Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn

7 trả lời, 332 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.12.2016 14:39:59 bởi Ct.Ly>
Phần I đánh máy: yeut
 
----- & ---
Mục Lục
Lời giới thiệu
Lời tác giả
Phần Thứ Nhất 
Chương 1 - Khái luận về xã hội Việt Nam xưa và nay
1- Địa lý thiên nhiên - 2. Người Việt Nam - 3. Gốc tích.
Chương 2 - Đời sống thượng cổ của dân tộc Việt Nam
Chương 3 - Nhà Hồng Bàng (2879 - 258 tr. T. L.)
1. Truyền thuyết về nhà Hồng Bàng -- 2. Nước Văn Lang
Chương 4 - Nhà Thục (257 - 207 tr. T. L.)
Chương 5 - Xã hội Trung Hoa trong thời thượng cổ
  1. Xã hội và văn hóa - 2. Trật tự xã hội và gia đình - 3. Việc quan chế - 4. Pháp chế - 5. Binh chế - 6. Điền chế - 7. Học chính - 8. Khổng Tử - 9. Lão Tử -- 10. Trang Tử - 11. Tuân Huống.
 
Phần Thứ Hai Bắc 
Thuộc Thời Đại 
 
Chương 1 - Nhà Triệu (Bắc thuộc lần thứ I 207-111 tr. T. L.)
1. Chỗ rẽ của lịch sử Âu Lạc - 2. Chính trị của Triệu Đà - 3. Nam Việt và Tây Hán -  4. Xã hội Việt Nam dưới thời Triệu Đà - 5. Những vua kế nghiệp Triệu Đà - 6. Đế quốc Việt Nam xụp đổ - 7. Công tội của Thái Phó Lữ Gia (Phê bình của Ngô Thời Sĩ).
Chương 2 - Nhà Tây Hán (Bắc thuộc lần II 111 tr. T. L. - 39 T. L.)
1. Đơn vị hành chánh trên đất Giao Chỉ - 2. Bộ máy cai trị ở đất Giao Châu. Chương 3 - Nhà Trưng (40 - 43)
1. Phần cờ nương tử - 2. Nhà Đông Hán phục thù - 3. Tính chất cách mạng của cuộc khởi nghĩa năm Canh Tý.
Chương 4 - Bắc thuộc lần III (43 - 544 Đông Hán - Nam Bắc triều)
Cuộc cải cách của Mã Viện trên đất Giao Châu
Chương 5 - Người Việt Nam học chữ Tàu
1. Việc truyền bá Hán học - 2. Ảnh hưởng Phật đồ với nền văn học của chúng ta -­3. Phật Giáo - 4. Một điều sai lầm về Sĩ Nhiếp.
Chương 6 - Cuộc cách mạng phản Đế lần thứ hai của dân Giao Chỉ
1. Bà Triệu chống quân Đông Ngô -- 2. Lâm Ấp quấy phá Giao Châu.
Chương 7 - Nhà Tiền Lý (544 - 602)
1. Lý Nam Đế (544 - 548) - 2. Hậu Lý Nam Đế (571 - 602).
Chương 8 - Bắc thuộc lần IV (603 - 939)
1. Nhà Tùy đánh Lâm Ấp - 2. Nhà Đường đối với An Nam - 3. Mai Hắc Đế khởi nghĩa (722) - 4. Giặc Côn Lôn và Đồ Bà -- 5. Bố Cái Đại Vương - 6. Cuộc xâm lăng Giao Châu của Nam Chiếu - 7. Sự thất bại của Nam Chiếu và sự nghiệp của Cao Biền.
Chương 9 - Cuộc tranh đấu của dân tộc Việt Nam từ họ Khúc đến họ Ngô Trận thủy chiến đầu tiên của Việt Nam.
 
Phần Thứ Ba
 
Việt Nam Trên Đường Độc Lập (939)
Chương 1 - Nhà Ngô (939 - 965)
Chương 2 - Nhà Đinh (968 - 980)
1. Đinh Tiên Hoàng - 2. Đinh Phế Đế.
Chương 3 - Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
1. Lê Hoàn đánh Tống - 2. Việc ngoại giao - 3. Việc đánh Chiêm Thành - 4. Sự mở mang trong nước - 5. Cái án Lê Hoàn và Dương Hậu.
Chương 4 - Các vua kế tiếp Lê Đại Hành
I.              Lê Trung Tông (1005)
II.              Lê Ngọa Triều (1005 - 1009)
1. Việc ngoại giao với Bắc Triều - 2. Sự tàn ác của Ngọa Triều - 3. Vụ âm mưu cướp ngôi nhà Tiền Lê.
Chương 5 - Nhà Hậu Lý (1010 - 1225)
I.              Lý Thái Tổ (1010 - 1028)
II.              Lý Thái Tông (1028 - 1054)
1. Việc chính trị - 2. Việc quân sự - 3. Dẹp Chiêm Thành.
III.               Lý Thánh Tông (1054 - 1072)
1. Việc mở mang Phật Giáo và Nho Giáo -- 2. Đánh Chiêm Thành.
IV.             Lý Nhân Tông (1072 - 1127)
1. Vụ tranh dành quyền vị -- 2. Việc chính trị -- 3. Việc đánh Tống -- 4. Cuộc phục thù của nhà Tống -- 5. Đánh Chiêm Thành.
V.              Lý Thần Tông (1128 - 1138)
VI.              Lý Anh Tông (1138 - 1175)
1. Đỗ Anh Vũ và Tô Hiến Thành -- 2. Việc ngoại giao.
VII.              Lý Cao Tông (1176 - 1210)
VIII.              Lý Huệ Tông (1211 - 1225)
IX.                Lý Chiêu Hoàng (1225)
Chương 6 - Khái niệm về Phật giáo và văn học dưới đời nhà Lý Chương 7 - Nhà Trần (1225 - 1413) -- Nước Việt Nam dưới đời Trần Sơ
I.              Trần Thái Tông (1225 - 1258)
1. Tàn sát họ Lý. - 2. Việc đảo lộn nhân luân. - 3. Việc đánh dẹp trong nước. - 4. Những công cuộc cải cách. - 5. Việc binh chế và lực lượng quân đội dưới đời Trần - Sơ. - 6. Kinh tế và xã hội. --7. Phong tục. - 8. Văn hóa. - 9. Cuộc chiến tranh tự vệ thứ nhất của Việt Nam.
II.              Trần Thánh Tông (1258 - 1278)
1. Việc chính trị. - 2. Việc ngoại giao với Mông Cổ.
III.               Trần Nhân Tông (1279 - 1293)
A - Mông Cổ gây hấn lần thứ hai
1. Việc ngoại giao tan vỡ. - 2 Huyết chiến giữa Việt Nam và Mông Cổ. - Hội Nghị Bình Than (1282). - Hội Nghị Diên Hồng (1284). - Quân Nam rút theo kế hoạch. - Hội nghị quân sự Vạn Kiếp. III Mông Cổ tấn công. - Mặt trận Đông Nam. - Cuộc tổng tấn công của Việt Nam. Việt Nam thu phục Thăng Long. - Trận Tây Kết. - Trận Vạn Kiếp.
B- Mông Cổ tấn công lần thứ hai (1287)
I Trận Vân Đồn. II Trận Bạch Đằng. III Việc truy kích Thoát Hoan. IV Cuộc giảng hòa. V Chiến pháp của Hưng Đạo Vương.
IV.              Trần Anh Tông (1293 - 1314)
Việc gả Huyền Trân cho Chế Mân
V.               Trần Minh Tông (1314 - 1329)
VI.              Trần Hiến Tông (1329 - 1341)
Giặc Ngưu Hống và giặc Lào
VII.              Trần Dụ Tông (1341 - 1369)
1. Việc chính trị. - 2. Việc giao thiệp với Trung Hoa. - 3. Việc giao thiệp với Chiêm Thành. - 4. Dụ Dương Nhật Lễ.
VIII.              Trần Nghệ Tông (1370 - 1372)
Tiểu sử Hồ Quý Ly.
IX.                Trần Duệ Tông (1372 - 1377)
X.              Trần Phế Đế (1377 - 1388)
1. Việc giao thiệp với nhà Minh. -- 2. Chiêm Thành tấn công Thăng Long. -- 3. Âm mưu trừ Hồ Quý Ly thất bại.
XI.             Trần Thuận Tông (1388 - 1398)
  1. Chế Bồng Nga tử trận. - 2. Cuộc cách mạng của Hồ Quý Ly: Cải cách chính trị. Cải cách quân sự. Cải cách kinh tế. Cải cách xã hội. Cải cách văn hóa. - 3. Cuộc đảo chính Hồ Quý Ly.
 
Chương 8 - Nhà Hồ (1400 - 1407)
  1. Hồ Quý Ly (1400)
II.   Hồ Hán Thương (1400 - 1407)
  1. Cuộc giao tranh giữa nhà Hồ và nhà Minh. - Thành Đa Bang thất thủ. - Trận Mộc Phàm Giang. - Trận Hàm Tử Quan. - Nguyên nhân thất bại của Hồ Quý Ly. - 2. Hồ Quý Ly có làm mất nước không?
 
Chương 9 - Bắc thuộc lần thứ năm - Nhà Hậu Trần (1407 - 413)
1. Chính sách thống trị của nhà Minh. - 2. Giản Định Đế khởi nghĩa (1407 - 1409).
-  3. Trần Quý Khoách (1409 - 1413)
Chương 10 - Nhà Hậu Lê. Lê Lợi chấm dứt chế độ Minh thuộc (1417 - 1427)
1. Giai đoạn đen tối. - 2. Giai đoạn tươi sáng. - 3. Cuộc tổng phản công của giặc Minh (Mặt trận miền Bắc). - 4. Trận Tuy Động. - 5. Việt quân phong tỏa Đông Đô. - 6. Trận chi Lăng. - 7. Quân Minh xin hòa giải. - 8. Việc cầu phong.
Nhà Hậu Lê (1428 - 1527)
I.   Lê Thái Tổ (1428 - 1433)
1. Học chính. - 2. Luật pháp. - 3. Hành chánh. - 4. Cải cách điền địa. - 5. Binh chế. - 6. Việc giết công thần.
II.              Lê Thái Tông (1434 - 1442)
Cái án Lê Chi Viên (1442)
III.               Lê Nhân Tông (1443 - 1459)
IV.              Lê Thánh Tông (1460 - 1497)
1. Việc chính trị. - 2. Tổ chức hương thôn. - 3. Việc đình. - 4. Hành chính. - 5. Quan chế. - 6. Thuế đinh. - 7. Thuế điền thổ. - 8. Nông nghiệp. - 9. Luật pháp
bảo vệ nhân quyền. -- 10. Quyền lợi xã hội. -- 11. Tổ chức võ bị. -- 12. Võ công đời Hồng Đức. - 13. Văn trị đời Hồng Đức.
V.             Lê Hiến Tông (1497 - 1504)
VI.              Lê Túc Tông (1504 1505)
VII.              Lê Uy Mục (1505 - 1509)
VIII.              Lê Tương Dực (1510 - 1516)
IX.                Lê Chiêu Tông
X.              Lê Cung Hoàng (1516 - 1527)
 
Chương 11 - Nhà Mạc (1527 - 1667)
Mạc Đăng Dung (1527 - 1529)
1. Tình trạng Việt Nam đầu thế kỷ XVI. - 2. Tiểu sử Mạc Đăng Dung. - 3. Vụ Trần Thiêm Bình thứ hai. - 4. Một cuộc chiến tranh tâm lý. - 5.Vụ án Mạc Đăng Dung.
Chương 12 - Loạn phong kiến Việt Nam. Nam Bắc triều (1527 - 1592)
  1. Trịnh Kiểm và Nguyễn Kim. - 2. Biến cố tại Nam triều. - 3. Thất bại của Bắc triều.
 
Chương 13 - Nước Việt Nam từ Bắc vào Nam (1674 - 1775)
1. Họ Trịnh làm chúa miền Bắc. - 2. Họ Nguyễn xưng hùng phương Nam.
Chương 14 - Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627 - 1775)
1. Đại chiến lần thứ nhất (1627). - 2. Đại chiến lần thứ hai (1630) - 3. Đại chiến lần thứ ba (1635). - 4. Đại chiến lần thứ tư (1648). - 5. Đại chiến lần thứ năm (1655) - 6. Đại chiến lần thứ sáu (1661) - 7. Đại chiến lần thứ bảy (1672).
Chương 15 - Sự nghiệp hai họ Trịnh - Nguyễn
Chương 16 - Những vụ phiến loạn dưới đời chúa Trịnh
Chương 17 - Các hoạt động của Nguyễn
Chương 18 - Các cuộc chiến tranh cuối cùng của hai họ Trịnh - Nguyễn (1774)
Chương 19 - Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
1. Tiểu sử nhà Tây Sơn. -- 2. Tây Sơn diệt Nguyễn tại Nam Việt. - 3. Nguyễn Huệ đuổi quân Xiêm. - 4. Nguyễn Huệ đánh Thuận Hóa. - 5. Nguyễn Huệ ra Thăng Long. - 6. Chim Bằng gẫy cánh.
 
Chương 20 - Một võ công oanh liệt bậc nhất của Việt Nam cuối thế kỷ XVIII
1. Cái chết của Vũ Văn Nhậm. - 2. Chiến sự Việt-Thanh. - 3. Cuộc giao thiệp giữa Tây Sơn và Thanh đình. - 4. Chính trị của vua Quang Trung. - 5. Vua Chiêu Thống bị nhục trên đất Tàu.
 cuộc chiến tranh cuối cùng giũa Tây Sơn và Cựu Nguyễn
1. Nguyễn vương quật khởi. - 2. Nguyễn vương tấn công Qui Nhơn lần thứ nhất (1790). - 3. Qui Nhơn thất thủ lần thứ hai và ba. - 4. Phú Xuân đổi chủ. - 5. Nguyễn Vương ra Bắc Hà.
 
Chương 21 - Người Âu Châu sang Việt Nam
1. Việt Nam dưới con mắt người Pháp. - 2. Đạo Thiên Chúa.
Chương 22 - Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
I.              Gia Long (1802 - 1820)
1. Thế tổ xưng đế hiệu. - 2. Bộ máy chính quyền trung ương. - 3. Các địa hạt hành chính lớn. - 4. Binh chế. - 5. Công vụ. - 6. Việc học hành và luật pháp. - 7. Việc tài chính. - 8. Việc ngoại giao với Pháp. - 9. Việc ngoại giao với Trung Quốc. -  10. Giao thiệp với Miên-Lào-Tiêm La. - 11. Bàn về loạn phong kiến ở Việt Nam. -­12. Vài ý kiến về vua Gia Long.
II.              Thánh Tổ (1820 - 1840)
1. Hoàn thiên bộ máy chính quyền. - 2. Việc học hành thi cử. - 3. Sách vở. - 4. Những cuộc phiến loạn. - 5. Việc ngoại giao với Pháp. -- 6. Việc Ai Lao và Chân Lạp. - 7. Việc cấm đạo. - 8. Bàn về Thánh Tổ.
III.               Hiến Tổ (1841 - 1847)
  1. Cá nhân của vua Hiến Tổ. - 2. Việc Chân Lạp và Tiêm La. - 3. Cuộc đánh phá đầu tiên của Pháp ở Việt Nam.
 
Phần Thứ Tư
Việt Nam Mất Độc Lập Về Tay Pháp
 
Chương 1 - Dực Tông (1847 - 1883)
1. Vua Tự Đức và tình thế Việt Nam giữa thế kỷ XIX. - 2. Việc ngoại giao và cấm đạo. - 3. Việc văn học và binh chế. - 4. Những vụ phiến động trong nước.
Chương 2 - Người Pháp ra mặt xâm chiếm Việt Nam
1. Nguyên nhân của sự xâm lăng. - 2. Đặc phái viên Pháp đến Việt Nam. - 3. Việt Nam mất ba tỉnh Đông Nam Kỳ. - 4. Phản ứng của triều đình Huế. - 5. Phong Trào kháng Pháp ở Nam Kỳ. - 6. Người Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. - 7. Những nghĩa sĩ miền Nam.
 
Chương 3 - Quân Pháp đánh Bắc Kỳ
1. Nguyên nhân việc người Pháp ra Bắc. - 2. Pháp quân đánh Bắc Kỳ lần thứ I. -­3. Hòa ước năm Giáp Tuất (1874). - 4. Hà thành thất thủ lần thứ hai. - 5. Sự phế lập ở Huế. - 6. Hòa ước năm Quí Mùi (1883). - 7. Hòa ước Thiên Tân lần thứ hai. -  8. Hòa ước Patenôtre (1884).
 
Chương 4 - Tàn cuộc của phong kiến Việt Nam
  1. Phong trào Cần vương cứu quốc. - 2. Phong trào Văn Thân kháng Pháp. - 3. Vua Thành Thái (1884 - 1907). - 4. Vua Duy Tân (1907 - 1916). - 5. Cuộc bảo hộ của nước Pháp.
Chương V - Những cuộc tranh thủ độc lập của Việt Nam từ 1928 - 1954
  1. Xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. - 2. Những cuộc tranh đấu của thế hệ trẻ tuổi. - 3. Cuộc đảo chánh 9-3-1945. - 4. Lá bài Bảo Đại và Hiệp Định Hạ Long. -­ 5. Cuộc chiến tranh Thực - Cộng (1945 - 1954). -  6. Thỏa hiệp Genève. - 7. Kết Luận
 
Tài liệu tham khảo
Ý kiến của văn gia trí thức về Việt Sử Toàn Thư
Phụ lục 1: Bảng đối chiếu các triều đại Việt Nam với triều đại Trung Hoa
Phụ lục 2: Thế Phả họ Nguyễn
Phụ lục 3: Thế Phả họ Trịnh
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
Kính dâng hương hồn song thân đã sớm hun đúc cho con một tấm lòng thiết tha với đất nước để viết nên những trang sử oai hùng của dân tộc.
Phạm Văn Sơn
 
Lời Giới Thiệu
 
"Chim Việt làm tổ cành nam (Việt điểu sào nam chi)", một câu nói ngắn gọn nhưng hàm chứa một ý nghĩa thật sâu: người Việt Nam không bao giờ quên được cội nguồn của mình! Nhờ tinh thần đó mà trên trường quốc tế, dù phải chịu một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây.
 
Nhưng hiện nay, với chính sách hủy diệt văn hóa truyền thống dân tộc trong nước, và sức lôi cuốn mãnh liệt của nền văn minh vật chất Âu Mỹ ngoài nước, dân tộc chúng ta đang phải đối đầu với một hiểm họa diệt vong mới, có mức độ trầm trọng hơn tất cả
các hiểm họa đã gặp phải trong quá khứ.
 
Chỉ có lòng yêu nước nồng nàn, phát xuất từ đáy lòng của mọi người Việt mới giúp chúng ta vượt qua được hiểm họa này. Chỉ có lòng yêu quê hương thiết tha mới là động cơ bắt chúng ta chung góp tâm trí vào việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa cao quý của cha ông để lại.
 
Với mục tiêu duy nhất là nuôi dưỡng lòng yêu nước cần thiết trong lòng mọi người Việt tại Nhật, sinh thành những tâm hồn thiết tha với quê hương, dân tộc, chúng tôi đã mạn phép in lại 600 bộ Việt Sử Toàn Thư này của Sử Gia Phạm Văn Sơn để phân phối
trong cộng đồng người Việt tại Nhật.
 
Với công trình khảo cứu sâu rộng của Sử gia yêu nước Phạm Văn Sơn và tính chất
khách quan, dân tộc, khoa học, phong phú, giản dị ... của bộ sách này, chúng tôi mong muốn mỗi gia đình Việt Nam tại Nhật sẽ có ít nhất một bộ, lúc nào cũng có trong nhà, để dễ dàng chỉ dạy con em về lịch sử hào hùng bất khuất của dân tộc Việt.
 
Chúng tôi cũng chân thành cảm tạ Hiệp Hội Liên Đới Người Tỵ Nạn Đông Dương đã yểm trợ toàn thể chi phí để in lại bộ sách này.
Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật Bản
Nhật Bản, 1983
Nam Nghệ Xã
 
 
Cùng Bạn Đọc Thân Mến
 
Từ mười hai năm nay, bước chân vào làng sử học, chúng tôi đã được hân hạnh giới thiệu các bạn văn gia trí thức và học sinh một tổ tác phẩm nhỏ như Việt Nam Tranh Đấu Sử, Việt Nam Hiện Đại Sử Yếu, Vĩ Tuyến 17, Việt Sử Tân Biên quyển I, II, III.
 
Những cuốn sách này được tái bản nhiều lần và trước những sự đóng góp của chúng tôi đối với  văn hóa nước nhà, các bạn  đọc đã tỏ  có nhiều cảm tình và tin cậy, do đó để tạ lòng tri kỷ bốn phương hàng năm chúng tôi tiếp tục gửi đến tay các bạn những tác phẩm về sử học.
 
Gần đây, Việt sử tân biên được các bạn trí thức trong nước và ngoài nước đặc biệt lưu ý và tán thưởng trên các báo Bách Khoa, Thế Giới Tự Do, Tân Dân, Chỉ Đạo, Ngôn Luận, Tự Do, v.v...  nhưng bộ sử này còn tới 4 cuốn nữa mới  hết, tức là phải xuất bản đều đặn luôn bốn năm mới hoàn thành.
 
Trong lúc này, nhiều bạn giáo sư và học sinh thường gửi thư đến chúng tôi yêu cầu nên gấp rút soạn một cuốn Việt sử tân biên thâu hẹp gồm đủ chi tiết từ Thượng cổ thời đại đến hết thời Pháp thuộc để tiện dụng hơn trong các trường học. Theo ý các bạn, Việt Sử Tân Biên gồm 7 cuốn chỉ lợi ích nhiều cho các giáo sư sử địa, các văn gia trí thức cần biên khảo rộng rãi và cho một số sinh viên nặng tình đặc biệt với sử học. Quả vậy, chúng tôi đã đọc khá nhiều sách, chuyện ký để viết một bộ sách có mục đích giúp các bạn kể trên khỏi mất nhiều thời giờ tìm tòi sử liệu và nghĩ ngợi về sự bình giải, mặc dầu công việc của chúng tôi vẫn có thể còn nhiều khuyết điểm.
 
Ngoài ra, từ trên 30 năm nay, tuy trong các thư viện của chúng ta đã có một sách về lịch sử, nhưng các sách này vẫn còn mang nặng ảnh hưởng của tư tưởng thời phong kiến, đế quốc. Nếu cần tiến bộ, tất nhiên ta phải có những cuốn sử mới viết theo quan niệm rộng rãi và tinh thần phóng khoáng của trào lưu dân chủ ngày nay cùng gồm thâu được nhiều điều mới lạ do sự khám phá hay sưu tầm của các học giả cận đại, hiện đại.
 
Hôm nay, Việt Sử Toàn Thư ra mắt các bạn. Chúng tôi hy vọng tác phẩm này sẽ hợp với nhu cầu của tình thế một phần nào, góp được ít nhiều công quả cần thiết cho sự phát triển và xây dựng văn học của nước nhà trong giai đoạn mới của lịch sử. Tuy nhiên do sử học nước nhà chưa hết phôi thai,  ấu trĩ,  sử liệu lại thất đắc khá nhiều qua các quốc biến, sách này không khỏi có điều lỗi lầm, sơ sót. Trong khi chờ đợi một hoàn thiện, chúng tôi xin sẵn sàng chào đón sự uốn nắn và chỉ bảo của các bạn trí thức gần xa.
 
Sài gòn ngày 14 tháng 3 năm Canh Tý - Phạm Văn Sơn




Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN 1 – CHƯƠNG I
KHÁI LUẬN VỀ XÃ HỘI VIỆT NAM XƯA VÀ NAY
-            Địa lý thiên nhiên Việt Nam
-            Người Việt Nam
-            Gốc tích của người Việt Nam
 
  1. Địa lý thiên nhiên Việt Nam
Việt Nam ngày nay là một nước trên bán đảo Đông Dương ở vào khoảng giữa Ấn Độ và Trung Hoa thuộc Châu Á hướng về phía Nam. Bắc, Việt Nam giáp Trung Hoa (giáp giới ba tỉnh miền Nam Trung Quốc: Vân Nam, Quảng Đông và Quảng Tây), Tây giáp Ai Lao, Cao Mên, Đông giáp bờ biển Nam Hải. Một đằng khác, ở Đông Nam Châu Á, bán đảo Đông Dương trong đó có Việt Nam nhìn qua quần đảo Phi Luật Tân và chuỗi chân về phía Nam như đạp xuống quần đảo Mã Lai mà vị trí cùng mối liên hệ đối với bán đảo Đông Dương có thể ví với Địa Trung Hải ở Âu Châu.
Nước Việt Nam giống hình chữ S hẹp ở giữa, rộng hai đầu. Chiều cong vòng theo bờ biển bắt đầu từ vịnh Bắc Việt, lượn vào đến đầu Trung Việt dần dần ưỡn ra, xuống đến Nam Việt thì chiều cong lại dần dần ăn vòng vào theo một đường rất êm dịu.
Diện tích rộng chừng 312.000 cây số vuông trong đó:
Bắc Việt: 105.000 cây số vuông
Trung Việt: 150.000 cây số vuông
Nam Việt: 57.000 cây số vuông.
 
Bắc Việt chia ra làm ba miền: Thượng du có nhiều rừng núi chạy vòng cánh cung theo hình thể xứ Bắc, như chiếc quạt xòe ra từ nơi giáp miền Thượng Lào chạy sát các vùng biên giới Việt Hoa. Ngọn núi cao nhất là Hoàng Liên Sơn (3.141 thước). Trung du là miền ở giữa trung châu và thượng du, sát các khu rừng núi. Trung châu đáng chú ý vì có nhiều đồng bằng, sẵn ruộng đất để cầy cấy và sông ngòi thuận tiện cho mọi việc giao thông (sông Hồng Hà phát nguyên từ Tây Tạng có nhiều chi nhánh tản mác khắp Trung Châu, sông thường không rộng lắm) – dân cư rất đông đúc, thóc lúa, ngô, khoai có nhiều.
Trung Việt là một giải đất hẹp, có dẫy Trường Sơn giống như cái xương sống chạy dọc từ Bắc Việt vào Nam Việt, có thể ví là cái bình phong ngăn cách hai xứ Việt Lào, ở đây ruộng đất hiếm hoi, khô khan, vì vị t rí sát bể và núi nên sự sinh sống của dân chúng trông vào lâm sản và hải sản hay ngư lợi (nghề đánh cá). Kinh tế nông nghiệp ở đây không được phong phú như ở miền Bắc Việt và Nam Việt có thể coi là hai vựa thóc của Việt Nam.
Nam việt ở khúc dưới sông Cửu Long có sông Tiền Giang, Hậu Giang, Vàm Cỏ và Đồng Nai chạy dài trên toàn cõi, lại có nhiều đất ruộng nên rất thịnh đạt về nông nghiệp. Nhân dân ở đây không đông đúc mấy, tương đối với tổng số diện tích đất đai, vừa sống với biển, vừa sống với ruộng vườn nên không chật vật, vất vả như dân Bắc Việt bị nạn nhân từ bao nhiều đời. (Mật độ dân cư trung bình lên tới 800 người trên một cây số vuông, có chỗ lên tới 2.000 người, điều ít thấy ở một nơi nào trên thế giới ngày nay.)
Việt Nam là một xứ thuộc nhiệt đới, nhưng khí hậu có khác nhau từ Nam ra Bắc, thường nóng và ẩm thấp. Bắc Việt giáp giới Trung Quốc là một miền ôn đới, có bốn mùa rõ rệt, mùa xuân đầm ấm, có nhiều ngày lất phất mưa, cũng có khi lạnh. Trong mùa này, cây cỏ mọc mạnh. Mùa hè nóng bức, có khi rất oi ả, khó chịu, nhưng cũng là mùa để thảo mộc sinh sối nảy nở, thuận tiện cho nông nghiệp. Các bệnh dịch tả nhất là đối với con trẻ hay phát sinh trong vụ hè. Vào khoảng tháng sau hay tháng bảy, thường có nước lớn do những trận mưa rào như trút nước từ các vùng thượng du về đồng bằng dễ sinh ra nạn nước lụt, xưa kia hay phá vỡ đê điều, gây nên nhiều sự thiệt hại về tài sản và tính mệnh cho dân chúng vùng Trung Châu. Cuộc chống chọi với nước lũ hằng năm đe dọa đê điều, đáng kể là một công cuộc vĩ đại của dân tộc Việt nam trải qua bao nhiêu thế kỷ trong khi khoa học chưa được áp dụng. Đây là một cuộc chiến đấu giữa Người và Thiên Nhiên, có lẽ đã hun đúc cho dân tộc chúng ta cái đức tính kiên nhẫn và một tinh thần chiến đấu đáng kể. Trái lại vì lụt mà ruộng đất thêm màu mỡ, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Mùa thu có những ngày nắng dịu nhưng về những ngày chót, đời sống của cỏ cây bắt đầu ngưng trệ cho đến mùa đông thì rõ rệt là mùa thu, nắng hanh thường hay phát sinh các bệnh lặt vặt và gió bấc lạnh thổi buốt kèm với mưa phùn lại có những sự thay đổi thời tiết đột ngột, đang nóng đổi ngay ra lạnh.
Từ cửa Hàn trở vào Nam Việt khí hậu hình như riêng biệt. ở đây có rõ rệt hai mùa mưa, nắng, nhất là ở Nam Việt, nghĩa là có 6 tháng nắng. Trong một ngày có nhiều trận mưa rào đổ xuống trong chốc lát rồi trời lại nắng rào như thường. Buổi tối thường có gió mát. Ở đại phương này vấn đề thực phẩm, khí hậu và nông nghiệp chịu ảnh hưởng của biển rất nhiều.
Sống trên đất Việt Nam, ngoài dân tộc Việt Nam còn có nhiều giống khác nữa tại các vùng sơn cước mà người Việt ngày nay gọi là các đồng bào Thượng, vì trải qua bao nhiêu thế hệ đã cùng sinh sống với nhau tuy không trực tiếp nhiều, nhưng đã cùng chung lưng đấu cật những biến cố lớn lao của lịch sử và không hề có sự mâu thuẫn gì về quyền lợi tinh thần hay vật chất.
Ở miền thượng du Bắc Việt có dân Thái, Thổ, Mường, Mán, Mèo, Nùng, Yao, Lô Lô... Ở các miền rừng núi Trung Việt có giống Mọi và Chàm. Ở Nam Việt trong các vùng sơm lâm cũng có dân Mọi, Chàm, các thành thị có Chà Và, Hoa Kiều, cùng người Thổ nguồn gốc Cao Mên, lâu đời sinh sống ở đây vui vẻ êm ấm như người Việt và không bị một đố kỵ nào hết.
Nhân dân Việt Nam ở Bắc Việt có vào khoảng 9 triệu người, Trung việt có độ 6 triệu, Nam Việt có chừng 5 triệu, đó là con số ước lượng 30 năm về trước. Giờ đây có thể con số đó đã vượt quá rồi. Còn dân miền núi cũng tới trên dưới một triệu.
 
2 – Người Việt Nam
Người Việt Nam thuộc giống da vàng. Kẻ làm nghề lao động dầm mưa dãi nắng da ngăm ngăm đen. Người làm các nghề nhàn nhã ít ra ngoài trời thì da trắng mầu ngà. Về chiều cao, người Việt Nam phần nhiều tầm thước (không cao không thấp), nhỏ hơn người Tầu chút ít – mặt phần nhiều xương xương, trán cao rộng, mắt đen và hơi xếch về phía bên, gò má cao, mũi hơi tẹt, môi hơi dầy, răng to thường khểnh, râu thưa, tóc đen và nhiều, cắt ngắn. Dáng đi lanh lẹ, vẻ mặt lanh lợi, thân hình mảnh dẻ nhưng cũng cứng cáp và vững chắc.
Y phục của người đàn ông Việt Nam thường dài, rộng trong áo hẹp. Người lao động vận quần áo ngắn, ở nơi tỉnh thành dùng mầu trắng, chốn thôn quê dùng mầu nâu hoặc đên, đi ra ngoài thăm bè bạn, dự lễ nghi thường mặc thêm chiếc áo thâm dài quá gối. Ở chốn thôn quê thì thêm chiếc khăn đen hay quấn ngang đầu làm cho vẻ mặt thêm phần nghiêm trang. Ngày nay, ở các thành thị, những người tân tiến như các công chức, trí thức, sinh viên là những phần tử có tiếp xúc với văn hóa Tây Phương thường vận Âu phục do lẽ thuận tiện và mỹ thuật.
Phụ nữ Việt Nam ở các đô thị Bắc Việt và Trung Việt thường mặc quần trắng hay đen, nhưng áo dài thì thay đổi nhiều mầu, chit khăn đen, cuộn tròn quanh đầu. Ở thôn quê thì mặc váy, có yếm che ngực, lại cũng có nhiều người mặc quần như đàn bà thành thị. Ở Nam Việt, đàn bà ưu mặc quần đen, áo ngắn và búi tóc.
Người đàn bà Việt Nam có nhiều đức tốt hơn là thói xấu. Phần lớn từ thành thị đến thôn quê, người đàn bà lo buôn bán, cày cấy, biết tần tảo, chịu thương khó và rất hy sinh cho chồng con. Sự kiện tốt đẹp này là do ảnh hưởng của giáo lý Khổng mạnh đã đi sâu vào đời sống tinh thân của dân tộc chúng ta từ ngót hai ngàn năm nay.
Gần một thế kỷ trở về đây, Việt Nam lại tiếp xúc với Tây phương, phụ nữ Việt Nam hấp thụ văn hóa Âu Mỹ đã tỏ ra có nhiều khả năng trên trường học vấn và đã có những sự tranh đấu về quyền lợi gia đình, xã hội với nam giới.
Bàn về các điều tốt xấu trong con người Việt Nam, ta thấy đồng bào ta thông minh, nhớ dai, có óc nghệ thuật, khéo tay chân, giàu trực giác hơn là luận lý, ưa điều đạo đức, ham chuộng văn chương. (Có người nói người Việt ta thích văn chương phù hoa hơn là thực học, thiết tưởng không đúng, chẳng qua chúng ta trong mười thế kỷ mất độc lập, chịu ảnh hưởng văn hóa nô dịch nên không được hướng dẫn phải đường, phải lối mà thôi, chớ không phải là ta không biết trọng thực học). Chúng ta lại còn đức tính lễ phép và biết ơn, chuộng hòa bình và giàu có hy sinh.
Người lao động rất cần cù và nhẫn nại, có sức chịu đựng những việc nặng nhọc rất bền bỉ, nhất là các đồng bào miền Bắc.
Người đi lính ra trận rất trọng kỷ luật và can đảm. Nói đến người lính đây tức là lớp nông dân của chúng ta trong vai trò tranh đấu cho Tự do và Độc lập của xử sở từ bốn ngàn năm lập quốc đến giờ rất đáng phục.
Tinh thần dân tộc được như vậy là nhờ ở hoàn cảnh kinh tế, địa lý, văn hóa và chính trị cấu tạo nên bởi:
1)        Bắc giáp Trung Quốc, Nam giáp Chiêm Thành là hai gọng kìm ghê gớm, luôn luôn xiết chặt vào dân tộc chúng ta.
2)        Rừng núi Bắc Việt hoang vu và nhiều thú dữ.
3)        Đồng bằng Bắc Việt hay bị lụt lội và hạn hán.
4)        Miền duyên hải Trung Việt hay nổi going tố.
5)        Vì hai vị gió mùa đổi thay luân chuyển, khí hậu thường hay khô ráo và ẩm thấp.
Đó là những yếu tố đã hun đúc cho chúng ta nhiều năng lực tranh đấu, sức chịu đựng với thiên nhiên và các cường bang ngoại địch.
Chúng ta cũng có nhiều tính xấu như các dân tộc khác:
Người dân trung lưu và hạ lưu hay nông nổi, háo danh, thích phô trương, mê cờ bạc, tin ma quỷ, sung việc cúng bái, không nhiệt tín tôn giáo nào cả, ham kiện cáo, tinh vặt và quỷ quyệt.
Tiếng nói của người Việt có thể cho là đồng nhất, mặc dầu có sự phân biệt Trung – Nam – Bắc, giọng nói hơi nặng nhẹ ở một vài nơi, nhưng người Việt đi đến đâu cũng hiểu nhau. Tính tình, phong tục, tôn giáo cũng không có gì khác biệt lắm từ Nam ra Bắc.
Xã hội Việt nam gồm 4 giai cấp: Sĩ, Nông, Công, Thương, cùng sống dưới chế độ phong kiến lâu đời, nhưng không có nhiều chia rẽ quá đáng như ở nhiều dân tộc khác.
Tóm lại, Việt Nam, nếu đem so sánh với nhiều dân tộc khác thì rõ rệt có rất nhiều đức tính thuần nhất nhờ đó mà có đủ sức mạnh vật chất, tinh thần để giải quyết nhiều việc khó khăn nội ngoại, qua nhiều thế hệ.
Tiếng nói của người Việt có thể cho là đồng nhất vì mặc dầu có sự phân chia Trung-Nam-Bắc, giọng nói có hơi nặng nhẹ ít nhiều, nhưng người Việt đi đến đâu cũng hiểu nhau. Tính tình, phong tục, tôn giáo cũng không có gì khác biệt từ Nam ra Bắc.
Đây là sự trình bày đại khái về vị trí, tính tình, phong tục của người Việt Nam. Chúng tôi xin nghiên cứu kỹ lưỡng thành từng vấn đề ở những trang dưới đây tùy theo sự thuận tiện của việc biên khảo.
 
