📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Hoa Dinh Cẩm Trận - HỒ HỮU TƯỜNG

0 trả lời, 10 lượt xem — Trang 1 / 1
Đánh máy: Nguyễn Đ Thanh
 
 
Hoa Dinh Cẩm Trận - Phần I - Trang 1 đến 95
 
 
HỒ HỮU TƯỜNG
 
 
 
 
 
HOA DINH
CẨM TRẬN
 
 
 
 
 
AN TIÊM 


 
 
 
 
 
 
PHẦN THỨ NHẤT
CHINH TÂM
 
1
 
            Chiếc taxi ngừng chậm chậm, Cầu Lệ nhìn kỹ, thấy sau một hàng rào thấp, hai bụi bông giấy mà cành lá che bóng mát cho trước nhà, mấy chậu kiểng xơ xác, có hai căn phố dính liền nhau, đúng như bạn mình đã tả. Nàng bước vào. Chung quanh một cái bàn vuông thấp, bốn người mặc sơ mi, quần tây, đi giày, đang nghe một người, gương mặt tuy không đến đổi già, song tóc đã bạc phếu, vóc mập kéo, mặc đồ bà ba, mang dép cao su. Thấy nàng, ông này chào, rồi hỏi:  
            - Cô đến để trị bịnh lỗ mũi, phải chăng?
            Nàng đáp:  
            - Thưa không phải. Xin bác nói dứt câu chuyện với quý vị này. Để cháu bước ra ngoài mà chờ. Chừng nào xong, cháu sẽ vào, mà xin nói chuyện với bác.
            Nàng dợm bước ra, thì bốn người khách cùng đứng dậy. Người lớn tuổi hết nói:
            - Chúng tôi đã xong rồi. Vậy cô khỏi cần bước ra ngoài.  
            Chủ bắt tay khách đưa ra cửa nói thêm:  
            - Sáng thứ bảy, tám giờ sáng, ông Hayashi cứ đến. Nhưng anh nên nói trước với ông rằng vấn đề Việt Nam là một bàn cờ thế giới rất khó. Suốt mấy năm nay, những bộ óc lỗi lạc nhất của Mỹ, của Nga, của Anh, của Pháp, của Tàu, của Nhựt, của Việt, lẫn cả những máy tính điện tử tối tân, đã mệt nhọc mà lo trị vấn đề này. Mà tìm chưa ra phép phá bàn cờ thế. Vậy chớ nên có ảo vọng, mà nhớ chỉ một bài phỏng vấn, lại có thể làm cho công chúng Nhựt thấy rõ biện pháp nào có thể giải quyết vấn đề Việt Nam cho ổn thỏa.
            Cầu-Lệ được mời ngồi đối diện với chủ, nàng vào đề:  
            - Cháu xin tự giới thiệu. Cháu là Đặng-Võ-Cầu-Lệ, con của giáo sư Đặng-văn-Hanh, nay đã qua đời, em gái của Đặng-Võ-Cầu-Minh, lúc trước là học trò của bác. Cháu ở bên Đức vừa về tới, có lãnh của kỹ sư Trần-Văn-Vị, một bức thơ tay, gởi cho bác...  
            Nói đến đây, nàng mở bóp, lấy một bức thư giao cho Hồ, chờ Hồ đọc xong, rồi tiếp:
            - Cháu là người dịch bài "PHỤC HƯNG MỚI" đăng trong HÒA ĐỒNG ra tiếng Đức. Các anh cho quay ronéo và gởi bài ấy cho các tạp chí, các nhóm văn hóa lớn của quê hương của Goethe. Nhờ đó mà đài phát thanh Hambourg có mời chúng cháu trình diễn một buổi văn nghệ Việt. Nhơn đó, cháu lại làm quen với Ulrich, giám đốc văn chương của đài này. Ông Ulrich nói có quen với bác. Ông cũng qua đây, cùng đi một chuyến tàu bay với cháu, và nhờ cháu xin bác hẹn cho một lần gặp gỡ.
            - Tôi gặp ông Ulrich năm 1953. Nay đã mười hai năm, thì tôi lấy làm hân hoan mà tiếp rước ông nơi quê nhà. Năm ấy, ông Ulrich đãi tôi rất trọng hậu. Tôi thẹn vì nhà tôi quá đơn sơ mà không dám mời ông đến. Vả lại, ở đây, khách đến thình lình, làm rộn cuộc nói chuyện. Nếu có thể, cô hãy chờ tôi thay đồ, tôi sẽ cùng đi với cô, mà gặp ông. Tôi không nói được tiếng Đức, phải nhờ cô làm thông ngôn. Như vậy, có làm phiền cô nhiều không?
            - Chẳng có phiền chút nào cả. Trái lại cháu lấy làm có thú vị. Cháu đi du học mười một năm nay, học một cái nghề chưa đem lại cho cháu, một đồng xu nào, chưa đem lại cho dân tộc một góp phần quan trọng nào. Nghề thông dịch. Ngoài tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Tàu, và tiếng Anh, mà cháu đã nói được trước khi xuất ngoại, cháu đã học thêm được tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Y Pha Nho, sau khi học ba năm ở trường thông ngôn ở Genève. Hiện nay, cháu mới khởi sử học tiếng Nga. Nếu bác có cần thông ngôn trong các thứ tiếng mà cháu nói được, cháu sẵn lòng giúp bác.
            Hồ thay đồ trong mấy phút. Cả hai thoát ra đi. Trên taxi câu chuyện được gầy lại. Cầu-Lệ nói:  
            - Cháu thích văn chương, mê đọc những tác phẩm hay, ngay trong ngôn ngữ của tác giả. Vì vậy mà cháu chịu khó học nhiều danh ngữ. Tiến tới là làm thông ngôn cho một chánh trị gia lỗi của nước mình. Thủ bực trung, là phiên dịch những tác phẩm hay của mình ra các thứ tiếng mà cháu biết. Thối lại, đọc các văn hào trong ngôn ngữ của họ...
            - Không có ai có quyền hỏi tuổi thiệt của một người đàn bà... Nhưng ở đây, tôi xin phá giới, mà hỏi tuổi thiệt của cô, để đem một ý nghĩ mà bàn góp cho cô.  
            - Cháu sinh năm 1936; theo tuổi ta, năm nay cháu đếm đúng ba mươi tuổi. Và chưa có tiểu gia đình.  
            - Tam thập nhi lập. Tuổi của Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề mà đắc đạo. Tuổi của Jésus, khi mới bắt đầu thuyết đạo. Tuổi của Marx, khi thảo tuyên ngôn của đảng Cộng sản. Và có lẽ, tuổi của Trưng Trắc, khi "phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân", mà viết những trang sử oai hùng cho nước Việt... Tôi thành thật mà tiếc rằng, khi lập chí, cô chỉ muốn leo đến cái nấc thang làm thông ngôn cho một chánh trị gia lỗi lạc. Nếu cô cho phép, tôi sẽ nối thêm nấc nữa và đốt lửa thiêng trong lòng có, để cô rán hết sức, đem hết tài, dùng hết đức mà leo lên. Leo được nấc nào hay nấc ấy.
            Cầu-Lệ không vội đáp. Nàng nhìn vào xa xăm, như cố tình tìm một hình bóng. Rồi nàng tự nói nho nhỏ, nhưng cũng đủ lọt vào tai Hồ:  
            - Đốt lửa thiêng trong lòng tôi... Từ mấy năm nay chị Tuyết-Lệ đã khơi ngọn lửa thiêng trong lòng tôi. Nhưng từ khi chị thành tiên, chẳng uống thuốc trường sinh, mà đã hóa ra trường sinh trong lòng một số người gái Việt, thì trong lòng tôi, ngọn đèn thiêng trong lòng tôi chẳng được ai chế thêm dầu. Lửa thiêng hết dầu, leo lét, rồi tàn. Từ ấy, tôi sống trong dò dẫm, trong cô đơn. Từ mười mấy năm nay lưu đày nơi quê người, đem linh hồn tôi mà lưu đày trong văn chương phù phiếm cố gắng bám vào ảo mộng để sống trong một thế giới phũ phàng...
            Xe taxi, bị đèn đỏ phựt chận lại. Dừng một chập, sau khi đèn xanh sáng lên, xe quẹo sang tay trái. Cầu-Lệ trở về sự thật, hỏi:  
            - Sở đắc của bác, tại sao bác không tự khai thác lấy, lại cho không cho cháu, mà bác chưa từng biết lần nào, lại chưa thốt lời gì để bác thấu rõ can tràng? Thú thật với bác, khi vừa mới nghe đặt vấn đề, cháu thoáng trong ý thấy cháu phảng phất có cái gì giống như bác sĩ Faust của văn hào Goethe, suốt đời khổ hạnh, bỗng nghe tiếng quyến rũ của hạnh phúc... Cháu sẵn sàng như bác sĩ Faust, chuộc lại lửa thiêng, bất cứ với giá nào. Bởi vì, đối với cháu, hạnh phúc ấy là lửa thiêng nung nấu cháu trong đường hành động. Đã tự nhận là tín đồ của chị Tuyết Lê, cháu đã thề với chị hiến thân cháu làm giải thưởng, treo lên để thưởng ai mở toang được cái cửa đương khóa chặt, chẳng cho loài người bước sang đuợc ngươn thanh bình. Cháu năm nay ba mươi tuổi, đã làm gái già. Giá trị của người con gái càng ngày càng tan, như giá trị của bạc giấy trong thời lạm phát nầy, như cục nước đá phơi dưới ấm áp của những tia nóng của mặt trời. Nếu bác đốt cháy phừng lửa thiêng trong lòng cháu được, bác muốn cháu trả lại cho bác giá nào?
            - Chẳng có giá nào cả. Nói cho đúng, tôi đòi trả giá bằng sự cố gắng thường xuyên, ngày nay cố gắng hơn ngày hôm qua; ngày mai cố gắng hơn ngày nay, để leo lên, leo hoài, leo mãi, cho trải qua hết tất cả nấc thang của giá trị mà đạt đến tuyệt đỉnh. Còn cô hỏi tại sao tôi không giữ sở đắc để tự khai thác, thì tôi xin đáp lại cho cô bằng một câu chuyện huyền thoại. Ngày xửa, ngày xưa, nơi một tiểu quốc nọ, người ta sống trong nề nếp, trong ràng buộc, trong không khoan dung. Có một nàng kia, vì quyến rũ của phồn hoa, mà lao mình trong đời mưa gió. Sau mười năm hưởng những vinh nhục của phong trần, nhục nhiều, vinh ít, nàng hồi tỉnh lại. Dứt bỏ xa hoa, mà trở về làng mạc quê mùa của mình. Ở làng, nàng bị nề nếp, bị ràng buộc, bị không khoan dung, chỉ trích, chê dè, ruồng bỏ, tẩy chay. Họ cho rằng đã trót ả giang hồ, thì ngựa quen đường cũ, có đuổi cái nết đi phía cửa cái, thì nó vô cửa sổ mà nhảy a vào. Nàng mới cất một cái am vắng vẻ, để ngâm câu "chày kình dóng tỉnh giấc vu san". Nơi am này, nàng gặp một dị nhơn điểm đạo cho nàng; và để cúng dường, nàng hiến cho dị nhơn cái gì cao quí nhất của nàng: một đêm ân ái. Cô chớ vội chê dị nhơn là người đắc đạo, sao lại nhè đệ tử của mình mà giở cuộc ái ân. Nền tảng của tất cả tôn giáo là sự khổ hạnh của tín đồ. Cử chỉ của dị nhơn là gieo mầm khổ hạnh cho nàng mà thôi...
            Trước một biệt thự to rộng cất trong một vườn mát mẻ, có những góc ỷ lan, gốc sứ to mà hoa tỏa mùi thơm phức, xe dừng lại. Cầu-Lệ mở cổng nhường đường... Phòng tiếp tân rộng, mà trang trí đơn sơ, thanh nhã. Một cái ca-na-bê và bốn cái ghế bành bọc da cọp, đối diện với một dương cầm to. Trên tường, ngay chỗ dương cầm, một cây đờn tranh cẩn, một cây đờn kìm, một cây đờn cò, một đờn gáo, ống sáo, ống tiêu, treo lủng lẳng... Phía trong một bàn ăn và sáu ghế ngồi bằng trắc, chạm trổ theo xưa. Còn trên vách, có treo một bức sơn mài to tướng, vẽ một cô gái đẹp như tiên, cỡi một con cọp mun, mà thổi ống tiêu, Cầu-Lệ nói:
            - Nhà nầy của cha mẹ nuôi của cháu, là ông bà bác sĩ Bái. Cô gái thổi tiêu trong bức sơn mài là chị Tuyết-Lê của cháu. Y như hệt, bác xem chị có đẹp không? Từ khi chị thành tiên, cháu được làm con nuôi trong gia đình nầy. Bởi không còn con cháu để thừa hưởng gia tài, nên ông bà dùng hết của cải mà nuôi cháu xuất ngoại du học. Lòng mong mỏi cháu là nối chí chị Tuyết-Lê, nhưng cháu bất tài, chỉ có học, chớ chưa lập nên sự nghiệp gì cả. May mà bác mở lối cho cháu lập chút sự nghiệp, ấy là bác giúp cho cháu đền đáp lòng hoài vọng của cha mẹ nuôi. Ba cháu, tuy già, nhưng vẫn cố gắng đeo đuổi sứ mạng cứu thế của một y sĩ. Giờ nầy, ông còn cặm cụi làm việc ở phòng xem mạch. Đến sáu giờ rưỡi, ông mới về đến. Má cháu đi chợ. Ông Ulrich bận lo điều chỉnh giấy tờ nơi bộ ngoại giao, có lẽ về không bao lâu. Vậy bác tiếp tục kể cho nghe câu chuyện huyền thoại lúc nảy.
            Hồ ngồi dựa lưng vào da cọp của ghế bành, nhìn vào bức sơn mài, kể tiếp:  
            - Sau đêm ân ái, nàng thọ thai. Cái thai càng lớn, càng làm tăng nỗi lo âu của nàng. Phải chăng rằng thai nầy là bằng chứng cụ thể cho dư luận của thế nhơn, rằng nàng còn cái nết "ngựa quen đường cũ"? Phân trần nó là kết quả của một sự cúng dường cho một đấng dị nhơn đã điểm đạo cho mình, thì có ai tin? Sanh đứa nhỏ ra, sẽ giao cho ai nuôi nấng đùm bọc, hầu dấu không cho nó biết mà mang mặc cảm là đứa con tập tàng? Ngày qua, thai lớn lên, đứa nhỏ trong bụng cựa quậy lung tung làm cho nàng khổ đau không xiết. Đã là chuyện huyền thoại, có dị nhơn điểm đạo, ắt có sự mầu nhiệm. Sự mầu nhiệm là cưu mang hơn hai mươi lăm năm, mang nặng, chịu đứa nhỏ chòi đạp đớn đau đủ điều, mà nàng không sanh đẻ. Dường như là kết quả của một thánh thai, đứa nhỏ chờ một nàng tiên đến, làm ổn bà rước nó ra chào đời, và nuôi nấng nó trong cái tin tưởng là con tiên. Sự mầu nhiệm thứ hai, là ngày kia, nàng tiên đến thực hiện cái đại mộng của thánh thai. Không nói, cô cũng hiểu sự vui mừng của nàng đã mang nặng trong hai mươi lăm năm, đã chịu đớn đau của cái thai càng ngày càng lớn và tung đạp để đòi ra chào đời...
            Cầu-Lệ tập trung thần trí, để tìm hiểu ý nghĩa tượng trưng của câu huyền thoại. Thấy nàng chau mày để suy tư, Hồ nói tiếp:
            - Làng quê mùa bị bó trong nề nếp, trong ràng buộc, trong không khoan dung, ấy là cái thế giới của ta đang sống. Nàng con gái đã mười năm lỡ lầm trong đời mưa gió, ấy là tôi. Vì những sôi động của máu nóng, của bản năng, tôi đã thất thân với những tay điếm của thời đại là chủ nghĩa Mác-Lê. Năm 1939, hồi tỉnh, tôi đoạn tuyệt với nếp sống của phong trần, thì làng nước quê mùa của tôi không cho tôi sống, đẩy tôi ra rìa của xã hội; tôi phải cất am ở ven rừng, mà sống đời cô đơn, để ngày ngày dùng "chày kình dóng tỉnh giấc vu sơn". Dị nhơn đã điểm đạo cho tôi, ấy là thời nguyên tử. Một đêm ân ái, do sự cúng dường của tôi, dị nhơn đã làm cho tôi thọ thai. Thai nầy, nếu sanh được ra, sẽ là cái ý thức hệ của thời nguyên tử. Khốn nỗi, tôi mà công khai sanh nó ra, thế giới biết là con tôi, thì nề nếp, ràng buộc, không khoan dung sẽ đặt tên cho nó là "sản phẩm của chủ nghĩa Mác-Lê, của Đệ Tứ Quốc Tế". Một thánh chiến sẽ tổ chức, thống nhất tất cả các cường quốc, các lực lượng, từ thực dân đến đế quốc, từ kẻ "xét lại", đến kẻ "chính thống", trong một hiệp nhứt chiến tuyến khổng lồ, không chỉ bủa từ Metternich tới Guizot, mà bao trùm cả hoàn vũ. Phỏng đời tôi trinh thuần, con tôi sanh ra đâu đến phải mắc vào lưới của hiệp nhứt chiến tuyến ấy, như mèo con sanh rơi nằm giữa đống tơ vò, mà nhứt cử nhứt động của mèo làm cho muôn sợi tơ siết chặt nó lại. Vì thế mà thai nghén mãi, tôi không dám sanh nó ra; rồi đau khổ trong hai mươi lăm năm, chờ nàng tiên đến làm ổn bà, rước nó ra chào đời và khai với thế nhân rằng đứa bé là của nàng tiên, chớ không phải là con của kẻ mang nghiệp dĩ của mười năm gió bụi.
            Dừng lại để trấn tĩnh nỗi cảm động sục sôi trong lòng, Hồ thấy những nét vui tươi hiện lên trên mặt của Cầu-Lệ, nên nói tiếp:
            - Sở đắc của tôi, vì tôi mắc kẹt trong nghiệp dĩ, nên tôi không làm sao khai thác được. Ai có đủ tài, đủ đức, đủ chí để khai thác thế cho tôi, kẻ ấy là nàng tiên đến làm ổn bà mà giải một cưu mang nặng trĩu trong hai mươi lăm năm, thêm nuôi nấng tác phẩm xây dựng bằng máu bằng thịt của tôi. Nàng tiên ấy là cứu tinh của tôi. Nàng tiên ấy có chịu ơn, tôi cứu gì đâu, mà băng khoăn lo trả? Cô liệu có đủ tài, đủ đức, đủ chí để làm nàng tiên ấy chăng?
            Cầu-Lệ rời ghế bành, bước tới quì trước mặt Hồ, vịn gối Hồ, cúi đầu và nói:  
            - Cha ruột là Đặng-Văn-Hanh có công sanh và nuôi tới mười bảy tuổi. Cha nuôi là Hồ-Biệt-Bái có công giúp tài, bồi đức trong mười hai năm. Nay mở đường, lập chí, bắt thêm nhiều nấc thang cho con leo lên, còn xin kính tôn lên làm người cha thứ ba và làm người thầy, tiếng thầy của ta vừa có nghĩa là cha, vừa có nghĩa thầy dạy. Vậy từ đây con xin gọi là thầy cho gọn.
 
