📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

ĐỀ THÁM – CON HÙM YÊN THẾ 🔒

4 trả lời, 60 lượt xem — Trang 1 / 1
NHÀ SÁCH 62, Đại lộ Lê Lợi Sài gòn

ĐỀ THÁM – CON HÙM YÊN THẾ

NGUYỄN DUY HINH
 
* Từ chiến tranh xâm lược
*Từ phong trào Cần Vương của nhóm sỹ tử đến chiến tranh du kích của Hoàng hoa Thám.
 

CHƯƠNG I

 
Năm 1859, vào niên hiệu Tự Đức thứ 11, Việt Nam bắt đầu bị Pháp xâm chiếm.
 
Mượn cớ bảo vệ kiều dân của các nước thuộc Âu Châu hiện ngụ tại lãnh thổ Việt Nam, trong công cuộc khủng bố giáo sĩ Gia tô và ngăn cấm bọn thương buôn da trắng của triều đình Huế, Pháp quân đem hạm đội viễn chinh mở cuộc xâm lăng nước Việt vào tháng bảy năm Mậu Ngọ tức là năm nói trên.
 
Ngày 31 tháng 8 dương lịch, đại đội chiến thuyền và binh mã Pháp bắn phá vào cửa Đà Nẵng dữ dội, Ông Nguyễn Tri Phương phải lập đồn Liên Tri chống giữ.
 
Đến tháng Giêng năm sau, Pháp phân binh vào đánh thành Gia Định và từ đây Việt Nam đã nếm mùi thất bại đầu tiên trước hỏa lực của Pháp. Ông Nguyễn Tri Phương phải vội vã đem quân vào Gia Định thành lập đồn Kỳ Hòa (tức khu vực Chí Hòa ngày nay) để chống cự lại.
 
Hai bên đánh nhau ác liệt, trong mấy trận đã tổn hại khá nhiều.
 
Đứng trước tình thế này, triều đình Huế đã bất lực. Trên cao, vua chỉ ham thú văn chương, thi phú. Dưới thì, quần thần tả hữu đều hủ bại, chia rẽ nhau, mạnh ai nấy tranh giành thế lực. Dân chúng khắp nơi đói rét sanh tâm cướp bóc thành loạn lạc. Giữa vua quan và tôi dân đã mất hết tình cảm chân thành và thiêng liêng nên không thể chung lưng đấu cật mà tạo thành một sức mạnh chống cự dẻo dai.
 
Vì vậy, Pháp quân đã đánh thắng quân ta luôn mấy trận vừa dễ dàng vừa mau lẹ. Chiến thuật “trường xà” cổ lỗ của Nguyễn Tri Phương chỉ là trò đùa của Pháp quân và là mục tiêu rất tốt của súng đại bác của đoàn quân viễn chinh xâm lăng này.
 
Sau khi chiếm được thắng thế, Pháp tăng cường thêm 70 tàu chiến và 3.500 quân nhất định đánh phá đồn Kỳ Hòa. Ông Nguyễn Tri Phương hết lòng chống cự ráo riết trong hai ngày, sát hại được hơn 300 quân địch rồi mới chịu lui về Biên Hòa vào năm Tân Dậu (1801).
 
Thừa cơ, Pháp tiến đánh luôn cả tỉnh Định Tường và tỉnh Biên Hòa rồi buộc triều đình Huế phải ký hòa ước, nhường đứt hai tỉnh đó với cả tỉnh Gia Định nữa.
 
Năm 1862, liên quân Pháp và Tây Ban Nha lại tấn công cửa bể Đà Nẵng
Bắt đầu từ đây, những cuộc cách mạng nổi dậy và người dân Việt mới bắt đầu tích cực kháng chiến với Pháp ở khắp nơi, rất là mạnh mẽ.
 
Trong năm này ông Phó quân Cơ Trương Công Định từ chối chức Lãnh binh An Giang do triều đình Huế thăng thưởng sau khi đã dầy công chống giữ đồn Kỳ Hòa.
 
Ông ở lại Gia định thành, tự động mộ binh lính làm nghĩa quân chống Pháp ở khắp ba vùny, tỉnh Chợ Lớn, Tân An và Gò Công. Ông đã làm cho Pháp quân nhiều phen thất điên bát đảo; đến ngày 19 và 20 tháng 8 năm 1864 ông đánh một trận ác lỉệt ở Kiến Phước và bị bắn gãy xương sống.
Noi gương ông, một nhóm sĩ phu, quan lại tại tỉnh Vĩnh Long khởi binh đánh lấy lại tỉnh thành này. Trong khi ấy, vào năm 1865, Hai ông Tri Huyện Toại và Thiên hộ Dương cũng đã dấy binh ở Đồng Tháp Mười, dẫn nghĩa quân dùng chiến thuật du kích đánh phá các đồn Pháp lẻ tẻ khiến cho các đoàn vận tải và đường giao thông của quân đội Pháp gặp nhiều khó khăn.
 
Đến năm 1867, vào ngày 25 tháng 6, Pháp lại chiếm luôn ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên sau khi tỉnh Vĩnh Long thất thủ từ năm 1861, sau Pháp trả lại và đến năm 1867 mới lấy dứt. Ông Phan Thanh Giản không giữ thành nổi, để giữ tròn tiết nghĩa, ông uống thuốc độc tự tử, có để di chúc lại cho con cháu, dặn không được làm việc gì với Pháp. Các con của ông là Phan Liêm, Phan Tâm, Phan Ngữ, vâng lời cha, cầm đầu một nhóm nghĩa quân kháng chiến tại bốn tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh, Bến Tre.
 
Sau khi bại trận, ba ông liền theo ông Nguyễn Tri Phương ra Bắc để chống cự với Pháp nửa tại Hà Nội vào năm 1873.
 
Qua năm 1868, ông Nguyễn Hữu Huân đỗ Thủ Khoa lãnh đạo nhóm Văn Thân kháng chiến tại vùng Định Tường và Tân An. Pháp quân nhiều lần khuyến dụ ông ra đầu hàng nhưng ông không bằng lòng và luôn luôn cự tuyệt. Về sau, ông thất trận bị bắt và bị quân Pháp xử chém tại cù lao Rồng. Trong lúc này, ông Nguyễn Trung Trực cùng nổi lên ở vùng Nhật Tảo, Tân An, cũng trong năm này, ông bị Pháp bắt xử chém ở Rạch Giá.
Khoảng năm 1869-1870, ông Phan Tòng khởi binh ở Ba Tri và tử trận ở Giồng Gạch.
 
Năm 1871 và 1872, dân chúng ở ba vùng Bà Điểm, Hốc Môn, Gò Vấp cũng tự động nổi lên kháng cự. Họ đã đánh nhiều trận rất ác liệt với quân Pháp. Trận oanh liệt nhất là trận tại 18 thôn vườn trầu. Trận này, nghĩa binh đã tử trận gần hết sau khi đã chống cự mãnh liệt trong mấy ngày liền.
 
Còn sót lại hơn 70 người, họ liền thề nguyện với nhau nhất quyết chống cự với địch quân đến chết, không một người nào chịu đầu hàng.
 
Trong khi đó, khắp các tỉnh Vĩnh Long, Cần Thơ, Long xuyên, quân Cần Vương cũng nổi lên đánh phá tứ phía.
 
Năm 1873, Trung úy Francis Garnier đem binh ra Bắc can thiệp vụ tên lái buôn Jean Dupuis chở hàng Pháp rồi đánh thành Hà Nội. Ông Nguyễn Tri Phương kéo binh chống cự, bị thương, người Pháp băng bó thương tích cho, ông không bằng lòng và xé băng ra mà chết. Ít lâu sau Trung úy Francis Garnier bị quân Cờ Đen giết mất ở Cầu Giấy.
 
Sang năm sau, hai ông Đoàn Công Bửu, Nguyễn xuân Phụng lại khởi nghĩa ở Trà Vinh.
 
Ở Trung phần, thấy triều đình luôn luôn nhượng bộ Pháp, các nhân sĩ đều phẫn uất. Tại Hà Tĩnh và Nghệ An, hai ông Trần Tân và Đặng Như Mai nổi lên, truyền hịch “Binh Tây sát tả”.
 
Qua năm 1875, ở Trà Vinh, miền Ba Động có Trần Bình, Lê Tấn Kế nổi lên.
 
Bắt đầu từ năm 1876, các tổ chức của phong trào Cần Vương cứu quốc ở Nam phần (Thời đó gọi là Nam kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ) lần hồi bị tiêu diệt.
 
Năm 1880, triều đình Huế muốn có thêm nhân tài để khôi phục đất nước nên sai Lễ bộ Thị Lang Phạm Bình đem một số nhi đồng sang học trường Anh tại Hương Cảng. Đồng thời, sai sứ đi giao thiệp bí mật với Xiêm và Tàu.
 
Qua năm 1882, sau khi Tổng đốc Hoàng Diệu thắt cổ tự tử vì không giữ nổi thành Hà Nội để mất lần thứ hai được mấy hôm, một số kháng chiến quân của Hoàng Kế Viêm hợp với quân Cờ đen giết Trung úy Henri Rivière tại Cầu Giấy.
 
Sang năm 1883, Pháp quân tiến đánh cửa Thuận An. Sau ba ngày đêm chống cự, quân ta đành chịu mất thành Trấn Hải. Các quan trấn thành là Lê Sĩ, Lê Chuẩn tử trận còn Lâm Hoằng và Trần Thúc Nhẫn cũng nhảy xuống sông tự tử theo.
 
Theo đà thắng thế, Pháp càng lúc càng uy hiếp Triều đình Huế bắt buộc phải ký Hiệp ước Patenôtre vào tháng 8, Giáp Thân (1884) nhìn nhận nước Pháp bảo hộ cả Trung và Bắc kỳ.
 
Trước tình thế này, Tôn Thất Thuyết và Trần xuân Soạn hết sức căm thù, cố ra công lập trường võ bị ở tại kinh đô để tổ chức thành quân đội hẳn hoi. Một mặt hai ông lại cho người ra ngoại quốc mua súng đạn, khí giới để chuẩn bị giao tranh cùng quân Phá, một mặt hai ông ra mật lệnh cho quan quân và dân chúng ở khắp các tỉnh không được hợp tác với Pháp.
 
Tháng 5 năm 1885, Thống tướng Pháp là De Courcy lại đem 1.700 quân vào Huế định dùng võ lực uy hiếp triều đình Việt nữa, bắt buộc triều đình phải nhận cuộc bảo hộ của Pháp.
Tôn Thất Thuyết khẳng khái đứng vào hàng chủ chiến, không chịu qua tòa Khâm sứ hội kiến với tướng Pháp.
Rồi đến đêm 22 rạng ngày 23 tháng 5, Tôn Thất Thuyết cùng với em là Tôn Thất Liệp và Trần xuân Soạn chia nhau ba mặt đánh úp những nơi Pháp quân đóng giữ. Sáng ra quân ta hết đạn nên tan vỡ thành ra kinh thành phải thất thủ. Tôn Thất Thuyết phải vội vã rước vua Hàm Nghi chạy vào Quảng Trị rồi chạy qua Hà Tĩnh. Từ đấy miền Trung và miền Bắc lại lọt vào tay Pháp.
 
Vua Hàm Nghi liền lập căn cứ kháng chiến tại Hà Tĩnh vào năm 1886 hạ chiếu kêu gọi Cần Vương cứu quốc. Tôn Thất Thuyết để hai con là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm ở lại hộ giá và cầm binh, còn chính mình sang Tàu xin viện binh của nhà Thanh.
 
Nhưng hồi ấy, thời cuộc của Tàu dưới thời Mãn Thanh cũng đổ nát be bét hết. Dân chúng nổi lên vận động lật đổ triều đình. Vì vậỵ, Tôn Thất Thuyết sang Tàu đã hoài công, vô ích.
 
Vì vậy mà ông bất đắc chí đành cam chịu cết già ở nơi đất lạ quê người giá lạnh.
 
Trong lúc đó các nhân sĩ ở Trung và Bắc nổi lên Cần Vương rất đông, kháng Pháp rất dữ dội.
Không có lúc nào tình hình cách mạng sôi nổi bằng lúc này.
Nhiều vị quan to bỏ chức lui về quê nhà chiêu binh khởi nghĩa, như Tể tướng Nguyễn Thiện Thuật, Đề đốc Tạ Hiện vân vân…
Từ trong Nam ra tới ngoài Bắc, vùng nào cũng có một hoặc hai ba người nổi lên kháng chiến, cầm đầu hai ba nhóm nghĩa quân cách mạng.
Đáng kể nhất là các vùng sau đây:
Vùng Phú Yên, Bình Định có Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Đức Nhuận, Bùi Diễn.
Vùng Quảng Nam, Quảng Nghĩa có Nguyễn Hàm, Nguyễn Hiệu, Trần Văn Dự.
Vùng Quảng Bình có Lê Trực, Nguyễn phạm Tuân.
Vùng Nghệ An có Lê doãn Nhạ, Nguyễn Xuân Ổn.
Vùng Hà Tĩnh có Phan Đình Phùng, Lê Ninh, Cao Đạt, Cao Thắng, Đinh Văn Chất, Thái vinh Chính.
Vùng Thanh Hoa có Hà văn Mao, Đinh công Tráng, Cầm bá Thước, Phạm Bành, Tống duy Tân.
Vùng Hải Dương có Tán Thuật cùng 2 người em là Lãng Giang, Hai Kế, Đốc Tích, Đốc Khoát, Ba Giang, Tống Kính, Tuần Văn, Đốc Vinh, Đề đốc Tạ Hiền và Thủ Khoa Nguyễn Cao.
Vùng Hưng Yên, Bắc Ninh có Đốc Mỹ, Đốc Quế, Đốc Sùng, Lãnh Điềm, Đội Văn, Hai Tước.
Vùng Đông Triều, Lục Nam có Đốc Thầy, Lãnh Thừa, Lưu Kỳ.
Vùng Sông Thái Bình có Đề Hồng, Tiến Đức, Lãnh Ý.
Vùng Bắc Giang Thái Nguyên có Ba Phúc, Đề Nam, Đề Thám tức Hoàng Hoa Thám.
Vùng Sơn Tây, Hưng Hóa có Đề Thanh, Đề Kiều, Đốc Ngữ, Cai Văn, Hoàng Công Vinh, Nguyễn Quang Bình vân vân…
Trong số những người trên đây, có bốn tay anh dũng nhất khiến cho Pháp quân phải hết sức nhọc nhằn. Trong những trận mà họ kháng cự từ năm 1885 đến năm 1892, là Đội Văn (vùng Hưng Yên, Bắc Ninh), Đốc Tích (vùng Hải Dương), Đề Kiều, Đốc Ngữ (vùng Sơn Tây, Hưng Hóa).
 
Ông Đinh Công Tráng cũng đánh được những trận nổi tiếng như trận Ba Đình. Ông Tán Thuật oai dũng ở trận Bãi Sậy. Ông Phan Đình Phùng đã cầm cự với Pháp quân đúng 10 năm, gây được ảnh hưởng lớn lao, cũng đã oanh liệt ở trận Ngàn Trươi và Đề Thám ở Yên Thế…
***
Năm 1887, hai tướng Dodds và Metzinger kéo quân tấn công chiến khu Ba Đình và Ma Cao của Đinh Công Tráng (lập từ tháng 4 năm 1885) thất bại nên đầu năm nói trên Pháp lại sai đại tá Brissaud kéo rốc đoàn binh gồm có 76 viên sĩ quan chỉ huy với 3.530 quân tinh nhuệ tấn công một lần nữa.
 
Trận chiến này kéo dài mấy ngày liền, rất ác liệt, hai bên đều tổn thất nặng nề. Khó nhọc lắm Pháp quân mới phá vỡ được cả chiến khu.
 
Đinh Công Tráng chạy về Nghệ An và bị bắn chết tại làng Tang Yên, ven bờ sông Cả vào đêm 5 tháng 10 năm 1887.
 
Cũng trong năm này, Trần Xuân Soạn, tướng của Tôn Thất Thuyết định đánh thành tỉnh Thanh Hóa, nhưng thất bại.
 
Qua tháng 9 năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt tại làng Tả Báo, ở miền núi Hà Tĩnh và Quảng Bình vì tên Trương Quang Ngọc phản bội làm tay sai cho Pháp. Nhà vua liền bị đày an trí ở Algérie.
 
Trong lúc vua bị Pháp bắt, Tôn Thất Đạm chạy thoát được và thắt cổ tự tử ở trong rừng sâu còn Tôn Thất Thiệp thì bị quân Pháp bắn chết tại trận (1)
 
Chú thích:
(1) Cụ Trần Trọng Kim viết trong quyển Việt Nam Sử Lược rằng Tôn Thất Thiệp bị đâm.
 
Trong năm 1889, ông Tán Thuật đã lập xong chiến khu ở Bãi Sậy, chống Pháp quân hai năm liền rất là can đảm, nhưng cũng tan vỡ nên ông chạy lên Thái Nguyên và rồi vượt biên giới Hoa Việt sang Tàu để nhập bọn với tướng Cờ Đen là Lưu Vĩnh Phúc.
 
Cũng trong năm này, Pháp quân đã cử đại binh đánh quân của Đề Thám ở Yên Thế mấy lần nhưng lần nào Pháp quân cũng thất bại trước địa thế vô cùng hiểm trở và pháo lũy kiên cố của Thám.
 
Qua năm 1891, Đề Thám cùng một lượt với Đề Kiều, Đốc Ngữ phá hoại cuộc giao thông tiếp tế không ngừng của quân Pháp tại ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang và Hưng Hóa.
 
Trong khi đó, sau khi chiến lũy Ba Đình (rộng 400 thước, dài 1.200 thước bao bọc trọn ba làng Mỹ Khê, Mậu Thịnh, Thượng Thọ) tan vỡ vào ngày 20 tháng giêng năm 1887, hai ông Cao Đạt và Tống Duy Tân chạy ra Bắc. Năm 1889 hai ông trở về Thanh Hóa để lãnh đạo công cuộc kháng chiến một lần nữa ở vùng Nông Cống.
Được hơn một năm, hai ông lại thất bại bị bắt và bị chém vào ngày 3 tháng 9 năm 1892 tại tỉnh Thanh.
 
Từ năm 1892, tinh thần chiến đấu của người Việt Nam thêm mãnh liệt hơn. Chẳng những mãnh liệt về tinh thần bất khuất mà còn tiến bộ bất ngờ về kỹ thuật chế tạo võ khí và chiến tranh.
 
Ông Cao Thắng, một bộ tướng của ông Phan Đình Phùng đã làm cho Pháp quân hết sức kinh ngạc vì ông đã tự chế ra được một kiểu súng năm 1874, không thua gì súng của Pháp chế tạo. Sự kiện này khiến cho các kỹ sư bác học ở trời Âu hết sức lạ lùng về tài trí phi thường của nhà nho và kháng chiến quân Việt Nam. Nhờ vậy, thanh thế của Phan Đình Phùng càng ngày càng lan rộng thêm lên.
 
Nhưng không may, sau đó, ông Cao Thắng đem nghĩa quân từ Sơn trại xuống định đánh lấy thành Nghệ An, nửa đường đã tử trận. Năm ấy ông mới có 29 tuổi thôi.
 
Năm 1894-1895, tình hình cách mạng có phần suy vì ông Phan Đình Phùng mang bịnh chết ở trên núi, phong trào Văn Thân ở Nghệ An, Hà Tĩnh tan rã dần vì không ai có thể lãnh đạo được.
 
Sang năm 1896, Đề Thám lại hoạt động mạnh mẽ ở Yên Thế, trong tay Thám có độ 60 khẩu súng.
Cũng trong năm này, một sự kiện bất ngờ khiến cho Pháp quân tức tối và tinh thần cách mạng sôi nổi trở lại…
 
Vốn có một người tên gọi là Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm, còn nhỏ tuổi mà tài học phi thường. Người này được Thống Sứ Bihourd cấp dưỡng cho qua Alger (xứ Algérie) ăn học. Thống Sứ cứ đinh ninh rằng thế nào Kỳ Đồng cũng theo Pháp và sẽ không chống đối lại ông.
 
Không ngờ, Kỳ Đồng vẫn hành động trái lại và luôn luôn tích cực chống Pháp. Tinh thần cách mạng kháng thực không thể nào gột rửa được trong đầu óc của người thanh niên trẻ tuổi này.
Sang ăn học ở Alger từ năm 1887, lúc mới mười tuổi, đến năm 1896, Kỳ Đồng đỗ được bằng Tú tài khoa học lúc 19 tuổi.
 
Khi về nước, Kỳ Đồng liền mượn cớ lập đồn điền lập ấp tại Yên Thế nhưng thật sự là có ý chiêu tập đồng chí mà giúp đỡ cho Đề Thám.
 
Sau đó, Kỳ Đồng lại ra mặt hẳn chống Pháp. Khắp miền Nam Định, Thái Bình và Hải Dương vào khoảng cuối năm 1897 (hai năm sau khi thi đỗ Tú tài khoa học ở Alger và sau 1 năm về nước có phong trào gọi là “giặc Kỳ Đồng”.
 
Tòa sứ và trại giám binh Hải Dương luôn luôn bị kháng chiến quân tấn công dữ dộí. Biết là do Kỳ Đồng chủ mưu, Pháp quân liền tìm cách bắt Kỳ Đồng cho kỳ được và đày sang đảo Tahiti.
 
Bước sang năm 1898, phong trào kháng Pháp càng lúc càng mãnh liệt ở khắp các nơi.
 
Vào tháng chạp năm này, quân cách mạng Cần Vương nổi lên đột kích thành Hà Nội vào lúc một giờ khuya đêm 5 rạng ngày 6 tây.
 
Trận đột kích này rất dữ dội, nội công có một nhóm quân đầy đủ khí giới và số người rất đông đảo. Ngoại kích do nhóm quân của Đề Thám xung phong.
 
Pháp quân gồm hai thành phần cảnh sát và lính tập chống đỡ kịch liệt trong hơn hai tiếng đồng hồ, nghĩa quân cách mạng mới rút lui, để lại 4 xác chết, 8 người bị thương và 71 người bị bắt.
 
Cũng trong năm này, Đề Thám trá hàng người Pháp để củng cố lực lượng. Điều kiện quan trọng của ông là Pháp phải để cho vùng Yên Thế có quyền tự chủ, Pháp không được xâm phạm vào.
 
Trong lúc đó ông Phan Sào Nam cùng với các ông Đại Đẩu, Thần Sơn và Đặng thái Thần bàn định tiếp tục theo chân ông Phan Đình Phùng khởi binh kháng chiến trở lại ở vùng Hà Tĩnh nhưng suy đi tính lại vì không có đủ khí giới trang bị nên đành chịu bỏ dở ý định.
 
Bước qua thế kỷ XX, một tinh thần cách mạng mới đột khởi.
 
Các nhà nho bắt đầu nghĩ tới phương sách duy tân tự cường và bắt đầu bỏ lối học từ chương khoa cử chậm tiến ở trong nước, phong trào xuất dương du học khởi xướng từ đây.
 
Sau khi nhóm Mai Xuân Thưởng thất bại ở Bình Định, ông Tăng Bạt Hổ một chiến tướng tài ba của họ Mai thua buồn bỏ nước, xuất ngoại chu du qua các nước bạn như Xiêm, Tàu và Nhật.
Khoảng năm 1902-1903, ông trở về nước, cổ động thêm cho các nhân sĩ theo ông xuất dương để tìm cách cứu quốc hữu hiệu hơn.
Ông đã gặp cụ Phan Sào Nam rồi hai người dẫn đi khắp Nam Bắc mà tuyên truyền chương trình cách mạng mới.
 
Trong năm này, cụ Phan có gặp Đề Thám ở đồn Phồn Xương để thảo luận thêm.
 
Năm 1904 và 1905, cụ Phan Sào Nam tập hợp một nhóm đồng chí ở Sơn trang Nam Thịnh để thành lập Việt Nam Quang phục Hội”. Sơn trang này của ông Nguyễn Hàm ở tỉnh Quảng Nam.
Cụ Phan cùng các đồng chí tôn ông Kỳ ngoại Hầu Cường Để lên làm trưởng Hội.
 
Sau đó, cụ cùng ông Tăng Bạt Hổ sang Nhựt Bổn giao thiệp với các yếu nhân, chính khách tại đây để sửa soạn rước Kỳ ngoại Hầu sang Đông Kinh.
 
Thêm nữa, một số đông đảo nhân sĩ trong nước như cụ Phan Châu Trinh, các ông Tiến sĩ Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Nguyễn Thượng Hiền, Lương Ngọc Can, tất cả gồm có mấy trăm vị đã cùng cụ Phan Sào Nam thề nguyền đồng tâm hiệp lực lo cho quốc gia.
 
Trong khi ấy, ông Phan Tây Hổ vừa đỗ Phó Bảng đang làm chức Viên ngoại Bộ Công lại từ chức, đứng vào hàng ngũ cách mạng.
 
Đến năm 1906, các ông gồm có Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, Phan Châu Trinh, Phan Sào Nam và Đặng Tử Kính đã sang tới Nhựt liền gây ra phong trào Đông Du Cầu Học cứu quốc.
 
