
Xem kỹ lại tình hình, xa xa chỉ thoáng thấy vài người trên đường phố, tôi gọi anh bán cà ri, bánh mì lại mua ăn, để dọ hỏi:
 
-         Trên đường đi lại được rồi chứ?
 
-          Lược! – Thì ra anh này người Tàu.
 
Nhìn anh Tàu bán cà ri bánh mì, tôi lại nhớ lời anh em đã kể về tên Trưởng ty Công an ngày nay là Huỳnh Lắm, trước kia cũng là một gã ba Tàu bán hoành thánh dạo hàng đêm với đôi “sinh” gõ dòn, như các xe phở lê la giữa phố Hội An nhỏ bé, mò ra xóm Mới, lên tận chùa Cầu. Lắm thừa lúc đêm
khuya, rải truyền đơn, treo cờ nhân những lễ sinh nhật ông Hồ, hay Lê Nin, Các Mác, làm cho tên Chánh mật thám Pháp Rờ Nô điên tiết bắt càn, bắt bậy trong khi chẳng biết, một tay Lắm gây ra.
 
Ăn xong bát cà ri và ổ bánh mì, tôi toan lấy tiền ra trả, thì chị tôi nằm gần cửa đã lên tiếng:
-         Để đấy chị trả tiền cho!
 
Tôi uống qua cốc nước anh này trao, sửa soạn lên bờ.
 
Thấy trời còn sớm, nghĩ chắc chẳng ai để ý đến mình, tôi định bụng lên bờ, ra dấu cho chị biết.
 
Đi về ngã Lò Heo, còn nghe tiếng chị tôi dặn với:
 
-         Cẩn thận nghe em!
 
Dọc đường bờ sông, tôi cảm thấy một dày vò, đau khổ tột độ, nhất là khi đi ngang nhà người yêu, mà tôi nghĩ giờ này nàng và gia đình đang yên giấc. Tôi không muốn cho nàng hay tin này sớm, vì chắc nàng sẽ rất khổ, vì thương nhớ.
 
Tôi lại nghĩ đến chuyện khi Cộng Sản biết được và chúng sẽ không tha, chụp vào đầu tôi hay gia đình nàng một cái mũ, chưa biết đến độ nào, bởi lẽ gia đình nàng cũng thuộc hàng “bất Cộng đái thiên” với Cộng Sản. Chú ruột nàng bị xử tử ngay ngày đầu sau tháng 8-45.
 
Đi như trốn chạy, cúi đầu lặng lẽ từ giã nhau.
 
Xuống đến nhà anh Hoàng Tăng thấy Nhị Lang đã ngồi bó gối trước bộ ván ngay cửa ra vào, tôi chào nhau bằng cái nhìn thông cảm.
 
Anh Tăng trước ở nơi nhà vợ gần chùa Cầu, nhưng nay dọn về ở nhà anh, một nhà tranh ọp ẹp sau lò heo, có lẽ anh cũng đã lường trước những ngày sắp đến, nên không ở bên nhà vợ nữa.
 
Thấy tôi nhìn chung quanh, Nhị Lang biết ý, hất hàm lên nhà trên.Anh Tăng vừa xách ấm trà đi xuống, thấy tôi, có lẽ anh đã đoán ra.
 
Không để hai người chờ lâu, tôi nói đủ nghe:
 
-         Thế là đến nơi rồi đấy! Hết số anh em bí mật, nay đến chúng mình.
 
Tôi vỗ nhẹ vào túi
 
-         Có giấy gọi trình diện ty sáng nay.
Như không cần nghe, Nhị Lang hỏi nhỏ:
 
-         Có năm trăm đồng (500$00) đấy không?
 
Tôi chưa hiểu ra ý anh, ngạc nhiên
 
-         Để làm gì?
 
-         Thì ra Bắc, trốn sang Tàu, chứ còn làm gì nữa. Nhị Lang trả lời.
 
Tôi chậm rãi, nói với cả hai anh:
 
-         Trễ rồi, tôi không đi được. Hai anh nên đi ngay là vừa. Nhưng phải hết sức cẩn thận.
 
Giọng cứng rắn hơn, như giải thích:
 
-         Nếu tôi mà trốn lúc này, họ sẽ đập những anh em bí mật “chết”. Nếu trốn phải trốn khi chưa có giấy gọi.
 
Anh Tăng như đồng ý, chẳng rót nước, lại ngồi giữa:
 
-         Chú hình dung trước mà chịu đựng. Chú có nghe tin họ đã đánh anh Lân gãy răng, hai chú Ngô và Hoành chỉ còn nước “chết”.
 
Rồi như để chúng tôi hiểu kỹ hơn, anh tiếp:
 
-         Không phải họ cốt đập để mình chịu khai, vì sự thật họ đã biết có đâu mà khai.
 
Tôi nóng ruột:
 
-         Nhưng thưa anh, vậy họ đập để làm gì?
 
Anh cười, vỗ nhẹ vai tôi:
 
-         Chú này ngây thơ thật, đập để trả thù, để đã nư giận vì mình làm họ “quê” với nhân dân từ lâu. Nay được dịp là đập cho sướng tay, chứ còn vì lẽ gì nữa.
 
Tôi vỡ lẽ
 
-         Như vậy rồi rốt cuộc chẳng ai khai gì cả.
 
-         Có chứ! Sao lại không?
 
Tôi càng ngạc nhiên hơn
 
-         Sao lạ vậy anh? Lấy gì mà khai?
 
Với giọng chua xót:
 
-         Đau quá, chịu không nổi, rồi
 
Anh ngưng một vài giây, tiếp
 
… hình như anh em cứ nhận là có cạy cầu, cho khỏi bị đánh nữa.
 
Tôi ôm đầu
 
-         Tôi chịu thôi, không hiểu nổi, không có lại nhận là có. Và rồi “có” làm sao mới được chớ?
 
-         Đừng ngạc nhiên! Rồi chú sẽ biết!
 
Câu chuyện vừa đến đây thì có tiếng chó bên nhà hàng xóm sủa vang, anh Tăng nhìn sang, lo ngại, nói nhỏ:
 
-         Có gã nào vào nhà tên “Vẹm” này sớm thế!
 
Thấy tôi muốn ra, anh nắm nhẹ tay tôi
 
-         Cứ thong thả, uống ly nước cho ấm, xem chừng cẩn thận, rồi sẽ ra.
 
Nghe lời anh, tôi ngồi lại bưng ly nước từ tay Nhị Lang, dòm thấy đồng hồ treo trên vách đã 7 giờ rưỡi, tôi nghĩ, đi cũng vừa. Nhìn Nhị Lang lúc này tôi nghĩ đến chuyện “cua gãy càng”, muốn bật cười vì chua xót, đứng dậy từ giã hai anh.
 
Trở lên ty, tôi tránh con đường bờ sông, ngại đi ngang nhà người yêu lúc này, thế nào cũng gặp, rẽ tay mặt cạnh chợ rồi theo đường Cường Để (sau đổi thành đường Nguyễn Thái Học) thẳng lên ty. Trước kia nơi đây là Sở Mật Thám của tên Rờ Nô, nay Việt Cộng dùng làm Ty Công an.
 
Trước khi vào ty, đúng như lời chị tôi nói khi sớm, liếc mắt lên cửa tiệm thuốc Bắc cách đấy vài căn tôi thấy bàn tay gầy guộc của chị phe phảy chiếc nón lá ra dấu “từ giã” và để tôi yên tâm đi tù…
 
Văn phòng vắng lặng, chưa có bóng ai, tôi vừa ngồi nơi ghế, thì anh tùy phái từ trong bước ra, như đã biết trước, anh chỉ liếc nhìn tôi, và “lệnh gọi”, rồi đi lên lầu.
 
Tôi cảm thấy rờn rợn, không phải vì nghe trước đây mật thám đã đập người kinh khủng, mà bởi ngày nay, những bạn tôi cũng đã trải qua chẳng kém gì.
 
Mấy phút sau, anh tùy phái xuống, không hỏi lời nào, và cũng chẳng cần vô sổ sách gì, chỉ cho một tay công an đi sau. Tên này lấy “xiềng” xiềng tay tôi, và ra dấu theo y.
 
Ra khỏi ty, tôi biết y đưa mình về lao.
 
Liếc mắt về phía chị tôi lúc nãy, không thấy gì, nhưng phải biết rằng chị đã theo dõi, và nhất là thấy hai tay tôi giờ này bị xiềng, hẳn đã tránh vào trong nuốt “lệ”.
 
Trên đường từ ty về nhà lao, không gặp ai quen, nhưng khi thấy tên “tù” đang bị giải về lao họ đã biết – lại cũng vụ cây cầu – vì tình hình trong tỉnh lúc này đang sôi bỏng không mấy ai chẳng biết.
 
Đến nơi, cửa nhà lao được lính gác báo, họ mở, cho tôi vào phòng trực. Làm xong thủ tục, người trực mở cửa một căn phòng bên cạnh chỉ tôi bước vào, đóng ngay lại.
 
Tôi trố mắt ngạc nhiên, vì anh bạn có sẵn trong ấy là Bùi Như Lâm, người bạn cùng học với tôi tại Bảo An, hồi lớp nhất (lớp 5). Anh người Duy Xuyên, em ruột anh Bùi Hoành. Lâm nghiêm mặt, nhìn tôi như ngầm bảo “chớ vội nhìn nhau”, và anh cứ tỉnh bơ, đi đi lại lại trong phòng như tập thể dục.
 
Liếc thấy tên lính gác đã ra khỏi phòng, dù trước khi quay lưng đi, y đã kín đáo liếc nhìn như dò xem thái độ của Lâm và tôi.
 
Vài phút qua, Lâm nhìn tôi mỉm cười, ngẩng cao mặt như ngầm bảo “chẳng gì đáng lo!”
 
Bữa trưa đến, lính gác hướng dẫn một phạm nhân đưa cơm vào trước cửa cho chúng tôi. Thấy Lâm hất đầu ra dấu – làm theo anh, nhận cơm vào.
 
Khi ngồi ăn, Lâm mới nói nhỏ:
 
-         Cứ ăn uống tự nhiên, như chẳng có gì.
 
Rồi anh chỉ những căn hướng nhà bếp.
 
-         Anh em mình ở cả mấy dãy nhà dưới kia. Còn đây là “anh tặc ca lê” đặc biệt.
 
Qua hai ngày không gì xảy ra, đến ngày thứ ba, trong khi ra làm vệ sinh tôi kể nhỏ cho Lâm nghe:
 
-         Đêm nay mình thấy một điềm chiêm bao (giấc mơ) khá độc đáo!
 
-         Hay không? Lâm hỏi.
 
-         Có hay nhưng cũng có dở. Mình nhớ rất rõ, và câu chuyện khá dễ đoán.
 
Lâm hơi ngạc nhiên về cái “đa năng” của tôi.
 
-         Cậu cũng biết đoán mộng nữa à?
 
-         Tàm tạm thôi. Nhưng đoán mộng thường là tùy theo giác linh mỗi người, nghĩa là cũng thấy nước, có người là xấu, nhưng có người lại là phát tài.
 
Lâm nóng muốn nghe, ngắt lời:
 
-         Cậu kể và giải thích cho mình nghe thử nào!
 
-         Mình mơ thấy Sắc, một người hàng xóm ở sát vách nhà mình, anh này đã chết cách đây vài năm, và anh này cũng là người có công với Vẹm, bởi lẽ trước đây hình như cũng có trong tổ chức nên đã bị Tổng đốc Ngô Đình Khôi cho bắt một lần, nhưng được tha. Rồi tôi kể tiếp:
 
Thấy Sắc đến rủ mình đi, nói là đi công an. Lúc ra đến bờ sông, đang
đứng chờ đò, thì ngoài sông lúc đò cập bến, bị lật chìm. Linh tính cũng          hốt hoảng, nhưng lanh trí đưa cây sào dài ra cho một ông già đang chới với, kéo vào. Lúc vào đến bờ, ông đã không cảm ơn mình lại giận dữ trách mình tại sao kéo ông ta mạnh quá thế. Mình xuống đò, và khi ra khỏi bờ, ông ta cầm chiếc sào lúc nãy phóng theo. Chiếc sào bỗng nhiên hóa thành con rắn, cứ bơi theo, há mồm, le lưỡi như muốn rượt cắn mình. Trong khi hốt hoảng, mình chợt nhớ đến “đức tin” vì mình rất tin Đức Phật Quán Thế Âm. Mình chí thành niệm cầu xin Ngài cứu độ. Cứ niệm, và niệm “Nam  Mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát” mình chí thành niệm, quên hẳn rằng đáng lẽ phải niệm cứu nạn cứu khổ chứ không phải cứu khổ cứu nạn.
 
Niệm một hồi thì con rắn lại hóa thành cây sào như trước.
 
-         Vậy là sao? Lâm nôn nóng hỏi:
 
-         Mình có biết đoán mộng chút ít, nên thấy rằng theo điềm này “lành” ít mà “dữ” nhiều. Nhưng cứ cầu nguyện thì chẳng sao.
 
Lâm ngồi chăm chú nghe tôi nói tiếp:
 
-         Thấy nước là xấu, thấy rắn lại càng xấu hơn.
 
Lâm hơi ngạc nhiên, vì lẽ như đã nói, cũng là thấy nước nhưng có người “hạp” lại cho là tốt, là phát tài. Tôi giải thích theo thói quen của mình
 
-         Theo đoán mộng thì khi mới ngủ mà thấy là do mơ ước – ví dụ thấy tiền bạc bay tứ tung ngoài đường, hoặc lúc gần sáng mà thấy, là những bực tức, oán hận mà thấy. Chỉ những giấc chiêm bao thấy khoảng 2 đến 3 giờ sáng mới thường là ứng nghiệm. Thấy người đã chết là tốt. Như vậy đối với mình, xấu nhiều – đến hai, nước và rắn, nhưng tốt chỉ có một là Sắc – đã chết. Tuy nhiên, như mình vừa nói, chí thành cầu nguyện chuyện sẽ êm xuôi chẳng có gì đáng lo sợ.
 
Lâm nghe kể, cũng tin, nhưng “đức tin” thì hẳn Lâm còn… chờ xem!
Tôi lại tiếp để Lâm thêm tin tưởng.
 
-         Đây là một điềm “phản”, mình giúp họ, họ không trả ơn mà trả oán…
 
Tôi bình tĩnh, và ngay từ giây phút ấy lâm râm cầu nguyện. Tôi mạnh dạn xua đuổi tất cả mọi nghi ngờ, chí thành tuyệt đối.
 
Thì, câu chuyện lại nhanh chóng xảy đến, ngoài tưởng tượng của hai chúng tôi. Ngay ngày hôm sau tên Phó Ty Công an Tỉnh là Trịnh Quang Xuân lù lù vào phòng.
 
Theo sau y là tên đề lao, tay xách xâu chìa khóa, và cán bộ Trực.
 
Thấy họ vào Lâm đứng lên, tôi cũng đứng theo.
 
Trịnh Quang Xuân, nhìn tôi chăm chăm rồi hỏi:
 
-         Đây là Phan Vỹ phải không? Không đợi ai trả lời, y nói tiếp với giọng đầy hăm dọa - tôi sẽ cho cậu lên, đập một trận nên thân!
 
Và không cần nói gì thêm, họ ra khỏi phòng trong khi tôi bắt đầu lo ngại. Nhưng lại cứ cầu nguyện, Lâm thì tỏ ra ái ngại nhìn tôi. Đánh tan không khí với giọng tự nhiên:
 
-         Rồi đấy! Điềm chiêm bao bắt đầu ứng nghiệm!
 
Im lặng đi đi lại lại trong phòng, chí thành cầu nguyện, tuyệt đối tin tưởng Ngài sẽ cứu độ, như trong Kinh Phổ Môn đã dạy.
 
Lòng tin đến độ, nhưng bởi ở lứa tuổi mới vào đời, nên dù gan lì đến đâu cũng cảm thấy vài giây phút nao nao, lo ngại.
 
Lâm hình như biết vậy, nên tỏ ra rất tôn trọng sự tin tưởng của tôi, im lặng chẳng nói thêm lời gì.
 
Sáng hôm sau, cửa vừa mở, Lâm nhìn tôi! Một tên công an tay xách còng số 8 bước vào
 
-         Phan Vỹ, lên ty!
 
Tôi bước đến, đưa hai tay cho y khóa còng vào, theo ra khỏi lao.
 
Hôm nay vì cứ niệm, chẳng chút gì quan tâm đến những người hay quang cảnh ngoài phố. Đến ty mà như chẳng hay.
 
Vào ty, tên công an mở khóa chỉ tôi ngồi đợi. Vài phút sau một tên khác xuống ra dấu theo y lên phòng Phó Ty.
 
Biết tôi vào, nhưng Xuân vẫn cúi đọc chồng hồ sơ trước mặt. Phần tôi vẫn cứ chú tâm niệm Phật.
 
Y ngẩng nhìn tôi, và với giọng khẳng định:
 
-         Nào! Anh có quả lựu đạn, đâu rồi?
 
Việc may mắn là khi y vừa hỏi chưa dứt câu thì một tên cán bộ đã từ ngoài dắt vào anh Nguyễn Tý, em ruột của anh Sắc mà tôi đã thấy trong giấc mơ hôm qua. Thế là tôi hiểu ra câu chuyện (!). Tôi khôn khéo trả lời trong khi đầu óc vẫn chí thành niệm cầu Quán Thế Âm cứu nạn.
 
-         Thưa, hôm có lệnh Ty Công an gọi, mẹ tôi bảo là xem trong nhà có gì lôi thôi thì đem vứt cả, hoặc đem ra trình nộp. Tôi giả bộ như vô cùng thành khẩn, nhưng sau này nghĩ lại cái “ngu” của mình tại sao lại nói “mẹ tôi bảo” vì nhỡ chúng bắt mẹ mình xuống đối chứng thì rắc rối biết dường nào!
 
Cũng may là tên Xuân không lưu ý điểm này, mà chỉ cần biết chuyện “quả lựu đạn” thôi. Tôi nói tiếp ngay, khi biết mình vừa nói hố
 
-         Vì đấy là quả lựu đạn giả, nên cùng lúc - tôi làm như cố nhớ - ngay cái vỏ đạn dùng làm cán dao, tôi cũng đem ra sông lúc đi ghe về tỉnh, vứt xuống.
 
-         Sao anh biết là giả? Xuân hỏi với giọng gắt gỏng.
 
-          Vì vì… nó không có coi rút. Tôi vừa ngây ngô đưa hai ngón tay lên ra dấu, không có cái vòng rút chốt.
 
Tên Xuân lấy bút vẽ ngay lên mảnh giấy trước mặt, và hỏi:
 
-         Giống như thế này không?
 
Tôi vừa niệm Phật vừa chỉ cái vòng “coi rút chốt”
 
-         Thưa giống, nhưng không có cái này.
 
Điểm may mắn là đây! Xuân quay hỏi Tý
 
-         Sao? Giống thế này không?
 
Tôi không nhìn Tý vì biết Xuân rất dễ bắt nọn mình. Nhưng thật là may mắn không kể nổi, bởi lẽ Tý đã phản tôi mà khai, thì lẽ gì Tý lại nói:
 
-         Thưa, lâu quá tôi không nhớ ạ.
 
Xuân đắn đo, vài phút sau, ra dấu cho dẫn Tý ra khỏi phòng, và hỏi tôi thêm vài câu bâng quơ, bảo tên cán bộ dẫn tôi về lao lại.
 
Tôi thầm niệm tạ ơn Đức cứu nạn Quán Thế Âm, và nghĩ rằng sự mầu nhiệm làm sao tả được?
 
Trên đường về lao, yên tâm nhìn hai bên từ lao,  xuống ngang chợ Hội An, tôi thoáng thấy một chú bạn quen dừng xe đạp, ái ngại nhưng chẳng dám lại gần. Xa xa, có bóng một thiếu nữ tóc dài, dáng đi như Sen, người tôi yêu, đã dở dang mối tình đầu. Một câu chuyện tình “hay nhất” lúc bấy giờ của Phố Hội, đang đi khuất vào chợ.
 
Về đến lao, vừa vào phòng, Lâm đã nhìn tôi với đầy lo lắng của một người bạn học, một đồng chí.
 
Khi đi ngang Lâm, tôi vừa nói:
 
-         Hú vía ! Vô cùng may mắn!
 
Thì Lâm đã “xuỵt” ngầm bảo “im” chưa được nói gì vội, vì Lâm đã nhiều kinh nghiệm là sau những trường hợp này bao giờ bọn chúng cũng lắng nghe mình có nói gì với nhau không. Nếu không phải đồng chí như tôi và Lâm, mà ngược lại là một người khác thì chúng đã bố trí để dò la, gạ gẫm hỏi mình.
 
Đến giờ lãnh cơm chiều, vào ngồi gần nhau, thận trọng tôi kể lại cho Lâm nghe:
 
… đúng là một câu chuyện phản bội. Trước đây trong một chuyến đi buôn cùng Tý vào Tuy Hòa mình có gặp một chú cũng hàng xóm tên là Trương Lê, đang ở trong Vệ Quốc Đoàn, Lê cao hứng cho mình một quả lựu đạn, mà mình rắp tâm sẽ đem về để phòng khi đang họp bọn nó ập vào “bất tử” mình sẽ rút chốt cản hậu cho anh em tẩu tán. Mình là trinh sát của quận bộ kia mà! Tý là em ruột của Sắc trong giấc mơ.
 
Nhìn chừng ra cửa, không thấy gì tôi vẫn máu “anh hùng” nói tiếp:
 
-         Mình chẳng ngán bọn chúng, vì luôn luôn mơ ước vai đeo kiếm vàng “Tráng Sĩ”. Im một phút tôi nói cho Lâm yên tâm.
 
-         Nay như vậy là chẳng còn gì đáng lo nữa! Lâm thấy chưa? Hai xấu mà chỉ một tốt, nhưng cứ niệm cầu sẽ qua khỏi!
 
Lâm cười, nhìn tôi như thầm mến phục.
 
Một tuần sau, lại câu chuyện khác xảy đến.
 
Một tên công an vào còng tay tôi dẫn lên ty. Tôi tự hỏi “lại chuyện gì đây nữa ?” Nhưng lòng vẫn yên trí, cầu nguyện.
 
Lần này chúng đưa tôi vào gặp tên Phạm Sĩ Tham, một tên khét tiếng “đập rất ác”. Nhưng tôi cũng ít lo, vì trước Tham là cầu thủ bóng tròn của đội Cẩm Phô, thường chạy góc trái (aile gauche) quen biết tôi khá nhiều, bởi tôi là trọng tài của hầu hết các trận đấu quan trọng trong tỉnh.
 
Tham đang xem tập hồ sơ trước mặt, bỗng ngẩng lên nhìn tôi với vẻ mặt xa lạ, như chưa từng quen biết:
 
-         Tôi sẽ đập anh một trận, nếu ngoan cố!
 
Ngay lúc ấy một tên công an khác vào, tay cầm “ma trắc” cái dùi cui mà cảnh sát thường dùng. Tôi chợt nhớ lời Mẹ dặn lúc ra đi, khi đưa cho uống chút mật ong, nên với giọng nhẹ nhàng, không tỏ ra ý gì bướng bỉnh
 
-         Có lẽ ông sắp đánh tôi thì phải?
Nếu bình thường, chắc Tham khó nín cười trước câu nói và dáng điệu của tôi. Nhưng Tham nghiêm mặt, như chờ nghe nói tiếp.
 
Tôi nghĩ, chắc Tham khó tránh cười thầm khi nghe tôi thay đổi cách xưng hô “ông” hôm nay – mà trước kia, giữa tôi và Tham thường gọi nhau bằng “anh” trong thân mật, giữa cầu thủ, và trọng tài.
 
Nhưng có lẽ, Tham không chờ đợi nữa:
 
-         Anh định đóng kịch gì với tôi đây?
 
-         Nếu ông đập tôi, thì – như suy nghĩ, tôi tiếp – chắc chỉ vì hai lẽ. Một là ông ghét tôi có tội nói nhiều, hai là ông nghĩ tôi không hoặc chưa khai thật.
 
Rồi tôi nhẹ nhàng lý giải:
 
-         Nhưng cả hai lẽ ấy, đều rất oan cho tôi. Tôi là một kịch sĩ, quen nói, cười, khôi hài gần như thành một “tật”. Còn nếu bảo tôi không, hay chưa khai thật thì, tôi là một đảng viên công khai, mà, đã là công khai thì trong đảng chẳng mấy khi cho biết những điều bí mật.
 
Tôi nói có giọng cả quyết hơn:
 
-         Nếu ông đập đau quá, tôi chỉ biết khai Mẹ, Chị hay em gái mà thôi.
 
Tham như suy nghĩ, lượng định lời nói của tôi với những gì anh ta sắp xếp hay thu lượm được. Anh ngẩng lên ra dấu cho tên công an cầm “ma trắc” ra ngoài, hỏi tôi vài câu vu vơ, rồi bấm chuông cho người dẫn tôi về lao.
 
Sức khỏe tôi vẫn tốt, nhưng không hiểu sao hôm nay linh tính như báo cho biết có gì bất thường, mà là việc không mấy vui. Tôi lại niệm Phật!
 
Vì lẽ ấy, trên đường về, tâm trí để cả vào việc niệm Phật, không nhớ dọc đường đã thấy gì,về đến lao lúc nào cũng chẳng hay.
 
Nhưng có lẽ đúng! Vì về đến nơi họ chỉ cho trở lại phòng cũ lấy áo quần trước sự canh chừng của tên công an, dẫn thẳng về khu biệt giam “xà lim” đóng cửa lại.
 
Tôi uất nghẹn, im lặng, nằm dài, nghĩ cách đối phó!
 
Đây là một xà lim kín mít, chỉ có một lỗ tròn bằng quả banh tơ nít (tennis) để thở, và một khoảng trống cỡ bằng quyển vở học trò, có cửa dùng để đưa cơm vào.
 
Bọn đi tuần thường dòm vào lỗ tròn ấy để xem chừng tội nhân. Phòng vừa đủ một tấm ván ngang một thước dài hai thước, chỉ nằm suốt ngày chứ không đi lại gì được.
 
Sự chịu đựng chỉ kéo dài đến hai hôm, tôi bắt đầu thể hiện thái độ.
 
Tôi cương quyết tuyệt thực, không ăn uống.
 
Đến giờ chúng mở cửa gọi ra lấy cơm, tôi từ chối và tuyên bố:
 
-         Tôi không ăn uống gì nữa.
 
-         Tại sao? Tên lính gác ngạc nhiên hỏi lại.
 
-         Anh cứ biết thế là đủ, chẳng cần hỏi gì thêm.
 
Y đem phần cơm để chỗ nằm của tôi, đóng của, và đứng dòm vào lỗ khóa lâu mới ra đi.
 
Tôi cứ nằm lặng im, không phản ứng. Hẳn là tên giám thị báo cáo ngay về ty và chờ quyết định, tôi thầm nghĩ thế.
 
Chiều cũng vậy, rồi sáng hôm sau cũng vậy. Nhưng đến chiều ngày thứ hai tôi lắng nghe, có tiếng gõ cửa thật khẽ, và như gấp rút. Ngồi chồm dậy thì chỉ được nghe tiếng của Phan Huy Tùng, Phó Bí thư Quận, nói vội vàng khi lướt qua.
 
-         Khai Tùng, Long, Tư, Vỹ!
 
Tôi vô cùng ngạc nhiên, chồm theo hỏi:
 
   -  Ai khai? Và tại sao khai? Nhưng ngoài kia Tùng đã đi mất. Tôi vô cùng
      ngạc nhiên, và thắc mắc, không hiểu vì đâu Tùng lại nói như vậy? Rồi
      lại nghĩ “gì đây? Phải đối phó ra sao đây?”
Việc tuyệt thực vẫn chưa đến đâu, và các phần ăn vẫn để đống dưới chân, chỗ nằm của tôi.
 
Sang ngày thứ ba, tên đề lao, theo sau lính gác, vào nhìn các thức ăn xong họ rút thắt lưng của quần tôi, tháo các giây cột bánh ú, xong tên đề lao hỏi:
 
-         Anh tuyệt thực à? Tại sao không ăn?
 
Tôi phều phào nói như người kiệt sức.
 
-         Tôi yếu phổi, nếu nhốt thế này chắc phải chết. Vậy thà chết sớm còn hơn!
 
-         Anh yếu phổi à? chỉ hỏi một câu như vậy và cũng chẳng cần nghe tôi trả lời, y cùng lính gác đóng cửa đi ra. Tôi nghĩ chắc họ đề phòng tôi tự tử.
 
Từ nhỏ đến giờ chưa hề bỏ ăn dù chỉ một ngày, thế mà lần này, nay là ngày thứ tư, tôi tự nghĩ “mình cũng – siêu – đấy chứ!”
 
Thường nghe kể rằng nhịn ăn qua ngày thứ hai là bắt đầu rát ruột. Nhưng hôm nay ngày thứ tư cảm thấy nhẹ nhàng tuy hơi mệt, và khi đứng lên chóng mặt.
 
Một ngày nữa trôi qua. Tôi nhẩm đếm, thế là năm ngày!
 
Qua ngày thứ sáu, cửa mở. Một tên công an vào, vẻ mặt khá dịu dàng, ra dấu bảo tôi chậm rãi theo y. Dù trước thái độ dịu dàng của y – tôi vẫn không sao mất đi cái mặc cảm khá độc đáo với họ, ngay từ ngày xa xưa ấy, những ngày còn chưa thấm sâu sự độc ác của họ. Tôi thoáng nghĩ “đây chỉ là do lệnh trên, bởi đường lối chỉ đạo của Đảng – vì họ không có quyền để một hành động nào xuất phát từ tình cảm. Tôi nghĩ, họ đang dịu lại trước phản ứng của tôi, nhưng lại nghĩ “cần cảnh giác cao hơn, bởi họ luôn luôn lùi một bước để tiến lên ba bước!”
 
Chậm rãi hơn mọi lần trước, tôi đi trước, và tên cán bộ dĩ nhiên cũng theo sau như chờ đợi, không thúc giục.
 
Ra khỏi lao, y chỉ tôi không đi đường lên ty, mà theo ngã về bệnh viện.
 
Đến nơi y dẫn quanh vào phòng bác sĩ, và đặc biệt là lần này tay tôi không phải “còng” như những lần trước.
 
Y chỉ ngồi nơi ghế trước cửa phòng chờ.
 
Tôi vì đói, chứ chẳng phải sao, nhưng giả như “kẻ sắp chết rục” đầu cúi xuống như người đã mất sức!
 
Trong đầu vẫn tỉnh táo để tính toán rằng những bác sĩ này là số người “đứng giữa” không phải của đảng Cộng Sản (Vì lúc ấy là thời kỳ quá sớm sau ngày cướp chánh quyền của tháng 8-45 họ chưa đào tạo được bác sĩ), mà cũng không hẳn là người của Đảng ta, nhưng chắc chắn là nhiều cảm tình với giới trí thức. Tôi nghĩ thế!
 
Khi bác sĩ vào phòng tên công an cho tôi vào theo, chỉ ngồi chờ đợi.
 
Lặng lẽ không hỏi câu nào. Và sau khi xem xong giấy tờ công an chuyển sang ông ta lấy “ống nghe” rà sau lưng, rồi trước ngực tôi. Qua hai bên, ông bắt đầu bảo:
 
-         Hít vào! Thở ra!
 
Tôi cố giật, giật, thở rất yếu.
 
Sau vài lần khám lại, bác sĩ lật mí mắt tôi xem, bảo há mồm. Ông đặt ống kính xem trong cổ họng, rồi lại lấy giấy bút ghi vào.
 
Lanh trí, tôi liếc nhòm bác sĩ đã ghi
 
“Phổi yếu! Hô hấp không đều!”
 
Được trả về lao, và qua một đêm nữa.
 
Sáng hôm sau công an vào mở cửa bảo tôi thu dọn theo y , xuống một dãy nhà dài phía dưới. Tôi mừng vô kể, vì được sống chung với anh em bị bắt trước.
 
Không còn nỗi vui nào bằng!
 
Hầu hết đồng chí trong Phủ bộ Điện Bàn đều có mặt cùng anh em các phủ huyện khác, xen lẫn một số tôi không biết, mà sau này mới rõ ra là tù hình sự. Họ vui vẻ như biết việc gì sẽ xảy ra mà tất cả như cũng mới được tập trung từ ngày hôm qua thôi. Nỗi vui của họ là thà sống chết được gần nhau và họ còn biết thêm tin rằng bên ngoài chiến tranh đang bùng nổ - Quân Pháp lại đang lăm le vào Việt Nam lần thứ hai. Riêng tôi, việc trước hết là tìm Phan Huy Tùng để hỏi cho ra lẽ câu chuyện gì hôm trước đây chú đã gõ cửa để bảo khai “Tùng, Long, Tư, Vỹ “?
 
Lúc gặp Tùng mới hiểu ra rằng tất cả anh em đã bị đánh tàn nhẫn, để khai như trước khi vào tù từng được anh Bí Thư Hoàng Tăng báo cho biết. Và thoạt đầu một người đã nghĩ ra diệu kế là khai để khỏi bị đập. Nhưng đâu có đơn giản như vậy!
 
Chúng còn trớ trêu là làm sao để khai cho giống nhau, mà cuối cùng anh em phải lén lút như kiểu Tùng đã báo cho tôi, để khai giống nhau, như chúng đã vu khống.
 
Vài anh thấy tôi xanh xao, sức khỏe mất nhiều, họ đâu biết tôi đã không ăn suốt cả tuần lễ.
 
-         Bị “dần” nhiều lắm không, mà yếu quá vậy?
 
Tôi nghiêng tai nói nhỏ:
 
-         Chưa bị đánh đập gì, nhưng vì tuyệt thực suốt cả tuần, nên xanh xao thế thôi.
 
Những người đứng gần, nghe tôi nói đều “ồ” lên cười:
 
-         Sao? Tuyệt thực à? Tại sao tuyệt thực?
 
Thấy tôi nhìn quanh như lo ngại, Tùng cho biết:
 
-         Cứ tự nhiên! Ở đây, ngoài vài người lạ, nằm ở góc bên kia, còn là anh em ta cả, tin cậy được, không lo ngại gì!
 
-         Từ từ, tối nay sẽ kể hết cho mà nghe. Nhưng tôi vẫn còn thắc mắc chuyện Tùng chưa giải thích cặn kẽ về sự việc của chuyện khai giống nhau khi nãy.
 
-         Cậu cần kể rõ chuyện khai giống nhau cho mình biết!
 
-         Thì có gì đâu. Tư và mình nghĩ ra cái kế là khai giống nhau. Nhân lúc ngồi khai Tư đã xin đi tiểu, và lúc đi ngang chỗ mình ngồi vứt cho mình một mảnh giấy viết sẵn lời khai. Lượm nhanh mảnh giấy và chờ Tư trở lên, mình lại xin đi tiểu. Lúc vào nhà vệ sinh, mình học thuộc lời khai của Tư, nghĩa là khai như đã phân công nhau Tư và Long gác hai đầu cầu, chờ tàu bị sụp đổ thì mình và cậu xông lên cướp vũ khí đem về phân phát cho anh em. Chỉ cần thực hiện điều đấy thôi, còn những diễn tiến về sau sẽ được Đảng chỉ thị, bởi đấy là giai đoạn tuyệt mật.
 
Thế là mình và Long khai giống nhau. Tùng nhìn tôi, nói câu an ủi:
 
-         Sợ cậu “ngu” không chịu khai, và khai không giống sẽ bị đập chết nên mình biết cậu vừa vào xà lim ấy báo tin thế thôi. Đập ác lắm, không chịu nổi đâu!
 
-         Đập thì ta la to, la thật lớn cho cả dưới phố cùng nghe chứ sợ gì!
 
Nghe tôi vừa nói xong, những anh đứng gần ôm bụng cười rũ rượi. Tùng hỏi:
 
-         La to hả?
 
-         Chứ sợ gì?
 
Tùng tỏ ra thương hại vì tội “ngây thơ” của tôi.
 
-         Cậu tưởng họ không có “thuốc trị” khi cậu la hay sao?
 
Và không đợi tôi hỏi, Tùng giải thích:
 
-         Họ sẽ nhét ngay vào họng mình một “gùi” giấy cạc-bon (carbon) đắng là mình phải im ngay.
 
Đến đây tôi mới vỡ lẽ rằng khi có lời khai của mình, họ mạnh công bố trên “loa phát thanh” và còn hứa cho thông báo cho toàn dân biết kế hoạch cạy cầu, cướp súng của Quốc Dân Đảng nay mai!
 
Tôi chỉ còn biết vỗ trán, nằm dài thầm nghĩ:
 
-         Trời! Chỉ có Trời mới hiểu nổi!
 
Tối hôm ấy, từng nhóm ngồi gần nhau chuyện vãn. Một vài người đã nhận được “quà” nhà đem ra đãi tôi.
 
Tất cả thế là yên, nghĩa là cung từ đã xong – và nói theo giọng Cộng Sản – sự việc đã kỳ cung, nên được ở chung nhau.
 
Nhưng câu chuyện không chỉ đơn giản có thế. Sự thật thì ngoài kia có tin quân Pháp sẽ tấn công từ Đà Nẵng vào Hội An, mà Cộng Sản có chủ trương di tản tù lên núi trước.
 
Câu chuyện thật buồn thê lương, ngoài vài bạn nghĩ rằng ngày tàn của Cộng Sản chẳng còn xa. Buồn nhất là chiến tranh rồi sẽ dày nát quê hương đến độ nào!
 
Giữa những tình cảm như đã nói cũng còn vài phiếm luận hay hay xen vào!
 
Thầy giáo Phú (Nguyễn Phú) thầy dạy tôi hồi còn ở lớp 2 (tức lớp dự bị) cũng là đồng chí trong số bị tù hôm nay, nằm cạnh tôi. Khi thầy nghe kể đến chuyện hai lần xuýt bị đập nhưng đều thoát, rồi đến chuyện tuyệt thực vô cớ và ngây ngô, đã chặc lưỡi lắc đầu.
 
-         Có bị đánh đập gì đâu mà tuyệt thực?
 
Rồi thầy xác minh thêm.
 
-         Chú này rõ là có tướng “Nhứt lộ phước tinh” của Trình Giảo Kim đời nhà Đường bên Tàu.
 
Thấy nhiều người chưa hiểu câu chuyện, thầy kể:
 
 “Trong truyện Thuyết Đường của Tàu có một nhân vật là tướng Trình Giảo Kim được mênh danh là Nhứt lộ phước tinh. Ông ấy sống rất lâu, có tài nói “tếu” rất tài tình khiến địch không thể nào giết ông được, mà nhờ đấy mới thoát vòng vây về đem binh ra cứu viện cho vua Đường đang bị địch vây hãm.
 
Tướng Giảo Kim chỉ nhờ nói “khích” để địch tự ái cho về gọi cứu viện ra giải vây vua Đường. (Chỉ một điểm nhỏ này cũng là một kinh nghiệm cho những ai thường tự cao tự đại, rất dễ bị lời nói khích mà hư việc!)
 
Thầy giáo Phú đem câu chuyện để minh chứng là tôi đã nhờ hai lần lanh trí mà không bị đập, chứ không phải “khai” hay phản bội anh em.
 
Chiều hôm ấy có tin “mật” từ trong số lính gác – có cảm tình với ta – cho biết sẽ di tản tù lên Quế Sơn.
 
Thế là tối lại vài anh em, nhất là trong những người theo đạo Cao Đài, đề nghị cầu cơ, để biết ai đi, ai ở lại.
 
Những anh bạn này khá chuyên môn, chưa nói là rất thành kính.
 
Tôi thì không có niềm tin ấy, bởi từ ngày được quy y theo đạo Phật với ngài Đôn Hậu tôi đã phải học hiểu để tránh những gì có thể gọi là phạm giới “mê tín”. Nhưng vì tò mò, cũng lân la lại xem cho biết.
 
Lúc “cơ” lên xưng là anh em ở Hà Nội. Tôi cảm thấy hơi kinh sợ, trong khi hầu hết người hiện diện vô cùng kính cẩn, chứ không nói là run sợ. Và, khi hỏi là ai đi, ai ở thì “cơ” cho biết, đi cả chỉ trừ Phan Thế Nga, và một đồng chí – lâu quá tôi không còn nhớ tên.
 
Anh em bàn tán, rồi mệt mỏi, ngủ. Nhưng sau hai hôm, giữa khuya đã có lệnh chuẩn bị tất cả hành trang ra sân!
 
Đến đây mới là lúc không thể nào nói là “dị đoan” hay không!
 
Khi được gọi ra sân thì đúng hai người được ở lại, trong ấy có Phan Thế Nga. Tất cả không một lời tranh cãi, mà hầu như cúi đầu xin người khuất mặt “che chở”.
 
Mọi người dọn đồ ra sân cho lính lại điểm danh, và theo thứ tự họ đã chuẩn bị ai lên trước, ai lên sau. Họ trưng dụng những xe chở hành khách hằng ngày Hội An – Đà Nẵng để di chuyển.
 
Xe chuyển bánh trong đêm khuya. Tất cả thở dài, và không ai đoán được ngày mai sẽ ra sao, nhất là khi nghĩ đến chiến tranh.
 
Nhìn Hội An trong tôi, và có lẽ trong tất cả, như nhìn lại lần cuối thành phố thân thương với câu hỏi là liệu ngày mai khi thanh bình trở lại, những con đường này, những ngôi chùa Tàu kia có còn lưu lại chút dấu vết nào không.
 
Đau buồn vô kể! Giận kẻ đã gây nên cảnh này là Cộng Sản, và giận luôn kẻ còn ôm mộng thôn tính quê hương ta là thực dân Pháp. Hai kẻ thù của Dân Tộc.
 
Đoàn xe đặt dưới quyền điều động của một anh đội cảnh sát cũ thời Pháp được dùng lại.
 
Tất cả như muốn nhìn ra ngoài để ước định phương hướng xem chúng chở ta đi Quế Sơn như đã có tin, hay đi đâu.
 
Xe qua cầu Bà Rèn, và đúng là đi Quế Sơn! Đến gần sáng đoàn xe được lệnh dừng lại ở một ngã ba, rồi tuần tự xuống xe để họ xiềng hai người dính nhau bằng một cái xiềng số 8. Xong lại lên xe, chạy vào ngã rẽ về đình Nghi Hạ.
 
Vài anh đã bình luận nhau về cái trò ở Hội An chưa vội “xiềng”, nhưng nay mới đích thực là dân chủ cỡ nào, tùy “bọn bay” tự xác minh lấy!
 
Xe dừng lại trước đình. Đây là ngôi đình làng Nghi Hạ, mà họ đã cho rào kẽm gai kiên cố, chung quanh có dựng các chòi canh.
 
Tất cả xuống xe, cứ từng cặp đến trước cổng chính, đặt “tay nải” xuống đất ngả mình “chờ”.
 
Khi trời sáng hẳn, họ vào bảo mọi người đứng lên, mở xiềng, đem đồ đạc ra để lính vào xét lại kỹ, trước khi vào “phòng”.
 
Mới là lần thứ nhất đi tù, nhưng nhờ trước đây thường được nghe kể cảnh lao tù, tra tấn của ông Phan Bôi – tôi cũng gọi bằng bác, vì ông là anh em
chú bác với cụ Phan Khôi - nên dành được khá nhiều kinh nghiệm.
 
Trước khi vào phòng mỗi người lại có một “xiềng” riêng biệt. Tôi lần bước đến trước, và lúc có lệnh vào, là lại ngay chỗ cửa sổ - một cái cửa sổ rất nhỏ - để hy vọng mát và dễ thở.
 
Nhìn lại thấy anh Bùi Hoành, anh ruột của Bùi Như Lâm, người cùng ở chung với tôi khi mới vào tù, nằm cạnh.
Bùi Hoành thường có thói quen le lưỡi, cắn môi trước khi cười hay nói
 
-         Thế là yên! Hoành cười, thản nhiên nhìn tôi.
Tất cả mệt nhoài vì xe chật, đường xấu, nên nằm duỗi chân, sải chân thoải mái nghỉ!
 
Đến bữa cơm trưa, hầu như mọi người đều ngạc nhiên vì lẽ đây là núi rừng mà bữa ăn lại là cơm với cá “bạc má”.
 
Nhiều anh đã kháo nhau:
 
-         Sao sang vậy nè!
 
Nhưng anh Hoành đã lên tiếng:
 
-         Đừng vội mừng các cậu ơi! Cá họ chở theo xe từ Hội An lên đấy. Gọi là để “thết” các cậu bữa đầu thôi. Vài ngày sẽ biết!
 
Chiều nay sau bữa cơm, cửa đóng chậm, mà có người đã máy miệng nhắc lại câu anh Hoành khi sáng “chơi ngọt bữa đầu thôi nhé!”
 
Tôi lại dựa lưng vào tường, im lặng nhìn ra xa, cảnh núi rừng xanh um, nhớ nhà không tả nổi.
 
Nhưng giờ đóng cửa đã đến, và những ai có ở tù mới thấm thía cảnh này.
 
Đặc biệt khác hơn ngày còn ở Hội An, vào phòng ngủ nhưng mỗi người đều phải xiềng số 8 riêng biệt – chắc là rừng núi nên an ninh chặt chẽ hơn.
 
Đêm về khuya, tiếng mõ ở các vọng gác quanh rào, càng làm nhiều anh em không thể nào nhắm mắt ngủ được trong những đêm đầu.
 
Và, mỗi sáng phải là trời thật sáng rõ, hay có thể gần trưa cửa mới mở.
 
Cũng như các trại giam khác, chỉ gồm có hai buồng, đình trên, và nhà ngang, xây tường kín lại thành buồng giam.
 
Việc khó khăn trước hết tại đây là vấn đề đi vệ sinh. Hố vệ sinh được đào ngoài tường phía sau, ngồi  lồng lộng giữa trời, gác hai khúc cây rừng trên một hố đào khoảng 5, 6 thước khối. Và! hai người cùng một lúc ngồi đâu lưng lại với nhau cho kịp giờ đóng cửa. Mọi việc làm có vẻ hấp tấp vì có lẽ họ sợ máy bay Pháp phát giác đây là trại giam.
 
Việc nấu nướng “hỏa thực” đều giao cho số tù trước là mật thám của Pháp, hay những người trước thân Nhật đã bị bắt. Đấy là số “tù cũ”, do tên NHO đứng đầu.
 
Trước đây, sau ngày cướp chánh quyền (!) Cộng Sản địa phương cho bắn hai người: Trâm của Đà Nẵng và Banh của Hội An. Dân chúng bây giờ mới thấy rõ chủ trương của Việt Minh là bắn hai tên ngồi văn phòng, vì theo chúng, đây là những người ra lệnh và quyết định việc tra tấn hay đánh phá họ, còn hai người như Nho của Hội An và Huệ của Đà Nẵng là những “thiên lôi” chỉ chuyên tra khảo, đánh đập không đáng giết.
 
Nho được giam đến ngày nay, và nay y được ra vào tự do, bóc lột anh em đủ nghề ngón.
 
Trưa đến giờ ra nhận cơm, “cơm và muối hột”.
 
Tối lại, khổ sở nhất là cái xiềng trên tay, trở trăn vô cùng khó khăn vì chỗ nằm lại quá chật.
 
Vì vậy chuyện “vui buồn” của cái xiềng cũng đã xảy nhiều kỷ niệm.
 
Anh em đã bày cho nhau cách dùng một cái que thật nhỏ đè ép “lò xo” xuống rồi rút còng ra cho dễ ngủ. Nhưng phải cẩn thận trước hết là không cho đám tù hình sự hay biết, sợ chúng báo cáo cho trại, và thứ nhì là nếu
chẳng may trại đột ngột mở cửa vào mà bắt gặp thì việc rắc rối không nhỏ. Bởi lẽ ấy anh em đã dự liệu, còng chỉ rút ra một tay. Nhưng có người đã “thiếu ý tứ”, vẫn liều lĩnh rút cả hai tay rồi đem dấu còng dưới gối để ngủ. Một trong những nguời làm trò này có anh bạn nằm bên tay trái tôi. Tôi thấy thế nên tinh nghịch, không cho anh Hoành biết, mà chờ cho ngủ say, sè sè lấy còng của anh ta, đoạn như hốt hoảng, đập khẽ anh và báo “cửa mở”. Trong khi đang ngủ ngon, anh loay hoay tìm cái còng để tra tay mình vào, nhưng tìm mãi không ra, như biết có người tinh nghịch dấu còng, năn nỉ nhỏ “thôi năn nỉ các bố cho lại em!” Anh vẫn không dám nói rõ là “cho” lại cái gì?
 
Tôi thì vẫn chưa thôi, giả như vô tình
 
-         Cho lại cái gì?
 
Anh vẫn không nói, mà cứ năn nỉ, đến khi tôi thấy không nên kéo dài hơn, lấy ra đưa thì anh mới gắt gỏng:
 
-         Chơi ác thế hả?
 
-         Không ác đâu, để anh không còn liều lĩnh làm trò nguy hiểm ấy, trong hoàn cảnh này thôi.
 
Những chuyện như thế thường phải tuyệt đối bí mật, không cho bọn “chó săn” biết. Nếu biết là chúng báo cáo ngay.
 
Ngày tháng lặng lẽ qua!
 
Và ngày Tết lại đến!
 
Đây là cái Tết đầu tiên trong tù, nên hầu hết không dấu được nỗi buồn khó tả nổi.
 
Nhất là ngày cuối năm! Ngày ba mươi Tết.
 
Chiều ấy cửa đóng trễ, cho tù được ở ngoài sân chơi đến chập choạng.
 
Tôi vẫn trò cũ, tựa lưng vào tường, nhìn ra xa xa, tận chân núi để làm một cuộc thăm nhà trong “tưởng tượng”.
 
Cạnh chân núi, một mái nhà tranh, khói bếp mờ mờ bốc!
 
“Chắc là họ đang nấu cúng chiều ba mươi.”
 
Tôi cắn môi, yên lặng, đau lòng, nhưng cố giữ cho nước mắt khỏi trào ra, khi nhớ lại những năm trước đây, cũng giờ này gia đình đã làm gì.
 
Giờ này, chắc mẹ, chị, em gái và đứa con gái yêu của tôi – Phin, đang đau lòng tưởng tượng cảnh tù tội tôi đang sống. Chắc gia đình nhớ mình, mà chẳng thiết gì ăn Tết như mọi năm.
 
Giấc mơ đang lần diễn quá hay và vô cùng cảm động, thì có lệnh “vào” vì buồng đóng cửa.
Vừa nằm yên, tên Nho đã chạy lại gần cửa sổ để “gạ gẫm” làm một cuộc bán buôn. Y cho biết ai còn áo quần, tương đối chưa rách, hay còn mới, sẽ được định giá để đổi bánh tráng và thịt heo. Một lát thịt heo bằng ngón chân cái và dài khoảng một tấc, thoa tý nước mắm, cuộn trong một cái bánh tráng được định giá là 3$00, và một sơ mi không được mới lắm chỉ mua 10$00.
 
Cứ theo giá ấy mà ăn.
 
Một chú bạn tên Chín, con ông Hương Ta, nằm cách tôi vài người cũng nghèo, không áo quần nào đáng giá, nên cũng nằm cuộn chiếu để khỏi nhìn cảnh anh em ăn uống “chiều cuối năm”.
 
Không nói với nhau nhưng tôi biết Chín đang khóc!
 
Anh em ăn uống xong, đã có nhiều người về chỗ ngủ, bỗng nghe như có tiếng ai “cào” nhẹ trên chiếu mình và có tiếng nói:
 
-         Vỹ và Chín ơi! Dậy ăn cho vui! Đừng buồn nữa. Mình mua biếu hai cậu hai cuộn bánh thịt đây! Dậy ăn đi.
 
Không thấy trả lời nhưng biết tôi đã nghe, vì là tiếng của Phan Huy Tùng – nên Tùng để bánh trên đầu nằm bọn tôi rồi về chỗ - cám cảnh càng mũi lòng hơn, cả hai đều thút thít khóc.
 
Thiếp một lúc, tôi giật mình sờ trên chỗ nằm thì thấy Tùng đã để bánh lại đấy, tôi ngồi dậy gọi Chín cùng ăn, trong khi cả phòng đều đã ngủ.
Sáng hôm sau, mồng một Tết, lịch sự hơn mọi ngày, khi mở cửa xong, tên lính gác bước vào, lên tiếng:
 
-         Năm mới, chào tất cả anh em trong buồng. Và y dặn thêm rằng sau khi ra vệ sinh xong, vào sân sắp hàng để chào cờ, và nghe phái đoàn của Ủy Ban Hành Chánh địa phương đến chúc Tết.
 
-          Không bảo nhau, nhưng ai cũng cười thầm, làm theo lời dặn của chúng.
 
Sắp hàng chờ độ nửa giờ sau, cán bộ trại chạy vào hô “ nghiêm!” và theo sau là phái đoàn hành chánh địa phương khoảng 5. 6 người, trong số có một “nữ”.
 
Họ chúc gì, chẳng mấy ai chú ý, vì tất cả như thầm bảo nhau “Lũ nó chỉ chuyên môn giả dối – và, phải cái tội “ngu” là không biết rằng chẳng qua được bọn này. Chỉ “trù rủ” nhau, và nhất là muốn chứng tỏ oai quyền thì đúng hơn là chúc tụng.
 
Bỗng anh Nguyễn Đình Thiệp đứng cạnh tôi thúc nhẹ, và đưa mắt về phía tên cán bộ “nữ” như ngầm bảo “chú ý con kia, rồi nữa “tớ” sẽ kể cho nghe!” Tôi chưa đoán ra gì, nhưng quan sát kỹ “nữ quái” này! Một trang phục đúng là dân “Quế Sơn, nhà quê một cục”, mà lại là loại cán bộ của chế độ “vô sản”.
 
Sau buổi lễ, và khi phái đoàn ra về họ biếu mỗi người một điếu thuốc “vấn” bằng thuốc lá tại địa phương, ngoài cuộn một mảnh giấy đỏ có hai chữ “cứu quốc” và cái bánh “tét” to bằng cổ tay em bé mươi tuổi, dài độ một tấc.
 
Khi họ ra khuất, tôi lại hỏi ngay Nguyễn Đình Thiệp về “nữ quái” ấy thì Thiệp cho biết đấy là vợ của Phụng “võ sĩ – em ruột của Thiệp” – hiện là cán bộ huyện Quế Sơn.
 
Trưa nay trại cho ăn thịt heo. Mỗi người một lát thịt bằng ba ngón tay, nấu với khoai lang, có chút nghệ thay cho cà ri.
 
Chiều lại, hầu hết đều tin rằng sẽ được ăn tiếp cho hết ngày mồng một, chứ chẳng lẽ lại trở về cảnh “muối hột” hay sao. Tò mò hỏi một anh bạn có đi ngang nhà bếp thì được trả lời là “không biết” nhưng thấy trên bếp còn một
cái nồi “to”, không rõ là nồi gì. Nực cười thay! Lúc ra nhận cơm chiều, thì cảnh cũ “muối hột” diễn lại, nhiều người đã thở dài ngao ngán.
 
Lúc cửa buồng đóng lại, có người đã đề nghị văn nghệ “đầu năm” cho vui!
 
Hầu hết tán thành. Cái đêm văn nghệ đầu tiên trong tù, chẳng làm sao quên được!
 
Tôi còn nhớ người lên tiếng trước nhất là anh THI (anh của nhạc sĩ Nguyễn Đình Cữ); anh Thi ngâm một bài thơ, và sau được bình bầu bài thơ này xem như đoạt giải văn nghệ năm ấy.
 
Bài thơ anh Thi vịnh vầng “trăng” ngoài song cửa của nhà giam. Anh buồn quá không ngủ được, vì nhớ con, thương vợ, trong lúc bạn bè đã an giấc, bỗng dòm ra song cửa, anh bắt gặp trăng vàng le lói, giữa đêm tĩnh mịch của rừng núi thâm u… Nhìn “kỹ” anh nhận ra nó! Đúng, đích thực là nó!
 
Cũng vầng trăng này tháng trước anh gặp nó tại Hội An!
 
Anh muốn la lớn, nhưng sợ vi phạm luật nhà lao. Anh giữ trong cửa họng sự uất ức “cùng cực” bởi anh muốn hỏi nó rằng:
 
-         Trăng ơi! Mày lại theo ta đấy chăng?
 
“Mày không biết rằng tao đã bị làng xã, quê hương đi tù hay sao, mà mày còn lẽo đẽo theo tao. Theo tao làm gì hở trăng?”
 
Nhưng trăng chẳng trả lời anh. Ánh vàng le lói như xuyên vào tim anh, vào từng sớ thịt trong anh. Anh khổ quá gục đầu, thiếp đi đến khi bừng tỉnh, thì nàng trăng đã rời bỏ anh tự bao giờ.
 
Bài thơ quá hay, và vô cùng ý nghĩa, đã được anh em vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt.
 
Sau bài thơ của anh Thi, một anh bạn – lâu quá chẳng nhớ tên – hát lại bài Nam Bình của tác giả Cáp Văn Úy, trước là Tri huyện Duy Xuyên, cũng bị giam tại lao Nghi Hạ này đã sáng tác. Người ngâm cũng giọng Huế nên rất hay và khá cảm động.
 
 
   “Núi non mù mịt bao la 
    Chốn nhà pha!
   Tạm nằm chen chúc 
   Trò chuyện khuây khoa,
   Suốt canh gà…                            
   Nhớ xưa kia
   Mơ mộng quê nhà
   Khi rượu khi trà
   Mối sầu chi xiết
   Còn nệ chi mà!
   Một  nụ cười hay hay
   Muôn vạn sầu bay sạch
   Lạ lùng thay!
   Đình Nghi Hạ hôm nay
   Mình không rượu mà say
   Xốn xang râu mày!
 
Anh em thấy tôi chưa lên tiếng, có người đã giục, “thi sĩ Phan Vỹ sao im lặng không góp vui?”
 
Chẳng đặng đừng, tôi phải đáp ứng, tuy chẳng mấy tích cực.
 
-         Tôi chưa làm được gì hay, nhưng xin ngâm lại một bài thơ của tác giả nào lâu quá tôi đã quên, nhưng cũng nói đến chữ “trăng” như anh Thi tài tình ngâm vịnh.
 
   Trăng năm xưa, trăng mơ trăng mộng
   Trăng tình, trăng muôn thuở, trăng điên
   Trăng của chàng dũng sĩ lên yên
   Còn ngoảnh lại nhìn giòng trăng lưu luyến.
   Trăng Dịch Thủy, trăng Kinh Kha biệt bạn
   Trăng Ô Giang, trăng Hạng Võ quay đầu
   Trăng Ngu Cơ đưa tiễn bạn thương sầu
   Trăng Cao Tiệm tiêu bổng trầm vút hận
   Và, đêm nay cũng trăng
   Bên giòng suối lạnh ta mơ trăng
   Trăng mộng, trăng hùng, trăng rất trăng
   Rồi ra cảm theo chàng Lý
   Như chàng Lý Bạch chết vì trăng.
 
Tuy không phải là tác giả, nhưng anh em đã khen thơ hay, và trí nhớ của tôi đáng được tuyên dương.
 
Vì hai tiếng “trí nhớ” anh Bùi Hoành (nay 1997, hiện đang là bác sĩ tại Texas) nhìn tôi mỉm cười, vừa cắn môi theo thói quen.
 
-         Ai có trí nhớ hay, xin dự thi trò chơi tôi kể sau đây.
 
Đây là một bài toán được trình bày trong một “hội chợ” có tính cách quốc tế. Tôi kể ra, và chắc chắn là chưa ai làm được. Nhưng để các bạn suy nghĩ chơi. Nếu ai làm được tôi xin tặng 3 trái chuối (bởi anh Hoành vừa được gia đình thăm nuôi có nải chuối “mốc” khá hấp dẫn). Nhưng hỏi ba lần, nếu không ai làm được, tôi sẽ xin giải đáp. Khi tôi giải, mong các bạn lắng nghe thật kỹ! Và, khi tôi giải xong, nếu ai nhớ giỏi, lập lại y lời giải tôi, xin tặng “một” chỉ một – trái chuối. Các bạn đồng ý, và nghe kỹ chưa?”
 
Mọi người đồng ý, và anh Hoành bắt đầu kể:
 
Một hôm ông giám thị nhà lao gọi lên ba người tù, và đưa ra cho xem ông đã có sẵn HAI tấm bảng ĐEN và BA tấm bảng ĐỎ. Ông giao ước các anh sẽ quay mặt vào tường, tôi “móc” sau lưng mỗi anh một tấm. Xong tôi bảo các anh quay lại. Và khi quay ra các anh không được hỏi han gì, hay ra dấu gì, mà chỉ nhìn hai người kia rồi đoán xem của mình là ĐỎ hay ĐEN. Khi biết của mình là ĐỎ thì ra về sau khi trả lời lý do cho tôi biết. Phải trả lời thông suốt. Ông hỏi lại ba người đã hiểu rõ chưa và nhìn thấy NĂM tấm bảng gồm HAI ĐEN và BA ĐỎ chưa. Khi trả lời xong, quay mặt vào tường, ông móc sau lưng mỗi người một tấm bảng ĐỎ, và dấu HAI tấm bảng ĐEN, xong bảo ba người quay mặt ra.
 
Trong ba người có một người giỏi toán, tính ra, và xin về. Ông giám thị hỏi:
 
-         Anh biết của anh là ĐỎ hay ĐEN mà về?
 
-         Tôi biết tôi ĐỎ.
 
-         Tại sao anh biết anh ĐỎ?
 
(không được nói là họ ĐỎ thì tôi ĐỎ, vì vậy đây là bài toán)
 
Anh Hoành kể xong, hỏi có ai làm được không. Sau khá lâu không ai làm được. Anh Hoành nhìn tôi mỉm cười.
 
-         Vậy bây giờ tôi giải bài toán, ai lặp ngay được xin biếu “một” trái!
 
Anh giải bài toán trong khi có người “bóp” tay như để cố nhớ, luận giải. Khi giải xong, chờ không ai đáp ứng, thì tôi đưa tay, xin lặp lại. Anh Hoành có phần tin tưởng trí nhớ của tôi, anh em nghe tôi lặp lại.
 
Tôi chậm rãi trình bày:
 
-         Tôi biết tôi là ĐỎ vì nếu tôi là ĐEN thì người thứ hai sẽ thấy một ĐEN và một ĐỎ. Và, khi anh ấy thấy một ĐEN và một ĐỎ thì tại sao anh không về mà còn đứng đây làm gì, vì nếu anh là ĐEN nữa thì người thứ ba đã về rồi, bởi lẽ chỉ có hai bảng ĐEN.
 
Anh Hoành khen “hay! Cậu Vỹ trí nhớ khá lắm”. Nhưng đến lúc vẫn có người chưa nhớ ra, đòi chậm rãi cho họ tính lại. Tôi được tặng một trái chuối.
 
Tết qua, cảnh chưa gì thay đổi, cho đến hôm được tin một phiên tòa sẽ được xét xử tại đình làng tôi – đình Bảo An.
 
Anh em bàn tán đủ chuyện, không biết rồi ai sẽ được xét trước trong phiên tòa này. Đoán già đoán non, rồi hóa ra sai bét. Ai cũng tưởng những kẻ ra công khai như tôi sẽ được đem ra xét trước.Nhưng đến hôm gọi đi mới vỡ lẽ là không ai đoán được Cộng Sản. Lúc ấy mới nghĩ rằng nếu họ đưa tôi ra tòa trong khi tôi không biết gì về chuyện họ đã bắt, cung cũng không “ký” thì buộc tội gì? Lúc ấy họ sẽ ăn làm sao nói làm sao với dân chúng?
 
Một số được gọi đi trong ấy có anh Bùi Hoành. Và sau phiên tòa một số được tha luôn, trừ ra số đổi lao.
 
Lúc trở về, ít nghe các anh kể chuyện tòa án, chỉ thỉnh thoảng chuyện trò riêng tư mới nhắc với ý bông đùa về thói quen của quan tòa Phạm Phú Tiết.
Ông tòa dùng hai cái kiếng, một dòm gần khi đọc giấy tờ trên bàn, và một nhìn xa khi phải ngó xuống can phạm. Do đó tay ông luôn luôn thay đổi kiếng như một trò “xiếc”.
 
Còn về án, thì khỏi nói. Ông tòa làm việc theo lệnh đảng đã quyết định trước nên các anh thường chửi đổng là “chẳng lẽ bọn nó không có gì để buộc tội ta! Để tuyên án, thì câu chuyện cạy cầu Chiêm Sơn là nói láo hay sao!”
 
Riêng anh Hoành cho biết là hôm về tạm giữ tại Duy Xuyên, có nghe một đồng chí kể chuyện Thái Lân tức Nhị Lang, sau ngày cùng anh Hoàng Tăng, Bí Thư Quảng Nam ra đến Hà Nội bị bắt lại và giải về, có giam tại đây, Duy Xuyên. Anh ấy kể chi tiết rằng sau khi ra đến Hà Nội ; một hôm Nhị Lang đang đi gần trụ sở Ôn Như Hầu thì bị hai tên công an kè súng bắt, dù Nhị Lang đã lanh trí thừa lúc người qua lại trên đường đông đã thoát chạy, nhưng không khỏi.
 
Riêng anh Hoàng Tăng đã trốn sang Côn Minh (Tàu).
 
Sau rồi anh Hoành và một số cũng được lệnh chuyển đi nơi khác hay về, chúng ta thật khó đoán.
 
Cho đến một hôm, cái nợ “văn thơ” đã đến, làm tôi khốn đốn không ít.
 
Một buổi sáng, có lệnh gọi lên văn phòng trại.
 
Vừa bước vào đã đâm lo, vì người mà tôi gặp lại hôm nay vẫn là chú công an “đập ác” Phạm Sĩ Tham.
 
Tôi cứ nhớ chuyện “Nhứt lộ phước tinh” mà lo ngại. Lại còn chuyện gì đây?
 
Thấy tôi vào, Tham ra lệnh:
 
-         Ngồi xuống đấy! Có báo cáo là anh làm thơ phản động phải không?
 
Tôi lại đóng “kịch” như tự thuở nào.
 
-         Tôi chưa hiểu ông nói gì ạ!
 
Tham chồm lên, mặt hầm hầm:
 
-         Còn giả vờ nữa à! Anh định đóng kịch với tôi phải không? Anh làm thơ phản động thế nào, đọc nghe đi?
 
Tham ngưng một giây, nhìn tập hồ sơ của tay nào báo cáo đang để trước mặt – manh chiếu rách, gì gì, đọc đi!
 
Tôi hiểu ngay câu chuyện. Có kẻ đã báo cáo, nhưng chắc chắn không phải là đồng chí. Tôi sực nhớ câu chuyện ngày xưa trong thời gian ở đoàn kịch Trường Sơn, mà nghĩ là “một vạ miệng!” Nhưng tài lanh trí đã khiến tôi giả vờ nhìn ra ngoài, như sợ có người nghe câu chuyện.
 
Thấy tôi chưa chịu nói gì, Tham quát lớn:
 
-         Có đọc ra không? Hay anh muốn ăn đòn?
 
Tôi cố kéo dài câu chuyện, để mong sửa lại bài thơ, như chính trong thâm tâm nhiều lần cũng đã có nghĩ đến.
 
-         Thưa ông, không phải tôi không chịu đọc, Nhưng mong ông hiểu cho trường hợp của tôi.
 
-         Trường hợp gì? Không trường hợp gì cả. Anh đọc ra nghe đi!
 
-         Bây giờ tôi không dám dấu diếm gì. Trước tham gia vào đảng với anh em, thật ra tôi vì ham vui thì đúng hơn. Nay nghĩ lại… lòng thấy hối hận, nhưng đã muộn rồi.
 
-         Anh nói gì, tôi không hiểu. Hãy đọc bài thơ ra nghe! Bây giờ lại nói chuyện hối hận à?
 
-         Đọc ra chỉ thêm xấu hổ, chứ chẳng ra gì.
 
-         Xấu hổ cái gì?
 
-         Đây chỉ là bài thơ tôi tự trách mình, không suy xét trước, chỉ thêm xấu hổ mà thôi.
 
Tôi cố kéo dài – vì như Bác tôi – cụ Phan Khôi đã thường dạy kế “hoãn binh” rất cần khi chưa nghĩ ra diệu thuật.
 
Nhưng tôi đã sắp ổn, nên khi Tham thúc hối, không ngần ngừ tôi đọc:
 
   “Manh chiếu rách” bạn trong giờ đau khổ
   Sao đêm nay không đủ ấm cho thân?
   Ngọn gió lùa rét buốt cả tay chân
   Đêm giá lạnh gieo vào lòng giá lạnh.
   (đây là lúc bắt đầu sửa lại)
   Đời hiện sống, cuộc đời đầy nghịch cảnh
   Người xuôi buồm ta ngược sóng làm gì?
   Để ngày nay đành nuốt hận chia ly.
   Thân tuy sống nhưng hồn kia đã chết
   Ồ! Chính trị, đường lối không rõ rệt
   Phỉnh phờ nhau đưa đến chỗ suy vong.
   Đồng bào hỡi! Xin đồng bào rộng lượng
   Tha thứ dùm cho những đứa em thơ
   Những đứa em đi trong đám sương mờ,
   Đang lạc lõng chưa tìm ra lối thoát!
 
   Tham ngồi suy nghĩ, một lát sau y nhìn tôi
 
-         Anh còn làm nhiều bài khác mạnh lắm kia mà!
 
Quái ác! Thằng nào đã báo cáo kỹ thật. Nhưng nghĩ, đến tình thế này ta cũng nên làm già thêm, may ra. Tôi lại ngây ngô.
 
-         Lâu quá, vả chăng không giấy tờ, chỉ nhẩm thầm nên nhớ được vài bài thôi ạ.
 
-         Thì cứ đọc nghe! Tham thúc giục
 
Tôi làm như cố nhớ, chứ làm sao quên được!
 
   “Ngao ngán nợ chiến tranh
   Gây chi cảnh phân giành.
   Chùa hư nhà đổ nát
   Đô thị hóa cồn xanh.
   Phật Thánh nào đâu thấy?
   Sao chẳng cứu chúng sanh!
   Diệt ngay lũ vô manh.
  Gieo hòa bình thế giới
  Nếu đủ sức Thái sơn ta nguyền bới
  Đập tan tành vũ trụ, khỏi phân tranh.
  Và, số Nam Tào đốt sạch sành sanh
  Cho, tất cả yên lành trong mộng đẹp.
 
Nghe đọc hết bài này ý chừng Tham nghĩ, tôi đã có chuyển biến tư tưởng (!) nên sau vài phút, y dặn thêm.
 
-         Nhớ nhé! Cố tìm lấy nếp tư tưởng cải hóa là vừa, Đừng mê mờ, đừng ngoan cố, không lợi cho anh đâu!
 
Tham cho tôi trở về buồng.
 
Nguyễn Chín thấp thỏm ngồi chờ tôi về. Thấy tôi Chín hỏi ngay:
 
-         Sao? Có bị “dần” không?
 
Tôi nghiêng tai Chín, nói nhỏ : - Nhứt lộ phước tinh, mà lị!
Nhưng sợ đám báo cáo theo dõi, chúng tôi nháy mắt nhau, chờ tối lại mới tâm sự. Tôi kể cho Chín nghe, nhất là kê miệng sát tai Chín ngâm lại bài thơ làm lúc đầu.
 
Đoạn đầu giống nhau, nhưng đến câu thứ 5 là sửa lại
 
   Đời hiện sống, cuộc đời đầy nghịch cảnh
   Người xuôi buồm ta ngược sóng về nguồn.
   Đi tìm bao mạch suối trào tuôn
   Trong và mạnh để hợp thành bể cả.
   Lòng tin tưởng trên trường đồ xa lạ
   Sẽ gặp nhiều dị thảo với kỳ hoa.
   Để ngày mai khi trăng nọ chớm tà
   Xây dựng lại ngôi bàn thờ Tổ quốc
   Khắp vũ trụ, khói hương trầm ngầy ngật
   Và giống nòi, và cảnh vật đồng say
   Để quên đi cay đắng của bao ngày
   Trầm hương đốt, một giống người riêng hưởng!
 
Chín đấm mạnh tôi, khen hay, khen giỏi!
 
Tình đồng chí lúc ấy thật quá thân thương. Nhưng ai ngờ sau này Chín lại phản bội theo Cộng Sản cùng với những chú Trương Đình, Võ Thủ Lễ của Duy Xuyên. Chín theo Cộng Sản làm quân pháp, mà chính anh ta (1953) là người hỏi cung ông Hồ Ngân, tỉnh trưởng Quảng Nam khi bị Cộng Sản bắt đem vào chiến khu Nam Ngãi.
 
Ngày tháng lại dần qua.
 
Cho đến một hôm có tin chuyển trại.
 
Trong tù có hai điều đáng ngại nhất là đổi buồng và chuyển trại. Đổi buồng là thay đổi chỗ nằm theo lệnh trại, để trong dịp này chúng kiểm soát lại tất cả hành trang của ta, nhất là xem có ai thu dấu dao hay lương thực để mưu trốn trại. Cũng trong những dịp này họ xem lại các cửa ngõ có bị ta tháo phá không.
 
Còn chuyển trại là vô cùng rắc rối. Trong những năm tháng về trước việc chuyển trại có mục đích tránh theo dõi của tình báo Pháp, dự phòng các cuộc cướp tù, pháo kích. Và quan trọng là chia ra để tránh việc ta đã tổ chức nhau.
Nhưng tuy tuổi mới vào đời mà việc xem cảnh tù đày gần như cũng “lì” thôi. Có người “lì” đến độ đã thốt nên lời “thân gái đĩ, đi đâu cũng vậy ngán nỗi gì!”
 
Hôm ấy, được lệnh thức dậy giữa khuya, dọn đồ đạc ra tập họp ngoài sân.
 
Vài phút sau là đèn đuốc sáng tờ mờ, vì ngoài số cán bộ trại, được tăng cường lực lượng tự vệ địa phương khá đông. Bi đát nhất là khi vừa ra khỏi trại, chúng bắt đầu hô các khẩu hiệu, vừa để uy hiếp tinh thần ta, vừa tạo cho dân chúng quanh vùng như vừa “bắt” được đám Việt gian quan trọng – Đấy là một chiến thắng! Chúng lại còn mục đích để thông báo cho quanh vùng lưu ý, báo động.
 
Đám tự vệ hô thật lớn những khẩu hiệu.
 
     “Đả đảo Việt gian phản quốc! Đả đảo!
     Thẳng tay trừng trị phản quốc, Việt gian! Thẳng tay!”
 
Cứ thế, bọn chúng hô vang cả rừng núi. Dĩ nhiên dân chúng hai bên đường tưởng rằng vừa bắt được một số Việt gian. Chiến tranh đã nổ ra tại Đà Nẵng. Tha hồ cho chúng khoác lác!
 
Nhưng khi thức giấc, ra nhìn xem, hình như dân chúng đã đoán được phần nào, họ quay vào ngủ, vì ngày mai còn lao động chết xác!
 
Ra đến đường tỉnh lộ gió lạnh bắt đầu thổi, càng lúc càng mạnh. Rồi mây kéo đen trời.
 
-         Trời sắp đổ mưa! Mọi người đều bảo nhau.
 
Gió càng mạnh, vài cây đuốc đã tắt. Một trận mưa lớn trút ngay xuống đám tù rách nát, nhưng vẫn cứ đi! Vài người đã lảo đảo.
 
Phía sau có tin “có người gục ngã” vì kiệt sức.
 
Biết không thể đi thêm, đội tiền tiêu báo về, và khi được lệnh “đã có chỗ tạm dừng chân” tất cả đều vào ẩn trú chờ sáng mai sẽ đi tiếp.
 
Cả đoàn được lệnh ghé lại một ngôi đình lớn hiện đang là cơ quan của tự vệ quận. Nhưng có tiếng thì thầm “Bố trí khẩn cấp cho nghỉ đến tối mai tiếp tục, vì không đi ban ngày, sợ phi cơ Pháp phát giác.
 
Tất cả ngả người ngay không cần biết sạch dơ, áo quần ướt đẫm.
 
Một ngày ăn uống do tự vệ địa phương chu cấp, thì tối hôm sau vừa chập choạng lại chuẩn bị lên đường.
 
Cứ thế, thẳng đường tỉnh lộ nhắm rừng phía Tây, đi sáng ra là đến đồn Tân An. Đối với tôi thật quá xa lạ, nhưng những anh em địa phương thông thuộc cho biết “đây là đồn Tân An, đi xuyên vào rừng độ mười cây số là trại Trà Linh.”
 
Tôi đang ngơ ngác chưa hiểu tại sao nơi này lại có đồn Tân An thì anh Hà Cư đã giải thích rằng đồn này trước kia chính quyền phong kiến đã dựng lên theo lệnh Công sứ Pháp để kiểm soát miền rừng núi, nhất là vấn đề thủy lâm – cây rừng.
 
Từ đồn Tân An, xuyên rừng, toàn là rừng rậm; khoảng ba tiếng đồng hồ là đến nơi. Việt cộng lập lao này giam tù, nhất là tù chính trị, để ngăn chận việc
trốn trại và phát giác của phi cơ Pháp. Đường gai góc, rất khó đi.
 
Trại làm toàn bằng cây rừng, lót bằng loại cây cỡ cườm tay, nên nằm rất đau lưng. Xung quanh là loại cây to đường kính khoảng hơn tấc, khỏi chui đầu ra được. Những kẻ hở này là chỗ “hổ” thò vào kéo chân tù rất dễ. Đến nơi được anh em truyền miệng cho biết, khi nằm ngủ xoay đầu vào trong, và đắp chăn hoặc dùng áo quấn kín lại, phòng khi bị hổ lôi, biết mà hô lớn.
 
Đến nơi, ngay ngày hôm sau được phân công đi lao động. Số khỏe mạnh vào rừng đốn tre, về lập thêm trại. Số ở lại nhà tùy theo khả năng làm vệ sinh, nấu ăn hay hớt tóc.
 
Tôi được trực trại hỏi:
 
-         Anh biết hớt tóc không? Có lẽ cũng nhờ “nhứt lộ phước tinh” chắc!
 
Tôi đang ấp úng định nói thật là “không” thì một anh bạn đứng gần đã mách nước:
 
-         Nhận đi, rồi dần dần sẽ quen.
 
Tôi nhận lời và được ghi vào danh sách những người ở nhà hớt tóc cho anh em.
 
Khi còn lại hai người, anh bạn mới giải thích:
 
-         Lúc đầu ta hớt cho những người già, lớn tuổi, sau tạm quen mới hớt cho đám trẻ. Vả chăng ở đây còn ai khen đẹp, chê xấu gì mà lo.
 
Rồi anh vừa khôi hài dẫn giải:
 
-         Từ hớt dài, nếu xem tệ quá ta làm ngắn lại, và cứ thế cho đến khi trông tạm được thì thôi. Vả chăng ở đây chẳng ai dám chê, vì chê là có cơ bị “đẩy trọc” luôn, chứ trại không bao giờ la ta đâu mà lo.
 
Thế là tôi được ở nhà hớt tóc. Làm nghề này tôi lại nhớ mẹ thường đùa rằng “không nghề nào giá trị bằng nghề hớt tóc – chận cạo đầu kẻ khác còn được tiền nữa là khác.”
 
Vài ngày đầu ăn uống đỡ khổ, vì trại phát “mắm nêm”, dù là thứ mắm “cái” chẳng ngon lành gì, chưa nói là mùi “thum thủm” khó ngửi nữa là khác. Nhưng không phải ăn muối như khi còn ở trại dưới. Kỷ niệm cũng khó quên là ngày đầu, trưa lại lúc vác cây đốn được về trại anh Trương Đình (trong Phủ bộ Duy xuyên) đã vứt cho một bó lá lốt anh hái trong rừng, vừa giải thích:
 
-         Cậu xắt nhỏ nấu canh với mắm nêm, ngon đáo để.
 
Rồi sợ tôi chưa tin, anh nói thêm:
 
-         Cậu cứ nghe tôi, làm thử thì biết.
 
Anh Trương Đình là một thi sĩ có “hạng” với bút hiệu “Trinh Đường” (nói lái lại hai tiếng Trương Đình). Buồn thay ! Sau này nghe tin anh đã bỏ đảng mà theo Cộng Sản.
 
Có người đã giải thích thêm rằng “lá lốt” này ở các tiệm “bò bảy món” Sàigòn đã dùng nó cuộn thịt bò nướng, ăn hết chê.
 
Chiều hôm ấy, đúng như Trương Đình, tôi đã nấu bữa canh lá lốt, mắm nêm, ăn “nhớ đời”.
 
Thấy tôi trầm trồ khen lấy khen để, anh bạn nhà bếp đi ngang đã cười.
 
   - Ở nhà nấu canh thì có thịt, tôm chứ đâu có món canh “thượng hải” như
     vậy phải không?
 
Ở Trà Linh đúng bảy hôm, tôi được lệnh xếp áo quần, cùng (5) năm người khác theo lính áp giải về lại trại dưới.
 
Ra khỏi rừng, theo xuôi về hướng cũ, chúng tôi biết chắc được đưa trở lại Nghi Hạ. Không khí áp giải có phần dễ nên hầu hết hy vọng là được “tha”.
 
Trưa dừng lại, ghé một quán ở vệ đường, vì trong số những người kia hầu hết có tiền, chỉ trừ tôi. Họ mua thức ăn, tôi ngồi chờ, nhưng họ đã biếu tôi một đĩa nhỏ và một chén cơm.
 
Nhìn đĩa thịt, thì là “thịt cầy luộc”, chấm với tý nước mắm. Suốt đời, chưa bao giờ ăn thịt “chó” bao giờ, nhưng ở hoàn cảnh này, cũng nếm thử, và cũng để đỡ đói. Nhắm mắt nuốt!
 
Khi ngồi ăn, mới biết rằng 5 người được giải về hôm nay đều có liên can trong một vụ “trộm” với tên Phạm Vỹ, hiện còn đang ở lại Trà Linh. Tôi cảm thấy nghi ngờ! Chắc họ nhầm lẫn gọi tên mình thay vì tên Phạm Vỹ!
 
Tin là mình nghĩ đúng!
 
Một trong năm người đó là người làng Phi Phú, sát làng tôi, nên tôi thầm nhờ anh khi về nhắn tin gia đình vào Nghi Hạ ngay để “tiếp tế” cho chút ít thức ăn.
 
Anh bằng lòng và hứa sẽ giúp đỡ. Tôi yên trí, và nghĩ mình cũng khá lanh, trong hoàn cảnh và trong lớp tuổi này!
 
Về Nghi Hạ lần này bạn bè quen biết chẳng còn ai, toàn là đám hình sự. Tuy nhiên tôi gặp ông Bùi Đăng Độ, người cũng ở gần làng, nhưng ông chỉ sống tại Đà Nẵng và trước làm cho tòa án, thường được gọi là ông Phán Độ.
 
Ông Độ quen lối sống giàu sang, nay vào tù tỏ ra vô cùng khó chịu. Thường ngày ông trải một miếng “drap” trắng, để đề phòng dễ phát giác khi mấy chú “rệp” tấn công. Thấy thế tôi tỏ ra thương hại.
 
-         Chắc bác chưa nếm mùi này lâu?
 
Ông Độ trả lời nhỏ, đủ nghe
 
-         Vừa bị bắt tuần trước.
 
Ngay sáng hôm sau tôi được gọi lên văn phòng.
 
Vừa bước vào, tôi giật mình, vì người ngồi trước mặt, lại là Phạm Sĩ Tham.
 
Tôi thầm nghĩ, sao mình nặng nợ với “cọp” này dữ vậy kìa?
 
Và, ngược lại, khi thấy tôi, y cũng tỏ vẻ ngạc nhiên, cúi xem lại hồ sơ
 
-         Lộn rồi! Anh chàng thi sĩ này còn phải giam lâu, chứ đâu tạm tha được!
 
-          Nghe thế, tôi nghĩ “mình đoán đúng!”
 
   Chỉ một phút sau, y cho tôi trở lại phòng giam.
 
Lao Nghi Hạ lúc này đa số là hình sự nên kỷ luật khá gắt gao. Trại cấm đem lửa vào phòng, cấm cả hút thuốc.
 
Thế nhưng, mấy tay hình sự không tỏ ra “ngán” chút nào. Cấm gì cũng chẳng được với họ.
 
Trại rất “thính”. Ngửi biết dù cấm nhưng trong phòng vẫn có mùi khói thuốc.Tù cần có lửa để hút thuốc, để hâm thức ăn nên lính gác xét rất kỹ.
 
