<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.06.2017 19:53:18 bởi Ct.Ly>
Đánh máy: Nguyễn Đ Thanh
Gương Thầy Trò
- Mục lục, Tia sáng, Tựa, Chương 1, 2 - Trang 1... 34
TIA SÁNG
TỰA
CHƯƠNG I: Tình Thầy Trò của Socrate và các môn sinh
CHƯƠNG II: Tình Thầy Trò của Khổng Tử và các môn đồ
CHƯƠNG III: Tình Thầy Trò của Platon và Aristote
CHƯƠNG IV: Tình Thầy Trò của Aristote và Alexandre Le Grand
CHƯƠNG V:Tình Thầy Trò của Đức Thích Ca và các môn đệ
CHƯƠNG VI: Tình Thầy Trò của Đức Giêsu và các sứ đồ
CHƯƠNG VII: Tình Thầy Trò của Đức Mohamet và các đệ tử Đạo Hồi
CHƯƠNG VIII: Tình Thầy Trò của Huyền Trang và Giới Hiền Pháp Sư, của François Xavier và Ignace de Loyola
CHƯƠNG IX: Tình Thầy Trò của Albert Le Grand và Thomas d'Aquin
CHƯƠNG X:Tình Thầy Trò của Bossuet và Dauphin Le Grand
CHƯƠNG XI: Tình Thầy Trò của Fénélon và Duc de Bourgogne
CHƯƠNG XII: Tình Thầy Trò của Đức Bab, Tiên Phong và Đức Baha'u'llah, Giáo tổ của Đạo Baha'i
CHƯƠNG XIII: Tình Thầy Trò của Đức Phật Thầy Tây An và mấy đệ tử Bửu Sơn Kỳ Hương
CHƯƠNG XIV: Tình Thầy Trò của Đức Ngô Văn Chiêu, Giáo tổ Cao Đài và các đệ tử
CHƯƠNG XV: Tình Thầy Trò của Đức Huỳnh Phú Sổ và các đệ tử Hòa Hảo giáo
CHƯƠNG XVI: Tình Thầy Trò của Alain và André Maurois
CHƯƠNG XVII: Tình Thầy Trò của Boule và Teilhard de Chardin
1.- Nếu có khi đôi ba năm, năm mười năm ta mới được một ngày vui thâm trầm trọn vẹn, thì có khi trong đời may lắm ta mới gặp được một ông thầy cho ra thầy.
Elizabeth Rosa
2.- Hai cái tình cờ định mệnh trong sư đệ là tình cờ ta gặp được minh sư để cả đời được chỉ giáo và tình cờ ta cãi minh sư mà vẫn xây được cho mình kim tự tháp sự nghiệp sáng giá.
Waterstone
3.- Xưa nay trong nhân loại, thường thường đại sự là cái đại lý, cái bao thầu dành riêng cho những ông thầy lớn và những môn đồ lớn nhứt trong lãnh vực tinh thần, đạo đức.
Ferzinger
4.- Khi một thiên tài xuất hiện trên thế giới, người ta nhận ra họ bằng dấu hiệu nầy: Là hết các thằng ngốc nổi lên phản đối họ.
R. Fréron
5.- Không thầy đố mầy làm nên.
Tục ngữ Việt
6.- Nhứt nhựt chi sư chung thân vi phụ: một ngày làm thầy trọn đời làm cha.
Khổng Tử
7.- Kính thầy mới được làm thầy.
Những phường bội bạc sau nầy ra chi.
Ca dao
8.- Người ta thương địch thủ của mình hơn thương thầy mình.
Voltaire
9.- Ông thầy mới nào cũng luôn luôn chua chát.
Eschyle
10.- Ai không có thầy sẽ bị Satan làm sư.
Ngan Islam
11.- Ông thầy có một trăm con mắt.
Phèdre
12.- Cặp mắt của thầy hành động nhiều hơn hai bàn tay của ông.
B. Franklin
13.- Khi thầy mất, bức tường của Ibba khóc.
Ngân Nga
14.- Dù bạn là ai, thầy bạn vẫn là thầy bạn.
Voltaire
15.- Thù địch của ta là thầy ta.
La Fontaine
1. Đại khái thời nay Thầy trách trò cái gì? Trách đủ thứ. Trò lười biếng học, cúp cua đi xi nê, tổ chức nhậu, chia phe đánh lộn, phá làng phá xóm. Trò vô lớp ăn mặc như kép hát, trai ngồi nhổ râu, gái ngồi mơ màng, bãi vở không thèm chép. Thầy giảng bài mặc thầy, cậu lo tán gẫu, đánh ca rô, cô lo viết thư tình. Trò nhóm chợ trong lớp, thầy dạy muốn yên, không đến đổi tay cầm sách tay cầm ma trắc, cổ đeo tu hít nhưng phải cầm thước hết nhịp đến la. Thầy đứng đầu lớp, trò cuối lớp hét như rượt giặc. Thầy xuống cuối lớp, trò đầu lớp hú lên như cảnh nhà cháy tàu chìm. Trò học nhảy lớp, lo lót tiền mua chứng chỉ, học bạ giả. Học lớp này có học bạ lớp khác. Trò có học bài ở đâu mà trả bài. Trả bài viết thì cả đám đánh bùa đánh phép. Trả bài miệng đứa nầy thì cả đám kia như ong vỡ ổ. Thầy trách trò cái gì nữa? Trò đi thi lận súng lục của cha anh làm ông bự theo. Trò nhảy dù bài thi, giám thị liều hồn mà im cái mồm nhé. Có trò sẽ xin tí huyết đấy. Trò học thoi đá, của thầy võ đem thí nghiệm ở thầy văn. Lâu lâu tổ chức đạp chơi thầy một bữa, tạt dầu song thập vào mắt thầy, tắt đèn lớp bất tử rồi tha hồ thụi. Ở một trường nọ, cô giáo có mang, mặc loại quần thun dài, đi lên thang lầu, ở sau có trò đạp lai quần cho tuột xuống. Cả đám trò cười ầm, la oái oái lên: Không phải em cô, không phải em cô. Cô giáo thẹn đỏ mặt và buồn đỏ mắt luôn. Trò khoái thầy nào vào lớp giảng lạc đề, thường nói tiếu lâm, lai rai pha trò tục tĩu. Thầy giảng trang nghiêm, dạy xây dựng trò cho de. Cô giảng bài hay dở không cần: trò chỉ nhắm cô đẹp hay xí thôi. Thầy đừng ỷ dạy hay dạy giỏi nhé: trò chỉ khoái ông nào đẹp trai, bay bướm lả lướt. Vô lớp trò dùng rặt tiếng lóng. Trò hô ghế ghế. Thầy cô đừng tưởng ghế cây ghế sắt nhé. Ghế đây là đồng phái với bà E-và mà tuổi còn hoa mộng đấy. Sau lưng thầy cô, trò kêu là: Thằng chả con mẻ. Trò cho mỗi thầy mỗi cô một tên riêng tùy khuyết điểm nào đó của mỗi người. Thầy mập phệ vào lớp trò bảo: Địa vào kìa tụi bây. Cô nước da đen vào lớp, trò bảo: Quần lãnh đến tụi bây. Ở một ký túc xá nọ, trò tối lén nhét phẩn vào hai chiếc giày của thầy, sáng bữa sau thầy không để ý thọt chân vào khổ ơi là khổ. Cũng ở một ký túc xá, trò dọn cà phê cho thầy uống, oán thầy đâu từ kiếp nào nay khạc đờm mai tiểu vào cà phê và như vậy kéo dài gần ba tháng. Một giám thị nọ, tối ngủ bị trò mò vào chui vô mền một ổ kiến vàng. Kiến bò cùng mình cắn như giặc công đồn đả viện. Khi trò ra trường rồi, thầy trách trò làm sao? Gặp thầy, trò hất mặt đi chỗ khác. Trò học cao hơn thầy, gặp thầy ra vẻ khinh khỉnh.
Ngày xưa thầy lỡ có một hai khuyết điểm nào, trò không nhắc công thầy cực với khổ gì đâu, không khen thầy giỏi với hay gì đâu mà cứ nói toàn lỗi lầm của thầy. Trò nhắc mãi đến xuống lỗ rằng thầy nầy hung dữ, thầy kia 35, thầy nọ cao bồi, rằng cô A xí xọn, cô B lấy học trò, cô C "đá lông nheo" với hiệu trưởng, cô D hay khóc trong lớp. Thầy làm lớn mà không lo hết cho trò cũng là mắc nghiệp chướng nữa. Trò bảo thầy xạo, thầy thiên vị. Trò tổ chức viết báo chửi thầy, lên mặt dạy khôn lại thầy, bôi lọ thầy. Lúc thầy lên voi thì đến thầy tấp nập, không học chữ nào với ông nọ cũng tôn đại là thầy. Đến khi thầy xuống chó coi thầy như cỏ rác. Lúc thầy bị tai họa, tù đày trò coi thầy như người mắc bịnh hủi.
2. Còn nữa! Thầy còn nhiều chuyện động trời để trách trò. Nhưng ngược lại, trò trách thầy cái gì? Đại khái trò trách thầy như vậy: Thầy vào lớp ăn mặc cao bồi. Thầy dạy không dọn bài. Thầy chấm bài ẩu. Thầy lựa trò nào đẹp kêu lên trả bài riêng, cho điểm cao. Thầy giảng bài lạc đề. Thầy cắt nghĩa bài không ai hiểu hết mà trò hỏi lại thì cự nự, báo thù. Thầy chạy giờ như chạy áp phe. Thầy dạy câu giờ, giảng bài tán hươu tán vượn. Thầy mê nữ sinh. Cô giảng bài trong họng. Cô kiểu nhân vật chánh trong cuốn Vòng tay học trò. Thầy nịnh trò giàu, sợ con mấy ông lớn. Thầy chấm thi tùy hứng. Thầy đánh trò như lên võ đài. Thầy vô lớp "xổ nho" ăn nói như hàng tôm hàng cá. Thầy dốt sư phạm. Thầy bằng cấp giả. Thầy trốn quân dịch. Thầy vô lớp bất lực, thiếu tư cách khiến trò nổi giặc rồi trở lại chửi trò, chửi luôn trường. Thầy ăn mặc lè phè, nói năng lấc cấc. Thầy cắt nghĩa đùi, bị hỏi bí mà cứ cắt nghĩa nam tào bắc đẩu, ra vẻ như cái gì mình cũng biết. Thầy hợp hội đồng giáo sư chuyên môn nói xấu học sinh. Thầy ghét học sinh nào thì oán nó thiên thu. Thầy tra trông mặt mà bắt hình vong, cảm tưởng lần đầu thế nào về một trò thì in trí trò ấy tốt hoặc xấu mãi mãi. Có thứ thầy lạc hậu, ai nói gì, làm gì không hợp mình thì cho là sái trí, là khùng điên. Thầy khác ngôn hành mâu thuẫn dạy một đàng làm một ngả. Thầy dạy trò xong, hết xôi rồi việc không còn nhân nghĩa gì với trò. Thầy làm lớn coi trò như cỏ rác. Thầy dạy trò đã đi nói xấu trò. Thầy giỏi mồm dạy lý thuyết chứ không giúp trò thực hành được việc gì. Lâu năm thôi học, trò gặp lại thầy, thầy làm mặt lạ.
3. Không làm sao kể xiết lời qua tiếng lại trách nhau như bằm bầu giữa một số thầy trò thời nay. Ai phải ai quấy? Chắc bên nào cũng có lý mà cũng đáng trách. Do đâu mà quá tệ như vậy? Chắc do nhiều nguyên nhân. Có kẻ nói tại chiến tranh. Kẻ khác nói tại cha mẹ, tại chánh quyền không làm xong bổn phận. Người khác nói tại báo chí, sách vở, phim ảnh, kịch trường, phòng trà, tửu quán, xì-nắc-ba hè nhau đầu độc tuổi trẻ. Người khác nữa nói tại tôn giáo suy đồi, luân lý bệ rạc, tại nghèo đói, tại ngoại nhân, nhập cảng tồi phong bại tục làm dân tộc mất thuần phong mỹ tục ông bà xưa để lại, tại nước ấu trĩ học lóm dân chủ, hiểu tầm bậy tự do thành phóng túng. Vậy nguyên nhân gốc là đâu? Phức tạp quá. Chắc tại mọi cái một chút. Rồi có phải thầy trò ngày nay hoàn toàn tệ hơn thầy trò ngày xưa không? Nhiều người lớn tuổi dứt khoát bảo đúng vậy. Có đúng mà coi chừng hẳn nay hoàn toàn tệ hơn xưa. Thầy trò thời lên mặt trăng có kẻ tệ lắm thật. Nhưng xưa cũng có thầy như Platon thiên vị hất trò giỏi là Aristote ra để cháu mình là Pseusipus làm đầu trường Académus khiến nhiều môn đồ bất mãn ly khai trường phái của mình. Trò xưa như 5 môn đệ ban đầu của Đức Phật hiểu lầm thầy, bỏ thầy. Trò xưa của Judas bán thầy lấy 30 bạc trị giá ngày nay khoản vài ba ngàn đồng. Trò xưa như Hoàng tử cả, con vua Louis XIV là thứ trò bất trị. Thì ra xưa nay gì cũng có tốt mà cũng có xấu. Vấn đề thầy trò giống nhau như vấn đề tham nhũng ở chỗ thời nay tham nhũng tới họng mà thời xưa lúc đạo nho là đạo luân lý nghiêm khắc đang thịnh hành mà quan quân vào bắt cha nàng Kiều còn ra giá có ba trăm lạng việc nầy mới xong.
