📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đời tỷ phú - Pierre Rey 🔒

38 trả lời, 254 lượt xem — Trang 2 / 2
30
 
Người thủy thủ thấp lùn không nhịn được, bật cười phá lên khi bà già đến mời ông nhảy. Bà già nài:
- Chỉ nhảy một tí thôi, chàng đẹp trai ơi!
Người thủy thủ càng cười dữ!
- Không, cám ơn, không nhảy tango!
Bà già trợn tròn đôi mắt bất bình:
- Không nhảy tango? Anh lại nở từ chối với một người ở tuổi tôi cái niềm vui cuối cùng ư?
Bà có một cái mũi khoằm rất đồ sộ và son môi tràn xuống đến tận cằm! Mắt bà long lanh, được những nét rimmel đen nhánh tô đậm lên. Những quần áo cũ rích trên người bà nom buồn cười. Qua cổ áo để hở, người ta nhận thấy cái móc của quai nịt vú. Chân với bắp chân to tướng thì đi bít tát len màu đen. Vẫn cười, người thủy thủ đứng lên rồi đến ấp vào người bà. Ông cao hơn bà già một nửa cái đầu. Họ lao vào những bước nhảy phức tạp, cổ lỗ, quay cuồng, bắt chéo chân vào nhau, lần lượt ngả người xuống tận đất, ngược chiều lại với hướng quay trong của họ. Nut vỗ tay:
- Hoan hô! Tôi tuyên bố cả hai ngoại hạng trong cuộc thi!
Người thủy thủ cúi xuống bà già và khoái trá nói thầm với bà:
- Ôi! Socrate! Ông ngộ lắm sao!
- Anh có thích không, chàng trai thân mến của tôi?
- Thật tuyệt vời!
Bà già kết luận, giọng nghiêm trang.
- Cô thấy rõ là tôi đã thắng nhé! Cô biết đấy, Peggy ạ, cô sinh ra đời là để cho sự sống, không phải cho tang tóc và nước mắt.
Đêm tháng Năm hơi lành lạnh, nhưng dạ hội mở ở trên boong chiếc Phi Mã. Đây là buổi cuối cùng. Ngày mai, Peggy đã phải trở về với cái nhà tù Mỹ vàng son của cô rồi. Từ sau cái chết của Scott, toàn thể nước Mỹ đã chuyển cô vào hy vọng và niềm tin mà trước đây cô đặt nó vào ông Tổng thống tương lai của cô, không có chuyện coi bà vợ góa của ông là một người đàn bà, mà coi là một biểu tượng.
Peggy sẵn sàng phớt không cần một cái nhãn như vậy. Từ nay mọi cái làm nên niềm yêu đời của cô đều đã bị gạt ra khỏi thời khắc biểu của cô. Không còn nữa, chuyện la cà hàng giờ trong các tiệm may quan trọng, mở các buổi dạ hội điên loạn với những người ngộ nghĩnh hay dị kỳ, phất phơ lượn phố, hay vớ vẩn hơn, để một anh bạn kèm bên tới những nơi biểu diễn. Cô từng hóa thân thành một tinh thần tiên phong nào đó, thì bây giờ rút lại thành một người phải nghe người khác kể cho những gì đã xảy ra tại chính ngay thành phố của cô! Vài ba lần hiếm hoi cô mạo hiểm ra thành phố không có ai kèm bên, thì cảnh sát đã phải đến đánh tháo cho cô. Những người quá kích động kéo đàn theo sau cô, hoặc để thề với cô rằng họ sẽ trả thù cho chồng cô, hoặc để yêu cầu cô chuẩn bị lớp kế cận bằng cách dạy dỗ cho con cô trở thành chính khách. Còn gia đình nhà chồng, người ta thấy hình như việc cô chỉ làm một trinh phụ hiến mình cho sự phụng thờ kỷ niệm mà thôi là điều bình thường. Và, cô có muốn thoát khỏi sự đỡ đầu của gia đình nhà chồng thì cũng chẳng được. Người ta đã nhiều lần để cho cô hiểu rằng đời sống chính trị đòi phải có một thái độ về đời sống chính trị. Người ta không đến nỗi đề nghị cô hy sinh trên giàn hỏa thiêu trong đám tang chồng cô, giống như phong tục ở Ấn Độ, tại đó không hề có vợ góa, nhưng không đề nghị cũng bằng như đề nghị. Người duy nhất ủng hộ Peggy về tinh thần trong các thử thách không được phép chấm dứt này là Nut. Nut làm cho cô vui cười, Nut xua đuổi các chướng khí bệnh hoạn của những kỷ niệm ghê rợn của cô. Nut coi cô như là một người đàn bà. Và nhất là, Nut nói với cô về Satrapoulos. Nhà chủ tàu rất hay đến thăm cô đầy những tặng phẩm lộng lẫy, tinh tế, lưu tâm và kín đáo. Nhưng quá ư là nhiều về những sự thận trọng bao bọc lấy những cuộc thăm viếng này đã làm hư hao đi niềm vui thú lẽ ra chúng có thể mang lại được cho cô. Tại đại lộ quảng trường, muốn vào lọt tòa nhà cao tầng của Peggy bây giờ phải chìa tay trắng ra cho đám vệ sĩ của cục an ninh thực tế là đứng rải ở mỗi tầng gác và túm tụm lại trên thềm của tòa nhà. Hai lần Peggy đã lỉnh được bằng cách cải trang thành một chị giúp việc, lừa nổi các nhà báo thường trực rình mò sự đi, đến của cô. Và rồi thế là mặt trời, là tự do! Một cái vỗ cánh, cô đã ở giữa cái ánh sáng nổ vỡ chói chang của hòn đảo Hy Lạp, gần như trần truồng, không lễ tiết, không phải kiểm soát lời ăn tiếng nói, làm bạn hàng ngày thì có một người đàn ông gỡ bỏ cho cô mọi trách nhiệm, mọi ưu tư, và hình như nghĩ tất cả cho cô. Thế lực hùng mạnh là một điều hay ho, khi mà nó không mở rộng ra tràn lan thái quá đến mức người nắm giữ nó trở thành nô lệ của nó. Ở trên chiếc Phi Mã, chỉ việc thả dàn ra sống và để cho chiều chuộng. Hai chuyên bỏ trốn đi - hai lần duy nhất từ ngày cô góa chồng - đã làm cho cô nuối tiếc đến nỗi cô dại dột kể lại cho các cậu em chồng nghe. Họ đều phản ứng giống như Scott:
- Sao chị lại có thể dính vào cái tên nước ngoài hãnh tiến ấy được cơ chứ?
Hôm nay, lần thứ ba trong năm năm, cô ta được hưởng chuyến trốn nhà đi mà Socrate với sự đồng lõa của Nut đã bố trí cho cô. Trong lúc Socrate rót rượu cho cô, cô nói thầm với ông trong một tiếng thở dài:
- Có lẽ tôi muốn sống hết đời tôi ở trên chiếc tàu kỳ diệu này...
Socrate suýt trả lời rằng việc đó là do cô quyết định nhưng ông kìm lại được, thích nói bằng một công thức mơ hồ:
- Nó hoàn toàn trong tay cô sử dụng, dù có hay không có tôi.
Lúc ấy ông ngỡ như nghe thấy, nhưng có thể làm ông lầm, bởi vì Peggy nói câu ấy thầm thì trong một hơi thở nhẹ.
- Tôi thích là có ông.
Ông không xin cô nhắc lại, nhưng khi cô ngỏ ý muốn đi chơi bằng ca-nô thì ông chắc chắn rằng ông đã không bị một huyền ảo nó lừa. Không mất công đổi bộ quần áo nhà nghèo ra một bộ nịnh người hơn, ông kéo luôn cô xuống chiếc xuồng máy vừa được người ta hạ xuống biển. Không suy tính trước, ông nghe thấy miệng ông ra lệnh cho viên sĩ quan lái xuồng hãy trở lại lên tàu:
- Tôi lái lấy! Tôi thích như vậy.
Khi họ ra đến ngoài khơi, ông tắt máy, đến ngồi cạnh Peggy và nhìn các vì sao, nhắc lại với cô điều Menelas đã bảo cho ông biết tám năm về trước.
Chị đang ở Rio để độc tấu và chị...
- Anh nghĩ gì vậy? - Peggy hỏi.
Câu trả lời kinh điển của những người bị bắt quả tang đang nghĩ đến chuyện khác:
- Đến cô.
Cô ngả đầu vào vai ông. Bàng hoàng, ông không dám làm một cử chỉ nào sự làm tan biến mất điều kỳ diệu.
Peggy đặt tay lên bàn tay ông rồi thở dài với vẻ nuối tiếc:
- Đáng tiếc...
- Gì vậy chứ?
- Là tôi không thể gặp anh luôn như tôi vẫn mong muốn.
- Cô vẫn muốn như thế?
- Không lúc nào không!
Phải hành động, trừ phi là một tên lạc hậu mạt hạng, phải là hành động. Cũng sợ sệt tựa hồ đây là nữ hoàng nước Anh vậy, Socrate run run đưa hai tay lên ôm lấy mặt cô. Ông ngạc nhiên thấy cô đưa môi ra cho ông trước. Vụng về trả lại cho cô cái hôn đầu tiên đó - ông không bao giờ hy vọng được như thế - ông có cảm tưởng phạm thượng là đã ôm hôn tất cả nước Mỹ, thông qua cái công trình nổi tiếng nhất của các công trình quốc gia nước đó. Nhưng nước Mỹ sống động hơn lên, hình như nó thậm chí lại còn có một sự chậm trễ nào đó vì sự âu yếm và mức độ phấn khích của nó không để cho còn phải nghi ngờ một chút nào nữa về tính xác thực của cái vỏ bọc bằng da thịt của nó. Cô gỡ ra và thầm thì bằng một giọng trách móc, giễu cợt:
- Tôi xin bà!... Bà làm mặt tôi vấy son môi mất...
Câu nói đùa làm cho Socrate nhẹ nhõm đi một chút:
- Anh hãy thử tính xem, ngộ như chúng ta bị đắm! Anh là thủy thủ, tôi thì là bà già không đúng đắn! Những người cứu chúng ta sẽ nghĩ sao!
Số đào hoa không thể ngờ nổi của ông làm cho ông ngẩn ngơ, ông đã mạnh bạo để cho đầu ông trượt trên ngực áo Peggy mà hai bầu vú làm cho lần vải căng phồng. Ông không động đậy, vùi say bởi mùi thơm của người cô. Đằng xa, những ánh đèn của chiếc Phi Mã nhấp nháy, hình như được thắp sáng lên cho một hội vui bí mật, không mục đích, mà thình lình Socrate chợt hiểu ra ý nghĩa: đêm đen, con tàu của ông, các vì sao, những cố gắng và những vật lộn của ông, sự vươn vọt lên nhanh ghê gớm của ông, tất cả những gì đã xảy ra từ trước cái giây phút phi thường này, cái giây phút đang ghìm ông lại bất động ở trong cuộc vận động vĩnh hằng của các vì tinh tú, tất cả cái đó đã được ghi trong lô-gíc ngã nghiệt của một số phận - số phận ông - tất cả cái đó chỉ diễn ra cốt để chuẩn bị tốt đẹp hơn, cho cái khoảnh khắc mãnh liệt trong đó ông cảm thấy ông ngang hàng với Thượng đế, bất tử này.
Có điều, đáng lẽ cầu nguyện như ông vừa thoáng có ý đó thì ông đã dám lấy đầu ngón tay xoa lên bờ cong mềm mại của hông Peggy trong khi để cho đầu ông trượt hẳn lên ngực cô. Cô lùa tay vào tóc ông, trong một động tác mềm mại và liên tục mà sự thong thả quá đáng đã làm cho các cảm quan của ông bị kích thích đến cao độ. Đôi khi đầu ngón tay búp măng của cô lạc đến tai ông, lượn quanh, nhè nhẹ men theo những đường lượn, trước khi rúc sâu vào lỗ tai.
Cô cười nói:
- Anh thử xem liệu các thủy thủ của anh có nhìn thấy chúng ta không?
Thay vì nói không, ông lắc lắc đầu, không hề thốt được ra một lời, hoảng sợ vì sự bí ẩn của việc cô có mặt ở đây. Ông mơ màng... Một cử chỉ, chỉ phải làm có một cử chỉ mà thôi. Có thể cô sẽ giúp ông chăng? Tất cả rất là đơn giản. Chiếc xuồng bắt đầu tròng trành như một chiếc thuyền cũ kỹ điên rồ bị cơn báo xô lắc, tuy trên mặt biển không hề có một gợn sóng nào...
Peggy cúi vào Socrate:
- Anh thật sự chắc chắn là không ai ở trên tàu có thể nhìn thấy được chúng ta chứ?
* * * * *
- Bây giờ đủ rồi nhé!
- Một lần nữa thôi!... Lần cuối cùng.
- Không, trò chơi này như cứt! Em không hay lắm!
- Nếu em bắn trúng thì bố anh sẽ dìm chết mụ ở giữa biển, trong chiếc pi-a-nô của mụ. Nếu em bắn trượt...
- Thế nào, nếu em bắn trượt thì thế nào?... Thế còn anh?...
- Anh không thế nào cả? Bắn trúng vào đầu thì tương lai của anh mờ mịt...
- Thông minh đấy... Được, làm đi!
Achille từ từ đưa khẩu carabine lên vai. Cách anh mười mét, Maria đứng im, sát vào tường của một gian nhà để tàu, đặt thăng bằng ở trên đầu cô một pho tượng nhỏ Nữ đồng trinh Maria bằng thạch cao, không to hơn một người lính chì:
- Sẵn sàng chưa?
- Nhanh lên anh, kìa!
- Cẩn thận đấy! Cấm động đậy nữa...
Achille bóp cò. Pho tượng tan tành. Maria lắc lắc người làm cho mái tóc dài đen của cô xổ ra như thác và từ đó một vài mảnh thạch cao rơi ra. Achille đến gí mũi vào bức tường xem các chỗ anh bắn vào trước đây. Từ bé, em gái anh và anh rất mê cái trò chơi chết người mà hai người đặt cho cái tên “Phán xử Thượng đế” này, cái trò đòi mỗi người phải có một sự lì lợm tuyệt đối cộng thêm sự coi khinh hoàn toàn cái chết. Cũng có lúc hai anh em chơi cả trò ổ đạn xoay Nga La Tư [1]. Cho đến nay, Maria luôn luôn bị mất tinh thần trước, trừ cái hôm để thử thách anh và xem anh có bịp không, cô đã bỏ viên đạn duy nhất ở khẩu súng lục sáu phát ra nhưng không cho Achille biết. Lần lượt họ chĩa súng vào thái dương mình và bóp cò... Maria... Achille... Maria... Achille... Maria... không có kết quả nào khác ngoài tiếng kim hỏa đập khô khan vào rỗng không. Đến lúc đó, viên đạn không tránh khỏi nằm trong lỗ thứ sáu và là lỗ cuối cùng của ổ đạn xoay. Rõ ràng là Achille biết điều đó. Anh cũng biết rằng, may mắn một phần triệu thì mới không còn viên đạn nào. Anh đã nhìn một cách thách thức cô em gái lúc này chằm chằm soi mắt vào anh với vẻ chế giễu. Rồi, không do dự, anh chĩa nòng khẩu Colt vào giữa trán anh. Và bắn!...
Bàng hoàng, Maria lắp bắp:
- Kìa, anh điên à! Nếu em không bỏ viên đạn ra thì sao?
- Tại sao em làm thế? Anh không thể biết được việc đó!
- Rõ điên! Anh tưởng em sẽ để anh làm như thế nếu em biết là súng có đạn ư?
- Thì sao? Cái ấy thay đổi được gì nào?
Cả hai đều được các cô bảo mẫu đầy những bằng cấp hay ho nhất nuôi dưỡng.
Bất cứ ý thích nào của hai anh em cũng đều được thỏa mãn luôn luôn, điều làm cho chúng buồn và không có mơ ước. Vì tên của chúng, người ta đã tránh cho chúng khỏi phải đến trường học. Để làm gì, khi những giáo sư giỏi nhất đến tận nhà dạy cho chúng cơ man là điều? Chúng co lại vào bản thân chúng, tìm kiếm sự nguy hiểm và thiếu mất lòng âu yếm, trìu mến. Việc bố mẹ ly dị đã làm cho chúng trở thành những đứa trẻ khó tính. Chúng ít thấy bố mẹ, chúng chỉ thỉnh thoảng gặp bố mẹ, ở trong những biệt dinh khác nhau, trên những du thuyền khác nhau, giữa hai chuyến máy bay, hai đam mê hay hai vụ kinh doanh làm ăn. Lúc mười tuổi, một đứa trẻ không bao giờ thú thật ra những nguyên nhân lo âu của chúng. Đặc biệt có năng khiếu, Achille và Maria cũng không ra ngoài quy tắc đó: chúng hiểu tất cả những cái uy hiếp sự yên ổn của chúng, không nói điều đó ra bằng lời mà bằng những hành vi ngày càng gây gổ, hung hãn. Ở chỗ mà những người lớn tuổi nó là “ngông càn” thì một nhà quan sát quan tâm là hiểu biết có lẽ sẽ dùng chữ “cùng quẫn”. Quá bất lực không ngăn được bố mẹ bỏ nhau, chúng đã cố làm cho cả hai đều không bước đi bước nữa - về phía mẹ thì uổng công toi! Bố chúng đã có lời hứa long trọng với chúng về chuyện đó. Ông đã giữ được tám năm. Bây giờ, vì con mụ đánh dương cầm ghê tởm kia, ông sắp xé bản hiệp ước...
- Nếu bố lấy mụ ta!...
- Anh sao?
- Cứt! Em lại sắp bằng lòng cho cái bà ấy vào ở với chúng ta đấy! Mẹ sao?...
- Mẹ có cuộc sống ở phía mẹ rồi...
- Tất cả các cái bậy bạ mẹ làm đều là do lỗi của bố!
- Anh nói quá...
- Em nói thế! Bọn con gái chúng mày buồn cười lắm! Khi thấy bố chiều chuộng cái mụ cằn nhằn ấy...
- Không bà ấy thì người khác... Anh tưởng bố đã khá lớn để sống được một mình đấy...
- Thế chúng mình, chúng mình có sống một mình không? Anh đây?
- Hừm... Anh ấy ư? Về vấn đề mụ cằn nhằn thì...
- Em nói cái ấy cho ai?
- Chả cho ai cả... Ngoài cái việc chị ấy đáng tuổi mẹ anh...
- Con ngốc tội nghiệp!... Làm như em có thể nhận xét được Joan ấy! Chị ấy hơn em một đầu!
- Chuyện! Những bốn mươi tuổi!
- Ba mươi bảy! Thế thì sao? Cái đó không ngăn được chị ấy làm lu mờ những người khác!
- Nếu tên anh không là Satrapoulos, bà ấy sẽ không nhìn anh như thế đâu!
- Em không biết, chị ấy cóc cần tiền nhá!
- Vâng...! Vâng...!
- Thế bọn con trai của em thì sao?... Ái chà! Đều hay lắm! Mỡ nhiều hơn cả tóc!
- Đó là chuyện của em. Em ghét bọn ranh con.
- Trước tiên bọn con trai chúng nó phải nhìn em đã chứ! Nhưng thôi! Nếu em không đồng ý, anh cũng mặc kệ!
- Bà ấy bao giờ về?
- Anh mong là đừng bao giờ cả! Bà ấy chết quách đi! Anh không muốn cái đám cưới ấy. Bố phải là một người bạc nhược mới thế!
- Bà ấy đi đâu?
- Chẳng biết nữa, đến chỗ người Papou thì phải, anh cóc cần biết!
- Thế bố?
- Em có biết được không? Bố có tâm sự với em không?
- Có thể là bố đi với bà ấy!
- À không. Bà ấy kiếm cơm một mình bà ấy! Nào đi lên đi, anh có một cuộc hẹn!
- Joan à?
- Dính đến em ư!
- Ơ kìa, kìa!... Xin lỗi! Em xin lỗi đi!...
- Em đi chải đầu lại đi, như thế em sẽ xinh hơn! Đầu em đầy những thạch cao kìa! Anh ta lại tưởng em đã ngủ với một bộ xương hóa thạch có hàm răng giả ở chỗ đất lở đất sụt nào.
- Đồ tồi! Anh sẽ biết tay em!
Maria vờ giận dữ đuổi theo Achille, lấy lệ thôi. Anh ở đằng trước cô những mười mét rồi, cô không sao đuổi kịp anh nữa! Achille chạy thì vô địch.
Vả lại nói thật ra ai mà thắng nổi Achille, và thắng làm gì? Anh của cô là nhất về mọi mặt.
* * * * *
Socrate đã thuyết phục được Peggy ở lại thêm hai ngày. Mục đích: một đêm ở Paris. Ông đang hoàn toàn mê mê mẩn mẩn vì cái thắng lợi kỳ diệu mà ông mới thu được. Người ta thường nghĩ sai về sự vật. Ông đã tích lũy một loạt các chiến thuật để sẵn sàng quyến rũ được Peggy, một ngày nào đó - nếu như có bao giờ cái ngày đó đến với ông... Tất cả đã diễn ra bất ngờ... Trong thực tế, Peggy chính ra đã là người săn đuổi. Con người không thể nào lọt đã biến thành kẻ đi săn, khiêu khích con mồi của mình. Những bài học thôi miên của bác sĩ Schwobb tỏ ra vô hiệu. Dĩ nhiên, ông không tưởng tượng nổi rằng những ngày ân đức này rồi lại có được một sự tiếp theo. Bất kỳ ở đâu, bất kỳ làm gì Peggy luôn luôn bị kiểm soát ngặt nghèo, ông thì cũng vậy. Menelas chỉ miễn cưỡng rời xa ông thôi, đôi khi từ chối cả những hợp đồng ngon ơ để được theo ông nhiều hơn. Thỉnh thoảng ông phải khuyên chị đừng xao nhãng sự nghiệp. Chị cười vào mũi ông, viện cớ rằng đời sống nghề nghiệp của chị không nặng đồng cân bằng đời sống riêng của chị. Socrate cảm thấy có phần nào khó chịu, vì điều đó. Olympe không cụ thể yêu cầu ông một cái gì cả, nhưng về tinh thần, ông cảm thấy bị buộc phải làm cho chị tất cả những gì chị không đòi hỏi ra lời. Ngày một, ngày hai ông cần phải chính quy hóa mối quan hệ đang làm cho đám báo chí chuyên sục vào những chuyện tình sướng rơn này, và chính quy hóa nó cả ở phía các ông linh mục nữa. Chắc chị sẽ không nói không. Còn Peggy, những suy tính quá cao về chính trị vẫn cứ ngăn cản cô ta sống với ông. Người ta có thể ngủ với cô ta, nhưng cưới cô ta thì không bao giờ.
Tối qua, họ đi chơi trên bờ sông Seine vào khoảng hai giờ sáng. Socrate đội một chiếc cát-két và mặc một áo khoác ngoài loàng xoàng, Peggy thì giấu mặt sau một cặp kính to đùng trèo lên trên chiếc khăn quàng mà cô buộc thấp xuống dưới chân tóc. Nếu một anh nhà báo nhận được ra họ thì vận may của họ đi tong. Socrate đã tưởng tượng ra các đầu đề... Ông mừng là không ai nhận được ra họ, nhưng đồng thời lại thầm tiếc rẻ là không xảy ra điều đó. Thật ra ông có thể kêu váng lên ở khắp nơi cái tin đó: “Tôi đã chộp được Peggy Baltimore!” và sẽ có tiếng vang đáp lại: “Hoan hô!” Dù sao, ông tin vào sự trống mồm trống miệng bẻo lẻo của đám thủy thủ chiếc Phi Mã, họ chắc chắn nhận thấy là có chuyện gì kín kín hở hở đây. Một người chuyên cưa gái và một người đàn bà đẹp không có chồng ngồi ban đêm trên một chiếc xuồng ở tít tận ngoài khơi để nói chuyện về chủ nghĩa cấu trúc rồi. Chóng thôi, tin đồn về số đào hoa của ông sẽ lại qua những người thân thiết mà lọt vào tai ông. Lúc đó, ông sẽ có thể đóng vai nhân vật ông ưa thích, làm ra vẻ ngạc nhiên đau khổ và chối. Ông càng chối, người ta càng ít tin ông: thật giỏi ghê! Dĩ nhiên ông muốn đưa Peggy đi một loạt la cà hết các quán rượu đêm, cho mọi người thấy cô, để cho họ biết là cô đã vào tay ông, cười với ông và thầm thì những gì vào tai ông. Không có cái gì là hoàn mỹ hết đâu.
Ông nhìn đồng hồ, đã mười một giờ đêm, ông phải đi. Ông đã dành cả một chiếc Boeing cho cô hành khách duy nhất của nó đi Mỹ. Lẽ ra ông đã đi cùng, nhưng ngày mai Menelas sẽ từ Rio về đây mất rồi. Điều này, ông không nói với Peggy. Ông đứng dậy và đến khe khẽ gõ cửa phòng cô. Cô mở cửa, đáng yêu trong bộ đồ bằng da đáng kinh ngạc, nước da tươi mát và trong trẻo tựa hồ như cô chưa hề làm tình trong suốt ba ngày qua vậy.
- Tôi đã sẵn sàng.
- Được, nếu cô muốn thì, ta đi!
Trong lần ở Paris ngắn ngủi ấy, ông đã thu xếp cho không một gia nhân nào vào gặp mặt cô. Ông đầu bếp đã được dặn là để một chiếc xe đẩy đầy thức ăn quý giá và đồ uống sang trọng ở trong hành lang trước cửa phòng hai người.
Sau khi ông ta đi rồi. Socrate hé cửa ra, lôi cái xe vào, khóa trái cửa lại và nhét kín lỗ khóa - hôm nay nhét bằng mẩu xi-líp của cô. Socrate không tin đám người làm của ông ở Paris. Bà Norbert, quản lý của ông, đã nhận được quy định là không được ném tiền qua cửa sổ. Bà làm theo hướng này quá dữ dội đến nỗi trong năm, toàn bộ gia nhân của ông, kể cả người nấu bếp đã xin thôi việc, trong không khí có mùi vị khó ngửi của công đoàn, của hỗn xược, và yêu sách. Lyndon chơi trò anh hùng rơm ở Việt Nam, de Gaulle quá gay gắt, tiểu vương lên nước và làm càn, và chứng khoán không ra trò! Trong không khí này mà đòi có đầy tớ đúng kiểu cách như thời cổ ư?
Đến thềm đầu cầu thang, Peggy ngoái nhìn lần cuối cùng căn phòng:
- Ai biết là liệu tôi có còn nhìn thấy lại nó không?
- Nếu cô muốn thì xong thôi!
- Thôi đi nào!
- Thôi đi!
Một cách bản năng, Socrate đưa tay lên túi quần bên phải. Ông yên tâm bởi tiếng sột soạt của tập giấy bạc to tướng. Cùng cử chỉ ấy ông sờ sờ vào bên trong áo và cảm thấy cái bướu của hộp đựng món tặng phẩm cuối cùng ông sẽ biếu cô lúc cất cánh. Một trò bất ngờ cuối cùng làm cho ông tốn mất một triệu đô-la, một viên đá quý kỳ diệu hình quả lê, trước kia là vật sở hữu của dòng họ Habsbourg mà Peggy được xem cái kỳ quan đó trong một tạp chí nghệ thuật đã tán dương với ông những cái hay của nó. Trừ phi cư xử như một thằng thô lỗ, ông không thể nào làm kém hơn được là tặng nó cho cô, coi là kỷ niệm của lạc thú khác thường họ đã cùng chia xẻ với nhau. Ông bấm nút cầu thang máy. Ở bên dưới chắc là có người nào đó đã vào trong thang máy rồi.
- Chúng ta đi bộ xuống vậy. - Peggy nói.
Cô đi trước ông. Giữa tầng hai và tầng một, Socrate gặp chiếc thang máy. Ông kinh hoàng nhận ra hình dáng của Menelas. Mê đi, ông đã quay mặt bởi phản xạ, đúng vào lúc “con báo” nhìn về phía ông qua tấm cửa kính của căn phòng bọc da. Việc đó chỉ kéo dài trong một phần giây. Chị đã thấy ông chưa? Ông xuống vội cầu thang, đuổi theo Peggy đã tới tầng đất, chắc chắn nghe thấy Menelas đang gọi ông ở trên kia. Như bị ma đuổi, ông đẩy Peggy vào trong chiếc Rolls mà chính tay ông mở cửa ra - tài xế đã được lệnh cứ ngồi ở tay lái và bất kỳ thế nào cũng không quay đầu lại.
- Nhanh, Louis, chúng ta muộn rồi đấy!
Òng ngồi mọp trên ghế, tim đập mạnh, cậu bé con trốn tránh cặp mắt của Peggy mà ông đã nhận thấy vẻ ngạc nhiên ở trên mặt. Trên xa lộ, ông nhẹ người được đôi chút, tuy nhiều lúc ông không thể cưỡng nổi cái ý muốn quay đầu lại, xem có bị đuổi theo không. Thật phi lý, ông biết thế, nhưng ông không thể nào làm cách khác được. Để cho nỗi bối rối, hay đúng hơn để cho nó có một động cơ, ông lấy ở trong túi ra chiếc hộp đưa cho Peggy:
- Cái này cho cô đấy! Cấm mở trước khi cô ở trên cao mười cây số!
- Gì thế? Ồ, tôi xin anh, anh cho tôi xem!
- Không có chuyện ấy, nếu không thì tịch thu?
Peggy khẩn khoản:
- Socrate!...