Đặc biệt nhất là khi vừa bước vào ngưỡng cửa đã thấy họ phì phèo điếu thuốc trên miệng, tôi vô cùng ngạc nhiên, hỏi nhỏ một chú bạn trẻ.
 
-         Lửa đâu mà họ hút như vậy?
 
Chú chỉ ngay tên Tiệp.
 
-         Tất cả là do Tiệp.
 
Khi ngồi yên, cửa đóng lại, tôi đến chỗ Tiệp nằm vừa hỏi:
 
-         Đâu có lửa mà hút hay vậy?
 
Tiệp không trả lời, như một trò xiếc, co lưỡi lại là điếu thuốc vào ngay trong miệng, và, lập tức y le ra là điếu thuốc lói ra, và thanh thới phì phà, như chẳng có gì quan trọng, khó khăn cả.
 
Tôi thầm phục đám anh chị này. Nhưng rồi bí mật nào cũng bật mí, nên ngay hôm sau lính gác buộc mọi người khi vào cửa phải dang hai tay, hả miệng ra. Tôi nghĩ, thế là hết!
 
Cả buồng nặng nề, im lặng. Tôi đi ngang trước Tiệp nói khẽ:
 
-         Thôi tạm chịu thua đi!
 
Tiệp không trả lời, cười với cái gan lì của những tay anh chị. Họ có gan thật, nhưng tiếc rằng họ thiếu mưu trí. Nói thế nghĩa là họ gần như luôn luôn làm theo ý mình, chứ không biết rằng làm như vậy là “thách thức”. Mà thách thức thì Cộng Sản nào chịu thua. Nếu câu chuyện hôm nay được im lặng vài ba hôm thì chẳng nói gì, đằng này ngay trong lúc ấy tôi đã thấy ở một góc kia, đám đàn em của Tiệp đang hì hục cùng nhau, xúm lại, như đang cố tìm cách làm ra lửa để hút.
 
Tôi đoán đúng! Tiệp nhìn tôi cười, và chỉ về hướng ấy. Tôi đi ngay lại xem, bởi biết rằng đám hình sự không bao giờ nghi ngờ tôi.
 
Thì ra họ đang dùng một thanh tre mỏng, “cà” trước nhẹ, sau thật mạnh vào một miếng tre lớn khác. Bột tre rơi xuống. Khi chà xát thật mạnh, hơi nóng sẽ ảnh hưởng số bột tre, và hơi khói bắt đầu bốc lên. Họ bốc ngay chút bụi tre bốc khói bỏ trên mảnh giẻ đã có sẵn trong tay, và “đập đập” nhẹ, là giẻ cháy thành lửa.
 
Tiệp đã đứng sau lưng tôi, nhìn đám đàn em làm, nhưng y nói khẽ “coi chừng mấy tên chó chết” biết là báo cáo đấy.
 
Thật ra thì những tay manh tâm báo cáo cũng thừa biết rồi, nhưng chúng cũng không phải bạ lúc nào cũng báo cáo, bởi chúng rất ngán cảnh “ăn đòn hội chợ” của đám anh chị hình sự này.
 
Mươi hôm sau, tôi được gọi ra phòng trực gặp chị tôi đem vào cho một ít thức ăn kết quả của chú về hôm trước nhắn giúp.
 
Chị chỉ nói qua loa chuyện nhà cho biết rồi phải từ giã vì, có lẽ họ đã định trước cho thăm bao nhiêu lâu.
 
Trước khi chia tay, chị tôi chào tên giám thị, và quay lại nói, như để tôi yên tâm:
 
-         Ông đây! Là bà con với Tuần đấy!
 
Tuần là người vợ tôi mới cưới theo lệnh mẹ, đúng một tháng trước ngày cướp chánh quyền tháng 8 – 1945. Nhưng cô ấy theo Cộng Sản, hội hè công khai với họ trong khi tôi là đại diện cho Quốc Dân Đảng. Như một đoạn trước đã có đề cập, đây là tình trạng dĩ nhiên tại Quảng Nam giữa chồng vợ, cha con, anh em. Lúc ấy Nguyễn Đình Thiệp thường đùa mà nói rằng “chú mày may mà không sống với cô ấy. Nếu sống chung khó tránh cảnh đẻ ra đứa con “đầu gà đuôi vịt” khó coi lắm!
 
Cô ấy và tôi từ đó đương nhiên không quan hệ nhau, không thăm viếng, dù tôi bị tù, hay ngay cả ngày gia đình tôi bị chỉ định cư trú tại vùng rừng núi Tiên Hội.
 
Tôi chào tên giám thị, nhìn chị tôi lần nữa, theo lính gác về buồng.
 
Về đến nơi, mở ra xem lại kỹ và tính toán những thứ nào cần để dành, thứ nào ăn liền. Nhưng trước hết là lấy kẹo biếu anh em trong buồng.
 
Tôi đang định cất những gì có thể để dành lâu dài, thì anh bạn nằm gần đã rỉ tai nói nhỏ:
 
-         Phải cẩn thận những thức ăn, đừng để mắm đổ ra hôi mà họ phản đối, cũng như đồ ăn, phải cẩn thận vì sống chung với đám “lục lâm” này chúng sẽ ăm trộm đấy!
 
Anh vui miệng kể cho nghe một chuyện cười ra nước mắt như sau:
“Hồi ấy, anh Nguyễn ÂnTam Kỳ, có thăm nuôi, nhà đem cho một con vịt kho mặn đầy cả một nồi, để dành mà ăn. Nhưng bởi quá khổ anh chỉ ăn nước rồi lại đổ nước khác và muối vào kho lại, không dám ăn đến thịt.
 
Đến một buổi sáng, khi cửa mở, lính gác giục ra đi vệ sinh gấp, anh không chú ý gì, theo anh em ra sân.
 
Khi vệ sinh xong anh vội vã vào trước để xem chừng các thức ăn của mình. Thoạt tiên anh thấy nồi thịt vịt nằm ngay trên đầu nằm, tưởng ai đem xuống làm gì, vừa mở miêng định hỏi, anh đã la lớn:
 
-         Trời ơi ! Nó ăn cả nồi thịt kho của tôi rồi!
 
Anh em vừa vào đến, nghe thế xúm lại, vừa thương vừa buồn cười. Nhưng có người đã lý giải “tên nào ban đêm lấy xuống ăn, khi ăn xong tìm không có cái “que” để móc gióng nồi lên chỗ cũ, nên để luôn đấy từ đêm qua. Sáng nay, vì vội ra, anh Ân đâu có để ý đến sự việc.
 
Nó ăn và “húp” sạch không còn tí nước nào.
 
Câu chuyện đáng buồn thay, nhưng chẳng mấy ai nín cười được.
 
-         Đấy câu chuyện “ăn vụng là vậy. Anh hãy coi chừng!”
 
Rồi, cho đến một ngày kia! Khổ cực bao lâu chẳng sao, nay vừa có chút thức ăn, thì tôi bắt đầu bị “sốt”.
 
Sốt khá nặng. Và từ nhỏ tôi chưa bao giờ bị bệnh này. Nay khi đến cơn thật là quá khổ.
 
Anh bạn nằm cạnh lại giải thích cho biết đấy là hậu quả của bảy (7) ngày uống nước rừng ở Trà Linh. Nước từ các rừng lá chảy ra khá độc, uống vào là sốt ngay, nhất là những người chưa có kinh nghiệm đi nhiều, rất dễ ảnh hưởng.
 
Mỗi tối, đám hình sự thường tụ tập để cạo gió hay tẩm quất cho nhau. Tôi lần lại chơi, thì cũng chính tên Tiệp – đầu nậu – này lại hứa sẽ lể cho tôi. Lể xong là dứt hẳn không sốt nữa, y cam kết như thế. Tôi chưa tin lắm, nhưng nghĩ đám này nhiều kinh nghiệm, ta hẳn làm thử xem sao!
 
Hôm sau, tối lại lúc vào buồng và khi cửa đóng xong, tôi lại nhờ Tiệp.
 
Y ra tay rất chu đáo rửa tay cẩn thận, và lấy ra một nắm đọt tre non mà y đã nhờ đám hình sự nhà bếp nhặt cho từ trước.
 
Tôi nằm úp người, Tiệp lấy chiếc đũa đo bề ngang rồi bề dọc, tính khá kỹ, như ta phân tích làm  “toán”. Xong bắt đầu lể, cả thảy khoảng mươi mũi.
 
Lể xong Tiệp nhờ những tay nhà bếp thường qua lại ngoài cửa sổ, nấu giúp mớ đọt tre, và lúc họ đưa lên, y dặn tôi uống trước khi đi ngủ.
 
Hiệu năng hay không đến bây giờ mới dám xác nhận. Từ ngày ấy đến nay tôi đã trải qua khá nhiều lần đi vào rừng như khi vào vùng hành quân ở “Ba Lòng” Cam Lộ Quảng Trị, hay sau những năm lưu đày ra Bắc, tôi chưa hề bị “sốt” trở lại.
 
Khoảng nửa tháng sau, một bữa trưa, tên giám thị vào mở cửa và bảo tôi dọn đồ theo y ra văn phòng. Theo y lên đến văn phòng, thì thấy chị tôi đã ngồi đấy sẵn, và y đưa giấy tờ cho tôi ký.
 
Chị tôi nhìn mỉm cười, tôi nghĩ là một triệu chứng tốt, và khi đọc vào giấy ký, mới biết mình được “tại ngoại hầu cứu.”
 
Xong tôi đứng lên theo chị tôi ra về.
 
Thấy tôi tỏ ý như lo ngại không đủ sức đi từ đây về đến làng, chị tôi nói để yên tâm:
 
-         Em yên tâm! Ngoài kia có hai chú đang đợi, sẽ “võng”em về, chứ không đi bộ đâu mà lo!
 
Tôi quay lại nhìn đình Nghi Hạ lần cuối, nơi mà trong tuổi 20 đã gởi gắm khá nhiều “kỷ niệm”. Tôi nghĩ chắc chẳng bao giờ trở lại đây lần nữa. Nhưng chữ ngờ thường chẳng ai đoán được, mà trong một giai đoạn nào sau này tôi còn được dịp nhìn lại nó, nhìn trong tư thế nào? Tương lai sẽ là giải đáp cho ý nghĩ mông lung này!
 
Ra vừa khỏi cửa trại, thấy chú Kỳ, người thường giúp gia đình tôi trong những công tác nặng nhọc, và một người nữa đang chống “cáng” đứng chờ đợi.
Hai chú chào và bảo leo lên nằm trên ấy, hai chú võng về. Thật chẳng giống những bức tranh “ngựa anh đi trước võng nàng theo sau” tý nào, tôi thầm nghĩ và cười thầm.
 
Đi xuống hết tỉnh lộ, hai chú – có chị tôi lẽo đẽo theo sau – dọc theo đường hỏa xa hướng về phía Bắc, về làng tôi.
 
Còn nhớ rất rõ là khi đến ga Trà Kiệu, chị nói hai chú dừng lại cho tôi leo xuống, chị giải thích:
 
-         Đây là quán mì Quảng, dựng ngay ga để bán cho khách qua lại. Mình ăn xong, sẽ đi tiếp. Chị nói bà chủ quán làm cho 4 tô.
 
Thấy tôi hơi ngạc nhiên, chị tưởng tôi quên gì
 
-         Sao em lừng khừng như vậy, hay là có quên gì không?
 
Tôi kể lại cho mọi người nghe về chuyện Tiệp lể cho trừ bệnh “sốt”, và kết luận:
 
-         Thường mọi ngày cứ đến giờ “xế” sau bữa cơm trưa, là cơn sốt bắt đầu. Nhưng hôm nay, giờ ấy tôi đang nằm trên võng, quên hẳn “định kỳ”của cơn sốt. Tuy không nói ra nhưng vẫn còn ngờ “hay là võng cứ lắc lắc, nhảy lên nhảy xuống, mà quên đi định kỳ ấy chăng?”
 
Cả hai chú, và bà chủ quán nghe kể chuyện trong tù đều chú ý ái ngại nhiều việc ngoại lệ không tưởng tượng được.
 
Quán bà này bán “mì vịt” chẳng mấy xuất sắc nhưng sao hôm nay ăn thấy ngon đáo để, có lẽ vì vừa đói, vừa thèm, và nhất là món ăn đặc biệt của người dân xứ Quảng.
 
Sinh viên Quảng Nam trong đặc san “Quảng Đà” của Thái Tú Hạp ở Cali ngày nay đã nói đi nói lại về kỷ niệm của món ăn, chưa nói là những năm tháng chiến tranh của Đèo Le, Trung Phước món Mì Quảng thường là đầu đề của mọi câu chuyện.
 
Mì Quảng hay Mì Gỗ cũng là nó. Nhưng làm thật đúng điệu là phải có bắp chuối hột xắt nhỏ trộn với rau thơm, có bánh mè nướng, có đậu phộng rang giã nhỏ, mới đầy đủ ý vị. Còn “nhân”, tức nước “lèo” thì tùy, sang là tôm, cua, thịt heo, thường thì tôm thịt hay ngay cả nhà quê, mì gà, mì vịt, mì cá lóc, bất cứ thứ gì cũng ngon.
 
Chị tôi mời hai chú ăn thêm, nhưng họ từ chối vì lịch sự, bởi sợ tốn hao cho chị tôi nhiều.
 
Võng lại được tiếp…
 
Và lúc này, ăn no, nằm thấy võng nhảy lên, nhảy xuống, tôi vui vui, nghĩ đến chốc nữa đây sẽ gặp lại mẹ, em và Phin, con tôi.
 
Tôi lại giả giọng Huế hát bài Nam Bình “Đình Nghi Hạ” trong khi hai chú và chị tôi đang lắng nghe! Gần tối về đến nhà.
Khỏi diễn tả thì ai cũng thừa biết gia đình tôi hôm ấy vui mừng ra sao.
 
Người hỏi nhiều chuyện nhất là cô em gái, và người ngồi nghe như không bỏ sót câu nào là Phin, con gái tôi. Cháu ngồi im lặng nhưng cứ len lén nhìn tôi không nháy mắt.
 
Mẹ tôi thường cẩn thận, sợ trong tù đói khát thèm ăn, nay ăn nhiều quá sẽ có hại. Bà bảo chị tôi nấu cháo, nhưng là cháo “gà”, dù nhà lúc này đã suy sụp kinh tế quá nhiều. Làng trên xã dưới đã tản cư gần hết, không còn làm ăn gì được, đành phải còn đồng nào ăn đồng ấy.
 
Bước ra cửa nhìn lên, nhìn xuống, cảnh chợ Bảo An đã quạnh hiu, không một bóng người hàng xóm, chứ đừng nói đến các đồng chí, cũng tản cư ráo trọi.
 
Gia đình tôi nay cũng ngủ sớm. Nhưng trước khi đi ngủ mẹ tôi đã nói nhỏ cho biết rằng “gia đình ta cũng tản cư nay mai. Còn chưa đi là đợi đón con về cùng đi nhân thể.”
 
Hỏi mẹ để biết gia đình đi đâu thì được bà cho biết sẽ không đi xa, mà chỉ qua bên kia cầu Chiêm Sơn, lên vài cụm núi, tạm ở đấy rồi sẽ hay.
 
Sáng hôm sau, lạ lùng thật! Ai báo tin mà nhanh đến thế! Một tên Cộng Sản lạ mặt đến nhà thăm.
 
Tôi đang ngạc nhiên, thì y lên tiếng:
 
-         Nghe anh được về, tôi đến thăm để bàn anh tiếp câu chuyện cũ, ngày xưa…
 
Thấy tôi như chưa nhớ ra, y vui vẻ nói tiếp:
 
-         …Tôi là Hòa… của tuyên truyền kháng chiến.
 
Tôi sực nhớ lại, cái anh chàng ngày trước có đến gạ tôi vào đội Tuyên Truyền Kháng Chiến khi họ được xem trình diễn vở kịch “Cuộc hội đàm giữa Gracey và Leclerc mà lúc ấy họ đánh giá “cao” về sáng tác này.
 
… Ngày trước tuyên truyền xã có bàn với chúng tôi về việc công tác, mà hình như các đồng chí ấy cũng đã có đả thông với anh!
 
Để họ khỏi nghi ngờ lôi thôi, tôi nói với một giọng như đã quyết định sẵn:
 
   - Tôi rất vui khi được cơ quan chú ý, nhất là có các anh, Nhưng tôi không
      dấu gì cảm nghĩ, mà xin trình bày là hiện nay tôi vẫn còn là một “tội
      nhân”, chỉ được tại ngoại hầu cứu, còn chờ ngày ra tòa.
 
Y chận ngay lời tôi:
 
   - Anh khỏi lo điều ấy!
 
Rồi như vì muốn tỏ chút oai quyền hay muốn nói rằng đã có sự thỏa thuận, sự chấp thuận của cấp trên, y không dấu diếm:
 
-         Nếu anh hợp tác, thì không nên lo chuyện sẽ ra tòa, chúng tôi đã lo liệu trường hợp ấy!
 
Rồi y như lơ đễnh hỏi thăm gia đình tôi việc sẽ chuyển đi đâu sau này nữa?
 
Cái tâm lý quan trọng lúc bấy giờ, là nếu gia đình tôi không chứng tỏ thái độ tích cực trong việc di chuyển để kháng chiến đến cùng, tức là sẽ đợi “địch” đến đón đi hay sao. Vì  lẽ ấy mẹ tôi đã tỏ thái độ như còn chờ tin của hai người anh em chú bác – hai người này trong hàng ngũ có “ký” đối với kháng chiến, nghĩa là cũng trong hàng ngũ cao cấp mà họ phải nghe biết.
 
Đánh trúng tâm lý điểm ấy, chú tuyên truyền kháng chiến không còn nghi ngờ gì thêm, từ giã gia đình tôi ra đi, trong khi Mẹ tôi và tôi nhìn nhau mỉm cười.
 
Và, như vậy là ba hôm sau gia đình tôi gồng gánh chuyển qua cụm núi Chiêm Sơn, và, cứ triền núi đi độ vài ba cây, bà đã chỉ một túp lều tranh đứng chơ vơ giữa sườn núi.
 
-         Đấy! Đấy là nơi tạm trú của gia đình ta. Trước mươi hôm chị hai con đã có người mách, lên đây điều đình với một người ra đi xa hơn, nhường lại cho ta đấy.
 
Sức khỏe nay đã ổn, nhưng còn yếu, dù bệnh sốt từ hôm ấy chẳng hề tái diễn.
 
Tôi chẳng giúp gì được cho gia đình, vì chỉ mới dự định làm gì thì cháu Phin đã chạy lại dành lấy “cậu để con làm cho! Cậu còn yếu chưa làm được đâu!”
 
Ngồi trước cửa, nhìn xuống triền núi, là cả một cảnh nên thơ.
 
Xa xa mới có một ngôi nhà cũng chơ vơ giữa sườn núi, chắc hẳn là của người dân chạy giặc nào đấy thôi. Thấm thía cảnh đời, nhưng nhìn thế thôi chứ làm gì có việc liên lạc nhau như lúc còn ở làng cũ.
 
Thật là một cảnh sống không có ngày mai!
 
Ngay chiều hôm ấy cô em gái tôi đã làm tôi sửng sốt, khi cô lại gần và cho biết là “quả lựu đạn ngày xưa – trước lúc đi tù – cô vẫn còn giữ, và mang theo mãi đến ngày nay, hiện đang chôn dưới gốc chuối cạnh triền núi.”
 
Tôi chỉ biết cười và không nỡ trách hành động “gan lì” của cô em gái một gã thanh niên hằng ôm ấy mộng đeo thanh kiếm vàng trên vai áo!
 
Tôi giả vờ ra dạo quanh trong khu đất, rồi tuần tự lại gần gốc chuối chỗ cô em đã nói thử xem sao, bởi phải luôn đề phòng bọn họ từ xa có thể theo dõi hành động của gia đình.
 
Khi thấy cô em “gan” đến độ, lại thầm nghĩ rằng nhỡ họ có máy rà, thì chết mất!
Sống ở túp lều tranh không đầy một tuần lễ, tôi được địa phương dẫn người đến cho biết một giấy gọi ngày mai đi hầu tòa ở Quế Sơn. Mẹ và gia đình xem chiều lo ngại, nhưng tôi cảm thấy như đã quá liều, không gì để làm mình “ngán” nữa. Tôi đồng ý với anh cán bộ hướng dẫn – hay nói đúng hơn là áp giải – sáng sớm ngày mai sẽ đến rồi cùng đi.
 
Lại một đêm thao thức, không riêng mình, mà tôi chắc mẹ, chị - hay nói rõ - chẳng người nào ngủ được.
 
Trời chưa sáng, anh cán bộ áp giải đã đến đánh thức gia đình tôi. Nhưng khi vừa ra sân để định bàn cùng anh ăn chút lót lòng trước khi ra đi, thì! Tiếng súng đã nổ vang từ trên chóp núi!
 
Anh áp giải viên đã không một lời hơn thiệt chạy biến mất, và gia đình tôi đã được đồng bào từ dốc núi dưới kéo lên “rủ chạy giặc!”
 
Tây đến! Tây đến! Chạy mau mau lên!
 
Tiếng hô chạy cùng lúc tiếng súng nổ gần, và nhiều hơn!
 
Tôi loay hoay, chưa tìm ra một quyết định, trong khi chị và em tôi cùng mấy người bạn gái bỏ chạy, bởi sợ “hãm hiếp” như đã từng nghe tuyên truyền.
 
Mẹ tôi và cháu Phin ngồi lại trước cửa, đang run sợ.
 
Một tốp lính Pháp và Ra Đê – đội lính này thuộc người dân tộc Ra Đê (Ban Mê Thuột) được Pháp tuyển dụng và huấn luyện – do Pháp chỉ huy, ồ ạt kéo vào. Tôi không chạy kịp nữa, đành đứng giơ tay để họ bắt. Tôi thoáng thấy một số khoảng 5 người cũng đã bị bắt có lẽ từ núi dưới.
 
Nhìn lại kỹ thấy chú Phan Lưu, thường được gọi là ông Tham Lưu – bởi trước chú làm tham tá cho Phủ Toàn Quyền Hà Nội, đã về hưu, nhưng cũng phải làm thôn trưởng cho Việt Cộng lúc bấy giờ tại thôn Bảo An, quê hương tôi.
 
Đoàn lính ra lệnh chúng tôi đi giữa, có một tên lính người Ra Đê, súng lăm lăm đi sát bên.
 
Cứ thế cuộc hành quân tiến theo đường núi, lên đến Vĩnh Trinh. Trưa nắng, họ cho dừng lại nghỉ. Tôi và chú Tham nhìn nhau không dám nói lời nào.
Nhưng khi thấy không khí dần dần dễ chịu, chúng tôi lại gần nhau và chú cho biết chỗ mình đang nghỉ lại đây là trại tản cư của gia đình bác sĩ Lê Đình Thám. Thấy chú tỏ vẻ lo ngại, tôi nói để trấn an chú là tôi hiện có trong túi giấy vừa ra tù Việt Minh, đồng thời cũng có cả giấy đi tòa Quế Sơn sáng hôm nay.
 
Một anh thông ngôn chỉ tôi theo anh lại gần một tảng đá, cách đấy độ vài chục thước, nơi đang có mấy người chỉ huy cuộc hành quân người Pháp ngồi ăn.
 
Anh chỉ tôi ngồi. Một người, trên vai có đeo hai gạch màu vàng mà tôi cứ nghĩ là “quan hai” của quân đội, hỏi tôi. Và anh thông ngôn hỏi có thể trả lời trực tiếp được không. Nhưng tâm lý nghĩ rằng chẳng tỏ ra khôn ngoan lúc này “sớm”.
 
-         Xin ông thông dịch giúp cho, vì tôi bỏ lâu quá, không còn nhớ mau được ạ!
 
-         Ông ấy hỏi anh làm gì cho Việt Minh?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
BỊ GIẢI TÒA THÌ BỊ QUÂN ĐỘI PHÁP BẮT (1947)
 
 
Như trúng chỗ ngứa của mình, tôi nhẹ nhàng hỏi lại:
 
-         Thưa ông, xin phép được khỏi trình bày dông dài, nhưng tôi vừa ở tù Việt Minh, thì nay có còn phải ở tù với quý ông nữa hay không?
 
Vừa nói, vừa thò tay vào túi lôi ra hai cái giấy, một là “lệnh tạm tha tại ngoại hầu cứu” và một “lệnh gọi hầu tòa sáng nay tại Quế Sơn” đưa cho người thông ngôn.
 
Anh xem xong, đưa lại cho quan hai Pháp, và họ bàn nhau khá lâu, anh thông ngôn quay lại hỏi:
 
-         Vậy anh đã bị giam ở những lao nào của Việt Minh?
 
-         Tôi bị giam tại Hội An, rồi Nghi Hạ và có ở Trà Linh một tuần lễ.
 
Như nhớ ra điều gì anh thông ngôn sau khi bàn với quan hai Pháp, đi lại cách đây mười phút, dẫn vào một người, có lẽ để nhìn mặt tôi. Nhưng khi anh bạn này vừa đến đã nhìn ngay ra tôi. Thì ra anh là một thanh niên công giáo ở Hòa Vang, người có ở chung tại Nghi Hạ, người đã kể tôi nghe chuyện anh Nguyễn Ân Tam Kỳ bị đám hình sự ăn sạch nồi “vịt kho” trước đây”.
 
Vừa thấy, anh cười lớn lại bắt tay tôi, và quay qua anh thông ngôn để xác nhận:
 
-         Đây là anh Phan Vỹ, người cùng bị giam tại Nghi Hạ, người đáng được tin cậy.
 
Thế là cuộc đối chất tạm dừng lại và cuộc hành quân quay trở về trại quân đóng ở đầu cầu Chiêm Sơn.
 
Ngay sáng ngày hôm sau họ cho giải cả tôi và chú Tham Lưu về Ái Nghĩa, có lẽ là bộ tư lệnh của đoàn quân này.
 
Khi vào đến đây, không cần thông ngôn nữa, mà một người có “ba gạch – hẳn là quan ba” hỏi tôi quê quán ở đâu.
Khi nghe tôi trả lời là ở Bảo An, họ cho người đưa tôi ra xe, và chở về thẳng đồn Bất Nhi – sinh quán của cụ Trần Quí Cáp. Lúc vào đồn Bất Nhi, một quan hai Pháp tướng nguời dữ tợn, nhưng nói chuyện thì lại khá vui vẻ.
 
Ông hỏi tôi người ở làng ngay tại nơi đóng đồn này phải không. Tôi cho biết ở Bảo An, còn đồn này là làng Bất Nhi. Khi viên quan hai dở bản đồ ra xem mới biết họ đã ghi nhầm địa danh Bất Nhi là Bảo An.
 
Viên quan hai hỏi qua loa vài câu rồi vào đề:
 
-         Anh ở lại làm thông ngôn cho tôi được không?
 
Thật ra ngay lúc ấy chưa hiểu “thông ngôn” là làm những gì nhưng trong thâm tâm cứ nghĩ rằng về lại thì chắc chắn sẽ không yên với mấy chú Việt Cộng chưa nói là từ hai hôm nay sống trong doanh trại Pháp, tiếp xúc với Pháp, trả lời cũng đã “chết mệt” với lũ họ, nên tôi nghĩ đến câu Kiều:
 
   “cũng liều nhắm mắt đưa chân
   Thử xem con tạo xoay vần đến đâu…”
 
Tôi gật đầu nhận lời viên quan hai, nhưng cũng không quên đưa ra một điều kiện:
 
   - Tôi sẵn sàng ở lại làm thông ngôn cho ông, nhưng xin ông cho chú tôi
      về!
 
Quan hai Pháp nhìn chú tôi, rồi hỏi:
 
-         Chú anh làm gì?
 
-         Chú tôi, tuy vừa rồi làm thôn trưởng cho Việt Minh, nhưng đấy là trường hợp bất đắc dĩ, bởi trước kia ông là Tham Tá Phủ Toàn Quyền Hà Nội.
 
Vừa nghe tôi nói đến “Commis Gouverneur Général Hanoi” ông ta quay lại nói chuyện trực tiếp với chú, và sau vài câu chuyện ông ta đồng ý để cho chú tôi ra về.
 
Trước khi từ giã, tôi nhờ chú về tin lại mọi việc với gia đình, và nhắn chú nói rõ rằng biết về cũng chẳng yên với Việt Minh, nên thôi đành làm với họ.
Chú ra về tôi cảm thấy lòng chẳng vui, nhưng còn biết sao hơn, khi nhớ lại hai câu Kiều đã có nói ở đoạn trước, mà thật lòng chẳng nghĩ đến cái hậu quả khó lường, để rồi sau này đã bị lời phê trách của trường Đại học Trinh Thám Ba Lê “mọi việc cần cân nhắc kỹ chứ không bao giờ được “LIỀU” để chuốc lấy hối hận.”
 
Không để cho người Pháp nghi ngờ về tinh thần “phục vụ” từ đây, mà tôi tỏ ra vui vẻ theo tất cả chỉ dẫn của họ từ nhận áo quần, thu xếp chỗ nằm cũng như mỗi bữa ngồi vào ăn chung với sĩ quan mà không đi nhận thức ăn như những hạ sĩ quan khác.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHẢI CHĂNG TA ĐÃ LÀM “VIỆT GIAN?”
 
 
Đây là đại đội bộ do Trung úy mà tôi đã trực tiếp từ sáng nay. Ông tên Campana, người gốc đảo Corse. Đại đội này đúng ra do Đại úy Dunez, nhưng ông này đi phép về Pháp mà ông Campana đang xử lý quyền chỉ huy.
 
Ông Campana rất có thế lực trong đơn vị lúc bấy giờ, vì nghe đâu cha ông là một Đại tá đang chỉ huy quân sự thành phố Ba Lê.
 
Ông Campana người rất nóng tánh, nhưng rất tốt, mà trong dân chúng thường gọi ông là “Quan hai mặt ngựa”.
 
Đơn vị này thuộc trung đoàn lính Ma Rốc, đóng Bộ tư lệnh tại Vĩnh Điện chịu trách nhiệm cả tỉnh Quảng Nam.
 
Vừa đúng một tuần sau, có lệnh tham dự cuộc hành quân tại La Thọ, một vùng nổi tiếng Cộng Sản dữ nhất Quảng Nam.
 
Đây là một cuộc hành quân có tính cách trả thù, và cũng để làm yên lòng, hay nói đúng hơn là củng cố tinh thần đám lính người Ma Rốc. Nghe đâu hai tên lính Ma Rốc giữa lúc trưa đã rời đồn Phong thử, đi dọc theo đường xe lửa để tìm gái hãm hiếp. Hai tên lính này đã bị đám du kích bày cho một phụ nữ của chúng dụ vào xóm bắt yên lặng, không một tiếng nổ. Họ cho dẫn hai tên lính ra đến La Thọ rồi trói lại”cắt” cả bộ đồ nghề, thả xác cho trôi theo cầu Đỏ, để đồn lính Quá Gián nhận lấy xác, mà đồn lên cho nản chí.
 
Quân đội Pháp chủ trương cuộc hành quân trả thù và làm cho đám lính Ma Rốc không nản tinh thần chiến đấu. Họ huy động một lực lượng khá hùng hậu, vì dĩ nhiên họ thừa biết La Thọ là vùng mật khu quan trọng của du kích Quảng Nam.
 
Cuộc hành quân được sử dụng một Thiếu úy thông ngôn, nên lúc ấy tôi đi theo đơn vị đại đội 2 này cũng chỉ là tham dự lấy lệ và có tính cách vừa tập sự, vừa để họ nhận xét.
 
Biết rõ điểm này, dù lúc ấy còn quá trẻ, cũng chưa có được bao nhiêu kinh nghiệm, nhưng trên đường đi ra La Thọ, tôi đề nghị quan hai Campana nên để lại một tiểu đội, nằm ngay trên đường hỏa xa. Tôi giải thích là địch thấy ta đi ra, thế nào những đơn vị hoặc cá nhân còn núp lại sẽ kéo vào Nam, đấy là cơ hội cho ta truy pháo. Quan hai suy nghĩ một hồi rồi tỏ ra khen ý kiến hay, để lại một tiểu đội, còn tất cả kéo về La Thọ.
 
Đến La Thọ, lần đầu tiên trong đời tôi kinh khủng chứng kiến một cảnh hãi hùng không tả. Cả đoàn hành quân gom tất cả số thanh niên trai tráng đã bắt được, từ 4 mặt, khoảng 30 người. Tôi đi lần lại để nghe anh Thiếu úy thông ngôn làm việc, như rút kinh nghiệm.
 
Họ hỏi những người bị bắt có biết “Việt Minh” trong vùng ở đâu không. Tất cả đã trả lời không, chỉ trừ 4 người trả lời chỉ biết “nhà” chứ không rõ nay họ chạy về đâu.
 
Thế là số người trả lời không biết bị đưa lại quỳ sấp mặt vào một gò mả lớn. Họ hô 10 tên lính Ma Rốc chạy lên như sau này ta thường thấy các cuộc xử bắn trên phim trường. Theo lệnh viên chỉ huy cuộc hành quân, súng nổ ngay vào đám người quỳ. Tất cả đã chết. Nhưng đâu phải thế đã yên!
 
Họ hô thêm một lệnh khác, thế là đám lính ấy cùng rút “mã tấu” chạy lên “chặt đầu” những người “xấu số”.
 
Chưa hết!
 
Họ bắt nhưng người già yếu đứng bên từ nãy giờ đến ôm tất cả nhưng đầu của người chết dồn lại.
 
Khủng khiếp quá, tôi giả quay lưng về nơi đơn vị đang đứng, cốt khỏi chứng kiến cảnh hãi hùng này thêm. Trong đám Ma Rốc chung quanh, có những tên đã rống khóc vang rền, không hiểu vì khiếp đảm cảnh ấy, hay vì nhớ đến hai tên bạn của họ.
 
Cuộc hành quân được lệnh chấm dứt, và đơn vị tôi lại theo đường cũ trở về. Khi ngang qua chỗ đã để lại tiểu đội khi sáng, Trung úy Campana được báo cáo là một toán lính Việt Cộng từ ngoài kéo vào hướng Nam như tôi dự liệu khi sáng. Tiểu đội phục kích đã nổ súng, nhưng vì xa quá không biết kết quả ra sao. Nhưng dù sao thì họ cũng báo cáo về cấp trên xem như đấy là một thành công.
 
Ngay hôm sau, không biết từ lệnh cấp trên hay Trung úy Campana tự động đã báo Trung sĩ đại đội cung cấp cho tôi huy hiệu xem như được chính thức là Hạ sĩ quan Thông dịch trừ bị (Sergent Interprete Auxiliaire) với quyền lợi như một Trung sĩ.
 
Mấy hôm sau đơn vị lại được lênh xuất phát hành quân về vùng Gò Nổi, tức làng quê tôi, đại đội Trung úy Campana được lệnh đi tiền tiêu.
 
Lúc cuộc hành quân còn cách làng độ mươi cây số, ngang làng Đông Bàn (quê cụ Phạm Phú Thứ) tôi gặp một người quen cho biết gia đình đã dọn về nhà cũ ở Bảo An. Khi đoàn quân vừa đến cuối làng, tôi chạy nhanh về xem gia dình ra sao, thì ôi thôi! Đồ đạc ngổn ngang, không một bóng người!
 
Linh tính như báo trước một cái gì chẳng may!
 
Đi nhanh vào xóm trong, cách nhà khoảng trăm thước ghé vào nhà bác Mười Lớn, người mà trước đây tôi rất được thương yêu, người mà mỗi lần tôi xin Bác viết cho câu đối hay bức trướng để dùng trong các trường hợp “quan hôn tương tế.”
 
Ông đang lo sợ đám lính Ma Rốc nổi tiếng càn quét, vừa thấy tôi mừng quá chạy ra ôm chầm lấy tôi. Nhưng ông như nhớ ra điều gì, đã khựng lại, và “khóc!” Ông khóc lớn:
 
-         Cả gia đình con đã bị bắt dẫn đi lên núi cả rồi!
 
Nhưng ông như lo sợ bọn họ còn núp lén đâu đây, nên im ngay, và chỉ nói nhỏ vào tai tôi “tên hai người” đến bắt dẫn đi hôm ấy.
 
Tôi lặng cả người. Không còn khóc được nữa.
 
Tay chân như rã rời, không đủ sức đi gượng thêm được.
 
Sau khi nghe tường thuật, Trung úy Campana bảo tôi hãy leo lên sau xe “jeep” của ông mà nằm.
 
Cuộc hành quân được tập trung từ bốn mặt lại ngay sân vận động, và nhìn qua tôi thấy khoảng trên trăm người đã bị bắt.
 
Trung úy Campana lại an ủi và cho biết rằng theo lệnh Đại tá Chỉ huy từ Đà Nẵng điện vào giao tất cả số người bị bắt cho tôi quyết định.
 
Tinh thần đã bủn rủn, nhưng sau này nghĩ lại tự khen mình lúc ấy còn sáng suốt để nghĩ đến hai hoàn cảnh khiến không vì quá “bức xúc” mà làm bậy.
 
Tôi thường được bác Thừa hai dẫn đi chùa mỗi tối, đã quy y với Ngài Thích Đôn Hậu và được mang pháp danh Tâm Hiệp, nên luôn luôn lòng dặn lòng, chẳng dám làm điều ác. Tôi lại cứ nghĩ rằng khi đau khổ mình làm “bậy” ngay lúc ấy chẳng ai nói gì, nhưng sau này ăn nói sao với bà con làng xóm. Tôi chỉ nghĩ như vậy! Chứ lúc ấy tuyệt nhiên không có mảy may nào nghĩ đến chuyện gia đình sẽ bị Cộng Sản làm gì. Sau này nghĩ lại tôi vẫn thường không tìm ra giải đáp cho một ý nghĩ kỳ lạ trong tôi vào thời ấy!
 
Đi một vòng nhìn kỹ số người bị bắt!
 
Khá đông cha, anh của đám cán bộ và xã đội của họ có mặt trong đám này.  
 
Điểm đáng nực cười trong khi lòng tan nát, là lính dẫn lại cho tôi anh Nguyễn Tý, người hàng xóm mà ở một đoạn có kể đến chuyện anh vào đối chất trước Phó Ty công an Trình Quang Xuân về vụ quả lựu đạn đem về từ Tuy Hòa với tôi.
 
Tên lính hổn hển kể lại rằng chú ta đuổi theo anh Tý khá xa, cho đến khi anh chạy vào một nhà bên đường, núp sau bàn thờ, y chụp được. Tôi đã có cảm nghĩ đám lính thường kể chuyện ra khó khăn, quan trọng để lấy công, nhưng cũng trách anh Tý tại sao chạy dữ vậy. Rồi tôi nhẹ nhàng nói nhỏ:
 
-         Nếu kể chuyện ngày xưa thì nay tôi giao anh cho họ, chắc anh phải chết, hay sẽ bị đưa về trại ở tù. Nhưng anh cứ yên tâm, tôi sẽ tha anh, không sao đâu!
 
Anh cúi lạy vì mừng quá, nghĩ đến hai sự kiện, hết mong sống (anh Tý nay còn sống gần chợ Gò Vấp, tôi có ghé thăm trước khi sang Hoa Kỳ); tôi bảo anh đứng lên, đừng lạy lục!
 
Lên một “bục” cao để nói chuyện với số người bị bắt.
 
-         Tôi thấy rõ tất cả các bác, các chú, các anh. Tôi cũng biết trong số này dĩ nhiên không có cán bộ cao cấp, nhưng cán bộ cơ sở thì không ít, và nhất là gia đình của những người làm lớn!
 
-         Tôi được lệnh quyết định số mệnh của tất cả, vì gia đình tôi đã bị bắt giải lên núi từ mấy hôm nay. Nhưng nay sẽ cho tất cả về. Các bác về bảo lại họ rằng nếu không hiểu được lòng tôi, không biết được hoàn cảnh tôi, thì bắt được “tôi” làm gì cứ làm. Gia đình tôi vô tội, cũng như các bác hôm nay… phải thả gia đình tôi ra, nếu vẫn quyết đày đọa gia đình tôi, thì trong nửa tháng nữa tôi sẽ không chịu thua nhau trong dịp khác.
 
-         Tôi rút trong túi ra một con dao, cắt ngay ngón tay trỏ, máu chảy – và thề giữa đám người không bao giờ chịu thua nhau.
 
-         Sống tại đồn Bất Nhi chỉ không hơn một năm nhưng khá nhiều chuyện đã xảy ra mà tôi chẳng bao giờ quên được.
 
Việc trước hết là sau đấy mấy hôm đại đội nay đi tuần thám trong vùng. Họ vào làng Bảo An, nơi đây có hai gia đình ông Chánh Chước và Nghè Mai giàu có tiếng. Khi viên Trung úy Guignard, phụ tá đại đội thấy trong nhà này có một thanh niên học hành khá, nói tiếng Pháp rất lưu loát. Đấy là anh Lê Thúc Gia, một thi sĩ có tên tuổi với bút hiệu Tô Như. Ông Guignard lý luận rằng một thanh niên như vậy lại không về thành phố, mà ở thôn quê hẳn phải cộng tác với Việt Cộng, chứ đời nào chúng chịu để anh yên. Ông bắt anh về đồn để hỏi.
 
Tôi phải giải thích cho ông ấy hiểu rằng loại trí thức mà lại là địa chủ không bao giờ Cộng Sản dùng, chưa nói là họ cũng không bao giờ chấp nhận chủ thuyết Cộng Sản được. Nếu có chăng gia đình anh phải đóng thuế hay ủng hộ bọn chúng, mà đấy là việc đương nhiên. Nếu ta không để cho số này ở lại thì họ về thành ngay, và như vậy là ta không tự tin mình. Ta phải để số này ở nông thôn, làm tai mắt cho ta. Có chăng chính Việt Cộng mới không cho số này ở, vì họ thấy rõ ràng sự thua thiệt về phần họ.
 
Sau một hồi nghe tôi phân tách ông Guignard cho là đúng, vui vẻ nói chuyện với anh Gia khá lâu. Lúc sắp từ giã nhau, tôi hỏi anh xem trong nhà có bị đám lính lấy cắp gì không cho biết, tôi sẽ nói ông Guignard lục lấy trả lại anh.
 
Anh Gia và gia đình xem một hồi, cho biết mất một bó vải mới mua về, để trên trần mùng. Tôi nói lại và được ông Guignard cho tập trung đội lính Ma Rốc trước sân cho người Trung sĩ xét. Trong khi ấy tôi đi quanh vào nhà xem quanh quẩn may ra họ dấu trong hóc cửa, gầm bàn chăng. Vừa giở cánh cửa ra, đã giật mình khi thấy một gói vàng và ngọc thạch to độ bằng quả bưởi nhỏ đang thu dấu vào đấy. Tôi đem ra hỏi anh Gia, có mất gói này không.
 
Anh Gia và ba anh hốt hoảng cho biết rằng gói này dấu dưới một cái rương nặng không ngờ họ đã tinh ranh bưng cả cái rương lên để tìm của quý thu dấu dưới ấy.
 
Ông Guignard xem qua rồi trao lại cho anh, tôi mừng giúp anh, nhưng khi đi ra còn dặn thêm rằng anh nên đem ngay ra xa, trong khi chúng tôi ra khỏi nhà, bởi sợ tên có ý trộm của kia sẽ quay lại.
 
Câu chuyện này sau lại còn hai hậu quả khá lý thú. Khi về đến đồn, tên Trung sĩ có dạy tôi một bài học kinh nghiệm là lần sau có trường hợp ấy thì nên nói riêng, đừng cho tên lính tham của kia biết. Nó biết như thế sẽ oán hận, và rồi trong một cuộc hành quân khi chạm địch nó sẽ thừa dịp sát hại mình. Tôi cảm ơn anh Trung sĩ ấy và ghi nhớ chẳng quên. Hậu quả thứ hai, là đến khoảng năm 1951, khi tôi dang phục vụ tại Đông Hà, nhân thấy một người gởi thơ cho tôi – vì lúc ấy anh về thành và làm việc ở bưu điện Đà Nẵng – anh Gia đã nhận biết địa chỉ tôi, viết một lá thư vô cùng cảm động gởi tôi. Anh cho biết là nhờ số của ấy gia đình anh đã về Đà Nẵng. Trong thơ anh hết lời “ca tụng” mà tôi khó quên là anh đã nhấn mạnh trường hợp của chiến tranh, hoàn cảnh của “vàng thau lẫn lộn” ấy mới thấy được giá trị của một hành động có ý nghĩa.
 
Tôi không hãnh diện mà xem lá thư như một khích lệ để trên đường còn khá dài giữ được cho đến phút chót!
 
Vài hôm sau, vào một buổi trưa khi bước xuống thang gác, bởi ngủ trên lầu, tôi thấy một tập sách in bằng “ronéo” để trên đầu tủ. Nơi này tôi thường ngày lên xuống nhưng sao hôm nay lại có quyển sách?
 
Tôi nghiêng đầu dòm, thấy đấy là tập sách quan trọng dành cho người chỉ huy xem.
 
Tò mò, tôi cầm nó trở lên gác, bởi thấy trong nhà chẳng có ai, vì chắc họ đang đi về tỉnh hay làm gì ngoài sân, không ai chú ý.
 
Tôi hấp tấp định xem xong sẽ trả lại chỗ cũ.
 
Lật vội vào trong thấy phân tách những trường hợp “THÂN THÙ” tôi tìm ngay thấy họ giải thích về Việt Nam Quốc Dân Đảng. “Đây là một đảng phái quốc gia chống Pháp”. Nhưng lại triệt để chống Cộng Sản. Bởi lẽ ấy trong trường hợp trừ Cộng Sản thì nên tin họ, nhưng đối nội phải dè dặt tối đa.”
 
Như vậy đủ rồi! Tôi nghĩ thế, và đem sách để lại chỗ cũ.
 
Qua ngày hôm sau quyển sách được di chuyển nơi nào, không thấy nữa. Tôi nghĩ, biết đâu ông Campana hay ông Guignard đã cố tình cho tôi đọc!
 
Câu chuyện trên lại phù hợp với một chuyện khác càng làm tôi suy nghĩ, nhưng tuyệt đối không để lộ nỗi lo lắng, băn khoăn của mình cho những tay chỉ huy Pháp biết.
 
Đấy là trường hợp một anh vừa vào làm thông ngôn cho đồn Phong Thử. Đồn Phong Thử có một trung đội trực thuộc dưới quyền của đại đội 2 này.
 
Một buổi sáng khi nói chuyện với nhau tôi mới hỏi anh và được biết anh là con ông Học Ngôn ở La Thọ, ông Học Ngôn nổi tiếng về Đông y.
 
Anh đã đậu Diplome, và có theo học lớp huấn luyện viên thể dục Phan Thiết.
 
Sau đấy nghe đâu anh đã bị Pháp bắn chết vì nghi anh làm liên lạc cho Việt Cộng khi đồn này định đi ruồng bố phá chợ Đông Quan do Việt Cộng tổ chức. Lúc bấy giờ trường hợp này luôn xảy ra, nhất là Việt Cộng chơi trò phản gián để Pháp bắn những thông ngôn, mà họ mệnh cho danh từ là Việt gian. Vào năm 1950 say này khi tôi làm tại Cam Lộ Quảng Trị đã suýt chết vì trò này của Cộng Sản.
 
Cũng tại đồn Phong Thử này, đến nay vẫn khó quên một ray rứt mà tôi luôn bị ám ảnh như chính mình cũng phải chịu một phần về cái chết của anh bạn người làng Thi Bồ.
 
Hôm ấy nhân theo Trung úy Campana thăm các đồn nhỏ thuộc quyền chỉ huy của đại đội 2, lúc ra vừa đến ngõ trại để trở về, gặp đội tuần tiễu của đồn sau khi đi tuần thám quanh vùng có bắt theo một thanh niên. Anh này vừa thấy tôi đã vô tình cúi mặt xuống, tôi cố nhìn xem. Viên đồn trưởng hỏi theo tôi “có biết anh ấy làm gì không?” Vì theo anh đồn trưởng này thì khi bắt được anh có nhiều hành động đáng khả nghi, Tôi chỉ trả lời qua rằng anh này
hình như có làm cho Việt Cộng, nhưng ở cấp “thấp”.
 
Điều quan trọng là lúc ấy, thời điểm ấy, tôi chỉ có nói được đến thế nếu tôi không ác tâm, nhưng cũng không dám bảo đảm gì nhiều cho anh, khi mà tôi không rõ đến độ hoàn toàn của 100%. Đấy là nguyên tắc mà như đã có nói trong trang trước của tình trạng “thông ngôn” đang bị Việt Cộng ly gián đủ cách, và Pháp thì sẵn sàng bắn chết không cần phải truy cứu cẩn thận.
 
Sau đấy hai hôm trong một cuộc hành quân đi ngang nhà ngoại, khi thoáng gặp cậu tôi, ông đã trách sao không cứu anh ấy, bởi lẽ anh ấy chỉ làm thôn trưởng Việt Minh “bất đắc dĩ” như ông Tham Lưu làng tôi.
 
Tôi vô cùng hối hận về sự việc này, mà đến những ngày gần cuối cuộc đời kiểm điểm lại các ưu khuyết không sao bào chữa được cho mẩu chuyện trên.
 
Rồi đến một hôm, được theo xe về Hội An chơi, vì nơi đây thuộc đại đội  khác nhưng cũng cùng tiểu đoàn.
 
Vừa bước vào cửa, tôi không thể nào tránh chứng  kiến một cuộc tra khảo vô cùng dã man chưa từng thấy hoặc nghe ai kể. Dù muốn quay ra cũng khó, và để tránh họ thêm nghi ngờ trước lòng mình còn chút lương tâm, và nhân đạo, tôi giả tảng như không gì đáng quan tâm.
 
“Một tù nhân to lớn và đen đủi như người miền biển đang bị viên sĩ quan tình báo của đại đội và anh thông ngôn tra khảo. Họ dùng bàn ủi điện chụp lên người anh, chụp đến đâu là da thịt phồng to lên. Nạn nhân oằn oại như con sâu bị bỏ vào trong lò lửa. Rõ quá khiếp. Nhưng nạn nhân chỉ kêu la, rồi im lặng chịu đựng.”
 
Tôi cảm thấy quá khiếp sợ, nên quay ra rủ tên Trung sĩ Pháp cùng đi dạo phố.
 
Hội An ngày nay, sau những tháng ngày chinh chiến buồn ơi là buồn. Hầu hết đã tản cư, chưa mấy người trở về. Bạn bè biết còn lại những ai mà tìm
thăm, ngoại trừ anh bạn làm thông ngôn khi nãy, trước có biết nhau, nhưng phần thấy anh đang công tác, phần cảm thấy anh chẳng còn được chút lòng của con người hiền lành như ngày xưa, nên nghĩ lơ đi cũng là vừa!
 
Lần theo bờ sông, đi về phố chợ. Sông Hội An chẳng còn cảnh ghe thuyền từ các xã miền quê cập bến để lên phố mua hàng, rồi chờ đến gần trưa, ngọn gió “nồm” bắt đầu thổi, mới thuận buồm tách bến, trong khi các chị bán hàng rong, các xuồng con bán thức ăn bám sát rao bán nào mì, nào cháo… của phố Hội ngon lành ngày xưa ấy.
 
Dừng lại trước cửa nhà Sen, người bạn gái và cũng là mối tình đầu, chỉ để nhớ thương, cho dĩ vãng. Nhìn dòng sông, nước chảy vô tình ra cửa Đợi, như đỡ nhớ thương cho một thời thanh niên “lả lướt” nay còn đâu?
 
Cửa nhà Sen vẫn đóng kín, như chưa ai hồi cư.
 
Tôi ngồi trước thềm, như chẳng còn nhớ tự lúc nào! Thật là da diết!
 
Chợt gặp ngay hai anh bạn Tỉnh và Mai. Nguyễn Hữu Tỉnh và Lê Mai. Mừng gặp lại nhau, nhưng cả hai anh đã từng biết chuyện “tình” của tôi và Sen, mà ngày ấy anh em thường tặng cho danh hiệu “Mối tình đẹp nhất Hội An” nên họ nhìn tôi như thương hại.
 
Sau vài chuyện hỏi thăm nhau, nhờ hai anh “khi nào biết Sen trở về làm ơn tin cho biết”. Tôi trao hai anh số bưu cục, rồi từ giã nhau, bởi cũng vừa được người báo cho biết có lệnh trở về đồn.
 
Gợi lại chỉ thêm tan nát cõi lòng chứ nào có ích gì, thế mà tôi lại là người thích thế, bởi ít khi chịu quên đi dĩ vãng một cách dễ dàng.
 
Trở về đồn, ngay ngày hôm sau, một câu chuyện đau lòng khác lại xảy đến. Trời vừa sáng, cậu “Út” đã chạy báo lính gác cho gặp tôi. Ông cho biết đêm qua công an Việt Minh do tên Thám, nguyên thợ hớt tóc ở chợ Phong Thử đã đến bắt và dẫn đi mất người cậu thứ sáu ( 6). Cậu Sáu thường gọi là cậu Ngọc, ngày xưa đứng bán cho tiệm Morin Freres ở Đà Nẵng, bởi ông biết tiếng Pháp khá thông thạo.
 
Theo cậu Út thì tên Thám này nổi tiếng giết người không gớm tay. Y là một tên “du thủ, du thực” đĩ thõa, rượu chè, nên công an Việt Minh dùng y vào công tác này khá đúng chỗ.
 
Hỏi rõ câu chuyện, Trung úy Campana cho biết là nay dù muốn cứu thì cũng trễ rồi, bởi chúng bắt từ đêm hôm, nay đã dẫn đi mất xa, biết đâu mà truy đuổi.
 
Thế là cậu Út đành ra về, Nhưng hai hôm sau cậu cho biết đã tìm thấy xác cậu Ngọc bị chúng bắn chết dưới gầm cầu Bầu Sấu, nơi mà tước kia tôi đã từng nhảy tàu nhân một chuyến đem báo Việt Nam và Chính Nghĩa từ Hà Nội về.
 
Lại thêm một ân oán với Cộng Sản trong đời. Buồn vô kể, nhưng còn biết làm gì hơn.
 
Với bao nhiêu đau buồn, nhất là những tên Việt Cộng mình đã hiểu rõ chúng, cũng như trước những mơ màng khi nghĩ đến lời “thề” đã qua, mà Cộng Sản nhất định không tha cho gia đình, bao cảnh cực khổ, me, chị, em, con gái đang gánh chịu, tôi chưa tìm ra lối thoát. Thì được tin cả Trung đoàn đổi ra Quảng Trị.
 
Chỉ có cách này may ra mới êm thấm, vì tôi thừa hiểu Cộng Sản không phải là đám người để tôi hay bất cứ ai còn nghĩ đến hai chữ “nhân đạo”, còn mong để họ dành cho mình một lối thoát!
 
Theo đoàn quân di chuyển ra đi trong một ngày đau thương vô hạn.
 
Cuộc đời mang tiếng làm Việt gian, nhưng thật khá nhiều đau buồn khác cứ tiếp theo, không sao quên được ! Tôi cứ nghĩ hai tiếng “lương tâm” và phó mặc cho thế gian lúc nghĩ rằng khi đậy nắp “áo quan” tha hồ xét “công hay tội.”
 
Trong chuyến chuyển quân về Quảng Trị hôm nay lại được thêm một lần ray rứt. Lương lậu chẳng bao nhiêu, vì tôi còn đang trong tình trạng “dự bị” – auxiliaire, chứ chưa vào ngạch – assimilé, nên hằng tháng chỉ nhận được 300$00.
 
Lúc xe chạy ngang Huế, dừng lại một ngày tôi được dịp ghé thăm anh Phan Ngô, một đồng chí như đã có nói ở đoạn trước, khi cùng trong tỉnh bộ Quốc Dân Đảng Quảng Nam.
 
Thấy gia đình anh quá nghèo, tuy làm báo. Gia đình ngủ trên bộ ván bóng bàn, cơm nước quá đạm bạc, lòng áo não, nhưng đành ngậm miệng làm thinh – tự nghĩ “bạn nghĩ sao tùy ý!”
 
Đoàn xe về đến Quảng Trị, đại đội 2 được chỉ định lên huyện Cam Lộ, đóng tại trường tiểu học, thay cho một đơn vị lính Lào.
Thật là tuổi trẻ, nhiểu nông nổi đáng trách!
 
Khi đoàn lính Lào rút đi, một anh thông ngôn ở lại phục vụ với đơn vị 2.
 
Chắc vì anh bạn cũng còn trẻ như mình, nên hai gà con cứ gờm đá chẳng chú nào chịu nhường nhau. Anh bạn tên Khôi. Trong đơn vị tôi thì nay viên Đại úy Duriez đã hết phép trở lại phục vụ, và khi ông này thấy Trung úy Campana quá nhiều cảm tình với tôi, nên ông ta nắm lấy cơ hội, tin cậy mà “ra mặt” nâng đỡ anh bạn Khôi quá độ.
 
Vì lẽ trên, giữa tôi và anh Khôi càng hiềm khích ra mặt.
 
Biết được một ẩn ý, anh thường dung túng cho viên huyện trưởng Cam Lộ làm những điều “tác tệ” đối với dân chúng quanh vùng, nhất là mỗi khi bị đoàn quân này hành quân càn quét, tôi nghĩ cách tố cáo để lật đổ họ.
 
Trong lúc ấy được biết anh Phan Khoang, một đàn anh ngày xưa trong Việt Nam Quốc Dân Đảng Quảng Nam hiện đang là chủ nhiệm tờ báo Việt Nam Mới tại Huế, nên vào kể anh nghe cả câu chuyện để nhờ anh đăng tải trên báo xin giải quyết trường hợp ông huyện trưởng bê bối này. Kết quả làm anh Khôi chẳng vui mà còn nhớ giận mãi khá lâu về sau.
 
Anh giận tôi cho đến một ngày khá lâu, khi anh về làm lớn tại Đà Nẵng và trong một dịp công tác ghé đây được anh Nguyễn Rô, đang làm Giám đốc  Thông Tin rõ biết mọi chuyện như vừa kể, bàn tôi sẵn điện thoại trong nhà gọi xem anh còn giận không. Tôi vừa nắm điện thoại, chuông reo, vừa xưng
tên xin nói chuyện là anh “cúp” máy ngay. Tôi bật cười nói cho Rô biết anh còn giận chẳng tha mình đâu mà hòng xin “xí xóa”.
 
Đời là vậy! Chẳng biết ngày nay anh cũng đang định cư tại Mỹ, còn giận mình chăng? Tôi lại nghĩ đến lương tâm, mà tự an ủi bằng hai tiếng “tình đời” vậy.
 
Trong lúc đang còn ở Cam Lộ, một hôm có quân cảnh Pháp vào trình giấy tờ với Trung úy Campana để bắt tôi giải về địa phương vì “mật lệnh”.
 
Tôi vô cùng ngạc nhiên, nhưng chẳng biết nói gì hơn, đứng chờ đợi.
 
Trước khi giao tôi cho quân cảnh, Trug úy Campana ghi rõ vào giấy yêu cầu “nếu Phan Vỹ có tội phải được đưa ra tòa chứ không được xử lén” ý ông lo ngại họ sẽ thủ tiêu tôi. Và ông buồn rầu khuyên tôi vui vẻ theo họ, cứ yên tâm có ông theo dõi vụ này!
 
Đây là lần tù thứ BA trong đời.
 
Quân cảnh dẫn tôi lên xe về Quảng Trị, ghé lại phòng nhì Pháp. Tại đây làm xong thủ tục, họ chuyển giải tôi về Huế.
 
Đi ngang qua Huế lần này tôi chán nản cảnh đời một cách khó tả. Không còn thấy gì thơ mộng, chẳng thấy gì đáng yêu, chẳng chú ý dù xe chạy ngang cầu Trường Tiền, dù cảnh nhộn nhịp của bờ sông Hương Giang với chợ Đông Ba thuở nào từng lưu luyến.
 
Họ đưa thẳng vào lao cạnh nhà ga giữ một đêm, rồi hôm sau nhận ra đưa về Đà Nẵng. Lại “bót con Gà,” nơi mà trước đây mới nghe đến tên đã phải “ớn lạnh” dù chẳng có tội tình gì.
 
Ở Đà Nẵng một đêm họ áp giải về Gò Nổi, nơi quê hương mà Phú Bông là nơi có một đồn lớn của Pháp.
 
Bạn bè trước làm tại đây có anh Bửu Qua, nay đã đổi nơi khác, mà người thông ngôn đưa tôi lên gặp viên Trung úy Pháp, chưa từng quen.
 
Tôi nghĩ, thế là việc sẽ đến đã đến!
 
Anh thông ngôn dẫn tôi gặp viên Trung úy Pháp tại đồn này. Và cũng như ngày mới bị Pháp bắt, anh hỏi tôi cần nói chuyện trực tiếp với Trung úy không. Tôi cũng lại nguyên tắc ngày xưa, vì không muốn tỏ ra mất cảm tình với anh mà viện cớ mấy hôm nay buồn rầu và quá chán nản, nên xin anh thông dịch giúp.
 
Anh dịch lại cho viên Trung úy Pháp rồi bắt đầu hỏi:
 
-         Anh có liên lạc với Việt Cộng để mong gởi gấm gia đình anh không?
 
-         Xin lỗi ông, vậy gia đình tôi bây giờ ở đâu? Nếu tôi muốn cứu gia đình tôi thì tại sao không ở lại quê nhà mà phục vụ, lại theo đơn vị ra tận Đông Hà làm gì, bởi chính đơn vị cũng không bắt tôi phải theo ra đi.
 
Họ chưa nói gì thì tôi vặn thêm:
-         Chắc quý ông phải biết gia đình tôi hiện đang bị giam giữ tại đâu và ra sao rồi. Và, chắc quý ông không lạ gì trò ly gián để giết thông ngôn là kẻ thù của họ!
 
-         Từ ngày gia đình bị bắt, anh có tin tức hay liên lạc gì không?
 
-         Tôi đã cắt tay chảy máu thề vói họ, nhưng họ không cần đáp ứng gì, mà lại còn giết thêm của tôi mất một ông cậu tại La Nang trong khi tôi đang ở đồn Bất Nhi, Điều ấy chắc các ông có tài liệu?
 
Thấy tôi trả lời rất tự nhiên, không ấp úng, và chắc họ cũng có tài liệu, nên dù Việt Cộng ly gián họ cũng chưa đủ tin.
 
Họ cho tôi xuống trại và ngày hôm sau trả tự do, cho tôi trở về đơn vị Cam Lộ.
 
Câu chuyện này sau tôi mới rõ ra rằng công an Việt Cộng cho một người phụ nữ là con chiên của Cha Tường ở La Nang, nhân trong khi về thăm Cha, thừa lúc ngủ giả đánh rơi một lá thơ trong túi, Người nhà Cha Tường lượm được trình Cha. Và khi xem thấy trong thơ là công an quận Điện Bàn tên DA đã trả lời cho tôi về việc “gởi gắm gia đình cho y – y khuyên tôi yên tâm, y hứa bảo bọc cho, miễn tôi phải giữ lời hứa (!).”
 
Thật là một lối làm việc vô cùng tắc trách của Pháp lúc bấy giở, mà như tôi đã có nói, lắm thông ngôn chết vì trò này của Việt Cộng.
 
Tôi nghĩ thật quá may! Nếu tôi không theo đơn vị ra Quảng Trị, nếu Việt Cộng cao tay “ấn” thả gia đình tôi ra thì tránh đâu khỏi bị Pháp sát hại?
 
Trở lại đơn vị lần này, anh bạn đồng nghiệp tên Khôi đã có nói, theo học sĩ quan Đà Lạt, còn tôi được chuyển về Đông Hà, một thành phố nhỏ của tỉnh Quảng Trị.
 
Tại đây có chánh quyền Việt Nam do một bang tá và nhiều chi sở. Tôi bắt đầu quen với anh em tại các chi và cũng vì nguyên nhân này tôi gởi thơ xin học lớp hàm thụ trường Trinh thám ở Paris 8ème. Một thời gian không lâu sau nghe tin hầu hết các Trưởng ty an ninh (tức công an sau này) theo học đểu phải rút lại hồ sơ không được tiếp tục. Trong khi ấy không ai đả động gì đến tôi, bởi lẽ tôi học theo Quân bưu cục của Quân đội Pháp (Secteur Postale) mà sau này hiểu ra là bởi trường này thuộc cánh tả tại Pháp.
Một minh chứng làm tôi tin chắc là nguồn tin trên đúng, bởi lẽ trong một bài khảo sát có đề tài “Anh hãy kể lại một lỗi lầm nào đã phạm phải trước đây, mà anh thấy đáng ân hận !” Trong bài này tôi đã nhắc lại cái ngày vừa được Pháp cứu thoát và vị sĩ quan Pháp hỏi tôi có ở lại làm thông ngôn cho đơn vị ông không, tôi đã nhớ đến câu Kiều “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu” đề luôn tự đặt câu hỏi trước mình “Phải chăng ta đã làm Việt gian ?” Và, đã hối hận khi gia đình bị gian nan tù đày bởi Cộng Sản. Thì, khi bài trên được nhà trường trả lại với lời phê “Mọi việc cần cân nhắc kỹ chứ không bao giở được LIỀU để chuốc lấy hối hận” tôi chẳng bao giờ quên.
 
Nhưng việc đời là vậy ! Cũng bởi theo học, tôi đã áp dụng nhiều nguyên tắc để thử thách về tâm lý thì chính những đồng nghiệp tôi về sau đã có bằng chứng buộc tôi thân Cộng Sản (sẽ nói rõ trong thời gian sau, khi sắp phải thôi nghề tai ác này) chứ không kể rằng chính ngày nay sau hơn mươi năm
tù Cộng Sản tôi mới thấy rõ cái lý luận ngày xưa đã đưa ra không phải “không có cơ sở”. Ngày ấy, bởi thấy người Pháp được sự hỗ trợ của anh em thông ngôn chỉ dùng biện pháp “tra khảo” mỗi khi cần lấy cung, lấy tin tức, thì tôi đã không tán thành mà đơn giản nghĩ rằng “tại sao ta không dùng tình cảm, để cảm hóa họ, để họ chịu khai thay vì đánh đập tra khảo”. Cái lý luận của tôi đã bị áp đảo bởi anh em, nhất là một người nay đã bị chết trong trận Thanh Hương, Ưu Điềm (Quảng Trị) xin khỏi nhắc lại. Nay thấy Cộng Sản đã áp dung một mưu mô thâm độc, nhằm vào khủng bố, lừa gạt, nhưng họ cũng đã thành công vì chẳng mấy người dấu diếm được với họ.
 
Trong câu chuyện vừa kể, tôi khó quên một hôm đơn vị tại đây bắt được một anh Đại đội trưởng Vệ Quốc Quân, mà tôi xin với viên Thiếu úy Nicos, người có đạo Tin Lành là cho tôi thử áp dụng nguyên tắc tâm lý học được ở trường xem sao. Tôi trình bày là tôi sẽ dẫn anh đi phố, cho anh ăn tiệm, cho mua thuốc hút tha hồ với thủ thuật là tôi nói với nhiều người quen, chức vụ trong kháng chiến của anh, rồi sẽ tha anh. Tôi sẽ cho mật báo viên theo dõi xem Việt Cộng xử trí ra sao. Thiếu úy Nicos đồng ý, tôi đã thực hiện kế hoạch trong một tuần lễ sau rồi trả tự do cho anh.
 
Ngay lúc được ra về đến mật khu, mật báo viên cho biết anh phải thuyên chuyển đơn vị khác, tận miền Bắc, không tin tức gì thêm.
 
Đại loại những mẫu chuyện như trên Phòng nhì tại tỉnh do anh bạn vừa nói trên đã chụp lên tôi thành một hồ sơ thân Cộng, mà sau này họ mới chờ đợi khi thêm nhiều bằng chứng cũng như khi tôi hết hợp đồng sẽ bắt.
Tôi bắt đầu quen biết một gia đình người Trung Hoa, thì nhiều bạn bè trong chính quyền Việt Nam, nhất là Bang Tá và Trưởng Chi công an quyết giúp tôi làm rể gia đình này. Họ có lòng như vậy bởi tôi đã nhiều lần giúp đỡ cho dân chúng trước nhiều sách nhiễu của lính Lê Dương và Ma Rốc có lợi cho dân chúng. Họ nghĩ rằng tôi ra đi, đổi nơi khác là điều đáng tiếc.
 
Gia đình này còn hai cô chị chưa có chồng nên ý tôi xin cưới cô em thứ ba là điều chưa mấy dễ dàng, dù tôi có khá nhiều người giúp sức.
 
Đây là cả một thủ thuật mà không chỉ bên ngoài giúp sức, bà con giúp sức, cuối cùng tôi được chính ngay cả hai cô chị sẵn sàng yểm trợ, giúp sức.
 
Khi nghe tôi muốn xin đổi đi xa để đỡ buồn lòng, chính người chị đã lên đồn khuyên tôi xuống ngay gặp song thân cô, có sự tán đồng của cả gia đình.
 
Như vậy là việc gia đình tạm đỡ lo. Nhưng lại một chuyện khác xảy đến. Ông Tỉnh trưởng Quảng Trị vì chỗ quen biết với một cụ già có một người con tên là Nguyễn Kiểu, học thức khá, đã đỗ Diplome, nhưng lại theo Việt Cộng (cỡ hàng Huyện ủy). Nay Kiểu về, lại được ông Tỉnh trưởng kia giới thiệu với viên Thiếu tá chỉ huy tại Gio Linh. Vì sự bố trí của Việt Cộng Kiểu không hoạt động tại Gio Linh mà lại vào Đông Hà.
 
Kiểu dò được tâm tính tôi nóng nảy nên y đánh bẫy sụp tôi. Một hôm, sau khi theo lính đi lùng sục các xã về y móc trong túi ra một số đồ vừa lấy được trong làng. Y vừa bỏ lên bàn vừa nhẩm tính số tiền sẽ đem bán.
 
-         Cái kiếng mắt này 50$00
 
-         Cái áo dài này cũ, chỉ tính 20$00 thôi.
 
Tôi giận quá, không còn dằn được, rút ngay cây súng đặt xuống giường ngủ, vừa nghiến răng nói:
 
-         Thằng nào cướp của dân, thì cứ xưng tên, xưng họ, chứ đừng xưng thầy Đội trên đồn, tao bắn bể đầu.
 
Kiểu nhìn tôi cười, lên trình với viên quan ba Duriez. Dĩ nhiên những sĩ quan Pháp hồi ấy không khuyến khích, nhưng sẫn sàng dung túng những hành động ấy, vì có thế đám Việt gian mới hết lòng với họ.
 
Và, chỉ trong một tuần lễ sau tôi được lệnh thuyên chuyển về Cam Lộ lại.
 
Gia đình bên người hôn thê tôi vừa lo sợ Kiểu trả thù vừa viện lẽ người Tàu chỉ quan trọng ở lễ hỏi, đã xong. Nay phải đổi đi gia đình sẵn sàng qua loa với bạn bè rồi cho hôn thê tôi – Trang, theo tôi cùng đi Cam Lộ.
 
Trở lại Cam Lộ lần này có một sự thay đổi là đồn chỉ có một Thượng sĩ nhất tên Rippoles chỉ huy. Anh ta rất hăng nên thường xuyên đi hành quân vào các vùng nguy hiểm. Một hôm trung đội vào đền Quất Xá, một bóng người sợ quá bỏ chạy, bị lính rượt bắt được. Sau khi hỏi ra tôi mới biết đấy là thầy thuốc Đông y, nhưng bởi trong túi có tiền của Việt Cộng nên quá lo sợ. Tôi phải thông cảm khá lâu với anh Thượng sĩ này bởi tôi quả quyết ông ta chỉ là một lương y đã có vài lần về Đông Hà hốt thuốc tại tiệm thuốc Bắc của ông nhạc tôi.
 
 (Sau này khi thất nghiệp vì Pháp nghi, sẽ tường thuật ở một đoạn tiếp – chính ông này đã viết thư cho anh ông là ông Phạm Như Phiên, Đổng lý văn phòng Quốc Trưởng Bảo Đại để mong đền ơn).
 
Rời Đông Hà chỉ tháng sau, trong khi vợ tôi về thăm nhà được tin Kiểu đã thực hiện một âm mưu vô cùng thâm độc. Y lần hồi cho bắt tất cả những người trước trong hàng ngũ Cộng Sản nhưng về quy thuận hoặc với Pháp hoặc với chính quyền Quốc gia rồi về nhà làm ăn. Y thử thách để biết người nào còn chống Cộng là cho giết không thương tiếc. Y đủ cách nói để những tên ở phòng thẩm vấn tại Đông Hà lầm tưởng họ hoạt động cho Cộng Sản mà tha hồ cho Kiểu muốn làm gì tùy ý. Chỉ những tên chịu theo lệnh Kiểu hoạt động lại cho Cộng Sản là y nâng đỡ và che chở. Hành động của y không bao lâu đã bị Phòng nhì Pháp ở Tiểu khu (Secteur) Quảng Trị biết và thu thập đủ dữ kiện, họ ra bắt Kiểu. Nhưng vợ Kiểu là một tay phụ nữ khá nhiều thủ đoạn, đã lung lạc mua chuộc được ngay cả những tay quyền thế trong Phòng nhì Pháp để mong cứu chồng. Thật là “thiên bất dung gian,” âm mưu của bà ấy đã bị một tay thông ngôn tại đây nghĩ ra cách trừ Kiểu mà tên
quan hai Pháp kia không cách gì cứu nổi. Biết tranh luận với cấp trên không nổi, anh thông ngôn này sắp đặt bằng cách cho đặt mìn trong đống đá dưới gầm cầu, rồi cho Kiểu đi “bốc” đá. Dĩ nhiên Kiểu bị mìn tung nổ banh xác chết.
 
Chị vợ Kiểu bỏ Đông Hà vào Huế, đổi vùng, mà một đoạn sau tôi lại chạm trán chị.
 
 (Những kinh nghiệm này trong đoạn đời chống Cộng đâu phải không đáng ghi nhớ, dù chỉ là một trong trăm ngàn chuyện!)
 
Tôi lại được chuyển về Đông Hà. Và, cũng là lúc sắp kết thúc khóa học trường Trinh thám  hàm thụ Ba Lê.
 
Viên sĩ quan tình báo tại đây cũng có thay đổi, mà viên Thiếu úy Nicos, người có đạoTin Lành nói ở đoạn trước lại cũng không hẹn mà gặp, trở về chỉ huy tôi.
 
Một hôm trong cuộc hành quân vào vùng “xôi đậu” – ban ngày họ theo ta, nhưng ban đêm hoàn toàn theo Việt Cộng – thì mấy tên đi tiền tiêu đã bị mìn Việt Cộng giật nổ. Dù chưa có tên Ma Rốc nào chết vì mìn, nhưng tên chỉ huy hành quân đã hăng máu dự định cho lính đốt phá nhà dân chúng quanh vùng. Tôi giải thích cho Thiếu úy Nicos biết rằng nếu để lính bắn phá là mắc mưu Cộng Sản. Với Cộng Sản nơi nào họ khó thu được thuế nông nghiệp, nơi nào họ cảm thấy dân chúng thiếu ủng hộ hay tin tưởng họ là họ thường cho đặt mìn, bắn sẻ vào lính hành quân. Họ biết rất rõ là khi bị mìn nổ hay bị bắn sẻ, Pháp sẽ cho càn quét. Sau những đợt càn quét là một dịp tốt nhất cho họ đưa cán bộ về giải thích, dùng những bà “mẹ chiến sĩ” kích động tâm lý, còn gì dễ hơn.
 
Sau khi nghe tôi giải thích Nicos thấy có lý nên đã can thiệp với viên chỉ huy cuộc hành quân.
 
Trong khi nỗ lực thực hiện những điều có lợi như trên thì đồng nghiệp tôi vừa ganh ghét vừa đủ thứ nghi ngờ.
 
Một hôm, sau cuộc dò đường về tiểu đội tuần tiễu bắt theo một em bé, mà họ nghi là “cảnh giới” của Việt Cộng. Lục trong túi em, anh bạn đồng
nghiệp thấy có một cái “xác” cau, thường người miền quê dùng chà răng thay bàn chải, và một tý xà phòng gói kỹ trong giấy.
 
Anh cật vấn đứa nhỏ rất lâu dù chưa tra khảo hay đánh đập gì. Anh viện cớ buộc tội em rằng đấy là những ám hiệu của những trạm “gác” bí mật. Không còn chịu được lâu với lý luận không thể có một trường trinh thám hay tình báo nào dạy quái gở như vậy, nên tôi lên tiếng.
 
Tôi giải thích rằng em là đứa ở giữ trâu cho chủ, cục xà phòng sợ để nhà người khác dùng hết, và cái xác cau ai lạ gì người nông dân dùng để chà răng mà lại nỡ nghi ngờ một em bé như vậy được.
 
Cuộc tranh luận rồi cũng chẳng đi đến đâu, em bé phải bị giam mất mấy hôm mới được tha về, trong khi tôi lại thêm một dịp bị họ nghi là bênh vực cho Việt Cộng.
 
Và câu chuyện sau cùng cũng khó quên là trong những người từ kháng chiến về đầu thú rồi bị Kiểu sát hại có cả một người tình của bà chị vợ tôi. Anh ấy tên Hà, và chị tên Đỗ Thị Lục.
 
Sau khi Hà bị Kiểu bắn chết, không kêu vào đâu được, thì Việt Cộng trong khu xem như một cơ hội tốt để họ tìm cách “móc nối” chị Lục. Họ quên rằng tôi là rể trong nhà, nhưng còn hơn cả con trai. Mọi sinh sống gần như nhờ vào tôi mà gia đình làm ăn ngày càng phát đạt. Bởi lẽ ấy, khi được khuyến dụ, chị Lục về hỏi lại, và tôi đã đồng ý cho chị cứ liên lạc với họ, trong khi tôi kể rõ cho ông Nicos biết. Đến một hôm, họ bày chị Lục đem một quả “lựu đạn” về đặt gầm giường tôi ngủ.
 
Thế là tôi tương kế tựu kế cho chị hẹn với họ gặp nhau tại một xóm sát nách thành phố Đông Hà, mà nếu đứng trên đồn có thể quan sát được cả. Tôi hỏi chị cái nhà nào họ sẽ đến gặp, chị Lục cho biết họ sẽ phơi một cái áo đen trước cửa sổ, để làm ám hiệu!
 
Thế là một cuộc bố trí được sắp đặt khá chu đáo. Tôi và một tên Ma Rốc giả làm thường dân đi hơi xa nhau để họ không chú ý, chờ chị Lục vừa bước vào nhà – nơi hẹn -  là tôi ập vào ngay. Nhưng tên Việt Cộng đã nhanh chân
chạy thoát, một cuộc đuổi bắt sôi nổi, trong khi các đơn vị khác không hay biết gì nên xả súng bắn vào tôi, dù số sĩ quan trong “vụ việc” đã gào thét họ không được bắn. Nhưng rồi tên Việt Cộng cũng chạy thoát mà tôi cùng tên Ma Rốc kia cũng không hề hấn gì.
 
Câu chuyện này sau lại kết thúc bằng hai ngã rẽ, mà người không kinh nghiệm về Cộng Sản sẽ chẳng làm sao tìm ra được đáp số!
 
Chị Lục bị họ bố trí trong một chuyến xe đò từ Quảng Trị về Đông Hà, dừng lại ngay Dốc Sỏi, cách cầu Ba Lai hai cây số cho tốp du kích bố trí sẵn bên đường ào lên bắt và dẫn vào chiến khu Ba Lòng. Chị bị giam suốt mấy năm trường mới được tha. Trong khi ấy, cái đặc biệt là phải đặt một dấu hỏi to tướng về kế hoạch họ “bố trí” để gài tôi – vô vùng thủ đoạn.
 
Một hôm, trong khi tôi ghé lại chỗ gian hàng bà nhạc tôi bán tại chợ Đông Hà, vì vợ tôi đang ngồi đấy, thì một chị - mà tôi quả quyết là cán bộ của họ - chào tôi, rồi qua vài câu rất lịch sự, khôn khéo chị hỏi:
 
-         Vùng trong – ý muốn nói vùng kháng chiến, trong CUA – thường thắc mắc tại sao ông tốt, với ngay cả những cán bộ hay bộ đội bị bắt, không giống những đồng nghiệp của ông, mà ông lại làm cho Pháp?
 
Nói xong chị im lặng nhìn tôi. Chị cũng thừa biết tôi không bao giờ bắt một người mà tôi chưa nắm được tang chứng.
 
Tôi cười rồi nhẹ nhàng đáp lễ:
 
-         Vì Cộng Sản Quảng Nam đã đày đọa gia đình và giết chết em gái tôi.
 
 (Tin em gái tôi bị họ giết, chỉ mới nghe đồn chứ chưa có gì làm bằng chứng)
 
Chị ngồi im lặng, tôi đứng thêm vài giây nữa cố xem chị có phản ứng gì không, rồi ra đi.
 
Chị cũng đáo để, nghĩa là sau khi tôi đi rồi, chỉ qua lại vài lời, đứng dậy từ
giã đi ngay, vì sợ tôi không bắt nhưng sẽ cho người lại bắt.
 
Phải chăng ta đã làm Việt gian?
 
Những sự việc như trên không phải là một chi tiết không đáng chú ý, bởi như đã nói, sau này khi ngồi tính lại bài toán “chống Cộng” mới thấy rõ được họ tinh vi ở chỗ biết không thể nào giải quyết trường hợp tôi như trường hợp chị Lục.
 
Và, cách đấy không lâu tôi được tin một người quen từ Đà Nẵng nhắn về có tin tức “quan trọng”. Tôi xin phép mấy hôm về Đà Nẵng xem cho biết sự việc gì. Nhưng lòng luôn luôn nghĩ đến cái trò “phản gián” của Cộng Sản khi họ báo cho ta là cho người báo cho Pháp để gài bẫy ta, hay ít ra cũng tạo cho Pháp có đủ bằng chứng mà “thịt” mình.
 
Về Đà Nẵng và đến ngay nhà họ đã hẹn, gặp một người quen ngay tại nhà Vĩnh Cơ, một thương gia giàu có hạng nặng để nhận thơ. Đến đây tôi mới hiểu rằng nếu Vĩnh Cơ không có quan hệ gì với Việt Cộng thì không bao giờ lại có sự hiện diện của chị cán bộ giao liên này một cách lộ liễu như vậy. Nhưng nghĩ mình cũng chẳng còn bao lâu nữa sẽ chấm dứt hợp đồng, số phận chưa biết ra sao, thì can dự vào việc này đã không lợi mà chuyện thua thiệt chắc chắn sẽ không tránh khỏi. Tôi trò chuyện qua loa rồi trở về Huế.
 
Đem câu chuyện Phòng Nhì và cả mật thám Pháp tại Quảng Trị đang nghe lời anh bạn đồng nghiệp và chắc chẳng tha, khi hết hợp đồng kể lại với anh Trần Minh Tiết, một người quen thân và cũng trong chỗ thông gia với gia đình vợ để mong anh nghĩ cho cách nào ổn thỏa. Anh không ngần ngại.
 
-         Chú về dọn vào Huế ở. Tại đây có bà này – anh chỉ người góa phụ mà anh đang sống gần – là người dân Pháp, trước có chồng dân Tây, làm Chánh Mật thám Quảng Ngãi, thế lực vào bậc có hạng, chẳng lo gì!
 
Trở lại Đông Hà hai hôm, nghe tin anh bạn đồng nghiệp, mà cùng là “quả sao tạ” của đời tôi, đã bị Cộng Sản bắt và xử tử trong trận Thanh Hương Ưu Điềm hôm tôi còn ở Huế.
 
Nhưng nghĩ chẳng nên ở lại Quảng Trị, lúc hợp đồng hết hạn, tôi và vợ dọn vào Huế ở. Hàng ngày lên chuyện trò với anh Tiết, tối lại xuống đò sông Hương ngủ. Thật là một thứ thất mghiệp đế vương. Nhưng vẫn băn khoăn chưa tìm ra cách sống. Anh Tiết giới thiệu với bà quả phụ nói trên, thì đúng nửa tháng sau ngày mãn hợp đồng với Pháp, bà ta giới thiệu tôi với Phan Văn Giáo, và ông Giáo chỉ thị cho tỉnh Thừa Thiên giải quyết. Nhưng qua lại cũng bị đòi “hối lộ”, bà giận quá bảo tôi chờ, chứ không chịu cho ăn.
 