Đáp lời kêu gọi của phong trào, thanh niên Việt Nam đầu tiên đã bỏ nhà sang Nhật du học là ông Lương Ngọc Quyến, biệt hiệu Lập Nham.
Ông đã vào học ở trường võ bị Chấn Võ. Vài tháng sau, theo chân ông một số rất đông đảo thanh niên khác lục tục từ nước nhà trốn sang.
Đức Kỳ ngoại Hầu cùng cụ Phan Sào Nam phải lo xếp đặt nơi ăn chốn ở và công việc học hành của họ.
Kể từ đây, số nhân sĩ nước nhà ra ngoại quốc để vừa ăn học, vừa hoạt động cách mạng, cứu nước rất nhiều.
Trong lúc đó, cũng vào năm 1906, cụ Phan Tây Hồ ở Nhật về, vào ngày 15 tháng 8 có gửi công khai cho chính phủ Pháp một bức thư yêu cầu chính phủ Pháp phải thành thật và tận lực cải cách Việt Nam, diệt trừ những tệ đoan tham nhũng và mở mang tân học.
 
Năm 1907, các nhà nho duy tân đất Bắc như Dương Bá Trạc, Lương Ngọc Can, Đào Nguyên Phổ, Phan Tuấn Long, Lê Đại, Nguyễn Quyền, Đặng Kinh Luân, Phan Huy Thịnh vân vân… đã họp nhau lại mở trường tư tên là Đông Kinh Nghĩa Thục, bề ngoài là trường học, nhưng kỳ thật bên trong là một tổ chức cách mạng, lo việc tuyên truyền trong giới học sinh, tiếp tế các đồng chí ở ngoại quốc và phản đối những việc làm sai quấy của chính phủ Pháp.
Bởi vậy đến tháng chạp năm 1907, tức là ba tháng sau khi nhà trường khai giảng, nhà cầm quyền ra lệnh đóng cửa.
 
Trong lúc đó, phong trào cách mạng ở trong Nam cũng bùng sôi dậy. Cầm đầu là hai nhà ái quốc Gibert Chiếu tức Phủ Trần chánh Chiếu và ông Xã Định.
 
Qua tháng 6 năm 1908, một vụ đầu độc xảy ra tạí trại lính Pháp ở Hà Nội. Vụ này do nhóm Đội Bình, Cai Ngà, Chánh Song, Đội Hổ, có liên lạc với Đề Thám, tổ chức.
Họ định bỏ thuốc độc hại lính Pháp và để cho nhóm nghĩa quân Đề Thám ở bên ngoài tấn công vào thình lình để cho lính Pháp trở tay không kịp.
Nhưng, không may nội vụ bị đổ bể vì có kẻ tiết lộ… Chính phủ Pháp điều tra ra thấy có một số yếu nhân trong nhóm trường Đông Kinh Nghĩa Thục nhúng tay vào nên tức giận lên án rất gắt và đày ra hải ngoại một số rất đông.
 
Ở Trung kỳ, đám nhà nho duy tân nổi lên khởi xướng cho dân chúng tổ chức những cuộc biểu tình… Quan trọng nhất là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định và Thừa Thiên.
 
Riêng ở tỉnh Quảng Nam hàng ngàn dân chúng kéo đến tỉnh lỵ, yêu cầu bãi bỏ sưu thuế. Ở Bình Định dân chúng đều mặc áo cộc, đầu đội nón lá, lưng mang nồi niêu và lương thực kéo nhau đi khắp đường. Thấy ai mặc áo dài đen là họ áp nhau lại xé áo, cắt tóc ngắn rồi bắt nhập bọn với họ để biểu tình.
Vì vậy, nhóm người này bị gọi là “loạn đầu bào” hoặc là “vụ cúp tóc”… Trong những vụ này, hàng ngàn nhân sĩ Trung và Bắc phải bị bắt đi đày là ông Tiến sĩ Trần Quý Cáp bị xử chém ở Khánh Hòa.
Cũng trong lúc này, Đề Thám vẫn dùng lối du kích chiến làm cho Pháp quân điên đầu ở những trận tại Yên Thế.
 
Đầu năm 1909, vào ngày 28 tháng giêng, tức ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch niên hiệu Duy Tân thứ 3, Pháp mở cuộc tổng tấn công Yên Thế.
 
Thống sứ Bắc kỳ cho dán yết thị tại khắp các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên và Phúc Yên, tuyên cáo kể tội Đề Thám đã trá hàng với dân chúng.
Đề Thám phải bỏ đồn Phồn Xương, rút quân vào chiến khu trong rừng rậm, dùng lối du kích chiến lưu động để kháng cự lại Pháp quân.
 
Nhờ có những danh tướng như Cả Huỳnh, Cả Dinh, Cả Trọng hết lòng giúp sức nên Đề Thám đã làm cho Pháp quân khổ sở vô cùng.
 
Trong khoảng năm 1910 này những nhà cách mạng ở hải ngoại thêm một phen lận đận. Bởi Nhật đã ký thương ước với Pháp nên đuổi cụ Phan Sào Nam và du học sinh ra khỏi đất Nhật.
 
Vì vậy, các nhà cách mạng hải ngoại phải dời trụ sở từ Nhật sang Tàu. May mắn thay, lúc ấy có cụ Nguyễn Thượng Hiền đang ở Bắc Kinh và quen rất nhiều chính khách Trung Hoa nên cụ hết lòng giúp anh em sinh viên cách mạng bằng cách xin giấy thông hành dùm và cấp lộ phí.
Đến năm 1911 vào khoảng tháng 6, một cuộc âm mưu bị phát giác ở tỉnh thành Gò Công, tại Nam Kỳ. Cuộc âm mưu này mục đích chiếm lấy tỉnh lỵ và tàn sát tất cả người Âu Tây ở trong tỉnh…
 
Trong lúc này, chánh quyền Pháp đã ân xá cho ông Phan Châu Trinh ở Côn Lôn, đưa ông về Nam Kỳ được mấy tháng lại đưa ông sang ở bên Paris. Không bỏ mất một cơ hội may mắn, ông Phan Châu Trinh liền viết thơ gửi cho hội NHÂN QUYỀN để tố cáo những vụ án bất công đã xử vào năm 1909, sau vụ Đông Kinh Nghĩa Thục ở đất Bắc và phong trào “xin xâu, cúp tóc” ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định, Trung Kỳ… Năm 1913, vào tháng 3 dương lịch, hai đảng viên cách mạng ở hải ngoại là Phạm Văn Tráng và Nguyễn Khắc Cần về nước, ném bom ở Tháỉ Bình, giết chết Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn. Mấy hôm sau, hai người này lại liệng bom vào trong Hà Nội khách sạn (HÀ NỘI HOTEL) ở phố Hàng Trống, giết được hai võ quan Pháp là Chapuis và Mongrand. Ngoài ra còn có một người bị thương nữa.
 
Cũng trong năm này, còn có những vụ quan trọng khác xảy ra. Trước hết chính phủ thực dân đút lót một số của cải tiền bạc quý giá cho Đô đốc Long Tế Quang ở Quảng Đông (Tàu) để nhờ bắt cụ Phan Sào Nam giam lại và giải về Đông Dương. Rất may cho cụ Phan là nhờ có đảng cách mạng Trung Hoa sớm ra tay giải thoát được.
 
Vụ quan trọng kể tiếp là chính phủ thực dân lập hội đồng đề hình tại Hà Nội để xử những đảng viên cách mạng đã bị bắt, tất cả 120 người.
Họp vào tháng 9 dương lịch, Hội đồng đã lẻn án xử tử 14 người, trong số này có 7 người bị xử chém (có Nguyễn Khắc Cần và Phạm Văn Tráng trong vụ ném bom ở Thái Bình và Hà Nội). Còn 7 người kia thì vắng mặt vì chưa bị bắt: Trong số này có bốn vị: Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, cụ Phan Sào Nam, Lương Ngọc Quyến và Hàn Ninh tức Nguyễn Văn Thụy.
 
Vụ sau là vụ Đề Thám bị sát hại trong rừng sâu cách chợ Gò 2 cây số. Và đầu của ông bị bêu ở Nhã Nam…
Đề Thám chết, để lại cho người đời sau bao nỗi câm thù uất tức và bao nhiêu bài học kinh nghiệm về xương máu, đấu tranh…
 
Sau 54 năm đặt gót xâm lăng lên đất Việt (1859-1913), đoàn quân viễn chinh của thực dân Pháp đã sát hại bao nhiêu bực tài trí anh hùng của Việt Nam…
 
Hoàng Hoa Thám tức Đề Thám là một lãnh tụ cuối cùng của phong trào Cần Vương. Người ta đã tin cậy vào Đề Thám và coi Đề Thám như một tướng lãnh kỳ tài chuyên môn về lối du kích chiến, đã tiếp tục con đường đấu tranh gian khổ của Phan Đình Phùng.
Đề Thám chết, cái thời oanh liệt của phong trào sĩ tử Cần Vương cũng chấm dứt theo.
 
Tuy nhiên, trước Đề Thám có hàng vạn người đã ngã gục vì tranh đấu cho sự mất còn của dân tộc thì sau Đề Thám cũng còn có hàng vạn người khác nối gót theo, tiếp tục hi sinh cuộc đời cho cách mạng và vinh quang của dân tộc, tuy rằng hình thức đấu tranh có khác hơn phần nào.




0

CHƯƠNG II

 
Một nông dân áo vải
có chí anh hùng
và chiến khu Yên Thế
 
Hoàng Hoa Thám tên thật là Trương Văn Thám. Cha là Trương Văn Vinh ở thôn Lang Trung (Yên Thế). Mẹ tên là gì không được rõ chỉ được biết rằng là người làng Ngọc Cục gần thôn Lang Trung.
Năm 18 tuổi, Thám đã lấy vợ và sinh đưọc một con trai lên là Cả Trọng.
Năm 20 tuổi, Thám tình nguyện gia nhập vào đoàn nghĩa binh cách mạng do viên lãnh binh tỉnh Bắc Ninh Trần Quang Soạn điều khiển để chống Pháp.
Lúc này ông hăng hái chiến đấu bên cạnh những nhà cách mạng nổi tiếng như ông Nguyễn Thiện Thuật (làm Tán Tương Quân Vụ nên người ta cũng gọi là Tán Thuật) và Đề Kiều.
Năm 23 tuổi, Thám theo cha nuôi là Ba Phúc đi Vân Nam để vận động nghĩa binh rồi về giúp cho Cai Kinh ở Lạng Sơn.
 
Cai Kinh nhận thấy Thám còn trẻ tuổi mà có thiên tài về quân sự nên phong cho Thám làm Đốc Binh, vì vậy mà mọi người đã gọi Thám là Đề Thám.
 Vào ngày 6 tháng 7 năm 1888, Cai Kinh bị giết ở Lạng Sơn, Đề Thám liền qui tụ một số nghĩa quân để đánh phá các vùng Hiệp Hòa, Quế Dương, Võ Giàng, Việt Yên vân vân…
Bấy giờ, Pháp quân mới hãi kinh lo chống đỡ trước sức tấn công mãnh liệt như vũ bão của quân Thám.
Đồng thời quân Pháp cũng cho họa hình Thám dán khắp nơi để truyền rao treo giải: hễ ai lấy được dầu của Thám thì sẽ được thưởng to…
 
Tuy vốn là một nông dân áo vải, nhưng Thám có chí hơn người. Sinh ra giữa lúc Pháp quân dẫm gót giày xâm lăng lên trên đất nước Việt, và khi lớn khôn nhìn thấy cảnh máu rơi thịt đổ, non sông gấm vóc điêu tàn, người trai Việt không đành lòng ngồi không mà ngó.
 
Vì vậy, Thám không nề hà gian nan, nguy hiểm, không màng hạnh phúc vợ con đã sẵn an bày, và cũng không nản chí trước sự uy hiếp và đe dọa của thực dân.
Thám nhất quyết lao mình vào công cuộc trường kỳ kháng chiến, cùng hòa nhịp hi sinh với các đồng chí đang tranh đấu kháng thực rất gian lao ở khắp tam kỳ. Càng ngày, Thám càng bành trướng thế lực.
 
Đến tháng tư năm 1889, Thám đã qui tụ được hơn 500 tay súng can đảm và một số quân bạch binh đầy thiện chí…
Thám liền tập trung hai nhóm này lại ở làng Đình Thảo thuộc Nhã Nam để làm lễ tế cờ, khao binh và uống máu ăn thề. Xong, Thám chia quân ra lập đồn ải ở khắp vùng Phú Lạng Thương, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc Yên, Bắc Giang và chọn Yên Thế làm tổng hành dinh để kháng chiến lâu dài.
Ngoài ra, Thám còn liên lạc và qui nạp thêm một số giang hồ tứ xứ hoặc các anh hùng địa phương để gây thành một thế lực vừa mạnh mẽ bao quát vừa lâu dài.
Trong số người này, quan trọng hơn cả có Lương Tam Kỳ, Đèo Văn Trí, Lục A Sung, Bộ Giáp, Cai Mão vân vân…
Riêng Lương Tam Kỳ, cùng như Lục A Sung, vốn là một viên tướng sớm đầu tối đánh kiêm thổ phỉ thuộc giặc Cờ Đen hồi Lưu Vĩnh Phúc.
Hắn là người Tàu, sau khi thất bại ở những trận đánh tại các vùng Hoa Nam và bị binh triều đình Mãn Thanh rượt, hắn vượt biên giới Việt Hoa để qua miền Thượng du Bắc Việt rồi hùng cứ một mình một cõi ở quận Chợ Chu (Bắc Kạn).
Còn Đèo Văn Trí là người Thái, đứng đầu một khối dân thiểu số cũng ở miền Tây Bắc.
 
Hồi ấy, các dân tộc thiểu số này chiếm cứ mỗi nhóm một riêng biệt, ở các miền đồng núi.
Họ được triều đình Huế sắc phong đàng hoàng.
Nhưng, tới thời kỳ thực dân Pháp xâm lăng lãnh thổ Việt, muốn cho dễ cai trị và trọn quyền sinh sát, họ tìm cách chia rẽ những dân tộc thiểu số này với nhau và với cả triều đình Huế.
 
Chánh phủ thực dân cho các dân tộc thiểu số này được tự trị, như một nước nho nhỏ. Nghe qua tưởng chánh phủ thực dân đối xử tốt với các dân tộc thiểu số, chứ kỳ thật trong thâm tâm, chánh phủ thực dân muốn giết hại họ lần lần bằng cách để họ tự cấu xé, bắn giết lẫn nhau.
Vì chánh phủ thực dân cho quyền những kẻ đứng đầu một dân tộc thiểu số hay một khối được quyền mua súng ống, võ trang cho vùng đất mình chiếm ngự, được quyền thâu các sắc thuế như thuề chợ búa, thuề thân, thuể đất vân vân, được quyền buôn á phiện, được quyền tổ chức cờ bạc và trọn quyền sinh sát. Nghĩa là, họ có đủ quyền hành của một ông vua nho nhỏ, muốn làm gì thì làm, muốn gây hấn, tự tung tự tác với các dân tộc khác cùng được.
Vì vậy mà, các dân tộc thiểu số càng ngày càng chia rẽ nhau. Những mối thù hằn dần dần nẩy nở trong lòng họ.
Đối với Triều đình Huế, họ cũng không còn chịu liên lạc mật thiết và thường tỏ ý phản nghịch. Nhờ đó, chánh phủ thực dân mới dễ dàng cai trị.
Để cho những dân tộc thiểu số sát hại lẫn nhau trước thật tàn tệ rồi, chánh phủ thực dân mới ra tay thanh toán những phần tử, những dân tộc nào ương ngạnh còn lại.
Đoán biết được điều đó, Đèo Văn Trì mới nghiêng hẳn về phía nghĩa quân cách mạng Việt Nam để chống Pháp…
 
Còn những người như Bộ Giáp, Cai Mão là những tay anh hùng nổi lên ở từng địa phương một…
Ngoài ra, Thám còn một người nữa, rất tận tình tận lực giúp Thám. Người này vừa là đồng chí và vừa là người bạn trăm năm của Thám, tên là Đặng Thị Nhu (người ở làng Vạn Vân) mà người ta thường gọi là Cô Ba. Đặng Thị Nhu là người vợ thứ ba của Thám và là em gái nuôi của Thân Văn Luận tức là Thống Luận (có sách cũng gọi là Tổng Luận).
Thêm nữa, Thám còn có nhiều bộ tướng vừa tài giỏi vừa mưu trí thường sát cánh giúp đỡ như: Thống Luận, Tổng Trực, Ba Phúc (cha nuôi) vân vân… cùng hai người con của Thám là Cả Trọng, Cả Rinh…
Những người sau này cùng đồng tâm nhiệt huyết với Thám, cùng chia sớt với Thám bao nỗi gian nguy…
Chỉ có bọn thổ phỉ kiêm tướng giặc sớm đầu tối đánh Lương Tam Kỳ là phản loạn đã giết hại Thám sau này.
Tuy hợp tác với Thám, chúng còn bí mật bắt tay với Pháp để bán những tài liệu bí mật quân sự của Thám cho Pháp.
Những điều này chúng tôi sẽ có dịp nói rõ ở đoạn sau.
***
Sang năm 1890, Thám nhờ có những tay mưu trí dõng lược hết lòng trợ giúp nên gây được uy tín cá nhân đáng kể.
Bấy giờ, Thám một mặt chống Pháp một cách rất tích cực, một mặt chiêu mộ thêm một số thanh niên có chí đứng vào hàng ngũ nghĩa quân cách mạng.
Công việc quy tụ chiến sĩ chống Pháp này, Thám nhờ một phần lớn ở các tay anh hùng địa phương xúc tiến công việc như Đèo Văn Trí, Bộ Giáp Cai Mão, Ba Phúc, Tổng Trực vân vân…
Chính những người này cũng đem các tay bộ hạ đắc lực của mình cho Thám sử dụng. Lương Tam Kỳ thấy vậy cũng cho một số người của mình qua tăng cường thêm cho Thám. Hơn nữa, Lương Tam Kỳ đưa sang cho Thám hai người tâm phúc giỏi võ của mình để đặc biệt hộ tống và bảo vệ Thám ngày đêm.
 
Thấy vậy, Thám tưởng Lương Tam Kỳ ở với mình với tất cả tấm lòng chân thành, nên luôn luôn tin cậy mọi việc. Nhưng, Thám không ngờ rằng Lương Tam Kỳ rất gian xảo và hai tên tâm phúc của Lương Tam Kỳ gửi sang “gát đờ co” Thám kia là hai tên hung thần ngày đêm chực hại Thám bất cứ vào lúc nào.
 
Cũng trong năm 1890 này, chánh phủ thực dân nghe được thế lực của Thám nên hoảng sợ cử đại binh tiến đánh Thám.
Vì lúc đầu tổ chức huấn luyện chưa được qui củ, binh đội còn ô hợp, thêm nữa sức tấn công của quân viễn chinh Pháp rất mạnh mẽ, nhanh chóng và ồ ạt, nên Thám phải rút lui dần.
 
Quân Pháp tiến tới được gần đại bản doanh của Thám thì Thám đã cho nghĩa quân cách mạng phân tán vào rừng sâu nên Pháp không còn tấn công gì được nữa.
Chuyến thứ nhất này, Pháp tổn hại thật nặng. Vì không quen trận thế và đường đi nước bước trong rừng sâu đầy sình lầy nên binh Pháp chết rất nhiều.
Đến năm 1892, quân đội thực dân lại tấn công Thám một lần nữa, cũng tiến được tới đại bản doanh của Thám.
 
Lần này, quân đội thực dân bao vây chặt chẽ hơn, vì đã rút được kinh nghỉệm của kỳ tấn công hai năm về trước nên Thám phải khó nhọc lắm mới cho nghĩa binh rút lui được vào rừng.
Lần này cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề.
Nhưng Thám cũng rút thêm nhiều kinh nghiệm về chiến trận.
Thám cho chiêu mộ thêm anh tài ở khắp các nơi, luyện tập binh sĩ hẳn hoi, chuyên chú nhất về khoa du kích chiến lưu động. Từ đây, Thám mới tổ chức binh đội hoàn bị.
Thám lại cho đào thêm hầm hố, lập thêm đồn lũy chiến tuyến bao quanh vùng Yên Thế. Thám cũng cho người đi mua các loại súng ống, đạn dược mới của người Pháp và dự định trường kỳ kháng chiến với Pháp.
 
Kể từ đây, lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt lại được điểm thêm những nét son vàng và thực dân phải trải qua những chuỗi ngày lo sợ, không yên…
Ngoài ra, Thám còn nghĩ những kế hoạch dinh điền để nuôi quân trong thời kỳ kháng Thực và tổ chức buôn lậu để mua khí giới thêm ở bên Tàu đem về võ trang cho nghĩa quân.
 
Nhận thấy dùng võ lực quân sự để đánh dẹp nghĩa quân của Thám không được, Pháp liền dùng đến những đòn chánh trị đặc biệt và mặt trận chiến tranh tâm lý song song với những công tác hành quân đại quy mô của binh đội.
Pháp liền cử Tổng đốc Lê Hoan tìm cách chia rẽ nghĩa quân bằng những hành động gian trá. Lê Hoan tổ chức những vụ ám sát trong hàng ngũ nghĩa quân rồi tuyên truyền khủng bố dân chúng.
Năm 1893, Tổng đốc Lê Hoan dụ dỗ Ba Phúc (cha nuôi của Thám) đầu hàng rồi tổ chức cuộc ám sát Thám.
 
Nhưng tổ chức này bị bại lộ, tương kế tựu kế, Thám mai phục đánh úp lại vào khoảng 15 tháng 5 năm 1894, khiến cho Pháp quân và lính khố xanh vừa chết vừa bị thương khá nhiều.
Sáng tháng 8, Thám lại cho xây đắp đồn lũy và đào chiến hào khắp vùng Yên Thế một lần nữa, nhất quyết phòng thủ lâu dài ở vùng này.
 
Mặt khác, Thám lại sai Đốc Kế, Thống Luận, Đề Huỳnh, Lĩnh Túc, Đốc Thu cùng với nhóm nghĩa quân của Bàng Kình tấn công các đồn lẻ tẻ ở vùng Phú Lạng Thương.
Đồng thờí, Thám cũng ra lệnh cho tấn công các đường giao thông chánh mà quân đội Pháp thường vận tải tiếp tế, cốt để làm suy yếu dần dần các chủ lực quân quan trọng của Pháp gần Yên Thế…
 
Chánh phủ Pháp liền ra lệnh cho đại tá Grimaud kéo quân đi dẹp nhưng bị thất bại nặng nề ở Bố Hạ nên đại tá Grimaud phải rút quân về.
***
Năm Tự Đức thứ 36, tức năm dương likch là 1882, Cai Kinh đã phái cha nuôi của Thám là Ba Phúc đến Yên Thế tổ chức khu này thành một chiến khu thứ 3, sau Lũng Lạt (Cai Kinh) và Kẽ Thượng (Ba Ký).
Ba Phúc vào Yên Thế, có Thám theo giúp đỡ rất đắc lực nên chẳng bao lâu đất Yên Thế trở thành một hiểm địa quan trọng bực nhất, đã chôn thây của hàng vạn quân binh trong đoàn quân viễn chinh thực dân vào lúc bấy giờ.
***
Thuộc vào miền Trung Châu Bắc Việt, Yên Thế cách Hà Nội lối chừng 50 cây số ở về phía Tây Bắc.
Khu vực Yên Thế nằm trọn vẹn giữa dãy núi đá Cai Kinh (Bắc Giang và Lạng Sơn) cùng với dãy núi trùng trùng điệp điệp ở miền thượng lưu sông Thương và sông Cầu.
Yên Thế có hai vùng: Vùng thượng và hạ, mà người ta thường gọi là Thượng Yên và Hạ Yên.
Vùng Thượng Yên là những rừng và rừng… Rừng ở đây rất rậm, cao từ 100 đến 150 thước.
Vùng Hạ Yên là vùng đồng bằng có ruộng xanh, rộng bát ngát. Làng mạc ở đây cũng nhiều, thôn xóm đông đúc, cây cối một màu xanh tươi. Lác đác trong vùng Hạ Yên có một số đồi, cao chừng 50 thước trở lại mà thôi.
Yên Thế có cảnh vật khác hẳn các khu vực đồng bằng thường và hơn nữa cũng không giống cảnh đồi núi hùng vĩ của miền rừng Thượng Du.
Các khu rừng Yên Thế có cây cối rậm rạp vì dày mịt những lá cành, có nhiều lau lách và các loại nứa, tre chằng chịt khắp nơi. Những loại cây này giăng mắc, chằng chịt đến nổi che cản được bóng nắng của mặt trời.
Có thể nói là gần như không có một chỗ nào ánh sáng nắng được rọi tới mặt đất. Vì vậy mà, rừng Yên Thế rất ẩm ướt dầy rẫy những loại muỗi mòng, vắt, rắn rết và cùng những loại côn trùng nhỏ độc địa… Trong một năm rừng Yên Thế chỉ hơi khô ráo được có lối 4 tháng trở lại mà thôi.
Tất cả các nơi trong rừng đều ngột ngạt, đầy chướng khí, độc địa. Những ai rũi lở bước lạc vào đều có thể bị vướng những chứng bịnh khó chữa trị, có thể chết bất ngờ.
Rừng Thượng Yên quả thật là một địa ngục trần gian, là vùng đất chết của dòng họ Thực.
Phía Tây Yên Thế giáp với Bắc Kạn và Thái Nguyên còn phía Đông giáp Lạng Sơn. Phía Nam giáp Bắc Giang và Đáp Cầu - Bắc Ninh. Còn phía Bắc thí dính vào Thất Khê và Cao Bằng. Nơi đây là một vùng núi non hiểm trở cheo leo. Ghềnh thác quanh co và có những đường ăn lòn qua miền đất thuộc nước Tàu dính vào nhau như màng nhện.
Cả Kinh đã chọn nơi này làm chốn dụng võ khởi binh kháng Thực thật là người tinh tế.
 