- Không!
- Tôi thề với anh là tôi không thể giữ được đến lúc ấy đâu!
Cô nài nỉ làm cho ông khoái, mơ tới phản ứng của cô lúc cô phát hiện ra món trang sức duy nhất trên đời. Ông yên chí thấy Louis theo đúng chỉ thị của ông đã xoay chiếc kính hậu để cho anh ta không thể nhìn thấy cái gì xảy ra ghế sau.
- Được... Cô thắng rồi! Cô mở ra đi... Nhưng với một điều kiện.
- Điều kiện gì?... Điều kiện gì?...
- Một cái hôn!
Peggy ôm chầm lấy ông, lấy đầu lưỡi lách mở miệng ông ra. Đồng thời, ở sau lưng Socrate, hai tay cô níu lấy nhau khẽ quay cái chốt đóng chiếc hộp, chiếc hộp hé mờ để lộ ra cô thấy khối lượng dị thường của món nữ trang. Kinh ngạc, cô lấy đầu ngón tay đậy nó lại, kín đáo như lúc mở, trở về hoàn toàn với cái hôn mà do cơn xúc động, thình lình dữ dội hơn lên. Hết hơi, cô buông miệng Socrate ra. Ông khẽ nói thì thầm:
- Bây giờ cô có thể mở ra xem đi...
- Thật chứ? Thế nếu tôi muốn tiếp tục hôn anh thì sao?
Cô phóng vào ông hai con mắt lóng lánh mà các cây đèn đường cứ hai giây một lại chiếu sáng lên. Cô kéo dài niềm vui ra:
- Anh nói trước cho tôi biết là cái gì đã!
- Cô đoán xem...
- Một đồ nữ trang?
- Đúng.
- Một cái trâm?
- Không!
- Một cái vòng?
- Không.
- Bằng vàng?
- Không!
- Những hoa tai bằng bạch kim?
- Không!
- Thế thì chịu chết!
- Cô mở ra đi!
Cô kéo cái chốt của chiếc khóa nhỏ xíu. Viên kim cương kỳ ảo, náu trong làn nhung màu tím đêm, ánh lên hàng nghìn ngọn lửa. Peggy nín bặt, bàng hoàng. Lần thứ hai tận mắt nhìn thấy làm cho cô ngơ ngẩn hơn lần trước.
- Thế nào? - Socrate nói.
Con mắt Peggy hình như to ra ghê gớm. Cô ta lắp bắp:
- Tôi mê!... Không thể có được...
- Có là mấy so với sắc đẹp của cô... - Socrate vênh vang lên.
- Ôi! Socrate!...
Cô ôm choàng lấy cổ ông rồi hôn lấy hôn để. Tiếng chiếc xe phanh kít báo cho họ biết đã đến nơi.
- Socrate!... Bao giờ?
- Đêm lẫn ngày, bất cứ khi nào cô muốn, bất cứ cô ở đâu. Cô gọi dây nói theo cái số tôi đã cho cô. Dù ở đâu tôi cũng nhận được tin cô sau đó mười phút... ngay cả khi tôi đang lướt ván trên biển! - Ông nói thêm để làm dịu đi nỗi xúc động thật sự đang xâm chiếm ông - Và một giờ sau đó, tôi đến ngay. Peggy?
- Hử?
- Tôi có thể gọi cho cô được không?
- Bất cứ lúc nào!
Ông mỉm cười trong bóng tối...
- Cô không quên chứ? Cửa số 8, phòng chờ nhỏ. Người ta đang chờ cô. Tôi rất muốn đi cùng cô ra máy bay...
- Tôi cũng thế, tôi muốn...
Cô thật lòng. Cô hôn ông lần cuối cùng và ông cảm thấy cùng lúc răng cô va vào răng ông, một vị máu nhạt nhạt trong miệng. Cô nhảy ra khỏi xe rồi đi về sân bay, không ngoái lại.
* * * * *
Mồm sùi bọt, Irène cố nói. Tiếng cô rít qua giữa đôi môi đang sưng lên trông thấy:
- ... Thầy thuốc!...
Cô nằm trên sàn buồng, thẳng đơ, các cơ bắp giật giật, thở khó nhọc, mắt sưng húp nhắm he hé. Ngồi trên giường, Herman thở hồng hộc, tay xoa xoa một chiếc thắt lưng. Ông mỉm một nụ cười khoái trá:
- Cưng nói to nữa lên... Cô bảo cô cần một thầy thuốc hả.
Irène ra khỏi cơn mê mụ, lắc mạnh đầu. Cô nuốt nước bọt và nói khó khăn:
- ... Giấy chứng nhận của thầy thuốc... nhà tù...
Kallenberg bĩu môi ngán ngẩm:
- Cô xem cô như thế nào! Người ta làm mọi cái cho cô vui thì cô lại trách!
Cảm thấy cô sắp nổ toang ra vì thần kinh căng thẳng, rõ ràng Irène đã đẩy chồng đến chỗ không nín nhịn được để cho ông đánh cô. Bản thân cũng rất cáu kỉnh, ông cũng đã phải vất vả tự kiềm chế khi mà chuyện này bắt đầu xảy ra. Có cái tệ hơn: hàng tuần nay ông chưa làm tình với cô. Kích thích ông bằng những câu chửi rủa là tự làm cho cô bị đòn, Irène nghĩ rằng sau đó Herman sẽ ngủ với cô, như thời đẹp đẽ xưa. Cô rên lên một tiếng rồi xoa xoa cái gáy đau ê ẩm. “Con yêu râu xanh” nói với cô một cách lễ độ:
- Tôi có thể giúp cô được gì nào? Cô có muốn cho tôi đánh cô nữa không?
Cô có muốn rượu không?
- Anh... sẽ... vào nhà tù! - Cô quàng quạc nói.
Kallenberg có vẻ bị chướng tai:
- Ồ! Cô sẽ đưa chồng yêu của cô vào tù à? Đang giữa thời kỳ trăng mật ư?... Sao cô độc ác thế!
- Cút đi! Đồ rác rưởi!
- Như cưng muốn à cưng...
Ông đứng thẳng người lên. Khi đi qua cô, ông vờ vấp ngã phải người cô, điều cho phép ông đá cô một cái vào mạng sườn...
- Ô! Xin lỗi! Em yêu... Xin lỗi!
Ông đi giật lùi ra cửa, một vẻ phiền muộn chân thành tràn ra khắp mặt. Irène rúc đầu vào tấm thảm len dầy cộm, uất ức nức nở. Cô thích bị tra tấn, với điều kiện là khi kết thúc chương trình, người ta có nhã ý làm tình với cô. Nhưng có cái này mà thiếu cái kia thì không. Đó cũng cùng một quá trình giống như với muối và đường, sống và chín, nóng và lạnh vậy. Muốn để cho cô có được khoái cảm thì hai đối kháng cần phải gặp nhau, hay cùng lắm là nối tiếp nhau. Cô nặng nhọc lết đến tận bàn đầu giường, làm rơi một ống kim loại xuống và cô nuốt liền mấy viên thuốc an thần.
--------------------------------------------------
[1] Cách chơi lần lượt từng người bắn súng với ổ đạn xoay, trong ổ đạn chỉ có một viên đạn, ai không may thì trúng phải.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.02.2017 16:43:13 bởi casau>
31
 
Ở sân bay trở về, Socrate thấy Menelas đang ngồi trong phòng khách nhà ông. Chị ngồi nép trên một chiếc đi-văng rất rộng, một cốc scotch trong một tay, một tạp chí trong tay kia. Nhìn vẻ mặt tươi cười của chị, ông hiểu rằng chị không biết việc Peggy đến ở Paris. Ông đi đến hôn chị.
- Lúc nãy chúng ta gặp nhau. Em lên thang máy, anh đi bộ xuống. Em gọi anh nhưng chắc anh không nghe thấy.
- Thật là không, anh không nghe thấy gì cả. Anh ngỡ em mai mới đến.
- Em nhớ anh.
Chị buông cốc rượu, giơ lưng bàn tay vuốt má Socrate.
- Buổi độc tấu của em như thế nào?
- Như thường lệ. Còn anh, anh đã làm những gì?
- Nhảy về Hy Lạp. Anh có cuộc gặp các kiến trúc sư ở đảo. Vẫn chuyện bến tàu...
- Tối qua anh ở đây à?
- Ừ, sao?
- Một mình?
- Thế nào thế?
Mặt Menelas nhăn lại:
- Em hỏi anh là có ai nữa với anh ở cầu thang không?
- Không, không hề!
- Em đã thề là thấy...
- Làm gì có chuyện ấy...
- Có lẽ em bị một ảo giác...
- Chà!... Cái đó thường thường xảy ra...
- Đúng... Mệt mỏi... Ai thế?
- Kìa!
Chị nổi cơn đùng đùng:
- Anh cho tôi là thế nào, cái lỗ đít của thằng Hy Lạp lùn hử? Ai đó, cái con đĩ ấy?...
- Cứt! Không có ai cả! Anh có một mình?
- Thằng nói dối bẩn thỉu. Tôi đã trông thấy nó!
- Im đi hử? Nếu cô đến đây để tương ra những trò lăng nhăng ấy thì cô cứ việc đâu ở đấy, đừng đến nữa!
- Như thế hay cho anh quá! Trước mặt đầy tớ, hỏi tôi còn ra cái gì?
Dại dột, Socrate suýt trả lời rằng đám đầy tớ chính ra là không trông thấy “cô ta”. Ông kịp thời giữ lại được, tự an ủi với cái ý nghĩ là nếu “con báo” biết chuyện thì ả có khả năng quay về ngay Hoa Thịnh Đốn ngày mai để tổ chức một cuộc họp báo! Bất giác ông đưa lưỡi đi khám phá chung quanh lợi răng ông. Tùy ý ông, ông có thể làm sống lại trong miệng ông cái vị máu của nụ hôn cuối cùng Peggy trao cho ông. Có phần nào tựa như cô còn đang đeo ở miệng ông vậy.
- Anh nói hay không nào?...
Socrate tuột ra khỏi những mộng mị khoái trá của ông và nối tiếp nhau một cách phũ phàng như định mệnh, những câu ông thốt ra mà ý thức ông không hề nghĩ đến chúng, tựa hồ một ai khác đã nói thay cho ông. Câu đó bắt đầu bằng ba tiếng không quan trọng do ông trễ tràng tuôn ra, với một cái bĩu môi:
- Thật đáng tiếc!...
- Cái gì đáng tiếc?... Cái việc anh đón những con đĩ vào đây trong khi tôi nai lưng ra để kiếm sống ở đầu kia thế giới hử?
- Không phải thế, không... Em xem đấy, em trách oan anh ngay trong buổi tối anh sắp báo cho em một điều quan trọng.
- Nói ra đi, đồ nói dối!
- Anh muốn hỏi cưới em...
- Cưới tôi? Nhân vật bé bỏng tội nghiệp ơi! Ai làm cho anh tưởng là tôi muốn lấy anh đấy?
Lẽ ra dừng lại ở đây, cài số lùi, Socrate lại tiếp tục, luống cuống, nhấn mạnh - vẫn cứ là cái “ai khác” nói cho ông. Vẻ thiểu não, ông ấp úng:
- Thế nào?... Em từ chối?
- Đúng!... Làm nhân ngãi của anh tôi sẽ chết dở, lại còn làm vợ của anh nữa!... Có lẽ anh tưởng anh là một món quà sẽ làm cho tôi thích, anh muốn đền bù cho tôi tất cả những gì anh đã bắt tôi gánh chịu phải không?... Không! Tôi không thích.
Socrate rót rượu uống - chị hất bay cái bình ở trong tay ông:
- Không phải là tôi đã đi tìm anh nhá! Anh đã cướp tôi ra khỏi một người chồng yêu tôi, anh đã bêu tôi ra cho gia đình anh, con cái anh thù ghét, con cái anh chúng vạch vào mặt tôi!
- Tôi đã nói với chúng nó!
- Không đúng! Anh đã ngậm cái miệng gian dối của anh lại, đấy, anh đã làm như thế đấy!
Socrate ngày càng động lưỡi vào chỗ lợi hở của ông ở giữa những cái răng.
Thình lình, ông chán ớn!
- Chính cô mới phải im đi! Chính cô là cái lỗ đít. Tôi đã quá là tốt đối với một đứa mặt l... như cô! Cô chỉ đáng sướng rên lên với Chopin thôi!
- Chopin, ông ấy gí cứt vào anh! Đồ anh có bao giờ hiểu được ông ấy! Anh chỉ giỏi chi tiền ăn vào bọn gái điếm thôi!
- Cô là gái điếm thì có!
Chị xô vào nắm cổ ông:
- Nhắc lại câu đó!... Nhắc lại!
Không gỡ ra được, ông liền nắm lại cổ chị, làm cho hai người mũi gí vào nhau, vật lộn, quát tháo. Bị ngạt thở, Socrate giằng ra được khỏi tay của Menelas. Cùng lúc thở hắt ra, ông hét lên:
- Cô sẽ lấy tôi! Con mặt l...! Nói đi! Cô sẽ lấy tôi!
- Lấy thằng khốn! Lấy! Lấy! Lấy! - Chị hét hòa theo.
Cả hai cùng bàng hoàng, họ nhìn nhau, thở như hai cái đầu máy, ngơ ngác, đầu tóc rũ rượi. Rồi Menelas bắt đầu khóc khe khẽ. Gắng hết sức, Socrate mới cầm được nước mắt, vừa rối bời, vừa giận dữ, vừa nhẹ nhõm người. Bảy giờ lưỡi chị liếm nhanh từng miếng ngắn gọn lên má ông và chị lắp bắp:
- Bao giờ thế anh yêu?... Bao giờ?
- Tính từng ngày, đúng một tháng nữa, ở Luân Đôn... Em muốn không?
- Có, anh yêu, có... Tất cả những gì, anh muốn...
Chị giật cúc sơ-mi ông ra, vê đầu vú ông, cọ bụng vào bụng ông rồi ngã xuống tấm phản, kéo ông lăn theo. Bị đè nghẹt thở, ông mỉm cười:
- Đầy tớ thì sao?
- Cứt! Cứt! Cứt! Rồi anh xem, đồ tồi! Anh sẽ rỏ dớt rỏ dãi ra...!
Chị gừ lên một tiếng khàn khàn và ôm chặt lấy ông - rất nhanh chẳng còn gì tồn tại với họ nữa!
* * * * *
Sau buổi cầu hôn giông tố của ông, Socrate đã trải qua một trong những cơn sợ ghê gớm nhất đời ông. Ông ra sân bay Bourget để gặp, giữa hai chuyến bay, ông giám đốc một háng dầu lửa vùng Balkan vừa ở Moscou tới rồi đi châu Phi. Trong gần một giờ đồng hồ, họ đã nói dông dài về các khả năng hợp tác trực tiếp với người Nga. Socrate nhận xét một cách hài hước rằng nếu chính sách của ông ở vùng Cận Đông làm cho người Mỹ thù ghét ông thì nó sẽ không tránh khỏi mang lại cho ông nơi tiêu thụ ở Liên Xô.
Trò chơi trí tuệ, ngụy biện, con trẻ mà thôi. Trong thực tế, tình hình cực kỳ phức tạp hơn thế làm cho các đối thủ buôn bán của bạn trở thành những đồng minh nhất thời, và các đồng minh của bạn trở thành những kẻ thù hung dữ mà đôi khi lợi ích lại là chống lại chính những người góp vốn với họ, tức là chống lại bản thân họ. Nhưng ý nghĩ của Socrate không ngừng quay lại với các sự kiện tối hôm trước sắp làm cho phương hướng đời ông thay đổi. Vì hẳn hoi là ông đã hỏi vợ theo đúng phép tắc. Suy nghĩ về chuyện đó, ông đã hiểu rằng bằng việc chính thức hóa quan hệ của ông với Menelas, ông chỉ là tìm cách giữ cho chị xa ông và chống đỡ lại với bà quả phụ Baltimore. Không bao giờ Peggy thuộc về ông cả. Cô ta như phòng triển lãm quốc gia, người ta có thể đến tham quan và hưởng thụ nhưng không sở hữu được bao giờ. Cô ta không còn là một bộ phận của hiện thực nữa, cô ta đã được dấu ấn của biểu tượng ghi lên người. Chờ cho cô ta nuốt chửng ông, trong trường hợp quay lại tiến công ông thì thà xóa trước đi ở trong đầu óc ông hình ảnh cô ta vẫn là hơn.
Chiếc Rolls vượt qua Nhà thờ Hồi giáo và lướt đi dọc phố Geoffroy-Saint-Hilaire.
Có một cảnh tượng lạ lùng... Những nhóm sinh viên đi im lặng trên đường phố, bình tĩnh, tựa hồ mỗi người đều đã tự biết nơi mà mình sẽ đến nơi ấy lại là địa điểm chung của tất cả mọi người. Đến ngã tư, chiếc xe rẽ trái vào phố Jussieu. Thanh niên nam nữ trở nên đông hơn, đi thành từng cụm, nhiều cụm bước ngay ở giữa lòng đường, ngoan ngoãn tránh ra ở trước trước Rolls, không nhìn nó, thậm chí không thấy nó. Tất cả cái này hình như kỳ quặc, không có thật. Đến chân dốc, Louis rẽ sang phải, đi vào phố Fossés-Saint-Bernard để ra sông Seine, nơi chấm dứt đại lộ Saint-Germain.
- Cái gì thế? - Socrate hỏi.
- Thưa ông, tôi không biết... - Anh tài xế đáp.
Bây giờ phố đầy những nhóm người, mới đầu rải rác như những cụm bông, sau ken lại, dày đặc, tự tổ chức lại theo quy luật của dòng sông chảy một con sông càng xa nguồn càng được các nhánh làm cho rộng ra thêm. Socrate ngoái nhìn lại biển người đã khép ở đằng sau họ lúc nào không biết.
- Tôi làm cho họ dãn ra! - Louis nói.
Socrate giữ tay anh lại khi anh sắp bấm còi.
- Chớ động đậy!
Quá nhiều bản năng, ông nhận thấy ngay mối nguy hiểm đang dâng lên từ cái biển người quá phẳng lặng diễn đi không một cử chỉ, không một tiếng la ó. Qua cửa kính chiếc Rolls, ông nhìn thấy những bộ mặt hai mươi tuổi, gần mặt ông đến nỗi ông phân biệt ra được những nếp nhăn li ti trên da. Không ai có vẻ nhìn thấy sự có mặt của chiếc Rolls mà Socrate biết là rất chướng mắt trong lúc này. Đến một lúc, qua một khoảng trống, ông trông thấy ở đầu phố một đám cảnh sát đội mũ sắt, vận đồ đen, cầm một thời trung cổ và dùi cui ở trong tay như những cái cây. Socrate ngửi thấy sắp có chuyện chẳng lành. Ông có một ý tài tình, như đã có hàng trăm lần vậy, trong đời ông, ở những hoàn cảnh tương tự:
- Louis! Cát-két của cậu!
- Dạ, xin lỗi?
- Bỏ cát-két ra, đồ ngu! Giấu nó đi!
Vừa nói ông vừa tháo ca-vát vất nó xuống dưới chân, phanh cổ áo sơ-mi ra, dựng cổ áo ngoài lên, và xoa tóc cho bù xù lại. Cái thứ cải trang của ông đã cho phép ông trong một giây làm được một việc biến hình triệt để bằng cách bỏ cặp kính đồi mồi to thô lố của ông ra. Bây giờ nom ông giống như bất kỳ một viên chức nào của các Bộ, người trạc trung niên, hơi cũ kỹ, hơi mệt mỏi:
- Chỗ nào rẽ được thì rẽ! Thoát ra khỏi!
- Thưa ông, không có phố!
- Rúc vào nhà để xe, bên trái ấy!
- Nó đóng ạ, thưa ông.
Lúc ấy, Socrate nhận thấy tất cả cửa sắt các ngôi hàng đều đã được hạ xuống. Thật đáng sợ: ông đang mắc kẹt trong một chiếc Rolls ở chính giữa một dòng thác người biểu tình mà những đợt sóng đang đến đập vào một bức tường những cảnh binh đặc biệt chống bạo động! Không có lối ra! Không có một khả năng nào lọt thoát, không gì hết! Chiếc xe lăn theo bước chân các sinh viên có vẻ như không nhìn thấy nó, bu kín vào cửa vào sắt chắn trước xe, thành một thứ hộ tống cho cái vật khiêu khích này. Càng ngày càng căng thẳng, Socrate phóng cầu âu ra một vài nụ cười thảm hại không nhận lại được hồi âm. Hoảng loạn, sẵn sàng chờ đợi cái xấu nhất, cầm chắc là sẽ bị kẹt giữa hai gọng kìm đang sắp ngoạm vào họ để xé nát họ ra, ông đã lấy lại được cho giọng nói của ông một vẻ kiên định:
- Louis, tớ xuống xe, tớ chờ sẵn ở ngoài kia...
Anh tài nín thít. Anh bắt đầu hiểu ra. Anh thấy ông chủ của anh chìm trong đám đông, lẫn vào đó, đi cùng nhịp với người khác, hòa làm một với họ. Rồi điều kỳ diệu... Vào lúc chiếc xe Rolls kẹt tứ bề sắp không thể nào lăn nổi được một mét nữa thì Louis nhìn thấy ở tay trái anh một phố nhỏ ngược chiều. Hết sức nhẹ tay, anh từ từ quặt tay lái, chú ý cho không sượt phải một ai. Một thoáng, anh ngại đoạn phố nhỏ chỉ là một cái ngõ cụt, nhưng không, nó tên là phố Chant và có một lối ra thật. Rõ ràng những người biểu tình đã quên mất nó. Louis muốn hát lên. Ngoặt ra phố Cardinal-Lemoine, anh rơi vào Socrate mà suýt nữa anh không nhận ra được bởi lẽ ông đã trở thành một người vớ vẩn nhì nhằng nào đó. Một dấu hiệu kín đáo, một cú hãm phanh nhè nhẹ, một cánh cửa xe đóng lại, Socrate đã lại trở thành người khách của anh. Trừ có điều, đáng lẽ leo lên đằng sau xe, thì ông đã lên náu ở cạnh anh, trên ghế trước. Môi và răng đều mím lại, ông nói rất nhanh, theo kiểu bọn găng-xtơ những năm 30.
- Chuồn mau thằng mặt nghệt! Mau! Cậu không thấy họ sắp làm cách mạng đấy à?
Louis dận ga và chiếc Rolls chồm lên, rời ra khỏi cái êm ắng đáng sợ đi trước các cuộc đấu tranh. Hôm sau, báo chí toàn thế giới đưa lên trang nhất cái mà rồi sẽ trở thành “Những sự kiện tháng 5 năm 1968”.
* * * * *
Dun ra hiệu cho chủ quán rượu:
- Ai đấy? Khúc giò đằng kia?
- Sao? Cậu không biết ư? Con gái Satrapoulos mà!
- Thật không?
- Thật chứ!
- Này, cô ả xí thế nhỉ?
- Từ một trăm triệu đô-la trở đi, người đàn bà nào cũng đẹp hết.
- Có ai ngủ với ả chưa?
- Làm sao cậu lại đòi tớ biết được? Tớ không ngủ với ả!
- Thằng tồi! Có lẽ là đứa duy nhất đây thôi! Các cha đi với ả là những ai?
- Con nhà giàu, bọn mặt nghệt cả. Helliokis có tàu đỗ ở Cannes.
- Cậu có bố trí cho tớ được không?
- Tớ không quen ả lắm! Ả mới đến lần thứ hai.
- Cứt, làm cho tớ đi!
- Tớ bảo ả thế nào?
- Bảo tớ là ai và hỏi ả có muốn đến uống một cốc rượu với tớ không?
- Được, để tớ thử xem!
Dun thấy Carlos len lách qua những nhóm người khiêu vũ, đến gần cái bàn những trẻ ranh, trao đổi với họ vài ba câu. Trong khi mọi người cười câu pha trò của anh, Carlos cúi xuống cô gái và thì thầm vào tai cô. Một cách bản năng, Dun lấy tay vuốt tóc. Maria quay lại phía anh và nhìn anh. Dun cười với cô. Đến lượt Maria nói nhỏ vào tai Carlos. Carlos cười, rời cái bàn và trở lại với Dun, sứ giả quý báu có thể sắp cho phép anh phóng viên thực hiện được một tin đăng sớm nhất mà anh ta - và cả các chủ nợ của anh ta - mong đợi đã hàng tuần. Món ngon đấy, con bé nọ! Trên trang nhất các tạp chí quốc tế lớn, tên ả là vàng nén, vàng thoi đó. Chỉ cần ả nhận cho chụp mấy bức ảnh của ả thôi là Dun có thể quay về khách sạn Ritz thanh toán các món muộn mằn của anh.
- Ả nói gì thế? - Anh hỏi hấp táp.
- Ả nói cậu có thể mời ả khiêu vũ.
- Cục cứt! Người ta lại sắp bảo tớ là lừa gạt con gái vị thành niên.
- Tại sao, sai à?
- Không hề, nhưng cái đó nghe không hay. Mặc kệ, tớ đến.
Dun duỗi thân hình cao lớn của anh ra và nhận thấy cô gái nhảy của anh quan sát anh một cách thích thú! Tuổi tác chẳng ảnh hưởng gì đến việc này.
Bốn mươi tám tuổi, anh vẫn tiếp tục các cuộc phá phách. Bộ tóc bạc trắng uốn sóng cẩn thận của anh làm cho cả cô ả thợ khâu đến bà bá tước đều mê mẩn. Con bé ranh này bao nhiêu tuổi? Khi anh đến trước bàn, bọn con trai choai choai ngừng quàng quặc và nhìn anh chằm chằm với một vẻ mỉa mai và bất lực. Nhưng Maria đã đứng dậy. Anh rẽ lối cho cô ra sàn nhảy. Anh vừa ôm lấy cô vừa nói:
- Tôi đã tưởng mấy bồ lau nhau của cô sắp giết tôi!
- Có lẽ họ sắp làm như thế đó. Sau...
- Sau cái gì?
- Sau khi nhảy!
- Cô đang nghỉ hè?
- Anh là nhà báo à?
- Cô ở nhà bố mẹ chứ?
Họ bật lên cười.
- Không, ở nhà bạn.
- Một cái biệt thự?
- Một con tàu.
- Và họ để cô đi một mình?
- Tôi vừa giết viên coi ngục xong... Anh là người Pháp?
- Không. Người Congo. Tôi có một nông trường chuối. Mười một bà vợ tôi trông nom nó.
- Chỉ có mười một?
- Cái nông trường nhỏ thôi mà!
Nhìn gần, cô ta không đến nỗi xấu. Người hơi nặng nề một tí đè không một chút sượng sùng lên người Dun, nhưng cặp mắt vàng óng thì lạ thường, và rõ ràng cô ta đã quên khuấy đi là phải làm ra vẻ ấm ớ. Chơi cho cẩn thận... trả tiền cho khách sạn Ritz...
- Cô biết tại sao tôi muốn quen cô không?
- Có. Tôi là người vợ của đời anh.
- Chớ có tưởng tượng. Cô có thể là đứa bé sơ sinh của đời tôi, nhưng đây không phải là cơ hội ấy. Tôi đã phát hiện ra cô. Cô đã chụp ảnh chưa?
- Tôi đã cho người ta chụp chưa ấy à?
- Ừ.
- Không, chưa bao giờ. Anh đã nhìn kỹ tôi ư?
- Đáng tiếc. Cô có thể làm mẫu hay. Tên cô là gì?
- Maria. Còn anh?
- Raph. Raph Dun. Họ cô là gì?
Anh cảm thấy cô cứng lại trong tay anh:
- Anh coi tôi là một con đần à?
- Trời đất!...
- Anh biết rất rõ tôi là ai rồi.
- Làm sao cô lại biết là tôi biết?
- Tất cả mọi người đều biết tôi là ai. Hằng đàn nhà báo kéo theo tôi. Ở cửa trường trung học, họ mặc quần áo linh mục và mời tôi ăn kẹo.
- Rất tiếc, tôi lại không có.
- Càng hay, tôi ghét. Anh ở con vịt [1] nào?
- Chả ở con nào và ở tất. Tôi là một con đĩ. Tôi bán mình cho ai trả tiền.
- Sao mà xấu thế!!!
- Đáng sợ! Nhưng tôi thắp nến sám hối. Cô ở Cannes có lâu không?
- Thế anh?
- Cái đó tùy ở cô. Nếu tôi có thể viết được những cái khủng khiếp về cô thì người ta sẽ cho tôi nhiều tiền và tôi sẽ có thể nán lại lâu.
- Anh muốn biết cái gì?
- Cô có nghĩ rằng cô đến được bàn tôi mà không sợ bị các bạn be bé của cô bắn không?
- Tôi tự do mà, không ư?
Điệu nhảy hết...
- Được, tốt lắm, ta đi!
- Tôi sẽ đến chỗ anh. Tôi ra lấy cái ví đã.
Anh giữ tay cô trong tay anh mà cố không hề nghĩ đến rút nó về. Anh nói:
- Đồng ý, tôi chờ cô. Bảo họ tôi là bố của cô...
Cô nghiêm trang nhìn vào mắt anh:
- Anh đến là vớ vẩn! Tôi đến bây giờ...
* * * * *
- Thưa bà, tôi giả định là bà hiểu cho rằng việc tôi làm đây là rất tế nhị. Nhưng tôi cần phải làm. Thuốc lá?
- Không, cảm ơn.
Socrate cựa quậy, không thoải mái. Tự chất người đàn bà này gây được ấn tượng đối với ông. Chị ta nổi tiếng là chài đàn ông, vậy mà lại ứng xử với sự lịch lãm, lòng tự trọng và sự kín đáo của một vị phu nhân:
- Đây là chuyện con trai tôi...