2
 
            Vài phút sau tiếng chuông reo, một nàng con gái, vóc mảnh mai, gương mặt thanh nhã, mắt lớn và tròn như mắt bồ câu, tóc thề buông xõa trên áo dài trắng, hiện nơi ngưỡng cửa. Cầu-Lệ bước lại đón mời vào ngồi. Nàng ngồi thẳng, không dựa lưng vào bành ghế, hai tay đặt lên hai gối và khỏi sự với giọng nặng của người Huế:
            - Em là Nguyễn-Phước-Canh-Ngọ-Thu...  
            Hồ đang ngồi lật tạp chí mà xem hình, nghe người con gái xưng tên rất lạ, ngước mắt nhìn. Cầu-Lệ muốn làm thỏa thích lòng hiếu kỳ của thầy, hỏi.
            Cô gái Huế nở một nụ hàm tiếu, đáp:
            - Đây là lần thứ mấy ngàn, mà em phải cắt nghĩa cái tên dài lê thê của em. Em vốn là giòng của nhà Nguyễn, nên có họ đôi, là họ Nguyễn-Phước. Đáng lẽ, em phải để là Công-Tôn nữ gì đó. Song ba em, thuộc về chi của Đông Cung Cảnh, thêm về tư tưởng thì theo Cường Để, nên có óc cách mạng, chỉ lấy họ đôi, là họ Nguyễn-Phước, mà khai sanh cho con bất cứ trai hay gái. Ba em, vào năm canh ngọ (1942), làm thủ lãnh cho Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội, cho Trung Kỳ, nên bị, vừa chính phủ thực dân, vừa triều đình đàn áp. Quân đội Nhật can thiệp, điều đình ráo riết lắm, ba em mới được đày lưu qua Tân-Gia-Ba, không biết chừng nào được về. Lúc ấy, em còn trong bụng mẹ. Ba em dặn khi sanh con ra bất cứ trai hay gái gì, cũng đặt tên là Canh-Ngọ-Thu, để kỷ niệm ngày ba em ra đi mà không hẹn được ngày về.
            Cầu-Lệ hỏi:
            - Cô em đến đây có điều chi thố lộ cho tôi biết được chăng?
            - Em có cái thơ của giáo sư Neumann giới thiệu cho Ulrich, để em xin làm thông dịch và hướng đạo.  
            - Ông Ulrich chưa về. Ông có cho tôi biết về vấn đề nầy, và dặn tôi, trong khi chờ đợi, nên nghiên cứu và giải quyết ngay với cô em. Chẳng hay cô em học tiếng Đức đã bao lâu?
            - Em học tiếng Đức từ năm 1946, lúc em chưa đầy bốn tuổi. Sau tháng ba năm ấy, một đội Lê Dương đỗ bộ ở Huế. Ông Neumann trước chiến tranh là một giáo sư triết học, sau khi Đức bại trận, vừa ê chề vì số phận của một nước bị chiếm đóng, vừa muốn sang Viễn Đông mà nghiên cứu triết học Đông Phương, nên tình nguyện vào đội Lê Dương, rồi được gởi sang Việt Nam. Lúc ấy, ba em, vì phạm cái tội "thân Nhật" nên bị Pháp bạc đãi, bị Việt Minh trù ẻo, sống cô đơn và nghèo túng với bầy con đông, thì sở cậy vào sự buôn tảo, bán tần của mẹ em. Ba em vốn là một danh nho ở thần kinh, nên được ông Neumann nghe tiếng, tìm đến mà cầu ba em dạy về Khổng, Lão, Phật. Ngôn ngữ bất đồng, tất nhiên phải nhờ thông ngôn. Ông Neumann nhờ học lực cao, giao thiệp rộng, nên có hy vọng vận động mãi ở Huế, để hoàn tất chương trình học hỏi của mình. Thấy gia cảnh của chúng tôi đáng thương, thấy em có khiếu học ngoại ngữ, ông nghĩ ra cách dạy em nói tiếng Đức, để ngày kia em thông ngôn được, thì số tiền ông trả cho người khác, ông sẽ trả cho em, gọi là giúp đỡ lẫn nhau. Ông khéo vận động, được luôn luôn ở Huế cho tới ngày sau đình chiến, quân đội viễn chinh Pháp rút về. Em học tiếng Đức chín năm với ông, vì làm thông ngôn cũng là một cách học. Khi ông về, ông có cho em mấy trăm quyển sách về văn chương, về triết học, viết bằng tiếng Đức. Trong mười năm nay, em đã đọc hết mớ sách ấy.  
            - Con về phía Việt, sức học của cô em như thế nào?
            - Sau khi đỗ tú tài, em đã học hai năm trường dược, hy vọng rằng về sau, có tiền nhiều, em sẽ xuất bản những tác phẩm do em viết ra. Vì em thấy rằng ở xứ lớn như Đức, trình độ độc giả cao, mà những tác phẩm về tư tưởng như của Schopenhauer, của Nietzche còn bán ế, thì ở xứ mình, nếu chẳng có tiền nhiều, em sẽ làm sao mà có tác phẩm hay ra đời được? Nhưng em vỡ mộng. Ba em nghèo quá, không sức nuôi em nổi trong mấy năm nữa. Nên em vào đây, thi vào trường sư phạm, mong nhờ học bổng mà học thêm một năm, rồi có sở làm ngay để nuôi cha già. Cái mộng viết tác phẩm tư tưởng cao và có tiền nhiều để in mà truyền bá, em đành chôn đi vậy. Nay, nếu nhờ ông Ulrich thâu nhận làm thông ngôn trong mấy tháng, em sẽ có số tiền to để xuất bản một bài thơ dài bằng văn xuôi của em...
            - Ông Ulrich cần thêm một người lái xe, một người thơ ký biết tốc ký và đánh máy. Nếu cô em biết cả những nghề nầy, thì càng tiện cho ông. Ông sẽ trả lương gấp ba.  
            - Ông Neumann đã cho em biết việc ấy. Em biết tốc ký và đánh máy. Còn lái xe, em đã ghi tên học, tập dượt khá thuần thục. Chỉ còn chờ thi lấy bằng cấp.
            - Như vậy thì cô em có điều kiện tất yếu và sung mãn để được thu nhận. Còn lương bổng sẽ là bao nhiêu, ông Ulrich sẽ xem tài nghệ của cô em trong một vài hôm, rồi sẽ định.  
            Ngọ Thu nãy giờ ngồi sổng lưng, bởi lo lắng không biết xin được sở làm chăng, nghe Cầu-Lệ tuyên bố như vậy, nàng như được cởi lòng, thần kinh hết căng thẳng, ngã lưng dựa vào bành ghế, hai tay gát lên cái vịn, thở tự nhiên, chớ không còn nén hơi như trước. Hồ nãy giờ lật hình xem, song lắng tai nghe kỹ câu chuyện, chốc chốc nhìn lên nàng để nhận xét sau cử chỉ của nàng, nàng dấu một tâm hồn nào. Bây giờ, đoán hiểu rằng vì gia cảnh mà chôn vùi tài hoa và đại mộng, sau hơn hai mươi năm sống trong cơ cực, nàng chỉ còn mối lo độc nhứt là đảm bảo bát cơm cho mình và cho cha già, nên Hồ thương hại, thêm muốn xây dựng một cán bộ cho dân tộc, Hồ cầm tờ tạp chí, đứng dậy bước lại ngồi trên ca-na-bê chỗ gần Ngọ-Thu. Và hỏi:
            - Lúc nãy, cô nói cô có viết một bài thơ dài bằng văn xuôi. Chẳng hay bài thơ ấy tên gì, tứ của nó ra thế nào? Nếu cô có thể nói cho tôi biết, không biết chừng tôi nghĩ được cách giúp đỡ cho nó ra đời trong những điều kiện đẹp đẽ và ít hao tốn cho cô.
             Ngọ Thu giương cặp mắt bồ câu tròn xoe nhìn Hồ giây lâu, rồi lim dim đáp, dường như nhìn trong nội tâm mà đọc:  
            - Cháu sở dĩ dùng hình thức thơ bằng văn xuôi, bởi vì cháu nhiểm cái văn chương trác luyện của Nietzche, nên học đòi trình bày tư tưởng của cháu theo cái thể của quyển Zarathoustra đã nói như thế. Tên tác phẩm của cháu là Thái Hòa Kinh. Tứ của nó là do câu chuyện ngắn "Chuyện con thằn lằn chọn nghiệp" đăng trong tuần báo Mới năm 1953, trong ấy tác giả đặt một bài toán về triết lý mà đến nay chưa có triết nhân nào giải đáp. Bằng bài thơ dài của cháu, cháu mạo muội đăng một lời giải đáp...
            Hồ gật đầu nói:  
            - Tôi hiểu rồi. Thứ văn chương tư tưởng của cô, trong thiên hạ, có dân tộc Đức là sính hơn hết. Tôi khuyên cô chịu khó dịch ra tiếng Đức, nhờ ông Ulrich, là một nhà văn lỗi lạc, gọt giũa cho ngân như tiếng của pha ly, rồi cô cho xuất bản trước ở Đức. Ăn khách ở đó, tác phẩm của cô sẽ dịch ra các thứ tiếng, có một tiếng vang quốc tế, sẽ được chuộng ở quê nhà. Bưởi Biên Hòa của ta, các con buôn khách trú dùng bút lông mà thảo vài nét hồng hồng lên, xuống lục tỉnh bảo rằng bưởi Tàu, thì bán được giá hơn. Tác phẩm của cô, được báo chí và đài phát thanh trong thế giới ca ngợi, thì các nhà xuất bản tranh nhau mà mua bản quyền. Tiền của cô, cô hãy để dành đó mà nuôi cha già.
            Ngọ Thu cảm động, nói với giọng run run:
            - Cám ơn bác. Cháu xin nghe lời bác. Nhưng làm sao nói cho ông Ulrich tốn công giúp đỡ cháu?
            - Việc ấy để tôi lo.
 
3
 
            Bác sĩ Bái, y theo lời vợ vừa dặn bằng điện thoại, sau khi rời khỏi phòng mạch, ghé rước Huệ Minh, vợ Hồ. Khi xe đỗ trước thềm, bà Bái ra đón chào tận cửa và nói:  
            - Dì Tư nó tệ lắm! Có chồng ba mươi mấy năm nay, sanh cả chục mặt con, đã làm bà nội, bà ngoại, mà không chịu giới thiệu chồng cho bạn thân của mình. Tưởng ông hoàng tử đẹp ấy là ai, có dè đâu là bạn thân của nhà nầy, có khi đến ăn ngủ cả tháng. Đến nay, Cầu-Lệ bày tiệc làm lễ lạy cha nuôi, chị mới khám phá được cái bí mật. Thôi vô đây mà chịu phạt rượu.
            Chủ khách vừa ngồi, thì Ulrich về tới. Sau những chào hỏi vồn vã, bác sĩ Bái và Cầu-Lệ bày ly, chai. Còn Ngọ Thu, lãnh vai thơ ký, ngồi ghi những điều mắt thấy tai nghe bằng tiếng Đức trên một bloc-notes to. Bác sĩ Bái rót rượu nói, nàng thông ngôn lại:
            - Từ ngày thằng rể và đứa con gái chúng tôi nghiên cứu và thí nghiệm một cách bi đát về thuốc trường sanh, chưa có ai quả quyết rằng thuyết của chúng nó đúng cùng chăng? Còn riêng tôi, đọc những tài liệu của chúng nó đánh rơi lại, tôi thấy, và thí nghiệm suốt mười năm, rằng cao hổ cốt trị bịnh rhumatisme tài lắm. Cao hổ cốt phải dùng rượu để dẫn. Tôi dùng các thứ khai vị có tiếng bên Âu Châu mà chế cao hổ cốt. Ông Ulrich dùng thử. Nếu ngoài nghề văn, ông còn muốn kinh doanh, tôi bày cho ông cái kế là tung lên thị trường Âu Mỹ những hiệu rượu khai vị cao hổ cốt. Uống để trị bệnh rhumatisme. Ông sẽ làm tỉ phú. Xứ chúng tôi có nhiều cọp. Dân chúng sẽ săn cọp để lấy xương nấu hổ cốt mà cung cấp nguyên liệu cho ông. Dân Việt sẽ có thêm một kế sinh nhai...
            Ulrich vừa nhâm nhi rượu Martini có ngâm cao hổ cốt, vừa nhìn chòng chọc Huệ Minh, làm cho nàng hơi sượng sùng, hàm tiếu hỏi:
            - Tôi nay đã xế tuổi, còn cơ duyên nào mà phải nhìn chăm chỉ làm vậy?
            - Xin lỗi bà, tôi có điều thắc mắc khiến ông phải nhìn bà để xét nét cho kỹ, trước khi hỏi bà. Tôi có gặp một người đàn bà Việt, tuy có trẻ hơn bà, song giống bà lắm. Một chín, một mười.
            - Ông gặp người ấy ở đâu, và trong cơ hội nào?
            - Hơn một năm trước đây, đài phát thanh ở Hambourg có mời một nhạc sĩ và một ca sĩ Việt Nam, nổi danh ở Âu Châu, đến trình diễn về âm nhạc Việt.  
            Huệ Minh cười nói:  
            - Việc ấy là dĩ nhiên. Nữ ca sĩ ấy là Mộng Trung, em gái của tôi. Tôi thứ tư, nó thứ sáu, hiện nay nó sống ở Paris bằng lối trình diễn âm nhạc Việt cùng với nhạc sĩ Trần-Văn-Khê. Một nghề sống tạm bợ để nuôi bảy đứa con ăn học.  
            - Bà Mộng Trung ca hay lắm. Nghe giọng nói của bà, tôi nghĩ rằng bà cũng có thiên tư về ca.  
            Bà bác sĩ Bái chen vô:
            - Ông nghi trúng đó. Bà Hồ đây lúc còn con gái, đã làm cho gánh hát cải lương Đồng Nữ Ban. Dáng bộ không tự nhiên và uyển chuyển cho lắm, song nhờ có giọng thanh tao mà cũng được công chúng hoan nghinh.  
            Ulrich nói:
            - Tôi có ngờ đâu vợ của ông bạn tôi lại là một đào hát đã được công chúng hoan nghinh. Sau bữa tiệc, khi mà có chút êm lặng, tôi xin phép ông bà và chủ nhà cho tôi bày một cuộc phỏng vấn có ghi âm về ca nhạc Việt. Rất tiếc là vì vội vã, mà không mời được nhạc sĩ để đờn mà dẫn lời ca.  
            Huệ Minh cười nói:
            - Chị bác sĩ đã gài cho em vướng vào phiền lụy, khó chối từ đối với một ông bạn từ phương xa mà đến, thì xin phép cho em trả nủa bằng cách gài cả hai anh chị mắc vào chung một cái phiền lụy với em. Thưa ông Ulrich, bà bác sĩ đây là một nhạc sĩ trứ danh, hồi còn con gái, đã cùng tôi lăn lóc trong gánh Đồng Nữ Ban. Với cây đờn tranh, bà đã làm nổi bật giàn nhạc của gánh nầy. Khi có chồng chơi nhạc một mình buồn, bà đã dạy ông bác sĩ dùng đủ thứ nhạc khí. Ông sở trường đờn cò và ống tiêu. Vậy ông chớ lo thiếu âm nhạc.  
            Bác sĩ vui vẻ đáp:
            - Dì tư xử như vậy ức cho vợ chồng tôi lắm. Luật của Talion dạy: Lấy mắt đổi mắt, lấy răng đổi răng. Nay bị móc một mắt, mà dì quyết móc cả đôi ngươi để trả nủa, thì đâu có công bình. Chẳng có công bình, ắt còn trả hận. Oan oan tương báo, biết chừng nào lấp hố oán thù? Ông Ulrich, chúng tôi bằng lòng dấn thân vào phiền lụy, mà đờn cho bà Hồ ca, song với điều kiện là phải có công bằng. Bạn tôi cũng phải góp phần vào, không ca được, không đờn được, thì ít nữa cũng bằng những lời, giới thiệu cho công chúng Đức hiểu tinh túy của ca nhạc Việt.
            Hồ phản đối:  
            -  Về ca nhạc, tôi dốt đặc cán mai, có hiểu tinh túy của ca nhạc Việt như thế nào, mà nói mấy lời giới thiệu nổi?
            Bác sĩ Bái cười khoái trá. Cầu-Lệ can thiệp:
            - Thầy con không nói được. Vậy con xin thay lời. Cả hai thảy đều là cha nuôi, con không binh cha nào, bỏ cha nào. Con chỉ ra sức mà đền ơn cho người thầy xây dựng tinh thần con. Chúng ta sẽ bàn riêng để tổ chức cuộc phóng sự có ghi âm. Bây giờ, chúng ta hãy đổi vấn đề, để giúp ông Ulrich khởi đầu thiên phóng sự của ông, mà nhan đề là: Tôi viếng đất mà Rồng sắp trổ hoa.  
            Tất cả im lặng, Ngọ Thu chuẩn bị ghi lời trên giấy, chốc chốc, sau khi Ulrich dừng từng đoạn, nàng sẽ dịch lại thành tiếng Việt. Ulrich khởi sự:
 
