📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tình trên non cao - C. V. Gheorghiu 🔒

23 trả lời, 72 lượt xem — Trang 1 / 1
 
Tình trên non cao
Tác giả: C. V. Gheorghiu
Người dịch: Văn Hòa & Nhất Anh

 
I
Agapia, thành phố tình yêu
 
Cách Paris, thủ đô nước Pháp, ba ngàn cây số, trong miền ngoại ô lớn của Âu châu, trên sườn phía Đông của dãy núi Carpathes, nơi khởi điểm của cánh đồng lớn, cánh hoang nguyên băng qua nước Nga và mất hút ở tận cùng châu Á, có thành phố nhỏ Agapia.
Sáng hôm ấy người ta tổ chức lễ nhậm chức của vị thẩm phán thành phố. Hôm đó là ngày thứ năm đầu tiên của tháng ba. Ở đâu khác thì mùa xuân. Nhưng ở Agapia hoàn toàn là mùa đông. Thành phố bị tuyết bao vây từ nhiều tháng rồi. Vị thẩm phán tên là Cosma Damian. Đây là nhiệm sở đầu tiên của ông. Ông vừa chấm dứt những năm học ở nhà trường và mãn thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự. Người ta nói ông hai mươi lăm tuổi, nhưng khó tin điều đó. Ông có dáng dấp của một sinh viên, gầy, nhút nhát và lễ phép với tất cả mọi người. Chung quanh ông, chỉ thấy toàn người lớn tuổi. Ở giữa các nhà chức trách khác của thành phố, ông chẳng khác gì một học sinh được vinh dự hội họp với các giáo sư.
Người ta đã nói tới việc ông đến nhậm chức ở đây từ lâu rồi. Và đã chuẩn bị tỉ mỉ lễ nhậm chức của ông. Bây giờ thì lễ trọng thể ấy đã xong. Agapia đã có vị thẩm phán của mình, vị thẩm phán Cosma Damian, có các vị Tỉnh trưởng, chánh án, giám đốc sở cảnh sát, chỉ huy trưởng hiến binh và tất cả các nhà chức trách dân sự, quân sự và tôn giáo của quận Petrodava.
Các quan chức đã đến ga Agapia sáng hôm nay bằng chuyến xe lửa đặc biệt. Có tất cả vài mươi vị mặc lễ phục đen hoặc quân phục, áo choàng có cổ lông thú. Một số vị có cả phu nhân cùng đi. Họ đi bộ đến nhà thờ, sát nhà ga, ở phía bên kia con đường tình yêu. Sau lễ nghi tôn giáo, thẩm phán Damian đến làm lễ nhậm chức tại đại sảnh của tòa án. Lễ chính thức chỉ dài không đầy nửa tiếng đồng hồ. Sau đó quan chức dự tiệc trong phòng khách của tòa án. Quan khách lấy làm lạ khi thấy bàn ghế, chén bát, muỗng, nĩa v.v... rất đẹp. Thẩm phán Cosma Damian lại con ngạc nhiên hơn ai hết.
Sau bữa tiệc, các vị chức trách trở về cũng bằng chuyến xe lửa dành riêng. Thẩm phán Damian còn lại một mình, đi đến tư thất, cũng ở ngay trong tòa án. Tư thất gồm có một phòng ăn lớn, một phòng khách lớn và năm gian phòng. Tất cả các phòng đều được trang bị bởi những tay thợ lành nghề và lệnh là không được sợ tổn hao.
Ngôi nhà đẹp đẽ và sang trọng mà thẩm phán Damian sắp ở một mình lúc này đây, vì ông chỉ mới có vợ chưa cưới mà thôi, ngôi nhà ấy nguyên được xây dụng để làm trụ sở quận. Ngôi nhà gần như mới. Vài năm trước, cậu con trai của một vị Bộ trưởng, ở nước ngoài trở về, sức khỏe rất kém vì bắt đầu bị bệnh lao phổi. Để bồi dưỡng sức khỏe cho cậu con trai, nhưng vẫn để cậu ta có công tác, vì các nhà dưỡng bệnh làm phương hại đến tinh thần các thanh niên và để lại dấu ấn trong suốt cuộc đời của họ - Ông bố Bộ trưởng thiết lập chức vụ quận trưởng ở Agapia. Ở đây không khí trong lành tốt cho các người bị bệnh phổi. Ông cho xây dụng trụ sở quận đẹp đẽ này, và bổ nhiệm con trai làm quận trưởng. Khi cậu ấm con ngài Bộ trưởng lành bệnh và không còn cần ở Agapia nữa, quận này được bãi bỏ. Cậu ấm được bổ nhiệm làm đại sứ ở Nam Mỹ. Trụ sở quận bỏ trống. Theo đề nghị của hội đồng thành phố và Thị trưởng Agapia, người ta thiết lập tại trụ sở quận cũ một tòa án hòa giải. Người ta không cần thẩm phán hòa giải ở Agapia, cũng như người ta không cần quận trưởng. Nhưng vì người ta có một tòa nhà đẹp đẽ đến thế, người ta nhủ là phải sử dụng nó một cách tốt nhất.
Cosma Damian, vị thẩm phán đầu tiên, đã đến đây hai ngày rồi. Ông không có thì giờ, cũng không có can đảm đi xem tỉ mỉ ngôi nhà của mình. Hôm nay, sau khi quan khách đã ra về, vì ông chính thức là chủ nhà và vì ông không có bất cứ việc gì để làm, ông quyết định đi quan sát một vòng.
Điều duy nhất làm ông khó chịu trong ngôi nhà này là đồng thời nhận được bàn, ghế, tủ giường, mùng màn chăn nệm, những bộ đồ ăn uống và những vật trang trí, ông còn nhận được cả những người phục dịch nữa. Họ đều được nhà nước trả lương. Trước kia họ thuộc Bộ Nội vụ, và bây giờ được chuyển qua Bộ Tư pháp. Đứng đầu các người phục vụ là bà Eudoxia. Bà nguyên là quản gia của ông quận trưởng. Bà ở trên vị thẩm phán, vì thâm niên của bà ở trong nhà, vì tuổi tác và vì những người phục dịch trong nhà và dân chúng ở thành phố này đều sợ bà. Mới đầu, chính ông thẩm phán cũng sợ bà Eudoxia. Nói cho đúng thì không phải là sự sợ hãi. Chỉ có điều là ông thích tiếp xúc với bà quản gia càng ít càng tốt. Như vậy những mối quan hệ giữa Cosma Damian và bà Eudoxia đã được định đoạt dứt khoát ngay từ ngày đầu.
Thẩm phán Damian là con của một giáo viên tiểu học nghèo. Thân phụ ông mất chẳng bao lâu sau khi ông chào đời. Lên năm tuổi ông lại mồ côi mẹ. Cosma được một bà cô già có lòng nhân hậu đem về nuôi. Hai năm sau, khi bà này qua đời, ông được ký thác vào một viện mồ côi. Ở đây, ngay từ đầu, trong đám bạn bè cùng lớp và cùng cảnh ngộ bất hạnh, ông đã tỏ ra xuất sắc đến mức người ta gởi ông đến học ở một trường trung học. Thế là ba tháng nghỉ hè ông ở tại viện mồ côi, và các tháng học thì ở nội trú tại trường. Suốt đời, ông sống tập thể. Sau khi đậu bằng tú tài, ông ở tại một cư xá sinh viên. Đây cũng là một nơi nội trú khác. Khi ông từ giã nơi nội trứ này, với tất cả các bằng cấp trong tay, ông lại vào ở trong doanh trại. Ông vừa hoàn tất thời gian nghĩa vụ quân sự được vài tuần thì được bổ nhiệm làm thẩm phán tại tòa án hòa giải ở Agapia. Đối với ông, những ngày đầu tiên được tự do, độc lập và sống cuộc đời thật sự dân sự là những ngày ông vừa trải qua ở Agapia, trong ngôi nhà này.
Ngày đầu tiên ở Agapia, là thứ ba. Sáng sớm khi thức dậy ông thẩm phán đã dọn dẹp giường ngủ của mình, một cách máy móc. Cũng như ông đã làm như thế từ lúc còn ấu thơ, mỗi buổi sáng, ở viện mồ côi, ở nội trú, ở cư xá và ở doanh trại. Khi bà Eudoxia, quản gia, đem bữa điểm tâm đến thấy thế bà đã hoảng hồn hoảng vía. Bà nhìn cái giường, nhưng thấy ông thẩm phán quá trẻ, bà đã không quở trách ông. Bà Eudoxia đã đỏ mặt và như một bà mẹ, bà đã nói với giọng cảm động.
- Ông thẩm phán phải làm quen với ý niệm rằng ông không còn là một học sinh trung học phải tự dọn dẹp lấy giường của mình... Ông thẩm phán không được quên rằng mình là vị quan tòa của thành phố, là nhà chức trách cao cấp nhất ở Agapia.
Một giờ sau, bà Eudoxia trở lại, hoảng hốt đứng trước vị quan tòa, chủ nhân của bà:
- Xin ông thẩm phán từ nay trở đi vui lòng đừng tự đánh giầy của mình nữa!
Suốt cả đời, Cosma Damian đã bị khiển trách mỗi khi quên đánh giầy, quên dọn dẹp giường và quên chải áo quần của mình. Bỗng chốc ông phải bỏ thói quen làm các việc ấy. Quên đi những gì ông đã học. Ông đã có được chức vụ này sau một kỳ thi tuyển Dự thẩm tòa án. Trong năm mươi bốn thí sinh ứng tuyển, không ai nghe nói đến thành phố Agapia bao giờ. Người ta lấy làm ngạc nhiên khi thấy rằng Bộ Tư pháp xem Agapia là nhiệm sở tốt nhất và dành nhiệm sở ấy cho thí sinh đỗ đầu kỳ thi tuyển. Bây giờ Cosma Damian mới hiểu vì sao. Chính vì ngôi nhà này mà nhiệm sở này được xem là tốt nhất. Sau nữa cũng là vị trí của thành phố. Ở đây có độ cao, có những rừng tùng tuyệt đẹp, có núi non, có không khí trong lành và khô ráo, và có sự yên tĩnh. Sống ở Agapia tức là nghỉ mát ở miền núi. Vì các lẽ ấy mà ông Bộ trưởng độc tài kia, cách đây năm năm đã thiết lập quận Agapia và bổ nhiệm cậu con trai bị bệnh phổi làm quận trưởng.
Sau khi rụt rè đi quan sát một vòng ngôi nhà mà mình là chủ nhân, thẩm phán Cosma Damian trở lại bàn giấy của mình. Ông Filaret, viên cảnh sát trưởng, đang chờ cấp trên. Ngồi trong một chiếc phô-tơi bọc da màu đỏ, trước bàn giấy, Filaret ngắm nhìn ảnh Elena, vị hôn thê của ông thẩm phán.
- Xin ông thẩm phán thứ lỗi cho tôi về việc đã vào phòng giấy của ông không có một nghi thức nào cả. - Viên cảnh sát trưởng lên tiếng.
Ông ta to béo, thấp, đầu hói, khuôn mặt đỏ và phị, và chắc ông ta phải trạc tuổi ngũ tuần, ông ta ăn mặc khá luộm thuộm, không có vẻ gì là một nhân viên ngành cảnh sát, thậm chí là một công chức cũng không; nói cách khác, ông ta không có dáng là “nhà chức trách”. Trái lại ông ta có vẻ là “con buôn” và hiền lành. Ông ta có một cái nhìn trung thực, vui tươi và chắc là vô cùng nhân ái và ngoan đoạn.
- Ông thẩm phán thứ lỗi cho tôi - Viên cảnh sát trưởng nói tiếp - Nếu mặc dù không quên sự kính trọng mà tôi phải có đối với vị quan tòa, tôi xem ông như con của tôi. Tôi không có vợ. Tôi sống độc thân. Nhưng nếu tôi có con, chúng sẽ lớn tuổi hơn ông. Lẽ dĩ nhiên, ông là cấp chỉ huy của tôi. Cấp trên của tôi... Tuy nhiên, chiều nay, khi trở về nhà sau buổi lễ, tôi tự nhủ rằng mọi người đã đi hết rồi, chắc ông buồn chán vì thui thủi một mình. Tôi đã nghĩ đến ông như nghĩ đến một người con trai. Tôi muốn mời ông về nhà tôi. Rồi tôi đã mặc áo choàng và đi đến đây. Ông không có gia đình, bạn bè ở đây. Ông không quen ai trong thành phố này. Chắc ông phải cảm thấy vô cùng cô đơn trong ngôi nhà to lớn này.
Cảnh sát trưởng Filaret quan sát các bức tường, bàn ghế trong phòng. Một lần nữa ông ta ngắm nhìn ảnh tiểu thư Elena.
- Ông thẩm phán sắp cưới vợ phải không? Tốt lắm. Có vợ rồi, ông sẽ cảm thấy rất thoải mái ở đây.
- Vị hôn thê của tôi không thích nghề của tôi - Thẩm phán Damian nói - Nàng những muốn tôi trở thành một luật sư lỗi lạc. Nàng nói rằng nàng hổ thẹn muốn chết khi nghĩ rằng nàng sẽ là vợ một người đàn ông mà nghề nghiệp là đẩy đồng bào của mình vào những nhà giam kín dưới đất và vào những nhà tù khổ sai. Nàng xấu hổ với ý nghĩ có một người chồng kềm kẹp tra tấn anh em đồng loại, đưa họ đến giáo đài, đến trước đội hành hình để bị thắt cổ, chặt đầu, bắn chết...
- Vậy thì Agapia là một nơi lý tưởng! - Filaret hớn hở nói.
Ông ta nói thêm:
- Ông hãy viết thư cho vị hôn thê của ông rằng vị quan tòa ở Agapia, dù có sống trăm năm, cũng sẽ không bao giờ có dịp bỏ tù một người nào. Ông sẽ không có cơ hội bỏ tù ai, ngay cả trong trường hợp ông muốn ở lại đây suốt đời. Ngay cả việc còng tay một người, ông cũng không có dịp phải làm. Agapia là một thành phố vô cùng lành mạnh, một thành phố trong sạch. Toàn quận miền núi Petrodava là một vùng đất lành mạnh. Đây là một quận không có danh bản tư pháp lý lịch. Theo sự ghi nhớ của con người, và chắc chắn là từ khi tạo thiên lập địa, không có một ai, tại vùng đất này của chúng tôi phạm tội giết người, hiếp dâm, một trọng tội. Tôi là cảnh sát trưởng thành phố Agapia đã ba mươi năm nay. Tôi cũng thế, tôi không muốn là nhân viên ngành cảnh sát. Lúc tôi tám tuổi, cha mẹ tôi gởi tôi vào tu viện ở Neamtz. Đáng lẽ tôi trở thành tu sĩ. Chúng tôi, người ở đây, chúng tôi rất ham muốn làm tu sĩ. Tôi đã học đọc, học viết và tôi hoàn tất việc học hành tại chủng viện. Khi tôi rời tu viện để thi hành nghĩa vụ quân sự, người ta đưa tôi vào ngành hiến binh. Ở đó, tôi đã theo học những khóa về cảnh sát. Tôi là người có trình độ học vấn cao nhất trong lớp tân binh. Thế là tôi đã hoàn tất thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự với cấp bậc thiếu úy cảnh sát. Và người ta đã bổ nhiệm tôi công tác ở Agapia thay vì cho tôi trở về tu viện. Người ta đã đoán chắc với tôi rằng, với tư cách là cảnh sát trưởng Agapia, công việc của tôi cũng chẳng khác công việc của các cha xứ. Ít nhất là về bề ngoài. Thật sự, những gì tôi đã làm trong ba mươi năm nay với tư cách là cảnh sát trưởng Agapia thì cũng chẳng khác nào với hoạt động của thầy giáo, của ông Thị trưởng, của cha xứ. Tất cả hoạt động của tôi trong phạm trù cảnh sát chỉ giới hạn trong việc khiển trách các bà nội trợ khi họ xả rác bừa bãi ra ngoài đường, khi họ chậm quét tuyết phủ trước nhà, khi họ quên lau chùi lề đường trước các cửa hiệu. Tôi phạt những kẻ ca hát ban đêm ngoài đường phố, những kẻ la hét quá to tiếng, hay những kẻ láng giềng gây lộn nhau. Lẽ dĩ nhiên là những vụ ăn cắp vặt; nhưng không phải là trộm cắp thật sự, nói đúng hơn là những trò tinh nghịch ranh quái... Cũng có những vụ săn bắn và đánh cắp cá trái phép. Nhưng điều đó là thuộc tính chất cố hữu của người miền núi. Người ta không coi đó là điều hệ trọng. Thật sự thì cách đây hơn một năm, có một án mạng, nhưng không phải là một vụ cố sát. Đó là một tai họa, một tai nạn. Có thể ông đã nghe nói đến vụ ấy... Agapia là một chốn trong sạch. Một thành phố lý tưởng đối với một nhân viên cảnh sát và đối với một quan tòa. Đây là một thành phố không có việc tư pháp. Nếu ông muốn săn bắn, câu cá hay nghiên cứu học hành, thì ông sẽ thấy đây là thiên đường. Không khí ở đây khô ráo và trong lành, tinh khiết như kim cương, tốt lành đến mức người ta có cảm tưởng bổ dưỡng khi hít thở nó vào phổi. Không khí ấy tăng cường sức khỏe. Bắp thịt trở thành rắn chắc như thép.
- Và mùa đông thì sao? Mùa đông ở vùng này kéo dài không dưới năm tháng phải không? - Thẩm phán Damian hỏi.
- Ôi! Mùa đông, thưa ông thẩm phán!... Khi người ta đã quá quen thuộc với mùa đông, ở đây, trên vùng cao này, trong rừng, khi người ta đã biết màu trắng của mùa đông ở đây, màu trắng tinh khiết ấy, thì người ta yêu mến nó. Tất cả vạn vật, tất cả nhà cửa, cây cối, đất đai, đường sá, sông ngòi, không còn là những vật tầm thường, mà trở thành ngọc, pha lê, kim cương... khi người ta biết mùa đông ở đây, người ta thích nó hơn tất cả các mùa khác. Vì trên thế gian này không có gì sánh kịp màu trắng lộng lẫy của mùa đông trong vùng núi cao. Người ta thật sự đang ở trong vương quốc của các đấng thiên thần.
- Vậy thì vì sao các ông đã xin thiết lập ở Agapia một tòa án hòa giải và bổ nhiệm đến đây một thẩm phán nếu các ông không có các vụ việc tư pháp, nếu không bao giờ có đại hình hoặc tiểu hình?
- Đơn giản thôi, thưa ông - Cảnh sát trưởng Filaret đáp - Khi người ta bãi bỏ quận Agapia, người ta đã bàn cãi nhiều về việc sử dụng trụ sở quận. Đây là ngôi nhà đẹp nhất của thành phố. Dùng nó làm trụ sở Tòa Thị chính hay sở cảnh sát thì người ta thấy tiếc. Vả lại, sở cảnh sát, Tòa Thị chính và tất cả các cơ quan khác đã có trụ sở rồi. Người ta quyết định đặt ở Agapia một giới chức có danh vọng. Người ta bèn xin thiết lập một tòa án hòa giải. Chúng tôi bằng lòng. Chúng tôi có một quan tòa và một pháp đình. Ở Agapia tất cả mọi sự đều được thiết lập như thể thức quận hành chánh và tòa án hòa giải. Cách đây độ một thế kỷ, các vị tổng trấn, các vị chính trị gia của chúng tôi thấy tất cả các nước phương Tây đều có đường xe lửa. Người ta bèn quyết định cũng xây dựng đường sắt tại vùng đất của chúng tôi. Để theo mốt, theo phong trào. Các nước nhỏ phải bắt chước các nước lớn. Để có danh tiếng. Vậy là người ta mời các kỹ sư nước ngoài. Những kỹ sư Pháp. Để bắt đầu, người ta đặt cho họ làm một đường sắt xuyên toàn quốc từ biên giới này đến biên giới kia, từ Nam chí Bắc, như một đường kính. Vậy là người ta đã có con đường sắt ấy. Nó xuyên toàn quốc và chạy qua thủ đô. Nó chạy qua Agapia. Vì xe lửa thỉnh thoảng phải ngừng lại, và vì trên một quãng đường dài không có thành thị cũng như làng mạc, người ta quyết định cho xe lửa ngừng ở Agapia. Và người ta xây ở đó một nhà ga. Rồi một khách sạn. Rồi người ta gọi đến một xà ích. Vì ở đâu có nhà ga thì phải có xe ngựa và khách sạn. Sau đó, người ta đặt một đồn cảnh sát. Và một trạm thuế. Và một Tòa Thị chính. Và lần hồi, người ta xây dựng cả một thành phố. Vì có nhà ga, chúng tôi có hai chuyến xe lửa chạy qua lúc nửa đêm và hai chuyến lúc giữa trưa. Đó là những chuyến xe chạy từ Bắc tới Nam và những chuyến từ Nam tới Bắc. Các chuyến ấy gặp nhau tại ga Agapia, lúc giữa trưa và lúc giữa đêm.
Trước khi là một ga xe lửa, Agapia chỉ có độc nhất một con đường mòn, ngày nay đã trở thành con đường chính và có tên gọi là con đường Tình Yêu [1]. Đó là con đường duy nhất của thành phố chúng tôi. Trước kia nó chỉ là một con đường mòn mà theo đó các ẩn sĩ tức các người tu một mình ở nơi núi non, các nữ tu sĩ và các Agapètes từ đồng bằng leo lên các đỉnh núi. Trên cao ấy, trong rừng, trên các mỏm đá và trong các đường ngóc ngách hay đèo ải bí mật có những lều của những người ẩn tu, những tịnh viện và những nơi để các bà muốn xa lánh chốn thị thành đến đây để ẩn mình và cầu nguyện. Khi leo lên núi hoặc ở trên núi xuống, họ đi theo con đường mòn này mà người đặt cho cái tên là “Đường Tình Yêu”. Đã lâu con đường vẫn giữ cái tên ấy mặc dù các Agapètes không còn dùng con đường này nữa. Để lên núi hoặc xuống, họ theo một con đường vắng vẻ hơn, vì theo họ, con đường cũ có quá nhiều người qua lại. Cách đây độ ba mươi năm, hội đồng thành phố quyết định đặt tên đường, bảng số nhà như các thành phố khác. Chỉ có một con đường, “Đường Tình Yêu”. Người ta đã cố tìm một cái tên đẹp cho con đường. Nhất là chỉ cho một con đường... Người ta đã cố tìm một cái tên nghe cho kêu và thơ mộng. Người ta đã không tìm ra. Với tư cách là cảnh sát trưởng, tôi có tham dự cuộc thảo luận của hội đồng. Ông thẩm phán không biết chúng tôi đã khó khăn như thế nào để tìm một cái tên đẹp cho một con đường, khi chỉ có một con đường duy nhất trong toàn thành phố. Vì người ta phải đặt làm những bảng hiệu và những bảng số nhà, người ta đã quyết định duy trì cái tên cũ: “Con đường các Agapètes”. Sau đó người ta lại có một ý kiến tuyệt vời: duy trì tên cũ, nhưng dịch nghĩa nó ra. Thay vì “Con đường các Agapètes” thì gọi là “Con đường Tình Yêu”. Vì Agapètes có nghĩa là những nữ tu hiến dâng tình yêu. Lẽ dĩ nhiên, nguyên thủy đó là những nữ tu hiến dâng tình yêu cho Chúa... Thật là một ý kiến hết sức hay. Ngày nay mọi ngươi đều thán phục các bảng hiệu với cái tên đường ấy. Các người nước ngoài nói “Thơ mộng biết bao khi có một con đường tên là ‘Con đường Tình Yêu’!” Thấy thành công trong việc dịch nghĩa tên con đường, người ta đã muốn dịch luôn tên của thành phố. Agapia và gọi là Thành phố Tình yêu vì theo ngôn ngữ Hy Lạp Agapia nghĩa là tình yêu. Nhưng người ta đã không đồng ý được với nhau. Người ta thấy có vẻ tầm thường khi một thành phố lại mang tên là Thành phố Tình yêu. Có lẽ một ngày nào đó, con cái chúng tôi hoặc cháu chắt chúng tôi sẽ dịch nghĩa từ tiếng Hy Lạp sang tiếng của chúng tôi. Và lúc đó thành phố của chúng tôi sẽ có tên là “Thành phố Tình yêu”.
Cảnh sát trưởng Filaret say sưa nói về thành phố của mình. Ông sinh ra ở đây. Và tổ tiên ông cũng thế. Ông vô cùng hãnh diện nghĩ rằng trong thành phố của mình không bao giờ có tội đại hình cũng như tiểu hình. Khi viên cảnh sát trưởng giã từ vị thẩm phán thì đã tối mịt. Ở đây trời tối sớm hơn nơi khác. Và đêm dài hơn nơi khác. Tuyết rơi. Vì ở Agapia, tuyết rơi gần như không ngớt năm tháng mỗi năm. Hôm nay là thứ năm đầu tiên của tháng ba. Như vậy là còn hơn hai tháng nữa mới hết mùa tuyết rơi và mùa đông.
Trước khi đi ngủ, thẩm phán viết một bức thư rất tình tứ cho vị hôn thê. Ông giải thích với nàng rằng, mặc dù là quan tòa, ông sẽ chẳng bao giờ có dịp ghép đồng bào của mình vào vòng tù tội, hay tra tấn kìm kẹp họ; vì ở đây, ở Agapia, theo ký ức của con người, người ta chưa bao giờ thấy xảy ra một vụ án tiểu hình nào. Sau đó ông đi ngủ trong một cái giường lớn hình vuông.
---------------------------
[1] Nguyên văn Chemin des Agapètes. Trong giáo hội nguyên thủy Agapètes là các nam giáo sĩ ở trong nhà thờ các nữ tu sĩ hay các nữ tu sĩ làm việc với các nam giáo sĩ. Các từ Agapètes, Agapia xuất xứ là Agapé tiếng Hy Lạp có nghĩa là Tình Yêu (N.D).
📎 ttnc
0
II
Vụ ám sát tại lâu đài
 
Thẩm phán Cosma Damian ngủ ngay sau khi lăn mình vào trong cái giường to lớn và đẹp lộng lẫy, như thể là ông nhào vào ngay trong những làn sóng bạc của đồ đăng-ten, đồ thêu và nệm lông trắng tinh. Ngày lễ ông nhậm chức quan tòa là một ngày đáng ghi nhớ và vất vả đối với một thẩm phán. Hơn nữa, Cosma Damian thể chất yếu ớt. Đời sống ở viện mồ côi, ở nội trú trường trung học, ở cư xá sinh viên và ở doanh trại quân đội, với những bữa ăn trong các căn-tin và giấc ngủ trong các phòng ngủ tập thể, đã làm cho ông có sức khỏe mỏng manh.
Damian luôn luôn đứng đầu lớp, từ trường mẫu giáo cho đến kỳ thi tuyển vào ngành Tòa án mới vài tuần trước đây. Các giáo sư và bạn bè của ông luôn xem ông là một người có trí thông minh đặc biệt.
Bây giờ ông đã hoàn tất nền học vấn của mình; nhưng thiên tài mà mọi người chờ đợi nơi ông, chưa thấy phát hiện. Trái với các giáo sư và bạn bè của mình, Damian nhận thức ngay từ đầu là mình chỉ có một sự thông minh bình thường. Nếu ông luôn luôn đứng đầu lớp và nếu ông đã đáp đúng các câu hỏi của các giám khảo trong các kỳ thi, điều đó duy nhất chỉ vì ông là con mồ côi. Một đứa con mồ côi, cũng như tất cả những kẻ nghèo khổ, bắt buộc phải làm việc cực nhọc hơn những kẻ khác. Nó bắt buộc phải làm việc một cách nghiêm chỉnh. Cosma Damian đã làm việc một cách nghiêm chỉnh, nhưng ông không có thiên tài, thậm chí không có một sự thông minh đặc biệt.
Một hôm ở viện đại học, Damian đã gặp Elena.
Đây là người thiếu nữ đầu tiên đã dành cho ông một sự chú ý nào đó. Elena nghe ông nói chuyện với vẻ ưu ái. Vì vậy mà ông gắn bó với nàng bằng một mối tình tri ân. Cosma Damian không biết vị hôn thê đẹp như thế nào, thân ái như thế nào, nhưng ông yêu quý nàng một cách say mê. Đây là người đàn bà đầu tiên trên đời đã nhìn ông một cách trìu mến, với đôi mắt đàn bà. Vì vậy ông đã quyết định cưới nàng. Lúc ông quen biết Elena, ông mơ ước trở thành một luật sư lớn, một nhà biện hộ danh tiếng có ảnh đăng trên các nhật báo. Bố của Elena, viên chức Nhà nước, muốn có một chàng rể có lương bổng cố định, địa vị vững chãi, chức vụ rõ rệt và hưu bổng bảo đảm. Viên chức Nhà nước mặc đồng phục, nếu có thể. Thí dụ, sĩ quan quân đội, sĩ quan cảnh sát, quan tòa.
Bố của Elena đặt nghề luật sư ngang hàng với nghề diễn viên, nhạc sĩ hay họa sĩ, là những nghề mà người ta khởi sự mỗi ngày, những nghề phiêu lưu, vì tương lai luôn luôn bất trắc. Nghề luật sư là một nghề mà người ta phải đứng mà hành xử, người ta phải luôn luôn tranh đấu. Luật sư, cũng như người nghệ sĩ, mỗi ngày phải phát minh một cái gì mới mẻ, và mỗi ngày phải đi theo một con đường chưa ai đi qua. Trong lúc, trong các nghề khác, mỗi ngày người ta cùng đi theo một con đường. Các luật sư và nghệ sĩ giống như những tay chạy đua trên sân vận động, giống như những con ngựa đua trên đường đua ngựa. Họ không cầm chắc được kết quả của cuộc đua và mỗi ngày bắt buộc họ phải ganh đua, loại bỏ nhau một các không thương tiếc.
Nghề quan tòa thì trái lại. Là quan tòa trước tiên, điều đó có nghĩa là ngồi mà làm việc. Và ngồi một cách đường bệ, trong một ghế phô-tơi. Ghế phô-tơi là dụng cụ làm việc và là biểu hiện của nghề xử án. Một quan tòa không cần có óc sáng tạo. Trái với điều người ta nghĩ, một quan tòa không bao giờ gặp tình thế khó xử. Vì một quan tòa không bao giờ làm việc tùy theo lương tâm mình. Ông ta cân nhắc các tài liệu, các chứng cứ, các sự việc. Ông ta xem xét chúng để xem đúng hay sai, giống như người bán hàng kiểm soát chất lượng của món hàng. Rồi ông ta lại cân nhắc một lần nữa cái phải, cái trái. Ông ta cân nhắc tội phạm nặng nhẹ, và tìm trong bộ luật như người ta tra một giá biểu niêm yết ở chợ, cái giá phải trả của tội phạm ấy bằng thời gian phải lưu đày, phải ở tù, bằng số năm bị cầm cố, bị trục xuất. Công việc của quan tòa là cân nhắc những sự kiện đã được ghi rõ trong các tài liệu của hồ sơ, như người ta cân một món hàng, và sau đó bắt người phạm tội phải trả cái giá của cái tội mà y đã phạm. Bộ luật hình sự là một cái giá biểu. Quan tòa không cần phải đánh giá mà chỉ cần áp dụng đúng giá biểu. Ông ta không phải vận dụng lương tâm mình. Cũng như người bán hàng. Quan tòa lý tưởng, quan tòa của một xã hội khoa học, có lẽ sẽ là một cái máy điện tử; sau khi sắp xếp các lý lẽ bênh và các lý lẽ chống, đăng ký trên các phiếu bởi các luật sư biện hộ và bởi các ủy viên công tố, cái máy điện tử ấy sẽ trộn lẫn tất cả và cho ra con số năm tháng của hình phạt. Công lý ban bố như thế bởi các máy điện tử sẽ có cái lợi là thoát khỏi các ảnh hưởng có thể tác động đến các quan tòa bằng xương bằng thịt có những ý kiến, những thành kiến chịu ảnh hưởng của thời tiết, nóng hay lạnh. Một ngày nào đó sẽ có những cái cân công lý điện tử, những quan tòa điện tử. Hiện nay ở Agapia thì người ta còn dùng quan tòa bằng xương bằng thịt. Để khỏi mất Elena, Cosma Damian đã tuân theo sự mong muốn của bố vợ tương lai của mình. Damian đã trở thành thẩm phán. Và bây giờ ông ngủ trong cái giường lớn, giấc ngủ đầu tiên của một quan tòa.
Ba tháng nữa, nghĩa là mùa xuân tới, Elena sẽ đến Agapia và nàng cũng sẽ ngủ bên cạnh Cosma, trong cái giường lớn. Trước khi thành hôn, nàng phải thi lấy bằng tốt nghiệp đại học Văn khoa. Đó là những kỳ thi cuối cùng của nàng. Có thể một ngày kia nàng sẽ là giáo sư ở Agapia. Vì một ngày kia, cũng sẽ có tại thành phố nhỏ này một trường nữ trung học. Đó là điều đương nhiên, trong một thành phố mà ở đó có một nhà ga và một tòa án hòa giải. Elena hy vọng rằng chồng vừa làm nghề quan tòa ở Agapia, trong sự yên tĩnh, vừa soạn luận án Tiến sĩ Luật! Biết đâu, chàng sẽ có thể là giáo sư đại học! Ông thẩm phán trẻ không hề có ảo tưởng. Ông biết rằng trong xứ sở của mình các chức giáo sư đại học đều cha truyền con nối. Người ta chỉ trở thành giáo sư đại học Luật khoa, nếu được bố mình hoặc bố vợ truyền lại cho, kể từ khi có viện đại học, người ta chưa bao giờ biết đến một sự hôn phối không môn đăng hộ đối trong ngành giáo sư đại học. Có vài gia đình tổng trấn là giáo sư cha truyền con nối. Rồi thì Cosma Damian không nghĩ rằng các thành phố nhỏ là những nơi thích hợp cho việc phát triển trí thức. Một nhà trí thức tại một thành phố tỉnh lẻ cũng như một người đi bộ trên một con đường bùn lầy. Cứ mỗi bước, y lại lún sâu hơn trong bùn, nó dính vào đế giày và làm cho hành trình của y càng lúc càng thêm khó khăn. Về hoạt động trí thức cũng như sắt mà người ta rèn các thanh kiếm; nhà trí thức phải được ném vào trong cái lò hừng hực của thành phố lớn, như người ta ném sắt vào trong các lò đúc đỏ rực để luyện thép. Người ta đã không bao giờ biết được những tác phẩm lớn tại các thành phố nhỏ yên tĩnh, thẩm phán Damian ngủ và nằm mơ, miệng mỉm cười, thấy cảnh sát trưởng Filaret nhắc lại với ông câu nói ngọt ngào: “Agapia là một thiên đường đối với một thẩm phán. Ở đây, nhớ lại từ xưa, người ta chưa bao giờ phạm một trọng tội. Đây là một quận và một thành phố mà tủ phiếu tư pháp lý lịch còn trong trắng, chưa có dấu vết”.
Đúng vào lúc nằm mơ như thế, thẩm phán Damian thức giấc. Trong phòng, tất cả các ngọn đèn được thắp sáng. Đứng bên giường là hai người lạ. Một người lắc mạnh vai ông thẩm phán để đánh thức ông dậy. Đó là Cảnh sát trưởng Filaret. Viên cảnh sát trưởng không có vẻ hiền từ, như buổi chiều hôm trước và như trong giấc mộng của ông thẩm phán. Viên cảnh sát trưởng âu sầu, khắc nghiệt và có vẻ nhìn hung dữ. Đứng sau viên cảnh sát trưởng là một người khác, cao gấp đôi, mặc áo choàng lông thú, và sẵn sàng can thiệp. Đó là xà ích Ismail, gã đàn ông bị thiến.
- Xin ông thẩm phán hãy thức dậy. Có một vụ ám sát trong thành phố. - Viên cảnh sát trưởng nói.
Ông ta bóp vai ông thẩm phán như để lôi ra khỏi giường.
- Lạy Chúa, ông hãy thức dậy! Tôi nói với ông là có một vụ ám sát trong thành phố. Một vụ ám sát ở Agapia!
Ông thẩm phán nhảy ra khỏi giường. Không hỏi han gì cả. Ông đã quen bị đánh thức dậy ban đêm, và quen mặc vội quần áo vào. Ở viện mồ côi, giám thị đánh thức trẻ con dậy trong đêm khuya, ra lệnh chúng mặc ngay áo quần và xuống ngay sân trường. Đó là một hình phạt. Vì một lỗi mà đám học trò thường không biết, hoặc chúng đã quên rồi. Từ lúc mới bảy tuổi, Cosma Damian đã bị đánh thức dậy như thế hàng nghìn lần. Với lệnh là mặc vội quần áo vào. Ở nội trú trung học, cũng y chang. Ở cư xá sinh viên, không phải giám thị hay giám hiệu đánh thức sinh viên dậy mà là cảnh sát. Tất cả các sinh viên đều bị thức dậy bởi cảnh sát hay hiến binh. Họ bắt sinh viên ra hết ngoài sân, hoặc ngoài đường để lục soát. Họ lục soát mỗi đêm, như thể lục soát những kẻ giết người, mỗi khi họ tìm thấy trong một sinh viên một tờ truyền đơn, trong đó sinh viên đòi hỏi công lý cho dân chúng. Sau sinh viên mồ côi, nội trú trường trung học và cư xá sinh viên thì lại có báo động ban đêm ở doanh trại quân đội. Và luôn luôn cũng y chang.
Trong lúc này, thẩm phán Cosma quên mình là thẩm phán. Quên mình bị đánh thức đậy bởi một thuộc viên, vì lý do công vụ. Ông tưởng mình luôn luôn còn là học sinh. Học sinh nghèo. Vì học sinh giàu không bao giờ bị đánh thức trong đêm hôm khuya khoắt.
- Vô cùng hối tiếc là phải đánh thức ông thẩm phán dậy ngay trong đêm đầu tiên của nhiệm kỳ quan tòa. - Viên cảnh sát nói - Vô cùng hối tiếc. Nhưng do luật lệ bắt buộc.
- Có một trọng tội sao? - Ông thẩm phán hỏi.
Ông thắt dây giày, ông còn ngái ngủ.
- Tôi đã có thể một mình đi đến hiện trường. Nhưng từ mười hai giờ trưa ngày hôm nay, vị chỉ huy không còn là tôi nữa, vị chỉ huy mở cuộc điều tra, là vị thẩm phán. Là ông. Còn tôi, tôi không được là gì mà không xin lệnh của ông.
- Ai là người bị giết? - Ông thẩm phán hỏi.
Ông mặc áo quần gần xong.
- Tôi chưa kịp nói với ông. Đó là cậu Antoine Tuniade. Người ta đã bắn chết cậu ấy trước lâu đài của mẹ cậu. Chúng ta phải đi đến đó mau.
- Tuniade, ông nói thế phải không?
- Antoine Tuniade, con trai của bà Patricia Tuniade. Bà chủ lâu đài.
Ông thẩm phán mới ở được ba ngày trong thành phố. Nhưng cái tên Tuniade, ông có biết. Đó là cái tên đầu tiên ông nghe được khi từ xe lửa bước xuống.
- Vụ án mạng xảy ra cách đây nửa giờ. - Viên cảnh sát trưởng nói - Ismail báo cho tôi hay. Tôi nhảy ngay lên xe trượt tuyết của gã. Ông hãy nhìn xem, chưa kịp ăn mặc đàng hoàng!... Tôi đã cho một nhân viên đến đánh thức bác sĩ Pilat dậy. Chỉ là vấn đề thể thức, vì bác sĩ chỉ còn việc chứng nhận nạn nhân đã chết. Một tai họa khủng khiếp!
- Tuniade không sống ở đây - Damian nói - Cậu ta là bộ đội.
- Đúng thế, thưa ông thẩm phán. Ông biết điều ấy sao?... Cậu ta trở về Agapia một cách bất ngờ. Và đã bị giết lúc mới vào trong rừng cây của lâu đài. Bị bắn một phát súng.
- Chiều hôm qua, khi ở nhà ga trở về, tôi có gặp ở tiệm sách bà Patricia Tuniade. - Ông thẩm phán nói.
- Đó là bà mẹ đáng thương của nạn nhân. - Viên cảnh sát trưởng nói.
Đứng sau viên cảnh sát trưởng Ismail, xà ích của thành phố, không nhúc nhích, đầu gần sát trần nhà, hai vai rộng hơn cái tủ, làm dấu thánh giá khi tên nạn nhân được nhắc đến.
- Bà Tuniade nói với tôi rằng con trai bà nhập ngũ đã mấy tháng rồi.
- Đã năm tháng rồi, thưa ông thẩm phán - Viên cảnh sát trưởng nói - Đúng như thế.
- Đúng là bà ta mua sách để gởi cho con. Bà ta kể cho tôi nghe rằng con bà bị cấm trại trong nhiều tuần lễ, vì có dịch truyền nhiễm trong thành phố mà họ đóng quân.
- Đúng như vậy, thưa ông thẩm phán. Cậu ta bị cấm trại. Nhưng chiều nay, không, tối nay mới đúng, cậu ta đã về nhà, mặc dù bị cấm trại. Và bị hạ sát trước lâu đài. Cậu ta đã chết ngay. Ismail và bà mẹ đã nhận thấy là quả thật cậu ta đã chết. Chúng ta đi ngay đến đó, thưa ông thẩm phán?
Xà ích Ismail, gã đàn ông bị thiến, tránh ra một bên để vị thẩm phán đi ra đầu tiên. Tiếp theo sau ông thẩm phán là viên cảnh sát trưởng. Rồi mới đến Ismail, luôn luôn đầu trần, áo choàng có mũ lông thú cầm nơi tay. Bà Eudoxia - nữ quản gia của ông thẩm phán - đứng trước cửa. Bà mở cửa. Bà không nói một tiếng.
Ba người đàn ông đi ra thềm cấp, tuyết rơi. Những nụ tuyết lớn, như những con bươm bướm. Có ánh đèn xuyên qua cửa sổ các nhà trong toàn thành phố lan truyền tin vụ ám sát với sự khủng khiếp; người ta nói thầm vào tai nhau tin dữ ấy. Chẳng mấy chốc, toàn thành phố nhỏ này đã biết sự kiện kinh khủng. Không một ai có thể ngủ được nữa. Mọi người sẽ thức cho đến sáng để canh cầu nguyện cho linh hồn quân nhân Antoine Tuniade, bị giết đêm nay trước lâu đài. Ra ngoài đường, ông thẩm phán nhớ lại lúc ông mới tới ga Agapia. Khi từ toa xe lửa bước xuống, không khí lạnh lẽo của thành phố đã làm cho ông có cảm giác, như bây giờ, là đang lặn trong một con sông băng giá. Áo quần của ông không đủ để đương với cái lạnh của Agapia. Gió thổi thường xuyên qua áo quần ông như xuyên qua một tấm lưới. Lúc này ông thẩm phán đã ngẩng đầu lên để buộc khăn quàng cổ được chặt hơn. Ông thấy trước mặt, trên một mỏm núi cheo leo, một lâu đài giống như một cái tổ phượng hoàng hay như một tháp canh, treo lơ lửng giữa trời và đất, trên một vực thẳm.
- Đó là lâu đài của dòng họ Tuniade. - Gã xà ích giải thích.
Điều đầu tiên mà ông thẩm phán biết được ở Agapia là cái lạnh buốt cả người, khi người ta đến đấy, một cái lạnh xiết lấy da thịt như một cái kềm. Điều thứ hai là lâu đài dòng họ Tuniade, điều thứ ba là xà ích Ismail, kẻ bị thiến. Y cao hai thước, đội một cái mũ lông thú và mặc một cái áo kiểu thầy tu bằng nhung màu lục, bó sát người như áo choàng của các kỵ sĩ Nga, nhờ một cái nịt da, bên ngoài mặc thêm một áo choàng da cừu. Hình ảnh thứ tư đã lôi kéo sự chú mục của ông thẩm phán là gương mặt của cảnh sát trưởng Filaret. Bốn hình ảnh đầu tiên ấy bây giờ thảy đều hiện diện trong vụ án mạng này xảy ra lúc nửa đêm. Hiện diện có cái lạnh, tòa lâu đài, Ismail, và cảnh sát trưởng Filaret.
- Xin ông thẩm phán hãy lên xe, ông hãy trùm mình cho kín. Ban đêm, rất nguy hiểm. Ông có thể cảm lạnh.
Ông cuộn mình trong áo choàng lông thú. Ông nhớ lại khuôn mặt bà Patricia Tuniade: một thiếu phụ dong dỏng cao, yểu điệu, tóc vàng nâu thật đậm và có vẻ đẹp hống hách, ngạo nghễ. Nhưng tuyệt đẹp.
- Thưa ông thẩm phán, chắc chắn là kẻ sát nhân còn lẩn lút quanh quẩn đâu đây. Chúng ta phải cảnh giác. Tôi đã cho hai nhân viên cảnh sát lên lâu đài. Trước tiên, nếu ông cho phép, chúng ta sẽ ghé qua nhà ga đã. Phải tin trước cho trưởng ga. Kẻ sát nhân nếu muốn trốn tất phải đi xe lửa. Không có xe lửa, nó không thể đi xa được. Chúng ta sẽ thộp cổ nó như bắt một con chuột trong bẫy. Không một ai có thể ra khỏi đây trong mùa đông. Tất cả các đường giao thông đều nghẽn. Không một ai có thể ra khỏi đây, trừ loài chim. Kẻ sát nhân, chúng ta sẽ tóm cổ được.
0
III
Kể chuyện lần đầu tiên về vụ ám sát
 
Từ pháp đình tới nhà ga chỉ vài trăm mét. Nhưng người ta vượt khoảng cách ấy bằng xe trượt tuyết. Ông thẩm phán và cảnh sát trưởng Filaret để mặc cho gã xà ích trùm lên người những tấm chăn lông thú. Giống như những đứa bé trong tã bọc của chúng vậy, ở đây, trùm kín khách leo lên xe là một phần việc không thể thiếu trong bổn phận của xà ích. Hai con ngựa trắng bạch. Tuyết, được gió thổi tạt đi, có hình dáng như những ngọn núi lửa màu trắng quất vào mặt Ismail làm dấu thánh giá khi leo lên xe. Gã to chình ình một đống. Như thể thân hình một con voi, một con ma mút [1] “Hãy cất bước, các con của ta”, gã xà ích nói với hai con ngựa.
Ông thẩm phán nhìn chung quanh mình. Tất cả những ai nghe Ismail nói cũng đều quay đầu nhìn, như ông thẩm phán, và tìm cô thiếu nữ vừa mới nói. Vì Ismail có giọng nói cao, nhỏ và yếu như giọng con gái. Không ai có thể ngờ cái giọng rất nhỏ ấy lại phát xuất từ cái thân hình đồ sộ kia, từ cái ngực rộng hơn mông ngựa kia. Chẳng khác gì một con voi lại đẻ ra một con chuột nhắt.
- Đây là lần đầu tiên ông nghe gã ta nói? - Viên cảnh sát hỏi ông thẩm phán.
- Tôi nghe giọng nói ấy hàng ngày, từ khi tôi ở đây. Nhưng tôi không thể nào tin rằng một người khổng lồ lại có thể có một giọng nói nhỏ đến thế. Nghe thật khó chịu.
- Đây là một người tự hoạn - Viên cảnh sát trưởng giải thích - Do đó gã ta có giọng nói như con gái. Nhưng đây là một người thánh đức. Một con người hoàn toàn tốt.
- Hãy ngừng lại, các con của ta - Ismail nói với hai con ngựa, vẫn cái giọng ấy.
Chiếc xe trượt tuyết ngừng lại sau nhà ga. Đây là một kiến trúc nhỏ hình chữ nhật. Không có lầu. Chỉ một tầng trệt. Tất cả đèn đều tắt.
Thẩm phán, cảnh sát trưởng và xà ích đi hàng một trên sân ga. Nhà ga không lớn hơn nhà người gác cổng sắt. Hoạt động của nhà ga chỉ thu gọn công việc đón chuyến tàu Bắc, chuyến tàu Nam gặp nhau lúc mười hai giờ trưa và lúc nửa đêm. Không một hành khách nào đi tàu để ý đến ga Agapia. Trong tuyến đường sắt, ga Agapia nhỏ và không có nghĩa lý gì, như một cái dấu phẩy trong một cuốn tiểu thuyết dài. Không ai chú ý đến nó. Cũng như người ta không chú ý đến nhà của viên gác cổng đường sắt. Các chuyến tàu, ngay cả tàu hàng cũng không cảm thấy bắt buộc đến thật đúng giờ tại một ga nhỏ đến thế. Mùa đông, có những tàu hàng đến trễ hai hay ba ngày.
- Ông có mặt trên sân ga khi nạn nhân đến à? - Ông thẩm phán hỏi.
- Đúng như vậy, Ismail có mặt ở đấy! - Viên cảnh sát trưởng đáp. Hỏi gã điều đó là gần như lăng nhục gã. Ismail có mặt khi tàu đến và khi tàu khởi hành. Luôn luôn có mặt.
Ga Agapia chỉ có một nhân viên. Ông ta tên là Nicolas Inimiora. Đây là một cái tên lạ lùng, biến thể của chữ Inima có nghĩa là tim nhỏ. Vì vậy người ta còn gọi ông Nicolas Inimiora là “Nicolas Tiểu Tâm”. Chính thức, ông là trưởng ga. Nhưng vì chỉ có một mình ông thôi, ông cũng làm luôn công việc phó trưởng ga, điện tín viên, nhân viên bán vé, quét dọn, khuân vác và bưu vụ. Nicolas Tiểu Tâm rất trẻ. Mới hai mươi hai tuổi. Ở Agapia tất cả các trưởng ga đều trẻ và thay đổi một hoặc hai lần mỗi năm. Người ta đưa họ đến đây để tập sự, ngay sau khi họ học xong khóa đào tạo trưởng ga. Ông trưởng ga Nicolas Inimiora có một chòm râu cằm nhỏ, chơi đàn măn-đô-lin và làm thơ. Ông ngủ trên một bộ ván, trong phòng làm việc. Đó là chỗ ấm nhất trong nhà ga. Ở đó có một lò sưởi bằng gang. Ngoài ông Nicolas Inimiora, người ta thấy có Ismail trên sân ga trong tất cả các chuyến tàu đến hay khởi hành. Không ai bắt buộc Ismail phải có mặt ở ga. Nhưng gã là xà ích, xà ích duy nhất, coi mình có bổn phận có mặt mỗi khi có chuyến tàu đến. Gã giúp trưởng ga khuân hàng quét tuyết không phải vì lợi lộc, mà chỉ vì gã có mặt ở đấy. Sau khi tàu chạy rồi, Ismail trở về nhà với hai con ngựa bạch của mình và đợi chuyến tàu đến tiếp, hoặc khởi hành tiếp. Ismail biết rằng gã không có khách. Vì thử hỏi có ai xuống ở Agapia? Nhưng gã không đến để có khách, gã đến vì gã là xà ích và xà ích thì phải có mặt ở nhà ga. Đôi khi về mùa hè có những hành khách chụp ảnh nhà ga, với sân ga nhỏ bé, ông trưởng ga có chòm râu cằm và gã xà ích cao hơn trụ đèn, mặc kiểu áo thầy tu bằng nhung màu xanh.
- Hãy kể cho tôi nghe sự việc đã xảy ra như thế nào? - Ông thẩm phán nói.
- Tôi đã kể với ông cảnh sát trưởng - Ismail đáp - Tôi có mặt ở nhà ga. Điện thoại báo rằng, chuyến tàu Bắc trễ bốn mươi phút. Như vậy là nó phải đến lúc mười hai giờ bốn mươi phút đêm. Tôi vào phòng giấy trưởng ga. Tôi ở đấy với ông Inmiora, cả hai ngồi gần bên lò sưởi. Ông Inmiora chơi đàn măn-đô-lin. Bốn mươi phút qua mau. Khi tàu đến các toa đều phủ đầy băng và tuyết, hai chúng tôi đều có mặt ở sân ga. Trước khi tàu ngừng, một cánh cửa mở ra, ở toa xe hạng nhất. Trên bậc bước, xuất hiện ông Antoine Tuniade mặt quân phục, tay trái xách một chiếc va-li nhỏ. Ông ta nhảy xuống và chạy đến tôi.
- Về lâu đài Ismail - Ông ta nói - Mau lên!
- Ông không bị cấm trại sao, ông Antoine? - Tôi hỏi.
- Có bị cấm trại - Ông ta đáp - Cả lữ đoàn của tôi bị cấm trại. Vì có bệnh truyền nhiễm trong thành phố nơi đóng quân. Nhưng, mặc dù vậy, tôi được nghỉ phép. Bốn ngày.
- Ông ta vui vẻ. Và rất sung sướng được nghỉ phép.
- Tôi hỏi: “Thưa ông Antoine, ít ra, ông đã làm điều bậy. Ông đào ngũ à?”... “Đào ngũ! Phiền phức lớn lắm đây”.
- Chúng ta hãy vào gặp trưởng ga đã. - Viên cảnh sát trưởng nói.
Nicolas Inimiora đã thức dậy rồi. Ông đã nghe tiếng chân và tiếng nói trước cửa phòng. Ông mời vị thẩm phán, viên cảnh sát trưởng và gã xà ích vào phòng giấy, vừa là phòng ngủ, nhà bếp. Gian phòng ấy cũng là phòng đợi cho hành khách, và chiếc lò sưởi bằng gang được đốt cho đèn sáng. Ở trong này rất nóng. Ông Inimiora, mặc áo ngủ, muốn mặc thêm áo cho đàng hoàng. Viên cảnh sát trưởng ngăn lại.
- Cậu Tuniade, con bà Patricia, bị ám sát. Đừng làm mất thời giờ vô ích. Hãy trả lời chúng tôi gấp và thật chính xác. Ông có thấy cậu Tuniade lúc cậu ta xuống từ chuyến tàu Bắc không?
- Tôi có thấy - Trưởng ga đáp.
Ông ta tái mét. Ông ta hỏi:
- Người ta đã giết cậu ấy bằng cách nào?... Ai? Ở đâu?
- Ở trước lâu đài. Bằng súng. Ai?... Người ta sẽ biết. Biết là ai và vì sao. Chúng tôi là người để làm việc đó. Ông hãy nói cho chúng tôi biết tất cả những gì ông biết, những gì ông đã thấy, và nghe.
- Tôi đã thấy cậu ta xuống từ toa hạng nhất. Rồi tôi thấy cậu ta chạy đến phía Ismail. Trước khi đi ra, chiếc va-li nhỏ nơi tay trái, cậu ta sực nhớ là chưa chào hỏi tôi, cậu ta bèn quay lui, chạy tới phía tôi, hấp tấp bắt tay tôi và nói với tôi: “Hẹn gặp lại ngày mai nhé, Tiểu Tâm. Tôi có bốn ngày phép. Thứ lỗi cho tôi, nếu tôi vội vã như thế này, nhưng tôi đói bụng, buồn ngủ và lạnh. Hẹn gặp lại ngày mai nhé”. Và cậu ta đi ra.
- Hai người là bạn thân?
- Bạn - Trưởng ga đáp - Chúng tôi gần bằng tuổi nhau. Và chúng tôi thông cảm nhau. Nhưng vì sao người ta có thể giết cậu ấy, thưa ông cảnh sát trưởng?
- Đó là tất cả những gì ông biết khi nạn nhân đến đây? - Viên cảnh sát trưởng hỏi.
- Tất cả - Viên trưởng ga đáp - Tôi thấy cậu ta leo lên xe trượt tuyết, Ismail trùm mền lên người cậu ta. Rồi họ lên đường.
Trưởng ga rất ưu phiền. Ông ta không dám hỏi chi tiết về vụ ám sát. Nhưng ông những muốn biết nhiều hơn.
- Ông Inimiora, ông hãy chú ý đến câu hỏi của tôi, vì nó vô cùng quan trọng cho kết quả của cuộc điều tra. Ông có chắc chắn rằng ngoài ông Antoine Tuniade ra, không một người nào khác đã xuống từ chiếc tàu Bắc?
- Không có một người nào khác - Trưởng ga đáp.
- Cảm ơn ông - Cảnh sát trưởng nói - Và bây giờ có một khuyến cáo: Ông hãy đề cao cảnh giác đêm nay. Kẻ sát nhân chắc chắn sẽ trở lại ga. Nó không thể ra đi bằng cách nào khác ngoài phương tiện xe lửa. Nó có thể tấn công ông, ông phải đề phòng. Bây giờ chúng tôi lên lâu đài. Chúng tôi sẽ phái đến đây một viên cảnh sát. Chúng tôi sẽ sớm trở lại.
Thẩm phán, cảnh sát trưởng và xà ích lại lên xe. Họ đi theo “Con đường Tình Yêu”, về hướng Tây và lên cao. Lâu đài của dòng họ Tuniades ở trên núi cao. Ở mút “Con đường Tình Yêu” ở bên kia lâu đài không còn có đường, có nhà nào nữa. Lâu đài là điểm tận cùng.
- Ismail - Viên cảnh sát trưởng hỏi - Anh có nói chuyện với ông Tuniade dọc đường không?
- Không. - Ismail đáp, vẫn với cái giọng the thé nghe rất khó chịu.
Để người khác nghe gã nói được rõ hơn, Ismail xoay cả toàn thân lại. Cũng như các con chó sói, gã không có cổ. Gã phải xoay cả người để nhìn lui phía sau.
- Dọc đường ông Tuniade làm gì?
- Ông ta huýt gió một lát thôi. Rồi ông ta nói là ông ta đói bụng. Tiếp đến, ông ta thử hát một bài hát đang thịnh hành, nhưng lại thôi. Và sau đó huýt gió trở lại trên suốt quãng đường về nhà.
- Và anh, anh đã làm gì trong suốt thời gian ấy? Anh không đặt những câu hỏi với ông Antoine? Anh không hỏi ông ta gì cả sao?
- Tôi không hỏi ông ta gì cả - Ismail nói - Gió Fohn thổi. Tôi đã cầu nguyện.
- Cầu nguyện?... Vì sao? - Ông cảnh sát trưởng hỏi.
- Thưa ông, tôi đã cầu nguyện cho những người đang đi đường đêm ấy và gặp bão táp dọc đường. Đó là điều duy nhất của tôi có thể cho những người khốn khổ đáng thương ấy. Cầu nguyện cho họ.
- Kẻ sát nhân không phải là người ở Agapia, thưa ông thẩm phán - Cảnh sát trưởng Filaret đột nhiên nói - Người ta không thể nghĩ được rằng một người ở đây lại có thể phạm tội giết người. Khổ thay một vụ giết người đã xảy ra tại đây. Và khổ thay máu đã chảy và làm hoen ố thành phố tinh khiết như tuyết của chúng tôi. Lại nữa tai họa ấy xảy ra ngay trong đêm đầu tiên của nhiệm kỳ phán quan của ông! Có một vụ trọng tội đúng vào đêm nay, chúng tôi, chúng tôi lâu nay chẳng bao giờ có!...
Cảnh sát trưởng Filaret giận dữ. Ông ngồi không yên, vùng vẫy dưới các lớp mền. Ông nói:
- Kẻ sát nhân sẽ bị tóm cổ, thưa ông thẩm phán. Đó là một người lạ. Và một người lạ không thể ra khỏi nơi đây trong mùa đông. Chỉ có loài chim mới ra khỏi đây được. Nhưng kẻ sát nhân không phải là chim. Và chúng ta sẽ bắt được nó. Chắc chắn như thế.
Hai con ngựa trắng leo từng bước trên “Con đường Tình Yêu”. Theo hướng Tây và lên cao. Trời vô cùng u ám. Người ta có trước mặt một tấm màng tuyết dày. Người ta không thấy được xa quá hai bước. Và người ta có cảm tưởng là chiếc xe trượt tuyết leo lên tận trời. Vì dốc thật cao. Tuyết dày đến tận ngực ngựa. Tuyết trắng như chúng.
---------------------------
[1] Ma mút: giống voi rất lớn đời xưa.
0
IV
Lâu đài do đánh bài được
 
