📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Nửa mặt trời vàng - Chimamanda Ngozi Adichie

22 trả lời, 149 lượt xem — Trang 1 / 1
 
Nửa mặt trời vàng
Tác giả: Chimamanda Ngozi Adichie
Người dịch: Nguyễn thị Hải Hà
 
Lời người dịch

Đây là một quyển sách phong phú về lịch sử, lấy chiến tranh Biafra làm bối cảnh và bao gồm mấy chủ đề có thể được phân tích. Chúng ta có thể đọc quyển sách này qua chủ đề kỳ thị sắc tộc, tôn giáo, giai cấp trong một quốc gia hay có thể nhìn qua một lăng kính đơn giản hơn, đó là cuộc đời và chuyện tình của hai chị em song sinh trong thời chiến tranh. Tuy nhiên đối với tôi, một độc giả Việt Nam, thì điểm quan trọng nhất trong Nửa Mặt Trời Vàng chính là cuộc nội chiến Biafra có nhiều điểm tương đồng với chiến tranh Việt Nam. Một trong những điểm tương đồng này là, tuy là nội chiến nhưng lại có một hay vài cường quốc “giật dây” phía sau. Cũng giống như chính quyền Pháp đã chia Việt Nam thành ba miền và áp dụng chính sách chia để trị, chính quyền Anh đã chia Nigeria thành ba miền và lợi dụng sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, tôn giáo, sắc tộc để chia rẽ nội bộ Nigeria. Để bạn đọc tiện theo dõi cốt truyện lồng vào bối cảnh lịch sử chiến tranh Biafra, tôi xin giới thiệu sơ lược lịch sử hình thành cuộc nội chiến này.
Vào năm 1885, sau cuộc chiến tranh với Napoleon, đế quốc Anh bành trướng sang châu Phi. Năm 1901, Nigeria chính thức nằm dưới sự bảo hộ của Anh. Con sông Niger chảy từ miền Tây bắc của Nigeria gặp sông Benue chảy về hướng Đông nam tạo thành hình chữ “Y” chảy dọc xuống miền Nam, chia Nigeria thành ba miền. Miền Bắc cua Nigeria có diện tích lớn nhất và dân số đông nhất, đa số là người Hausa-Fulani và theo tôn giáo Muslim. Người dân vùng này sinh sống bằng cách khai thác quặng mỏ và buôn bán. Họ tuân phục các vị tiểu vương Hồi giáo gọi là Emir. Các Emir là lãnh tụ cả về tôn giáo lẫn chính trị và áp dụng chế độ chuyên chế. Họ sống cô lập, hạn chế tiếp xúc với ngoại quốc để chống sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo. Tước vị và của cải được lưu truyền từ đời cha qua đời con. Càng về sau miền Bắc của Nigeria càng trở nên cô lập hơn, người dân ngày càng nghèo khổ và ít học hơn. Phía Tây Nam của Nigeria, đa số là người Yoruba sinh sống. Chế độ chính trị cũng gần giống như chế độ của người Hausa ở miền Bắc; họ tuân phục những vị tiểu vương Oba nhưng chế độ này ít chuyên chế hơn. Họ có thể thăng tiến trong xã hội nhờ tài nghệ hay của cải. Sự giàu có hay chức vị không bị bắt buộc phải theo truyền thống cha truyền con nối. Người Igbo sống ở vùng Đông nam bao gồm khoảng hơn 600 bộ lạc độc lập, tự trị, và theo chế độ dân chủ. Mọi chuyện quan trọng đều được mang ra thảo luận và bình bầu ở sân làng. Người dân Igbo có quyền tham gia ý kiến vào những quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh tồn của chính họ và của bộ lạc. Anh quốc áp dụng chính sách chia để trị, lợi dụng sự khác biệt về phong tục, ngôn ngữ và sự tự hào của ba miền để gây chia rẽ nội bộ. Các tiểu vương Emir nộp thuế cho chính quyền Anh để được bảo vệ chống sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo. Vì thế các nhà truyền giáo hoạt động ở khu vực phía Nam của Nigeria. Dân Igbo và Yoruba tiếp cận với nền văn hóa mới của chính quyền bảo hộ Anh. Họ cho con đi học các trường đại học ở nước ngoài nhiều hơn và khuếch trương các hải cảng để giao dịch thương mại. Người Igbo ở vùng Đông nam trở nên giàu có, thịnh vượng và hấp thụ văn hóa Tây phương. Người ta khám phá ra những mỏ dầu lớn ở khu vực sông Niger. Vào những năm 1940 và 1950, người Igbo và Yoruba là những lực lượng tiên phong giành quyền độc lập cho Nigeria. Năm 1960, người Anh trao trả quyền độc lập cho Nigeria. Họ chủ trương thống nhất quốc gia và chia làm các tiểu bang để quản lý. Người miền Bắc của Nigeria e ngại rằng dân Igbo sẽ chiếm thế thượng phong trong việc điều hành chính quyền vì họ có nền học vấn tân tiến, có khuynh hướng cởi mở với Công giáo và Tây phương, do đó cương quyết tiếp tục chia Nigeria làm ba miền như trước. Năm 1965, có một cuộc nổi loạn, khoảng 30.000 người Igbo bị giết và cả triệu người phải chạy loạn.
Tháng Giêng năm 1966, một nhóm sĩ quan trẻ người Igbo đảo chính cướp chính quyền. Tháng Bảy năm 1966, sĩ quan miền Bắc đảo chính lại, chọn Yakubu Gowon, một sĩ quan Công giáo của một bộ lạc nhỏ, lên làm lãnh tụ. Gowon dùng quân đội để cai trị. Người dân chống đối đòi trở lại chế độ dân sự. Cuộc bạo động kéo dài, có khoảng tám đến mười ngàn người Igbo bị giết; cả người miền Bắc sống ở các thành phố miền Đông nam cũng bị sát hại. Tháng Giêng năm 1967, lãnh tụ của ba miền họp mặt ở Aburi ký hiệp ước liên bang nhưng người miền Bắc không đồng ý. Obafemi Awolowo, lãnh tụ của quân đội miền Tây Nam, tuyên bố nếu miền Đông nam rút tên ra khỏi liên bang thì miền Tây Nam cũng rút lui. Chính phủ miền Đông nam không chấp nhận Hiệp ước Aburi. Tháng Năm ngày 26, miền Đông nam tuyên bố ly khai và ngày 30, Chukwuemeka Odumegwu Ojukwu, lãnh tụ lực lượng quân đội miền Đông nam tuyên bố thành lập xứ Cộng hòa Biafra vì lý do người Hausa đã giết người Igbo. Nguyên do chính là vì nhiều mỏ dầu được khám phá ở khu vực miền Nam; trong khi sự phồn thịnh của nền kinh tế Nigeria chủ yếu dựa vào việc khai thác dầu.
Thoạt tiên Lực lượng Quân sự Liên bang xem đây là một cuộc nổi loạn nhỏ, chỉ cần lực lượng cảnh sát là có thể tái hồi trật tự nhưng Biafra đã đánh lui lực lượng cảnh sát. Tuy nhiên chỉ vài tháng sau, lực lượng quân sự của liên bang đã đánh chiếm lại phần lớn lãnh thổ và vào năm 1968, Biafra chỉ còn lại một phần mười lực lượng ban đầu. Tháng Chín năm 1968, quân đội Biafra bị kiệt lực vì thiếu vũ khí. Tháng Sáu năm 1969, chính quyền Nigeria bắt đầu phong tỏa thuốc men và lương thực. Tháng Mười năm 1969, Ojukwu kêu gọi sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc để ngưng chiến. Chính quyền liên bang Nigeria kêu gọi Biafra đầu hàng. Tháng Mười hai, quân đội liên bang cắt Biafra thành hai mảnh. Ojukwu chạy sang Ivory Coast giao quyền lãnh đạo cho Philip Effiong. Tháng Giêng năm 1970, Effiong đầu hàng. Con số người chết vì nạn đói lên đến hơn một triệu.
Chiến tranh và những nỗi buồn do chiến tranh gây ra như chết chóc, tàn phá và đói kém, ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có những điểm giống nhau. Người dân sống trong chiến tranh là người dân bất hạnh. Qua quyển sách này độc giả sẽ nhìn thấy nỗi bất hạnh của người dân sống trong vùng đất đòi độc lập và tự trị Biafra và tôi nghĩ độc giả có lúc sẽ đặt quyển sách xuống, thở dài, đôi khi lau giọt nước trào ra nơi khóe mắt khi liên tưởng đến những đau khổ và sự đối diện với cái chết hằng ngày của người Việt Nam. Chiến tranh là một đề tài rất rộng lớn mà tôi không hiểu biết đủ; lạm bàn có thể gây ngộ nhận. Với vai trò của một người dịch, sau vài tháng đọc từng lời từng chữ của cuốn sách, tôi cảm thấy rất gần gũi và yêu mến các nhân vật mà tôi tin là sau khi đọc xong cuốn tiểu thuyết này, bạn cũng sẽ yêu mến họ.
Người đầu tiên tôi chắc chắn bạn sẽ yêu mến là Ugwu, chú bé nhà quê mười ba tuổi, ít học, mê tín dị đoan, ngô nghê, thần tượng hóa ông chủ và bà chủ của chú là Odenigbo và Olanna. Ugwu thông minh, ham học, được sự bảo bọc và thương yêu của hai vợ chồng Odenigbo-Olanna. Chú cũng yêu thương gia đình chủ như chính gia đình mình. Ugwu bị đẩy vào chiến trận và trưởng thành trong chiến tranh. Chimamanda Ngozi Adichie đã chăm sóc, “vun trồng” kỹ lưỡng nhân vật Ugwu. Ugwu là biểu tượng của Nigeria mà Adichie đã gởi tất cả hy vọng, từ một quốc gia nghèo nàn, kém phát triển về kinh tế và văn hóa sau cuộc nội chiến sẽ trưởng thành, có tiếng nói và chỗ đứng trên thế giới. Đây là nhân vật chính và quan trọng nhất trong quyển sách này; tôi nghĩ là nên để bạn đọc thưởng thức và nhận xét.
Bạn cũng sẽ yêu mến đôi vợ chồng Odenigbo - Olanna. Đây là đại diện cho giới trí thức trẻ của Nigeria lúc bây giờ. Odenigbo là một giảng viên ở Đại học Nsukka. Anh cùng với một nhóm giảng sư và sinh viên đã khởi đầu đòi hỏi được quyền thành lập quốc gia Biafra. Odenigbo, nhà trí thức trẻ tuổi, nhiệt tâm yêu nước, có ý chí cách mạng, có lòng nhân đạo, và là người bạn tốt của Ugwu. Có tài biện luận và yêu chủ nghĩa xã hội, tuy là nhà Toán học, anh dùng hết thì giờ của mình viết báo kêu gọi người dân Nigeria đứng lên đòi quyền độc lập và cải tổ xã hội. Odenigbo yêu rất nồng nàn nhưng cũng dễ sa ngã. Mẹ mất trong chiến tranh, tài trí của anh bị thui chột cũng vì chiến tranh, về phương diện tình yêu và hôn nhân, Odenigbo là một thí dụ điển hình mà khi yêu, người phụ nữ đã đặt kỳ vọng vào tiềm năng của một người đàn ông để rồi sau khi kết hôn, người phụ nữ sẽ nhận ra rằng những kỳ vọng này là ảo vọng. Những điểm đáng yêu ban đầu, về sau trở thành những điều khó chịu. Ban đầu rượu brandy làm Odenigbo hứng chí, ánh mắt long lanh và dễ dàng trở thành nhà hùng biện xuất chúng, chỉ sau vài ly rượu. Về sau, nỗi buồn chiến tranh và cái chết của mẹ biến anh thành người bạc nhược về tinh thần. Rượu trở thành chất độc giết chết khả năng suy nghĩ của anh. Sự phấn đấu không còn, rượu được dùng để khuây khỏa nỗi buồn chiến tranh. Anh phụ lòng yêu thương của Olanna ít nhất là một lần. Còn lần thứ hai, tác giả cố tình nhập nhằng để độc giả muốn hiểu thế nào cũng được.
Olanna, một cô gái trẻ thuộc tầng lớp thượng lưu trong xã hội, có nhan sắc của một mỹ nhân ngư. Nhan sắc của cô chinh phục tất cả mọi người từ những đồng nghiệp của Odenigbo như bác sĩ Patel, nhà thơ Okeoma, bác sĩ Nwala anh em họ của Okeoma. Ngay cả Richard, tuy yêu thương Kainene nhưng cũng ngã lòng trước sắc đẹp của nàng. Và cả chú bé Ugwu nhà quê cũng say mê nhan sắc của cô chủ, tuy nhiên sự say mê này mang sắc thái vừa sợ vừa phục một thần tượng. Tuy là một thiếu nữ được hấp thụ nền văn hóa Tây phương, học chương trình Anh từ lúc tiểu học, tốt nghiệp đại học ngành Xã hội học ở London, Olanna được Adichie chọn làm biểu tượng của người phụ nữ Nigeria truyền thống. Một mẫu người vượng phu ích tử, yêu chồng và chăm con, nhân ái với người giúp việc, hòa hợp với láng giềng và bạn bè, vâng lời cha mẹ, chiều chuộng người chị sanh đôi của mình. Là con gái một nhà giàu có, lái xe hơi riêng, được chàng công tử Hausa tên là Mohammed yêu say đắm nhưng Olanna từ chối tình yêu này để yêu một anh giảng viên nghèo thích làm cách mạng. Chiến tranh khiến cuộc sống của nàng trở nên nghèo khó, thiếu thốn đến độ không có cả cháo ăn với cá khô (một món ăn của dân nghèo mà Olanna có dịp chứng kiến ở nhà láng giềng của người cậu khi Olanna đến thăm cậu). Tình yêu của Olanna và Odenigbo là một tình yêu rất bình thường. Bạn đọc sẽ nhìn thấy qua Olanna hình ảnh người mẹ và người vợ Việt Nam trong chiến tranh. Một người phải lo lắng hôm nay ăn gì, phải tìm mua thức ăn ở đâu, và nhất là làm sao chi tiêu cho hợp lý. Người đọc dễ dàng cảm thấy một tình yêu chân thật, say đắm, nồng nàn của đôi uyên ương này. Và cũng qua nhân vật Olanna, người đọc cảm nhận được nỗi sợ hãi của một người dân sống trong bom đạn, hằng ngày phải đối diện với cái chết của người thân yêu và của chính mình. Ugwu, Odenigbo và Olanna là những nhân vật mà người đọc sẽ dễ dàng yêu mến họ. Kainene và Richard cũng đáng yêu nhưng phức tạp hơn. Cái đáng yêu của họ không dễ dàng được nhận thấy bởi vì hai nhân vật này không giống mẫu người đáng yêu truyền thống.
Trong một xã hội da màu đã từng bị đặt dưới sự bảo hộ của chính quyền thuộc địa như Anh và Pháp, người đàn ông da trắng có một vị trí khá cao. Tuy nhiên Chimamanda Adichie đã truất phế cái quyền lực của một người da trắng mà xã hội thuộc địa ưu ái dành cho Richard. Richard là một thanh niên nghèo, mồ côi, sống nhờ tình thương và sự dưỡng nuôi của người bác. Anh đẹp trai, đỏm dáng, dịu dàng, hiền lành đến độ có thể bị xem là nhu nhược. Richard có cái mơ mộng của một nghệ sĩ và không thích đua chen với cuộc đời. Ngay cả cái nghề ký giả của anh cũng do bà bác dàn xếp. Rời Anh quốc để qua Nigeria, Richard có ý muốn thoát ly và tự lập. Anh muốn tìm hiểu bản thân và định hướng cuộc đời mình. Bác Elizabeth dàn xếp cho anh gặp Susan, một phụ nữ nhiều tuổi hơn Richard. Susan ngỏ ý muốn giúp anh có chỗ ở yên tĩnh để anh có thể viết văn. Richard về sống chung với Susan và rất nhanh chóng, cô yêu anh. Tuy không có ý định nhưng vô tình Richard trở thành một “gigolo” hay trai bao của Susan. Richard khám phá nghệ thuật đúc đồng thành bình hoa có cột dây của người Igbo và vì yêu bộ môn nghệ thuật này, anh ở lại Nigeria để nghiên cứu với ý định viết sách về nó. Trong một buổi tiệc Richard đi dự với tư cách người hộ tống Susan, anh gặp Kainene và ngay lập tức anh say mê Kainene bởi vẻ đẹp kỳ lạ và cá tính độc đáo của nàng. Hấp lực của Kainene mạnh đến độ anh chỉ muốn gạt Susan ra khỏi cuộc đời anh. Anh đã không ngần ngại nói dối Susan để mình có thì giờ riêng tiếp tục trò chuyện với Kainene.
Kainene là hiện thân của một phụ nữ mới, đi trước thời đại khoảng chừng 50 năm. Có thể nói hiện nay, số người phụ nữ thật sự nắm quyền lãnh đạo kinh tế và thương mại tuy có nhiều hơn những năm 60 của thế kỷ XX nhưng vẫn còn là thiểu số. Nigeria của những năm 60, người đàn ông là chủ gia đình. Dân Igbo có tục lệ đa thê. Người đàn ông ở gian nhà chính. Mỗi người vợ và con của họ ở trong gian nhà riêng, chung quanh căn nhà chính. Các bà vợ tự trồng rẫy, làm ruộng của mình. Đến bữa ăn họ được chia phiên người nào nấu thức ăn gì và mang đến cho chồng. Họ trọng nam khinh nữ. Tuy nhiên, Kainene vừa tốt nghiệp đại học ở ngoại quốc về đã lập tức nắm quyền quản lý cơ sở thương nghiệp của bố và được ông bố tán dương là có giá trị gấp đôi một người con trai.
Kainene là một cô gái vượt qua những giới hạn mà xã hội Nigeria đã dành sẵn cho phụ nữ. Kainene khẳng định quyền tự do chọn lựa và quyết định cuộc đời mình, cho dù sự quyết định hay chọn lựa của Kainene không được xã hội chấp nhận hay tán thành. Tính tự quyết và tự do trong việc chọn lựa thể hiện qua cách trang điểm, ăn mặc, cách chọn người để yêu và bạn giao du. Ngay cả cái quyết định tối hậu ảnh hưởng đến mạng sống của cô là vượt vòng đai cấm để đi tìm mua thức ăn cho dân tị nạn cũng là một quyết định đơn độc. Kainene không phải là một người quyết định dựa vào sự tán đồng của người chung quanh. Cô có thái độ kiên định của một người lãnh đạo, quyết đi trên con đường đã chọn cho dù phải hy sinh tính mạng.
Độc giả có thể không thích Kainene lúc mới vừa gặp cô. Không thể nói là Kainene đẹp bởi vì cô không có vẻ đẹp mà xã hội của cô đã tạo tiêu chuẩn. Cô có hình dáng khác thường, cao bằng một người đàn ông ngoại quốc, gầy đến độ trông giống như một thanh niên. Tính khí thì kỳ quặc, tô môi son đỏ chóe, hút thuốc phì phèo. Trong cái nhìn của Richard, anh cho rằng cô giống những cô nàng “bồ nhí” của các ông lớn hơn là con gái của một Ông Trùm thầu khoán, tốt nghiệp đại học ở ngoại quốc mới về. Kainene ít nói đến lạnh lùng, hay châm biếm mỉa mai. Thế nhưng người đọc sẽ nhận ra rằng không thể nhìn hình bìa mà đánh giá nội dung của quyển sách. Càng vào sâu trong truyện, Kainene càng để lộ lòng nhân ái, biết suy nghĩ, quyết định đúng đắn. Kainene dùng tài quản lý của mình để săn sóc, nuôi nấng người tị nạn. Cô dùng sự suy xét và quyết đoán để cứu người thanh niên đào ngũ vì đói nên đi trộm khoai và bị dân tị nạn đánh đập. Cô can đảm mạo hiểm vượt tuyến để đi tìm mua thức ăn về nuôi sống mọi người trong trại tị nạn. Cô có thái độ và lòng can đảm của một nhà lãnh đạo đáng kính phục.
Thông thường trong những cuộc tình dị chủng, đa số là người đàn ông da trắng kết hợp với phụ nữ da màu. Trường hợp ngược lại, người đàn bà da trắng kết hợp với đàn ông da màu, ít xảy ra hơn. Rất thường xuyên, người đàn ông da trắng ở cương vị chủ động cung cấp tài chánh, vật chất và bảo vệ người phụ nữ da màu. Người đàn ông da trắng mang người phụ nữ da màu vào trong cái xã hội mà anh ta đã quen thuộc và người phụ nữ như loài cá sống trong nước lạ thường ở cương vị phục tùng. Trong Nửa Mặt Trời Vàng, Adichie đã cấu tạo một môi trường ngược lại. Kainene mang Richard vào thế giới của nàng, một nơi mà nàng có quyền hành và thế lực. Kainene là người che chở và bảo bọc người tình. Chẳng những Adichie đã tước đoạt tất cả sức mạnh và quyền lực của người da trắng trong xã hội da đen bằng cách khắc họa một nhân vật Richard nghèo, không vây cánh, không quyền lực, mà còn cấu tạo ra một Richard đầy thất bại; suốt thời gian ở Nigeria anh đã không xuất bản được tác phẩm nào (một bị thất lạc trong chiến tranh và một bị Kainene đốt bỏ khi cô biết Richard đã ngủ với Olanna). Adichie còn tước đoạt cả quyền làm người đàn ông của Richard bằng cách biến anh thành kẻ bất lực khi lần đầu hai người giao hoan. Tại sao Adichie lại sáng tạo một nhân vật nữ có cá tính rất mạnh và một nhân vật nam có bản tính rất mềm mại, dịu dàng đến độ nhu nhược và cho hai nhân vật này yêu nhau? Tôi nghĩ nên để các bạn tự tìm câu trả lời.
Bạn đọc có thể nhận thấy Richard yêu Kainene say đắm, yêu đến độ tôn thờ và khiếp sợ bản lĩnh của cô. Tuy nhiên khó có thể khẳng định là Kainene yêu Richard. Cô vẫn còn phân vân không biết tình cảm của cô đối với Richard có phải là tình yêu hay không. Lúc cuộc nội chiến Biafra còn trong thời kỳ phôi thai, Kainene đã viết một lá thư ngắn, trong đó cô phân vân: “Có phải tình yêu là cái nhu cầu đặt không đúng chỗ mà hầu như lúc nào em cũng cần có anh bên cạnh? Có phải tình yêu là cái cảm giác an toàn mà em cảm thấy trong sự im lặng của hai đứa mình? Có phải tình yêu là cái cảm giác chúng ta thuộc về nhau, cảm giác có đầy đủ mọi thứ khi chúng ta có nhau?”
Rất có thể nhân vật Richard được Adichie dùng như một phép đòn bẩy để làm nổi bật cá tính của Kainene, để người đọc thấy Kainene là một phụ nữ dám chọn lựa, cho dù đó là một hành động thách thức với xã hội Nigeria thời bấy giờ. Udodi, bạn của Madu, đã nhân cơn say để mạt sát Kainene là chỉ có điếm mới đi cặp với người da trắng. Kainene có lần đã nói với Richard: “Anh đã lầm khi nghĩ là tình yêu không còn chỗ cho những chuyện khác. Rất có thể người ta yêu một cái gì đó nhưng vẫn khinh thị nó”. Nếu không chú ý, người đọc có thể hiểu là Richard với tư cách của một người đàn ông da trắng, đại diện cho giới cầm quyền thực dân, có thể yêu nhưng vẫn xem thường Kainene, một cô gái da đen người thuộc địa. Thật ra, Kainene, một cô nàng trí thức giàu có, quản lý các nhà máy lọc dầu và nhà máy xi măng, mới là người ngấm ngầm khinh thị Richard. Và khi nói như thế, có lẽ từ thâm tâm cô bắt đầu nhận ra cô cũng yêu Richard.
Sự hiện diện của Richard là để người đọc nhận thấy một sự căm ghét chống đối tiêu cực của người Nigeria đối với người Anh được giả trang bằng sự kỳ thị. Richard cố gắng hết sức để được cộng đồng Nigeria tiếp nhận nhưng anh luôn bị tiếp đón lạnh nhạt. Thiếu tá Madu, bạn thân từ thuở thiếu thời của Kainene khinh thị Richard ra mặt, mặc dù Richard luôn luôn tìm cách học hỏi và tiếp nhận nền văn hóa của Phi châu (nói chung) và Nigeria (nói riêng). Anh yêu thích món ăn của người Nigeria trong đó có món xúp ớt, anh thích học hỏi về nghệ thuật, nhờ Ugwu dẫn anh về làng của chú bé để anh có dịp tìm hiểu lễ hội làng. Anh chịu đựng tất cả những bạc đãi và những lời khinh thị của mọi người, kể cả Odenigbo, Okeoma (nhà thơ cũng là bạn thân của Odenigbo), bố mẹ Kainene, Udodi (viên sĩ quan bạn của Madu), và Madu. Tuy thế Richard đã chung vai sát cánh với người Biafra trong cuộc chiến đấu đầy tuyệt vọng. Anh dùng ngòi bút của mình để bênh vực người Biafra, nói lên sự thật và lẽ phải của cuộc chiến Biafra đã bị báo chí Tây phương bóp nghẹt hoặc xuyên tạc. Tình yêu của Richard dành cho Kainene và sự chọn lựa đứng cạnh những người chiến đấu đã khiến mọi người chấp nhận và yêu mến anh như một người Biafra. Và sau đó anh bị chính người Mỹ, cũng da trắng như anh, dè bỉu. Graham Greene trong quyển The Quiet American (Người Mỹ Trầm Lặng) đã ẩn dụ Việt Nam như một người phụ nữ vì thất thế mà phải bán thân. Adiche với sức mạnh của ngòi bút đã ẩn dụ nước Anh chỉ là một thanh niên nhu nhược không bao giờ có thể chiếm hữu hay khuất phục một cô gái Phi châu. Hy vọng trong một ngày gần đây chúng ta sẽ có một hay nhiều nhà văn tìm ra một biểu tượng dành cho các quốc gia đã giày xéo Việt Nam để đáp lại cái ẩn dụ nông cạn của Greene.
Qua quyển sách này Adichie đã vạch ra sự giả dối của những nhà lãnh đạo cuộc chiến Biafra, vị Thủ tướng hô hào chiến tranh mà không có vũ khí, lo củng cố địa vị của mình đến mức không tin cậy các sĩ quan dưới quyền. Và khi biết mình đã hoàn toàn thất bại, nhà lãnh đạo này vẫn lợi dụng lòng tin của dân, đưa họ vào tình thế “tay không bắt giặc”, ngăn cản không cho dân di tản, không mở cửa cho thế giới cứu trợ nhân đạo vì sợ bị tấn công, và cuối cùng tẩu thoát để bảo toàn mạng sống của mình.
Đây là một quyển sách đã nghiên cứu về lịch sử Nigeria rất chu đáo. Độc giả sẽ hoàn toàn bị hấp dẫn bởi những chi tiết sinh động và những diễn biến bất ngờ; có cả những bất ngờ được giữ cho đến phút cuối. Độc giả sẽ ngỡ ngàng một cách thú vị khi nhận ra tác giả của quyển sách có tựa đề “Thế Giới Im Lặng Khi Chúng Tôi Chết”.
Xin mời bạn đọc thưởng thức!
Nguyễn thị Hải Hà
📎 nmtvr
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.08.2017 22:42:27 bởi casau>
Phần I
Đầu thập niên sáu mươi

Chương một

Ông Chủ có tính hơi tưng tửng; ông ở nước ngoài, đọc sách rất nhiều năm, hay nói chuyện một mình trong văn phòng, chẳng buồn đáp lại lời chào của mọi người, và tóc của ông rậm lắm. Dì của Ugwu hạ thấp giọng nói thế khi hai người đang đi trên đường. “Nhưng ông ấy là người rất tốt bụng”, dì nói thêm. “Miễn là cháu làm việc chăm chỉ, cháu sẽ được ăn no đủ. Có thể hằng ngày cháu còn được ăn thịt”. Dì ngừng lại, phun phèn phẹt, bãi nước bọt rời khỏi miệng dì nghe đánh choét rồi rớt lên bãi cỏ.
Ugwu không tin là người ta có thể ăn thịt hằng ngày, kể cả cái ông chủ mà hắn sắp đến ở chung. Hắn không cãi lại bà dì, vì hắn như bị nghẹn lời bởi háo hức mong đợi, bởi quá bận bịu tưởng tượng đến một cuộc sống mới rất xa làng của hắn. Hai người đi bộ khá lâu, từ khi họ bước xuống bến xe đò, trên lưng và cổ của hắn mặt trời chiều gay gắt cháy. Nhưng hắn không cảm thấy phiền hà chút nào cả. Hắn đã chuẩn bị tinh thần để có thể đi bộ lâu hơn dưới ánh nắng còn thiêu đốt hơn thế nữa. Hắn chưa bao giờ được nhìn thấy những điều hắn chỉ vừa mới “mục sở thị” sau khi hai người qua khỏi cổng trường đại học. Những con đường trải nhựa thật mịn màng, thật bóng láng làm cho hắn thấy thèm muốn nằm áp mặt xuống đường. Hắn sẽ không bao giờ có thể tả cho Anulika, em gái hắn, biết là mấy căn nhà ở đây được sơn màu da trời san sát cạnh nhau như những người đàn ông lịch thiệp ăn mặc sang trọng, và mấy hàng giậu ngăn giữa những căn nhà này được cắt xén phẳng phiu, ngọn của chúng phẳng như cái mặt bàn xung quanh được quấn choàng bằng lá.
Dì hắn đi nhanh hơn, tiếng đôi dép của dì đánh lẹp bẹp trên con đường tĩnh lặng. Ugwu tự hỏi có phải dì cũng cảm thấy nhựa đường dưới chân nóng bỏng hơn và hơi nóng xuyên qua đôi dép mỏng. Hai người đi qua một bảng đề tên phố ODIM, và Ugwu đọc không thành lời từ street, giống như bao lần khác mỗi khi hắn nhìn thấy một chữ tiếng Anh không có nhiều vần. Hắn ngửi thấy một mùi ngọt lịm, lâng lâng, lúc hai người bước vào cổng ngôi nhà, và hắn chắc mẩm mùi này xuất phát từ bụi hoa trắng dính thành từng chùm ở cổng vào. Những bụi cây được xén như những ngọn đồi thon thả. Bãi cỏ xanh biếc. Bướm bay chập chờn.
“Dì nói với Ông Chủ là cháu sẽ học cách làm mọi việc rất nhanh, osiso-osiso”, dì hắn nói. Ugwu gật đầu, vẻ rất chăm chú, mặc dù dì đã dặn đi dặn lại rất nhiều lần, cũng nhiều như dì đã kể cho hắn nghe cái vận may của hắn đã đến như thế nào: Tuần trước, khi dì đang quét hành lang của ban Toán trong trường đại học, dì nghe lỏm thấy Ông Chủ nói ông cần một thằng bé giúp việc trong nhà, dì vội nói ngay là dì có thể giúp ông, trước khi người đánh máy hay là người giao tin có thể đề nghị người của họ.
“Cháu sẽ học thật nhanh, dì ạ”, Ugwu nói. Hắn mê mẩn nhìn cái xe đang đậu trong nhà xe, dải kim loại mỏng dát vòng quanh thân xe màu xanh như một chuỗi đeo cổ.
“Nhớ này, khi nào nghe ông ấy gọi là phải trả lời: Vâng, thưa ông!
“Vâng, thưa ông!” Ugwu lặp lại.
Hai người đang đứng trước cánh cửa kính. Ugwu tự kìm lòng để không thò tay ra mà sờ vách tường bằng xi măng xem nó có khác cái cảm giác khi sờ vào vách đất căn chòi của mẹ hắn. Cái vách đất vẫn còn lờ mờ in dấu những ngón tay. Trong khoảnh khắc, hắn ước gì có thể trở lại căn chòi của mẹ, dưới hơi mát dịu dàng của mái rơm; hay căn chòi của dì hắn, cái chòi độc nhất trong làng có lợp mái tôn.
Dì gõ nhẹ vào cửa kính. Ugwu có thể nhìn thấy bức rèm trắng đằng sau cửa. “Ai đấy? Vào đi!”, một giọng nói cất lên, bằng tiếng Anh.
Hai người cởi dép trước khi bước vào. Ugwu chưa bao giờ nhìn thấy một căn phòng rộng đến thế. Mặc dù đã có bộ ghế sofa màu nấu xếp theo hình bán nguyệt choán chỗ, mấy cái bàn nhỏ xen kẽ ở hai đầu bộ ghế, cái kệ chất đầy cứng toàn sách là sách, và cái bàn chính giữa có để một bình hoa bằng nhựa màu trắng và đỏ, căn phòng dường như vẫn còn quá trống trải. Ông Chủ ngồi trên một cái ghế bành, mặc áo thun và quần soóc. Ông không ngồi thẳng mà hơi dựa nghiêng người, quyển sách che mặt, dường như ông không để ý là mình vừa mới bảo người ta vào phòng.
“Xin chào ông! Đây là thằng bé”, dì của Ugwu nói.
Ông Chủ nhìn lên. Da ông đen sậm như màu vỏ cây già. Lông ngực và chân của ông có màu đậm hơn, bóng ngời. Ông tháo cặp kính ra. “Thằng bé?”
“Thằng bé giúp việc, thưa ông”.
“Ồ, vâng, bà đưa thằng bé giúp việc đến. I kpotago ya”. Ugwu thấy tiếng Igbo của Ông Chủ rất êm ái. Đó là tiếng Igbo được nhuộm bằng giọng Anh trơn tru, cách nói tiếng Igbo của người quen dùng tiếng Anh.
“Cháu sẽ làm việc chăm chỉ”, dì hắn nói. “Cháu ngoan lắm. Ông chỉ cần nói cho cháu biết cháu phải làm những gì. Cảm ơn ông!”
Ông Chủ trả lời ậm ừ, nhìn Ugwu và dì hắn với một vẻ lơ đãng, như thể sự hiện diện của Ugwu và dì hắn làm ảnh hưởng đến ông, khiến ông khó tập trung để nhớ một chuyện gì đó rất quan trọng. Dì của Ugwu vỗ nhẹ lên vai hắn, thì thào dặn hắn phải cố gắng làm việc cho đàng hoàng rồi quay ra cửa. Sau khi dì đi rồi, Ông Chủ lại đeo kính, cắm mặt vào cuốn sách, dựa người thoải mái hơn, chân duỗi dài. Ngay cả khi ông lật sang trang, mũi ông vẫn chúi vào trang sách.
Ugwu đứng cạnh cửa chờ. Ánh nắng chảy tràn vào cửa sổ, đôi khi, một cơn gió nhẹ lay bức rèm. Căn phòng yên tĩnh, ngoại trừ thỉnh thoảng có tiếng Ông Chủ lật trang giấy nghe sột soạt. Ugwu đứng một hồi lâu trước khi hắn nhích dần, nhích dần về phía kệ sách, như là muốn lẩn trốn vào trong ấy; lát sau, hắn ngồi thụp xuống nền nhà, đong đưa cái túi dệt bằng vải cọ [1] giữa hai đầu gối. Hắn nhìn lên trần nhà, sao mà nó cao tít tắp và trắng đến lóa mắt. Hắn nhắm mắt lại, cố tưởng tượng căn phòng thật rộng với bàn ghế rất xa lạ, nhưng hắn không làm được. Hắn mở mắt, choáng ngợp bởi một điều kỳ diệu hoàn toàn mới toanh, hắn nhìn xung quanh để tin chắc tất cả đều là sự thật. Hắn tưởng tượng đến lúc hắn sẽ ngồi lên bộ ghế sofa, đánh bóng nền nhà đến trơn trượt và giặt mấy tấm rèm mỏng manh.
Kedu afa gi? Em tên gì?” Ông Chủ hỏi làm hắn giật mình.
Ugwu đứng dậy.
“Em tên gì?” Ông Chủ hỏi lại và ngồi thẳng lưng lên. Ông ngồi đầy cả ghế. Mái tóc dày của ông dựng đứng trên đầu, cánh tay toàn cơ bắp, vai rộng. Trong trí tưởng tượng của Ugwu, Ông Chủ là một người già nua, lụ khụ, nhưng bây giờ hắn bỗng thấy lo ngại là hắn sẽ không thể làm hài lòng cái ông chủ khỏe khoắn và tươi trẻ này, một người có thể đảm đương bất cứ việc gì. Ông ấy có vẻ như không cần bất kỳ sự giúp đỡ nào cả.
“Ugwu, thưa ông”.
“Ugwu. Em đến từ Obukpa phải không?”
“Từ Opi, thưa ông”.
“Tuổi của em, tôi đoán khoảng từ mười hai cho đến ba mươi”. Ông Chủ nheo mắt. “Có thể mười ba”. Ông nói chữ mười ba bằng tiếng Anh.
“Vâng, thưa ông”.
Ông Chủ lại tiếp tục chúi mũi vào quyển sách. Ông Chủ đọc thêm vài trang và ngẩng lên. “Ngwa, vào bếp đi; trong tủ lạnh chắc phải có món gì em ăn được đấy”.
“Vâng, thưa ông”.
Ugwu rón rén vào trong bếp, từng bước, từng bước một. Khi thấy một vật trắng, cao gần bằng hắn, hắn biết ngay đó là cái tủ lạnh. Dì hắn đã nói cho biết trước. Một cái tủ chứa hơi lạnh, dì ấy nói, để giữ cho thức ăn không bị hỏng. Hắn mở tủ lạnh và thở hắt khi hơi lạnh đột ngột phả vào mặt. Cam, bánh mì, bia, nước ngọt... rất nhiều thứ gói thành từng gói nhỏ và đựng trong hộp thiếc được sắp xếp nhiều tầng có lớp lang, nhưng trên tầng cao nhất là một con gà nướng bóng nhẫy, cả một con gà, chỉ thiếu mỗi cái đùi. Ugwu với tới và sờ vào con gà. Tủ lạnh thở phì phò vào lỗ tai của Ugwu. Hắn sờ con gà lần nữa và liếm ngón tay trước khi xé cái đùi gà còn lại ra. Hắn ăn đến mức trong tay chỉ còn lại mấy mẩu xương đã bị cắn vỡ và mút cẩn thận. Tiếp đó, hắn bẻ bánh mì, một mẩu to đến nỗi nếu có người bà con nào đến thăm, hắn sẽ hí hửng gửi mẩu bánh mì về làm quà, chia phần cho đám anh em. Hắn ăn nhanh chóng, trước khi Ông Chủ có thể vào bếp và thay đổi ý kiến. Ăn xong, hắn đứng cạnh cái chậu rửa bát, cố gắng nhớ lại những lời dì hắn đã nói cho biết trước về cái mà người ta có thể vặn cho nước tuôn ra như suối. Lúc ấy, Ông Chủ bước vào. Ông ấy mới vừa thay cái áo có in hình và quần dài. Mấy ngón chân của ông ló đầu ra khỏi đôi dép da, giống như ngón chân của phụ nữ, có lẽ vì chúng quá sạch sẽ; những ngón chân của một bàn chân luôn đi giày.
“Gì vậy?” Ông Chủ hỏi.
“Thưa ông?” Ugwu ra hiệu chỉ vào cái chậu rửa bát.
Ông Chủ đến gần rồi vặn cái chốt kim loại. “Em nên đi ngó nghiêng quanh nhà và cất túi xách của em vào căn phòng đầu tiên ở hành lang. Tôi đi bộ một chút cho đầu óc thư giãn, i nugo?”
“Vâng, thưa ông”. Ugwu nhìn Ông Chủ đi ra bằng cửa sau. Người ông không cao. Bước chân ngắn và nhanh, hăng hái, khỏe mạnh; ông có vẻ giống Ezeagu, một đô vật nổi danh ở làng của Ugwu.
Ugwu vặn vòi nước, rồi mở, rồi tắt. Mở và tắt lại mở và tắt cho đến khi hắn phá ra cười cái nhiệm màu của nước chảy; thịt gà với bánh mì nằm ấm áp trong dạ dày của hắn. Hắn đi qua phòng khách rồi đến hành lang. Sách nhiều vô số kể, chất đầy trên mấy cái kệ, trên bàn trong ba phòng ngủ, trong chậu rửa mặt và cái tủ nhỏ treo trên tường trong nhà tắm, chất đầy từ nền nhà lên trần nhà trong phòng đọc sách, trong tủ chứa đồ, báo chí cũ chất chồng trong những thùng chứa Coke hay trong những thùng giấy chứa bia thượng hạng. Có nhiều quyển sách được úp xuống, vẫn còn mở ra, có vẻ như là Ông Chủ chưa đọc xong nhưng vội vàng nhảy sang đọc quyển khác. Ugwu cố đọc mấy cái tựa sách, nhưng phần lớn chúng đều quá dài, và rất khó hiểu. Những phương pháp phi tham số. Khảo cứu Phi châu. Chuỗi liên kết vĩ đại của vật thể. Ảnh hưởng của người Norman đối với Anh quốc [2]. Hắn đi rón rén từ phòng này qua phòng khác, bởi vì hắn cảm thấy chân của mình bẩn quá, và khi đi như thế, hắn quyết tâm sẽ làm cho Ông Chủ hài lòng, để được ở trong một ngôi nhà có thịt mà ăn và có nền nhà mát lạnh. Đúng lúc hắn đang thám thính nhà vệ sinh, sờ sờ cái bồn cầu bằng nhựa đen, thì tiếng Ông Chủ vang lên.
“Đi đâu mất rồi, bạn tốt của tôi? [3]”, ông ấy nói bạn tốt bằng tiếng Anh.
Ugwu chạy nhanh ra phòng khách. “Vâng, thưa ông!”
“Em tên gì, nhắc lại xem?”
“Ugwu, thưa ông!”
“Ừ, Ugwu. Nhìn cái này, nee anya, em có biết đây là cái gì không?” Ông Chủ chỉ, và Ugwu nhìn cái hộp kim loại đính đầy chốt vặn trông có vẻ rất nguy hiểm.
“Không ạ”. Ugwu nói.
“Đây là cái radiogram [4]. Nó còn mới và rất tốt. Không phải như mấy cái gramphone cũ mà mình cứ phải lên dây cót, vặn và vặn mãi. Em phải cẩn thận khi ở gần nó. Thật cẩn thận! Không bao giờ để nước bắn vào”.
“Vâng, thưa ông!”
“Tôi đi đánh quần vợt, sau đó đến câu lạc bộ giáo viên”. Ông Chủ nhặt vài quyển sách trên bàn. “Có thể tôi sẽ về muộn. Em cứ ngủ trước nhé”.
“Vâng, thưa ông!”
Ugwu nhìn Ông Chủ lái xe ra khỏi nhà, sau đó hắn đến cạnh cái radiogram, nhìn ngắm thật cẩn thận nhưng không dám sờ vào. Rồi hắn đi vòng quanh nhà, đi lên đi xuống, rờ rẫm những quyển sách, rèm cửa, bàn ghế, bát đĩa. Khi trời tối, hắn bật đèn rồi tự trầm trồ sao cái bóng đèn treo lủng lẳng trên trần nhà sáng quá, nó không rọi bóng dài trên tường như mấy cái đèn dầu dừa ở quê nhà. Mẹ hắn giờ chắc đang nấu bữa tối, giã akpu trong cối đá, hai tay nắm chặt cái chày. Chioke, bà vợ kế của bố có lẽ đang canh chừng nồi canh lõng bõng nước, được để cân bằng trên ba hòn đá, bên trên đống lửa. Mấy đứa nhỏ chắc đang từ suối về, chọc ghẹo lẫn nhau và rượt đuổi nhau dưới mấy cây sa kê [5]. Có lẽ Anulika đang trông chừng tụi nhóc. Bây giờ nó là đứa lớn nhất nhà. Khi đám trẻ con ngồi vòng quanh bếp lửa để ăn tối, con bé sẽ ngăn không cho chúng đánh nhau mỗi khi mấy đứa bé hơn bị giành mấy mẩu cá khô trong canh. Con bé sẽ chờ cho đến khi akpu đã được ăn hết sạch mới chia đều cá cho từng đứa, đứa nào cũng có phần, và con bé sẽ giữ cho mình một phần to nhất, cũng như hắn đã từng làm.
Ugwu mở tủ lạnh, ăn thêm bánh mì và thịt gà, nhanh chóng tọng thức ăn vào mồm trong khi tim hắn đập thình thịch như là đang chạy vậy. Hắn xé thêm một miếng thịt, và rứt cái cánh ra. Hắn nhét miếng thịt vào túi quần trước khi về phòng ngủ. Hắn sẽ để dành cho đến khi nào dì hắn đến thăm và hắn sẽ gửi dì mang về cho Anulika. Có thể hắn cũng sẽ gửi cho Nnesinachi nữa. Như thế thì, may ra, Nnesinachi sẽ để ý đến hắn. Hắn không biết chắc giữa hắn và Nnesinachi có quan hệ họ hàng như thế nào, nhưng hắn biết là hai đứa cùng có chung umunna (huyết thống), do đó không thể kết hôn với nhau. Tuy thế hắn ước gì mẹ hắn đừng có mỗi lần nói đến Nnesinachi là cứ một điều em của con hai điều em của con. Rồi còn nói những câu như: “Đem giúp mẹ chỗ dầu dừa này đến cho mẹ của Nnesinachi, nếu mẹ không có ở đó thì đưa cho em của con”.
Nnesinachi luôn luôn nói chuyện với hắn bằng một giọng hững hờ, mắt con bé nhìn đâu đâu, làm như hắn có mặt ở đây hay không cũng chẳng có gì khác biệt. Đôi khi con bé gọi hắn là Chiejina, tên một người anh họ của hắn nhưng chẳng có nét nào giống hắn cả. Khi hắn nói, “Tôi đây mà”, con bé trả lời, “Tha lỗi cho em, anh Ugwu”, bằng một giọng khách sáo ra vẻ không muốn kéo dài câu chuyện. Nhưng hắn thích được mẹ sai vặt để có thể đến nhà con bé, để có cơ hội thấy con bé cúi xuống, quạt lửa hay băm lá ugu cho vào nồi canh, hay chỉ ngồi bên ngoài nhà trông chừng các em nó, cái áo của con bé xệ thấp xuống đủ cho hắn thấy phần đầu vú của nó. Từ khi chúng bắt đầu nhô lên, hai cái đầu vú nhọn hễu, hắn hay tự hỏi không biết chúng mềm mại hay cứng ngắc như mấy trái ube chưa chín. Hắn thường ước giá mà ngực của Anulika đừng bị lép quá - hắn cứ tự hỏi tại sao lâu quá vú của Anulika không mọc, Anulika cùng tuổi với Nnesinachi mà - để cho hắn có thể rờ vú của Anulika. Anulika chắc là sẽ đánh mạnh vào tay hắn, dĩ nhiên, có khi còn tát tai hắn nữa, nhưng hắn sẽ “đánh nhanh rút gọn” - bóp rồi chạy. Như thế, ít ra hắn cũng biết cái cảm giác ấy sẽ ra làm sao nếu như rốt cuộc, hắn có cơ hội sờ vú của Nnesinachi.
Nhưng hắn lo ngại rằng hắn sẽ không bao giờ được chạm vào chúng, bởi vì bác của Nnesinachi bảo con bé đến Kano học buôn bán. Cuối năm nay con bé sẽ đi ra Bắc, lúc đó đứa em út, mà mẹ con bé đang mang thai, sẽ bắt đầu đi lẫm chẫm. Ugwu muốn tỏ vẻ vui mừng giống như cả nhà đã vui mừng, bởi vì người ta có thể làm được rất nhiều tiền ở miền Bắc; hắn biết có nhiều người đi ra Bắc buôn bán và khi trở về, họ kéo sập mấy căn chòi rồi xây nhà có lợp mái tôn. Hắn sợ, một trong mấy thằng buôn heo mọi ở miền Bắc sẽ dòm ngó con bé, rồi tiếp theo đó hắn sẽ phải nhìn thấy người ta mang rượu dừa đến cho bố con bé và hắn sẽ chẳng bao giờ có cơ hội chạm tay vào cặp vú ấy nữa. Chúng - đôi vú của con bé - là những hình ảnh được hắn gìn giữ, tơ tưởng trong suốt bao đêm dài tự thỏa mãn bản thân; ban đầu chậm rồi thúc giục hối hả, cho đến khi tiếng rên, bị kìm hãm lại với tất cả cố gắng, bật thoát khỏi miệng hắn. Hắn luôn bắt đầu từ mặt con bé, đôi má căng tròn, hàm răng trắng ngà. Rồi hắn tưởng tượng vòng tay con bé ôm choàng quanh người hắn, thân hình con bé quyện chặt vào hắn. Cuối cùng, hắn để vú của con bé tự chọn hình dáng cho thích hợp; đôi khi chúng căng cứng, quyến rũ hắn cắn ngập răng vào, lúc khác chúng mềm mại đến nỗi hắn sợ sẽ làm con bé đau nếu hắn bóp mạnh tay quá.
Trong một khoảnh khắc, hắn cân nhắc cái chuyện có nên mơ tưởng về con bé đêm nay. Hắn quyết định là không. Không nên làm thế trong đêm đầu tiên ở nhà của Ông Chủ, trên cái giường không có chút gì giống với cái chiếu sợi cọ dệt bằng tay của hắn. Trước hết, hắn lấy tay nhấn nhấn lên tấm nệm nảy tưng và rất mềm. Xong rồi hắn kiểm soát mấy lớp vải phủ trên nệm, không biết là mình phải nằm ngủ trên mấy tấm vải này, hay lột chúng ra, cất đi trước khi ngủ. Cuối cùng, hắn trèo lên giường, nằm bên trên mấy lớp vải, co rúm người như một gút thắt.
Hắn mơ thấy Ông Chủ gọi hắn - Ugwu, bạn tốt! - Khi hắn thức giấc, Ông Chủ đang đứng ở cửa nhìn hắn. Có lẽ, đó không phải là giấc mơ. Hắn lồm cồm bò ra khỏi giường và liếc mắt nhìn mấy cái cửa sổ đã được vén rèm, hoang mang, bối rối. Muộn lắm rồi sao? Tại mấy cái giường quá mềm đã đánh lừa hắn, làm hắn ngủ quên? Thường thường, hắn vẫn thức dậy trước khi gà gáy.
“Chào ông!”
“Rõ ràng có mùi gà nướng ở đây”.
“Xin lỗi ông!”
“Thịt gà đâu rồi?”
Ugwu lính quýnh lôi trong túi quần soóc của hắn ra mấy miếng thịt gà.
“Dân làng của chú mày có ăn trong lúc ngủ không?” Ông Chủ hỏi. Ông ấy mặc cái gì đó giống như áo khoác của đàn bà và lơ đãng xoắn cái thắt lưng ngang hông.
“Thưa ông?”
“Chú mày có muốn ăn thịt gà khi đang ngủ không?”
“Dạ không ạ”.
“Thức ăn sẽ chỉ được dùng ở trong phòng ăn và nhà bếp”.
“Vâng, thưa ông”.
“Nhà bếp và nhà tắm phải được lau chùi sạch sẽ, trong hôm nay”.
“Vâng, thưa ông”.
Ông Chủ quay đi. Ugwu đứng run rẩy giữa phòng, tay vẫn còn xòe ra với mấy mẩu thịt gà. Hắn ước gì không phải đi ngang phòng ăn để vào nhà bếp. Cuối cùng, hắn nhét mấy miếng thịt gà vào trong túi quần, hít một hơi thật sâu, rồi rời phòng. Ông Chủ đang ngồi ở bàn ăn, tách trà được đặt bên một chồng sách trước mặt ông.
“Em có biết người nào giết Lumumba [6] không?” Ông Chủ hỏi, ngước lên từ một tờ tạp chí. “Người Mỹ và người Bỉ. Katanga không có liên hệ gì cả”.
“Vâng, thưa ông”, Ugwu nói. Hắn cầu mong sao Ông Chủ tiếp tục nói, để hắn được nghe giọng nói sang sảng của ông, giọng Anh giàu nhạc điệu trong câu nói Igbo.
“Em là người giúp việc cho tôi”, Ông Chủ nói. “Nếu tôi lệnh cho em ra ngoài và dùng gậy đánh một người đàn bà đang đi ngoài phố, rồi em đánh vào chân bà ta đến chảy máu, thì ai là người phải chịu trách nhiệm, tôi hay em?”
Ugwu nhìn Ông Chủ chăm chăm, lắc đầu, tự hỏi không biết có phải Ông Chủ ngầm ám chỉ mấy miếng thịt gà hay không.
“Lumumba là Thủ tướng của Congo. Em có biết Congo ở đâu không?” Ông Chủ hỏi.
“Dạ không, thưa ông”.
Ông Chủ nhỏm phắt dậy, đi vào phòng đọc. Nỗi sợ vì không biết đầu cua tai nheo thế nào làm mí mắt của Ugwu giật lia lịa. Không biết Ông Chủ có đuổi hắn về nhà vì hắn nói tiếng Anh không thành thạo hay vì để thịt gà trong túi quần qua đêm, hay không biết những chỗ xa lạ mà Ông Chủ nhắc đến? Ông Chủ quay lại với một tờ giấy khổ rộng, ông mở hẳn ra rồi đặt lên bàn ăn, đẩy chồng sách và tạp chí ra chỗ khác. Ông dùng cái bút để chỉ trỏ. “Đây là Trái Đất của chúng ta, mặc dù những người làm bản đồ này quyết định vẽ đè đất của họ lên đất của chúng ta. Nó không có khúc trên cũng không có khúc dưới, em thấy không?” Ông Chủ nhặt tờ giấy lên rồi xếp lại sao cho cạnh này giáp với cạnh kia, để chính giữa trống rỗng. “Trái Đất của chúng ta hình cầu. Nó không có điểm tận cùng. Nee anya, chỗ này toàn là nước, toàn là đại dương, và đây là Âu châu. Còn đây là lục địa của chúng ta, Phi châu. Congo ở ngay chính giữa. Nhích hẳn lên phía trên là Nigeria. Nsukka thì ở chỗ này, về hướng Đông nam. Còn chúng ta ở đây”. Ông gõ gõ cái bút.
“Vâng, thưa ông”.
“Em có đi học không?”
“Lớp Hai căn bản, thưa ông. Nhưng con học nhanh lắm”.
“Lớp Hai? Bao lâu rồi?”
“Lâu lắm rồi, thưa ông. Nhưng con học cái gì cũng nhanh lắm ạ”.
“Tại sao em không đi học nữa?”
“Tại vì năm đó nhà con bị mất mùa, thưa ông”.
Ông Chủ gật gù. “Sao cha em không tìm ai đó hỏi vay tiền đóng học phí?”
“Thưa ông?”
“Cha em đáng lẽ nên vay tiền!” Ông Chủ bỗng nổi cáu, rồi dùng tiếng Anh, “Việc học phải được ưu tiên hàng đầu! Làm sao chúng ta có thể chống lại sự bóc lột nếu chúng ta không có phương tiện giúp chúng ta hiểu thế nào là bóc lột?”
“Vâng, thưa ông!” Ugwu gật đầu lia lịa. Hắn nhất định tỏ ra nhanh trí bởi vì hắn nhìn thấy ánh sáng quắc kỳ lạ trong đôi mắt của Ông Chủ.
“Tôi sẽ ghi tên cho em theo học trường tiểu học dành cho con em của các giáo viên”, Ông Chủ nói, vẫn còn gõ gõ bút vào tờ bản đồ.
Dì của Ugwu có cho biết trước là nếu hắn phục vụ tốt, Ông Chủ có thể sẽ cho hắn đi học trường thương mại. Ở đó, hắn sẽ được học đánh máy và tốc ký. Dì cũng có nói sơ qua về trường tiểu học dành cho con em các giáo viên, nhưng chỉ nói là trường này dành cho đám con cháu của những giảng viên dạy trong trường. Đám trẻ con đi học phải mặc đồng phục màu xanh, tất trắng có viền đăng ten rất tinh xảo, đến nỗi người ta phải tự hỏi tại sao có người lại có thể lãng phí thì giờ với mấy đôi tất như thế.
“Vâng, thưa ông”, hắn nói. “Cảm ơn, thưa ông”.
“Tôi nghĩ chắc em là đứa lớn tuổi nhất trong lớp, bắt đầu lớp Ba với cái tuổi của em”, Ông Chủ nói. “Cách duy nhất để em có thể làm cho bọn trẻ con nể phục là em phải học thật giỏi. Em hiểu không?”
“Dạ hiểu, thưa ông!”
“Ngồi xuống đây, bạn tốt”.
Ugwu chọn cái ghế cách xa Ông Chủ nhất, ngượng ngùng khép chân cho khít lại với nhau. Hắn thích được đứng hơn.
“Có hai đáp án để trả lời cho những câu hỏi của họ về quốc gia của chúng ta: đáp án đúng với sự thật và đáp án mà em phải dùng để được chấm cho đậu. Em phải đọc sách và học cả hai đáp án đó. Tôi sẽ cho em nhiều sách, những sách hay nhất và tốt nhất”. Ông Chủ tạm dừng để nhấp một ngụm trà. “Người ta sẽ dạy em là có một người da trắng tên là Mungo Park đã khám phá ra con sông Niger. Đó là những lời láo toét. Sự thật, dân mình đã câu cá ở cái dòng sông ấy từ bao nhiêu đời nay, trước cả khi ông cố tổ của Mungo Park được sinh ra. Nhưng trong bài thi, em phải trả lời là Mungo Park”.
“Vâng, thưa ông”. Ugwu ước gì cái gã tên là Mungo Park không làm phiền lòng Ông Chủ đến thế.
“Em có thể nói cái gì khác hơn không?”
“Thưa ông?”
“Hát cho tôi nghe một bài xem nào!”
“Thưa ông?”
“Hát một bài. Em biết bài hát nào? Hát!” Ông Chủ tháo kính ra. Chân mày ông nhíu lại, vẻ nghiêm trọng. Ugwu bắt đầu hát một bài hắn từng học được lúc làm việc trên cánh đồng của bố. Trái tim co thắt trong lồng ngực làm hắn đau đớn. “Nzogbo nzogbu enyimba, enyi...”
Lúc đầu, hắn hát bằng giọng thấp nhỏ, nhưng Ông Chủ gõ bút lên bàn và ra lệnh, “Hát to lên!”, vì thế hắn hát to lên. Nhưng Ông Chủ vẫn nói, “Hát to lên!”, cho đến khi hắn hét chứ không phải là hát nữa. Sau khi hắn hát đi hát lại vài lần, Ông Chủ bảo hắn ngừng. “Hay lắm, hay lắm”, ông nói. “Em có biết pha trà không?”
“Dạ không, thưa ông. Nhưng con học nhanh lắm”, Ugwu nói. Việc hát hò vừa xong hình như giúp hắn thoải mái hơn. Hắn thở dễ dàng hơn và tim hắn không còn đập loạn xạ nữa. Hắn tin chắc rằng, Ông Chủ của hắn là một người hơi khùng khùng.
“Thường là tôi hay ăn ở câu lạc bộ giáo viên. Chắc tôi sẽ phải mang thức ăn về nhiều hơn vì giờ có thêm em ở đây”.
“Thưa ông, con có thể nấu ăn được”.
“Em biết nấu ăn?”
Ugwu gật đầu. Hắn đã nhìn mẹ nấu bữa tối rất nhiều lần. Hắn nhóm lửa cho mẹ, hay quạt cho lửa bùng lên khi lửa bắt đầu tàn. Hắn đã bóc vỏ và giã sắn, khoai lang, thổi trấu trong gạo, nhặt bọ rầy trong đậu, bóc hành, giã tiêu. Mỗi khi mẹ hắn lên cơn ho, hắn lại ước gì hắn được nấu ăn, chứ không phải Anulika. Hắn chưa hề thổ lộ với bất cứ ai điều này, kể cả Anulika; con bé đã bảo thẳng là hắn ló mó quanh chỗ đàn bà nấu nướng nhiều quá, và có thể hắn sẽ không bao giờ mọc râu nếu hắn cứ làm thế.
“Thế thì em nấu thức ăn cho chính em”, Ông Chủ nói. “Viết danh sách những cái em cần cho tôi”.
“Vâng, thưa ông”.
“Chắc là em chưa biết đường đi đến chợ đâu, phải không? Tôi sẽ nhờ Jomo chỉ cho em”.
“Jomo, thưa ông?”
“Jomo coi sóc trang trại. Một tuần, ông ấy đến ba lần. Rất vui tính. Tôi từng thấy ông ấy nói chuyện với cây croton [7]”. Ông Chủ ngừng một chút. “Ngày mai ông ấy đến đấy”.
Một lát sau, Ugwu viết danh sách các thứ cần để nấu ăn và đưa cho Ông Chủ.
Ông Chủ đăm đăm nhìn tờ danh sách một lúc. “Tôi nghĩ ở trường học, người ta sẽ dạy em cách dùng nguyên âm nhiều hơn”.
Ugwu không thích cái vẻ buồn cười ngồ ngộ trên mặt Ông Chủ. “Mình cần gỗ, thưa ông”, hắn nói.
“Gỗ?”
“Để con có thể sắp xếp sách của ông, thưa ông”.
“Ồ, đúng rồi, giá sách. Tôi nghĩ mình có thể gắn thêm vài cái giá sách ở chỗ nào đó. Ngoài hành lang chẳng hạn. Tôi sẽ bàn với người ở ban Lao động”.
“Vâng, thưa ông”.
“Odenigbo. Gọi tôi là Odenigbo”.
Ugwu nhìn ông trân trối, vẻ ngờ vực. “Ông?”
“Tên tôi không phải là Ông. Gọi tôi là Odenigbo”.
“Vâng, thưa ông”.
“Odenigbo là tên thường gọi của tôi. Ông chỉ là cách xưng hô, một cách gọi. Sau này, em cũng có thể trở thành Ông”.
“Vâng, thưa ông... Odenigbo”.
Ugwu thích dùng chữ ông hơn, cái quyền lực giòn giã đằng sau chữ ấy, và vài hôm sau khi hai người ở ban Lao động đến để gắn mấy kệ sách ở hành lang, hắn nói với họ là họ phải chờ cho đến khi “Ông” về, tự hắn không thể ký tên vào cái tờ giấy trắng đầy những chữ đánh máy. Hắn dùng chữ Ông một cách hãnh diện.
“Hắn là một trong mấy đứa giúp việc nhà quê”, một người trong đám nói một cách khinh thị; Ugwu nhìn mặt gã, miệng lầm bầm rủa gã và con cái, gia đình của gã bị tiêu chảy suốt đời. Khi hắn sắp xếp sách vở của Ông Chủ, hắn tự hứa với mình, suýt nữa đã nói thành tiếng, là hắn sẽ học cách ký tên vào những mẫu đơn hay giấy tờ.
Trong những tuần kế tiếp, hắn xem xét mọi ngóc ngách của ngôi nhà, hắn cũng phát hiện ra là ong làm tổ trên cây điều, và bướm tụ về sân trước vào lúc mặt trời rực rỡ nhất, đồng thời hắn cẩn thận ghi lại nếp sinh hoạt của Ông Chủ. Mỗi buổi sáng, hắn nhặt tờ Daily TimesRenaissance mà người bán báo bỏ trước thềm nhà, rồi đặt mấy tờ báo lên bàn, bên cạnh trà và bánh mì. Hắn rửa chiếc xe Opel trước khi Ông Chủ ăn sáng xong, và sau khi Ông Chủ đi làm về, hắn lau xe lúc ông nghỉ, trước khi ông lái xe đến sân quần vợt. Hắn bước thật nhẹ nhàng những khi Ông Chủ rút vào phòng nghiên cứu hàng giờ liền. Khi Ông Chủ đi đi lại lại trong hành lang, nói to, hắn chuẩn bị nước nóng để pha trà. Hắn kỳ cọ nền nhà mỗi ngày. Hắn lau cửa sổ cho đến khi chúng lấp lánh trong nắng chiều, chú ý từng khe nứt nhỏ xíu trong bồn tắm, đánh bóng mấy cái đĩa con mà hắn đựng hạt kola để đãi bạn của Ông Chủ. Ngày nào cũng có ít nhất hai người ở phòng khách; cái radiogram được mở rất nhỏ để nghe tiếng nhạc như tiếng sáo, nhỏ đủ để chỉ có tiếng nói, cười và tiếng ly tách chạm vào nhau lanh canh vọng đến tai của Ugwu khi hắn ở trong bếp hay khi hắn là quần áo cho Ông Chủ.
Hắn muốn được làm thêm, muốn tạo thêm nhiều lý do để Ông Chủ thấy cần phải giữ hắn lại làm việc; vì thế, có một buổi sáng, hắn là cả tất của Ông Chủ. Đôi tất sọc màu đen không nhăn nheo, nhưng hắn nghĩ chúng sẽ có vẻ tươm tất hơn nếu được là cho thẳng. Cái bàn là kêu xèo xèo khi hắn nhấc lên, hắn thấy phân nửa chiếc tất dính vào bề mặt bàn là. Hắn chết lặng. Ông Chủ đang ngồi ở bàn ăn; ông vừa ăn sáng xong và sẽ vào phòng bất cứ lúc nào để đi giày tất, lấy giấy tờ trên kệ, đi làm. Ugwu muốn giấu đôi tất dưới ghế rồi phóng vào tủ quần áo lấy đôi khác nhưng chân của hắn không chịu di chuyển. Hắn đứng chết trân với chiếc tất bị cháy và biết rằng Ông Chủ sẽ nhìn thấy mình ở tư thế này.
“Chú mày là cả tất à?” Ông Chủ hỏi. “Ngốc ơi là ngốc”. Câu ngốc ơi là ngốc thoát ra khỏi miệng ông nghe như tiếng nhạc.
“Xin lỗi ông! Xin lỗi, thưa ông!”
“Tôi đã bảo em đừng gọi tôi bằng ông”. Ông chủ cầm tài liệu. “Muộn rồi!”
“Thưa ông, con mang đôi tất khác cho ông nhé?” Ugwu nói. Nhưng Ông Chủ đã xỏ giày, không đi tất, và lật đật chạy. Ugwu nghe ông đóng cửa đánh sầm rồi tiếng khởi động xe. Ngực hắn nặng như đeo đá. Hắn không biết tại sao hắn lại là tất, tại sao hắn không chỉ là bộ âu phục safari [8] mà thôi. Chắc là ma xui quỷ khiến thế nào ấy chứ. Chắc là thế rồi! Lũ ma quỷ đó rình rập tất cả mọi nơi. Bất cứ lúc nào hắn cảm sốt, hay lúc hắn trèo cây ngã, mẹ hắn thường chườm dầu okwuma lên người hắn, mồm thì cứ lầm bầm suốt, “Chúng ta sẽ xua đuổi chúng đi. Bọn chúng không đời nào thắng được”.
Hắn đi ra sân trước, qua mấy hòn đá nằm san sát nhau trên nền cỏ được cắt xén cẩn thận. Lũ tà ma không thể nào thắng được. Hắn sẽ không để cho chúng thắng. Có một khoảng đất trống ở chính giữa sân cỏ, trông như một hòn đảo nhỏ giữa biển cỏ xanh, có một cây dừa nhỏ đứng đó. Ugwu chưa bao giờ nhìn thấy một cây dừa thấp và có lá xòe ra cân đối đến thế. Cây dừa không có vẻ đủ khỏe mạnh để cho quả hay hữu dụng, cũng giống như mọi cây cối ở đây. Hắn nhặt một hòn đá và ném ra xa. Đất đai ở đây bị lãng phí quá độ. Trong làng của hắn, người ta trồng trọt ở tất cả những khoảnh đất nhỏ tí tị tì ti quanh quanh chỗ ở của họ và chỉ trồng những thứ có lợi ích thiết thực như rau và gia vị. Bà của hắn không cần phải trồng arigbe mà bà yêu thích nhất, vì chúng mọc hoang ở khắp nơi. Bà thường nói arigbe làm trái tim người đàn ông trở nên dịu dàng. Bà là người thứ hai trong số ba bà vợ, vì thế bà không có một chỗ đứng đặc biệt như người vợ cả hay là người vợ cuối cùng. Trước khi mở miệng xin chồng bất cứ cái gì, bà kể lại với Ugwu, bà đều nấu cháo khoai lang cay với arigbe. Bà vẫn luôn luôn được toại nguyện. Có lẽ dùng cách này cũng sẽ chiếm được lòng Ông Chủ.
Ugwu đi lòng vòng tìm arigbe. Hắn nhìn vào giữa đám hoa màu hồng, dưới mấy cây điều có tổ ong treo trên một cành cây, cây chanh có bầy kiến đen bò lên bò xuống. Mấy trái đu đủ chín bị chim mổ thủng thành những lỗ to. Nhưng mặt đất trống trơn, không có bất kỳ loại rau thơm nào; Jomo nhổ cỏ rất cẩn thận, sạch sẽ, không một cây cỏ nào có thể mọc hoang ở đất này.
Lần đầu tiên hai người gặp nhau, Ugwu chào Jomo. Jomo gật đầu đáp lại rồi tiếp tục làm việc, chẳng nói chẳng rằng. Ông ta nhỏ thó, thân hình khô cứng và nhăn nheo, răn rúm đến nỗi Ugwu có cảm tưởng ông là người cần được tưới nước hơn là đám cây cỏ mà ông đang tưới bằng một cái bình kim loại. Cuối cùng, Jomo ngẩng lên nhìn Ugwu. “Afa m bu Jomo”, ông ấy tự giới thiệu, làm như Ugwu không biết tên ông. “Có nhiều người gọi tôi là Kenyatta, gọi theo tên một người rất nổi tiếng ở Kenya. Tôi là thợ săn”.
Ugwu không biết phải trả lời thế nào vì Jomo nhìn thẳng vào mắt hắn như chờ Ugwu kể một thành tích nào đó của bản thân.
“Ông săn loại thú nào?” Ugwu hỏi. Mặt Jomo rạng rỡ hẳn lên. Dường như đây chính là câu hỏi mà ông chờ được nghe, rồi ông bắt đầu kể chuyện đi săn. Ugwu ngồi lên bậc thềm dẫn ra sân sau, lắng nghe. Ngay từ ngày đầu tiên, hắn đã chẳng tin chuyện của Jomo kể - đánh nhau bằng tay không với mấy con báo, hay giết chết hai con khỉ bằng một phát đạn - nhưng hắn thích nghe những chuyện như thế. Hắn còn chuyển việc giặt đồ của Ông Chủ sang buổi khác, để những hôm Jomo đến, hắn có thể ngồi ngoài sân xem ông làm việc. Jomo di chuyển thật chậm chạp, một sự chậm chạp cố ý. Ông làm tất cả những việc như cào cỏ, tưới nước, trồng cây với một vẻ hiểu biết đầy nghiêm trang. Đang xén cây cảnh, ông có thể ngẩng lên và nói, “Thịt ấy ngon lắm đấy”, thế rồi ông đến lấy cái túi bằng da dê buộc đằng sau xe đạp của ông, lục lọi trong túi để tìm cái giàn ná.
“Đừng có đến gần cái túi của tôi những lúc tôi không có mặt ở đây”, ông bảo Ugwu. “Chú mày có thể bắt gặp cái đầu của ai đó đấy”.
Ugwu cười như nắc nẻ nhưng cũng không hoàn toàn nghi ngờ lời nói của Jomo. Hắn ao ước ngày hôm nay Jomo sẽ đến. Jomo là người tốt nhất mà hắn có thể hỏi về arigbe - và còn quan trọng hơn nữa, để hỏi xem làm cách nào cho Ông Chủ nguôi giận.
Hắn ra khỏi nhà, nhìn qua hàng cây bên đường cho đến khi thấy đống lá rơi đầy, phủ kín đám rễ dưới gốc phi lao [9]. Hắn chưa bao giờ ngửi thấy mùi gì thật sắc, đậm, nồng giống như mùi của arigbe trong những món ăn nhạt phèo mà Ông Chủ mang về từ câu lạc bộ; hắn sẽ nấu món thịt hầm với gia vị này, mời Ông Chủ ăn với cơm, sau đó sẽ năn nỉ ông. Xin đừng đuổi con về làng, thưa ông. Con sẽ làm thêm giờ để hoàn lại đôi tất bị cháy. Con sẽ kiếm tiền để đền. Hắn chưa biết chính xác có thể làm việc gì để có tiền đền cho đôi tất nhưng hắn sẽ nói với Ông Chủ dự định của hắn.
Nếu arigbe có thể làm dịu lòng Ông Chủ, may ra hắn sẽ được trồng loại cây này và một số loại gia vị khác ở sân sau. Hắn có thể nói với Ông Chủ, hắn sẽ làm mảnh vườn này trước khi vào học. Bởi vì bà hiệu trưởng nói hắn không thể vào học giữa chừng. Có thể hắn nuôi nhiều hy vọng quá. Mơ mộng một mảnh vườn trồng rau thơm để làm gì nếu Ông Chủ sẽ đuổi việc hắn, nếu Ông Chủ không tha thứ cho việc hắn làm cháy đôi tất? Hắn đi nhanh vào trong bếp, đặt mớ arigbe lên bàn bếp, rồi lấy gạo.
Mấy tiếng đồng hồ sau, hắn cảm thấy ruột gan như bị thắt lại khi bắt đầu nghe thấy tiếng xe của ông: tiếng bánh xe nghiến lên sỏi và tiếng máy xe rung nhẹ trước khi đỗ lại trong ga ra. Hắn đứng cạnh nồi thịt hầm, khuấy nhẹ, cầm thìa thật chặt, chặt như là cái cảm giác thắt chặt trong bao tử hắn vậy. Lẽ nào Ông Chủ lại đuổi hắn ra khỏi nhà trước khi hắn kịp mời Ông Chủ món ăn hắn nấu? Hắn sẽ phải giải thích như thế nào với người trong làng?
“Xin chào, thưa ông... Odenigbo”, hắn nói, trước lúc Ông Chủ bước vào bếp.
“Ừ, ừ”, Ông Chủ nói. Ông ôm một đống sách trước ngực bằng một tay, tay kia xách cặp. Ugwu chạy vội đến để đỡ lấy chồng sách. “Thưa ông? Ông có ăn ngay bây giờ không?” Hắn hỏi bằng tiếng Anh.
“Ăn gì?”
Ruột gan của Ugwu thắt chặt hơn. Hắn sợ dạ dày của hắn sẽ vỡ bung lúc hắn cúi xuống đặt chồng sách lên bàn. “Món thịt hầm, thưa ông”.
“Thịt hầm?”
“Vâng, thưa ông. Món thịt hầm rất ngon”.
“Vậy thì tôi ăn thử”.
“Vâng, thưa ông!”
“Gọi tôi là Odenigbo!” Ông Chủ hơi gắt giọng trước khi đi tắm.
Sau khi Ugwu dọn thức ăn, hắn đứng bên cạnh cửa bếp, nhìn Ông Chủ xúc đầy một nĩa cơm và thịt hầm, xúc thêm một miếng nữa, rồi nói vọng ra, “Ngon tuyệt, bạn tốt”.
Ugwu xuất hiện đằng sau cánh cửa. “Thưa ông? Con có thể trồng rau thơm trong một khoảnh vườn được không? Để có thể nấu thịt hầm như thế này”.
“Một khoảnh vườn?” Ông Chủ ngừng để nhấp một ngụm nước và lật một trang nhật ký. “Không, không được! Bên ngoài là lãnh thổ của Jomo, bên trong là của em. Phân phối lao động, bạn tốt. Nếu mình cần rau thơm, mình sẽ nhờ Jomo lo chuyện ấy”. Ugwu yêu vô cùng cái âm vang của câu Phân phối lao động, bạn tốt, bằng tiếng Anh.
“Vâng, thưa ông”, hắn nói, mặc dù hắn đã thầm chọn chỗ tốt nhất, thích hợp nhất để trồng rau thơm, gần căn phòng dành cho người giúp việc [10], nơi mà Ông Chủ chưa bao giờ đặt chân đến. Hắn không đủ tin cậy để có thể giao vườn rau cho Jomo. Hắn sẽ tự tay chăm sóc vườn rau khi Ông Chủ không ở nhà. Với cách này, arigbe của hắn, loại rau thơm của sự tha thứ, sẽ không bao giờ thiếu. Mãi đến tối hôm ấy hắn mới nhận ra là Ông Chủ đã quên bẵng chuyện đôi tất bị cháy từ lúc nào, trước cả khi về nhà.
Ugwu cũng biết thêm một số điều khác. Hắn không phải là một thằng bé giúp việc bình thường; thằng bé giúp việc của ông bác sĩ Okeke nhà bên không được ngủ trên giường ở trong phòng mà phải ngủ trên nền nhà bếp. Thằng bé giúp việc ở cuối đường Ugwu đi chợ cũng không có quyền quyết định nấu món ăn gì, nó nấu những món mà người ta bảo. Ông chủ hay bà chủ của chúng không đưa sách cho chúng và bảo, “Quyển sách này hay lắm, rất là tuyệt vời”.
Phần lớn các câu trong mấy quyển sách ấy Ugwu đều không hiểu nhưng hắn cố ý chứng tỏ là hắn có đọc. Hắn cũng không hiểu hết những câu chuyện mà Ông Chủ và bạn bè nói với nhau nhưng hắn cũng cứ lắng nghe; như chuyện thế giới cần phải tích cực hơn trong vụ người da đen bị giết ở Sharpeville [11], hay là cái máy bay do thám bị bắn rơi ở Liên Xô thì đáng đời cho quân Mỹ, hay De Gaulle [12] rất vụng về ở Algeria, hay là Liên Hiệp Quốc sẽ chẳng bao giờ loại trừ Tshombe [13] ở Katanga [14]. Thỉnh thoảng Ông Chủ đứng dậy nâng ly và lên giọng - “Chúc mừng người Mỹ da đen can đảm đã mở đường vào trường đại học của tiểu bang Mississippi!” [15]. “Chúc mừng Ceylon [16] và người nữ Thủ tướng đầu tiên trên thế giới”. “Chúc mừng Cuba đã thắng Mỹ bằng cách gậy ông đập lưng ông!” - và Ugwu lắng nghe một cách sung sướng tiếng chai bia chạm lanh canh vào thành ly, tiếng ly cụng ly, và tiếng chai cụng vào chai.
Cuối tuần, Ông Chủ có nhiều bạn bè đến chơi, Ugwu mang nước uống cho khách, đôi khi Ông Chủ giới thiệu hắn - bằng tiếng Anh, dĩ nhiên. “Ugwu lo những việc vặt trong nhà giúp tôi. Chú bé này thông minh lắm”. Ugwu vẫn im lặng, tiếp tục mở nút chai bia và Coke, cảm giác ấm nóng của niềm tự hào lan tỏa từ đầu ngón chân lên dần phía trên. Hắn đặc biệt thích khi Ông Chủ giới thiệu hắn với người nước ngoài, như ông Johnson, người Caribbean; Giáo sư Lehman, người hay nói lắp, da trắng, có giọng nghẹt mũi đến từ nước Mỹ với đôi mắt xanh thắm, màu của lá non. Ugwu hơi sợ khi gặp ông này lần đầu, vì hắn luôn tưởng tượng là chỉ quỷ sứ mới có cặp mắt mang màu xanh của lá.
Rất nhanh chóng, hắn nhận biết khách quen thường đến và mang nước uống của họ ra trước khi Ông Chủ bảo. Ông bác sĩ Patel, người Ấn Độ, hay uống bia Golden Guinea pha với Coke. Ông Chủ gọi ông ta là Ông Đốc. Bất cứ khi nào Ugwu mang hột kola ra, Ông Chủ nói, “Ông Đốc, ông nên biết hột kola không hiểu tiếng Anh”, trước khi ông ta tiếp tục cầu nguyện bằng tiếng Igbo hay là làm dấu thánh trên hột kola. Mỗi lần như thế bác sĩ Patel lại cười vang, có vẻ hể hả lắm, người dựa ngửa vào trong ghế sofa và nhấc cặp giò ngắn tũn của ông lên, làm như đó là một câu nói đùa thú vị ông mới nghe lần đầu. Sau khi Ông Chủ tách hột kola và chuyền cái đĩa đựng kola đi đủ một vòng, bác sĩ Patel, bao giờ cũng thế, nhón lấy một hột và bỏ vào túi áo; Ugwu chưa từng thấy ông ăn kola bao giờ, dù chỉ một lần.
Có ông giáo sư tên Ezeka, giọng rất khàn, nói nhỏ như thì thầm. Ông ấy luôn luôn cầm ly, giơ lên ngang tầm mắt và rọi qua ánh sáng để biết chắc là Ugwu rửa ly sạch sẽ. Đôi khi ông tự mang rượu gin đến. Lần khác ông đòi uống trà rồi tiếp tục kiểm tra bát đường và hộp sữa, miệng lẩm nhẩm, “Khả năng của vi trùng rất là phi thường”.
Còn có một anh chàng tên là Okeoma, người đến thường xuyên nhất và ở lâu nhất. Anh ta nhìn có vẻ trẻ hơn các vị khách khác, luôn luôn mặc một cái quần soóc, đầu tóc bù xù với đường ngôi lệch rẽ cao hơn đường ngôi của Ông Chủ. Tóc anh ta có vẻ thô và rối, không giống như tóc Ông Chủ; hình như Okeoma không thích chải đầu. Okeoma uống Fanta. Có mấy buổi tối, Okeoma trình diễn thơ, tay ôm một xấp giấy, và Ugwu đứng nhìn từ chỗ cửa bếp để thấy tất cả những người khách khác đang xem anh ta đọc thơ, mặt họ như đang hóa đá, tưởng chừng họ không dám thở. Sau đó, Ông Chủ vỗ tay và nói, giọng rổn rảng, “Tiếng nói của thế hệ chúng ta!”; tiếng vỗ tay kéo dài mãi cho đến khi Okeoma phải gắt lên, “Đủ rồi!”
Và còn có cô Adebayo, cũng uống brandy giống Ông Chủ và không giống bất cứ những gì mà Ugwu có thể tưởng tượng về một nữ giảng viên đại học. Dì của Ugwu có kể sơ về mấy bà giáo dạy đại học. Dì phải biết chứ, bởi vì dì làm lao công cho ban Giáo sư Khoa học ban ngày và chạy bàn trong câu lạc bộ giáo viên ban đêm. Thỉnh thoảng, các nhà thuyết trình thuê dì lau chùi nhà cửa cho họ. Dì nói mấy bà giáo trưng hình của họ thời còn đi học ở Ibadan [17], Anh và Mỹ trên giá sách. Bữa sáng, họ ăn trứng không được luộc chín quá, lòng đỏ trứng phải vẫn còn rung rinh; họ đội tóc giả được kéo thật thẳng tung bay theo bước chân, và mặc những cái váy maxi dài phủ mắt cá chân. Có lần dì kể chuyện có một cặp đi dự tiệc cocktail ở câu lạc bộ. Hai người bước ra khỏi một chiếc xe Peugeot 404 rất xịn, người đàn ông mặc bộ vét màu kem, người đàn bà mặc váy dài xanh lá cây. Tất cả mọi người đều chăm chú ngắm cặp này, đang đi tay trong tay, bỗng dưng có một cơn gió mạnh thổi bay bộ tóc giả của người đàn bà. Đầu bà ta trọc lốc. Người ta dùng lược hấp nóng để chải tóc cho thẳng, dì hắn giải thích, tại vì họ muốn giống người da trắng, cho dù mấy cái lược nóng đó làm cháy tóc của họ.
Ugwu đã từng tưởng tượng đến người đàn bà trọc đầu này, đẹp, với cái mũi thẳng đứng, chứ không tẹt dí như loại mũi hắn thường nhìn thấy. Hắn tưởng tượng đến một người phụ nữ hiền hậu, duyên dáng, người mà từ cái nhảy mũi, cách cười, cách nói của họ cũng nhẹ nhàng, mềm mại như lông tơ trên da của con gà. Nhưng cái bà đến thăm Ông Chủ, mấy người mà hắn gặp ở ngoài chợ và trên đường phố thì khác hẳn. Phần lớn họ đội tóc giả (tóc được thắt thành bím, hay được bện thêm chỉ vào trong tóc), nhưng họ không mảnh mai, dịu dàng như lá cỏ. Họ đều thuộc loại to mồm. Và người to mồm nhất là cô Adebayo. Cô không phải là người Igbo; Ugwu biết vậy nhờ tên của cô, ngay cả nếu như hắn không tình cờ gặp cô với người đầy tớ gái ở chợ và nghe họ nói với nhau bằng tiếng Yoruba nhanh đến nỗi hắn không thể hiểu được. Cô ấy bảo hắn chờ, cô sẽ cho hắn đi ké về trường đại học, nhưng hắn từ chối và nói là hắn còn nhiều thứ phải mua và hắn sẽ gọi taxi để về, mặc dù lúc đó hắn đã mua hàng xong xuôi. Hắn không muốn đi nhờ và đi chung xe với cô, hắn không thích cái cách cô lên giọng, giọng cô át cả giọng của Ông Chủ trong phòng khách, đầy thách thức và muốn gây gổ. Hắn thường phải tự ghìm lại để không nói vọng ra từ trong bếp, bảo cô câm mồm đi, nhất là khi cô gọi Ông Chủ là nhà ngụy biện. Hắn không biết nhà ngụy biện nghĩa là gì, nhưng hắn không thích cô gọi Ông Chủ như thế. Hắn cũng không thích cái cách cô nhìn Ông Chủ. Ngay cả khi một người nào khác đang nói và đáng lẽ cô phải tập trung vào người ấy, mắt của cô vẫn cứ dán vào Ông Chủ. Có một buổi tối thứ Bảy, Okeoma làm rơi một cái ly và Ugwu vào để thu dọn mảnh vỡ nằm vương vãi trên nền nhà. Hắn cứ làm việc từ từ, rề rà để được nghe câu chuyện hai người nói với nhau, rõ hơn và cũng dễ hiểu hơn cách Giáo sư Ezeka nói. Ở trong nhà bếp thì hầu như không thể nghe rõ người ta nói những gì.
“Chúng ta nên có một tổ chức Liên hiệp Phi châu [18] lớn mạnh hơn để hưởng ứng, cổ vũ những gì đang diễn ra ở Nam Mỹ, thật đấy...” - Giáo sư Ezeka nói.
Ông Chủ ngắt lời. “Ông nên biết, Chủ nghĩa Liên hiệp Phi châu, trên căn bản là quan niệm của người Âu châu”.
“Ông đang lẩn tránh không trả lời trực tiếp”, Giáo sư Ezeka nói và lắc đầu, vẫn cái cung cách kẻ cả, bề trên như thường lệ.
“Có thể đó là quan niệm của người Âu châu”, cô Adebayo nói, “nhưng nhìn xa hơn, chúng ta đều cùng một chủng tộc”.
“Thế nào là nhìn xa hơn?” Ông Chủ hỏi. “Bằng cách nhìn xa hơn của người da trắng? Cô không thấy là tất cả chúng ta hoàn toàn khác nhau, chỉ trừ lòng trắng của con mắt?” Tiếng của Ông Chủ to dần lên; Ugwu từng để ý, cứ đến ly brandy thứ ba là ông bắt đầu cầm ly khua khua, rướn người nghiêng về phía trước cho đến khi ông chỉ ngồi ghé ở mép của ghế bành. Khi đêm đã khuya, Ông Chủ đã đi ngủ, Ugwu ngồi vào cái ghế bành này rồi tưởng tượng mình nói tiếng Anh rôm rả, nói như mê hoặc những người khách tưởng tượng, dùng những chữ như trao quyền độc lậpLiên hiệp Phi châu, hắn cố luyện giọng cho giống với giọng của Ông Chủ, và hắn cứ đổi thế ngồi, đổi mãi cho đến khi hắn cũng ngồi ra mép của cái ghế bành.
“Dĩ nhiên là chúng ta đều như nhau, chúng ta đều bị người da trắng đô hộ, đó là đặc điểm chung của chúng ta”, cô Adebayo lạnh lùng nói. “Chủ nghĩa Liên hiệp Phi châu là câu trả lời thích hợp nhất”.
“Dĩ nhiên, dĩ nhiên, nhưng theo tôi, cái nền tảng căn bản, đặc thù để nhận biết người Phi châu chính là bộ lạc của họ”, Ông Chủ nói. “Tôi là người Nigeria vì một gã da trắng sáng tạo ra cái tên Nigeria rồi cho tôi cái tông tích ấy. Tôi đen bởi vì một anh da trắng xây dựng khái niệm màu đen để làm sao nổi bật sự khác biệt với cái màu trắng của hắn. Nhưng tôi là người Igbo trước khi người da trắng đến xứ này”.
Giáo sư Ezeka khịt mũi và lắc đầu, hai cái chân bắt tréo. “Nhưng ông bắt đầu nhận biết ông là người Igbo là nhờ người da trắng. Cái ý tưởng Liên hiệp Igbo hình thành chỉ để đương đầu với sự thống trị của người da trắng. Ông phải thấy rằng bộ lạc, ngày nay cũng như thời thực dân, là sản phẩm của một quốc gia và chủng tộc”. Giáo sư Ezeka lại bắt tréo chân.
“Cái ý tưởng Liên hiệp Igbo đã xuất hiện rất lâu, trước khi người da trắng có mặt”. Ông Chủ hét to. “Đi mà hỏi những bô lão trong làng của ông về lịch sử xem”.
“Vấn đề là, Odenigbo là một người trung thành với việc gìn giữ bộ lạc, chúng ta cần phải làm cho ông ấy im lặng”. Cô Adebayo nói.
Xong, cô làm một chuyện mà Ugwu giật mình: cô đứng dậy, cất tiếng cười giòn tan, đi đến gần Ông Chủ và lấy tay khép đôi môi ông lại. Cô đứng đó, có vẻ như rất lâu, tay cô để lên môi ông. Ugwu tưởng tượng nước bọt đã hòa lẫn với rượu brandy trong mồm ông thấm vào ngón tay cô. Hắn thấy người cứng đơ lúc hắn nhặt những mảnh ly vỡ. Hắn ước gì Ông Chủ không chỉ ngồi đó lắc đầu làm như mọi chuyện rất buồn cười.
Từ đó về sau, cô Adebayo trở thành một mối nguy hại. Cô càng lúc càng giống như một con dơi ăn hoa quả, với cái mặt giống như bị véo, nước da không sáng sủa và cái áo hoa lùng bùng quanh thân thể cô như là đôi cánh. Ugwu luôn mang rượu cho cô sau cùng và lãng phí rất nhiều thì giờ lau tay bằng cái khăn lau chén trước khi hắn mở cửa cho cô vào. Hắn lo lắng là cô sẽ cưới Ông Chủ và mang cô hầu gái nói tiếng Yoruba vào trong nhà này, phá hủy cái vườn rau thơm và bảo hắn cái nào hắn có thể nấu hay là không được phép nấu. Hắn vẫn lan man nghĩ thì nghe thấy Ông Chủ và Okeoma nói chuyện với nhau.
“Hôm nay, cô ta có vẻ như không muốn về”, Okeoma nói. “Nwoke m, anh có chắc là anh không toan tính làm chuyện gì với cô ấy chứ?”
“Đừng nói linh tinh!”
“Nếu anh có làm gì, cũng không người nào ở London biết đâu”.
“Này, này...”
“Tôi biết anh không để ý đến cô ta theo nghĩa ấy, nhưng tôi vẫn thắc mắc không biết đàn bà họ thấy cái gì hấp dẫn ở anh kia chứ”.
Okeoma cười phá lên và Ugwu cảm thấy yên tâm. Hắn không muốn cô Adebayo - hay bất cứ người đàn bà nào - chen vào và phá hỏng cuộc sống của hắn với Ông Chủ. Có những đêm, sau khi khách về sớm, hắn ngồi trên nền nhà trong phòng khách và lắng nghe Ông Chủ nói. Ông thường chỉ nói những chuyện mà hắn không thể nào hiểu được, hình như rượu brandy đã làm ông quên Ugwu không phải là khách của ông. Chẳng ăn nhằm gì. Tất cả những thứ mà Ugwu cần chỉ là một giọng nói Igbo trầm ấm, giàu nhạc điệu có pha lẫn giọng Anh, và ánh sáng lấp lánh của cặp mắt kính dày cộp.