- Tôi có ngờ ngợ như thế... - Joan đối lại với một chút châm biếm.
- Đây là nghĩa vụ của tôi... nghĩa vụ của tôi...
- Dạ?
- Tôi phải bảo vệ cháu, bà hiểu cho chứ ạ. Cháu còn quá trẻ!
- Và tôi thì không. Phải thế chứ ạ?
- Không, tôi không muốn nói như thế!
- Dù sao ông đã nói ra mà!
Ông chống chọi lại cái nhìn của chị: cái việc tồi tệ. Chị đẹp, đang độ nảy nở viên mãn, thanh thản. Ông đến để bảo chị cắt đứt và ông hiểu rằng thuyết phục được chị không dễ dàng đâu. Mở đầu như thế nào bây giờ?
- Tôi thú thật, - Ông nói - tôi không ngờ gặp bà lại thấy bà như thế này.
Tôi hiểu Achille. Nó có khiếu thẩm mỹ.
Chị gật đầu thay vì cảm ơn.
- Thưa ông Satrapoulos, nếu ông nói thẳng ra mục đích của việc ông tới đây mà không rào đón thì rất hay.
Chị giúp ông, càng hay thôi.
- Bà chắc cũng đã ngờ ngợ...
- Dĩ nhiên! Ông đến để bảo tôi cắt đứt với Achille, không ư?
- Tôi nhẹ cả người vì thấy bà hiểu tôi.
- Chắc chắn là tôi hiểu chứ. Tôi đặt tôi vào địa vị ông. Một trong mấy gia tài lớn nhất thế giới, một đứa con trai duy nhất nhằm để cho thừa kế và tiếp tục sự nghiệp. Phía bên kia thì một người đàn bà gần bốn mươi tuổi, ba lần ly dị và có lẽ không cho anh ta có con cái được. Nếu tôi là ông, có thể tôi cũng làm như ông. Có thể... Nhưng có điều...
- Có điều...?
- Là không. Tôi không phải là ông. Và Achille sẽ không có yêu cầu để làm cho ông thích đâu. Ông chớ nghĩ là tôi tìm cách thách thức ông, nhưng ông không ở trong cuộc. Tôi đã chọn. Anh ấy đã chọn. Chúng tôi yêu nhau.
- Thưa bà, tôi xin bà! Giá như Achille đã từng là thư ký chưởng khế cơ... Như tôi, bà hiểu rõ rồi đấy, điều mà bà gọi là tình yêu đâu có phải là vĩnh cửu, thưa bà?
- Hoàn toàn đúng. Chính vì thế mà tôi cần phải hưởng thụ nó chừng nào nó vẫn hãy còn.
- Vâng, nhưng còn cháu, bà đã nghĩ đến chưa?
- Tôi chỉ nghĩ đến anh ấy!
- Giả dụ rằng chuyện kéo dài... Khi cháu ba mươi tuổi thì bà ... bà sẽ...
- Một mụ già bốn mươi bảy. Đúng thế không?
Socrate tỏ ra cứng rắn:
- Đúng.
- Điều đó còn để cho chúng tôi có được mười năm nữa, không đúng ư?
- Không! Tôi không nghĩ đến chuyện để cho bà bất cứ một cái gì hết. Tôi có những dự định khác cho Achille, trong đó không có một chỗ nào cho bà cả!
- Tôi giả định là ông đã bảo cho anh ấy biết?
- Đó là việc của tôi! Tôi nói với bà, không phải là với nó. Tôi nghĩ rằng bà là người đầu tiên không muốn làm hại đến tương lai của cháu! Tôi báo trước cho bà rằng nếu quan hệ này còn tiếp tục, tôi sẽ cắt hết trợ cấp cho cháu! Bà sẽ không có một xu!
Joan nhìn ông chăm chăm với một vẻ dịu ngọt:
- Thưa ông Satrapoulos... Trong quá khứ cũng như trong hiện tại, có cái gì để cho phép ông lên lớp cho tôi đấy không nhỉ? Nói thật ra, ông nên biết rằng ông đã quá cằn cỗi đến nỗi một số cái vượt lên trên đầu ông rồi đấy! Ông thật sự nghĩ rằng tôi vì lợi lộc ư?
- Tôi không muốn biết điều đó! Tôi từ chối việc Achille sống với một người đàn bà già!
- Cảm ơn. Bây giờ ông có thể ra được rồi.
- Tôi sẽ không ra chừng nào...
- Chừng nào sao?...
- Chừng nào bà chưa hứa với tôi... Đây... - Ông lấy ở trong túi ra tập ngân phiếu - tôi sẽ ký một tờ ngân phiếu khống chỉ cho bà... Tôi xin thề danh dự với bà là sẽ không ai biết gì hết cả! Bà có thể viết bất cứ con số nào bà thích, bất cứ cái gì, miễn là bà đi khuất cho.
Ông chìa ra tờ giấy chữ nhật xanh nhạt trên đó ông đã giận dữ ký tên vào.
- Đây! Bà cầm lấy!
Ông cố nhét nó vào tay chị. Chị giữ lấy nó. Rồi bằng một giọng bình tĩnh:
- Vĩnh biệt, thưa ông!
Socrate cúi đầu quay gót và ra cửa. Ông gọi thang máy nhưng không được, chạy vội xuống năm tầng gác. Ông sắp đến tầng dưới cùng thì tiếng gọi của Joan làm ông đứng lại:
- Phiền ông một chút!
Ông ngẩng đầu lên và trông thấy chị, nhỏ nhoi như bọc trong dòng thác tóc màu đỏ sẫm của chị. Chị ném một cái gói nhỏ xuống cầu thang. Ông nhặt nó lên. Đó là ngân phiếu của ông trong đó gói một đồng tiền cho nặng. Ông mở nó ra: bên trên chữ ký của ông, ở chỗ lẽ ra là những con số thì ông thấy một lô những quả tim nho nhỏ vẽ bằng sáp môi. Ông nghe thấy chị nói thêm, giọng đầy giận dữ:
- Ông tởm lắm! Đừng có bao giờ quay lại nữa!
Chị đóng sầm cửa lại. Ông đứng im lìm trên thềm cầu thang. Đây là lần đầu tiên người ta quẳng vào mặt ông một tờ ngân phiếu của ông. Chuyến đi Vienne này ông đã nhớ mãi mãi!
* * * * *
Peggy thấy việc lấy cớ sắp gặm ba lá rau cần mà đọc kinh trước khi ăn là ngốc nghếch và cố lủi. Ở châu Âu, ngay trong những gia đình có suy nghĩ, người ta cũng chẳng còn ôm giữ những bộ tịch như vậy nữa rồi! Cô ta vẫn còn hoàn toàn bị lóa mắt lên vì chuyến đi Hy Lạp và Paris. Thỉnh thoảng cô lại vuốt ve viên đá kỳ ảo mà Socrate tặng. Cô không dám cho ai thấy nó, giấu nó vào sau những nếp của chiếc sơ-mi ôm khít lấy cổ cô, theo kiểu ngày xưa. Chợt bộ mặt của bà cô làm cho cô nản chí. Ngồi ở đầu bàn, lầm bầm cầu kinh trước khi mở chiếc khăn ăn ra, bà cụ lại gợi cho Peggy nghĩ đến một loại kền kền đã được ướp xác và nguy hiểm. Phải nói rằng cuộc đời của Hoàng thái hậu Virginia của dòng họ Baltimore đã trôi đi hoặc là để sinh đẻ, hoặc là để săn sóc ông chồng, nuôi dạy con cái và chôn cất những đứa bị chết trong bầy con rất đông đúc của bà. Từ những cái đó bà đã giữ trên mặt cái vẻ dứt khoát cứng ngắt như đá và lạnh lùng lì lợm. Trái ngược với đầu óc vô tư lự hơi điên rồ của Satrapoulos biết bao!
Bữa ăn diễn ra trong ngôi dinh thự mùa hè ở Tân Anh Cát Lợi không xa Providence lắm: cỏ ngựa, cây cối, lá vàng ối quanh năm, những con sóc thả rông, những rào chắn màu trắng và những con gà mái mà Virginia không cho ai được nhặt và tính đếm những quả trứng bao giờ. Điều đáng sợ ở trong gia đình này là cái ấn tượng nặng nề về việc mỗi thành viên của nó đều có thể dửng dưng như không mà tiếp nối những người gục ngã hay mất đi để rồi lại đặt chân vào cùng dấu vết dở dang của họ. Scott đã bị ám sát cách đây năm năm. Peggy góa chồng trong khi cô sửa soạn ly dị. “Những đứa con...” người ta nói với cô. Nhắm mắt lại, chỉ nghe riêng những điều nói năng ở bàn ăn không thôi, cô đã có cảm giác đau đớn là không có một cái gì từng thay đổi, không có người đàn ông nào từng chết đi. Peter và Stephan đã tiếp theo Scott trong cuộc chạy đua tới quyền lực. Vẫn cùng những chuyện trò ngày nọ, cũng những dự định, những mánh lới dành cho đề tài vĩnh cửu: chính trị!
- Chị nghĩ đến gì đây? - Stephan hỏi.
- Nghĩ đến tương lai thôi... - Peggy lơ đãng trả lời.
- A! Chị thấy thế nào?
- Ở xa đấy.
Ở đầu bàn, xác ướp Virginia nhấc một con mắt nặng sụp lên:
- Ở New York à?
- Không!
- Hoa Thịnh Đốn?
- Không!
- Vậy đâu?
- Chỗ khác: thường thường ở châu Âu, thỉnh thoảng ở Mỹ.
Xác ướp nhấc bên mắt thứ hai lên.
- Chị cho xem cái gì ở cổ chị kia? - Peter năn nỉ.
Peggy cởi cúc áo cổ sơ-mi và đưa viên đá hình quả lê ra.
- Ai cho chị đấy?
- Một ông bạn. Satrapoulos.
Sự im lặng tiếp theo quả bom này đáng sợ. Ai cũng vờ say sưa chú ý tới món ăn ở trong đĩa của mình, kể cả Hoàng thái hậu. Peggy thầm hỏi: Cô không nói gì liệu có hay hơn không? Trong gia đình, từ lâu người ta đã coi Socrate như là một người làm cho nước Mỹ thối nát, hiện thân độc hại của đầu óc nhu nhược Trung Cận Đông, như là một kẻ thù riêng của mỗi thành viên gia đình. Con đường của Scott có một lúc đã gặp con đường của ông ta, điều đó không quan trọng mấy, người ta thích quên phắt đi rằng ông đã từng tham gia việc tài trợ cho cuộc vận động bầu cử! Nhưng không ai chịu được việc ông duy trì quan hệ với Peggy. Xướng thuyết những quan hệ anh em với người da đen, đó chỉ là một quan điểm tinh thần, một khẩu hiệu nhất thời không hay nhưng cần thiết để đạt tới một vài mục tiêu nào đó. Và lại nhận tặng phẩm của con khỉ đó nữa! Chính đang lúc này, Peggy ném ra quả mìn thứ hai của cô:
- Tôi nghĩ rằng tôi sắp lấy ông ta.
Virginia vội vàng đưa tay lên miệng để cho thức ăn bà đang nghiền bằng hai hàm răng tuyệt đẹp bằng men sứ của bà không bị vọt ra bàn. Stephan và Peter nhìn nhau không tin. Xác ướp định thần lại được và dặng hắng ầm ầm. Lúc ấy, Peggy hiểu ra rằng cô ta chưa bao giờ được coi như là một thành viên của dòng họ mà chỉ như là người tù chung thân của nó mà thôi.
-------------------------------------------------------
[1] Từ ám chỉ tờ báo.
0
32
 
Socrate thường thích đóng vai nhà điện ảnh nghiệp dư. Ông thích quay phim những nơi, những đồ vật và những người ông ưa. Cuối một bữa ăn, ở đảo Rắn, ông đã thu vào máy quay phim vẻ mặt hân hoan của Menelas, vẻ lầm lì cố chấp của Achille và Maria cùng cái quang cảnh những mỏm đá, biển và trời mà ông yêu mê yêu mệt.
Từ Tokyo, người ta gọi dây nói cho ông. Ông bỏ đồ lề quay phim xuống, đi đến phòng làm việc, và rồi tuyên bố phải đi Luân Đôn ngay tối hôm đó. Hôm sau, trong nhà của anh tại Athènes, Achille mời một người bạn gái làm nghề người mẫu đến, chị này thân hình ít keo kiệt về đường nét. Anh quay đặc tả chị trần truồng, mông vú vênh lên, những hình ảnh cuối cùng thì giới thiệu chị đang nhìn thẳng lại đằng trước mặt, hai tay âu yếm giơ về phía người cầm máy. Đêm đến, Achille để máy của bố vào chỗ cũ. Ở Luân Đôn về, Satrapoulos muốn quay nốt cuộn phim dùng dở. Lần này ông lại lợi dụng ánh sáng tuyệt vời của một buổi chiều để quay cái đề tài ưa thích của ông: Menelas, quay thẳng mặt, nghiêng mặt, đằng lưng bên sườn, ba phần tư thân, từ dưới nhìn lên, từ trên nhìn xuống. Khá tự hào về tài đạo diễn của ông, ông bảo tài xế đi rửa gấp cuộn phim. Tối hôm đó, người ta mang nó về cho ông. Sau bữa tối, như thường lệ, ông mời khách khứa sang phòng chiếu phim để thưởng thức tác phẩm của ông. Khách có một bác sĩ mổ tim và vợ, ông Bộ trưởng Giao thông Vận tải Hy Lạp, một cậu đang mê đờ đẫn Maria và người mua bán chứng khoán của Socrate ở New York. Menelas ngồi ở hàng đầu.
Các hình ảnh đầu tiên vừa diễn ra ở trước mắt, người ta thích thú cười lúc cúc ngay. Menelas cười dữ nhất, chị yên tâm về tương lai gần và khoái trá vì thấy người mình thanh mảnh. Achille và Maria kín đáo ngồi ở hàng ghế bành thứ tư, cạnh cửa.
- Ngon lành không! - Socrate nói... - Nhìn cô ta kìa! Đấy cứ thế mà cô ta nuốt ngon tôi đấy!
Trên màn ảnh, người ta thấy Menelas cắn ngấu nghiến vào một chùm nho. Thình lình màn ảnh rung nhảy... không tiếp nối, hình ảnh mờ nhạt dần rồi chuyển sang cảnh khác: thay thế vào bộ mặt rạng rỡ của Menelas là một cái đít cũng rạng rỡ không kém, một cái đít, chỉ là một cái đít chiếm hết toàn bộ màn ảnh, ngó ngoáy, ưỡn vểnh ra, lấy bộ điệu và nếu người ta có thể nói được thì là làm điệu nữa. Bác sĩ mổ xẻ bật cười phá lên, nhận thấy đó là một phản ứng không đúng lúc, cố sửa chữa bằng cách vờ ho lên một hồi dữ dội. Vợ ông, chủ tịch các hội từ thiện của giới sang trọng nhất Athènes, nghiến răng lại cấu ông, quay mặt đi và giả tảng không nhìn thãy những hình ảnh đang tiếp tục diễn ra ở trong sự kinh ngạc của mọi người. Achille quan sát Menelas đang quắp chặt tay vào hai tay ghế. Maria phải cố nín không cười. Bây giờ hai cái mông biến đi, nhường chỗ cho hai cái vú xinh xinh nho nhỏ, kiêu căng, nhô thẳng ra, rất cao. Socrate bàng hoàng đền nỗi không nghĩ đến được cả tắt máy. Cuối cùng, đặc tả trực diện là khuôn mặt ngất ngây của cô gái hai tay giang ra, chạy lại phía người cầm máy. Mặt Menelas lại hiện trên màn ảnh. Nhưng cô đã đứng lên, gay gắt nói với Socrate:
- Nếu ông muốn làm nhục tôi trước mặt mọi người thì xin hoan hô! Thành công đấy.
Bộ trưởng Giao thông Vận tải đứng dậy và nói theo:
- Bà bạn thân mến...!
Người mua bán chứng khoán ngẩn ngơ bật đèn lên. Achille và Maria vẫn không lộ một vẻ gì. Socrate đi đến con trai:
- Ngu xuẩn và ác độc, biết không? Bố lại cứ tưởng con đã là một người lớn!
Achille mở to hai con mắt ngây thơ:
- Thật ạ... Con chưa hiểu bố muốn nói gì ạ.
- Mai mày sẽ thấy! Bây giờ bố yêu cầu con ra xin lỗi về cái trò đùa thảm hại kia.
- Xin lỗi với ai? - Achille ngạc nhiên.
- Cút!
Để cho Olympe tha cho ông việc chị bị làm nhục dưới mái nhà ông, Socrate hôm sau biếu chị một món trang sức tuyệt đẹp bằng kim cương có đeo lủng lỉu thêm những ngọc xa-phia hình quả tim. Dẫu sao, chị vẫn ngúng nguẩy mất hai ngày. Còn Achille, anh đã tìm ra được một chuyến du lịch gấp đến Boston, nơi có một người bạn của anh ở đó. Dĩ nhiên trò đùa của anh vẫn không ngăn được cái chuyện thối kia diễn ra đâu, nhưng mặt Menelas lúc phát hiện ra cô gái trần truồng cũng để đền bù được cho anh rồi: đáng lẽ là mặt bà ta, thì bà ta lại trông thấy một cái đít!
Dẫu thế nào, Achille nghĩ, cũng chẳng cần phải biết bà ta rồi mới thấy ra được chỗ khác của hai khoản đó.
* * * * *
LÒNG TỰ TRỌNG TRONG CÁCH XỬ SỰ CỦA BÀ LÀ NIỀM KIÊU HÃNH CỦA ĐẤT NƯỚC, BÀ HÃY ỦNG HỘ CHÚNG TÔI TRONG CUỘC CHIẾN ĐẤU ĐANG DIỄN RA. CHÚNG TÔI CẦN BÀ.
Bức điện gửi cho bà quả phụ Scott Baltimore do ông chóp bu của đảng Những nhân cách tân kỳ, ông là tên bù nhìn mà Peter và Stephan sử dụng như một con rối trước khi quăng ông đi để xí chỗ của ông. Peggy cười khẩy... Trong chỗ ghi địa chỉ, người ta thậm chí bỏ cả tên Peggy của cô! Cô ta chỉ là “Quả phụ Scott”! Bọn khốn chỉ nghĩ đến chuyện bầu bán chết tiệt của chúng thôi. Peggy là một người đàn bà, và cô đang ngột ngạt, điều ấy có nghĩa lý quái gì với chúng đâu!
Cô không còn chịu nổi được nữa chuyện chính trị. Hình ảnh Scott, đầu đầm đìa máu, theo cô ta đêm ngày. Cô ta muốn quên, quên... Còn nước Mỹ, “đất nước yêu quý và cổ xưa”, cô coi nó khác gì cái nịt vú đầu tiên của cô cơ chứ! Điều duy nhất cô tin chắc vào là cô cự tuyệt để cho người ta rút cô thành trạng thái đồ vật nhằm để tuyên truyền bầu cử.
Hết rồi những cô đồng trinh than khóc, những cái bĩu môi thương hại và đạo đức giả của các lão già xảo quyệt, tất cả các cái đó hết sạch rồi! Cô chán mớ đời những trò đó!
Từ lúc cô nói ra tên Socrate giữa bàn ăn, tất cả thành viên gia đình đã lần lượt đến phòng cô, với bộ mặt ngây ngô, bố vờ và những khuôn sáo tu từ: danh dự... tổ chức... những đứa con sau này sẽ... tự hào dân tộc... Nhà thờ... nghĩa vụ... trách nhiệm... Mứa lắm rồi! Đến cả các cô vợ của Peter và Stephan: Dolly và Suzan cũng đến nghiêm túc xin cô tha cho “sự nghiệp” của chồng họ, cho rằng cô lấy Socrate thì sẽ chắc chắn làm cho dòng họ lụn bại chẳng khác nào cô lấy một tên da đen của tổ chức “Chính quyền đen” vậy.
- Chị có tưởng tượng đến phản ứng của báo chí không? - Một chị nói.
- Chị thấy cái tên nước ngoài ấy có gì hấp dẫn hả chị? - Chị kia nói thêm.
Nghe họ, người ta ngờ đâu Satrapoulos là một người trên Sao Hỏa, mặt đầy mụn, thò lò, mũi là một cái lỗ sâu và chân thì liền ngón như chân vịt vậy! Cô đã thật sự tống họ bắn ra khỏi buồng. Như trước lần bầu cử làm cho Scott chết, người môi giới tài chính của gia đình Baltimore đã gặp cô để đề nghị một cách dàn xếp mới: cô muốn bao nhiêu tiền để bằng lòng chờ đến sau bầu cử mới lấy Socrate? Cô chỉ ngập ngừng có một tích tắc thôi, trước khi từ chối bằng một giọng kiêu kỳ!
- Nhưng thưa bà - Ông chủ ngân hàng bác lại - trước kia bà đã có nhận một món quà như vậy...
- Thời thế khác rồi ạ! - Peggy trả lời gay gắt. Trước gia tài của Socrate thì món hối lộ khốn nạn có ý nghĩa gì. Ngoài Nut là người khuyến khích cô ra, cô đã tâm sự với mẹ: bà khuyên cô ra sao? Bị lóa lên vì hàng tỷ đô-la của Satrapoulos, bà Arthur Erwin Beckintosh đã thốt ra một câu lịch sự này:
- Lấy đi! Thà lấy chồng hai lần còn hơn là một!
Dầu sao cũng có tí ti trở ngại: Socrate chưa bao giờ nói với Peggy là ông sẽ lấy cô ta. Ngộ ông từ chối thì sao? Cô ta sẽ ê mặt! Thật ra cô chẳng có một thoáng nào nghĩ rằng ông lại nói không với cô, không có ai ở trên đời này nói không với cô cả. Tại sao cái đó lại chấm dứt chứ nhỉ? Cô vuốt ve viên kim cương hình quả lê... Lấy Socrate, cô sẽ có những viên kim cương khác nữa, tùy thích cô. Cô sẽ cởi truồng dưới ánh nắng, tập ngân phiếu để giữa hai vú. Cô sẽ vơ vét sạch những cửa hiệu kim hoàn và cửa hiệu may quần áo quý. Đêm nào cô cũng chạy khắp các tiệm. Chẳng còn ai ngăn cấm cô điều gì nữa, cô sẽ được tự do mở những dạ hội rồ dại, tự do đi chơi với những tay ngộ nghĩnh, những nghệ sĩ hơi điên và những trai - chơi tuyệt vời nọ của “xã hội máy bay phản lực”. Cô sẽ làm tất cả các cái đó cùng với Socrate, ông hiểu cô, ông thích thế! Sống thế mới sướng!
Cô khinh bỉ đọc lại câu cuối cùng của bức điện: Chúng tôi cần bà. Cô vo viên nó lại, ném nó vào sọt giấy rồi hát theo điệu nhạc quốc ca Mỹ.
- Thế đít tao, nó có cần đến chúng mày không?
* * * * *
Để đánh lạc bọn nhà báo, Socrate và Menelas đã thỏa thuận là đến Luân Đôn bằng hai chuyến bay khác nhau, không phải không thích thú. Socrate đã tính trước một bộ tóc giả màu vàng và một bộ ria để cải trang. Lễ cưới sẽ diễn ra trong gian nhà nguyện nho nhỏ của đạo Thiên Chúa chính thống ở Luân Đôn, và không một ai đến dự. Chỉ Achille và Maria được báo trước cho biết điều gì đang tiến hành ngấm ngầm mà thôi. Cả hai đều từ chối lời bố mời, ông không nài thêm hai con, sợ phút cuối cùng xảy ra những biến cố giữa bà vợ tương lai và các đứa con của ông.
Hôm trước hôn lễ, Satrapoulos tổ chức một bữa ăn tối bàn công việc rất quan trọng tại biệt dinh của ông ở đại lộ Foch tại Paris với những nhà chủ tàu Úc mà công ty đang bị tan rã. Socrate muốn mua nó bằng bất cứ giá nào nhưng lại để cho các vị khách tưởng rằng ông không chú ý lắm với việc thương lượng. Về phía họ những người Úc lại cấp bách cần thanh toán mau để tránh bị phá sản, và những cuộc truy tố trước pháp luật trên quy mô quốc tế.
Trò chơi cổ điển giữa người mua và người bán mà bài dân ca Pháp đã minh họa một cách tốt đẹp: Tôi nắm cậu... Cậu nắm tôi... Bằng chòm râu...
Chín giờ đúng, những người Úc bước vào phòng khách, hơi vụng về và e dè trước sự sang trọng tinh tế của căn phòng, các bức tranh của Rubens và Tintoret được những ngọn đèn dọi kín đáo tôn giá trị lên cho. Menelas, hết sức vui, đón tiếp họ tựa như họ là những người bạn rất lâu của gia đình, giấu nỗi bẫt bình của chị đối với những bộ quần áo của họ, vai long đình, quần quá chật, màu quá lòe loẹt, những quần áo của lớp người mới giàu xổi. Thật ra trong nhóm này, mọi cái đều là “quá” cả: họ quá cao hay quá thấp, quá béo hay quá gầy, so le chênh lệch như cốt để cho một tiết mục khôi hài của lính tráng. Có điều, những con rối này cân nặng hai mươi triệu đô-la. Menelas đếm thấy có đến tám triệu đang nặng nề cúi mình xuống ở trước mặt chị: dù ở đầu cực của quả đất, những người man rợ vẫn biết đến niềm vinh quang của chị.
Trong khi hai đầu bếp rót uýt-xki, họ ngồi ngó ngoáy trên mép chiếc ghế kiểu thời Louis 15 mỏng manh và Menelas thầm đánh cuộc một mình rằng trước khi sang bàn ăn thì nhất định những người to béo nhất sẽ làm gãy tan ghế của họ. Socrate đã trổ ra cái duyên nổi tiếng từng làm nên một nửa tài sản của ông, đi đến hết người này sang người nọ, đùa tán, phỉnh nịnh, chuẩn bị điều kiện cho những nạn nhân tương lai của ông. Khi cuộc tụ họp kỳ lạ này đã uống cạn hai chai scotch, một người quản gia ra báo cơm đã dọn xong. Người ta ngồi chung quanh cái bàn chữ nhật dài, cốc chén pha-lê rực lóa lên dưới những ngọn đèn chùm.
- Vì các ông đang ở Pháp cho nên tôi muốn các ông dùng một bữa ăn Pháp... - Menelas õng ẹo trong khi hai người đầu bếp đặt đánh phịch một liễn súp bằng sứ limoge xuống bàn. Con mắt không bỏ sót thứ gì, Socrate nhận thấy điều đó và tự dặn thầm sẽ nạt cho bà Norbert một trận, những ngày trước đây bà đã cố xỏ ông bằng những tên gia nhân ô hợp của bà.
- Tôi hy vọng là các ông đều thích món súp tôm hùm... - Menelas hỏi chung tất cả.
- Chắc chắn là mọi người đều thích, thậm chí còn mê nữa! Socrate lái câu chuyện vào “đất nước tươi đẹp” của các vị khách, không đả động bóng gió gì tới công việc đã đưa họ tới đây. Ông ngồi ở đầu bàn, Menelas đối diện với ông và những người Úc ngồi mỗi bên chiều ngang bốn người. Tất cả đều rập theo cử chỉ của bà chủ, hơi ngỡ ngàng. Socrate đã định sẵn chiến thuật cho họ uống nhiều loại vang lẫn lộn. Trước hết cần để cho họ tự ý làm... Khi họ đã nửa say nửa tỉnh, ông vẫn cứ chờ cho họ chủ động trước, tự họ đề cập cái đề tài họ ôm ấp ở trong lòng. Đến tuần rượu cuối, ông mới bắt đầu quăng các con số ra với một vẻ trễ tràng, cười phá lên với các con số người ta đề nghị rồi trong ba phút ký luôn với cái giá thấp nhất, mang về một người bị lừa phật ý và ngạc nhiên. Trong khi chờ đợi như vậy, món súp ăn xong đã từ tám hoánh mà chẳng thấy bóng dáng một tay đầu bếp nào xuất hiện ở chân trời cả. Socrate liếc vội Menelas một cái. Chị lấy đầu ngón chân bấm lên cái nút đặt ở dưới bàn ăn. Mặc dù ở dưới bếp, chuông phải réo như quỷ phá mà vẫn không có chuyện gì diễn ra tiếp theo... Chị chờ hai phút nữa rồi đứng dậy mỉm cười xin lỗi các vị khách. Socrate lại khơi chuyện và nhân Menelas vắng mặt, kể một chuyện thật là thú vị...
- Đó là một người Úc... xin các ông tha lỗi, nếu thế giới đều biết tiếng về cái món ăn kia của các ông, thì đâu có phải lỗi tại tôi chứ... Vậy là người Úc này mời một chị người Mỹ đến nhà mình uống rượu... Chị này hỏi: Để làm gì? Anh ta đáp: Tôi sẽ làm cho chị những cái chưa có ai làm cho chị bao giờ cả. Chị kia nói: Thí dụ cái gì? Anh ta nói: Tôi sẽ liếm rốn chị. Chị kia đáp: Nhưng người ta đã liếm rốn tôi đến hàng chục lần rồi còn gì... (đến chỗ này một vài vị khách bắt đầu cười) Socrate chuyển sang đoạn nút: ... Lúc đó anh này đáp: Dạ, họ liếm ở bên trong chứ ạ?