3- Gốc tích của Người Việt Nam
Bàn về gốc tích dân tộc Việt Nam, những nhà làm sử của chúng ta và các học giải ngoại quốc thường không đồng ý kiến. Nguyên do dân tộc Việt nam là một dân tộc rất cố cựu, ra đời trong khi khoa học, nhân chủng, địa dư học và sử học chưa khai triển. Thêm vào đó, dân tộc Việt Nam từ bốn ngàn năm lập quốc, trải qua bao nhiêu cuộc biến chuyển của Lịch sử, sống một cuộc đời bất định từ lưu vực sông Nhị Hà, sông Mã cho tới ngày nay mới ngừng hẳn bên bờ biển Tiêm La.
Nhiều nhà khảo cổ Pháp cho rằng người Việt Nam phát tích ở miền núi Tây Tạng cũng như người Thái, qua các triều đại di cư dần xuống Bắc Việt, lần xuống phía Đông Nam và lập ra nước Việt Nam ngày nay. Còn người Thái lần theo sông Cửu Long (Meekong) tạo ra nước Tiêm La và Mên, Lào. Như vậy dân tộc Việt Nam là một trong nhiều dân tộc đã do các miền Tây Bắc Trung Hoa là nguồn gốc. Đồng thời, một vài dân tộc khác ở các quần đảo Đông Nam di cư lên như dân Mã Lai, dân Phù Nam, Chiêm Thành cũng tập hợp trên bán đảo Đông Dương.
Có thuyết cho rằng người Việt thuộc giống Anh-đô-nê-dieng (Indonésien) bị giống A-ri-ăng (Aryens) đánh bạt ra khỏi Ấn Độ phải chạy qua bán đảo Hoa Ấn. Tới đây ta chia ra làm hai ngành, một ở lại bán đảo Hoa Ấn tiêu diệt đám thổ dân ở đây là người Mê-la-nê-diêng (Meslanésien), một thiên xuống Nam Dương quần đảo - Ở mạn Bắc, ta hòa going với người Mông Cổ, chịu ảnh hưởng văn minh Trung Quốc. Ở mạn Nam giống Anh-đô-nê-dieng hợp thành giống Cao Mên và Chiêm Thành, chịu văn hóa Ấn Độ. Ngay ngành ở mạn Bắc cũng chia ra hai chi phái: một sinh tụ ở Trung Châu sông Nhị Hà và các miền duyên hải, nhờ các đất cát phì nhiêu lại chịu nhiều cuộc biến chuyển lịch sử mà tiếp xúc được với văn hóa Trung Quốc nên tiến bộ mau lẹ. Còn chi phái kia lần lên các vùng cao nguyên, sống với rừng núi – chịu ảnh hưởng của giống Thái ở lân cận tuy vẫn giữ được nền nếp cũ là các tổ chức và thể chế phong kiến. Các người Mường hiện cư trú tại Hòa Bình và Nghệ An ngày nay là di duệ của chi phí này.
Ông Lesonard Augousseau, căn cứ vào sách Tàu, cho rằng người Việt Nam thuộc dòng dõi người nước Việt đời Xuân Thu tức là thuộc quyền Quốc Vương Câu Tiễn thời đó (cuối thế kỷ thứ 6 trước Công Lịch), đóng kinh đô ở thành Thiệu hung, tỉnh Chiết Giang ngày nay. Năm 333 trước Công Lịch, nước Sở đánh bại người Việt, người Việt chạy lùi thêm xuống miền Nma chia ra làm phái:
1)        Đông Âu hay là Việt Đông Hải thuộc miền Ôn Châu (Phía Nam tỉnh Chiết Giang).
2)        Mân Việt tụ tập tại Phúc Châu tức Phúc Kiến.
3)        Nam Việt thuộc Quảng Đông và phía Bắc Quảng Tây.
4)        Lạc Việt hay là Tây Âu Lạc ở phía Nam Quảng Tây. Và miền Bắc Việt của chúng ta bây giờ.
Chúng ta thuộc thị tộc nào?
Tác giả cuốn “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam” như chúng tôi xét, cũng không đứng ngoài thuyết này.
 
Giao Chỉ và Việt Thường
Theo sự khảo cứu của ông Đào Duy Anh, ở đời thái cổ từ Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương trong lịch sử Trung Hoa, trong khi người Hán tộc đương quanh quẩn ở lưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị Thủy thì ở miền Nma trong khoảng lưu vực sông Dương Tử, sông Hán và sông Hoài có những giống người văn hóa khác hẳn với văn hóa người Phương Bắc. Trong thư tịch của người Trung Hoa, bọn người đó là Man Di sống ở bên các bờ sông, bờ biển, các đầm hồ và trong các rừng hoang. Họ sinh hoạt bằng nghề chai lưới, săn bắt. Họ có tục đặc biệt là xâm mình và cắt tóc ngắc; để giải thích phong tục đó người ta nói rằng người Man Di hằng ngày lăn lội dưới sông, biển thường bị giống Giao Long làm hại nên xêm mình thành hình trạng Giao Long để Giao Long tưởng là vật cùng người giống mà không giết hại.
Từ đời Nghiêu Thuấn, một dân tộc khai hóa rất sớm là người Giao Chỉ đã giao thiệp với người Hán tộc. Đem đối chiếu những điều trong thư tịch thì Giao Chỉ ở về miền Hồ Nam ngày nay, gần hồ Động Đình và núi Nam Lĩnh.
Người Hán tộc gọi nhóm Man Di đó là Giao Chỉ. Ban đầu người Giao Chỉ xâm mình để thành hình trạng Giao Long rồi dần dần chính họ phát sinh mối tin tưởng mình là đồng chủng của giống Giao Long. Quan niệm “Tô Tem” bắt nguồn từ chỗ này. Người Hán thấy họ có hình trạng Giao Long, thờ Giao Long làm tổ nên gọi nơi họ ở là Giao Chỉ tức là miền đất của giống người Giao Long.
Một thuyết khác cho rằng người Giao Chỉ có tên này do hai ngón chân cái giao nhau.
Theo hai Bác sĩ P. Huard và Bigot trong Bulletin de la SociétéMédico-chirurgicale de L’Indochine quyển XV, số 5 tháng 5, năm 1937 trang 489-506, dưới tiêu đề: “Les Giao Chỉ” thì việc  người Giao Chỉ có hai ngón chân cái giao nhau không đáng coi là một điều đặc biệt, tức là nhiều dân tộc khác ở Á Đông cũng có hình tích này.
Bộ Từ Nguyên (quyển Tí, trang 141) chép: Theo nghĩa cũ bảo hai ngón chân cái giao nhau là Giao Chỉ, nhưng xét đời cổ bên Hy Lạp có tiếng đối trụ, lân trụ để gọi loài người nhau). Sở dĩ có tên Giao Chỉ là hợp với nghĩa đối trụ vì dân tộc phương Bắc gọi dân tộc phương Nam đối nhau, không phải thực là chân người giao nhau. (Chữ Giao Chỉ chép ở Sử Tầu trước nhất vào đời Thần Nông).
--Ngoài nghề đánh cá là nghề căn bản, người Giao chỉ ở nơi đầm lầy hay đất bồi đã biết trồng trọt và làm ruộng. Trong lúc này, ở khoảng giữa hồ Động Đình và hồ Phiên Dương từ đời Nghiêu Thuấn đã có giống người Tam Miêu biết nghềcanh nông rồi; và người Giao Chỉ đã ở trên một phần đất của người Tam miêu. Căn cứ vào nghề đánh cá, nghề nông cùng chế độ vật tổ là đặc tính của xã hội thị tộc, người ta cho rằng người Giao Chỉ bấy giờ ít nhất cũng là ở cuối đời đá cũ và đầu đá mới (đã đẽo với đá mài) tuy chưa tìm được di tích sinh hoạt gì của họ ở dưới đất. Còn về thời Nghiêu Thuấn, những đồ làm ruộng toàn bằng đá cả, xét vào các di vật đào được ở Ngưỡng Thiều tỉnh Hà Nam và ở lưu vực sông Hoàng Hà.
Họ làm nhà bằng cây, bằng tre hay nứa, có lẽ như nhà sàn của người thượng du ngày nay, trên các đầm hồ hay khe núi. (Theo thiên Vũ Cống ở miền đất châu Kinh có nhiều tre).
Sách xưa chép ở phía Nam đất Giao Chỉ, cuối đời Chu nước Việt Thường đã có phen thông sứ với Chu Thành vương và có cống một con bạch trĩ. Nước Việt Thường xuất hiện có lẽ đã lâu lắm từ đầu đời nhà Chu ở trên địa bàn cũ của nước Tam Miêu (ở giữa hồ Động Đình và hồ Phiên Dương), trung tâm điểm của nước ấy là xứ Việt Chương. Vua Sở Hùng Cừ (thế kỷ thứ 9) phong cho con út là Chấp Tỳ ở đây. Nước Việt Thường bắt đầu suy từ khi có Sở thành lập ở miền Hồ Nam, Hồ Bắc sau những cuộc lấn đất về phía Tây (của Việt Thương qua đến đời Hùng Cừ đất Việt Chương ở miền hồ Phiên Dương thời hết). Người Việt Thường cũng sinh hoạt bằng nghề đánh cá như người Giao Chỉ, có lẽ cũng có tục xâm mình nhưng họ thông thạo nghề nông hơn. Theo thiên Vũ Cống thì miền châu Kinh và châu Dương có những sản vật như vàng, bạc, gỗ quý để làm nhà, các thứ trúc để làm nỏ, lông chim, da bò, ngà voi, da tê ngưu , vải gai… Dân Việt Thường còn biết chế độ đồng đỏ. Trình độ kỹ thuật đã tới trình độ đá mới. Họ cũng sống theo chế độ thị tộc và cũng có tín ngưỡng “Tô Tem” như người Giao Chỉ.
Mối quan hệ giữa người Giao Chỉ và Việt Thường thế nào đến nay vẫn chưa được rõ rệt chỉ biết rằng khi Việt Thường xuất hiện thì tên Giao Chỉ không còn nữa. Và địa bàn ức đoán của Việt Thường choán một phần Đông Nam của Đại bàn ức đoán của người Giao Chỉ.
Ngoài ra Việt Thường với Giao Chỉ đều là người Man Di thuộc về Việt tộc là giống người đã sinh tụ ở khắp lưu vực sông Dương Tử, từ miền Vạn Huyện (đời Chu là nước Quý Việt), tỉnh Tứ Xuyên ra tới biển, nghĩa là suốt Châu Kinh, Châu Dương trong Vũ Cống.
Cứ những điều chúng ta biết về đặc tính văn hóa thì Việt tộc vào thời đó có lẽ không thuộc ảnh hưởng chủng tộc Mông Gô Lích một phần nào như người Hán, tuy chưa thể nói thấy tục xâm mình là tục đặc biệt của các dân tộc thuộc giống Anh-đô-nê-dieng ở miền nam và Tây Nam Á Châu, (từ người Miêu Tử, Lô Lô, Mán, Lái, Lê, Dao, Xa, Đản, Đông cho đến người Dayak ở đảo Bornéo đều là di duệ của người Man Di). Đám người này, theo các nhà nhân chủng học chia ra hai giống Tạng Miến (Tibéto-birman) và Anh-đô-nê-dieng. Nhưng họ không khác biết nhau mấy, ngay cả về đặc tính kỹ thuật. Theo các nhà bác học Leroy, Gourhan về nhân loại học, người Anh-đô-nê-diêng  và giống Tạng Miến gần nhau quá, nếu có khác nhau thì sự khác biệt đó cũng hết sức mỏng manh, có lẽ vì sự pha trộn tức là sự lai giống. Hai đám dân tộc này phải chăng đã sống gần gũi nhau nên có sự trạng này hay là để cùng thoát thai ở một gốc? Và chúng tôi nghĩ rằng cái gốc người ta đề cập đó có lẽ là Việt tộc. Các nhà tiền sử học và ngôn ngữ học phát biểu rằng suốt từ miền A-Xam ở phía Bắc Ấn Độ trải qua Nam Bộ Trung Hoa xuống tới Nam Dương quần đảo có một thứ văn hóa hiện nay còn di tích trong các dân tộc Anh-đô-nê-diêng. Chúng ta có thể ngờ rằng người Việt tộc xưa có lẽ là một nhánh của chủng tộc Anh-đô-nê-diêng. Chủng tộc này trong thời thái cổ đã có mặt hầu khắp miền Đông Nam Á Châu.
 
Bách Việt
Căn cứ vào các sử sách của Tàu trong đời nhà Chu, ta thấy Bách Việt có mặt ở lưu vực sông Dương Tử rồi sau này tản mác khắp miền Nam bộ Trung Hoa. Nói là Bách Việt, người ta căn cứ vào thuyết truyền kỳ về Lạc Long Quân kết duyên cùng Bà Âu Cơ sinh ra thăm con trai. Sự thực, về thời thượng cổ giống Bách Việt có nhiều nhóm, nhiều bộ lạc sinh sống rời rạ như các dân tộc thiểu số ngày nay tại miền Thượng du. Đến đời nhà Chu các câu lạc bộ này đi dần đến chỗ thống nhất do những biến thiên của Lịch sử, các bộ lạc nhỏ dần bị các bộ lạc lớn kiêm tính và họp lại thành năm nhóm lớn sau đây đã đạt đến hình thức quốc gia là: Đông Việt hay ĐÔng Âu, Mân Việt, Nam Việt, Tây Việt hay Tây Âu và Lạc Việt. Sau này ba nhóm trên bị đồng hóa theo Hán tộc, còn lại trên lịch sử đến ngày nay là nhóm Tây Âu và Lạc Việt.
Vào thế kỷ thứ 9, một số thị tộc người Việt ở Chiết Giang có lẽ có quan hệ với những phần tử Việt tộc ở Nam bộ Trung Hoa và đối với Lịch sử của chúng ta là người VIệt Nam ngày nay nữa. Họ lập thành nước Việt do một nhà quý tộc họ Mị thuộc về thị tộc Mị cùng họ với mua nước Sở. Buổi đầu tiên trên bốn thế kỷ trước đời Câu Tiên, nước Việt chỉ là một nước phụ dung của nước Ngô,  một nước lớn ở lưu vực sông Giang và sống Hoài. Cuối thế kỷ thứ 6 vua nước Ngô là Hạp Lư giận vua nước Việt là Doãn Thường Tuy Lý (phủ Gia Hưng). Doãn thường chết, con là Câu Tiễn đen quân quyết tử trả thù giết được Hạp Lư. Cháu Hạp Lư là Phù Sai, cũng trả thù cho ông, diệt được nước Việt. Sau này Câu Tiễn nhờ được bề tôi giỏi là Văn Chủng và Phạm Lãi khôi phục được nước Việt, phá được Ngô, xưng bá miền Giang Hoài (năm 402). Ngôi bá chủ này, con cháu Câu Tiễn còn giữ được ba đời nữa, đến đời thứ 4 thì thất bại ở Giang Đông. Bốn mươi tám năm sau đời Câu Tiễn thì nước Việt suy. Bốn mươi sau năm nữa, nước Việt bị Sở thôn tính.
Trong lịch sử 600 năm của nước Việt, Câu Tiễn đã là người anh hùng làm nước Việt nhỏ bé bán khai ở miền Giang Nam nổi lên thành một nước mạnh tung hoành non một thế kỷ ở một phương, mở rộng cương vực choán một phần lớn tỉnh Chiết Giang về phía Nam, và một phần lớn tỉnh Giang Tây về phía Bắc, tuy miền Giang Tây chỉ là phạm vi thế lực.
Trạng thái sinh hoạt vật chất của nước Việt đại khái như sau đây: cũng như người nước Ngô, người Việt vẫn sinh nhai bằng nghề đánh cá là nghề chính. Nông nghiệp của họ chưa phát đạt vì đất xấu, kỹ thuật canh tác còn thô sơ, lại chưa biết dùng cầy bừa và trâu bò. Có lẽ người Việt chỉ trồng được lúa nếp ở trên các khoảng đất cao và ăn trọng yếu là tôm cá, sò hến.
Về y phục, người Việt dệt bằng sợi gai hay đay, và biết dệt vải hoa như người Mường, Thổ là một thứ sản phẩm rất được người Hán ham chuộng. Người Việt biết pha đồng và thiếc để làm binh khí. Người ta đào được ở Chiết Giang những đồ đồng như đinh ba chân, đao, thương, dao găm, mũi giáo, chuông nhỏ, chuông lớn, nhất là thứ kiếm đồng hai lưỡi là vật quý báu ở đời Xuân Thu.
Họ sinh hoạt dưới nước nhiều hơn là ở trên cạn nên bơi lội rất giỏi, biết làm các thứ thuyền nhỏ là Linh và thứ thuyền có gắn mũi qua tức là Qua thuyền. Ba thứ thuyền sau là thuyền chiến. Các sách chép: người Việt rất sở trường về thủy chiến (Điều này làm ta nhận thấy dân tộc Việt Nam quả có tài chiến đấu đặc biệt về mặt thủy trong các cuộc xung đột với Trung Quốc từ 20 thế kỷ nay).
Về kiến trúc, hình như họ ở nhà sàn bằng tre và gỗ, tuy họ biết xây mộ và thành bằng đá và gạch. Việt Tuyệt Thư chép: nước Việt có rất nhiều thành và lăng mộ, còn di tích đến đời Hậu Hán.
Về văn hóa, tinh thần của người Việt chúng ta chưa được nhiều tài liệu để xét đoán, về ngôn ngữ chẳng hạn. Ta chỉ biết rằng tiếng nói của người Việt khác với tiếng nói của người Hán nhiều, thường một tiếng Việt phải phiên âm bằng hai ba tiếng Hán.
Về phong tục thì có tục xâm mình, cắt tóc là đặc tục của toàn thể Việt tộc. Họ còn tục khắc cánh tay để ăn thề, khác với tục xâm mình có ý nghĩa “Tô Tem”. Họ thờ quỷ thần, tin điều họa phúc, chuộng phù pháp, thờ người chết rất thành kính. Các nhà qúy tộc xây mộ bằng đá và bằng gạch lớn, bỏ đồ binh khí bằng đá, đất hay đồng, vào áo quan để người chết có các thứ dùng.
Xét các đồ đồng và đồ gốm khai quật được ở Chiết Giang, các nhà khảo cổ buộc các nghệ thuật của các đồ ấy vào một nghệ thuật lớn gọi là nghệ thuật Đông Sơn, có nhiều đặc điểm tương tự với nghệ thuật đời chiến quốc ở miền sông Hoài. Những đặc điểm ấy là hình trôn ốc cập đôi và hình giây bện. Ông Đào Duy Anh cho rằng nghệ thuật ấy chính ở miền Ngô Việt lúc thinh thời đã có rồi. Sau đó sự xúc tiếp với người Hán ở miền Bắc, nghệ thuật đó có ảnh hưởng đến nghệ thuật Chu Mạt hay Chiến Quốc và do sự di cư của Việt Tộc xuống miền Nam thành nghệ thuật Đông Sơn.
Về tính tình, người Hán do người Man Di (Việt) có tính khinh bạc, hiếu chiến, sắc sảo về việc binh, không sợ chết. Việt Tuyệt Thư viết: Họ ở núi mà đi đường thủy lấy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa, đến thì như gió thoảng, đi thì khó đuổi theo. Sử ký chép: Vì dễ kiếm ăn, họ không lo xa, dành dụm, bon chen. Tóm lại người Hán có ý ghê sợ tinh thần quật cường của Việt tộc, luôn luôn chống trả kịch liệt các cuộc xâm lăng của họ, ngoài ra người Việt lại thường hoài vọng phát triển về miền Bắc nữa. Đáng chú ý là cái tinh thần bất úy tử của người Việt mà Câu Tiễn trong khi đánh Ngô, đã có dịp phô trương. (Câu Tiễn sai quân đến trước quân Ngô khiêu chiến, la ó om sòm, rồi tự cắt cổ và chết. Giữa khi quân Ngô ngạc nhiên ngắm cái trò tự sát này, thì quân chủ lực của Việt ập đến).
Về chính trị, nước Việt dưới đời Câu Tiễn đã vượt qua chế độ bộ lạc và thành một quốc gia theo chế độ quân chủ phong kiến. Sauk hi đánh được Ngô thì Việt vẫn xưng thần với nhà Chu. Sau một trăm năm cường thịnh, nước Việt lại suy vi. Bao nhiêu chế độ kinh tế, chính trị phỏng theo người Hán lịa xụp đổ và người Việt lại trở về chế độ bộ lạc, một phần phiêu lưu về miền Lĩnh Nam, một phần bị đồng hóa với người Hán tộc.
Các nhóm khác là Đông Việt, Mân Việt và Nam Việt là thế nào, ngoài Ư Việt hay Vu Việt mà di chủng hiện còn lưu trên lịch sử là dân tộc Việt Nam do những quan hệ xa gần? Các nhóm này có từ bao giờ, chưa sử gia nào có thể trả lời một cách thỏa đáng, chỉ biết rằng họ đã có mặt ở các miền Nam bộ Trung Quốc đã lâu đời, trước khi nhà Tần đem quân vượt núi Ngũ Lĩnh xuống chinh phục họ. Bấy giờ họ đã thành các quốc gia tuy tổ chức về mọi phường diện chưa được quy củ lắm.
Về chính trị, nước Việt dưới đời Câu Tiễn đã vượt qua chế độ bộ lạc và thành một quốc gia theo chế dộ quân chủ phong kiến. Sauk hi đánh được Ngô thì Việt vẫn xưng thần với nhà Chu. Sau một trăm năm cường thịnh, nước Việt lại suy vi. Bao nhiêu chế độ kinh tế, chính trị phỏng theo người Hán lại xụp đổ và người Việt lại trở về chế độ bộ lạc, một phần phiên lưu về miền Lĩnh Nam, một phần bị đồng hóa với người Hán tộc.
Các nhóm khác là Đông Việt, Mân Việt và Nam Việt là thế nào, ngoài Ư Việt hay Vu Việt mà di chủng hiện còn lưu trên lịch sử là dân tộc Việt Nam do những quan hệ xa gần? Các nhóm này có từ bao giờ, chưa sử gia nào có thể trả lời một cách thỏa đáng, chỉ biết rằng họ đã có mặt ở các miền Nam bộ Trung Quốc đã lâu đời, trước khi nhà Tần đem quân vượt núi Ngũ Linh xuống chinh phục họ. Bây giờ họ đã thành các quốc gia tuy tổ chức về mọi phương diện chưa được quy củ lắm.
Đây số phận của họ từ triều đại nhà Tần quy triều đại nhà Đông Hán! Năm 218, năm đạo quân Tần gồm những người lưu vong, những rể thừa và lái buôn mở cuộc Nam chinh. Đọa quân thứ năm ngừng lại trên sông Dư Can trong tỉnh Quảng Tây ở phía Nam Hồ Phiên Dương phụ trách việc đánh Đông Việt và Mân Việt khi đó còn là những quốc gia mới chớm nở. Hai nhóm này xưa kia thần phục Sở. Sau Trung Quốc rối loạn, họ nhân đó mà giành lấy độc lập.
Đông Việt bấy giờ đóng ở trung tâm điểm miền Vĩnh Gia, thuộc Ôn Châu, tỉnh Chiết Giang về phía Nam Tâm Môn Loan. Mân Việt ở trung tâm điểm Mân huyện, thuộc Phúc Châu trong địa hạt Phúc Kiến ngày nay.
Thế quân Tần bấy giờ đang mạnh, việc bình định được Trung Nguyên với cái kết quả rực rỡ huy hoàng cua rnos khiến hai nhóm Đồng VIệt và Mân Việt khiếp sợ, nhờ vậy mà quân Tần thắng nhanh chóng, dễ dàng ngay trong năm đầu. Việc  chinh phục xong, Tân hợp hai nước lại làm một, đặt thành quận Mân Trung. Quốc Vương bản xứ hạ xuống làm quân trưởng (tù trưởng) để cai trị dân như cũ.
Đến ít năm sau Tần suy biến, Đông Việt và Mân Việt theo chư hầu đánh Tần rồi lại giúp Hán đánh Sở. Hán Cao Đế năm thứ 5 (202) thưởng công cho tù trưởng Mân Việt là Vô Chu bằng tước Mân Việt vương. Đến Huệ Đế năm thứ 3 (192) chi lại đất Mân Trung cũ mà đặt thêm nước Đông Hải và cũng để đền đáp cho tù trưởng Đông Việt là Dao, Hán phong cho tước Đông Hải vương, đóng đô ở miền Vĩnh Gia.
Sau này Mân Việt và Đông Việt xung đột với nhau đã là cơ hội rất tốt cho sự kiêm tính của nhà Hán. Buổi đầu hai nước này thuần phục nhà Hán những vẫn nuôi hoài vọng tiến về phương Bắc nếu có dịp thuận tiện cho nên cả hai đã phụ lực cho Ngô Vương Tỵ và Hoài Nam vương trong việc phản Hán. Nhà Hán e ngại Mân việt hơn hết. Rồi Hán dụ được Đông Việt giết Tỵ mà quay về với mình. Con Tỵ là Tu Câu xin Mân việt đánh Đông Việt năm thứ ba đời Vũ Đế (138). Đông Việt thế nguy cầu cứu Hán nhưng khi tưởng Hán là Nghiêm Trợ xuất binh thì quân Mân Việt đã rút lui về Nam, vì trong nước có loạn; Nghiêm Trợ đến Đông Âu lấy danh nghĩa cứu nạn đói liền dời một phần đông dân Đông Âu về Giang Hoài có ý rút bớt thực lực của Đông Âu để tránh hậu họa sau này. Có lẽ một phần dân Đông Âu đã chống lại chính sách này nên theo vua di chuyển xuống miền Nam gần Tuyên Sơn tỉnh Phúc Kiến.
Năm thứ 6 hiệu Kiến Nguyên (135), Mân Việt đem quân đánh Nam Việt. Nam Việt cũng cầu cứu nhà Hán –Vương Khôi được Hán Đế cử đi đánh Mân Việt cùng Hàn An Quốc một do đường Dự Chương, một do đường Cối Kê, nhưng chưa tới cõi Mân thì Mân Việt vì nội loại phải xin hàng.
 
Nam Việt
Nhóm Nam Việt cũng như Mân Việt và Đông Việt là một trong nhiều nhóm Việt tộc. Nó mang tên Nam Việt có lẽ tự khi nó có mặt ở miền Nam bộ Trung Hoa cùng thời với các nhóm trên đây, rồi sau này dưới đời Tần, Triệu Đà chinh phục được nhóm Nam Việt và Âu Lạc lập thành một đế quốc ở miền Đông Nam Á Châu và tự xung Đế. Chính đạo quân thứ tư trong năm đạo quân Tần đã ở phía Nam Dự Chương do đường Đại Du (nay là đèo Mai Lĩnh) tiến vào Quảng Đông là lãnh thổ của nhóm Nam Việt? Có lẽ đạo quân thứ 5 sau khi chiếm được Đông Việt và Mân Việt đã theo đường bể do đèo Yết Dương tấn công vào Phiên Ngung (Quảng Châu ngày nay). Đạo thứ nhất, thứ nhì, thứ ba tiến vào phía Bắc Quảng Tây và Tây Bắc Quảng Đông không gặp sức kháng chiến nào đáng kể. Nhưng ít lâu sau họ bị người Tây Âu chống trả kịch liệt ở miền Quảng tây, vì vấn đề tiếp tế khó khăn do đường xá xa xôi, vì do khí hậu quá độc nên luôn trong ba năm đoàn quân viễn chinh của nhà Tần bị khốn đốn và hao mòn vô kể. (Xin coi việc kháng chiến của Tây Âu ở đoạn dưới dây). Bị ngưnglại, nhà Tần thiết lập bộ máy cai trị ở các nơi đã chiếm được như ở Đông Việt và Mân Việt –Quảng Đông và Quảng Tây thành r aba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Năm 214 việc đặt Quận, huyện thành tựu, nhà Tần cử Nhâm Ngao làm Đô Úy quận Nam Hải và Triệu Đà làm Huyện Lệnh Long Xuyên (Huyện thuộc Quận). Đến khi Trung Quốc có loạn, chư hầu nổ lên đánh đổ nhà Tần, nhà Hán ra đời thì Triệu Đà xưng  Đế ở Nam Việt, chiếm địa phương này làm của riêng trong một giai đoạn nhưng sau cũng thần phục nhà Hán. Sau này Triệu Đà chết đi, các con cháu kế nghiệp bất tài, nhà Hán liền chiếm hẳn Nam Việt. Âu Lạc bấy giờ năm trong phạm vi ảnh hưởng của Nam Việt cũng nhào theo. Rồi Nam Việt cũng bị chia làm quận huyện. Tuy dân Nam Việt không bị cưỡng bức di cư như Đông Việt và Mân Việt để đồng hóa với Hán tộc, nhưng từ đời nhà Tần họ ăn chung ở lộn với mấy vạn quân Nam chinh và một văn năm ngàn phụ nữ Hán mà Triệu Đà được nhà Tần caapsp cho để giữ việc may vá cho quân lính nên ngay từ thời Nam Việt còn thịnh đạt đã có sự pha trộn giữa hai dân tộc Hán Việt…
Một điều đáng chú ý là sau khi nước Việt bị diệt, nhiều nhóm tàn dân U Việt đã chạy xuống các miền Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến tụ họp với những người đồng tộc là Mân Việt và Đông Âu đã di cư từ trước. Họ có trình độ văn hóa cao nên khi hợp với các thị tộc chiếm đóng miền Nam trước họ thì họ đem đến đó một hình thức chính trị kinh tế cao hơn. Nhưng nhà quý tộc của họ họp thành những bộ lạc lớn mà tự xưng vương. Ngay từ khi họ còn sinh tụ tại miền Chiết Giang cho tới lúc họ tản mác dần xuống miền Đông Nam Trung Quốc.
Để có một nhận định rõ rệt về mối liên hệ giữa người Việt Nam chúng ta ngày nay và các nhóm đồng tộc trên đây, chúng tôi xin trình bày các đặc tính văn hóa của người Bách Việt sau khi đã nói về U Việt cũng cùng về một vấn đề. Căn cứ vào những tài liệu rải rác ở các cổ sử như Sử ký. Hán Thư và nhất là tác phẩm của Hoài Nam vương Lưu An là người Hán sơ sinh trưởng ở miền tiếp cận của Bách Việt thì biết rằng người Việt xưa kia sống một cách rất đơn giản. Họ không có thành quách, thôn ấp. Họ ở trong các vùng rừng núi, bờ lau, khe suối. Họ rất thạo thủy chiến, rất quen dùng thuyền, ở trên cạn út mà ở dưới nước nhiều. Họ cắt tóc, xâm mình, đóng khố ngắn để tiện bơi lội, tay áo cộc để tiện chèo thuyền. Ở đảo Hải Nam cũng là nơi thuộc địa bàn của người Bách Việt, theo sách Hán Thư đàn ông cày ruộng trồng lúa nếp, lúa tẻ, đay và gai. Đàn bà trồng dâu nuôi tằm. Có lẽ ở miền đồng bằng trong lưu vực sông Tây Giang miền Quảng Đông và Quảng Tây người Bách Việt cũng làm ruộng theo kỹ thuật thô sơ như dân Hải Nam vậy.
Người Bách Việt đã biết nuôi gia súc như bò, dê, lợn, gà, chó. Họ có các sản vật quý giá như: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, trân châu, ngọc đỏ, bạc, đồng, trái cây (quả nhãn, quả vải) vải gai. Hẳn họ cũng biết kỹ thuật đồ đồng như người Ngô Việt nhưng chắc không tinh bằng dân Ngô Việt. Họ ít giao thông bằng đường bộ nên không dùng ngựa. Họ không giỏi thương mại nhưng vì có nhiều sản phẩm nên hay giao dịch với người Trung Quốc tại Quảng Đông, Hợp Phố, Tư Văn và Phiên Ngung một thời đã trở nên nơi đô hội lớn.
Về kiến trúc họ chưa có gì đáng kể vì chỉ ở nhà sàn, nhà gác bằng tre và gỗ, vì ngay như thành trì để phòng ngừa quân địch họ cũng không có như người nước Việt trong thời cường thịnh. Họ chỉ nhờ thế rừng núi hiểm trở để tự vệ thôi.
Về văn hóa tinh thần, họ cũng không khác người nước Việt mấy vàngười Hán cũng cho họ là khinh bạc và hiếu chiến. Họ vẫn còn sống theo chế độ thị tộc. Có lẽ riêng nhóm Đông Âu và Mân Việt đã tiến bộ hơn và đã tiến qua chế độ gia tộc. Về chính trị có lẽ họ ở giữa chế độ bộ lạc và phong kiến.
 