Hắn ở với Ông Chủ được khoảng bốn tháng thì ông nói, “Cuối tuần này, có một người phụ nữ rất đặc biệt sẽ đến đây chơi. Rất đặc biệt! Em phải dọn dẹp cho thật sạch sẽ. Tôi sẽ đặt thức ăn ở câu lạc bộ”.
“Nhưng, thưa ông, con có thể nấu ăn”, Ugwu nói, buồn bã nghĩ đến chuyện sắp tới.
“Cô ấy mới trở về từ London, bạn tốt, và cô ấy thích cơm nấu theo cách riêng của cô ấy. Cơm rang. Tôi nhớ như thế. Tôi không chắc em có thể nấu món gì hợp ý của cô ấy”. Ông Chủ quay người bỏ đi.
“Con có thể nấu món đó, thưa ông”. Ugwu nói nhanh, mặc dù hắn không hề biết cơm rang là gì. “Để con nấu cơm, và ông mua thịt gà ở câu lạc bộ”.
“Mặc cả khéo lắm”, Ông Chủ nói bằng tiếng Anh. “Thế thì em nấu cơm”.
“Vâng, thưa ông”, Ugwu nói. Sau đó, hắn dọn phòng sạch sẽ, kỳ cọ bồn cầu một cách cẩn thận, như hắn luôn luôn làm thế, nhưng Ông Chủ nhìn và bảo hắn là chưa được sạch lắm rồi đi ra tiệm mua thêm một gói bột Vim rồi hỏi, giọng gắt gỏng, tại sao Ugwu không lau chùi cái kẽ giữa hai viên gạch. Ugwu lau lại. Hắn cọ cho đến khi mồ hôi nhễ nhại hai bên má, đến khi hai cánh tay hắn đau nhức rã rời. Và thứ Bảy, hắn nổi cáu lúc nấu ăn. Trước đó, Ông Chủ chưa bao giờ cằn nhằn. Đây là lỗi của người đàn bà sắp đến, người mà Ông Chủ quá quý trọng, đến nỗi không cho hắn nấu ăn. Người đàn bà mới về từ London, thật vậy.
Khi chuông cửa réo, hắn làu bàu rủa sao cho dạ dày của cô ả sẽ bị sưng tấy vì ăn phân. Hắn nghe Ông Chủ nói to, mừng rỡ như trẻ con; tiếp đó là một khoảng yên lặng kéo dài và hắn tưởng tượng hai người đang ôm nhau, cái thân hình xấu xí của cô ta dán chặt vào Ông Chủ. Rồi hắn nghe giọng của cô nàng. Hắn chết lặng. Hắn luôn nghĩ rằng không thể mang tiếng Anh của Ông Chủ ra mà so sánh với tiếng Anh của bất cứ người nào, không thể so với thứ tiếng Anh rất khó nghe của Giáo sư Ezeka, hay thứ tiếng Anh mà cứ như tiếng Igbo, cả ở cách nhấn giọng lẫn cách ngắt, ngừng của Okeoma, hay thứ tiếng Anh cứ líu ríu đến kỳ lạ của bác sĩ Patel. Kể cả tiếng Anh của Giáo sư Lehman, lời nói của ông như bị bắt tuôn ra qua lỗ mũi, cũng không đáng ngưỡng mộ bằng cách nói tiếng Anh của Ông Chủ. Tiếng Anh của Ông Chủ dìu dặt như tiếng nhạc, nhưng cái mà Ugwu đang nghe bây giờ là giọng của một người phụ nữ, một giọng thần tiên. Đây là một giọng Anh tuyệt vời nhất, một thứ ngôn từ lóng lánh, một giọng Anh đặc biệt mà hắn từng nghe qua đài của Ông Chủ, tròn vành rõ chữ, chuẩn xác đến từng âm, như thái một lát khoai với con dao mới vừa được mài thật bén, ngọt xót từng lát một.
“Ugwu!” Ông Chủ gọi. “Mang Coke ra đây!”
Ugwu đi ra ngoài phòng khách. Nàng thơm mùi kem dừa. Hắn chào người phụ nữ, câu chào chỉ lí nhí trong miệng, mắt hắn nhìn xuống nền nhà.
Kedu?”, nàng hỏi.
“Con khỏe, thưa cô”. Hắn vẫn không dám nhìn nàng. Lúc hắn mở nút chai, nàng đang cười to về chuyện Ông Chủ nói trước đó. Ugwu sắp sửa rót Coke lạnh vào ly cho nàng thì nàng khều tay hắn và nói, “Rapuba, kệ tôi, kệ tôi, không phải lo”.
Tay nàng hơi ẩm ướt. “Vâng, thưa cô”.
“Ông chủ của em nói với tôi là em chăm sóc ông ấy chu đáo lắm, Ugwu”, nàng nói. Nàng nói giọng Igbo còn mềm mại hơn cả giọng Anh, và hắn rất thất vọng khi thấy nàng nói tiếng Igbo quá dễ dàng. Hắn ước gì nàng hơi vấp váp, ngập ngừng khi nàng nói tiếng Igbo; hắn không ngờ được là tiếng Anh hoàn hảo như thế lại có thể đi song song với sự hoàn hảo của tiếng Igbo.
“Vâng, thưa cô”, hắn lập bập. Mắt hắn vẫn còn nhìn chằm chằm xuống nền nhà.
“Hôm nay em nấu món gì cho chúng tôi, bạn tốt?” Ông Chủ hỏi, giả bộ như không biết. Giọng ông vui vẻ đến mức làm hắn bực mình.
“Con dọn ra ngay, thưa ông”, Ugwu nói tiếng Anh, và ngay lập tức, hắn ước gì hắn nói khác đi, đúng văn phạm hơn, như là Con sẽ mang thức ăn ra ngay, bởi vì nói như thế nghe hay hơn, và làm nàng có ấn tượng về hắn tốt hơn. Trong lúc dọn bàn, hắn tiếp tục liếc ra phòng khách, mặc dù hắn có thể nghe tiếng nàng cười và giọng của Ông Chủ, với một âm vang mới, nghe rất khó chịu.
Cuối cùng thì hắn cũng được thấy mặt nàng lúc nàng và Ông Chủ ngồi vào bàn ăn. Gương mặt trái xoan, nước da mịn màng, màu da tươi mát như mặt đất đẫm mưa, đôi mắt rất to và hơi xếch - đáng lẽ nàng không nên đi đứng ăn nói như người bình thường, mà nên ở trong một tủ kính giống như cái tủ kính trong phòng đọc sách của Ông Chủ; ở trong đó, người ta có thể chiêm ngưỡng thân hình với những đường cong tuyệt mỹ của nàng; ở trong đó, nàng sẽ được giữ gìn. Tóc nàng dài, mỗi sợi chảy dài xuống tới cổ, đuôi tóc xòe bông ra. Nàng rất hay cười, hàm răng trắng muốt. Hắn cứ đứng ngắm nàng mãi cho đến khi Ông Chủ nói, “Mọi khi Ugwu nấu ngon hơn. Cậu ta nấu món thịt hầm rất tuyệt”.
“Nhạt quá, chẳng có mùi vị gì cả, nhưng dĩ nhiên vẫn còn tốt hơn là bốc lên cái mùi không thể chịu được”. Nàng nói, và mỉm cười với Ông Chủ trước khi quay sang Ugwu. “Tôi sẽ chỉ cho em cách rang cơm mà không phải dùng nhiều dầu”.
“Vâng, thưa cô”, Ugwu nói. Hắn đã tự nghĩ ra cách rang cơm, bằng dầu lạc; và trước đó, hắn từng thầm mong là sẽ làm cho hai người vội vàng chạy vào nhà vệ sinh. Nhưng bây giờ, hắn lại rất muốn nấu một bữa ăn tuyệt hảo, cơm jollof thơm ngon hay món thịt hầm với arigbe, để cho nàng thấy là hắn nấu ngon đến mức nào. Hắn chưa rửa bát đĩa vội vì tiếng nước chảy sẽ át giọng nói của nàng. Khi hắn mang trà ra, hắn sắp xếp mấy cái bánh ngọt nhỏ trên đĩa thật chậm rãi để hắn có thể ở lâu một chút và có thể nghe nàng nói chuyện, cho đến khi Ông Chủ lên tiếng, “Thế là được rồi, bạn tốt”. Tên nàng là Olanna. Nhưng Ông Chủ chỉ gọi tên nàng có một lần thôi. Thường thường ông gọi nàng là nkem, em yêu [19]. Họ nói về chuyện Sardauna và thủ lĩnh của Western Region cãi vã nhau; sau đó, Ông Chủ nói chuyện gì đó đại khái về việc chờ nàng dọn đến Nsukka và việc đó chỉ mất vài tuần thôi. Ugwu nín thở để hắn có thể nghe rõ hơn. Ông Chủ cười hào sảng và nói, “Nhưng mà mình sẽ sống chung với nhau tại đây, nkem, và em có thể giữ căn nhà ở đường Elias”.
Nàng sẽ dọn đến Nsukka. Nàng sẽ sống trong nhà này. Ugwu rời chỗ đứng ở cửa và nhìn cái nồi còn đặt trên bếp. Cuộc sống của hắn sẽ xáo trộn. Hắn sẽ phải học rang cơm, sẽ phải tập dùng ít dầu hơn và phải nghe lời nàng. Hắn thấy buồn; nhưng không chỉ có thế hắn còn có cảm giác nôn nóng chờ đợi, một cảm giác bồn chồn thật mơ hồ.
Chiều hôm ấy, khi đang giặt tấm ga trải giường của Ông Chủ ở sân sau, gần cây chanh, hắn ngẩng lên, chợt thấy nàng đang đứng ở cửa sau nhìn mình. Đầu tiên, hắn tin chỉ là tưởng tượng, bởi vì những người mà hắn nghĩ đến nhiều nhất thường chỉ hiện ra với hắn trong tưởng tượng. Hắn chuyện trò trong tưởng tượng với Anulika rất nhiều lần, và, ngay sau khi hắn tự thỏa mãn trong đêm, Nnesinachi sẽ thoáng hiện ra với nụ cười bí ẩn trên môi. Nhưng Olanna đúng là đang ở chỗ cửa. Nàng đang băng ngang qua sân, đến gần hắn. Nàng chỉ có tấm vải quấn [20] vòng ngang ngực, và khi nàng bước đi, hắn tưởng tượng nàng là trái điều vàng, chín mọng, đầy quyến rũ.
“Thưa cô? Cô có cần gì không ạ?” Hắn hỏi. Hắn biết nếu hắn đưa tay ra chạm vào mặt nàng, chắc sẽ giống như chạm vào bơ, loại bơ mà Ông Chủ bóc giấy gói rồi quết lên bánh mì.
“Để tôi giúp em”. Nàng chỉ vào tấm ga trải giường mà hắn vừa mới xả lại bằng nước sạch và từ từ, hắn lấy tấm ga còn đang nhỏ nước ra. Nàng túm một đầu rồi lui vài bước. “Xoay đầu tấm ga em đang nắm sang hướng này”, nàng nói.
Hắn vặn phần của hắn sang bên phải hắn trong khi Olanna vặn phần của nàng sang bên phải nàng; cả hai cùng nhìn nước bị vắt ra. Tấm ga rất trơn.
“Cảm ơn cô”, hắn nói.
Nàng mỉm cười. Nụ cười của nàng làm hắn có cảm giác như hắn cao hơn. “Ồ, nhìn kìa, mấy quả đu đủ này gần chín rồi. Lotekwa, đừng quên hái nó nhé”.
Có một cái gì đó rất thanh nhã trong giọng nói và phong cách của nàng; nàng như một viên đá trong một con suối tuôn chảy dào dạt, được dòng nước trong mát chuốt mài qua bao tháng năm. Được gặp nàng cũng giống như tìm được hòn đá ấy, một cơ hội hiếm có. Hắn nhìn cho đến khi nàng đi vào bên trong.
Hắn không muốn chia sẻ việc săn sóc Ông Chủ với ai cả, cũng không muốn làm gián đoạn cuộc sống bình lặng của hắn với Ông Chủ, tuy thế, đột nhiên hắn thấy mình khó mà chịu nổi nếu từ nay không còn được nhìn thấy nàng. Đêm đó, sau bữa tối, hắn rón rén đi bằng mười đầu ngón chân đến phòng ngủ của Ông Chủ, áp tai vào cửa. Nàng đang rên rất to, tiếng rên không có vẻ gì giống với tiếng của nàng, rất buông thả và đầy kích thích, thoát ra từ cổ họng. Hắn đứng đó rất lâu, cho đến khi tiếng rên chấm dứt, rồi trở lại phòng của hắn.
--------------------------
[1] Thủ đô của tiểu bang Oyo, thuộc quốc gia Nigeria.
[2] Đây là nhũng ngữ vựng chuyên ngành mà tôi chưa được biết bằng tiếng Việt dù tôi hiểu tổng quát tiếng Anh. Xin tạm dịch để độc già tiện theo dõi.
[3] My good man (nguyên văn): Đáng lẽ phải dịch là “người tốt của tôi”. Xin dùng chữ “bạn tốt” vì ngắn hơn và có giọng Việt Nam hơn.
[4] Radiogram: Là một loại máy truyền tin bằng chữ viết, liên kết giữa những người cùng sử dụng máy radiogram và chỉ có tính năng truyền tin nghiệp dư. Một người nhận tin rồi truyền cho người khác và cứ như thế mà tiếp nối.
[5] Bread fruit (nguyên văn): Cây mít bột, cây sa kê - một loại trái cây nguồn gốc ở Polynesia có vỏ xù xì như quả mít, to như quả bưởi, rất nhiều chất bột. Khi nấu chín có vị như khoai tây và mùi như bánh mì mới ra lò.
[6] Lumumba (1925-1961): Lãnh tụ Phi châu chống thực dân, làm Thủ tướng Cộng hòa Congo được mười tuần, bị đảo chính, lật đổ và cuối cùng bị ám sát.
[7] Croton: Một loại cây mọc thành bụi, dầu của nó độc hại, có thể làm lột da, gây ói mửa hay tiêu chảy rất nặng.
[8] Safari suits (nguyên văn): Là bộ âu phục đơn giản, màu nhạt như màu ka ki, vải mỏng, nhẹ, thoáng, ít trang trọng hơn những bộ âu phục sẫm màu.
[9] Whistling pines (nguyên văn): Là một loại thông nhiệt đới, thường gặp nhiều ở Hawaii, cành mảnh khảnh, bụi thấp nhỏ, thường được trồng gần biển để cản gió.
[10] Boys Quarters (nguyên văn): Chỗ dành riêng cho người giúp việc thuộc phái nam ở.
[11] Vụ thảm sát ở Sharrpeville, Nam Phi: Tháng Ba năm 1960, cảnh sát Sharrpeville xả súng vào đoàn người biểu tình hòa bình chống lại các đạo luật phân biệt chủng tộc của chế độ Aparthied, làm 69 người chết và rất nhiều người khác bị thương.
[12] De Gaulle (1890-1970): Đại tướng của nước Pháp.
[13] Moise Kapenda Tshombe (1919-1969): Nhà chính trị của xứ Congo.
[14] Katanga là một tính lớn của Congo. Đã nhiều năm đòi được quyền tự trị và độc lập với Congo.
[15] James Meredith (sinh năm 1933): Người da đen đầu tiên được nhận vào trường Đại học Missisippi. Việc nhập học của ông bị phản kháng bằng những cuộc biểu tình dữ dội. Ông phải được Lực lượng Đặc biệt hộ tống đến trường. 36 nhân viên của Lực lượng Đặc biệt đã bị bắn trong vụ thu nhận người da đen vào trường đại học này.
[16] Bây giờ là quốc gia Sri Lanka.
[17] Thủ đô của tiểu bang Oyo, thuộc quốc gia Nigeria.
[18] Pan-African (nguyên văn): Là một tổ chức xã hội - chính trị có mục đích thống nhất và nâng đỡ người trong nước cũng như người Phi châu lưu vong.
[19] My own (nguyên văn): Của riêng tôi.
[20] Wrapper (nguyên văn): Là một tấm vải có thể khoác làm váy, hay áo choàng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.08.2017 01:26:54 bởi casau>
Chương hai

Olanna lắc lư theo điệu Tân nhạc [1] phát ra từ radio trong xe. Tay nàng đặt lên đùi Odenigbo; nàng nhấc tay lên khi chàng sang số đặt tay trở lại và cười rộ khi chàng trêu nàng là thần vệ Nữ đã chi phối đầu óc mọi người. Nàng thấy ngất ngây bên cạnh chàng, cửa sổ xe được quay xuống, bụi bay mịt mù và giọng hát của Rex Lawson thật mơ màng. Chàng sẽ phải lên giảng đường trong vòng hai giờ nữa nhưng cứ nhất quyết đòi đưa nàng ra sân bay Enugu. Tuy ngoài mặt phản đối nhưng trong lòng nàng rất thích. Khi hai người lái xe trên con đường​ hẹp băng ngang đồi Milliken, một bên là thung lũng sâu thăm thẳm, một bên là sườn núi lởm chởm, nàng cũng không nhắc chàng là chàng lái quá nhanh. Nàng cũng không nhìn cái bảng viết bằng tay, nét chữ cứng và thô, THÀ ĐẾN MUỘN CÒN HƠN LÀ NGƯỜI THIÊN CỔ.
Nàng thất vọng nhìn thấy mấy chiếc máy bay trắng đục lướt nhẹ nhàng lên không trung khi hai người đến gần sân bay. Chàng dừng xe dưới mái hiên của cổng vào. Những người khuân vác hành lý thuê vây quanh xe và hỏi, “Ông bà có hành lý không ạ?”, nhưng Olanna không nghe thấy họ nói gì bởi vì chàng đã kéo nàng sát vào người chàng.
“Anh không thể chờ được nữa, nkem”, chàng nói, môi chàng gắn chặt môi nàng. Nụ hôn của chàng có vị ngọt như mứt hoa quả. Nàng muốn nói với chàng là mình rất háo hức muốn dọn về Nsukka, nhưng chắc không cần nàng phải nói chàng cũng đã biết. Một nụ hôn nồng nàn, và nàng cảm thấy hơi ấm rất mới, lan tỏa giữa hai chân nàng.
Có tiếng còi xe inh ỏi. Một người khuân hành lý kêu to, “Hây, đây là chỗ xếp hàng. Ồ! Chỉ xếp hàng thôi nhé!”
Cuối cùng, Odenigbo buông nàng ra và nhảy khỏi xe để lấy hành lý của nàng trong cốp. Chàng mang túi hành lý của nàng đến quầy bán vé. “Em đi an toàn nhé, ije oma”, chàng nói.
“Anh lái xe cẩn thận”, nàng nói.
Nàng ngắm chàng dần dần rời xa nàng, một người đàn ông lực lưỡng mặc quần ka ki và áo sơ mi ngắn tay có vẻ rất tươm tất vì được là thẳng nếp. Chàng bước đi, vẻ tự tin có phần thái quá: cái cử chỉ của một người không chịu hỏi đường nhưng vẫn tin tưởng thế nào cũng đến được chỗ mình muốn đến. Sau khi chàng lái xe đi, nàng cúi đầu, hít hà. Nàng đã dùng một ít nước hoa Old Spice [2] của chàng sáng nay, như thể vô tình thôi, và cũng không cho chàng biết vì sợ chàng sẽ cười chế nhạo. Chàng sẽ không thể nào hiểu được thói quen kỳ quặc của nàng - luôn mang theo một chút mùi hương của chàng. Làm như là mùi thơm có thể, ít nhất là một thời gian ngắn, dập tắt những thắc mắc của nàng và làm cho nàng hơi giống chàng thêm một chút. Tự tin thêm và ít nghi ngờ hơn.
Nàng quay vào chỗ người bán vé và viết tên nàng lên một mảnh giấy. “Chào ông! Xin vui lòng cho tôi một vé một chiều đi Lagos”.
“Ozobia?” Người bán vé mặt đầy mụn tươi hẳn lên với cái miệng cười thật rộng. “Con gái của Ông Trùm [3] Ozobia?”
“Vâng”.
“Ồ! Xong hết rồi, thưa cô. Tôi sẽ bảo một người khuân hành lý dẫn đường cho cô đến phòng chờ VIP”. Người bán vé quay ra sau. “Ikenna! Cái thằng mắc dịch ấy đâu rồi? Ikenna!”
Olanna lắc đầu, cười. “Không cần đâu, bác ạ”. Nàng lại mỉm cười, có vẻ như muốn trấn an ông, để ông hiểu rõ điều này không phải là lỗi của ông và chính nàng cũng không thích ngồi chờ trong phòng VIP.
Phòng đợi chung đông nghẹt người. Olanna ngồi đối diện với ba đứa nhỏ ăn mặc rất sơ sài, nghèo nàn và đi dép. Mấy đứa nhỏ cười rúc rích từng hồi nên bố chúng thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn nghiêm khắc. Một bà cụ có khuôn mặt nhăn nheo, bà của bọn trẻ, ngồi gần Olanna nhất. Bà ôm chặt cứng cái ví, làu bàu nói một mình. Olanna có thể ngửi thấy mùi hăng mốc từ cái áo khoác của bà, chắc là nó được moi trong rương ra, chiếc áo từ khươm mươi niên dành riêng cho những buổi đặc biệt như thế này. Khi giọng nói trong trẻo, rõ ràng thông báo chuyến bay của hãng hàng không Nigeria hạ cánh, người bố nhỏm dậy và lại ngồi xuống.
“Chắc là ông đang chờ ai đó”, Olanna nói với ông bằng tiếng Igbo.
“Vâng, nwanne m, em trai tôi hồi hương sau khi du học bốn năm ở nước ngoài”. Tiếng địa phương Owerri của ông đậm đặc chất nhà quê.
“Thế à!” Olanna nói. Nàng muốn hỏi ông ta xem em ông ấy chính xác là học ở đâu, nhưng nàng đã không hỏi. Có thể ông ta cũng không biết.
Bà cụ quay sang Olanna. “Em nó là người đầu tiên trong làng được đi nước ngoài và người làng chúng tôi chuẩn bị tổ chức một buổi khiêu vũ mừng em nó. Đoàn vũ công sẽ đón chúng tôi ở Ikeduru”. Bà mỉm cười vinh hạnh để lộ hàm răng màu nâu. Giọng của bà còn nặng hơn; khó mà hiểu trọn vẹn những điều bà nói. “Đàn bà quê tôi rất ganh tị, nhưng có phải là lỗi của tôi đâu nếu đầu con họ không có óc, còn con tôi được học bổng của người da trắng”.
Có chuyến bay khác vừa được thông báo hạ cánh và người bố nói, “Chere! Nó đây rồi, nó đây!”
Mấy đứa trẻ đứng dậy và người bố bảo tụi nó ngồi xuống, nhưng chính ông ấy lại đứng dậy. Bà cụ ôm khư khư cái ví vào trong lòng. Olanna nhìn máy bay hạ cánh. Nó chạm mặt đất rồi bắt đầu chạy chậm vào đường bay, bà cụ hét lên và làm rơi cái ví.
Olanna giật mình. “Cái gì thế? Cái gì thế?”
“Mẹ!”, người bố nói. “Tại sao nó không chịu dừng?” Bà hỏi, hai tay ôm lấy đầu, vẻ tuyệt vọng. “Chi m! Lạy Chúa tôi! Tôi xui quá! Họ bắt con tôi đi đâu chứ! Các người lừa dối tôi phải không?”
“Cụ à, máy bay sẽ dừng”, Olanna nói. “Nó phải làm như vậy khi mới hạ cánh”. Nàng nhặt cái ví của bà lên và nắm hai bàn tay chai sạn của bà cụ. “Nó sẽ dừng”, nàng nói thêm lần nữa.
Nàng giữ tay bà trong tay mình cho đến khi máy bay dừng hẳn lại và bà cụ rút tay ra khỏi tay nàng, lầm bầm nói bọn ngu ngốc không biết cách làm máy bay. Olanna nhìn gia đình này vội vàng đi ra cổng đón hành khách đến. Vài phút sau nàng đi ra cổng của mình, khi đi nàng cứ ngoái nhìn lại đằng sau, hy vọng được thấy anh chàng du học. Nhưng không thấy.
Chuyến bay của nàng hơi dằn xóc. Người đàn ông ngồi cạnh nàng đang nhai hạt kola đắng rau ráu, và khi hắn quay sang bắt chuyện, nàng cứ nhích dần ra để tránh hắn, cho đến khi nàng bị ép sát vào góc trong cùng.
“Tôi cần phải nói cho cô biết là cô rất đẹp”, hắn nói.
Nàng mỉm cười, cảm ơn và chúi mắt vào tờ báo. Odenigbo chắc sẽ buồn cười khi nàng kể cho chàng nghe về người đàn ông này, bằng cái cười chế nhạo những người chiêm ngưỡng nàng và với vẻ tự tin không bao giờ lay chuyển. Đó cũng là đặc tính đầu tiên đã thu hút nàng trong một ngày tháng Sáu hai năm về trước ở Ibadan, một ngày mưa, bầu trời khoác tấm áo choàng xanh thẫm của buổi hoàng hôn mặc dù lúc ấy mới chỉ giữa trưa. Nàng từ Anh về nhà nghỉ lễ. Nàng đang có quan hệ rất mật thiết với Mohammed. Lúc đầu nàng không chú ý đến Odenigbo. Nàng đang xếp hàng ở phía trước chàng bên ngoài nhà hát của trường đại học để mua vé. Có thể nàng sẽ chẳng bao giờ để ý đến chàng, nếu không có một người da trắng tóc bạc đứng đằng sau nàng và nếu người bán vé không ra hiệu cho người da trắng này lên trước. “Để tôi giúp ông, thưa ông”, người bán vé nói, trong cách phát âm khôi hài đến khốn khổ cố gắng cho giống giọng người da trắng mà những người ít học hay tập tành.
Olanna bực mình nhưng chỉ chút ít thôi, bởi nàng thấy cả hàng di chuyển cũng khá nhanh. Vì thế nàng rất ngạc nhiên trước cơn giận dữ của người đàn ông mặc bộ âu phục safari và đang kẹp nách một quyển sách: Odenigbo. Chàng đi lên đầu hàng, dẫn người da trắng kia về chỗ cũ của ông ở trong hàng và quát to với người bán vé. “Anh ngu kia! Anh quý người da trắng hơn đồng bào của mình à? Anh phải xin lỗi tất cả những người đang đứng xếp hàng ở đây. Ngay lập tức!”
Olanna ngắm nghía đôi chân mày cong đằng sau cặp mắt kính và thân hình lực lưỡng của chàng; ngay lập tức, nàng đã nghĩ đến chuyện tìm cách nào nhẹ nhàng nhất để thoát khỏi vòng hệ lụy với Mohammed. Có lẽ ngay lúc ấy nàng đã biết là Odenigbo rất khác biệt, kể cả khi chàng không lên tiếng; chỉ riêng mái tóc của chàng cũng đã nói lên điều ấy, nó bừng lên như một vầng hào quang cao quý. Nhưng cũng có một vẻ gì chải chuốt không thể nhầm lẫn được. Chàng không phải là người dùng bộ dạng lôi thôi để biểu lộ tính cực đoan của mình. Nàng mỉm cười và nói, “Hay lắm!”, khi chàng đi qua chỗ nàng đứng và đó là điều bạo gan nhất của nàng từ trước đến giờ - chủ động bắt chuyện với một người đàn ông. Chàng dừng lại và tự giới thiệu. “Tôi tên là Odenigbo”.
“Tôi là Olanna”, nàng nói. Về sau, nàng kể cho chàng nghe là ngay lúc đó, nàng cảm giác như có một phép nhiệm màu nổ lách tách trong không gian và chàng cũng kể cho nàng biết là lúc ấy chàng bỗng thèm muốn nàng vô cùng, thèm muốn đến độ chỗ ấy của chàng nhức nhối.
Khi đến lúc chính nàng cảm thấy ham muốn, nàng ngạc nhiên hơn bất cứ điều gì. Nàng không biết là sự xâm nhập của một người đàn ông có thể làm ngưng cả trí nhớ, và rất có thể dừng ở chỗ mà nàng không thể suy nghĩ hay hồi tưởng mà chỉ có thể cảm nhận. Cảm giác này không hề thay đổi sau hai năm, và cả cái say đắm sững sờ của nàng về cái bản tính tự tin kỳ cục hay lòng tôn trọng đạo đức rất mạnh mẽ của chàng, cũng không hề suy chuyển. Nhưng nàng lo rằng, sự say đắm này vẫn còn, bởi vì đây là thứ tình yêu mà hai người chỉ được phép nhấm nháp dè sẻn từng miếng nhỏ. Nàng gặp chàng khi nàng về nhà nghỉ lễ; họ viết thư cho nhau, họ nói chuyện điện thoại với nhau. Bây giờ nàng trở lại Nigeria, hai người có thể sống chung với nhau, và nàng không hiểu làm thế nào mà chàng không có vẻ hoang mang, lo âu. Chàng quá tự tin.
Nàng nhìn những đám mây bên ngoài ô cửa sổ, những cụm khói thật dày bay nhẹ nhàng xung quanh và nghĩ chúng dễ tan vỡ đến chừng nào.
* * * * *
Olanna không có ý định dùng cơm tối với bố mẹ bởi vì hai ông bà mời cả Ngài Okonji. Nhưng mẹ nàng vào phòng dỗ dành nàng ra ăn cơm cùng cả nhà; không phải ngày nào bố mẹ nàng cũng mời ông Bộ trưởng Bộ Tài chính và bữa ăn tối này càng quan trọng hơn nữa bởi vì bố nàng đang nhắm nhe vào cái hợp đồng xây dựng. “Biko, mặc cái gì thật đẹp nhé. Kainene cũng sẽ diện đẹp nữa”, mẹ nàng nói thêm, làm như nếu nói tên người chị song sinh thì mọi chuyện sẽ được hợp thức hóa vậy.
Lúc này, Olanna kéo cho tờ khăn ăn vuông vắn trên đùi nàng và mỉm cười với người hầu bàn đang đặt đĩa bơ được bổ ra làm đôi cạnh nàng. Bộ đồng phục trắng của anh ta được nhuộm hồ cứng đến độ nó giống như được làm bằng giấy cứng.
“Cảm ơn anh, Maxwell”, nàng nói.
“Vâng, thưa cô”, Maxwell nói lúng búng rồi tiếp tục mang cái khay đi.
Olanna nhìn quanh bàn. Cha mẹ nàng đang dồn hết sự chú ý vào ông Bộ trưởng Okonji, gật đầu sốt sắng lúc ông ta kể buổi họp gần đây với Thủ tướng Balewa. Kainene đang săm soi đĩa của mình bằng cái nhướng mày rất đặc biệt của nàng, như thể nàng đang chế nhạo quả bơ. Chẳng ai buồn nói một lời cảm ơn với Maxwell. Olanna ước gì mọi người nói một lời cảm ơn; đó là việc rất đơn giản, rất dễ làm, nhìn nhận những người phục vụ cũng là con người. Nàng đã gợi ý một lần, nhưng bố nàng nói là ông đã trả lương rất hậu cho họ, còn mẹ nàng nói cảm ơn họ là mở đường cho họ hỗn hào với mình, trong khi Kainene, như thường lệ, không nói một lời nào, mặt đầy vẻ ngán ngẩm.
“Từ trước đến nay, đây là quả bơ ngon nhất mà tôi được thưởng thức”, ông Bộ trưởng Okonji nói.
“Bơ này được hái từ nông trại của chúng tôi đấy”, mẹ nàng nói. “Cái nông trại ở gần Asaba”.
“Tôi sẽ bảo anh bồi gói một ít cho ông”, bố nàng nói.
“Rất tuyệt”, ông Bộ trưởng nói. “Olanna, tôi hy vọng là cô cũng thích món ăn này, có đúng thế không? Cô nhìn nó chằm chằm như là nó biết cắn vậy”. Ông ấy cười, tiếng cười rổn rảng, và bố mẹ nàng như được gợi ý cũng cười phụ họa.
“Ngon lắm!” Olanna nhìn lên. Có cái gì đó khá nhớp nháp trong nụ cười của ông Bộ trưởng. Tuần trước, khi ông ta nhét cái danh thiếp của mình vào tay nàng ở Câu lạc bộ Ikoyi, nàng đã lo lắng về cái cười này bởi vì nàng có cảm tưởng cách cử động cặp môi của ông có thể làm nước miếng đầy tràn miệng và đe dọa sẽ chảy xuống cằm.
“Tôi hy vọng cô sẽ đến làm việc cho Bộ Tài chính của chúng tôi, Olanna. Chúng tôi cần những bộ óc thông minh hạng nhất như của cô”, Bộ trưởng Okonji nói.
“Không có mấy người được Bộ trưởng Bộ Tài chính đích thân mời làm việc đâu”, mẹ nàng nói, không trực tiếp với ai cả, và nụ cười làm sáng rực gương mặt trái xoan với nước da bóng như màu đồng đen của bà, gần như tuyệt hảo, thật hài hòa, đến độ bạn bè gọi bà là Mỹ Nhân.
Olanna đặt thìa xuống. “Con quyết định đi Nsukka. Trong vòng hai tuần nữa con sẽ đi”.
Nàng nhìn thấy cái cách bố nàng mím chặt môi. Cánh tay của mẹ nàng như bị treo lơ lửng giữa không trung bởi cái tin quá buồn thảm này khiến bà không thể tiếp tục rắc muối được nữa. “Mẹ tưởng con còn đang suy nghĩ”, mẹ nàng nói.
“Con không thể phí thì giờ nhiều quá, nếu không họ sẽ mời người khác”, Olanna nói.
“Nsukka? Đúng không? Cô quyết định dọn đến Nsukka?” Bộ trưởng Okonji hỏi.
“Vâng. Tôi gửi đơn xin một chân dạy học ở ban Xã hội học và tôi mới vừa được chấp thuận”, Olanna nói. Nàng thường thích ăn trái bơ không có muối, nhưng hôm nay nó nhạt nhẽo, vô vị đến mức buồn nôn.
“Ồ! Thế là cô bỏ chúng tôi ở Lagos”, Bộ trưởng Okonji nói. Mặt ông ta như chảy dài ra và tự thun lại. Rồi ông quay sang Kainene, hỏi một cách rất vui vẻ, “Còn cô thì thế nào, Kainene?”.
Kainene nhìn thẳng vào mắt Bộ trưởng Okonji, nhìn chòng chọc, không trả lời. Cái nhìn không biểu lộ chút tình cảm nào cả, trống rỗng đến độ gần như là thù nghịch. “Tôi ấy à?”, nàng nhướng mày. “Tôi cũng sẽ dùng cái bằng cấp mới keng của tôi vào một việc hữu ích. Tôi sẽ về Port Harcourt để quản lý công việc của bố tôi ở đó”.
Olanna ước gì mình vẫn còn những hình ảnh ngắn lóe lên trong đầu khi nàng biết Kainene đang suy nghĩ gì. Khi hai người đang học tiểu học, đôi lúc cả hai nhìn nhau rồi cười phá lên mà không cần phải nói gì với nhau, bởi vì cả hai cùng đang nghĩ đến một chuyện buồn cười. Nàng không chắc bây giờ Kainene có còn những hình ảnh lóe lên trong đầu như thế không, bởi vì hai chị em không còn nói đến những chuyện đại loại như vậy nữa. Hai người cũng không còn nói với nhau bất cứ chuyện gì.
“Vậy là Kainene sẽ trông nom xưởng sản xuất xi măng?” Bộ trưởng Okonji quay sang bố nàng, hỏi.
“Cháu nó sẽ quản lý tất cả mọi hoạt động sản xuất ở miền Đông, các xưởng sản xuất và các cơ xưởng mới đầu tư về dầu hỏa. Cháu nó rất có khiếu kinh doanh”.
“Ai mà nói là người ta thiệt thòi rất nhiều khi có con gái sinh đôi là nói láo”, Bộ trưởng Okonji nói.
“Kainene nhà tôi đáng giá bằng hai thằng con trai đấy”, bố nàng nói. Ông liếc nhìn Kainene và Kainene nhìn sang hướng khác, làm như sự hãnh diện bộc lộ rõ ràng trên mặt ông chẳng có nghĩa lý gì, và Olanna nhanh chóng tập trung vào đĩa thức ăn của nàng để cả bố nàng và Kainene không biết là nàng đang nhìn trộm hai người. Bộ đĩa rất trang nhã, xanh nhạt, cùng màu với quả bơ.
“Thế thì tại sao quý vị không cùng đến nhà tôi vào cuối tuần này nhỉ?” Bộ trưởng Okonji hỏi. “Để nếm thử món canh cá nấu ớt của người đầu bếp nhà tôi. Anh bếp này ở Nembe; anh ta biết phải làm những gì với cá tươi”.
Bố mẹ nàng cười như nắc nẻ. Olanna không biết chắc câu chuyện có đáng để cười hay không, nhưng nghĩ cho cùng, đó là lời khôi hài của ông Bộ trưởng.
“Ý kiến này rất hay”, bố Olanna nói.
“Nếu tất cả chúng ta cùng đi trước khi Olanna lên đường tới Nsukka thì hay biết mấy”, mẹ nàng nói.
Olanna thấy khó chịu, như là có gì châm vào da nàng. “Con rất thích tham dự, nhưng rất tiếc cuối tuần này con không ở nhà”.
“Con không ở nhà ư?” Bố nàng hỏi. Nàng tự hỏi không biết đôi mắt của ông có biểu lộ một lời cầu khẩn tuyệt vọng chăng. Nàng cũng tự hỏi không biết bố mẹ nàng đã hứa hẹn chuyện tình cảm của nàng với Bộ trưởng Okonji như thế nào để đánh đổi một hợp đồng. Không biết họ nói trắng phớ ra hay chỉ ngầm ám chỉ?
“Con định đi Kano thăm cậu Mbaezi và gia đình cậu. Nhân thể con ghé thăm Mohammed luôn”, nàng nói.
Bố nàng xiên phần bơ của ông. “Bố hiểu”.
Olanna nhấm nháp ly nước và không nói gì.
Ăn tối xong, họ ra ngoài ban công uống rượu. Olanna thích cái thói quen sau bữa ăn tối này. Nàng thường rời cha mẹ và khách đến đứng cạnh lan can, nhìn mấy cột đèn cao đang soi sáng những con đường nhỏ phía dưới, sáng đến độ cái hồ tắm nhìn giống như màu bạc và đám dâm bụt cùng hàng hoa giấy thấm đẫm một lớp ánh sáng rực rỡ nhuộm lên màu đỏ hồng của chúng. Lần đầu tiên cũng là lần duy nhất Odenigbo đến thăm nàng ở Lagos, họ đã đứng nhìn xuống hồ bơi; Odenigbo ném một cái nút chai xuống và nhìn nó rơi. Chàng uống rất nhiều rượu brandy, và khi bố nàng nói rằng chuyện thành lập trường Đại học Nsukka nghe thật khôi hài, rằng Nsukka chưa đến lúc cần phải có một trường đại học của địa phương, nhận sự hỗ trợ của một trường đại học Mỹ - thay vì một trường đại học Anh, chàng đã lớn tiếng bác bỏ. Olanna cứ tưởng là chàng sẽ nhận ra rằng bố nàng chỉ muốn chọc giận chàng, và ngầm nói cho chàng biết ông không có mấy ấn tượng cho dù chàng là giảng viên có thâm niên của trường Đại học Nsukka. Nàng tưởng Odenigbo sẽ làm thinh, mặc cho bố nàng muốn nói gì thì nói. Nhưng chàng lại lên giọng to hơn và càng to hơn nữa khi chàng cãi lý là chúng ta nên có một trường Đại học Nsukka thoát khỏi sự ảnh hưởng, kìm hãm của thực dân. Nhiều lần nàng nháy mắt ngầm bảo chàng ngừng lại, mặc dù có thể chàng không nhìn thấy vì ngoài hàng hiên không sáng mấy. Cuối cùng điện thoại reo và cuộc trò chuyện chấm dứt. Trong mắt của bố mẹ nàng hiện lên vẻ nể nang đầy miễn cưỡng, Olanna nhận thấy thế, nhưng điều đó cũng không ngăn được bố mẹ nàng nói cho nàng biết rằng Odenigbo hơi khùng khùng và không thích hợp với nàng, rằng chàng là một trong những kẻ bồng bột, thích tranh cãi dai dẳng cho đến khi mọi người đều bị đau đầu mà không còn ai hiểu là họ đã cãi về vấn đề gì.
“Một đêm thật là mát mẻ”, Bộ trưởng Okonji nói phía sau nàng. Olanna quay lại. Nàng không biết bố mẹ nàng và Kainene đã vào trong từ lúc nào.
“Vâng”, nàng nói.
Bộ trưởng Okonji đứng trước nàng. Bộ agbada [4] được thêu chỉ vàng xung quanh cổ. Nàng nhìn cổ ông, lún vào trong những cuộn mỡ, và tưởng tượng ông phải lật phía dưới mấy cuộn mỡ này khi ông tắm.
“Ngày mai thì sao? Có một buổi tiệc cocktail ở khách sạn Ikoyi”, ông ta nói. “Tôi muốn tất cả mọi người đến gặp một số nhà chính trị lưu vong. Họ tìm đất và tôi có thể thu xếp cho họ mua đất của bố cô với giá cao gấp năm hay sáu lần”.
“Ngày mai tôi phải giúp Hội Từ thiện Thánh Vincent de Paul gây quỹ”.
Bộ trưởng Okonji sát lại gần. “Tôi không thể nào không nghĩ đến em”, ông ta nói, hơi rượu phả vào mặt nàng.
“Tôi không thích chuyện này, thưa ông”.
“Tôi không thể nào không nghĩ đến em”, Bộ trưởng Okonji lặp lại. “Này nhé, em không nhất thiết cứ phải làm việc trong Bộ. Tôi có thể bổ nhiệm em về ban Giám đốc, hoặc bất cứ ban nào em muốn, và tôi sẽ mua cho em một căn nhà với tất cả những thứ cần thiết ở bất cứ chỗ nào em thích”. Ông ta kéo nàng vào lòng và nàng để yên trong một khoảng thời gian ngắn, thân hình của nàng miễn cưỡng ép vào người ông ta. Nàng đã quen với những trường hợp bị các gã đàn ông nghênh ngang sặc sụa mùi nước hoa ôm chầm lấy, như ngụ ý, vì họ có quyền lực và nàng có nhan sắc, họ phải đẹp đôi với nhau. Nàng đẩy ông ta ra, một lúc sau, và mơ hồ cảm thấy buồn nôn khi bàn tay nàng lún vào bộ ngực mềm nhão của ông ta. “Đủ rồi, thưa Bộ trưởng”.
Mắt ông ta nhắm lại. “Tôi yêu em, tin tôi đi. Tôi thật sự yêu em”.
Nàng thoát ra khỏi vòng tay của ông rồi đi vào trong nhà. Giọng của bố mẹ nàng nghe văng vẳng từ phòng khách. Nàng dừng lại một chút, ghé mũi ngửi mấy đóa hoa sắp tàn trong cái bình đặt trên bàn bên cạnh cầu thang, dù rằng nàng cũng biết có thể chúng không còn mùi thơm nữa, trước khi đi lên lầu. Căn phòng nàng có vẻ gì xa lạ, màu gỗ ấm, bàn ghế màu nâu, thảm lót từ góc này đến góc kia màu rượu vang mềm mại dưới chân nàng, một vùng không gian có thời đã làm cho Kainene đặt tên phòng của hai người là tòa nhà. Tờ báo Lagos Life vẫn còn ở trên giường; nàng nhặt nó lên và nhìn tấm ảnh chụp chung với mẹ, ở trang năm. Hai người có vẻ hài lòng và không mấy bận tâm, ở một buổi tiệc cocktail do ngài Cao ủy người Anh chiêu đãi. Mẹ kéo nàng sát vào người bà khi anh chụp ảnh đến gần; lúc sau, sau khi đèn flash đã tắt, Olanna gọi người chụp ảnh đến và yêu cầu anh ta đừng đăng ảnh của hai mẹ con. Anh ta nhìn nàng với vẻ rất lạ lùng, khó hiểu. Bây giờ nàng nhận ra rằng chuyện nàng yêu cầu anh ta rất kỳ cục; dĩ nhiên anh ta không bao giờ có thể hiểu được cái cảm giác khó chịu khi bị trở thành vật trang điểm cho cái bề ngoài bóng bẩy của cuộc đời bố mẹ mình.
Nàng đang nằm đọc sách lúc mẹ gõ cửa.
“Ồ, con đang đọc sách à?”, mẹ nàng nói. Mẹ đang cầm trên tay một xấp vải. “Ông Bộ trưởng vừa về. Ông ấy gửi lời chào con”.
Olanna muốn hỏi là bố mẹ có hứa sẽ gả nàng cho ông ta hay không, nhưng nàng biết mình sẽ không bao giờ nêu câu hỏi. “Vải gì thế mẹ?”
“Ông Bộ trưởng bảo tài xế ra xe mang vào trước khi ông ấy về. Đây là loại đăng ten mới nhất ở châu Âu. thấy không? Rất đẹp, i fukwa?
Olanna kẹp thử giữa mấy ngón tay. “Vâng, đẹp lắm”.
“Con có nhìn thấy loại đăng ten ông ấy mặc hôm nay không? Chính gốc! Ezigbo!” Mẹ ngồi xuống cạnh nàng. “Con có biết là người ta nói rằng ông ấy chẳng bao giờ mặc bộ quần áo nào đến lần thứ hai? Ông đem cho những người giúp việc trong nhà sau khi đã mặc một lần”.
Olanna thử tưởng tượng ra đám người giúp việc tội nghiệp của ông ta. Mấy cái rương gỗ đựng quần áo của họ chứa đầy đăng ten không thích hợp mà cũng không dùng được. Olanna biết chắc chắn là lương tháng của mấy anh giúp việc này chẳng được bao nhiêu. Họ thừa hưởng nào là những chiếc áo choàng vô dụng, nào là agbada không bao giờ dùng được. Nàng mệt mỏi. Nói chuyện với mẹ làm nàng mệt mỏi.
“Con muốn cái nào, nne? Mẹ sẽ may áo và váy dài cho hai chị em”.
“Không, mẹ đừng lo cho con. May cái gì đó cho mẹ ấy. Con sẽ không hay mặc quần áo có gắn nhiều đăng ten ở Nsukka đâu”.
Mẹ rê ngón tay dọc theo cạnh bàn. “Cái con sen nhà mình không biết cách lau bàn ghế. Chắc nó tưởng mẹ trả tiền cho nó ăn không ngồi rồi đấy?”
Olanna đặt quyển sách xuống. Mẹ nàng đang muốn nói gì đó, nàng có thể đoán ra, với nụ cười nhiều ẩn ý, cử chỉ đầy vẻ câu nệ, hình thức, là những dấu hiệu bắt đầu.
“Odenigbo thì như thế nào?”
“Anh ấy cũng bình thường”.
Mẹ nàng thở dài, rất dài, ý rằng bà ước gì Olanna hiểu được lý do. “Con đã cân nhắc kỹ việc dọn đến ở Nsukka chưa? Rất cẩn thận chưa đấy?”
“Con chưa bao giờ chắc chắn hơn lúc này”.
“Nhưng liệu con có sống thoải mái ở đó không?” Mẹ nàng nói chữ thoải mái với một cái nhún vai rất nhẹ và Olanna suýt mỉm cười bởi vì mẹ cứ như in trong đầu cái hình ảnh trơ trụi trong căn hộ của Odenigbo ở trường đại học, mấy cái phòng chắc chắn nhưng thô kệch, bàn ghế sơ sài và nền nhà không trải thảm.
“Con sẽ rất thoải mái”, nàng nói.
“Con có thể tìm việc làm ở đây, ở Lagos và cuối tuần thì đi thăm cậu ấy”.
“Con không muốn làm việc ở Lagos. Con muốn làm cho trường đại học và con muốn sống chung với anh ấy”.
Mẹ nhìn nàng một hồi lâu trước khi bà đứng dậy và nói, “Ngủ ngon nhé. Con gái của mẹ”, bằng một giọng nhỏ nhẹ và đầy vẻ tủi thân.
Olanna chăm chăm nhìn cánh cửa. Nàng đã quen với việc mẹ không tán thành quyết định của nàng; điều đó đã phần nào ảnh hưởng đến những quyết định trọng đại của nàng; sau những chuyện như: khi nàng chọn hai tuần bị phạt ở nhà không được đi học thay vì xin lỗi cô hiệu trưởng trường Heathgrove về việc nàng cứ nhất định cho là những bài học về Pax Britannica [5] không hợp lý và đầy mâu thuẫn; khi nàng gia nhập phong trào học sinh đòi quyền tự trị ở Ibadan, khi nàng từ chối kết hôn với con trai của Igwe Okagbue, rồi đến con trai Ông Trùm Okaro. Tuy nhiên, đồng thời với sự phản ứng, nàng vẫn muốn nói lời xin lỗi và cố thực hiện hành động này bằng một cách nào đó.
Nàng đã thiu thiu ngủ khi Kainene gõ cửa. “Thế nào? Em có chịu chấp nhận làm người tình của ông ta để đánh đổi cái hợp đồng cho bố không?” Kainene hỏi.
Olanna ngồi bật dậy, ngạc nhiên. Nàng không còn nhớ lần cuối cùng Kainene vào phòng nàng.
“Bố kéo chị ra khỏi hàng hiên, để em được ở lại một mình với cái ông Bộ trưởng tốt bụng ấy”, Kainene nói. “Thế ông ta có ký cho bố cái hợp đồng đó không?”
“Ông ta không nói gì về việc ấy. Nhưng mà ông ta đâu có đi về tay không. Bố chia cho ông ta mười phần trăm đấy chứ”.
“Mười phần trăm là mức chuẩn tối thiểu, có cái gì thêm vẫn tốt hơn. Những người khác cũng nộp giá hợp đồng, nhưng có thể họ không có con gái xinh”. Kainene kéo dài giọng khi nói chữ xinh làm cho nó có vẻ nhạo báng, dính rin rít: x-i-n-h. Nàng đang lật từng trang của tờ Lagos Life, cái dây thắt ngang áo ngủ bằng lụa để lộ vòng eo thon thả. “Cái tiện lợi của một cô gái xấu là không có ai dùng nó như miếng mồi nhử dục tình”.
“Em không nghĩ bố mẹ dùng em làm mồi nhử dục tình”.
Kainene làm thinh không trả lời một hồi lâu; dường như nàng tập trung tư tưởng vào một bài báo. Rồi nàng ngẩng lên. “Richard cũng đi Nsukka. Anh ấy nhận được học bổng, và anh ấy sẽ ở đó để viết sách”.
“Ồ, thế thì tốt quá. Như thế là chị sẽ đến Nsukka thường xuyên?”
Kainene không trả lời. “Richard không quen ai ở Nsukka, em có thể giới thiệu anh ấy với người tình cách mạng của em”.
Olanna mỉm cười. Người tình cách mạng. Chỉ Kainene mới có thể nói những chuyện như thế này với vẻ mặt thật nghiêm trang! “Em sẽ giới thiệu họ với nhau”, nàng nói. Nàng chưa bao giờ thích mấy người bạn trai của Kainene. Nàng cũng không thích Kainene cặp kè với quá nhiều gã da trắng ở Anh. Cái vẻ khinh thị của chúng được ngụy trang một cách sơ sài, những lời khen ngợi tán đồng giả tạo của chúng làm nàng khó chịu. Tuy thế khi Kainene mời Richard Churchill đến dùng bữa tối, nàng không đối xử với chàng như cách nàng vẫn làm với những người kia. Có lẽ bởi vì Richard không có cái vẻ trịch thượng quen thuộc của người Anh; họ cứ tưởng là họ hiểu người Phi châu hơn là người Phi châu tự hiểu chính mình. Chàng có vẻ gì khá bấp bênh, chênh vênh một cách dễ thương - gần như là thẹn thùng. Rất có thể cũng tại bố mẹ nàng chẳng để ý đến Richard; chàng không tạo nổi một ấn tượng tốt nào bởi vì chàng chẳng quen biết một người nào có máu mặt cả.
“Em nghĩ Richard sẽ thích nhà của Odenigbo”, Olanna nói.
“Tối tối, nhà anh ấy giống như là một câu lạc bộ chính trị vậy. Ban đầu, anh ấy chỉ mời người Phi châu, mặc dù trường đại học có đầy những người ngoại quốc; anh ấy muốn người Phi châu có cơ hội để tìm hiểu lẫn nhau. Lúc ấy, mỗi người tự mang theo thức uống mà họ thích nhưng bây giờ anh ấy đề nghị mọi người góp tiền, mỗi tuần anh ấy sẽ mua thức uống và họ họp mặt ở nhà của anh ấy”. Olanna ngừng nói. Kainene nhìn nàng, tưởng như nàng đã vi phạm luật lệ ngầm giữa hai người và nàng tự ngừng cuộc nói chuyện bâng quơ.
Kainene đi ra cửa. “Bao giờ em đi Kano?”
“Ngày mai”. Olanna muốn Kainene nấn ná thêm chút nữa, ngồi lên giường, ôm gối vào lòng, nói chuyện tầm phào và cười rúc rích suốt đêm.
“Đi bình an, jee ofuma. Chị gửi lời chào cậu mợ và Arize”.
“Vâng”. Olanna nói, mặc dù Kainene đã đi ra và đóng cửa lại. Nàng lắng tai nghe tiếng chân của Kainene ở hành lang có trải thảm. Chỉ lúc này, sau khi hai người trở về từ Anh, cùng sống dưới một mái nhà, Olanna mới nhận rõ hai chị em đã trở nên xa cách quá. Từ nhỏ, Kainene đã là một đứa con rất ít lời, luôn cau có, gắt gỏng và bướng bỉnh. Một đứa con mà bởi vì nó không chịu chiều ý, làm vui lòng cha mẹ nên nó đã trao hết những bổn phận đó cho Olanna. Nhưng mặc dù thế cả hai chị em vẫn rất thân với nhau, thậm chí đã từng là bạn của nhau. Nàng tự hỏi không biết tình cảm của hai người thay đổi từ lúc nào. Trước khi hai người qua Anh học, chắc chắn, bởi vì hai người không có người bạn chung nào ở London. Có thể bắt đầu từ năm thứ hai ở trường Đại học Heathgrove. Có thể trước cả lúc ấy nữa. Chẳng có việc gì xảy ra cả. Chẳng có cuộc cãi vã to tát nào hết, không có sự kiện quan trọng nào - chỉ là hai người cứ dần dần xa cách nhau, nhưng chính Kainene là người nhất định cố giữ khoảng cách để hai người không thể trở lại gần nhau.