Vụ án mạng xảy ra lúc nửa đêm, trong cái đêm đầu tiên của nhiệm kỳ phán quan của mình không làm phiền lòng thẩm phán Cosma Damian nhiều. Ông còn chưa đo được tính nghiêm trọng của sự việc. Ông hơi khó chịu vì không cảm thấy xúc động bởi vụ án bao nhiêu. Nạn nhân là một người lạ, tại một thành phố lạ, chưa quen biết, nơi mà ông thẩm phán vừa mới đến có vài ngày. Để người ta cảm thấy thật sự tính nghiêm trọng của một biến cố, thì biến cố phải xảy ra trong vùng lân cận; thí dụ, một xe buýt bị lật ở trung tâm thủ đô Paris làm cho dân ở thành phố Paris xúc động nhiều hơn là một tai nạn xe lửa xảy ra ở Phi Luật Tân. Nhật báo ở Paris sẽ tường thuật tai nạn xe buýt ở trang nhất và tai nạn khủng khiếp ở Phi Luật Tân chỉ ở trang ba hoặc trang tư mà thôi, mặc dù nó đã làm nhiều người thiệt mạng. Agapia, đối với thẩm phán Damian là một thế giới xa lạ và chưa biết, cũng như nước Phi Luật Tân đối với người châu Âu. Damian phải cố gắng để cảm thấy tính bi thảm của vụ án mạng này. Vụ ám sát một thanh niên về nghỉ phép. Một tội ác như thế quan hệ đến thẩm phán Damian với tư cách là thẩm phán. Đó là nghề của ông, nhiệm vụ của ông là phải phanh phui những trạng huống và những động cơ của vụ giết người này và tìm cho ra thủ phạm. Đối với cảnh sát trưởng Filaret thì khác, ông là dân Agapia. Đối với ông, đây là một vụ quan hệ trực tiếp đến ông. Gần như là đến chính bản thân ông. Vì thành phố nơi mình sinh ra, xứ sở mà mình là một phần tử thuộc cộng đồng ấy, là như phần nối dài vật lý của thân thể mọi người.
Đây là cuộc điều tra đầu tiên của thẩm phán Damian, và ông thấy lúng túng. Giống hệt như ở trường học, khi thầy giáo gọi ông lên bảng đen để hỏi ông về một vấn đề mà ông không biết. Trong trường hợp như thế, ông im lặng. Vì đứng đầu lớp, ông không thể tự cho phép mình muốn nói bất cứ gì, như các học sinh kém thường làm. Nhưng im lặng là một điều rất khó. Và những lúc im lặng, người ta thấy dài như những thế kỷ. Bây giờ ông là thẩm phán, ông phải im lặng bên cạnh gã xà ích và ông cảnh sát trưởng, như ông đã im lặng khi đứng trước bảng đen. Ông không biết vấn đề. Ông không biết gì cả. Và ông phải chủ trì cuộc điều tra.
- Hai nhân viên của tôi chắc là đã đến lâu đài rồi - Ông cảnh sát trưởng nói.
Tuyết rơi thành từng nụ lớn. Người ta có thể nói đây là một tấm màn nhung trắng, thật mềm dịu, thật êm ái. Dấu vết của chiếc xe trượt tuyết tức thời được tuyết xóa đi. Nếu có một ai đi phía sau thì người đó không ngờ có một chiếc xe trượt tuyết có hai con ngựa bạch kéo và chở ba người đàn ông, cũng leo lên về phía lâu đài dòng họ Tuniades theo con đường Các Nữ đồng trinh hiến dâng tình yêu cho Chúa, “Con đường Tình Yêu”.
- Này ông cảnh sát trưởng ông có nói là quãng đường từ ga lên lâu đài, người ta đi xe trượt tuyết hay đi bộ thì cũng mất hai mươi phút. Vì “Con đường Tình Yêu” chỉ có leo lên từng bước.
- Đúng như vậy - Ông cảnh sát trưởng nói.
- Vậy thì làm sao ông có thể quả quyết rằng hai nhân viên của ông đã đến lâu đài rồi? Họ chỉ có thể đến trên ấy rồi trong trường hợp ông đã phái họ lên đây trước khi biết được vụ án mạng đã xảy ra.
- Không, thưa ông thẩm phán. Hai nhân viên của tôi lên lâu đài theo một con đường khác. Có một đường đi thẳng. Một con đường tắt cho người đi bộ. Một con đường mòn nhỏ. Trong mười phút, nghĩa là nửa thời gian ít hơn, người ta đi từ ga lên lâu đài. Hai nhân viên của tôi đã đi theo con đường mòn ấy. Tức họ đã đến trên ấy rồi. Nếu kẻ sát nhân cũng đi xuống theo con đường mòn ấy thì nó đã đụng đầu với thám tử của tôi. Nếu nó đi xuống theo “Con đường Tình Yêu” nó sẽ rơi vào tay chúng ta.
- Không có đường thứ ba à? - Ông thẩm phán hỏi.
- Không - Viên cảnh sát trưởng đáp - Có “Con đường Tình Yêu” băng qua thành phố và lên đến tận lâu đài và chấm dứt tại đó. Nó không kéo dài xa hơn về phía Tây và leo lên cao hơn lâu đài, nhưng là bằng cách leo, trèo các mỏm đá. Còn bây giờ tất cả các lối ra về phía Tây đều nghẽn. Từ lâu đài, người ta có thể hoặc đi xuống theo một trong hai con đường, hoặc leo lên trời. Không có lối thoát nào khác, về mùa đông ra khỏi nơi đây còn khó hơn là ra khỏi một thanh trì kiên cố được bảo vệ chặt chẽ. Tuyết lấp bằng tất cả và ở đây tuyết sâu như một con suối. Tai họa đến ngay cho ai đặt chân ra khỏi con đường, người đó không sống sót được. Cũng như đã rơi tận xuống đáy biển.
Hai người im lặng. Sau một lúc cảnh sát trưởng Filaret hỏi:
- Ông thẩm phán đã tham quan lâu đài?
- Không - Thẩm phán Damian đáp - Tôi chỉ trông thấy từ xa - Ông nói thêm - Thật là một lâu đài ngộ nghĩnh, phải không? Một biệt thự miền núi thì đúng hơn. Nhưng cái cách nó được xây dựng trên cao ấy, trên mỏm núi đứng dựng nghiêng trên thành phố và toàn thể thung lũng, như một cái sân thượng, cho nên nó có vẻ là một tháp canh. Không phải là một lâu đài, mà là một vọng lâu.
- Đó là một lâu đài do đánh bài được - Cảnh sát trưởng Filaret nói - Người ta không biết đích xác là chủ nhân đã đánh ăn bằng chơi bài tây năm mươi hai con, bằng đánh ru-lét hay một trò chơi cờ bạc nào khác. Nhưng là đã đánh ăn trong một sòng bạc ở phương Tây. Điều đó thì đích xác! Người được bạc là một trong những tổ tiên của thanh niên bị giết đêm nay. Họ là dòng họ Tuniades. Họ là những tổng trấn ác ôn Phanariot. Cũng như những con chó sói, được chia thành băng nhóm, cái mà họ gọi là đảng phái chính trị, họ vơ vét xứ sở đáng thương này từ hàng bao thế kỷ. Các người thuộc dòng họ Tuniades, cũng như tất cả các quan chức cai trị Phanariot, mùa đông thì ở Paris thủ đô nước Pháp và ở những nơi khác đầy đủ tiện nghi ở Tây phương. Họ chỉ về xứ sở chúng tôi vào mùa hè. Để coi sóc mùa gặt hái. Những nông dân gặt hái trên đất đai của họ đều bị họ bịt miệng bằng những cái đai kim loại, như bịt mõm chó. Để nông dân không ăn được nho của họ. Sau đó họ bán hoa lợi thu hoạch được và trở về nơi mà từ đó họ đến đây.
Các ngài Phanariot ở qua mùa đông trong các sòng bạc, trong các đại-tửu-lâu và trong các du hý trường Tây phương, như các con gấu ngủ mùa đông trong hang của chúng. Họ đến xứ sở chúng tôi vào đầu mùa hè, như những con chó sói đói. Họ đến đây, xanh mét vì cuộc sống họ đã trải qua trong các hộp đêm và trong các quán ruợu. Một đêm mùa đông, một người trong dòng họ Tuniades đã đánh bài tại sòng bạc Riviera và đã ăn được cái biệt thự kiểu miền núi này. Và ông ta đã cho tháo ra, đem về từ Tyrol, từ Forêt-Noire hay từ Thụy Sĩ, nơi ông ta ở. Ông ta đem về đây, trên đất đai của ông ta, và cho xây dựng trên mỏm núi, nơi chỗ hiện nay của nó. Một lâu đài do đánh bạc ăn, tất nhiên là phải lạ kỳ. Và gớm ghiếc. Vả lại tất cả những gì dính dáng đến các ngài Phanariot đều mờ ám, đáng nghi ngờ và không bình thường...
- Dù sao đi nữa họ cũng không phải là ngươi nước ngoài - Thẩm phán Damian nói - Họ cũng cùng huyết thống với chúng ta nếu như những ký ức của tôi ở trường là đúng.
- Họ không phải là người nước ngoài, nếu con vật ký sinh không phải là xa lạ với da và máu mà nó hút... Về phương diện ấy, các ngài Phanariot là cùng huyết thống với chúng ta. Họ hút máu dân chúng từ lâu quá rồi đến nỗi cuối cùng họ có dòng máu với chúng ta. Muốn tìm ra người đã giết quân nhân trẻ tuổi Tuniade đêm nay thì phải lục lọi trong cuộc sống của những người Phanariot, và làm như thế còn tệ hơn là lục lọi trong các cống rãnh, trong các thùng rác hay trong các nhà xí. Có lẽ là phái đào bới trong các bản tông chi của họ. Lục lọi trong các thói quen của họ và trong các thói hư tật xấu của họ. Không phải là một công việc dễ chịu. Các người ấy chỉ có một việc làm; gieo tai họa cho người khác. Họ nhai ngon lành dân chúng ta từ bao thế kỷ, như người ta nhai bánh mì. Đối với chúng ta, họ là những con đỉa. Những con bạch thốn trùng. Những con ma cà rồng. Những con vật ký sinh. Các ngài Bộ trưởng của chúng ta. Các ngài hoàng tử của chúng ta. Các ngài tổng trấn của chúng ta. Ông thẩm phán sẽ hiểu biết họ. Ông đã đọc những điều nói về họ trong sách. Nhưng chính họ đã viết sách. Các sách sử ký nói láo.
- Một người trong ngành cảnh sát mà nói như vậy thì thật là quá khích! - Thẩm phán Damian nói.
- Tôi là dân ở đây. Để sống, mọi người cần có cội rễ. Chúng tôi không có đất để cắm rễ. Không có cộng đồng xã hội. Chúng tôi bị cấm có lịch sử. Lịch sử thuộc sở hữu của các quan Phanariot. Tôi và tất cả bà con của tôi, chúng tôi đã cắm rễ của chúng tôi trong cái tuyệt đối. Chính từ cái tuyệt đối mà chúng tôi rứt chất nuôi dưỡng chúng tôi. Nhựa sống của chúng tôi. Cái tuyệt đối còn khô cằn hơn đá. Nhưng đó là nơi duy nhất mà chúng tôi có thể cắm rễ. Sự thật là bánh mì duy nhất của chúng tôi. Nhưng đối với thiên hạ, sự thật là quá khích...
Chiếc xe trượt tuyết đột ngột ngừng lại. Bên trái, xuyên qua một tấm màn tuyết trong mờ, nửa trong, nửa mờ, người ta thấy hai đốm sáng vàng đỏ, như hai con mắt đã khóc nhiều lắm. Đó là cửa sổ phòng khách lâu đài Tuniade. Ở đó có xác người lính bị ám sát.
- Đây là chỗ mà ông Tuniade đã xuống xe. - Ismail nói.
Gã xà ích lại xoay về phía ông thẩm phán, cái thân xác khổng lồ của gã như một con gấu.
- Khách của anh đã bảo anh ngừng lại tại chỗ này hả? - Cảnh sát trưởng Filaret hỏi - Vì sao anh ta đã không cho xe đến tận lâu đài?
- Ông cảnh sát trưởng biết là con đường Tình Yêu chấm dứt ở đây từ chỗ này, không còn đường nữa. Tôi đã ngừng lại đây và tôi đã yêu cầu cậu ta đi bộ về nhà. Tôi sợ rơi xuống hố với hai con ngựa của tôi. Vả lại tuyết quá cao. Tôi sợ làm mệt ngựa. Đi bộ, tiện hơn. Nhất là đối với một người trẻ trung.
- Hãy xuống đi, Ismail, và hãy lặp lại mỗi động tác, như thể là điều ấy xảy ra bây giờ. - Viên cảnh sát trưởng ra lệnh.
Màn đêm, tuyết, sự tĩnh mịch, hai đốm ánh sáng đỏ và ba người đàn ông đứng gần bên chiếc xe trượt tuyết làm cho điểm tận cùng này thành một khung cảnh đầy bí ẩn. Bây giờ là hai giờ sáng thứ sáu. Gió bấc tiếp tục thổi.
0
V
Những phút cuối cùng của cuộc đời Antoine Tuniade
 
- Lúc chúng tôi đến tại chỗ này là một giờ năm phút sáng. - Ismail nói.
- Làm sao anh biết đích xác là một giờ năm phút? - Viên cảnh sát trưởng hỏi.
- Quãng đường từ ga đến lâu đài Tuniade, trên con đường Tình Yêu, đi mất hai mươi phút. Tôi đã cho xe leo hàng ngàn lần con đường Tình Yêu. Tàu đến trễ bốn mươi phút, tức là một giờ kém hai mươi phút sáng? Vòng xe dài hai mươi phút; tôi cho là xuống xe lửa phải mất thêm năm phút. Thế là một giờ năm phút sáng khi chúng tôi đến chỗ này.
- Anh có xem đồng hồ không? - Cảnh sát trưởng Filaret hỏi.
- Không - Gã xà ích đáp. Vì sao phải xem đồng hồ khi người ta biết giờ đích xác? Đồng hồ, người ta nhìn nó khi nào ta không biết giờ, chứ không nhìn khi ta đã biết giờ rồi.
- Hãy tiếp tục - Viên cảnh sát trưởng ra lệnh.
- Tôi đã ngừng xe lại tại đây, đúng tại chỗ mà chúng ta đang đứng bây giờ. Nếu không có tuyết thì các ông đã có thể trông thấy dấu vết. Bên mặt và bên trái là vực thẳm. Các ông không thấy cái vực vì nó hoàn toàn đầy tuyết. Nhưng nếu người ta đi lệch vài phân qua mặt hoặc qua trái, người ta không bao giờ trở lại trên mặt đất nữa. Không còn người, không còn ngựa, không còn xe trượt tuyết nữa. Vì thế bắt buộc tôi phải cẩn thận.
Ismail, kẻ bị thiến đứng gần các con ngựa, với cái mũ lông thú nhọn và phủ đầy nụ tuyết, gã giống như một cây tùng bên trên có tuyết rơi. Mỗi lời gã nói làm ta phải ngạc nhiên. Không thể nào làm quen được với ý nghĩ rằng một giọng nhỏ đến thế lại có thể xuất phát từ một thân thể to như núi như thế.
- Bắt đầu từ chỗ này và đến lâu đài, là không có đường nữa. Ông biết rõ điều đó. Xe phải ngừng lại tại đây. Vì vậy tôi đã yêu cầu cậu ta xuống xe tại đây. Chỉ còn hai trăm thước đi bộ. Tôi xin nói với ông điều này, tôi sợ làm mệt ngựa. Tôi không muốn bắt chúng bơi trong tuyết cao bằng chúng... Tôi vừa nói xong thì cậu ta đã đứng dậy. Cậu ta nhảy xuống xe. Sẵn sàng chạy về phía lâu đài. Trước khi chạy băng về nhà, cậu ta muốn trả tiền xe. Cậu ta kẹp chiếc va-li nhỏ vào giữa hai đầu gối để khỏi đặt nó trên tuyết, và cậu ta đã bắt đầu tìm tiền. Tôi nhớ là cậu ta đã dùng răng, lột găng tay ra, loại găng của quân đội, vì cậu ta hết sức vội vàng. Cậu ta không muốn để mất một phút. Cậu ta không biết rằng đang chạy đến chỗ chết. “Thưa ông, ông đừng lục lọi trong túi làm gì. Ông hãy về lâu đài đi. Mai ông sẽ trả tiền xe cho tôi cũng được”. Vừa lúc ấy, cậu ta đã tìm được ví tiền. Cậu ta lấy tờ hai mươi quan đưa cho tôi và nói tôi cứ giữ chỗ tiền thừa xem đó là tiền thù lao. Rồi không kịp mang găng lại, cậu ta đã chạy biến trong tuyết như một con ma.
- Anh có kể lại với tôi rằng lúc anh nói với cậu ta đừng tìm tiền nữa, cậu ta đã trả lời: “Và nếu tôi chết đêm nay, Ismail, ai sẽ trả tiền xe cho anh?” Có đúng là cậu ta đã nói với anh như thế không? - Cảnh sát trưởng Filaret hỏi.
- Cậu ta có nói: “Nếu tôi chết đêm nay, ai sẽ trả tiền xe cho anh?” Nhưng cậu ta không nghĩ như thế.
- Ismail, anh có chắc chắn rằng cậu ta không nghĩ đến một tai biến tử vong nào đó khi cậu ta nói với anh: “Nếu tôi chết đêm nay?”
- Cậu ta không nghĩ đến điều đó - Ismail đáp - Cậu ta nói như thế để đùa chơi. Người ta luôn luôn nói: “Nếu tôi chết” khi người ta chắc chắn là không chết. Khi người ta mới hai mươi tuổi, ở tuổi ấy, người ta đinh ninh là sẽ không bao giờ già. Cậu ta nói: “Nếu tôi chết” như cậu ta nói một điều chẳng bao giờ xảy đến với cậu ta. Tội nghiệp cậu ta đinh ninh rằng chết là điều không thể có. Và ba phút sau cậu ta chết. Chết, thưa ông! Chết trên tuyết. Cái thân thể hai mươi tuổi, đàn hồi như thân thể những con sóc và chảy hết máu... Với một viên đạn trong đầu... Ngay trước lâu đài.
Ismail ngừng lại. Gã làm dấu thánh giá rất thành kính. Mặc xoay về hướng Đông.
- Và sau đó? - Viên cảnh sát trưởng hỏi.
- Tôi đã thuật lại với ông rồi - Ismail nói.
Gã xà-ích khó chịu khi phải thuật lại những ký ức đẫm máu ấy. Nhưng gã kể tiếp:
- Cậu ta chạy nhanh về phía lâu đài. Đôi găng tay ngậm nơi miệng. Cậu ta chạy như người ta bơi. Tuyết ngập tới thắt lưng. Giơ cao chiếc va-li nhỏ trên đầu, như người ta giơ cao một vật quý, khi lội qua một con sông. Cậu ta chạy về phía rừng cây trong lâu đài.
- Còn anh?
- Tôi, tôi quay xe lui. Rồi tôi làm dấu thánh giá, cầu xin Chúa ban ơn cho tôi trở về bình an. Tôi có quay đầu lại một lần liếc nhìn cậu ta. Cậu ta đã đến trước cổng rào của lâu đài.
- Lâu đài có một cái cổng rào? - Ông thẩm phán hỏi.
- Một cổng rào song sắt - Ismail đáp - Ông sẽ trông thấy nó.
- Cổng ấy thường đóng lại?
- Cổng rào của lâu đài luôn luôn được khóa lại. Nhưng cậu Tuniade có chìa khóa. Tôi có thấy cậu ta mở cửa và đi vào trong lùm cây. Cậu ta không kéo chuông. Có một cái chuông nơi cổng hàng rào. Một cái chuông to, chỉ nhỏ thua cái chuông của nhà thờ Agapia chút xíu. Nếu cậu ta kéo chuông để người ta ra mở cửa cho cậu thì tôi đã nghe được.
- Và anh không thấy có ai hết? Không có một người nào khác?
- Không có một người nào khác. - Ismail đáp.
- Này Ismail, tôi hỏi ông thêm một câu nữa. - Thẩm phán Damian nói.
- Ôi chao! Thưa ông thẩm phán, xin ông đừng gọi như thế! Ông hãy gọi tôi là Ismail kẻ bị thiến như mọi người. Đừng gọi là ông! Lạy Chúa! Với tuổi của tôi mà được gọi như thế tôi thấy lố bịch cho tôi, vì chưa ai bao giờ gọi tôi là ông cả. Tôi là một xà ích, một kẻ bị thiến. Tôi không phải là một ông.
- Tốt, Ismail! Để làm vừa lòng anh, tôi không gọi anh là ông nữa. Nhưng anh, anh cũng phải làm tôi vui lòng: hãy trả lời tôi hết sức thành thật, vì có một điều mà tôi không hiểu. Vì sao sau khi chuyến xe đi lên coi như đã hoàn tất rồi, thay vì cho xe đi xuống liền, anh đã ở lại tại đây, trong cơn bão táp, trời lạnh kinh khủng, để ngắm nhìn khách của anh chạy tới nhà? Đây không phải là thời tiết để ngồi bất động trong xe trượt tuyết, có phải không?
- Không, thưa ông.
- Mặc dầu thế anh đã ở lại vài phút sau khi khách của anh đã chạy đi rồi.
- Tôi đã ở lại, thưa ông.
- Vì sao?... Anh đợi chờ gì?... Anh có một lý do nào ngăn anh cho xe trở xuống liền không?
- Có, thưa ông, tôi có một lý do.
- Chắc phải là một lý do vô cùng quan trọng - Thẩm phán Damian nói - Vì nếu là một lý do vụn vặt, người ta sẽ không ở lại đây, trên đỉnh núi, trời lạnh mười độ dưới số không, và giữa cơn bão táp.
- Không phải là một điều vặt - Ismail nói - Tôi ở lại vì các con ngựa của tôi. Chúng đã leo lên hết con đường Tình Yêu. Trong hai mươi phút. Với tuyết lên tới bụng. Ông bảo rằng đáng lẽ tôi đã phải đi xuống ngay lập tức, không để cho chúng vài phút để thở. Một con ngựa leo dốc thì phải thở dốc ra. Nó nóng lên. Trước khi bắt nó đi xuống, phải che cho nó. Đắp lên lưng nó một cái mền. Khi đi xuống, nó lạnh. Tôi đã để ngựa của tôi nghỉ ở đây, sau khi xoay chúng lại, đưa lưng về huống gió. Vì một con ngựa, người ta phải săn sóc nó. Nó là một tạo vật của Chúa.
- Ismail là một tín đồ - Viên cảnh sát trưởng giải thích - Gã rất ngoan đạo. Tôn giáo của gã dạy rằng, săn sóc những tạo vật của Chúa tức là tôn vinh Đấng Tạo hóa. Chắc ông thẩm phán biết tôn giáo của họ.
- Tôi có biết sơ qua. - Ông thẩm phán đáp.
Ông nói với Ismail:
- Yêu thương súc vật và săn sóc chúng là rất tốt. Nhưng hãy kể cho tôi nghe phần kế tiếp. Người ta sẽ thấy rõ đó có phải là lý do duy nhất để anh chần chờ ở lại nơi đây.
- Vậy thì lúc ấy tôi ngồi trong xe - Ismail nói - sẵn sàng để trở về. Ngựa đã quay lại để đi xuống. Tôi đã nghe hai tiếng súng. Một tiếng rồi tiếp theo một tiếng khác. Rất mau. Tôi quay đầu lại. Tôi không thấy gì cả. Nhưng tôi chắc chắn là có nghe các tiếng súng. Hai con ngựa cũng có nghe. Chúng cũng quay đầu về phía lâu đài. Đúng lúc ấy, tôi còn nghe thêm được hai hay ba tiếng súng nữa. Đồng thời, tôi có thấy như những tia chớp bên trên cửa rào, trong lùm cây. Rồi thì tình trạng yên tĩnh trở lại. Tình trạng bất động. Chỉ có gió và tuyết. Tôi đã nhảy xuống xe và tôi đã chạy về phía lâu đài. Tôi chắc chắn rằng đã xảy ra một tai họa. Rằng có một người bị thương hoặc một người chết trong lùm cây. Tôi đã bơi trong tuyết về phía lâu đài. Tôi cầu nguyện. Và tôi không nghĩ đến điều gì cả. Cổng rào mở toang. Phía sau cổng rào, tôi thấy một thân hình người, nằm dài trên tuyết. Và tất cả chung quanh, máu. Một vết loang đỏ. Ban đêm trông giống màu đen.
- Anh sẽ kể lại điều đó tại chỗ ấy - Viên cảnh sát trưởng nói - Chúng ta hãy đi lên đó, thưa ông thẩm phán.
Hai người lên xe. Gã xà ích không nhúc nhích.
- Tôi đã ra lệnh đi lên, Ismail - Cảnh sát trưởng Filaret nói - Anh còn đợi gì nữa?
- Thưa ông thẩm phán và thưa ông cảnh sát trưởng, tôi có thể rất kính cẩn hỏi hai ông một điều không?
- Được, anh cứ hỏi, nhưng đi lên mau. - Viên cảnh sát trưởng nói.
- Chúng ta có thể để xe lại đây và đi bộ lên lâu đài không? Thật nguy hiểm cho các con ngựa, nếu phải đi trên đất đai này. Và chúng đã mệt rồi. Nếu phải đi thì chẳng khác gì là chúng đã phải leo lên đêm nay hai lần con đường Tình Yêu. Một con ngựa sẽ không làm điều mà một con người đã làm đêm nay: giết người anh em của nó. Phải kính trọng các con ngựa vì chúng cao thượng hơn con người. Và không nên áp đặt cho chúng những sự cực nhọc nếu không phải là tuyệt đối cần thiết.
Thẩm phán và cảnh sát trưởng xuống xe, không nói một lời nào. Họ đi lên lâu đài, đi trong tuyết.
Ismail đi theo họ. Ở phía sau, hai con ngựa tò mò nhìn ba người đi tới phía lâu đài Tuniade, nơi cửa sổ có ánh sáng: các cửa sổ của gian phòng nơi có xác nạn nhân. Hai cửa sổ. Giống như hai con mắt đỏ vì giận dữ và nước mắt, đằng sau một bức màn tuyết.
0
VI
Tuyết không có trí nhớ
 
Cổng hàng rào của lâu đài mở rộng. Tuyết đã hết rơi. Trời đất tối. Bây giờ là hai giờ rưỡi sáng. Ba người - thẩm phán, cảnh sát trưởng và xà ích nối đuôi nhau băng qua cửa song sắt đi vào rừng cây bao bọc quanh lâu đài. Tận phía sau rừng cây, nổi lên như trên một trang giấy trắng, hai cửa sổ có ánh đèn. Đấy là lâu đài Tuniades. Cái lâu đài danh tiếng mà chủ nhân đánh bạc ăn được trong một sòng bạc lớn ở Tây phương. Thật sự đây chỉ là một cái biệt thự miền núi. Có hàng ngàn cái như thế tại dãy núi Alpes du Tyrol, ở Thụy Sĩ, trong vùng Rừng Đen. Người ta đã gọi cái biệt thự miền núi ấy là lâu đài, vì nó có một hình dáng lạ, khác với hình dáng các nhà ở địa phương này, và vì các chủ nhân của nó là các quan chức cai trị Phanariot. Cũng giống như ngôi biệt thự của vua chúa ở Sinaia. Người ta cũng gọi là lâu đài Sinaia, vì nhà vua ở đó. Nhưng thật sự cũng chỉ là một biệt thự kiểu miền núi ở vùng Rừng Đen.
- Các cửa sổ mở ra là cửa sổ phòng khách - Cảnh sát trưởng Filaret giải thích - Xác nạn nhân nằm ở đó.
Ismail, gã đàn ông bị thiến đứng lại và đưa roi chỉ một điểm trong tuyết.
- Thưa ông, xác cậu ta ở chỗ này lúc tôi chạy tới nơi .
- Hãy chỉ chỗ đích xác nơi nạn nhân nằm lúc ấy. - Viên cảnh sát trưởng ra lệnh.
Ông thét Ismail:
- Anh sợ không dám đến gần à?
- Tôi sợ. - Gã xà ích đáp.
- Ismail, anh điên sao! Anh sợ gì?
- Tôi sợ giẫm chân lên máu của nạn nhân - Ismail đáp - Giẫm chân lên máu của một con người là mắc tội lớn lắm.
- Dẹp những điệu bộ kiểu cách đi! - Viên cảnh sát trưởng thét - Xác chết nằm chỗ nào? Anh thấy rõ là không có lấy một giọt máu, khắp nơi không một giọt nào.
- Lúc tôi chạy đến đây, thân thể cậu ta nằm trong tuyết. Nằm nghiêng phía tay mặt. Co quắp lại. Như thân hình những đứa trẻ nằm trong bụng mẹ. Tay đặt trên đầu gối, như lúc người ta nằm ngủ. Tất cả tuyết chung quanh nhuốm máu. Bây giờ, ông thấy đấy, không còn máu nữa. Tuyết đã xóa tan tất cả. Tôi không ưa máu. Cũng không còn dấu vết. Tuyết tinh khiết. Tuyết trinh bạch. Nó trinh bạch vì màu trắng tinh khiết của nó.
Ismail chuyển cây roi qua tay trái. Và gã làm dấu thánh giá. Như thể gã cầu nguyện Đức Mẹ Đồng Trinh.
- Thế cậu ta đã chết rồi, khi anh tới gần cậu ta? - Viên cảnh sát trưởng hỏi.
- Thưa ông, cậu ta đã chết rồi, má bên mặt dính vào tuyết. Như má con nít dính vào vú mẹ. Ôi! Lạy Chúa tôi! Con người lúc chết, lặp lại, trong chốc lát cuối cùng của cuộc đời, những vị thế, những cử chỉ và những thái độ giống như đã có trong chốc lát đầu tiên của cuộc đời khi mới sinh ra! Thân hình con người có cùng một hình dáng, co quắp, trong chốc lát đầu tiên và chốc lát cuối cùng của cuộc đời. Cậu Antoine Tuniade nằm co quắp như thế đó. Tôi đến gần cậu ta, nói với cậu ta. Tôi biết là đã quá trễ. Cậu ta đã chết rồi. Cậu ta không còn thở nữa. Máu không chảy nữa. Nó chỉ giọt xuống, thoát ra khỏi cái áo bộ đội. Mặt trắng toát. Trắng như tuyết. Tôi có sờ mặt và cổ, và thấy còn nóng. Những nụ tuyết rơi xuống trên má và trên trán tan ra. Những nụ tuyết rơi xuống trên môi cũng tan ra. Chúng tan ra vì thân xác còn nóng.
- Anh sẽ giải thích điều ấy với bác sĩ - Viên cảnh sát trưởng nói - Đối với tôi, những gì anh nói không đứng vững. Nếu con người đã chết, thì thể xác phải lạnh. Nếu anh nói là còn nóng, điều này có nghĩa là người ấy chưa chết.
- Cậu ta chết rồi, nhưng còn nóng - Ismail đáp lại - Người trẻ còn giữ được thân xác nóng một lúc sau khi chết. Người già thì thân lạnh, dù còn đương sống. Như thế đó.
Ismail ngừng một lát như để cố nhớ lại.
- Và sau đó? - Viên cảnh sát trưởng giục.
- Sau đó, khi tôi biết chắc là cậu ta đã chết rồi, tôi làm dấu thánh giá và chạy tới lâu đài. Để báo tin cho bà mẹ đáng thương. Nơi cửa sổ hàng hiên, trước khi kịp leo lên tầng cấp và gõ cửa, tôi thấy có ánh sáng xuất hiện, và cửa mở ra. Bà Patricia Tuniade đi ra, súng ngắn nơi vai. Sẵn sàng bắn. Bà đã nghe những phát súng như tôi. Ba đã lấy cây súng ngắn và bà đã rình sau cửa sổ. Nhưng bà đã không dám đi ra ngoài. Cũng không dám thắp đèn. Bà không biết ai bắn cũng không biết vì sao người ta bắn. Bà ta sợ. Khi bà ta thấy tôi và nhận ra tôi, bà để cây đèn trên cửa sổ và đi ra. Với cây súng ngắn sẵn sàng nhả đạn. Bà thét bảo tôi đứng lại và nói: “Ismail, té ra là mày, tao nhận ra mày! Đừng lại gần nữa, và nói cho tao biết lập tức, mày làm gì giữa đêm khuya, trong nhà tao, trong rừng cây nhà tao”.
“Tôi đưa con trai bà từ ga về, thưa bà Patricia”. Tôi đã trả lời như thế. Tôi đã đứng lại. Những tiếng nấc khóc đã lên tận cổ. Nhưng tôi tự kiềm chế.
“Mày đã đưa con tao từ ga về như thế nào? Nó ở đâu?” Bà ta đã hỏi như thế.
“Cậu ấy chết rồi, thưa bà - Tôi đã trả lời - Người ta đã bắn vào cậu ấy. Người ta đã giết cậu ấy. Cậu ấy ở đây. Phía sau tôi”.
“Antoine, chết?” Bà đã thét lên. Bà đã chạy tới phía tôi đứng.
Tôi đã chỉ xác con bà. Bà nhào xuống trên xác con, trong tuyết. Bà đã quăng súng. Bà đã hôn con như thể con còn ấu thơ. Và như thể còn sống. Rồi bà nằm dài trong tuyết bên cạnh con. Bà ôm siết con trong vòng tay. Tôi không thể nhìn cái cảnh ấy nữa. Tôi đã ôm cả hai lên trong cánh tay của tôi, cả cái xác và bà mẹ. Không nặng lắm. Dù là cả hai mẹ con. Và tôi đã mang họ vào trong phòng khách. Tội nghiệp Patricia, tội nghiệp lắm!... Nhưng tôi không còn có thể làm gì được nữa cho bà. Trong phòng khách, bà muốn tự mình mang xác con để lên đi-văng, nhưng xác nặng quá đối với bà. Bà đã quỳ xuống cùng với xác con ở giữa phòng khách. Tôi bèn đặt nạn nhân nằm dài trên đi-văng. Tôi đã vuốt mắt cho cậu ta. Tôi đã thắp một ngọn nến trên đầu cậu ta. Tôi đã đặt tượng Thánh mẫu lên ngực cậu ta. Như một tín đồ phải làm. Rồi tôi đã để lại người chết đáng thương ở đấy. Để lại với bà mẹ đang quỳ gối, gần bên đi-văng đang khóc và hôn con. Tôi đã chạy đi báo tin với ông.
- Chúng ta hãy tới lâu đài. - Cảnh sát trưởng Fiỉaret nói.
- Một lát nữa - Ismail nói - Khi đi ra, tôi có thấy kẻ sát nhân. Chính mắt tôi thấy nó. Nó chạy ra về phía bìa rừng, về phía kia kìa.
- Và đến bây giờ mày mới nói điều đó hử?
Cảnh sát trưởng Filaret nổi giận.
- Mày có chắc chắn là đã thấy kẻ giết người không?
- Chắc chắn - Ismail đáp - Khi từ lâu đài ra để đi báo với ông, tôi có thấy một người đàn ông chạy trốn về phía rừng, về phía bìa rừng...
Ismail lấy ngón tay chỉ chỗ người đàn ông chạy trốn.
- Chỗ kia kìa. Phía rừng tùng. Vài trăm mét về hướng Tây, bên trên lâu đài.
- Anh đã làm gì? - Ông thẩm phán hỏi - Anh đã chạy đuổi theo nó sao?
- Tôi đã kêu bà Patricia. Tôi kêu to: “Thằng giết người! Kìa thằng giết người! Nó chạy về phía rừng”.
- Và sau đó?
- Tôi không biết là đã hành động có đúng không khi gọi bà Patricia. - Ismail nói.
- Anh đã gọi bà Patricia - Ông thẩm phán hỏi lại - Nhưng cả hai người lại để cho nó chạy, sau khi đã thấy nó sao?
- Không - Ismail đáp - Bà Patricia đã chạy ra. Nhanh như một cơn bão. Bà đã thấy nó. Bà run như cầy sấy. Bà vào trong lâu đài và đi ra với cây súng. Bà đứng tựa vào tôi. Bà đã bắn theo người đàn ông chạy trốn. Bà bắn từng phát một. Cho đến hết cả kẹp đạn. Người đàn ông vẫn chạy. Nó giống như một vệt đen trên nền tuyết. Tôi đã cố gỡ cây súng ra khỏi tay bà Patricia. Nhưng bà chỉ thả nó ra sau khi đã bắn hết đạn.
- Và người đàn ông chạy trốn? - Ông thẩm phán hỏi - Nó ra sao sau đó?
- Tôi không biết. Bà Patricia đi vào lấy một cây súng ca-ra-bin khác. Bà trở ra ngay lập tức. Thật dễ dàng tìm lấy một cây súng khác trong lâu đài mà tất cả các bức tường đều đầy những bảng treo vũ khí, toàn là súng săn, ca-ra-bin, súng lục. Tất cả đều nạp đạn sẵn. Đây là một vật kỷ niệm của chồng bà, Antoine Tuniade cha. Ông ấy chỉ có thể sống ở giữa súng ống. Chung quanh giường của ông, bàn của ông đều có súng. Thế là bà Patricia đã trở ra với một cây súng khác. Nhưng khi tìm người chạy trốn để bắn tiếp, bà đã không trông thấy nó nữa rồi. Nó đã biến mất, như bị chôn vùi trong tuyết. Tất cả đều trắng xóa.
- Anh nghĩ là nó đã chết? - Ông thẩm phán hỏi.
- Có thể - Ismail nói - Bà Patricia chưa bao giờ bắn trật một phát súng nào. Bà bắn còn giỏi hơn cả chồng bà. Bà bắn chim đang bay và không hề bắn trật... Có thể là người đàn ông chạy trốn đã chết trong tuyết. Có thể nó đã bị thương. Trường hợp ấy, cũng như đã chết. Chôn vùi trong tuyết. Có thể nó trốn được. Nếu nó vào trong rừng chỉ cách xa trước mặt nó không đầy trăm mét, không ai sẽ còn thấy nó trở lại nữa...
- Vì sao mày không nói với tao ngay lập tức mày thấy tên sát nhân? - Viên cảnh sát trưởng hỏi - Đó là điều đầu tiên mày phải nói. Vì sao mày đã đợi lâu đến thế?
- Tôi không biết - Ismail đáp - Tôi quá đỗi hốt hoảng.
Hai nhân viên cảnh sát mà ông cảnh sát trưởng đã tức tốc phái lên lâu đài theo con đường tắt vừa tới trước cổng rào sắt. Mũ lông thú và áo choàng của họ tuyết bám trắng xóa. Họ đến chậm kinh khủng. Đáng lẽ họ đã phải đến từ lâu rồi.
- Đồ quân ăn không ngồi rồi - Cảnh sát trưởng Filaret mắng - các anh kéo lết ở đâu cho đến bây giờ hả?
- Tuyết quá cao - Một người nói - Chúng tôi đến được đây là một phép lạ. Chúng tôi đã tưởng là không thể nào tới được.
- Ismail, hãy đi với hai cảnh sát viên! - Cảnh sát trưởng ra lệnh - Tất cả ba người đến chỗ mà tên đàn ông chạy trốn vào lúc mà bà Patricia bắn vào nó. Nếu nó chết hay bị thương, hãy mang nó về lâu đài. Hãy nhìn xem có dấu vết không, bất cứ vết gì. Và hãy trở về tức tốc.
Hai cảnh sát viên - ba gã đàn ông tóc xám - thở dốc vì đã bị đánh thức dậy vội vàng và đã lội trong tuyết trong suốt quãng đường, vội lau mồ hôi trán và đi theo Ismail. Họ không có một lý do gì để từ chối. Sự mệt nhọc không phải là lý lẽ trong lúc này.
Trong khi gã Ismail, cao lớn như một cây tùng, tiến bước vào rừng theo sau là hai cảnh sát viên, ông thẩm phán và ông cảnh sát trưởng quan sát nơi mà người lính trẻ đã ngã xuống. Không còn một chút máu. Không một dấu vết nhỏ nhặt. Hai ông không tìm thấy ngay những dấu vết của chính họ, những dấu chân của họ để lại nơi lùm cây trong lâu đài. Tuyết đồng dạng. Trắng xóa. Bằng phẳng, như chẳng có gì đã xảy ra.
- Có phải Ismail đã cố ý để cho tên sát nhân có thời giờ chạy trốn không? - Ông thẩm phán hỏi - Không thể tin được là anh ta đã quên không nói đến điều đó sớm hơn. Anh ta đã trông thấy tên sát nhân và đã im hơi lặng tiếng về điều ấy, hơn một tiếng đồng hồ. Để cho tên sát nhân có thể dông mất. Đấy là sự đồng lõa. Ông nghĩ thế nào?
- Tôi không biết - Ông cảnh sát trưởng nói.
- Đáng lẽ điều đầu tiên mà anh ta phải nói là anh đã có trông thấy tên sát nhân. Rằng tên sát nhân đã chạy trốn. Và nó chạy trốn theo hướng nào. Để chúng ta có thể tìm ra dấu vết. Đó là điều sơ đẳng.
- Tôi không biết - Viên cảnh sát trưởng đáp - Tuy nhiên ông biết một điều: Nếu là những máy móc, luôn luôn người ta biết sự phản động của chúng. Nếu người ta vặn tay lái về bên phải, bánh xe cũng xoay về bên phải. Nếu người ta nhấn ga, xe chạy nhanh hơn. Nếu người ta kéo đuôi con chó, nó cắn. Thú vật luôn luôn phản công cùng một cách, như máy móc. Với những con người, người ta không bao giờ biết. Con người tất cả đều như nhau, giống như máy móc, thú vật và cây cối. Mỗi con người được tạo thành theo một mẫu duy nhất. Tâm hồn của mỗi con người là một mẫu duy nhất. Đúng như Chúa là duy nhất và không có ai giống Ngài. Thật khó mà hiểu được vì sao Ismail đã không kể điều đầu tiên mà anh ta đáng lẽ phải kể, nghĩa là sự thông tin về thủ phạm.
- Sự thiếu sót đó về phần gã xà ích không chứng tỏ rằng gã là đồng phạm sao? - Ông thẩm phán hỏi.
- Phải nghĩ đến điều ấy - Viên cảnh sát trưởng đáp - Có thể đúng, có thể không đúng. Chúng ta hãy vào lâu đài.
Hai người đi vào lâu đài Tuniades. Lâu đài lạ lùng do đánh bạc được. Với hy vọng tìm được ở đấy một chỉ dẫn cho phép họ khám phá ra thủ phạm. Vì trên hiện trường xảy ra tội ác, chỉ có màu trắng tinh khiết của tuyết. Tuyết không có trí nhớ, nó xóa tan tất cả, nó nhuộm trắng tất cả. Nó dung thứ cho tất cả mọi người và về tất cả mọi sự. Sự dung thứ không phải sự tòng phạm. Tuyết trắng đến mức không che giấu những kẻ chạy trốn, nhưng dung thứ cho chúng. Tuyết thánh thiện, như Ismail gọi.
Nhưng gã xà ích có quyền dung thứ cho tên sát nhân, như tuyết dung thứ cho nó không? Tuyết có quyền ân xá vì màu trắng đồng nhất và thánh thiện của nó. Nhưng Ismail có đủ thánh thiện để có cái quyền ân xá như thế không? Vì nếu gã không có sự trong trắng ấy, thì gã chỉ là một kẻ tòng phạm đã để cho thủ phạm chạy trốn.
0
VII
Patricia Tuniade, mẹ của quân nhân bị ám sát
 
Thẩm phán Cosma Damian và cảnh sát trưởng Filaret vào phòng khách lâu đài. Ở giữa gian phòng có một cái đi-văng. Trên đi-văng ấy, xác nạn nhân. Patricia Tuniade, trùm mình trong một chiếc áo măng-tô, đang quỳ gối và khóc, trán úp trên thân xác con. Bà không hay biết hai ông đi vào. Phòng khách lâu đài Tuniades như một viện bảo tàng về săn bắn. Vách cây, đầu heo rừng, đầu nai, đầu chó sói, đầu gấu treo khắp nơi.
- Bà Patricia, đây là ông thẩm phán của chúng ta. Bà biết ông thẩm phán rồi - Viên cảnh sát trưởng lên tiếng - Chúng tôi được Ismail báo cho hay tai họa khủng khiếp này. Sự đau khổ của bà cũng là sự đau khổ của chúng tôi.
Patricia ngẩng đầu lên. Bà nhìn hai ngươi đàn ông, như trong một lúc nửa ngủ, nửa thức. Đây là một người đàn bà tóc vàng nâu, khuôn mặt rất trắng và rất tái, đôi mắt xanh. Bà đẹp vô cùng, đẹp như một bức hình chạm lãng mạn. Không ai tin rằng người đàn đẹp đang khóc ấy là mẹ của người quân nhân trẻ nằm chết kia, trên chiếc đi-văng, đầu ở giữa hai ngọn nến đang cháy, một cây thánh giá trên ngực, áo dài quân phục đã tháo nút và vấy máu.
- Lát nữa bác sĩ Pilat sẽ đến - Viên cảnh sát trưởng nói - Khổ thay, ông ta sẽ chỉ có thể chứng nhận cái điều khủng khiếp. Còn chúng tôi, chúng tôi có bổn phận phải hỏi bà đôi điều. Chỉ về những gì rất thiết yếu.
- Tôi nghe các ông đây - Bà Patricia Tuniade nói.
Bà vẫn quỳ gối bên cạnh xác con.
- Có đúng là bà thấy tên sát nhân và bà đã bắn vào nó?
- Tôi có thấy nó - Patricia Tuniade đáp.
Giọng bà trở nên dữ tợn. Bà nghiến răng. Như người ta nghiến răng điên tiết lên được sau khi bắn trật một phát.
- Chúng tôi đã phái hai cảnh sát viên cùng đi với Ismail để lục lọi nơi ấy. Bà có nghĩ rằng đã bắn trúng nó không? Bà có tin rằng nó chết hay bị thương không?
- Không - Bà Patricia Tuniade đáp - Tôi đã bắn chết cả kẹp đạn. Nhưng tôi đã bắn trật. Tay tôi run. Toàn thân tôi run. Tôi dao động vì đau khổ. Tôi đã không bắp trúng nó. Mặc dầu nó rất gần. Không đầy ngàn mét. Vì tôi run lên nên tôi đã không bắn trúng nó. Cả đời tôi, đây là lần đầu tiên tôi bắn trật mục tiêu. Than ôi! Đây là lần đầu tiên mà đáng lẽ tôi phải bắn trúng!
- Lời khai của bà trùng hợp với lời khai của Ismail. Nhưng tôi muốn hỏi bà điều này một cách tường tận: bà có chắc, tuyệt đối chắc chắn rằng có một người đàn ông chạy trốn về phía bìa rừng không? Tuyết rơi, trời tối. Bà đang bị xúc động và đau khổ một cách kinh khủng, và có thể bà tưởng là dáng hình một người đàn ông nhưng thật sự là một cái bóng, cái cây, hoặc một con thú đang chạy...
- Đó là một người đàn ông - Patricia Tuniade đáp - Và không phải là ai khác, đó là kẻ đã giết con trai tôi. Không một ai khác có thể ở đây. Không bao giờ có ai chung quanh lâu đài.
- Vì rằng bà chắc chắn như thế...
- Tuyệt đối chắc chắn - Patricia Tuniade lặp lại - Tôi là người đã sống và hiện đang sống trong rừng. Tôi là một người săn bắn. Tôi không lầm. Đó là một tên đàn ông còn trẻ, một người ở thành phố. Theo cách nó chạy trốn, người ta thấy nó không phải là người miền núi. Nó chạy mau, nhưng vụng về. Nó có cái vụng về của những người không quen đi trong tuyết. Đúng là tôi run vì đau khổ. Khi tôi thấy tên sát nhân, hai mắt tôi mờ lệ. Nhưng khi tôi có súng trong tay và khi tôi nhắm, mặc dù run và mặc dù xuyên qua nước mắt, tôi vẫn thấy đích xác cái gì tôi nhắm. Hơn nữa, tuyệt đối tôi muốn bắn chết nó. Tôi đã nhắm nó như chưa bao giờ tôi đã nhắm như thế. Đó là tên đã giết con tôi. Ông biết là ngoài con trai tôi, tôi không có ai trên đời. Tôi không cha, không mẹ, không anh em, không chị em, không chồng. Tôi có con trai tôi là Antoine. Và bây giờ tôi không còn có nó nữa.
Patricia Tuniade khóc. Người ta không biết sự tức giận làm khổ bà hơn, hay là sự đau đớn. Người ta không biết bà khổ sở hơn, vì mất người con trai hay vì bắn trật tên sát nhân.
- Ismail nói với chúng tôi rằng tên sát nhân đã phạm tội với súng lục của nạn nhân.
- Đúng như vậy - Bà Tuniade nói - Con trai tôi đã bị giết bởi chính súng lục của nó. Cái súng kia.
Trên bàn có cái súng lục nhà binh mà Antoine Tuniade đeo. Gần cái súng, có ba vỏ đạn. Cũng có chiếc va-li, chiếc va-li nhỏ mà Antoine Tuniade xách nơi tay mà các nhân chứng đã nói... và một chiếc mùi soa, đôi găng kaki. Tất cả đều vấy máu.
- Ismail đã lượm tất cả những gì gã tìm thấy nơi xảy ra tội ác - Bà Tuniade nói - Gã đã đem tất cả để ở đây.
- Giả thuyết một vụ tự sát hình như bị bà loại trừ phải không? - Ông thẩm phán hỏi.
- Thế tên đàn ông chạy trốn? - Bà Tuniade bẻ lại - Đây là cố sát và là cố sát một cách tồi tệ nhất. Cố sát một cách hèn hạ. Tên sát nhân đã nhảy chồm vào con trai tôi khi con tôi đang mở cổng rào. Thừa lúc bất ngờ, nó giựt súng lục của con tôi. Và nó đã hạ sát con tôi một cách hèn hạ. Với chính súng lục của con tôi. Bắn phía sau. Một phát vào gáy...
Patricia Tuniade chỉ cổ áo quân phục của nạn nhân, cổ áo bị lủng lỗ. Có một vết thương không xa tai phải lắm phía sau đầu.
- Hãy nhìn vết cháy - Bà Tuniade nói. Bà giơ cái áo măng-tô bộ đội của con trai bà lên.
- Hãy nhìn vết cháy. Người ta đã đặt đầu súng gần vào đích để bắn. Bắn phía sau. Đây là một phát súng khốn nạn và hèn hạ.
- Bà không có một ý kiến nào về tánh danh căn cước của kẻ sát nhân sao?
- Không. - Bà Tuniade đáp.
- Bà có muốn nói cho chúng tôi biết các sự việc đã xảy ra như thế nào không?
- Chiều hôm qua, tôi xuống phố tìm mua những sách tiểu thuyết tiếng Pháp để gởi cho con trai tôi.
- Thế là bà không chờ đợi con trai bà về tối nay phải không? - Cảnh sát trưởng Filaret hỏi.
- Không, tôi không đợi nó. Thưa ông thẩm phán, tôi đã nói điều đó với ông. Tôi đã nói với ông, chiều hôm qua, ở tiệm sách. Tôi biết là con tôi bị cấm trại vì có bệnh truyền nhiễm tại thành phố nó đóng quân. Nó viết thư cho tôi hay rằng, nó buồn chán kinh khủng, và yêu cầu tôi gởi sách cho nó. Lệnh cấm trại còn có thể kéo dài thêm hàng tuần và hàng tuần... Thế là tôi đã mua vài quyển sách. Sau đó tôi trở về lâu đài. Tôi đi bộ suốt quãng đường. Các ông biết, gió Fohn thật khủng khiếp. Ngọn gió tệ hại ấy, ngọn gió thẳng đứng ấy, hành hạ các dây thần kinh của tôi, về đến lâu đài tôi không còn chịu đựng được nữa. Tôi uống một viên thuốc. Tôi viết thư cho Antoine. Tôi báo cho nó biết là tôi sẽ gởi sách và cố trấn an nó đôi chút. Trong lúc ấy cơn gió đã trở thành hết sức khó chịu. Còn tệ hơn là say sóng khi đi biển gặp bão. Ngọn gió ấy, thưa ông thẩm phán, ông sắp phải quen biết nó. Nó làm người ta lộn ruột lộn gan và nhức nhối như bị bong gân. Tôi ở trong lâu đài đã hai mươi năm nay và tôi đã cố gắng nhưng không quen được cái ngọn gió thẳng đứng khủng khiếp này, nó thổi từ dưới lên trên và từ trên xuống dưới. Tôi đã gọi Flora, người giúp việc của tôi - Ông cảnh sát trưởng biết chị ta - Và tôi đã nói với chị ta rằng chiều nay tôi sẽ không ăn gì hết. Rằng chị ta có thể ra về sau khi làm xong công việc. Tôi đã đưa cho chị ta bức thư tôi viết cho con tôi, để chị ta bỏ vào thùng thư ở ga. Tôi đã dặn chị ta như thường lệ là phải khóa cổng lại cho kỹ khi đi ra. Tôi có nói rằng tôi sẽ còn uống thêm hai viên thuốc nữa và sau đó tôi sẽ đi ngủ. Tôi đã làm như tôi nói. Tôi ngủ say lúc có tiếng súng nổ. Rất gần lâu đài. Tôi thắp một cây nến. Tôi lấy cây súng ca-ra-bin. Lúc đó là một giờ bảy hay tám phút. Không qua một giờ mười phút. Một tràng khác ba phát nổ rền bên ngoài. Lúc ấy, tôi chắc là người ta bắn trong lùm cây. Tôi tắt cây nến và đi đến gần cửa sổ. Tôi rình, trong tư thế sẵn sàng bắn, cây ca-ra-bin nơi vai. Đột nhiên, tôi thấy một người khổng lồ đang đi tới phía lâu đài. Đó là Ismail.
- Bà đã nhận ra anh ta ngay?
- Tôi đã nhận ra anh ta và tôi không còn sợ nữa. Khi người ta trông thấy Ismail, người ta hết sợ. Đó là con người hết sức ngoan đạo và tốt nhất trên đời. Nhân vì có Ismail trong sân lâu đài, tôi yên tâm. Nó đi nhanh tới. Đúng là Ismail. Ai đã thấy Ismail một lần thì không thể lầm nó với một người nào khác. Nó cao hơn tất cả mọi người, nó không có cổ, như một con gấu; nó có bộ ngực rộng như ức ngựa... Đúng là nó. Lúc nó đến gần hàng hiên, tôi đã hé mở cửa và kêu to: “Mày làm gì ở đây, Ismail?”
“Tôi đưa con trai bà về, thưa bà Patricia” - Nó đáp.
“Con tôi?... Con tôi ở đâu?”
“Cậu ấy chết rồi, thưa bà. Người ta đã giết cậu ấy. Ở đây, sau cổng rào”.
Tôi đã nhảy vọt ra ngoài. Tôi không còn biết đích xác những gì đã xảy ra. Ismail sẽ kể với các ông rõ ràng hơn tôi.
- Ismail đã kể với chúng tôi hoàn toàn đúng như thế. Chúng tôi cảm ơn bà, bà Patricia. Sau khi mang xác nạn nhân đặt nằm ở đây, Ismail đã đi ra để định đi báo với chúng tôi và nó đã trông thấy tên sát nhân và bà đã bắn tên ấy đang chạy trốn.
- Đúng vậy, thưa ông. Và tôi đã bắn trật nó. - Patricia Tuniade nói.
- Chúng tôi cảm ơn bà - Viên cảnh sát trưởng nói - Chúng tôi lấy các vật này để nghiên cứu tại phòng thí nghiệm.
Filaret tập trung súng lục, mùi-soa, ví tiền, gói tất cả vào một cái khăn. Ông hỏi.
- Ismail đã lượm tất cả những vật này ở ngoài kia?
- Đúng vậy, trước khi đi. Nó nói rằng, nếu để các vật này ở ngoài kia, người ta sẽ không còn tìm thấy chúng nữa, vì tuyết. Mà các vật này thì có thể cung cấp những chỉ dẫn cho sở cảnh sát. Tên sát nhân phải để lại dấu vết.
Trong khung cửa xuất hiện hai cảnh sát viên, Ismail đứng phía sau hai người.
- Sao?... Các anh có tìm thấy gì không? - Ông thẩm phán hỏi.
- Không tìm thấy gì cả - Một trong hai người đáp. Nhân viên thứ hai nói tiếp:
- Không một dấu vết. Không có người chết. Không có người bị thương. Không có máu. Không có dấu chân người. Toàn là tuyết... tuyết khắp nơi.
0
VIII
Dấu vết trên tuyết
 