4. Nói như vậy không phải thời nay tự bào chữa, để đẩy trôi vấn đề mà cố ý nhận rằng sự kiện tình thầy trò sa sút là sự kiện thời nào cũng có, khác nhau về cường độ suy kém nhiều ít thôi. Vấn đề cần đặt ra là trong toàn bộ chương trình cải tạo xã hội, trong đó có việc khôi phục truyền thống dân tộc, nên lưu ý đến tầm quan trọng của tình thầy trò.
Không cần hoàn toàn tin câu "Không thầy đố mày làm nên" những ai chấp nhận rằng trường học là lò chuẩn bị thành công cho trường đời thì rất tất nhiên chấp nhận vai trò của ông thầy. Thử tưởng tượng nếu không có ông thầy, bao nhiêu thế hệ trẻ sẽ ra sao, các công vụ lấy đâu người đủ khả năng để đảm trách. Không có thầy, vô số kiến văn cổ kim ai truyền thụ cho ta một cách có thẩm quyền. Đành rằng thư viện, sách báo là kho trữ văn hóa nhưng tự học trong nhiều trường hợp và nhiều phương tiện làm sao bằng học mà có thầy hướng dẫn.
Nếu hiểu thầy theo nghĩa rộng ngoài nghĩa thầy trò trong trường người, ta có biết bao nhiêu thứ thầy trò để phụ với mình xây sự nghiệp. Hầu hết những vĩ nhân của nhân loại để lại cho đời vô số công trình bất hủ đều nhờ thầy. Thầy theo nghĩa hẹp, thì trò Platon nhờ thay Socrate, trò Teilhard de Chardin nhờ thầy Marcellin Boule, mà tên tuổi sống nghìn thu. Thầy theo nghĩa rộng thì Léon Tolstoi đã từng chỉ đường dẫn lối cho Gandhi rồi Gandhi đối với cố thủ tướng Nehru là gì nếu không phải là thầy và từ Gandhi đến Nehru lập nên nghiệp cả, chắc đâu quên ơn thầy mình. Trò nhờ thầy như vậy còn thầy không nhờ trò gì sao? Thầy lý tưởng muốn có người nối chí kế nghiệp. Thầy nuôi nhiều mộng đồ mà vì hoàn cảnh, vì tuổi già sức yếu, ai thay thế mình thực hiện các mộng đồ ấy. Thầy dấn thân vào đại sự, ai tiếp tay đắc lực nhất với mình? Đức Thích Ca nằm xuống rồi ai truyền bá đạo pháp của Ngài. Tăng tử đã làm gì cho Khổng tử sau khi vạn thế sư biểu nầy tạ thế. Các tứ đồ từ Pétrus đến Paulus đã làm gì thay thế Đức Giêsu sau khi Ngài qui thiên. Thomas d'Aquin không phải là một Albert Le Grand mà vĩ đại hơn sao? André Maurois không thể hiện được bao nhiêu hoài bảo của Alain à? Không phải quá lố khi người ta nói trò đáng trò là hiện thân của thầy ra thầy.
5. Tại sao người xưa nhà nho sắp tiếng Sư trước tiếng Phụ trong hệ thống "Quân Sư Phụ". Tại sao Socrate chết, Platon, Criton khóc thảm thiết. Tại sao Nhan Hồi chết, Khổng tử vừa khóc vừa bảo Trời hại ông? Tại sao phút cuối cùng, Đức Thích Ca chết trên tay đồ đệ Amanda. Tại sao suốt ba năm truyền bá chân lý, Đức Giêsu chú trọng đào tạo hệ thống môn đồ cán bộ? Tại sao cả đời Maurois danh lên đến mây xanh mà hể hở môi là nhắc tên thầy bảo rằng thầy dạy thế nầy, thầy khuyên thế kia? Tại sao cạnh xác Gandhi vừa bị ám sát, Nehru ngã lăn ôm thầy khóc như chết vợ chết con?
Ôi tình thầy trò quan trọng quá mà cũng cao cả, thâm trầm quá. Nó là thứ tình tổng hợp tinh hoa của các loại tình người. Khi Socrate tắt hơi cuối cùng, Platon nói tôi khóc không phải cho Socrate mà khóc cho tôi vì từ đây tôi không còn trên dương trần một người cha, một người anh, một người thầy, một người bạn. Lời nầy đúng cho Platon mà cũng đúng cho bất cứ ai trên đời có được minh sư. Có phước lắm, trò mới gặp được một tôn sư với trọn vẹn ý nghĩa của tiếng ấy. Có phước lắm thầy mới gặp được một hai trò để mình đầu thai trong đại chí và đại nghiệp.
Thiếu gì người cả đời không gặp được thầy, được trò như ý nguyện. Từ Bossuet đến Fénélon, ông bỏ 10 năm, ông bỏ 6 năm dạy dỗ chí tử công phu, đầu tư bao nhiêu hy vọng, lại trúng thứ trò gì đâu nên kẻ kể như thất bại, người tạm tạm thành công. Hai đệ tử đầu tiên của Đức Phật, phải bỏ hai thầy cũ để theo Đức Phật rồi mới được toại nguyện. Thì ra có khi mình muốn cầu sư, cầu đệ mà đâu phải thầy nào, trò nào cũng là đối tượng như ý.
Người cầu học, cầu tiến mà gặp được chân sư còn hơn trúng số. Họ tha hồ khai thác kiến văn, đạo hạnh, kinh nghiệm, mưu cơ. Trên đường đời họ được cố vấn đường khôn nẻo dại, họ được nguồn an ủi, ủy lạo tinh thần nhất là những khi đời họ qua truông, xuống dốc. Người đại chí, bất lực mà gặp ninh đồ trung đệ thì con bầy cũng không bằng vì họ có kẻ làm cho kiến thức, hoài bão của họ đâm chồi kết quả về thiên thu.
6. Nhưng tiếc thay, vô số người thành công mà không ý thức chiếc nôi của sự nghiệp của mình. Họ uống nước quên nguồn. Tội nghiệp nhiều lão sư và tuổi đời xế bóng không gặp lại được mấy môn đồ lui tới viếng thăm. Lòng họ như bến đò năm cũ, đìu hiu, cô quạnh. Cũng tiếc thay, thiếu gì người, đến khi xuống tuyền đài, hồn còn ngậm ngùi, tức tưởi nhỏ lệ vì chí lớn không thành mà cũng không ai đủ tài đủ sức nối tiếp cho.
Thưa bạn! Tôi viết cuốn Gương Thầy Trò nầy chỉ nhằm mục đích nhỏ bé là ca tụng Tình Thầy Trò. Tôi thấy nó thần thánh quá, tuyệt vời quá và cũng quan trọng cho đời ta, cho quốc gia, cho nhân loại quá. Sao tôi thấy không vĩ nghiệp huân công nào dưới bóng mặt trời nầy mà không có dấu vết ít nhiều của công lao thầy trò. Tôi cũng thấy tương lai người bạn trẻ sẽ huy hoàng lắm nếu họ từ tuổi xuân gặp được minh sư.
Trong tập sách nhỏ nầy, tôi sưu tầm một mớ gương thầy trò Tây-Đông kim cổ để phân tích tâm lý của tình sư đệ, để cố gắng vạch ra mấy nét chính của triết lý tình thầy trò để gạn lọc những bài học thiết dụng cho nghề làm thầy và cho đạo làm trò.
HOÀNG XUÂN VIỆT
Saigon, 2 - 2 - 1973
1.- Socrate đang bị phóng ngục theo lệnh 11 Thẩm phản của chánh quyền Hi-lạp kết án ông là phản loạn vì gieo rắc tà thuyết. Trong các hình phạt tử hình dành cho ông, ông chọn đọc dược.
Mặt trời đã xuống ngang hông núi. Socrate từ phòng tắm bước ra. Ba con của ông là Lamproclès, Sophronisque và Ménexène đã đến cùng với mấy bà trong thân tộc. Socrate tiếp họ một chút rồi bảo các thân nhân ra ngoài hết, chỉ chừa lại mấy đồ đệ thôi. Lúc ấy tên thủ hạ của các Thẩm phán đến bảo Socrate hãy tự động uống thuốc độc. Tên nầy xử rất nhân từ và tỏ ra mến phục sâu xa nhân cách của ông. Y khóc sướt mướt khi vĩnh biệt Socrate. Y vừa trở gót thì Socrate bảo một môn sinh là Criton cho người đem độc dược đến. Criton nói: "Thưa Thầy, mặt trời chưa lặn. Xin Thầy đừng lìa bỏ chúng con vội. Thiếu gì tử tội khác bị ép uống độc dược còn nấn ná, đòi ăn uống và chuyện vãn với họ hàng rất lâu". Socrate cãi lại: "Họ làm như vậy có được thêm lợi lộc gì đâu. Phần thầy, thầy không muốn bám chặt thêm đời sống để làm trò cười cho thiên hạ khi không còn giữ mãi nó được. Con hãy nghe lời thầy". Criton chiều ý thầy ra lệnh cho một người bưng độc dược vào. Socrate hỏi người ấy phải làm sao? Y bảo: "Xin ông sao lúc uống độc dược thì đi qua đi lại vài vòng trong phòng cho đến khi hai chân nghe nặng, ông lên giường nằm thẳng cẳng ra. Đó là thuốc gây hiệu quả". Nói xong, y trao cốc thuốc cho Socrate. Với lòng thành kính, tin tưởng, tay cầm cốc thuốc, lòng thầm vái thần Asclépios vì theo ông, việc dời chỗ từ bên nầy qua bên kia thế giới cần thần linh giúp đỡ cho tốt đẹp. Socrate khấn vái xong, căn dặn các môn đồ của ông đứng gần đó, phải bình tĩnh, không được thay đổi sắc diện. Nói xong ông lạnh lùng, từ từ đưa cốc độc dược lên miệng uống một hơi, êm ái, hiền hòa. Lúc ấy Platon, môn đồ xuất sắc nhất và cũng là môn đồ niên trưởng, nhìn ông uống từng hớp tử thần mà như chết đứng, chết tê người ra. Nước mắt tuôn trào tợ hai dòng suối mà không dám để lộ tiếng nức nở vì sợ cãi lời thầy dặn hãy bình tĩnh. Platon phải ôm mặt khóc sợ thầy thấy. Platon tự nghĩ: Từ đây thế là hết!
Không phải mình khóc cho thầy vì một người như thầy không cần ai khóc khi qua đời. Mà mình khóc cho chính thân phận mình. Từ phút nầy mình đã vĩnh viễn mất đi một người cha, một người thầy, một người anh, một người bạn mà gần như không làm sao kiếm được người thứ hai trên cõi đời nầy. Lúc thầy Socrate bình tĩnh đón nhận cái chết như vậy, Criton như đứt ra từng đoạn ruột, rón rén bước ra ngoài để khóc cho bớt đau khổ. Còn cạnh bên Platon là Apollodore, ông nầy hồi nãy giờ không lúc nào là không đầm đìa giọt lệ, đến một lúc không cầm mình được nữa, òa lên gào thét thê thảm. Lúc đó Platon cũng không làm sao khỏi cãi lời thầy tức tưởi khóc theo Apollodore, gây thành cảnh não nề đến cực độ. Cả một không khí tan nát lòng từng mảnh bao trùm căn phòng đằng đằng tử khí. Chỉ một mình Socrate là yên ổn y như một bàn thạch. Thấy các môn sinh chan hòa lệ thảm, Socrate quát lên: "Các con làm cái gì kỳ vậy? Sở dĩ thầy đuổi hết các cô các bà ra ngoài phòng mà chỉ để các con lại cố ý tránh sự mất bình tĩnh như vậy. Các con phải cương nghị. Chúng ta phải chấm dứt cuộc đời một cách êm ái, thảnh thơi chứ". Nghe vậy Platon và các môn đồ khác không còn dám gào thét nữa, nhưng vẫn sụt sùi và tê tái người ra nhìn Socrate đang đi đi lại lại trong phòng. Đến lúc thuốc độc đã thấm, Socrate lên giường nằm. Bấy giờ mặt trời đã khuất núi. Căn phòng tối mờ mờ.
Người trao độc dược khi nãy rờ chân Socrate, thấy đã cứng và lạnh dần lên gần đến bụng. Hồi mới lên giường nằm, người ta đắp trên mặt ông một chiếc khăn. Đến lúc nầy, Socrate tung khăn ra và nói với Criton: "Này Criton! Con hãy thế thầy mà tế thần Asclépios một con gà trống. Đó là món nợ thầy đã hứa. Con hãy trả giùm thầy". Criton thưa: "Con sẽ làm theo ý thầy và thưa thầy, thầy còn muốn trối với chúng con điều gì nữa không?". Lúc ấy, hơi lạnh đã lên đến tim Socrate và câu hỏi của Criton không được ông trả lời. Socrate đang nằm yên, bỗng giẫy lên một cái rồi thở hơi cuối cùng. Các môn đồ đứng quanh, tan nát lòng, khóc than thảm thiết còn Criton thì vuốt mặt và vuốt miệng cho thầy.