Olanna không đi Kano bằng máy bay. Nàng thích ngồi cạnh cửa sổ xe lửa để nhìn cánh rừng rậm trôi vụt qua, những cánh đồng cỏ trải rộng bát ngát, những đàn gia súc ve vẩy đuôi, những người chăn gia súc phanh trần ngực áo. Đến Kano, nàng lại một lần nữa nhận ra rằng Kano rất khác Lagos, rất khác Nsukka, khác quê nàng ở Umunnachi, rằng miền Bắc nói chung hoàn toàn khác biệt với miền Nam. Ở đây cát mịn, xám, và bị nắng cháy xém, không giống như đất đỏ đóng thành khối ở quê nhà; cây mọc cao vừa phải thôi, không giống cây cỏ xanh um mọc tưng bừng và tỏa bóng mát trên đường đến Umunnachi. Ở đây, miền đồng bằng bao la tăm tắp những dặm dài, mời gọi người ta mê mải nhìn xa cho đến khi gặp chân trời trắng bạc.
Nàng bắt taxi từ trạm xe lửa rồi dặn anh tài xế dừng ở chợ trước để nàng chào cậu Mbaezi.
Trên con đường hẹp đến chợ, nàng len lỏi giữa đám con trai nhỏ đầu đội những thúng rất to và nặng, những người đàn bà đang cò cưa trả giá, người mua kẻ bán hét hò. Một cửa hàng bán đĩa nhạc đang mở Tân nhạc rất to và nàng hơi chậm lại để hát theo bài Taxi Driver của Bobby Benson, trước khi vội vã đến gian hàng của cậu. Mấy kệ chứa hàng của cậu xếp đầy những chậu nhỏ và đồ dùng trong nhà.
“Omalicha!”, cậu nói khi nhìn thấy nàng. Đó cũng là từ cậu vẫn gọi mẹ nàng - Mỹ Nhân! “Cậu đang nghĩ đến cháu. Cậu biết thế nào cháu cũng đến thăm gia đình cậu”.
“Chào cậu ạ”.
Hai người khẽ ôm nhau. Olanna dựa đầu vào vai cậu, ngửi thấy mùi mồ hôi, mùi chợ nhóm họp ngoài trời, mùi đồ vật đóng đầy bụi đặt trên kệ để bán.
Khó mà tưởng tượng được cậu Mbaezi và mẹ nàng là hai chị em cùng lớn lên dưới một mái nhà. Không những chỉ vì da của cậu ít đen hơn và không có chút vẻ đẹp nào của mẹ, mà còn vì cái phong cách thật thà, chân chất của cậu. Đôi khi Olanna tự hỏi không biết mình có yêu quý cậu nhiều đến mức này nếu cậu không quá khác biệt với mẹ nàng.
Bất cứ khi nào nàng đến thăm, cậu Mbaezi cũng ngồi với nàng ngoài sân sau khi ăn tối và kể cho nàng nghe những tin mới nhất về họ hàng - một người em họ có thai mà chưa lập gia đình, và cậu muốn cô ấy về ở nhà cậu để tránh tiếng thị phi ác độc của người trong làng; một người cháu trai mới chết ở đây, Kano, và cậu đang tìm cách nào ít tốn kém nhất để mang xác đứa cháu ấy về làng. Hoặc là cậu kể cho nàng nghe chuyện chính trị, Cộng đồng Igbo đang tổ chức, biểu tình, thảo luận những gì. Họ nhóm họp trong sân nhà cậu. Nàng có tham dự vài buổi họp, và nàng vẫn còn nhớ những buổi họp có nhiều người đàn ông và cả đàn bà tỏ ra rất giận dữ khi trường miền Bắc không nhận học sinh người Igbo. Cậu Mbaezi đã đứng phắt dậy và dậm chân. “Ndi be anyi! Thưa bà con! Chúng ta sẽ xây trường học của chúng ta! Chúng ta sẽ quyên tiền và xây trường của chúng ta”. Sau khi cậu nói, Olanna đã nhập bọn, vỗ tay tán thành và kêu lên, “Nói rất đúng. Chuyện sẽ diễn tiến như thế”. Nhưng nàng lo lắng là việc xây trường rất khó khăn. Có lẽ cố gắng thuyết phục người miền Bắc thu nhận học sinh Igbo thì dễ thực hiện hơn.
Tuy thế, bây giờ chỉ sau có vài năm, chiếc taxi của nàng vừa chạy ngang trường tiểu học Cộng đồng Igbo trên đường Airport. Đang giờ ra chơi, sân trường đầy trẻ em. Đám con trai đang chơi đá bóng, mấy đội khác nhau nhưng chơi cùng sân nên có nhiều quả bóng đang bay bổng trên trời. Olanna tự hỏi làm thế nào chúng có thể phân biệt quả bóng nào là của đội nào. Mấy nhóm con gái đang ở gần đường hơn chơi ogaswell, vỗ tay nhịp nhàng khi chúng nhảy trên một chân rồi thay thế bằng chân bên kia. Trước khi taxi đỗ bên ngoài khu chung cư ở Sabon Gari, Olanna nhìn thấy mợ Ifeka đang ngồi ở quầy hàng của mợ bên cạnh đường. Mợ Ifeka lau tay vào cái áo khoác đã bạc màu của mình rồi ôm lấy Olanna, đẩy nàng ra một chút để ngắm nàng rồi lại ôm lấy nàng. “Olanna của cậu mợ!”
Kedu? Mợ khỏe không?”
“Mợ còn khỏe hơn lúc nãy, nhờ gặp cháu đấy”.
“Arize đi học may chưa về mợ nhỉ?”
“Nó sắp về rồi”.
“Em ấy có khỏe không? O na-agakwa? Lớp học may của em ấy có tốt không?”
“Trong nhà toàn những mẫu nó cắt may đấy”.
“Thế còn Odinchezo và Ekene?”
“Chúng vẫn ở đấy. Tuần trước chúng về thăm nhà và có hỏi cháu”.
“Maiduguri có đối xử tử tế không? Công việc buôn bán của hai em có tiến triển tốt đẹp không?”
“Chưa nghe nói đến chuyện tụi nó chết đói”, mợ Ifeka nói, hơi nhún vai. Olanna quan sát vẻ mặt chân chất của mợ, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi đầy tội lỗi, nàng ước gì mợ Ifeka là mẹ của mình. Mà mợ Ifeka cũng chẳng khác gì mẹ của nàng, đúng là như vậy đấy, bởi vì cả nàng và Kainene đều bú mợ khi mẹ nàng bị cạn sữa ngay sau khi sinh hai chị em. Kainene thường hay nói là mẹ không bị cạn sữa nhưng giao cho mợ nuôi bởi vì mẹ không muốn ngực của mình bị xệ.
“Vào đi, ada anyi”, mợ Ifeka nói. “Vào nhà nào!” Mợ kéo mấy cái cửa gỗ của quầy hàng xuống che khuất mấy thùng diêm, kẹo cao su, bánh kẹo, thuốc lá, bột giặt, rồi xách cái túi của Olanna, dẫn nàng vào trong sân. Căn nhà hẹp không sơn. Quần áo giăng bên ngoài để phơi cho khô, không hề lay động, cứng ngắc, dường như bị sấy khô bởi nắng chiều. Mấy cái lốp xe cũ, loại mà tụi nhỏ lấy chơi, đang được chất đống dưới cây kuka. Olanna biết sự tĩnh lặng này sẽ thay đổi nhanh chóng khi đám trẻ đi học về. Các gia đình để cửa mở, hàng hiên và nhà bếp tràn ngập tiếng nói cười. Gia đình cậu Mbaezi sống trong hai phòng. Trong phòng đầu tiên, nơi bộ ghế sofa cũ nát được đẩy dạt sang một bên để có chỗ trải chiếu, Olanna mở quà nàng mang theo - bánh mì, giày, mấy lọ kem - trong khi mợ Ifeka đứng nhìn, tay chắp sau lưng. “Mợ mong có người chăm lo cho cháu. Mong sao có người chăm lo cho cháu tôi”, mợ Ifeka nói.
Một lúc sau Arize về và Olanna chuẩn bị tư thế đứng cho vững vàng để cái ôm mừng rỡ của Arize không làm nàng ngã.
“Chị! Đáng lẽ chị phải nói cho mọi người biết trước là chị đến. Để ít nhất là tụi em cũng quét sân cho sạch sẽ. A! Chị ơi! Aru amaka gi! Chị có vẻ khỏe đấy! Em có nhiều chuyện để kể lắm!”
Arize cất tiếng cười lanh lảnh. Thân hình tròn trịa của cô nàng, cánh tay tròn lẳn rung rinh khi cô nàng cười. Olanna ôm cô nàng thật chặt. Nàng có cảm giác mọi việc đều ổn thỏa, theo đúng cách của chúng, ngay cả khi sự ổn thỏa này bị đảo lộn đôi lần, nhưng cuối cùng thì mọi việc cũng lại đâu vào đấy. Đó là lý do nàng hay đến Kano, một nơi thanh bình. Khi mắt của mợ Ifeka bắt đầu ngó nghiêng khắp nơi trong sân, nàng biết là mợ đang tìm một con gà ưng ý. Mợ Ifeka luôn giết một con gà khi nàng đến thăm, ngay cả khi đó là con gà cuối cùng mợ có. Con gà đang chạy phóng trong sân, lông có một vài vệt sơn đỏ để phân biệt với mấy con gà của lối xóm, thường được cột một miếng vải vào cánh hay sơn màu khác. Olanna không phản đối việc giết gà nữa, cũng như nàng không còn phản đối cậu Mbaezi và mợ Ifeka ngủ trên chiếu, bên cạnh những người bà con khác, hình như lúc nào cũng có người đến ở tạm với cậu mợ, để dành giường cho Olanna.
Mợ Ifeka đi nhẹ nhàng đến cạnh con gà nâu, rồi nhanh như chớp chộp cổ nó và đưa cho Arize đem đi làm thịt ở sân sau. Họ ngồi bên ngoài nhà bếp trong khi Arize nhổ lông gà, mợ Ifeka thổi trấu lẫn trong gạo. Một người láng giềng đang luộc ngô, thỉnh thoảng nước sôi trào ra, lửa trong lò kêu xèo xèo. Trẻ con chơi đùa trong sân làm bụi bốc lên mù mịt; chúng hò hét inh ỏi. Có một đám đánh nhau dưới cây kuka, Olanna nghe đám trẻ cãi lộn văng tục bằng tiếng Igbo.
Mặt trời trở nên đỏ rực trước khi chìm xuống lúc cậu Mbaezi về đến nhà. Cậu gọi Olanna ra chào bạn cậu là Abdulmalik. Trước đây, Olanna đã gặp người đàn ông Hausa này một lần; ông ấy bán dép da gần quầy hàng của cậu Mbaezi trong chợ, nàng đã mua vài đôi và mang sang London nhưng không hề đi bởi vì lúc đó đang giữa mùa đông.
“Cháu Olanna mới vừa lấy bằng Thạc sĩ ở Đại học London. Không phải ngon xơi đâu nhá!” Cậu Mbaezi nói một cách hãnh diện.
“Cừ lắm”, Abdulmalik nói. Ông ta mở bọc, lấy ra một đôi dép và đưa cho nàng, cái mặt gầy quắt của ông nhăn lại thành một nụ cười, răng ông ta đóng nhựa hạt kola và thuốc lá hay là cái quái gì Olanna không biết, lớp cao răng có màu khác nhau, vàng và nâu. Trông ông ta cứ như là người được nhận quà vậy; ông có vẻ của những người luôn thán phục tri thức, an phận tin chắc là họ không bao giờ được hưởng nền học vấn này.
Nàng nhận đôi dép bằng hai tay. “Cảm ơn ông, Abdulmalik. Cảm ơn”.
Abdulmalik trỏ vào một quả chín giống như quả bầu nứt vỏ trên cây kuka và nói, “Cô đến nhà tôi chơi. Vợ tôi nấu canh kuka rất ngon”.
“Vâng, lần sau cháu sẽ đến”, Olanna nói.
Ông ấy lúng búng nói thêm một vài lời chúc tụng trước khi ngồi xuống ở hiên nhà, với một thùng mía trước mặt. Họ bắt đầu tước vỏ mía xanh bằng răng và nhai ruột mía trắng, nói chuyện với nhau bằng tiếng Hausa và cười vang. Họ phun và nhả bã mía ra đất. Olanna ngồi với hai người một lúc nhưng họ nói tiếng Hausa nhanh quá, nàng khó theo kịp. Nàng ao ước mình có thể nói thông thạo tiếng Hausa và Yoruba giống như cậu mợ và các em họ. Nàng sẽ rất vui nếu có thể đánh đổi với tiếng Pháp và tiếng Latin. Trong bếp, Arize đang mổ gà và mợ Ifeka đang vo gạo. Nàng khoe đôi dép Abdulmalik tặng rồi đi vào chân. Quai dép màu đỏ làm bàn chân nàng thon mảnh hơn, nữ tính hơn.
“Đẹp lắm”, mợ Ifeka nói. “Mợ sẽ cảm ơn ông ấy”.
Olanna ngồi lên ghế đẩu và cẩn thận tránh không nhìn đống trứng gián, giống những viên thuốc dài màu đen bóng nhẫy, mắc kẹt trong tất cả những đường rãnh hay kẽ nứt của cái bàn. Một người hàng xóm đang nhóm lửa ở một xó nhà và mặc dù mái nhà có chỗ thoát hơi, khói vẫn mù mịt trong bếp.
I makwa, ngày nào cũng thế, cả gia đình họ chỉ ăn có mỗi cá khô”, Arize nói, ra hiệu chỉ về phía nhà người hàng xóm, chu môi. “Em không biết mấy đứa con tội nghiệp của bà ta có bao giờ biết mùi thịt hay không”. Arize ngửa cổ cười. Olanna liếc mắt nhìn người đàn bà. Bà ta là người Ijaw [6] và không hiểu tiếng Igbo của Olanna. “Có thể bà ấy thích ăn cá khô”, nàng nói.
O di egwu! Thích thật đấy! Chị có biết cá khô rẻ đến mức nào không?” Arize vừa cười to vừa quay sang nói với người đàn bà. “Ibiba, tôi đang nói với chị tôi là canh cá của bà thơm quá”.
Người đàn bà tạm dừng thổi lửa và cười, một cái cười hiểu biết; Olanna nghĩ thầm, biết đâu bà ấy hiểu tiếng Igbo nhưng cứ giả vờ không biết những lời bông đùa của Arize để cho cô nàng vui. Có cái gì đó trong những trò đùa nghịch vui vẻ của Arize làm người ta có thể tha thứ cho cô nàng.
“Vậy là chị sẽ dọn đến Nsukka để lấy anh Odenigbo, phải không?” Arize hỏi.
“Chị chưa nghĩ đến chuyện kết hôn. Chị chỉ muốn ở gần anh ấy và đi dạy”.
Đôi mắt tròn của Arize vừa có vẻ ngưỡng mộ vừa có vẻ không hiểu. “Chỉ có mấy người phụ nữ đọc quá nhiều sách vở giống như chị mới có thể nói thế, chị ạ. Nếu mấy đứa con gái như em không có học nhiều mà để lâu thì coi như là ế”. Arize ngừng một chút trong khi cô lấy một quả trứng non, nhạt màu, trong veo từ bụng gà. “Em muốn có chồng ngay thôi. Ô! Đám bạn em đều bỏ em mà đi về nhà chồng rồi”.
“Em còn trẻ”, Olanna nói. “Lúc này em chỉ nên chú tâm vào nghề may của em”.
“Nghề may có mang đến cho em một đứa con không? Cho dù em cố gắng để thi đậu vào trường may, em vẫn muốn có một đứa con ngay bây giờ”.
“Đâu có gì cần phải vội vàng, Ari”. Olanna ước gì nàng có thể rời cái ghế của mình ra ngoài cửa cho thoáng khí. Nhưng nàng không muốn mợ Ifeka hay Arize, ngay cả người hàng xóm biết là khói làm nàng cay mắt, ngứa cổ, và việc nhìn thấy đống trứng gián làm nàng thấy lợm mửa. Nàng muốn làm ra vẻ đã quen thuộc lắm với tất cả những chuyện này, với cuộc sống này.
“Em biết chị sẽ lấy anh Odenigbo; nhưng thật tình, em không chắc là em sẽ lấy một người đàn ông ở Abba làm chồng. Đàn ông Abba xấu trai quá, kai! Nếu như Mohammed là một người Igbo, em có mà đi bằng đầu [7] nếu chị không lấy Mohammed. Em chưa bao giờ thấy có một người nào đẹp trai đến vậy”.
“Odenigbo không xấu trai, vẻ đẹp có nhiều kiểu khác nhau”, Olanna nói.
“Vẻ đẹp có nhiều kiểu khác nhau, đó là những lời đám đười ươi nói với con khỉ xấu òm để an ủi nó”.
“Đàn ông Abba không xấu trai”, mợ Ifeka nói. “Nói cho cùng, gốc gác của mẹ là ở đấy”.
“Vậy dân làng của mẹ có giống khỉ không?” Arize nói.
“Tên cúng cơm của mày là Arizendikwunnem, phải không? Một phần của mày mang dòng máu của mẹ mày đấy. Vì thế, có lẽ mày cũng giống khỉ”. Mợ Ifeka làu bàu.
Olanna bật cười. “Tại sao em lại nói chuyện cưới người nọ người kia như thế Ari? Em đã gặp người ưng ý chưa? Hay là chị làm mối em cho một trong mấy người em của Mohammed?”
“Không, không!” Arize xua tay lia lịa, ra vẻ sợ hãi. “Bố chắc sẽ giết em ngay lập tức nếu biết em để ý đến một người đàn ông Hausa như thế”.
“Có lẽ bố mày sẽ phải giết một cái xác chết, bởi vì tao đã giết mày trước đó rồi”, mợ Ifeka nói, và đứng dậy với cái rá gạo đã sạch trấu.
“Em có để ý một người, chị ạ”, Arize nhích đến gần Olanna. “Nhưng em không biết anh ấy có để ý đến em không”.
“Tại sao mày phải nói thì thầm thế?” Mợ Ifeka hỏi.
“Con có nói chuyện với mẹ đâu? Mẹ không thấy là con đang nói chuyện với chị sao?”
Arize hỏi mẹ, nhưng cũng nói to hơn khi cô nàng tiếp tục chuyện trò với Olanna. “Tên anh ấy là Nnakwanze và anh ấy cũng ở gần đây, ở Odigi. Anh ấy làm việc trong ngành đường sắt. Nhưng anh ấy chưa hề nói lời nào với em. Em không chắc anh ấy đã bao giờ nhìn em cho thật kỹ chưa”.
“Nếu nó không nhìn con cho kỹ, chắc là nó mù dở”. Mợ Ifeka chêm vào.
“Chị có thấy người nào như thế này không? Tại sao em không được yên khi nói chuyện với chị nhỉ?” Arize đảo mắt liếc mẹ, nhưng lại có vẻ hài lòng. Có thể cô nàng lợi dụng cơ hội này để nói với mẹ về Nnakwanze.
Đêm đó, lúc Olanna nằm trên giường của cậu mợ, nàng nhìn Arize qua tấm màn mỏng cột với đầu sợi dây móc vào cây đinh đóng trên tường. Sợi dây hơi chùng xuống và cái màn thụng ở chính giữa. Nàng theo dõi nhịp thở phập phồng của Arize và tưởng tượng không biết Arize với hai người anh, Odinchezo và Ekene, đã cùng lớn lên với nhau như thế nào khi nhìn thấy cha mẹ qua bức màn, nghe những âm thanh khiến cho trẻ con phát hoảng vì nó gần như là tiếng rên đau đớn lúc cái ấy của người cha chuyển động, còn cánh tay của người mẹ đeo chặt lấy chồng. Nàng chưa bao giờ thấy cha mẹ mình làm tình, cũng không bao giờ thấy những dấu hiệu họ làm chuyện ấy. Nàng luôn luôn bị cách ly với cha mẹ bằng một khoảng hành lang, càng lúc càng dài hơn, xa hơn, và thảm lót trở nên dày hơn khi gia đình nàng dọn từ nhà này sang nhà khác. Khi dọn đến căn nhà đang ở hiện nay, có mười phòng, bố mẹ nàng chọn hai phòng ngủ riêng, lần đầu tiên. “Mẹ cần có riêng một tủ chứa quần áo, nhưng rất vui được bố viếng thăm!”, mẹ nàng nói thế. Nhưng cái cười bẽn lẽn như con gái của bà không có vẻ thật tình với Olanna. Cái dối trá về tình vợ chồng của bố mẹ ngày càng làm nàng khó chịu hơn, hổ thẹn hơn mỗi khi nàng đến thăm Kano.
Cửa sổ phía trên nàng được mở ra, không khí yên lặng của buổi đêm nồng nặc mùi đường cống thoát nước phía sau nhà nơi người ta đổ những thùng chất thải. Không lâu sau đó, nàng nghe những tiếng nói văng vẳng của những người đổ rác lúc họ thông cống; nàng chìm vào giấc ngủ trong tiếng nạo vét của mấy cái xẻng khi họ làm việc trong bóng tối.

Những người ăn xin ở cổng sau nhà của Mohammed không buồn nhúc nhích khi họ nhìn thấy Olanna. Họ cứ ngồi yên trên mặt đất, dựa vào vách đất. Ruồi bu từng đám trên người họ, có lúc giống như mấy cái caftan [8] màu trắng của họ bị tạt sơn màu đậm lên vậy. Olanna muốn bỏ tiền vào trong mấy cái bát của họ nhưng lại thôi. Nếu nàng là đàn ông, họ đã kêu lên rồi chìa bát ra, và đàn ruồi lại có dịp bay lên thành từng đám mây kêu rào rào.
Một trong mấy người gác cổng nhận ra nàng và mở cổng. “Xin chào, thưa cô”.
“Cảm ơn ông, Sule. Ông có khỏe không?”
“Cô nhớ tên tôi, thưa cô!” Ông ta cười rạng rỡ. “Cảm ơn cô, tôi vẫn khỏe”.
“Còn gia đình ông thì sao?”
“Cũng khỏe ạ, đội ơn Allah [9]”.
“Ông chủ ở Mỹ đã về chưa?
“Đã về ạ. Xin mời cô vào. Tôi sẽ đi gọi ông chủ ạ”.
Chiếc xe hơi thể thao màu đỏ của Mohammed chễm chệ trong sân cát đằng trước, nhưng cái làm Olanna chú ý là ngôi nhà: một ngôi nhà mái bằng đơn giản, thanh nhã. Nàng ngồi xuống hàng hiên.
“Một sự ngạc nhiên thú vị nhất!”
Nàng nhìn lên và Mohammed đang đứng đó, trong áo dài trắng, nhìn xuống và mỉm cười với nàng. Môi anh có những đường cong rất gợi cảm. Ngày xưa, đôi môi đó đã từng hôn nàng, khi mà cuối tuần nào nàng cũng ở Kano, ăn cơm bốc bằng tay ở nhà anh, ngắm anh chơi polo [10] ở Câu lạc bộ Flying, đọc những bài thơ rất vụng về anh viết cho nàng.
“Anh có vẻ rất khỏe”, nàng nói với anh lúc hai người ôm chào nhau. “Em không biết chắc là anh đã trở về từ bên Mỹ”.
“Anh định đến Lagos thăm em”. Mohammed bước lùi một chút để ngắm nàng, nghiêng nghiêng đầu, và nheo nheo mắt, dường như anh vẫn còn nuôi chút hy vọng.
“Em sẽ dọn đến Nsukka”, nàng nói.
“Thế là cuối cùng em đã thành một người trí thức và kết hôn với anh chàng giảng viên của em?”
“Đâu có ai nói gì đến chuyện kết hôn. Còn Janet có khỏe không? Hay tên cô ấy là Jane? Em hay nhầm tên mấy cô bạn gái người Mỹ của anh”.
Mohammed nhướng một bên chân mày. Nàng không thể không chiêm ngưỡng nước da màu kẹo cà phê sữa của anh. Nàng thường trêu rằng anh đẹp gái hơn nàng.
“Em làm gì với mái tóc của mình thế?”, anh hỏi. “Nó không hợp với em chút nào cả. Có phải người yêu của em muốn em giống như vậy không, chẳng khác gì một bà mọi?”
Olanna vuốt mái tóc mới vừa tết bím với chỉ đen của mình. “Mợ làm tóc cho em. Em thích kiểu này”.
“Anh không thích. Anh thích mấy bộ tóc giả [11] của em”. Mohammed tiến đến gần và lại ôm nàng. Khi nàng cảm thấy vòng tay của Mohammed bắt đầu xiết chặt hơn, nàng đẩy anh ra.
“Em không cho anh hôn!”
“Không”, nàng trả lời, mặc dù đó không phải là câu hỏi. “Anh không kể cho em nghe về Janet-Jane”.
“Jane. Có nghĩa là anh không còn có dịp gặp em khi em về Nsukka”.
“Dĩ nhiên là em sẽ gặp anh”.
“Anh biết là anh chàng giảng viên của em khá điên, vì thế anh sẽ không đến thăm em ở Nsukka”. Mohammed cười to. Thân hình dong dỏng của anh và những ngón tay thuôn dài biểu lộ một vẻ mảnh khảnh dịu dàng. “Em có dùng nước ngọt không? Hay chút rượu nho?”
“Anh có rượu trong nhà à? Nhất định sẽ có người tố cáo với chú anh đấy”, Olanna trêu.
Mohammed rung chuông và anh bếp mang nước uống ra. Sau đó, anh ngồi tư lự, hai ngón trỏ và ngón cái cứ xoa vào nhau. “Đôi khi anh nghĩ đời mình chẳng đi đến đâu cả. Anh đi du lịch, lái xe ngoại, và phụ nữ cứ theo đuổi anh. Nhưng vẫn còn thiếu một cái gì đó. Có một cái gì đó trái khoáy. Em biết không?” Nàng nhìn anh, nàng biết anh sắp đưa câu chuyện này đến đâu. Nhưng khi anh nói, “Anh ước gì chuyện đã không thay đổi”, nàng thấy cảm động và hãnh diện.
“Anh sẽ tìm thấy một người con gái hợp với anh”, nàng nói một cách yếu ớt.
“Nói nhảm”, anh nói, và khi hai người ngồi nhâm nhi Coke, nàng nhớ lại vẻ đau đớn như không thể tin đây là chuyện có thật trên mặt anh. Rồi vẻ đau đớn ấy như sâu đậm hơn khi nàng nói muốn chấm dứt mối quan hệ giữa hai người, hoàn toàn và ngay lập tức, bởi vì nàng không muốn phản bội anh. Nàng biết trước là anh sẽ không đồng ý, nàng biết rất rõ là anh hết sức yêu nàng. Nhưng nàng đã vô cùng kinh ngạc khi anh nói rằng, nếu muốn, nàng cứ việc ngủ với Odenigbo, miễn là nàng đừng bỏ anh. Mohammed rất hay nói đùa với nàng về việc anh xuất thân từ một dòng dõi chiến sĩ tôn giáo, những con người là hiện thân đích thực của cái tính đàn ông ngoan đạo. Có lẽ vì thế chữ “ái” của nàng dành cho anh luôn mang theo chữ “ân”, một sự biết ơn đầy ích kỷ. Anh có thể làm cho chuyện đoạn tuyệt với anh trở nên khó khăn. Hay anh có thể bỏ mặc nàng với lòng ân hận nặng nề hơn.
Nàng đặt ly xuống. “Mình lái xe lòng vòng đây đó đi anh. Em không thích khi em đến Kano chơi mà chỉ có thể nhìn thấy xi măng và mỏ kẽm xấu xí của Sabon Gari. Em muốn đến ngắm cái tượng bằng đất thời cổ xưa và đi vòng vòng quanh tường thành của cái thành phố dễ thương này một lần nữa”.
“Đôi khi em giống như mấy người da trắng, cái cách họ cứ trầm trồ xuýt xoa về những chuyện bình thường hằng ngày”.
“Em giống thế à?”
“Anh nói đùa. Làm thế nào em có thể tập thói quen không quan trọng hóa mọi việc khi em sẽ sống chung với cái anh chàng giảng viên khùng khùng điên điên ấy nhỉ?” Mohammed đứng dậy. “Đi, mình đến chào mẹ anh trước đã”.
Lúc hai người đi ngang qua một cái cổng nhỏ đằng sau và vào sân dẫn đến phòng của mẹ Mohammed, Olanna nhớ đến cái cảm giác run rẩy nàng thường cảm thấy mỗi khi đến đây. Nơi tiếp khách vẫn thế, vách tường xung quanh sơn màu vàng kim nhũ, thảm Ba Tư rất dày và những đường rãnh có chạm khắc trên trần nhà. Mẹ của Mohammed không có vẻ gì thay đổi, vẫn có chiếc vòng đeo ở cánh mũi và khăn lụa quấn quanh đầu. Bà có đầy nét đài các tỉ mỉ đến độ Olanna thường tự hỏi không biết bà có thấy khó chịu không, khi mỗi ngày diện bộ quần áo thật đẹp mà chỉ đơn giản là ngồi ở nhà. Nhưng người đàn bà đứng tuổi này không có vẻ lạnh lùng xa cách của mấy bà già, không có lối nói chuyện cứng ngắc với cái nhìn dán vào một nơi nào trên mặt Olanna và mấy bức mành gỗ có chạm trổ.
“Trông cháu xinh quá, cháu cưng. Đừng để nắng làm hỏng da của cháu nhé”.
Na gode. Cảm ơn bác, Hajia”, Olanna nói, tự hỏi làm thế nào để người ta có thể thay đổi tình cảm, điều khiển nó như kiểu nhấn nút mở rồi lại tắt đi, hoặc như kiểu buộc túm vào rồi lại mở toang ra.
“Em không còn là đứa con gái Igbo mà anh muốn cưới làm vợ, người mà có thể làm nhơ bẩn dòng họ anh với dòng máu của một kẻ vô đạo”, Olanna nói lúc hai người leo lên chiếc xe thể thao màu đỏ. “Bây giờ em chỉ là bạn”.
“Anh có thể cứ cưới em, và mẹ anh biết thế. Mẹ có đồng ý hay không cũng chẳng nhằm nhò gì”.
“Có thể ban đầu thì không, nhưng về lâu dài thì thế nào? Nếu như chúng mình cưới nhau chừng mười năm chẳng hạn?”
“Bố mẹ em cũng có cảm giác giống như mẹ anh”. Mohammed quay sang nhìn nàng. “Nhưng tại sao mình lại nói về chuyện này nhỉ?” Có cái gì đó rất buồn tuy không biểu lộ thành lời trong mắt anh, hay nàng chỉ tưởng tượng. Có lẽ nàng muốn thấy anh có vẻ buồn khi nghĩ rằng hai người sẽ chẳng bao giờ thành đôi. Nàng không ao ước được lấy anh, tuy vậy nàng cứ nặng mang ý nghĩ về những điều họ đã không làm và những gì họ sẽ không làm.
“Em xin lỗi”, nàng nói.
“Chẳng có gì để xin lỗi cả”. Mohammed đưa tay ra nắm lấy tay nàng. Chiếc xe kêu khò khè lúc họ lái ra cổng. “Bụi két trong ống khói nhiều quá. Loại xe này không thích hợp với vùng này”.
“Đáng lẽ anh nên mua một chiếc Peugeot, bền hơn”.
“Đúng, nên thế”.
Olanna nhìn đăm đăm đám ăn mày đang túm tụm quanh tường của lâu đài, thân hình và những cái bát dùng để ăn xin của họ phủ đầy ruồi. Không khí có mùi chua và cay của lá cây neem [12].
“Em không giống mấy người da trắng”, nàng nói nhỏ.
Mohammed liếc nhìn nàng. “Dĩ nhiên em không giống họ. Em là một người yêu nước và theo chủ nghĩa dân tộc và không bao lâu nữa em sẽ kết hôn với anh chàng giảng viên của em và cũng là một chiến sĩ đấu tranh cho tự do”.
Olanna tự hỏi không biết những lời đùa cợt có ẩn chứa sự chế nhạo nào nghiêm trọng hơn. Tay nàng vẫn còn nằm trong tay anh và nàng tự hỏi, không biết anh có thấy khó khăn khi lái xe chỉ với một tay.
* * * * *
Olanna dọn đến Nsukka vào một ngày thứ Bảy lồng lộng gió; ngày hôm sau Odenigbo đi dự một cuộc hội thảo về chương trình toán ở Ibadan. Có lẽ chàng đã chẳng đi nếu buổi họp ấy không chú trọng đến công trình của giáo sư đỡ đầu của chàng, vị giáo sư người Mỹ, da đen, David Blackwell.
“Ông ấy là nhà toán học vĩ đại nhất còn sống, vĩ đại nhất”, chàng nói. “Tại sao em không cùng đi với anh, nkem? Chỉ có một tuần thôi”.
Olanna nói không; nàng muốn có cơ hội để làm quen với cuộc sống khi chàng không có ở nhà, làm quen với những nỗi lo sợ của chính mình khi chàng vắng mặt.
Hành động đầu tiên của nàng là ném phứt bó hoa giả bằng nhựa đỏ và trắng đặt giữa bàn.
Ugwu nhìn, nét mặt hắn đầy vẻ khủng khiếp. “Nhưng thưa cô, nó vẫn còn tốt mà”.
Nàng chỉ ra chỗ trồng hoa loa kèn châu Phi và hoa hồng vừa mới được Jomo tưới nước, rồi nhờ Ugwu cắt một ít. Nàng chỉ cho Ugwu biết nên đổ bao nhiêu nước vào trong bình. Ugwu nhìn bó hoa lắc đầu, như là hắn không tài nào hiểu nổi sao nàng lại ngốc đến thế. “Nhưng mà mấy cành hoa này sẽ héo. Mấy cành kia thì không bao giờ héo cả”.
“Ừ, nhưng mấy cành này đẹp hơn, fa makali”, Olanna nói.
“Đẹp hơn như thế nào, thưa cô?”, hắn luôn trả lời bằng tiếng Anh khi nàng nói tiếng Igbo với hắn, làm như việc nàng nói tiếng Igbo với hắn là một sự sỉ nhục và hắn phải tự bảo vệ mình bằng cách nhất quyết dùng tiếng Anh.
“Nhìn thấy nó đẹp hơn, vậy thôi”, nàng nói, và chợt nhận ra là nàng không biết giải thích tại sao hoa tươi thì đẹp hơn hoa làm bằng nhựa. Lúc sau, khi nhìn thấy bó hoa nhựa được cất trong tủ đựng chén, nàng chẳng hề ngạc nhiên. Ugwu đã cất giữ bó hoa, cũng giống như hắn cất giữ mấy hộp đựng đường cũ, mấy cái nút chai, cả vỏ khoai nữa chứ. Hắn có tính để dành này chỉ vì cuộc đời hắn bị thiếu thốn quá nhiều, nàng biết, vì thế hắn không thể ném bỏ bất cứ thứ gì, cho dù những thứ này không còn dùng được. Khi nàng vào trong bếp, nàng nói mình chỉ nên giữ những thứ cần thiết, hữu dụng, và nàng hy vọng hắn đừng hỏi nàng tại sao hoa tươi thì hữu dụng. Nàng nhờ hắn dọn tủ chứa đồ và lót kệ bằng báo cũ, và khi hắn làm việc, nàng đứng gần đó hỏi thăm về gia đình của hắn. Khó mà tưởng tượng ra họ trò chuyện như thế nào với cái vốn tiếng Anh ít ỏi của hắn. Ugwu chỉ nói về người thân bằng hai chữ “rất tốt”. Nàng đi chợ với hắn, và sau khi họ mua sắm tất cả đồ cần dùng trong nhà, nàng mua cho hắn một cái lược và một cái áo sơ mi. Nàng dạy hắn rang cơm với ớt xanh và cà rốt thái hạt lựu, dạy hắn đừng nấu đậu cho đến khi thành bột, đừng rưới dầu vào mọi món ăn và đừng có cho ít muối quá. Mặc dù nàng đã để ý đến mùi mồ hôi của hắn ngay ngày đầu tiên, nàng đợi vài ngày sau mới đưa cho hắn một ít bột thơm trị mồ hôi nách và dặn hắn bỏ hai nắp đầy chất tẩy rửa Dettol vào bồn tắm. Hắn có vẻ thích khi ngửi mùi bột thơm; nàng tự hỏi không biết hắn có biết đây là mùi thơm dành cho phái nữ hay không. Rõ ràng là hắn có vẻ thích nàng, nhưng trong mắt hắn như có một sự suy diễn âm thầm; dường như hắn vẫn còn đang giấu kín một cái gì đó để thử nàng. Và nàng lo rằng nàng không có được cái đặc tính mà hắn đang tìm kiếm.
Cuối cùng hắn cũng bắt đầu dùng tiếng Igbo để nói chuyện với nàng vào hôm nàng đang mải mê sắp xếp mấy tấm hình trên tường. Có một con tắc kè màu xanh lá cây ló đầu ra từ sau tấm hình Odenigbo chụp lúc tốt nghiệp đại học có mặc áo thụng, và Ugwu hét toáng lên, “Egbukwala! Đừng giết nó!”.
“Cái gì?” Nàng quay người, liếc nhìn xuống lúc nàng đang đứng trên ghế.
“Nếu cô giết nó, cô sẽ bị đau bụng”, hắn nói. Nàng thấy cái giọng Opi của hắn rất tức cười, cứ như rặn từng chữ ra vậy.
“Dĩ nhiên, tôi sẽ không giết nó. Hãy treo tấm ảnh này lên tường bên đó”.
“Vâng, thưa cô”, hắn nói và bắt đầu kể cho nàng nghe bằng tiếng Igbo, rằng con nhỏ em hắn tên là Anulika đã bị đau bụng ghê gớm sau khi nó giết một con tắc kè.

Cái cảm giác mình chỉ là khách đến thăm của Olanna giảm đi khi Odenigbo về nhà; chàng kéo nàng vào lòng, hôn nàng và ôm nàng thật chặt.
“Anh nên ăn trước đã”, nàng nói.
“Anh biết anh muốn ăn gì”.
Nàng cười thật to và cảm thấy vui mừng một cách đáng bị chế giễu.
“Chuyện gì đã xảy ra?” Odenigbo hỏi, nhìn quanh phòng. “Toàn bộ sách trên giá?”
“Sách cũ của anh ở trong phòng ngủ thứ hai. Em cần có chỗ để sách của em”.
Ezi okwu? Em đã thật sự dọn về, phải không?” Odenigbo cười vang.
“Đi tắm đi”, nàng nói.
“Và còn cái mùi thơm trên người anh bạn tốt?”
“Em cho cậu ta bột phấn thơm. Anh không để ý mùi mồ hôi của cậu ta à?”
“Đó là mùi của dân quê. Anh từng có mùi như thế cho đến khi anh rời Abba để đi học cấp hai. Nhưng mà em làm sao biết được những chuyện ấy”. Giọng chàng có vẻ giễu cợt nhẹ nhàng. Nhưng ngón tay chàng chẳng dịu dàng chút nào. Chúng tháo nút áo nàng, giải thoát vú nàng khỏi cái áo nịt ngực. Nàng không biết thời gian đã trôi qua bao lâu, chỉ biết nàng đang ở trên giường quấn lấy Odenigbo khi Ugwu gõ cửa báo có khách.
“Bảo họ đi về?” Nàng thì thầm.
“Đi, nkem”, Odenigbo nói. “Anh rất muốn được giới thiệu em với họ”.
“Nằm đây thêm chút nữa”. Nàng rà tay trên đám lông ngực loăn xoăn của chàng, nhưng chàng hôn nàng rồi ngồi dậy tìm quần áo.
Olanna miễn cưỡng mặc quần áo và ra phòng khách.
“Các bạn, các bạn”, Odenigbo tuyên bố với một vẻ hứng khởi hơi thái quá, “Đây là, Olanna”.
Cô gái đang vặn nút cái radiogram quay người lại và cầm tay Olanna. “Chị khỏe không?” Olanna hỏi, “Cô có lẽ là Lara Adebayo?”
“Vâng”, cô Adebayo nói. “Anh ấy không nói cho chúng tôi biết trước là chị đẹp một cách vô lý như thế”.
Olanna bước lùi, ngượng ngùng một lúc. “Tôi có thể xem như đó là một lời khen”.
“Và một giọng Anh rất chuẩn”, cô Adebayo thầm thì với một nụ cười thoáng vẻ mỉa mai trước khi quay trở lại với chiếc radiogram. Cô ta có một thân hình chắc nịch, cái lưng rất thẳng trong bộ áo hoa màu cam, thân hình của một người chất vấn mà người bị hỏi không dám vặn lại.
“Tôi là Okeoma”, người đàn ông đầu tóc rối bù vì không chải nói. “Tôi tưởng bạn gái của Odenigbo là một người bình thường thôi, anh ấy quên không nói trước với chúng tôi rằng cô là một mỹ nhân ngư”.
Olanna bật cười, thầm cảm kích sự biểu lộ tình thân của Okeoma và cách anh ta nấn ná cầm tay nàng. Tiến sĩ Patel nói, có vẻ ngượng ngùng, “Cuối cùng rồi tôi cũng được gặp cô, rất hân hạnh”; còn Giáo sư Ezeka bắt tay nàng, gật đầu, có vẻ hơi khinh khỉnh coi thường khi nàng nói nàng tốt nghiệp Xã hội học chứ không phải một trong những ngành khoa học đích thực.
Sau khi Ugwu mang thức uống ra, Olanna nhìn Odenigbo nâng ly lên môi và nàng không thể nghĩ đến chuyện gì khác hơn là đôi môi đó chỉ mới vài phút trước đây đã mút chặt núm vú của nàng. Nàng kín đáo di chuyển sao cho phía trong cánh tay của nàng chạm nhẹ vào ngực và nhắm hờ mắt để tưởng nhớ đến những mũi kim châm chích của cơn đau tình yêu, đê mê và ngây ngất. Đôi khi Odenigbo cắn khá đau. Nàng chỉ muốn khách ra về.
“Có phải nhà tư tưởng lớn Hegel là người đã gọi Phi châu là mảnh đất thời thơ ấu?” Giáo sư Ezeka hỏi, có vẻ như giả vờ.
“Có lẽ người nào dựng mấy cái bảng hiệu CẤM TRẺ EM VÀ NGƯỜI CHÂU PHI trong rạp chiếu phim ở Mombasa đã từng đọc Hegel”, bác sĩ Patel nói và cười khúc khích.
“Không ai có thể xem trọng ý kiến của Hegel. Ông có đọc kỹ Hegel không? Ông ta rất khôi hài, rất tếu. Nhưng Hume, Voltaire và Locke cũng nghĩ như thế về châu Phi”, Odenigbo nói. “Sự cao cả vĩ đại tùy thuộc vào nơi bạn xuất phát. Cũng giống như mấy người dân xứ Israel khi được hỏi họ nghĩ thế nào về chuyện Eichmann bị đem ra tòa xử mấy ngày trước đó, một người trong đám nói là anh ta không thể nào hiểu được tại sao lúc ấy Đức Quốc Xã lại được tôn sùng. Đúng là rất được tôn sùng, phải không? Ngay cả bây giờ cũng vẫn thế”. Odenigbo khoa tay, lòng bàn tay lật ngửa lên, và Olanna nhớ là bàn tay ấy đã nắm chặt eo của nàng.
“Cái người ta không nhìn thấy là: Nếu châu Âu thực sự quan tâm đến châu Phi thì vụ Holocaust [13] đã chẳng xảy ra”, Odenigbo nói. “Tóm lại, Thế chiến đã chẳng xảy ra!”
“Anh nói thế có ý gì?” Cô Adebayo hỏi, nâng ly lên môi.
“Sao cô lại có thể hỏi là tôi có ý gì? Điều đó rất rõ ràng, bắt đầu từ đám người Herero [14]”. Odenigbo bắt đầu đổi thế ngồi, lên giọng, và Olanna tự hỏi không biết chàng có nhớ là khi làm tình, hai người đã ầm ĩ đến mức độ nào. Sau khi ân ái, chàng cười rộ và nói, “Nếu mà ban đêm mình cứ như thế này, chắc là mình sẽ đánh thức Ugwu mất, tội nghiệp cu cậu”.
“Anh lại nói cũng một chuyện ấy, Odenigbo”, cô Adebayo nói. “Anh nói là nếu người da trắng không thảm sát người Herero thì vụ Holocaust đã chẳng xảy ra? Tôi chẳng thấy hai sự kiện này có gì liên hệ với nhau cả!”
“Cô không thấy sao?” Odenigbo hỏi. “Họ bắt đầu nghiên cứu, khảo sát về chủng tộc với người Herero và đưa ra kết luận với người Do Thái. Dĩ nhiên là có sự liên hệ!”
“Lý luận của anh không đủ tính thuyết phục, nhà ngụy biện”, cô Adebayo nói, rồi như để phủ nhận, cô nâng ly uống cạn phần còn lại.
“Dẫu sao thì tuy Thế chiến là một chuyện tai hại song cũng có cái lợi của nó, như dân mình hay nói”, Okeoma nói. “Chú tôi đánh trận ở Burma và khi trở về, ông mang trong đầu một câu hỏi cháy bỏng. Tại sao không ai bảo cho ông biết trước rằng người da trắng không phải là những người bất tử?”
Mọi người bật cười. Có cái gì đó dường như là thói quen trong kiểu cười này, giống như là họ đã nói về đề tài này rất nhiều lần với nhiều trạng thái, cách thức khác nhau, đến độ họ biết lúc nào thì cần phải cười. Olanna cũng cười và cảm thấy trong một khoảnh khắc, giọng cười của nàng khác hơn, cao hơn, nhói vào tai hơn giọng cười của mấy người kia.
* * * * *
Những tuần tiếp theo, khi nàng bắt đầu dạy lớp Xã hội học nhập môn, khi nàng gia nhập câu lạc bộ giáo viên và chơi quần vợt với các đồng nghiệp, chở Ugwu đi chợ, đi dạo với Odenigbo và gia nhập Hội Thánh Vincent de Paul ở nhà thờ Thánh Peter, nàng quen dần với những người bạn của Odenigbo. Chàng trêu nàng là vì bây giờ có nàng nên nhiều người đến chơi hơn; là cả hai người Okeoma và Patel đều thầm yêu nàng; bằng chứng là Okeoma hăng hái đọc thơ của anh ta, diễn tả một nữ thần có vẻ rất giống Olanna, còn ông Patel thì kể rất nhiều chuyện thời còn ở Makerere, ông ấy nói về mình như là một nhà trí thức rất biết chiều chuộng và tế nhị với đàn bà.
Olanna thích bác sĩ Patel, nhưng nàng luôn mong Okeoma đến chơi. Cái đầu rối bù và bộ quần áo nhăn nhúm của anh luôn làm nàng cảm thấy dễ chịu. Và nàng để ý, ngay từ đầu Odenigbo rất coi trọng ý kiến của Okeoma, gọi đó là “Tiếng nói của thế hệ chúng ta!”, dường như chàng thật sự tin tưởng điều này. Nàng không thật chắc lắm về thái độ kiêu kỳ ta đây của Giáo sư Ezeka; ông ta tin rằng mình giỏi hơn tất cả mọi người nên thường rất kiệm lời. Nàng cũng không mấy chắc cảm tưởng của mình về cô Adebayo. Có thể không khí dễ thở hơn nếu cô Adebayo tỏ vẻ ghen tị một chút xíu, nhưng hình như cô ta cho là Olanna không đáng để cô tranh đua, với phong thái không trí thức, cái mặt quá đẹp và cái cách nàng bắt chước giọng Anh của mấy tên thống trị. Nàng để ý thấy mình nói nhiều hơn mỗi khi có mặt cô Adebayo, bằng mọi giá cố gắng đưa ra những quan điểm để gây ấn tượng với mọi người - Nkrumah thật sự muốn làm chúa tể ở châu Phi, người Mỹ rất kiêu ngạo khi cứ một mực đòi người Nga phải mang hỏa tiễn của họ ra khỏi Cuba khi vẫn giữ hỏa tiễn của mình ở Thổ Nhĩ Kỳ, Sharpeville chỉ là một thí dụ bi thảm về hàng trăm người da đen bị giết hại hằng ngày ở Nam Phi - nhưng nàng nghi ngờ rằng đó thực ra chỉ là sự đánh bóng toàn bộ những ý tưởng vay mượn của nàng. Và nàng nghi ngờ cô Adebayo biết thế; bởi vì cô ta luôn luôn chờ đúng lúc nàng phát biểu để đứng dậy đi lấy một tờ báo hoặc rót thêm nước uống hoặc vào toilet. Cuối cùng nàng đành phải nhượng bộ. Nàng sẽ không bao giờ thích cô Adebayo và cô Adebayo cũng sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện thích nàng. Có lẽ cô Adebayo có thể nhận ra, từ nét mặt nàng, rằng nàng e ngại một số chuyện, rằng nàng không tự tin, rằng nàng không phải là một người có đủ kiên nhẫn để nghi ngờ chính bản thân mình, rằng nàng không giống Odenigbo, và lại càng không giống cô Adebayo - một người có thể nhìn thẳng vào mắt người khác mà nói thật ôn hòa là cô ta đẹp một cách vô lý, một người có thể dùng cả cái câu kỳ khôi ấy, đẹp một cách vô lý.
Tuy thế, mỗi khi Olanna nằm trên giường bên cạnh Odenigbo, khi chân hai người quấn lấy nhau, nàng chợt nhận thấy cuộc đời nàng ở Nsukka như chìm trong một cái lưới bằng lông tơ mềm mại, ngay cả những ngày mà Odenigbo khóa trái cửa và ngồi trong phòng làm việc hàng giờ. Cứ mỗi lần chàng đề nghị làm đám cưới, nàng lại trả lời không. Họ hạnh phúc quá, hạnh phúc của họ cũng mỏng manh quá và nàng muốn giữ nguyên trạng thái ấy; nàng sợ hôn nhân sẽ biến nó thành một sự cộng sinh nhàm chán của hai người.
------------------------
[1] High Life (nguyên văn): Là loại nhạc bắt nguồn từ Ghana và lan sang Nigeria khoảng năm 1920 rất thịnh hành. Tương tự như jazz, kèn, phối hợp với guitars. Để tiện cho độc giả chúng tôi xin thay thế bằng chữ Tân nhạc.
[2] Old spice là một loại nước hoa của đàn ông được dùng sau khi cạo râu, tắm hay rửa mặt.
[3] Chief (nguyên văn): Là một tước hiệu nói chung cho những người quan trọng có thể lực, mặc dù không giữ vai trò gì trong chính quyền. Đây là một tước hiệu có thể được mua bằng tiền. Chữ “Ông Trùm” có một thời được dùng để chỉ những ngưòi có chức vụ cao trong xã hội đen hay mafia. Xin được phép dùng thay cho chữ “Chief” vì nó ngắn gọn, hay và diễn tả đúng mức.
[4] Một loại y phục giống như áo sơ-mi nhưng dai hơn của đàn ông Nigeria; những người có chức quyền thường mặc trong những dịp trọng đại.
[5] Pax Britannica (tiếng Latin): Có nghĩa là nền thái bình của nước Anh. Chỉ giai đoạn phát triển của Đế quốc Anh bắt đầu từ trận Waterloo cho đến khi kết thúc Thế chiến thứ Nhất.
[6] Một dân tộc thiểu số, sống thành bộ lạc ở vùng rừng gần sông Niger của xứ Nigeria.
[7] I would eat my hair (nguyên văn): Em có mà ăn tóc.
[8] Áo dài tay bằng vải hay lụa, dài tới mắt cá.
[9] Allah là vị thánh chí tôn của người Hồi giáo.
[10] Chơi bóng lúc cưỡi ngựa.
[11] Người Phi châu da đen tóc xoăn, nhưng rất thích có mái tóc thẳng. Bây giờ người ta có thể dùng chất hóa học và hơi nóng làm tóc thẳng. Nhưng những năm sáu mươi, người ta đội tóc giả để có được kiểu tóc ưa thích.
[12] Tên một loại cây cao từ 15 đến 20m. Hoa có màu trắng và mùi thơm. Cây xanh quanh năm nhưng nếu hạn hán trầm trọng, cây có thể biến thành màu nâu và rụng lá.
[13] Vụ tàn sát chủng tộc dã man đối với 6 triệu người Do Thái và nhiều nhóm thiểu số khác ở châu Âu và Bắc Phi trong Thế chiến thứ Hai do Đức Quốc Xã và các nước cùng phe gây ra.
[14] Cuối thế kỷ XIX, người Đức ký hợp đồng mua đất của người Herero, đa số sống ở Nambania, số còn lại ở Bostwana và Angola. Người Đức trở thành người đô hộ dân Herero. Năm 1904, dân Herero đòi quyền độc lập. Sau đó, dân Hetero bị Đức Quốc Xã thảm sát. Số người chết ước tính từ 25.000 cho đến 100.000.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.08.2017 11:00:57 bởi casau>
Chương ba

Richard nói rất ít ở những buổi tiệc Susan dẫn chàng đến. Khi Susan giới thiệu chàng, cô ấy luôn nói thêm rằng chàng là nhà văn, và chàng hy vọng những người xung quanh nghĩ rằng vẻ xa cách của chàng là cá tính của các nhà văn, mặc dù chàng sợ là họ nhìn thấu tâm can chàng và biết tỏng rằng chàng không thích hợp với đám đông. Nhưng họ vui vẻ với chàng; họ cũng sẽ vui vẻ với bất kỳ ai đi cùng Susan miễn là cô tiếp tục lôi cuốn họ với những lời bông đùa rất thông minh; giọng cười của cô, đôi mắt xanh lá cây của cô sáng lấp lánh trên gương mặt hồng hào vì rượu vang.
Richard không quan tâm đến chuyện phải đứng “làm cảnh” và chờ cho tới khi cô ta muốn về, cũng không để ý đến việc chẳng người bạn nào của cô có lấy một mảy may cố gắng kéo chàng nhập cuộc, cũng chẳng phiền lòng khi có một phụ nữ mặt tái đi vì rượu và gọi chàng là cậu bé đẹp trai của Susan. Nhưng chàng lại rất khó chịu khi phải dự những buổi tiệc của những nhóm chỉ toàn người lưu vong. Susan cứ thúc giục chàng “gia nhập đám đàn ông” còn cô đến nhóm phụ nữ để trao đổi về cuộc sống ở Nigeria. Chàng cảm thấy sượng sùng khó chịu với đám đàn ông. Phần lớn họ là người Anh, những quan chức trong chính quyền bảo hộ cũ hay là những thương gia cao cấp từ các công ty lớn như John Holt, Kingsway, GB Ollivant, Shell-BP, và Công ty Thống nhất Phi châu. Da họ đỏ ngời vì rượu và nắng. Họ chế nhạo chính trị của người Nigeria còn thô sơ man dại quá, và có lẽ những anh chàng này cũng chẳng mấy sẵn sàng để cai trị ai cả. Họ thảo luận từ chuyện chơi bóng bằng gậy [1], đến chuyện đồn điền họ làm chủ hay dự định mua, thời tiết tuyệt đẹp ở Jos, những cơ hội doanh thương ở Kaduna. Khi Richard tiết lộ niềm say mê của chàng đối với mỹ thuật Igbo-Ukwu, họ nói nó chưa có thị trường, vì thế chàng chẳng muốn giải thích cho họ biết là chàng không hề bận tâm đến chuyện kiếm tiền, chàng chỉ bị sự độc đáo của nghệ thuật này cuốn hút mà thôi. Khi chàng nói là chàng mới đến Lagos và muốn viết một quyển sách về Nigeria, họ tặng cho chàng một nụ cười rất nhẹ và khuyên: Dân ở đây toàn là ăn mày chuyên nghiệp, hãy chuẩn bị để chịu đựng mùi mồ hôi của họ cũng như cách họ đứng và nhìn chàng chòng chọc trên đường, đừng bao giờ tin chuyện họ gặp vận xui rất lớn, và đừng bao giờ tỏ ra yếu mềm với những người giúp việc. Có đủ thứ chuyện khôi hài để minh họa cá tính của người Phi châu. Richard vẫn nhớ như in một câu chuyện giễu tính sĩ hão của người Phi châu: Một người Phi châu đang dắt chó đi trên đường thì một người Anh hỏi, “Mày làm cái gì với con khỉ đen ấy?” và người Phi châu trả lời, “Đó là con chó, không phải con khỉ” - vì tưởng lầm là người Anh đó đang nói chuyện với anh ta!
Richard cười khi nghe chuyện tiếu lâm. Chàng cũng cố gắng không để mình xao lãng lúc trò chuyện hay để lộ vẻ lúng túng khó chịu. Chàng thích nói chuyện với phụ nữ hơn, mặc dù chàng đủ kinh nghiệm để biết mình không nên nói chuyện quá lâu với một người đàn bà đặc biệt nào, nếu không muốn Susan ném ly vào tường khi hai người về đến nhà. Chàng đã rất ngạc nhiên và hoàn toàn không hiểu thái độ của Susan khi chuyện ấy xảy ra lần đầu. Chàng chỉ nói chuyện một lúc với Clovis Bancroft về cuộc sống của anh cô ấy lúc ông ta làm quận trưởng ở Enugu, nhưng sau đó Susan im thin thít không nói một câu nào khi ngồi trên xe do tài xế riêng của cô lái về nhà. Chàng tưởng cô ngủ gật nên mới không chê một người nào đó mặc cái áo xấu thấy mà ghê hay là món khai vị dở không tưởng tượng được. Nhưng khi hai người về đến nhà, cô ta lấy một cái ly trong tủ ra và ném thẳng vào tường. “Cái con mẹ quắt queo đó, Richard. Thấy phát tởm. Đã vậy hai người còn nhơn nhơn ngay trước mặt tôi nữa chứ! Kinh khủng thật!” Cô ta ngồi trên ghế sofa và úp mặt vào lòng bàn tay cho đến khi chàng năn nỉ nói rằng chàng xin lỗi, mặc dù chàng không biết chắc mình xin lỗi về việc gì.
Vài tuần sau, thêm một cái ly nữa bị đập vỡ. Trước đó, chàng nói chuyện với Julia March, chỉ loanh quanh về bài biên khảo của cô ấy trên tờ Asantehene ở Ghana, rồi đứng đó lắng nghe, ngẫm nghĩ, cho đến khi Susan tới nắm tay chàng lôi đi. Sau đó, khi ly đã tan tành, Susan nói cô ta biết chàng không có ý định ve vãn ai cả nhưng chàng phải hiểu là người ở đây ngạo mạn kinh khủng và người ta nói xấu lẫn nhau rất độc địa, độc địa ghê gớm. Chàng lại phải xin lỗi và tự hỏi không biết người giúp việc sẽ nghĩ gì khi phải thu nhặt những mảnh vỡ này.
Nhưng có một bữa ăn tối chàng nói về nghệ thuật Nok với một giáo sư đại học, một phụ nữ Yoruba rụt rè và cô ấy cũng có vẻ lạc lõng giống như chàng. Chàng đoán là Susan sẽ nổi cơn thịnh nộ và chàng chuẩn bị xin lỗi khi Susan ra đến phòng khách, để cứu mạng sống của một cái ly. Nhưng Susan vui vẻ nói huyên thuyên khi hai người được tài xế chở về; cô ta hỏi câu chuyện của chàng với người đàn bà đó có gì thú vị không và hy vọng chàng tiếp thu được những điều hữu ích cho quyển sách của chàng. Chàng nhìn cô ta chằm chặp qua ánh sáng lờ mờ trong xe. Cô ta đã chẳng nói thế nếu như chàng nói chuyện với một người đàn bà Anh, cho dù họ có giúp xây dựng nền hiến pháp Phi châu. Chàng nhận ra cô ta thấy đàn bà da đen không đáng sợ, vì họ không đáng là đối thủ của cô ta.
Bác Elizabeth đã từng nói Susan là một cô gái sôi nổi và duyên dáng, không nên để tâm là cô ấy lớn tuổi hơn chàng một chút; và vì cô ấy ở Nigeria khá lâu nên để cô ấy dẫn chàng đi chỗ này chỗ kia ở Phi châu. Chàng không cần người hướng dẫn. Chàng tự lo liệu được và những lần du hành trước vẫn rất chu toàn. Nhưng bác Elizabeth cứ nhất quyết phải thế. Châu Phi không phải như Argentina hay Ấn Độ. Bác nói châu Phi bằng cái giọng cố kìm nén nỗi sợ hãi, hay có lẽ vì bác không muốn Richard đi đâu cả. Bác chỉ muốn chàng ở lại London và tiếp tục viết cho tờ News Chronicle. Chàng vẫn một mực tin là chẳng có ai đọc cái mục nhỏ bé mà chàng phụ trách cả, mặc dù bác Elizabeth nói là tất cả các bạn của bác đều đọc. Nhưng lúc ấy cũng có thể nói: việc của chàng, xét cho cùng cũng chỉ là làm giả ăn thật. Rất có thể chàng sẽ không được làm công việc này nếu người chủ báo không phải là bạn của bác.
Richard đã không giải thích nguyện vọng được đến thăm Nigeria của chàng cho bác Elizabeth biết. Nhưng chàng nhận lời đề nghị của Susan để cô đưa chàng tham quan các nơi. Điều đầu tiên chàng chú ý khi đến Lagos là vẻ mặt rạng rỡ của Susan, cái vẻ sang trọng kiểu cách của cô ta, cái cách cô quá chú ý đến chàng, chạm vào cánh tay chàng mỗi khi cô cười to. Cô nói với một giọng kẻ cả, ra vẻ rất hiểu biết về xứ sở Nigeria và người Nigeria. Khi họ lái xe ngang khu chợ ồn ào với tiếng nhạc inh ỏi phát ra từ các cửa tiệm, những quán hàng không mấy an toàn của những người chuyên mua bán trên hè phố, mấy đường máng xôi, khe rãnh đầy nước đóng rêu, cô ta nói, “Họ có nhiều năng lực kỳ lạ, thật đó, nhưng họ không mấy hiểu biết về vệ sinh, tôi nghĩ thế”. Cô ta kể với chàng rằng, người Hausa ở miền Bắc rất sang trọng, người Igbo tính tình khó chịu và mê tiền, người Yoruba rất vui vẻ, dễ tính dẫu rằng họ là những người nịnh hót thượng hạng. Vào các tối thứ Bảy, cô ta chỉ đám đông ăn mặc lòe loẹt khiêu vũ trên đường phố và nói, “Anh thấy đấy. Mấy người Yoruba mắc nợ to chỉ vì họ tổ chức tiệc tùng như thế đấy”.
Cô ấy giúp chàng tìm thuê một căn phòng nhỏ, mua một chiếc xe nhỏ, lấy bằng lái xe, thăm viện bảo tàng ở Lagos và Ibadan. “Anh phải gặp các bạn của em”, cô nói. Đầu tiên cô giới thiệu chàng là nhà văn, chàng muốn đính chính lại là phóng viên, không phải nhà văn. Nhưng chàng đã từng là nhà văn. Hay ít nhất chàng cũng tin rằng mình mang số mệnh của một nhà văn, một nghệ sĩ, một người sáng tạo. Nghề phóng viên chỉ là tạm thời, chàng chỉ làm cho đến khi chàng viết được tác phẩm tuyệt vời.
Vì thế, chàng để Susan giới thiệu chàng là nhà văn. Có vẻ điều này làm các bạn cô chấp nhận chàng dễ dàng hơn. Nó làm Giáo sư Nicholas Green đề nghị chàng xin học bổng dành cho các nhà khảo cứu người nước ngoài ở Nsukka. Ở đây chàng có thể viết trong trường đại học. Richard làm thế không những bởi vì cái khía cạnh viết trong trường đại học mà còn vì chàng sẽ ở miền Đông nam, “cái nôi” của nghệ thuật Igbo-Ukwu, vùng đất sản sinh ra những chiếc bình đồng [2] tuyệt đẹp. Nói cho cùng, đó là lý do tại sao chàng đến Nigeria.
Chàng ở Nigeria được vài tháng thì Susan mời chàng về sống chung với cô ấy, bởi vì căn nhà của cô ở Ikoyi rất rộng, vườn hoa đẹp vô cùng; cô ấy nghĩ rằng ở đó chàng sẽ làm việc dễ dàng hơn là trong căn phòng thuê của chàng, nền nhà lồi lõm, và ông chủ nhà trọ luôn than phiền chàng để đèn sáng quá lâu. Richard không muốn nhận lời. Chàng không muốn ở Lagos lâu hơn. Chàng muốn đi du lịch vòng quanh quốc gia này trong khi chờ Nsukka trả lời chàng. Nhưng Susan đã thuê người trang trí lại phòng đọc sách rất lớn và thoáng khí của cô, vì thế chàng về ở với cô. Ngày này qua ngày khác, chàng ngồi trên ghế da của cô, vùi đầu vào sách và những bài nghiên cứu, nhìn mấy người làm vườn đang tưới cỏ qua cửa sổ và nện vào cái máy chữ, mặc dù chàng hiểu là mình đang đánh máy chứ không viết tay. Susan rất cẩn thận để chàng có được sự yên lặng cần thiết, ngoại trừ những lúc cô thò đầu vào phòng và hỏi thầm thì, “Anh có muốn uống ít trà không?”, hay là “Uống nước nhé?”, hay là “Ăn trưa sớm một chút được không?”. Chàng cũng trả lời thầm thì như thể văn chương của chàng bỗng trở thành một thứ gì đó quý giá ghê lắm và nó làm căn phòng trở nên không thể bị xúc phạm. Chàng không thể nói cho Susan biết là chàng chưa viết được gì có giá trị cả, và những ý tưởng trong đầu chàng chưa cô đọng thành nhân vật, khung cảnh hay chủ đề. Chàng tưởng tượng cô ấy sẽ buồn; văn của chàng đã biến thành trò giải trí hạng nhất và ngày nào cô cũng mang sách báo ở thư viện của Hội đồng Anh về nhà. Cô tin rằng quyển sách của Richard đã thành hình và vì thế chỉ cần tiếp tục cho xong. Chàng, ngược lại, chưa biết đề tài của mình là gì nhưng chàng rất cảm ơn lòng tin của cô. Dường như lòng tin của cô làm quyển sách trở nên có thật và chàng bày tỏ lòng biết ơn bằng cách tham dự những buổi tiệc mà chàng không thích. Sau vài buổi, chàng quyết định đi dự tiệc thôi chưa đủ, chàng sẽ cố gắng làm ra vẻ khôi hài. Nếu chàng có thể nói một câu gì dí dỏm khi chàng được giới thiệu, có lẽ điều này sẽ đền bù cho bản tính im lặng của chàng và quan trọng hơn cả là nó sẽ làm Susan vui lòng. Chàng bắt đầu tập một số câu nói tự chế giễu mình trước tấm gương trong phòng tắm. “Đây là Richard Churchill”, Susan giới thiệu và chàng bắt tay rồi tiếp lời, “Tôi không có dây mơ gì với ngài Winston cả đâu đấy, xin đừng nhầm. Hoặc là tôi e rằng tôi phải khôn khéo hơn chút ít”.
Bạn của Susan cười khi nghe thế mặc dù chàng tự hỏi không biết họ cười vì họ thương hại cái sự khôi hài vụng về của chàng hay là câu nói của chàng thật sự tức cười. Nhưng chưa có người nào nói “tức cười nhỉ” bằng cái giọng chế nhạo, giống như là Kainene đã nói lần đầu tiên trong phòng tiệc cocktail ở khách sạn Federal Palace. Nàng đang hút thuốc. Nàng có thể thổi ra những vòng khói thật tròn. Nàng đứng cùng nhóm với chàng và Susan, chàng liếc nhìn nàng, thầm nghĩ nàng hẳn phải là bồ nhí của một chính trị gia nào đó. Chàng thường làm thế với những người chàng gặp, cố đoán lý do họ có mặt ở đó, và thử đoán người nào đưa người nào đến dự buổi tiệc. Có thể bởi vì chàng sẽ không hề được mời đến bất cứ buổi tiệc nào nếu không có Susan. Chàng đã không nghĩ Kainene là con của một đại gia Nigeria bởi vì nàng chẳng có lấy một chút xíu nào cái vẻ đoan trang được dạy dỗ từ bé. Nàng có vẻ giống bồ nhí hơn, môi son đỏ choét, áo bó sát người, miệng lúc nào cũng phì phèo điếu thuốc.
Nhưng nàng không có nụ cười như đúc một khuôn hay cái vẻ xinh xắn hao hao nhau của mấy cô bồ nhí đó; cái vẻ hao hao từng khiến chàng nhiều lần thầm nghi mấy ông chính trị gia Nigeria đổi tình nhân với nhau. Thật ra, nàng không đẹp chút nào cả. Chàng chẳng để ý đến nàng cho tới khi một người bạn của Susan giới thiệu. “Đây là Kainene Ozobia, con gái của Ông Trùm Ozobia. Kainene vừa lấy bằng Thạc sĩ ở London. Kainene, đây là Susan Grenville-Pitts, ở Hội đồng Anh, và đây là Richard Churchill”.
“Xin chào cô”, Susan nói với Kainene xong rồi quay sang nói chuyện với người khách khác.
“Xin chào”, Richard nói. Kainene làm thinh rất lâu; với điếu thuốc trên môi, nàng nhìn chàng một cách dò xét, cân nhắc. Chàng luồn mấy ngón tay qua tóc mình rồi lẩm bẩm, “Tôi không có dây mơ gì với ngài Winston cả đâu đấy, xin đừng nhầm. Hoặc là tôi e rằng tôi phải khôn khéo hơn chút ít”.
Nàng thở khói ra trước khi nói, “Tức cười nhỉ”. Nàng rất gầy, rất cao, xấp xỉ chàng; nàng nhìn thẳng vào mắt chàng, ánh mắt lạnh lẽo như ánh thép. Da nàng óng ánh nâu màu sôcôla đắt tiền của Bỉ. Chàng đứng choãi chân ra một cách vững vàng, bởi chàng sợ nếu không làm như vậy, chàng sẽ cụng đầu vào nàng.
Susan quay lại lắc nhẹ tay chàng nhưng chàng chưa muốn rời nàng và khi chàng mở miệng, chàng không biết chắc là mình sẽ nói gì. “Hóa ra anh và Kainene có cùng một người bạn ở London. Anh đã từng kể với em về Wilfred ở tờ Spectator chưa nhỉ?”
“Ồ!”, Susan nói rồi mỉm cười, “Thế thì hay quá! Em để hai người ôn lại chuyện xưa. Lát nữa em trở lại”.
Cô hôn một cặp vợ chồng già trước khi đi đến một nhóm khác ở góc phòng phía bên kia.
“Anh vừa nói dối vợ”, Kainene nói.
“Cô ấy không phải là vợ tôi”. Chàng ngạc nhiên thấy mình hơi hồi hộp khi đứng riêng với nàng. Nàng nâng ly lên môi và nhấp rượu. Nàng hít hơi vào rồi thở khói ra. Tàn thuốc xám bạc rơi xoáy xuống nền nhà. Tất cả mọi vật như chuyển động rất chậm. Phòng khiêu vũ của khách sạn như nở to hơn rồi xẹp xuống khi không khí được hút vào và thổi ra trong cùng một không gian, trong khoảnh khắc chỉ có chàng và Kainene chiếm ngự.
“Xin lỗi, anh có thể nhích xa hơn một chút không?”, nàng hỏi.
Chàng giật mình, “Sao ạ?”.
“Có người thợ chụp ảnh đằng sau anh đang rất muốn chụp tôi, đặc biệt là chuỗi hạt mà tôi đang đeo”.
Chàng bước tránh sang một bên và nàng nhìn chằm chặp vào ống kính máy ảnh. Nàng không đứng làm dáng mà có vẻ rất tự nhiên; có lẽ nàng đã quá quen với việc bị chụp hình ở các buổi tiệc.
“Ngày mai chuỗi hạt này sẽ được nhắc đến trong tờ Lagos Life. Tôi nghĩ đó là cách tôi cống hiến cho quốc gia của chúng tôi, mới vừa được độc lập. Tôi đang cho người dân nước tôi một cái gì đó để theo đuổi, một cái cớ để làm việc tận lực”, nàng nói và trở lại đứng cạnh chàng.
“Chuỗi hạt rất đẹp, rất dễ thương”, chàng nói, mặc dù nó có vẻ hơi phô trương, kệch cỡm. Chàng muốn thò tay ra chạm vào nó, nâng nó lên khỏi cổ nàng rồi để nó xuống như cũ, dựa vào hõm cổ nàng. Xương cổ nàng nhô ra, nhọn hoắt.
“Dĩ nhiên là nó chẳng đẹp cũng chẳng dễ thương chút nào. Bố tôi không có con mắt thẩm mỹ trong việc chọn nữ trang”, nàng nói. “Nhưng đó là tiền của ông. Ô! Mẹ và em tôi đang tìm tôi kia kìa, tôi phải về”.
“Em cô cũng đang có mặt ở đây?” Richard vội vàng hỏi trước khi nàng có thể quay đi.
“Vâng. Chúng tôi là chị em song sinh”, nàng nói và ngưng lại một chút, làm như đã tiết lộ một điều rất quan trọng. “Kainene và Olanna. Tên cô ấy nghe rất lãng mạn, Báu Vật [3] của Thượng Đế, còn tên tôi thực tế hơn, nó có nghĩa là Để Xem Tới Đây Thượng Đế Sẽ Mang Cái Gì Đến”.
Richard nhìn miệng nàng cười, khóe môi cong lên đầy hoài nghi và mỉa mai, chàng nghĩ nó như ẩn giấu, có lẽ, một điều gì không thỏa mãn. Chàng không biết phải nói gì. Chàng có cảm tưởng thời gian đang trôi tuột khỏi tay mình.
“Ai già hơn?”, chàng hỏi.
“Ai già hơn? Câu hỏi gì kỳ cục thế. Tôi đã bảo là tôi sinh ra trước”.
Richard lắc lắc ly rượu vang trong tay và tự hỏi nếu chàng nắm nó chặt hơn một chút, liệu chàng có bóp nát nó hay không?
“Kia rồi, cô em gái của tôi”, Kainene nói. “Tôi có nên giới thiệu anh với cô ấy không? Ai cũng muốn gặp cô ấy”.
Richard không quay lại để nhìn. “Tôi chỉ muốn được nói chuyện với cô”, chàng nói. “Nếu cô không phiền, thế thôi”. Chàng lại vuốt tóc. Nàng đang ngắm chàng; chàng cảm thấy mình bé nhỏ lại như một thằng trai mới lớn khi cái nhìn của nàng dán chặt vào chàng.
“Anh hay cả thẹn”, nàng nói.
“Người ta còn gán cho tôi những lời tệ hại hơn”.
Nàng mỉm cười, dường như câu nói của chàng khá khôi hài, làm chàng cảm thấy ít nhất là mình cũng thành công trong việc làm cho nàng cười.
“Anh đã bao giờ đi chợ ở Balogun chưa?”, nàng hỏi. “Người ta bày những tảng thịt trên bàn. Anh có nhiệm vụ rờ nắn những tảng thịt đó, nâng lên đặt xuống, rồi chọn miếng nào anh thích. Em tôi và tôi là thịt. Chúng tôi có mặt ở đây để cho những người xứng đáng làm vị hôn phu của chúng tôi săm soi con mồi”.
“Ồ”, chàng thốt lên. Chi tiết này quá riêng tư và tế nhị để nàng có thể thổ lộ với chàng, nhưng nàng cứ nói bằng cái vẻ mỉa mai dửng dưng bẩm sinh của mình. Chàng cũng muốn kể nàng nghe một vài điều về mình; muốn trao đổi từng hạt giống yêu thương với nàng.
“Cô vợ mà anh chối không phải là vợ của anh đang trở lại đấy”, Kainene nói khẽ.
Susan trở lại và dúi vào tay chàng một ly rượu. “Đây, anh yêu”, cô nói, rồi quay sang Kainene. “Rất hân hạnh được gặp cô”.
“Rất hân hạnh được gặp ”, Kainene nói và khẽ nâng ly về hướng Susan.
Susan lái chàng sang hướng khác. “Cô ta là con gái của Ông Trùm Ozobia, phải không? Cô ta làm sao thế nhỉ? Thật kỳ lạ; mẹ cô ta đẹp lắm, đẹp kinh khủng. Ông Trùm là chủ sở hữu phân nửa bất động sản của Lagos đấy, nhưng ông luôn có cái vẻ của một kẻ mới phất. Ông ta không có học thức cao, anh biết không, cả vợ ông ta cũng thế. Em nghĩ điều đó khiến cho ông ta có vẻ kệch cỡm hơn”.
Những mẩu lý lịch ngắn Susan kể thường làm Richard thấy thú vị và buồn cười, nhưng lúc này những lời thì thào của cô ta lại làm chàng khó chịu. Chàng không muốn uống sâm banh; và móng tay cô ta bấu chặt vào da chàng. Cô ta dẫn chàng đến một nhóm người lưu vong và dừng lại trò chuyện với họ, cười vang, say ngà ngà. Chàng nhìn quanh phòng để tìm Kainene. Thoạt tiên, chàng không tìm thấy bóng áo đỏ nhưng rồi chàng thấy nàng đang đứng cạnh bố; Ông Trùm Ozobia có vẻ rất cởi mở và khá ồn ào trong cái cách ông khoa bàn tay mập mạp, bộ quần áo đắt tiền agbada được thêu tinh tế và hết nếp gấp này đến ly kia của đùm vải xanh làm chiều ngang của ông có vẻ nở rộng hơn. Bà vợ ông nhỏ bằng phân nửa người chồng, khoác một tấm choàng và đội mũ, cũng màu xanh. Richard sững sờ nhận thấy đôi mắt hạnh nhân thật cân đối; trên gương mặt có nước da sậm của bà, nó đẹp đến độ làm người ta kinh hãi. Có lẽ chàng chẳng bao giờ có thể đoán được bà là mẹ Kainene, cũng như Kainene và Olanna là chị em song sinh. Olanna thừa hưởng nét đẹp của mẹ, mặc dù vẻ đẹp của nàng gần gũi, thân thiện hơn, với gương mặt dịu dàng, nụ cười duyên dáng và thân hình đầy những đường cong nét lượn rất gợi cảm trong chiếc áo đen. Cái thân hình mà Susan cho là rất Phi châu. Trông Kainene càng gầy hơn khi đứng cạnh Olanna; nàng có thân hình gần như là của một chàng trai. Cái váy dài đến mắt cá chân bó chặt lấy người làm tăng thêm vẻ gầy gò như con trai ở chỗ mông. Richard nhìn nàng đăm đăm như cố ý dùng thần giao cách cảm khiến Kainene phải tìm chàng. Nàng có vẻ lạnh lùng cao ngạo, nhìn mọi người trong nhóm của mình bằng một cái nhìn lạnh nhạt, giễu cợt. Cuối cùng nàng ngẩng lên và mắt nàng gặp ánh mắt chàng; nàng nghiêng đầu, nhướn mày, làm như nàng biết rất rõ chàng đã ngắm nghía nàng từ lâu. Chàng nhìn sang hướng khác. Rồi ngay lập tức, chàng nhìn lại hướng nàng, định bụng lần này sẽ mỉm cười, làm một cử chỉ thân thiện nào đó, nhưng nàng đã quay lưng về phía chàng. Chàng ngắm nàng cho đến khi nàng ra về với bố mẹ và Olanna.