Gặp dịp Đà Lạt khóa thứ V mở, tôi nộp đơn thi hỏng, tiếp khóa thứ VI tôi là một trong hai người trúng tuyển, thì tỉnh trưởng Quảng Nam là ông Tổng Quyền vừa được lệnh vào thay cụ Vĩnh đã đánh điện mời tôi về cộng tác qua sự giới thiệu của những anh Huỳnh Hòa, Phan Khoang.
 
Tỉnh Quảng Nam được lệnh ông Thủ Hiến Trần Văn Lý – vừa thay Phan Văn Giáo – cho tổ chức theo hệ thống hành chánh mới, nghĩa là các quận nhỏ hơn, gọi là khu hành chánh, do một trưởng khu trực tiếp với tỉnh trưởng bỏ hẳn đơn vị quận.
 
Cho vợ về lại Quảng Trị chờ thu xếp xong sẽ đón vào.
Rời Huế, một mình về Quảng Nam tôi ghé lại Ty Thông Tin vì anh bạn chí thân là Nguyễn Rô vẫn đang làm Trưởng ty tại đây.
 
Trình diện ông Tỉnh trưởng Quảng Nam, được ông cho biết tôi sẽ lên Gò Nổi, nơi sinh quán, làm trưởng khu trong khi anh Lê Đình Duyên làm ở Mỹ Xuyên tức quận Duy Xuyên, Trần Quang ở Kỳ Lam v.v…
 
Trong khi còn chờ dịp lên đặt cơ quan hành chánh Gò Nổi, lê gót ra phố thăm lại bạn bè cũ. Thật là một bất ngờ, vừa bước vào tiệm chị La Ngọc Anh sát vách Ty Thông Tin, tôi gặp ngay Sen, người bạn đã nói ở một đoạn trước. Đang ngỡ ngàng chưa hiểu đây là một ngẫu nhiên hay cố ý, thì chị   
Anh, chủ tiệm đã cười lớn khi thấy anh Mai, chồng Sen từ ngoài bước vào.
 
Chúng tôi hoàn toàn chào nhau trong ngỡ ngàng. Tôi ngỡ ngàng vì như đã có hẹn hò hay sao, Sen mừng rỡ chưa thốt nên lời, còn Mai, người bạn chí thân, đã  biết rõ mối tình giữa tôi và Sen trước kia, và có một điểm đặc biệt ở một đoạn trước có nói là khi còn làm thông ngôn, nhân dịp về Hội An chơi gặp Mai và anh Nguyễn Hữu Tỉnh, tôi đã nhờ hai anh khi nào biết Sen hồi cư báo cho tôi với – thì nay anh lại là chồng của Sen. Tôi vô cùng vui mừng bởi lẽ Mai là người đã biết rõ mối tình giữa chúng tôi ngày trước chắc Mai sẽ thông cảm mà chẳng ghen tuông gì, khi nay chúng tôi chỉ coi nhau như bạn.
 
Mai mời ghé lại dùng cơm, nhưng tôi viện cớ vì công vụ để từ chối.
 
Thật là một câu chuyện tình hay nhất phố Hội như bạn bè đã nói không ngoa.
 
Ngày hôm sau, cùng ông Tỉnh Trưởng và Đại tá Pháp chỉ huy Quảng Nam Đà Nẵng lên Gò Nổi tìm nơi thiết lập cơ quan hành chánh.
 
Tôi đã không quên kể chuyện cho Đại tá Pháp biết qua về những điểm đặc biệt của khu Gò Nổi này. Đây là một dải đất do một khúc sông Thu Bồn từ nguồn chảy xuống đến làng Vân Ly tách ra rồi cứ thế chảy dài đến khoảng mươi cây số, nhập lại ở cuối làng An Trường để chảy xuống Hội An ra Cửa Đợi.
 
Như vậy chiều dài Gò Nổi khoảng mươi cây số, chiều ngang chỗ rộng nhất không quá ba cây, nhưng hầu hết nhân vật nổi tiếng của Quảng Nam đều sinh trưởng nơi này.
Dưới làng Vân Ly là làng La Kham, nơi sinh trưởng dòng dõi họ Lê của cụ Lê Đình Dương, sau này có cụ Lê Đình Thám, thân phụ của anh Lê Đình Duyên. Cạnh làng La Kham về phía tay trái là làng Tư Phú nơi sinh trưởng cụ Trần Cao Vân.. Xuống khỏi La Kham là làng Bảo An (quê hương tôi) sinh quán của cụ Phan Khôi. Phan Thanh, Phan Bôi tức Hoàng Hữu Nam, Phan Thành Tài, nhà chí sĩ cách mạng đã bị tử hình trong vụ Cần Vương,
thân phụ của các anh Phan Bá Lân, Phan Thuyết, Phan Út của những trường Đạt Đức, Tân Thanh ở Sàigòn. Bước khỏi Bảo An là làng Xuân Đài, sinh quán cụ Hoàng Diệu, Tổng Đốc tử tiết Hà Thành.  Cuối làng Xuân Đài ở phía tay trái là làng Dinh Trận hay Trừng Giang, quê hương cụ Phạm Liệu, một trong “ngũ phụng tề phi”. Vào giữa là làng Đông Bàn của cụ Phạm Phú Thứ, tổ phụ anh Phạm Phú Quốc. Đi xuống tý nữa gần cuối Gò Nổi là làng Phú Bông của dòng dõi họ Trương (Tổng Đốc Trương Xuân Mai).
 
Tôi đề nghị với ông Tỉnh trưởng đặt khu Gò Nổi hai chữ Phù Kỳ, trong khi ông Đại tá Pháp lại cười nói với ông Tỉnh trưởng là ông sẽ gọi khu này là Ile Solange tên của người con gái yêu của ông ta. Như vậy từ ngày ấy khu hành chánh này được gọi là khu Phù Kỳ, trong khi người Pháp thì gọi là Ile Solange.
 
Xe chạy lên khỏi đường xe lửa là một đồn lớn của quân đội đóng, cấp Đại đội. Vừa xuống xe ngoài cổng vào là dãy nhà cho gia đình binh sĩ và các cấp hành chánh Xã đang sống, nhờ vào sự yểm trợ của đồn. Tôi được vài ông Chủ tịch Xã ra chào mừng, thì một ông chú – ông Phan Giản, thường được gọi là Xã Giản, đến nắm tay tôi mừng rỡ và cho biết mẹ tôi đã trốn được về và đang tá túc nơi nhà ông.
 
Không còn sự ngạc nhiên nào bằng, và không còn sự vui mừng nào hơn. Tôi báo cho ông Tỉnh trưởng và cả ông Đại tá Pháp cùng bước vào.
 
Sau bao năm tháng sống gian khổ trong hoàn cảnh bị “chỉ định cư trú” của Việt Cộng mẹ tôi tiều tụy vô cùng thảm não, dù bà đã hết nỗi vui mừng khi gặp lại con.
 
Tôi chỉ vội vã hỏi:
 
-         Sao mẹ biết mà trốn về hay như vậy, và gia đình (chị, em và Phin, con gái tôi) hiện nay ra sao?
 
Mẹ tôi cho biết rằng trong vùng kháng chiến bọn họ đã đồn nhau là tôi về lại Quảng Nam làm lớn, những bạn bè thân có đến bí mật cho biết, nên mẹ tôi dùng đôi hoa tai vàng cuối cùng thuê một người bà con dẫn về. Khi mệt chú ấy cõng giúp, nhưng phải đi tránh các trạm gác của công an.
 
Gia đình tôi sẽ trốn theo một ngã khác cũng về trong nay mai.
 
Im lặng vì quá cảm xúc trước nỗi gian nan của gia đình mất vài phút, tôi nói nhỏ mẹ tôi tạm sống với các chú trong các Hội đồng xã,  tôi phải trở về tỉnh rồi sẽ lên lại thiết lập cơ quan.
 
Sau khi cùng ông Tỉnh trưởng và Đại tá hỏi tôi rõ cấp chỉ huy trong đại đội để quyết định địa điểm cũng như thời gian, chúng tôi lên xe về tỉnh.
 
Một đêm hoàn toàn mất ngủ vì vui mừng khi gặp lại gia đình, nhưng đồng thời cũng là lúc tự vấn lương tâm xem miệng đời đã ghép cho tộiViệt Gian ngày ấy!
 
Đừng kể đến những sự việc còn dài dài xảy đến sau này, mà nhớ lại ngày bị bắt đưa từ Cam Lộ về quê nhà để đối chất khi bị nghi là thân Cộng, khi bị đồng nghiệp phản đối hầu hết hành động chưa nói là ghi ghép hồ sơ để chuẩn bị đến ngày rời chức vụ sẽ bắt và làm cho “ra chuyện”. Đấy là những nét lớn, chứ không kể những hành động, những ý nghĩ mà tự thâm tâm không một chút nào cảm thấy xấu hổ chứ cũng không mảy may nào để nghĩ là vì bất mãn phía mình đang phục vụ mà dễ dàng cho Cộng Sản móc nối.
 
Về tỉnh hai hôm để chuẩn bị nhân viên và phương tiện rồi trở lên.
 
Tỉnh cấp cho một trung đội Nghĩa dũng (một lực lượng địa phương lúc ấy đã từng chống Cộng tích cực và hữu hiệu) đóng ngay sau cơ quan hành chánh, và rút bớt của mỗi xã một ít Hương dũng (như dân quân) để có đủ số Trung đội đóng ngay trong vòng rào của hành chánh.
 
Đây là lúc tôi mệnh danh khu hành chánh này là khu Phù Kỳ chịu trách nhiệm cả vùng Gò Nổi.
 
Danh từ Phù Kỳ có ngay từ ngày ấy.
 
Trước hết, chúng tôi mời các cơ quan hành chánh xã về họp để bàn chuyện thiết lập cơ quan, đồn lũy.
Các xã, hay nói chung nhân dân toàn vùng rất hồ hởi trước việc thiết lập cơ cấu hành chánh này, bởi lẽ từ nay không phải liên lạc về tận quận Điện Bàn ở suốt dưới Vĩnh Điện như trước, mà mọi liên hệ, can thiệp, cấp phát đểu do khu Phù Kỳ.
 
Trong khi các xã tích cực huy động nhân dân chia nhau hằng ngày về xây dựng cơ quan, thì chúng tôi thực hiện ngay việc lợi ích cho dân chúng.Trước kia mỗi người dân muốn xin một thẻ thông hành để đi lại, dùng như thẻ cư trú là phải về Điện Bàn chờ đợi, tốn kém đủ thứ mà phải ít nhất là từ 3 đến 5 tháng. Nay quyết định người dân đã do xã trưởng lập danh sách, thì nhân viên công an không thể nào kéo dài mà phải làm ngay cho họ. Tối đa của việc cấp phát chỉ được 15 ngày.
 
Chúng tôi cho lập ngay một chợ nhỏ trước cửa cơ quan mục đích để dân chúng đỡ khổ vì trao đổi buôn bán. Nhưng chính là để nhân dân có thể liên lạc dễ dàng với chúng tôi mà cung cấp những tin tức, hay dư luận trong vùng.
 
Về chính trị khu Phù Kỳ đóng một vai trò quan trọng bởi bên kia sông và vào suốt vùng Nam của Quảng Nam rồi cả liên khu 4, liên khu 5 đang do Cộng Sản kiểm soát là vùng kháng chiến của Cộng Sản . Nghĩa là Phù Kỳ là ranh giới là địa đầu.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG III
 
OÁN THÙ CHỒNG CHẤT
---------------
 
 
CHIẾN DỊCH LÊ HỒNG PHONG
CỦA CỘNG SẢN
 
(Trận Phù Kỳ)
 
 
 
 
Khi công tác được tiến hành trong không khí vô cùng vui vẻ của nhân dân, thì tiếng đồn vang đã vào đến vùng trong, mà một số anh em có tinh thần quốc gia, chống Cộng đã tìm đủ cách để “Về thành” – một danh từ do họ đặt ra.
 
Trong số những anh em này đáng nhớ là Vũ Hối, và “bộ tư” Ân, Ái, Thiệp, Tiệp (tức là các anh Bùi Ân (1) Nguyễn Văn Ái, Nguyễn Đình Thiệp và Nguyễn Văn Tiệp).
 

Riêng gia đình tôi có những kỷ niệm không thể nào quên. Mẹ tôi chỉ thích ăn món móng heo nấu măng tươi, mà tôi đã cho người đặt tiền với chị hàng thịt heo “duy nhất” để hàng ngày mua cho mẹ. Cũng là mẹ tôi, bà chỉ ao ước có gạo để hàng ngày giúp đỡ người nghèo trong vùng. Tôi đã mua về để bên giường bà một bao gạo. Mẹ tôi muốn cho ai thì dặn người ấy ra vườn ngồi vót đũa hay làm bất cứ việc gì – cốt để có người thấy, rồi khi ra về bà sẽ cho
một nón gạo, cốt tránh việc Cộng Sản buộc tội. Đấy là kinh nghiệm mẹ tôi đã từng thấu hiểu.
 
 

 
 (1) Anh Bùi Ân sau này khi thay tôi đóng tại đồn Cẩm Lậu bị Cộng Sản đánh mất đồn bắt được đem về tận làng quê ở Quế Sơn mít tinh (meeting) và xử tử.
Mấy hôm sau, được tin vợ tôi từ Đông Hà Quảng Trị đã vào Quảng Nam để hỏi đường và theo xe lên gặp gia đình.
 
Đây là lúc tôi cần đắn đo kỹ. Nên để gia đình về tỉnh hay tạm sống bên tôi một thời gian?
 
Quyết định cuối cùng là nên để gia đình sống bên mình một thời gian để tạo sự thông cảm gia đình tôi với vợ tôi. Vả chăng lúc bấy giờ việc đánh phá của lực lượng địch cũng chẳng có gì đáng lo sợ. Phải nói lên điều ấy, bởi sau này khi xảy ra tình trạng đau thương của gia đình tôi thì không ít người đã hỏi rằng khôn ngoan và kinh nghiệm như anh không kém, vậy tại sao lúc ấy lại để gia đình sống trong một nơi như vậy?
 
Một vài hành động của chúng tôi hồi bấy giờ đã làm cho vài người dân sẵn có cảm tình không khỏi lo ngại, và thường nhắc nhở cảnh giác. Nhưng tôi luôn có kế hoạch là “đạp gai lấy gai mà lể”, nghĩa là đã dùng vài tên trong tự vệ chiến đấu của địch sau khi về đầu thú, và được thử thách chưa nói là xét đến gia đình và lý lịch – mà chính những tên này đã chận đứng âm mưu Cộng Sản khá nhiều lần. Một em khi được tin dùng đã tâm sự “không lo ngại gì về bọn họ, bởi chúng em đã từng sống với họ, biết rất rõ. Kẻ nào thấy trước, kẻ nào được người dân báo cho biết, mách cho biết trước là “ăn” thôi
 
Câu chuyện của em nói đã xảy ra trong một ngày không lâu sau đấy.
 
Một buổi sáng, khoảng 10 giờ, tôi dẫn khoảng hai tiểu đội di chuyển công tác về hướng Tây của khu vực. Dĩ nhiên là nhờ vào kinh nghiệm hành quân mà trước kia đã học hỏi lúc còn làm thông ngôn cho Pháp suốt 4 năm trường, tôi không đi đường lớn, theo các đường nhỏ trong làng, cũng áp dụng người đi tiền tiêu, cũng chỉ vẽ cho tất cả dự liệu là nếu bị địch đánh hướng nào thì nên giải quyết hình đội ra sao, nên cứ thế mà tiến lên. Lúc vừa
qua làng Bàn Lảnh, quê hương của giáo sư Phan Ngô, sắp đến đường xe lửa, chúng tôi chú ý một bà cụ đang làm cỏ ruộng, nghiêng nón giả như gãi đầu, nhưng ra dấu chỉ về hướng ấy. Tôi giang tay ra dấu giăng hàng ngang, chờ như chuẩn bị. Tôi làm bộ như xét hỏi giấy tờ bà cụ để nghe bà bảo là “chúng” – ý nói địch đang nằm sẵn trên đường rầy. Thế là tôi làm như rờ lục trong người bà vừa bảo là lui lại sau làng. Tôi phải làm như “chúng tôi đã được tin chúng bố trí, và bà này là cảnh giới của chúng để sau này chúng không hãm hại bà.” Đuổi bà lui lại phía sau, lập tức hô anh em “xung phong” tiến nhanh lên đường xe lửa trong khi chúng bắn vội vàng một loạt đạn rồi lui xuống chạy vào đám mía. Như đã căn dặn trước, lực lượng chúng
tôi không truy đuổi địch bởi e chúng núp trong mía, chưa nói là chưa biết lực lượng chúng là bao nhiêu, trong khi chúng đã thấy ta cả rồi. Sau vài nghi binh, chúng tôi cho lệnh “chuyển hướng công tác.”
 
Đến đây, một “bài học” về quần chúng đã được học hỏi rất đáng giá!
 
Lòng dân là một chiến thắng! Nhưng phải làm sao để được lòng dân còn phải trải qua nhiều thử thách về sau.
 
Được dân chúng báo cho biết Cộng Sản đang bắt đầu chuẩn bị chiến dịch Lê Hồng Phong để đối phó với tổ chức khu hành chánh thay vì đơn vị quận của chúng ta.
 
Hôm ấy cũng đã gần cuối tháng, tôi hơi lo ngại, nhưng định cuối tháng về tỉnh lãnh lương cho anh em, sẽ nhân tiện đem gia đình về tỉnh.
 
Địch thường cho bắn súng vào đồn chính và đơn vị hành chánh mỗi tối mà chúng tôi hiểu ngay là chúng thử biết súng trong mỗi đồn ra sao. Vì lẽ ấy chúng tôi đã khéo léo cho ba em dùng “súng trường Anh” đứng sát lại nhau, và – cứ bắn từng loạt “đoành, đoành, đoành” như loại trung liên, mặc dù chúng tôi không có ngay cả tiểu liên.
 
Như đã biết, đồn chính quy ở cách chúng tôi khoảng một cây số, đồn Nghĩa Dũng ở sát ngay rào sau với một Trung đội, còn chúng tôi có một Trung đội Hương Dũng, những thanh niên trong làng, chiến đấu khá anh dũng, mặc dù thiếu thốn mọi mặt.
 
Sau ba hôm, thì sáng nay, một người dân giả như vào khu hành chánh để xin giấy phép đi ra ngoại tỉnh, nhưng mục đích cho biết “Cộng Sản về rất đông bên kia sông, có cả ngựa”, mà dân chúng thường nghĩ rằng có ngựa tức là có Tướng Đàm Quang Trung. Trận đánh chắc nhắn sẽ rất ác liệt! Chúng tôi xuống đồn chính báo tin này và xin thêm súng và đạn dược.
 
Chiến trận hồi bấy giờ khá nhiều chuyện đáng buồn. Dĩ nhiên là Đại đội chính quy này có máy truyền tin đã báo ngay về tỉnh, và tỉnh cũng đã báo về bộ chỉ huy ở Đà Nẵng. Đáng lẽ trước những tin tức như vậy tỉnh hay Đà Nẵng đã cho máy bay vào thám thính hay cho đại bác vào vùng này ngay. Nhưng có lẽ đám cung cấp tin tức cho Pháp hồi ấy không tạo mấy giá trị đối với họ, nên chắc họ cũng đã xem thường như từ trước.
 
Đêm nay ….. vào khoảng 2 giờ, tiếng súng bắt đầu, và chuyển nhanh thành “mạnh” tối đa, chưa từng có!
 
 “Họ đánh đồn lớn !” Các em vào báo cáo tới tấp với tôi đang cùng chiến đấu ở lô cốt cánh trái.
 
Gia đình tôi cũng như gia đình của mấy nhân viên, công an, hành chánh … rối rít chạy trốn vào những nơi đã dành sẵn.
 
Mươi phút sau, súng cối đã nổ trong khu vườn hành chánh – mà lúc đầu chúng tôi lầm tưởng là đồn chính bắn yểm trợ, nhưng một chỉ huy Hương Dũng đứng lên cao quan sát và báo cáo.
 
-         Thưa ông! Chúng đã lấy được đồn chính, đang dùng súng đồn chính bắn vào ta!
 
Nhưng lực lượng đồn Nghĩa Dũng phía rào sau vẫn còn anh dũng “đánh”.
 
Nhưng rồi, em Khang, thường theo sát cận vê cho tôi báo cáo “Thưa anh, đồn Nghĩa Dũng cũng bị địch tràn vào rồi. Tôi chỉ kịp ra lệnh một cách vội vã:
 
-         Cho lệnh bỏ đồn!
 
Thì địch xung phong, vừa uy hiếp bằng “kèn” vào từ bốn mặt.
 
Tiếng chúng hô “xung phong!”… “xung phong!” và uy hiếp ta bằng nhiều thứ.
 
Tôi vừa chạy mấy bước, thì ngoài rào đã thấy chúng nhảy vào như thác đổ.
 
Thoạt đầu, tôi nghĩ nằm dựa tường, nhưng thấy trống trải quá, nên lại đổi ý, bằng cách chạy vào trong bếp, nơi tối om.
 
Nhưng lại bình tĩnh, nghĩ “nơi tối là nơi địch chú ý nhiều”, nên ra sân, và ngồi ngay dựa bức tường với một hồ nước lớn.
 
Tay rút sẵn lựu đạn, và nghĩ “nếu bị bắt là rút lựu đạn tự tử.”
 
Đức tin lại đến!
Theo đúng như trong Kinh Phổ Môn đã dạy “dù gặp nguy hiểm đến bực nào, cứ bình tâm niệm “Nam mô cứu khổ cứu nạn, niệm chí thành” là sẽ thoát khỏi.
 
Tôi niệm, và niệm “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát!”
 
Tôi niệm, đến như thấy Ngài đang đứng trước mặt, dùng một màn sương “mờ mờ” che khuất. Tiếng người thân nói bên tai nào là người vợ chú nhân viên Trần Thế Kỷ gọi tên tôi, rồi vợ tôi “la ác” chị “gọi tên anh ấy làm gì”. Hay ngay cả khi tên Trần Thế Thiệu – công an Việt Cộng rọi đèn để tìm anh – là Trần Thế Kỷ tôi đều hay biết. Khi Cộng Sản bắt những gia đình cán bộ và gia đình tôi, dẫn qua trước mặt cách khoảng mười thước, không còn cảnh đau lòng nào bằng, tôi đều thấy biết.
 
Tôi cứ ngồi nguyện và cứ niệm Phật.
 
Thì, ngoài sân chạy vào một tên la lớn “chưa bắt được Phan Vỹ, cần tìm thật kỹ để bắt cho được”. Y rọi đèn bấm cùng khắp. Y đã rọi ngay nơi tôi đang trốn, Nhưng rõ ràng – màn sương mờ đã che mắt y.
 
Vào trong nhà, khi tìm kỹ y bắt được anh Y tá trưởng, người hao hao giống tôi, cũng râu, cũng hình dạng, bọn chúng mừng rỡ la lớn : “Đây rồi! Nó đây rồi!”
 
-         Không, không! Tôi là y tá – nhưng anh nói tiếng Huế - y tạ ! Y tạ, thì một tên Việt Cộng đã mỉa mai:
 
-         Mày nửa tá tao cũng bắt, chứ đừng nói là y tá!
 
Chúng lục trên nóc nhà và bắt không sót một người. Khi vệ quốc quân rút là đến bọn công an, du kích vào. Và sau cùng, lúc mờ sáng mới đến đám dân theo để thu dọn chiến lợi phẩm, vào “hôi của”.
 
Kinh nghiệm của bọn họ là đến chỗ nào cũng la,
 
-         Ra! Ra đi! Tao đã thấy rồi. Ngoan cố tao bắn là chết!
 
Người yếu bóng vía sẽ cúi đầu ra thọ tội, dù chúng chẳng thấy gì.
 
Chỗ tôi ngồi thông ra vườn bằng một cửa nhỏ, mà lúc này có một tên vệ quốc mang một tiểu liên lại đứng trông ra vườn, ý chừng y làm theo lệnh một cấp chỉ huy. Tôi ngồi nhìn y rất rõ, trong lòng đã có lúc tham, muốn nhào ra giật cây súng, bắn y rồi chạy. Nhưng lòng lại dặn lòng “chớ tham mà chết” nên cứ ngồi im cầu nguyện.
 
Nhưng đáng mỉa mai nhất là trong lúc như vậy mà cũng còn được ý nghĩ rằng “giả thử lúc này có một con chuột chạy ngang đây, y sẽ cúi xuống nhìn là thấy ngay được ta” mà lòng cũng thấy nao nao, nhưng lại nghĩ đến giây phút, phải rút chốt lựu đạn!
 
Như đã nói, sau khi bộ đội rút, tên này ra đi, là các giai đoạn công an, dân quân lục xét như đã nói.
 
Khi nghe Trần Thế Thiệu rọi đèn và nói: “Để tìm xem có xác anh Sáu tao không? Tôi đã thoáng một ý nghĩ “nhà nghề” là Kỷ không hay biết trận đánh này.
 
 (Chính ý nghĩ ấy sau này tôi đã cương quyết phản đối việc Pháp nghĩ là Kỷ đã được báo cho biết tin trận đánh nên mới đi xuống vùng dưới công tác và ở lại đêm vắng mặt. Tôi cương quyết phủ nhận ý nghĩ này của tên Quan tư Pháp Blin mà tôi xác nhận là chính tôi phái Kỷ đi, chứ không phải Kỷ xin đi. Sau này câu chuyện kể ra khá dài, mà Kỷ đã không hiểu được lòng tôi, nghĩ xấu về tôi, trong khi – là người chỉ huy, tôi không thể hèn nhát đổ tội cho người dưới quyền. Và, cũng bởi thái độ của tôi khi Blin không buộc tội được Kỷ lại cho đấy là do tôi. Y gởi một văn thư cho ông Tỉnh trưởng Quảng Nam Tống Quyền và nói là do chính tôi dựng nên trận đánh này, cái không may cho họ là sau biết mẹ tôi bị chết, là đến tin vợ tôi cũng ra đi vì bị địch bỏ chết đói, ông Tỉnh trưởng đưa cho xem văn thư ấy rồi xé vứt ngay vào sọt rác trước sự chứng kiến của tôi.
 
Thật là một trận đánh mở màn cho chiến dịch của địch mà chúng nhắm vào tôi trước, nên sau này những khu hành chánh như Kỳ Lam, Thanh Quít chúng chẳng làm nên xơ múi gì.
 
Trở lại câu chuyện trận đánh đồn, lúc vừa mờ sáng, một em bé trong đám hôi của vô ý rờ vào đầu, tôi “hét” một tiếng và đứng lên nhìn … xong, tung chạy ra khỏi cơ quan.
 
Trong lúc chưa hoàn toàn bình tĩnh, tôi chạy vào một đám mía, và tại đây quan sát, nghe ngóng tiếng súng còn nổ lai rai, Dân chúng quanh cơ quan bắt đầu đem áo quần trong những bó nhỏ, thu dấu mọi nơi, tiếng súng tại đồn chính đang nổ lai rai, và khi bình tĩnh tôi phải nghĩ rằng như vậy là tại đây còn bọn chúng hay ít nhất là đám du kích.
 
Vì biết như vậy tôi nghĩ không nên dại mà đâm đầu vào chúng, không dại gì chạy xuống đồn chính. Nhưng, không thể ngồi mãi trong đám mía, tôi nhìn lên hướng trên, thấy một ngôi miễu nhỏ, và dự đoán đây là miễu bỏ không, của gia đình thày Bảy Lâm. Quyết định chạy về hướng ấy, vào miễu để quan sát ăn chắc!
 
Sau mấy phút, nghe từ xa có tiếng máy bay … hẳn là máy bay quan sát của Pháp tại Đà Nẵng. Tôi cởi áo trắng, ra gần cửa vẫy … vẫy để ra dấu, là còn người “sống” đang cần tiếp viện.
 
Khát quá tôi đành “đái” ra chút ít uống cho đỡ!
 
Thì, từ hướng Đông, tiếng súng không còn nghe nổ, rồi khoảng mươi phút sau một đơn vị lính từ hướng ấy tiến lên.
 
Ngồi quan sát thật kỹ, tôi nhận thấy từ ăn mặc, súng ống, và nhất là lối di chuyển không tránh khỏi một sơ hở trong “hành quân” – nghĩa là vừa đi vừa hát, nói chuyện huyên thuyên. Đoán chắc là quân tiếp viện Nghĩa Dũng tại tỉnh của Thiếu tá Trương Xuân Phong. Đúng! Tôi quả quyết như vậy nên “chạy ra” la lớn.
 
Đám lính chưa nhìn ra nên có tiếng hô “giơ tay lên!”
 
-         Giơ khỉ gì. Tao đã rút chốt lựu đạn sẵn, chờ tự tử.
 
 Thì một số đã reo lên:
 
-         Ồ, ông Vỹ! Ông Vỹ rồi!
 
Điện ngay về tỉnh đã tìm ra ông Vỹ rồi.
 
Thế là họ ra lệnh cả đoàn quân quay lại và về tỉnh.
 
Cả thảy 5 người được cứu hôm nay, Số anh em này lúc nãy đã nằm dưới ruộng rau muống nhìn thấy tôi chạy ngang nhưng không dám gọi.
 
Trên đường về mới nghĩ ra một ngớ ngẩn của mình trước đây không lâu. Trong khi đang trốn giặc cứ nghĩ như nơi nào cũng đang bị “địch” chiếm cả, nhưng nay trên đường về mới biết tâm trạng của người trong cơn hốt hoảng là thế đấy.
 
Lúc đoàn quân đi ngang làng Dinh Trận, tôi lại nhớ rằng sáng nay trong lúc ngồi trong miễu, bi quan đến độ nghĩ rằng “tối nay sẽ lần hồi về nhà bà cụ Phạm Liệu ở Dinh Trận rồi nghe ngóng tình hình … sẽ quyết định.”
 
Thì nay, không phải là vậy. có gì đâu!
 
Chỉ một nơi này bị đánh, mà nay chúng cũng đã lo chuồn như “chuột”. Kinh nghiệm những lúc hốt hoảng phải suy xét kỹ!
 
Sau hai tiếng đồng hồ chúng tôi về đến Hội An. Vào tòa tỉnh, gia đình ông Tỉnh trưởng Tống Quyền mừng rỡ đến tột độ. Bà Tỉnh trưởng cho người pha sữa nóng cho tôi uống. Khuyên vào tắm nghỉ cho khỏe rồi thong thả, sẽ kể
chuyện. Nhưng, không riêng tôi mà những anh em vây quanh đều muốn được biết qua câu chuyện.
 
Tôi kể qua cho mọi người nghe.
 
Họ đồn nhanh ra mọi nơi, và bởi Hội An là một thành phố thường được tả như “thượng chùa Cầu, hạ Ông Bổn” nên chỉ trong mươi phút là các ty sở, những người quen biết đều kéo đến mừng tôi.
 
Sau một giờ anh Nguyễn Rô, Trưởng ty thông tin, người bạn thân mà trước đây đã có nói đến, dắt tôi về ty anh.
 
Câu chuyện cứ thế kéo dài mất vài hôm, nhất là những người thân vẫn không quên đặt vấn đề về gia đình tôi. Nhưng rồi ai cũng khuyên chờ đợi và bình tĩnh!
 
Sau hai hôm, ông Tỉnh trưởng trong tinh thần thận trọng muốn tôi cho biết quyết định trong những ngày đến!
Tôi hiểu ngay là ông không bao giờ để lộ ý như thúc hối, nhưng cũng không quên tỏ ra lo ngại cho gia đình tôi, chưa biết nay ra sao, khi mà tất cả đã bị Việt Cộng bắt đem vào khu chiến của họ.
 
Bố trí lại nhân viên, hội ý với đơn vị Nghĩa Dũng, tôi quyết định trở lên Phù Kỳ sau đấy chỉ non tháng. Nhưng lần này không đóng đồn, không lên hẳn nơi cũ mà chúng tôi dùng vùng dưới, ngang làng Phú Bông làm cơ sở.
 
Văn phòng tạm là một căn nhà cạnh chợ Phú Bông – tối lại dùng đồn Cẩm Lậu là thế “ỷ giác.”
 
Làm việc ở gần chợ để nhận được tin tức từ dân chúng cho biết. Cộng Sản đã giải quyết những gì khi chúng bắt gia đình tôi vào khu chiến.
 
 “Gia đình tôi đã bị chúng đem vào tỉnh. Riêng mẹ tôi đau nặng mà hôm ấy chúng cho nằm trên một cái giường nhỏ, bắt hai người trong đám anh em ta khiêng thẳng vào Tam Kỳ, mà chúng gọi là cho vào bệnh viện tỉnh.”
 
Những người đem tin còn khuyên là không nên dựa vào các đồn, dù chắc chắn đến đâu, bởi chúng quyết đánh mọi đồn lũy nhất là bắt cho được tôi trong chiến dịch này.
 
Trong khi được những tin như trên thì hai ông bác trong gia đình khuyên tôi nên bắt lại gia đình chúng, không đánh đập hay khắc nghiệt, giam mà đòi “trao đổi”.
 
Sau khi tham khảo ý kiến vài Chủ tịch Hội Đồng Xã, và được họ tán đồng, tôi ra lệnh các xã về họp. Được những ông này lập ra một danh sách thân nhân cán bộ Việt Cộng và cấp bộ cao trong quân đội Cộng Sản hiện sống trong các xã, cả thảy 38 người. Đây là những thân nhân gần nhất như cha, mẹ, hay vợ chứ anh em không kể.
 
Tôi ra lệnh các xã đòi họ về trình diện cùng một buổi sáng sau đó. Khi kiểm điểm xong, nói rõ câu chuyện về gia đình tôi bị bắt và tuyên bố từ nay họ phải sống tại đây trong một ngôi đình. Không rào, không lính canh gác, nhưng họ không được trốn. Tôi cứng rắn lên tiếng rằng một người trốn là những người khác phải chịu liên đới về sự trừng phạt, chưa biết ra sao. Tôi cũng nói rõ là họ có quyền cho đem cơm nhà đến ăn, hoặc nếu muốn ăn cơm của chúng tôi cũng được, nhưng dĩ nhiên gia đình tôi đang ăn cơm với mắm hay muối thì ở đây cũng chỉ có thế mà cung cấp cho họ. Khi nào gia đình tôi được Cộng Sản tha về, họ về.
 
Tất cả im lặng, và thừa biết được những biện pháp nào tôi sẽ áp dụng khi mà sự đau khổ đang đè nặng trên tôi. Cuối cùng tôi gọi hai người lớn tuổi ra giao lại con số 38 người ấy mà cho biết mỗi ngày hai lần lính Hương Dũng sẽ đến kiểm điểm con số. Chúng tôi ra về để lại vài em trong số lính Hương Dũng chơi ở dưới cửa đình làng này và dặn các em lắng nghe và tìm hiểu trong họ.
 
Đến đây dân chúng mới thấy rằng từ lâu nay Cộng Sản Quảng Nam đã đồn hoàn toàn sai sự thật. Họ ghép cho tôi danh từ đại Việt gian cũng như anh Trần Đình Huyến. Họ không biết rằng sống bên này chúng tôi cũng nhiều lần gian nan, thất nghiệp chẳng ra gì, chưa nói là đã suýt bị Pháp bắt vì gán
cho tội thân “kháng chiến” nếu không nhờ anh Trần Minh Tiết bày cách tránh vào Huế để sống bên cạnh anh, mong được một sự che chở như đã nói ở một đoạn trước.
 
Ông Tỉnh trưởng Quảng Nam đã biết nỗi buồn của tôi nên e rằng khi quá đau lòng để không giữ được bình tĩnh mà sát hại số người này, nên cho anh Đại úy Hồ Văn Ánh, Chỉ huy phó của Trương Xuân Phong lên công tác nhưng mục đích ở sát bên tôi mà khuyên can nếu có xảy ra tình trạng như đã nói.
 
Nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống của người bên Quốc gia tôi luôn có quan niệm “khi quá đau khổ, mình có bắn một cha, mẹ của Cộng Sản chẳng ai nói gì, nhưng năm bảy năm sau sẽ có người lôi lại vấn đề hay chính người thân trong đám này cũng đang phục vụ trong phe Quốc gia sẽ đem ra khiếu nại thì không chỉ bị lôi thôi, bị chửi rủa, mà việc tù tội cũng không phải là chẳng bị” nên chính tôi luôn tự trấn an lấy mình.
 
Cứ mỗi tối nằm ngủ gần nhau. Ánh thường nhắc tôi khóa “cò súng” cẩn thận. Lên lại lần này ông Tỉnh trưởng giao cho tôi một khẩu súng lục của “Đức”  để phòng thân.
 
Một tháng sau, tin từ vùng khu chiến cho biết “mẹ tôi chết” vì không có thuốc men. Chết tại nhà thương Cây Sanh ở Tam Kỳ.
 
Mẹ tôi, như đã nói ở nhiều đoạn trước – là một người mẹ thứ hai trong vùng đã có một lối dạy dỗ con vô cùng đặc biệt ngay cả khía cạnh chính trị.
Mẹ tôi đã hy sinh vì tôi gần như suốt cả đời, mà mới chỉ gặp lại đúng một tháng mười lăm ngày trong sự vui mừng thì nay lại ra đi vĩnh viễn.
 
Đau buồn vô kể, nhưng như đã nói, cố trấn an, tôi họp tất cả số 38 người con tin kia. Họ tỏ ra vô cùng lo sợ, và chờ xem cách giải quyết của tôi.
 
Đứng trên “bục” cao tôi im lặng khá lâu, bỗng vùng lên khóc lớn. Phải chờ cho sự đau khổ tạm lắng, mới lên tiếng yêu cầu họ đặt vào địa vị tôi. Nhắc lại nguyên tắc “tội ai làm nấy chịu” mà rồi cuối cùng tôi vẫn còn cố nói lên sự thật của lòng mình.
 
-         Quá đau buồn, nhưng tôi còn nghĩ rằng “Mẹ tôi già rồi – không chết nay thì cũng chết mai” tôi khuyên bà con nghĩ lại vấn đề và – nếu Cộng Sản còn gay cấn, giữ vợ tôi, mà nếu chẳng may, vợ tôi lại chết, thì lúc ấy các bác sẽ chịu lấy hậu quả, đừng than van là tôi độc ác.
 
Nói xong tôi không cần đợi nghe họ đáp từ, ra về ngay.
 
Về tỉnh báo cáo sự việc. Nhìn ông Tỉnh trưởng như đoán ra ông muốn nói gì với tôi, rồi lại thôi, ôm tôi mà chia buồn và an ủi.
 
Hai hôm sau, khi trở lên tôi  được Hương Dũng báo cáo số con tin vẫn đầy đủ, nhưng họ xin được gặp. Đến nơi, biết rằng họ đề nghị cho họ cử ngưởi vào khu chiến gặp người có thẩm quyền để đòi hỏi xét đến sự việc mà tôi đã nói hôm kia. Trong số này có cha của tên Trần Thế Thiệu công an và cha vợ tên Chủ tịch cả vùng Điện Quang, Điện Mỹ cũng tương đương vùng Phù Kỳ của bên ta và khá nhiều tên quan trọng. Tôi đồng ý nhưng nhắc lại họ là “đi là phải về, nếu đi luôn là những người này chịu trách nhiệm. Có lẽ họ đã thảo luận khá kỹ, nhất là thấy thái độ và biết rõ con người tôi, nên khẳng định cam đoan cho hai người ra đi.
 
Trong khi ấy thì một trong năm em sống cạnh tôi, đề nghị cho ba em được bố trí vào khu chiến theo hai người này mà “cướp tù”. Tôi nghe nói hơi lo ngại, nhưng các em giải thích và tin chắc là sẽ thành công.
 
Biết rõ can trường và lòng trung thành của các em, nhưng lo ngại nếu việc chẳng thành mà các em có phải xảy ra một thất bại đau thương nào thì sau này làm sao tôi khỏi ân hận, chưa nói là “miệng đời” sẽ tha hồ khen chê mãi đến ngày nhắm mắt, tôi cảm ơn các em mà không đồng ý đề nghị ấy.
Để họ ra đi, trong khi thao thức nhiều đêm không ngủ được. Tôi cũng đã đoán được lòng dạ độc ác của Cộng Sản Quảng Nam lúc bấy giờ, nhất là đối với tôi.
 
Nhưng ngược lại, nghĩ rằng nếu họ khôn ngoan hơn, thì tôi không thể nào tránh được cái chết của phe bên này nhất là với Pháp. Họ tha gia đình tôi thì tránh đâu để khỏi bị nghi ngờ. Âu cũng là số mệnh – mà mẹ tôi đã hy sinh trọn vẹn cho tôi suốt đời bà. Thảm thiết thay cho những người sống với chính trị!
 
Trong những đêm thao thức tôi nhớ rõ những gia đình nhân viên đã được tha về, với cô con gái tôi vì quá nhỏ.
 
Nhớ lại phía hội đồng sống nhờ vào đồn chính thì anh Xã Quế bị bắt và sau này nghe đâu chúng đã xử tử. Chú Xã Giản chạy thoát, nhưng con chú là Phan Giản bị bắt cùng một số nhân viên và lính tráng. Nghĩa Dũng hay Hương Dũng là những thành phần Cộng Sản rất căm thù, Bởi số anh em này chiến đấu vì quê hương, can trường không thiếu.
 
Đau lòng nhất là nhớ lại hôm sum họp gia đình sau bao năm bị chúng bắt và chỉ định cư trú khi tôi được Pháp cứu thoát, làm thông ngôn cho Pháp. Mẹ tôi kể rằng khi chúng bắt lên đến Tiên Phước là nổi mõ, trống hò hét như vừa bắt được Việt gian quan trọng, mà tên thôn trưởng là kẻ đôn đốc, dẫn đầu.
 
Lúc gia đình vào nhà, ngồi yên chỗ, tên thôn trưởng lại ngu dại vác xác đến trước. Vừa gặp, y không ngờ mẹ tôi đã lên tiếng hỏi ngay.
 
-         Các anh tổ chức hoan hô chiến trắng “bắt được gia đình đại Việt gian phải không? Tại sao các chú biết nó là Việt gian, tôi sinh ra nó , vẫn chưa chắc đã biết nó có thật là Việt gian hay Việt ngay kia mà!
 
Và bà gan dạ, búa ngay vào đầu y một câu:
 
-         Ai gian, ai ngay, rồi lịch sử sẽ phê phán và xét đoán!
 
Tên thôn trưởng không một lời qua lại, bởi y biết đã gặp phải tay đối thủ không vừa nên im lặng ra đi, về xã báo cáo.
 
Sau này nghe đâu xã đã cảnh cáo y và khuyên nên tìm công ăn việc làm cho gia đình tôi, mà y đến vài nơi nhận vải về cho gia đình tôi dệt mướn,
nhưng không cho gia đình ra khỏi nhà, trừ cháu gái còn nhỏ, được bắt ốc, kiếm củi, rau nuôi bà và hai cô.
 
Lại nhớ đến chiều hôm đồn bị đánh, nếu nói ra ắt có người cho là dị đoan, nhưng thử hỏi chiều hôm ấy, tự nhiên giây cờ trước sân, trụt dài, cờ trụt xuống ngang nửa chừng rồi nằm lại đấy. Tôi đột nhiên thấy, nghĩ chắc một điềm báo không may, nhưng im lặng ra kéo lên, và chỉ biết cầu nguyện để may ra!!!
 
Hôm ấy là ngày 21 tháng 7 năm 1952, tôi nhớ chẳng bao giờ quên!
 
Và kể từ ngày lên thiết lập cơ quan đến nay là đúng một tháng mười lăm ngày.
 
Lại nhớ rõ ngày mẹ tôi chết đúng là ngày vía Đức Phật Quan Thế Âm, 19 tháng 6 âm lịch!
 
Những tin tức còn cho biết thêm rằng lúc mẹ chết, chị em tôi đã liên lạc được với vợ tôi và cảm động thay vợ đã “xén” chiếc neo đang có, lấy một khúc đưa cho chị em tôi về mua hòm chôn mẹ tại chân núi Cây Sanh, cách Tam Kỳ khoảng 5 cây số.
 
Vẫn tiếp tục làm việc trong một tinh thần vô cùng dao động, nhưng để giúp cho dân chúng có được một cơ quan giải quyết những can thiệp khi bị Pháp bắt giam, khi cần di chuyển về tỉnh hay đến các tỉnh khác buôn bán.
 
Nhưng Cộng Sản vẫn tìm đủ cách sát hại, mà đến nay gần cuối cuộc đời trong một con người sống mạnh với “tâm linh” tôi có thể đoan quyết – TẤT CẢ ĐỀU CÓ ĐỊNH MỆNH – vì khi chết là chỉ đạp một cái đinh nhỏ cũng chết, nhưng chưa đúng lúc là không nên khiếp sợ hay né tránh!
 
Một buổi sáng, khi ra đến chỗ làm việc, tôi “quên” không để những em cận vệ quan sát trước, mà lại đi ngay nơi bàn làm việc, định kéo ngăn kéo “hộc” bàn ra. Nhưng ngăn kéo bị kẹt. Em Khan chạy ngay lại:
 
-         Xin anh cho em xem xét lại!
 
Em cúi xuống dòm
-         Có “mìn” chúng đặt rồi. Anh ra ngoài chơi, chờ em lấy món “quà” sẽ vào.
 
Thế là em dùng kéo cắt ngay sợi dây, và lôi ngăn kéo ra vừa giải thích:
 
-         Bọn nó hấp tấp không nghĩ rằng ngăn kéo đẩy vào là phải đợ tay từ từ đưa vào chứ không làm như vậy là ngăn kéo sẽ “xệ” xuống, làm sao kéo ra được.
 
   Rồi em cười khá thích thú, và nói thêm:
 
-         Quà này chúng đã tặng thì tối nay ta lại dùng nó mà “tặng” lại bọn chúng thôi!
 
Nghĩa là chính quả mìn này, tối nay các em lại dùng đặt ở gần nơi các em ngủ, trong khi canh gác cho tôi.
 
Chúng tôi thường có một quy luật là tối đến không ngủ trong đồn Cẩm Lậu, như dân chúng đã khuyên can, có nói ở một đoạn trước, mà sau khi hết làm việc di chuyển hồ sơ hay máy đánh chữ về đồn, chờ gần tối rút ra khỏi đồn cùng 5 em, đi ngủ một nơi đã định trước. Chỗ ngủ thường thay đổi, mà khi đến nơi xin chủ nhà vào trong, tôi nằm ngủ ngay trước cửa có hai em nằm hai bên. Ba em còn lại sẽ chia nhau ra trước đường đặt “mìn” hoặc cảnh giác chung quanh nhà tôi đang ngủ. Nguyên tắc là phải hiểu rằng Cộng Sản thường không đi ngoài ngõ chính mà hay băng từ rào này qua rào khác, không bao giờ chúng tấn công ta mà chưa nắm được quy  luật của ta, và đặc biệt trong chúng ta là phải có kế hoạch trước “khi bị phát giác hay đánh ở mặt nào thì phải di chuyển hay tấn công đội hình ra sao.”
 
Bởi có những kinh nghiệm như trên nên chúng tôi rất tin tưởng.
 
Các em lại thường quả quyết với tôi rằng ngoại trừ trường hợp ta lọt vào vòng vây chúng thì mới nguy thôi, chứ khi chúng đi lẻ tẻ mà gặp ta là chúng chạy ngay, nếu không phải chúng đã thấy trước ta từ xa lại, nhưng rồi – cũng bắn và chạy.”
 
Rồi sau đấy vài hôm, đang ngủ mê, một em đã đập nhẹ và báo tin:
 
-         Anh nghe bọn nó tuyên truyền.
 
Rồi em nói như điện tử:
 
-         Chúng đang tuyên truyền ở xóm dưới. Chắc là xóm cây đa Bà Cả.
 
Tôi thức dậy, ra sân đứng nghe chúng nói những gì, thì em Cất đã cười.
 
-         Anh chờ xem! Thằng Bình chuyên viên bắn V. B. sẽ ra tay!
 
Em nói chưa dứt lời thì, trước ngõ nơi tôi đang ngủ một tiếng nổ, và sau đấy vài phút, nơi có tiếng loa tuyên truyền, một tiếng nổ chát chúa, làm cho đám tuyên truyền im ngay.
 
Thật quá tài, và đúng câu “đạp gai lấy gai mà lể” vì chính những em này trong đám chúng mới trị chúng hiệu quả và nhanh đến thế.
 
Đấy chỉ là một cây súng trường, nhưng khi muốn sử dụng, các em gắn vào đầu súng một quả V. B. và nổ súng theo chuyên môn, sở trường, nghiêng cây súng cỡ nào, là đạn sẽ rót đúng nơi muốn bắn.
 
Thấy tôi thầm khen, các em đã giải thích thêm, trước khi lại vào nhà tiếp tục ngủ.
 
Cho đến một hôm, hai con tin từ vùng khu chiến về.
 
Họ không dám nhìn tôi, và nhờ người đưa tôi xem một lá thư chính tay vợ tôi viết gởi về. Liếc qua những dòng chữ mà vợ tôi khuyên không nên bắt đồng bào (!) vì đây chỉ là việc của quân đội.
 
Tôi thừa biết, mỉm cười chua chát và cho họp họ lại
 
-         Việt Cộng có một cái ngu nhất thế gian là cứ nghĩ ai cũng “NGU” hơn mình. Bọn chúng không nghĩ rằng tôi lại không biết lá thơ này vợ tôi đã được đọc cho mà viết hay sao. Vả chăng trong thư lại bảo tôi đừng bắt đồng bào, vậy gia đình tôi lại không phải loại đồng bào như các bác đây sao?
 
Rồi tôi khẳn giọng nhắc lại lời hôm trước.
 
 
 
-    Nếu họ cương quyết thì bà con cứ ở đấy! Nhưng nếu vợ tôi lại chết, dù    
         dưới hình thức nào, tôi cũng không thể ngu dại mà không nghĩ rằng họ
         đã quyết làm cho tôi đau khổ mà “rùn chí.”
 
Và, tôi chỉ nói thêm một câu ngắn trước khi ra về tiếp tục làm việc.
 
-         Họ vừa ngoan cố trong độc ác, vừa quá ngu, ngu không thể nói được nữa!
 
Và, phải thành thật nói rằng ngay từ ngày ấy tinh thần tôi luôn bị xáo động, chưa biết phải làm gì trước sự ngoan cố của bọn họ.
 
Chắc bọn họ chỉ kéo dài đến một hôm nào sát hại được tôi. Họ dùng đủ mọi cách, nhất là mỹ nhân kế, nhưng rồi cuối cùng cũng đã bị tôi điểm ngay vào mặt, nếu không thực hiện được trò “đạp gai lấy gai mà lể” mà xung quanh thường cho là sở trường của tôi.
 
Một sáng nọ trên đường đến chỗ làm việc như thường lệ thấy một con chim khá lớn, nhảy trước mặt, tôi rút súng bắn một phát. Chim trúng đạn chết ngay.
 
Các em theo sau mừng quá, chạy đến la lớn:
 
-         Chết! Nó chết rồi.
 
Nhưng quả là một sự bất ngờ, từ dưới cống nước gần ngay đấy, một tên du kích dong tay ra đầu thú … Em khai tên và cho biết là em về nằm đây từ hai hôm nay, theo lệnh xã đội để ám sát ông Phan Vỹ cho được. Em còn chỉ cho biết thức ăn mang theo, cũng như cỏ dưới cống đã bị dày xéo nát cả …
 
Tôi nghe em kể về tâm tư, nhưng giao cho em Khan, theo thủ tục liên lạc ngay với hội đồng xã và cơ sở để biết thật rõ về em trước khi đưa vào “thử thách.”
 
Và cũng tai hại là chúng tôi thường hay vào làng, mà bọn du kích đã nắm  được quy luật. Chúng cho một tay súng – chắc là khá lắm – nằm chờ sẵn, súng gác trên một mô đất. Khi chúng tôi vừa đi đến ngang tầm súng, tên này bắn ngay vào đầu, nhưng như đã nói - số chưa chết, đạn trướt qua bên. Thế là tôi hô “xung phong” để tất cả cùng chạy lên. Nhưng tên du kích đã thoát về phía trước, chạy ngay vào đám mía. Dĩ nhiên, theo thông lệ, thấy tôi dang tay ra, cả mấy em ngồi lại bố trí mà không truy kích, bởi biết tiến lên là bị
quỷ kế của chúng trong đám mía.
 
Rồi ngày đau buồn nhất, ngày tang thương nhất của cuộc đời đã đến!
 
Tin từ vùng khu chiến báo cho biết  VỢ TÔI ĐÃ CHẾT!
 
Tôi lặng người, không còn khóc được nữa. Cố giữ cho người khỏi điên loạn, tôi về đồn nằm, Hồ Văn Ánh biết được tin chạy ngay đên bên tôi. Anh ấy chỉ còn biết ngồi im lặng để nhìn tôi.
 
Chung quanh, mọi người không ai để bất cứ một tiếng “động” nào xảy ra trong giây phút này. Tôi cố tự tìm hiểu trong chính tôi, và sự im lặng lúc ấy đã làm cho khá nhiều người nhìn tôi như lo ngại.
 
Rồi tôi quyết định.
 
Đi lầm lũi đến nơi 38 con tin đang có mặt, mà biết sau lưng là cả đám các em cận vệ cùng sự có mặt của Ánh.
 
Cho tập trung họ ra sân, mà họ đang vô cùng hoang mang bởi dĩ nhiên đã nghe tin vợ tôi chết, và không biết tôi sẽ có thái độ nào.
 
Khi mọi người ra đầy đủ trước sân, tôi lên bục cao đứng nhìn họ, nhất là nhìn ngay mặt cha tên Đại biểu Quốc hội, rồi đến vợ tên Chủ tịch.
 
Tôi im lặng khá lâu, họ im thin thít.
 
-         Bây giờ chắc tất cả đã nghe tin vợ tôi chết rồi phải không? Và tôi hẳn phải biết rằng không riêng mấy người tại đây, mà ngay cả lũ sát nhân trong hàng ngũ Cộng Sản tại khu chiến đang chờ xem cách đối phó của tôi.
 
Tôi ngưng một lát.
 
-         Dĩ nhiên, tôi không dại để mắc vào bẫy của các người mà trả thù trong lúc này, nhưng tôi rắn rỏi hơn:
 
-         Tôi không phải là một kẻ bất nghĩa đối với vợ, bất hiếu đối với mẹ, mà nhất là bất tri trước một đám người khát máu như Cộng Sản.
 
Tôi lớn tiếng:
 
-         TÔI TUYÊN BỐ CHO TẤT CẢ RA VỀ, NHƯNG TRONG VÒNG 24 GIỜ SAU TẤT CẢ PHẢI DỌN SANG BÊN KIA SÔNG MÀ SỐNG, BÊN NÀY SÔNG LÀ VÙNG QUỐC GIA, CỦA NHỮNG NGƯỜI CHUỘNG CÔNG LÝ VÀ YÊU HÒA BÌNH. GIA ĐÌNH CỦA NHỮNG KẺ SÁT NHÂN HÃY QUA SỐNG VỚI CHÚNG!
 
Không để ai lên tiếng, và có lẽ họ cũng thừa biết tâm trạng tôi lúc này không lợi cho họ lên tiếng – dù chỉ kêu nài. Họ im lặng.
 
Tôi lại tiếp tục, cũng giọng đanh sắt như lúc nãy.
 
CÁC NGƯỜI HÃY THU DỌN VÀ ĐI NGAY, ĐỪNG CHẦN CHỪ VÀ KHÔNG NÊN NGOAN CỐ ĐỂ THỬ THÁCH THÁI ĐỘ VÀ SỰ CƯƠNG QUYẾT CỦA TÔI, TÔI ĐÃ DỨT KHOÁT!
 
Nói xong tôi xuống bục, dắt hai trong những em cận vệ ra đi, và ra dấu những em kia ở lại chờ nghe dư âm trong họ, chờ họ ra về hết sẽ về sau.
 
Tôi về tỉnh nghỉ dưỡng sức, và để ổn định tinh thần sau khi báo cho tỉnh biết tin.
 
Ông Tỉnh trưởng Tống Quyền biết nỗi buồn khổ của tôi. Ngày hôm sau ông mời vào văn phòng, và sau khi an ủi rút ngay trong ngăn kéo đưa cho tôi xem vừa nói:
 
-         Đấy anh xem! Pháp hết nghi Trần Thế Kỷ lại đặt thành nghi vấn rằng trận Phù Kỳ là do anh dựng lên. Hôm nay chắc rằng nghe tin chị cũng đã bỏ mình tại khu chiến sau khi bác chết, Pháp sẽ vô cùng mắc cỡ vì nguồn tin này. Rồi ông chìa tay lấy “văn thư” của Thiếu tá Blin, trong ấy đã thông báo cho tòa Tỉnh trưởng Quảng Nam biết là theo tin phòng nhì trận đánh vừa qua là do tôi thông mưu với Cộng Sản. Ông Quyền xé nát lá thư và vứt vào sọt giấy vụn.
 
-         Thật là đáng buồn!
 
Ông không nỡ nói là “may cho anh”, rồi nhìn tôi ái ngại
 
-         Nay có lệnh tỉnh nhà được thành lập một đoàn hành chánh lưu động, tôi muốn anh về tổ chức này, bỏ chuyện Phù Kỳ cho nhẹ bớt đầu óc, anh nghĩ sao?
 
Dĩ nhiên là tôi bằng lòng ngay. Và, sau thời gian này tôi không còn bám lấy Phù Kỳ nữa mà là Trưởng ban 2 của Đoàn Hành chánh lưu động do ông Cao Quảng Lương, nguyên Huyện trưởng Đại Lộc làm Trưởng đoàn.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
BÌNH ĐỊNH NÔNG THÔN (1953)
 
 
Đoàn Hành chánh lưu động có mục đích bình định, nhất là những vùng “xôi đậu” nghĩa là ban ngày chúng ta kiểm soát, nhưng tối lại Cộng Sản về hoạt động.
 
Đoàn gồm có 4 ban, đứng đầu là một trưởng ban. Trong mỗi ban có 10 nhân viên gồm đủ các ngành Hành chánh, Y tế, Công an, Thông tin, Xã hội. Cán bộ trong các ban được võ trang bằng súng nhỏ, kèm theo là tùy theo an ninh của mỗi vùng công tác có từ một đến hai Trung đội Nghĩa Dũng để bố phòng cho nhân viên làm việc.
 
Bốn chúng tôi là quý anh lê Đình Duyên, Phan Thiệp, Nguyễn Thanh Bích – em ruột anh Nguyễn Rô, bạn học cũ của tôi và do tôi giới thiệu với ông Tỉnh trưởng gọi từ Sàigòn về và, tôi là Trưởng ban.
 
Ông Cao Quảng Lương có một văn phòng do Hồ Ba (con ông Hồ Ngân, nguyên Tỉnh trưởng) phụ trách. Nhưng sau này Ba theo Việt Cộng lên núi luôn.
 
Kế hoạch hành chánh lưu động này thật vô cùng phí phạm, bởi ban ngày ta đến làm việc, tuyên truyền, hay cung cấp giấy tờ thì tối lại Việt Cộng về, họ không dấu gì mà đem ra trình bày, chưa nói là báo cáo khá đầy đủ. Người dân thật tình chẳng mấy tin và giúp cho ta được gì.
 
Vùng hoạt động tương đối khó khăn và nguy hiểm là vùng Cổ Cò, một địa danh nằm trong mật khu La Thọ của Cộng Sản, quan trọng nhất của Quảng Nam.
 
Vì lẽ ấy việc đụng độ với Cộng Sản xem như thường xuyên, chưa nói là tối lại họ thường về bắn phá. Có điều khá rõ ràng là bởi ta cũng đóng quân bất thường, mà họ không nắm được quy luật nên chỉ quấy phá chứ không tạo thành mặt trận, chưa nói là lực lượng của họ lúc bấy giờ cũng chẳng có gì đáng quan ngại, phải tập trung ra Bắc cho chiến trường, để sau này có câu chuyện Điện Biên Phủ là vậy.
 
Điểm chính yếu của họ là Xã đội Cộng Sản có trách nhiệm bám đất giành dân, mới mong thu được thuế, mà cung cấp cho chiến trường.
 
Một lần đụng nhau là một hay hai người của phe ta hoặc bị thương, hoặc chết. Và, khi có người bị thương thì không phải dễ dàng chuyển về bệnh viện tỉnh hay ngay cả chuyển được xuống đến quốc lộ.
 
Một câu chuyện của những trận đánh này, đến nay vẫn khó quên.
 
Đêm ấy chú cán bộ Công an của ban 2 chết một cách vô cùng mỉa mai.
 
Khi trung đội Nghĩa Dũng ngoài xa đang đụng độ với một toán địch, súng nổ liên hồi, thì trong này anh em hành chánh được tôi điều động ra bố trí. Thấy vắng chú Hân, cán bộ công an.
 
Sau độ một tiếng đồng hồ, tiếng súng im lần, và khi tất cả được trở vào vẫn không thấy chú bạn trẻ ấy. Anh em đang nghi ngờ “hay là chiều nay chú nhảy dù về tỉnh?”
 
-         Không! Lúc tối tôi và Hân nằm ngủ gần nhau kia mà! Một người lên tiếng.
 
Thế là anh em chia nhau đi tìm . Nhưng khi vào tận trong “hóc” nhà, thấy chú nằm chết tại đấy.
 
Chẳng ai khỏi ngạc nhiên về cái chết của chú, về viên đạn súng cối của địch bay từ xa đến, xuyên qua mái nhà, rồi cắm ngay vào chú. Không nổ! Nhưng chú đã bị viên đạn đâm từ sau ra trước mà chết.
 
Anh em chỉ còn biết than “rõ ràng số mệnh!” Nhưng không khỏi vài người đã chuyển câu chuyện thành một nguyên tắc “Đạn tránh ta, chứ ta không nên tránh đạn” để khuyên nhau khi chiến đấu cứ lăn xả ra. Người đến số chết là tránh, núp, hay ngay cả chạy sau cũng chết!
 
Để Hân lên giường rồi hôm sau chuyển về tỉnh.
 
Cũng nhân những chuyện này trong ban 2 thường phản ứng với tôi là tại sao cứ lãnh đi những nơi xung yếu, nguy hiểm, trong khi ấy những ban khác không thấy đi nơi nào như ban 2.
 
Tôi chẳng biết trả lời sao hơn là vừa cười vừa dẫn giải một chuyện mà sau này nghĩ lại quá vô lý:
 
-         Các cậu nếu thích yên ổn thì xin đổi qua ban khác, ban 2 là ban thích đi những nơi nguy hiểm thôi.
 
Rồi không quên tiếp:
 
-         Mấy ông kia con đông quá, đi những nơi nguy hiểm rồi chết ai nuôi con?
 
Nhưng cũng không quên giải thích:
 
-         Vì ban ta đi những nơi nguy hiểm nên dĩ nhiên có ưu đãi hơn.
 
Và rồi, ban 2 vẫn có những cán bộ thích nguy hiểm không chịu rời, không chịu xin thuyên chuyển.
 
Lúc này, một số anh em trước sống trong vùng do Cộng Sản kiểm soát bắt đầu lìa bỏ, ra vùng Quốc gia, mà họ thường gọi là “nhảy đồn” trong số ấy có các anh Nguyễn Đình Thiệp, Nguyễn Tiệp, Bùi Ân, Nguyễn Ái và tiếp sau là Vũ Hối.
 
Trong những chuyện các anh ra về phải nhớ đến chuyện anh Nguyễn Đình Thiệp làm một kinh nghiệm cho thời ấy. Khi bốn anh ra vừa đến đồn Bà Rén, ranh giới giữa hai vùng, người trưởng đồn hỏi anh Thiệp là các anh làm gì trong ấy mà “trốn” về. Anh Thiệp chưa hiểu được ý anh đồn trưởng nên trả lời là làm Truyền Bá Quốc Ngữ. Vừa nghe đến đây, anh đồn trưởng đã ỡm ờ:
 
-         Làm Truyền Bá Quốc Ngữ thì có gì mà phải trốn Việt Cộng về thành?
        Tại sao các anh không ở trong ấy cho yên thân?
 
Đến đây anh Thiệp mới chợt nghĩ ra thâm ý của người trưởng đồn
 
-         Chúng tôi có bạn bè phía Quốc Gia, nên xin về sống dễ hơn.
 
-         Bạn các anh là ai?
 
Sau này anh Thiệp mới kể lại rằng, nói đến tên Phan Vỹ chắc là ổn hơn, vì các anh cứ theo tin đồn từ vùng khu chiến thì Phan Vỹ, làm khá lớn, mà vùng trong thường tặng cho cái danh là “đại Việt gian”, nên các anh hãnh diện nói ngay.
-         Bạn chúng tôi nhiều, như Phan Vỹ chẳng hạn.
 
Cái may của các anh là anh trưởng đồn này trước có làm với tôi, nên khi nghe thế đã vui vẻ nhận lời để các anh về tỉnh ngay. Nhưng nếu ngược lại gặp một người chẳng quen biết, thì không hiểu rồi các anh sẽ bị xử sự ra sao.
 
Bốn anh thiệp, Tiệp, Ân, Ái được ra về tỉnh và vào ngay trại Chiêu An.
 
Một thời gian khá lâu, các anh vẫn chưa được giúp đỡ ra ngoài để tìm việc làm, để tung hoành như bao nhiêu hoài bão ôm ấp những ngày trong khu chiến, vì chưa được Ty Công an Quảng Nam xét đến, các anh tâm sự với anh Nguyễn Rô. Anh Rô chưa biết tìm cách nào giải quyết nhanh hơn, nhất là thuyết phục được ty công an dù lúc ấy anh đang là Trưởng ty Thông tin, mà anh nghĩ ra một lối thoát, nhờ tôi lên tiếng. Đến gặp Thông, lúc ấy đang là Chánh văn phòng Ty Công an với lối nói “khích” thường ngày.
 
-         Tôi không hiểu tại sao các anh giữ những anh Thiệp, Tiệp, Ân, Ái lâu đến thế ? Xin nói thật với các anh là những anh bạn ấy thành tích và tinh thần chống Cộng còn cao hơn tôi khá nhiều lần!
 
Anh Thông hiểu ngay thâm ý tôi, muốn nói thế nghĩa là ám chỉ “ngay như các anh … chẳng thấm vào đâu, so với các anh ấy!” mà anh chận ngay lời tôi.
 
   - Thôi anh Vỹ ơi! Nói khó nhau làm gì? Vì quá đa đoan công việc mà chưa
      giải quyết kịp, chứ có nghi ngờ gì quý anh ấy đâu. Tôi sẽ đề nghị để các
      anh ấy ra ngay.
 
Hai hôm sau bốn anh đã được tự do ra ngoài, về Huế, rồi bay nhảy, sau này trở thành những tay chống Cộng nổi tiếng. Nay thì kẻ chết, người còn tản mác chẳng biết về đâu!
 
Nghĩ lại, cái lối nói khích ấy tác dụng rất “ăn chắc” trừ khi chính lòng mình còn tự cao, hay cứ đề phòng hoặc hay “cả nghi” thì chẳng mấy khi chịu làm.
 
Và, trước các hoạt động và hoàn cảnh, nhiều bạn bè muốn tôi lập lại gia đình.
 
Anh Nguyễn Rô đã theo ý của ông Tỉnh trưởng, cùng các anh em trong ty thông tin như Nguyễn Bửu. Nguyễn Hữu Tỉnh … đứng ra lo liệu cho tôi.
Kiên định đi tìm vợ cho tôi, anh Rô thân mật hỏi:
 
-         Mình hỏi thật chú! Nay mình muốn đi nhắm nơi cho chú, vậy theo chú thì chú có những điều kiện gì?
 
-         Chẳng dấu gì Rô, đành rằng việc vợ chồng là do duyên nợ, do yêu nhau, thích nhau. Nhưng nay, trong hoàn cảnh và trường hợp mình, chẳng nghĩ thế. Nay Rô hỏi mình trả lời ngay là các bạn cứ nhắm mà dò cho mình một nơi “tuổi tác” – thì hoặc phải khôn lớn hẳn, hoặc còn nhỏ hẳn nghĩa là dại thì cứ dại cho mình dễ uốn nắn. Về sự nghiệp – giàu thì giàu thật sự, đúng là mỏ vàng, chứ đừng mỏ đất sét, hoặc nghèo thì nghèo, chứ đừng dở dở ương ương. Và, sau cùng là không xấu tệ lắm nhưng cũng chẳng cần phải đẹp tuyệt thế làm gì, nhưng đừng là người đã có con mà sau này con ông, con bà rắc rối. Chỉ thế thôi.
 
Cả mấy anh bạn cười ồ lên trước đề nghị của tôi nhưng rồi xác nhận:
 
-         Mới nghe là dễ nhưng cũng khá khó lắm đấy!
 
Thành phố Hội An nhỏ thân thương, rất dễ hiểu biết nhau, nên chỉ mấy hôm sau Rô đã cho tôi biết qua 3 người của 3 hoàn cảnh như đã nói để tôi quyết định, và cuối cùng tôi đành để cô con một nhà giàu và cô lớn tuổi, khá đứng đắn nhưng đã có chồng chết, có một con, sang bên và quyết định “tái giá” với một nữ sinh, con một lão đồng chí nghèo.
 
Cuộc hôn nhân được chính thức đơn giản với sự có mặt của mấy anh bạn Ty Thông tin và ông Tỉnh trưởng Quảng Nam cho người cùng mang theo một cái “đồng hồ” treo tường tặng chúng tôi, kỷ niệm.
 
Cuộc sống trải qua khá nhiều chuyện, nhất là khi tôi hơi lớn tuổi lại được một nữ sinh còn trẻ kết duyên, trước không ít ao ước của vài bạn đồng trang lứa với “nàng”.
 
Nhưng rồi, mọi việc êm xuôi tốt đẹp.
 
Cho đến một ngày, trong khi đang hoạt động trong Đoàn hành chánh lưu động như đã có nói, thì được điện Phủ Thủ hiến Trung Việt mời ra gặp ông Thủ hiến Phan Văn Giáo.
 
Thời ấy ông Phan Văn Giáo bị, và được khá nhiều dư
luận của miền Trung.
Khen vì là người làm việc khá linh động lại đang có thế lực nên vừa là Thủ Hiến lại vừa mang Trung tướng Thanh tra Quân đội, mà chê cũng chẳng phải ít. Dư luận thường chê bai ông trác táng, nhất là khi vài bậc cha mẹ bởi ham của ham danh đã đem “hiến” cả cuộc đời con gái mình cho ông ta chỉ vì một chữ ký, một áp phe.
 
Thường có thói quen, phải hiểu chút ít về tư cách, về tính tình một người nào mình sắp phải đối diện, nên tôi tìm hiểu về ông ta trước khi vào trình diện.
 
Trước hết, không bao giờ chịu ngó nơi khác, mà nhìn ngay mặt ông ta khi nghe, hay muốn nói gì.
 
Ông Giáo dùng ngay thủ thuật của kẻ lớn, khi muốn chinh phục ai - vào thời ấy:
 
-         Nghe báo cáo, em là một thanh niên can trường, thông minh và ... khá đặc biệt nên hôm nay gọi em về đây, dành cho em một “chỗ đứng” rất thích hợp.
 
Rồi như không để tôi suy nghĩ lâu:
 
-          “Qua” vừa cử một Tỉnh trưởng Phú Yên mới, mà anh này là người ở kháng chiến về. Qua muốn đưa em vào làm “Phó” cho anh ấy.
 
Ông ta nghỉ một phút, vừa như dò ý tôi
 
-         Tức là em sẽ vào làm Phó Tỉnh Trưởng cho Nguyễn Văn Đạt tại Phú Yên. Em đồng ý chứ!
 
Ông Phan Văn Giáo đang như “chắc mẫm” là tôi sẽ vô cùng vui mừng khi nghe tin này. Nhưng ông đã ngạc nhiên khi nghe tôi nói:
 
-         Thưa ông Thủ Hiến, trước tiên tôi xin ông tha thứ và thông cảm rằng tôi có thói quen, không hề dùng hai tiếng Cụ để nói với một người không già, không có râu.
 
Tôi đột ngột ngưng ngay, để dò xem phản ứng của ông
 
-         Rất hay! Lời nói ít có của tuổi trẻ! Em cứ tự nhiên và tiếp tục!
 
Tôi khá thú vị trong lòng, khi nghe ông Giáo nói câu này, bởi thời kỳ ấy không một người nào từ Tỉnh Trưởng đến Nha Sở lại dám chẳng gọi ông là Cụ Thủ Hiến khi muốn thưa hỏi một việc gì.
 
-         Thưa ông Thủ Hiến, được cho nhận một chức vụ lớn như vậy, nghĩa là cách xa chức vụ hiện tại ba “bậc” còn ai chẳng vui mừng. Nhưng, tôi nghĩ rằng cái quan trọng là có làm được việc không mới là điều cần, và, như để khích động ông ta – mới đáp lại đúng lòng ưu ái của người đề bạt cho mình.
 
Tôi ngưng một giây rồi tiếp:
 
-         Xin ông Thủ Hiến cho được vào tận nơi xem qua tình hình, rồi khi về sẽ trình bày là có nên nhận lời ưu ái của ông Thủ Hiến hay lại đành phụ!
 
Ông Giáo tỏ ra, chẳng cách nào hơn, khen:
 
-         Tốt! Rất tốt!  Vậy em về chuẩn bị rồi ra đây nhận nhiệm vụ lệnh đi Phú Yên công tác, xong về cho qua biết ý kiến.
 
Ông chờ tôi.
 
-         Vâng, xin ông Thủ Hiến cho tôi năm hôm, trở về nhận nhiệm vụ lệnh lên đường.
 
Ông Giáo đưa tay bắt tay tôi, vui cười như từ thuở nào chưa gặp một thanh niên nào kỳ lạ như tôi, bởi ông chỉ gặp toàn người cúi đầu, “vâng và dạ”. Ra khỏi Phủ Thủ Hiến, lòng tôi vô cùng thỏa mãn với quyết định của mình, không mảy may ân hận lo ngại hay hối tiếc.
 
Trở về Hội An, việc trước hết là nghe vài anh bạn tại Đoàn Hành Chánh, bởi biết câu chuyện quá sớm và bởi “suy bụng ta ra bụng người” lên tiếng ngay khi vừa gặp:
 
-         Thôi, thế là chuẩn bị làm tiệc đãi cụ Phó Tỉnh Trưởng lên đường thôi!
 
Nghe đến mấy tiếng “cụ Phó Tỉnh Trưởng” tôi cảm thấy lợm cả người, vì ngay ngày ấy chưa đầy 30 tuổi - ở cái thời “bộc phát” tôi luôn nghĩ đến cái cảnh “bộc tàn”, chỉ nhã nhặn đáp lời anh em.
 
-         Đừng vội nghĩ khi vừa nghe đồn!
 
Anh em ngạc nhiên vì lời đính chính:
 
-         Tôi đâu đã nhận đi Phó Tỉnh trưởng Phú Yên! Tôi xin đi quan sát về mới quyết định!
 
Vài anh em thương tôi hẳn đã bực mình vì thái độ ấy, bởi chăng mấy người khỏi lo ngại là biết đâu ông Thủ Hiến lại chẳng thay đổi ý kiến. Nhưng tôi thường tin tưởng là mọi việc đều do định mạng, và thường tin là chẳng ít sự việc thường xảy ra “cái may trong rủi, và ngược lại – là cái rủi thường có trong cái may”. Tôi bình tĩnh, và sau ba hôm trở ra Huế, vào định lãnh nhiệm vụ lệnh ở phòng văn thư, thì tại đây cho biết là lệnh vào trình diện ông Thủ Hiến.
 
Vừa thấy tôi bước vào, ông Giáo đã vồn vã bảo ngồi, nghe một quyết định mới
 
-         Nay thì em không phải vào Phú Yên nữa. Một trọng trách mới phải giao cho em!
 
Tôi vô cùng ngạc nhiên chờ nghe, ông Giáo tiếp theo, với cả một thích thú và tin tưởng
 
- Việc giải phóng các tỉnh Liên khu V là tối quan trọng. Từ Phú Yên đánh ra
   đã có Nguyễn Văn An đảm trách. Nay giao cho em cầm đầu một đoàn
   quân thú lưu động từ nửa tỉnh miền Nam Quảng Nam đánh vào.
 
Sợ tôi chưa hiểu, ông Giáo giải thích thêm
 
-         Em có một tiểu đoàn lính và một đoàn Hành chánh lưu động dưới quyền và thực hiện chương trình giải phóng này với sự yểm trợ của quân đội Pháp. Em đồng ý chứ ! Qua tin em đủ sức làm việc này. Em nghĩ sao.
 
Không đợi tôi trả lời, ông đã nói như say sưa:
 
-         Tập luyện lính xong, em cứ thế tiến vào. Từ trong Nam Nguyễn Văn An sẽ đánh ra.
 
Tôi đi ngay vào nguyên tắc quan trọng, hơn là nói đến động cơ khác, trong khi lòng như mở cờ, vì nghĩ rằng “thật là một cơ hội tốt nhất, bởi trước hết là chẳng chịu dưới quyền ai” một bản năng duy nhất của tuổi trẻ mà tôi thường có. Tôi vào đề ngay:
 
-         Thưa ông Thủ Hiến, nhưng lính tráng làm sao có được? Và, cấp chỉ huy tôi phải đào đâu ra?
 
Như đã đánh ngay vào chỗ yếu mà ông có sẵn, ông giáo cười một cách khoái trá.
 
-         Em khỏi lo! Việc ấy qua đã có dự liệu rồi. Lính, qua sẽ cho ra Cù Lao Ré “hốt” ngay cho em mấy trăm thanh niên. Cấp chỉ huy, em cứ về Quảng Nam, tùy ý trưng dụng tay nào cũng được, tùy thích em. Qua đã ra lệnh cho Tỉnh trưởng Quảng Nam đáp ứng tất cả những điều em cần đòi hỏi.
 
Tôi đã biết, lúc này Tỉnh trưởng Quảng Nam là cụ Đinh Văn Vĩnh mà ông Tống Quyền đã bị thay thế sau ngày Thủ Hiến Trần Văn Lý rời chức vụ. Tôi đồng ý những điểu ông Giáo nói, từ giã quay về Quảng Nam tiếp xúc ngay với Đại úy Hồ Văn Ánh người đang làm Phụ tá với Trương Xuân Phong mà trước đây đã từng giúp tôi trong những ngày tháng đau khổ với Phù Kỳ.
 
Sau khi thảo luận với Ánh xong, để Ánh đủ thời giờ lập một danh sách từ cấp Tiểu đội lên đến Tiểu đoàn phó với tiêu chuẩn tránh rút những người dù
nổi tiếng “đánh” giỏi, nhưng mang tiếng hung dữ trong nhân dân, thường bị quần chúng xem như hạng kiêu binh. Tôi lên gặp cụ Đinh Văn Vĩnh. Như lời ông Giáo đã nói, cụ Vĩnh sẵn sàng dành mọi ưu tiên cho tôi từ việc cho thuê ngay một sở nhà trước Ty Cảnh sát làm trụ sở Tổng Đoàn và cho Phòng Quân Vụ lo điều đình với các Ban Hoa Kiều được tạm mượn các “chùa” trong thành phố làm nơi binh lính trú quân. 
 
Hai ngày sau, tin từ Đà Nẵng cho biết có xe sẽ chở lính vào giao lại, mà Hồ Văn Ánh lo việc tiếp nhận, đưa về các chùa, căn dặn kỷ luật giữ gìn sạch sẽ, lo bố trí việc ẩm thực để hằng ngày dắt nhau ra “xóm mới” tập luyện.
 
Trong khi ấy, một đoàn hành chánh do anh Nguyễn Thanh Bích thu nhận lại những cán bộ trước đây từng phục vụ trong Đoàn Hành chánh tại Quảng Nam cũng như treo bảng tuyển mộ thêm.
 
Không khí Hội An náo nhiệt như chưa bao giờ có. Nhưng lúc này chiến tranh cũng vô cùng khẩn trương. Ra khỏi Hội An một cây số là du kích Cộng sản nổ súng uy hiếp, cốt thu hẹp phạm vi kiểm soát của ta.
 
Mặt trận tại Bắc Biệt vô cùng sôi động, mà chẳng mấy người không nghe biết.
 
Biết rõ vị trí mình, tôi đi lại rất chu đáo, đề phòng mỗi khi phải về Đà Nẵng báo cáo hay tiếp nhận vũ khí. Lương hướng ở Nha Bình Trị.
 
Dĩ nhiên là lính tráng yểm trợ đầy đủ, chưa nói là tính cách ưu tiên phải được áp dụng, mà tôi khó quên ngày ấy mỗi khi xe chạy ngang đồn Quá Gián của lính Sénégale cổng phải cho giở cao khi thấy xe bật đèn sáng, chạy như bay qua đồn. Lính đồn này thường “ngán” cho đoàn lính Gamo 11, mà có lẽ họ nghe anh em lính Việt Nam gần đấy kể lại.
 
Tôi luôn giữ mình và giảng giải cho lính tráng hay nhân viên dưới quyền giữ đúng nguyên tắc không trở thành loại kiêu binh.
 
Rồi bỗng nhiên một sáng, được điện từ Huế đánh vào cho lệnh thu dọn ngay chuyển về một khu trong sân bay Đà Nẵng!
 
Thế là, như một trận giặc, mọi người về báo tin gia dình, bạn bè chuyển văn phòng, binh lính về ngay Đà Nẵng.
 
Quân sự có khác. Mới đầu cứ nghĩ khó khăn, nhưng rồi đến khoảng 5 giờ chiều chúng tôi đã về hẳn Đà Nẵng, chia nhau vào các trại, cho nhau nghỉ một hôm, để ngày sau tiếp tục việc hằng ngày tập luyện và huấn luyện.
 
Nhưng một biến cố đã xảy ra trong đêm, Hội An bị bộ đội Cộng Sản tấn công, và chiếm trọn đêm. Họ mở cửa lao xá, thả tù, nhưng gần sáng phải rút đi vì sợ Đà Nẵng vào giải cứu.
 
Sau này có người đã nghĩ như chính chúng tôi hay biết tin này, là tài giỏi, nhưng phải thành thật mà nói – chỉ có số mệnh, bởi nếu trong đêm ấy tôi còn ở Hội An, thì chẳng biết rồi sẽ ra sao.
 
Đoàn đang hoạt động thường lệ, tôi được điện về Huế gặp Thủ Hiến. Nhưng lúc về đến nơi thì ông Giáo về Nha Trang họp.
 
Ở lại Huế chờ đợi, tôi ghé vào Thành Nội thăm anh Huỳnh Hòa và anh Phan Khoang mà chúng tôi xem như những người anh từ thuở nào. Trong câu chuyện, anh Hòa cho biết một tranh chấp quyền hành đang xảy ra giữa Nguyễn Văn An, với chức vụ chỉ huy sứ Trấn Nam Trung, dựa vào thế lực của Tướng Pháp De Beaufort, để mong đoạt chức Thủ hiến của Giáo, trong khi Giáo ôm kỹ thế lực bà Từ Cung, thay mặt Hoàng Đế Bảo Đại vấn an thường xuyên mỗi chiều chủ nhật.
 
Thì, hôm sau khi lên Phủ Thủ Hiến xem chừng ông Giáo về chưa, lúc vừa ra đến sân, một xe khá đẹp đã chận đầu. Người trên xe bước xuống, ân cần tự giới thiệu là Nguyễn Văn An, và mời tôi lên xe … đi xuống phố, vừa đi vừa nói chuyện.
 
Cảm thấy một gì bất thường, nhưng bởi sáng nay có nghe anh Hòa nói qua về chuyện giữa ông này với Thủ hiến Phan Văn Giáo, nên giữ bình tĩnh chờ xem ông ta muốn nói gì.
 
-          Tôi nghe nhiều người nói về anh, nay mới hân hạnh gặp.
 
-         Ông thương mà nói thế, xin thành thật cám ơn ông.
 
-         Anh Vỹ ơi! Tôi muốn tỏ thật lòng mến chuộng anh, chứ không mảy may thiếu thành thật.
 
Rồi ông ta tấn công ngay vào vấn đề:
 
-         Tại Nha Trang đang cần một kiện tướng như anh, tôi đã cố tìm. Nay được nhiều người giới thiệu tôi mong anh vào giúp tôi một tay.
 