Đã vậy, người nối chí, đi theo con đường của Cả Kinh là Đề Thám lại càng tinh tế, tài tình hơn. Vì Đề Thám đã biết sử dụng khéo léo được tất cả các ưu điểm về địa hình, địa vật ở đây trong thời gian 31 năm trời kháng chiến (1882 - 1919).
Đề Thám đã biến Yên Thế thành một chiến khu có hai đặc điểm rất lợi hại về mặt quân sự: Hiểm trở và thông suốt. Nhờ đó, nghĩa quân có thể giữ thế công hay thế thủ cũng được dễ dàng.
Như vậy, Yên Thế đã có được hai đặc điểm lợi hại nhất trong 6 địa hình binh pháp. Nhất là, hai đặc điểm này rất thích hợp với lối đánh du kích sở trường của nhóm nghĩa quân cách mạng.
Tại nơi này, nghĩa quân có thể tiến thoái bất cứ vào lúc nào và có thể làm cho địch quân không thể nào xoay trở được.
 
Nhờ những đặc điểm kể trên mà bắt đầu từ năm 1886, nghĩa binh càng lúc càng bành trướng thêm lên. Thường, nghĩa binh phát xuất từ nơi đây để đi chặn đánh những chuyến xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn hoặc những chuyến ngược lại. Những chuyến xe lửa này là mạch máu giao thông của quân đội Pháp từ đồng bằng lên miền Thượng Du Bắc Việt.
Ngoài ra, nghĩa quân còn uy hiếp thường xuyên các đồn Pháp đóng lẻ tẻ ở vùng đồng bằng, Trung châu và nhất là các vùng Bắc Ninh và Bắc Giang cùng Vĩnh Phúc Yên.
Các đồn Pháp ở những nơi này luôn luôn phải đặt trong tình trạng nguy ngập báo động.
Thêm nữa, những chiến lũy của nghĩa quân từ trong rừng sâu, cứ lần lần rộng mở tầm hoạt động đến tận Đáp Cầu (Bắc Ninh) khiến cho các vị chỉ huy quân đội Pháp lúc nào cũng lo ngại.
Bởi, những nơi này lại là những yếu điểm quan trọng của Pháp có nhiều đồn binh đống gần nhau nhưng rất mong manh.
Vì vậy, chiến khu Yên Thế đã làm thất điên bát đảo chánh phủ và quân đội Pháp trong một thời gian 20 năm dài (bắt đầu từ năm 1890 đền 1910).




0

CHƯƠNG III

Tử Lũng Lạt đến Yên Thế
Hay là:
Chung quanh con đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn.
 
 
Năm 1888, Pháp đã chiếm đóng hoàn toàn khắp vùng đồng bằng Trung châu Bắc - Việt, sau 3 năm lấy được Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
Lúc nay, nghĩa quân Cần Vương vẫn hoạt động mạnh mẽ ở khắp miền thượng Trung châu và khắp miền Thượng du Bắc Việt-
Nghĩa quân thường chận đánh phá các đường giao thông tiếp tế chính của Pháp quân từ miền đồng bằng lên miền Thượng du như con sông Thương từ Hải phòng lên Phú Lạng Thương (Bắc Giang) và con đường quốc gia số 4 từ Phú Lạng Thương lên Lạng Sơn, Cao Bằng, nhất là dọc theo con đường quốc gia số 4 từ Suối Ghềnh, Làng Nác, Mẫu Sơn ở phía Đông và suốt phía Tây dãy núi Cai Kinh.
 Vì vậy việc tiếp tế của Pháp thường bị khó khăn luôn. Sự thiệt hại về vật chất rất là trầm trọng.
 
Chánh phủ Pháp quyết định khởi công đặt một con đường xe lửa nối liền Hà Nội và Lạng Sơn với mục đích tăng cường quân đội trong công việc tiếp viện quân nhu, quân trang cho các đạo binh chiếm đóng tại các miền Việt Bắc và tại biên giới Hoa Việt.
Khởi công vào năm 1888, 7 năm sau con đường sắt này mới hoàn thành được (1895).
Nhận thức được rõ vai trò quan trọng của con đường sắt này, các nhóm nghĩa quân đều tập trung tất cả lực lượng về Lạng Sơn và Phủ Lạng Thương để đánh phá khiến cho Pháp quân càng thêm tổn hại nặng nề về nhân lực cũng như về quân trang, võ khí.
Tức giận, Toàn quyền Lanessan liền ra lệnh tiễu trừ tận gốc tất cả các tổ chức kháng chiến (vào năm 1891) để cho công việc đặt đường xe lửa được dễ đàng.
Trong lúc đó, chánh phủ Pháp lại phái Đại tá Galliéni qua Việt Nam với nhiệm vụ… bình định các tổ chức kháng chiến và cách mạng.
Vị Đại tá này đã từng nổi danh trong công cuộc… bình định các tổ chức kháng chiến dũng cảm của nghĩa quân Soudan trong mấy năm trước.
Vào tháng 12 năm 1893 Đại tá Galliéni được cử chỉ huy đạo binh thứ nhì, trong bốn đạo binh Pháp thuộc miền Thượng du Bắc Việt ở Lạng Sơn với đặc trách bảo vệ con đường xe lửa nói trên và bình định khu vực Cao Bằng và khu vực Lạng Sơn.
Đạo binh thứ hai này nằm dọc theo biên giới Hoa Việt (ở phía Quảng Tây) với những pháo lũy tại Cao Bằng, Na Chầm, Lạng Sơn, Đồng Đăng và Thất Khê…
Vùng này một phần lớn thuộc về các dân tộc thiểu số như Thái, Thổ, Mán, Nùng, vân… vân… chiếm ngự.
Ở đây thật là… loạn!
Vì các dân tộc thiểu số còn lạc hậu và núi rừng, ghềnh thác hiểm yếu, một bọn cướp Tàu như Lục a Sung, Trương Tam Kỳ ở Trung Hoa tràn sang hoặc bọn thổ phỉ địa phưong nổi lên, mượn danh nghĩa giúp quân Cần Vương cách mạng, chúng cướp bóc khắp nơi, sinh sát mạng người coi không ra gì, làm cho ô danh, xấu tiếng các nhóm người xả thân vì nước và chính nghĩa không ít.
Trong lúc đó vì bận đánh phá dọc theo đường xe lửa từ Làng Nác tới Suối Ghềnh mà các nhóm nghĩa quân đành để cho bọn thổ phỉ làm loạn rất là tai hại.
 
Lại nữa, tại Lũng Lạt (Lạng Sơn), căn cứ thứ nhất của Cai Kinh ngày trước (Cai Kinh bị giết vào năm 1888, ngày 6 tháng 7 năm dương lịch) viên chỉ huy nghĩa quân tại căn cứ này là Hoàng Thái Ngân dung túng bọn thổ phỉ và chứa chấp chúng ở ngay tại bản doanh nên khiến cho đồng bào địa phương ca thán, oán ghét.
Thật là nguy hiểm, tinh thần cách mạng và chính nghĩa thật sự của nhóm nghĩa quân đã bị đồng bào hiểu lầm.
 
Tất cả những sự việc này đều không lọt qua khỏi tai mắt của viên Đại tá Pháp, vì đấy là những yếu điểm của nghĩa quân trước tâm lý và dư luận quần chúng, nhất là trước số quần chúng chậm tiến, kém hiểu rộng nhìn xa.
Ngay khi ấy, một vụ quan trọng xảy ra trên con đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn. Một số người Pháp bị giết chết làm đình trệ công việc đặt con đường sắt này một thời gian. Thêm nữa ba người Pháp khác tên là Bouyer, Roty và Humbert Droz bị nghĩa quân bắt cóc để đòi tiền chuộc mạng.
Nghe tin, Đại tá Galliéni nhất quyết mở một cuộc hành quân vào khu Lũng Lạt.
Lúc ấy Lũng Lạt đã có một số nghĩa quân hùng hậu và 1.300 tay súng. Số nghĩa quân nói trên một phần lớn đều xử dụng song đao mã tấu và cung, nỏ.
Nếu đánh dẹp được Lũng Lạt, quân Pháp sẽ bảo vệ được đoạn cuối cùng của con đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và sẽ làm chủ tình hình cả vùng núi Cai Kinh.
Đại tá Galliéni liền xua tất cả ba cánh quân hùng hậu với hàng vạn binh sĩ tinh nhuệ vào chiến cuộc.
Thêm nữa, Đại tá còn huy động thêm một toán lính cơ của Tri Huyện Lục Nam xung vào càn quét vùng Bảo Đài.
Ngày 6 tháng 12, Đại tá thân hành đến Phủ Lạng Thương và hạ lệnh cho Thiếu tá Barre đi do thám tình hình của nghĩa quân.
Khi ấy, nghĩa quân từ Len Đài rút về Lũng Lạt có mang theo cả ba tên người Pháp bị bắt cóc là Bouyer, Roty và Humbert Droz.
 
Rút về Lũng Lạt, nghĩa quân liền chia binh ra chuẩn bị ngay việc phòng thủ. Tất cả nghĩa quân được chia ra với số hàng tay súng như sau:
Cả thảy gồm có một đơn vị chỉ huy, bốn đội binh tác chiến, hai chi đội án ngữ, một tiểu đội canh phòng và một số quân trinh sát được biệt phái đi canh gác ở các ngọn núi lân cận.
Đơn vị chỉ huy gồm có 40 người ở tại Tổng hành dinh.
Bốn đội binh tác chiến, mỗi đội có 200 tay súng đủ đạn dược.
Hai chi đội án ngữ mỗi chi có 100 tay súng, án ngữ tại hai ngả chính vào Lũng Lạt một ngả phía Hung Liên và một ngả phía phố Bình Gia.
Tiểu độỉ canh phòng thì đóng giữ ở gần Bắc Sơn, nơi có dân chúng thường qua lại nhiều.
Còn số quân trinh sát sau rốt thì biệt phái đi lên các ngọn núi cao kế cận để nhìn ra khắp vùng mà quan sát tình hình tấn công của Pháp quân.
Tại trung tâm Lũng Lạt có 4 góc sát thành núi. Mỗi góc do một đội tác chiến nói trên đóng giữ.
Mặt trận dài khoảng 4.200 thước và rộng 600 thước. Địa thế rất hiểm trở núi rừng chớn chở, đường đi khó khăn, các đoàn xe vận tải của quân đội Pháp tiến vào được cũng gian lao vất vả lắm.
 
Đối với các đoàn xe lửa từ miền Trung châu lên miền Thượng du Bắc Vỉệt, khi đi ngang qua, đây quả là vùng kinh khủng nhất.
Đúng ngày 8 tháng 12 năm 1893, Đại úy Delaunay dẫn một trung đội lính Pháp tiến sâu vào đất Trấn Yên liền bị nghĩa quân phục kích.
Đại úy Delaunay bị nghĩa quân bắn chết tại trận tiền cùng với ba tên lính Pháp còn lại.
Vị chỉ huy đã chết, lính Pháp như rắn mất đầu, kinh hoảng chạy toán loạn. Nghĩa quân rượt theo, bắn giết thêm được một số khá đông.
 
Trong lúc đó, sau khi đánh chiếm được Len Đài, Thiếu tá Barre liền chia quân binh ra làm ba cánh, tiến vào ba ngả Hung Len, Trấn Yên và Bãn Lộ.
Khi ba cánh quân này chưa hội lại tại mục tiêu sẵn định thì đã bị nghĩa quân nhanh nhẹn ra tay trước. Cánh quân đi vào ngỏ Trấn Yên do Đại úy Brodiez chỉ huy đụng phải nhóm nghĩa binh dũng cảm, đã từng chiến thắng và bắn chết Đại úy Delaunay trước đó mấy hôm.
Đại úy Brodiez cùng binh sĩ dưới quyền mình bị nghĩa quân bao vây quá gắt, mất đường tiếp tế, buộc lòng phải thoái lui, rút khỏi đất Trấn Yên.
 
Đến đêm 13 rạng ngày 14 tháng 12 dương lịch thì cánh quân của Đại úy hết lương thực và gần hết cả đạn dược.
Đại úy phải liều chết chạy thoát thân về Trí Lệ, bỏ cả khí giới cùng quân trang, quân cụ ngoài mặt trận.
Được tin này, Đại tá Galliéni tức giận điện tin triệu hồi Thiếu tá Barre về gấp và hỏa tốc hạ lệnh cho Trung tá Chapelet lên Hung Len chỉ huy quân binh thay Thiếu tá Barre.
 
Bấy giờ, Đại tá Galliéni mới bắt đầu lo sợ và kiêng nể nghĩa dũng quân kháng chiến Việt Nam. Điều mà Đại tá lo ngại nhất là mặt tiếp tế.
Thật là một vấn đề hết sức khó khăn và gay go. Vốn là một vấn đề không những cần thiết, mà lại còn cấp bách nhưng gần như nan giải.
 
Bởi, khi mở một cuộc hành quân sâu rộng vào chốn rừng núi cheo leo, rậm rạp, nguy hiểm không phải là chuyện dễ dàng khi tiếp tế, tiếp viện.
Sức người chiến binh dầu sao cũng có hạn, còn bắt dân phu địa phương thay thế hoặc giúp đỡ người lính chiến xâm lược thì nhất định thế nào cũng gây thêm sự bộc phát phản đối, và sẽ gặp phải một sức chống trả mãnh liệt của dân chúng địa phương.
Thêm nữa, những kho quân lương, quân nhu của Pháp ở những nơi gần mặt trận lại làm sơ sài, mái lợp bằng lá, vách và hàng rào lại làm bằng gỗ, quan quân canh gác khó lòng mà giữ gìn yên ổn, trọn vẹn được.
Thật vậy, vào đêm 10 tháng 12 dương lịch, nghĩa quân đã xung phong đột kích kho quân nhu, quân trang Than Moi và đốt cháy tiêu được kho này.
Trước hiện tình gay go, tiến thoái lưỡng nan này, Đại tá Galliéni phải tạm ngừng xúc tiến kế hoạch tấn công Lũng Lạt lại một tháng.
Lúc này, Đại tá Galliéni điên đầu với nghĩa quân hơn bao giờ hết. Nhiều lúc gặp những khó khăn do các cơ quan hành chính gây ra và gặp những vấn đề mà thượng cấp làm lơ bởi không giải quyết ổn vấn đề, Đại tá cau có, đòi từ chức luôn, phó mặc chương trình bình định cho chánh phủ Thực dân.
Qua đến tháng 1 năm 1894, Đại tá mới được yên lòng, xúc tiến lại công việc. Trước hết, Đại tá bắt dân phu địa phương tiếp tế và cất lại kho quân nhu, quân lương cho được chắc chẳn hơn.
 
Đại tá Galliéni lại chia cho ba cánh quân có ba đoàn tiếp tế riêng biệt. 3 đoàn này cứ theo sát đuôi ba cánh quân nói trên.
Đại tá đích thân chỉ huy trực tiếp một cánh, còn hai cánh kia thì giao cho Trung tá Chapelet và Thiếu tá Famin, mỗi người chỉ huy một cánh.
 
Trước khi xuất quân, Đại tá nghiên cứu trận địa rất kỹ lưỡng để cải cách kỹ thuật hành quân lại cho thật phù hợp và tăng cường quân lương cùng trang bị ba cánh quân đồng đều như nhau.
Xuất quân vào 8 giờ sáng ngày 9 tháng 1 năm 1894, Đại tá Galliéni chia cho ba cánh quân ba ngả để đi vào Lũng Lạt và ra quân kỷ luật thật nghiêm. Không một binh sĩ nào được phép bỏ rơi đồ vật rơi rớt hay để dấu tích lại trên đường hành quân.
 
Đại tá định đánh úp Lũng Lạt bất ngờ nên ra lệnh cho các vị chỉ huy tuyệt đối giữ bí mật quân sự nhất là ngày giờ tiến binh và hướng xuất quân.
Nhưng, nghĩa quân vẫn biết trước được rõ một vài hành động của tất cả ba cánh quân nói trên. Vì Đại tá Galliéni có ngờ đâu rằng nghĩa quân đã có một ban trinh sát tài tình và 4 ‘‘đài quan sát’’ của nghĩa quân các ngọn núi cao gần trận địa rất là đắc lực.
 
Khi ba cánh quân của Đại tá còn ở đàng xa thì đài quan sát đã thấy được và nghĩa quân được báo động để chuẩn bị giao tranh ngay.
 
Vả lại, đơn vị kỵ binh và pháo binh của Đại tá đã bị nghĩa quân khám phá ngay khi mới vừa đặt bước chân đầu tiên vào ven rừng…
Nhận thấy lực lượng của ba cánh quân địch thật hùng hậu, các đơn vị nghĩa quân canh phòng ở các tiền đồn đều rút lui nhanh chóng về trung tâm Lũng Lạt để tổ chức lại thế thủ và tăng cường thêm cho 4 đội tác chiến.
 
Những tiền đồn ở Mõ Nhai và Trấn Yên đều bỏ trống, nghĩa quân không chú trọng ở các nơi này nữa. Khi Pháp quân vào tới thì không còn một bóng người thấp thoáng.
Không một tiếng nổ giao tranh
Trong lúc đó, Hoàng Thái Ngân, chỉ huy tất cả nghĩa quân ở khu Lũng Lạt, Cai Kinh đã dự tính, nếu gặp trường hợp nguy kịch, sẽ ra lệnh cho nghĩa quân rút lui, bỏ Lũng Lạt theo con đường phía Tây mà qua địa phận của Lương Tam Kỳ…
 
Với ý định này, Hoàng Thái Ngân ra lệnh cho tất cả nghĩa quân cố đánh một trận cho thật quyết liệt rồi rút lui.
 
Trước ngày Pháp quân xuất binh tấn công, Hoàng Thái Ngân cũng đã ra lệnh phóng thích ba tên Pháp bị bắt là Bouyer, Roty và Humbert Dioz.
Trong lúc tất cả mọi người tin tưởng vào con đường rút lui ở phía Tây và đinh ninh rằng Pháp quân thế nào cũng theo ngả Trấn Yên mà tiến vào như hai lần trước nên tất cả các lực lượng đều hướng về Trấn Yên và Bắc Sơn; không ngờ cánh quân của Thiếu tá Famin lại đi bọc hậu rồi vòng qua ngả phía Tây mà tiến vào tấn công, khiến bít mất con đường thoát thân duy nhất của nghĩa quân.
 
Cùng một lúc, hai cánh quân của Trung tá Chapelet và Đại tá Galliéni ào tới khép chặt vòng vây.
Thế là nghĩa quân như thể đàn gà bị vít vào một góc chuồng.
Súng bắt đầu nổ từng loạt.
Nghĩa quân núp sau các pháo lũy che đậy bằng thân cây và cố cầm cự ở Hưng Vũ và Tràng Lang.
Tuy bao vây được nghĩa quân, Đại tá Galliéni cũng không hạ lệnh cho tất cả ba cánh quân đổ xô vào sát phạt mà chỉ đánh cầm chừng.
Nghĩa quân cũng cố chống cự lại để tìm cơ hội mở một con đường máu.
Chiến cuộc kéo dài từ sáng đến tối, tình trạng vẫn bắn cầm chừng vì Pháp quân cứ dè dặt, không dám tiến.
Đến 11 giờ đêm, sương khuya rủ xuống khu rừng rậm rạp một màn hơi nước lờ mờ trong cảnh đen tối chập chùng.
Núi rừng vẫn đầy hơi khói, hãi hùng:
Trước tình thế này, nghĩa quân chụp lấy cơ hội, chia ra từng tốp năm bảy người, bỏ pháo lũy rút lui, chạy tán loạn…
Trong đêm tối, nghe tiếng động hỗn độn Pháp quân không thấy rõ gì cả nhưng cũng hoảng kinh cất súng bắn bâng quơ cầm chừng…
Thế mà, nghĩa quân trúng đạn tử trận cũng rất nhiều.
Đến lúc trời vừa tờ mờ sáng, Đại tá Galliéni mới hạ lệnh cho ba cánh quân tiến vào Lũng Lạt thì thấy Lũng Lạt chỉ là một vùng bỏ hoang, nhà cửa xơ xác, vắng ngắt không một bóng người.
Pháo lũy, chiến tuyến, hầm hố đều đổ nát.
Trên các con đường ăn thông qua Vũ Sơn, Vũ Lệ, Vũ Đích và Chợ Mới, xác của nghĩa quân tử trận bỏ rơi vô số, chứng tỏ một cuộc rút lui hỗn độn, rất thảm não của đám tàn quân chiến bại.
Đại tá Galliéni không chậm trễ một phút liền hạ lệnh đuổi theo truy nã gấp rút.
Thật không may cho đoàn nghĩa quân. Vì trước kia Hoàng Thái Ngân và nghĩa quân đã chứa chấp bọn thổ phỉ làm bậy nên làm cho dân chúng ở địa phương lân cận như Vũ Đích, Vũ Sơn, Vũ Lệ và Tam Trì oán thù nên nhân dịp này họ hợp nhau lại mai phục ở khắp các ngả đường trọng yếu và chặn đường rút lui của nghĩa quân.
Vì vậy, Hoàng Thái Ngân cùng với một số rất đông nghĩa quân bị sa vào ở phục kích và bị dân chúng ở Vũ Đích bắn chết.
Ở Yên Thế, Đề Thám hay tin này rất trễ, mấy ngày sau mới ra lệnh cho một đội nghĩa quân từ Trí Lễ hỏa tốc lên tiếp cứu.
Chính lúc này, Đề Thám cũng chưa hay Lũng Lạt đã bị Pháp quân chiếm đóng và cũng không dè rằng việc các đoàn dân chúng ở các vùng Vũ Đích, Vũ Sơn, Vũ Lệ và Tam Trì sở dĩ có súng ống đạn dược đủ để võ trang mà mai phục đám tàn binh nghĩa quân là vì Pháp quân đã lợi dụng ngay mối thù hằn của họ mà cấp phát cho. Đồng thời cũng chính Đại tá Galliéni xúi giục họ mai phục nghĩa quân.
Khi đoàn nghĩa quân của Thám lên tới Trấn Yên liền bị cánh quân của Trung tá Chapelet chặn đánh bất ngờ.
Trước hỏa lực quá mạnh của Pháp quân, nghĩa quân phải thối lui chạy tán loạn trong khi đội sơn pháo 80 ly của Pháp quân nả bắn theo dữ dội như trời long đất lở.
Qua ngày 22 tháng 1, Pháp quân hoàn toàn “bình định” xong vùng Lũng Lạt (Cai Kinh).
Đại tá Galliéni liền cho xây một loạt pháo đài, đồn trại tại các nơi trọng yếu, nguy hiểm ở trên các ngọn núi để chiếm đóng tại các ngả giao thông và làng mạc đông đảo.
 
Lũng Lạt đã mất, Yên Thế ở vào một tình thế thật nguy hiểm, luôn luôn đặt trong một tình trạng báo động.
Vì Lũng Lạt và Yên Thế là hai điểm quan trọng rất có liên hệ với nhau, như thể cánh tay trái và cánh tay mặt.
Cánh tay mặt đã hỏng, bị bỏ đi thì cánh tay trái lưyện tập, cố gắng nhiều lắm mới có thể vận động bằng cánh tay mặt được.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

CHƯƠNG IV

Lần thứ nhất
Đề Thám tạm thời
cầu hòa với Pháp
 
Sau ngày Lũng Lạt lọt vào tay Pháp quân, Yên Thế càng lúc càng lâm vào tình trạng nguy ngập.
Ba tháng sau, tức là vào tháng 4 năm 1894, nhận thấy thực lực của nghĩa quân chưa còn sức chống chọi lại Pháp quân, dưới quyền chỉ huy của Đại tá Galliéni, Đề Thám tính chuyện tạm thời cầu hòa với Pháp.
Vả lại, đất Yên Thế đã từng có xày ra những cuộc chạm trán nảy lửa, như trận bốn năm về trước (1890), tuy tướng Godin không thắng nổi nghĩa quân và trận 1892, Pháp quân tổn hại cũng nhiều, nhưng nghĩa quân cũng phải vất vả, gian lao lắm mới giữ vững được đất này.
Ở địa phận Bắc Ninh có vị giám mục tên là Valesco có rất nhiều uy tín với nhà chức trách Pháp.
Lợi dụng ngay vai trò quan trọng của vị giáo sĩ này, Đề Thám khéo léo đưa thương nghị cầu hòa.
Nhờ có lời nói vào của giáo sĩ Valesco, chánh quyền Pháp đặc biệt lưu ý và có phần ôn hòa…
Trong việc cầu hòa này, Đề Thám đã gặp đúng lúc tình hình nội bộ Pháp có sự thay đổi.
 