Năm giờ sáng. Hôm nay là thứ sáu đầu tiên của tháng ba. Bốn giờ đồng hồ đã trôi qua kể từ lúc thanh niên Antoine Tuniade bị ám sát. Trong văn phòng của thẩm phán Cosma Damian, họ là ba người. Người thứ ba là y sĩ trưởng của thành phố, bác sĩ Pilat. Ông ta đã khám xét rất lâu xác của nạn nhân. Ông giải thích với ông thẩm phán và ông cảnh sát trưởng:
- Không có vấn đề tự sát! Cậu Antoine Tuniade bị ám sát. Về phương diện này, không có nghi ngờ gì cả. Phát súng gây tử vong đã được bắn từ phía sau, nơi gáy. Thực tế là một người không thể nào tự bắn mình bằng một phát súng lục như thế. Sau khi khám xét, đó là gần như tất cả những gì mà tôi, y sĩ, tôi có thể xác định một cách chắc chắn.
- Thế là tên sát nhân không có khí giới - Ông thẩm phán nhận xét.
- Dù có khí giới, nó đã sử dụng khí giới của nạn nhân. Có thể là một mưu mẹo quỷ quyệt. Ai có thể biết được?
- Vậy thì các sự việc đã phải xảy ra theo cách thức sau đây - Viên cảnh sát trưởng nói - Antoine Tuniade thình lình về tới ga. Cậu ta gọi xe trượt tuyết để đi về nhà. Đến cuối con đường Tình Yêu, cậu ta xuống xe, theo lời yêu cầu của xà ích và chạy bộ về phía lâu đài. Vừa mở cộng rào và bước vào lùm cây, một người tấn công cậu ta từ đằng sau, giựt lấy súng lục của cậu ta và bắn một phát vào gáy cậu ta.
Người ta đã tìm thấy bốn vỏ đạn nơi hiện trường. Như vậy tên sát nhân đã bắn bốn phát. Chỉ một phát trúng nạn nhân, về phương diện này, có những điều cần làm sáng tỏ. Nhưng hiện giờ, chúng ta chỉ có thể đưa ra những giả thuyết. Rằng cậu Tuniade đã bị bắn chết bằng viên đạn đầu tiên hay bằng viên đạn thứ tư, điều ấy không làm thay đổi căn bản của bài toán. Sau khi thi hành xong tội ác, tên sát nhân quăng khí giới và chạy về phía rừng. Vài phút sau đó, Ismail trông thấy nó. Ismail gọi bà Tuniade. Bà này bắn hết cả một kẹp đạn. Nhưng tên sát nhân đã trốn thoát được. Chúng tôi đã tìm kiếm nó tại nơi được chỉ, nhưng đã không tìm thấy được dấu vết nào của nó. Vì tuyết đã rơi rất nhiều sau khi vụ án mạng xảy ra và đã lấp tất cả các dấu vết.
- Còn một điều nữa - Ông y sĩ nói - Tên sát nhân không lấy cắp bất cứ vật gì. Động cơ của tội ác không phải là để ăn cắp.
Trên bàn giấy của ông thẩm phán, trước mắt ba nhà chức trách, có tất cả các vật mà nạn nhân có trong các túi: ví tiền, ví giấy tờ, đồng hồ, mùi-soa, cây thánh giá đeo nơi cổ, chiếc vòng tánh danh căn cước. Tất cả còn y nguyên. Tên sát nhân không lục soát các túi của nạn nhân. Nó không đánh cắp gì cả.
Điều này loại bỏ giả thuyết một vụ giết người do một tay đi săn trái phép, một kẻ trộm đã tấn công cậu ta để đoạt của cải.
- Giả thuyết về kẻ trộm đã bị loại bỏ ngay từ đầu - Viên cảnh sát trưởng nói - Ở Agapia không có kẻ trộm. Cũng không có những tay săn bắn hay đánh cá trộm. Nhất là chung quanh lâu đài và lạnh ba mươi độ âm, giữa ban đêm. - Nếu không phải là một tên ăn trộm chuyên nghiệp, người ta có thể giả thiết rằng có một người nào đó đến lâu đài để ăn trộm một cái gì đó.
- Không thể có được, thưa ông thẩm phán. Người ta thấy là ông chưa biết địa phương này. Không bao giờ một ai dám ăn cắp bất cứ vật gì ở lâu đài của các ngài Phanariot. Trong lâu đài này, ông thẩm phán đã thấy, tất cả các bức tường đều đầy rẫy súng ống và kiếm cung. Người nào dám tới gần lâu đài là tới gần tử thần. Điều ấy tất cả mọi người ở đây và trong toàn địa hạt của quận này đều rõ. Không một ai dám ăn cắp bất cứ vật gì nơi nhà của dòng họ Tuniades bao giờ. Patricia Tuniade bắn cho ông xem, một con chim sẻ ở xa một ki-lô-mét, cầm cây ca-ra-bin trong một tay mà thôi. Tất cả các người trong gia đình Tuniades là những tay súng kỳ lạ khác thường. Suốt đời học tập bắn bia. Sự thích thú của họ là bắn những con chim đang bay. Từ nhỏ, họ đã học trò chơi ấy rồi. Không, thật sự, một người ở xứ này chẳng bao giờ dám phạm tội ăn cắp ở lâu đài. Phải tìm tên sát nhân ở đâu khác kia. Và một động cơ khác cho tội ác, chứ không phải giết người để đoạt của.
Ước chi ít ra chúng ta có lấy một dấu tích, một dấu vết nào đó! Nhưng tuyết đã xóa tan tất cả. Thế mà, không bao giờ tên sát nhân lại không để lại tại hiện trường những dấu tích rõ hơn. Bước chân của tên sát nhân lún sâu một mét trong tuyết. Nó đã để lại những dấu vết rõ ràng, và những dấu vết cao một mét chung quanh xác chết và cho đến tận bìa rừng. Nhưng trong hai phút tuyết đã lấp bằng tất cả. Nó đã che, với tấm voan ngây thơ của nó, với màu trắng tinh khiết của nó, tất cả các dấu tích của tên sát nhân.
Cả ba nhà chức trách đều nghĩ cái đặc quyền ấy của tuyết, che đậy tất cả các tội ác. Không một tên sát nhân nào bị loại ra ngoài quyền ân xá của tuyết ban. Tất cả đều được thừa hưởng. Nếu một con người xóa đi dấu tích của kẻ sát nhân, như tuyết đã làm, người ấy sẽ bị trừng trị bằng một hình phạt như hình phạt của tên sát nhân. Nhưng tuyết, người ta không thể bắt nó. Người ta không thể xử và kết án nó. Không thể bây giờ, và không thể bao giờ dù là hàng thế kỷ của các thế kỷ. Mặc dù tất cả các tiến bộ kỹ thuật. Mặc dù tất cả các quyền lực mà người ta sẽ vận dụng, mặc dù các vũ khí tự động, các máy bay, các xe bọc sắt, các đài ra-đa, tuyết là bất khả xâm phạm. Tuyết che giấu tất cả các đào tẩu, người hay thú vật. Tuyết che chở chúng và xóa các dấu tích của chúng...
- Nếu là nước mưa thay vì tuyết! - Cảnh sát trưởng Filaret nói - Nước mưa không biến đổi nơi nó rơi xuống thành màu trắng; nó biến đổi đất thành bùn. Và bùn giữ các dấu tích để rồi trình ra với nhân viên cảnh sát. Nước mưa bép xép, lắm điều, lắm miệng. Nó sủi bọt, giận dữ, oán hơn, đồng điệu hay dữ dội. Tuyết thì lặng thinh và câm nín, không ký ức và bằng phẳng một cách trịnh trọng. Nước mưa là ngoại, là thế tục. Tuyết là đạo, là giáo. Tuyết rơi, là giống như một tiết lễ. Nước mưa đem bùn đến, gây ra lụt lội, nhưng cũng đem đến sự mầu mỡ. Tuyết không sản xuất ra gì hết. Vai trò của nó là trắng xóa, không ký ức trần tục, và là ban ân xá cho tất cả mọi người, mọi vật và về tất cả mọi sự. Như Chúa. Tuyết và nước mua là chị em. Nước mưa là thế tục, là ở trong trần thế, và tuyết là đạo, là ở trên trần thế. Người dân ở đây, và toàn thể cuộc sống ở đây hoàn toàn giống như tuyết - Cảnh sát trưởng Filaret nói tiếp - Không nên chờ đợi ở họ một sự cộng tác với ngành cảnh sát. Cũng như không thể chờ đợi sự cộng tác của tuyết. Dưới thấp kia, trong thành phố, trong đồng bằng, dân chúng và đời sống giống như nước mưa, họ giàu có và chỉ muốn cộng tác với ngành cảnh sát, giữ gìn tất cả các dấu tích và trình bày ra với cảnh sát. Ở đây, cuộc điều tra của chúng ta sẽ khó khăn. Ở đây là vương quốc của tuyết. Chúng ta đang ở trong một vùng gần trời hơn là gần đất. Và cảnh sát không có đất thi thố tài nghệ ở đây. Cảnh sát không có đường lên tận trời. Hãy chú ý tên của thành phố Agapia. Gốc từ tiếng Hy Lạp, nghĩa là “Tình yêu Agapètes”, nghĩa là “Tình nương”. Nhưng là tình nương tinh thần. “Agapètes” khác với “Dục tình” cũng như tuyết khác với mưa. Mưa là dục tình. Tuyết là “agapètes” là tình yêu tinh thần. Một bên là tình yêu thể xác, một bên là tình yêu tinh thần. Ở đây chúng ta phải tìm một tên sát nhân và mở một cuộc điều tra cảnh sát. Sẽ rất khó khăn. Vì đây là vương quốc của các Tình nương tinh thần và của tuyết.
0
IX
Tên sát nhân đã tới đây bằng chuyến tàu Bắc
 
Bác sĩ Pilat cáo từ. Ông có những bệnh nhân phải săn sóc. Còn lại ông thẩm phán và cảnh sát trưởng, hai ông ngồi đối diện nhau. Hai ông lúng túng. Ông thẩm phán lúng túng vì quá trẻ và mới vào nghề. Ông mới là thẩm phán có mấy giờ. Và ông đã có một vụ án bí mật phải giải quyết! Cảnh sát trưởng Filaret lúng túng vì ông đã ba mươi năm trong ngành cảnh sát, vì ông là người sinh trưởng ở địa phương và biết địa phương như chính thân thể của ông. Nhưng ông có thể làm gì được để trợ giúp ông thẩm phán trẻ.
- Ông có đọc sách trinh thám không? - Ông thẩm phán hỏi.
- Thưa không.
- Tôi cũng không. Tôi có thử nhưng chẳng bao giờ thành công trong việc hòa nhập vào trong cuộc chơi, nghĩa là các phương pháp vận dụng các đòn phép của nghề trinh thám. Tôi không hiểu bằng cách nào các thám tử có thể say mê hăm hở truy lùng săn bắt vài kẻ khốn cùng bị truy nã. Vì mọi tên sát nhân nói cho cùng là một kẻ thất chí. Vậy thì bây giờ tôi chỉ có mỗi một mục đích: tìm ra thủ phạm! Như trong các tiểu thuyết. Không phải để thấy thủ phạm bị xiềng xích. Tôi muốn tìm ra tên sát nhân để biết nó là ai và vì sao nó đã giết Antoine Tuniade. Tôi chắc bằng cách làm sáng tỏ sự bí mật của vụ án này, tôi sẽ khám phá ra những điều mới lạ, trong những điều sâu kín trong mỗi người và trong chính tôi. Vì chỉ duy nhất trong các trường hợp cùng cực, sát nhân, trọng tội, tự sát, người ta mới phát giác được các bí ẩn của cuộc sống và của con người, những bí ẩn mà lúc bình thường chúng nằm thật kín trong chúng ta...
- Thưa ông thẩm phán, một điều chắc chắn: tên sát nhân không phải là người địa phương. Tôi không cần dấu tay để xác quyết với ông điều này. Tôi không cần những yếu tố chính của tội phạm, cũng như những yếu tố khác thuộc loại ấy để biết ai là kẻ sát nhân. Tôi biết rằng kẻ sát nhân là một anh chàng không phải là người địa phương mà là một người lạ. Tôi biết tất cả đàn ông, đàn bà và trẻ con trong toàn thành phố, như người ta biết các người ở cùng nhà với mình.
Agapia cũng như một đại gia đình. Chúng tôi không đông đúc bao nhiêu. Trong những tháng mùa đông, chúng tôi gần như hoàn toàn bị cách ly với thế giới còn lại. Chúng tôi chung sống với nhau như một đại gia đình. Trong chúng tôi có những kẻ tốt người xấu, những người dễ thương và những người dễ ghét, những người có khả năng thực hiện những hành vi cao cả, và những người khác có khả năng làm những điều bậy bạ. Nhưng những người này cũng như những người kia không có cơ hội để làm những việc nói trên. Sân khấu quá nhỏ bé để có thể làm những việc to lớn. Đó là định mệnh của các thành phố nhỏ. Người ta chỉ có thể làm ở đó những điều nho nhỏ. Tôi biết tất cả sự thể ấy. Nhưng tôi cũng biết rằng giết từ đằng sau, bằng một phát súng vào gáy, một thanh niên hai mươi tuổi, khi cậu ta trở về nhà để ôm hôn mẹ mình, điều ấy, thưa ông thẩm phán, không một ai, trong thành phố chúng tôi, có đủ khả năng để làm. Những việc khác, họ có thể làm nếu có cơ hội. Nhưng việc kia thì không. Người đã phạm tội sát nhân ấy không phải là dân địa phương Agapia. Tôi đã cho tất cả diễu hành qua trong đầu óc của tôi. Tôi đã kiểm tra thầm mỗi gia đình, mỗi nhà, mỗi người đàn ông, mỗi người đàn bà, không một ai có khả năng làm điều đó. Tên sát nhân không phải là người địa phương. Không một người dân nào của thành phố chúng tôi có thể giết cậu Tuniade đêm nay.
Cảnh sát trưởng Filaret nói về những người đồng châu của mình trong thành phố với niềm say sưa của một người nói về anh em ruột thịt của mình. Ông nói tiếp:
- Tất cả các thành phố nhỏ cũng như những gia đình nhỏ. Ở đó, dù người ta có ghét nhau đi nữa thì sự thù hận cũng chỉ có tính cách gia đình. Tại xứ sở chúng tôi, không phải là sự thù hận to lớn của những người đàn ông, đàn bà sống trong các thủ phủ, thủ đô. Vì ở đây người ta biết chúng tường tận, như người ta biết chính bản thân mình, người mà ta thương và người mà ta ghét. Ở đây tình yêu thương và lòng thù hận luôn luôn có tính nhân đạo, bởi vì đối tượng là một người mà ta biết như biết chính mình. Lòng thù hận và tình yêu thương không phải là vô nhân đạo, trừu tượng như trong các thành phố lớn. Nghĩ đến tất cả các điều ấy và còn những điều khác nữa, tôi xác định rõ rằng kẻ sát nhân không phải là một người đàn ông hay một người đàn bà, dân địa phương chúng tôi... Tôi ao ước tìm ra tên sát nhân để xóa tan sự ngờ vực đang đè nặng lên những người dân địa phương chúng tôi, để chứng minh rằng thủ phạm là người ở nơi khác đến đây. Tên sát nhân là một người lạ ở nơi khác đến.
Cảnh sát trưởng Filaret gọi một nhân viên và bảo:
- Hãy tới nhà ga và mời ông trưởng ga đến gặp tôi ngay lập tức. Còn anh, anh ở lại đây thay thế ông ta và trả lời điện thoại nếu có ai gọi. Vì tại nhà ga luôn luôn phải có người trực. Hãy đi mau lên.
Vài phút sau, ông Inimiora, ông “Tim Nhỏ” hay “Tim mỹ miều” với chòm râu cằm và vẻ nhìn lãng mạn của mình vừa bước vào văn phòng tòa án vừa thở dốc. Ông ta đã chạy, như người ta đã yêu cầu.
- Anh hãy ngồi xuống đây, Inimiora - Cảnh sát trưởng Filaret nói - Hãy ngồi xuống đi và kể lại một lần nữa cậu Tuniade đã đến ga như thế nào.
- Cậu ta đến trên chuyến tàu Bắc, lúc mười hai giờ bốn mươi phút đêm, tức trễ bốn mươi phút. Trước khi tàu ngừng hẳn, cậu Tuniade đã nhảy xuống từ một toa hạng nhất. Cậu ta chạy về phía Ismail. Trước khi đi ra với Ismail, cậu ta trông thấy tôi. Cậu ta chạy tới phía tôi, bắt tay và nói với tôi rằng cậu ta có bốn ngày phép và ngay mai sẽ đến trò chuyện với tôi. Sau đó cậu ta chạy đi. Cậu ta nóng lòng muốn về tới nhà.
- Các điều đó, anh đã kể với chúng tôi rồi - Viên cảnh sát trưởng nói - Chúng tôi biết tất cả các điều đó rồi. Điều chúng tôi không biết là có phải Antoine Tuniade là hành khách duy nhất xuống ga từ chuyến tàu Bắc không.
- Đó là hành khách duy nhất - Viên trưởng ga đáp - Tôi đã nói điều ấy với ông rồi.
- Inimiora, anh hãy cẩn thận - Cảnh sát trưởng Filaret nói - Cậu Tuniade đã bị ám sát. Cậu ấy đã chết.
- Tôi biết - Trưởng ga đáp lại.
- Vụ ám sát được thực hiện một cách bỉ ổi. Y sĩ vừa xác định với chúng tôi, ông thẩm phán và tôi. Người ta đã bổ nhào vào cậu thanh niên đáng thương ấy từ phía sau, trong lúc cậu ta bước chân vào lùm cây trong lâu đài. Người ta đã giựt súng lục của cậu ta đặt súng ngay gần vào đích để giết cậu ta. Bắn một phát vào gáy, nòng súng áp vào cổ. Cổ áo măng-tô bị cháy. Người ta đã bắn, như thể đâm bằng dao găm. Anh hiểu chứ, Inimiora?
- Tôi hiểu, thưa ông cảnh sát trưởng - Trưởng ga đáp.
Inimiora, “Tim mỹ miều” rất xúc động.
- Một tội ác như thế không thể gây ra bởi một người đân địa phương Agapia - Cảnh sát trưởng Filaret nói - Kẻ đã phạm một tội cố sát như thế là một con quái vậy, một tên khiếp nhược, một tên sát nhân đê tiện hạng bét. Không có một nhân vật như thế trong thành phố nhỏ của chúng ta. Tên sát nhân là một người lạ. Tên sát nhân ở đâu khác đến đây. Anh hiểu không, Inimiora?
- Tôi hiểu, thưa ông. - Trưởng ga đáp.
- Thế là anh chấp nhận rằng tên sát nhân đã tới đây từ bên ngoài?
- Vâng, thưa ông.
- Nếu kẻ sát nhân đến từ bên ngoài, nó đã tới đây bằng một chuyến xe lửa.
- Không, thưa ông. Hành khách duy nhất đã xuống từ chuyến tàu Bắc lúc nửa đêm là Antoine Tuniade.
- Bằng cách nào tên sát nhân đã tới đây được, nếu không phải bằng xe lửa? Tất cả các đường giao thông đã nghẽn từ nhiều tháng nay. Ga gần đây nhất cách xa bốn mươi cây số. Tên sát nhân đã phải tới Agapia, hoặc là bay, hoặc đi tàu, nhưng nó không phải là chim, và chim thì không bắn súng lục. Ai có thể cầm súng lục và ám sát không phải là chim. Và nếu không phải là chim nó không thể bay đến đây được, vậy thì nó đã tới trong thành phố chúng ta bằng tàu lửa.
- Không có người nào đến bằng xe lửa, ngoại trừ ông Tuniade. Ismail có mặt lúc ấy trên sân ga, gần bên tôi, có thể khẳng định điều ấy với ông.
- Inimiora, anh hãy nhìn tôi tận mắt, vì vô cùng nghiêm trọng.
- Tôi nhìn ông đây, thưa ông cảnh sát trưởng.
- Inimiora, anh có thể thề, trước Chúa và trước loài người rằng một hành khách thứ hai đã không xuống từ chuyến tàu lúc nửa đêm không?
- Tôi xin thề. - Inimiora đáp.
- Anh không thấy bất cứ ai xuống tàu cả, phải không?
- Không, thưa ông.
- Thế là anh chắc chắn rằng không có ai xuống tàu cả, phải không?
- Tuyệt đối chắc chắn.
- Anh có chắc chắn rằng không một ai đã xuống tàu ở phía bên kia sân ga, nhảy xuống trong cánh đồng không?
- Cửa các toa xe chỉ mở về phía sân ga.
- Inimiora, anh có chắc rằng không một ai đã mở cửa hay cửa sổ và không một ai đã xuống ở phía bên kia sân ga không?
- Tôi biết chắc chắn rằng không một người nào đã xuống sân ga, và rằng hành khách không thể xuống ở phía bên kia, vì về phía ấy, các cửa đều khóa lại.
- Inimiora, người hành khách thứ hai ấy, nó đã dám giết Tuniade, một cách dã man thì nó cũng dám xuống tàu ở về phía bị cấm. Kẻ nào có thể giết chết một con người nghĩa là phạm một tội ác tày trời, kẻ đó cũng có thể vi phạm luật lệ hỏa xa. Anh nghĩ thế nào?... Tôi thấy điều ấy hợp lý.
- Hợp lý. - Trưởng ga đáp.
- Vậy là anh chấp nhận rằng một hành khách thứ hai đã có thể xuống từ chuyến tàu nửa đêm, xuống phía bị cấm, trước hay sau khi tàu Bắc khởi hành, mà anh hoặc ai khác đã không trông thấy phải không?
- Có thể là như vậy. - Inimiora nói.
- Đó là điều tôi muốn biết.
- Một hành khách thứ hai đã có thể xuống từ chuyến tàu Bắc lúc nửa đêm tại ga Agapia, mà anh đã không trông thấy. Vì tôi chắc rằng tên đã giết cậu Tuniade đúng là hành khách thứ hai đấy. Một người dân địa phương không thể phạm tội giết người. Từ xưa đến nay, người ta không phạm tội giết người ở Agapia. Tên sát nhân là một người lạ. Bây giờ hãy nói cho tôi biết, cậu Tuniade có nói với anh bằng cách nào cậu ta đã có thể xin được bốn ngày nghỉ phép trong lúc tất cả các binh sĩ bị cấm trại vì có bệnh truyền nhiễm tại thành phố họ đóng quân.
- Không. Cậu ta không nói gì với tôi cả.
- Anh nghĩ rằng thật sự cậu ta được nghỉ phép?... Hay cậu ta đào ngũ?
Trưởng ga Inimiora, thay vì trả lời, mỉm cười. Một cái mỉm cười cay đắng, khổ sở, nhẫn nhục.
- Người ta để cho một quân nhân ra khỏi trại binh đang bị cách ly vì có bệnh truyền nhiễm không?... Anh hãy trả lời đi.
- Nếu người ta giàu có, nếu người ta thuộc một gia đình các quan chức Phanariot, người luôn luôn có thể. Đối với họ, không có luật lệ. Tất cả mọi sự đều có thể được. Nếu giả sử đêm ấy tôi thấy cậu Antoine Tuniade từ toa tàu bước xuống trong bộ quân phục đại úy sau năm tháng thi hành nghĩa vụ quân sự thì tôi cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên. Các ngài Phanariot có những quyền hạn tại xứ sở này còn lớn hơn cả chính Đức Chúa trời. Đối với người giàu có, mọi sự đều có thể có. Có thể là người ta đã cho Antoine Tuniade ra khỏi một trại binh bị cách ly vì bệnh truyền nhiễm để đi phép. Dù cậu ta có thể lây bệnh cho toàn thành phố, cho toàn quốc và cho toàn vũ trụ. Cậu ta là một nhà giàu. Là một người thuộc dòng họ Phanariot Rumanie. Đối với họ, không có sự ràng buộc nào.
0
X
Không có người hành khách thứ hai
 
Ông thẩm phán trẻ Cosma Damian đi cạo râu và rửa mặt. Cảnh sát trưởng Filaret không cạo râu; ngày nào cũng cạo, dân địa phương ở đây cũng không làm như vậy. Thế là ông tiếp tục làm việc. Ông tìm tòi những chỉ dẫn để khám phá ai là người giết Antoine Tuniade. Filaret chắc chắn tên sát nhân là một người lạ. Nạn nhân, Antoine Tuniade, gần như là không có ai quen biết ở Agapia để có thể yêu hay ghét, để có thể được tôn thờ hay bị giết chết, tất phải có người quen biết; đó là điều hợp lý. Phải là người ở địa phương. Cậu thanh niên Tuniade không có gì dính dáng đến người ở Agapia. Chỉ có những người lạ mới có thể làm điều tốt cho cậu ta hay làm hại cậu ta. Chỉ những người lạ quen biết cậu ta. Cậu ta sinh ra tại thủ đô Paris, trong một nhà hộ sinh hạng sang. Cậu ta được nuôi với sữa của một người đàn bà ngoại quốc. Cậu ta đã học đọc học viết tiếng ngoại quốc với một giáo sư ngoại quốc, với bạn bè ngoại quốc, trong một trường học ngoại quốc. Hoàn toàn giống như tất cả tổ tiên của cậu ta, cậu ta chỉ về Ru-ma-ni vào mùa hè để coi sóc những vụ gặt hái do những nông dân người Môn-đa-vi mướn người làm, những nông dân mà người ta bịt miệng lại như bịt mõm chó để họ không thể ăn nho và những trái cây khác mà họ hái cho các ông chủ Phanariot của họ. Vào những ngày đầu mùa thu, Tuniade rời Agapia một lần với chim cá. Cậu ta trở lại các ký túc xá của cậu ta. Cách đây năm tháng, cậu ta trở về xứ sở chỉ duy nhất là để thi hành nghĩa vụ quân sự. Sau này cậu ta sẽ trở thành thượng nghị sĩ, dân biểu, nhà ngoại giao hay Bộ trưởng. Vì vậy cậu ta phải bằng lòng thi hành nghĩa vụ quân sự. Đó là một trong những sự hy sinh mà các người thuộc dòng họ Phanariot bằng lòng làm, để về sau có huy chương và danh vọng, để có thể lên diễn đàn nói rằng họ là những nhà ái quốc lớn và là cha của tổ quốc Ru-ma-ni. Vì thế bạn bè và kẻ thù của nạn nhân là người ở xa. Trong những kẻ muốn làm điều tốt hay điều xấu cho nạn nhân, không có người ở địa phương. Thí dụ tên sát nhân có thể là một trong những bạn bè cùng trại với Tuniade. Hoặc một quân nhân khác mà cậu ta có giao du. Ở đây không có hạng người ấy.
Ông thẩm phán trở lại văn phòng, đã cạo râu và ăn mặc tươm tất. Cảnh sát trưởng Filaret đưa ống nghe cho ông thẩm phán và nói:
- Tôi đã gọi trại lính. Chưa tới sáu giờ nhưng lính là những kẻ dậy sớm, người ta có thể gọi họ ngày cũng như đêm. Chúng ta có thể sắp được biết vài điều có thể hướng dẫn chúng ta điều tra theo đúng hướng. Hỏi tin tức không tốn hao phiền phức gì.
Vài phút sau chuông điện thoại reo. Đó là trại bộ binh nơi nạn nhân thi hành nghĩa vụ quân sự. Trung úy trực đã ở đầu máy bên kia.
- Đây, thanh tra Filaret, cảnh sát trưởng thành phố Agapia. Tôi gọi điện thoại nhân danh ông thẩm phán Cosma Damian, về một vụ ám sát. Đây là tóm tắt sự việc ấy. Một trong những binh sĩ của các ông, Tuniade Antoine, nhập ngũ trong lữ đoàn của các ông cách đây năm tháng, là người ở thành phố Agapia, nơi mà đêm nay cậu ta về một cách thình lình. Không một ai chờ đợi cậu ta về. Gia đình biết rằng cậu ta bị cấm trại. Vậy là cậu ta về một cách bất ngờ. Cậu ta đã xuống ga từ chuyến tàu Bắc lúc nửa đêm bốn mươi phút và đã yêu cầu xà ích ở ga đưa cậu ta về nhà bằng xe trượt tuyết. Hình như cậu ta rất vội vàng. Cậu ta chỉ kịp bắt tay ông trưởng ga rồi chạy đi ngay. Vừa bước chân vào vườn cây trong lâu đài nơi mẹ cậu ta ở, một người lạ mặt đã tấn công cậu ta từ đằng sau và đã giết cậu ta bằng một viên đạn vào gáy, áp súng gần sát vào đích để bắn. Cổ áo quân phục bị cháy như thể bị khoét lủng với một thanh sắt đốt nóng... Đúng như vậy, thưa trung úy, cậu ta chết rồi. Y sĩ đã khám nghiệm tử thi. Tên sát nhân đã dùng súng lục của nạn nhân để giết nạn nhân, cây súng đã được tìm thấy tại hiện trường. Chúng tôi không biết ai là thủ phạm. Nhân chứng gần như là mục kích của vụ án mạng, nghĩa là gã xà ích đã đưa cậu Tuniade từ ga về lâu đài, và bà mẹ của nạn nhân khẳng định đã có trông thấy tên sát nhân, và bà Tuniade đã có bắn nó. Nhưng nó đã tẩu thoát được. Tuyết rơi không ngừng nên không còn tìm thấy được một dấu vết nào hết. Vì tất cả các lẽ ấy, chúng tôi yêu cầu các ông cung cấp cho chúng tôi càng sớm càng tốt, một số chỉ dẫn. Có thể chúng sẽ làm cho cuộc điều tra của chúng tôi dễ dàng hơn và giúp chúng tôi tìm ra thủ phạm. Ông thẩm phán và tôi xin cảm ơn các ông trước.
- Tôi ghi chép các câu hỏi của ông - Sĩ quan trực nói - Bây giờ là mấy giờ?... Đồng hồ của tôi chỉ sáu giờ kém hai mươi. Tôi nghe ông cảnh sát trưởng đây.
- Lữ đoàn của ông có phải bị cấm trại không? - Cảnh sát trưởng Filaret hỏi.
- Đúng như vậy - Viên sĩ quan đáp - Lữ đoàn chúng tôi bị cấm trại đã mười tám ngày rồi. Nó còn bị cách ly cho đến khi có lệnh mới, cho đến khi có quyết định mới của nhà chức trách y tế quân đội. Tôi nói thêm, để tránh những sự giải thích sai lầm, rằng chúng tôi bị cấm trại vì trong thành phố có dịch bệnh truyền nhiễm. Trong trại chúng tôi không có người nào mắc bệnh.
- Trong thời gian bị cách ly, một binh sĩ trong trại có thể đi phép hay không?
- Có thể đi phép, với điều kiện nghỉ phép tại một thành phố khác thành phố chúng tôi đang có dịch bệnh truyền nhiễm.
- Trung úy có thể cho chúng tôi biết Antoine Tuniade nạn nhân đêm nay, có được nghỉ phép hợp lệ hay không? Hay là cậu ta đào ngũ?
- Antoine Tuniade có giấy nghỉ phép hợp lệ do đích thân đại tá chỉ huy trưởng cho phép và do chính tay tôi là sĩ quan trực ký.
- Thưa trung úy, tôi cám ơn trung úy đã cung cấp cho những chỉ dẫn quý báu, chúng rất thiết yếu cho cuộc điều tra. Ý kiến của riêng tôi là tên sát nhân không phải là người địa phương ở đây. Nạn nhân sinh ra ở ngoại quốc và đã sống ở đấy suốt đời cho đến lúc về nước thi hành nghĩa vụ quân sự. Cậu ta không có ở đây bạn cũng như thù. Chúng tôi nghĩ rằng tên sát nhân ở nơi khác đến đây. Có thể cùng một chuyến tàu với nạn nhân của nó, và chúng tôi tự hỏi, phải chăng tên sát nhân kia là một kẻ đã theo dõi cậu ta, từ lúc cậu ta rời trại binh cho đến nhà mẹ cậu. Trung úy có thể mở một cuộc điều tra chăng trong các bạn bè của cậu ta ở trong trại và trong các người quen biết, với cậu ta ở ngoài? Cậu ta đã có thể nhận được những lời hăm dọa, cảnh cáo sẽ bị giết chết. Người ta có thể báo cáo những sự xung đột, những tranh chấp về ái tình, về ghen tuông hay gì khác liên quan đến cậu ta. Chúng tôi nghi tên sát nhân là một trong những nguơi quen biết của cậu ta ở trong hoặc ngoài trại, một người ở thành phố của trung úy.
- Không, thưa ông cảnh sát trưởng - Sĩ quan trực đáp - Kẻ giết binh nhì Tuniade không phải là người ở thành phố chúng tôi. Ông cảnh sát trưởng hãy tìm thủ phạm ở đâu khác. Nó không phải ở đây.
- Làm sao trung úy chắc chắn đến thế kia? Thành phố trung úy có hơn trăm ngàn dân. Có Chúa mới có thể biết được mỗi người đã làm gì trong đêm nay.
- Tôi. Tôi biết rõ cũng như Đức Chúa toàn thiện biết, thưa ông cảnh sát trưởng. Không một người dân nào ở thành phố chúng tôi đã giết chết Tuniade. Không ai ở đây đã theo dõi cậu ta ở nhà ga, trên tàu và ở nhà cậu ta, để giết chết cậu ta. Đó là một sự kiện tuyệt đối chắc chắn. Hãy tìm thủ phạm tại thành phố của các ông.
- Với tất cả sự kính trọng mà chúng tôi, những người bên phía quân sự, chúng tôi dành cho quân đội, tôi xin được phép lưu ý trung úy rằng chỉ một mình Chúa mới biết một cách chắc chắn rằng thủ phạm là người ở thành phố chúng tôi hay ở thành phố của trung úy. Chúng ta, những con người đáng thương, dân sự hay quân sự, chúng ta chỉ có thể cố gắng để tìm ra sự thật.
- Thưa ông, tôi là sĩ quan. Tôi mặc đồng phục giống đồng phục của vua. Khi tôi khẳng định một điều gì, điều ấy là đúng. Tôi không cho phép ai nói trái lại, và tôi đã khẳng định với ông rằng, tên sát nhân mà ông tìm kiếm không phải là người thành phố chúng tôi. Để theo dõi binh nhì Tuniade từ đây cho đến nhà cậu ta, và giết cậu ta, tên sát nhân trước tiên phải biết rằng Tuniade đi nghỉ phép. Nhưng về điều này, xin ông lưu ý cho, không một con người nào, trong khắp thế gian, biết rằng Tuniade ra khỏi trại binh và đi phép tối hôm qua. Chính tôi, sĩ quan trực, người biết tất cả tuyệt đối những gì xảy ra trong trại, tôi cũng chỉ biết điều ấy trong chốc lát trước khi nó được thực hiện. Đến chín giờ tối, tất cả các binh sĩ đều nằm trong giường của họ rồi. Năm phút sau chín giờ, hầu hết binh sĩ đã ngủ rồi. Binh nhì Antoine Tuniade cũng ngủ. Đó là một sự kiện do chính tôi đi kiểm soát. Không một ai biết rằng mười lăm phút sau Tuniade đã được đánh thức dậy và được đi phép. Chính đại tá là người đã cho cái phép ấy thì lúc chín giờ cũng chưa biết là sẽ có cái phép ấy. Bạn đồng đội của Tuniade ngủ cùng phòng, những người ngủ gần giường của Tuniade nhất, đến bây giờ vẫn còn chưa biết rằng Tuniade đã dậy và đi rồi. Bạn đồng đội của Tuniade sẽ chú ý đến sự vắng mặt của cậu ta trong mười lăm phút nữa, khi họ nghe kèn báo thức. Sự việc đã xảy ra như sau. Chỉ huy trưởng lữ đoàn chúng tôi, đại tá Spenrantia, có bà mẹ già và khả kính của ông, bà cụ Spenrantia đến thăm và ở lại chơi đã mấy hôm. Bà mẹ của đại tá chúng tôi là một nhân vật mà thiên hạ đều biết tiếng, bà làm chủ những vùng đất đai rộng lớn trồng nho, lãnh thổ Spenrantia, cái tên được ghi trên tất cả các chai rượu. Lãnh thổ ấy nằm ở nửa đường giữa thành phố chúng tôi và Agapia.
Bà cụ lớn Spenrantia, tuổi xấp xỉ bát tuần, phải trở về nhà tối hôm qua, trên chuyến tàu chín giờ rưỡi. Bà có một phòng dành riêng trong toa đặc biệt. Chính tôi là người theo lệnh của đại tá, đã giữ phòng trong buổi chiều.
Trong bữa ăn tối, đại tá đã nghe đài truyền thanh báo tin tuyết rơi nhiều trong toàn quốc đã làm chậm trễ nhiều chuyến tàu và tuyết vẫn còn tiếp tục rơi nhiều. Rằng có thể có những sự hỗn loạn mới trên đường sắt. Rằng trong đêm những chuyến tàu khác có thể bị nghẽn vì tuyết.
Đại tá đã cố giữ mẹ lại thêm một ngày nữa. Ông khuyên bà mẹ ngày hôm sau hãy đi, hy vọng rằng tuyết sẽ ngừng rơi và các chuyến tàu sẽ chạy một cách bình thường. Nhưng bà cụ không muốn nghe gì cả. Bà muốn đi bất chấp tất cả. Đại tá bèn quyết định cho một người tháp tùng bà cụ. Không muốn để bà cụ đi một mình. Vì trong gia đình không có một người nào có thể cùng đi với bà cụ, người ta bèn quyết định cho đi theo với bà cụ một người quân nhân, con nhà tử tế, ngoan, có học thức, có cử chỉ đàng hoàng và nói được tiếng Pháp, với hiệp sĩ là chầu hầu đàn bà... Đó là loại binh sĩ mà người ta tìm kiếm trong lữ đoàn để tháp tùng bà cụ lớn, để giải buồn cho bà, để giúp đỡ cho bà, để trò chuyện với bà, trong trường hợp tàu bị tuyết làm nghẽn đường, trong nhiều giờ, ở giữa đồng không mông quạnh.
Đại tá cho gọi tôi. Chỉ có một mình tôi ở trong trại. Tất cả các sĩ quan khác đều đi vắng. Đại tá đã giải thích cho tôi biết điều ông muốn. Tôi đã nghĩ ngay lập tức đến Antoine Tuniade. Đây đúng là một người lịch thiệp. Một thanh niên trong trường hợp này, có thể làm vui lòng bà cụ lớn. Cậu ta sinh ra ở Paris, đậu bằng tú tài ở Paris. Cậu ta hoàn toàn có những cử chỉ và tài nói chuyện có thể giải buồn một bà già đi tàu. Tôi bèn cho đánh thức cậu ta dậy. Cậu ta ngủ say. Người ta đã ra lệnh cho cậu ấy mặc quần áo nhanh lên. Sau đó người ta đưa cậu ra xe của đại tá và chở đến ga. Ở đây đại tá đã giải thích cho cậu ta những gì cậu ta phải làm và để cảm ơn, đã cho phép cậu ta tiếp tục cuộc hành trình, sau khi bà cụ đã đến nơi mà người ta chờ để đón bà. Bắt đầu từ lúc ấy bà cụ, không cần chàng hiệp sĩ chầu hầu nữa. Từ đây đến Agapia, Tuniade chỉ còn một tiếng rưỡi đồng hồ nữa mà thôi. Người ta đã nói là cho cậu ta đi Agapia và được nghỉ phép bốn ngày. Đó là tất cả đầu đuôi sự việc, thưa ông cảnh sát trưởng.
Chính tôi là người đã đánh thức cậu ta đây, như tôi đã nói với ông rồi. Cậu ta đã sướng điên lên khi được tôi báo cho biết cậu ta được phái đi làm một nhiệm vụ ở ngoài doanh trại. Tôi chưa nói rõ là nhiệm vụ gì. Cậu ta ra đi với một chiếc va-li nhỏ, trong đó, cậu ta bỏ vào, trước mặt tôi, đồ vật vệ sinh, một bộ bài và một quyển tiểu thuyết. Các bạn đồng đội của cậu ta còn chưa biết cậu ta đã đi rồi. Tất cả đang ngủ. Thức dậy vào lúc sáu giờ, họ sẽ biết được cùng một lúc rằng cậu ta đã đi vắng và đã chết. Đối với họ sẽ là một tin đau đớn. Vì họ mến cậu ta. Nhưng là lính, họ phải chịu đựng cái chết của đồng đội và không sợ cái chết của chính mình. Cái nghề của lính là để chết. Ông thấy đó, ngoài tôi và đại tá ra, không một ai biết cậu Tuniade đã đi vắng từ tôi hôm qua. Chính bà mẹ của đại tá cũng chỉ biết có người tháp tùng bà sau khi bà đã lên tàu và vào phòng riêng. Bà vô cùng xúc động về việc con bà đã phái người cùng đi với bà một hiệp sĩ chầu hầu, trẻ, lễ phép, đẹp trai, có học thức và nói tiếng Pháp. Tuniade là con người lý tưởng để giải buồn cho bà trong trường hợp đường sắt bị nghẽn vì tuyết. Bây giờ tôi hy vọng rằng tôi không còn làm ông ngạc nhiên khi khẳng định một cách chắc chắn rằng tên sát nhân không phải là người trong thành phố chúng tôi.
- Quả thật tôi có lỗi khi nghi ngờ những điều khẳng định của trung úy. Nhưng các điều ấy quá tuyệt đối! Bây giờ, tôi tin chắc rằng tên sát nhân không phải từ thành phố của trung úy. Còn một điều nữa, xin trung úy vui lòng. Theo như trung úy nói, bà cụ lớn và cậu Tuniade ở một phòng riêng trong toa tàu đặc biệt. Không một hành khách nào có thể nói chuyện với cậu Tuniade trong lúc tàu chạy phải không?
- Thưa ông cảnh sát trưởng, không một ai được vào trong toa đặc biệt dành riêng. Tên sát nhân chắc chắn không có trên chuyến tàu ấy. Nếu ông có thể nghi rằng bà mẹ của một đại tá trong quân đội Ru-ma-ni có thể đi cùng một chuyến tàu với một tên giết người, ông nhục mạ quân đội ấy. Tôi xin ông hãy tìm kiếm ở đâu khác... Nhân tiện nếu điều ấy có thể giúp ích gì cho ông, tôi xin thêm cho ông một chi tiết: lúc một giờ sáng tức là cùng một lúc mà ông nói là cậu Tuniade bị giết tôi có nhận được một cú điện thoại. Đó là mẹ của đại tá gọi tôi. Bà muốn chuyển lời cảm ơn đại tá - con bà - và nói cho con biết bà đã về đến nhà bình yên. Cậu Tuniade đã làm bà thích thú trong lúc trò chuyện. Đó là tất cả những gì tôi có thể nói với ông. Bây giờ tôi xin cáo vì trong chốc lát, là đến giờ binh sĩ thức dậy. Tôi phải có mặt ở doanh trại.
- Xin cảm ơn trung úy nhân danh ông thẩm phán Cosma Damian người điều khiển cuộc điều tra và nhân danh riêng tôi. Nhờ trung úy, chúng tôi đã loại bỏ một giả thuyết sai lầm. Bây giờ chúng tôi tin chắc rằng tên sát nhân đã không đi cùng một chuyến tàu với nạn nhân.
- Ông cảnh sát trưởng, xin ông vui lòng chuyển đến bà mẹ của nạn nhân những lời phân ưu chân thành nhất của đại tá, các sĩ quan và đồng đội của cậu Tuniade.
- Chắc chắn tôi sẽ làm đúng như lời trung úy và xin cảm ơn trung úy.
- Ông cảnh sát trưởng đừng cúp - Viên sĩ quan nói - Hãy cho gởi đến lữ đoàn một báo cáo chính thức về vụ án mạng. Để chúng tôi gạch tên binh nhì Tuniade trong sổ sách của chúng tôi vì lý do chết.
- Tôi sẽ gởi cho trung úy nội ngày hôm nay.
- Còn một điều nữa. Xin vui lòng cho gởi đến chúng tôi quân trang của cậu Tuniade. Đó là thể lệ. Nếu gia đình người chết muốn chôn cất người thân trong bộ quân phục thì có quyền như thế, nhưng phải gởi cho chúng tôi một chứng chỉ kèm theo một bản liệt kê. Một lần nữa chúng tôi phân ưu với gia đình nạn nhân. Và ông hãy đừng tìm kiếm thủ phạm trong thành phố chúng tôi, ở doanh trại hay trong chuyến tàu ấy. Tên sát nhân chắc chắn ở gần sát bên ông. Gần như luôn luôn là sự việc xảy ra như thế đó.
Cuộc điện đàm đã chấm dứt. Cảnh sát trưởng Filaret khổ tâm. Khổ tâm một cách kinh khủng. Thủ phạm không đến đây bằng xe lửa. Chắc chắn là không có người hành khách thứ hai.
Viên cảnh sát trưởng phải, dù là không muốn, tìm kiếm tên sát nhân trong các người đồng châu của ông. Và điều ấy làm ông khổ tâm.
0
XI
Tên sát nhân là một người không có vũ khí
 
Thẩm phán Cosma Damian không bằng lòng cảnh sát trưởng Filaret, vì ông này đã làm rốỉ rắm các sự việc. Cảnh sát trưởng Filaret đã đặt những câu hỏi một cách lạ lùng. Filaret thiếu lý luận. Và người ta không thể mở một cuộc điều tra cảnh sát thiếu lý luận. Filaret phải chăng là một người theo chủ nghĩa thần bí. Đột nhiên bây giờ ông bị liệt nhược. Ông ôm đầu trong hai bàn tay và nhìn đồng hồ một cách hãi hùng.
- Một giờ rưỡi nữa, trời sáng. - Ông cảnh sát trưởng nói.
- Ông cảnh sát trưởng, ông thấy mệt trong người phải không? - Ông thẩm phán hỏi.
Trước mặt ông, cảnh sát trưởng Filaret, quy xuống, tái mét; và bộ râu không cạo làm cho gương mặt ông giống mặt một tượng thánh ở các giáo đường.
- Tôi không bị bệnh. - Filaret đáp.
- Ông tái mét. Chắc chắn ông không được khỏe. Ông có muốn nghỉ ngơi vài giờ không?
- Tôi sợ, thưa ông thẩm phán.
- Sợ gì?
- Tôi sợ rằng tên sát nhân là một người trong thành phố chúng tôi. Trước đây tôi tin chắc rằng tên sát nhân ấy là một người lạ. Một người trong giới nhà binh, bạn bè của nạn nhân. Sĩ quan trực đã đánh đổ giả thuyết ấy. Ông ta nói một cách quả quyết. Và chắc chắn ông ta nói đúng. Không một người nào biết Tuniade đi phép. Vậy thì không một người nào có thể đi theo để hạ sát Tuniade. Trưởng ga và Ismail cả hai đều nói quả quyết: không một ai đã xuống từ chuyến tàu Bắc, ngoại trừ nạn nhân. Vậy thì tên sát nhân không phải tới đây bằng tàu lửa. Tên sát nhân là người ở địa phương này. Điều đó, đối với tôi, là một điều không thể tin được.
- Phải chăng dân địa phương ở đây thánh thiện đến mức họ không thể phạm một tội ác nào?
- Không - Filaret đáp - Chúng tôi là những kẻ có tội lớn. Có thể là những kẻ có tội lớn hơn hết các nơi khác. Nhưng không một người nào trong chúng tôi có khả năng giết người anh em, như đã xảy ra đêm nay. Không một người nào ở đây có thể làm một điều như thế. Thế mà, vì rằng tên sát nhân không phải là người tới đây bằng tàu lửa, thì nó phải là người ở đây. Điều đó vượt quá trí phán đoán, trí nhận xét của tôi.
- Có thể là một người quê quán nơi khác nhưng cư trú ở đây?
- Không có dân ngụ cư ở Agapia. Vậy là chúng tôi bắt buộc phải tìm kiếm tên sát nhân trong những người dân địa phương. Và đó là điều làm cho tôi sinh bệnh.
- Có phải là một công việc quá nặng nề đối với ông không?
- Không, không nặng nề nếu chỉ là việc tìm kiếm nó! Nếu kẻ gây án là người địa phương, thì bắt nó là một trò chơi trẻ con. Công việc khó khăn là thừa nhận sự thật ấy.
- Vậy thì, nếu nó là người ở đây, ông có thể khám phá ra và bắt nó lúc nào ông muốn, phải không? Nếu phải thì là tuyệt vời!
- Nếu tên sát nhân là người ở Agapia, chúng ta sẽ có nó trước mặt chúng ta, lúc trời sáng. Trong một giờ rưỡi, chậm lắm là hai giờ, nó sẽ bị bắt?
- Ông sẽ bắt nó bằng cách nào?
- Tôi sẽ phái Pantelion, viên thuộc lại ở Tòa Thị chính Agapia, đánh trống suốt dọc theo con đường Tình Yêu và đọc một thông cáo theo kiểu mẫu thương lệ: “Dân chúng, đàn ông và đàn bà thành phố Agapia, hãy chăm chú nghe đây. Hỡi đàn ông và đàn bà thành phố ngoan đạo Agapia, đây là một tin tức kinh khủng mà tôi thông báo với các ông, các bà đêm nay, vào lúc một giờ, cậu Antoine Tuniade, con trai của bà Patricia Tuniade, đã bị giết bằng một viên đạn súng lục bắn vào gáy. Cậu ta đã chết. Cậu ta đã ngã gục trước cổng rào lâu đài. Cậu ta đã đến đây lúc nửa đêm bằng chuyến tàu Bắc, với giấy phép được nghỉ bốn ngày. Cậu ta bị giết sau khi vừa bước chân vào cửa lâu đài, trong lúc chạy về nhà để đánh thức mẹ cậu ta dậy và hôn mẹ. Dân chúng thành phố được yêu cầu báo với ông thẩm phán thành phố chúng ta, ông Cosma Damian, báo ngay lập tức cho ông biết ai đã giết cậu Tuniade. Quả thật là vô lý nếu không có ai biết tên sát nhân, nếu nó là người ở thành phố chúng ta. Và nó là người ở thành phố chúng ta, vì không một ai đã tới đây bằng xe lửa. Xin Chúa ban thưởng cho tất cả những ai sẽ giúp đỡ ông thẩm phán mà chúng ta mới có từ hôm qua, trong nhiệm vụ của ông là khám phá ra tên sát nhân! Thành phố chúng ta có thể biến mình thành tòng phạm của một tên sát nhân, vì tội ác giết người là tội ác lớn nhất mà một con người có thể phạm trên thế gian; nó sẽ bị Chúa trừng phạt bằng những ngọn lửa vĩnh cửu, và sẽ bị trừng phạt bởi luật pháp ở đây bằng hình phạt tù đày, xiềng xích, ở dưới đáy các hầm muối cho đến khi chết”.
- Và ông nghĩ một cách nghiêm chỉnh rằng dân chúng ở đây sẽ vội vàng tự họ dẫn tên sát nhân đến trước mặt chúng tôi, trong phòng giấy này?
- Chắc chắn là như vậy. - Cảnh sát trưởng Filaret đáp.
- Trong trường hợp ấy chúng ta đã giải bài toán - Ông thẩm phán nói - Ông phải lấy làm sung sướng.
- Không, thưa ông thẩm phán. Chúng tôi là những người ngoan đạo, ở đây, ở Agapia. Và tôi, tôi là người ở đây. Ngay cái tên của thành phố Agapia và cái tên của con đường chính, là những cái tên có tính tôn giáo. Agapia có nghĩa là Tình Yêu. Thành phố chúng tôi là một thành phố trong sạch. Một thành phố đàng hoàng, vì ngoan đạo. Những người dân ở đây đau khổ, nghèo nàn và bị áp bức. Luôn luôn họ bị khổ đau. Họ không có được vận may trong lịch sử. Nhưng mọi người đều trong sạch. Trong sạch, điều ấy có nghĩa là trước hết không chịu đựng được các tì vết. Không một tì vết nào. Và vết máu là tì vết dơ bẩn nhất trong các loại tì vết. Kể từ lúc mà dân chúng nghe được lời rao của anh mõ thông báo vụ ám sát đêm nay, mỗi người sẽ đến đây để nói với chúng ta những điều mà người ấy biết được. Nếu người ấy biết được điều gì. Người ta sẽ nói với chúng ta tất cả những gì họ biết được. Nếu một người chồng về muộn và say rượu, vợ anh ta sẽ nói cho chúng ta biết điều ấy. Nếu một thiếu nữ đã đau khổ và chong đèn ngồi đợi suốt đêm, nàng sẽ đến nói với chúng ta điều ấy. Người ta sẽ nói với chúng ta tên những người không ngủ yên, đã thay đổi chỗ ngủ và đã thức dậy ban đêm để cầu nguyện hay khóc lóc. Luôn luôn có một người nào đó đã thấy và đã nghe nếu người ta thức dậy, người ta rời khỏi giường, người ta mở cửa, người ta đi ngoài đường hay người ta ôm gối mà khóc. Không một ai sẽ giữ kín một điều bí mật nào. Nếu tên sát nhân là một người dân địa phương chúng ta sẽ biết nó là ai. Nếu tự nó không có đủ can đảm đến thú tội với chúng ta, những người khác sẽ bắt dẫn nó đến hay đến tố cáo nó. Nhưng tôi chắc rằng nếu nó ở đây, nó sẽ đích thân đến trình diện. Trước khi những người khác tố giác nó.
- Và như thế chỉ vì một điều duy nhất là những người ở đây ngoan đạo?
- Đúng như vậy, thưa ông thẩm phán. Ngoan đạo có nghĩa là nghiêm chỉnh, không gian dối. Một người ngoan đạo không làm điều gì một cách khinh suất. Một hành vi, đối với một người ngoan đạo, không những có những hậu quả ở đây, trong đời sống thế gian này, nhưng cũng còn có những hậu quả trong đời sống tương lai, đời sống vĩnh cửu hằng thế kỷ của hằng thế kỷ. Đó là sự khác biệt giữa người thường và người ngoan đạo. Người thường, khi phạm tội, đặt hy vọng của mình vào sự lãng quên của loài người, vào sự khôn khéo của các luật sư, vào tác dụng xoa dịu của thời gian. Đối với một người ngoan đạo, không có điều gì bị quên lãng, được giấu kín. Con mắt của Chúa thấy tất cả. Một người thường có thể giả dối. Vì biết có những điều mà y có thể che mắt thiên hạ. Một người ngoan đạo hoàn toàn không biết sự giả dối. Đối với một người ngoan đạo, ngay sự định nghĩa của sự giả dối cũng không có thể chấp nhận được vì không có điều gì có thể che mắt Chúa. Một người ngoan đạo không trông chờ sự quên lãng vì Chúa có một trí nhớ không suy nhược như con người. Chúa không quên đối với một người ngoan đạo, không có sự ân xá, sự phục hồi hay sự tiêu diệt thời hiệu, như đối với người thường. Người ngoan đạo biết rằng hành vi của y sẽ bị Chúa phán quyết. Và y hy vọng lòng xót thương và sự tha thứ của Chúa. Đó là điều duy nhất y hy vọng. Cuộc đời của một người thường dễ dãi. Y có thể giả dối, che giấu. Đời sống của một người ngoan đạo, nghiêm chỉnh, khắc khổ và toàn vẹn.
- Đó là lý thuyết - Ông thẩm phán nói - Còn thực tế?
- Tôi đã nói rồi. Khi bình minh xuất hiện, nếu tên sát nhân là người ở đây, nó sẽ đứng trước mặt chúng ta.
- Với tư cách là cảnh sát trưởng và với tư cách là thẩm phán, chúng ta phải lấy làm bằng lòng và sung sướng - Ông thẩm phán nói - Với tư cách là những con người cũng thế, chúng ta có lý do để vui mừng vì sự việc xảy ra như thế này. Vì thủ phạm sẽ được tìm ra và bị trừng phạt.
- Tên sát nhân là một người ở đây. Đó là một điều nghiêm trọng đối với tôi. Đối với tất cả chúng tôi.
- Tôi không hiểu. Chỉ một người phạm tội. Các người khác không có tội. Họ có gì phải sợ. Cũng không có điều gì phải tự trách mình.
- Trái lại, thưa ông thẩm phán, chỉ cần một tội duy nhất, như tội của Adam [1] cũng đủ làm nhơ bẩn cả thế gian. Agapia từ nay sẽ không còn là một thành phố trong sạch nữa. Chúng tôi đã mất đi sự tinh khiết. Chúng tôi mất thiên chức thiêng liêng của chúng tôi, nếu tên sát nhân là người ở đây. Người ta không có được, như ở thành phố Agapia, một hộc tủ tư pháp lý lịch trinh bạch trong lịch sử, nếu người ta không có thiên chức tinh khiết. Và chúng tôi, chúng tôi có thiên chức ấy. Một tì vết duy nhất đủ để người ta không còn là tinh khiết nữa. Và vết máu, hành vi giết ngươi, đó là vết dơ nghiêm trọng. Nếu máu đã đổ vì bàn tay của một người trong chúng tôi, chúng tôi sẽ không bao giờ rửa sạch được vết máu ấy. Một vết máu không bao giờ được rửa sạch. Nó đã làm nhơ nhuốc sự trinh trắng của tuyết. Rơi xuống trên vết máu để che giấu nó, để che lấp nó, tuyết chỉ làm cho nó to ra thêm. Đầu tiên, trước lâu đài, chỉ có một vết máu rộng vài phân. Bây giờ nó lớn mười lần hơn. Và nó lớn lên không ngừng, vì ở trên trời rơi xuống, cũng giống như các cuộn băng trắng của các bệnh viện, nó hút máu và khi hút máu nó làm vết máu lan rộng ra. Khi tuyết tan, vết máu lúc đầu chỉ nhỏ chút xíu, sẽ rộng ra nhiều thước. Không còn đỏ như lúc đầu, nhưng sẽ luôn luôn là một vết máu và nó sẽ lớn lên vào mùa tuyết tan. Cuối cùng nó sẽ mất đi màu đỏ. Và máu của cậu lính trẻ Tuniade sẽ do tuyết tan mang đến trong các suối, các sông, các máy nước. Nước sẽ mang vết máu đến tận đáy sâu của các nấm mồ. Máu sẽ xâm nhập rễ của cây cối, trong thân cây và trong hoa, trong lá và trong trái cây. Và toàn thành phố sẽ bị nhiễm vì máu của thanh niên bị giết đêm nay. Và bông hoa mà người ta sẽ hái trong vườn của chúng tôi sẽ bị nhiễm vì máu của vụ ám sát này. Chắc chắn là sẽ có lại mỗi điểm rất ít máu. Nhưng luôn luôn sẽ vẫn là máu của vụ ám sát, trong hoa tử đinh hương, hoa cúc, trong trái cây và trong rau. Sẽ có máu trong các máy nước, trong nước ngọt của nho và trái cây khác, và cả trong không khí. Trong toàn vùng này. Tất cả chúng tôi là những người sinh sống ở đây, chúng tôi biết những điều ấy. Đối với người khác, nhìn sự việc bằng cách ấy, cảm nghĩ và suy nghĩ như chúng tôi làm, đó là một sự điên rồ. Nhưng sự ngạc nhiên của những người khác giống như sự ngạc nhiên của loài cừu và loài lừa thương hại loài cá, vì cá thay vì ở trên đất, lại ở dưới nước. Những người nước ngoài không biết rằng lối sống của họ làm chúng tôi ngạc nhiên, hoàn toàn như loài cá ngạc nhiên thấy những con lừa và những con cừu sống trên đất liền mà lại không chết.
Tôi nói với ông, chúng tôi có cái thiên chức, cái phận sự thiêng liêng phải bảo vệ sự tinh khiết. Đối với chúng tôi, nó là cần thiết như sự sống. Ông hãy nói đó là một thiên chức điên rồ. Ông hãy nói là ông đang gặp ở đây một con người nói xằng nói bậy. Nhưng chúng tôi không thể làm khác được. Chúng tôi không muốn trang sức với những bông hoa có trong cánh máu của một vụ giết người. Chúng tôi không muốn ăn trái cây, uống nước và thở không khí chứa máu một vụ giết người. Không một ai trong chúng tôi muốn thọ thánh lễ với máu một vụ giết người. Và người nào biết được một điều gì về vụ giết người sẽ đến nói với chúng ta điều ấy. Tại đây. Lập tức. Không đợi khi sự công bố của Pantelion, anh mõ tòa chấm dứt. Trước lúc trời sáng, chúng ta sẽ có tên sát nhân. Vì chúng tôi biết rằng tội ác có thể nhiễm cả toàn thể vùng này. Máu của tội ác sẽ do gió mang đi và nó sẽ lên đến trời và mây sẽ mang đi. Vấy vào đế giày của khách đi đường, nó sẽ nhiễm toàn thế giới. Nó sẽ có trong bụi bặm. Nó sẽ do mưa đổ xuống không những chỉ trên người, mà còn cả trên cây cối, thú vật và khoáng vật; toàn thể thiên nhiên sẽ mang trách nhiệm của tội ác. Rửa sạch một tội ác ư?... Con người không thể nào làm được. Chỉ có sự tha thứ của Chúa. Con người chỉ có thể xưng tội và hối lỗi. Mỗi người đàn ông và mỗi người đàn bà sẽ tới đây xưng ra những gì họ biết được. Thành phố chúng tôi tên gọi là Agapia. Tình yêu hiến dâng cho Chúa, tức là tình yêu sự thật; yêu cái đẹp; yêu sự tinh khiết; yêu cái gì công bằng và vĩnh cửu. Tội ác đối với chúng tôi còn tệ hại hơn mầm mống và vi trùng bệnh truyền nhiễm, bệnh đậu, dịch hạch và dịch tả. Không phải ngẫu nhiên mà chúng tôi sinh sống ở đây. Ở Agapia, không có hay gần như không đất đai có thể trồng trọt được. Ở đây là đá. Vì vậy không phải vì sự mầu mỡ của đất đai mà tổ tiên chúng tôi đã lập nghiệp ở đây. Họ không tìm kiếm sự sung túc, sự tiện nghi, sự an ninh. Họ sinh sống ở đây để xa thế gian càng xa càng tốt, và gần trời càng gần càng tốt. Vì ở đây, theo địa thế, chúng tôi gần trời hơn gần đất. Trong một năm thì quá nửa thời gian của nó, chúng tôi ở cao hơn mây; mây luôn luôn bay thấp hơn thành phố Agapia. Bây giờ ông hiểu vì sao tôi đau khổ khi nghĩ rằng tên sát nhân là một người ở đây. Bây giờ tôi có được một bằng chứng bổ túc về điều đó.
- Cho đến khi có bằng chứng tuyệt đối, chúng ta chưa có thể chắc chắn về điều đó được. - Ông thẩm phán nói.
- Tên sát nhân là người ở đây - Cảnh sát trưởng Fillaret nói - Tên sát nhân là một kẻ không có vũ khí. Nó đã giật vũ khí của nạn nhân để giết nạn nhân. Mà những người dân ở đây xưa nay vẫn luôn luôn là những người không có vũ khí.
- Không một người nào có một thứ vũ khí nào sao?
- Không. Thế mà chúng tôi sống giữa rừng. Đáng lẽ chúng tôi cần có vũ khí để chống với chó sói, gấu, heo rừng. Nhất là về mùa đông. Thú rừng đến tận nhà chúng tôi. Các quan chức cai trị Phanariot đã luôn luôn tịch thu vũ khí của chúng tôi.
- Từ hằng thế kỷ và hằng thế kỷ, người ta xử sự với dân chúng ở đây, hoàn toàn như với các tù nhân và các nô lệ: người ta tước đoạt mọi phương tiện nổi loạn. Ngày và đêm, nhiệm vụ độc nhất của lực lượng bảo vệ an ninh trật tự là lục soát và tịch thu vũ khí. Dân chúng ở đây là nô lệ và tù nhân của các quan chức cai trị Phanariot. Vì vậy dân chúng không có quyền có vũ khí. Vì tù nhân và nô lệ, người ta không thể giữ họ trong cảnh tù đày hay nô lệ nếu họ có vũ khí. Cho nên dân ở đây là những người tay không. Những người không có vũ khí. Tên sát nhân đêm nay, nó cũng là một người không có vũ khí, một người tay không, vậy là một người ở đây. Không một người lạ nào lại phiêu lưu nơi đây, giữa núi rừng, không có vũ khí. Ngoại trừ dân ở đây.
Chẳng còn mấy chốc nữa, trời sẽ sáng. Ông thẩm phán trẻ vô cùng tò mò muốn thấy sự gì sẽ xảy ra. Vì ở đây, mọi sự xảy ra khác với những nơi khác. Đây là một thành phố tách rời khỏi đất, về nghĩa thật cũng như nghĩa bóng. Và dân thành phố này là công dân của trời hơn là của đất. Filaret là một thanh tra cảnh sát nhà trời. Thật nực cười. Nhưng cũng đúng.
---------------------------
[1] Theo Thánh Kinh Thiên Chúa giáo Adam là người đàn ông của nhân loại bị đuổi khỏi thiên đường vì không tuân lời Thượng đế, đã cùng Eva, người đàn bà đầu tiên ăn quả cấm. (N.D).
0
XII
Chiếc tàu thủy thả neo trên trời
 