4
 
            Sau năm 1950 hay 1951 gì đó, những nhà khảo cổ Nhựt có khai quật gần Đông Kinh, bên Nhựt, tìm thấy một chiếc thuyền cổ chôn vùi dưới đất. Có lẽ chỗ ấy, hồi xưa, mực nước biển còn tràn đến, rồi thuyền đậu đó bị chìm, lâu ngày chầy tháng phù sa bồi lên mà chôn vùi thuyền dưới đất. Cũng có lẽ thuyền bị một cơn bão lớn, thủy triều ném lên bờ, rồi mắc kẹt lại và bị đất cát chôn vùi... Các nhà thông thái Nhựt, dùng phương pháp định tuổi của khoa học tối tân, đồng công nhận rằng thuyền nầy đã xưa hơn hai ngàn năm. Một giả thuyết được đa số công nhận, là thuyền nầy là một trong những con thuyền của Từ Phước, khi vị đạo sĩ nầy gạt Tần Thủ Hoàng mà tổ chức một cuộc di cư lánh nạn, nói dối với vị bạo chúa là đi tìm thuốc trường sanh để dâng cho bạo chúa dùng hầu sống mãi đến miên trường.
            Trong những vật tìm được trong thuyền, người ta tìm được một lọ đậy rất kín, trong ấy có những hột khô teo từ hơn hai ngàn năm không biết là hột gì. Một nhà bác học nghi là hột sen mới dùng phương pháp tinh xảo hơn hết của thuật trồng sen mà ương. Mầu nhiệm thay, hột cũ hơn hai ngàn năm lại đâm manh nha được. Và quả là sen. Đến mùa, sen nầy lại trổ hoa. Ai cũng cho là việc kỳ quan. Tạp chí Life xuất bản bên Hoa Kỳ, có viết bài dài về sen lạ nầy. Hoa sen được chụp hình màu mà đăng kèm cùng với ảnh của nhà bác học đã ương được sen lạ.
            Tôi lúc ấy ở Hambourg, đọc được tạp chí, nảy ra cái ý nghĩ rằng sen sống ở Nhựt được, thì có thể trồng ở Hambourg được. Âu là vận động xin một miếng củ mà gầy giống sen lạ, để trồng ở Hambourg cho công chúng đến xem một kỳ quan của khoa học. Chánh phủ Đức giao thiệp với chính phủ Nhựt để thực hiện chương trình do tôi đề nghị. Một củ sen được chiết và trồng nơi vườn Bách thảo Hambourg. Sen đâm ngó kết lá, và tháng tám năm 1953 lại trổ hoa. Các báo ở Âu Châu đều đăng cái tin lạ ấy.  
            Ngay lúc đó, có một hội nghị quốc tế để vận động cho phòng trào Liên bang Thế giới họp ở Copenhague. Một số đại biểu Việt Nam đọc báo, hay tin, trên đường về, có ghé ở Hambourg mà xem sen lạ. Một ký giả của tờ báo lớn ở địa phương, là tờ Hamburger Tageblatt, một phóng viên nhiếp ảnh, và tôi thay mặt cho đài phát thanh, đón tiếp những người Việt nầy; chúng tôi tiếp đãi những vị nầy, trong đó có ông Hồ đây. Và ông Hồ có cho chúng tôi biết cái tin tưởng của một giáo phái lớn ở đây là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Tin tưởng do người sáng đạo, là Phật Thầy Tây An đã gieo trong tiềm thức của dân gian, rằng Phật Maitreya sẽ giáng thế mà lập Hội Long Hoa, để mở một ngươn mới cho nhơn loại.
            Ông Hồ có nêu ra một cái ý nghĩ, rằng có lẽ điềm sen lạ trổ hai lần, lần trước ở Đông Kinh, lần sau ở Hambourg ấy có lẽ là điềm Maitreya sắp xuống thế. Tôi có hỏi tại sao ông nghĩ như vậy? Thì ông đáp rằng Phật Thầy Tây An có tiên tri rằng trước khi có Hội Long Hoa, thì trong nước loạn ly lung tung rồi quân các nước kéo đến chiếm đóng.
            Mười hai năm qua. Bỗng nhiên chiến cuộc Việt Nam đến chỗ nan giải, mà có thể biến thành chiến tranh thế giới. Có vài cường quốc đề nghị gởi quân quốc tế đến Việt Nam. Tôi sực nhớ lại những lời tiên tri đã nghe. Một tin tưởng huyền bí ám ảnh tôi. Người Đức chúng tôi rất sành khoa học, mà tâm hồn chúng tôi cũng dễ rung động về huyền bí. Biết đâu chừng Hội Long Hoa sắp mở ở đây. Tôi đề nghị với nhiều tờ báo lớn, với vài đài phát thanh, để tôi lãnh làm một thiên phóng sự đầy đủ với cái nhan đề đầy huyền bí là: Tôi viếng đất mà Rồng sắp trổ hoa.
            Phóng sự về một huyền bí, tôi lại dùng phương pháp rất khách quan của khoa học. Một thơ ký viết tốc ký theo dõi tôi từng bước. Tôi thấy cái gì? Người ấy ghi đầy đủ. Tôi hỏi ai cái gì và được trả lời ra sao? Người ấy dùng tốc ký mà ghi thật trung thực. Tôi chỉ gọt giũa cho văn được sáng sủa và miêu tả rồi gửi về Đức mà công bố. Nếu không có duyên may rung ruổi, thì tôi phải sống nơi khách sạn ngày ngày nhìn những cái nhộn nhịp của bề ngoài của sự sống. Làm sao mà đi sâu vào xã hội Việt, tiếp cận với những ôm ấp thầm kín tận đáy lòng người Việt, để hiểu những mong chờ, của họ về Hội Long Hoa. Vậy, tôi xin khởi thiên phóng sự của tôi bằng lời cám ơn nồng nàn, cám ơn ông bạn Hồ đã làm duyên khởi cho thiên phóng sự, cám ơn ông bà bác sĩ Bái đã rước tôi về ở trong gia đình, cám ơn cô Cầu-Lệ đã dừng cuộc du học ở Âu Châu, về đây mà tích cực giúp tôi thực hiện nhiệm vụ.  
 
5
 
            Sau mấy tiếng vỗ tay để đáp lễ Ulrich, cả thảy im lặng để nghe Hồ đáp lại. Hồ nói chậm rãi, dứt mỗi câu lại ngừng, để cho Ngọ Thu dịch lại tiếng Đức. Hồ nói:
            - Maitreya, người Việt dịch là Di-Lặc, vốn có tên là A-Dật-Đa, vào thời Thích-Ca ruổi dung truyền đạo, chỉ đắc cái hạnh Bồ-Tát mà thôi. Người được bè bạn gán cho biệt hiệu là Cầu Danh. Kinh Saddharmapundarica, mà người Việt dịch là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh có ghi tiểu tiết ấy. Sao gọi là Cầu Danh? Bởi vì người cố gắng mãi mãi hơn nay cố gắng hơn ngày hôm qua, để mình càng cao quí, đẹp đẽ mãi, vươn tới, vươn tới mãi. Để đạt mục đích nầy, người luôn luôn "xét lại", cởi bỏ cái lôi thôi, để chọn cái mới, cho kịp sự tiến hóa. Những đạo hữu của người, tu dưỡng mà đạt được cái hạnh nào, thì huyền ngưng trong cái hạnh ấy. Họ không hiểu cái tinh thần cầu tiến thường xuyên của A-Dật-Da, rồi lầm tưởng động cơ thúc đẩy sự cầu tiến thường xuyên nầy chỉ là một sự cầu danh mà thôi, nền đặt cho người cái biệt hiệu đó. Tinh thần cầu tiến thường xuyên nầy, có người xứ tôi thông cảm được, dùng danh từ Văn hóa (hiểu theo nghĩa tầm nguyên), để mà gọi.
            Lời giải thích theo lời biện chứng của Hồ làm cho Ulrich thông cảm và hiểu ngay được. Ulrich gật đầu tỏ vẻ công nhận. Hồ nói tiếp:  
            - Vào lúc tuổi già, Thích Ca thị kiến, thấy hai ngàn năm trăm năm sau mình những tiến bộ vĩ đại trong mọi ngành đưa đến chỗ phải cởi bỏ tất cả ý thức hệ cũ xưa, mà làm một cuộc cách mạng văn hóa toàn diện. Tinh thần nào làm động cơ cho cuộc cách mạng văn hóa ấy nổi? Phải chăng là tinh thần huyền ngưng, tinh thần cầu an, tinh thần giữ cựu lệ để chối các phiên đảo? Không thế được. Chỉ có tinh thần cầu tiến thường xuyên, tinh thần văn hóa (theo nghĩa tầm nguyên của nó), mới có đủ khả năng mà làm động cơ cho cuộc cách mạng văn hóa vĩ đại nầy, mà Thích Ca bị trình độ trí thức của tín đồ mình ràng buộc, nên khó dùng ngôn ngữ của thế kỷ XX ta mà nói cho những người của năm trăm năm trước Jésus hiểu được. Thích Ca phải dùng sáo ngữ, thành kiến, ngôn ngữ của thời mình mà nói cho người thời mình hiểu. Nên, trong một buổi thuyết pháp dưới bóng cội cây Long Hoa, Thích Ca gọi A-Dật-Đa mà nói: "Hai ngàn năm trăm năm sau, ngươi sẽ là vị Phật lớn hơn tất cả các vị Phật mà thuyết pháp dưới cội Long Hoa". Đó là một câu bóng bẩy tượng trưng của người xưa. Vào thế kỷ ta, chúng ta nên hiểu đó là một cuộc cách mạng ý thức hệ vĩ đại, mà động cơ là tinh thần cải tiến thường xuyên, tượng trưng trung thực hơn hết là A-Dật-Đa, tức là Maitreya vậy.
            Ulrich lấy ngón trỏ ngón giữa của bàn tay mặt mà nhịp nhẹ trên sóng bàn tay trái, tỏ ý hoan nghênh lời giải thích phù hợp với tinh thần khoa học Tây Phương của mình. Trên mặt Cầu-Lệ hiện rõ sự hân hoan, vì thấy tìm được lời diễn đạt những huyền bí ở phương Đông cho người phương Tây hiểu ngay được. Hồ tiếp:
            - Maitreya sẽ "giáng sanh" bằng cách nào? Phải chăng là theo cách thức thông thường của tất cả, là do tinh trùng của một người cha kích thích một tiểu noản của một người mẹ, làm tiểu noản hóa ra bào thai, đúng kỳ sanh, đẻ ra một đứa trẻ, cái mà trong phạn ngữ, người ta gọi là Upadaka-avatara? Không phải vậy. Sự hiểu biết của loài người, đến thế kỷ XX nầy, đã trở nên to rộng vô cùng.Trí óc của một người, dầu người ấy là "thánh nhơn", không tài nào bao gồm tất cả để làm một tổng hợp, lựa là làm một cuộc cách mạng toàn diện. Maitreya có thể nào "giáng sanh" ngoài lối trên, theo lối mà phạn ngữ gọi là Anupadaka-avatara, nghĩa là chẳng do tinh trùng kích thích, lại do "huyền vi thánh thần" hóa làm "thánh thai" và đến khai hoa, một "thánh nhơn" sẽ ra đời? Dầu có một vị thánh nhơn như thế nầy, cũng không tài nào bao gồm tất cả sự hiểu biết mà làm cuộc cách mạng nổi. Do đó mà Maitreya, tượng trưng cho tinh thần cầu tiến thường xuyên, chỉ có thể giáng phàm bằng cách toulpa. Việc nhập xác bằng cách toulpa nầy, từ muôn thuở, loài người đã chứng kiến. Xác nào có thể được nhập vào? Ấy là những xác vốn có căn lành, nên nhạy cảm. Âu Châu gọi là médium, tức là trung gian giữa hồn thiêng và phàm nhơn. Như người ta tin rằng có một hồn thơ nhập xác vào những người nhạy cảm về thơ, biến những người nầy thành thi sĩ và ám ảnh, xúi giục họ làm những bài thơ hay. Cũng như có thể nói khoa học là một cái tinh thần, nhập xác vào những ai đã tập rèn suy tư khảo cứu và có khả năng phát minh, rồi biến họ ra thành những nhà bác học. Khi Maitreya giáng phàm cũng vậy. Người chọn những người có căn lành, nhạy cảm, giàu lòng từ bi, bác ái mà nhập xác bằng cách toulpa. Kẻ bị nhập xác sẽ bức rức, băn khoăn, ngồi đứng không yên, chẳng còn thú gì với khoái lạc, với hạnh phúc. Lòng bị nung nấu, phải rời bỏ tất cả để đi tìm... Tìm cái gì? Tìm phương dập tắt ngọn lửa đang đốt lòng mình, và chắc chắn là cũng đốt lòng chúng sanh như đốt mình vậy. Thích-Ca bỏ vợ đẹp con xinh, từ chối ngôi đông cung thái tử, rời tất cả phú quí, để lang thang tìm đạo, đó là hình ảnh tượng trưng sâu sắc hơn hết của số người bị tinh thần cầu tiến "nhập xác" bằng cách toulpa.  
            Ulrich đưa ngón tay ra dấu muốn nói. Hồ bèn dừng, để cho nhà văn Đức tỏ ý:
            - Năm 1953, khi Nhựt báo Hamburger Tageblatt đăng bài phỏng vấn ông, thì phần đông độc giả ở Đức, không hiểu Maitreya giáng sanh bằng cách nào, nên còn đặt một dấu hỏi của hoài nghi. Nay, ông bạn trình bày vấn đề theo nhãn quang ấy, tôi hiểu ngay rằng sau hơn tám mươi năm bị ách nô lệ, dân Việt đã chịu năm năm khổ hạnh chung của nhơn loại trong thời thế chiến thứ hai, dân Việt lại phải chiến đấu thêm không biết chừng nào mới dứt, mà chẳng thấy rõ tiền đồ ra sao nữa. Cảnh loạn ly ấy làm cho ai giàu lòng từ bi, bác ái, tâm hồn nhạy cảm, tất nhiên phải bị nhập xác, rồi bức rức, băn khoăn, ngồi đứng không yên, chẳng còn thú gì với khoái lạc, với hạnh phúc. Maitreya đã nhập vào họ.  
            Hồ gật đầu, và với giọng cảm động, tiếp:
            - Đúng vây. Tôi đã chứng kiến, nói cho thật đúng hơn, là tôi đã quen biết một số người, mà nghe kể lại, là đã bị Maitreya nhập xác, kẻ ít người nhiều. Trước khi sang Âu Châu, vào tháng ba 1953, tôi vốn có mặt tại Sài Gòn, ngụ trong gia đình của bạn tôi là bác sĩ Bái đây, lúc ấy chưa dọn về nhà nầy. Trong gia đình nầy, nhiều người đã bị Maitreya nhập xác. Lậm hơn hết là cô ái nữ Tuyết Lê, thổn thức, băn khoăn cho đến đỗi không còn thấy thú gì mà sống ở đô thành hoa lệ, rồi bỏ tất cả, lao mình vào rừng thiêng nước độc, để tìm thuốc trường sanh làm phương tiện để cứu đời. Cậu rể trong nhà là bác sĩ Tâm, cũng bị nhập xác. Cầu-Lệ đây, lúc ấy mới mười mấy tuổi, ngây thơ chưa hiểu đầy đủ, mà cũng không tránh được truyền nhiễm. Và kể ra, hiện diện tại đây, tôi không biết ông Ulrich và cô Ngọ Thu ra thế nào, còn lại năm người, là vợ chồng bác sĩ Bái, Cầu-Lệ và vợ chồng tôi, cả thảy năm người, thảy đều bị Maitreya nhập xác ít nhiều... Sang Hambourg, tôi dám nói rằng Maitreya đã giáng phàm, và sen lạ trổ hai lần là điềm của sự giáng phàm ấy, bởi vì, vài tháng trước, tôi đã nghe chuyện Tuyết Lê bị nhập xác. Tuyết Lê? Ông còn nhìn thấy nàng cởi cọp, thổi ống tiêu, trên bức sơn mài treo ở vách kia. Chuyện nàng bị nhập xác ra làm sao? Bộ tiểu thuyết "thuốc trường sanh" đã chép lại đầy đủ. Rất tiếc là ông không đọc được tiếng Việt để xem tiểu thuyết ấy. Thế giới ngày nay bi đát lắm. Cái bi đát nầy lại cô động, kẹo lại trên mảnh đất nhỏ của miền Nam. Kẻ nhạy cảm, thảy đều bị nhập xác ít nhiều. Lời tiên tri của Phật Thầy Tây An, cách đây không đầy một trăm hai mươi năm, rằng Maitreya sẽ xuất hiện lại miền Nam nước Việt nầy, lời tiên tri ấy, tôi chứng minh cho ông Ulrich nghe bằng những luận điệu đanh thép của khoa học Tây phương.
            Trong khi Hồ buông lời chầm chậm, thì bà Bái, Huệ Minh, bác sĩ Bái không ngăn giot lệ từ từ lăn trên má. Còn Cầu-Lệ nghẹn ngào, thỉnh thoảng nức lên, vì dồn nén không cho khóc ra tiếng. Ngọ Thu tuy ngồi chép, cũng thỉnh thoảng đánh rơi một giọt nước mắt trên giấy trắng. Và khi nàng dịch lại cho Ulrich nghe, nàng phải dừng lại mấy lần, vì cảm động...
            Bàn dọn xong. Bà Bái mời vào ngồi. Tuy thực đơn nghiên cứu rất kỹ và chọn những món ngon, song không ai thấy có thú vị. Hồ xin lỗi:
            - Tôi nặng tội, vì đã trót làm cho bữa ăn nầy buồn tẻ và không ai ăn ngon được. Song tôi có những lý lẽ chủ quan khiến tôi chẳng đặng đừng. Một là phải trung thực với tinh thần Phật, mà Maitreya là vị Phật lớn hơn hết. Dân chúng tôi chịu ách nô lệ hơn tám mươi năm, chiến đấu đã hai mươi năm, mà viễn đồ bày trước mắt hoặc là mấy mươi năm nội chiến, hoặc là chiến tranh nguyên tử. Ấy là một cái khổ, diệu đế của Thích-Ca đã vạch. Ông Ulrich khởi chương đầu của thiên phóng sự của ông, muốn cho phóng sự nầy được trung thực về cái huyền thoại "Rồng sắp trổ hoa", ông phải nhấn mạnh về cái nguyên nhân nào mà "Rồng sắp trổ hoa". Lẽ thứ hai là Cầu-Lệ có dụng ý bày tiệc ra mắt thầy thì tôi thấy tôi có bổn phận "điểm đạo" cho nàng giác ngộ. Thế nhơn lầm tưởng là hễ "giác ngộ", thì được thơ thới trong lòng. Không đúng. Thích-Ca bởi giác ngộ diệu đế đầu, là cái khổ, mà đớn đau đến đổi rời bỏ tất cả để tìm đạo. Cầu-Lệ, nay bị điểm đạo, mà giác ngộ, ấy là bắt đầu từ hôm nay, con sẽ bị Maitreya nhập xác... và con sẽ biết khổ.
 