Lạc Việt và Tây Âu
Theo tác giả “Nguồn gốc Dân tộc Việt Nam” tổ tiên trực tiếp của dân tộc Việt Nam là nhóm Lạc Việt sinh tụ ở miền Trung Châu Bắc việt và miền Bắc Trung việt, nhưng nói một cách chuẩn đích rằng nhóm này đến chiếm đóng ở đây từ bao giờ thì chúng ta chưa có câu trả lời dứt khoát, chỉ biết khi Triệu Đà cát cứ ở huyện Long Xuyên thuộc Nam Hải (Quảng Đông) thì người Lạc Việt đã có mặt ở lưu vực sông Nhị Hà rồi. Ở đây họ đã tổ chức thành quốc gia tuy chưa ra khỏi tình trạng bán khai, và ngự trị quốc gia Lạc Việt bấy giờ là họ Hồng Bàng.
Căn cứ vào Từ quảng (do Sử ký sách Án Dẫn) người Mân Việt ở Phúc Kiến đều họ Lạc cả khiến ta ngờ rằng người Lạc Việt ở Việt Nam bây giờ với Lạc Việt ở Phúc Kiến có mối liên hệ với nhau.
Về Nhân loại học, ông Cl. Madrolle trong bài Le Tonkin ancian B.E.F.E.A XXXVII đã phát biểu ý kiếnrồi ức đoán ở Phúc Kiến có một nhóm Việt tộc làm nghề chài lưới, hàng hải đã dùng thuyền gỗ hay mảng tre có buồm, hàng năm theo gió mùa, nhân gió bấc phiêu lưu theo dọc miền duyên hải rồi ghé vào miền Trung Châu sông Nhị, sông Mã (Việt nam). Nhóm này cũng đã có phen vượt biển xuống cả Nam Dương, rồi lại nhân tiết gió nồm quay về căn cứ. Có thể một số đã ở lại Bắc Việt để sinh sống, vì ở đây đất cát có nhiều màu mỡ, cho tới khi dân Việt tại miền Đông Nam Trung Quốc bị Sở diệt liền kéo cả toàn thể bộ lạc xuống Bắc Việt. Hán Từ Quảng đã căn cứ vào một số người họ Lạc còn sót lại ở đấy Phúc Kiến nên nói rằng người Mân Việt họ Lạc.
Tại sao có cái tên Lạc Việt?
Ông Đào Duy Anh cho rằng nhóm Lạc Việt ấy đã  thường tự sánh mình với một giống chim hậu điểu cứ đến mùa gió bấc lạnh lẽo cũng rời bờ biển Giang Nam với họ và tiến xuống Miền Nam, đến khi mùa nóng trở về thì chim và người cùng quay lại chốn cũ. Dần dần trong tâm lý của họ phát sinh ra quan niệm tô tem (giống chim Lạc là một giống chim hậu điểu về loại ngỗng trời). Họ nhận giống chim Lạc là vật tổ rồi lấy tên của giống chim này đặt cho thị tộc của mình. Rồi họ mang lông chim Lạc ở đầu và ở mình, lại trang sức thuyền của họ thành hình vật tổ, hoặc đeo khắp nơi trong thuyền những huy hiệu vật tổ cốt để cầu một sự hộ vệ của vật tổ trong khi lăn lóc giữa sóng gió bể khơi. Ngày nay người ta thấy trên mặt trống đồng Ngọc Lư có chạm các hình ảnh này. Các nhà khảo cổ Pháp như Goloubew và Finot cho rằng sự kiện này do ý nghĩa “tô tem”. Đây chỉ là một sự ức đoán căn cứ vào các di tích mà các nhà khảo cổ đã tìm thấy.
Lân cận với nhóm Lạc Việt là nhóm Tây Việt hay Tây Âu ở mé Đông Nam tỉnh Quảng Tây đã nằm trong chương trình chinh phục Bách Việt của nhà Tần, trong khi quân Tần sẻ sông ngòi để chuyển vận binh lương xướng các vùng Quế Lâm, Nam Hải, Tần diệt được Đông Âu và Mân Việt những đã vấp phải sức kháng chiến của nhóm Tây Âu mặc dầu hạ được tù trưởng là Địch Hu Tống. Sau này một mặt quân Tây Âu rút vào rừng sâu, một mặt, cứ đêm lai tiến ra đánh du kích giết được Đồ Thư là Quan Úy nhà Tần và làm hao mòn mấy chục vạn quân của Tần nữa. Cứ lời Lưu An, sau sự thất bại đau đớn trên đây quân Tần rút về miền Bắc chiếm đóng ở phía Bắc sông Ly. Ảnh hưởng của Đế Quốc Tần bấy giờ mới choán được địa quận Quế Lâm tức Uất Lâm bây giờ và miền Nam Hải (tức là Quảng Đông và Quảng Tây) mà thôi.
Ngày nay người ta ngỡ rằng người kế tiếp tù trưởng hay thái tử chết ở núi Bạch Lộc là một người con thứ của vua Thục mà sử chép là Thục Phán (An Dương Vương) đã có công chống Tần trên đây sau khi nước Thục (ở Tứ Xuyên) bị Tần diệt được (Sử ký chép việc ấy vào năm thứ 5 đời Chu Thành Vương tức năm 316); khi dư đảng chạy về phía Nam Lãnh náu mình ở đất Diên Trì là đất của nước Sở cừu địch của Tần mới chiếm được.
Rồi Phán cảm thấy đất dung thân chật hẹp nghèo nàn, nên chiếm đất Tây Âu và Lạc Việt, theo lối con đường xe lửa Điền Việt ngày nay, qua Khúc Tịnh, Mông Tự, rồi theo sông Hồng Hà chiếm Lạc Việt hợp Tây Âu và Lạc Việt làm một thành ra Âu Lạc sau này, lấy Cổ Loa làm kinh đô, tự xưng hiệu là An Dương Vương (Có lẽ muốn nhớ lại tên cố hương là Hoa Dương, tên miền đất Thục ở Tứ Xuyên).
Việc Thục Phán vào đất Việt có lẽ xảy ra trước khi quân Tần đánh Tây Âu. Lúc này Tây Âu đã thuộc về Thục Phán.
Đến ngày nay, căn cứ vào thuyết của L. Aurousseau và tài liệu của Đào Duy Anh người ta gần như có thể quyết định rằng người Việt Nam bây giờ tức là người Lạc Việt thuở xưa sinh tụ ở miền Nam bộ Trung Quốc,s au này trôi rạt xuống lưu vực sông Nhị Hà. Các nhà khảo cổ gần đây đào sâu các tầng đất thấy hài cốt người Anh-đô-nê-diêng, Mê-la-nê-diêng ở dưới, còn hài cốt người Lạc Việt hay Giao Chỉ ở trên nên cho rằng người Lạc Việt đến lập cơ sở ở Bắc Việt chưa lâu lắm.
Lấy gì căn cứ để nói rằng chúng ta là một trong đám Bách Việt và các nhà sử học và cổ học đã lấy dẫn chứng bằng những hình dáng, tính tình, phong tục và các đặc tính văn hóa của người Việt là nhưng tiêu chuẩn vững chắc nhất xưa nay về nhân chủng học, để ấn định nguồn gốc và giòng giống của một dân tộc.
Thuyết nói rằng người Việt chúng ta đến miền Trung Châu sông Nhị và sông Mã chưa lâu lắm có thể đúng vì trên khu vực này giống người Anh-đô-nê-diêng đã đến trước chúng ta. Họ do bán đảo Ấn Độ di cư tới và chiếm đóng những miền đồi núi giáp Trung Châu Bắc Việt (Phó Bình Gia và làng Cườm ở Bắc Sơn, Hòa Bình, Chợ Gành) và miền Bắc Trung Việt (Đa Bút ở Thanh Hóa, Cầu Giát ở Nghệ An). Nhà bác học sylvain Lévy lấy kỹ thuật đồ đá trau tìm thấy ở suốt bán đảo Hoa Ấn mà cho rằng những thứ này đã do người Anh-đô-nê-diêng đưa tới. Nhiều nơi còn có những đống vỏ sò, vỏ điệp được coi là di tích sinh hoạt của người Anh-đô-nê-diêng có lẽ đã sống về nghề chài lưới ở ven sông và bên bờ biển. Người Lạc Việt mà chúng tôi đoán cũng là giống Anh-đô-nê-diêng làm nghề chài lưới đã tiếp xúc với người Thổ trước miền Bắc Việt Nam cùng phương thức sinh hoạt tương tự rồi dần dần đồng hóa họ. Một phần của đám người Thổ trước vì sự phát triển quá mạnh của người Lạc Việt đã bị dồn lên đồi núi, còn để lại ngày nay những di tích như hài cốt và các đồ dùng trong đời sống hàng ngày của họ, đã do các nhà địa chất học khai quật lên được. Khi còn ở Phúc Kiến, người Lạc Việt đã tiếp xúc với người Hán tộc thuộc giống Mông-gô-lích từ lâu, cho nên  ta có thể nói rằng người Lạc Việt là giống tạp chủng gồm nhiều yếu tố Anh-đô-nê-diêng và một phần nào yếu tố Mông-gô-lích. Nữ sĩ Colani tìm được trong một cái hầm mộ làng Cườm (bắc SƠn một cái đầu lâu gồm cả tính chất Anh-đô-nê-diêng và Mông-gô-lích. Có lẽ là đầu của một người Lạc Việt nào lạc long vào trong đám Anh-đô-nê-diêng bị dồn lên miền sơn cước.
Truy cứu theo đặc tính sinh lý, ở nơi chúng ta, người ta cho rằng có sự pha máu giữa giống Anh-đô-nê-diêng với giống Mông Cổ, nếu xét tầm vóc người Việt Nam cao độ 1 thước 58, chân tay khẳng khiu, cái sọ tròn (chỉ xuất 82,8), môi hơi dầy, miệng hơi vẩu, mặt dẹt và hơi tròn, mắt có mí và hơi xếch, gò má cao, râu thưa và cứng, da ngăm ngăm, ta không thể không nhận thấy là đặc tính sinh lý của người Mông Cổ. Sự pha trộn này đã tạo thành con người Việt Nam có thể coi là một thức tế, nhưng qua các biến chuyển của lịch sử và do ảnh hưởng của thời tiết, thổ ngơi, con người Việt Nam cũng chịu nhiều sự thay đổi và có nhiều sắc thái khác để trở nên riêng biệt…
Đến Bắc Việt sau khi đã làm chủ nhân sông lưu vực sông Nhị và sông Mã, hẳn người Lạc Việt vẫn tiếp tục nghề chài lưới những có lẽ chỉ một phần nào sống gần biển, ngoài ra dân Lạc Việt đã theo sinh hoạt định cư và lấy nghề nông làm căn bản do đó sách Quảng Châu Ký chép về Giao Chỉ nói: vua là Lạc vương, dân là Lạc dân, ruộng là Lạc điền và Lạc dân đã biết dùng nước thủy triều lên xuống để làm ruộng. Theo sách Hậu Hán Thư khi Lạc Việt đã thuộc về Hán mà dân Lạc Việt ở Cửu Chân vẫn chưa biết cày bừa bằng trâu bò, có lẽ vì sự tiến hóa của dân Lạc Việt mới chỉ phát triển tới lưu vực sông Nhị mà thôi chăng? Ở Trung Châu Bắc Việt người ta tìm thấy lười cày và lưỡi cuốc bằng đồng. Vì đồ dùng ở lưu vực sông Nhị, sông Đáy, nhất là ở Đông Sơn trên bờ sông Mã, người ta tìm thấy đồ đá, đồ gốm và đồ đồng của người Lạc Việt. Về những đồ đá, các nhà khảo cổ cho là thuộc về thời đại đồ đá mới còn sót lại. Đồ gốm đào được ở Đông Sơn thuộc về hậu kỳ của thời đại đồ đá mới mà hình thức cùng kỹ thuật tương tự với các đồ đào được ở Chiết Giang. Người ta cho rằng kỹ thuật này có lẽ do người Lạc Việt đem đến vì người Anh-đô-nê-diêng chưa tới một trình độ kỹ thuật cao như vậy. Đồ đồng phần nhiều là binh khí, búa, rìu, mũi thương, mũi mác, dao găm, mũi tên, lưỡi qua giống hệt như các thứ tìm được ở miền Giàng Hoài và Chiết Giang của người Việt tộc. Song từ khi truyền đến Việt Nam thì kỹ thuật đồ đồng của người Lạc Việt mà xuất xứ là miền Ngô Việt, có lẽ đã chịu ít nhiều ảnh hưởng của văn hóa Anh-đô-nê-diêng rồi nhờ điều kiện sinh hoạt dễ dàng được phát đạt dần đến một trình độ khá cao. Cái trống đồng Ngọc Lư hiện giữ được ở viện Quốc gia bảo tang ở Hà Nội đã chứng tỏ lời chúng tôi nói đây. Và chính Mã Việt đã lấy ở đất Lạc Việt một cái trống đồng loại này đem về nước, đúc tượng ngựa đồng. Theo Lâm Ấp Ký dẫn ở Thủy Kinh Chú: người Lạc Việt còn đúc cả thuyền bằng đồng nữa. Xem các đồ đồng tìm được ở Đông SƠn người ta thấy hình người có tóc búi sau gáy, có bịt một cái khăn ngang hai mối thắt lại thả dài xuống lưng. Ở mỗi tai có đeo một cái vòng lớn. Hình như lưng có thắt một cái giây, ở sau lưng có một cái tua bỏ thõng xuống. Lại có một hình người khác, tai cũng đeo vòng lớn, nhưng phần thân dưới mang một cái váy như váy mọi ngày nay. Ở trước váy có thêm miếng lá phủ, tóc thì búi cao lên đỉnh đầu, một nửa kết thành bím bỏ thõng xuống lưng. Búi tóc có bịt một cái khăn. Kiểu tóc và kiểu khăn này giống hệt cách trang sức của người Dayak ngày nay.
Hai hình người này cho ta phỏng đoán cách phục sức ngày xưa của người Lạc Việt. Theo lời tâu của Tiết Tôn làm quan ở Giao Châu dưới đời Tam Quốc, người Lạc Việt bấy giờ búi tóc và đi chân không.
Người Lạc Việt có tục xâm mình, tin mình là con cháu Giao Long (truyền thuyết con Rồng cháu Tiên) mà họ gọi là Lạc Long Quân. Họ tin tưởng quỷ thần, có tục chôn người chết, bỏ đồ binh khí bằng đá và bằng đồng vào quan tài trước khi hạ xuống đất. Tôn giáo có tính cách nông nghiệp. Mỗi năm về mùa Xuân, họ mở hội cho trai gái tự do vui đùa múa hát có ý nghĩa ghi dấu mùa Xuân và mở mùa Hạ, trai gái dùng trầu cau làm lễ cầu hôn. Trong những hội hè ở các nơi, dân đã có tế lễ rất thành kính. Nhiều miền thượng du ngày nay, dân sơn cước cũng rất ham chuộng và vẫn bảo toàn phong tục này. Về chế độ xã hội khi mới đất, dân Lạc Việt còn theo chế độ thị tộc như người thổ trước Anh-đô-nê-diêng. Sau này nông nghiệp phát đạt, tiến đến chế độ gia tộc phụ hệ, còn ở những miền hẻo lánh, rừng núi chế độ thị tộc vẫn còn tiếp tục.
Hậu Hán Thư quyển 116 chép về văn hóa của người Lạc việt như sau: “Người Giao Chỉ không phân biệt trưởng ấu…Không biết lễ giá thú, chỉ theo dâm hiếu mà không biết tình cha con, không biết đạo vợ chồng, nghĩa là không có tổ chức gia tộc theo chế độ phụ hệ, chế độ tôn pháp như Trung Quốc.
Trong sớ của tiết Tôn ở đời Tam Quốc (Tam Quốc Chí 9.53) có đoạn nói rằng khi mới thuộc Hán, người Giao Chỉ ở huyện Mê Linh, và Cửu Chân ở huyện Đô Lương, hễ anh chết thì em lấy chị dâu, đó là di tích của chế độ mẫu hệ. Sua này xúc tiếp mỗi ngày một sâu với văn hóa Bắc phương những phong tục dấu vết của thời man mọi này tiêu ma dần cho đến mất hẳn từ thời Tích Qunag và Nhâm Diên tức là thời Đông Hán. Trong cuốn Xã Hội Việt Nam ông Lương Đức Thiệp có nêu ra điểm này và trong cuốn Les Grandes époquesde I’Indochine, Bulletin de la S.E.M du Tonkin, Tome XV—No.2pp. 281-287, Ông L. Finot cũng có nói: Dân Văn Lang trước thế kỷ thứ 2 và thứ 3 còn sống ở trong trạng thái gia đình mẫu hệ (matricarcat và có tục đàn bà góa phải tái giá với an hem chồng (lévirat). Trạng thái này đổi dời lần lần do sự đồng hóa với Tàu để từ gia tộc mẫu hệ biến thành gia tộc phụ quyền. Ông Nguyễn Văn Tố bác bỏ kịch liệt thuyết này cho rằng không có chế độ thị tộc mẫu hệ vì họ Hồng Bàng từ mua Đế Minh đến Lộc (Kinh Dương Vương) đã có việc hôn phối tức là không có tục đàn bà góa phải tái giá với anh em chồng. Chúng tôi thiết nghĩ chế độ mẫu hệ có thể xuất hiện với đời thái cổ ở bất cứ nơi nào khi người ta chưa có văn minh, đạo đức. Lời phản đối của ông Nguyễn Văn Tố phải chăng vì lòng tự ái dân tộc chăng?
 
Về tổ chức chính trị, các thị tộc Lạc Việt còn là những bộ lạc đặt dưới quyền một tù trưởng và khi thị tộc Lạc việt đến Bắc Việt khuynh hướng tập trung bắt đầu rồi thành một chế độ phong kiến sơ sài. Tình trạng này khởi từ họ Hồng Bnafg nên sử chép bấy giờ có vua là Lạc Vương, gọi là Lạc dân, các cấp chỉ huy là Lạc hầu, Lạc tướng, Bố chính chia nhau các thái ấp lớn nhỏ tùy theo địa vị của mỗi đẳng, cấp. Và cũng do việc phần chia đất đai này ta nhận thấy đời sống của Lạc Việt khi đó đã là đời sống định cư từ các miền Cao nguyên cho tới các địa phương Trung Châu trên lưu vực sông Nhị Hà và sông Mã. Chế độ phong kiến đó hiện nay còn ở các nơi người Mường trú ngụ cho ta một hình ảnh có thể phù hợp với đời sống cổ xưa của dân ta kể từ họ Hồng Bàng…
Trong khi xét  về nguồn gốc của người Giao Chỉ, Đông Âu, Mân Việt, Tây Âu và Lạc Việt chúng tôi đã trình bày các điểm tương đồng của các thi tộc trên đây với thị tộc Lạc Việt chúng ta, và chúng tôi có cảm tưởng rằng:
  1. Người Việt của chúng ta xuất hiện từ đời thượng cổ ở miền Bắc Nam Bộ Trung Hoa và dần dần tản mác xuống miền Bắc bán đảo Hoa Ấn.
  2. Chủng tôi của chúng ta do các biến thiên của Lịch Sử đã lẫn lộn với người Hán tộc mà yếu tố Mông Gô Lích là một yếu tố quan trọng trong dòng máu của họ. Chung ta lại hỗn hợp cả với giống Anh-đô-nê-diêng là một giống rải rác ở khắp Đông Nam Á Châu và đã đến bán đảo Hoa Ấn trước chúng ta.
  3. Người Lạc Việt chúng ta đã tiên phong phiêu lưu xuống Bắc Việt và miền Bắc Trung việt trước áp lực của người Hán tộc. Các chủng tộc ở Á Châu phát tích ở miền đại lục thường chỉ tiến về phía Nam theo đường biển gần như một công lệ…
  4. Người Việt chúng ta là những phần tử dung cảm nhất có lẽ vì được hưởng nhiều đặc tính quý báu nhờ sự pha máu với nhiều chủng tộc, nên đã đương đầu được với nhiều cuộc xâm lăng của Bắc phương mặc dầu đã phải trải qua nhiều phút thăng trầm bi đát. Và cũng có thể nói rằng những cuộc hung vong thê thảm này đã hun đúc cho dân tộc chúng ta một tinh thần tranh đấu bền bỉ, để tồn tại đến ngày nay, oanh liệt dưới vòm trời Đông Nam Á.




Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN 1 – CHƯƠNG 2
 
ĐỜI SỐNG THƯỢNG CỔ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
 
Đời sống vật chất của ông cha chúng ta trong thời cổ xưa dĩ nhiên là khó khăn, chật vật hết sức. Sử sách tới nay chưa có sự kê cứu rõ rệt về vấn đề này vì đây là một vấn đề thuộc về thuở tiền sử và khuyết sử.
Ta có thể căn cứ vào câu “Ăn lông ở lỗ” để hình dung đại khái đời sống của người thượng cổ khi còn man dã. Dân tộc nào trên thế giới buổi nguyên thủy đều cũng vậy. Họ đã sống như bầy thú, trú ngụ trong các hang hốc. Họ lấy lá che thân, làm lều, túp lên các cành cây. Ăn thì ăn sống, nuốt thì nuốt tươi khi chưa biết dùng lửa. Hàng ngày rủ nhau săn bắn hoặc chài lưới, để tìm ra thực phẩm. Cuộc sống luôn luôn phải di chuyển vì chưa tìm ra được nhiều khả năng kinh tế (khi chưa có nghề giồng cây, giồng lúa, chế tạo các dụng cụ) và chống với Thiên Nhiên tàn bạo. Tâm hồn lúc nào cũng bị hoảng hốt vì mọi vật (động vật hay cả bất động vật) đều có thể là thù nghịch của họ. Họ cảm thấy mình là những sinh vật nhỏ mọn, yếu đuối vật vờ giữa cái vũ trụ mênh mông, bát ngát đầy huyền bí. Dòng thác đổ, cành cây rơi, cơn lốc thổi, tảng đá lăn, cơn song gầm, tiếng thú thét, hết thảy đều là những thứ ngày đêm khủng bố, ám ảnh họ. Họ cho đấy là sự hờn giận của các hung thần. Không có ý niệm về các hiện tượng trong trời đất và vạn vật, vả lại không có cách gì đối phó, thảng hoặc có đối phó thì cũng vẫn e sợ nên họ phải tôn thờ mọi vật, bởi trong đầu óc người cổ xưa, mọi vật đều có linh hồn và linh cảm, có thể sinh họa hay tác phúc. Vì vậy tục bái vật và thuyết đa thần đã chi phối họ rất mạnh mẽ. Với thuyết đa thần người ta tin có Thần Sấm Sét (thần thiên lôi), Thần Mưa, Thần Gió, Thần Sông, Thần Đất, Thần Nước, Thần Núi…có lẽ bởi các vị thần này có thể có ảnh hưởng đến đời sống của họ. Với tục bái vật, người ta thờ cây đa, cây đề, ông bình vôi, hổ, rắn, cho rằng các thứ đó đều có quan hệ mật thiết đến đời sống của mình, cai quản mình trực tiếp hay gián tiếp. Những phong tục và dị đoan đó đến ngày nay cũng hãy còn lác đác ở các thôn quê Việt Nam, cũng như ở nhiều bộ lạc da đen (châu Phi, châu Mỹ hay châu Á).
Thời gian trôi qua, người cổ của chúng ta mỗi ngày một tiến rồi một ngày kia biết lặn lội trong những khoảng ruộng bùn lầy, tưới những giọt mồ hôi xuống đất cứng để sinh sống. Bấy giờ chưa có gia súc, chưa có dụng cụ tinh xảo, họ trần lực lấy sức tay chân tranh đấu với Thiên Nhiên. Họ đẽo đá làm thành những lưỡi cuốc nhọn để sới đất khô và đập cho nhỏ chờ lúc nước sông tràn vào ruộng, ruộng sẽ có bùn ngầu cho họ gieo giống. Họ biết tháo nước ra vào để khỏi nạn úng thủy hay thiếu nước. Gần bể về mùa hanh, họ biết dùng mực nước thủy triều lên xuống ở các ngành sông để lấy nước vào ruộng. Nhờ vậy ngay thời bấy giờ tại Trung Châu Bắc Việt đã có nơi làm ruộng được cả hai mùa. Sau này sum họp với người Tàu họ biết dùng lưỡi cày sắt và trâu bò.
Vào thời cổ miền Trung Châu Bắc Việt đâu có ruộng lớn như ngày nay. Đầm lầy, gò đống còn rải rác khắp nơi vì chưa khai thác, nhiều đồ nông nghiệp còn manh nha. Ngoài bờ biển và các cửa sông lau sậy cùng cây sú mọc đầy, rừng cây um tùm ở các đồi núi. Người cổ ở thưa thớt tại các thung lũng và các miền ruộng hợp thành từng làng, từng xóm. Năm bảy chục nóc nhà tranh, vách đất quay tụ im lìm sau những lũy tre cao ngất. Ngoài làng là những cánh đồng, không có đồn trại, thành thị, phố phường gì hết.
Sông Nhị Hà bấy giờ là mạch máu chính nếu ta xí vùng Trung Châu là cái thân. Con sông này đã bồi đắp nên mảnh đồng bằng hàng năm, bằng những lớp phù sa trở qua các thác ghềnh từ miền núi Vân Nam đem về nuôi nấng trang điểm đứa con nuông. Sóng bể Đông hãy còn rào rạt ở ngoài đồng bãi thuộc tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An bây giờ. Hai chục thế kỷ qua, chỗ đất liền tiến rộng ra miền nước mặn được hàng trăm cây số mở rộng Trung châu thêm được mấy tỉnh. (Đại để hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn cách đây trên dưới 100 năm còn là vùng biển rồi bỗng hiện lên nhiều làng mạc sầm uất như do một phép lạ).
Đây là lời Lưu An về đời Hán đã am hiểu tình trạng dân tộc chúng ta khi nền đô hộ của Bắc phương đã thành hình trên đất Giao chỉ.
Ngay thuở đó, về chính trị dân ta đã lập thành nước (do họ Hồng Bàng) theo thể chế phong kiến. Trong mỗi nóc nhà đã có chế độ gia tộc, gia trưởng. Ngoài làng mạc có chế độ tù trưởng, lạc hầu, lạc tướng…
Sau này nhờ cuộc xúc tiếp với văn hóa Bắc phương, kỹ thuật canh tác được cải thiện, sức người được sức trâu bò hỗ trợ, nông nghiệp trở nên phát đạt. Nhân khẩu bắt đầu tăng gia, trí não mỗi ngày thêm cứng rắn trước Thiên Nhiên và vạn vật, đời song hoạt động và dồi dào trông thấy.
Những ngày mùa đông tháng giá qua, xuân về đầm ấm, cây cỏ xanh tương lại dưới ánh mặt trời, tinh thần của con người như bị kích thích do cái vui, cái tươi, cái linh động của vạn vật. Người có cảm tưởng trong khoảng thời gian này vị chúa tể thế gian đến với họ, gần gũi để thi ân, thi đức. Họ cũng vui theo cái vui của vạn vật. Họ khởi các công việc đồng áng nhưng ung dung thong thả rồi mở hội hè đình đám để làm vui từ già đến trẻ.
Trai gái hợp nhau xúng xính áo quần trên những ngọn đồi rộng hay bên các lũy tre xanh, hoặc giữa nơi đình trung điếm sở, hoặc rún rẩy trên các cây đu, hoặc tung còn, đánh phết, hoặc cất lên những câu hát đúm để ca ngợi cái tuổi trẻ đầy hứa hẹn mơ mộng, hoặc hy vọng những chuyện lứa đôi đằm thắm, hoặc mừng buổi thanh bình, thịnh trị. Đây là những điệu ca, những bài thơ mô tả cái đời sống mộc mạc, thuần phác hoàn toàn có tính cách bình dân giữa những buổi sáng huy hoàng của ngày xuân hay giữa nhưng đêm trăng trong, bên cạnh ngọn cỏ lá cây qua những đôi mắt thẫm của các cô thôn nữ luôn luôn mỉm cười để hé hàm răng đen nhức.
Rồi sau tiết Xuân có những cuộc vui công cộng, trai gái trưởng thành quen biết nhau, yêu nhau đính ước việc gia thất. Người con trai đem trầu cau đến xin bố mẹ người con gái rồi mới được cưới. Đám cưới là một dịp làng xóm, hương thôn vui chơi ăn uống, nhai trầu nói chuyện. Trầu cau là một món cần trong sự xã giao vậy.
Về trầu cau có một chuyện cổ tích rất là cảm động lâm ly: Vào thời thượng cổ hai an hem nhà họ Cao thương yêu một người con gái; Người anh lấy được cô gái đó khiến người em đau đớn tuyệt vọng bỏ ra đi. Rồi người anh đi tìm em, vợ đi tìm chồng, rút cục ba người vì thương nhau trong cái nghĩa an hem chồng vợ quá thiết tha mà chết cả. Kẻ hóa ra hoàn đá vôi, kẻ hóa ra cây cau, kẻ thành cây trầu quấn quít lấy nhau. Người ta đem nhai quả cau và lá trầu cùng vôi (của hòn đá) thì thấy thành một chất đỏ tươi, vị đậm đà, phải chăng là cả mối tình thương yêu chân thật, thật có ý nghĩa vô cùng.
Về việc hôn nhân của người việt chúng ta xưa kia thì lập gia đình chẳng phải là để cùng mưu cuộc sống mà thôi. Hôn nhân còn có ý nghĩa vì người chết hay người sẽ chết nữa. Lấy nhau, người Việt có lẽ nghĩ trước hết vấn đề sinh con đẻ cái để có người lo việc khói hương cho tổ tiên và cả cho mình sau này nữa. Không người kế tự, đó là một sự đau đớn, nhục nhã hết sức cho người Việt, và đấy cũng là một căn nguyên của chủ nghĩa đa thê ngoài ảnh hưởng của chế độ phong kiến. Người Việt tin rằng người chết nhưng linh hồn còn phảng phất ở chốn nhân gian do sự luyến tiếc con cháu, thì là sự mong mỏi người chết phù hộ cho kẻ sống, mối tin tưởng ở hầu hết các tầng lớp dân tộc chúng ta từ xưa đến nay.
Người chết, vào thời thượng cổ, xác còn phải quàn ở trong nhà. Người nhà đục gỗ làm áo quan, hàng ngày dâng cơm nước thờ phụng như khi còn sống (phong tục này các đồng bào thiểu số nhất là dân Mường, Thổ vẫn còn giữ đến bây giờ). Lúc đem chôn cũng phải chôn theo đồ ăn, thức đựng linh hồn khỏi phải thiếu thốn (tục đót vàng mã đã do quan niệm này, bây giờ gần mất hẳn).
Trước khi Khổng Giáo tràn qua và có ảnh hưởng nhiều vào văn hóa của chúng ta, chúng ta còn tập tục này nữa: nếu trong một nhà người anh chết đi thì người em út phải lấy chị dâu để cáng đáng mọi việc thay anh và trôm nom các cháu. Các nhà chép sử cho rằng tục này phát sinh vì lý do kinh tế, tức là không muốn người dàn bà trẻ tái giá đem của cải và con cái của bên chồng đi. Phong tục này còn đến cuối đời Hán vẫn còn và có lẽ đã bị bãi bỏ trong thời Nhậm Diên, Sĩ Nhiếp và Tích Quang là những người có nhiệm vụ du nhập văn hóa Trung Quốc vào đất này và thủ tiêu những tập tục của dân bản thổ.
Buổi nguyên thủy người Việt sống theo chế độ bộ lạc tức là sống trong tình trạng dã man. Đời sống lại không có phong tục và đạo đức như trên đây đã nói rõ, và sự xúc tiếp giữa các bộ lạc đã xây dựng trên sức mạnh tàn bạo. Các bộ lạc yếu phải tòng phục các bộ lạc mạnh, do đó chế độ phong kiến ra đời cho tới sau này họ Hồng Bàng, một bộ lạc mạnh nhất xuất đầu lộ diện ngự trị tất cả các bộ lạc khác (xin coi dưới đây cội rễ của họ Hồng Bàng).
Về y phục, người thượng cổ khi chưa biết dệt vải, may áo đã sống trần truồng, rét mướt thì lấy lá hay vỏ cây che thân. Sau này có nghề dệt mới biết đóng khố, quấn khăn, mặc quần áo. Người bình dân khi xưa lúc ở nhà chỉ đóng cái khố và mặc cái áo ngắn. Đàn bà mặc thêm cái váy. Có lẽ từ giai đoạn người Việt biết đóng khố, biết làm nhà cửa, biết dùng đồ kim khí là khi đã có tiếp xúc với các dị tộc, nhất là người Hán văn minh hơn họ. Tuy vậy y phục của họ rất là đơn giản do xứ ta thuộc vùng nhiệt đới, nóng nhiều rét ít. Ngày nay người ta tìm thấy trên mặt cá trống đồng, cá tảng đá hình người ở trên, đóng khố, đầu đội mũ bằng lông chim. Có thể đây là những di tích về hình ảnh người Việt Nam cổ. Còn khi người Trung Hoa sang chinh phục chúng ta, bấy giờ sự ăn vận mới bắt đầu tề chỉnh và đồng thời nông nghiệp của ta trở nên thịnh đạt. Ta biết búi tóc hay quấn khăn, mặc áo khép về tay phải hay mở ở giữa. Y phục của người Mường, Thổ ngày nay có lẽ là y phục của ông cha chúng ta thuở xưa.
Phần đông hạng bình dân cắt tóc ngắn để làm lụng, chỉ có đàn bà và các nhà quý phái mới để tóc dài cũng do ý muốn làm dáng và để phân biệt giai cấp. Họ bện tóc quấn quanh đầu và búi thành một búi tóc to ở sau gáy, ngoài bịt một chiếc khăn màu nhỏ để giữ cho chặt.
Họ không biết đi giày, guốc. Giầy, nón là sau khi có người Tàu đem sang, ta mới có. Tính thích trang điểm, họ đeo đầy cổ và chân tay những vòng bằng đồng, xương hổ phách hay đồi mồi.
Đối với khách lạ, dân Việt rất tử tế ân cần. Họ ưa mời ăn uống, coi khách như người trong nhà. Lệ tiếp khách bao giờ cũng có cơi trầu, chén nước, đôi bên vừa nói chuyện vừa ăn trầu. Cũng vì tính hay ăn trầu nên họ có tục nhuộm răng. Điều này có lợi là răng được bền chặt thêm và nếu giữ gìn răng cứ đen nhánh mãi.
Bàn về phong tục của dân ta, chúng tôi phải nghĩ tới bài khảo luận về văn hóa Đông Dương (Les civilisations de I’Indochine) của ông G. Coedès. Nhà khảo cổ này đã nhận thấy ở dân tộc chúng ta không phải chỉ có những phong tục thuần túy “Trung Quốc” mà từ vua chúa đến dân thứ của ta hầu hết đều theo cả; ở nơi chúng ta còn có những phong tục trong gia đình, ngoài làng mạc như những việc thờ thần ở đình, miếu khác hẳn Trung Quốc. Những phong tục này có trước khi người Tàu qua đây, và tồn tại đến ngày nay mặc dầu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc trên mảnh đất này khá mạnh.Ông Coedes ngờ rằng trước khi văn học Trung Quốc du nhập vào đây (đầu thế kỷ thứ hai trước Thiên Chúa) người Việt Nam chúng ta đã chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Nam Á (Austro Asiatique) nên mới có những phong tục riêng biệt này. (Đáng chú ý có nhiều phong tục cùa Tàu trên đất Việt mà chính người Tàu cận lai không còn giữ nữa).
Nhận xét này được nhiều học giả hiện đại cho là đúng vì văn hóa Ấn Độ đã đặt dấu vết và ảnh hưởng ở miền Nam Á (nói chung) và miền Nam Đông Dương (nói riêng) trước khi người Trung Quốc có mặt ở Bắc Việt ít nhất trên một thế kỷ, tức là vào khoảng thế kỷ thứ nhất theo Thiên chúa kỷ nguyên. Ngoài ra người Giao Chỉ đến Bắc Việt lại không phải là những người đầu tiên. Ông cha chúng ta đi dần xuống đây xua đuổi người thổ trước là giống Anh-đô-nê-diêng, hợp chủng với những phần tử còn lại nên đã có những phong tục khác Tàu đến nay đã thành những đặc điểm của chúng ta. Tóm lại, có thể rằng chúng ta đã có thâu nhập một mớ phong tục thuộc văn hóa Nam Á nữa. Rồi văn hóa Trung Quốc hợp với một phần văn hóa Nam Á đã tạo nên nhiều cá tính quốc gia của người Việt nam chúng ta ngày nay.




Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN 1 – CHƯƠNG 3
 
NHÀ HỒNG BÀNG
(2879 – 258 trước tây lịch)
 
-            Truyền thuyết về nhà Hồng Bàng
-            Nước Văn Lang của chúng ta.
 