Các bộ mặt đều đực ra đau đáu suy nghĩ. Socrate nhắc lại: “từ bên trong kia, các vị thấy cái chỗ ấy chứ!” Rồi ông vỗ đùi cười. Sau một lát do dự, các vị khách cũng cười họa theo, càng chưa hiểu ý càng cười dữ. Satrapoulos kín đáo liếc về phía cửa xuống bếp: Olympe làm gì ở dưới đó vậy? Cô bỏ ông ở đây với cái lũ mặt nghệt này một mình! Rồi ông không nín nhịn được nữa:
- Các bạn thân mến, tôi xin lỗi các bạn... chắc là có một trục trặc nào đó... Tôi đi xem sao...
Vừa khuất mắt đám người Úc, mặt ông liền cau rút lại vì giận: ông trả tiền cho bọn nhân viên làm gì? Chúng ở đâu? Ông chạy lồng lên ở trong hành lang, hơi lo lắng... Ông đẩy cửa bếp: Menelas đang nằm thẳng cẳng, cứng đờ như một xác chết ở trên nền gạch men, tái xanh tái xám, nôn mửa ra cả mặt. Ông vội nhào tới ngồi sụp xuống thấy chị còn thở thì khe khẽ tát để làm cho chị tỉnh lại. Tay tát, miệng gọi bọn đầu bếp, vẫn không thấy bóng vía đứa nào. Menelas mở hé mắt, toan nói gì nhưng lại ngất đi. Socrate lập cập tìm một chai giấm, đảo lục các ngăn kéo, gạt tung các ngăn giá đồ đạc, sục sạo các tủ, không có gì cả. Ông trở lại bên Menelas, cởi áo ngoài ra, cuộn tròn lại rồi luồn nó dưới đầu chị vẫn thêm thiếp nằm đó. Cuối cùng người chị khẽ run lên... Chị mở mắt:
- Em yêu... Cái gì xảy ra thế? Nói xem nào!...
Chị khẽ quay đầu đi tựa hồ như sợ gãy mất các đốt xương. Chị yếu đuối giơ một ngón tay lên chỉ vào một cái bảng con treo ở trên dãy lò bếp, trên tấm bảng một bàn tay phục thù đã viết dằn xuống những chữ bằng sáp môi:
BỐN ÔNG PHỚI
BỐN ÔNG ĐÃ ĐÁI VÀO SÚP ĂN
Chị nấc một cái rồi lại nôn. Socrate ôm chị lên lòng, nâng đầu dậy, vỗ về, an ủi.
Trong khi đó các vị người Úc lo lắng. Nhân danh cộng đồng, ông cao tuổi nhất trong bọn quyết định đi thăm thú. Ông lần mò hú họa ở trong các dãy hành lang trống không, tìm thấy cửa bếp và nhìn ngay thấy cảnh tượng: Socrate cúi đầu xuống Menelas đang co giật và tấm bảng. Cố giữ cho khỏi nôn oẹ, ông đến cứu vợ chồng chủ nhân. Ba phút sau, tất cả những người chung lưng vốn với ông đều đã ở trong bếp, cố nén giữ cảm giác tởm lợm, vờ không hề đọc thấy những chữ ở trên tấm bảng đáng sợ. Socrate mời họ trở lại bàn ăn, rồi ông xin giải thích sau... Họ ngồi lại vào chỗ cũ, ngán ăn đến cổ, mắt dán vào liễn súp trong đó... Khiếp!... Trong khi Olympe sửa sang lại sắc đẹp trong một buồng tắm thì Socrate ra với họ, vẻ mặt vui vẻ:
- Đám gia nhân họ đùa. Họ mâu thuẫn với bà quản lý của tôi! Cái điều các vị đọc thấy, đúng thật là ngu xuẩn!
Thật ra... Trước nỗi kinh hoàng của các vị khách Úc, ông dìm cái môi bạc vào trong cái liễn quý:
- ... Tôi ăn tiếp! Tôi thấy ngon lắm!
Ông trừng mắt nhìn các người cùng ăn:
- Các vị muốn xơi nữa không?
Họ nhìn nhau, lúng túng, hiểu rằng Socrate đang áp đặt ra cho họ thử thách chủ yếu và việc ký hợp đồng là phải trả bằng cái giá này đây - Vị cao tuổi nhất lĩnh xướng:
- Tất cả chúng tôi đều ăn nữa. Món súp này thật là tuyệt!
Ông lấy súp cho những người ngồi bên ông trước rồi chuyển liễn súp đi. Mỗi người đều lại được đối diện với món súp đỏ nhờ nhờ và khả nghi:
- Nào, mời các vị...
Dưới con mắt chăm chăm soi mói của Socrate, ông dũng cảm vục thìa vào trong đĩa súp của ông. Nén cơn buồn nôn, ông đưa súp lên miệng và nuốt chửng, rủa thầm ông thần kinh doanh đã buộc ông phải chịu một cực hình như thế này. Lần lượt các đồng minh của ông bắt chước ông. Khi các đĩa súp đã cạn, Satrapoulos bèn lên tiếng:
- Không cần ăn nốt ở đây nữa! Tôi rất ân hận. Tôi đề nghị các vị đi ăn tiếp bữa tối của chúng ta ở khách sạn Maxim.
Menelas xin kiếu, nước da cô nhợt nhạt. Chị ngồi mọp trong một chiếc ghế da to tướng và uống từng ngụm nhỏ một nửa chai uýt-xki, vừa uống vừa nhăn nhó.
Hai giờ sau, Socrate trở về, giận dữ như điên. Công chuyện thất bại. Ông đã tỏ ra hung hãn, không nhân nhượng và từ chối đi cùng với các người Úc đang muốn kết thúc buổi tối ở tiệm Ngựa điên. Ông tiến công tấp nập không có mào đầu:
- Thật là thông minh! Cô làm tôi đi tong mười triệu đô-la rồi!
Tuy chuếnh choáng, Menelas vẫn cự lại:
- Sao anh dám như thế?... Chưa ai đối xử với tôi như thế bao giờ!
Lập tức, những tiếng chửi của các khu phố mạt hạng ở Athènes bay vung lên dưới chùm đèn pha-lê phòng khách lớn. Quá sức mình, Olympe cầm áo măng-tô và hét lên:
- Tôi cũng phới.
Đáng lẽ giữ chị lại, quên mất ngày mai họ cưới nhau, Socrate sủa họa theo:
- Đúng đấy! Và đái vào súp nhá!
Lúc cửa đóng đánh sầm vào thì chuông điện thoại réo lên. Socrate không màng đến nó, định đến khách sạn George V qua hết đêm ở đó. Từ ngày mẹ ông chết, ông chưa đặt chân đến khách sạn ấy lần nào. Thậm chí có thể trong khi uống rượu ở một tiệm thì ông lại kiếm ra được những con điếm quá sung sướng được đến xoa dịu thần kinh của ông tại nhà cũng nên. Chuông máy nói cứ reo lên, gay gắt. Ông cáu kỉnh nhấc máy nói:
- Hử, cái gì?
Đầu dây, tiếng nói véo von của một cô bé lo âu:
- Tôi đây...
- Peggy! Cô gọi từ đâu đấy?
- New York... Socrate, thật đáng sợ! Nhất định anh phải giúp tôi!
- Bất cứ cô muốn cái gì, đều xong, Peggy! Tôi nghe đây.
- Anh nhất định phải lấy tôi!
Ông kinh ngạc nhìn ống nghe, tựa hồ việc nhìn ngắm nó sẽ có thể cho ông những câu trả lời các câu hỏi điên rồ đang chen lấn nhau ở trong đầu ông... Ông ấp úng...
- Xin lỗi!...
- Lấy tôi đi! Tôi đã báo gia đình nhà chồng là chúng ta sắp cưới nhau... Phải làm như thế, Socrate ạ!
Ông nuốt khó nhọc nước bọt:
- Nhưng, Peggy...
- Anh nhận lời chứ?
- Tôi...
- Socrate! Nghiêm trọng lắm đấy! Tôi đã chịu nhận lấy trách nhiệm rồi... Anh cũng nhận trách nhiệm của anh đi thôi!
- Thì...
- Socrate, anh yêu! Có hay không nào?
- Thì chắc chắn là có chứ...
- Bao giờ?
- Khoan, tôi nghe không rõ đâu...
Ông nghe rõ, rành rành. Cô nhắc lại:
- Khi nào?
Ông cố nuốt nước bọt đang nghẹn trong cổ họng ông:
- Khi nào cô muốn.
- Ôi, Socrate! Anh thật tuyệt vời! Anh đã làm tôi mang tai tiếng đấy, anh biết chứ! Tất cả thiên hạ đều biết! Cả nhà Baltimore!... Cả Nut nữa!
- A, cả Nut?...
- Anh yêu, em đến nhé!
- Đến đâu? - Ông nói lắp bắp.
- Đến Paris. Chúng ta cần bàn chuyện đó đến tận chi tiết với nhau chứ. Chúng ta có biết bao vấn đề cần giải quyết! Các luật sư của chúng ta cần gặp nhau!
- Peggy!
- Hử?
- Cô nói nghiêm túc đây chứ?
- Nghiêm túc! Em yêu anh. Em muốn sống với anh.
- Peggy...
- Hử?
- Anh cũng thế.
- Ôi, anh yêu của em, em đến ngay bây giờ đây!
- Anh sẽ gọi ngay New York để họ dành riêng một máy bay cho em.
- Anh yêu, cái gì anh cũng nghĩ đến cả!
- Peggy!
- Hử?
- Anh yêu em.
- Không đi đâu hết đây, em đến ngay đây!
Socrate có thể hy vọng sống thọ trăm tuổi, bằng cách trông nom sức khỏe cho cẩn thận. Có thể hơn nữa chứ? Dẫu sao, cái đó vẫn dành cho ông một tối thiểu là ba mươi tám năm ở trên đời nữa! Kỳ ảo! Sướng mê sướng mẩn, ông suy nghĩ về những cái đã đến với ông. Cái đó đại khái cũng tương tự như câu chuyện được cải tiến về mũi Hoàng hậu Cléopâtre: những thằng thô lỗ nổi loạn đái vào một liễn súp, còn số phận thì lại cầm lấy tay anh mà đưa dắt anh lên cao, lên rất cao, đến tận ranh giới của cái không thể nào có được.
0
33
 
Socrate ở trong phòng làm việc. Một mình. Ông đi đi lại lại, nói to lên về phía hai chiếc ghế bành lớn bằng da kê ở trước bàn giấy ông. Đôi khi tay phải ông thọc vào trong túi quần, nắm lấy tập giấy bạc. Ông hùng biện lưu loát, khẳng định, chứng minh, châm biếm. Ông điểm cho bài diễn văn của ông bằng những quả đấm hùng hổ nện vào những đồ vật nằm trong tầm với của ông. Nhưng không có một ai trong những chiếc ghế bành cả. Socrate tập dượt. Mỗi lần sắp sửa chơi một canh bạc, ông đều lường trước mọi khả năng và cao giọng nhái cái cảnh sắp diễn ra với những người đối thoại vắng mặt. Ông đóng vai trò của họ, tự tiến công và tự bảo vệ trong những câu hỏi bắn chéo cánh sẻ lần lượt được ông tìm ra giải đáp. Bây giờ ông đã nói hết ý rồi, những người đối thoại vô hình của ông đã bị thuyết phục rồi, ông bèn cầm máy nói nội bộ lên:
- Achille! Bố chờ con và Maria ở buồng làm việc của bố.
Ông ra chỗ ngồi, lấy hai tay ôm đầu và tập trung tinh thần suy nghĩ. Hai đứa anh em sinh đôi bước vào, Achille, mặc áo pun bằng da dê và quần xanh, giống như một sinh viên ngoan ngoãn. Giữa hai lông mày anh có một đường hằn cố chấp nằm chắn ngang. Maria thì mặc váy ngắn đánh quần vợt, áo sơ-mi trắng, giày và tất trắng.
- Các con ngồi xuống!
Maria buông mình xuống một chiếc ghế bành. Achille ngồi lên tay vịn chiếc ghế đó. Trong khi đó, Socrate quên béng mất lời mào đầu ngẫu hứng khá là hay ho của ông. Mỗi khi gặp chuyện liên quan đến tình cảm của ông, ông đều lúng túng hậu đậu. Không sai bao giờ: ông không còn biết vào đề như thế nào nữa lúc này. Ông nói:
- Bố có một cái tin lớn cần báo cho các con.
Achille và Maria mặt vẫn như không. Socrate nói tiếp.
- Đã nhiều lần, đúng hay sai, các con đã tưởng rằng các con cần phải can thiệp vào đời sống riêng của bố. Các con đã có cách cư xử đáng ghét đối với một người đàn bà mà bố yêu và luôn luôn tử tế với các con.
Ông đưa mắt dò hỏi hai anh em sinh đôi. Chúng vẫn không tỏ một thái độ gì.
- Vì các con, bố đã cắt đứt với Olympe. Nhân đây, bố phải khen phục lòng kiên nhẫn của bà ta đối với các con. Hôm nay bố có một tin quan trọng cần nói với các con... Bố sẽ lấy vợ. Và lần này, các con không thể nào không đồng ý được.
Achille và Maria nhìn bố như muốn nuốt lấy. Ông có vẻ hoan hỉ. Maria là người đầu tiên nhận ra. Cô ôm choàng lấy cổ ông:
- Ôi bố! Thật kỳ diệu! Bố sắp lấy mẹ!
Achille nhảy quẫng lên:
- Hoan hô! Hu-ra! Bố ghê gớm thật!
Anh cũng nhảy vào, ông bố đang cố gạt hai anh em ra. Ông cảm thấy ông sắp làm cho chúng thất vọng lắm, đến nỗi ông không dám nói gì với chúng nữa. Mặt nghiêm lại, ông nói toạc:
- Ai bảo các con là mẹ?... Bố sắp lấy Peggy Baltimore!
Đấy, thế là phóng ra rồi, muốn ra sao thì ra!
Lập tức hai anh em sinh đôi rời ông ra như thể ông là bệnh dịch hạch vậy.
Achille kinh hãi nhìn ông. Mắt Maria ướt đẫm. Cô nói:
- Ai cơ? Bố nói lại!
Socrate ngó ngoáy:
- Peggy Baltimore! Các con nghĩ xem trên đời này còn ai hơn được bà ta không?
Achille làm ra vẻ không nghe thấy gì hết. Tất cả cái chuyện này không còn làm anh bận tâm nữa:
- Đi chứ, Maria! Anh sẽ đánh với em một xét quần vợt.
Socrate tức đỏ mặt lên:
- Thôi cho đủ nhé! Các con không phải dạy bố sống! Bà ta là số một! Số một!
Nhưng hai anh em sinh đôi đã ra khỏi gian phòng.
* * * * *
Đúng lúc chiếc Boeing đến điểm cố định của nó để cất cánh thì ông trưởng đoàn thi hành nhận được bức điện: “Lệnh của công ty... quay lại nơi đậu xuất phát và cho hành khách trở xuống đất”.
Ông cảm thấy đằng sau lưng mình sức đẩy ghê gớm của hàng nghìn sức ngựa đang sắp đứt ra khỏi mặt đất chiếc Boeing nặng những một trăm ba chục tấn của ông. Ông chỉ việc buông cái nút bấm nho nhỏ là đủ cho những cỗ máy phản lực xổ tung ra tất cả sức mạnh của chúng. Ông cầm lấy mi-crô:
- Chỉ huy trưởng gọi đài kiểm soát... Xin nhắc lại...
- Hãy quay về chỗ đậu xuất phát... Cho hành khách xuống đất...
- O.K... Rõ...
Ông nhấc một lông mày lên về phía người cùng lái:
- Cục cứt! Chắc lại có một quả bom trên máy bay! Ta không bay nữa các cậu ạ!
- Cậu có muốn tớ báo với các cô phục vụ không?
- Chưa báo vội!
Trên chuyên máy bay thường kỳ này, có một trăm ba chục hành khách từ New York đi Athènes thẳng một lèo. Điện đài lại cất tiếng:
- Vào đường bay số sáu, đến chỗ đậu số mười một, đỗ ở đó, tắt máy, ở lại tại buồng lái và chờ lệnh. Nói đi!
- Rõ.
- Bob, cậu bảo Lily báo cho hành khách biết đi!
- Cô ta nói với họ thế nào?
- Không biết! Tớ cóc cần. Nói gì cũng được.
Được biết tin, Lily thông báo bằng cái giọng ấm áp của chị:
- Thưa quý bà, thưa quý ông!... Một sự cố kỹ thuật buộc chúng ta phải quay lại điểm xuất phát. Việc cất cánh sẽ chậm lại một chút xíu. Xin quý bà, quý ông hãy cầm sẵn hành lý chờ công ty hàng không Hy Lạp lấy một chiếc máy bay mới hầu quý bà, quý ông. Cám ơn!
Hành khách ngạc nhiên nhìn nhau trong khi chiếc Boeing quay vòng trở lại để đến một chỗ đậu. Một số người phản đối. Lily nói thêm:
- Thưa quý bà, quý ông đừng cởi thắt lưng an toàn trước khi máy bay đỗ hẳn. Cám ơn!
Chị quá bối rối, không nghĩ đến cả nói câu công thức nghi lễ. Chị nhào vào buồng lái:
- Tại sao lại cho hành khách xuống?
Hiệu thính viên nhún vai như chịu thua số phận:
- Nếu mà lại biết được nữa...
Chỉ huy trưởng tắt máy. Chiếc Boeing mửa ở bụng và đuôi ra cái tải trọng người của nó đang được những chiếc xe ca đón ở đường băng. Những người mặc quần áo thợ có dấu công ty G.A.L [1] ở lưng chuyển hành lý từ khoang máy bay sang một đoàn xe chở hàng. Khi tất cả đã biến đi, chỉ huy trưởng nhận được một bức điện mới:
- Đài kiểm soát gởi G.A.L. 112... Cho nổ máy. Cất cánh sau mười phút, nơi đến như cũ... Nói đi...
- G.A.L. 112 gởi đài kiểm soát. Nhận rõ lệnh.
- Họ điên hay sao? - Lily hỏi.
Đáp lại câu hỏi của chị, chị thấy lớn dần ra ba chiếc xe hơi ở trên đường băng. Chúng lao thẳng đến chiếc máy bay rồi phanh rít lên, đỗ lại ở dưới cánh.
- Ai thế? - Một người phục vụ hỏi.
- Muốn gì cũng không phải hành khách bố lếu rồi! Hành khách đang bực điên lên kia. Có hai người nói là sẽ kiện...
- Pat, một phục vụ viên khác, thì thào. Chị mở to mắt để đặt một cái tên cho cái hình thù xinh đẹp của người đàn bà đang xăm xăm leo lên cầu thang, mỗi tay dắt một đứa bé kia:
- À kìa, Peggy Baltimore!
Đi thoăn thoắt ở sau Peggy là mẹ cô ta, bà Beckintosh và Nut. Rồi hai bảo mẫu và một chị quản gia. Bốn vệ sĩ khỉ đột đi sau rốt, hình như đóng khung cho một người cao gầy có lẽ là một viên thư ký. Số lượng va-li của họ thì kinh khủng! Gần bằng của một trăm ba chục hành khách bình thường.
Điện đài lại nói:
- Trông nom hành khách của các anh chị như chưa từng trông nom ai như thế bao giờ. Lệnh của công ty. Nói đi!
- Nhận rõ lệnh! - Chỉ huy trưởng máy bay càu nhàu.
- Đi may mắn?
Ông cắt mi-crô của ông rồi cho chiếc Boeing lăn tới điểm cố định:
- Nhanh lên! Không, nhỡ họ lại quên mất con chó của họ thì khốn...
- Ngày mai ông ta lấy bà ta đấy mà!
- Kệ xác họ! Thế này thì quảng cáo rất hay cho công ty đấy!
- Chà!... Dính quái gì đến chúng mình? Dẫu sao công ty là thuộc về lão Hy Lạp cơ mà...
Pat chuẩn bị các khay ăn, trứng cá ca-vi-a và sâm banh Dom Pérignon...
- A! Không phải là vì tôi mà một người cho cả một trăm ba chục hành khách xuống đất để lấy chỗ cho tôi! Đẹp thật đấy, tình yêu!
Tiếng chị bị tiếng máy bay phản lực rít lên che lấp. Chiếc máy bay chồm cưỡng lại rồi rung rung trước khi lao vọt lên trời.
* * * * *
Sáng hôm sau làm lễ cưới, đảo Rắn giống như một pháo đài. Từ ngày Menelas bị con rắn làm cho hoảng hồn đến giờ, hòn đảo đã thay đổi rất nhiều! Một đạo quân những người trồng hoa, kỹ sư nông nghiệp, nhà tạo phong cảnh và kiến trúc sư đảo lộn hoàn toàn hòn đảo. Tất cả phần phía Tây, nơi dựng lên những ngôi nhà, đã trở thành một thảm cỏ trồng hoa, điểm lốm đốm những cây chanh, cây cam, cây ô liu và cây khinh diệp được chở đến hàng tàu một. Trong nhiều tháng các máy ủi đã làm bật tung đi các mỏm đá và san phẳng tất cả, rồi người ta phủ lên trên đó hàng nghìn tấn đất màu. Rải rác đây đó người ta đã đào những bể chứa khổng lồ và mỗi tuần một lần các chuyến tàu lại đến đổ đầy nước ngọt vào. Mặc dù các nhà địa chất học và các nhà nghiên cứu nguồn nước hợp sức với nhau, người ta vẫn không tìm ra được một hột nước nào. Nhưng suốt ngày, những tia nước vẫn lắc quay trong một luồng hơi nước tươi mát và óng ánh màu sắc cầu vồng và bể bơi thì được một dòng thác thực sự cung cấp nước cho. Trước khi các thợ xây nền bắt đầu thi công, những máy bay chở hàng đã rắc xuống đảo vô thiên lủng thuốc diệt chuột và thuốc trừ sâu, nhiều đến mức bây giờ không sao tìm ra nổi một con muỗi, con bò cạp, hay con nhện nào.
Duy chỉ còn có vài tổ kiến là được hai trăm người tha chết, hai trăm người đó thường trực trông coi cho sự hoàn chỉnh của thiên đường này: người làm vườn, xà ích có sáu con ngựa thuần chủng để cưỡi đi chơi - người tẩm quất, thợ làm đầu tóc, nhà bếp, người coi máy hói, đầu bếp, thư ký, phiên dịch, người coi quầy rượu, người nuôi ngựa, hầu phòng, chị quản gia, nữ y tá, tài vụ, thầy dạy bơi, giáo sư thể dục thể thao, chuyên gia rượu; không nên quên một kíp ba chuyên gia pháo hoa nữa - Socrate vốn nghiện pháo hoa.
Thường kỳ, bất cứ có hội hè nào người ta lại điều một dàn nhạc từ Paris hay từ Roma tới, một chiếc chuyên cơ đi đến tận nơi dàn nhạc đang ở mà đón về bên trên cái dốc thoai thoải buông trượt vào trong mặt biển xanh lục và trong leo lẻo, là ngôi nhà của vị chủ, một kỳ quan về xây dựng theo kiểu Hy Lạp. Satrapoulos cuối cùng đã ngã theo luận điểm của các kiến trúc sư và chính các con ông, trái với ý ông, họ không muốn các cột trụ dorique mà ông đề nghị cho vào cái nền điện Parthénon thu nhỏ bằng đá hoa cương. Phần còn lại hòn đảo thì người ta vẫn bảo tồn vẻ hoang dại của nó, bách, thông có tán, tây hà liễu, long đờm, khổ ngãi. Khi Socrate ở trong phòng làm việc, ông có thể nhìn ra tứ phía đều thấy biển, cái biển đã làm nên cơ nghiệp của ông kia. Bên tay trái ông, chính nam, được chắn gió thổi vào mùa rét và tháng Tám là bến cảng có thể tiếp nhận được những tàu có sức trọng tải lớn. Một chục du thuyền đỗ ở đấy. Trên một nền đất hình tròn đổ bê-tông, là chỗ lên xuống của máy bay lên thẳng mà các gian nhà chứa chúng đã được khoét vào trong một mô đá. Và ở khắp nơi hàng nghìn con chim thả xổng hót líu lo suốt ngày, đêm thì có họa mi tiếp sức.
Trong một thửa đất đặc biệt nuôi gà, vịt, dê, công, nai, chó và mèo.
Tôn giáo đã được thực hiện dưới hình thức một ông linh mục sống trong một cánh cửa tòa nhà thờ chính giáo nho nhỏ, ở đầu một dãy cây bá tùng được một vị tăng viện trưởng cầu phúc và làm phép cho. Khi các nhà báo của toàn thế giới hay tin có cái địa đàng này, họ đã từ ngoài khơi đổ xô vào để chụp ảnh. Nhưng Socrate canh giữ. Lúc bình thường, không ai có thể lại gần mà không phải cho khám xét. Những đội thủy thủ biệt động, được huấn luyện để không trả lời những câu người ta hỏi họ, đi tuần cảnh giới ở trên những tốc hạm khá là mạnh có thể đuổi kịp một chiếc tuần dương hạm. Những tay nhà báo táo tợn nhất đã phải nản chí sau khi đã thử mọi phép, lấy lòng, hối lộ, đe dọa, ép nạt: không thể nào biết được thật sự những gì đang xảy ra ở trên đảo Rắn. Và những ai biết thì đều không nói bao giờ.
Hôm ấy, hôm hôn lễ, người ta tăng gấp đôi việc canh phòng trên đất và trên biển. Những thủy thủ mặc đồ trắng, dùi cui trong tay, đi sục hết vùng bờ biển từ sáng tinh mơ để xua đuổi những dân quấy rầy không ngại mặc cả bộ áo quần người nhái. Những nhà báo của tờ Life nhảy dù đêm xuống nhưng đã bị ngay một đội phó cảnh sát đi tuần đánh hơi thấy. Thủy thủ đã vất xuống biển hai tay phóng viên và đập nát trang bị của họ. Chính phủ Hy Lạp ra lệnh cho mọi máy bay, dân sự hay quân sự, của bất kỳ quốc tịch nào cũng đều không được bay qua đảo, qua biển trong một bán kính năm dặm. Hai máy bay khu trục và một máy bay lên thẳng của đội cảnh sát mặt biển trông nom việc thực hiện lệnh này.
Socrate vỗ ngực không để lọt qua mắt bất cứ cái gì, đã - chỉ quen có mỗi một điều: dành một máy bay cho Peggy tùy nghi sử dụng! Ông cảm thấy tóc trên đầu dựng ngược khi ông giám đốc công ty ông từ New York gọi dây nói báo cho ông biết tin thảm hại: Peggy và đoàn tùy tùng đã đến sân bay mà chưa có gì được sửa soạn để đón cô cả!
- Thưa ông, tôi phải làm gì bây giờ ạ?
- Trời, tìm ngay cho tôi một chiếc Boeing!
- Tôi đã cố rồi! Tất cả đều không bay!
- Thế máy bay thường kỳ của ta?
- Hôm nay chỉ có một chuyến. Hai phút nữa nó cất cánh.
- Giữ nó lại, đồ nhà thổ!
- Thưa ông, vâng. Nhưng nó đầy khách... Các hành khách thì tôi làm thế nào đây... ơ hơ... nếu có thể được...
- Cho họ xuống hết. Hết, ông nghe thấy không?
- Nhưng, thưa ông... khó đây...!
- Ông muốn giữ chức vụ ông không?
- Dĩ nhiên là muốn ạ...
- Vậy thì, nếu cần thì dùng súng phun lửa mà quét sạch chiếc Boeing chết dấp ấy đi, tôi cóc cần, mặc! Tôi lấy vợ, tôi ấy, ông hiểu không, đồ ngu! Thực hiện! Sau khi thu xếp xong lập tức lại gọi cho tôi!
Sau đó một lát, một cú dây nói đã làm cho yên tâm. Peggy đã bay đi rồi! Khi cô ta đến Athènes, Socrate đón cô ta, một bó hoa trong tay, nhút nhát như một cậu học sinh trung học. Ông đã chỉ thị cho người ta giấu giới báo chí trong vài hôm, nổ ra một trận la ó kịch liệt ở mọi nơi.
Một tờ báo Anh thậm chí đặt đầu đề cho bài xã luận ở trang nhất như sau:
PEGGY! BÀ KHÔNG XẤU HỔ Ư?
Các bài báo khác của tờ nhật báo cũng cùng giọng ấy, gây gổ, ác ý, cay chua, theo kiểu: “bà ta lấy một người có thể là bố của bà ta được” hay “thần tượng đã đi xuống bệ thờ” hay nữa “Bà vợ góa của Scott Baltimore đang làm nhục nước Mỹ”. Những câu nói ấy, có đến hàng trăm ở trong các tờ tạp chí của thế giới. Chỉ có vài ba tờ, nghĩ rằng dầu cho đám cưới này là công chuyện của người trong cuộc, họ không việc gì phải thưa gởi với ai hết. Peggy hôn vụng về lên hai má của Socrate:
- Em có thể giới thiệu mẹ với anh không?
Socrate tuy cùng tuổi với bà mẹ vợ tương lai, chợt thấy mình lùi lại đến mười tuổi. Ông không sao buông được bàn tay của Margaret Beckintosh đang nghiêm khắc soi rọi vào tận đáy tâm hồn ông. Cuối cùng, nhìn thẳng vào mắt ông, bà nói:
- Ông có thề với tôi là làm cho con tôi hạnh phúc không?
Cảm động một cách vớ vẩn, Socrate gật gật đầu nhiều lần trước khi nói:
- Vâng... tôi xin thề với bà!
Đến lượt bà hôn ông. Peggy đẩy hai con của cô ta ra đằng trước:
- Các con hôn Socrate đi!