6
 
            Bác sĩ Bái thổi vào ống tiêu lấy giọng, để cho bà chỉnh lại giàn nhạc của đờn tranh. Hai vợ chồng rao nam mấy câu ai oán, trong lúc Ulrich thử xem máy thâu thanh đã chuẩn bị xong chưa. Cầu-Lệ nói:
            - Thầy tôi đã khai mào thiên phóng sự bằng lời. Lời ấy đã đủ để giới thiệu buổi phóng sự có ghi âm về nhạc Việt. Nhạc là tiếng nói của tâm hồn của mỗi dân tộc, bằng ngôn ngữ chung của loài người, ngôn ngữ của tiếng đờn, giọng ca. Phát tích ở miền Bắc, nhạc Việt có một điệu Bắc, nhanh nhẹn, lẹ làng, tuy không hùng vĩ và vui tươi, song không đến đỗi buồn thảm. Dân Việt tràn vào Nam, làm cho dân Chàm, rồi dân Miên mất nước, rồi đồng hóa hai sắc dân nầy vào đại gia đình Việt. Sự buồn thảm, vì mất nước của hai sắc dân nầy không khỏi ảnh hưởng đến tâm hồn chung của dân tộc. Tâm hồn buồn thảm, nói lên bằng điệu nhạc Nam. Đến khi bị thực dân Pháp đô hộ, tâm hồn buồn thảm của dân càng thêm déo dắt. Tánh cách chung của âm nhạc là như vậy, song mỗi tác phẩm là một huyền ngưng của một trạng thái tâm hồn. Nó nói hết về đại cương trạng thái ấy. Tuy vậy mà có được một bài, xuất hiện vào lối năm mươi năm nay, mỗi năm mỗi biến. Mà sự biến của nó tả được đường lối chung của nhạc Việt. Là càng ngày càng đớn đau, buồn thảm. Bài ấy xuất hiện, với cái tên nguyên thủy là "dạ cổ hoài lang", nghĩa là tiếng trống ban đêm làm cho một chinh phụ nhớ chồng. Cô dọng trong hai mươi câu, mỗi câu chỉ có hai nhịp, bản nhạc ấy là tất cả dòng thơ Chinh phụ ngâm tóm tắt...
            Sau một tiếng nhịp, tranh, tiêu hòa với tiếng của Huệ Minh. Nàng ca rằng:
            Từ đưa phu tướng,
            Bảo kiếm, sắc phong, lên đàng,  
            Vào ra luống trông tin chàng,  
            Năm canh mơ màng!  
            Luống trông tin bạn,  
            Tỉnh giấc hèo, thở than!  
            Chàng dầu xa ong bướm,  
            Xin cũng đừng phụ nghĩa tào khang!  
            Đêm luống trông tin bạn,
            Ngày mỏi mòn như đá vọng phu.
            Vọng phu vọng, luống trông tin chàng...
            Năm canh mơ màng,  
            Chàng hỡi chàng có hay?
            Đêm thiếp nằm luống những sầu tây,  
            Biết bao thuở đó đây sum vầy?
            Duyên sắt cầm, tình thương?
            Nguyện cho chàng,  
            Đặng chữ bình an,  
            Trở lại gia đàng,  
            Cho én nhàn hiệp đôi!
            Huệ Minh tuy đã già, song giọng hãy còn thanh tao, lãnh lót, cảm động và não nề. Ngọ Thu quen nghe hò hát ở sông Hương, cũng phải nhận rằng giọng "dạ cổ hoài lang" cũ xưa có phần ai oán hơn nhiều. Cầu-Lệ trình bày tiếp:
            - Huyền thoại truyền rằng bài nầy xuất hiện ở Bạc Liêu vào năm 1919. Lúc ấy, có nhiều nhà ái quốc bị giam ở thành nầy, và vợ con lao nhao đến tìm thăm. Song không được nhà cầm quyền thực dân cho phép. Các bà chỉ đứng xa xa khám đường mà nhìn, rồi rơi lụy. Một ngục quan, người Việt, thấy việc thương tâm, nên thuật lại cho một thi sĩ kiêm nhạc sĩ ở Vĩnh Trạch. Thi sĩ lấy cái cảnh vợ một nhà cách mạng, ngồi xa xa khám, mong tin chồng, đêm đến mà không hay, nghe tiếng "trống ban đêm" của khám khắc hồi canh, mà "nhớ chồng", để làm tứ, hầu đặt lời thơ và phổ nhạc. Tuy nhiên không thể nói lộ liễu rằng người chồng đây là một nhà cách mạng sa cơ, nên dùng từ ngữ "sắc phong" mơ mơ màng màng. Sắc ở đây không phải là sắc của vua. Sắc ở đây là sắc của đảng cách mạng, là lịnh của đảng ái quốc. Tinh thần ái quốc của lời thơ, phả bằng một điệu nhạc ai oán não nề, là hai yếu tố cho bài "dạ cổ hoài lang" từ miệng nầy sang tai kia, trong vài năm đã lan truyền khắp miền Nam. Vì nó nói đúng được hồn của dân tộc, một dân tộc khổ vì nhục mất nước và luôn luôn nghĩ việc phục thù, não nề vì thất bại nhiều, mà bi đát tiến theo con đường của định phận... Từ năm 1924, phong trào quần chúng, do Nguyễn An Ninh đốt ngòi, càng to lên, càng rộng ra. Hồn dân tộc mạnh lên, lớn ra mà thực chất vẫn giữ. Đứa bé lớn lên, cần may áo mới cho rộng hơn cho nó mặc mới vừa. Bài "dạ cổ hoài lang" mỗi câu hai nhịp, không biết nhạc sĩ nào canh cải, mỗi câu gấp đôi nhịp lên. Và tên là bài "vọng cổ", cô động bốn chữ "vọng phu văn cổ", nghĩa là "nàng trông chồng nghe tiếng trống" của ban đêm mà nhớ nhung. Từ đây, tên nầy được giữ luôn, để miêu tả tâm hồn của người Việt, chớ chẳng phải riêng của vợ một nhà cách mạng sa cơ.  
            Tranh, tiêu và ca lại khởi lên để trình bày một bản "vọng cổ" tả sự chia ly của đôi "nhạn đành kêu sương nơi biển bắc, én cam khóc hạn ở trời nam". Đờn ca vừa dứt, thì Cầu-Lệ nói vài lời, trình bày phong trào cách mạng năm thất bại và chìm trong bùn lầy của một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Sự buồn thảm gia tăng. Sau tám nhịp, lên mười sáu. Từ đó bài nhạc trở nên trường thiên. Nên người ta chọn sáu câu tiêu biểu nhất, mà làm khổ cho nhạc, cho lời ca. Mười sáu nhịp, gấp đôi lên thành sáu mươi bốn nhịp. Và hiện nay, đang vươn lên một trăm hai mươi tám nhịp. Mỗi khi trình bày một giai đoạn, thì Cầu-Lệ dừng lại, nhường lời cho nhạc, cho ca, trình bày một bài vọng cổ tiêu biểu nhất của giai đoạn.  
            Chỉ có một bài vọng cổ, từ hai nhịp, đến một trăm hai mươi tám nhịp, buổi phóng sự thâu thanh choán nhiều thời giờ.
 
7
 
            Bác sĩ Trần Nghĩa Trọng được điện văn, mở ra đọc, mới hay rằng chính là đứa con trai mình là Hayashi từ Tokyo mới vừa đến. Một cuốn phim được rọi lên trong ký ức của chàng. Chàng vốn là đảng viên của đảng Hắc Long, ở vào cánh tả, chia xẻ cái chủ trương rằng muốn cho dân tộc Nhựt được một địa vị rực rỡ trên bàn cờ thế giới, thì không nên mang hia của các đế quốc xâm lăng và bóc lột, mà dẫm theo vết của các cường quốc thực dân. Trái lại, dân tộc Nhựt phải cầm đầu cho các dân tộc Á Châu đương thức tỉnh bằng phương tiện của xã hội chủ nghĩa, của cách mạng văn hóa. Ở Tokyo, chàng học y khoa, dan díu cùng một nữ sanh viên mà có một đứa con trai. Chàng vừa tốt nghiệp, thì vợ chàng qua đời, bỏ đứa con trai lại cho bà nội nó nuôi. Và chàng bị nhập ngũ. Bởi chàng là đảng viên của đảng Hắc Long, nên chàng được bổ sung vào ngành do thám. Đổi họ, đổi tên làm một người Cao Ly, tên Chungil, sang miền nam nước Việt mà đi khắp đó đây, để bề ngoài bán cao ly sâm và mua thuốc sống do nông dân hái ở các rừng, bề trong là lặn lội để vẽ bản đồ các miền rừng núi và giao thiệp với các nhà cách mạng Việt.
            Nhờ đó mà chàng giao thiệp được gia đình của ông thầy thuốc Bắc, không có con trai nên nuôi chàng làm con nuôi, và đổi tên họ chàng lại lần thứ hai là Trần Nghĩa Trọng. Chàng cưới đứa cháu vợ của cha nuôi và sanh được một đứa con gái, đặt tên là Trần Nghĩa Phương Nữ vào năm 1940. Thừa việc chàng có quốc tịch Việt, bộ tham mưu Nhựt hạ lịnh cho chàng đi học lại và đi thi vào đại học, để len lỏi trong giới sanh viên để sách động, tổ chức, điều khiển họ. Chàng đã có học thuốc ở Nhựt rồi, nên bây giờ học lại, không tốn thì giờ. Chàng nhờ có nhiều thì giờ, sẵn có kinh nghiệm tổ chức, và có nhiều phương tiện tài chánh do bộ tham mưu Nhựt bí mật cung cấp, cho nên đảng Hưng Việt do chàng thành lập phát triển rất mau lẹ.  
            Năm 1945, sau khi Ý đã hàng đầu Đồng Minh, Đức sắp bại trận, và Nhựt đang kiệt quệ về đủ mọi mặt, Nghĩa Trọng gởi về cho đảng Hắc Long một số kế hoạch vĩ đại, để nhờ đảng chuyển đạt lên Nhựt hoàng. Kế hoạch nầy là kế hoạch Hayashi, mượn tên Nhựt của chàng mà đặt, và đại ý là "dân tộc Nhựt thua chiến tranh, âu là phải thắng hòa bình". Chính là kế hoạch nầy ảnh hưởng rất mạnh đối với đường lối của nước Nhựt và đã khiến Nhựt hoàng hạ lịnh cho quân đội Phù Tang thi hành cuộc đảo chánh ngày 9 tháng III năm 1945, để gài cho dân tộc Việt Nam vào cái thế đương đầu với quân đội Pháp trong cuộc chiến tranh kéo dài hàng chục năm, mở màn cho một cuộc tranh hùng giữa khối cộng và Hoa Kỳ, với dụng ý là khi hai khối mâu thuẫn nhau đến triệt để, mà đánh nhau thì e đổ vỡ tất cả, thì nước Nhựt đứng ra giải hòa, trước mua chuộc tình cảm của tất cả loài người, ấy gọi là chính thuật "chinh tâm". Kế là giữ cái thế trọng tài giữa đôi bên tranh hùng, mà vươn lên ấy gọi là chiến thuật "chinh giao"; sau là dựa vào hai thành tích trước mà mở các thị trường Á Phi cho kỹ nghệ và thương mãi Nhựt, làm cho dân Nhựt phú cường lên, ấy là chính thuật "chinh lương". Không cần lục quân hùng hậu, hải quân đông đảo, không quân ào ạt, mà chỉ nhờ thông minh, khôn khéo, mưu kế và nhẫn nại, mà dân tộc Nhựt thắng hòa bình. Kế hoạch nầy, Hayashi đặt tên là kế hoạch "tam phân thế, lưỡng tranh hùng", mượn nơi thủ đoạn của Khổng Minh gài cho Châu Du và Tào Tháo đánh nhau ở Xích Bích mà đoạt lấy Kinh châu.
            Sau khi quân đội Nhựt bị áp lực của bom nguyên tử mà hàng đầu Đồng Minh không điều kiện, binh lính Nhựt thảy bị đưa về đất Phù-Tang, thì Trần Nghĩa Trọng vì có giấy tờ là người có quốc tịch Việt Nam, ở lại xứ nầy, hoàn tất sự học của mình ở trường thuốc mà ra mở phòng mạch ở Tây Ninh, sống giản dị, bình dân, dân chúng ai cũng mến yêu. Và bởi chàng mất hẳn giọng nói của Nhựt, nên không một ai nghi ngờ gì gốc tích của chàng cả. Trừ có vợ chàng, trừ có con gái chàng là Phương Nữ mà chàng dạy dỗ kỹ lưỡng, nên nói tiếng Nhựt rất rành. Nàng cũng bắt chước cha mà học thuốc, và năm nay học năm thứ năm ở trường thuốc Sài Gòn...  
            Nghĩa Trọng lái chiếc xe ô tô của mình mà xuống Sài Gòn, đến khách sạn mà tìm Hayashi rồi dắt chàng đi tìm em gái là Phương Nữ. Vừa gặp em, chàng nói:  
            - Lịch sử đặt cho hai dân tộc Nhựt và Việt cái thiên chức mà bảy thế kỷ trước, hai dân tộc đã cùng chung giải quyết. Hồi thế kỷ thứ XIII, quân Mông Nguyên ồ ạt, chinh phục Âu Châu và Á Châu. Chiến thuyền của chúng bị trận bão nhận chìm, chúng đổ bộ qua Nhựt không được. Bộ binh của chúng ba lượt bị quân nhà Trần đánh bại. Nhuệ khí của chúng bị mòn mà nhà Nguyên sau đó bị lật đổ. Nay vào thế kỷ XX, chủ nghĩa độc tài cộng sản lại đe dọa hoàn cầu. Hai dân tộc Nhật Việt lại phải chận làn sóng chinh phục đỏ. Số phận đã tượng trưng cho sự đồng thiên chức ấy bằng cách là cho chúng ta khác mẹ mà cùng một cha. Anh có mẹ Nhựt, em có mẹ Việt. Nước Nhựt và nước Việt là nước mẹ của riêng mỗi chúng ta. Mà chúng ta thờ chung một cha là nhân loại.  
            Phương Nữ đáp:
            - Cá nhân anh, đối với em, có tình máu huyết, nên anh thấy vấn đề như vậy. Liệu cả dân tộc Nhựt đối với dân tộc Việt, nhìn lịch sử, có cặp mặt của anh chăng? Thế kỷ XIII, ở xứ nầy có Trần Quốc Toản, có quân nhà Trần có toàn dân Việt, cùng một dạ chống xâm lăng của quân Mông Nguyên. Còn vào thế kỷ XX nầy, đứng trước sự xâm lăng ý thức hệ, thì trong hình ảnh tượng trưng mà anh vừa nêu ra, đại diện cho dân tộc Việt là em Phương Nữ, một đứa gái yếu mềm. Làm sao đứng đầu cho nổi cái phong trào quật khởi được?
            Nghĩa Trọng gật đầu nhè nhẹ, tỏ ý tán thành lời của con gái, mà mắt nghiêng nhìn Hayashi, chờ chàng đáp thế nào. Hayashi trầm ngâm rất lâu, chậm chậm nói:  
            - Hai năm trước đây, cả dân tộc Nhựt rung động vì cái tin Phật Giáo Việt Nam tranh đấu chống bạo quyền và cảm xúc mãnh liệt khi được nghe các vị tăng tự thiêu để động viên tinh thần phản kháng của thế giới. Làn sóng chinh phục đỏ thuộc về một ý thức hệ. Phải dùng một lực lượng tinh thần mới chận đứng nó được, mới đánh bại ý thức hệ ấy nổi. Lực lượng tinh thần vị tất phải nằm trong thân mình của một lực sĩ. Sáng tạo ra ý thức hệ có khả năng đánh lui được thuyết độc tài đó, vị tất phải là một dân tộc hùng cường. La-Mã chinh phục cả thế giới quanh Địa Trung hải mà bị chinh phục lại bởi cái đạo thương người của một dân nhỏ bé là dân Do Thái... Xưa vào thời đại mà người       ta đánh nhau bằng mộc, bằng giáo, thì người Việt ba lần đánh lui quân của Mông Nguyên. Nay, thế kỷ XX, mà sự thành bại định phân trên trận tuyến của tinh năng trí thức, anh không tin rằng sự thắng trận của người Việt sẽ do một Trần Quốc Toản mới lãnh đạo. Anh lại tin rằng kẻ phất cờ thắng trận là một vị thủ lãnh tinh thần, một giáo chủ...  
            Phương Nữ mắt mơ màng nhìn trong xa xăm, chậm chậm nối lời anh:
            - Làm người phàm, khó thế làm vị giáo chủ ấy. Họa may là có Maitreya tái lâm, như Phật Thích Ca đã báo hai ngàn năm trăm năm trước.
 