1 – Truyền thuyết về nhà Hồng Bàng.
Các nhà chép sử gọi dòng họ đầu tiên ngự trị giống Lạc Việt là Hồng Bàng thị.
Trong Lịch Sử Xã Hội Việt Nam truy cứu ở Từ Nguyên Hoàng Thúc Trâm giải thích ba chữ Hồng Bàng thị như sau:
1)        Hồng Bàng là thứ tên chim nước to hơn con nhạn cánh đen, bụng trắng, màu tro, tính mạnh dạn, thính giác lanh lẹ.
2)        Hồng theo ý nghĩa thông dụng là lớn. Tỉ dụ hồng thủy (nước lớn).
3)        Chim “Hồng” nói trong sách cổ thường chỉ về con “Hồng hộc” tức là con ngỗng trời.
Nếu đi với “Hoang” thì hồng hoang nghĩa là thái cổ. Bàng cũng theo Từ Nguyên tức là đầy, lớn, bác tạp không thuần túy.
Thị theo Thuyết Văn là gò, núi như Hoàng Đế ban đầu ở đất Hữu Hùng nên gọi là Hữu Hùng thị sau đến đời Hiên Viên chi ngưu gọi là Hiên Viên thị. Như vậy chữ “thị” chỉ do chỗ đất mà được gọi tên là “thị”. Không có nghĩa là họ mà bộ tộc hay “thị tộc” theo danh tư xã hội học ngày nay.
Như vậy Hồng Bàng chỉ là một thị tộc do Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân lãnh đạo.
Theo lời tục truyền thì vua Đế Minh cháu thứ ba đời vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến miền núi Ngũ Linh thuộc núi Hồ Nam gặp một nàng tiên, lấy nhau rồi sinh ra Kinh Dương Vương đặt làm vua phương Nam. Sau này Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc có trăm trứng nở ra 100 con trai, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống bể Nam Hải, vì mẹ là giống Tiên và cha là giống Rồng do đó có giống Bách Việt rải rác khắp miền Nam Trung Quốc (nước của Kinh Dương Vương lấy quốc hiệu là Xích Quỷ gồm tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây bây giờ). Người Việt ngày nay tự cho mình là con Tiên cháu Rồng là do sự tích này. (Cũng như người Nhật tự xưng mình là con cháu của Thái Dương Thần (Amatérasu),người Tàu cho mình là con cháu Hoàng Đế, người Đức dưới chế độ Quốc Xã vừa qua tự cho mình là một giống người thượng đẳng sinh ra để thống trị các dân tộc khác (theo thuyết Mein Kampt của Hitler đảng trưởng Quốc Xã). Các nhà làm sử sách vì lòng ái quốc, trọng nòi giống mà tô điểm cho dân tộc của mình những điều tốt đẹp hoặc có ý muốn làm phấn khởi tinh thần dân tộc.
Lạc Long Quân phong cho con cả làm vua nước Văn Lang (quốc hiệu đầu tiên của nước ta) xưng là Lạc Vương.
Họ Hồng Bàng kể từu Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 18 đời Lạc Vương là những triều đại trước hết. Những triều đại này theo ý chúng tôi và cũng dựa vào thuyết của Léonard Aurous seau, đã ra đời vào cuối đời Xuân Thu (6 thế kỷ trước công lịch) bởi nếu cho rằng họ Hồng Bàng xuất hiện từ năm Nhâm Tuất (2897) đến năm Quý Mão (258 trước Công Lịch) vừa đúng 2621 năm, thì mỗi triều vua trung bình 150 năm sau, chúng tôi e rằng có sự sai lầm quá lớn.
Bàn về danh hiệu của Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 18 đời Lạc Vương ta không thể quên chữ Kinh và Dương là đất Dương, hai châu thuộc địa bàn của giống Giao Chỉ chúng ta. Với chữ Lạc Long Quân cũng vậy. Danh hiệu này chỉ có nghĩa là vua của giống Lạc Long cũng như Kinh Dương Vương là vua miền Châu Kinh, châu Dương, Vân Nam Vương, Hán Đế…nó nhắc tên đất đai hay chủng tộc của các vua chúa, Lạc Long Quân lấy Âu Cơ tức là nàng con gái đất Âu.
Chữ Âu lại gặp trong chữ Âu Giang tên một con sông nước Việt (Chiết Giang) ngày nay vẫn còn tên ấy. Nó nhắc chữ Âu Lạc, Âu Việt, Đông Âu, Tây Âu…
Như trên đã nói, vào thế kỷ thứ 9 một số thị tộc Việt lập ra nước Việt do một nhà quý tộc họ Mị cùng họ với vua nước Sở, do đó ta thấy các vua Sở lấy chữ Hùng làm hiệu thì 18 ông vua nhà Hồng Bàng cũng làm theo các vua nước Sở, tỷ dụ:
  1. Hùng Dịch (1122-1028 tr T.C)
  2. Hùng Nghệ (1078 tr T.C)
  3. Hùng Đán (1052 tr T.C)
  4. Hùng Thắng ( 1001 tr T.C)
  5. Hùng Dương (946 tr T.C)
  6. Hùng Cừ (887 tr T.C)
  7. Hùng Chấp (877 tr T.C)
  8. Hùng Duyên (876 tr T.C)
  9. Hùng Dõng (847-837 tr T.C)
Và 18 ông vua của nhà Hồng Bàng lấy hiệu như sau:
  1. Kinh Dương Vương (Lục Dục Vương).
  2. Lạc Long Quân (hùng Hiền Vương).
  3. Hùng Lân (Hùng Quốc Vương).
  4. Hùng Việt Vương
  5. Hùng Hi Vương
  6. HÙng Huy Vương
  7. Hùng Chiêu Vương
  8. Hùng Vị Vương
  9. Hùng Định Vương
  10. Hùng Uy Vương
  11. Hùng Trịnh Vương
  12. Hùng Vũ Vương
  13. Hùng Việt Vương
  14. Hùng Anh Vương
  15. Hùng Triều Vương
  16. Hùng Tạo Vương
  17. Hùng Nghị Vương
  18. Hùng Duệ Vương (1)
Còn nói theo cha một nửa xuống biển, một nửa theo mẹ lên núi, tức là một phần quy tụ ở miền sơn cước, một phần ở rải rác vùng đồng bằng là ra tới bể là lưu vực sông Dương Tử với miền núi ở dãy Nam Lĩnh. Dân tiến xuống bể được nhiều điều kiện thuật tiện nên tiến độ nhiều vì vậy đã sống vào trạng thái phụ hệ, còn đám người lên non chậm việc khai hóa nên còn ở vào chế độ mẫu hệ. Đó là các dân dã man tỉnh Quí Châu, Vân Nam (ở Quí Châu có dân Miêu Tử. Ở Vân Nam có dân Sâm Ly hay Xa Lý đến đời Nguyên mới bị chinh phục. Họ tương truyền đời Chu Thành vương có sai xứ triều cống khi về được Chu Công Đán làm ve Chỉ Nam tiễn chẫn, cho nên họ có tên là Xạ Lý. Cũng có Bộ lạc tên là Lão Qua, xưng là Việt Thường dưới đời Chu, bộ lạc này bị nhà Minh chinh phục. Tài liệu này ở cuốn Les babrbares du Yun nan trong B.E.F.E.O tome 8 1908).
Nhưng một điều quan hệ khác cần phải xét lại là Việt tộc hay họ Hồng Bàng có phải con cháu Thần Nông không và Thần Nông là người Hán tộc hay Việt tộc.
Chúng tôi không đồng ý với cá sử liệu Tàu cho rằng Hồng Bàng là con cháu Thần Nông, điều mà nhiều người Việt chúng ta tin có thật vì quên rằng đấy chỉ là một truyền thuyết.
(1)     Có nơi chép Hùng Vương 18 là Hùng Tuấn Vương hiện nay còn ở làng Cổ Tích, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (bắc phần).
Thần Nông đây thực ra chỉ có nghĩa là vị thần dạy nghề nông, ông tổ nghề Nông. Có lẽ người ta đã lầm Thần Nông của ta với Thần Nông thị là dòng họ làm vua giống Hán sau Phục Hi thị (4480-4350 tr C.L.)
Ta nhận thấy rằng truyền thuyết trên đây dù sao cũng có phần nào sự thật. Ngày nay căn cứ vào các tài liệu của các nhà khảo cổ và sử học, ta có thể giải thích như sau để hiểu rõ tình trạng dân tộc ta dưới thời Thái cổ rõ rệt hơn:
Vào thế kỷ 30 trước C.L. dân Hán tộc sống dọc sông Hoàng Hà. Tại Lưu vực sông DƯơng tử thì có dân bản thổ: bên bờ sông phía Bắc có dân Miêu và Man, bên bờ phía Nam vùng Động ĐÌnh và Phiên Dương có dân Việt chúng ta ở rải rác đến núi Ngũ Lĩnh, các dân ở đây có trình độ xã hội canh nông.
Một nhà quí tộc dạy dân nghề khai khẩn ruộng đất, sau dân nhớ ơn thờ người ấy làm Thần Nông, Miêu, Man tuy không cùng chung chủng tộc nhưng cùng ở dưới quyền một nhà quí tộc thuộc dòng dõi Thần Nông. Người cháu ba đời của Thần Nông đi tuần thú về phương Nam đến Ngũ Lĩnh gặp một nàng con gái đẹp như tiên, ăn ở cùng nhau xin được một đứa con trai đặt tên là Lộc Tục. Sau vua phong cho con trưởng làm vua dân Miêu và Man ở phía bắc sông Dương Tử và cho Lộc Tục làm vua dân Việt ở phương Nam, nghĩa là đất Kinh và Dương lấy quốc hiệu là Xích Quỉ vào khoảng thế kỷ thước XXIX trước C.L.
Bấy giờ là thời đại phong kiến. Xích Quỉ chia ra ba nước (theo Vũ Cống trong Kinh Thư). Trong ba nước ấy, vùng Động Đình là một, vua Kinh Dương Vương lấy con gái vua kế vùng Động Đình là Long Nữ được một con trai tên là Sùng Lãm nối ngôi vua, xưng là Lạc Long Quân. Vua Lạc Long cưới con gái vua một nước láng giềng đất Âu, nàng Âu Cơ đến đây ra gặp [link=#_ftn1][1][/link]một thời kỳ khuyết sử. Sau này Hán tộc tràn xuống phía Nam qua nước Sở thì nước Xích Quỉ có 100 nhà quí tộc đều xưng là dòng dõi của vua Lạc Long và Âu Cơ. (Ở đây ta có thể loại bỏ việc Âu Cơ đẻ ra trăm con do một bọc nở ra 100 trứng là hiện tượng không từng thấy trong y học). Có lẽ trong dịp áp lực của Bắc phương, có người mưu trí trong các nhà quí tộc đó đã nêu lên thuyết một trăm thị tộc cùng máu mủ, một cha mẹ phải đoàn kết để tự vệ, như vậy chắc trước kia họ thường xung đột với nhau.
Vào thế kỷ thứ 24 trước C.L trong ba nước kể trên có nước Việt thường kinh đô đóng ở phía Nam hồ Phiên Dương trở nên cường thịnh làm bá chủ vùng Phiên Dương và Động Đình. Năm 1352 trước C.L. có sai sứ sang cống vua Đế Nghiêu một con rùa lớn và năm 1109 tr. C.L. có cống cho vua Thành Vương nhà Chu.
Trước thế kỷ XII tr. C.L., trong các quí tộc có người tên là Hùng Dịch chinh phục được dân Miêu, Man miền sông Hán chảy vào sông Dương Tử, tổ chức thành một quốc gia, Tàu gọi là Kinh Man, đóng đô ở Đan Dương gần thành Nghi Xương (Itchang) ngày nay. Đến đời vua Hùng Cừ đem binh đánh lấy nước Đông và Dương Việt (nghĩa là người Việt đất Dương Tử. Việt Chương trước kia là Việt Thường, luôn dịp nước Ngạc ở vào khoảng thành Vũ Xương (Ou T chang) thuộc tỉnh Hồ Bắc cũng bị kiêm tính nốt.
Rồi Hùng Cừ cho con trưởng là Khang ở đất Cú Đản, con thứ hai là Hồng ở đất Ngạc, con thứ ba là Chấp Tỳ làm vua Việt Chương đó là nguyên nhân của chữ Hùng Vương trong truyền thuyến của ta.
Dân Việt quen sống với cảnh thái bình, bỏ lâu chinh chiến, không chống nổi quân Kinh Man nên phải thua. Vì dân số đông, nên dân Việt, một phần phải tiến lên núi Nam Lĩnh và đa số đã tiến xuống Nam Hải rồi lại gặp nhau ở đất Quảng Đông và Quảng Tây sau gọi là Bách Việt vậy.
Từ vua Chấp Tỳ trở về sau lịch sử Việt Thường ra sau? CÓ lẽ có lúc thịnh, vào năm 581 trước C.L., con cháu Chấp Tỳ có người làm vua Việt Thường xưng là Hùng Vương thứ nhất. Người Việt bấy giờ ở theo dọc bờ Nam Hải và Nam ngạn sông Dương Tử cho đến hồ Động Đình, họ đều có xâm mình nên người Tàu gọi là Văn Lang.
Bấy giờ nước Sở trước kia ở Kinh Man trở nên cường thịnh và thạo văn hóa Hán Tộc bành trướng về phương nam trở nên nguy hiểm cho nước Việt thường.
Thế rồi một ông vua họ Hùng bèn thiên đô qua đất Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang đặt quốc hiệu là U Việt. Đến đời vua Hùng Vương thứ VI mà người Tàu gọi là Câu Tiễn (496 tr. C.L.) Việt chiếm được Ngô trở thành cường quốc, làm bá chủ một khoảng đất phía Bắc tiến đến gần tỉnh Sơn Đông phía Tây gồm Việt Thường phía Nam giáp Hồ Tôn.
Câu Tiễn mất, đế quốc chia cho con cháu. Một người con Câu Tiễn được làm vua đất Lạc Việt ở tận phía Nam giáp Hồ Tôn xưng Hùng Vương thứ VII hoặc vì có lẽ là con trưởng, hoặc vì có ý dòm ngó các nước Việt ở phía bắc nên xưng như vậy để tỏ ý là chúa tể chính thức của dân Văn Lang.
Đến đời vua Hùng Vương thứ XVIII, phía Bắc Lạc Việt có nước Âu Việt. Vua nước này là Thục An Dương Vương cướp được Lạc Việt nhập hai nước làm một gọi là Âu Lạc. Vì hai dân đều thuộc thị tộc Việt, ngôn ngữ cũng giống nhau nên con gái Hùng Vương thứ 18 gọi là Mị Nương, con gái An Dương Vương tên là Mị Châu đều có chữ Mị cả. Ấy là bằng chứng dân Âu Lạc tuy là hai nước mà vẫn là người Văn Lang, tức người Việt.
 
2 – Nước Văn Lang
Bờ cõi của nước Văn Lang theo sử cũ gồm có 15 bộ:
  1. Văn Lang: (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên).
  2. Châu Viên: (Sơn Tây vùng núi Ba Vì).
  3. Phước Lộc: (Miền đồng bằng).
  4. Tân Hưng: (Hưng Hóa Tuyên Quang).
  5. Vũ Định: (Thái Nguyên và một phần đất của Hoa Nam).
  6. Vũ Ninh: (Bắc Ninh).
  7. Lục Hải: (Lạng Sơn và một phần Quảng Tây).
  8. Ninh Hải: (Quảng Yên và một phần Quảng Đông).
  9. Dương Tuyền: (Hải Dương).
  10. Giao Chỉ: (Hà Nội, Hưng yên, Nam Định, Ninh Bình).
  11. Cửu Chân: (Thanh Hóa).
  12. Hoài Nam: (Nghệ An Hà Tĩnh).
  13. Cửu Đức: (Lưu vực sông Đà, sông Mã).
  14. Việt Thường: (Quảng Bình, Quảng Trị) không phải là vị trí nguyên thủy.
  15. Bình Văn:
Xét địa thế 15 bộ trên đây, ta thấy dưới đời những ông vua cuối cùng Hồng Bàng (thời Chu Mạt) vị trí địa dư của nước Văn Lang đã lùi xuống Bắc Việt, và phía Nam của Văn Lang gồm hai tỉnh Nghệ An, hà Tĩnh ngày nay.
Còn cương vực của nước Văn Lang phía Bắc giáp hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam), phía Tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên) phía nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành), Phía Đông giáp Nam Hải, là cương vực cổ xưa của toàn thế gia đình Bách Việt chúng tôi đã có dịp nói vào những thời khởi thủy dân Giao Chỉ sinh tụ ở Nam Bộ Trung Quốc tại lưu vực sông Dương Tử, rồi tổ tiên chúng ta di cư dần xuống lưu vực sông Nhị và sông Mã. Tới nơi cuối này, địa bàn của chúng ta quả gồm có đúng 15 bộ đã kể trên. Sở dĩ có sự sai lầm mà ta thấy trong một vài cuốn sử chữ nho về vấn đề cương giới sau này của nước Văn Lang là vì chữ Văn Lang) với chữ Dạ (trong cái tên Dạ Lang) hơi giống nhau. Đây không phải là điều ức đoán bởi sách chép nhầm thật. Quyển Thông Điển (quyển 181 25b) chép: Phong Châu là nước Văn Lang đời xưa (Cỗ này viết chữu lãng “lương” bên chữ nguyệt và cho rằng có sông Văn Lang). Nguyên Hòa Quân huyện Chí (Quyển 38 tờ 9b) nói quả quyết rằng Phong Châu là đất của Dạ Lang đời xưa. Thực thế, trong địa phận huyện Tân Xuyên bấy giờ có khe nước Dạ Lang và đây là địa bàn của nước Miêu Tử.
Nước này ăn qua một phần quảng Tây và Quý Châu, phía tây giáp La La (Lô Lô) gọi là Điền ở phía Tây Vân Nam, phía Đông Hồ Vân Nam thuộc Quận Kiện Ví, khi lệ thuộc về Hán từ năm III trước T.C. Sau quận ấy chia làm hai, phía Bắc là Kiện Ví phía Nam là Thương Ngô. Cuối đời Tiền Hán, quận Kiện Ví giáp Phía bắc và phía Tây sông Dương Tử.
Còn quận thương Ngô giáp phía Bắc quận Kiện Ví và Phía Tây quận Tân Ninh là nước Điền ngày xưa ở phía Đông Bắc Thương Ngô giáp quận Ngũ Lãng, ở đấy có Hồ Động Đình. Tóm lại vì Dạ Lang và Văn Lang đã lấn nhau, tất nhiên người ta phải lầm bờ cõi Dạ Lang là của Văn Lang.
Về vấn đề này, Ô. Lê Chí Thiệp phát biểu một ý kiến khác. Theo ông, trong thư tịch cũ của Trung Quốc không thấy nói tới tên Văn Lang, đến đời Thái Bình ngự lãm nhà Đường mới nói. Văn Lang để gọi chung người Kinh Man (dân sở) ở dọc sông Dương Tử, người Việt ở Chiết Giang và người Lạc Việt là những người có vẽ mình, sau này sống ở Lưu Vực sông Dương Tử trôi dạt dân xuống tới bờ biển Nam Hải, bởi vậy các cổ sử mới ghi bờ cõi Văn Lang: Bắc giáp Hồ Động Đình, Đông giáp Nam Hải, Nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành)…
Tên Văn Lang này được đặt ra do một quan niệm chủng tộc để phân biệt với giống dân không vẽ mình chớ không phải là dân một nước…
Vậy nên kết luận rằng cương vực cũ của chúng ta khi còn là Giao Chỉ gồm hồ Động Đình, biển Nam Hải, Tứ Xuyên và Hồ Tôn. Sau này dân ta di cư xuống Bắc Việt và vào tới Nghệ An. Đây là vị trí địa dư cuối cùng của ta sau cuộc Nam chinh của nhà Tần và khi đế quốc Nam việt của Triệu Đà thành lập.
Ngoài ra ta còn thấy sử chép nước Văn lang có 15 bộ. Trong đó có bộ Văn Lang, Giao chỉ, Việt Thường là thế nào? Phải chăng nhớ nguồn gốc của mình ngày xưa kia ở miền Hoa Nam, nên dân gian giữ các tên đó để đặt quốc hiệu hay đặt tên cho các bộ?
Giai cấp phong kiến thời thượng cổ của chúng ta như thế nào?
Theo Maspéro trong cuốn Royaume de Văn Lang BEEO trang 9, mỗi Lạc Tướng coi vài làng xóm, thuộc quyền Lạc Hầu là chủ những đất đai rộng bằng một tỉnh hay vài huyện ngày nay. Cũng có khi một vị Lạc Hầu đem chia bớt gia tài cho các con cháu và phong chúng làm Lạc Tướng. Công việc của các Lạc Hầu Lạc Tướng cai trị nhân dân. Khi họ nhàn rỗi thường họp nhau săn bắn. Tính họ hoạt động và hiếu chiến nên hay xung đột với các dân láng giềng. Ra trận họ mặc bộ áo giáp dầy dệt bằng lông chim hay bện bằng cỏ cây để tránh dấu tên hay mũi giáo; áo giáp có hai mảnh che đằng trước hay đằng sau, từ ngang lưng thõng đến bắp chân. Mình mặc áo ngắn chẽn để hở cổ và hai cánh tay trạm hình sặc sỡ. Họ mang lá mộc (có chỗ gọi là lá chắn) hình vuông đan bằng tre trên mặt có kẻ hoa và vẽ mặt người. Đầu họ cũng đội một thứ mũ cũng bằng lông chim thực dài kết cái hình dữ dội. Họ đeo cung lớn, mang giáo dài và dao nhọn, luôn luôn bắn, phóng và đâm. Mũi tên có tẩm thuốc độc chạm vào da thịt dù chỉ sướt qua loa thuốc cũng ngấm vào và phải chết. (Theo Parmentier: trong cuốn Lestambors de bronze).
Dân lo việc giồng lúa cho họ ăn, làm nàh cho họ ở, cắt người phục dịch cho họ mà không được dòi công sá. Xét ra như vậy vậy dân chỉ là một thứ tài sản của họ mà thôi. Ngày nay các dân tộc thiểu số dưới chế độ quan lang ở miền Bắc Việt có thể nói là hình ảnh hoàn toàn của chế độ Lạc Hầu, Lạc Tướng thuở xưa.
Các vị Lạc Hầu, Lạc Tướng tuy giữ quyền tự trị ở khu vực của mình nhưng cũng phải theo về một vị tù trưởng giàu mạnh ở phía Tây bắc Trung Châu sát với Trung du gồm địa phận tỉnh Phú Thọ, Vĩnh yên, Sơn tây ngày nay. Đây là một miền có nhiều thung lũng phì nhiêu, đồi đất tốt, dân đông đảo phát đạt hơn cả.
Kinh đô của Lạc Vương đóng ở Phong Châu (vào địa hạt huyện bạch hạc tỉnh Vĩnh Yên bây giờ). Họ nhà vua gọi Hồng Bàng. Lạc Vương đặt quan chế như sau: tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, các quan nhỏ gọi là Bồ chính. Con vua gọi là quan Lang. Con gái gọi là Mị Nương. Các Lạc Hầu được đặt trên các Lạc Tương và có thôn, ấp lớn hơn. Hết thảy từ vua đến chúa đến các Lạc Hầu, Lạc Tướng điều có quyền thế tập.
Nước Văn Lang ra đời đã chịu cả uy thế của các vương triều Trung Quốc nên ngay buổi bấy giờ đã biết lập chính sách ngoại giao. Về đời vua Nghiêu, nhà đường bên Trung Quốc, sứ thần văn Lang đã có lần đem dâng con rùa lớn. Về đời Chu Thành Vương (nhà Chu) có nói ở đoạn trên của sách này.


Chú thích:
[link=#_ftnref1][1][/link] Có nơi chép Hùng Vương 18 là Hùng Tuấn Vương hiện nay còn ở làng Cổ Tích, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (Bắc phần).






Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN 1 – CHƯƠNG IV
 
NHÀ THỤC
(257 – 207 trước Tây lịch)
 
 
Sử chép Thục Vương Phán cướp nước Văn Lang cuối đời Hồng Bàng tức đời Lạc Vương thứ 18. Vấn đề này đã làm nảy nở nhiều mối dư luận khác nhau trong các nhà viết sử.
Lệ thần Trần Trọng Kim cho rằng Thục Phán có lẽ là một họ nào độc lập ở gần nước Văn Lang và căn cứ vào địa dư nếu Ba Thục (Tứ Xuyên) là xuất xứ của Thục Phán đối với Văn Lang phải qua nhiều đường đất, núi sông cách trở, việc chinh phục Văn Lang như vậy ắt không có thể được.
Vệ thạch Đào Duy Anh nghĩ rằng, Thục Phán có thể là một người con trai của vua Thục ở Tứ Xuyên. Năm 316 là năm thứ năm đời Chu Thành Vương, nước Thục bị nước Tần diệt, dân Thục chạy về phía Nam Lĩnh nương náu ở đất Diên Trì là đất của nước Sở cừu địch của nhà Tần mới chiếm được. Phán thấy không đất dung thân chật hẹp liền từ miền Nam Lĩnh Vân nam, tiến xuống lưu vực sông Nhị Hà, thôn tính Tây Âu là Lạc Việt (nước Văn Lang) rồi lập lại nước Âu Lạc. Phải chăng đây là lời giải thích đối với sự hoài nghi của tác giả Việt Nam Sử Lược.
Lại một chỗ bất đồng nữa!
Theo Đào Duy Anh, việc chinh phục Văn Lang do Thục Phán đã xảy ra trước đời nhà Tần nghĩa là đời nhà Chu khi đó dân tộc ta mang tên là Lạc Việt.
L. Aurousseau cho là Lạc Việt vong quốc từ năm 210 trước kỷ nguyên năm Tần Thủy Hoàng mất đến năm 207 là năm Triệu Đà đang oanh liệt ở miền Nam Hải. Nhân lúc Trung Quốc rối loạn, một người con vua nước Thục nào đó đã thừa cơ chiếm đất Tượng Quận của nhà Tần để dựng nước (Tượng Quận tức là Tây Âu gồm phủ Khai Viễn, Thái Bình thuộc địa phận Quảng Tây, phủ Liêm và phủ Lôi, phủ Liêm thuộc địa phận Quảng Đông).
L. Aurousseau đã lầm vì cho rằng Tây Âu với Lạc Việt là một, ông bằng vào lời chú giải của cổ sử ở Tiền Hán Thứ (k.95) nói là Tây Âu tức là Lạc Việt để giải thích chữ Tây Âu Lạc là nước Triệu Đà kiêm tính. Vì sử cổ không nói rõ rằng bấy giờ sở dĩ gọi là Tây Âu Lạc là vì nhóm Tây Âu hay Tây Việt và nhóm Lạc Việt là hai nhóm trong Bách Việt ở miền Quảng Tây và Bắc Việt ngày nay đã do An Dương Vương gồm làm một nước tức sử ta gọi là nước Âu Lạc.
Trên đây chúng tôi đã có dịp nói đến việc đánh Bách Việt của nhà Tần trong đó Thục Phán đã đóng một vai trò quan trọng. nay dẫn thêm ít tài liệu theo sách Hoài Nam Tử để hiểu cuộc tranh đấu giữa Thục Phán và vua nhà tần trong cuộc Nam Chinh của họ.
Khoảng năm 221, giữa lúc toàn thịnh nhà Tần (năm 33) đời Tần Thủy Hoàng dùng bọn lưu vong, rể thừa và lái buôn làm lính tiến xuống miền Nam là nơi sinh tụ của người Bách Việt. Việc này xảy ra khoảng năm 221 – 214 trước Tây Lịch. Quan Hiệu Úy là Đồ Thư đem quân lâu thuyền cùng tướng Sử Lộc đào sông vận lương đi sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Dương, Quế Lâm (nay là huyện Minh Quý tỉnh Quảng Tay), Nam Hải (Quảng Đông ngày nay) sau khi diệt được nhóm Đông ÂU và Mân Việt. Đến lượt Tây Âu cũng bị cuộc xâm lăng của đạo quân viễn chinh Trung Quốc. Tù trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống nhưng ở đây quân Tần vấp sức kháng chiến dẻo dai của Tây Âu. Người Việt (Tây Âu) rút vào rừng sống cùng cầm thú, và cứ đêm tối lại đem quân ra tập kích quân Tần. Cuộc kháng chiến kéo dài 10 năm. Sau quân Tần chết rất nhiều. Đồ Thư bị hại, quân Tần hao tổn đến vài chục vạn, phần bị giết, phần thì không chịu được lam sơn chướng khí. Tần triều đành ngừng lại và thiết lập bộ máy cai trị ở các miền đất đai đã lấy được lập r aba quận Nam Hải, Quế Lâm (Quảng Tây), Tượng Quận.
Về Tượng Quận, Việt Nam Sử Lược chép là Bắc Việt(2).[link=#_ftn1][1][/link]Chúng tôi không đồng ý vì bắc Việt khi đó là ÂU Lạc đã thành Tượng Quận thì sau này đâu có sự kiêm tính của Triệu Đà bằng binh đao, chúng tôi cũng không thấy sách nào nói như Việt Nam SỬ Lược rằng An Dương Vương đầu phục nhà Tần để quyết định rằng vì sự thần phục này mà Âu Lạc biến thành Tượng Quận.
Tóm lại ảnh hưởng của nhà Tần bấy giờ chỉ mới đến địa phận Tây Âu là tỉnh Quảng Tây và miền Uất Lâm cùng Nam Hải. Sau đó Tần triều phái 50 vạn người tù đầy đến chiếm đóng các nơi đã cướp được để bảo vệ bộ máy cai trị vừa mới thiết lập.
Ai đã cầm đầu cuộc kháng chiến có hiệu quả của Tây Âu? Theo Quảng Châu Ký và Giao Châu Ngoại Vực Ký trong lúc tù trưởng bị hại, nhóm Tây Âu vô chủ thì người Kiệt Tuấn được nhân dân Tây Âu cử ra là An Dương Vương nhà Thục, vào khoảng năm 219 đến năm 207. Thục Phán đã nhân cơ hội nhà Tần suy, quân Tần thất bại mà thâu phục nhóm Lạc Việt lập ra nước Âu Lạc. Trong việc chống nhau với Tần, Thục Phán tỏ được một tinh thần dung cảm phi thường. Trong việc chống nhau với Tần, Thục Phán tỏ được một tinh thần dũng cảm phi thường. Có thể nói như vậy là vì lúc này Tần vừa gồm thâu 6 nước, nhất thống Thiên Hạ Trung Quốc dựng thành Vạn Lý bên trong dẹp được mọi phản lực của giai cấp phong kiến có nền móng từ mấy ngàn năm, bên ngoài thuyết phục được các phiên bang ngang tang hùng mạnh. So với sự tiến hóa của giống Hán tộc bấy giờ thì quả thật các thị tộc Việt đáng gọi là “Man di”. Vậy mà Thục Phán dám đem sức “mọi” chống với một đế quốc phú cường, hùng hậu thì cái tinh thần bất khuất ấy cũng là đáng phục. Lại nhân lúc nhà Tân lâm vòa thế biến, Thục Phán chinh phục Văn Lang dựng nên một quốc gia riêng một phương trời, Phán quả là một kẻ có óc tự cường và biết lợi dụng thời cơ.
Thục Phán chiếm được Văn Lang từ năm Giáp Thìn (257 trước Công Lịch). Xong việc chinh phục Phán xưng là An Dương Vương lập kinh đô ở Phong Khê tức huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên bây giờ, và hai năm sau cho đắp thành Cổ Loa (Tên thành là Cổ loa vì xây cuốn nhiều vòng như hình trôn óc, hiện nay còn dấu tích ở huyện Đông Anh và cái giếng Trọng Thủy, thành này lại có tên là Tu Long. Người Đường gọi là thành Côn Luân vì thành ấy cao lắm, rộng nghìn trượng).
Thục Phán đã đem văn hóa que hương mình là nước Thục du nhập vào đất Việt, thiết lập mọi quy mô chính trị quân sự, dạy cho người Việt xây thành bằng đất, lấy tre làm cung nỏ, tên bịt đồng là hai kỹ thuật sở trường của người Thục. Rồi nhờ địa thế hiểm trở của Tây Âu và Âu Lạc lắm rừng nhiều núi lại thêm tinh thần quật cường của người Việt, Thục Phán đã lập nên sự nghiệp trên đây (đã nói trong việc đương đầu với làn song Nam tiến của giống Hán).
Dân tộc Âu Lạc bước vào trường tranh đấu và được phát triển mọi khả năng có lẽ từ khi được Thục Phán lãnh đạo, tiếc rằng không có cuốn sử nào nói về sự nghiệp của Thục Vương. Sau này với Triệu Đa, một tướng có tài thao lược của Trung Quốc hùng cứ miền Hoa Nam, tình thế của Âu Lạc không bao lâu phải đi sang chỗ rẽ. Rồi năm thứ 50 đời An Dương Vương, Âu Lạc bị lọt qua tay họ Triệu và thành một nước phụ dung của đế quốc Nam Việt. Trong lúc này nhà Tần đã đổ, Hán lên thay. Việc xâm chiếm Âu Lạc xảy vào năm 180 sau khi Cao Hậu nhà Hán qua đời và lúc này Triệu Đà đã xưng đế ở Nam Việt.
Theo thuyết chính thống, An Dương Vương không thuộc về một thị tộc Việt nào hết nhưng một vài sử gia ngày nay cho là An Dương Vương là người ngoài cũng chưa có chứng cớ đầy đủ. Theo tác giả trong giai đoạn lịch sử này. Hán tộc chưa có mặt miền Hoa Nam, Thục Phán có thể là một lĩnh tụ phong kiến cũng thuộc Việt tộc như nhiều lãnh  tụ khác trong đám con Hồng cháu Lạc. Miền Hoa Nam quá rộng lớn, sông núi cách trở nhiều, Việt tộc lại phân tán khắp nơi mới có sự bỡ ngỡ này.
Vịnh Bi Kịch Thành Loa
Thành Loa trăm thước chẳng còn bền.
Mống rùa ba tấc chẳng là thiêng.
Nước nhà dấy mất tại người cả.
Gió mưa gây dựng công khó nhọc.
Nam gồm Văn Lang, bắc Ba Thục.
Dư đồ muôn dặm mở mang tới.
Một tấm sơn hà một tấm vóc.
Sẵn sang cơ nghiệp không biết giữ.
Chiến đã không xong, hòa cũng ngộ.
Biên phòng chểnh mảng, thù hận quên.
Quanh quẩn một lần hai tại lỡ.
Thân già đâu nới kẻ thù gia.
Chồng nào thương vợ, con lìa cha.
Giặc ngồi sau lưng nói chi nữa.
Nước ôi nhà ôi, biến Đại Nha!
Dương Bá Trạc
 
Cổ Loa Hoài Cảm
Thành quách còn mang tiếng Cổ Loa.
Trải bao gió táp với mưa sa.
Nỏ thiêng hờ hững giây oan buộc.
Giếng ngọc vơi đầy giọt lệ pha.
Hoa cỏ vẫn cười ai bạc mệnh.
Cung đình chưa sạch bụi phồn hoa.
Hưng vong biết chửa người kim cổ?
Tiếng cuốc năm canh bóng nguyệt tà.
Trần Tuấn Khải
 
CHÚ THÍCH.
[link=#_ftnref1][1][/link] Theo Trúc Khê tiên sinh: Sử ta nói Tượng Quân nhà Tần là đất Bắc Kỳ. Trung Kỳ bây giờ song so sán địa lý và dẫn chứng với các sách thì Tượng Quân chính thuộc về một phần đất của Tỉnh Quảng Tây nước Tần ngày nay. Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim nói Tượng Quận là đất Bắc Kỳ có thể không đúng.
2)        Theo sử ký của Tư Mã Thiên là cuốn sử lâu đời hơn tất cả và đang tin hơn hết, việc chinh phục Âu Lạc do Triệu Đà vào năm 180 trước kỷ nguyên chớ không phải vào năm 207 như Việt Nam Sử Lược đã dẫn. Tức là năm Giáp Ngọ như sử ta.
3)        Theo Đào Duy Anh “Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam” Mân Việt mất vào khi quân Tần đánh Bách Việt chớ không phải do Triệu Đà, sau này cùng thời với việc cướp nước Âu Lạc của An Dương Vương.
4)        Thuyết nói rằng An Dương Vương chưa chắc đã là người ngoài, căn cứ vào sách Quảng Châu Ký và Giao Châu Ngoại Vực Ký. Sách này chép: Khoảng 221-214 Quân Tần đánh người Việt, giết được vua Tây Âu (tức Âu Lạc) gọi là Dịch Hu Tống. Coi đoạn sách này thì ta có thể cho rằng trước khi có cuộc xâm lăng của nhà Tần đất Giao Chỉ đã gọi là Tây Âu. Vua Tây Âu là Dịch Hu Tống bị giết có thể là vị Lạc Vương cuối cùng. Sau này dân Việt giữa lúc vô chủ và nguy biến đã cử người Kiệt Tuấn đứng ra lãnh đọa cuộc kháng chiến là An Dương Vương nhà Thục, vậy Thục Phán chẳng phải là người nước Thục ở miền Tứ Xuyên. Còn cái tên Tây Âu hay Tây Âu Lạc hay Âu là dongười tàu đặt ra để gọi xứ ấy cho có sự phân biệt với các rợ Việt khác.



 
 






Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN 1 – CHƯƠNG 5
XÃ HỘI TRUNG HOA TRONG THỜI THƯỢNG CỔ
 
-            Các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa…dưới các triều đại Hạ - Ân – Chu.
-            Các học thuyết cổ điển của Trung Quốc (Khổng Tử, Lão tử, Trang Tử,…)
 
Để biết trình độ của dân tộc Việt Nam chúng ta vào thời thượng cổ thế nào, ta có thể lấy cái văn minh của Trung Quốc cũng trong thời kỳ này làm mực thước để đo lường. Và cũng ở điểm này ta tìm hiểu ảnh hưởng của Trung Quốc bắt đầu lan tràn sang đất Việt qua các biến thiên của Lịch Sử.
Về chính trị, Trung Quốc khởi đầu tổ chức quộc gia và chính trị bằng chế độ phong kiến khi người Hán còn là các bộ lạc dã man, lạc hậu rải rác khắp các nơi trên lãnh thổ Trung Hoa. Trải qua thời kỳ man mọi và du mục, dân tộc Trung Quốc thượng cổ đã biết làm nhà cửa để ẩn náu, chế tạo ra dụng cụ cần thiết, tìm ra mọi phương kế nông nghiệp, sang lập ra chữ viết để phô diễn ý tưởng tâm tình, các công cuộc văn hóa, chính trị, kinh tế bắt đầu thành hình, tiến triển và đi dần đến chỗ thống nhất.
Trung Quốc rộng lớn mênh mông đã chia ra nhiều địa phương. Mỗi địa phương có một lĩnh tụ cắt cử, và chịu uy quyền của một vị lãnh tụ lớn nhất mà họ tôn thờ là vị Hoàng đế hay Thiên Tử. Các lãnh tụ nhỏ giờ đó là các chư hầu phải chịu mệnh lệnh của Thiên Tử. Vào thời thái cổ chư hầu có hàng ngàn nước. Đó là tình trạng dưới đời vua Đại Vũ nhà Hạ, nhưng đến vua Vũ Vương nhà Chu các chư hầu đã bớt đi nhiều lắm nghĩa là chỉ còn độ 800 nước. Cho đến đời nhà Tần việc thống nhất được thực hiện sau bao nhiêu cuộc nội chiến liên mien khiến dân chúng lầm than, điêu đứng hết chỗ nói. Cuộc nội chiến này bắt đầu từ đời Tam Đại (đời nhà Hạ, nhà Ân và nhà Chu).
Vũ Vương nhà Chu dẹp được Trụ Vương nhà Ân số chư hầu còn lại là 70 chia ra làm 5 bậc: công, hầu, bá, tử, nam. (Xin coi việc ấn định quyền lợi và trách vụ của họ ở trang sau đây).
 
1 – Xã Hội và Văn Hóa
Trung Quốc phát triển trước hết về nông nghiệp. Đến đời Hoàng Đế (2704 trước Thiên Chúa) nhân dân đã có đầy đủ các thứ cho đời sống hàng ngày (các thứ ăn uống, mặc, ở, dụng cụ sinh sản) biết làm nghề nhuộm, phát minh thuyền bè, xe cộ, chế tạo cung tên, chầy, cối,…
Đời Hoàng Đế có đặt quan Đào Chánh để điều khiển việc làm đồ gốm, quan Mộc Chánh trông nom việc làm các đồ gỗ để cung ưng mọi sự cần thiết xã hội. Hoàng Đế biết dùng đồ gỗ để dựng nhà cửa. Vợ Ngài là Lão Tổ dạy dân chăn tầm, ươm tơ.
Từ đời Hoàng Đế trở về sau nền văn hóa Trung Quốc cũng xuất hiện và tiến triển dần. Qua đời Đường Ngu (2356 trước C.L.)áo quần có vẽ màu nghĩa là từ sự cần che thân, người ta đã tiến đến sự trang điểm. Đời vua Hạ Vũ đã có khoa trị thủy, có dây làm mực, có thước để đo. Mọi thứ bắt đầu lìa bỏ sự thô sơ để trở nên hoàn bị và có mỹ thuật. Nghệ thuật kiến trúc phát đạt mạnh cho nên đời Hạ Khải có Điếu Đài Toàn, đời vua Hạ Kiệt có Khuynh Cung Dao Đài, đời vua Thương Trụ có Lộc Đài tức là những cung điện nguy nga để yến tiệc chơi bời, chớ chẳng phải chỉ để che mưa gió như thuở trước.
Khi văn tự chưa phát minh, để ghi nhớ công việc người ta chỉ biết thắt nút. Đời Phục Hi đặt ra tám quẻ Càn, Khôn, Tốn, CHấn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài (bát quái) để chỉ Trời, đất, gió, sấm, nước, lửa, núi, đầm. Dần dần người ta lấy dấu hiệu thay cho việc thắt nút. Tục truyền đời Hoàng Đế có Thương Hiệt dùng móng thú và dấu chân chim in trên đất, cát để đặt ra văn tự. Văn tự dần dần lại theo lối tượng hình nghĩa là ghi chép hình ảnh của sự vật mà đặt thành chữ.
Cũng từ đời Hoàng Đế người ta dùng Giáp Tý để tính năm tháng và phát minh bói toán (bói cỏ thi). Xét như vậy, giống Hán đã có một nền văn hóa khá cao 27 thế kỷ trước khi Thiên Chúa Giáng Sinh.
 