Lúc đó, Toàn quyền Lanessan vì một lỗi lầm nhỏ nhặt, là cho người phụ tá xem một tập tài liệu mật, nên bị chánh phủ Pháp triệu hồi về nước gấp rút.
Đồng thời chánh phủ Pháp cũng bổ nhiệm một vị toàn quyền mới tên là Rousseau.
Cuộc thay đổi người nắm vận mạng guồng máy chánh trị của Pháp tại Việt Nam này kéo dài trong một thời gian khá lâu.
Đề Thám nhân cơ hội nội tình Pháp lủng củng, đề nghị cầu hòa mà còn “bắt bí” Pháp hai điểm quan trọng.
- Pháp phải trả cho nghĩa quân Yên Thế 15.000 đồng để chuộc hai công dân Pháp tên là Logion và Chesnay đã bị bắt cóc trên một khoảng đường sắt trước đố.
- Pháp phải nhìn nhận để cho Đề Thám làm chủ một vùng đất gồm 22 làng với 2.600 xuất đinh ; cùng số ruộng nương trù phú ở Yên Thế.
Đề Thám xin cầu hòa mà… “chơi nước trên” với Pháp.
Trong lúc “lép vế”, Pháp đã nhận những điều kiện với hai điểm quan trọng trên.
Hay tin này, kiều dân Pháp, tư nhân cũng như người trong chánh quyền nhất là hàng quan binh trong quân đội viễn chinh đều tỏ lòng công phẫn.
Riêng các tướng lãnh cao cấp, như Đại tá Galliéni, đã từng dày công cầm quân đánh dẹp nghĩa quân, bất mãn nhà cầm quyền cao cấp Pháp hơn bao giờ hết.
Trong khi ấy, bên ngoài Đề Thám vẫn tỏ ra trung thành với Pháp nhưng bên trong cố gắng tăng cường lực lượng nghĩa quân kháng chiến một cách âm thầm nhưng mãnh liệt và rất tích cực…
 
Về phía hàng ngũ quân đội Pháp, các cấp chỉ huy cũng thừa hiểu mục đích thỏa hiệp của Thám. Chẳng qua đó là công việc tạm thời của kẻ đã có chí quyết làm cho nên việc.
Bởi vậy họ cũng đang chuẩn bị… Tạm thời rỗi rảnh, khỏi bận tay đánh dẹp miền Trung châu, họ tổ chức ngay một chương trình tấn công, nhưng không đổ máu, thật sâu rộng ở miền Việt Bắc dọc theo biên giới Việt Hoa.
Bên này, Đề Thám cũng không ngừng hoạt động. Song song với công cuộc âm thầm tăng cường lực lượng nghĩa quân ở Yên Thế Thượng, Thám lại tổ chức ngấm ngầm một lực lượng nghĩa quân nằm trong lòng địch, ngay trong hàng ngũ binh đội Pháp, để có dịp sử dụng ngón đòn nội công ngoại kích…
***
Năm 1895, con đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn đã hoàn thành. Xe lửa bắt đầu chạy để tiềp tế cho quân đội Pháp thường xuyên ở miền Thượng du.
Thế lực của quân đội Pháp càng ngày càng mạnh mẽ.
Vào tháng 4 năm này, đại tá Galliéni thân hành đi thanh tra các vùng từ Lạng Sơn tới Cao Bằng, rồi qua Bắc Kạn, xong xuống Chợ Chu, Thái Nguyên, tức cứ thanh tra vòng quanh vùng Yên Thế để tìm hiểu tình hình thật sự của nghĩa quân Đề Thám.
Sẵn thấy những đồn ải của Pháp quân ở những vùng này và gần biên thùy tuy xây cất cẩn thận bằng đá cây nhưng lợp lá, chắc chắn không thể nào an toàn khi nghĩa quân tấn công bằng súng đạn và tên lửa nên Đại tá liền hạ lệnh sửa sang lại cho chắc chắn hơn…
Địa điểm của đồn bót lại quá cách xa, Đại tá cũng ra lệnh xây cất thêm để phân binh đóng giữ chặt chẽ hơn.
Tất cả pháo lũy đều được xây cất lại bằng xi măng, đá và gạch cho chắc chắn. Thêm nữa, Đại tá cũng cho cất thêm đồn lũy để trấn những cửa ải tại biên thùy Hoa Việt như Nam Quang, Tà Lùng, Bản Cà, Thủy Khầu, Trùng Khánh, Trà Lĩnh, Nà Giang, Sóc Trạng… để ngăn ngừa bọn Thổ phỉ qua lại mà đánh cướp hoặc tiếp tế cho nghĩa quân.
Bởi đạí tá nhận thấy rằng giữa bọn Thổ phỉ xuất xứ từ bên Tàu và nghĩa quân có liên lạc với nhau.
Đại tá đinh ninh rằng bọn này đã buôn lậu khí giới đạn dược hoặc buôn lậu tiếp tế cho nghĩa quân nên Đại tá lo chặn tiễu trừ bọn này trước nhất. Tiễu trừ được bọn này tức là cạch được những vây cánh quan trọng của nghĩa quân.
Vì vậy, Đại tá đã cho xuất công quỹ rất nhiều để chi tiêu vào những công việc sửa sang, xây cất thêm đồn lũy này…
Về phương diện chính trị, Đại tá mua lòng dân miền Thượng du và những dân tộc địa phương như Thổ, Thái, Mán, Nùng vân… vân… bằng cách:
1. Đại tá Galliéni đề nghị thuyên chuyển tất cả quan lại người Kinh tức là quan lại người Việt về miền đồng bằng và áp dụng chính sách “người nơi nào cai trị nơi đó”. Vì vậy, Đại tá đề nghị chọn người tài giỏi hơn hết trong mỗi dân tộc địa phương để cất nhắc lên làm quan cai trị cho địa phương mình. Như vậy, Pháp sẽ có những kẻ tay chân mới ở miền Trung châu và Thượng du.
2. Với đồng bào thiểu số ở Thượng du, Đại tá khuyến dụ và phát súng cho họ để mua lòng họ rồi xúi giục họ chống trả lại nghĩa quân.
 
Như vậy, Pháp sẽ có những tay sai mới rất đắc lực trong công việc thay Pháp nhảy vào cái chết hay là để giết nghĩa quân.
Pháp chỉ đứng ngoài mà nhìn và nếu cần, vào phút chót Pháp quân mới nhảy vào vòng chiến…
Trước kế hoạch này của Đại tá Galliéni, Yên Thế dù muốn dù không đã lọt vào vòng kiềm tỏa của Pháp quân cùng các tay sai của họ…
Vòng kiềm tỏa này càng ngày càng siết chặt thêm hơn.
Trong lúc đó Đề Thám ở Yên Thế đang làm gì?
***
Hiểu rõ Đại tá Galliéni đang thực hiện chương trình tấn công Yên Thế một cách lặng lẽ, Đề Thám cũng nghĩ ra một kế hoạch chống đối:
1. Đánh tan dần thanh thế và vòng kiềm tỏa của Pháp bằng những chiến lược:
a) Tổ chức những âm mưu táo bạo để phá hại sức mạnh ngay trong lòng địch.
b) Đột kích và xung kích các đồn bốt quan trọng tại các đô thị, dù nhỏ hay to…
2. Để thực hiện cho hoàn hảo những dự tính quan trọng nay, Thám đã tích cực lo lắng một lượt hai công việc như sau:
a) Củng cố chiến khu Yên Thế: Trước nhất Đề Thám lo mua sắm thêm các võ khí đạn dược tối tân của Đức ở bên Tàu.
Kế tiếp là tích trữ lương thực và quân nhu, đồng thời chiêu mộ thêm nghĩa quân, định rõ tài riêng mà phân cấp bực, ai là quân, ai là tướng chỉ huy cho phân minh trật tự.
Sau hết là xây đắp thêm pháo lũy bí mật ở trong rừng cho thật kiên cố và đào thêm những chiến hào ngầm ở dưới đất.
Mặt khác, cho người đi tuyên truyền hô hào đồng bào, dân chúng địa phương tích cực và mau lẹ tham gia công cuộc kháng Thực.
b) Phát triển những tổ chức kháng chiến trong lòng địch. Đề Thám đã dùng phương pháp địch vận trong công việc này. Một phần không ít lính khố đỏ và khố xanh trong binh đội Pháp đều ngã ngũ theo nghĩa quân.
Đồng thời, Đề Thám cũng khuyến dụ những thành phần bất mãn ở các địa phương cùng hợp tác quay về chống Pháp. Những thành phần bất mãn này, thí dụ như Đèo Văn Trí, cầm đầu dân tộc Thái, đã giúp cho Đề Thám rất đắc lực.
Mấy công việc địch vận và cũng cố chiến khu Yên Thế này một phần lớn Đề Thám nhờ ở tài giỏi giang, tháo vát rất đắc lực của người vợ thứ Ba tên là Đặng Thị Nhu.
Đề Thám “giằng co’’ với Pháp trong một thời gian thật là chật vật.
Bên ngoài mặt, lúc nào Đề Thám cũng tỏ vẻ thân hòa và cố giấu những vẻ hiềm khích với Pháp, dù trong một việc nhỏ nhặt nào. Nhưng, bên trong lòng vẫn không xao lãng công cuộc điều khiển nghĩa quân đánh cầm chừng các đồn bốt hay thỉnh thoảng đánh úp quân Pháp một vố khá đau.
Hễ gây được một cơ sở nào trong lòng địch thì Thám “ra tay” ngay, không bao giờ bỏ dở cơ hội.
***
Vào tháng 3 năm 1895, đêm 23, Đề Thám, sai Thống Luận chỉ huy một đoàn nghĩa quân chèo ghe (thuyền) đến tấn công đồn Phả Lại.
Xung quanh đồn này có một nhóm người Việt theo đầu Pháp, cất nhà ở khích đồn rất đông đảo.
Thống Luận cùng các nghĩa dũng quân đánh úp được đồn Phả Lại, đồng thời phóng hỏa đốt luôn những khóm nhà cửa của bọn Việt gian nói trên để cảnh cáo những người nhẹ dạ chạy theo lời khuyến dụ của ngoại nhân.
Đêm hôm đó, đồn Phả Lại lửa cháy rực trời, tiếng súng nổ vang dậy. Pháp quân chết nằm ngổn ngang như rạ.
Đàn bà, con nít bồng bế, dẫn dắt nhau, lớp kêu réo, lớp than khóc, chạy tán loạn cả lên…
Thật là hãi hùng.
Sau trận đánh úp đồn Phả Lại, nhóm người theo đầu lũ cướp nước mới giật mình tỉnh ngộ và kinh hãi.
Pháp quân cũng đặt lại trong tình trạng báo động luôn.
Đến đêm 30 tháng 4, cũng vào năm ấy, Đề Thám lại sai Đốc Thu cùng 12 nghĩa dũng quân tình nguyện xâm nhập vào Bắc Ninh.
Đốc Thu và 12 nghĩa dũng quân trá hình làm lính khố đỏ, tìm cách bắn chết được 3 viên chức của Pháp là:
1) Jean: Đội Hiến binh.
2) Verdene: lính Hiến binh.
5) Moulhoud: Nhân viên sở thương chánh.
Đến tháng 9 vào đêm 15, Đề Thám là sai Lĩnh Túc kéo quân dến làng Phú Liêm, ở gần Phủ Lạng Thương để cảnh cáo dân làng này vì họ ngoan cố không chịu tiếp tế lúa cho nghĩa quân…
 
Nghĩa quân đã đốt phá một số nhà cửa của những tên tay sai Pháp quân, đồng thời cũng xử thắt cổ một số đông bọn người Việt gian này…
Bắt đầu từ đấy, uy danh của nghĩa binh Đề Thám càng lúc càng lan ra sâu rộng.
Trước tình thế này, nhà cầm quyền Pháp không một phút nào quên theo dõi các hành động của Đề Thám.
Tuy Đề Thám luôn luôn chối cãi rằng không phải chính mình điều khiển những cuộc đột kích của nghĩa quân nói trên, nhà cầm quyền Pháp vẫn biết rõ Đề Thám chủ mưu. Lúc này, Đại tá Galliéni càng bất mãn các vị chỉ huy guồng mày hành chánh dân sự cao cấp hơn bao giờ hết.
 
Bởi, Đại tá đã nhiều lần đề nghị đặt khu Yên Thế vào khu quân sự, nằm thuộc vào quyền kiểm soát của quân đội do đại tá chỉ huy nhưng họ không khứng chịu nên bấy giờ mới xảy ra những vụ đột kích của nghĩa quân…
Hiểu rõ rằng thế nào Đề Thám cũng phản nghịch mà chống lại Pháp quân, không sớm thì muộn. Nhưng có điều chắc chắn là việc đó sẽ xảy ra bất ngờ.
Đại tá Galliéni muốn ra tay “hạ thủ” Đề Thám trước nhưng còn phân vân vì không hiểu rõ tình hình nghĩa quân tại Yên Thế hùng mạnh hay yếu kém về mặt nào.
Bởi vậy, Đại tá nhận thấy rằng cất quân đánh Đề Thám lúc bấy giờ có hại nhiều hơn là lợi.
 
Xem xét lại, tuy đã mất Lũng Lạt, Yên Thế còn có Kẻ Thượng (Ba Kỳ) là một căn cứ quan trọng thứ hai sau Lũng Lạt.
Nếu đánh Yên Thế, tức phải bọc hậu thì gặp ngay Kẻ Thượng, ở về phía Tây Bắc Yên Thế.
Muốn đánh thắng Yên Thế thì phải tiễu trừ Kẻ Thượng trước, như vậy Pháp quân sẽ tốn phí nhân lực và quân nhu rất nhiều.
Nhưng, dù thế nào, Đại tá Galliéni nhận thấy cũng không còn có thể dung túng Yên Thế được nữa.
Đại tá nhất định ra tay trước là hơn và giữa hai chiến khu Yên Thế và Kẻ Thượng, phải chọn mục tiêu là Kẻ Thượng trước.
Nếu tiêu diệt được mục tiêu này thì về sau Pháp quân tiến vào Yên Thế rất dễ dàng. Miền Tây Bắc Thượng Yên và phía Nam Bắc Kạn đã dọn dẹp sạch sẽ thì Yên Thế không còn là vùng đất bất khả xâm phạm và sẽ hạ Đề Thám không khó.
Tính vậy, Đại tá Galliéni liền thảo một kế hoạch để tiến quân vào Kẻ Thượng.
Trước nhất, Đại tá cũng tiến quân với ba cánh có hòa lực bén nhọn vào mấy ngả dưới đây:
1) Cánh thứ nhất từ Lạng Sơn lên Đồng Đăng, qua Phố Bình Gia cùng Châu Nà Rì rồi vào Kẻ Thượng.
2) Từ Thái Nguyên ngược lên Vũ Nhai, Chợ Mới rồi vào Kẻ Thượng.
     ***
Một thực trạng khác nữa mà Đại tá Galliéni đã được tin báo nên biết rõ:
Viên chỉ huy nghĩa quân ở Kẻ Thượng là Ba Kỳ đã chứa chấp đám tàn quân ở Lũng Lạt do Hoàng Thái Ngân điều khiển độ trước. Ngoài ra, Ba Kỳ hiện còn giam giữ ba tên Pháp kiều là Humbert Suz, Bonyer và Roty mà Hoàng Thái Ngân đã thả ra độ trước tại Lũng Lạt, trước khi các đoàn của Đại tá Galliéni vào tấn công.
Trước khi đi đánh dẹp Kẻ Thượng, Đại tá Galliéni liền vận động với nhà cầm quyền hành chánh Pháp để đề nghị đặt vùng này vào khu quân sự, dưới quyền kiểm soát đạo quân thứ hai của Đại tá.
Lời đề nghị này được chấp thuận ngay.
Được tin, Đại tá liền cất nhắc cân phân những điểm lợi hại một lần nữa rồi quyết định tấn công:
Nhưng, lần tấn công này không phải thuận lợỉ, dễ dàng như lần tấn công Lũng Lạt độ trước, vì Đại tá Galliéni vấp phải hai trở ngại đáng kể:
1) Lúc đó đã gần tới mùa suối nước ngập lụt khắp các vùng lân cận, công cuộc hành binh xuyên sơn không còn có thể thực hiện được nữa.
Muốn xúc tiến chương trình tấn công Kẻ Thượng, Đại tá phải gấp rút ra lệnh khởi sự tiến quân trong vòng một tháng trở lại thôi. Quá thời gian một tháng này, nước suối sẽ ngập lụt…
2) Kẻ Thượng lại ở gần sát bên hai địa phận của hai người đã qui thuận nhà cầm quyền Pháp: Đề Thám và Lương Tam Kỳ.
Nếu Kẻ Thượng bị lâm vào một tình thế nguy ngặt, trầm trọng rất có thể, không những Đề Thám mà luôn cả Lương Tam Kỳ đứng dậy để tiếp cứu.
Và cũng có thể liên kết với nhau mà chống trả lại Pháp quân thật kịch liệt để rồi khiến trận chiến lan rộng ra khắp cả miền Tây Bắc và Tây Nam Thượng du.
Lại phải suy đi tính lại một lần nữa.
Đại tá Galliéni có ý muốn dời cuộc tấn công Kẻ Thượng qua mùa Thu năm sau nhưng lại sợ vấp phải những trở ngại khác nữa.
Thứ nhất, Đại tá sợ nhà cầm quyền Pháp bằng lòng bỏ tiền ra chuộc mạng ba tên Pháp kiều bị bắt như đã từng khứng nhận với Đề Thám để chuộc mạng hai kiều dân Pháp tên Chesnay và Logion với giá 15.000 đồng thì Đại tá sẽ phải bị “bẽ mặt” không ít.
 
Bởi, trước sự việc này, nếu còn tái diễn ra nữa, Đại tá có thể nào tránh khỏi được dư luận đàm tiếu rằng làm tướng chỉ huy một đoàn quân viễn chinh rất hùng hậu của một đại quốc mà bất lực đến thế?
Hơn nữa vốn là người có nhiều thành tích về việc bình định nghĩa quân dũng cảm ở Soudan, nay Đại tá lại có thể cam lòng mà nhìn nghĩa quân Việt Nam “tác quái gỉỡn mặt”. Như vậy, hẳn mất mặt con nhà tướng của đất Pháp hùng cường lắm.
Thứ hai là, nếu không tấn công bây giờ, Đại tá sẽ bỏ lỡ cái dịp may để chiếm đóng dọc theo Sông Cầu mà thiết lập một con đường ăn thông giữa Phủ Thông và Thái Nguyên. Con đường đó sẽ vừa ngắn vừa tiện lợi, rất đắc dụng cho các cuộc hành binh sau này…
Sau nhiều lúc đắn đo, Đại tá Galliéni quyết định tiến quân đánh Kẻ Thượng với 3 phương cách.
1. Phải đánh chớp nhoáng và dồn dập.
2. Chỉ đánh 3 tổng thuộc vào địa phận của Ba Kỳ mà thôi, không nên đánh lan rộng hơn nữa.
3. Trước khi tác chiến, tất cả mọi khía cạnh trong cuộc tấn công này phải được chuẩn bị kỹ càng và đầy đủ hầu tránh trước những sự thiệt hại bất ngờ về bệnh tật và tên, đạn.
 
Vì vậy, Đại tá ra lệnh tiến quân vào ngày 11 tháng 4 và cho các cánh quân tham dự cuộc tấn công này hay rằng vào ngày 24 tháng 4 phải tập trung lực lượng đầy đủ ở Kẻ Thượng.
Được tin, nghĩa quân khắp các nơi lân cận đều vùng dậy trợ chiến với Kẻ Thượng…
Lúc bấy giờ tình hình chiến trận ở miền Thượng du thật là rối rắm…
Trong khi ba tổng thuộc Ba Kỳ vang dội tiếng súng vì Pháp quân tấn công, nghĩa quân gặp phải hỏa lực chống trả mãnh liệt của địch thì ở các vùng chung quanh nghĩa quân các nhóm khác nổi lên đánh lại các đồn bốt Pháp.
Cả miền Thượng du Bắc Việt khói lửa mịt mù và ngày đêm không dứt tiếng súng.
Lại nữa, từ ngoài biên thùy Tôn Thất Thuyết kéo một đoàn nghĩa binh, vốn là dư đảng Cần Vương đánh rát xuống Cao Bằng rất mãnh liệt.
Trong lúc đó, tại Yên Thế, Đề Thám mật sai một đoàn nghĩa quân hỏa tốc lên Chợ Chu để gặp Lương Tam Kỳ, đồng thời hợp với lực lượng quân đội của tướng giặc Tàu họ Lương này mà chặn đánh Pháp quân tại các đường tiếp vận của họ tức là chặn đánh ở phía sau lưng các cánh quân Pháp tấn công vào Kẻ Thượng. Các con đường đó như sau:
1. Phía Bắc Phố Bình Gia, con đường qua Kẻ Thượng.
2. Ở Lũng Két, khoảng giữa Cao Bằng, con đường qua Phủ Thông.
Đồng thời nhóm nghĩa binh nói trên cũng đánh bật Pháp quân ở Cốc Tẻm và Lũng Táo.
Đại tá Galliéni nghe tin, điếng hồn liền ra lệnh cho Trung tá Vallière đang ở Cao Bằng phải chặn đánh tất cả các đoàn nghĩa quân đang trợ chiến với Kẻ Thượng ở bên ngoài đó, để cho cuộc tấn công của Đại tá vào Kẻ Thượng được dễ dàng và có thể đến mục tiêu đúng ngày giờ như kế hoạch đã định.
 
Được lệnh, Trung tá Vallière thi hành ngay lập tức… Các căn cứ rải rác ở khắp miền biên giới của Pháp quân bắt đầu nổ súng… Cuộc đánh vòng đầu đã khởi diễn… Một ít nhóm nghĩa quân bị đánh rát tới và bị Pháp quân đánh bật ra khỏi “vòng chiến nguy hiểm”, đành phải rút lui mau lẹ.
Nhận thấy tình hình bắt đầu gay go, Lương Tam Kỳ bổng đổi ý, không hợp tác tích cực với nghĩa quân Đề Thám nữa, liền cho quân của mình rút lui về Chợ Chu để giử thế “trung lập”.
Về phía Đề Thám, sau khi thấy Lương Tam Kỳ cho rút quân, viên thủ lãnh nghĩa quân ở Yên Thế giật mình.
Nghĩ ngợi xa đến ‘‘mục đích và chí cả của mình ở các đô thị lớn và ở miền Trung châu’’, Đề Thám liền hạ lệnh cho nghĩa quân án binh bất động để đợi chờ…
Chỉ trong tức khắc, Kẻ Thượng bị cô lập ngay.
Cũng gặp trường hợp của Lũng Lạt, Kẻ Thượng bị Đại tá Galliéni xua ba cánh quân từ ba mặt, trèo núi xuyên rừng ào tới đánh úp vào khu trọng tâm pháo lũy của nghĩa quân.
Thêm nữa, Đại tá cho đặt những cổ trọng pháo từ trên núi cao nã xuống khu pháo lũy của nghĩa binh dữ dội như trời long đất lở để dọn đường cho các toán bộ binh xung phong ào tới. Các lô cốt của nghĩa quân kế tiếp nhau nổ vỡ tung lên… xác người văng tung tóe lên trên mặt đất như xác pháo…
 
Lửa đỏ bắt đầu bốc cháy dữ dội… Từ các dãy trại, hầm núp lợp lá đến cây rừng kế tiếp làm mồi cho thần hỏa tung hoành.
 