Socrate cúi xuống thằng lớn đứng cứng nhắc như một cái gậy nhưng để cho ông hôn. Khi Socrate muốn nhắc lại việc đó với thằng bé thì nó khóc và rúc trốn vào chiếc váy cực ngắn của mẹ.
- Kìa, Christopher! Con làm sao thế?
Nhưng thằng bé bám riết lấy đùi Peggy, úp mặt vào hai tay khóc nức nở. Peggy cố làm cho nó nín:
- Con sẽ thấy con vừa đến đất nước đẹp nhất thế giới đấy! Con sẽ rất sung sướng!
Socrate thử bế lấy nó. Thằng bé nhảy nhót lên và gào to:
- Không! Không! Tôi không thích! Tôi không thích. Mẹ ơi!
Một cô bảo mẫu muốn xen vào, Socrate giơ tay ngăn cô lại. Peggy bĩu môi với ông, vẻ ngán ngẩm và nghịch ngợm. Socrate nói:
- Để cho tôi quen với cháu... Tôi yêu cháu lắm, rồi cuối cùng cháu sẽ nhìn tôi thôi...
Ở đầu cùng đường băng, hai chiếc máy bay lên thẳng chờ họ để đưa họ về đảo Rắn. Họ đi trong ba chiếc xe hơi đến đó, khi hai chiếc máy bay lên cao, các hành khách nhìn thấy được toàn cảnh sân bay: Nó đang bị một hàng rào cảnh sát bao bọc đẩy lui một đám người rất đông. Phía xa, người ta trông thấy biển. Peggy trìu mến nắm lấy tay Socrate và thì thầm với ông:
- Anh sẽ thấy... Em cũng sẽ làm cho anh hạnh phúc...
* * * * *
Buổi tối, sau bữa ăn gia đình, Socrate đưa Peggy đến phòng làm việc của ông. Hai người đang chờ họ ở đó: con lềnh đềnh dài ngoằng và gầy gò cùng đi với cô và một ông to béo thấp lùn đeo kính trắng. Con lềnh đềnh là cố vấn của Peggy, viên bi tròn thì bảo vệ lợi ích của Socrate. Dù mệt, viên bi và con lềnh đềnh đều đứng dậy đón tiếp cặp vợ chồng chưa cưới: từ hai tháng nay, mỗi người đều đã lao đao vất vả cùng với kíp luật gia quốc tế của mình để sửa cho thật chính xác bản hợp đồng hôn nhân kỳ lạ nhất, ngông ngược nhất xưa nay.
Tất cả đều được tính trước, thậm chí cả đến cái không thể lường được: chết chóc, tai nạn, tạm thời ly thân, ốm đau, việc học của các con, số lượng vệ sĩ, quốc tịch của các cô bảo mẫu, tiền tiêu pha vặt của người làm, mọi khả năng tật nguyền, điên, tàn phê - kể cả liệt dương - các dinh thự mà vợ chồng đến nghỉ hè và khi nào đến nghỉ hè, các giới hạn tự do của hai vợ chồng, các thầy thuốc cần khám xét trong trường hợp bị thương, tiền chi cho tẩm quất xoa bóp, săn sóc chân cẳng, thẩm mỹ hình thể, mỹ phẩm, giày dép, quần áo lót, tóm lại, chín mươi trang đánh máy không cách hàng và đầy chi chít những đoạn, những phụ chú, ghi chú, sửa đổi, ken xin xít như hàng song sắt cửa nhà tù. Trong một bảng đính kèm theo, trên những tờ riêng lẻ, gồm ba mươi trang, là của cải của từng người, vợ và chồng: Riêng của Socrate Satrapoulos là hai mươi tám trang, tượng trưng cho toàn bộ sở hữu mà một người, trở thành Thượng đế, có thể nắm giữ trong tay, dưới hình thức công ty, bất động sản vàng, tham góp vốn, trọng tải tàu chở dầu, ngân hàng, công ty hàng không, đất đai, tranh của các bậc thầy và các kho dầu. Thậm chí tính trước cả tiền điện, khí đốt, thuế, máy nói, vận chuyển, sưởi ấm, bảo dưỡng các dinh cơ khác nhau, không kể đến số lượng tem thư mỗi tháng Socrate chi cho Peggy là bao nhiêu.
Tóm lại thành 1.327 điểm cụ thể đề cập từ chiếc du thuyền đến đôi nịt bít tất.
Peggy không muốn đọc, nhưng Socrate nài quá thể, đến mức con lềnh đềnh phải lật giở cho cô các trang của bản hợp đồng, chỉ ngón tay vào những cái xem là chủ yếu, thí dụ, trong trường hợp chồng chết, Peggy sẽ được lĩnh một trăm năm chục triệu đô-la. Tiền trợ cấp hàng năm cho cô ghi thêm ở trên khoảng “tiêu vặt”, lên tới một triệu đô-la. Một đoạn khác: quyền tuyệt đối được mua ở ba nhà kim hoàn châu Âu, Paris, Luân Đôn, Athènes, tất cả những gì cô thích, nói cách khác là một tấm ngân phiếu khống chỉ khổng lồ dùng cho những sản phẩm đắt nhất trên đời, đồ nữ trang.
- Nếu bà vui lòng ký. - Viên bi nói.
Dưới dòng chữ “Đã xem và đồng ý”, Peggy áp chữ ký dứt khoát và con trẻ của cô ta vào đó. Cô kêu lên:
- Socrate! Còn số ngày mỗi tuần chúng ta cần ngủ riêng nữa chứ?
- Trang 72, đoạn 827. - Con lềnh đềnh vênh vang. Lềnh đềnh bắt tay viên bi. Socrate âu yếm hôn Peggy.
- Đừng lo, em yêu... tất cả, tuyệt đối là tất cả đều đã được tính trước hết rồi.
Trừ cái sắp sửa xảy ra.
* * * * *
Socrate nom buồn cười quá đến nỗi ông trở thành đáng thương hại vì thế. Hơn bao giờ hết, ông có vẻ như là vừa mới ở hàng bán quần áo cũ đi ra. Bởi một sự mê tín lờ mờ, con người không vứt một thứ gì đi bao giờ này đã cứ cố mặc lại cho buổi hôn lễ bộ alpaga đen này mà ông từng mặc ngày cưới Lena, đúng hai mươi năm trước đây. Ông sung sướng vì vẫn giữ được thân hình như xưa. Duy bộ mặt thì mang đến vết của thời gian trôi đi. Tóc hiếm hoi hơn, ngả trắng, bên dưới mắt sưng mọng, vết nhăn ở khóe miệng sâu hơn.
Nhưng khi ông cười thì vết nhăn mất đi như nhờ phép lạ và hai con mắt màu nâu của người đàn ông đào hoa thì lấp lóa sắc thanh xuân và quyến rũ. Ông đã già đi bởi vì ông không tin vào con người nữa - tin làm sao được khi họ gục ngã ở trước mặt anh? - nhưng ông vẫn còn trẻ bởi vì ông không chỉ tin vào đồng tiền mà còn tin vào cái đẹp xác thịt, vào thần thánh, vào phép lạ, vào may rủi, vào sự bất tử của ông, vào những xoay sở của thiên mệnh và vào một vài giá trị quá cũ kỹ ở trong trí nhớ ông đến nỗi ông không thể nói được là chúng từ đâu mà tới với ông nữa.
Ông đòi đám cưới của ông làm theo nghi lễ chính giáo. Người ta ngột ngạt trong ngôi nhà thờ nho nhỏ mà mùi hương thắt nghẹt lấy cổ họng. Chỉ có hai chục người được vào đó, cố lèn chen vào hai dãy tường dọc. Socrate đứng ở trước bàn thờ, một ngọn nến thắp ở trong tay trái, tay phải nắm lấy tay của Peggy cũng đang cầm một ngọn nến. Linh mục đảo Rắn phụ lễ cho ông tăng viện trưởng Corfou. Sau lưng Peggy là hai đứa con, Christopher và Michaël, hơi sợ hãi, ngơ ngác vì lễ cưới, vì những bài tụng ca hát bằng Hy Lạp, râu của những vị cha đạo, vàng của những pho tượng, sự bất động của những người dự lễ, tiếng dặng hắng khe khẽ khi ông tăng viện trưởng ngừng hát, bắt đầu lầm rầm đọc kinh, Peggy cũng cảm động như Socrate tuy cô ta im lặng suy tưởng vẫn cứ bị ý nghĩ ám ảnh quấy đảo: Chiếc váy chật và trắng cô đang mặc có ngắn quá không? Bất giác cô đưa tay kéo nó như để hạ nó xuống dưới đầu gối hở hang của cô, do đó lôi theo cả tay Socrate mà cô đang nắm chặt. Đầu ngón tay chạm bờ đùi cong cong của Peggy, ông gạt đi những ý nghĩ bất kính đang xô vào nhân sự tiếp xúc đó. Kallenberg nép vào trong cùng nhà thờ, một mình, đồ sộ, quá cao so với nhà thờ. Vì khiêu khích, ông đã đến, theo lời mời của Socrate, và Socrate mời ông cũng vì lẽ đó. Không hề thốt ra lời với nhau, Socrate đã nói: “Cậu hãy đến đám cưới của tớ, cậu sẽ thấy tớ lấy ai, tớ sướng như thế nào và tớ bôi cứt lên cậu đến đâu!” Bằng sự có mặt và vì ông đã nhận lời khiêu chiến, “Con yêu râu xanh” đáp lại: “Tớ đến đấy, tớ không sợ cậu đâu, hạnh phúc của cậu chẳng bằng hạnh phúc của tớ và tớ cũng bôi cứt vào cậu!” Dĩ nhiên là Irène không đến. Cô cảm thấy việc cô được mời dự chẳng khác nào một cái tát, một lời chửi rủa cô và một sự công kích toàn diện dòng họ Mikolofides vậy. Herman nhận dự vào cuộc vui, đó chỉ là thêm một sự phản bội nữa về phần ông mà thôi.
Maria và Achille, ông bố đã đe dọa cẩn thận để bắt dự buổi lễ, thì đứng trong hậu tẩm nhà thờ, đầu cúi xuống, tựa như hai anh em muốn làm những con người xa lạ với cảnh tượng này. Lúc giới thiệu, hai anh em lạnh lùng và xa cách nghiêng mình chào Peggy, không bắt bàn tay cô hồn nhiên chìa ra. Không xa hai anh em lắm là Nut, kinh dị trong bộ váy trắng mút-xơ-lin trắng mua ở hàng Givenchy, người đang bị những tình cảm hỗn tạp và trái nghịch giằng xé, chị vui thích là đã góp phần se duyên cho người bạn gái thân nhất và người tình xưa của chị, nhưng cũng có phần chua chát vì đã buông bỏ Socrate, người mà chị từng mơ hồ hy vọng có một ngày nào đó biến được thành chồng cho chị sử dụng. Còn mẹ Peggy, bà Arthur Erwin Beckintosh, bà cứ phô hoài ra một nụ cười men sứ tuyệt vời không thể rời bà suốt từ hôm qua, nói rất chính xác là từ lúc con gái bà ký vào bản đồng cưới xin thần kỳ kia.
Vẫn nắm tay nhau, Peggy và Socrate trao nến cho những người phụ lễ. Ông tăng viện trưởng đưa cho họ những chiếc nhẫn cưới đặt trên quyển kinh thánh. Theo truyền thống thì nhẫn cưới được trao làm ba lần. Ông giám mục sau đó tuyên đọc công thức nghi lễ chính giáo:
- Kẻ bày tôi chúa, Socrate đã được nối dây hôn nhân gắn bó với kẻ bày tôi chúa, Peggy, nhân danh Cha, Con và Thánh Thần!
Trong vòng ba giây đồng hồ, ông giơ lên trên đầu cặp vợ chồng mới những vòng hoa và cành lá gài quấn quýt vào nhau. Sau đó Socrate và Peggy uống ba ngụm rượu vang, đi vòng quanh bục trên đặt cuốn sách thánh ba lần: bây giờ thì họ thật sự thành vợ thành chồng.
Trước cửa ra vào nhà thờ, ngay giữa nắng, đám khách được những chuyến chuyên cơ chở từ khắp nơi trên thế giới đến đang xô đẩy nhau, Dodino nhăn mặt lại, vờ phát hiện ra Raph Dun:
- Kìa... Một hành khách lậu vé!
- Trái lại, không còn ai chính thức được hơn!
- A! Thế tốt... tớ độ chừng cậu là thuộc vào số những tình cũ của cô dâu, đúng không?
- Không hề! Tớ là khách mời riêng của con gái ông chồng tương lai. Với tư cách người tình tương lai.
- Cậu lại có thể vớ lấy khúc dồi nhồi đô-la ấy được ư?
- Sao lại không chứ?
- Đã đánh đĩ với đại tư sản thì tớ thích thà là lấy thằng anh còn hơn. Nó chơi khỏe hơn!
Tiếng râm ran vui mừng kéo dài đón tiếp cặp vợ chồng mới ở trong nhà thờ đi ra. Cuối cùng, các vị khách nhanh nhẹn ném lên người họ những vốc gạo và hạnh nhân tẩm đường dính nham nháp ở trong tay họ. Biểu tượng cổ xưa của Hy Lạp: đường là hạnh phúc, gạo là cho sinh đẻ dồi dào. Hạnh phúc thì cho qua được! Nhưng còn sinh đẻ dồi dào...? Không ai trong bọn khách được biết đến khoản 9 của bản hợp đồng cưới xin: “Trong bất cứ trường hợp nào, Peggy Satrapoulos cũng không được cho chồng mình có người thừa kế. Một chi tiết cho thấy chỗ khác nhau giữa việc đặt nước Mỹ nằm giữa tênh hênh ra với việc chứ còn bao giờ có thể đặt chân trở lại nước Mỹ nữa. Mặc dù không khí long trọng của giờ phút này, “tên rậm râu”, viên thư ký riêng của Socrate vẫn đến cạnh ông, đi mấy bước rồi luồn vào tay ông một mẩu giấy nho nhỏ. Không hề có ai để ý thấy, Socrate lùa nó vào trong túi. Chờ lúc Peggy bị nuốt chửng vào trong đám đông bè bạn chúc mừng cô, ông mới kín đáo liếc đọc nó. Đó là một bức điện gồm chín chữ:
CHÚC MỪNG CẢ HAI RẤT NHANH CHÓNG NGOẺO SỚM
Không có chữ ký. Với một đôi chút nhớ tiếc, Socrate nghĩ rằng Menelas đã chẳng quên ông.
------------------------------------------------
[1] Viết tắt chữ Grecian Air Line: Hàng không Hy Lạp (T. Anh).


0
Phần thứ năm
 
34
 
Ngoài khơi Mykonos, mất hút trong vùng biển Cyclades có một hòn đảo nhỏ đẹp đến làm cho nghẹt thở. Nó tên là Ixion. Mười năm trước Kallenberg đã mua nó ở chính phủ Hy Lạp hai triệu đô-la. Để thu dọn theo thị hiếu của ông, ông chi cho nó bốn triệu nữa. Nhìn từ trên máy bay, hòn đảo phảng phất có hình thù một miếng xương, một hình chữ nhật hẹp dài phình ra ở hai đầu.
Lúc mua nó, do mê tín, Irène đã nài nỉ cho đặt tên lại cái đảo đá hoang dại này. Vì khiêu khích cũng như vì muốn làm trái ý vợ, Kallenberg đã từ chối. Đầu óc ngang tàng hay ít ra thì muốn làm ra như thế, ông đã cười giễu câu chuyện dã sử có tính huyền thoại cổ lỗ, biến nơi này thành một chốn ma làm quỷ ám, bị cánh ngư dân đi ngang qua ở ngoài khơi lảng tránh. Câu chuyện dã sử cho rằng Ixion, vua xứ Lapithes đã từng chịu đựng ở trên đảo sự trừng phạt dành cho những kẻ vong ân bội nghĩa dưới hỏa ngực. Thần Hermès đã lấy rắn rết trói ông vào một bánh xe quay không ngừng ở dưới đáy Tartare, cái vực sâu vô cùng tận được bảo vệ bằng “lớp rào đồng thau” mà Homère đã tả trong cuốn Iliade kia.
Nhưng Kallenberg mặc xác Homère, coi như chiếc sơ-mi đầu tiên của ông thôi. Ông đã làm thành công điều ông mong muốn: Biến hòn đảo thành một thiên đường, bằng hay hơn về mọi mặt Serpentella, hòn đảo của Socrate:
Khách khứa chung quanh của hai ông chắc sẽ rất lúng túng nếu người ta bảo họ chọn lấy một trong hai kỳ quan ấy. Cho nên họ đều cố thủ trong một thái độ khôn ngoan: trước mặt Satrapoulos họ không bao giờ nhắc đến Ixion và trước mắt Kallenberg thì chữ Serpentella, đảo Rắn, bị coi như một câu chửi độc địa.
Tối hôm ấy, Irène ở một mình trong tòa nhà trắng mênh mong đầy những tranh của các bậc thầy và đồ vật quý hiếm, nghĩa là một mình với ba chục gia nhân trông nom cho bộ máy chạy được êm ru. Cô đã nốc cạn nửa chai uýt-xki để đánh tan nỗi phiền nho nhỏ xâm chiếm cô từ sau khi hai đứa con cô lên đường đi Luân Đôn.
Chưa đến một giờ trôi qua từ lúc chiếc máy bay lên thẳng của hai đứa trẻ cất cánh thì một chiếc khác đã hạ xuống trong tiếng nổ ầm ầm của động cơ bị người ta hành hạ. Irène kéo tấm mành buông ra và trông thấy Herman nhảy xuống đất, lịch sự chìa tay ra cho cô gái tóc vàng, dài và mềm mại cô chưa gặp bao giờ. Cô vội chải lại đầu tóc, sửa sang lại phấn son, khoác vào một chiếc áo dài Trung Quốc mặc ở trong nhà, nằm lên giường và cầm lấy một quyển sách ca ngợi thánh Thomas d’Aquin, vờ đọc với một vẻ tập trung sâu xa và thành kính. Vài giây sao, Kallenberg đẩy cánh cửa và đánh rầm vào tường...
Thấy Irène, ông bĩu môi ngán tởm:
- A, cô ở đây à?
- Kìa, anh đã về...
Ông nhún vai:
- Làm như cô không nghe thấy máy bay ấy! Trẻ con đi rồi à?
- Đi rồi, lúc nãy. Anh có một mình?
- Việc đó bận gì đến cô?
- Không gì cả... Hỏi để làm cơm tối!
- Tôi sẽ ăn với một cô bạn.
- Không có em ư? - Cô õng ẹo.
- Ừ, không có cô. Cô làm cho tôi ăn hết ngon.
- Ai thế?... Cô bạn ấy?
- Dính gì đến cô? Một chị giúp việc mới nói bốn thứ tiếng. Kích thước người: 90-52-92, vòng ngực, vòng eo, vòng mông.
- Anh tìm thấy ở trong nhà thổ à? - Irène hỏi, giọng hết sức ngọt ngào.
- Đúng, ở cái nơi mà tôi chẳng bao giờ sẽ gặp được cô ả. Cô xấu quá, cô không kiếm ra nổi xu nào đâu!
Thánh Thomas d’Aquin bay đến đập vỡ những chai lọ trên bàn trang điểm và Irène nói, giọng lạnh băng:
- Anh hãy đi yêu cầu con đĩ ấy ra khỏi nhà tôi lập tức! Nếu anh không làm thì tôi sẽ ra đuổi nó!
- Marina ăn riêng với tôi. Chúng tôi có việc phải giải quyết. Bây giờ nói thêm một câu nữa là tôi nhốt cô ở trong buồng cô ấy!
Ông giật mạnh chìa ở trong ổ khóa ra, nhảy một cái ra hành lang, và tra lại khóa từ bên ngoài. Để không bị nhốt, Irène xô ra. Mỗi bên lấy hết sức kéo cánh cửa lại phía mình, Kallenberg chắc thắng, bật phì cười thì Irène chẹt bàn chân vào khe cửa “Con yêu râu xanh” cứ kéo tiếp... Irène hét lên:
- Ngừng tay! Anh làm gãy mắt cá tôi rồi! Đồ vũ phu!
Ông bị lừa, nới tay ra, Irène bèn lợi dụng cơ hội thò chân qua khe cửa hở, đá một cái kinh khủng vào hạ bộ ông:
- Này! Cùng với lời chúc mừng Marina của anh!
Herman càu nhàu đau đớn và giận dữ. Ông mở toang cửa ra. Irène không kịp tránh, ngã lăn quay lơ giữa buồng...
- Con đĩ! Mày rồi trả nợ tao!
Ông đi đến bên cô, mặt đỏ lên vì đau, hai tay ôm lấy bộ phận sinh dục. Irène cười khẩy, vừa sướng, vừa sợ lẫn lộn, lẩm bẩm:
- Đáng đời! Bây giờ đi mà đéo nó đi, đi đi!
Hai tay vẫn co quắp ở bụng dưới, Kallenberg đã tới tấp vào bụng, mỏ ác, mạng sườn, vú, đùi cô. Vừa lăn lộn cô vừa chửi:
- Đáng đời! Đáng đời! Thằng tồi!...
Herman ngưng đánh, e cô ngất đi. Ông cúi xuống cô, đồ sộ, rồi tát cho hai cái vào giữa mặt cô. Cô mở một con mắt ngơ ngác ra. Ông quay gót, ra khỏi phòng và khóa cho hai vòng khóa. Irène vẫn nằm đó, im lìm, hơi thở ngắn gấp và giật đoạn, hai mắt long lanh mở đăm đăm. Cô quay mình nằm sấp xuống, để mũi gí một lúc vào tấm thảm. Rồi cô bò lết lại chiếc tủ ngăn kéo.
Vẫn nằm dài trên thảm, cô cầm lấy chai uýt-xki - thực tế là một bình nước hoa Pháp mang nhãn Guerlain - và tu ngấu nghiến một ngụm dài. Lúc đang say đòn, cô không cảm thấy gì.
Bây giờ cô thấy các cơ bắp đau đớn. Rên rỉ, cô cầm lấy hộp thuốc đổ hết vào lòng bàn tay, dốc cả vào trong mồm rồi chiêu một ngụm uýt-xki Scốt-lơn nữa. Cô cảm thấy sắp ngất đi. Cô gắng gượng đậy lại nút bình Guerlain - Không ai có thể biết rằng cô giấu rượu của cô ở trong đó. Trước khi mê đi, ý nghĩ cuối cùng của cô là về ông chồng:
- Lần này, Herman đã đi quá trớn!
* * * * *
Peggy lên sáu và là bà hoàng. Cô ta ra lệnh, người ta vâng theo. Cô ta đòi hỏi, người ta cúi mọp xuống trước mặt cô ta. Cô ta mong muốn thì liền được ngay. Lấy Socrate, cô không hề tưởng tượng được rằng thiên hạ lại có thể quỳ mọp ở dưới chân cô đến mức này bao giờ. Để đi lại, cô có một chiếc Boeing cho riêng cô. Những nhà cắt may nổi tiếng nhất lập tức đến ngay cùng với khung cốt người mẫu, hành lý một khi cô ngỏ ý muốn xem sưu tập của họ. Cô muốn có một đồ nữ trang thì những nhà kim hoàn châu Âu hay châu Mỹ liền đổ xô đến. Bất cứ cái gì cô làm, bất kỳ chỗ nào cô đến, bất kỳ cái gì cô muốn, cô chỉ có việc ký là xong. Socrate trả tiền theo hóa đơn.
Dĩ nhiên, đôi khi cũng có những vụ đụng độ nho nhỏ. Nhưng nói chung, chồng nhượng bộ, và cô thắng. Khi ông giận quá thì ông biến đi trong nhiều ngày mà chẳng ai hay là ông đến đâu. Phải nhờ các nhà đưa tin về xã hội thượng lưu nhắc tới mới biết được là người ta trông thấy ông tại Paris, ở hàng Régine hay ở Castel, tại Roma với một cô tóc vàng, tại Munich hay tại Luân Đôn, trong một tiệm ăn thời thượng. Kỳ trăng mật của họ kéo dài một năm. Tuy nó bị những nhà báo thường xuyên bám sát theo gót họ làm cho kém vui đi một phần. Anh phóng viên nhiếp ảnh ngây thơ nhất cũng không lạ gì một loại ảnh về cặp vợ chồng nổi tiếng nhất thế giới sẽ có thể mang lại cho anh cái làm cho anh sống được nhiều năm bằng lãi suất tiền gửi ngân hàng của anh. Cho nên những hoạt động, rất đơn giản đối với những người trần mắt thịt như đi xem một buổi chiếu bóng, một trận đấu quyền Anh hay một quán rượu thú vị thì đối với Socrate và Peggy thường thường lại biến ra thành một cuộc chạy trốn - đuổi bắt kết thúc bằng đấm đá vật lộn. May sao họ không luôn ở bên nhau!
Hôm sau ngày cưới, trước bất bình của Peggy, Socrate đã phải đến Tokyo vì một áp phe hai triệu đô-la. Vừa mới trở về đảo Rắn, ông lại đi ngay Copenhague. Không chờ ông về, Peggy bay luôn đi New York, nơi hai đứa con về lại quê cha đất tổ vài giờ sau lễ cưới, gọi dây nói báo cho mẹ rằng: “Chúng nhớ mẹ”. Sau khi làm trọn nghĩa vụ người mẹ, cô lại hạ cánh xuống Luân Đôn, theo lời hẹn của Socrate. Họ đã qua hai ngày tuyệt vời, hẹn tuần sau gặp lại nhau ở Nassau. Tuy là vợ chồng, họ đối với nhau như người tình, định các cuộc gặp gỡ theo thời khắc biểu của họ, trốn tránh để gặp nhau vì đám nhà báo, bay từ thủ đô này đến thủ đô kia như người ta đến hàng chạp phô vậy. Xô xát bắt đầu một cách chính xác ngày hai người sống chung ở bên chiếc Phi Mã. Peggy tự làm cho nhân viên và đám đầy tớ nhất loạt thù ghét trong một thời gian kỷ lục. Cô không ngại ngùng đánh thức người hầu phòng dậy lúc bốn giờ sáng để bảo thay chai sâm-banh vĩnh cửu chưa được lạnh lắm. Cô có một sở thích mãnh liệt đối với trang trí khiến cho cô bất kể đêm ngày lúc nào cũng đảo lộn tanh bành lên cả những đồ đạc trong phòng. Cô lắm trò tưởng tượng. Phật ý cô là bằng chịu một sự khép tội không kháng cáo mà ngày giờ hành án xa hay gần trông vào sự kháng cự của Socrate đối với những cơn động cỡn của cô. Một chị sen quá xinh đẹp: đuổi việc! Một món ăn không hợp khẩu vị cô, người ta thay luôn đầu bếp, điều làm cho Socrate tức tối - vì sợ béo, Peggy chỉ nhấm qua quýt rau xà lách và một miếng thịt rán, ngửi hay nếm phất phơ những món ăn phức tạp chính cô yêu cầu làm. Đặc biệt ở trên du thuyền, những cuộc cãi cọ mới dữ dội. Bị giằng xé giữa nỗi e ngại làm vợ phật ý và nỗi lo âu bị các đầu bếp coi ông như một người hèn yếu, đôi khi Satrapoulos quát lác rầm rầm lên, điều chỉ duy nhất mình ông lừa mà thôi.
Trong thực tế, Peggy nhiếp chính tất cả, và chồng cô ta, như Napoléon, chị còn có một chước là cao chạy xa bay. Ông đã lén lút gặp lại Menelas để “giải thích” với chị về việc ông cưới vợ. Đều kỳ, họ hẹn gặp nhau ở Milan hay Paris và đi ăn tối như “bạn hẩu” ở các quán ăn gợi lại cho họ quá khứ. Gặp lại luôn các bạn trai ở New York, Peggy cũng không ngặt lắm với ông về chuyện này.
Tự biết cô là duy nhất, và đang là thế thật, cô cư xử như một nữ thần đứng ở bên ngoài, không đối thủ. Chẳng ngày nào mà lại không có hàng trăm tờ báo trên thế giới bàn về họ. Việc thiếu tin tức không hề bó chân tay người ta: người ta bầy đặt ra tin tức! Vợ chồng Satrapoulos không hề phản ứng gì hơn nữ hoàng nước Anh vốn không đáp lại bất cứ một công kích nào bao giờ. Có thể là giống như một bà nữ hoàng, họ cũng cảm thấy họ mang trong người giọt máu thánh thần. Cùng một tối, họ có thể mỗi người riêng rẽ ở một dạ hội liên hoan ở một nước khác. Khi gặp lại nhau, họ khen nhau về những phim hay ho của hội vui lọt đến tai họ. Đều kỳ, người ta báo tin họ ly dị, điều làm cho số phát hành của các tạp chí leo vọt lên cao. Đối với họ, công chúng có cái phản ứng giống như các đứa trẻ mà người ta đã kể cho hàng trăm lần cùng một câu chuyện: Ô, lại thế! Các cuộc ly dị bố vờ của họ và những thai nghén hão của Peggy là món ăn béo bở của báo chí quốc tế từ ngày họ lãy nhau gần bốn năm nay. Với đôi chút suôn sẻ, điều này có thể kéo dài đến ba mươi năm nữa, vì lẽ các đứa con riêng của họ, những kẻ thừa hưởng gia tài mênh mông của họ, sẽ chẳng mấy chốc lại kế tục họ, cái ngày mà họ đã quá tàn tạ hay lăn quay ra ngoẻo!