2 – Trật Tự Xã Hội, Gia Đình
Giữa quyền chúa tể trong thiên hạ là Thiên Tử. Thiên Tử có địa vị độc tôn, vô thượng. Theo quan niêm Á Đông, Thiên Tử thay Trời trị dân. Dưới Thiên Tử là các chư hầu được đặt theo cấp bậc: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam và được lĩnh phần thái ấp. Thiên Tử có ngàn dậm đất. Công, Hầu được trăm dậm. Bá được bảy chục dậm. Tử, Nam được năm chục dậm.
Thiên Tử có vạn cỗ xe, chư hầu được ngàn cỗ trở xuống. Có nhiều xe thì có nhiều binh vì xe dùng vào việc chiến tranh.
Y phục của vua, chúa cũng có sự phân biệt. Vua mặc áo màu vàng thêu rồng (hoàng bào) các chư hầu và các quan chức dùng màu khác.
Đến phi hậu cũng có sự ấn định rõ rệt: Thiên Tử có Đông Cung và Tây Cung và mười hai cung phi (nhưng đến Tần Thủy Hoàng cung A Phòng đã chứa đến ba ngàn mỹ nữ). Chư hầu có chín người.
Thiên Tử được riêng quyền cúng tế trời đất và có những nhạc dùng cho lễ nghi triều trung của Thiên Tử.
Các chư hầu hàng năm phải tiến cống Thiên Tử nhân tài, mỹ nữ, báu vật. Mỗi khi Thiên Tử đi chinh phạt, chư hầu có bổn phận đi theo đánh giúp hay tiếp  tế binh lính, quân lương.
Dưới chư hầu có các quan đại phụ cũng là những nhân vật quan trọng dưới chế độ phong kiến, họ cũng được hưởng quyền thế tập được chia đất, nhưng sau này đại phu được lựa chọn trong đám người hiền vua biết đến hay có người tiến dẫn.
Gia đình của người Trung Quốc thời cổ cũng đã chịu một trật tự nghiêm minh. Ông nội hay người cha là chủ, phụ trách việc khói hương, ra các mệnh lệnh cho mọi người theo. Kế tiếp ông hay cha là người con trưởng hay cháu trưởng (đích tôn). Cha mất, quyền trong gia đình qua tay người con cả, dầu có mẹ hay chị lớn (quyền huynh thế phụ). Đây là một nguyên tắc.
Thường dân chia ra 4 giới: Sĩ, Nông, Công,Thương và không có giai cấp nô lệ như ở La Mã và ở nhiều xã hội Âu Châu. Nhà Nông cũng được trọng như kẻ Sĩ nhưng Thương nhân thì bị khinh khi do đó có sự hạn chế mặc áo đẹp, ở nhà lớn.
Làm dân phải trung với Vua, vì Vua là tiêu biểu cao quý nhất cho quốc gia. Bất trung với Vua tức là phạm tội phản quốc. Bất hiếu với Cha Mẹ, tội cũng lớn vào bậc nhất và phải trọng hình…
Việc Quan Chế
Nhà Hạ đặt chức tam công là ba chức lớn nhất triều đình –Cửu khanh, 27 đại phu và 81 nguyên sĩ.
Nhà Ân đặt hai quan tướng, sáu quan Thái: Thái Tể, Thái Tôn, Thái Sư, Thái Chúc, Thái sĩ, Thái Bốc—năm quan: tư đồ, tư mã, tư không, tư sĩ, tư khấu—sáu phủ: tư thể, tư mộc, tư thủy, tư thảo, tư khí, tư hỏa –sáu công: thổ công, kim công, thạch công, thủy công, thú công và thảo công.
Đến nhà Chu có sự canh cải chút ít. Chu Công đặt ra sáu quan: thiên quan, địa quan, xuân quan, hạ quan, thu quan, đông quan. Dưới quyền mỗi quan có 60 thuôc quan.
Đứng đầu thiên quan là chức Chủng Tể (sau này tức là chức Tể Tướng) coi tất cả mọi việc chính trị và lý tài trong nước và kiểm soát cả mọi việc trong cung.
Đứng đầu địa quan là chức Đại Tư Đồ trong nom các việc thương, việc nông, việc giáo dục và cảnh sát.
Đứng đầu xuân quan là chức Đại Tôn Bá coi việc tế, tự, triều, sính, hội đồng,…
Đứng đầu hạ quan là chức Đại Tư Mã coi việc quân sự đánh dẹp, giữ trật tự trong nước.
Đứng đầu thu quan gọi là Đại Tư khấu coi việc dân sự, kiện tụng.
Đứng đầu đông quan là Đại Tư Không, giữ việc khuyến khích công nghệ, nông nghiệp, thổ mộc.
Trên sáu quan có tam công là: Thái sư, thái phó, thái bảo và tam cô: thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo có nhiệm vụ trông coi, kiểm điểm, đặt để đường lối chính trị trong nước và không dự việc hành chánh.
 
Pháp Chế
Đời thái cổ có 5 hình để trừng phạt có tội nặng nhất –ngoài ra có tội phải xử trị bằng roi da và tội lưu. Qua đời Hạ, Ân, Chu đặt thêm tội chặt chân, gọt đầu và tội đồ, và cuối đời nhà Chu vì sự biến loạn mỗi ngày một nhiều, nhà vua đặt thêm tội bêu đầu, xé xác, lăng trì, mổ muối,…
 
Binh Chế
Tới nay không có sách nào nói rõ về tổ chức quân sự đời nhà Hạ và nhà Ân. Dưới thời nhà Chu, người ta đặt 5 tên lính là một ngũ – 5 ngũ là một tượng – bốn lượng (100 người) thành một tốt – 5 tốt tahfnh một lữ -- 5 lữ thành một sư – 5 sư (12500) thành một quân.
Quân có quan Mạnh Khanh làm Tướng.
Sư có quan Trung Đại Phu làm Súy.
Lữ có quan Hạ Đại Phu cũng làm Súy.
Tốt có quan Thượng Sĩ làm Trưởng.
Lượng có quan Trung Sĩ làm Tư Mã.
Thiên Tử có 6 quân. Chư hầu nào lớn có 3 quân. Chư hầu vừa có 2 quân. Chư hầu nhỏ có 1 quân. Để giúp việc quân sự được mạnh mẽ, nhân dân phải tham gia vào các việc tổ chức sau đây:
Nước chia ra làm nhiều tỉnh. Mỗi tỉnh có 8 nhà.
Bốn tỉnh là một ấp (32 nhà)
Bốn ấp là một khấu (128 nhà)
Bốn khấu là một điện (512 nhà)
Mỗi điện phải chịu một cỗ binh xa, 4 con ngựa, 12 con bò, 3 giáp sĩ, 72 người bộ tốt, 25 người làm việc khuân vác các đồ nặng (tức là dân công nô dịch chiến trường). Tổng số là 100 người.
 
Điền Chế
Việc chia ruộng đất về đời thái cổ, đến nay chưa rõ ra thế nào, chỉ biết từ đời nhà Hạ triều đình chia 50 mẫu ruộng (?) và quân nhân hoa lợi. Nhà nước thu thuế 1/10 tức là cống xuất.
Dưới triều Ân và Chu, nhà vua đặt phép tỉnh điền tức là chia đất ra làm 9 khu hình chữ tỉnh. Nhưng khu ở chung quanh là tư điền. Khu ở giữa là công điền. Mỗi tỉnh phải cho 8 nhà cầy cấy công điền rồi nộp hoa lợi cho Vua.
Dưới đời nhà Ân mỗi tỉnh có 630 mẫu. Mỗi nhà được 70 mẫu. Phép đánh thuế gọi là phép trợ. Qua đời nhà Chu, mỗi tỉnh có 900 mẫu. Mỗi nhà được 100 mẫu. Phép đánh thuế gọi là phép triệt. Cứ xét như trên đây mỗi tỉnh có 8 nhà và mỗi nhà được cầy cấy từ 70 mẫu đến 100 mẫu, ắt rằng dân số của mỗi nhà đây phải khá đông do nhiều gia đình tập hợp lại, trái lại một gia đình thượng cổ có 5 hay 10 người làm thế nào mà khai khẩn được hàng 100 mẫu ruộng trong khi nông nghiệp chưa mở mang, điền khí còn thô sơ. Ta còn có thể coi mỗi nhà ngày xưa ở Trung Quốc như một xóm lớn hay một làng nhỏ ngày nay hoặc một họ mới hợp lý hóa được việc trên đây.
Sử lại chép dưới đời nàh Chu có lệ cú 20 tuổi thì được chia cho 100 mẫu ruộng và số ruộng này được giữ tới 60 tuổi mới phải trả lại cho nhà Vua. Nhà nào có con thứ nhì gọi là dư phu, đến 16 tuổi được lĩnh 25 mẫu ruộng. Nhờ có phép chia ruộng như vậy nên trong dân không có sự chênh lệch quá đáng về tài sản. Theo thiển ý chúng tôi, sự ghi chép trên đây có sự sai lầm vì khoongtheer nào từ đời nhà Ân đến đời nhà nhà Chu tình trạng đất đai lại có thể phân phối như vậy. Nhà Ân cấp cho mỗi nhà 70 mẫu, nhà Chu cấp cho 100 mẫu rồi lại có thể cấp cho những trai tráng từ 20 tuổi mỗi người 100 mẫu. Như vậy số ruộng đất ở đâu ra mà cấp phát nhiều thế và mỗi trai tráng 16 tuổi hay 20 tuổi đảm đương sao được từ 25 đến 100 mẫu? Đây là tài liệu trích trong VIệt Nam Sử Lược trang 34. Ngoài ra chúng ta cũng chưa từng thấy nói mẫu ruộng ngày xưa nhỏ hẹp hơn mẫu ruộng ngày nay, để có thể tin một phần nào.
Đến đời Chiến quốc, phép chia đất bỏ đi, dân gian được tự do cầy cấy tùy sức kể từ Lý Khôi làm tướng nước Ngụy và Thương Ưởng giữ chức tướng quốc nước Tàu.
 
Học Chính
Nhà Hạ lập nhà Đông Tự và Tây Tự cho hai cấp đại học và tiểu học. Nhà Ân đặt Hữu Học và Tả học cũng theo ý nghĩa đó. Các nơi này còn là chỗ tập bắn, làm văn và dưỡng đường cho các người già cả.
Nhà Chu lập nhà Tích Ung hoặc Thành Quân làm trụ sở dạy học cho con cháu vua, quan và những người tuấn tú lựa ở các thôn xã. Ở các Châu, Đảng ([link=#_ftn1][1][/link])thì đặt nhà tiểu học gọi là Tự và nhà Tường cho dân chúng. Bấy giờ việc học cũng hạn định về tuổi: từ 8 tuổi đến 14 tuổi cho bậc Tiểu học, từ 15 đến 20 tuổi cho bậc Đại học.
Chương trình Đại học gồm có: Lễ, nhạc, thi, thư.
Chương trình Tiểu học có: luân lý, đạo đức và cách ứng đối,…Văn minh, học thuật Trung Quốc từ đời nhà Chu đến đời Xuân Thu đã tiến nhiều, xét qua các cơ cấu chính trị, kinh tế và xã hội trên đây nếu so với tình trạng của nhiều dân tộc khác bấy giờ. Điều đáng chú ý hơn cả là những học thuyết, tư tưởng và giáo lý đã được đề xướng do mục đích cai rtaoj hoàn cảnh xã hội Trung Quốc trong giai đoạn này hết sức nhiễu nhương vì nhiều cuộc biến loạn liên mien đã xảy ra giữa các phe nhóm phong kiến và quý tộc trước vấn đề quyền vị và danh vọng. Dân chúng dĩ nhiên là nạn nhân truyền kiếp của tình thế tam phân, ngũ liệt, của các vụ tranh vương đồ bá giữa vua chúa và các chư hầu.
Những nhân vật khả kính đã ra đời trong thời kỳ này là Khổng Tử, Lão Tử và Trang Tử…Khổng, Lão đã xướng ra hai đạo thuyết tuy khác nhau nhưng đều hướng vào chỗ lập lại trật tự xã hội và giải phóng con người ra khỏi vòng hệ lụy. Nhiều học giả khác cũng góp phần trong cái lâu đài tư tưởng của Trung Quốc như Mặc Địch, Dương Chu, Thân Bất Hại, Hàn Phi, Thi Giảo, Điền Biền, Quỷ Cốc..
Mặc Địch chủ trương thuyết Kiêm Ái, Dương Chu lập ra thuyết “Vị Ngã”, Thân Bất Hại, Hàn Phi thuộc phái pháp gia đề xướng việc triệt để dùng luật pháp trị thiên hạ…
Qua nhiều thế hệ người đời sau lưu tâm đến đạo thuyết của Khổng Phu Tử và của Lão Tử (tự là Lý Đạm) hơn cả.
 
Khổng Tử
Khổng Tử tên là Khưu, tự là Trọng Ni sinh năm 551 trước Công Lịch tức là năm 25 đời Tương Công nước Lỗ và Linh Vương nhà Chu, ngày 27-8 ở huyện Khước Phụ nước Lỗ, mất năm 479, thọ được 72 tuổi. Ngài xuất thân hàn vi từng làm Ủy Lại coi việc gạt thóc, giữ kho, sau này làm Tư Chức Lại trông nom việc nuôi bò dùng vào việc cúng tế. Đến khi đạo đức của Ngài được người đương thời chú ý, có lần ngày đã giữ chức Tư Không nước Lỗ, nhưng không thi hành được ý muốn cứu dân cứu đời, vãn hồi nhân tâm thế tục. Ngài bỏ đi chu du thiên hạ luôn 13 năm. Ngài từng đặt gót chân ở Tống, Tề, Sở, Vệ, Tần, Thái vẫn không gặp được tri kỷ. Đến năm 68 tuổi Ngài trở về cố hương (Lỗ) viết sách dạy học, môn sinh có tới 3.000 người.
Ngài đã lấy các quan thư của các thời trước chỉnh đốn thành Kinh Thi, lấy thi ca lịch đại soạn thành Kinh Thư, định đính kính Lễ, kinh Nhạc và làm Kinh Xuân Thu để thuật lịch sử nước Lỗ.
Tư tưởng luân lý đạo đức của Ngài gồm ở mấy điểm: Nhân, hiếu, đễ, trung, thứ và lễ nhạc. Như vậy người ta trước hết phải sửa mình để thành con người đạo đức. Có đạo đức là có tư cách, có nhân phẩm, đây là những yếu tố căn bản tạo nên giá trị của con người, trong gia đình và xã hội. Mà muốn gây được cái đức, người ta phải theo đạo trời là “Nhân” nó bao gồm cả vạn vật trong vũ trụ, nó là sự yêu thương mọi người như yêu thương chính mình vậy. Mạnh Tử sau này giải thích chữ Nhân là “Lòng trắc ẩn, là mối đầu của đức Nhân” mà ta có thể nói cách khác: người có Nhân là người có lòng trắc ẩn. Lòng Nhân đó theo Khổng Tử, trước hết phải đem áp dụng hàng ngày với cái xã hội quanh mình là gia đình, giữa những người thân thiết là cha mẹ, an hem, chị em rồi mới ra đến ngoài. Đức Nhân ở đây phát sinh ra điều Hiếu và Đễ. Nó có thiên bình vạn trạng để thích hợp với mọi người, mọi hoàn cảnh và gây nên những sự tốt lành.
Với chữ “Trung” Khổng Tử muốn rằng ta phải đem hết tấm lòng của ta đối với người khác (tận kỷ chi tâm) và thi hành chữ “thứ” thì phải xét khi ta làm việc gì cho ai, ta có muốn người ta làm cho ta điều đó không, tức là phải tính lẽ hơn thiệt, lợi hại. Tóm lại, nếu ta làm điều gì cho ai, ta phải xét thấy có lợi, thì hãy làm, cũng như ta làm cho ta vậy. Nếu có sự thiệt thòi cho người ta, ta phải tránh.
Khổng Tử hiểu chữ “Nhân” có nhiều bậc. Đạt được bậc cao nhất cảu chữ “Nhân” là bậc thánh tức là người  siêu quần bạt chúng. Dưới thánh nhân là Quân Tử tức là người có nhân cách, đạo đức, mô phạm để giữ địa vị dìu dắt dân chúng và làm gương mẫu cho họ nữa.
Tuy Khổng Tử chủ trương lấy “Đức” mà trị người, nhưng cũng nhận lễ phép là điều cần thiết. Mục đích của lễ phép là giữ mối giềng cho quốc gia, giữ vẻ tôn nghiêm của vua, duy trì trật tự phân minh ngoài xã hội. Ngài còn cho rằng Nhạc cũng phải có, để điều hòa tâm tình con người và chính trị làm bằng Lễ Nhạc là chính trị lý tưởng.
Về phương diện xử thế, Khổng Tử còn nêu ra đạo Trung Dung, Khổng Tử nói người quân tử trong khi xửđối việc đời phải giữ lẽ triết trung, nghĩa là không thiên quá nhiều về một bề nào, không cực đoan, không thái quá, bất thiên bất ỷ, do đó người ta tránh được những điều quá đáng bao giờ cũng có hại. Các nhà Nho của ta chịu ảnh hưởng của thuyết “Trung Dung” thường khuyên kẻ hậu sinh trong mọi cuộc giao dịch trong ngoài nhớ câu: “Hồng thắm thì hồng chóng phai, thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu…”, quả thật là thiết thực như vậy. Một nho gia, ông Tổ Canh Trần Đình Sóc gần đây giải thích Trung Dung một cách khoa học như sau:
“Ta đem thả một khối đặc xuống một thế loãng ví như thả một khúc gỗ xuống một cái hố sâu nước. Khúc gỗ bắt đầu chìm: ta tưởng nó chìm tới đáy, nhưng không, nó chỉ chìm tới chừng nào để đạt tới quân bình giữa trọng lực dìm nó xuống với sức nước đẩy nó lên. Hai bên đều nhau thì nó lơ lửng ở giữa. Ở đây là thế “Hòa” của khối đặc trong hoàn cảnh loãng của nó. Chỗ nó đứng là vị trí an bài đắc kỳ sở ở thế quân bình. Ta nhận thấy ở khối đặc và thế loãng ấy có hai thế lực chống nhau: một thế động và một thế phản động thừa trừ lẫn nhau mà sinh ra một thế thứ ba là thế “Hòa” hay là thế “quân bình” nó đã dung hòa được hai phương diện mâu thuẫn, hai khuynh hướng đối lập của nó.
Cùng một lý ấy ta suy rộng ra thì thấy các vì tinh tú dun dẩy, hấp dẫn nhau vào đúng vị trí của thế quân bình nên vẫn luân chuyển mà không xô xát. Thời tiết được thế quân bình thì vạn vật sinh thành nảy nở,… cho nên người ta nhận lấy cái định luật này để noi theo và ứng dụng vào cuộc đời mới mong thành công trong mọi việc…”
Về chính trị (Khổng Tử còn là nhà chính trị nữa). Khổng Tử nêu lên thuyết chính danh, đó là một tư tưởng chủ yếu của Ngài. Và nếu Khổng Tử có tư tưởng này là vì Ngài sinh ra giữa thời phong kiến, xã hội đang đảo lộn, trật tự đang ngửa nghiêng, nhân tâm đang suy bại. Muốn chấm dứt cái thời đại vô kỷ cương, Ngài khuyên các vua chúa và thứ dân phải xử sự cho hợp cái địa vị, cái danh nghĩa của mình, nghĩa là kẻ làm vua phải biết đạo và theo đúng đạo làm vua, kẻ làm tôi, làm cha làm con cũng vậy, đừng ai xâm phạm đến địa vị quyền lợi của kẻ khác, trên dưới một lòng để đi đến chỗ thống nhất cho quốc gia về mọi phương diện.
Tóm lại, từ đấng vương giả đến dân chúng đều phải tuân theo tam cương ngũ thường và liên đới trách nhiệm trước mọi cuộc thịnh suy của dân tộc, xã hội. Mọi điều khuyến cáo này xét ra được khảo sát trong lệ tục nhà Chu trước  khi xuất hiện trong Lễ Kinh và Nhạc Kinh mà Ngài đã biên soạn sau nhiều năm đi chu du các nước. Họ Khổng khuyên vua chúa có đức độ trong cái nhiệm vụ thay trời trị dân (thừa thiên thụ mệnh) nhưng phải cố kiêng dùng chế độ võ lực và chuyên chế. Họ Khổng lại tin rằng người ta sinh ra vốn có tính thiện (Nhân chi sơ, tính bản thiện, tính tương cận, tập tương viễn) và sau này sinh ra gian ác là vì chịu ảnh hưởng xấu xa của những kẻ chung quanh. Như vậy hình phạt để ngăn tội lỗi chỉ nên dùng một cách bất đắc dĩ mà thôi, ngoài ra nên lấy lễ nhạc để cảm hóa lòng người là hơn.
Nho Giáo cũng phản đối kịch liệt các hôn quân, bạo chúa nên trong Kinh Lễ có câu: Quân mệnh thuận tắc thần hữu thuận mệnh, quân mệnh nghịch tắc thần nghịch mệnh. Rồi một nho giáo rõ rệt đã có tinh thần dân chủ và cáh mạng ở trong và đã khuyên vua chúa hành động sao cho hợp lòng dân và ý trời. Nếu trái ý dân là vi thiên mệnh thì dân có quyền chống lại.
Tư tưởng này đã phát sinh ra ở một vài quan niệm chính là Người và Trời có mối tương quan hay là có hai trật tự: trật tự thiên nhiên và trật tự nhân sinh mật thiết liên lạc với nhau, hòa hợp với nhau. Nếu so với các tư tưởng chính trị cổ của các nước Âu Châu, Nho Giáo đặt quyền lợi của người dân trên quyền lợi của Vua chúa thì quả là tư tưởng Nho Giáo cấp tiến hơn nhiều. Âu Châu thời xưa coi vua chỉ chịu trách nhiệm với Trời tức là Thượng Đế hay Thiên Chúa mà thôi và dân không không có quyền kiểm soát Vua chúa.
Có điều đáng để ý là Nho Giáo không đề cập cách kiểm soát Vua chúa hoặc quyền hành của họ do dân chúng trao cho để ngăn trừ những hành động chuyên chế và lạm dụng. Phải chăng phái trí thức tức nho giả thời xưa không tin ở năng lực của Đại chúng nên chỉ biết kêu cái thiện tâm, thiện chí của các nhà cầm quyền khiến ta phải nghĩ rằng Nho Giáo chỉ biết nêu cao tinh thần đạo đức mà thôi. Ngoài ra về chính trị Nho Giáo đã thiếu hẳn một cái gì thực tế trong căn bản nên không đi tới một kết quả để vãn hồi ngay được nhân tâm, thế tục thuở ấy. Cái quan niệm thật sự và triệt để dân chủ ngày này là Chính Phủ phải là của dân, phụng sự dân và tùy quyền dân (Tổng Thống Abraham Lincoln) đã giải thích chính thể dân chủ ở Hợp chủng Quốc ngày nay như vậy: The Government Of The People and By The People).
 
Lão Tử
Bên cạnh Nho Giáo có Lão Giáo là một đạo giáo đã từng được nêu cao như một giáo thuyết khác ở Trung Quốc. Và sau Lão Giáo có Phật Giáo ngoài Nho Giáo. Ba thứ đạo giáo này quan hệ vô cùng cho nền học thuật của Đông Phương, vì vậy người ta gọi ba đạo giáo này là “Tam giáo đồng nguyên”.
Phải chăng Khổng Giáo cũng như Lão Giáo hay Phật Giáo đều cũng phát sinh ở mục đích cứu dân, cứu đời, sửa chữa nhân tâm, triệt bỏ mọi tham ý, tà dục và nêu cao  tình ưu ái giữa Gia đình, Xã hội và Nhân loại để con người đi tới một tập thể có Hòa bình, Cơm áo, Tự do và Hạnh Phúc? Từ nguyên lý đến phương pháp, đến cứu cánh. Nho Phật Lão chỉ khác nhau ít nhiều ở mặt thực hành; chẳng hạn Nho Giáo đi tìm chân lý trên con đường nhân sinh tương đối ở phạm vi nhập thế, mà Lão Trang hay Phật Giáo thì đưa ra những điều cao siêu, huyền diệu ở phạm vi xuất thế, tựu trung cả ba đều mưu sự hòa vui cho nhân loại giải phóng con người trên mọi phương diện.
Dưới đây, chúng tôi xin trích bản khảo luận ngắn về thân thế và tư tưởng của Lão Tử vị lãnh tụ của tư trào phương Nam trên 20 thế kỷ trước và cả ngày nay nữa.
Lão Tử, là người nước Sở, họ là Lý, tên là Nhĩ tự là Đạm.Không rõ ngày sinh và chết vào năm tháng nào, cứ Hồ Thích dẫn chứng thì đại ước thì Ngài sinh vào khoảng năm 570 trước C.L., hơn Khổng Tử chừng 20 tuổi. Ngài từng làm quan Trụ Hại Sử nước Chu, coi giữ kho sách nhà vua. Ngài tuy làm quan song vẫn tu hành đạo đức, lấy sự tự ẩn vô danh làm chủ. Ở nước Chu lâu ngày, sau thấy nhà Chu suy nhược không thể vãn hồi được bèn bỏ đi, rồi không rõ tung tích thế nào. Sách của Ngài làm ra, chỉ có một bộ Đạo Đức Kinh thôi.
Nhưng trái với Khổng Tử và Mạnh Tử chú trọng đến nhân nghĩa, lễ nhạc để cứu vãn tình thế đương thời, lập lại trật tự xã hội, Lão Tử tuy cùng quan niệm như Khổng Tử có một trật tự thiên nhiên, nhưng trật tự ấy không có nghĩa bó buộc người đời trong một khuôn khổ nào hết. Chính trị, đạo đức, giáo dục, học vấn đến cả Trời đều không là gì hết (Thiên địa bất nhân) mà lại còn có hại là đàng khác. Lão Tử bài xích hết thảy các tiên vương, tiên thánh: Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ…nên đã dám nói rằng: Làm loạn thiên hạ là ông Nghiêu, ông Thuấn. Làm đói thiên hạ là Thần Nông (Loạn thiên hạ giả Nghiêu dữ Thuấn, cơ thiên hạ giả thần nông); chế độ chính trị nào cũng chỉ là những phương cách bóc lột, đè nén dân chúng của một hay nhiều giai cấp xã hội. Lập ra nhiều phép tắc, luật lệ càng đưa dân chúng đến chỗ nghèo nàn, khốn cực, gian ác, những phương pháp làm giàu càng ddauw gia đình đến chỗ bại hoại, suy đốn.
Phủ nhận và bài xích hết thảy mọi quy mô và tổ chức đã sẵn có, Lão Tử nêu ra Vô Vi Chủ Nghĩa.
Sách Đạo Đức Kinh của Ngài khuyên người đời sống Hòa Hợp với thiên nhiên, tự cải hóa, cởi bỏ mọi điều dục vọng. Đứa trẻ sơ sinh là hình ảnh của Thiên nhiên, của đời sống hồn nhiên thuở nguyên thủy. Mội khi loài người và Tạo vật đã hòa hơp được với nhau, nghĩa là đều vô tri, vô hám thì không còn sự tranh giành, xô xát thế giới sẽ có hòa bình, hạnh phúc.
Lão Tử là tiên phong cho tư tưởng đương thời, phàm chư tử bách gia đời sau, phần nhiều là gốc ở Lão học. Nội dung của Lão học đại khái như sau đây:
 
  1. Thiên Luận
 
Trước Lão Tử thì trong tư tưởng giới người ta đều cho trời là có ý chí và chủ tế hết thẩy. Đến đời Xuân Thu, Chiến quốc là buổi chiến loạn liên mien, người ta đối với trời bèn sinh lòng hoài nghi, rồi đến oán vọng trách mạ. Lão Tử thuộc giòng quý tộc, thấy chế độ phong kiến đương ở vào cảnh vỡ lở, lại có phẫn khái nhiều, cho nên ngài cho rằng: “Trời đấy là bất nhân, xem vạn vật như đò chó rơm”([link=#_ftn2][2][/link]). Ngài đã không tin trời cho nên mới nêu ra một cái gọi là “Đạo” là cái “tự nhiên hỗn thành trước khi có trời đất, im lặng quạnh quẽ, đứng một mình mà không đổi, chỗ nào cũng đi mà không mỏi, muôn vật trong vũ trụ đều gốc ở đó mà sinh ra”(5). Tác dụng của Đạo là: “Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật”(6). Đạo chỉ là tự nhiên không có ý chí, cho nên Ngài lại nói rằng: “Trời bắt chước đọa, đạo bắt chước tự nhiên”.(7) Hai chữ“tự nhiên” ấy là không thừa nhận trời làm đấng chủ tế của muôn vật vậy.
 
  1. Vô Vi Luận
Lão Tử đã trọng tự nhiên, cho rằng vạn vật đều có một cái đạo lý “độc laoaj nhi bất biến, chu hành bất đãi”, là không cần có trời làm chủ tể, cũng không cần đến người gây dựng sắp đặt. Do tư tưởng ấy rồi thành ra tư tưởng phóng nhiệm, tức là lý thuyết Vô Vi. Nhân sinh triết học của Lão Tử là ở thuyết Vô Vi ấy. Ngài cho rằng người ta phải giữ lòng cho bao giờ cũng thanh tĩnh, cái gì cũng để theo lẽ tự nhiên, đừng nên thiết đến cái gì cả “Thường có bỏ hết được cái lòng ham muốn thì mới biết được chỗ huyền diệu của Đạo.8 Người đã giữ được đạo thì không ra khỏi cửa mà biết được cả muôn vật trong thiên hạ, không dòm ra ngoài cửa sổ mà biết được cái đạo trời thống trị cả thế gian, người ta hễ muốn đi xa bao nhiêu thì lại càng biết ít bấy nhiêu.9Về việc học cũng vậy : càng học càng biết nhiều mối thì lại càng vô ích mà hại cho mình, chứ đã đem tâm trí mà chú vào đạo thì cái biết càng ngày càng ít đi, càng ít mãi cho đến bực vô vi, tuy vô vi nhưng mà không có cái gì là không có ảnh hưởng của mình”.10
Về chính trị Lão Tử cũng theo nguyên lý vô vi cho rằng “không làm gì mà dân tự hóa thành hay, cứ yên lặng mà dân tự ngay thẳng”.11 Tuy nhiên, vô vi không phải là cứ ngồi yên không hành động gì cả đâu, nhưng đã làm việc chính trị thì phải phòng ngừa từ trước, lo việc từ trước, từ lúc chưa có việc gì xảy ra thì mới được.12 Ngài cho rằng: “Đạo lớn đã bỏ thì mới đặt ra nhân nghĩa; có kẻ trí tuej thì mới có những điều gian ác phản nghịch, vì cha con vợ chồng không hòa với nhau nên mới sinh ra hiếu tử, vì quốc gia biến loạn cho nên mới có trung thần”13[link=#_ftn3][3][/link], nghĩa là những điều ước thúc của luân lý, đạo đức đều là trái với đạo cả.
 
 
Những nhà chính trị biết theo đạo thì không cần lấy nhân nghĩa lễ trí mà dạy dân, chỉ cần khiến cho dân giữ lấy tính giản dị chất phác mà theo tự nhiên. Cái xã hội lý tưởng cảu Lão Tử là “nước nhỏ ít người, không cần kỳ xảo, văn vật, không cần đến binh mã, quân lính, không cần giao thông, không cần những đồ xa xỉ trang sức, miễn được ăn no, mặc ấm, ở yên, giữ lấy phong tục dịu dàng hòa nhã”.14
Nhưng quan niệm “thiên địa bất nhân”, “thanh tĩnh vô vi”, ấy rất hợp với tư tưởng yếm thế ở xã hội đương thời cũng những ý thức tiêu cực và phẫn oán của giai cấp quý tộc phong kiến đương suy đốn.
 
Trang Tử
Chủ nghĩa xuất thế của Trang Chu cũng theo chủ nghĩa vô vi của Lão Tử mà suy diễn ra. Song vô vi chủ nghĩa của Lão Tử còn có hàm ý vị xử thế, chứ xuất thế chủ nghĩa của Trang Chu thì cho rằng: “Trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một”, cho nên vô thủy vô chung, vô tiểu vô đại, vô yểu, vô thọ, vạn sự vạn vật đều là nhất tề. Nhân thế mà Trang Tử có cái nhân sinh quan tự nhiên nhi thiên, hễ gặp lúc nào sống mà sống là hợp thời, gặp lúc nào chết mà chết là thuận cảnh”15[link=#_ftn4][4][/link]. Trang Tử nói: “Kẻ chân nhân ở đời xưa không biết ham sống, ghét chết. Đẻ ra cũng không mừng, chết đi cũng không chống, thoát qua thoát lại, không quên lúc mới sinh, chết cũng để mặc kệ, sinh ra rồi thì thường tự đắc, có chết nữa cũng là trở lại với trời, không cần dụng tâm mà vực đạo, không cần lấy sức người mà giúp trời, như thế gọi là chân nhân vậy”16.
Tư tưởng Lão Trang quả là một thứ triết học cao siêu kỳ diệu khiến trí não người ta bay bổng lên lên những cảnh giới siêu nhiên huyền diệu chứ không như tư tưởng của Nho Giáo chỉ giữ tinh thần người ta ở trong vòng thực tế tầm thường, ở trong vòng lễ giáo chật hẹp. Bởi vậy tuy trong thời trung cổ và cận cổ, Nho Giáo độc tôn, mà những nhà nho học lỗi lạc vẫn thường nghiên cứu học thuyết của Lão Trang mượn nó làm mối an ủi những nỗi khổ não ở đời.
Tuy nhiên, cái ảnh hưởng trực tiếp của Lão Trang ở trong tư tưởng giới nước ta không lấy gì làm quan trọng lắm, mà cái ảnh hưởng của Lão Giáo bị Đạo giáo lợi dụng lại sâu xa, phổ cập vô cùng. Kể từ đời Tần Hán, Nho học được độc tôn thì học thuyết Lão Trang suy dần. Đến khoảng 147 – 167 đời Hậu Hán, có Trương Đạo Lăng học được đạo trường sinh rồi lên ở núi Hộc Minh Sơn ở đất Thục làm một bộ Đạo Thư 24 thiên để dẫn dụ nhân dân. Phàm ai nhập môn thì phải nộp năm đấu gạo nên người ta gọi là “ngũ mễ đạo”. Phép trị bệnh của đạo ấy là dùng nước bùa (phù thủy) cho người bệnh uống, hay là viết tên họ người bệnh vào ba tờ giấy, một tờ dán ở trên núi, một tờ chôn ở dưới đất và một tờ ném chìm xuống nước. Con Lăng là Hoành, cháu là Lỗ, cũng tu đạo ở đấy. Đến con Lỗ là Trương Thịnh thì dời đến Long Hổ Sơn ở tỉnh Giang Tây rồi đạo thống kế tục mãi mãi.
Trương Đạo Lăng phụ hội thuyết thần quái của bọn phương sĩ đời Lưỡng Hán và lợ dụng Hư Vô chủ nghĩa cùng Phá Hoại chủ nghĩa của Lão học để lung lạc những kẻ bất bình trong xã hội cho nên kết nạp được rất nhiều tín đồ. Lại nhân văn thể của Lão Tử có vần dễ tụng, có nhiều chỗ mập mờ khó hiểu, hoặc nhưng đoạn thư “thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” có vẻ thần bí, cho nên lại càng khiến người ta sợ hãi và mê tín thêm. Gia dĩ cuối đời Hán sang đời Tần, học Hoàng Lão thịnh hành, những kẻ sung bái học ấy, lấy điều siêu nhiên cao cả làm chủ, cho nên rất lưu ý về phép trường sinh bất tử, vũ hóa đăng tiên. Từ đó Đạo giáo nghiễm nhiên thành phép tư tiên, đến đời Đông Tấn có Cát Hồng quy định rất là chu đáo, rồi sinh ra vô số những phương thuật và mê tín khác.
Qua đời nàh Đường các thi bá, trí thức như Mạnh Hạo Nhiên, Tống Chi Văn, Vương Duy, Lý Kỳ, Trương Cửu Linh, Lạc Tân Vương, Lưu Vũ Tích, Lý Thương Ẩn… rất tôn sung các đạo sĩ. Tỉ dụ Kỳ Đạo Sĩ về quán Ngọc Thanh, Lý Kỳ có bài thơ sau đây:

Đại bạo bãn vô ngã
Thanh xuân trường dữ quân
Trung châu nga dĩ đáo
Chí lý đắc nhi văn
Minh chúa giáng hoàng ốc
Thời nhân khán bạch vân

Đại ý: Đạo lướn vốn là vô ngã (không có mình) xuân xanh theo mãi với ông, chỉ thoắt chốc về đến Trung Châu, khiến chúng tôi được nghe những sâu sắc kỳ diệu của đạo. Đấng minh chúa từ nhà vàng xuống đón mời, người đời trông mây trắng mà biết đạo sĩ đi về.
Đông Nhạc chân nhân Trương Luyện Sĩ
Cao tình nhã đạm thế gian hi.
Xem như vậy, người tu đạo ở đời Đường có đạo hạnh và đạo tâm thì được cảm tình của nhân dân thế nào.
Dưới đời Tống, địa vị của Đạo cũng rarất tốt đẹp. Vua Tống Huy Tông tự xưng là giáo chủ Đạo Quân Hoàng Đế. Song từ Nam Tống (1127 – 1279 Đạo giáo suy sụp dần, chia ra phái Nam, phái Bắc, mỗi phái truyền đạo theo một thuyết riêng, đó là điều tai hại cho Đạo.
Đến nhà Kim, nhà Nguyên vào chiếm Trung Nguyên, đạo giáo lại chia rẽ phen nữa, lần này thành ba phái: một là Chân Đại Đạo Giáo do Lưu Đức Nhân triều Kim đứng ra, hai là Thái Nhất Giáo do người cháu đời thứ 36 của Trương Đạo Lăng là Trương Tông Diễn vâng lệnh vua Thế Tổ nhà Nguyên quản lĩnh Đạo giáo miền Giang Nam. Ba là Thát Nhất Tam Nguyên do Tiêu Bảo Chân cũng dưới nhà Nguyên sáng lập. Dầu vậy, dưới đời Nguyên, đạo giáo có nhiều phen thất bại: dưới đời Hiến Tông bị thế lực Phật Giáo lấn át –dưới đời Thế Tổ lại có hồi bị cấm chế nữa. Mãi cho đến đời vua Thái Tổ, nhà Minh, khoảng năm Hồng Vũ thứ 10 con cháu Trương Đạo Lăng (tức Trương thiền sư) mới phục hồi được địa vị trước (1377) nhất là dưới triều Minh Thế Tông năm Gia Tĩnh (1522 – 1566) nhà vua rất tin dùng đạo sĩ để học thuật trường sinh. Triệu Nguyên Tiết được phong làm Thái Nhất chân nhân thường nói chuyện cho vua nghe về huyền lý của Đạo.Thiệu giải thích như sau:
“Chân giáo chỉ thu vào trong một chữ tĩnh. Tĩnh sinh trí, trí sinh sáng, sáng sinh yên. Động sinh mờ, mờ thì tối, tối thì loạn. Đáng thanh quân trị thiên hạ quý vô vi. Chính nho gia cũng vô vi. Khổng Tử có nói: “Vô vi mà trí là vua Thuần chăng! Nào có làm gì đâu, chỉ tự cung kính ngồi ngoảnh về phía Nam mà thôi”.
Sang đời nhà Thanh, thế lực của đạo giáo dầu suy lạc và không được triều đình tôn trọng cho tới khi khoa học Tây Phương tràn vào Trung Quốc như ánh sáng mặt trời soi vào đám ương mai mù mịt. Đạo giáo bị lung lay đến nền tảng vì những phương thuật mê tín hơn nghìn năm để lại chống sao nổi những kỳ diệu của nền văn minh cơ giới rất đắc lực trong việc phụng sự nhân sinh. Nhân dân dần dần hết tin đạo rồi Dân Quốc cách mệnh nổi lên với các tư tưởng cải cách, duy tân, đạo giáo tan rã nhường không còn gì nữa. Thêm vào đó, chính phủ Quốc Dân đã ra nghiêm lệnh thủ tiêu Đạo Giáo và phá hủy cơ sở của nó là Long Hổ Sơn.
Ngày nay hệ thống tư tưởng và luân lý nước Trung Quốc đang thay đổi mạnh do sự hiện diện của chính phủ Cộng Sản Mao Trạch Đông, Phật Giáo và Nho Giáo ở Trung Quốc cũng đến lượt bị đào thải trước trào lưu mới.
 