Nghĩa quân bị tấn công rát quá, hoảng chạy tán loạn cả lên như ông vỡ tổ… Lúc này vào khoảng 4 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 1895.
Pháp quân cẩn thận tiến sâu vào “sào huyệt” của nghĩa quân rất chậm… Nhờ đó, nghĩa quân có đủ thì giờ rút lui từng tốp nhỏ.
Gần sáng trắng, Đại tá chỉ huy trưởng (tức Galliéni) của Pháp quân ra lệnh thổi kèn hiệu: “xung phong” thì nghĩa quân đã thoát thân ra khỏi vòng vây của Pháp.
Kiểm soát lại trên chiến trường, Pháp quân tóm được một lá cờ của đoàn Cần Vương Nghĩa đảng và nhận thấy nghĩa quân rút lui bỏ lại chiến trường 50 người tử thương.
Trong số nay có một bộ tướng đắc lực của Ba Kỳ là Lĩnh Nguyên, tử trận ở Hòa Mục. Bao nhiêu nghĩa quân còn sống sót đều chạy chết, tản mác khắp nơi…
 
Đánh trận này, Đại tá Galliéni tự nhận thấy sự chiến thắng của Đại tá có những ưu điểm không thua gì trận đánh Lũng Lạt.
Còn hơn nữa, Pháp quân đã giải thoát được một đồng bào của mình tên là Sabot, đã bị nghĩa quân bắt cóc từ trước…
Đại tá hãnh diện rằng đã đem về một thắng lợi vẻ vang cho quân đoàn của Đại tá là nhờ có cuộc tấn công như sóng gió này mà nhà chức trách hành chánh dân sự Pháp khỏi phải tốn tiền đưa cho nghĩa quân để chuộc mạng như mấy lần trước…
Như vậy, Đại tá đã “trả lời” được những điều mà Đại tá đã đề nghị nhưng nhà hữu trách hành chánh dân sự Pháp chẳng những cố ý làm ngơ lại còn bác bỏ với một thái độ khó chịu.
Hôm ấy, lại là ngày lễ sinh nhật của Đại tá… Đại tá tổ chức một cuộc lễ ăn mừng thắng trận vừa mừng ngày lễ sinh nhật tốt đẹp của mình tại một địa điểm đóng quân trong rừng sâu…
Trong lúc đó, Đề Thám đang bực tức ở Yên Thế và đang bù đầu với một kế hoạch mới.
***
Vài ngày sau, Đại tá Galliéni nhận được một tờ giấy của Thống tướng DUCHEMIN gửi tận vào rừng sâu và say sưa đọc:
“Quan Toàn quyền đã hân hoan vui thích về cuộc tấn công xảy ra ở Kẻ Thượng.
Ngài cùng chia chung nỗi xúc động của báo chí và giới công chức đã chống lại cuộc tấn công này.
Những kết quả gặt hái được, rất đúng y như chúng ta dự đoán đã khiến cho Ngài vô cùng cảm động và tin tưởng ở chúng ta hơn bao giờ hết…
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 1895
Ký tên: Thống tướng DUCHEMIN”
______________________

 

 

 

 

 
 
 
 
 
 

 

CHƯƠNG V

 
Từ những mâu thuẫn trong nội bộ
chính quyền Pháp giữa phe hành chính dân sự
và phe quân sự tới thái độ bất khuất của Đề Thám
 
 
NGAY ở chương này, chúng tôi xin mở một dấu ngoặc để nói về tình hình nội bộ của nhà cầm quyền Pháp hồi đó.
Từ khi Toàn quyền Rousseau từ Pháp sang Việt Nam để thay thể cho Toàn quyền Lanessan bị chính phủ Pháp ở Paris triệu hồi về, giữa các cấp chỉ huy quân sự và hành chính dân sự ở Đông Dương ngày càng tỏ ra mâu thuẫn với nhau rất rõ rệt.
Bên phe quân sự do Đại tá Galliéni chủ xướng, có Thống tướng Duchemin tán thành, chủ trương rằng nên đặt các vùng có nghĩa quân nổi dậy vào khu quân sự để đặt dưới quyền kiểm soát (tức nhiên có công cuộc tiễu trừ) của quân đội…
Đồng thời nên đánh mạnh toàn lực để tiêu diệt tất cả lực lượng nghĩa quân. Như vậy, phe quân sự đã chủ trương ‘’dùng võ lực để tàn sát’’.
 
Trái lại, bên phe hành chính dân sự thì chủ trương ngược lại. Bên phe này có vị Toàn quyền Đông Dương là Rousseau tán thành, chủ trương nên dùng phương sách chính trị để thu phục nhân tâm dân bản xứ hơn là dùng võ lực quân sự một cách tàn bạo.
 
Phe này muốn rằng các nhà cầm quyền nên cố dụ dỗ và thuyết phục các thủ lãnh nghĩa quân một cách mềm dẻo, khéo léo để tước đoạt dần dần võ khí các đơn vị chủ lực tác chiến của kháng chiến quân. Như vậy, phe này chủ trương “tránh đổ máu, thắng lợi bằng lý trí”.
 
Cả hai phe đều chống báng nhau mãnh liệt ngay trong tình hình nội bộ. Nhưng, phe chỉ huy hành chính dân sự, nhờ có Toàn quyền Đông Dương Rousseau đứng đầu nên thắng thế nhiều hơn.
Lẽ dĩ nhiên, phe quân sự hầm hừ tức giận, nhưng phải cam chịu lép vế.
Bởi vậy, khi Đề Thám nhờ giáo sĩ Valesco, giám mục địa phận Bắc Ninh vận động với Pháp để cầu hòa, nhân lúc phe hành chính dân sự đã khởi xướng chủ trương nói trên.
Nhờ đó mà Đề Thám đã thắng thế, được nhiều ưu điểm trong công cuộc cầu hòa này khiến cho phe quân sự tức tối.
Phe hành chính dân sự lại chủ trương: phương sách dụ hàng là nguyên tắc chính trong công cuộc bình định nghĩa quân, Nếu quân đội có hành quân vào Yên Thế thì chỉ được xúc tiến khi nào gặp những trường hợp dưới đây:
1. Khi biện pháp dụ dỗ nghĩa quân thất bại.
2. Để đề phòng những vụ bắt cóc kiều dân Pháp do nghĩa quân chủ trương để làm lợi khí cầu hòa, nhất là để đề phòng những vụ bắt cóc trên các đoạn đường xe lửa Hà Nội - Lạng Sơn, con đường duy nhất có nhiều thường dân người Âu đi lại.
Vì vậy mà, Đại tá Galliéni đã nhiều phen căm gan…
Hơn nữa, chính quyền Pháp ở bên Paris lại “cắt cớ” đã phái Đại tá, vốn là người chủ chiến, lập được nhiều thành tích diệt trừ kháng chiến quân dũng cảm ở Soudan, qua Việt Nam với một công tác đặc biệt như ở Soudan (Đại tá qua từ năm 1891) mà lại còn phái qua một vị Toàn quyền như Rousseau để “giật dây dụi”, thật là mâu thuẫn.
 
Theo Đại tá, Toàn quyền Rousseau dè dặt và cẩn thận quá đỗi nên đã đi đến chỗ… nhút nhát…
Phải chi còn vị Toàn quyền cũ, Lanessan, thì Đại tá dễ hành động hơn, bởi hai người này rất tâm đồng ý hợp…
Trước kia, năm 1891, toàn quyền Lanessan đã từng quyết định càn quét tất cả những tổ chức kháng chiến ở miền Thượng du Bắc Việt, nên mới phân chia ra bốn đạo quân coi bốn quân khu: Đông Triều, Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng và Lao Kay.
Mà, trong bốn đạo quân này, Đại tá Galliéni đã được chỉ định điều khiển một. Đó là đạo quân thứ hai ở Lạng Sơn.
Nhưng, cái quyết định “sắt máu” của Lanessan chưa thực hiện trọn vẹn như ý thì nửa chừng bỏ dở vì Lanessan bị triệu hồi về Pháp cấp tốc. Còn lại bên này, không có Lanessan, Đại tá Galliéni mới “chân ướt chân ráo” đã trở thành một con cua gẫy càng.
Bây giờ, dưới quyền của Toàn quyền Rousseau, Đại tá bực dọc lắm. Nhưng, sau hai trận chiến thắng nghĩa quân thật là rực rỡ ở Lũng Lạt và Kẻ Thượng, Đại tá đã gặt hái được nhiều uy tín và đã được Toàn quyền Rousseau tin cậy.
Đại tá liền nghĩ ra một kế hoạch tấn công Đề Thám ở Yên Thế, một người mà Đại tá rất ghét cay ghét đắng, nếu không nói là thù độc địa.
Đại tá bắt tay ngay vào công việc điều động quân mã, đồng thời sửa soạn ngay một chiến trường thật ác liệt. Vào tháng 9 năm 1895, Đại tá lại đề nghị sát nhập Yên Thế miền Thượng Yên vào khu quân sự. Mặt khác, Đại tá gửi ngay cho Đề Thám ở Yên Thế một bức thư mà nội dung nói rõ những điều quan trọng như sau:
- Chính quyền Pháp đã quyết định cho quân chủ lực lên thay thế lính khố xanh đóng ở Bố Hạ và Nhã Nam.
- Pháp quân sẽ trực tiếp chặn đứng tất cả các hành động “cướp bóc” mà chính quyền Pháp nghĩ rằng do Yên Thế chủ mưu và xuất phát.
Điều thứ hai và cũng là điều sau rốt này đã được Đại tá Galliéni nói rõ và nhấn mạnh hơn hết trong bức thư ấy.
Nhận được thư của vị chỉ huy Pháp quân, Đề Thám biết ngay rằng giờ phút quyết liệt sắp đến.
Pháp quân đã dự tính sẽ tấn công căn cứ cuối cùng của nghĩa quân, sau Lũng Lạt và Kẻ Thượng.
Như vậy, cái “hòa khí giả tạo ngoài mặt” giữa Đề Thám và Pháp bắt đầu rạn bể.
Biết vậy, Đề Thám chuẩn bị ngay một kế hoạch để đối phó.
 
Trước nhất, Đề Thám viết thư phúc dáp cho Đại tá Galliéni biết rõ chủ trương của mình.
Đại ý bức thư phúc đáp đó là: Đề Thám vẫn hứa giữ đúng những lời cam kết với chính quyền Pháp trước kia, nghĩa là Đề Thám vẫn giữ lời hứa không tham gia vào những công cuộc chống Pháp của nghĩa quân.
Tuy đã gởi bức thư phúc đáp đó đi rồi, Đề Thám cũng vẫn lo xây đắp thêm pháo lũy và đào thêm các chiến hào bí mật trong rừng sâu.
Mặt khác, Đề Thám lại biệt phái những đoàn cảm tử quân giả dạng len lỏi vào hàng ngũ địch để tìm cách hoạt động, phá rối lực lượng và hậu tuyến dịch…
Đồng thời, Đề Thám cũng cho các nghĩa quân tìm cách bắt cóc các thường dân và sĩ quan Pháp để làm lợi khí điều đình hoặc bắt chính quyền Pháp trao đổi tù binh hoặc bỏ tiền ra chuộc mạng họ.
Trong lúc đó, những trận tấn công đánh úp các chuyến xe lửa đi lại trên đoạn đường Phủ Lạng Thương lên tới Bắc Lệ cũng thường xảy ra liên tiếp, nhiều hơn bao giờ hết.
Các trận đánh úp, cướp phá xe lửa này đều do nghĩa quân tuân theo lệnh của Đề Thám mà gây ra…
Pháp quân khởi sự điên đầu. Đề Thám nhận thấy rằng nếu nghĩa quân Yên Thế không ra tay trước thì Pháp quân do Đại tá Galliéni cũng “chơi cửa trên”
Vào những ngày 10, 13 và 17 tháng 10 năm 1895, các đoàn cảm tử quân của Đề Thám bắt đầu hoạt động ráo riết. Họ đột kích một đồn lính khố xanh và thân binh ở Bắc Giang, đồng thời đánh phá để cảnh cáo một loạt gần mười làng đã qui thuận theo Pháp và được Pháp cấp khí giới cho để võ trang.
Tinh thần kháng Pháp càng lúc càng lên cao trong hàng ngũ nghĩa quân, do Đề Thám đôn đốc… Vì vậy, các nghĩa quân hăng hái đua nhau xung phong vào đánh cướp các đồn bốt để cướp súng…
 
Lúc đầu họ chỉ có 60 tay súng (khi Đề Thám ở Tam Đảo mới về), còn bao nhiêu thì sử dụng mã tấu, song đao với cung nỏ. Ấy vậy chẳng bao lâu, sau khi đột kích đồn bốt Pháp quân cùng các làng thân Pháp, làm tay saỉ cho Pháp mấy trận mà nghĩa quân đã có thêm lên đến 300 tay súng rất cừ khôi…
Uy danh nghĩa quân Yên Thế càng lúc càng tràn lan sâu rộng ra khắp một vùng ở phía Nam Thái Nguyên, Bắc Bắc Ninh, Đáp Cầu và phía Tây Bắc Phủ Lạng Thượng…
Trái hẳn với những nhóm nghĩa quân ở Lũng Lạt trước kia (vì chứa chấp, dung túng bọn thổ phỉ đầu trộm đuôi cướp mà không được lòng dân chúng lại bị dân chúng hiểu lầm chính nghĩa), nghĩa quân Yên Thế rất được lòng dân chúng.
Bởi họ đã khéo léo tuyên truyền với dân chúng ở các vùng lân cận nên mọi người đều ý thức được phong trào cứu quốc mà hết lòng bảo vệ kháng chiến quân và chiến khu Yên Thế.
Trước tình thế này, Đại tá Galliéni lo ngại và đã ra lệnh mở một cuộc hành quân cấp tốc trong liên tiếp ba ngày 28, 29 và 30 tháng 10 để xem xét tình hình chung ở quanh các vùng Bố Hạ và Nhã Nam.
Đồng thời, Pháp quân cũng bắt đầu lập trận tuyến.
Các đoàn bộ binh rộn rịp kéo nhau thay phiên đi lại suốt ngày lẫn đêm.
Các đoàn trọng pháo cùng bận rộn không kém. Núi rừng Yên Thế trở nên nặng mùi chiến tranh và đầy vẻ ghê rợn của một trận chiến thảm khốc sắp xảy ra trong một ngày gần kề…
Đại tá Galliéni lại ra cho Đề Thám hai điều kiện để quy thuận:
1. Nạp hết võ khí.
2. Giải tỏa tất cả các địa điểm bố phòng của khu phòng thủ trong rừng Yên Thế.
Nhận thấy hai điều kiện của Pháp quân đưa ra đầy sỉ nhục, nếu nhận tức là đầu hàng vô điều kiện, nên Đề Thám không chịu.
Tìm cách trì hoãn để đủ thì giờ chuẩn bị giao tranh, Đề Thám xin hẹn trong một thời gian ngắn sẽ trả lời, sau khi suy nghĩ kỹ. Đồng thời Đề Thám yêu câu Pháp quân rút khỏi vùng Hạ Yên, trước khi Đề Thám trả lời.
Thái độ này của Đề Thám khiến vị Đại tá chỉ huy trưởng Pháp quân nóng tánh, sốt cả ruột gan.
Lúc đó, Đại tá “nằm” tại Tổng hành dinh mới đặt ở Nhã Nam. Đại tá muốn tấn công nhưng lại không dám tiến quân, bởi chưa biết rõ sự trả lời của Đề Thám sẽ ra sao. Lại nữa, Đại tá cũng nhận thấy rằng “vụt tốc bất đạt”, Pháp quân cũng cần chuẩn bị thêm cho sẵn sàng đuợc hoàn hảo, khi gặp những chướng ngại hay bất trắc gì cũng có thể vượt qua được dễ dàng.
Vả lại, khi đó nước Pháp cũng mới vừa phát minh được một loại đạn trái phá có sức công phá và tiêu diệt mãnh liệt mà Đại tá vừa nhận được tin Pháp sẽ gửi sang cho Pháp quân ở Đông Dương một ít để dùng tại chiến trường Việt Nam trong công cuộc tiêu diệt nghĩa quân.
 
Số đạn ấy cũng sắp đến nơi nên Đại tá cũng có ý đợi chờ…
 
Trong lúc này, Đại tá Galliéni lại lo sợ hai điều sau đây có thể xảy ra vào lúc nào không hay.
Trước nhất, có thể Đề Thám xuất kỳ bất ý tổng phản công quân đội Pháp trước với sự trợ chiến của các đoàn nghĩa quân Cần Vương khác từ khắp miền Thượng du và Trung châu kéo đến.
Hay là, cũng rất có thể quân Đề Thám lặng lẽ rút lui khỏi vòng vây mà Pháp quân không hay.
Vì mối lo sợ này, Đại tá tăng cường lực lượng thám thính và cho đám quân thám thính này cố gắng xâm nhập vào vùng quân sự của Đề Thám để điều tra về công cuộc bố trí cũng như tình hình sinh hoạt của nghĩa quân.
Nhưng, đám quân này không tài nào len lỏi được vào trong chốn rừng núi trùng trùng điệp điệp và âm u ghê rợn đó.
Đại tá Galliéni lại trông vào sự giúp sức và báo cáo của viên Công sứ Bắc Giang cùng viên Tổng đốc Bắc Ninh là Lê Hoan, nhưng hai người cũng không có gì hơn. Hai người vẫn mù tịt, bởi không tìm tòi ra được tin tức mới mẻ nào của nghĩa quân Yên Thế cũng như chiến khu của Đề Thám.
Qua tháng 11 vào ngày 20 dương lịch, Đại tá lại nhận thêm được viện binh từ tàu Pháp tên “Biên Hoà” đổ bộ xuống.
Đại tá liền phân đám binh tiếp viện này ra thành ba đoàn:
1. Đoàn thứ nhất gồm có 4 đội, dưới quyền chỉ huy của các Đại úy Domee, Bichemin, Grandmaison và Mathieu, do Thiếu tá Hoblingue thống lãnh.
2) Đoàn thứ hai cũng gồm có 4 đội, dưới quyền điều khiển của các Đại úy Abel, Tiffau, Savy và Adeline, do Thiếu tá Rondony chỉ huy.
3) Đoàn thứ ba gồm có 3 đội, dưới quyền điều khiển của các Đại úy Rémond, Berth và Buleux, do Thiếu tá Roget chỉ huy.
Mỗi đoàn này đều có tăng cường thêm nhiều đơn vị công binh và pháo binh yểm trợ
***
Chiến khu Yên Thế vẫn oai hùng muôn thuở.
Rừng Yên Thế là nghĩa địa, là mồ chôn hàng vạn quan binh thực dân trong đoàn quân viễn chinh xâm lăng Pháp…
Đã bao nhiêu lần tấn công vào chốn núi rừng này, Pháp quân luôn luôn bị nghĩa quân đánh bật ra ngoài để rồi mang những thất bại chua cay và tổn phí nặng nề…,
Rừng Yên Thế Thượng thiêng liêng.
Nghĩa dũng quân vẫn oanh liệt.
 
 
Năm 1885, trung lá Dugenne đã một lần kéo quân, hùm hổ định vào san phẳng chốn núi rừng Yên Thế nhưng bị nghĩa dõng quân của Cai Kinh phản công, đánh một trận tơi bời. Tất cả quân lính Pháp dưới quyền của Trung tá bị đánh bật ra khỏi vòng chiến, khắp mặt trận, phải đua nhau bỏ chạy dài.
 
Đến năm 1889, Thiếu tá Dumont và Piquet lại muốn nêu cao tên tuổi ở chốn núi cao rừng thẳm này nên bị Đội Văn đánh một trận một chín, một mười rất ác liệt trước khi giơ tay chịu đầu hàng.
 
Kế tiếp những năm 1890, 1891 và 1892, tướng Godin và Đại tá Frey lại mở ba cuộc tấn công liên tiếp và cả ba trận này, Pháp quân đều bị tổn hạí nặng nề.
Tướng Godin và Đại tá Frey đã phải hy sinh đến 200 tên lính vừa chết vừa bị thương mới chiếm lấy được đồn Nhã Nam và Hữu Thuệ…
Trước những kinh nghiệm trận mạc này, giờ dây, Đại tá Galliéni phải cẩn thận dè dặt hơn bao giờ hết.
Gặp Đề Thám, con hùm thiêng của Yên Thế, một lãnh tụ xuất chúng và tài trí của nghĩa quân cách mạng Việt Nam, Đại tá hết dám khinh địch.
 
Đại tá cũng không dám áp dụng trở lại cái chính sách “dùng võ lực thẳng tay đàn áp Nghĩa quân”, sở trường của Đại tá từ trước tới giờ để đối với Đề Thám nữa.
Đại tá đã cẩn thận hơn và ôn hòa hơn đối với một lãnh tụ kháng chiến vang danh của Việt Nam này.
Ngày 21 tháng 11 năm 1895, tức là sau ngày Pháp quân được tiếp viện, vị Đại tá chỉ huy quân đội Pháp đã gởi một bức thơ cho Đề Thám như sau:
“Tôi lấy làm tiếc mà nhận thấy rằng ông đã không trả lời dứt khoát và rõ ràng những điều mà tôi đã gửi cho ông.
Ngay trong bức thơ đầu tiên, tôi đã cho ông rõ là tình thế ở Yên Thế đã hoàn toàn thay đổi. Đây không phải lúc nói đến quyền sở hữu của ông ở bốn tổng này nữa.
Tôi đã nhận được lệnh phải chiếm đóng khu vực này.
Tôi muốn đề nghị với ông những phương pháp để ông được Chính phủ Bảo hộ tha thứ nhưng tôi muốn ông trả lời cho rõ ràng những câu hỏi của tôi.
Trái lại, tôi sẽ coi như ông không muốn, như bao lần ông đã làm, thực tâm quy thuận và phục tùng mệnh lệnh Chính phủ Pháp.
1) Ta đã nói rõ: ông phải giải tỏa những pháo lũy ở Yên Thế để tôi cho quân tới chiếm đóng. Sau đó chúng ta sẽ xem xét tương lai của ông và quân lính thuộc hạ
Ông có thể lập ấp trong một miền khác hoặc tham chính với Chỉnh quyền Bảo hộ, tùy theo những điều kiện mà chúng ta sẽ xét định sau. Ông đã không trả lời.
2) Ông phải nộp khí giới. Điểm này ông cũng không trả lời.
3) Tôi cũng nói với ông về chuyện Đốc Thu và Lĩnh Túc. Nếu ông tự tay trừng phạt hai tên ấy ông sẽ tỏ được lòng trung với Chính quyền Bảo hộ. Đốc Thu và Lĩnh Túc đã gây cho ông nhiều lầm lẫn và phá hoại mọi vấn đề ở Yên Thế.
Nếu ông không đủ quyền hạn cần thiết để nghiêm trị hai tên nói trên, Chính phủ Pháp sẽ vui lòng tha thứ cho bộ hạ của chúng nhưng không thể nào dung tha cho Đốc Thu và Lĩnh Túc là những kẻ không bao giờ chịu nhận quy hàng.
Việc này cũng không được ông trả lời.
4) Để ông có thể liên lạc với bọn Thống Luận và Thống Trự, tôi đã cấp giấy thông hành cho bộ hạ ông đến ngày 22 nay là hết hạn. Tôi có chờ đón hôm đó. Nhưng người của ông không thể bị bắt ở dọc đường vì tôi đã báo đi khắp nơi và cũng đã điện cho các vị công sứ Bắc Giang và Thái Nguyên ra lệnh cho khắp vùng được biết.
Tôi yêu cầu ông trả lời tất cả những ý kiến của tôi. Trái lại, tôi sẽ cho rằng ông không bao giờ muốn quy thuận và chấp nhận những khoản của Chính quyền Bảo hộ vì lượng khoan hồng, muốn quên những lỗi lầm ông đã phạm phải và cũng muốn mọi vấn đề phải được cấp tốc giải quyết dứt hẳn, lần này ở Yên Thế.
Ký tên:
 GALLIÉNI
 
 
 




0

CHƯƠNG VI

 
Đề Thám đối thủ lầm lầm, lì lì
đáng sợ của Đại tá Galliéni
Yên Thế vẫn oai hùng muôn thuở?...
 
 
Sau khi Đại tá Pháp Galliéni gửi bức thư chiêu hàng cho Đề Thám ở Yên Thế thì chuyện gì đã xảy ra cho đôi bên?
Đề Thám đã trả lời làm sao?
Và tâm trạng của Đại tá Galliéni như thế nào?
Một điều mà mọi người nhận thấy là, xuyên qua các bức thư của Đại tá gửi cho Đề Thám, Đại tá Pháp chẳng những kiêng nể vị lãnh tụ kháng chiến quân Việt Nam này mà còn hồi hộp lo ngại.
 