Richard tìm đọc tờ Lagos Life số ra ngày hôm sau, và khi chàng nhìn thấy tấm ảnh của nàng, chàng cố gắng tìm kiếm một sắc thái cảm xúc trên mặt nàng, nhưng tìm cái gì thì chính chàng cũng không biết. Chàng viết vài trang trong một cơn phấn khích bột phát, hiệu quả không ngờ, những chân dung tưởng tượng của một người đàn bà cao có màu da của gỗ trắc với một bộ ngực gần như lép kẹp. Chàng đến Thư viện Hội đồng Anh và tìm tư liệu về ông bố của nàng trong đống báo chí về kinh doanh - thương mại. Chàng chép hết cả bốn số điện thoại in cạnh tên OZOBIA trong quyển niên giám điện thoại. Chàng nhấc điện thoại lên rất nhiều lần nhưng lại đặt xuống khi nghe giọng của người trực tổng đài. Chàng tập nói trước gương, từng cử chỉ động tác, cho dù chàng biết rất rõ là nàng chẳng thể nhìn thấy chàng nếu hai người nói chuyện bằng điện thoại với nhau. Chàng định gửi cho nàng một tấm thiệp hay một giỏ hoa quả. Cuối cùng, chàng gọi. Nàng không có vẻ gì ngạc nhiên khi nghe giọng chàng. Hay là bởi vì giọng nàng bình tĩnh quá, trong khi chàng đang đánh trống ngực.
“Mình có thể gặp nhau không?”
“Được chứ. Gặp ở khách sạn Zobis vào giữa trưa nhé? Khách sạn đó của bố tôi, và tôi có thể dành một phòng riêng cho chúng ta”.
“Vâng, vâng, thế thì hay quá”.
Chàng gác điện thoại, run rẩy. Chàng không biết chắc là mình có nên phấn khởi hay là hai chữ phòng riêng có vẻ mời gọi quá độ không. Khi họ gặp nhau ở đại sảnh của khách sạn, nàng đi gần sát người chàng đến nỗi chàng có thể hôn lên má nàng, dẫn đường lên cầu thang, đến sân thượng, nơi họ ngồi nhìn xuống mấy ngọn dừa bên cạnh hồ bơi. Hôm ấy là một ngày nắng đẹp rực rỡ. Đôi khi, một ngọn gió nhẹ lung lay ngọn dừa, chàng hy vọng nó đừng làm rối tóc mình, và cây dù to có thể che nắng để má chàng không bị những đốm đỏ như những quả cà chua chín mỗi khi chàng ra nắng.
“Anh có thể nhìn thấy Heathgrove, từ đây”, nàng chỉ tay nói. “Đó là cái trường cấp hai có mức học phí cao cắt cổ và có bí mật của người Anh mà cả hai chị em tôi đều học ở đó. Bố tôi cho rằng chúng tôi quá trẻ để được gửi đi học ở nước ngoài, nhưng ông nhất định dạy dỗ chúng tôi theo kiểu người châu Âu, càng Tây càng tốt”.
“Có phải ngôi nhà cao tầng có cái tháp cao?”
“Đúng đấy. Toàn trường chỉ vẻn vẹn có hai tòa nhà, thật vậy. Chỉ có một số rất ít người của chúng tôi ở đó. Nó riêng biệt đến nỗi rất ít người Nigeria biết sự hiện diện của nó”. Nàng nhìn đăm đăm vào ly rượu một lúc khá lâu. “Anh có anh chị em gì không?”
“Không. Tôi là con một. Cha mẹ tôi mất khi tôi mới vừa lên chín”.
“Chín tuổi. Anh còn quá bé”.
Chàng cảm thấy hài lòng vì nàng đã không làm ra vẻ quá thương hại và giả tạo như nhiều người biểu lộ; họ cứ làm như họ biết cha mẹ chàng, dù rằng họ chẳng biết tí nào.
“Hai người thường đi xa. Chỉ có Molly, người vú nuôi, thật sự chăm sóc tôi. Sau khi họ mất, người ta quyết định đưa tôi về ở với bác tôi tại London”. Richard hơi ngập ngừng, mừng vì chàng cảm thấy có cái gì đó thân thiết một cách kỳ lạ khi nói về mình, một điều mà rất hiếm khi chàng làm. “Hai người anh em họ cũng sàn sàn tuổi tôi nhưng họ rất chững chạc, khôn ngoan; bác Elizabeth khá sang trọng, cô biết đó, còn tôi chỉ là một đứa trẻ có quan hệ họ hàng ở một làng rất nhỏ tên là Shropshire. Tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện bỏ trốn ngay từ ngày đầu tiên tôi đến ở đấy”.
“Rồi anh có bỏ trốn không?”
“Rất nhiều lần. Nhưng người ta luôn luôn tìm thấy tôi. Thường là ở đâu đó trên phố”.
“Anh bỏ trốn để về với ai, với cái gì?”
“Sao?”
“Anh bỏ trốn để về với ai, với cái gì?”
Richard suy nghĩ một hồi lâu. Chàng biết mình chạy trốn căn nhà bởi có rất nhiều bức ảnh của những người đã chết từ rất lâu treo trên tường lầm rầm nói với chàng. Nhưng chàng không biết là chàng bỏ trốn để đến với ai. Trẻ con có bao giờ nghĩ đến điều này không?
“Có thể tôi muốn chạy về với Molly. Tôi không biết”.
“Tôi biết tôi muốn chạy đến với cái gì. Nhưng nó không hiện hữu, vì thế tôi không bỏ đi”, Kainene nói, dựa lưng vào ghế.
“Tại sao?”
Nàng châm một điếu thuốc, có vẻ như không nghe câu hỏi của chàng. Sự im lặng của nàng khiến chàng cảm thấy bất lực, và cố tìm cách làm nàng chú ý đến mình. Chàng muốn nói với nàng về mấy cái bình đồng rất cổ. Chàng không nhớ rõ mình đọc về nghệ thuật Igbo-Ukwu này ở đâu. Truyện rằng, có một người bản xứ muốn đào một cái giếng. Trong khi đào, ông ta phát hiện ra mấy cái khuôn đúc đồng, có thể là những khuôn đúc đầu tiên của người Phi châu, từ tận thế kỷ IX. Chàng thấy mấy bức hình này ở tạp chí Colonies. Chàng chú ý đến mấy cái bình đồng này ngay; chàng sờ lên tấm hình và cảm thấy thèm được tận tay chạm vào mấy cái bình đồng này, thèm đến độ nhức nhối. Chàng định nói là cái bình này đã làm chàng suy nghĩ rất nhiều nhưng chàng quyết định thôi. Chàng nên chờ một thời gian nữa. Ý nghĩ này làm lòng chàng lắng dịu, bởi vì chàng chợt nhận ra điều mà chàng muốn nhiều nhất vào lúc này, với nàng, là thời gian.
“Có phải anh đến Nigeria để chạy trốn điều gì không?”, cuối cùng nàng hỏi.
“Không”, chàng nói. “Tôi luôn luôn là một người cô độc và tôi thèm được thăm viếng Phi châu, vì thế tôi xin được tạm dừng công việc khiêm tốn của tôi ở tòa báo, vay một khoản khá lớn của bác tôi và đến đây”.
“Tôi không thể nào tưởng tượng được anh là người cô độc”.
“Tại sao?”
“Tại vì anh rất đẹp trai. Người đẹp thì ít khi cô độc”. Nàng nói thẳng thừng, như không phải là một lời khen, vì thế chàng hy vọng nàng không nhìn thấy chàng đang đỏ mặt.
“Không, tôi rất cô độc”. Chàng nói, không thể nghĩ ra điều gì để tiếp tục. “Tôi vẫn luôn cô độc”.
“Một người cô độc, và cũng là một nhà thám hiểm hiện đại về Lục địa Đen”, nàng lạnh lùng nói.
Chàng phá lên cười. Tiếng cười cứ thế bật ra, không kìm chế được; chàng nhìn xuống hồ nước trong xanh, chợt nghĩ, có thể màu xanh cũng là màu hy vọng.
Ngày hôm sau hai người gặp nhau, đi ăn trưa, rồi hôm sau nữa. Cứ mỗi lần như thế nàng lại dẫn đường đến căn phòng riêng và họ ngồi trên sân thượng ăn cơm, uống bia lạnh. Nàng rà đầu lưỡi quanh miệng ly trước khi hớp từng ngụm nhỏ. Hình ảnh này kích động ham muốn của chàng, ngay khoảnh khắc chàng nhìn thấy cái đầu lưỡi tươi hồng của nàng, lòng chàng càng rộn ràng hơn khi cử chỉ của nàng hầu như vô thức. Sự im lặng của nàng mang đầy vẻ khép kín xa cách, nhưng chàng lại thấy rất gần gũi. Có thể điều này xảy ra chính là bởi vì nàng có vẻ xa cách và khép kín. Chàng thấy mình nói chuyện với nàng bằng cách mà chàng chưa từng có, và khi hết giờ nàng đứng dậy, thường là để đi họp với bố của nàng, chàng có cảm tưởng như máu trong hai bàn chân mình đông đặc. Chàng không muốn rời nàng, cũng không muốn trở lại phòng làm việc của Susan, ngồi đó, kì cạch từng chữ và chờ những tiếng gõ cửa nhẹ nhàng, rụt rè của Susan. Chàng không hiểu tại sao Susan không nghi ngờ gì cả, tại sao nàng nhìn chàng mà không phát hiện tình cảm của chàng đã thay đổi biết bao nhiêu, tại sao nàng không để ý là chàng dùng nhiều nước hoa sau những lần cạo râu. Dĩ nhiên là chàng chưa hề phản bội nàng, nhưng chung thủy không chỉ giới hạn trong phạm vi tình dục. Chàng cười với Kainene, kể Kainene nghe về bác Elizabeth, nhìn Kainene hút thuốc, chắc chắn những hành động đó có thể xem là phản bội; chàng cảm thấy thế. Nhịp tim của chàng đập nhanh hơn mỗi lần Kainene hôn từ giã chàng là một sự phản bội. Vì thế vào cái ngày Kainene không hôn từ giã chàng theo lệ thường, mà dán chặt môi nàng vào môi chàng, hé mở, chàng đã rất ngạc nhiên. Chàng đã chẳng dám cho phép mình hy vọng nhiều đến thế. Có thể đó là lý do tại sao chàng không thể cương cứng lên được: sự pha trộn giữa kinh ngạc và thèm muốn đầy bất lực. Họ cởi quần áo, hối hả. Thân thể trần truồng của chàng quyện chặt lấy người nàng, nhưng chàng lại nhẽo xìu. Chàng lần sờ mỏm xương đòn và xương hông của nàng, toàn tâm toàn lực, cố gắng tập trung tư tưởng để có thể làm tình với nàng, cố gắng dùng lòng khao khát để trấn áp nỗi lo lắng. Nhưng vẫn không thể cương cứng lên. Chàng có thể cảm nhận một sức nặng mềm nhũn đang đeo toòng teng giữa hai chân chàng.
Nàng ngồi trên giường, đốt thuốc.
“Anh rất tiếc”, chàng nói, và khi nàng nhún vai không trả lời, chàng ước gì mình đã không xin lỗi. Có cái gì đó hết sức thất vọng trong căn phòng sang trọng nhưng bày biện quá nhiều bàn ghế này, lúc chàng kéo quần lên, đáng lẽ ngay từ đầu chàng không nên cởi nó ra, trong lúc nàng đang gài móc áo ngực. Chàng ước gì nàng nói một vài câu bâng quơ gì đó.
“Ngày mai mình vẫn gặp nhau chứ?” Chàng hỏi.
Nàng thở khói ra bằng mũi và chờ khói biến mất trong không trung rồi hỏi, “Chuyện này có vẻ thô bạo quá phải không?”
“Ngày mai mình có gặp nhau không?” Chàng hỏi lại lần nữa.
“Em sẽ đi Port Harcourt với bố để gặp mấy người trong ngành dầu hỏa”, nàng nói. “Nhưng em sẽ trở lại vào chiều thứ Tư. Mình có thể ăn trưa với nhau”.
“Được, hôm ấy mình sẽ gặp nhau”. Richard nói, và cho đến khi nàng gặp chàng ở phòng khách của khách sạn, suốt mấy ngày liền chàng đã lo lắng vô cùng là nàng sẽ không đến nữa. Hai người ăn trưa và ngắm người ta bơi phía dưới lầu.
Nàng có vẻ hơi phấn khích, hút thuốc liên tục, và nói nhiều hơn. Nàng kể chàng nghe về những người nàng đã gặp từ khi nàng bắt đầu làm việc cho bố, là họ chẳng khác nhau chút nào cả. “Những người Nigeria thượng lưu đúng là một đám vô văn hóa, không đọc bất cứ cái gì, ăn thức ăn họ không thích với một giá cắt cổ ở nhà hàng của người Lebanese; những cuộc trò chuyện xã giao của họ chỉ quanh đi quẩn lại một đề tài: Cái xe mới mua chạy có tốt không?” Có một lần nàng cười to. Một lần nàng nắm tay chàng. Nhưng nàng không mời chàng lên phòng riêng, và chàng tự hỏi không biết nàng để hai người có thêm thì giờ tìm hiểu nhau, hay là nàng đã quyết định không quan hệ với chàng nữa.
Chàng không thể chủ động. Phải rất nhiều ngày sau đó nàng mới hỏi chàng có muốn vào bên trong khách sạn không, và chàng cảm thấy mình như một diễn viên đóng thế nhưng chỉ thầm mong diễn viên chính đừng đến để mình được diễn thay, song khi có cơ hội thì mình lại trở nên què quặt bởi sự vụng về của bản thân, không sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ dưới ánh đèn sân khấu như mình đã tưởng. Nàng chủ động vào phòng. Khi chàng bắt đầu kéo áo của nàng lên, nàng bình tĩnh và nhẹ nhàng đẩy chàng ra, dường như nàng biết sự hối hả là cách chàng che giấu lo lắng và sợ hãi. Nàng máng áo lên ghế. Chàng sợ là mình sẽ lại làm nàng thất vọng nên khi thấy mình cương cứng và nóng hổi, chàng thầm cảm ơn và sung sướng đến nỗi chàng chỉ vừa mới vào bên trong nàng là đã cảm thấy rung động mãnh liệt, đến nỗi không thể tự kìm chế. Hai người nằm nguyên như thế, chàng ở bên trên nàng, và một lúc sau chàng lăn xuống bên cạnh. Chàng muốn nói với nàng là điều này chưa bao giờ xảy ra với chàng cả. Chuyện chăn gối của chàng với Susan vẫn luôn thỏa mãn, cho dù hơi nhàm chán.
“Anh xin lỗi”, chàng nói.
Nàng châm thuốc, nhìn chàng. “Anh có muốn đến nhà em dùng cơm tối nay không? Bố mẹ em có mời thêm vài người”.
Trong một vài giây ngắn ngủi, chàng giật mình. Nhưng chàng nói, “Có chứ, anh rất muốn”. Chàng hy vọng lời mời này là một dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ sự tiến triển tình cảm của hai người, trong tâm tư của nàng. Nhưng khi chàng đến nhà bố mẹ nàng ở Ikoyi, nàng chỉ giới thiệu, “Đây là Richard Churchill”, và ngừng lại một lúc, như một lời thách thức, cha mẹ nàng cũng như những người khách khác muốn nghĩ thế nào cũng được. Bố nàng nhìn chàng từ đầu đến chân rồi hỏi chàng làm nghề gì.
“Cháu là nhà văn”, chàng trả lời.
“Nhà văn? Thì ra thế”, Ông Trùm Ozobia nói.
Richard ước gì mình đã không tự giới thiệu là nhà văn và vì thế, chàng nói thêm, như để “tô điểm” thêm cho cái nghề viết văn của mình, “Những khám phá mới lạ ở Igbo-Ukwu đã vô cùng quyến rũ cháu. Đặc biệt là những tượng đồng cổ xưa”.
“A há”, Ông Trùm Ozobia gật gù. “Anh có gia đình buôn bán làm ăn ở Nigeria không?”
“Thưa không”.
Ông Trùm Ozobia cười và nhìn lảng ra chỗ khác. Suốt buổi tối hôm ấy, ông không trò chuyện nhiều với Richard. Cả bà vợ ông cũng thế. Bà theo chồng đi loanh quanh, phong cách của bà thật sang trọng, uy nghi, vẻ đẹp của bà, khi nhìn gần càng làm người ta thán phục hơn. Olanna thì khác hẳn. Nàng có vẻ hơi dè dặt khi Kainene giới thiệu hai người với nhau, nhưng sau một lúc trò chuyện, nàng trở nên thân mật hơn, và chàng thầm hỏi không biết ánh lửa chập chờn trong mắt nàng có phải là sự thương hại hay không, không biết nàng có nhận ra là chàng đã sốt sắng cố gắng nói chuyện cho đúng nhưng thật-ra-lại không biết như thế nào là đúng. Sự thân mật của nàng làm chàng hãnh diện.
Chàng có cảm tưởng bị ai tước đoạt một cái gì đáng giá khi nàng ngồi cách chàng khá xa trong bữa ăn. Món xà lách vừa mới được dọn ra và nàng vừa bắt đầu thảo luận chính trị với một người khách khác. Richard biết mọi người đang nói về việc xứ Nigeria cần phải trở thành một nước cộng hòa và phải chấm dứt việc tuyên bố Nữ hoàng Elizabeth là lãnh đạo của quốc gia, nhưng chàng không tập trung chú ý đến câu chuyện cho tới khi nàng quay về phía chàng và hỏi, “Anh có đồng ý không, Richard?”, làm như ý kiến của chàng quan trọng lắm vậy.
Chàng đằng hắng. “Ồ, đương nhiên rồi”, chàng nói, mặc dù chàng không biết chắc là mình đồng ý chuyện gì. Chàng thầm cảm ơn là nàng đã cố ý kéo chàng vào câu chuyện và chàng bị quyến rũ bởi vẻ duyên dáng của nàng có cái gì đó vừa lịch lãm vừa ngây thơ; chất lý tưởng đã không bị những chuyện tầm thường của đời sống bóp nghẹt. Da nàng sáng bóng. Hai gò má nàng hiện rõ nét khi nàng cười. Nhưng nàng không có cái vẻ buồn đầy bí ẩn và quyến rũ của Kainene, điều này làm chàng vừa vui thích vừa ngẩn ngơ. Kainene ngồi cạnh chàng suốt bữa ăn, không mấy khi lên tiếng, ngoại trừ một lần nàng hơi xẵng giọng bảo người bồi đổi cho nàng cái ly bẩn, một lần khác nghiêng người qua chàng hỏi nhỏ, “Cái món xốt này ăn buồn nôn quá, phải không?” Phần nhiều nàng chỉ phê phán, xét nét, quan sát, uống rượu và hút thuốc. Chàng muốn biết Kainene đang nghĩ gì, muốn đến độ chàng thấy nhức nhối. Mỗi khi chàng khao khát được làm tình với nàng, chàng cũng cảm thấy nhức nhối trong cơ thể như thế và chàng mơ ước được ở trong nàng, được ấn vào thật sâu bằng tất cả sức lực mà chàng có thể, cố tìm một cái gì đó mà chàng biết mình không bao giờ gặp. Cũng giống như uống một ly nước nhưng không bao giờ hết khát và luôn luôn cuồn cuộn một nỗi lo sợ là cơn khát sẽ không bao giờ được thỏa mãn.

Richard lo ngại cho Susan. Những khi nhìn cái cằm cương nghị và đôi mắt màu xanh ấy, chàng luôn tự bảo mình thật tồi vì đã lừa dối cô, trốn biệt trong phòng làm việc cho đến khi cô ngủ say, nói dối cô là mình ở thư viện, viện bảo tàng hay câu lạc bộ golf. Cô đáng được đối đãi đường hoàng, tử tế hơn. Ở gần Susan, chàng luôn cảm thấy một sự yên ổn chắc chắn. Có sự an toàn trong những lời thì thầm của cô cũng như trong căn phòng làm việc đầy những bức phác họa của Shakespeare bằng bút chì treo trên tường. Kainene thì khác. Mỗi lần rời Kainene, chàng luôn cảm thấy choáng ngợp hạnh phúc và đồng thời cũng chóng mặt vì nỗi bất an. Chàng muốn hỏi nàng những điều họ chưa bao giờ thảo luận với nhau - quan hệ giữa hai người, tương lai, Susan - nhưng những nỗi bất an này làm chàng câm nín mỗi lần gặp nhau; chàng sợ không biết nàng sẽ trả lời như thế nào.
Chàng gạt hết những toan tính qua một bên cho đến một buổi sáng, chàng thức giấc và nhớ lại kỷ niệm hồi ở Wentnor, khi chàng đang chơi ngoài sân và nghe Molly gọi, “Richard! Ăn tối!”; thay vì trả lời, “Em về đây!”, và chạy về hướng của chị ấy thì Richard lại cúi người luồn qua một bụi cây, làm trầy xước đầu gối. “Richard! Richard!”, giọng Molly nghe càng lúc càng hốt hoảng, nhưng Richard vẫn làm thinh, thu người lại. “Richard! Em đâu rồi, Dicky [4]”. Có một con thỏ dừng lại và nhìn Richard, rồi nó với con thỏ nhìn nhau; trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy chỉ có nó và con thỏ biết, nó đang ở đâu. Rồi con thỏ nhảy ra và Molly khom người ngó vào bụi rậm và thấy nó. Chị phết cho nó một cái rồi bắt nó phải ở trong phòng đến hết ngày. Chị nói là chị bực lắm và chị sẽ nói cho ông bà Churchill biết. Nhưng những khoảnh khắc ngắn ngủi ấy rất đáng giá, những khoảnh khắc hoàn toàn tự do, buông thả, khi nó có cảm giác chỉ có nó, chỉ một mình nó thôi, kiểm soát và làm chủ thế giới tuổi thơ của mình. Nhớ lại kỷ niệm này, Richard quyết định đoạn tuyệt với Susan. Mối quan hệ của chàng với Kainene chắc sẽ chẳng lâu dài, nhưng những lúc bên nàng, biết là mình không bị nhấn chìm bởi những lời dối trá và giả tạo, sẽ làm cho sự ngắn ngủi này có giá trị hơn.
Quyết định này làm chàng phấn chấn. Tuy vậy chàng vẫn trì hoãn chuyện đoạn tuyệt với Susan thêm một tuần nữa, cho đến khi họ trở về sau một buổi tiệc mà cô uống rất nhiều rượu.
“Có muốn uống một ly trước khi đi ngủ không cưng?”, cô hỏi.
“Susan, anh rất quý em”, chàng nói vội vàng. “Nhưng anh thấy chuyện này không mấy tốt đẹp - chuyện của chúng ta ấy”.
“Anh nói thế có nghĩa gì?” Susan hỏi, mặc dù giọng cô có vẻ kìm chế và nét mặt đầy vẻ né tránh của cô cho thấy cô hiểu chàng sắp nói gì.
Chàng đan luồn mấy ngón tay của mình qua tóc.
“Ai thế?” Susan hỏi.
“Không phải vì người đàn bà nào khác. Chỉ vì nhu cầu của chúng ta quá khác biệt nhau”. Chàng đã hy vọng giọng mình không có vẻ dối trá, nhưng đúng là những điều họ mong muốn rất khác nhau, cách họ đánh giá mọi chuyện khác nhau. Đáng lẽ ra chàng không nên về sống chung với cô.
“Cô ta không phải là Clovis Bancroft chứ?” Hai vành tai cô đỏ rấy lên. Chúng luôn có màu đỏ mỗi khi cô uống rượu. Nhưng chỉ bây giờ chàng mới thấy chúng kỳ cục, hai cái vành tai đỏ giận dữ thò ra bên ngoài khuôn mặt nhợt nhạt của cô.
“Không, chắc chắn không phải là cô ta”.
Susan tự rót cho mình một ly nữa và ngồi trên tay ghế sofa. Hai người cùng yên lặng một lúc khá lâu. “Em đã mơ tưởng anh từ giây phút đầu tiên em gặp anh, cho dù em đã không nghĩ là em sẽ có thể làm như thế thật đó. Em nghĩ là sao mà anh đẹp và dịu dàng đến thế và em nguyện sẽ không bao giờ để anh lọt ra khỏi tầm tay em”. Cô cười và chàng để ý thấy những nếp nhăn rất nhỏ xung quanh mắt cô.
“Susan...”, chàng định nói nhưng ngừng lại vì không có gì để nói với nhau nữa cả. Chàng không biết là cô đã có ý nghĩ như thế về chàng. Chàng chợt nhận ra là họ rất ít khi nói chuyện với nhau, tình cảm hai người dành cho nhau giống như một dòng chảy không tự nhiên vì không có sự vun đắp của cả hai, hay ít nhất cũng từ phía chàng. Cái quan hệ tình cảm chỉ là một chuyện tình cờ đến với chàng.
“Mối quan hệ này đến với anh quá hấp tấp, vội vàng phải không?” Susan nói. Cô đến đứng cạnh chàng. Cô đã lấy lại bình tĩnh, cằm cô không còn run rẩy nữa. “Anh không có cơ hội để thám hiểm, tìm hiểu, thật tình là như thế để hiểu biết đất nước này nhiều hơn như anh mong muốn. Anh dọn về ở chung, rồi em bắt anh phải đi với em đến những bữa tiệc chán ngấy, gặp toàn những người không ai quý trọng chuyện viết lách hay là mỹ thuật của châu Phi. Chắc là những điều này làm anh rất khó chịu. Em thành thật xin lỗi. Richard, em hiểu. Dĩ nhiên, anh phải thưởng ngoạn đất nước này. Em có thể giúp gì không? Em có bạn bè ở Enugu và Kaduna”.
Richard gỡ ly rượu ra khỏi tay cô, đặt xuống và ôm cô vào lòng. Chàng cảm thấy thoảng chút nhớ tiếc mùi táo của dầu gội đầu trên tóc cô. “Không, anh sẽ không sao đâu”, chàng nói.
Cô chưa tin là mọi chuyện đã kết thúc, rõ ràng cô nghĩ chàng sẽ quay trở lại với cô nhưng chàng cũng không nói gì thêm để thuyết phục cô nên nghĩ khác đi. Khi người giúp việc với cái tạp dề trắng mở cửa cho chàng ra về, chàng thấy nhẹ lâng lâng.
“Tạm biệt, thưa ông”, anh ta nói.
“Vĩnh biệt, Okon”. Richard tự hỏi không biết anh chàng Okon hay soi mói tọc mạch có áp tai vào cửa lắng nghe mỗi lần Susan đập ly. Có lần chàng nhờ anh ta dạy cho những câu đơn giản bằng tiếng Efik, nhưng Susan ngăn lại sau khi cô ta bắt gặp cả hai người trong phòng học, Okon nhấp nhổm có vẻ lo lắng lúc Richard đang tập phát âm. Okon nhìn Susan một cách hàm ơn, như là cô đã giải phóng anh ta thoát khỏi tay một anh chàng da trắng khá điên rồ, rồi sau đó Susan rất ôn hòa khi giải thích là cô hiểu Richard không biết cách sống ở đây. Có những ranh giới người ta không thể vượt qua. Lối nói đó làm chàng nhớ đến bà bác Elizabeth, đến những quan điểm đã được bảo trợ và củng cố bằng phẩm hạnh của người Anh, tự nuông chiều bản thân, không bao giờ hối hận vì cái ưu việt của chính họ. Rất có thể nếu chàng đã từng kể cho Susan biết về Kainene, chắc là cô ta cũng dùng cái giọng đó để bảo chàng là chàng cần phải thử nghiệm với đàn bà da đen.
Richard nhìn thấy Okon vẫy tay lúc chàng lái xe đi. Chàng thấy thèm được hát, mặc dù chàng không phải là người hay hát. Tất cả những ngôi nhà trên đường Glover cũng giống như nhà của Susan, rộng lớn, sang trọng nằm giữa vòng ôm của mấy cây dừa cảnh và mấy bãi cỏ mơ màng ngủ.
Buổi chiều hôm sau, Richard trong “trang phục của Adam” ngồi trên giường, nhìn xuống thân hình Kainene. Chàng lại thất bại trong việc làm cho nàng thỏa mãn. “Anh xin lỗi. Anh nghĩ là anh bị kích thích quá độ”, chàng nói.
“Em có thể hút thuốc không?”, nàng hỏi. Tấm trải giường mềm như lụa viền quanh những đường cong mảnh mai của nàng. Chàng châm thuốc cho nàng. Nàng ngồi dậy phía dưới tấm ga trải giường, cái nhũ hoa màu nâu đậm của nàng săn cứng trong hơi lạnh của căn phòng, nàng quay mặt qua hướng khác, thở khói. “Mình cứ chờ xem”, nàng nói. “Và có nhiều cách khác nữa”.
Richard bỗng thấy bực dọc, cáu kỉnh với chính mình vì chàng chỉ là một kẻ bất lực vô dụng, và với cả nàng bởi vì nụ cười nửa như mỉa mai cùng câu nói có nhiều cách khác, làm như chàng là gã bất lực mãn tính, không thể nào làm tình được, nếu chỉ dùng những cách truyền thống. Chàng biết mình có thể làm được. Chàng biết là mình có thể làm nàng thỏa mãn. Chỉ cần thời gian. Chàng cũng đã nghĩ đến việc dùng thảo dược, những loại cây cỏ bổ dương của đàn ông Phi châu mà chàng nhớ đã từng đọc đâu đó.
Nsukka chỉ là một mảnh đất nhỏ ở giữa rừng, nơi rẻ nhất người ta có thể mua để xây trường đại học”, Kainene nói. Nàng có thể chuyển hướng qua những chuyện đời sống thường ngày rất dễ dàng đến độ giật mình. “Chỗ ấy rất thuận tiện cho anh viết lách, phải không?”
“Đúng thế”, chàng nói.
“Có thể anh sẽ thích nơi đó và muốn ở lâu hơn”.
“Rất có thể”. Richard chui vào trong tấm chăn mỏng. “Nhưng anh rất mừng là em sẽ ở Port Harcourt và anh sẽ không phải đi mãi đến Lagos để gặp em”.
Kainene không nói gì, hít hơi vào và nhả khói ra đều đặn, trong một giây phút khủng hoảng, chàng tự hỏi không biết có phải nàng sắp bảo chuyện của hai người đến đây là chấm dứt và ở Port Harcourt, nàng sẽ tìm cho mình một người đàn ông khác có thể làm chuyện ấy.
“Nhà của em sẽ là chỗ rất thích hợp cho chúng ta gặp nhau vào cuối tuần”, cuối cùng nàng cũng nói. “Nhà to kinh khủng. Bố cho em để làm của hồi môn từ năm ngoái, em nghĩ, để dụ dỗ một người đàn ông đúng với sở thích của ông cưới đứa con gái xấu xí. Chẳng khác gì dân Tây phương nếu anh chịu để ý, bởi vì người Phi châu không có tục lệ dùng của hồi môn, người ta ra giá của cô dâu”. Nàng dập điếu thuốc chưa hút hết. “Olanna nói nó không muốn lấy căn nhà, đó không phải là thứ nó cần. Để dành căn nhà cho đứa con gái xấu”.
“Đừng nói thế, Kainene”.
“Đừng nói thế Kainene”, nàng nhại chàng. Nàng nhỏm dậy và chàng muốn kéo nàng lại. Nhưng chàng đã chẳng làm thế; chàng không dám tin tưởng vào chính cơ thể của chàng và chàng không dám làm cho nàng thất vọng thêm lần nữa. Đôi khi chàng nghĩ là mình không biết gì về nàng, cũng như chàng không bao giờ có thể với tới nàng. Và mặc dù thế, những lần khác, khi nằm bên cạnh nàng, chàng lại có một cảm giác thật toàn vẹn, chắc chắn là không cần bất cứ một cái gì khác nữa.
“Mà này, em đã nhờ Olanna giới thiệu anh với anh chàng giảng viên, người tình cách mạng của nó”, Kainene nói. Nàng bỏ mái tóc giả của mình ra, với mái tóc thật rất ngắn tết thành từng hàng thật nhỏ, nàng có vẻ trẻ hơn và nhỏ nhắn hơn. “Lúc trước nó quen một anh chàng hoàng tử người Hausa rất dễ thương nhưng không có cá tính đặc sắc, anh chàng này không có những quan niệm bất thường và ảo ảnh điên rồ giống như nó. Anh chàng người yêu thứ hai, Odenigbo này, tự tưởng tượng mình là một người chiến đấu cho tự do. Anh ta là một nhà toán học nhưng lại dùng tất cả thì giờ để viết bài đăng báo về chủ nghĩa xã hội của Phi châu theo cái kiểu hiểu biết chắp vá lỗ chỗ của mình. Olanna mê lắm. Họ không biết chủ nghĩa xã hội chỉ là một trò cười lớn đến mức nào”. Nàng đội bộ tóc giả trở lại và bắt đầu chải tóc. Mái tóc hơi gợn sóng, rẽ ngay chính giữa, dài đến chấm cằm. Richard rất thích đường nét thanh mảnh của thân hình nàng, và cái dáng thon thả của cánh tay nàng lúc giơ lên.
“Chủ nghĩa xã hội có thể sẽ rất thành công ở Nigeria nếu áp dụng đúng đắn, anh nghĩ thế”, chàng nói. “Đó là sự công bằng kinh tế, đúng không?”
Kainene khịt mũi. “Chủ nghĩa xã hội không bao giờ có thể áp dụng cho người Igbo”. Nàng ngưng chải tóc, cây lược đang giơ lên. “Ogbenyealu là một cái tên rất phổ biến cho phái nữ. Anh có biết nó có nghĩa gì không? ‘Đừng lấy gã nghèo làm chồng’. Đặt cái tên ấy cho một đứa trẻ sơ sinh là chứng cứ hùng hồn nhất của chủ nghĩa tư bản”.
Richard cười phá lên, chàng còn buồn cười hơn khi nàng không cười; nàng chỉ tiếp tục chải tóc. Chàng nghĩ đến lần tới chàng sẽ cùng cười với nàng, rồi lần tới nữa. Chàng bắt gặp mình thường xuyên nghĩ đến tương lai ngay cả khi hiện tại vẫn còn chưa kết thúc.
Chàng đứng dậy và hơi thẹn khi nàng liếc nhìn chàng lõa thể. Có thể ánh nhìn không biểu lộ tình cảm của nàng chỉ để che giấu một sự bất mãn. Chàng vội vàng kéo quần lên và cài cúc áo.
“Anh đã cắt đứt quan hệ với Susan”, chàng buột miệng. “Anh đang ở khách sạn Princewill ở Ikeja. Anh sẽ thu dọn hết tư trang của anh ở nhà cô ấy trước khi anh đi Nsukka”.
Kainene nhìn chàng không chớp mắt; chàng nhìn thấy vẻ ngạc nhiên trên mặt nàng và còn có thêm một vẻ gì đó mà chàng không biết chắc. Có phải là sự bối rối? Hay khó hiểu?
“Ngay từ đầu, mối quan hệ này đã không mấy thích hợp, thật đó”, chàng nói. Chàng không muốn nàng nghĩ là chàng làm việc này chỉ vì nàng, cũng không muốn nàng hỏi chàng về mối quan hệ này. Chưa đúng lúc.
“Anh cần có một người giúp việc”, nàng nói.
“Cái gì?”
“Một người giúp việc ở Nsukka. Anh cần có một người giặt quần áo và dọn dẹp trong nhà”.
Chàng thoáng bối rối bởi lối nói chuyện “nhảy cóc” của nàng. “Một người giúp việc? Anh có thể tự lo việc này, anh ở một mình đã bao nhiêu năm”.
“Em sẽ nhờ Olanna tìm giúp”, Kainene nói. Nàng rút một điếu trong hộp thuốc nhưng không bật lửa. Nàng đặt nó xuống bên cạnh bàn, bước đến và ôm chàng, hai cánh tay nàng quấn quanh chàng thật chặt; chàng run rẩy. Chàng ngạc nhiên thấy mình không ôm lại nàng. Nàng chưa bao giờ ôm chàng chặt như vậy khi hai người nằm trên giường. Nàng cũng có vẻ như không biết ôm để làm gì, bởi vì nàng bước lui rất nhanh và châm thuốc. Chàng thường nghĩ về cái ôm đó, và mỗi lần nghĩ đến, chàng có cảm giác như bức tường ngăn cách đã bắt đầu rạn vỡ.

Một tuần sau, Richard đi Nsukka. Chàng lái xe với tốc độ trung bình, một lần tấp vào trong lề để nhìn sơ đồ Kainene vẽ bằng tay cho chàng. Sau khi qua khỏi con sông Niger, chàng quyết định dừng ở Igbo-Ukwu. Cuối cùng chàng cũng đã đến vùng đất của người Igbo; chàng muốn xem bình đồng hơn bất cứ điều gì. Một vài căn nhà xây rải rác ở trong làng, chúng làm hỏng bức tranh quý giá với những căn chòi làm bằng bùn khô chiếm số đông ở hai bên con đường đất. Mấy con đường mòn thật hẹp, vì thế chàng phải dừng xe thật xa rồi đi theo một người trẻ tuổi mặc quần soóc bằng vải ka ki; anh chàng này có vẻ quen với việc hướng dẫn khách tham quan. Tên anh ta là Emeka Anozie và là một trong những nhân viên khảo cổ. Anh chỉ cho Richard xem những cái rãnh hình chữ nhật ở địa điểm khai quật, mấy cái xẻng và đĩa đã được dùng để cọ cho đất rơi ra khỏi những chiếc bình đồng.
“Ông có muốn nói chuyện với trưởng lão của chúng tôi không? Tôi sẽ phiên dịch cho ông”, Emeka đề nghị.
“Cảm ơn anh”. Richard hơi bất ngờ trước sự thân mật của những người láng giềng đi theo, “Chào ông, nno”, họ nói như thể họ không bực mình vì chuyện chàng là khách không mời.
Lão Anozie quấn một miếng vải trông cáu bẩn quanh người rồi cột lại đằng sau cổ. Ông dẫn chàng vào obi, khu vực chính trong nhà dành riêng cho ông, chỗ này thiếu ánh sáng, có mùi ẩm mốc. Mặc dù Richard đã đọc và biết quá trình người ta khám phá mấy bộ bình cổ như thế nào, nhưng chàng vẫn hỏi. Lão Anozie lấy một cái ống trắng đưa lên mũi ngửi trước khi bắt đầu kể chuyện. Khoảng chừng hai chục năm trước, anh của ông đào giếng đụng phải một miếng kim loại, hóa ra là một quả bầu bằng đồng. Sau đó ông ta đào thêm được một ít đồ nữa, rửa sạch sẽ rồi gọi hàng xóm đến xem. Trông chúng rất đẹp và có vẻ quen thuộc, nhưng không ai biết có người nào làm những vật giống như vậy. Không lâu sau, tiếng đồn đến tai ông quận trưởng ở Enugu. Ông ta cho người mang các vật này đến ủy ban Nghiên cứu Cổ vật ở Lagos. Suốt một thời gian dài, không ai nhắc đến hay hỏi han gì về những đồ đồng này. Anh của lão làm xong cái giếng thì tiếp tục cuộc sống như bình thường. Thế rồi cách đây vài năm, có một người da trắng từ Ibadan đến khai quật. Họ thảo luận rất lâu trước khi công việc bắt đầu, bởi vì có một chuồng dê và một vách tường của làng phải bị rời đi, nhưng công việc tiến hành khá êm đẹp. Có một cơn bão cát và người ta sợ nó sẽ kèm theo mưa to; vì thế họ dùng tấm nhựa to phủ lên trên để che các đường rãnh. Họ tìm thấy nhiều đồ rất đẹp như quả bầu gỗ, vỏ trai xà cừ, nữ trang, những đồ có hình con rắn và lọ bình.
“Có phải người ta đào thấy hầm mộ không ạ?” Richard hỏi.
“Phải”.
“Ông có nghĩ hầm mộ này là của vua không?”
Lão nhìn Richard một lúc, ánh mắt đau đớn rồi nói làu bàu hồi lâu, trông đầy vẻ nuối tiếc. Emeka cười phá lên trước khi dịch. “Lão nói là lão tưởng anh là một trong mấy người da trắng có hiểu biết chút đỉnh. Lão nói là người Igbo vốn không biết vua là gì. Chúng tôi có thầy tế và trưởng lão. Cái hầm mộ ấy có thể là nơi chôn một thầy tế. Nhưng thầy tế không phải chịu cái khổ của con người như vua. Tại vì người da trắng đem đến cho chúng tôi mấy chữ ‘ông toàn quyền’, làm cho mấy thằng ngu tự gọi mình là vua như ngày hôm nay”.
Richard xin lỗi. Chàng biết người Igbo nổi tiếng là một bộ lạc theo chế độ dân chủ cả ngàn năm; nhưng cũng có một bài trong số vài bài tham luận về những cổ vật của người Igbo-Ukwu mới vừa khám phá cho rằng người dân Igbo-Ukwu đã một thời có vua nhưng sau đó từ bỏ chế độ này. Người Igbo, nói tóm lại, là những người sẵn sàng từ bỏ cả thần linh nếu các vị thần này không còn linh nghiệm nữa. Richard, ngồi tần ngần một lúc, tưởng tượng đến cuộc đời của những người có thể sáng tạo ra cái đẹp tinh diệu và tuyệt hảo như thế từ thời Alfred the Great [5]. Chàng muốn viết về điều này, dựa trên điều này mà sáng tạo, nhưng chàng không biết chắc nó là cái gì. Có thể là một tiểu thuyết dựa vào đề tài này, trong đó nhân vật chính là một nhà khảo cổ học đào những cổ vật bằng đồng đúc rồi hóa thân trở về sống trong nền mỹ thuật cổ đại ấy?
Chàng cảm ơn lão Anozie và đứng dậy để ra về. Lão nói điều gì đó và Emeka nói, “Lão hỏi là anh không chụp ảnh lão sao? Tất cả những người da trắng đến đây đều chụp ảnh”.
Richard lắc đầu. “Không, tiếc quá. Tôi không mang máy ảnh theo”.
Emeka cười rộ. “Lão hỏi anh là loại người da trắng gì? Tại sao anh đến đây và anh làm nghề gì?”
Lúc lái xe về hướng Nsukka, Richard cũng tự hỏi chàng đang làm gì, và càng lo lắng hơn với câu hỏi, mình sẽ viết cái gì.

Căn nhà của trường đại học trên đường Imoke được dành riêng cho các nhà nghiên cứu và nghệ sĩ; nó rất đơn sơ, gần như là nơi ở của người tu khổ hạnh; chàng nhìn hai cái ghế bành trong phòng khách, chiếc giường đơn, mấy cái tủ trống không trong nhà bếp, cảm thấy quen thuộc như đang ở nhà. Căn nhà đầy vẻ yên tĩnh cần thiết và thích hợp. Tuy thế, khi chàng đến thăm Olanna và Odenigbo, nàng nói, “Tôi nghĩ chắc anh muốn dọn căn phòng cho nó có vẻ tươm tất hơn một chút”, vì thế chàng nói, “Vâng”, mặc dù chàng thích cái vẻ tầm thường của bộ bàn ghế trong phòng. Chàng đồng ý bởi nụ cười của Olanna như là một phần thưởng, bởi vì sự quan tâm của nàng làm chàng sung sướng, hãnh diện. Nàng cứ nhất quyết là chàng nên thuê người làm vườn của họ, Jomo, mỗi tuần đến hai ngày để trồng một ít hoa trong sân. Nàng giới thiệu chàng với bạn bè của họ; nàng chỉ dẫn chợ búa cho chàng; và nàng thông báo đã tìm được cho chàng một người giúp việc phù hợp nhất.
Richard hình dung người giúp việc này là một chú bé nhanh nhẹn như Ugwu, nhưng Harrison lại là một người đứng tuổi gầy còm, lưng còng, mặc một chiếc sơ mi quá khổ dài qua đầu gối. Ông ta cứ mọp đầu cúi chào rất nhiều lần mỗi khi bắt đầu bất cứ một câu chuyện nào. Ông nói với Richard bằng vẻ tự hào không giấu giếm là trước đó ông đã từng làm việc cho một vị giám mục người Ireland, Cha Bernard, và giáo sư đại học người Mỹ, tên Land. “Tôi làm món salad củ cải đỏ rất ngon”, ngay ngày đầu tiên, ông khoe. Và dần dần Richard khám phá là ông ta hãnh diện không những chỉ với món salad củ cải đỏ mà còn với rất nhiều món khác có củ cải đỏ. Ông ta phải mua củ cải đỏ ở hàng bán rau cải đặc biệt vì người Phi châu không ăn loại rau này. Bữa tối đầu tiên Harrison nấu là món cá rất thú vị, khai vị bằng món salad củ cải đỏ. Tối hôm sau, một món củ cải hầm màu đỏ chót xuất hiện bên cạnh cơm của Richard. “Tôi dùng cách hầm khoai tây của người Mỹ để nấu món này”, Harrison nói khi ông ta nhìn Richard dùng bữa tối. Ngày hôm sau là món salad củ cải đỏ, hôm sau nữa củ cải hầm, lúc này có màu đỏ hãi hùng, kèm với thịt gà.
“Làm ơn đừng nấu món này nữa, Harrison”, Richard xua tay nói. “Đừng nấu củ cải đỏ nữa”.
Harrison có vẻ thất vọng nhưng nét mặt ông lại tươi ngay. “Nhưng thưa ông, tôi nấu thức ăn của nước ông; tất cả những món ông ăn giống như thức ăn ông hay ăn ngày còn nhỏ. Tôi không nấu thức ăn của người Nigeria, tôi chỉ nấu theo kiểu của người ngoại quốc”.
“Thức ăn của người Nigeria cũng ngon, Harrison”, Richard nói. Ước gì Harrison biết là chàng ghét cay ghét đắng thức ăn thời thơ ấu của mình, món cá hồi đầy xương ăn có vị hơi đăng đắng, món cháo đặc đến nỗi nó đóng váng trên bề mặt, dày như một lớp nhựa không cho nước ngấm xuống thấy phát ngán, món thịt bò ninh nhừ ngập trong nước xốt sền sệt màu nâu.
“Vâng, thưa ông”. Harrison có vẻ buồn vì thất vọng.
“Mà này Harrison, ông có biết loại thảo dược nào dành cho đàn ông không?” Richard hỏi, hy vọng giọng mình có vẻ bình thường.
“Ông nói gì ạ?”
“Cây cỏ dùng làm thuốc”. Richard diễn tả hú họa bằng tay.
“Rau cỏ, phải không ông? Ồ, tôi làm món salad của xứ ông rất ngon, thưa ông. Ngày trước tôi làm cho Giáo sư Land rất nhiều loại salad khác nhau, rất khác nhau”.
“Tôi biết nhưng tôi muốn nói đến loại rau hay cỏ được dùng làm thuốc trị bệnh”.
“Bệnh? Ông nên đến khám ở Trung tâm Y tế”.
“Tôi quan tâm đến thảo dược của người Phi châu, Harrison”.
“Nhưng thưa ông, mấy thứ đó không tốt đâu, mấy thứ đó là của mấy gã bác sĩ tà ma yêu quỷ”.
“Dĩ nhiên”. Richard chịu thua. Đáng lẽ chàng phải biết, Harrison với lòng sùng bái quá độ bất cứ cái gì thuộc về ngoại quốc không phải là người có thể trả lời câu hỏi của chàng. Chàng sẽ phải hỏi Jomo thôi.
Richard chờ cho tới khi Jomo đến và đứng bên cửa sổ nhìn ông ta tưới mấy bụi loa kèn mới trồng. Jomo đặt bình tưới sang một bên rồi bắt đầu nhặt những quả tán dù [6] hình bầu dục, màu vàng nhạt rụng xuống sẵn từ đêm trước. Richard thường ngửi thấy mùi ngọt ngấu gắt của trái chín đang rữa mục, một mùi mà chàng biết nó luôn gắn liền với cuộc sống ở Nsukka. Jomo giữ một cái túi dệt bằng cọ đựng đầy quả tán dù khi chàng tiến đến gần ông ta.
“Ồ, chào ông, ông Richard, thưa ông”, ông ta nói một cách rất trang trọng. “Tôi sẽ đưa mấy trái cây này cho Harrison, nếu ông muốn. Tôi không lấy đâu”. Ông ta nói bằng tiếng Anh bồi. Jomo đặt cái túi xuống rồi cầm bình tưới lên.
“Không sao, Jomo. Tôi không muốn lấy trái nào cả”, Richard nói. “Ông có biết loại thảo dược nào dành riêng cho đàn ông không? Đàn ông có... vấn đề với đàn bà ấy?”
“Có, thưa ông”. Jomo tiếp tục tưới nước giống như đây là một câu hỏi mà ông ta nghe hằng ngày.
“Ông biết loại thảo dược đó?”
“Vâng, thưa ông”.
Richard lòng như mở cờ. “Tôi muốn nhìn thấy chúng, Jomo”.
“Thằng em tôi có vấn đề bởi vì người vợ thứ nhất của nó không thể có thai và người vợ thứ hai cũng không. Có một loại lá mà thầy dibia đưa cho nó bắt nó nhai. Bây giờ nó làm cho cả hai bà vợ có thai”.
“Ồ! Thế thì hay quá. Ông có thể lấy cho tôi loại thảo dược này không, Jomo?”
Jomo ngừng tưới nước và nhìn chàng, cái mặt thông thái nhiều nếp nhăn của ông ta đầy vẻ thương hại. “Loại thảo dược này người da trắng không dùng được, thưa ông”.
“Ồ, không, tôi chỉ muốn viết về nó thôi”.
Jomo lắc đầu. “Ông phải đến gặp dibia và ông phải nhai nó trước mặt ông ta. Không thể viết về nó được”. Jomo xây lưng lại trước cái nhìn của chàng, ê a một bài hát chẳng ra nhạc điệu gì cả.
“Tôi hiểu rồi”, Richard vừa nói vừa đi vào trong nhà. Chàng cố không để lộ vẻ thất vọng của mình. Chàng đi thẳng và tự nhắc mình rằng, dẫu sao, chàng cũng là ông chủ.
Harrison đứng ngoài cửa trước, giả vờ đánh bóng cửa kính. “Hình như có cái gì Jomo làm không tốt hả ông?” Ông ta hỏi, vẻ khấp khởi hy vọng.
“Tôi chỉ hỏi Jomo một vài chuyện thôi”.
Harrison có vẻ thất vọng. Rõ ràng ngay từ đầu ông ta và Jomo đã không hợp nhau, ông đầu bếp và gã làm vườn, người này nghĩ là mình giỏi hơn người kia. Có lần Richard nghe thấy Harrison bảo Jomo đừng tưới cây bên ngoài phòng làm việc bởi vì “tiếng nước chảy làm ông chủ không viết được”. Harrison cũng muốn Richard nghe được điều này vì ông ta nói rất to, đứng ngay bên ngoài cửa sổ phòng làm việc. Cái cách nịnh bợ, chăm chút của Harrison làm Richard thấy tức cười, cũng giống như thái độ kính cẩn của Harrison trước chuyện viết lách của chàng. Ông ta lau chùi máy đánh chữ của chàng mỗi ngày cho dù nó chẳng bao giờ đóng bụi cả. Ông ta cũng tỏ ra rất miễn cưỡng khi phải bỏ đi những tờ bản thảo chàng vứt trong thùng rác. “Ông không dùng mấy cái này nữa sao? Ông có chắc thế không?” Harrison hỏi, giơ lên mấy tờ giấy chàng đã vò nhàu, và Richard phải nói, đúng là chàng muốn ném nó đi thật. Đôi khi chàng tự hỏi không biết Harrison sẽ nói gì nếu ông ta biết chính chàng cũng không biết chắc là chàng viết về cái gì, rằng chàng đã viết một bản nháp về một nhà khảo cổ rồi ném nó đi, đã viết về một chuyện tình của một anh chàng người Anh với một người đàn bà Phi châu và cũng ném nó đi, và mới chỉ vừa bắt đầu viết về một thành phố nhỏ ở Nigeria. Phần lớn chất liệu cho những cố gắng mới nhất của chàng lấy từ những buổi tối chàng đến chơi nhà Odenigbo, Olanna, gặp gỡ bạn bè của hai người. Họ tiếp đón chàng một cách khá bình thường, không quá nồng nhiệt, và có thể vì thế mà chàng cảm thấy tự nhiên, im lặng ngồi trên ghế sofa trong phòng khách, chỉ lắng nghe.
Khi Olanna mới giới thiệu chàng với Odenigbo, “Đây là bạn của Kainene mà em đã nói với anh, Richard Churchill”, Odenigbo thân mật bắt tay chàng và nói, “Tôi không trở thành vị thủ tướng đầu tiên của vua chỉ để cai trị sự sụp đổ của đế quốc Anh”.
Phải một lúc sau Richard mới hiểu trước khi chàng bật cười vì Odenigbo nhái giọng Winston Churchill dở ơi là dở. Sau đó chàng ngắm nhìn Odenigbo khua tờ Daily Times rồi hét to, “Bây giờ là lúc mà chúng ta phải bắt đầu xóa bỏ tính chất thực dân trong nền giáo dục của chúng ta! Không thể chờ đến ngày mai; ngay bây giờ! Dạy cho họ biết lịch sử của chúng ta!”, và chàng nghĩ đây là một người đã tin chắc rằng sự lập dị là một phẩm chất cá nhân không mấy hấp dẫn, nhưng lại được chú ý nhiều nhất trong một gian phòng đầy những người rất quyến rũ. Chàng cũng lặng lẽ ngắm Olanna, cứ mỗi lần nhìn nàng là chàng lại có cảm giác mới lạ, nàng đẹp hơn từng giây từng phút trước đó. Chàng có một cảm giác không mấy vui khi nhìn thấy tay của Odenigbo đặt lên vai nàng và sau đó tưởng tượng hai người đang trên giường với nhau. Chàng và Olanna ít trao đổi với nhau, ngoại trừ những câu chuyện chung chung, nhưng một ngày trước khi chàng đi Port Harcourt, Olanna nói, “Richard, cho tôi gửi lời chào Kainene nhé”.
“Vâng”, chàng nói, đó là lần đầu tiên nàng nhắc đến Kainene.

Kainene đón chàng ở ga bằng cái xe Peugeot 404 của nàng rồi lái từ trung tâm Port Harcourt ra hướng biển về ngôi nhà ba tầng cô độc chơ vơ với hàng hiên viền bởi những cành hoa giấy có màu tím rất nhạt. Richard ngửi thấy mùi mặn của biển trong không khí lúc Kainene đưa chàng đi qua những phòng rất rộng với những bộ bàn ghế khác kiểu nhau nhưng kết hợp rất tinh tế hài hòa, những tác phẩm điêu khắc bằng gỗ, những bức tranh phong cảnh thanh bình, những bức tượng tròn trĩnh. Sàn nhà bóng loáng có mùi gỗ thơm.
“Em thường ước gì mình ở gần biển hơn chút nữa, để chúng ta có thể thấy cảnh đẹp hơn. Nhưng em thay đổi hết những thứ bố dùng để trang hoàng và nó không có vẻ của đám trọc phú mới phất, em làm thế có đúng không?” Kainene hỏi.
Richard bật cười. Không chỉ vì nàng đang chế giễu Susan - trước đó chàng có kể cho nàng nghe nhận xét của Susan về Ông Trùm Ozobia - mà vì nàng dùng chữ chúng ta. Chúng ta có nghĩa là cả hai người; nàng đã bao gồm cả chàng. Khi nàng giới thiệu chàng với người giúp việc của nàng, ba nam nhân viên mặc bộ đồng phục ka ki không mấy vừa vặn với thân hình của họ, nàng nói với nụ cười khô khan cố hữu, “Mọi người sẽ gặp Richard rất thường xuyên”.
“Xin chào ông”, họ đồng thanh và đứng thẳng, gần như là nghiêm chào lúc Kainene chỉ từng người rồi nói tên của họ: Ikejide, Nnanna, và Sebastian.
“Ikejide là người duy nhất có được nửa bộ não trong đầu”, Kainene nói.
Cả ba người cùng mỉm cười, có vẻ như họ đều có những ý nghĩ riêng, nhưng dĩ nhiên họ sẽ chẳng bao giờ bộc lộ.
“Bây giờ để em dẫn anh đi xem một vòng khuôn viên”. Kainene giả vờ khom người mời rồi dẫn chàng đi cửa sau ra vườn cam.
“Olanna nhờ anh chuyển lời chào em”, Richard nói và cầm tay nàng.
“Anh chàng người tình cách mạng của nó đã nhận anh vào trong nhóm của anh ta phải không? Chúng mình nên ăn mừng. Bởi vì trước đây anh ta chỉ cho phép các giáo sư da đen đến nhà anh ta”.
“Đúng thế, anh ấy có nói với anh. Anh ấy nói rằng Nsukka có rất nhiều người của USAID [7], Peace Corps [8], trường Đại học Michigan, và anh ta muốn tạo ra một diễn đàn để các giảng viên người Nigeria thảo luận”.
“Và tinh thần yêu nước nồng nhiệt của họ”.
“Có lẽ vậy. Anh ấy có một vẻ khác biệt rất thú vị”.
“Kỳ cục nhưng thu hút”. Kainene lặp lại. Nàng ngừng một chút để chà cái gì đó bẹp dí dưới gót xăng đan. “Anh thích họ, phải không? Olanna và Odenigbo”.
Chàng muốn nhìn vào mắt nàng, muốn tìm hiểu và khám phá xem nàng thích nghe câu trả lời như thế nào. “Đúng, anh thích hai người ấy”, chàng nói. Bàn tay nàng buông thõng trong tay chàng và chàng lo sợ nàng sẽ rút ra. “Họ giúp anh làm quen với Nsukka dễ dàng hơn”, chàng nói thêm, cố gắng giải thích vì sao chàng thích họ. “Anh quen với lối sống mới thật nhanh. Dĩ nhiên, nhờ có Harrison nữa”.
“Ồ, còn Harrison. Ông củ cải đỏ thì thế nào?”
Richard kéo nàng vào lòng, cảm thấy nhẹ người vì nàng không có vẻ giận phiền. “Ông ấy khỏe. Ông ấy tốt lắm, rất tức cười”.
Hai người đang ở trong vườn cam, dưới tán lá dày, và Richard thấy tràn ngập một cảm giác kỳ lạ. Kainene đang nói về một nhân viên của nàng, nhưng chàng thấy mình như đang tan biến, trí óc chàng bay bổng, chập chờn đây đó. Vườn cam, sự hiện diện của cây cối xung quanh chàng, tiếng ruồi bay vo ve trên đầu, màu xanh ngan ngát tứ bề đã gợi lại những kỷ niệm về ngôi nhà của cha mẹ chàng ở Wentnor. Có một điểm khác biệt, nơi đây là miền nhiệt đới ẩm ướt, mặt trời làm cho da ở cánh tay chàng ửng đỏ và đàn ong đang sưởi nắng lại làm cho chàng nghĩ về ngôi nhà sập xệ của mình ở Anh, luôn có gió luồn qua vách ngay cả trong mùa hè. Chàng nhìn thấy mấy cây bạch dương và vài cây liễu đằng sau nhà, trên cánh đồng chỗ chàng đã rình mấy con chuột đồng, những ngọn đồi chập chùng trùng điệp nở đầy hoa thạch thảo và dương xỉ mọc bát ngát, lác đác đây đó có đàn cừu đang gặm cỏ. Chàng thấy cả bố lẫn mẹ đang ngồi với chàng trên chiếc giường ngủ có mùi ẩm thấp của chàng, trong khi bố đọc thơ cho chàng nghe.

Thấm vào tim tôi ngọn gió chết người
Thổi từ làng quê xa ngăn ngắt
Những ngọn đồi xanh trong nỗi nhớ,
Nóc giáo đường, trang trại này tên gì?

Nơi miền đất hoang liêu đó
Tôi thấy cánh đồng nắng lóa
Con đường hạnh phúc tôi đã qua
Không thể nào trở lại
[9].

Giọng của bố luôn trầm xuống ở câu những ngọn đồi xanh trong nỗi nhớ, và khi họ rời khỏi phòng, rồi những tuần tiếp theo khi bố mẹ xa nhà, chàng nhìn ra cửa sổ và nhìn những ngọn đồi xanh mờ xa.

Richard rất kinh ngạc khi nhận thấy mức độ bận rộn của Kainene. Gặp nàng ở Lagos, trong những lần gặp nhau ngắn ngủi tại khách sạn, chàng đâu ngờ cuộc sống của nàng tự nó đã và vẫn vô cùng sôi động cho dù có hay không có mặt chàng trong cuộc đời nàng. Chàng thấy lấn cấn khó chịu lạ lùng khi nghĩ rằng mình không phải là người duy nhất ngự trị trong thế giới của nàng, nhưng còn thấy lạ lùng hơn là nếp sống của nàng đã được thiết lập đâu vào đấy, rất hoàn hảo, cho dù nàng chỉ mới về Port Harcourt vài tuần. Công việc của nàng luôn được ưu tiên; nàng nhất định sẽ làm cho xưởng của bố lớn mạnh hơn là lúc ông quản lý. Buổi tối khách - người của công ty thảo luận và thỏa thuận hợp đồng, người của chính quyền trả giá hối lộ, người của xưởng máy bàn bạc về khối lượng công việc - ghé thăm, họ đậu xe dọc theo lối vào vườn quả. Kainene cố gắng kiểm soát không để cho họ được ở lâu và nàng cũng không muốn chàng gặp họ vì nàng nói gặp họ sẽ rất chán, nên chàng ở trên lầu đọc sách và hí hoáy viết cho đến khi họ ra về. Chàng thường cố gắng không lo lắng là chàng sẽ không làm nàng thỏa mãn; chẳng thể tin vào cái thân xác của chàng được, và chàng khám phá ra rằng nghĩ về thất bại sẽ dễ làm cho chàng bị thất bại hơn.
Lần thứ ba khi chàng đến Port Harcourt, có người giúp việc gõ cửa phòng ngủ và báo, “Thiếu tá Madu đến, thưa cô”, và Kainene hỏi chàng có vui lòng đi với nàng xuống nhà không.
“Madu là một người bạn cũ và em muốn anh gặp anh ấy. Anh ấy mới trở về sau đợt huấn luyện quân sự ở Pakistan”, nàng nói.
Richard ngửi thấy mùi nước hoa của người khách từ hành lang, mùi của đám võ biền thích khoe mẽ. Cái gã xài nước hoa để phô trương theo lối ấy khiến Richard nghĩ ngay đến một kẻ mọi rợ có bộ mặt to bè màu gỗ trắc, môi dày, mũi tẹt. Khi gã đứng dậy bắt tay, Richard gần như muốn thụt lùi. Gã có vóc dáng khổng lồ. Richard thường là người cao nhất trong phòng, người mà người ta luôn phải ngước lên để nhìn, nhưng gã này cao hơn Richard ít nhất cũng trên bảy phân, vai rộng và thân hình chắc nịch, vạm vỡ; gã đúng là khổng lồ.
“Richard, đây là Thiếu tá Madu Madu”, Kainene nói.
“Chào anh”, Thiếu tá Madu nói. “Kainene có nói với tôi về anh”.
“Xin chào”, Richard nói. Có vẻ gì như thân mật quá độ khi nghe cái gã Ma-mút này với nụ cười khinh mạn trên môi, gọi tên Kainene, làm như gã thân thiết với Kainene lắm, làm như gã biết một điều gì đó mà Richard không biết, làm như bất cứ thứ gì gã biết về Richard đều đã được Kainene nói thầm vào tai, giữa những tiếng cười rúc rích kỳ cục xuất phát từ những lần chung đụng của hai người. Còn cái tên Madu Madu nghe gì mà kỳ cục. Richard ngồi trên ghế sofa và từ chối khi Kainene mời chàng ly rượu. Chàng thấy mình tái mặt. Chàng ước gì Kainene giới thiệu, Richard người yêu của tôi.
“Anh và Kainene gặp nhau ở Lagos?” Thiếu tá Madu hỏi.
“Vâng”, Richard nói.
“Lần đầu tiên cô ấy kể với tôi là khi tôi gọi điện cho cô ấy từ Pakistan, khoảng tháng trước”.
Richard không thể nghĩ ra câu gì để nói. Chàng không biết Kainene đã nói chuyện với gã từ Pakistan và cũng không thể nhớ là nàng có từng nhắc đến tình bạn của nàng với một tay sĩ quan quân đội mà tên và họ cùng là một chữ. “Và hai người quen biết nhau đã lâu?” Richard hỏi; ngay lập tức chàng tự hỏi, không biết giọng mình có vẻ ngờ vực hay không.
“Trang trại của gia đình tôi ở Umunnachi, kề bên trang trại của gia đình Ozobia”. Thiếu tá Madu quay về hướng Kainene. “Có phải tổ tiên hai nhà có họ hàng với nhau không nhỉ? Chỉ vì họ nhà em cướp đất nhà tôi nên chúng tôi đuổi họ nhà em ra?”
“Họ nhà anh cướp đất nhà em thì có”, Kainene cười, và Richard ngạc nhiên nghe giọng cười của nàng có vẻ khàn đi. Chàng càng ngạc nhiên khi thái độ của Madu hết sức thân quen, cái cách gã ngồi lún vào trong sofa, đứng dậy lật mấy đĩa nhạc trong máy stereo, nói đùa với người phục vụ bữa tối. Richard có cảm giác lạc lõng, bị bỏ rơi. Chàng ước gì Kainene nói trước cho chàng biết là Madu sẽ ở lại dùng cơm tối. Chàng ước gì Kainene cũng uống gin với tonic như chàng thay vì whisky với nước như Thiếu tá Madu. Chàng ước gì gã này đừng có cứ tấn công chàng bằng một lô câu hỏi như là muốn kéo chàng vào cuộc trò chuyện, làm như gã là chủ còn chàng chỉ là khách. Nào là anh có thích Nigeria không? Rồi quyển sách của anh tiến triển đến đâu rồi? Hay anh có thích Nsukka không? Richard thấy bực mình vì những câu hỏi này và cả cách ngồi bàn ăn thành thạo của gã.
“Tôi được huấn luyện ở Sandhurst”, Thiếu tá Madu nói, “và tôi ghét nhất là thời tiết lạnh. Càng ghét hơn vì sáng nào người ta cũng bắt chúng tôi chạy trong trời lạnh khủng khiếp như thế mà chỉ được mặc một cái áo mỏng với quần cộc”.
“Tôi có thể hiểu được vì sao anh thấy ở đó lạnh”, Richard nói.
“Ồ, đúng thế. Mỗi người có nhược điểm của họ. Tôi chắc là anh sẽ sớm nhớ nhà khi ở đây”, anh ta nói.
“Tôi không nghĩ thế”, Richard nói.
“Người Anh vừa quyết định kiểm soát việc di dân từ các nước trong Commonwealth [10], phải không? Họ muốn dân của xứ nào ở yên xứ đó. Điều trớ trêu là, dĩ nhiên chúng tôi, những người dân xứ thuộc địa, không thể ngăn ngừa người Anh xâm nhập xứ của chúng tôi.
Gã nhai cơm chậm rãi và săm soi chai nước một hồi lâu, làm như đó là chai rượu nho gã muốn tìm hiểu xem nó được làm từ năm nào.
“Ngay sau khi trở lại từ Anh quốc, tôi thuộc Đại đội Bốn, được đưa đến Congo dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Điều hành đại đội của tôi không mấy tốt đẹp, tuy vậy tôi vẫn thích ở Congo hơn là ở một nơi khá an toàn như nước Anh. Chỉ tại vì thời tiết”. Thiếu tá Madu ngừng lại một chút. “Đại đội của tôi bị điều hành thật lởm khởm. Chúng tôi thuộc quyền chỉ huy của một Đại tá người Anh”. Anh ta liếc nhìn Richard và tiếp tục nhai.
Richard rất bực; mấy ngón tay chàng như cứng ngắc lại và chàng sợ là cái nĩa chàng đang cầm dám trơn tuột ra khỏi tay và gã đàn ông chưa hề bị làm nhục này sẽ biết cảm nghĩ của chàng.
Chuông cửa reo ngay khi bữa tối vừa chấm dứt, lúc họ đang ngồi ở hàng hiên dưới ánh trăng và thưởng thức Tân nhạc.
“Chắc là Udodi, tôi bảo cậu ta đến đây gặp tôi”, Thiếu tá Madu nói.
Richard đập mạnh một con muỗi bay vo ve rất bực mình bên tai. Cứ như nhà của Kainene là chỗ cho gã này gặp bạn bè.
Udodi là một người nhỏ thó, không có gì đặc biệt đáng chú ý như cái duyên lộ liễu và cái kiêu ngạo ngầm của Thiếu tá Madu. Hắn ta có vẻ say rượu, khùng khùng trong cái cách hắn bắt tay Richard, lắc lên lắc xuống lia lịa. “Anh có phải là người hợp tác thương mại của Kainene? Anh ở trong ngành dầu hỏa?”, hắn hỏi.
“Tôi chưa giới thiệu, phải không?” Kainene nói. “Richard, Thiếu tá udodi Ekechi, bạn của Madu. Udodi, đây là Richard Churchill”.
“Ồ”, Thiếu tá Udodi nói, mắt nheo nheo. Hắn rót một ít rượu whisky vào ly, nốc đánh ực, nói gì đó bằng tiếng Igbo và Kainene trả lời rõ ràng, lạnh lùng bằng tiếng Anh, “Tôi chọn người yêu như thế nào không phải là việc của anh, Udodi”.
Richard ước gì chàng có thể mở miệng chửi cho hắn một trận. Nhưng chàng làm thinh. Chàng cảm thấy mình yếu đuối quá, cái yếu đuối vì bệnh hoạn và vì tiếc nuối mất mát. Nhạc đã ngừng và chàng nghe tiếng sóng văng vẳng vọng từ xa.
“Xin lỗi. Ồ, tôi đâu có nói đó là việc của tôi!” Thiếu tá Udodi cười và lại với lấy chai whisky.
“Thôi nhé”, Thiếu tá Madu nói. “Anh chắc đã nhậu từ sớm ở trong trại”.
“Cuộc đời ngắn ngủi lắm, người anh em!” Thiếu tá Udodi nói, rót thêm một ly nữa. Hắn ta quay sang Kainene. “I magonu, cô em biết không, ý của tôi là, đàn bà mà theo đám đàn ông trắng thì chắc chắn là cái loại con nhà nghèo hay là loại có thân hình mà đàn ông trắng nó mê”. Hắn ngưng lại một chút rồi nói tiếp, nhái giọng Anh, “có cái mông nảy lửa”. Hắn cười hô hố. “Tụi trắng chúng nó chỉ thậm thụt, thọc, chọc, ngoáy đám đàn bà con gái và chẳng bao giờ cưới các em đâu. Cưới làm sao được mà cưới. Tụi nó chẳng bao giờ đưa các em đến một chỗ công cộng xứng đáng. Nhưng các em sẽ tiếp tục làm nhục chính mình rồi cố gắng đeo đẳng tụi nó để tụi nó cho vài cắc lẻ và rẻ thối. Đây là một thứ nô lệ kiểu mới. Tôi nói cho cô em biết, một thứ nô lệ mới. Nhưng cô em là con gái của Ông Trùm, cô em làm cái quái gì với tên đó?”
Thiếu tá Madu đứng dậy. “Anh xin lỗi về việc này, Kainene. Bình thường cậu ta không như thế”. Anh ta kéo anh bạn Thiếu tá đứng lên và nói gì đó thật nhanh bằng tiếng Igbo.
Thiếu tá Udodi lại cười sằng sặc. “OK, OK, nhưng xin cho tôi chai rượu whisky, nó sắp cạn rồi. Để tôi lấy chai whisky”.
Kainene không nói gì lúc Thiếu tá Udodi quờ chai rượu trên bàn. Sau khi họ đi rồi, chàng nắm lấy tay nàng. Chàng cảm thấy như mình chẳng tồn tại trên đời, vì thế Thiếu tá Madu đã chẳng xin lỗi chàng khi xin lỗi Kainene. “Hắn ghê tởm quá. Anh rất tiếc vì hắn đã nói những lời như thế”.
“Anh ta say quá rồi. Madu chắc rất bứt rứt”. Kainene nói. Nàng chỉ đồng hồ sơ trên bàn và tiếp, “Em mới vừa ký được một hợp đồng cung cấp giày ống cho quân đội ở Kaduna”.
“Thế thì tốt quá”. Richard uống nốt giọt rượu cuối cùng trong ly và nhìn Kainene đang đọc hồ sơ.
“Tay chỉ huy là người Igbo, Madu nói ông ta rất sốt sắng muốn ký hợp đồng với người cùng xứ Igbo. Coi như em gặp may. Và ông ta chỉ đòi có năm phần trăm”.
“Hối lộ?”
“Ồ, chúng ta không có tội, phải không?”
Vẻ nhạo báng của nàng làm chàng bực mình, cũng như cái cách nàng bỏ qua cho Thiếu tá Madu trong hành động đáng chê trách của Thiếu tá Udodi. Chàng đứng dậy và bắt đầu đi đi lại lại dọc theo hàng hiên. Đám muỗi bay vo vo quanh bóng đèn neon.
“Em đã quen Madu từ lâu rồi phải không”, cuối cùng chàng lên tiếng. Chàng rất ghét phải nhắc đến tên gã, bởi nó thể hiện sự thân tình mà chàng chẳng thấy chút thân mật nào cả. Tuy thế chàng vẫn phải dùng tên bởi vì không có cách xưng hô nào khác cho chàng chọn lựa. Chắc chắn chàng không gọi hắn là Thiếu tá rồi, nghe có vẻ tôn vinh hắn quá.
Kainene nhìn lên. “Từ hồi xửa hồi xưa cơ. Gia đình anh ấy và gia đình em rất thân nhau. Em nhớ có lần, khi nhà em đến Umunnachi nghỉ Giáng sinh, anh ấy cho em một con rùa. Một món quà lạ nhất mà cũng là hay nhất em từng có. Olanna nghĩ việc Madu bắt con vật tội nghiệp ấy ra khỏi môi trường tự nhiên của nó rất là sai quấy, nhưng nó không bao giờ hợp với Madu cả. Em đặt con rùa vào một cái chậu, nhưng ít lâu sau nó chết”. Nàng quay lại đọc đống hồ sơ.
“Anh ta lập gia đình chưa?”
“Rồi. Adaobi đang học đại học ở London”.
“Có phải vì thế mà em gặp anh ta thường xuyên?” Câu hỏi của chàng như được thốt ra sau khi nghẹn lời, cứ như là chàng cần phải khạc nó ra vậy.
Nàng chẳng trả lời. Có lẽ nàng không nghe câu hỏi. Rõ ràng là đống hồ sơ và cái hợp đồng mới tinh đã choán hết suy nghĩ của nàng. Nàng đứng lên. “Em cần phải ghi chú một vài điều vào biên bản buổi họp ở phòng làm việc, lát nữa em sẽ vào với anh”.
Chàng tự hỏi tại sao mình không thể đơn giản hỏi nàng là nàng có thấy sự hấp dẫn của Madu không? Hai người đã có tình ý với nhau bao giờ chưa và có còn quan hệ với nhau không. Chàng sợ. Chàng đến gần nàng, vòng tay ôm gọn nàng thật chặt, muốn nghe nhịp đập của tim nàng. Đây là lần đầu tiên trong đời chàng thấy mình thuộc về một nơi nào đó.

1. Quyển Sách: Thế Giới Im Lặng Khi Chúng Tôi Chết.
Trong lời phi lộ, ông kể lại câu chuyện của một người đàn bà với quả bầu gỗ. Bà ta ngồi trên sàn một toa xe lửa, bị kẹt cứng giữa những người đang khóc lóc, la lối, cầu nguyện. Bà ta yên lặng, đều tay nhẹ vuốt ve vỏ của quả bầu gỗ trong lòng bà cho đến khi họ băng qua sông Niger, và rồi bà ta mở nắp quả bầu mời Olanna và những người khác nhìn vào.
Olanna kể ông nghe câu chuyện này và ông ghi lại từng chi tiết. Nàng kể ông nghe những vết máu trên áo của người đàn bà đã thấm vào sợi vải biến thành màu tím sẫm. Nàng tả những hình trang trí được khắc trên vỏ quả bầu của người đàn bà, những đường chéo cắt nhau thành hình chữ thập, và nàng tả cái đầu của đứa bé ở bên trong - mấy bím tóc tết vội buông xuống khuôn mặt nâu, cặp mắt trắng dã, mở ra một cách ghê rợn, và cái mồm nhỏ hình chữ “O” đầy vẻ kinh hoàng.
Sau khi viết đoạn này, ông đề cập đến những người đàn bà Đức chạy thoát khỏi Hamburg với thi hài các con họ bị cháy như than nhét vào trong túi xách, những bà mẹ Rwandan bỏ túi những mảnh vụn thân thể của những đứa bé bị nhây xé. Nhưng ông cẩn thận không so sánh. Về bìa của quyển sách, tuy vậy, ông vẽ bản đồ Nigeria; đồ theo nét chữ “Y” như chiều dài của con sông Niger và Benue với màu đỏ rực. Ông cũng dùng cùng một màu đỏ ấy khuyên tròn biên giới, chỗ mà ở miền Đông nam, Biafra hiện diện được ba năm.

--------------------------
[1] Tương tự như basebali.
[2] Roped pot (nguyên văn): Là một nghệ thuật đặc biệt về lọ đúc bằng đồng vào thế kỷ IX và X. Lọ đồng có dây đồng đúc giống như dây thắt ngoài bình để trang trí.
[3] Gold (nguyên văn): Vàng.
[4] Dicky là một cách gọi khác của tên Richard, có tính thân mật.
[5] Đại đế của vương quốc Anh, sinh năm 847 hay 849, mất năm 899. Có công bảo vệ vương quốc Anh chống trả sự xâm lăng của Viking xứ Đan Mạch.
[6] Umbrella tree (nguyên văn): Là một loại cây thuộc họ magnolia có lá to dài từ ba đến năm tắc.
[7] Chữ viết tắt của US Agency for International Development, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ.
[8] Tổ chức Thiện nguyện Mỹ.
[9] Bài thơ Into my heart on air that kills của A.E. Housman (1859-1936).
[10] Khối thịnh vượng chung (gồm vương quốc Anh, một số quốc gia độc lập và những quốc gia phụ thuộc).
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.08.2017 11:02:11 bởi casau>
Chương bốn

Ugwu dọn bàn thật chậm. Hắn dọn ly trước, rồi mấy cái bát dính thịt hầm, rồi đến dao và cuối cùng, hắn xếp mấy cái đĩa chồng lên nhau. Ngay cả khi không lén nhìn vào cửa nhà bếp lúc họ đang ăn, hắn vẫn biết người nào ngồi ở đâu. Đĩa của Ông Chủ luôn vương vãi cơm, như thể ông ăn vội quá nên cơm cứ nhảy khỏi đĩa. Ly của Olanna có môi son hình vầng trăng khuyết. Okeoma luôn luôn dùng thìa, dĩa và dao bị gạt sang một bên. Giáo sư Ezeka mang bia của riêng ông và cái chai màu nâu có vẻ là hàng ngoại được đặt cạnh đĩa của ông. Cô Adebayo bỏ những lát hành trong bát. Và ông Richard không bao giờ nhai xương gà.
Trong bếp, Ugwu để riêng đĩa của Olanna sang một bên trên mặt bàn và đổ hết các món thừa còn lại, nhìn cơm, thịt hầm, rau và xương trôi tuột vào thùng rác. Có những mảnh xương đã được nhai rất nhuyễn, trông giống như dăm bào hay mạt cưa. Xương trong đĩa của Olanna thì không như thế bởi vì nàng chỉ nhá ở một phần đầu, gần như còn nguyên. Ugwu ngồi xuống, nhón một mẩu và lim dim khi mút mút, tưởng tượng miệng Olanna cùng ngậm chung mẩu xương này.
Hắn thong thả mút từng mẩu xương một và cũng không cần giữ ý cho tiếng mút chùn chụt đừng kêu to quá. Hắn đang ở nhà một mình. Ông Chủ vừa đi đến câu lạc bộ với Olanna và bạn bè. Giờ là lúc ngôi nhà yên lặng nhất, hắn có thể nấn ná kéo dài mà không cần lý do chính đáng, với mấy cái đĩa dùng bữa trưa đang ở trong chậu rửa chén, còn lâu mới đến giờ ăn tối, và căn bếp đang tắm mình trong ánh nắng rực rỡ. Olanna gọi giờ này là giờ bài tập; khi ở nhà nàng bảo hắn mang tập sách vào phòng ngủ mà học. Nàng không hề biết giờ học của hắn không bao giờ kéo dài, rằng sau đó hắn ngồi cạnh cửa sổ, cố gắng đọc mấy câu khó trong sách của Ông Chủ, rồi ngẩng lên ngó mấy con bướm bay lượn dập dờn quanh khóm hoa trắng trong sân trước.
Hắn cầm một quyển bài tập lên trong khi tiếp tục mút mẩu xương thứ hai. Tủy xương lạnh làm hắn thấy tê tê nơi đầu lưỡi. Hắn đọc bài thơ hắn đã chép cẩn thận từ trên bảng xuống và nét chữ giống như nét chữ của cô Oguike, hắn nhắm mắt lại, đọc to như trả bài.

Tôi không thể quên tôi bị tước đoạt
Hình ảnh vui tươi họ đã từng xem
Mà người Thổi Sáo đã hứa với tôi
Sẽ dẫn chúng tôi đến miền đất hứa
Cả làng tham gia chỉ cần nắm tay
Chỗ nước trào ra và cây trái mọc
Chỗ hoa trồi nhanh màu thắm tươi hơn
Mọi điều xung quanh trở nên mới lạ
[1].