Tuân Huấng
Ngoài những nhà đạo đức, triết gia, khoa học, chính trị trên đây mà một số đáng coi là những ngôi sao sáng trên nền trời văn minh, học thuật của Trung Quốc, người ta còn phải kể đến nhà đại tư tưởng và khoa học Tuân Huống cũng sinh vào thời Chu mạt và ngay thời điểm đó Tuân đã có rất nhiều ảnh hưởng đối với văn học giới nhất là về đời Tây Hán.
Nhưng vào thuở đó danh tiếng của ông không lẫy lừng như các bậc trên đây do ông không ưa tuyên truyền và phô trương. Có thể ví ông như Kant ở Âu Châu đáng lẽ còn nức danh hơn Copercinus người đã tìm ra trái đất tròn, mà vẫn bị lu mờ tên tuổi.
Ông có trí thức rất uyên bắc, những kiến giải rất tinh tế, những sáng tác đặc biệt, những nhận định rất sát với khoa học. Trên 2.000 năm trước đây mà có mọt nhà khoa học như vậy kể cả ngay trên thế giới chớ chẳng riêng ở Trung Quốc cũng còn là điều hãn hữu lắm thay.
Ông cống hiến gì cho đời bây giờ?
Tư tưởng của ông về triết lý và khoa học ra sao?
Thời đó tại phương Nam Trung Quốc, và ở nước Tề, theo sách của Tư Mã Thiên người ta rất “mê tín việc đồng bóng, chuộng điềm quái gở”, Tuân Tử (tức Tuân Huống) bài xích kịch liệt những việc cúng mặt trời, lạy mặt trăng, tinh thần rắn trên cây lớn, sợ sấm sét, sao sa cùng ma quỷ. Ông nhận rằng mưa gió không đáng sợ mà chỉ là những điều tự nhiên, những hiện tượng rất thường trong trời đất; người ta phải khống chế thời tiết, ngự trị thiên nhiên, lợi dụng thiên nhiên trong đời sống của mình để giải quyết mọi vấn đề xã hội, chính trị, nhân sinh. Nhà đại triết học Russel ngày nay nói: “kẻ thù địch lớn của loài người, chính là loài người vậy”. Còn Tuân Tử nói: Muốn làm xong chính trị của người (tức là dân chủ) phải quét sạch những sự quái gở trong tâm hồn con người. Để tránh sự hỗn độn trong xã hội phải thi hành một chính sách cương quyết và phải áp dụng lễ nhạc mềm mại để điều hòa cùng làm êm dịu việc trị dân, nhiên hậu mới có an lạc và thái bình.
Bàn về tính tình con người ông nói: “Những điều tự nhiên mà đến mà có là tính. Tính có ham ghét; mừng giận thương vui gọi là tình. Những điều lựa chọn, đắn đo gọi là lo. Tính là sự thành tựu của trời. Tình là bản chất của tính; dục là sự ứng dụng của tình. Cho rằng cái lòng dục có thể được mà đi kiếm nó, đó là cái tình ắt không tránh khỏi. Cho rằng được mà làm, đó là do sự biết. Tính dục nếu không cần thiết phải dẹp bỏ hoặc đè nén bở người ta còn biết lo lắng, suy xét để thắng bớt nó. Nhân nghĩa đạo đức người ta sinh ra mới tập được. Tập hợp điều đạo đức phải theo phép dạy bảo của các thánh hiền. Tập các điều lễ nghiphair do âm nhạc nung đúc. Thực lòng giữ điều nhân, điều nghĩa mới có thể khiến xui được điều nhân nghĩa và biến điều nhân nghĩa đạo đức thành tính thứ hai của con người, do đó mới tránh được mọi sự tương tàn, tương sát để đi tới thái bình”.
Lý luận của ông đều do phương pháp khoa học thực nghiệm không hoang đường như Trang Chu (Trang Chu nói: Thiên hạ chẳng gì lớn hơn mảnh lông mùa thu. Núi Thái Sơn là nhỏ, chẳng gì thọ hơn đứa con sảo thai. Bành Tổ là yểu).
Tuân Tử nói: “Xưa nay vẫn chung một mực, loại không trái nhau, trước và sau vẫn cùng một lẽ…” Thật là đúng với những quan niệm khoa học đời nay, căn cứ về luật nhân quả, trước những điều biến hoá của vạn vật do những định luật bất di bất dịch chi phối, từ Đông qua Tây, từ kim tới cổ. Đại khái: ở Trung Hoa nước đến độ “không” thì đóng giá. Ở Tây Phương nước đến độ “không” cũng phải như vậy. Ngàn năm về trước cho tới ngàn năm về sau, định luật này không bao giờ thay đổi hay vượt ra ngoài lề lối trên đây. Ông ngược cả với Mặc Tử, Huệ Thi đã đưa ra những điều làm lạ (Mặc Tử nêu thuyết: Thánh nhân không tự yêu mình giết trộm cướp chớ chẳng giết người… Huệ Thi nói: Núi với vực cũng bằng phẳng như nhau…) Ông tôn thờ Khổng Tử, nhưng sửa đổi mở mang thêm học thuyết của họ KHổng. Ông theo chỗ “hư không lặng lẽ của Lão Trang, lựa góp sự cân nhắc lợi hại của họ Mặc, lấy sự “thành thật sáng suốt” của Tử Tư, Mạnh Kha” rất chú trọng đến Lễ là khuôn phép ở bên ngoài. Theo ông con người không lễ thì không sống, việc không lễ thì không thành, nước không lễ thì không yên…Lương Khải Siêu phê bình Tuân Tử là nhà triết học theo “chủ nghĩa lễ trị!” Lễ trị tức là triết trung giữa hai thứ “Đức trị và Pháp trị” có thể nói là khuôn khổ của thuyết xã hội dân chủ trên lịch sử  thế giới ngày nay vậy.
Ngoài tư tưởng triết học, tư tưởng văn nghệ của ông như trên đây đã nói cũng gây nhiều ảnh hưởng cho văn học đời Lưỡng Hán (Tây hán và Đông Hán) sau này. Đối với 300 bài thi của văn học Phương Bắc, ông nhận định rất rõ ràng. Khi về già ở ẩn tại phương Nam, ông thưởng thức lối văn Sở từ âm điệu và khuôn khổ của nó. Sau này ông tổng hợp văn nghệ hai miền Nam Bắc thành một thứ tân văn học đối với đời bấy giờ nó mở đường cho lối phú và thi nhạc phú đẹp đẽ cho hai triều đại trên đây. Đến cả chế độ giáo dục bằng lối học kinh cũng chịu ảnh hưởng của ông nữa. Còn thiên Khuyến Học của Tuân Tử bàn về các quy mô giáo dục, học chế, tư cách giáo sư ta thấy thật là hết sức sâu sắc, chu đáo. (Bài này trích dịch trong một tạp chí Trung Hoa).
 



Chú thích:
[link=#_ftnref1][1][/link] Cứ 500 nhà gọi là một Đảng, 12.500 nhà gọi là một Châu.

[link=#_ftnref2][2][/link] Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật như sô cẩu.

[link=#_ftnref3][3][/link] Hữu vật hỗn thành, tiện thiên địa sinh tịch hề, liên hề, độc lập nhi bất cải, chu hành nhi bất đãi, khả di vi thiên hạ mẫu.
6 Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.
7 Thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.
8 Thường vô dục dĩ quan kỳ diệu.
9 Bất xuất hồ tri thiên đạo, bất khuy hữu kiến thiên đạo, kỳ xuất di viễn kỳ tri dĩ thiên.
10 Vi học nhật ích, vì đạo nhật tổn, tổn chi hữu tổn, dĩ chí ư vô vi. Vô vi nhi vô bất vi.
11 Vô vi nhi dân tự hóa.
12 Vi chư ư vị hữu, tri chí ư vi loạn.
13 Đại đạo phế, hữu nhân nghĩa, trí tuệ xuất, hữu đại ngụy, lục thân bất hòa, hữu hiếu tử, quốc gia hỗ loạn, hữu trung thần

14 Tiểu quốc quá dân, sử hữu thập bách chí khí nhi bất dụng, sử dân trọng tử nhi bất viện tỷ. Tuy hữu chu xa, vô sở thừa chi, tuy hữu binh giáp vô sở trần chi, sử dân phục kết thắng nhi dụng chi. Cam kỳ thực, mỹ kỳ phục, an kỳ cư, lạc kỳ túc. Lân quốc tương vong, kê cầu chi thanh tường văn, đan chi Lão Tử bất tương vãng lai.
15 Yêu thời nhi xứ thuận.
16 Cô nhi chân nhân bất tri duyệt sinh, bất tri ô tử, kỷ xuất bất tố, kỳ nhập bất cử, tiêu nhiên nhi vãng, tiêu nhiên nhi lain hi dĩ hĩ. Bất vong kỳ sở thủy, bất cầu kỳ sở chung, thu nhi hĩ chi, vong nhi phục chi? Thi chi vi bất đắc dĩ tâm ấp đạo, bất dĩ nhân trợ thiên. Thi vị chân nhân.






Đăng nhập để trả lời
0
NHÀ HẬU LÝ (1010 – 1225)
 
1)     Lý Thái Tổ (1010 – 1028)
2)     Lý Thái Tông (1028 – 1054)
3)     Lý Thánh Tông (1054 – 1072)
4)     Lý Nhân Tông (1072 – 1127)
5)     Lý Thần Tôn (1128 – 1138)
6)     Lý Anh Tông (1138 – 1175)
7)     Lý Cao Tông (1176 – 1210)
8)     Lý Huệ Tông (1211 – 1225)
9)     Lý CHiêu Hoàng (1224 – 1225)
 
  1. Vua Lý Thái Tổ
Nhà Tiền Lê cáo chung sau 29 năm ở ngôi. Ta nhớ nhà Đinh, nhà Ngô, hai vương triều đầu tiên Việt Nam chỉ dài khoảng 20 năm. Tại sao có tình trạng này? Rồi khi nhà Lý lên đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc Việt Nam, đây là một triều đại đáng kể về đủ phương diện vì nó thọ được trên hai thế kỷ và ta thấy nền tảng của chính thế quân chủ bắt đầu vững chắc.
Đặt câu hỏi trên đây trước khi xét các sự kiện lịch sử về đời nhà Lý là để tìm hiểu sự phôi thai của xã hội Việt Nam. Chúng ta hẳn còn nhớ tình trạng nước ta dưới  thời Bắc thuộc dài 1146 năm. Trong giai đoạn này dân Việt hấp thụ và lĩnh hội văn minh Trung Quốc nhờ đó chúng ta đã phát triển được nhiều khả năng dân tộc. Nhưng trong khoảng trên 10 thế kỷ chúng ta vẫn loanh quanh trong cái bệnh thiếu thời. Đáng lẽ chúng ta tiến bộ sớm sủa hơn nữa, nhưng những biến cố chính trị luôn luôn xảy đến, khi thì ở ngoài biên đưa vào, khi thì phát xuất ngay trong nội bộ quốc gia ta đã ngăn trở chúng ta rất nhiều.
Về phía các vương triều đầu tiên cũng bị cái bệnh kể trên bởi giai cấp lãnh đạo và phong kiến nằm trong nội bộ chỉ đoàn kết ở những trường hợp đặc biệt mà thôi, vì xâm lăng là cái nạn chung. XOng việc nó lại trở về với cái căn bệnh nguyên thủy hay có tật là phức tạp và chia rẽ. Ông vua bấy giờ chưa là hiện thân của nền dân chủ, chưa đi đến mức có uy quyền thần thánh tuyệt đối, chưa trấn ngự nhân tâm nhứt là những người quanh mình vì thế Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ, Dương Tam Kha bất tuân lời ủy ký của Ngô Quyền, là sứ quân chống lại vương quyền của nhà Hậu Ngôm Lê Hoàn mưu mô lật đổ nhà Đình bằng những tổ chức và âm mưu khôn ngoan khéo léo.
Lại nữa, trong giai đoạn nhà Ngô, nhà Đinh cầm vận mệnh của dân tộc Việt Nam, giai đoạn này là giai đoạn quá độ. Các lực lượng phong kiến và cát cứ vẫn còn đầy rẫy ở khắp mọi nơi, mỗi lực lượng nắm một phần kinh tế địa phương. Nông nghiệp tuy phát đạt nhưng chưa lan tràn khắp trong xứ vì luôn luôn có những biến cố chính trị ngăn trở. Các dân cư sơn cước vẫn sống theo nền kinh tế cổ thời (săn bắn, trồng trọt, hái lượm) hầu không có mối liên quan gì với các dân miền đồng bằng. Vậy nếu ta hợp các yếu tố chính trị, kinh tế thời bây giờ vào với nhau, ta thấy giai đoạn lịch sử này đã bị mầm loạn ngự trị, nó chỉ chờ có cơ hội thuận tiện là bùng lên. Những vương triều đầu tiên chưa được ràng buộc vào một nền tảng vững bền, hay chưa có thực lực nào đáng kể. Nó còn phải kiêng nể ít nhiều các chính quyền địa phương gần như tự trị, nó bồng bềnh như nhà xây trên cát nên luôn luôn bị sụp đổ, huống hồ các người kế vị các tiên đế lại bất tài, bất lực hay thiếu đạo đức, càng như thúc đẩy xã hội Việt Nam vào những cuộc đảo lộn liên mien.
Đến Lý triều tình trạng quá độ này chấm dứt. Từ Lý Thái Tổ đến triều đình đã rút được nhiều kinh nghiệm chính trị của các tiền triều. Người ta đã hòa hoãn được các mâu thuẫn nội tại. Các lực lượng phong kiến yếu dần. VƯơng triều có dần thêm nhiều uy thế. Sức bành trướng của dân tộc ở miền Trung Châu tiến mạnh. Kết quả tốt đẹp này đều do các phương pháp tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội đúng lề lối, nguyên tắc. Lại tới các triều đại sau này đã nhờ ở các khuôn nếp do Lý triều tạo ra nên đưa dân tộc chúng ta mỗi ngày đi một xa trên con đường tiến hóa. Đó là điều thiết yếu cho mọi sự tiến triển của xã hội…
Lý Công Uẩn, vua Thái Tổ nhà Lý đã có một tiểu sử khá ly kỳ bí mật. Người ta chỉ biết ông là người làng Cổ Pháp, thuộc về huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Người ta không biết cha ông là ai. Tục truyền mẹ ông là Phạm Thị đi chơi chùa Tiêu Sơn (thuộc phủ Từ Sơn) nằm mộng gặp gỡ thần nhân rồi thụ thai đẻ ra ông. (Đối với thời khoa học ngày nay, điều này không thể tin được). Khi ông lên ba, mẹ ông đem ông cho làm con nuôi nhà sư Lý Khánh vân trụ trì chùa Cổ Pháp, do đó ông được đặt tên là Lý Công Uẩn. Xét vậy ta có thể hiểu buổi thiếu thời ông đã sống một cuộc đời bình dân và khổ hạnh.
Đến tuổi trưởng thành ông vào phụng sự nhà Tiền Lê ở Hoa Lư lên dần tới chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ giữa lúc nhà Lê đến buổi suy vong. Trong thời kỳ còn làm quan với nhà Tiền Lê ông đã tỏ ra là người có tài năng và đức độ nên được mọi người quý mến. Khi vua Ngọa triều mất, Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh lập mưu đưa ông lên ngôi. Lúc đó ông đã 35 tuổi.
Lý Thái Tổ lên làm vua vội mở mang, canh cải ngay nhiều việc: Ông dời kinh đô về La Thành, xét Hoa Lư quá chật hẹp.
Sau khi dời đến kinh đô mới, Lý Công Uẩn đổi thành Hoa Lư làm phủ Tưởng Yên (tức là Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình bây giờ) đổi châu Cổ Pháp làm phủ Thiên Đức (huyện Đông Ngạn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay) đổi sông Bắc Giang làm sông Thiên Đức và con sông này chảy về sông Lục Đầu vốn là một chi lưu của sông Nhị Hà đi qua huyện Đông Ngạn và Quế Dương. Việc triều nghi, quan lại cũng định lại. Nông nghiệp được chấn hung và khuếch trương do đó có việc đấp đê Cơ Xá để tránh thủy tai hàng năm làm hại mùa màng và gây sự thiệt hại cho quốc gia.
Lý Công Uẩn cũng rất săn sóc đến việc văn học. Ông cho lập nhà Văn Miếu để tôn sung Nho học và mở khoa thiTam Giáo (Khổng Giáo, Phật Giáo, Lão Giáo). Vì nhà vua xuất thân ở cửa Phật nên Phật giáo kể từ nhà Lý rất được trọng đãi và khuyến khích. Ông cho sưu tầm kinh Tam Tạng để truyền bá đạo Phật trong dân gian. Luật pháp cũng được quy định.
Ngài xuất hai vạn quan tiền để dựng 8 ngôi chùa ở trong phủ Thiên Đức và tại Thăng Long lập chùa Thiên Ngự, chùa Vạn Tuế, cung Thái Thanh. Ngoài thành Thăng Long ngài cho xây chùa Thắng Nghiêm, Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thổ, Thiên Quang, Thiên Đức. Ở các địa hạt khác các chùa bị đổ nát đều được tu bổ.
Tháng chạp năm thứ nhất hiệu Thuận Thiên (1010) cung Thúy Hoa dựng xong, có lễ khánh thành và ban chiếu đại xá. Mọi việc thuế má đều được miễn trong ba năm. Dân chúng vì thiếu thuế mà phải lẩn trốn và siêu bạt đều được trở về sinh quán làm ăn. (Xét việc này ta thấy dân chúng bấy giờ cơ khổ nhiều lắm). Một số phạm nhân dưới đời Lê Ngọa Triều cũng được phóng thích và cho đủ quần áo, thuốc men để trở về xứ sở.
Lý Thái Tổ chia nước ra làm 24 lộ (cùng năm ấy) Hoan Châu và Ái Châu đổi làm Trại, thêm vào đó một trại mới ở phía Nam Châu Hoan gọi là trại Định Phiên.
Năm thứ 7 hiệu Thuận Thiên (1016) trong nước được mùa, vua Lý Thái Tổ lại tha thuế 3 năm nữa, năm thứ 9 tức là 2 năm sau lại có việc tha thuế ruộng một lần nữa.
Về binh chế, năm thứ mười sáu hiệu Thuận Thiên, Lý Thái Tổ định ngạch lính có từng giáp. Mỗi giáp có 15 người, có một Quản giáp đứng đầu. CÓ nhiều ngạch Quản giáp được đặt ra và chức Hỏa đầu được đổi ra chức chính thủ. Theo Lê Quý Đôn trong Kiến Văn Lục chức Hỏa đầu cũng như chức Đội trưởng nhà Hậu Lê (1428 -1789) sau này.
Phái bộ ngoại giao đầu tiên của nhà Lý đã do Viên ngoại lang Lương Nhâm Văn và Lê Tài Văn cầm đầu sau khi vua Thái Tổ lên ngôi (1010). Các đình thần triều Tống có ý không tán thành việc Lý thay Lê nhưng vua Tống vẫn ưng thuận.
Tháng chạp năm ấy (1010) sứ Tống đem sắc phong cho Lý Thái Tổlàm Giao Chỉ Quận Vương. Ta thấy từ Đinh, Lê, nhà Tống bắt đầu phong cho các vua ta chức Kiểm Hiệu Thái Úy, qua chức Tiết Độ, Đô Hộ rồi mới đến Quận Vương. Nay vua Lý Thái Tổ được phong Quận Vương ngay, dĩ nhiên là do dân ta đã được Bắc Triều khi đó kiêng nể hơn bao giờ hết thảy.
Năm sau tháng tư Viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Vân đi kỳ sứ bộ thứ hai đem phương vật sang biếu vua Tống. Khánh Vân xong việc trốn ở Tàu không về nước. Người Tàu bắt trả vua Lý. Khánh Vân bị đánh chết.
Năm thứ ba (1012) tháng chạp, Thái bảo Đào Thác Phụ và Viên ngoại lang Ngô Nhưỡng lại qua Tàu thông hiếu.
Năm Thuận Thiên thứ năm (1014) Man tướng ở Hạc Thác (cũng là Nam Chiếu là Dương Trưởng Huê và Đoàn Kinh đem 20 vạn quân vào cướp đất nước ta ở thượng du đặt doanh trại gọi là trại Ngũ Hoa. Viên Châu Mục ở châu Bình Lâm (tức huyenj Quảng Nguyên tỉnh Cao Bằng ngày nay) tân về triều. Dực Thánh vương được cử đi chinh phạt, thắng trận giết được hàng vạn quân giặc và bắt được rất nhiều người ngựa. Bình định xong miền Thượng du, vua Thái Tổ cho Viên ngoại lang là Phùng Châu và Lý Thác đem một trăm ngựa bắt được của quân Man sang biếu nhà Tống.
Năm thứ bảy hiệu Thuận Thiên (1016) vua Tống sai sứ sang gia phong cho Lý chức Nam Bình Vương.
Năm Mậu Ngọ tháng sau (1018) sứ bộ của ta là Viên ngoại lang Lý Đạo Thành và Phạm Hạc sang Tống xin kinh Tam Tạng (chữ Phạn gọi là Tripitaka). Tháng 9 năm Canh Thân (1020) sứ bộ mới về; Tăng Thống là Phi Trí được lệnh sang Quảng Tây đón kinh về để tại nhà Đại Hưng là kho chứa Kinh.
Năm Tân Dậu (1021) Viên ngoại lang Nguyên Khoan Thái, Nguyễn Thủ Cương sang Tống dựng kinh tạng, nhà chưa kinh kiểu bát giác.
Tóm lại việc giao dịch Lý Tống thuở bấy giờ rất êm đẹp và có được vậy vua Thái Tổ mới có đủ thì giờ để đánh dẹp các mối loạn trong nước ở các miền sơn cước và man động thời nào cũng xảy ra. Thái Tổ tự làm tướng đem quân đi tiễu phạt (Khâm Định Việt Sử q.2 tờ 13a).
Rợ Cử Long cậy có địa thế rừng núi hiểm trở đã từng dấy động trước đây dưới thời Lê Đại Hành đến năm 1011 lại nổi lên. Vua Thái Tổ bắt được bọn thủ lĩnh. Từ đó rợ Cử Long mới bị diệt.
Năm Nhâm Tý (1013) Thái Tổ lại xuất chinh đánh dẹp các quân phản nghịch ở Diễn Châu, quận Màn Hạc Thái, có sự đồng lõa của Châu Mục Hà Trắc Tuấn, Tháng 2 năm Ất Mão, Hà Trắc Tuấn lại chiếm các châu Vi Long (tức là Chiêm Hóa bây giờ), Đô Kim, huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang, Thường Tân (không rõ ở đâu) Bình Nguyên (tức châu Vị Xuyên, thuộc tỉnh Tuyên Quang bây giờ). Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương đi đánh bắt được Hà Trắc Tuấn đem về kinh làm tội.
Tháng chạp năm Canh Thân (1020) Lý Thái Tổ sai Khai Thiên Vương và Đào Thác Phụ đi đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính (thuộc Quảng Bình gồm ba huyện Bình Chính, Minh Chính và Bố Trạch) chém được tướng Chiêm là Bồ Linh. Quân Chiêm đại bại.
Năm 1022 Mán Đại Nguyên Lịch (ở khoảnh giữa trại Như Hồng và trấn Trào Dương) quấy nhiễu. Dực Thành vương đi dẹp vượt sang đất Tống đốt cả kho tàng rồi về.
Năm 1024 Khai Thiên vương Phật Mã và Khai Quốc vương Bồ đi đánh châu Phong và châu Đô Kim.
Năm 1026 tháng 10 Khai Thiên vương đi đánh Diễn Châu.
Năm 1027 Phật Mã đi đánh châu Thất Nguyên (tức Thất Khê bây giờ). Đông Chinh vương tiễu phạt châu Văn Uyên thuộc tỉnh Lạng Sơn.
Xét trên đây, dưới thời vua Lý Thái Tổ tuy không có những võ công lớn lao nhưng những việc đánh dẹp kể cũng khá nhiều. Vì hiểu tình trạng nước ta mấy triều trước luôn luôn có việc nhiễu loạn nên đến lượt Ngài cầm vận mệnh dân tộc, Ngài sửa soạn và tổ chức ráo riết việc quân. Các hoàng tử đều phải luyện tập quân cơ, các hoàng thânquốc thích được phép tuyển mộ binh đội nên đã giúp một phần quan trọng vào việc an ninh và uy thế quốc gia thuở đó.
Tóm lại chính sách của vua Thái Tổ là thương dân, yêu nước giao hảo với Bắc triều, gây thực lực cho quốc gia từ trong ra đến ngoài. Chính sách này đã thành công trong 19 năm Ngài ở tại ngôi.
Vua Thái Tổ mất năm Thiên Thành (1028) thọ 55 tuổi. Trong thời vua Thái Tổ nước ở xa như Chân Lạp tức Cao mên bấy giờ có 4 lần sang cống (Khâm ĐỊnh Việt Sử quyển 2 tờ 15a)
 
  1. Lý Thái Tông (1028 – 1054)
1)     Việc chính trị
2)     Việc quân sự
3)     Dẹp Chiêm Thành
 
Vua Lý Thái Tổ vừa nằm xuống thì Lý Triều là nơi xẩy ra cuộc tranh giành vương vị giữa bốn vị hoàng tử. Theo ý Lý Thái Tổ thì Thái Tử Phật Mã được lên ngôi nhưng mấy anhem là Võ Đức vương, Dực Thánh vương và Đông Chinh vương không chịu. Ai cũng muốn ngôi cửu ngũ về phần mình, rồi sẵn quân đội riêng các ông hoàng đem quân vây thành. Thật là một cuộc đại náo kinh thành thời bấy giờ.
Trong các triều thần có bọn Lý Nhân Nghĩa bàn cùng thái tử không còn chước nào hơn nữa là dùng giải pháp võ lực để quyết định tình thế. Mặt trận đã dàn xong, về phía thái tử, Võ vệ tướng quân lê Phụng Hiểu rút gươm chỉ Võ Đức vương và bảo: “Các người dòm ngó ngôi cao, khi dễ tự quân, trên quên ơn tiên đế, dưới trái nghĩa quân thần, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này”. Nói dứt lời Phụng Hiểu xông vào chém Võ Đức vương. Dực Thánh vương và Đông Chinh vương khiếp uy bỏ chạy. Việc loạn chấm dứt. Thái tử lên ngôi tức là vua Thái Tông. Còn lại Đông Chinh vương và Dực Thánh vương xin về chịu tội. Vua Thái Tông nghĩ tình cốt nhục tha tội cho cả hai người và cho khôi phục chức vị như cũ. Nhưng vì còn thắc mắc về tâm thuật của những người chung quanh, từ các thân vương đến cá bề tôi, từ đây vua Thái Tông buộc các quan hằng năm thi hành lễ tuyên thệ tại đền Đồng Cổ (xã Yên Thái, giáp Tây Hồ, cạnh thành Hà Nội ngày nay); “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, ai bất hiếu bất trung xin quỷ thần làm tội”. Ai mà không tới làm lễ tuyên thệ phải phạt 50 trượng.
 
1 – Việc Chính Trị
Thái Tông là một ông vua thông minh, rất am hiểu việc quân sự và chính trị. Ngài rất lưu tâm về mọi vấn đề dân sự vì lòng thương dân. Gặp những năm mất mùa hay có nhiều bịnh dịch, ngài xá thuế cho dân hàng hai ba năm. Về luật pháp ngài cũng sửa đổi lại cho bớt sự gắt gao (ta hẳn nhớ luật pháp của mấy tiền triều có bề quá nghiệt ngã). Đại khái ngài đặt cách tra hỏi phạm nhân, xác định các trường hợp giảm khinh cho các người già hay vị thành niên và cho lấy tiền để chuộc tội nếu khong phạm vào thập ác. Ngài đặt niên hiệu là Minh Đạo (1042) trong khi ban bố các chính sách nhân đạo của Ngài. Với hai chứ Minh Đạo, hẳn ngài muốn tỏ lòng thương dân, thương nước và lo sửa sang đức độ của nền quân chủ coi như họ như con. Năm sau ngài ra lệnh bãi bỏ tục mua hoàng nam để làm tôi tớ (hoàng nam là người từ 18 tuổi trở lên). Ngài cho đúc tiền Minh Đạo để tiện việc buon bán trong dân gian và Ngài đặt ra nhà trạm để chạy công văn, chia đường quan lộ ra từng cung cho thuận tiện mọi việc giao thông.
Trông cung Thái Tông đặt hậu và phi 13 người, ngự nữ 18 người, nhạc kỹ 100 người. Các cung nữ ngoài việc hầu hạ phải tập nghề dệt vóc gấm.
 
2 – Việc Quân Sự
Dưới thời vua Thái Tông cũng có nhiều việc đánh dẹp vì sự rối loạn vẫn còn là một tình trạng thường trực từ các thời trước, ngoại trừ phái phong kiến đã bắt đầu vào dần khuôn khổ. Điều thất sách là nhà vua không đặt các quan Triết trấn hay Trấn thủ ở các miền sơn cước hay các miền lân cận thượng du nên quyền cai trị và binh bị đều giao hết cho các Châu mục hay Tù trưởng, do đó quyền hành của những người này rộng quá, họ dễ sinh phản nghịch. Vua Thái Tông luôn luôn phải thân chinh đi đánh dẹp.
 Năm Mậu Dần (1038) người Nùng ở Quảng Nguyên (Lạng Sơn) thường hay nổi loạn. Đây là một thời đáng kể oanh liệt nhất của người Nùng.
Lĩnh tụ của họ là Nùng Tồn Phúc người đất Tương Can, thuộc độn hay châu Thạch An, cát cứ tại châu Đảng Ro gồm Cao Bằng và Lạng Sơn bây giờ. Vây cánh của Phúc là Nùng Tồn Lộc (em ruột Phúc) thủ lĩnh châu Vũ Lạc (thuộc Cao Bằng, Lạng Sơn). Tất cả các đất đai trên đây hợp thành châu Quảng Nguyên về đời nhà Lý. Sau này Tồn Phúc giết cả hai em để chiếm hết ảnh hưởng vật chất và tinh thần tại Quảng Nguyên rồi xưng là Chiêu Thánh hoàng đế, phong cho vợ làm Minh Đức hoàng hậu, con là Nùng Trí Thông làm Nam Nha đại vương rồi đổi châu Quảng Nguyên làm nước Tràng Sinh. Họ Nùng lại sửa sang bờ cõi, binh bị và xây thành trì, đồn ải cùng tuyệt giao với Lý (tức là không xưng thần nạp cống ) từ năm 1038.
Hồi tháng giêng năm sau (1039), Hà Văn Trinh là thủ lĩnh Tây Nông (tức huyện Tư Nông ngày nay thuộc tỉnh Thái Nguyên), làm báo cáo về triều Lý.
Năm Kỷ Mão (1039) vua Thái Tông phải thân đi đánh. Nùng Tồn Phúc và con là Nùng Trí Thông bị bắt đem về kinh xử tội còn vợ và một con trai nữa là Nùng Trí Cao chạy thoát. Nùng Trí Cao cũng là một kẻ có tài và có tinh thần quật cường nên hai năm sau lại lập được quân đội cùng mẹ trở về chiếm châu Đảng Ro, sát châu Quảng Nguyên, đạt nơi này là Đại Lịch Quốc. Nhà Lý lại thêm một phen khó nhọc và đết lượt Nùng Trí Cao bị bắt nhưng vua Thái Tông nghĩ đã giết cha và anh Trí Cao rồi không nỡ hại Trí Cao nữa, cho trở về làm Quảng Nguyên Mục, sau gia phong hàm Thái Bảo.
Năm Mậu Tí (1048) Nùng Trí Cao lại làm phản, tự xưng phen nữa là Nhân Huệ Hoàng đế lấy quốc hiệu là Đại Nam. Quan Thái Úy của triều Lý là Quách Thịnh Dật đem quân lên đánh không có kết quả. Nùng Trí Cao tính chuyện nương dựa vào Tống Triều và xin phụ thuộc. Tống triều không thuận. Kể ra họ Nùng cũng rất khôn ngoan trong ý định lợi dụng sự mâu thuẫn giữa Bắc phương và Nam phương đả có từ ngàn năm trước để xây dựng cho “quốc gia Nùng” một địa vị trung gian ở giữa hai lực lượng. Còn Tống triều không chấp thuận lời thỉnh cầu của họ Nùng hẳn là thấy từ nhà Ngô dấy nghiệp qua tới mấy triều đại sau dân phương Nam đã thành một khối chặt chẽ, đã tiến hóa và có một thực lực đáng kiêng nể, việc thừa nhận quốc gia Nùng có thể phát sinh ra sự thù oán với Lý triều không khỏi là điều bất lợi.
Vào khoảng tháng năm 1052 quân Nùng hãm Tân châu và Ung Châu, chiếm được 8 châu (Các châu: Hoàng, Quí, Cung, Tàm, Đằng, Ngô, Khang, Đoan) thuộc Quảng Đông và Quảng Tây làm cho Tống triều phải xúc động. Vua nhà Tống toan nhờ nhà Lý đánh dẹp hộ nhưng tướng nhà Tống là Địch Thanh can ngăn lấy lẽ có một mình Trí Cao mà lực lượng lưỡng Quảng không thể chế ngự được phải nhờ ngoại quốc thanh trừ sẽ là một điều quốc sỉ. Việc này còn có ảnh hưởng khác không kém phần tai hại là sẽ sinh mối biến loạn khác nữa hoặc trong nội bộ của Tống triều, hoặc ở ngoài biên. Vua Tống cho là phải rồi cử bọn Dư Tĩnh và Tôn Miện đem quân đi đánh Trí Cao. Bọn này làm không nổi việc, vua Tống và triều đình càng thêm lo. Trước sự lúng túng của Tống Triều, Nùng Trí Cao dâng biểu xin phong làm Tiết Độ Sứ châu Ung và Châu Quý. Vậy mà vua Tống đã ưng thuận cho êm. Lại một phen nữa Địch Thanh phản đối và tình nguyện xin đi đánh. Ông được phong làm Quảng Nam Tuyên phủ sứ.
Bấy giờ quân của Dư Tĩnh và Tôn Miện đang đóng ở Liễu Châu, địa hạt Tân Châu thuộc Quảng Tây. Tháng chạp năm 1052 quân Địch Thanh đến Quảng Nam hợp với quân của bọn Dư Tĩnh, Tôn Miện. Dịch Thanh hạ lệnh bất động để xem xét tình thế và định kế hoạch. Trong lúc này quan Kiểm hạt Quảng Tây là Trần Thự không tuân tướng lệnh cứ đem quân đi đánh Trí Cao và bị bại. Địch Thanh đem chém Trần Thự và cho quân nghỉ 10 ngày. Trí Cao thắng trận nhiều lần sinh khinh địch và không lo đề phòng bất ngờ bị Địch Thanh tấn công tại cửa Côn Lôn (thuộc phủ Nam Ninh). Trong khi chiến cuộc đang diễn hành, Địch Thanh dùng quân kỵ đánh vào hai bên sườn quân Trí Cao. Bọn tướng tá Nùng là Hoàng sư mật Nùng Kiên Trung chết tới 157 người, còn quân bị hại tới hàng vạn là tan vỡ hết. Trí Cao thả lữa đốt thành rồi chạy trốn qua sông Hợp Giang sang nước Đại Lý (thuộc Vân Nam) bị người Đại Lý bắt được chém đầu đem nộp cho nhà Tống.
Theo Đại Nam dật sự, Nguyễn Văn Tố nói: hai năm sau Dư Tĩnh được phong làm Kinh Chế Quảng Tây có nhiệm vụ đi bắt Trí Cao. Dư Tĩnh phái Tiêu Chú là Đô Giám qua đường Đặc Ma đi tìm họ Nùng và dư đảng chỉ có bắt được mẹ Trí Cao, em là Trí Quang, con là Kê Tông và Kê Phụng; lại cử người sang Đại Lý theo dõi Trí cao đem về kinh sư. Thân nhân của Trí Cao sau cũng bị giết hết. Từ đó tại biên giới Hoa Việt không có sự quấy nhiễu của người Nùng nữa.
 