Nhưng số phận đã định rằng sự việc sẽ không xảy ra theo cách đó. Một guồng máy của định mệnh sắp làm chuyển động một dây chuyền những sự kiện khác thường. Nhìn bề ngoài, sự kiện đầu tiên của loạt sự kiện đâu có dính dáng đến Socrate, lại càng không dính dáng hơn đến Peggy. Vậy mà, khi nó nổ ra như một quả bom, thì những kẻ chua cay, những kẻ ghen tị, những kẻ mê tín, đều có linh cảm rằng những hậu quả của nó rồi sẽ chẳng có dè nể một ai hết đâu.
Tựa hồ, ở một nơi nào đó, có một chủ sòng vô hình đã xướng to lên các công thức nghi lễ báo cho các con bạc biết rằng quả cầu đã chạy rồi, và nó đang điên loạn [1] lên kia kìa: “Thôi thế là chịu phép!”
* * * * *
Sau khi ăn xong bữa tối với người giúp việc mới của ông - Hoa khôi 90-52-92, Kallenberg về phòng làm việc. Ông đang cơn cáu kỉnh và ở chỗ bị chân Irène đá vào thì đang đau nhoi nhói. Người ta gõ cửa. Đó là Alain, người hầu riêng của ông:
- Thưa ông, ông cần đến ngay ạ! - Jeanine nhìn thấy bà nằm ở dưới sàn trong buồng bà.
- Thế nào, ở dưới sàn?
Kallenberg đứng dậy đi theo tên đầy tớ.
- Thưa ông, ta lên nhanh ạ... Jeanine rất lo ngại...
Khi họ đến, Jeanine đứng dậy. Chị đang ngồi xổm cạnh Irène nước mắt vòng quanh:
- Mau mau, thưa ông! Phải làm gì đi thôi... Một bác sĩ...
- Thôi, thôi! Không phải lần đầu tiên bà váng vất thế này đâu!
Herman bế xốc Irène lên và quăng cô xuống giường. Ông thấy người cô lạnh toát. Nhưng ông có cảm tưởng mạch cô đang đập khe khẽ. Rất khẽ.
- Đi lấy muối ngửi... Tôi thử cố làm cho bà tỉnh lại... Irène!... Irène!... Có nghe thấy không? Jeanine, chị giúp tôi... Nâng bà lên một chút...
Ông tát khẽ vào hai má vợ, không kết quả nào khác là làm cho đầu cô ngật sang bên trái, sang phải.
- Irène!... Kìa, Irène!... Tỉnh lại... Alain, muối ngửi!... Jeanine, cô y tá đâu?
- Bà cho cô ấy nghỉ sáng nay...
- Trời đất!... Khoan... Nâng bà ta lên nữa đi... Irène!...
Mí mắt Irène như cô chấp chới...
- Các anh chị xem kìa, ăn thua đấy! Khá hơn rồi!... Đặt bà ta nằm xuống, ta để cho bà nghỉ ngơi... Alain, anh gọi giáo sư Kiralles... đến mau... tôi cho máy bay lên thẳng đi đón ông ấy... Ông ấy quen rồi...
Mười phút sau, Alain quay lại.
- Gọi được chưa?
- Giáo sư chưa về ạ, thưa ông. Người ta đang chờ ông ấy... Tôi đã yêu cầu ông ấy về thì gọi ngay cho ông. Ông có muốn tôi báo bác sĩ Salbacos không?
- Tôi muốn trước hết là người ta kín miệng và không làm lộ cái chuyện này ra, hiểu chứ? Vì ông bạn Kiralles của tôi sắp trở về rồi thì thôi chờ ông ấy. Để tranh thủ thời gian, anh bảo người lái cất cánh bay đi Athènes.
Jeanine ngập ngừng:
- Còn bà, thưa ông?
- Chúng ta ở lại đây với bà. Chị còn đề nghị gì nữa không?
- Thưa ông, không.
- Nếu bà cựa mình thì gọi tôi nhá! Tôi lại thử đi gọi giáo sư Kiralles xem...
Kallenberg để chị sen lại đấy, chị vội xuống cầu thang, quay số máy nói riêng của giáo sư... Kiralles vẫn chưa về. “Con yêu râu xanh” bèn thử tiếp xúc với bác sĩ Salbacos: ông vừa mới đi xong.
Sau bốn mươi lăm phút tìm gọi không có kết quả, Kallenberg trở lên phòng Irène để trông thay cho Jeanine. Ông thấy chị đang khóc.
- Sao?
- Ông ơi, bà chết rồi!
Chị sen ngây ngây ngô ngô nhìn ông, lấy ông làm nhân chứng cho một sự kiện đối với chị ta hình như không thể quan niệm nổi. Kallenberg đi vội đến bên giường nhìn mặt Irène nhợt nhạt rồi đặt tay lên trán cô. Dưới nhà, chuông máy nói réo lên. Chắc Alain cầm máy vì tiếng chuông cùng lúc lại im. Jeanine bật khóc nức nở, đứng dậy rồi đi ra. Chị gặp Alain đang lên gác...
- Gọi được bác sĩ rồi... Ông ấy sắp đến...
- Muộn quá rồi... Quá muộn rồi...
Chị khóc nghẹn ngào. Một giờ sau, bác sĩ Salbacos bước vào phòng khách.
- Bà đâu?
Jeanine vẫn nức nở, có hai chị nấu bếp và một quản gia dìu đỡ. Chị ngơ ngác lắc đầu, không nói ra được điều chị muốn nói, nhưng vẫn đi vào cầu thang, dẫn mọi người lên gác. Salbacos hiểu rằng ông không cần phải làm gì nữa. Không cả bắt tay Kallenberg, ông cúi xuống người Irène, lộn một mi mắt lên, bắt mạch và không thiết ghé tai lên ngực nghe ngóng: Tất cả điều ông có thể nói được, qua mắt ông nhìn, là người đàn bà.
- Xảy ra như thế nào?
“Con yêu râu xanh” chỉ vào hộp thuốc rỗng không.
- Thuốc ngủ? - Salbacos hỏi.
“Con yêu râu xanh” gật đầu.
- Trong hộp có nhiều không?
- Nhà tôi uống suốt ngày.
- Ông không thử làm cho bà nôn ư?
- Ông biết đấy... Xảy ra nhanh quá... Tại sao nhà tôi lại tự sát cơ chứ? ... Tại sao?...
- Ông Kallenberg... Ông thấy các vết ở trên mặt bà đấy chứ? Đó là những vết bị đánh. Ai thấy bà Kallenberg bất tỉnh?
- Jeanine, chị sen của nhà tôi.
- Bà nhà trước khi chết có cãi cọ với ai không? Với ai?
Kallenberg có vẻ bối rối:
- Ông muốn nói đến những vết tát? Tôi tát mà! Jeanine và Alain sẽ bảo ông... Tôi thử làm cho nhà tôi tỉnh lại...
Jeanine và Alain hăng hái gật đầu. Alain nói rõ:
- Ngay khi Jeanine thấy bà như thế, ông đã làm mọi cách để cho bà tỉnh lại.
- Đúng thế! - Jeanine tán đồng - Hoàn toàn thế!
- Ông Kallenberg! Tôi có thể gọi máy nói được không đây?
- Alain, dẫn bác sĩ đến phòng khách.
Trong khi Salbacos gọi dây nói, một chiếc máy bay lên thẳng đỗ xuống không xa ngôi nhà lắm. Vén rèm cửa sổ, “Con yêu râu xanh” nhẹ người nhìn thấy đó là giáo sư Kiralles. Kiralles là một trong những người bạn thân nhất của ông: Ông còn góp tiền cả cho bệnh viện của Kiralles.
- Bạn thân mến!... Hình như tôi đến chậm!
- Than ôi!...
Đến lượt Kiralles xem qua loa Irène, thấy những vết tát nhưng không bình luận gì cả. Ông cầm lấy hộp thuốc rỗng và có vẻ phiền muộn:
- Irène tội nghiệp... Chắc là chị ấy không vượt qua được cơn suy sụp thần kinh.
- Nhà tôi thần kinh lôi thôi lắm. Các con chúng tôi vừa mới đi Luân Đôn mà!
- Giáo sư! - Bác sĩ Salbacos bước vào, chào.
- Thật là buồn - Kiralles đáp, liếc nhìn Irène. Rồi nói với Kallenberg:
- Ông bạn tội nghiệp... Tôi chia buồn với anh... Khốn thay, đối với việc tự sát, tất cả chúng ta đều bất lực cả thôi.
Salbacos nhếch một lông mày lên:
- Thưa giáo sư, ông có thấy những vết tát trên mặt bà Kallenberg không?
- Tôi đã nói với ông là tôi tát để cho nhà tôi tỉnh lại rồi mà! - “Con yêu râu xanh” xen vào - Các người làm nhà tôi cũng nói với ông như thế!!!
- Ông bạn đồng nghiệp thân mến ơi, - Kiralles nói với một đôi chút giễu cợt - thuốc ngủ không độc hại bằng một cái tát đâu. Nếu ông vui lòng đi với tôi thì chúng ta sẽ thảo bản chứng nhận khai tử và ký giấy cho phép chôn cất.
- Được lắm, thưa giáo sư. Tôi xin theo giáo sư.
* * * * *
- Tại sao anh không lấy em?
- Người ta sẽ bảo là anh lấy tiền của em mất.
- Tiền nào? Để ngăn em sống với anh, bố đã cắt hết nguồn cung cấp cho em rồi cơ mà.
- Nhưng có ngày em sẽ được thừa hưởng gia tài. Con người ta tởm lợm lắm, em biết đấy...
- Ta mặc kệ mọi người! Ta sống cho ta, đúng không?
- Anh già quá so với em.
- Thôi, ngừng vở kịch của anh lại đi, Raph! Em lại tìm thấy hai bức thư của các cô mê anh ở trong tập thư mới đến sáng nay đấy!
- Ở tập thư?
- Không, trong túi anh...
- Tại sao em lục túi anh?
- Anh bảo em lấy bật lửa...
- Đáng đời anh. Lần sau, anh sẽ nhét một bao diêm ở rốn mới được.
- Raph...
- Hử, Maria...
- Tại sao anh không thử... với bố em?
- Ông ấy sẽ bảo em là đáng tuổi con gái anh!
- Thì đã sao? Tất cả đám đàn bà ông ấy lăng nhăng đều có thể là con gái ông ấy hết thôi! Kể cả mẹ nữa!
- Có khác. Ông ấy giàu! Anh thì không.
- Raph, em xin anh, anh hãy thử xem, hỏi ông ấy cho anh cưới em đi.
- Để làm gì? Như thế này không hay rồi sao? Cho đến nay ta có cần gì phép tắc của ông ấy đâu!
- Em muốn xây dựng cuộc đời với anh, Raph...
- Thì chính là em đang làm đấy thôi!
- Không như thế này đâu!... Chính thức cơ!
- Em tưởng là quan hệ của chúng ta chưa được thiên hạ biết một cách “chính thức” hay sao?
- Em muốn có một đứa con với anh, Raph...
- Thì ngay lập tức đi, thưa bà! Cởi quần áo ra!
- Không, Raph, rất đứng đắn đấy!
Raph Dun có một cử chỉ bực dọc:
- Nghe này, Maria, xin đủ đi! Em biết rất rõ là nếu anh đến gặp bố em thì anh sẽ bị tống cổ như một thằng xin việc. Trong con mắt ông ấy, anh chỉ là một thằng nhà báo thảm hại, không kiếm nổi ra được mười triệu đô-la một năm, như mọi người.
- Được... vậy thì em sẽ nói với bố... Nếu em hẹn với anh, anh có đi không?
- Sao lại không chứ?
- Tốt lắm, em lo cho cái khoản ấy!
Dun cười thầm trong bụng. Cô bé này, Maria, rất ly kỳ. Cô yêu anh. Từ hai năm nay, anh sống với cô bé, từ khách sạn lớn này sang khách sạn lớn khác, hy vọng Socrate ớn lên vì sự dai dẳng đó, sẽ van xin anh chính quy hóa và trở thành con rể của ông. Anh lại cần phải gắp gáp lên mới được: số vốn của anh đang tụt xuống một cách nghiêm trọng, mặc dù khoản chu cấp không thể chối cãi mà lòng say mê không giấu diếm của cô gái thừa kế giàu nhất thế giới đã mang lại cho anh. Đối với những chủ nợ giục giã anh, Raph có một nụ cười bí ẩn phối hợp với cái câu khó hiểu sau đây: “Các ông hãy chờ chút xíu... Có thể là các ông đặt một khoản đầu tư ghê gớm cũng nên cơ đấy?”
Cho đến bây giờ, mọi sự ổn cả. Ngoài ra, anh đang làm một vụ buôn đi bán lại ra trò có thể mang lại cho anh một món rất lớn - dĩ nhiên nếu trúng quả. Dù sao thì Maria vẫn gánh vác hết, tuy cô đã tặng anh một chiếc xe hơi Aston Martin và nhiều đồ nữ trang khác nhau rất quý giá mà nếu bán đi anh sẽ có thể bù đậy lại được những khoản đầu tư đã được cô bé thỏa thuận với danh nghĩa là tiền chi trước cho việc nuôi sống anh. Anh hết sức biết rõ là, không bao giờ Socrate lại muốn anh làm rể ông cả. Nhưng có ai biết được thế nào nữa. Anh nhớ lại câu châm ngôn cũ: Nghề báo dẫn đến mọi sự, chỉ cần xoay sở giỏi.
Ngoài Maria, cái két lưu động dùng làm bạn đường của anh ra, nghề báo vẫn chưa đưa được anh tới đâu cả. Nhưng anh lại cần phải gấp gáp. Anh đã năm mươi.
* * * * *
- Anh tưởng là bác anh buồn vì vợ bác anh chết à?
- Anh chẳng rõ nữa. Ông ta cũng chẳng tồi hơn hay kém hơn người khác đâu.
- Thì hơn bố anh chứ?
- Ngang nhau. Thật ra, ở mức tiền bạc và thế lực này, các khái niệm truyền thống đều bị hiểu sai hết cả rồi. Trong áp phe, người ta không dùng chữ tồi. Người ta dùng chữ “hữu hiệu”.
- Thế anh, tại sao anh không là một thằng tồi?
- Anh cũng tồi như họ thôi, vì anh không thể sống ở ngoài hệ thống của họ được. Tất cả những gì anh có thể biết, là Kallenberg không yêu gì anh.
- Vậy thì ông ấy yêu cái gì?
- Yêu bản thân ông ấy. Yêu cái ông ấy tưởng là ông ấy! Và yêu tiền. Vì bản chất, bố anh cũng thế. Giữa công việc làm ăn, con cái và vợ thì ông ấy yêu công việc làm ăn hơn.
- Nào anh có thiếu một cái gì bao giờ đâu.
- Thiếu quá chứ! Tình yêu, khi còn bé, chiến đấu chết đi được ấy chứ.
- Anh thấy rõ là anh có chết đâu!
- Một cách nào đó thì là có chết đấy. Đôi khi anh đã thầm hỏi là liệu anh có còn đang sống không đấy! Anh biết mười mươi là anh chết sớm.
- Đồ ngốc! Anh định làm em sợ hử?
- Không, đấy là một cảm nghĩ. Em xem đấy, bọn người của thế hệ này, khi còn là trẻ con, họ đã phải chửi rủa khá là độc địa đấy! Ở điểm này mà lại muốn chứng tỏ, phô phang sức mạnh của mình ra thì là chuyện không bình thường.
- Bố anh vào đời như thế nào?
Achille ghì chặt hơn cánh tay anh vào quanh cổ Gioan. Chị hôn hai bàn tay anh.
- Bí ẩn. Loại đề tài kiêng kỵ trong gia đình. Nhiều người biết các chuyện của bố anh. Nhưng anh là con ông, anh lại gần như không biết gì hết.
- Ông anh có là chủ tàu không?
- Không. Thương nhân thì phải.
- Thế bà anh?
- Bà chết khi anh mới lên hai hay ba tuổi. Ở chỗ này cũng lại là một điều bí ẩn... Em biết nhé, về phía mẹ anh, người ta biết hết từ ông bà ông vải. Nhưng ở họ Satrapoulos, khi người ta không giàu thì người ta không tồn tại. Bố không nói đến ông và bà bao giờ. Tựa như ông ấy đẻ ra đã mồ côi vậy.
- Anh đã thử hỏi ông ấy chưa?
- Chưa.
- Tại sao?
- Không biết. Ngày một ngày hai rồi cũng sẽ cần phải...
- Anh không muốn biết à?
- Có chứ. Nhưng đồng thời nó cũng lại làm anh hoảng. Nếu người ta không nói gì với anh cả thì là vì chẳng có gì đáng để tự hào hết.
- Nhưng nhìn bên ngoài thì hình như các thành viên họ anh có đủ mọi cái để mà sung sướng đấy chứ.
- Chắc chắn là không phải rồi! Các thắng lợi của họ làm cho họ thèm khát. Họ đói khát thắng lợi. Đó là những kẻ ăn thịt người ở trong một cái vòng luẩn quẩn. Họ luôn luôn phải xơi một cái gì hay một ai đó. Khi không có người nào để cho họ nhá thì họ xơi lẫn nhau.
- Có từng ấy tiền rồi xỏ lá lẫn nhau, anh có thấy điều ấy đáng sợ không?
- Không nên có những cái ấy quá nhiều. Đây là một sự lựa chọn. Đời sống hay tiền, tình yêu hay đạn [2]. Các cái đó không đi cùng với nhau. Thôi, tán phét đủ rồi, ta sẽ bay qua các hòn đảo, em sẽ điên lên vì chiếc máy bay mới của anh!
Achille lái máy bay từ năm mười sáu tuổi. Đôi khi, ở trên mặt biển, anh để máy lái tự động, rồi làm tình với chị ở ngay giữa trời.
- Em chải lại đầu rồi em đến ngay!
- Nhanh nhanh lên! Anh không muốn để lỡ mất buổi mặt trời lặn!
* * * * *
- Thưa ông, tôi tiếp ông vì con gái tôi đã năn nỉ. Tôi không giấu ông là tôi tiếp ông với sự kinh tởm. Ngoài ra, ông hiểu rằng với những điều đang xảy ra hiện nay, tôi có rất ít thời giờ.
Dun thật sự là bị sự tiếp đón hung hãn và nhục mạ này dội cho gáo nước lạnh. Chắc chắn anh không hề chờ đợi Socrate ôm anh vào lòng mà nói: “Con rể ta ơi, lại đây cho bố ôm nào”. Nhưng dẫu sao anh cũng hy vọng có được đôi tí lịch sự. Muốn thế nào, dù lão già hợm hĩnh này muốn hay không, thì anh cũng đã có phần nào là người trong gia đình cơ mà, và không dễ để cho người ta lừa phỉnh.
- Tôi có thể biết ông không bằng lòng tôi chỗ nào không?
- Bằng thực tế chứ, thưa ông! Tình cảm tôi không liên quan gì đến chuyện này cả. Ông muốn gì ở tôi?
Dun ngày càng hoang mang...
- Maria không nói với ông?...
- Nói gì? Rằng nó ngủ với ông ư?... Tôi buồn thay cho nó nhưng ông bảo tôi làm gì được trong chuyện ấy cơ chứ? Nó luôn luôn mê những cái ảo, một anh đấu bò, một anh lái xe đua, một tùy viên Đại sứ quán... và bây giờ thì ông!
- Tôi không để ý tới quá khứ!
- Khi người ta hiểu quá khứ, người ta có thể học biết được nhiều điều cho tương lai.
- Các bài học của ông, tôi cũng chẳng chú ý gì tới. Tôi đến để hỏi cưới con gái ông. Trước thái độ của ông tôi chỉ báo ông hay là tôi sắp cưới cô ta.
- Hết lời chúc mừng ông. Tôi giả định là ông đến để vay tiền tôi sắm váy cưới cho nó, phải không?
- Thưa ông, tôi không cho phép ông...
- Đừng vờ vịt làm người tự trọng, đồ ngu! Ông chỉ là một thằng trai - lỡ sa cơ lỡ vận bây giờ tìm chốn gửi gắm những ngày già nua của mình mà thôi.
- Thôi đủ rồi! Ông đã ngắm ông chưa?
Socrate hầm hầm lấn lại Raph Dun, túm lấy cổ áo anh (một kỳ công của hãng Ciffonelli ở Roma mà hóa đơn anh vừa mới nhận tháng trước).
- Tôi nói cho ông biết... Vì ông sắp lấy con Maria tội nghiệp thì ông cần phải biết... Ông là một thằng lừa đảo thảm hại, một thằng nhà báo cỏn con nhòm lỗ đít và lỗ khóa... Một thằng đĩ đực... Nếu hai mươi năm trước tôi đã không cho bắn một phát vào đầu ông, khi ông gián tiếp làm cho mẹ tôi chết, thì đó là vì tôi không muốn làm tay tôi vấy bẩn máu của một thằng thối rữa, biết không?
Raph cảm thấy cái máu được nhắc nhở đến kia nút hết cả mặt anh... Làm sao Socrate lại biết rằng anh là đầu têu bản báo cáo của Kallenberg về mụ già Athina?... Anh lắp bắp:
- Ông nói cái gì thế?... Ông bảo gì vậy?... Mẹ ông?...
- Cút, thằng điếm! Nó, Maria ấy, còn ở với mày thì nó sẽ không hòng lấy được một xu của tao. Không xu nào hết! Không một xu! Còn mày, mày liệu thần hồn mày!... Điều trước kia chưa xảy ra với mày thì điều ấy sẽ có thể xảy ra với mày hôm nay, ngày mai, bất cứ lúc nào!... Một tai nạn! Với tất cả các trò đĩ điếm của mày thì còn ai luyến tiếc mày nữa hả?...
Về Socrate, Raph chỉ biết đến truyền thuyết ông là một người đào hoa và một người ăn chơi lịch lãm của “xã hội máy bay phản lực!”. Thình lình trước mắt anh bây giờ là một con cọp, một tay găng-xtơ diễn đạt nói năng như chàng lưu manh ở bến tàu, bến xe vậy... Anh cố giở một mẹo cuối cùng ra để cứu vớt chỗ tự trọng còn sót lại:
- Thưa ông,... về bà mẹ ông...
- Xéo!
- Về Maria...
- Cút!
Trước vẻ mặt Socrate, Dun hiểu rằng thà câm họng còn hơn là để bị giết ngay tại trận. Anh ra khỏi phòng làm việc. Sau này, khi Maria hỏi anh cuộc gặp mặt đã diễn ra như thế nào thì anh trễ nải trả lời rằng bố cô “hình như không bình tĩnh, căng thẳng và rõ ràng là họ phải có một cuộc nói chuyện lần thứ hai mới được”. Maria biết rằng phương diện chính thức của câu chuyện tình lãng mạn của cô thế là đi tong dứt khoát mất rồi.
-----------------------------------------------------
[1] Một thứ cò quay do một quả cầu nho nhỏ dược bắn ra chạy trong một vòng tròn, nó dừng lại ở con số nào thì ai đặt tiền ở con số đó sẽ được cuộc.
[2] Tiếng lóng: Tiền.


0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.02.2017 12:13:13 bởi casau>
35
 
- Achille, cháu đấy à! Bác đây, Herman...
- Dạ...
- Cháu nghe rõ không?
- Rõ.
- Vậy cháu nghe kỹ nhé, rất là nghiêm trọng đây. Bởi cái tang bác gặp phải cho nên bác mới quyết định nói với cháu...
- Cháu nghe đây...
- Bố cháu là một thằng tồi, cháu nghe thấy không?
- Nghe.
- Bố cháu có nói đến bà cháu bao giờ không?
- Kh... không...
- Cháu không tò mò nhỉ, Achille? Khi cháu còn bé và chơi ở trên tàu của bác, cháu tò mò hơn cơ... Irène và bác, hai bác yêu cháu lắm, cháu biết đấy... Vậy thì cháu hãy hỏi bố cháu vì sao lại để cho bà cháu chết đói đi! Hỏi cả bố cháu là bà chết như thế nào! Cháu có biết bà được chôn cất như thế nào không?
- Không.
- Chắc là nói cái chuyện đó cho cháu thì bố cháu thích lắm đấy! Còn một chuyện cuối cùng... Bác Irène rất yêu cháu... Bây giờ bác đã lên trời, bác muốn cháu hiểu cho là với cháu thì không có gì thay đổi hết cháu ạ. Nếu cháu cần một thứ gì, một lời khuyên, tiền nong, giúp đỡ, thì có bác đây, cháu có thể trông cậy vào bác... Bác biết bố cháu xử không phải với cháu, chuyện Joan ấy mà... Cháu thấy là bác hiểu cả đấy chứ... Đừng có quên! Bất kỳ vấn đề gì là Kallenberg đến cứu cháu ngay đấy!
- Cám ơn bác!
Achille đặt máy xuống. Thình lình, một cái gì đó trở nên trục trặc, xộc xệch ở trong đời sống. Quá là nhiều chuyện trái nghịch nhau, trong một thời gian quá ngắn. Tang lễ của Irène tiến hành một tháng trước đây và từ đó bố anh đã tống cổ đi người muốn lấy Maria, Raph Dun, thằng rối hời hợt, cờ bạc, săn gái, nợ nần ngập đến cổ và tự phụ tự đắc.
Trên đà của ông, bây giờ Socrate lại muốn làm lại với Achille cái việc đó, tựa hồ người ta có thể hòa đồng Joan và những bọn bù nhìn của giới thượng lưu kia được! Cho đến nay, ông đã thử thách mọi cách để làm cho họ rời nhau, đe nẹt, ép nạt, dọa không cho thừa kế gia tài. Ông thậm chí còn định mua cả Joan! Joan, người mà để theo anh, sẽ có thể vui lòng uống nước cầm hơi, quần gin hơn là váy dạ hội, những tiệm ăn nho nhỏ hơn là những nhà hàng thời thượng; Joan, người mà tiền bạc cũng bất cần, sẵn sàng đón gặp nguy hiểm, khó khăn!
Là người chung thủy với một người đàn bà, Achille đã kín đáo lấy bảo hiểm đời sống với tên chị, nhằm làm lợi cho chị. Nếu bất kỳ cái gì xảy ra với anh, là chị liền được phòng đỡ cho đến hết đời chị. Chị sẽ được lĩnh năm mươi triệu đô-la. Dĩ nhiên Achille không nói gì với chị hết. Anh ngại chị giận khi anh buộc phải thú thật cái tổng số rồ rại của những khoản phí bảo hiểm mà anh đã đóng.
Anh xem đồng hồ. Đã đến giờ đi. Anh ngán cái cuộc gặp mà bố anh áp đặt với anh. Ngán vì một lần nữa lại phải từ chối với bố. Cũng ngán vì bố không hiểu chút nào hết về tình yêu của anh đối với Joan. Buồn chán là đã phải nghe đến hết những lời xúc xiểm tàn khốc của bác anh.
Tất cả những chuyện ấy thật đáng thảm và anh bắt đầu hiểu ra rằng chúng chẳng dính dáng gì đến anh. Anh chưa hề phản bội một ai bao giờ, chưa hề nói dối bao giờ, chưa yêu cầu được là như hiện nay anh đang là thế bao giờ.
Vậy thì người ta hãy mặc xác anh, để cho anh yên! Từ nay, anh sẽ không còn chịu đựng những nhận xét lẫn những khuyên răn của bất kỳ ai nữa.
Nếu bố anh ngáng cản những ý định của anh thì mặc kệ ông thôi!
* * * * *
Một lúc im lặng khá lâu trong đó bốn con mắt của họ chòng chọc nhìn nhau.
Vì lý do riêng của mỗi người, cả hai đều có cảm giác rằng trận đánh sắp diễn ra sẽ là quyết định và người kia sẽ lùi bước.
Achille, vì anh đặt vào trận đánh quy chế con người toàn vẹn của anh. Socrate, vì ông từ chối buông bỏ tài sản vật lộn vất vả mới được kia cho đứa con trai duy nhất mà ông muốn sẽ là người kế tục và người thừa tự toàn hưởng của ông.
Theo lời mời câm lặng của bố, Achille ngồi vào chiếc ghế bành lớn đối diện với cái bàn làm việc mênh mông của ông. Không sợ sệt một chút nào. Lần đầu tiên trong đời, anh tự soi bằng một con mắt phê phán. Anh thậm chí thấy anh có vẻ nhỏ bé nữa, chính là vì bố anh đã chọn cái bàn giấy quá lớn một cách lố bịch này. Khinh miệt kiêu kỳ, Socrate công kích trước:
- Anh chàng tội nghiệp!
Achille không nói năng, không động đậy. Điều kỳ lạ, anh đã lấy cái tật của bố mà anh không biết: anh bồn chồn vò hai lá thư Joan viết cho anh mà anh nhét vào trong túi áo vét. Cùng lúc, Socrate nắn bóp tập giấy bạc không bao giờ rời khỏi túi quần bên phải của ông.
- Mày cho mày là một thằng đàn ông vì mày ngủ với một người đàn bà đủ già để làm được mẹ của mày à?
Achille bình tĩnh chặn bố lại:
- Bố đã lấy nhiều người đàn bà khá là trẻ để làm con gái bố được!
Đòn đánh trả trực tiếp - chưa bao giờ Achille dám nói với ông bằng cái giọng ấy - đến nỗi Socrate vờ như không bị trúng. Ông bỏ lướt qua:
- Không những bà ấy già, ly dị, rệu rạo mà hơn thế, mày lại nuôi không!
Cái đó sai. Achille tự nén để không kêu to lên vào mặt bố như thế. Anh muốn bình thản và khiêu khích bố:
- Con nói sao bây giờ... cái đó chắc là một cái tật của gia đình.