Hắn mở mắt và nhìn thoáng nhanh bài thơ để biết mình đọc không sót câu nào. Hắn hy vọng Ông Chủ không nhớ việc bắt hắn phải trả bài bởi vì mặc dù đã học thuộc lòng hắn vẫn không biết trả lời thế nào khi Ông Chủ hỏi, nghĩa của nó là gì? Hay là, em nghĩ nó thật sự muốn nói cái gì? Cái tranh minh họa trong sách của cô Oguike, một đàn chuột vui vẻ theo sau một ông tóc dài, không hiểu là có ý gì, càng nhìn bức tranh hắn càng thấy có lẽ đây chỉ là một lời đùa vô nghĩa. Ngay cả cô Oguike hình như cũng không hiểu ý nghĩa. Ugwu dần dần thấy thích cô giáo - vì cô không tỏ ra coi hắn là một trường hợp đặc biệt đáng quan tâm, và không để ý đến việc hắn ngồi một mình trong lớp vào giờ ra chơi. Nhưng cô có ấn tượng là hắn học rất nhanh; ngày học đầu tiên cô bắt hắn vừa thi vấn đáp vừa thi viết trong khi Ông Chủ chờ bên ngoài lớp học ngột ngạt. “Một thời gian nữa, chú nhỏ này chắc chắn có thể học ‘vượt rào’ một lớp, em có một trí thông minh bẩm sinh”, cô nói với Ông Chủ sau đó, làm như Ugwu không đứng ngay bên cạnh hai người, và thông minh bẩm sinh trở thành một câu nhận xét mà Ugwu thích nhất.
Hắn gấp quyển vở bài tập lại. Hắn đã mút hết mấy mẩu xương rồi tưởng tượng như mùi vị từ miệng Olanna ở trong mồm hắn khi hắn rửa bát. Lần đầu tiên hắn mút những mẩu xương thừa trong đĩa của nàng, vài tuần trước, sau khi hắn nhìn thấy nàng và Ông Chủ hôn nhau trong phòng khách vào một sáng thứ Bảy, miệng họ mở và gắn chặt vào nhau. Ý nghĩ nước miếng của nàng trong miệng của Ông Chủ vừa làm hắn thấy gớm ghiếc vừa kích thích hắn. Hắn vẫn còn nguyên cảm giác đó. Cùng một cảm giác khi hắn nghe tiếng rên sướng khoái của nàng trong đêm; hắn không muốn nghe nàng rên nhưng lại đến cửa phòng của họ, áp tai lên nền gỗ lạnh để nghe. Cũng như cái cảm giác hắn khám xét đồ lót của nàng trong phòng tắm, áo lót đen, áo nịt ngực nhẵn bóng, quần lót trắng.
Nàng hòa nhập vào gia đình này thật dễ dàng. Buổi tối, khi mọi người đến đầy phòng khách, giọng của nàng nghe trong trẻo, và hắn mơ được thè lưỡi chọc tức cô Adebayo mà nói, “Cô không thể nói tiếng Anh hay như cô chủ của tôi, vì thế hãy ngậm cái mồm dơ dáy của cô lại”. Có vẻ như y phục của nàng luôn luôn ở trong tủ quần áo, Tân nhạc nàng nghe luôn phát ra từ máy hát, mùi thơm như nước dừa của nàng luôn phảng phất trong tất cả các phòng, và chiếc xe hơi Impala của nàng luôn luôn đậu trong sân. Tuy vậy hắn rất nhớ những ngày trước đây chỉ có hắn với Ông Chủ. Hắn nhớ những buổi tối khi hắn ngồi trên nền nhà trong phòng khách nghe Ông Chủ nói bằng giọng rất trầm hay là những buổi sáng khi hắn dọn điểm tâm, biết là giọng nói nghe được chỉ có thể là giọng của hai người.
Ông Chủ đã thay đổi; ông hay nhìn Olanna, vuốt ve nàng nhiều quá, và khi Ugwu mở cửa cho ông, ánh mắt ông vượt khỏi đầu Ugwu hướng thẳng vào phòng khách để xem Olanna có ở đấy không. Đến tận ngày hôm qua, Ông Chủ mới bảo Ugwu, “Mẹ tôi sẽ đến chơi vào cuối tuần này, thu dọn phòng dành cho khách nhé”. Trước khi Ugwu có thể trả lời vâng, thưa ông, Olanna nói, “Em nghĩ Ugwu nên dọn ra căn phòng dành cho người giúp việc. Như vậy mình sẽ có phòng cho khách. Mẹ có thể ở chơi lâu”.
“Đúng đấy, dĩ nhiên”, Ông Chủ đồng ý, quá nhanh chóng đến độ phật ý Ugwu. Cứ như nếu Olanna bảo Ông Chủ thò đầu vào lửa đang cháy rừng rực Ông Chủ cũng làm theo. Cứ như chính Olanna là chủ vậy. Nhưng Ugwu không ngại phải dọn qua phòng dành cho người giúp việc. Chỗ đó trống trơn, chỉ có mạng nhện và mấy cái thùng rỗng. Hắn có thể giấu mấy món đồ hắn đã để dành ở đó. Hắn có thể biến chỗ đó thành phòng riêng của mình. Hắn chưa từng nghe Ông Chủ nhắc đến mẹ của ông, và khi hắn quét dọn phòng dành cho khách, hắn tưởng tượng về bà, người đàn bà đã tắm cho Ông Chủ khi còn bé, cho ông ăn, chùi mũi cho ông. Ugwu cảm thấy kính nể và có phần sợ bà vì bà là người đã sinh ra ông.
Hắn ăn trưa thật nhanh. Nếu hắn chuẩn bị rửa rau để nấu canh cho bữa tối cũng nhanh như vậy, hắn có thể đi đến nhà của ông Richard để nói chuyện với Harrison một chút trước khi Ông Chủ và Olanna về. Bây giờ hắn phải nhặt và tước rau bằng tay chứ không thể dùng dao như trước. Olanna thích vậy; nàng nói làm như thế sẽ giữ được nhiều chất bổ trong rau. Hắn cũng bắt đầu thích như vậy, cũng như thích cái cách nàng chỉ hắn rán trứng có pha thêm sữa, cắt chuối rán hình tròn thật xinh xắn chứ không theo hình bầu dục trông xấu điên, hấp moi-moi [2] trong bát nhôm thay vì lá chuối. Bây giờ nàng để cho hắn toàn quyền nấu ăn, và hắn thích lén nhìn qua cửa bếp xem ai là người buột miệng khen nhiều nhất, ai thích món nào, ai lấy thêm thức ăn nữa. Bác sĩ Patel thích món thịt gà luộc với uziza. Richard cũng thế, mặc dù ông không bao giờ ăn da gà. Có lẽ da gà nhợt nhạt làm ông ta tưởng tượng đến chính da mình. Ngoài điều đó ra Ugwu không thể tưởng tượng lý do nào khác hơn; da gà, nói cho cùng vẫn là ngon nhất trong món thịt gà. Richard luôn luôn nói, “Thịt gà ngon hết sảy, cảm ơn Ugwu”, khi hắn mang thêm nước hay thu dọn. Đôi khi mấy người khách kia ngồi nghỉ ở phòng khách, Richard vào nhà bếp hỏi Ugwu nhiều câu rất tức cười. Dân làng hắn có tượng gỗ hay tượng thần không? Hắn có bao giờ vào bên trong mấy cái bệ thờ gần bờ sông? Ugwu càng thấy tức cười hơn khi ông Richard ghi chép câu trả lời của hắn vào trong một quyển sổ nhỏ bìa bọc da. Mấy ngày trước khi Ugwu tình cờ nhắc đến lễ hội ori-okpa, đôi mắt màu xanh của ông Richard sáng rực và ông nói là rất muốn xem lễ hội này; ông sẽ hỏi Ông Chủ để xem ông có thể chở Ugwu về làng của hắn hay không.
Ugwu cười thầm lúc lấy rau xanh ra khỏi tủ lạnh. Hắn không thể tưởng tượng ông Richard trong lễ hội ori-okpa khi mmuo (ông Richard nói đó là lễ hội hóa trang phải không, và Ugwu đồng ý, miễn là hóa trang cũng đồng nghĩa với thần linh) diễu hành qua làng, rượt đám thanh niên trong làng và chạy theo các thiếu nữ. Các vị mmuo có thể sẽ bật cười khi họ nhìn thấy một người da trắng lạ đang hí hoáy ghi ghi chép chép. Nhưng hắn mừng là hắn đã nói về lễ hội này với Richard, bởi vì đây là cơ hội hắn có thể gặp Nnesinachi trước khi cô bé ra Bắc. Cứ tưởng tượng cô bé sẽ nể đến chừng nào khi thấy hắn về bằng xe ô-tô của người da trắng, do chính người da trắng lái. Chắc chắn lần này cô bé sẽ chú ý đến hắn, chắc chắn thế và hắn náo nức muốn làm cho Anulika, đám anh em và cả họ hàng “có ấn tượng” về tiếng Anh của hắn, cái áo sơ mi mới keng, kiến thức về bánh mì kẹp, nước chảy từ trong ống, và bột thơm của hắn.
Ugwu vừa rửa rau thái chỉ xong thì chuông cửa reo. Giờ này còn quá sớm để bạn của Ông Chủ đến. Hắn đi ra, lau tay vào tạp dề. Trong một thoáng, hắn tự hỏi không biết có thật sự là dì của hắn đang đứng đó không hay là hắn chỉ nhìn thấy hình bóng của dì vì hắn đang nhớ nhà.
“Dì?”
“Ugwuanyi”, dì nói, “cháu phải về nhà. Oga gi kwanu? Ông chủ của cháu đâu rồi?”
“Về nhà?”
“Mẹ cháu ốm nặng lắm”.
Ugwu nhìn chằm chằm vào cái khăn đội đầu của dì. Hắn có thể thấy những đường chỉ đã sổ, vải đã sờn. Hắn còn nhớ khi bố của người bà con của hắn chết, gia đình nhắn lời đến người đó ở Lagos, bảo phải về vì bố bệnh nặng. Nếu bạn đang ở rất xa nhà, người ta sẽ bảo bạn là người đã chết bị ốm nặng.
“Mẹ cháu đang ốm”, dì hắn nhắc lại. “Mẹ muốn cháu về. Dì nói với ông chủ là ngày mai cháu sẽ trở lại, để ông ấy không nghĩ là mình đòi hỏi nhiều quá. Có nhiều người giúp việc hàng năm trời không được về thăm nhà, cháu biết mà”.
Ugwu không nhúc nhích, vân vê viền của cái tạp dề. Hắn muốn dì hắn cứ nói thật, nếu thực sự mẹ hắn đã chết. Nhưng miệng hắn không thể thốt nên lời. Nhớ đến lần ôm cuối cùng của mẹ hắn trước đó, khi bà cứ ho và ho cho đến lúc bố hắn đi đón dibia về trước khi trời hửng sáng, trong khi người vợ thứ, Chioke, xoa lưng bà, làm hắn sợ vô cùng.
“Ông Chủ không có ở nhà”, mãi một lúc sau hắn mới nói. “Nhưng ông ấy sẽ về ngay”.
“Dì sẽ chờ và năn nỉ ông ấy cho phép cháu về”.
Hắn dẫn dì vào trong bếp, dì ngồi nhìn hắn cắt khoai lang thành những lát hình vuông. Hắn làm thật nhanh như lên cơn sốt. Nắng chói chang rọi vào cửa sổ dù đã chiều muộn, một ánh sáng hung hãn và gay gắt.
“Bố cháu có khỏe không?” Ugwu hỏi.
“Ông ấy khỏe”. Mặt dì hắn đầy vẻ u buồn, giọng dì thiểu não, thái độ của một người mang tin rất xấu nhưng chưa tiết lộ. Chắc là dì còn giấu điều gì. Có lẽ mẹ hắn thật sự đã chết, có lẽ cả bố và mẹ hắn cùng chết sáng hôm nay. Ugwu tiếp tục thái khoai, trong sự im lặng căng thẳng, cho đến khi Ông Chủ về, áo đánh quần vợt đẫm mồ hôi. Ông chỉ về một mình. Ugwu ước gì Olanna cũng cùng về để hắn có thể nhìn thấy mặt nàng khi hắn nói.
“Thưa, ông mới về”.
“Ờ, bạn tốt”. Ông Chủ đặt cây vợt xuống bàn bếp. “Làm ơn cho tôi xin ly nước. Hôm nay tôi hoàn toàn thua cuộc, ván nào cũng thua”.
Ugwu lấy cốc nước đá lạnh đặt vào đĩa.
“Xin chào ông”. Dì hắn cất tiếng chào.
“Chào bà”. Ông Chủ nói, có vẻ hơi ngạc nhiên và bối rối, như không nhận biết người đàn bà này là ai. “Ồ, vâng. Bà có khỏe không?”
Trước khi dì có thể nói thêm, Ugwu nói, “Mẹ con ốm, thưa ông. Xin ông cho phép con về nhà thăm mẹ, ngày mai con trở lại”.
“Cái gì?”
Ugwu lặp lại. Ông Chủ nhìn hắn chằm chặp rồi nhìn nồi thức ăn trên lò. “Em đã nấu xong chưa?”
“Thưa ông chưa xong. Con nấu xong ngay đây, rồi con mới đi. Con sẽ dọn bàn và sắp xếp đâu vào đấy”.
Ông Chủ quay sang dì của Ugwu. “Gini me? Mẹ chú ấy bệnh gì thế?”
“Gì ạ?”
“Bà có điếc không?” Ông Chủ chỉ vào lỗ tai của ông, làm như dì Ugwu không hiểu điếc là gì. “Mẹ chú ấy bị làm sao?”
“Thưa ông, ngực chị ấy bị nóng như lửa đốt”.
“Trong ngực nóng như lửa đốt à”, Ông Chủ khịt mũi. Ông uống hết ly nước rồi quay sang Ugwu, nói bằng tiếng Anh. “Mặc áo vào rồi ra xe. Làng của em không xa mấy. Mình sẽ về kịp giờ”.
“Thưa ông?”
“Mặc áo vào rồi ra xe!” Ông Chủ viết ngoáy một mẩu tin nhắn vào mặt sau một tờ giấy và để lên bàn. “Chúng ta sẽ đưa mẹ của em đến đây và nhờ Patel khám bệnh cho bà”.
“Vâng, thưa ông”. Ugwu tưởng mình có thể ngã qụy lúc hắn lên xe ngồi cạnh dì hắn và Ông Chủ. Hắn có cảm giác xương hắn làm bằng cán chổi, loại có thể dễ dàng gãy gập trong bão cát. Không ai nói một lời trong gần suốt chuyến đi về làng. Lúc họ đi qua một số nông trại hết luống bắp này đến luống khoai mì kia như những hàng bím tóc gọn gàng, Ông Chủ nói, “thấy không? Đây là cái mà chính phủ nên tập trung vào. Nếu nắm được kỹ thuật thủy nông, chúng ta có thể nuôi sống quốc gia này rất dễ dàng. Chúng ta sẽ không phải lệ thuộc vào thực dân để nhập khẩu lương thực thực phẩm”.
“Vâng, thưa ông”.
“Thay vì làm thế mấy thằng ngu dốt trong chính quyền chỉ biết lừa dối và trộm cắp. Một đám học trò của tôi đã đi Lagos để biểu tình phản đối, em có biết không?”
“Vâng, thưa ông”. Ugwu nói. “Tại sao họ biểu tình, thưa ông?”
“Điều tra dân số”, Ông Chủ nói. “Vụ điều tra dân số nhập nhằng lắm, mạnh ai người nấy đưa ra một con số giả tạo. Balewa sẽ chẳng làm gì cả, bởi vì hắn chỉ là một tên đồng lõa cũng như mấy tên kia. Nhưng chúng ta phải phát biểu ý kiến của chúng ta!”
“Vâng, thưa ông”, Ugwu trả lời; trong tâm trạng ngổn ngang vì lo cho mẹ, hắn nghe dâng lên trong lòng một niềm tự hào bởi vì hắn biết dì hắn sẽ mở to mắt sững sờ vì cuộc đối thoại đầy ý nghĩa sâu sắc của hắn với Ông Chủ. Lại bằng tiếng Anh nữa chứ. Họ dừng hơi xa trước căn chòi của gia đình.
“Lấy hành lý của mẹ em, nhanh lên”, Ông Chủ nói. “Tối nay tôi có khách từ Ibadan đến thăm”.
“Vâng, thưa ông!” Ugwu và dì hắn nói cùng một lúc.
Ugwu leo ra khỏi xe và đứng lóng ngóng ở đó. Dì chạy vụt vào trong chòi, không lâu sau bố hắn xuất hiện, khóe mắt đỏ hoe, lưng ông có vẻ còng hơn so với trong trí nhớ của Ugwu. Ông ta quỳ xuống đất, ôm chân Ông Chủ. “Cảm ơn ông. Cảm ơn ông nhiều lắm. Tôi mong là có người sẽ giúp ông như thế mỗi khi ông cần sự giúp đỡ”.
Ông Chủ lùi lại một chút và Ugwu nhìn bố mình loạng choạng suýt bật ngửa. “Đứng dậy đi, kunie”, Ông Chủ nói.
Chioke từ trong chòi bước ra. “Đây là người vợ thứ của tôi, thưa ông”, bố hắn giới thiệu trong lúc đứng dậy.
Chioke bắt tay chào Ông Chủ bằng cả hai tay của bà. “Cảm ơn, ông chủ. Deje!” Bà vội vã vào trong rồi trở ra với một quả dứa, bà dúi vào tay Ông Chủ.
“Không, tôi không nhận đâu”. Ông Chủ đẩy quả dứa trở lại. “Dứa địa phương có nhiều chất axít, rát lưỡi lắm”.
Đám trẻ con đang bu quanh chiếc xe, ngó vào trong hoặc là lấy ngón tay rà xung quanh thân chiếc xe màu xanh. Ugwu đuổi chúng đi chỗ khác. Hắn ước gì có Anulika ở nhà để cô bé có thể đi với hắn vào căn chòi của mẹ hắn. Hắn ước gì Nnesinachi đi qua và cầm tay hắn, an ủi rằng bệnh của mẹ hắn không nghiêm trọng lắm đâu rồi dẫn hắn đến cái hang gần suối, cởi tấm áo khoác để dâng bộ ngực non nhú nụ của mình cho hắn. Đám trẻ con chí cha chí chóe. Vài người đàn bà đứng gần khoanh tay thì thầm. Bố hắn liên tục mời Ông Chủ dùng hạt kola, uống rượu dừa, mời ông ngồi ghế uống nước, và Ông Chủ cứ luôn miệng nói không, không, không. Ugwu ước gì bố im đi. Hắn rón rén đến gần chòi của mẹ rồi nhìn vào. Mắt hắn chạm phải ánh mắt của mẹ trong bóng tối nhờ nhờ. Bà có vẻ run rẩy.
“Ugwu”, bà nói. “Nno, mừng con mới về”.
Deje”, hắn chào mẹ, rồi tiếp tục giữ im lặng, nhìn dì khoác áo vào cho mẹ hắn rồi dẫn bà ra.
Ugwu vừa bước tới để giúp mẹ lên xe thì Ông Chủ bảo. “Tránh sang một bên, bạn tốt”. Ông Chủ giúp bà lên xe, bảo bà nằm xuống ở băng ghế sau, duỗi người cho thoải mái.
Bất thình lình Ugwu ước gì Ông Chủ đừng đụng đến người mẹ hắn tại vì bộ quần áo cũ, nặng mùi của bà, vì Ông Chủ không biết bà bị đau lưng, vì mảnh ruộng khoai của bà chẳng mấy khi được mùa, và vì bà luôn có cảm giác bỏng rát trong ngực mỗi khi bà ho. Ông Chủ có biết quái gì đâu ngoài việc la lối um sùm với bạn ông và uống rượu brandy mỗi tối.
“Cứ yên tâm ở nhà, tôi sẽ nhắn tin sau khi bác sĩ khám bệnh cho bà ấy”, Ông Chủ nói với bố và dì của Ugwu, trước khi họ lái xe đi.
Ugwu cố gắng không liếc ra đằng sau để nhìn mẹ; hắn quay cửa kính xuống để gió ù ù bên tai giúp hắn quên đi. Mãi đến khi xe về tới khuôn viên trường đại học hắn mới dám quay lại nhìn mẹ, tim hắn như ngừng đập khi hắn nhìn thấy mắt mẹ nhắm nghiền, miệng nhếch ra. Nhưng ngực bà vẫn còn phập phồng. Hắn thở ra chầm chậm và nghĩ đến những đêm rất lạnh khi mẹ ho không dứt; hắn đứng dựa vào vách tường dính đầy dầm của căn chòi của mẹ, nghe bố và Chioke bảo mẹ uống thuốc.
Olanna mở cửa, mặc tạp dề có dính đốm dầu ở đằng trước. Cái tạp dề của Ông Chủ. Nàng hôn Ông Chủ. “Em đã mời Patel đến”, nàng nói và quay về phía mẹ của Ugwu. “Chào bà, Kedu!
“Tôi khỏe ạ”, mẹ hắn nói thều thào. Bà liếc xung quanh và có vẻ như teo rúm lại khi nhìn thấy bộ ghế sofa, cái radiogram, mấy tấm rèm mỏng trắng tinh.
“Em sẽ dìu bà ấy vào trong”, Olanna nói. “Ugwu, để ý nồi thức ăn nhé, xong rồi dọn bàn”.
“Vâng, thưa cô”.
Trong bếp, Ugwu khuấy nồi xúp ớt. Nước xúp loáng mỡ xoáy thành vòng tròn, mùi cay bốc lên làm mũi hắn nhột nhạt, những miếng thịt, lá xách nổi lập lờ. Nhưng hắn không chú ý. Hắn đang cố gắng lắng nghe người ta nói cái gì. Đã khá lâu từ khi Olanna dìu mẹ hắn vào và bác sĩ Patel nối gót. Mùi ớt làm hắn chảy nước mắt. Hắn nhớ lần trước khi mẹ hắn ốm vì ho, mẹ hắn đã kêu là chân bà không còn cảm giác nữa và dibia bảo bà nói với thần linh để cho bà yên. “Nói với thần là chưa tới số của bà! Gwa ha kita! Nói với các vị ấy ngay lập tức!” Dibia thúc giục bà.
“Ugwu!” Ông Chủ gọi. Khách đã đến. Ugwu vào phòng khách và tay hắn thoăn thoắt như cái máy, dọn hạt kola và ớt cá sấu, khui rượu, xúc đá, sắp đặt mấy chén xúp nóng bốc hơi. Sau đó, hắn ngồi trong bếp cạy móng chân rồi tưởng tượng xem chuyện gì xảy ra trong phòng ngủ. Hắn có thể nghe Ông Chủ lên cao giọng trong phòng khách, “Không ai cho rằng đốt phá tài sản của nhà nước là chuyện đáng làm, nhưng gửi quân đi giết người mà nói là để giữ trật tự ư? Có rất nhiều người Tiv nằm chết la liệt chẳng có lý do. Chẳng đáng chút nào cả! Balewa chắc là điên rồi”.
Ugwu không biết người Tiv là ai, nhưng nghe chữ chết hắn thấy lạnh run người. “Chưa phải số của mẹ đâu”, hắn nói thầm. “Chưa phải lúc của mẹ đâu”.
“Ugwu?” Olanna đang đứng ở cửa bếp.
Hắn bay ra khỏi ghế. “Thưa cô? Thế nào?”
“Em không nên lo lắng quá. Bác sĩ Patel nói bà chỉ bị nhiễm khuẩn và bà sẽ khỏe thôi”.
“Ồ!” Ugwu thấy vô cùng nhẹ nhõm, hắn sợ là hắn có thể bay đi nếu hắn chỉ cần nhấc một chân lên thôi. “Cảm ơn cô!”
“Cất phần còn lại của món canh vào tủ lạnh”.
“Vâng, thưa cô”. Ugwu nhìn nàng quay vào phòng khách. Những bức tranh thêu trên cái áo ôm sát người sáng rực rỡ, trong một thoáng giây, giống như một linh thần đầy quyến rũ hiện lên trên mặt biển.
Khách khứa đang cười vang. Ugwu nhìn vào phòng khách. Có rất nhiều người không còn ngồi ngay ngắn thẳng thắn nữa mà nghiêng ngả dựa vào ghế trông họ có vẻ hiền hòa, dễ dãi vì hơi men, đầu óc mơ màng. Buổi tối như thế là đã tàn. Cuộc thảo luận bỗng trở nên hòa dịu, chuyển hướng qua quần vợt và âm nhạc; rồi họ đứng dậy cười to. Về những chuyện không mấy tức cười, thí dụ như cửa trước rất khó mở và mấy con dơi đêm bay rất thấp. Hắn chờ cho Olanna đi vào phòng tắm và Ông Chủ vào phòng làm việc trước khi hắn vào trong phòng thăm mẹ; bà đang nằm ngủ trên giường, co quắp như một đứa bé.
Buổi sáng hôm sau, mắt bà sáng rực. “Mẹ thấy khỏe rồi”, bà nói. “Thuốc bác sĩ cho rất mạnh, nhưng cái mùi đó có thể giết chết mẹ mất”.
“Mùi gì?”
“Trong miệng họ. Mẹ ngửi thấy từ miệng của họ khi ông bà chủ đến thăm mẹ sáng hôm nay và khi mẹ đi tiểu”.
“Ồ. Đó là mùi kem đánh răng. Con và ông bà chủ dùng cái đó để đánh răng”. Ugwu thấy hãnh diện quá vì hắn đã dùng chữ con và ông bà chủ, vì thế mẹ hắn biết là hắn cũng dùng kem đánh răng.
Nhưng mẹ hắn không có vẻ gì là ngưỡng mộ cả. Bà búng ngón tay và nhặt một thỏi cây để nhai [3]. “Tại sao không dùng cây nhai atu chứ? Cái mùi đó làm mẹ muốn ói. Nếu mà phải ở đây lâu hơn chắc là mẹ không thể giữ thức ăn ở trong dạ dày vì cái mùi đó”.
Tuy vậy bà có vẻ rất ấn tượng khi hắn báo cho bà biết là hắn ở một khu riêng. Cũng giống như là hắn được cho cả căn nhà, riêng biệt chỉ có hắn mà thôi. Bà bảo hắn chỉ cho bà xem rồi trầm trồ khen phòng của hắn còn to hơn cả căn chòi của bà, sau đó bà cứ nhất định nói mình đã khỏe, phải cho bà giúp việc lặt vặt trong bếp. Hắn trông chừng bà, cúi xuống lau nền nhà, và nhớ là bà thường hay phết vào mông Anulika vì nó không chịu khom mình cho đúng cách trong lúc quét nhà. “Mày có ăn phải nấm không? Quét nhà như bà già!”, bà mắng và Anulika thì lầm bầm đổ thừa tại cây chổi quá ngắn chứ không phải lỗi của nó, tại mấy người quá bần tiện không chịu mua cây chổi dài hơn. Bất thình lình Ugwu ước là Anulika đang ở đây, cũng như mấy đứa em và mấy bà vợ thích ngồi lê đôi mách umunna của bố hắn. Hắn ước cả làng có mặt ở đây để hắn có thể tham gia chuyện trò và cãi vã dưới ánh trăng mà vẫn được sống trong nhà Ông Chủ có nước ống chảy ra từ vòi vặn, có tủ lạnh, và có lò điện.
“Ngày mai mẹ sẽ về làng”, mẹ hắn nói.
“Mẹ nên ở đây vài ngày để dưỡng sức”.
“Ngày mai mẹ về. Mẹ sẽ cảm ơn ông bà chủ khi họ về và nói cho ông bà chủ biết là mẹ đã đủ khỏe để về. Mẹ hy vọng sau này sẽ có người giúp họ như họ đã giúp mẹ”.
Buổi sáng, Ugwu tiễn chân mẹ đến tận cuối đường Odim. Hắn chưa bao giờ nhìn thấy mẹ đi nhanh như thế ngay cả với một bó nhánh cây bà cố giữ thăng bằng trên đầu, những nếp nhăn trên mặt bà hầu như đã biến mất.
“Ở lại vui vẻ nghe con”. Bà nói và nhét một cây nhai vào tay hắn.
Hôm mẹ của Ông Chủ từ quê ra, Ugwu đang nấu cơm jollof ớt cay. Hắn trộn cơm trắng với xốt cà chua, nếm rồi đậy lại và vặn nhỏ lửa. Hắn ra bên ngoài. Jomo đã dựng cái cào cỏ vào vách tường và đang ngồi trên bậc thềm ăn xoài.
“Cái món mà chú mày đang nấu thơm quá”, Jomo nói.
“Món này nấu cho mẹ của Ông Chủ đấy, cơm jollof với gà rán”.
“Tao phải cho chú mày một ít thịt săn. Nó ngon hơn thịt gà”. Jomo chỉ vào cái bọc cột đằng sau xe đạp của ông ta. Trước đó ông ta đã khoe với Ugwu một con thú nhỏ có lông gói bằng lá tươi.
“Cháu không thể nấu thú rừng ở đây!” Ugwu cười vang và nói bằng tiếng Anh.
Jomo quay lại nhìn hắn. “Dianyi, bây giờ chú mày nói tiếng Anh giống những đứa con của các giảng viên quá”.
Ugwu gật đầu, hớn hở nhận lời khen, càng sung sướng hơn bởi vì Jomo không bao giờ đoán được là đám trẻ con da được dưỡng bằng kem và nói tiếng Anh trôi chảy mà không cần phải cố gắng đã chế giễu hắn mỗi khi cô Oguike hỏi hắn một câu bởi vì cách phát âm và giọng lơ lớ rất nhà quê của hắn.
“Harrison nên đến và nghe tiếng Anh nói đúng cách của một người không khoác lác”, Jomo nói. “Ông ta nghĩ cái gì mình cũng biết là tại vì được sống với một người da trắng. Onye nzuzu! Một lão ngu vô cùng!”
“Một người thậm ngu!” Ugwu nói. Cuối tuần trước hắn cũng rất sôi nổi như thế khi đồng ý với Harrison là Jomo không mấy khôn ngoan.
“Hôm qua, lão dê già khóa thùng nước và không chịu đưa chìa khóa cho tao”, Jomo nói. “Lão nói là tao lãng phí nước. Nước của lão đấy chắc? Nếu mà mấy cái cây cảnh chết, tao biết nói thế nào với ông Richard đây chứ?”
“Thế thì tệ thật”. Ugwu búng ngón tay để diễn tả tệ đến mức độ nào. Lần cãi nhau cuối cùng của hai người là khi Harrison giấu cái máy cắt cỏ và nhất quyết không nói cho Jomo biết nó ở đâu cho đến khi Jomo phải giặt lại cái áo của Richard đã bị bẩn vì phân chim dính vào. Đó là vì mấy cây hoa vô tích sự của Jomo đã quyến rũ lũ chim tới đây. Ugwu ủng hộ cả hai người. Hắn nói với Jomo chuyện Harrison giấu cái máy cắt cỏ là rất không phải, rồi sau đó hắn nói với Harrison là Jomo chẳng ra làm sao cả, khi không lại đi trồng hoa ở chỗ đó, bởi vì mấy cây hoa làm chim thích tới. Ugwu rất thích cách Jomo nghiêm túc kể những câu chuyện hoang đường, nhưng hắn cũng khoái Harrison, với thứ tiếng Anh bồi sai be bét, kể về những chuyện xa lạ kỳ bí. Ugwu muốn học hỏi; vì thế hắn nuôi dưỡng tình bạn với cả hai người; hắn trở thành miếng nhựa xốp thấm hết, hút hết mọi chuyện nhưng rất ít khi để lộ ra.
“Sao cũng có ngày tao cho Harrison một bài học, thiệt đó, maka Chukwu”, Jomo nói. Ông ta ném cái hột xoài đi sau khi gặm sạch phần ruột xoài màu vàng, đến nỗi cái hột biến thành màu trắng. “Có người gõ cửa đằng trước kia kìa”.
“Ồ. Bà đến rồi! Đó chắc phải là mẹ của Ông Chủ”. Ugwu phóng vội vào trong nhà; không kịp nghe lời chào từ giã của Jomo.
Mẹ của Ông Chủ cũng có cái dáng chắc nịch, da đen, sôi nổi và đầy sinh lực như người con của bà; giống như là bà chẳng bao giờ cần người ta giúp đội lên đầu bình nước hay đỡ bó củi trên đầu xuống. Ugwu ngạc nhiên thấy có một cô gái trẻ mắt nhìn xuống đất đang đứng cạnh bà, tay ôm túi quần áo. Hắn tưởng bà chỉ đến một mình thôi. Hắn đã mong là bà đến muộn hơn một chút, sau khi cơm chín.
“Mừng bà đến, nno”, hắn nói. Hắn đỡ mấy cái túi của cô gái trẻ. “Chào cô, nno”.
“Cháu là Ugwu phải không? Cháu có khỏe không?” Mẹ của Ông Chủ nói, vỗ nhẹ vai hắn.
“Khỏe ạ, thưa bà. Chuyến đi của bà có suôn sẻ không?”
“Có. Chukwu du anyi. Nhờ Chúa dẫn đường”. Bà nhìn cái radiogram. Tấm váy quấn màu xanh lá cây bó sát ngang hông làm cho mông của bà trông to bè. Bà không theo cái kiểu của mấy người phụ nữ trong trường đại học, quen đeo những chuỗi san hô màu hồng và hoa tai vàng. Ugwu nghĩ mẹ hắn có thể quấn váy như bà nếu mẹ hắn cũng có một tấm váy quấn như thế: tất nhiên điều đó cũng mong manh như việc bà tin rằng bất thình lình mình sẽ không còn nghèo nữa.
“Cháu khỏe không, Ugwu?” Bà lại hỏi.
“Cháu rất khỏe, thưa bà”.
“Con trai ta nói là cháu làm việc giỏi lắm”. Bà với tay sửa cái khăn quấn đầu màu xanh lá cây, đội rất thấp, hầu như che phủ cả cặp chân mày.
“Vâng, thưa bà”. Ugwu khiêm tốn nhìn xuống chân.
“Chúa phù hộ cháu, thần hộ mạng của cháu, chi, đạp bằng những trở ngại cản đường cháu. Cháu có nghe ta nói không?” Giọng bà giống cách Ông Chủ nói quá, oang oang và đầy uy quyền.
“Vâng, thưa bà”.
“Bao giờ con trai ta về?”
“Chiều tối cô và cậu chủ sẽ về. Họ nói bà nên nghỉ ngơi khi bà đến, thưa bà. Cháu đang nấu cơm và thịt gà”.
“Nghỉ ngơi?” Bà mỉm cười và đi vào bếp. Ugwu nhìn bà lấy thức ăn từ trong túi ra: cá khô, khoai dừa, gia vị và lá rau đắng. “Chẳng phải là ta từ nông trại ra hay sao?”, bà hỏi. “Đây là cách mà ta nghỉ ngơi. Ta mang đầy đủ nguyên liệu để nấu món xúp đúng kiểu cho con trai ta. Ta biết cháu cố gắng nhiều, nhưng cháu chỉ là một cậu bé. Một cậu bé thì biết gì về nấu ăn cơ chứ?” Bà cười nửa miệng rồi quay sang cô gái đứng cạnh cửa, khoanh tay, mắt nhìn xuống chân như thể đang chờ mệnh lệnh. “Có phải thế không, Amala? Chỗ của con trai có phải là ở trong bếp không?”
Kpa, thưa bà, không”, Amala nói. Cô có một chất giọng the thé.
“Thấy chưa, Ugwu? Con trai không nên ở trong bếp”. Giọng của mẹ Ông Chủ đầy vẻ đắc thắng. Bà đang đứng cạnh bàn, đã bẻ nhỏ mấy miếng cá khô, gỡ những cái xương như mấy cây kim ra.
“Vâng, thưa bà”. Ugwu ngạc nhiên thấy bà đã không bảo mang ly nước hay là vào trong thay quần áo trước. Hắn ngồi trên một cái ghế đẩu và chờ bà sai bảo. Đó là điều bà muốn; hắn có thể cảm thấy thế. Bà nhìn quanh, ngó mấy cái bếp một cách cảnh giác, gõ gõ lên cái nồi hầm với vẻ đầy nghi kị.
“Ê, con trai ta phí tiền mua mấy cái thứ đắt đỏ này”, bà nói. “Thấy không Amala?”
“Vâng, thưa bà”, Amala nói.
“Những thứ này là của cô chủ, thưa bà. Cô chủ mang nhiều thứ ở Lagos về”, Ugwu nói. Hắn thấy bực mình: cái cách bà ấy làm như thể thứ gì cũng của con bà, cái cách bà điều hành như bà làm chủ trong bếp, cái cách bà lờ đi món cơm jollof và thịt gà hắn nấu.
Bà mẹ của Ông Chủ không trả lời. “Amala, đến đây gọt mấy củ khoai dừa”, bà nói.
“Vâng, thưa bà”. Amala đặt mấy củ khoai dừa vào trong nồi và nhìn cái bếp một cách bất lực.
“Ugwu, bật lửa giúp nó. Chúng ta là dân nhà quê, chỉ biết nhóm củi thôi!” Bà mẹ Ông Chủ nói và khẽ cười.
Cả Ugwu lẫn Amala đều không cười. Ugwu bật bếp. Mẹ của Ông Chủ thảy một miếng cá khô vào mồm. “Cho một ít nước vào đây rồi luộc nó cho ta, Ugwu, xong rồi thái ít lá ugu này để nấu canh”.
“Vâng, thưa bà”.
“Trong nhà có con dao nào sắc không?”
“Có, thưa bà”.
“Lấy dao thái lá ugu thật nhỏ”.
“Vâng, thưa bà”.
Ugwu ngồi xuống cạnh cái thớt. Hắn biết bà ấy đang canh chừng mình. Khi hắn bắt đầu thái mấy chiếc lá ugu đầy xơ, bà kêu ầm lên, “Ô! Ô! Cháu thái lá ugu thế à? Alu melu! Thái nhỏ hơn! Cháu mà thái như thế thà nấu nguyên cả lá cho rồi”.
“Vâng, thưa bà”. Ugwu bắt đầu thái thật nhỏ đống lá, nhỏ đến nỗi chúng sẽ nát nhừ trong nồi xúp.
“Có thế chứ”, mẹ Ông Chủ nói. “Cháu thấy không, con trai chẳng được tích sự gì trong bếp cả. Thái lá ugu còn không biết thái nữa là”.
Ugwu muốn nói. Dĩ nhiên là cháu thái lá ugu rất thành thạo. Cháu làm nhiều việc trong bếp giỏi hơn bà. Nhưng thay vì nói thế hắn lại nói, “Cô chủ và cháu không thái rau, chúng cháu tước rau thành từng sợi nhỏ bằng tay bởi vì như thế sẽ giữ được nhiều chất dinh dưỡng hơn”.
“Cô chủ của cháu?” Mẹ Ông Chủ ngừng một chút. Hình như bà muốn nói cái gì đó nhưng cố kìm lại. Hơi nước tràn ngập trong không khí. “Chỉ Amala cái cối ở đâu để nó nghiền khoai dừa”, cuối cùng bà nói.
“Vâng, thưa bà”. Khi Ugwu lôi cái cối gỗ từ dưới bàn ra lau bụi thì Olanna về. Nàng xuất hiện ở ngưỡng cửa bếp, chiếc áo ôm vừa khít thân hình, nét mặt tươi cười rạng rỡ.
“Mẹ!”, nàng nói. “Con chào mẹ, nno. Con là Olanna. Mẹ đi có vui không?” Nàng đưa tay định ôm mẹ Ông Chủ. Tay nàng vòng ngang thân hình của bà nhưng bà thả lỏng hai tay dọc theo người chứ không đáp lại cái ôm của nàng.
“Vâng, chuyến đi của tôi rất yên lành”.
“Xin chào cô”, Amala nói.
“Xin chào”. Olanna ôm khẽ Amala chút xíu trước khi quay sang mẹ Ông Chủ. “Đây là người bà con với Odenigbo phải không mẹ?”
“Amala giúp việc trong nhà”, mẹ Ông Chủ nói. Bà quay lưng lại với Olanna và tiếp tục nấu xúp.
“Mẹ, đến ngồi xuống đây. Bia nodu ana. Mẹ đừng bận tâm với chuyện nấu ăn. Mẹ nên nghỉ ngơi để Ugwu nấu”.
“Tôi muốn nấu một món xúp thích hợp cho con trai tôi”.
Bầu không khí chợt trầm xuống trước khi Olanna cất lời. “Vâng, thưa mẹ”. Đang nói tiếng Igbo, Olanna chuyển sang phương ngữ mà Ugwu nghe anh em họ của Ông Chủ dùng khi họ đến thăm. Nàng đi xung quanh bếp có vẻ như sốt sắng muốn làm cái gì đó cho mẹ của Ông Chủ vui lòng nhưng không biết phải làm gì. Nàng mở nắp nồi cơm rồi đậy lại. “Ít nhất mẹ cũng phải cho con giúp mẹ nhé. Con đi thay quần áo đã”.
“Tôi nghe nói là cô không có bú vú mẹ”, mẹ Ông Chủ nói.
Olanna khựng lại. “Gì ạ?”
“Người ta nói cô không được nuôi bằng sữa mẹ”. Mẹ Ông Chủ xoay người nhìn Olanna. “Xin cô đi cho và nói với những ai đã phái cô đến đây là cô không tìm được con trai tôi. Nói với mấy con mẹ phù thủy bạn của cô là cô không tìm thấy con tôi”.
Olanna nhìn bà chăm chăm. Bà lên giọng to hơn, làm như sự im lặng của Olanna càng khiến bà điên tiết. “Cô có nghe tôi nói không? Bảo cho chúng nó biết là không có bất kỳ loại bùa mê thuốc lú nào có tác dụng với con tôi. Nó chẳng bao giờ cưới một đứa con gái không bình thường, trừ khi cô giết tôi trước. Phải bước qua xác tôi đã”. Bà mẹ vỗ tay, hú một tiếng ngắn và vỗ vỗ lòng bàn tay lên miệng để tiếng nói của mình âm vang.
“Mẹ...”, Olanna nói.
“Không mẹ miếc gì cả”, mẹ Ông Chủ nói. “Tôi đã bảo, đừng có gọi tôi là mẹ. Để cho con tôi yên. Nói với mấy con quỷ cái bạn của cô là cô không tìm thấy nó!” Bà mở cửa sau, ra bên ngoài và hét toáng lên. “Bớ làng nước. Có một mụ phù thủy trong nhà của con tôi. Bớ làng nước ơi!” Giọng của bà the thé. Ugwu muốn bóp cổ bà cho nghẹt giọng, muốn tọng rau thái sẵn vào mồm của bà ta. Nồi xúp cạn bắt đầu cháy khét.
“Thưa cô? Cô có vào phòng không?”, hắn tiến lại gần Olanna và hỏi.
Olanna dường như lấy lại bình tĩnh. Nàng vén một bím tóc ra phía sau tai, cầm túi xách trên bàn đi ra hướng cửa trước. “Nói với ông chủ của em là tôi về nhà của tôi”, nàng nói.
Ugwu đi theo nàng và nhìn nàng bước vào trong xe, lái đi. Nàng không vẫy chào. Sân nhà im ắng, không có cánh bướm nào chập chờn bay giữa vườn hoa trắng. Trở lại bếp, Ugwu ngạc nhiên nghe mẹ Ông Chủ hiền hòa hát một bài thánh ca ngọt ngào: Nya nya oya mu ga-ana. Na m metu onu we ya aka...
Bà ngừng hát, tằng hắng. “Con bé ấy đi đâu rồi?”
“Con không biết, thưa bà”, Ugwu nói. Hắn đi đến chậu rửa bát và bắt đầu cất mấy cái đĩa sạch vào tủ bát đĩa. Hắn ghét mùi xúp nồng nặc trong bếp; việc hắn sẽ làm đầu tiên, ngay lập tức sau khi bà ta về là giặt tất cả những tấm rèm ám mùi nồng nặc.
“Đó là lý do tại sao ta đến đây. Người ta nói là con bé đó ám quẻ con ta”, bà mẹ Ông Chủ nói, tay khuấy nồi xúp. “Thảo nào con ta vẫn chưa lấy vợ trong khi bạn bè nó đã con đàn con đống. Nó đã bỏ bùa con ta. Ta nghe nói bố nó xuất thân từ một gia đình ăn mày lười biếng ở Umunnachi cho đến khi hắn được đi thu thuế rồi ăn cắp tiền của những người lao động lam lũ. Bây giờ hắn buôn bán và lượn lờ ở Lagos, làm như là Ông Lớn vậy. Mẹ nó cũng chẳng khá hơn. Ở đâu lại có thứ đàn bà mang người đàn bà khác đến để cho con mình bú trong khi mình còn sống sờ sờ và khỏe như vâm? Có bình thường không chứ, gbo, Amala?”
“Dạ không, thưa bà”. Mắt Amala tập trung lên mặt đất như dõi theo những mẫu hình trên nền nhà.
“Ta nghe kể suốt thời gian nó lớn lên, chỉ có mấy đứa đầy tớ lau đít cho nó khi nó đi ỉa. Chẳng những thế cha mẹ nó còn gửi nó đi học đại học. Để làm gì cơ chứ? Học vấn cao chỉ tổ làm cho đàn bà hư, ai cũng biết thế. Học vấn cao làm đàn bà lên mặt rồi họ bắt đầu hỗn láo chẳng coi chồng ra gì. Vợ như thế là loại vợ gì?” Bà kéo một vạt áo lau mồ hôi đọng trên chân mày. “Mấy đứa con gái đi học đại học chạy theo đám đàn ông con trai cho đến khi thân thể tụi nó trở nên vô dụng. Đâu có ai biết là tụi nó có thể có con hay không? Mày có biết không? Có ai biết không?”
“Dạ không, thưa bà”, Amala nói.
“Có ai biết không, Ugwu?”
Ugwu dằn mạnh cái đĩa rồi giả vờ không nghe bà nói gì. Bà ta đến gần, vỗ vai hắn.
“Đừng có lo, con trai ta sẽ tìm được một cô gái đức hạnh và nó sẽ không đuổi cháu về sau khi nó cưới vợ”.
Có lẽ đồng ý với bà ta sẽ làm cho bà xả hết nộ khí nhanh hơn và sẽ chóng im mồm hơn. “Vâng, thưa bà”, hắn nói.
“Ta biết con ta làm việc rất cực khổ để được như ngày nay. Tất cả những nỗi khó nhọc ấy không thể để cho bàn tay một con đàn bà hoang đàng hủy hoại được”.
“Không, thưa bà”.
“Ta chẳng quan tâm đến dòng dõi của người vợ mà con ta cưới. Ta không giống mấy người đàn bà chỉ cưới gái cùng làng cho con mình. Nhưng ta không muốn đàn bà Wawa, cũng không thích đàn bà Imo hay Aro, dĩ nhiên; thổ ngữ của họ nghe kỳ cục quá, khó mà tưởng tượng được họ cũng là người Igbo”.
“Vâng, thưa bà”.
“Ta không thể để con phù thủy này ám quẻ con ta. Nó không thể nào thành công. Ta sẽ thỉnh ý kiến của dibia Nwafor Agbada khi ta về nhà; bùa của ông ấy rất nổi tiếng ở vùng ta”.
Ugwu khựng lại. Hắn biết rất nhiều chuyện người ta dùng bùa ngải của dibia: có người vợ cả không có con bèn thắt dạ con của người vợ thứ hai, có người đàn bà làm cho đứa con trai của ông nhà giàu hàng xóm lên cơn điên, có người đàn ông giết em mình vì tranh giành đất đai. Rất có thể mẹ Ông Chủ sẽ thắt dạ con của Olanna, hay làm cho nàng bị què, hoặc đáng sợ hơn nữa là giết chết nàng.
“Con đi đây, thưa bà. Ông Chủ bảo con đi chợ”, Ugwu nói và vội vã đi tuốt ra cửa sau trước khi bà ta có thể nói thêm lời nào. Hắn phải báo cho Ông Chủ biết. Hắn chỉ đến nơi làm việc của Ông Chủ mỗi một lần, Olanna chở đi khi nàng đến lấy cái gì đó, nhưng hắn tin chắc là hắn sẽ tìm được. Chỗ ấy gần sở thú và lớp của hắn gần đây có đi tham quan sở thú, đi thành hàng một do cô Oguike dẫn đầu. Hắn được đi sau cùng vì hắn là đứa cao nhất lớp.
Ở góc đường Mbanefo, hắn thấy xe của Ông Chủ đang tiến lại gần, rồi dừng hẳn.
“Đây không phải đường đến chợ, phải không bạn tốt?” Ông Chủ hỏi.
“Dạ không phải. Nhưng con đi tìm Ông Chủ”.
“Mẹ tôi đã đến chưa?”
“Đã đến rồi thưa ông. Thưa ông, có chuyện không hay đã xảy ra”.
“Chuyện gì?”
Ugwu kể Ông Chủ nghe chuyện chiều nay, nhanh chóng thuật lại lời nói của hai người đàn bà và chấm dứt với điều kinh khủng nhất, “Bà nói bà sẽ đi kiếm dibia, thưa ông”.
“Nhảm nhí”, Ông Chủ nói. “Ngwa, lên xe. Em có thể cùng về nhà với tôi”.
Ugwu đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy Ông Chủ tỉnh bơ như không có gì xảy ra, như thể Ông Chủ không biết tình hình nghiêm trọng đến mức nào, vì thế hắn nói thêm, “Chuyện rất xấu, xấu lắm. Bà suýt nữa là tát cô chủ”.
“Hả? Bà tát Olanna?” Ông Chủ hỏi.
“Không phải thế, thưa ông”. Ugwu ngập ngừng, có lẽ hắn đã đi quá xa. “Nhưng có vẻ như bà muốn tát cô chủ”.
Nét mặt của Ông Chủ giãn ra. “Bà cụ này chả bao giờ biết điều hơn lẽ thiệt là gì, bất kể là thế nào”, Ông Chủ nói, bằng tiếng Anh, lắc đầu. “Lên xe đi, mình về nhà”.
Nhưng Ugwu không muốn lên xe. Hắn muốn Ông Chủ quành xe lại và đến nhà Olanna ngay lập tức. Cuộc sống của hắn đang ổn định, mẹ của Ông Chủ phải ngừng cái chuyện làm xáo trộn tất cả mọi việc này lại, mà điều đầu tiên là Ông Chủ phải đến làm lành với Olanna.
“Lên xe”, Ông Chủ lại nói, với tay qua cửa bên kia để biết chắc là cửa không khóa.
“Nhưng, thưa ông. Con tưởng là ông sẽ đi gặp cô chủ”.
“Lên xe đi, cậu ngốc!”
Ugwu mở cửa, ngồi vào xe. Và Ông Chủ lái xe đến đường Odim.
--------------------------------
[1] Trích bài The Pied Piper of Hamelin của Robert Browning (1812-1889).
[2] Món ăn của người Phi châu.
[3] Rễ cây licorice dùng để nhai có thể giữ cho răng không bị hỏng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.08.2017 07:45:31 bởi casau>
Chương năm

Olanna nhìn Odenigbo qua cửa kính một lúc trước khi mở cửa. Nàng nhắm mắt khi chàng bước vào, như thể làm thế sẽ chối bỏ cái cảm giác ngất ngây mà mùi Old Spice của chàng luôn mang đến. Chàng mặc bộ đồ thể thao với chiếc quần soóc trắng mà nàng hay trêu là quá căng ở mông.
“Anh bận nói chuyện với mẹ, nếu không anh đã đến sớm hơn”. Chàng nói. Môi chàng gắn chặt lên môi nàng và chàng ra hiệu chỉ về cái boubou [1] cũ nàng đang mặc. “Em không đến câu lạc bộ sao?”
“Em đang nấu ăn”.
“Ugwu kể anh nghe chuyện xảy ra. Anh thành thật xin lỗi vì mẹ anh đã cư xử như thế”.
“Em phải rời bỏ... nhà anh”. Olanna lúng búng. Nàng đã định nói nhà của chúng mình.
“Em không phải bỏ đi đâu cả, nkem. Em không nên để ý đến mẹ, thật đó”. Chàng đặt quyển tạp chí Drum xuống bàn và bắt đầu đi lại trong phòng. “Anh quyết định nói chuyện với Okoro về việc đình công của công nhân. Việc Balewa và đồng đảng gạt hẳn sang một bên những đòi hỏi của công đoàn là điều không thể chấp nhận được. Chúng ta phải ủng hộ họ. Chúng ta không thể đánh mất sự đoàn kết này”.
“Mẹ anh làm om sòm”.
“Em giận à?” Odenigbo có vẻ như không hiểu. Chàng ngồi xuống ghế bành, và đây là lần đầu tiên Olanna nhận thấy trong nhà trống tuềnh trống toàng; căn phòng của nàng thật trống trải, như không có người cư ngụ vậy. Đồ đạc của nàng ở hết nhà chàng, mấy quyển yêu thích của nàng ở trên giá sách trong phòng làm việc của chàng. “Nkem, anh nghĩ là em không nên chấp nhất với bà cụ. Em cũng thấy là mẹ anh không nhận ra hành động của bà là sai. Bà chỉ là một bà nhà quê đang tìm cách sống trong một xã hội mới với những hiểu biết chỉ thích hợp với thời xưa”. Odenigbo đứng dậy, đến gần và kéo nàng vào lòng, nhưng Olanna quay người đi vào bếp.
“Anh chẳng bao giờ nói về mẹ anh”, nàng nói. “Anh cũng chẳng đưa em về Abba thăm mẹ anh”.
“Ô! Thôi mà, nkem. Có phải anh thường xuyên về nhà đâu, lần trước anh rủ, nhưng em phải về Lagos”.
Nàng đến gần bếp, dùng một miếng mút lau mặt bếp còn ấm, lau đi lau lại, quay lưng về phía Odenigbo. Nàng có cảm tưởng như mình làm Odenigbo thất vọng vì đã để chuyện xảy ra với mẹ chàng ảnh hưởng đến tình cảm của hai người. Đáng lẽ nàng phải vượt lên trên những chuyện tầm thường này, bỏ ngoài tai những lời mắng mỏ của một bà cụ nhà quê; nàng không nên chỉ tiếp tục nghĩ đến những lời trả đũa mà nàng có thể nói thay vì đứng im re trong nhà bếp. Nhưng nàng vẫn đang tức, và càng bực hơn trước thái độ của Odenigbo, làm như chàng không thể nào tin được là nàng không hề rộng lượng như chàng tưởng. Chàng làm nàng cảm thấy mình nhỏ mọn và lố bịch; tệ hơn nữa, nàng luôn luôn ngờ rằng rất có thể chàng nói đúng. Chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi điên rồ, nàng ước gì mình có thể lìa xa chàng. Rồi bình tĩnh hơn, nàng ước mình có thể yêu chàng mà không cần đến chàng. Dường như nhu cầu mang đến cho chàng sức mạnh mà chàng không phải gắng sức là sự lựa chọn duy nhất nàng cảm thấy khi ở bên chàng.
“Em đang nấu món gì thế?” Odenigbo hỏi.
“Cơm”. Nàng vắt miếng mút và cất đi. “Anh không đi đánh quần vợt à?”
“Anh tưởng em đi cùng anh”.
“Em không muốn đi”. Olanna quay người lại. “Tại sao em lại phải chấp nhận thái độ của mẹ anh chỉ vì bà là một bà nhà quê? Em biết có rất nhiều người nhà quê không có thái độ đó”.
Nkem, cả đời mẹ anh chỉ ở Abba. Em có biết cái làng Abba nó bé tí tẹo thế nào không? Tất nhiên là bà cảm thấy một cô gái có học sống với con mình là một mối đe dọa cho bà. Dĩ nhiên em phải trở thành một mụ phù thủy bởi vì bà chỉ biết có bấy nhiêu thôi. Thảm kịch thật sự sau thời kỳ thực dân thống trị không phải là người ta không có gì để nói thích hay không thích cái thế giới mới này, mà là họ không được cung cấp phương tiện để có thể thích nghi với thế giới mới”.
“Anh có nói với bà chuyện này không?”
“Anh thấy chuyện này không quan trọng. Nhưng mà anh muốn tóm được bác sĩ Okoro ở câu lạc bộ. Tối nay mình sẽ nói chuyện này. Anh sẽ ở lại đây”.
Nàng ngập ngừng khi rửa tay. Nàng muốn chàng bảo nàng cùng với chàng trở lại nhà chàng, muốn chàng nói với mình là chàng sẽ lên tiếng nói cho mẹ chàng biết phải quấy trước mặt nàng, vì nàng. Nhưng chàng lại tuyên bố sẽ ở lại nhà nàng như là một đứa bé chạy trốn bà mẹ của nó.
“Không”, nàng nói.
“Sao?”
“Em nói không”. Nàng đi vào phòng khách mà không lau tay.Căn nhà bỗng trở nên quá nhỏ bé.
“Em làm gì kỳ quặc vậy, Olanna?”
Nàng lắc đầu. Nàng không để cho chàng khiến nàng cảm thấy nàng là người kỳ cục. Đó là quyền của nàng. Quyền cảm thấy tức giận, quyền không cho phép bị lăng mạ, bị gạt qua một bên vì danh nghĩa trí thức được tôn sùng quá đáng, và nàng nhất quyết bảo vệ quyền này. “Anh đi đi!” Nàng chỉ ra phía cửa. “Đi chơi quần vợt đi và đừng về đây nữa”.
Nàng nhìn chàng đứng dậy bỏ đi. Chàng đóng sầm cửa. Hai người chưa hề cãi nhau; chàng chưa bao giờ để lộ vẻ mất kiên nhẫn hay chống đối ý kiến của nàng như với người khác. Hay là chàng chỉ muốn chiều lòng nàng và không mấy quan tâm đến ý kiến của nàng ngay từ đầu. Nàng thấy chóng mặt. Nàng ngồi một mình ở cái bàn ăn trống trải - ngay cả mấy tấm khăn trải bàn ăn của nàng cũng để ở nhà chàng - và ăn cơm. Cơm sao nhạt thếch, chẳng được như cơm Ugwu nấu. Nàng mở radio. Nàng nghe như có tiếng sột soạt trên trần nhà. Nàng đứng dậy định sang nhà hàng xóm thăm cô nàng Edna Whaler; nàng luôn muốn sang thăm cô hàng xóm người Mỹ da đen xinh đẹp thỉnh thoảng lại mang cho nàng những đĩa bánh bích quy Mỹ được phủ khăn bên trên. Nhưng nàng đổi ý và không bước ra cửa. Nàng bỏ dở bữa cơm, đi quanh nhà nhặt mấy tờ báo cũ lên rồi bỏ xuống. Cuối cùng nàng nhấc điện thoại và chờ người trực tổng đài.
“Cho tôi xin số nhanh lên, tôi còn có nhiều việc phải làm”, một giọng lười biếng phát âm bằng giọng mũi vang lên phía bên kia đầu dây.
Olanna đã quá quen với thái độ không chuyên nghiệp và cáu bẳn của nhân viên trực tổng đài, nhưng đây là một người khiếm nhã nhất mà nàng từng gặp.
Haba, tôi sẽ cắt đường dây nếu cô tiếp tục làm mất thì giờ của tôi”, người trực tổng đài nói.
Olanna thở dài và chậm rãi đọc số của Kainene.
Giọng Kainene có vẻ ngái ngủ khi nàng nghe điện thoại. “Olanna? Có chuyện gì thế?”
Olanna cảm thấy một nỗi buồn xâm chiếm; người chị song sinh của nàng nghĩ là phải có chuyện gì xảy ra thì nàng mới gọi điện thoại. “Chẳng có chuyện gì cả. Em chỉ muốn hỏi chị có khỏe không, kedu”.
“Chúa ơi, thật không ngờ”. Kainene ngáp dài. “Nsukka ra sao rồi? Còn người tình cách mạng của em?”
“Odenigbo vẫn thế. Nsukka cũng vẫn thế”.
“Richard có vẻ thích lắm. Anh ấy cũng có vẻ rất thích anh chàng người tình cách mạng của em”.
“Chị nên đến đây chơi”.
“Richard và chị thích gặp nhau ở Port Harcourt hơn. Cái hộp bé xíu gọi là căn nhà mà người ta cấp cho anh ấy không mấy thích hợp”.
Olanna muốn nói Kainene đến đây thăm nàng, nàng và Odenigbo. Nhưng dĩ nhiên Kainene hiểu ý, chẳng qua là giả bộ hiểu lầm đấy thôi.
“Tháng tới em sẽ đi London”, nàng nói lái sang chuyện khác. “Có lẽ mình nên đi cùng nhau”.
“Chị có nhiều việc cần phải làm quá. Chị không thể lấy đâu ra ngày nghỉ được”.
“Sao chúng mình không nói chuyện với nhau nữa vậy, Kainene?”
“Em hỏi gì kỳ cục thế?” Kainene nói với giọng tức cười và Olanna hình dung ra cái nhếch mép đầy vẻ châm biếm của cô chị.
“Em chỉ muốn biết tại sao chúng ta không nói chuyện với nhau nữa”, Olanna nói. Kainene không trả lời. Hai người im lặng quá lâu đến độ Olanna có cảm tưởng là nàng cần phải xin lỗi. “Em không nên làm phiền chị quá lâu”, nàng nói.
“Em có đến dự buổi tiệc của bố vào tuần tới không?”
“Không”.
“Đáng lẽ chị phải đoán trước được câu trả lời. Quả là vô bổ với anh chàng người tình cách mạng thanh cao của em và chính em, phải không?”
“Em không nên làm phiền chị quá lâu”, Olanna lặp lại và đặt điện thoại xuống. Nàng lại nhấc nó lên và cho người trực tổng đài số điện thoại của mẹ trước khi nàng gác máy. Nàng ước có một ai đó cho nàng nương tựa, và nàng cũng ước gì mình khác với cái bản ngã vốn có, không cần nương dựa ai, giống như Kainene. Nàng kéo dây điện thoại để gỡ rối. Bố mẹ nàng cứ nhất quyết lắp điện thoại cho nàng, làm như cả hai người không nghe thấy nàng nói là trên thực tế nàng sẽ ở nhà Odenigbo. Nàng đã phản đối, nhưng chỉ lấy lệ, cùng một cách nói không yếu ớt khi bố mẹ đều đặn gửi tiền vào tài khoản của nàng và chiếc Impala với nệm bọc rất êm ái.
Mặc dù nàng biết Mohammed đang ở nước ngoài, nàng vẫn đọc số điện thoại của anh ở Kano cho nhân viên tổng đài; giọng nghẹt mũi nói, “Hôm nay cô gọi điện thoại nhiều quá!”, trước khi cô ta thông đường dây. Nàng cầm ống nghe thật lâu dù bên kia đường dây không ai trả lời. Lại có tiếng sột soạt trên trần nhà. Nàng ngồi trên nền nhà lạnh lẽo và dựa đầu vào tường để xem có bớt choáng váng không, có đỡ cảm thấy bất ổn không. Việc mẹ Odenigbo đến thăm đã làm rách toang tấm lưới an toàn của nàng, đã cướp mất một cái gì đó của nàng làm nàng thảng thốt. Nàng có cảm tưởng như mình đành phải xa lìa cái chỗ nàng đáng lẽ phải ở đó. Nàng cảm thấy như nàng đã bỏ rơi kho báu của mình bấy lâu nay, và đã đến lúc phải gom chúng lại, canh giữ cẩn thận hơn. Ý nghĩ này đến với nàng từ từ. Nàng muốn có con với Odenigbo. Hai người chưa từng nói chuyện với nhau về vấn đề này. Có một lần nàng đã nói với chàng là nàng không có cái bản năng thượng cổ của pháinữ để mong muốn có con, mẹ nàng đã nói thế là bất bình thường cho đến khi Kainene cũng nói về nàng như vậy. Chàng cười và nói, mang một đứa bé vào thế giới bất công này là một hành động của blasé bourgeoisie, sự hưởng thụ quá đáng của giới trung lưu - nghe thật tức cười và sai quấy. Cũng như nàng chưa từng suy nghĩ một cách nghiêm túc về chuyện có con, cho đến bây giờ; niềm ao ước bỗng cháy bỏng và bất thình lình thôi thúc ở phần bụng dưới của nàng. Nàng muốn có sức nặng thực sự của một đứa trẻ, con của chàng, trong bụng nàng.
Khi chuông cửa reo tối hôm ấy, lúc nàng vừa bước khỏi bồn tắm, nàng ra cửa, vẫn còn quấn khăn tắm. Odenigbo đang cầm một gói suya [2] được bọc trong giấy báo; nàng ngửi thấy mùi khói của đồ nướng từ chỗ nàng đang đứng.
“Em còn giận không?”, chàng hỏi.
“Còn”.
“Thay quần áo đi, chúng ta cùng về. Anh sẽ nói chuyện với mẹ”.
Chàng có mùi rượu brandy. Chàng vào trong và để gói suya lên bàn. Trong đôi mắt đỏ ngầu của chàng, nàng thoáng thấy sự yếu đuối khéo lẩn dưới vẻ bình thản, tự tin vốn có. Nói cho cùng chàng cũng biết sợ. Nàng úp mặt vào cổ chàng lúc chàng ôm nàng vào lòng và nói nhẹ nhàng, “Không, anh không nhất thiết phải làm thế. Hãy ở lại đây tối nay”.

Sau khi mẹ chàng về quê, Olanna quay lại nhà của Odenigbo. Ugwu nói, “Xin lỗi cô”, làm như hắn cũng có phần nào trách nhiệm trong hành động của bà mẹ Odenigbo. Xong rồi hắn mân mê cái túi ở tạp dề và nói, “Con thấy một con mèo đen sau khi bà và Amala về”.
“Một con mèo đen?”
“Vâng, thưa cô. Gần nhà xe”. Hắn ngừng một lát. “Con mèo đen tượng trưng cho ma quỷ”.
“À, ra thế!”
“Bà nói là bà sẽ đi mời dibia ở làng”.
“Em nghĩ dibia gửi mèo đen đến đây để cắn mình hả?” Olanna cười to.
“Không, thưa cô”. Ugwu khoanh tay buồn bã. “Chuyện này xảy ra ở làng của con cô ạ. Một người vợ thứ đi gặp dibia rồi xin bùa để giết người vợ cả, và đêm trước khi người vợ cả chết, một con mèo đen đã xuất hiện trước lều của người vợ cả”.
“Nghĩa là bà sẽ dùng bùa chú của dibia để giết tôi?” Olanna hỏi.
“Bà muốn chia rẽ cô và Ông Chủ, thưa cô”.
Cái vẻ nghiêm trang của hắn làm nàng cảm động. “Tôi tin đó chỉ là con mèo của hàng xóm, Ugwu”, nàng nói. “Mẹ của Ông Chủ không thể dùng bất kỳ loại bùa chú nào để chia rẽ chúng tôi. Không có gì có thể chia rẽ chúng tôi”.
Nàng đứng nhìn hắn đi vào trong bếp, ngẫm nghĩ về câu nói của mình. Không có gì có thể chia rẽ chúng tôi. Dĩ nhiên, “thuốc” của dibia mà mẹ Odenigbo mang đến - tất cả những bùa chú mê tín dị đoan - chả có nghĩa lý gì với nàng. Nhưng nàng lo lắng về tương lai của hai người. Nàng muốn có cái gì đó chắc chắn. Nàng mong mỏi một dấu hiệu, một đường cầu vồng, dấu hiệu của sự an toàn. Tuy vậy, nàng thấy nhẹ người vì được dần trở về với cuộc sống của mình, cuộc sống của hai người: dạy học, chơi quần vợt và bạn hữu đầy phòng khách. Bởi vì họ thường đến vào buổi tối, nên nàng ngạc nhiên khi nghe tiếng chuông cửa vào buổi chiều một tuần sau đó, khi Odenigbo vẫn còn đang ở giảng đường. Đó là Richard.
“Chào anh”, nàng nói rồi mở cửa mời chàng vào. Chàng rất cao, nàng phải ngước lên để nhìn mặt chàng, nhìn đôi mắt màu xanh nước biển êm đềm và mái tóc xòa phủ vầng trán.
“Tôi chỉ muốn đưa cái này cho Odenigbo”, chàng nói và đưa cho Olanna quyển sách. Nàng rất yêu cái cách chàng phát âm tên của Odenigbo, nhấn dấu thật rành rọt. Chàng tránh ánh mắt của nàng.
“Anh không ngồi chơi à?”, nàng hỏi.
“Tôi hơi vội, thật không may. Tôi phải đi cho kịp giờ tàu”.
“Anh đi Port Harcourt thăm Kainene?” Olanna tự hỏi tại sao mình lại hỏi một câu thừa thãi như thế. Điều này quá hiển nhiên.
“Vâng, tôi đi hằng tuần”.
“Cho tôi gửi lời chào chị ấy nhé”.
“Vâng”.
“Tôi vừa nói chuyện với chị ấy tuần trước”.
“Vâng, cô ấy có nói với tôi”. Richard vẫn còn đứng đấy. Chàng liếc nhìn nàng rồi nhanh chóng quay sang chỗ khác; nàng thấy mặt chàng ửng đỏ. Nàng đã thấy cái nhìn này quá nhiều lần nên không thể nói là nàng không biết mình rất xinh đẹp trong mắt chàng.
“Quyển sách anh viết thế nào rồi?”, nàng hỏi.
“Tiến triển tốt đẹp. Không thể tưởng tượng được, thật đấy, có nhiều đồ trang trí được chạm trổ rất khéo, chúng đích thực là những tác phẩm nghệ thuật, nó không hề ngẫu nhiên một chút nào cả... À, tôi không nên làm cho cô chán”.
“Không đâu, anh không làm tôi chán”. Olanna mỉm cười. Nàng thích vẻ thẹn thùng của chàng. Nàng cũng không muốn chàng đi ngay. “Anh có muốn Ugwu mang cho anh một ít chin-chin [3] không? Ngon lắm, Ugwu mới làm sáng nay”.
“Không ạ, xin cảm ơn cô. Tôi phải đi đây”. Nhưng chàng không quay người để đi. Chàng vén những sợi tóc lòa xòa trước mặt nhưng nó lại buông rủ ngay xuống.
“Vâng, chúc anh lên đường bình an”.
“Cảm ơn cô”. Chàng vẫn đứng im.
“Anh đi xe phải không? Không, anh không đi xe. Tôi nhớ. Anh đi xe lửa”. Nàng nói với giọng cười thẹn thùng.
“Vâng, tôi đi xe lửa”.
“Đi bình an nhé”.
“Vâng. Chào cô”.
Olanna nhìn chàng đi, khi chiếc xe đã lùi ra khỏi khuôn viên, nàng vẫn còn đứng tần ngần ở cửa, nhìn một con chim có ngực màu đỏ như máu đậu trên sân cỏ.