Bảy giờ sáng ở Agapia. Sáu giờ đồng hồ đã trôi qua từ lúc cậu lính Tuniade bị ám sát trước lâu đài sở hữu do được bạc. Pantelion - người mõ tòa - đi vòng thành phố, vừa đi vừa đánh trống. Anh ta đi được năm mươi bước thì đứng lại và đọc to thông báo, thêm thắt vào những từ của riêng anh ta: “Hãy nghe đây, đàn ông và đàn bà thành phố Agapia... Một giờ sau nửa đêm, cậu Antoine Tuniade trẻ tuổi đã bị giết bằng một phát đạn súng lục ở trước lâu đài của cậu ta...”.
Cảnh sát trưởng Fillaret ngồi trong văn phòng ông thẩm phán. Đây là trung tâm chỉ huy các công tác có mục đích bắt giữ thủ phạm. Nói cho đúng hơn, đây là nơi ông thẩm phán đợi người ta dẫn thủ phạm đến cho ông. Vì theo những sự khẳng định của cảnh sát trưởng Fillaret, chỉ cần phái anh mõ tòa tìm tên sát nhân, và nó sẽ tự đến một mình, hoặc bạn bè nó sẽ dẫn nó đến.
Trong lúc chờ tên sát nhân đến, cảnh sát trưởng Fillaret, đứng trước cửa sổ, điềm tĩnh kể chuyện cũ với ông thẩm phán.
- Năm ngoái, khi người ta giết Tuniade Cha...
- Ông nói cái gì vậy? - Ông thẩm phán thét lên - “Năm ngoái khi người ta giết Antoine Tuniade Cha”, đó là lời ông đã nói phải không?
- Đúng vậy, thưa ông thẩm phán.
- Sao?... Cha cậu Tuniade cũng bị ám sát hay sao?
- Đúng như vậy, thưa ông.
- Và ông đã không nói gì cả mãi cho đến bây giờ... Nhưng mọi cuộc điều tra phải xuất phát từ đó! Người ta đã ám sát người con cũng như người ta đã ám sát người cha. Hai sự việc tất phải có liên hệ. Vì sao ông đã giấu diếm những điều như thế, ông cảnh sát trưởng?
- Không có một liên hệ nào giữa cái chết của người cha và cái chết của người con. - Cảnh sát trưởng Fillaret nói.
- Khi nào và ở đâu Tuniade Cha đã bị giết? - Ông thẩm phán hỏi.
Ông vô cùng giận dữ.
- Antoine Tuniade Cha bị giết cách đây đúng mười bốn tháng. Ông ta bị giết trong một rừng tùng, cách lâu đài hai cây số .
- Tuniade Cha đã bị ai giết và bằng cách nào?
- Antoine Tuniade Cha đã bị giết bằng những nhát rìu bởi một thợ rừng ở Agapia tên là Savanarola Mold, tức Sava. Tên này bây giờ ở trong ngục khổ sai. Nó bị kết án khổ sai chung thân.
- Bằng cách chế giễu tôi, ông chế giễu luật pháp, ông cảnh sát trưởng. Tôi sẽ không cần sự cộng tác của ông nữa và tôi yêu cầu ông chưởng lý cử cho tôi một cảnh sát trưởng khác. Thái độ của ông là tuyệt đối không chấp nhận được.
- Với tất cả sự kính trọng phải có đối với ông, thưa ông thẩm phán, xin ông cho biết ông đã thấy điều gì không thể chấp nhận được trong thái độ của tôi?
- Vì sao ông đã khẳng định với tôi - bằng cách lặp lại nhiều lần như một con vẹt rằng trong thành phố các ông, không hề có. Kể từ lúc khai thiên lập địa cho đến bây giờ, rằng thành phố Agapia là một thành phố có hộc tủ tư pháp lý lịch còn trinh nguyên?
- Đó là sự thật hoàn toàn, thưa ông thẩm phán. Từ xưa đến nay, chưa hề có người phạm trọng tội ở Agapia.
- Và vụ ám sát Tuniade Cha cách đây mười bốn tháng, gần lâu đài, bởi một người đốn cây ở đấy thì sao? Vụ giết người ấy, ông không tính sao?
- Không, thưa ông thẩm phán. Đó không phải là một vụ giết người. Đúng hơn đó là một vụ tự sát.
- Và người hiện nay ở trong ngục. Vì sao y bị kết án khổ sai? Y đã có giết Tuniade Cha hay không giết?
- Đúng là Savonarola Mold có giết Tuniade Cha. Y đã bửa đầu ông ta với cái rìu của y như người ta bửa một trái dưa. Vì vậy y bị đày ở nhà tù khổ sai cho đến mãn đời.
- Mặc dù vậy ông cũng vẫn một mực cho rằng đã không bao giờ có trọng tội trong thành phố các ông.
- Cái chết của Tuniade Cha là một vụ tự sát hơn là một vụ cố sát.
- Cái tên Sava hay Savonarola kia có bửa đầu Tuniade bằng những nhát rìu, có hay không?
- Có, thưa ông thẩm phán. Sava có bửa đầu Tuniade bằng những nhát rìu. Với cái rìu của nó, một cái rìu mới tinh, nó đã bửa đầu như người ta như bửa một trái dưa. Nhưng không phải là cố sát. Đúng ra là một vụ tự sát, hay một tai họa. Tôi biết là ông không hiểu. Và vì vậy mà tôi đã không nói với ông. Không một người lạ nào hiểu rằng đó là một vụ tự sát. Tuniade Cha tự sát. Mặc dù Sava đã bửa đầu ông ta bằng những nhát rìu, không phải là một vụ cố sát.
- Tên giết người đã bị đày trong nhà tù khổ sai, vậy là y đã nhận tội. Hay là y đã bị kết án một cách bất công?
- Sava đã nhận tội. Y đã kể lại y đã bửa đầu Tuniade Cha như thế nào. Nhưng không phải là cố sát.
- Thôi đủ rồi. - Ông thẩm phán nói.
Ông ra khỏi văn phòng và đóng sập cửa lại. Ông tự nhủ rằng ông cảnh sát trưởng điên. Trước đây ông không nhận thấy điều đó. Bây giờ ông tin chắc rằng toàn thành phố là điên. Giống như một tàu biển lớn nhốt người điên, thả neo, lơ lủng trên trời; giống như một chiếc tàu thủy toàn người điên, mắc cạn trong tuyết. Ông thẩm phán sợ. Ông quyết định điện thoại cho ông chưởng lý và ông Tỉnh trưởng. Để người ta đuổi hết bọn người điên đang ở chung quanh ông. Ông sẽ xin phái đến một cảnh sát trưởng khác và một số hiến binh. Để có thể gọi điện thoại, ông muốn cho người đuổi ông cảnh sát trưởng Fillaret ra khỏi văn phòng. Ông đi vào nhà bếp để giao nhiệm vụ ấy cho bà Eudoxia.
- Bà Eudoxia, tôi không quấy rầy bà chứ? - Ông thẩm phán hỏi.
Trong nhà bếp trang trí đẹp đẽ, bà Eudoxia đang ngồi đan.
- Xin mời ông thẩm phán vào. - Bà nói.
Bà nhắc một cái ghế mời ông thẩm phán ngồi. Bà nói:
- Ông thẩm phán vào lẩn tránh ở đây vì ông sợ cảnh sát trưởng Fillaret điên.
- Có những lý do để tôi tin là như thế phải không?
- Xin ông thẩm phán thứ lỗi cho tôi. Tôi nghĩ rằng ông tin cảnh sát trưởng Fillaret là điên bởi vì Fillaret đã giấu không nói với ông rằng Tuniade Cha cũng đã bị giết. Và vì cảnh sát trưởng Fillaret đã nhiều lần trước đây nói với ông rằng trong thành phố Agapia không bao giờ có trọng tội. Bây giờ ông cảnh sát trưởng lại nói với ông thẩm phán rằng năm ngoái Tuniade Cha đã bị giết trong rừng tùng bởi Sava. Ông thẩm phán cho tôi biết, phải chăng đó là điều làm ông phải chạy trốn vào đây, thưa ông?
- Đúng như vậy, bà Eudoxia.
Ông thẩm phán đỏ mặt.
- Tôi thấy tất cả những điều ấy thật sự rất đáng lo ngại. Và rối rắm nữa. Điều ấy đã làm tôi tức giận vô cùng. Bà thấy đó. Điều đó đã làm tôi nổi xung... Thật nghiêm trọng vô cùng!
- Và ông thẩm phán đã đến đây, trong nhà bếp, vì ông có sợ một chút và nhất là để bảo tôi mời ông cảnh sát trưởng ra khỏi văn phòng để ông thẩm phán có thể yêu cầu ông chưởng lý và ông Tỉnh trưởng phái đến cho ông một viên thanh tra cảnh sát khác không điên khùng, và tăng cường cho ông thẩm phán một số đông hiến binh. Có phải như thế không, thưa ông thẩm phán?
- Đúng như thế, bà Eudoxia... nhưng làm sao bà biết tất cả những điều ấy? Bà không đứng ngoài cửa để nghe lén... Dù bà có nghe lén, bà cũng không thể đọc được trong đầu óc tôi. Cũng không thể biết được rằng tôi sợ, rằng tôi muốn bà mời cảnh sát trưởng Fillaret ra khỏi văn phòng. Cũng không thể biết được rằng tôi cảm thấy an ninh của tôi không được bảo đảm bên cạnh ông cảnh sát trưởng, rằng tôi xem ông ta là điên... Cũng không thể biết rằng tôi muốn gọi điện thoại cho ông chưởng lý.
- Và gần bên tôi, ông không sợ, ông thẩm phán?
- Ồ! Không, bà Eudoxia! Làm sao tôi lại sợ gần bên bà? Tôi sợ ông cảnh sát trưởng vì ông điên. Ông kể huyên thuyên rằng...
- Ông lầm rồi, thưa ông thẩm phán. Đáng lẽ ông cũng phải sợ tôi nữa. Vì tôi, tôi cũng sẽ nói với ông những lời giống như ông cảnh sát trưởng đã nói. Đúng là Savonarola Mold đã bửa đầu ông già Tuniade bằng những nhát rìu như người ta bửa một trái dưa, nhưng cũng đúng là đó không phải là một vụ cố sát. Đó là một vụ tự sát. Ở Agapia, không bao giờ có trọng tội. Đấy là sự thật.
Thẩm phán Cosma Damian tái mét. Ông sợ. Sợ kinh khủng, sợ như trong những cơn ác mộng. Ông thấy lại cái đầu của ông cảnh sát trưởng điên, ông thấy cái đầu của bà Eudoxia, và thấy đây cũng là cái đầu của một bà điên. Ông nhớ lại giọng nói và cách nhìn của Ismail tên xà ích bị thiến. Đứng là kiểu mẫu người điên, cả ông trưởng ga, với chòm râu cằm, cũng điên. Và bà Patricia Tuniade cũng điên nốt... Ông thẩm phán tin rằng tất cả những người thành phố này là người điên. Agapia như là một chiếc tàu thủy chứa toàn người điên. Một chiếc tàu thủy lớn chở người điên, mắc cạn trong tuyết, lơ lửng giữa trời và đất, không ở trên mặt đất, cũng không ở trên trời.
Trước cửa sổ nhà bếp, Pantelion, anh mõ tòa, đi ngang qua, đánh trống một hồi dài và sau đó, bằng những lời cảm động, kêu gọi kẻ giết người hãy đến trình diện ông thẩm phán thành phố... “Hỡi đàn ông và đàn bà thành phố Agapia... Hỡi địa chủ và đàn bà thành phố Agapia... Xin hãy lưu ý vì những điều tôi sắp nói với các ông các bà là những điều kinh khủng...”.
Ông thẩm phán trốn ra khỏi nhà bếp. Ông không biết đi đâu. Ông quyết định cầu cứu ông Tỉnh trưởng. Cảnh sát trưởng Fillaret có mặt trong văn phòng cũng mặc kệ! Đây là một tình thế không thể để kéo dài được nữa.
Trong lúc ông thẩm phán tìm quyển niên giám điện thoại, cảnh sát trưởng nhìn ông thẩm phán với vẻ thương hại giống như những con cá nhìn những con lừa và những con cừu ở trên bờ suối. Vì, đối với loài cá, không thể có sự sống ở đâu khác ngoại trừ ở dưới nước; ở trên đất liền có nghĩa là mất mạng... Mỗi người chúng ta không thể hiểu một sự sống khác với sự sống của chúng ta. Cũng như loài cá không thể hiểu rằng có sự sống trên đất liền.
0
XIII
Cuộc đời và cái chết của một quan chức Phanariot
 
Ông thẩm phán sắp sửa gọi điện thoại để xin ông chưởng lý phái cho một thanh tra cảnh sát khác và một số hiến binh, cảnh sát trưởng Fillaret ngăn lại:
- Khỏi cần gọi điện thoại, thưa ông thẩm phán! Xin ông hãy yên tâm. Ông không phải ở trong một thành phố mà mọi ngươi đều điên. Không một người nào trong thành phố Agapia điên. Chúng tôi chẳng có gì là lạ lùng cả. Chúng tôi sống một cuộc sống đau khổ, chỉ có thế thôi. Đau khổ cực độ. Và khi đã cực độ, sự đau khổ biến dạng. Sự nghèo nàn cùng cực có một trạng thái khác với sự nghèo nàn thường. Xin ông đừng sợ. Tôi sẽ thuật lại, càng vắn tắt, càng tốt, bằng cách nào ông già Antoine Tuniade, một quan chức Phanariot, đã bị giết cách đây mười bốn tháng. Nghe câu chuyện này, ông sẽ hiểu vì sao tôi đã không kể với ông sớm hơn. Vì như thế vô ích. Ông sẽ tự mình nhận thức điều ấy. Mặc dầu Savonarola Mold đã bửa đầu Tuniade Cha bằng những nhát rìu, đó là một vụ tự sát. Đó không phải cố sát.
Chắc chắn, nếu ông là một trong những quan tòa ngồi xử án trong phiên tòa đại hình lúc trước, thì ông cũng đã kết án Savonarola Mold về tội cố sát. Bất cứ quan tòa nào cũng kết án nó. Nếu tôi là quan tòa, tôi cũng kết án nó. Vì một quan tòa không có quyền phán xét. Quan tòa chứng nhận sự kiện và tuyên hình phạt tương ứng, ghi sẵn trong bộ luật hình.
- Chính ông đã mở cuộc điều tra về vụ án mạng ấy? - Ông thẩm phán hỏi.
- Không cần điều tra. Tất cả đều rõ ràng. Tôi chỉ có một việc là lập biên bản và đưa Savonarola Mold ra trước tòa án binh. Để được xét xử.
- Bằng cách nào Tuniade Cha đã bị giết chết?... Tôi yêu cầu ông đi ngay vào các sự kiện... Một vụ ám sát xảy ra đêm nay, chúng ta phải tìm tên sát nhân. Chúng ta không được phí thời giờ.
- Tôi đi ngay vào các sự kiện, nhưng bắt đầu từ đầu. Ở đây, trên sườn phía Đông núi Carpathes, xưa kia sinh sống một sắc dân, sắc dân ấy tự gọi mình là “dân tộc những người bất tử”.
- Tôi xin ông hãy đi ngay vào vụ án Tuniade Cha.
- Thưa ông thẩm phán, ông khẳng định rằng ông không thể điều tra vụ án Tuniade Con, nếu tôi không thuật lại cho ông nghe, vụ án Tuniade Cha. Tôi không thể nói với ông về Sava Mold và về tất cả chúng tôi nếu tôi không nói về các “người Bất tử”. Họ là tổ tiên chúng tôi. Ngtrời nào không biết gì về tổ tiên thì không bao giờ biết được tất cả sự thật về con cháu. Các người bất tử xưa kia sinh sống ở đây và là tổ tiên chúng tôi thì các sắc dân khác gọi là người Gètes hay người Daces. Người Gètes hay người Daces thì tự gọi mình là người Bất tử, vì họ tin rằng họ chẳng bao giờ chết. Chết chỉ là một sự thay đổi chỗ ở. Người chết bỏ thể xác để lên trời, ở đó họ sẽ sống vĩnh cửu. Tổ tiên Bất tử của chúng tôi sinh sống trước khi Chúa Giê-su ra đời. Vào thế kỷ thứ nhất kỷ nguyên Thiên Chúa, người La Mã xâm chiếm xứ sở của người bất tử. Ở Pietra Neamtz, bây giờ là quận lỵ, quận chúng tôi, có một đô thị lớn người Bất tử, gọi là đô thị Petrodava. Ở đây, cũng như khắp những nơi khác trong toàn quốc, khi các người Bất tử nhận thấy rằng họ đã bại trận, họ đã bị người La Mã đánh bại và bị chinh phục, họ tập trung lại chung quanh các chỉ huy của họ và tự sát hàng loạt. Tất cả. Cho đến người cuối cùng. Tất cả những người mạnh khỏe đều chết hết. Thà chết hơn là làm nô lệ. Điều ấy, mọi người đều biết. Nhất là những thời kỳ tai ương. Cũng như mọi người đều biết ở tất cả mọi nơi và bất cứ thời đại nào rằng linh hồn không chết. Thế là những người chinh phục La Mã khi vào được trong xứ chỉ tìm thấy đàn bà, trẻ con, ông già và những người yếu đuối. Người La Mã đã đô hộ xứ sở người Bất tử. Tất cả mọi người phải nói tiếng La tinh. Người Bất tử bị người La Mã chinh phục, đó là cuộc chinh phục cuối cùng của người La Mã trên địa cầu. Gần một thế kỷ sau cuộc chinh phục ấy, nổi lên từ châu Á, từ hoang nguyên bắt đầu ở đây, ở Petrodava ở ngay Agapia, tất cả các dân tộc dã man phương Đông, chúng tràn vào như một biển người bất tận, trên xứ sở người Bất tử, trong khi tiến đến Tây phương. Ngươi Huns, người Tartares, Attila, Tamerlan, Genghis Kan... Tất cả đều đi ngang qua đây. Qua Agapia. Và cỏ không mọc nữa nơi nào họ đã đi ngang qua. Chỉ còn lại đất đai bị đốt cháy trụi. Chỉ còn là sa mạc. Bọn người đi chinh phục cuối cùng là người Thổ Nhĩ Kỳ. Người bản xứ đã rút lui, như thường lệ vào núi. Họ đã sống sót, trên cao ấy, trên những mỏm đá. Họ đã tiếp tục nói tiếng La tinh và tiếp tục tin rằng họ vẫn là những người bất tử, tin một cách tuyệt đối. Họ còn một lý do nữa để vững tin họ là bất tử, đó là tôn giáo của họ. Cuộc sống khổ đau đến mức họ nôn nóng chờ đợi cái lúc bước sang đời sống đích thực của họ trên trời, ở đó có tất cả mọi người có những quyền hạn ngang nhau, ở đó không ai là nô lệ, là công dân chỉ một nửa hay một phần tư, như trên trái đất.
Trong gần hai ngàn năm, tất cả các bộ lạc dã man đã đi ngang qua ở đây, như sóng biển dạt vào bờ. Chúng tôi đã không bao giờ chống lại bằng một cuộc kháng chiến vũ trang có tổ chức. Người ta chống lại một kẻ địch mạnh hơn và ngay cả trong trường hợp chúng mạnh hơn hai, ba hay một trăm lần mạnh hơn. Người ta từ chối chống cự. Cũng như người ta từ chối chống cự lại biển. David đã chống cự lại Goliath, đó là một chiến công lẫy lừng. Chúng tôi đã có mặt trước chúng tôi, không phải là một mà hàng triệu Goliath. Không thể làm gì được cả.
Người dân Bất tử ở Petrodava và ở Agapia đã chịu đựng trong suốt các thiên niên kỷ ấy, những thử thách phi thường. Thấy rằng bị cấm sống trên mặt đất, họ bèn cắm lều trên trời. Hoàn toàn giống như những cây phong lan đã làm cho rừng hoang vùng nhiệt đới. Không thể cắm rễ trong đất, phong lan phóng rễ lên bên trên chúng và trên các ngọn cây, trong các đám mây. Những người Bất tử ở đất nước chúng tôi cũng làm như thế. Họ đã cắm rễ trên trời, càng ngày càng sâu hơn. Và họ đã sống sót. Họ rút từ trời chất nuôi dưỡng họ, công lý của họ, hy vọng của họ và tất cả những gì họ cần để sống. Hoàn toàn giống như những phong lan xứ Ba Tây hút nhựa sống từ các đám mây bay ngang qua trên các vùng rừng hoang. Tại xứ sở chúng tôi trời thay thế đất. Trời là đồng ruộng của chúng tôi, là vườn tược của chúng tôi, nơi cắm lều của chúng tôi, vườn rau của chúng tôi, đàn súc vật của chúng tôi. Vì vậy, khi người Thổ Nhĩ Kỳ, sau những năm dài chiếm đóng đã hỏi dân chúng tôi có muốn trở thành người Hồi giáo, và có quyền lợi trong đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, hay là muốn là những người Thiên Chúa giáo và trả một công thuế nặng nề, tất cả mọi người đã trả lời họ sẽ nộp cống thuế. Họ muốn là những người Thiên Chúa giáo. Họ phải trả gấp đôi, gấp ba cống thuế, bằng mật ong, hạt, nhựa, trái cây, súc vật nhưng nhất là họ phải nộp một thuế công. Thuế kinh khủng: máu. Cống thuế mà người Thổ Nhĩ Kỳ đòi, đó là trẻ con còn nhỏ tuổi; con trai, để lớn lên làm hoạn quan và cấm vệ binh con gái để hầu hạ và hiến thân cho đàn ông trong các tầng thất Hồi giáo. Mỗi bà mẹ trong xứ chúng tôi một ngày nào đó phải nộp cống thuế bằng cách nộp chính con mình. Điều này được thi hành đều đặn suốt gần năm thế kỷ. Không khoan nhượng. Những người thu cống thuê ấy, những người giựt con nít ra khỏi vú mẹ chúng ấy, để rồi gởi đến Constantinople, là các quan chức Phanariot. Vì vậy họ là những gì xấu xa nhất, tồi tệ nhất trên thế gian. Để làm cái việc bắt trẻ con, cái việc ghê tởm, khủng khiếp, tồi tệ ấy, người ta đã chọn họ trong hạng người cặn bã ở Byzance. Chức vụ thu cống thuê bằng trẻ con và bằng của cải ấy được đem đấu giá; và những người mua được chức vụ ấy, được mang tước vương, trong suốt thời gian giữ chức vụ.
Phần đông các ông hoàng thu thuê cống ấy không bao giờ trở về vùng ngoại ô cặn bã thành phố Byzance là nơi họ xuất thân. Họ ở lại tại xứ sở chúng tôi, sau khi đã cướp bóc, đã làm đổ máu, đã trần tục hóa xứ sở chúng tôi. Họ đã tước đoạt tất cả, chiếm hữu tất cả: đất đai, rừng rú, người và thú. Khi nền đô hộ của người Thổ Nhĩ Kỳ chấm dứt, các ông hoàng Phanariot trở thành chủ nhân. Với tư cách là địa chủ Phanariot ở Valachie và Moldavie, những tên tay sai đắc lực để cai trị và thu thuế. Các địa chủ Phanariot không còn mang tước vương, tước chư hầu hay đại thần như thời kỳ đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ nữa; họ trở thành Thượng nghị sĩ, Bộ trưởng, Dân biểu, nhà ngoại giao, tổng giám đốc. Họ làm công việc hoàn toàn giống như trước. Đối tượng họ thu thuế, không phải là trẻ con mà là người lớn. Chức vụ và công việc duy nhất của các cơ quan Phanariot là hút máu dân chúng. Dưới thời đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ cũng như Tây phương, họ được tổ chức thành đảng phái chính trị. Tất cả các địa chủ Phanariot ấy rời khỏi nơi đây vào mùa thu, như những con gấu, để ngủ đông trong các hang lớn, các nhà thổ và các nhà du hí ở phương Tây. Mùa xuân, họ trở về. Họ điều khiển các công việc. Họ rất nghiêm khắc. Để hái nho, nông dân mang đai bịt miệng như chó. Nhưng chúng tôi chịu đựng tất cả, vì chúng tôi ngoan đạo thật sự, không có đồng áng nào khác, ngoài trời ra, rút chất nuôi dưỡng chúng tôi. Chúng tôi không có phương tiện thể cắm rễ của sự sống của chúng tôi trong lịch sử; trong đất đai; trong các thế kỷ. Chúng tôi bắt buộc phải cắm rễ trên trời, nếu không thì chết, cắm rễ trong vĩnh cửu. Trời là vật sở hữu duy nhất của chúng tôi, là tài sản duy nhất thuộc về chúng tôi... Tất cả những gì chúng tôi có được là từ trời chứ không từ đất mà có. Cũng như những người Do Thái, trong cuộc di cư, nhận được đồ ăn do trời ban xuống, vì dưới chân họ chỉ có sa mac. Các nhà ẩn tu, các đạo sĩ thực hiện những biểu dương lớn về sức lực và ý chí để đạt đến trình độ thoát tục ấy và để tiếp tận với trời, trong tuyệt đối và trong vĩnh cửu... Chúng tôi sống với thể xác chúng tôi, trên trời. Tất cả. Giống như chỉ có vài mươi vị thánh đã làm một cách hoàn toàn và trọn vẹn. Dòng họ Tuniade là địa chủ Phanariot. Tuniade Cha là tổng giám đốc thủy lâm. Lão làm như thể tất cả núi non, rừng rú là của riêng lão! Lão không còn giàu có bằng tổ tiên lão, những người đã đánh bạc ăn được cái lâu đài. Nhưng lão sống cuộc đời hoàn toàn giống cha ông lão.
- Vì lão là một tên bạo chúa nên người ta đã giết lão? - Ông thẩm phán hỏi.
- Hoàn toàn không phải thế, thưa ông thẩm phán! - Cảnh sát trưởng Fillaret đáp - Tại xứ sở chúng tôi, người ta không bao giờ giết những tên bạo chúa.
- Ông có thể thú nhận với tôi, - Ông thẩm phán nói - giết các tên bạo chúa đôi khi là điều được các Tiến sĩ Thần học Cơ Đốc giáo, tán thành. Đôi khi còn được khích lệ nữa.
- Không phải như thế tại xứ sở chúng tôi. Tôi nhắc lại, chúng tôi không giết những tên bạo chúa. Họ và chúng tôi, sống riêng biệt. Họ sống trên đất và trong lịch sử, còn chúng tôi sống trên trời và trong vĩnh cửu. Giữa hai bên không có gì để phân chia với nhau. Không có những duyên cớ gì để tranh chấp nhau. Hai bên hoàn toàn cách ly với nhau.
- Vậy thì, vì sao người ta giết lão.
- Ông thẩm phán sắp hiểu điều đó. Như tôi đã nói, chúng tôi không bao giờ giết những tên bạo chúa áp bức, bóc lột chúng tôi, chúng tôi gìn giữ sự sống của họ. Toàn thể ngành cảnh sát, luật pháp và quân đội ở xứ sở chúng tôi chỉ có một nhiệm vụ duy nhất: bảo vệ sự sống, tài sản và đặc quyền của các địa chủ Phanariot. Chính với điều kiện ấy mà các người Tây phương đã giải phóng chúng tôi khỏi ách thống trị của người Thổ Nhĩ Kỳ. Chúng ta, ông với tư cách là thẩm phán và tôi với tư cách là người cảnh sát trưởng, chúng ta chỉ làm điều đó: bảo vệ các tên bạo chúa hút máu dân chúng đến tận xương tủy.
Tôi đã nói với ông rằng dân Agapia sống mùa đông trong rừng. Đàn ông rời khỏi nhà khi tuyết bắt đầu rơi. Họ đi sâu vào rừng. Ở đấy, họ đốn cây, cho đến mùa xuân, cho các ông chủ Phanariot. Để ở, họ đào hố, đào hầm, ở đó họ đốt lửa và ở đó họ ngủ và sống suốt mùa đông. Gần như là ở ngoài trời. Lạnh bốn mươi độ âm, một cái lạnh làm đông nhựa các cây tùng, cây bách, một cái lạnh làm nổ tung những tảng đá. Cây cối đốn xuống được kéo trên tuyết đến bờ sông. Mùa xuân, gỗ Petrodava trôi trên sông nhỏ, sông lớn và cuối cùng được chở trên những chiếc tàu thủy chạy trên Biển Đen cho đến tận những nước xa xôi nhất trên thế giới. Bysance, Constantinople, Athènes đều được xây dựng lại sau mỗi trận cháy, với gỗ của Petrodava.
Dân chúng tôi làm ra gỗ. Dân chúng tôi cũng cần đến gỗ. Nhưng chúng tôi không có tiền để mua gỗ. Chúng tôi cũng không có tiền để mua bất cứ cái gì. Theo thống kê, cả một làng chỉ mua được một hộp diêm mỗi năm. Điều đó chứng tỏ rằng ngân sách của chúng tôi vô cùng hạn hẹp. Gần như không có. Buôn bán, đúng hơn là đổi chác bằng hiện vật. Tiền bạc chỉ các ông chủ Phanariot và các viên chức nhà nước mới có. Vì rằng, trong một xứ lạnh như chúng tôi, gỗ, củi, là một vấn đề sinh tử - Và vì không có tiền để mua, dân chúng kiếm gỗ, kiếm củi trong rừng chung quanh nhà của họ. Gỗ thuộc quyền sở hữu của các ông chủ Phanariot và của nhà nước. Mặc dù vậy, chúng tôi cứ lạy. Chúng tôi biết rằng các rừng ấy là của chúng tôi. Rằng các rừng ấy đã bị tước đoạt bằng vũ lực. Chúng tôi không nói gì. Nhưng trong các rừng mà chúng tôi đã bị tước đoạt, bị cướp đi, chúng tôi lấy gỗ, lấy củi vì chúng tôi cần. Để nấu món mamaliga, tức là món cháo bắp, món ăn độc nhất của chúng tôi cần củi. Chúng tôi cần gỗ để làm tường, làm mái nhà, muốn làm cái cầy, cũng cần gỗ. Cũng cần gỗ để làm chuồng cho súc vật, để làm cái cào, cái xuổng, cái xe. Tất cả những gì dân chúng có được đều bằng gỗ. Tình cảnh nô lệ suốt đời, cuộc đời khổ cực, tăm tối của người dân Agapia là nguyên nhân đưa đến việc họ trộm củi, gỗ trong rừng. Họ trộm vì họ cần mà không thể mua được. Họ trộm của những người đã cướp của họ. Nếu các quan chức Phanariot bỏ tù những người trộm gỗ trong rừng thì trong hai tuần lễ hai triệu người sẽ ở trong nhà lao. Sẽ không còn một người dân nào nữa tự do ở ngoài. Vì các quan chức Phanariot không thể nào cầm tù tất cả một dân tộc, họ quyết định về tội ăn cắp gỗ chỉ cần lập một biên bản. Người ta xét xử và người ta kết án, nhưng người ta để cho một người được tại ngoại, được tự do tạm thời. Đối với các vi phạm ấy - mà người dân ở Petrodava gọi là “tội rừng” không áp dụng án phạt tù, nhưng luôn luôn người ta tịch thu cái rìu của kẻ vi phạm. Đó là hình phạt khủng khiếp. Tất cả mọi người đều muốn ở tù vài tháng còn hơn là mất cái rìu của mình. Giá một cái rìu là một vốn liếng lớn vô cùng, đối với dân chúng không thể mua ngay cả diêm và muối. Phải dành dụm nhiều năm trời mới sắm được một cái rìu.
Người nào lâm vào tai họa mất cái rìu của mình là coi như một người bị thiên tai. Chẳng khác nào thần lửa đã thiêu hủy nhà của mình. Một người đã nhiều lần mất cái rìu của mình thì không còn có thể đứng dậy được nữa. Ngươi đó bị phá sản, trong suốt khoảng đời còn lại. Người đó sẽ không bao giờ mua được cái rìu khác, và như vậy là lâm vào cái cảnh một người đã mất hết hai cánh tay. Không có rìu thì không có việc làm. Không việc làm thì không có mamaliga, không có cháo bắp. Không rìu không thể sống được. Đối với tất cả mọi người.
Rìu là dụng cụ thiết yếu. Với cái rìu, người ta dựng được nhà, không cần cái gì khác. Với cái rìu người ta đẽo gỗ. Và người ta dựng lên những cái nhà đẹp đẽ. Với cái rìu người ta làm ra các đồ vật trang trí trong nhà. Nhưng không chỉ có cái nhà. Tất cả dụng cụ để làm việc người ta có ở đây đều được làm ra với cái rìu, cái xe, cái cày, cái bừa, cái xẻng, cái thùng, cái khung củi... Với cái rìu người ta làm ra cái giường, cái bàn, cái ghế, cái tủ, cái nôi trẻ con... Tất cả đều tự mình làm ra, với cái rìu.
Với cái rìu người ta làm ra cái cầu để đi qua các con suối, hay hàng rào để bảo vệ người và gia súc chống lại chó sói và thú dữ trong rừng. Với cái rìu người ta làm nhà thờ, thánh giá, quan tài, bàn thờ... Cái rìu là vũ khí duy nhất để chống với thú dữ trong rừng, người nào không có cái rìu không thể mạo hiểm đi trong rừng mà không nguy đến tính mạng.
Cái rìu là bạn đường và là cái gậy. Người nào không có cái rìu thì mùa đông chết khát, cả người lẫn gia súc, vì với cái rìu người ta bửa nước đá trong sông ngòi và nước đá trong các cái xô. Cái rìu là sự sống. Người nào không có cái rìu thì không thể có chỗ sống ở giữa người sống. Không có một cái gì có thể thay thế cái rìu. Cũng như người ta không thể thay thế hai cánh tay.
Vì các lẽ ấy, tịch thu một cái rìu của một người, một người Bất tử ở đây, là làm cho nó què quặt. Là chặt tay phải của nó. Hay là chặt chân của nó. Tuniade Cha lấy việc tịch thu rìu của dân làm sở thích. Đó là lão Phanariot kiêu căng, tàn ác, bất công, vô nhân đạo, không thương xót. Lão đánh người ta với roi ngựa như thể đánh một khúc gỗ. Tóc lão láng mướt, thoa dầu, nước thơm, như tóc của tất cả các quan chức Phanariote. Đầu lão như một trái dừa đã rút hết nước, láng, thơm, trét phấn và không có gì ở bên trong. Trong mỗi câu nói của lão đều có xen một từ miệt thị, tiếng Pháp. Các quan chức Phanariote chia thành đảng phái chính trị, như những con chó sói, thay phiên nhau để chiếm lấy xứ sở này. Tất cả đều giống nhau. Từ xa họ đã nức mùi nhuận da, mướt tóc, mùi thơm của đĩ trai. Một hôm, vào buổi trưa, lão Tuniade Cha gặp Savonarola Mold trong rừng, Sava, một thợ rừng ở đây. Một tên khổng lổ. Người nghèo khổ nhất. Gã có hình dáng một con gấu, cao hai thước, ngực rộng như thân một cây bách, đầu bờm xờm, thân hình nặng nề như một con gấu. Nhưng trong cái thân hình to tướng như một con vật ấy, có một trái tim con nít, dịu dàng và dễ cảm. Savonarola Mold mới mất chưa được bao lâu cái rìu của gã. Chính Tuniade Cha đã tịch thu của gã. Khi thấy lão Tuniade, Sava đã cố thu giấu cái rìu mới mà gã mới trả được nửa tiền. Chậm quá rồi! Sava không chặt gì trong rừng, không bị bắt quả tang. Nhưng từ xa lão Tuniade đã lên tiếng hỏi:
“Đồ súc sinh, mày làm gì trong rừng”.
“Tôi đi dạo chơi”, Savonarola Mold trả lời. Gã không biết nói dối. Gã nói tiếp “Tôi đi dạo chơi và nhìn xem có một cây tùng nhỏ nào để làm con quay cho vợ tôi. Nó phải kéo sợi, con quay cũ bị gãy”.
Làm một con quay là một công việc hết sức khó. Trước tiên phải lùng kiếm trong rừng. Trong hàng ngàn những cây tùng nhỏ, cao độ một thước, phải có một cây mềm dẻo như cây sậy, như xương gà, và rắn chắc như sắt. Phải có con mắt tinh đời mới tìm được một cây tùng có thể làm được con quay. Phải tìm kiếm trên các mỏm đá. Sau đó phải phơi hai hay ba năm. Gỗ phải được hong khói hay hơ lửa. Sava Mold đang tìm kiếm một cây tùng như thế trong rừng. Vừa trả lời Sava ngủi thấy mùi dầu nhuận da, mướt tóc và mùi thơm từ áo quần của lão Phanariote tỏa ra trong rừng, mùi hương ấy là mùi hương tội lỗi.
“Hãy đưa tao cái rìu của mày”, lão ra lệnh.
Lão cưỡi ngựa. Lão đặt chân xuống đất. Lão đòi lấy cái rìu. Lão thả con ngựa ra.
“Tôi không chặt gì cả”. Sava phản đối.
“Mày điếc hả?” - Lão Tuniade thét. Roi ngựa của lão quất vào mặt Sava Mold. Một khuôn mặt đen thui vì ánh nắng mặt trời và vì gió, chúng bôi đen còn hơn than và khói. Một khuôn mặt đen thui vì nghèo nàn, đói khát và đau khổ. Sava chịu đựng ngọn roi quất vào mặt và cắn răng lại: Gã đau đớn vô cùng. Nhưng gã giấu cái rìu trên ngực với hai cánh tay. Giống hệt một bà mẹ giấu con thơ trước sự hiểm nguy. Giống như một con gà mái giấu gà con dưới đôi cánh. Bằng cách ấy, với đôi cánh tay vòng trên ngực, Sava bảo vệ và giấu cái rìu của gã.
Antoine Tuniade Cha quất roi thứ hai, roi thứ ba... roi thứ mười. Mặt Sava đầy máu. Da nơi má toét ra. Nhưng Sava đứng yên như một cây bách. Gã ôm chặt cái rìu trên ngực. Gã không chống đỡ các ngọn roi làm toét da thịt gã; một cây bách cổ thụ không chống đỡ bão táp tàn phá nó, bức ra và làm gãy nhánh của nó. Sava như một cây bách kiên trì trước bão táp. Sava chờ đợi trận đòn chấm dứt với sự giận dữ của lão Phanariote thấy roi ngựa không khuất phục được Sava, đã liệng roi xuống đất. Lão lấy cây đoản côn. Lão cầm hai tay phang vào đầu Sava Mold. Nhưng Sava cao hai thước vẫn đứng thẳng. Sự đau đớn hình như chỉ làm cho gã cao lớn thêm hơn. Nhưng cái ấn tượng ấy không kéo dài được lâu. Sau khi bị đánh nhiều đòn côn, nện vào đầu với sức mạnh của đôi cánh tay của lão Phanariote, Sava chao đảo và té nhào xuống. Giống như một cây bách to mà người ta vừa cưa và đổ xuổng. Sava cũng đổ xuống như một cây bị đốn. Gã không kêu. Gã không chửi. Gã không nói gì. Gã ngã xuống một cách im lặng. Gã chỉ gây tiếng động mà một cây bị cưa gây ra khi đổ xuống với tất cả sức nặng ghê gớm của nó trên lá khô của rừng. Khi ngã xuống Savonarola Mold không thả cái rìu ra. Tuniade cố giật cho kỳ được. Nhưng các ngón tay của gã thợ rừng bám chặt vào cái rìu như dính liền vào nó. Cánh tay và rìu chỉ còn là một vật. Phải chặt tay mới có thể lấy được cái rìu.
“Đưa tao cái rìu của mày” Tuniade ra lệnh, mặt giận dữ.
Sava tỉnh lại một cách từ từ, một cách yếu ớt. Gã chỉ có một phản ứng tự vệ, lật úp mình, mặt sát đất, giấu cái rìu dưới ngực, và bảo vệ nó với sức nặng của thân hình gã.
Lão Phanariote đứng lên, với đôi bốt của lão, trên thân hình nằm dài của Sava Mold, như người ta đứng lên trên một thân cây. Lão chà đạp gã, đánh đập gã. Xương thịt của Sava cầm cự, chịu đựng. Bất động, bây giờ gã đã kiệt sức và gã cảm thấy cái rìu còn được bảo vệ dưới ngực của gã, ý nghĩ duy nhất của Savonarola Mold là chịu đựng càng lâu càng tốt. Gã muốn chịu đựng các đòn côn, cho tới lúc lão Phanariote nguôi cơn giận dữ. Cho tới lúc lão Phanariote mệt nhừ vì ra sức đánh đập. Savonarola Mold vì có lòng tin tuyệt đối vào khả năng chịu đòn của lão. Xương thịt lão đã quen rồi. Từ hàng thế kỷ và hàng thế kỷ, dòng họ Mold bị người ta đánh đập, và họ đã quen chịu đựng. Gã giấu cái đầu và cái rìu. Chỉ cái đầu và cái rìu mà thôi. Cái đầu, để khỏi nhận một đòn chí mạng vì như thế gã sẽ để lại vợ góa con côi. Cái rìu, vì đó chính là mạng sống của gã. Không có rìu là chết.
Một đòn côn của lão Phanariote vào cột sống, phía dưới ót, Sava đau quá phải lật ngửa người lại. Bây giờ gã nằm ngửa. Lão Phanariote nhảy lên bụng gã. Và với gót giày sắt của đôi bốt. Tuniade chà đạp bộ phận sinh dục của Sava Mold, như người ta chà đạp nho trong cái bàn ép. Đây là một sự đau đớn tột cùng. Sava ngất xỉu. Gã bất tỉnh. Các bắp thịt giãn ra, giãn,ra. Hai bàn tay to của gã không xiết cái rìu đủ chặt như trước. Trông như nửa ngủ nửa thức - kiệt sức, như trong một giấc mơ - Savonarola cảm thấy lão Phanariote vừa chà đạp bộ phận sinh dục của gã với gót giày sắt vừa giựt cái rìu ra khỏi bàn tay của gã. Cái rìu đã mất. Tuyệt vọng, Sava tập trung tất cả sức lực của mình và quỳ gối. Gã không còn có cái rìu nữa. Gã ôm hôn đôi bốt của lão Phanariote đã chà đạp gã một cách dã man và phi lý.
Gã nói với lão:
“Ngài hãy đánh tôi bao nhiêu cũng được, tôi van xin ngài, nhưng ngài đừng lấy cái rìu của tôi! Ngài muốn làm gì tôi cũng được. Nhưng xin ngài đừng giết tôi và đừng lấy cái rìu của tôi”.
Một cú mạnh hơn các cú khác, một cú nện xuống với chính cái rìu của Sava, buộc gã phải nằm dài xuống trở lại. Gã té ngửa xuống trên mặt đất. Sự ẩm ướt của rừng, như thấm vào thân cây cối. Nó đánh thức con người dậy, trong một cái giật nẩy người mà tất cả những người hấp hối trên thế gian đều có trước khi chết. Sava vùng dậy, quỳ trên hai đầu gối. Gã lăn mình như một con báo, với tất cả sức nặng của thân hình gã, vào lão Phanariote đang đứng trước mặt gã. Savonarola Mold giựt cái rìu khỏi tay lão. Gã không còn sự sống nữa, nhưng gã đã sống lại, duy nhất là để lấy lại cái rìu. Bây giờ Sava cần cái rìu, nhưng gã biết rằng sẽ không giữ nó được lâu. Gã sắp sửa ngất đi trở lại. Gã bị thương nặng và bầm dập cả người. Gã không thể bảo vệ cái rìu của gã được nữa. Để lão Phanariote khỏi giựt cái rìu nữa, gã tiêu diệt kẻ đe dọa gã. Gã loại trừ kẻ lợi dụng sự kiệt sức của gã để tước đoạt mạng sống của gã và cái rìu của gã. Tập trung các sức lực cuối cùng của mình, Savonarola Mold bửa cái đầu lão Phanariote, với nhiều nhát rìu liên tiếp. Gã bửa cái đầu ấy như bửa một trái dưa. Cái đầu xức nước thơm, đầu nhuận da, mướt tóc, nhưng rỗng bên trong ấy vỡ ra từng mảnh. Sava Mold không thấy gã đã làm gì. Gã đã đập vỡ cái đầu đã vỡ ra như một trái cây. Một tội ác có tính súc vật... Các quan tòa và báo chí đã nói như thế. Bửa xong cái đầu thơm của lão Phanariote, Sava Mold kiệt sức. Gã ngã gục xuống trên xác lão. Gã bất tỉnh trong sáu giờ liền. Mười phần chết không có lấy một phần sống. Trên mặt đất. Khi tỉnh lại, Sava đã lấy cái rìu sau khi đã lau sạch nó. Gã đã đến sở cảnh sát và kể lại với tôi tất cả những gì đã xảy ra. Cũng như tôi, bây giờ kể hết cả cho ông thẩm phán nghe. Tôi đã đi với Sava tới hiện trường. Tôi kiểm tra các sự kiện. Đúng như Sava đã thuật lại. Bác sĩ Pillat đã khám cái bộ phận sinh dục nát bét của Sava. Ông đã nói nguyên văn như sau “Nát như những trái nho trong bàn ép. Trống rỗng”. Tôi điện thoại cho ông biện lý. Ông ra lệnh cho tôi giải Savonarola đến tòa án tỉnh. Cho cảnh sát viên vũ trang áp giải một cách chu đáo. Tôi đã cho giải Sava Mold đi, nhưng tôi đã không còng tay gã. Tôi đã thấy là không công bằng, không thích đáng và không cần thiết. Và Sava Mold đã bị kết án khổ sai chung thân đày đi các hầm muối. Gã còn đang ở đó.
- Và đó không phải là một vụ giết ngươi? - Thẩm phán Cosma Damian hỏi.
- Không - Cảnh sát trưởng Fillaret đáp - Đó là một tai họa. Và cái chết của Tuniade Cha là một vụ tự sát. Sự khiêu khích khủng khiếp, kinh khủng và không thể tránh được, đã đến cái mức mà nếu chỉ là cái rìu riêng thôi, mặc dù nó là một vật bằng sắt, cũng bửa cái đầu lão Phanariote ra. Chính lão đã yêu cầu cái rìu bửa đầu lão. Lão đã làm tất cả những gì để mà chết. Đối với tôi khi một người gây ra cái chết của mình, người ấy phạm tội tự sát. Antoine Tuniade Cha đã tự mình gây ra cái chết của mình, một cách tỉ mỉ với một ý chí độc ác. Lão đã khởi phát cho cái rìu của Sava chuyển động giống như đã bóp cò một cây súng. Vì lẽ ấy, người ta không thể buộc tội Sava đã phạm tội giết người. Ngoại trừ Đức Chứa Giê-su ra. Vì ngài là Chúa và duy nhất chỉ vì Ngài là Chúa, còn bất cứ vị thánh nào, từ trên lịch bước xuống, cũng sẽ hành động như Sava Mold. Vì không phải con ngươi Sava Mold đã sử dụng cái rìu. Đó là bắp thịt, là thịt, là xương của gã, đã bị nhiễm độc của sự đau đớn, của sự bất công và sự tấn công.
- Vì sao ông đã dối tôi cho đến bây giờ? - Ông thẩm phán hỏi - Đêm nay, con trai của Tuniade đã bị giết. Có một sự liên hệ giữa cái chết của người cha với cái chết của người con, đó là điều hợp lý luận.
- Không có sự liên hệ nào giữa hai sự kiện ấy. Tôi biết rằng ông cũng như bất cứ người nào chỉ tuyệt đối đi theo con đường được gọi là hợp với lý luận, rằng ông sẽ thấy có sự liên hệ ấy. Nhưng đó là một đường thám thính sai. Không có sự liên hệ nào cả. Cái chết của người cha là một tai họa, do chính lão gây ra. Các tai họa, cũng như các trận phun núi lửa của hỏa diệm sơn, không lập lại như cũ.
- Kẻ giết Tuniade Cha bây giờ ở đâu? - Ông thẩm phán hỏi.
- Ở nhà tù khổ sai. Tôi đã nói với ông rồi. Tòa án binh đã kết tội nó.
- Nó có gia đình ở đây không? Nó có trong thành phố, con cái, anh em, bà con hay bạn bè muốn trả thù cho nó không? Và ai, để trả thù cho nó, có thể ra tay giết Tuniade Con?... Đó là con đường chính để tìm ra thủ phạm. Nhất thiết phải điều tra theo hướng ấy. Đó chính là nơi cuộc điều tra đáng lẽ ra phải bắt đầu.
- Đó chỉ là một sự phí phạm thời giờ - Cảnh sát trưởng Fillaret nói - Tại đây không có kẻ sát nhân. Savonarola Mold không phải là một tên sát nhân. Nhưng nếu ông đinh ninh muốn điều tra theo hướng đó, tôi sẵn sàng tuân lệnh ông. Hãy cho tôi biết tôi phải làm gì, tôi sẽ làm.
- Chúng ta phải điều tra gia đình của Sava Mold. Chúng ta phải hỏi cung vợ nó, con nó, tất cả bà con, bạn bè nó. Một người trong bọn chúng, không nghi ngờ gì nữa, đã giết Tuniade Con. Vì người con đã bị giết một năm sau người cha.
- Tôi xin đi theo ông - Cảnh sát trưởng Fillaret nói - Xin ông thứ lỗi vì tôi đã dông dài. Tôi đã thưa với ông rằng, tôi là một người dân ở Petrodava. Một người bất tử ở đây. Hoàn cảnh đã đưa đẩy tôi làm việc trong ngành cảnh sát. Người ta đã bổ nhiệm tôi vào ngành này vì như tôi đã nói với ông rồi, vì tôi đã thi hành nghĩa vụ quân sự trong ngành hiến binh. Hơn nữa, tôi có đi học. Người ta muốn có ở đây một thanh tra cảnh sát là người địa phương. Và người ta đã yêu cầu tôi nhận nhiệm vụ ấy. Tôi là người duy nhất có khí giới ở giữa những người không có khí giới. Nhưng dầu có khí giới, tôi cũng giống như các người bất tử khác ở đây. Một người Bất tử. Một con người.
0
XIV
Mở cuộc điều tra tại cái nhà không có rìu
 