Như chúng ta đã biết, từ trước Đại tá Galliéni thường tỏ ra bất mãn nhà cầm quyền hành chính dân sự, mà người đứng đầu là Toàn quyền Rousseau, đã quá “dễ dãi” với nghĩa quân trong chính sách “khuyến dụ đầu hàng” hơn là dùng võ lực. Vì Đại tá là kẻ luôn luôn áp dụng chính sách dùng sức mạnh và oai lực để đàn áp và trừng trị…
 
Nhưng phen này… Đại tá không thể nào còn áp dụng chính sách này được nữa, một khi gặp phải Đề Thám, một đối thủ lầm lầm lì lì rất lợi hại. Đại tá buộc lòng phải dùng chính sách của Toàn quyền Rousseau và phe chỉ huy hành chính dân sự, một chính sách mà Đại tá vốn không ưa thích dùng.
Nhưng không thể không được, Đề Thám ở đất và núi rừng Yên Thế này không phải như Hoàng Thái Ngân ở Lũng Bạt và Ba Kỳ ở Kẻ Thượng. Nếu dùng võ lực thì sẽ có võ lực “trả miếng” lại. Vì, nếu dùng võ lực với Đề Thám thì trước nhất, Pháp quân sẽ bị thiệt hại hơn hết với nhóm nghĩa quân mà cũng là cảm tử quân xung phong của Đề Thám đang len lỏi trong hàng ngũ quân đội Pháp.
Nhóm cảm từ quân này có tổ chức hẳn hoi; ở ngay trong giới lính khố xanh, khố đỏ, nghĩa là ở ngay trong lòng quân đội Pháp và sẽ sẵn sàng ra tay vào bất cứ lúc nào nếu Đề Thám ra lệnh.
Vì vậy, Đại tá Galliéni cảm thấy rất khó lòng dùng võ lực để uy hiếp hay tấn công Đề Thám.
Bởi vậy, Đại tá mong rằng Đề Thám quy thuận theo sự “ôn hòa” kêu gọi của Đại tá là hơn, để tránh sự xô xát đổ máu của hai bên.
Vì Đại tá cũng có thể đoán biết được kết quả sẽ ra thế nào, một khi hai bên đã chạm trán dữ dội.
Thư chiêu hàng, Đại tá đã gửi đi.
Đại tá đợi, không biết Đề Thám sẽ nghĩ ra sao?
Đến ngày 22, Đại tá lại tiếp nhận thêm được một số võ khí viện trợ. Một pháo thuyền đã đổ bộ lên Bố Hạ một số đạn trái phá có chất mê-li-nít (mélinite) mà nước Pháp vừa mới phát minh được.
Như vậy, lực lượng của Đại tá càng thêm mạnh mẽ. Quân số nhiều lại thêm khí giới tối tân, còn gì hơn?
Trong khoảng thời gian từ 20 đến 22 tháng 11 năm 1895 và cũng trong lúc chờ đợi Đề Thám trả lời, Đại tá Galliéni ra lệnh cho một đoàn quân trinh sát mở một cuộc hành quân vòng ngoài Yên Thế để thăm dò tình hình nghĩa quân. Trong lúc đó, các đơn vị ở hậu tuyến lo tích cực đào chiến hào và xây pháo lũy, luôn luôn bị đặt trong tình trạng báo động bất thường để sẵn sàng đối phó trong mọi trường hợp bất trắc.
 
Ngày 23 rồi ngày 24 trôi qua…
Đại tá đã hoài công đợi chờ…
Không một bức thư trả lời nào của Đề Thám gởi đến…
Đề Thám đã khinh thường vị chỉ huy Pháp quân rồi còn gì?
Nhưng, Đại tá vẫn kiên nhẫn và kiên nhẫn hơn bao giờ hết để nán đợi qua đến ngày 25…
Đại tá gửi tiếp một bức thư tối hậu cho vị Thủ lãnh nghĩa quân Yên Thế…
Lời lẽ bức thư này rất hằn học, nếu không nói là khiếm nhã, chứng tỏ tác giả của nó đang tức giận vì bị chạm tự ái và thể diện quá nặng.
Bức thư đó như sau:
 
THƯ GỬI ÔNG ĐỀ THÁM,
ngày 25 tháng 11 năm 1895
Chiểu theo lệnh quan Toàn quyền Đông Dương và Thống tướng Tổng Tư lệnh, tôi gửi tới ông những điều kiện dứt khoát về chuyện quy hàng:
1) Ông phải chuyển giao lại tất cả những pháo lũy và căn cứ điểm ở Yên Thế
2) Nạp toàn bộ vũ khí tại các pháo lũy nói trên. Những thuộc hạ của ông muốn quy thuận, nếu được ông cho biết rõ lý lịch tốt, đều được xung vào các cơ binh khố xanh hay khố đỏ.
3) Ông phải trở về sống dưới luật pháp chung và phục tùng chính quyền Bảo hộ. Việc đầu thú sẽ tiến hành ở Bắc Ninh trước sự hiện diện của các nhà chức trách Pháp Việt theo các nghi thức quy định.
4) Ông sẽ được phép di cư tới huyện Yên Dũng, làng Bình Yên để sống với gia đình và khai phá vùng hoang vu ấy. Ông sẽ được cấp phát dụng cụ nông trang cần thiết và được quyền giữ 40 tên quân với điều kiện phải đăng ký, chụp hình, vũ khí phải ghi số kiểm soát.
Tôi không nhắc đến chuyện Thống Luận và Thống Trự nữa vì ông không đủ quyền hạn buộc chúng tuân theo.
Hạn ba ngày ông phải trả lời thư này. Đến ngày 28, ông không nhận những điều khoản nói trên, tôi sẽ cắt đứt cuộc thương thuyết và coi ông là một kẻ thù của Chính phủ Bảo hộ.
Ký tên:
GALLIÉNI
 
Đến ngày 27, ba đoàn quân của ba viên Thiếu tá Rondony, Hoblingue và Roget được lệnh phải sẵn sàng để tiến quân vào sáng sớm ngày 29, nếu ngày 28 Đại tá không nhận được thư trả lời của Đề Thám.
 
Nhưng, đến ngày 28, Đại tá Galliéni lại nhận được một lá thư mà Đại tá hằng mong đợi suốt tuần nay của Đề Thám.
 
Bức thư này đại ý nói rằng Đề Thám hứa sẽ phái một viên lãnh binh đại diện Thám, dẫn 30 tay súng tới thẳng Tổng hành dinh của Pháp quân để điều đình.
 
Đề Thám cũng nói rõ trong thư rằng là Đề Thám yêu cầu được ở lại Phồn Xương như trước.
Xét cái tinh thần của sự trả lời này của Đề Thám, nhiều người cho rằng đây là một cái kế mà Đề Thám thi hành để kéo dài thời gian, hầu chuẩn bị lương thực và lo trang bị các lực lượng quân sự cho đầy đủ mà chống cự với Pháp quân sau này.
Nhận được thư của Đề Thám, Đại tá Galliéni đã nghĩ như thể nào?
Đại tá Galliéni đã trả lời:
“Tôi không thể thay đổi một điều khoản nào trong thư ngày 25 tháng 11 đã gửi cho Ông. Do đó tôi không thể tiếp viên lãnh binh và bộ hạ ông ở Nhã Nam.
Nếu ông không đích thân lên Nhã Nam ngày hôm nay, trước khi mặt trời lặn, nộp số vũ khí mà tôi biết rất rõ số lượng, tôi sẽ coi ông là phản loạn và thù nghịch. Tôi buộc lòng phải cương quyết hành động”.


Thư của Đại tá Galliéni đầy vẻ hăm dọa và uy hiếp.
Tưởng rằng thư này sẽ làm cho Đề Thám hoảng sợ, nhưng Đại tá Pháp quân đã lầm.
 
Đề Thám không thèm trả lời cho Đại tá như mấy lần trước nữa.
 
Đến chiều, không thấy thư của Đề Thám phúc đáp, Đại tá lại giật mình, vội đánh điện hỏa tốc lên Bộ Tổng Tư lệnh:
“Đề Thám đã trả lời bức thư của tôi. Hắn hứa phái ba mươi tay súng và một lãnh binh lên Nhã Nam.
Tôi đã trả lời không tiếp chúng, nếu Thám không đích thân tới. Đề Thám xin được ở lại Phồn Xương. Số người và võ khí đưa ra không đúng sự thật.
Mọi biện pháp tuân theo chỉ thị của quan Toàn quyền đều đã được thi hành. Rất tiếc điều đình không có kết quả. Trận đánh khởi diễn sáng mai”.
Ngoài ra, Đại tá cũng đánh một bức điện tín cho Thống tướng Duchemin như sau:
“… Do liên lạc rất khó khăn với các đơn vị đã tiến xa vào rừng, nên quá 5 giờ chiêu tối không thể thay đổi mệnh lệnh được nữa”.
Cuộc điều đình hoàn toàn thất bại và chấm dứt…”
Súng bắt đầu nổ trong rừng Yên Thế thượng.
***
Có thể nói rằng lúc ấy vì bị chạm tự ái và cũng vì tức giận, bởi Đề Thám quá khinh thường, mà Đại tá Galliéni mất cả sáng suốt để nhận định giá trị của Đề Thám cùng tình hình thật sự của chiến cuộc Yên Thế.
Vì vậy, Đại tá mới quyết định khởi sự tấn công vào ngày 29…
Nhưng, đối với vị Thống tướng Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương Duchemin, vấn đề trên không được nhìn thiển cận như Đại tá Galliéni.
Tướng Duchemin bấy giờ cũng như Toàn quyền Rousseau thấy rõ được tất cả quan trọng của vấn đề.
Vì, sau khi Phan Đình Phùng, linh hồn kháng chiến ở trận Ngàn Trươi, chết vì bịnh ở trong núi, tất cả nghĩa quân cũng như phong trào Văn Thân cách mạng từ Trung ra Bắc đều hướng về Đề Thám.
Tất cả mọi người đều tin tưởng vào vị Thủ lãnh kháng chiến quân cuối cùng của phong trào Cần Vương khởi nghĩa này, và hy vọng rằng Đề Thám sẽ là người thay Phan Đình Phùng lãnh đạo công cuộc kháng chiến chống Thực lâu dài.
 
Vì vậy, Tướng Duchemin nhận định rằng nếu Đại tá tấn công toàn lực vào chiến khu Yên Thế tức là kêu gọi sự nổi dậy của toàn thể kháng chiến quân từ miền Trung ra tới miền Bắc, để hợp tác với Đề Thám phá rối chính quyền Pháp khắp nơi thì nhất định Pháp quân không thể điều động kịp.
 
Trước kia, các nhóm nghĩa quân hoạt động lẻ tẻ nhưng nay họ rất có thể “đồng thanh tương ứng” hơn bao giờ hết.
Vì vậy, sau khi nhận được điện tín của Đại tá Galliéni cho hay sẽ tấn công Đề Thám trong một thời gian rất gần kề, tướng Duchemin lập tức ra lệnh cho Thiếu tá Lyautey đích thân mang chỉ thị, hỏa tốc đến Tổng hành dinh của Đại tá Galliéni ở Nhã Nam…
Thiếu tá Lyautey đến Tổng hành dinh Nhã Nam và gặp được Đại tá vào lúc 4 giờ chiều, trước giờ hạn định của Đại tá một giờ…
Đại tá đọc chỉ thị của vị Thống tướng Tổng Tư lệnh mà lòng xốn xang bối rối. Chỉ thị của tướng Duchemin như sau:
 “Buộc đối phương phải rút khỏi vị trí hơn là tiêu diệt toàn bộ lực lượng”
Thật là khó khăn cho Đại tá.
Nhưng, Đại tá vẫn phải thi hành mệnh lệnh này.
Vì mệnh lệnh này, cũng như vì những mệnh lệnh trước của quan Toàn quyền Rousseau, Đại tá trở thành một con người tầm thường trong trận chiến sắp xảy ra.
Đại tá không thể nào nêu cao được uy danh như những trận đánh úp chiến khu Lũng Lạt, chiến khu Kẽ Thượng hay như những thành tích diệt trừ nghĩa dũng quân Soudan độ trước.
Đại tá không đem đến cho Đề Thám một sự gì bất ngờ…
Vì, nếu nhận định về mặt quân sự, việc báo trước cho đối phương biết rõ thời khắc động binh của mình là một điều thật thất sách. Như vậy, không khác cho đối phương một võ khí lợi hại để kháng cự lại mình.
Hiểu như vậy nhưng vì mệnh lệnh thượng cấp, Đại tá vẫn phải triệt để thi hành.
Đại tá chỉ còn tức tối với riêng mình mà ghi vào cuốn sổ tay mấy dòng chữ:
“Bắt buộc phải tuân theo chỉ thị đã nhận được, Đã thông báo cho hắn (tức Đề Thám) biết trước thì giờ tấn công của mình, thật là cả một tai hại lớn cho cuộc hành quân này”.
Thật vậy, đến 8 giờ sáng ngày hôm sau, tức là ngày 29 tháng 11 năm 1895, Đại tá chỉ huy quân đội tiến vào Phồn Xương thì Đề Thám đã rút lui từ bao giờ, tuy rằng Đại tá chưa gửi thư buộc Đề Thám phải thoái lui.
 
Đại tá liền đặt bản doanh trận chiến tại đây và khiến quân tiến nhanh vào rừng và đuổi theo địch.
Chiến trận bắt đầu từ đây.
Đến 11 giờ trưa, đoàn quân thứ ba do thiếu tá Roget chỉ huy cụng đầu với một toán nghĩa quân… Tiếng súng bắt đầu nổ như bắp rang…
Tiếng súng đại bác bắt đầu như tiếng giã gạo chày tư.
Trong lúc đó, đoàn binh của Thiếu tá Rémond cùng bị nghĩa quân từ trong các lùm bụi ào ra đánh thình lình khi đoàn này vừa trờ tới một dãy chiến hào của nghĩa quân.
Đoàn binh của Thiếu ta Rémond trở tay không kịp.
Nghĩa quân từ trên các nhánh cây cao nhào đầu xuống mình lính Pháp như mưa, dùng mã tấu, đoản đao chém loạn đả…
Nghĩa quân từ dưới các chiến hào, ở các bụi cây lùm cỏ xung phong ra, ôm lính Pháp vật huỳnh huỵch để vừa cướp súng vừa hạ sát bằng dao ngắn.
Súng của Pháp quân không bắn vào đâu được với trận xung kích quyết liệt này.
Pháp quân đạp lên nhau chạy toán loạn…
Thấy vậy, Thiếu tá chỉ huy đoàn quân hoảng hốt phải hy sinh chạy lên hàng đầu, ráng hò hét cho quan binh còn sống sót lấy lại tinh thần, nhưng quân lính Pháp vẫn sợ hãi bò sát dưới mặt đất để vừa tránh các làn dao sáng loáng, ác liệt của nghĩa quân vừa tìm đường tẩu thoát.
Không một tên nào dám ngóc đầu lên để chạy… Vì cứ mỗi một tên gan lì vừa đứng dậy là phải rước một mũi tên hay một mũi dao cắm phập vào lưng hoặc một nhát mã tấu đi ngang qua cần cổ…
Nghĩa binh như những hung thần, hết lớp này đến lớp khác, từ đâu hiện ra rất bất ngờ. Nơi nào cũng có thể hiện ra được.
Từ trên cây nhào xuống, từ dưới đất chui lên, từ hai bên tràn qua. Đầu chặn nẻo, đuôi đánh lối…
Quân Pháp tưởng chừng như đang sa vào địa ngục hãi hùng.
Trong lúc đó, các đoàn quân khác nhờ có tiếng súng nổ mới lần dò ra được hướng của nghĩa quân và tìm ra được các hào lũy bí mật.
Các đội trinh sát vội vàng vụt mình leo lên các ngọn cây thoăn thoắt để nhận định phương hướng mà ra hiệu cho các cỗ đại bác hoạt động…
Trận chiến càng lúc càng ác liệt vô cùng.
Rừng Yên Thế vì bị cành lá các cây to che kín dày đặc nên khói súng đạn không chỗ thoát lên không gian, tỏa ra mù mịt. Mùi thuốc súng thật khó thở làm sao!
Tất cả các pháo lũy của nghĩa quân như bị bao trùm bởi một màn khói trắng, khiến cho hai bên kẻ địch không thể nào tìm ra được vị trí ẩn núp của nhau.
Qua 1 giờ rưỡi trưa, Đại tá Galliéni mới ra lệnh cho các đội trọng pháo bắt đầu áp dụng đạn trái phá của Pháp mới sáng chế có chất Mé-li-nít để tiêu diệt nghĩa quân.
Tiếng kèn hiệu vang lên ở đoàn quân thứ nhất do Thiếu tá Hoblingue chỉ huy.
Rồi!… “Gậy ông lại đập lưng ông
Trái phá đặc biệt mới của Pháp quân lại rơi nhầm vào phía bên hàng ngũ đoàn quân thứ nhất khiến cho đoàn quân này phải thiệt hại nặng nề.
Rõ thật “giáo Tàu đâm Chệt”!
Mà, thật vậy, làm sao tránh khỏi điều tai ác này.
Hai bên đánh nhau trong rừng sâu rậm rạp, một bên xua quân ra bao vây một mục tiêu không nhìn rõ được của kẻ địch, lại cho trọng pháo bắn tới nữa thì làm sao tránh được sự sai lạc, lầm lộn?
Nhận được kết quả “giáo Tàu đâm Chệt” này, Đại tá Galliéni toát cả mồ hôi hột, liền ra lệnh dừng quân lại.
 
Tất cả các đoàn đều “án binh bất động” chỗ nào ở yên chỗ nấy rồi báo cáo cho Tổng hành dinh biết rõ tình hình.
 
Sau khi nhận được báo cáo của các đoàn và thấu rõ được tình hình chung xong, Đại tá liền ra lệnh cho các đội trinh sát tiến chậm chạp vào rừng sâu để thăm dò lại vị trí của địch quân.
Các đội trinh sát tiến vào rừng được một lúc khá lâu thì Đại tá Galliéni lại nhận được tin:
Các đội trinh sát thuộc các đơn vị lính lê dương và đơn vị pháo binh lại bị nghĩa quân phục kích, thiệt hại nặng nề.
Nghĩa quân núp trong những chiến hào bí mật đã chĩa súng ra bắn từng loạt vào phía sau lưng họ, khiến họ tử trận rất nhiều vì xoay trở không kịp.
Được tin, Đại tá Galliéni liền ra lệnh cho tất cả các cánh quân xông tới tiếp cứu…
 
Đoàn quân thứ ba do Thiếu tá Roget chỉ huy đang ở trong tình trạng nguy hiểm (vì nghĩa quân đang lẩn lút, rình rập chung quanh) chưa kịp thi hành theo mệnh lệnh của Đại tá chỉ huy trưởng thì đơn vị của Đại úy Adeline thuộc đoàn quân thứ hai của Thiếu tá Rondony đã bị nghĩa quân chặn đường tấn công mãnh liệt.
Lúc đó, Pháp quân một phần lớn đều bị đàn áp dưới hỏa lực hùng hậu và quyết liệt của nghĩa quân tại tiền tuyến Bãi Mẹt.
 
Hai đơn vị xung phong do Trung úy Muller và Figear bị sa trọn vào ổ phục kích của nghĩa quân trong khu rừng rậm… Tất cả quan binh đều quằn quại dưới những loạt đạn ria của nghĩa quân rất ác liệt như những đám mưa rào.
Thấy vậy, Đại úy Adeline hoảng kinh vội thét quân thoái lui ra cách xa chiến lũy của nghĩa quân hơn 150 thước.
Trong lúc ấy, lần mò theo hướng súng nổ, Thiếu tá Rondony, chỉ huy trưởng đoàn quân thứ hai đó, đã đến kịp với Đại úy Adeline.
Thiếu tá cho liên lạc ngay với các đơn vị khác. Nhưng, Thiếu tá vẫn không thâu lượm được kết quả gì khả quan. Bởi, trong rừng rậm, sự liên lạc rất là khó khăn. Không một ngõ ngách nào để liên lạc viên lách mình chạy tới chạy lui được. Sự liên lạc giữa đoàn quân thứ nhất do Thiếu tá Hoblingue chỉ huy và đoàn quân thứ hai do Thiếu tá Rondony chỉ huy đã tắc nghẽn.
Một lúc lâu sau, nhờ sự xông xáo, gan dạ của Đại úy Grandmaison, chỉ huy một đơn vị tuần sát đi đầu rất là hùng hổ nên đoàn quân thứ nhất của Thiếu tá Hoblingue cũng tiến sâu được một quãng đáng kể…
Nhưng khi đến Dô Khua, đơn vị tuần sát của Đại úy Grandmaison chạm trán một lực lượng nghĩa quân rất quan trọng…
Đám nghĩa quân này ẩn núp trong một pháo lũy kín dáo, dưới một lùm cây rậm rạp nên Đại úy Grandmaison cùng các quan quân không nhận thấy được nên bị tấn công thình lình, rất dữ dội…
Hoảng kinh, Đại úy Grandmaison hét quân thoái lui lại cho thật mau lẹ…
Trong lúc đó, nghĩa binh vẫn bắn theo rào rào như mưa bấc.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.07.2017 13:11:39 bởi Ct.Ly>

CHƯƠNG VII

BÀI HỌC YÊN THẾ:
Nghị hòa lần thứ hai
Phan Sào Nam gặp Đề Thám tại đồn Phồn Xương
Cuộc tấn công lần này của Đại tá Galliéni vào Yên Thế cũng không có kếl quả gì hơn những cuộc tấn công độ trước của Trung tá Dugenne, Thiếu tá Dumont và Piquel cùng tướng Godin và Đại tá Frey.
Ngay nửa ngày đầu hôm 29, Pháp quân đã thiệt hại rất nhiều, trong lúc đó nghĩa quân chưa nao núng gì cả.
Đêm đã bắt đầu đến…
Một màn âm u, đen tối vụt chốc đã bao trùm xuống cả một khu rừng thiêng bí hiểm, rậm rạp…
Rừng già đã bắt đầu chết trong cõi lặng lẽ và huyền bí lạ lùng…
Đại tá Galliéni ra lệnh dừng binh: Các đoàn quân đang ở tại nơi nào hãy đóng yên nơi đó.
Bởi Đại tá nhận thấy rằng tất cả cảnh vật âm u của núi rừng xung quanh có thể là cạm bẫy ác hiểm của nghĩa quân, đang chờ đợi sát hại bất cứ đoàn quân Pháp nào hay dễ ngươi bước chân đến.
 
Soát lại lực lượng, sau một ngày tác chiến, Pháp quân tổn hại đã nhiều mà cả ba đoàn quân chỉ tiến vào được có 1.500 thước xung quanh một vòng bán kính 300 thước mà thôi.
Các chiến lũy bí mật của nghĩa quân đầy rẫy trong rừng, kề cạnh bên các đoàn quân mà Pháp quân vẫn không khám phá nổi được.
 
Ngay chiều hôm đó, Đại tá Galliéni đã đánh một bức điện tín để báo cáo cho Thống tướng Tổng Tư lệnh Duchemin được rõ tình hình chiến trận đã xảy ra trong ngày như sau:
 
“Trời đã về chiều rồi…
Để tránh tổn thất nặng nề, tôi không cho tấn công vào các chiến lũy của nghĩa quân ngay trong đêm nay.
Đoàn binh thứ hai và thứ ba do hai Thiếu tá Rondony và Roget chỉ huy đã tới sát bên vị trí của địch cùng 8 pháo đài mạnh mẽ sẽ sẵn sàng tấn công nà nã đạn.
Tôi tính để đến ngày thứ hai và thứ ba mới đánh chiếm chiến lũy của đối phương. Đoàn quân thứ nhất do Thiếu tá Hoblingue chỉ huy sẽ chặn đường con sông Soi để không cho địch quân thoát thân.
Kết luận, trận chiến đã có kết quả tin tưởng, ta tiến được 1.500 thước và xua đuổi được địch quân vào một vòng vây nhỏ hẹp.
Hiện tại, chúng tôi còn lo ngại một điều là địch quân có thể lợi dụng đêm tối trời trong rừng này mà thoát thân ra khỏi vòng vây của chủng tôi.
Thiếu tá Lyautey đã gặp được tôi vào lúc 4 giờ chiều
Ký tên GALLIÉNI”
 
Cũng vào buổi chiều ngày hôm đó (29 tháng 11 năm 1895) Đại tá Galliéni ra lệnh cho tất cả các đơn vị tác chiến phải dọn dẹp tất cả những chướng ngại vật trên con đường tiến quân và canh phòng nghiêrn nhặt; đồng thời cũng chuẩn bị sẵn sàng để tấn công địch quân vào rạng ngày hôm sau.
Nếu, đang đêm tối mà nghĩa quân đến tấn công, phải dùng lưỡi lê và đoản đao xáp lá cà mà đẩy lui đi chớ không được dùng súng bắn lại.
Lệnh của Đại tá Galliéni ban hành: tuyệt đối cấm không được bắn một phát súng nào cả.
6 giờ sáng ngày hôm sau, Đại tá Galliéni đến gặp hai đoàn quân của Thiếu tá Rondony và Thiếu tá Roget ở nơi hai đoàn này đã hội lại. Đại tá Galliéni ra lệnh cho các đoàn quân khởi sự tiến vào các căn cứ điểm của nghĩa quàn.
Các cổ trọng pháo bắt đầu hoạt động để yểm trợ các đoàn bộ binh…
Đến nơi, tất cả rất đổi ngạc nhiên vì không gặp một bóng lạ nào. Tất cả nghĩa quân đều trốn thoát tự bao giờ, để lại các chiến lũy những xấp giấy má văng tứ tung.
Lần lượt, ba đoàn quân lại gặp nhau và không tìm được sự gì mới lạ… Đã vậy còn tốn phí đạn đại bác bắn yểm hộ rất vô ích.
Lục soát một hồi lâu trong rừng, Pháp quân mới tìm được một con đường rút quân của địch. Xem dấu vết, Đại tá mới hay rằng nghĩa quân Đề Thám rút lui rất có trật tự chớ không phải hỗn loạn như nghĩa quân của Hoàng Thái Ngân ở Lũng Bạt hay của Ba Ký ở Kẻ Thượng…
Bấy giờ, Đại tá mới thấy rõ tài điều binh khiển tướng của vị thủ lãnh cách mạng có võ trang ở rừng Yên Thế Thượng.
Sau đó, Đại tá mới ra lệnh cho một vị sĩ quan cấp tá lãnh nhiệm vụ cai trị vùng rừng núi này, sau khi Yên Thế đã trở thành một vùng quân sự mà phạm vi mở rộng đến trung tâm Chợ Phong, khu Vạn Linh và dọc theo đường xe lửa Kep và Than Mọi.
Ngoài ra, Đại tá Galliéni còn đặt thêm một đồn chính ở Phồn Xương, có pháo binh thường trực đóng giữ và sẵn sàng lên đường tác chiến, bất cứ vào lúc nào, nếu có mệnh lệnh của thượng cấp.
Những đường giao thông quan trọng, Đại tá cũng cho thiết lập lại tất cả.
Trong trận này, bên nghĩa quân mất hết một viên tướng. Đó là Thống Luận tức Thân Văn Luận, anh nuôi của Cô Ba (vợ của Đề Thám).
Thống Luận bị Pháp quân truy kích ráo riết quá nên phải đầu hàng.
Hàng ngũ nghĩa quân Đề Thám vì đó mà giảm bớt thế lực đi một vài phần.
Sau trận này, Đại tá Galliéni mãn hạn, được trở về xứ sở và nhớ mãi “bài học chiến trận tại rừng Yên Thế Thượng” của đất nước Việt Nam.
* * *
Xem xét lại chiến trận này, bên nào đã thắng?
Chưa hẳn nghĩa quân đã bại trận, tuy rằng nghĩa quân đã rút lui…
Còn xét về tài chỉ huy trận mạc giữa Đại tá Galliéni và Đề Thám ai hơn ai?
Người ta đã nhận thấy đại tá Galliéni là người rất nhiều kinh nghiệm về trận mạc, nhất là những cuộc hành quân nhưng còn thua vị Thủ lãnh nghĩa quân Yên Thế tinh thần dẻo dai và trí sáng suốt, nếu không nói là thua Đề Thám cái đức tính lầm lì đáng sợ của một nhà chỉ huy cương quyết và nắm vững phần thắng về phía mình.
Hơn nữa, vị Thủ lĩnh nghĩa quân Yên Thế đã phải ở trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn nhưng vì chính nghĩa nên lúc nào cũng ráng vượt qua được tất cả chướng ngại… Như vậy, Đề Thám còn thêm được một chí cả và một lòng dũng cảm khôn lường…
 
Yên Thế kể như đã mất, nhưng người anh hùng Yên Thế vẫn còn hoạt động không ngừng… đến hơi thở cuối cùng.
 