8
 
            Trời oi bức. Quạt máy treo nơi trần quay hết tốc độ mà không đem mát mẻ lại. Basu uống ly sô đa thứ ba để nghe nốt câu chuyện mà hai người Việt đương cãi nhau. Basu là người Ấn lai Anh. Cha chàng rời nước Anh năm 1939, lúc chàng mới năm tuổi. Ông về Ấn Độ, theo Chandra Bose, kêu gọi thành lập đạo quân giải phóng nước Ấn, rồi đến năm 1945, sang qua Việt Nam. Gặp lúc quân đội Nhựt đầu hàng, ông cùng Chandra Bose cỡi một phi cơ sang Nhựt, rủi bị tai nạn giữa Thái Bình Dương mà cả thảy mất tích... Basu lớn lên, được mẹ, là một nhà văn xã hội, dạy tôn kính cha, dạy tôn kính những cao vọng nhân đạo, và tập tành cho chàng viết văn, làm báo. Từ khi bước chơn vào đại học, chàng đã nuôi chí viết một thiên khảo cứu về những ngày cuối cùng của nhà đại ái quốc Ấn Độ là Chandra Bose, mà nếu còn sống, ắt được dân chúng phụng thờ chẳng thua Gandhi. Vì lẽ ấy mà chàng học thêm tiếng Việt tại trường đại học Luân Đôn, và trong mấy năm, ngày nào chàng cũng nghe đài BBC về phần Việt ngữ. Nên chàng nói tiếng Việt rành lắm.
            Càng moi sâu những tài liệu nói về Chandra Bose, Basu càng thấy hiện một vấn đề. Vào những năm cuối cùng của thế chiến thứ hai, mấy trăm triệu người Ấn đã quyên rất nhiều tiền, vơ vét vàng bạc, châu báu, đem ra xứ ngoài giao cho Chandra Bose để mua khí giới mà tuyển mộ binh lính cho đạo quân giải phóng nước Ấn. Số tiền kếch sù nầy chưa dùng, là Nhựt đã bại trận. Bây giờ nó ở đâu?  
            Theo hai người Việt đương cãi nhau, mà Basu nghe lóm được, bởi họ tưởng chàng là Ấn Độ, không nghe được tiếng Việt, nên không dè dặt, thì người ta tìm được gần Krongpha một cái hầm vàng. Và những biến cố chánh trị và quân sự trong thời gian gần đây là do sự các lực lượng đang tranh nhau để làm chủ cái hầm vàng ấy. Một nghi vấn nảy ra trong đầu óc của Basu. Biết đâu hầm vàng nầy không phải là của quân đội Nhựt dấu, như hai người Việt lập luận như vậy, mà lại là của Chandra Bose và bè đảng đã chôn? Nếu quân đội Nhựt đã dấu, thì trong hai mươi năm nay, các tổ chức của họ đã lập thế mà moi lấy rồi. Đâu có bỏ quên như vậy được? Chỉ có cái giả thiết là hầm vàng nầy do Chandra Bose dấu, rồi cả bọn bị tai nạn máy bay mà chết hết, thì hầm vàng trở nên vô chủ và bỏ lại đó đến nay. Basu đang miên man trong những tư tưởng nầy, thì một nhà báo Việt đến nói chuyện với chàng bằng tiếng Việt, làm cho hai người kia ngơ ngác, kêu bồi trả tiền rồi đi.
            Nhà báo Việt, tên Thượng sĩ, cho Basu hay:  
            - Đánh lớn ở Krongpha. Bên nầy mở cuộc hành quân lớn. Bên kia đem hai trung đoàn bao vây lại. Kịch chiến suốt 24 giờ rồi. Đoàn pháo đài bay, từ Guam bay sang dội bom mãnh liệt, cứ cách mười thước là có một quả bom rơi xuống...
            Basu nghĩ. Tại sao Krongpha? Phải chăng rằng cuộc hành quân lớn đã mở ra để yểm hộ cho một số người đến tìm tông tích của kho vàng của Chandro Bose?
            Phải chăng rằng cộng sản cũng hay được tin ấy, đến tìm cách giành làm chủ kho vàng? Mà kho vàng có thật cùng chăng? Hay là nó chỉ là do óc tưởng tượng xây dựng? Rồi người ta giành nhau, chết hàng ngàn để tranh làm chủ một cái ảo vọng?  
            Thượng Sĩ nhâm nhi ly quít ki sô đa, do bồi bưng tới, nghe rượu mạnh chạy trong máu, nói hăng lên:  
            - Năm 1945, tôi đã là cán bộ bí mật chống Nhựt và chuẩn bị cướp chánh quyền của Việt Minh. Ngày cướp chánh quyền, tôi vác cờ đi đầu. Mấy tháng sau, tôi lại đi đầu trong cuộc biểu tình, tổ chức tại bờ hồ Hoàn Kiếm, để chống với việc Hồ Chí Minh ký hiệp định sơ bộ. Năm 1954, tôi di cư vào Nam, biết trước rằng tôi không thế nào sống dưới ách thực dân mới là ách của Trung Cộng. Tận trong xương tôi, tôi ghét Tàu. Không biết cái đó có phải ông cha từ ngàn đời truyền lại không. Nhưng từ khi quân đội Lư Hán kéo qua, mà Việt Minh dạy dân cắn răng mà chịu những tai họa của lính Tàu, tôi đâm ghét lây Việt Minh, tôi bỏ hàng ngũ của họ, tôi chống lại họ. Vì tôi thấy trước rằng họ sẽ hàng đầu Tàu, họ sẽ làm nô lệ cho Tàu. Cộng sản Tàu lên nắm chính quyền, bọn nô lệ mới nầy lấy áo ý thức hệ mà khoác lên, để che cái xác của chúng. Tôi biết rõ cái ấy, từ ngày mà họ lấy vàng gom góp của dân trong "tuần lễ vàng" để đánh khối lại mà lo cho thằng Tiêu Vân. Anh Basu, anh có biết Tiêu Vân chăng?  
            Basu lắc đầu. Thượng Sĩ hớp thêm một ngụm nói tiếp:
            - Tiêu Vân là một cộng sản, trá hình Cu mìn tảng, làm ủy viên chánh trị trong đạo quân của Lư Hán. Cộng sản và cộng sản với nhau, đồng chí và đồng chí với nhau, mà đồng chí cộng sản Tiêu Vân đã nuốt của đồng chí cộng sản Hồ Chí Minh mấy tấn vàng mới chịu che chở cho khỏi bị Nguyễn Hải Thần và Nguyễn Tường Tam đảo chánh. Ý thức hệ là tấm tã lót đít cho trẻ con ỉa vào đó. Chỉ có quyền lợi là thiết thực, chỉ có tính dân tộc là thiêng liêng. Anh Basu, tôi dám cá với anh điều nầy. Nếu mấy trăm tấn vàng ở Krongpha mà lọt vào tay cộng sản, thì tất cả sẽ chở tận Bắc Kinh. Không có một gờ ram nào dính tay Hà Nội.
            Thượng Sĩ nốc hết hai phần ba ly rượu đặt mạnh ly xuống bàn, nói tiếp:  
            - Mấy tháng nhập đoàn vào Việt Minh, tôi rành cái biện chứng pháp của họ. Cán bộ của họ sẽ giải thích. Chia chi cho Hà Nội, để rồi xây cất ra cái gì, thì bị oanh tạc mất đi cái nấy? Nhiệm vụ của Cộng sản Việt Nam là trường kỳ cầm chơn cho quân đội Mỹ lún sình ở đây, mười năm, hai chục năm... Mấy trăm tấn vàng à? Thì chở hết về Tàu, để cho các nhà bác học của Trung Hoa vĩ đại sử dụng mà chế ra những khí giới bí mật, hầu khi hồng quân Tàu xuất trận là nắm ngay thắng trận. Biện chứng pháp giải thích nghe có xuôi rót lỗ tai không?  
            Basu cười tủm tỉm đáp:
            - Kế hoạch, họ tính rất là chặt chẽ, rất là khoa học. Họ có đầu óc tranh đấu, thì họ phải có kế hoạch tranh đấu.  
            - Nhưng tôi không thể chấp nhận sự thành công của kế hoạch ấy. Năm nay tôi năm mươi tuổi. Ngày mà Trung cộng tung khí giới bí mật để chinh phục thế giới, có lẽ tôi sẽ đếm được bảy mươi. Tôi phiêu lưu từ nhỏ, đến 1954 vào Nam mới lập gia đình. Tôi nay góa vợ, song có được một trai tám tuổi. Chừng ấy, chắc tôi sẽ có ít đứa cháu nội, tuổi dưới mười tuổi. Tôi liệu tôi còn đủ sức mà ẵm từ đứa lại lu nước mà dộng đầu nó vào nước. Tôi giết chúng nó hết, rồi tôi tự cắt cổ tôi. Tôi không muốn dòng họ tôi bị Tàu đô hộ lần thứ hai. Lần trước, chúng tôi mang ách một ngàn năm. Lần nầy, thì diệt chủng luôn.  
            Basu cười, khuyên ngăn:
            - Anh say rồi! Bỏ ly rượu đi, đừng uống nữa! Chuyện anh nói làm tôi nhớ sực lại một công chức Việt Nam, ôm mấy đứa con đi trấn nước, rồi tới phiên mình tự cắt cổ lại không dám, để bị bắt, bị lôi ra tòa và bị kết án tử hình. Bị kết án tử hình, nhưng không bị hành quyết. Người ta cố ý nhắc là chớ nên nghĩ dại. Anh lúc ấy già đã bảy mươi, mà còn nghĩ dại. Anh giết bầy cháu nội của anh. Nhưng thằng con trai anh còn sống. Nó sẽ có vợ khác. Nó sẽ sanh con khác. Dòng họ anh sẽ sống dưới ách của công sản. Vấn đề không phải là đến lúc ấy rồi chọn một biện pháp bi đát. Vấn đề là làm sao tránh cho không thể xảy ra cái lúc mà anh có thể nghĩ đến sự bi đát.  
            Basu vừa dứt lời, vừa bưng ly rượu của Thượng Sĩ mà đổ xuống sau ghế. Chàng trả tiền cho bồi, nắm tay đồng nghiệp mà dắt ra ngoài. Một tắc xi trống vừa trờ tới, chàng ngoắt lại, mở cửa xô Thượng Sĩ vào, leo lên sau và nói một địa chỉ cho tài xế.  
 