Buổi sáng, Odenigbo đánh thức nàng bằng cách ngậm ngón tay nàng vào miệng. Nàng mở mắt, có thể nhìn thấy ánh sáng như khói của bình minh xuyên qua màn.
“Nếu em không muốn cưới anh, nkem, thì cho anh xin một đứa con”, chàng nói.
Những ngón tay nàng khiến giọng chàng không nghe rõ, vì thế nàng rút mấy ngón tay ra, ngồi bật dậy và nhìn chàng đăm đăm, bộ ngực để trần, đôi mắt hơi húp vì giấc ngủ, để biết là mình không nghe lầm.
“Hai đứa mình có một đứa con đi”, chàng lại nói lần nữa. “Một bé gái giống như em, mình đặt tên con là Obianuju, bởi vì nó sẽ làm chúng ta hoàn toàn thuộc về nhau”.
Olanna đã định để dư âm lần viếng thăm của mẹ chàng lắng dịu đi mới nói với chàng là nàng muốn có một đứa con, nhưng chàng đã nói ra mơ ước của chàng trước khi nàng có thể mở lời. Nàng sững sờ, đắm đuối nhìn chàng. Tình yêu này là một chuỗi những sự trùng hợp ngẫu nhiên đầy ý nghĩa và trở thành một điều kỳ diệu. “Hay là một bé trai”, cuối cùng nàng lên tiếng.
Odenigbo kéo nàng nằm xuống và họ nằm yên bên nhau. Nàng có thể nghe tiếng kêu khàn khàn của con quạ đang ăn những quả đu đủ ngoài vườn.
“Để gọi Ugwu mang thức ăn sáng vào giường cho chúng mình”, chàng nói. “Hay hôm nay là một trong những ngày Chủ nhật theo tôn giáo của em?” Chàng mỉm cười một cách dịu dàng, bao dung; nàng với tay rờ đường viền môi dưới của chàng với chút xíu lông tơ bên dưới. Chàng thích trêu nàng, chuyện tôn giáo không phải là một dịch vụ xã hội, bởi vì nàng đi nhà thờ chỉ vì những buổi họp của Nhà thờ Thánh Vincent de Paul khi nàng chở Ugwu đi trên con đường đất gần làng để phân phát khoai lang, gạo hay quần áo cũ.
“Hôm nay em không đi”, nàng nói.
“Tốt quá. Vì hôm nay mình còn có việc phải làm”.
Nàng nhắm mắt bởi vì chàng đang dang hai chân của nàng rộng ra và khi chàng chuyển động, trước nhẹ nhàng khoan thai, saudồn dập mạnh bạo, chàng thì thầm, “Mình sẽ có một đứa con rất thông minh, nkem, một đứa con rất thông minh”, và nàng nói, “Vâng, vâng”. Sau đó nàng cảm thấy hạnh phúc khi biết rằng một ít mồ hôi trên người nàng là của chàng và một ít trên người chàng là của nàng. Mỗi lần, khi chàng rời khỏi nàng, nàng kẹp hai chân lại, tréo chân ở mắt cá và hít vào một hơi thật sâu, như thể làm thế sẽ khiến nàng thụ thai nhanh hơn. Nhưng nàng không thụ thai, nàng biết. Bất thình lình ý nghĩ là có cái gì đó không ổn trong thân thể nàng bỗng ám ảnh tâm trí làm nàng nhụt chí.
-----------------------------
[1] Boubou là loại áo thụng rộng tay, thịnh hành ở Tây Phi và ít thịnh hành hơn ở Bắc Phi.
[2] Thịt nướng có ướp lạc và gia vị cay.
[3] Món ăn của người Phi châu.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.08.2017 07:41:19 bởi casau>
Chương sáu

Richard chậm rãi thưởng thức món xúp ớt. Sau khi dùng muỗng vớt hết mấy miếng lá xách, chàng nâng cái bát thủy tinh lên và húp hết nước lèo. Nước mũi bắt đầu chảy ra, lưỡi tê tê một vị cay rất ngon lành, chàng biết mặt chàng cũng đang đỏ au.
“Richard, anh ăn món này có vẻ ngon lành quá”, Olanna ngồi cạnh, vừa nói vừa ngắm chàng.
“Chà! Tôi không biết ớt của chúng tôi lại thích hợp với người như anh, Richard!” Odenigbo nói từ bên kia đầu bàn ăn.
“Ngay cả tôi cũng không ăn được ớt cay”, một người khách nói, ông này là một giảng viên người Ghana ở bên nhóm kinh tế, Richard thường quên tên.
“Đây là bằng chứng cho thấy kiếp trước Richard là người Phi châu”. Cô Adebayo nói, trước khi hỉ mũi vào mảnh khăn giấy.
Khách khứa cười rộ. Richard cũng cười theo, nhưng không cười to, vì vẫn còn rất nhiều ớt trong miệng chàng. “Xúp ngon lắm”, chàng nói. “Nó giúp thông mũi”.
“Cái món ăn nhỏ nhỏ xinh xinh có thể nhón bằng tay anh mang đến hấp dẫn lắm, Richard”, Olanna nói. “Cảm ơn anh đã mang thức ăn đến”. Nàng đang ngồi cạnh Odenigbo và nghiêng người về phía trước mỉm cười với chàng.
“Tôi biết món này là bánh ngọt nhân thịt hình xúc xích, nhưng còn đây là món gì?”
Odenigbo săm soi cái khay thức ăn Richard mang đến; Harrison cẩn thận gói tất cả bằng giấy bạc rất đẹp.
“Có phải đây là món cà nhồi [1] không?” Olanna liếc nhìn Richard.
“Vâng. Harrison sáng chế ra rất nhiều món ăn. Ông ấy lấy ruột cà ra, nhồi với phó mát và gia vị”.
“Anh có biết người Âu châu rút ruột một người đàn bà Phi châu, xong rồi nhồi đầy bên trong và đem triển lãm khắp châu Âu không?” Odenigbo hỏi.
“Odenigbo, chúng tôi đang ăn!” Cô Adebayo nói, mặc dù cô đang cố gắng nín cười đến cứng cả người.
Mấy người khách khác cũng cười phụ họa. Odenigbo không cười. “Nguyên tắc này được áp dụng vào mọi việc”, chàng nói. “Các ông nhồi nhét thức ăn. Các ông nhồi nhét con người. Nếu các ông không thích thứ ở bên trong một loại thức ăn đặc biệt nào đó, đừng có động đến nó, đừng có nhồi cái khác vào. Làm như thế phí cả mấy quả cà, ý kiến của tôi là thế”.
Ngay cả Ugwu cũng có vẻ nín cười khi hắn vào phòng ăn dọn dẹp. “Ông Richard, tôi xếp thức ăn vào hộp cho ông mang về nhé”.
“Không, em có thể giữ nó hay đem đổ đi”, Richard nói. Chàng không bao giờ mang thức ăn còn dư về; chàng chỉ mang về những lời khen của khách như: món ăn trang trí rất đẹp, nhưng chàng không nói thêm là khách không đụng đến món khai vị của Harrison mà chỉ ăn xúp ớt của Ugwu, moi-moi, và thịt gà nấu lá rau đắng.
Mọi người ra phòng khách. Sau đó Olanna tắt bớt đèn vì đèn huỳnh quang rất chói mắt; Ugwu mang thêm thức uống. Họ nóichuyện, cười, nghe nhạc. Ánh sáng hắt từ phòng ra hành lang cũng mang theo toàn bóng người. Đó là phần chàng thích nhất của những buổi tối như thế này, mặc dù đôi khi chàng tự hỏi không biết Olanna và Odenigbo có vuốt ve nhau trong ánh đèn mờ. Chàng biết mình không nên nghĩ về họ; chuyện riêng của hai người chứ đâu phải của mình. Nhưng chàng vẫn nghĩ về chuyện này. Chàng chú ý cái cách Odenigbo nhìn Olanna lúc giữa cuộc tranh luận, không phải Odenigbo cần nàng đứng về phe anh ta, bởi vì anh ta có vẻ chẳng cần ai phải theo phe mình cả, mà đơn giản chỉ để biết có sự hiện diện của nàng. Chàng cũng thấy cái cách Olanna đôi khi nháy mắt với Odenigbo, hai người nói với nhau những chuyện mà chàng không bao giờ biết.
Richard đặt cốc bia của mình lên bàn rồi ngồi cạnh cô Adebayo và Okeoma. Cái lưỡi của chàng vẫn còn tê vì cay. Olanna đứng dậy thay điệu nhạc. “Rex Lawson, nhạc sĩ tôi thích nhất, rồi sau đó mới đến Osadebe”, nàng nói.
“Rex Lawson, ông ta có vẻ ngoại lai quá, phải vậy không?” Giáo sư Ezeka hỏi. “Uwaifo và Dairo là những nhạc sĩ có tài hơn”.
“Tất cả các loại nhạc đều bắt nguồn từ nước ngoài, thưa Giáo sư”, Olanna nói, giọng nàng có vẻ châm chọc.
“Rex Lawson là một người Nigeria thực sự. Ông không chỉ trung thành với bộ lạc Kalabari của ông; ông hát bằng bốn thứ ngôn ngữ chính của chúng ta. Đó đúng là chính thống, và dĩ nhiên cũng là lý do chính đáng để thích ông ta”, cô Adebayo nói.
“Đó là lý do chính để không thích ông ta”, Odenigbo nói. “Chủ nghĩa dân tộc có nghĩa là chúng ta nên coi những dị biệt với văn hóa của chúng ta là ngu xuẩn”.
“Đừng phí thì giờ của ông mà hỏi Odenigbo về Tân nhạc. Anh ấy không bao giờ hiểu”, Olanna cười vang, nói. “Anh ấy là người thích nhạc cổ điển nhưng rất ghét phải thú nhận điều này trước đám đông bởi vì nghe có vẻ sính ngoại quá”.
“Âm nhạc không có biên giới”, Giáo sư Ezeka nói.
“Nhưng chắc chắn nó bắt nguồn từ văn hóa, và văn hóa thì cá biệt?” Okeoma hỏi. “Chúng ta có thể nói là Odenigbo rất yêu mến nền văn hóa Tây phương vì nó đã mang đến nghệ thuật nhạc cổ điển không?”
Mọi ngươi cười ồ; Odenigbo nhìn Olanna bằng ánh mắt thật dịu dàng. Cô Adebayo lại đề cập đến chuyện Đại sứ Pháp. Cô không nghĩ là Pháp nên thử bom nguyên tử ở Algeria, dĩ nhiên, nhưng cô không hiểu tại sao vấn đề lại nghiêm trọng đến mức Balewa phải cắt đứt bang giao với Pháp. Cô có vẻ hoàn toàn không hiểu, điều này hơi lạ thường.
“Rõ ràng Balewa làm thế là vì ông ta muốn mọi người không chú ý đến hiệp ước phòng thủ với người Anh”, Odenigbo nói. “Và ông ta cũng biết, làm ra vẻ lờ anh chàng Pháp thì ông chủ Anh sẽ vui lòng. Với họ, ông ta chỉ là một hình nộm. Họ đặt ông ta vào vị trí đó, họ bảo ông ta những việc phải làm và ông ta thi hành, chính hiệu mô hình Quốc hội Westminster”.
“Hôm nay không có mô hình Westminster”. Bác sĩ Patel nói”. Okeoma hứa sẽ đọc cho chúng ta nghe một bài thơ”.
“Tôi đã từng nói với ông là Balewa làm như vậy đơn giản chỉ vì ông ta muốn người Phi châu ở phía Bắc thích ông ta”. Giáo sư Ezeka nói.
“Bắc Phi thích hắn ta? Ông nghĩ là hắn ta quan tâm đến những người Phi châu khác? Balewa chỉ tha thiết với ông chủ người da trắng mà hắn biết thôi”. Odenigbo nói. “Hắn ta đã chẳng tuyên bố người Phi châu chưa đủ khả năng để tự cai trị Rhodesia là gì? Nếu người Anh bảo hắn ta tự gọi mình là con khỉ bị thiến, hắn cũng sẽ vâng theo”.
“Ồ, nói nhảm”, Giáo sư Ezeka nói. “Ông đã lạc đề rồi”.
“Ông không chịu nhìn sự thật!” Odenigbo bắt đầu đổi tư thế ngồi. “Chúng ta sống trong thời đại của con quỷ da trắng khổng lồ.Chúng coi người da đen ở Nam Phi và Rhodesia là đám mọi rợ, chúng gây bất ổn chính trị ở Congo, chúng không cho phép người Mỹ da đen bỏ phiếu, chúng không cho người Aborigines ở châu Úc bỏ phiếu, nhưng tệ nhất là cái mà chúng đang làm ở đây. Hiệp ước phòng thủ còn tệ hại hơn là kỳ thị và tách người da đen ra nhóm khác, nhưng chúng ta không nhận thấy điều đó. Chúng kiềm chế chúng ta sau bức màn ma mị. Rất nguy hiểm”.
Okeoma nghiêng người đến gần Richard. “Hai người này không để cho tôi được đọc bài thơ của tôi hôm nay”.
“Họ đang ở vào hồi cao trào của cuộc luận chiến”. Richard nói.
“Cũng giống như mọi hôm”. Okeoma bật cười. “Quyển sách của anh đã tiến triển đến đâu rồi?”
“Tôi vẫn tiếp tục cày nó”.
“Nó nói về một chính trị gia lưu vong phải không?”
“Không hẳn thế”.
“Nhưng nó là tiểu thuyết phải không?”
Richard nhấp một ngụm bia và tự hỏi không biết Okeoma sẽ nghĩ gì nếu anh ta biết sự thật - ngay cả chính Richard cũng không biết đó có phải là tiểu thuyết hay không bởi vì những trang chàng viết không có vẻ gì mạch lạc trọn vẹn cả.
“Tôi rất thích nghệ thuật chạm khắc của Igbo-Ukwu, và tôi muốn dùng nghệ thuật này làm tâm điểm của quyển sách”, chàng nói.
“Tại sao?”
“Tôi hoàn toàn bị những đồ vật bằng đồng quyến rũ kể từ khi tôi bắt đầu đọc về chúng. Những chi tiết đẹp mê hồn. Khó mà tin được ở thời đại ấy người ta có thể làm tinh vi đến độ hoàn hảo nghệ thuật đúc khuôn bằng sáp đã thất truyền kể từ thời chiếm đóng của Viking [2] như vậy. Những tượng đồng được chế tạo rất tinh xảo, thật kỳ diệu”.
“Anh có vẻ ngạc nhiên lắm”, Okeoma nói.
“Anh nói gì cơ?”
“Anh có vẻ ngạc nhiên, như thể anh không tưởng tượng được hạng người này có thể làm được những chuyện như thế”.
Richard nhìn Okeoma đăm đăm, với một vẻ khinh bỉ mới và yên lặng trong cách Okeoma nhìn lại, chân mày hơi cau trước khi anh ta nói. “Đủ rồi, Odenigbo, Giáo sư! Tôi có một bài thơ muốn trình bày với quý vị”.
Richard tự mút lưỡi của mình. Cái vị cay, rát bỏng của ớt bây giờ không thể chịu nổi, chàng nhấp nhổm chờ Okeoma đọc xong bài thơ hết sức kỳ cục - về người Phi châu bị ghẻ lở ở mông đít của họ khi họ đi ị vào mấy cái chậu kim loại nhập cảng - trước khi chàng có thể đứng dậy đi về.
“Tôi vẫn được phép chở Ugwu về làng của chú ấy tuần tới phải không, Odenigbo?”, chàng hỏi.
Odenigbo liếc sang Olanna.
“Vâng, dĩ nhiên”, Olanna nói. “Tôi hy vọng anh sẽ thích xem lễ hội ori-okpa”.
“Làm thêm một cốc bia, Richard”, Odenigbo nói.
“Ngày mai tôi đi Port Harcourt từ sớm nên tôi cần phải đi ngủ sớm”. Richard nói, nhưng Odenigbo đã quay trở lại với Giáo sư Ezeka.
“Thế còn mấy tay chính trị gia ngu ngốc ở Western House của Hạ viện mà cảnh sát phải dùng hơi cay xịt họ? Hơi cay! Rồi những người giữ trật tự phải khiêng những thân thể mềm nhũn của họ ra xe. Tưởng tượng xem!”
Cái ý nghĩ rằng Odenigbo không mấy để tâm đến sự có mặt của mình làm Richard thấy khá buồn nản. Khi chàng về đến nhà, Harrison mở cửa và cúi đầu chào. “Xin chào ông. Thức ăn có được dùng hết không ạ?”
“Có, có, bây giờ để tôi đi ngủ”, Richard gắt. Chàng không còn tâm trạng nào để nghe chuyện mà chắc chắn chàng phải nghe tiếp đó: Harrison đề nghị là ông ta sẽ dạy mấy người giúp việc của bất cứ người bạn nào của Richard nếu họ muốn học cách làm bánh ướp sherry [3] hay cà nhồi thịt. Chàng vào phòng làm việc, trải hết những trang bản thảo lên sàn nhà rồi nhìn chúng: vàitrang của quyển tiểu thuyết viết về một thị trấn nhỏ, một chương viết về một nhà khảo cổ, vài trang khá xuất thần miêu tả các đồ đồng. Chàng bắt đầu vo nhàu chúng, từng trang một, cho đến khi chàng có một đống giấy nát nhàu bên cạnh giỏ rác; chàng đứng dậy, đi vào giường, cảm giác máu nóng dồn lên hai tai.
Chàng ngủ không ngon, cảm tưởng như mình chỉ mới vừa đặt lưng thì ánh nắng đã xuyên qua rèm. Chàng nghe tiếng lạch cạch của Harrison trong nhà bếp và tiếng Jomo đào đất ngoài vườn. Chàng cảm thấy bức bối trong lòng. Chàng nóng lòng muốn được ngủ yên lành với cánh tay thon gầy của Kainene tì vào người.
Harrison đang tráng trứng và nướng bánh mì làm điểm tâm.
“Thưa ông? Tôi thấy nền nhà trong phòng làm việc đầy giấy?” Ông ta có vẻ lo lắng.
“Để yên đó!”
“Vâng, thưa ông”. Harrison khoanh tay vào rồi lại thả tay ra. “Ông có mang theo bản thẩu [4] không? Tôi sẽ lấy giấy khác cho ông mang đi nhé?”
“Không, cuối tuần này tôi không làm việc”, Richard nói.Vẻ thất vọng trên mặt Harrison không làm chàng thấy tức cười như mọi khi. Chàng tự hỏi, lúc chàng lên xe lửa, không biết Harrison sẽ làm gì vào cuối tuần. Có thể ông ta tự nấu cho mình một bữa ăn độc đáo. Chàng không nên cau có khó chịu với ông già đáng tội nghiệp này; đâu có phải lỗi của ông ấy mà Okeoma tưởng chàng có thái độ khinh miệt. Cái ánh mắt của Okeoma khiến chàng lo ngại nhất: một vẻ khinh bỉ, đầy ngờ vực làm chàng nhớ đến một câu chàng đã đọc đâu đó là người Phi châu và người Âu châu mãi mãi không thể nào giảng hòa. Okeoma thật sai lầm khi nghĩ Richard cũng như bao nhiêu gã người Anh khác luôn cho rằng người Phi châu không thông minh bằng. Có lẽ giọng chàng lộ vẻ ngạc nhiên, bây giờ nghĩ lại chàng đoán, nhưng chàng cũng sẽ biểu lộ cùng một sự ngạc nhiên nếu có một sự khám phá tương tự xảy ra ở Anh quốc hay bất cứ nơi nào trên thế giới.
Một nhóm người bán hàng rong bu lại. “Ai lạc đây!”, “Ai mua cam nào!”, “Ai chuối đây!”.
Richard ngoắc một cô gái trẻ đang đội một mâm lạc luộc mà chàng không muốn mua cho lắm. Cô gái hạ mâm xuống và chàng lấy một hạt, bóp vỡ vỏ bằng hai ngón tay, nhai trước khi chàng bảo lấy cho chàng hai bát. Cô gái có vẻ ngạc nhiên khi thấy chàng biết thử trước khi mua, còn chàng chua chát nghĩ đến Okeoma, chắc cũng sẽ có vẻ ngạc nhiên như thế. Trước khi ăn mỗi hạt, chàng quan sát nó kỹ lưỡng xem đã luộc mềm chưa, tím nhạt, da nhăn - và cố gắng không nghĩ đến mấy tờ giấy bị vò nhàu trong phòng làm việc của mình, cho đến khi xe lửa vào Port Harcourt.
“Madu mời mình ngày mai đến ăn tối”, Kainene nói, lúc nàng chở chàng về bằng chiếc xe hơi Mỹ khá dài. “Vợ anh ấy mới từ nước ngoài về”.
“Thế à?” Richard hầu như không nói gì thêm, chỉ nhìn những người bán hàng rong trên đường, la hét, ra hiệu, chạy theo xe để chào mời.

Sáng hôm sau, tiếng mưa tạt vào cửa sổ đánh thức chàng. Kainene nằm cạnh chàng, mắt nàng he hé mở trông rất kỳ, như thế có nghĩa là nàng đang ngủ say. Chàng ngắm màu da sôcôla sẫm của nàng bóng lên vì xoa dầu và cúi xuống sát mặt nàng. Chàng không hôn nàng, cũng không để mặt mình chạm vào mặt nàng nhưng gần, đủ để chàng cảm thấy hơi ẩm trong hơi thở của nàng và ngửi thấy thoang thoảng mùi của nàng đọng lại. Chàng vươn vai rồi đến cửa sổ. Mưa ở Port Harcourt xiên chéo, vì thếnước mưa tạt vào cửa sổ và tường hơn là rơi thẳng trên mái nhà. Có thể tại vì nó sát biển, không khí luôn đẫm hơi nước làm cho mưa rơi sớm hơn. Trong chốc lát, mưa trở nên dồn dập, tiếng mưa đập vào cửa sổ nghe to hơn, như sỏi ném vào cửa kính. Chàng vươn vai lần nữa. Mưa tạnh và kính cửa mờ hơi nước. Phía sau, Kainene cựa người và nói lầm bầm cái gì đó.
“Kainene?” Chàng gọi.
Mắt nàng vẫn hé mở, hơi thở của nàng vẫn đều đặn.
“Anh đi bộ một chút”, chàng nói, mặc dù chàng biết chắc là nàng chẳng nghe thấy gì.
Bên ngoài, Ikejide đang hái cam; bộ đồng phục của anh ta kéo hếch lên phía sau lưng lúc anh ta giơ cù nèo để trảy cam.
“Xin chào ông”, anh ta nói.
Kedu?” Richard hỏi. Chàng thấy tự nhiên khi thực tập tiếng Igbo với người giúp việc của Kainene: họ chẳng bao giờ biểu lộ chút tình cảm hay ý nghĩ nào cả, vì thế chẳng quan trọng gì việc chàng có nói đúng giọng hay không.
“Tôi khỏe, thưa ông”.
Jisie ike”.
“Vâng, thưa ông”.
Richard đi đến cuối vườn, nơi chàng có thể nhìn thấy, xuyên qua những lùm cây, bọt sóng trắng xóa. Chàng ngồi trên mặt đất. Chàng mong sao Thiếu tá Madu đã chẳng mời họ ăn tối; chàng không hào hứng gì với việc gặp mặt vợ anh ta cả. Chàng đứng dậy, vươn vai và đi vòng ra sân trước, nhìn bụi hoa giấy màu tím đã bò lên tường. Chàng đi bộ một hồi lâu xuống tận mảnh đất đầy bùn của con đường vắng vẻ dẫn đến căn nhà trước khi quay trở về. Kainene đang ngồi trên giường đọc báo. Chàng leo lên giường ngồi cạnh nàng; nàng vươn tay ra, những ngón tay nhẹ nhàng vuốt mái tóc chàng. “Anh có sao không? Từ hôm qua, anh có vẻ căng thẳng”.
Chàng kể nàng nghe về Okeoma, và bởi vì nàng không đáp lời ngay nên chàng nói thêm, “Anh còn nhớ lần đầu tiên anh đọc về mỹ thuật Igbo-Ukwu, trong một bài báo, một nhà quý tộc ở Oxford miêu tả nó có cách trang trí Rococo [5] rất kỳ lạ, gần giống như kỹ thuật Fabergé [6]. Anh không bao giờ quên điều này - Rococo và kỹ thuật Fabergé. Anh bắt đầu yêu say đắm nghệ thuật này, yêu cả cái cách gọi của nó”.
Nàng gấp tờ báo lại và để lên cạnh bàn ngủ.
“Tại sao ý nghĩ của Okeoma lại quan trọng đến thế?”
“Anh thật sự yêu thích nghệ thuật này. Thật là kinh khủng khi anh ta dám buộc tội anh khinh rẻ nghệ thuật này”..
“Anh đã lầm khi nghĩ là tình yêu không còn chỗ cho những chuyện khác. Rất có thể người ta yêu một cái gì đó nhưng vẫn khinh thị nó”.
Richard lăn người ra xa nàng. “Anh không biết mình đang làm gì nữa. Anh cũng không biết mình có phải là nhà văn không”.
“Anh không biết cho đến khi nào anh thật sự viết, phải không?” Kainene bước ra khỏi giường; chàng nhận thấy ánh kim loại trên bờ vai gầy của nàng. “Em thấy chắc anh không có hứng để đi ăn tiệc tối nay. Em sẽ gọi Madu và hủy bỏ cuộc hẹn”.
Nàng trở lại sau khi gọi điện thoại và ngồi lên giường, trong sự yên lặng ngăn cách giữa hai người, chàng chợt cảm thấy thầm biết ơn sự thẳng thắn của nàng vì nó làm chàng không có chỗ để mà tự thương hại hay ẩn náu.
“Có lần em nhổ nước miếng vào trong ly nước của bố”, nàng kể. Bố đã chẳng mắng mỏ hay làm gì em cả. Em chỉ muốn làm thế. Lúc đó em mười bốn tuổi. Em chắc chắn sẽ rất thỏa mãn nếu bố uống hết ly nước, nhưng dĩ nhiên Olanna chạy đi thay ly nước khác cho bố”. Nàng duỗi người bên cạnh chàng. “Bây giờ đến phiên anh kể anh đã làm chuyện động trời nào”.
Chàng cảm thấy hứng khởi vì làn da mịn màng của nàng cọ xát vào da chàng, mà cũng vì nàng sẵn sàng hủy bỏ lời hẹn với Thiếu tá Madu. “Anh không có nghị lực đủ mạnh để làm bất kỳ chuyện gì tày trời”, chàng nói.
“Thế thì cứ kể chuyện gì cũng được”.
Chàng nghĩ đến chuyện kể cho nàng nghe cái ngày ở Wentnor khi chàng trốn Molly và bỏ nhà đi lần đầu, một dịp để thay đổi số phận của mình. Nhưng chàng đã không kể. Thay vào đó, chàng kể về cha mẹ mình, cái cách hai người nhìn đắm đuối vào mắt nhau khi họ nói chuyện, quên sinh nhật của chàng, rồi bảo Molly làm cái bánh có chữ Chúc Mừng Sinh Nhật Muộn, vài tuần sau đó. Họ không bao giờ biết chàng ăn cái gì, ăn lúc nào. Molly cho chàng ăn, vì thế chị ấy nhớ.Họ không định có con nhưng vì lỡ nên họ nuôi con như một việc mà họ sực nhớ ra là họ phải làm. Nhưng chàng hiểu, ngay cả khi chàng còn rất bé, không phải là cha mẹ chẳng yêu chàng, mà họ thường hay quên như thế chỉ vì họ yêu nhau vô cùng say đắm. Kainene nhướng mày, như hoài nghi, cách chàng diễn giải không hợp lý, và vì thế chàng không dám nói cho nàng biết, đôi khi chàng nghĩ rằng chàng quá yêu nàng.

2. Quyển Sách: Thế Giới Im Lặng Khi Chúng Tôi Chết
Ông thảo luận về Taubman Goldie, một viên tướng kiêm lái buôn người Anh, về cách hắn ta đã ép buộc, phỉnh phờ và giết hại để đoạt quyền kiểm soát hoạt động buôn bán dầu dừa và trong Hội nghị Berlin 1884, nơingười Âu châu phân chia Phi châu; hắn ta đã giúp người Anh đẩy Pháp vào thế phải đồng ý chia khu vực sông Niger thành hai vùng lệ thuộc vào chính quyền bảo hộ: Bắc và Nam.
Người Anh thích miền Bắc hơn. Khí hậu miền này nóng khô, dễ chịu. Người Hausa-Fulani dáng thanh nhã và nhờ đó được xem là “tốt” hơn người miền Nam đa số theo Hồi giáo. Họ được xem là văn minh hơn những người bản xứ còn phong kiến, do đó dùng họ để gián tiếp cai trị sẽ rất hiệu quả. Các tiểu vương cha truyền con nối thu thuế cho người Anh; còn người Anh, để trả công, sẽ không để cho các nhà truyền đạo Thiên Chúa xâm nhập.
Trong khi đó khí hậu miền Nam ẩm, đầy muỗi, lắm người mê tín dị đoan và các bộ lạc lại không hòa thuận với nhau. Người Yoruba đông nhất ở Tây nam. Ở Đông nam, người Igbo sống trong những cộng đồng theo chế độ cộng hòa. Họ không ngoan ngoãn, dễ phục tùng mà rất nhiều tham vọng, nên rất đáng lo ngại. Vì họ không ngoan ngoãn phục vụ vua, người Anh sáng chế ra những “nhà toàn quyền bảo hộ”, bởi vì cai trị gián tiếp ít tốn kém cho vương quốc. Các nhà truyền đạo được phép cai trị và làm giảm sự chống đối của những kẻ tà ma ngoại đạo; Thiên Chúa giáo nói chung và nền giáo dục họ mang đến nói riêng phát triển mạnh mẽ. Năm 1914, viên toànquyền kết hợp miền Bắc với miền Nam, và vợ ông ta chọn một cái tên. Nước Nigeria được thành lập từ đó.

------------------------------
[1] Cà pháo.
[2] Viking là những chiến binh hàng hải, thương nhân, hải tặc ở Bắc Âu vào thời đại đồ đá muộn, trên bán đảo Scandinavia, vùng Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển ngày nay.
[3] Tên một loại rượu ở miền Nam Tây Ban Nha.
[4] Tác giả cho Harrison dùng chữ “manscrit” thay vì “manuscript” (bản thảo).
[5] Phong cách nghệ thuật và trang trí nội thất của Pháp thế kỷ XVIII, với những đường cong đối xứng rất tinh tế.
[6] Peter Carl Fabergé (1846-1920): Thợ kim hoàn người Nga, nổi tiếng về cách dùng kim loại và đá để làm đồ trang sức có hình quả trứng.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Phần II:
Cuối thập niên sáu mươi
 
Chương bảy

Ugwu đang nằm trên chiếu trong chòi của mẹ, nhìn chăm chăm cái xác nhện bị đập nát bét dính trên tường; chất nhầy in lên vách tường thành đỏ sậm hơn. Anulika đang đong từng chén ukwa, mùi bột sa kê nướng sực nức khắp phòng. Mẹ nói huyên thuyên khá lâu làm hắn nhức cả đầu. Chuyến về thăm nhà bỗng có vẻ như lâu hơn một tuần, có lẽ vì bụng hắn cứ bị sôi ùng ục do chỉ ăn mỗi rau và hạt quả. Thức ăn mẹ hắn nấu chẳng ngon lành gì cả. Rau thì chín rục quá. Món bột ngô lợn cợn, còn xúp thì lõng bõng, món khoai lang ăn khô khốc vì luộc mà không cho chút bơ vào. Hắn chỉ muốn trở lại Nsukka để được ăn một bữa ăn thực sự.
“Em muốn có một đứa con trai trước, bởi vì nó sẽ củng cố địa vị của em ở trong nhà của Onyeka”, Anulika nói. Nó bước tới lấy một cái bọc trên rui nhà và Ugwu lại để ý, thân hình của nó gần đây trở nên tròn trịa đáng ngờ: ngực của nó căng ních, cái mông nhún nhẩy theo nhịp bước. Onyeka chắc là đã đụng chạm đến thân thể nó. Ugwu không chịu nổi khi nghĩ đến cái thân thể xấu xí của thằng ấy thậm thụt vào người em hắn. Chuyện xảy ra nhanh quá sức tưởng tượng; lần trước về thăm nhà hắn mới chỉ nghe nói có người ngấm nghé con bé, lúc ấy con bé nhắc đến Onyeka một cách hững hờ làm hắn không thể nghĩ là con bé lại nhận lời cầu hôn nhanh đến vậy. Bây giờ kể cả bố mẹ hắn cũng nhanh nhảu mỗi khi nhắc đến Onyeka, nó có chỗ làm thợ sửa xe ngon lành trong thị xã, có xe đạp, cư xử đàng hoàng, làm như nó đã là rể trong nhà vậy.
Không ai nói động đến chuyện thằng ấy còm nhom, còn hàm răng thì nhọn hoắt giống như răng chuột.
“Anh biết không, Onunna ở bên làng Ezeugwu có con gái đầu lòng, nhà chồng nó lập tức đi gặp dibia để xem tại sao! Dĩ nhiên người nhà Onyeka không dám làm như vậy với em đâu, nhưng em vẫn muốn có một đứa con trai trước”. Anulika nói.
Ugwu bật dậy. “Tao chán nghe chuyện thằng Onyeka lắm rồi. Lúc nó đến đây hôm qua tao nhận thấy là nó nên tắm thường xuyên hơn. Nó có mùi như mùi đậu dầu thối vậy”.
“Thế còn anh, anh có mùi như thế nào?” Anulika đổ bột vào trong bao rồi bắt đầu buộc lại. “Em xong rồi. Anh nên đi cho sớm kẻo muộn quá”.
Ugwu đi ra sân. Mẹ hắn đang giã cái gì đó trong cối, còn bố hắn đứng lúi cúi ở gần bên, lia con dao vào một cục đá mài. Những mảnh vụn kim loại từ con dao bị cọ mạnh vào đá văng ra những tia lửa bé xíu nháng lên một chút rồi tắt ngấm.
“Anulika có gói bột ukwa kỹ không?”, mẹ hắn hỏi.
“Có ạ”. Ugwu chìa cái bao ra cho bà xem.
“Gửi lời chào đến ông chủ và bà chủ nhé”, mẹ hắn nói. “Cảm ơn ông bà ấy về tất cả những thứ ông bà ấy gửi cho chúng ta”.
“Vâng, mẹ ạ”. Hắn đến gần và ôm mẹ. “Mẹ giữ gìn sức khỏe, mẹ chào dì Chioke giúp con khi dì ấy về”.
Bố hắn đứng thẳng dậy và gại gại lưỡi dao vào lòng bàn tay, trước khi bắt tay từ giã hắn. “Đi mạnh khỏe, ije oma. Bố mẹ sẽ nhắn cho con biết khi gia đình Onyeka thông báo là họ sẵn sàng mang rượu đến. Chỉ trong vòng vài tháng thôi”.
“Vâng, thưa bố”. Ugwu luẩn quẩn đứng đó một lúc trong khi đám anh em ruột và anh em họ, đứa nhỏ ở truồng, đứa lớn mặc áo thùng thình quá khổ đến chào tạm biệt và bảo hắn lần sau về thăm nhà nhớ mang quà. Mua bánh mì cho chúng em nhé! Mua thịt nhé! Mua cá rán! Mua lạc!
Anulika tiễn hắn ra đến tận đường chính. Hắn nhìn thấy một bóng dáng quen thuộc gần rừng cây ube và mặc dù hắn chưa hề gặp kể từ khi cô đi Kano học nghề bốn năm trước, hắn biết chắc đó là Nnesinachi.
“Anulika! Ugwu! Có phải các bạn không?” Giọng của Nnesinachi có vẻ trầm hơn so với trong trí nhớ của hắn nhưng cô nàng cao lên rất nhiều, da đen sậm hơn vì ánh nắng gay gắt của miền Bắc.
Khi họ ôm nhau để chào, hắn cảm thấy ngực cô nàng chạm vào ngực hắn.
“Tôi hầu như không nhận ra được cô. Miền Bắc làm cô thay đổi nhiều quá”, hắn nói, thầm hỏi không biết cô nàng có cố tình chạm ngực vào ngực mình không.
“Tôi về hôm qua, với mấy người anh em họ”. Cô nàng mỉm cười với hắn. Ngày xưa cô chưa bao giờ mỉm cười thân thiện với hắn như vậy. Chân mày của cô nàng đã được cạo đi và vẽ thế bằng bút chì, một bên đậm hơn. Cô quay sang Anulika, “Anuli, tôi đang trên đường đến nhà bạn. Tôi nghe đồn bạn sắp lấy chồng!”
“Chị ơi, em cũng nghe đồn như thế đấy”, Anulika nói, cả hai cùng cười phá lên.
“Đằng ấy đi về Nsukka đấy à?” Cô hỏi Ugwu.
“Vâng. Nhưng tôi sẽ trở lại sớm để dự lễ đính hôn của Anulika lúc người ta mang rượu đến”.
“Đi mạnh giỏi!” Mắt của Nnesinachi chạm mắt hắn một thoáng dạn dĩ, trước khi cô tiếp tục đi, hắn biết là hắn đã chẳng mơ hão; đúng là cô ấy cố ý cọ ngực mình vào ngực hắn khi hai người ôm khẽ để chào nhau. Hắn cảm thấy như có một luồng điện chạy qua làm chân hắn như chùng xuống. Hắn cố kìm mình không quay lại nhìn cô nàng, để phòng khi cô nàng cũng quay đầu nhìn hắn, trong khoảnh khắc hắn bỗng quên cảm giác sôi sục khó chịu trong bụng.
“Tâm trí chị ấy luôn hướng về miền Bắc. Anh không thể cưới chị ấy, vì thế nếu chị ấy tặng anh cái gì thì tốt nhất là anh nên lấy cái ấy, trước khi chị ấy theo chồng”. Anulika nói.
“Em nhận thấy à?”
“Làm sao mà em không thấy chứ? Em có phải con cừu đâu?”
Ugwu nheo mắt nhìn em. “Onyeka đã mó máy vào em chưa đấy?”
“Dĩ nhiên là Onyeka đã gần gũi em”.
Ugwu đi chậm lại. Hắn biết em hắn đã ngủ với Onyeka, tuy vậy hắn vẫn không thích nghe em hắn xác nhận ngay như thế. Khi Chinyere, con sen nhà bác sĩ Okeke, bắt đầu lén băng qua hàng giậu đến phòng của hắn để vụng trộm với hắn trong chớp nhoáng, hắn đã kể với Anulika trong một lần về thăm nhà và hai anh em đã bàn chuyện này. Tuy thế hắn chưa bao giờ nói chuyện của con em. Hắn luôn làm ra vẻ như chẳng có gì đáng để trao đổi cả. Anulika đi trước hắn, không bận tâm đến vẻ hằn học và dùng dằng của hắn; hắn bước nhanh hơn một chút, im lặng, chân hai người nhẹ nhàng lướt trên cỏ, nơi cả hai đã cùng đuổi bắt cào cào châu chấu lúc còn nhỏ.
“Anh đói bụng quá”, cuối cùng hắn nói.
“Anh đã chẳng ăn lấy một miếng khoai mẹ luộc”.
“Ở chỗ bọn anh luộc khoai có cho bơ”.
“Ở chỗ bọn anh luộc khoai có cho bưa-ơ. Nhìn cái mồm của anh kìa. Đến lúc họ đuổi anh về làng thì anh sẽ ra sao? Làm gì có bưa-ơ cho anh luộc khoai?”
“Họ sẽ không đuổi anh về làng”.
Anulika liếc xéo hắn từ đầu đến chân rồi từ chân lên đầu. “Anh quên nguồn gốc xuất thân của anh rồi, bây giờ anh trở nên ngu đến nỗi anh tưởng mình là một Ông Lớn đấy”.

Ông Chủ đang ở trong phòng khách khi Ugwu bước vào chào ông.
“Gia đình em thế nào?” Ông Chủ hỏi.
“Tất cả đều khỏe, thưa ông. Mọi người gửi lời chào ông”.
“Tốtlắm”.
“Em gái Anulika của con sắp lấy chồng”.
“Thế à”. Ông Chủ chăm chú vặn radio.
Ugwu có thể nghe thấy tiếng Olanna và Bé By [1] đang hát trong nhà tắm.

London có cái cầu đang rơi, cầu đang rơi, cầu đang rơi.
London có cái cầu đang rơi, bà chủ xinh đẹp.


Cái cách Bé By phát âm chữ London nghe như là lon ton. Cửa nhà tắm đang mở.
“Xin chào cô”, Ugwu nói.
“Ồ! Ugwu, tôi không nghe tiếng em vào!” Olanna nói. Nàng đang cúi người ngang bồn tắm để tắm cho Bé By. “Mừng em trở lại, nno. Gia đình em có khỏe không?”
“Dạ khỏe cả. Mọi người gửi lời chào cô. Mẹ con bảo không biết nói gì để cảm ơn vì mấy cái áo cô đã cho”.
“Chân của mẹ em thế nào rồi?”
“Nó không còn đau nhức nữa ạ. Mẹ con gửi bột ukwa cho cô”.
“Ê! Bà ấy chắc đoán được là tôi đang thèm nó lắm”. Nàng quay người nhìn hắn, hai tay dính đầy bọt xà phòng tắm. “Em có vẻ khỏe mạnh, má em đầy đặn hẳn ra!”
“Vâng, cảm ơn cô”. Ugwu trả lời, dù biết đó là câu nói dối. Hắn luôn sụt cân mỗi lần về thăm nhà.
“Ugwu!” Bé By gọi. “Ugwu, xem này!” Cô bé đang bóp một con vịt bằng cao su kêu quác quác.
“Bé By! Con có thể chào Ugwu khi nào con tắm xong”, Olanna nói.
“Anulika sắp kết hôn, thưa cô. Bố của con bảo con nên báo cho Ông Chủ và cô biết. Gia đình con chưa biết ngày chính thức, nhưng bố mẹ con sẽ rất là vui mừng nếu ông và cô đến dự”.
“Anulika? Cô ấy còn trẻ quá mà? Chừng mười sáu, mười bảy thôi phải không?”
“Các bạn nó đã bắt đầu lập gia đình rồi”.
Olanna quay trở lại với cái bồn tắm. “Dĩ nhiên chúng tôi sẽ dự”.
“Ugwu!” Bé By lại gọi.
“Thưa cô, con hâm cháo cho Bé By nhé?”
“Ừ. Em làm ơn pha sữa luôn đi”.
“Vâng, thưa cô”. Hắn muốn nấn ná thêm một lúc rồi sẽ hỏi nàng xem mọi việc vẫn ổn trong cái tuần hắn vắng mặt chứ; nàng sẽ kể cho hắn nghe người bạn nào đến thăm, ai mang món gì và họ đã ăn hết món thịt hầm hắn nấu trong cái hộp ở ngăn đông lạnh chưa.
“Ông chủ và tôi quyết định sẽ đưa Arize đến đây ở để cô ấy sinh em bé vào tháng Chín”, Olanna nói.
“Thế thì hay quá, thưa cô”, Ugwu nói. “Con hy vọng em bé sẽ giống cô Arize chứ không giống chú Nnakwanze”.
Olanna bật cười. “Tôi cũng hy vọng thế. Mình phải dọn phòng cho cô ấy. Tôi muốn nó hoàn toàn sạch sẽ, không có một hạt bụi nào”.
“Nó sẽ sạch bóng, thưa cô, xin cứ an tâm”. Ugwu thích cô Arize. Hắn vẫn còn nhớ lễ mang rượu của Arize ở Umunnachi ba năm trước. Cô ấy tròn trịa và sôi nổi làm sao, và dạo ấy, hắn uống nhiều rượu đến nỗi suýt tí nữa làm rớt Bé By mới sinh.
“Thứ Hai tôi sẽ đi Kano để đón cô ấy và đưa cô ấy tới Lagos sắm sửa”, Olanna nói. “Tôi sẽ đưa Bé By theo. Mình sẽ chuẩn bị hành lý và mang theo cái áo xanh Arize may cho bé”.
“Cái màu hồng đẹp hơn, thưa cô. Cái màu xanh hơi chật”.
“Đúng rồi”. Olanna nhặt con vịt cao su và ném nó trở lại bồn tắm, Bé By khoái chí hét toáng lên rồi dìm con vịt cao su xuống nước.
Nkem”, Ông Chủ gọi to. “O mego! Có chuyện rồi!”
Olanna chạy vội ra phòng khách, Ugwu bén gót theo sau.
Ông Chủ đang đứng cạnh radio. Tivi đang mở nhưng âm thanh đã bị vặn tắt, vì thế những người đang nhảy múa trông giống như đang lắc lư, quay cuồng trong cơn say. “Có một cuộc đảo chính”, Ông Chủ nói, và ra hiệu chỉ về hướng cái radio. “Thiếu tá Nzeogwu đang đọc diễn văn ở Kaduna”.
Giọng nói trên đài nghe rất trẻ, hăng hái và đầy tự tin.

Hiến pháp cũ hiện nay không còn hiệu lực, chính quyền địa phương và những cơ cấu tổ chức cũ từ nay sẽ bị giải tán. Đồng bào thân mến, mục đích của Hội đồng Cách mạng là thiết lập một quốc gia không bị thối nát vì tham nhũng và xung đột nội bộ. Kẻ thù của chúng ta là lũ đầu cơ chính trị, bọn tham nhũng, những kẻ có chức quyền từ cao đến thấp đã kiếm chác tiền hối lộ và đòi mười phần trăm, những kẻ tìm cách chia rẽ đất nước mãi mãi để chúng có thể giữ vững địa vị của mình, người của bộ lạc, người của bè cánh quan quyền, những kẻ đã làm cho đất nước chúng ta như một gã khổng lồ quê mùa và nghèo khó trước những tổ chức quốc tế, những kẻ đã làm sụp đổ xã hội của chúng ta.

Olanna chạy đến máy điện thoại., “Có chuyện gì xảy ra ở Lagos? Có phải họ nói chuyện xảy ra ở Lagos không?”
“Bố mẹ em an toàn, nkem. Dân thường thì không sao cả”.
Olanna đang quay số. “Tổng đài? Tổng đài?” Nàng để điện thoại xuống rồi lại nhấc nó lên. “Đường dây không thông”.
Ông Chủ dịu dàng gỡ điện thoại ra khỏi tay nàng. “Anh tin là họ an toàn. Đường dây sẽ được nối lại ngay thôi, vấn đề an ninh ấy mà”.
Trên đài phát thanh, giọng nói đó trở nên cứng rắn hơn.

Tôi cam đoan với tất cả những người ngoại quốc rằng quyền lợi của quý vị tiếp tục được bảo đảm. Chúng tôi sẽ mang đến cho tất cả những công dân chấp hành luật pháp một nền tự do không bị áp chế dưới bất cứ hình thức nào, bất cứ chính quyền bù nhìn nào. Quyền tự do sẽ tồn tại và phát triển ở bất cứ lĩnh vực nào có sự nỗ lực của con người. Chúng tôi xin hứa rằng nhân dân sẽ không bao giờ phải hổ thẹn khi nhận rằng mình là người Nigeria.

“Mẹ Ola!” Bé By gọi từ phòng tắm. “Mẹ Ola!”
Ugwu trở lại phòng tắm, dùng khăn lau khô cho Bé By rồi ôm bé, khẽ phà hơi vào cổ bé. Người nó thơm nức mùi Pears, xà phòng tắm của trẻ em.
“Gà con!”, hắn nói và cù nó. Bím tóc của nó ướt, ở đuôi được cột chặt thành một nút thắt quăn quăn, Ugwu vuốt cho thẳng ra rồi khen bé giống bố; dân làng của hắn có thể nói là Bé By giống Ông Chủ như đúc.
“Cù nữa đi!” Bé By vừa nói vừa cười nắc nẻ. Bộ mặt tròn trĩnh của bé ướt đẫm vì hơi nước.
“Bé con bé con gà”, Ugwu lẩm rầm theo điệu hát luôn làm bé thích chí.
Bé By cười khanh khách. Từ phòng khách, Ugwu nghe Olanna nói, “Ôi, Chúa ơi, ông ta nói gì thế? Ông ta nói cái gì thế?”
Hắn đang cho Bé By ăn cháo khi người đại diện của Tổng thống phát biểu một bài ngắn trên radio, giọng ông ta có vẻ yếu ớt, như mệt mỏi tột độ khi cố gắng phát biểu, “Chính quyền được bàn giao cho quân đội”.
Sau đó có thêm nhiều bản tuyên bố - Thủ hiến mất tích, Nigeria bây giờ là chính quyền quân sự liên bang, Thủ hiến của hai miền Bắc, Nam mất tích - nhưng Ugwu không biết rõ ai là người nói và trên băng tần nào bởi vì Ông Chủ ngồi cạnh máy phát thanh, vặn nút dò sóng liên hồi, ngừng, lắng nghe, vặn, ngừng. Ông đã tháo kính ra rồi nhìn có vẻ bất an, mắt trũng sâu. Ông không đeo kính trở lại cho đến khi khách khứa tụ đến. Hôm nay đông người hơn bình thường. Ugwu mang thêm ghế trong phòng ăn ra phòng khách để có đủ ghế ngồi cho tất cả mọi người. Giọng nói của họ có vẻ khẩn thiết và kích động, ai cũng như không thể chờ người kia nói dứt lời.
“Đây là thời điểm chấm dứt tệ tham nhũng! Đây là cái cần phải xảy ra từ khi có cuộc tổng bãi công”, một người khách nói. Ugwu không nhớ tên nhưng nhớ là ông ta thường ăn hết chin-chin ngay sau khi dọn ra, vì thế Ugwu thường đặt cái mâm càng xa ông ta càng tốt. Người này có bàn tay to, chỉ cần vài cái nắm chim chim quả bưởi của ông ta là không còn gì nữa hết.
“Mấy ông Thiếu tá đó là anh hùng!” Okeoma nói, và giơ một cánh tay lên cao.Giọng của họ hết sức hào hứng ngay cả khi nói về những người đã bị giết.
“Họ nói là Sardauna trốn đằng sau lưng các bà vợ của hắn”.
“Họ nói thằng cha Bộ trưởng Tài chính bĩnh ra quần trước khi bị bắn”.
Vài người khách cười khúc khích, Ugwu cũng cười cho đến khi hắn nghe Olanna nói, “Tôi biết Okonji. Ông ta là bạn của bố tôi”. Giọng nàng có vẻ ngậm ngùi.
“Đài BBC gọi đó là Cuộc đảo chính Igbo”, người khách hay ăn chin-chin nói. “Và họ nói đúng. Những người bị giết phần lớn là người miền Bắc”.
“Hầu như chỉ có người miền Bắc ở trong chính quyền”, Giáo sư Ezeka nói thì thầm, chân mày ông nhăn tít, làm như ông không thể nào tin được ông phải nói ra một điều vô cùng hiển nhiên.
“Đài BBC nên chất vấn chính người của họ, những kẻ đã đặt người miền Bắc vào chính quyền để rồi chúng đàn áp tất cả mọi người!” Ông Chủ nói.
Ugwu ngạc nhiên khi thấy Ông Chủ và Giáo sư có vẻ đồng tình với nhau. Hắn càng ngạc nhiên hơn khi cô Adebayo nói, “Đám Bắc Phi đó phải điên lắm nên mới gọi đây là chuyện của những kẻ ngoại giáo chống lại chính giáo”. Ông Chủ bật cười - không phải cái cười chế giễu như mọi khi trước lúc ông nhích người ra mép ghế để cãi với cô mà là điệu cười tán thành. Ông Chủ đồng ý với cô ấy.
“Nếu chúng ta có nhiều người như Thiếu tá Nzeogwu hơn ở đất nước này, chúng ta không phải đứng ở vị trí mà chúng ta đang đứng”, Ông Chủ nói. “Ông ta thật sự có tầm nhìn xa!”
“Ông ta là Cộng sản, phải không?” Đó là ông giáo sư có đôi mắt màu xanh lá cây, Lehman. “Ông ta đã đến Tiệp Khắc khi ông ta còn ở Sandhurst”.
Người Mỹ các ông luôn luôn soi mói dưới gầm giường của người ta để tìm kiếm Chủ nghĩa Cộng sản. Ông tưởng là chúng tôi có thì giờ để lo lắng mấy chuyện đó sao?” Ông Chủ hỏi. “Vấn đề là làm bất cứ cái gì để cho dân tộc của chúng tôi tiến bộ. Thử đặt giả thuyết chính sách dân chủ tư sản là tốt đẹp, về căn bản, nhưng nếu như nó không thích hợp với chúng tôi – giống như có người nào đem tặng chúng tôi cái áo mà họ bảo chúng tôi là giống cái áo của họ, nhưng chúng tôi mặc không vừa và mấy cái cúc rơi ra - thì trong trường hợp đó, chúng tôi phải bỏ nó đi và may một cái áo cho phù hợp với vóc dáng của mình. Đơn giản, các ông phải chấp nhận điều đó thôi!”
“Nói văn hoa bóng bẩy quá, Odenigbo”, cô Adebayo nói. “Anh không thể dùng lý thuyết để biện hộ cho các nhà quân sự”.
Ugwu cảm thấy dễ thở hơn; hắn đã quen với những cuộc cãi vã như thế này.
“Dĩ nhiên là tôi có thể. Với một người như Thiếu tá Nzeogwu, tôi có thể, Ông Chủ nói. “Ugwu! Thêm nước đá!”
“Ông ta là cộng sản”, Giáo sư Lehman khăng khăng. Cái giọng nghẹt mũi của ông ta làm Ugwu phát cáu, hay có lẽ đơn giản chỉ vì Giáo sư Lehman cũng có nhiều tóc như Richard nhưng không có cái vẻ điềm đạm, trang nghiêm như thế. Hắn ước gì Richard vẫn đến chơi. Hắn vẫn còn nhớ rất rõ lần cuối cùng khi ông ấy đến, mấy tháng trước khi Bé By ra đời, những mảnh ký ức khác trong những tuần lễ đầy hỗn độn ấy bây giờ đã bắt đầu phai mờ, không còn nguyên vẹn nữa; hắn đã vô cùng lo sợ là Ông Chủ và Olanna sẽ không bao giờ kết hợp trở lại, và thế giới của hắn sẽ sụp đổ đến nỗi hắn không dám lén nghe xem họ cãi nhau về chuyện gì. Hắn có lẽ sẽ chẳng bao giờ biết là Richard có dính líu đến cuộc cãi cọ này nếu Harrison không kể cho hắn nghe.
“Cảm ơn, bạn tốt”. Ông Chủ lấy bình nước đá và rót một ít vào trong ly của mình.
“Vâng, thưa ông”, Ugwu nói, nhìn Olanna. Hai tay nàng chắp lại với nhau và đỡ lấy đầu. Hắn ước gì hắn có thể thật lòng thương xót cho người quen của nàng, người làm chính trị mới bị giết, nhưng những người làm chính trị không giống như người bình thường, họ là chính trị gia. Hắn đọc về họ trong mấy tờ báo RenaissanceDaily Times - họ thuê bọn xã hội đen cướp bóc, đánh đập đối thủ của họ, họ muanhà mua đất của chính quyền, họ nhập cảng bao nhiêu là tàu chở xe hơi của Mỹ, họ cho tiền mấy người đàn bà giả vờ có thai, nhét đầy trong áo họ toàn phiếu giả mạo. Cứ mỗi lần hắn chắt nước luộc đậu, hắn nghĩ mấy cái nước nhờn cặn lắng dưới đáy nồi cũng giống chính trị gia.
Đêm đó, hắn nằm trong phòng ở khu nhà nam và cố gắng tập trung vào quyển sách Thị trưởng của Casterbridge [2], nhưng rất khó khăn. Hắn hy vọng Chinyere có thể lén chui qua hàng giậu và đến với hắn; cả hai chẳng bao giờ hẹn trước, cô nàng chỉ xuất hiện vào một số ngày nhất định. Hắn thèm khát cô nàng đến nhức nhối trong một đêm đầy kích động vì cuộc đảo chính đã đảo lộn tình hình thời cuộc; hắn thấy thổn thức với cơ hội và tình hình mới. Khi hắn nghe cô nàng gõ nhẹ vào cửa sổ, hắn thầm ngượng ngùng cảm ơn Chúa.
“Chinyere”, hắn nói.
“Ugwu”, cô nàng đáp.
Cô nàng có mùi hành củ để lâu ngoài trời. Đèn đã tắt, và một vệt sáng mỏng manh hắt vào từ ánh đèn bảo vệ [3] bên ngoài, hắn nhìn thấy ngực của cô nàng giống cái chỏm nhọn hình tháp trồi lên lúc cô nàng cởi áo, cột cái khăn quấn ngang thắt lưng rồi nằm ngửa ra. Có cái gì ẩm ướt trong bóng tối, giữa thân thể của hai người quấn lấy nhau và hắn tưởng tượng cô nàng là Nnesinachi, đôi chân chắc nịch là đôi chân của Nnesinachi. Ban đầu cô nàng nằm im, nhưng sau đó thì bụng dưới giãy nảy lên một cách cuồng loạn, tay quấn chặt lưng hắn, cô nàng kêu ú ớ thành tiếng giống như những lần chung đụng trước đó. Tiếng kêu nghe phảng phất như tên của một người - Abonyi, Abonyi - nhưng hắn không chắc lắm. Có lẽ cô nàng cũng tưởng tượng hắn là một người nào đó cùng làng với cô nàng.
Cô nàng ngồi dậy, ra về cũng im lặng như khi đến. Ngày hôm sau, khi hắn gặp cô nàng bên hàng giậu, cô đang phơi quần áo lên dây và nói, “Ugwu”, rồi không nói thêm lời nào cả; thậm chí cô nàng cũng chẳng buồn mỉm cười với hắn.
------------------------------------
[1] Đứa bé không được đặt tên, chỉ dùng chữ baby, có nghĩa là em bé. Mỗi lần nói đến cô bé này, xin được gọi là Bé By.
[2] The Mayor of Casterbridge: Tiểu thuyết của văn hào Anh Thomas Hardy (1840-1928).
[3] Đèn ở bên ngoài nhà để ngăn ngừa trộm hay kẻ gian lợi dụng bóng tối xâm nhập vào nhà.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương tám

Olanna tạm hoãn chuyến đi Kano của nàng vì cuộc đảo chính. Nàng chờ cho đến khi các sân bay hoạt động trở lại, bưu điện và điện tín hoạt động bình thường, các vị Thống đốc quân sự được bổ nhiệm về các bang. Nàng chờ cho đến khi chắc chắn trật tự đã được thiết lập. Nhưng dư âm về cuộc đảo chính vẫn còn. Mọi người ai cũng nói đến chuyện này, cả người tài xế taxi đội mũ trắng mặc áo thụng chở nàng và Bé By từ sân bay về nhà của Arize cũng thế.
“Nhưng Sardauna không bị giết, thưa bà”, ông ta nói rất khẽ. “Ông ấy được Thánh Allah phù hộ nên trốn thoát và bây giờ đang ở Mecca [1]”. Olanna mỉm cười dịu dàng và không nói gì bởi vì nàng biết người đàn ông với vòng tràng hạt treo lủng lẳng trên cái gương chiếu hậu này cần phải tin như thế. Sardauna, nói cho cùng không chỉ là Thủ hiến của miền Bắc, ông còn là vị lãnh tụ tinh thần của những người theo Hồi giáo giống ông.
Nàng kể cho Arize nghe về câu nói của người lái taxi, cô nhún vai và nói, “Không có cái gì mà người takhông nói cả”. Tấm váy quấn của Arize bị đẩy tụt xuống khá thấp, dưới thắt lưng, và chiếc áo rất rộng để cho vừa với cái bụng căng phồng của Arize. Hai người ngồi ở phòng khách xem ảnh cưới của Arize và Nnakwanze treo trên vách tường dính đầy dầu, trong khi Bé By chơi với đám trẻ con trong làng. Olanna không muốn Bé By đụng vào đám trẻ nhỏ mặc quần áo rách rưới, mũi chảy lòng thòng, nhưng nàng không nói ra; nàng cảm thấy hổ thẹn vì đã có ý nghĩ như thế.
“Ngày mai, chúng ta sẽ lên chuyến bay đi Lagos sớm nhất, Ari, vì thế em có thể nghỉ ngơi trước khi mình đi mua sắm. Chị không muốn em mệt nhọc vì bất cứ chuyện gì”, Olanna nói.
“Ha, mệt nhọc! Chị ơi, em chỉ mang bầu chứ đâu có bệnh tật gì. Chẳng phải những người đàn bà như em vẫn làm việc ngoài đồng cho đến lúc đứa nhỏ đòi chui ra hay sao? Và chẳng lẽ không phải chính em đã may bộ váy áo đó sao?” Arize chỉ vào góc nhà nơi chiếc máy khâu hiệu Singer ngự ở trên bàn, giữa một đống quần áo.
“Chị lo là lo cho đứa con đỡ đầu của chị trong này, chứ không phải lo cho em đâu”, Olanna nói. Nàng vén áo của Arize, áp mặt vào cái bụng tròn trĩnh và cứng chắc của cô, áp vào làn da đã bị căng rất mỏng như là một nghi lễ; nàng bắt đầu làm thế kể từ khi Arize có thai; Arize nói nếu nàng làm thế thường xuyên, đứa bé sẽ được in khuôn và giống hệt nàng.
“Em không cần giống vẻ bề ngoài”, Arize nói, “nhưng con bé phải giống chị về bên trong. Con bé phải có bộ óc giống như của chị và phải đọc nhiều sách vở”.
“Hoặc là thằng bé”.
“Không, đứa bé này phải là con gái, chị sẽ thấy. Nnakwanze nói nó sẽ là con trai và giống anh ấy, nhưng em bảo anh ấy là Chúa sẽ không cho phép con em có cái mặt to bè”.
Olanna cười phá lên. Arize nhổm dậy, mở nắp một hộp có hình trang trí rất đẹp và lấy ra một số tiền. “Xem này, chị Kainene gửi tiền cho em tuần trước. Chị ấy nói em nên dùng tiền mua đồ cho đứa bé”.
“Chị ấy tốt quá”. Olanna biết giọng nàng có vẻ gượng gạo, biết là Arize đang quan sát mình.
“Chị và chị Kainene phải nói chuyện với nhau. Chuyện xảy ra trong quá khứ phải để nó chìm vào quá khứ”.
“Mình chỉ có thể trò chuyện với người muốn trò chuyện với mình”. Olanna trả lời. Nàng luôn muốn đổi đề tài mỗi khi tên của Kainene được nhắc đến. “Chị phải đưa Bé By đến chào mợ Ifeka”. Nàng vội vã chạy đón Bé By trước khi Arize có thể nói một lời nào.
Nàng phủi cát trên mặt và tay của Bé By trước khi hai mẹ con bước ra khỏi làng và đi ra đường. Cậu Mbaezi vẫn còn ở ngoài chợ, và hai mẹ con ngồi với mợ Ifeka trên một băng ghế dài trước quầy hàng của mợ, Bé By ngồi trong lòng nàng. Trong sân đầy ắp tiếng trò chuyện của láng giềng và tiếng hét ỏm tỏi của trẻ con chạy vòng quanh cây kuka. Có người nào đó mở nhạc rất to; không lâu, một đám đàn ông bắt đầu cười và xô đẩy lẫn nhau, hát nhại theo bài hát. Mợ Ifeka cũng bật cười và vỗ tay.
“Có gì buồn cười thế?” Olanna hỏi.
“Đó là bài hát của Rex Lawson”. Mợ Ifeka trả lời.
“Bài hát này có gì buồn cười?”
“Người mình nói ban hát phụ họa mmee-mmee-mmee, nghe như dê kêu”. Mợ Ifeka cười khúc khích. “Người ta kể rằng Sardauna cũng kêu như thế khi ông ta van xin tha mạng. Khi lính pháo kích vào nhàông ta, ông ta bò đằng sau mấy bà vợ và kêu, Mmee-mmee-mmee, xin đừng giết tôi, mmee-mmee-mmee!
Mợ Ifeka lại cười vang, Bé By cũng cười như thể nó cũng hiểu chuyện vậy.
“Ồ”, Olanna nghĩ về Bộ trưởng Okonji và tự hỏi không biết ông ta có kêu như thế trước khi bị giết. Nàng nhìn qua bên kia đường, nơi trẻ con đang chơi đánh vòng đua với nhau. Có một cơn bão cát bắt đầu nổi lên từ xa, cát bụi bốc lên mờ mịt.
“Sardauna là một người ác độc, ajo mmadu”, mợ Ifeka nói.
“Hắn ghét chúng ta. Hắn ghét tất cả những ai không cởi giày và cúi mọp chào hắn. Không phải chính hắn ta là người đã cấm trẻ con mình không được đến trường hay sao?”
“Họ không nên giết ông ấy”, Olanna nói nhỏ nhẹ. “Họ chỉ nên bỏ tù ông ấy thôi”.
Mợ Ifeka hơi gắt. “Bỏ hắn vào tù? Ở cái xứ Nigeria mà hắn có thể kiểm soát tất cả mọi thứ?” Mợ đứng dậy và bắt đầu đóng cửa hàng. “Đi, vào nhà để mợ nấu cái gì đó cho Bé By ăn”.
Khi Olanna về đến xóm của Arize, nàng vẫn cònnghe thấy bản nhạc của Rex Lawson oang oang. Nnakwanze cũng thấy bản nhạc rất buồn cười. Anh ta có hai cái răng cửa bàn cuốc, khi anh ta cười, có cảm giác như cả đám răng chen chúc nhau đến khổ trong cái miệng nhỏ tẹo của anh ta. Mmeee-mmeee-mmeee, một con dê khẩn cầu đừng bị giết, mmeee-mmeee-mmeee.
“Đâu có gì đáng cười chứ”. Olanna nói.
“Chị ơi, nghe rất buồn cười mà”. Arize nói. “Chị học nhiều quá nên chị không còn biết cười nữa”.
Nnakwanze đang ngồi trên nền nhà dưới chân của Arize, nhẹ nhàng xoa bụng của cô theo vòng tròn. Anh ta bớt lo lắng đi rất nhiều so với lúc hết năm đầu sang năm thứ hai, rồi đến năm thứ ba sau khi hai người cưới nhau mà Arize vẫn không có mang; mẹ anh ta đến thăm thường xuyên, chỉ chỉ vào bụng Arize rồi giục cô thú nhận xem đã phá thai bao nhiêu lần trước khi hai người cưới nhau, đến nỗi anh ta phải bảo mẹ mình thôi đừng đến nữa. Anh ta cũng bảo mẹ đừng có mang mấy thứ thuốc đắng ngắt, có mùi hôi nồng nặc đến bắt Arize phải trợn trạo nuốt nữa. Bây giờ Arize đã có thai, anh ta làm thêm giờ ở hãng xe lửa và khuyên cô nên giảm số giờ may.
Anh ta vẫn còn ê a bài hát và cười ngất. Một con dê năn nỉ để đừng bị giết, mmeee-mmeee-mmeee.
Olanna đứng dậy. Gió về đêm se lạnh, khó chịu. “Ari, em nên đi ngủ, để có sức sáng mai đi Lagos”.
Nnakwanze có vẻ như muốn đỡ Arize đứng lên, nhưng cô nàng đẩy chồng ra một bên. “Em đã nói với anh là em không có bệnh tật gì cả. Em chỉ có thai thôi”.

Olanna thấy mừng là căn nhà ở Lagos đang bỏ trống, không có ai sống. Bố nàng gọi điện báo ông sẽ đi nước ngoài. Nàng biết bố nàng muốn đi xa cho đến khi mọi chuyện êm xuôi trở lại, bởi vì ông cũng lo lắng về những khoản mười phần trăm, những bữa tiệc hoang phí và những mối quan hệ “bôi trơn” của ông, nhưng cả bố lẫn mẹ nàng đều không nói ra. Họ nói là họ nghỉ xả hơi. Đó là quy ước giữ im lặng không giải thích của hai người, hệt như cách họ làm ngơ, giả vờ không thấy, không để ý là nàng vàKainene không còn nói chuyện với nhau và nàng chỉ về thăm nhà khi biết chắc Kainene không về.
Trong chiếc taxi của sân bay, Arize dạy Bé By một bài hát khi Olanna nhìn Lagos nhập nhoạng trôi qua trước mắt nàng: giao thông nhộn nhạo, mấy cái xe buýt gỉ sét, đám đông mệt mỏi chờ xe, tiếng rao hàng, những người ăn xin lê lết trên mặt đường, những chiếc xe đẩy bằng gỗ, những người bán rong nghèo nàn dúi cả mẹt hàng vào những người không muốn mua hoặc không có tiền mua.
Tài xế ngừng trước cổng khuôn viên nhà bố mẹ nàng ở Ikoyi. Hắn nhòm cái cổng cao vợi. “Ông Thủ hiến người ta giết trước đây cũng sống ở vùng này phải không, abi, cô?” Hắn hỏi. Olanna giả vờ không nghe thấy, nói chuyện với Bé By thay vì trả lời, “Xem kìa, con làm cái gì dính vào áo thế? Nhanh lên, vào bên trong để mình giặt nó đi!”.
Sau đó, tài xế của mẹ nàng, Ibekie, chở họ đến Kingsway. Siêu thị thơm mùi sơn mới. Arize đi quanh quéo hết dãy này sang dãy khác, xuýt xoa, rờ mấy túi hàng bằng nhựa, chọn quần áo trẻ em, chiếc xe nôi màu hồng, một con búp bê nhựa có đôi mắt màu xanh.
“Tất cả mọi thứ đều bóng loáng trong siêu thị, chị ạ”, Arize nói, cười rạng rỡ. “Không có bụi!”
Olanna giơ lên một cái áo đầm trắng có dải đăng ten màu hồng. “O maka. Cái này xinh và dễ thương quá”.
“Giá đắt quá”, Arize nói.
“Không ai hỏi ý em”.
Bé By lôi ra một con búp bê từ một ngăn thấp và lật ngược nó xuống, con búp bê bật tiếng khóc.
“Không, Bé By”. Olanna lấy con búp bê và đặt vào chỗ cũ.
Họ đi ngắm đồ và mua sắm thêm một lúc nữa rồi đến chợ Yaba, nơi Arize có thể mua vải cho mình. Đường Tejuosho rất đông đúc, những gia đình ngồi chen chúc xung quanh mấy cái nồi thức ăn sôi sục, phụ nữ nướng ngô và chuối trên mấy chậu than, đàn ông cởi trần trùng trục chất bao hàng lên xe tải có những câu châm ngôn được sơn bằng tay: “KHÔNG CÓ GÌ MÃI MÃI, THƯỢNG ĐẾ BIẾT RÕ NHẤT”. Ibekie đậu xe gần sạp báo. Olanna liếc thấy người ta đang đứng đọc tờ Daily Times và nàng như bay bổng vì hãnh diện. Người ta đang đọc bài của Odenigbo, nàng biết chắc; nhiều khả năng bài của chàng sẽ là bài hay nhất. Nàng đã đọc và sửa, làm dịu bớt lối đại ngôn của chàng, sao cho bài lý luận - chỉ có một chính quyền đoàn kết mới có thể xóa đi sự chia rẽ mà chủ nghĩa địa phương cục bộ gây ra - rõ ràng hơn.
Nàng dắt tay Bé By đi qua mặt đám người bán hàngrong ở lề đường. Họ ngồi dưới những tán dù to, pin, ổ khóa, và thuốc lá được sắp xếp cẩn thận trên những mâm hàng có tráng men. Cổng chính vào chợ vắng vẻ một cách kỳ lạ. Olanna nhìn đám đông phía trước. Có một người đàn ông mặc một cái áo may ô màu vàng đứng chính giữa trong khi hai người đứng bên cạnh tát ông ta tới tấp, hết cái nọ đến cái kia, rất đúng cách, nghe như tiếng nện da trâu, da bò. “Nào tại sao? Tại sao mầy chối?” Người đàn ông nhìn họ đăm đăm, cái nhìn trống rỗng, cổ hơi nghiêng sau mỗi cái tát. Arize dừng lại.
Có người trong đám đông hỏi to, “Chúng tôi đang tính sổ với người Igbo. Oya, lại đây và nói lý lịch của mấy người. Cô là người Igbo?”
Arize thì thào, “I kwuna okwu”, dường như Olanna đang suy nghĩ nên nói cái gì và bỗng lắc đầu, rồi bắt đầu nói tiếng Yoruba thật lưu loát, và cùng lúc tự nhiên quay đầu để họ có thể đi ngược lại hướng đó. Đám đông không chú ý đến họ nữa. Một người đàn ông khác mặc bộ âu phục safari bị đập vào ót. “Mày là người Igbo! Đừng chối. Khai ngay!”
Bé By bắt đầu khóc. “Mẹ Ola! Mẹ Ola!”
Olanna bế Bé By lên. Nàng và Arize không nói với nhau lời nào cho đến khi họ trở vào trong xe. Ibekie đã quay xe chạy ngược lại và liếc chừng kính chiếu hậu. “Tôi thấy người ta đang chạy”.
“Chuyện gì xảy ra thế?” Olanna hỏi.
Arize nhún vai. “Bọn em nghe tin đồn là họ đã làm cái trò này ở Kaduna và Zaria kể từ khi đảo chính; họ đi ra đường và tấn công người Igbo vì họ nói cuộc đảo chính là do người Igbo gây ra”.
Ezi okwu? Thật vậy sao?”
“Vâng, thưa cô”, Ibekie nói nhanh, như là anh ta chờ đã lâu một cơ hội để nói. “Chú của tôi ở Ebutte Metta không ngủ ở nhà nữa từ khi có cuộc đảo chính. Láng giềng của ông toàn là người Yoruba, họ nói với ông là có vài người đến lùng kiếm ông. Ông ngủ ở các nhà khác nhau mỗi đêm, trong khi ông lo công chuyện buôn bán hằng ngày. Ông đã cho các con về quê”.
Ezi okwu? Thật vậy sao?” Olanna lặp lại. Nàng cảm thấy hoang mang. Nàng không thể ngờ rằng sự thể lại ra nông nỗi này; ở Nsukka, cuộc sống biệt lập, tin tức chỉ nghe loáng thoáng, hoạt động chỉ là những cuộc họp mặt buổi tối, những bài phê phán của Odenigbo và những bài báo đầy nhiệt huyết.
“Mọi chuyện rổi sẽ lắng dịu thôi”, Arize nói, và chạm vào cánh tay của Olanna. “Đừng lo!”
Olanna gật đầu, nhìn ra ngoài và thấy dòng chữ được tô đậm trên một chiếc xe tải gần đó: KHÔNG CÓ ĐIỆN THOẠI TỚI THIÊN ĐÀNG. Nàng không thể nào tin được mình từ chối tông tích dễ dàng đến thế chối bỏ không nhận mình là người Igbo.
“Con bé sẽ mặc cái áo đầm trắng đó vào buổi lễ đặt tên thánh, chị ạ”, Arize nói.
“Gì cơ, Arize?”
Arize chỉ vào bụng mình. “Con đỡ đầu của chị sẽ mặc cái áo đầm trắng đó trong lễ đặt tên thánh. Cảm ơn chị nhiều”.
Ánh mắt rạng ngời của Arize làm Olanna mỉm cười; tình hình rồi sẽ dịu đi thôi. Nàng cù Bé By nhưng nó không cười. Bé By nhìn nàng chằm chặp bằng đôi mắt khiếp đảm còn chưa khô nước mắt.
---------------------------
[1] Thủ đô của Ả Rập.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương chín

Richard ngắm Kainene kéo khóa cái váy dài màu tím và quay về hướng chàng. Đèn khách sạn sáng choang, chàng nhìn nàng, nhìn dáng nàng phản chiếu trong gương ở phía sau.
Nke a ka mma”, chàng nói. Nó đẹp hơn cái váy dài đen nằm trên giường, cái mà nàng đã chọn trước đó để đi dự tiệc ở nhà bố mẹ. Nàng cúi đầu cảm ơn một cách nhạo báng rồi ngồi xuống đi giày. Nàng có vẻ xinh hơn với lớp phấn mịn, son đỏ, phong cách thư thả khác hẳn cái vẻ bận rộn túi bụi như lúc mới đây khi theo đuổi một cái hợp đồng với hãng Shell-BP. Trước khi đi, Richard nhẹ nhàng vén mái tóc của nàng sang một bên rồi hôn lên trán nàng để tránh phai son.
Phòng khách nhà bố mẹ nàng đầy những quả bóng màu rực rỡ. Buổi tiệc đang tiếp diễn. Những người hầu bàn trong trang phục quần đen áo trắng đang đi vòng quanh, mang trên tay những khay thức ăn, nụ cười mời mọc, đầu họ ngẩng cao trông rõ ngố. Rượu sâm banh sủi bọt trong những cái ly cao, đèn hoa trên trần phản chiếu ánh nữ trang lấp lánh trên những cái cổ của mấy bà mập ú, ban Tân nhạc ở trong góc chơi nhạc ầm ầm chát chúa làm người ta phải ghé sát đầu vào nhau để có thể nghe tiếng nói của nhau.
“Anh thấy có nhiều Ông Lớn của chế độ mới”. Richard nói.
“Bố không bỏ phí một chút thì giờ nào để có thể làm lợi cho bản thân”, Kainene nói vào tai chàng. “Ông trốn biệt tăm cho đến khi mọi việc êm xuôi, bây giờ ông trở lại để làm quen với bạn mới”.
Richard nhìn lướt qua những người trong phòng. Đại tá Madu nổi bật lên ngay lập tức với đôi vai rộng, khuôn mặt vuông vức, đôi mắt to và cái mũi cũng to, ông ta cao hơn mọi người cả một cái đầu. Ông ta đang nói chuyện với một người Ả Rập mặc chiếc áo khoác bó chặt. Kainene bước đến chào còn Richard đi lấy thức uống. Chàng chưa muốn nói chuyện với Madu ngay lúc này.Mẹ của Kainene đến gần hôn lên má chàng; chàng biết bà đã ngà ngà say, nếu không bà đã đón chào chàng bằng vẻ lạnh lùng cố hữu. “Cháu có khỏe không?” Rồi bà nói là trông chàng có vẻ khỏe và dúi chàng vào góc phòng, thật là bất hạnh cho chàng, bị kẹt vào một chỗ mà tường thì ở ngay đằng sau lưng và một bức tượng đồ sộ dễ sợ giống như một con sư tử nhe răng ở bên cạnh.
“Kainene nói cho bác biết cháu sắp sửa về thăm nhà ở London, phải không?”, bà hỏi. Màu da gỗ mun của bà như bệt sáp bởi vì thoa phấn quá dày. Trong cử chỉ của bà có vẻ gì hơi hoang mang, lo lắng.
“Vâng. Cháu sẽ đi xa chừng mười ngày”.
“Chỉ có mười ngày thôi à?” Bà cười nửa miệng. Có lẽ bà đã mong là chàng đi lâu hơn, để bà có thì giờ kiếm rể môn đăng hộ đối cho con gái bà. “Đi thăm gia đình của cháu hả?”
“Anh họ cháu, Martin, cưới vợ”. Richard trả lời.
“Ô! Thế à!” Mấy chuỗi vòng đeo quanh cổ như vít bà xuống và làm cho cái đầu của bà như gập xuống, khiến bà giống một người đang phải chịu đựng một nỗi lo lắng rất lớn mà càng tìm cách che giấu thì lại càng làm nó thêm phần lộ liễu. “Có lẽ chúng ta sẽ gặp nhau và cùng đi uống nước ở London đấy. Bác bảo bác trai là mình nên có thêm vài ngày nghỉ xả hơi. Cũng chẳng có chuyện gì cả, nhưng không phải ai cũng vui vẻ với sắc lệnh đoàn kết mà chính quyền đang ban bố. Chờ cho mọi chuyện đâu vào đấy thì tốt hơn. Hai bác có thể đi trong tuần tới nhưng báckhông nói cho ai biết, chỉ mình cháu biết thôi”. Bà vuốt tay áo của chàng, vẻ đùa bỡn, Richard thoáng thấy bóng dáng của Kainene qua khe hở giữa cặp môi bà. “Hai bác cũng không nói cho bạn của hai bác, gia đình Ajuah, biết. Cháu biết Ông Trùm Ajuah, chủ hãng đóng chai chứ? Họ là người Igbo, nhưng là người Igbo Tây phương. Bác nghe đồn họ chính là những người chối bỏ gốc gác Igbo của mình. Ai mà biết được họ đã làm những gì? Ai biết chứ? Họ sẽ bán đứng dân tộc Igbo với giá một đồng xu bẩn thỉu. Một đồng xu bẩn thỉu thôi, bác nói cho cháu biết. Cháu có muốn uống thêm gì không? Chờ ở đây, bác sẽ lấy cho. Chờ ở đây nhé”.
Ngay lập tức sau khi bà quay đi, Richard vội vàng đi tìm Kainene. Chàng gặp nàng đang đứng ở ngoài ban công với Madu, nhìn xuống hồ bơi. Mùi thịt nướng bay trong không khí dày đặc. Chàng nhìn hai người thêm một lúc. Đầu của Madu hơi nghiêng qua một bên khi Kainene nói, nàng có vẻ mảnh khảnh yếu ớt bên cạnh dáng dấp đồ sộ của anh ta. Tuy vậy hai người trông thật xứng đôi: Cả hai đều có màu da rất đậm, một người gầy và cao, người kia cao hơn và to hơn. Kainene quay người nhìn thấy chàng.
“Richard”, nàng gọi.
Chàng nhập bọn, bắt tay Madu. “Anh khỏe không, Madu? A na-emekwa?”, chàng hỏi, sốt sắng mở lời. “Cuộc sống ở miền Bắc như thế nào?”
“Chẳng có gì đáng để than phiền cả”, Madu trả lời bằng tiếng Anh.
“Anh không mang Adaobi đến?” Chàng thật sự ước gì anh ta mang vợ theo thường xuyên hơn.
“Không”, Madu trả lời, nhấm nháp ly rượu; rất rõ ràng là anh ta chẳng muốn ai chen vào cuộc trò chuyện của mình cả.
“Em thấy mẹ em nói chuyện với anh, rất thú vị”, Kainene nói. “Madu và em bận bịu với Ahmed một lúc lâu. Ông ta muốn mua cái nhà kho của bố ở Ikeja”.
“Bố em sẽ không bán cái gì cho ông ta cả”, Madu tuyên bố, làm như quyền quyết định là của anh ta. “Mấy người Syri và Liban đã làm chủ phân nửa Lagos rồi, họ toàn là bọn khát máu lợi dụng thời cơ trên quốc gia này”.
“Em sẽ bán cho ông ta nếu ông ta đừng có nồng nặc mùi tỏi như thế”, Kainene nói.
Madu bật cười.
Kainene đặt tay mình vào lòng bàn tay của Richard. “Em mới kể cho Madu biết là anh nghĩ rằng sẽ có thêm một cuộc đảo chính nữa”.
“Sẽ chẳng có cuộc đảo chính nào nữa cả”, Madu nói.
“Nếu có anh sẽ là người biết trước, phải không Madu? Ông Lớn Đại tá mà”. Kainene chọc.
Richard nắm tay nàng chặt hơn. “Tuần trước anh đi Zaria, hầu như tất cả những gì người ta nói chỉ là chuyện đảo chính lần nữa. Ngay cả Đài Phát thanh Kaduna và tờ New Nigerian”, chàng nói bằng tiếng Igbo.
“Nhà báo thì biết gì cơ chứ?”, Madu trả lời bằngtiếng Anh. Anh ta luôn làm thế; kể từ khi Richard sử dụng tiếng Igbo gần như hoàn toàn trôi chảy, Madu cứ nhất định trả lời bằng tiếng Anh làm cho Richard cảm thấy bị bắt buộc phải dùng tiếng Anh.
“Tờ báo cho đăng một bài về thánh chiến, và Đài Phát thanh Kaduna cứ liên tục truyền đi các bài diễn văn của ông Sardauna đã chết; có tin đồn người Igbo sẽ chiếm lấy những cơ quan dân sự như thế nào và...”
Madu ngắt lời chàng. “Sẽ không có một cuộc đảo chính thứ hai. Tình hình trong quân đội hơi căng thẳng một chút, nhưng đó là tìnhtrạng căng thẳng thường thấy trong quân đội. Anh ăn thử thịt dê chưa? Ngon tuyệt!”
“Vâng”, Richard đồng ý như một cái máy, xong rồiước là mình đừng đồng ý vội như thế. Không khí của Lagos ẩm ướt; đứng cạnh Madu càng ngộp thở hơn. Anh ta làm chàng có cảm giác mình không phải là người quan trọng.