Ông thẩm phán trẻ Cosma Damian không xúc động quá đáng vì câu chuyện kể của cảnh sát trưởng Fillaret. Ông giận dữ.
- Ông cảnh sát trưởng, bổn phận sơ đẳng nhất của ông là phải cho tôi biết vụ án Sava Mold. - Ông thẩm phán nói.
Mặc áo quần ấm áp, ông bước lên xe của xà ích Ismail để đi điều tra tại nhà tên tù khổ sai. Ông cảnh sát trưởng ngồi im lặng bên cạnh ông thẩm phán. Ông thẩm phán nói tiếp.
- Sự im lặng của ông là không thể tha thứ được. Cha và con đã bị giết trong cùng một năm. Gần như cùng một năm. Là điều hợp lý khi suy đoán rằng cả hai cha con đều bị cùng một bàn tay hạ sát. Chắc chắn đây là một vụ trả thù. Theo lối những mối thù truyền kiếp. Những tội ác dây chuyền. Như thường xảy ra trong tất cả những vùng lạc hậu. Đáng lẽ ông phải cho tôi biết sự việc, ngay từ lúc đầu. Dù tại địa phương, Savonarola Mold được xem như một nạn nhân và một người chịu cực hình, thì sự việc ấy không đáng quan tâm. Đối với pháp luật, gã là một tên sát nhân. Đáng lý ông phải cho hay ngay từ lúc đầu.
Chiếc xe trượt tuyết do hai ngựa bạch kéo leo lên con đường Tình Yêu. Vì nhà tên tù khổ sai không xa lâu đài bao nhiêu. Hai bên con đường Tình Yêu, có ánh đèn nơi cửa sổ các ngôi nhà nhỏ. Trời đã gần sáng nhưng không ai tắt các cây đèn dầu lửa. Trong những giờ lo âu, người ta cảm thấy cần để đèn thắp sáng. Bây giờ người ta thấy rõ hơn con đường Tình Yêu. Con đường uốn khúc quanh co ở giữa thành phố, dốc cao dần, như một ruy-băng trắng hai bên viền những điểm xanh, những cây tùng. Một cái ray-băng uốn khúc bên trên thành phố hướng lên cao và theo phía Tây. Agapia như một hải cảng núi xuống tới tận đường sắt để gặp đồng bằng giống như gặp biển. Vì vùng ở phía Đông đường sắt khác hẳn vùng phương Tây như thể biển khác với đất liền. Ở phương Đông đất màu đen, mầu mỡ, bằng phẳng. Phương Tây, núi cao như một bức tường, đất và đá cứng. Phương Đông về mùa hè có muỗi mồng, bụi bặm. Phương Tây, trên con đường Tình Yêu, không bao giờ có bụi, gió quét sạch tất cả và thổi bụi xuống đồng bằng. Thỉnh thoảng, những đám mây bị gió đẩy và giống như những tấm khăn lông ướt khổng lồ, chúng lau sạch đá, nhà cửa và không khí. Hai vùng Đông Tây khác nhau thế nào thì dân chúng ở hai vùng Đông Tây cũng khác nhau thế ấy. Phương Đông, trên đồng bằng mầu mỡ, dơ bẩn, bùn lầy và giàu có là những con người lùn, béo, má tròn trịa; họ thích tiền bạc và cuộc đời, và mặt họ hớn hở. Phương Tây, trong các ngôi nhà nhỏ ở hai bên con đường Tình Yêu, đàn ông, đàn bà đầu cao, gầy, gần như không có thịt và vẻ nhìn khắc khổ. Họ rất ít tha thiết với đời sống trần tục và với dục tình. Họ mơ ước một vương quốc tốt đẹp hơn.
Dân miền núi ở suốt dọc theo con đường Tình Yêu, và dân ở dưới đồng bằng gặp nhau tại thành phố Agapia, hoàn toàn giống dân miền biển gặp dân đất liền tại một hải cảng.
- Người ta đã giết Tuniade Cha và Tuniade Con vì cùng một lý do - Ông thẩm phán nói - Thật rõ ràng. Người ta giết họ vì họ là những người độc ác. Đó là tên Phanariote khát máu. Đây là một tội ác có tính xã hội. Một sự trừng trị những tên độc ác khát máu.
- Không, thưa ông thẩm phán - Cảnh sát trưởng Fillaret đáp - Tôi đã nói với ông rằng chúng tôi không giết những tên độc ác khát máu. Không phải chúng tôi là những kẻ hèn nhát, hay là chúng tôi bằng lòng sống trong sự bất công và trong vòng nô lệ; nhưng chúng tôi không sống chung đụng với những tên độc ác khát máu ấy mặc dù chúng tôi luôn luôn cảm thấy roi vọt của chúng trên da thịt chúng tôi. Rễ của chúng tôi là ở trên trời, cao hơn lịch sử và lãnh địa của những tên Phanariote độc ác; cũng giống như con đường Tình Yêu mà chúng tôi ở cao hơn đồng bằng...
- Dù sao thì tên sát nhân cũng là một người ở đây - Ông thẩm phám nói - Giả thiết của ông về một người lạ mặt đến bằng xe lửa đã bị loại trừ. Tên sát nhân là người ở đây, nó có điều gì đó phải trả thù, một điều gì đó phải nghiêm trọng, trách cứ gia đình Tuniade.
- Tất cả mọi người ở đây đều có một điều nghiêm trọng trách cứ gia đình Tuniade. Từ hằng thế kỷ, chúng chỉ làm điều xấu điều ác... Công việc của chúng là điều xấu, điều ác đối với mọi người. Và khắp cả mọi nơi.
- Thí dụ, gia đình Sava Mold cũng có những lý do để giết Tuniade Con, phải không nào?
- Không, thưa ông thẩm phán. - Cảnh sát trưởng Fillaret nói.
Ismail cho xe ngừng lại. Trước mặt, trên mỏm núi đá, là lâu đài được đánh bạc. Bên mặt trong rùng thưa, một nhà bằng gỗ, gần như bị chôn vùi dưới tuyết.
- Đây là nhà của Sava Mold - Cảnh sát trưởng Fillaret nói - Ở đó ông muốn tìm tên sát nhân. Ông vẫn luôn luôn muốn tới đó?
- Chắc chắn là tôi muốn tới đó! - Ông thẩm phán đáp.
Ông thẩm phán nhảy xuống. Ông nói:
- Chúng ta phải tìm ở đây cái chìa khóa của vụ án bí mật và dấu tích của tên sát nhân.
- Đây là một cuộc điều tra không thích hợp. Và nó sẽ không đem lại kết quả gì cả, xin ông hãy tin lời tôi.
- Ông quyết định nó là không thích hợp. Và tôi đã quyết định trái lại.
- Thưa ông thẩm phán, các đứa trẻ con của gã Savonarola Mold đáng thương đã rơi vào tình trạng dã man. Chúng hoàn toàn đần độn vì những khổ cực về thể xác và tinh thần. Đã lâu rồi chúng trần truồng. Chúng không có gì che thân. Chúng sống trần truồng như súc vật. Mẹ chúng, vợ của Sava Mold cũng trong tình trạng dưới mức của một con người. Bà ta sống với các con của bà như thú vật. Ngay cả vị linh mục rất đáng tôn kính, Cha xứ Nikodim của chúng ta, cũng bực mình khi nói với họ. Chẳng khác nào người ta nói với thú vật. Không nên tới đó, thưa ông thẩm phán!
- Hãy đi tới đó, ông cảnh sát trưởng. - Thẩm phán Damian nói.
Cảnh sát trưởng Fillaret xuống xe, có một lần nữa ngăn cản ông thẩm phán:
- Nói cho cùng, vì sao ông nhất định muốn tới nhà Sava Mold? Ông muốn hỏi gì. Các người khốn khổ ẩy? Vì sao ông muốn hành hạ họ? Đây là một điều ác không cần thiết mà ông làm đối với họ. Một điều ác sẽ chẳng có ích lợi gì cả. Vợ Sava Mold gần như điên khùng và bệnh rất nặng. Bà ta sống, nhốt mình trong nhà với sáu đứa con đều dưới mười hai tuổi, cả mẹ và con chẳng bao giờ ra khỏi nhà. Tất cả đi chân không, thân thể trần truồng. Làm sao họ có thể ra khỏi nhà trong cái lạnh này và có thể giết người lính trẻ kia? Họ không phải là những người có đủ khả năng để giết một người lính. Trong nhà này có một người đàn bà điên và sáu đứa con giống như thú hoang. Tới đó là không hợp lý!... Ông muốn tìm tên sát nhân trong bọn họ sao, thưa ông thẩm phán?
- Phải đi tới đó và xem chúng nó ghê gớm như thế nào - Thẩm phán Damian đáp - Họ là kẻ thù ghê gớm nhất của cha con Tuniade. Cuộc điều tra phải bắt đầu từ họ, tên sát nhân chắc chắn là trong những người thân thích của họ.
- Tùy ông. - Cảnh sát trưởng Fillaret nói.
Ông tiến bước, trong tuyết, bên cạnh ông thẩm phán. Trước mắt họ, một cái nhà nhỏ đơn độc. Bằng gỗ, như tất cả các nhà khác ở đây. Một cái nhà đẹp. Người ta chỉ thấy những cái nhà giống như thế ở Petrodava và tại các nước ở bán đảo Bắc Âu. Trang trí như một cái nhà của búp bê. Chính Savonarola Mold đã tự tay cất lấy nhà này, chỉ dùng độc nhất cái rìu của gã. Mái nhà lấp lánh như những hạt kim cương và ngọc bích, dưới các tia nắng đầu tiên của mặt trời.
Một làn khói dày bốc lên từ mái nhà, lan ra xung quanh.
- Họ đốt lửa trong nhà? - Ông thẩm phán hỏi.
- Không, nhà ở xứ chúng tôi không có khói, thưa ông thẩm phán. Nhà không có ông khói, nguyên nhân là vì các quan cai trị Phanariote. Không biết đánh thêm thứ thuế gì nữa, họ đặt ra thuế ống khói. Một thứ rất nặng. Nhà nào có một cái ống khói phải nộp một suất thuế bổ túc mà người ta gọi là thuế khói. Quá nghèo không thể nộp thứ thuế mới này, dân chúng ở Petrodava phá các ống khói trên các mái nhà của họ. Kể từ đó, không nhà nào có ống khói. Khói bốc lên trong vựa, và từ vựa thoát ra theo các kẽ hở, và nhất là theo chung quanh mái nhà. Như ông thấy đó.
Hai ông bước tới. Chung quanh nhà không một dấu vết người hay thú vật. Tuyết cao gần bằng nhà.
- Ông thẩm phán thấy đó, không có lấy một dấu chân. Không ai vào nhà này và không ai ra khỏi nhà này.
Cửa và cửa sổ bị che một nửa bởi tuyết. Các ô vuông của cánh cửa dơ bẩn, đục và dán giấy báo. Người ta không thấy gì xuyên qua các ô vuông ấy. Rất khó nhọc, cảnh sát trưởng Fillaret mới tới được cửa.
- Thưa ông thẩm phán, đây là nhà của Savonarola Mold.
Ông đẩy cửa, không gõ cửa. Trong lúc cô mở cái cửa bị đóng băng, bị nghẽn vì tuyết, cảnh sát trưởng Fillaret nói với ông thẩm phán:
- Đáng tiếc, chúng ta đã phí phạm thời giờ để đến đây!
Cửa chắc chắn quá. Cảnh sát trưởng Fillaret nhìn nó với vẻ khâm phục và hãnh diện. Ông nói:
- Savonarola là thợ mộc giỏi nhất trong vùng. Ông hãy xem gã đã làm cái cửa tốt đến thế. Chắc chắn và đẹp. Tội nghiệp, gã ta là một người thợ mộc rất khéo tay!
Cảnh sát trưởng Fillaret thở dài:
- Sava thích xẻ gỗ biết bao! Và bây giờ gã xẻ muối, tội nghiệp.
Cảnh sát trưởng Fillaret đẩy thật mạnh, cửa mở ra. Hai người vào trong nhà. Nhà chỉ gồm có một phòng. Lò sưởi chiếm hết nửa phòng. Trong lò sưởi có đốt lửa. Bên cạnh, một thùng ton-nô đựng nước đầy một nửa; người ta để thùng tại đó để nước khỏi đông lại ban đêm. Bên trên lửa có treo một cái nồi lớn đen thui. Trong nồi cháo bắp mamaliga đang sôi. Đó là một hỗn hợp nước, bắp và muối. Đó là món ăn hàng ngày, món ăn độc nhất thay thế bánh mì, thịt và tất cả. Bên cạnh nồi, một người đàn bàn đứng, tóc xám xịt và bờm xờm. Vẻ nhìn cũng lộn xộn như đầu tóc. Bà ta mặc một cái áo sơ-mi vải lanh vô cùng dơ bẩn và rách rưới, và một cái váy bằng bao gai. Mặt vàng khè, xương xóc và nhăn nheo. Người ta có thể nói rằng đó là một cái mặt nạ của người điên. Cũng là mặt nạ của một người tuyệt vọng, vẻ nhìn cũng xám xịt như đầu tóc, không chải và không gội. Hình dáng không có đường nét rõ rệt vì trong phòng mù mịt hơi nước và khói quyện vào nhau dầy đặc. Lại nữa, các kính cửa sổ đều mờ. Ánh sáng từ ngoài lọt vào, mờ đi vì qua các ô kính mờ, cộng với ánh lửa, trong cái không khí đầy hơi nước ấy, làm nhức mắt. Trong nhà rất nóng. Một cái nóng nghẹt thở, ẩm ướt không thể nào chịu được. Người ta tưởng là đang ở trong phòng tắm hơi. Và là hơi nước hôi thối. Kính cửa sổ, phần lớn đều bị vỡ được vá dán lại bằng giấy báo. Người ta có thể nói đây là một bối cảnh giả tạo trên sân khấu bi kịch, bối cảnh về sự khốn cùng, đói khát, đau khổ và sa đọa.
Sát vào tường, gần bên lò sưởi [1] là các đứa trẻ. Chúng núp tất cả. Tường, xưa kia quét vôi, bây giờ đen đúa, ẩm ướt và nhầy nhụa. Một đứa trẻ rụt rè bước tới, trùm một cái áo sơ-mi bằng vải bao gai, dài, dơ bẩn, tóc rất dài và rối. Nó gầy một cách kinh khủng. Như một bộ xương. Hai bắp vế của nó là hai cái xương dài, nhỏ và dơ bẩn. Nó có một vẻ nhìn dữ tợn và ngơ ngác. Một vẻ nhìn của một con thú muốn cắn nhưng sợ. Đột nhiên nó kêu:
“Salve” [2] Nó cười to. Như thể đã liệng một cái pháo nổ. Cũng trùm những cái áo sơ-mi dài, như những cái bao gai, luôn luôn với vẻ rụt rè, sáu đứa trẻ con lần lượt bước tới phía trước, đứa nào cũng gầy, dơ bẩn, đi chân không và chỉ khác nhau về chiều cao. Tất cả đứng im lặng một lúc, có vẻ sợ hãi. Sau đó, chúng ré lên, răng nghiến nghe răng rắc như nước đá bị đập nát ra.
“Salve”. Sau tiếng kêu ấy, chúng ré lên cười, cái cười điên loạn, nhìn đăm đăm vào cảnh sát trưởng Fillaret và thẩm phán Damian với những con mắt như những mũi dao, và chúng xô đẩy nhau trốn vào sau lò sưởi. Giống như những con mèo chun vào một cái lỗ ở dưới đất. Nhưng đó không phải là những con mèo con mà là những đứa trẻ. Chúng không hề biết đến lược, đến xà phòng, đến cái kéo của thợ hớt tóc. Thật hết sức lạ lùng khi nghe từ miệng chúng cái tiếng chào mà các ông chủ cũ của thế gian, người La Mã, đã dùng để chào nhau. Tiếng “Salve” của những người La Mã đi chinh phục thế giới đã biến mất với đế quốc La Mã. Không còn ai ngày nay còn dùng tiếng chào ấy, ngoại trừ con cái của tên tù khổ sai Savonarola Mold và các người ở Petrodava.
- Salve, các con. - Ông thẩm phán nói.
Không ai đáp lại. Im lặng một lúc. Như trong các nghĩa địa. Trong gian phòng này sự im lặng còn tồi tệ hơn cả khói và hơi nước hôi hám. Bầy con của Sava Mold sợ. Vì vậy chúng im lặng. Chúng không quen nghe người ta nói với chúng. Sau những phút đầu tiên sợ hãi, chúng thấy kỳ cục làm sao ấy cho nên chúng cười rú lên như bị bệnh tâm thần. Tiếng cười giống như kính bị vỡ ra vì bị người ta chà dưới giày bốt gót sắt. Những dây phát âm của mấy đứa trẻ này, cổ họng đói khát của chúng, không phát ra được tiếng nói bình thường của trẻ con, giọng nói thiên thần của trẻ con.
- Thưa các ông, đây không phải là những đứa con nít. Đó là những con rắn nhỏ. Những con rắn độc. - Người đàn bà nói.
Bà ta buộc các đứa trẻ im lặng. Bà đưa cái dùi gỗ dính bắp nóng lên dọa, cái dùi mà bà ta dùng để khuấy cháo trong nồi. Các đứa trẻ nín thinh, không dám thở. Sáu đứa trẻ lúc nhúc như dòi trong một vết thương, ở giữa gian phòng hôi hám đến nghẹt thở, ép sát vào nhau. Chúng sợ. Người ta không thấy chúng, nhưng người ta có thể đoán rằng chúng ép sát vào nhau như những hạt nho.
Ở đây, cái dùi của bà mẹ không phải là một sự đe dọa suông, vì sợ cái dùi nóng, các đứa trẻ không nhúc nhích và im lìm, như những chú gà con trong trường hợp hiểm nguy. Tai chỏng lên để nghe ngóng, mắt đen, nảy lửa và lấp lánh. Đây là cái nhìn của những con hươu cái nhỏ đứng trước người săn. Cái nhìn mà những con sóc nhìn vào họng súng đang ngắm bắn chúng, như chúng đợi súng nổ. Nhưng hôm nay không có tiếng súng. Chỉ có ông cảnh sát trưởng và ông thẩm phán đến tìm tên sát nhân đêm ấy.
- Lạy Chúa tôi, các ngài muốn gì, thưa các ngài phúc đức? - Người đàn bà hỏi.
Bà ta để cái dùi vào trong nồi cháo mamaliga đang sôi. Không bao giờ tiếng La Tinh lại vang lên một cách lạ lùng trong cái miệng của người đàn bà đau khổ đến phát điên ấy; bà ta nói như các người La Mã xưa kia. Bà ta nói: “Dommii mei, Cruce, Salve” [3]. Bà ta dùng hàng trăm chữ xưa kia của người La Mã, chủ nhân của thế giới ngày xưa, những chữ mà người ta không còn dùng ở bất cứ nơi nào nữa trên trái đất, ngoại trừ ở nơi này. Đó là tiếng La Tinh, thứ tiếng lẫy lừng một thời của đế quốc La Mã, một thứ tiếng đóng băng. Không có gì thay đổi ở đây ngoại trừ sự cực khổ và sự bất công, cứ mỗi thế kỷ lại trở thành to lớn hơn...
- Dommii mei, các ngài muốn gì? - Người đàn bà lại hỏi.
Bây giờ bà ta sợ. Còn hơn các con của bà ta nữa. Bà ta run cầm cập với tất cả thân hình như bộ xương người của bà ta. Nhưng bà ta nhất quyết chống cự với bất cứ giá nào. Bà sợ là đúng, trong cái nhà này, bao giờ cũng đến từ bên ngoài toàn là những cuộc viếng thăm xấu, những tin tức xấu, không bao giờ tốt. Cuộc viếng thăm cuối cùng xảy ra đây cách mười bốn tháng. Hiến binh đã đến đây với người cha, người chồng Sava Mold.
Và gã ta, người cha của sáu đứa con này, người chồng của người đàn bàn này, gã tay bị còng tay, xiềng chân, Sava bị xiềng xích như tất cả những tên sát nhân. Người ta áp giải lão về nhà để khám xét và điều tra. Cuộc viếng thăm cuối cùng của người cha bị xiềng xích ấy đã làm các đứa con sợ khiếp suốt đời. Cái cảnh người cha bị xiềng xích, đầy thương tích và máu khô, đã quyết định thái độ mà các đứa con của Sava Mold sẽ có, suốt cuộc đời của chúng, đối với tất cả những người bên ngoài, tất cả nhân loại. Từ ngày hôm ấy, các đứa trẻ này chỉ biết một điều: rằng chúng là con một tên giết người. Rằng cha chúng là một tên giết người. Rằng cha chúng đã bửa, với cái rìu của mình, cái đầu to của lão ác ôn Phanariote Tuniade ra ngàn mảnh, như người ta bửa một trái dưa. Rằng cha chúng đã nhắm mắt làm như thế, vì đau đớn đến phát điên, vì không còn chịu đựng được nữa các gót giầy sắt của lão Phanariote cày xới bụng của cha chúng.
- Dominii mei, các ngài muốn gì? - Người đàn bà hỏi lần thứ ba.
Dữ tợn sẵn sàng nhảy tới, móng tay đưa ra trước, như một con gà mái điên tiết, chống lại người lạ mặt xâm nhập vào hang, nơi nuôi các con gà con của nó. Dữ tợn như những con chim đói và sợ. Smaranda Mold càng lúc càng dữ tợn, càng lúc càng như chim hơn càng lúc càng ít giống đàn bà hơn. Ngay cả gương mặt bà ta cũng có những nét của một con chim và mất đi những nét của phái nữ Smaranda Mold không bao giờ có được cuộc đời tươi như hoa. Nhưng từ khi xảy ra cái chết của lão Phanariote, đời sống của bà ta hoàn toàn là ở trong hang. Chồng bà ta làm việc ở trong rừng. Gã là thợ đốn củi. Gã làm việc trong rừng, suốt cả mùa đông. Vì người ta phải đốn cây vào mùa đông mới có thể kéo cây trượt trên tuyết cho đến bờ sông.
Trong tất cả các mùa đông của đời gã Savonarola Mold đã ngủ trong những cái hầm lạnh bốn mươi độ âm, cũng như tất cả các thợ rừng. Gần như là ở ngoài trời. Cũng như các thợ rừng khác, gã mắc những chứng bệnh phong thấp, bệnh phung điên, chứng tê buốt, bệnh lao... Cuộc sống trong nhà một người thợ rừng luôn luôn u ám. Mặc dù vậy, sau khi xảy ra cái chết của lão ác ôn Phanariote và sau khi chồng bà ta bị lưu đày. Smaranda Mold đã xem cuộc sống trước đó như sống trong một thiên đường. Mỗi buổi tối thứ bảy, hay mỗi buổi sáng Chủ nhật, chồng bà ở trên rừng xuống. Sava vào nhà. Sava ở đây, trong gian phòng này, và chỉ sự hiện diện ấy là cả một lễ rất lớn. Sava có mặt ở đây, đó là thiên đường. Sava đem về vài xu và một cái gì để ăn. Rất ít xu. Và rất ít đồ ăn, không bao giờ người ta ăn no trong nhà này. Nhưng dù sao cũng là một lễ rất lớn. Sava có mặt. Sava người chủ gia đình, người cha, người chồng Sava là mặt trời. Bây giờ mặt trời bị xiềng xích dưới đất, người ta đã chôn mặt trời.
- Domnii mei, đúng rồi! - Smaranda Mold đột nhiên kêu lên.
- Gì vậy? - Ông cảnh sát trưởng hỏi.
- Đúng rồi người ta xiềng xích mặt trời! Mặt trời của tôi. Bây giờ mặt trời ở dưới hầm muối sâu dưới đất.
Smaranda Mold nắm tay lại tự đánh vào trán mình. Bà ta nấc lên, sự đau đớn của bà ta bùng lên. Đột nhiên bà ta ngừng khóc. Bà ta vùng lên dữ tợn trở lại.
- Tôi đã hỏi các ông, các ông muốn gì?
Bà ta cầm cái dùi nóng trong nồi. Bà ta chờ câu trả lời.
Thẩm phán Cosma Damian vô cùng bối rối. Ông hối tiếc đã đến đây. Ông hối tiếc đã không nghe theo những lời khuyên của ông thanh tra Filaret. Ông những muốn đi đâu cho khuất mắt, đi đâu cũng được. Vì cái cảnh khổ ải, đau đớn và suy sụp, sự thất thế của con người, của bất cứ con người nào, làm mất phẩm giá của toàn thể các con người khác của toàn thể loài người. Sự nhục nhã, mất phẩm giá của chỉ một con người hay một nhóm người là một điều nhục mạ, một vết nhơ, một sự tổn thương đối với toàn thể loài người. Ông thẩm phán nhận thức điều ấy và muốn nói. Nhưng ông bắt gặp những cái nhìn của người đàn bà, những cái nhìn nảy lửa như những giọt axit sulfuric, sắc như mũi gươm. Ông thẩm phán cảm thấy các mũi ấy trên ngực mình. Cùng một lúc mà những cái nhìn của người đàn bà làm tổn thương ông thẩm phán, như những mũi gươm, ông còn cảm thấy thêm những cái nhìn khác cũng làm tổn thương như các cái nhìn của người đàn bà. Đó là những cái nhìn của sáu đứa trẻ. Tất cả, chúng ra khỏi chỗ ẩn núp của chúng và chúng nhìn ông thẩm phán. Như thể chúng muốn đóng đinh ông vào cây thập tự, với cái nhìn của chúng, giống như cái đinh cháy trắng.
- Bà có tin tức gì của chồng bà không? - Ông cảnh sát trưởng hỏi.
Ông thấy rằng, ông thẩm phán không thể mở miệng. Ông thẩm phán tái mặt, nghĩ rằng cuộc điều tra về vụ án đêm vừa rồi không nên tiến hành ở đây, ở nơi này. Người đàn bà này không thể nào đã giết Tuniade Con trước lâu đài. Người đàn bà này không có quần áo ấm. Ngươi đàn bà này không bao giờ ra khỏi nhà. Suốt mùa đông bà ta bị tù trong nhà vì lạnh. Giống như chồng bà bị tù ở dưới đất vì luật pháp. Người này và người kia đều bị nhốt trong những nơi mà ở đó ánh mặt trời không lọt vào được. Các đứa trẻ con cũng là tù nhân, tù nhân được hưởng một chế độ ưu đãi. Những đứa lớn nhất trong sáu đứa, những đứa có thể đi được, thỉnh thoảng có đi ra khỏi nhà. Nhưng mỗi lần chỉ một đứa đi. Nó xin ăn nơi Cha xứ Nikodim. Chúng có thể đi từng đứa một, vì trong nhà chỉ có một cái áo măng-tô duy nhất cho sáu đứa. Một cái mũ duy nhất cho sáu đứa. Một cái quần duy nhất cho sáu đứa. Vì vậy chúng thay phiên nhau mặc những thứ ấy. Cha xứ Nikodim đã cho chúng bộ đồ ấy, một bộ đồ duy nhất cho cả sáu đứa. Để ít ra một đứa trong bọn chúng có thể đi ra ngoài và đi ăn xin.
- Mụ có nhận được tin tức gì của chồng mụ hay không? - Cảnh sát trưởng Fillaret nhắc lại.
- Tin tức loại nào? - Người đàn bà hỏi.
Đôi mắt bà ta lại trở thành như những mũi dao, như những giọt axit sulfuric. Smaranda Mold một lần nữa sẵn sàng nhảy bổ vào hai người đàn ông lạ mặt. Bà ta đang trong tư thế đề phòng, để tự bảo vệ và bảo vệ con của bà.
- Có nhận được thư từ gì không? - Cảnh sát trưởng Fillaret hỏi.
- Ai viết thư cho tôi?
- Sava, chồng mụ. Sava có viết thư cho mụ không?
- Sava chồng tôi, không biết viết. - Người đàn bà đáp - Ông biết rõ là chồng tôi không biết viết. Vì sao ông hỏi tôi như thế? Ông hãy nói cho tôi biết ông muốn gì?
- Tôi đã hỏi chồng mụ có gởi thư cho mụ không? Vì chồng mụ có thể nhờ một người bạn viết. Đó là việc bình thường. Khi một người không biết viết thì có một người bạn viết giùm cho.
- Vì sao ông muốn một người bạn của Sava viết thư cho tôi?
- Để cho mụ biết tin.
- Tôi không biết đọc. Vì sao người ta biết tôi không biết đọc mà lại gởi thư cho tôi?
- Để cho mụ biết Sava đang làm gì. Đến lượt mụ, mụ có thể nhờ một người nào, thí dụ Cha xứ Nikodim đọc thư cho mụ nghe.
- Sava biết rằng tôi biết Sava đang làm gì. Sava khai thác muối trong các đường hầm dưới đất. Tất cả mọi người đều biết Sava đang làm gì. Vì sao viết điều ấy trong lúc người ta biết rồi.
- Sava cũng có thể hỏi tin tức của mụ và các con của mụ.
- Sava biết rất rõ chúng tôi làm gì ở đây. Sava biết rất rõ chúng tôi chờ chết cho xong. Nhưng tử thần, bà bá tước tử thần, muốn bắt người ta chờ đợi! Bà lớn tử thần ấy chậm rì!
Smaranda Mold lấy hai bàn tay che mặt và khóc nấc. Bà vừa khóc vừa kêu to những tiếng đau đớn, khó hiểu. Các đứa con, gần bên lò sưởi, im lặng nhìn mẹ chúng. Vài giây đồng hồ. Như thể chúng chia xẻ sự đau đớn của mẹ chúng. Và cũng như thể mẹ chúng làm cho chúng sợ. Sau đó, tất cả sáu đứa cười ré lên một cách điên loạn. Tiếng cười của lũ con hòa lẫn với tiếng kêu đau đớn của người mẹ. Và đó là một sự hòa thanh hoàn toàn. Không có một sự lạc điệu nào. Tiếng cười và tiếng khóc là đỉnh cao của sự tuyệt vọng như nhau, sự tuyệt vọng của các đứa con và sự tuyệt vọng của người mẹ. Sự tuyệt vọng của người khóc và sự tuyệt vọng của người cười.
- Các con của tôi cũng không biết viết. - Người đàn bà nói.
Đột nhiên bà ta ngừng khóc.
- Đứa lớn nhất mười hai tuổi. Đáng lẽ nó có thể viết thư cho cha nó. Nhưng con tôi không phải là con của các quan Phanariote để mà biết viết.
Người đàn bà không cười. Không khóc nữa. Bà ta nổi xung.
- Vì sao ông muốn các con tôi viết thư cho cha chúng nó? Hãy nói cho tôi biết vì sao? Cha chúng nó đang ở dưới đất. Với người chết. Vì sao ông muốn các con tôi viết thư cho người chết?
Lại im lặng một lần nữa. Cái im lặng trong nhà của Sava Mold còn tệ hơn những tiếng kêu đau đớn của các tên bị kết án tử hình. Ông thẩm phán muốn nói vài lời an ủi. Nhưng ở đây tất cả đều đầy rẫy khổ đau, tuyệt vọng, ruồng bỏ, cô đơn. Không có chỗ để có thể nói một lời an ủi nhỏ nhoi nhất.
- Bà, bà không có ai để giúp đỡ bà cả sao? - Ông thẩm phán hỏi.
Tiếng “bà” làm rạng rỡ gương mặt của Smaranda Mold như một tia sáng mặt trời, như một dợn sóng vàng lóng lánh, như một ánh sáng thiên thần, cả gian nhà cũng rạng rỡ. Như thể Smaranda nhận được một nắm tiền vàng, một cái áo dài mới tinh, những đồ trang sức lóng lánh kim cương, ngọc bích. Trong phút chốc bà ta rạng rỡ, bà ta chói lọi, bà ta sung sướng như một bà hoàng. Nhưng bà ta trở về với thực tại. Ông thẩm phán, nghĩ rằng bà ta không thể hiểu câu hỏi của ông, nên ông lặp lại câu hỏi, nhưng lần này không nói cái tiếng thần diệu, tiếng “bà”:
- Không có ai, giúp đỡ cả sao? - Ông hỏi.
- Không - Người đàn bà đáp - Trên trái đất, chúng tôi là những con người cô độc. Chúng tôi bảy con người. Tôi và sáu đứa nhỏ loắt choắt mầm mống của Sava, tôi không còn kể trong các người sống. Ông ta không còn trên mặt đất. Ông ta ở dưới, với các người chết. Chôn sâu hơn hòm các người chết.
- Hãy cầm lấy số tiền này. - Ông thẩm phán nói.
Ông lùa vào trong bàn tay của người đàn bà những tờ bạc, tất cả những tờ bạc ông đã tìm được trong túi. Người đàn bà cầm lấy. Bà ta không nhìn đến các tờ bạc. Bà ta đưa cho các đứa con. Để chúng chơi. Trong sự đau khổ, có một cái mức độ mà tiền bạc không còn giá trị.
- Không có áo quần mùa đông sao? - Ông thẩm phán hỏi.
- Mùa đông cũng không, mùa hè cũng không - Người đàn bà đáp - Nhưng tôi không cần áo quần trong vài tuần nữa, áo sơ-mi cũng không còn. Các đứa con loắt choắt này cũng không còn sơ-mi. Áo sơ-mi của chúng tôi sẽ hoàn toàn rách nát. Chúng tôi sẽ trần truồng ở trong nhà. Chúng tôi sẽ không đi ra ngoài. Khi mùa hè đến, chúng tôi cũng sẽ không đi ra ngoài, vì người ta sẽ giết chúng tôi trần truồng ở ngoài đường. Suốt mùa hè chúng tôi sẽ nhốt mình trong này. Có thể chúng tôi sẽ đi ra vào ban đêm. Chung quanh nhà chúng tôi. Sung sướng thay các thú vật, chúng có thể ra ngoài không có áo quần! Vì chúng tôi không thể làm như thế. Sung sướng thay các con heo! Vì chúng không cần váy. Người ta không giết những con bò cái nếu chúng đi ra không có sơ-mi. Nhưng tôi, người ta sẽ giết tôi, người ta sẽ liệng đá vào tôi, nếu tôi đi ra không có sơ-mi. Và chẳng bao lâu nữa tôi sẽ không còn có áo sơ-mi. Sung sướng thay các con bò cái! Và các con heo cái! Đúng vậy thưa ông: sung sướng thay các con heo cái!... Khổ thay tôi, tôi là một người đàn bà chứ không phải là một con bò cái!
- Tôi sẽ gởi cho mụ một gói - Ông thẩm phán nói - Tôi sẽ bảo bà quản gia của tôi sắm cho mụ vài bộ áo quần. Chắc chắn tôi sẽ gởi đến cho.
- Vì sao lại gởi áo quần cho tôi? - Người đàn bà hỏi. Bà ta ngạc nhiên vô cùng về đề xuất của ông thẩm phán. Bà ta hết sức hoang mang.
- Để mụ có mà mặc.
- Nhưng vì sao phải mặc?
- Để có thể đi ra ngoài.
- Tôi, tôi đi ra ngoài?
Người đàn bà cười ré lên.
- Người ta thấy rõ ràng rằng ông không hiểu gì cả! Tôi không bao giờ có thể ra khỏi nhà. Dù ông có gởi cho tôi áo gấm và áo nhung. Nếu tôi đi ra ngoài thì ai giữ sắp nhỏ này? Chúng sẽ nhảy vào lửa. Hễ tôi vừa bước chân ra là chúng sẽ đốt cháy nhà này. Chúng không phải là con người. Chúng là những con rắn. Những con sâu. Những con rắn độc.
Bà ta lại khóc. Bà ta nói.
- Chúng không phải là những đứa trẻ con. Ôi! Không!... Đó là những con thú hoang dại. Những đứa u mê, đần độn. Thưa ông, ông hãy trả lời tôi. Loại con nào mà ông muốn thấy khi chúng sinh ra từ một người cha giết người và ở tù khổ sai?
Giây phút này vô cùng nghiêm trọng và khó khăn. Những con người này sống trên những bến bờ xa xăm nhất của sự khổ đau và tuyệt vọng. Thẩm phán Cosma Damian không còn có thể chịu đựng được cái cảnh ấy. Ông sầu não đã đến đây. Ông bỏ đi vội vàng. Hình ảnh gia đình này, mãi mãi cho đến chết, sẽ ám ảnh cuộc đời ông. Vì không có gì nghiêm trọng hơn sự đau khổ khi nó vượt quá cái mức độ mà loài người có thể chịu đựng một cách bình thường.
Chắc chắn ông thẩm phán trẻ Cosma Damian đã hoàn toàn quên rằng ông đã đến đây là để tìm một tên sát nhân! Ông cảm thấy kỳ cục mở một cuộc điều tra tại một nơi như thế này.
Ông thẩm phán đi ra, đau đớn tận tủy xương sống. Vì con người, trong những lúc rất nghiêm trọng của cuộc đời, mới phát hiện tình bác ái, một tình cảm mà con người quên lãng trong những lúc bình thường. Trong những lúc nghiêm trọng và khó khăn con người cũng như cái chậu thông đáy. Vì vậy sự đau khổ của vợ Sava Mold trào lên trong ngực của ông thẩm phán trẻ, như đó là sự đau khổ của chính ông. Ông nhận thức rằng mình cũng là một con người, như sáu đứa trẻ kia mà người mẹ gọi là những đứa con loắt choắt. Sự đau đớn của chúng cũng làm ông đau đớn. Hơn nữa, chúng cũng là người Moldavie [4] như ông. Người dân Moldavie không thua kém các dân tộc khác trên trái đất. Từ nhiều thế kỷ, các quan chức Phanariot tổ chức thành bè phái, bè đảng, đã xâm nhập, như những con ký sinh vào trong thân thể dân chúng Moldavie và các quan chức Phanariot ấy đã bóc lột dân chúng Moldavie từ bên trong và từ bên ngoài. Và dân tộc Moldavie đáng thương ấy sắp sửa chết trút linh hồn. Sắp sửa chết lần chết mòn.
Ismail đúng trước cửa. Gã chờ. Khi ông thẩm phán bước ra, gã cất mũ và nói:
- Ông cho phép tôi vào một lát. Tôi ra ngay và theo kịp ông trong xe trượt tuyết.
- Anh đem gì trong ấy? - Cảnh sát trưởng Fillaret hỏi.
- Tôi sẽ cho họ cái này. - Gã xà ích đáp.
Gã đưa chân chỉ vào cái bao. Gã giải thích:
- Đây là một ít bắp. Người ta nói với tôi rằng các ông đến nhà các người khốn khổ kia. Tội nghiệp! Tôi đem cho họ cái này.
Ismail đi vào trong nhà. Gã đặt cái bao xuống gần lò sưởi. Lúc Ismail xoay người lại để đi ra cửa, một đứa trẻ liệng một miếng gạch vào đầu gã, Ismail đứng lại. Gã sờ tay lên trán. Miếng gạch như một viên đạn đã trúng ngay giữa mặt gã. Từ trán gã, máu chảy lai láng. Co rút lại vì đau đớn, áo lót lông thú và hai má nhuốm đầy máu, Ismail đi ra xe. Các đứa trẻ theo ra trước nhà chửi rủa. Chúng liệng thêm những miếng gạch khác nữa.
Ismail đã cho chúng thức ăn, chúng làm gã bị thương và ném đá, để đuổi gã với những tiếng tục tĩu. Nếu có thể thì chúng đã ném đá giết chết gã Ismail đáng thương. Sự hung dữ của các đứa trẻ làm người ta mủi lòng. Như sự cực khổ của chúng. Vì có một khu vực ở đó sự độc ác và sự nhân hậu, sự hung dữ và sự dịu dàng, nụ cười và tiếng khóc; có cùng một ý nghĩa. Cái này và cái kia là sản phẩm của sự tuyệt vọng cực độ. Tới đỉnh cao ấy của sự đau khổ, điều lành và điều dữ, điều tốt và điều xấu, những nụ hôn và những cú đấm, nụ cười và tiếng khóc là một. Mọi sự đều ở trên mọi giá trị và mọi ý nghĩa. Trong lúc ông thẩm phán và ông cảnh sát trưởng cố gắng băng bó vết thương của Ismail với những chiếc khăn tay của họ thì người mẹ đi ra và bắt đầu đánh mấy đứa con. Tiếng la mắng của người mẹ vang đến tận tại ông thẩm phán.
- Con cái quân giết người! - Bà ta thét - Con cái quân tù khổ sai. Rồi chúng mày cũng sẽ giết mẹ chúng mày và chúng mày cũng đi ở tù khổ sai! Như tên sát nhân cha chúng mày. Đồ con cái quân giết người.
Ông thẩm phán bịt lỗ tai lại, chiếc xe từ từ khởi hành.
Lúc ấy đã quá tám giờ. Ông cảnh sát trưởng nói:
- Thưa ông thẩm phán, tôi đã nói trước với ông rằng tên giết người không thể là người trong nhà của Savonarola Mold.
- Đúng vậy - Ông thẩm phán đáp - Tên sát nhân không phải ở đây. Nhưng tên sát nhân là một trong những người không có khí giới. Nghĩa là trong các người của thành phố này. Nó không phải từ ngoài đến.
------------------------
[1] Trong các nhà dân nghèo ở xứ Moldavie lò sưởi không giống lò sưởi ở Tây phương mà là những cái lò lớn bằng gạch xây dính liền vào nhà. Đôi khi lò sưởi có những cái khám những mặt bằng ở đó người ta có thể nằm ngủ được. (N.D)
[2] Salve: chào. Tiếng La tinh còn sót lại từ hồi người La Mã còn đô hộ xứ này.
[3] Lạy Chúa tôi, thánh giá, chào.
[4] Moldavie là ngươi dân xứ Moldavie một xứ ở Rumanie, rộng 34.000 cây số vuông và có dân số gần na triệu người. (N.D).
0
XV
Flora và giả thiết vụ án vì tình
 
Thẩm phán Cosma Damian và cảnh sát trưởng Fillaret trở về tay không nơi pháp đình. Cuộc điều tra định mở tại nhà tên tù khổ sai Savanarola Mold là một sự vận dụng sai lầm không có hiệu quả. Khi về tới nơi, hai người lại chịu một sự thất bại khác, lời rao của mõ tòa Pantelimon kêu gọi dân chúng tố giác tên sát nhân, không có kết quả. Tên sát nhân không đến trình diện, đã không đến nộp mình làm tù nhân như cảnh sát trưởng Fillaret đã mơ ước, cũng không một ai đến cung cấp một điều chỉ dẫn gì. Bà Eudoxia đã chờ một cách vô ích những điều chỉ dẫn. Vì trong lúc ông thẩm phán và ông cảnh sát trưởng vắng mặt thì bà Eudoxia là người thay thế. Bây giờ đã tám giờ rưỡi rồi.
- Có thể có một người đàn bà nào đó đã phạm tội giết người chăng? - Ông thẩm phán đột nhiên nêu câu hỏi - Khi nạn nhân ở độ tuổi hai mươi, trước hết ta phải nghĩ đến một vụ án vì tình, khi một triệu phú bị ám sát, thì chắc tiền là động cơ tội phạm. Trong trường hợp của cậu Tuniade, động cơ không phải là tiền. Người ta đã không lấy gì của cậu ấy. Tất cả vật dụng còn nguyên vẹn. Cậu ta không có tranh chấp với bạn bè. Không có vấn đề ghen tuông. Nhưng có ai đi theo cậu ta trên chuyến tàu Bắc. Sự trả thù của một người nào đó ở đây là một động cơ có thể có, nhưng đến nay chưa có một sự kiện nào khẳng định điều đó. Chúng ta còn lại một giả thiết một vụ án vì tình. Ông có biết cậu Tuniade có một cuộc giao du tình ái nào hay không? Dù chỉ là một cuộc giao du ngắn ngủi?
- Tôi không biết cậu ấy có một cuộc giao du nào thuộc loại ấy. Cậu ấy sống tại đây như một khách du lịch. Cậu ấy không có những mối liên hệ thuộc bất cứ loại nào với các người ở đây.
- Nhưng không có những thiếu nữ trẻ đẹp ở Agapia sao?
- Có. Cũng như khắp nơi trên thế giới. Và thiếu phụ đẹp nhất trong số thiếu phụ đẹp ở Agapia, tôi đã mời tới đây. Không phải vì tội giết người. Cũng không phải vì bị tình nghi. Tôi đã mời cô ấy để hỏi những điều chỉ dẫn. Cô ta tên là Flora Valeverde. Từ sau khi cha Tuniade chết, cô là người giúp việc ở lâu đài.
- Ông cảnh sát trưởng, vì sao ông đã không nói cho tôi biết ngay từ lúc đầu rằng trong lâu đài có một thiếu phụ trẻ đẹp? Đáng lẽ chúng ta phải bắt đầu cuộc điều tra từ người này. Điều ấy có thể làm cho chúng ta khỏi mở cuộc điều tra tại gia đình Mold. Vì tôi càng lúc càng tin rằng, nếu không phải là một vụ án vì tình thì đây là một vụ vì thù.
- Không, đây không phải là một vụ án vì tình. Cũng không phải là một vụ án vì thù. Ông thẩm phán sắp thừa nhận điều ấy.
Flora Valeverde đợi đã một giờ rồi trong nhà bếp của bà Eudoxia. Người ta cho mời cô vào trong văn phòng ông thẩm phán. Cô đi vào. Cô đứng thật thẳng. Như một hình học. Cô rất đẹp, cao và rất mảnh mai. Một cái váy bó sát hông: đó là váy Katriatxa, loại váy đẹp của đàn bà ở Petrodava. Một cái áo sơ-mi trắng, cổ và tay thêu. Một cái áo vét ba phần tư bằng lông thú trắng. Đó là lông cừu. Một áo choàng cổ đen, lớn như một cái áo choàng của nữ tu sĩ. Đôi bốt đen. Tóc bím. Flora có cái nhìn thẳng cởi mở, hãnh diện.
- Cô tên là Flora Valeverde. Cô giúp việc cho bà Patricia Tuniade phải không? - Ông thẩm phán bắt đầu hỏi.
- Thưa ông phải.
- Cô vào làm việc ở lâu đài từ bao giờ?
- Thưa ông từ mười bốn tháng - Flora đáp.
Răng cô rất đẹp, trắng ngời, đều đặn như những hạt ngọc.
- Flora, cô hãy nghe tôi cho rõ - Ông thẩm phán nói - Cô biết cái tin: đêm nay lúc một giờ năm phút. Cậu Antoine Tuniade, con trai bà Patricia, bà chủ của cô, đã về đây nghỉ phép và cậu ta đã bị giết trước cổng rào của lâu đài. Cậu ta đã chết. Chúng tôi muốn tìm kẻ giết cậu Antoine.
Flora muốn đứng yên. Nhưng nước mắt bắt đầu chảy. Đôi má trắng như sứ của cô ửng hồng. Cô khóc thật lòng. Với toàn thân hình của cô. Nhưng đôi mắt mở rộng. Đứng yên. Đột nhiên cô không còn kềm chế sự đau đớn của mình được nữa. Sau khi quẹt nước mắt, cô làm dấu thánh giá. Và cô nói trong nước mắt:
- Cầu cho đất nhẹ nhàng trên mộ ông ấy.
Đó là lời vĩnh biệt mà người La Mã nói với người chết. Ngày nay, chỉ các người bất tử Petrodava mới còn sử dụng công thức ấy để chào vĩnh biệt người chết. Flora nhìn đăm đăm ông thẩm phán rồi đến cảnh sát trưởng Fillaret, và cô ta hỏi:
- Ai đã giết ông Antoine?
- Đó là điều mà chúng tôi muốn biết - Ông thẩm phán nói - Cô có muốn giúp chúng tôi tìm ra người đã giết ông Antoine chủ của cô không?
- Thưa ông tôi muốn lắm. - Flora đáp.
Flora nghĩ đâu đâu. Câu trả lời rất nhỏ. Cô liền nói thêm:
- Bà chủ, tội nghiệp bà chủ, chắc bà đau đớn vô cùng. Các ông phải cho phép tôi lên lâu đài càng sớm càng tốt. Hôm nay chắc chắn bà cần có tôi hơn bao giờ hết, thế mà hôm nay tôi lại chậm trễ. Các ông đã giữ tôi ở đây hơn một tiếng đồng hồ rồi.
- Cô sẽ có thể lên lâu đài - Ông thẩm phán nói - Trước hết cô phải nói cho chúng tôi biết những gì cô biết. Để chúng tôi có thể tìm ra thủ phạm.
- Tôi không biết gì hết. Làm sao tôi có thể biết được điều gì?... Tôi là người giúp việc ở lâu đài. Một người giúp việc có thể biết nhiều hơn các ông sao?
- Đêm ấy, vào lúc xảy ra vụ án mạng, cô ở đâu? - Ông thẩm phán hỏi, không cần kiểu cách.
- Ở nhà tôi - Flora đáp - Tôi ở trong nhà tôi.
- Vì sao cô không ở trên lâu đài đêm ấy?
- Tôi không bao giờ ngủ trên lâu đài. Mỗi tối, tôi về nhà để ngủ. Nhà tôi ở trên con đường Tình Yêu. Rất gần đây. Ông cảnh sát trưởng có thể xác nhận điều đó. Ông biết nhà tôi.
- Vì lý do gì cô không ngủ trên lâu đài? - Ông thẩm phán hỏi - Tôi nghĩ không phải là vì thiếu chỗ. Có một lý do riêng để cô phải về ngủ tại nhà cô?... Một tình nhân?
- Không, thưa ông - Flora đáp - Tôi không có tình nhân. Trước đây tôi có một người chồng. Chồng tôi chết trong một tai nạn, ở trong rừng, ba tháng sau đám cưới của chúng tôi. Một cây to đã ngã xuống và đè chết chồng tôi. Cầu xin đất nhẹ nhàng trên mộ của anh ấy!
Flora lại quệt nước mắt. Cô lại làm dấu thánh giá.
- Vì sao cô lại về nhà ngủ nếu cô không có tình nhân?
- Thưa ông, vì các bông hoa và chim chóc của tôi.
- Đúng như vậy, thưa ông thẩm phán - Cảnh sát trưởng Fillaret nói - Nhà cô Flora đầy hoa và chim. Đó là một căn nhà rất đẹp, thưa ông thẩm phán. Một ngày nào đó, ông phải đến thăm nhà ấy. Đó là ngôi nhà nhỏ xíu, trắng tinh với hoa ở nơi các cửa sổ. Đúng là một ngôi nhà của búp bê và của đôi lứa tình nhân.
- Cho nên mỗi tôi cô phải về để cho chim ăn và chăm sóc hoa?
- Đúng như vậy, thưa ông.
- Và sáng ngày cô lên lâu đài phải không?
- Rạng sáng tôi lên lâu đài. Tất cả mọi ngày. Ngoại trừ hôm nay, vì các ông đã giữ tôi lại đây.
- Bà chủ của cô, bà Patricia Tuniade có chấp nhận tình trạng ấy một cách vui vẻ không?... Bà không buộc cô ngủ lại lâu đài như thường lệ hay sao?
- Bà có cho tôi một phòng ở lâu đài. Nhưng tôi đã từ chối ngủ đêm ở đây. Tôi đã trình bày tất cả với bà! Tôi cũng phải chăm sóc hoa và chim của tôi. Tôi không thể để chúng không có ai chăm sóc suốt ngày đêm. Tôi phải lo chúng ăn hàng ngày. Tưới nước hàng ngày. Vì về phần tôi cũng không thể xa cách chúng. Hoa cũng như chim. Chúng là nhân chứng duy nhất của đám cưới của tôi, của tình yêu của tôi, của hạnh phúc của tôi và điều ấy là đủ cho cuộc sống của tôi. Vì kỷ niệm hạnh phúc cũng lớn bằng chính hạnh phúc. Không có lý do để bà chủ từ chối không cho tôi cái quyền được ngủ tại nhà tôi. Dù sao thì tôi cũng phải xuống thành phố mỗi ngày để mua sắm. Vì vậy, mỗi chiếu tối, tôi ra về khi đã làm xong công việc trên lâu đài. Nếu còn kịp, tôi mua các thứ cần thiết cho ngày mai. Nếu trễ quá thì sáng sớm ngày mai đi mua sắm trước khi lên lâu đài.
- Bà chủ của cô không sợ ngủ một mình ban đêm trên lâu đài sao?
- Không, thưa ông. Bà chủ tôi đã quen sống một mình trên lâu đài. Chồng bà, khi còn sống, cũng hầu như vắng mặt luôn. Con trai của bà cũng vắng mặt. Luôn luôn bà ở một mình. Nếu như bà sợ thì sự có mặt của tôi cũng chẳng có ích lợi gì. Bà hoàn toàn biết rằng gặp trường hợp hiểm nguy thì hai người đàn bà góa cũng không thể làm gì được hơn một người.
- Cô hãy kể cho tôi biết, những sự việc chiều tối hôm qua, trước khi xảy ra vụ án mạng.
- Hôm qua, suốt buổi chiều gió Fohn thổi. - Flora nói.
- Bà Patricia Tuniade cũng có nói với tôi về việc gió Fohn đã thổi đêm xảy ra án mạng. Tôi không hề cảm thấy có gió.
- Thưa ông thẩm phán, gió Fohn, ông không cảm thấy gió như một ngọn gió thường, nó quét sạch lá khô, nó bẻ cong cây cối, và nó ém tuyết vào mặt người ta. Gió Fohn, đó là ngọn gió mà người ta cảm thấy ở trong người mình, mà người ta cảm thấy với ruột gan, với các dây thần kinh. Đó là một ngọn gió kinh khủng, đôi khi nó làm nhột nhạt ở đầu các dây thần kinh, những lúc khác nó lại chạy rần rần qua thân thể chúng ta như một luồng diện. Bà chủ tôi luôn luôn khó ở trong những lúc có gió Fohn. Đó là một ngọn gió kinh khủng đối với những người nhạy cảm, đối với những người đau ốm, đối với những người đàn bà mang thai... Khi nó thổi, nó làm lộn gan lộn ruột, nó lay chuyển các dây thần kinh của chúng ta như các ngọn gió khác lay chuyển dây điện tín. Ngay cả súc vật cũng không thể nhắm mắt trong những đêm và những ngày có gió Fohn thổi. Vì gió Fohn mà có những con mèo hốt hoảng nhảy xuống sông. Thưa ông thẩm phán, tôi kể những điều ấy với ông vì ông mới đến Agapia. Và vấn đề gió Fohn, tôi biết tất cả vì đã có nghe những lời than thở của bà Patricia đáng thương. Bà đau khổ vì gió Fohn đến muốn chết đi được.
Flora Valeverde vẫn đứng. Cô từ chối ngồi xuống. Đây là một thiếu phụ trong trạng thái toàn thịnh của sắc đẹp. Thân hình như một cái bình xưa hình thuẫn, giọng nói như một bản nhạc, và cái cử chỉ của nàng mềm mại, e lệ và nhanh nhẹn như cử động của các con hươu cái và các con sóc. Flora, người đàn bà góa yêu hoa và chim đứng trước hai người đàn ông, thẳng như một cây tùng ở núi cao, và cũng biết kiêu hãnh như cây tùng ấy.
- Bà chủ tôi nói rằng gió Fohn không phải là một ngọn gió mà người ta cảm thấy bằng da, mà bằng tâm hồn. Vì tâm hồn con người bị giày vò bởi ngọn gió ấy như sự ăn năn hối hận. Fohn không phải là một ngọn gió, đó chính là hơi thở của quỷ sứ. Vì vậy mà có nhiều tai họa và thảm kịch trong lúc có gió Fohn. Bà chủ tôi nói rằng, các điều luật cũ trong các nước ở trong dãy núi Alpes không trừng trị những tội đại hình phạm trong khi có gió Fohn, vì con người không chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi ngọn gió quỷ sứ ấy thổi vào họ.
- Và tối hôm qua, tối xảy ra vụ ám sát, gió Fohn thổi phải không? - Ông thẩm phán hỏi.
- Cả buổi chiều, cả buổi tối, cho tới đêm khuya, người ta đã cảm thấy gió Fohn thổi rất mạnh. Bà chủ tôi đã xuống phố để mua sách. Bà đã trở về lâu đài rã rời gân cốt. Bà cố gắng viết thư. Nhưng sau vài giờ bà đã gọi tôi và nói: “Flora, chị hãy làm xong công việc và hãy về đi, không cần quấy rầy tôi. Tối nay tôi không thể ăn gì cả, vì ngọn gió quái ác ấy. Tôi sẽ uống vài viên thuốc và tôi sẽ cố ngủ. Flora, hãy đóng cửa cho cẩn thận. Và hãy bỏ cái thư vào thùng thư ở nhà ga”. Đó là tất cả những gì bà chủ tôi đã nói với tôi chiều hôm qua. Đây là cái thư mà bà bảo tôi bỏ vào thùng.
Ông thẩm phán mở phong bì. Ông đọc to để ông cảnh sát trưởng có thể nghe. Đây là thư của bà chủ lâu đài viết cho con trai bà. Bà báo cho con trai biết sẽ gởi sách và khuyên con nên kiên nhẫn và ngoan.
Như các thư mà các bà mẹ gởi cho con mình.
- Bà Patricia đã viết bức thơ này lúc mấy giờ? - Ông thẩm phán hỏi.
- Vào lúc năm giờ chiều.
- Và cô, cô rời lâu đài lúc mấy giờ?
- Nửa giờ sau. Trời đã tối.
- Và cô đã về thẳng nhà cô?
- Về thẳng nhà tôi. - Flora đáp.
- Và cô không thấy ai, cô không nói chuyện với ai, cho đến sáng hôm nay?
- Tôi chỉ nói chuyện với các con chim và các chậu hoa của tôi, cho đến khi người tùy phái mời tôi đến trình diện gấp tại tòa án hòa giải. Trình diện với ông thẩm phán.
- Cô không ra khỏi nhà lúc ban đêm?
- Không, không thưa ông thẩm phán. Đi mua sắm các thứ cần thiết, tôi định sáng hôm nay mới đi. Đây danh sách các thứ cần dùng. Chính tay bà chủ tôi viết. Tôi phải đi mua các thứ đó khi tôi ra khỏi nơi đây.
Ông thẩm phán liếc nhìn qua bản danh sách, ông trả lại cho Flora.
- Flora, hãy nhìn vào mắt tôi và hãy trả lời một cách thành thật. Đã có giữa ông Tuniade và cô một chút tình yêu nào không?
- Không, thưa ông - Flora đáp không chút do dự.
- Nhưng ông Antoine Tuniade chắc là yêu cô. Ngươi đàn ông nào thấy cô cũng ngắm cô và muốn cô. Cô rất xinh đẹp Antoine hai mươi tuổi. Cậu ta tất phải say mê cô như điên. Đúng không?
- Tôi không để ý. - Flora đáp.
- Cậu ta yêu cô, đó là chuyện bình thương - Ông thẩm phán nói - Cậu ta hai mươi tuổi. Cô đẹp, cả hai người ở trên lâu đài. Hai người sống suốt ngày dưới một mái nhà. Hai người thấy nhau hoài. Hãy nói sự thật. Cậu ta có yêu cô không?
- Không. - Flora đáp.
- Tiếng không ấy đáng nghi - Ông thẩm phán nói - Hai người đi qua đi lại hai mươi hay một trăm lần một ngày, người này gần người kia và thân hình đụng chạm nhau. Thân hình của những người hai mươi tuổi. Vì hai người gần xấp xỉ tuổi nhau. Cô nói rằng cô không cảm thấy gì hết sao?... Rằng cậu ta không bao giờ biểu lộ một sự chú ý đến cô, với tư cách là một người đàn bà sao? Như thế là chuyện không bình thường!
- Cũng là chuyện bình thường. Tôi chẳng nhận thấy gì cả - Flora đáp - Ngay cả nếu như những lời ông vừa nói là đúng. Ngay cả nếu ông ấy yêu tôi, tôi cũng không cảm thấy gì cả. Chúng tôi không nói cùng một thứ tiếng. Ông ta, cũng như tất cả các ông Phanariote, ông ta là một con người hung dữ, một con người kiêu căng, một con người có tính khát máu, một kẻ áp bức, một kẻ độc tài... Ông ta nói tiếng của sức mạnh và của sự dữ tợn. Lời nói của ông là những mệnh lệnh. Tôi, tôi nói một tiếng khác. Tôi là một người đàn bà, một người trên thế gian, luôn theo trái tim mình, như cái vỏ luôn theo con ốc, con sên. Tất cả con người tôi lệ thuộc trái tim tôi. Bộc lộ tình cảm với thân thể tôi. Người ta không mở cửa một trái tim như mở cửa một thành trì được bảo vệ bằng sức mạnh. Người ta không thể chinh phục một trái tim như người ta chinh phục một thành trì được bảo vệ. Một trái tim không như một cái tủ sắt mà người ta có thể đập phá để vơ vét tiền của. Người ta không thể đi vào trong một trái tim bằng sự bạo hành, với sự hung hăng và bằng sức mạnh. Mà ông Tuniade trẻ trung chỉ biết có thứ tiếng nói của sự hung dữ của sức mạnh, ông ta không thể nói gì với tôi cả. Vì tôi chỉ hiểu tiếng nói của trái tim, thứ tiếng nói trái ngược với thứ tiếng nói của ông ta. Chúng tôi thấy nhau trăm lần mỗi ngày. Chúng tôi nhìn nhau như người ta nhìn qua cửa sổ một chuyến tàu chạy ngang. Chúng tôi gần nhau như hai người lạ có thể gần trên cùng một lề đường. Vì vậy tôi không hiểu biết ông ta. Như thể là tôi chưa bao giờ trông thấy ông ta. Hay là như thể tôi thấy ông ta trong một bức tranh treo trên tường.
- Ông ta có ăn ý lắm với mẹ ông ta không?
- Những người sống mà không có một sự nhiệt tình nào thì không gặp cái nguy phải gây gổ nhau. Người nấu ăn không đặt cái dĩa đồ ăn của mình vào trong lò nóng thì không bao giờ gặp cái nguy dĩa đồ ăn cháy. Các người trong dòng họ Tuniade sống một cuộc đời giống như một dĩa bàn trong ấy người ta đã đặt tất cả những gì cần thiết, một dĩa đồ ăn không thiếu muối, thiếu tiêu, thiếu bất cứ cái gì, nhưng là một dĩa đồ ăn sống, không đút lo. Buổi sáng họ ngủ dậy, đọc báo, đi dạo chơi, săn bắn, họ đánh bài, nghe nhạc, đùa giỡn, viết lách và đi ngủ. Đó là một cuộc sống trọn vẹn: Một cuộc sống đầy đủ. Tất cả đều có trong cuộc sống của họ, ngoại trừ sự sống. Sự sống! Chính điều ấy là cái thiếu trong tất cả cuộc sống của họ.
- Bà Patricia có bạn bè không?
- Không có một người bạn nào ở xứ này. Có thể có ở nước ngoài, nơi mà từ đó bà tới đây. Vì có lẽ ông đã biết, bà ấy đã được người ta đưa đến đây, như tất cả những của cải của gia đình Tuniade.
- Ai thường đến lâu đài?
- Không một người nào - Flora đáp - Lúc Tuniade Cha còn sống cũng vậy, sau khi ông ấy chết cũng vậy. Không bao giờ có ai đến lâu đài.
- Chị không có ý kiến nào về kẻ đã có thể giết ông Antoine Tuniade sao?
- Không, thưa ông thẩm phán.
- Bây giờ, chị hãy đi mua sắm các thứ và lên lâu đài đi. - Ông thẩm phán nói - Trong phòng khách lâu đài, chị sẽ thấy ông Tuniade chết rồi. Chắc điều ấy sẽ làm chị đau lòng, phải không? Chị hãy nói thật đi.
- Thấy một người trẻ trung chết luôn luôn làm người ta đau lòng - Flora đáp - Nhưng tôi không ngạc nhiên về việc ông ta chết dữ. Ông ta và tất cả gia đình ông ta đùa giỡn với sự hung dữ thì không khỏi chết dữ. Ai dùng đoản kiếm để nắm quyền sinh sát sẽ chết vì đoản kiếm. Ai chơi với lửa thì sẽ bị phỏng. Tôi luôn luôn ngạc nhiên rằng người trong gia đình ấy lại có thể sống lâu đến thế, trong khi họ gieo rắc khắp nơi sự hung bạo, sự hận thù và sự bất công. Vì người ta luôn luôn chết, bị giết bởi chính hành động của mình, như có những con rắn chết vì nhiễm nọc độc của chính chúng nó. Nhưng tôi thương hại ông Tuniade. Cầu xin đất nhẹ nhàng trên mộ ông ta!
Flora Valeverde đi ra khỏi văn phòng, thẳng người như khi cô đi vào đây. Bây giờ ông thẩm phán hầu như đã nhận thức được rằng vụ ám sát Antoine Tuniade không phải là một vụ án vì tình. Cha con dòng họ Tuniade là những kẻ tàn bạo. Và những kẻ tàn bạo không biết đến tình yêu say đắm. Những kẻ tàn bạo là những người lạnh lùng.
0
XVI
Xà ích Ismail kẻ bị thiến và tôn giáo khủng khiếp của gã
 