Như để rõ ràng hơn về nhận xét, ông An không dấu diếm:
 
-         Tại Nha Trang đã có khá đông, ngay cả những người anh từng quen biết. Nhưng tôi cần Tướng chứ không cần quân nữa!
 
Ông bỗng nhìn tôi như dò xét thái độ, trong khi tôi đang cân nhắc. Tôi nghĩ ngay rằng dĩ nhiên vào Nha Trang là ông ta sẽ dành cho mình những địa vị cao, nhưng chợt nhớ lại câu chuyện anh Hòa nói, tôi lại nghĩ ngay ra cái cảnh “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết oan là cái chắc” nên dè dặt trả lời.
 
-         Xin cảm ơn ông đã chiếu cố, nhưng để tránh tiếng “đời” ông cho tôi trả lời sau khi gặp ông Thủ hiến Phan Văn Giáo nay mai. Ông An, mỉm một cái cười của kẻ “tự đắc” mà sau này tôi mới biết ra rằng ông ta đã gặp mà xin ông Giáo thuận cho tôi vào Nha Trang. Thấy xe vừa đến phố Trần Hưng Đạo nên xin phép được xuống trong khi biết rằng ông An đã tin ở thế lực mình mà chắc sẽ không tha thứ. Dù sao. Tôi nghĩ rằng khi gặp ông Giáo sẽ hay, bởi tôi cũng chưa tin là ông Giáo thuận cho tôi vào Quy Nhơn.
 
Thấy ông Giáo chưa về tôi cho xe về Đà Nẵng và kể lại việc này cho hai anh Ánh và Bích hay biết. Cả hai đều đồng ý về quyết định của tôi, nhất là khi nghe kể về chuyện anh Hòa. Trong khi ấy Ánh kể cho nghe dư luận Hội An hầu hết cứ nghĩ như tin tình báo của Tổng đoàn 11  quá tài giỏi, chứ nào họ chịu nghĩ đến cái may của chúng tôi. Anh Bích kể cho nghe là trong khi tôi vắng mặt công an của đoàn đã lập được một kỳ công. Cộng Sản hoạt động tại nội thành đã bị công an khám phá và khai thác, bắt được một vũ khí bên cạnh cầu “Đơ lát” khiến ông Thị trưởng Lê Tá đã phải khuyên đám Ty
Công an Đà Nẵng chớ tranh chấp về phạm vi hoạt động mà mất mặt. Ông cảnh cáo họ là Đoàn 11 là con cưng của Phủ Thủ Hiến!
 
Ông Lê Tá lại là người rất nhiều tình cảm với riêng tôi, bởi ông là anh ruột thi sĩ Tố Như tức Lê Thúc Gia, người đã mang ơn tôi trong câu chuyện suýt mất “vàng” có kể ở một đoạn trước khi tôi còn làm thông ngôn tại quê hương ông.
 
Cũng trong dịp này Ban Công an kể cho nghe một chuyện khá vui. Một hôm chú công an Phạm Mùi trà trộn với đám Vệt Cộng và bắt được một nữ giao liên của chúng. Khi đem về dinh khai thác thì ra cô này trước kia là người tôi định hỏi làm vợ, nhưng khi cô ta hoạt động cho Cộng Sản, tôi đã “hồi hôn”. Khi bị bắt đem về đến nơi, và khi hỏi đến lý lịch cô ta mới thách thức rằng:
 
-         Các anh cứ trình với cấp chỉ huy các anh về tôi đi!
 
Thấy một tay Việt Cộng “ngon lành” như vậy, Mùi không bỏ lỡ dịp:
 
-         Cô biết cấp chỉ huy tôi là ai không mà nói ngon như vậy?
 
-         Ai lạ gì Phan Vỹ là cấp chỉ huy các anh.
 
Mùi và mấy chú công an ngạc nhiên quá nên “phăng” lần ra manh mối, cùng nhau cười, và nay đem chuyện ấy thuật lại tôi.
 
Tôi phải kể thật chuyện này các chú
 
-         Các cậu cứ tùy nghi. Nếu quan trọng thì làm, còn nếu xem chẳng có gì thì tha cho cô ấy.
 
Sau vài hôm, chú phụ trách này quyết định tha cho cô ta.
 
Vài hôm sau tôi trở về Huế, và vào gặp ông Thủ hiến Phan Văn Giáo. Đến đây tôi mới hiểu rằng ông Giáo vì chủ quan, hay vì một “thế kẹt” nào đấy đối với Pháp mà cương quyết buộc tôi phải cho cả đoàn vào Nha Trang đặt dưới quyền của Nguyễn Văn An. Tôi giải thích đủ cách nhưng ông cương quyết, không còn chịu nghe lời tôi.
 
Mặc dù không muốn trình bày câu chuyện anh Hòa đã cho biết chuyện Nguyễn Văn An với Tướng De Beaufort, nhưng nghĩ rằng phải viện một lý
do làm sao cho ông Giáo thay đổi được ý kiến, tôi úp mỡ.
 
-         Thưa ông Thủ Hiến, theo nguồn tin đã biết từ trong ấy mà hiện nay có khá đông anh em trước đã phục vụ dưới quyền tôi nay là những tay tin cậy của ông An, chưa nói rằng hôm vừa rồi khi ông Thủ Hiến vắng mặt ông An có gặp tôi tại đây, đã khuyến dụ tôi, nhưng tôi đã từ chối. Ông An tỏ ra không vui vì tôi. Vì lẽ ấy nếu nay tôi lại vào Nha trang, cái thiệt thòi, hay nói ngay cả cái chết sẽ dành cho tôi một cách nhục nhã, mà đó là lý do tôi xin ông Thủ Hiến nghĩ lại, cho tôi từ chối thi hành lệnh này. 
 
Ông Giáo thay đổi ngay thái độ, nhìn tôi với một cặp mắt dữ hơn
 
-         Tôi bảo anh phải thi hành!
 
-         Nhưng thưa ông Thủ Hiến! Mẹ và vợ tôi đã chết vì tôi. Nay chỉ còn cái tên Phan Vỹ thôi. Xin ông hiểu cho thế!
 
-         Nếu anh không tuân lệnh, tôi … sẽ làm tù anh ngay!
 
Có lẽ đây là câu nói sau cùng mà ông Giáo nghĩ rằng tôi phải khiếp sợ. Nhưng ông đã không ngờ
-         Vâng! Nếu phải ở tù … tôi xin ở tù ngay. Nhưng tôi không thể tuân lệnh để uổng phí cho sự hy sinh của mẹ và vợ tôi!
 
Vừa nói đến câu này, thì có lẽ từ văn phòng ngoài, ông Đổng Lý Văn Phòng của ông Giáo là ông Vĩnh Thọ đã nghe rõ bước vào, lại ngay cạnh tôi, giọng rất nhỏ ông khuyên tôi
 
-         Tại sao em cãi với ông cụ? Em ra ngoài tôi cần nói chuyện với em!
 
Tôi bước theo ông Vĩnh Thọ, vừa ra khỏi phòng, ông Thọ nói, vừa cười:
 
-         Không nên cãi lại ông cụ. Nhưng em đừng lo, qua có làm giấy em mới vào tù. Không sao!
 
Rồi ông xoa nhẹ vai tôi và nói một câu làm tôi nhớ mãi, nhất là tuổi trẻ, hiếu thắng khá nhiều
 
-         Ai không biết dùng Phan Vỹ là người có tội với Tổ Quốc!
 
Tôi cũng đã từng nghe dư âm tại Huế là ông Giáo luôn phải nghĩ rằng còn Bảo Đại là ông còn làm Thủ Hiến. Mà vì lẽ ấy cái trọng trách vấn an Đức Từ Cung hàng tuần mỗi chiều chủ nhật không được xem thường, cũng như việc làm ấy qua hình ảnh người đại diện hoàng tộc bên cạnh ông là ông Đổng Lý Vĩnh Thọ không cho phép ông thiếu lưu tâm.
 
Thế là tôi ra ngoài chơi chờ quyết định ông Giáo qua sự can thiệp của ông Thọ.
 
Ở lại Huế hai hôm sau, được điện từ Hội An vợ tôi đánh ra
 
-         Demande santé.
 
Tôi nghĩ, sao lại có điện hỏi thăm sức khỏe là gì? Chắc là có tin ta bị tù hay gì đây rồi. Tôi trả lời là “bình yên” và bảo vợ tôi ra Huế ngay.
 
Ngay chiều hôm ấy vợ tôi ra Huế và cho biết là ông Thủ Hiến Phan Văn Giáo vào Đà Nẵng họp tất cả nhân viên và binh lính lại.
 
-         Tao đã làn tù Phan Vỹ tại Huế rồi! Các chú có chịu thi hành lệnh đi Quy Nhơn không?
Họ nhìn cả vào anh Ánh, nhưng thấy anh im lặng, ông Giáo cho gọi anh vào văn phòng. Anh không chịu đi nên ông cho lệnh giam anh tại Ty Công an Đà Nẵng. Qua một đêm, anh Ánh đã chịu đi. Và, tất cả đã được xuống tàu vào Quy Nhơn ngay chiều hôm ấy.
 
Tôi cười nho nhỏ ngâm “sáng Đông Ba, chiều Thương Bạc thôi!” Chờ xem họ giải quyết ra sao sẽ hay!
 
 Vợ tôi thấy thế im lặng, sau câu an ủi của tôi
 
-         Tất cả rồi sẽ tốt đẹp! Định mạng mà!
 
Và, thế là chúng tôi ở lại Huế dò xem tin tức.
 
Mấy hôm sau tin cả thành phố Huế đã đồn vang.
 
 “Ông Ngô Đình Diệm sẽ về chấp chánh”. Họ còn đồn khá rõ ràng tất cả nhân viên công chức tại đây đều ký kiến nghị thỉnh cầu chí sĩ Ngô Đình
Diệm về chấp chánh, trừ hai người không ký là anh Võ Như Nguyện và anh Thận (Quảng Ngãi).
 
Nhưng khi đến thăm anh Phan Khoang, thì như Phan Thông đã lưu ý tôi là “anh Khoang luôn chủ trương quân chủ lập hiến. Ai nói ngược lại là anh hoàn toàn phản đối.”
 
Thủ hiến Phan Văn Giáo đi Sàigòn về. Tôi xin vào gặp.
 
Có lẽ đã thấm mùi, ông Giáo tiếp tôi lần này hoàn toàn không như mấy lần trước. Ông ngồi chờ nghe tôi muốn nói gì.
 
-         Tôi vào xin ông Thủ Hiến cho đi Quy Nhơn để ký bàn giao với những người đem binh lính, vũ khí và nhân viên ra đi. Vì ngày ấy tôi không được một mảnh giấy con nào của thủ tục bàn giao cả.
 
Như chẳng màng nghe thêm, ông Giáo vui vẻ ngay.
 
Sau những việc vừa qua Phủ thủ Hiến thường bàn tán đến tên tôi bởi họ nghĩ chẳng mấy tay dám động vào ông Thủ hiến Phan Văn giáo.
 
Cũng vì lẽ ấy tôi lại hay nghịch ngợm, bằng cách mỗi lần vào Phủ Thủ Hiến thường mang giày đóng “đĩa” sắt khá nhiều, để cố tình, lúc ngang tiền sảnh là nhấn mạnh chân, có ý “cộp … cộp” cho một vài anh em ở phòng văn thư đã phải thốt:
 
-         Lại gã “trời đánh” về đến rồi!
 
Tôi thản nhiên như chẳng hề lưu ý đến một ai. Và lần này, tôi còn nghĩ là sẽ có dịp “chọc quê” ông Giáo chơi.
 
Sau khi nghe ông thuận cho đi Quy Nhơn, tôi vẫn chưa chịu rút lui, cà rà hỏi :
-         Thưa, lần này đi Sàigòn về ông Thủ Hiến có nghe tại Huế đã có tin gì lạ không?
 
Hẳn nhiên là ông đã dư biết, nhưng cố giữ vẻ bình tĩnh.
 
-         Có tin gì lạ lắm phải không em?
 
-         Tất cả các Nha, Sở đều ký thỉnh nguyện ông Ngô Đình Diệm về chấp chánh!
 
Ông Giáo phải khó chịu khi nghe tôi nói, nhưng ông cười, một cái cười khó tránh gượng gạo
 
-         Ồ! Tưởng gì, chứ vậy thì càng tốt thôi!
 
Đáng lẽ ông ta ngưng ngay tại đây là vừa, nhưng ông vẫn chưa chịu
 
-         Ông Diệm về … qua càng làm lớn hơn thôi chứ có gì lạ đâu
 
Ông Giáo đã nói câu ấy bởi trong thâm tâm hẳn tin rằng ông Diệm là người của vua Bảo Đại đưa về, thì thay đổi hẳn chẳng thiệt hại gì với ông.
 
Dù có nghe anh Hòa phân tách kỹ, nhưng nghĩ rằng nói với ông Giáo lúc này còn gì lợi ích thêm, tôi cũng cười “xuôi” với ông và xin ra nhận “sự vụ lệnh” đi Quy Nhơn.
Vào Đà Nẵng, tôi xuống một ca nô con trước tòa Thị Chính ra biển, vào chiều hôm sau. Không mặc quân sự, mà chỉ với một sơ mi “Hồng Kông” tay xách cặp da như một du khách.
 
Nhưng phải ngạc nhiên, khi ca nô vừa cặp một tàu lớn ngoài khơi là một sĩ quan Pháp với quân hàm Đại úy đã nghiêm chỉnh “chào” và mời tôi lên. Họ hướng dẫn vào một “ca bin”. Không cần suy nghĩ, tôi đang định nằm ngủ một giấc rồi ngày mai ra sao cũng mặc. Nhưng một sĩ quan khác đã vào chào – khá lễ phép – và mời dùng rượu. Nhưng tôi chỉ cười, và hỏi xin một tách cà phê.
 
Uống xong ly cà phê, tôi đóng cửa nằm định ngủ. Nhưng thói quen là khi đi máy bay, hoặc tai hại nhất là tàu thủy, tôi nôn mửa, không thể nào tránh được. Tôi mửa cả sàn tàu, nằm ngủ suốt đêm. Thủy thủ trên tàu có lẽ biết tâm trạng của tôi, nhất là khi họ đọc qua về nhiệm vụ lệnh “vào bàn giao” nên cũng chẳng màng khuấy rầy tôi suốt đêm hôm ấy.
 
Qua một đêm, lúc vừa tỉnh, nghe như tàu đang ở một bến nào, và khi ra khỏi cửa không thể chẳng ngạc nhiên với cảnh “chẳng ai thèm hỏi đến ai”, tôi cứ tự động lên bờ.
 
Quy Nhơn một thành phố hoàn toàn tiêu điều, không phố xá, chẳng chợ búa. Và, hẳn anh em ở đây đang chờ những chuyến tàu từ ngoài vào, một vài chú lại tìm và gặp nhau, mới biết là của đám “gà nhà” cả.
 
Theo mấy cậu này đi độ non cây số, dọc bờ biển gặp ngay những cán bộ của Đoàn 11. Anh em ngạc nhiên khi gặp lại tôi, vì họ hoàn toàn không hiểu vì sao lại có tôi vào đây, và vào để làm gì.
 
-         Tất cả đang đòi trả trở về Đà Nẵng!
 
-         Nhưng đòi với ai tại đây?
 
Một chú đã nói nhỏ:
 
-         Anh em đang làm áp lực với ông Trần Trữ, đại diện Nha Bình Trị, buộc phải đòi tàu chở trở về.
 
Đang dở dang câu chuyện thì gặp anh Nguyễn Thanh Bích, Bích mừng
quá khi gặp, và nghe tôi kể chuyện những gì xảy ra, cũng như những tin tức về ông Diệm. Nhưng tôi mỉm cười quay lại kể cho Bích nghe về chuyện lúc lên tàu và viên Đại úy Pháp chào hỏi lễ phép. Thì Bích đã giải thích:
 
-         Có gì đâu lạ. Anh không đi đấy thôi chứ đi là anh cũng phải mang quân hàm Trung Tá. Bởi Tổng đoàn trưởng là Trung Tá, vì anh Ánh là ThiếuTá kia mà.
 
Về gần đến nơi Bích nói nhỏ vào tai tôi
 
-         Anh em đang làm áp lực với Trần Trữ đòi phải xin tàu chở trở về. Bích lại tâm sự
 
-         Mấy hôm nay Nguyễn Văn An, trốn đâu mất, chẳng ai còn thấy ông ta(1)
 
Tôi phải dặn Bích:
 
-         Anh khéo léo nói với anh em là khi tranh đấu cần giữ cho tôi một thế đứng, đừng để họ buộc tội là chính tôi vào lần này là để thúc đẩy anh em nhé!
 
Bích bình tĩnh giải thích:
 
-         Khỏi lo ! Vì chiều hôm qua họ đã chỉa ngay súng vào “đít” ông Trữ làm dữ, đã thành công. Nay chỉ còn chờ ngày giờ về thôi.
 
Ngồi chưa bao lâu Ánh đã lái xe về đến. Thấy tôi Ánh cười và cho biết tinh thần anh em dù là lính mới tân tuyển từ ngoài Trung chẳng bao lâu, nhưng chiến đấu khá can trường. Ánh kể cho nghe những ngày tranh chấp với đám cơ sở địa phương vì theo Ánh thì các đơn vị lớn của chúng đã rút ra Bắc yểm trợ cho chiến trường ngoài ấy trong này nay chẳng còn gì đáng kể.
 
 
 
 
(1) Sau này có tin đồn là Nguyễn Văn An nguyên người của ông Diệm cho về trước, nhưng An đã phản bội vì ham bã lợi danh, theo Giáo rồi theo Pháp nên ngày hỗn loạn lúc ông Diệm về đã bị ném xuống lầu chết.
Đúng như lời các chú bạn này, chỉ hai ngày sau tất cả được lệnh xuống tàu trở về Đà Nẵng. Chuyến đi buồn bã bao nhiêu thì chuyến về quá vui vẻ. anh em hồ hởi vì được trở về quê hương, chẳng ai tỏ ra lo nghĩ cho việc thất nghiệp hay lang thang những ngày sắp đến.
 
Vì lẽ ấy, vừa đến nơi chẳng ai hỏi ai, lên bờ là mạnh ai nấy đi.
 
Tôi trở ra Huế, vào lại Phủ Thủ Hiến
 
Vừa bước vào, anh bạn Chủ sự phòng văn thư đã không chậm một phút chìa ngay cho tôi lệnh “cho nghỉ việc”.
 
Thế là trở lại Hội An, rồi sau sẽ hay!
 
Về Hội An lúc này tôi hoàn toàn túng quẫn, nhưng cũng chẳng tha thiết, vì chưa có con cái gì, mà ông bà nhạc lại thừa biết chí khí tôi, nên sẵn sàng vui vẻ.
 
Cái đặc biệt là ông cụ rất thông cảm, nên mỗi tối thường đưa tiền cho vợ tôi để rủ đến quán bún bò “bà Chỉ” làm một tô cho đỡ buồn.
 
Qua những lúc như thế tôi càng nhớ lại chuyện cũ. Nhớ rằng hôm ở Quy Nhơn về, khi vào gặp ông Giáo, ông đã không quên cho biết lúc ở Đà nẵng Đoàn 11  đã chi tiêu trong việc tổ chức trên 50.000$00; nhưng xét đến thành công, ông sẵn sàng cho xuất quỹ “ mật” thanh toán.
 
Tôi không nghĩ ông Giáo nhắc lại những chuyện này để kể ơn, nhưng dù sao thì cũng là chuyện đã rồi, mà lúc ấy Đoàn quân thứ 11 không có những tiếng thơm ấy. Ông sẽ dựa vào đâu để đòi hỏi văn phòng Tướng tư Lệnh miền Trung chịu xuất. Nay nói lại nghe chơi, ông cũng có phần hãnh diện!
 
Thế là sống với Hội An thân thương những ngày tháng thất sủng lần thứ 1 khó quên!
 
Vào hoàn cảnh này, sống tại đây mới thấy cái thú vị của nó.
 
Một thành phố, như đã nói, người địa phương thường ví von với câu “thượng chùa Cầu, hạ ông Bổn” có lẽ dành cho người ở tuổi về già, hay người thất nghiệp thì thật là “tuyệt”, vì lẽ các thức ăn tuy đơn sơ, nhưng đậm đà khó quên, tình cảm của số người đa số gốc Minh Hương chẳng ai lúc đi xa mà không nhớ thương, không luyến tiếc.
 
Sống vừa hơn tuần lễ, có lệnh Tòa Đại biểu, tức Phủ Thủ Hiến ngày trước do Tòa Tỉnh trưởng chuyển đến, mời ra gặp ông Đại biểu Chính phủ.
 
Tôi nhìn công điện, rồi nhìn gia đình vợ mà mỉm cười:
 
-         Cái kiếp con tằm lại phải giăng tơ thôi!
 
Nhiều bạn bè, em út hay biết ngay, đến hỏi và mừng rỡ không riêng cho tôi mà cho cả họ, vì anh em thừa biết là mỗi khi tôi được triệu mời, không phải để cần một công chức thường.
 
Ra Huế ngay ngày hôm ấy. Sau khi vào gặp ông Nguyễn Đôn Duyến, Đại biểu Chính Phủ, tôi được ông nhờ thành lập lại một Đoàn Hành Chánh lưu động để ra Quảng Trị giúp Tỉnh Trưởng trong công tác đón tiếp đồng bào di cư từ Bắc vào Nam qua sông Bến Hải.
 
Nhận lời ngay vì tin rằng mình rất sẵn sàng với số nhân viên, cán bộ của Đoàn 11 trước kia, vừa từ Quy Nhơn trở về, tôi đến gặp anh Nguyễn Thanh Bích và cùng nhau vào Hội An cho anh em biết tin. Chỉ một ngày sau chúng tôi đã họp nhau lại để quyết định lấy tên cho Đoàn là Mai Lĩnh, tên của một ngọn núi cao nhất tỉnh Quảng Trị.
 
Gấp rút, nhưng không quên là lần này “phải đem chuông đi đấm xứ người” chúng tôi cho anh em tập dượt ngay để rút kinh nghiệm cho chuyến công tác. Phải nghĩ vậy, vì thảo luận kỹ để biết rằng công tác lần này là đón tiếp đồng bào di cư. Việc học tập văn phòng không cần thiết, việc giúp đỡ đồng bào chỉ là thứ yếu, mà điều làm chúng tôi phải đưa ra ƯU TIÊN là đối đầu với đám cán bộ Cộng sản đang quyết tâm ngăn cản không cho đồng bào bỏ miền Bắc vào Nam.
 
Đây là công tác quan trọng bậc nhất phải được coi như rút kinh nghiệm cho những gay go của ngày mai.
 
Tôi để anh em thảo luận thật kỹ càng mà rốt cuộc là chia làm hai phe để tập nhau tranh cãi. Chia thành hai phe một bên như Cộng Sản, một bên là Quốc Gia, đặt mọi lý luận cãi nhau.
 
Trước hết tôi phải bày cho các em nhận định để biết đối tượng là hạng người nào, vì tranh cãi là hoặc giữ phần thắng, nhưng cũng có trường hợp cãi để người đứng trước mặt ta tẩy sạch được những điều trước đây đã từng bị nhồi nhét bởi đám Cộng Sản, mà thông suốt vấn đề.
 
Thủ thuật cãi trước đây đã học hỏi bác tôi – Cụ Phan Khôi – khi cần ăn thua với đám Cộng Sản, tôi đã chỉ vẽ các em khá tường tận. Xong xuôi, tôi cho các em chia thành hai phe cãi nhau , tôi đứng giữa chờ nghe bên nào yếu là lại giúp các em vươn lên.
 
Cái then chốt là sau khi cãi nhau phải giải thích để không chú em nào khi nghe chỗ vươn lên như đã nói mà lầm lạc, hiểu sai ý nghĩa, chưa nói là bị địch lèo lái qua ngã khác. Gần như là một của gia phả có sẵn từ trong tim trong óc, tôi chẳng phải tìm hiểu đâu xa, chẳng cần phải mất công nghiên cứu nhiều, mà sẵn sàng thấy rằng có Cộng Sản là không có ta. Chỉ có thế thôi.
 
Sở dĩ phải nói khá tỉ mỉ về kinh nghiệm trên là vì sau một hôm tập cho các em tranh cãi, em Lâm Thế An đã vô tình vi phạm điều đã có cảnh giác từ trước. Sau buổi học tập, chiều lại An đã, trong khi trò chuyện với anh em trong Đoàn chắc lại một giả thuyết đã chứng dẫn sáng nay với kết luận rằng
“Như vậy là ta không sáng suốt bằng Cộng Sản!”
 
Khi nghe được báo cáo trên, tôi đã đóng đúng “kịch” của KỶ LUẬT, gọi An vào và vặn hỏi:
 
-         Chú còn nhớ kỷ luật không?
 
An ấp úng chưa trả lời.
 
Tôi tỏ ra giận dữ hơn:
 
-         Nếu chú không trả lời, tôi sẽ có thể áp dụng biện pháp trước hết là cho chú nghỉ việc ngay từ chiều nay!
 
Và tôi, lớn tiếng hơn, như đang đứng trước một tên Cộng Sản nằm vùng ngoan cố.
 
An run … tôi tinh ý thấy rõ.
 
-         Thưa anh, cho em ra ngoài để lấy lại bình tĩnh, nửa giờ sau xin vào trình bày!
 
Tôi cúi mặt, không nhìn An, và vừa ra dấu cho An ra ngoài.
 
Một lát sau, An trở vào, đưa cao tay và xin lỗi, với cả một tâm tình vi phạm có dụng ý, chứ không phải vô tình như người thường muốn “bào chữa”.
 
Tôi bước ra khỏi bàn, đến gần An, vỗ vào vai An như người anh cả đang tâm sự với chú em đáng mến.
 
-         An, em nên chín chắn thấy rằng câu hỏi của em có gì đâu để ngay cả chính em cũng đến nỗi không trả lời được, chứ đừng nói là cả Đoàn hay chính anh. Nay mai ra công tác, em sẽ gặp nhiều khó khăn, gay cấn gấp bao lần, vì đối phương không chỉ có huấn luyện, nhồi sọ nhau rất kỹ, mà tâm lý là họ không hề biết đến một chủ thuyết, một lập tường nào là đối tượng thì những điều họ nêu ra để hỏi ta không phải chỉ đơn giản vì không hiểu, mà là trong đầu óc họ, trong tim não họ không dễ đem những điều ta biết để cảm hóa được. Vả chăng, không phải chỉ có đối phương, mà còn là nhân dân, những người dân từ lâu nay chỉ nghe, biết, có một chiều, nay lại phải hiểu cho được cái chiều thứ hai là ta, thì đâu phải là chuyện đơn giản.
 
An xin phép tôi, đứng ra trước Đoàn để giải thích những sai trái lầm lạc vừa rồi mà “xin lỗi” và – xin anh em trong Đoàn lấy gương của An soi chung.
 
Tôi phải nói vài lời sau khi An xin lỗi.
 
-         Chúng ta không phải là một tổ chức chính trị của một đảng phái, nhưng chúng ta có chủ trương cho lý tưởng. Lý tưởng rất rõ rệt là không cùng giới tuyến với Cộng Sản, vậy nếu không giữ được kỷ luật là hỏng hết. Phải thế không An?
 
Từ ngày ấy Đoàn đã rất kỷ luật, nhưng rất thương nhau, mà một dư luận được nghe các em kể lại rằng cán bộ đến xin việc một nơi nào, khi đưa ra chứng chỉ hành chánh của Đoàn 11 là ăn chắc rất có giá trị.
 
Không phải chỉ làm việc để lãnh lương mà tinh thần cán bộ luôn luôn ghi nhớ châm ngôn “nằm lòng” là
 
“Có bổn phận dành lại cái THÀNH CÔNG của cuộc cách mạng mà Cộng Sản đã phản bội dân tộc!”
 
Trước ngày ra công tác Quảng Trị, lý thứ nhất là được thực tập ngay tại Cửa Đợi – bãi biển cách thành phố Hội An 4 cây số - mà chắc anh em chẳng bao giờ quên nổi.
 
Sau ngày Hiệp định Giơ Neo (Genève) ký kết, tại đây bọn cán bộ Cộng Sản, nhất là đám nằm vùng thường rỉ tai tuyên truyền trong dân chúng là “sẽ có bầu cử sau hai năm, và không có chuyện cán bộ sẽ ra đi ngoài Bắc, nay tự do cho đến ngày bầu cử Thống nhất”. Ngày ấy họ sẽ có mặt ngay tại đây, nay thì muốn làm gì cũng được, và họ khuyến khích treo cờ đỏ sao vàng.
 
Hôm ấy, nhân ngày chủ nhật, dân chúng và công chức Hội An như thường lệ kéo ra đi tắm biển.
 
Cờ đỏ sao vàng được bọn họ may sắm ngay cả từ trong vùng khu chiến đem ra, treo rợp đỏ cả vùng, mà ngoài số dân chúng, cả đám công chức, nhìn nhau không còn hiểu được gì, nhìn nhau như một cơn “ác mộng” chưa nói là vô cùng sợ sệt.
 
Đã được tin tình báo trước, tôi cho một toán cán bộ thực tập do Trần Đình Nhi hướng dẫn.
 
Nhi cũng không phải là loại “gà mờ”, nhưng ở vào trường hợp này mà nóng nảy là chẳng lợi. Sau không lâu, bị đám cán bộ đầu não đôn đốc, Nhi bắt đầu thấy nao núng.
 
Cả đoàn đang hoang mang thì nghe tôi đến nơi.
 
Tất cả vô cùng vui sướng, phấn chí ! Và, anh em đã nhường chỗ cho tôi bước lại gần.
 
Nhận xét hiện trường, đa số là dân chúng vùng Cẩm Sa, một vùng Cộng Sản nổi tiếng cách đấy khoảng năm cây số, dắt nhau ra tăng cường cho địa phương của Cẩm Phổ, nơi mà họ biết từ lâu đã ảnh hưởng của vùng ta.
 
Thấy họ la hét, mà hoặc là cán bộ Cộng Sản, hoặc là một số dân đang bị đám này thúc đẩy. Gần như không có người vô tư, dĩ nhiên người vô tư không ai dám, hay nói đúng hơn là thích vào xem trước cảnh này. 
Tôi chắc chắn nhận xét ấy là đúng, nên bước ngay lên một gò đất cao.
 
Với một cái cười gần như thương hại cho sự chủ quan của đám họ, tôi chỉ ngay vào họ và hỏi lớn.
 
-         Các anh muốn tranh cãi phải không?
 
Đúng! Họ nhận thấy rõ đối thủ, nên từ từ im lặng, nhượng cho một gã, gần như trong âm thầm đã được chỉ định, bước đến. Tôi phải hiểu ngay rằng đây không phải là tay chủ chốt trong đám, nhưng chắc hẳn là tay có chút tài để tranh cãi.
 
Y bước đến với cả một tự cao, tự đắc, cười.
 
Tôi nghĩ ngay đến thủ thuật đặt điều kiện tranh cãi, vừa buộc họ im lặng, hoặc ít ra trong chủ quan, họ cũng đang nghĩ đến phút thắng lợi sẽ đến, họ gật … gật …
 
-         Muốn tranh cãi, ta phải đặt điều kiện trước!
 
Và không để họ kịp nghĩ là chúng ta sẽ nói gì, tôi tiếp ngay, như một chuyện quá quen thuộc.
 
-         Bên các anh, hãy cử người chính thức đại diện đi! Nếu người đại diện mà thua là các anh không được ồn ào nữa, mà hãy chịu thua “cút” ngay nhé!
 
Rồi tôi quay lại số anh em cán bộ đứng quanh
 
-         Còn bên tôi, tôi đã chánh thức là đại diện. Phải thế không anh em?
 
Tất cả số cán bộ của tôi, cũng như một số công chức, từ nãy cứ đứng ngoài xa, thì bây giờ đã đi lại gần, và khi thấy tôi ra mặt, họ tin tưởng cũng hoan hô việc để tôi đại diện tranh cãi.
 
Đám họ, nhìn nhau như dò hỏi có nên chấp nhận điều tôi nêu ra không. Và rồi, hình như chẳng có cách nào khác, khi nghe tôi thúc giục một lần nữa, họ miễn cưỡng nhận lời. Chú cán bộ khi nãy bước lại, chấp nhận để tranh cãi.
 
Tôi “gằn” lại những điều đã nói khi nãy cho chắc, và cuộc tranh cãi bắt đầu.  
Đã có thói quen là đứng nói trước quần chúng không muốn dùng micro, với một giọng oang oang như “lệnh vỡ”, câu chuyện phải mạch lạc không bao giờ để bị lạc đề. Còn tranh cãi là cố nhớ thật rõ những điểm đối phương nói ra để tìm được những mâu thuẫn trong chính họ, và đặc biệt như đã nói là không bao giờ để bị động.
 
Rồi với câu chuyện hôm nay muốn cãi với họ, tôi phải xoay câu chuyện làm sao để người nghe không thể nghĩ chắc những tin tưởng do Cộng Sản nêu ra, mà phải lý luận như hiện nay là những con gà đá nhau, nên phải nhốt riêng hai lồng – mà đủ viện dẫn rằng “dù bao lâu nữa, nhưng hai gà kia nếu nhốt chung một lồng là lại đá nhau thôi. Đem lập luận ấy để đánh đổ lý luận
của bọn họ - mà họ khó chứng minh bằng một trường hợp nào sáng tỏ hơn.
 
Giữ cái thế ấy, tôi quay họ vào thế bí, chưa nói là cứ tấn công như vũ bão.
 
Sau một hồi bị tôi quay như chong chóng, gã thanh niên kia đâm ra luống cuống, mà ở trường hợp này bọn họ đâu có được dịp để thảo luận, để dở trò quen thuộc là “tam ngu thành hiền” nên sau một lúc y từ từ rút lui, trong hỗn loạn của đồng bọn.
 
Biết cảnh này sẽ xảy ra, đám đông tàn dần, rồi quay lưng lại ra đi, trong khi gần như cố gắng cho một số “chuyên viên gây hỗn loạn” vào ăn có. Thì họ đã bị chúng tôi chận ngay được bằng cách nhắc lại những cam kết từ lúc ban đầu.
 
Đám cán bộ của chúng ta phấn khởi ra mặt, anh em đứng nhìn đồng bào ra về, không một nét nào tin tưởng, như từ trước đã huênh hoang khoác lác.
 
Cuộc tranh cãi hôm nay đã làm cho dân sống tại Hội An một niềm tin thú vị. Vài người nhẹ dạ trước đây thở dài nao núng khi thấy cờ đỏ sao vàng hiện ra, thì nay đã âm thầm cười cho cục diện chính trị!
 
Riêng tòa Tỉnh trưởng Quảng Nam đã thêm một báo cáo về Huế, mà đơn vị chính được đề cập là Đoàn Hành chánh Mai Lĩnh.
 
Hai hôm sau, chúng tôi lên đường đi Quảng Trị.
 
Khi ra đến nơi vào gặp ông Tỉnh trưởng Quảng Trị xong chúng tôi phân bổ anh em về các quận giúp địa phương trong công tác đón tiếp đồng bào từ bên kia Bến Hải di cư vào Nam.
Hiểu rõ rằng Cộng Sản đang tìm đủ cách để ngăn cản không cho đồng bào bỏ miền Bắc vào Nam, mà họ không dám công khai, nhưng cố tạo ra những đám người như thân nhân ra níu kéo không cho chồng, con.
 
Ba hôm sau, nhằm ngay chủ nhật, chúng tôi cho tất cả về tỉnh họp để nghe anh em báo cáo những gì đã gặp, mà trao đổi kinh nghiệm.
 
Một câu chuyện xảy ra làm cả đám cười không thôi, cười ra nước mắt.
 
Toán 2 tăng cường cho quận Gio Linh, giáp bên này bờ sông Bến Hải trình bày câu chuyện, mà ai cũng nghĩ là sẽ phải xảy ra.
 
Một số phụ nữ ra níu kéo – chẳng ngờ lại níu kéo cả anh em cán bộ và ỉ ôi, “anh ơi!  Nước nhà đã độc lập, anh ở lại với vợ con ! Còn đi đâu nữa?”
 
Tôi đã hỏi ngay:
 
-         Gặp trường hợp ấy, các chú phải giải quyết thế nào?
 
Cả toán ôm miệng cười. Họ chờ Nghi lên tiếng:
 
-         Xin anh tha cho. Bọn em đã phải áp dụng câu anh thường nói là “đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”.
 
Rồi em ngưng lại, cúi đầu chúm chím cười, trong khi tôi nóng muốn biết kết quả
 
-         Nhưng rồi các chú giải quyết như thế nào chứ?
 
Nghi không rụt rè nữa và trình bày giữa hội nghị, là chú ấy ôm lấy cô em, nói rất tự nhiên, như người chồng đi xa mới về.
 
Nhưng rồi cứ như vậy, hẳn mấy cô cán bộ đâu đã chịu thua, nên chú dở trò “lầy” hơn nghĩa là ôm lấy cô em hôn hít, cũng chưa kết quả, chú lại phải giở trò “lố bịch” hơn, nghĩa là đòi cô cán bộ kia phải cho chú xem thử từ ngày chú vắng nhà, bà vợ Cộng Sản kia có giữ trọn tình nghĩa không.
 
Cô cán bộ đành xô chú, và tung chạy.
 
Chú vẫn chưa tha.
-         Em là vợ anh kia mà, sao nay lại mắc cỡ?
 
Tôi không vội khen hay đồng ý, nhưng quay hỏi các chú khác ngay:
 
-         Giải quyết như Nghi được không, hay còn cách nào khác?
 
Tất cả đưa ra một lập luận gần giống nhau, cho rằng họ là những người được Cộng Sản tổ chức để bẻ gãy kế hoạch ta kéo dân chúng bỏ miền Bắc vào Nam thì chúng ta chỉ nên áp dụng chiến thuật ấy thôi.
 
Tôi đành không nói gì thêm, nhưng dắt riêng em Nghi sau khi cho giải tán, và vừa đi vừa chỉ cho Nghi nhớ là nên nhận xét kỹ trong số người hiện diện để nếu có những người đứng đắn chứng kiến hành động của ta vừa nói lúc nãy là không lợi. Nhưng Nghi cũng chẳng phải tay vừa nên trình bày rằng
trong những trường hợp này người đứng đắn, nhất là người không tán thành hành động của bọn họ chẳng bao giờ đứng để nhìn họ.
 
Sau hôm kiểm điểm để trao đổi kinh nghiệm cả Đoàn lại được phân tán về các quận hoạt động lại.
 
Nhưng chưa quá một tuần lễ, chúng tôi được điện Tòa Đại biểu lệnh “trở về gặp Tỉnh trưởng Quảng Nam thực hiện quyết định mới của thượng cấp.”
 
Không còn sự hồ hởi nào bằng khi cả Đoàn nghe tin trở về Quảng Nam hoạt động. Chỉ riêng tôi và anh Nguyễn Thanh Bích – phụ tá – băn khoăn chưa tìm ra lời giải đáp nào. Nhưng nghĩ rằng hẳn về đến nơi rồi sẽ hay.
 
Lúc ngang Huế, chúng tôi đã được tin Tòa Đại biểu vừa cử anh Nguyễn Đình Nghị vào làm Tỉnh trưởng Quảng Ngãi, và cử ông Lê Trung Chi – cháu cụ Lê Trung Đình – Quảng Ngãi vào làm Tỉnh truởng Quảng Nam.
 
Chiều hôm ấy về đến Quảng Nam vào gặp ngay ông Tỉnh trưởng.
 
Ông Tỉnh trưởng Lê Trung Chi đã vui vẻ cho biết:
 
-         Tôi được cử về làm Tỉnh trưởng Quảng Nam, và có ngay quyết định mời tất cả các anh về xây dựng tỉnh nhà.
 
Ông ngưng một giây như để thăm dò:
 
-         Quý anh Lê Đình Duyên đã nhận lời về ngay quận nhà là Duy Xuyên, anh Phan Thiệp nhận Tam Kỳ, anh Nguyễn Long nhận Tiên Phước, và ông nhìn tôi … và nay tôi mong anh nhận quận Điện Bàn cho. Vì anh là người Bảo An ở Điện Bàn.
 
Ông đã ngạc nhiên không thấy tôi tỏ ra chút gì hồ hởi.
 
-         Thưa ông Tỉnh trưởng, mong ông vui lòng cho tôi được từ chối Điện Bàn, vì tôi không giống mấy ông kia, nghĩa là tôi nghĩ rằng tôi xin ông chọn nơi nào khó khăn không ai muốn thì xin giao cho tôi!
 
Không hỏi ngay lý do tôi từ chối về quận nhà như những bạn tôi, ông giải thích :
 
-         Từ Cầu Bà Rén vào Nam trước kia là do Cộng Sản kiểm soát, nay họ rút ra Bắc, ta sẽ vào tiếp thu, gồm có Quế Sơn tôi định xin anh Nguyễn Đình Thiệp đang trong quân đội về đảm nhiệm, rồi đến quận Thăng Bình.
 
   Ông lại ngưng một giây, như để dò xét thái độ tôi.
 
-         Thăng Bình là một quận nghèo, lại quá rộng, tôi đang chưa nghĩ ra. Vậy ...
 
Thấy ông chưa muốn nói, tôi xin phép tiếp lời
 
-         Thưa ông Tỉnh trưởng. Như vậy tôi xin đi Thăng Bình ạ!
 
Ông vui vẻ ra mặt, và chấp nhận ngay ý tôi
 
-         Vậy anh đã có sẵn số nhân viên của Đoàn Hành chánh. Tôi nghĩ, anh chuẩn bị cho theo Đoàn quân vào tiếp thu do Trung tá Nghiêm chỉ huy, thì rất tiện.
 
Rồi ông hỏi:
 
-         Anh nghĩ sao?
 
-         Tôi xin đi Thăng Bình ạ!
 
Thấy tôi chịu nhận đi Quận trưởng Thăng Bình, ông Tỉnh trưởng không nói ra nhưng hẳn rất vui, vì ông nghĩ rằng quận này không có người địa phương về nhận chức quận trưởng, chưa nói là một quận quá rộng, bề dài từ An Tráng xuống tận Chợ Bà dài hơn 20 cây số, bề rộng từ giáp quận Quế Sơn ở bãi cát Hương An vào giáp quận tam Kỳ cũng non hai chục cây, dân số quá đông mà lại khá nghèo, nên là địa bàn hoạt động của Cộng Sản, mà tôi chịu nhận, là một yên tâm cho ông. Đã thế, ông lại còn nghĩ ra một gởi gắm khá cần thiết.
 
-         Nay quận Quế sơn, tỉnh đang xin tòa Đại biểu can thiệp Bộ Quốc Phòng để mời ông Nguyễn Đình Thiệp đang là Trung úy về đảm nhận. Chắc là sẽ yên. Nhưng trong khi chờ đợi, mong ông – bây giờ ông không còn gọi là anh như lúc này, mà đã dùng tiếng ông – kiêm nhiệm luôn quận Quế Sơn trong khi chờ ông Thiệp!
 
Rồi ông chờ tôi lên tiếng:
 
-         Ông nghĩ sao?
 
Thật tình tôi chẳng coi những việc này quan trọng gì, nên không để ông chờ đợi lâu
 
-         Xin ông Tỉnh trưởng yên tâm. Tôi sẽ cử người ra Quế Sơn, mà mỗi tuần sẽ ra đây chỉ vẽ công tác, quan sát và chờ đợi.
 
Thế là ông Tỉnh trưởng yên lòng, để tôi về thu xếp, cho nhân viên theo Trung tá Lê Văn Nghiêm vào tiếp thu. Một tuần sau sẽ trực tiếp vào tại chỗ.
 
Cái thú của tôi lúc này phải nói là được về hoạt động tại tỉnh nhà, chứ không phải về bổng lộc, lương hướng, bởi làm Quận Trưởng hay Trưởng đoàn Hành chánh thì lương hướng vẫn bằng nhau, mà lúc ấy hàng tháng lương tôi là 12.000$00. Tuổi trẻ là vậy ! Nếu không phải quanh quẩn bởi chút quyền lợi chẳng đáng lấy gì làm quan trọng này thì lúc trước tôi đã theo học lớp sĩ quan Đà Lạt khóa 6  mà trong kỳ thi ấy tại Huế đậu được hai người là một anh bạn tên Minh và tôi.
 
Về tập họp Cán bộ để bàn nhau lấy năm chú tình nguyện theo Trung tá Nghiêm hai ngày nữa lên đường, sau khi căn dặn thật kỹ những khôn ngoan cần có khi vào tiếp thu một vùng Cộng Sản đã “ngự trị” từ suốt mười năm qua. Chúng tôi trao lại các em những kinh nghiệm về Cộng Sản, nhất là họ đã huấn luyện, tổ chức nhân dân thụ động đối phó với ta cho đến ngày bầu cử, theo họ nghĩ …
 
Dĩ nhiên là cũng gan lì không thiếu, nhưng khi nghe đến những mưu mô của Cộng Sản, cũng như người dân sống trong chế độ họ quá lâu, không phải dễ dàng tin và nghe ta, các em cũng không dấu được sự lo ngại. Nhưng khi nghe rằng một tuần lễ sau tôi sẽ có mặt tại chỗ, các em mới yên tâm chuẩn bị lên đường.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                        
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TIẾP THU VÙNG CỘNG SẢN
 
SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954
 
 
Đoàn quân của Trung tá Lê Văn Nghiêm trong đó có số Cán bộ Hành chánh do tôi cho tháp tùng theo chỉ hai hôm, là một tin chẳng lành đã “bay” về.
 
“Đoàn quân tiếp thu vào đến Thăng Bình gặp ngay phải một cuộc đấu tranh do Cộng Sản để lại tại chợ Được khá quan trọng.”
 
Tôi phải liên hệ ngay Tiểu khu Quảng Nam để nắm lấy tin tức.
 
Theo tin tức báo cáo, thì khi đoàn quân tiến từ chợ Được lên Quốc lộ 1 đã gặp một cây cầu bắc ngang con suối nhỏ dài độ mươi thước bị gãy, đại đội trưởng cho binh sĩ chặt hai cây dương liễu bên đường bắc ngang để khỏi lội dưới nước.
 
Không ngờ, từ trong làng, bọn cán bộ được Cộng Sản bố trí để lại đang theo dõi cuộc hành quân của ta cho ba người dân ra “phản đối”. Họ viện cớ dương liễu của “nhân dân” tại sao các anh được chặt ? Và, chỉ trong vài phút sau, có đến mươi người, rồi dần dần thêm đông.
 
Giải thích cách gì họ cũng không chịu nghe, anh Đại đội trưởng bàn với anh em và xin được bồi thường tiền hai cây dương. Nhưng họ vẫn cương quyết không chịu, lấy lý do, cây trồng là “xương máu” của đồng bào. Vả chăng, không bao giờ nhân dân tiêu xài tiền của “NGỤY”.
 
Thế là cuộc cãi vã thành lớn chuyện, chuyển thành một cuộc đấu tranh.
 
Trong không lâu, tiếng mõ từ bốn bên vang dội, và dân chúng ùn ùn kéo ra, từ các nơi xa, đã mang ra nước uống, và thức ăn, chứng tỏ sẽ ăn thua đủ.
 
Nhưng rồi, trong đám họ, nổi lên những lời chế diễu, nói xấu về ta. Họ đã bày lên lời kích động “đây chỉ là súng giả, bằng giấy thôi. Vì hòa bình rồi, đâu còn dùng súng giết người nữa!”
 
Họ xúi một vài người ngây thơ, và xô nhau ra “giật” lấy súng của binh sĩ ta. Dĩ nhiên, trong thế tự vệ, anh em binh sĩ đã giằng co với họ, nhưng đến khi họ cương quyết giành giật, thì chúng ta chẳng còn cách nào hơn. Tiếng súng nổ!
 
Họ thúc đẩy một số nhào đến trước súng, và vì thế hai người đã ngã “chết”.
 
Trống, mõ nổ vang.
 
Và, họ kéo nhau vây kín cả đại đội ta.
 
Đại đội trưởng điện về cấp trên “khẩn báo” và bố trí chờ lệnh thượng cấp.
 
Nhưng, sáng sớm ngày hôm sau, một đại đội từ xa, do Thiếu tá Quang – một chiến sĩ nổi tiếng với thành tích nhiều chiến trận tại địa phương, đã từ xa kéo đến.
 
Mới thoạt nhìn, chẳng ai hiểu được ông Quang định giải quyết như thế nào, vì lính ông đều mang súng ngang cổ, nhưng mỗi người tay cầm một “roi” tre nhiều gai, lổm chổm.
 
Khi đoàn lính vừa đến, và như đã có báo cáo trên điện thoại, hướng mà những tay cầm đầu đang tụ tập, binh sĩ ta dùng roi quất mạnh vào đám người ấy, nhất là những tay trai trẻ. Bọn họ hốt hoảng, tản “chạy”.
 
Tất cả đã được giải vây, trong khi hai xác chết đã có mùi “hôi” đành để lại tại chỗ, mạnh ai nấy tìm lối thoát thân.
 
Đến giai đoạn này, những tay cầm đầu cuộc đấu tranh rất dễ bị lộ tung tích nên binh sĩ ta đã tung hoành như giữa trận mạc không người. Và thế là từ trong làng xa họ chỉ chòm năm, chòm ba nhìn ra, trong khi đoàn quân ta từ từ tiến về quốc lộ.
 
Cuộc “đấu tranh chợ Được” này đã được ghi vào lịch sử địa phương, và sau đấy câu chuyện sẽ còn dài dài, từ việc phái đoàn Quốc tế Bốn Bên vào
tại chỗ điều tra, cũng như bọn nằm vùng được thấy một hành động của chính quyền địa phương ta phải giữ chữ TÍN tạo niềm tin trong nhân dân mới mong nêu cao được chính nghĩa.
 
Khoảng mấy tháng sau, khi chánh quyền thiết lập xong Xã Ấp, Tổ chức Bốn Bên đã được phía Cộng Sản yêu cầu vào tại chỗ mở cuộc điều tra, mà tại đây đã được Tiểu đoàn 28 xuống căng lều, dựng trại dùng cho nơi làm việc, trong khi ấy Quận chỉ với tư cách đại diện chánh quyền giữ phần trật tự an ninh bên ngoài.
 
Cũng xin nhắc lại là trước ngày lên đường vào Thăng Bình chính thức nhậm chức, tôi đã chứng kiến một việc khá mỉa mai xảy ra tại Hội An, tỉnh lỵ của Quảng Nam.
 
Ấy là câu chuyện hai người bạn học, bởi chính kiến bất đồng đã phải làm một việc theo đúng câu “đường ai nấy đi”, chẳng tha nhau.
 
Anh Nguyễn Rô, Trưởng ty Thông tin Quảng Nam (nay đang sống tại Dallas) khi hay tin một phái đoàn Quốc Tế sẽ vào Hội An, nhưng cái quan trọng là trong Phái đoàn nay có Nguyễn Sĩ Huynh, bạn học với anh Rô ngày xưa – là Trưởng Phái đoàn cho Cộng Sản Việt Nam.
 
Hai anh trước đã cùng học tại trường Chấn Thanh Đà Nẵng (sau này vào thời gian tôi được ra khỏi trại Nam Hà năm 1988 thì Huynh là Thiếu tướng Thứ trưởng Bộ Nội Vụ đặc trách ngành Phản gián). Biết tin này anh Rô đã cho tổ chức ngay quần chúng để tỏ thái độ với Cộng Sản về ngày chia đôi đất nước. Rô quyết định làm cho đám Cộng Sản hiểu rằng quần chúng Hội An không luyến thương, không mến tiếc gì họ, nếu không nói là đã căm thù họ trong những năm tháng lợi dụng danh từ kháng chiến để bóc lột tận xương tủy người dân.
 
Trong Ty Thông tin lại có cả những tay kiệt hiệt như Nguyễn Bửu, Hoan, Cậy thì việc loan báo hay tổ chức nhân dân không khó khăn gì.
 
Gần trưa, khi đoàn xe của phái đoàn đến nơi là ngay cả những người buôn, kẻ bán đã ào ạt kéo ra, không phải để hoan hô như họ lầm nghĩ mà bốn bên vang dội tiếng hét là “phản đối” và “đả đảo”!
 
Không biết để cho oai, hay chẳng bỏ được thói “trai lơ” Huynh lại đang lè kè mang bên mình một “thanh kiếm” dài chẳng giống ai, và mới nhìn qua, như một kép cải lương không hơn không kém.
 
Huynh là em ruột của anh Nguyễn Sĩ Huân trước có tiệm Tân Sinh đường Đồng Khánh, Đà Nẵng, mà hằng ngày Huynh vẫn có mặt trước cửa hàng cô Huệ trồng “cây si” chẳng cần nghe ai dị nghị hay đàm tiếu, thì nay tánh tình chắc vẫn chưa tẩy xóa được, nên thấy chuyện xảy ra, tôi cứ ôm miệng cười – chẳng ai hiểu nổi.
Ngược lại Rô rất hiền lành, mà lúc này đọc rõ tâm tư anh, khó dấu nét ái ngại cho người bạn cũ, tôi càng thấy sự chua chát của chính trị, mặc dù quê hương tôi những năm tháng này, chính trị là một ưu tiên trong mọi tình cảm riêng tư, ngay cả vợ chồng, hay cha mẹ.
 
Nhưng không, chỉ một giây phút thoáng qua, không ai chẳng nhận thấy anh vung tay hưởng ứng và hô hào hăng say. Anh đã hoà ngay vào quần chúng với thái độ cương quyết cùng Cộng Sản, mà ngay trước kia khi về vùng quê anh để tuyên truyền hay bán tín phiếu cho đảng tôi khó tìm thấy nơi anh như hôm nay.
 
Đám Cộng Sản vội vàng lên xe, từ giã Hội An, sau một bài học khá thấm thía.
 
Chứng kiến trò đời của hôm nay, để rồi về chuẩn bị lên đường vào Thăng Bình cùng đám cán bộ đang như bầy gà lạc mẹ. Sau khi trình cho tỉnh biết qua sự việc chợ Được mà ông Tỉnh trưởng như đã nghĩ rằng tôi thừa sức giải quyết, tôi cùng đám anh em vào ngay ngã tư Hà Lam. Đánh lạc hướng đám nằm vùng đang theo dõi từng bước đi của chúng ta, tôi không lên ngay nơi Phủ Thăng Bình cũ, mà đóng tại Hà Lam vì hai lý do không để họ tuyên truyền như chúng tôi lại nối gót của chế độ quan lại cũ, Phủ Huyện ngày xưa, và đóng tại ngã tư Hà Lam nơi có nhiều người buôn bán để dễ nghe ngóng tình hình.
 
Việc giao dịch và tiếp xúc trước tiên là tìm hiểu những người trước đã bị Cộng Sản đày ải, đấu tố, cùng những người trí thức, địa chủ tại quận. Điểm đặc biệt là chúng tôi không hề hỏi ai, ngay cả những người đang gần, như
quán cơm hằng ngày anh em đến ăn, người lao công những ngày đầu cần nhờ vả về những tay Cộng Sản nay không đi tập kết, còn ở lại hay gia đình của những tay Cộng Sản nổi tiếng trong vùng. Đây là một bí quyết, xem như kinh nghiệm khá cần để gia đình Cộng Sản, những tay không đi tập kết để lại, hay ngay cả những người không đi nhưng chẳng còn trung thành hay mơ ước gì với họ nhận thấy là chúng ta không theo dõi, cố trù dập, để trả thù những gia đình Cộng Sản.
 
Thì ngay hai hôm sau những người từng bị Cộng Sản sát hại, giam cầm trước đây, và ngay cả những người không ưa Cộng Sản đã tìm đến gặp tôi. Trong số này phải nói trước hết là gia đình ông Võ Mạnh Phát, một gia đình chống Cộng triệt để, mà chính ông cụ Phát đã bị Cộng Sản đem vào giam tại Liên Khu V, nay mới được tha sau ngày Hiệp Định Ba Lê ký kết.
Ông bà Võ Mạnh Phát đã cho người con gái tương đối lanh lợi là cô Phụng đến thăm chúng tôi – nhưng không cho con trai – với mục đích tiếp xúc để đánh giá chúng tôi mà đặt thành mức độ tin tưởng cũng như hợp tác. Dĩ nhiên chúng tôi đã đề phòng những tai mắt của đám nằm vùng theo dõi sát, khi chúng thấy cô Phụng vào chỗ làm việc của chúng tôi, hỏi ngay những điều quan trọng, và hẹn trong một ngay rất gần, lấy cớ đi thăm dân chúng để tìm hiểu tình hình, đến thăm gia đình ông bà tại nhà, không để người nhà ông đến chỗ làm việc nhiều. (Sau này sẽ kể về gia đình ông bà Phát, nhưng xin nói ngay là sau 30-4-1975 ông Võ Mạnh Phát đã quyên sinh ngay tại nhà, vì ông biết rõ là Cộng Sản sẽ không tha ông, mà lúc ấy sẽ chết nhục, thêm đau lòng vợ con).
 
Sau mấy hôm, chúng tôi đã am tường được khá nhiều về Thăng Bình. Đây là quê hương của Nguyễn Đức Dũng tức nhà văn Vũ Hạnh, và người em rể là anh Quốc . Nhưng anh Quốc không giống như Vũ Hạnh đã là kẻ bất mãn đánh mất cả lương tri, chạy theo Cộng Sản, mà trong một đoạn sau sẽ nhắc đến.
 
Về nhân vật thời xưa, thì đây là quê hương của nhà cách mạng Tiểu La Nguyễn Thành, và của cụ Thương Hà Định, người đã một thời nổi tiếng khi được đi Sứ sang Cao ly, Đại Hàn làm cho họ vô cùng thán phục về nét viết rồng bay phượng múa của cụ.
 
Về trí thức cận đại thì ngoài anh Hoàng Tăng tức Hoàng Bình trước là Tổng Bí thư Việt Nam Quốc Dân Đảng Quảng Nam (đã có nói ở một đoạn trước) sinh trưởng tại một làng quê nghèo khó là làng Bò Chét, và các anh Tham Tư, Tham Nghinh hay Tham Hồ, chưa nói là tại Kế Xuyên có cụ Ngô Đạm, người bạn thân thiết của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
 
Cái anh gây nhiều dư luận về chân giả, xe lăn đã làm tay sai cho Cộng Sản, cùng quê tại Núi Thành – một Quận do Cộng Sản đặt ra sau ngày 30-4-1975 mà gốc gác anh chẳng ai lầm được.
 
Nhưng điều không thể quên, mà trong một đoạn sau tiếp theo chúng tôi sẽ đề cập là chính Thăng Bình, nơi mà Chủ tịch Liên Khu V Cộng Sản Võ Chí Cộng đã cho thực hiện thí điểm “đấu tố” đầu tiên, thì cũng dùng nơi này chúng tôi đã thực hiện Chiến dịch Tố Cộng điển hình toàn quốc năm 1955. Sẽ được trình bày chi tiết trong một đoạn tiếp.
 
Chẳng bao lâu, mọi mưu mô Cộng Sản để lại đối phó, mà trong ấy họ đã huấn luyện dân chúng khá chu đáo chúng tôi đã tìm thấy để rồi khi thì “đạp gai lấy gai mà lể” khi lại phải “lấy ân báo oán” cốt cho đối phương không dò được thái độ chúng ta.
 
Họ tuyên truyền và giáo dục dân chúng không tiêu xài tiền bạc của ta. Một chị khá lớn tuổi đem lại trước nơi làm việc để bán một rổ “khoai luộc,” mà chị đánh ngay đòn tâm lý vào chúng ta là hẳn đã nghe vùng này có loại khoai ngon nổi tiếng – khoai Trà Đỏa. Rồi khi một trong chúng ta lại hỏi mua, chị đòi theo giá tiền tín phiếu ông Hồ 1000$.00 một củ. Anh em ta ngạc nhiên, thò túi lấy ra 5$.00 để hỏi trả, chị ta lạnh lùng, vừa quay mặt phía khác vừa xua tay :
 
-         Không tiêu dùng thứ giấy ấy!
 
Anh em đã đem chuyện này vào báo cáo trong buổi họp mỗi chiều, mà tôi lại một lần nữa giải thích về cách gây hấn của nhân dân đã được Cộng Sản huấn luyện trước khi rút ra Bắc cốt để nếu ta nóng nảy là có ngay những cuộc đấu tranh.
 
Tôi có một người bà con, và cũng là đồng chí, nghĩa là nạn nhân của Cộng Sản trong những năm tháng qua, sống trong vùng Cộng Sản kiểm soát suốt từ sau 1946 đến 1954 – đã bị nhồi nhét đến độ anh ta không nhận ra sự thực, chứ đừng nói là những người dân chất phác hiền lành. Anh ở lại chơi với tôi mấy hôm trước khi về tỉnh. Một buổi chiều, vừa thấy mấy sĩ quan trẻ đẹp của ta đi chợ dạo chơi và mua hàng về, anh nào anh nấy, mặt tươi như hoa, anh bạn đã khó chịu hỏi tôi:
 
-         Này anh! Tại sao những người trẻ, đẹp, và trông hiền hòa như vậy – anh ngưng vài giây như ngại ngùng, mới tiếp.- lại có thể làm những hành động xấu xa được anh?
 
Tôi ngạc nhiên, nhìn anh
 
-         Anh muốn nói gì, tôi chưa hiểu ? Họ làm gì mà anh cho là xấu xa ?
 
Anh bạn lúc đầu còn cố né tránh, cố tìm ra một lối diễn dịch khỏi chạm tự ái tôi, nhưng thấy tôi nóng muốn biết, anh chân thành
 
-         Theo tôi nghe biết, một sĩ quan bên này phải hiếp dâm bao nhiêu phụ nữ mới lên một cấp.
 
Rồi như không dấu diếm, anh nói rõ hơn
 
-         Từ Thiếu úy lên Trung úy, rồi từ Trung úy lên Đại úy v.v…
 
Khi nghe vỡ lẽ, tôi không tài nào nín cười được, ôm bụng ngồi xuống cười, và cười, cho đến khi thỏa mãn, nhìn lên thấy anh đang ngố mắt nhìn nên thương hại ôm anh giải thích
 
-         Tội nghiệp quá, một người có học thức, chống Cộng từ thuở nào, mà còn nghe và tin được như anh, thì trách gì những người dân thật thà không chết vì bọn họ được!
 
Kéo anh vào nhà, buộc ngồi xuống ghế, rồi tôi mới giải thích tường tận cho anh hiểu tinh thần chiến đấu của người quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Tôi dẫn chứng khá đầy đủ về các vùng chiến thuật, về các trường đào tạo sĩ quan, về kỷ luật trong quân đội và nhất là sự hy sinh của những gương anh hùng. Nhưng tôi cũng không quên chỉ cho anh thấy một vài sự kiện hiếm hoi của vài con “sâu” đã làm rầu nồi canh, cũng như những người nhẹ dạ đã bị “địch” mua chuộc để hoặc phản bội anh em bằng hành động, hoặc tạo cho đối phương có cơ hội tuyên truyền nói xấu tập thể. Nhưng điểm chính luôn nhắc anh là bởi “tự do” nên rồi mọi việc lại được tùy thích, chứ làm gì có những chuyện như anh đã nghe bọn chúng xuyên tạc và tuyên truyền.
 
Công việc thành lập Hội đồng các Xã, Ấp được song song với chương trình đến thăm để giải thích cho dân chúng về đường lối, chính sách của chính quyền Quốc Gia hầu tạo một niềm tin trong dân chúng cũng như đánh bạt đi những tuyên truyền của Cộng Sản cốt làm cho mọi người xa lánh ta.
 
Về cơ cấu Xã Ấp thì hoặc chúng tôi dùng ngay những người không làm cho Cộng Sản trước kia, và đặc biệt là hay tham khảo ý kiến của ông Võ Mạnh Phát hoặc những nhân sĩ trong vùng trước khi quyết định.
 
Dân chúng đến xin các giấy đi lại hay hỏi nhờ đều được hẹn đến khi Xã có Hội đồng, là những người đại diện. Vì lẽ ấy dân chúng đã nô nức hoặc thúc đẩy người ra nhận lãnh trách nhiệm, mà chỉ trong thời gian rất ngắn mọi Xã Ấp đã hoàn tất. Dù sao chúng tôi cũng khéo léo cảnh giác tình trạng một vài người đã nhân dịp này trả thù, trả oán nhau, mà đấy là động cơ chính đem lại an ninh nhanh hay chậm.
 
Khi mọi Xã có Hội đồng, việc thử thách đầu tiên là giải thích để yêu cầu họ dùng vôi quét sạch các bức tường trước đây Cộng Sản đã cho xây lên và viết những khẩu hiệu của họ, nhiều nhất là những khẩu hiệu nói về Hiệp định Giơ neo (Genève).
 
Nghe rằng có nơi thuộc một Quận bạn miền núi đã vô ý cho người đập những bức tường này mà xảy ra việc đấu tranh do đám nằm vùng đứng sau thúc đẩy. Cho họ quét vôi vừa tránh được những giải thích rõ ràng thì việc yêu cầu họ dùng những bức tường này để viết những khẩu hiệu của ta, đâu phải không là một “thắng lợi?”
 
-         Trong các buổi nói chuyện, giải thích cho nhân dân, chúng tôi đã tìm hiểu những gì trước đây Cộng Sản tuyên truyền hay lợi dụng, lừa bịp họ mà đem ra trình bày sau khi đề phòng trước những phá hoại của vài Hội đồng còn lưng chừng, của bọn nằm vùng, của những người nhẹ dạ bị chúng núp sau thúc đẩy, mà ngăn chặn trước.
 
Đây là những kinh nghiệm vô cùng quý báu, mà sau khi đúc kết chúng tôi đã không quên báo cáo cho tỉnh dùng đấy mà phổ biến cho các quận bạn thực hiện.
 
Cái quan trọng bậc nhất là phải nói rõ đường lối Quốc Gia là không căn cứ vào những việc làm trước kia mà thù oán, trù dập. Phải nêu đúng những nguyên tắc là “đã ở trong bầu thì tròn mà ở trong ống thì dài” nên khi sống trong vùng Cộng Sản dễ gì tránh không phục vụ cho họ. Cái cần là nay Quốc Gia đã đến, không nên tiếp tục hoạt động cho Cộng Sản mà bị trừng trị.
 
Và cũng không quên giải thích để họ hiểu tại sao bảo Cộng Sản chủ trương “bần cùng hóa nhân dân”. Chúng tôi đã chỉ ngay một vài người trước kia giàu có trong vùng, mà sống trong thời Cộng Sản đã nghèo đói để chứng minh khi giàu có nói ra điều gì nghe cũng có lý, nhưng khi nghèo khổ nói chẳng vào đâu, chưa nói là giàu có thì trong nhà có đủ thứ nào radio, nào báo chí, nghe biết tất cả, không làm sao che đậy hay bịp bợm được, nhưng khi đã nghèo rồi thì chính quyền nói gì cũng nghe, còn làm sao hay biết gì được nữa.
 
Rồi chỉ cho họ thấy trước đây Cộng Sản đã lừa bịp, láo khoét với dân chúng ra sao, để làm gì, nhất là khi muốn vơ vét của nhân dân. Cộng Sản đã tuyên truyền sẽ tổng phản công, để đòi hỏi nhân dân đóng góp đủ thứ, nhưng lâu quá chẳng thấy gì, và khi biết nhân dân đã chán chê, Cộng Sản thêm vào sau
đuôi mấy tiếng tổng phản công bằng hai tiếng “chuẩn bị” để lại lần khác vơ vét. Và cứ trò ấy họ kéo dài mỗi lần thêm vài tiếng “chuẩn bị tiến tới” hay “chuẩn bị tiến tới sang giai đoạn” v. v…
 
Tất cả những lời giải thích trên để đi đến kết luận như đã nói là tại sao bảo Cộng Sản “bần cùng hóa nhân dân.”
 
Thân hào nhân sĩ sẽ chỉ cho ta biết trước các mưu mô Cộng Sản sẽ áp dụng để phá hoại những buổi nói chuyện của ta, hay lúc ra về sẽ xuyên tạc những gì, mà ta nhắn đồng bào là nếu có người xúi giục các em phá hoại, la khóc, hay chạy đuổi bắt nhau thì đồng bào nên làm gì, hoặc nên nói gì với họ.
 
Trước khi giải tán cần nhắc lại tóm tắt những điều đã nói, nhờ họ về nhắn với những người không tham dự hôm nay, và rao trước những xuyên tạc, có thể xảy ra để đồng bào cảnh giác.
 
Với những buổi nói chuyện như trên, trong thời gian không lâu nhân dân đã chỉ cho ta biết những âm mưu của đám nằm vùng; chưa nói là những người sẵn đà chống Cộng là tai là mắt của ta ngay.
 
Sau khi làm được những việc như vừa nói, chúng tôi cũng không quên đặt nguyên tắc để vì nghĩ là ta không thẳng tay với đám Cộng Sản nằm vùng được bố trí để lại mà những người chống Cộng, những người có tinh thần Quốc Gia sẽ bất mãn ta, khinh thường ta rồi bị chính đám người kia lung lạc, mua chuộc.
 
Chúng tôi nghĩ ngay đến việc phải đi thăm những vùng xa Quận lỵ mà từ xưa chưa có nhân viên Quận chứ đừng nói là cấp chỉ huy Quận đến thăm để làm công tác trên, nhất là chính những vùng này các bộ phận đầu não của đám nằm vùng thường dùng làm căn cứ địa. Lợi dụng công tác trên tôi quyết định đi thật xa, nơi mà trước kia Cộng Sản đã lập nhà lao tỉnh trên một ngọn núi gọi là Lao Thăng Lãnh, nơi mà họ đã giam và bỏ cho vợ tôi chết đói vào giữa năm 1952.
 
Xe chạy lên đến trụ sở Xã khá khó khăn, bởi từ xưa chẳng bao giờ xe chạy đến vùng này. Chúng tôi thăm hỏi cán bộ Xã, xem qua các sổ sách, và
chuẩn bị ăn qua loa trước khi đi từ Xã đến núi Thăng Lãnh độ vài giờ nữa, nhưng Hội đồng Xã đã lên tiếng là mời chúng tôi bữa cơm trưa hôm ấy mà họ đã chuẩn bị. Tôi nhìn anh Ba Đích, người cán bộ đi theo vừa với tư cách yểm trợ, lo cho việc ẩm thực, để dò hỏi ý kiến thì anh đã lại gần cho biết là Xã đã chuẩn bị mình khó từ chối. Thế là họ mời qua căn nhà bên cạnh dùng bữa ăn trưa. Tôi quen lối sống bình dân, nhưng phải nói rằng trước bữa cơm hôm nay, quả tình tôi phải cố lắm mới nuốt trôi “ba chén” để vui lòng Hội đồng.
 
Anh Ba Đích nhìn, đoán được ý tôi, nên khi uống nước để chuẩn bị ra đi anh lại nói nhỏ:
 
-         Thưa ông Quận, họ mời cả những tay giàu có trong xã lại nấu nướng, tôi có định xuống giúp họ, thì ông Chủ Tịch Xã đã cười mà cho biết hôm nay có những cô con nhà giàu trong xã lại lo giúp, khỏi lo!
 
Đúng là một xã quá xa, chưa hề đến thành phố của ngay trong tỉnh, nên các cô nấu nướng khá đặc biệt. Một con gà làm ra chặt nhỏ xào trong một cái soong, rồi đu đủ cũng xào chín, múc vài muỗng thịt đổ trên, canh bún cũng luộc bún xong múc vài muỗng này đổ lên trên. Cả thảy độ 5 món ăn, đều xào nấu theo lối này.
 
Nhưng dù sao tôi cũng nghĩ là một thâm tình họ dành cho mình, nên trong bụng có nghĩ sẽ tìm cơ hội đãi ngộ lại!
 
Đến chân núi, Hội đồng Xã đã theo lời người chủ nhà mà khi vợ tôi sắp chết được đưa xuống nằm tại nhà anh năm hôm, kể lại rằng lúc mới đến chị, em gái và vợ tôi được đưa lên giam trên núi.
 
Anh không kể rõ thêm về cuộc sống ngày ấy của gia đình tôi, nhưng khi gặp lại gia đình sau những năm tháng bị đưa vào vùng khu chiến, mà mãi sau hiệp định Giơ neo (Genève) ký mới được ra về, nay đang sống trước cửa Quận – đã cho biết – đói không tả nổi. Vợ tôi được lãnh ba ngày một lần gạo đủ ăn trong một ngày, nhưng lại bớt ra nấu cháo cho chị và em tôi, còn vợ tôi cũng nấu cháo với “rau dại” ăn đỡ đói qua ngày.
 
Bởi tình trạng vừa nói, vợ tôi bị kiết lỵ, họ cho người khiêng xuống để nằm tại nhà anh này, đến trước khi chết, đã lăn lộn ra sân suốt ngày trước khi tắt thở.
 
Khi nghe kể đến những giai đoạn này, tôi không còn thể yên lặng được nữa, ôm mặt khóc lớn, ngồi sụp xuống đất, mất giờ lâu, mới đứng lên tiếp tục nghe anh chủ nhà nói chuyện tiếp. Anh đã an ủi tôi rằng “lúc ấy là năm đói khủng khiếp. Nếu chẳng có nạn này thì chưa đến nỗi nhà tôi đã đành.!!!”
 
Không muốn nghe thêm những “não lòng”, tôi dúi vào tay anh một ít tiền rồi cùng tất cả leo lên núi. Ngang lưng chừng núi, anh chủ nhà khi nãy chỉ cho biết một nấm đất bên hốc núi – cỡ bằng cái nón lá – và cho biết đây là mộ vợ tôi.
 
Không giữ được bình tĩnh, tôi nhào bên mộ vợ, khóc thêm một hồi nữa, như để vơi bớt những đau lòng, cho đến khi anh Ba Đích lại nhắc tôi về kẻo không kịp giờ, tôi mới đứng lên thắp mấy nén nhang anh Ba đã đem theo, trước mộ vợ rồi theo mọi người xuống núi.
 
Không ai nói thêm lời nào, trong khi tôi hình dung thật rõ cảnh – dưới mấy tấc đất ấy – là thân xác của vợ tôi người đã hy sinh vì tôi.
 
Chiều lại về đến Quận, và nghe tin Ủy Hội Quốc Tế sẽ vào ngay nơi bãi cát cạnh chiếc cầu oan nghiệt đã xảy ra vụ “đấu tranh” Chợ Được ngày mai, tôi điện hỏi Tiểu đoàn 28  và chuẩn bị ngày mai phải xuống tận nơi với tư cách đại diện chính quyền địa phương lo việc an ninh cho họ làm việc.
 
Anh Ba Đích lại theo tôi. Nghĩ rằng Cộng sản sẽ cho người bám sát theo dõi việc này, nên ngay từ sáng khi đến nơi, tôi đã đứng nhìn bốn mặt để xem có gì lạ không. Đấy là kinh nghiệm và nghề nghiệp, tôi đặt vì trí mình vào đối phương, xem từ xa những xóm nhà, thửa ruộng, con trâu đang gặm cỏ, không bỏ sót một chi tiết nào. Thì một trong những ngôi nhà đằng xa tôi nhận thấy có phơi ngoài sân một áo trắng. Câu hỏi trong đầu tôi được đặt ra “sao họ giặt áo quần sớm đến thế ?” và chỉ vài phút sau thấy một anh nông dân, tay dắt một em bé từ từ trong làng đi ra, và khi vừa đến bờ ruộng cả hai ngồi lại, nhìn về phía này.
 
Sau lưng tôi, trong hai căn nhà vải mà Tiểu đoàn 28 đã căng sẵn dùng làm nơi dành cho các Phái đoàn làm việc đã có các Phái đoàn kéo vào.
 
Tôi gọi anh Ba lại gần và chỉ bày anh ra ngay chỗ hai cha con anh nông dân gạ hỏi xem có phải người liên lạc của bọn Cộng Sản nằm vùng tại đây không. Nhưng tôi dặn anh không được nổ súng, không làm ồn ào!
 
Anh Ba theo hướng ấy đi, trong khi tôi chăm chú theo dõi. Và, khi anh vừa đến hỏi chuyện, qua lại vài câu, anh quay vào. Gần đến nơi tôi đứng, anh gật đầu như muốn nói rằng “Đúng! Đúng nó là do Cộng Sản sai đến!”
 
Khi lại gần, anh cho biết đúng như vậy, vì anh kia là người Cộng Sản cho đến để dò la tin tức. Anh ấy hỏi anh Ba “Phải chăng người mang sợi giây đỏ trên cổ là người phe ta?” Nghĩa là hôm ấy tôi thắt cà vạt đỏ - mà họ nghĩ đấy là “ám hiệu” của phe họ. Tôi bảo nhỏ anh Ba, trở ra và tìm cách dụ tên ấy đến gần, để bắt dẫn vào cho tôi. Anh Ba trở ra, nhưng hình như hoặc là có lệnh tên “chủ chốt” ngồi núp đâu đấy, hay chính chú này nghi ngờ, đã cõng ngay đứa nhỏ chạy vào trong làng. Anh Ba không tài nào đuổi kịp, chưa nói là anh không quên lời tôi đã dặn, không làm huyên náo, mà đám Cộng Sản đang họp sinh ra rắc rối.
 
Câu chuyện đâu chỉ có thế đã yên, tôi có ý định sẵn là nhân câu chuyện này hãy làm cho đám nằm vùng phải “nể mặt” ta, mà cũng là cơ hội tạo cho dân chúng tin tưởng là chính quyền ta giữ chữ tín.
 
Thực hiện ý định này, tôi không quên giảng giải cho cán bộ ngay buổi họp chiều hôm nay mà lấy chuyện này làm một kinh nghiệm. Trong sử Trung Quốc ngày xưa, tại nước Vệ có Vệ Ưởng là tay chuyên dùng “bá đạo” cũng vì muốn làm cho dân chúng tin tưởng những uy quyền của vua chúa nên bày
ra một trò khá kỳ quặc. Ông ta cho dựng một cây “sào” ở cửa thành phía Tây và ra lệnh cho dân chúng là ai vác được cây sào từ cửa Tây sang cửa Đông sẽ được thưởng trăm lượng bạc và ba đấu thóc. Từ quân lính đến dân chúng trong thành đều ngạc nhiên và không nghĩ ra được là tại sao nhà vua lại ra một lệnh kỳ lạ như vậy, bởi cây sào đâu có nặng nề gì, ai lại không mang nổi. Kẻ bàn ra, người tán vào, không nghĩ ra, rồi câu chuyện được kéo dài đến ngày thứ ba, thì có một thanh niên ra vác cây sào từ cửa phía Tây sang cửa phía Đông để quân lính vào báo lại cho Vệ Ưởng. Khi nghe quân báo, Vệ Ưởng cho đòi thanh niên kia vào và khen rằng “Ngươi là kẻ biết tin lời của người trị vì trăm họ. Và Vệ Ưởng ra lệnh cho quan giữ kho lấy đúng những vật đã hứa ban thưởng cho người thanh niên kia, đồng thời cho loan báo tin này ra dân chúng biết để khuyến dụ mọi người là vua nước Vệ không bao giờ không giữ chữ tín với dân chúng!
 
Nhưng như đã nói, thật tình thì Vệ Ưởng chỉ chuyên áp dụng “bá đạo” mà câu chuyện vừa kể cũng chỉ với cái tâm bá đạo, chứ không phải nó xuất phát vì lòng trung thực của người tôn trọng chữ tín, bởi chữ tín đâu phải chỉ nhờ việc vác cây sào mà trọn đủ. Trước khi chấm dứt câu chuyện tôi không quên nói thêm cho các em biết rằng cuối cùng cuộc đời Vệ Ưởng cũng đã chết vì bá đạo. Và không quên nhấn mạnh rằng nay ta sẽ đòi anh thanh niên trốn chạy vào làng ở vụ Chợ Được lên hỏi lại anh ta, chưa nói là biết đâu chính Hội Đồng Xã này lại không phải là tai, mắt của Cộng Sản mà chúng đã bố trí trước khi rút ra Bắc.
 
Từ ấy việc thiết lập các Hội Đồng Xã Ấp không gặp trở ngại gì, tuy vài nơi tôi biết rõ qua những vị đã nói ở một đoạn trước cho biết là Cộng Sản cho ra, cốt để thử thách thái độ tôi, chưa nói là nhớ lại câu chuyện khi còn ở Đông Hà có nói ở một đoạn trước là, nếu Xã là do Cộng Sản đưa ra thì người dân sẽ biết rõ, họ sẽ khuynh loát chận đường, lấp ngõ không cho người dân nào được cho ta biết gì, được lại gần ta. 
 
Thế là, phải “đạp gai lấy gai mà lể” bằng cách cho họ làm những công tác như đập phá những bức tường của Cộng Sản đã xây, hay là viết lên những khẩu hiệu của ta, mà bất cứ một công tác nào như trường hợp ấy ta đều đề cao nhưng người ta nghĩ là tay chân đắc lực của họ, để dò lại xem họ xử sự ra sao, chưa nói là ly gián trong chính họ, chia rẽ, gây nghi ngờ ngay trong đám bọn họ.
 
Thì một sự việc đã xảy ra “để biết tay nhau” khi tôi thông báo sẽ về thăm Tiên Đỏa. Với những ngày kháng chiến thì xem như tất cả những gì của Hội An đều có tại đây. Từ những món ăn, như hoành thánh chiên Bà Hai Huế, đến những văn nghệ sĩ như Trọng Nguyễn, Dương Minh Ninh đều có mặt. Nghe kể laị rằng mỗi tối họ dùng đèn măng sông, đèn khí đá, chong sáng cả dọc bờ sông, rồi quán xá, ca nhạc, chẳng thiếu món gì.
 
Nghe tin tôi về thăm, họ không thể không tỏ ra “ngon lành” (bằng một thái độ lạnh lùng), không tỏ chút gì có chuẩn bị cho dân chúng để đến nghe Quận nói chuyện như những nơi khác.
 
Trước hôm ra đi, anh Nguyễn Thanh Bích, người bạn thân thiết và hiện đang làm Chánh Văn Phòng cho tôi đến tâm sự để gởi gắm một người anh em cô cậu với anh trước là Bí thư Thành Ủy Hội An, không đi tập kết nay còn sống tại Tiên Đỏa. Anh Bích rất lo ngại đám lính Bảo An đi theo sẽ “thịt” chú ấy mà đích thân anh phải lên tiếng gởi cho tôi, chứ thật ra còn Nguyễn Trọng Kỳ đang làm tại đây cũng là em ruột anh ấy.
 
Tôi rất quý anh Bích vì anh là bạn học cũ với tôi, trước cùng làm Trưởng ban Hành chánh lưu động trong đoàn Hành chánh lưu động tại tỉnh, mà từ ngày bắt đầu bay nhảy nhiều khi tôi muốn giới thiệu, đề bạt anh đi làm Quận trưởng như tôi, thì anh đều từ chối, viện cớ là chỉ làm qua ngày, khi nào có đủ số con 5 trẻ để khỏi “quân dịch” là anh trở về buôn bán, chứ không muốn sống nghề công chức nữa. Tôi hứa anh yên trí, dù chỉ nhẹ nhàng hỏi anh là “tại sao chú ấy không chịu về Hội An sống mà cứ ở tại Tiên Đỏa, rồi cười
mà khôi hài rằng “hay là chú ấy cố ở chờ cuộc Tổng tuyển cử hai năm nữa chăng?”
 
Mấy hôm sau, chúng tôi đi Tiên Đỏa, có cả Chi công an, một tiểu đội Bảo An và nhân viên Thông tin.
 
Mặc dù đã được thông báo trước, nhưng gần trưa chúng tôi đến nơi, vẫn thấy lặng lẽ như tờ, chẳng có người nào, ngoài hai chú nhân viên Xã đang ngồi xem giấy tờ và anh Chủ tịch Hội đồng bước ra chào chúng tôi, với nét mặt như chiếu lệ.
 
Tôi cảm thấy một không khí hơi lạ lùng, nhưng anh Chi Trưởng công an thì tỏ ra rất khó chịu, quay lại gần tôi.
 
-         Anh Ba.
 
Chú ấy thường gọi tôi như vậy, nhưng tôi đã hiểu ngay chú muốn nói gì, nên vỗ nhẹ vai chú.
 
-         Bình tĩnh, đừng nóng ruột làm gì. Tôi sẽ có cách xử trí.
 
Thì một bà chị khoảng trên 50 đến Xã xin giấy tờ, bước lại thoáng qua trước mặt tôi, mà tôi nhận ngay ra là người của “phe ta”, nhưng không tỏ thái độ gì cho ai biết.
 