2.- Cho đến bây giờ, các triết gia đều đồng ý là trong lịch sử nhân loại, sau cái chết của Đức Giêsu, không có cái chết nào can đảm, vĩ đại bằng cái chết của Socrate. Trong cuốn Phédon, Platon nói với Echécrate rằng trong thời đại ông, Socrate là người đạo đức nhứt, thông minh nhứt và cũng cương trực nhứt. Tại vì Nietzsche đề cao thuyết siêu nhân theo kiểu tôn thờ sức mạnh quá lố nên chê Socrate là người không có "bản năng sống" coi cái chết như một lý trí thuần túy. Theo Nietzsche thì Socrate là một "Quái vật". Trái lại Kant thì tôn thờ Socrate như "lý tưởng của lý trí". Hégel thủy tổ của biện chứng pháp xác nhận Socrate là "triết gia chân chính", là "Anh hùng của nhân loại". Ai cũng công nhận là Socrate sống và thực hiện những điều ông dạy. Nếu ai sống đúng đạo làm người được gọi là thánh thì Socrate là thánh nhân trăm phần trăm. Theo sự mô tả của Platon hay Xénophon thì Socrate rất xấu trai, tướng thô kệch như con bò mộng, mũi xệp, mắt bành ra, dáng cục mịch. Song nếu bề ngoài Socrate xấu xí bao nhiêu thì tâm hồn ông tốt đẹp và trí óc ông minh mẫn bấy nhiêu. Trọn đời ông chống đối bọn ngụy biện phá hoại dân tộc, ông chống chính quyền ngu si thời ông bảo rằng ông đầu độc thanh niên. Ông tỏ ra là công dân gương mẫu: khi bị cầm tù, được đồ đệ là Criton tổ chức vượt ngục mà ông từ chối. Ông thương mến môn sinh hết lòng hết dạ, dạy dỗ họ, xử đối với họ như cha con. Đời sống của ông là bài học cho các đồ đệ của ông. Ông sống đơn giản, thường chỉ mặc chiếc áo choàng vải thô, đi chân không, lê gót khắp thành phố Nhã-Điền. Tiêu ngữ "Bạn hãy biết bạn" khắc ở đền Delphes tương truyền là của Chilon, ông lấy làm châm ngôn cho đời sống của chính mình và của các môn sinh. Cũng như thân phụ ông là điêu khắc gia Sophrôniskos, ông điêu khắc tâm hồn Platon và các môn đồ khác thành tác phẩm "nên người". Cũng như thân mẫu ông là nữ hộ sản Phainaretê, ông áp dụng phương pháp đỡ đẻ tư tưởng gọi là khích biện pháp để dạy học và chiến thắng ngụy biện. Học trò của ông triền miên học ở ông đức tự chủ và tâm tính điều hòa. Ông vốn là người có tính khí nóng nẩy thô bạo. Nhưng ông luôn khắc chế tính khí ấy. Thành ra ông ôn lương điềm đạm một cách đáng phục. Ông càng tự chủ, tự khiển, ông càng nêu cho môn đồ gương chiến thắng của tinh thần trên thú tính. Chính do điểm đó ông là người hùng và ông tỏ ra "Người" hơn mọi người. Cái chết kiêu dũng của ông là thí dụ hùng biện cho đời sống tự khắc của ông. Nếu Socrate dùng tự chủ để luyện nhân cách cho học trò thì ông dùng khích biện pháp để chống ngụy biện, chống trí thức giả tạo và xây dựng cho học trò vốn kiến thức thực giá. Hai công việc luyện tâm và luyện trí ấy, Socrate thực hiện cho các môn sinh bằng đời sống liêm chính, bằng tình thầy trò thân mật hơn cha con. Có lẽ nhờ Socrate bất hạnh trong gia đình vì kết tóc xe tơ cùng một ác phụ tên là Xanthippe, bị vợ hành khổ như đày tớ, nên ông vua coi đó là trường đào tạo ông thành thánh, vừa y như Khổng Tử, mấy chục năm trời trước khi chết luôn sống gần gũi, thân mật với các môn đồ. Vì đó giây phút ông ly trần, là mồ mả nổi lên trong tâm hồn họ và xưa nay trong lịch sử nhân loại, chưa có thầy nào chết mà trò khóc tợ như mưa sầu gió thảm như vậy.
1.- Không biết có phải luật trời cố định là hễ danh nhân thì đau khổ vì gia đình không mà từ Socrate đến Khổng Tử đều giống nhau ở chỗ bất hạnh lứa đôi. Socrate bị ông Tơ nhốt chung trong lao tù hôn nhân với Xanthippe ác phụ mấy mươi năm trời hành khổ ông. Còn Khổng Tử vừa thánh vừa thông minh không kém Socrate lại bị bà Nguyệt kết tóc xe tơ với một đàn bà mà theo Lâm-Ngữ-Đường thì thuộc loại vụng về, dở dang. Không rõ hẳn tại lỗi ai mà họ Khổng phải ly dị vợ hồi 23 tuổi sau bốn năm cầm sắt đắng cay.
2.- Cũng không biết phải do luật trời cố định nữa hay không mà những vạn thế sư biểu như Socrate, Khổng Tử thành công trong nghề làm thầy đối với người dưng kẻ lạ hơn là đối với con cái mình. Socrate có ba người con là Lamproclès, Sophronisque và Ménéxène mà không ai được ông dạy dỗ nổi danh. Thậm chí đến giờ phút ông uống độc dược, ba con ông cũng không được ông cho chứng kiến cảnh ông ly trần. Chỉ có các môn đồ là được theo ông tận cùng đời ông thôi.
3.- Khổng Tử thì theo luận ngữ cho biết có đứa con trai tên Lý tự là Bá Ngư và đứa con gái ông gả cho một môn đồ mà ông thương vì bị bắt oan tên Công-dã-Tràng. Bá Ngư bẩm phú tầm thường, trí óc kém cỏi, giao tế lù khù, đặc biệt là lười học. Luận ngữ thuật lại mấy lần Khổng Tử hỏi Bá Ngư học Thi chưa, học Lễ chưa, Bá Ngư đều trả lời chưa cả. Trần Cang một môn đồ của Khổng Tử nói rằng nhờ "Khổng Tử" hỏi Bá Ngư về việc học mà biết được họ Khổng "quân tử chi viễn kỳ tử dã". Người quân tử không hay gần con như vậy là tại sao? Chắc tại nhiều lý do mà quân tử có thể dùng để biện minh cho mình để khi có ai nói: "Hỡi thầy thuốc! ông hãy tự chữa lấy ông; Médice! Curate ipsum".
Ở đây ta muốn nhấn mạnh mẫu số chung giữa Socrate, Khổng Tử là hai sư biểu đều đối với con rất sơ, nếu dậy được trở thành danh lỗi lạc thì không dạy được con nên thân nên phận gì.
3.- Lối tổ chức lớp học của Khổng Tử cho các môn đệ như Nhan-Hồi, Tử-Lộ, Tử-Cống, Tăng-Tử, Tử-Hạ v.v.... đại khái ta thấy giống như Socrate tổ chức cho những Platon, Criton, Apollodore v.v.... hay giống như Platon trong học viện Académus. Thầy trò họ Khổng ngồi quanh quẩn với nhau trao đổi ý kiến để tìm chân lý và đạo lý hơn là thầy đọc giảng thao thao bất tuyệt. Trò học ở Thầy mà Thầy cũng học ở trò.
Lắm lúc Khổng Tử dạy học theo kiểu Aristote trong học viện Lycéum, học viện mà Aristote dạy các môn đồ theo lối vừa đi dạo vừa dạy. Cái cảnh Khổng Tử ngồi dạy xong thì cầm đờn ca hát, trò ngồi xướng họa, thưởng thức hay cảnh thầy trò lang thang đất Thái, đất Trần, thầy nằm nghỉ mệt, mơ màng dưới tàn cây thơ mộng, còn trò kẻ đọc sách, người nấu cơm là cái cảnh thông thường của thầy trò họ Khổng. Ngày nay được mấy thấy trò cởi mở ngồi hỏi với nhau về hoài bão tương lai. Khổng Tử hỏi Tử Cống ước nguyện gì? Tử Cống bảo: chỉ mong phát phú bằng thương mãi. Hỏi Tử Lộ sau nầy tính làm gì?
Tử Lộ thưa rằng chỉ mong có ngựa, có xe đi, có của cải đầy đủ, mình dùng dư; tiếp giúp bạn bè. Tử Lộ hỏi Khổng Tử chí nguyện ra sao. Khổng Tử nói không mong gì hơn là thân phận kẻ già mà được yên hàng, bằng hữu giữ chữ tín và tuổi trẻ đừng thất vọng. Còn cảnh đàm đạo nào thân mật thâm thúy giữa Sư đệ hơn cảnh đối thoại chân thành ấy nữa không?
4.- Ngày nay có mấy thầy biết nghe lời trò, có lần Khổng Tử đến thăm nàng Linh-Công là vợ vua nước Vệ: một đàn bà khét tiếng lẳng lơ. Hai bên bái xá nhau ra vẻ tương đắc. Thực ra Khổng Tử đi thăm Linh-Công như vậy không có gì đáng trách. Nhưng về sau môn đồ của ông là Tử Lộ tỏ vẻ trách ông là thiếu cẩn thận. Buộc lòng ông phải cam đoan với Tử Lộ: "Dư sở phủ giả. Thiên yếm chi! Thiên yếm chi: Thầy mà làm gì bậy, Trời hại Thầy, Trời hại Thầy". Cũng Tử Lộ nữa có lần trách ông sao có ý nghĩ muốn đến với Phật Nhiễu là bề tôi họ Qui mà cướp đất chủ. Khổng Tử viện lý nầy lý nọ nhưng sau cùng nghe lời Tử Lộ, không đến với Phật Nhiễu.
5.- Ở thời đại nào cũng vậy chứ không riêng gì thời đại ta, có vô số thầy dạy trò rồi thấy trò giỏi đâm lòng ganh tị và thường hay chê bai, mạt sát trò nào ăn ngay nói thẳng chạm tự ái mình. Khổng Tử không như vậy. Ông là Thầy với tất cả ý nghĩa thắm sâu của tiếng ấy. Nghĩa là ông vui mừng khi thấy trò có điểm hơn mình, thành công hơn mình, ông không tiếc lời khen môn sinh.
Tử Lộ đủ thứ tật xấu, nào hung hăng xẵng, phán đoán lệch lạc, nhiều lần táo bạo trực ngôn cảnh cáo ông mà Khổng Tử vẫn quý mến Tử Lộ, vẫn tán dương Tử Lộ. Có lần Khổng Tử nói chơi với Tử Lộ: "Nếu đạo Thầy mà bất thành, Thầy sẽ với một mái thuyền thảnh thơi trôi trên mặt biển. Lúc ấy chắc không còn ai theo Thầy ngoài ra Tử Lộ". Ông nầy tưởng thầy mình nói thật, tỏ ra khoái chí, vênh vênh tự đắc rằng mình là trung đệ đầu sổ.
Thực đúng rặt là thái độ của Pétrus, môn đồ niên trưởng của Chúa Jésus cả quyết dù ai bỏ thầy thì bỏ chứ ông không bao giờ bỏ. Tự đắc như vậy mà đêm Đức Jésus bị bắt, Pétrus chối thầy mình đến ba lần. Tử Lộ đối với Khổng Tử cũng giàu háo khí như Pétrus khi chưa thành đại thánh. Khổng Tử thấy Tử Lộ vênh vênh như vậy khen là can đảm mà bảo còn non trí. Lần khác họ Khổng khen Tử Lộ là người không đố kỵ và liêm chính. Tử Lộ cảm thấy như lên mây, cho mình là người quán tuyệt đến đỗi Khổng Tử dặn thêm là vậy chưa đủ. Thì ra, ta thấy Tử Lộ là một người tâm tính nông nỗi quá, thương thầy thực, cầu tiến song chưa thuần. Vậy mà Khổng Tử cũng thấy được nhiều ưu điểm để khen.
Trọng-Cung, một đồ đệ nữa của họ Khổng không có gì nổi bật như các môn sinh khác nhưng có lần nói một câu chí lý, được ông khen. Trọng Cung nói: "Cư kính, hành giản": nghĩa là cư xử thì cung kính còn cầm quyền thì thi hành đơn giản. Như vậy ta thấy dù trò của ông tầm thường tới đâu, Khổng cũng tìm được điểm son để khen.