Socrate nhảy chồm lên và gầm lớn:
- Mày câm mồm!... Mày chỉ là thằng bé ngu ngốc! Và bà ấy cũng coi mày là một thằng ngu ngốc! Bà ấy coi khinh mày. Tao biết tất. Bảo hiểm năm mươi triệu đô-la cho tên bà ta, tất, tất... mày điên ư? Mày tưởng tao sẽ ngơ cho con trai tao quăng cái tiền tao om xương mới kiếm ra được kia cho con gái điếm ư?...
Achille có cảm tưởng đang sống trong một giấc mơ. Đúng hơn, là dự vào một cảnh ác mộng mà một ai đó, ở vào địa vị anh, anh đang cưỡng chống lại bố anh và nói thẳng vào mặt bố anh cái điều anh thậm chí nghĩ ở trong đầu cũng không dám nghĩ đến. Anh nghe thấy “cái người kia” bình tĩnh trả lời:
- Muốn sao con cũng không hỏi bố là bố đã tiêu tiền của bố cho ai.
Ngột ngạt, Socrate tròn xoe mắt lên và dằn từng tiếng:
- Mày nói cái gì?... Tao phải có trình có báo với mày từ bao giờ đấy?... Tao nuôi mày hay mày nuôi sống tao?
- Có thể là bố nuôi con, nhưng con không chỉ sống bằng tiền!
- Cái thằng đầu bò này! Nếu mày không xu nào thì mày đừng hòng giữ nổi con Joan của mày mười phút!
- Bố thử nhẵn túi xem! Bố sẽ xem bố có giữ nổi Peggy của bố không!
Socrate dừng lại. Cuộc đối đáp này làm cho ông kinh hoàng?
- Cái đó nghĩa là thế nào? - Ông nói.
- Không thế nào cả. Con tự hiểu thôi.
Bị câu này, mặt Socrate như sụp chảy xuống. Achille bỗng dội lên thương bố khi thấy ông giơ hai tay ôm đầu và ngồi im lìm, mắt ngơ ngác nhìn vào chỗ không. Anh đủ khỏe để không lùi bước lúc này. Anh còn quá yếu đuối để có thể tự cho phép mình có được sự sang trọng ấy. Anh ấp úng:
- Bố...
Socrate không đáp. Achille gọi lại:
- Bố...
Những lời buột ra khỏi miệng Socrate tựa hồ ông nói một mình vậy:
- Em gái con bị một thằng đĩ đực nó sai khiến. Nó là một đứa con gái... Nhưng con, con là con trai duy nhất của bố, bố nhìn con khác kia... bố có những dự định khác cho con kia...
- Con rất ân hận, bố... Nhưng con không thể sống cuộc đời của bố thay cho bố được. Và chưa phải là hết...
Socrate ngửng đầu lên tò mò...
- Đây là lần đầu tiên bố con ta có loại chuyện trò này, con mong rằng nó là lần cuối cùng. Con muốn ta mổ một lần cho xong cái ung này...
- Mày muốn nói cái gì?
- Đã nhiều năm rồi, Maria và con vẫn đặt ra những câu hỏi... Bố thì bố luôn đi... Mẹ không mấy khi ở nhà... Đôi khi chúng con nghe thấy đầy tớ họ nói... Chúng con vờ như không nghe thấy. Những mẩu không đầu không đuôi, những cái vớ vẩn nhưng làm cho chúng con tò mò... Năm con hai mươi tư tuổi, con ngờ rằng bố đã không xây dựng cơ nghiệp của bố một cách trong sạch... Con ngờ ngợ về điều đó, nhưng con muốn biết, bố cần nói ra cho con hay... Điều đó nghiêm trọng lắm... Con không thể sống như thế này nữa...
Socrate ra hiệu cho anh tiếp tục:
- Nói đi.
- Con muốn bố nói với con về bà.
- Để làm gì? Khi bà mất, Maria và con mới lên hai.
- Chính vì thế. Con sẽ không nói lại với Maria, nếu bố muốn thế, nhưng bố cần phải nói với con... như giữa đàn ông với nhau...
Socrate lắc đầu và chua chát nói khe khẽ:
- Giữa đàn ông với nhau.
Achille bèn nghe thấy anh nói:
- Tại sao bố lại để cho bà chết đói?
Trong một chớp nhoáng, Satrapoulos lấy ngay lại bộ mặt người vật lộn của ông. Ông quát to:
- Ai kể cho mày cái chuyện bố láo ấy?...
- Không quan trọng... - Achille tiếp tục bằng một cái giọng êm dịu và bướng bỉnh... - Có đúng như thế không?
Socrate im lặng. Achille nhấn:
- Có đúng như thế không, bố?
- Ừ, đúng thế! - Socrate thét lên - Thì sao?
- Tại sao thế?
- Dính gì đến mày? Mày nghĩ như thế nào?... Mày có biết tao phải làm như thế nào mới trở nên được như tao hiện nay không? Mày tưởng cứ tự nhiên là có chứ? Tao đẻ ra là nghèo khổ! Tao đã trải qua những nỗi kinh hoàng! Mày chỉ có mất công là ra đời rồi mày lại vác mặt lên hỏi tội tao, làm mày như quan tòa ấy! Quá khứ của tao không dính dáng gì đến mày cả! Đến mày cũng như đến bất kỳ ai! Bây giờ đi ra đi và đi gặp ai mà mày thích ấy, tao không cần, mặc xác tao!
- Bố...
- Bố mày ấy, nó mặc mẹ mày! Vì mày muốn chơi làm người lớn thì được, mày tự xoay sở lấy mình mày!
Bằng giọng nói khe khẽ, ôn tồn, Achille buông ra câu đáng sợ này:
- Dù con tự xoay sở lấy mình con, con cũng sẽ không bao giờ để cho bố chết đói!
Socrate chịu đòn nhưng nhìn chòng chọc vào con trai:
- Hay lắm! Vì mày nhấn mãi, thì mày được biết hết! Có một số sự thật tao muốn tránh cho mày thấy! Bây giờ mặc kệ. Vì hôm nay là ngày tung hê ra hết... vểnh tai lên! Mày sẽ thấy dòng dõi vẻ vang của mày. Có thể mày không biết điều đó vì mày là công dân Mỹ, còn tao thì tao đẻ ra ở vùng ngoại ô Smyrne... Trong một túp lều bằng ván, không cửa sổ, giấy dầu làm mái... Ở Thổ Nhĩ Kỳ, người Hy Lạp bị coi như bọn Do Thái ở Tiểu Á vậy... Những thằng ngụ cư, những thằng nước ngoài! Người Hy Lạp ở Hy Lạp khinh chúng tao vì đã bỏ đất nước ra đi, nhưng lại còn phải hốc chứ. Bọn Thổ Nhĩ Kỳ thì ghét chúng tao, muốn giết vì đẻ sòn sòn ở trên đất nước họ! Thỉnh thoảng khi chán cái mặt chúng tao thì họ tàn sát cho một trận! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, người Hy Lạp đều là cái đệm cho các cuộc chiến tranh: Hơi một chút xô xát là tất cả đám người Hy Lạp ở Thổ Nhĩ Kỳ bị chết. Năm lên sáu, vào cái tuổi mày được tao cho chiếc thuyền buồm đầu tiên ấy, tao đã trông thấy bốn ông chú tao bị treo cổ!... Những người em của bố tao!... Chưa hết đâu! Những ai không bị giết thì chết đói hay chết bệnh! Người ta nghèo đến mức mẹ tao vứt cả một cái bắp cải vào chảo để ăn! Gọi thế là súp... Ăn cho làm ba ngày!... Tao thề là trả thù! Rằng không bao giờ nghèo nữa, rằng làm bất cứ cái gì để thoát được ra cảnh đó, cái chết dần mòn hay những cuộc tàn sát!...
Socrate ngừng lại, mệt. Achille ngồi lặng, nét mặt tái nhợt, căng thẳng. Anh không dám hỏi nữa. Bố anh nói tiếp, giọng giật cục và đơn điệu:
- Năm mười hai tuổi, tao chuồn đi, trên một cái tàu chở hàng ọp ẹp. Tao làm thủy thủ tập sự. Tao gọt khoai ở trong bếp và người ta thưởng tao bằng những cái đá đít... Làm ba năm, rất cực!... Một hôm, người ta ghé Venezuela... Tao không bao giờ trở lại tàu nữa... Chẳng chắc là họ đã nhận thấy ra cái điều ấy đâu... Tao đã đến Caracas, vẫn không một xu dính túi nhưng thèm khát kiếm xu... Tám năm sau, tao ăn mừng triệu đô-la đầu tiên của tao!... Tao không có ăn cắp... Tao đã làm lấy tất cả!... Ba lần một tuần tao không ngủ qua một lúc nào, tao có việc làm đêm và việc làm ngày, suốt... Tao suy nghĩ, tao không tiêu pha gì hết, tao lao vào mọi thứ, tao gặp rất nhiều người... Hôm nào đó, tao sẽ nói hết với mày, một cách bình tĩnh. Chỉ nên biết rằng tao có một cái ghê gớm mà sống một nghìn năm cũng không làm cho hết được nó đâu!... Và bây giờ, nhiều ngày tao vẫn nói... Đúng thế, khi chôn cất bà mày, tao chưa hề nhìn thấy bà mày đã từ ba chục năm...
- Chôn bà ở đâu?
- Biển là nghĩa địa của bà. Đó là ước muốn của bà từ lâu. Bà muốn tro bà được chìm xuống ở ngoài khơi các bờ biển Hy Lạp... Số phận đã muốn rằng bà một khi trở lại Hy Lạp thì không còn bao giờ lại ra khỏi lòng đất nước nữa, trừ là để cần thiết ở Paris... Tại khách sạn Rít!... Điều tao nói với mày, trong gia đình ai cũng biết, mẹ mày, một vài người giúp việc của tao và ông bác rác rưởi của mày, Kallenberg... Hắn là nguyên nhân làm cho bà chết đấy!
Achille rụt rè thú thật:
- Chính bác bảo con hỏi bố về bà...
- Tao biết. Hắn muốn trả thù.
Đau lòng không chịu nổi, Achille thù hận nuốt nước bọt:
- Bố...
- Hử?
- Bố nói là bố không gặp bà... trong ba mươi năm.
- Đúng thế. Mày muốn biết tại sao hử! Nếu tao khẳng định rằng việc đó hoàn toàn là không sai lầm rồi tao không giải thích với mày thì mày có tin tao không?
- Có tin... Nhưng con muốn biết...
- Được. Thế thì khi tao lên sáu...
Socrate ngập ngừng, im lặng, đối với ông thật là khủng khiếp, những kỷ niệm kia trào lên bủa vây lấy ông, những kỷ niệm ông ngờ đã vùi sâu chôn chặt vĩnh viễn... Ông là người cuối cùng biết cái điều kinh sợ ấy... Tất cả các nhân chứng đều đã chết... Ông dặng hắng, cúi đầu xuống, và nói với một vẻ đau đớn không thốt được ra lời:
- Khi tao lên sáu, sau khi treo cổ các ông chú, chúng đã đánh bố tao, tao đã thấy bọn Thổ Nhĩ Kỳ hiếp mẹ tao, trước mặt tao... Chúng nó có đến ba mươi thằng... Sau đó, tuy tao còn là đứa trẻ, nhưng mỗi lần tao nhìn mắt mẹ, tao lại không khỏi không nghe thấy tiếng mẹ kêu gào... Tao đã muốn cho mẹ tao chết đi như thế nào... Tao không thể nhìn được mẹ tao nữa, mày có hiểu không?...
Rụng rời, tái nhợt, Achille đứng dậy, im lặng nắm lấy tay bố lúc này mắt đang nhòe ướt, rồi chạy ra khỏi phòng làm việc. Như một thằng điên. Khi đến sân bay riêng, Achille cố làm ra một bộ mặt bình thường. Anh hãm xe lại và đi vài bước vào một căn nhà dài ngoằng quét vôi. Chính là ở chỗ này mà anh sẽ tìm ra được câu trả lời cho những câu hỏi anh tự đặt ra với anh đây.
Anh vào một gian phòng có đề chữ “Giám Đốc”, đi qua một buồng đầy những cô thư ký đang nhìn anh bằng những con mắt tình tứ rồi mở một cánh cửa. Anh gặp may, Jeff có một mình. Jeff từng là một trong những người lái máy bay đầu tiên của bố anh mà nay vẫn còn làm việc. Bây giờ Jeff lãnh đạo một chi nhánh của công ty hàng không chuyên về máy bay Tắc-xi. Chính ông đã tự tay dạy cho Achille những bài học lái máy bay đầu tiên. Achille có mọi cách giấu đi tiếng nói bất thường thảng thốt của anh:
- Jeff! Tôi có một việc này nhờ chú...
- Nói đi...
- Ta là bạn bồ của nhau đấy chứ?
Người lái già mỉm cười:
- Cậu cần tiền hay cậu bị một tay chồng ghen nó đuổi đấy?
- Chú đã lái cho bố tôi khi rắc xuống biển tro của bà tôi đấy phải không chú?
Mặt Jeff liền kín bưng lại. Ông đã được lệnh là không bao giờ nhắc tới cái thời kỳ ấy nữa rồi. Với bất kỳ ai. Ông yêu Achille nhưng sợ bố anh một phép. Làm thế nào đây? Ông vờ ra vẻ ngây ngô và nói lảng:
- Ai bảo cậu thế?
- Ồ! Jeff, chú đừng vờ! Tôi không là trẻ con nữa rồi! Tôi đã biết từ lâu! Bố đã hở cho tôi chuyện ấy, ngày tôi đến tuổi thành niên cơ mà!
- Tất cả chuyện ấy lâu lắm rồi... Thật sự, có thể là chính tớ...
- Được, tôi thấy chú vẫn còn nghi ngại đấy!
- Cậu thắng rồi đó, rặn ra đi! Cậu muốn biết cái gì nào?
- Người ta ném tro xuống biển ở chỗ nào nhỉ, chứ?
- Khoan... Ra đây coi...
Ông đi vòng qua bàn giấy, lại bên một tấm bản đồ lớn treo kín cả một bức tường...
- Cậu thấy cái điểm này của bờ biển không, đây?... Cậu biết không?
- Có, tôi đã bay qua nó rồi...
- Người ta xuất phát từ đó. Bố cậu bảo tớ bay thấp và tốc độ đều, thẳng về hướng tây...
- Tốc độ bao nhiêu?
- Tớ bay máy bay lên thẳng... Cho là một trăm dặm một giờ.
- Trong bao lâu?
- Cái đó thì tớ nhớ. Nửa giờ. Cậu muốn làm cái gì?
- Tôi muốn thử chiếc Bonanza mới để chỉnh máy... Ở chỗ ấy hay chỗ khác, tôi nghĩ rằng tôi có thể nhận tìm ra được địa điểm... Nó làm mục tiêu cho tôi nhận tìm...
- Cậu lấy máy bay bây giờ à?
- Vâng...
- Bao lâu thì cậu đem nó về trả?
- Một hay hai giờ gì đó... Vừa đi vừa về.
- Bây giờ thì muộn quá rồi, tớ không bảo thợ máy xem lại cho cậu được... Chú ý xem cái thằng máy bay hay cà rởn này, tớ có cảm tưởng nó giở chứng.
- Tôi sẽ xem nó thế nào... Thôi, chốc nữa gặp lại nhá chú! Cảm ơn chú!
- Chốc gặp! Này Achille... Joan có đi với cậu không?
- Không, tôi bay một mình...
- Cậu muốn tớ theo cùng không?
- Không, bố ơi! Cảm ơn bố!
Bốn mươi lăm phút sau, Achille bay trên vùng phong cảnh kỳ ảo, nơi mà hơn hai mươi năm trước, đoàn máy bay đưa ma đã bay qua để ra khơi. Anh lượn một lúc ở trên một vài căn nhà lụp sụp của cái làng, khó tưởng tượng ra được đời sống của những người ẩn náu ở trong đó, là như thế nào. Anh rẽ ngoặt và bay trên mỏm núi đá trắng chói lọi, nhìn thoáng thấy hình một người chăn vài con dê rải rác ở trong đám đá gồ ghề lổn nhổn.
Hai giờ nữa là đêm tối. Anh điều chỉnh ga cho đến lúc mặt đồng hồ tốc độ chỉ một trăm dặm rồi bay về hướng mặt trời đỏ rực đang bắt đầu lặn dần xuống đường chân trời của biển. Anh xem giờ, ngồi co cứng trên ghế, nghĩ một cách đau đớn về tất cả cái quá khứ người ta đã giấu anh. Bây giờ có một mình, anh muộn mằn chịu lấy nỗi xúc động mà anh đã muốn kìm nén đi trong khi nghe bố kể lại câu chuyện. Người ta ngỡ người ta đã được che chắn an toàn, không bị lôi thôi về một điều gì hết và rồi chợt người ta thấy ra rằng các sự kiện có trước người ta thật rất là rắc rối, với đủ nước mắt, điên loạn, giết chóc, hiếp dâm, máu me... Anh cảm thấy anh nối liền kỳ lạ với cái đường dệt bí mật kia - nó từng gánh trách nhiệm với anh từ trước khi anh ra đời rồi thình lình gắn chặt da diết máu thịt với anh, làm cho anh bó kết với những mắt xích khác của sợi dây chuyền, ra ngoài ý anh mà bắt buộc anh phải là bước tận cùng không thể tránh thoát của sợi dây chuyền đó!
Không chảy qua cùng những kinh lịch, không từng sống cùng những cuộc vận lộn, anh khó hiểu nổi được cái việc con người đã phải đấm đá hầm hè vì tiền bạc và biết bao nhiêu là phù phiếm hư vinh, đã phải cấu xé lẫn nhau để dành đoạt lấy một thế lực, sự trọng thị của người cùng thời hay con số kinh doanh hàng triệu tấn dầu chuyên chở trên tất cả các vùng biển của thế giới. Cái thực tế, đó là mặt trời, sóng nước, bờ cát, mái tóc của Joan...
Anh bay đã được nửa giờ: đến rồi đó. Anh lượn những vòng đồng tâm, giảm tốc độ đến tối đa, bay rất thấp đến độ chạm vào những con sóng nho nhỏ, cố hết sức tưởng tượng ra cái gì đã diễn ra ở chính cái chỗ này khi anh vẫn còn nằm trong nôi ấm. Anh thấy bố, mẹ - mẹ mặc một chiếc váy trắng và mẹ cười bế anh lên tuy người anh bê bết những bùn - anh “thấy” cả những nắm tro tan tác trong gió nữa. Mắt anh rưng rưng...
- Cứt!
Một cái gì đó vừa bị kẹt trong động cơ! Cánh phải máy bay cày mặt biển... Achille dựng chiếc Bonanza ngóc dậy, leo lên cao được vài mét, quay lộn đảo điên vài vòng rồi thình lình đâm đầu xuống như một hòn đá!
Máy bay đập mạnh vào mặt nước quá nhanh đến mức Achille không kịp tháo dây lưng da buộc anh vào ghế và điện xin cấp cứu nữa.
* * * * *
Những chiếc đèn pha lục tìm trong đêm tối, móc lên mỏm sóng bạc những vệt ánh sáng dài, nhợt nhạt. Các cuộc tìm kiếm đến nay đã kéo dài bốn giờ đồng hồ rồi. Mặt biển lúc nhúc những tốc hạm tập hợp chung quanh một chiếc hải phòng hạm của Hải quản quốc gia và bên trên đó, các thủy phi cơ và máy bay lên thẳng bay tuần không ngừng trong một bán kính hàng nhiều dặm. Một vài chiếc bay sát mặt sóng, tìm kiếm bất cứ một dấu vết nào có thể cho thấy chỗ máy bay rơi, vệt dầu hay mảnh vụn máy bay.
Không còn vấn đề là chiếc Bonanza đã bị rơi trên mặt đất. Những người đi cứu đã dò khám không sót ngóc ngách nào đường bay của Achille. Cảnh sát đã được báo động để lục soát từng làng, từng làng ở trên bộ: không ai nghe thấy, nhìn thấy lẫn tìm thấy một cái gì hết cả. Chỉ duy nhất một người chăn dê tên là Spiro thì khai là trước lúc mặt trời lặn một ít, anh đã trông thấy một chiếc máy bay lượn ở trên đàn súc vật của anh rồi lao ra khơi, thẳng về phía tây. Bị những binh lính của không quân kéo ra khỏi túp lều của anh, anh đã chỉ cho biết hướng bay của chiếc máy bay. Anh đã muốn nói thêm rằng hai mươi năm trước, khi anh còn bé, thì một đoàn máy bay lên thẳng đen ngòm đã bay qua đúng chỗ này để hình như cùng theo một đường bay tương tự. Nhưng đám lính thì vội vã và Spiro thì muốn im lặng. Khi bỏ đi, họ cũng chẳng cám ơn anh nữa.
Jeff đã phát động ra trò xiếc này. Lo lắng thấy đến hẹn mà Achille không trở lại sân bay, ông đã chờ hai giờ chết người đi được. Rồi hoảng điên lên, ông đã báo cho Socrate, thuật lại từng lời cuộc đối thoại giữa ông và con trai Socrate. Ông không một giây nào nghĩ đến bản thân số phận ông, không hình dung cả tới việc ông thú nhận như vậy thì có thể liên lụy đến nghề nghiệp của ông nữa. Jeff yêu Achille. Khi cậu bé mười bốn tuổi, ông từng đã làm sư phụ, chị vú, người cố vấn và vệ sĩ khỉ đột của Achille, đích thân chọn lấy những cô gái đầu tiên đem để vào giường cho Achille, với sự săn sóc trông nom như bà mẹ cưng nuôi con mình vậy. Nói thật tình ông chả phải dạy bảo gì mấy tí cho Achille. Achille tỏ ra có nhiều bản lĩnh.
Nghe tin thảm họa, Socrate đã có một phản ứng của con người vật lộn. Ông lập tức tổ chức ngay những cuộc tìm kiếm trên quy mô quốc gia, đích thân leo lên chiếc máy bay lên thẳng riêng để điều khiển. Ông nghĩ chiếc Bonanza có thể bị trục trặc máy móc ở ngoài khơi. Nhưng con trai ông là một người lái quá ư lão luyện, khó có thể bỏ mạng được ở ngoài đó. Achille chắc là đã có thể đậu là là xuống và ra khỏi máy bay trước khi nó chìm được lắm. Điện đài trên máy bay im lặng là một dấu hiệu hùng hồn: Anh không cần một giây nào để đánh đi một bức điện. Giờ này chắc là anh đang ở một chỗ nào đó ngoài khơi, chờ những người đi cứu tìm thấy. Có như thế nữa cũng không nguy hiểm: Achille là một người bơi giỏi, có thể ở được dưới nước hàng giờ: Có điều là ở đâu đây?
Năm giờ sáng, bình minh bắt đầu. Một làn sương mù xanh nhạt hình như đang từ biển dâng lên. Sau đó một lát, gần như không hề có quá độ, mặt trời xuất hiện trong một đám mây vàng rực.
Tám giờ, người ta vẫn chưa tìm thấy gì cả.
Mười giờ, sở chỉ huy đặt ở trên chiếc hải phòng hạm nhận được bức điện vô tuyến của một báy bay khu trục.
- Vết dầu tìm thấy ở ...
Tiếp theo là các số tọa độ. Thế là các tốc hạm, đổ xô tới. Trên một đường kính một trăm mét, dầu làm thành một vết lớp vảy loảng hình tròn, anh ánh đen, tím và xanh lơ pha lục. Tất cả các con tàu đỗ lại. Socrate yêu cầu người ta dò xem chiều sâu của biển: một nghìn năm trăm mét. Ở mực sâu này, thực tế là không thể nào làm cho một vật đắm nổi bềnh lên được, huống chi trong trường hợp người ta khó lòng lại có thể dò tìm ra nó nữa.
Socrate chẳng thiết nghe những lời can gián rụt rè người ta nói với ông, ông đòi người ta huy động một lực lượng to lớn để bắt đầu công việc vớt chiếc máy bay lên:
- Chúng ta cần phải mất nhiều thời gian đấy...
- Đừng có để mất thêm nữa! Bắt đầu ngay lập tức, cả ngày lẫn đêm!
Những tàu móc đi từ bờ biển ra, kéo theo sau những cảng nổi lởm chởm những cần cẩu. Người ta không biết được rằng liệu chúng sẽ có thể kéo lên được cái gì đây, nhưng muốn gì thì chúng cũng đã lên đường rồi. Tại hiện trường, những tên lính bắc cầu của Hải quân đang đặt ra-đa và phóng sóng dò tìm. Trên hàng cây số, một đàn máy bay thám thính bay sát sóng, mong tìm thấy được Achille. Người ta quyết định thắp đèn pha lên mà tiếp tục dò tìm. Trong khi đó, các chuyên gia cố xác định một cách uổng công nơi chiếc máy bay chìm xuống. Cùng lúc, Socrate ở khắp mọi nơi, người lầm lỳ như đá, mặt như chết. Ông không ngủ đã hai ngày hai đêm. Trong đời, ông đã thức trắng đêm không nghỉ để trở thành con người giàu có nhất, hùng mạnh nhất. Bây giờ, những cố gắng đó có vẻ như bé nhỏ, không mùi gì đối với ông. Nỗi sợ ghê gớm, giày vò ông thình lình đã cho ông có được ý thức về sự tương đối: Khó mua bán thật sự, cái mà người ta lơ là vì hình như nó vốn là ắt có, đó là sự sống.
Giữa đêm, khoảng bốn giờ, người ta mang đến cho ông một bức điện làm cho ông tức tối nhếch mép cười: Bức điện ký tên Kallenberg và viết rõ:
LO LẮNG GHÊ GỚM, HOÀN TOÀN SẴN SÀNG ĐỂ CHO CẬU SAI BẢO, CẢ NGƯỜI LẪN CỦA.
Socrate vo viên bức điện lại, không cả vất đi mà chỉ để cho nó tuột nhẹ ra khỏi tay ông.
Bình minh ngày thứ hai, Peggy đến với ông; cô sợ hãi trước bộ mặt tái nhợt, bộ râu hai ngày và những tia máu đỏ ngầu trong con mắt ông khi ông bỏ kính ra để lau chúng. Ông thậm chí không trông thấy cả cô. Cô ta nài ông đi nghỉ một lúc. Ông lơ đãng trả lời là ông cũng sắp nghĩ như thế. Ông đến bên viên chỉ huy, yêu cầu ngừng tìm kiếm. Nhưng viên sĩ quan không nghe theo, và trả lời rằng chính phủ không từ chối Socrate một việc nào hết. Socrate nhún vai. Hình như không thấy Peggy đang bám lấy tay ông, ông leo lên máy bay lên thẳng: Jeff vừa cất cánh thì Socrate đã ngủ thiếp đi như một con vật.
0
36
 
Chiều ngày thứ ba, người ta dò ra được xác máy bay. Khi Socrate biết tin này, ông đang ngồi trong máy bay riêng của ông đi Bồ Đào Nha. Ông trả lời với người phục vụ đưa bức điện cho ông rằng người này hãy làm mọi việc để lấy lên càng nhanh càng tốt chiếc Bonanza. Ông yên chí là Achille không có ở trong đó. Việc người ta chưa tìm thấy anh không có nghĩa là dứt khoát đã chết. Nhiều người gặp lại đã có thể sống ở ngoài khơi đến hai tuần, không ăn không uống, trong những điều kiện khí tượng còn tồi hơn thế này nhiều.
* * * * *
Kallenberg thấy Médée Mikolofides ngày càng giống một con kỳ đà. Trong bộ mặt nhăn nheo và chết cứng của bà lão, chỉ còn hai mắt vẫn là cảnh giác tuy có lúc chúng hình như cho cụp xuống một lớp màng che đi biểu hiện rủa chúng. Sau khi phải chạy chọt khốn đốn để có được cuộc gặp này, “Con yêu râu xanh” đã được tiếp đón không có gì lạnh nhạt hơn thế nữa.
Phải nói rằng đánh giá Kallenberg lấy cả của bà hai cô con gái đi mà không làm cho cô nào hạnh phúc được, Médée không hề là sai hoàn toàn đâu. Mấy chữ thần kỳ “công việc cẩn kíp” kia cuối cùng đã làm cho bà già bằng lòng mở cánh cửa ra cho ông. Bây giờ Herman tự bào chữa đã được nửa giờ rồi:
- Chúng ta đều là một loại người mà! Chúng ta là những người hiện thực chủ nghĩa! Chẳng lẽ vì một cơn buồn mà chúng ta lại để mất đi cái chúng ta đã bỏ bao công sức mới dành lấy được hay sao?
- Đây là chuyện thằng cháu tôi.
- Nó là cháu gọi tôi bằng bác, xin bà chớ có quên điều đó! Trước hết, chưa có cái gì chứng tỏ là nó đã chết cả...
- Gần như hết hy vọng rồi...
- Thôi bà. Người ta đã thấy nhiều chuyện kỳ lạ hơn thế. Có điều khi người ta tìm thấy Achille rồi thì đã quá muộn. Đám cạnh tranh chúng ta sẽ xơi mất chúng ta.
- Ông đúng ra muốn cái gì?
- Satrapoulos đang loạn trí. Hắn sắp chết chìm và sẽ kéo cả chúng ta theo. Hắn ta, có bốn mươi chín phần trăm cổ phần trong công ty Persian Petrolium [1]. Tôi biết là bà có hai mươi. Bản thân tôi có hai mươi mốt.