Nhưng phải chăng tên xà ích Ismail, gã đàn ông bị thiến, đã giết Antoine Tuniade đêm hôm ấy? Thẩm phán Cosma Damian tự hỏi. Ý nghĩ Ismail là tên sát nhân xuất hiện trong đầu óc ông, như một tia chớp vào lúc mà ở trước pháp đình ông chợt thấy hình dáng khổng lồ của gã xà ích ngồi bất động trên chiếc xe trượt tuyết của gã. Giả thuyết tên sát nhân có thể là Ismail, hình như có thể chấp nhận được. Ông thẩm phán đi đến bên cửa sổ văn phòng. Ở ngoài, chiếc xe trượt tuyết hai ngựa trắng của Ismail đang đợi khách. Thấy ở cự ly ấy, gã xà ích, cao như một con gấu, trùm mình trong những tấm da cừu với cái mũ to tướng bằng lông cừu, trên đó tuyết rơi xuống từng nụ trắng xóa, gã xà ích ấy làm ông thẩm phán rùng mình. Ismail có thể bóp cổ một con gấu chỉ với sức mạnh của đôi bàn tay. Đêm hôm ấy, nhìn Ismail quào tuyết, nơi xảy ra án mạng, với đôi bàn tay của gã, rộng như hai cái xẻng, với hai nắm tay to như những cái búa, ông thẩm phán cũng có những cái rùng mình sợ hãi và nghi ngờ như hôm nay. Ông thẩm phán cũng nhớ lại Ismail đã co rút người lại như thế nào khi thấy những vết máu mà gã không dám đến gần.
- Ông thẩm phán nhìn anh chàng Ismail đáng thương à? - Cảnh sát trưởng Fillaret hỏi.
Ông vừa làm xong báo cáo về vụ ám sát, báo cáo mà ông phải gởi cho cấp trên của ông bằng điện thoại.
- Anh chàng Ismail đáng thương, - Ông nói tiếp - tôi thương hại hắn lắm!... Hắn khổ sở kinh khủng, vì gió Fohn. Hắn khổ sở hơn ai hết ở đây. Không nhắm được mắt, dù chỉ một phút, chừng nào mà gió ấy có thổi. Nếu gió Fohn không ngừng suốt ba ngày và ba đêm, thì ba ngày và ba đêm Ismail không nhắm được mắt. Đó là một con người khổ sở.
- Một con người khổng lồ, to cao, như một con măm-mút như thế mà có thể cảm thấy ảnh hưởng của một ngọn gió nho nhỏ sao? - Ông thẩm phán ngạc nhiên.
- Nguyên nhân là vì tôn giáo khủng khiếp của hắn.
Cảnh sát trưởng và thẩm phán nhìn gã xà ích, tuyết rơi xuống từng nụ lớn trên gã như rơi trên một bức tượng.
Ismail, gã đàn ông bị thiến cao hai thước, tóc láng vàng như sáp và óng ánh như tia nắng. Mắt xanh như men và như hoa lưu ly, luôn luôn mặc bộ đồng phục kỳ dị. Có hàng ngàng người khổng lồ mắt nâu như Ismail, với đôi mắt xanh, áo măng-tô nhung, làm nghề xà ích trong hầu hết các thành phố ở xứ Moldavie. Tất cả đều thuộc giáo phái Skoptzys. Tất cả đều là những người tị nạn đến từ phương Đông, và là thành viên của một giáo phái bí mật và khủng khiếp, giáo phái Skoptzys.
Những người ấy đã xuất hiện trên thế giới từ một thế kỷ nay. Họ đến từ các hoang nguyên ở phía Bắc Hắc Hải. Ở đó tuy là quê hương của họ, nhưng tôn giáo của họ bị cấm rất nghiêm ngặt, và người nào theo tôn giáo ấy thì bị xử tử hoặc tù khổ sai chung thân. Không bao giờ có trường hợp giảm khinh cho các người Skoptzys trước bất cứ tòa án nào. Sự ngược đãi đối với họ khốc liệt và toàn diện. Vì những sự ngược đãi đẫm máu ấy, mà họ chạy về phương Tây. Người ta thấy họ tận Canada, Hoa Kỳ và Alaska. Cũng có những nhóm nhỏ người Skoptzys ở Bá Linh, ở Paris, ở Praha, và ở hầu hết các thành phố Tây phương. Phần đông làm nghề xà ích. Người ta có thể nhận biết họ từ xa, vì các áo măng-tô nhung xanh của họ, dài như áo các tu sĩ. Họ đeo nịt da, đi bốt, đội mũ lông thú hay nhung. Ngoài bộ áo quần nửa nhà binh nửa thầy tu ấy, người ta còn nhận biết họ vì sự sạch sẽ đặc biệt của họ. Ngựa của họ, bộ đồ thắng của chúng và tất cả những đồ vật mà họ có đều được đánh láng, láng bóng, đánh véc-ni sáng ngời. Họ sống tại những vùng ngoại ô, trong những ngôi nhà thấp, chung quanh có tường cao, ở trong đó ngự trị một sự yên tĩnh như ở các nghĩa địa. Các người Skoptzys rất ít nói, và chẳng bao giờ nói đến tôn giáo của họ.
- Tôi - Cảnh sát trưởng Fillaret nói - Tôi đã ở gần khu phố người Skoptzys khi tôi còn học ở trường cảnh sát. Lúc ấy tôi đã quen biết và hiểu họ rất rõ. Sau đó, vì quan tâm đến sự bí mật mà họ che giấu trong cuộc đời của họ, tôi đã tìm những tài liệu nói về họ trong hồ sơ lưu trữ tại sở cảnh sát Jassy. Từ một thế kỷ, các người Skoptzys tới phương Đông từng đợt đều đều. Tất cả đều đi ngang qua đất nước chúng tôi. Họ không bao giờ nói đích xác từ đâu họ đến. Nhưng luôn luôn là một nơi gần Hắc Hải. Đó là một vùng đất mà các tà giáo mọc lên như cây cối ở vùng nhiệt đới. Những người được sinh ra gần Hắc Hải luôn luôn có một cuộc sống hết sức khó khăn. Luôn luôn thân phận con người làm họ ngộp thở, như ta làm ngộp thở một con người mà ta dìm đầu xuống nước. Thân phận làm người, thân phận của con người trên trái đất là cái gì mà họ không thể nào chấp nhận nổi. Vì vậy họ ngộp thở trong thân phận ấy và cố thoát ra khỏi thân phận ấy. Họ giống như một người rơi xuống sông và cố bơi vào bờ. Họ khao khát sự tuyệt đối, sự khao khát di truyền, không nguôi, một sự khao khát rùng rợn, không có tính người. Và vì thế họ dựng lên tất cả các loại tà thuyết để cố thoát khỏi thân phận làm người, để vươn lên cao hơn trần tục và cao hơn cuộc sống con người. Họ mơ ước, và điều đó giày vò họ, mơ ước lòng bác ái, vị tha của toàn thể nhân loại, vượt lên trên thân phận làm người, có những liên hệ trực tiếp giữa con người với Chúa với các thánh. Một trong vô số tà giáo nổi lên ngày và đêm trên bờ Hắc Hải là giáo phái của anh chàng đáng thương của chúng ta, Ismail: giáo phái Skoptzys. Họ là những người theo đạo Thiên Chúa giống như những người theo đạo Thiên Chúa trên thế giới, nhưng họ tự cắt đi tuyến sinh dục. Họ tự thiến mình để loại trừ mọi sự nguy hiểm rơi vào tội tình ái nhục dục, tội tham dâm. Để bào chữa hành vi ấy, họ đã viện dẫn một văn bản trong Thánh kinh của thánh Matthieu. Với cái dao mổ nhỏ, họ áp dụng chương XIX đoạn 12 của thánh kinh ấy. Vào chính thịt của chính họ. Để thành người trinh tiết và tinh khiết. Họ nghĩ rằng, bộ phận sinh dục là cội rễ của mọi tội lỗi. Giới tính đã ngăn con người vươn tới phận sự cao cả mà con người phải làm khi được tạo dựng. Bộ phận giới tính là nguyên nhân của mọi điều rắc rối và phiền muộn. Bằng cách cắt đi các tuyến sinh dục. Họ nghĩ rằng sẽ giải thoát con người khỏi mọi sự nô lệ của bản năng và xác thịt. Thoát khỏi những sự ràng buộc của giới tính và của xác thịt, con người có khả năng đạt đến trình độ của các thiên thần. Các thiên thần cao cả hơn con người, vì các vị ấy không có giới tính cũng không có đam mê xác thịt. Tất cả tôn giáo của những người Skoptzys đều đặt nền móng trên lý thuyết ấy. Họ nghĩ rằng cơ quan sinh dục không phải là một cơ quan cần thiết như con mắt, lỗ tai hay trái tim. Họ nghĩ rằng bản năng nhục dục cũng giống như gió Fohn: khi nó hoành hành, mọi trật tự, mọi lý trí và mọi lý luận đều bị quét sạch. Con người bị ám ảnh bởi bản năng nhục dục cũng giống như bởi ngọn gió quái ác ấy. Đó là một bản năng khốn nạn và không có ích lợi gì, bản năng ấy chỉ kích thích và quấy rầy các con chim một hai lần mỗi năm, nhưng lại kích thích và quấy rầy con người không ngừng, ngày và đêm, trong phần lớn thời gian của đời người. Vì thế, người Skoptzys đã quyết định cải thiện khuyết điểm ấy của bản chất con người. Họ cắt bỏ cội rễ của bản năng, nó ngăn cản con người đạt đến sự tinh khiết tuyệt đối của thiên thần. Họ nghĩ rằng hành động như vậy là họ đã làm một công việc rất tốt. Vì thật là khờ dại để mất đi sự trường tồn, mất đi vương quốc của Chúa và trình độ của các thiên thần, vì một cái hôn, một cái ôm ấp, hay một khắc đồng hồ lạc thú xác thịt thấp hèn. Người Skoptzys thực hành cuộc tiểu phẫu ấy, một cuốc giải phẫu còn nhẹ nhàng, ít công phạt hơn giải phẫu cắt ruột thừa. Sau khi lấy vợ và sau khi đã có một đứa con duy nhất. Lập tức sau khi đứa con ấy ra đời, người cha đã tự cắt bỏ dương vật của mình và sống những ngày và những đêm còn lại của đời mình bên cạnh vợ như bên cạnh một người em gái.
- Và Ismail quả thật là một người Skoptzys?
- Đúng vậy, thưa ông thẩm phán.
- Nó có vợ và có một đứa con?
- Đúng, nhưng vợ và con nó đã chết. Đã chết trước khi nó đến đây. Hình như vợ con nó đã bị cảnh sát hạ sát lúc vượt biên giới, trên con sông đóng băng Dniester. Nó sống cô độc một mình ở đây.
- Đây là một chuyện thảm thương. - Ông thẩm phán nói.
- Thảm thương, nhưng thưa ông thẩm phán, ông không thể tưởng tượng được rằng những con người tầm thường và mù chữ kia đã đạt đến trình độ nào của sự tinh khiết. Ismail, cũng như hầu hết những người Skoptzys không biết đọc cũng không biết viết. Họ xem viết lách như một công việc trần tục. Mặc dù không có học thức, họ có một nền luân lý, một lễ phép, và một nghi thức còn tinh nhã hơn nghi thức của triều đình vua chúa. Một khu người Skoptzys ở, không cần có cảnh sát, thẩm phán, cũng không cần có cơ quan y tế. Họ không ăn cắp, họ không nói dối. Họ không lừa đảo. Họ triệt để tuân theo mười điều răn. Trong gia đình, họ im lặng như những tu sĩ.
- Họ có đạt đến sự tinh khiết mà họ mơ ước không? Họ có được sung sướng không?
- Không, thưa ông. Một sự buồn bã đè nặng lên trên những khu họ ở, trên những mái nhà của họ, và trên cuộc đời họ. Sự tinh khiết mà họ đã chinh phục được nặng nề đối với một con người còn hơn cả tội đam mê xác thịt. Họ là những người cần cù vô cùng, siêng năng hơn tất cả mọi người. Họ ngủ bốn hay năm giờ, và thời gian còn lại họ làm việc không ngừng. Họ rất đúng giờ, vì đúng giờ tôi không biết ông nhận thấy không, là một thứ sạch sẽ về phương diện thời gian. Họ không bao giờ chơi bời. Họ không đi xem chiếu bóng, không đi xem hát, không đi dự lễ lạc bất cứ loại nào. Họ không bao giờ uống ruợu, không hút thuốc, không ca hát, không nhảy múa, không huýt gió. Họ không đọc sách, không đọc báo. Họ không nghe đài truyền thanh. Họ không có một nghệ thuật nào. Chúa thay thế tất cả. Cuộc sống của họ đầy tràn Thiên Chúa. Như một cái cốc tràn nước. Sự sạch sẽ thể xác của họ được đẩy mạnh tới mức cao nhất. Không một vết nhơ, không một hoen ố trên thân thể họ, cũng như trên áo quần họ, súc vật của họ. Mặc dù tôn giáo của họ không cấm đoán, nhưng họ không bao giờ ăn thịt. Họ không ăn tỏi, không ăn hành, không ăn tiêu ớt, để hơi thở của họ cũng được tinh khiết. Họ đối xử với các súc vật như là những con người. Một thú vật là một tạo vật của Chúa, và bằng cách tôn vinh tạo vật, họ tôn vinh đấng Tạo hóa. Chủ nhật, ngày lễ, người Skoptzys không bao giờ thắng ngựa vào xe. Ngựa, chúng cũng được hưởng những ngày nghỉ. Chủ nhật, các thú vật đều được miễn mang sợi dây hay sợi xích ràng buộc chúng. Chúng được tự do. Từ tối thứ bảy đến sáng thứ hai, tất cả thú vật của người Skoptzys đều được tự do. Những con bê và cừu non có quyền bú tất cả sữa của mẹ chúng. Vì không một người nào Skoptzys nào vắt sữa bò hoặc cừu ngày Chủ nhật. Họ không bao giờ nguyền rủa, họ không mang một thứ khí giới nào ngay cả một con dao nhíp nhỏ cũng không. Mỗi buổi sáng, họ lấy đồ vật trong túi ra và chải chuốt đáy túi cho thật sạch. Ngay cả trên giầy của họ cũng không bao giờ có một tí bụi, một vết bùn. Họ không thưa kiện, không bao giờ khiếu nại, dù sự thiệt hại mà người ta gây ra cho họ to lớn bao nhiêu cũng vậy. Họ không bao giờ cỡi ngựa. Họ không bao giờ đặt hàm thiếc vào miệng ngựa, vì họ cho rằng cái hàm thiếc mà người ta đặt vào miệng ngựa là một sự tàn bạo đối với ngựa và là một điều nhục mạ đối với Chúa. Trên những con ngựa không hàm thiết là một trò chơi đối với các xà ích tự hoạn ấy. Thế mà tai nạn cũng thường xảy ra. Khi xe xuống dốc, những con ngựa không hàm thiết lồng lên và dẫm nát xe và xà ích. Người Skoptzys chôn cất người chết, bị đè bẹp dưới các mảnh vụn của xe, nhưng không chịu đặt hàm thiết vào miệng ngựa. Tất cả họ đều cầm roi ngựa trong tay mặt. Gần như bao giờ cũng vậy. Nhưng không bao giờ người Skoptzys đánh ngựa với roi ấy. Cây roi đối với họ chỉ là một biểu tượng của nghề xà ích. Cây roi không thể là một vật dùng để đánh trẻ con ở Agapia; ác như tất cả trẻ con, biết rằng Ismail tự hoạn không bao giờ sử dụng chiếc roi, chúng đã tự rủ nhau làm một thí nghiệm. Một hôm chúng xịt tất cả chó dữ ở thành phố cắn Ismail. Đó là một sự khiêu khích dùng để thử thách niềm tin của gã xà ích bị thiến. Đúng như Chúa đã thử thách niềm tin của Job [1].
Các con chó do bọn trẻ con hư hỏng xịt ra bao vây Ismail để cắn xé. Chó đã kéo cái áo măng-tô nhung xuống, xé tan từng mảnh, và nhiều con đã cắn gã xà ích, Ismail sợ xanh mặt. Chung quanh gã, gã chỉ thấy toàn mõm chó sẵn sàng cắn xé gã. Gã có cây roi trong tay mặt như thường lệ. Để chống cự, đáng lẽ gã phải đánh các con chó. Nhưng điều đó, gã không muốn làm. Vì trái với nguyên tắc tôn giáo của gã. Người Skoptzys đã tự thiến mình, đã tự cắt thịt mình, vì niềm tin, vì tín ngưỡng. Ismail chấp nhận, nếu cần để chứng tỏ niềm tin của gã, cho các con chó cắn vào thịt của gã và xé thịt của gã. Lúc mà Ismail không còn có thể chịu đựng được nữa sự đau đớn, và nhất là sự khủng khiếp, gã đã làm dấu thánh giá và nhắm mắt lại. Chấp nhận cái chết của người chết vì đạo. Đó là cực điểm của sự thử thách, lúc ấy bọn trẻ đã can thiệp và cứu Ismail. Từ ngày hôm ấy, dân chứng ở Agapia kể cả trẻ con, biết rằng niềm tin của Ismail và của người Skoptzys là một cái gì rất nghiêm trọng và rất sâu sắc. Sự kính trọng mà người ta dành cho người Skoptzys là nhất trí. Ngay cả Cha xứ Nikodim của chúng tôi cũng tỏ lòng thán phục họ, mặc dù ngài không chấp nhận cho họ rước Mình Thánh Chúa.
Đàn bà Skoptzys tóc nâu, mắt xanh, da rất trắng, da dẻ tốt tươi như nước vẽ bằng sữa và máu. Đàn bà Skoptzys rất đẹp. Tóc có màu như sáp và thuốc nâu. Khi họ còn trẻ, họ mặc áo dài và đeo khăn choàng màu xanh da trời, như màu mắt của họ, sau ba mươi tuổi, họ chỉ mặc toàn đồ đen. Họ luôn luôn rất sạch sẽ và tươm tất, Hầu như chẳng bao giờ họ nói, và vẻ nhìn của họ giống như vẻ nhìn của các nữ tu.
Nhà cửa của họ sơn trắng, sạch sẽ và ánh sáng mặt trời chiếu vào. Sân nhà họ và đường sá trong khu họ ở đều lát gỗ và được rửa sạch sẽ bằng xà phòng nhiều lần trong ngày. Chuồng ngựa cũng có ánh sáng mặt trời chiếu vào, thoáng khí và sạch sẽ như nhà ở. Yên cương ngựa sáng chói như đai đạn của binh sĩ lúc duyệt binh, vì người Skoptzys đánh bóng yên cương mỗi ngày và làm cho các trang trí bằng đồng sáng chói. Tôi đã nói với ông rằng, từ một thế kỷ nay, từ lúc họ chạy trốn khỏi các hoang nguyên và đi ngang qua xứ sở chúng tôi trên đường tới Tây phương, họ không bao giờ làm một điều gì phạm pháp.
- Nhưng vì sao nhà chức trách lại trừng phạt họ bằng những cực hình như thế, nếu họ không làm điều gì xấu và nếu họ là những công dân hoàn toàn đến thế?
- Đó là một điều bí mật - Cảnh sát trưởng Fillaret đáp - Xã hội dung thứ những dị thuyết và những giáo phái thô bỉ, nhưng đã luôn luôn dìm trong máu và tận diệt những dị thuyết của những người tinh khiết khổ hạnh, thí dụ như của giáo phái Bogomiles hay Cathares thời trung cổ. Hơn nữa, sự ngược đãi của nhà chức trách đối với người Skoptzys là do cách sống bí ẩn của họ. Họ nhiệt tâm dụ người khác theo giáo phái của họ. Họ cám dỗ nhất là những người trai tráng mà họ thúc dục trở thành tự hoạn. Đó là điều mà các nhà chức trách nơi quê quán của họ khẳng định. Tại xứ sở chúng ta chưa bao giờ có sự rắc rối. Điều làm người ta băn khoăn lo ngại là cách sống bí ẩn của họ. Mỗi ngôi nhà người Skoptzys đều có hàng rào hoặc tường cao bao bọc chung quanh, ngôi nhà nghèo nhất cũng được một bức tường cao che khuất, đến nỗi từ ngoài đường người ta không thấy gì cả. Cửa sơn xanh, luôn luôn khóa. Người ta không bao giờ thấy người Skoptzys hay vợ con họ đi dạo ngoài đường. Cái lối thích sống ẩn dật, cô độc, bí mật của họ làm người khác tò mò. Nhưng không bao giờ một người lạ vào trong nhà người Skoptzys. Sau bức tường cao và khóa chặt của họ, không bao giờ người ta nghe tiếng nói, tiếng kêu, tiếng động. Một sự yên tĩnh đầy bí ẩn. Như thể tất cả dân ở trong đó đã đột ngột chết hết. Nhưng bên cạnh mặt yên tĩnh trong đời sống của họ, cũng có mặt bi đát. Sự cắt bỏ bộ phận sinh dục đã làm họ trở thành rất nhạy cảm và dễ bị xúc động. Họ tự kiềm chế. Nhưng cuộc đời họ là một sự khổ đau kinh khủng. Những sự thay đổi thời tiết nhỏ nhất - nhất là gió Fohn cũng làm họ phát điên. Những ngày có gió Fohn họ không thể ăn, cũng không thể ngủ. Họ bèn thức trắng đêm để cầu nguyện và sám hối. Và ngay khi không có gió Fohn, cũng không có thay đổi thời tiết, không có một lý do bên ngoài nào, đôi khi họ cũng rơi trong một trạng thái buồn bã, tuyệt vọng, không có giới hạn. Họ rơi vào đó như vào trong một vực thẳm, một hố không đáy. Và họ không thể thoát ra khỏi. Đó là hình phạt của Chúa, thưa ông thẩm phán. Vì họ đã cố điều chỉnh và cải thiện tạo vật của Chúa, tức là chính thân thể của họ. Con người không thể làm tốt hơn Chúa. Và vì người Skoptzys đã thử làm tốt hơn Chúa nên Chúa trừng phạt họ bằng cách làm cho họ phải chịu đựng những sự ngược đãi khốc liệt của bên ngoài và bên trong thì rơi vào những hố sâu buồn bã, ưu phiền và tuyệt vọng, vào những vực thẳm tối tăm, mù mịt. Còn có những hình phạt nặng nề hơn mà Chúa trừng phạt họ.
- Những tội ác giết người? - Ông thẩm phán hỏi.
- Không bao giờ có tội giết người tại khu người Skoptzys ở! Nhưng tại đó đã xảy ra những bi kịch cũng khủng khiếp như vụ giết người. Cứ hai ba năm một lần, người ta nghe, trong nhà họ và trong khu phố yên tĩnh của họ, những sự ồn ào, huyên náo lớn đến nỗi đánh thức cả thành phố dậy. Tất cả đồn cảnh sát đều báo động. Tất cả đội chữa cháy đều đến các khu người Skoptzys ở. Dân chúng các khu lân cận thức dậy và chạy tới. Sự huyên náo kéo dài suốt đêm. Như một đám cháy lớn. Và nguyên nhân luôn luôn như nhau. Một Skoptzys trẻ tuổi, một trong những trai tráng, bị thiến chưa được bao lâu, nổi cơn làm loạn vì tuyệt vọng. Còn tệ hơn điên khùng, anh chàng Skoptzys nổi loạn ra giữa đường và làm tất cả những gì bị cấm làm. Nó xé quần áo và trần truồng, nó vào các quán nổi tiếng xấu xa và các nhà đáng kính, vì thích thú muốn có mặt tại những nơi tội lỗi. Nó say sưa, nó la hét như một thú hoang bị thương và vấy máu. Nó tự đánh vào thân thể nó. Có tự làm mình bị thương. Nó lăn xuống bùn. Nó tự làm dơ bẩn thân hình nó. Nó đập phá tất cả những gì nó gặp: tủ kính, bàn ghế, xe cộ, bảng hiệu. Nó chống cự để thoát khỏi những người theo bắt nó, và luôn luôn nó thoát được, vì nó không lùi trước bất cứ sự nguy hiểm nào, như một kẻ muốn tự sát. Nó trèo lên mái nha, lên trụ đèn. Nó đeo vào dây điện thoại. Thật cao như một người làm trò xiếc. Nó cởi quần áo, trần truồng ở giữa thành phố. Tôi nói với ông, đó là một cuộc nổi loạn hoàn toàn tuyệt đối. Phụ thêm một sự khao khát dã man tự hủy một cách công khai.
Sau nhiều giờ đuổi bắt, anh chàng Skoptzys nổi loạn bị cảnh sát, lính chữa cháy, và y tá bắt được. Nó bị trấn áp. Thường thường, người ta dùng vũ lực, mặc áo bó cho nó để nó không cựa quậy được. Lập tức cộng đồng người Skoptzys đứng ra bảo lãnh kẻ nổi loạn. Họ chịu trách nhiệm về hành vi của nó. Họ đền tất cả những thiệt hại do nó gây ra. Họ đóng tiền bảo lãnh để nó được tự do, và thanh toán tất cả các món tiền phạt vạ. Toàn thể cộng đồng hùn tiền lại để làm việc đó. Họ đem kẻ nổi loạn về khu họ ở. Sau các bức tường cao. Nó được phép ăn uống, la hét, đập phá. Rồi người ta để cho nó ngủ. Tất cả đèn sáp, đèn dầu, thắp sáng trong các nhà, ở đấy tất cả người Skoptzys thức và cầu nguyện. Sáng hôm sau không ai nhắc lại cho kẻ nổi loạn biết sự gì đã xảy ra. Trái lại, người ta giúp đỡ nó quên tất cả. Hầu hết mọi người Skoptzys, một lúc nào đó đều có trải qua những vụ nổi loạn như thế. Cuộc sống của cộng đồng bắt đầu trở lại như cuộc sống các ngày khác. Nhưng một sự đe dọa được đặt ra, sự đe dọa của một vụ nổi loạn mới.
Tai họa xảy đến một cách đột ngột, một cách không thể nào cưỡng lại được, như những trận hỏa diệm sơn phun lửa. Các cuộc nổi loạn không theo một quy luật nào. Người ta không thể tiên đoán được. Người ta không có kịp thời giờ để ngăn cản. Cũng như người ta tiên đoán các trận động đất. Các cuộc nổi loạn ấy là điều đau đớn lớn nhất và là nhục nhã lớn nhất của cộng đồng tinh khiết người Skoptzys. Những cuộc nổi loạn đã qua và những cuộc nổi loạn sắp tới, tất cả những người trong cộng đồng đều đau khổ, như bị một thiên tai. Đó cũng là một sự trừng phạt của Chúa. Vì rằng, trong những lúc ấy, những kẻ tinh khiết ấy, chúng muốn với bằng các thiên thần, thì lúc này, chúng rơi xuống còn thấp hơn các con heo. Thật ra, đôi khi các con chim phượng hoàng bay thấp hơn các con gà mái, trong lúc các con gà mái không bao giờ bay cao hơn các con chim phượng hoàng. Nhưng đó chỉ là một điều an ủi đối với các con gà mái. Và không phải đối với các con phượng hoàng. Luôn luôn những tội lỗi lớn nhất lại do những người lớn nhất phạm. Đó là một quy luật.
- Đêm hôm ấy, vào lúc xảy ra vụ giết người. Có gió Fohn thổi?
- Một ngọn gió kinh khủng - Cảnh sát trưởng Fillaret đáp - Tôi tin rằng, đó là một đêm mà anh chàng đáng thương Ismail không hề chợp mắt một phút. Ngay đến các thú vật trong thành phố cũng không. Chó sủa, mèo chạy chỗ này đến chỗ khác, như bị ong vò vẽ đốt, và gà trống đã gáy vào những giờ không phải là thường lệ. Tôi đã nói với ông: Fohn, đó là như hơi thở của sự điên loạn, như hơi thở của quỷ sứ.
- Ông cảnh sát trưởng, phải chăng ông nghĩ rằng Ismail đêm ấy đã có thể nổi cơn điên loạn. Vì gió Fohn?
- Ismail luôn luôn bị lên cơn mỗi khi có gió Fohn. Tôi đã nói với ông rồi. Tất cả các người Skoptzys đều chịu một cách đặc biệt hậu quả của gió Fohn. Nhất là ban đêm. Vì hậu quả của gió Fohn ban đêm kinh khủng hơn ban ngày. Bóng tối tăng cường các hậu quả ấy.
- Và phải chăng Ismail đã phạm tội sát nhân?
- Tội sát nhân nào?
- Tội sát nhân trước lâu đài? Phải chăng Ismail đã giết Tuniade Con?
- Gần nạn nhân chỉ có Ismail. Chính nó đã mang xác nạn nhân vào lâu đài. Chính nó là người đầu tiên trông thấy người chết. Chính Ismail đã báo động. Người bị tình nghi chính, đó là Ismail.
- Ông quên rằng tên sát nhân đã chạy về phía rừng, bà Patricia đã bắn tên sát nhân.
- Chính Ismail nói rằng có một người chạy về phía rừng. Chúng ta không có một bằng chứng nào chứng tỏ rằng, quả thật có một người đã chạy trốn từ lâu đài. Chỉ có Ismail nói tới điều đó. Không có dấu vết. Những gì bà Patricia có thể thấy hay không thấy trong lúc tâm hồn bấn loạn thì không đáng kể. Ismail đã nói với bà ta, trong đêm tối “Bà, tên sát nhân kìa!” Và người đàn bà đáng thương ấy, hoảng hốt đã thấy một cái bóng và đã bắn theo. Nếu là một con người bằng xương bằng thịt, bà Patricia đã giết được nó rồi. Bà không bao giờ bắn trật một mục tiêu. Nếu bà Patricia Tuniade đã không bắn chết tên sát nhân, đơn giản là chỉ vì không có tên ấy.
- Không bao giờ một Skoptzys phạm tội giết người - Cảnh sát trưởng Fillaret nói - Ngay cả trong cơn điên loạn, không bao giờ một Skoptzys làm hại một con người hay một con vật. Ismail không thể phạm tội sát nhân. Dù bị ảnh hưởng của gió Fohn.
- Cảnh sát trưởng, chính ông đã nói rằng đôi khi phượng hoàng bay thấp hơn gà mái... rằng những tội ác lớn nhất là do những người tinh khiết nhất phạm. Ismail là kẻ bị tình nghi chính. Hơn nữa nó thuộc một tà phái rất nguy hiểm, những người nguy hiểm nhất là những kẻ thử vượt lên trên đấng tạo hóa như Lucifer. Icare, Faust Prométhée, tất cả những kẻ hèn mọn muốn làm siêu nhân và địch thủ của Chúa ấy. Là những tên phạm tội nguy hiểm nhất. Người siêu nhân và người Chúa hay người thần, tự bản thân, đã là một tội lỗi. Một trọng tội. Theo tôi Ismail là tên bị tình nghi số một. Nó đã bị Tuniade làm cho nổi xung, và nó đã giết cậu ta, một cách không cần lấy tiền công. Tên sát nhân, là Ismail.
Trước cửa pháp đình. Những vụ tuyết lớn rơi xuống trên người gã xà ích. Ismail kẻ tự hoạn, ngồi đợi trong chiếc xe tuyết, như trên một đế tượng. Nó đợi, từ sáng nay, người ta nghi nó đã giết người. Và nó ngạc nhiên sao ông thẩm phán không yêu cầu nó biện bạch.
-------------------------------
[1] Theo thánh kinh Job là một nhân vật giàu sang quyền quý nổi tiếng vì lòng kính Chúa và tính nhẫn nhục. Chúa cho Satan thử thách đức độ ấy. Tức thời Job trở nên khổ cực chịu đựng mọi thứ khổ đau trong cảnh bần hàn khổ đau, bị vợ hành hạ, chúng bạn chê cười. Job vẫn một lòng kính chúa. (N.D).
0
XVII
Tìm ra tên sát nhân
 
Mười hai giờ đã trôi qua từ lúc xảy ra vụ ám sát Antoine Tuniade. Bây giờ đã một giờ chiều. Ngày thứ sáu đầu tiên của tháng ba, không một giả thiết nào đứng vững. Cuộc điều tra giậm chân tại chỗ. Không một ai đã cho ông thẩm phán trẻ một điều chỉ dẫn bổ ích nào. Hai mươi bốn giờ đã trôi qua kể từ lúc ông nhậm chức thẩm phán hòa giải tại thành phố này. Cosma Damian buồn ngủ. Bà Eudoxia đã dọn cho ông ăn đôi chút. Sau đó bà đã khuyên ông đi ngủ một chút. Sáng nay mới một giờ, người ta đã đánh thức ông dậy, và ông đã đi xe lên lâu đài, đến hiện trường xảy ra vụ ám sát. Từ lúc đó, ông không có lấy một phút nghỉ ngơi.
Ông thẩm phán nằm trong cái giương lớn của ông. Ông mệt mỏi như chưa bao giờ thấy mệt mỏi như thế. Ông nhận thức ra rằng, đó là hậu quả của gió Fohn. Của ngọn gió thẳng đứng nổi tiếng. Khi ngọn gió ấy thổi như bây giờ đây không một cành cây nào lay động. Tất cả đều hình như bất động. Nhưng không vì thế mà ngọn gió ấy là điều không có, nó đè nặng lên đầu người ta, nó từ trên đi xuống, với một thân hình bằng xơ len và hơi nước, như một đám mây. Người ta không nhận thấy nó đi xuống. Chỉ có một điều là người ta thấy khó thở. Trần bầu trời hạ thấp xuống đến nỗi mỗi người cảm thấy sức nặng của nó trên đầu mình, như sức nặng của một cái vung bằng chì. Trời đè nặng lên trên mỗi người. Và ông thẩm phán ngủ thiếp đi một cách nặng nề. Vừa mới chợp mắt, ông đã tỉnh dậy. Có ai đó kêu lớn.
- Thưa ông thẩm phán, người ta đã tìm ra tên sát nhân! Tên sát nhân đã bị bắt!
Đó là bà Eudoxia vào báo tin cho ông thẩm phán.
Bà nói tiếp:
- Tên sát nhân vừa ở trên xe lửa nhảy xuống. Xe lửa mới tới ga cách đây chưa đầy năm phút đồng hồ. Bọn trẻ đã báo cho tôi biết. Tên sát nhân đang bị canh giữ cẩn thận trong phòng giấy của xếp Inimiora. Người ta đang đợi ông thẩm phán ở đấy. Người ta tìm cảnh sát trưởng Fillaret để báo cho ông ta biết tin, nhưng người ta không tìm thấy ông ấy. Ông ấy không có ở văn phòng.
- Nhưng ai đã bắt tên sát nhân, nếu ông cảnh sát trưởng không hay biết gì cả? - Ông thẩm phán hỏi.
- Đó là những người tìm thấy nó - Bà Eudoxia đáp - Ông thẩm phán sẽ thấy.
Tới nhà ga. Ông thẩm phán thấy tụ tập đông người, nhất là trẻ con và đàn bà. Tất cả đều chạy tới để xem mặt tên sát nhân. Nó đang ở trong phòng giấy của trưởng ga. Nó nằm trên giường của ông Inimiora và đắp một cái mền có con dấu của sở hỏa xa, người ta chỉ thấy cái đầu của tên sát nhân. Một cái đầu tròn, da màu gạch, râu dài vài phân, bạc hơn là đen. Trán nhô, như một mỏm đá nằm nghiêng trên một cái hố. Tên sát nhân nhắm mắt, trông chết hơn là ngủ. Trong phòng giấy của ông Inimiora cũng có một người thợ máy hỏa xa, mình mẩy dính đầy than, đen thui, và một ngươi phụ máy, còn trẻ và đang học việc. Cả thợ máy và phụ máy đều là người lạ.
- Đấy là tên sát nhân. - Người thợ máy nói.
Đó là một người thợ, cao gầy, râu quai nón. Đôi mắt đen như những vết than lem luốc trên mặt, trên tay và trên áo quần của ông ta. Anh phụ máy chỉ cho ông thẩm phán tên sát nhân nằm dài trên giường.
Inimiora điện thoại trả lời với cấp trên của ông đã gọi ông đúng vào lúc mà trong phòng giấy nhỏ hẹp của ông đang xảy ra những sự kiện quan trọng dường kia. Trên sân ga, mũi dán vào các ô cửa kính, đám con nít ở thành phố chen nhau. Càng lúc càng đông thêm.
- Làm sao ông biết nó là tên sát nhân? - Ông thẩm phán hỏi - Có phải nó nói với ông không?
- Không - Người thợ máy đáp - nó không hề mở miệng. Nó trông có vẻ chết hơn là sống. Chính ông trưởng ga và người dân ở đây, gã xà ích và bọn trẻ con nhận ra nó. Họ đều quả quyết đó là tên sát nhân. Chúng tôi, chúng tôi là người lạ. Nhưng họ là người ở đây, họ đã nhận ra lập tức.
Ông thẩm phán không hiểu được một cách rõ ràng, làm sao các người ở Agapia biết ai là người đã giết Tuniade con. Đêm qua không một ai đã nói ra một cái tên nào. Ông nổi giận, nhưng ông tự kềm chế. Ông ra lệnh cho người thợ máy kể lại các sự việc đã xảy ra như thế nào.
- Tôi tên là Spiridon. Tôi là tài chiếc tàu hàng mà ông thấy trong ga. Trên đầu xe lửa tôi làm việc với người phụ của tôi mà ông thấy đây. Anh ta có thể khẳng định rằng, tất cả những gì tôi kể với ông là đúng sự thật. Tôi cho tàu chạy rất chậm, giữa mười và hai mươi cây số một giờ mà thôi. Mặc dù đầu xe lửa có một cái gạt tuyết, cũng phải chạy chậm. Và nhất là phải luôn luôn coi chừng tình trạng của đường rầy. Đôi khi người ta gặp những chướng ngại vật mà cái gạt tuyết không thể hất đi được, gặp trường hợp ấy, cả hai chúng tôi phải xuống dùng xẻng để hất tuyết đi. Mười phút trước khi tới ga Agapia, lúc đó đúng một giờ năm phút, tôi thấy trên đường một vệt đen, ở giữa hai đường rầy, trước mặt tôi. Tôi nghĩ rằng đó là một con chó sói hay một con gấu bị thương và nằm chết trong tuyết. Khi tàu dừng lại, tôi nhìn một lần nữa. Người phụ của tôi, Cristofor, cũng có nhìn. Đúng là một vật đen đang nhúc nhích. Chúng tôi cho tàu tới gần, càng gần càng tốt, trong mức có thể được. Con thú bị vùi trong tuyết bây giờ chỉ còn cách xa chúng tôi năm thước, chúng tôi chuẩn bị xuống để đánh chết nó với cái xẻng xúc than. Lúc ấy chúng tôi chắc chắn đó là một con thú. Nhưng chúng tôi không biết là một con gấu, một con heo rừng hay một con thú to lớn nào khác. Vì nó rất to, không thể là một con chó sói hay một con chồn được.
“Một con người” Crisgifor kêu to. Không phải thú vật! Không có lông. Cổ một cái áo măng-tô! Và vì vậy mà chúng tôi đã không nện xẻng xuống trên người bị vùi trong tuyết. Cho đến lúc ấy, chúng tôi đã sẵn sàng nện. Vì chỉ có thể đó là một con thú bị thương, và phải hạ nó trước khi nó vồ chúng tôi. Một con gấu hay một con heo rừng bị thương thì đặc biệt nguy hiểm. Dù bị thương gần chết chúng cũng xé chúng ta ra thành từng mảnh. Vài người bạn của tôi thường thấy trên đường sắt những con thú bị thương. Vì vậy chúng tôi đã sẵn sàng đập, trước khi biết đó là con thú gì. Nhưng chúng tôi đã không đập là nhờ có Cristofor đã đúng lúc thấy đó là một con người. Vậy là chúng tôi đã từ từ đi tới. Nhưng luôn luôn với cái xẻng sẵn sàng nện xuống. Vì không biết đó là loại người nào. Loại người nào mà có thể nằm trên đường sắt, bị vùi trong tuyết? Trên đường đi, người ta có thể tin đây là một người đi bộ gặp tai nạn. Nhưng trên đường sắt, người ta phải cảnh giác. Người kia có thể giả vờ chết để lôi cuốn chúng tôi đến gần mà giết, việc đó thường xảy ra.
“Đây là một hành khách rơi từ trên tàu xuống!” - Critofor đã nói.
- “Chắc như thế”, tôi đã đáp “Bằng không, nó không thể nằm ở đây”. Xa hằng cây số với con đường đi gần nhất. Nó từ “trên tàu rơi xuống”. Và chúng tôi đã ít sợ hơn. Chúng tôi đi tới gần. Nhìn áo quần thì biết đó là một người nghèo khổ và già. Không có áo sơ-mi. Ngay một cái áo thun cũng không. Chúng tôi lập tức nghĩ rằng, đây là một hành khách đi lậu, không có vé, núp trên bậc cấp của toa tàu, để khỏi bị thấy và bị bắt, và đã rơi xuống. Người ta thấy ngay đây là một kẻ không có thể mua vé tàu. Và chúng tôi thấy thương hại. Người nghèo, là như thế, họ cảm thấy lập tức liên đới với nhau. Người giàu, khi họ gặp nhau, họ khêu gợi, họ cảm thấy sự hận thù, sự ganh tị, nhưng người nghèo thì vui lòng thân ái với nhau. Họ là những đứa con của một bà mẹ chung. Những đứa con của Đức Bà nghèo khổ.
Nếu là ban đêm, tôi đã có thể đập chết người ấy rồi, vì tưởng đó là một con thú. Tôi đã đặt cái xẻng xuống bên cạnh người ấy và tôi đã nói với nó:
“Khốn khổ! Mày từ trên tàu rơi xuống phải không? Tàu hành khách chạy qua đây mới một giờ”.
Chỉ có thể đây là một hành khách rơi xuống từ chuyến tàu Nam. Tôi đã hỏi người ấy những gì đã xảy đến cho nó. Nhưng nó không trả lời. Tôi hiểu là nó bị thương nặng và kiệt sức. Không có cách gì làm cho nó nói được. Tôi cúi sát xuống. Nó còn nóng và còn thở. Hơi thở rất yếu. Người lạnh và ấm hơn là nóng. Nhưng còn sống. Tôi hiểu là nếu tôi đến chậm hơn một giờ hay hai giờ nữa, thì tôi thấy nó cúng đờ rồi. Sẵn sàng để bỏ vao một cái áo quan gỗ tùng. Tôi cố lôi nó ra khỏi tuyết. Nhưng khó nhọc lắm. Con người đáng thương, nó nặng hơn tôi năm lần. Ông hãy nhìn kìa, một con voi!... Một tảng đá!... Tôi đã cố trong mười lăm phút đồng hồ mới lôi nó ra được và mang nó lên trên tàu. Nó không nhúc nhích, động đậy. Làm tôi phát sợ. Một cảm giác kỳ cục... Nhưng bây giờ tôi cảm thấy vui lòng vì đã lôi nó ra được khỏi nơi đó. Không phải ngày nào người ta cũng có dịp cứu một mạng người. Tôi còn hãnh diện vô cùng là đằng khác. Vợ tôi và sắp nhỏ con tôi cũng sẽ bằng lòng. Và hãnh diện vì cha chúng nó đã cứu sống một con người.
Thế là người ấy được đặt nằm dài trên đầu máy. Gần bên lửa. Nhưng nó không thể biết là trong này nóng lắm. Chúng tôi cho tàu chạy chậm. Tới Agapia, chúng tôi đã giao nó cho trưởng ga. Chúng tôi không thể đưa nó đi xa hơn, nó gần chết. Nhìn nó, trưởng ga đã kêu lên.
“Đó là tên sát nhân trên lâu đài”.
Ông trưởng ga đã nói với chúng tôi rằng người đàn ông mà chúng tôi đem đến đây là một tên tù khổ sai vượt ngục. Rằng nó đã giết một người với cái rìu cách đây một năm rồi. Và rằng, đêm qua, nó đã giết một người thứ hai. Nhưng tôi tự nhủ rằng dù sao đi nữa thì tôi cũng đã cứu mạng sống một con người. Tù khổ sai hay không thì cũng là một con người. Và tôi lấy làm bằng lòng đã cứu sống nó.
Nhưng tôi băn khoăn. Tôi không ngờ rằng con người khốn khổ này là một tên sát nhân! Sau đó ông trưởng ga đã gọi gã xà ích. Ông ta đã hỏi gã: “Ai đó?... Anh có biết nó không?” Gã xà ích làm dấu thánh giá và gã đã nói: “Đúng là nó. Không sợ lầm lẫn. Đó là Savonarola Mold. Vậy là chính nó đêm qua đã giết Tuniade Con”.
Người ta đã giải thích cho chúng tôi biết, từ lúc một giờ sáng người ta tìm kiếm trong khắp vùng này kẻ đã giết một thanh niên. Và rằng chính chúng tôi đã tìm thấy tên sát nhân ấy!
Thẩm phán, trưởng ga, thợ máy và phụ thợ máy, và tên giết người Sava Mold nằm dài trên giường, đều im lặng.
- Chúng tôi đã làm bổn phận của chúng tôi, bằng cách cứu một người bị vùi trong tuyết, trên đường sắt - Người thợ máy nói tiếp - Đối với chúng tôi, không có vấn đề hỏi người ấy nó là một tên phạm tội đại hình, một tên ăn cắp hay một người lương thiện. Đúng là, chúng tôi cũng có như thế nào ấy khi được biết con người mà chúng tôi đã mang trong đôi cánh tay của chúng tôi như một đứa trẻ đau ốm, là một tên tù khổ sai đã giết người, cách đây mười hai giờ, một người mà máu còn tươi trên bàn tay của nó.
Người thợ máy và người phụ máy nhìn chiếc tàu hàng.
- Chúng tôi có thể đi? - Người thợ máy hỏi - Ông không còn cần đến chúng tôi?
- Ông có thể đi.
Hai người bắt tay tên sát nhân Damian và trưởng ga Inimiora. Họ muốn bắt tay Savonarola nhưng hắn nằm im lìm bất động như chết. Người thợ máy và người phụ máy ra đến sân ga. Ở đó hai người bắt đầu cãi nhau. Nhất là người thợ phụ trẻ giơ tay múa máy. Rồi người thợ máy già gõ cửa và trở vào trong phòng giấy. Một cách rụt rè, ông ta nói:
- Thưa ông thẩm phán, chúng tôi không biết đó là một tên sát nhân ghê gớm. Chúng tôi mới biết được điều ấy ở đây, như tôi đã có nói với ông. Nhưng bây giờ, chúng tôi đã xong bổn phận, chúng tôi có thể rất kính cẩn hỏi ông một điều được không?
- Ông cứ hỏi.
- Có một món tiền thưởng cho những ai bắt được một tên tù khổ sai vượt ngục và một tên sát nhân khét tiếng. Một món tiền thưởng lớn. Với món tiền thưởng ấy, người ta có thể xây ngay một ngôi nhà. Vậy mà chính chúng tôi đã bắt được tên sát nhân.
Ông thẩm phán tái mặt. Người thợ máy nhấn mạnh:
- Người nào bắt được một tên sát nhân, đôi khi nhận được một món tiền thưởng lớn đến nỗi vượt quá tổng số tiền lương đến cuối đời. Tôi đã có thấy trường hợp những cái đầu của các tên sát nhân được treo với cái giá tiền thưởng rất cao. Giá giải thưởng rất cao. Các bảng niêm yết vào báo chí có nói điều ấy. Vậy thì chúng tôi có thể lãnh món tiền thưởng ấy không?... Vì, nói cho cùng, chính chúng tôi là người đã bắt được hắn.
- Đúng, chính các ông - Ông thẩm phán nói - Nhưng về vụ bắt được tên sát nhân này, chính phủ sẽ không trả gì cả. Ít ra là theo sự hiểu biết của tôi.
- Thế cái đầu của hắn không có giá trị gì cả sao? - Thợ phụ trẻ Cristofor hỏi - Có những tên sát nhân có giá trị bằng cả một gia tài. Tất cả mọi người nói ở đây rằng tên sát nhân của chúng tôi là một tên sát nhân khét tiếng. Một tên tù khổ sai chung thân vượt ngục. Vì sao cái đầu của hắn lại không có giá trị gì ca?
- Tôi không biết - Ông thẩm phán nói - Nhưng theo tôi biết, chính phủ không trả gì hết cho cái đầu này. Cũng như các ông đã đem đến một khúc gỗ tìm thấy trên đường sắt. Một giá như thế thôi: không có gì cả. Nhưng các ông hãy để lại địa chỉ. Ngươi ta sẽ gởi đến cho các ông món tiền thưởng nếu như có thưởng. Nhưng điều ấy sẽ làm tôi ngạc nhiên.
Hai nhân viên sở hỏa xa đi ra vẻ bất bình. Họ đã bắt được một tên sát nhân không có giá trị gì hết. Họ không hiểu vì sao nó không có giá trị. Trong lúc những tên sát nhân khác giá trị hằng triệu đồng. Chiếc tàu hàng ì ạch khởi hành, chầm chậm, và cảnh sát trưởng Fillaret thì vừa đi vừa chạy. Bọn trẻ con đã tìm được ông. Chúng đã báo cho ông biết kẻ giết Tuniade Con hiện ở tại nhà ga. Do một tàu chở hàng đem đến.
Tại văn phòng trưởng ga, cảnh sát trưởng Fillaret nhìn con người gần chết, nằm dài trên giường.
- Thưa ông thẩm phán, đúng là nó. - Filaret nói. - Đúng là Savonarola Mold. Đó là tên đã giết Tuniade Cha.
- Và đã giết Tuniade Con. - Ông thẩm phán nói thêm cho đủ câu.
- Chắc vậy. - Cảnh sát trưởng Fillaret nói.
Ông tự đánh vào đầu mình bằng cả hai tay. Ông giận dữ, ông không có thể tự kềm chế được nữa. Ông thét Sava:
- Đồ khốn nạn, chính mày cũng đã giết Tuniade Con đêm qua phải không?
- Ôi Sava đáng thương, Sava khốn khổ! Một lần giết người, một lần sát nhân, không đủ hay sao? - Cảnh sát trưởng Fillaret rên rỉ.
Ông quay lại phía ông thẩm phán:
- Chúng ta đã kết thúc cuộc lùng bắt. Bây giờ vụ ám sát đêm qua là một việc đã thanh toán xong. Chúng ta sẽ gọi bác sĩ Pillat. Bác sĩ sẽ săn sóc tên khốn kiếp này để cho hắn tỉnh lại. Và sau đó chúng ta sẽ nghe lời khai của hắn. Hắn sẽ kể lại bằng cách nào và vì sao hắn vượt ngục, và vì sao hắn đã giết người con, sau khi đã giết người cha. Tên khốn nạn đáng thương! Hai lần giết người! Người cha và người con trong cùng một năm!
Cảnh sát trưởng Fillaret ra khỏi phòng giấy. Đi được vài bước trong tuyết. Trở vào lại. Lớn tiếng nói với trưởng ga.
- Anh, Inimiora, canh giữ hắn. Hãy canh giữ cẩn thận. Để nếu hắn tỉnh lại, hắn không thể giết người một lần thứ ba. Nghe rõ chưa?
- Còng tay hắn lại có tốt hơn không? - Inimiora hỏi.
Những lời ông cảnh sát trưởng vừa nói làm ông trưởng ga hoảng sợ. Ông đã thấy, bằng tưởng tượng, Sava từ nơi giường đứng dậy và bóp cổ, với đôi bàn tay to tướng, liền sau khi ông thẩm phán và ông cảnh sát trưởng ra khỏi phòng giấy.
- Anh cứ còng tay hắn lại, nếu anh muốn - Cảnh sát trưởng Fillaret giận dữ nói - Nếu anh không còng tay, anh hãy cột hắn bằng dây. Hoặc bằng xích. Anh có dây và xích. Tôi, tôi không còng tay người chết, người gần chết. Như Ismail không đặt hàm thiếc vào miệng ngựa. Nhưng anh được tự do làm việc ấy. Anh cứ xoay sở theo khả năng của anh.
Cảnh sát trưởng Fillaret giận dữ đi ra sân ga. Ông nói với ông thẩm phán:
- Thưa ông, người ta sẽ nhốt hắn trong một phòng của pháp đình. Người ta sẽ đặt hắn nằm trên giường. Tôi sẽ phái cảnh sát viên đến đây. Và sẽ cho mời bác sĩ đến. Như vậy, là hợp lệ. Và sau đó sẽ đợi hắn tỉnh lại. Để hắn nói cho chúng ta biết rằng bằng cách nào hắn đã có thể vượt ngục, và làm một điều như thế kia.
Lập tức, cảnh sát trưởng Fillaret nói thêm:
- Nhưng tốt hơn hết là hắn đừng tỉnh lại nữa! Đối với hắn, về tất cả phương diện, tốt hơn hết là qua thế giới bên kia càng sớm càng tốt. Ở đây, hắn không còn làm được gì tốt nữa! Tên khốn kiếp hắn chỉ còn việc cút khỏi trái đất này! Giết người cha và người con, người này sau người kia!
Cảnh sát trưởng Fillaret giận dữ vô cùng. Ông không ngừng nguyền rủa, bất chấp tất cả mọi sự và tất cả mọi người.
- Giết người cha và người con! Hai lần giết trong cùng một năm! Đó chính là tay sai của quỷ sứ. Sava không còn là một con người. Một con người không thể làm điều ấy.
Sau nhà ga, có Ismail ngồi trong chiếc xe trượt tuyết hai ngựa trắng của gã. Ngồi bất động, gã cầu nguyện. Ông cảnh sát trưởng thét.
- Mày hãy vào trong phòng giấy. Hãy mang tên sát nhân lên xe và đưa nó đến pháp đình. Nó gần chết. Hãy cẩn thận khi mang nó.
Sau đó, ông Filaret nói với ông thẩm phán:
- Không cần phái cảnh sát viên đến để mang nó đi. Người chết và sắp chết không cần cảnh sát viên, vì cảnh sát viên không thể ngăn cản chúng trốn sang thế giới bên kia. Nơi duy nhất mà chúng còn có thể tìm được chỗ trú ẩn... Bà Patricia Tuniade khoe rằng trong đời bà, bà không bao giờ bắn trật một phát đạn nào. Đáng lẽ tốt hơn hết là bà bắn trật tất cả các phát đạn khác, và đừng bắn trật phát đạn đêm qua. Bà khoe bắn chết một con chim sẻ đang bay... Đáng lẽ bà phải ngắm thật kỹ đêm qua, khi bà bắn theo Sava với cây ca-ra-bin của bà. Và giết chết tươi nó. Như thế bà đã làm được một việc tốt. Việc tốt đầu tiên mà các người ở lâu đài có thể làm được trên thế gian. Nhưng bà đã không bắn chết nó, như thế là đã loại trừ cho thế gian một tên khốn nạn. Và đã tránh cho chúng ta khỏi phải lục lọi trong những hành vi bẩn thỉu. Chúng ta sắp phải hỏi bằng cách nào và vì sao, đó là một điều vô ích, vì Sava không có khả năng biện giải. Tất cả những gì nó nói sẽ không có giá trị gì. Nó không biết gì cả. Hoàn toàn không biết gì cả. Nó chỉ là một dụng cụ trong lòng bàn tay của quỷ Satan, của ma vương. Chính quỷ sứ đã giết người đêm qua, trước lâu đài. Một con người không thể làm điều đó. Tôi biết rõ Savonarola Mold. Nó không thể phạm tội như thế. Và nó đã làm như thế?... Chính quỷ sứ đã mở cửa ngục, đã xúi giục Sava vượt ngục, đã dẫn nó đến đây, chính quỷ sứ đã giết người bằng bàn tay của Sava. Rõ ràng vụ giết người đêm qua không phải là một việc làm của con người. Đó là việc làm của quỷ sứ. Đó là một tội ác quá quỷ quái để có thể là việc làm của một con người. Nhất là của tên Sava đáng thương.
- Ông yêu mến người đồng châu của ông, địa phương của ông, thành phố của ông đến nỗi ông phủ nhận những sự kiện đích thực nhất và không thể nào phản bác được nhất.
- Nhưng, thưa ông thẩm phán, vùng đất này, bầu trời này, các cây cối này, tôi biết rõ vì chúng là bản thân tôi. Chúng là thể xác tôi và là linh hồn tôi. Không một con người nào chỉ đơn thuần là một thân thể bằng thịt, bằng xương và bằng máu. Không một con người nào có thể sống một cách cô độc một mình, với thịt của mình, xương của mình, máu của mình và linh hồn của mình. Da không phải là một cái rào cản giữa con người và anh em đồng bào của nó trên toàn thế giới, người chết cũng như người sống. Con người là một phần tử trong một tập thể là một phần tử không thể chia cắt của một vùng đất, một vùng dưới bầu trời, của một cộng đồng. Nếu người ta chặt một nhánh cây, toàn thể cây bị tổn thương, tôi biết rằng Sava đã không làm việc ấy. Chính quỷ sứ đã giết người bằng bàn tay của Sava.
- Cảnh sát trưởng, con người không chỉ nhận được một khuôn mặt theo khuôn mẫu của Chúa. Con người cũng còn nhận được của Chúa sự tự do lựa chọn. Luôn luôn con người có thể lựa chọn. Con người có thể làm điều xấu, điều ác, cũng như con người có thể làm điều tốt, điều thiện. Con người làm chỉ tuyệt đối các hành vi của mình.
- Nhưng chính đó là những gì tôi đang nói với ông! Tôi biết sự lựa chọn mà Sava, và tất cả chúng tôi ở đây đã lựa chọn. Vì vậy tôi biết nó không thể giết người. Thế mà nó đã giết người đêm qua. Vì vậy chính là quỷ sứ đã mượn bàn tay nó để giết người. Nhưng người ta không thể bắt quỷ sứ! Cho nên người ta sắp kết án Sava Mold. Nhưng không phải nó phạm tội ấy.
0
XVIII
Những viên kẹo của tên sát nhân
 