Trong Khổng tử Gia Ngữ, có chỗ Khổng Tử nói với Tử Hạ: "Nhan Hồi có đức tính hơn ông. Tử Cống lanh lợi hơn ông. Tử Lộ gan mật hơn ông. Tử Trương nghiêm chỉnh hơn ông". Tử Hạ bỗng đứng dậy, ngạc nhiên nói: "Vậy thì thưa thầy, tại sao bốn anh ấy còn theo học thầy?" Khổng Tử nói: "Ngồi xuống, ngồi xuống, thầy nói hết cho nghe. Nhan Hồi tin mà không biết không tin. Tử Cống lanh mà không biết chậm. Tử Lộ đúng mà không biết nhát. Tử Trương nghiêm mà không biết hòa dịu. Môn sinh được Đức Khổng khen không tiếc lời nhứt là Nhan Hồi. Theo ông thì Nhan Hồi hiền lương, ông nói gì hiểu ngay, hiếu học, biệt an phận nghèo, ngày càng tiến trên đường đạo lý. Có thể nói Khổng Tử thương Nhan Hồi nhứt các đồ đệ của ông y như Đức Giêsu thương thánh Gioan hơn các 11 vị sứ đồ vậy. Hai thầy trò tương đắc và coi nhau như tri kỷ. Lắm lúc họ trò chuyện nhau như bằng hữu hay đôi nhân tình. Lần nọ hai người gặp nạn ở đất Khuông. Thoát nạn xong, Khổng Tử gặp Nhan Hồi nói: "Thầy tưởng con chết rồi chứ". Nhan Hồi thưa: "Thầy còn sống, làm sao con dám chết". Nói xong, hai thầy trò cười reo khoái trá. Muốn ý thức cảnh ngộ nầy, ta đừng quên họ là người tàn nữa. Một trong những giáo điều thâm thúy nhất của Khổng Tử, ông lại truyền lại cho Nhan Hồi. Ông nói: "Đắc dụng thì mình thi đạo, bằng không thì ẩn thân hành đạo". Mấy ai ngày nay dấn thân vào việc nước mà lấy câu ấy làm châm ngôn.
6.- Họ Khổng biết lạc quan nhìn cái hay của trò mình nhưng không phải không có lúc ông quở trách nặng. Về điểm nầy ta thấy ông xứng đáng là một tôn sư và trong hệ thống quân sư phụ, sư đi trước phụ được Khổng Tử chứng mình một cách hùng hồn. Ông rầy la môn đồ bằng một thứ tình cốt nhục. Lúc muốn cho họ nên người mà cần trực ngôn, ông không nể nang, mềm dẻo một cách giả tạo. Mấy lúc ấy ta thấy ông tỏ ra gần ta hơn khi ông là tượng trưng của Chữ Lễ.
Đọc đời tư các vĩ nhân, thấy những lúc họ tỏ ra giận dữ như bọn phàm nhân chúng ta, sao ta thấy quí mến họ hơn. Chúa Jésus có lần bảo môn đồ hãy học nơi Chúa sự hiền lành, khiêm nhường thật trong lòng song có lần Chúa cũng nổi cơn lôi đình vác roi rượt đánh bọn con buôn lấy đền thánh Giêrusalem làm chợ búa. Lúc uống đọc dược xong, Socrate thấy các môn đồ của mình khóc, ông nghiêm mặt quát: "Các anh làm gì kỳ vậy? Tôi đuổi hết phụ nữ ra khỏi phòng, chỉ để các anh lại thôi là cố ý tránh cái cảnh hèn yếu đó". Người ta nói cơn giận của vĩ nhân là "ira sancta" tức là thánh nộ có phải không? Có lần Khổng Tử thấy Tử Lộ cương trực đến thành hung bạo, cảnh cáo Tử Lộ: "Coi chừng hung hăng tầm bậy mà bất đắc kỳ tử". Không ai bảo họ Khổng là nhà tiên tri hay nhà tính tình học song vì am hiểu tính nết trò mình nên quả thực về sau cái chết chưa tới số của Tử Lộ ở đất Vệ chứng minh tiên ngôn của Đức Khổng. Lần khác Nhiễm Hữu và Tử Lộ (cũng Tử Lộ nữa) là bề tôi của họ Quí là kẻ sắp đánh một thuộc địa của nước Lổ mà không cương trực ngăn cản. Đánh như vậy theo Khổng Tử là bất công. Nhiễm Hữu, Tử Lộ đổ lỗi cho họ Quí. Khổng Tử nổi nóng nói như tạt nước sôi: "Các anh giúp nước mà thấy không giúp dân được thì nên từ chức. Người quân tử không bao giờ viện lý nầy lẽ nọ để làm bậy. Thiên hạ ngoài nước thấy họ Quí cùng các anh không phục thì phải làm cho người ta phục, sao lại đem quân đánh người ta, làm như vậy là gây điên đảo không phải ở quốc ngoại mà chính ngay nội bộ nước mình. Các anh biết chưa?"
7.- Tính tình Khổng Tử lúc nào cũng ôn lương, ăn nói với các môn đồ mềm mỏng, thân mật nhưng không phải không có lúc ông không mỉa mai một cách tế nhị đâu. Tử Cống thấy Khổng Tử và các môn đồ cứ ở ẩn hành đạo, trách ông sao cứ giấu ngọc quí mãi trong hộp mà không đem bán cho người đời đeo. Ông mỉa mai với Tử Cống: "Thì đem bán đi, bán đi". Trong bụng, họ Khổng vẫn đồng ý với Tử Cống nhưng vì không gặp minh chúa nên chưa dấn thân. Còn Tử Cống thì hơi vội. Tử Du dùng lễ nhạc trị dân. Có lần Khổng Tử nghe tiếng hát vang dậy từ nhà dân, bảo Tử Du: "Ai lại đi cắt cổ gà bằng dao mổ trâu. Tử Du nói ngày xưa thầy bảo tiểu nhân học đạo thì để trị. Nay còn dùng lễ nhạc luyện họ thành quân tử, sao thầy trách. Khổng Tử nói cùng các môn đồ: "Tử Du có lý đấy. Lời ta nói lúc nãy chỉ hài hước thôi".
8. - Cái độc đáo của Khổng Tử là ông theo dõi sinh hoạt của môn đồ ông suốt đường đời của họ. Một Aristote đối với cuộc đời A-lịch-sơn Đại Đế, một Alain với André Maurois thế nào thì từ trước Khổng Tử đã làm. Một số nhà nho đã theo truyền thống của Khổng Tử. Ở nước ta có thể tạm liệt kê trường hợp của La Sơn Phu Tử đối với Nguyễn Huệ mặc dầu vị anh hùng nầy không hẳn là môn sinh của La Sơn Phu Tử hiểu theo nghĩa chuyên môn đã bàn trên. Học trò của Khổng Tử cũng như Socrate, Platon có đến số nghìn. Nhưng trong đại đa số ấy kết tụ lại một thiểu số. Nó lập thành một gia đình tâm huyết mà Thầy được coi như cha và trò như con. Họ nương vai đỡ cánh với nhau để thực hiện chí lớn. Một Tử Du hồi còn ngồi trên ghế học đường được Khổng Tử nghiêm khắc dạy dỗ, có lần bị mắng là gỗ mục, là vách đất, không khắc gì được, không vẽ gì được bởi vì lười biếng. Nhưng Tử Lộ, Nhiễm Hữu đã thành nhân, ra đời làm quan rồi cũng được ông theo dõi cảnh cáo cho những khi làm bậy. Tử Cống tuổi chất đầy vai rồi mà còn cái tật háo danh, ưa so sánh người nầy với người kia để cho mình nổi bật, có lần bị Khổng Tử cho một bài học đau thấu xương để hết cái tật chê người nầy móc người nọ.
Khổng Tử nói với Tử Cống: "Thầy tự kiểm để tự tu mà làm chưa tròn, có thời giờ đâu mà xét nét, sửa sai thiên hạ". Trường hợp thánh Pétrus trong đêm Đức Jésus bị bắt, toát gươm thất phu chi dũng, nhào tới chém sứt vành tai của một đối phương, bị Đức Jésus mắng rằng kẻ dùng gươm phải khốn vì gươm, có giống trường hợp sau đây của Thầy trò Khổng Tử không? Nhiễm Hữu làm quan cho họ Quí, thâu thuế thắt họng dân chúng, Khổng Tử nổi cộc bảo với các môn sinh: "Chúng con hãy nổi trống nổi chiêng lên mà đả đảo nó. Nó không phải là học trò của ta nữa".
Ôi! Ngày nay làm sao trên đường phục vụ ta tìm được những tôn sư biết lựa lúc nổi lôi đình giùm ta như những thánh sư như Chúa Jésus và Đức Khổng. Ta trị dân mà tham quyền cố vị, kỳ thị, hối mại quyền thế, tham nhũng, ta cần người cảnh tỉnh lắm chứ. Không lẽ đợi tới khám đường giúp ta hối hận.
9. - Thầy trò họ Khổng chẳng những thầy lo cho trò mà trò cũng chết sống là trung đệ, bênh vực thầy đáo để. Nhan Hồi biểu lộ lòng khâm phục vô biên thầy mình trong mấy lời sau đây: "Đạo của thầy càng suy càng bao la rộng rãi, tôi muốn đến tận cùng mà không sức nào đến được".
Trần-Tử-Cầm có lần cao hứng bảo Tử Cống không thua gì Khổng Tử, bị Tử Cống chận liền: "Đừng nói đại mà thiên hạ cho mình ngu. Thầy của chúng ta không ai bì nổi". Rồi chính Tử Cống lại được Thúc Tôn Võ Thúc say sưa ca ngợi tài đức, cho rằng hơn hẳn Khổng Tử. Lời ấy lọt vào tai Tử Cống, Tử Cống liền nói: "Tôi là vách tường, thiên hạ nhón gót lên ngó vào nhà thấy được vài đồ quí, còn Thầy tôi là vách cao muôn trượng thiên hạ không làm sao phóng mắt tới để thấy vô số bảo vật trong kho lẩm vô tận". Trời ơi! Sao mà Thầy trò người ta tương kính, tương nể và đùm bọc nhau chung thủy như vậy. Nếu ở thời này, Khổng Tử đầu thai ứng cử làm đại sự nào mà khác chính kiến với môn đồ, ông có bị cả một chiến dịch trò lên mặt báo bôi lọ Thầy không?
10.- Trong đời làm Thầy, ngay như Khổng Tử là minh sư có lúc cũng có chút thiếu sót mà vô số nhà giáo tầm thường khó tránh khỏi. Đó là thấy không hết trong đám môn sinh của mình có những ngôi sao tuy lúc học thì lu mà lúc ra đời sáng rực. Cái hơn của Khổng Tử là mắc cái thiếu ấy mà không tầm thường ở chỗ miệt thị những thiên tài lúc chưa lột xác. Tôi muốn nói trường hợp trò Tăng Tử của Thầy Khổng. Tăng Tử cũng gọi là Tăng Sâm, người mà ngay Nhan Hồi được Khổng Tử ca tụng thông minh nhứt, trong sủng nhứt không sánh kịp, người đã tiếp tục được chí cả của Khổng Tử, người đã làm cho tên thầy mình thành minh tinh trong cuốn Đại Học, người đã thấu triệt được câu "Ngô đạo nhứt ái quán chì! Đạo của tôi có một lẽ mà gồm trọn tất cả". Người đó lúc còn sách đèn lại là một đứa học trò không có gì xuất sắc. Hiền hậu đến thành bị coi là lù khù. Ít nói đến thành bị coi là đần độn. Thấy vậy Khổng Tử không nức nở khen như khen Nhan Hồi, Tử Lộ, Tử Cống, song không miệt thị nhận chìm Tăng Tử. Người mà ông đặt ít kỳ vọng lại là kẻ truyền bá đạo của ông đắc lực nhất. Nếu Lâm Ngữ Đường bảo, Tử Lộ của Khổng Tử một thứ thánh Pétrus của Đức Jésus thì bạn có thể nói Thánh Paulus của Đức Jésus là một Tăng Tử của Khổng Tử. Dĩ nhiên ở đây chỉ nhắm một hai khía cạnh thôi: cho ca trước là nói về tánh khí và cho ca sau là nói về mặt truyền bá chủ thuyết.
11.- Sau hết bạn chỉ giùm tôi trong lịch sử loài người vài trường hợp mà trò chết, Thầy khóc như mất tình nhân như mất vợ hiền giống y trường hợp Thầy Khổng Tử khóc trò Nhan Hồi. Ai cũng biết đức Khổng yêu mến Nhan Hồi nhứt trong các môn sinh. Ông tin tưởng Hồi sẽ kế nghiệp ông, quảng bá đạo của ông. Nhưng đau đớn thay, Hồi yểu tử, bỏ ông hồi mới 31 cái xuân. Khổng Tử hay Hồi chết kêu lên như bị ai cắt họng: "Trời hại tôi, Trời hại tôi". Niềm tin của ông đặt nơi Nhan Hồi biến thành ảo vọng đến đỗi ông thốt các lời sau đây khi có môn sinh trách ông sao khóc than chi quá thảm não. "Tôi không khóc Hồi chết thì còn khóc ai nữa bây giờ". Thầy mà như họ Khổng thì thưa bạn, môn sinh có chết mấy kiếp nếu được luân hồi, tái sinh, chắc không xin Trời Phật điều gì hơn là xin cái diễm phúc làm người để được làm môn sinh Thầy Khổng.