9
 
            Sau mấy tiếng gõ cửa, một câu trai ló đầu ra nói:  
            - Bố tôi ốm. Không tiếp khách được...
            Thượng Sĩ chận ngang nói:  
            - Biết rồi! Từ mấy năm nay, ai cũng biết bố cháu chán đời, chưỡi đổng cả. Ai cũng biết bố cháu vào đại học văn khoa, xách chai bia theo uống cho đầy bong bóng, rồi đáy giữa lớp, để cho đám sinh viên thấy rằng thầy mình điên về thời cuộc. Rồi ai cũng biết bố cháu lộng giả thành chơn, giả điên hàng chục năm, rồi hóa ra điên thiệt. Nhưng cháu vào nói với bố rằng có chú Thượng Sĩ dắt một người khách ngoại quốc đến hỏi thăm về cha, là một người bạn thân của bố cháu.  
            Thiệu Đà nằm ở trong, nghe giọng quen, nói vọng ra:
            - Vào đây! Vào đây! Ai đâu hỏi thăm về cha?  
            Basu bước theo Thượng Sĩ, tiến vào căn phố hẹp, ngổn ngang những kiện hàng, chất đầy phòng trước. Vào phòng sau, chàng thấy một ông già sồn sồn, mình ở trần và vấn xà rông, vừa đưa tay bắt chào, vừa nói:  
            - Thằng Ngô Đình Diệm đưa nước nhà đến cảnh thế nầy. Nó đã chết gần hai năm nay, mà nguy cơ chưa gỡ nổi. Tôi tập làm Cao miên, để khỏi tủi hổ làm thằng Việt Nam trí thức mà cứu nước khỏi quốc nhục không được...
            Thiệu Đài nói tới đây, nức tiếng khóc, lệ tuông ra, lăn tròn trên hai má, chậm chậm ngâm bài thơ chữ:  
                        Thế sự du du nại lão hà?  
                        Tá cuồng tùng thử vịnh bi ca.
                        Đắc thời mãi quốc vi anh tuấn,  
                        Vận khứ anh hùng tắc quỉ ma!...  
            Thượng Sĩ chận ngang hỏi:  
            - Anh nói ai là kẻ mãi quốc mà làm anh tuấn?
            Thiệu Đài thôi ngâm thơ đáp:  
            - Tao nói thằng nào bán nước cho Bidault, lãnh trách nhiệm thi hành cái chánh sách thả sâu vào quả, để cho miền Nam Việt Nam nầy như trái bị đục khoét ở trong, mà rụng vào tay của Trung Cộng. Mầy biết thằng bán nước đó chớ!
            - Còn anh nói ai là kẻ anh hùng mà phải làm quỉ làm ma?  
            - Tao đây chớ còn ai nữa! Bị vần nó buộc, tao phải dùng chữ quỉ ma. Chớ tao còn tệ hơn bọn quỉ ma nữa! Quỉ ma còn có kẻ sợ mà cúng cho con gà luộc, cho cái nọng heo. Còn tao điên cuồng như thế nầy, có ai xem bao bằng cái chi chi đâu? Con vợ tao dung tao sống, vì nó sợ ở tù nếu nó giết tao cho chết phứt rồi. Chớ nó chán có thằng chồng điên cuồng, từ sáng đến chiều chưỡi không ngớt. Chưỡi ai? Chưỡi tất cả thiên hạ. Rồi tự chưỡi lấy mình.  
            Basu nãy giờ đứng chờ, xen vô nói:
            - Bác nói bác điên cuồng, vậy cháu xin bác cho cháu thử có phải vậy chăng? Bác có nhớ có một người bạn Ấn Độ, tên là Tarapada Basu, một sử gia như bác chăng?  
            Thiệu Đài nheo mắt, cố tìm trong tiềm thức, giây lâu đáp:  
            - Basu à? Sao lại không nhớ? Cánh tay mặt của Chandra Bose mà! Năm 1945, vào tháng bảy, anh có đến Hà Nội mà diễn thuyết cho Ấn kiều. Rồi nghe nói anh ấy bị tai nạn phi cơ, cùng với Chandra Bose rơi xuống biển. Ấy! Anh là người biết chết. Chết mà để lại sự yêu thương trong lòng của mấy trăm triệu đồng bào. Chết mà để lại sự kính phục của ngay bọn thù của mình. Chớ nào có ngu dại mà chọn cái chết trong phỉ nhổ và nguyền rủa tất cả?  
            - Như vậy thì bác còn sáng suốt lắm. Còn nhớ kỹ lắm! Bác nào có điên? Cháu đây là con trai của Basu, bạn của bác. Cháu quả quyết là bác không điên. Bác cố gắng lên, bỏ cái điên giả tạo để trở lại đời sống, nếp sống bình thường đi!  
            Đứa con trai đun nước xong, pha trà bưng lại, rót ra mời. Thiệu Đài mời Basu và đáp:  
            - Cái điên của bác không phải là cái điên giả tạo. Cái điên giả tạo là cái điên của họ Mao ở bên kia kìa!  
            Basu cười dài hỏi:  
            - Bác chưa từng gặp Mao Trạch Đông, sao bác biết là Mao Trạch Đông mắc chứng điên giả tạo?  
            Thiệu Đài hớp một ngụm trà nóng, có vẻ khoái trá, cười hì hì, đáp:
            - Bọn triết nhân Tây phương, bọn Heidegger, Sartre đề cho thuyết tồn sinh, không cắt nghĩa được chi ráo. Mao Trạch Đông nào có lo việc tồn sinh cho tám trăm triệu người Tàu? Năm 1954, tại một hội nghị Genève, Mao Trạch Đông bằng lòng theo thuyết cộng tồn do Nga chủ trương. Bây giờ Mao Trạch Đông lại chống với thuyết cộng tồn do Nga chủ trương, và một mực chống lại thuyết đó, dầu phải nhận mấy ngàn quả bom nguyên tử rơi bên đất Tàu. Mảnh giẻ rách họ Mao còn lượm lại để làm giấy.  
            Thuyết tồn sinh, họ Mao coi có ra gì? Tự do chọn lựa?  Họ Mao đâu có tự do lựa? Họ Mạo bị bắt buộc phải làm cái gì ngược với Nga. Nga làm trắng thì Mao làm đen, để chữơi Nga. Nga chủ trương cộng tồn, thì Mao chủ chiến. Mao là một thằng điên. Điên cái điên giả tạo. Hi, hi, hi...
            Thiệu Đại vỗ vế cười to. Thằng con trai thưa:
            - Bịnh của bố tôi như thế đấy! Luận bàn thế sự để rồi chữơi tất cả. Ai, bố tôi cũng đem ra mà mổ xẻ...  
            Thiệu Đài chận ngang, quát thằng nhỏ:  
            - Thằng ranh con! Không đúng! Bố mày chưa đem thằng cha Sartre ra mà mổ xẻ. Thằng cha lãnh tụ của thuyết tồn sinh nầy cũng mắc cái chứng điên giả tạo của Mao Trạch Đông. Nó đâu có được tự do lựa chọn? Nó bị bắt buộc chọn lựa cái thái độ nào mà thiên hạ thảy không chọn. Thiên hạ ai cũng cho là vinh điệu nếu trúng giải thưởng Nobel. Nó được trúng thưởng nó từ chối cái chơi! Tồn sinh mà! Thiên hạ ùn ùn ký tên phản đối bản án bỏ tù nhà văn vì cái gọi là tội dám tố cáo độc tài ở Nga. Nó không chìa tay ký tên vào. Tồn sinh mà! Thằng ranh con! Tao biểu mầy chịu khó chép tất cả lời của bố mầy thốt ra từ sáng đến chiều. Rồi mầy đăng lên mầy sẽ xem. Văn của bố mầy sẽ được hậu thế sùng bái như hiện nay người ta đang sùng bái văn của Kafka. Mầy nghĩ kỹ xem. Cái thế giới nầy càng ngày càng điên, thì chỉ có thứ văn chương điên của bố mầy, điên mà biết mình điên, điên có hệ thống, có lập thuyết, mới nói được tiếng nói trung thực của thế giới. Mầy xem! Thuyết tồn sinh của Sartre chỉ là một thuyết điên, điên mà giấu rằng mình điên, mà bọc cái điên của mình bằng một thứ bản thể luận rối tợ bòng bong mà thiên còn ca tụng thay. Huống hồ là cái thuyết điên của bố mầy điên mà dám nói mình điên, điên mà xây dựng trên một nhận thức luận điên, một bản thể luận điên, một nhân sinh quan điên. Ngôi sao của thuyết tồn sinh của Sartre sẽ lu lờ, nếu ngôi sao của thuyết "toàn cuồng triết luận" của bố mầy mọc lên. Thằng ranh con, mầy ngu lắm! Bố mầy mắt kém, tay rung, viết không được. Bố mầy đọc cho mầy chép. Mầy không chịu chép bộ "toàn cuồng triết luận", Bu mầy cũng ngu. Tao biểu bỏ vốn ra mà in bộ "toàn cuồng triết luận", thuê dịch ra đủ thứ tiếng. Sách sẽ bán chạy như tôm tươi. Bu mầy không chịu, cứ đâm đầu đi buôn bán, kiếm mỗi ngày không đến trăm bạc. Cả tháng nay, bu mầy không nuôi tao được một xị rượu. Có ngu không?
            Basu khuyên:
            - Bác ơi, bác gái có lý mà buôn tảo bán tần. Sách của bác không ai thèm mua đâu.  
            Thiệu Đài vỗ lên ván một cái rầm, nạt to:  
            - Sao mà không mua? Cả thế giới đương điên. Nắm được tinh năng nguyên tử, mà không dùng nó để mưu hạnh phúc cho loài người. Lại thi đua mà lao đầu vào cái chiến tranh tận diệt. Có điên không? Đã điên đến như thế sao lại không mua sách "toàn cuồng triết luận" của tôi? Sao không suy tôn tôi lên làm thủ lãnh của cái ý thức hệ của thời đại? Sao không mau mau trao giải thưởng Nobel cho tôi, để tôi mỗi bữa cơm có một xị rượu uống? - mà giải lòng sầu thế hệ? Tarapada Basu ơi, Chandra Bose ơi, sao năm ấy các anh không rủ tôi cùng ngồi chiếc máy bay, để cùng rơi xuống biển cho rồi? Để tôi sống chi thêm hai mươi lăm năm tủi nhục trong cái thế giới càng ngày càng điên?
10
 
            Lần lượt, khách đến nhà bác sĩ Bái, và đúng tám giờ cả thảy đều có mặt. Cầu-Lệ khởi sự:  
            - Thưa quí vị, tôi xin lỗi thầy và ba nuôi để khai mào buổi nói chuyện ngắn nầy, để quí vị có một ý niệm khái quát hầu quí vị có thể hiểu cuộc thăm viếng mà chúng tôi tổ chức hôm nay. Lối năm mươi năm trước đây, nơi một làng hẻo lánh giữa rừng thuộc tỉnh Phan Thiết, có một ông đồ nho dạy chữ Hán và chữ quốc ngữ cho vài chục trẻ nhỏ của xóm. Ông là người gốc ở Hà Tĩnh, vùng sỏi đá không đủ đất cho nông dân cày cấy, nên những thanh niên cố gắng học hành, hễ thi đậu thì ra làm quan ăn bổng lộc của triều đình, hễ thi rớt thì đi đó đây mà dạy học để cầu thực. Vào những năm thực dân đặt chân trên đất nầy, những thanh niên có học ở tỉnh nầy, đã mấy lượt, tụ tập nhau lại mà tổ chức lắm cuộc phản đối ách ngoại bang. Có một lần, vị lãnh tụ, là có một phó đảng, tên Nguyễn Sinh Huy, vừa toan tính ấy đã bị bại lộ. Nguyễn Sinh Huy bị đày vào Nam, đồ đảng bị phân tán các nơi. Nguyễn Sinh Huy đi vào Nam, có dắt theo một đứa con trai, tên Nguyễn Sinh Cung. Nhưng ông hận đời vì mình thất bại, ông mơ ước cho con thành công, nên ông cải tên lại cho, từ ấy Sinh Cung đổi tên lại là Tất-Thành. Và khi câu chuyện tôi thuật đây khởi đầu, cụ phó bảng Nguyên Sinh Huy đã qua đời. Tất-Thành đã thành niên, và sau khi lưu lạc đó đây, vừa làm thầy giáo ở trường tư Dục Thanh ở Phan Thiết, nên tìm đồ đảng cũ của cha mình mà viếng. Tất-Thành đến viếng ông đồ mà tôi đã tả khi vừa khởi đầu câu chuyện, và theo tục lệ của xứ tôi, Tất-Thành gọi bằng chú, mặc dù không có họ hàng.  
            Basu đưa tay ra dấu muốn chận ngang. Cầu-Lệ dừng lại, để cho chàng đặt câu hỏi. Chàng hỏi:
            - Thưa cô, Tất-Thành nào? Có phải là người từ năm 1920 tới 1945 đã hoạt động cho Quốc Tế Cộng Sản dưới danh hiệu là Nguyễn Ái Quốc, và từ năm 1945 cho đến nay, dưới tên là Hồ Chí Minh chăng?  
            Cầu-Lệ gật đầu. Basu tiếp:  
            - Xin lỗi quí vị cho tôi đặt một câu hỏi nữa. Chẳng hay ông đồ nho ở Phan Thiết tên chi?
            Cầu-Lệ đáp:
            - Ông ấy tên Nguyễn Hữu Hoàn, là thân sinh của người bịnh mà chúng ta sắp viếng đây. Tên người bịnh là Nguyễn Hữu Ngư, mà trong những lúc lên cơn kịch liệt chối cái tên cúng cháo của mình mà vỗ ngực tự xưng là Ngê-Bá-Lí. Sở dĩ chúng tôi tổ chức cho quí vị viếng và phỏng vấn Ngê-Bá-Lí, bởi vì trong các áng văn chương quốc tế, các văn hào đã tả những người bị lương tâm cắn rứt vì hành động của mình. Còn ở đây lương tâm của Ngê-Bá-Lí cắn rứt cho đến nỗi làm cho người phát điên lên, không phải bởi những hành động của mình, mà lại bởi một hành động của cha mình. Trong quí vị, có ai có óc phân tích tế nhị như Dostoiewski, ắt có một cái tứ để viết một tiểu thuyết tân kỳ.
            Nhìn vào đồng hồ tay, Cầu-Lệ nói tiếp:  
            - Sau lời giới thiệu vắn tắt, tôi xin quí vị lên xe, kéo trễ hẹn. Vả lại, nói chuyện thẳng với đương sự chắc chắn thích thú hơn là nghe kẻ khác thuật một cách khó khăn.
            Khách chưa kịp đứng dậy, thì bác sĩ Bái ra dấu cho cả thảy ngồi xuống và nói:
            - Con gái tôi, từ phương xa về, không hiểu hết những tiểu tiết, nên trong lời khai mào, quên phần quan trọng. Đã đành, chúng ta tổ chức cho quí vị phỏng vấn một nạn nhơn của thời cuộc, quí vị chưa hiểu chi đến thời bình ở xứ nầy, và có lẽ của cả cái nhân loại của ta. Trước khi gặp Ngê-Bá-Lí, quí vị sẽ gặp, và rất lâu, vị bác sĩ giám đốc của dưỡng trí viện Biên Hòa. Thà chúng ta đến trễ mấy phút, hơn là quý vị không biết chi về bác sĩ nầy...
            Ulrich tán thành gật đầu. Hayashi và Basu cùng một lượt nói:  
            - Thật đúng lắm!  
            Bác sĩ Bái nói tiếp:  
            - Đồng nghiệp của tôi, nay chỉ huy dưỡng trí viện, trước kia là một bác sĩ lỗi lạc về Tây y, từ năm 1945, đã làm giáo sư ở Đaị Học Hà Nội. Trái với các học trò của người, họ chỉ mới quọt quẹt vài câu của Pasteur, là đã vội phủ nhận y học cổ truyền của phương Đông, giáo sư nghiên cứu rất kỹ Đông y với nhãn quang của khoa học tối tân. Nhờ kiêm cả Đông Tây, mà nghệ thuật của người đến chỗ tinh vi, và nhờ đó mà danh tiếng đồn khắp cả xứ. Nên khi Việt Minh đoạt được chánh quyền họ liền lập tức chọn ngay làm y sĩ đặc biệt của Hồ-Chí-Minh và của các lãnh tụ của đảng cộng.  
            Phương Nữ chú ý đặc biệt, nên hỏi:  
            - Thưa bác sĩ, vị giáo sư ấy thế nào?
            - Ấy là Trần-Tuấn-Kiệt, sau này cũng làm y sĩ đặc biệt của Ngô-Đình-Diệm và trong vài năm, có dạy tại Y Khoa Đại-Học Sài-Gòn về bịnh thần kinh. Tuấn-Kiệt cũng có một ngòi bút tế nhị. Di cư vào Sài-Gòn, ông đã góa vợ. Nhơn tiếp tục học thêm Đông y với một ông lang họ Phạm, quê ở Bà-Rịa, quận Long Điền, ông tục huyền với đứa con gái út của Thầy. Nàng nầy không có Tây học, nhưng nhờ cha dạy, mà Hán học và Quốc học rất tinh thông. Và những tác phẩm, của vợ chồng chung ký tên là Phạm-Long-Điền, được độc giả thưởng thức cái tế nhị của Đông Phuơng lẫn Tây Phương.  
            Bác sĩ Bái nói tới đâu, thì Ngọc Thu địch ra tiếng Đức cho Ulrich nghe nho nhỏ. Phuơng Nữ cũng tóm tắc lại bằng tiếng Nhựt cho Hayashi nghe. Hayashi ra dấu xin nói. Bác sĩ Bái nhường lời cho, và Hayashi nói:
            - Làm văn sĩ, đã là bác sĩ đặc biệt của Hồ-Chí-Minh, của Ngô-Đình-Diệm, nếu ông Tuấn-Kiệt viết một thiên hồi ký nhan đề là "Tôi đã là ngự y của hai vị hoàng đế nước Việt Nam hiện đại Hồ-Chí-Minh và Ngô-Đình-Diệm" thì sách ấy dịch ra đủ các thứ tiếng, danh sẽ lẫy lừng, lợi sẽ to tát. Hiện nay, đã có thể có ba bản dịch rồi. Cô Ngọc Thu và ông Ulrich dịch ra tiếng Đức, ông Basu dịch ra tiếng Anh, Phương Nữ dịch ra tiếng Nhựt, và tôi gọt giũa lại văn cho. À tôi quên, nếu cô Cầu-Lệ có thời giờ mà dịch ra Pháp và tiếng Y-Pha-Nho, thì những điều tai nghe mắt thấy của các vị bác sĩ đặc biệt của Hồ-Chí-Minh và Ngô-Đình-Diệm sẽ được khắp thế giới đua nhau mà tìm biết.
            Bác sĩ Bái ngăn lại:  
            - Đến Biên Hòa khi gặp bác sĩ Kiệt, tôi yêu cầu quí vị chớ nên đem vấn đề, mà ông Hayashi vừa nói, ra mà bàn. Tôi sở dĩ giới thiệu thân thế của vị đồng nghiệp của tôi, bởi vì tôi muốn quí vị có một ý thức rõ rệt về người mà thôi. Bác sĩ Kiệt là một trong số người hiếm hoi ở xứ nầy mà còn chịu ảnh hưởng của Lão Trang. Người thường nói với bạn bè cái lập luận sau nầy mà người gọi là "lục cơ động tác" nghĩa là loài người động tác bởi do một, hay là nhiều, trong sáu cái máy nầy. Một là Lợi: Đó là trường hợp của Ngô-Đình-Nhu và bọn chúng, có một túi tham không đáy, vơ vét bao nhiêu cũng chẳng đủ. Hai là Quyền: do trường hợp của Ngô-Đình-Diệm, Hồ-Chí-Minh và của tất cả nhà độc tài họ có thể sống kham khổ, nhưng chẳng hề chia quyền cho ai cộng tác với mình. Ba là Danh: đó là trường hợp của Sartre vồ những ai giống như vậy, họ trọn đời tính toán làm cái gì nổi danh hơn thiên hạ mới thỏa mãn. Bốn là Công: đó là trường hợp của Trương Lương có một chương trình diệt Tần, phá Sở, hễ làm xong rồi thì "công thành, nhân chi phối" mà chẳng màng lợi, quyền, danh, chi cả. Bốn động cơ nầy có thể người thường cố gắng mà rèn luyện ép xác, thì làm nổi. Còn hai cái động cơ sau, cái thứ năm là Thuật, cái thứ sáu là Đạo, thì trong năm bảy trăm năm, một hai ngàn năm mới xuất hiện một người.  
            Basu nói:  
            - Vị loại như vậy là tế nhị lắm.  
            Bác sĩ Bái gật gù nói tiếp:
            - Để trị bịnh điên, Tây Y trước đây chỉ dùng thuốc. Từ ngày học thuyết của Freud thạnh hành, thì người ta bắt đầu dùng phân tâm học để giúp sức với thuốc. Bác sĩ Kiệt đi xa hơn, nghiên cứu Phật, Lão, Trang để phục hưng đạo đức của Đông phương, hầu cộng tác với Tây Y, mà trị tâm bịnh của loài người. Đầu tiên bác sĩ Kiệt trị lấy bản thân mình. Phân tích nội tâm hàng chục năm, ông nhận thấy mình động tác không do cái lợi. Há không biết rằng vợ chồng chịu khó viết thiên hồi ký, mà đề tài như ông Hayashi đã nói, thì thiên hồi ký ấy, dịch ra các thứ tiếng, sẽ in không biết bao nhiêu triệu quyển. Thời cuộc Việt Nam đã làm cho tất cả báo chí, tất cả đài phát thanh chăm chú, để ý, xem ở Việt Nam xảy ra việc lạ gì. Một quyển sách như vậy, làm thỏa mãn lòng hiếu kỳ của tất cả, sẽ đem lại cho tác giả một số tiền to tát vô cùng. Vợ chồng ở không đi khắp đó đây du lịch, ăn xài sang trọng như đế vương, mãn đời chưa hết. Nhưng đồng nghiệp tôi chẳng vụ lợi. Và ông cũng chẳng ham quyền. Phỏng ông ham quyền thì hồi làm ngự y Ngô Đình Diệm, mấy lần nhà độc tài họ Ngô hỏi ông có muốn làm Tổng trưởng bộ Y Tế, thì ông chỉ dạ một tiếng thì ông đã chễm chệ ngồi ghế Tổng trưởng rồi...
            Bác sĩ Bái dừng lại, hớp một ngụm trà thấm giọng và nói tiếp trong sự im phăng phắp của thính giả:  
            - Bác sĩ Kiệt cũng chẳng cầu danh. Bởi vì sau khi phối hợp Đông Y và Tây Y, đồng nghiệp của tôi tìm được một phương thuốc, chẳng những trị được tâm bịnh của người mà còn trị được thời bệnh của nhân loại. Tôi tin chắc một trăm phần trăm rằng nếu ông đem phương thuốc ấy mà công bố, thì ngay trong năm ấy, ông sẽ được, cùng một lượt mà lãnh hai giải thưởng Nobel. Một giải về Y Khoa, một giải về hòa bình. Hồi nào đến bây giờ, có ai mà trong một năm lãnh hai giải thưởng Nobel danh dự nhứt chăng? Bác sĩ Kiệt chịu khó công bố mà thôi, thì danh có ngay tức khắc, lại lẫy lừng khắp thế giới. Nhưng bác sĩ của chúng ta, chẳng ham lợi, chẳng ham quyền, lại cũng chẳng ham danh nốt. Ông là hạng người như Trương Lương, chỉ cầu cho công được thành, rồi ẩn vào rừng tòng, ăn cơm với rau, thưởng thức cái công được thành của mình, còn ngon lành, hơn là ăn khô lân chả phụng.
            Hayashi thắc mắc hỏi:  
            - Tôi chưa thấy do đâu mà động cơ tâm lý của bác sĩ Kiệt, là chỉ muốn cầu cho công được thành, động cơ ấy lại ngăn không cho ông công bố một phương thuốc trị bịnh cho từng người và cho chung cả nhân loại?  
            Bác sĩ Bái đáp:  
            - Điểm nầy tế nhị, tôi không đủ tài liệu để giải thích. Vả lại, tôi tự hỏi, mà tôi chưa biết tôi có quyền giải thích cho người khác nghe chăng. Vậy tôi nhường lợi cho ông bạn cố giao cho tôi, là ông Hồ đây. Người có đủ tài liệu để giải thích và cũng đủ thẩm quyền để suy xét coi có nên giải thích cho quí vị nghe không.
            Hồ đứng dậy, chậm rãi nói:  
            - Tài liệu thì quả tôi có. Nhưng quyền tiết lộ những tài liệu ấy, tôi chỉ có một phần. Tuy nhiên, bác sĩ Kiệt phải nắm một phần và khi hai chúng tôi thỏa thuận, thì một người trong hai chúng tôi mới được công bố. Bây giờ chúng ta trễ đến mười phút. Chúng ta hãy lên xe, với tốc lực đặc biệt, chúng ta còn có thì giờ mà đến bác sĩ Kiệt không lỗi hẹn.
 