Sava Mold được chở đến pháp đình. Không có nhà lao ở Agapia. Cũng không có bệnh viện. Cũng không có bệnh xá. Người ta đặt Sava nằm trong phòng gần phòng xử án. Người ta cho một cảnh sát viên gác trước cửa. Nhưng đó là việc thừa. Bác sĩ Pillat đến lúc ba giờ chiều, đã săn sóc cho Sava Mold. Bác sĩ đã chích thuốc cho nó và nó đã tỉnh. Bây giờ Sava Mold đang nằm nghỉ trong phòng, giường nệm trắng tinh, nệm của ông thẩm phán.
- Phải gọi Strul, người thợ cạo, để cạo râu cho nó. - Cảnh sát trưởng nói khi vừa mới bước vào trong phòng.
Vì trên chiếc gối trắng là một cái đầu tóc bù xù với một bộ râu rậm như bụi gai, bẩn một cách dễ sợ.
- Phải cạo cái bộ râu bù xù ấy đi. Đây là một con người. Nó đã đi được một quãng đường dài không thể tưởng tượng được trong tuyết, đi ngày đi đêm, để tới được Agapia, xứ sở của nó. Nó hoàn toàn đi bộ, trong tuyết cao đến tận thắt lưng. Trời lạnh ba mươi độ dưới số không. Nó không ăn gì từ khi nó rồi khỏi ngục. Chân tay đều lạnh buốt. Đến mùa xuân, nếu nó còn sống ngón tay, ngón chân, móng tay, móng chân và những mảnh thịt da của nó sẽ rơi xuống từ thân thể nó, như lá khô rơi xuống từ các cây cối. Nhưng không chắc là nó sống sót. Savonarola Mold chết đi có lẽ là điều tốt hơn. Có những tình thế mà cái chết là giải pháp duy nhất. Bác sĩ đã khám thân thể lạnh buốt của Savonarola Mold. Nó đói, kiệt sức với các liều thuốc có chất kích thích do bác sĩ cho, và cố gắng hết sức, nó cũng chỉ có thể làm cho lưỡi cử động được để nói vài tiếng. Sau đó nó mệt như thể nó nhấc những hòn đá nặng, cảnh sát trưởng Filaret, xà ích Ismail và những người dân địa phương tự hỏi, cứu vớt một thân hình mà thế nào cũng sẽ bị chôn vùi dưới một hầm muối thì có ích lợi gì. Đây là một thân hình mà người ta không cần đến. Nhưng ở đây, người ta giữ gìn xác thịt, vì thân xác con người cũng vĩnh cửu như linh hồn. Đã có viết trong Thánh kinh rằng, Chúa sẽ giáng thế lần thứ hai. Và rằng ngày ấy Chúa sẽ trả lại cho mỗi người xác thịt của nó. Vì vậy xác thịt cũng vĩnh cửu, chỉ biến thái mà thôi. Xác thịt sẽ sống lại khi Giê-su giáng thế lần thứ hai. Xác thân con người sẽ phục sinh. Và vì lẽ ấy người ta không khinh khi nó. Và người chết tiếp tục là phần tử của cộng đồng người sống, và sẽ sum họp với người sống ngày Chúa Giê-su giáng thế lần thứ hai. Người ta không phá hủy một thể xác, vì nó còn hữu ích. Vì nó sẽ được phục sinh, dưới một hình thức khác. Và người chết vẫn hiện diện tuy vô hình không thấy, bên cạnh người sống ở nhà thờ trong lúc làm lễ, mồ mả của người chết là nhà ở tạm thời và cũng là phần tử của cộng đồng. Dịp lễ phục sinh và các ngày lễ khác, người ta đi thăm mộ phần, người ta đến với người chết, cũng như người ta đi thăm bà con, bạn bè còn sống.
- Anh là Savonarola Mold phải không? - Ông thẩm phán hỏi.
Một mình ông ngồi trên đầu giương tên sát nhân.
- Đúng. - Sava đáp.
Nó hái nụ cười của ông thẩm phán như hái một trái dâu. Nó cảm thấy nụ cười ấy đúng như nó nếm một trái dâu, vì nó đói khát. Đã một năm rồi, ở dưới các hầm muối, không có ai làm quà cho Sava một nụ cười.
Ông thẩm phán không nhận thức được rằng ông đã cho Sava Mold một món quà, khi nhìn nó và mỉm cười với nó một cách thương hại và thân thiện như với một người bệnh. Ông đưa tay ra bắt tay Mold. Nhưng Mold không thể xiết tay ông thẩm phán được. Bàn tay của Mold lạnh buốt và tê cóng. Như chết.
Sava không thể tin được rằng ông thẩm phán rất trẻ mỉm cười với nó. Nó chờ đợi người ta cho nó một trận đòn. Chửi bới nó, chà đạp nó, như trong lần điều tra nó trước kia. Và kìa, ông thẩm phán đang mỉm cười với nó như với một người bệnh! Điều ấy đối với Sava còn quý hơn một chén trà, một ly sữa nóng và một cái áo nhung. Nó muốn nhắm mắt lại và chết vì nó sung sướng. Vì cái mỉm cười ấy.
- Anh đúng là Sava. - Ông thẩm phán lặp lại.
- Thưa ông, đúng.
- Anh có nghe tôi nói không?
- Thưa ông có.
- Tôi là thẩm phán Damian.
- Salve Domnii. - Sava nói.
Tiếng “Salve” tức là chào của người La Mã, là tiếng mà ông thẩm phán đã nghe các đứa con của Sava Mold nói sáng hôm nay. Và bây giờ chính nó, tên sát nhân, cha của bọn trẻ con dữ dằn như thú hoang kia lại thốt ra tiếng ấy! Khi biết được người trẻ tuổi là thẩm phán. Sava gắng sức để ngồi dậy.
- Anh cứ nằm như thế. - Ông thẩm phán nói.
Đột nhiên Sava xanh mặt. Nó biết rằng người đang ngồi trước mặt nó - người mà nó chỉ còn giữ lại nụ cười là một thẩm phán. Và những tiếng “thẩm phán, cảnh sát, cai tù” làm nó sợ. Vì tiếng “thẩm phán” mà nó xanh mặt mà không biết.
- Sava Mold, anh hãy nghe cho rõ.
- Thưa ông thẩm phán, tôi nghe đây.
- Đừng sợ tôi. Tôi sẽ không làm điều gì hại anh đâu. Anh hiểu không?... Tôi không phải là một tên đao phủ, cũng không phải là một tên cai ngục. Tôi là một điều tra viên, anh hiểu không? Tôi tìm sự thật trong sự việc này cũng như người ta tìm múi chỉ trong một cuộn chỉ rối.
Sava càng lúc càng tái xanh hơn. Sự thể người ta đang ngồi trên ghế gần bên giường nó, là một thẩm phán. Một nhà chức trách, làm cho nó run, làm cho nó băn khoăn lo sợ.
- Ông bạn của ta ơi, anh hãy yên tâm. - Ông thẩm phán nói một cách thân mật.
Không phải vì lòng tốt. Nhưng vì ông còn chưa hoàn toàn là thẩm phán. Ông cư xử như một sinh viên. Như một con người bình thường. Một nghề nghiệp cũng như màu da, lúc mới đầu còn trơn láng và về sau mới có nếp nhăn, đường nhăn. Ông thẩm phán này là một ông thẩm phán mới toanh chưa có những sự nghiêm khắc của nghề nghiệp. Ông lặp lại một cách thân mật: “Ông bạn của ta ơi, anh hãy yên tâm”. Ông để bàn tay lên vai Sava. Vai Sava run, như một vực thẳm mà một thác nước ào ạt sục sôi đã làm nổ tung. Trong lòng ngực của Sava cũng có một thác nước đang sôi sùng sục. Các ngón tay của thẩm phán Damian khi sờ vào vai của tên tù khổ sai hai lần giết người, khám phá ra rằng nó không có áo sơ-mi. Chỉ có một cái áo vét vải tức là áo tù. Và bên ngoài là một cái áo tơi lính đã cũ. Với cái áo vải và cái áo tơi lủng lỗ ấy, tên tù vượt ngục đã đi trong tuyết bốn ngày và bốn đêm mùa đông.
Ông thẩm phán động lòng thương xót.
Sava cảm thấy bàn tay của ông thẩm phán trên vai nó. Không còn là một bàn tay thẩm phán. Một bàn tay trừng trị. Chỉ đơn giản là một bàn tay của một con người thương xót một con người. Từ rất, rất lâu rồi, từ lúc còn nhỏ tuổi, Sava Mold không còn cảm thấy một bàn tay thân thiện đặt trên vai mình. Ngay khi còn nhỏ tuổi cũng vậy! Không bao giờ! Không bao giờ có ai đã để bàn tay lên vai nó một cách nhân ái, một cách thân thiện.
Đôi mắt của tên tù khổ sai giống như đôi mắt của một con gấu bị thương gần chết nhìn người thợ săn. Những tay săn bắn biết rằng trước khi chết, vẻ nhìn của những con hươu, heo rừng và ngay cả chó sói bị thương là những vẻ nhìn đau đớn, tuyệt vọng, nhưng không phải thù hận. Vẻ nhìn của Sava Mold cũng giống như thế. Ông thẩm phán là người thợ săn, săn nó, nhưng Sava không nhìn ông thẩm phán với vẻ hận thù. Đó là cái nhìn của các con thú dữ chết dưới con mắt của người thợ săn.
- Sava, anh kể lại cho tôi nghe đi.
- Kể lại cái gì?
- Hãy kể lại tất cả - Ông thẩm phán nói - Hãy kể lại với tôi các sự việc đã xảy ra như thế nào.
Sava ngậm chặt môi. Ông thẩm phán bèn lặp lại.
- Hãy kể cho tôi nghe đi.
- Nếu tôi kể lại với ông, ông sẽ không tin tôi đâu. - Sava Mold đáp.
- Anh có biết những lời mà anh vừa nói ra là của ai không?
- Đó là những lời nói của tôi - Sava Mold đáp - Tôi đã nói với ông: “Nếu tôi kể lại với ông, ông sẽ không tin tôi đâu”.
Đó là, đúng từng chữ một, những lời của Chúa Giê-su khi bị những kẻ thù của Ngài vây hãm. Những lúc mà thánh Luc ghi chép lại ở những chương thứ hai của Thánh kinh.
- Anh đã trả lời đúng như lời của Chúa Giê-su. Và anh không biết điều đó sao?
- Không, tôi không biết điều đó. Tôi biết rằng ông sẽ không tin tôi, nếu tôi nói sự thật.
- Hãy thử đi, Savonarola. Anh sẽ thấy. Nếu anh nói sự thật, tôi sẽ tin anh.
Thẩm phán Cosma Damian hối tiếc đã nói những lời vừa nói. Ông lừa dối Sava. Chắc chắn ông sẽ tin nó. Nhưng sự kiện tin Sava Mold sẽ không thay đổi chút nào tình thế của nó. Những gì một thẩm phán nghĩ, những gì một thẩm phán tin và những gì thẩm phán cảm thấy, là không có một sự quan trọng nào cả. Một thẩm phán là một người áp dụng một biểu lập thành sẵn tội nào thì có hình phạt xứng đối nấy. Thẩm phán không có ý kiến riêng, quan điểm riêng. Thẩm phán không có công việc gì khác hơn là đòi đúng cái giá phải trả cho tội đã phạm.
Thẩm phán cân với một cái cân, cái cân công lý. Như một người bào chế thuốc. Thẩm phán không cân với lương tâm mình. Cũng không với tình cảm của mình. Cũng không với niềm tin của mình, như các thi sĩ hay như các tu sĩ, không. Thẩm phán làm một công việc máy móc. Thẩm phán Damian tin hay không tin những lời của Sava là điều không có một sự ích lợi thực tế nào cả. Những sự tin cậy ấy, ban phước cho Sava Mold một cách thành thật, là một điều tốt lành cho nó. Sự tin cậy ấy như một vị thuốc có mùi thơm đối với trái tim của người bị săn lùng, của tên sát nhân.
Thẩm phán Damian lặp lại:
- Sava, tôi sẽ tin những gì anh sẽ nói. Anh sẽ thấy. Tôi tin cậy anh trước.
- Thật là khủng khiếp - Sava nói - Ông không biết khủng khiếp đến chừng nào.
Khi Sava Mold nói: “Thật là khủng khiếp”, gương mặt Sava Mold rạng rỡ. Nó sáng lên như thể trước đó có một vật gì che khuất. Sava là một tên khổng lồ. Nhưng thể xác nó hoàn toàn kiệt sức. Đó là một con voi ma-mút. Đúng hơn, phải nói đó là bộ xương của một con voi ma-mút. Thân hình đồ sộ của nó hoàn toàn bị tàn phá. Kiệt sức. Từ Targul Ocna - ở đó có nhà tù khổ sai - cho tới đây, tới địa điểm nơi mà nó ngã xuống, kiệt sức, nó đã đi không ngừng được một hành trình dài đến thế kia, trong tuyết cao đến thế kia, và gần như trần trụi, nhịn đói, chịu lạnh, trời lạnh khủng khiếp, đến mức mà một con ngựa cũng không thể đi được như thế. Sava đã đi bộ ba ngày ba đêm, không ngưng nghỉ. Nó đã đánh bại các kỷ lục. Thành tích của nó là trên sức của con người. Đâu là bí quyết của thành tích kỳ lạ ấy?... Thành tích ấy không thể thực hiện được chỉ với cơ bắp và thịt. Vì lẽ đó mà thành tích ấy không thể là tác phẩm của một con người. Ngựa chạy là nhờ có bắp thịt, gân cốt và trái tim. Nhưng thân hình, cơ bắp và thịt, chỉ là cái vỏ ngoài. Phải có một ý chí để khởi động sự chuyển động. Chính ý chí và tinh thần của Sava đã thực hiện thành tích lạ lùng ấy. Xác thịt được tinh thần nâng đỡ như con ngựa nâng đỡ một vật nặng. Vì vậy mà tinh thần người ta không bao giờ chết. Vì tinh thần có khả năng làm những điều mà thể xác không có khả năng làm được. Thể xác chết. Thể xác mệt mỏi. Thể xác vấp váp. Thể xác tan rã. Tinh thần con người có thể hiện chiến đấu bền bỉ vô cùng. Với sức mạnh của thế gian - Sava đã thoát ra khỏi đáy của hầm muối. Của địa ngục mà không bao giờ một ai có thể thoát ra được mà sống sót. Và Sava đã thành công vượt được một đường dài mà chỉ có những con chim bay mới có thể vượt được. Mùa đông, không một ai từ bên ngoài có thể tới được Agapia qua tuyết; cũng như người ta không thể đi bộ vượt qua biển băng.
Việc ấy, Sava Mold, một tên mù chữ, một tên ngu dốt, một tên sát nhân, đã làm và làm được. Vì tinh thần của con người là vô địch, ngay cả tinh thần của con người mù chữ và ngu dốt cũng thế. Tinh thần có thể vượt qua đại dương, vượt qua những đập nước đá và băng tuyết. Như Moise đã đi bộ qua Biển Đỏ. Như Chúa Giê-su đã đi trên nước.
- Anh hãy kể lại cho tôi nghe - Ông thẩm phán nói.
Chỉ có hai người trong phòng. Không có ai chung quanh họ. Đến viên cảnh sát gác cửa cũng không có.
- Ông muốn tôi kể những gì?
- Tất cả những gì anh có thể kể.
- Thưa ông thẩm phán, tôi không có gì để kể cả.
Thân thể của Sava vui mừng được núp ở trong này. Ở ngoài kia lạnh thấu xương, lạnh như dao cắt vào thịt. Ở trong này, thân thể không còn bị nóng bỏng vì những ngọn lửa trắng của tuyết, tệ hại hơn những ngọn lửa đỏ.
- Hãy kể lại các sự việc đã xảy ra như thế nào. - Ông thẩm phán lặp lại.
- Thật là khủng khiếp. - Sava nói.
Da đầu của Sava bị bỏng vì những ngọn lửa trắng của tuyết và lạnh. Đầu của Sava có màu của những viên gạch nơi các lò sưởi cũ. Đầu của nó không đen thui vì khói mà vì đau khổ. Vì sự đau khổ nhuộm đen con người còn hơn khói và than. Sava lặp lại:
- Thật là khủng khiếp. Tôi không thể nói dối, chính tôi đã giết.
Sava Mold đưa hai cánh tay lên. Nó nói:
- Thưa ông, tôi đã giết với hai cánh tay này. Tôi thường muốn chặt phứt hai cánh tay này và vứt bỏ cho khuất mắt. Nếu hai cánh tay tôi là thủ phạm duy nhất thì tôi đã chặt bỏ lâu rồi. Nhưng, dù tôi có chặt, có bỏ hai cánh tay của tôi đi - điều mà tôi sẵn sàng làm nếu tôi nghĩ rằng điều ấy sẽ rửa tội lỗi và máu - tôi sẽ cũng không được tha tội. Sự xá miễn là không thể có. Tội lỗi không chỉ ở trong đôi tay tôi mà thôi. Tội lỗi ở trong toàn thân tôi. Trong đầu óc tôi. Trong máu huyết tôi. Trong nước miếng tôi. Tội lỗi ở trong mắt tôi. Ở khắp nơi. Tội lỗi đã xâm nhập vào toàn thân tôi và toàn thân tôi là kẻ giết người.
Savonarola Mold rúc đầu vào gối để giấu cái đầu màu gạch ám khói của nó và khóc.
- Lý trí của tôi bị mờ ám, tôi biết thế. Vì đau đớn quá. Sự đau đớn làm lu mờ lý trí còn hơn rượu. Sự đau đớn làm người ta say. Và tôi, tôi đã hoàn toàn say mềm vì đau đớn. Khi ông Tuniade bắt đầu nện cái đoản côn xuống đầu tôi, tôi đã tự nhủ: “Sava, mày hãy cầm cự cho vững! Hãy chịu đựng! Hãy chịu đựng tất cả, không nao núng. Điều cốt yêu là cứu lấy cái rìu. Hãy giữ chặt cái rìu của mày, và chịu đựng trận đòn mà không động đậy. Vì cái rìu, đó là sự sống. Cái rìu đó là bánh mì hàng ngày. Cái rìu đó, là thức ăn của các con mày. Thà chết còn hơn là mất cái rìu... Ngài quan lớn sắp nện đó. Nhưng ngài sẽ mệt mỏi. Điều cốt yếu là mày giữ cho chặt. Chớ buông cái rìu, dù xảy ra sự gì đi nữa. Mày sẽ có một vợ và những đứa con. Và ngài quan lớn sẽ cho mày một trận đồn. Da của mày sẽ tan nát. Nhưng bạn già Sava ơi, da của mày là da của một thằng quê Moldavie. Da của mày sinh ra để chịu nứt ra, toác ra. Vì chịu hậu quả của nắng, của lạnh, của bệnh phung. Của đau đớn... Da của mày sinh ra để chịu tan nát. Vậy mày hãy chịu đựng!” Nhưng tôi đã bắt đầu thấy thấm đòn. Không phải trên da mà ngay trên xương thịt. Đau đớn hơn. Sau đó tôi cảm thấy đau tận xương tủy. Tôi tự nhủ, để tự an ủi: “Sava ơi, thịt không có giá trị lớn lao gì. Thịt có thể hư hỏng, có thể tan rã. Thịt của con người là đồ ăn tương lai của côn trùng. Thịt của con ngươi sẽ thối nát dưới nấm mồ. Mày đừng quan tâm đến thịt. Hãy cầm cự cho vững. Và hãy giữ cái rìu của mày. Đừng giao động”. Và tôi đã cầm cự. Tôi đã không giao động. Khi mà trận đòn thấm đến xương, tôi tự nhủ: “Xương của con người được tạo ra là để chống đỡ thịt. Xương cũng như một cái giá treo áo cho thịt. Nó không quan trọng gì, nếu người ta đập gãy xương mày ra. Giá treo áo không còn giá trị”. Tôi cắn chặt răng vì đau đớn, và tôi tự nhủ: “Xương con người không có giá trị hơn là cái giá treo áo. Mày hãy đừng lo ngại, nếu người ta đập xương mày ra. Bạn già của ta ơi, bạn can đảm của ta ơi, bạn Sava đáng thương của ta ơi, hãy cầm cự cho vững”.
Tôi đã cầm cự. Nhưng rồi tôi cảm thấy những cú đòn vào phía dưới. Ngài quan lớn muốn chà nát tan bộ phận chúng ta dùng để tạo ra những đứa con. Đó là sự đau đớn lớn hơn hết. Đau đớn trong da, đau đớn trong thịt, đau đớn trong xương, đó là những sự đau đớn nhỏ. Khi mà người ta chà nát cái bộ phận sinh dục của tôi, sự đau đớn đã xâm chiếm trí não tôi và làm mờ ám lý trí của tôi. Những đòn giáng vào nơi mà chưa bao giờ bị mặt trời thiêu đốt, tôi không thể chịu đựng các đòn ấy. Và tôi đã ngã xuống ngất xỉu vì đau đớn. Rồi khi lão ta muốn giựt cái rìu của tôi, tôi đã nổi điên. Và tôi đã giết. Tôi đã trở thành một tên giết người.
Đến đây Sava ngừng lại.
- Và sau đó? - Thẩm phán Damian hỏi.
- Sau đó? Tôi đã giết lão ta. Tôi đã bửa đầu lão ta ra. Với cái rìu. Bửa ra từng mảnh. Như người ta bửa một trái dưa.
Sava lấy gối để che mắt. Để khỏi trông thấy cảnh tượng ấy.
- Và bằng cách nào anh đã vượt ngục được? - Thẩm phán Damian hỏi.
Đột nhiên đôi mắt của Sava sáng rực lên. Sáng rực từ bên trong như hai ngọn đèn chiếu.
Nó kể tóm tắt nó đã bị kết án khổ sai như thế nào. Bị đi đày như thế nào. Nó đã nhẫn nhục với số phận như thế nào. Không một hình phạt nào bị nó coi là bất công và quá nặng. Vì nó biết nó là một tên sát nhân.
- Tôi biết rõ rằng hình phạt đích thật của tôi trong các hầm muối không phải là hình phạt đích thật của tôi - Sava nói - Hình phạt đích thật sẽ đến khi Chúa phán quyết. Và tiêu diệt một tạo vật của Chúa, tức là tiêu diệt chính Chúa. Giết một con người chính là giết Chúa. Vì vậy tôi nhẫn nhục. Mỗi ngày tôi bị đánh đập, đói khát, bị chửi rủa. Không một hình phạt nào và không một sự đau đớn nào tôi coi là quá lớn, vì tôi biết rằng tôi là một tên giết người...
Sava Mold ngừng lại và bắt đầu khóc rấm rứt như một đứa trẻ. Với những giọt nước mắt to chảy xuống trên khuôn mặt màu gạch ám khói và xuống trên gối trắng.
- Anh làm sao thế? - Thẩm phán Damian hỏi.
- Ôi! Thưa ông thẩm phán, tôi biết rằng tôi là một thằng nhà quê Moldavie. Rằng người ta không được đòi hỏi gì ở đời khi người ta sinh ra là một thằng nhà quê và là thằng nhà quê ở xứ Moldavie này. Tất cả những gì trên thế gian đều là điều cấm đối với chúng tôi. Ngoại trừ sự đau khổ. Chúng tôi đã quen chịu đựng tất cả mà không nổi dậy. Tôi khẳng định với ông rằng, tôi đã không chống lại hình phạt của tôi. Tôi đã nhẫn nhục chịu đựng tất cả. Thành thật mà nói, tôi không hối tiếc đã bị kết án phải làm việc nặng nhọc và cực khổ sâu dưới lòng đất cho đến chết. Không bao giờ được thấy mặt trời. Không bao giờ thấy được bầu trời. Không. Tôi đã nhẫn nhục. Và tôi không hối tiếc cuộc sống trên mặt đất. Trong đời tôi, không có gì để tiếc cả. Chỉ có điều là, sau vài tuần lễ ở dưới các hầm muối, tôi bắt đầu nghĩ đến vợ tôi và các con tôi. Chúng bị bỏ lại bơ vơ. Nhưng Chúa đã muốn như thế. Tôi không thể làm gì được. Tôi tự trách mình đã không nuôi vợ con ăn được no, mặc được ấm. Nhưng nghĩ kỹ, tôi thấy là tôi đã không thể cho vợ con tôi ăn nhiều hơn được, mặc ấm hơn được. Tại các nhà dân nghèo chúng tôi, không một đứa trẻ con nào được ăn no, mặc ấm. Vì vậy tôi tự an ủi bằng cách tự nhủ rằng không một tên nhà quê nào ở cái xứ Moldavie này có thể làm hơn đối với vợ con. Nhưng, thưa ông, một đêm, tôi thức giấc, mình mẩy ướt đẫm mồ hôi. Tôi kinh hoàng tự nhủ: “Sava, vì sao mày khắc nghiệt với con cái mày đến thế? Vì sao mày khắc nghiệt với vợ mày đến thế?”. Lần đầu tiên tôi ý thức được rằng tôi chưa bao giờ hôn lên trán các đứa con của tôi. Tôi chưa bao giờ vuốt ve má của chúng. Người nhà quê chúng tôi không có thói quen vuốt ve và hôn hít con cái. Bàn tay chúng tôi thô nhám quá, không thể vuốt ve được. Đời sống chúng tôi khó khăn cực nhọc quá để mà hôn lên trán một đứa con. Ngay cả đến đàn bà chúng tôi, vợ chúng tôi, chúng tôi cũng không bao giờ hôn hít. Những cái hôn của chúng tôi, chúng tôi chỉ dâng cho các tượng thánh mẫu ở nhà thờ, ngày Chúa nhật. Tôi biết tất cả các điều ấy. Cuộc đời chúng tôi là như thế đấy! Tất cả mọi người chúng tôi luôn luôn làm như thế. Nhưng ở dưới kia, dưới đáy các hầm muối, một ý nghĩ giày vò tôi ngày đêm. Tôi cảm thấy có tội vì đã không bao giờ vuốt ve một đứa con nào. Tôi tự nhủ: “Sava đáng thương hại của ta ơi, mày đừng có ngốc, không có lý do gì mày phải tự giày vò về vấn đề này. Mày không có tội. Không một người nào trong đám nhà quê chúng mày vuốt ve con cái bao giờ đâu, hôn hít con cái bao giờ đâu. Bố của mày, cũng không bao giờ đã vuốt ve, hôn hít mày. Ý nghĩ vuốt ve hôn hít con cái không bao giờ lướt qua trong đầu óc một người nhà quê nào. Mày đừng phiền muộn. Cuộc đời ở Petrodava là như thế đó! Một cuộc đời cực nhọc, không có sự âu yếm. Một cuộc đời không có những cái vuốt ve và hôn hít”.
Vừa tự nhủ những điều ấy xong, tôi lại tự giày vò một lần nữa và tự nhủ: “Sava không cần ôm hôn con cái mày, vì không có ai làm như thế. Nhưng thỉnh thoảng - một cái vuốt ve nhẹ nhàng của bàn tay mày - trên má các đứa con mày - như mày vuốt ve các con ngựa hay các con bê, thử hỏi mày không thể cho con cái mày cái đó hay sao?”. Đúng là cái đó, tôi đã có thể cho chúng. Và tôi đã không cho. Không bao giờ cho. Và bây giờ tôi đau khổ. Tôi nhớ lại rằng tôi đã luôn luôn vuốt ve lưng con ngựa của tôi khi tôi vừa mới mua được nó. Tôi đã vuốt ve mồm con bê khi nó mới sinh ra. Tôi đã vuốt ve những con cừu mới đẻ, nhưng tôi không bao giờ vuốt ve các con tôi. Và tôi không thể tha thứ cho tôi điều đó. Cũng như tôi không thể tha thứ cho tôi về tội giết người mà tôi đã phạm. Và những sự giày vò, tự hành hạ mà tôi cảm thấy, vì đã không vuốt ve con cái tôi, còn lớn hơn những sự giày vò, tự hành hạ mình vì đã làm đổ máu một người. Tôi đã nhớ lại rằng tôi thường đánh đập các đứa con của tôi. Mà nào chúng có tội tình gì đâu. Đơn thuần chỉ vì tôi thấy khó chịu trong người. Điều ấy, tôi có thể tự tha thứ cho tôi. Vì đó là điều nằm trong phong tục tập quán. Vì chúng tôi là những con người khắc khổ, cứng cỏi, như núi và như mùa đông. Nhưng tôi tự nhủ: “Mày có sáu đứa con. Mày có bao giờ đem về cho chúng những viên kẹo không? Những viên kẹo chẳng đáng giá là bao... Những viên kẹo vừa túi tiền người nghèo...” Không, không bao giờ tôi mua kẹo cho các con của tôi! Ngay cả những viên kẹo rẻ mạt cũng không. Với tôi, cha tôi có cho tôi kẹo hai hay ba lần. Với các đứa con khác, đôi khi cha chúng cũng có cho chúng kẹo. Còn tôi, tôi không bao giờ đem kẹo về cho các con của tôi. Tôi rất nghèo, nhưng không đến mức không thể mua kẹo cho các con tôi một hay hai lần trong đời. Đó là quyền của con cái. Cái quyền đôi khi được nhận kẹo. Tôi đã không làm bổn phận của tôi. Tôi không thể chịu đựng điều ấy. Có một sự thương yêu trìu mến mà tôi có bổn phận phải có đối với các con của tôi, và tôi đã không cho chúng sự thương yêu trìu mến ấy. Ngay chỉ một lần cũng không. Nếu tôi đã cho chúng chỉ một viên kẹo thì tôi đã có thể tự tha thứ cho mình. Nhưng, không, chỉ một lần cũng không. Không bao giờ. Đó là một trọng tội. Về tội giết lão già Phanariot, tôi biết tôi bị pháp luật trừng phạt. Tôi bị lưu đày vĩnh viễn. Nhưng về trọng tội tôi đã phạm với các con tôi, không một luật pháp nào kết án tôi. Và không một luật pháp nào sẽ kết án tôi. Và có thể ngay cả Chúa cũng sẽ không trừng phạt tôi về tội ấy. Thế mà, đối với tôi, hình như tội ấy còn nặng hơn tội giết người, chính vì nó không bao giờ bị ai trừng phạt. Tôi bị bỏ rơi, tôi không bị luật pháp của Chúa trừng trị về tội tôi đã phạm với các con tôi. Tôi phải tự xét xử và trừng phạt mình. Và điều ấy, thật đau đớn hơn tất cả. Tôi vừa là thủ phạm vừa là quan tòa. Cả hai vai. Tôi không thể hy vọng một sự tha thứ nào từ bên ngoài là xã hội và từ bên trên là Chúa. Và tội lỗi của tôi, tôi không thể chuộc lại được. Tôi bị nhốt dưới các hầm muối. Ngày Chủ nhật, ở căn-tin nhà lao, người ta có bán kẹo và bánh mì. Thấy một người với những viên kẹo cầm nơi tay, tôi không thể nào chịu đựng nổi. Điều ấy làm tôi đau khổ. Về hành vi của tôi, Chúa và loài người không thể tha thứ cho tôi. Tôi không biết bằng cách nào cái ý nghĩ ấy đã đến với tôi, nhưng mỗi Chủ nhật, tôi chạy như một thằng điên đến căn-tin và với vài xu mà chúng tôi nhận được, tôi mua kẹo. Tôi biết rằng tôi sẽ ở lại trong các hầm muối cho đến lúc tôi chết. Tuy vậy, tôi vẫn mua kẹo cho các con tôi. Tôi giấu kẹo trong các lai quần của tôi. Như người ta giấu tiền. Tất cả áo quần tù của tôi đều có kẹo giấu trong đó. Tôi biết rằng tôi không bao giờ có thể gởi các kẹo ấy cho các con tôi. Tôi tự nhủ rằng, tôi điên khi tôi mua kẹo như thế và khâu kẹo vào lai quần như thế. Một hôm tôi tự nhủ: “Sava, mày phải ra khỏi nơi này và đem kẹo về cho các con mày. Đó là sự trừng phạt mà mày phải chịu vì mày đã không bao giờ vuốt ve, hôn hít các con của mày. Mày phải vượt ngục. Mày phải đem các viên kẹo mà mày đã giấu trong áo về cho các con của mày. Chỉ duy nhất để làm việc đó, mày phải vượt ngục. Để chuộc tội của mày đối với các con của mày. Sau đó mày sẽ bị bắt và có thể bị bắn. Nhưng mày sẽ rửa được cái tội đã độc ác với vợ con của mày. Bằng mọi giá. Mày phải về nhà trước khi bị bắt. Mày sẽ vuốt ve chúng. Mày sẽ hôn chúng. Nụ hôn của một người cha. Và như thế hình phạt của mày và nhiệm vụ của mày đã chấm dứt. Tất cả công việc ấy chỉ kéo dài năm phút đồng hồ. Nhưng mày phải vượt ngục và thực hiện công việc ấy”.
- Và sau đó? - Thẩm phán Damian hỏi.
- Gì, sau đó?... Tôi đã bán bánh mì của tôi, xúp của tôi, và tôi đã mua nhiều kẹo hơn, chừng nào mà tôi còn có thể mua được. Tôi đã sửa soạn cuộc vượt ngục của tôi. Chương trình của tôi là ra khỏi nơi ấy. Là chạy tới Agapia. Là đưa kẹo cho các con của tôi, là vuốt ve chúng. Và sau đó là bị bắt đưa về nhà tù khổ sai. Sau một năm, tôi đã thoát ra. Tôi chạy bốn ngày và bốn đêm trong tuyết. Đến gần Agapia, chỉ còn cách nhà của tôi, con cái của tôi vài cây số, tôi đã ngã xuống. Tôi đã đi bộ suốt thời gian ấy trên đường sắt. Cuối cùng tôi không còn có thể đi được nữa. Tôi đã không còn có thể đi được nữa. Tôi đã ngã xuống. Rất gần nhà tôi.
Thẩm phán Damian biết người ta đã tìm thấy kẹo trong quần áo của Sava. Người ta nghĩ rằng Sava đã ăn cắp. Rằng nó đã lấy kẹo để ăn, vì không có gì khác. Đúng là các viên kẹo đã mua được ở căn-tin nhà lao, Sava đã không đụng tới. Mặc dù nó không có gì để ăn, mặc dù nó đã ngã xuống vì đói lả như bác sĩ đã chứng nhận. Kiệt sức vì đói, nó đã không đụng tới một viên kẹo nào. Đó là những viên kẹo để dành cho các con nó.
- Thưa thẩm phán, ông có tin tôi không? - Sava hỏi.
- Sava đáng thương, ta tin anh. - Ông thẩm phán đáp.
- Ông có thể tìm thấy kẹo trong quần áo của tôi.
- Người ta tìm thấy rồi.
- Thưa ông, tôi đã chạy như một con ngựa. Tôi biết rằng sau một thời gian chạy như vậy thì tôi sẽ ngã gục. Nhưng tôi muốn đem kẹo về cho các con của tôi. Đó là điều duy nhất và quan trọng nhất mà tôi ham muốn trong đời.
Đột nhiên sắc mặt của Sava thay đổi. Nó rầu rĩ nói:
- Người ta đã tịch thu các viên kẹo của tôi?
- Không, anh hãy yên tâm. Người ta không thu kẹo của anh đâu.
- Không tịch thu, sao lại lấy kẹo của tôi?
- Người ta không biết đó là kẹo. Người ta muốn xem anh giấu gì trong áo quần của anh.
Thẩm phán Damian đứng dậy. Ông đi vào trong văn phòng và đem những gói giấy báo nho nhỏ, hình cái loa, trong đó có kẹo, đã được tìm thấy khâu vào trong áo quần của tên tù khổ sai.
Gương mặt của Sava sáng rực lên khi nhìn thấy các gói kẹo nho nhỏ mà nó đã để dành suốt một năm trời, dưới các hầm muối. Vì những gói ấy mà nó đã vượt ngục.
- Bây giờ ông đã tin tôi rồi, phải không?
- Tội nghiệp anh, ta tin lời anh... Bây giờ ta đã tin anh, anh có thể tiếp tục.
- Tiếp tục gì?
- Chuyện của anh.
- Không còn chuyện gì nữa - Sava đáp - Tôi đã ngã gục trong tuyết. Và tôi không còn biết gì nữa cả. Tôi biết tôi đã ngã gục khi đã tới rất gần Agapia. Thế là hết.
- Những sự việc ở lâu đài đã xảy ra như thế nào? - Thẩm phán Damian hỏi.
- Tôi đã kể với ông rồi - Sava nói - Lúc tôi điên cuồng vì đau đớn. Đau quá nên mất hết lý trí. Và vì vậy tôi đã hạ thủ.
- Điều ấy, là lúc anh giết Tuniade Cha. Nhưng Tuniade Con đã bị giết đêm qua, trước lâu đài. Anh có biết chuyện ấy...
- Không - Sava đáp - Tôi không biết.
- Không ai có thể giết Tuniade Con ngoài anh.
- Không - Savonarola đáp - Tôi không bao giờ thấy Tuniade Con. Không bao giờ.
- Lúc ban đêm. Người ta có thể giết Tuniade Con mà không thấy rõ cậu ấy.
- Vậy là ông không tin tôi sao? - Savonarola Mold kêu lên tuyệt vọng - Các viên kẹo của tôi không phải là một bằng chứng rằng tôi đã nói sự thật sao?... Các viên kẹo của tôi không làm cho ông tin lời tôi sao?
- Ta tin anh - Ông thẩm phán đáp - Về vấn đề các viên kẹo, ta tin anh. Vấn đề ấy không có tính cách rất thông thường, rất dễ tin là thật, nhưng vẫn có thể có. Chúng ta không nói vấn đề ấy. Điều mà ta muốn hỏi anh, là anh nói cho ta biết vì sao và bằng cách nào, đêm qua, anh đã không giết Tuniade Con.
- Tôi không giết Tuniade Con. Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói cậu ấy bị giết.
- Sava hãy nói với ta sự thật.
- Thưa ông thẩm phán, đó là sự thật. Tôi xin thề. Lấy tất cả những gì quý nhất mà tôi có trên đời để mà thề.
Sava ngừng lại. Đôi mắt nó nhìn đăm đăm vào các gói kẹo nhỏ. Món quà mà nó đem về cho con ấy, là những gì quý nhất mà nó có ở trên đời này. Nhưng nó không lấy kẹo mà thề. Vì vô ích. Người ta không muốn tin điều đó. Thế là hết. Giống như người ta đã không muốn tin Chúa Giê-su. Chúa đã từ chối không nói: “Nếu tôi nói ra điều đó, ông sẽ không tin tôi”. Vì vậy, thì tôi nói điều ấy để làm gì?
- Ta nói với anh một cách tử tế - Thẩm phán Damian nói - Ta rất muốn tin anh. Nhưng có những điều người ta không thể tin được. Đêm vừa rồi, Tuniade Con đã bị giết. Ngoài anh ra không ai có thể giết chết cậu ấy. Anh đã vượt ngục và người ta đã tìm thấy anh tại nơi xảy ra vụ ám sát, ở đây, ở Agapia này. Anh đã giết người cha. Không thể nào không tin rằng anh cũng đã giết người con.
- Tôi không, giết cậu Tuniade. Tôi không bao giờ thấy cậy ấy.
- Anh muốn ta giúp anh không? - Ông thẩm phán đề nghị - Vậy thì, ta tin anh, khi anh nói rằng anh không bao giờ thấy cậu ấy. Anh đã giết một người đêm vừa rồi mà không biết đó là Tuniade Con.
- Không. - Savonarola đáp.
- Anh hãy nghe ta nói, ta muốn giúp anh kể lại. Anh đã vượt ngục. Anh đã đi bộ ba ngày ba đêm, không ăn, không uống, trong thành phố của anh, gần nhà anh. Anh đã đi qua gần lâu đài của gia đình Tuniade. Anh đã rình mò một chút chung quanh lâu đài. Có thể anh muốn lấy cắp một cái gì đó. Có thể anh muốn lấy cắp một cái gì đó để ăn. Vì lý do gì anh có mặt ở lâu đài. Và đột nhiên có một người đi tới trước mặt anh. Một người trông dễ sợ, có vẻ hăm dọa, với cái súng lục cầm sẵn nơi tay. Người ấy đã hỏi anh làm gì trong vườn. Có thể người ấy đã đánh anh. Người ấy đã chụp cổ áo anh. Anh sợ. Anh vùng vẫy và anh cố chạy trốn. Nhưng anh mệt mỏi, kiệt sức. Còn người kia thì trẻ và mạnh. Hắn đã giữ anh lại, hắn đã đánh anh. Có thể hắn đã bắn vài phát súng lục. Đầu tiên, anh chỉ giựt súng lục của hắn để tự vệ. Rồi sau đó, anh đã giết hắn. Anh đã liệng bỏ súng lục và anh đã chạy trốn. Như thế có phải không?
- Tôi không có mặt ở lâu đài. Tôi không có giết ai đêm vừa rồi cả. - Sava đáp.
- Đừng nói dối, vô ích! Sau cùng rồi anh sẽ bị bắt buộc phải nói sự thật.
- Tôi không nói dối. - Savonarola Mold đáp.
Câu trả lời của nó thiếu sức mạnh. Nó nhận thức rằng chối, không có lợi ích gì. Nó hối tiếc đã kể cho ông thẩm phán câu chuyện kỳ diệu về việc nó vượt ngục. Và về cuộc hành trình của nó trong tuyết giá mùa đông. Nó tiếc đã kể những sự việc ấy với ông thẩm phán. Vì ông thẩm phán không tin những sự việc ấy nữa. Sava Mold nhìn ông thẩm phán với vẻ ngờ vực. Vẻ nhìn của nó hoàn toàn giống vẻ nhìn của những con hươu cái bị bắt và nhốt vào chuồng. Con hươu cái bị bắt không thể làm gì được cả. Nó nhìn như Sava Mold. Một vẻ nhìn nhẫn nhục. Đó là vẻ nhìn của tất cả những người dân xứ Mondavie.
Những ông già Moldavie, những người thanh niên, đàn bà, đàn ông và ngay cả trẻ con cũng nhìn như Sava và như các con hươu cái bị bắt nhốt vào chuồng. Trong mắt họ, trước hết có sự nhẫn nhục của những con hươu cái bị bắt. Sau đó là sự ngờ vực. Có chăng là sự hận thù?... Có thể có cả sự hận thù. Nhưng là một sự hận thù nhẫn nhục. Không giống chút nào với sự hận thù thực sự. Họ cảm thấy thứ hận thù mà bản chất hận thù ấy tự biết rằng không thể nào thỏa mãn được trên thế gian này. Ngay cả đến việc thử thỏa mãn hận thù ấy tại đây, trong đời sống trần gian, họ cũng không làm. Đó là sự hận thù gợi ra cho các con nai cái bị bắt bởi những kẻ đã bắt chúng và không dành cho chúng một sự tin cậy nào. Nhưng trong vẻ nhìn của người Moldavie, cũng như trong vẻ nhìn của Savanarola Mold, có thêm một điều không có trong con mắt của những con hươu cái bị bắt. Người Moldavie bày tỏ một cách rõ ràng cho các tên cai tù và các tên ác ôn đã bắt giam nó rằng nó nhẫn nhục, nó chịu phục tùng, nhưng nó không đầu hàng. Nó chắc chắn rằng sự bất công mà nó chịu đựng sẽ được chuộc lại trên trời. Nó chắc chắn rằng công lý sẽ được ban phát bởi vị thẩm phán tối cao ở trên ấy. Tất cả các sự bất công chịu đựng trong lịch sử sẽ được sửa chữa đền bù trong đời sau. Trên thế gian, kẻ thù của người Moldavie quá đông và quá mạnh. Ở đây trên thế gian, người Moldavie sẽ bị đánh bại. Nhưng nó sẽ đấu trận phục thù ở trên trời. Và nó cũng có hy vọng rằng, ngay ở trên thế gian, một ngày nào đó nó sẽ có thể đòi phải được đền bù về những sự bất công mà nó đã chịu đựng. Nó không loại trừ khả năng có một cuộc phục thù ngay trên thế gian này. Cuộc phục thù ấy không cần thiết đối với nó. Nhưng cuộc phục thù ấy có thể xảy ra. Cuộc phục thù ấy không bị loại trừ. Vì máu con người không như tuyết. Tuyết không có trí nhớ, tuyết tha thứ tất cả. Nhưng máu, máu không bao giờ quên bất cứ điều gì. Máu có một trí nhớ bền vững hơn cả những bản khắc trên đá hoa cương các đền đài. Máu đã không bao giờ quên bất cứ điều gì. Sự nổi loạn của tổ tiên luôn luôn được con cháu thực hiện tiếp. Sự bất công gây ra cho cha sẽ do con trả thù. Nếu con chưa có phương tiện để trả thù, thì cháu sẽ làm việc ấy. Nếu cháu chưa rửa hận được, thì đến lượt chắt sẽ làm... Sớm hay muộn, sự bất công sẽ được chuộc lại. Vì mỗi đứa con cháu đều sinh ra với sự tổn thất mà cha ông chúng đã chịu đựng, sự tổn thất ấy được ghi chép trong máu như trong một hồ sơ. Những bất công ghi trong máu của con, của cháu, của chắt, của chiu... sẽ không bao giờ bị xóa đi. Dù cho hằng thế kỷ. Một ngày nào đó, sự bất công sẽ nổi lên trở lại, trên thế gian. Và trên trời. Khắp nơi.
- Anh hãy kể cho ta, bằng cách nào anh đã giết Tuniade Con đêm rồi. - Ông thẩm phán nói.
- Vì sao ông đặt cho tôi những câu hỏi, nếu ông không tin những câu trả lời của tôi?
- Ngoài anh ra, không ai có thể giết Tuniade Con. Người ta đã tìm thấy anh tại nơi án mạng.
Savonarola Mold cắn chặt răng. Như lúc nào mà lão Xa-tơ-ráp Phanariot tàn bạo dùng roi ngựa quất túi bụi vào mặt nó đến toác da mặt. Savamold không còn muốn nói nữa. Nói làm gì vô ích! Như thế nó tự nhủ:
“Nếu tôi nói sự thật, ông cũng sẽ không tin tôi. Tôi đành câm nín. Lời nói của tôi vô ích”.
0
XIX
Cuộc điều tra lúc nửa đêm về sáng
 
Hai mươi bốn giờ sau khi vụ ám sát Antoine Tuniade, hai thám tử thuộc đội điều tra hình sự lưu động, đã đến ga Agapia, trên chuyến tàu Bắc tới lúc nửa đêm. Đây là các thám tử chuyên điều tra án mạng. Hai thám tử xuống từ một toa hạng nhất, như Tuniade, nạn nhân, đêm trước, cả hai đều còn trẻ, ăn mặc khá bảnh bao. Họ đi ngay tới phía trưởng ga.
- Chúng tôi là nhân viên đội điều tra hình sự - Một thám tử nói - Chúng tôi kiếm một chiếc xe trượt tuyết để đi đến pháp đình.
Ismail, gã xà ích bị thiến, đang đứng phía sau trưởng ga, bèn mời hai thám tử ra xe. Hai thám tử ngồi trong xe cũng được Ismail trùm chăn lên người như gã thường làm đối với tất cả hành khách của gã. Hai thám tử đến trụ sở tòa án hòa giải. Ông thẩm phán được đánh thức dậy. Ismail đem xe đi mời cảnh sát trưởng Filaret.
- Chúng tôi đến tìm tên tù khổ sai vượt ngục - Một trong hai thám tử nói với ông thẩm phán - Nó có thú tội giết người mà nó đã phạm đêm trước không?
- Không. Nó nói rằng nó đã ngã gục trong tuyết, trên đường sắt trước khi tới Agapia.
- Không tuyệt đối cần thiết nó thú nhận - Thám tử thứ hai nói - Nó đã tự kết án nó rồi. Nó đã bị tìm thấy tại hiện trường, nơi xảy ra vụ án mạng. Nó là một tên tù vượt ngục. Thế là đủ. Nhưng nó sẽ thú nhận thôi. Chúng tôi biết loại người này. Các tên sát nhân cũng như những đứa trẻ nít. Lúc đầu chúng nói rất khó khăn. Nhưng nếu người ta kiên nhẫn thì chúng sẽ kể ra tất cả mọi sự. Nó ở đâu?
- Hai ông muốn gặp nó ngay lập tức à?
- Trong cuộc thẩm vấn của cảnh sát thì những cuộc thẩm vấn lúc nửa đêm là tốt nhất - Thám tử thứ nhất nói - Và những lời thú tội thành thật là những lời thú tội lúc gần sáng. Vào khoảng từ ba đến bốn giờ. Nó nói được không?
- Nó nói được nhưng nó không đứng dậy được.
- Cũng nên cho mời bác sĩ đến đây, như thế tốt hơn. Ở đây có một bác sĩ chứ?
- Y đã khám cho nó rồi.
- Chúng tôi có thói quen làm việc đồng bộ với các y sĩ - Thám tử thứ hai nói - Trong một cuộc điều tra, bác sĩ cũng giống như cái lưới đối với các người làm xiếc làm trò leo dây múa rối. Nếu anh chàng ngã xuống, bác sĩ sẽ dựng nó dậy lập tức bằng một mũi tiêm. Và vở diễn lại tiếp tục. Như vậy tiết kiệm được thời giờ.
- Các ông muốn tra vấn nó à? - Thẩm phán Damian hỏi.
- Không - Thám tử thứ nhất nói - Nhưng tên sát nhân là những kẻ có tính bất thường. Chúng không nói nếu người ta không giúp chúng nói. Ông còn trẻ quá! Ông làm quan tòa bao lâu rồi?
- Tôi nhận chức thẩm phán mới cách đây bốn mươi tám tiếng đồng hồ.
- Nhiệm sở đầu tiên?
- Đầu tiên.
- Chắc chắn tên sát nhân đã kể lể với ông những chuyện tình cảm. Để làm cho ông cảm động, phải không? Khi chúng đứng trước một người trẻ tuổi, chúng thường làm trò tình cảm. Làm thơ. Luôn luôn là như thế, chắc chắn nó đã kể với ông một chuyện thần tiên vì thấy ông trẻ tuổi đến như thế. Phải không?
- Không phải một chuyện thần tiên - Thẩm phán Cosma Damian đáp - Nhưng đúng là nó có kể cho tôi nghe một câu chuyện rất cảm động. Rất thương tâm. Một câu chuyện về những viên kẹo. Các ông cũng sắp được nó kể cho các ông nghe.
- Một tên sát nhân kể cho chúng tôi nghe chuyện bánh kẹo - Hai thám tử đồng thanh kêu lên một cách ngạc nhiên... - Đó là một câu chuyện kể để dỗ con nít ngủ. Chúng tôi, thưa ông thẩm phán, chúng tôi sống với các tên phạm tội đại hình và các tên sát nhân. Ngày và đêm. Chúng tôi chỉ có trước mắt chúng tôi, những tên phạm tội đại hình. Chúng tôi là nhân viên đội điều tra trọng án lưu động. Ở đâu xảy ra vụ án đại hình, chúng tôi đến đó ngay. Chúng tôi hầu như quên rằng, cũng có những kẻ không phải là quân sát nhân. Vì vậy, chúng tôi biết rõ ngôn ngữ của bọn chúng nó. Vì vậy, khi chúng tôi nhìn thấy vị thẩm phán đã mở cuộc điều tra, chúng tôi biết trước những điều mà tên sát nhân đã kể lể với vị thẩm phán. Với ông, người ta đã mời ông dùng một câu chuyện tình cảm và rất ngọt ngào. Một câu chuyện về những viên kẹo. Vì ông còn trẻ và mới toanh.
- Các ông nghĩ rằng những gì nó kể với tôi là sai à?
- Chắc chắn là sai - Hai thám tử đồng thanh nói.
Sau đó họ yêu cầu được vào gặp tên sát nhân.
Trong phòng bên cạnh phòng xử án, Savonarola Mold nằm dài trên giường. Nằm ngửa, hai mắt mở. Nó không ngủ. Như thể nó linh cảm được rằng có hai thám tử đã có mặt ở đây. Từ đầu hôm đến giờ, Sava Mold đã xin uống nước nhiều lần. Bây giờ nó cảm thấy vô cùng suy nhược. Nó buồn ngủ, nhưng nó không thể nào ngủ được. Nó lo sợ một điều gì đó, chưa rõ là điều gì. Và nỗi lo sợ của nó biểu lộ rõ khi hai thám tử bước vào phòng. Họ nhìn nó như người ta nhìn một trụ cây số bên vệ đường. Họ sẽ đọc những gì ghi trên đó và họ sẽ đi tới nơi khác. Đi tới những nơi xảy ra những vụ trọng án khác.
- Mày đấy à, Savonarola Mold? - Thám tử thứ nhất bắt đầu hỏi - Ba ngày trước, chúng tao được báo là mày vượt ngục. Và trưa nay người ta lại báo cho chúng tao biết mày đã phạm tội sát nhân khác ở Agapia. Gần nhà mày. Chúng tao đến ngay đây thật mau, để mày cho chúng tao biết mày đã phạm bao nhiêu trọng tội từ lúc mày vượt ngục, ngoài vụ mày đã phạm tại đây.
Savonarola im lặng. Hai thám tử nói:
- Mày đã kể với ông thẩm phán một câu chuyện thần tiên thật hay. Vì ông thẩm phán còn trẻ. Bây giờ, với chúng tao là những người không tin chuyện thần tiên, mày phải nói chỉ sự thật mà thôi. Sự thật hoàn toàn. Không cần văn hoa. Chúng tao phải kết thúc cho mau. Để chúng tao có thể ngủ một chút và trưa mai lại lên đường. Nghe rõ chứ?
Đột nhiên Sava trở thành cứng rắn. Cứng như đá hoa cương. Nó hết buồn ngủ, hết mệt mỏi. Nó cũng mạnh như trong ba ngày đi trong tuyết.
- Mày có thể bắt đầu! - Thám tử thứ nhất ra lệnh.
Hai thám tử ngồi trên ghế gần bên giường. Thẩm phán Damian đứng gần nơi cửa.
- Các ông muốn tôi bắt đầu từ việc gì nào?
- Không bắt đầu từ chuyện những viên kẹo - Một thám tử nói - Chúng tao muốn nghe mày nói ngay về vụ án mạng. Vụ giết người, vụ ám sát. Đối với chúng tao, đó là những chuyện như cơm bữa. Mày đồng ý chứ?
- Đồng ý. - Sava Mold đáp.
Nó không còn là con người giàu tình cảm kể lể với ông thẩm phán vài giờ trước đây về chuyện các đứa con của nó và chuyện các viên kẹo mà nó dành dụm để đem về cho chúng. Sava cứng rắn và cương quyết. Đó là một gương mặt co rút và sắt đá mà nó phải có, lúc nó chịu trận đòn roi ngựa, đoản côn và nhất là những cú gót giày sắt của lão Xa-đờ-ráp ác ôn Tuniade Cha.
- Bắt đầu đi, Sava - Thám tử thứ nhất nói - Hãy nói như tại phòng xưng tội ở nhà thờ.
- Tôi đã kể tất cả với ông thẩm phán rồi. - Sava đáp.
- Nếu mày muốn khởi động bằng cách ấy thì chúng tao theo mày. Và sau đó đến lượt mày, mày sẽ theo chúng tao. Tùy ý mày. Một lần nữa mày kể lại cho chúng tao nghe những gì mày đã kể cho ông thẩm phán. Kể từ phút ấy cho đến phút cuối cùng của đời mày, mày sẽ không làm gì khác ngoài việc kể lể câu chuyện của mày. Cho đến khi nào mày chịu nói sự thật với chúng tao.
- Tôi đã kể sự thật với ông thẩm phán rồi.
- Người đánh giá những gì mày nói là đúng hay sai là chúng tao. Hãy bắt đầu kể đi.
- Các ông muốn tôi bắt đầu từ việc gì?
- Hãy bắt đầu từ việc vượt ngục. Mày đã làm gì sau khi thoát khỏi nhà tù.
- Sau khi ra khỏi ngục, tôi đã đi - Savonarola Mold kể - Tôi đã đi trong tuyết. Luôn luôn đi trong tuyết. Ban đêm tôi đi theo đường sắt. Ban ngày đi trong rừng. Nhưng trong rừng hay trên đường sắt thì tuyết cũng như nhau. Cao đến tận thắt lưng. Và lạnh buốt. Khởi hành từ Targul Ocan - thành phố nơi có nhà tù khổ sai - luôn luôn tôi đi về hướng Bắc. Tôi đã nghĩ là đã đi trên một trăm cây số. Có thể là hai trăm. Tôi không biết chắc là bao nhiêu. Điều mà tôi biết, là tôi đã đi không ngừng. Tôi không tự cho phép tôi được ngừng lại một lần nào. Ban ngày hay ban đêm cũng thế, không được nghỉ ngơi một lần nào. Luôn luôn đi. Đi suốt ba ngày ba đêm.
- Và để ăn? Thám tử thứ nhất hỏi - Ai cho mày ăn?
- Không ai cho tôi ăn cả - Sava đáp - Tôi đã ăn tuyết. Trong các hầm muối, người ta đã tập cho chúng tôi nhịn đói. Để cho tuyết có mùi vị, thỉnh thoảng tôi ngắt một tí vỏ cây sồi và tôi nhai. Nhiều lúc tôi nếm thử rêu bám nơi cây cối. Nhưng chua quá. Tôi đói cồn cào như một con chó sói. Nhưng tôi cứ tiếp tục đi. Đi tới phía Bắc. Tới phía Agapia. Tới phía của nhà của tôi. Tôi đau khổ như một con thú hoang vì đói và lạnh.
Savonarola Mold khóc. Nó gạt nước mắt với bàn tay to như cái xẻng.
- Thưa ông, tôi biết đời sống của một tên tù khổ sai là ngắn ngủi. Tôi tự nhủ rằng tôi phải tranh thủ thời gian. Vì rằng tôi đã thực hiện cái phép lạ là thoát ra được cái hầm muối, nơi từ xưa đến nay, chưa có một tên tù nào thoát được mà còn sống sót, thì tôi phải đi. Và tôi đã đi. Tôi muốn cho các đứa con bé nhỏ của tôi những viên kẹo mà tôi đã dành dụm được, muốn bồng chúng ngồi trên đầu gối của tôi, muốn vuốt ve chúng nó. Sau đó tôi sẽ có thể ra đi và đợi cái chết. Nhưng các điều nói trên, tôi phải làm vì trước kia tôi chưa bao giờ làm.
Câu chuyện của Sava Mold kể là xuất phát từ đáy lòng. Không chỉ phát ra từ của miệng, hay từ cổ họng mà thôi, những tiếng nói phát ra từ nơi thâm sâu nhất của bản thể nó. Vì vậy mà câu chuyện nó kể không nhạt nhẽo, cũng không ngọt ngào, cũng không có tính cách trái sự thật. Vì tất cả những gì một con người làm một cách thích hợp với bản thân mình - một cách chân thành - thì việc làm đó là tự nhiên. Sava cao lớn quá to con quá và cứng rắn quá để những lời nói ra là những lời dịu dàng, dễ nghe. Sự dịu dàng thi vị của câu chuyện kể của nó có tính đồ sộ của thân hình nó. Nước mắt và những tiếng trìu mến khi Sava đề cập đến các con của nó phát xuất từ đôi mắt và từ miệng của Sava Mold, như nhựa chảy ra từ một cây tùng cổ thụ mà người ta đã vạch rõ. Nước mắt và lời nói của Sava cũng mạnh như cây tùng cổ thụ kia.
Hai thám tử ghé miệng vào tai nói thầm với nhau. Họ nói với nhau rằng câu chuyện về các viên kẹo có thể đi sâu vào tâm hồn của tên tù khổ sai và thắng được nó. Vì cá nhân nào cũng như Achille [1] - cũng có một điểm yếu. Biết được điểm yếu ấy thì người ta có thể hiểu thấu thâm tâm của cá nhân ấy, do đó người ta có thể khai thác và khuất phục nó.
Trong lúc hai thám tử thảo luận với nhau và quyết định mở rộng kẽ hở từ đó họ có thể đi sâu vào tâm hồn tên tù khổ sai, thì Sava khóc. Sava như một tảng đá. Trong các tảng đá đó không có suối nước, các tảng đá khô và cứng. Con mắt của hạng người như Sava, cũng giống như những tảng đá. Hạng người ấy không hề khóc, trong đời họ. Người ta càng có tính đàn ông nhiều hơn bao nhiêu thì người ta càng khóc ít hơn bấy nhiêu. Nhưng nếu một người đàn ông thực sự, như Sava Mold - đã phát khóc thì nước mắt của người ấy đậm đặc. Từ một giọt nước mắt đàn ông, người ta có thể làm một lít nước mắt đàn bà hay trẻ con. Vì độ đậm đặc của nước mắt đàn ông. Nhất là nước mắt của Sava Mold. Nước mắt của Sava Mold nóng bỏng như cường toan, nước mắt của nó lóng lánh như kim khí nấu chảy, đang chảy xuống hừng hực, trên má nó.
- Hãy cầm lấy các viên kẹo nhai và các viên kẹo mút của mày. - Thám tử thứ nhất nói.
Y trả lại cho Sava những gói nhỏ kẹo mà người ta đã thấy trong áo quần của nó.
- Tất cả kẹo này là của mày. Mày hãy giữ lấy. Không ai có quyền tịch thu những viên kẹo mà mày đã dành cho các con nhỏ của mày.
Sava Mold nhìn các viên kẹo. Màu hồng, màu xanh, màu vàng. Những viên kẹo rẻ tiền nhất trên đời! Nhưng là những viên kẹo nó đem về cho các con của nó và chúng sẽ nhận với sự vui sướng lớn nhất trên đời.
- Thật là ngu ngốc, câu chuyện của tôi - Sava nói - Các ông sẽ cho đó không phải là một câu chuyện của một người đàn ông. Nhưng nếu các ông ở vào địa vị của tôi, và nếu các ông có một tâm hồn, các ông sẽ cảm thấy nỗi đau đớn của tôi. Các ông cũng sẽ vượt ngục như tôi. Các ông cũng sẽ thoát ra khỏi địa ngục như tôi để đem vài viên kẹo về cho con cái các ông. Ngay cả trong trường hợp biết rằng như thế là ngu ngốc. Như thế đấy, không thể khác được, mặc dù người ta biết sẽ mất mạng như chơi. Vâng, thưa các ông, người ta dám hy sinh tính mạng mình để đem về cho con cái mình vài viên kẹo chỉ đáng giá hai xu. Đó là chuyện bình thường.
- Chỉ vì một việc duy nhất là đem kẹo về cho con mày mà mày đã vượt ngục?
- Vâng, thưa ông. Để làm việc ấy. Và để vuốt ve chúng nó. Và nói với chúng nó những lời trìu mến yêu thương. Ôm hôn chúng nó. Chúng nó và mẹ chúng nó.
Sava là người có tính hay bẽn lẽn. Nhưng nó nói tiếp để tránh mọi sự hiểu lầm:
- Chúng tôi, những người nhà quê, chúng tôi chai sạn. Chúng tôi nghèo quá để mà âu yếm ngọt ngào. Thưa ông, ông biết không, chúng tôi không bao giờ ôm hôn vợ chúng tôi. Và quan trọng thay, một cái vuốt ve. Sự vuốt ve của một người chồng, có cũng như chiếc vòng, một đôi hoa tai, một chuỗi ngọc, đối với người vợ được chồng vuốt ve. Đúng vậy, một cái vuốt ve, một lời trìu mến, một nụ hôn, đối với một người vợ đó là một món nữ trang của chồng tặng. Và là một món nữ trang không mất tiền mua. Thế mà chúng tôi, những người nghèo, những người không bao giờ có thể có vật gì để làm quà tặng cho vợ chúng tôi, chúng tôi không bao giờ tặng cho vợ chúng tôi một cái vuốt ve, một nụ hôn hay một lời trìu mến! Vì những lời âu yếm cũng như những đồng tiền vàng. Đàn bà có thể dùng để trang sức giống như nữ trang. Thế mà chúng tôi cũng không tặng cho vợ của chúng tôi. Điều ấy làm cho tôi đau đớn, như một cái gai cắm sâu vào da thịt, như một con dao đâm vào lưng.
- Mày định ở lại nhà mày bao lâu? - Một thám tử hỏi.
- Để làm những việc tôi định làm, tại nhà tôi, tôi chỉ cần một giờ - Sava đáp - Với một giờ thăm viếng hỏi han, tôi sẽ làm cho vợ tôi sung sướng, dù bị chôn vùi dưới lòng đất. Vì cái giờ mà tôi được ở tại nhà, sum họp với vợ con tôi.
Sava nói thêm:
- Tôi biết rằng sau khi biết tôi đã vượt ngục, người ta sẽ tìm tôi tại nhà tôi. Tôi biết rằng người ta sẽ bắt tôi ở đấy. Rằng thời gian tôi được tự do sẽ không kéo dài lâu. Rằng tôi phải khẩn trương để các thám tử chưa kịp lùng bắt tôi trước khi tôi về đến được nhà. Vì vậy mà tôi đã đi càng nhanh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
- Chúng tao có thể cho phép mày thực hiện ước mơ của mày - Thám tử thứ nhất nói - Chúng tao có thể cho phép mày về nhà, ở đó sum họp với vợ con mày trong một tiếng đồng hồ.
Sava nhìn hai thám tử, với vẻ ngờ vực, và không nói gì.
- Mày nghĩ thế nào về đề nghị của chúng tao?
- Không nghĩ gì hết - Sava Mold đáp - Đề nghị ấy cao đẹp quá để có thể tin đó là sự thật.
- Tao nói một cách nghiêm chỉnh. Nếu mày ngoan ngoãn kể cho tao nghe đêm qua mày đã giết Tuniade Con như thế nào, thì sáng mai mày sẽ được phép đến nhà của mày để thăm vợ con mày và cho chúng tất cả số kẹo mày dành cho chúng. Mày đồng ý chứ?
- Tôi không có giết Tuniade Con - Sava Mold đáp - Tôi không thể kể về một tội giết người mà tôi không phạm.
- Mày được tự do từ chối - Thám tử nói - Nhưng chúng tao thì không có nhiều thì giờ. Chúng tao phải ra đi ngày mai, chuyến tàu mười hai giờ trưa. Từ bây giờ đến sáng mai mày phải nói. Mày phải nói cho chúng tao biết mày đã giết Tuinade Con trước lâu đài như thế nào?
- Không phải tôi giết cậu ấy.
- Chúng tao sẽ nghiên cứu điều đó một cách tỉ mỉ và thật kỹ càng. - Thám tử thứ nhất nói.
Thám tử ấy yêu cầu thẩm phán Damian ra ngoài phòng để họ có thể làm việc một mình với Sava.
- Các ông muốn tra tấn nó hay sao? - Ông thẩm phán nói rất khẽ - Tôi chống lại việc tra tấn một tù nhân.
- Thưa ông thẩm phán, chúng tôi sẽ không tra tấn nó - Thám tử thứ hai nói to - Người tù của ông, cái anh chàng Sava Mold này, là một người tù có tính bẽn lẽn. Nó bẽn lẽn và hổ ngươi như một thiếu nữ còn trinh. Nó không muốn xưng tội ở chỗ công khai. Vì vậy chúng tôi muốn nói chuyện với nó một cách nhỏ nhẹ. Cửa phòng đóng lại. Để khỏi làm phương hại đến tính bẽn lẽn của nó.
Thẩm phán Damian đi ra. Chỉ còn hai thám tử ở lại trong phòng với Sava Mold. Và lập tức sau đó, người ta nghe được những tiếng rên siết. Những cú đánh. Những tiếng kêu la. Cosma Damian muốn can thiệp, để bắt phải chấm dứt cuộc tra tấn. Nhưng cửa ra vào đã bị khóa chặt. Hai thám tử không chịu mở cửa cho ông thẩm phán vào. Và cũng không chịu mở cửa cho cảnh sát trưởng Filaret vào. Những tiếng kêu la của Sava Mold, giống như những tiếng kêu la của một con thú hoang, xé toang màn đêm. Người ta nghe được những tiếng kêu la ấy từ ngoài đường, cả một vùng chung quanh pháp đình. Dân chúng ở hai bên con đường Tình Yêu thức dậy, khi nghe tiếng kêu la của tên tù bị tra tấn. Người ta thắp đèn dầu, tắp nến lên. Không còn ai có thể ngủ được nữa. Nơi các cửa sổ có ánh đèn. Mọi người đều thức. Và quang cảnh ấy kéo dài hai giờ đồng hồ. Thỉnh thoảng tiếng kêu la, tiếng khóc, tiếng những cú đánh và tiếng chửi rủa ngừng. Người ta biết là những lúc ấy tên Sava Mold đáng thương đã ngất xỉu. Bác sĩ Pillat được mời bốn lần. Ông đã vào trong phòng, săn sóc Sava và làm cho nó tỉnh lại, nhưng mỗi lần sau đó hai thám tử lại dập tắt ngay sự sống trong thân hình khổng lồ của Sava. Cuối cùng bác sĩ Pillat từ chối không chịu vào săn sóc cho Sava nữa. Ông giận dữ bỏ đi. Ông nói rằng không cần phí công làm cho một người hồi tỉnh để rồi nó phải ngất đi trở lại dưới một trận đòn. Không có bác sĩ, hai thám tử tự xoay xở lấy. Họ là những tay chuyên nghiệp. Họ tự làm cho kẻ bị tra tấn hồi tỉnh, mỗi khi nó ngất xỉu. Và họ lại bắt đầu tra tấn trở lại cho đến lần ngất xỉu tiếp theo. Và tấn tuồng đã kéo dài suốt đêm. Đến sáng sớm. Khi mọi sự ồn ào và tất cả các tiếng kêu la đã chấm dứt, mọi người đều nghĩ rằng Sava Mold đã chết. Trong tất cả mọi nhà, người ta cầu nguyện cho linh hồn của nó và cho sự xá miễn tội lỗi của nó. Trong toàn thành phố Agapia, người ta đều biết và người ta đã cầu nguyện. Những người duy nhất ở thành phố Agapia không hay biết gì cả về những sự việc đã xảy ra lại là chính các đứa con và vợ của Savonarala Mold. Chúng sống cách ly với toàn thể dân chúng trong thành phố. Ngay đến việc cha, chồng của chúng có mặt trong thành phố và đã đánh thức mọi người trong thành phố dậy vì những tiếng kêu la đau đớn, chúng cũng không hay biết. Toàn thành phố đã thức giấc vì những tiếng kêu tiếng khóc của Sava Mold, ngoại trừ con nó và vợ nó, là những người mà vì chúng, nó đã vượt ngục. Chúng ngủ, bị quật ngã bởi cảnh khốn cùng, trong ngôi nhà nhỏ trong rừng.
-----------------------------------
[1] Trong bộ sử thi cổ Hy Lạp, Achille là vị anh hùng vô địch. Trong người Achille có một chỗ yếu duy nhất, nằm nơi gót chân, về sau Achille bị Parus đâm trúng gót chân mà chết (N.D).
0
XX
Những phép lạ của mật thám
 