Sang năm 1897, Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm về nước… Nhờ có người thanh niên yêu nòi giống này giúp đỡ nên Đề Thám lần lần gây lại thế lực.
Sau trận Yên Thế, các đơn vị nghĩa quân phải phân tán lực lượng và phải di động luôn… Đề Thám phải cố gắng hết sức mới liên lạc với họ được.
Thêm nữa, Đề Thám vẫn cố gắng tiến hành công cuộc tổ chức nghĩa quân len lỏi vào hàng ngũ lính khố xanh, khố đỏ.
 
Đến tháng chạp năm 1898, Đề Thám kéo quân vào đột kích thành Hà Nội vào khoảng 1 giờ khuya đêm hôm 5 rạng ngày 6 dương lịch.
Pháp quân chống trả mãnh liệt lắm mới đẩy lui được quân Đề Thám…
Vụ đột kích này đã khiến Pháp quân phải kinh hoàng lên vì đây là lần đầu tiên Đề Thám xuất hiện trở lại, sau ba năm bôn ba và gần như im tiếng vì âm thầm hoạt động.
Sau hai giờ tấn công Pháp quân, nghĩa quân bị thiệt 4 người chết, 6 người bị thương và 71 người bị bắt…
Khoảng năm 1902 và 1903, cụ Phan Sào Nam gặp một võ tướng trong nhóm nghĩa quân Mai Xuân Thưởng trước kia, tên là Tăng Bạt Hổ.
Tăng Bạt Hổ vừa mới đi chu du các nước Tàu, Nhật và Xiêm về. Hội ngộ với Phan Sào Nam, Tăng Bạt Hổ trình bày kế hoạch của mình cho cụ Phan nghe là:
- Phải xuất dương để học hỏi thêm để tự cường.
- Bỏ lối học khoa cử từ chương sai lầm.
- Tranh đấu với Pháp bằng chính trị hơn bằng võ lực.
- Cổ xúy phong trào thanh niên xuất ngoại du học.
Đồng ý với Tăng Bạt Hổ, cụ Phan liền cùng với võ tướng họ Tăng đi khắp nơi, từ Nam tới Bắc để gặp gỡ các đồng chí cách mạng mà tuyên truyền kế hoạch cứu nước mới.
Trong chuyến đi này, cụ Phan và võ tướng họ Tăng có vào tận vùng Phồn Xương và tại nơi đây, hai người đã gặp vị Thủ lĩnh nghĩa quân Yên Thế và đã thảo luận trong một thời gian rất lâu.
Nhưng có lẽ đang ở trong một hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nên Đề Thám không thể tích cực hưởng ứng kế hoạch mới của Tăng Bạt Hổ được.
Dù vậy, Đề Thám cũng giúp đỡ cụ Phan hết lòng và dành riêng cho cụ Phan một vùng đất riêng biệt để cụ lập ấp mà luyện binh. Thêm nữa, cụ Phan có thể dùng nơi đây để làm chỗ tụ hợp các thanh nỉên ở vùng Nghệ Tĩnh cùng các bộ hạ của Phan Đình Phùng ngày trước.
Ngoài các nhóm kể trên, còn có con của ông Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật là Cả Tuyển cũng về hợp tác.
Chiến khu này do ông Tú Phạm Văn Ngôn lãnh đạo.
***
Vào tháng 12 năm 1896, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương là Rousseau mất. Chính phủ Pháp ở Paris liền cử ông Paul Doumer sang Việt Nam để thay thế Rousseau.
Đến năm 1901, Đề Thám nhận thấy hoàn cảnh kháng chiến vẫn còn nhiều điều chưa thuận tiện nên lại nghị hòa với Pháp quân một lần nữa.
Lần này, Đề Thám cũng lại nhờ giáo sĩ Velasco, Đức giám mục địa phận Bắc Ninh để đứng ra làm trung gian trong công cuộc thương thuyết.
Toàn quyền Paul Doumer chấp thuận.
Bởi lúc ấy, Toàn quyền Paul Doumer đang xin Quốc hội Pháp ở Paris chuẩn y một ngân khoản 200 triệu quan nên cố tình che đậy tất cả tình hình rối rắm như tơ vò ở Đông Dươgg.
Vì vậy mà Toàn quyền nhận lời của Đề Thám cho mối loạn Yên Thế được yên ổn một thời gian.
Đến ngày 27 tháng 4 năm 1901, Đề Thám chính thức ra trình diện với Chính quyền ở Nhã Nam trước sự hiện diện của:
- Tên Tổng đốc Bắc Ninh Lê Hoan khát máu.
- Moret, thanh tra dân sự vụ.
- Quennec, Công sứ Bắc Giang.
- Chéon, Đồng lý Văn phòng Phủ Thống sứ Bắc Kỳ.
Bắt đầu từ đây, Yên Thế sống trong cảnh thái bình, nhưng lại là một cảnh thái bình giả tạo…
Trong lúc này, cũng như lần cầu hòa thứ nhất với Pháp độ trước, Đề Thám vẫn lo củng cố lại hàng ngũ nghĩa quân trong khi bên ngoài mặt Thám hết sức tỏ lòng trung thành với Pháp.
Vì vậy, đến năm Thành Thái thứ 17 tức là năm 1905, một cuộc bạo động lại nổ bùng trong lòng Pháp quân…
Bởi, trong 4 năm thái bình giả tạo này, phong trào Duy Tân và Đông du Cầu học do các nhà cách mạng Phan Sào Nam, Tăng Bạt Hổ, Kỳ ngoại hầu Cường Để vận động và cổ xúy khiến các nhà cầm quyền Pháp đặc biệt lưu ý, theo dõi.
Nhờ vậy, phong trào Cần Vương ở Yên Thế mới có đà phát triển mau chóng dễ dàng trở lại được.
Đề Thám lại gây được một số tổ chức kháng chiến hùng mạnh ở trong hàng ngũ quân đội Pháp và trong các tầng lớp dân chúng.
Nghĩa quân cũng được trang bị lại bằng những võ khí tối tân hiệu Đức, một phần lớn do Đề Thám cho người đi mua ở Xiêm, Tàu, Nhật…
Lực lượng mỗi ngày một mạnh.
Để chuyển hướng theo trào lưu tiến bộ, Đề Thám cải tạo nghĩa quân Cần Vương trở thành những cán bộ đắc lực của đảng Nghĩa Hưng.
Nhờ có lực lượng hùng hậu như vậy, Đề Thám mới ra mặt chống cự Pháp quân trở lại vào năm 1905. Với chiến thuật “nội công, ngoại kích” và với mục đích táo bạo đánh bật Pháp quân ra khỏi thành Hà Nội.
Nhưng, kỳ này vẫn không thành công được.
Đến năm 1907, Đề Thám lại sai Lý Nho, Lang Seo và Đỗ Đàm tổ chức một âm mưu bạo động ở cửa Nam thành Hà Nội.
Ba người này được ủy thác làm nội ứng, để vận động binh lính và gây lực lượng võ trang, đồng thời phá lực lượng địch.
Những buổi hội họp thảo luận về chương trình hành động đã diễn ra liên tiếp ở một căn nhà đường Neyrel.
Tất cả mọi người đều tán thành ngày 17 tháng 11 năm 1907 sẽ là ngày hành động của toàn thể…
Lúc ấy, viên thanh tra dân sự vụ Morel được thay thế bởi Miribel. Và, căn nhà nói trên đã bị viên thanh tra dân sự vụ mới này chú ý theo dõi từ lâu.
Nhận thấy tình hình có vẻ khác thường, thanh tra dân sự vụ Miribel liền yêu cầu tòa án khiến một đội cảnh binh tới bao vây căn nhà nói trên để lục soát, ngăn ngừa trước các vụ nổi dậy của “phản loạn quân”.
Nhưng, viên Chưởng lý tòa án từ chối vì cho rằng không đủ bằng cớ. Viên Chưởng lý tòa án này lại bày tỏ ý kiến rằng nếu cho đội cảnh binh đến bao vây căn nhà nói trên ồ ạt thì thế nào dân chúng ở trong thành phố cũng sẽ hoang mang. Như vậy uy tín của Chính phủ Bảo hộ sẽ bị sứt mẻ.
Bị viên Chưởng lý tòa án chối từ, Thanh tra dân sự vụ Miribel liền cấp báo lên Thống tướng Tổng Tư lệnh quân đội, lúc bấy giờ là Piel.
Thống tướng Piel cũng không dám quyết định.
Thanh tra dân sự vụ Miribel chỉ được Thống tướng ra lệnh tước hết các súng đạn trong tất cả đơn vị lính “bản xứ” mà thôi.
Tuy thanh tra Miribel không hành động gì hơn, cuộc âm mưu của Lý Nho, Lang Seo và Đỗ Đàm không thành tựu, bởi đã bị nhà hữu trách Pháp theo dõi nên đảng viên Nghĩa Hưng không dám hành động.
Cuộc âm mưu này kể như đã thất bại.
Đảng Nghĩa Hưng lại chuẩn bị một cuộc nổi dậy khác nữa, ở trại lính Pháo thủ.
Lần này, nhờ rút kinh nghiệrn ở những lần thất bại trước, đảng Nghĩa Hưng tuyệt đối giữ kín các địa điểm chiến lược. Tất cả những hành động và mệnh lệnh đều tối mật.
Vào 9 giờ đêm hôm 22 tháng 5 nărn 1908, trong lúc binh lính sĩ quan Pháp đều mê ngủ, binh lính các trại khố xanh, khố đỏ đều tuân theo đúng mệnh lệnh của đảng Nghĩa Hưng. Tất cả đều lột bỏ hết phù hiệu của mình rồi mang súng chạy ra đón rước nghĩa quân từ hai ngã Gia Lâm và Sơn Tây sẽ lên tới.
Trong lúc đó, Cai Ngà lẹ tay tháo tất cả các bộ phận của các cỗ đại bác ở trong trại ra cốt để cho các đội Pháo binh phải bất lực khi có báo động, tiếp ứng.
Tất cả đều có kết quả tốt, đúng y như kế hoạch đã sẵn định.
Chỉ còn chờ hiệu lệnh là thi hành ngay giai đoạn cuối cùng của kế hoạch là sát phạt Pháp quân trong trại.
Trong giây phút chờ đợi nghĩa quân đến rất nặng nề, bỗng trong hàng ngũ chỉ huy các nhóm lính khố xanh, khố đỏ nổi dậy có những lời qua tiếng lại rất sôi nổi.
Có nhiều kẻ bất đồng ý kiến, rồi tự nhiên rút lui.
Một viên đội chán nản nhất định trở về trại và không tham dự cuộc nổi dậy nữa… Kế tiếp có nhiều người ngã ngũ về phía viên đội này thêm…
Thế là đã có nhiều người “trở cờ”.
Trước tình thế khủng hoảng này, Lý Nho phải gấp rút sửa đổi tình thế và hủy bỏ cuộc nổi dậy, hạ lệnh giải tán tất cả cho thật mau lẹ…
Nhưng, trong lúc đó, bỗng có tiếng reo hò vang dậy nổi lên của nghĩa quân, ở phía ngỏ Sơn Tây, mỗi lúc một gần, một gần thêm. Lửa bắt đầu cháy dữ dội, cũng về hướng này.
Nghĩa quân đã đến! Thôi rồi, cuộc nổi dậy đã lỡ dở rồi còn gì…
Pháp quân đã được báo động ngay tức khắc, chạy rần rật qua các ngỏ… Từ trong trại tung mình ra, chúng bổ nhào tới chặn đánh nghĩa quân…
Nghĩa quân đánh không lại, vừa kháng cự vừa thoái lui mau lẹ, rút về căn cứ…
Một lần nữa, cuộc nổi dậy có tổ chức bị Pháp quân đàn áp và nghĩa quân thất bại hoàn toàn.
Tuy nhiên, không một người nào bị bắt.
Nghĩa quân lại một lần được thêm mớ kinh nghiệm kháng Thực, ngay trong nội thành.
 
 
 
 
 

CHƯƠNG VIII

Vụ đầu độc lính Pháp với những án lịnh
khắc nghiệt của Hội đồng Đề Hình Pháp
 
 
Thất bại liên tiếp mấy lần, đảng Nghĩa Hưng vẫn không nao núng.
 
Đề Thám lại tiếp tục tổ chức một cuộc nổi dậy khác trong nội thành quân đội Pháp. Lần này, đảng Nghĩa Hưng được lệnh của Đề Thám phải chuẩn bị một kế hoạch tấn công Hà Nội cho thật kỹ lưỡng.
Không như mấy lần trước, lần này Đề Thám ra lệnh cho đảng Nghĩa Hưng phải tổ chức như sau:
1) Phải đầu độc quân lính và sĩ quan Pháp trước khi nghĩa quân từ bên ngoài xung phong vào tấn công.
2) Quân lính và các đảng viên Nghĩa Hưng nằm trong lòng địch phải chịu dưới quyền chỉ huy của các cán bộ nồng cốt của nghĩa quân. Có như vậy, cuộc nổi dậy mới có kết quả tốt.
Những cán bộ nòng cốt này là những viên lãnh binh ở Yên Thế do Đề Thám phái về Đô thành trước ngày nổi dậy.
Kế hoạch đã vạch rõ cuộc nổi dậy sẽ chính thức bắt đầu từ 9 giờ đêm hôm 27 tháng 7 năm 1908, tức là hai tháng sau cuộc nổi dậy trước.
Đêm đó, đúng giờ đã qui định, Cai Ngà sẽ lãnh nhiệm vụ bắn ba phát súng đại bác làm lệnh tiến quân rồi hợp lực với Cai Hiền dẫn quân lính xông tới tấn công mặt thành ở cửa Bắc.
Lúc ấy ở mặt Cầu Giấy, một nhóm nghĩa binh đã trấn thủ sẵn từ trước, khi nghe tiếng súng lệnh sẽ tung mình ra, tấn công mãnh liệt vào thành, xung phong chiếm lất cả doanh trại cùng đoạt lấy tất cả súng đạn ở trong kho.
Cùng một lượt với hai mặt kia, Đội Hỗ sẽ cùng với Đội Đàm dẫn binh ào tới trợ giúp. Đội Hỗ và Đội Đàm sẽ thâu hết toàn lực mà tiễu trừ trước những đội binh pháo thủ Pháp ở gần Trại lừa và các cỗ đại bác để cướp giống thú vật và loại súng nặng nề này mà kéo ra trấn giữ ở Cầu Giấy và Cầu Doumer (cầu Long Biên ngày nay)…
Nơi đây, hai đoàn quân của Đội Hỗ và Đội Đàm có nhiệm vụ phải chặn đường và đánh lui tất cả tiếp viện binh của Pháp quân từ các mặt Bắc Ninh, Sơn Tây và Hải Phòng kéo tới.
 
Trong lúc đó, một toán lính khố đỏ nổi dậy khác sẽ kéo ra trấn giữ ở mặt bãi Phúc Xá đồng thời cũng đốt phá tất cả những khu dân sự Pháp.
Thêm nữa, một toán nghĩa binh rất đông đảo và hùng hậu sẽ mau lẹ đánh vào mặt nhà ga Gia Lâm rồi sẽ đốt phá nhà ga này cùng với Trung tâm điện tín của Pháp cho tiêu tan đi…
Kế hoạch đã vạch định rất kỹ lưỡng như vậy, chỉ còn đợi tới ngày khởi sự.
Nhưng, lại vấp phải một trở ngại ngay lúc ban đầu. Trong đêm 26, Dương Bé, một vị chỉ huy lính khố xanh tham gia vào cuộc nổi dậy, triệu tập ngay một cuộc hội nghị bất thường ở ngay trong trại lính.
 
Dương Bé trao cho tất cả mọi người ám hiệu để liên lạc với nhau, đồng thời giao cho bốn người giúp việc ở câu lạc bộ hạ sĩ quan Pháp nhiệm vụ bỏ độc dược vào tất cả đồ ăn của hạ sĩ quan Pháp…
Nhưng, tất cả mọi người đều kinh hãi, không ai dám nhận lãnh việc làm táo bạo này, khiến cho Dương Bé phải tức giận đòi trừng phạt tất cả những người nào không đủ can đảm mà trốn tránh trách vụ.
Sự kiện này đã khiến xảy ra một vụ phản nghịch vào ngày chót, suy ra, cũng vì lỗi Dương Bé quá nóng tính, khiến cho nhiều người kinh hãi.
Vào 9 giờ rưỡi sáng ngày 27 tháng 6, một tên lính khố đỏ từ ngoài chạy vào văn phòng của viên Trung úy chỉ huy Đệ lục bộ đội Công binh tên là Delmonl để báo tin nghĩa quân sắp tấn công cho viên chỉ huy Pháp này nghe. Đồng thời hắn cũng kể tất cả kế hoạch cuộc tấn công của nghĩa quân và cuộc nổi dậy của lính khố đỏ sắp tới cho viên sĩ quan Pháp này nghe.
Sau đó, để được an toàn tính mạng, hắn xin Trung úy Delmont hãy giả vờ tống giam hắn vì một tội nào đó, để hẳn khỏi bị nghĩa quân hay Dương Bé xử tội phản nghịch của hắn.
Trung uý Delmont chấp thuận và hạ lệnh tống giam hắn ngay.
Thấy hắn bị giam, ba tên lính cùng với hắn giúp việc ở Câu lạc bộ hạ sĩ quan đã được Dương Bé giao phó công việc đầu độc Pháp quân đêm trước, tưởng cơ mưu đã bại lộ nên đâm hoảng lên.
Họ liền chạy tìm một Đức cha trong Trại để xưng tội. Chết nỗi, Đức cha này lại chạy đi báo cáo với vị Tư lệnh quân lực ở Hà Nội về những điều mà cha đã nghe được do ba tên lính khố đỏ kia đã xưng tội.
Trong lúc đó, Trung úy Delmont cũng đã cấp báo tin này trực tiếp lên thượng cấp của y.
Ngay trong buổi sáng hôm đó, Thống tướng Piel nhận được hai nguồn tin, nhưng lại khác nhau…
Tuy vậy, Thống tướng cũng ra lệnh thẳng tay đàn áp.
Cũng trong buổi sáng ngày hôm đó, từ Yên Thế vào Hà thành, Đội Hỗ có đem theo bốn lá cờ để treo ở bốn góc thành cùng với một số giấy tờ chứng minh để cấp cho quân lính và dân chúng đã tham dự vào cuộc tấn công Pháp quân hôm đó.
Đến 6 giờ chiều, Cai Ngà đã phân công tác xong cho từng đơn vị.
Một nhóm đầu bếp khác được chỉ định, thay thế mấy người đã được chỉ định trước, lãnh trách nhiệm đầu độc Pháp quân.
Tất cả mọi việc đều xong xuôi, có vẻ tốt đẹp như ý.
7 giờ tối, bên ngoài thành Hà Nội, các đơn vị nghĩa quân xung phong của Yên Thế đã đến và tiến lên mai phục sẵn sàng ở khắp các bờ ruộng.
Ven sông Hồng và bên bờ Hồ Tây, cũng có đầy rẫy những thuyền đậu san sát nhau… Đó là những thuyền chở đầy nghĩa binh, còn ẩn núp ở trong đó.
Đồng thời Xã Tuân cũng chỉ huy một đoàn gồm có 30 tay súng mai phục sẵn ở các kho bạc.
Trong lúc đó, bọn hạ sĩ quan và binh sĩ Pháp đang ăn uống nô đùa dữ tợn vì chưa hay biết gì…
Một lúc sau, Thiếu lá Grimaud nhận được tin cấp báo: hơn 200 lính Pháp thuộc Đệ tứ binh đoàn pháo binh và Đệ cứu binh đoàn thuộc địa đã ngộ độc.
Còi báo động thổi lên. Pháp quân phản ứng ngay và bắt ngay ba viên hạ sĩ người Việt thuộc đại đội công binh chiến đấu.
Kế tiếp, các đơn vị Pháp quân được lệnh phải chia nhau chiếm đóng tại các trung tâm chiến lược ở khắp trong thành phố cùng đóng giữ nhà máy điện.
Thấy Pháp quân đã bố phòng, biết công việc đã bại lộ, Cai Ngà cùng mấy người đầu bếp đầu độc quân lính Pháp đã lẹ làng tìm nơi trốn lánh.
Các đoàn nghĩa quân và dân chúng khởi nghĩa cũng được lệnh rút khỏi các vị trí đang đóng giữ.
Pháp quân xúc tiến ngay công việc bố ráp “loạn quân”. Một số cán bộ nòng cốt bị bắt ngay lại trận.
Cuộc nổi dậy đã bị chặn bẹp ngay từ lúc mới “ngóc cổ” lên.
Kế hoạch đánh chiếm thành Hà Nội của nghĩa quân đã trở thành mây khói. Lính Pháp ngộ độc chỉ xoàng thôi và không một người nào chết. Chỉ có một vài tên mất trí thôi nhưng vẫn chạy chữa được. Một tên khác vì ăn nhiều nên điên dại, xé tanh bành cả quần áo rồi leo lên xe đạp vừa chạy như bay trong thành phố, vừa la hét om xòm…
Pháp quân phải chạy theo rượt hắn sôi nổi lắm mới bắt hẳn trở lại được. Và cuộc nổi dậy chỉ có kết quả đến thế.
Trong số cán bộ nòng cốt, nghĩa quân và lính khố đỏ nổi dậy bị Pháp bắt được có: Đội Bình, Chánh Song, Đội Hỗ, Cai Ngà, Lang Seo, Đồ Đàm, Cai Tốn, Tú Bình, Dương Bé, Đội Nhàn, Bếp Xuân, Cai Lệ, Lái Vinh và Lái Hiền.
Ngàv 26 tháng 6 năm 1909, chính quyền Pháp nhóm họp Hội đồng Đề hình để xử tội những người tổ chức cuộc bạo động vào đêm 27 tháng 7 năm 1908.
Cuộc nhóm họp Hội đồng này đã kéo dài đến ngày 27 tháng 11 năm 1909.
Thành phần Hội đồng này gồm có:
1) Thanh tra dân sự vụ Miribel ngồi ghế chánh thẩm.
2) Công sứ Hà Đông Duvillier, ngôi ghế phụ thẩm dân sự.
3) Đại úy Villain, thuộc binh chủng pháo binh thuộc địa, ngồi ghế phụ thẩm quân sự.
4) Grilaut de Fontaines, Uỷ viên cộng hòa Tòa Thượng thẩm Hà Nội…
Kết quả bản án được công bố như sau:
1) 12 án tử hình gồm có: Lang Seo, Đội Hỗ, Đồ Đàm, Cai Ngà, Cai Tốn, Tú Bỉnh, Dương Bé, Đội Nhàn, Bếp Xuân, Cai Lệ, Lái Vinh và Lái Hiền đều bị xử chém.
2) 6 án tử hình khiếm diện.
3) 4 án chung thân khổ sai.
4) 26 án tội độ từ 5 đến 20 năm.
5) 10 án tù từ 1 năm đến 5 năm.
***
Sau cuộc mưu toan đột kích thành Hà Nộí, thất bại vào cuối tháng 7 năm 1908, đảng Nghĩa Hưng dần dần suy sụp bởi một số lớn cán bộ nòng cốt của nghĩa quân đã bị Pháp bắt được.
Người thì bị xử chém, kẻ thì bị tra khảo chết, còn một số thì bị tù đày, Một số khác đã lạc lõng chạy ẩn náu khắp nơi… thành ra, thế lực mỗi ngày một tàn tạ đi.
Những cái án của Hội đồng Đề Hình Pháp cũng đã khiến cho một số đông dân làng ở vùng Yên Thế kinh hoảng rồi chạy ra đầu hàng Pháp.
Vì vậy, số phận nghĩa quân Yên Thế đã đi vào một ngỏ không có lối thoát.
 