11
 
            Ngồi gần bác sĩ Bái, trong xe, Phương Nữ hỏi:  
            - Cháu là sinh viên y khoa. Lúc nãy, bác nói bác sĩ Kiệt tự chữa bịnh cho mình. Nhưng thì giờ gấp rút, bác không vào chi tiết ấy được. Nay, cháu xin bác hé cho cháu thấy cách trị bịnh ấy làm sao. May ra cháu thấy một đề tài để nạp mà làm đề tài của luận án cho cháu. Cháu chú ý đến điểm ấy lắm, nên tìm cách ngồi chung với bác một xe, bên cạnh bác, để có hoàn cảnh hỏi bác. Xin bác đỡ đầu cho một sinh viên vào hàng con cháu bác, và cũng có thể cho mình là một tín đồ của chị Tuyết-Lê con gái yêu của bác.
            Nghe nhắc tới Tuyết-Lê, bác sĩ Bái cảm động, nên hai hòn lệ trào ra, nhìn vào xa xăm và nói:  
            - Học thuyết của Freud, cháu đã biết bác sĩ Kiệt, sau khi nghiên cứu và tìm thấy "lục cơ động tác" rồi, kết luận rằng tâm lý của mỗi người đều do một, hay là nhiều, động cơ nầy thúc đẩy, và nếu không thỏa mãn được, động cơ nầy dày dò tâm hồn mình. Kẻ bị động cơ dày vò nhà Phật gọi là dục vọng. Những kẻ "hương nguyện" trong đạo Phật tưởng đâu rằng dục vọng chỉ do lòng tham của xác thịt, của ý muốn chiếm hữu sắc đẹp, tiền bạc, sản nghiệp, lợi quyền, danh. Tác giả của chuyện ngắn Con thằn lằn chọn nghiệp tế nhị, đã chứng mình bằng nghệ thuật, rằng lòng muốn thành Phật cũng là một dục vọng nữa. Dục vọng mà không thỏa mãn, bị dồn ép, thì người có thể điên. Bác sĩ Kiệt tự phân tích lòng mình, xét mình, biết mình cũng bị động cơ thôi thúc. Động cơ ấy là lòng muốn công thành. Từ năm 1947 đến năm 1954, ông vui sống trong tham khổ, giữa rừng thiêng, nước độc trong mọi sự thiếu thốn vật chất dưới đe dọa của bom đạn, để làm y sĩ đặc biệt của Hồ-Chí-Minh và các lãnh tụ đầu não cộng sản bởi vì ông nắm được cái hi vọng rằng công ông thành. Tôi không nói cái công mà ông nhắm đó là công gì, bởi vì nó không thuộc về y học. Nhưng đến năm 1954, sau đình chiến, các lãnh tụ Cộng sản không dùng ông làm y sĩ đặc biệt nữa, vì họ không còn ở trong thiếu thốn, ông biết trước rằng ở lại ngoài Bắc, công của ông lại sẽ không thành; ông lại trốn mà di cư vào Nam. Bấy giờ, được Ngô-Đình-Diệm chọn làm y sĩ đặc biệt, ông lại nuôi một cái hi vọng mới, là xây dựng một công nghiệp mới. Chẳng dè một ngẫu nhiên và tôi không có quyền phanh phui cái ngẫu nhiên ấy ra làm sao, làm cho ông mất cái chức y sĩ đặc biệt. Ông thấy công nghiệp ông không thành, hóa ra thất vọng, muốn điên. Cũng may là ông bạn của tôi, là ông Hồ, hiểu được nỗi lòng của ông Kiệt, nên tạo cho ông một hi vọng. Ông nguôi ngoai lãnh làm giám đốc của dưỡng trí viện Biên Hòa, để chờ ngày thực hành công tác. Đó, cô đã hiểu chưa? Phương pháp trị bịnh của bác sĩ Kiệt là nhận chân con bịnh của người do nguyên nhân nào mà sanh ra, hễ là do dục vọng không thỏa mãn dày vò, thì tìm cách làm cho dục vọng ấy thỏa mãn.
            Phương Nữ hỏi:  
            - Như vậy thì phép trị bịnh của bác sĩ Kiệt trái với tôn giáo sao? Các tôn giáo chủ trương diệt dục, còn bác sĩ Kiệt dùng phương pháp thỏa dục.  
            Bác sĩ Bái đáp:  
            - Bề ngoài hình như vậy song thật sự cái không nghịch nhau, nếu ta đi sâu vào chi tiết. Để làm cho thỏa mãn dục vọng, trước hết bác sĩ Kiệt dùng thuốc mà làm cho dục vọng ấy chịu bớt đi. Đạo Phật và Lão đạo đồng ý về tiểu tiết nầy, nên chủ trương cho tín đồ ăn chay, để cho thịt cá, các chất bổ kích thích như hành, lẹ; tỏi nén không làm cho xác thịt đòi hỏi việc nhục dục. Nhưng đạo Phật và đạo Lão chỉ thấy có chút xíu dục vọng, của xác thịt bác sĩ Kiệt vượt xa hơn. Người nghiên cứu đủ mọi hình thức của dục vọng, do xác thịt, do lợi, do quyền, do danh, do công, do thuật, do đạo mà tìm thuốc đặc thù để là dịu dục vọng. Việc ăn chay chỉ là cho dục vọng đừng cho tăng lên, chớ không làm cho giảm bớt. Thuốc của bác sĩ Kiệt nghiên cứu nhằm mục đích làm giảm bớt dục vọng. Nhưng mà giảm thì giảm phần nào đó thôi. Giảm cho đến cái mức mà phương pháp thứ hai là thỏa mãn phải đem ra áp dụng.  
            Bác sĩ Bái vừa nói tới đó, thì xe đã ngừng ngay trước thềm nhà riêng của bác sĩ Trần Tuấn Kiệt.
 
12
 
            Bác sĩ Kiệt đứng dậy nói:  
            - Quí vị muốn hiểu phương pháp trị tâm bịnh của tôi, tôi rất vui lòng mà trình bày. Riêng về bịnh nhơn Nguyễn Hữu Ngư, tôi chỉ cho phép quí vị, phỏng vấn với điều kiện. Điều kiện ấy, là quí vị không được phép hỏi bịnh nhơn về việc ông thân sinh của bịnh nhơn là cụ Nguyễn Hữu Hoàn, độ năm mươi năm trước đây, đã mắng ông Nguyễn Tất Thành thế nào khiến cho ông nầy bỏ xứ, lưu lạc hải hồ, mà bây giờ trở nên Hồ Chí Minh. Tôi biết rõ chi tiết ấy. Quí vị tò mò, tôi sẽ thuật mà nghe. Nhưng quí vị hãy hứa danh dự với tôi là không đã động việc ấy với bịnh nhơn. Tôi đã khổ sở năm bảy lần rồi, vì chút xíu ấy. Bởi vì bịnh nhơn có cái mặc cảm phạm tội rất nặng nề, không phải cho mình, mà cho cha mình. Trong mấy lúc lên cơn điên, bịnh nhơn luôn luôn nói: "Hồi đó mà cha tôi không mắng cho tôi, một mách khiến cho y bỏ xứ mà lưu lạc giang hồ, đi làm cách mạng, thì quá y sống một đời tầm thường của một thầy giáo tư thục, ở một tỉnh nhỏ. Và cầm vận mạng miền Bắc, ắt là một người khôn ngoan hơn, tránh cho dân tộc khỏi rơi vào ách nô lệ của Mao Trạch Đông, miễn cho dân tộc chém giết nhau gần chục năm rồi và còn có thể đổ máu mấy chục năm nữa. Cha tôi là Nguyễn Hữu Hoàn lái Nguyễn Tất Thành trốn ra ngoại quốc, năm mươi năm sau nước non như thế nầy, cha tôi đã phạm tội lớn với tiền nhơn. Cha tôi đã phạm tội với non sông. Cha tôi đã phạm tội với dân tộc! Cái mặc cảm phạm tội giùm cho cha nầy đè nặng lên tâm tư bịnh nhơn. Tôi trị cho bịnh nhơn mạnh, rồi để cho tự do về đời sống hằng ngày, rủi có kẻ vô tình hay hữu ý, và trong lúc mà thần kinh của người bị cảm xúc mạnh, kẻ ấy hỏi ngay tiểu tiết nọ, thì cơn điên lại tái phát. Và trong lúc điên một, ai vô ý mà động lại vết thương lòng, thì bệnh nhơn điên gấp mười lên. Quí vị đã hiểu cái lý vì sao vị y sĩ, là tôi, có phận sự chăm sóc bịnh nhơn Nguyễn Hữu Ngư phải bắt buộc điều kiện cứng rắn như vậy. Bây giờ tùy quí vị. Ai muốn nói chuyện với bịnh nhơn Nguyễn Hữu Ngư, thì trước phải đưa tay lên mà hứa danh dự không động tới vấn đề tabou ấy.
 