Savonarola bị tra tấn suốt đêm trong pháp đình. Trong thành phố không một ai nhắm được mắt. Đàn bà thì quỳ gối cầu nguyện cho kẻ bị khổ hình. Đàn ông nằm trên giường nhưng thức chong. Và họ cũng cầu nguyện. Mật thám là tai họa lớn nhất trong thời đại chúng ta. Tại tất cả các nước, nhất là tại các nước văn minh. Tai họa của thời đại chúng ta không phải là nạn đói, cũng không phải là chiến tranh, cũng không phải là dịch hạch. Mà là mật thám. Mật thám phạm tội giết người và các trọng tội khác mười lần nhiều hơn tất cả các băng cướp của giết người cộng lại. Và các trọng tội của mật thám không bao giờ bị trừng phạt. Một vụ giết ngươi không bị trừng phạt, xảy ra một cách ngang nhiên, do nhân viên sở mật thám thực hiện, đó là một điều không thể nào chịu đựng được. Dân chúng Agapia có cảm giác là người ta lại đóng đinh Chúa Giê-su trên cây Thánh giá một lần nữa, ngay ở giữa thành phố của họ. Và họ không thể nhắm được mắt, suốt đêm.
Sáng sớm, trước rạng đông, trong lúc mọi người thở phào nghĩ rằng kẻ khổ sai đã trả linh hồn của nó lại cho Chúa, rằng cuối cùng nó đã thoát khỏi bị tra tấn, thì Ismail, gã xà ích bị thiến, được gọi đến pháp đình. Người ta không nói cho gã biết vì sao gã được gọi đến. Dân thành phố rình nơi các cửa sổ để ngóng xem. Họ nghĩ rằng các thám tử lạ mặt này sắp đưa xác Sava ra xa thành phố để liệng xuống sông, để phi tang. Nhưng không phải thế. Sava Mold đã leo lên xe trượt tuyết của Ismail, tiếp theo là hai thám tử. Sava không chết. Hơn thế nữa, trước khi leo lên xe, Sava Mold bước đi một cách có vẻ thoải mái. Đầu nó đầy vết bầm tím, thương tích, nhưng râu ria rậm rạp che giấu các vết sẹo và các vết thương.
- Người ta đem Sava vào rừng để bắn nó. - Một bà nói.
Nhưng điều này cũng không đúng nốt. Chiếc xe của Ismail, trong đó có hai thám tử lạ mặt và Sava Mold, theo con đường Tình Yêu hướng tới khu thương mại của thành phố và dừng lại trước tiệm tạp hóa của Itzig Avram.
- Xà ích, mày hãy xuống xe và đánh thức chủ tiệm dậy. - Một trong hai thám tử ra lệnh.
Y mở ví tiền. Y đưa cho Ismail một tờ giấy bạc ngân hàng. Một tờ bạc lớn.
- Ông muốn mua gì? - Ismail hỏi.
- Savonarola sẽ cho biết - Thám tử tiếp.
Y nói với Sava:
- Hãy cho xà ích biết mày muốn mua gì?
Sava Mold, mắt sáng ngời, như say sưa vì sung sướng nhìn tờ bạc lớn trong bàn tay Ismail.
- Hãy mua kẹo cho bọn trẻ con. - Nó nói.
- Mua bao nhiêu kẹo?
- Tôi có sáu đứa con, anh biết đó! Hãy mua kẹo đủ cho sáu đứa, để chúng ăn cho tràn miệng. Ăn cho đến khi nào bụng không ăn được nữa. Luôn luôn, lúc tôi còn nhỏ, tôi mơ ước được ăn kẹo cho tràn miệng. Hai chục cái, bốn chục cái, một trăm cái một lần. Luôn luôn tôi mơ ước được ăn kẹo cho đến đau bụng mới thôi. Tôi nghĩ rằng đau bụng vì ăn kẹo là một chứng đau dễ chịu. Rằng đó là một sự đau đớn đích thực, vì là do kẹo gây nên. Ôi kẹo, ngon biết chừng nào!
- Tôi phải mua bao nhiêu gói? - Ismail hỏi - Sáu gói, vừa ý chưa?
- Mua nhiều hơn đi - Sava đáp - Tôi nghĩ rằng anh có thể mua nhiều hơn, với số tiền mà người ta đã đưa cho anh. Anh hãy mua hết cả thẩu kẹo của Itzig. Hãy mua tất cả. Anh có đủ tiền mà. Còn thừa tiền là đằng khác.
Savonarola Mold, như say, ngỏ lời với các thám tử, với Ismail. Nhưng tự nói với mình nhiều hơn:
- Tôi chưa bao giờ mua kẹo cho con tôi. Hôm nay, chúng nó có cả một thẩu. Điều ấy sẽ làm cho chúng nó sung sướng, thích thú, một sự thích thú mà người ta không thể nào tưởng tượng được. Và đối với tôi!... Sự thích thú thấy chúng nó ăn tràn miệng, đút từng nắm kẹo vào mồm chúng nó!... Sự thích thú lớn nhất trong đời tôi. Chúa thật cao cả. Từ nơi kia tôi chỉ đem về cho chúng nó vài gói. Nhưng bây giờ chúng nó có cả một thẩu. Tôi đã thực hiện được ước mơ của tôi. Còn hơn cả ước mơ của tôi. Vì điều ấy mà tôi đã vượt ngục. Vì điều ấy mà tôi đã đi trong tuyết, nhịn đói nhịn khát, trong ba ngày ba đêm. Để cho chúng nó điều ấy. Và rồi để bồng chúng nó ngồi lên trên đầu gối tôi. Để vuốt ve đầu chúng nó. Và rồi để vuốt vai người vợ già, người vợ hiền, bà Smaranda rất thân yêu của tôi. Bà ấy chắc đã phải chịu khổ sở! Bà ấy chắc đã phải chịu đau đớn! Bà ấy chắc không tưởng tượng được rằng tôi sẽ trở về. Ôi người vợ rất yêu dấu, người vợ rất thân thương của tôi!... Tôi chưa bao giờ nói như thế với vợ tôi. Nhưng hôm nay tôi sẽ nói như thế với bà ấy, người vợ rất yêu dấu và rất thân thương Smaranda của tôi. Và Smaranda sẽ rất bằng lòng. Như trong một giấc mơ. Tất cả mọi người sẽ sung sướng. Và các thiên thần, trên trời, sẽ nhìn xuống chúng tôi và cùng sẽ khóc vì sung sướng. Tất cả các thiên thần trên trời!
- Mau lên, Sava! - Thám tử ra lệnh.
- Thưa ông tôi còn muốn một điều nữa - Sava nói - Cũng còn tiền cho điều ấy. Tờ bạc kia, là cả một số tiền lớn.
- Hãy nói mau lên, mày còn muốn thêm điều gì. - Thám tử càu nhàu lặp lại.
- Ông cho phép Ismail mua một chai rượu không? Để tôi cụng ly với người vợ già của tôi, với Smaranda... Trong lúc các đứa con của tôi ăn kẹo. Ông có cho phép không?
- Đồng ý - Người thám tử nói - Nhưng mau lên. Chúng ta không có thì giờ để phí phạm.
- Chúng tôi sum họp vợ chồng, cha con, chỉ trong một giờ mà thôi - Sava nói - Nhưng đối với một con người, một giờ hạnh phúc đủ để nó chịu đựng được cảnh địa ngục suốt đời.
- Mày hãy mua cho nó một chai rượu. - Người thám tử ra lệnh.
- Thưa ông, vâng. - Ismail đáp.
- Ismail, hãy mua một chai rượu vang đỏ - Savonarola Mold nói thêm cho rõ - Hãy mua một chai nguyên rượu vang đỏ. Với vợ tôi, tôi chưa bao giờ uống một chai nguyên rượu vapơ đỏ cả. Chúng tôi có uống rượu, nhưng không được nguyên một chai. Chúng tôi có uống rượu vang đỏ với nhau trong ngày đám cưới của chúng tôi. Linh mục Nikodim, Cha xứ, có cho cả hai chúng tôi uống chung một ly rượu vang đỏ. Hôm ấy Smaranda yêu dấu của tôi thật xinh đẹp! Chúng tôi cũng có uống rượu vang đỏ ngày Chúa nhật, trong lễ rước Mình Thánh Chúa. Nhưng với cái muỗng thông công. Hôm nay Smaranda và tôi, chúng tôi sẽ uống một chai nguyên. Ruợu vang đỏ. Như trong ngày lễ rước Mình Thánh Chúa. Để kỷ niệm ngày cưới của chúng tôi và sự thông công giữa chúng tôi với tử thần. Đây sẽ là lần gặp gỡ của chúng tôi ở trên trời. Xa trái đất!...
- Nhanh lên, ông bạn già của tôi ơi. Chúng ta không phải ở đây để đọc diễn văn. - Người thám tử nói.
Vẫn là người thám tử ấy. Vì thám tử thứ hai đã ngủ gà ngủ gật. Vì mệt mỏi. Trên bầu trời, ngay đỉnh đầu Agapia, mặt trời mọc. Một mặt trời màu trắng, một mặt trời màu bạch kim. Không phải một mặt trời màu vàng như thường lệ.
- Ông bạn già của tôi, hãy mua thêm một ổ bánh mì lớn, loại tốt. Tôi chưa bao giờ được cùng ăn với Smaranda loại bánh mì ấy. Mua nguyên một ổ lớn. Hãy nói với Itzig là để tôi ăn với vợ tôi. Và hãy nói với ông ấy bán thêm sáu cái bánh bao. Sáu cái, cho sáu đứa con của tôi. Sáu cái thật lớn. Sáu cái bánh bao, đấy, không thêm gì nữa hết.
Ismail mua đủ thứ: rượu vang đỏ, kẹo, bánh mì và bánh bao.
- Lạy Chúa, thưa các ông, tôi đã thực hiện điều ước mơ của đời tôi. - Sava Mold nói.
Nó sung sướng. Nó đẹp đẽ. Hôm nay nó đẹp như một trung niên.
- Lạy Chúa, như vậy có hay hơn không? - Savanarola Mold hỏi - Tôi đã có một ước mơ - một ước mơ thực sự với tất cả niềm tin của mình - thì nó luôn luôn thực hiện được ước mơ ấy. Không có gì có thể ngăn cản nó thực hiện ước mơ của nó. Dù cho các ông có xé da nó ra từng mảnh. Dù cho các ông có lóc thịt nó ra. Và dù cho các ông có giết chết nó, thì các ông cũng không thể ngăn cản nó thực hiện ước mơ của nó. Vì con cháu sẽ thực hiện điều mà cha ông chúng đã thất bại, không thực hiện được. Tôi đã thực hiện được ước mơ mà vì ước mơ ấy mà tôi đã vượt ngục. Và tôi sung sướng. Tôi đã thực hiện được quá điều tôi ước mơ. Tôi không chỉ mang về cho con cái tôi vài gói kẹo mà mang về cho chúng nó cả thẩu kẹo đầy của chủ tiệm Itzig. Và bánh mì loại tốt. Và cả rượu vang đỏ cho vợ tôi. Thật hơn cả một giấc mơ. Chúa đã cho phép tôi không chết là để thực hiện ước mơ của tôi. Tôi sống duy nhất chỉ vì điều ấy. Có thể đó không phải là cái gì to tát lắm, nhưng đối với tôi, thế là đủ. Và đối với các ông, thế cũng tốt. Lạy Chúa, các ông cũng đã làm một điều lành.
- Nghĩa là thế nào? - Người thám tử hỏi.
- Nếu các ông đã giết tôi, thử hỏi các ông đã được gì nào? Không được gì cả. Lẽ dĩ nhiên là không ai trách cứ các ông đã giết tôi. Người ta không bao giờ trách cứ một thám tử, nếu thám tử ấy giết chết một người. Không bao giờ, tại các nước văn minh, và không bao giờ tại Agapia. Nhưng các ông sẽ không được gì cả. Các ông chỉ đã giết thêm một người. Tôi biết rằng các ông đã giết nhiều người rồi. Không có thám tử nào lại không phạm nhiều tội giết người. Vì rằng tội giết người không bị trừng trị đối với các thám tử, họ có thể tự cho phép mình được làm những gì cấm kỵ đối với các tên sát nhân không có đồng phục. Bây giờ các ông đã thắng, đã được, vì các ông đã không giết tôi. Trái lại, các ông đã cho phép tôi thực hiện ước mơ của đời tôi. Và, về phần tôi, tôi đã thú tội đầy đủ với các ông. Trong vài giờ các ông đã làm sáng tỏ vụ án bí mật ở trước lâu đài. Các ông sẽ có huy chương. Các ông sẽ được thăng cấp. Các ông đã thắng, đã được. Chúng ta thế là gần như không mất gì nhau, không nợ gì nhau. Phải không?
- Đúng như thế - Người thám tử đáp - Nhưng chúng ta phải làm nhanh lên. Chúng ta sẽ có một giờ để nghỉ ngơi. Và chúng ta sẽ lên đường, theo chuyến tàu trưa. Chúng ta sẽ tiến hành công việc khẩn trương lên nào.
Chiếc xe trượt tuyết hai ngựa trắng cửa Ismail dừng lại trước pháp đình. Thẩm phán Damian còn ngủ. Người ta gọi bà Eudoxia. Bà ra trước thềm cấp. Hai thám tử lạ mặt ngồi trong xe với Savonarola Mold.
- Bà hãy báo với ông thẩm phán rằng, trong một giờ nữa, người ta sẽ tổ chức cho diễn lại vụ ám sát. Chúng tôi sắp khám xét nhà của bị cáo. Trong đúng một giờ nữa, nghĩa là vào lúc chín giờ, chúng tôi thỉnh cầu ông thẩm phán có mặt tại lâu đài để chủ trì cuộc diễn lại. Xin cám ơn và chào bà. Hãy nói với ông thẩm phán rằng chúng tôi sẽ đi chuyến tàu trưa. Chúng tôi sẽ ăn trên toa căn-tin. Khỏi phải làm phiền mọi người ở đây. Cũng nhờ bà báo cho bác sĩ pháp y. Ông bấc sĩ đã khám nghiệm tử thi nạn nhân. Yêu cầu ông ta đến dự cuộc diễn lại vụ ám sát Tuniađe.
Thế là Sava Mold đã thú nhận tội giết người rồi sao? Tin ấy làm rúng động cả thành phố này. Không phải vì nó đã thú nhận. Mà vì nó đã vượt ngục, vì nó đã đi bộ hai trăm cây số. Để làm gì? Để phạm một tội lớn nhất trên đời? Để giết một con người. Nhất là một người trẻ tuổi, Antoine Tuniade mà nó chưa bao giờ thấy mặt trước đó. Để giết người ấy như giết một con chó.
Thành phố tinh khiết ấy náo động. Thành phố ấy rung rinh trên nền tảng của nó. Và mỗi người dân thành phố cảm thấy mình bị tổn thương, bị bôi nhọ. Cảm thấy mình có tội. Máu mà Sava Mold làm đổ ra, mỗi người cảm thấy như váy trên chính bàn tay của mình. Trong lúc ấy, trên con đường Tình Yêu, chiếc xe trượt tuyết của Ismail dừng lại. Hai thám tử và Sava xuống xe. Họ đi theo con đường mà ngày hôm trước thẩm phán Damian và cảnh sát trưởng Filaret đã đi, để đến nhà của tên sát nhân.
Cái nhà của Savonarola gần như bị chôn vùi dưới tuyết. Cái nhà không có ống khói trên mái. Một thám tử xô cửa. Y nhìn vào trong nhà. Bên trong, người ta thấy người đàn bà, gần như điên dại, lò sưởi, bếp lửa, nồi cháo bắp, các đứa con đang ẩn nấp. Người thám tử thụt lùi. Y chụp cánh tay Sava và đẩy nó vào. Sau đó hai thám tử đi ra xa. Họ đứng lại canh chừng khá gần nhà để Sava không thể chạy trốn được, và khá xa để không nghe những tiếng kêu, tiếng khóc, tiếng cười giống như tiếng rú của những con thú được cởi mở xiềng xích. Vì sự xuất hiện của Sava Mold đã khơi động những tiếng reo mừng, tiếng cười và tiếng khóc của sáu đứa con của nó và của người vợ già của nó.
Hai thám tử đợi ở ngoài. Họ đi dạo quanh quẩn ở đó. Họ hút thuốc và nhất là họ nhìn đồng hồ của họ.
Sava Mold được phép xum họp với vợ con trong một tiếng đồng hồ. Bốn mươi phút đã trôi qua. Đột nhiên cửa mở, Sava bước ra. Vợ nó, con nó, không đi theo nó. Nó bước ra khỏi nhà nó đơn độc một mình. Nó đi tới phía các thám tử. Nó biết rằng trong đời sống của nó trên thế gian, đây là lần cuối cùng nó vào ngôi nhà này và cũng là lần cuối cùng nó ra khỏi ngôi nhà này. Ra khỏi ngôi nhà nhỏ bằng gỗ của nó, nơi mà nó những nghĩ sẽ sống cho đến lúc nhắm mắt lìa đời. Nó phải vĩnh biệt ngôi nhà ấy, để không bao giờ thấy lại nữa.
- Xong xuôi. - Sava Mold nói.
Nó tới gần hai thám tử, bước đi lảo đảo. Hơi nặng nề, nhưng cương quyết. Đó là bước đi của một con người đã làm một công việc nặng nhọc, một công việc làm cho người ta đuối sức, một công việc có ích, và bây giờ đã làm xong xuôi.
- Mày còn có thể ở lại thêm. - Một thám tử nói - Mày còn mười phút nữa.
- Không cần thiết. - Sava Mold đáp.
Nó đi tới phía chiếc xe trượt tuyết của Ismail. Nó thấy xa xa bên kia chiếc xe trượt tuyết, nhà tù khổ sai ngầm dưới đất, nơi mà nó sẽ vào. Rồi là tử thần. Rồi là thiên đường. Và rồi là đời sống vĩnh cữu, ở đó nó sẽ gặp lại sáu đứa con của nó và Smaranda yêu dấu của nó.
- Mày nghe không, Sava? Mày con có thể ở lại thêm mười phút nữa. Hãy trở lại nhà mày đi.
- Không cần thiết, lạy Chúa tôi.
Sava leo lên xe. Hai thám tử lên tiếp và ngồi áp hai bên. Sava không nhìn lui một lần nào. Nó không quay đầu về phía nhà nó. Nó nhìn lên cao, nhìn chỗ ở mới của nó: thiên đường. Nhưng, để lên thiên đường, nó còn phải ở dưới địa ngục.
- Vì sao mày không ở lại cho hết một giờ? - Người thám tử hỏi.
- Xong xuôi rồi - Sava đáp - Không cần thiết phải ở lại.
Thi ca luôn luôn là ngắn ngủi. Tất cả cường độ là ngắn ngủi. Trong khi đào muối dưới hầm sâu, Sava thường nghĩ rằng, trong cuộc sống của con người, sự trìu mến là như muối trong nhà bếp. Nếu thiếu muối trong các món ăn thì các món ăn ấy không còn ngon miệng. Nếu thiếu sự trìu mến trong cuộc đời thì tất cả những gì con người thực hiện đều nhạt nhẽo, vô vị. Cũng như một món ăn không có muối. Một cái vuốt ve, một nụ cười, một cái ôm ghì, một viên kẹo, đó là những cái cho cuộc đời một hương vị. Những cái ấy, Sava Mold đã bỏ sót không làm trong cuộc đời của nó, trước khi bị lưu đày. Bây giờ nó đã chuộc lại sự sai sót đó. Nó không cần một thời gian dài để làm điều đó. Không cần cả một tiếng đồng hồ. Chỉ bốn muơi phút là đủ để bù đắp những gì thiếu cho cuộc đời. Bây giờ cuộc đời của Sava là đầy đủ. Cuộc đời ấy toàn là đau thương, bất công và nghèo nàn. Nhưng nay người ta đã rót vào trong ấy một giọt yêu thương, trìu mến, mùi vị của cuộc đời đã thay đổi.
- Không, cho xe lên lâu đài của gia đình Tuniade - Viên thám tử đáp - Người ta sẽ tổ chức diễn lại vụ ám sát.
Sava Mold không nghe. Nó nhìn bên trên núi rừng để không thấy núi rừng. Núi rừng của nó, những núi rừng giống như một sự nối dài của thân hình nó, những núi rừng mà nó sẽ không bao giờ còn thấy lại nữa. Nó tự tách mình ra khỏi mọi cái, vĩnh biệt mọi thứ, như nó đi đến với tử thần. Vì nó sẽ đi đến một nơi sâu hơn huyệt mộ của người chết. Nhà tù khổ sai sâu dưới đất, sâu hơn mồ của người chết.
0
XXI
Những lời thú tội của Savonarola Mold
 
Đúng chín giờ sáng. Chiếc xe trượt tuyết của Ismail ngừng trước lâu đài của dòng họ Tuniades.
Savonarola Mold và hai thám tử xuống xe. Cùng lúc ấy, thẩm phán Damian từ lâu đài bước ra và đi tới phía cổng rào song sắt - Tới chỗ mà xác nạn nhân đã được tìm thấy. Đi theo ông thẩm phán có cảnh sát trưởng Filaret, bác sĩ Pillat và một chàng trung niên mà người ta chưa thấy mặt cho đến lúc ấy, nay làm nhiệm vụ lục sự. Họ đã đi lên lâu đài theo con đường Tình Yêu, trong lúc Savonarola Mold và hai thám tử đang ở nơi nhà của Sava. Mọi người đã có mặt. Mọi người đã đến đúng giờ để tổ chức diễn lại vụ ám sát. Hôm đó là thứ bảy đầu tiên của tháng ba. Vụ ám sát đã xảy ra trong đêm thứ năm rạng ngày thứ sáu, lúc một giờ sáng. Đây là kỷ lục điều tra nhanh. Không đầy ba mươi giờ sau, tên sát nhân đã bị bắt và bây giờ người ta tổ chức diễn lại vụ ám sát. Trùm mình trong một áo măng-tô lông thú, bà Patricia Tuniade từ lâu đài bước ra, nhập vào số người đã có mặt. Mặt bà tái mét. Mắt bà đỏ ngầu. Hai thám tử lạ mặt nói chuyện với ông thẩm phán. Rồi một thám tử bước tới bà Patricia Tuniade và nói với bà:
- Thưa bà, đây là một quang cảnh rất đau lòng đối với bà. Tốt hơn là bà không dự lúc chúng tôi tổ chức diễn lại cuộc ám sát. Người ta không thể để cho một bà mẹ thấy người ta giết con của bà như thế nào. Bà có thể trở vào lâu đài. Trước khi lên đường, chúng tôi sẽ đến nghiêng mình trước linh cữu của con bà và chia buồn với bà. Chúng tôi tiếc là không thể đự lễ mai táng. Chúng tôi phải đi chuyến tàu trưa. Lễ mai táng sẽ được tổ chức lúc mười một giờ, phải không, thưa bà?
- Đúng như vậy, thưa ông. Con tôi sẽ được an táng lúc mười một giờ tại nghĩa trang Agapia. Bên cạnh mộ phần của thân phụ nó và tổ tiên nó.
Bà Patricia Tuniade để chảy - mà không cần lau - vài giọt nước mắt xuống đôi má trắng như sứ của bà.
- Lát nữa, chúng tôi xin gặp lại bà. Và xin bà tin rằng mọi người đều đau xót vì tai họa khủng khiếp này. Nhất là khi người ta nghĩ rằng đây là những tai họa do chính con người gây nên! Những con người như tên Sava này phải bị tận diệt như loài cỏ dại của xã hội.
Trong lúc bà Patricia Tuniade trở về lâu đài, thong thả bước từng bước uyển chuyển như thể chân bà viết chữ. Trên tuyết, quan tòa và thám tử bắt đầu cuộc diễn lại vụ ám sát, đã xảy ra tại ngay chỗ này. Người ta chẳng còn thấy dấu vết gì tại hiện trường, ngoài các dấu chân của nhà chức trách.
- Thưa ông thẩm phán, tôi nghĩ rằng, sẽ là điều tốt hơn nếu, với sự cho phép của ông, chính chúng tôi, đồng nghiệp của tôi và tôi, sẽ đặt câu hỏi cho bị can. Chúng tôi đã hỏi cung nó suốt đêm. Cho nên chúng tôi có thể trực tiếp vào các sự kiện. Lẽ dĩ nhiên là nếu được ông phẩm phán cho phép chúng tôi làm như thế. Vì ông là người chủ trì cuộc diễn lại vụ án mạng.
- Xin ông tiến hành cho - Thẩm phán Damian nói - Ông có kinh nghiệm. Tôi, tôi mới làm thẩm phán chưa đầy bốn mươi tám tiếng đồng hồ.
- Xin cám ơn ông thẩm phán - Viên thám tử nói. Sau đó, y nói với anh chàng trung niên đang cầm một tập hồ sơ - Ông là luật sư, phải không?
- Tôi tên là Ion Xenia - Chàng trung niên nói - Vâng, tôi là luật sư.
Chàng ta cao ráo, tóc nâu, rất phong lưu. Mắt đen. Tiếng nói du dương như hát.
- Xin ông đứng sát bên tôi, ghi các câu hỏi của tôi và các câu trả lời của bị can, đúng như tôi sẽ đọc cho ông viết vậy. Như thế để khỏi phiền phức vì những câu vô ích.
Tất cả mọi người đứng tập trung phía sau cửa rào song sắt. Đứng vòng tròn. Như trên sân khấu.
- Sava, hãy lại gần đây - Thám tử chủ trì cuộc hỏi cung, ra lệnh - Lại gần sát bên ta đây. Và hãy trả lời thật to các câu hỏi của ta thật to để mọi người đều nghe rõ những gì mày nói và để ông luật sư có thể ghi chép. Vì tất cả những gì mày sẽ nói, sẽ được biên chép lại câu hỏi thứ nhất: Mày đã trốn khỏi nhà tù khổ sai nơi mày bị đày suốt đời vì tội giết Tuniade Cha, chủ nhân lâu đài này, phải không?
- Vâng, thưa ông. - Sava đáp.
- Mày vượt ngục để làm gì?
- Để về thăm các đua con của tôi.
- Điều ấy thì dễ hiểu thôi - Thám tử nói - Đó là một hành vi mà người ta không trách cứ ngươi, về phương diện nhân đạo. Trái lại, đó là một hành động cao thượng. Vượt ngục để thăm các con và vuốt ve chúng! Phải đương đầu biết bao nguy hiểm!... Chúng tôi đánh giá cao tính cao thượng của hành động ấy. Chỉ có ban quản trị nhà tù sẽ có trách cứ ngươi về tội vượt ngục. Và các nhân viên có trách nhiệm về an ninh cũng sẽ có trách cứ ngươi về tội ấy. Họ không thể tha thứ việc các tên sát nhân đi lại tự do ở giữa những công dân lương thiện. Nhưng trên bình diện nhân đạo, hành vi của ngươi không phải là hoàn toàn không có tính cao thượng. Vì ngươi đã chạy tới các đứa con của ngươi - các thằng nhóc như ngươi gọi - bất chấp nguy hiểm đến tính mạng của ngươi. Ngươi đã suýt chết dọc đường, phải không?
- Vâng, thưa ông. - Sava Mold đáp.
- Ngươi đã chịu đựng đói khát, lạnh lẽo. Và ngươi đã vượt hơn trăm cây số đi bộ, trong tuyết, không ngừng, để về thăm một lần nữa, trong vài phút, các thằng nhóc, sáu thằng nhóc của ngươi.
- Vâng, thưa ông.
- Nếu ngươi vượt ngục để về thăm các con của người, để đem cho chúng vài viên kẹo rẻ tiền và để vuốt ve chúng nó, thì ngươi đã đến làm gì ở nơi này, trước cổng rào song sắt của lâu đài, tại chỗ mà chúng ta đang đứng đây?
- Tôi đi ngang qua đây - Sava Mold đáp - Lâu đài ở trên đường đi. Tôi không muốn đi ở phía dưới thấp, qua làng xóm và theo con đường Tình Yêu, ở đó tôi có nguy cơ bị lộ diện, nếu như tôi gặp một người nào đó.
- Lối giải thích của ngươi hợp lý - Viên thám tử nói.
Viên luật sư bảnh trai - Xenia - viết rất nhanh. Chữ anh ta rất đẹp, lối chữ thảo lớn nét tuyệt mỹ. Người ta có thể nói là một bức họa.
- Bây giờ, hãy nghe cho rõ câu hỏi của ta - Viên thám tử nói - Đây là câu hỏi cốt yếu. Ta hiểu và tất cả chúng ta ở đây hiểu rằng ngươi đã vượt ngục và ngươi đã đi ngang qua trước lâu đài. Nhưng vì sao người đã giết Tuniade Con?
- Cậu ta đã đột ngột hiện ra trên đường đi của tôi. - Sava lúng túng đáp.
- Nếu có kẻ nào đột ngột hiện ra trên đường của người thì ngươi phải giết kẻ đó sao?
- Không, thưa ông. - Sava Mold đáp.
- Vậy thì hãy giải thích cho chúng ta rõ vì sao và bằng cách nào ngươi đã giết cậu ta.
- Đây, tôi từ phương Nam đi tới. Từ khi thoát ra khỏi nhà tù, luôn luôn tôi đi theo hướng Nam- Bắc. Lúc tôi đi ngang qua lâu đài, tôi nghe có tiếng lục lạc. Rồi có tiếng nói, tiếng hỏi đàn ông.
- Tiếng nói ấy phát ra từ lâu đài?
- Không, thưa ông. Tiếng nói phát ra ở bên ngoài. Các người nói đó đang ở phía trước mặt tôi. Để khỏi gặp các người đó, tôi đã nấp sau bức tường rào của vườn cây. Gần cổng song sắt. Chỗ mà bây giờ ông luật sư đang đứng. Tôi chờ cho các người nói đó đi ra xa. Tôi sợ. Tôi nghĩ rằng người ta đã phái hiến binh đến lùng bắt tôi tại nhà tôi. Ngoài tiếng người, còn có cả tiếng lục lạc. Chiếc xe trượt tuyết đã ngừng lại một chỗ. Nhưng các con ngựa nhúc nhích. Và lục lạc của chúng kêu leng keng, leng keng. Tôi nghe như thế rất rõ. Và tim tôi thắt lại vì sợ. Tim tôi thắt lại, nhỏ bằng con bọ chét.
- Ngươi đã nghe tiếng nói của nạn nhân, phải không?
- Lúc đầu là tiếng nói của gã xà ích. Tiếng nói the thé, nghe khó chịu lỗ tai. Như tiếng chuột kêu ở dưới hầm nhà tù. Sau đó tôi cũng nghe tiếng nói của cậu Tuniade.
- Ngươi đã nghe có hai tiếng nói. Tiếng nào nói nhiều hơn?
- Gã xà ích - Savonarola đáp - Tôi không biết tiếng của cậu Tuniade. Tôi tưởng là gã xà ích đã chở các hiến binh lên theo con đường Tình Yêu. Để bắt tôi. Tôi vẫn trốn ở đây. Ngay nơi mà ông luật sư đang đứng bây giờ.
- Ngươi có nghe họ nói gì không?
- Không nghe rõ tất cả. Có một lúc, tôi có nghe rõ tiếng của xà ích Ismail nói: “Thôi, thưa ngài, đừng lục lọi trong các túi của ngài nữa”. Sau đó tôi có nghe tiếng chân trong tuyết. Một người nào đó chạy về phía lâu đài. Tôi có nghe tiếng chìa khóa mở cửa ngõ song sắt. Rồi tôi thấy một quân nhân đi vào trong vườn cây. Tôi vẫn còn nấp ở đó. Người quân nhân ấy thấy tôi. Và thế là tôi cố chạy trốn. Nhưng người ấy đã chụp được tôi. Tôi vùng vẫy. Tôi đã thoát ra khỏi tay người ấy. Người ấy bèn rút súng lục và bắn vào tôi nhiều phát. Người quân nhân ấy cho tôi là ăn trộm, hay là đến lâu đài để giết mẹ cậu ta. Vì vậy mà cậu ta bắn. Tôi bị lộ. Tôi cố leo lên bức tường rào. Nhưng tôi lại rơi xuống trúng ngay vào hai cánh tay của cậu ấy. Cả hai chúng tôi ngã xuống trong tuyết. Chúng tôi đánh nhau. Cậu ấy lại rút súng bắn. Tôi đã giựt khẩu súng lục để ngăn không cho cậu ấy bắn. Và sau đó tôi cảm thấy có máu nóng của cậu ấy chảy ra. Tôi chợt hiểu là tôi đã giết cậu ấy. Tôi đã liệng khẩu súng và chạy trốn.
- Ngươi chạy theo hướng nào?
- Tôi ra khỏi lâu đài và chạy về hướng bìa rừng.
- Bà Patricia Tuniade có bắn theo ngươi không?
- Tôi không biết ai đã bắn - Mold đáp - Nhưng người ta đã bắn theo tôi.
- Và sau đó?
- Sau đó tôi ngã xuống. Tôi không tìm ra nhà của tôi. Tôi không còn biết tôi đang ở đâu. Chung quanh tôi đều trắng xóa. Đầu óc tôi quay cuồng. Tôi gục xuống trong tuyết.
- Ngươi đã biết rằng ngươi đã giết cậu Tuniađe bằng cách dí súng lục vào gáy, như một con dao. Bằng cách ấy nạn nhân đã bị bắn chết. Có phải như thế không, bác sĩ?
- Đúng như vậy. - Bác sĩ Pillat đáp.
- Người nói gì về điều đó?
- Có thể là như vậy - Sava đáp - Chúng tôi vùng vẫy, chúng tôi đánh nhau và tôi vừa giựt được súng lục của cậu ấy. Có thể là đúng như ông nói. Tôi không còn nhớ được rõ ràng lắm. Cả hai chúng tôi đánh nhau trong tuyết. Và tôi có súng lục trong tay. Súng lục của cậu ấy. Chắc là tôi đã bắn vào sau gáy. Ông biết rõ hơn là tôi đã bắn vào chỗ nào và giết cậu ta bằng cách nào. Tôi đã thả cái xác ra, không nhìn vết thương ở chỗ nào.
- Ngươi không có ý nghĩ cứu cậu ấy sao?
- Không - Sava đáp - Tôi sợ. Tôi chạy trốn.
- Nói tiếp đi.
- Tất cả chỉ có thế.
- Ta nghĩ rằng tất cả chỉ có thế thôi - Thám tử nói - Ngoại trừ trường hợp ông thẩm phán đặt thêm những câu hỏi khác.
Không ai đặt thêm câu hỏi. Tất cả đã rõ ràng. Người ta im lặng, nhất là cảnh sát trưởng Filaret. Ông không mở miệng nói một lời nào.
Ông nghe Sava Mold thú tội như thể tai ông không nghe tiếng nó nói. Tâm trí của ông ở đâu đâu. Mặt ông tái mét như người bị bệnh.
Trong lúc nhà chức trách đi tới phía lâu đài, hai thám tử cột Sava Mold vào hàng rào sắt, gần cửa ngõ, với một sợi xích.
- Không phải là một con chó để mà cột nó như thế. - Ông thẩm phán nói.
- Chúng tôi không thể đem nó vào trong lâu đài, trước mặt bà Tuniade. Nó là một con thú khát máu đã giết chồng và con của bà mệnh phụ này.
Sau khi cột Sava Mold vào hàng rào sắt bằng một sợi xích, như một con chó, thám tử, người đã điều khiển cuộc diễn lại vụ án, nắm tay đánh túi bụi vào đầu nó. Sava quỵ gối xuống. Thẩm phán Damian chạy tới cứu Sava. Ông la lớn:
- Vì sao ông đánh nó?
- Thằng súc sinh này đáng lẽ phải thú tội sớm hơn! Nó chần chờ quá lâu mới quyết định thú tội.
Gót giày của viên thám tử đạp vào đầu Sava gục xuống cùng với sợi dây xích, gần cổng song sắt.
- Vì sao mày chần chờ mãi mới chịu nói với chúng tao tất cả những sự kiện kia hử? - Viên thám tử hỏi - Mày sẽ thấy điều gì đang chờ đợi mày! Pháp luật không thể kết án mày về tội giết Tuniade Con. Mày đã bị kết án về tội giết Tuniade Cha. Và khốn thay, mày không có hai mạng sống, để bị kết án hai lần khổ sai chung thân. Vì thế mày tưởng rằng tội giết người lần thứ hai của mày không thể bị trừng phạt. Nhưng chính chúng tao, ngành mật thám, sẽ buộc mày phải trả cái giá mà pháp luật không thể đòi hỏi nơi mày.
Máu từ khuôn mặt Sava Mold chảy ra đỏ như hồng ngọc trên tuyết trắng xóa. Sava nằm bất động như chết. Bị cột vào hàng rào sắt của lâu đài. Còn nhà chức trách, trong phòng khách nhỏ, cạnh phong đặt thi thể của Antoine Tuniade, đang uống trà do bà Patricia Tuniade và cô gái giúp việc Flora Valverde xinh đẹp bưng mời. Tất cả mọi sự đã sẵn sàng để làm lễ mai táng vào lúc mười một giờ.
0
XXII
Những cái chuông gỗ
 
Sáng Chủ nhật. Ba ngày sau vụ ám sát Tuniade Con. Đó là Chủ nhật đầu tiên của tháng ba. Trời nắng. Thành phố Agapia trông có vẻ nhỏ xíu, nép mình dưới chân núi, trên một biển tuyết trắng xóa.
Trong nhà thờ giáo xứ, lễ rước Mình Thánh Chúa bắt đầu. Người ta đánh các chuông gỗ. Các chuông toa-ca. Dưới thời đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ, người ta cấm các người Thiên Chúa giáo tại đế quốc Đông La Mã không được kéo chuông đồng. Các chuông nhà thờ đều bị tịch thu. Để gọi con chiên đến dự lễ rước Mình Thánh Chúa, người ta ben dùng những chiếc chuông gỗ. Thật ra thì đó là một tấm ván, mà người ta đánh lên với hai cái búa gỗ, theo một nhịp điệu hài hòa. Ngày nay các nhà thờ ở các xứ thuộc đế quốc Đông La Mã cũ có thể có những chuông đồng. Người ta vẫn giữ và dùng các chuông gỗ. Vì người ta biết trong tương lai những ngược đãi mới không phải là điều không thể có được. Vì thế, tốt hơn cả là cứ giữ truyền thống các chuông gỗ, để phòng cái thời mà các chuông đồng, bằng thau và bằng kim loại khác lại bị cấm và tịch thu.
Trong lúc các chuông gỗ vang lên trong thành phố Agapia, vì đã chín giờ sáng rồi, cảnh sát trưởng Filaret bước vào trong văn phòng của ông thẩm phán. Ông Filaret vẫn còn xanh mét. Vẫn còn có vẻ mệt mỏi. Như một người bị bệnh. Ông thẩm phán trẻ tránh không nói với Filaret về vụ án. Filaret đã khẳng định rằng không một công dân nào của thành phố Agapia lại có thể phạm tội giết ngươi. Thế mà hôm qua, người ta đã nghe những lời thú tội đầy đủ của tên sát nhân và người ta đã dự cuộc tổ chức diễn lại vụ ám sát. Vụ ám sát do Sava Mold gây nên. Điều ấy có nghĩa là cảnh sát trưởng Filaret đã nói sai. Điều ấy có nghĩa là dân chúng ở Agapia cũng có thể giết người. Họ cũng có thể là những tên sát nhân, mặc dù ông cảnh sát trưởng thương yêu họ và có quan niệm tốt về họ.
- Có gì mới không, ông cảnh sát trưởng?
- Tôi đến mời ông thẩm phán cùng đi với tôi đến nhà thờ.
- Rất vui lòng - Thẩm phán Damian nói - Mấy giờ đi?
- Đến đó giờ nào cũng được.
- Còn điều gì khác nữa không? - Ông thẩm phán nói.
- Có, thưa ông - Ông cảnh sát trưởng Filaret đáp - Đêm vừa rồi, Tòa Thị chính có nhận được một bức điện tín. Savonarola Mold tức Sava, tên tù khổ sai vượt ngục, đã chết sau một cơn đau tim, trên chuyến tàu mà hai thám tử áp giải nó đến thủ đô để ra trước một phiên tòa đại hình xử nó về tội giết người lần thứ hai.
- Có thể như thế tốt hơn cho anh chàng Sava đáng thương ấy - Ông thẩm phán nói - Chết còn hơn là sống trong nhà tù khổ sai. Nhất là với hai tội giết người chồng chất lên người nó. Nó không phải là người dễ ghét. Nó không phải là hoàn toàn là không có một sự cao thượng nào đó, mặc dù nó đã hai lần giết người. Đối với ông cảnh sát trưởng, nó cũng là con người dễ thương, phải không?
- Vâng, thưa ông thẩm phán - Cảnh sát trưởng Filaret đáp - Ở Tòa Thị chính người ta nói chúng ta hãy gạch tên nó trong sổ hộ tịch.
- Và chúng ta sẽ xếp hẳn hồ sơ vụ án này. Một vụ đã thanh lý. Tên sát nhân đã thú tội đầy đủ. Người ta đã tổ chức diễn lại vụ án. Sau đó, tên sát nhân đã chết, vì một cơn đau tim.
- Nó bị hai thám tử áp giải nó giết chết.
- Cũng chẳng có gì thay đổi - Thẩm phán Damian nói - Dù sao thì nó cũng đã đền tội. Tại các nước khác, chắc chắn nó sẽ bị kết án tử hình và bị xử tử. Với hai lần giết người, nó chết là đáng rồi, mặc dù nó khả ái và khốn khổ.
- Hai thám tử áp giải Savonarola Mold khử nó đi, để nó không nói được sự thật. Vì Savonarola Mold không giết Tuniade Con. Nếu nó đã thú tội, nếu nó đã diễn lại vụ ám sát xảy ra như thế nào, là chỉ vì nó muốn được phép đến thăm nhà nó trong vòng một giờ đồng hồ để đem kẹo cho mấy đứa nhóc con của nó và ôm hôn người vợ già điên dại của nó. Để có được một giờ đồng hồ ấy, nó đã thú nhận một tội mà nó không hề phạm.
- Vô lý. - Ông thẩm phán nói.
- Sava muốn được một điều duy nhất: được sum họp với vợ con trong chốc lát. Để có được điều ấy, nó sẵn sàng trả bất cứ giá nào. Nó đã có thể thú nhận bất cứ tội gì. Để có thể thực hiện ước mơ của nó. Nó đã hy sinh tính mạng để đổi lấy một cái vuốt ve các con.
- Nó đã hy sinh tính mạng?
- Đúng như vậy - Cảnh sát trưởng Filaret đáp - Hai thám tử kia đã giết Sava, để chắc chắn Sava khỏi phản cung trước phiên tòa đại hình. Khử nó đi, thật là dễ dàng. Còn Sava, tôi không nghĩ rằng nó đã phản đối điều ấy, nếu nó được hỏi ý kiến. Đối với nó, chết hay sống cũng thế thôi. Đối với bọn “cớm”, khử đi là chắc ăn nhất.
- Hãy từ tốn, ông cảnh sát trưởng! - Thẩm phán Damian nói - Bây giờ tôi bắt đầu hiểu rõ ông. Ông thấy các sự việc theo quan niệm chủ quan của ông. Ông muốn rằng Sava không phải là tác giả của vụ giết người. Và thế là ông tuyên bố không phải là tác giả của vụ giết người ấy. Nhất là bây giờ nó đã chết rồi. Nhưng hôm qua nó đã nói rồi! Nó đã chứng minh cho chúng ta thấy, bằng những cử chỉ không thể lầm lẫn được, rằng chính nó là kẻ đã giết Tuniade Con.
- Sava đã làm như thế để làm vừa lòng các thám tử và để có một giờ sum họp với vợ con. Duy nhất chỉ vì điều ấy. Nhưng không phải nó đã giết Tuniade Con.
- Vậy thì ai đã giết Tuniade Con?
- Kẻ đã giết Tuniade Con là Ion Xenia, một người không phải là dân địa phương ở đây. Đó là ông lục sự hào hoa phong nhã của ông thẩm phán.
- Làm sao ông biết được điều ấy?
- Chính ông lục sự hào hoa trẻ trung và bảnh bao đã thú nhận với tôi. Ông ta bị lương tâm cắn rứt. Ông ta đã tự đến nộp mình. Ông ta là tình nhân của bà Patricia Tuniade. Mỗi đêm, ông ta đến lâu đài. Thứ sáu, ông ta đã rời giường bà ấy và ra khỏi lâu đài lúc một giờ sáng. Ông ta đã gặp Tuniade Con, bất thình lình xuất hiện trước mặt ông ta. Người quân nhân trẻ tuổi là một kẻ dễ nổi xung, một kẻ hung bạo, một kẻ dễ nổi máu độc ác như bố hắn. Hắn đã rút súng lục bắn vào ông Xenia đẹp trai, vừa mới ra khỏi giường của mẹ hắn. Xenia cố chạy trốn. Khi biết rằng không thể chạy trốn được, vì Tuniade Con chận đường, Xenia đã giật lấy khẩu súng lục. Và vì Tuniade Con cố giật lại khẩu súng, Xenia đã bắn. Tất cả đầu đuôi câu chuyện chỉ có thế.
- Xenia bây giờ ở đây?
- Ở phòng trước. Hắn muốn làm tờ khai với ông thẩm phán.
Thẩm phán Damian mở cửa. Đứng trước cửa là Ion Xenia, viên lục sự trẻ tuổi, đẹp trai, duyên dáng như một con mèo. Xenia có nghĩa là “người xa lạ”, không phải là dân địa phương. Và thật sự, hắn là một người “xa lạ” đối với thành phố này. Trước kia hắn là nhân viên quận hành chánh Agapia. Hắn lưu lại thành phố sau khi quận hành chánh bị bãi bỏ. Sau đó hắn được chuyển sang ngành tư pháp và trở thành lục sự tòa án. Để khỏi xa cách tình nhân của hắn, bà Patricia Tuniade. Chính bà này không để cho hắn rời Agapia đi nơi khác. Không ai biết hay nghi họ là tình nhân của nhau.
- Xenia, thái độ của anh cũng ghê tởm như tội giết người - Thẩm phán Cosma Damian thét - Có lẽ là tội ghê tởm hơn là tội giết người, vì tội này còn có thể bào chữa vì bị kẻ kia khiêu khích. Làm sao ngày hôm qua anh có thể nghe những lời thú tội của anh chàng Sava đáng thương, khi nó chứng minh cho chúng ta thấy rằng cách nào đó đã phạm một tội mà chính anh là tác giả?... Làm sao anh có thể nhìn một người vô tội phải thú nhận một tội giết người mà nó không phạm?... Hãy trả lời đi?
- Quả thật tôi rất đau khổ vì điều đó - Xenia đẹp trai đáp.
- Vì anh đã tự đến đây để thú nhận tội ác của anh, trong lúc không ai nghi ngờ gì anh cả, điều ấy có nghĩa dù sao chăng nữa thì anh vẫn là một con người có tính mẫn cảm.
- Thưa ông thẩm phán, tôi hy vọng được như thế - Chàng đẹp trai Xenia đáp - Tất cả mọi người đều nhìn nhận tôi là một con người quý phái thật sự, một người hào hoa phong nhã, anh hùng mã thượng.
- Vì sao anh đã không đến thú tội và nộp mình trước khi gã Savonarola đáng thương bị tra tấn và buộc phải thú nhận một tội mà nó không phạm?
- Đây là một vấn đề danh dự - Xenia đáp - Tôi không thể đến nộp mình và thú nhận rằng tôi đã giết Antoine Tuniade, mà không thông báo trước quyết định của tôi với người tình và là bạn của tôi, tôi muốn nói tới Patricia Tuniade.
- Bà ấy có biết rằng anh đã giết con trai bà ta không?
- Có biết, thưa ông thẩm phán - Xenia đáp - Nàng cũng biết rằng không phải là lỗi tại tôi. Rằng Antoine đã tấn công tôi. Tội của tôi rất nhỏ. Các quan tòa sẽ hiểu điều đó, tôi hy vọng như thế. Vì lẽ ấy, nàng Patricia yêu dấu của tôi, một con người có tâm hồn cao thượng không nghiêm khắc với tôi về hành vi của tôi. Trong vụ này, thủ phạm đích thực không phải là tôi. Thật là bất nhã đối với nàng Patricia yêu dấu của tôi, nếu tôi tự đến nộp mình làm tù nhân mà không nói gì trước với nàng. Đó là một điều mà tôi không thể nào làm được. Tôi là một người quân tử. Nếu tôi lưu lại ở đây, ở Agapia, làm một công chức tầm thường, chính là để gần gũi người đàn bà mà tôi yêu. Tất cả cuộc đời tôi chứng tỏ rằng tôi là một người quân tử. Vì thế tôi không thể nói sự thật với tòa án mà không hỏi ý kiến người đàn bà mà tôi yêu. Và tôi chỉ có cơ hội vào được nhà nàng đêm vừa rồi mà thôi. Luôn luôn có người tại nhà nàng hay tại nhà tôi. Ông thẩm phán thấy đây, đó là một lý do rất nghiêm chỉnh. Tôi bắt buộc phải kín đáo. Tôi đã hứa với Patricia như thế. Nếu tôi đến nhà nàng trước mặt mọi người, tôi sẽ phạm tội thô lỗ, không kín đáo, làm phương hại đến phẩm giá một người đàn bà. Thưa ông thẩm phán, điều đó không thể nào làm được. Nó trái với nền giáo dục mà tôi hấp thụ được.
- Và nhìn thấy một con người bị kết án về một tội giết người mà nó không phạm, điều ấy không trái với nền giáo dục mà anh đã hấp thụ được hay sao?
- Tôi đã quyết định là sẽ đến nạp mình làm tù nhân. Nhưng tôi khẳng định với ông rằng, tình thế đã ngăn cản không cho phép tôi làm việc đó sớm hơn. Bây giờ, sau khi đã nói chuyện với Patricia, tôi đến đây để làm bản tự khai nộp cho ông thẩm phán.
- Mẹ của nạn nhân, tôi muốn nói người tình của anh, bà Tuniade, có tán thành quyết định của anh không?
- Nàng nói rằng tôi làm một điều dại dột. Rằng Sava không bị nguy hiểm gì cả. Nó đã bị kết án với hình phạt nặng nhất rồi. Nó không thể bị kết án nặng hơn nữa. Nhưng tôi cũng thế, tôi cũng không bị nguy hiểm gì nhiều, vì trong vụ này tôi bị tấn công trước và tôi tự vệ chính đáng. Chắc chắn tôi sẽ được miễn nghị. Patricia Tuniade có hỏi tôi rằng tôi có giữ vững lập trường ra tự thú không, và tôi đã trả lời rằng có. Nàng đã luôn luôn chiều theo thị hiếu bất thường của tôi: nàng đã coi quyết định ra tự thú của tôi là một thị hiếu bất thường. Và nàng cũng đã chiều theo.
- Ông cảnh sát trưởng, hãy phái nhân viên bắt Patricia Tuniade. Và giải đến đây! Tôi sẽ truy tố bà ta về tội tòng phạm giết người và là chứng giả.
- Vô ích - Xenia nói - Patricia Tuniade đã rời Agapia đêm nay rồi. Đi chuyến tàu Nam. Nàng sẽ bán lâu đài. Và chúng tôi sẽ gặp nhau lại ở nước ngoài. Có thể, chúng tôi sẽ thành hôn với nhau.
- Anh quên rằng anh đã phạm tội giết người sao?
- Luật sư của tôi đến đây hôm nay theo chuyến tàu mười hai giờ trưa. Ông ta nói với tôi rằng tôi không bị nguy hiểm gì cả.
Ông thẩm phán trẻ tuổi nổi giận. Ông biết những thủ đoạn của các quan chức Phanariot ở Moldavie. Đó là những thủ đoạn của Ion Xenia và của vợ chồng, cha con dòng họ Tuniades.
- Thưa ông thẩm phán, bây giờ tôi đã nói với ông tất cả rồi. Tôi có thể thỉnh cầu ông một điều được không?... Đây là một điều mà ông có thể từ chối đối với tôi.
- Anh còn muốn điều gì nữa? - Ông thẩm phán giận dữ hỏi.
- Tôi thỉnh cầu ông ký lệnh tống giam tôi và đồng thời ký cho tôi được tại ngoại hầu tòa. Tôi muốn dự bữa tiệc mà tôi sẽ thết đãi luật sư của tôi. Đây là một người bạn thân của thân phụ tôi và là một tay ăn rất sành. Tôi biết sở thích của ông ta. Tôi sẽ ân hận nếu để một mình mụ đầu bếp của tôi lo liệu bữa tiệc này. Và như thế là thiếu sót trong bổn phận của tôi với tư cách là người chủ tiệc. Nếu ông thẩm phán từ chối không tạm tha cho tôi tại ngoại trước mười hai giờ trưa, thì tôi cũng sẽ nhận được lệnh tạm tha ấy vào buổi chiều, qua trung gian của luật sư của tôi. Nhưng như thế tôi sẽ cảm thấy bực mình lắm, tôi hy vọng là ông không khăng khăng tỏ ra hẹp lượng đối với tôi: hỏng một bữa tiệc; bữa tiệc đãi một người bạn rất thân. Tôi có thể ra về không?
- Về đi và cút đi càng nhanh càng tốt - Ông thẩm phán nói.
Thẩm phán Cosma Damian mở toang các cửa sổ. Tất cả các cửa sổ. Và ông nghe những tiếng chuông gỗ. Chuông La Mã - chuông của những người nghèo. Những người nghèo đáng thương...
 
HẾT
0
Tình trên non cao - C. V. Gheorghiu
 
Đã đưa vào thư viện
Cảm ơn và chúc casau luôn vui nha
 
 
 
📎 mercie




0
Chuyện này thích lắm đây Tổng quản !
Chị HB

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0