Chị nói thật nhỏ, chỉ cho mình tôi đủ nghe.
 
-         Họ khiêu khích, không đón tiếp Quận đâu!
 
Rồi chị tản đi nơi khác ngay.
 
Tôi cố giữ nét mặt thật tự nhiên, dù máu trong người đã nóng bừng cả rồi. Ngồi giở một tờ báo trong túi xem, nhưng tai và mắt theo dõi thật sát tình hình chung quanh.
 
Mấy chú lính đi theo, như cảm thấy, tản ra bố trí xa xa quanh trụ sở, trong khi Trưởng chi công an lại dò hỏi Chủ tịch Xã là Xã này đã có Trưởng ban An Ninh chưa, thì được biết “chưa tìm ra người.”
 
Tình hình vẫn trầm lặng suốt cả giờ, mà chỉ có thêm hai người từ trong làng ra ngồi ngoài gốc cây xa xa. Tôi xem lại đồng hồ tay thì đã quá một giờ theo giờ hẹn với xã, tôi hỏi Chủ tịch Xã một lần nữa.
 
-         Xã đã thông báo cho dân chúng biết chưa?
 
-         Thông báo ngay từ hôm nhận được thơ từ Quận.
 
Rồi anh ta tiếp ngay
 
-         Dân họ bận công tác, và thường có thói quen giờ cao su, thế thôi ạ!
 
Tôi không bỏ qua dịp tốt, hỏi ông ta ngay
 
-         Chắc là trước kia, sống trong chế độ của Việt Minh – tôi cố tránh hai tiếng Cộng sản, dân chúng hẳn không dám có thói quen ấy đâu, phải thế không, ông Chủ tịch?
 
Ông ta ấp úng, và chẳng trả lời được câu hỏi hóc búa vừa rồi của tôi. Nhưng tôi đã cười, một cái cuời của người có quyền, nhưng lòng dạ không độc ác, để làm ông yên tâm hơn.
 
-         Chắc là dân chúng họ biết Quốc Gia dân chủ, chẳng giống chế độ trước, nên vậy thôi.
 
Rồi tôi đứng lên vươn vai, cho đỡ mỏi, đi qua lại, rồi lại ngồi tiếp tục đọc báo.
 
Một giờ sau, cũng chỉ thêm độ vài ba người, nhưng có một đám trẻ con độ dăm em, chạy ra đuổi bắt nhau, la hét.
 
Tôi giả tảng như chẳng có gì khó chịu, và sau độ nửa giờ nữa, tôi lại bàn nhỏ với hai anh Công an, Đại đội trưởng Bảo An, và quay lại anh Chủ tịch.
 
-         Thôi! Thế là dân chúng chẳng muốn nghe chúng tôi – phe Quốc Gia – nói chuyện, giải thích, thì thôi vậy. chúng tôi đã chờ trên ba tiếng đồng hồ sau giờ hẹn, nên về ông Chủ tịch nhé!
 
Nghe câu này hẳn ông ta cũng như hai chú đang làm việc hơi lo, vì hắn phải hiểu rằng “có lẽ nào chúng tôi chịu thua”.
 
Chúng tôi lặng lẽ ra về. Trên đường về tôi phác họa qua cho hai anh bạn Công an, và Bảo An biết; đồng thời cũng giải thích cho các chú ấy biết rõ họ sẽ đấu tranh thế nào nếu chúng ta sơ ý, như câu chuyện Chợ Được ngày xưa. Đồng thời tôi cũng không quên cho hai chú biết rằng có người cho biết ngay khi vừa đến là họ “khiêu khích và không đón tiếp”, đừng chờ vô ích.
 
Chú Công an, đến giờ này mới hiểu thêm được rằng “Ông Quận trưởng này không phải chỉ chuyên môn hành chánh!” Mà câu chuyện còn dài dài về sau để chú thấy được nghề nghiệp của Chú đòi hỏi gì thêm, chứ không đơn giản khi nghĩ đến việc đi “bình định” nông thôn, nhất là một nông thôn do Cộng Sản giao lại cho mình.
 
Về đến quận, chúng tôi lập tức cho đánh ngay một “văn thư hỏa tốc” gởi đến tất cả những xã bao quanh Tiên Đỏa, mà lúc này đã được đổi thành Xã Bình Tiên, với nội dung “vì dân chúng xã này không muốn sống với chế độ Quốc Gia vào tiếp thu sau ngày Hiệp Định Giơ Neo (Genève) được thi hành – nên các Xã chung quanh không được cho dân Xã này mượn đường để ra vào” – (mà chúng tôi dùng câu “nội bất xuất, ngoại bất nhập”) cho đến khi có lệnh mới.
 
Và, cho người đem ngay đến các Xã lân cận giải thích tính cách ngoan cố của Bình Tiên, để họ thấy suốt thái độ của Quận, đồng thời cũng để cảnh giác chung.
 
Thì chỉ trong hai hôm, 3 người trong xã đã xin xã lân cận cho được nhờ đường lên Quận trình bày và “xin xỏ”.
 
Họ vào nhờ Chánh Văn phòng là người từng quen biết để được gặp tôi.
 
Thoạt đầu tôi đã đoán ra phần nào là trong ba người này phải có một người chủ chốt nếu không phải là trong đám tin cậy của Cộng Sản, thì ít ra cũng là người được họ ủy quyền đi theo để nắm vững vấn đề, và theo dõi.
 
Họ vào năn nỉ xin quận giải tỏa lệnh bao vây kia, thì chúng tôi chỉ lạnh lùng cho biết là “các ông, và dân chúng không muốn làm việc với Quốc Gia thì năn nỉ xin xỏ mà làm gì” nhưng họ biết không thể nào hơn, đành xuống nước.
 
-         Các bác phải thông cảm rằng nếu biết không đủ sức thì chúng tôi đã chẳng vào đây làm gì, nhất là chúng tôi phải hiểu rằng khi Cộng Sản rút đi, họ đâu có ngây thơ để chúng tôi vào đây tác oai tác quái, làm gì thì làm.
 
Họ lại năn nỉ, và hết lời xin lỗi để mong Quận giải tỏa lệnh trước.
 
-         Tôi chưa đủ tin các bác, bởi chúng tôi biết rằng sau lưng các bác còn những người không quên hướng dẫn dân chúng Tiên Đỏa đi theo ý họ.
 
Ngưng một phút, tôi đi ngay vào tim phổi họ:
 
-         Sở dĩ tôi nói thế, vì từ ngày vào đến nay chưa gặp phải một xã nào lại muốn thử thách như Bình Tiên. Tôi cũng không phiền trách, vì nghĩ rằng cũng nhân dịp này để Bình Tiên hay nói đúng hơn là những cán bộ để lại biết rõ tôi, hiểu rõ đường lối của Quốc Gia, qua tôi xem trước kia các anh hay nói đúng hơn là kháng chiến nói và nghĩ đúng hay sai.
 
Rồi, tôi nghĩ, phải đặt điều kiện với họ mới được.
 
-         Tôi chấp nhận điều kiện giải tỏa lệnh trước, với điều kiên một tuần lễ nữa, cũng đúng ngày, giờ này tất cả dân chúng Bình Tiên, từ già đến trẻ, trên 15 tuổi phải sắp theo từng ấp, từng thôn lên đây! Tôi sẽ kiểm điểm, lập danh sách, và những người nào không lên đây sau này không được chấp nhận là dân trong xã. Trong dịp này tôi sẽ giải thích về đường lối, chính sách để dân chúng hiểu thật rõ chứ không phải những gì họ nghe Cộng Sản – tôi nhấn mạnh hai tiếng Cộng Sản – tuyên truyền xuyên tạc trước khi rút đi là đúng.
 
Sau khi nói xong, tôi nhìn ngay vào họ để theo dõi từ cái nhìn qua nhìn lại, đến tay hay chân nhúc nhích, mà tôi nghĩ là họ tham khảo ý kiến nhau.
 
Biết họ cảm thấy chúng tôi không phải “ngu” hay “tầm thường” như họ đã được tuyên truyền là đúng, nhưng biết chắc điều kiện tôi đưa ra không thể làm được, nên mỉm cười hỏi lại.
-         Thế nào? Các ông nghĩ sao?
 
Tôi giả đứng lên quay vào bàn rót nước uống để họ ngầm tham khảo nhau, và quay lại thì được họ cử một người lớn tuổi lên tiếng:
 
-         Xin ông Quận nới bớt cho điều kiện ấy, vì – không thể nào cả Xã bỏ nhà trống kéo nhau đi quá xa, mà có rất nhiều nhà không có trẻ em để giữ nhà được!
 
Tôi im lặng, như tìm ra một phương pháp khác, trong khi quay nhìn anh Văn phòng trưởng nói khi nãy, thì anh này bước lại gần để trình bày như xin giúp cho họ.
 
-         Thôi được, nể lời bác Tịnh, và cũng thông cảm khó khăn của dân chúng, nhưng các ông cũng hiểu rằng tôi hoàn toàn chưa tin tưởng các bác hay dân chúng Bình Tiên được. Vậy tôi đồng ý là trong nửa tháng nữa tôi sẽ trở lại Xã, nhưng với điều kiện là trong Xã không còn một khẩu hiệu nào trước kia do Cộng Sản viết trên các vách tường, phải quét vôi sạch sẽ, dân chúng phải tập trung trước một giờ bằng cách sắp theo từng xóm, từng thôn có danh sách đem theo rõ ràng. Người nào vắng mặt phải được ghi chú rõ ràng, đi đâu bao lâu rồi, bao giờ về, và nếu đau yếu thì hiện giờ đang ở đâu. Tôi chỉ cần có thế. Các bác đồng ý chưa? Và lần này nếu còn rắc rối, tôi sẽ có biện pháp khác, chứ không phải chỉ có như trước.
 
Và chỉ ngưng một giây tôi đã thẳng thừng.
 
-         Vỏ quít dày, móng tay nhọn, xin các bác thông cảm cho như thế. Vả chăng người nào không chịu sống tại miền Nam với Quốc Gia cần ra Bắc sống với Cộng Sản chúng tôi sẽ sẵn sàng giúp đỡ phương tiện cho di chuyển ngay, Các bác đồng ý chưa?
 
Và muốn tỏ ra rằng tôi đã biết tất cả những gì tại các xã, nên không dấu diếm mà nói thêm:
 
-         Để quý bác về thông cảm lại nhân dân, và hai ngày nữa xin cho người lên báo tin, để đúng nửa tháng nữa tôi sẽ xuống Bình Tiên như đã hứa.
 
Tôi còn khá nhiều việc phải làm, chứ không riêng chuyện của Bình Tiên. Mong các bác thông cảm cho thế.
Rồi tôi đứng dậy, như nôn nóng ra đi, không muốn kéo dài. Họ từ giã tôi và ra về.
 
Anh em làm văn phòng chú ý nét mặt tôi, và chắc hẳn như đang tìm hiểu để học bài học này, khi muốn đến một nơi bình định, mà chắc chắn là phải đối phó với cơ sở do Cộng Sản để lại. 
 
Chiều hôm ấy, sau giờ nghỉ việc, tôi được tiếp một anh bạn từ Sàigòn ra, mà hẳn nhiên tôi đã nghĩ rằng anh đang đem theo một sứ mệnh của “Đảng phái” bởi biết rất rõ về anh. Đây là anh Nguyễn Thức – mà sau này đã đổi thành Nguyễn Thùy, hiện nay đang sống tại Pháp, nhiều anh em thường gọi là Giáo Sư Thùy.
 
Chưa có nơi ăn chốn ở, nhưng tôi vẫn mời anh Thùy ở lại đêm ấy chuyện trò sau khi ra trước cửa Quận có quán cơm của chị và em tôi ăn qua loa bữa tối.
 
Khi vào cùng nằm chung trên một bàn dài, mà ban ngày dùng cho Chánh Văn phòng làm việc tâm sự, Thùy cho biết là anh Phan Ngô cử ra để yêu cầu tôi đứng lên xây dựng Việt Nam quốc Dân Đảng miền Trung lại. Thùy đưa ra những nhận xét chung của anh em đang sống tại Sàigòn là Chánh phủ Ngô Đình Diệm độc tài, gia đình trị đang chủ trương tiêu diệt tất cả đảng phái.
 
Thùy không ngờ tôi đưa ra những dữ kiện, và đặt ra những câu hỏi mà chú ta chưa thể nào nghĩ ra kịp để trả lời.
 
-         Mình nghe rằng anh Ngô nhận của Bình Xuyên 50.000$00 để hoạt động chống ông Diệm, có không? Nếu chuyện ấy là có thì mình có quyền đặt giả thuyết rằng họ muốn mình xây dựng lại Quốc Dân Đảng là để ông Diệm phải bận tâm đối phó với miền Trung để cho miền Nam tạo thuận thời, lợi thế phải không?
 
Trong khi Thùy đang suy nghĩ, tôi tiếp hỏi:
 
-         Vả chăng, mình muốn hỏi rằng ông Diệm đã có hành động gì để chúng mình nghi là ông ta đang độc tài diệt đảng phái. Hơn thế mình luôn nghĩ rằng khi Mỹ viện trợ, giúp đỡ thì họ sẽ giúp cho ông Diệm, chứ có khi nào lại giúp cho Phan Ngô hay Phan Vỹ bao giờ.
 
Thức làm thinh, chưa đáp, thì tôi đã hỏi tiếp:
-         Phải thế không? Chú trả lời, mình sẽ không ngại mà đáp ứng ngay lời anh em.
 
Cố im lặng để tìm một ví dụ cho thích đáng, nhưng rồi đành phải dùng
 
-         Con đĩ có giấy, quần chúng miền Trung chẳng mấy người không biết mình đã từng hoạt động cho Đảng từ những năm tháng cuối 1945. Nhưng, Thức trả lời cho mình những tin tức đã nghe biết, cũng như những cảm nghĩ vừa rồi đúng hay sai?
 
Thức im lặng, nghĩa là chú ta thấy tôi nói không sai. Nhưng bản tính tôi thường ít khi để cho đối tượng câu chuyện phải “lúng túng” nên nói lảng sang chuyện khác, rồi cả hai nằm im lặng khá lâu mới ngủ.
 
Sáng ra Thức từ giã lên xe vào Tam Kỳ, mà lúc ấy anh Phan Thiệp đang làm Quận trưởng tại đấy.
 
Câu chuyện về sau còn lắm đau lòng, hiểu lầm nhau, mà đến nay vẫn có người không chịu hiểu đúng sự thật, dù trong những đoạn sau, khi trở lại sinh hoạt với Trung Ương Đảng đã về ngay tại Tam Kỳ nói chuyện với các cấp bộ Đảng khá ly kỳ lý thú mà đáng lẽ không một đảng viên nào còn có thể hiểu lầm hay vì tự ái xuyên tạc để lớp người sau không hiểu đúng sự thật của những gay cấn khó quên trong câu chuyện “Nam Ngãi ly khai” này.
 
Ngay những ngày sau đấy tôi lập tức đi Quế Sơn, với mục đích tránh những cảm nghĩ của tòa tỉnh Quảng Nam là hứa nhưng không theo dõi hoặc giúp đỡ gì cho Quế Sơn ngoài việc cho ba cán bộ về làm việc chờ ngày anh Nguyễn Đình Thiệp về chính thức nhận việc, là các chú Nguyễn Mậu Lãm, Nguyễn Mậu Quý và người em ruột của anh Thiệp là Nguyễn Đình Hồng. Tôi luôn luôn chỉ vẽ, theo dõi việc làm của các chú chưa nói là vùng giáp trên núi như Phú Bình, Phú Cốc đã được đặt kế hoạch để chận đứng những âm mưu của đám nằm vùng Cộng Sản. Trước đây không lâu chúng tôi cũng đã về nói chuyện với dân chúng ở Hương An, và Chợ Bà thuộc Quế Sơn.
 
Lần này, chúng tôi lên khỏi Quận và nói cho Lãm, Quý báo tin đồng bào vùng Chợ Lò Chén để được tiếp chuyện cũng như nói rõ đường lối chính sách Quốc Gia. Trên đường xe chạy đến Lò Chén tôi đã muốn xe chạy vào Đình Nghi Hạ, nơi mà trước đây từng bị giam giữ ngót năm trường để sống lại giây phút kỷ niệm xưa, nhưng tài xế cho biết đường này thời kháng chiến Cộng Sản đã phá hủy cầu, và đào xới không đến được.
Xe chạy đến một nơi mà Lãm cho biết là trước đây anh Bùi Ân, người lên Phù Kỳ thay thế tôi, đã bị Cộng Sản bắt được trong một trận tấn công đồn Cẩm Lậu, đem về tận quê nhà, xử bắn ngay trước ngõ, để vợ con anh chứng kiến cảnh đau lòng mà ngay chúng tôi cũng khó quên, khi nhớ đến người bạn đáng kính, người đồng chí chống Cộng hào hùng, anh dũng này.
 
Ngày anh Ân lên thay, tôi đã căn dặn tối lại không nên ngủ trong đồn, bởi theo đồng bào khuyên tôi rằng đồn có kiên cố đến đâu, họ cũng quyết đánh cho được, trừ chúng ta ra ngoài mà ngủ Cộng Sản không thể bắt được chưa nói là việc làm ấy cũng tạo cho họ một lo âu, bởi biết đâu khi họ đánh đồn lại không lo rằng chúng ta sẽ từ ngoài đánh ập vào. Nhưng có lẽ lúc ấy anh Bùi Ân không có lực lượng để cùng nhau rút ra khỏi đồn mỗi tối nên mới bị nông nổi.
 
Lúc xe dừng lại, nơi anh Ân đã bị xử bắn, chúng tôi mất khá lâu để hồi tưởng lại những phút đau lòng kia, mới lên đường đi Lò Chén.
 
Sau ngày ấy mấy hôm là nghe tin anh Nguyễn Đình Thiệp về, chính thức nhận chức Quận trưởng Quế Sơn.
 
Nguyên tắc làm việc là hết việc chứ không hết giờ, là nặng lo các Xã hơn là hình thức đối với cấp trên, và luôn luôn nghĩ đến những người địa phương có uy tín, có tài năng, chưa nói là có đạo đức để cộng tác chặt chẽ, lắng nghe những lời can gián, đề nghị của họ.
 
Thành phần trẻ, như đã nói là Nguyễn Đức Dũng sau này có bút hiệu Vũ Hạnh đã được tìm hiểu rất kỹ về anh ta, Dũng là thanh niên trí thức, đã có tú tài lại là thành phần địa chủ, mà dĩ nhiên Cộng Sản chẳng bao giờ chịu dùng
chưa nói là sẵn sàng trừng trị, thanh trừng. Dũng đã một thời điêu đứng vì bọn họ. Nhưng có ai ngờ Dũng bản chất luôn “bất mãn” bởi tự cao tự đại, Do đó, khi về làm Quận trưởng tại đây, sau khi tìm hiểu về Dũng, tôi hay niềm nở, cởi mở, vui cười và sẵn sàng tìm cách giúp Dũng sinh sống. Nhưng lòng luôn nghĩ là dùng Dũng thì hẳn còn phải xét lại. Trong khi ấy Dũng có người anh rể tên là Quốc, trước là thư ký tòa sứ, nhưng sống dưới chế độ Cộng Sản, bị khủng hoảng tinh thần, đến độ sa sút thân xác không ai lường được. Ngày Quốc Gia vào tiếp thu có lẽ anh Quốc nhìn lại thân xác mình bị tự ty, mà chẳng bao giờ muốn gặp ai. Anh sống với gia đình, trong tinh thần một kẻ hoàn toàn “thủ phận.”
 
Biết được con người đáng mến này, tôi quyết định tìm đến thăm anh, thay vì mời anh vào Quận để gặp. Đấy là một hành động của người thay mặt chánh quyền cần được nói ra, trong khi muốn bàn đến chuyện kinh nghiệm để thu phục nhân tâm, ngày tiếp thu Cộng Sản, để xây dựng chính quyền quốc Gia.
 
Sáng hôm ấy, tôi cùng anh Ba Đích, người cán bộ thường theo bảo vệ, tìm đường ra nhà anh Quốc.
 
Đến nơi, anh Quốc đi vắng không có nhà, tôi không muốn người nhà như vài người đã quan niệm, lúc một Quận trưởng cần gặp ai, mà tiếp tục đi lần thứ hai, sau đấy mấy hôm, nhưng cũng không gặp.
 
Lần thứ ba lại đi, thì anh Ba lễ phép lên tiếng “chẳng lẽ ông Quận muốn áp dụng chuyện Tam cố mao lư” của Lưu Bị đi cầu Khổng Minh hay sao? Tôi chỉ cười trả lời anh Ba là nếu anh không muốn giúp đi với tôi thì ở lại văn phòng làm việc để tôi nhờ người khác. Dĩ nhiên anh Ba không bao giờ dám nghĩ và làm như lời tôi, vui vẻ tiếp tục ra đi. Lần này gặp được anh Quốc. Sau khi anh nghe anh Ba kể là chúng tôi đi lần này là lần thứ ba, anh Quốc vô cùng sửng sốt, thật thà xin lỗi. Tôi vui vẻ tâm tình với anh, hỏi thăm để anh hiểu khuyên anh bỏ mặc cảm, nên tin tưởng chính sách Quốc gia, mà anh đã hấp thụ được những gì trước kia, thời còn là thầy Thông, thầy Ký của tòa Sứ Pháp, nay lại được cái không khí của nền Dân chủ có đầy đủ Tự do
này.
 
Anh Quốc ngồi nghe tôi tâm sự, như một giấc mơ, và cuối cùng đã vui vẻ giao nhà cửa lại cho gia đình; tuần lễ sau theo tôi về Hội An. Gởi anh ở lại nơi gia đình tôi khám bệnh, chữa bệnh, bồi dưỡng để hồi phục cả thân xác lẫn tinh thần trước khi bước vào ngưỡng cửa của Tự do.
 
Một thời gian ngắn sau anh Quốc vào Quận, được tôi mời làm việc với cấp bực thư ký bậc 1 để chờ bổ ngạch cũ. Trong một dịp sau đó trong khi Đại biểu Nguyễn Đôn Duyến vào thăm Quảng Nam có gặp, vì biết anh ngày trước an ủi và khuyến khích. Nhưng cuối cùng anh chuyển ngành giáo dục dạy ở trung học Tam Kỳ đã làm cho Dũng không khỏi nhìn mà hổ thẹn.
Đến một ngày, câu chuyện Nguyễn Ngọc Trình, một Đảng viên 14 tuổi Đảng ở lại miền Nam không tập kết ra Bắc có công đề nghị quận Thăng Bình tổ chức Chiến dịch Tố Cộng dẫn đầu toàn Quốc mà đến nay nhiều người còn muốn biết đâu là khởi đầu của câu chuyện.
 
Trong thời kháng chiến của Cộng Sản, Trình là Trưởng ty Thông tin tỉnh Phan Thiết. anh quê quán quận Quế Sơn, đã học hết trung học và được kết nạp vào Đảng Cộng Sản ngay từ những năm 1940, nghĩa là nếu tính theo tuổi đảng thì Trình cùng lớp với Tố Hữu. Anh làm thơ rất hay và có bút hiệu là Trinh Huyền (tức Trình). Có lẽ nghe dư luận về quyền hành của Quân đội, mà anh không nghĩ rằng thời cụ Diệm thì Hành chánh nắm trọn tất cả, mà Quân đội chỉ lo thủ trong các Trại để tập tành. Vì vậy Trình vào ngay Tiểu đoàn 28, đóng cách quận lỵ Thăng Bình non cây số để trình diện. Dĩ nhiên Trình cũng đã nghe đám trẻ em hồi ấy thường dí dỏm hát:
 
“Muốn sang lấy Hành chánh
Muốn đánh lấy Công an
Muốn ngang tàng lấy Quân đội.”
 
Nhưng Quân đội, quanh quận Thăng Bình đã có 4 Tiểu đoàn như 41, 44, 28 và 29 thì hẳn gì đã biết tiểu đoàn nào quan trọng hơn tiểu đoàn nào.
 
Khi nghe điện thoại của anh Lê Quang Tung, sĩ  quan Tình báo Tiểu đoàn 28 cho biết, một Việt Cộng quan trọng không tập kết ở lại miền Nam, đến trình diện, tôi chỉ hỏi qua loa và nói anh Tung hỏi xong cho người dẫn qua Quận chúng tôi sẽ ký nhận.
 
Chiều hôm ấy gần hết giờ làm việc Trình được dẫn sang Quận, và sau khi được báo, tôi cho phần hành Tư pháp ký nhận, đưa anh vào lao giữ lại, chờ ngày mai sẽ hay.
 
Nhưng thâm tâm tôi đã có sẵn kế hoạch sau khi được bà con quanh đấy cho biết về lý lịch Trình, là sẽ thử thách và nếu được sẽ dùng. Tất cả kế hoạch để khai thác Trình, dùng trình làm một tấm “kính” lớn trong ý định chiêu dụ những người Cộng Sản thực tâm lìa bỏ Đảng trở lại với ta.
 
Mà, đây là một trong những điều tôi muốn kể lại trung thực để lấy đó làm kinh nghiệm về sau.
 
Dĩ nhiên quanh tôi, từ anh Trưởng phòng Tư pháp đến người quan trọng là Trưởng chi Công an đang chờ xem tôi sẽ giải quyết ra sao, bởi lúc ấy tình trạng tranh chấp quyền hành giữa Quận trưởng và Trưởng chi Công an, cũng như cao hơn là giữa Tỉnh trưởng và Trưởng ty Công an rất dễ xảy ra, nếu Quận trưởng thiếu cảnh giác là Công an hay Quân đội rất dễ lộng hành.
 
Chú Tín Trưởng  chi Công an cứ lảng vảng gần tôi để gạ gẫm xem tôi sẽ làm gì, chưa nói là anh ta cứ nằng nặc xin được thẩm vấn Trình.
 
Nghĩ rằng tranh cãi với Tín lúc này không lợi, nhưng tôi phải cho chú ấy biết là cấp trên – ý muốn nói Tỉnh trưởng – đã có chỉ thị đặc biệt về tình trạng của Trình.
 
Rồi, tối ấy khi tất cả đã yên lặng, tôi cầm theo một đèn “pin” vào lao, có người coi tù đi theo sau. Biết chỗ của Trình nằm ngủ, tôi đập nhẹ vào người,
thức anh đậy, trong khi đèn bấm chiếu ngay vào mắt để anh không còn định thần kịp, tôi nói đủ để anh nghe.
 
-         Anh Trình! Anh biết ai có thể bảo lãnh, và bảo đảm được tính mệnh anh không?
 
Trình lắc đầu và trả lời nhỏ
 
-         Thưa không biết ạ!
 
-         Tôi vào giờ này để đầu óc anh không bị chi phối gì, và cho anh biết rằng không ai có thể bảo đảm anh. Ông Tỉnh trưởng hay tôi, cũng chẳng thể bảo đảm cho anh lâu dài được, khi mà phải đổi đi nơi khác.
 
Rồi tôi nghiêm giọng hơn:
 
-         Chỉ có một người bào đảm được anh – là, tôi chỉ vào anh và nói với giọng khô khan và rắn rỏi – chỉ có chính anh, mới bảo đảm được cho anh thôi.
 
Tôi kết thúc câu chuyện, cốt để anh phải suy nghĩ, là tôi muốn nói gì:
 
-         Thôi, anh ngủ đi! Ngày mai tôi sẽ cho gọi anh lên gặp, và ta sẽ nói tiếp câu chuyện!
 
Tôi quay ra ngay, và nghĩ rằng hẳn Trình phải biết câu chuyện tối nay là dụng ý tôi muốn nhắc lại hồi sáng anh đến Tiểu đoàn 28 để trình diện, là anh đã tính sai rồi đấy!
 
Sáng ra, sau khi giải quyết những việc linh tinh của văn phòng tôi cho gọi Trình lên sau khi dặn Văn phòng Trưởng là không để ai vào cho đến khi tôi ra lệnh.
 
Khi Trình bước vào, tôi không hỏi thêm lời nào, chỉ bàn bên cạnh, nơi người Bí thư làm việc, đưa cho anh một tập giấy với một câu chỉ vỏn vẹn “Hãy  viết đúng tư tưởng anh – QUAN NIỆM NGƯỜI CÁN BỘ QUỐC GIA TRƯỚC VẤN ĐỀ CỘNG SẢN”.
 
Tôi bảo anh cứ viết, khi nào xong tôi sẽ có ý kiến. Nhưng mặc dù giả như đang xem các hồ sơ khác tôi vẫn theo dõi, thấy Trình ngồi suy nghĩ khoảng mươi phút rồi anh bắt đầu viết liên tục.
 
Chắc hẳn Trình phải nghĩ rằng tại sao lại không bảo anh ta viết về Cộng Sản mà lại viết tâm tư của người Quốc gia. Nhưng mươi phút để ngồi trầm ngâm, hẳn Trình phải đặt lại vấn đề là “Anh nghĩ gì trong chúng tôi, khi nhìn các anh là người Cộng Sản”. Có nghĩ được cái máy móc ở chỗ đặt ngược lại vấn đề thì Trình sẽ hiểu là nếu chú lừa dối tôi, nếu chú không thành thật hẳn chẳng lợi gì cho chú!
 
Mới nghe chỉ một đầu câu chuyện để dò xét hầu chinh phục một tay Cộng Sản như Trình mà tôi đã phải ra cái “đề” kỳ lạ như trên, chúng tôi phải mất nhiều thời giờ mới giải thích và thuyết phục được chú Trưởng chi Công an chỉ với một lối khai thác đối phương ít khi thay đổi từ bao lâu rồi.
 
Sau hai giờ anh đưa trình tôi xem hai tờ giấy đôi, nghĩa là đúng 8 trang giấy rất sạch sẽ, không gạch bỏ một chữ nào.
 
Cho anh ra ngoài ngồi chơi, tôi đọc khá say mê, khúc chiết trình bày của Trình, mà phải nói rằng từ trước tôi chưa bao giờ được xem một tài liệu thích thú và hấp dẫn như vậy.
 
Tôi phải thầm khen anh đã tâm lý xác nhận điều kiện để trải qua thử thách chứ không chỉ đơn giản chứng minh mà mong rồi sẽ được tin dùng.
 
Tôi gạch “đỏ” câu ấy, và bước ra ngoài cho anh xem để thấy rằng đấy mới là điểm chính cần được đánh giá.
 
Sau hôm ấy, tôi cho Trình viết một bản tự thuật mà trong đó tôi nắm được những ngày hoạt động của anh, những mối tình, những bài thơ v.v… để cho người kiểm chứng lại.
 
Hết giai đoạn thứ hai này tôi cho Trình đi Đà Nẵng chơi trong dịp cuối tuần, bày cho Mùi, nhân viên theo sát tôi áp dụng những nguyên tắc cần thiết để đưa Trình vào giai đoạn thứ ba. Mùi phải đóng đúng vai tuồng đam mê, hư hỏng, gạ hỏi và rồi tối ấy bố trí một cô gái ăn sương cho Trình tại khách sạn, mà cô này sẽ than thở hoàn cảnh trái ngang, gia đình đau khổ v.v…để rồi cuối cùng ôm gối “khóc”. Thế là Trình, sống trong vùng Cộng Sản từ bao lâu, ăn sâu tư tưởng “xác thịt chỉ là vấn đề giải quyết” thì nay Trình lại bị
đắm vào một thứ tình cảm giả tạo, mà bản chất anh lại có máu đa tình, nên không thể lạnh lùng, mà cũng rơi lệ.
 
Sau hôm ấy, tôi đi kinh lý vùng Việt An, mà đã theo bản tự thuật của Trình biết rằng thời kháng chiến anh ta đã say mê một cô tại đây, cũng “xướng cũng họa” nhau khá tình tứ. Tôi cố tạo cho Trình cơ hội gặp lại cô này mà không hề cho cô kia biết trước, thì lúc kết thúc mới biết rằng Trình đã làm nên một bài thơ khá hay, khi anh gặp lại người yêu cũ trong cảnh trái ngang “nàng đã ghé thuyền sang bến khác” dù người chồng cô này lại tập kết ra Bắc.
 
Những thử thách trên giúp chúng tôi đọc được khá kỹ về tình cảm Trình, nhưng cái quan trọng là phải xét lại tư tưởng anh về chính trị.
 
Thế là liên tiếp những dịp đi thăm dân chúng và xét sổ sách của Hội đồng các Xã xa tôi đem Trình theo. Sau khi nói chuyện với dân chúng, nhất là cố tìm ra những oan ức do Hội đồng gây nên, tôi cho Trình lên nói chuyện.
 
Trình chỉ nhắm vào những tay đảng viên Cộng Sản đang ngồi dưới mà đặt tiêu đề. Anh nhắc lại những ngày xa xưa khi anh đã về chính những nơi này để tuyên thệ cho các đảng viên kia vào Đảng Cộng Sản, thì nay câu chuyện phải nhắm vào khía cạnh ấy mà phân tách. Anh nhấn mạnh rằng “ông Quận trưởng nói chuyện anh em còn có thể chưa hoàn toàn tin tưởng, nhưng tôi với anh em không xa. Tôi là người đã đến nơi này, chứng minh tuyên thệ để anh em được vào Đảng Cộng Sản, thì nay không phải tôi bị bắt, bị ép buộc nói chuyện, mà tôi đang tự do nói chuyện với anh em. Nếu còn ai chưa đủ tin mà cho rằng ông Quận trưởng đem tôi theo để tuyên truyền với các anh, thì lúc khác, nay mai, khi rãnh các anh lên quận chơi, tôi ăn cơm ở một quán trước cửa quận, ta sẽ nói chuyện tự do và thoải mái.
Trình có cái tài, là hôm nay anh nói những gì tôi nhớ, rồi hôm sau đến một Xã khác tôi đem tất cả ra nói, nói hết, lại giới thiệu Trình lên nói chuyện, anh vẫn còn đề tài để nói.
 
Vì vậy đám nằm vùng gần như nghẹn họng không còn cách gì để xuyên tạc chính quyền ta, hay nói lén, lúc không có ta, mà không khí sôi nổi tại các xã đã hiện rõ. Các thành phần chống Cộng, không ưa Cộng, đã rủ nhau ra hợp tác tại các Xã Thôn, một cách hồ hởi.
 
Cho đến một buổi chiều chủ nhật tôi cho mời anh lên Quận, ra quán đặt mua một con gà nhỏ, xé trộn rau răm, cùng anh nhậu la ve.
 
Trong khi luận đàm, Trình đã làm tôi nhớ mãi chẳng bao giờ quên khi anh chỉ vào đĩa thịt gà mà nói rằng “Thưa ông, tôi quả quyết là Cộng Sản chẳng thế nào thành công. Xin chứng dẫn một ví dụ rằng khi nào con người ngồi trước một đĩa thịt gà xé trộn rau răm thơm phức, và một đĩa muối sống mà gắp miếng thịt gà bỏ vào miệng ta nghe thơm, béo, rồi ăn xong ta lại gắp một đũa muối sống bỏ vào miệng cũng lại nghe thơm, nghe béo, thì Đảng Cộng Sản mới thành công được. Trái lại nếu thịt gà là thơm là béo, mà muối sống là mặn. là chát, thì làm sao thành công được.
 
Như chưa thỏa mãn, Trình tiếp theo ngay
 
-         Đảng Cộng Sản cố tạo cho con người phải từ trong đáy lòng thấy rằng màu đen là đẹp, vì nó phục vụ được cho giai cấp, còn màu xanh, màu hồng là xa xí là phản cách mạng, kẻ thù của giai cấp. Ai chịu được cái tư tưởng kỳ lạ như vậy? Con người bằng da bằng thịt, hạnh phúc hay an vui là từ trong đáy lòng, chứ đâu phải giả tạo. Vì vậy tôi nghĩ rằng không bao giờ chủ trương Cộng Sản thành công.
 
Cũng cần nói lại là sau khi Nguyễn Thùy tức Thức đã từ giã tôi vào Tam Kỳ và họp bàn với các anh Thiệp Tam Kỳ, Long và Thích Tiên Phước, Thiệp Quế Sơn và Duyên Duy Xuyên để các anh xây dựng lại Quốc Dân Đảng không quan hệ với tôi.
 
Có lẽ các anh đã thuyết phục được ông Tỉnh trưởng Lê Trung Chi nên cũng chính những ngày này ông Chi bắt đầu thường tỏ ra không đồng ý các việc làm của tôi mà đặc biệt nhất là một hôm ông đã nghe lời văn phòng hay một anh bạn nào đấy gởi cho quận tôi một văn thư khá mỉa mai mà tôi nghĩ rằng đáng lẽ ông nên gọi tôi về hỏi hay không dùng những câu như vậy trong văn
thư của một cấp tỉnh đối với quận.
 
Trong văn thư nói trên có lời là “Tỉnh tôi rất thắc mắc tại sao xe V. N. T 4 lại có chở đàn bà lạ trên ấy?
 
Thế là sẵn bực mình vì ông Tỉnh trưởng đã bị các Quận kia lung lạc nên tôi không còn chịu được, lập tức trả lời “Ở vào trường hợp mới đi tiếp thu một vùng xa tỉnh lỵ mà giao thông không có, nghĩa là chưa có xe cộ gì giữa quận lỵ và tỉnh lỵ nên quận tôi không thể nào từ chối không cho vợ con nhân viên đi nhờ xe về tỉnh được. Vì vậy đối với tỉnh thì đấy là “lạ” nhưng với quận chúng tôi thì không có gì lạ, nên không thể từ chối được.”
 
Và, không khí càng ngày cành căng thẳng, cho đến một sự việc khác lại xảy đến mà đây là lúc tôi đành đem ra hỏi ông Ngô Đình Cẩn, lúc này đang là Cố vấn miền Trung, trong một dịp sẽ nói ở đoạn sau.
 
Câu chuyện gay cấn tiếp theo giữa ông Tỉnh trưởng với Quận tôi là vì tại vùng Xã Bò Chét, thuộc Quận tôi giáp ranh với quận Tam Kỳ có một cái chợ từ xưa, nhưng những ngày Cộng Sản kháng chiến họ nhận thấy đây là nơi dễ bị máy bay oanh kích, nên cho di tản về nột nơi khác trong đám rừng rậm. Tại nơi đây, anh Xã trưởng đương nhiệm đã tạo nên nhiều quyền lợi riêng tư, nhất là khi biết tin Hiệp định Genève đã ký anh nghĩ rằng phe Quốc Gia sẽ vào tiếp thu. Bởi lẽ ấy, nay thái bình rồi, dân chúng trong vùng, nhất là những cụ thân hào thường đề nghị quận cho di chuyển chợ trở về nơi cũ ngày xưa, thì anh Xã trưởng này, vì quyền lợi riêng tư không chấp thuận. Khi lắng nghe dư luận đúng đắn. Quận cương quyết ra lệnh, nhưng anh chạy về ông Tỉnh trưởng để kêu nài, vì dĩ nhiên anh đã nghe hoặc một người nào thuộc Tam Kỳ “mách nước” hoặc phong thanh tin tức giữa tỉnh và quận. Trước câu chuyện này tôi buộc lòng phải hỏi tỉnh là vì lẽ gì lại chấp thuận sự chống đối có tính cách riêng tư của anh Xã trưởng, và tỉnh phải hiểu rằng tôi là người trực tiếp xây dựng lại xã, quận sau khi tiếp thu.
 
Không khí căng thăng đến cực độ, mà nếu tôi không giải quyết được việc này thì các xã khác sẽ chẳng còn coi quận ra gì, nên một hôm phải dùng những lời gần như thách thức Xã Bò Chét nếu họ chống được quận trong việc này.
 
Trong thời gian này là lúc Quảng Nam đang xảy ra hai sự kiện vô cùng quan trọng: Chiến dịch TỐ CỘNG, và câu chuyện từ chống đối đến sau này xảy ra tình trạng ly khai của số anh em các quận đang tổ chức lại Việt Nam quốc Dân Đảng, đầu đề của Chiến Khu Nam Ngãi!
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHIẾN DỊCH TỐ CỘNG ĐIỂN HÌNH TOÀN QUỐC
 
 
Nay là lúc anh Nguyễn Ngọc Trình kể lại cho tôi nghe rằng trước kia khi Võ Chí Công (sau này là Chủ tịch nước của Cộng Sản) là Chủ tịch Liên Khu V đã cho phát động một lễ Tố khổ điển hình Liên Khu V tại xã Hiền Lộc cũ, nay được cải danh là Xã Bình Lộc.
 
Xã này thuộc khu Việt An, Phan Bá Phụng là Khu trưởng.
 
Quận Thăng Bình được chia thành 5 khu là: khu Hà Lam ngay tại Quận lỵ, khu Kế Xuyên nằm phía Nam quận giáp với Tam Kỳ, khu Chợ Được phụ trách vùng sát duyên hải, khu Minh Huy phụ trách vùng mật khu Cộng Sản trước kia, mà trong một đoạn trước có đề cập đến nhà lao Thăng Lãnh, và khu Việt An phụ trách miền Núi giáp với quận Quế Sơn. Mỗi khu rộng lớn khoảng ba Tổng của ngày xưa do một phái viên hay khu trưởng, có một hay hai nhân viên và cũng có các ngành bạn như Công an, Thông tin trực tiếp có cán bộ hoặc nhờ một cán bộ Xã có khả năng đảm trách.
 
Phan Bá Phụng là một tay kiệt hiệt, lanh lợi tháo vát chưa nói là có tài ngoại giao đặc biệt, sẽ kể trong một đoạn sau.
 
Sau khi nghe Trình kể qua buổi lễ Tố Khổ điển hình Liên Khu V do Võ Chí Công phát động nói trên, tôi thăm dò thêm các nhân sĩ địa phương nhất là
những vị tại khu Việt An như quý ông Tham Tư, Tham Nghinh, và cho Phụng hỏi thêm tài liệu, nhất là nhân chứng của vụ này, nay đang còn sống, hoặc nếu là Cộng Sản, nhưng không ra Bắc tập kết, còn ở lại, và hiện ở đâu.
 
Trong khi ấy tôi cho Trình viết một tài liệu phát động chiến dịch Tố Cộng với đầy đủ, từ việc hội ý nhau giữa các ngành tại Quận như Công an và Thông tin, rồi tham khảo các Nhân sĩ địa phương nhất là Hội đồng Tư vấn Quận (mà lúc này tôi đắc chí nhất với Tổ chức này bởi là tư vấn cho Quận vừa là Cố vấn cho Khu và Xã).
 
Khi được báo cáo của khu Việt An về số nạn nhân trước kia nay còn sống tại địa phương, những nhân chứng, những cán bộ của Cộng Sản không đi tập kết ra Bắc tôi giao ngay cho anh Trình dùng đấy để nghiên cứu tác dụng, và việc trình diễn.
 
Sau một tuần lễ anh Trình đã tạm thời hoàn tất tài liệu đưa trình duyệt xét trước khi tham khảo như đã nói.
 
Thật là một công phu không nhỏ!
 
Trong tài liệu, anh Trình đã phân tích đâu là những giai đoạn “dọn đường”, đâu là giai đoạn thực hiện. Mà thực hiện là phải gồm có tính cách “quảng bá” và “hiệu năng”. Cuối cùng là giai đoạn kiểm điểm rút ưu khuyết điểm cho đợt 2 và “nuôi dưỡng trường kỳ”, tuyệt đối tránh tình trạng “đầu voi đuôi chuột.”
 
Mặc dù câu chuyện đã qua từ ngót nửa thế kỷ (1958 – 1998) nhưng là vấn đề ăn sâu trong tim trong não nên gần như còn dễ nhớ hơn những bài học thuộc lòng khi ấu thơ, tôi có thể ghi lại sau đây những nét chính của mỗi giai đoạn vừa nói hay ngay cả những chi tiết khác mà có người đã nghĩ rằng tại sao lại nhớ kỹ như vậy.
 
Giai đoạn dọn đường là không chỉ tham khảo thân hào nhân sĩ, những người không ưa gì Cộng Sản để chuẩn bị cho chiến dịch mà cũng quên giải thích, tìm hiểu những cảm nghĩ trong số cán bộ Cộng Sản để lại không đi tập kết để tránh họ hoang mang, lo sợ tìm phương tránh né hay bàn nhau chuyện đối phó với ta. Ngay cả những tay trước đây có thực sự trong tổ chức hay bị
Cộng Sản dùng trong ngày Tố khổ nói trên cũng không quên vận động họ đứng ra để phản tỉnh những hành động ngày xưa, nói lên những chi tiết Cộng Sản dùng họ mà chẳng mấy người hay biết. Và, với những nạn nhân của thời ấy ta lại tạo cho họ có ngay một thái độ bao dung, không vì nhớ chuyện cũ mà căm hờn với ngay những người hiện còn tại đây.
 
Dọn đường còn là thấy được trước hiệu quả sẽ đạt được mà trù liệu cho một thành quả khác của toàn dân trong cả nước, chứ không riêng trong tỉnh, trong quận để khi việc đến ta đón nhận như đón một người thân từ xa về, hay một món quà đã được báo tin trước là hôm nay sẽ đến tay ta. Cái ý thức này rất tế nhị trong thành công bởi nó đến không phải vì ta tổ chức quy mô, vì kỹ thuật, mà tất cả vì CHÍNH NGHĨA!
 
Đến giai đoạn “THỰC HIỆN” là vô cùng quan trọng, vì trong thực hiện phải có đủ Tiền (trước), Trung (chính) và Hậu (sau) để các địa phương nắm vững thời gian mà vội vã, hay chậm trễ, không theo đúng kế hoạch Ban Chỉ Đạo.
 
Ở “Tiền” là cho học tập thật nhuần nhuyễn, từ Cá nhân, đến Gia đình, rồi đến Tập thể - Thôn, Ấp. Tài liệu phải được in tại Quận, và phát về cho các Xã. Thời ấy chúng tôi chưa có phương tiện như Ronéo mà in bằng thạch bản (viết trên bảng đá in ra) hoặc trên xoa xoa in ra, rồi cứ đà ấy cán bộ thông tin ở Xã lại in ra cho đủ để phát cho Thôn, Ấp. Khi các Thôn Ấp có tin báo đã nhận, và phát ra đầy đủ các tài liệu thì việc học tập mới đồng loạt. Đúng ra, cán bộ Xã phải được về học tập qua tại Quận, nhưng bởi thời ấy cán bộ Xã rất điêu luyện bởi họ đã sống với giai đoạn kháng chiến của Cộng Sản, nên người thực hiện nào cũng rất am tường kế hoạch chưa nói là có rất nhiều sáng kiến, mà những người như chúng ta bởi luôn luôn nhờ máy móc, và phương tiện không lường nổi. Họ phải học tập làm sao để khi đứng lên là hiểu ngay những gì phải làm, Họ tự động biết rằng không để cho mắt thấy một hình ảnh nào của chế độ Cộng Sản còn vướng vấp trước mắt, là cùng
nhau tìm những mảnh giấy, những hình ảnh cũ, đem ra giữa nhà để trong gia đình xác nhận lại trước khi thiêu hủy, không tiếc thương, không suy nghĩ. Không nhắc lại một chuyện cũ đã xảy ra làng trên xã dưới, hay ngay trong gia đình là người chủ trong gia đình lên tiếng trước để phân tách, cho đến khi đả thông được mọi người, và hỏi lại thật kỹ để xem kết thúc của câu chuyện. Quan trọng phải nói là tài liệu học tập gồm có những gì? Phải có những tài liệu mà trước đây Cộng Sản đã tuyên truyền vu khống hay nói xấu Quốc Gia, nêu hết, cái có cũng như cái không rồi đả phá lại. Nói từ xa là Mỹ đến Quốc Gia mà họ gán cho danh từ Ngụy. Khi đã thấm nhuần chỗ này rồi mới đem chuyện của Cộng Sản ra nói. Nói từ chủ trương của Đệ Tam, của Cộng Sản Quốc tế, của Duy Tâm biện chứng và sau cùng là Đấu tranh giai cấp. Khi nói xong các điểm ấy mới bước vào sự thật để chứng minh là họ phản bội Tổ Quốc, họ cướp công toàn dân trong cái mà họ gọi là Cách mạng Tháng Tám, chia rẽ nhân dân căm thù nhau, vì có thế họ mới bảo nhân dân đem lúa thóc cho bộ đội ăn để tổng phản công. Phải mổ xẻ phía bên ta là thực dân Pháp đã làm cho người yêu nước mất hậu thuẫn dân chúng, trong khi ấy họ cứ kể như ông Hồ Chí Minh là người cứu đất nước, chứ họ không bao giờ cho nhân dân biết rằng Phong trào trả độc lập đã đến là phải đến, thì dù có những ông Hồ hay không có. Ta thử đặt câu hỏi là các thuộc địa của Anh, Pháp có phải có những ông Hồ Chí Minh hay không mà rồi tất cả đã độc lập? Sau khi học tập những tài liệu như trên, cố khai thác được những thắc mắc còn lại trong nhân dân, trước khi đưa ra cuộc Tố khổ của Cộng Sản. Phải nhắc thật rõ chuyện Đặng Xuân Khu Trường Chinh đã đem cha y ra đấu tố để làm gương cho chiến dịch. Trong ta có ai làm được việc như Trường Chinh không? Sở dĩ người Cộng Sản làm được vì họ dứt khoát tình cảm, mà họ cho rằng cha mẹ đẻ ra con là vì trong một phút vì dục tình mà thụ thai. Đẻ ra để lợi dụng. Họ coi thường việc giao cấu giữa đàn ông và đàn bà, và vì vậy mới có cảnh “cần vụ” công khai chứ không phải âm thầm, lén lút.
 
Sau những tài liệu như trên họ mới gây nên những căm hờn bằng cách dùng dâu, đứa ở, người hàng xóm để đấu…
 
Đây là giai đoạn đi ngay vào để nhắc lại cuộc đấu tố điển hình Liên Khu V tại Hiền Lộc rồi cho mọi người tự suy gẫm thêm. Giai đoạn thực hiện như đã nói, sau khi cho học tập là “quảng bá” rút kinh nghiệm nơi này phổ biến cho nơi khác. Cuối cùng của việc “quảng bá” là một ngày đồng loạt các ngã đường ra vào trong Xã được cán bộ chiến dịch phụ trách, giăng giây để hỏi những người qua đường.
 
-         Hãy kể cho nghe một tội ác của Cộng Sản!
 
Khi trả lời xong thì cảm ơn, và để họ đi lại sau khi dán vào trước ngực một mảnh giấy xem như đã làm xong trách nhiệm, như khi đi bầu phiếu. Ngược lại một người nào chưa trả lời được thì mời họ ngồi chơi và khi có một người đi ngang đã trả lời được, người chưa trả lời được lúc nãy lặp lại đúng mới ra đi.
 
Buổi “quảng bá” được kết thúc giai đoạn 1 của chiến dịch và cho dân chúng liên hoan bằng những hình thức văn nghệ hay mời Ty Thông tin lên chiếu bóng cho dân chúng xem. Và giai đoạn 2 sẽ được phát động.
 
Giai đoạn 2 phát động sau khi anh Trình được phái lên tại chỗ, từ trước mấy hôm, để duyệt xét lại nhân sự xem đã có đủ mặt của những người sẽ thực sự ở vai tuồng ngày trước, hay được đóng vai tuồng cho ngày Đấu tố.
 
Buổi lễ được tổ chức có mời thân hào nhân sĩ trong toàn quận, nhân viên các Khu và Quận cùng vài Quận bạn, vài đơn vị quân đội trong vùng.
 
Trước hết là nghi thức thông thường, nhưng sau đấy, anh Trình lúc này đã được chính thức bổ nhiệm là Trưởng chi Thông tin Quận lên kể rõ buổi Tố khổ điển hình của Cộng Sản Liên Khu V trước kia, với những nguyên nhân nào, mục dích gì, và nạn nhân ngày ấy là những ai.
 
Đây là gia đình một địa chủ tại địa phương mà chính quyền Cộng Sản Thăng Bình ngày ấy đã được Liên Khu V chấp thuận cho thực hiện. Cán bộ của địa phương ngày ấy, nay chỉ còn một người được mời đến xác nhận những điều Trình và cán bộ ta trưng ra là đúng sự thật. Đến hai người thực sự nhúng tay đấu tố là người hàng xóm và một chú nhỏ giữ trâu cho bà này hồi bấy giờ. Chính hai người này đã kể lại cho quan khách và bà con tham dự hôm nay nghe những điều mà nông hội Huyện về giáo dục từ khá lâu trước đây. Họ làm cho hai người này không còn một “khoan nhượng” nào, dù là nhỏ nhặt đến đâu, để thay thế bằng những căm hờn thật sự, tận đáy lòng.
 
Thế là nạn nhân bị đánh đập, chửi bới, nguyền rủa, nhất là khi mệt mỏi không còn nghe được nữa, họ dựng đầu lên, họ tạt nước vào mặt cho tỉnh, để nghe. Cuối cùng một tay, thay mặt Ủy ban đứng ra kể tội và xin nhân dân xét cho tinh thần tự giác của nạn nhân, thay vì tội chết thì được sống để đền tội. Nhưng bỗng có một người như loại “công tố” lên tiếng:
 
-         Dù được khoan hồng, mà tha cho tội chết, nhưng đề nghị cho tội nhân được nếm vài “giây phút” lảng vảng với tử thần mà thấm thía tội tình!
 
Bọn sát nhân này như đã học thuộc lòng ý thức “giây phút lảng vảng với tử thần” là thế nào, nên dù không hỏi, họ cũng đã tự động làm một trò dã man “vô tiền khoáng hậu” là trói ké tội nhân, bỏ vào trong một cái “trạt” đan bằng tre, chuyền trạt này ra khỏi miệng giếng đã có sẵn giây thừng. Họ hò reo trong khi nạn nhân vẫn hoàn toàn sửng sốt bởi chẳng biết thế nào là giả, mà thế nào là thực, từ từ chuyển giây xuống giếng. Khi họ biết rằng cái trạt mà trong ấy nạn nhân bị trói ngồi chờ chết, đã đưa xuống tận đáy giếng, họ nhắp  nhắp vài lần cho người này bị nhúng trong nước hay cũng đã uống một ít nước vào bụng, mới kéo lên. Và khi đến bờ, họ bắt phải quỳ lạy những người trên bờ, phải bò, bò lạy khắp quanh đấy, cho đến khi mệt lã mới được lệnh ngừng lại.
 
Dĩ nhiên, ai cũng hiểu rằng buổi Tố khổ hôm nay là giả, chỉ diễn lại một sự việc đã xảy ra cách đây trên năm bảy năm rồi, nhưng nhờ những diễn viên khá điêu luyện nhất là đã sống trong khắc khổ và gông cùm của Cộng Sản, nên họ diễn khá “đạt” chưa nói là những nạn nhân ngày xưa cũng đã khéo léo dấu kín được cái hả hê vì đã sống dưới một chế độ của họ, của tự do dân chủ mà không dễ nhìn được sự hả hê đã dấu kín ấy.
 
Buổi trình diễn lại ngày Tố khổ điển hình Liên Khu V đuợc anh Trình, Trưởng chi Thông tin tóm tắt với những “gợi ý” vô cùng hấp dẫn gởi cho các Xã học tập và trình về Ty Thông tin Tỉnh. Lúc ấy là anh Nguyễn Rô làm Trưởng ty.
 
Sau hôm ấy cán bộ được nghỉ xả hơi hai ngày, bù lại những vất vả suốt nửa tháng qua.
 
Không hiểu bởi Ty Thông tin Quảng Nam báo cáo về Trung Ương hay một nguồn tin nào khác, mà hôm về lãnh lương chuẩn bị ăn tết, ông Tỉnh trưởng đã vội vã cho biết tin từ Sàigòn, ông Thủ tướng – ngày ấy cụ Ngô Đình Diệm còn là Thủ Tướng – đã điện cho Quảng Nam biết “nghe tin Quận trưởng Thăng Bình vừa thành công một buổi lễ để nhớ lại ngày Tố khổ điển hình của Liên Khu V Cộng Sản, nên nay Trung Ương sẽ cho một phái đoàn quay phim và phỏng vấn những nạn nhân và nhân chứng của buổi lễ ấy ra tại nơi, vào ngày thứ bảy tuần đến, để thực hiện một cuộn phim. Yêu cầu ông Tỉnh trưởng Quảng Nam tin cho Thăng Bình biết rằng đây là một việc làm có tính cách lịch sử Quốc tế. Không ngại việc tốn kém mà chỉ cần đạt mục đích thành công.”
 
Ông Tỉnh trưởng cho chúng tôi xem bức công điện rồi bảo về ngay để chuẩn bị cho kịp thời. Mặc dù hôm ấy đã là 25 Tết, mà đáng lẽ chúng tôi cũng cần cho anh em nhân viên làm nốt những việc còn lại để nghỉ Tết, nhưng sự việc vừa nói, quá quan trọng nên ùn ùn kéo nhau về. Họp bàn và cho Trình xuống lại Xã để giải thích cho địa phương Phan Bá Phụng, Trưởng khu Việt An và
Hội đồng Bình Lộc thông cảm chuẩn bị gấp rút.
 
Chúng tôi cũng đã biết, nay là lúc tại Trung Ương ông Trần Chánh Thành, Bộ trưởng Thông tin đang cho thực hiện một chiến dịch Phan châu Trinh, nặng về văn phòng hơn là chính trị.
 
Khi Ty Thông tin Quảng Nam cho người vào bàn với anh Trình mà gần như vấn đề then chốt đang làm cho mọi người băn khoăn là khi quay phim, phải làm gì cho “ống kính” nổi bật, thay vì chỉ những diễn văn, hay hò hét. Khi ấy anh Trình đã đưa ra một sáng kiến làm mọi người chẳng tiếc lời khen. Anh đề nghị sau buổi lễ sẽ có màn Đảng viên Cộng Sản nhận thức và cương quyết ly khai khỏi Đảng. Họ sẽ thay nhau phát biểu và cuối cùng là “XÉ CỜ” để chứng minh.
 
Khi đoàn Thông tin và phim ảnh từ Sàigòn ra, được Ty Thông tin Quảng Nam hướng dẫn vào, thì Thăng Bình đã được anh Trình vào trình và ngay hôm sau cùng lên Xã Bình Lộc trình diễn lại. Ống kính đã làm việc với sự nhuần nhuyễn từ mỗi cá nhân. Chỉ riêng tôi, vì quá bận nên thiếu nghĩ đến trang phục của mình mà sau này về Hội An đi xem phim, khi thấy cuốn phim chống Cộng của Thăng Bình được chiếu lên trong mục Thời Sự, tôi không khỏi mỉm cười cho chính mình với cái áo “Bơ lu dông” (blouson) quá cũ.
 
Sau Tết, khá vui về tinh thần ấy, là lúc tôi được ông Ngô Đình Cẩn gọi về Huế gặp. Nay nếu phải nhắc lại những chuyện này, tôi chắc chẳng có một người nào tin là thật, vì lúc ấy, đã có mấy người không khiếp sợ về ông, mong được gặp ông không phải là chuyện dễ. Nhưng tôi lại là chuyện khác vả chăng những năm tháng đầu ấy, hạng người dua nịnh quanh ông không nhiều.
 
Đã thế, ngày xưa kia, khoảng 1945 tôi và ông có gặp ngau thì cũng trên tình đồng chí, thứ chống Cộng mà ông thường dùng danh xưng để xưng hô với tôi.
 
Cái đặc biệt là mọi người vào thời ấy, ngay cả Đại tá Lê Văn Nghiêm Tư lệnh Quân Khu 1 cũng phải chờ cho chú gác cổng, thường gọi là Đại úy Độ,
vào trình bẩm rồi mới được vào. Nhưng ông đã ra lệnh cho anh Độ dành trường hợp đặc biệt cho tôi. Chỉ cần báo tin qua, rồi đi ngay vào. Nghĩa là ông đang rất cần tôi thì đúng hơn, mà xem đến một đoạn sau người đọc sẽ hiểu lý do ấy.
 
Lần đầu tiên này, có lẽ ông thử thách tôi thì đúng hơn. Ông hỏi qua tình hình, rồi ra sau “lồng ba” đem vào một gói nhỏ, gọi là biếu tôi. Cứ giả như chẳng lưu ý, nhưng khi ra khỏi cổng tôi mới giở ra xem. Thì đấy là 20.000$00 ông biếu trong khi về Huế, chưa nói là lúc này ông cũng thừa biết là chẳng có đồng nào “mật phí”.
 
Thế là chiều hôm ấy đem về phòng ngủ Nguyễn Văn Yến “tức nhà hàng Morin cũ) ăn tiêu chưa nói là thuê đò trên sông Hương ngủ cho mát. Có người đã khéo léo cho biết chú Quản lý nhà hàng này tên Đinh, thường hay báo cáo về ông Cẩn những chuyện ăn tiêu ấy, thì tuổi trẻ, tôi tinh nghịch đến độ ngầm “khéo chú Đinh rằng chớ báo cáo mà đã không được khen, còn bị ăn đòn, bởi tiền này của ông Cố Vấn cho. Đinh chỉ cười “Thưa Đại ca! Mười cửa phải chừa một cửa lấy chồng chứ”. Tôi đã cười trả lễ Đinh: “thế mới là người biết thời biết thế đấy nhé!”
 
Trước lúc ra về, tôi có đem chuyện ông Tỉnh trưởng đã thiếu thái độ người lớn về vụ xe VNT số 4 chở đàn bà lạ mặt và chuyện Chợ Bò Chét kể lại cho ông nghe thì ông chỉ cười mà bảo rằng “một thời gian rất ngắn sẽ có sự thay đổi, yên tâm!”
Về Thăng Bình chưa đầy mươi hôm lại được điện của ông nữa, lần này ông đem chuyện anh em Quốc Dân Đảng Quảng Nam chống cụ Diệm. Tôi ngập ngừng, hỏi ngay.
 
-         Vậy ông Cố Vấn có thể cho biết những bằng chứng nào là họ chống đối Thủ Tướng không?
 
Ông ngồi im lặng giây phút, nói lảng sang chuyện khác, và cuối cùng đành để tôi trở về Thăng Bình lại.
 
Trước khi ra về ông không quên tỏ một việc mà tôi nghĩ là ông lại thử thách.
 
-         Bây giờ đồng chí có thể thay mặt cho miền Trung, vào Sàigòn dự buổi họp quan trọng là thành lập đảng Cần Lao không?
 
Tôi chẳng lấy làm lạ về việc này, vì từ lâu qua những câu chuyện chính trị đã đọc được tư tưởng ông ta là dùng người Trung để nắm tất cả nguồn lãnh đạo Trung Ương. Phải nói như vậy vì ngay một vị nào dù được ông Cố Vấn Nhu đưa lên làm Tổng Bộ trưởng cũng đều phải lấy cớ ra Huế thăm miền Trung hay lăng tẩm nhưng sự thật là trình diện để các giám đốc đưa về đây làm việc và yên thân.
 
Nhưng tôi lấy cớ không đi được, và nghĩ rằng cũng nhân dịp này nói với ông cho rõ chuyện.
 
-         Thưa ông Cố Vấn, tôi nghĩ ông Cố Vấn có thể dùng một người mà trong Nam chẳng ai biết về ông ta. Hơn thế, tôi sẽ giải thích để ông này thấy được cái bí quyết “khi đến chỗ đông người, biết mình yếu hơn họ, thì mọi việc đều chẳng nên thốt ra, nghĩa là “thủ khẩu là thượng sách”, im lặng không nói là kế cao nhất. Như vậy trong Nam sẽ không dám đánh giá người của ông Cố Vấn đưa vào ra sao cả
 
Rồi không phải để ông phải chờ lâu, tôi nói ngay:
 
-         Thưa, người ấy là một tay chống Cộng cao độ, bị Cộng Sản đem vào giam ở Liên Khu V suốt bao năm nay, mới vừa được về sau ngày Hiệp định Giơ Neo (Genève) ký kết. ông ấy tên là Võ Mạnh Phát.
 
Và tôi thêm ngay một chuyện khá lý thú
 
-         Ông ấy có bộ râu bạc trắng và dài – rất đẹp, trông như Thái thượng lão quân. Người chưa biết sẽ phải kính phục ngay!
 
Ngồi nghe tôi trình bày khá lâu, ông Ngô Đình Cẩn tỏ ra rất đồng ý. Nhưng không khỏi ngạc nhiên thấy tại sao tôi từ chối ý định của ông. Hiểu ngay được không khí này, tôi nghĩ cũng chẳng nên dấu diếm, ý nghĩ riêng tư nữa
 
-         Tôi là một tay lãnh tụ - có ký – của một đảng phái mà miền Trung suốt từ 1945 chẳng mấy ai không biết.
 
Nghỉ một phút như tìm câu nói thích đáng và rõ ràng hơn.
 
-         Chẳng khác nào “con đĩ” có giấy, nay bỏ sang một đảng khác thì chắc chắn chẳng làm sao tránh được đánh giá quá thấp của người khác.
 
Và, nói rõ hơn
 
-         Đã ở Đảng này rồi bỏ sang một Đảng khác dễ dàng, thì khi bỏ Đảng kia đâu có là câu chuyện khó khăn nữa!
 
Đến đây ông Cẩn hiểu được ý tôi, và dù sao cũng không tỏ ra chẳng đồng ý vì đề nghị trước.
 
-         Vậy đồng chí về cho ông Phát ra gặp tôi!
 
Lần này sau khi từ giã ông ra về, tôi không khỏi băn khoăn về nhiều khía cạnh nhất là vấn đề Đảng phái, dù tôi cũng chẳng phải vì lo ngại anh em Quốc Dân Đảng sẽ nghĩ như tôi phản họ. Tôi có quan niệm rõ ràng “việc họ làm tôi đã không đồng ý ngay từ khi gặp Nguyễn Thức như đã có nói trong một đoạn trước. Vả chăng họ đâu có phải là những người ở cấp trên tôi mà tôi phải tranh luận, bởi ngay khi Thức gặp hôm ấy, tôi đã nói với Thức rằng không thể nào lại chỉ có lớp giữa mà chẳng có lớp cao, cấp Trung Ương.
 
Tôi còn thêm với Thức để chứng minh cho sự kiện.
 
-         Từ lâu nay ngay giữa tôi và anh Duyên luôn có quan niệm bất đồng mà đã có ai giải thích, giải hòa được đâu?
 
Trên đường về, gặp Tăng Xuân Ba tại khoảng ga Lăng Cô, Ba lúc ấy là Tổng Thư ký Tỉnh bộ Phong trào Cách mạng Quốc Gia Quảng Nam. Ba cười và khoe với tôi, vừa vỗ vào cái cặp chú mang bên nách:
 
-         Lần này về Huế, có mang theo một thơ rất quan trọng về ông Cố Vấn.
 
Có lẽ Ba thấy tôi không ngạc nhiên hay hỏi xem lá thư ấy nói gì về tôi , nên hẳn cũng đánh giá được con người của tôi, nhất là đối với ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn, trong khi đám như Ba thì hẳn khác nhau nhiều. Hơn thế Ba trước
là nhân viên trong Hành chánh lưu động thuộc Ban 2 mà tôi là Trưởng Ban.
 
Về đến Quận, được nghe báo cáo từ các Xã là phong trào quần chúng sau buổi lễ khởi động Chiến dịch Tố Cộng đã bùng lên cao độ, mà đâu đâu cũng đã tích cực khám phá những tài sản, súng ống Cộng Sản chôn dấu lại sau khi tập kết ra Bắc, chưa nói là sau các mẩu chuyện Lê Đài trên núi Chóp Chài, hay chuyện anh chủ quán bên kia sông đã tự động bắt trói Cộng Sản đem về Xã, Quận nộp, làm dân chúng vô cùng nỗ lực.
 
Chuyện anh Lê Đài, Trưởng Ban An Ninh Xã ở tận trên núi xa xôi đã theo dõi những “ổ” Cộng Sản nằm lại, khá lâu mới rượt đuổi, bắt được một tên quan trọng, cho thanh niên trói khiêng như “con heo” mang về Quận nộp. Cộng Sản đành phá bỏ các “ổ” mà từ lâu họ xem như bí mật và kiên cố.
 
Sau khi nghe báo cáo chuyện anh Lê Đài chống Cộng tôi đã cho anh Trình viết ngay một tài liệu phát các Xã học tập “Chống Cộng như Lê Đài” với cả giảng giải kỹ cho người hướng dẫn tại các Xã – Trưởng ban Thông tin Xã – nắm vững vấn đề khi học tập, và theo dõi kỹ để tránh tình trạng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”mà kinh nghiệm thường cảnh giác rằng đưa ra một kế  hoạch thực hiện đã chẳng lợi mà còn tai hại là đằng khác.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
QUỐC DÂN ĐẢNG NAM NGÃI LY KHAI
 
 
Trong khi việc chống Cộng tại các xã đang trên đà khả quan như trên, thì tôi lại được ông Ngô Đình Cẩn gọi về Huế.
 
Không giống những lần khác, linh tính cho biết lần này chắc có gì khác. Tôi cho anh Võ Đình, thư ký trong quận cùng theo về Huế.
 
Anh Võ Đình, theo báo cáo cho biết thì trước kia là một trong đám thanh niên theo học tiếng Nhật mà ông Ngô Đình Khôi đã tổ chức. Bởi nghĩ thế, tôi chuyển anh từ Thư ký Hội đồng Xã lên làm Thư ký bậc 1 tại Quận.
 
Nhiều người trong quận thường lấy chuyện anh lên làm Thư ký tại Quận như một an ủi, khuyến khích, đồng thời cũng chẳng phải không có người ganh ghét, đố kỵ.
 
Lần này về gặp ông Cẩn, ông bảo anh Đình xuống đem la ve lên mời tôi, cốt để tránh không muốn anh nghe câu chuyện ông muốn nói, lấy ra một lá thơ từ trong hộc đưa cho tôi xem, ngồi giả lơ, nhưng kỳ thật đang theo dõi thái độ tôi.
 
Đây là một lá thơ của Cần Lao Quảng Nam do Cha Tường ký, gởi ông Cẩn. Trong thơ kể rõ tình hình Quảng Nam đang khẩn trương, vì anh em Quốc Dân Đảng ráo riết tổ chức. Họ báo cáo là Hồ Văn Ánh đã cùng vài binh sĩ Bảo An dưới quyền xuyên rừng già như liên lạc con đường từ Thăng Bình qua Quế Sơn hay vào Tam Kỳ, nhưng theo ức đoán của họ là “Ánh đi tìm nơi lập chiến khu.”
 
Họ đề nghị ông Cẩn phải bắt ngay những anh em này, nhưng câu cuối cùng họ trình bày “Muốn giải quyết tình trạng phải nắm cho được Phan Vỹ. Vỹ là tay tướng tài, chẳng khác gì Hàn Tín, đánh đâu thắng đó. Nhưng khi không dùng nữa phải triệt ngay, bởi y là loại RÂU RIA LÔNG NGỰC…”
 
Hồi ấy tôi còn quá trẻ, mới hơn ba mươi, nhưng đầu óc thật khá lạ lùng so với những người cùng lứa. Ngồi xem kỹ lá thơ, vừa thỉnh thoảng liếc nhìn ông Cẩn để dò xét, và cuối cùng, ngẩng nhìn ông vừa rắn rỏi, tay rút cà vạt, mở hột nút cổ áo vạch ngực đưa ra phía ông.
 
-         Ông Cố Vấn xem tôi có lông ngực không? – Không có! Nhưng đúng! Râu tôi là râu Từ Hải. Đừng ai mong lợi dụng hay lừa gạt. Tôi sẵn sàng rút lựu đạn để chết với người ấy, chứ không bao giờ chịu tự tử hay để ai giết mình, rồi làm cho dư luận hiểu lầm về mình.
 
Ông Cẩn cứ để tôi nói, nói cho đã nư, vừa đủ để ông biết rõ về tôi hơn, đến đây, ông đưa tay ra dấu, ngăn lại, vừa cười.
 
-         Không, đồng chí phải hiểu rằng tôi đưa lá thư này cho đồng chí đọc đủ tỏ rằng tôi tin đồng chí đến độ nào rồi.
 
Ông ngưng một phút, vừa như nhìn tôi
 
-         Đồng chí nghĩ phải thế không?
 
Cảm thấy ông này thuộc loại “cao thủ”, tôi dịu giọng hơn lúc nãy.
 
-         Tôi đã không đồng ý với số anh em ấy để chống đối Thủ Tướng (cụ Diệm) khi chưa có gì chứng minh mà chắc chắn cũng sẽ không bao giờ chịu nghe ai để giết hại số anh em ấy.
 
Như đã đạt được phần nào những gì cần thiết. Ông Cẩn quay lại hỏi ngay:
 
-         Vậy theo đồng chí, thì rõ ràng anh em trong ấy đã quyết chống chính phủ. Vậy phải làm gì bây giờ.
 
Tôi đặt địa vị vào cả hai bên, trong tinh thần của mỗi địa vị và hoàn cảnh, mà phân tách khá chững chạc.
 
-         Dù sao, thì đấy cũng là người Quốc Gia. Ta không thể “sát thủ” họ. Phải mở cho họ một con đường, trong khi ấy ông Cố Vấn cũng không mất chút nào về uy lực mà cũng bảo tồn được lòng bao dung của mình.
 
Ngưng một phút, tôi phân tách rõ ràng, chứng tỏ để ông ta tự ái về uy quyền.
 
-         Trước hết là phải thay ngay ông Tỉnh trưởng Lê Trung Chi.
 
Ông Cẩn đưa tay.
 
-         Việc ấy có ngay tuần này! Rồi sao nữa?
    -     Còn những anh em kia, tôi nghĩ ông Cố Vấn nên áp dụng kế hoạch  
          của Tam Quốc “PHÂN ĐỂ TRỊ”. Ông cho đổi đi rải rác các tỉnh.  
          Nhưng điều cần, là nên áp dụng cái chiến thuật mới vừa trình bày.
 
Ông Cẩn chăm chú nghe
 
-         Anh nào đáng đưa lên, thì cho làm Phó Tỉnh trưởng – như anh Phan Thiệp, còn anh nào không đáng thì đưa xuống Phó Quận trưởng hay chỉ cho làm nhân viên.
 
Ông Cẩn hiểu ngay tôi muốn nói gì, gật gù, rồi cười:
 
-         Tôi sẽ theo ý kiến của đồng chí!
 
Câu chuyện qua lại, không hồ hởi như những lần trước, tôi từ giã ra về. Trên đường về, ngồi bên cạnh tài xế mà chẳng chuyện trò, đầu miên man nghĩ đến chuyện anh em đã làm, lòng chẳng an vui chút nào, nhưng nghĩ chắc hẳn anh em cũng chẳng tin gì mình mà tâm sự hay bàn luận nữa.
 
Về đến Quận, tôi triệu tập các phái viên (trưởng khu) về họp bàn và căn dặn anh em không nên nghe ai dù là công an hay quân đội làm một hành động nào mà sau này phải hối hận, hay bị cấp trên nghĩ và hiểu lầm về mình.
 
Trong số phái viên hồi ấy khá phức tạp, vì có người tuyệt đối trung thành với những anh Quốc Dân Đảng nói trên như Ngô Đức khu Kế Xuyên, lanh lợi và khôn ngoan như Phan Bá Phụng khu Việt An, thủ đoạn và chín chắn như Nguyễn Phương khu Minh Huy, lanh lợi nhưng khá xảo trá như Trần Đình Nhi khu Hà Lam. Riêng chú Phái viên khu Chợ Được thì đúng là một công chức hơn là cán bộ chính trị.
 
Phân tách về những phái viên rất cần cho kinh nghiệm “dụng nhơn như dụng mộc” mà nghĩ rằng không thể coi nhẹ.
 
Nhưng, để khỏi nói nhiều trong lúc này, chưa nói là hầu hết các chú về sau đều theo tôi lên Cao Nguyên làm Địa Điểm Trưởng Dinh Điền, mà lúc ấy cái lanh lợi và khôn ngoan của Phan Bá Phụng, cái thủ đoạn và chín chắn của Nguyễn Phương, cái lanh lợi nhưng xảo trá của Trần Đình Nhi sẽ được nói rõ trong đoạn sau, khi mà dữ kiện cho phép các chú không oán hờn hay phiền trách về tập sách này.
 
Một sáng, đang làm việc, tôi được báo là có một Thiếu tá muốn vào gặp. Không chậm trễ, ra gặp, thì đấy là Thiếu tá ăn mặc thứ quân phục hành quân không chải chuốt như người sĩ quan của thời bình.
 
Ông ta tự giới thiệu là Thiếu tá Lê Khương từ Huế vào, và muốn gặp tôi một nơi vắng vẻ để chuyện vãn, ông cho biết ngay là người của ông Cố Vấn Ngô Đình Cẩn cho vào.
 
Tôi chỉ đường để hẹn gặp ông nơi bờ hồ sen Cụ Thượng Hà Đình, cách quận khoảng non cây số. Ông vui vẻ ra đi ngay, trong khi tôi cho anh Ba Đích đạp xe vào trước quan sát chung quanh, và ngồi trong một quán nhỏ bên bờ hồ theo dõi cuộc nói chuyện của tôi và ông Thiếu tá Khương.
 
Gặp nhau tại một “băng đá” cạnh bờ hồ, ông Khương cho biết, được ông Cố Vấn Cẩn cho vào gặp, vì ông Cẩn muốn cho ông vào làm Tỉnh trưởng Quảng Nam thay ông Lê Trung Chi. Ông cần gặp tôi để nắm trước tình hình và nhân sự, nhất là để tránh lầm người, ngay tại tỉnh lỵ Hội An hay các quận.
 
Sau khi ông Khương ra về, tôi nghe tin Quảng Nam đang lâm vào một tình trạng vô cùng rối ren, nghĩa là anh Phan Thiệp bị bắt về Huế, anh Hồ Văn Ánh bị xe thiết giáp chận hai đầu tại thị trấn Vĩnh Điện để bắt ngay tại đây, và các quận đã bỏ lên núi như Duy Xuyên của anh Lê Đình Duyên, Quế Sơn của anh Nguyễn Đình Thiệp, Tiên Phước của anh Nguyễn Long (có cả phụ tá Trần Thích) và một số nhân viên cũng như Hội đồng Xã.
 
Lại được khẩn điện ông Cẩn mời tôi về Huế. Tôi nghĩ hôm nay là cả một cân nhắc khá thận trọng cần có, để sau này khỏi hối hận về việc làm của mình.
 
Như đã tiên liệu, ông Cẩn vô cùng thay đổi thái độ khi gặp tôi, thì trái lại, tôi cũng cố giữ nét mặt không thiếu của con người ở vào địa thế ngày hôm ấy.
 
Dĩ nhiên, ông Cẩn đã biết rằng tôi rõ tất cả những việc bắt bớ, việc ly khai như đã nói, nên ngồi chờ tôi lên tiếng. Thì, tôi cũng không vừa, cứ ngồi yên lặng chờ ông lên tiếng trước. Ông buộc lòng không im lặng lâu được.
 
Ông không dùng hai tiếng “đồng chí” như từ trước:
 
-         Ông nghĩ sao, và – ta phải làm gì bây giờ?
 
Ông Cẩn không thể tưởng tượng được tôi sẽ nói gì
-         Tôi cứ nghĩ ông Cố Vấn đã chấp thuận đề nghị của tôi lần trước. Không ngờ ông lại cho bắt để xảy ra việc ly khai hôm nay. Tôi xin nhấn mạnh, và thưa rõ rằng câu chuyện ngày hôm nay không chỉ hạn hẹp trong phạm vi chúng ta đang thấy, và không phải dễ thanh toán trong một hay hai ngày. Nó sẽ là câu chuyện được ghi vào lịch sử để đánh giá cụ Diệm; mặc dù thật ra, chính tại đây là vai chính, mà hẳn gì cụ Diệm đã cho chỉ thị hay quyết định. Nếu không tính toán kỹ, để cho mạng người phải chết dù là của bên nào, máu phải đổ mà quan trọng nhất là của nhân dân vô tội, thì tính sao?
 
Rồi như chưa thỏa mãn, tôi quyết định dù “thô bỉ” hay vô phép với ông Cẩn khi phải nói cho rõ lòng mình, dứt khoát.
 
-         Các vị đã không hiểu được lòng tôi, nỡ đề nghị ông Cố Vấn chấp thuận những việc xảy ra như vừa rồi. Nay chẳng lẽ “trấy dơ” ra đấy, rồi lại bắt tôi dọn rửa hay sao?
 
Ông Cẩn đưa ý kiến.
 
-         Nay tôi định nhờ anh vào làm Phó Tỉnh trưởng, phụ trách 4 quận miền Nam Quảng Nam.
 
Ông vừa nói ngang đến đoạn này, thì có một người từ nhà ngang bước lên, mà tôi nghĩ rằng đây là một đồng chí của ông Cẩn từ khi cho gọi tôi về. Đấy là anh Bùi Quang Sơn, đang là Tổng Thư ký tòa Thị chính Đà Nẵng, mà nghe đâu sẽ đi Phó Tỉnh trưởng Quảng Ngãi nay mai.
 
Khi nghe tôi từ chối không nhận lời
 
-         Thưa ông Cố Vấn, tôi dù đi Xã trưởng, chứ đi làm Phó thì xin được từ chối, dù là Phó Tỉnh trưởng.
 
Anh Sơn đã xin được nói xen
 
-         Anh Vỹ ạ! Tuổi anh cũng như tôi, còn quá trẻ, mới trên 30, nên ông Cố Vấn muốn mình đi Phó trước đấy thôi!
 
Tôi lại phải trả lời ngay, dù biết anh Sơn không mấy vui.
 
-         Xin lỗi anh! Anh có khác hơn tôi. Bởi tôi còn phải nhìn đám anh em Quốc Dân Đảng ly khai!
 
Và nghĩ rằng anh Sơn hay ngay cả ông Cẩn có thể chưa hiểu được tôi muốn nói gì, nên nói rõ hơn. 
 
-         Tôi muốn để anh em ly khai hiểu rằng, việc làm của các anh ấy tôi không đồng ý, chứ không để các anh ấy đơn giản nghĩ rằng tôi phản Đảng vì chức Phó Tỉnh trưởng.
 
Đến đây ông Cẩn mới thấy rõ ý định tôi.
 
-         Vậy anh vào thay giúp Tam Kỳ, mà tôi sẽ ra lệnh cho Quảng Nam là từ nay mọi việc trong miền Nam cần tham khảo ý kiến anh trước.
 
Tôi cười, một cái cười không dấu được sự mỉa mai, nhưng không kém lịch sự và nhã nhặn.
 
-         Thưa ông Cố Vấn nói cho vui vậy thôi, chứ hành chánh là hành chánh, Quận nào cũng chỉ là Quận thôi!
 
Rồi để không khí khỏi nặng nề, tôi xởi lởi hơn.
 
-         Thôi được rồi, tôi sẽ nhận Tam Kỳ, trong khi chưa có người thay anh Phan Thiệp.
 
Và như chợt nhớ ra, tôi nói ngay:
 
-         Nhưng xin ông Cố Vấn ba điều kiện.
 
Ông khá vui, nhưng vẫn ngạc nhiên, hỏi:
 
-         Ba điều gì, nói ngay nghe nào?
 
Tôi không suy nghĩ, như trả bài.
 
-         Thứ nhất là xin đem theo 5 cán bộ Thăng Bình vào Tam Kỳ bởi trong giai đoạn này từ cán bộ Quận, Khu đến Xã ở Tam Kỳ, hầu hết đã ly khai theo những anh kia lên núi. Tôi phải có những người tin cậy để làm việc!
-         Tôi đồng ý! Còn điều thứ hai là gì?
 
-         Điều thứ hai là gấp rút quá, tôi chưa đủ tiền bàn giao. Xin cho tôi khất lại 20,000$00 chưa chồng đủ, khi ra đi.
 
Ông Cẩn cười hể hả:
 
-         Chuyện gì chứ chuyện ấy thì quá dễ. Tôi biếu anh ngay 20.000$00 lát nữa đây. Và điều kiện thứ ba là gì?
 
-         Điều kiện thứ ba là phải để cho tôi độc tài ba tháng!
 
Vừa nói đến đây, ông Cẩn đã cau mày, hỏi ngay lại tôi
 
-         Sao lại có điều kiện khá lạ lùng như vậy?
 
Không suy nghĩ, tôi trình bày ngay.
 