13
 
            Nhờ bạn mình, là Hồ, cắt nghĩa rành rẽ, Ulrich đã hiểu rằng, cuộc phỏng vấn Ngê Bá Lí ở nhà thương Biên Hòa nầy quan trọng vô cùng. Nên từ sáng, người đã cho ê kíp nhiếp ảnh và thâu thanh lên một cuộc phóng sự có ghi âm về cái thế giới điên ở Việt Nam.
            Về bề ngoài, cái thế giới nầy không có chi làm cho để ý rằng dân cư là người điên. Xe hơi qua khỏi cổng, du khách thấy hai bên là mấy ngôi nhà thấp dùng làm văn phòng, giống như một nha nào đó. Công chức làm việc cùng cẩn thận, cần cù, nhưng có lẽ, làm công chức ở một nhà thương điên cũng có một cái gì đặc biệt, khác hơn là công chức ở các nơi khác. Nơi mặt, nơi mắt, trong tiếng nói, phim ảnh và băng nhựa dường như cũng ghi được điều đó... Một cây cầu nhỏ, bắc ngang qua một dòng nước uốn quanh. Không có sờ sờ nắm đất bên đàng, không có dàu dàu ngọn cỏ. Mà lại một bia khắc tên vị bác sĩ Nguyễn Văn Hoài, người đã chỉ huy viện nầy trước đây, bia dựng trên một đám cỏ xanh tươi. Tại sao bác sĩ Hoài được đề cao như vậy? Vì bác sĩ nghiên cứu, thấy bao nhiêu kẻ vì lợi, quyền, danh, công... thấy có một chút cái điên trong người và kẻ làm thần tượng cho công chúng lại là kẻ mà chất điên nhiều hơn đồng bọn của mình một tí, nhưng chưa đến đỗi loạn óc. Bằng chứng là Hitler, mà đã một hồi dân tộc Đức lên cơn tôn sùng như thánh sống. Bác sĩ Hoài có viết một tác phẩm để chứng minh rằng đứng về phương diện khoa học. Hitler có đủ triệu chứng của một người đau bịnh điên. Hitler cũng chỉ là một ví dụ mà thôi. Chỉ huy loài người, biết bao kẻ đích thị là điên mà quần chúng trong một thời lên cơn, đã suy tôn lên làm lãnh tụ của mình. Bác sĩ, bạn với Hồ, đã tìm ra một phương pháp để cho người điên tự mình trị lấy mình. Tôn giáo. Tôn giáo nào cũng được. Một cá nhơn lên cơn điên, có thể làm dịu sự điên rồ của mình bằng tôn giáo. Mà một dân tộc lên cơn điên, lại càng cần dùng tôn giáo hơn nữa. Ờ ờ, cái phim ảnh bằng nhựa dường như ghi được nơi mặt, nơi mắt, nơi tiếng nói của công chức là cái thần tôn giáo. Sống trong xã hội người điên bực mình lắm. Điên là một thứ bệnh truyền nhiễm lắm. Thấy người điên, thét rồi ngấy, hóa ra điên mất. Không khác nào ở trong nhà thương cùi, lâu chầy rồi cũng vướng vi trùng Hansen; ở trong nhà thương lao lâu chầy rồi cũng vướng vi trùng Koch. Nếu chẳng có một sự hi sanh, để mấy ai chịu sống gần gũi người điên để mà bị nhiễm?  
            Xe len lỏi trên đường quanh co, ngang dọc giữa những tàng to bóng mát. Cách cách, những ngôi nhà trệt, giống như biệt thự của những ông tiểu tư sản. Cảnh khiêu gợi an nhàn, sự tin tưởng tôn giáo, sự thoát tục. Phép vị loại của bác sĩ Kiệt thể hiện bằng cách chia bịnh nhơn thành khu vực. Hạng bịnh nhơn đông đảo hơn tất cả thuộc về hạng bịnh về "lợi". Có cái lợi về "sinh lý". Bịnh nhơn thuộc loại nầy, hầu hết là đàn bà. Bác sĩ Kiệt giải thích:  
            - Đàn ông bị dục vọng của xác thịt, có thể làm thỏa mãn dục vọng ấy với bọn mãi dâm, với lối cưới vợ có hôn thơ, hay không hôn thơ công khai hay bí mật. Nhà văn Vũ Trọng Phụng tả một ông nghị Hách nhơn lên cơn điên kéo một gái nhà quê vào xe mà "giải quyết" cuộc lên cơn. Ở chợ Lách trước đây, có một ông phủ ngồi quận, lúc lên cơn, trời hừng hừng, ra nằm núp trong bụi, chờ đoàn con cấy đi qua rình chụp người đi chót kéo vào bụi... y hệt như cọp rình chụp người đi chót móc họng mà ăn thịt vậy. Không còn biết con cấy ấy là đẹp không, già trẻ. Miễn là miếng mòi giống như con thịt đi sau chót bị cọp chụp là thỏa mãn ông phủ ấy rồi. Ai cũng cho rằng tiền kiếp của ông phủ nầy là cọp, nên rất thích thú cái lối vồ con thịt như vậy. Nên gọi ông là "cọp Chợ Lách". Thật ra, ông có hung dữ chút nào đâu? Ông nghị Hách, "cọp Chợ Lách", khi lên cơn điên, mà dục vọng được thỏa rồi, thì dục vọng độ xuống. Còn phụ nữ bị tục lệ, xã hội ràng buộc. Lúc lên cơn đâu có thể làm nghị Hách, như cọp Chợ Lách.
             Ulrich xen một câu:  
            - Nhà văn Anh là Lawrence, trong tác phẩm Tình nhơn Chatterley phu nhơn, đã có một lập trường giống như bác sĩ. Mỗi khi phu nhơn lên cơn thì làm cho dục vọng độ xuống một cách độc đáo...
            - Những gái chưa chồng, nhứt là ở thôn quê là nơi mà phong tục ràng buộc, dục vọng không làm sao thỏa mãn được, điên cuồng lên. Người Việt gọi bịnh ấy là "mắc đàng dưới", và hiểu rằng các cô ấy đương tư thông với con quỉ có tên là Hà Bá... Nhiều cô mắc đàng dưới, rồi điên luôn và gia đình gởi đến đây. Bịnh nầy khó trị lắm. Bởi vì luật pháp không cho phép chúng tôi áp dụng một phương pháp trị bịnh một cách hợp lý...  
            Thính giả cùng cười rất hồn nhiên. Chỉ có mấy cô lộ một cái thẹn cũng hồn nhiên. Bác sĩ Kiệt nói tiếp:  
            - Nối theo số người bị bịnh về sanh lý, ấy là kẻ thất vọng về tiền tài. Làm ăn thất bại, của cải bị chúng giựt, mua giấy số xổ ra trúng, nhưng lại làm mất tấm vé đi. Trong vị loại, đáng lẽ phải có một khu vực để giữ những người "điên về quyền". Nhưng hạng nầy nếu họ thành công thì họ cầm quyền mà ngồi trên đầu, trên cổ mình, ai dám bắt họ mà gởi lên đây. Còn nếu họ thất bại, thì không phải nhốt họ ở đây. Họ bị nhốt ở Chí Hòa. Họ bị đày ra Côn đảo, họ bị cách mạng nổi lên giết quách.  
            Đoàn xe đến một góc. Bác sĩ Kiệt giới thiệu một "bịnh nhơn" tuổi hơn năm mươi và nói:  
            - Qui luật của dưỡng trí viện nầy, do chế độ thực dân đặt ra, làm cho lắm người điên lại ở ngoài vòng pháp luật, còn kẻ chẳng điên lại bị nhốt. Đó là trường hợp của ông nầy. Ông vô sổ "phong thần", bị nhốt ở đây tháng hai năm 1945, nay đếm hơn hai mươi năm. Bác sĩ Hoài có nghiên cứu trường hợp của ông và đã ghi vào một hồ sơ đầy đủ. Đọc hồ sơ nầy, thật là một tiểu thuyết. Ông vốn là một tiểu phú, gốc ở Hậu giang. Hai vợ chồng có học, bà vợ đọc được tiểu thuyết Pháp. Thấy nghề làm ruộng cực khổ, ông bán hết sự nghiệp lên Xuân Lộc khẩn rừng, phá hoang mà lập đồn điền trồng cao su. Ông chỉ có cái tội là cường độ kém, không làm thỏa mãn sinh lý của vợ, thêm lo làm ăn cả ngày và lúc mới lập đồn điền thì lo cả đêm, đâu còn thời giờ mà làm phận sự người chồng. Dục vọng xác thịt của bà không thỏa mãn, một chứng điên nhúm lên. Ở rừng không có chi giải buồn, bà đọc tiểu thuyết. Chính là quyển tiểu thuyết mà ông Ulrich nhắc lên lúc nãy là đầu dây mối nhợ cho tiểu thuyết thực mà chúng ta chứng kiến. Bà đọc, thấy Chatterley phu nhơn giải quyết cơn điên sinh lý của mình với anh phu trẻ tuổi làm vườn, những cảnh ngoại tình mà nhà văn Lawrence tả một cách sôi động làm như lửa nung sôi lòng của bà. Dằn không được, bà bắt chước phu nhơn mà giải quyết với anh sốp-phơ của mình. Với anh sốp-phơ, bà sống những phút say sưa, thỏa mãn của Chatterley phu nhơn. Phần sợ bị chồng bắt, phần sợ bị mất những say sưa, bà lập kế... để miên trường sự say sưa ấy. Giết chồng để ở luôn với tình nhơn ư? Không được. Án mạng sẽ dẫn đến kết quả là công lý sẽ can thiệp. Bà sẽ ở tù. Vào tù, ngoài sự mất tự do, ngoài sự ăn uống khổ cực, còn việc làm sao mà thỏa mãn xác thịt dày vò? Không biết làm sao mà bà biết cách là làm cho ông điên nặng trong 48 tiếng đồng hồ.
            Basu lấy làm lạ hỏi:  
            - Làm cho người ta điên trong một thời gian lâu như vậy được à?  
            - Được! Ở Mễ-Tây-Cơ có giống nấm, tiếng Pháp gọi là champignons hallucinogènes. Uống một chút xíu thôi, thì thấy tinh thần lâng lâng. Không khác nào kẻ vừa dùng ma túy. Uống quá nhiều, thì thấy mình thành tiên bay lên cõi xa xăm, gặp các đấng mà bàn bạc về những vấn đề siêu thoát. Uống quá nhiều, thì điên thật tình, chừng nào chất nấm bị bài tiết hết ra khỏi cơ thể thì hết điên. Ở đất nầy, có một thứ cây có một tánh chất giống như loài nấm ấy. Có lẽ, ông nầy để bị vợ cho uống một thứ gì chế bằng thứ cây nọ. Và ông đã điên và bị cho gởi vào đây. Sau 48 giờ, thuốc đã giã, hết cơn điên giả tạo nầy, ông tỉnh lại hoàn toàn. Song theo qui chế của dưỡng trí viện nầy, một bịnh nhơn nào bị gia đình gởi vào, mà không được gia đình lãnh trở ra, thì dưỡng trí viện không có quyền thả ra. Hơn hai mươi năm, ông bị nhốt trong nầy. Chán quá, bị tòa án kết án, còn mong mãn án, khỏi cảnh tù tội, hoặc còn mong có cách mạng, có ân xá mà có lại tự do. Còn đàng nầy, bị vợ chánh thức, có hôn thú, kêu án chung thân, biết ngày nào mãn án? Có cách mạng, ai lại thả một người "điên" để phá làng phá xóm sao? Có vị tổng thống nào "anh minh" dám ân xá, để cho ông về thấy cảnh của cải bị cướp, vợ ngoại tình nhốt mình trong tù, rồi ông phát điên thật tình, giết gian phu dâm phụ?
            Ulrich nghe Ngọ Thu dịch lần lần, gật gù rồi nói:  
            - Phi lý! Xã hội phi lý: Kẻ điên nhởn nhơ hưởng tự do, còn người không điên bị nhốt, chẳng biết lúc nào được thả. Vợ cho có chết đi, ai có quyền đại diện cho gia đình mà lãnh ra? Ở tù chung thân à? Phi lý!  
            - Đúng vây! Bác sĩ Hoài cho mượn tiểu thuyết mới cho ông nầy đọc. Đọc xong Malraux, Sartre, Camus... ông bịnh ta đâm ra viết tiểu thuyết và làm thơ.
            - Chẳng hay tên tiểu thuyết và các tập thơ là chi?
            Bác sĩ Kiệt đáp:  
            - Tiểu thuyết nhan đề là Chừng nào người điên trở về? Nối theo đó là Khi người điên trở về... Còn mấy tập thơ đều có chung một tên là Thơ điên.  
            - Chắc những tác phẩm nầy độc đáo lắm.  
            - Tôi không có quyền tiết lộ. Song quí vị suy ra, ắt cũng hiểu được phần nào. Tác giả đã sống thật với cái phi lý, cái cô đơn khắc khoải tâm tư, ắt đâu cần một cái hứng giả tạo. Cũng không cần xây dựng một cốt truyện cầu kỳ. Sự thực đã quá kỳ lạ rồi. Và trọn ngày gọt giụa câu văn, suốt hai mươi năm, có lẽ tác phẩm có cái gì vượt hẳn... Ông Ulrich là một nhà văn, cốt chuyện như vậy chắc ông khai thác được mà sáng tác.
 
14
 
            Ngê-Bá-Lí người gầy đét, tóc hớt ngắn, luôn luôn dựng ngược, dường như muốn làm mấy cái lông nhím mà bắn khắp nơi. Mặt có vẻ luôn luôn âu lo, mắt hình không ngó ra để tự mình đàm thoại với mình. Thỉnh thoảng tìm được một tứ nào hay, thì cười hắc hắc, tay phải đặt lên ngực như dằn trái tim lại, tay trái đưa lên cao, làm như một nhà thuyết pháp đang giảng đạo lý cho đám tín đồ của mình. Người nói:  
            - Mấy thằng cha viết sử, xách lúp mà tìm xem chơn lông của mụ Võ Hậu như thế nào nên khiến mụ ta dâm dật như vậy, chẻ tóc làm tám để suy luận xem Hùng Vương của nước Văn Lang có phải là chư hầu đã làm chúa nước Sở bên Tàu chăng. Mấy cha nội ấy mê mải trong chi ly, mà không để ý đến những vấn đề trọng đại của lịch sử...
            Ngê-Bá-Lí vừa nói tới đó, thì đoàn người do bác sĩ Kiệt hướng dẫn vừa bước đến ngưỡng cửa. Kiệt nói:
            - Giáo chủ thuyết pháp mà chẳng có tín đồ nghe, ắt không được hứng cho lắm. Nên tôi mạn phép mời quí vị đây đến nghe. Vậy mời giáo chủ tiếp tục!  
            Ngê-Bá-Lí vui vẻ bắt tay mọi người, mời mọi người ngồi bẹp xuống đất như tục Nhựt Bổn, còn mình thì đứng mà tiếp tục nói:
            - Tôi nói hiện tượng lớn trong lịch sử là hiện tượng tôn giáo. Các nhà tư tưởng Tây phương nông cạn, bởi nông cạn nên kiêu căng cho rằng tôn giáo không đáng kể. Họ cho rằng đáng kể là chánh tri, là kinh tế, là triết học, là quân sự. Nào hay đâu các thứ ấy chỉ là các thứ Tôn Hành Giả, Bát Giái, Sa Tăng, con Long Mã mà thôi. Tôn giáo là thầy Đường Tăng, coi mềm nhũn vậy, chẳng có chút phép mầu, thế mà là "sư phụ" của cả thảy. Từ mấy ngàn năm ảnh hưởng của chánh tri, kinh tế, triết học quân sự giống như các lâu đài bằng cát mà trẻ con đắp trên bãi biển. Những đợt sóng của thời gian ào tới, quét sạch còn lại gì đâu? À, à, à! Hãy còn! Hãy còn! Cái còn ấy là tôn giáo!
            Hồ ra dấu muốn nói. Ngê Bá Lí nhường lời cho và Hồ hỏi:
            - Ông nói như vậy, ý ông muốn xướng ra một tôn giáo mới để cho ông làm giáo chủ chăng?
            Ngê Bá Lí nhe răng, cười, hai tay đưa lên trời dường như đón rước cái gì từ trên không rơi xuống vậy, rồi hốt cái vô hình ôm vào lòng có dáng sung sướng như người mẹ ôm con mà cho bú. Hayashi và Ulrich nhìn Hồ, muốn hiểu Ngê ta làm gì như vậy. Hồ giải thích:
            - Bấy lâu nay, Ngê Bá Lí ôm một hoài bão lớn. Anh nói, lưu vực sông Nil, đã là nơi phát tích của cái tôn giáo cổ của Ai Cập. Vùng sông Hỗ đã là nơi phát tích của đạo của Moise và Jésus. Sông Hằng đã nung nấu cho đạo của Thích Ca, sông Hoàng đã là khởi điểm của đạo tu tiên của Hoàng Lão. Rồi Ngê Bá Lí làm một bài thơ, nhan đề là Ta chờ. Chờ gì? Ngê Bá Lí chờ từ lưu vực sông Cửu Long xuất hiện một tôn giáo mới để ngăn "Mác Lê hống hách tràn U-Ran". Khi tỉnh trí, Ngê Bá Lí biết mình trí kém tài sơ, thì chỉ mong chờ. Nhưng lúc lên con, thấy chẳng có ai ôm chí lớn ấy, nên tự cho mình có sứ mạng thiêng liêng là lập cái tôn giáo mới ấy!  
            Ngê Bá Lí quát to:  
            - Không phải! Im mồm ngay!  
            Hồ nhũn nhặn nói nhỏ nhẹ:  
            - Nếu tôi nói không phải, thì mời ngài giải thích cho bà con nghe. Chúng tôi là người phàm tục, muốn hiểu phải nhờ lời, nhờ chữ. Chớ nào đã đạt cái hạnh Bồ tát mà hiểu cái vô ngôn!
            Ngê Bá Lí híp hai mắt lại, buông xui tay xuống, rồi, mắt vẫn nhắm, từ từ nói:  
            - Thằng cha Võ Phiến ở nhóm Bách Khoa phải để hơn mười năm mới nhận thức một sự thật mà đáng lẽ tất cả người Việt nào cũng phải biết. Từ đèo Hải Vân trở ra, không có cái hồn tôn giáo đích thật. Dân đàng ngoài chỉ có cái vỏ ngoài cái émail tôn giáo mà tôi. Người đàng ngoài chỉ theo những tôn giáo cổ truyền mà tổ tiên, ông bà cha mẹ truyền lại. Còn từ đèo Hải Vân trở vào càng gần lưu vực sông Cửu Long, cái hồn tôn giáo mới càng bàng bạc, càng mãnh liệt. Cái tôn giao huyền bí nhứt của miền Nam là Bửu sơn Kỳ hương, bây giờ tục danh là Hòa Hảo, chỉ tràn lan đến bờ sông Đồng Nai mà thôi. Đạo Cao Đài hơi duy lý hơn một chút, thì tràn ra đến Quảng Nam là đuối sức. Ngê Bá Lí ta thì cha là người Hà Tĩnh, mẹ là người Phan Thiết, ta cũng sanh và trưởng ở Phan Thiết, làm sao ta có tâm hồn tôn giáo sung mãn để làm giáo chủ của cái đạo mới? Thằng cha Hồ nầy là người miền Nam, sao nông cạn mà bảo ta hoài bão cái mộng sáng tạo ra tôn giáo mới?
            Hồ cười hí hí, nói khích:  
            - Vậy chớ người sáng lập tôn giáo mới ấy là ai?  
            Ngê Bá Lí vẫn nhắm hít mắt, từ từ đưa tay mặt lên, chìa ngón trỏ mà chỉ thẳng, nói:  
            - Sáng lập tôn giáo mới nầy, không cần tìm đâu xa. Người ấy ở ngay trước mặt ta, ta không cần mở mắt ra mà nhìn mới thấy. Người ấy đã được nàng Tuyết Lê báo cho thiên hạ biết trước, như thánh Jean-Baptiste báo trước Jésus xuất thế. Các người muốn biết, thì dò theo ngón tay ta mà hướng theo để nhìn! Basu lật đật chạy ra sau lưng Ngê Bá Lí mà nhìn theo ngón tay chàng.  
 
                                                                                              Hết phần thứ nhứt.




Đăng nhập để trả lời
0