Không biết làm thế nào hơn, Đề Thám lại phải viết thư cầu hòa với Pháp một lần nữa để mà lần lựa mưu đồ lại cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ.
 
Thư cầu hòa của Đề Thám được vị võ quan cai trị ở Nhã Nam chuyển đệ lên vị Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ tên là Klobukowki, nhưng vị Toàn quyền này từ chối,
Vì ngày 26 tháng 6 năm 1908 (1 tháng trước ngày đảng Nghĩa Hưng đầu độc quân lính Pháp ở Hà Thành và âm mưu đánh chiếm Hà Thành), Toàn quyền Klobukowski đã quyết định tiêu diệt đảng Nghĩa Hưng và trừ khử tất cả gốc rễ của đảng này tức là nghĩa binh cùng Đề Thám ở Yên Thế.
 
Trước ngày tổng tấn công Yên Thế một hôm tức là vào ngày 28 tháng giêng năm 1909, tức ngày mùng 7 tháng giêng, niên huy Duy Tân thứ ba, Toàn quyền Klobukowski ra lệnh cho viên Thống sứ Bắc Kỳ dán yết thị khắp cả 4 tỉnh lân cận Yên Thế là Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phúc Yên để tuyên cáo với dân chúng và kể tội Đề Thám đã cầu hòa mấy lần mà vẫn tiếp tục công việc chống cự và phá hoại chính quyền Pháp.
Ngày hôm sau tức là ngày 29 tháng 1 năm 1909, Toàn quyền Klobukowski ra lệnh huy động tất cả lực lượng quân mã để tấn công Yên Thế.
Lúc này, Đề Thám có con trai lớn là Cả Trọng hết lòng theo phò tá. Thêm nữa có bộ tướng đắc lực như Cả Huỳnh và Cả Dinh.
Pháp quân bao vây đánh Yên Thế ròng rã đến 11 tháng trường. Trận chiến này chia ra làm hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất từ ngày 29 tháng giêng tới ngày 1 tháng 5 năm 1909.
Giai đoạn thứ hai từ ngày 5 tháng 7 tới 28 tháng 2 năm 1910.
Những trận đánh trong hai giai đoạn này rất ác liệt: Đề Thám phải bỏ đồn Phồn Xương mà rút vào chiến khu trong rừng sâu và dùng chiến thuật du kích lưu động để chống cự lại Pháp quân.
Tuy thoát khỏi vòng vây của Pháp quân, nhưng lực lượng của Đề Thám cũng bị tan rã, mất mát rất nhiều, ngày đêm phải lẩn trốn khắp nơi, vì ở không yên chỗ với các dội quân truy kích của Pháp.
Lúc này, Cả Tuyển (con của Tá tướng quân vụ Nguyễn Thiện Thuật) cùng với các thanh niên cách mạng ở vùng Nghệ Tĩnh và các bộ tướng của Phan Đình Phùng trước kia, đang ở chiến khu của Phan Sào Nam (trong rừng Yên Thế, nơi mà Đề Thám đã nhường cho cụ Phan trước kia), nghe tin Đề Thám bị Pháp quân bao vây rất ngặt, đều kéo nhau đến tiếp viện Đề Thám.
Họ đánh với Pháp quân nhiều trận rất ác liệt. Trận đánh kinh hồn và anh dũng hơn cả là trận ở núi Hàm Ếch.
***
Ngày mùng 8 tháng giêng năm Duy Tân thứ 3, tức là vào ngày 29 tháng giêng năm 1909, Pháp quân tuân theo lệnh của Toàn quyền Klobukowski lại cử Đại tá Bataille chỉ huy một đạo binh thứ hai gồm có:
1) 5 đại đội bộ binh bản xứ.
2) 4 đại đội tân binh thuộc địa,
3) 1 trung đội liên thanh.
4) 1 đội lính lê dương.
5) 1 đội pháo binh với những cỗ trọng pháo 80 ly.
6) 1 đại đội công binh chiến đấu.
7) 1 đội kỵ binh.
8) 1 đoàn binh yểm trợ đi theo ở phía sau gồm có trên 300 lính khố xanh vốn ở Bắc Giang, Vĩnh Yên và Phúc Yên để trợ chiến. Đạo binh này có nhiệm vụ bao vây rồi tiêu diệt tất cả các vị trí của nghĩa quân.
Đại tá Bataille cũng gởi tối hậu thư cho Đề Thám buộc Đề Thám phải nạp khí giới và nạp tất cả các binh lính khố xanh, khố đỏ đã đào ngũ trước kia, rồi về trình diện tại Hà Nội.
Đề Thám không thèm trả lời gì cả...
Tức giận, Đại tá Bataille hạ lệnh cho các đơn vị Pháp quân tiến vào. Nhưng vì Bộ Tư lệnh đã giữ bí mật các địa điểm tập trung nên hai đoàn lính khố xanh và quân chính quy hiểu sai lầm chỉ thị nên đã diễn trò “ nhà đá nhau” ở giữa rừng rậm.
Họ “choảng” nhau một vố thật đau, khiến cho hai bên đều thiệt hại bộn bàng.
Trong lúc đó, Cả Kinh và Cả Huỳnh chỉ huy 200 tay súng ở hai đồn Chợ Gò và Ấm Động đã đánh bạt một toàn lính khố xanh ra khỏi Nhã Nam một cách rất oanh liệt.
Sau đó, Đề Thám ra lệnh rút tất cả quân vào rừng sâu để bảo tồn lực lượng.
Qua ngày 30, Pháp quân chiếm được hai đồn Ẩm Động và Chợ Gò, tiếp ngày 1 tháng 2, Pháp quân cũng chiếm được căn cứ Rừng Tre, nhưng cũng thiệt hại khá nhiều khi tấn công địa điểm này. Ở Bố Hạ, Cai Sơn đánh với Đại úy Pagès cũng bị thua nên chạy vào rừng.
Qua hôm sau, ở Đồng Đăng, cả Kinh, Cả Huỳnh cùng Lý Thu chỉ huy một đoàn nghĩa quân đụng độ với một đơn vị chủ lực quân Pháp rất dữ dộỉ.
Trận này kéo dài từ 1 giờ trưa đến 6 giờ chiều, nghĩa quân mới rút lui toàn vẹn sau khi bắn trọng thương được hai sĩ quan chỉ huy Pháp là Đại úy Teyssier và Trung úy Beneyton.
Pháp quân liền đuổi theo truy nã rất gắt gao. Toán quân do Cả Huỳnh chỉ huy còn có một phần ba và qua tháng tư, Cả Trọng đánh với Đại úy Daufès và Đại úy Bouchet ở Đền Vương, rồi tử trận vì bị bộ hạ bắn lầm.
Đến Thanh Nhâm, Cả Huỳnh lại đụng độ với Đại úy Poilevey và hai bên đánh với nhau rất dữ dội.
Bộ tướng của Cả Huỳnh là Lãnh Thái và Lãnh Thuận tử trận. Cả Huỳnh bị trúng thương rất nặng nhưng ráng rút quân về tới Nãi Từ được rồi thì chết.
Lý Thu, Đề Bào, Hai Huân đều ra hàng.
Đề Thám chỉ còn có người vợ thứ Ba và Cả Dinh là những người thân và tâm phúc chạy theo kề cạnh bên mình được bén gót thôi.
Lực lượng của nghĩa quân cách mạng lại thiệt thêm những phần tử đắc dụng…
Nhưng, … chưa chi Pháp quân đã lạc quan, vào cuối tháng 4 năm 1909, Pháp quân lập bảng tổng kết tình hình hành binh để cho các báo trong và ngoài nước Việt Nam đăng tải.
Pháp quân đã cho hay những kết quả như sau:
- BÊN PHÍA NGHĨA QUÂN YÊN THẾ:
1) Hoàn toàn bình định được Yên Thế
2) 44 “loạn quân” bị giết.
3) 15 “loạn quân” bị bắt làm tù binh.
- BÊN PHÍA PHÁP QUÂN:
1) 29 lính tử trận, trong số này có 7 lính Pháp.
2) 74 lính bị thương, trong số này có 5 sĩ quan và 24 lính Pháp.
Tướng giặc đã mất hết uy tín và sắp phải đầu hàng…
 
Tiếp theo đó, Pháp quân sửa soạn rút quân ra khỏi Yên Thế…
 
 
 
 
 
 
 

CHƯƠNG IX

 
Con đường tàn lụn
 của Thủ lãnh nghĩa quân Yên Thế
 
Nhưng …
Thật sự Đề Thám về sau lại tập trung tất cả lực lượng Nghĩa Hưng còn lại ở Phủ Lỗ… Hơn nữa, nghĩa quân còn bắt cóc được một Pháp kiều tên là Voisin…
Tin này tung ra, Pháp quân lại một phen giật nảy mình… và trong lúc này, Đề Thám có nhờ Đức giám mục Velasco ở địa phận Bắc Ninh gửi thư cầu hòa nhưng Toàn quyền Klobukowski không chấp thuận.
Ở Hà Nội, những kiều dân Pháp lo sợ nơm nớp, ngày lẫn đêm với tin nghĩa quân đã bắt được Voisin. Họ lại sợ đến lượt mình chịu số phận như Voisin…
Phủ Toàn quyền Đông Dương liền ra lệnh cho Thống tướng Tổng Tư lệnh quân đội thời bấy giờ tên là Geil phải cất quân một lần nữa. Lần này Pháp quân hành binh với hai mục đích:
1) Tiêu diệt toàn lực nghĩa quân Yên Thế và đảng Nghĩa Hưng cho bằng được.
2) Giải thoát cho Voisin cấp tốc.
Nhận được lệnh, Thống tướng Tổng tư lệnh lại giao phó cho Thiếu tá Chofflet quyền chỉ huy cuộc hành quân này.
Thiếu tá Chofflet đã từng nổi danh là một tên khát máu vào bậc nhất trong đoàn quân viễn chinh Pháp.
Ngày 12 tháng 7 cũng năm ấy, Toàn quyền Klobukowski thay vì thương thuyết lại gửi cho Đề Thám một bức thư đầy hăm dọa, với thái độ của một kẻ thất phu: “Thả Voisin ra, ông sẽ được toàn mạng, bằng không…”
 
Trong lúc đó, Thiếu tá Chofflet đang tập trung quân lực ở Phúc Yên…
Bên nghĩa quân Đề Thám vẫn không nao núng, tuy rằng người vợ thứ ba của ông lúc là Cô Ba, cùng với một số bộ tướng đã hết sức khuyên Đề Thám nên thả Voisin ra.
Đến ngày 14 tháng 7, Pháp ra lệnh cho Thiếu tá Chofflet tấn công một địa điểm ở làng Lai mà Đề Thám đang tập trung lực lượng, nhưng khi Thiếu tá Chofflet dẫn quân tới thì lại không gặp một “mống” nào.
Tức giận, Thiếu tá Chofflel bắn chết viên Lý trưởng và Phó lý của làng này cho… bõ ghét
Thì ra, Đề Thám rất khôn ngoan luôn luôn di động quân lực, không bao giờ ở lâu một chỗ. Dù cho đêm ngày hay mưa nắng khổ cực cũng vậy.
Lúc đó, đám tàn quân của Đề Thám chỉ còn có:
1) 24 khẩu súng trường Lebel
2) 20 khẩu súng trường Gras
3) 10 khẩu súng nhẹ hiệu Winschesler
4) 10 khẩu súng nhẹ đủ kiểu khác
5) 10 khẩu súng tay hiệu Mauser
6) 4 khẩu súng lục liên,
7) 2 khẩu súng tay Browning.
Cùng với một số súng hư mới sửa chữa lại tàm tạm, không tốt gì mấy.
Đám tàn quân này thường lẩn lút trong hai vùng nam Thái Nguyên và Phúc Yên.
Pháp quân lúc nào cũng rượt theo bén gót. Đi tới đâu, Thiếu tá Chofflet cũng bắn giết và tra khảo đày đọa dân chúng lương thiện.
Khổ một nỗi, Voisin cố tình đi chậm lại, nghĩa quân tức giận phải quật ngã hắn xuống rồi trói gò hắn lại mà cáng đi…
Vào ngày 22 tháng 7, Đề Thám dẫn quân vào làng Xuân Lai để đóng quân và kiếm thêm lương thực… Lúc này, nghĩa quân phải khổ sở hơn bao giờ hết.
Vì Thiếu tá Chofflet tàn bạo quá đỗi, hễ làng nào có nghĩa quân đi qua là làng đó bị bắn giết, đốt phá kinh hồn.
Bởi vậy không làng nào dám tiếp cứu và đón rước quân Đề Thám. Khi ở làng Xuân Lai thì quân Đề Thám lại bị Thiếu tá Chofflet kéo quân đến bao vây và tấn công bất ngờ.
 
Ở trong làng có một tên điểm chỉ vỉên tay sai của Pháp, nên khi Đề Thám vừa đến là nó báo cho Chofflet biết ngay.
 
Trận chiến ác liệt kéo dài từ sáng tới chiều tối, Hai bên đều ghìm nhau. Pháp không tiến nổi mà nghĩa quân cũng không lui được.
 
Pháo binh Pháp vẫn hoạt động mạnh mẽ, nhưng không làm gì quân Đề Thám được bởi bị mắc mưu Đề Thám liên tiếp cả ba phen.
Hễ mỗi khi pháo binh Pháp bắn dọn đường cho các đội tân binh tiến tới thì Đề Thám chĩa súng vào họng Voisin, bắt hắn phải la to cho Thiếu tá Chofflet nghe rõ được:
- “Đừng bắn nữa! Ông Đề Thám đã ưng thuận đầu hàng rồi!
Tiếng nổ của trọng pháo vừa dứt, tân binh được lệnh nhào tới tước khí giới của “loạn quân” thì đã nhận lãnh ngay những loạt đạn bắn tới tấp như mưa.
Lần thứ nhì và lần thứ ba, quân Pháp cũng mắc mưu Đề Thám tương tự như vậy.
Sau ba lần đó, Pháp quân thiệt hại quân lính hết sức nặng nề nên không dám tiến quân nữa.
Đến sáng ngày 23 thi viện binh Pháp từ Đại Phúc lại kéo lên tới, nhưng nghĩa quân đã rút lui tự bao giờ mà quân của thiếu tá Chofflet không một ai phát giác được.
 
Thì ra, ngay nửa đêm hôm đó, nghĩa quân đã âm thầm phân tán từng nhóm nhỏ rút lui nhanh nhẹn và êm thấm ra khỏi làng rồi tập trung lại ở một địa điểm nọ trên các bờ đê rồi giả làm các toán lính thuộc địa vừa bắn vào làng Xuân Lai như mưa bấc vừa la hét om sòm một hồi rồi mới chịu rút lui.
Trong lúc đó, quân của Thiếu tá Chofflet mắc kế nghĩa quân và chỉ chú trọng có cái cổng làng nên cứ mải canh chừng ở mặt này, để cho nghĩa quân rút lui mà không hay.
Đến sáng sớm ngày 25, Đề Thám mới suy nghĩ kỹ và phóng thích Voisin đoạn kéo quân về làng Hiền Lương.
 
Nhưng mới có 6 giờ sáng thì đồn Pháp ở làng này đã hay tin. Thiếu tá Chofflet được cấp báo liền thân hành chỉ huy một đoàn binh xung phong tới đánh ngay tức khắc.
Hai bên chạm trán nhau dữ dội.
Kết quả sau hai đợt xung phong của Pháp: Thiệt hại nặng nề với sĩ số: Đại tá Perthuis cùng với 13 tên lính Pháp tử trận và 20 tên lính Pháp khác bị thương nặng nhẹ.
***
Toàn quyền Klobukowski nhận thấy quân đội Pháp đã đánh quân Đề Thám mãi mà vẫn không tiêu diệt được, hơn nữa lại hao binh tổn tướrg rất nhiều.
Ông ta xoay qua nước cờ khác.
Ông muốn “Gà nhà bôi mặt đá nhau” cho vui hơn.
 
Vì vậy, Toàn quyền Klobukowski buộc triều đình Huế phải phong cho tên Việt gian khát máu Lê Hoan, Tổng đốc Bắc Ninh, làm Khâm sai đại thần để cầm quân Nam triều đánh “loạn quân” Đề Thám, thay cho Pháp quân.
Triều đình Huế, vì áp lực của thực dân, nên nghe theo.
Bởi đó, vào ngày 30 tháng 7, Tổng đốc Lê Hoan đến Phúc Yên với 400 tên lính để nhận ấn và mệnh lệnh của triều đình Huế, trước sự hiện diện của Thống tướng Tổng tư lệnh qnân đội Geil và Thống sứ Bắc Kỳ Miribel (vừa được thăng chức).
Bắt đầu từ đó, Pháp quân đã rảnh rang mà ngồi nhìn cảnh “nồi da xáo thịt”.
Khâm sai đại thần Lê Hoan lên cầm binh quyền để “tiễu trừ phiến loạn” lại tàn ác không thua gì Thiếu tá Chofflet… Những vùng có nghĩa quân đi qua, dân cư đều bị Lê Hoan lên án tại chỗ rồi đem ra xử bắn. Già trẻ, trai gái gì Lê Hoan cũng không tha.
Tất cả những vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Yên và Phúc Yên đều tràn ngập “biển máu”. Toàn thể bao trùm một màu thê lương, ảm đạm. Dân tình ta thán… Tiếng khóc than nguyền rủa dậy trời đất…
 
Về sau, Bonifacy được nhà cầm quyền quân sự cử lên thay thế cho Thiếu tá Chofflet chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp.
Bonifacy cùng với Lê Hoan ngày đêm cùng hợp nhau đánh rát vào nghĩa quân và dồn nghĩa quân vào ngõ bí.
Ngày 24 tháng 10, Cả Kinh tới nước đường cùng phải ra đầu thú. Kế tiếp, Cả Dinh lại trúng kế Lê Hoan ra đầu hàng Pháp với 6 người tâm phúc đầy đủ võ khí.
Đến ngày 20 tháng 11, Cai Sơn cũng không thể tiếp tục chiến đấu được nữa nên đầu hàng cùng với 78 nghĩa quân khác.
Đề Thám và Cô Ba mang tàn quân về đóng quanh vùng Chợ Gò, Mõ Tràng và Đình Tập giữa chốn rừng sâu.
Quân Pháp vẫn theo dõi Đề Thám từng bước chân. Không một nơi nào mà chúng không lục soát kỹ.
Trong một cuộc loạn chiến, Cô Ba bị Pháp quân bắt được cùng với đứa con gái nhỏ tên là Hoàng Thị Thế.
Đề Thám cùng với hai tên tâm phúc may mắn chạy vuột khỏi.
 
Đến ngày 9 tháng 12 năm 1909, đoàn binh của Bonifacy giải tán.
 
 Rồi ngày 28 tháng 2 năm 1910, chính phủ Bảo hộ Pháp tuyên bố chấm dứt cuộc bình định “loạn quân”.
Nhưng, con hùm Yên Thế vẫn còn sống và đang ở ngoài vòng cai trị của Pháp.
***
Tháng 7 năm 1911, Đề Thám trở về rừng Thượng Yên. Được tin, Pháp quân lại phải điều động binh mã một lần nữa đến bao vây một ngọn đồi gần Yên Thế.
Một cuộc chạm trán đã xảy ra.
Kết quả: bên Pháp quân 7 người bị trọng thương và 5 người chết.
Còn Đề Thám?
Vẫn trốn thoát được!
Đến ngày 12 tháng 3 năm 1912, Đề Thám có gửi cho viên Công sứ Nhã Nam là Bouchet một phong thư để xin quy thuận. Bouchet trả lời không chấp thuận rồi đem quân truy nã gắt.
Đến hạ tuần tháng 6, Đề Thám lại gửi lên chính phủ Pháp một lá thư cầu hòa khác nữa. Quan Toàn quyền bấy giờ là Albert Sarraut cũng trả lời rằng “không”.
Đồng thời, Toàn quyền Albert Sarraut cũng ngăn cản, không cho viên Công sứ Nhã Nam là Bouchet cất quân diệt trừ Đề Thám khi viên Công sứ này đã tìm được căn cứ của Đề Thám.
Tại sao?
Tại vì Albert Sarraut đã tìm ra một mưu kế độc ác.
 
Sau một lúc tham luận với viên Thống sứ Bắc Kỳ thời bấy giờ là Desteny và viên Giám đốc Chính trị vụ Phủ Toàn quyền, Albert Sarraut liền phái một thuộc hạ là Bosc lên chợ Chu tìm tên giặc khách Lương Tam Kỳ.
Albert Sarraut hạ lệnh thưởng Lương Tam Kỳ 25.000 đồng, nếu Lương Tam Kỳ hạ được Đề Thám.
Tên giặc khách này nhận lời ngay.
Lương Tam Kỳ là một kẻ đi nước đôi. Trước kia theo Đề Thám, nhưng sau này lại ngã về Pháp quân, lấy tin tức của nghĩa quân mà bán cho Pháp.
Trong lúc đó, Đề Thám không ngờ…
Ngày 10 tháng giêng năm 1913, Lương Tam Kỷ phái ba tên bộ hạ tâm phúc vào rừng Thượng Yên. Ba tên này tự nhận là người của phong trào cách mạng Trung Hoa gửi đến để giúp Thám…
Tuy chúng xuất trình những giấy tờ giả mạo giống như thật, Đề Thám vẫn nghi ngờ và không tin dùng ngay.
Ba tên này ngày đêm theo dõi rình rập Đề Thám để chờ dịp ra tay.
 
Một hôm, thấy thái độ khả nghi của chúng, Đề Thám liền nói với nghĩa bóng cho hai người tâm phúc của mình hiểu:
- Ở đây có ba cái cây to làm trở ngại con đường đi, hai anh hãy chặt đi, cây lớn trước rồi cây nhỏ sau cho con đường được thông suốt.
Tuy vậy, ba tên bộ hạ của Lương Tam Kỳ cũng hiểu được và bàn nhau ra tay trước.
Đêm 9 tháng 2, Đề Thám bày mâm đèn ra hút và sai hai kẻ tâm phúc của mình ra canh chừng trước cửa.Lúc bấy giờ Đề Thám ở cách Chợ Gò khoảng hai cây số.
Đến 5 giờ sáng, một tên trong bộ ba tay sai Lương Tam Kỳ trở mình rồi bò nhè nhẹ đến bên giường Đề Thám, trong lúc hai tên kia bò lại gần bên người canh gác và lẹ làng ra tay.
Nghe tiếng động, Đề Thám vội móc súng lục ra nhưng đã trễ. Tên giặc kia đã nhanh tay dùng cuốc bổ mạnh vào ba sườn Đề Thám một cái như trời giáng.
Tiếp theo, những nhát búa khác vùn vụt sa xuống cần cổ Thám.
Bên ngoài, hai tên tâm phúc của Thám cũng chung số phận với chủ tướng, lãnh hai con dao cắm phập vào chỗ yếu, tắt thở theo chủ tướng.
 
Qua ngày hôm sau, ba tên bộ hạ của Lương Tam Kỳ, đứa ra tay hạ sát Đề Thám tên là Ly Seng Kông xách ba cái đầu còn đầy máu tươi đến dinh của Bouchet ở Nhã Nam trình diện lãnh thưởng.
Thế rồi, trong ngày đó, Bouchet đã cho bêu đầu của Đề Thám cùng với cái đầu của hai kẻ tâm phúc kia ở ngoài chợ Nhã Nam.
 
Tới đây, cuộc kháng chiến của nghĩa quân Yên Thế và đảng Nghĩa Hưng mới chấm dứt hẳn.
***
Đề Thám! Người đã để lại hậu thế những bài học kháng chiến quí giá và một tinh thần bất khuất đáng ca tụng
 
 
HẾT




0