-         Nay tôi vào Tam Kỳ, trong khi nhân viên cán bộ từ Quận đến Xã đã ly khai, Cộng Sản dĩ nhiên trồi đầu lên để mong lộng hành, vừa để ra mặt đe dọa dân chúng. Việc làm của tôi sẽ luôn luôn bị nghi ngờ là thân Quốc Dân Đảng, bao che cho họ, hoặc ngược lại, sẽ bị buộc là dùng Cộng Sản để tấn công anh em trên núi. Tôi chỉ cần ba tháng độc tài để làm mọi việc theo mục đích mình, không cần phải tuân lệnh ai, hay sợ ai phê bình, khen chê!
 
Ông Cẩn trầm ngâm giây lát, rồi như thấy tôi nói có lý, gật đầu chấp thuận. Nhưng bỗng như nhớ ra điều gì, ông nhẹ nhàng hỏi thêm, vừa nhìn ra phía nhà ngang nơi anh Vũ Đình đi theo tôi, đang ngồi chơi.
 
-         Vậy anh vào Tam Kỳ, thì ai có thể thay thế anh tại Thăng Bình?
 
Vừa thấy cái nhìn của ông hướng về anh Vũ Đình khi nãy, vừa biết rằng thâm ý ông lại muốn thử tôi lần cuối nữa, bởi gần đây tại Thăng Bình, đã thu nhận anh Điềm, nguyên Thông phán cũ, người có cảm tình với các anh ly khai, bởi anh và anh Ngô Đức, Phái viên Kế Xuyên là hai người duy nhất của Thăng Bình có trong tổ chức của những anh kia, mà tôi biết từ lâu. Tôi không để ông chờ đợi lâu.
 
-         Tôi nghĩ là Thăng Bình có thể giao cho anh Vũ Đình thay được.
Biết ông rất vừa ý, bởi ngay từ ngày thường đưa anh Vũ Đình theo về Huế tôi cũng đã giới thiệu với ông. Đình trước ở trong đám người theo học tiếng Nhật của ông Ngô Đình Khôi tổ chức và yểm trợ, ngày ông làm Tổng đốc Quảng Nam.
 
Ông vẫn đáo để khi hỏi thêm:
 
-         Đình có đủ sức làm Quận trưởng Thăng Bình không?
 
-         Chẳng có gì là khó khăn, khi chịu học hỏi người đi trước, chưa nói là tôi sẽ chỉ cho anh ấy vài bí quyết cần thiết là xong thôi.
 
Câu chuyện đến đây là chấm dứt, ông Cẩn đứng lên ra sau nhà một chốc, ra trao cho tôi 20.000$00 và dặn thêm.
 
-         Tôi sẽ điện cho Lê Khương tất cả những điều cần thiết trong câu chuyện hôm nay. Đủ chưa?
 
-         Thưa còn một việc nhỏ nữa ạ!
 
Tôi xin ông cho tôi được lệnh ghé Đà Nẵng xin mười khẩu súng – loại hai nòng mà trước đây Cảnh sát đã nộp nơi tòa Thị chính – để đem theo vào Tam Kỳ phòng thân, với số nhân viên năm người mang theo, và vài người tin cậy tại chỗ sử dụng. Ông Cẩn vui cười, bước lại nơi bàn giấy đưa cho tôi một danh thiếp, vỏn vẹn chỉ ba chữ NGÔ ĐÌNH CẨN mà bên trên có đóng một con mộc vuông màu đỏ, nhỏ bằng con “tờ cáo.” Tôi nhìn, mỉm cười khi nghĩ rằng “đây là một mật bài quan trọng!”
 
Trên đường về, nói thật cho anh Vũ Đình biết, và ghé lại Đà Nẵng giao cho anh Bùi Quang Sơn tấm thiếp kia với “khẩu lệnh” nhận 10 cây súng hai nòng của Cảnh sát.
 
Quyết định mươi hôm nữa, sẽ làm lễ bàn giao cho anh Đình.
 
Khi tin anh Vũ Đình được thay tôi, như đã nói, nhiều anh em, nhất là những tay hơn Đình, nhưng hoặc trong cháu, học trò cũ chẳng thiếu người giỏi hơn Đình, tỏ ra thắc mắc. Tôi buộc lòng phải nói như là một quyết định của ông Cẩn, chứ không dám cho ai biết đề nghị của mình.
 
Riêng đám bên ngoài, nhất là Vũ Hạnh, hiện đang mở một quán bán bún và cà phê nơi chợ, thì khó ai đoán được chú ta đang có tâm trạng gì. Riêng tôi, đọc được rất rõ, nên đã căn dặn anh Đình phải khéo léo đừng để Vũ Hạnh “xỏ mũi” nhưng cũng chớ để y “bất mãn” mà hoạt động cho đám nằm vùng. Lời dự đoán của tôi sau này, đã xảy ra đúng sự thật.
 
Riêng anh Nguyễn Ngọc Trình lúc này đang đau, tôi khuyên anh ở lại, chờ tôi trình với Tỉnh và xin ty Thông tin chuyển anh vào Tam Kỳ sau này.
 
Một buổi lễ bàn giao để đề cao uy tín anh Đình – từ một Thư ký Xã lên làm Thư ký Quận chưa bao lâu – thay Quận trưởng, cho anh dễ làm việc sau này, được tổ chức với khá đông thân hào nhân sĩ và nhân viên, cán bộ các cấp trong quận.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG IV
 
SỐ PHẬN THĂNG TRẦM
---------------
 
Vào Tam Kỳ chẳng được mấy hôm, thì tin từ Thăng Bình vào báo cho biết anh Nguyễn Ngọc Trình đã chết trong quán ăn anh tạm trú, ngay trước cửa quận. tôi lập tức cho xe chạy ra ngay Thăng Bình, với bao thắc mắc trong lòng. Bởi là kẻ có chút kinh nghiệm tình báo, và đã theo học lớp Trinh thám Ba Lê như đã có nói trong một đoạn trước, tôi tự đặt ra khá nhiều nghi vấn.
 
Tôi có thể nghĩ, trước hết là những người trong hàng ngũ, bởi còn nghi ngờ anh Trình rồi nay thấy anh sẽ theo tôi mà bố trí triệt ngay anh, thứ đến tôi nghi Vũ Hạnh và cuối cùng là nghi thủ phạm chính – Cộng Sản!
 
Khi ra đến Thăng Bình, biết gia đình anh từ Quế Sơn đã vào đem anh về, tôi cho xe chạy ngay ra Quế Sơn, đến tận nhà anh. Tôi “uất” nghẹn họng, nhưng còn biết sao hơn, khi nghe kể rằng có một nữ cán bộ Cộng Sản từ Quảng Ngãi giả ghé Thăng Bình mua bán, rồi bị Chi Công an đưa vào thẩm vấn. Cô này xác nhận sự thật. Sau khi chưa xong cung khai, hết giờ anh Tín, Trưởng chi Công an cho cô ta ra quán trước Quận nghỉ lại, sáng mai sẽ vào tiếp tục. Trong đêm ấy, cô ta đã gạ gẫm, ân tình với anh Trình, bởi bẩm tính anh đa tình, nên đã bị “phòng” mà chết.
 
Đấy là lời thuật lại của Chi Công an, trong khi cô này đã cao bay xa chạy từ sáng sớm, nên chẳng làm sao để tôi tin rằng đây là sự thật. Nhưng nghĩ rằng “mình sẽ làm gì hơn?” nên đành chịu, trong khi công tác của Tam Kỳ không cho tôi một giây phút thanh thản, khi mà cứ liên tiếp những báo cáo từ quân đội hay công an.
 
Chỉ biết biếu gia đình anh ít tiền, rồi về lo chuyện Tam Kỳ.
 
Về đến Tam Kỳ ngay hôm sau, tôi soát xét lại cán bộ chỉ còn một số ít là người Công giáo như anh Được tại Quận. Ngoài ra có chú Hưng, một tay chơi bời mà anh em không dám thu nạp vào Đảng, hay tại các Khu thì có chú Ba, Thược.
 
Việc làm trước hết là cho dán ngay trước văn phòng một thông cáo.
“Chỉ tiếp xúc với Xã nào có Ban Đại diện, có Hội đồng.”
 
Như vậy là dù nhân dân có xin giấy tờ, có kêu nài gì mà Xã không có ban Đại diện hay Hội đồng, bởi đã ly khai lên núi, thì được hướng dẫn về thành lập có tổ chức hãy xuống Quận. Tôi cho rỉ tai là ai cũng được, miễn có người làm đại diện, làm Hội đồng là được.
 
Đây là lúc mấy chú Cộng Sản tưởng bở, bàn nhau ra nắm giữ các chức vụ trong Hội đồng làm tôi liên tưởng lại câu chuyện Nguyễn Kiểu thông ngôn tại Đông Hà đã có nói trong một đoạn trước, cốt ép những người muốn trở về với chính nghĩa Quốc Gia phải âm thầm hoạt động cho họ. Nhưng họ không biết rằng, lợi dụng được Quốc Gia không phải là chuyện đơn giản và dễ dàng.
 
Một vài Xã miền Nam của chú Thược, nhất là những Xã ở giáp ranh vùng núi non hiểm trở đã thực hiện trước ý định này.
 
Tôi không quên với nhiều hình thức gián tiếp, cho họ biết rằng “chuyện cũ bỏ qua Quốc Gia sẵn sàng chấp nhận sự hợp tác nhưng phải luôn luôn nhớ hai câu “Vỏ quít dày móng tay nhọn” và “có khôn có ngoan, có gian có hàm hồ” để chớ mong lợi dụng lòng tốt mà ngoan cố.”
 
Anh em Quốc Dân Đảng trên núi nghe biết chuyện này rất lo ngại, và hiểu lầm tôi đang lợi dụng Cộng Sản để tấn công anh em, họ lại quay ra điềm chỉ cho quân đội tìm kiếm và lùng bắt, Khi bị quân đội bắt, chẳng sung sướng gì, chạy sang kêu cứu với chúng tôi, và khi được can thiệp, họ mới chịu chuyển giao về cho hành chánh, vừa cho về Huế báo cáo là chúng tôi dung túng Quốc Dân Đảng.
 
Thật là cái thế “lưỡng đầu thọ địch” nhưng tôi vẫn duy trì những thái độ mà mình đã tiên đoán từ trước, dù với Cộng Sản nằm vùng hay với những anh em ly khai.
 
Mới nghĩ ra rằng ý định xin độc tài ba tháng trước đây quả thật vô cùng chí lý. Nhưng sau tôi thực hiện một ý định có tính cách kế hoạch là họp những người bị quân đội bắt nay chuyển giao qua, để hỏi các anh ấy nghĩ sao.
 
Trong buổi gặp nhau lần đầu, anh em đã đề nghị xin được cử anh Trần Tú, một người có khá nhiều kiến thức, chưa nói là tuổi Đảng, để mong thuyết phục anh em sau khi trình bày về những khổ sở của đồng chí hay cảm tình viên hiện đang sống tại các Xã, nhất là sau những buổi hành quân của quân đội.
 
Anh em đề nghị anh Tú thuyết phục làm sao để trên ấp tin tưởng và ủy nhiệm cho tôi (Phan Vỹ) đứng trung gian dàn xếp việc này, vì theo anh em thì dù sao, trong tôi vẫn chưa chết tình cảm với Quốc Dân Đảng. Tôi không giấu giếm tỏ cho thấy một hoàn cảnh khá khó khăn khi mà trong hàng ngũ cán bộ dưới quyền sẽ báo cáo về tỉnh hay về Huế, những điều họ cho là tôi che chở và dung túng cho anh em.
 
Trong những người có “lòng dạ” như vừa nói lại có cả chú Trần Đình Nhi, người mà đáng lẽ cần tuyệt đối biết ơn tôi, và nghe tôi giảng giải. chú Nhi ngày còn ở Thăng Bình đã có lần vi phạm một lỗi lầm hành chánh, là tự động cấp giấy cho người vào Quảng Ngãi mua bò, bị ông Điềm, Chánh văn phòng bắt được, lập tờ trình và báo cho tôi biết để xin trình tỉnh sa thải. Nhưng nghĩ rằng chuyện ấy cũng chưa đến nỗi nào, mà trình tỉnh, là chú phải thất nghiệp, nên tôi tin cho Nhi biết để làm đơn xin nghỉ việc. Tôi sẽ cho chú nghỉ việc, rồi sau sẽ liệu, trong khi xếp báo cáo của ông Điềm lại, mà không trình tỉnh.
 
Bản chất mưu mô, quỷ quyệt, nay lại là lúc chú luôn tính toán chuyện lập công, nhất là với Huế để mong là một cơ hội tiến thân. Một hôm chú đã cùng tên cán bộ Cần Lao, dĩ nhiên là từ Huế cho vào hoạt động, bắt được ông Nguyễn Thiện Chí, thường được gọi là Cụ Chánh Sáu, Chủ tịch Liên Khu của Quốc Dân Đảng quê ở chợ Quán Rường, dấu kín một nơi xong vào hấp tấp báo cáo.
 
-         Thưa ông! Vừa bắt được tay Chủ tịch Liên Khu của Quốc Dân Đảng! Tối nay bọn em sẽ “thịt” lão ta!
 
Nghe qua tôi vô cùng sửng sốt, nhưng cố giữ thái độ trầm tỉnh, và hồ hởi:
 
-         Được! Cứ giữ đấy rồi tối sẽ hay!
 
Nhưng khi Nhi vừa ra khỏi văn phòng tôi đã phải nghĩ ra một  kế sách giải cứu ông, tôi cho tìm và gọi Nhi lên ngay quận. Lúc Nhi vừa bước vào tôi đã đóng kịch thảng thốt, vô cùng quan trọng.
 
-         Chú làm sao hơ hỏng đến thế? Bắt lão ta mà để chẳng thiếu người hay biết? Chết đấy! Chẳng phải chơi đâu!
Rồi tôi kể tiếp:
 
-         Đã có người đến hỏi tôi về việc này, mà nay ta làm gì cũng chẳng tránh được nguy hiểm và tai tiếng.
 
Rồi tôi lên tiếng:
 
-         Thôi, tốt hơn là chú xin lỗi như bắt lầm ông ta, rồi thả ra ngay!
 
Một mặt, tôi tin ngay cho chú Phê, một nhân viên sắp làm rể ông Chánh Sáu hay, để chuẩn bị giáp mặt, mà đưa ông về kẻo rồi lại bị Nhi thủ đoạn xớt ông dọc đường, cứu không kịp nữa.
 
Nhân câu chuyện này tôi lại nhớ ngày còn ở Thăng Bình đã có trường hợp cứu anh Lê Quang Kiến cũng không phải dễ quên. Anh Kiến quen tôi ngày xa xưa, lúc anh là thủ lĩnh Thanh niên thời Trần Trọng Kim, mà lúc ấy tôi cũng là thủ lĩnh, nhưng ở cấp nhỏ hơn. Nay anh là Đảng viên Cộng Sản, không đi tập kết ra Bắc, ở lại sống tại Quế Sơn. Một hôm anh hốt hoảng chạy vào xin gặp.
 
-         Tôi bị nhân viên Quế Sơn truy nã, quyết bắt để giết. Nhưng nay nghĩ rằng thà vào đây để chịu cho anh giết. Nếu may thì sống!
 
Tôi cười và an ủi:
 
-         Anh đã nghĩ đúng. Nay anh vào gặp tôi tức là anh sống!
 
Tôi chỉ anh phía trong văn phòng:
 
-         Nay anh cứ vào trong kia, có cái giường để sẵn. Nằm đó nghỉ. Nhưng nhớ là khi nào tôi đích thân vào gọi sẽ ra, chứ dù có ai gọi cũng không ra đấy nhé!
 
Để anh Kiến nghỉ hai hôm, rồi nhân dịp về tỉnh đem anh cùng theo về và không quên lấy những bạc ông Hồ trong túi anh, để đưa anh chút tiền tiêu. Anh Kiến vào trình diện ty Công an, và sau đấy đi Sàigòn, cho đến sau này khi thất nghiệp vào Nam, gặp lại anh thì anh đang viết cho tờ Tân Dân của Nguyễn Đắc Lộc bút hiệu Thạch Động, cho đến ngày, lại trốn ra Bắc mà sau này nghe tên anh được nhắc đến trong hàng quan trọng của Cộng Sản miền Bắc.
Nhắc lại câu chuyện anh Trần Tú khi được anh em cử vào khu chiến gặp anh em Quốc Dân Đảng, mà sau đấy lại quay về với nỗi thất vọng tâm sự riêng với tôi là anh Lê Đình Duyên – Tham mưu trưởng lực lượng ly khai, kịch liệt phản đối việc đề cử tôi làm trung gian.
 
Không nói ra, nhưng tôi đã hiểu ngay lý do vì đố kỵ giữa tôi và anh Duyên mà trong dịp Nguyễn thức từ Sàigòn về tôi đã có nói trong một đoạn trước.
 
Rất buồn, nhưng chẳng còn biết sao hơn.
 
Thì không lâu, Huế đã cử Đại tá Bùi Dzinh vào, với sứ mệnh do ông Cẩn giao cho, đứng chỉ huy giải quyết vấn đề Quốc Dân Đảng ly khai. Ông Dzinh ra ngay một văn thư gởi tất cả các quận với huấn lệnh của ông Cố vấn Cẩn là không cho bất cứ một ai được liên hệ với lực lượng ly khai dù ở cấp bực nào.
 
Tôi phải hiểu rằng đây là hậu quả của dư âm việc anh Trần Tú lên Khu Chiến.
 
Sau không lâu tin khắp nơi cho biết chính thức ông Bùi Dzinh đã thỏa thuận cùng lực lượng ly khai qua trung gian của Linh Mục Khương, nhà thờ Tam Kỳ trong việc thương thuyết, kêu gọi anh em Việt Nam Quốc Dân Đảng về hợp tác.
 
Lúc này thì việc hành quân của các Tiểu đoàn và việc bắt bớ số ly khai không xảy ra nhiều như trước, nhưng anh em lại cũng đã tấn công đám Cộng Sản trên núi hơi nặng, mà một người tại vùng Bắc Tam Kỳ đã bị anh em bắt đi mất tích.
 
Và, hai chuyện xảy ra để tạo thanh thế của anh em cũng đã được nhắc đến sau này là tại Quế Sơn Thiếu tá Em Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 42  đã bị sát hại chết trong một đám cưới của một Trung Sĩ Tiểu đoàn gần quận lỵ Quế Sơn, và một trận tấn công vào một đồn nhỏ cũng thuộc Quế Sơn mà anh Nguyễn Đình Thiệp đã khôn ngoan dùng lối nghi binh để bên Bùi Dzinh không đoán ra được thực lực của quân ly khai Nam Ngãi.
 
Anh vừa cho tấn công đồn nhỏ ở Quế Sơn như vừa nói, lại vừa cho rải truyền đơn ngay trong đêm ấy tại vùng Kỳ Quế Tam Kỳ, để hư trương thanh thế như là Trung đoàn nọ, Trung đoàn kia, trong khi thực lực đến ngày về hợp tác trình diện tại sân vận động Hội An thiên hạ mới vỡ lẽ.
Trong khi ấy thì công tác tại quận Tam Kỳ cũng có nhiều kỷ niệm đáng nhớ.
 
Ông Ngô Đình Cẩn ra lệnh, thúc giục giải quyết chấm dứt việc dùng kế lấy Cộng Sản “o ép” Quốc Dân Đảng ly khai phải trở về hợp tác như trước đây, đã tạm thời thực hiện, mà chúng tôi phải chấm dứt ngay việc kêu gọi các chú Cộng Sản đừng lạm dụng lòng nhơn đạo của Quốc Gia mà “bắt cá hai tay” nữa, bằng một kế hoạch khiến cho hai Xã cuối cùng vùng núi Kỳ Anh phải bỏ lên núi.
 
Trong khi ấy thì Chi công an Tam Kỳ do anh Huỳnh Giáo là Trưởng chi đã đến hỏi thăm và mong tôi dò xét để giải quyết trường hợp chị Phan thị Miều là con của bác tôi (Phan Khôi) hiện là vợ anh Đống Lương đã ra Bắc từ trước kia, mà anh Đống Lương có người em ruột là Đống Ngạc – Bí thư của Lê Duẩn. Tôi đã thân hành lên tận làng Trường Xuân, nơi chị Miều đang sống với mẹ anh Đống Lương. Chị Miều lúc ấy đang viết cho tờ báo Dân Ta của Nguyễn Vỹ với bút hiệu Mỹ Khanh. Thời gian không lâu, nghe đâu chị Miều đã nhờ người đưa theo ngã Cao Miên ra Bắc với chồng.
 
Anh Huỳnh Giáo đã mời một tay kiệt hiệt trong đám nữ cán bộ Cộng Sản trước là Bí thư Quảng Nam Nguyễn thị Nể, vợ của Võ Chí Công đến để thẩm vấn. Còn nhớ rằng, không muốn giam bà ta trong nhà lao, anh Giáo đã xin tôi cho chị ấy được nằm nơi nhà ngang của nhà tôi – đóng trong quận lỵ. Tôi bàn với gia đình và đồng ý lời yêu cầu của anh Giáo, để họ thấy rõ thái độ và cách cư xử của ta, đồng thời cũng dễ theo dõi những quan hệ của họ mà đánh giá “đúng”.
 
Trong chương trình thăm các Xã, ngoài việc giải thích cho dân chúng như đã nói còn là dịp xem xét lại sổ sách và trả lời những thắc mắc của Hội đồng xã.
 
Trong dịp chị Nể ở lại và làm việc với Chi công an đã giúp tôi một quyết định về anh Nguyễn Kiên, Bí thư xã Tam Kỳ sẽ trình bày trong một đoạn sau, vô cùng quan trọng.
 
Cũng trong mục đích tìm hiểu, và thanh thỏa những tình trạng gay cấn với Cộng Sản nằm vùng, tôi đến thăm và nói chuyện với dân chúng Kỳ Trân vào một chiều thứ bảy.
 
Xã Kỳ Trân này do ông Phan Trân làm Chủ tịch. Ông là tay chống Cộng khét tiếng, nhưng cũng vì vậy ông chỉ nặng trừng trị mà nhẹ bao dung, dù tôi đã thông cảm nhiều lần. Ông Phan Trân là cha của anh Phan Như Toản thời ấy đang là Ủy viên Thông tin Xã và hiện nay đang sống tại Cali, cũng là một trong hàng lãnh đạo tại đây, bởi trước năm 1975 anh là Bí thư Thành bộ Đà Nẵng. Ông Phan Trân nghe đâu sau này, khi tôi  rời Tam Kỳ rồi, đã bị Cộng Sản ám sát.
 
Hôm vào thăm dân chúng Kỳ Trân liếc nhìn thấy trong số dân chúng ngồi tham dự, nơi các bô lão có mấy ông chú trong làng tôi, tản cư vào đây từ những năm trước, như các ông Cửu Quyên, ông Giáo Lộc, ông Phán, đều là những người có con theo Cộng Sản làm lớn, hiện nay đang sống ngoài Bắc.
 
Trong cuộc nói chuyện, trước khi buổi lễ  bắt đầu, tôi lại gần ba ông chú nói trên và nghiêng tai hỏi nhỏ chú Giáo Lộc (tức là cha của Phan Đắc Lực, người chất vấn anh Trần văn Tuyên ở trại Long Thành hôm tập trung cải tạo sau này), Phan Đắc Lữ (người bị Cộng Sản giam giữ vì lá thơ Dương Thu Hương mặc dù chú ta đã mấy chục tuổi đảng mà báo Tuổi Trẻ đã lên tiếng) “các chú sống tại đây có dễ thở không?” Ông Giáo Lộc đã trả lời vắn tắt “Dễ cũng không dễ, khó cũng không khó” đã cho tôi một ngầm hiểu về ý thức của câu nói. Do đó khi lên diễn đàn giải thích cho dân chúng nghe về đường lối và chính sách của Quốc Gia xong, tôi quay lại phía các Hội đồng mà hôm nay có nhiều xã từ trên vùng núi gần đấy về tham dự để nhấn mạnh “không nên cố chấp việc trước kia họ đã tham gia với Cộng Sản miễn nay họ sống lương thiện, không còn âm mưu hoạt động nằm vùng, mà tôi đã ví như “trong bầu thì tròn, trong ống thì dài” mới mong xây dựng lại an ninh thôn xóm để người dân yên tâm cải đổi cuộc sống ấm no cho gia đình. Tôi còn đem khá nhiều ví dụ từ bản thân ra giải thích để khuyên các Hội đồng không thù oán, không cố chấp.
 
Sau buổi lễ tôi đã đọc được trong nhân dân nhiều hể hả, nhất là các ông chú có con làm lớn trong làng xưa kia, một vui mừng hiện rõ.
 
Sau này có gặp lại các ông ấy cũng như trong một buổi gặp nhau với đám con các ông tại một buổi tiệc đầu năm tại nhà hàng Ái Liên Chợ Lớn sau 13 năm tù tại đất Bắc về, họ đã phải hết lời thán phục hành động của người Quốc Gia sẽ được kể ở một đoạn sau.
 
Cũng cùng trong mục đính trên, tôi được nghe kể lại rằng Tam Kỳ có một nhân vật trước là Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Quảng Nam Đà Nẵng tên Trịnh hữu Phu, anh ruột với giáo sư Trịnh Chuyết khá cao mạng. Anh là thành phần địa chủ, dù trước có tú tài, nhưng vẫn được vào Đảng Cộng Sản, giữ đến chức vụ ấy, thì cũng đủ để ta xét vấn đề. Anh Phu thường coi thường những người Quốc Gia về khả năng, nên ngày anh Phan Thiệp về làm Quận trưởng Tam Kỳ, Phu thường không mấy kính nể, chưa nói là coi thường, bởi ỷ y mình là dân địa chủ. Biết được tin trên, tôi đạt giấy hẹn anh lên quận chơi để đàm luận.
 
Một hôm có người vào báo “Thưa ông! Có ông Trịnh Hữu Phu xin vào gặp”. Cho cô thư ký ngồi bàn gần đấy, bỏ giấy vào máy, đánh sẵn một phúc trình gởi về tỉnh, chỉ vài câu và để đấy ngồi chờ đợi.
 
Cho sắp ngay những tờ trình, báo cáo từ các xã gởi lên chờ tôi duyệt phê giao cho các phần hành thực thi bút phê.
 
-         Xong, cho mời anh vào.
 
Thấy anh, tôi chào hỏi qua loa, rồi bước ngay vào việc, hỏi anh:
 
-         Lâu nay anh có canh tác lại ruộng đất và làm ăn ra sao?
 
Trong khi anh đang trả lời những câu hỏi thì tôi lại tiếp văn thư khi nãy cho cô thư ký đánh.
 
-         Thưa ông Tỉnh trưởng, tình hình thật sự chưa hoàn toàn đáng lạc quan, nhưng…
 
Đồng thời tôi cũng cúi xuống xem xét các tờ trình các xã, và bấm chuông gọi anh tùy phái vào, đưa anh và dặn.
 
-         Đưa ông Chánh văn phòng!
 
Anh tùy phái nhận văn thư trên tay tôi thì vừa nghe anh Phu nói, tôi lại đọc cho cô thư ký đánh tiếp văn thư khi nãy.
 
Đến đây, biết rằng anh Phu khó chịu bởi nghĩ rằng “mình trình bày mà người nghe lại đang bận tâm làm việc khác nên tỏ ra rất khó chịu, chưa nói là hiện rõ nét không vui”. Tôi ngưng, và quay về anh:
 
-         Có lẽ anh khó chịu, vì trong khi mình trình bày mà người nghe lại đang bận làm việc khác. Nhưng xin anh thông cảm rằng, cái quen của tôi là làm cả ba việc trong một lúc, chẳng bận bịu hay phân tán gì. Tôi phải đi về thanh tra ở các xã, mà mỗi tuần chỉ có mặt hai ngày để làm những việc như hôm nay tại quận. Anh đừng khó chịu. Vì nếu tôi ngưng cả, để tiếp chuyện với anh, thì chẳng làm sao tiếp lâu được. Vì vậy anh cứ tự nhiên, ta có thể nói chuyện bao lâu cũng được, trong khi tôi chẳng mất thời giờ để thanh toán những báo cáo, từ các xã, hay đạo đạt về tỉnh những đề nghị cần thiết và kịp thời.
 
Vừa dứt lời lại đọc tiếp văn thư cho cô đánh máy, không quên tiếp theo lời văn lúc này, chẳng mảy may khó khăn hay trục trặc.
 
Đến đây anh Phu mới tâm sự về cái kiêu kỳ đã có của anh mà từ lâu tôi thường được nghe kể.
 
-         Thưa ông Quận trưởng. Tôi có một sai lầm là từ trước rất coi thường những cán bộ Quốc Gia. Tôi chưa gặp một ai có thực tài để nể, mặc dù có nghe đồn ông Quận trưởng có biệt tài “nói trước quần chúng” nhưng tôi vẫn còn cao mạng nghĩ rằng “đấy chỉ là một chuyên môn không đáng làm tôi nể sợ.” Thì nay, trong cuộc tiếp xúc cho thêm một bài học. Và tôi cũng không dấu để kể ông nghe chơi rằng, thời kháng chiến đã phải thán phục duy nhất một người đương thời làm chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Quốc Gia. Đấy là Chế Viết Tân. Anh ấy có tài đọc một lần cho năm cô thư ký đánh máy mỗi cô một câu, và cuối cùng năm bản văn của năm kế hoạch khác nhau cho Chiến dịch Địch vận Thành phố Đà Nẵng. Trong kháng chiến anh em thường tặng cho Tân cái mỹ danh là “bộ óc Napoleon”. Thì nay tôi lại mới gặp ông là người trước nhất của phe Quốc Gia đã làm tôi thấm thía.
 
Câu chuyện tâm tình được kết thúc sau hai giờ đồng hồ, mà sau đấy anh Phu về Hội An làm Phòng Kinh tế Tỉnh, để rồi sau vào Sàigòn viết cho tờ Cách Mạng Quốc Gia.
 
Công việc Tam Kỳ đang xúc tiến tốt đẹp thì được tỉnh mời về họp quan trọng, mà sau buổi họp hôm ấy là Tam Kỳ phải chuẩn bị đón tiếp Thủ Tướng Ngô Đình diệm vào thăm, tiếp xúc với dân chúng.
 
Ông Tỉnh trưởng cho biết không thể để Thủ Tướng đến một nơi mà an ninh chưa hoàn toàn bảo đảm, chưa nói là ông Quận trưởng có được hội nghị xét và đánh giá tin tưởng khả năng hay không. Người lên tiếng về điểm này trước hết là ông Bảo Trọng Trưởng ty Công an để nhấn mạnh lại cho Hội nghị thấy rằng nếu để xảy một sự việc nhỏ nào do Cộng Sản gây nên, hay chỉ cần xúi một người dân đứng lên nói bừa bãi một câu; trong khi hẳn nhiên đi theo Thủ Tướng hôm nay có rất nhiều báo chí và ngoại giao đoàn thì “bể dĩa” cả đám.
 
Sau khi ông Bảo Trọng phân tách và nhắc lại, chỉ nên giao cho Tam Kỳ tổ chức đón tiếp, mà các quận dọc theo quốc lộ chỉ lo an ninh trong phạm vi quận mình thôi. Không riêng hội nghị mà Phái đoàn An ninh từ Sàigòn ra trước cũng tán thành, nên quyết định cuối cùng chỉ Tam Kỳ lo chuẩn bị đón tiếp Thủ Tướng vào thăm. Mới tưởng đây là một hãnh diện, nhưng thật ra là một trách nhiệm vô cùng nặng nề, chưa nói, nhưng công tác trước mắt từ hình thức đến an ninh đã làm cho tôi đâm ra lo ngại, xem như đây là lần đầu tiên trong đời lãnh lấy một công tác quá sức.
 
Trước hết phải nói là an ninh vì nếu xảy ra một việc gì từ lựu đạn, mìn, đều phản phé biểu tình, truyền đơn biểu ngữ của thành phần phá hoại dù là đám Cộng Sản, mà dĩ nhiên họ sẽ tích cực trong dịp này, đến đám anh em Quốc Dân Đảng. Tôi nghĩ gần như điên đầu. Trước hết là họp an ninh trong phạm vi Quận với Công an, Bảo an và các Tiểu đoàn trong vùng. Rồi họp thu hẹp trong những thành phần tuyệt đối tin cậy và cuối cùng mới họp đến với vài đơn vị không hoàn toàn tin tưởng lắm như Hội đồng Xã.
 
Mỗi cuộc họp là một kế hoạch chỉ được giới hạn đưa ra thảo luận.
 
Cái phải nói, quan trọng bậc nhất, là giao cho các xã chịu trách nhiệm về thành phần dân chúng đi tham dự của mình. Phải nắm được danh sách người tham dự, đứng theo từng liên gia, có mang theo nước uống, mà An ninh Xã phải xét trước những đồ mang theo. Không được ra khỏi hàng dù là đi tiểu hay đại tiện, đều phải được Công an Xã thông báo cho Công an Quận trước khi rời hàng ngũ. Công an Xã phải biết rõ tên họ và lý lịch của tất cả thành phần trong Xã đang đứng trong hàng ngũ.
 
Giờ giấc nghiêm túc giữ đúng. Mỗi Xã đến tại tiền trạm tức là trước khi nhập vào nơi tiếp đón – Sân vận động Tam Kỳ - phải được kiểm soát lại lần nữa sau khi cho họ đi tiểu hay đi đại tiện xong.
 
Nói chung, mọi biện pháp an ninh vô cùng chặt chẽ tránh việc bị thành phần phá hoại lợi dụng chen vào, trước khi “hàng ngũ hóa” để vào sân vận động.
Về hình thức giao Chi Thông tin Quận lúc ấy là anh Võ Thi Cân hợp tác cùng Thông tin Thị xã Tam Kỳ, có thêm khá đông tay giỏi và nhiều sáng kiến tạo cho buổi đón tiếp đặc sắc hơn bất cứ  lần đón tiếp nào, đã có từ trước.
 
Riêng tôi, đã dùng xe Lân-rô-vơ (Land rover) của quận suốt đêm chạy dọc theo quốc lộ từ phía trong sân vận động Tam Kỳ độ một cây số ra đến giáp ranh quận Thăng Bình. Cứ nửa giờ, chạy một vòng. Và, ai ngờ được công tác này là một việc vô cùng quan trọng. Chúng tôi nghĩ ngay đến việc đám nằm vùng sẽ câu một sợi giây dấu sẵn trong đống rác hay bên vệ đường chờ đoàn xe vừa đến là từ trong xa, họ sẽ từ từ kéo cờ đỏ sao vàng lên là “bể dĩa”. Nhưng họ không nghĩ đến độ như mình tiên liệu, mà cứ mỗi vòng chạy ra rồi chạy vào, chúng tôi lại dừng xe cho anh Ba Đích, người hộ vệ viên nhảy xuống, lượm vô số truyền đơn và cờ, họ đã vứt bỏ. Biết chắc bọn họ còn nằm dưới ruộng để chờ nghe ta nói gì, tôi đã lên tiếng khá lớn, cốt cho họ về bàn lại nhau, vì thật ra hầu hết những việc làm này ít ra những an ninh xã phải biết, nếu không nói là tất cả.
 
-         Lượm cả, rồi ngày kia sẽ giao cho xã Kỳ Hương điều tra và trả lời cho biết những ai đã nhúng tay vào việc này.
 
Sở dĩ phải lên tiếng như vậy, vì đoạn đường này thuộc phạm vi Xã Kỳ Hương mà anh em Quốc Dân Đảng thường nghĩ là những Xã trưởng như cỡ Kỳ Hương đều là người đã được thu nạp. Nhưng riêng tôi, ít tin tưởng những Xã trưởng này, nhất là ông Kỳ Hương, mà quả thật đã đoán không sai, vì nghe đâu sau này Công an Tam Kỳ đã khám phá ra ông này là loại “bắt cá hai tay” nên đã bị bắt và sa thải.
 
Suốt đêm hôm ấy, xe chạy vào rồi chốc lát lại chạy ra, mà sáng ra văn phòng đầy cả truyền đơn Cộng Sản.
 
Đây cũng là đầu mối câu chuyện Vũ Hạnh tức Nguyễn Đức Dũng bị khám phá hoạt động cho Cộng Sản, có tang chứng, mà cả “ổ” đã bị công an Thăng Bình bắt.
 
Cộng Sản chuyên dùng môn “mỹ nhân kế” mà như đã có nói trước đây thời còn ở Phù Kỳ, họ đã ngán trò này nên cảnh giác nhau về giai thoại “gậy ông đập lưng ông” hay “đạp gai lấy gai mà lể” của Phan Vỹ, nên chẳng dám dùng dai, chưa nói là gặt hái khá nhiều tai hại thay vì kết quả. Thì nay, tại vùng này họ cũng lại vấp phải độc kế khi dùng cô Sương sau đổi là Mai để “chài” tôi. Họ không ngờ với thủ đoạn trên tôi đã khai thác chính miệng cô Mai.
Nằm vùng, nay hoạt động mạnh nhất là vùng bãi cát Liễu Trì, giáp ranh giữa hai quận Thăng Bình và Quế Sơn bởi địa thế vắng vẻ, lại thường nghĩ là phe Quốc Gia hay đem người thủ tiêu tại đây. Do đó địa bàn hoạt động này được ưu thế, do một tay anh Dũng (Vũ Hạnh) đang vì bất mãn khi Vũ Đình lên làm Quận trưởng nên ráo riết xây dựng cơ sở, nhắm vào đám con em các Hội đồng. Họ thường xuyên trao đổi báo chí, tài liệu hay tổ chức những buổi mạn đàm, những khóa huấn luyện ngắn hạn, tại hai căn nhà tranh nơi đây.
 
Và ngay sáng sớm hôm chuẩn bị đón tiếp Thủ tướng Ngô Đình Diệm, anh Vũ Đình và Tín, Trưởng chi Công an vào sớm. Khi thấy quá nhiều truyền đơn và cờ Cộng Sản còn bỏ nằm đấy, Tín đã vừa cười vừa nói:
 
-         Thì ra Tam Kỳ Cộng Sản quá dữ như vậy sao?
 
Tôi không tỏ ra khó chịu, nhưng với nét mặt nghiêm khắc, vừa cười bảo chú ấy:
 
-         Cộng Sản Tam Kỳ nhiều đấy, nhưng nó chỉ nằm dưới đất vậy thôi. Chứ Cộng Sản ngoài chú, Cộng Sản Thăng Bình, nó nằm ngay trên cổ Ông Quận chú đấy!
 
Vũ Đình hình như chưa kịp hiểu tôi muốn nói gì, nhưng Tín bắt đầu lại gần, hỏi nhỏ:
 
-         Anh Ba nói thậy hay nói chơi vậy anh Ba?
 
-         Tôi đâu có nói chơi! Chú về cố tìm trên cổ Ông Quận chú thì khắc thấy Cộng Sản ngay.
 
Đến đây có lẽ Tín bắt đầu nghi ngờ, cố hỏi thêm nhưng tôi không nói gì. Vả chăng lúc ấy quá bận rộn, đâu có thời giờ, nên xin lỗi lo đi làm việc.
 
Chính vì vậy Tín về điều tra, và vài tháng sau đã khui ra trước hết là cô con gái ông Chủ tịch Xã địa phương Hà Lam, bắt lần mối dây khám phá thủ phạm Vũ Hạnh.
 
Trở lại chuyện đón tiếp Thủ tướng Ngô Đình Diệm!
 
Một nhân viên phụ trách đến báo cáo cho biết tình hình trước giờ đã định, độ hai tiếng, từ an ninh, hình thức, hiện diện v.v…
Yên trí, giao anh Huỳnh Giáo Trưởng chi Công an và anh Chánh văn phòng lo liệu những việc tại sân vận động, còn tôi và Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc Gia Tam Kỳ, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Thị xã Tam Kỳ Nguyễn Vĩnh Mậu lên xe, ra tận giáp ranh quận Thăng Bình chờ đoàn xe từ Hội An vào để nghênh đón.
 
Trễ hơn khoảng nửa giờ, đoàn xe vào đến địa đầu Tam Kỳ, mà tôi thoáng nghe ông Tỉnh trưởng cho biết là bởi Thủ tướng bảo đoàn xe dừng lại tại Kế Xuyên để Thủ Tướng cho người mời bà Cụ Ngô Đạm –một bạn cố tri của Thủ Tướng ra thăm, vì nghe rằng cụ Ngô Đạm đã qua đời và gia đình sống khá kham khổ. Thủ Tướng đã hỏi tùy tùng tặng bà cụ một số tiền và mời bà có dịp vào Sàigòn chơi.
 
Khi đoàn xe vừa đến, tôi và ông Nguyễn Vĩnh Mậu xuống xe cúi chào, thì không ngờ Thủ Tướng còn nhớ đến ông Mậu, trước là thủ hạ của ông Ngô Đình Khôi khi ông làm Tổng Đốc Quảng Nam, nên Thủ Tướng dặn ông:
 
-         Khi nào có bầu cử Quốc Hội, ra ứng cử nghe!
 
Thủ tướng đâu nghĩ rằng sự quan tâm ấy đã làm chúng tôi, kể cả Tỉnh trưởng Lê khương và Trưởng ty Công an Bảo Trọng phải vất vả không ít, sẽ được kể trong một đoạn sau.
 
Ông Mậu hớn hở ra mặt. Đoàn xe do chúng tôi tiến về Tam Kỳ, chạy thẳng vào sân vận động, mà dân chúng ngừng tay, xe ngưng chạy, hồ hởi hoan hô Thủ Tướng, một vị Nguyên Thủ từ xưa chưa bao giờ đến một quận xa xôi như nay, (dù Tam Kỳ trước kia thời Pháp thuộc có một Đại ly Pháp tương đương như một Phó sứ quản nhiệm.)
 
Tiếng hoan hô vang dậy, nhưng cái chính là cứ cách năm nhà hai bên vệ đường có một Cán bộ Công an Xã đứng , và cách khoảng 200 thước là một nhân viên Công an Quận, chưa kể các lực lượng quân đội mặc thường phục trà trộn trong dân bám giữ tình hình an ninh chặt chẽ.
 
Khi đoàn xe vào đến địa điểm đón tiếp thì trong phái đoàn từ nhân viên tháp tùng đến ngoại giao đoàn đều vô cùng ngạc nhiên với bao rạng rỡ, màu sắc thiên nhiên, mà chính tờ Thế Giới Tự Do hôm ấy đã dùng tấm hình chụp hôm nay vào tờ bìa cho số đặc biệt “Thủ Tướng kinh lý miền Trung”.
 
Chương trình được áp dụng khác hơn thường lệ của những cuộc đón tiếp từ trước bởi sáng kiến của những thanh niên văn nghệ, họa sĩ trong vùng, nhất là khi một đoàn thiếu nữ ra múa một màn vũ theo Bài Suy Tôn, để rồi trước khi chấm dứt các em đã cùng nhau quay về hướng khán đài với một hàng chữ dài “Thủ Tướng Ngô Đình Diệm muôn năm” mà trước đó, khi múa, mỗi em chỉ ôm một cái “mẹt” đan bằng tre trên ấy có các chữ T hay H hay U.
 
Các đoàn quay phim và nhiếp ảnh tha hồ làm việc trong khi phái đoàn đồng đứng lên vỗ tay nhiệt liệt cổ võ.
 
Sau khi nghe Thủ Tướng ban huấn từ và các thủ tục địa phương, phái đoàn ra về, thì ông Tỉnh trưởng Lê Khương đã kề tai tôi:
 
-         Ông theo đoàn xe về Tỉnh, dự lễ gắn huy chương!
 
Tôi cho tài xế dùng xe quận tháp tùng phái đoàn về tỉnh, và ngay chiều hôm ấy, một buổi lễ gắn huy chương được tổ chức trước Tòa Hành chánh Tỉnh.
 
Thủ tướng đã gắn cho ông Lê Khương Đệ Tam Bảo Quốc Huân Chương, và tôi được Đệ Nhất Chương Mỹ Bội Tinh vì công đề ra Chiến dịch Tố Cộng. Sau đấy là hai ông Phó Tỉnh trưởng, vài ông Quận trưởng và mấy Trưởng Ty được ông Bộ Trưởng Nội Vụ Nguyễn Hữu Châu gắn Đệ nhị Chương Mỹ Bội Tinh.
 
Ngày hôm sau lại lên đường về quận, mà đây là giai đoạn mất nhiều suy nghĩ, mà mãi gần như ngót hai mươi năm sau mới được trả lời cho hành động.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHẢI CHĂNG TA ĐÃ PHẢN BỘI ĐẢNG!
 
 
Dù công việc quá bận rộn, nhưng luôn nghĩ rằng, nhiều khi không giải quyết kịp thời sẽ ân hận về sau, nên tôi phải nghĩ đến việc cải táng mộ mẹ và vợ. Báo tin để mẹ vợ tôi vào Thăng Bình cải táng vợ về Đông Hà, mà chị tôi đã  cùng lên dự, nhưng khi đưa về Đông Hà thì đành để tài xế Mùi dùng xe riêng đưa gia đình vợ và hài cốt được cho vào trong một chồng nón lá, khoét rỗng ruột.
 
Biết chẳng nên xin phép trong lúc này nên tôi đã nhờ chú Mùi giúp công tác trên như đưa gia đình trở về Đông Hà thôi. Ông bà nhạc tôi đã cải táng hài cốt vợ tôi tại Dốc Sỏi, xã Kim Đâu, quê cũ của nàng mà sau này tôi được hai dịp về lại Đông Hà có đến thăm.
 
Còn mộ mẹ tôi, Cộng Sản bắt trong khi đang đau, nên cho chở thẳng vào nhà thương tỉnh ở Cây Sanh Tam Kỳ đến vài tháng sau qua đời.
 
Nay cũng biết thời biết thế nên cho chị đi xem thầy để cải táng về quê nhà ở Bảo An.
 
Qua câu chuyện cải táng mẹ, không tránh khỏi vài người cho rằng tôi thiếu kinh nghiệm bởi theo phong tục Việt Nam thì trước khi cải táng, cần coi thày khá kỹ kẻo có thể gặp chuyện chẳng may. Riêng tôi, thì chẳng phải quá xưa, nhưng cũng không quá ẩu, tuy luôn luôn tin ở số trời, nên chỉ nói chị tôi đi xem thầy cho phải lẽ, rồi chuẩn bị ngày thực hiện. Nguyên tắc là phải cho người về quê ngoại để trình với bên ngoại. Đó là kinh nghiệm của ngày xưa, vì nếu không giữ đúng thủ tục này, nhỡ sau có việc gì xảy ra tai biến cho một người trong bên ngoại, dù tôi không phải bị thưa kiện, nhưng cũng khó tránh tiếng đời dị nghị.
 
Cứ nghĩ như vậy là đủ, nhưng đến ngày mộ mẹ tôi được khai quật thì tất cả những người hiện diện, nhất là người lớn tuổi và kinh nghiệm đều cúi đầu lâm râm khấn nguyện. Mộ mẹ tôi vừa “KẾT”, mà theo dư luận thì mộ kết là đến lúc con cháu sẽ thạnh phát. Khi nghe kể tôi chỉ trả lời:
 
-         Số mệnh biết sao mà nói. Nghĩa là mình chẳng đủ PHÚC hưởng sự thạnh phát thì đành chịu, chứ than thở hay trách cứ ai được.
 
Ngày đưa hài cốt về quê, các thân hào của Phù Kỳ ngày xưa có đến phúng điếu để tỏ tình với gia đình tôi.
 
Lại đến một câu chuyện, mãi đến nay Cộng Sản Tam Kỳ vẫn còn oán hận mà cô em gái tôi hiện đang sống tại đây là người chịu khá nhiều cay đắng.
 
Nguyên câu chuyện, theo anh Huỳnh Giáo, Trưởng chi Công an kể lại thì trước khi rút ra Bắc, Cộng Sản đã bố trí và huấn luyện khá chu đáo cho bọn nằm vùng để lại tại Tam Kỳ. Chúng đã sắp xếp, cứ 4 gia đình dân chúng là chen vào một gia đình của cán bộ hay người còn tin tưởng ngày trở lại của chúng. Chủ trương của họ là khi cần đấu tranh, nhất là để bảo vệ cho số nằm vùng, khi một trong bọn này bị ta bắt, lối đấu tranh rất hợp pháp.
 
Tại thị xã Tam Kỳ, cán bộ nòng cốt chúng để cho lãnh đạo chủ trương này là Nguyễn Kiên.
 
Vì lẽ ấy, từ ngày vào tiếp thu, khi bầu cử dân chủ, nhất định Nguyễn Kiên sẽ là người nhiều phiếu nhất. Nhưng khôn ngoan của bọn họ biết ông Nguyễn Vĩnh Mậu là người nhiều uy thế nhất nên Kiên bợ đỡ, mua chuộc và nhường ông Mậu làm Chủ tịch, y chỉ làm Tổng Thư ký.
 
Ông Nguyễn Vĩnh Mậu thời trước thường làm nghề “chuối ép” nên tục danh là ông Mậu chuối ép. Ông ta là tay chân của ông Ngô Đình Khôi, sống rất quan quyền, đi lại có người kéo xe, có kẻ chạy theo xe, chẳng khác gì ông Phủ hay ông Huyện thời bấy giờ. Gia đình ông lại có thân thế lớn, vì em vợ ông là một vị Trung tá có thời làm Chỉ Huy trưởng Dân vệ và Tư lệnh Liên binh Phòng vệ Tổng Thống Phủ. Nhưng ông có cái tệ, là ai biết nịnh bợ thì dù đáng nghi vì chính trị cũng che chở, nhưng là người chống Cộng nhưng chẳng chịu phục tùng thì rất dễ bị ông chụp cho cái mũ, khó mà yên thân.
 
Kiên đã dựa vào ông Mậu bằng một sự bảo đảm kiên quyết, nên anh Huỳnh Giáo dù có đề nghị thì anh Phan Thiệp (Quận trưởng) cũng không muốn động đến. Vì những lẽ trên, ngày tôi vào làm và khi câu chuyện Quốc Dân Đảng ly khai tạm thời lắng dịu, chờ ngày kết thúc, anh Giáo đem ra trình bày để mong tôi giải quyết.
 
Tôi vặn hỏi lại, thì anh Giáo đã không ngần ngại đem đức tin ra để xác định lời anh nói là trung thực, chưa nói là kinh nghiệm và sở trường anh Giáo về Công an lúc ấy chẳng mấy người hơn, để xác định lần nữa về Kiên. Tôi phải chân tình với anh.
-         Tôi tin anh, và cũng nói để anh thông cảm rằng, trừ trường hợp Kiên không phải người Cộng Sản để lại, hay dứt khoát từ bỏ Cộng Sản, chứ anh ta còn tư tưởng và hành động ấy, thì một ngày không lâu sẽ bị phát giác bởi cái dân chủ của ta, rất dễ cho họ coi thường, mà chính là lý do họ bị triệt bất cứ lúc nào. Anh cứ yên tâm và tin như vậy.
 
Anh Giáo cười với cả lòng tin về tính cương quyết và kinh nghiệm của tôi.
 
Thì đến một buổi chiều gần chập choạng, trong khi có hai anh Nguyễn Ngật và Nguyễn Văn Bé lên quận đang ngồi sắp dán giúp cho một số khẩu hiệu để ngày mai dùng trong cuộc biểu tình, có người chạy vào báo cáo.
 
-         Thưa ông Quận, anh Kiên Tam Kỳ rải truyền đơn bị bắt quả tang đang đưa về Công an.
 
Ngạc nhiên nhưng bởi bận làm cho xong công tác, nên chỉ ra lệnh:
 
-         Cứ đem vào giam lại, chờ mai sẽ hay!
 
Tôi nhìn hai anh Bé và Ngật:
 
-         Kiên làm Tổng Thư ký cho Hội đồng thị xã chưa đủ sao mà còn muốn hoạt động cho Cộng Sản nữa.
 
Rồi như để giải thích cho thắc mắc vừa nói, tôi nhìn hai anh:
 
-         Chắc là lại bị móc nối nữa rồi chớ gì.
 
Hai anh Nguyễn Ngật và Nguyễn Văn Bé là cán bộ của Cộng Sản, nhưng thuộc thành phần trí thức ở lại, không tập kết ra Bắc, và nay đang xin làm việc cho quận. Anh Ngật chuyên môn về Kế toán nên được dùng làm thuế vụ, còn anh Bé trước làm Tư pháp cho Cộng sản Tam Kỳ, thì nay được dùng làm Tư Pháp cho Quận. Hai anh đã được thử thách khá chu đáo, chứng minh đã thay đổi hẳn lập trường, chưa nói là anh Bé con rể của ông cụ Cửu Kiểm, anh ruột ông Mậu.
 
Khi đang cặm cụi làm sắp xong công tác, bỗng nghe súng nổ hai tiếng và rượt bắt, nên vội chạy ra hỏi lý do, thì vừa thấy hai người lính trong trạm gác trước cổng đã bắt được anh Kiên, vẫn tréo tay dẫn vào:
-         Thưa ông Quận, anh Kiên vừa được đưa vào nhà giam, đã vọt chạy, định đào tẩu, bị lính canh bắt lại được!
 
-         Đốc canh đâu!
 
Tôi vừa lên tiếng, thì có một Trung sĩ chạy đến trình diện.
 
-         Trung sĩ cho đem anh ấy vào nhốt trong xà lim, không giam ở lao nữa, chờ mai làm việc sẽ giao cho Công an và Tư pháp.
 
Chú Trung sĩ, chào và ra lệnh cho lính đem anh Kiên vào nhốt trong xà lim bên cạnh Quận đường.
 
Tin Kiên bị bắt được dân chúng Tam Kỳ hay biết rất nhanh, vài người đã đến hỏi, trừ ông Nguyễn Vĩnh Mậu.
 
Chắc ông không còn lý do gì để bào chữa trừ trường hợp lại xuyên tạc mà cho là quận vu khống. Nhưng vu khống sao anh còn đào tẩu bị bắt lại trước bao nhiêu người, nhất là có hai anh Ngật và Bé.
 
Gọi anh Ba Đích vào và để trình bày cho anh Huỳnh Giáo hay sự việc, anh Giáo sang ngay và muốn vào nói anh Kiên vài chuyện trước khi chờ ngày mai. Nhưng khi vào gặp anh Kiên xong anh Giáo có ghé tạt ngang chỗ tôi ở, để báo cho biết là khi gặp anh Kiên thì anh ấy chối, nhưng khi bị vặn hỏi “tại sao đào tẩu khi vào nhà lao” thi Kiên im ngay không trả lời được gì.
 
Trước khi ra về anh Giáo còn tâm sự với tôi là thế nào ngày mai ông Mậu cũng lên để thanh minh và bảo đảm cho Kiên.
 
Trong đêm ấy, khoảng 2 giờ khuya, bỗng nghe nhiều tiếng súng nổ nơi trại giam, xách đèn bấm cùng anh Ba Đích xuống hỏi sự việc – bởi anh Ba thường vào ngủ cạnh nhà tôi – thì được Đốc canh báo cáo và chỉ cho biết “xác anh Kiên đã bị bắn chết vắt ngang rào kẽm gai cạnh xà lim.”
 
-         Thưa ông Quận, tôi đi tuần, bỗng nghe trong phòng anh Kiên bị giam có tiếng cào “sạt sạt”. Lúc đầu nghe tôi lên tiếng hỏi tiếng cào im ngay. Nhưng một lát lâu lại nghe tiếp. Tôi bèn mở cửa vào xem cho biết, anh tung ra đạp tôi chạy. Anh không ngờ rằng phía sau này đúng 9 giờ là cổng đã đóng lại. Tôi nổ súng trúng anh đang băng qua hàng rào, nên đã chết.
Tôi ra lệnh cho trực trại thay nhau canh gác cẩn thận chờ ngày mai công an và tư pháp đến lập biên bản.
 
Thế là ngày hôm sau, mọi thủ tục được lập vi bằng, trình tỉnh và cho thân nhân đem về mai táng, ông Mậu chắc đã nghe kể rõ , không đến quận hay công an hỏi việc này thêm, đủ biết rằng ông khó lòng bênh vực được cho Kiên.
 
Câu chuyện Nguyễn Kiên chết được đồn sang nhiều quận bạn, không lâu sau để đám nằm vùng rút lấy bài học “ngoan cố”. Nhưng chỉ hai tháng sau, đám Việt Cộng trong Ủy hội Quốc tế đưa đơn kiện, và cho người rải truyền đơn buộc tội là “chính tôi giết Nguyễn Kiên”.
 
Sau năm 1975, Cộng Sản Tam Kỳ thường làm lễ truy điệu Kiên và mỗi lần như vậy là cho bắt loa chửi lớn sang nhà cô em gái tôi, hiện đang sống tại Tam Kỳ.
 
Vàm vào năm 1978, trong khi đang bị đưa ra miền Bắc khổ sai biệt xứ, thì tại Tam Kỳ chính quyền Cộng Sản đã cho người đến đập phá căn nhà của tôi đang cho cô em gái ở. Họ định đập luôn cả nhà ngang của cô thì bị đồng bào lói xóm kéo đến can thiệp.
 
“Nhà dưới này là của cô em ấy làm chứ không can dự gì về ông Phan Vỹ”  họ mới chịu ngưng tay không đập phá nữa. Thật là nhân đạo, và đúng là Dân chủ!
 
Việc tranh chấp giữa những kẻ ra đi là Cộng Sản, và những người đến tiếp thu, nhất là tranh thủ nhân tâm trong khi nhân dân đã bị Cộng Sản nhồi nhét, tuyên truyền, giáo dục, chưa nói là ra đi, vẫn để người em, nhân tính cách dân chủ của những người đến tiếp thu mà đấu tranh gọi là “hợp pháp” tưởng rằng không phải là chuyện dễ ăn.
 
Thì đến câu chuyện “truất phế Bảo Đại”.
 
Không riêng người dân, mà ngay những cán bộ thời ấy, chỉ thấy tội ăn chơi của vị Vua nhà Nguyễn, đã chán ngấy, chưa nói còn bao nhiêu bực mình khác, nên khi nghe chuyện trưng cầu dân ý để truất phế Bào Đại, chẳng mấy ai lại không tán thành và tích cực.
 
Vì lẽ ấy, đến nay còn nhớ lại việc tổ chức đã chẳng khó khăn gì. Chỉ trừ hôm
nay ngồi xem lại những câu chuyện khi mà cụ Diệm đưa tay trên bộ Thánh kinh để thề hứa, khi mà những hư hỏng của giai đoạn sau Đệ Nhất Cộng Hòa bị hoen ố bởi đám người dua nịnh, hay vài chuyện do gia đình gây nên trong Nam cũng như ngoài Trung làm cho không ít người trong số ấy có tác giả, cảm thấy chuyện đời khó tránh khi xảy ra, nhưng lại cũng khó tránh ân hận lúc câu chuyện kết thúc và lịch sử sang trang.
 
Tiếp theo là chuyện bầu cử Quốc hội.
 
Bầu cử Quốc hội ở những nơi khác gặp khó khăn hay đáng lo ngại, là cứ nơm nớp cộng Sản chỉ thị bọn nằm vùng khuấy phá. Nhưng tại Tam Kỳ như vừa nói là chuyện dễ mà sau này nghe kể lại ai cũng phải cười cho thủ đoạn và sách lược của tôi. Cái khó khăn không phải là vậy, mà chính là chuyện nội bộ.
 
Tại sao lại bảo là chuyện nơm nớp lo Cộng Sản cho bọn nằm vùng khi ấy phá là chẳng đáng lo?
 
Ngày ấy tôi đã cho gọi tất cả những tay Đảng viên Cộng Sản không tập kết ở lại, đến quận họp bàn chuyện tổ chức bầu cử Quốc hội.
 
Mới nghe đến đầu câu chuyện đã có nhiều người ôm đầu không hiểu nổi “ông Quận này muốn gì đây?”
 
Trong buổi họp, tôi đã đem hai anh Bé và Ngật ra làm Thư ký, đã không quên xem chừng địa phương có mời anh Trịnh Hữu Phu về họp không. Và, cái quan trọng là bắt đầu bằng câu chuyện kể lại như để “thanh minh” nhưng mục đích chính là để “dằn mặt” cái chết của Nguyễn Kiên.
 
Tôi đã nói rõ và giải thích hai điểm:
 
-         Tại sao có cuộc bầu cử này? Phải cho những tay này biết một nền Dân chủ, một nền Pháp trị, chứ không phải Đảng trị như họ. Phải nhắc lại tình trạng bầu cử của Cộng Sản hồi 1945 với bài vè như kiểu:
 
       Quế Sơn đồng chí Phan Diêu
Hay
      Phan Thao, Võ Sa từng quen ta nhiều…
 
Và, đặc biệt là phân tách để họ thấy ta đã biết trước ai, đám người nào sẽ chủ trương phá cho được cuộc bầu cử này. Nói xong câu ấy ta chỉ cần cười là họ đã đủ xốn xang. Khi đã chứng minh tất cả dự trù của ta, tôi gọi những tay lớn và quan trọng trong đảng của họ ngày xưa mà thông cảm rằng “phá hay không cũng là trong đám những tay em của các anh thôi. Vậy không gì tốt đẹp hơn, để khỏi buồn lòng nhau, mà sinh ra chuyện chẳng tốt (!) chúng tôi giao và nhờ các anh đứng giữ các thùng phiếu. Tôi nghĩ, chỉ có cách ấy là tiện nhất!
 
Họ biết ngay ta muốn nói gì.
 
Và, dĩ nhiên họ cũng biết những tay nào chủ trương phá, và khi bị phá rồi thì họ sẽ lãnh hậu quả ra sao!
 
Thế là ngày bầu cử, những thùng phiếu cũng như biên bản kết quả đều giao cho họ làm. Dĩ nhiên chẳng gì có thể xảy ra, và kết quả chẳng làm sao để ta buồn lòng được.
 
Riêng chỉ có chuyện ông Nguyễn Vĩnh Mậu là một vấn đề thuộc nội bộ vô cùng gay cấn. Ông Mậu nhất định đưa đơn ứng cử, mà dù ông đắc cử thì Quốc hội cũng khổ vì ông, chưa nói là khi đắc cử rồi, thì bản tính ông, bảo đảm cho Cộng Sản thù ghét người chống Cộng nhưng không chịu tùng phục ông lại còn mạnh hơn trước. Ngược lại, nếu dân chúng đã quá biết về ông mà không bầu cho ông thì chẳng thiếu chuyện để ông kiện tụng, kêu nài, không riêng ông Cẩn ở Huế mà cả Sàigòn cũng sẽ nhức óc.
 
Bởi những nhận xét như trên, nên Tỉnh trưởng và Trưởng ty Công an yêu cầu tôi giải thích để ông rút tên. Đấy là chuyện hoàn toàn không làm được bởi ông chẳng bao giờ chịu nghe ai giải thích điều mà trái với ý ông, trong khi từ lâu nay chỉ cái chức Chủ tịch Phong trào Cách mạng Quốc Gia kia, tôi cũng đã đôi khi chết ngất vì ông rồi.
 
Cuối cùng Tỉnh trưởng và Trưởng ty Công an vào ngay quận Tam Kỳ mời ông lên vừa giải thích, vừa răn đe, nhưng không quên dành cho ông nhiều hứa hẹn, mà câu chuyện mất suốt một buổi sáng, mới ngã ngũ, ông chịu rút tên. Còn về phía Cộng Sản, với phương thuốc như vừa nói trên, chúng tôi chỉ mới trị được những tay nằm vùng, nhưng những tay thoát ly đang sống trên núi, cùng những tay được tăng cường từ trên núi xuống, hoặc từ lâu được các nơi khác dân chúng che chở sống dưới hầm hay sống công khai đổi vùng, đổi lý lịch về lãnh đạo việc phá hoại thì phải nghĩ sao đây?
Những sự kiện như trên được hướng dẫn chu đáo cho các xã, nhất là những Cán bộ Chỉ huy Chiến dịch Tố Cộng tìm hiểu, khai thác.
 
Nhiều nơi đã thành công trong ý thức này, đặc biệt nhất là tại Khu Bắc ở Quán Rường đã khám phá ra một hầm bí mật, và bắt được tay vô cùng quan trọng. Khi khu Bắc giải về quận, tôi ngạc nhiên khi thấy đây chỉ là một thanh niên khoảng 30 tuổi, da trắng như thoa phấn, hỏi mới biết là chú sống từ ngày ấy dưới hầm. Cán bộ đưa trình tôi một tấm ảnh đã lấy từ trong túi áo chú, chụp tại chiến khu Bắc Việt cách đấy khá lâu, vì hình chú lúc khoảng trên mươi tuổi. Tất cả trong Chính phủ Kháng chiến từ Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, không thiếu mặt nào đang ngồi hai bên ông Hồ, trong khi ấy, chú thanh niên này lại được bá cổ cụ Hồ cười toe toét. Cứ xem ảnh, mà nghĩ để hiểu chú em là loại nào mà được cái vinh dự ấy?
 
Kinh nghiệm để hiểu nếu ta vồ vập. mừng rỡ là ta sẽ chẳng hỏi được gì những tay như chú, nên tôi chỉ hỏi vài câu bâng quơ.
 
-         Chú về đây lâu chưa? Và nằm dưới ấy với mục đích gì?
 
-         Tôi về từ khi nghe tin ông, tay Đại Việt Gian vào trấn nhậm Tam Kỳ. Rồi hắn cười, như khiêu khích, xong tiếp theo ngay:
 
-         Và, tôi nằm đấy để nhận tất cả những báo cáo từ các nơi, và quyết định “tối hậu” biện pháp đối với các ông.
 
Tôi cười, không hỏi gì thêm và quay lại nói với Trưởng chi Công an.
 
-         Thôi, đến đây là việc làm của công an. Khi nào hỏi chú ấy xong cho tôi được tham gia vài việc, nếu thấy cần.
 
Anh Huỳnh Giáo hiểu ý tôi, vừa để đề cao vai trò của anh, và cũng muốn tay này thấy rằng chuyện bắt được chú là chuyện thường xảy ra, chẳng có gì quan trọng.
 
Câu chuyện khá dài, cho đến năm 1961 nghĩa là sau đấy năm năm, khi bị tù tại Huế sau vụ đảo chánh 11-11 tôi gặp lại tay này sau những năm tháng từ 9 hầm về.
 
Câu chuyện bầu cử rồi cũng thành công, để tôi lo nghĩ đến chuyện xây dựng cơ sở Xã Ấp cũng như làm sao thu phục nhân tâm, mà xin kể tiếp sau đây một việc làm, hoàn toàn không có ý khoe khoang hay tự đề cao.
 
Đấy là một tổ chức đặt cho cái tên “Hội nghị Cộng đồng”.
 
Bởi nghĩ rằng cấp Xã thường tác oai tác quái mà do nguyên nhân ấy, dân chúng dễ sinh oán hờn, xa lánh chính quyền, nên nhắm vào khu Bắc là vùng xa xôi nặng về Cộng Sản, mà những ngày Quốc Dân Đảng ly khai, cũng xem như là căn cứ địa quan trọng, tôi áp dụng thí điểm. Việc trước tiên là mời các Xã về Quận họp để nghe trình bày kế hoạch.
 
Nguyên tắc là dù trước đây một cán bộ nào đã lỡ lầm sai trái để mất lòng dân thì khi biết sẽ có Hội nghị Cộng đồng phải tìm cách thoa dịu êm chuyện, và đừng ai nghĩ rằng dùng chính sách “răn đe” như có người đã nghi ngờ, chỉ đem lại nguy hại cho người ấy thôi.
 
Tuyên bố lý do là giải quyết những thắc mắc, oan ức trong nhân dân để từ đấy dân chúng sẽ tin tưởng hợp tác với chánh quyền, chưa nói là có thể trong dịp này sẽ “khui” ra cả những nhân viên trong cấp bộ Xã đi hàng hai hay hoạt động ngấm ngầm cho Cộng Sản.
 
Về phương thức tổ chức là vài ba xã ở gần nhau được cùng tổ chức một lần. Ngày giờ do quận thông báo trước, xã phải cho loan báo rộng rãi, nhiều lần trong dân chúng để họ có đủ thời giờ thu thập bằng chứng, nhân chứng. Đúng ngày thực hiện, Quận, Khu và Xã chỉ ngồi với tư cách chứng minh, mời ba vị lão thành đại diện trong những Xã, ngồi lên cao “chủ tọa”. Sau lễ khai mạc, tuyên bố xong là các Cấp từ Quận, Khu, Xã sẽ đứng lên tuyên thệ không được trả thù . Quan trọng là trước khi được dân chúng nêu ra sai quấy, dù Quận, Khu hay Xã cũng được trình bày những lỗi lầm đã phạm phải và xin cam kết sửa chữa… Những điều đích thân Quận, Khu hay Xã đã biết tự nhận lỗi thì dân chúng không nhắc lại.
 
Những điều được hội nghị đưa ra sẽ được trình lên Tỉnh và thông báo nơi khác làm kinh nghiệm.
 
Sáng hôm ấy, một buổi thực hiện đầu tiên được diễn ra vô cùng sôi nổi. Khi câu chuyện vừa khởi đầu, hội nghị nghe một nông dân từ trên núi xa đặt ngay thắc mắc.
 
-         Ông Quận vừa tuyên bố như vậy, nhưng xóm tôi chỉ mới nghe thông báo sáng nay, thay vì trước 5 hôm, thì làm sao thu thập kịp bằng chứng và nhân chứng?
 
Lời anh bạn kia đã làm chính tôi vô cùng sung sướng vì thật sự đã được dân chúng tham gia. Tôi quay qua hỏi ông Chủ tịch Xã. Ông ta lặng im không trả lời, và tôi xin ba vị lão thành chủ tọa cho Xã này hôm nay dứng lên giải thích lý do, phải xin lỗi, và cam kết không được thù oán hay hằn học với người đã nêu ra thắc mắc và ghép xã này vào một ngày sắp đến của ba xã tiếp theo nay mai.
 
Vài chuyện thông thường ít quan trọng xảy ra, giải quyết xong thì một chuyện vô cùng quan trọng đã xảy đến khi có người tố cáo một anh Công an Xã đã có nhiều hành động thân Cộng Sản, mà bằng chứng mới xảy ra sáng nay trước khi buổi lễ bắt đầu. Bác này đi ngang qua nơi anh kia đang đứng, vừa nghe anh nói với hai người bạn vừa cười:
 
-         Ngô Đình là nghinh đồ (tiếng nghinh ở địa phương này là lấy, là cướp).
 
Cả buổi lễ đang ngẩn ngơ khi nghe câu chuyện, thì một bà cụ lên tiếng tiếp, tố cáo anh này đã bắt một thanh niên khi anh đi hỏi cô gái mà anh ta đang cố gạ làm vợ, trong khi chính anh ta đã có vợ, một con rồi.
 
Tôi nhìn sang anh Huỳnh Giáo, Trưởng chi Công an thì được anh nói nhỏ cho biết anh đã nghi tên này khá lâu, nhưng chưa có bằng chứng. chúng tôi tuyên bố cách chức anh này, giao cho một người khác tạm kiêm nhiệm, và ra lệnh anh phải theo chúng tôi về quận chiều ấy.
 
Buổi lễ được chấm dứt với một kết quả không lường trước được, và sau đó chúng tôi về tỉnh. Không lâu Tỉnh Quảng Nam đã nhận được một văn thư của Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Lễ Tổng Giám Đốc Công an khen ngợi sáng kiến Tam Kỳ. Nhưng, theo Thiếu tướng Lễ, thì việc làm này rất khó cho các nơi khác áp dụng, khi mà cấp chỉ huy trách nhiệm chưa nắm vững được tình hình, dễ bị Cộng Sản khuấy phá.
 
Sau vài lần tổ chức, chúng tôi lắng nghe rõ ràng các Xã đã tự dọn sạch những bê bối, những oan ức trong nhân dân, chưa nói là mọi giới đã hồ hởi hợp tác, chứng minh nền dân chủ của chế độ ta đang phục vụ.
 
Sau đấy, chúng tôi còn đau buồn nghe lời phê phán của dư luận chính đáng rằng một Quận không thể làm sạch được Cộng Sản, không thể làm nhân dân tin tưởng Quốc Gia khi mà các nơi khác giữ nguyên tình trạng cũ.
 
Thế là mộng đẹp đành gác lại, mà chỉ làm cho dân trong vùng mình an vui là đủ. Chúng tôi nghĩ thế!
 
Rồi một hôm được ông Cẩn gọi về Huế.
 
Tôi chưa nghĩ ra cái lý do của lần này.
 
Nhưng, khi vừa đến nơi đang chờ hỏi anh Độ có khách nào trong ấy không, thì được anh cho biết “đặc biệt hôm nay ông Cố Vấn đang có một khách từ Sàigòn ra. Một nhà báo!
 
Thấy tôi có ý muốn hỏi biết là ai, anh Độ đã mau mắn.
 
-         Hình như là ông Nhị Lang!
 
Nghe đến tên anh Nhị Lang, tôi mừng quá, lấy bút viết mấy chữ đại ý nói anh trình bày để ông Cẩn cho cùng vào gặp, thăm nhau, vì quá lâu chẳng tin tức.
 
Mấy phút sau, tôi được mời vào . Khi vừa đến sân, thì trong nhà anh Nhị Lang đã chạy ra ôm hôn thắm thiết.
 
Anh Nhị Lang tên thật là Thái Lân, người ở Quận Quế Sơn, quen nhau từ thời 1945, mà trong một đoạn trước có kể đã gặp tại nhà anh Hoàng Bình trước khi tôi vào tù.
 
-         Thế hai người đã biết nhau từ trước rồi hay sao?
 
Tôi chưa trả lời thì anh Nhị Lang lên tiếng:
 
-         Chúng tôi quen nhau từ lúc còn ở tại quê nhà kia ạ!
 
Ông Cẩn vui vẻ:
 
-         Các anh cho tôi gởi chú này vào trong Nam mà trị dùm, chứ ở đây khi cần mời về, chưa kịp nói gì thì chú đã la “toáng” lên rồi lo về, chẳng để ai nói gì cả.
 
Anh Nhị Lang nhìn tôi cười, trong khi ông Cẩn vẫn không tỏ ra chút nào bực mình qua câu chuyện vừa kể.
 
Chúng tôi hỏi thăm nhau từ ngày xa cách.
 
Trong lần gọi về hôm nay, ông Cẩn muốn tôi chấm dứt giai đoạn nới tay với Cộng Sản, ông chỉ nói ba tiếng.
 
-         Thôi đủ rồi!
 
Xong căn dặn thêm:
 
-         Không nên kéo dài sự ngoan cố của bọn họ.
 
Tôi đồng ý, và từ giã cả ông và Nhị Lang ra về.
 
Về Quận hai ngày sau, lại gặp một câu chuyện khác. Hai anh Hoàng Đình Giang và Phạm Hữu Kim sau khi học xong khóa Hành chánh Quốc Gia được đưa về Quảng Nam thực tập. thì cả hai đều xin về quận tôi:
 
-         Sao cả hai anh lại cùng về đây. Có mục đích gì không?
 
Anh Giang trả lời:
 
-         Cốt rút kinh nghiệm, nên phải chọn nơi ông mà thôi.
 
Tôi đã hiểu, nhưng hỏi lấy lệ thế thôi. Nhưng sau khi nghe hai anh tỏ tâm tình như đã nói, tôi đành phải thấu “cáy” ý nhị:
 
-         Tôi xin nói rằng đây là sự thật đã xảy ra. Một buổi sáng, một Hội đồng Xã, mà ta chưa đủ tin, nghĩa là có thể đang làm việc hàng hai, hớt hơ hớt hải vào trình bày là đêm hôm qua, không biết ai đã chôn vật gì ở đầu làng, sáng nay, chó đến cứ nhắm vào chỗ ấy sủa vang lên. Thấy rằng đây là dấu đất mới, chúng tôi không biết ra sao nên vào trình xin Quận cho người ra đào xem, vì Hội đồng chúng tôi e ngại là có mìn thì nguy hiểm!
Nghe anh ấy nói, ta phải hiểu ngay rằng chắc đã có một đơn vị nào của ta làm việc không đẹp trong khi lại bừa bãi để họ biết, nên mới vào trình bày như vậy thôi.
 
-         Vậy gặp trường hợp này các ông giải quyết ra sao, xin cho biết!
 
Hai anh nhìn nhau, nói nhỏ khá lâu, anh Giang lên tiếng:
 
-         Trong trường chẳng dạy chuyện này, nhất là khi mình lại nghi ngờ là chính trong chúng ta có người gây nên cớ sự. Chẳng lẽ trong giai đoạn mới vào tiếp thu, Cộng Sản đang nỗ lực khuấy phá, mà ta lại tạo cho họ cơ hội để khuấy động nữa hay sao. Vậy xin ông Quận chỉ cho kinh nghiệm phải làm thế nào?
 
Tôi cười, và cũng chẳng dấu hai anh, thuật lại đúng câu chuyện:
 
Tôi đã tỏ ra rất sốt sắng, bảo cô thư ký lót giấy vào đánh ngay một phúc trình về tỉnh như lời anh kia báo, mà thỉnh cầu tỉnh triệu dụng một phái đoàn vào gấp rút để khai quật khám xét. Phái đoàn phải có y tế, để gặp trường hợp là một tử thi, phải có quân đội đề phòng có mìn hay vũ khí, và có tư pháp để lập vi bằng. Tôi ra lệnh văn thư đóng dấu “hỏa tốc” cho đi ngay.
 
Anh Hội đồng nghe tôi đọc cho cô thư ký phúc trình kia, tỏ ra thú vị lắm, vì chắc anh đang nghĩ rằng tất cả đã đi vào quỷ kế của bọn anh. Nhưng chưa hết. Tôi tiếp tục bảo cô cho giấy vào đánh tiếp một thơ “hỏa tốc” gởi các Xã trong vùng, với lệnh “giới nghiêm 100% ngày đêm chờ phái đoàn về”, và gởi cho anh ta vài công điện cầm tay để đưa cho vài xã, còn tôi ra lệnh cho tùy phái giao liên lạc chạy ngay các tờ còn lại cho các xã quanh vùng.
 
Anh ta ngập ngừng như muốn thưa lại điều gì, nhưng chắc rằng nói ra sao cho hợp lý, nên đành tiu nghĩu, xách công điện ra về.
 
Ngay chiều ấy tôi mời các bộ phận chống Cộng và an ninh đến họp để yêu cầu ai đã làm việc kia, xin gặp riêng cho tôi biết, hầu tránh những lạm dụng oan ức cho dân chúng, cho tiền họ di vật kia đi nơi khác, trong khi bỏ dưới ấy một số truyền đơn, biểu ngữ Cộng Sản cùng một con chó đập chết. Câu chuyện đến đây thì hai ông cũng biết rồi sẽ ra sao!
 
Tôi cười nhìn hai ông đang ngẩn ngơ khi phải so sánh chuyện học trong trường và xảy ra ngoài đời thường chẳng giống nhau.
Câu chuyện Quốc Dân Đảng ly khai nhờ Linh mục Khương đã đến hồi kết thúc, mà sáng hôm ấy một buổi lễ ký kết đã tổ chức tại nhà thờ Tam Kỳ, có mời tôi đến tham dự với tư cách đại diện chính quyền.
 
Nghe đọc bản thỏa thuận để hai bên ký kết, tôi thở dài cho sự thiếu lường trước của anh em nên trước khi quan khách được mời lại phòng khách dùng Champagne, tôi lặng lẽ ra lái xe về quận.
 
Khi buổi lễ tàn, anh Vũ Khắc Trạch, một thành phần quan trọng trong phía anh em, đã lại ngay quận thăm tôi và sau vài câu chuyện, anh đề cập thắc mắc tại sao tôi không dự tiệc Champagne.
 
-         Tôi thấy quí anh ký vào một văn kiện gọi là thỏa thuận mà chẳng khác nào một quy ước của kẻ đầu hàng , không tiên liệu những hậu quả chẳng lợi gì cho các anh sau này, nên chẳng muốn uống rượu mừng, khi thật ra sẽ chẳng đáng mừng tý nào.
 
Anh Trạch hiểu tôi muốn nói, nên cúi đầu suy nghĩ một lát, quay lên nhìn tôi tâm sự:
 
-         Nay chuyện đã lỡ rồi. Nhưng chỉ tiếc rằng, trước kia khi để anh em dưới này cử người lên khu chiến gặp các anh đề nghị đòi cho được tôi đứng làm trung gian, tôi đã nghĩ là sẽ chỉ chỗ yếu của Bùi Dzinh mà xin cho được chữ ký của Thủ Tướng chẳng được.
 
Ngưng một phút tôi hỏi anh Trạch:
 
-         Giả thử sau này, họ đổi Bùi Dzinh đi nơi khác, những người hôm nay có quan hệ trong việc thương thuyết này cũng chẳng còn đây, rồi họ xử sao chắc cũng phải chịu, chứ kêu nài ai được nữa, phải không anh?
 
Anh Trạch thấm thía câu chuyện, từ giã tôi ra về.
 
Ngày hôm sau lực lượng của anh Nguyễn Đình Thiệp được tập trung tại sân vân động Hội An, tôi có đến xem cho biết. Thì lúc này dự đoán ra thực lực quân ly khai là bao nhiêu, khi nghe truyền đơn của trung đoàn này, sư đoàn nọ, quả chẳng sai tí nào.
 
Câu chuyện đến đây vẫn chưa đến hồi kết thúc vì sau đây không lâu có người đã bày cho thân nhân chú Cộng Sản tại Khu Bắc Tam Kỳ, trước do anh em bắt đi mất tích cứ bám theo anh em đòi trả lời. Quận Tiên Phước lúc ấy do Lê Văn Bương từ Trung úy, lên Đại úy đảm nhiệm. Anh Bương khi lên Thiếu tá, sau buổi lễ cải táng ông Ngô Đình Khôi ngoài Kim Long Huế, về được bổ đi Tỉnh trưởng Bình Tuy một tỉnh mới thiết lập.
 
Khi anh em bị Tiên Phước để cho Cộng Sản làm khó khăn, không biết chạy đâu nên anh Trạch đến gặp tôi để xin cho anh em nhờ đất Tam Kỳ tạm sống chờ người vào Sàigòn kêu xin Tổng Thống.
 
-         Anh cứ nói anh em về Tam Kỳ mà sống. Hội đồng Tam Kỳ không bao giờ dám làm bất cứ điều gì tôi không cho phép.
 
Tôi còn khẳng định:
 
-         Nồi tôi là nồi đất, nhỡ bể mua cái khác, chẳng phải nồi đồng mà lo ngại.
 
Thế là anh em yên trí về Tam Kỳ sống chờ anh Trạch và vài anh hợp thành Phái đoàn vào Sàigòn kêu cứu.
 
Không lâu sau, ông Cẩn cho lệnh gọi tôi ra gặp. Tôi biết buổi thăng trầm đã đến, nên chẳng lo, sẵn sàng đón nhận mọi may rủi.
 
Vừa vào gặp ông Cẩn đã gay gắt hỏi:
 
-         Sao đấy? Lại còn nồi đồng, nồi đất ra sao đấy nữa?
 
Tôi nghĩ ngay đến câu chuyện hôm anh Trạch vào gặp, và chắc đã có người làm bên kia vách nghe, báo cáo về Huế rồi.
 
Tôi quả quyết nghĩ thế, và thời gian sau này tôi đã vất vả nhiều về vấn đề tín ngưỡng, mà thường có những buổi lễ gì thì phải cử anh Được, thay tôi đi nhà thờ, anh Tịnh đi chùa, còn tôi đi về Hội Thánh Tin Lành với Mục sư Vọng. Tâm trạng này đã mấy người hiểu được. nhưng thời là vậy, và thế là vậy còn biết than thở với ai?
 
Và đây là lúc tôi đã biết sự việc sẽ xảy đến, nên chuẩn bị sẵn ngày  phải rời Tam Kỳ chắc chẳng còn xa.
 
Đúng như dự đoán. Sáng hôm ấy, một phái đoàn do ông Phó Tỉnh trưởng Hồ Hưng dẫn đầu vào quận, có Nguyễn Đình Giao lo việc điều tra, và người thay tôi là anh Đặng Văn Lai.
 
Với Đảng tôi tự hỏi “Phải chăng ta đã phản bội Đảng?”
 