Cuộc đảo chính thứ hai diễn ra một tuần sau đó, và phản ứng đầu tiên của Richard là khoái chí cực độ. Trong vườn quả, chàng đọc lại lá thư của Martin, ngồi đúng vào chỗ mà Kainene thường bảo là chỗ ấy đã hằn lõm xuống cùng với kích thước và hình dáng cái mông của chàng.

Cái mệnh đề “trở thành người bản xứ” vẫn còn được sử dụng chứ? Anh biết trước là em sẽ thay đổi! Mẹ bảo anh là em đã không viết sách về mỹ thuật của các bộ lạc nữa và em rất thích quyển mà em đang viết, một loại tiểu thuyết du ký? Và nói về những tệ hại xấu xa của người Âu châu ở Phi châu! Anh rất nôn nóng muốn được nghe em nói về quyển sách này khi em về đến London. Anh tiếc là em đã không dùng cái tựa cũ. “Giỏ Chứa Bàn Tay”. Những bàn tay bị chặt bỏ ở Phi châu đấy à? Anh cứ tưởng chuyện này chỉ xảy ra ở Ấn Độ thôi chứ. Câu chuyện này rất cuốn hút anh!

Richard thường tưởng tượng đến nụ cười của Martin khi hai đứa còn là học trò, trong những năm mà bác Elizabeth đã nhấn chìm cả hai đứa bằng rất nhiều chương trình hoạt động, với tính kiên quyết gần như điên khùng của bác, nhất định không cho hai đứa có thì giờ rỗi rãi: nào là thi đấu cricket, đánh quyền, rồi quần vợt, rồi học đàn piano do một ông thầy dạy nhạc người Pháp nói ngọng dạy. Martin giỏi tất cả các môn học, luôn luôn nở một nụ cười với vẻ tự tin của những người thích hợp với môi trường của họ và xuất chúng.
Richard với tay ngắt một cánh hoa dại nhìn giống như hoa anh túc. Chàng tự hỏi không biết đám cưới của Martin sẽ linh đình như thế nào bởi vì vị hôn thê của Martin là nhà thiết kế thời trang. Chàng ao ước Kainene có thể tháp tùng chàng, ước gì nàng không phải ở lại để ký một hợp đồng mới. Chàng muốn bác Elizabeth, Martin, và Virginia gặp nàng, nhưng quan trọng hơn hết, chàng muốn họ gặp lại chàng, người đàn ông mà chàng đã trở thành sau những năm sống ở đây; nhìn thấy da chàng trở nên nâu hơn và hạnh phúc hơn.
Ikejide đến gần chàng. “Thưa ông Richard! Cô chủ bảo phải tìm ông về ngay. Có cuộc đảo chính nữa”, Ikejide nói, vẻ rất kích động.
Richard vội vã vào nhà. Chàng đúng và Madu đã sai. Cái nóng và ẩm ướt của tháng Bảy làm tóc chàng xẹp xuống dính bết trên đầu; chàng luôn ngón tay qua tóc lúc chàng đi. Kainene đang ngồi trên ghế sofa trong phòng khách, hai tay tự quàng lấy thân mình, người lắc lư. Giọng Anh trên radio thật to đến nỗi nàng phải lên giọng khi nói với chàng. “Các sĩ quan miền Bắc đã chiếm lại chính quyền. Đài BBC nói họ đang giết các sĩ quan người Igbo ở Kaduna. Đài Phát thanh của Nigeria chẳng nói gì cả”. Nàng nói rất nhanh. Chàng đứng sau và bắt đầu xoa vai nàng, bóp bóp các bắp thịt rắn chắc của nàng theo chuyển động tròn. Trên radio, giọng người Anh như nín thở, nói rằng hết sức kỳ lạ, cú đảo chính ngược xảy ra chỉ có sáu tháng sau lần đảo chính đầu tiên.
“Kỳ lạ. Thật sự kỳ lạ”, Kainene nói. Nàng vươn tay ra, bất thình lình gạt cái radio khỏi bàn. Nó rơi xuống nền trải thảm, mấy cục pin rớt ra ngoài. “Madu đang ở Kaduna”, nàng nói, úp mặt vào tay. “Madu đang ở Kaduna”.
“Chắc không sao đâu, cưng”, Richard nói. “Không sao đâu”.
Lần đầu tiên chàng nghĩ đến chuyện Madu có thể mất mạng. Chàng quyết định không về Nsukka một thời gian nhưng không biết chắc tại sao mình làm như vậy. Có thật là chàng muốn ở cạnh nàng khi nàng nhận được tin Madu qua đời? Trong những ngày sau đó,nàng rất căng thẳng vì lo lắng, đến độ chàng cũng bắt đầu lo ngại cho Madu và tự ghét mình vì đã cảm thấy như vậy, rồi lại tự ghét mình vì đã ghét chính mình. Đáng lẽ chàng không nên nhỏ mọn như thế. Nàng đã cho chàng tham dự vào nỗi lo lắng của nàng, nói cho đúng, như Madu là bạn của hai người chứ không phải chỉ của riêng nàng. Nàng nói cho chàng biết nàng gọi điện thoại chonhững ai, hỏi những gì để tìm hiểu chuyện gì thật sự xảy ra. Không ai biết gì cả. Lagos đang ở trong tình trạng bạo động. Bố mẹ nàng đã sang Anh. Rất nhiều sĩ quan Igbo bị sát hại. Cuộc giết người rất có tổ chức; nàng thuật lại cho chàng nghe lời kể của một người lính, rằng cả tiểu đoàn được tập hợp để kiểm soát, chuẩn bị cho một cuộc diễu hành trong căn cứ của anh ta. Sau khi mọi người tề tựu, người miền Bắc chọn những binh sĩ người Igbo, dẫn đi và bắn họ.
Kainene ít nói, hầu như câm lặng nhưng không khóc lóc gì cả, vì thế ngày nàng nói với chàng, “Em có nghe được tin này”, với chút nức nở trong giọng nói của nàng, chàng tin chắc đó là chuyện về Madu. Chàng nghĩ đến việc tìm lời an ủi nàng, bất kể chàng có thể an ủi được nàng hay không.
“Udodi”, Kainene nói. “Họ giết Đại tá Udodi Ekechi”.
“Udodi?” Chàng hầu như chắc bẩm đó là Madu, vì thế trong vài giây, đầu óc chàng trở nên trống rỗng.
“Quân đội miền Bắc nhốt ông ta vào một phòng giam trong căn cứ, rồi bắt ông ta phải ăn phân của chính mình. Ông ta cũng ăn”. Kainene ngừng một chút. “Xong họ đánh đập ông ta tàn nhẫn, rồi trói ông ta vào một cây thánh giá và đẩy ông ta trở lại phòng giam. Ông ta chết khi còn bị trói và chết trên cây thánh giá”.
Richard chậm chạp ngồi xuống. Chàng không thích Udodi - to mồm, say bí tỉ, tính lật lọng ngấm vào máu và sự chán ghét này càng sâu đậm hơn trong những năm vừa qua. Tuy nhiên, cái chết của ông ta làm lòng chàng chùng xuống, dịu lại. Chàng lại nghĩ đến cái chết của Madu và chợt nhận ra là chàng không biết mình sẽ cảm thấy thế nào.
“Ai kể em nghe chuyện này?”
“Maria Obele. Vợ Udodi là bà con của cô ấy. Cô ấy kể rằng người ta nói là không có một sĩ quan người Igbo nào ở miền Bắc trốn thoát được. Nhưng mà có vài người Umunnachi nói họ nghe tin Madu trốn thoát. Adaobi chưa nhận được tin tức gì cả. Làm sao anh ấy trốn thoát được chứ? Bằng cách nào?”
“Có thể anh ấy ẩn nấp đâu đó”.
“Bằng cách nào?” Kainene lặp lại câu hỏi.

Đại tá Madu xuất hiện ở nhà Kainene hai tuần sau đó, nhìn càng có vẻ cao hơn vì anh sụt cân khá nhiều. Xương vai của anh ta nhô lên khá rõ sau lớp vải áo sơ-mi trắng.
Kainene hét toáng lên. “Madu! Có phải anh đó không? O gi di ife a?
Richard không biết chắc ai là người chạy đến người kia trước, nhưng Kainene và Madu ôm chầm lấy nhau, Kainene rờ cánh tay và mặt anh ta với một vẻ trìu mến làm Richard phải nhìn đi chỗ khác. Chàng đến tủ rượu rót whisky cho Madu và gin cho mình.
“Cảm ơn anh, Richard”. Madu nói nhưng anh ta không cầm ly, Richard đứng đó, tay lăm lăm hai ly rượu, trước khi chàng đặt một ly xuống.
Kainene ngồi lên một cái bàn bên cạnh, đối diện Madu. “Người ta nói là bọn họ đã bắn anh ở Kaduna, rồi người ta nói họ chôn sống anh trong bụi rậm, rồi người ta nói anh trốn thoát, rồi người ta nói anh bị giam trong tù ở Lagos”.
Madu lặng thinh. Kainene nhìn chàng trân trối. Richard uống hết ly rượu của mình rồi rót thêm ly nữa.
“Em có nhớ bạn của anh, Ibrahim, không? Ở Sandhurst?” Madu hỏi sau một lúc lâu.
Kainene gật đầu.
“Ibrahim cứu mạng anh. Hắn bảo cho anh biết về cuộc đảo chính sáng hôm đó. Hắn không trực tiếp tham dự, nhưng hầu hết họ - những sĩ quan miền Bắc - đều biết cả. Hắn chở anh đến nhà anh họ của hắn, nhưng anh không thật sự hiểu tình thế nghiêm trọng đến mức nào cho tới khi hắn bảo người anh của hắn dẫn anh ra sân đằng sau, chỗ người ta nuôi gia súc. Anh ngủ trong chuồng gà ba ngày”.
“Không thể tưởng tượng được! Ekwuzina!
“Lính đến nhà họ khám xét đế tìm bắt anh, em biết không? Mọi người đều biết anh và Ibrahim thân nhau ra sao, vì thế họ nghi là Ibrahim giúp anh trốn thoát. Họ lại quên không khám xét chuồng gà”. Madu ngừng nói, gật đầu và nhìn xa xăm. “Anh không biết phân gà hôi hám đến cỡ nào cho tới khi anh ngủ trong đó ba ngày. Ngày thứ ba, Ibrahim gửi cho anh một áo thụng và ít tiền do một thằng bé mang đến rồi bảo anh phải đi ngay lập tức. Anh ăn mặc giả dạng một người Fulani du mục chăn gia súc và đi bộ băng qua những làng nhỏ bởi vì Ibrahim bảo là lính pháo binh đã dựng chướng ngại chặn hết những con đường chính ở Kaduna. Anh may mắn gặp được một người lái xe tải, một người Igbo ở Ohafia, chính ông đã chở anh đến Kafanchan. Anh họ của anh ở đó. Em biết Onunkwo, phải không?” Madu không chờ Kainene trả lời. “Anh ấy là trạm trưởng trạm xe lửa và anh ấy nói cho anh biết rằng lính miền Bắc đã chặn cầu Makurdi. Cái cầu ấy là một nấm mồ. Chúng xét tất cả xe cộ, từng chiếc một, chúng trì hoãn xe lửa chở hành khách đến hơn tám tiếng đồng hồ, và chúng bắn hết lính Igbo bắt được trên đó rồi ném xác xuống sông. Nhiều người hóa trang nhưng chúng dùng giày ống của họ để tìm ra”.
“Nghĩa là sao?” Kainene nghiêng người gần lại.
“Giày ống”. Madu liếc xuống chân. “Em biết đấy, lính bọn anh lúc nào cũng đi giày ống, vì thế chúng khám bàn chân của từng người đàn ông, bất cứ người đàn ông Igbo nào có bàn chân sạch sẽ, không nứt nẻ vì gió sa mạc sẽ bị chúng dẫn đi bắn chết. Chúng cũng khám xét trán của người ta để xem da có nhạt màu vì đội mũ bê rê của lính không”. Madu lắc đầu. “Onunkwo khuyên anh nên chờ đợi ít lâu. Anh ấy cho là anh sẽ không thể nào thoát qua được cây cầu bởi vì chúng nó sẽ nhận ra anh ngay lập tức, cho dù anh có hóa trang bằng bất cứ cách nào. Anh ở trong một làng gần Kafanchan mười ngày. Onunkwo tìm một căn nhà khác cho anh ở bởi vì ở với anh ấy không an toàn. Cuối cùng anh ấy tìm thấy một người lái xe, một người rất tốt bụng ở Nnewi chịu giấu anh trong bồn nước của xe lửa chở hàng hóa. Ông ta đưa cho anh một bộ quần áo của lính cứu hỏa, bảo anh mặc vào và anh leo vào trong bồn nước. Nước dâng lên đến cằm của anh. Mỗi khi xe lửa dằn, một ít nước lại ộc vào mũi anh. Khi đến cầu, bọn lính xét xe lửa rất cẩn thận. Anh nghe tiếng chân trên nắp bồn nước và nghĩ thế là hết. Nhưng chúng không mở nắp bồn và xe lửa được cho qua cầu. Chỉ lúc đó anh mới biết anh có thể sống sót. Anh trở lại Umunnachi, thấy Adaobi đã mặc đồ tang màu đen”.
Kainene tiếp tục nhìn Madu, ngay cả khi anh ta đã kết thúc câu chuyện từ rất lâu rồi. Thêm một hồi im lặng rất lâu nữa làm Richard thấy khó chịụ bởi vì chàng không biết phải phản ứng như thế nào, không biết phải biểu lộ cái gì.
“Lính Igbo và lính miền Bắc không thể nào sống chung một trạisau chuyện này. Không thể được”. Đại tá Madu nói. Đôi mắt anh trở nên thẫn thờ. “Và Gowon không thể trở thành người lãnh đạo của tiểu bang. Không thể nào lãnh đạo kiểu ấy. Nhiều người giàu kinh nghiệm và tài ba hơn ông ta”.
“Bây giờ anh định làm gì?” Kainene hỏi.
Madu có vẻ như không nghe câu hỏi của nàng. “Có rất nhiều người bị giết chết”, anh nói. “Rất nhiều người là chiến sĩ giỏi, trung thành - Udodi, Iloputaife, Okunweze, Okafor - họ luôn tin tưởng vào Nigeria, xem Tổ quốc quan trọng hơn tinh thần bộ lạc. Nói cho cùng, Udodi nói tiếng Hausa giỏi hơn tiếng Igbo, vậy mà xem cách họ giết anh ta như giết súc vật”. Anh đứng dậy đi đi lại lại trong phòng. “Vấn đề là chính sách bình đẳng chủng tộc. Là một thành viên trong ủy ban, anh đã nói cho Bộ Chỉ huy [1] biết rằng nên hủy bỏ chính sách này bởi vì nó chia rẽ quân đội và bảo họ không nên thăng chức cho sĩ quan miền Bắc nếu họ không xứng đáng. Nhưng Bộ Chỉ huy không chịu, Bộ Chỉ huy người Anh của chúng ta”. Madu quay lại, liếc nhìn Richard.
“Em sẽ bảo Ikejide nấu cơm đặc biệt cho anh”, Kainene nói.
Madu nhún vai, im lặng, nhìn trân trối ra ngoài cửa sổ.
------------------------------
[1] GOC (General Officer Commanding).
Đăng nhập để trả lời
0
Chương mười

Ugwu dọn bữa trưa. “Con đã dọn xong, thưa ông”, hắn nói, mặc dù hắn biết là Ông Chủ sẽ không đụng đến món xúp okro và sẽ tiếp tục đi đi lại lại ở phòng khách trong khi mở radio thật to, như ông đã làm từ khi cô Adebayo bỏ về khoảng một giờ đồng hồ trước đó. Cô ta đã đập cửa thật mạnh đến độ Ugwu lo là cửa kính sẽ bị nứt và khi nó mở cửa, cô đẩy nó qua một bên, xông vào, hỏi, “Ông chủ của em đâu rồi? Ông chủ của em đâu rồi?”
“Con sẽ gọi Ông Chủ, thưa cô”, Ugwu nói, nhưng cô Adebayo đã vội vã xông vào phòng làm việc của Ông Chủ trước. Hắn nghe cô ta nói, “Có chuyện lớn ở miền Bắc”. Miệng hắn bỗng trở nên khô khốc bởi vì cô Adebayo không phải là người hay lo sợ nhốn nháo, rõ ràng chuyện xảy ra ở miền Bắc phải là chuyện rất nghiêm trọng, và Olanna đang ở miền Bắc.
Kể từ lần đảo chính thứ hai vài tuần trước, khi lính Igbo bị giết, hắn đã cố gắng hết sức để hiểu chuyện gì xảy ra, hắn đọc báo cẩn thận, lắng tai nghe Ông Chủ nói chuyện với khách khứa. Những câu chuyện này không còn chấm dứt bằng những chuỗi cười đầy vẻ trấn an, và phòng khách như bao trùm một vẻ bất ổn, không rõ ràng, như thể họ đều biết có chuyện gì đó sắp xảy ra mà không ai biết rõ là chuyện gì. Không ai dám tưởng tượng chuyện như vậy có thể xảy ra và phát ngôn viên của Đài ENBC Enugu nói, lúc Ugwu đang kéo khăn trải bàn cho thẳng, “Chúng tôi vừa có bản báo cáo chứng thực là có đến năm trăm người Igbo đã bị giết ở Maiduguri”.
“Bố láo!” Ông Chủ hét to. “Em có nghe thấy chuyện đó không? Em có nghe không?”
“Dạ có, thưa ông”, Ugwu nói. Hắn mong là tiếng hét không đánh thức Bé By đang ngủ trưa.
“Không thể có được!” Ông Chủ nói.
“Thưa ông, món xúp của ông”, Ugwu nói.
“Năm trăm người bị giết. Tin bố láo. Chuyện này không thể có thật”.
Ugwu mang thức ăn trở vào trong bếp và cất vào tủ lạnh. Mùi gia vị làm hắn muốn ói, ngay cả chỉ nhìn món xúp thôi hắn cũng muốn nôn mửa. Nhưng Bé By sắp thức giấc và hắn phải nấu thức ăn chiều cho con bé. Hắn lấy túi khoai tây ra và ngồi ngó bọc khoai tây không chớp mắt. Hắn nghĩ mới hai ngày trước đây, khi Olanna đi Kano để đón cô Arize, mái tóc tết bím đã kéo căng da trán của nàng, làm nó có vẻ sáng láng và thanh lịch.
Bé By vào trong nhà bếp, gọi: “Ugwu”.
I tetago? Bé thức rồi à?” Ugwu hỏi, trước khi ôm con bé vào lòng. Hắn không biết Ông Chủ có nhìn thấy con bé đi ngang qua phòng khách hay không. “Bé có mơ thấy gà con không?”
Bé By cười, hai cái đồng tiền lúm sâu vào trong má. “Có!”
“Bé có nói chuyện với bọn nó không?”
“Có!”
“Bọn nó nói gì thế?”
Bé By không trả lời như thường lệ. Nó buông tay, không ôm cổ Ugwu và ngồi chồm hỗm trên nền nhà. “Mẹ Ola đâu rồi?”
“Mẹ Ola sẽ về sớm thôi”. Ugwu vuốt thử lưỡi dao. “Bây giờ bé giúp anh gọt khoai tây nhé. Bỏ mấy cái này vào giỏ rác, khi nào mẹ Ola về, mình sẽ nói cho mẹ biết là bé giúp anh nấu ăn”.
Sau khi Ugwu đun sôi nồi khoai, hắn tắm cho con bé, rắc phấn Pears khắp người con bé và mang ra cái váy ngủ màu hồng. Olanna rất thích cái váy này, nàng nói nó làm Bé By giống như một con búp bê. Nhưng Bé By nói, “Em muốn bộ đồ ngủ có quần cơ”, Ugwu không còn biết là Olanna thích bộ nào.
Nó nghe có tiếng gõ cửa trước. Ông Chủ chạy ra khỏi phòng làm việc. Ugwu phóng ra cửa, chụp lấy tay nắm cửa trước và giữ lấy để hắn có thể là người mở cửa, mặc dù hắn biết không thể nào là Olanna. Nàng có chìa khóa.
“Có phải Obiozo không?” Ông Chủ hỏi, nhìn một trong hai người đàn ông đứng trước cửa. “Obiozo?”
Khi Ugwu nhìn thấy hai người đàn ông mắt lõm sâu, quần áo bết bùn đất, hắn biết là hắn phải dẫn Bé By đi chỗ khác, để che chở cho con bé. Hắn mang con bé vào phòng ngủ, đặt nó lên bàn chơi rồi nói với con bé là nó có thể giả vờ như đang ăn với Jill trong truyện tranh Jack và Jill đã được đưa cùng với tờ Renaissance. Hắn đứng gần cửa dẫn vào hành lang và lén nhìn vào phòng khách. Một trong hai người đang nói khi người kia đang tu chai nước, cái ly để trên bàn không ai chú ý.
“Chúng tôi gặp một người tài xế xe tải đồng ý chở chúng tôi”, người đàn ông nói, Ugwu có thể nhận ra ngay lập tức người này có họ hàng với Ông Chủ vì ông ta dùng thổ ngữ Abba rất nặng, mỗi chữ f nghe như chữ v.
“Chuyện gì đã xảy ra?” Ông Chủ hỏi.
Người đàn ông đặt chai nước xuống và nói chậm rãi, “Chúng giết người mình như giết kiến. Anh có nghe tôi nói không? Kiến”.
“Chúng tôi tận mắt thấy không biết bao nhiêu là người, anyi afujugo anya”, Obiozo nói. “Tôi thấy cả gia đình gồm bố, mẹ và ba đứa con nằm ngay trên đường đến bến xe. Chỉ nằm đó”.
“Còn Kano thì sao? Chuyện gì đã xảy ra ở Kano?” Ông Chủ hỏi.
“Mọi chuyện bắt đầu ở Kano”, người đàn ông nói.
Obiozo đang nói cái gì đó về mấy con kền kền và xác người đổ đống phía bên ngoài tường thành, nhưng Ugwu không còn nghe thấy gì nữa. Câu nói Mọi chuyện bắt đầu ở Kano vang lên trong đầu hắn. Hắn không còn muốn dọn phòng cho khách, tìm khăn trải giường, hâm nóng xúp và làm garri [1] mới cho họ. Hắn muốn họ đi ngay lập tức. Hay nếu họ không chịu đi, hắn muốn họ ngậm cái mồm bẩn thỉu của họ lại. Hắn muốn phát thanh viên cũng im mồm nữa nhưng họ không im. Họ cứ lặp đi lặp lại cái tin giết người ở Maiduguri cho đến khi Ugwu muốn ném cái radio ra khỏi cửa sổ và chiều hôm sau, khi hai người đàn ông đi rồi, một giọng nói trang nghiêm trên Đài ENBC Enugu tường thuật những chuyện được tận mắt chứng kiến ở miền Bắc: thầy cô giáo bị chặt đầu ở Zaria, một nhà thờ chứa đầy người ở Sokoto bị đốt cháy, một người phụ nữ mang thai bị mổ bụng ở Kano. Phát thanh viên ngừng lại. “Người của chúng ta đang trở về. Những người trở về là những người may mắn. Trạm xe lửa đang chứa đầy người của chúng ta. Nếu quý vị có thể chia sẻ trà và bánh mì, xin vui lòng mang đến trạm xe lửa. Xin giúp anh em đồng bào đang cần sự giúp đỡ”.
Ông Chủ nhảy lên từ ghế sofa. “Đi Ugwu, mang trà và bánh mì đến trạm xe lửa”.
“Vâng, thưa ông”. Ugwu nói. Trước khi pha trà, hắn rán một ít chuối cho Bé By. “Con đã đặt thức ăn của Bé By trên bếp, thưa ông”, hắn nói.
Hắn không biết chắc Ông Chủ có nghe hắn nói hay không và hắn đi, lo lắng là Bé By sẽ bị đói còn Ông Chủ sẽ không biết là chuối chiên của con bé ở trong lò. Hắn tiếp tục lo lắng cho đến khi hắn đến trạm xe lửa. Chiếu và những tấm khăn quấn dơ bẩn được trải ra tràn lan khắp sân. Người ta ngã quỵ trên đó, đàn ông, đàn bà, trẻ em kêu khóc, ăn bánh mì, săn sóc vết thương. Những người bán hàng rong đang đi vòng quanh với những cái mâm trên đầu. Ugwu không muốn đi đến chỗ những quầy hàng bừa bộn. Hắn cố lấy dũng khí đi đến gần một người đàn ông đang ngồi trên mặt đất với mảnh giẻ có vấy máu đỏ xung quanh đầu. Ruồi bay tứ tung.
“Ông có muốn ăn bánh mì không?” Ugwu hỏi.
“Có, em trai. Dalu. Cảm ơn em”.
Ugwu tránh không nhìn xem vết thương trên đầu ông ta sâu đến mức nào. Hắn rót trà và đưa bánh mì ra. Ngày mai hắn sẽ không nhớ đến người này bởi vìhắn không muốn nhớ.
“Ông có muốn ăn bánh mì không?” Ugwu hỏi một người khác gần đó, ông ta ngồi khom lưng. “I choro bánh mì?”
Người đàn ông quay lại. Ugwu giật mình thụt lùi, suýt nữa làm rơi cả bình nước. Con mắt bên phải của ông ta không còn nữa, chỉ còn một mảng bầy nhầy nhoét đỏ thay vào chỗ ấy.
“Đó là nhờ quân đội cứu chúng tôi”, người đàn ông đầu tiên nói, giống như ông ta cảm thấy cần phải trao đổi chuyện của mình với những mẩu bánh mì mà ông ta đang nhúng vào nước trà để ăn. “Họ bảo chúng tôi chạy vào trong trại lính. Mấy cái thằng điên đuổi chúng tôi như đuổi dê, nhưng khi chúng tôi chạy vào trại lính, chúng tôi được an toàn”.
Một chuyến xe lửa khác xình xịch chạy vào, đông người đến nỗi người ta đeo bên ngoài toa xe lửa, bám vào những thanh sắt. Ugwu nhìn đoàn người mệt mỏi, bụi bặm, đầy máu me leo xuống, nhưng hắn không chạy lại giúp họ. Hắn không chịu nổi khi tưởng tượng Olanna cũng là một trong những người què quặt, thảm hại và hắn cũng không chịu nổi khi tưởng tượng nàng không có mặt trong đám người này, nàng vẫn còn ở lại phía sau, một nơi nào đó thuộc miền Bắc. Hắn nhìn cho đến khi xe lửa hoàn toàn trống rỗng. Olanna không có ở đó. Hắn đem phần bánh mì còn lại cho người đàn ông một mắt rồi quay người chạy. Hắn chạy một mạch cho tới khi hắn đến phố Odim và qua khỏi bụi cây có đầy hoa trắng.
-------------------------
[1] Garri: Tên một loại bánh làm bằng bột khoai mì được vắt nước và lên men, nướng khô.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương mười một

Olanna đang ngồi ở hiên nhà của Mohammed, uống sữa gạo ướp lạnh. Nàng cười, những ngụm sữa lạnh tuyệt vời lan chậm và nhột nhạt trong cổ. Nàng cười, đôi môi rít chịt vì dính sữa, lúc ấy người gác cổng xuất hiện xin được nói chuyện với Mohammed.
Mohammed đi và chỉ một lúc sau trở lại, cầm trong tay cái gì giống như một tập giấy nhỏ. “Họ đang nổi loạn”, anh nói.
“Có phải đám học sinh, sinh viên không?” Olanna hỏi.
“Anh nghĩ nhóm tôn giáo. Em phải đi ngay thôi”. Mắt anh lẩn tránh mắt nàng.
“Mohammed, chắc không sao đâu”.
“Sule nói người ta chặn tất cả các ngả đường và đang lùng sục tìm bắt những người khác tôn giáo. Đi, đi ngay”. Anh bắt đầu đi vào trong nhà. Olanna theo sau. Anh lo lắng quá độ. Đám học sinh Hồi giáo thường biểu tình vì hết lý do này đến lý do khác, thậm chí cuối cùng, họ còn gây khó dễ với những người ăn mặc kiểu phương Tây, nhưng họ giải tán rất nhanh chóng.
Mohammed vào trong một phòng rồi mang ra một cái khăn quàng rất dài. “Quấn cái này để cho giống người ta”, anh nói.
Olanna quấn xung quanh đầu và quàng khúc còn lại quanh cổ. “Em giống mấy bà Hồi giáo chính thống rồi”, nàng cười.
Nhưng Mohammed chẳng buồn nhếch mép. “Đi thôi. Anh biết một ngõ tắt ra trạm xe lửa”.
“Trạm xe lửa? Đến ngày mai Arize và em mới đi, Mohammed”, Olanna nói. Nàng gần như chạy để bắt kịp anh. “Cho em trở lại nhà của cậu mợ em ở Sabon Gari”.
“Olanna”. Mohammed nổ máy; chiếc xe nhảy chồm lên khi anh lái đi. “Sabon Gari không an toàn”.
“Sao lại không an toàn?” Nàng kéo cái khăn quàng; đường viền thêu không được mịn làm nàng ngứa ngáy, khó chịu.
“Sule nói họ rất có tổ chức”.
Olanna nhìn anh chằm chặp, bất thình lình bị lây nỗi sợ hãi của anh. “Mohammed?”
Giọng anh thật thấp. “Ông ta nói xác người Igbo nằm lay lắt dọc đường Airport”.
Olanna chợt nhận ra đây không phải chỉ là một cuộc biểu tình của giới học sinh. Cơn sợ làm cổ họng nàng khô quánh. Nàng chắp tay lại. “Xin đón người thân của em trước”, nàng nói. “Giúp em!”
Mohammed hướng về phía Sabon Gari. Có một chiếc xe buýt màu vàng chạy qua mặt họ, bụi bám đầy; trông nó giống như một trong những chiếc xe buýt các nhà chính trị dùng trong các cuộc tranh cử đến làng quê để phân phát gạo và tiền cho dân. Một người đàn ông đang đánh đu ở cửa xe, cái loa ép sát vào môi, giọng Hausa chậm rãi và dội vào tai. “Người Igbo phải bị đuổi đi. Người ngoại đạo phải bị đuổi đi”. Mohammed nắm chặt tay nàng rồi cứ giữ tay nàng như thế lúc hai người đi qua một nhóm đàn ông đứng ở lề đường hò hét, “Araba, araba!”. Anh chạy từ từ, thỉnh thoảng ấn còi như để biểu lộ tình đoàn kết; họ vẫy tay chào và anh tiếp tục nhấn ga.
Ở Sabon Gari, con đường đầu tiên vắng ngắt. Olanna thấy khói dâng như cái bóng xám cao nhòng trước khi nàng ngửi thấy mùi cháy khét.
“Ngồi yên đây”, Mohammed nói lúc anh dừng xe ngoài cổng làng của cậu Mbaezi. Nàng nhìn anh chạy vụt đi. Con đường có vẻ lạ lẫm, không giống lúc bình thường; cổng rào bị phá vỡ, miếng kim loại bẹp dí trên mặt đất. Rồi cô chú ý đến quầy hàng của mợ Ifeka, hay nói cho đúng, những mảnh vụn còn lại của cái quầy hàng, những miếng gỗ bị vỡ nát, những gói lạc lẫn trong bụi đất. Nàng mở cửa xe bước xuống. Nàng ngập ngừng một chút vì mặt trời chói chang và nóng hừng hực, lửa cháy cuồn cuộn trên mái nhà, mảnh vụn bay vật vờ trong không trung, trước khi nàng hướng đến ngôi nhà. Nàng khựng lại khi nhìn thấy mấy xác chết. Cậu Mbaezi nằm sấp còng queo trông thật kinh khủng, chân giạng ra. Có cái gì đó trắng ngà sủi ra từ chỗ nhát cắt đằng sau gáy của cậu. Mợ Ifeka nằm trên hàng hiên. Những vết chém trên thân mợ nhỏ hơn, đầy trên tay và chân, giống như vết môi hôn hé mở màu đỏ thắm.
Olanna thấy đau quặn bụng dưới trước khi cơn tê điếng tràn ngập thân thể và dừng lại ở chân nàng. Mohammed lôi xệch nàng đi, anh kéo mạnh đến nỗi làm tay nàng đau. Nhưng nàng không thể bỏ đi mà không đưa Arize theo. Arize sắp sinh rồi. Cô em họ này cần phải ở gần bác sĩ.
“Arize”, nàng nói. “Arize ở cuối đường”.
Khói đặc sệt xung quanh nàng, vì thế nàng không chắc là đám đàn ông đang đi dần vào trong sân là người thật hay chỉ là một đám khói, cho đến khi nàng nhìn thấy ánh kim loại sáng quắc của lưỡi búa và mã tấu, mấy vạt áo đẫm máu lòng thòng quấn quanh họ.
Mohammed đẩy nàng vào trong xe rồi đi vòng sang bên kia, chui vào xe. “Cúi xuống”, anh nói.
“Chúng tôi giết sạch cả nhà. Đó là ý của Thánh Allah!”, một trong những người đàn ông nói to bằng tiếng Hausa. Người này có vẻ quen quen. Đó là Abdulmalik. Hắn lấy chân đẩy đẩy một cái xác trên mặt đất và Olanna để ý đến nhiều xác chết đang nằm rải rác ở đó như là những con búp bê bằng vải.
“Anh là ai?”, một người khác đứng trước đầu xe hỏi.
Mohammed mở cửa xe, xe vẫn rồ máy. Anh nói nhanh bằng tiếng Hausa, nửa dịu dàng, nửa thuyết phục. Người đàn ông ấy đứng sang một bên. Olanna nghiêng mặt cố nhìn cho rõ xem có phải là Abdulmalik không.
“Đừng ngẩng mặt lên!” Mohammed nói. Suýt tí nữa là anh đâm vào gốc cây kuka; một quả to đã rơi và Olanna nghe tiếng bánh xe nghiến lên nó rạo rạo. Nàng cúi đầu. Đúng là Abdulmalik. Hắn đẩy thêm một cái xác khác, xác đàn bà không đầu, bước qua, đặt một chân xuống, rồi chân kia, giống như là không có đủ chỗ cho hắn đặt chân.
“Thánh Allah không chấp nhận chuyện này”, Mohammed nói. Anh run lẩy bẩy; khắp người rung bần bật. “Thánh Allah sẽ không tha tội cho những kẻ bắt họ làm việc này. Thánh Allah sẽ không bao giờ tha thứ”.
Họ lái xe đi trong im lặng nhức nhối, qua đám cảnh sát đồng phục vấy máu, qua đám kền kền đậu bên đường, qua đám con trai khênh mấy cái radio vừa hôi được từ các cửa tiệm, cho đến khi anh đậu trước trạm xe lửa và đẩy nàng lên một toa chật ních người.

Olanna ngồi bó gối trên nền của toa xe; những thân hình nóng ấm mồ hôi xung quanh xô ép nàng. Bên ngoài, có người tự trói mình vào những toa xe lửa, có người đứng trên những bậc thang và bám lấy những chỗ vịn tay. Trước đó nàng nghe có tiếng la bị tắt nghẹn của người ngã xe lửa. Xe lửa giống như một đống sắt vụn nối vào nhau một cách lỏng lẻo. Chuyến xe chạy lắt lẻo dằn xóc, cứ như là đường xe lửa bị chắn ngang bằng những rào cản, mỗi lần như vậy nó lại rung lên. Olanna bị dằn, té nhào vào người đàn bà bên cạnh, chạm vào cái vật trong lòng bà, một cái bát rất to, làm bằng quả bầu nậm. Áo khoác của bà ta dính đầy những đốm sậm giống như máu, nhưng Olanna không chắc lắm. Mắt nàng cay xè. Nàng có cảm tưởng như bị cát và tiêu rơi vào mắt, mi mắt cay xè, đau buốt. Chớp mắt cũng nhức nhối, nhắm mắt cũng nhức nhối, mở mắt cũng nhức nhối. Nàng muốn cào móc đôi mắt ra khỏi tròng. Nàng liếm ngón tay thấm nước miếng và rà theo mi mắt. Đôi khi nàng làm thế khi Bé By ngã bị trầy xước da. “Mẹ Ola!” Bé By khóc ré, chìa cái tay hay cái chân đau, và Olanna nhấm ngón tay, xoa vào chỗ bị thương của Bé By. Nhưng nước bọt làm mắt nàng cay hơn.
Một thanh niên trước mặt nàng hét om sòm và lấy hai tay ôm đầu. Toa xe lửa nghiêng, Olanna lại bị té ép vào quả bầu gỗ. Nàng thích cái cảm giác rắn chắc của thớ gỗ. Nàng nhích dần ngón tay cho đến khi nó nhẹ nhàng vuốt ve những đường khắc chéo trên quả bầu nậm khô. Nàng nhắm mắt, bởi vì nó ít cay hơn, và nhắm mắt như thế hàng giờ, tay nàng dựa vào quả bầu khô cho đến khi có người kêu lên bằng tiếng Igbo, “Anyi agafeela! Mình đã qua sông Niger! Đến đất nhà mình rồi!”
Một chất lỏng - nước tiểu - chảy tràn trên nền toa xe lửa. Olanna cảm thấy nó lạnh lẽo thấm vào quần áo nàng. Người đàn bà có quả bầu đẩy nhẹ nàng rồi ra hiệu cho vài người khác gần bên. “Bianu, đến đây”, bà ta nói. “Đến đây mà xem”.
Nàng mở quả bầu.
“Nhìn xem”, bà ta lặp lại.
Olanna nhìn vào quả bầu. Nàng thấy cái đầu của một bé gái da xám như tro, tóc bím, mắt trợn ngược và miệng há hốc. Nàng nhìn sững sờ một hồi rồi quay đi chỗ khác. Có người nào đó hét lên.
Người đàn bà đóng nắp quả bầu lại. “Cô biết không”, bà nói, “tôi mất rất nhiều thì giờ với bím tóc của bé. Tóc nó dày lắm cơ”.
Xe lửa chợt dừng với tiếng thắng rít. Olanna xuống xe, đứng lẫn vào trong đám đông xô lấn. Có người đàn bà bị ngất đi. Đám thợ máy đang gõ vào cạnh của mấy cái xe tải và hò hát nhịp nhàng, “Owerri! [1] Enugu! [2] Nsukka! [3]” Nàng nghĩ đến cái đầu có tóc tết bím nằm trong quả bầu. Nàng hình dung đến người mẹ thắt bím tóc, ngón tay của bà nhúng dầu thơm trước khi chia tóc ra thành từng túm với cây lược gỗ.
-------------------------------
[1] Ovverri là tên một thành phố ở phía Đông Nam Nigeria, thủ đô của nước Cộng hòa Biafra năm 1969.
[2] Được tuyên bố là thủ đô của Biafra ngày 28 tháng Chín năm 1967.
[3] Nsukka là tên một thành phố nhỏ của tiểu bang Enugu, Đông nam Nigeria. Hiện nay được biết đến vì là nơi tọa lạc của Đại học Nigeria. Trong chiến tranh Biafra, Nsukka là một trong những thành phố bị chiếm đóng đầu tiên.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương mười hai

Richard đang đọc lại lá thư ngắn Kainene viết lúc máy bay hạ cánh ở sân bay Kano. Chàng chỉ mới vừa bắt gặp mẩu thư này khi chàng lục trong cặp hồ sơ để tìm một quyển tạp chí. Chàng ước gì chàng biết được mẩu giấy đã nằm trong cặp suốt mười ngày chàng ở London, chờ được đọc.

Có phải tình yêu là cái nhu cầu đặt không đúng chỗ mà hầu như lúc nào em cũng cần có anh bên cạnh? Có phải tình yêu là cái cảm giác an toàn mà em cảm thấy trong sự im lặng của hai đứa mình? Có phải tình yêu là cải cảm giác chúng ta thuộc về nhau, cảm giác có đầy đủ mọi thứ khi chúng ta có nhau?

Chàng mỉm cười khi đọc. Trước đây, Kainene chưa bao giờ viết cho chàng như thế này. Chàng không tin là nàng đã viết bất cứ cái gì cho chàng, ngoại trừ những chữ chung chung như Thương, Kainene trên thiệp sinh nhật gửi cho chàng. Chàng đọc đi đọc lại, luyến tiếc từng chữ em đã được gò gẫm chu đáo đến nỗi những đường cong của nó như là một dấu ấn bằng bạc. Chàng không cảm thấy phiền hà khi chuyến bay bị đình trệ ở London và việc phải ngừng ở Kano để đổi máy bay đến Lagos càng làm chuyến bay của chàng trễ hơn nữa. Cái cảm giác nhẹ bỗng phi lý vẩn vơ quanh chàng; chuyện gì cũng có thể xảy ra, chuyện gì cũng có thể kiểm soát được. Chàng đứng dậy và giúp người đàn bà ngồi bên cạnh chàng mang hành lý xuống. Có phải tình yêu là cái cảm giác an toàn mà em cảm thấy trong sự im lặng của hai đứa mình?
“Ông tử tế quá”, người đàn bà nói với chàng bằng tiếng Anh. Chuyến bay đầy những hành khách không phải người Nigeria. Nếu Kainene ở đây, chắc chắn nàng sẽ nhạo báng - Những tên Âu châu cướp cạn. Chàng bắt tay những người tiếp viên hàng không ở bậc thang lên xuống máy bay và băng qua khoảng trống từ đường băng. Nắng nóng nung người, một thứ nóng khiến chàng có cảm tưởng như bao nhiêu chất lỏng trong người bốc hơi hết, khô cạn hết, vì thế chàng có cảm giác nhẹ nhõm được vào phía trong mát mẻ. Chàng đứng trong hàng kiểm soát hải quan và đọc lại mẩu giấy của Kainene. Có phải tình yêu là cái nhu cầu đặt không đúng chỗ mà hầu như lúc nào em cũng cần có anh bên cạnh? Chàng sẽ cầu hôn nàng khi chàng về đến Port Harcourt. Nàng sẽ nói một câu như thế này, “Một anh chàng da trắng nghèo kiết xác mà đòi lấy vợ. Bố mẹ em sẽ bị đàm tiếu”. Nhưng nàng sẽ nhận lời. Chàng biết nàng sẽ nhận lời. Gần đây có cái gì đó làm nàng trở nên dịu dàng hơn, lá thư ngắn trong mẩu giấy này được viết lên từ chính sự dịu dàng ấy. Chàng không biết chắc là nàng đã tha thứ cho chàng sau chuyện dính líu với Olanna - họ không bao giờ nói chuyện thẳng thắn với nhau về vấn đề này - nhưng lá thư ngắn này, sự cởi mở mới mẻ này đồng nghĩa với việc nàng đã sẵn sàng hướng tới tương lai. Chàng đang vuốt cho lá thư ngắn này thẳng thớm trong lòng bàn tay, khi một nhân viên da đen còn khá trẻ tiến đến gần chàng, “Ông có gì để khai báo không, thưa ông?”
“Không”, Richard nói và đưa giấy nhập cảnh. “Tôi tiếp tục đi về Lagos”.
“Vâng, đã xong xuôi cả rồi, thưa ông! Chào mừng ông đến Nigeria”, nhân viên trẻ tuổi nói. Thân hình khá mập mạp, phục phịch làm anh ta có vẻ hơi luộm thuộm trong bộ đồng phục.
“Anh làm việc ở đây?” Richard hỏi.
“Vâng, thưa ông. Tôi đang trong giai đoạn tập sự. Khoảng tháng Mười hai tôi sẽ là nhân viên hải quan thực thụ”.
“Tốt lắm”, Richard nói. “Anh ở đâu?”
“Quê tôi ở miền Đông nam, một làng nhỏ tên Obosi”.
“Láng giềng của Onitsha
“Ông biết nơi ấy sao, thưa ông?”
“Tôi làm việc ở Đại học Nsukka và tôi du ngoạn gần hết miền Đông. Tôi đang viết một quyển sách về khu vực này. Vị hôn thê của tôi quê ở Umunnachi, không xa chỗ của anh là mấy”. Cảm giác tự mãn tràn ngập tâm hồn chàng, mấy chữ vị hôn thê của tôi buột ra khỏi môi chàng dễ dàng làm sao, cái dấu hiệu của một tương lai đầy hạnh phúc được chiều chuộng vợ. Chàng mỉm cười, chợt nhận ra nguy cơ nụ cười sẽ bật thành tiếng và chàng sẽ trở nên điên rồ. Cũng chỉ vì lá thư ngắn ấy.
“Vị hôn thê của ông?” Anh chàng trẻ tuổi nhìn có vẻ không mấy tán thành.
“Vâng. Tên cô ây là Kainene”. Richard nói chậm rãi, cố gắng nói cho vần thứ hai được phát âm trọn vẹn.
“Ông có nói được tiếng Igbo không, thưa ông?” Có chút kính trọng mỏng manh trong mắt anh chàng.
“Nwanne di na mba”, Richard nói bâng quơ, hy vọng mình không sai lầm và câu tục ngữ này có nghĩa là một người có thể có anh em ở một vùng đất khác.
“A! Ông nói được! I na-asu Igbo!” Anh nhân viên trẻ tuổi này nắm tay Richard bằng bàn tay ẩm ướt của mình, bắt tay chàng một cách thân mật rồi bắt đầu nói về bản thân. Tên anh ta là Nnaemeka.
“Tôi biết người Umunnachi rõ lắm, họ luôn kiếm chuyện rắc rối cho mình”, anh ta nói. “Người dân vùng tôi đã nói trước cho em họ tôi biết là không nên lấy đàn ông Umunnachi, nhưng cô ấy chẳng chịu nghe lời. Ngày nào họ cũng đánh đập cô ấy cho đến khi cô ôm đồ về nhà cha mẹ. Nhưng không phải người nào ở Umunnachi cũng xấu. Họ hàng bên ngoại của tôi cũng ở vùng đó. Có bao giờ ông nghe nói về bà ngoại của tôi không? Nwayike Nkwelle? Ông nên viết về bà trong quyển sách của ông. Bà là một thầy thuốc có tiếng trong việc dùng thảo dược trị bệnh, và bà chữa bệnh sốt rét rất hay. Nếu bà mà bắt người ta trả nhiều tiền, chắc là tôi đang học y ở nước ngoài. Gia đình tôi không có tiền cho tôi đi du học, người ở Lagos phân phát học bổng cho những kẻ có thể hối lộ họ. Chính vì Nwayike Nkwelle mà tôi muốn học ngành y. Nhưng tôi không thể nói là công việc hải quan của tôi không tốt. Chúng tôi phải qua một kỳ thi tuyển để được nhận việc, rất nhiều người ghen tị. Chừng nào tôi được vào biên chế thì cuộc đời sẽ suôn sẻ hơn và sẽ ít nhọc nhằn hơn...”
Một tiếng nói, thứ tiếng Anh pha giọng Hausa rất lịch thiệp, thông báo hành khách đi chuyến bay từ London nên chuẩn bị lên máy bay để đến Lagos. Richard thấy nhẹ người. “Rất hân hạnh được tiếp chuyện anh, jisie ike”, chàng nói.
“Vâng, thưa ông. Xin cho tôi gửi lời chào Kainene”.
Nnaemeka quay trở lại bàn của anh ta. Richard cầm lấy cặp của mình. Cửa vào bên hông bỗng mở toang và ba người đàn ông ôm súng xông vào. Họ mặc đồng phục quân đội màu xanh lá cây. Richard tự hỏi là tại sao quân nhân lại làm chuyện mà khiến người ta phải chú ý đến họ nhiều như vậy, cả cái kiểu xông vào như thế nữa chứ, cho đến khi chàng nhìn thấy mắt họ đỏ ngầu, dữ tợn, không bình thường.
Người lính đầu tiên hất mũi súng về những người xung quanh. “Ina nyamiri! Đám Igbo đâu cả rồi? Ai là người Igbo ở đây? Lũ vô thần vô đạo ấy đâu hết rồi?”
Một người đàn bà hét lên.
“Mầy là người Igbo”, người lính thứ hai nói với Nnaemeka.
“Không, tôi là dân ở Katsina! Katsina!”
Người lính đến gần anh ta. “Nói Allahu Akbar! [1]”
Cả căn phòng im lặng. Richard cảm thấy mồ hôi lạnh đè nặng lên mí mắt.
“Nói Allahu Akbar!”, người lính lặp lại.
Nnaemeka quỳ xuống. Richard thấy nỗi sợ hãi khắc sâu trên mặt anh ta, đến nỗi nó làm thụt cả xương gò má, làm gương mặt anh ta biến thành một cái mặt nạ, hoàn toàn chẳng còn nét nào của anh ta. Anh ta không chịu nói Allahu Akbar bởi vì giọng của anh ta sẽ tố cáo anh ta là người Igbo. Richard cố gắng thầm bảo mình nói thử chữ này, cách nào cũng được, miễn là cố thử; chàng tự bảo mình cái gì đó, bất cứ cái gì, để cho nó xảy ra trong sự im lặng cứng ngắc này. Như để trả lời ý nghĩ của chàng, tiếng súng nổ đánh đoàng. Ngực của Nnaemeka vỡ toang, một mảng đỏ phụt ra tung tóe, Richard buông rơi lá thư ngắn trong tay chàng.
Hành khách nấp sau ghế. Đàn ông quỳ xuống, cúi mọp đầu xuống nền nhà. Có người nào đó hét lên bằng tiếng Igbo, “Mẹ tôi ơi, ô, mẹ tôi ơi, Chúa đã bảo là không!” Đó là người phục vụ rượu. Một trong mấy người lính đến gần anh ta, bắn, rồi chĩa súng bắn luôn vào những chai rượu xếp thẳng hàng sau lưng anh ta. Cả gian phòng tràn ngập mùi rượu whisky, Campari, và gin.
Có thêm lính vào, bắn, bắn, và bắn, nhiều tiếng la hét “Nyamiri!”“Araba, araba” hơn. Người phục vụ ở quầy rượu đang quằn quại trên mặt đất. Âm thanh thoát ra khỏi miệng anh ta là tiếng ằng ặc từ cổ họng. Đám lính chạy ra ngoài đường băng, chui vào máy bay, lôi những người Igbo đã lên máy bay xuống, bắt họ đứng xếp hàng, bắn, rồi bỏ mặc xác của họ nằm đó, quần áo của họ sáng đủ các màu, rực rỡ trên một khoảng ngắn của đường băng đầy bụi. Các nhân viên an ninh của sân bay đứng gần đó, khoanh tay ngang bộ đồng phục của họ lẳng lặng nhìn. Richard cảm thấy mình tiểu ướt quần. Lỗ tai chàng vẫn còn tiếng chát chúa và đau đớn. Suýt nữa chàng lỡ chuyến bay, bởi vì lúc những người khác run rẩy lên máy bay, chàng đứng bên cạnh, nôn thốc tháo.

Susan vẫn còn đang mặc cái áo choàng tắm. Cô không có vẻ ngạc nhiên khi thấy chàng đến mà không báo trước. “Anh có vẻ kiệt sức”, cô nói, vuốt má chàng. Tóc cô rối bời, bện lỏng lẻo phía sau, để lộ hai lỗ tai đỏ ửng.
“Anh mới về từ London. Máy bay dừng ở Kano”, chàng nói.
“Thế à?” Susan trả lời. “Đám cưới của Martin thế nào?”
Richard ngồi bất động trên sofa; chàng không nhớ gì về chuyện đám cưới ở London cả. Susan không có vẻ để ý là chàng không nói lời nào. “Một chút whisky với nhiều nước?” Cô hỏi. Miệng hỏi mà tay đã rót rượu. “Kano có nhiều chuyện thú vị nhỉ?”
“Ừ”, Richard nói, mặc dù trước đó chàng đã định kể cho cô nghe là chàng ngắm nhìn những người bán hàng rong, xe hơi, xe buýt trên những con đường chật chội ở Lagos một cách vừa thú vị vừa khôi hài thế nào, bởi vì đời sống tiếp tục quay cuồng ở đây, tự bao giờ, cứ như không có gì xảy ra ở Kano.
“Thật là kỳ cục, người miền Bắc chịu trả giá gấp đôi để thuê người ngoại quốc thay vì thuê người miền Nam. Nhưng ở đây có thể làm ra khá tiền. Nigel vừa mới gọi điện thoại báo cho em biết về bạn của anh ấy, John, một người Scotland gan dạ dễ sợ. John lái máy bay dân sự và làm giàu bằng cách chở người Igbo về nơi an toàn trong mấy ngày gần đây. Anh ta nói chỉ riêng ở Zaria đã có hàng trăm người bị giết”.
Richard cảm thấy cơ thể như sắp có chuyện, chỉ muốn run bắn, muốn ngã quỵ. “Em có biết chuyện gì xảy ra ở đó lúc ấy không?”
“Dĩ nhiên là em biết. Em chỉ hy vọng nó đừng lan đến Lagos. Với những vấn đề này, người ta khó có thể đoán điều gì sẽ xảy ra”. Susan uống ực ly rượu của cô, chỉ một ngụm. Chàng để ý màu da bợt bạt của cô, những giọt mồ hôi li ti trên mép cô. “Có rất nhiều, rất nhiều người Igbo ở đây - thật ra họ ở khắp nơi, phải không? Không phải là họ không biết chuyện sẽ xảy đến với mình. Nếu mà anh thử suy nghĩ về chuyện này anh sẽ thấy, họ cao ngạo, kéo bè kết cánh lũng đoạn thị trường. Rất giống người Do Thái, thật đó. Và nghĩ xem, họ khá kém văn minh, người ta không thể so sánh họ với người Yoruba, thí dụ điển hình những người này đã tiếp xúc với Âu châu ở vùng bờ biển rất nhiều năm. Em nhớ có người nào đó bảo em khi em mới tới đây ở về chuyện thuê người giúp việc là người Igbo, rằng chỉ cần ngó lơ một chút là họ sẽ trở thành chủ căn nhà và chủ luôn mảnh đất mà căn nhà xây trên ấy. Một ly nhỏ whisky nữa nhé?”
Richard lắc đầu. Susan tự rót cho mình thêm một ly nữa, lần này không pha nước. “Anh không thấy chuyện gì xảy ra ở Kano phải không?”
“Không”, Richard trả lời.
“Họ không đến sân bay, có lẽ thế. Hoàn toàn ngoài sức tưởng tượng phải không? Cái cách mà họ không thể kìm chế được lòng thù ghét lẫn nhau. Dĩ nhiên mình cũng có lúc ghét một người nào đó, nhưng cái chính là mình có thể kiểm soát bản thân. Văn minh và văn hóa dạy người ta biết tự kiểm soát”.
Susan uống hết ly rượu rồi rót thêm ly nữa. Giọng cô oang oang lúc chàng đi vào phòng tắm và làm cơn nhức đầu của chàng nặng hơn. Chàng vặn nước. Cái vẻ bề ngoài không mấy thay đổi của chàng ở trong gương làm chàng khá kinh ngạc. Lông mày của chàng vẫn có vài cái mọc lộn xộn và mắt chàng vẫn một màu xanh như kính cắt. Đáng lẽ chàng phải biến dạng vì những điều mà chàng đã nhìn thấy. Nỗi nhục nhã của chàng đáng lẽ phải biến thành một mụn cóc màu đỏ trên mặt chàng. Chàng không cảm thấy chấn động vì cái chết của Nnaemeka mà lại thấy nhẹ nhõm vô cùng khi Kainene không có ở đấy cùng với chàng bởi vì chàng sẽ bất lực, không thể làm gì để bảo vệ nàng. Họ sẽ biết nàng là người Igbo và họ sẽ bắn nàng. Chàng không thể nào cứu mạng Nnaemeka, nhưng đáng lẽ chàng phải nghĩ đến anh ta trước. Chàng phải cảm thấy rã rời mất mát vì cái chết của người nhân viên trẻ tuổi này. Chàng trân trối nhìn mặt mình và tự hỏi thật sự đã xảy ra chuyện gì, không biết mình có thật sự chứng kiến cái chết của những người đó không, không biết mùi của những chai rượu bị bắn vỡ và những thân thể đẫm máu đó có phải chỉ là trong tưởng tượng của mình không. Nhưng chàng biết nó thật sự xảy ra và chàng tự hỏi điều này chỉ vì chàng tự bắt buộc mình. Chàng cúi đầu trên chậu nước và bắt đầu khóc. Nước chảy qua vòi kêu lên, nghe như tiếng hít mũi.

3. Quyển Sách: Thế Giới Im lặng Khi Chúng Tôi Chết
Ông viết về Độc Lập. Thế chiến thứ Hai làm đảo lộn trật tự thế giới. Chế độ vua chúa sụp đổ. Một người Nigeria danh giá xuất hiện. Ông ta phát biểu ý kiến và được nhiều người, phần lớn là người miền Nam chú ý.
Miền Bắc có vẻ chán chường; người ta lo sợ bị nhóm người miền Nam có học thức cao khống chế và vẫn hằng mong muốn có một quốc gia biệt lập từ những người ngoại đạo ở miền Nam. Nhưng người Anh đã phải giữ Nigeria nguyên trạng, vì đây là cái sản phẩm danh dự của họ, cái thị trường rộng lớn của họ, cái gai nhọn trong mắt người Pháp. Để giúp người miền Bắc, họ sắp đặt những cuộc tuyển cử tiền độc lập và viết hiến pháp mới để người miền Bắc được quyền kiểm soát toàn diện.
Miền Nam quá sốt sắng để được độc lập đã chấp nhận hiến pháp này. Với sự rút lui của người Anh, sẽ có nhiều chuyển biến tốt đẹp cho tất cả mọi người: Người Nigeria từ trước đến giờ vẫn không được hưởng mức lương tương đương với nhân viên “da trắng”, bị từ chối tăng lương, và chưa từng được giao chức vụ cao nhất (chỉ dành riêng cho người da trắng). Không có gì được thay đổi, mặc kệ những lời kêu ca của nhóm người thiểu số; các miền đã tranh chấp lẫn nhau quá dữ dội đến độ có người còn đòi biệt lập các tòa đại sứ ngoại quốc.
Khi được độc lập năm 1960, Nigeria là tập hợp của những mảnh vụn kết hợp với nhau bằng một cái vòng nối mỏng manh yếu ớt.

--------------------------------------
[1] Tiếng Ả Rập, có nghĩa là God is Great. Chúa là đấng cao cả nhất.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương mười ba

Bóng Tối bắt đầu ám ảnh Olanna từ ngày nàng ở Kano về, cái ngày đôi chân nàng trở nên tê liệt. Chúng vẫn hoạt động bình thường khi nàng leo xuống xe lửa mà không cần phải vịn tay vào những hàng rào dính đầy máu; vẫn bình thường khi nàng đứng suốt ba tiếng đồng hồ trên một chuyến xe buýt về Nsukka chật cứng người, chật đến nỗi nàng không thể thò tay ra sau lưng để gãi một chỗ ngứa. Nhưng khi nàng về đến trước cổng nhà của Odenigbo, chúng bỗng trở nên tê liệt. Cái bàng quang của nàng cũng hỏng theo. Đôi chân nàng như bị tan chảy và nước nóng hôi hổi chảy tràn dọc theo giữa đùi nàng. Bé By là người đầu tiên phát hiện ra nàng khi nó đi ra cửa để ngóng nàng và hỏi Ugwu chừng nào thì mẹ Ola sẽ về. Nó khóc òa khi thấy cái bóng người đổ sụp ngay trước bậc thềm nhà. Odenigbo bế nàng vào, tắm cho nàng và ngăn không cho Bé By ôm nàng quá chặt. Sau khi con bé đã ngủ thiếp, Olanna kể lại cho Odenigbo nghe những điều nàng chứng kiến. Nàng tả lại những bộ quần áo có vẻ khá quen thuộc trên những xác chết không đầu trong sân, ngón tay của cậu Mbaezi vẫn còn co giật, đôi mắt lộn tròng trên đầu của một con bé vô danh được cất trong một quả bầu và một màu da rất kỳ cục - màu xám đục lờ lờ, như màu bảng đen không lau sạch phấn - của tất cả những cái xác chết trong sân.
Đêm ấy là đêm đầu tiên nàng bị Bóng Tối ám ảnh: một cái mền dày từ trên cao chụp xuống đè lên mặt nàng thật chặt, trong khi nàng vùng vẫy để thở. Nó thả nàng ra để nàng hớp không khí hết ngụm này đến ngụm khác, nàng thấy mấy con cú lửa ở cửa sổ vẫy gọi nàng bằng bộ cánh cháy xém. Nàng cố gắng diễn tả cái Bóng Tối đang ám ảnh nàng cho Odenigbo nghe. Nàng cũng cố tả cho chàng biết mùi vị của mấy viên thuốc mà bác sĩ Patel cho nàng uống, nó bợn lờm lợm như cợn lưỡi của nàng mỗi buổi sáng thức dậy.
Nhưng Odenigbo cứ nói, “Suỵt, nkem. Em sẽ khỏe nhanh thôi”. Chàng nói với nàng bằng giọng rất dịu dàng, nghe kỳ cục, không giống giọng chàng khi bình thường chút nào. Chàng còn hát ru nàng khi tắm cho nàng trong bồn đầy nước thơm và đẩy bọt xà phòng tắm của Bé By. Nàng muốn bảo chàng thôi đừng làm mấy cái trò kỳ cục này nữa nhưng môi nàng nặng trĩu. Nói bỗng trở thành một lao động nặng nhọc. Khi bố mẹ nàng và Kainene đến thăm, nàng nói rất ít; Odenigbo là người kể lại những điều nàng đã chứng kiến.
Đầu tiên mẹ nàng ngồi cạnh bố nàng, gục gặc đầu khi Odenigbo kể bằng cái giọng dịu dàng rất kỳ cục. Rồi thì mẹ nàng ngã gục xuống; bà chuồi tuột xuống như thể xương của bà đã chảy lỏng cho đến khi phân nửa người của bà ở trên ghế còn nửa kia ở dưới nền nhà. Đó là lần đầu tiên nàng nhìn thấy nét mặt thật của mẹ mình, không trang điểm phấn son, không hoa tai vàng lủng lẳng, và đó cũng là lần đầu tiên Olanna thấy Kainene khóc kể từ khi hai người vẫn còn là trẻ con. “Em không cần phải nói gì cả, đừng nói gì cả”, Kainene nức nở, mặc dù Olanna không có ý định nói.
Bố nàng đi đi lại lại trong phòng. Ông hỏi Odenigbo liên tục, bác sĩ Patel dựa vào tài liệu y học nào mà dám tuyên bố đôi chân Olanna bị liệt là bởi vì lý do tâm lý. Ông cho biết hai ông bà rất bực mình vì phải lái xe suốt chặng đường dài bắt đầu từ Lagos, bởi vì chính quyền liên bang phong tỏa đường bay nội địa và hãng hàng không Nigeria không có chuyến bay nào về miền Đông nam. “Bố mẹ muốn đến ngay lập tức, ngay lập tức”, ông nói rất nhiều lần đến độ Olanna tự hỏi không biết sự có mặt của cả hai ông bà có làm tình trạng của nàng tốt đẹp hơn tí nào không. Nhung thật tình mà nói nàng cảm thấy dễ chịu hơn, đặc biệt là với sự hiện diện của Kainene. Điều đó không có nghĩa là Kainene đã hoàn toàn tha thứ cho nàng nhưng dĩ nhiên đây là lúc bắt đầu.
Trong những tuần tiếp theo, Olanna nằm trên giường, người thân đến thăm nói ndo - tội nghiệp - lắc đầu thương hại nàng rồi thầm thì mắng mỏ bọn Muslim Hausa, cái bọn đen như dê miền Bắc, cái bọn bẩn thỉu chăn trâu với hai bàn chân nứt nẻ. Những ngày có khách đến thăm, Bóng Tối ám ảnh nàng dữ dội hơn là những ngày không ai đến thăm. Đôi khi chúng đến ba, bốn lần liên tiếp rồi bỏ nàng nín thở, mệt ngất ngư đến độ không còn khóc được, chỉ còn đủ sức mà nuốt mấy viên thuốc Odenigbo nhét vào tận miệng nàng. Có nhiều người khách đến thăm cũng kể lại tình cảnh của họ: nhà Okafors mất một người con trai, cả gia đình của anh ấy ở Zaria; con gái nhà Ibe không về từ Kaura-Namoda; nhà Onyekachi mất tám người ở Kano. Ngoài ra cũng có những câu chuyện khác, thí dụ như đám học giả người Anh ở Zaria khuyến khích chuyện thảm sát tập thể và cho sinh viên đi kêu gọi, xúi giục thanh niên. Đám đông ở mấy sân đậu xe tại Lagos đã hò hét chọc tức, “Cút, cút đi đám Igbo, cho hạ giá garri. Cút cho khuất mắt, chấm dứt mua nhà, mua cửa hàng cửa hiệu của chúng ta!”. Olanna không thích nghe những câu chuyện này, nàng cũng không thích cái cách họ lén nhìn đôi chân nàng, làm như để khám phá xem có cục bướu trên chân nàng, khiến nàng không thể đi được không.
Có những ngày khi thức dậy sau mỗi lần chợp mắt, nàng thấy đầu óc tỉnh táo, như hôm nay. Cửa phòng ngủ của nàng mở toang, nàng có thể nghe những giọng nói trầm bổng từ phòng khách. Bẵng đi một dạo, Odenigbo xin các bạn tạm ngừng họp mặt. Chàng cũng ngừng chơi quần vợt, ở nhà để có thể săn sóc Olanna, nhất là lúc nàng cần đi vệ sinh. Nàng vui khi họ lại nhóm họp. Có khi nàng theo dõi câu chuyện. Nàng biết hội phụ nữ trong trường đại học tổ chức quyên góp thức ăn giúp người tị nạn; chợ, đường sắt và mỏ thiếc bị bỏ hoang sau khi người Igbo bỏ trốn; Đại tá Ojukwu bây giờ được xem như là lãnh tụ của người Igbo; dân chúng đang xôn xao đòi được ly khai và tự trị như là một quốc gia độc lập. Quốc gia này sẽ được đặt tên theo vịnh Biafra.
Cô Adebayo đang nói sang sảng. “Tôi nghĩ là sinh viên của chúng ta không nên ồn ào nữa. Đòi hỏi David Hunt phải bị đuổi chẳng có nghĩa lý gì cả. Cho ông ta một cơ hội và hòa bình sẽ được thiết lập”..
“David Hunt cho rằng chúng ta chỉ là một lũ trẻ điên khùng”. Người nói là Okeoma. “Hắn nên về nước. Tại sao hắn đến đây để bảo chúng ta dập tắt lửa đang cháy, trong khi hắn và đám đồng lõa người Anh lại chính là người góp củi vun vào đống lửa đang cháy?”
“Họ có thể nhặt củi, nhưng chúng ta là người châm lửa”, có người nào đó giọng hơi lạ, có lẽ là Giáo sư Achara, giảng viên mới của ban Vật lý, vừa từ Ibadan về sau cuộc đảo chính thứ hai.
“Củi cháy hay không không quan trọng mà điều quan trọng là tìm một giải pháp hòa bình trước khi mọi chuyện bùng nổ”, cô Adebayo nói.
“Chúng ta tìm kiếm một nền hòa bình như thế nào? Gowon đã nói nền móng căn bản nhất của sự đoàn kết không hiện hữu, vậy thì chúng ta tìm hòa bình sao được?” Odenigbo hỏi. Olanna tưởng tượng chàng đang ngồi sát mép ghế, đẩy kính ở sống mũi lên trên lúc đang nói. “Chỉ có một câu trả lời ngắn gọn là ly khai. Nếu Gowon muốn thống nhất quốc gia, hắn đã phải tìm cách từ lâu lắm rồi. Nói để mà nói thôi chứ vụ thảm sát tập thể xảy ra đã khá lâu mà chẳng có một mống nào đứng ra khiển trách hay phê phán chuyện này. Làm như bao nhiêu dân mình chết như vậy chẳng có gì là quan trọng, chẳng đáng để quan tâm”.
“Thế anh không nghe Zik nói hôm nọ à? Người Nigeria ở miền Đông, nghiến răng, nghiến răng, và tiếp tục nghiến răng cho đến khi chính quyền liên bang xét xử các vụ thảm sát này”, Giáo sư Ezeka nói, giọng nói khản đục của ông tan nhanh.
Đầu Olanna đau nhức quá. Ánh nắng chiếu yếu ớt qua tấm rèm Ugwu đã vén lên khi hắn bưng điểm tâm vào. Nàng cần đi tiểu, gần đây nàng thường mót tiểu, nàng định hỏi bác sĩ Patel nhiều lần là có phải tại thuốc nàng uống hay không, nhưng nàng cứ quên mãi. Nàng ngó chuông trên cái tủ cạnh bàn một hồi, rồi thò tay ra sờ lên cái chỏm đen bằng nhựa, bên trên có cái nút màu đỏ ở giữa. Nó sẽ phát ra một tiếng kêu chói tai khi nàng nhấn nút. Odenigbo cứ nằng nặc đòi tự tay chạy dây điện gắn chuông. Lần đầu mỗi khi nàng nhấn chuông, lửa xẹt ra từ cái mối nối trên vách tường. Cuối cùng chàng thuê một anh thợ điện, anh này cười tủm tỉm, có vẻ thú vị khi chạy dây trở lại. Cái chuông không còn xẹt lửa nhưng nó kêu quá um sùm; cứ mỗi lần nàng cần đi tiểu và bấm nút, tiếng chuông kêu váng làm rung động cả căn nhà. Ngón tay nàng do dự trên nút chuông đỏ một hồi lâu rồi rút lại. Nàng không nhấn nút. Nàng hạ đôi chân xuống nền nhà. Âm thanh từ phòng khách bỗng trở nên im ắng, như có người nào đó vặn nhỏ cái âm thanh hỗn tạp ấy lại.
Rồi nàng nghe Okeoma nói “Aburi”. Tiếng nói nghe thật êm tai, cái tên của một tỉnh nhỏ ở Ghana, nàng tưởng tượng những ngôi nhà ngái ngủ trên những đồng cỏ có mùi thơm ngọt. Aburi thường hay được nhắc đến trong những cuộc chuyện trò hội họp của họ: Okeoma nói là Gowon đáng lẽ nên thực hiện lời hứa hắn và Ojukwu ký kết ở Aburi, hay là Giáo sư Ezeka nói rằng tuy Gowon thất hứa sau vụ Aburi nhưng không có nghĩa là hắn ta không có ý tốt với người Igbo, hay là Odenigbo tuyên bố, “Chúng ta giữ vững lập trường ở Aburi”.
“Nhưng làm thế nào Gowon lại có thể trở mặt như vậy chứ?” Giọng của Okeoma to hơn. “Hắn ta đã đồng ý theo chính sách liên bang ở Aburi, bây giờ hắn ta muốn Nigeriạ chỉ có một chính quyền, và đó lại là lý do mà hắn và đám sĩ quan của hắn giết sĩ quan người Igbo”.
Olanna đứng dậy, đặt chân này trước chân kia, rồi cứ thế mà tiếp tục. Nàng loạng choạng. Nàng thấy cứng ngắc ở mắt cá, nhưng cứ tiếp tục bước. Mặt đất dưới chân nàng dường như rung rinh và nàng có cảm giác động mạch trong chân cứ rung lên từng chặp. Nàng đi qua con búp bê Raggedy Ann của Bé By bỏ trên mặt đất rồi ngừng lại để nhìn con búp bê nhồi bông một lúc trước khi vào phòng tắm.
Lúc sau Odenigbo vào phòng, nhìn vào mắt nàng như dò hỏi bằng cách chàng vẫn thường làm, như là tìm một bằng chứng cho một cái gì đó. “Em không rung chuông đã khá lâu, nkem. Em có muốn đi tiểu không?”
“Mọi người về hết rồi à?”
“Ừ. Em có cần đi tiểu không?”
“Em đã đi rồi. Em tự bước đi”.
Odenigbo nhìn nàng chăm chăm.
“Em tự đi”, Olanna nói lần nữa. “Em đã đi được rồi”.
Nàng thấy thoáng hiện trên mặt Odenigbo một vẻ mặt nàng chưa bao giờ thấy, một cái nhìn rất quý giá có pha lẫn chút sợ hãi. Nàng ngồi dậy, và ngay lập tức chàng vươn tay ra đỡ nàng, nhưng nàng gỡ tay chàng ra rồi đi bộ vài bước về cái tủ quần áo và trở lại giường. Odenigbo ngồi và nhìn nàng.
Nàng cầm tay chàng rồi cọ má vào tay chàng, đặt bàn tay chàng lên ngực mình. “Vuốt ve em đi nào”.
“Anh sẽ nói cho Patel biết. Anh muốn ông ta đến và khám cho em”.
“Chạm vào người em!” Nàng biết chàng không muốn. Chàng chạm vào ngực nàng chỉ vì chàng làm bất cứ cái gì nàng muốn, làm bất cứ cái gì có thể giúp nàng mau khỏi bệnh. Nàng vuốt ve cổ chàng, giấu những ngón tay của mình trong mái tóc dày của chàng, và khi chàng nhẹ nhàng len lỏi vào trong người nàng, nàng nghĩ đến cái bụng bầu của Arize, chắc là nó rất dễ vỡ, da bụng của cô ấy căng cứng như thế. Nàng bắt đầu khóc.
Nkem, đừng khóc, cưng”. Odenigbo đã ngừng; chàng đang nằm cạnh nàng, vuốt nhẹ trán nàng. Lúc sau, khi chàng cho nàng uống thêm thuốc với nước, nàng ngoan ngoãn uống thuốc rồi nằm xuống chờ cảm giác yên tĩnh lạ lùng mà những viên thuốc này mang đến.

Tiếng gõ cửa nhẹ nhàng của Ugwu đánh thức nàng, hắn mở cửa và mang vào cái mâm thức ăn đặt cạnh mấy gói thuốc của nàng, chai Lucozade, và hộp đường. Nàng nhớ tuần đầu tiên khi nàng trở về, Odenigbo đã nhảy chồm lên mỗi khi nàng cựa mình. Nàng đòi uống nước, Odenigbo mở cửa phòng ngủ để vào nhà bếp và suýt nữa vấp phải Ugwu đang nằm cuộn tròn trên tấm đệm trải cạnh cửa phòng của hai người. “Bạn tốt, chú mày làm gì ở đây?”, chàng hỏi. Ugwu trả lời, “Ông không biết rõ đồ đạc trong bếp, thưa ông”.
Nàng nhắm mắt giả vờ ngủ. Hắn đứng gần nàng, nhìn nàng, nàng có thể nghe cả hơi thở của hắn.
“Chừng nào cô muốn ăn, thưa cô, thức ăn của cô đây”, hắn nói. Olanna gần như suýt bật cười; chắc là hắn luôn luôn biết nàng giả vờ. Nàng mở mắt. “Em nấu món gì?”
“Cơm jollof”. Hắn mở nắp đậy đĩa cơm. “Con dùng cà tươi trong vườn”.
“Bé By ăn chưa?”
“Ăn rồi, thưa cô. Em đang chơi ngoài sân với con của bác sĩ Okeke”.
Olanna cầm cái dĩa và giữ nó trong tay.
“Ngày mai con sẽ làm salad hoa quả, thưa cô. Cây đu đủ sau nhà đã có quả chín. Con chờ một ngày nữa rồi sẽ hái thật nhanh kẻo lũ chim ăn hết. Con sẽ trộn chung với cam và sữa”.
“Tốt”.
Ugwu vẫn còn đứng đó, nàng biết hắn sẽ không đi cho đến khi nàng bắt đầu ăn. Nàng nâng cái dĩa lên môi, chầm chậm, nhắm mắt lúc nhai. Ugwu nấu món nào cũng ngon, nàng biết thế nhưng ngoài đống thuốc có mùi vị như phấn bảng, nàng chẳng thể ăn uống món gì được lâu. Cuối cùng, nàng uống nước và nhờ Ugwu dọn mâm đi.
Bên cạnh giường của nàng, Odenigbo đã đặt một tờ giấy khổ dài với hàng chữ CHÚNG TÔI, NHÂN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC, ĐÒI HỎI ĐƯỢC LY KHAI NHƯ LÀ MỘT BIỆN PHÁP GIỮ AN TOÀN được đánh máy ở hàng đầu và một nhóm chữ ký khác nhau ở phía dưới.
“Anh chờ em khỏe lại để ký tên trước khi anh nộp cho Quốc hội ở Enugu”, chàng nói trước đó ít lâu.
Sau khi Ugwu rời phòng, nàng cầm cái bút lên ký tên vào lá thư rồi đọc lại xem có vấp phải lỗi nào không. Không có lỗi nào cả. Nhưng Odenigbo không cần phải nộp lá thư bởi vì sự ly khai lãnh thổ được thông báo ngay tối hôm ấy. Chàng ngồi trên giường với cái radio đặt trên đầu tủ cạnh giường. Chương trình phát thanh ít bị rè tiếng, dường như cái radio cũng hiểu được tầm quan trọng của bài phát ngôn. “Giọng của Ojukwu không thể nào nhầm lẫn được, nó sống động, mạnh mẽ, thu hút và trơn tru:

Các nam nữ công dân thân mến, các bạn người miền Đông của Nigeria: nhận thức được sự tối cao tối thượng của Tạo Hóa trên toàn nhân loại; bổn phận của các bạn đối với thế hệ sau; nhận thức là các bạn sẽ không được bất cứ chính quyền nào, bên ngoài miền Đông của xứ Nigeria, bảo vệ tính mạng cũng như tài sản của các bạn; quyết định giải tán thể chế chính trị và tất cả mọi liên hệ của các bạn với chế độ cũ của nước Cộng hòa Nigeria; tôi tuyên bố, vì quyền lợi của các bạn và nhân danh các bạn, miền Đông của Nigeria từ đây là một quốc gia Cộng Hòa Độc Lập, vì thế tôi xin long trọng tuyên bố rằng lãnh thổ và các vùng phụ cận được gọi là Miền Đông của Nigeria, cùng với lãnh địa và lãnh hải của lãnh thổ này từ nay sẽ được mệnh danh là một quốc gia độc lập có danh hiệu là nước Cộng Hòa Biafra.