34
Gương Thầy Trò
- Mục lục, Tia sáng, Tựa, Chương 1, 2 - Trang 1... 34
HOÀNG XUÂN VIỆT
GƯƠNG THẦY TRÒ
(Phân tích và tổng hợp Triết lý Tình Thầy Trò)
XUÂN THU
MỤC LỤC
TIA SÁNG
TỰA
CHƯƠNG I: Tình Thầy Trò của Socrate và các môn sinh
CHƯƠNG II: Tình Thầy Trò của Khổng Tử và các môn đồ
CHƯƠNG III: Tình Thầy Trò của Platon và Aristote
CHƯƠNG IV: Tình Thầy Trò của Aristote và Alexandre Le Grand
CHƯƠNG V:Tình Thầy Trò của Đức Thích Ca và các môn đệ
CHƯƠNG VI: Tình Thầy Trò của Đức Giêsu và các sứ đồ
CHƯƠNG VII: Tình Thầy Trò của Đức Mohamet và các đệ tử Đạo Hồi
CHƯƠNG VIII: Tình Thầy Trò của Huyền Trang và Giới Hiền Pháp Sư, của François Xavier và Ignace de Loyola
CHƯƠNG IX: Tình Thầy Trò của Albert Le Grand và Thomas d'Aquin
CHƯƠNG X:Tình Thầy Trò của Bossuet và Dauphin Le Grand
CHƯƠNG XI: Tình Thầy Trò của Fénélon và Duc de Bourgogne
CHƯƠNG XII: Tình Thầy Trò của Đức Bab, Tiên Phong và Đức Baha'u'llah, Giáo tổ của Đạo Baha'i
CHƯƠNG XIII: Tình Thầy Trò của Đức Phật Thầy Tây An và mấy đệ tử Bửu Sơn Kỳ Hương
CHƯƠNG XIV: Tình Thầy Trò của Đức Ngô Văn Chiêu, Giáo tổ Cao Đài và các đệ tử
CHƯƠNG XV: Tình Thầy Trò của Đức Huỳnh Phú Sổ và các đệ tử Hòa Hảo giáo
CHƯƠNG XVI: Tình Thầy Trò của Alain và André Maurois
CHƯƠNG XVII: Tình Thầy Trò của Boule và Teilhard de Chardin
*
Tia sáng
1.- Nếu có khi đôi ba năm, năm mười năm ta mới được một ngày vui thâm trầm trọn vẹn, thì có khi trong đời may lắm ta mới gặp được một ông thầy cho ra thầy.
Elizabeth Rosa
2.- Hai cái tình cờ định mệnh trong sư đệ là tình cờ ta gặp được minh sư để cả đời được chỉ giáo và tình cờ ta cãi minh sư mà vẫn xây được cho mình kim tự tháp sự nghiệp sáng giá.
Waterstone
3.- Xưa nay trong nhân loại, thường thường đại sự là cái đại lý, cái bao thầu dành riêng cho những ông thầy lớn và những môn đồ lớn nhứt trong lãnh vực tinh thần, đạo đức.
Ferzinger
4.- Khi một thiên tài xuất hiện trên thế giới, người ta nhận ra họ bằng dấu hiệu nầy: Là hết các thằng ngốc nổi lên phản đối họ.
R. Fréron
5.- Không thầy đố mầy làm nên.
Tục ngữ Việt
6.- Nhứt nhựt chi sư chung thân vi phụ: một ngày làm thầy trọn đời làm cha.
Khổng Tử
7.- Kính thầy mới được làm thầy.
Những phường bội bạc sau nầy ra chi.
Ca dao
8.- Người ta thương địch thủ của mình hơn thương thầy mình.
Voltaire
9.- Ông thầy mới nào cũng luôn luôn chua chát.
Eschyle
10.- Ai không có thầy sẽ bị Satan làm sư.
Ngan Islam
11.- Ông thầy có một trăm con mắt.
Phèdre
12.- Cặp mắt của thầy hành động nhiều hơn hai bàn tay của ông.
B. Franklin
13.- Khi thầy mất, bức tường của Ibba khóc.
Ngân Nga
14.- Dù bạn là ai, thầy bạn vẫn là thầy bạn.
Voltaire
15.- Thù địch của ta là thầy ta.
La Fontaine
*
* *
Tựa
1. Đại khái thời nay Thầy trách trò cái gì? Trách đủ thứ. Trò lười biếng học, cúp cua đi xi nê, tổ chức nhậu, chia phe đánh lộn, phá làng phá xóm. Trò vô lớp ăn mặc như kép hát, trai ngồi nhổ râu, gái ngồi mơ màng, bãi vở không thèm chép. Thầy giảng bài mặc thầy, cậu lo tán gẫu, đánh ca rô, cô lo viết thư tình. Trò nhóm chợ trong lớp, thầy dạy muốn yên, không đến đổi tay cầm sách tay cầm ma trắc, cổ đeo tu hít nhưng phải cầm thước hết nhịp đến la. Thầy đứng đầu lớp, trò cuối lớp hét như rượt giặc. Thầy xuống cuối lớp, trò đầu lớp hú lên như cảnh nhà cháy tàu chìm. Trò học nhảy lớp, lo lót tiền mua chứng chỉ, học bạ giả. Học lớp này có học bạ lớp khác. Trò có học bài ở đâu mà trả bài. Trả bài viết thì cả đám đánh bùa đánh phép. Trả bài miệng đứa nầy thì cả đám kia như ong vỡ ổ. Thầy trách trò cái gì nữa? Trò đi thi lận súng lục của cha anh làm ông bự theo. Trò nhảy dù bài thi, giám thị liều hồn mà im cái mồm nhé. Có trò sẽ xin tí huyết đấy. Trò học thoi đá, của thầy võ đem thí nghiệm ở thầy văn. Lâu lâu tổ chức đạp chơi thầy một bữa, tạt dầu song thập vào mắt thầy, tắt đèn lớp bất tử rồi tha hồ thụi. Ở một trường nọ, cô giáo có mang, mặc loại quần thun dài, đi lên thang lầu, ở sau có trò đạp lai quần cho tuột xuống. Cả đám trò cười ầm, la oái oái lên: Không phải em cô, không phải em cô. Cô giáo thẹn đỏ mặt và buồn đỏ mắt luôn. Trò khoái thầy nào vào lớp giảng lạc đề, thường nói tiếu lâm, lai rai pha trò tục tĩu. Thầy giảng trang nghiêm, dạy xây dựng trò cho de. Cô giảng bài hay dở không cần: trò chỉ nhắm cô đẹp hay xí thôi. Thầy đừng ỷ dạy hay dạy giỏi nhé: trò chỉ khoái ông nào đẹp trai, bay bướm lả lướt. Vô lớp trò dùng rặt tiếng lóng. Trò hô ghế ghế. Thầy cô đừng tưởng ghế cây ghế sắt nhé. Ghế đây là đồng phái với bà E-và mà tuổi còn hoa mộng đấy. Sau lưng thầy cô, trò kêu là: Thằng chả con mẻ. Trò cho mỗi thầy mỗi cô một tên riêng tùy khuyết điểm nào đó của mỗi người. Thầy mập phệ vào lớp trò bảo: Địa vào kìa tụi bây. Cô nước da đen vào lớp, trò bảo: Quần lãnh đến tụi bây. Ở một ký túc xá nọ, trò tối lén nhét phẩn vào hai chiếc giày của thầy, sáng bữa sau thầy không để ý thọt chân vào khổ ơi là khổ. Cũng ở một ký túc xá, trò dọn cà phê cho thầy uống, oán thầy đâu từ kiếp nào nay khạc đờm mai tiểu vào cà phê và như vậy kéo dài gần ba tháng. Một giám thị nọ, tối ngủ bị trò mò vào chui vô mền một ổ kiến vàng. Kiến bò cùng mình cắn như giặc công đồn đả viện. Khi trò ra trường rồi, thầy trách trò làm sao? Gặp thầy, trò hất mặt đi chỗ khác. Trò học cao hơn thầy, gặp thầy ra vẻ khinh khỉnh.
Ngày xưa thầy lỡ có một hai khuyết điểm nào, trò không nhắc công thầy cực với khổ gì đâu, không khen thầy giỏi với hay gì đâu mà cứ nói toàn lỗi lầm của thầy. Trò nhắc mãi đến xuống lỗ rằng thầy nầy hung dữ, thầy kia 35, thầy nọ cao bồi, rằng cô A xí xọn, cô B lấy học trò, cô C "đá lông nheo" với hiệu trưởng, cô D hay khóc trong lớp. Thầy làm lớn mà không lo hết cho trò cũng là mắc nghiệp chướng nữa. Trò bảo thầy xạo, thầy thiên vị. Trò tổ chức viết báo chửi thầy, lên mặt dạy khôn lại thầy, bôi lọ thầy. Lúc thầy lên voi thì đến thầy tấp nập, không học chữ nào với ông nọ cũng tôn đại là thầy. Đến khi thầy xuống chó coi thầy như cỏ rác. Lúc thầy bị tai họa, tù đày trò coi thầy như người mắc bịnh hủi.
2. Còn nữa! Thầy còn nhiều chuyện động trời để trách trò. Nhưng ngược lại, trò trách thầy cái gì? Đại khái trò trách thầy như vậy: Thầy vào lớp ăn mặc cao bồi. Thầy dạy không dọn bài. Thầy chấm bài ẩu. Thầy lựa trò nào đẹp kêu lên trả bài riêng, cho điểm cao. Thầy giảng bài lạc đề. Thầy cắt nghĩa bài không ai hiểu hết mà trò hỏi lại thì cự nự, báo thù. Thầy chạy giờ như chạy áp phe. Thầy dạy câu giờ, giảng bài tán hươu tán vượn. Thầy mê nữ sinh. Cô giảng bài trong họng. Cô kiểu nhân vật chánh trong cuốn Vòng tay học trò. Thầy nịnh trò giàu, sợ con mấy ông lớn. Thầy chấm thi tùy hứng. Thầy đánh trò như lên võ đài. Thầy vô lớp "xổ nho" ăn nói như hàng tôm hàng cá. Thầy dốt sư phạm. Thầy bằng cấp giả. Thầy trốn quân dịch. Thầy vô lớp bất lực, thiếu tư cách khiến trò nổi giặc rồi trở lại chửi trò, chửi luôn trường. Thầy ăn mặc lè phè, nói năng lấc cấc. Thầy cắt nghĩa đùi, bị hỏi bí mà cứ cắt nghĩa nam tào bắc đẩu, ra vẻ như cái gì mình cũng biết. Thầy hợp hội đồng giáo sư chuyên môn nói xấu học sinh. Thầy ghét học sinh nào thì oán nó thiên thu. Thầy tra trông mặt mà bắt hình vong, cảm tưởng lần đầu thế nào về một trò thì in trí trò ấy tốt hoặc xấu mãi mãi. Có thứ thầy lạc hậu, ai nói gì, làm gì không hợp mình thì cho là sái trí, là khùng điên. Thầy khác ngôn hành mâu thuẫn dạy một đàng làm một ngả. Thầy dạy trò xong, hết xôi rồi việc không còn nhân nghĩa gì với trò. Thầy làm lớn coi trò như cỏ rác. Thầy dạy trò đã đi nói xấu trò. Thầy giỏi mồm dạy lý thuyết chứ không giúp trò thực hành được việc gì. Lâu năm thôi học, trò gặp lại thầy, thầy làm mặt lạ.
3. Không làm sao kể xiết lời qua tiếng lại trách nhau như bằm bầu giữa một số thầy trò thời nay. Ai phải ai quấy? Chắc bên nào cũng có lý mà cũng đáng trách. Do đâu mà quá tệ như vậy? Chắc do nhiều nguyên nhân. Có kẻ nói tại chiến tranh. Kẻ khác nói tại cha mẹ, tại chánh quyền không làm xong bổn phận. Người khác nói tại báo chí, sách vở, phim ảnh, kịch trường, phòng trà, tửu quán, xì-nắc-ba hè nhau đầu độc tuổi trẻ. Người khác nữa nói tại tôn giáo suy đồi, luân lý bệ rạc, tại nghèo đói, tại ngoại nhân, nhập cảng tồi phong bại tục làm dân tộc mất thuần phong mỹ tục ông bà xưa để lại, tại nước ấu trĩ học lóm dân chủ, hiểu tầm bậy tự do thành phóng túng. Vậy nguyên nhân gốc là đâu? Phức tạp quá. Chắc tại mọi cái một chút. Rồi có phải thầy trò ngày nay hoàn toàn tệ hơn thầy trò ngày xưa không? Nhiều người lớn tuổi dứt khoát bảo đúng vậy. Có đúng mà coi chừng hẳn nay hoàn toàn tệ hơn xưa. Thầy trò thời lên mặt trăng có kẻ tệ lắm thật. Nhưng xưa cũng có thầy như Platon thiên vị hất trò giỏi là Aristote ra để cháu mình là Pseusipus làm đầu trường Académus khiến nhiều môn đồ bất mãn ly khai trường phái của mình. Trò xưa như 5 môn đệ ban đầu của Đức Phật hiểu lầm thầy, bỏ thầy. Trò xưa của Judas bán thầy lấy 30 bạc trị giá ngày nay khoản vài ba ngàn đồng. Trò xưa như Hoàng tử cả, con vua Louis XIV là thứ trò bất trị. Thì ra xưa nay gì cũng có tốt mà cũng có xấu. Vấn đề thầy trò giống nhau như vấn đề tham nhũng ở chỗ thời nay tham nhũng tới họng mà thời xưa lúc đạo nho là đạo luân lý nghiêm khắc đang thịnh hành mà quan quân vào bắt cha nàng Kiều còn ra giá có ba trăm lạng việc nầy mới xong.