Nếu câu trả lời do mình nghĩ , và nói ra hẳn không tránh khỏi những người chống đối cho rằng ngụy biện. Nhưng sau này, thường là khi đậy “ván hòm” lại mới biết ai thật ai hư, mới biết thế nào là CÔNG là TỘI, thì chỉ đến ngày tôi được mời trở lại sinh hoạt với Đảng, lúc này đã thật có cơ cấu từ Trung Ương, chứ không phải như hồi 1955 đã nói – với tư cách là Tổng Ủy Viên Nghiên Huấn Trung Ương được đại hội họp tại Đà Nẵng năm 1971 bầu lên, và thú vị nhất, công khai nhất là khi đi công tác về miền Trung với anh Nguyễn Tường Ánh tại Tam Kỳ. Chính trong cuộc nói chuyện với các cấp tại Hội Trường Tam Kỳ hôm nay, một Đảng viên đã đem chuyện này ra chất vấn, tôi chưa kịp trả lời, thì một đồng chí đã từng ly khai trước kia là anh Hội, người Tam Kỳ trả lời thay tôi, chứng minh CÔNG hay TỘI, sẽ được kể rõ trong một đoạn sau.
 
Nhưng đáng kể là khi Phái đoàn về điều tra, được ông Mậu loan báo, chưa nói là còn đôn đốc, bày vẽ cho ai cần khiếu nại, tố cáo để gặp Phái đoàn, miễn sao đơn càng nhiều là càng chết cho những kẻ đã trong vòng câu.
 
“Giảo thố tiệt tẩu cẩu mổ. Địch quốc diệt mưu thần vong” nghĩa là “Khi thỏ rừng hết thì chó săn bị thịt thôi. Khi nước địch bị đánh tan thì mưu thần phải chết.”
 
Nhưng, nằm thất nghiệp đáng thương bởi chẳng tham nhũng, nên nay cứ an phần. Tuy nhiên chờ cho Phái đoàn chẳng tìm đâu ra chứng từ để đưa mình vào tù, hay làm nhục mình, thì đấy mới là lúc vương vại để chứng minh sự trong sạch.
 
Khoảng vài tháng sau, nhờ vài bạn thân tại tòa tỉnh cho biết, tôi cũng như anh bạn Duy Xuyên chẳng có tội gì để trừng trị, ngoài tội chống Cộng và độc tài. Nhưng chống Cộng thì rồi ông Cẩn cũng không ít mệt mỏi vì tôi, trong khi chính ông đã ra lệnh và thúc ép tôi quá nhiều lần, như đã có kể, còn độc tài thì một trong ba điều kiện lúc chịu nhận vào Tam Kỳ, hỏi ai còn nghĩ chuyện buộc tội được tôi.
 
Cuối cùng họ tống giấy chuyển tôi và anh bạn Duy Xuyên vào Phan Thiết để cho làm nhân viên tại Quận Hòa Đa, mà lúc này Tỉnh trưởng Quảng Nam đã là ông Hồ Văn Tố, trong khi ấy người Phan Thiết gặp gió cho DIỀU để ông Hồ Đắc Khương Tỉnh trưởng Phan Thiết thay ông Duyến làm Đại biểu (như Thủ Hiến), anh Hồ Liêm Quận Trưởng Hòa Đa về làm Phó Tỉnh trưởng Quảng Nam.
 
Tôi ra Huế xin gặp ông Đại biểu Hồ Đắc Khương mà tôi đã biết việc đổi tôi đi Phan Thiết cũng chỉ là một lệnh ông đã nhận nơi ông Cẩn, nên chỉ mong được báo cáo về để ông Cẩn thấy được thái độ tôi, mà muốn gì cũng được vì tôi vừa là kẻ liều nhưng cũng có nắm được vài nguyên tắc mà tôi chắc ông Cẩn sẽ không xử nặng tay như Vũ Đình.
 
Ông Khương lấy nguyên tắc hành chánh để cho biết công chức đổi đâu đi đấy, không được cưỡng lệnh:
 
-         Thưa ông Đại biểu, tôi không phải là công chức!
 
Ông Khương nhìn tôi cùng ngạc nhiên, nhưng không để lâu, tôi tiếp ngay:
 
-         Khi một người được mời ra làm Bộ trưởng hay Tổng trưởng rồi khi không muốn làm nữa có quyền nghỉ việc không, hay bắt đi đâu cũng phải đi. Tôi nào có làm đơn xin việc bao giờ. Chính phủ cần tôi, gọi ra đi Quận trưởng, nay không muốn dùng nữa, hay tôi không muốn làm nữa cũng thế thôi.
 
Ông Khương hình như thấy tôi có lý, im lặng, và tôi nghĩ chẳng nên để ông phải khó chịu, tôi nhắc lại tôi có quyền nghỉ việc, không đi Phan thiết.
 
Quay ra về, và báo cho chú bạn nguyên Quận trưởng Duy Xuyên hay để cùng làm theo, chẳng đi Phan Thiết, mà biết chắc chẳng ai làm gì mình.
 
Thế là về Hội An sống. Bởi như đã nói làm chẳng biết đục khoét nhân dân, chẳng bao giờ cho vợ áp phe, nên chỉ trong vòng nửa tháng, chẳng còn đồng nào để tôi lại ghé thăm quán bún “ Bà Chi”, nên đành nhờ gia đình bên vợ qua ngày.
 
Nhưng, cũng là chờ cho vận xui sớm qua, lúc ấy, ông Hà Thúc Luyện, vừa là Bí Thư Cần Lao Trung Việt – thở chẳng ra hơi.
 
Bắt tôi thì địa phương không dám khi chưa có lệnh ông Cẩn, dùng tôi thì họ chỉ sợ bể “nồi gạo”. mà đấy là lời ông Luyện đã thốt ra, tôi nghe anh em kể lại.
 
Tôi cũng chẳng vừa, đã tìm cách nói thấu tai ông Cẩn “chỉ cần được ra tòa”. Ông Cẩn cho chú Châu con bà Thủ Đồng làm công an tại tỉnh đến chơi để gạ hỏi tại sao tôi mong được ra tòa.
 
-         Lúc ấy tôi sẽ khai tất cả những đối phó với Cộng Sản (ý nói ông ra lệnh thủ tiêu mà thật ra tôi đã “hù” cho họ lên núi luôn chẳng còn đám nằm vùng hoạt động nữa thôi) rồi ông sẽ đối phó với Ủy Hội Quốc Tế, chưa nói rằng khi tôi vừa vị bắt là tại Sàigòn các chú em sẽ tung tất cả những bức thư dài tôi đã kín đáo giao cho các chú giữ chờ lúc nào bị bắt là tung ra cho các Phái đoàn ngoại giao và báo chí biết, dù có bị thủ tiêu cũng chẳng sao.
 
Châu ngồi im hồi lâu rồi ra về. Tết lại đến!
 
Vừa bực tức vừa giận dỗi, tôi làm đối nôm dán cùng khắp trong nhà.
 
Bên cạnh salon, chỗ khách ngồi, có treo hai bức tranh (bởi bể mất hai bức) ngư và tiều của Ngư Tiều Canh Mục, tôi dán ngay phía dưới đôi đối nôm.
 
Hết Bính Thân ngồi tính công tính của, phát bờ dọn bụi để cháu con vui hưởng phút vinh hoa (nơi bức họa một ông Tiều đi núi về ngồi trên bó củi, ngậm ống điếu phì phà nhìn trời).”
 
Đầu Đinh Dậu đi lo nợ lo nần, chiều biển mai sông, không khôn dại mặc đời bàn hơn thiệt (nơi bức họa một anh đi câu về tay xách cần câu và giỏ cá tay kia xách một cá to.)”
 
Hai bức họa với hai câu đối để ngụ ý là, gian nan ta đã dọn sạch, để con cháu ngày nay hưởng vinh quang, và nay chỉ cần chiều biển mai sông chẳng màng gì danh lợi.
 
Rồi sợ bọn họ cho người đến xé rách, chờ mờ sáng mồng một, mới đem hai câu ra trước cửa dán.
 
   “Mở cửa đón minh niên, vừa thấy giàu nghèo sinh khôn dại
   Hân hoan chào quý hữu, phải rằng địa vị hóa ngay gian”
Thì đến hôm mồng ba Tết, cũng lại là chú Châu đến chơi, lấy giấy bút viết lại những câu này, mà tôi biết là để gởi về Huế.
 
Nhưng trước khi ra về, chú Châu không quên hỏi về hai câu dưới, mà tôi chẳng giấu giếm kể chú nghe.
 
Trước đây không lâu, ty Công an đã cho một nhân viên suốt ngày cứ đến cách nhà tôi độ 100 thước đứng gác. Bất cứ ai vào nhà ra, đều bị hỏi giấy tờ, mà chú Trần Thành từ Tam Kỳ ra Hội An đến thăm tôi, lúc ra về đã bì xét hỏi, nên lên chợ kể cho ông nhạc tôi biết. Tôi tức giận, lên ngay ông Tỉnh trưởng Hà Thúc Luyện thuật lại với giọng hằn học và thách thức:
 
-         Nếu có tội thì bắt, chứ sao lại có hành động như vậy?
 
Ông Tỉnh trưởng Luyện đã mời ông Trưởng ty Công an lúc này ông Bảo Trọng đã về Huế mà người vào thay là ông Hương, vừa đi tu nghiệp tại Phi Luật Tân về để nói rằng:
 
-         Tôi không có lệnh bắt ông Vỹ, các ông có quyền thì cứ bắt. Ông Vỹ vừa lên thách thức và nặng lời với tôi, chẳng lẽ đi tu nghiệp nước ngoài về ông không biết chuyện này sao?
 
Tôi kết thúc câu chuyện với chú Châu rằng “vì lẽ trên nên phải thổ lộ trong câu đối ấy thôi.”
 
Đúng như nhiều người đã nhận xét, tôi là cái “gai” của tòa tỉnh Quảng Nam, nhưng có lẽ đã được lệnh từ Huế nên một buổi chiều, người bạn thân nhất đời mà trước đây không lâu tôi đã yêu sách ông Luyện đưa lên làm Chánh văn phòng, đến thăm. Đấy là anh Lý Trương Trân.
 
Anh Trân tâm sự cho biết ông Tỉnh trưởng Luyện gởi biếu 5000$00 với đề nghị tôi vào Sàigòn tìm cách sống.
 
Không nói ra, nhưng đây là mong ước từ lâu, nhưng chẳng có tiền. Nay được cơ hội, còn lý gì để từ chối hay yêu sách, vui vẻ hẹn với anh Trân thu xếp xong sẽ đi Sàigòn, chậm lắm là một tuần lễ.
 
Tuần sau, cùng vợ xách va ly đi Sàigòn, từ giã Hội An trong niềm luyến thương. Nhưng vẫn nghĩ, còn sống là còn ngày về!
 
Vào Sàigòn tạm trú tại khách sạn Việt Nam đường Nguyễn Cư Trinh, ngày ngày ra tiệm cơm Việt Nam bình dân gần đấy, để mong tìm bạn bè tính chuyện mưu sống.
 
Thì chỉ hôm sau gặp anh Lê Quang Kiến bút hiệu Thạch Động, người chạy trốn khỏi Quế Sơn vào Thăng Bình gặp tôi, có nói ở đoạn trước. Anh Kiến nghe kể qua chuyện từ ngày gặp anh, và nay cần tìm cách sinh sống, ngỏ ý bàn tôi về viết cho tờ Tân Dân của ông Nguyễn Đắc Lộc. Chưa thông thạo nhiều, nhưng khi nghe tên anh Lộc tôi rất vui và hẹn anh Kiến vài ngày nữa sẽ cùng anh đến gặp.
 
Nhưng, rõ ràng tất cả đều có số mạng, mà câu “hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai” đã đến.
 
Ngay sáng hôm sau, đang băng qua đường Trần Hưng Đạo, thì một xe “jeep” thắng lại, người trên xe mừng rỡ, nhảy xuống gọi tên tôi.
 
Ông Lê Khương, nguyên Tỉnh trưởng Quảng Nam, nay là Đại tá.
 
Ông bảo lên xe ngay, nhưng tôi xin về báo cho vợ biết sẽ lên sau. Ông hẹn gặp nhau tại số 27 đường Đinh Tiên Hoàng Đakao. Lên ngay, có việc rất gấp!
 
Về báo cho vợ biết, bởi mới vào Sàigòn e đi lạc đường, xong lên ngay nhà Đại tá Khương.
 
Vừa đến nơi thì ông Khương đã hồ hởi cho biết:
 
-         Dân miền Trung đưa lên Cao nguyên theo chính sách Dinh Điền, nhưng sau khi hưởng sắp hết trợ cấp, họ thấy chưa có mùa màng, lợi tức gì nên đòi trở về. Họ kéo xuống đến Thanh Bình, một trại định cư Bắc Việt do Bảo An trấn giữ , dưới quyền lãnh đạo của Linh Mục Ngữ thì lính trong trại ra ngăn lại. Họ cởi áo và thách bắn, chứ không chịu ở lại. Linh mục Ngữ đã giải thích, khuyên nhủ và điện về trình Tổng thống. Tổng thống cho gọi ông Trung Tướng Lễ và tôi vào. Tổng Thống đã bảo “các chú là người Trung, phải hiểu được tánh tình, tâm trạng dân miền Trung. Nay trước tình trạng này phải làm sao, chưa nói rằng trong ngày sắp đến Mỹ sẽ sẵn sàng viện trợ cho chương trình này, Nếu để hư hỏng là rất tai hại. Vậy hai chú nghĩ sao? Tôi và ông Lễ đã trình bày là dân miền Trung mà gọi chú (ông chỉ tôi) là hy vọng sẽ giải quyết được. Tổng Thống có nhớ ngày chú được trao gắn huy chương ở Quảng Nam hỏi chú bây giờ ở đâu. Tôi biết chú thôi làm ở Quảng  Nam, nhưng đề nghị điện cho Tỉnh trưởng tìm. Nay đã có điện về tìm chú ngoài ấy rồi.
 
Ông Khương suy nghĩ vài phút rồi bày:
 
-         Bây giờ một mặt điện về Quảng Nam xin công điện ấy, mặt khác vào Bộ Nội Vụ tin cho Phòng Bí thư trình đưa chú vào.
 
Nghe Đại tá Khương chỉ vẽ, lòng tôi vui như mở cờ, về báo cho vợ biết làm những điều như ông chỉ vẽ, điện về Quảng Nam cho anh Lý Trương Trân, một mặt vào Bộ Nội Vụ.
 
Bộ Nội Vụ điện qua ông Trần Sử, Bí Thư Phủ Tổng Thống, và cho biết số xe là được vào dinh chờ trình diện Tổng Thống.
 
Vừa đến phòng khách, tôi thấy Tổng thống đi ngang qua, nhìn và nhớ ngay:
 
-         Vỹ đấy à! Vào phòng ngồi đợi tôi sẽ vào ngay!
 
Tổng thống vừa nói, vừa chỉ phòng tay mặt. Tôi bước vào thì thấy anh Cầm, tùy viên đang chuẩn bị cho một người thợ may, chờ đo may cho Tổng thống.
 
Chỉ dăm phút sau, Tổng thống vào, ngồi cho anh thợ may đo kích thước, vừa bảo tôi:
 
-         Vỹ nhắc ghế lại ngồi gần đây nghe hỏi!
 
Tổng thống giản dị nhắc lại gần như  cả câu chuyện đã nghe ông Khương cho biết hôm qua, và hỏi:
 
-         Theo em thì nay phải làm gì?
 
Tôi không suy nghĩ lâu mà đã xin phép hỏi:
 
-         Thưa Tổng thống! Dân này nên dụng Văn hay dụng Võ?
 
Tổng thống đã trả lời ngay:
 
-         Phải dụng Văn, chứ không thể dụng Võ được!
-         Thưa Tổng thống như vậy là đủ rồi. Nay xin Tổng thống cho được lên Pleiku xem qua một vòng, và sẽ về trình Tổng Thống ngay, là phải thực hiện cách nào cho hợp lý.
 
Tổng thống tỏ ra rất vừa lòng:
 
-         Em về Tổng Ủy Dinh Điền gặp ông Tổng Ủy Trưởng Bùi Văn Lương và xin đi Pleiku.
 
Tôi cúi chào Tổng thống ra về, nhưng không làm sao quên được cảnh vừa thấy trong phòng ngủ của Người.
 
Thật là quá đơn giản! Chẳng trang trí, chẳng mền bông, nệm “mút” như bất cứ ai cũng có thể tưởng tượng nhất là một phòng ngủ của vị Nguyên thủ.
 
Bên trong là một đi văng đặt cạnh bàn tròn đọc sách và một bàn con, trên có di ảnh của cụ Ngô Đình Khả, thân phụ Tổng thống. Góc đằng này là nơi Tổng thống quỳ để cầu nguyện, có nệm lót để quỳ, có tượng Chúa và đèn nến.
 
Quá đơn giản! Mà sau này nghe kể lại thì việc ăn uống của Tổng thống cũng vậy, chưa nói là những dịp lên kinh lý Dinh điền tôi được may mắn ngồi không xa, để khi Tổng thống cần hỏi gì cho dễ - đã thấy tận mắt chứ không phải nghe ai kể lại.
 
Về bắt đầu làm việc tại Tổng Ủy Dinh Điền trong khi chờ đi Pleiku tôi thấy ông Giám đốc Hành chánh đã dán ngay trước phòng một mảnh giấy đơn giản hàng chữ “Công Cán Ủy Viên” và ngay hôm đầu ông Tổng Ủy Trưởng Bùi Văn Lương đã cho mời vào khẳng định.
 
-         Tại đây, ông chỉ cần trực tiếp với tôi mỗi ngày hai lần sáng và chiều để đề nghị hay nhận công tác và báo cáo. Ông khỏi qua bất cứ ai!
 
Điểm đầu tiên tôi khó quên là vấn đề lương hướng. Bên Tổng Nha Công Vụ không chịu làm lương trên 10.000$00 nếu không có Đại học. Đồng thời với việc làm lương cho tôi thì bên Văn phòng Cố Vấn cũng có đưa qua anh Mạc Sơn từ Tòa Đại sứ Jakarta về, nhưng anh Sơn có Đại học. Ông Tổng Ủy Trưởng đã lệnh cho Nha Hành chánh báo cho công vụ biết rằng “Ông Phan Vỹ do Tổng thống truyền lệnh làm hay không tùy các ông. Nhưng ông Tổng Ủy Trưởng bảo Nha Nhân viên kèm theo cái Cộng điện Phủ Tổng Thống cho họ. Thế là họ làm cho tôi theo Hợp đồng.
 
Và, tôi đi quan sát tình hình Pleiku. Dinh điền thật ra có rất nhiểu nơi như tại Quảng Trị cũng có một địa điểm, nhưng chẳng ra sao rồi đành đi vào quên lãng. Cà Mau lúc ấy do ông Trần Hoàng Quân khởi sự làm hai địa điểm, nhưng sau khi ông bị chết, Dinh điền tại đây cũng chẳng tiếp tục theo chương trình. Phước Long thì cố sức, nhưng rồi cũng bị coi nhẹ. Chỉ có vùng Cao nguyên gồm hai khu vực là Ban Mê Thuột, và Pleiku Kontum vẫn được tiếp tục. Tại Ban Mê Thuột do Trung tá Hiền, và tại Pleiku Kontum do một người Pháp lai tên Pierre Lachaise quản nhiệm, nhưng đặt dưới quyền hành chánh của Thiếu tướng Lê Văn Kim đóng tại Ban Mê Thuột.
 
Ông Pierre Lachaise có vợ là cháu bà Cả (Lễ) nên thường coi khinh mọi người. Lúc này quân khu 3 do Đại tá Đỗ Cao Trí chỉ huy. Nhưng Đại ta Trí đôi khi điên đầu vì ông Pháp lai này. Nghe kể lại rằng có lần ông Pierre Lachaise đến nhờ Đại tá cho sửa giúp chiếc xe chở hàng bị hỏng không chở gạo cho dân được. Ông Trí chưa kịp ra lệnh sửa chữa. Ông Lachaise đã mướn xe kéo về bỏ ngay bãi cỏ, trước dinh Độc Lập, vào trình với Tổng thống. Nên ông Trí cũng rất ngại về ông già này, mà chẳng mấy người dám đụng đến.
 
Biết như vậy, nên mặc dù ra đi với một sự vụ lệnh trong ấy có ghi rõ “thừa lệnh Tổng thống” mà ông Tổng Ủy trưởng Bùi Văn Lương đã ký, tôi vẫn chưa vội đụng đến ông này. Chỉ trình bày lý do công tác, và được ông giúp cho phương tiện về vài địa điểm quan sát. Thời gian gần đây ông Pierre Lachaise tức là khu Dinh Điền Pleiku kiêm cả Kontum chỉ mới có 3 địa điểm, ăn gần hết trợ cấp, nhưng vẫn chưa ra gì.
 
Quan sát kỹ, chưa nói là tiếp xúc với dân, và vài Hội đồng trước kia tôi đã biết tại Thăng Bình, đặt đủ câu hỏi để tìm xem tại sao thất bại, làm sao để cứu vãn và duy trì hay cải biến thành công.
 
Biết rằng đất rất tốt, dân thì khá siêng năng, mặc dù vẫn có vài sự xách động “ngầm” của tay em Việt Cộng theo lên đến đây, tôi đã nghĩ ra một vài nguyên tắc, mà việc đầu tiên là tìm hiểu nguyện vọng chính đáng của dân chúng.
 
Tuần lễ sau, về lại Trung ương, báo cáo lên Tổng thống qua ông Bùi Văn Lương tất cả sự việc và phác họa chương trình xây dựng lại toàn diện để tránh bị sụp đổ trong một ngày rất gần. Tôi không quên trình lên những việc làm trong tầm tay của Trung Ương chứ không đòi hỏi hoặc yêu cầu những xa vời.
 
Nghe ông Lương cho biết thì Tổng thống rất vui về những nhận xét và đề nghị của tôi. Nhưng việc quá khẩn cấp mà ông Bùi Văn Lương cho mời vào ngay để bàn giải quyết. Tôi phải đi một chuyến công tác về Cà Mau!
 
Tôi mang theo sự vụ lệnh khá đặc biệt, nghĩa là được giải quyết tại chỗ rồi về trình lại sau, chứ không phải chỉ với tính cách quan sát.
 
Đấy là câu chuyện, một số đồng bào từ Miến Điện chuyển về nằm tại Cà Mau. Họ không chịu nghe bất cứ ai, mà vì thế không chịu hòa đồng với địa phương để sinh sống. Ông Tỉnh trưởng nhiều lần báo cáo và cũng đã có không ít phái viên về đây, nhưng rồi chỉ hứa hẹn mà không giải quyết gì cho họ, nên nay mới ra nông nổi.
 
Đi lần này tôi nghĩ, cần chữ TÍN đối với họ trước. Hơn thế, theo ông Tổng Ủy trưởng Bùi Văn Lương thì Tổng thống phủ cũng đã chỉ thị cho Tỉnh trưởng giúp tôi thành công, còn mong gì hơn nữa.
 
Vào tòa Tỉnh trưởng găp Thiếu tá – còn nhớ là Thiếu tá Trần Thanh Bền, được ông cho biết đã nhận được lệnh thượng cấp, nên dùng “o bo” đưa tôi vào ngay bờ đìa, nơi số dân đang tạm trú.
 
Giữa một vùng sình lầy, cỏ mọc xanh um, có một lạch sông nhỏ chảy quanh, cảnh trí vô cùng hấp dẫn dân chúng đi lại, quán xá mọc lên, cũng cà phê, la de chẳng miền quê nào ngoài Trung sánh nổi. Trên cầu bắc qua sông các em bé đang câu cá hò la vui vẻ.
 
Ông Tỉnh trưởng hỏi người trại trưởng thì được cho biết những gay cấn như đã từng nghe. Dân chúng không còn muốn tiếp xúc với ai, dù xưng mình phái đoàn nào.
 
-         Hay họ đã bị Cộng Sản tuyên truyền từ trước khi được đưa về nước? Tôi hỏi anh Trại trưởng và ông Tỉnh trưởng.
 
-         Ta có thể chỉ đoán được thế, nhưng họ tuyệt đối chẳng bao giờ đá động đến chính trị. Mà điều đáng cho ta chắc, là bởi họ không được giải quyết thỏa đáng mà chỉ hứa rồi về của những phái đoàn trước.
Tôi quay qua ông Tỉnh trưởng nói, cốt cho anhTrại trưởng ấy nghe
 
-         Nhưng lần này tôi không hứa mà giải quyết tất cả!
 
Và quay lại anh Trại trưởng
 
-         Vậy có thể nhờ anh mời họ ra cho tôi nói chuyện được không?
 
Anh không vui, nhìn tôi như thông cảm:
 
-         Thật ra chính tôi cũng đành cam bất lực, vì khá nhiều lần, họ đã mất niềm tin.
 
Tôi nghĩ ngay ra một nguyên tắc, cười , đi lần lại nơi quán trước mặt, thấy vài ông cụ lớn tuổi đang uống cà phê, đăm đăm nhìn về phía chúng tôi.
 
Bước vào quán, chào xã giao các cụ, và bắt tay vài anh bạn trẻ tôi nghĩ cách gợi chuyện, sau khi hỏi mua chủ quán tách cà phê.
 
-         Xin lỗi, nếu quý cụ vui lòng, tôi xin có vài ý kiến nhỏ!
 
-         Ông cứ nói! Một cụ già lên tiếng.
 
-         Hình như trong bà con đây có nhiều thắc mắc chưa được giải quyết, mà chỉ được nghe hứa suông thôi, phải không ạ?
 
Họ cười, và chỉ vắn tắt:
 
-         Đúng thế! Cứ hết phái đoàn này đến phái đoàn nọ. Ông nào cũng quan trọng cả, nhưng hứa rồi về im luôn, nên chẳng trách không ai tin nữa.
 
Tôi nghĩ là đã nắm được cơ hội:
 
-         Các cụ đã nói rất chân thành. Người dân đang cần được giải quyết. Nếu không giải quyết nổi thì đừng hứa. Hứa rồi về lại im luôn thì trách sao dân chúng chẳng mất niềm tin.
 
-         Câu chuyện đi lần đến chỗ cởi mở. Tôi quay nhìn ông Tỉnh trưởng như thầm báo với ông rằng “đây là chìa khóa của tất cả!” Và biết là đã đến lúc, tôi quay lại các ông cụ.
-         Thưa thật cùng các cụ, tôi cũng do Tổng thống phái về.
 
Tôi nhấn mạnh:
 
-         Nhưng không phải để biết rồi về trình, mà được giải quyết tại chỗ.
 
Ý chừng các cụ ngạc nhiên về câu vừa rồi, nhìn tôi như để so sánh, tôi đi vào đề.
 
-         Nay nhờ quý cụ giải thích với đồng bào, cho tôi được gặp ngay bây giờ, tôi xin giải quyết tất cả!
 
Rồi tôi quay qua ông Tỉnh trưởng như để phân bua:
 
-         Có ông Tỉnh trưởng địa phương đây. Tôi không thể sai lời. Các cụ nghĩ sao?
 
Các cụ vui ra mặt, hứa sẽ đi kêu gọi tất cả tập họp.
 
Liếc nhìn, thấy các cụ ghé lại một căn lều phía trước, như giải thích cho một người cỡ tuổi trung tuần, và khá lâu sau, người này bước ra cửa, như miễn cưỡng nhìn về phía xa, vẫy tay gọi.
 
Thế là họ ùn ùn kéo đến, đứng chật cả khoảnh đất gần đấy.
 
Sau khi được nghe tôi tự giới thiệu, để chờ nghe họ lên tiếng, thì anh bạn tuổi trung tuần vừa nói đã lên tiếng hỏi về số tiền 40.000$00 mà chính phủ hứa nhưng vẫn chưa giao cho dân chúng. Tôi cũng có nghe câu chuyện này từ trước, nhưng vẫn quay lại hỏi Thiếu tá Tỉnh trưởng và được ông gật đầu:
 
-         Xin Thiếu tá cho người về Tỉnh lấy cho tôi mượn số bạc trên để thanh toán cho dân chúng, mà tôi xin làm giấy tờ hẳn hoi. Công tác xong về Sàigòn sẽ trình Tổng thống để hoàn lại Tỉnh ngay.
 
Ông Tỉnh trưởng không suy nghĩ, cho người đi theo, lấy O Bo về tỉnh đem tiền vào cho tôi mượn trả cho dân. Sau khi giải quyết việc tiền bạc, đồng bào tỏ ra khá hồ hởi và tin tưởng, nên những chuyện sau như chuyển dân từ chỗ này sang chỗ kia, xin về Sàigòn thăm thân nhân đều được giải quyết tốt đẹp. Dân chúng hứa hẹn sẽ hợp tác với địa phương trong mọi việc, nhất là tình trạng “đất dư người thiếu” không còn là vấn đề nữa.
Ngày hôm sau tài xế đưa tôi về Sàigòn, ghé ngay lại Tổng Ủy để trình bày thành công ngoài lượng định ấy.
 
Ông Tổng Ủy trưởng nhìn tôi như một người du thuyết của thời nay, mà mọi việc phải xếp lại để hai ngày nữa đi Đà Nẵng vì một công tác quan trọng khác.
 
Thì ngay chiều hôm ấy, một cán bộ làm trong Tổng Ủy Di cư, tiền thân của Tổng Ủy Dinh Điền, đã lên văn phòng với vẻ khúm núm, buộc tôi phải lên tiếng.
 
-         Cứ vào đi! Có gì cứ nói. Không khúm núm như vậy tôi khó chịu lắm!
 
-         Thưa cụ…
 
Tôi chận lời anh:
 
-         Đừng dùng lối xưng hô ấy. Anh cỡ tuổi tôi, nếu không muốn dùng tiếng “Anh” cho thân mật thì dùng tiếng “Ông” vậy.
 
Anh vẫn còn rụt rè, hồi lâu:
 
-         Thưa ông, tôi tên là Long, thuộc Tổng Ủy Di Cư trước, nay hầu hết được chuyển qua Dinh Điền, thì tôi bị hàm oan. Cũng có một người tên Nguyễn Long như tôi, trước là Chủ sự, đã hạch sách và ăn tiền cán bộ, nay Nha Nhân viên lại cứ nghĩ là tôi, và cho tôi nghỉ việc. Thật là quá oan! May có người quen mách tôi rằng ông Công cán mới đến sao không vào kêu nài, vì ông là người bên Phủ Tổng thống đưa sang. Ông Tổng Ủy trưởng rất tín nhiệm, nên tôi vào xin ông xét lại cho!
 
Tôi hẹn anh chiều nay sẽ hỏi ông Tổng Ủy trưởng và nếu là hàm oan thì anh khỏi lo.
 
Khi anh đi rồi, tôi gọi dây nói, hỏi ở phòng nhân viên, và khi nghe biết đầu dây này là ai, họ hứa sẽ xem lại vấn đề ngay.
 
Chiều hôm ấy, như thường lệ vào gặp ông Tổng Ủy trưởng, tôi đem việc này ra trình bày. Ông ra lệnh ngay cho phòng nhân viên giải quyết, chưa nói là còn lưu ý họ làm việc cẩn thận, không thể để những sự việc tương tợ xảy ra.
 
Câu chuyện Nguyễn Long đã làm cho Phủ Tổng Ủy nhiều người nghe biết, trong khi hầu hết phải ngạc nhiên về cung cách bình dân và làm việc cần mẫn, tận tụy của tôi.
 
Việc đi Đà Nẵng được ông Tổng Ủy trưởng cho biết là trước đây ông Nguyễn Tích, Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột được Tổng thống cho về Trung tuyển mộ thêm 800 di dân. Nay lại có tin những người được tuyển đi trong đợt đầu này là do Cộng sản sắp xếp để lên khuấy phá vùng Dinh Điền Cao Nguyên. Bởi lẽ đó Tổng thống truyền lệnh phân tán họ.
 
Ông tỏ ra ngần ngại, rồi tiếp:
 
-         Thu nhận thì dễ nhưng phân tán họ ra là cả một vấn đề, mà nay chỉ còn nhờ tài du thuyết của ông!
 
Dĩ nhiên tôi phải tuân lệnh, nhưng khó tránh cả một khó khăn.
 
-         Tôi xin làm trách nhiệm, nhưng thành hay bại, thật hoàn toàn chưa lường trước được.
 
-         Thôi ông cố gắng vậy!
 
Ngay ngày mai lên đường. Ngồi trên máy bay, tôi toan tính đủ cách, cuối cùng phải nghĩ “đến nơi, thấy rõ tình hình sẽ toan liệu?”
 
Về đến Đà Nẵng được địa phương cho tập họp số 800 người này lại cho tôi nói chuyện. Thoạt tiên có khoảng mươi người trước là cán bộ Thăng Bình và Quế Sơn, biết tôi nên chào hỏi khá thâm tình.
 
Tự nhiên nảy sinh ra sáng kiến mà mình đã ôm ấp từ bao lâu, khi nói đến chuyện chống Cộng. Đấy là vấn đề tín ngưỡng. Tôi đi ngay vào đề:
 
-         Trong bà con có bao nhiêu người Công giáo, xin đưa tay cho biết!
 
Khoảng dưới hai trăm người đã cảm động đưa tay, bởi vấn đề tín ngưỡng đối với người Quốc Gia thường còn quan trọng hơn cả cơm ăn, nước uống, tôi biết thế…
 
-         Thưa bà con! Đây là vấn đề quan trọng bậc nhất. Người Công giáo nhất định phải đến nơi nào có Cha, có nhà thờ để mỗi chúa nhật có dịp đọc kinh, cầu và tạ ơn Chúa. Phải thế không ạ?
 
Họ đáp lời tôi bằng một tiếng “Dạ” vô cùng cảm động.
 
-         Vậy những bà con có đạo nên đi Phước Long, gần Sàigòn hơn Cao Nguyên, lại có nhà thờ, có Cha còn gì hơn phải không?
 
Tôi không nhắc gì thêm, xem như đây là một quyết định có lý do và hẳn nhiên được tán thành.
 
-         Và hình như trong bà con cũng có một số ở đò, ở sông miền duyên hải, xin đưa tay cho biết !
 
Độ non trăm người, mạnh khỏe, đưa tay:
 
-         Những người này mà lên Cao Nguyên là thất lợi hoàn toàn. Tuy ở những địa điểm miền Duyên hải, Đồng Tháp tiền trợ cấp có ít hơn, chỉ 4$00 mỗi ngày thay vì 6$00 như Cao Nguyên, nhưng vùng sông biển miền Nam chẳng bao giờ cần đến tiền. Bà con sẽ thấy cảnh cá, tôm ăn không xuể.
 
Ngưng một phút , tôi diễn tả cảnh Đồng Tháp mà trước đấy không lâu đã chứng kiến.
 
-         Ngay trong vườn, những dấu chân rồi cũng có cá. Trẻ em không có lưới câu, cột tý mồi trên sợi chỉ cũng bắt được cá.
 
Tôi cảm thấy nhiều người cười thích thú, chưa nói là dù không ở vùng sông biển cũng muốn tình nguyện, tôi hỏi:
 
-         Vậy những ai muốn đi vùng Đồng Tháp, Cà Mau, xin đưa tay!
 
Lại ồ ạt có khoảng vài trăm người hăng hái đưa tay. Tôi nhẫm tính, như vậy là đã trên nửa của 800 rồi. Nhưng vẫn chưa chịu ngưng nơi đây, tôi tiếp:
 
-         Tôi có lệnh sẽ được lên thay thế vùng Cao Nguyên Pleiku Kontum, vậy bà con ai đã biết và tin tưởng, muốn đi Pleiku Kontum thì lên với tôi, số còn lại để đi Ban Mê Thuột, bởi chắc là có bà con thân thuộc trên ấy rồi, phải thế không ạ?
 
Mọi người tỏ ra không gì thắc mắc,và tôi giao cho ông Trưởng ty đà Nẵng, chuẩn bị lên đường về Sàigòn.
 
Ông Tổng Ủy Trưởng luôn nhìn tôi như Tô Tần, Trương Nghi, chứ nào biết rằng những chuyến về địa phương mới thấy được những việc mà không biết phải làm sao nói thật với Tổng thống.
 
Đấy là tình trạng lừa dối cấp trên mà không ít nơi đã làm. Khi nghe Tổng thống khen Dinh điền là ông Tỉnh trưởng nào cũng “xuýt xoa” tỏ ra vô cùng thích thú. Và để che lấp sự giả dối ấy các ông đã năn nỉ xin Tổng thống cho dân tỉnh mình được lên tham hưởng chính sách Dinh điền.
 
Đành rằng cứ mỗi người dân đưa đi là địa phương được hưởng tiền “vận động tuyên truyền” mà thật ra các ông chẳng vận động, chẳng tuyên truyền, cứ trò “dùi đánh đục, đục đánh sen” chỉ định mỗi quận phải có bao nhiêu. Quận lại về giao mỗi xã, bởi lẽ đó người lãnh đủ “hậu quả” là chúng tôi. Xã muốn tránh những tay nằm vùng không gì hơn là cho đi Dinh điền!
 
Đối với Tổng thống thì Dinh điền là một cơ hội cho nơi đông dân ít đất của miền Trung lên lập nghiệp, bởi Cao Nguyên đất rộng dân thưa, chưa nói là, người thân tín đã được cho biết rằng Dinh điền còn là một “hàng rào chiến lược” vì theo Tổng thống, Cộng Sản nếu tấn công miền Nam sẽ do con đường Cao Nguyên. Chận đứng để làm chậm bước tiến họ một thời gian đủ cho Đệ Thất Hạm Đội vào cứu nguy miền Nam.
 
Trước khi đưa ra những dữ kiện để nói rằng Tổng thống Diệm vô cùng nhân đức chứ không chỉ đề cập đến lối sống đơn giản, tôi xin kể qua một vài chuyện chính là người trong cuộc, có bằng chứng.
 
Ở Sàigòn những ngày này di dân từ miền Trung đưa vào thường theo đường thủy từ Đà Nẵng, và ghé Bến Cát Lái để dùng xe đưa lên Cao Nguyên. Không chỉ nói lên lòng nhơn của Tổng thống Diệm, mà cũng nhân dịp này  đề cập đến thái độ của những người thường vây quanh, mà dư luận sau này tóm tắt là chánh quyền thời Đệ Nhất hay bị xung quanh che lấp sự thật, không cho Tổng thống Diệm biết gì cả. Và đây cũng là đầu câu chuyện người ta thêm vào để cho rằng Dinh điền trồng cây giả mà một đoạn sau sẽ nói rõ và phân tích.
Một hôm có tin báo từ miền Trung ngày giờ Đoàn di dân (mà trước đây chính tôi đã về giải quyết tại Đà Nẵng như có nói ở đoạn trước) sẽ đến Cát Lái. Tổng thống Diệm ra lệnh cho văn phòng, để thông báo an ninh là Tổng thống cần thăm họ, trước khi để họ ra đi đến các địa điểm định cư.
 
Thế là các bộ phận này đâm ra lo ngại, mà chẳng ai dám trình bày. Họ sắp đặt và biết tôi là “con nai vàng ngơ ngác, mới từ miền Trung vào” nên tâm sự:
 
-         Ông nên trình bày với Tổng thống là “hãy để cho dân chúng đến nơi định cư, sắp đặt đâu vào đó rồi hãy đến thăm và trình bày rõ, không nên để họ hiểu lầm mà yêu sách, đòi hỏi, kêu nài rắc rối.”
 
Mới nghe nghĩ là có lý, chưa nói là mình cảm thấy chẳng làm sao dám chống đối ý kiến của những ông to lớn trong chính phủ hồi bấy giờ, nhất là những đơn vị an ninh ( nay còn nhiều ông thời ấy là Tổng Giám đốc Công an, hay An ninh Quân đội, An ninh Phủ Tổng thống đang hiện sống tại hải ngoại).
 
Cuộc họp An ninh này Tổng thống chỉ thị cho Phòng Bí Thư giới thiệu tôi thuyết trình chuyến viếng thăm tại Cát Lái.
 
Trước khi vào họp, tôi cố giữ những ý kiến của những ông An ninh vừa nói, trình lên Tổng thống, thì bị gạt phắt.
 
-         Dân có quyền đòi hỏi, kêu xin, ta không nên tìm cách ngăn trở các quyền tối thiểu ấy của họ. Vả chăng đây là những người dân rất đáng thương, chưa nói là em đã đi miền Trung phân tán họ ra, mà Tổng thống đã nghe báo cáo, vậy chính Tổng thống cần gặp thăm họ, giải thích cho họ yên tâm mà lo làm ăn chứ!
 
Đem kể lại lời Tổng thống đã nói cho mấy ông An ninh nghe, các ông đành chịu.
 
Và chính trong dịp Tổng thống qua Cát Lái thăm số di dân này, báo Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia đã đăng tên tôi hơi cao “Ra nghinh tiếp Tổng thống có ông Phan Vỹ, Công cán Ủy viên, Thiếu tướng Lê Văn Kim, ông Giám đốc Di Định cư Đoàn Văn Sáo, làm cho ông Ngô Đinh Cẩn phải thốt lên câu “À! Thì ra chú này lanh thật! Nay vào Nam, và làm vừa lòng Tổng thống rồi”. Ý ông muốn nói tại miền Trung, hay nói rõ hơn là tại Quảng Nam đã để “sổng” chú vào Nam, cần xét lại vấn đề! Mà ông đã ra lệnh cho ông Hoàng Ngọc Thân, Đổng Lý Văn Phòng Tổng Ủy Dinh Điền về truyền lại.
 
Chính vì tờ báo trên mà thâm tâm ông Cẩn là phải dùng người Trung nắm giữ các then chốt trong chính phủ, nên lo ngại tôi bị người Nam mua chuộc. Phải nói thế, vì trong những lúc này tại Tổng Ủy dinh Điền thường xảy ra tình trạng một vài ông Giám đốc người Trung lấn áp hay hạch sách ông Đoàn Văn Sáo ngay trong những buổi họp, tôi đã cương quyết lên tiếng để chống chế cho ông Sáo hay bênh vực ra mặt. Hẳn nhiên những hành động này của tôi, đã được báo cáo về Huế. Cho đến một hôm ông Hoàng Ngọc Thân, Đổng Lý Văn Phòng mời tôi vào, và sau vài ba câu chuyện bâng quơ, ông vào đề:
 
-         Tôi vừa đi Huế về. Ông Cố vấn miền Trung nhắn tôi vào nhắc ông là “đừng mê trong Nam mà quên miền Trung nhé”.
 
Ông vừa nói xong, tôi hỏi gằn ngay
 
-         Và, còn gì nữa không ạ?
 
-         Chỉ thế thôi
 
Tôi đứng lên chào ông, với một câu nói “đến chết vẫn khó quên”
 
-         Khi nào ông Đổng Lý về Huế, nhờ thưa lại cùng ông Cố Vấn là “Mả cha tôi chôn ở ngoài Trung!”
 
Ông Thân vô cùng ngạc nhiên về câu nói ấy, trong khi tôi từ giã ra ngay, không đợi nghe thêm gì nữa.
 
Vài hôm sau, ông Tổng Ủy trưởng Bùi Văn Lương cho gọi tôi lên và báo tin là thứ hai tuần đến, chuẩn bị cùng ông sang Bộ Nội Vụ tham dự một cuộc họp Liên Bộ để nghe bàn về những công tác cấp thiết của chính phủ, mà ông Nguyễn Hữu Châu Bộ trưởng Nội Vụ sẽ chủ tọa.
 
Mỗi Bộ trưởng tham dự Hội nghị có đem theo một chuyên viên, tôi đi theo ông Tổng Ủy trưởng Dinh Điền với tư cách ấy. Sở dĩ phải ghi lại mẩu chuyện này vì gần đây có người đã hỏi: “biết khá nhiều chuyện, kinh nghiệm cũng không ít, nhưng anh đã phục những người nào về lanh lợi, và tháo vát chưa?” Và tôi không giấu giếm, để nói là “phục thì chẳng kể xiết, nhưng ghi sâu vào ký ức, thì chuyện ông Nguyễn Hữu Châu này là một trong những người ấy.”
 
Hôm đi họp tại Bộ Nội Vụ với tư cách chuyên viên như vừa nói, ngồi quan sát và lắng nghe, để cộng với kinh nghiệm “hội nghị” trước kia đã từng học được của Bá Phụ - cụ Phan Khôi – tôi không thể nào chẳng khuất phục sự thông minh của ông Châu. Là chủ tọa, ông vô cùng lanh lợi, thông minh, để tóm gọn ý người ngồi trước mặt cho thư ký đủ điều kiện ghi vào biên bản, chưa nói trí nhớ của ông thật vô song. Ông nhớ người vừa phát biểu câu ấy, trước đây đã có nói gì, hay ngay cả đã tán đồng một đề nghị của tham dự viên khác về mục đích gì, thì nay tại sao lại đưa ra ý kiến “mâu thuẫn” với lần trước, để vặn hỏi, làm sáng tỏ, xác định lại lập trường của người ấy.
 
Thật là một kỹ thuật chủ tọa hội nghị vô cùng đáng ghi nhớ!
 
Vài hôm sau, ông Tổng Ủy trưởng báo cho biết lệnh Tổng thống truyền phải đi các tỉnh miền Trung để giải thích về chính sách Dinh Điền cho dân chúng, nhất là các tỉnh địa đầu từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam đến Quảng Ngãi biết rõ Quốc sách này, mà hăng hái tham gia, hầu các tỉnh ấy dễ huy động nhân dân đăng ký lên Cao Nguyên lập nghiệp.
 
Bởi có lệnh này là vì phía Hoa Kỳ đã lên tiếng sẵn sàng viện trợ tối đa cho Tổng Ủy, nhất là tại Cao Nguyên.
 
-         Ông cố gắng làm tròn nhiệm vụ sứ giả mà Tổng thống tin cậy nhé!
 
Ông Tổng Ủy trưởng Bùi Văn Lương nhìn tôi với cả một tin cậy, mà ông đã biết qua các chuyến công tác Cà Mau hay Đà Nẵng trước đây.
 
Ông điện báo cho 4 tỉnh kia biết ngày giờ và giao ước họ phải triệt để yểm trợ cho công tác của tôi được thành công. Nhưng, tôi xin ông đừng đánh rõ tên tôi mà chỉ nói là “Phái viên của Tổng thống” thế thôi! Đấy cũng là một chi tiết với thâm ý, nhưng mới nghe qua tưởng như quá “nhún nhường hay nhã nhặn thôi!”
 
Trước hết đi Quảng Trị. Nhưng máy bay về Đà Nẵng, dùng xe của anh Trưởng ty Dinh Điền Đà Nẵng theo đường bộ.
 
Tại Quảng Trị, được tòa tỉnh báo cho biết đã chuẩn bị để tôi tiếp xúc với dân chúng quận Gio Linh, sát địa đầu Bến Hải rồi vào Triệu Phong và cuối cùng là đi Mỹ Chánh.
 
Tại mỗi nơi, tôi chỉ cần nêu rõ chính sách dùng nơi đất quá tốt lại ít dân để dân chúng nơi quá đông, mà thiếu đất đến lập nghiệp. Những quyền lợi do Mỹ viện trợ hay chương trình di chuyển việc tạm trú trong thời gian làm xong nhà cửa, phương tiện giao thông giữa các địa điểm, việc đau yếu, học hành cho các em v.v… tất cả đã được trù liệu, mà nói tóm lại là chính sách Dinh Điền chỉ cốt cho dân chứ không phải như Cộng Sản mà mong chuyện thu thuế, thu lợi cho nhà nước.
 
Sau khi giải thích đầy đủ, dân chúng đặt câu hỏi những gì nghi ngờ hay đã nghe Cộng Sản tuyên truyền xuyên tạc.
 
Tôi không quên nhắc lại chuyện, tại sao trước đây đã có tin dân chúng đã vào tại Cao Nguyên đòi về mà không chịu ở lại để họ thấu suốt vấn đề.
 
Tại Quảng Trị đã thành công, tôi nghĩ đến chuyện nhân chuyến đi Gio Linh ghé ngang Đông Hà để được gia đình vợ tôi hướng dẫn ra dốc Kim Đâu thăm mộ vợ trước chết vì Cộng Sản Quảng Nam, được mẹ vợ tôi vào đem về cải táng tại đây. Và đây là lần thứ hai trở lại Quảng Trị Đông Hà, nơi đã ghi vào tâm tư tôi khá nhiều kỷ niệm đau buồn. Nhưng, phải nói lần này cũng như lần trước, ông bà nhạc tôi cảm thấy ân tình của con rể mà vô cùng cảm động, chưa nói là cũng khá hãnh diện cho tôi.
 
Xong Quảng Trị, chỉ ghé lại Thừa Thiên trong một nơi xa thành phố Huế, bởi biết dân Thừa Thiên vẫn khá hơn các tỉnh khác mà việc di dân, không lấy gì làm quan trọng.
 
Đi lần về Quảng Nam, mà trong chuyến công tác này tôi có cảm nghĩ là một lý thú nhất trong đời.
 
Không phải nhắc lại để tự cao tự đại, mà bởi nhớ lại cái ngày mất chức, ngày rời Quảng Nam, ra đi, sau khi nhận được của ông Hà Thúc Luyện cho 5000$00 để tống xuất khéo, trong khi chẳng một chú bạn nào dám léo hánh lại gần, ngoài anh bạn chí thiết Lý Trương Trân, như đã có nói, tôi thấm thía đến những kẻ chuyên nịnh bợ, những kẻ cố thúc đẩy người có quyền áp dụng việc “vắt chanh vứt xác”, để tôi đã viết nên những vở kịch như Thanh Kiếm Trúc Lâu nói cho hết cái nạn “giảo thố tiệt, tẩu cẩu mổ, địch quốc diệt,  mưu thần vong”. Chỉ thương vài anh bạn, nếu nay lại thấy tôi đang “áo gấm về làng” không chỉ mừng cho tôi mà hẳn nhiên thở ra nhẹ nhõm cho ngày đã phải bị nghi ngờ vì lai vãng hay liên lạc với tôi.
 
Trong cảnh Quốc Gia mà còn phải những đoạn trường này, thì làm sao chống Cộng nổi, chứ  đừng nói là tận dụng được khả năng người có tài, hay khai thác người chống Cộng, nhiệt tình mà xây dựng đất nước!
 
Đừng trách người viết sử dù đánh giá công trạng của thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa vẫn không quên tình trạng ban đầu hay đoạn kết của nền Cộng Hòa ấy.
 
Xe chạy đến Thanh Quít tôi cho tài xế dừng lại, vào quán nước bên đường, ngồi chờ, còn đúng năm phút mới cho chạy vào Vĩnh Điện, nơi dân chúng Quảng Nam tập trung, và Chánh quyền Quảng Nam chờ đón Phái viên Tổng thống về nói chuyện.
 
Đấy là dụng ý, mà trong đoạn trước đã xin ông Tổng Ủy Trưởng Bùi Văn Lương không để tên tôi trong công điện!
 
Biết chắc họ đang nghĩ và đoán nhẩm rằng “Phái viên Tổng thống” lần này là ai đây, vì đã có nghe tin tôi đang ở Phủ Tổng Ủy.
 
Đúng như dự đoán, khi xe vừa đến, cả rừng cờ và tiếng hoan hô làm tôi nghĩ rằng “đã đủ” với những ngày cực nhục trước, nhất là khi thấy những người công chức Quảng Nam như ang Bậc cảnh sát, hay anh Bình đang sống trong bực bội tại đây và những đồng bào cùng các cấp Hội đồng của Phù Kỳ quê hương tôi cũng về đây hôm nay khá đông.
 
Vội vã bắt tay những người chí thân, chí thiết vừa nói sau khi đáp lễ đại diện Chánh quyền Tỉnh, Quận có mặt hôm nay, và rồi bước lên bục cao làm nhiệm vụ mình. Bài hát được hát lại nhiều lần, chưa nói là lòng vô cùng khoan khoái và thỏa mãn, nên cuộc nói chuyện của tôi hôm nay khó diễn tả đúng tâm trạng của câu “Hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai” của người đời.
 
Sau buổi nói chuyện, Đại diện Tỉnh mời về Hội An, nhưng tôi xin từ chối đi thẳng vào Quảng Ngãi để hai hôm sau phải trở về Sàigòn.
 
Công tác giải thích chính sách tại miền Trung thành công tốt đẹp là ngày tôi chuẩn bị đi bàn giao tại Cao Nguyên.
AI ĐÃ NGHE CHUYỆN
 
                         DINH ĐIỀN TRỒNG CÂY GIẢ?
 
 
Thoạt đầu, đáng lẽ tôi được đưa đi bàn giao Ban Mê Thuột, nhưng bởi hai lý do là chương trình của Pleiku phải phát triển mạnh hơn, mà sự có mặt của tôi cần thiết, và bởi người đang coi chương trình tại Pleiku cả Kontum là một người Pháp lai như đã nói tên là Pierre Lachaise, mà ông Bùi Văn Lương không thế nào tìm người lên thay thế, không bị khó khăn bởi ông, nên cuối cùng tôi phải đi Pleiku Kontum.
 
Hôm được ông Bùi Văn Lương mời vào và cho biết việc đi thay ông Lachaise, cho biết qua về mọi việc như đã nói, tôi quay hỏi ông Lương:
 
-         Thưa ông Tổng Ủy trưởng! Lên bàn giao ông Lachaise, tôi cần dụng văn hay dụng võ?
 
Ông Lương không giống cụ Diệm ngày tôi mới trình diện, nhìn tôi rồi hỏi:
 
-         Văn là sao, mà võ là sao?
 
Tôi muốn bật cười vì sự thật thà của ông Tổng Ủy trưởng, nhưng đành phải giải thích:
 
-         Văn là họ giao gì nhận nấy, có giao có nhận. Còn võ là giao đúng mới nhận và không thể quá 7 ngày mà không giao.
 
Ông Lương biết tôi không phải tay vừa, cũng là tay cừ trong Hành chánh, lại cũng là người của Tổng thống đem vào, nhưng lo ngại chuyện không vui sẽ xảy ra, nên nhìn tôi:
 
-         Thôi văn đi nhé! Tránh dụng võ với ông ấy!
 
Thế là tôi im lặng chuẩn bị ngày lên đường trong khi nghĩ rằng Ban Mê Thuột chắc phải đề nghị cho Phan Bá Anh đảm nhiệm, trước khi mình lên đường công tác.
 
Như trong một mục trước có đề cập, anh Phan Bá Anh nguyên là Phái viên Khu Quá Giáng sau được cử thay anh Lê Đình Duyên ly khai vào núi, làm Quận trưởng Duy Xuyên. Đến ngày bị đổi đi quận Hòa Đa Phan Thiết, và vì theo bước tôi không đi, ở nhà chờ cơ hội. Trong ngày còn ở Tổng Ủy có lần ông Bùi Văn Lương hỏi tôi “ Ông còn bạn bè ngoài Trung không, giới thiệu vào”. Tôi giới thiệu Phan Bá Anh và ông Nguyễn Xuân Lê, trước kia là Phó Tỉnh trưởng ở Kiến An Bắc Việt, sau vào làm Trưởng ty Kinh tế tại Tòa Hành Chánh Quảng Nam, ông Lương chưa muốn mời ông Lê khi chưa thảo luận với Tỉnh trưởng Quảng Nam mà chỉ yêu cầu tôi điện Phan Bá Anh vào. Tôi đánh điện cho Anh, thì anh lo ngại nên hỏi lại tôi “Cho biết khá không để vào”. Tôi chẳng thể nói trong điện tín, nên chỉ tin anh là “ cứ tin tôi!”
 
Phan Bá Anh vào được ông Tổng Ủy trưởng giao làm Tham chánh tại văn phòng, nay được tôi nhắc lại, nên quyết định đưa lên làm Trưởng Khu Ban Mê Thuột trong khi cử Trung tá Nguyễn Cao thay tướng Lê Văn Kim làm Vùng Trưởng đóng tại Ban Mê Thuột.
 
Lên Pleiku, tôi đem theo Nguyễn Phương, trước làm Chánh Văn Phòng tại quận Thăng Bình sau làm Khu Trưởng Hành Chánh Minh Huy, với dự tính sẽ để Phương làm Chánh Văn Phòng, hầu nắm vững tình hình trước đây.
 
Ông Lachaise, chỉ căn nhà bên cạnh cho chúng tôi, ngày ra phố chơi, tối lại về đấy ngủ. Còn ông, thì vẫn tiết tục đi về các địa điểm lúc ấy đã có, là Pleipiom, Pleibangyam và Chudron mà chẳng bao giờ mời cùng đi, đã khiến tôi nghĩ rằng ông đang thu xếp những chuyện cần thanh thỏa, sòng phẳng trước khi bàn giao.
 
Là người đã lăn lộn trong Hành Chánh khá lâu, tôi phải hiểu thế!
 
Mươi ngày sau, Sàigòn có điện Tổng Ủy hỏi “việc bàn giao đến đâu” thì ông Lachaise mới bàn với những người dưới tay, chuẩn bị bàn giao.
 
Ngày bàn giao ông chẳng có gì để giao, ngay cả xe cộ cũng đem theo về Ban Mê Thuột, và người Thư ký Kế toán, để hy vọng tôi chẳng biết gì về tài chánh. Nhưng, như đã được nhắc trước khi ra đi là “Văn”, nên tôi cứ thế mà tiếp tục.
 
Việc đầu tiên phải làm, và cũng là kinh nghiệm của những năm tháng đã làm Quận Trưởng, tôi mời tất cả nhân viên lẫn Ban Quản Trị Hội Đồng trong ba địa điểm về họp, gởi sẵn cho họ chuẩn bị trước những điều chúng tôi cần biết để trả lời, dùng cho chúng tôi vạch kế hoạch ngày mai. Đặc biệt nhất của những câu hỏi là nhắm vào việc giải quyết những thất bại đã, và sẽ có…
 
Sau Hội nghị, tôi nắm ngay những gì phải làm, nhưng trước khi định đến tận nơi để xem xét chứ không nghe báo cáo mà vội tin là đủ, tôi gởi ngay một văn thư chào mừng các Ty Sở trong hai tỉnh Pleiku Kontum để tạo thông cảm.
 
Hai hôm sau tôi đi ngay đến ba địa điểm để biết rõ tình hình, nghiên cứu lại những nhận xét và đề nghị của mỗi địa điểm hôm hội nghị, xem có trung thực và có thể đủ tin cậy tạo điều kiện củng cố lại chưa.
 
Trong khi ấy, thì tại Trung Ương như đã chín mùi kế hoạch, và chỉ chờ việc bàn giao xong là ồ ạt cho lên đủ thứ, hơn chục chiếc xe Land Rover của Ăng Lê, nhân viên Y tế, một người Pháp làm Cố Vấn cho Dinh Điền tên Richard (kỹ sư) để đi sâu vào rừng, nhắm nơi thiết lập địa điểm mới v.v…
 
Cũng không quên nói thêm rằng một người mà tôi biết trước đây là anh Hồ Đắc Hóa, nguyên Quận trưởng Gio Linh (Quảng Trị) đã không được dùng nữa nhưng là chỗ thân thuộc với ông Lachaise nên lên đây làm Địa điểm trưởng Pleibangyam. Nghe kể rằng anh Hóa là anh ruột Hồ Đắc Trong, hiện là Bí Thư cho Cố Vấn Ngô Đình Cẩn, nhưng bởi anh Hóa gặp một tai ách là trước ngày Pháp rút lui lại đem anh gắn cho cái huy chương Chiến công Bội tinh. Vì cái huy chương ác nghiệt ấy mà trong thời sơ khai của Đệ Nhất Cộng Hòa rất dễ bị nghi ngờ là thân Pháp, để chẳng dùng đến, nên anh Hóa đành vào đây nương náu với ông Lachaise.
 
Còn anh kỹ sư Richard thời ấy cũng đã bị mỉa mai cho rằng “Pháp gian” mà chẳng mấy người không nghe biết.
 
Anh Richard có trách nhiệm vào rừng tìm những nơi có thể lập thành địa điểm, mà theo anh kể lại cho biết là có suối để lấy nước dùng, lấy đất để phân chất tốt xấu và khả dĩ duy trì được bao lâu, vạch con đường vào thế nào cho tiện, chưa nói là dự trù cả vùng ấy phỏng định được bao nhiêu mẫu, nếu tính trong tương lai định cư được bao nhiêu gia đình. Những chi tiết tối thiểu ấy anh Richard sẽ về trình lại, và trong một thời gian rất ngắn một bộ phận nông cơ lên để ủi dọn, hầu đem di dân vào.
 
Trước khi dự định đưa di dân vào, đã báo cho các địa phương ngoài Trung, chúng tôi phải cho lập ngay những nhà tạm trú để khi dân vào ở tạm, trong khi hằng ngày ra rừng đốn cây, cắt tranh làm nhà.
 
Số Địa điểm trưởng được cử đến thường là của một trong ba thế lực.
 
   Của ông Tổng Ủy Trưởng
 
   Của Linh mục Nguyễn Viết Khai
 
   Và của tôi.
 
Trong số Địa điểm trưởng do tôi đem vào có vài chú lanh và giỏi không chê nhưng cũng có chú không bao giờ bỏ được những tính mưu mô, không trung thành mà khi thôi việc rồi, ngồi ngẫm nghĩ câu “dụng nhơn như dụng mộc” người xưa nói thật chẳng sai tí nào. Thành hay bại phần nhiều đều do nguyên tắc này mà tôi nghĩ khi nói đến kinh nghiệm thì đây là vấn đề không thể bỏ qua.
 
Cứ như Phan Bá Phụng trước kia khi còn là Phái viên Hành chánh khu Việt An mà nếu kể ra, đôi khi chẳng ai chịu tin đấy là sự thật. Vài chuyện về chú Phụng này ghi lại người đọc ngẫm nghĩ cho vui. Hồi ấy chú làm Trưởng khu Việt An, mà trong ngày đầu, tôi lên vùng này để nói chuyện với dân chúng, chú đã đón tôi lại thưa rằng “chốc nữa khi ngang qua Tiểu Đoàn nếu họ có chào kính thì xin ông Quận cứ đáp lễ. Tôi biết chắc họ có cho một Trung đội dàn chào! Tôi đã ngạc nhiên hỏi chú mình chỉ là Quận trưởng đâu phải là cấp trên của họ nghe tuyên truyền nên thường coi trọng quân đội hơn, nay được dịp này cũng nên để dân chúng nể ta cho dễ làm việc.
 
Tôi không dài dòng với Phụng, nhưng lúc xe chạy gần đến Tiểu đoàn thì một Đại úy Tiểu đoàn Phó đã ra chào và mời tôi “đáp lễ chào kính”. Dĩ nhiên tôi phải làm đủ, nhưng rồi chính Phụng lại đề nghị tôi trình cho anh ấy lên Tiểu đoàn trưởng trong dịp này. Lúc ấy là lúc ông Cẩn rất nghe tôi, nên xin gì mà chẳng được.
 
Phụng lại có nhiều tài, mà cái tài đặc biệt là ngoại giao. Cử chú ấy đi bất cứ việc gì, rồi cũng thành công.
 
Trái lại, một chú khác là Trần Đình Nhi, như đã có nói trong đoạn trước, khi cấp giấy sái phép suýt bị sa thải, tôi đã thương tình bày cho thoát cảnh thất nghiệp, thì cũng chạy theo lên Pleiku. Chú đã không biết bao nhiêu lần tỏ ra mưu mô gần như đi đến chỗ chẳng trung thành với người mình mang ơn nhiều chuyện, mà đặc biệt nhất là chú đã nghĩ ra một mưu kế xúi vài người phát đơn kiện tôi, cho chú đứng chung tên trong ấy, mục đích là khi tôi không còn giữ chức vụ này chú cũng chẳng bị nghi ngờ là đàn em, là tay chân mà mất chức theo.
 
Không khỏi ngạc nhiên khi thấy một Thiếu tá cũng xin đi Địa điểm trưởng, nên tôi hỏi cho biết, thì ông ta thành thật nói rằng trong quân đội dễ gì gặp Tổng thống, chứ lên Dinh Điền, chỉ cần Địa điểm trưởng là đã được cơ hội ấy rồi.
 
Chỉ qua một thời gian ngắn các địa điểm đã được thiết lập nhiều nơi, mà lúc bấy giờ còn dùng tên địa phương, tên của những Buôn người Thượng.
 
Muốn chận đứng tham nhũng do đám nhân viên gây nên tôi đặc biệt giúp họ phải đủ sống, trong khi ấy cảnh cáo là nếu còn tham nhũng, hạch sách, ăn bớt của dân, sẽ cho nghỉ việc, ngay cả tài xế cũng biết được những mánh mung như cắp xăng, đổi bình, đổi lốp, chở di dân đón dọc đường mà đòi tiền, nên luôn soát xét theo dõi. Trong khi ấy, ngoài các giúp đỡ như vừa nói, tôi không quên thăm hỏi gia đình anh em và căn dặn là dù chưa cuối tháng nhưng nhỡ gia đình có gặp bất trắc, thì cứ mượn trước, rồi cuối tháng trừ lại, không trả ngay được một tháng thì trả thành hai hay ba tháng.
 
Riêng về nhân dân số đã vào lâu, như đã biết ngay từ ngày lên quan sát trước kia, họ sắp hết trợ cấp, nên cho tổ chức ngay một đợt thi đua “Xây dựng nhà cửa và vườn tược”. Nghĩ ra chuyện mở chiến dịch này là bởi quan niệm từ xưa có câu “Sống cái nhà già cái mồ”, mà nay cho kiến thiết nhà cửa, xây dựng vườn tược để ít nhất cũng có một thửa vườn, thì họ sẽ bớt ý nghĩ trở về. Hai kế hoạch cần thiết cho chiến dịch là “đối công” nghĩa là những gia đình đơn côi được tăng cường bởi trong liên gia, trong tổ giúp họ, và tạo thêm tài chánh bằng cách giúp đưa người sang những địa điểm mới vào, làm kiếm thêm tiền. Và quan trọng nhất là tuyên bố cho họ biết “sau khi kết thúc Chiến dịch bình bầu” sẽ có một số xuất sắc được khu tổ chức cho về Quê (Bình Định, Quảng Ngãi và Quảng Nam) thăm bà con trong vòng một tuần.Việc thăm quê, làm ai cũng nô nức khi được biết có xe tổ chức thành đoàn, có ghé lại từng tỉnh và được địa phương đón tiếp bởi có trình về Phủ Tổng thống.
 
Thế là chiến dịch được học tập, phát động.
Ngày phát động tổ chức rầm rộ, theo dõi, không để “làm láo báo cáo hay” và cũng giữ không để tình trạng “đầu voi đuôi chuột” hay cảnh phe phái, bênh vực nhau mà lấn áp người thấp cổ bé miệng.
 
Mươi hôm sau tôi đi lại trong những địa điểm đang thi đua, quan sát kỹ để trao đổi cho nơi khác kinh nghiệm, chưa nói là giúp đỡ nhau về hạt giống, trồng ngay những thứ sớm thu đạt thành quả, để vườn rau mau xanh tốt hấp dẫn.
 
Một vài phái đoàn đã bắt đầu lên quan sát như của Tổng Ủy, hay của cơ quan Viện trợ.
 
Những phái đoàn này đã hết lời khen, mà dĩ nhiên được báo cáo về Tổng thống.
 
Ngày tổng kết Chiến dịch tôi theo dõi chặt chẽ, để chận đứng ngay tình trạng bao che, bè phái và bản đúc kết được tốt đẹp. Tôi tuyên bố, một số di dân xuất sắc sẽ lên đường về thăm ba tỉnh như đã nói. Xin Trung Ương thông báo cho địa phương, mà chương trình có đệ trình về trước. Cái quan trọng ít ai nghĩ đến là tôi cho huấn luyện số di dân được về quê thăm lần này. Họ được chỉ vẽ tư cách, ăn mặc, kỷ luật chung, ngay cả khi dừng xe lại nghỉ dọc đường hay khi cần “đi ngoài” những chi tiết nhỏ của người dân được đào tạo là khi được mời ăn uống, hay hút thuốc tại những nơi tiếp đón.
 
Việc quan trọng không thể thiếu, là những di dân này đều được hướng dẫn phương thức đứng nói trước quần chúng, vì chúng tôi tiên liệu tại địa phương họ sẽ được lên diễn đàn giải thích cuộc sống, khi đi lập nghiệp, và đã thành công.
 
Những dự liệu này đều xảy ra rất đúng, thậm chí hôm về đến Hội An di dân được mời vào hội trường giải lao, mà tiếp xúc với đồng bào địa phương, đến khi mãn tiệc một anh tùy phái của tòa tỉnh mời thuốc thì anh di đân “cảm ơn” vì đã đủ. Nhưng khi được mời là cất gói thuốc về nhà hút, anh đã lịch sự từ chối, làm cho người của tòa tỉnh Quảng Nam phụ trách việc đón tiếp hôm ấy ngẩn ngơ về tư thái của người di dân.
 
Tại các xã, anh em cũng được bà con vây quanh hồ hởi vì những “quà” mang về tặng người thân, khi thấy những trái bắp, củ khoai lớn hơn ở địa phương quá nhiều.
 
Chính quyền địa phương thấy đoàn xe dẫn đầu bằng một xe jeep, bốn xe chở hàng dành cho di dân, xe cứu thương và xe của chúng tôi, mà chẳng tiếc lời khen về tổ chức quá chu đáo.
 
Sau chuyến đưa di dân về thăm quê nhà, các tỉnh miền Trung đã thật sự dễ dàng trong việc vận động các đợt kế tiếp.
 
Các đợt đón tiếp di dân, đưa đến địa điểm tạm trú và hướng dẫn xây dựng nhà cửa đã xúc tiến nhộn nhịp, để trong một ngày không lâu sau, là lúc các Phái đoàn được đưa lên thăm viếng, bởi là mùa nắng ráo.
 
Không thể nào đưa các Phái đoàn thăm viếng trong mùa mưa, bởi cao nguyên, nhất là vùng Pleiku Kontum, đất đỏ lầy lội trơn trợt, xe không thể nào chạy được.
 
Từ Trung Ương cũng đã gấp rút đào tạo tạm thời Địa điểm trưởng đưa lên nhậm chức. Lại cũng chú Trần Đình Nhi đã gây cho tôi một bực mình không ít vào dịp này. Nhi được tôi cho xuống xây dựng địa điểm Pleipiom 2 gần một đồn điền trà của Pháp, có một hồ lớn mà dân địa phương gọi là Biển Hồ. Thì đột nhiên Sàigòn cử lên một Địa điểm trưởng tên Thơ, người của cha Khai. Dĩ nhiên, tôi phải thu nhận trong khi Nhi quá bực tức bởi nghĩ rằng công mình xây dựng, chưa nói là Nhi cũng quá ham thích địa điểm này. Sự bức tức đã đưa Nhi đến tình trạng mất suy nghĩ, la hét, và toan tính chuyện “giết” anh Thơ cho đã nư giận. Vợ Nhi hốt hoảng đi nhờ xe, lên tìm tôi và kêu xin giải quyết. Tôi phải xuống tận chỗ, dùng nguyên tắc hành chánh chận đứng sự hung bạo của Nhi, đồng thời cho vợ Nhi biết để khuyên Nhi chịu im lặng, rồi sau đấy cho Nhi đi Lakrel. Tất cả những chuyện dùng nhân viên quá đông đến độ câu “dụng nhân như dụng mộc” không còn dễ nghe nữa, mà nên chỉ một sơ suất nhỏ, một vô tình của ta cũng dễ dàng thất bại. Kinh nghiệm này khá gay go nếu không phải là chỉ làm như công chức “sớm xách ô đi, tối xách về”.
 
Tôi không bao giờ chịu để tình trạng này xảy ra trong khu vực mình chịu trách nhiệm, ngoại trừ mình dong tay đầu hàng “không làm nổi”.
 
Bởi quan niệm ấy, mà như đã nói trong một đoạn vừa qua, nhân viên, cán bộ bị tôi theo dõi rất “sít sao”. Tôi thường giảng giải cho anh em thấy rằng hưởng đồng lương là phải làm việc sao cho lương tâm khỏi áy náy, do đó từng giờ phút đều phải làm cho chu đáo. Thì, bởi thế, quyền lợi anh em đã được tôi đòi hỏi rất tương xứng. Một chuyến xe chở hàng từ Sàigòn lên, tôi yêu cầu anh em phải tiếp nhận ngay dù là thứ bảy hay chủ nhật sẽ cho nghỉ bù.
 
Trong dịp Tết các địa điểm được thay nhau luôn có người trực, hoặc bốc thăm, hoặc điều đình bởi nếu là người từ miền Trung hay tận Sóc Trăng, Cà Mau mà chỉ nghỉ được 3 ngày thì làm sao về thăm gia đình. Tôi cho họ trong ba người Địa điểm trưởng, Thư ký, và Quân Kho được đi từ 25 Tết thì ngày mồng 5 đến, người chiều 30 đi thì mồng 10 đến, và người mồng 5 thì rằm mới vào, nghĩa là khi nào cũng có người, mà mỗi người đi phép được 10 ngày. Thoạt đầu ông Tổng Ủy trưởng không đồng ý lối giải quyết này, nhưng khi nghe chúng tôi giải thích, ông đã vui vẻ chấp nhận.
 
Lối làm việc của chúng tôi đã làm cho vị Tư Lệnh Quân Khu lúc bấy giờ là Đại tá Đỗ Cao Trí vô cùng thích thú và ca ngợi. Đại tá đã giới thiệu một người thân được tôi nhận cho làm Địa điểm trưởng Pleipiom1. Chính địa điểm này tôi có đặc biệt cho di dân trồng một thửa đất khá lớn về hoa, nhất là hoa “clay-dơn” (glaieul), mà thỉnh thoảng ông Trí cho người lại xin khi cần.
 
Việc đón tiếp Phái đoàn thường là nghiên cứu khá kỹ. Tiếp Đức Cha Harnet thì chẳng phải lo gì nhiều, vì người rất bình dị, nhưng khi đón ông Tổng Lãnh sự Anh tại Đông Nam Á là đã được lưu ý tổ chức buổi “trà” lúc 3 giờ chiều. Quan trọng hơn bữa ăn trưa, mà tôi đã vạch chương trình để đưa ông đi xem, đến 3 giờ chiều vừa đến đồn điền trà Cateka, xe ngừng lại, giương dù lên, tổ chức ngay tiệc trà mời ông, trước khi đưa ông vào thăm Cateka, mà ở đây đã được thu xếp để anh Chủ đem tặng ông vài hộp trà đặc biệt, thì còn gì quý hơn. Cũng như khi phái đoàn có anh La-jen-ky người Liên Xô, đang là Cố Vấn, thì phải nhớ rằng trong bữa ăn của ông ta, cứ qua hai món ăn, lại mang lên một trứng gà luộc, nghĩa là suốt bữa ăn ít ra cũng có ba trứng gà ăn chen kẽ.
 
Như đã có nói, các Phái đoàn được Tổng thống hay ông Tổng Ủy trưởng đưa lên thăm Dinh điền hầu hết là Dinh điền của Pleiku Kontum đang ở cao độ của quốc sách hồi bấy giờ, không thể nào đưa trong mùa mưa, xe không thể chạy được vì đường trơn trợt. Bởi lẽ ấy, các Phái đoàn chỉ được đưa lên thăm trong mùa nắng. Nắng cao nguyên lại chẳng khác nào lạnh, nghĩa là nắng nóng “cháy người”.
 
Phải nhấn mạnh câu này để xin hỏi Ai đã nghe chuyện Dinh điền trồng cây giả? Bởi như đã nói, các Phái đoàn không thể đưa lên thăm trong mùa mưa. Nhưng lại đưa lên trong mùa nắng thì với cái nắng của vùng này chỉ cần để một cây bứng ra khỏi đất, trong một giờ sau đã “quéo” lại ngay, chứ đừng nói là phải bứng để trồng giả, đến bao lâu sau Phái đoàn mới đến, thì làm sao chịu nổi.
 
Đất cao nguyên rất tốt, mà trong câu chuyện sau đây, khi nghe đến Phái đoàn các Tỉnh trưởng lên thăm là một chứng cớ rõ ràng hơn.
 
Khi được lệnh Tổng thống các Tỉnh trưởng lên thăm Pleiku Kontum. Khi thấy cây trái sum suê, hai ông Nguyễn Trân, Tỉnh trưởng Mỹ tho và Lê Văn Bường, Tỉnh trưởng Bình Tuy đã bàn nhau, mượn một cái “xẻng” hì hục bứng một bụi bắp hai cây, mỗi cây có năm trái, chắc nịch, không kể vài trái nhỏ, mang xuống suối gần đấy chao rửa cho sạch đất, xem cho biết hai cây này cùng một “hột giống” hay hai hột. Khi thấy rằng hai cây bắp kia cùng một hạt giống nhưng “mầm” đã nhảy thành hai cây, trong khi mỗi cây 5 trái, các ông đã reo lên, giải thích cho mọi người biết “cái tốt” kinh sợ của vùng này.
 
Đấy! Sự thật là vậy, chưa nói là bao nhiêu chuyện của bãi đất trồng đậu phụng, hay rừng Chudron trồng cây Kenap của Ấn Độ gởi biếu giống, thì không hiểu tại sao lại có chuyện “trồng cây giả”.
 
Nói đến chuyện bãi trồng đậu phụng, được đề cao kinh nghiệm ra sao?
 
Tại Pleibangyam bắt đầu được khuyến khích trồng đậu phụng, mà một hôm anh bạn Cán sự Canh nông thấy quá xanh tốt, lên tiếng khuyên địa điểm hãy nhổ cho thưa, vì theo anh, nếu để như vậy thì đậu sẽ ra lá mà ít củ. Khi nghe tin này, có ngay vài phản ứng, nên chúng tôi đã mời một số bô lão kinh nghiệm xem lại vấn đề. Sau khi bàn cãi, tất cả đã đi đến quyết định là dựa bên đàng di, cứ nhổ như anh Cán sự đã muốn, nhưng vào trong vài ba thước đến giữa đám, ta để nguyên. Rồi họ đã thực hiện theo kế hoạch này, cho đến ngày thu hoạch, không ai bảo ai, khi mà giữa đám đậu đã sai trái và hột rất chắc.
 
Còn câu chuyện trồng cây Kenap ở Chudron là sao?
 
Nguyên trong một dịp Tổng thống lên thăm, có đến vùng Chudron, giáp ranh với Cam Bốt, ông Đại sứ Ấn Độ có ý kiến sẽ đề nghị Ấn Độ biếu Việt Nam một số hạt giống cây Kenap trồng để chuốt lấy “gai” dệt bao bố. Tổng thống rất vui vẻ tiếp nhận thiện chí này, nên không lâu chúng tôi đã nhận được hột. Trong một dịp khác Tổng thống lại truyền đưa đến thăm rừng Kenap. Thấy quá tốt Tổng thống hứa sẽ liên lạc mua máy tướt sợi gởi lên cho.
 
Nhưng cây càng lên quá tốt chẳng có máy, mà cần thanh toán để dùng đất cho một mùa khác, tôi lại họp các bô lão kinh nghiệm để thảo luận. Được các cụ cười và góp ý cho chặt, đem lại suối gần đấy, đóng cọc dựa bờ suối, cột chắc Kenap vào, nước suối chảy chẳng mấy hôm chỉ còn sợi như mong muốn.
 
Sợi Kenap được phơi khô cho vào bao, chờ chở về Sàigòn, thì trong dịp Tổng thống đến thăm gần đấy, đã nhớ và nhắc hỏi, chúng tôi trình bày, được Tổng thống truyền đem cho các Đại sứ xem, mà ai nghe thấy cũng chẳng tiếc lời khen.
 
Cũng trong dịp này, vào buổi ăn trưa tại dinh Tỉnh trưởng, ông Đại sứ Úc Đại Lợi, Kỹ sư Canh nông đã đặt câu hỏi là Dinh Điền có nghĩ đến chuện làm sao để giữ cho màu mỡ của đất không bị trôi chảy trong mùa mưa, mà đất sẽ sớm thành khô cằn không, Tổng thống quay lại hỏi tôi:
 
-         Ông Vỹ, Trưởng khu nghĩ sao về câu hỏi của ông Đại sứ Úc, bởi ông là Kỹ sư Canh nông?
 
Ngày ấy tôi còn quá yếu Anh văn, nên đã nhờ một Kỹ sư Việt Nam trong Nha Nông cơ trả lời giúp:
 
-         Chúng tôi đã có nghĩ đến tình trạng ấy.
 
Và thật ra chưa bao giờ may mắn được xuất ngoại, nhưng nhờ nghe bạn bè kể, cũng như đọc được ở vài sách, nên “trả bài” khá thông suốt.
 
-         Trong nay mai, khi mùa mưa, qua được vài đám, nghĩa là đất không còn quá cứng rắn, sẽ cho nông cơ ủi xuôi dọc địa điểm, và dân chúng sẽ ra công đắp theo từng “cấp” mà chúng tôi sẽ cho trồng cây “xương rồng” để đất giữ được màu mỡ lâu dài.
 
Ông Đại sứ Úc cười lớn, đứng lên hướng về phía tôi vỗ tay hoan nghênh với hai tiếng:
 
-         My felicitation!
 
Tổng thống cũng như bữa ăn nhìn về tôi, như một tán thưởng không lời, mà tôi nghĩ sự lanh lợi, và kinh nghiệm đúng là hai điều rất cần trong việc lãnh đạo.
 
Nhân chuyến đi Chudron hôm ấy, không hiểu vì nguyên nhân nào, trong khi đang nghỉ ngơi chờ trở về Sàigòn Tổng thống cho Thiếu tá Diễn (sau này là Đại tá Tỉnh trưởng Phước Long) tìm tôi gấp. Khi bước vừa đến cửa, gặp Tổng trưởng Giao thông Công Chánh đang đứng sẵn đây. Ông vừa thấy chận tôi lại.
 
-         Ông Trưởng khu có vào, và khi Tổng thống hỏi có nên lập một sân bay tại Cuty hay không thì ông nên cùng tất cả anh em mà trình là “nên” nhé!  Vì Tổng thống đi theo đường bộ vất vả, nên để Người đi bằng máy bay, chúng ta sẽ đến đón tại Cuty cho tiện!
 
Thấy tôi chưa trả lời, ông ta còn dặn thêm.
 
-         Ông Trưởng Khu nhé! Ta nên thuận với anh em.
 
Vừa đi vào, tôi đang nghĩ “các ông này lại sắp đặt trước”. Nhưng chưa thấu cái tai hại về sau, tôi vẫn giữ thói cũ.
 
Vào trong, Tổng thống đã chỉ ghế ngồi, và đem chuyện ông Tổng trưởng Công chánh vừa kể ra hỏi, thì tôi nhìn chung quanh chẳng thấy ai.
 
-         Trình Tổng thống! Hầu hết các ông ấy đều có ý đề nghị mà con thấy có hai cái chẳng mấy tiện.
 
Thấy tôi đang ngập ngừng, Tổng thống đã hỏi:
 
-         Theo em, thì không tiện ở chỗ nào?
 
-         Trình Tổng thống vùng trong này là nơi có khá nhiều trại “cầm chưn” những gia đình chống đối miền Nam (Bình Xuyên, Hòa Hảo). Vả lại, sát ranh giới với Miên nên con nghĩ là không tiện.
 
Tổng thống im lặng suy nghĩ, trong khi tôi cúi chào và đi ra.
 
Những sự việc như thế, về sau Người thường khuyên tôi “cẩn thận” vì chẳng chịu xuôi dòng là ông Đại tá Lê Khương, lúc này đã thay Tướng Trần Tử Oai làm Tổng Giám đốc Lực lượng Bảo An. Ông Khương thường tâm sự:
 
-         Khi chú không xuôi dòng với số đông, mà họ biết chú đang được Tổng thống tin yêu thì chưa làm gì. Nhưng họ sẽ tìm đúng lúc triệt chú!
 
Rồi ông kết thúc bằng câu:
 
-         Mãnh hổ nan địch quần hồ. Chú hẳn biết câu ấy chứ!
 
Thật đúng như lời ông Khương nói, sau này tôi đã bị hai ông khá lớn cùng rủ nhau vào trình với Tổng thống một lỗi lầm của tôi “về tội trai gái” mà các ông chắc là diệt được. Nhưng số tôi lúc ấy chưa tàn, nên hai ông đã bị Tổng thống gạt đi.
 
-         Thôi được rồi! Không nên nói nhiều về nó. Lúc này là lúc không thể thiếu nó, bởi chương trình viện trợ đang đến cao độ. Để nó nghe mà nản chí, mất tinh thần là không lợi.
 
Nghe Tổng thống nói câu trên, hai ông đã xem như hết sách, bởi Tổng thống thường chẳng bao giờ chịu bỏ qua một chuyện như hai ông đã trình.
 