3 – Dẹp Chiêm Thành
Nhà Lý dấy nghiệp đã được 10 năm, dân Chiêm nhân dịp bên Giao Châu thay dổi ngôi vua liền bỏ việc tiến cống và thông sứ. Hơn thế nữa, quân Chiêm lại còn luôn luôn quấy nhiễu các vùng duyên hải của chúng ta. Năm Giáp Thân (1044) sau khi sửa soạn được binh thuyền, lương thực vua Lý Thái Tông ngự giá đánh Chiêm Thành. Hai quân gặp nhau ở phía Nam sông Ngũ Bồ. Quân Giao Châu đánh tràn sang, khí thế hang hái quá quân Chiêm bỏ chạy, 5000 quân Chiêm và 30 con voi bị bắt. Ngay khi đó trong nội bộ của Chiêm xảy ra việc bội phản: tướng Chiêm là Quách Gia Dĩ hạ sát quốc vương Xạ Đẩu rồi xin hàng. Thắng trận quân ta chém giết dân Chiêm rất nhiều, vua Thái Tông phải thiết quân luật mới dứt được cuộc tàn sát này.
Thái Tông tiến đến thành Phật Thệ bấy giờ là quốc đô của Chiêm Thành (thuộc làng Nguyệt Biều, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) bắt được vương phi Mị Ê và một số cung nữ Chàm đem về nước. Thuyền ngự về tới hạt Hà Nam, Thái Tông đòi Mị Ê sang chầu nhưng tuyệt vọng về tình nhà nỗi nước, người dẹp của dân Hời đã quấn chiên lăn xuống sông tự vẫn. Ngày nay bên bờ sông Châu Giang, cạnh tỉnh lỵ dân chúng địa phương có dựng một ngôi đền để thờ tiết phụ đó.
Số 5000 người bị bắt về Giao Châu sau được triều đình nhà Lý cấp ruộng đất để lập ấp sinh sống.
 
III. Lý Thánh Tông (1054 – 1072)
 
-           Việc mở mang Phật giáo và Nho giáo
-           Vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành
 
Kế nghiệp vua Thái Tông là thái tử Nhật Tông, tức vua Thánh Tông lấy niên hiệu lần đầu là Long Thụy Thái Bình (1054 – 1058) đặt quốc hiệu là Đại Việt. Nước ta ngót một trăm năm đến bây giờ vẫn gọi là Đại Cồ Việt.
Vua Thái Tông nổi tiếng là một vị anh quân và có nhiều đức độ. Chính trị của ngài lấy sự thương dân như con làm căn bản.
Tháng tư năm Bính Thân (1056) ngài ban chiếu khuyên dân làm ruộng. Tháng tám năm Kỷ Hợi (1059) ngài cho chế triều phục. Các quan phải đội khăn bịt đầ, đi hài có bí tất vào chầu cho có vẻ trang nghiêm. Ngài lập điện Thủy Tinh, điện Thiên Quang. Quan chức thì có chức Phụ quốc Thái Úy, Gián nghị đại phu, Tả hữu lang trung viên ngoại lang, Khu mật sứ, Kim ngô, Lĩnh binh. Triều đại của ngài kể ra đến bấy giờ là văn vật hơn cả và tiến dần đến chỗ vẻ vang. (Khâm định Việt sử 9.3 tờ 23b).
Tháng tư năm Canh Tuất (1070) trời làm đại hạn, ngài cho lấy tiền của và thóc trong kho chẩn cấp cho dân (Khâm định Việt sử 9.5 tờ 29). Ngài đặt ra tiền dưỡng liêm để tránh sự sa ngã cho quan lại. Năm Đinh Mùi (1067) ngài cho Nguyễn Trọng Hòa và Đăng Thê Tư làm Đô hộ phủ sĩ sư, đổi 10 người thủ gia làm lại án ngục. Ngài ban cho Trọng Hòa và Thế Tư mỗi năm mỗi người 50 quan tiền và 100 bó thóc, cá và muối tùy tiện đủ dùng. Mỗi người ngục lại mỗi năm được 20 quan tiền và 100 bó thóc để nuôi tính trong sahcj cho các hình quan).
Về việc dưỡng liêm, Ngô Ngọ Phong, tức Ngô Thời Sĩ nói: Dưới đời nhà Lý các quan trong ngoài đều không có cấp bổng. quan trong thì thỉnh thoảng được ban thưởng. QUan ngoài được dân mỗi địa phương tùy tiện đặt người thu những thuế điền thổ, bờ, đập mà cung cấp. Quan phải dạy dân cày cấy, thả cá để cùng hưởng lợi. Đến bấy giờ bình quan mới có lương bổng. Đối với các phạm nhân, ngài cũng mở lượng khoan hồng, cho ăn mặc đầy đủ. Năm Tân Hợi (1071) ngài định lệ chuộc tội bằng tiền tùy theo nặng nhẹ. Về vấn đề này (năm 1028 – 1054) trong đời vua Lý Thái Tông đã lập thành lệ, vua Thánh Tông sau này chỉ sửa đổi lại mà thôi.
Về võ bị, tuy nước được thái bình, ngài cũng rất lưu ý đến. Năm Kỷ Hợi (1059) ngài định các hiệu quân là: Ngũ Long, Võ Thắng, Long Đức, Thần Điện, Bổng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược và Vạn Tiệp. Bốn bộ hợp lại thành 100 đội. Mỗi đội có lính kỵ mã và lính bắn đá. Do sự bổ xung này số cấm quân đến đời vua Thánh Tông gần tăng gấp đôi; còn thứ binh sĩ để giữ an ninh, trật tự trong nước và đề phòng xâm lăng không có nhất định. Người dân đến tuổi phải đi lính một thời gian ngắn và có lẽ như dưới đời nhà Đinh, họ được luân phiên để vừa làm bổn phận với Nhà nước, vừa làm việc với gia đình, tức là vừa là lính vừa là nông dân. Việc này gọi là “đi phen”. Trong khi đi phen, họ đóng ở các phủ, huyện, châu để phòng khi động dụng. Hạng lính này dĩ nhiên nhiều hơn lính cấm vệ, nhưng tập luyện ít ỏi hơn.
Ngoài ra quân lính đều có khắc trên trán ba chữ “ Thiên Tử Quân” như dưới đời Tiền Lê. Binh chế nhà Lý nổi tiếng đời bấy giờ khiến nhà Tống phải bắt chước. Chúng tôi tiếc rằng không thấy có sử liệu nói nhiều về các tổ chức quân sự dưới triều vua Thánh Tông để bày tỏ đầy đủ hơn, chỉ biết theo Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn, quyển IV, tờ 42a; Thái Diên Khánh là quan nhà Tống làm Tri Châu ở Hoạt Châu (một châu của Tàu ở gần biên giới ta) có dâng lên vua Tống Thần Tông (1068 – 1085) cuốn An nam hành quân pháp bắt được của nhà Lý. Trong sách này có ghi chép việc tổ chức binh đội như sau đây, và chúng tôi ngờ rằng việc tăng cường binh đội như sau đây, và chúng tôi ngờ rằng việc tăng cường binh đội này đã phát xuất dưới hai triều Thái Tông và Thánh Tông đã có nhiều đặc biệt nên binh đội của ta đã khá mạnh khiến Trung Quốc phải chú ý:
Chính binh là các đơn vị sử dụng cung tên và kỵ mã do 9 phủ tướng thống xuất. Các đơn vị này có 100 đội. Mỗi đội có 4 bộ: tả, hữu, tiền, hậu.
-           Quân trú chiến tức là quân đội vừa đóng giữ vừa chiến đấu tại chỗ.
-           Quân thác chiến dùng vào cuộc tấn công và lưu động (Mỗi tướng đều có kỵ binh và vũ khí như nhau).
-           Phiên binh thì đặt từng đội riêng để đề phòng sự bất chắc. (Đây là hạng lính già yếu để giữ thành).
Do tài liệu này ta thấy binh chế đời Lý có một đặc sắc nhất là biết sử dụng kỵ binh nó có giá trị hay không thì coi cuộc phạt Tống bình Chiêm liên tiếp sau này đủ rõ. Ngoài ra nhà Tống phải bắt chước nhà Lý về binh chế thì càng có t hể tin binh chế của chúng ta thuở đó đã khá hoàn bị. Tóm lại vào hạ bán thế kỷ thứ XI nước ta đa xkhas mạnh về quân sự tại Đông Nam Á Châu.
 
1 – Việc Mở Mang Phật Giáo và Nho Giáo.
Vua Thánh Tông làm vua được hai tháng, năm Ất Vị (1055) tháng giêng ngài cho sửa các miếu trong Đại nội. Mùa đông năm Đinh Dậu (1058) ngài cho sửa cửa Tường Phù (tức là cửa Đông thành Thăng Long) dựng lên từ năm thứ nhất hiệu Thuận Thiên (1010). Tháng tám năm Canh Tý (1060) ngài cho làm Hành cung ở bên cạnh Dâm Đậm hồ (Tây Hồ) để thỉnh thoảng ngự ra xem đánh cá. Tháng chín năm Bính Ngọ (1066) ngài sai Lang tướng Quách Mậu dựng một cái tháp ở núi Tiên Du (Bắc Ninh). Năm Canh Tuất (1070) ngài cho dựng điện Tử Thần. Tháng giêng năm Tân Hợi (1071), hiệu Thần Vũ thứ hai, ngài cho xây miếu thờ Khổng Tử là ông tổ đạo Nho tại phía Nam Thành Thăng Long (Hà Nội) cho tô tượng Chu Công, Khổng Tử và tượng tứ phối (bốn vị phối hưởng là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử) vẽ tượng Thất Thập Nhị Hiền (72 người học trò giỏi của đức Khổng). Xét ra việc xây dựng văn miếu và đúc tượng này là lần đầu tiên có ở nước ta. Để cổ súy Nho giáo được mãnh liệt, xuân thu nhị kỳ triều đình cho cúng tế Khổng Tử và chư hiền rất long trọng. Nhà vua lấy ngày thượng đình tế ở Văn Miếu. Các quan theo ngày trung đình tế ở Văn chỉ hàng tỉnh. Dân vào ngày hạ đình tế ở Văn chỉ hàng xã. Văn miếu lại còn là nơi học tập của các hoàng tử.
Theo sự nhận xét của chúng tôi thì nhà Lý mở nước năm 1010, sáu mươi năm sau mới có việc tôn thờ Khổng Tử và sùng bái chư hiền. Như vậy đạo Nho đã đi sau đạo Phật, nhưng bắt đầu có đà tiến triển từ bấy giờ.
Một việc cứng cỏi về ngoại giao dưới đời Lý Thánh Tông: mùa xuân năm Canh Tí (1060) chức Mục ở Lang Châu (Lạng Sơn) là Thân Thiệu Thái đuổi theo bắt những quân trốn tránh sang cõi Tống, bắt được chức chỉ huy sứ của nhà Tống là Dương Bảo Tài và sĩ tốt, trâu ngựa đem về. Đến tháng bảy, quân Tống sang xâm lấn không được, bèn sai Lại Bộ thị lang là Dữ Tĩnh đến châu Ung mở cuộc hội nghị với nhà Lý. Vua Lý sai Phi Gia Hữu đi dự. Dư Tĩnh tặng cho Gia Hữu rất hậu và đưa thư xin trả lại Bảo Tài, vua ta không chịu (Đại Việt sử Ký Toàn Thư 2.3 tờ 25b).
 
2 – Vua Lý Thánh Tông Đánh Chiêm Thành
Từ khi nước ta giành được độc laoaj (thế kỷ thứ X) việc đánh Chiêm Thành đã là một việc thường xuyên. Như ta biết, dân Chiêm quen cậy hùng mạnh hay quấy nhiễu nước ta từ thế kỷ thứ hai dưới đời vua Hòa Đê s(102 sau C.L) nhà Đông Hán. Chiêm quốc dưới con mắt của các vua chúa ta là một cái nhọt bọc rất khó trị và nguy hiểm, nên từ nhà Tiền Lê đã quan niệm rằng không đnáh Chiêm thì Chiêm cũng đnáh mình, rồi từ đây, triều đại nào hầu yên nội bộ đều mang quân Nam Chinh.
Xin lược qua việc đánh Chiêm đả khởi từ đời Tiền Lê, qua nhà Đinh là triều đại vừa thực hiện xong nền thống nhất thì Ngô Nhật Kháh là một trong 12 sứ quân bị bại chạy qua Chiêm Thành xui Chiêm đem quân tấn công vào đất Việt. Năm Kỷ Mão (979) hơn một ngàn chiếc thuyền Chiêm tiến đến cửa Đại An tức là cửa sông Đáy thuộc hải phận Ninh Bình – Nam Định chẳng may bị bão đánh chìm. Nhật Khánh cùng một phần lớn quân Chiêm làm mồi cho cá. Quân Chiêm không bị đánh màtan, đáng tiếc cho kinh đô Hoa Lư mất cơ hội ghi một vài chiến công oanh liệt của giống nòi Việt Nam vào lịch sử.
Đến Lê Hoàn lên ngôi, sứ giả Đại Việt là Từ Mục và Ngô Tử Canh sang giao hiếu bị Chiêm giữ lại. Vua Tiền Lê nổi giận, rồi thành trì, tong miếu của vua Chiêm một phen bị san phẳng, đồng thời một số con dân Chiêm phải theo ngọn cờ chiến thắng vê flafm lưu dân dùng vào việc khẩn hoang ở các đồn điền của ta.
Đó là cuộc Nam Chinh đầu tiên của chúng ta và cũng là dịp đầu tiên dân Chiêm Thành kiệt hiệt, phú cường từ đầu Tây lịch kỷ nguyên biết mùi chiến bại với Việt tộc.
Vua Thái Tông nhà Lý lên ngôi, Chiêm Thành chịu xưng thần nộp cống, rồi Chiêm bị nội loạn, con cháu vua Chiêm giành nhau địa vị nên Nam Thùy của ta bớt được sự quấy đảo trong một thời gian. Nhưng sau ít lâu, Chiêm bỏ cống luôn 16 năm và lại tiếp tục gây rối ở ven biển của ta. Năm 1044, vua Thái Tông thân chinh vào Chiêm quốc, giết chúa Sạ Đẩu, bắt 30 con voi, 5000 dân và giết gần ba vạn người không kể số cung nhân, nhạc nữ đem về nước.
Dĩ nhiên Chiêm lại hàng, nhưng sự hành phục của Chiêm bao giờ cũng ngắn ngủi, bởi họ là một dân tộc có óc quật cường rất mạnh và chí phục thù rất bền bỉ!
Năm 1065 – 1069, Chiêm bỏ cống, vua Thánh Tông nối nghiệp phụ vương lại đem quân Nam Chinh. Nhưng một vài sử gia cho rằng tới giai đoạn lịch sử này cuộc bình Chiêm chẳng phải riêng vì việc đoạn tuyệt giao hiếu, mà vì Đại Việt bắt đầu thi hành chính sách đế quốc, dựa vào chỗ CHiêm có tinh thần bất khuất đối với Đại Việt và lại lén lút thần phục nhà Tống. Cùng một nhịp với các vua kế tiếp sau này, ta thấy dân tộc Việt Nam cố gắng cựa quậy chẳng những về miền Nam lại còn lo bành trướng cả về phương Bắc. (xin coi bài nói về chánh sách Bắc thùy của nhà Lý dưới đây).
Từ chiêm vương Chế Cũ (rudravarman III) được vua Tống nâng đỡ, ban cho ngựa trắng và cho phép mua lúa ở Quảng Châu, Chiêm không tiếp tục nạp công nữa. Mọi hành động của Chiêm đều lọt hết vào con mắt của dân Việt một cách khiêu khích.
Cũng lúc này (1068) vua Lý Thánh Tông sửa soạn thêm chiến thuyền (việc giao thông từ thành Phật Thệ tới Giao Chỉ bằng đường núi theo lời sứ Chiêm tâu với vua Tống phải mất 40 ngày. Vua Tiền Lê trước đây có đào tân cảng và sửa chữa đường sá. Nhưng xem vậy, dùng thủy đạo vẫn dễ dàng cho việc chuyển quân hơn). Lực lượng quân sự của Lý triều có chừng 5 vạn, Lý Thường Kiệt được làm Đại tướng đi tiên phong, em Thường Kiệt là Thường Hiến giữ chức Tán ky Vũ úy. Mỗi chiến hạm chở 250 tên quân và lương thực, tất cả có 200 chiếc.
Ở triều bấy giờ có Lan Thái Phi và Thái sư Lý Đạo Thành trông coi việc nước. Bảy ngày sau khi rời khỏi Thăng Long các đạo quân Việt đã có mặt ở Nghệ An, ba ngày sau tới cử Nam giới, phía Nam núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), hải phận Chiêm Thành từ đó đã hiện ra trước mắt. (Sử chép ngày Canh Thân tới Nam giới, rồng nổi lên ở đầu thuyền Kim Phượng như lúc xuất chinh, Lý triều vốn tin nhiều dị đoan cho là điềm tốt. Điểm này có tính cách hoang đường. Có lẽ sử thần bịa đặt ra để tô điểm cho bản triều thuở đó). Năm ngày sau quân ta đến cửa Nhật Lệ là nơi tập trung của thủy quân Chiêm, bởi Chiêm có những giẫy núi “xương sườn” cao ngất ngăn cản đường bộ từ Giao Chỉ vào cõi Chiêm. Ngoài núi Hoành sơn ở Cực Bắc, có núi Hải Vân ở phía Nam Thuận Hóa, núi Đại Lãnh ở phía Nam Phú Yên, giữa các giẫy núi này có đồng bằng của dân Chiêm. Hình như sự giao thông của dân Chiêm từ nơi này qua nơi khác cũng bằng đường thủy và về phương diện quân sự, Chiêm chỉ cần giữ mặt biển hơn cả vì tin tưởng vào các đèo núi là những bức tường thành thiên nhiên.
Tại Nhật Lệ, thủy quân Chiêm xông ra cản đường. Tướng của ta là Hoàng Kiệt đánh tan rồi quân ta thẳng tiến về phía Nam không bị ngăn trở, mục đích của ta là tiến thẳng tới thành Phật Thệ phá kinh đô và bắt Quốc Vương. Bốn ngày sau nữa ta đến cửa Tư Dung nay gọi là Tư Hiền là cửa sông vào các phá và sông thuộc Quy Nhơn ta mất ba ngày nữa, tính tất cả là 26 ngày từ Thăng Long đến đấy.
Thành Phật Thệ (sau gọi là Chà Bàn mà ta thường chép lẫn ra là Đồ Bàn) ở vào địa phận tỉnh Bình Định ngày nay, ba phía Tây-Nam-Bắc có núi che chở, phía Đông giáp bể. Thủy quân của ta đổ bộ ở đây. Tướng Chiêm là Bố Bì Đà La giàn trận trên bờ sông Tu Mao chặn đánh. Quân ta xông lên giết được Bố Bì Đà La và rất nhiều binh sĩ. (Trận này được lịch sử gọi là trận Tu Mao).
Lý Thường Kiệt vượt được sông Tu Mao, lại qua hai con sông nữa mới tới kinh đô Chiêm. Đang đêm nghe tin quân của mình bại trận ở Tu Mao, Chế Củ mang vợ con chạy trốn. Dân trong thành thấy quân Đại Việt đến đều ra hàng.
Lý Thường Kiệt đem quân truy tầm theo phía Nam. Tháng tư quân ta tiến đến biên giới Chân Lạp, qua các vùng Phan Rang, Phan Thiết ngày nay mà Chàm gọi là Pandurango.
Vua Chiêm vốn có cựu thù với Chân Lạp nên hết đường chạy phải ra hàng, kết quả Chế Củ và năm vạn quân bị cầm tù. Cuộc đuổi bắt vua Chiêm mất ngót một tháng. Người có công trong cuộc đại thắng này là Lý Thường Kiệt.
Tháng 5 vua ra lệnh sửa soạn lên đường.
Ngày 19 tháng 6 Quý Tỵ, thuyền về đến cửa Tư Minh, có lẽ là Tư Dung. Ngày 17 tháng 7 Tân Dậu, đạo quân Nam chinh về tới Thăng Long. Cuộc đón rước rất là long trọng. Các quan hữu tư sắp đặt binh lính nghiêm trang, nghi vệ rực rỡ. Vua lên bộ ngự trên báu xa (xe nạm ngọc) quân thần cưỡi ngựa theo sau. Vua Chiêm mình mặc áo vải trắng, đầu đội mũ làm bằng cây gai, tay bị trói sau lưng do 5 tên lính Vũ đô bắt. quyến thuộc đi sau cũng bị trói.
 
 
Chế Củ xin dâng 3 châu Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý để chuộc tội được tha về. Đáng chú ý từ Lê Đại Hành đến Lý Thánh Tông tuy có việc đánh Chiêm nhưng chỉ là việc bắt người lấy của nhưng chưa hề có việc bành trướng đất đai. Và nói đến vấn đề mở mang bờ cõi, ta nên để ý đến Lý Thường Kiệt là người rất ráo riết về ý chí này hơn hết, có lẽ bấy giờ (dưới đời Lý) nguồn sống ở miền đồng bằng Bắc Việt bắt đầu đã thiêu shutj. Công cuộc này tới các triều đại sau được theo đuổi thế nào, những trang dưới đây sẽ nói đầy đủ hơn.
 
IV. Lý Nhân Tông (1072 – 1127)
 
1)     Vụ tranh giành quyền vị
2)     Việc chính trị
3)     Việc đánh Tống
4)     Lý đánh Chiêm Thành
 
1 – Một Vụ Tranh Giành Quyền Vị
Đời vua Nhân Tông đáng kể là một triều đại rất lớn vì dưới đời Nhân Tông văn trị, võ công rất là hiển hách. Ngoài ra triều đại này đã ghi trong lịch sử hai chiến công hết sức oanh liệt là đánh Tống và bình Chiêm.
Vua Nhân Tông tức thái tử Càn Đức lên ngôi lúc 7 tuổi. Quan thái sư là Lý Đạo Thành làm phụ chính, nhưng bên trong mẹ là Lan Thái Phi và Dương Thái Hậu buông mành nghe việc triều chính.
Lan Thái Phi là một nhân vật đặc biệt của thời đại bên cạnh Lý Đạo Thành và Lý Thường Kiệt, hai vị tướng văn, võ có uy tín và thao lược nhất thời bấy giờ. Bà đã đóng một vai trò chính trị rất đáng kể dưới đời Lý Nhân Tông.
Thân thế của bà thế nào?
Vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072) bấy giờ đã 40 tuổi mà chưa có con trai lấy làm lo lắng nên hay đi cầu tự ở các đình chùa danh tiếng. Một hôm ngài ngự giá về chùa làng Thỏ Lội cho phép dân chúng tự do chiêm bái long nhan. Dân chúng già trẻ, trai gái nô nức đi xem nhà vua như nước chảy. Trong khi đạo ngự đi qua, một cô gái cứ bình tĩnh hái dâu bên đường và dựa mình vào bụi cỏ lan. Nhà vua ngạc nhiên liền đòi đến hầu thì thấy cô gái đó tuy quê mùa nhưng có nhan sắc đoan trang, cử chỉ lại đường hoàng, nói năng thanh nhã, ngài liền vời về cung. Thiếu nữ ấy là Yến cô nương, tục danh là cô Cám, thôn nữ làng Thổ Lội (sau đổi là Siêu Loại, rồi lại đổi ra Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Về cung nhà vua cử một nữ giáo viên dạy Yến cô nương học tập. Nhờ sự thông minh chẳng bao lâu Yên cô nương lầu thông kinh sử và được phong làm Lan phu nhân (lấy tên cung lan là nơi phu nhân luyện tập văn bài, lại có ý là người con gái tựa bụi lan).
Rồi phu nhân sinh ra Hoàng tử, đặt tên là Càn Đức từ đó được phong làm Thái Phi.
Theo thần tích làng Siêu Loại thì khi vua Thánh Tông đi quân thứ Chiêm Thành, ở nhà bà Dương hậu biết Lan phu nhân có thai sợ sau này mất địa vị nên hư truyền rằng mình cũng tắt kinh. Khi Lan phu nhân sinh con trai thì Dương hậu chiếm đứa con trai đó và giam Lan phu nhân vào lãnh cung nói rằng Lan sanh ra quái thai. Đức con trai đó tức là thái tử Càn Đức và lên bảy tuổi thì vua Thánh Tông băng hà. Càn Đức được lên ngôi tức là vua Nhân Tông. Việc này vỡ lỡ ra. Nguyên phi bấy giờ được tôn là Hoàng thái phi liền báo thù xưa, giết Dương hậu và chôn sống 72 người cung nữ đã a tòng với Dương hậu trong việc hãm hại Thái phi thuở trước.
Sau việc tàn ác kể trên, khi trở về già, Lan Thái phi quá hối hận nên rất sùng đạo Phật, làm rất nhiều điều thiện, như việc xuất tiền kho để chuộc con gái nhà nghèo bị cầm bán, rồi cho gả chồng vào những nơi tử tế, chẩn cấp cho dân chúng khi bị tai trời ách nước, làm tới 70 ngôi chùa trong vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh) và thi hành nhiều nhân chánh.
Xét về chính trị Lan thái phi đã làm giám quốc rất đắc lực cho việc trị dân trong khi chồng đi viễn chinh (theo giáo sư Hoàng Lê trong tuần báo Đời Mới số 20 thì Dương hậu coi triều khi vua Thánh Tống đi quân thứ. Theo Tri Tân thì có cả bà Nguyên Phi tức Lan Phu nhân đã buông rèm nghe việc triều chính trong giai đoạn này. Có thể tin chắc Lan Nguyên Phi đã được sủng ái ngay buổi đầu nên được dự chính sự vì bà là người thông minh, quảng bác. Theo Việt Nam Sử Lược chỉ có bà Nguyên Phi mà thôi. Điều chắc chắn là sau khi vua Nhân Tông lên ngôi năm 1072 nhưng mấy năm sau thì Lý ĐạoThành đi trấn thủ Nghệ An, không còn làm phụ chính nữa vì chính kiến bất đồng về việc đánh Tống bình Chiêm đã xảy ra năm 1075 – 1078 với Lý Thường Kiệt và các đại thần; do đó chúng tôi nghĩ rằng Lan Thái Phi đã từng đóng một vai trò quan trọng trong mọi việc chính trị đời bấy giờ. Vậy xét công các đại thần thuở ấy mà không nhắc nhở đến bà tưởng cũng là một điều bất công.
Lại xin nói thêm rằng Lan Thái Phi xuất thân ở chỗ thảo dã, cơm rau áo vải, nhờ sự may mắn bước vào chốn hoàng cung, ăn học ít năm rồi trở nên một nhà chính trị lỗi lạc thì ta phải công nhận rằng phụ nữ Việt Nam sau các bà Trưng, Triệu đều luôn luôn biểu dương được tin hoa của nòi giống chẳng kém gì tu mi nam tử.
2 – Việc Chính Trị
Triều đại Lý Nhân Tông rất hoạt động. Việc đánh dẹp tuy nhiều, nhưng những việc chính trị cũng không bị ngưng trệ. Đời bấy giờ mới khởi đầu việc đắp đê Cơ Xá để giữ kinh thành và tránh cho dân nạn ngập lụt hàng năm rất tai hại cho mùa màng.
Năm Ất Mão 1075 hiệu Thái Ninh thứ tư, đời vua Lý Nhân Tông, bắt đầu có các kỳ thi tam trường tức là thi ba bậc khác nhau để tuyển nhân tài ra giúp nước, (những người thông nghĩa sách minh kinh). Đây là kỳ thi đầu tiên ở nước ta, chọn được 10 người. Lê Văn Thịnh đỗ đầu được vào hầu vua học; sau này Lê Văn Thịnh làm đến Thái sư, rồi bị đầy lên Thao Giang (Phú Thọ) vì bị ngờ có ý phản nghịch. Khoa cử nước ta có từ thuở đó.
Năm Bính Thìn (1076) tháng tư, hiệu Anh Vũ chiến thắng, Nhân Tông đặt nhà Quốc Tử giám để kén chọn các nhân tài cho hai ngành văn võ.
Năm Đinh Tỵ (1077) tháng hai, hiệu Anh Vũ chiến thắng thứ hai, có kỳ thi lại viên, hình luật để lấy người vào làm quan.
Năm Bính Dần (1086) tháng tám, hiệu Quang Hựu thứ hai, vua tuyển người vào Hàn Lâm Viện (Mạc Hiển Tích là người xã Long Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương đỗ đầu được bổ vào Hàn Lâm Viện học sĩ).
Năm Đinh Sửu (1097) hiệu Hội Phong thứ 6, Lý Nhân Tông xuống chiếu làm sách hội điển là cuốn sách kiểm soát so sánh các điều lệ trong điển cũ, chép lại rồi cho thi hành.
Vì Nho học bắt đầu được sùng thượng nên mới có các việc mở mang trên đây, cũng là nhờ thời đó có nhiều người hiền lương hết lòng lo lắng quyền lợi của nhân dân.
Đáng kể Thái sư Lý Đạo Thành trước hết là gương mẫu cho sự đoan chính và tận tâm phục vụ với quốc gia. Cứ xét việc bình Chiêm phá Tống thì hiểu nhân tài thời đó rất là đáng kính.
Năm Kỷ Tị (1089) quan chế định thành các cấp bậc sau đây:
Văn ban có:
-           Đại thần Thái sư, Thái phó, Thái úy, Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu úy.
-           Dưới đại thần: Thượng thư, Tả Hữu Tham tri, Tả Hữu Gián Nghị đại phu, Trung thư thị lang, Bộ thị lang…
Võ ban có:
-           Đô thống, Nguyên súy, Tổng quản khu mật sứ, Khu mật tả hữu sứ, Kim Ngô thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, Chủ vệ tướng quân…
Văn quan ở các tỉnh có:
Quan cai trị: Tri phủ, Quán phủ ở các châu quận, Tri châu.
Võ quan có: chư lộ trấn trại quan.
3 – Việc Đánh Tống
Đến đời vua Tống Thần Tông (1068 – 1078) Vương An Thạch là một đại chính trị gia có ý cải tổ rất nhiều về chính sự của Trung Quốc và mở rộng đế quốc.
Họ Vương đặt:
1)     Phép thanh miêu lấy tiền của nhà nước cho nông dân vay khi lúa còn xanh. Dân có lúa sẽ trả lại số tiền được vay và trả lãi theo quốc lệ.
2)     Phép miễn dịch: Ai phải việc sưu dịch thì được nộp tiền để nhà nước lấy tiền thuê người khác làm thay cho mình.
3)     Phép thị dịch: Đặt sở buôn bán ở chốn kinh sư để tiêu thụ các thứ hàng hóa của dân bị ế đọng. Nhà nước đứng lên thu, đem bán và cấp vốn cho vay vốn rồi dân theo quốc lệ mà trả.
4)     Phép bảo giáp để tăng cường quân sự, họ Vương chia 10 nhà lập thành một Bảo. Năm trăm nhà hợp thành một Đô Bảo. Mỗi Bảo có hai người chỉ huy và dạy dân luyện tập quân sự.
5)     Phép bảo mã có quân lính nhiều cũng phải có nhiều ngựa. Vương giao ngựa cho các Bảo nuôi. Nếu ngựa chết thì liệu theo giá mà bồi thường hay mua ngựa khác thay vào.
Vương An Thạch rất chú ý đến phương Nam và muốn lập công to ở ngoài biên, tâu lên vua Tống rằng: Giao Chỉ vừa đánh Chiêm Thành bị thất bại, quân không còn nổi một vạn, có thể lấy quân Ung Châu sang chiếm Giao Chỉ.
Tri Châu Tiên Phú ở Phiên Ngu (Ung Châu) trông thấy rõ sở vọng này của Tống triều đã có lần dân sớ về triều xin đánh Đại Việt (bấy giờ nhà Lý lấy quốc hiệu là Đại Việt) kẻo sau có đại họa. Rồi Tiêu Chú bị lỗi phải huyền chức. Khi họ Vương lên cầm quyền, Tiêu Chú được phục chức vì là người am hiểumọi vấn đề Đại Việt đang nằm trong cái dự án xâm lăng của Vương tể tướng. Dự án ấy không riêng lo khuếch trương về phương Nam mà còn mở rộng cương vực cho Trung Nguyên về phương Bắc nữa (đánh Liêu và Hạ).
Nhưng sau khi Tống để ý đến thái độ của Lý triều thì thấy Lý có vẻ nganh ngạnh nên sinh nghi. Sự thật Lý triều đã nhân cuộc đánh phá của Nùng Trí Cao năm 1054 mà bành trướng ngầm lĩnh thổ của mình bằng cách xui dục biên dân lấn đất và sinh sự. Trong một thời gian khá dài. Tống triều nén giận, giữ tình hòa hảo nhưng vẫn đợi dịp thuận tiện để xâm lăng Đại Việt mà từ lâu Tống coi như miếng mồi béo. Mười năm qua Tống triều đã ở trong thái độ chờ đợi đó. Tiêu Chú sau khi được phục hồi liền tới Quế Châu giao dịch với các tù trưởng từ đạo Đặc Ma đến châu Điền Đống được hiểu lúc này Lý triều thắng Chiêm Thành, bờ cõi mở rộng về phương Nam, dân sinh quốc kế rất thịnh đạt. Tiêu chú có ý trù trừ. Nhưng đến năm 1072 vua Thánh Tông qua đời, Dương Hậu và Lan Thái phi giành nhau quyền vị. Vua Nhân Tông là thái tử Càn Đức mới 7 tuổi; trong triều hai đại thần văn võ là Lý Đạo Thành và Lý Thường Kiệt chính kiến bất đồng. Tống triều tưởng như cơ hội đã đến, nhưng khi hỏi Tiêu chú vẫn không giám tán thành cuộc Nam Chinh (Tiêu Chú xuất thân là một tiến sĩ, làm việc có tính cẩn trọng, có tinh thần trách nhiệm). Trái lại, Binh bộ Thị lang Thẩm Khởi lại rất sốt sắng đánh Đại Việt. Vua Tống liền phải Thẩm Khởi thay Tiêu Chú lo việc xuất quân.
Việc thứ nhất của Thẩm Khởi là đặt các doanh trại, sửa đường tiếp tế. Việc thứ hai là động viên 52 động thuộc Ung Châu sung công các thuyền chở muối để tập thủy chiến. Sợ Đại việt biết, y cấm hẳn mọi việc buôn bán, giao dịch giữa các biên dân Việt Hoa. Nhân dân Trung Quốc ta thán vô cùng từ các miền Tây Bắc Quảng Châu đến Ung Châu. Việc thứ ba của Thẩm Khởi là dụ dỗ các tù trưởng lệ thuộc về Lý triều theo Tống được Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Nùng Thiện Mỹ ở Ân Tình thuộc Bắc Cạn, giáp Thất Khê hưởng ứng. Theo Nguyễn Văn Tố, họ Thẩm chưa chấp Nùng Thiện Mỹ và việc này đã đến tai người Việt.
Công cuộc đang tiến thì tháng ba năm 1074, Chuyển vận sứ Quảng Tây tỏ ý phản đối Thẩm Khởi về các hoạt động kể trên. Thêm nữa, Thẩm Khởi đã lầm lỗi trong nhiều việc nên bị đổi đi Đàm Châu và chính Vương An Trạch cũng không tin rằng Thẩm giải quyết nổi vấn đề Đại Việt.
Ngoài ra, lúc này Tống đang mắc múi vào chuyện binh đao với Liêu, Hạ chưa ngã ngũ bề nào, việc đánh Đại Việt phải ngừng lại.
Lý triều lên tiếng đòi Nùng Thiện Mỹ, thủ lĩnh châu Ân Tình và 700 thuộc hạ để sửa trị. Tống triều không chịu và về phần Tống còn chiêu dụ cả Trí Hội là con Nùng Trí Cao ở châu Quy Hóa và hạ lệnh cho Ty kinh lược Quảng Tây mộ các dân đinh các khê động làm thanh viện cho Trí Hội.
Các xung đột hầu đã được hoàn toàn quyết định.
Lý triều xét đánh trước có lợi hơn và tính rằng quân Tống có vào Đại Việt tất phải qua Ung Châu, đó là đường bộ. Còn về đường thủy, Tống phải qua các cửa bể Khâm và Liêm. Lý Thường Kiệt liền tập trung thủy quân Đại Việt  ở Đồ Sơn (vịnh Hạ Long) theo lối sau các núi đá mà tiến vào Khâm Châu; còn đánh Ung Châu (Nam Ninh) lục quân của Lý cũng chia nhiều đường:
a)      Từ Quảng Nguyên theo bờ sông Ta tiến đánh trại Thái Bình.
b)     Từ hai châu Tô, Mậu vượt núi qua Lộc Châu, Cổ Vạn, Tư Lăng, Thượng Tứ.
c)      Từ Châu Quảng Lăng tiến qua Thái Bình, Bằng Tường, Tư Minh và trại Vĩnh Bình. Đại quân đi đường này.
Theo kế hoạch, nếu thủy quân chiếm được Khâm Châu thì tiến thẳng lên Ung Châu. Đề phòng Tống xâm nhập vào nội địa của mình, quân Đại Việt đóng ở nhiều căn cứ theo dọc đường biên giới, các địa điểm cổng ngõ. Đại khái quân hạ du của Lý thì đóng ở Vĩnh An và thượng du thì theo dọc biên thùy từ các châu Quảng Nguyên, quảng lăng, Tô Mậu. Tổng số quân Đại Việt có từ 6 đến 10 vạn.
Cuộc tấn công khai diễn như thế nào?
Lý Thường Kiệt đem thủy quân đánh vào căn cứ quân sự của Tống ở ven bờ bể Quảng Đông. Cùng một lúc Tôn Đản phụ trách lục quân chia ba đường kể trên đánh vào Quảng Tây, quấy rồi các trại Hoành Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình, Cổ Vạn trên tiền tuyến của Ung Châu. Hàng rào này bị đổ mặc dầu quân Tống xuất toàn lực cứu cấp nhau và chống đỡ các miền Tây và Tây Nam.Nhiều chúa trại bị tử trận (chúa trại Hoành Sơn, Vĩnh bình, Thái bình…) Mặt Đông Nam thiếu sự phòng bị. Quân Tống bị đánh bất ngờ ở địa điểm này và tất nhiên quân Đại Việt phải đánh mạnh vào đây hơn hết.
Về phía Khâm Châu và Liêm Châu quân Lý cũng tiến ào ạt như gió bão rồi tiến thẳng lên Ung Châu không gặp một sức kháng cự nào đáng kể. Chỉ có 7 ngày quân Đại Việt đã có mặt ở chung thành Ung Châu.
Ngày 10 tháng chạp, Tôn Đản kéo thẳng một đại đội đến Ung Châu. Đại quân ở Liêm và Khâm cùng tiến nhằm phía Bắc tức là hai đạo quân đã đổ bộ ở Khâm Châu và Liêm Châu. Cánh quân chiếm được Khâm Châu tiến lên Ung Châu[link=#_ftn1][1][/link]. Cánh chiếm được Liêm Châu tiến sang miền Đông Bắc chiếm châu Bạch.
Nửa tháng sau Ty kinh lược Quảng Tây mới hay tin về cuộc biến cổ này để thông báo về triều. Vua tôi nhà Tống hết sức bối rối. Rồi nhiều nơi khác bị mất lại được cáo cấp về, Tống triều lại càng hoàng mang thêm, sau đó có lệnh của Tống Thần tong cho Quảng Châu, Quảng Tây phải cố thủ ở các nơi hiểm yếu nhất, vận chuyển tiền, vải, lương thực để khỏi lọt vào tay Lý quân, cách thức Lưu di, cử Thạch Giám thay coi Quế Châu và đưa viện binh tới các thị trấn đang bị uy hiếp.
Trong lúc này các đạo quân thủy bộ của Lý kể trên đây còn có nhiệm vụ chẹn đường các đoàn quân tiếp ứng của Tống từ phía Đông lại.
Ngày 10 tháng chạp (18.1.1076) đại quân nhà Lý cũng tới thành Ung và vây chặt lấy thành này. Tướng giữ thành là Tô Giàm (Việt Nam sử lược chép là Tô Đam) giỏi cả về quân sự lẫn chính trị, thấy thế quân Đại Việt mạnh nên đã áp dụng triệt để chinh sách cố thủ để chờ viện quân, tính chỉ hai tuần lễ có thể đến nơi. Tô đem hết công nhu (tiền công) phát hết cho dân khích lệ mọi người vững lòng, kiên trí. Kẻ nào bỏ trốn phải tội theo quân lệnh (Địch Tích là một nhân viên dưới trướng của họ Tô bị chém trong trường hợp này). Tô phao đồn viện quân không còn xa thành là bao nhiêu.
Nếu không có sự khôn ngoan khéo léo này, có lẽ quân dân trong thành Ung đã đào tẩu hết.
Lúc này Lưu Di tướng giữ Quế Châu nghe tin thành Ung bị nguy liền phái Trương Thủ Tiết đem quân đi cứu. Đạo quân này không dám tiến thẳng đến Ung Châu, đi vòng theo đường Quí Châu tới Tân Châu rồi nghe ngóng.
Thành Ung mỗi ngày mỗi giờ thêm nguy ngập. Vòng vây của Nam quân cứ thắt chặt dần. Sau Trương Thủ Tiết bất đắc dĩ phải tiến. Đoàn quân này đến phía Đông Bắc huyện Tuyên Hóa cách Ung Châu 40 cây số thì bị Lý quân chẹn đánh. Quân Tống đại bại. Thủ Tiết bỏ mạng. Việc này vào ngày 4 tháng giêng năm Bính Thìn.
Ngày 23 tháng giêng năm Bính Thìn (1.3.1076), Ung Châu bắt đầu nao núng. Quân Đại Việt dùng kế thổ công và hỏa công[link=#_ftn2][2][/link] lọt được vào. Tô Giàm còn cố gắng cùng bọn tàn quân chiến đấu đến phút cuối cùng. Khi đã kiệt sức Tô cho 36 thân nhân tự sát rồi tự thiêu mà chết. Dân trong thành không chịu hàng và bị Lý quân giết hết. Xtes trong việc đánh Liêm Châu, Khâm Châu và Ung Châu, quân dân Trung Quốc bị hại vào khoảng 7 vạn người, và có trên 200 người bị bắt đem về Đại Việt cùng nhiều của cải nữa.
Việc đánh Ung Châu trước sau mất hơn một tháng. Quân Đại Việt cũng có phần mệt mỏi. Lý Thường Kiệt hạ lệnh rút binh vì mục đích của Lý triều bấy giờ chỉ có ý đánh một đòn tinh thần vào Tống triều để phá chương trình xâm lăng của Tống triều mà thôi.
Một điều đáng chú ý: việc đánh Tống của Lý triều rất sang suốt bởi nếu không tránh được cuộc xung đột thì nên lợi dụng sự bất ngờ mà đánh trước là hơn.
Tháng ba năm Bính Thìn (1076) quân Lý rút ra khỏi đất Tống vì cần đề phòng sự phục thù của Tống triều có thể đánh lén vào hậu phương của mình.
 