4. Nói như vậy không phải thời nay tự bào chữa, để đẩy trôi vấn đề mà cố ý nhận rằng sự kiện tình thầy trò sa sút là sự kiện thời nào cũng có, khác nhau về cường độ suy kém nhiều ít thôi. Vấn đề cần đặt ra là trong toàn bộ chương trình cải tạo xã hội, trong đó có việc khôi phục truyền thống dân tộc, nên lưu ý đến tầm quan trọng của tình thầy trò.
Không cần hoàn toàn tin câu "Không thầy đố mày làm nên" những ai chấp nhận rằng trường học là lò chuẩn bị thành công cho trường đời thì rất tất nhiên chấp nhận vai trò của ông thầy. Thử tưởng tượng nếu không có ông thầy, bao nhiêu thế hệ trẻ sẽ ra sao, các công vụ lấy đâu người đủ khả năng để đảm trách. Không có thầy, vô số kiến văn cổ kim ai truyền thụ cho ta một cách có thẩm quyền. Đành rằng thư viện, sách báo là kho trữ văn hóa nhưng tự học trong nhiều trường hợp và nhiều phương tiện làm sao bằng học mà có thầy hướng dẫn.
Nếu hiểu thầy theo nghĩa rộng ngoài nghĩa thầy trò trong trường người, ta có biết bao nhiêu thứ thầy trò để phụ với mình xây sự nghiệp. Hầu hết những vĩ nhân của nhân loại để lại cho đời vô số công trình bất hủ đều nhờ thầy. Thầy theo nghĩa hẹp, thì trò Platon nhờ thay Socrate, trò Teilhard de Chardin nhờ thầy Marcellin Boule, mà tên tuổi sống nghìn thu. Thầy theo nghĩa rộng thì Léon Tolstoi đã từng chỉ đường dẫn lối cho Gandhi rồi Gandhi đối với cố thủ tướng Nehru là gì nếu không phải là thầy và từ Gandhi đến Nehru lập nên nghiệp cả, chắc đâu quên ơn thầy mình. Trò nhờ thầy như vậy còn thầy không nhờ trò gì sao? Thầy lý tưởng muốn có người nối chí kế nghiệp. Thầy nuôi nhiều mộng đồ mà vì hoàn cảnh, vì tuổi già sức yếu, ai thay thế mình thực hiện các mộng đồ ấy. Thầy dấn thân vào đại sự, ai tiếp tay đắc lực nhất với mình? Đức Thích Ca nằm xuống rồi ai truyền bá đạo pháp của Ngài. Tăng tử đã làm gì cho Khổng tử sau khi vạn thế sư biểu nầy tạ thế. Các tứ đồ từ Pétrus đến Paulus đã làm gì thay thế Đức Giêsu sau khi Ngài qui thiên. Thomas d'Aquin không phải là một Albert Le Grand mà vĩ đại hơn sao? André Maurois không thể hiện được bao nhiêu hoài bảo của Alain à? Không phải quá lố khi người ta nói trò đáng trò là hiện thân của thầy ra thầy.
5. Tại sao người xưa nhà nho sắp tiếng Sư trước tiếng Phụ trong hệ thống "Quân Sư Phụ". Tại sao Socrate chết, Platon, Criton khóc thảm thiết. Tại sao Nhan Hồi chết, Khổng tử vừa khóc vừa bảo Trời hại ông? Tại sao phút cuối cùng, Đức Thích Ca chết trên tay đồ đệ Amanda. Tại sao suốt ba năm truyền bá chân lý, Đức Giêsu chú trọng đào tạo hệ thống môn đồ cán bộ? Tại sao cả đời Maurois danh lên đến mây xanh mà hể hở môi là nhắc tên thầy bảo rằng thầy dạy thế nầy, thầy khuyên thế kia? Tại sao cạnh xác Gandhi vừa bị ám sát, Nehru ngã lăn ôm thầy khóc như chết vợ chết con?
Ôi tình thầy trò quan trọng quá mà cũng cao cả, thâm trầm quá. Nó là thứ tình tổng hợp tinh hoa của các loại tình người. Khi Socrate tắt hơi cuối cùng, Platon nói tôi khóc không phải cho Socrate mà khóc cho tôi vì từ đây tôi không còn trên dương trần một người cha, một người anh, một người thầy, một người bạn. Lời nầy đúng cho Platon mà cũng đúng cho bất cứ ai trên đời có được minh sư. Có phước lắm, trò mới gặp được một tôn sư với trọn vẹn ý nghĩa của tiếng ấy. Có phước lắm thầy mới gặp được một hai trò để mình đầu thai trong đại chí và đại nghiệp.
Thiếu gì người cả đời không gặp được thầy, được trò như ý nguyện. Từ Bossuet đến Fénélon, ông bỏ 10 năm, ông bỏ 6 năm dạy dỗ chí tử công phu, đầu tư bao nhiêu hy vọng, lại trúng thứ trò gì đâu nên kẻ kể như thất bại, người tạm tạm thành công. Hai đệ tử đầu tiên của Đức Phật, phải bỏ hai thầy cũ để theo Đức Phật rồi mới được toại nguyện. Thì ra có khi mình muốn cầu sư, cầu đệ mà đâu phải thầy nào, trò nào cũng là đối tượng như ý.
Người cầu học, cầu tiến mà gặp được chân sư còn hơn trúng số. Họ tha hồ khai thác kiến văn, đạo hạnh, kinh nghiệm, mưu cơ. Trên đường đời họ được cố vấn đường khôn nẻo dại, họ được nguồn an ủi, ủy lạo tinh thần nhất là những khi đời họ qua truông, xuống dốc. Người đại chí, bất lực mà gặp ninh đồ trung đệ thì con bầy cũng không bằng vì họ có kẻ làm cho kiến thức, hoài bão của họ đâm chồi kết quả về thiên thu.
6. Nhưng tiếc thay, vô số người thành công mà không ý thức chiếc nôi của sự nghiệp của mình. Họ uống nước quên nguồn. Tội nghiệp nhiều lão sư và tuổi đời xế bóng không gặp lại được mấy môn đồ lui tới viếng thăm. Lòng họ như bến đò năm cũ, đìu hiu, cô quạnh. Cũng tiếc thay, thiếu gì người, đến khi xuống tuyền đài, hồn còn ngậm ngùi, tức tưởi nhỏ lệ vì chí lớn không thành mà cũng không ai đủ tài đủ sức nối tiếp cho.
Thưa bạn! Tôi viết cuốn Gương Thầy Trò nầy chỉ nhằm mục đích nhỏ bé là ca tụng Tình Thầy Trò. Tôi thấy nó thần thánh quá, tuyệt vời quá và cũng quan trọng cho đời ta, cho quốc gia, cho nhân loại quá. Sao tôi thấy không vĩ nghiệp huân công nào dưới bóng mặt trời nầy mà không có dấu vết ít nhiều của công lao thầy trò. Tôi cũng thấy tương lai người bạn trẻ sẽ huy hoàng lắm nếu họ từ tuổi xuân gặp được minh sư.
Trong tập sách nhỏ nầy, tôi sưu tầm một mớ gương thầy trò Tây-Đông kim cổ để phân tích tâm lý của tình sư đệ, để cố gắng vạch ra mấy nét chính của triết lý tình thầy trò để gạn lọc những bài học thiết dụng cho nghề làm thầy và cho đạo làm trò.
HOÀNG XUÂN VIỆT
Saigon, 2 - 2 - 1973
CHƯƠNG I
TÌNH THẦY TRÒ CỦA SOCRATE VÀ CÁC MÔN SINH
(Thầy chết: trò khóc như mưa sầu, gió thảm)
1.- Socrate đang bị phóng ngục theo lệnh 11 Thẩm phản của chánh quyền Hi-lạp kết án ông là phản loạn vì gieo rắc tà thuyết. Trong các hình phạt tử hình dành cho ông, ông chọn đọc dược.
Mặt trời đã xuống ngang hông núi. Socrate từ phòng tắm bước ra. Ba con của ông là Lamproclès, Sophronisque và Ménexène đã đến cùng với mấy bà trong thân tộc. Socrate tiếp họ một chút rồi bảo các thân nhân ra ngoài hết, chỉ chừa lại mấy đồ đệ thôi. Lúc ấy tên thủ hạ của các Thẩm phán đến bảo Socrate hãy tự động uống thuốc độc. Tên nầy xử rất nhân từ và tỏ ra mến phục sâu xa nhân cách của ông. Y khóc sướt mướt khi vĩnh biệt Socrate. Y vừa trở gót thì Socrate bảo một môn sinh là Criton cho người đem độc dược đến. Criton nói: "Thưa Thầy, mặt trời chưa lặn. Xin Thầy đừng lìa bỏ chúng con vội. Thiếu gì tử tội khác bị ép uống độc dược còn nấn ná, đòi ăn uống và chuyện vãn với họ hàng rất lâu". Socrate cãi lại: "Họ làm như vậy có được thêm lợi lộc gì đâu. Phần thầy, thầy không muốn bám chặt thêm đời sống để làm trò cười cho thiên hạ khi không còn giữ mãi nó được. Con hãy nghe lời thầy". Criton chiều ý thầy ra lệnh cho một người bưng độc dược vào. Socrate hỏi người ấy phải làm sao? Y bảo: "Xin ông sao lúc uống độc dược thì đi qua đi lại vài vòng trong phòng cho đến khi hai chân nghe nặng, ông lên giường nằm thẳng cẳng ra. Đó là thuốc gây hiệu quả". Nói xong, y trao cốc thuốc cho Socrate. Với lòng thành kính, tin tưởng, tay cầm cốc thuốc, lòng thầm vái thần Asclépios vì theo ông, việc dời chỗ từ bên nầy qua bên kia thế giới cần thần linh giúp đỡ cho tốt đẹp. Socrate khấn vái xong, căn dặn các môn đồ của ông đứng gần đó, phải bình tĩnh, không được thay đổi sắc diện. Nói xong ông lạnh lùng, từ từ đưa cốc độc dược lên miệng uống một hơi, êm ái, hiền hòa. Lúc ấy Platon, môn đồ xuất sắc nhất và cũng là môn đồ niên trưởng, nhìn ông uống từng hớp tử thần mà như chết đứng, chết tê người ra. Nước mắt tuôn trào tợ hai dòng suối mà không dám để lộ tiếng nức nở vì sợ cãi lời thầy dặn hãy bình tĩnh. Platon phải ôm mặt khóc sợ thầy thấy. Platon tự nghĩ: Từ đây thế là hết!
Không phải mình khóc cho thầy vì một người như thầy không cần ai khóc khi qua đời. Mà mình khóc cho chính thân phận mình. Từ phút nầy mình đã vĩnh viễn mất đi một người cha, một người thầy, một người anh, một người bạn mà gần như không làm sao kiếm được người thứ hai trên cõi đời nầy. Lúc thầy Socrate bình tĩnh đón nhận cái chết như vậy, Criton như đứt ra từng đoạn ruột, rón rén bước ra ngoài để khóc cho bớt đau khổ. Còn cạnh bên Platon là Apollodore, ông nầy hồi nãy giờ không lúc nào là không đầm đìa giọt lệ, đến một lúc không cầm mình được nữa, òa lên gào thét thê thảm. Lúc đó Platon cũng không làm sao khỏi cãi lời thầy tức tưởi khóc theo Apollodore, gây thành cảnh não nề đến cực độ. Cả một không khí tan nát lòng từng mảnh bao trùm căn phòng đằng đằng tử khí. Chỉ một mình Socrate là yên ổn y như một bàn thạch. Thấy các môn sinh chan hòa lệ thảm, Socrate quát lên: "Các con làm cái gì kỳ vậy? Sở dĩ thầy đuổi hết các cô các bà ra ngoài phòng mà chỉ để các con lại cố ý tránh sự mất bình tĩnh như vậy. Các con phải cương nghị. Chúng ta phải chấm dứt cuộc đời một cách êm ái, thảnh thơi chứ". Nghe vậy Platon và các môn đồ khác không còn dám gào thét nữa, nhưng vẫn sụt sùi và tê tái người ra nhìn Socrate đang đi đi lại lại trong phòng. Đến lúc thuốc độc đã thấm, Socrate lên giường nằm. Bấy giờ mặt trời đã khuất núi. Căn phòng tối mờ mờ.