- Còn mười phần trăm thì đâu! - Bà già to béo hỏi, khi người ta nói với bà con số và khi là chuyện tính đếm thì bà lấy lại được toàn bộ năng lực của bà:
- Họ có sáu người chia nhau chỗ ấy. Một người Pháp ba phần trăm, hai người Anh mỗi người hai phần trăm, và ba nhà công nghiệp khác ba phần trăm.
- Thế là sao?
- Họ đều đã nhận bán cả. Tôi đã trả cao gấp năm lần giá trị thật của tư bản họ. Nếu bà nhận hợp chung chỗ cổ phần của bà và của tôi lại thì tôi mua cổ phần của họ, bà và tôi sẽ trở thành đa số, chúng ta sẽ nắm lấy việc điều khiển công ty!
- Bao nhiêu cho ông, bao nhiêu cho tôi?
- Mỗi bên một nửa! Chúng ta lập ra một công ty mới. Dĩ nhiên là bà chia xẻ với tôi chỗ tôi trả trội thêm cho mấy người có cổ phần nhỏ kia.
- Họ sẵn sàng bao giờ thì thương lượng?
- Khi tôi muốn, mỗi người đều có người đại diện của tôi bám kè kè ở bên hông rồi!
- Socrate tội nghiệp... Thật là khốn khổ quá...
- Tàn khốc! Khi hắn biết tin, mà nếu hắn lại có đầu óc kinh doanh trở lại thì hắn phải cảm ơn chúng ta đấy!
- Con người ta là vô ơn bạc nghĩa lắm... Ông có nghĩ rằng sáng mai tiến hành được việc kia không?
- Mười mươi nếu như tôi được bà đồng ý. Làm thành công là trông vào việc chúng ta xử lý nhanh hay không.
- Thế thì được, ông thương lượng đi. Toàn quyền. Và nhớ là nếu tôi làm như thế thì là vì các cháu của tôi đấy thôi.
- Bà nghĩ là tôi ngờ điều đó hay sao?
Kallenberg biết rằng quật ngã Satrapoulos bây giờ, ông đã lại thực hiện được thêm một đòn trả miếng hay hay: ông lừa được con mụ già! Ông chỉ đề nghị với những người có cổ phần nhỏ kia gấp hai lần giá trị thật của họ chứ không phải là năm như ông nói.
Ông không thể đoán ra rằng “bà góa” cũng đang lăm le xẻ ông. Lúc ký, bà lão sẽ từ chối chia xẻ khoản tiền trả trội lên kia. Sau tất cả các cái trò đểu giả mà hằn đã làm thì hắn đáng bị bà cho một vố như thế lắm!
* * * * *
- Này! Ở đây người ta ít uống rượu nhỉ?
- Đúng thế thật! Quầy rượu ở đâu?
- Cậu hãy mặc cái váy cô coi quầy rượu vào, tớ sẽ đi kiếm những cái chai đến!
Một quản gia lạnh lùng và thiếu hợp tác, từ hai mươi phút qua đã đưa vào phòng khách lớn một trăm nhà báo ở khắp thế giới mới đổ bộ xuống Athènes. Phần lớn đã ở tại đây từ khi cái tin thảm họa được loan đi. Đáng lẽ kích động ở họ nỗi buồn hay sự ý tứ thì cái lý do bi thảm khiến họ có mặt ở đây lại đẩy họ tới chỗ chua cay châm biếm nó. Họ đã chứng kiến quá nhiều điều bi thảm để không còn có thể xúc động được và họ mặc xác một cách thoải mái tất cả những gì không dính dáng đến họ: trò hài kịch hết!
Vừa biết ý định của Socrate mở cuộc họp báo, họ liền như một bày quạ sà đến biệt dinh của ông ngay.
- Thay vì hỏi lão ta về cái chết của thằng con trai, tớ lại muốn chụp cái đít của mụ vợ lão ta cơ! - Một tên trai chơi Mỹ đeo vắt qua vai nhiều máy quay phim và đèn lóe điện tử nói to. Cười ầm...
Trong nhiều năm, khi họ không có gì để nhá, vì đời sống tình cảm của các nạn nhân của họ đang qua một thời kỳ phẳng lặng, thì họ mua vui cho công chúng của họ bằng những phát hiện bịa đặt. Bọn ngố, miễn sao vào bữa điểm tâm, chúng có được khẩu phần của chúng về những Satrapoulos, Peggy, Kallenberg hay Menelas là chúng lấy làm hài lòng thôi mà. Các cái đó làm cho chúng mơ tưởng, các cái đó chuẩn bị cho chúng điều kiện để nhào vô đương đầu với tám giờ làm lụng và với những lời quở mắng của ông trưởng phòng.
Và bây giờ, cùng một lúc, hai cái scoops [2] rơi vào tay họ, hai câu chuyện đồng thời và ngon lành mà các ông chủ báo của họ đã tiên đoán là chúng sẽ làm cho các con vịt [3] của các ông tăng được số phát hành lên những ba chục phần trăm!
Trong cùng gian phòng, một cánh cửa mở ra, xuất hiện hai người hầu khiêng một pho tượng Mẹ đồng trinh bằng đá hoa cương trắng, cao chừng một mét.
- Quỳ xuống, các anh em! - Một người Đức giễu.
- Nói thật ra, họp chúng ta lại làm gì chứ nhỉ? Người ta đã biết là con trai lão đi tong rồi mà...
- Chắc nó túy lúy càn khôn khi đang lái!
- Cậu điên à? Tớ biết thằng bé! Nó chỉ uống có nước thôi!
Những người hầu rút lui sau khi đã đặt pho tượng lên trên một cái bục nhỏ. Lập tức cửa lại mở ra.
- Câm mõm đi các cậu!
Một giám mục Nhà thờ chính giáo long trọng bước vào. Sau ông là... Peggy!
- Cứt! Tớ sẵn sàng xơi con đĩ này! Cậu có thấy cái đít nó không?
Sau Peggy, đi cuối cùng là Socrate, bộ alpaga đen vĩnh cửu, sơ-mi trắng, ca-vát và kính đen, tóc màu gỉ sắt, trung thành với vai nhân vật của ông đến tận chi tiết, trừ đi điếu xì gà. Có điều, khi ông bỏ kính ra, người ta liền thấy không còn nhận ra được nổi ông nữa, nhợt nhạt, nét mặt bơ phờ, mắt thâm quầng. Những máy quay phim ro ro kêu, khẽ phá vỡ bầu im lặng tiếp theo sau khi ông bước vào. Ai nấy đều hiểu rằng người quyến rũ đàn bà vừa mới qua một cuộc biến hóa. Vị tu sĩ và Peggy ngồi vào sau một cái bàn nhỏ... Socrate đứng. Người ta nghe câu nói cay cú của một phóng viên nhiếp ảnh:
- Giôn! Cái chân chống của cậu làm vướng tớ!
Một chị biên tập viên có vẻ nhanh nhẩu thì thào:
- Ông ta già sọm hẳn đi kìa!
- Thưa các ông! - Socrate bắt đầu - Tôi hân hạnh được giới thiệu với các ông Đức giám mục Corybantes, tăng viện trưởng Corfou, Đức giám mục đã vui lòng cho tôi cái ân huệ là chứng kiến những lời tôi sắp tuyên bố với các ông. Tôi xin cảm ơn Đức giám mục về cả một ân huệ từ thiện khác nữa. Nhờ sự cho phép của ngài mà Mẹ đồng trinh Trắng - ông chỉ vào pho tượng - đã có thể rời khỏi trường dòng Corfou, nên các tín đồ từ sáu thế kỷ nay vẫn đến cầu nguyện với Mẹ. Có thể là trong những giờ hãi hùng này, Mẹ đồng trinh Trắng lại sẽ nghe thấu lời cầu nguyện của tôi hôm nay...
- Cục cứt, cái đít kia mà nghe ấy à, không đúng!... - Một chàng trai chơi người Mỹ bốc lên, trong khi câu lảm nhảm vẫn tiếp tục...
- Ở trước mặt các ông - Socrate nói tiếp - là một con người tan nát ruột gan. Tôi có một đứa con trai, con trai độc nhất, Achille. Đang lúc tôi nói đây, tôi không biết nó ở đâu. Tôi cũng không biết liệu nó còn sống hay không. Với tôi đời nó còn quý báu hơn đời của tôi.
- A, cái đít kìa!
- Câm! Anh chẳng kính trọng cái gì cả! - Chị biên tập viên nhanh nhảu nổi nóng.
- Bây giờ, đây là điều tôi cần nói với các ông - Socrate nói tiếp... - Nếu Chúa đã gọi con trai tôi về với Người thì tôi xin lui khỏi công việc kinh doanh và thế giới. Vợ tôi hoàn toàn tán thành quyết định này của tôi (Tủm tỉm cười ở trong các góc, xôn xao cựa quậy). Nhưng nếu, nhờ phép lạ, nhờ ơn Chúa, nhờ Mẹ đồng trinh Trắng rủ phép lành, tôi tìm thấy Achille còn sống, thì tôi xin long trọng thề - Đến đây, Socrate quay lại nói với Tăng viện trưởng Corybantes - tôi xin long trọng thề rằng tôi sẽ trao hết tài sản, của cải của tôi, tôi nói là TẤT CẢ, cho nhà Thờ ĐỨC MẸ của chúng ta.
- Về điều khoản này, chắc vợ ông ta ít tán thành hơn! - Một người xấu bụng châm biếm.
- Thưa các ông, - Socrate kết luận - tôi cám ơn các ông. Các cuộc tìm kiếm đang tiếp tục.
Buổi họp kết thúc. Thậm chí trước cả khi ông Giám mục bước xuống bục, một nửa nhà báo đã ra khỏi gian phòng để nhào đến máy nói. Đàn bà trước nhất. Còn đám đàn ông, họ nán lại vài giây nữa. Để nhìn Peggy đi ra. Nhìn đằng lưng.
* * * * *
Socrate vẻ tức tối nhìn chòng chọc Lewis: anh ta cản đường ông từ bao giờ thế này?
- Anh muốn gì?
- Thưa ông, quan trọng...
Viên thư ký riêng mang một mặt bộ mặt thiểu não nhưng không vì thế mà tránh ra một bên. Ngạc nhiên, Tăng viện trưởng tò mò nhìn anh. Peggy kéo ông đi:
- Sao? - Socrate sủa - Anh không thấy là tôi đưa tiễn Đức Giám mục ư?
- Thưa ông, rất là nghiêm trọng ạ...
- Cái gì nghiêm trọng hơn cái điều tôi hiện đang phải đau khổ lúc này nữa?
- Tôi biết là không còn cái gì nữa, thưa ông, nhưng có điều...
- Rặn ngay ra đi!
- Đây là về công ty Persian Petrolium...
- Anh mất trí rồi hay sao? Tôi vừa mới công bố là tôi từ bỏ dứt khoát mọi cái rồi cơ mà! Thế mà lập tức lại là công việc! Anh muốn là cái đó liên quan gì đến tôi nào, cái Persian Petrolium của anh ấy?
- Đây là ông Kallenberg, thưa ông...
- Anh nói cái gì vậy?
- Và bà Mikolofides...
- Sao, có chuyện gì?
- Hai người vừa mới chung vốn nhau, thưa ông! Họ đang định đánh chìm ông!
- Họ ghét nhau cơ mà!
- Có thể. Tóm lại, họ mua lại cổ phần của những người có ít để chung vốn lại và trở thành số đông.
Socrate càng trở nên nhợt nhạt:
- Bọn tồi tàn! Anh chắc chắn chứ?
- Chắc chắn ạ, thưa ông!
- Họ dám ư? Họ biết là tôi đang chết dở đây và họ lại dám!
- Chính vì thế họ mới dám ạ.
- A, không. Không bao giờ. Dù là chỉ vì lòng kính trọng đối với Achille không thôi, không bao giờ!... Ta làm gì bây giờ?
- Tất cả trông vào hai hành động. Cần phải ngăn họ làm được cả hai. Ông cho phép tôi lo liệu chứ?
- Được, Lewis! Anh có toàn quyền! Diệt cho tôi những con kền kền ấy đi!
* * * * *
Từ tám giờ qua, người ta trục xác chiếc máy bay lên, cực kỳ thận trọng, từng cen-ti-mét một. Những công nhân cẩu không thể đảm bảo là kéo được nó ra khỏi mặt nước hoàn toàn. Ở dưới sâu không thể biết được những móc thép quét mò dưới đáy biển đã ngoạm vào chỗ kim loại nào của chiếc máy bay. Kéo quá mạnh, động tác quá đột ngột là mọi cố gắng lại ra công cốc: Chiếc Bonanza lại vùi sâu lần nữa, và chẳng bao giờ ai còn có thể đưa nó ra khỏi cái nhà tù nặng trịch bằng chất lỏng của nó được nữa.
Hải quân Hy Lạp đã bố trí người nhái dọc những sợi dây cáp, cho đến một độ sâu một trăm mét. Trong chừng mực có thể, nhiệm vụ của họ là cột chặt hơn nữa xác chiếc máy bay vào và đỡ nó lên đến tận mặt nước.
Đầu trần dưới nắng, đứng trên một tốc hạm đung đưa trên sóng, Socrate chờ đợi, xa lạ với mọi chuyện, con mắt dán chặt vào những sợi cáp thép đang quấn hết sức chậm chạp vào những cái tời kia, trong bầu im lặng mênh mông, bị tiếng ròng rọc nghiến rít và tiếng kêu hoảng hốt của các con hải âu khe khẽ khuấy động. Thình lình, một cái tăm to tướng màu đỏ sẫm đến vỡ loang trên bọt sông: tín hiệu... Nó có nghĩa là xác chiếc máy bay vừa đi qua chỗ người thợ lặn bố trí ở dưới sâu nhất. Còn một nửa giờ nữa là người ta sẽ được biết liệu chiếc máy bay tan vụn có dùng làm cỗ áo quan cho Achille hay không.
Mặc dù không muốn, tất cả những ai tham gia việc vớt này đều vụng trộm quan sát Socrate.
Từ sáu ngày nay, trong một bán kính một trăm cây số, mỗi mét vuông biển đều đã được rất nhiều tàu cày nát lên hàng chục lần. Không thể nghĩ nổi rằng một người bị nạn lại có thể lọt qua được những mắt của tấm lưới đó. Dẫu sau thì tất cả những người đi cứu đều cầm chắc dứt khoát là như thế rồi. Tất cả, trừ Socrate. Không lý lẽ nào làm lung lay được niềm tin bên trong của ông xây dựng bên trên mối giao lưu thầm kín mà ông đang duy trì với các vị thần riêng biệt của ông. Hai mươi năm trước, các vị đã yêu cầu ông phải gieo xuống đây những tro tàn của mẹ ông. Cho nên các vị không thể nào lại cho phép hôm nay biển giữ mất của ông cơ thể con trai ông làm lễ vật phụ được. Có những nơi đầy những tín hiệu. Đây là một. Ông đã không chọn nó, vậy mà lần thứ hai, ông lại chơi ở đây cuộc đời thứ hai của ông. Lần thứ nhất, cái chết của người kia làm cho ông sống lại. Hôm nay, nếu nó được xác nhận thì nó sẽ làm cho ông chết đi.
Một người nhái thình lình nhô lên hoa rộng hai tay ra hiệu cho người ta kéo nhè nhẹ hơn nữa. Các thủy thủ cho chậm tốc độ tời lại. Trên boong sau của chiếc hải phòng hạm, đứng bên nhau mà không nói với nhau một lời, vai bên vai mà không nhìn ngó đến nhau, Lena và Peggy, bà vợ cũ và bà vợ mới, cùng một xung động quắp chặt tay vào lan can tàu. Cử chỉ tương tự vì những lý do đối chọi: Peggy vì đã quen với cái chết, Lena vì chưa bao giờ chớm khổ, xưa nay. Và cho lần thử lửa ban đầu này, lại chính là con trai của cô!
Theo hiệu còi của người đốc công, tất cả các tàu nhỏ, nhẹ đều dãn ra để quay tròn lấy chung quanh những sợi dây cáp thép căng thẳng như những sợi dây đàn ghi-ta. Dưới nước, người ta lờ mờ trông thấy một hình khối xam xám rất to mà ánh phản chiếu của mặt trời làm cho các đường biên không rõ rệt, mờ nhòa và lay động. Chỉ có chiếc ca-nô của Socrate không nhúc nhích. Satrapoulos có một hiệu tay quá mạnh gắt đến nỗi viên sĩ quan không dám điều khiển tiếp công việc. Có một xoáy nước cồn lên. Đuôi chiếc máy bay hiện ra, rõ chữ G.A.L của hàng hàng không Hy Lạp. Một móc thép to dùng ngoạm lấy cánh ngang của đuôi máy bay và người ta nom thấy có vết xé rách. Sau đó thân máy bay dứt ra khỏi khối nước, cho thấy cái móc thứ hai ngoạm lấy bụng nó.
Trong một giây nữa, người ta sẽ có thể phân biệt ra buồng lái. Socrate nắm mạnh bàn tay đến làm vỡ cái đầu pho tượng Mẹ đồng trinh ra mất! Cái hàm thép cuối cùng khẽ làm vỡ bục mặt nước đỡ lấy đầu cánh bên phải mà người cảm thấy nó đang rung rung: Được kéo lên như thế, chiếc máy bay nhoi ba phần tư ra khỏi nước, trong một góc độ kỳ quặc, không cân đối so với chiều ngang, mũi chúi xuống, vẫn chưa trông thấy, tựa như bắt đầu một bổ nhào thì giữa chừng nó đã dừng sững lại vậy.
Lớp kính của phần trông thấy của buồng lái bị một thứ bụi nước làm cho tối đi, không cho bên ngoài nhìn bên trong.
- Dừng lại! - Viên sĩ quan điều khiển hét to.
Người ta ngừng quay tời. Bây giờ đến lượt những lính làm cầu vào cuộc. Họ lùa những cái phao xuống dưới xác chiếc máy bay để giữ nó nổi trên mặt nước. Sau đó, người ta sẽ kéo nó lên một cảng nổi.
Lúc đó, trong bầu im lặng kỳ ảo, diễn ra một cái gì kinh ngạc.
Socrate thò dài tay ra sờ vào một đầu cánh. Ông bám lấy nó. Chiếc ca-nô của ông chao khẽ dưới sức đẩy của người ông. Một thủy thủ làm một động tác để can thiệp. Nhìn anh ta một cách giận dữ, ông làm cho anh ta đứng im tại chỗ. Chưa ai kịp động cựa để can ngăn ông thì ông đã bám hai tay vào đường mép cánh, rướn người leo lên trên cánh rồi bắt đầu bò về thân máy bay...
- Thưa ôngl - Viên chỉ huy chiếc hải phòng hạm sợ hãi gọi to...
Socrate không nghe thấy. Dù bắn đại bác, người ta cũng không thể ngăn ông làm cái việc ông đang cần làm: ông phải biết rõ. Dưới sức nặng của người ông, khung chiếc Bonanza rung lên. Quá muộn rồi, từ bây giờ không ai còn có thể chen vào được nữa. Thêm một chút trọng lượng là vỏ kim loại đang bị những móc thép ngoạm lấy sẽ rách toang ra như lụa mủn.
Thong thả, Socrate nhích dần lên trên sống cánh, đôi khi bị trượt ở trên vỏ nhôm ẩm ướt... Mắt dán vào các động tác của ông, lú lẩn đi, các nhân chứng nín thở! Hình như chỉ một lời nói mạnh cũng đủ làm cho chiếc máy bay gãy ra không cứu chữa được. Nhưng Socrate đã nắm được vào thành buồng lái... Ông tìm một chỗ đặt chân, không thấy, bèn giơ hai tay quàng lấy đỉnh buồng lái và leo lên ngồi xoạc chân ở trên đó.
Viên chỉ huy thử một phen thứ hai. Bằng một giọng uổng công làm cho bình thường, ông gọi:
- Thưa ông!... Ông tụt xuống cánh rồi trở về chỗ của ông! Hãy để cho các chuyên viên của chúng ta làm...
Lần này Socrate nghe thấy. Giận điên lên vì bị quấy rầy, ông làm một cử chỉ mạnh khiến cho ông loạng choạng mất thăng bằng và Peggy khiếp đảm. Khung chiếc máy bay rung lên và tròng trành đáng sợ. Socrate lau trán. Bây giờ ông phải đẩy cửa buồng lái mà sức ép của nước chắc đã làm cho đóng kín lại. Nằm úp sấp, đầu dưới thấp, ông càng lúc càng cúi chúc xuống để với tới chỗ tay nắm cánh cửa. Đầu ngón tay ông chạm sượt vào nó, nắm lấy nó rồi ông tỳ cả người ông lên. Dưới sức đẩy của ông, ông thấy cánh cửa rung lên... Nó phải mở ra, nó phải bầy ra bí mật của nó!... Cố lên một chút nữa thôi... ông cảm thấy có kết quả, nó mở... Nó từ từ quay và mở ra, ông lấy hết sức ra giữ cho nó thăng bằng. Bây giờ, ông phải thò đầu vào trong khoang máy bay, cố lách mình vào trong đó, nếu như sức nặng của cái cửa khốn kiếp này không làm cho ông lộn nhào xuống biển...
Trên cầu lên xuống của chiếc hải phòng hạm, Lena khóc khe khẽ, Peggy vẫn giữ mắt ráo hoảnh, nhưng còn hơn cả nước mắt, các cơ bắp của cô co rút lại đã cho thấy nỗi lo âu, nỗi sợ hãi ghê gớm, nỗi hoang mang bối rối của cô.
Cô thấy chồng cô lộn về đằng trước trong một cố gắng cuối cùng và rúc gọn vào bên trong khoang máy bay tựa như ông bị hút vào đó. Với một tiếng động khe khẽ và êm, cánh cửa đóng lại. Chính đúng cái lúc đó, cánh ngang của đuôi máy bay bị bung đầu tiên. Đằng cuối chiếc máy bay rơi ầm xuống biển trong một cột nước tung tóe. Cùng một tiếng kêu bật ra từ hàng chục lồng ngực:
- Cẩn thận!
Gần như liền sau đó, lớp kim loại của cánh máy bay hình như nhăn nhúm lại và sợi cáp giữ nó bay tung lên trời với một tiếng vút. Trong nháy mắt, tất cả sức nặng chiếc máy bay dồn lên sợi cáp cuối cùng móc ở bên dưới thân nó. Nó đứt đánh rắc. Không ai kịp làm được một động tác nào.
Mũi đi trước, chiếc máy bay nhào thẳng đứng vào trong mặt nước nhanh như một hòn đá! Trên boong chiếc hải phòng hạm, Peggy quay mặt đi, rên lên một tiếng dài và nắm chặt hai nắm tay. Khi cô cố nhìn lại thì biển trống không. Ở chỗ lúc nãy có chiếc máy bay thì bây giờ chẳng còn gì nữa. Không còn gì nữa ngoài một xoáy nước thật lớn làm tròng trành các tốc hạm và những gợn sóng mềm mại đi xa dần ra ngoài khơi thành những vòng đồng tâm.
-----------------------------------------------------------
[1] Tiếng Anh là Dầu lửa Ba Tư.
[2] Tiếng Anh: Tin nhanh đưa nhanh nhất.
[2] Tiếng lóng: Báo chí.
0
Phần kết
 
Kallenberg thấm thấm trán bằng một chiếc mùi xoa lụa có ghi chữ đầu tên ông. Trong nhà thờ nóng chết người và mùi hương làm ông khó chịu muốn nôn. Với đám cưới thứ tám này, ông đã đuổi sát nút nhà giữ kỷ lục thế giới cùng loại, ông Gustave Bambilt quá cố, người đã từng tái hôn mười một phen. Ông nhớ lại cái sự nhảy cầu đã làm cho ông ta thiệt mạng ở New York trong bể bơi của tầng gác thứ sáu mươi, ngày ông ta ly dị với Nut. Ông cũng khó chịu sống lại cái cảnh không thú vị cho lắm, trong đó Socrate, kẻ đối thủ thân thiết lâu đời của ông đã trở thành vị anh hùng của một ngày bá láp “Người đàn ông với bông hồng”.
Có điều bây giờ còn lại gì của “Người đàn ông với bông hồng” nhỉ? Ông ta đã nằm từ một năm nay ở ngoài khơi các bờ biển Hy Lạp, dưới sâu một nghìn năm trăm mét. Bà vợ góa của ông từ chối người ta làm một toan tính thứ hai để vớt cái xác máy bay được dùng làm áo quan của ông. Các nhà chức trách tôn trọng nỗi buồn của bà và đã nghiêng mình trước ý nguyện ấy! Vậy là số phận đã trả lại cho biển cái đã từ biển sinh ra, sống nhờ vào biển, tập hợp trong cái chết ở trong cuộc đời họ: bà mẹ, đứa con trai và đứa con trai của đứa con trai. Hệ động vật ở đáy biển thừa nhận họ ở tại đấy. Tất cả những điều đó thật rất đáng nản lòng. Đôi phen, khi “Con yêu râu xanh” nhớ đến cái dây chuyền lì lợm của những tang tóc bi thảm đó, ông buồn rầu gật gù, nhưng ngoài ý ông, cũng không khỏi không thoáng phác ra một nụ cười chóng vánh ở trên môi. Dẫu thế nào ông vẫn sống trơ trơ ra đó, khỏe mạnh! Ông không dại cho phép những ý nghĩ rầu rĩ đó xâm chiếm đầu óc ông và quấy đảo sự tiêu hóa của ông. Ông vẫn có sự ngon miệng của con cọp lớn, uống như rồng hút nước và tiếp tục thu nhặt những tài sản thần kỳ, gậm nhấm dần dần đế quốc tài chính của Médée Mikolofides, bà mẹ vợ cũ của ông. Gần tám mươi tuổi, bà vẫn chưa chịu chết cho, cự tuyệt trao tay nối nghiệp, bám víu lấy cuộc sống, đầu độc tất cả mọi người bằng cái sự trường thọ khả nghi của bà.
Kallenberg đưa mắt nhìn cái hình dáng xinh đẹp của người đàn bà trong một phút nữa sẽ trở thành vợ ông. Tuy cao và thon mảnh, chị có vẻ như nhỏ nhoi ở bên cạnh ông. Nhìn từ xa, cặp vợ chồng gợi đến một ông bố quan tâm đi đón con gái bé của mình ở trường về và âu yếm cầm lấy tay nó. Để làm lễ cho cuộc cưới, Tổng giám mục không thể nào làm kém hơn là cử đến đảo Ixion vị đại biểu đáng kể nhất của ngài, Tăng viện trưởng Halirrhotios, đặc biệt từ Istanbul bay đến. Với nhiều tiền bạc ở một phía này và chút ít thiện chí phía bên kia thì những sự xếp đặt vẫn cứ luôn luôn là có thể làm được với những bày tôi của Chúa. Sẽ trở thành Pháp học ở trong biên niên sử tôn giáo, một sắc lệnh đã quy định rằng Kallenberg, do việc góa bụa, được tìm lại thấy sự trinh bạch của người chưa vợ.
Một cách nào đó, cái chết của Irène đã gỡ cho ông hết sạch các cuộc ly dị trước đây.
- Con cú già ở đằng kia là ai thế? - Dodino chỉ vào một ông già gầy gò, sọ hói bóng nhoáng, hỏi Raph Dun có vẻ ngạc nhiên.
- Không đùa chứ, cậu không biết ư? Đó là cố vấn tử vi ngày xưa của Satrapoulos đây!
- Khốn khổ! Chắc là không ăn thua. Vào địa vị con khỉ ấy, tớ phải nghi ngờ.
- Xì... Hình như hắn sử dụng cả việc bói toán của lão.
- Muốn gì thì các dân ấy đều điên cả. Chà! Nếu mà họ biết cô bói của tớ nhỉ! Còn cô vợ chưa cưới của cậu, cái tên săn đuổi hồi môn kinh tởm này!
- Maria ấy à? Không thấy từ ngày bố nó chết... Không phải loại tớ thích... Tiền có hay thật đấy, nhưng không nên trả quá đắt cho nó! Ghê... Sống hết đời với cái khúc giò ấy hả cậu!
- Lịch sự một chút. Đừng có làm bộ õng ẹo cảnh vẻ đi!
- Cậu thấy cô dâu hí hửng nhỉ? Đó thật là một mẹ không lỡ dịp bao giờ cả!
- Ả không còn phải là tập sự nữa đâu!
- Cái gì làm cho cậu liếc người đẹp của tớ thế?
- Không gì cả. Đường kính của cây nến ả đang cầm trong tay. Cậu có thấy không?
- Chớ có mơ tưởng đi!
- Cậu nói đúng, nên biết điều...
- Con đĩ bỉ ổi này! - Raph tủm tỉm cười - Ít ra, cậu ấy, cậu không có thay đổi gì.
- Kia, không!... Cuộc sống tiếp tục mà!
Một cậu bé phục lễ lắc một quả chuông con báo hiệu ba lần trao nhẫn cưới.
Trong bầu im lặng gần như hoàn toàn, Tăng viện trưởng Halirrhotios kín đáo dặng hắng. Bây giờ ông sắp đọc công thức xác nhận làm cho người thiếu phụ trở thành vợ thứ tám của Herman Kallenberg.
Giọng trầm, thấp tuyệt diệu của ông uy nghi cất lên dưới những vòm uốn cong của nhà thờ, trau chuốt câu nghi lễ của Nhà thờ chính giáo.
“Kẻ bày tôi Chúa, Herman được gắn bó bằng sợi dây hôn nhân với kẻ bày tôi Chúa, Peggy. Nhân danh Cha, Con và Thánh Thần”.
 
HẾT
0
Đời tỷ phú - Pierre Rey
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc casau luôn vui
 




0
«« « 1 2 » »»