4 – Cuộc Phục Thù Của Nhà Tống
Việc Lý triều đánh phá ba châu Khâm, Ung, Liêm khiến Tống giận hết sức. Tháng hai năm Bính Thìn (1076) quân Tống lên đường Nam chinh. Triệu Tiết là Thiên chưởng các đại chế được cử làm Chiêu thảo sư, Quách Quỳ làm phó đem 9 tướng hợp với quân Chiêm Thành, Chân Lạp chia đường đánh vào nước ta.
Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Lý Tống đã xảy ra bên bờ sông Như Nguyệt, tức là khúc dưới sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Ninh bây giờ. Tống thua trận này chết hại hơn 1000 người. Quách quỳ tiến về phía sông Nhị Hà và sông Khúc Táo thuộc địa hạt Nam Định cũng bị quân Lý Thường Kiệt án ngữ. Quân Tống dùng gỗ làm máy bắn đá sang như mưa. Thủy quân của ta bị hại khá nhiều, mấy ngàn binh lính tử trận, thuyền thủng nát một số lớn. Khí thế quân Tống rất mạnh. Và dưới quyền điều khiển của Thường Kiệt, Nam quân cũng chiến đấu hăng hái. Để phấn khởi tinh thần quân đội, Lý Thường Kiệt đã áp dụng một thuật tâm lý là làm bốn câu thơ, cho người lén vào đền Trương Hát bên sông thét ra;
Nam quốc sơn Hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phân tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đảng hành khan thủ bại hư
Có ý rằng: Đất nước của người Nam phải do người Nam (vua nước Nam) cai trị. Điều đó đã do ý trời định. Kẻ nghịch kia dám xâm phạm đất ta, chỉ là mua lấy sự thất bại mà thôi.
Bốn câu thơ này làm phấn khởi tinh thần kháng chiến và quân Tống bị chặn đứng không sao tiến được.
Những đoàn quân của Chiêm Thành và Chân Lạp cũng bị cản đường nên không giúp được quân Tống. Thế của đôi bên không phân thắng bại. Lý triều e đánh lâu không lợi vì nước ta quân ít của hiếm, theo đuổi một cuộc trường chiến át phải hao tổn nhiều mà cuộc hành quân lúc này của bắc triều chi do vấn đề sĩ diện hơn là do ý chí xâm lược. Lý triều liền cử sứ bộ sang điều đình hoãn chiến. Thật là đúng điều mong mỏi của Tống triều, nay lại được gặp dịp thuận tiện bởi quân Tống lúc này bị hại quá nửa vừa do chiến tranh và cũng do chỗ bất phục thủy thổ. Quân số của họ trước đây là 8 vạn. Tống triều chấp thuận ngay lời thương nghị của nhà Lý rồi rút binh nhưng khi trở về họ chiếm giữ mấy châu quảng Nguyên (ngày nay là quảng Uyên thuộc tỉnh Cao Bằng), Tư Lang (tức thượng Lang và Hạ Lang cũng thuộc Cao Bằng), châu Tô Mậu (giữa hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn) và huyện Quảng Lang (tức Ôn Châu thuộc Lạng Sơn).
Năm Mậu Ngọ (1078) vua Lý Nhân Tông mở cuộ giao hảo với Bắc Triều. Sứ thần Đại Việt là Đào Tôn Nguyên đưa 5 con voi đã thuần sang cống vua Tống và đòi lại những châu, huyện ở miền Cao Bằng (quân Tống chiếm được đất đai miền này đổi tên Quảng Nguyên ra là Thuận Châu đặt 3000 quân để giữ).
Tống triều ưng thuận với điều kiện là Lý triều phải trả lại cho Tống những người dân các châu Khâm, Liêm, Ung do Lý quân bắt trong năm Ất Mão (1075). Tất cả 221 người[link=#_ftn3][3][/link]. Trước khi cho bọn này về, Lý triều cho thích vào trán con trai từ 15 tuổi trở lên ba chữa “Thiên tử binh”, đàn ông từ 20 tuổi trở lên thích chữ “Đầu Nam Triều” và vào cánh tay trái đàn bà con gái hai chữ “Quan Khách”.
Sau khi quân Tống rút khỏi Quảng Nguyên, vì châu này có mỏ vàng, người Tống tiếc của có làm hai câu thơ sau đây:
Nhân tham Giao Chỉ tượng
Khước thất Quảng Nguyên kim.
Mùa hạ năm Giáp Tý (1084) Lý triều lại phái Binh bộ Thị lang Lê Văn Thịnh (vị thủ tuyển khoa thi đầu tiên của nước ta) sang yêu cầu Tống triều phân chia lại địa giới và trả nốt mấy huyện Tống còn giữ lại. Viết đến đây chúng tôi có cảm tưởng rằng việc ngoại giao của nhà Lý bấy giờ rất là khéo léo và rất sành về mặt tâm lý. Lý triều đã áp dụng chính sách đòi dần để tình thế giữa hai nước vừa vung đột với nhau bớt gang. Nếu yêu sách qua nhiều trong một buổi có thể  Tống sẽ không chịu vì như thế sẽ mất thể diện. Lý triều tiến dần, quá nhiên việc thương thuyết đem lại được đầy đủ kết quả như ý muốn.
Vấn đề phân chia địa giới đối với thời bấy giờ đáng kể là một việc quan trọng vì đến đời Lý, cương thổ Việt Nam chỉ mới rõ rệt về phương Nam vào khoảng Thanh Hóa, cách biệt với đất Chàm do dẫy Hoành Sơn, và về phương Bắc từ Cao Bằng sang Đông. Địa phận Đông Khê so sánh với ngày xưa không khác lắm. Từ nơi này ra biển, Bắc ngạn sông Kỳ Cùng thuộc về Tống gồm có châu Tây Bình, Lộc Châu và huyện Thanh viễn rồi tới chỗ gần bể, lĩnh thổ Việt Nam còn ăn vào tới tỉnh quảng Đông đến gần vịnh Khâm Châu. Các cư dân tại Cao Bằng gồm Mán, Nùng, Thổ, Mường không thuộc về hẳn về bên nào. Biên giới về phía này, tới vùng Bảo Lạc và Yên Bái này nay có thể nói bấy giờ chưa có ảnh hưởng của Lý triều. (Đây là theo lời bàn của Hoàng Xuân Hãn tác giả cuốn Lý Thường Kiệt chuyển nhượng). Theo ý chúng tôi thì trái lại, tức là Lý Triều đã đạt được một phần nào ảnh hưởng phần nào tới các cư dân thượng du ở điạ hạt Cao Bằng. Tỉ dụ như họ Nùng oanh liệt bậc nhất trong đám tù trưởng Thượng du, tuy hùng cứ miền Quảng Nguyên (Cao Bằng) đã chẳng có thời quy phục Lý Triều đó sao?Ngoài ra các vùng Hải Ninh, Móng Cáy đến Khâm Châu từhuyện Quảng Lang đến Ôn Châu ở phía Nam tỉnh Lạng Sơn đến Ung Châu (Nam Định) hai bên Lý Tống cùng kiểm soát, còn về phía Tây các bộ lạc gần như hoàn toàn độc lập. Còn người Việt dưới đời Lý thì tập trung hết ở Trung Châu cho tới Thanh Hóa. Địa thế của Việt Nam hồi đó như ôm đất Ung Châu và do biên giới Lý Tống chưa được phân định rõ rệt nên hay có những cuộc rắc rối giữa hai nước và cũng do Lý – Tống đều có óc quật cường, khuynh loát như nhau.
 
5 – Việc đánh Chiêm Thành
Năm 1075 tức là Năm Ất mão trước khi có việc đánh Tống, Lý Thường Kiệt đã xuất quân đánh Chiêm Thành, vì Chiêm luôn luôn quấy rối bờ cõi Đại Việt. Lần này chưa thành công, nhưng Lý Thường Kiệt đã vẽ được đồ bản ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính do Chế Củ nhường cho chúng ta năm Kỷ Dậu (1069) dưới thời vua Thánh Tông. Ở đấy Lý triều đã di dân sang để khai khẩn làm ăn. Việc này có hai mục đích:
1)     Giải quyết vấn đề nhân mãn do mật độ nhân dân ở miền Trung Châu bắt đầu lên cao.
2)     Chiếm đóng ba châu này để đặt ảnh hưởng chính trị của Đại Việt, thực hiện chủ quyền của dân tộc chúng ta trên các địa hạt Chiêm đã nhượng.
Năm Quý Mùi (1103) Lý Giác làm phản ở Diễn Châu (Nghệ An) Lý Thường Kiệt lại thân hành đi dẹp, Lý Giác thua chạy qua Chiêm Thành dụ Chiêm vương Chế Ma Na đem quân đánh lấy lại ba châu trên đấy. Quân Chiêm đại bại và xin tôn trọng tình trạng cũ. Từ khi việc bình Chiêm có kết quả, các nước ở phía Nam đều xin thần phục và tiến cống nước ta rất chu đáo.
Tháng sau năm thứ 5 hiệu Long Phù (1105) Lý Thường Kiệt mất. Vua Lý Nhân Tông ban chiếu truy tặng chức Nhập Nội Đô Tri Kiểm hiệu Thái Úy Bình chương Quân quốc Trọng sự, Việt Quốc Công, được thực ấp vạn hộ.
Lý Thường Kiệt trước sau thờ ba đời vua đều được trọng dụng và mến yêu không ai bằng. Sau khi ông mất, dân bản phường (phường Thái Hòa, huyện Thọ Xương) thờ làm thần, được các triều sau này phong tặng.
Về việc dân Đại Việt đem quân đánh phá miền Hoa Nam là một việc vẻ vang nhất trong lịch sử của chúng ta nên có câu phong dao dưới đây:
Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng.
 
  1. Lý Thần Tông (1128 – 1138)
Vua Lý Nhân Tông mất vào ngày Đinh Mão tháng chạp năm Đinh Mùi tức 15 tháng giêng năm 1128 không có người kế tự. Ngày Ất Dậu (2.2.1128) triều thần lập con nuôi của ngài là Dương Hoán lên ngôi. Dương Hoán là con Hoàng đệ Sùng Hiền Hầu sinh năm Bính Thân (1116) thông minh, tuấn tú trước đã được vua Nhân tông đem vào cung làm con nuôi. Tháng 10 năm Đinh Dậu (1117) Dương Hoán được sách lập làm hoàng tử; và lên ngôi năm đó mới 11 tuổi.
Năm Ất Dậu vua Thần Tông ngự tại điện Thiên An coi chầu rồi xuống chiếu cho quần thần trừ phục (bỏ khăn tang) và dự vào việc cung nữ lên hỏa đàn tuẫn tang theo vua Nhân Tông. (Xét việc Dương Hậu và 72 cung nhân chết theo Lý Thánh Tông có người cho rằng ta đã theo phong tục Tàu và cả phong tục Ấn Độ, Mã Lai (Indonésien) nữa. Xưa Tần Mục Công chết vào thế kỷ thứ 13 trước C.L. ba con của họ Tử Xa phải chết theo; Tần Thủy Hoàng chết, phong tục này cũng được thi hành, ở nước ta có lẽ việc tuẫn tang các vợ vua và cung nhân chỉ thi hành ở dưới triều Lý Thánh tông và Thần Tông mà thôi, bởi sau này không thấy phong tục đó được liên tiếp áp dụng)
Mồng một tháng giêng năm Mậu Thân 1128, vua Thần Tông đổi niên hiệu là Thiên Thuận, đại xá thiên hạ, trả lại ruộng đất cho dân đã bị lấy làm công điền. Những người bị tịch thâu làm điền nhi được về hết. Sáu quân được thay phiên về làm ruộng, lại có việc ngự kinh diên tức là vua học.
Cùng năm ấy (1128) Thần Tông thả những tội nhân ở phủ Đô Hộ từ tội biếm (đi đày, bị giáng) tội truất (cũng như bị giáng) trở xuống 130 người (Khâm Định Việt Sử quyền 4, tờ 21 a).
Năm sau là năm thứ hai hiệu Thiên Thuận (1129) trời đại hạn vua đích thân cầu đảo không nghiệm. Sau vua xuống chiếu tha những tội nhân vì e có việc oan, lạm trong thiên hạ. Đầu tháng tư được mưa.
Tháng 9 năm sau lại mưa quá nhiều. Nhà vua lại thả tất cả tù ở phủ Đô Hộ cũng do ý làm việc ân đức để tránh thiên tai cho nhân dân.
Tháng 10 năm  thứ 3 hiệu Thiên Thuận (Canh Tuất 1130) sứ nhà Tống sang phong vua Thần Tông làm Giao Chỉ Quận Vương. Hai năm sau sứ Tàu lại sang gia phong cho Thần Tông làm Nam Bình Vương.
Tháng giêng năm thứ nhất hiệu Thiên Thuận (1128) ngày Giáp Dần nước Chân Lạp (Cao Miên) đem 2 vạn binh vào cướp ở bộ Ba Đậu, châu Nghệ An. Vua phái Nhập Nội Thái phó là Lý Công Bình đem tướng sĩ và người Nghệ An đi đánh. Ngày Quí Hợi tháng hai, Lý Công Bình thắng trận bắt được chủ súy và sĩ tốt Chân Lạp. Tháng ba Lý Công Bình đem quân về kinh và dâng nộp 169 tù binh.
Tháng 8 cùng năm, người Chân Lạp lại vào cướp phá ở làng Đỗ Gia, châu Nghệ An có hơn 700 chiến thuyền. Nguyễn Hà Viêm ở phủ Thanh Hóa và Dương Ổ ở châu Nghệ An được lệnh đi đánh, Chân Lạp lại thua.
Tháng 3 năm thứ ba hiệu Thiên Thuận, Chiêm Thành cử Ung Ma, Ung Câu đến xin nội phụ.
Tháng 8 năm thứ 5 hiệu Thiên Thuận (1132) Chân Lạp và Chiêm Thành vào cướp châu Nghệ An. Thần Tông cho Dương Anh Nhị làm Thái úy đem quân Thanh Nghệ đi tiểu trừ được đắc thắng.
Sau đó Chân Lạp và Chiêm Thành đều lại cống. Hai năm sau Chân Lạp lại đến cướp châu Nghệ An. Lý Công Bình lại đánh dẹp được.
Vua Thần Tông ở ngôi được 10 năm thì qua đời thọ 23 tuổi.
VI. Lý Anh Tông (1138 – 1175)
 
-           Đỗ Anh Vũ và Tô Hiến Thành
-           Việc ngoại giao
 
1 – Đỗ Anh Vũ và Tô Hiến Thành
Vua Anh Tông tức là Thái tử Thiên Tộ mới lên ba khi vua Thần tông qua đời. Thái hậu là Lê thị cầm quyền nhiếp chính. Vì Thái hậu tư thông với Đỗ Anh Vũ là một cận thần nên mọi việc triều chính đều do một tay Anh Vũ quyết đoán. Anh Vũ từ đó ra vào cung cấm và trở nên lộng quyền, coi rẻ các đình thần. Không khí triều trung ngày một nặng nề rồi sinh rối loạn: bọn các quan Vũ Đại, Nguyễn Dương, Nguyễn Quốc, Dương Tự Minh bàn nhau trừ Anh Vũ nhưng việc thất bại, đều bị giết hại cả.
May trong hàng địa thần còn lại các người có uy tín như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền, Lý Công Tín nên Đỗ Anh Vũ không dám đi xa hơn nữa.
Thời vua Anh Tông không có việc trọng đại xảy ra và được tương đối bình yên là nhờ có đại thần họ Tô có tài chính trị và biết điều khiển việc quân sự. Bình chế triều Lý Anh Tông có thể gọi là thịnh đạt vì ông Tô Hiến Thành biết chọn người làm tướng, biết luyện tập quân đội, nên giặc dã các nơi đều dẹp được cả, đáng kể hơn cả là các bọn giặc Thân Lợi, Ngưu Hồng và giặc Lào quấy rối nhiều nơi sau khi vua Anh Tông lên ngôi được hai năm. Thân Lợi tự xưng là con riêng của vua Nhân Tông có phen đã xuất gia sau họp được một bọn lưu manh trên 1000 người tại Thái Nguyên, tự xưng vương và phong chức tước. Triều đình phải tốn rất nhiều công phu. Năm Tân Dậu (1141) Anh Vũ cầm quân đuổi được Thân Lợi tại phủ Phú Lương khi quân Thân Lợi về vây phủ lỵ. Thân Lợi chạy lên Lạng Sơn bị quân của ông Tô Hiến Thành đuổi theo bắt được đem về kinh trị tội. Nhờ lập được nhiều công trạng vua Anh Tông phong ông Tô làm Thái úy coi cả việc văn lẫn việc võ.
Tô Hiến Thành cũng lo cả việc khai hóa dân trí, mở mang Nho học, xây dựng miếu thờ đức Khổng Tử ở phía Nam thành Thăng Long. Năm Ất Dậu (1165) hiệu Chính Long Bảo ứng năm thứ 3 có mở khoa thi học sinh.
Năm Tân Mão và năm Nhâm Thìn (1171 – 1172) vua Anh Tông vi hành khắp mọi nơi trong nước để xem xét sự sinh sống của dân chúng và địa thế sông núi, đường lối giao thông xa gần, sau ngài cho người làm quyển địa đồ nước nhà, tiếc rằng ngày nay cuốn sách này bị mất tích.
Năm Ất Mùi (1175) do nhiều công trạng lớn lao nữa, ông Tô Hiến Thành được gia phong chức Thái phó Bình chương Quân quốc Trọng sự và thêm vướng tước.
 
2 – Việc Ngoại Giao
Năm Giáp Thân (1164) nhà Tống đổi Giao Chỉ quận làm An Nam quốc, phong cho vua Anh Tông làm An Nam quốc vương. Hẳn chúng ta ai nấy đều nhớ rằng vưa kia người Tàu đặt tên nước ta là Giao Chỉ quận, sau đổi là Giao Châu (do đề nghị của Trương Tân và Sĩ Nhiếp dưới đời Hán Hiến Đế năm thứ ba tức năm Quí Mùi (203) sau đến Đường triều lại có sự thay tên nữa: Đường gọi ta là An Nam đô hộ phủ. Đến đời nhà Đinh, nền tự chủ thành hình, vua Đinh Tiên Hoàng khởi nghiệp xong liền đặt lại quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Ba chữ Đại Cồ Việt ngụ ý rằng nước ta là một nước lớn và mạnh bởi chữ Đại Cồ, còn chữ Việt là để ghi danh tín của dân tộc chúng ta là người Việt. Đến vua Thánh Tông nhà Lý thấy chữ Đại Cồ không được văn vẻ nên đổi ra là Đại Việt dễ nghe hơn và vẫn giữ được ý nghĩa cũ ( một nhà sử học cho rằng căn cứ vào chữ Đại Cồ Việt ta có thể hiểu thời đó trình độ văn tự nước ta còn kém cỏi quá. Điều này rất đúng vì trải qua 3 triều Ngô, Đinh, Lê vua quan đều là võ tướng. Nhưng trong các sắc phong Bắc triều vẫn giữ hai chữ Giao Chỉ đến bấy giờ mới đổi ra An Nam. Sử gia Trần Trọng Kim nói: Nước ta thành nước An Nam khởi đầu từ đấy. Theo chúng tôi dưới thời Bắc thuộc (nhà Đường nước ta chỉ được coi là một “phủ” và tiếng “An Nam” đã có từ bấy giờ rồi, duy có điều khác là sau này nhà Tống thấy dân tộc ta đã cứng cát, mạnh mẽ và có đủ quy mô một quốc gia độc lập nên Tống triều lúc đó phải nhận nước ta là một nước (do đó hoàng đế nhà Tống mới phong cho vua ta là An Nam quốc vương). Trước kia với Lê Đại Hành và mấy triều vua sau nhà Lý, Bắc triều vẫn phong các vua ta là Giao Chỉ quận vương hay Nam Bình vương (vua Lê Đại Hành, vua Lý Thái Tổ, vua Lý Nhân Tông).[link=#_ftn4][4][/link] Các triều vua thời đó không đòi cải chiwnhs chẳng ngoài ý khong muốn gây mâu thuẫn vô ích với bắc triều miễn họ đừng xâm phạm đến chủ quyền nước ta.
Năm Ất Mùi (1175) vua Anh Tông đau. Ngài ủy ông Tô Hiến Thành lập thái tử Long Cán lên làm vua rồi ngài mấy sau khi ở ngôi được 37 năm, thọ 40 tuổi đúng.
 
 
 
 
  1. Lý Cao Tông (1176 – 1210)
Thái tử Long Cán lên ngôi mới 3 tuổi theo di chúc của tiên đế. Bà Chiêu Linh Thái hậu trái lại muốn lập Long Xưởng lên làm vua. Long Xưởng đáng lé được giữ ngôi cửu ngũ vì đã được phong làm thái tử nhưng trước đây phạm tội nên bị truất. Tô Hiến Thành bấy giờ là một vị đại thần và trung thần cương quyết thi hành lời ủy thác của tiên đế không ham vàng bạc của Thái hậu đem đút lót. Năm Kỷ Hợi (1179) ông mất và trước khi gần chết ông cử Gián Nghị đại phu Trần Trung Tá thay mình nhưng sau này triều đình đã trái ý ông, cử Đỗ Yên Di làm phụ chính và Lý Kinh Tu làm đế sức. Bà Chiêu Linh Thái hậu tuy vẫn nuôi ý lập Long Xưởng nhưng trong triều còn nhiều người đứng đắn việc mưu  toan phế lập không thi hành nổi.
Lý Cao Tông lớn lên thiếu hết đức tính cao cả của một ông vua, chỉ ham chơi bời săn bắn, xây dựng cung điện khiến nhân dân phải phục dịch khổ sở. Ngoài ra lại còn những việc mua quan, bán tước, hà hiếp nhũng lạm để lấy tiền tiêu vào các chuyện xa xỉ. Năm Trinh Phù thứ 9 (1184) miền Đông có cuộc nổi loạn của dân các trại Tư và Mông. Năm thứ 10 có cuộc nổi loạn của dân Mán trại Viêm. Năm Thiên tư Gia thụy thứ 7 (1192) có cuộc nổi loạn của người giáp Cổ Hoàng ở Thanh Hóa. Chiêm Thành cũng luôn luôn cướp phá.
Vua quan tỏ ra bất lực và không ai lo việc nước. Các lương thần già yếu chết dần hoặc bị bọn gian nịnh lấn áp, cho tới năm Bính Thìn (1208) tại Nghệ An, Phạm Du nổi lên, chiêu nạp bọn vong mạng mưu đồ đại sự. Quan Phụng Ngự là Phạm Bỉnh Gi được phái đi đánh dẹp, thắng được quân nghịch, tịch thu của cải và đốt phá hết doanh trại cùng cơ sở của chúng. Biết trong triều chỉ còn những tham quan, ô lại, Phạm Du cho người về kinh mang vàng bạc dút lót vu cho Bỉnh Gi đã làm những điều hung bạo, giết hại lương dân, Phạm Du lại còn xin về triều khiếu oan.
Vua Cao Tông ưng thuận đồng thời cho triệu Bỉnh Gi về kinh giam lại. Thấy chủ tướng lập được công mà mắc tội, bộ hạ của Bỉnh Gi phẫn uất đem quân vây hãm kinh sư. Cầm đầu quân sĩ của Bỉnh Gi là Quách Bốc. Mục đích của họ là phá thành cứu chủ tướng. Trước việc biến động này vua Cao Tông cho giết luôn Bỉnh Gi rồi cùng thái tử Sam bỏ kinh thành chạy lên sông Thao (Phú Thọ). Sau thái tử Sam chạy về Hải Ấp vào nương nấu ở nhà Trần Lý người láng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, phủ Xuân Trường tỉnh Nam Định.
Trần Lý là một nhà hào phú ở đây khởi nghiệp bằng nghề đánh cá và có uy thế tại địa phương. Họ Trần thấy trong nước biến loạn, có ý lo toan việc lớn nên thu thập những kẻ đã đi đánh cướp nhiều nơi. Được thái tử về trú ngụ ở nhà mình, Trần rất lấy làm mừng rỡ. Thái tử thấy Trần thị con gái Trần Lý có nhan sắc bèn lấy làm vợ rồi phong cho Trần Lý tước Minh Tự, cậu Trần thị là Tô Trung Tử người làng Lưu Xá làm Điện Tiền chỉ huy sứ. Thanh thế của họ Trần cho người lên Qui Hóa (Phú Thọ) rước Cao Tông trở về cung. Sau Cao Tông cho quân về đón Thái tử ở Lưu Xá.
Vua Cao Tông sau năm biến loạn thì mất vào tháng 10 năm Canh Ngọ (1210), trị vì được 35 năm, thọ 38 tuổi. Nhà Lý từ đời Cao Tông bắt đầu suy yếu rõ rệt.
  1. Lý Huệ Tông (1211 – 1225)
Thái Tử Sam trở về kinh đô lên ngôi tức là Huệ Tông, Trần Thị được phong là Nguyên Phi. Lúc này Trần Lý bị giặc cướp giết nhưng con thứ là Tự Khánh vẫn nắm giữ được binh quyền. Huệ Tông phong cho Tự Khánh làm Trung Tín Hầu, cậu Tự Khánh là Tô Trung Tử làm Thái Úy Thuận Lưu Bá, Trần Thừa làm Nội Thị Phán Thử. Huệ Tông là một ông vua nhu nhược luôn bệnh hoạn, lại không am hiểu chính trị, mọi việc trong triều đều giao cho an hem chú bác họ Trần quyết định. Vì vậy ảnh hưởng của họ Trần trong triều mỗi ngày một lớn khiến bà Thái Hậu sinh nghi. Năm Quí Dậu (1213) bà Thái Hậu thường dày vò Trần Thị luôn. Tự Khánh đem quân đến kinh đô xin rước vua đi. Vua cũng ngờ Tự Khánh làm phản rồi giáng Trần Thị xuống làm Ngự Nữ. Tự Khánh thân đến xin lỗi. Vua và Thái Hậu bỏ đi Lạng Sơn để đề phòng sự bất trắc. Lần nữa Tự Khánh đến xin rước vua, vua lại đưa Thái Hậu di cư sang huyện Bình Hợp. Sau này Thái Hậu lại đòi vua bỏ Trần Thị, Huệ Tông không nghe. Thái Hậu định bỏ thuốc độc cho Trần Thị, Huệ Tông phải san xẻ bữa cơm của mình cho Trần Thị và không xa Trần Thị một bước. Sau này Thái Hậu bức bánh quá, Huệ Tông và Trần Thị lẻn trốn Thái Hậu về trú ở nhà tướng quân Lê Mịch ở huyện Yên Duyên rồi cho tìm Tự Khánh vào chầu. Từ đấy thế lực họ Trần lại mạnh hơn trước. Năm Kiến Gia thứ 6 Trần Thị được phong làm Thuận Trinh Phu Nhân, sau được tôn làm hoàng hậu. Tự Khánh làm Thái Úy Phụ Chính cùng Phan Lân tổ chức quân sự luyện tập quân đội, sửa sang võ bị. Tháng Chạp năm Quý Mùi (1223) Tự Khánh mất, Trần Thừa đặc cách thăng Phụ Quốc Thái Úy và em họ Trần Hậu là Trần Thủ Độ được lĩnh chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, một địa vị quan trọng bậc nhất thời bấy giờ.
Huệ Tông thường ốm đau, điên dại, rượu sau liên mien suốt ngày. Trần Thủ Độ xét định mọi việc triều chính. Ngôi sao của Thủ Độ mỗi ngày một thêm sáng. Vương quyền của họ Lý mỗi ngày một lu mờ, nhất là Trần Thủ Độ dụ được Huệ Tông khoác áo hòa thượng vào tụng kinh, niệm kệ trong chùa Chân Giáo.
Huệ Tông chỉ sinh được hai gái. Người chị là Thuận Thiên Công Chúa đã gả cho Trần Liễu, con trưởng của Trần Thừa. Em là Chiêu Thánh Công Chúa (tên chính là Phật Kim) mới lên 7 tuổi, Huệ Tông yêu dấu hết sức. Tháng 10 năm Giáp Thân, Huệ Tông truyền ngôi cho Chiêu Thánh Công Chúa.
IX. Lý Chiêu Hoàng (1225)
 
Chiêu Thánh Công Chúa lên ngôi, tức là Lý Chiêu Hoàng. Quyền hành của nhà Lý giờ phút này nằm gọn trong tay Trần Thủ Độ, vì Huệ Tông bị gặt hẳn ra ngoài chính quyền. Chiêu Hoàng là gái thơ ngây bấy giờ không còn là điều đáng kể cho thời cuộc nữa.
Chương trình đem họ Trần thay họ Lý đã thi hành được một phần quan trọng; nay chỉ còn lấy hẳn cái ngai vàng của họ Lý là xong. Thủ Độ vốn đã tư thông với Thái Hậu Trần Thị liền bày cách cho con các quan vào cung hầu Chiêu Hoàng. Đó là dịp mở lối cho Trần Cảnh là con Trần Thừa vào nội điện làm chức Chính Thủ, một vị quan mới lên 8 tuổi, nhỏ nhất triều đình bấy giờ. Trần Hậu làm nội công nên Thủ Độ tính đến đâu xong đến đó.
Tháng Chạp năm Ất Dậu (1225) Trần Hậu và Thủ Độ đứng ra làm chủ hôn cho Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh, rồi chiếu hạ giá do tay Thủ Độ ban bố ra.
Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (1225) Trần Cảnh lên ngôi sau khi bản tuyên ngôn của hoàng triều bay ra khắp thiên hạ. Các quan lớn nhỏ đều tỏlòng công phẫn nhưng vì thế lực họ Trần quá mạnh nên họ đành thúc thủ.
Quần chúng lưu luyến tiền triều trong dịp này có lời khẩu chiếm dưới đây:
Trống chùa ai đánh thùng thùng
Của chung ai khéo vẫy vùng nên riêng.



[link=#_ftnref1][1][/link] Từ Khâm Châu lên Ung Châu đường dài khoảng 120 cây số.

[link=#_ftnref2][2][/link] Kế thổ công là cho đất vào bao rồi xếp bao cao thành đống làm thang leo vào thành; Hỏa công là bắn tên nhựa có lửa cháy vào thành, biết rằng trong thành đang bị khô hạn.

[link=#_ftnref3][3][/link] Bọn dân bị bắt làm tù binh được trở về Tàu năm 1079.

[link=#_ftnref4][4][/link] Với chữ “Giao Chỉ” người Tàu còn quan niệm ta vẫn ở trong vòng lệ thuộc của họ.






Đăng nhập để trả lời
0