Người trao độc dược khi nãy rờ chân Socrate, thấy đã cứng và lạnh dần lên gần đến bụng. Hồi mới lên giường nằm, người ta đắp trên mặt ông một chiếc khăn. Đến lúc nầy, Socrate tung khăn ra và nói với Criton: "Này Criton! Con hãy thế thầy mà tế thần Asclépios một con gà trống. Đó là món nợ thầy đã hứa. Con hãy trả giùm thầy". Criton thưa: "Con sẽ làm theo ý thầy và thưa thầy, thầy còn muốn trối với chúng con điều gì nữa không?". Lúc ấy, hơi lạnh đã lên đến tim Socrate và câu hỏi của Criton không được ông trả lời. Socrate đang nằm yên, bỗng giẫy lên một cái rồi thở hơi cuối cùng. Các môn đồ đứng quanh, tan nát lòng, khóc than thảm thiết còn Criton thì vuốt mặt và vuốt miệng cho thầy.
2.- Cho đến bây giờ, các triết gia đều đồng ý là trong lịch sử nhân loại, sau cái chết của Đức Giêsu, không có cái chết nào can đảm, vĩ đại bằng cái chết của Socrate. Trong cuốn Phédon, Platon nói với Echécrate rằng trong thời đại ông, Socrate là người đạo đức nhứt, thông minh nhứt và cũng cương trực nhứt. Tại vì Nietzsche đề cao thuyết siêu nhân theo kiểu tôn thờ sức mạnh quá lố nên chê Socrate là người không có "bản năng sống" coi cái chết như một lý trí thuần túy. Theo Nietzsche thì Socrate là một "Quái vật". Trái lại Kant thì tôn thờ Socrate như "lý tưởng của lý trí". Hégel thủy tổ của biện chứng pháp xác nhận Socrate là "triết gia chân chính", là "Anh hùng của nhân loại". Ai cũng công nhận là Socrate sống và thực hiện những điều ông dạy. Nếu ai sống đúng đạo làm người được gọi là thánh thì Socrate là thánh nhân trăm phần trăm. Theo sự mô tả của Platon hay Xénophon thì Socrate rất xấu trai, tướng thô kệch như con bò mộng, mũi xệp, mắt bành ra, dáng cục mịch. Song nếu bề ngoài Socrate xấu xí bao nhiêu thì tâm hồn ông tốt đẹp và trí óc ông minh mẫn bấy nhiêu. Trọn đời ông chống đối bọn ngụy biện phá hoại dân tộc, ông chống chính quyền ngu si thời ông bảo rằng ông đầu độc thanh niên. Ông tỏ ra là công dân gương mẫu: khi bị cầm tù, được đồ đệ là Criton tổ chức vượt ngục mà ông từ chối. Ông thương mến môn sinh hết lòng hết dạ, dạy dỗ họ, xử đối với họ như cha con. Đời sống của ông là bài học cho các đồ đệ của ông. Ông sống đơn giản, thường chỉ mặc chiếc áo choàng vải thô, đi chân không, lê gót khắp thành phố Nhã-Điền. Tiêu ngữ "Bạn hãy biết bạn" khắc ở đền Delphes tương truyền là của Chilon, ông lấy làm châm ngôn cho đời sống của chính mình và của các môn sinh. Cũng như thân phụ ông là điêu khắc gia Sophrôniskos, ông điêu khắc tâm hồn Platon và các môn đồ khác thành tác phẩm "nên người". Cũng như thân mẫu ông là nữ hộ sản Phainaretê, ông áp dụng phương pháp đỡ đẻ tư tưởng gọi là khích biện pháp để dạy học và chiến thắng ngụy biện. Học trò của ông triền miên học ở ông đức tự chủ và tâm tính điều hòa. Ông vốn là người có tính khí nóng nẩy thô bạo. Nhưng ông luôn khắc chế tính khí ấy. Thành ra ông ôn lương điềm đạm một cách đáng phục. Ông càng tự chủ, tự khiển, ông càng nêu cho môn đồ gương chiến thắng của tinh thần trên thú tính. Chính do điểm đó ông là người hùng và ông tỏ ra "Người" hơn mọi người. Cái chết kiêu dũng của ông là thí dụ hùng biện cho đời sống tự khắc của ông. Nếu Socrate dùng tự chủ để luyện nhân cách cho học trò thì ông dùng khích biện pháp để chống ngụy biện, chống trí thức giả tạo và xây dựng cho học trò vốn kiến thức thực giá. Hai công việc luyện tâm và luyện trí ấy, Socrate thực hiện cho các môn sinh bằng đời sống liêm chính, bằng tình thầy trò thân mật hơn cha con. Có lẽ nhờ Socrate bất hạnh trong gia đình vì kết tóc xe tơ cùng một ác phụ tên là Xanthippe, bị vợ hành khổ như đày tớ, nên ông vua coi đó là trường đào tạo ông thành thánh, vừa y như Khổng Tử, mấy chục năm trời trước khi chết luôn sống gần gũi, thân mật với các môn đồ. Vì đó giây phút ông ly trần, là mồ mả nổi lên trong tâm hồn họ và xưa nay trong lịch sử nhân loại, chưa có thầy nào chết mà trò khóc tợ như mưa sầu gió thảm như vậy.
CHƯƠNG II
TÌNH THẦY TRÒ CỦA ĐỨC KHỔNG TỬ VÀ CÁC MÔN ĐỒ
(Trò chết; thầy vừa khóc vừa kêu: "Trời hại tôi! Trời hại tôi!")
2.- Cũng không biết phải do luật trời cố định nữa hay không mà những vạn thế sư biểu như Socrate, Khổng Tử thành công trong nghề làm thầy đối với người dưng kẻ lạ hơn là đối với con cái mình. Socrate có ba người con là Lamproclès, Sophronisque và Ménéxène mà không ai được ông dạy dỗ nổi danh. Thậm chí đến giờ phút ông uống độc dược, ba con ông cũng không được ông cho chứng kiến cảnh ông ly trần. Chỉ có các môn đồ là được theo ông tận cùng đời ông thôi.
3.- Khổng Tử thì theo luận ngữ cho biết có đứa con trai tên Lý tự là Bá Ngư và đứa con gái ông gả cho một môn đồ mà ông thương vì bị bắt oan tên Công-dã-Tràng. Bá Ngư bẩm phú tầm thường, trí óc kém cỏi, giao tế lù khù, đặc biệt là lười học. Luận ngữ thuật lại mấy lần Khổng Tử hỏi Bá Ngư học Thi chưa, học Lễ chưa, Bá Ngư đều trả lời chưa cả. Trần Cang một môn đồ của Khổng Tử nói rằng nhờ "Khổng Tử" hỏi Bá Ngư về việc học mà biết được họ Khổng "quân tử chi viễn kỳ tử dã". Người quân tử không hay gần con như vậy là tại sao? Chắc tại nhiều lý do mà quân tử có thể dùng để biện minh cho mình để khi có ai nói: "Hỡi thầy thuốc! ông hãy tự chữa lấy ông; Médice! Curate ipsum".
Ở đây ta muốn nhấn mạnh mẫu số chung giữa Socrate, Khổng Tử là hai sư biểu đều đối với con rất sơ, nếu dậy được trở thành danh lỗi lạc thì không dạy được con nên thân nên phận gì.
3.- Lối tổ chức lớp học của Khổng Tử cho các môn đệ như Nhan-Hồi, Tử-Lộ, Tử-Cống, Tăng-Tử, Tử-Hạ v.v.... đại khái ta thấy giống như Socrate tổ chức cho những Platon, Criton, Apollodore v.v.... hay giống như Platon trong học viện Académus. Thầy trò họ Khổng ngồi quanh quẩn với nhau trao đổi ý kiến để tìm chân lý và đạo lý hơn là thầy đọc giảng thao thao bất tuyệt. Trò học ở Thầy mà Thầy cũng học ở trò.
Lắm lúc Khổng Tử dạy học theo kiểu Aristote trong học viện Lycéum, học viện mà Aristote dạy các môn đồ theo lối vừa đi dạo vừa dạy. Cái cảnh Khổng Tử ngồi dạy xong thì cầm đờn ca hát, trò ngồi xướng họa, thưởng thức hay cảnh thầy trò lang thang đất Thái, đất Trần, thầy nằm nghỉ mệt, mơ màng dưới tàn cây thơ mộng, còn trò kẻ đọc sách, người nấu cơm là cái cảnh thông thường của thầy trò họ Khổng. Ngày nay được mấy thấy trò cởi mở ngồi hỏi với nhau về hoài bão tương lai. Khổng Tử hỏi Tử Cống ước nguyện gì? Tử Cống bảo: chỉ mong phát phú bằng thương mãi. Hỏi Tử Lộ sau nầy tính làm gì?
Tử Lộ thưa rằng chỉ mong có ngựa, có xe đi, có của cải đầy đủ, mình dùng dư; tiếp giúp bạn bè. Tử Lộ hỏi Khổng Tử chí nguyện ra sao. Khổng Tử nói không mong gì hơn là thân phận kẻ già mà được yên hàng, bằng hữu giữ chữ tín và tuổi trẻ đừng thất vọng. Còn cảnh đàm đạo nào thân mật thâm thúy giữa Sư đệ hơn cảnh đối thoại chân thành ấy nữa không?
4.- Ngày nay có mấy thầy biết nghe lời trò, có lần Khổng Tử đến thăm nàng Linh-Công là vợ vua nước Vệ: một đàn bà khét tiếng lẳng lơ. Hai bên bái xá nhau ra vẻ tương đắc. Thực ra Khổng Tử đi thăm Linh-Công như vậy không có gì đáng trách. Nhưng về sau môn đồ của ông là Tử Lộ tỏ vẻ trách ông là thiếu cẩn thận. Buộc lòng ông phải cam đoan với Tử Lộ: "Dư sở phủ giả. Thiên yếm chi! Thiên yếm chi: Thầy mà làm gì bậy, Trời hại Thầy, Trời hại Thầy". Cũng Tử Lộ nữa có lần trách ông sao có ý nghĩ muốn đến với Phật Nhiễu là bề tôi họ Qui mà cướp đất chủ. Khổng Tử viện lý nầy lý nọ nhưng sau cùng nghe lời Tử Lộ, không đến với Phật Nhiễu.
5.- Ở thời đại nào cũng vậy chứ không riêng gì thời đại ta, có vô số thầy dạy trò rồi thấy trò giỏi đâm lòng ganh tị và thường hay chê bai, mạt sát trò nào ăn ngay nói thẳng chạm tự ái mình. Khổng Tử không như vậy. Ông là Thầy với tất cả ý nghĩa thắm sâu của tiếng ấy. Nghĩa là ông vui mừng khi thấy trò có điểm hơn mình, thành công hơn mình, ông không tiếc lời khen môn sinh.
Tử Lộ đủ thứ tật xấu, nào hung hăng xẵng, phán đoán lệch lạc, nhiều lần táo bạo trực ngôn cảnh cáo ông mà Khổng Tử vẫn quý mến Tử Lộ, vẫn tán dương Tử Lộ. Có lần Khổng Tử nói chơi với Tử Lộ: "Nếu đạo Thầy mà bất thành, Thầy sẽ với một mái thuyền thảnh thơi trôi trên mặt biển. Lúc ấy chắc không còn ai theo Thầy ngoài ra Tử Lộ". Ông nầy tưởng thầy mình nói thật, tỏ ra khoái chí, vênh vênh tự đắc rằng mình là trung đệ đầu sổ.
Thực đúng rặt là thái độ của Pétrus, môn đồ niên trưởng của Chúa Jésus cả quyết dù ai bỏ thầy thì bỏ chứ ông không bao giờ bỏ. Tự đắc như vậy mà đêm Đức Jésus bị bắt, Pétrus chối thầy mình đến ba lần. Tử Lộ đối với Khổng Tử cũng giàu háo khí như Pétrus khi chưa thành đại thánh. Khổng Tử thấy Tử Lộ vênh vênh như vậy khen là can đảm mà bảo còn non trí. Lần khác họ Khổng khen Tử Lộ là người không đố kỵ và liêm chính. Tử Lộ cảm thấy như lên mây, cho mình là người quán tuyệt đến đỗi Khổng Tử dặn thêm là vậy chưa đủ. Thì ra, ta thấy Tử Lộ là một người tâm tính nông nỗi quá, thương thầy thực, cầu tiến song chưa thuần. Vậy mà Khổng Tử cũng thấy được nhiều ưu điểm để khen.
Trọng-Cung, một đồ đệ nữa của họ Khổng không có gì nổi bật như các môn sinh khác nhưng có lần nói một câu chí lý, được ông khen. Trọng Cung nói: "Cư kính, hành giản": nghĩa là cư xử thì cung kính còn cầm quyền thì thi hành đơn giản. Như vậy ta thấy dù trò của ông tầm thường tới đâu, Khổng cũng tìm được điểm son để khen.