Trong thời gian này, Phái đoàn lên thăm liên tiếp đến độ không còn chút thời giờ để làm gì, nhất là việc thanh toán tiền bạc, cấp phát các Địa điểm trưởng về phát lại cho dân. Chính sau này mới vỡ ra câu chuyện một chú Địa điểm trưởng đã lợi dụng lòng tốt của tôi khi mượn 256.000$00 cho di dân tiêu, chờ sẽ trừ lại vào cuối tháng khi tiền ở Sàigòn gởi lên đủ. Thì trong tháng ấy Sàigòn cho lên thay tôi, trong việc phân phát tiền bạc bằng một phát ngân viên. Cuối tháng chú Địa điểm trưởng kia lợi dụng công tác quá đa đoan, vào lãnh đủ tiền nơi phát ngân viên về ẵm luôn số tiền mượn trước. Ngày cuối cùng, tìm ra số tiền này, nhưng lúc ấy không muốn chú kia lôi thôi câu chuyện, bởi chú cũng đã về ngoài Trung, trong lúc tôi còn thừa khá tiền nên cho qua sự gian xảo của chú.
 
Mùa mưa bắt đầu, rừng Cao nguyên cây lá ẩm ướt, gió độc đã thường gây nên cảnh chết chóc các em nhỏ.
 
Chờ đợi Trung Ương giải quyết là điều tôi hay phá lệ. Có lần phải ra ba tiệm thuốc tây của thành phố cho mua tất cả trụ sinh, dù với giá nào, để cứu dân chúng mà thật ra chẳng ông Trưởng khu nào dám làm.
 
Cũng với quan niệm ấy khi mà Sàigòn chưa gởi gạo lên kịp, tôi cho lệnh dùng gạo của những nơi còn, cung cấp cho những nơi thiếu, không thể khư khư theo nguyên tắc.
 
Cũng cần nhắc lại một lanh lợi hồi ấy, mà nhiều người không nghĩ ra, nên đã thêu dệt vì ganh tỵ, vì đố kỵ. Thường mỗi lần Tổng thống lên thăm viếng, là từ Tổng Ủy đến các tỉnh đều lo ngại khi bị dân chúng kêu nài, khó tránh sự phiền quở của Tổng thống. Những việc như thế tôi luôn có lo liệu trước.
 
Biết là Tổng thống sẽ lên thăm, tôi dự định sẽ đưa Phái đoàn đi những địa điểm nào. Trước đấy vài hôm đến tiếp xúc với tất cả, để giải quyết những thắc mắc kêu nài. Nếu còn lại điều gì ngoài tầm tay, hẹn lại và hứa sẽ giải quyết sau. Xong vặn hỏi lại, trước khi ra về.
 
-         Nếu trong hay mai có phái đoàn Sàigòn lên hỏi, bà con có nêu thắc mắc hay không?
 
Dĩ nhiên họ đã đồng thanh trả lời “không” vì như đã nói tôi có hẹn rồi.
 
Bởi lẽ ấy khi Tổng thống lên, dù hỏi:
 
-         Có thắc mắc gì không?
 
Dân chúng đã trả lời là “không “ để mọi người phải khen tôi biết giải quyết, lo liệu trước.
 
Lại đến cờ xí, biểu ngữ hay kiến nghị tôi không phải làm nhiều mà khi Tổng thống vừa thăm ở nơi thứ nhất ra đi, tại đây đã có nhân viên thu dọn chở ngay qua địa điểm thứ ba. Cứ thế mà làm, thì còn sơ suất hay chậm trễ sao được?
 
Lanh lợi có thừa nhưng tuyệt đối không gian dối, là nguyên tắc làm việc của tôi lúc bấy giờ.
 
Nghe tin Huế điện mời hai ông Tổng Ủy trưởng Bùi Văn Lương và Nguyễn Cao về gặp. Ông Cao về điện nhắn tôi ra Huế gặp ông Cẩn gấp. Thu xếp xong, tôi cho xe theo đường bộ về trước, và hôm sau đáp máy bay về, nhưng khi vào gặp anh Đại úy Độ anh đã cho biết:
 
-         Cụ Cố vấn đi cửa Thuận.
 
Tôi hẹn sẽ trở lại, vì lâu ngày về Huế đi thăm Lăng chơi. Nhưng hai hôm sau trở lại, anh Độ vẫn như trước cho biết ông chưa về, và anh đề nghị:
 
-         Hay là ông Trưởng Khu đi cửa Thuận chơi và gặp cụ Cố vấn nhân thể.
 
Không phải có ý ương ngạnh, nhưng bởi ra đi vài hôm là tôi đã quá lo cho công việc, vì nay không còn như xưa mà cả Kontum cũng có hai địa điểm trong khi tôi lại chẳng có người phụ tá, nên ngồi ngay trên xe viết một thơ đại ý xin ông Cẩn có gì khẩn và quan trọng điện lại, tôi sẽ trở ra, nay vì công vụ phải xin về gấp.
 
Biết việc làm này ông Cẩn chẳng dung tha, nhưng tôi nghĩ cũng không muốn ông tin rằng đã chinh phục được tôi, trong khi trước kia vài lần tôi luôn buộc ông đánh giá chẳng giống những người quanh ông đang ngày đêm dua nịnh, và nhất là tạo cho ông một tự tôn quá đáng.
 
Tôi không nói ra, không giống những người thường chống đối ông mà cho là ông “dốt” bởi nghĩ rằng ông vẫn học cao hơn tôi, ông đã có vài hành động trước đây làm tôi không hẳn coi thường, như việc gọi ra và cho xem lá thư của Cần Lao Quảng Nam nói xấu, chưa nói là đối với tôi ông luôn dành cho một cư xử khác hơn nhiều người.
 
Nhưng lần này, mặc dù đã nghe “nếu chịu khuất phục thì danh vọng sẵn sàng dành cho”.
 
Nhưng bản tánh là vậy, chưa nói là nay ngồi viết lại những kinh nghiệm mới thấm thía chưa hẳn việc không dua nịnh, không khuất phục ông là thiếu khôn ngoan.
 
Mươi hôm sau, ông Tổng Ủy trưởng Bùi Văn Lương điện về gấp.
 
Mới vào gặp, thấy ông có chiều mất vui, không như những lần khác, tôi đã nghĩ “một biến cố đang chờ.”
 
Ông Lương từ tốn giải thích việc gặp ông Cẩn, và ông Cẩn đã thông cảm với ông là giai đoạn định cư đã xong, nay là giai đoạn đoàn ngũ hóa nhân dân, mà tôi (Phan Vỹ) không phải là người của Đoàn thể (Cần Lao), nên phải thay thế.
 
-         Ông Lương lại nói rõ rằng hôm về gấp thì có ngay Hồ Liêm, Tỉnh trưởng Quảng Nam đang ngồi đấy. Khi nghe ông Lương trình bày là “Ông Vỹ đã nhiều lần xin thôi giữ chức Trưởng Khu Pleiku Kontum nhưng chưa tìm ra người đủ khả năng thay” và ông Lương có nhấn mạnh.
 
-         Ai đề cử người thay thế ông Phan Vỹ là chịu sự trách nhiệm thành công hay thất bại trước Tổng thống.
 
Nghe ông Lương nói thế, Hồ Liêm hoặc đã có ý kiến của ông Cẩn trước, hoặc vì ganh tị với tôi nên đã không khoan nhượng,
 
-         Nếu không có người thay được ông Vỹ thì tôi đề nghị chia nhỏ khu Dinh Điền này ra cho hai hay ba người đảm nhiệm.
 
Trước đề nghị của Hồ Liêm nên hôm nay xem như dứt khoát chia nhỏ khu này ra để cho nhiều người phụ trách. Ông Lương nhìn tôi với cả một cảm động và luyến tiếc.
 
-         Vậy từ này ông hẳn về Tổng Ủy với tôi.
 
Không nói ra, nhưng tôi phải hiểu rằng dễ gì ông Cẩn đã tha trong dịp này! Ông Lương không quên hỏi tiếp:
 
-         Vậy theo ông thì nên chia như thế nào, và nên cử ai thay thế?
 
Ông Lương đứng lên kéo tấm màn bên trong tường, tôi chỉ bản đồ đề nghị:
 
-         Nay thì chia Pleiku thành hai khu Pleiku 1 và Pleiku 2, Pleiku 1 là vùng trong Chudron gồm có Girakop, Lakrel, Chudron, Pleihai và Pleidel, còn tất cả thuộc Pleiku 2. Riêng những địa điểm của Kontum cứ để cho Kontum tiếp tục.
 
Tôi ngưng một phút, đề nghị tiếp:
 
-         Pleiku 1 nên cử anh Nguyễn Văn Doán, Pleiku 2 giao cho ông Hồ Đắc Hóa. Riêng một khu nên để trống, vì khi nghe có cải tổ hẳn nhiên bên cạnh ông Cẩn sẽ chẳng thiếu người xin đi. Ta trám hết chỗ, vừa làm ông Cẩn chẳng vui, mà chắc ông cũng ra lệnh thay đổi nữa thôi.
 
Nhìn ông Lương tôi cảm thấy thương hại vì ông là người rất hiền, chưa nói lại là một công chức thuần túy, với chức Đốc Phủ sứ từ bao lâu, nay ông đâu có nghĩ đến những đen bạc mà trên trường chánh trị thường dành cho những “canh bài” hơn thua không khoan nhượng.
 
Ông Lương bắt tay tôi để chúc lên vui vẻ, bàn giao xong về gặp lại.
 
Thật đúng như tiên liệu, chuyện bàn giao đâu dễ dàng và đơn giản khi mà họ nghĩ rằng ở vào địa vị tôi làm sao chẳng ăn cắp khá nhiều. Nhưng lòng vẫn thanh thản vì chẳng nghĩ đến chuyện ăn cắp, và nghĩ dù họ có làm gì thì cũng cỡ như khi rời Tam Kỳ thuở nọ, giương cao cổ chờ xem họ “đấu tố” thôi.
 
Nghĩ lại, mang tiếng là người đã từng được Tổng thống cho phép chi tiêu miễn giữ lại chứng từ để thanh toán, trong khi các Trưởng khu khác như Ban Mê thuột, Phước Long, Đồng Tháp hay Quảng Trị thì được tiêu dưới 5.000$00. Trên số ấy, phải điện trình xin chấp thuận của Trung Ương trước, chưa nói là nhìn vào các chi tiêu thì còn khá nhiều khoản mà người dù không hẳn tham lam cũng chẳng bao giờ chịu cho qua, như ngân khoản dự trù nhà tạm trú, một đợt là bao nhiêu, thì tôi cũng chẳng chi tiêu mà bởi cứ dùng nhà tạm trú đã có sẵn tu sửa lại. Ngoài ra, trong kho chứa toàn bao gạo, khi phát cho dân chúng xong cất lại, nay chỉ bán số bao này cho các nhà thầu Chợ Lớn cũng khối tiền, chưa nói là những khoản linh tinh khác, mà trước đây tôi chẳng hề nghĩ đến.
 
Tại sao vậy?
 
Bởi tôi quả ngay thật, cứ nghĩ chữ TIẾNG và TIỀN gần giống nhau, mà tôi ham làm cho có TIẾNG chứ chưa nghĩ chuyện có TIỀN.
 
Nay sự việc đã phũ phàng như vậy, trong khi túi tiền chỉ còn không quá 5.000$00 thì làm sao về Sàigòn sống, trong khi còn chờ đợi, chịu đựng bao nhiêu tình trạng hình dung sẽ xảy ra, tôi thầm nghĩ để tất cả số tiền mặt trong quỹ khoản 3 triệu bàn giao, còn tiền lẻ trên 40.000$00 ta cất đem về tiêu tạm.
Tôi thu xếp cất dưới ghế Salon dấu 40.000$00 nhờ cán bộ cho xe chở bàn ghế về gởi nhà Phan Bá Phụng cạnh nhà thờ Vườn Xoài, sau về thuê nhà sẽ hay. Và chiếc xe mua trước, cũng gởi gần đấy, ở lại chờ sắp xếp giấy tờ bàn giao.
 
Mấy ngày sau, Huế cử một người thay Trưởng ty Công an bởi họ lo là Trưởng ty Công an Pleiku sẽ cảm tình với tôi, lập thủ tục điều tra, để mục đích truy tố ra tòa làm nhục.
 
Họ yên trí lần này khó thoát như Tam Kỳ trước đây.
 
Tôi tự tin, nên rất bình tĩnh, chờ đợi.
 
Thoạt tiên Công an tìm hiểu thật kỹ, những nguồn tài nguyên mà tôi có thể đã gặt hái ra tiền. Họ cho mời chủ thầu bàn ghế, đồ gỗ cho văn phòng mà họ nghĩ là chị này phải có sự ăn chia với tôi. (Chị này sau là Hội viên Hội đồng Tỉnh Pleiku, chị tên Thơm). Chị đã khẳng khái trả lời bởi tôi hoàn toàn không có một mánh mung gì. Nếu chỉ có một chi tiết nhỏ, hôm nay họ sẽ khai thác được ngay.
 
Sau nhà thầu bàn ghế đến tiệm ăn Cao Nguyên, đồng thời có tiệm bán văn phòng phẩm đã được tôi ký cho những bữa ăn của các phái đoàn lên thăm Dinh Điền, mà đấy là một nguồn lợi lớn, cũng như khi cần những nhu cầu văn phòng, ký phiếu cho nhân viên ra mua, cuối tháng làm hóa đơn vào thanh toán. Biết không thể nào tránh được sự ăn chia với Tiệm này, nhưng khi công an hỏi, chú nhà hàng Cao Nguyên đã trả lời sự thật, chú ấy còn trình bày thêm là ông Trưởng Khu được chi tiêu ngay cả những buổi ăn khi phải đi vào rừng hay các địa điểm hằng ngày bằng chi phiếu. Đúng là công an, họ quay qua hỏi chuyện “lăng nhăng” mà thời ấy khó ai thoát khỏi. Ấy là chuyện “gái”. Các chủ tiệm ăn thường về Sàigòn tuyển dụng những cô chiêu đãi có chút nhan sắc, bởi họ nghĩ rằng xa quê, làm sao các nhân viên, cán bộ tránh khỏi tình trạng này. Nay lại là chủ tiệm Cao Nguyên, nơi mà tôi thường ngày ghé ăn thì chắc khó tránh. Họ quên nghiên cứu kỹ rằng lúc ấy tôi quá bận, từ sáng sớm đã dùng xe chạy vào rừng, đã lo chuyện đón tiếp phái đoàn gần như mỗi ngày, tối mịt mới về đến nơi, để ký các giấy tờ tiền bạc, giải quyết những nhu cầu của các địa điểm. Thời giờ và sức khỏe còn đâu mà nghĩ chuyện khác, chưa nói là lúc ấy gia đình tôi trước đây gặp một ngang trái, tôi đang được mai mối để đi đến lập lại cuộc đời với một thiếu nữ, gần như đẹp nhất Pleiku, thì chuyện lăng nhăng hẳn nhiên là chẳng làm sao có được. Và, họ cũng có tài liệu chuyện xưa, khi ở Tam Kỳ lúc ông Hồ Hưng và Nguyễn Đình Giáo do ông Nguyễn Vĩnh Mậu tạo ra bao nhiêu chuyện để truy tố, như đã có nói trong một đoạn trước, thì ái tình đối với tôi thường nghe “chẳng ra gì” nhưng khi điều tra xong, lại là câu chuyện trắng như tờ giấy! Dám nói như vậy, vì tại Tam Kỳ thuở ấy họ có mời một cô gái ở Chợ Mới đến hỏi vì nghe tôi có gian díu với cô, nhưng khi được hỏi, cô đã trình bày “Ông Vỹ không con nên có ý định hỏi tôi làm thứ thiếp, gia đình tôi có yêu cầu bà Vỹ phải đến hỏi cưới đàng hoàng, sẽ thuận ngay. Nhưng câu chuyện chưa ngã ngũ thì ông phải ra đi, nên không gì phải nói”. Cô còn thanh minh cho tôi là “đã có lúc mẹ tôi cho đi theo Ông Vỹ một chuyến về Huế, để tìm hiểu nhau, thì lúc về Huế ông đã rất đàng hoàng, không hề tỏ thái độ hay hành động gì đáng trách”.
 
Câu chuyện cũ đã vậy, thì nay tại Pleiku họ làm sao còn nghĩ gì, để mong hại được tôi.
 
Và, cũng như trường hợp nhà hàng Cao Nguyên, họ cho mời anh Nhờ, chủ một tiệm sửa xe, hằng tháng đã phải thanh toán khá nhiều tiền bạc. Khi anh Nhờ được hỏi đã khẳng khái nói rằng “quý ông cứ điều tra, nếu ông Vỹ có ăn chia hay gian lận gì với tiệm tôi, cứ một trăm (100$00) tôi xin chịu một tháng tù.
 
Họ đành chịu.
 
Và rồi, họ trực tiếp mời vào hỏi, tôi đã làm họ khá bực mình.
 
-         Chuyện tiền bạc, đáng lẽ các ông nên hỏi với ông Tổng Ủy Trưởng Bùi Văn Lương trước. Bởi trước đây khi các phái đoàn quá dồn dập, di dân lại tấp nập được di chuyển cho vào, tôi đã lên tiếng hỏi ông Tổng Ủy Trưởng là “làm sao tôi làm xuể” thì chính ông đã trả lời “ông Trưởng Khu đừng lo việc ấy. Còn Tổng thống, còn tôi, thì chuyện tiền bạc ông khỏi lo, miễn cố gắng làm sao cho Phái đoàn Mỹ không trở ngại việc viện trợ là tốt.” Ngoài ra, tôi cũng xin nói “nếu tôi là các ông thì đã ăn rồi.”
 
Vừa nói xong câu này, chú Công an, tự ái ngẩng nhìn ngay mắt tôi.
 
-         Tại sao anh dùng câu nói ấy?
 
Chẳng tỏ ra “ngán” tôi bình tĩnh giải thích.
 
-         Tôi chẳng con cái gì như các ông, dành tiền làm gì?
 
Rồi tôi chỉ vào nhà “Coang xết” bên cạnh văn phòng.
 
-         Các ông cứ cho mở nhà ấy ra, trong ấy có rất nhiều bao không. Chỉ một xe chở về Sàigòn bán lại cho chủ thầu là có trên 5.000$00 mà trong ấy hàng trăm xe không hết. Đấy! Chỉ bấy nhiêu thôi chứ còn bao nhiêu nguồn lợi khác như nhà tạm trú, như chuối cấp cho dân trồng v.v… tôi chẳng bao giờ nghĩ đến.
 
Y không muốn nghe tiếp, mà thâm tâm có lẽ nghĩ là tôi muốn thanh minh, bào chữa, chận lời:
 
-         Thôi được, anh ra ngoài, khi nào cần tôi sẽ hỏi tiếp!
 
Thế là ra, vào nhà khách nằm chờ.
 
Thì, trưa hôm ấy, được một cán bộ báo cho biết ngày mai họ sẽ bắt giam lại vì nghe đâu Tổng thống sắp lên, mà họ lo là tôi sẽ ra chận đầu xe Tổng thống để kêu nài, là hỏng cả âm mưu đã được ông Cẩn sắp xếp và chỉ thị.
 
Vào buồng, suy nghĩ, tính toán cách đối phó. Cuối cùng quyết định “trốn về Sàigòn – chờ kêu nài Tổng thống.”
 
Chong một cây đèn dầu để trên bàn, thả màn xuống đắp mền trên một gối dài như đang ngủ, nhảy ra cửa sổ, trước khi đóng cửa chính, và dự định lại bến xe. Thì may sao, vừa gặp Quang, người tài xế đã từng mang ơn tôi:
 
-         Anh Quang, anh còn thương tôi không?
 
-         Gia đình tôi mang ơn ông chẳng biết bao giờ trả cho hết, sao ông lại hỏi câu ấy?
 
-         Vậy anh tìm cách cho tôi xuống đến Đèo Hàm Rồng, để đón xe về Sàigòn, rồi anh trở lại!
 
Anh Quang trước đây có một tiệm sách ở cuối thành phố, nhưng bởi ham mê bài bạc nên thất bại, tiệm không phát triển đành vào xin tôi làm tài xế. Nhận thấy anh là loại trí thức, sa thế lỡ thời, nên tôi thương mà bảo anh làm đơn, sẽ cho làm Trưởng ban Công xa, vừa đỡ cực, vừa khỏi nhẹ “thế”. Và từ ngày ấy gia đình anh đã phục hồi kinh tế, hạnh phúc vui vẻ.
 
Đèo Hàm Rồng cách Thị xã Pleiku khoảng 5 cây số, là nơi ngã ba từ Kontum xuống, từ Pleiku và vùng trong Chudron ra, mà tại đây có tin đồn một con Cọp đã từng ăn thịt người nhiều lần, nên tôi không khỏi lo ngại.
 
Quang đề nghị tôi đi lần xuống dốc cầu, gần nhà anh, vào lấy xe của Khu lái chạy theo đưa đi Hàm Rồng.
 
Khi có việc lo sợ, tâm trí thường hoang mang, nghi ngờ, mà từ nơi ấy đi đến dốc cầu chỉ khoảng vài cây số, tôi đã đâm ra nghi ngờ đủ chuyện. Thấy ai cũng nghi, dù người ấy chẳng biết mình là ai.
 
Vừa đến dốc cầu thì xe Quang rà đèn, ngưng cho tôi nhảy lên, chạy xuống đến Đèo, tôi bảo Quang quay đầu xe lại chờ, khi nào tôi đón được xe đi, hãy chạy về. Vài phút sau, một xe chở hàng từ Kontum chạy xuống, tôi đón và nói dối là đi một xe khác chạy về Sàigòn, nhưng vào quán nước, xe đã chạy. Xin cho quá giang về Ban Mê Thuột.
 
Tối ấy ngủ tại bến xe, sáng hôm sau theo xe khác về Sàigòn. Tôi không về nhà, vì sợ nhỡ Pleiku đánh điện tìm, tạm mướn một phòng gần phi trường, ở một vùng toàn là cao ốc giàu sang để hy vọng chẳng bao giờ xảy ra chuyện soát xét ban đêm. Trong những ngày trốn tránh tại đây tôi đã kín đáo liên lạc người nhà đem một thơ đến nhà ông Bùi Văn Lương, kể rõ những oan khuất do ông Cẩn cố triệt hạ, và xin đưa đơn kia để kêu nài Tổng thống cho được ra thanh toán các giấy tờ tài chánh, chứ không thể bắt, rồi đổ tội hay vu khống là thâm thủng tiền bạc.
 
Đúng chiều 27 Tết năm ấy, gia đình đem lại một văn thư của ông Đổng Lý Văn Phòng Phủ Tổng Thống là Quách Tòng Đức, thừa lệnh Tổng thống “thông báo tất cả các cơ quan không được bắt”, mà phải để tôi tự do ra thanh toán các giấy tờ của Dinh Điền.
 
Ai ngờ được phút sung sướng ấy, trong khi tôi vẽ ra trong đầu bao nhiêu lòng thương và chiếu cố của Tổng thống…
 
Về mua pháo đốt cho thỏa chí mấy ngày Tết, và qua nhà Phụng nhận lãnh những đồ đã đem gởi, Phụng thấy tôi chẳng giấu giếm, cứ công khai lật ghế salon lấy gói bạc ra thuê nhà để sống, mà cứ nghĩ như nhiều lắm chứ đâu hiểu rằng, nếu nhiều thì tôi đã kín đáo, đâu lại công khai như vậy. Nhưng giải thích với Phụng lúc này làm gì, tôi im lặng vui ba ngày Tết, rồi còn trăm ngàn việc phải làm, đang chờ đợi.
 
Trong khi ấy được tin anh Lý Trương Trân, lúc này đang làm Chánh văn phòng Ban Mê Thuột kể lại là vừa rồi Tổng thống kinh lý cao nguyên, và đến nơi thấy quá nhiều chuyện chẳng ra gì, từ đón tiếp đến dân chúng ra kêu nài thắc mắc, mà giận chẳng dùng bữa ăn trưa, về ngay. Trong lúc về Tổng thống đã gay gắt “Tại sao 6 người thay mình Phan Vỹ mà chẳng làm ra gì như thế?” Ý Tổng thống nói rằng trước kia một mình tôi, không có phụ tá, nay chia ra thành ba khu có phụ tá, là cả thảy 6 người, mà vẫn làm chẳng bằng. Theo anh Trân, thì Cha Chánh xứ là Cha Lạc đã nghe Tổng thống nói như trên, nên nói với những người chung quanh rằng “Tổng thống đã có nhận xét ấy, thì đừng nói là Vỹ mất vài triệu, mà cả chục triệu rồi cũng chẳng sao.”
 
Sở dĩ Cha Lạc có lời nói trên vì tại Tổng Ủy Dinh Điền đã có tin đồn là còn một triệu tám mươi ngàn chưa có chứng từ.
 
Bắt đầu sáng mồng bốn Tết tôi đến Tổng Ủy trình diện và xuống Nha Tài chánh làm việc. Ngay chiều hôm ấy đã đến nhờ chú Lâm Thế An, trước đây phụ trách kế toán hàng ngày đến làm giúp.
 
Cũng xin nói thêm rằng, sau khi bị cho thôi việc là tất cả những nhân viên từ các Quận miền Trung theo vào làm Địa Điểm Trưởng hay Cán bộ, đều mặc nhiên bị nghỉ việc.
 
Đấy là một lề lối làm việc thế nào, để dư luận đánh giá!
 
Sau khi tìm ra một số chứng từ, mà như trước đã có nói là ông Tổng Ủy Trưởng khuyên lo cho xong việc, chứ đừng ngại chuyện tiền bạc, miễn còn giữ lại các chứng từ, mà đây cũng là kinh nghiệm xương máu, bởi nhờ lục lại vô số giấy biên nhận, giấy chứng từ ấy lại bừa bãi trong tủ sắt, nay xếp lại theo ngày tháng. Cứ một biên nhận chứng từ ấy lại kiểm qua sổ chi tiêu và chứng từ, nhưng khoản nào chưa có là được quyền kê ra, tôi và An tìm ra khá nhiều. Một số địa điểm nhận tiền mua giống chưa nộp lại chứng từ thanh toán, một Địa điểm trưởng mượn 258 ngàn cuối tháng vẫn lãnh đủ nơi phát ngân viên mà không khấu trừ lại v.v… Ngoài ra một số tiền khá lớn, là mỗi đợt di dân vào, chi phí trên vài trăm ngàn cho khoản tạm trú này tôi không hề tính, bởi như đã có nói, chỉ tu sửa những nhà đã có từ trước. Những khoản này, ai cấm tôi chứng minh để xem như một khoản xuất chi?
 
Chưa kể khoản nhà tạm trú vừa nói, và cũng không kể luôn trước đây vài vị trong vùng hay khu đã mượn tôi kẻ 50 ngàn, người 40 chục, tôi cũng không kể ra mà nói chung, nếu kê ra cả, thì chỉ có dư chứ không có thiếu.
 
Trong việc thanh toán sổ sách này, có một chuyện chẳng bao giờ quên, và đấy là việc cũng cần nói cho kinh nghiệm!
 
Khi xem lại quyển sổ tài chánh của ông Viễn, Phát ngân viên, tôi phát giác thấy rằng chỉ vài tháng đầu ở cuối trang ông đều có trình tôi ký xác nhận việc xuất chi của ông. Nhưng sau đó, gần nửa năm ông không hề đưa trình tôi ký, mà ở cuối mỗi trang chỉ viết hàng chữ “ông Trưởng Khu xác nhận” rồi đóng dấu. Tôi hỏi khoản này ông Viễn cứng họng, không trả lời được, và khi trình lên Tổng Thanh tra, ông Viễn được mời vào hỏi, chỉ biết khóc và cúi đầu.
 
Dù Tổng Thanh Tra đã đối chứng và ông Viễn đã không trả lời được, chỉ khóc như đã nói, nhưng kết cuộc Tổng Thanh Tra vẫn lập tờ trình.
 
“Tất cả đều do lỗi ông Vỹ”.
 
Khi rõ chuyện này tôi hỏi vài người trong Tổng Ủy thì đều được họ cho biết là “Tổng Ủy có chủ trương trình như vậy cho yên, bởi Tổng thống sẽ cho qua, chứ nếu là ông Viễn thì câu chuyện sẽ rắc rối. Viện trợ Mỹ sẽ lôi thôi.
 
Câu chuyện xảy ra và kết thúc là vậy, chứ nếu tôi thật tình đã thâm lạm hay thất thoát thì đâu dễ dàng.
 
Đã vậy, trong thời gian tránh mặt để kêu nài, Tổng Nha Công an đã cho đến kéo chiếc xe duy nhất của tôi về thay nhau xài chẳng thương tiếc.
 
Khi thanh toán hồ sơ lặng yên tôi đi hỏi và đòi xe, không ai trả lời buộc lòng đưa đơn lên Tòa kiện.
 
Một hôm ông Dự thẩm phòng 2 gọi lên:
 
-         Ông nên cho qua việc này, vì chẳng ai lại đi kiện chính phủ cả!
 
Thế là đành chịu, mất oan chiếc xe. Đúng là thấp cổ bé miệng, mà luật sư hay, tiền đâu để ăn đi kiện nữa, nên đành ôm bụng làm thinh.
 
Lúc này càng thấm thía khi nghe dư luận đánh giá Đệ Nhất Cộng Hòa của thời gian đầu, bao nhiêu nhân tài ra phục vụ, đến những năm sau, của bao chuyện từ trong Nam hay ngay cả ngoài Trung với giang sơn chia thành hai mảnh của hai Lãnh Chúa, thì làm sao tránh khỏi cảnh nghiêng ngửa cơ đồ, nhân tâm ly tán!
 
Đây là thời kỳ Cộng Sản thường biết rõ để bắt liên lạc, lung lạc, mua chuộc vì biết ta đang túng thiếu, bất mãn. Nhưng là người am tường kế hoạch, mưu mô của Cộng Sản, sẽ phải biết rằng Cộng Sản không dại gì tốn tiền, hao của vô cớ. Họ sẽ cho hưởng tý chút, chờ cho cá cắn mồi, rồi giao công tác. Khi từ chối hoặc làm chẳng ra gì, là sẽ phanh phui ra mà hại ta. Phải hiểu thật rõ để tránh bẫy sập của họ!
 
Cho đến một ngày, được anh Lý Trương Trân ngỏ ý giới thiệu vào Đảng Dân Chủ Đối Lập của ông Phan Quang Đán.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NGÀY XẢY RA VÀ KẾT THÚC VỤ ĐẢO CHÁNH
 
11 – 11 – 1960
 
 
Theo câu chuyện hàn huyên với anh Trân, tôi không quên xác định lại rằng “là người Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng nay Đảng ấy chưa thành lập lại mà ông Đán chỉ là một Đảng của giai đoạn, nên đồng ý để anh giới thiệu gặp ông.”
 
Gặp ông Đán, qua vài câu chuyện mặc dù trong thâm tâm không mấy phục, nhưng trong giai đoạn ấy không chấp nhận Cộng Sản thì tìm đâu ra một tổ chức khả dĩ cho mình hoạt động trong ý thức đối lập xây dựng; tôi gia nhập vào Đảng Dân Chủ Đối Lập. Sau vài nhận xét, sau này tôi phụ trách việc kêu gọi và thành lập lực lượng sinh viên.
 
Một vài sinh viên khả dĩ làm bàn đạp tiến tới mục đích này, tôi thương yêu em Lê Văn Ngung, mà tin cậy nơi em nhiều nhất.
 
Câu chuyện tổ chức đám sinh viên đang trên đà, thì xảy ra đảo chánh hụt ngày 11-11-1960.
 
Cũng nên ghi thêm rằng trước đó có việc truy điệu Bác tôi – cụ Phan Khôi mà chẳng thế nào bỏ quên, không nhắc lại.
 
Nguyên có một giáo sư tên Đang từ Bắc vượt tuyến vào Nam và thân tình với anh Nguyễn Vỹ, Báo Dân Ta nên xin được làm lễ truy điệu cụ Phan Khôi tại Tòa Đô Chính Sàigòn. Các anh có mời thân nhân cụ đến tham dự, nhưng trong hôm ấy nhìn quanh, tôi chỉ thấy một số ít, còn con cụ thì theo Cộng Sản, mà ngay như chị Phan Thị Miều tức Phan thị Mỹ Khanh lúc ấy đang sống trong Nam, nhưng có chồng là Đống Lương cũng là Cộng Sản.
 
Trong buổi lễ ông Nguyễn Vỹ có đọc về tiểu sử cụ, nhưng khi nghe đến đoạn anh viết rằng “Rồi lầm Cộng Sản, mà cụ đã phải theo ra Bắc”. Tôi chẳng lên tiếng, nhưng khi về, viết một thơ gởi đến báo Dân Ta, đính chính việc ấy để nói rõ rằng cụ bị “trục khéo” bởi người em chú bác là Phan Bôi tức Hoàng Hữu Nam, lúc bấy giờ đang làm Thứ Trưởng Nội Vụ để kèm cụ Huỳnh Thúc Kháng, chứ không phải vì lầm mà theo ra Bắc. Ngay ngày hôm sau, ông Nguyễn Vỹ đã đính chính.
Và, sau buổi lễ nói trên một thời gian khá lâu là xảy ra vụ đảo chánh, như đã nói.
 
Tôi chẳng có dính dáng gì việc ấy, nhưng bởi sáng hôm xảy ra, một chú em là Nguyễn Hữu Chánh lúc ấy đang là Đại úy Địa Phương Quân đến chơi, có đề nghị và đưa tôi mượn cây súng “Côn 19” của chú, có lẽ đã có người thấy nên hôm cuộc đảo chính xoay cờ, thì tối hôm ấy, Đại úy Quyền, Trưởng ty Cảnh sát quận Nhất Sàigòn đã cho lính xuống lục nhà, và bắt.
 
Bị hỏi cung, giam hai hôm tại đây xong họ đưa về Cảnh Sát Đô Thành hai đêm và đưa về Tổng Nha Cảnh Sát.
 
Khi còn ở Nha Cảnh Sát Đô Thành một chuyện nhỏ xảy ra cũng đáng cười vì mỉa mai thay những tay anh chị “rất ngán chính trị - bởi sợ đánh đòn đau, hơn là anh chị dao búa ngang tàng cướp giật”. Khi bị đưa vào khám, tôi gặp một chú Đại úy Nhảy Dù tên Cửu, Cửu chỉ một tay anh chị đang nằm trước mặt. “Nó là Tư Cầu Muối một tay anh chị ngang tàng nổi tiếng, giang sơn của nó là từ nhà hàng Thanh Cảnh đến rạp Đại Nam.”
 
Cửu đề nghị:
 
-         Anh để tôi chiêu dụ tên này, sau ra đời, dùng nó cũng đôi khi được việc!
 
Nhưng khi Cửu ngỏ ý thì nó lắc đầu quầy quậy.
 
-         Thôi cho em xin! Dính vào chính trị khi bị đánh đau lắm chịu không nổi.
 
Hắn ngừng một phút:
 
-         Anh chị tuy vậy mà chẳng bao giờ bị tra điện cả.
 
Nghe nó nói, tôi không thể nào nín cười.
 
Hai ngày sau được chuyển về Tổng Nha Cảnh Sát, vào Nha Thẩm Vấn, do Cò Cung, sau này cùng gặp nhau tại Trại Hà Tây, và anh Cung là người chết sau cùng tại trại này trước khi họ chuyển chúng tôi vào Nam Hà.
 
Tại Tổng Nha Cảnh Sát, ở phòng thẩm vấn, người gặp trước nhất là anh Lê Đình Duyên, anh Duyên kể nhỏ cho biết cảnh sống và các thành phần trong phòng là Cộng Sản cả, chỉ trừ tôi và anh. Tuy nhiên đám này sống tương đối khá, nhất là Hiệp, một Hiệu Trưởng trường trung học Phan Đình Phùng ở Bà Chiểu, và anh Nguyễn Thành Kính, chủ một nhà xay lớn ở Cao Lãnh.
 
Anh Duyên chỉ và giải thích cho tôi về sinh hoạt trong buồng. Sau khi được ký cung xong người nhà sẽ gởi đồ tiếp tế vào cho. Khi nhận vào, một tay trong buồng được cử như buồng trưởng, xem lại để đưa cho mình những món ăn “xổi” hoặc đồ dùng, còn những thức ăn khác là y giữ để ăn chung.
 
Buồng hẹp một chiều độ 5 thước, nhưng nằm tréo đầu nhau cả thảy hơn hai mươi người. Khi vào đông quá có thể lên đến 30, thì nằm nghiêng, mà 4 người phải đứng thay nhau quạt suốt đêm.
 
Vào tù mấy hôm sau, được thăm nuôi có tin nhà cho biết cháu gái đầu Phan Thị Phin đã đau ung thư máu, đưa vào nhà thương Chợ Rẫy chẳng bao lâu là chết.
 
Trong cảnh đau buồn như vây nhưng gia đình vẫn gởi thức ăn cho thường.
 
Khi ăn chung, thường dặn hễ trong thức ăn có gì khả nghi thì khéo léo đưa cho họ. Có một con vịt hầm, khi ăn trúng nơi cổ vịt một gói nhỏ, biết ngay là một vật như họ đã nói. Tôi ra dấu tay buồng trưởng, Cộng Sản đã chia ra cho nhà mình vào tay họ.
 
Thì ra họ đã liên lạc với gia đình là gói thư từ liên lạc nhau trong một mảnh ni lông, cột kỹ và nhận vào trong cổ con vịt đã hầm chín. Thế là trong này họ có tin tức từ bên ngoài.
 
Anh Duyên lúc này sống hơi khó khăn nên gia đình gởi thức ăn có phần hạn chế.
 
Đặc biệt là số nữ bị bắt vào bị giam ở một phòng trong cùng, nên khi nào đến giờ các phòng nam tắm đám nữ phải nằm xuống. Thế mà sau này nghe kể lại không hiểu chú Lê Văn Ngụ, anh ruột của Lê Văn Ngung bị bắt trong vụ ném bom Dinh Độc Lập đánh mắt nhau thế nào, được lòng một nữ công an cho đến ngày ra thì sống chung nhau. Nhưng cũng là cảnh chồng gà vợ  vịt đời nào sống chung nổi, nên đến ngày 30-4-1975 cô ả nhốt anh chàng Ngụy đi báo cho bọn họ lại lùa đi cải tạo. Trò đời là vậy! Nghe mà chẳng chán thì chẳng biết là hạng người nào?
 
Cũng có một câu chuyện khá vui là một người bà con tên Liệu, con ông Năm Nhụy, gọi cụ Phan Khôi bằng bác thúc bá, theo Cộng Sản bị bắt, nhưng khi đi ngang qua buồng, chị thoáng thấy tôi nên lần sau, lừa lúc mấy tay gác ngục không chú ý, chị đã nói vào buồng “nói cậu Vỹ đừng nhìn tôi, và nếu có lỡ thì gọi tên là chị Năm chứ đừng nói tên thật”. Mấy tên Cộng Sản trong buồng đã lập tức tin lại tôi ngay.
 
Một buổi sáng trong buồng có một tay thầy quẻ bên Khánh Hội bị bắt, thường lúc mới thức giấc đã “vốc” một nắm đũa, đoán quẻ “nhật thần” để xem hôm hay may hay rủi, thì một tay trong buồng đã ác miệng:
 
-         Quẻ gì nữa? Hôm nay lại bị gọi lên lãnh đủ chứ có gì.
 
Anh thầy quẻ nhào vào định đập lộn với tên kia:
 
-         Miệng nó ăn mắm ăn muối, giết hại người ta. Nó lại không biết là “Nhơn khẩu như Thần khẩu hay sao?”
 
Anh Duyên và anh Kinh can và khuyên nhủ lâu lắm mới yên chuyện.
 
Như thường lệ, tối lại là chuyện trò râm rả lâu lắm mới ngủ. Bọn Cộng Sản thì toàn là chuyện xây dựng cho Đảng, chẳng bao giờ chịu thôi.
 
Tối nay tên Buồng trưởng kể cho nghe một chuyện mà tôi và anh Duyên đã bấm nhau cười thầm.
 
“Trong tù ai cũng biết là tại Chợ Lớn có Bót Ngô Quyền vô cùng ác độc. Tại đây có câu chuyện hay nhất là đồng chí Quỳnh Hoa, bác sĩ bị bắt mà một đêm kia chúng khai thác đủ cách để biết giờ hẹn của đồng chí Nguyễn Bảo Kiếm, nhưng chị chịu đủ thứ cực hình từ 9 giờ đến quá 11 giờ để anh Kiếm biết là đã lộ, mà bỏ chỗ hẹn ngay.”
 
Y diễn tả đủ thứ cực hình, nào là bỏ kiến vàng vào quần, cột hai ống lại, nào là lấy chai bia “dộng” vào cửa mình.
 
Y tha hồ diễn tả toàn chuyện như trên màn ảnh, cho bọn kia ngồi nghe thán phục, trong khi Duyên và tôi im lặng.
Sau khi kể cho đã, y đã kết luận rằng thường trong tù, một ai bị gọi lên, rồi lúc xuống mặt mày tỉnh táo, tỏ ra chẳng bị đánh đập gì là cho nhịn đói. Trái lại nếu bị tra khảo thì chính chị Quỳnh Hoa đã pha “sô đa trứng gà” cho uống để lấy sức.
 
Khi nghe bọn mình hỏi chúng đã không tiếc mà kể tất cả những mánh lới gởi gì vào để ăn khi bị tra “điện”, làm thế nào để viết thư ra ngoài. Đôi khi còn dùng mũi nhọn sắt viết trên lon “ghi gô” (sữa guigoz) gởi ra, ngoài kia các bà mẹ, bà chị đã chỉ vẽ ngay cho những người chưa kinh nghiệm.
 
Chính các bà mẹ, bà chị này phải khuyến khích cho những người vợ có chồng bị bắt là phải hãnh diện thay vì xấu hổ hay rụt rè khi có ai hỏi chồng, cha mình bị bắt vì chính trị.
 
Cho đến một hôm, nghe bọn họ bày tôi dùng kem đánh răng viết vào giấy nhắn người nhà vài việc, bị bắt xem như bị “cúp” không được gởi quà vào nữa, mà có lệnh dọn đồ lên khu B, tức là khu sống riêng từng xà lim cách đấy không xa.
 
Bước vào khu B, mỗi người một xà lim riêng biệt, kể từ ngoài vào là quý anh Nguyễn Đại Thắng, Trần Văn Tuyên, Phan Bá Cầm, Ngô Đức Mão đến tôi, và trong cùng là Phạm Lợi. Chỉ những anh em đây cũng chẳng biết bao nhiêu chuyện đáng nhớ. Anh Thắng nguyên làm Nghiệp đoàn, sau đắc cử Hội viên Hội Đồng Đô Thành. Anh em thường kể chuyện anh có tài đánh cờ tướng bằng miệng với anh Phan Bá Cầm, Cứ buồn là hai anh ai ở buồng nấy mà rồi “Pháo tấn tam, Mã thối nhị” cho đến khi tự biết nhau để hơn thua. Đấy là một sở trường nhờ trí nhớ dai, không phải ai cũng chơi được. Anh Tuyên thì được một chú Cảnh Sát người của Đức Cha Từ, thường cứ giả như vào đứng gác, nhưng thật ra anh ta canh chừng cho anh Tuyên mượn tờ báo đọc, rồi đưa trả ngay, mà sau này anh Tuyên chỉ nói cho biết những tin quan trọng, cứ buồng này nói chuyện sang buồng khác. Anh Phan Bá Cầm thường kể và nhắc lại chuyện chú Hồng Văn Hoanh, người Long Xuyên có cả thảy ba bà vợ đua nhau thăm nuôi để tranh thủ cảm tình. Anh Hoanh làm Phòng Thương mãi, giàu có, nên ba bà cứ đến ngày thăm nuôi, là mỗi bà một giỏ, mà lệ thường là trên giỏ có khá nhiều thuốc con mèo, để anh còn phải lì xì cho mấy chú lính gác, và ông xếp là ông Huyện, hay Cò Cung miệng nhai “xanh gôm” (chewing gum), phì phà con mèo suốt ngày. Còn Ngô Đức Mão có tội dốt mà ham nói chữ. Anh ta thích làm thơ, cố hỏi cách làm thơ “lục bát” rồi thì ngâm to, chẳng ai muốn ngửi, chưa nói là có hôm anh đã cãi với tôi “Nguyên Tỉnh trưởng là đang làm Tỉnh trưởng”, tôi bảo trước có làm chứ không phải hiện đang làm, anh chẳng chịu nghe, còn đòi “đánh”, tôi phải gọi sang anh Cầm mới chịu im. Còn Phạm Lợi thì mỗi lần có quà gởi vào, khi nghe reo lên, mọi người khác phải nghĩ, anh đã thấy vợ gởi bánh tráng và rau muống vào, thì không gì thú vị bằng. Anh Lợi nằm trong cùng nên thường kể chuyện, cứ khuya thấy một bóng thiếu nữ áo trắng, tóc để dài, lửng thửng từ ngoài đi vào và vào buồng trong rồi biến mất. Lợi kể lại cho anh em nghe thì anh Cầm đã cho biết là có lẽ một nữ sinh nào bị bắt, bị tra tấn đến chết nên nay hồn thiêng còn lảng vảng thế thôi. Chuyện của Mão nghe chẳng bao giờ hết từ những ngày ở trại Lý Bá Sơ, Thanh Hóa vượt ngục trốn vào khu an toàn Đức Cha Từ, đến câu chuyện không lâu trước đây bị bắt lên tra khảo, lúc hai tay bị cột ra sau, và đặt nằm trên một ghế dài để cho tên “Tám Mẹo” đổ nước xà phòng. Nhưng chẳng chịu khai mệt quá chừng cho nghỉ, thì vừa có tay anh, côm lê chững chạc đi ngang, anh co chân “thét” cho chú này một đạp, té bò lăn ướt như chuột thế là Tám Mẹo lại làm thịt anh, nhưng Mão thường xem như chẳng thấm vào đâu.
 
Vào hôm sau Mão nhớ ra mới hỏi tôi:
 
-         Chứ chú mày tội gì mà bị đưa vào đây?
 
-         Bị bắt thông tin gởi thơ ra ngoài, cúp cho quà, và đưa vào đây.
 
Thế là Mão vui như Tết, nhào ra cửa hỏi là trong này lấy giấy bút đâu mà viết thơ? Tôi đã kể.
 
Không biết là anh dùng đường đen hay kem đánh răng viết tin ra ngoài, nên trưa lại văn phòng gọi lên, và từ ấy Mão cũng bị cúp không cho gởi quà vào nữa.
 
Thời gian ngắn sau, tôi được chuyển về đề lao Gia Định, sau này được gọi là Bót số 4 Phan Đăng Lưu. Đây là một trại giam chật chội, ghê gớm, nhưng vào đây là hoặc đang chờ đợi chuyển ra Côn Đảo, hoặc là loại tù trên 2 năm.
 
Chưa nghĩ mình bị liệt vào loại nào. Tại đây cùng nhà thầu với Tổng Nha nên thường ăn buổi trưa vừa xong là cơm chiều ngay, bởi các chú thầu không kéo dài đến chiều quá. Vì là chủ thầu nên họ thường cho ăn đầu heo nấu với dưa leo, mà anh em thường đùa là “dưa họ lượm ở chợ Cầu Muối.”
 
Thời gian này gặp dịp cuối năm, vui nhất là được gia đình vào thăm ngay tại sân. Vui vì họ sắp theo thứ tự của những gia đình đã đến trước ngoài trực trại và cho gọi ra mỗi lần 10 người. Một anh lính đứng lên cao, thổi “tiếng còi” là xáp vào nhau, nói chuyện, hôn hít. Độ năm phút, một tiếng còi chấm dứt, tản nhau ra, vào trại đưa đồ cho lính xét, gia đình thương nhớ ra về.
 
Và, thường mỗi Tết, bên Lăng Ông cho vô số bánh mứt, dưa, vào lao cho tù chia nhau.
 
Một hôm Cò Cung, Trưởng ban Thẩm vấn gọi tôi về Tổng Nha và cho biết:
 
-         Về tội trạng của anh, chánh quyền đã giải quyết xong. Nay thì giao anh về đoàn thể!
 
Nghe thế đã ớn, nhưng chưa biết rồi sẽ ra sao. Chờ đợi vậy!
 
Họ cho chở về lao Võ Tánh, đối diện với Tổng Tham Mưu.
 
Trong đám vừa mới chuyển lên hôm nay tôi gặp hai chú sinh viên cùng vụ việc, anh Nguyễn Minh Triết trước có tên trong nhóm Caravelle, và một chú thân nhân của anh Đông trong vụ đảo chánh.
 
Nhìn ra sân, thấy anh em lên xuống và đến giờ cơm cùng xuống nhà ăn, mới gặp các anh Nguyễn Chữ, Lê Ngọc Chấn, và theo các anh này thì trước đây có cả Phan Quang Đán và cụ Sửu.
 
Ăn uống tại đây tươm tất, chẳng thua gì ở nhà, cũng cơm trắng, cũng đồ kho và canh.
 
Nhìn lên nhà trên thấy bóng một phụ nữ, hỏi thì được biết đấy là vợ Đại tá Nguyễn Chánh Thi.
 
Đúng một tuần sau, họ cho cạo râu, cứ nghĩ là họ tử tế, nhưng hôm sau mới biết là chuyển mình về Huế.
 
Sáng sớm xe chở lên phi trường, vào ngã quân sự. Lúc chưa vào sân thấy thoáng xe Thái Đen chạy ngang, và thấy còn sớm, xe ngừng lại ngồi chờ đúng giờ mới đưa vào. Bỗng thấy chú Lâm Thế An, từ xa lại, ngồi ngay trước xe. Tôi nghĩ chú này không hẳn đã thấy mình, nhưng bởi chưa muốn vào sân bay sớm thôi.
 
Lúc họ dẫn ra máy bay quân sự thì An mới thoạt nhìn thấy tôi. An giả như không nhìn ra, lại ngồi sát cạnh. An biết là tôi đang bị “áp giải” nên khá thông minh, rút ngay một cái bao sau chỗ ngồi, giả như đang tìm “vần thơ” viết cho biết “đã trả nhà lại và dọn về quê cả rồi”. Thế là tôi biết sau khi bị cúp không cho đưa thức ăn vào, và sau khi con gái tôi – Phin – chết thì trả nhà lại và dọn về quê. Tôi nghiêng tai hỏi An có tiền cho chút ít, An viết diễn tả thất nghiệp, nay nhờ giấy một người bạn đi về thăm quê ở Hội An, và An móc túi cho 100$00. Việc làm của chúng tôi người lính áp tải không hề biết, nhưng một tu sĩ, ngồi ngay trước mặt, có lẽ ông nghĩ tôi là tù Cộng Sản, nên khi vừa đến nơi, đi gần người lính báo cho anh ấy biết. Vì vậy chúng tôi đi xa nhau ra.
 
Đến sân bay Phú Bài – Huế - họ cẩn thận hơn, đưa tôi xuống, lên xe đã chờ sẵn. Nhưng tôi hơi ngạc nhiên khi thấy xe không chạy theo quốc lộ, mà vừa qua khỏi An Cựu chạy lên ngã “Sáp phân jông”, đến bờ sông mới chạy xuống qua cầu Trường Tiền.
 
Điểm thắc mắc này, sau mấy hôm có dịp hỏi và được biết rằng một tên ma đầu chính trị người Quảng Ngãi đã tôn xưng ông Ngô Đình Cẩn làm Chủ tịch Tối cao một thứ Quốc Dân Đảng (tân tạo) nên họ cho lệnh không chở cho thấy cờ Quốc Dân Đảng đang treo trước khách sạn Nguyễn Văn Yến thời bấy giờ.
 
Lúc về đến Mang Cá Nhỏ, cho riêng vào một nhà nhỏ không xa Câu Lạc Bộ, và một lát sau thấy bóng các anh Phạm Đình Nghị, Trần Trọng Sanh, và nhiều người quen qua lại chơi “bun” không xa. Anh Nghị thấy tôi đã “xáp” lại gần hỏi thăm. Ngại bọn kia thấy, không lợi cho anh, tôi lên tiếng “chưa nên liên lạc vội” và xin anh tờ báo để đi cầu. Anh Nghị cười rất tự nhiên “không ngại gì!”
 
Tôi nghi ngay “chắc đây là cửa cùng rồi” nên trông các anh này rất tự nhiên, không tỏ ra chút gì ngán sợ cả.
 
Anh Sanh đi ngang, chỉ một dãy nhà phía trước vừa nói:
 
-         Nguyễn Văn Cảnh, tức Phúc Trăng ở dãy nhà kia!
 
Tại đây ăn uống cũng bình thường. Nhưng chỉ mấy hôm sau thấy Cộng Sản từ trong Nam đưa ra khá nhiều, và trong chúng ta thì lần hồi Hồ Văn Ánh mấy sinh viên cùng vụ việc cũng được đưa ra đủ mặt.
Họ đưa tôi vào một xà lim khác, gặp ngay anh Nguyễn Hữu Trình người Cam Lộ Quảng Trị, mà tôi có quen thời làm thông ngôn cho Pháp tại quê anh. Anh Trình kể ra vô số chuyện bị tra khảo vì nghi là kinh tài cho Cộng Sản, cũng như anh biết đám Liên thợ may, bên nhà kia bị bắt vì tội gián điệp của Pháp.
 
Câu chuyện anh Trình sau ngày (30-4-1975) mới thấy đám mật vụ miền Trung đã nắm trọn, “đúng” chứ không sai, vì theo vài bạn kể lại ngày cuối cùng anh Trình đã bị đám Cộng Sản tên Thúy vào thanh toán tại một căn nhà gần Tự Do, Sàigòn.
 
Sau hơn năm chúng tôi bị phân tán đi nhiều nơi, và lúc này được ra trồng xà lách gánh đi chợ Đông Ba bán, thêm tiền chợ, trong khi ấy Ánh ở nhà lo việc nấu cơm. Bọn Cộng Sản tức giận vì đám mật vụ không tin dùng bọn nó mà cho ra vào tự do như chúng ta, nên một hôm chúng đã âm mưu lừa lúc Ánh ra ngoài, tên Chất – trước làm nhà đèn Chợ Quán, hoạt động cho Cộng Sản bị bắt – đã nhảy vào đập tôi trong khi đang đau, Ánh chạy vào thì đã trễ. Thế là đám mật vụ “xiềng hai tay” cả tôi và tên Chất lên cửa sổ.
 
Ra đi chợ nên biết bên ngoài Phật Giáo đã đấu tranh. Khi ra chợ, những bà bán trong chợ Mang Cá “Nhỏ” biết lý lịch nên đối xử khá tử tế, chưa nói là kín đáo cho biết cả những chuyện bên ngoài.
 
Chuyện đấu tranh Phật Giáo đến ngày căng thẳng, họ cần nơi đang giam giữ chúng tôi để giam những người trong vụ việc này, cho chuyển chúng tôi sang lao Thừa Phủ, Cũng nhờ trong lúc gánh xà lách trước đây đi bán, tôi đã kín đáo liên lạc được với cô em gái ở Tam Kỳ thăm, cùng dắt theo đứa con trai của cô là cháu Phan Phúc Bình.
 
Và khi được chuyển qua lao Thừa Phủ, cô được họ cho biết nên cũng qua bên này, tuy không gặp mặt nhưng nhờ người chuyển quà vào cho.
 
Cuộc đảo chánh 1-11-1963 đã ghi vào đầu một khó quên trong cuộc đời làm chính trị. Hôm ấy trong giờ nghỉ trưa, một tên Cộng Sản nằm canh, đập khẽ vào vai.
 
-         Ngoài kia có tiếng loa “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng họp!”
 
Tôi bảo khẽ chú:
 
-         Đừng vội nói gì! Anh có nhớ chuyện đảo chánh hụt trước đây không? Tỏ ra hồ hởi thì sau khi họ trở lại, đã xách ra “dần” nát xương đấy!
 
Nhưng rồi im lặng nghe và cứ mong “là sự thật”.
 
Thì chiều hôm ấy, tên Giám thị đã giả tản vào các phòng giam, y đi đến chỗ tôi:
 
-         Anh Vỹ khỏe không?
 
-         Vâng cảm ơn ông, ở đây ăn nằm ngủ, chẳng làm gì, nên khỏe thôi!
 
Khi Giám thị ra khỏi, tên Cộng Sản đã lập luận ngay:
 
-         Chắc là đúng sự thật rồi. Đời nào tên ấy vào lao, nhất là hỏi thăm ai “sức khỏe”. Rồi chú ta mỉm cười đắc chí. Tối lại chú căn dặn nhờ tôi liên lạc với gia đình ở Sàigòn nếu được về.
 
Suốt đêm chẳng ngủ được. Tôi lại nhớ những lần tâm sự với người quen đã ví von câu chuyện “làm chính trị và công chức, cũng như buôn bán thật thà và buôn lậu chuyên vạch sẵn trong đầu của ngày thành công, trở về Sàigòn, trăn qua trở lại chẳng thế nào nhắm mắt.
 
Thì sáng hôm sau, Giám thị lại trở vào, anh nhắm vào đám chúng tôi:
 
-         Những anh Quốc Gia chuẩn bị sẽ được trở về Sàigòn, vì ông Diệm và ông Nhu đã bị bắn chết. Chính phủ Cách Mạng đã chính thức thay thế!
 
Thế là anh em tôi còn vui nào hơn. Đám Cộng Sản chạy lại chúc mừng, xin áo quần, nhắn người nhà trong Nam, ồn như chợ Tết.
 
Nhưng trưa lại, tin từ văn phòng cho biết Bảo Trọng đã lên bảo lãnh cho tất cả anh em ra ngoài chờ lệnh trong Nam, trừ tôi ra. Tôi buồn và tức, nghĩ rằng Bảo Trọng vì giận tôi chưa nguôi bởi câu chuyện khi còn “kèn cựa” nhau tại Quảng Nam mà ta thường quan niệm tôi xúi, quân sư cho Tỉnh trưởng Lê Khương chọi với anh. Thật là cả một chuyện hoàn toàn chẳng có chút lý lẽ nào. Nhưng Hồ Văn Ánh đã lại nói nhỏ:
 
-         Anh cứ yên tâm! Chúng tôi sẽ đợi khi nào anh ra rồi cùng về Nam một lần.
-         Thì hai hôm sau có lệnh cho ra, và gặp nhau hàng ngày đến khách sạn Hương Giang ăn uống, chờ lệnh Sàigòn trở về.
 
Hôm qua cầu Trường Tiền gặp anh Nguyễn Hữu Trình trao cho tôi 50.000$00 để chia nhau trong số những người vừa được thả ra, tiêu xài.
 
Mọi người rủ nhau lên xem sở nhà ông Cẩn, chở nhau lên xem cho biết “9 hầm”.
 
Một sáng qua Nha Công an, tôi gặp lại thầy tôi “Hòa Thượng Đôn Hậu”.
 
Cung kính và vô cùng mừng rỡ khi gặp Ngài. Nghe tôi trình bày là chờ vé tàu về lại Sàigòn, Ngài cho biết hôm nay đến nhận lại “chuông mõ và kinh kệ” đã bị công an tịch thu trước đây.
 
Trong câu chuyện ngắn ngủi Ngài có dặn:
 
-         Khi về, cần tìm cách sinh sống thì con chỉ nên chờ thầy giới thiệu với Ngô Trọng Anh cho nhé!
 
Tôi biết Ngài muốn nói gì. Thầy trò từ giã nhau trong vội vàng luyến thương.
 
Biết gia đình nay chẳng còn ai, tan nát cả, nên đành báo tin cho hai chú sinh viên biết nơi tạm ở nhờ, và đi ngay về nhà một người anh em chú bác ở đường Hàng Xanh, Thị Nghè.
 
Việc đầu tiên là hôm ấy hẹn hai chú em dắt nhau xuống chợ Sàigòn để bụng ghé nhà hàng Hòa Bình, ăn lại món ăn trước ngày Đảo chánh đã đến ăn “món mì tôm của Hòa Bình”. Nhưng đến nơi thì nhà hàng chẳng còn, chỉ mới ba năm đã nhiều thay đổi, đành về, và dự định về thăm Hội An một chuyến.
 
Ý định ấy chưa thực hiện thì mấy hôm sau được tin anh Nguyễn Rô nhắn nên về chơi, nhất là ghé lại thăm bà vợ, nay đã sang ngang, mà khi nghe báo chí đề cập đến những người đi tù với một danh từ khá mỹ miều “những nhà Cách Mạng …” bà ấy đã lo sợ. Bởi bà đã có chồng khác, nay đã vừa có một con.
 
Tôi sẵn có khá tiền của anh em cho, lên xe về Quảng Nam chơi. Lúc vào gặp, trông bà quá sợ tôi phải tươi cười hỏi:
 
-         Theo em thì anh còn có thể có vợ nữa không?
 
Bà không trả lời. Tôi vẫn tươi cười:
 
-         Nếu thấy rằng anh không thể có vợ được nữa thì cũng nên sợ. Nhưng nếu thấy anh còn có vợ được nữa thì có gì phải lo, vì đã không duyên nợ, thì thôi nhau cũng chẳng sao.
 
Vài ba chuyện thêm, tôi từ giã và ra về, ra chơi Đà Nẵng vài hôm rồi quay về Sàigòn.
 
Đây cũng là lúc cần nghiền ngẫm lại nhân tình, từ cá nhân đến những người lãnh đạo, mà trước đây ai đã dám nghĩ sẽ có ngày Chính phủ Ngô Đình Diệm sẽ bị sụp đổ, nhất là khi ở Huế để nghe anh em Cần Lao lý luận. Người trong Nam khác! Họ thấy cảnh thay nhau như thay áo, thì chẳng mấy lạ lùng, nhưng khi bị giam tại Huế nghe mấy anh Cần Lao, gác ngục mới biết sự tin tưởng của họ là dường nào.
 
Tất cả những đau thương của cuộc đời chính trị từ 1945 đến nay sau 1963 qua 18 năm xin tạm dừng lại nơi đây. Để tiếp tục cho 35 năm sau, với 3 lần vào tù khác, và lắm chuyện khi TUỔI càng cao, CHÍ vẫn còn nguyên vẹn ở Tập II.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TIỂU MỤC 2
 
KINH NGHIỆM TRỒNG CÂY … LẬP VƯỜN
 
 
 
Rút kinh nghiệm của cuộc sống từ Nông thôn …, kinh nghiệm của những năm tháng sống gần những người có căn bản trong kỹ thuật canh nông, và nhất là của những cụ già đã từng sống tại nông thôn, sau cùng là đã từng lập vườn, khẩn đất tại Bà Rịa, chưa nói là thời gian làm Chuyên viên chỉ đạo Bộ Xây Dựng Nông Thôn với danh nghĩa nhà văn chuyên về nông thôn, (Rural expert writer) nay nói lại những kinh nghiệm của trồng cây, lập vườn kể chắc cũng được một vài phần bổ ích.
 
Muốn biết khoảnh đất ta định ở, định lập vườn có tốt không, việc trước tiên là nhìn vùng ấy cây cỏ có xanh tươi không. Lá cây vùng này xanh tươi là tượng trưng cho đất vùng này tốt. Thứ đến chỗ ấy đất có xa nước không, nghĩa là khi đào giếng sâu độ bao nhiêu mới đến nước. Ta cần biết điểu này, vì cây cối ta trồng thường khi rể cây sâu xuống một thước phải gặp được nước. nếu đến độ ấy vẫn chưa gặp nước thì chẳng lẽ ta phải tưới thường sao! Bởi trong kinh nghiệm thường bảo là “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Nước là bậc nhất, thứ hai là phải có phân, thứ ba là làm vườn phải cần siêng năng làm cỏ bón phân, và thứ tư là giống.
 
Vì những lẽ ấy, thường khi lập vườn, ngoài việc xem coi ở đây có xanh tươi không ta phải lấy một ống nước đóng xuống sâu, rồi đem ống này nhờ “phân chất” xem ở đây đất ra sao, đất cần phân gì, đất có thể trồng những thứ gì. Sở dĩ phải nói như vậy, vì đất đỏ thì quá tốt, nhưng nếu là đất pha cát thì chỉ trồng những thứ cây thuộc loại “nước” như nhãn, dừa, nhưng không thể trồng các loại “hột” như bắp, đậu.
 
Khi nhờ phân chất “đất” và nắm vững đất ấy trồng được loại cây rồi, ta hẳn nghĩ đến vấn đề “giống”.
 
Giống là rất cần, nhưng ngoại trừ các trường hợp trồng đậu, bắp, ta mua giống có nơi sẵn. Nhưng khi ta lập vườn cần biết phải dùng giống thế nào thì đấy lại đòi hỏi kinh nghiệm. Nhiều người không chịu nghiên cứu ngay từ lúc đầu, đến khi cây trồng có trái (mít, xoài…) thấy trái quá dở, chặt thì tiếc, mà chặt bỏ một cây đã trồng đến độ ấy không phải là chuyện dễ, vì rễ đã quá nhiều trong đất, sẽ khó cho việc trồng tiếp theo các cây khác khi mà những rễ cũ không được đào phá. Buồn thay khi là một vườn dừa, mà rễ dừa đã nằm như “trùn” dưới lòng đất thì làm sao đào bới cho hết được.
 
Vì vậy, việc nghiên cứu, chọn lọc kỹ giống, là điều quan trọng của nhà nông.
 
Một trái mít được chọn, trái mít nào gai sưa, múi dày và ngọt, đáng cho mình dùng làm giống thì rồi cũng phải biết lấy những hột nào trong trái mít?
 
Chỉ lấy những hột ở vào nửa phần sau của trái mít, và chỉ lấy những hột mít “dẹp” thường được gọi là hạt “cái” thì mới để giống. Có người háo kỳ nghe chỉ bảo rồi trồng hai hay ba hột sát nhau, lúc cây mít lên vừa khoảng 5 tấc, cạo vỏ của cả ba cây cột dính lại để 3 cây sẽ thành một cây “gốc của 3 cây nuôi cho một cây” sẽ nhiều trái!
 
Trồng một cây mít bạn sẽ thấy phía mặt trời mọc thường rất sai, xanh, tốt. Ngược lại, phía nửa cây bên mặt trời lặn sẽ khô, vàng, xấu hơn. Người xưa thường có phong tục dị đoan là những cây mít trồng lâu quá không có trái thì họ cột vào thân cây áo quần cũ, hay nửa đêm dùng roi “dâu” đánh vào thân cây để cây phải có trái. Nhưng ta sẽ không làm như vậy mà ta nghĩ rằng những cây trồng xuống chỗ rễ cái của cây gặp phải một tảng đá không phát triển được mà chưa có trái thì ta cần cho phân vào chặt ngọn cây.
 
Phân, cây nào cũng vậy thường là lá phủ ra đến đâu là rễ cây ra đến đấy. Ta phải đào quanh theo tàn lá phủ mà cho phân.
 
Lại đến cây xoài. Thường thì mua trái xoài nào ngon trồng giống theo trái xoài ấy. Khi ăn xong, chặt bỏ hai đầu của hột xoài mà trồng cho mầm nứt ra dễ. Lúc hột xoài nứt ra ba, bốn chồi non, ta để cho chồi non ra khoảng ba, bốn tấc là bẻ bỏ tất cả những chồi non yếu, mà chỉ để lại một chồi chính.
 
Đến cây chuối. Ai cũng tưởng cây chuối dễ trồng. Nhưng thật ra chuối thường bị bệnh “sùng” vàng lá, nhỏ trái, hoặc xủ lá mà chết lần.
 
Trước hết ta hãy nói việc trồng một vườn chuối. Thường thì chuối “già” không chịu trồng ở các sườn dốc, vì chuối già đòi hỏi phải gần nước. Chỉ có chuối mốc, chuối cơm, là chịu trồng ở các đồi dốc. Riêng chuối hột – thường gọi là chuối chát – để ăn trái khi xanh, chứ không để chuối chín – tốt nhất là trồng sát cạnh nhà, cạnh nơi có nước. Ở thôn quê Việt Nam ta thường trồng chuối nhiều là mua gốc chuối từ Cai Lậy chở lên. Cây chuối chặt bỏ và chỉ chở lên toàn gốc khoảng nửa thước. Các gốc chuối này thường được đặt xuống, trồng nhẹ tay và không “động” mạnh sẽ mất sức, hoặc chết. Trước khi trồng, ta định trồng từng hàng dài, thì phải cầm gốc chuối lên xem và đánh dấu rễ “cái” của gốc cây chỗ nào. Phải làm như vậy, vì khi chuối được trồng xong lúc có trái sẽ trổ buồng ngược chiều của rễ cái, nghĩa là nếu gốc chuối được xuống mà rễ cái về hướng Tây thì khi buồng chuối trổ ra sẽ trổ về hướng Đông. Nếu ta không bứng ra để trồng như hôm nay, mà cả bụi chuối còn nguyên chỗ cũ thì cây chuối không bao giờ trổ buồng ngược vào phía cây mẹ. Ta phải làm như vậy, vừa cho đẹp, vì tất cả hàng chuối sẽ cùng trổ buồng ra một phía. Rễ cái là gì? Là rễ từ cây mẹ nở, ta xén đứt lìa ra, tức là rễ cái.
 
Lúc chuối trồng lên lớn, tự nhiên thấy bị “sùng” vàng lá hay chảy nước vàng từ trong cây ra, ta sẽ làm gì để cứu chữa?
 
Phải chữa bằng hai cách. Trước tiên dùng một dao nhọn thọc vào thân cây, dưới gốc để nước vàng chảy ra, và việc thứ hai là cho tro bếp vào gốc cây thay cho phân.
 
Không ai trồng chuối trước nhà, vì phong tục ta thường có câu “CHUỐI TRỒNG SAU, CAU TRỒNG TRƯỚC.”
 
Một việc quan trọng khác, cần lưu ý khi trồng chuối là mỗi bụi chuối thường chỉ để tối đa 4 cây. Khi bụi chuối nảy nhiều cây non, ta nên đào bỏ bớt chỉ để lại 3 hay 4 cây mà thôi. Khi một bụi chuối đã ăn đến tối đa là 10 cây, thì bụi chuối này nên đào bỏ và không trồng chỗ ấy nữa.
 
Những cây chuối không giữ đúng nguyên tắc ấy sẽ ra trái ốm lần, và không ngọt.
 
Thường các loại cây trồng, phải giữ đúng kỹ thuật, nếu không, sẽ thất bại vì trái ra không đúng thời, èo uột, nhất là khi trồng dưa hấu. Trồng dưa hấu phải học hỏi kinh nghiệm đầy đủ nếu không sẽ thất bại chưa nói là dưa hấu đòi hỏi “phân dơi, phân cá” ta lại trồng bằng phân “lân” – Ure –thì trái dưa sẽ đầy cả nước, không để lâu và rất dở.
 
Mọi thứ cây khác cũng tương tợ những kỹ thuật như trên, ngoài việc tưới nước, bỏ phân, đều có vài riêng biệt.
Lúc mới lập vườn, thường ở Việt Nam ta xuống Chợ Lớn nơi chợ Bình Tây mua cây giống. Rồi về trồng, tham quá nên trồng dầy, đến khi phải chặt bỏ thì lại tiếc!
 
Việc cấm kỵ của trồng cây là không để “cây giao cành” cũng như nuôi cá không nuôi quá nhiều, vì “cá liền vây” cũng vậy.
 
Vì những lẽ ấy, khi lập vườn, ta muốn mau xinh đẹp đã xuống chợ Bình Tây mua giống về trồng, nhưng phải nhớ rằng những cây “rép” giống này mau có trái, nhưng chỉ ăn được ba hay bốn mùa là đã èo uột, chẳng ra gì. Vì lẽ ấy, nếu ta trồng hai cây xa nhau 8 hay 10 thước, thì giữa hai cây ấy, sau khi chọn được giống tốt, ương giống xong, ta trồng xen kẽ vào giữa, vì khi những cây giữa này lên cao lớn là cũng vừa lúc ta chặt phá những cây cũ, đã ăn trái ba, bốn mùa, như đã nói.
 
Việc trồng như thế cũng có một lý thú là nếu từ lúc đầu ta trồng những cây ương, chờ mãi năm, bảy năm sau mới có trái sẽ thấy chán nản hơn là trồng ngay năm đầu có trái, rồi ăn ba, bốn mùa, chặt đi, thì cây ương cũng vừa lớn, xanh vườn, đẹp mắt.
 
Đây là nói qua kinh nghiệm của một số cây trái. Những kinh nghiệm khác cũng không kém phần quan trọng. Bởi lẽ người đi lập vườn thường mua lại vườn của người khác, rồi tu bổ sửa sang lại, hơn là lập vườn mới. Nhưng khi đã mua lại thì cũng cần lưu ý là tại sao họ bán, sang lại vườn, nếu không phải là họ đã thất bại trong những ngày qua?
 
Việc thất bại thường xảy ra là, sau một vài mùa mưa, nắng, mới nắm được kinh nghiệm. Có nhiều vườn, qua một mùa mưa nước chảy không kịp, bởi cống chính cho việc thoát nước không được nghiên cứu trước, nên mưa ngập hư hại cây không ít. Và, đôi khi vì những lẽ trên họ chờ hết mùa mưa, treo bảng “sang, bán lại”.
 
Đại để những kinh nghiệm trồng cây là vậy. Nhưng, còn lập vườn thì sao? Như đã nói, lập vườn là phải chọn nơi đất tốt … dĩ nhiên, nhưng kinh nghiệm cũng còn nhiều việc phải nói. Phải lập một vườn ở nơi giao thông thuận tiện là việc dĩ nhiên.
 
Đến việc đào giếng. Người Việt Nam ta ngày xưa rất ngại việc đào giếng, vì sợ “động long mạch”. Nhưng chẳng lẽ lập vườn lại đi tìm thầy để xem long mạch hay sao? Vì lẽ ấy ta chỉ cần giữ những nguyên tắc tối cần.
Nguyên tắc thứ nhất là cửa trổ từ ngoài vào, tránh ngay với con đường, hay cái nhà phía trước đã ở sẵn, mà nên trớ tránh. Trổ đường xong ta cố cho đi từ trái qua, hay từ mặt vào, để từ ngoài ngõ không ngó ngay thấy nhà bếp!
 
Nhà bếp và giếng cần gần nhau, vì vừa hợp vệ sinh lại hợp lý trong mùa “nắng”.
 
Thường người lập vườn, không bao giờ trồng chuối trước mà trồng vài cây cau trước nhà. Ngoài ra những vườn đẹp thường trồng trước nhà một bụi “trúc” để tượng trưng cho sĩ khí (!)  và xung quanh nhà thường trồng cây sả để ngăn chặn các loài rắn, khi khai phá đất mới.
 
Xung quanh vườn hay trồng “sắn” – tức là khoai mì, vì mau xanh, mau tốt mà dùng củ sắn để bằm ra làm thực phẩm gia súc rất tiện lợi. Nhưng thường kinh nghiệm cho biết đất mới khai phá tránh trồng sắn bởi những đất này sau lại mau xấu.
 
Dĩ nhiên, như đã nói, sau một mùa mưa nắng hay vài mùa, càng tốt, ta thấy cây cối sẽ thuận tiện ra sao, và bất lợi ở điểm nào, rồi bổ sung lại.
 
Những kinh nghiệm nói ra đây chỉ là những kinh nghiệm của một thời đã qua, ngày nay dĩ nhiên có nhiều thuận tiện, nhưng không hẳn đã là vô bổ.
 
Rút kinh nghiệm kể trên, rồi tùy ở mỗi hoàn cảnh mà thực hiện, nhất là tránh những thất bại nhỏ, bỏ cả kế hoạch lớn.
 
“Thất bại nhỏ bỏ kế hoạch lớn” nghĩa là hồi ấy có người đến hỏi tôi về việc lập vườn, tôi đã hỏi lại:
 
-         Anh định bỏ vốn bao nhiêu trong việc lập vườn này?
 
Anh bạn nhìn tôi, chưa hiểu tôi muốn nói gì.
 
-         Nghĩa là tôi muốn nói rằng, nếu định bỏ ra 4 triệu đồng thì chỉ nên làm khoảng một nửa số tiền ấy. Với các kinh nghiệm hoặc khẩn đất, hoặc mua lại vườn của người khác rồi, tu bổ sửa sang, chứ không thể đặt hết số vốn vào việc khai thác ngay từ lúc đầu. Ta phải quyết định như vậy, vì số tiền còn lại nên dành cho những chi tiêu bất ngờ, chưa nói là nếu gặp trở ngại hay thất bại, ta còn vốn mà dự định việc khác.
Cũng như việc mua sắm ngay từ lúc đầu, những cái gì cần thiết thì nên mua, còn những gì có thể du di trao đổi nhau thì ta tạm chưa nên dốc hết số vốn.
 
Những điều đã nói ở những trang vừa rồi chỉ là chuyện của thời bình, chứ vào thời chiến tranh … như thời tôi về lập vườn ở Bà Rịa. Còn một chi tiết khá quan trọng là địa điểm ấy nếu nằm vào ảnh hưởng của Cộng Sản trong núi, thì cũng không yên với mấy chú Cảnh Sát lúc ban ngày, nhưng ngược lại, nếu dựa vào các đồn của ta, thì khó tránh cảnh phá hoại hay thu thuế của Cộng Sản trong núi, mà, khi đã chạm vào chuyện này rồi thỉ vô cùng rắc rối, chẳng còn làm ăn gì được.
 
Câu chuyện của anh Trung tá Nhảy dù, ra lập vườn vùng đất Song Vĩnh – gần Đại Tùng Lâm – ngày xưa đã bị bắt và tan tành ý định lập vườn, chắc chẳng mấy người không nghe kể.
 
Và, câu chuyện vườn “sầu riêng” ở gần Quán Chim được trả giá trên 2 triệu đồng chưa bán, nhưng chỉ một trận mưa nước ngập dài ngày, vườn cây đẹp kia cũng đã tai hại không ít.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
GIỚI THIỆU TẬP 2
 
KINH NGHIỆM ĐỂ ĐỜI
 
 
 
Chương v – Cuộc đời viết sách
 
 
-         Tổ chức ngày “Tưởng niệm người chết đoàn kết kẻ sống” tại Nhà hát lớn Sàigòn (sau này là Hạ Viện).
 
-         Được Tướng Nguyễn Khánh mời vào gặp tại Bộ Tổng Tham Mưu.
 
Phát hành tác phẩm thứ nhất:
 
-         Cẩm Nang Hành Chánh hay là Kinh nghiệm Sống tổ chức Nông thôn (tái bản 3 lần).
 
-         Kiến Hòa mời tổ chức thí điểm Dân Ý Vụ (sau dược gọi là Đối diện Phụng Hoàng).
 
-         Bộ Xây Dựng Nông Thôn mời  làm Chuyên viên Chỉ đạo.
 
Vào tù lần thứ 5 Khám Chí Hòa
 
Phát hành tác phẩm thứ hai
 
-         Đừng lạm dụng danh nghĩa Nông Thôn (1968)
 
-         Vận động Thống Nhất Việt Nam Quốc Dân Đảng.
 
 
 
Chương VI – Tái tham gia chính trị
 
-         Vừa mở quán, vừa tham gia chính trị.
 
 
 
Phát hành tác phẩm thứ ba
 
-         Từ Yên Báy đến Côn Lôn (Hồi ký của Cụ Ký Thân Nguyễn Hải Hàm).
-         Được mời tái tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng Thống nhất.
 
Đại hội bầu Tổng Ủy Viên Nghiên Huấn.
 
-         Lập vườn và dựng chùa ở núi Ông Trịnh – Bà Rịa.
 
Vào tù lần thứ 6 – khám Bà Rịa.
 
 
 
Chương VII
 
 
-         Ngày 30-4-1975 tại Bà Rịa (núi Ông Trịnh).
 
-         Trình diện đi tù, (dù hằng ngày chẳng thiếu người ghé lại rủ ra Vũng Tàu đi ngoại quốc).
 
Trong tù:
 
-         Chuyển về Long Thành.
 
-         Lên Thủ Đức (đụng đầu Cán bộ Hà Nội).
 
-         Đi lao động, được hơn hai lượng vàng trong đống rác.
 
-         Chuyển ra Bắc (tại Trại Hà Tây).
 
-         Đấu tranh chống lao động – Tịnh khẩu 6 tháng 8 ngày – Khẳng định lập trường với Cộng Sản dù trong cảnh tù đày.
 
-         Được ra về trong một buổi lễ vô cùng long trọng.
 
-         Bị bầm dập khá nhiều mới lên được máy bay sang Hoa Kỳ.
 
 
 
Chương VIII
 
 
-         Tại sao sau 2 ngày mới nhận được hành lý do nhân viên hàng không chở đến.
 
Kinh nghiệm 6 tháng tại Maryland mới sang đến Virginia.
 
-         Bắt đầu viết các tài liệu chính trị và kinh nghiệm để đời.
 
Nhìn đồng hương chung quanh để tự rút kinh nghiệm cho cuộc sống.
 
-         Những gì cần suy nghĩ sau 3 năm học tại NOVA?
 
Khẳng định ngày đất nước sẽ đi về đâu?
 
-         Thay cho lời kết luận.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                                          CÙNG MỘT TÁC GIẢ
 
 
Xuất bản tại Việt Nam:
 
     Năm 1965 – Cẩm-Nang Hành-Chánh
                          Hay là
                          Kinh-nghiệm SỐNG tổ-chức Nông-Thôn (tái bản 3 lần)
 
     Năm 1968 – Đừng lạm-dụng danh nghĩa Nông-Thôn
 
     Năm 1970 – Từ Yên-Báy đến Côn-Lôn
                          Viết theo bản thảo Hồi-ký
                          Của Cụ Ký-Thân Nguyễn-Hải-Hàm
 
     Cả ba tác phẩm đều còn được lưu-trữ trong Thư-viện Quốc-Hội Hoa-Kỳ
     tại Washington D.C.
 
     Quyển thứ 3 đã được rút ra tái-bản tại Hoa-Kỳ năm 1996
 
 
Đã xuất bản tại Hoa-Kỳ:
 
     Năm 1996 – Từ Yên-Báy đến Côn-Lôn
                           Viết theo bản thảo Hồi-ký
                           Của Cụ Ký-Thân Nguyễn-Hải-Hàm
 
     Năm 1998 – Kinh Nghiệm để đời (Tập 1)
 
 
Sẽ xuất bản:
 
-         Kinh Nghiệm để đời (Tập 2)
 
-         Truyện Ngắn: Hai thế hệ
 
 
 
VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ
 
 
Sinh năm 1923 tại Điện Bàn, Quảng Nam.
 
Lớn lên được hun đúc và đào luyện bởi Bá Phụ là Cụ Phan Khôi, trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm.
 
Hoạt động chính trị từ năm 20 tuổi. Ra công khai V.N.Q.D.Đ Quảng Nam, bị tù trong vụ cạy cầu Chiêm Sơn (1945)
 
Khởi xướng Chiến Dịch Tố Cộng điển hình năm 1954, được Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tưởng thưởng Đệ Nhất CHƯƠNG MỸ BỘI TINH.
 
Sống thăng trầm với đủ nghề và đau khổ nhiều lần vì gẫy đổ gia đình – cũng như bảy (7) lần vào tù ra khám.
 
Đặc biệt, lần tù Cộng Sản 13 năm bị lưu đày ra đất Bắc đã hướng về Thiền. Suốt thời gian này sống chẳng giống ai, như tịnh khẩu suốt 6 tháng 8 ngày, đã dược hơn hai (2) lượng vàng trong đống rác khi còn ở Trại Thủ Đức, mỗi năm đã giữ đúng 100 ngày không ăn sau 12 giờ trưa dù nạn đói ghê gớm lúc bấy giờ. Đã đấu tranh công khai chống lao động ác nghiệt, đạt thắng lợi, và được anh em tặng cho hỗn danh “Ông già lăn lửa”.
 
Rồi được ra về trong một buổi lễ rầm rộ, có khá đông báo chí, truyền hình tây phương tự do tham dự năm 1988.
 
Nhưng rồi còn khá nhiều bầm dập mới được sang đến Hoa Kỳ năm 1993, cũng như bao kinh nghiệm sống tại Hoa Kỳ từ ngày ấy đến nay.
 
 
Xin nói rõ! Đây không phải là “Kinh nghiệm để dạy đời” – mà chỉ nói lên những kinh nghiệm, người đời lấy cái hay để làm, và cái dở, cái thất bại để tránh, chưa nói Tác giả là nhân chứng Sống của nhiều sự việc trên đất nước Việt Nam.
 
 
Vừa được đắc cử Chủ Tịch Cộng Đồng vùng Thủ Đô (Đông Bắc Hoa Kỳ), nhiệm kỳ 1998-2000.
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0