Trong Khổng tử Gia Ngữ, có chỗ Khổng Tử nói với Tử Hạ: "Nhan Hồi có đức tính hơn ông. Tử Cống lanh lợi hơn ông. Tử Lộ gan mật hơn ông. Tử Trương nghiêm chỉnh hơn ông". Tử Hạ bỗng đứng dậy, ngạc nhiên nói: "Vậy thì thưa thầy, tại sao bốn anh ấy còn theo học thầy?" Khổng Tử nói: "Ngồi xuống, ngồi xuống, thầy nói hết cho nghe. Nhan Hồi tin mà không biết không tin. Tử Cống lanh mà không biết chậm. Tử Lộ đúng mà không biết nhát. Tử Trương nghiêm mà không biết hòa dịu. Môn sinh được Đức Khổng khen không tiếc lời nhứt là Nhan Hồi. Theo ông thì Nhan Hồi hiền lương, ông nói gì hiểu ngay, hiếu học, biệt an phận nghèo, ngày càng tiến trên đường đạo lý. Có thể nói Khổng Tử thương Nhan Hồi nhứt các đồ đệ của ông y như Đức Giêsu thương thánh Gioan hơn các 11 vị sứ đồ vậy. Hai thầy trò tương đắc và coi nhau như tri kỷ. Lắm lúc họ trò chuyện nhau như bằng hữu hay đôi nhân tình. Lần nọ hai người gặp nạn ở đất Khuông. Thoát nạn xong, Khổng Tử gặp Nhan Hồi nói: "Thầy tưởng con chết rồi chứ". Nhan Hồi thưa: "Thầy còn sống, làm sao con dám chết". Nói xong, hai thầy trò cười reo khoái trá. Muốn ý thức cảnh ngộ nầy, ta đừng quên họ là người tàn nữa. Một trong những giáo điều thâm thúy nhất của Khổng Tử, ông lại truyền lại cho Nhan Hồi. Ông nói: "Đắc dụng thì mình thi đạo, bằng không thì ẩn thân hành đạo". Mấy ai ngày nay dấn thân vào việc nước mà lấy câu ấy làm châm ngôn.
6.- Họ Khổng biết lạc quan nhìn cái hay của trò mình nhưng không phải không có lúc ông quở trách nặng. Về điểm nầy ta thấy ông xứng đáng là một tôn sư và trong hệ thống quân sư phụ, sư đi trước phụ được Khổng Tử chứng mình một cách hùng hồn. Ông rầy la môn đồ bằng một thứ tình cốt nhục. Lúc muốn cho họ nên người mà cần trực ngôn, ông không nể nang, mềm dẻo một cách giả tạo. Mấy lúc ấy ta thấy ông tỏ ra gần ta hơn khi ông là tượng trưng của Chữ Lễ.
Đọc đời tư các vĩ nhân, thấy những lúc họ tỏ ra giận dữ như bọn phàm nhân chúng ta, sao ta thấy quí mến họ hơn. Chúa Jésus có lần bảo môn đồ hãy học nơi Chúa sự hiền lành, khiêm nhường thật trong lòng song có lần Chúa cũng nổi cơn lôi đình vác roi rượt đánh bọn con buôn lấy đền thánh Giêrusalem làm chợ búa. Lúc uống đọc dược xong, Socrate thấy các môn đồ của mình khóc, ông nghiêm mặt quát: "Các anh làm gì kỳ vậy? Tôi đuổi hết phụ nữ ra khỏi phòng, chỉ để các anh lại thôi là cố ý tránh cái cảnh hèn yếu đó". Người ta nói cơn giận của vĩ nhân là "ira sancta" tức là thánh nộ có phải không? Có lần Khổng Tử thấy Tử Lộ cương trực đến thành hung bạo, cảnh cáo Tử Lộ: "Coi chừng hung hăng tầm bậy mà bất đắc kỳ tử". Không ai bảo họ Khổng là nhà tiên tri hay nhà tính tình học song vì am hiểu tính nết trò mình nên quả thực về sau cái chết chưa tới số của Tử Lộ ở đất Vệ chứng minh tiên ngôn của Đức Khổng. Lần khác Nhiễm Hữu và Tử Lộ (cũng Tử Lộ nữa) là bề tôi của họ Quí là kẻ sắp đánh một thuộc địa của nước Lổ mà không cương trực ngăn cản. Đánh như vậy theo Khổng Tử là bất công. Nhiễm Hữu, Tử Lộ đổ lỗi cho họ Quí. Khổng Tử nổi nóng nói như tạt nước sôi: "Các anh giúp nước mà thấy không giúp dân được thì nên từ chức. Người quân tử không bao giờ viện lý nầy lẽ nọ để làm bậy. Thiên hạ ngoài nước thấy họ Quí cùng các anh không phục thì phải làm cho người ta phục, sao lại đem quân đánh người ta, làm như vậy là gây điên đảo không phải ở quốc ngoại mà chính ngay nội bộ nước mình. Các anh biết chưa?"
7.- Tính tình Khổng Tử lúc nào cũng ôn lương, ăn nói với các môn đồ mềm mỏng, thân mật nhưng không phải không có lúc ông không mỉa mai một cách tế nhị đâu. Tử Cống thấy Khổng Tử và các môn đồ cứ ở ẩn hành đạo, trách ông sao cứ giấu ngọc quí mãi trong hộp mà không đem bán cho người đời đeo. Ông mỉa mai với Tử Cống: "Thì đem bán đi, bán đi". Trong bụng, họ Khổng vẫn đồng ý với Tử Cống nhưng vì không gặp minh chúa nên chưa dấn thân. Còn Tử Cống thì hơi vội. Tử Du dùng lễ nhạc trị dân. Có lần Khổng Tử nghe tiếng hát vang dậy từ nhà dân, bảo Tử Du: "Ai lại đi cắt cổ gà bằng dao mổ trâu. Tử Du nói ngày xưa thầy bảo tiểu nhân học đạo thì để trị. Nay còn dùng lễ nhạc luyện họ thành quân tử, sao thầy trách. Khổng Tử nói cùng các môn đồ: "Tử Du có lý đấy. Lời ta nói lúc nãy chỉ hài hước thôi".
8. - Cái độc đáo của Khổng Tử là ông theo dõi sinh hoạt của môn đồ ông suốt đường đời của họ. Một Aristote đối với cuộc đời A-lịch-sơn Đại Đế, một Alain với André Maurois thế nào thì từ trước Khổng Tử đã làm. Một số nhà nho đã theo truyền thống của Khổng Tử. Ở nước ta có thể tạm liệt kê trường hợp của La Sơn Phu Tử đối với Nguyễn Huệ mặc dầu vị anh hùng nầy không hẳn là môn sinh của La Sơn Phu Tử hiểu theo nghĩa chuyên môn đã bàn trên. Học trò của Khổng Tử cũng như Socrate, Platon có đến số nghìn. Nhưng trong đại đa số ấy kết tụ lại một thiểu số. Nó lập thành một gia đình tâm huyết mà Thầy được coi như cha và trò như con. Họ nương vai đỡ cánh với nhau để thực hiện chí lớn. Một Tử Du hồi còn ngồi trên ghế học đường được Khổng Tử nghiêm khắc dạy dỗ, có lần bị mắng là gỗ mục, là vách đất, không khắc gì được, không vẽ gì được bởi vì lười biếng. Nhưng Tử Lộ, Nhiễm Hữu đã thành nhân, ra đời làm quan rồi cũng được ông theo dõi cảnh cáo cho những khi làm bậy. Tử Cống tuổi chất đầy vai rồi mà còn cái tật háo danh, ưa so sánh người nầy với người kia để cho mình nổi bật, có lần bị Khổng Tử cho một bài học đau thấu xương để hết cái tật chê người nầy móc người nọ.
Khổng Tử nói với Tử Cống: "Thầy tự kiểm để tự tu mà làm chưa tròn, có thời giờ đâu mà xét nét, sửa sai thiên hạ". Trường hợp thánh Pétrus trong đêm Đức Jésus bị bắt, toát gươm thất phu chi dũng, nhào tới chém sứt vành tai của một đối phương, bị Đức Jésus mắng rằng kẻ dùng gươm phải khốn vì gươm, có giống trường hợp sau đây của Thầy trò Khổng Tử không? Nhiễm Hữu làm quan cho họ Quí, thâu thuế thắt họng dân chúng, Khổng Tử nổi cộc bảo với các môn sinh: "Chúng con hãy nổi trống nổi chiêng lên mà đả đảo nó. Nó không phải là học trò của ta nữa".
Ôi! Ngày nay làm sao trên đường phục vụ ta tìm được những tôn sư biết lựa lúc nổi lôi đình giùm ta như những thánh sư như Chúa Jésus và Đức Khổng. Ta trị dân mà tham quyền cố vị, kỳ thị, hối mại quyền thế, tham nhũng, ta cần người cảnh tỉnh lắm chứ. Không lẽ đợi tới khám đường giúp ta hối hận.
9. - Thầy trò họ Khổng chẳng những thầy lo cho trò mà trò cũng chết sống là trung đệ, bênh vực thầy đáo để. Nhan Hồi biểu lộ lòng khâm phục vô biên thầy mình trong mấy lời sau đây: "Đạo của thầy càng suy càng bao la rộng rãi, tôi muốn đến tận cùng mà không sức nào đến được".
Trần-Tử-Cầm có lần cao hứng bảo Tử Cống không thua gì Khổng Tử, bị Tử Cống chận liền: "Đừng nói đại mà thiên hạ cho mình ngu. Thầy của chúng ta không ai bì nổi". Rồi chính Tử Cống lại được Thúc Tôn Võ Thúc say sưa ca ngợi tài đức, cho rằng hơn hẳn Khổng Tử. Lời ấy lọt vào tai Tử Cống, Tử Cống liền nói: "Tôi là vách tường, thiên hạ nhón gót lên ngó vào nhà thấy được vài đồ quí, còn Thầy tôi là vách cao muôn trượng thiên hạ không làm sao phóng mắt tới để thấy vô số bảo vật trong kho lẩm vô tận". Trời ơi! Sao mà Thầy trò người ta tương kính, tương nể và đùm bọc nhau chung thủy như vậy. Nếu ở thời này, Khổng Tử đầu thai ứng cử làm đại sự nào mà khác chính kiến với môn đồ, ông có bị cả một chiến dịch trò lên mặt báo bôi lọ Thầy không?
10.- Trong đời làm Thầy, ngay như Khổng Tử là minh sư có lúc cũng có chút thiếu sót mà vô số nhà giáo tầm thường khó tránh khỏi. Đó là thấy không hết trong đám môn sinh của mình có những ngôi sao tuy lúc học thì lu mà lúc ra đời sáng rực. Cái hơn của Khổng Tử là mắc cái thiếu ấy mà không tầm thường ở chỗ miệt thị những thiên tài lúc chưa lột xác. Tôi muốn nói trường hợp trò Tăng Tử của Thầy Khổng. Tăng Tử cũng gọi là Tăng Sâm, người mà ngay Nhan Hồi được Khổng Tử ca tụng thông minh nhứt, trong sủng nhứt không sánh kịp, người đã tiếp tục được chí cả của Khổng Tử, người đã làm cho tên thầy mình thành minh tinh trong cuốn Đại Học, người đã thấu triệt được câu "Ngô đạo nhứt ái quán chì! Đạo của tôi có một lẽ mà gồm trọn tất cả". Người đó lúc còn sách đèn lại là một đứa học trò không có gì xuất sắc. Hiền hậu đến thành bị coi là lù khù. Ít nói đến thành bị coi là đần độn. Thấy vậy Khổng Tử không nức nở khen như khen Nhan Hồi, Tử Lộ, Tử Cống, song không miệt thị nhận chìm Tăng Tử. Người mà ông đặt ít kỳ vọng lại là kẻ truyền bá đạo của ông đắc lực nhất. Nếu Lâm Ngữ Đường bảo, Tử Lộ của Khổng Tử một thứ thánh Pétrus của Đức Jésus thì bạn có thể nói Thánh Paulus của Đức Jésus là một Tăng Tử của Khổng Tử. Dĩ nhiên ở đây chỉ nhắm một hai khía cạnh thôi: cho ca trước là nói về tánh khí và cho ca sau là nói về mặt truyền bá chủ thuyết.
11.- Sau hết bạn chỉ giùm tôi trong lịch sử loài người vài trường hợp mà trò chết, Thầy khóc như mất tình nhân như mất vợ hiền giống y trường hợp Thầy Khổng Tử khóc trò Nhan Hồi. Ai cũng biết đức Khổng yêu mến Nhan Hồi nhứt trong các môn sinh. Ông tin tưởng Hồi sẽ kế nghiệp ông, quảng bá đạo của ông. Nhưng đau đớn thay, Hồi yểu tử, bỏ ông hồi mới 31 cái xuân. Khổng Tử hay Hồi chết kêu lên như bị ai cắt họng: "Trời hại tôi, Trời hại tôi". Niềm tin của ông đặt nơi Nhan Hồi biến thành ảo vọng đến đỗi ông thốt các lời sau đây khi có môn sinh trách ông sao khóc than chi quá thảm não. "Tôi không khóc Hồi chết thì còn khóc ai nữa bây giờ". Thầy mà như họ Khổng thì thưa bạn, môn sinh có chết mấy kiếp nếu được luân hồi, tái sinh, chắc không xin Trời Phật điều gì hơn là xin cái diễm phúc làm người để được làm môn sinh Thầy Khổng.
*
34