“Đây là lúc chúng ta bắt đầu”, Odenigbo nói. Giọng nói của chàng đã mất hẳn sự dịu dàng giả tạo để trở lại bình thường, vững chắc và vang dội. Chàng gỡ mắt kính, chụp lấy bàn tay bé bỏng của Bé By và bắt đầu dẫn con bé múa theo vòng tròn. Olanna cười ngất rồi có cảm giác như đang làm theo một kịch bản viết sẵn cho mình, sự phấn khởi của Odenigbo không tuân theo cái gì cả mà chỉ làm tăng thêm phấn khởi. Nàng ngồi dậy run rẩy. Nàng cũng muốn sự ly khai lãnh thổ xảy ra, nhưng bây giờ nó bỗng trở nên quá to lớn để có thể lĩnh hội được. Odenigbo và Bé By đang múa vòng tròn, Odenigbo hát lạc giọng, một bài hát chàng tự sáng tác - “Đây là lúc chúng ta bắt đầu, vâng, sự bắt đầu của chúng ta, à há, vâng...” - trong khi Bé By cười rất khoái chí cho dù không hiểu gì. Olanna nhìn họ, đầu óc nàng tê liệt khi thấy vết nước hạt điều vấy vào áo của Bé By.

Cuộc biểu tình diễn ra ở Quảng trường Tự Do, giữa trung tâm khuôn viên đại học. Giảng viên, sinh viên cùng hô vang và ca hát, cả một biển người với những biểu ngữ khẩu hiệu giương cao.

Chúng ta sẽ không, chúng ta sẽ không bao giờ ra đi
Như cây kia sống nhờ nước
Chúng ta sẽ không lay chuyển
Ojukiwa hỗ trợ chúng ta, chúng ta sẽ không bao giờ ra đi
Chúa hỗ trợ chúng ta, chúng ta sẽ không bao giờ ra đi.


Khi hát, họ lắc lư thân người. Olanna tưởng tượng rằng cây xoài và cây gmelina cũng uốn lượn theo, như đồng tình theo một đường vòng cung. Nắng như đổ lửa, tuy thế trời đang mưa lắc rắc.
Những giọt mưa ấm hòa vào mồ hôi của nàng. Cánh tay nàng cọ vào cánh tay của Odenigbo lúc nàng giơ cao tấm biểu ngữ có câu: CHÚNG TA KHÔNG THỂ CHẾT NHƯ CHÓ. Bé By đang ngồi trên vai của Odenigbo, cầm con búp bê của mình quơ vẫy trong không khí, mặt trời rực rỡ xuyên qua màn mưa mỏng, Olanna hân hoan. Ugwu đang ở bên cạnh nàng. Biểu ngữ của hắn có chữ CHÚA PHÙ HỘ BIAFRA. Bây giờ họ là người Biafra. Nàng là người Biafra. Đằng sau nàng có một người đàn ông đang nói về thị trường, những người buôn bán đang nhảy múa theo điệu nhạc Congo và đem cho mấy quả xoài, đậu phộng ngon nhất của họ. Một người đàn bà nói là sau cuộc biểu tình bà ta sẽ đi đến chỗ ấy ngay lập tức để xem mình có thể lấy được những gì mà không phải mất tiền. Olanna quay lại nhìn họ cười to.
Một thủ lĩnh sinh viên đến nói trước micro, giọng hát ngưng bặt. Một vài thanh niên trẻ tuổi khiêng ra một quan tài với chữ Nigeria được viết lên trên ấy bằng phấn trắng; họ nâng quan tài lên, mặt họ đầy vẻ nghiêm trang rất kịch. Họ đặt quan tài xuống và kéo áo ra khỏi đầu, bắt đầu đào một cái hố vuông. Khi họ thả quan tài xuống hố, tiếng reo hò vang dậy từ đám đông rồi lan rộng ra như làn sóng, cho đến khi tiếng reo hò trở nên đồng nhất. Olanna cảm thấy tất cả mọi người trở thành một khối thống nhất. Có người gọi to, “Odenigbo!”. Tiếng hét lan rộng giữa đám sinh viên. “Odenigbo! Phát biểu ý kiến với chúng tôi!”
Odenigbo leo lên khán đài phất cờ Biafra, những mảng kết hợp của màu đỏ, đen, xanh lá cây. Ở chính giữa, một nửa mặt trời màu vàng đang tỏa sáng.
“Biafra ra đời! Chúng ta sẽ lãnh đạo Phi châu Đen! Chúng ta sẽ được sống an toàn! Sẽ không bao giờ có người nào tấn công chúng ta nữa! Sẽ không bao giờ như thế nữa!”
Odenigbo giơ tay khi chàng phát biểu ý kiến, Olanna nghĩ đến cái cách mà cánh tay của mợ Ifeka bị vặn tréo thật kỳ cục, lúc mợ nằm trên mặt đất, máu của mợ chảy thành vũng đặc như nhựa keo, không đỏ mà ngả thành màu đen. Có lẽ mợ Ifeka sẽ nhìn thấy cuộc biểu tình này và tất cả mọi người ở đây, hoặc có thể là không, nếu cái chết là một sự bí ẩn câm lặng. Olanna lắc đầu để xua đuổi ý nghĩ của mình. Nàng nhấc Bé By từ cổ của Ugwu xuống rồi ôm chặt con bé vào lòng.
Sau cuộc biểu tình, nàng cùng Odenigbo lái xe về câu lạc bộ giáo viên. Sinh viên đã nhóm họp ở sân hockey gần đấy, đốt cháy những hình nộm của Gowon bện bằng giấy xung quanh một đám lửa trại rất to; khói cuộn vào không khí buổi tối trộn lẫn với giọng cười và tiếng chuyện vãn của mọi người. Olanna nhìn họ và nhận ra trong lòng tất cả mọi người cũng đang dâng trào cái cảm giác rất ngọt ngào như nàng, cái mà Odenigbo đang cảm nhận, trong huyết quản của họ, chất thép lỏng thay cho máu đang cuồn cuộn chảy, như là họ có thể đứng chân không trên than hồng.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương mười bốn

Richard tưởng rằng tìm gia đình của Nnaemeka chắc sẽ khó lắm. Nhưng khi chàng đến Obosi và dừng lại trước một nhà thờ công giáo của Anh, một giáo chức trong nhà thờ chỉ cho chàng biết gia đình ấy cư ngụ ở cuối đường, trong một căn nhà đã trôi mất hết nước sơn và xung quanh có trồng mấy cây dừa. Bố của Nnaemeka nhỏ thó, bị bệnh lang ben, da màu đồng loang lổ trắng, đôi mắt xám có pha màu nâu hạt dẻ bừng sáng lên ngay lập tức khi Richard bắt đầu nói tiếng Igbo. Trông ông vô cùng khác biệt với anh chàng nhân viên hải quan to lớn và đen nhẫy ở sân bay. Trong một khoảnh khắc, Richard phân vân không biết mình có vào lầm nhà và người này không biết có phải là bố của Nnaemeka. Nhưng lúc đem hạt kola ra mời khách, ông già cầu nguyện bằng mọt giọng giống với giọng nói của Nnaemeka vô cùng. Chính cái giọng nói này đã đưa Richard trở lại phòng chờ ở sân bay trong cái buổi chiều oi ả ấy, cùng với những lời chuyện vãn khá bực bội của Nnaemeka trước khi cánh cửa phòng đợi bật tung và toán lính ập vào.
“Người mang hạt kola là người mang sự sống. Anh và người thân của anh sẽ sống cũng như tôi sống cùng với gia đình của tôi. Hãy để cho chim ó đậu và chim bồ câu cũng đậu và, nếu một trong hai loài ra lệnh loài chim kia không được phép đậu, bình an sẽ không đến với kẻ ra lệnh. Xin Chúa ban phép lành cho hạt kola này, nhân danh Chúa Jesus”.
“Amen”, Richard nói. Bây giờ, chàng có thể nhìn thấy nét giống nhau của hai cha con. Cách ông ta tách hạt kola thành năm múi giống cách của Nnaemeka dễ sợ, cũng như cái môi dưới trề ra. Richard chờ cho đến khi mọi người đã nhai hạt kola và mẹ của Nnaemeka xuất hiện, mặc đồ tang màu đen, chàng mới nói, “Tôi gặp con của ông bà ở sân bay Kano vào ngày chuyện ấy xảy ra. Chúng tôi có nói chuyện một lúc. Anh ấy nhắc đến ông bà và cả gia đình”. Richard ngừng một lát rồi tự hỏi không biết họ muốn nghe con của họ giữ được vẻ bình tĩnh trước cái chết hay họ muốn nghe con họ chống chọi với cái chết bằng cách lao vào giành khẩu súng. “Anh ấy kể cho tôi biết bà của anh ấy ở Umunnachi là một thầy thuốc trị bệnh bằng thảo dược rất được kính trọng và nhiều người biết đến bà vì bà nổi tiếng chữa bệnh sốt rét. Nhờ bà mà anh ấy muốn học ngành y”.
“Vâng, đúng vậy”, mẹ của Nnaemeka nói.
“Anh ấy kể toàn những điều tốt đẹp về gia đình”, Richard nói. Chàng thận trọng chọn từng chữ Igbo.
“Dĩ nhiên, em nó sẽ nói tốt về gia đình”. Bố của Nnaemeka nhìn Richard một lúc rất lâu giống như ông không hiểu tại sao Richard phải nói những chuyện mà họ đã biết.
Richard đổi tư thế ngồi. “Ông bà có tổ chức đám tang không?” Chàng hỏi, sau đó thầm nhủ ước gì mình đã không hỏi như thế.
“Có”, bố của Nnaemeka nói. Ông nhìn chăm chăm vào cái bát tráng men chứa múi kola cuối cùng. “Chúng tôi chờ cháu về từ miền Bắc. Khi cháu không về, chúng tôi làm ma cho cháu. Chúng tôi chôn một cái quan tài rỗng”.
“Nó không rỗng”, mẹ của Nnaemeka nói. “Mình đã chẳng chôn mấy quyển sách cũ con hay đọc để chuẩn bị cho kỳ thi công chức vào trong quan tài sao?”
Họ ngồi im lặng. Những hạt bụi li ti lơ lửng trong ánh nắng mỏng manh soi xuyên qua cửa sổ.
“Anh phải đem múi kola cuối cùng theo”, bố của Nnaemeka nói.
“Cảm ơn ông”. Richard nhét múi kola còn lại vào trong túi áo.
“Tôi có nên cho bọn trẻ đi theo ông ra xe?” Mẹ của Nnaemeka hỏi. Khó mà biết vóc dáng của bà ra sao với cái khăn choàng đen che hết mái tóc và một phần lớn cái trán của bà.
“Xe?” Richard hỏi.
“Vâng. Ông có mang gì cho chúng tôi không?”
Richard lắc đầu. Đáng lẽ chàng nên mang khoai lang và thức uống. Chỉ sau khi đến chia buồn chàng mới biết phải làm những gì. Chàng cứ tưởng rằng đến thăm là đủ rồi, tưởng mình sẽ như một thiên thần vĩ đại mang đến cho gia đình những giây phút cuối cùng trong cuộc đời của con trai họ và nhờ vậy, chàng có thể phần nào xoa dịu nỗi đau đớn về cái chết của con họ, đồng thời tự giúp chính mình. Nhưng đối với họ, chàng cũng chẳng khác gì những người đã từng đến chia buồn khác. Cuộc viếng thăm của chàng không làm thay đổi được sự thật là con của họ đã thành người thiên cổ.
Chàng đứng dậy ra về, biết rằng cũng chẳng có gì thay đổi trong lòng mình; chàng vẫn mang theo cái cảm giác đeo đẳng chàng suốt từ Kano. Rất thường xuyên, chàng ao ước mình có thể trở nên điên rồ hay trí nhớ của mình có thể tự quên đi mọi việc. Nhung thay vì thế trí não chàng trở nên thật rành mạch, sáng suốt đến độ chàng chỉ cần khẽ nhắm mắt là có thể thấy mới nguyên những xác chết ở sân bay và có thể hồi tưởng cả cường độ âm thanh của tiếng la hét. Trí óc chàng trở nên thật trầm lặng. Đủ trầm lặng để chàng có thể viết những câu rất bình tĩnh trả lời những lá thư đầy hoảng hốt của bác Elizabeth; để báo cho bác biết là chàng rất an toàn và không có ý định trở về Anh. Chàng cũng xin bác đừng có gửi bằng đường hàng không mấy tờ báo có bài viết được bác dùng bút chì khoanh tròn, đánh dấu về cuộc thảm sát tập thể những người Nigeria yếu đuối vô tội. Mấy bài viết này làm chàng bực mình. “Những mối thù thời cổ xưa giữa các bộ lạc với nhau”, tờ Herald viết, là lý do của cuộc thảm sát; tờ tạp chí Time đặt cho bài báo cái tựa đề NGƯỜI PHẢI XUỐNG TAY, một khẩu hiệu được in trên mấy chiếc xe tải chở hàng của người Nigeria nhưng tác giả bài báo đã dùng chữ xuống tay theo nghĩa đen của nó và giải thích là người Nigeria bản chất rất bạo động; họ còn viết về sự cần thiết của những nhát “chém” đối với hành khách của mấy cái xe tải này. Richard gửi một lá thư nghiêm khắc đến tờ tạp chí Time.
Theo tiếng Anh Pidgin [1], chàng giải thích, xuống tay ở đây có nghĩa là ăn. Ít ra tờ Observer có vẻ khéo léo hơn khi họ viết là nếu Nigeria tồn tại sau cuộc tàn sát người Igbo, quốc gia này có thể tồn tại ở bất cứ tình trạng nào. Nhưng có một vẻ gì đó rất trống rỗng trong tất cả các lời tường thuật, một tiếng vang của một thực tế không có thật. Vì thế Richard bắt đầu viết một bài rất dài về cuộc thảm sát. Chàng ngồi ở bàn ăn nhà Kainene và viết lên những tờ giấy dài không kẻ hàng. Chàng cũng mang Harrison đến Port Harcourt, khi làm việc chàng có thể nghe Harrison nói chuyện với Ikejidi và Sebastian. “Anh không biết làm bánh sôcôla kiểu Đức à?”, cười mỉa mai một cái. “Anh không biết mảnh vụn bánh mì rhubarb hả?” Thêm, một cái cười móc họng chê bai.
Richard bắt đầu viết về những khó khăn của người tị nạn, hậu quả của cuộc thảm sát, về những người kinh doanh đã chạy loạn bỏ lại sau lưng thị trường miền Bắc, những giảng viên bỏ trường đại học và những người giúp việc dân sự bỏ việc làm ở trong các cơ quan của các Bộ. Chàng cố gắng viết đoạn kết luận.

Chúng ta cần phải nhớ rằng lần đầu tiên người Igbo bị thảm sát, cuộc tàn sát có mức độ nhỏ hơn nhiều so với cuộc tàn sát mới vừa xảy ra, là mãi từ năm 1945. Cuộc thảm sát đẫm máu này được chính quyền thực dân Anh khởi đầu khi họ đổ thừa người Igbo đã tổ chức đình công toàn quốc, cấm người Igbo xuất bản báo, và nói chung là khơi dậy sự kỳ thị chống đối người Igbo. Quan niệm rằng chuyện tàn sát mới đây là hậu quả của “những mối thù xưa cũ” là một quan niệm sai lầm. Các bộ lạc của hai miền Bắc - Nam từ lâu đã liên hệ với nhau, ít nhất kể từ thế kỷ IX mà một số chuỗi hạt rất quý giá được khám phá ở những khu di tích lịch sử Igbo-Ukwu đã chứng minh cho điều này. Không thể nào chối cãi là những bộ lạc này đã từng có chiến tranh với nhau và bắt nhau làm nô lệ nhưng họ không giết lẫn nhau trong cung cách thảm sát tập thể như thế này. Nếu đây là thù hận thì lòng thù hận này còn rất mới. Sự thù hận này được gây ra, nói một cách đơn giản, bởi chính sách chia để trị ngấm ngầm do thực dân Anh áp dụng. Những chính sách này lợi dụng sự khác biệt về văn hóa phong tục của các bộ lạc và làm đủ mọi cách để phá hoại sự đoàn kết, do đó sẽ giúp cho sự cai trị một quốc gia rộng lớn như thế này trở nên dễ dàng.

Khi chàng đưa cho Kainene bài bảo, nàng đọc cẩn thận, cặp mắt nheo nheo, sau đó nàng bảo chàng, “Rất dữ dội”.
Chàng không biết chắc cái câu rất dữ dội có nghĩa là nàng thích hay không thích. Chàng mong được sự tán thành của nàng đến gần như tuyệt vọng. Sau khi nàng đi thăm Olanna ở Nsukka, vẻ lãnh đạm xa cách của nàng trở lại. Nàng bắt đầu trưng bày ảnh của những người thân đã bị giết - Arize cười trong bộ áo cưới, cậu Mbaezi hớn hở trong bộ âu phục rất chật bên cạnh mợ Ifeka có vẻ rất nghiêm trang trong tấm áo choàng có in hình - nhưng nàng nói về họ rất ít và không nói lời nào về Olanna. Rất thường xuyên, nàng rút vào trong im lặng khi đang giữa cuộc mạn đàm, và khi nàng làm thế, chàng để nàng được yên; đôi khi chàng cảm thấy đố kỵ với nàng vì nàng có khả năng tự thay đổi sau khi mọi việc xảy ra.
“Em nghĩ nó thế nào?”, chàng hỏi. Trước khi nàng có thể trả lời, chàng hỏi điều mà chàng đã muốn hỏi từ lâu. “Em có thích nó không? Em cảm thấy nó thế nào?”
“Em nghĩ nó có vẻ trang trọng quá, đến ngột ngạt”, nàng nói. “Nhưng em thây tự hào. Em thấy vinh hạnh”.
Chàng gửi bài báo cho tờ Herald. Chàng nhận được thư trả lời của họ hai tuần sau đó và chàng xé vụn lá thư sau khi đọc xong. Mục báo chí quốc tế tràn ngập những câu chuyện đầy bạo động từ Phi châu, lá thư này đặc biệt nhàm chán và dạy đời, người Phó ban Biên tập viết, có lẽ Richard có thể viết một bài theo khía cạnh con người? Họ có nói lời nào về những lời tuyên ngôn của bộ lạc khi họ thực hiện cuộc thảm sát, thí dụ thế? Họ có ăn thịt người như ở Congo? Có cách nào để ta có thể hoàn toàn hiểu đầu óc tư tưởng của dân tộc này?
Richard đặt bài báo sang một bên. Chàng thấy sợ khi ban đêm chàng ngủ ngon, khi mùi hương của lá cam và màu biển xanh vẫn làm cho lòng chàng bình yên, khi chàng vẫn tràn đầy cảm giác.
“Anh sẽ tiếp tục. Cuộc sống là thế”, chàng bảo với Kainene. “Anh cần có phản ứng, mọi chuyện phải thay đổi khác đi”.
“Anh không thể viết một bài trong đầu rồi bắt buộc mình phải vâng theo nó. Cứ phớt Ăng-lê đi, Richard”, nàng nói rất nhẹ nhàng.
Nhưng chàng không thể phớt lờ đi được. Chàng không thể nào tin được tất cả mọi người có thể trở lại cuộc sống bình thường sau khi họ chứng kiến cuộc thảm sát. Rồi chàng cảm thấy sợ hãi hơn với cái ý tưởng mình chẳng khác gì một người chuyên rình mò những chuyện thị phi. Chàng đã chẳng phải lo sợ cho mạng sống của mình, vì thế cuộc thảm sát có vẻ như chẳng dính dáng đến chàng. Chàng đã quan sát nó bằng con mắt dửng dưng bởi biết mình được an toàn. Nhưng chàng không thể dửng dưng quan sát được, Kainene sẽ không được bình an nếu nàng có mặt ở đó.
Chàng bắt đầu viết về Nnaemeka và mùi hăng của rượu hòa với máu tươi trong phòng chờ ở sân bay, nơi người pha rượu nằm với cái mặt bị bắn vỡ toang, nhưng chàng ngừng lại vì những câu viết có vẻ như khôi hài. Nó đầy tính bi kịch. Nghe như những bài báo ngoại quốc. Nghe như những chuyện giết chóc này chưa hề xảy ra và nếu như nó có xảy ra, nó không đến nỗi như thế. Âm vang của điều không có thật, không hiện thực ghìm chặt từng chữ xuống; chàng nhớ rất rõ những chuyện xảy ra ở sân bay nhưng nếu muốn viết về nó chàng lại phải tưởng tượng và chàng không chắc là mình có thể làm chuyện ấy.
Ngày cuộc ly khai lãnh thổ được tuyên bố, chàng đứng với Kainene ở hàng hiên, lắng nghe giọng của Ojukwu trên radio, sau đó kéo nàng vào lòng. Ban đầu chàng tưởng cả hai đang run rẩy, cho đến khi chàng hơi lùi về phía sau một chút, ngắm gương mặt nàng rồi chợt nhận ra nàng hoàn toàn yên lặng, bất động. Chỉ có mình chàng run rẩy thôi.
“Chúc mừng nền độc lập”, chàng nói với nàng.
“Độc lập”, nàng nói, trước khi thêm, “Chúc mừng nền độc lập”.
Chàng muốn cầu hôn nàng. Đây là một sự khởi đầu mới, một quốc gia mới, một xứ sở mới của hai người. Không chỉ do cuộc ly khai là điều hiển nhiên, nếu xét lại những điều mà Igbo đã phải trải qua, mà còn bởi vì những cơ hội Biafra mở ra cho chàng. Chàng sẽ là người của Biafra theo cách mà chàng không bao giờ có thể như thế nếu chàng là người Nigeria - chàng có mặt ở đây ngay từ lúc bắt đầu, góp phần vào công cuộc khai sinh nó. Chàng cảm thấy mình cũng thuộc về quốc gia này. Chàng thầm nói bao nhiêu lần, Làm vợ anh nhé, Kainene, nhưng chàng không thể thốt ra lời. Ngày hôm sau chàng trở về Nsukka với Harrison.

Richard thích Phyllis Okafor. Chàng thích mái tóc xù bồng bềnh của cô, cái giọng nói của dân miền Mississippi, cũng như cái gọng kính đầy vẻ nghiêm trang che đi cặp mắt hết sức thân thiện của cô. Kể từ khi không đến nhà Odenigbo nữa, tối tối chàng thường đến chơi, nói chuyện với vợ chồng cô, Nnanyelugo. Dường như cô ấy đoán biết rằng chàng vừa đánh mất một nhóm bạn bè giao thiệp trong xã hội, vì thế cô cứ nằng nặc mời chàng đi xem kịch nghệ, đi nghe diễn thuyết công cộng và chơi squash, một môn quần vợt chơi trong nhà. Cũng vì thế nên khi cô mời chàng đến dự một buổi học có nhan đề “Trong Trường Hợp Chiến Tranh” do hội phụ nữ trường đại học tổ chức, chàng nhận lời ngay. Chuẩn bị khi chiến tranh là một ý kiến hay, cho dù chiến tranh sẽ không xảy ra. Người Nigeria sẽ để cho người Biafra yên; họ không bao giờ đi đánh những người đã bị giày xéo vì cuộc thảm sát vừa qua. Họ sẽ vui mừng gạt bỏ người Igbo qua một bên. Richard biết chắc như thế. Chàng chỉ không chắc mình sẽ phản ứng thế nào nếu gặp lại Olanna ở buổi học. Trốn lánh là việc khá dễ dàng với chàng từ trước đến nay; trong bốn năm chàng chỉ lái xe ngang qua nàng chừng một vài lần, chàng không bao giờ ra sân quần vợt hay câu lạc bộ giáo viên và chàng không còn mua sắm ở tiệm Đông Phương.
Chàng đứng gần Phyllis ở cửa vào giảng đường và đảo mắt nhìn một vòng. Olanna đang ngồi trên hàng đầu với Bé By trong lòng. Gương mặt quyến rũ của nàng dường như rất quen thuộc, cả cái áo màu xanh với những tua dợn sóng ở cổ nàng cũng thế, dường như chàng đã nhìn thấy cả hai mới gần đây. Chàng nhìn lảng sang chỗ khác và thở phào vì Odenigbo đã không đến dự. Giảng đường đông nghẹt người. Người đàn bà trên khán đài lặp đi lặp lại điều bà ta đang nói. “Gói giấy tờ của quý vị trong túi không thấm nước và đó là cái mà quý vị phải mang theo trước nhất. Gói giấy tờ của quý vị ở trong túi không thấm nước...”
Nhiều người lên nói. Rồi buổi học kết thúc. Mọi người nấn ná lại thêm một chút để trò chuyện với nhau, cười nói và trao đổi những mẹo nhỏ “trong trường hợp chiến tranh”. Richard biết là Olanna đang đứng gần, nói chuyện với một người đàn ông có bộ râu rậm dạy nhạc. Chàng quay người, một cách ngẫu nhiên, để lặng lẽ trốn đi. Chàng gần ra đến cửa thì nàng xuất hiện bên cạnh.
“Chào anh, Richard. Kedu?
“Tôi khỏe”, chàng trả lời. Da mặt chàng như căng ra. “Còn cô?”
“Chúng tôi đều khỏe cả”, Olanna nói. Môi nàng sáng một lớp son bóng màu hồng nhạt. Richard để ý đến cách nàng dùng số nhiều trong câu nói. Chàng không biết chắc là nàng ám chỉ nàng và đứa bé, hay nàng và Odenigbo, hay có thể chữ chúng tôi có nghĩa nàng đề nghị quên đi chuyện cũ, quên đi những gì đã xảy ra giữa họ và những sứt mẻ trong quan hệ của nàng với Kainene.
“Bé By, con đã chào bác chưa?” Olanna hỏi, nhìn xuống đứa bé đang nắm tay nàng.
“Cháu chào bác”, Bé By nói với một giọng trong trẻo.
Richard cúi xuống và vuốt má con bé. Có vẻ gì thật trầm tĩnh trong thái độ của con bé bốn tuổi làm nó trông già dặn và khôn ngoan hơn tuổi thực. “Chào Bé By”.
“Chị Kainene thế nào?” Olanna hỏi.
Richard lẩn tránh ánh mắt nàng, không biết chắc là mình nên tỏ thái độ như thế nào. “Cô ấy khỏe”.
“Quyển sách của anh có xúc tiến trôi chảy không?”
“Có. Cảm ơn cô”.
“Nó vẫn còn được đặt tên là Giỏ Chứa Bàn Tay?”
Chàng thấy thú vị vì Olanna vẫn nhớ. “Không”. Chàng ngưng và cố gắng để không nhớ mình đã làm gì với cái bản thảo ấy, về ngọn lửa đã đốt cháy nó thành than nhanh chóng. “Nó được đặt tên là Thời Đại Bình Đồng”.
“Cái tựa đề khá thú vị”, Olanna thì thầm. “Tôi hy vọng chiến tranh sẽ không xảy ra nhưng buổi học này khá hữu ích phải không?”
“Vâng”.
Phyllis đến gần, chào Olanna, và rồi kéo cánh tay Richard. “Người ta nói Ojukwu đang đến! Ojukwu đang đến!” Có người lên giọng nói to ở bên ngoài.
“Ojukwu?” Richard hỏi.
“Vâng, vâng!” Phyllis bước về hướng cửa. “Anh có biết là ông ấy bất ngờ ghé thăm ký túc xá của Đại học Enugu cách đây vài ngày không? Có vẻ như là đến lượt trường của chúng ta!”
Richard đi theo cô ra ngoài. Họ nhập vào một nhóm giảng viên đứng xung quanh tượng con sư tử; Olanna đã biến mất.
“Ông ấy đang ở thư viện”. Có người nói.
“Không, ông ta đang ở trong ngôi nhà của Ban chấp hành sinh viên”.
“Không, ông ấy muốn diễn thuyết với sinh viên. Ông ấy đang ở khúc đường của ban Quản lý”.
Vài người đã rảo bước hướng về khu nhà của ban Quản lý, Phyllis và Richard cũng đi theo. Họ vừa đến gần mấy cây tán dù trồng xếp hàng dọc theo đường xe chạy, Richard nhìn thấy một người đàn ông có râu, diện mạo rất sáng sủa và trang trọng, mặc quân phục có thắt lưng, đang sải bước dọc theo hành lang. Một vài phóng viên đang xô lấn nhau chạy theo ông ta, tay giơ cao máy ghi âm như là tặng phẩm dành cho ông. Sinh viên tụ tập rất đông khiến Richard phải tự hỏi bằng cách nào mà họ có thể nhóm họp nhanh như vậy. Họ đã bắt đầu lên tiếng reo hò nhịp nhàng. “Quyền lực! Quyền lực!” Ojukwu đi xuống cầu thang và đứng trên một vài khối xi măng chỗ thảm cỏ xanh mướt. Ông giơ tay lên. Mọi thứ trên con người ông đều bừng sáng, từ chiếc đồng hồ sáng choang, bộ râu cắt tỉa cẩn thận, bờ vai rộng.
“Tôi đến để hỏi các bạn một câu”, ông nói. Giọng nói mang âm hưởng Đại học Oxford của ông dịu dàng đến ngạc nhiên, nó không có âm vang sang sảng như giọng nói trên radio mà có chút gì hơi kịch, hơi nặng về trình bày, và hơi cân nhắc quá độ. “Chúng ta phải làm gì? Chúng ta có nên giữ thái độ im lặng để họ bắt buộc chúng ta phải quay trở lại Nigeria? Chúng ta có nên làm ngơ trước hàng ngàn cái chết của anh chị em chúng ta ở miền Bắc không?”
“Không! Không!” Sinh viên đang tràn vào sân rộng và đường lái xe. Nhiều giảng viên đã đậu xe của họ dọc đường để gia nhập đám đông. “Quyền lực! Quyền lực!”
Ojukwu giơ cao bàn tay và đám đông ngừng. “Nếu họ tuyên bố chiến tranh”, ông ta nói, “Tôi muốn nói cho các bạn biết cuộc chiến tranh này sẽ kéo dài và rất gian khổ. Các bạn có sẵn sàng không? Các bạn có sẵn sàng không?”.
“Có! Có! Ojukwu, nye anyi egbe! Cho chúng tôi súng! Iwe di anyi n’obi! Lòng chúng tôi đầy phẫn nộ!”
Lúc này những tiếng reo hò nhất loạt vang lên - cho chúng tôi súng, lòng chúng tôi đầy phẫn nộ, cho chúng tôi súng. Những âm thanh nhịp nhàng đến độ ngây ngất. Richard liếc nhìn Phyllis đang huơ huơ nắm đấm lúc cô ta hò hét. Chàng đảo mắt nhìn tất cả mọi người xung quanh lúc ấy đầy vẻ căng thằng và quyết tâm, trước khi chàng cũng bắt đầu khoa tay và hô to. “Ojukwu, cho chúng tôi súng! Ojukwu, nye anyi egbe!
Ojukwu mồi một điếu thuốc và ném que diêm ra sân. Ngọn lửa lóe lên một lúc, trước khi ông thò mũi giày ống sáng loáng của ông ra mà dập tắt. “Ngay cả ngọn cỏ cũng chiến đấu cho Biafra”, ông nói.

Richard kể cho Kainene nghe chàng đã bị Ojukwu thu hút đến thế nào ngay cả khi ông ta đã có dấu hiệu bị hói đầu quá sớm, hơi có vẻ màu mè khoa trương và đeo một chiếc nhẫn có vẻ xa hoa không đúng chỗ. Chàng kể Kainene nghe về buổi học. Chàng tự hỏi không biết có nên nói cho nàng biết là mình tình cờ gặp Olanna. Hai người đang ngồi ở hàng hiên. Kainene đang gọt cam bằng dao, vỏ cam được bỏ vào cái đĩa dưới đất.
“Anh gặp Olanna”, chàng nói.
“Thế à?”
“Ở trong buổi học. Bọn anh chào nhau và cô ấy hỏi thăm em”.
“Thế à?” Quả cam trượt khỏi tay nàng, hay có lẽ nàng đánh rơi nó, bởi vì nàng để nó nằm yên trên nền nhà có đá cẩm thạch ở hàng hiên.
“Anh xin lỗi”, Richard nói. “Anh nghĩ là anh nên nói cho em biết việc anh gặp cô ấy”.
Chàng nhặt quả cam đưa cho nàng nhưng nàng không chịu cầm. Nàng đứng lên, đi đến hàng rào.
“Chiến tranh sắp xảy ra”, nàng nói. “Port Harcourt sắp lên cơn điên”.
Nàng nhìn xa xăm, dường như nàng thật sự thấy thành phố trong cơn thác loạn của những bữa tiệc quá trớn, những cuộc tình thác loạn, những chiếc xe phóng với tốc độ khủng khiếp. Chiều hôm ấy trước đó không lâu, một thiếu nữ ăn mặc sang trọng đến gần Richard ở trạm xe lửa. “Về nhà tôi, từ trước đến nay tôi chưa từng làm tình với một người đàn ông oyinbo, nhưng bây giờ tôi muốn thử cho biết tất cả mọi thứ!”, cô ta vừa nói vừa cười ha hả, mặc dầu cơn thèm muốn điên cuồng trong mắt cô ả có vẻ nghiêm trọng. Chàng vuột thoát tay rồi bỏ đi và ngạc nhiên thấy mình buồn rũ rượi với cái ý nghĩ là cô ta rồi cũng sẽ lên giường với một người lạ mặt. Dường như dân cư trong thành phố này với những hàng phi lao ngóng gió sẵn sàng chộp lấy bất cứ cái gì họ có thể chộp, trước khi chiến tranh tước đoạt hết những chọn lựa của họ.
Richard đứng dậy, đến bên Kainene.
“Sẽ không có chiến tranh đâu”, chàng nói.
“Cô ấy hỏi về em như thế nào?”
“Cô ấy nói, Kainene có khỏe không”.
“Và anh nói là em rất khỏe?”
“Ừ”.
Nàng không nói gì thêm về chuyện ấy; chàng cũng mong như vậy.
-------------------------
[1] Lối viết tiếng Anh của người Nigeria.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương mười lăm

Ugwu bước ra khỏi xe, đi vòng ra phía sau, mở cốp. Hắn để bao cá khô lên trên một cái bao khác to hơn đựng garri, đội cả hai bao lên đầu rồi theo Ông Chủ leo lên cái cầu thang cũ kỹ ọp ẹp vào trong một ngôi nhà sáng lờ mờ được dùng làm trụ sở của công đoàn. Ông Ovoko cũng lên gặp họ. “Mang mấy cái bao này vào trong kho”, ông ta chỉ ngón tay vào trong kho bảo Ugwu làm như hắn không biết gì hết sau bao nhiêu lần đã mang thức ăn đến cho người tị nạn. Trong kho trống rỗng ngoại trừ một bao gạo nhỏ trong góc, đám mọt gạo bò lúc nhúc.
“Tình hình như thế nào? A na-emekwa?” Ông Chủ hỏi.
Ông Ovoko xoa tay. Ông ấy có bộ mặt buồn thảm của một người nói đơn giản là từ chối được an ủi. “Bây giờ không ai còn muốn cho từ thiện nữa. Mấy người này cứ đến xin thực phẩm rồi hỏi xin việc làm. Ông biết đấy, họ về từ miền Bắc và không mang theo được gì cả. Sạch bách”.
“Tôi biết họ về đây không có tài sản, ông bạn! Đừng có diễn thuyết với tôi!” Ông Chủ ngắt lời.
Ông Ovoko thụt lùi. “Tôi chỉ nói là tình trạng rất nghiêm trọng. Ban đầu mọi người ồ ạt mang thực phẩm đến cho, nhưng bây giờ họ lảng đi. Chuyện này có thể sẽ là thảm họa nếu chiến tranh xảy ra”.
“Chiến tranh sẽ không xảy ra”.
“Thế thì tại sao Gowon vẫn tiếp tục phong tỏa chúng ta?”
Ông Chủ tảng lờ câu hỏi và quay đi. Ugwu đi theo.
“Dĩ nhiên người ta có đem thực phẩm đến. Nhưng chắc là cái thằng ngu ấy dấm dúi mang về cho gia đình hắn”, Ông Chủ nói lúc ông nổ máy.
“Vâng, thưa ông”, Ugwu đáp. “Cho dù ông ta đã có cái bụng phệ như thế”.
“Cái thằng ngu xuẩn Gowon tuyên bố mang tai ương khổ sở cho một con số ít nhất cũng cỡ hai triệu người tị nạn. Hắn tưởng những người chết đó chỉ là mấy con gà và chỉ có thân nhân của mấy con gà chết trở về nhà của họ hay sao?”
“Không, thưa ông”. Ugwu nhìn ra cửa sổ. Lòng hắn tràn ngập nỗi buồn, đến đây để cho garri và cá khô những người trước kia đã từng tự nuôi bản thân ở miền Bắc, để lắng nghe Ông Chủ lải nhải cùng một luận điệu hết tuần này sang tuần khác. Hắn thò tay sắp xếp lại cho ngay ngắn sợi dây đang đong đưa ở kính chiếu hậu. Buộc ở đầu sợi dây là một vật kỷ niệm bằng nhựa có sơn hình một nửa mặt trời màu vàng trên nền đen.
Sau đó, hắn ngồi trên bậc thềm sau nhà đọc quyển Hồ sơ Pickwick [1], thường xuyên ngừng đọc để suy nghĩ và ngắm mấy cái lá ngô mảnh mai đong đưa trong gió nhẹ, không ngạc nhiên khi nghe Ông Chủ lên giọng như quát tháo trong phòng khách. Ông Chủ luôn luôn dễ nổi cáu trong những ngày như ngày hôm nay.
“Thế còn các đồng nghiệp của chúng ta ở Ibadan, Zaria và Lagos? Ai là người lên tiếng? Họ cứ im thin thít khi cái đám chính khách lưu vong da trắng cổ vũ mấy người nổi loạn giết dân Igbo. Các bạn sẽ là một trong những người bị giết nếu bạn tình cờ không ở trong đất Igbo! Các bạn có thể có bao nhiêu lòng từ tâm chứ?” Ông Chủ quát to.
“Làm sao anh dám nói tôi không có lòng thương người chứ! Nếu tôi nói ly khai không phải là cách duy nhất để duy trì an ninh, điều đó không có nghĩa là tôi không có lòng thương người!” Người nói là cô Adebayo.
“Thế anh chị em, họ hàng của cô có bị giết không? Cậu của cô có bị giết không? Tuần tới cô đi về với tộc người của cô ở Lagos và không ai quấy nhiễu cô bởi vì cô là người Yoruba. Không phải chính người dân của cô đã giết dân Igbo ở Lagos hay sao? Không phải một nhóm tù trưởng bộ lạc của cô đã đi lên miền Bắc để cảm ơn mấy lão vua chúa vương giả đã nhân nhượng tha cho người Yoruba hay sao? Thế thì cô còn nói gì nữa chứ? Làm sao ý kiến của cô còn có giá trị chứ?”
“Anh không nên nặng lời sỉ vả tôi, Odenigbo”.
“Lời nói thật trở thành lời sỉ vả”.
Im lặng bao trùm, tiếng cửa trước ken két mở ra rồi đóng sầm lại. Cô Adebayo đã bỏ về. Ugwu đứng dậy khi hắn nghe giọng của Olanna. “Điều này không thể chấp nhận được, Odenigbo! Anh phải xin lỗi cô ấy”.
Câu nói của nàng làm hắn sợ hãi bởi vì ít khi nàng nói lớn. Lần cuối cùng hắn nghe nàng to tiếng xảy ra đã rất lâu, lúc có chuyện không hay mấy tuần trước khi Bé By ra đời, khi đó Richard cũng không còn đến chơi và mọi chuyện đang mấp mé ở bên bờ vực tan vỡ. Trong khoảnh khắc, Ugwu không nghe thấy gì cả - có lẽ Olanna cũng bỏ đi - rồi hắn nghe thấy Okeoma đọc thơ. Ugwu cũng biết bài thơ này: Nếu mặt trời không chịu mọc, chúng tôi sẽ bắt mặt trời phải mọc. Lần đầu tiên Okeoma đọc bài thơ này, cùng ngày với tờ báo Renaissance được đổi tên thành Biafran Sun, Ugwu đã nghe bài thơ và thấy lòng đầy phấn khởi, nhất là câu thơ mà hắn rất thích. Những cái bình đất sét được nung bằng lòng hăng say, làm mát chân ta khi ta trèo lên. Bây giờ, cũng chính câu thơ ấy và bài thơ ấy làm hắn cay mắt. Bài thơ làm hắn nhớ ngày trước khi Okeoma đọc cho mọi người nghe những bài thơ anh viết về người Igbo có mông bị ghẻ lở khi anh ta đi vệ sinh vào những cái bồn cầu nhập cảng từ nước ngoài, những ngày mà cô Adebayo và Ông Chủ cãi vã lẫn nhau nhưng không chấm dứt buổi họp mặt chiều tối bằng cách làm cô giận sầm sập mà bỏ đi, những ngày hắn vẫn còn đãi mọi người món xúp ớt. Bây giờ hắn chỉ dọn hạt kola thôi.
Một lúc sau, Okeoma cũng ra về và Ugwu lại nghe Olanna nói to. “Anh phải xin lỗi cô ấy, Odenigbo!”
“Vấn đề không phải là anh có nợ cô ấy một lời xin lỗi hay không mà là anh có nói sự thật hay không”, Ông Chủ nói. Olanna nói cái gì đó mà Ugwu không thể nghe được và hắn thấy Ông Chủ nói, giọng dịu hẳn lại, “Được rồi, nkem, anh sẽ làm việc đó”.
Olanna đi vào bếp. “Chúng tôi ra phố”, nàng nói. “Ra khóa cửa nhé”.
“Vâng, thưa cô”.
Sau khi họ đi khỏi, Ugwu nghe có tiếng gõ thật nhẹ ở cửa sau và đi ra xem đó là ai.
“Chinyere”, hắn ngạc nhiên nói. Cô ấy chẳng bao giờ đến sớm thế và cũng chưa bao giờ đến gian nhà chính.
“Sáng sớm mai em và bà chủ cùng với tụi trẻ sẽ về làng. Em đến để chúc anh ở lại mạnh giỏi. Ka o di”.
Ugwu chưa bao giờ nghe cô ta nói nhiều như vậy. Hắn không biết phải trả lời thế nào. Hai người im lặng nhìn nhau một lúc lâu.
“Chúc em bình an”, hắn nói. Hắn nhìn cô đi đến hàng giậu chia cách hai nhà và chui qua. Cô ấy sẽ không còn xuất hiện ờ phòng hắn ban đêm và nằm ngửa, im lặng xoạc chân ra, ít nhất cũng phải một thời gian rất lâu. Hắn cảm giác như có một khối nặng xa lạ đè nghiến trong đầu mình. Những thay đổi ồ ạt kéo đến trong đời nhưng hắn không thể làm gì để giảm tốc độ của những thay đổi này.
Hắn ngồi xuống và nhìn chằm chặp vào bìa của cuốn Hồ sơ Pickwick. Sân sau đầy vẻ yên tĩnh và trầm lắng, trong những tiếng xao xác nhẹ nhàng của cây xoài và mùi chín ngấu như rượu của mấy trái điều. Vẻ yên tĩnh này bao phủ lên những điều hắn thấy xung quanh mình. Khách đến chơi càng lúc càng ít đi. Ban đêm, những con đường dẫn vào ký túc xá của đại học trở nên vắng vẻ như bãi tha ma, bao trùm thứ ánh sáng lóng lánh của sự im lặng và trống vắng. Tiệm Đông Phương cũng đóng cửa. Bà chủ của Chinyere là một người trong rất nhiều người ở các gia đình đã bỏ đi; đám người giúp việc của họ mua mấy thùng giấy khổng lồ ngoài chợ và mấy chiếc xe rời trường đại học, đôi khi có thùng xe xệ xuống vì chở quá nặng. Nhưng Olanna và Ông Chủ không chuẩn bị thu gom gì cả. Họ nói là chiến tranh sẽ không xảy ra và mọi người xung quanh chỉ lo sợ thái quá. Ugwu biết những gia đình kia đã được thông báo là họ có thể cho đàn bà và trẻ em về quê của họ, nhưng đàn ông thì không được phép. Bởi vì nếu đám đàn ông cũng đi nốt thì có nghĩa là mọi người đều lo sợ, trong khi không có gì đáng phải lo sợ cả. “Không có lý do gì để báo động cả” là câu mà Ông Chủ rất hay nói. “Không có lý do gì để báo động cả”. Giáo sư Uzomaka ở đối diện với nhà của bác sĩ Okeke bị mấy lính canh gác ở cổng đuổi về ba lần. Mất ba ngày họ mới để ông đi, sau khi ông thề sẽ trở lại; ông chỉ đưa vợ con về làng bởi vì vợ ông lo lắng quá.
“Ugwuanyi!”
Ugwu nhìn lên và thấy dì đang đi về hướng của hắn từ sân trước. Hắn đứng dậy.
“Cháu chào dì!”
“Dì gõ cửa trước một lúc rồi”.
“Xin lỗi ạ. Cháu không nghe thấy”.
“Cháu ở nhà một mình thôi sao? Ông chủ của cháu đâu?”
“Ông Chủ và cô chủ đi ra phố. Hai người đưa Bé By theo”. Ugwu nhìn mặt dì. “Có việc gì không dì?”
Dì mỉm cười. “Mọi chuyện bình thường, yên ổn, o di mma. Bố cháu nhờ dì nhắn tin. Bố mẹ cháu sẽ tổ chức lễ mang rượu cho Anulika vào thứ Bảy tuần tới”.
“Thế à, tuần tới?”
“Tốt hơn hết là làm bây giờ trước khi đánh nhau nếu người ta quyết định đánh nhau”.
“Đúng vậy”. Ugwu nhìn lảng ra chỗ khác, hướng cây chanh. “Thế là Anulika thật sự lập gia đình”.
“Có phải cháu định cưới em của mình không đấy?”
“Chúa phạt chết”.
Dì đưa tay nhéo cánh tay hắn một cái. “Nhìn cháu kìa, thành đàn ông rồi. Này, chừng vài năm nữa sẽ đến lượt cháu”.
Ugwu cười. “Dì và mẹ cháu phải là người tìm vợ cho cháu khi đến lúc, dì ạ”. Hắn nói với vẻ ngoan ngoãn giả vờ. Hắn kể cho dì nghe Olanna đã bảo với Ugwu rằng hai người sẽ cho Ugwu đi học đại học sau khi hắn học hết trung học. Hắn sẽ chẳng cưới vợ cho đến khi nào hắn trở thành một người như Ông Chủ, sau khi hắn đã nhiều năm đèn sách.
“Dì về đây”, dì hắn nói.
“Dì không vào uống nước à?”
“Dì không ở lâu được, Ngwanu, mặc dì. Gửi lời chào ông chủ và nhắn mời ông về dự lễ ăn hỏi nhé”.
Ngay cả trước khi dì ra về, Ugwu đã tưởng tượng lúc hắn về dự lễ hỏi. Lần này, cuối cùng rồi hắn cũng được ôm thân hình trần truồng của Nnesinachi mềm mại trong vòng tay hắn. Cái chòi của chú Eze là chỗ lý tưởng để đưa cô nàng đến, hoặc là cánh rừng im lặng vắng vẻ cạnh dòng suối, miễn sao đám con nít đừng quấy rầy hai người. Hắn hy vọng cô nàng không im thin thít như Chinyere mà sẽ kêu rên, những âm thanh như của Olanna mà hắn nghe lỏm được khi áp tai vào cửa phòng ngủ của nàng.
Tối ấy, khi hắn đang nấu ăn, một giọng nói êm ả trên radio tuyên bố Nigeria sẽ sử dụng vũ lực để đàn áp những kẻ phiến loạn Biafra.

Ugwu đang bóc vỏ hành ở trong bếp với Olanna, hắn nhìn vai Olanna chuyển động lúc nàng khuấy nồi xúp trên bếp. Hành làm cho hắn có cảm giác được tẩy gội sạch sẽ, như thể hơi cay cuốn đi khỏi người hắn những bợn dơ. Hắn có thể nghe được tiếng cười lanh lảnh của Bé By đang chơi trong phòng khách với Ông Chủ. Hắn không muốn ai vào trong bếp lúc này cả. Bởi vì họ sẽ phá đi những giây phút tuyệt vời mà hắn đang cảm nhận, cái cay mắt ngọt ngào của hơi hành dâng trong mắt và màu da óng ả của Olanna. Nàng đang nói về một số người miền Bắc ở khu vực Onitsha bị giết trong những cuộc tấn công trả thù. Hắn thích cái cách của những chữ tấn công trả thù thoát ra khỏi miệng nàng.
“Thật là sai lầm”, nàng nói. “Rất sai lầm. Nhưng mà Lãnh Tụ đã phản ứng rất đúng; chỉ có Chúa mới biết là bao nhiêu người sẽ bị giết nếu ông không bắt lính miền Bắc phải rút quân về Bắc”.
“Ojukwu là một người rất có tài”.
“Đúng vậy, nhưng tất cả chúng ta cũng có thể làm những việc như thế để giúp lẫn nhau, thật đấy”.
“Không đâu, thưa cô. Chúng ta không giống như những người Hausa. Cuộc tấn công trả thù xảy ra là tại vì người ta bắt buộc mình”.
Chữ tấn công trả thù của hắn phát âm cũng khá giống như cách nàng phát âm. Hắn tin chắc thế.
Olanna lắc đầu nhưng làm thinh một hồi rất lâu. “Sau lễ hỏi em gái của em, chúng tôi sẽ đi Abba chơi ít lâu vì trường đại học bây giờ rất vắng vẻ”, cuối cùng nàng nói. “Em có thể ở với gia đình em nếu muốn. Khi về chúng tôi sẽ đón em. Chúng tôi sẽ không đi quá một tháng, đó là lâu nhất. Quân đội của chúng ta sẽ đẩy lùi đám Nigeria trong vòng một, hai tuần”.
“Con sẽ đi với cô và Ông Chủ, thưa cô”.
Olanna mỉm cười, nàng cũng thầm mong hắn nói thế. “Nồi xúp này không chịu đặc gì cả”, nàng lẩm bẩm một mình. Xong rồi nàng kể cho hắn nghe lần đầu tiên nàng nấu xúp, lúc đó nàng chỉ là một cô bé, nàng nấu thế nào mà phần nửa dưới của nồi xúp bị cháy xém thành màu tím, tuy vậy món xúp vẫn rất ngon. Hắn hoàn toàn bị giọng nói của Olanna thu hút, vì thế hắn không nghe tiếng bùm-bùm-bùm vọng lại từ một nơi xa xa nào đó ở ngoài kia, cho đến khi nàng ngừng khuấy và nhìn lên.
“Cái gì thế?” Nàng hỏi. “Em có nghe thấy không, Ugwu? Cái gì thế?”
Olanna bỏ cái muôi xuống và chạy vào phòng khách. Ugwu đi theo. Ông Chủ đang đứng cạnh cửa sổ, tay cầm tờ Biafran Sun gấp lại.
“Cái gì thế?” Olanna hỏi. Nàng kéo Bé By về hướng nàng. “Odenigbo!”
“Họ đang tấn công”, Ông Chủ bình thản nói. “Anh nghĩ hôm nay chúng ta nên đi tản cư”.
Rồi thì Ugwu nghe thấy tiếng còi inh ỏi bên ngoài. Bất thình lình hắn sợ đi ra ngoài cửa, ngay cả đi đến bên cửa sổ để nhìn ra.
Ông Chủ mở cửa. Chiếc xe Morris Minor màu xanh lá cây phanh lại vội vàng đến nỗi một bánh trượt ra khỏi đường xe chạy, nghiến lên bụi hoa huệ tây trồng dọc theo sân cỏ. Ugwu ngạc nhiên thấy là ông ta chỉ mặc mỗi cái áo may ô và quần. Chân đi dép dùng trong phòng tắm.
“Tản cư ngay lập tức! Quân đội Liên bang đã vào Nsukka! Chúng tôi đang tản cư đây. Ngay lập tức! Tôi đi tất cả các nhà vẫn còn người ở để thông báo. Di tản ngay lập tức!”
Nói xong, ngay tức khắc, ông hối hả lui xe và lái đi, bấm còi inh ỏi, Ugwu nhận ra ông chính là Vincent Ikenna, người giữ sổ sách văn thư. Ông có đến đây vài lần. Ông thích uống bia với Fanta.
“Lấy một số đồ cần dùng, nkem”, Ông Chủ nói. “Anh sẽ kiểm tra nước trong xe. Ugwu, khóa cửa nhanh lên! Nhớ kiểm tra căn phòng của em”.
Igini? Đồ gì?” Olanna hỏi. “Em phải lấy những gì?”
Bé By bắt đầu khóc ré lên. Rồi cái tiếng động ấy lại cất lên, bùm-bùm-bùm, gần hơn và to hơn.
“Không lâu lắm đâu, mình sẽ trở lại nhanh thôi. Chỉ lấy vài thứ cần thiết, quần áo”. Ông Chủ ra dấu bâng quơ trước khi ông chụp lấy chùm chìa khóa trên giá.
“Em vẫn còn đang nấu”, Olanna nói.
“Bỏ vào trong xe”, Ông Chủ nói.
Olanna có vẻ ngân ngơ. Nàng gói nồi xúp bằng một cái khăn lau bát và mang nó ra xe. Ugwu chạy vòng vòng, quơ ném tất cả mọi thứ vào trong mấy cái túi: quần áo và đồ chơi của Bé By, bánh bích quy trong tủ lạnh, quần áo của hắn, của Ông Chủ, mấy tấm vải quấn và áo đầm của Olanna. Hắn ước gì hắn biết nên mang theo những thứ gì. Hắn ước gì những tiếng nổ đừng có vẻ như đến gần hơn. Hắn ném mấy cái túi vào băng ghế xe phía sau rồi chạy vụt vào khóa cửa, kéo rèm. Ông Chủ đang bóp còi bên ngoài. Hắn đứng giữa phòng khách, thấy chóng mặt. Hắn cần đi tiểu. Hắn chạy vào nhà bếp, tắt lò. Ông Chủ gọi to tên hắn. Hắn quơ mấy tập ảnh trên kệ và lấy luôn ba album ảnh Olanna đã cẩn thận xếp hình vào rồi chạy ra xe. Hắn chỉ mới vừa đóng cửa xe là Ông Chủ đã chạy vụt đi. Đường vắng vẻ, trống trơn đến ghê rợn.
Ở cổng, lính Biafra vẫy tay cho phép xe chạy qua. Họ có vẻ khác biệt đáng nể trong bộ đồng phục bằng ka ki, giày ống bóng loáng và phù hiệu nửa mặt trời vàng đính bên tay áo của họ. Ugwu ước gì mình ở trong nhóm này. Ông Chủ vẫy tay nói, “Làm việc tốt lắm!”.
Bụi bốc xoáy lên xung quanh, giống như là nhìn xuyên qua một tấm màn nâu. Đường chính đông nghẹt; đàn bà đội thùng trên đầu và địu con sau lưng. Trẻ em đi chân không, mang theo những bọc quần áo hay khoai lang hay mấy cái hộp. Đàn ông đẩy xe đạp. Ugwu tự hỏi tại sao họ lại xách theo mấy cái lồng đèn đốt bằng dầu hỏa, mặc dù trời chưa tối. Hắn thấy một đứa bé vấp ngã và mẹ nó cúi xuống lôi nó lên. Hắn nghĩ đến gia đình, đến bọn em nheo nhóc, bố mẹ và Anulika. Họ an toàn. Họ không phải chạy giặc bởi vì họ ở chỗ quá xa quá vắng. Điều này có nghĩa là hắn không thể dự đám cưới của Anulika, và hắn không thể ôm Nnesinachi như dự định. Nhưng hắn sẽ trở về rất sớm. Chiến tranh chỉ kéo dài đủ lâu để quân đội Biafra tống tiễn đám Nigeria về chầu trời. Lúc ấy hắn sẽ được nếm cái ngọt ngào của Nnesinachi, hắn sẽ vuốt ve làn da thớ thịt mềm mại của cô nàng.
Ông Chủ lái xe chầm chậm vì đường đông nghẹt và bị cấm đường, nhưng chậm nhất là lúc họ đến đồi Milliken. Mấy chiếc xe tải phía trước có in khẩu hiệu KHÔNG AI BIẾT NGÀY MAI trên sườn xe. Lúc nó bò lên dốc cao, một người thanh niên nhảy ra và chạy theo xe, tay cầm một thanh gỗ, sẵn sàng chèn vào bánh xe sau nếu chiếc xe tải tụt dốc.
Cuối cùng khi họ đến Abba, trời sập tối, kính xe phủ bụi vàng và Bé By đã ngủ vùi.
---------------------------
[1] The Pickwick Papers: Tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Anh Charles Dickens (1812-1870) viết theo lời yêu cầu của nhà minh họa Robert Seymour rồi trở nên nổi tiếng sau khi Seymour tự tử.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương mười sáu

Richard ngạc nhiên khi nghe đài phát thanh của chính quyền liên bang tuyên bố sử dụng vũ lực để buộc những kẻ phiến loạn phải tôn trọng an ninh trật tự. Kainene thì ngược lại.
“Vì dầu hỏa đấy”, nàng nói. “Họ không thể dễ dàng nới lỏng cho chúng ta. Nhưng cuộc chiến tranh này sẽ nhanh chóng kết thúc. Madu nói Ojukwu có kế hoạch lớn. Anh ấy đề nghị em ủng hộ một ít ngoại tệ cho Bộ Chiến tranh, như thế khi chiến tranh chấm dứt, em sẽ có được những hợp đồng mà em đấu thầu”.
Richard ngó nàng trân trân. Có vẻ như nàng không ý thức được là chàng không thể nào hiểu tại sao chiến tranh lại xảy ra; vấn đề không ở chỗ cuộc chiến tranh này ngắn hay dài mà ở chỗ đáng lẽ nó không nên xảy ra.
“Tốt hơn hết là anh nên dọn đến ở Port Harcourt cho tới khi mình đánh lui đám Nigeria”, Kainene nói. Nàng đang đọc lướt tờ báo, gật đầu theo điệu nhạc Beatles trên dàn máy stereo và nàng làm cho tình hình có vẻ bình thường, rằng chiến tranh là sự kiện không thể tránh khỏi, rằng dọn đồ ra khỏi Nsukka là điều đơn giản nhất mà tự nó phải thế.
“Phải, dĩ nhiên là vậy rồi”, chàng nói.
Tài xế của nàng lái xe đưa chàng đi. Những trạm kiểm soát được dựng lên khắp nơi, lốp xe và mấy cái bảng có đóng đinh được đặt giữa đường, những người đàn ông và đàn bà mặc áo ka ki nét mặt vô cảm, thái độ rất có kỷ luật đang đứng gần. Hai trạm đầu dễ qua. “Anh đi đâu?”, họ hỏi và vẫy tay cho xe qua. Nhưng gần Enugu, bảo an dân vệ chặn đường bằng ba khúc cây to và một cái trống thùng cũ gỉ sét. Anh tài xế dừng lại.
“Quay lại! Quay lại!” Một người ló đầu ra khỏi cửa sổ; anh ta ôm một khúc gỗ được đẽo cẩn thận cho giống một khẩu súng trường. “Quay lại!”
“Xin chào”, Richard nói. “Tôi làm việc trong trường Đại học Nsukka và tôi đang đi đến đó. Người giúp việc của tôi vẫn còn ở đây. Tôi cần lấy mấy bản thảo của tôi và một ít đồ cá nhân”.
“Xin ông quay lại. Chúng tôi sẽ đánh đuổi bọn phá hoại nhanh thôi”.
“Nhưng bản thảo của tôi, giấy tờ của tôi, và người giúp việc của tôi đang ở đó. Anh thấy không, tôi chẳng đem cái gì theo cả. Vì tôi không biết”.
“Quay lại, thưa ông. Đây là mệnh lệnh. Ở đó không an toàn. Nhưng ngay lập tức sau khi chúng tôi đánh lui đám phá hoại, ông có thể trở về”.
“Nhưng anh phải hiểu giùm tôi”. Richard nghiêng người xa hơn về phía trước.
Đôi mắt người đàn ông nheo lại trong lúc con mắt to được vẽ trên áo anh ta dưới hàng chữ CẢNH GIÁC dường như mở to hơn. “Ông có chắc ông không phải là điệp viên của chính quyền Nigeria không đấy? Chẳng phải chính người da trắng các ông đã cho phép Gowon được giết đàn bà và trẻ em vô tội đó sao?”
Abu m onye Biafra”, Richard nói.
Người đàn ông cười rộ lên, và Richard không biết chắc đây có phải là tiếng cười vui vẻ. “Ê, một người đàn ông da trắng nói anh ta là người Biafra. Anh học tiếng của chúng tôi ở đâu vậy?”
“Từ vợ tôi”. .
“Được rồi, thưa ông. Đừng quan tâm đến đồ đạc của ông ở Nsukka. Đường sá sẽ lại lưu thông trong vài ngày nữa”.
Người tài xế cho lui xe và anh quay xe trở lại bằng con đường họ đến. Richard cứ nhìn con đường bị ngăn chặn cho đến khi chàng không còn trông thấy nó nữa. Chàng nghĩ đến câu tiếng Igbo trơn tuột tuôn ra khỏi miệng thật dễ dàng. “Tôi là người Biafra”. Chàng không biết tại sao, nhưng chàng hy vọng người tài xế sẽ không mách lẻo với Kainene là chàng đã nói như thế. Và cũng hy vọng người tài xế sẽ không ton hót với Kainene rằng chàng đã gọi nàng là vợ của chàng.

Ít hôm sau Susan gọi vào lúc gần trưa khi Kainene đã đi đến: một trong các xưởng máy của nàng.
“Không biết em có số điện thoại nhà Kainene”. Richard nói và Susan bật cười.
“Em nghe nói Nsukka phải tản cư, em biết anh sẽ ở với cô ấy. Anh có khỏe không?”
“Có”.
“Anh không bị làm sao lúc tản cư chứ?” Susan hỏi. “Anh có sao không?”
“Anh không sao”. Chàng thấy cảm động vì sự quan tâm của cô. “Tốt. Kế hoạch của anh thế nào?”
“Anh sẽ ở đây một thời gian”.
“Không an toàn đâu, Richard. Em không ở quá một tuần. Những người này chưa bao giờ trải qua nội chiến phải không? Gọi là cuộc nội chiến thì cũng hơi quá lời”. Susan ngập ngừng. “Em gọi điện thoại cho Hội đồng Anh ở Enugu, em không thể tưởng tượng được là người mình ở đó vẫn đi đánh bóng nước và vẫn tổ chức tiệc cocktail ở khách sạn Presidentiaf! Trong khi đang xảy ra cuộc chiến tranh đẫm máu”.
“Nó sẽ kết thúc nhanh chóng thôi”.
“Kết thúc, ha! Nigel sẽ rời nơi này trong vòng hai ngày. Chẳng có gì là kết thúc nhanh chóng cả. Cuộc chiến tranh này sẽ kéo dài rất lâu. Xem tình trạng của Congo đấy. Mấy người dân xứ này không có khái niệm hòa bình. Không bao lâu nữa họ sẽ chiến đấu cho đến khi người cuối cùng ngã xuống”.
Richard cúp máy khi Susan vẫn còn đang hăng say nói, và tự ngạc nhiên về thái độ khiếm nhã của mình. Chàng thầm ước gì mình có thể giúp cô ném mấy chai rượu trên quầy và xóa đi những hoang tưởng đã làm tổn thương cuộc đời cô. Chàng hy vọng quyết định rời bỏ nơi này sẽ là một điều tốt cho cô ấy và cô ấy sẽ tìm thấy hạnh phúc với Nigel hay với ai cũng được. Chàng vẫn còn đang bị những ý nghĩ về Susan chiếm ngự tư tưởng, nửa mong là cô sẽ không bao giờ gọi mình, nửa mong cô sẽ gọi. Lúc Kainene về đến nhà, nàng hôn lên má, môi và cằm của chàng. “Anh chắc là suốt ngày lo lắng cho Harrison và quyển sách Thời Đại Bình Đồng?”, nàng hỏi.
“Không đâu”, chàng trả lời, mặc dù cả hai đều biết rằng đó là một câu nói dối.
“Harrison sẽ bình yên. Ông ta sẽ gói ghém đồ đạc và trở về làng”.
“Phải đấy, chắc ông ta đã làm thế”, Richard nói.
“Chắc là ông ấy sẽ mang bản thảo của anh theo”.
“Ừ” Richard vẫn còn nhớ lúc nàng hủy bản thảo đầu tiên của chàng, Giỏ Chứa Bàn Tay, nàng dẫn chàng ra vườn quả, đến đống giấy cháy thành than dưới gốc cây chàng thích nhất; mặt không để lộ một chút cảm xúc nào. Tuy thế, sau đó chàng không thấy tức giận hay oán trách mà vẫn đầy hy vọng.
“Hôm nay có một cuộc biểu tình ở dưới phố, ít nhất cũng có tới ngàn người, nhiều xe được phủ kín bằng lá xanh”, nàng nói. “Em ước gì họ chỉ tràn ra sân cỏ thay vì chặn lối những con đường chính. Em đã đóng góp tiền và em không muốn bị mắc kẹt dưới hơi nóng của mặt trời để phục vụ cho tham vọng của Ojukwu”.
“Mình phục vụ cho một lý tưởng, không phải một cá nhân”.
“Vâng, nhưng đây cũng là một hình thức tống tiền, tuy có vẻ ôn hòa hơn. Anh có biết là tài xế taxi bắt đầu không thu tiền quân nhân? Họ phật ý khi quân nhân đề nghị trả tiền. Madu nói có một nhóm phụ nữ ở trong trại lính, cứ cách một ngày họ lại mang khoai lang, chuối và hoa quả cho quân đội. Đây là những người không có của cải tiền bạc gì cả”.
“Đó không phải là cưỡng đoạt. Đó là lý tưởng”.
“Đúng là lý tưởng”. Kainene lắc đầu nhưng nàng có vẻ thích thú. “Hôm nay Madu nói với em là quân đội chẳng có gì cả, hoàn toàn không có. Họ tưởng Ojukwu có vũ khí chất đầy ắp đâu đó, dựa vào cách ông ta phát biểu, ‘không có quyền lực nào ở Phi châu Đen có thể đánh bại chúng ta!’, vì thế Madu và một số sĩ quan từ miền Bắc về gặp ông ta để nói cho ông ta biết là mình không có vũ khí, không có lực lượng chuyển vận và lính của mình tập bắn bằng súng gỗ. Chúa ạ. Họ bảo ông ta phải mở kho vũ khí của mình. Nhưng ông ta quay lại bảo rằng họ lập mưu lật đổ ông ta. Rõ ràng ông ta chẳng có vũ khí gì cả và đang chuẩn bị đè bẹp Nigeria bằng quả đấm của mình”. Nàng giơ nắm đấm lên và mỉm cười. “Nhưng em nghĩ là ông ta rất đẹp trai, nhất là bộ râu”.
Richard làm thinh. Chàng tự hỏi, thoáng qua thôi, chẳng biết mình có nên để râu hay không.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương mười bảy

Olanna nghiêng người dựa vào hàng rào hiên nhà của Odenigbo ở Abba nhìn ra sân. Cạnh cổng, Bé By đang quỳ gối vọc cát còn Ugwu thì trông chừng con bé. Gió lùa qua đám lá ổi nghe rì rào. Vỏ cây ổi gợi sự chú ý của Olanna, cái cách nó phai màu từng mảng, màu đất sét nhạt thay phiên nhau trộn lẫn với một mảng màu đá đen đậm giống như màu da của những đứa trẻ trong làng bị bệnh về da, nlacha. Rất nhiều đứa chào “nno nu, chào mừng”, ngay khi cả nhà nàng từ Nsukka đến, cả cha mẹ chú bác của chúng cũng đến chúc mừng và nóng lòng được nghe những tin đồn về cuộc di tản. Olanna đã bắt đầu thấy quý mến họ; cách họ chào đón làm nàng thấy được che chở. Tình thân của nàng cũng lan tới cả mẹ của Odenigbo. Bây giờ nàng tự hỏi tại sao nàng không làm Bé By xa lánh bà nội, người đã không thèm nhìn mặt cháu lúc mới sinh và tại sao nàng không lảng tránh cái ôm của bà. Nhưng có cái gì đó bị ám ảnh và không trọn vẹn về những chuyện xảy ra ngày hôm ấy - nấu ăn trong bếp với Ugwu, khởi hành quá vội vàng đến độ nàng lo là quên tắt lò, tiếng đạn pháo - vì vậy nàng không phiền chút nào khi bà mẹ chồng ôm nàng, thậm chí nàng còn ôm bà đáp lễ. Bây giờ, cả hai đối xử với nhau lịch thiệp, đàng hoàng. Bà thường đến thăm Bé By qua cái cổng bằng gỗ gắn trong vách tường đất ngăn nhà bà và nhà của Odenigbo. Đôi khi Bé By băng qua để chơi với bà và rượt mấy con dê đang lang thang trong sân nhà bà. Olanna không bao giờ biết chắc chắn mấy miếng cá khô hay thịt xông khói Bé By còn đang nhai nhồm nhoàm lúc trở về nhà có sạch không, nhưng nàng cố gắng không để tâm, cũng như nàng cố gắng dập tắt hiềm khích; cảm tình của bà dành cho Bé By luôn có vẻ nửa vời, thờ ơ, và nó đã quá muộn để nàng có thể có tình cảm nào khác hơn là oán giận bà.
Ugwu nói gì đó làm Bé By cười; tiếng cười trong trẻo lanh lảnh của nó khiến nàng cũng mỉm cười. Bé By thích cuộc sống ở đây, đơn giản hơn và chậm rãi hơn. Bởi vì lò sưởi, lò điện nướng bánh mì, nồi áp suất, gia vị nhập cảng đều bị bỏ lại ở Nsukka, họ nấu ăn đơn giản hơn và do vậy, Ugwu có nhiều thì giờ để chơi với Bé By hơn.
“Mẹ Ola!” Bé By gọi. “Đến đây xem này!”
Olanna vẫy tay. “Bé By, tối rồi về tắm thôi”.
Nàng nhìn rặng xoài trong sân bên cạnh, có nhiều cây quả đong đưa như mấy đôi hoa tai nặng trĩu. Mặt trời đang chìm dần. Bầy gà xôn xao túc túc gọi nhau và bay tuốt lên cây kola để ngủ. Nàng có thể nghe dân làng nói chuyện í ới với nhau, cũng lớn giọng như đám đàn bà trong tổ may. Nàng gia nhập tổ may hai tuần trước đó, trong gian hội họp của làng, may áo ngắn và khăn tắm cho quân nhân. Ban đầu nàng không mấy thích họ, vì khi nàng muốn nói về những thứ nàng phải bỏ lại Nsukka - sách vở, đàn dương cầm, chén bát sứ, tóc giả, máy may hiệu Singer, truyền hình - họ làm lơ với nàng và nói qua chuyện khác. Bây giờ nàng hiểu là không ai nói đến những gì họ bỏ lại sau lưng. Thay vào đó họ nói về những nỗ lực cần thiết để chiến thắng. Một thầy giáo tặng cái xe đạp của mình cho quân đội, thợ giày làm giày ống cho quân nhân không tính tiền, nông dân biếu khoai lang. Phải thắng trong cuộc chiến này. Olanna khó có thể nghĩ được là chiến tranh đang xảy ra, đạn rơi trong đám cát bụi đỏ ở Nsukka trong khi quân đội Biafra đẩy lùi những kẻ phá hoại. Thật khó có thể hình dung được rằng những hình ảnh cụ thể đã không bị những ký ức về Arize và gia đình cậu mợ Mbaezi-Ifeka làm phai mờ, và không cảm thấy là mình đang phải sống trong buổi giao thời.
Nàng hất đôi dép ra và đi chân không băng qua sân trước và đến ngôi nhà nhỏ bằng cát của Bé By. “Đẹp lắm, Bé By. Có thể là ngày mai nó vẫn còn đứng vững như thế này, nếu buổi sáng mấy con dê không vào sân. Bây giờ phải về đi tắm thôi”.
“Không. Mẹ Ola!”
“Mẹ nghĩ là anh Ugwu sẽ bắt con đi ngay lập tức,” Olanna liếc nhìn Ugwu.
“Không!”
Ugwu nhấc Bé By lên, chạy về nhà. Đôi dép của Bé By rơi ra và họ dừng lại nhặt lên, Bé By vừa kêu “không” vừa cười to. Olanna tự hỏi không biết Bé By nghĩ sao nếu nó biết tuần tới cả nhà phải đi Umuahia, cách đây ba giờ đi đường. Odenigbo được chỉ định đến đó để làm việc trong Bộ Nhân lực. Chàng đã hy vọng được bổ nhiệm làm ở Bộ Nghiên cứu Sản xuất, nhưng có quá nhiều người xuất chúng và công việc lại rất ít; ngay cả nàng cũng được bảo cho biết là không có chỗ trống nào trong các Bộ. Nàng sẽ dạy tiểu học, đóng góp riêng của nàng để chiến thắng trong cuộc chiến tranh. Câu nói ấy có âm hưởng nhất định, chiến thắng, chiến thắng, chiến thắng. Nàng hy vọng được cấp nhà ở gần trường đại học để Bé By có bạn cùng trang lứa mà chơi.
Nàng ngồi xuống một trong những cái ghế gỗ thấp đặt rất nghiêng, vì thế nàng phải ngả người ra phía sau nếu muỗn ngồi dựa vào lưng ghế. Đó là những cái ghế nàng chỉ thấy ở quê, do mấy ông thợ mộc trong làng đóng. Mấy ông thợ mộc này thường dựng bảng ở một góc đường làng đầy bụi, thường thì với một cái bảng hiệu có chữ THỢ đủ kiểu sai chính tả: thợ một, thợ mọc, thợ mọt. Người ta không thể ngồi thẳng lưng trên những cái ghế này. Chúng như ngụ ý nói rằng: cả một đời khó nhọc kiếm sống, phải có lúc nghỉ ngơi, thư giãn, hít thở không khí trong lành sau một ngày làm ruộng mệt nhọc. Hay cũng có thể xem như chúng chấp nhận một cuộc sống buồn chán.
Trời tối, đàn dơi bay sột soạt trên đầu khi Odenigbo về đến nhà. Chàng luôn vắng nhà vào ban ngày vì đi dự hết buổi họp này đến buổi họp khác, tất cả những buổi họp này chỉ bàn bạc: Abba phải làm gì để góp phần vào những nỗ lực chiến thắng, làm cách nào để Abba đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập quốc gia Biafra; đôi khi nàng gặp người ta đi họp về, mang súng giả đẽo bằng gỗ. Nàng nhìn Odenigbo băng qua sân vào hiên nhà, bước đi đầy chắc chắn, tự tin. Người đàn ông của nàng. Đôi khi nhìn chàng, nàng cảm thấy như ngộp thở bởi sự sở hữu đáng tự hào này.
Kedu?”, chàng hỏi, cúi xuống hôn lên môi nàng. Chàng quan sát mặt nàng thật kỹ, dường như chàng phải làm như thế để biết chắc là nàng khỏe mạnh. Chàng bắt đầu làm thế kể từ khi nàng trở lại từ Kano. Chàng bảo nàng là sự trải nghiệm ấy thay đổi nàng và làm cho nàng trở nên sống nội tâm nhiều hơn. Chàng dùng chữ giết người tập thể khi nói chuyện với bạn bè của chàng nhưng không bao giờ nói thế với nàng. Làm như chuyện tàn sát là chuyện xảy ra ở Kano còn cái nàng chứng kiến lại là một trải nghiệm.
“Em khỏe”, nàng nói. “Anh về hơi sớm phải không?”
“Mọi người kết thúc sớm vì ngày mai sẽ có một cuộc họp chung cho tất cả mọi người ở quảng trường”.
“Tại sao?” Olanna hỏi.
“Các vị trưởng lão quyết định đã đến lúc. Có đủ loại tin đồn là Abba cũng sắp phải di tản. Có mấy thằng ngu nói là quân đội liên bang đã tiến đến Awka!” Odenigbo cười lớn và ngồi xuống cạnh Olanna. “Em có đi không?”
“Họp?” Nàng không định đi. “Em đâu có phải là người Abba”.
“Em cũng là người Abba, nếu em đồng ý lấy anh. Em nên lấy anh”.
Nàng nhìn chàng. “Không chính thức cưới nhau mình sống cũng yên ấm vậy”.
“Đang có chiến tranh và mẹ anh sẽ phải quyết định làm thế nào với thân xác của anh nếu một mai anh có mệnh hệ gì. Em nên là người có quyền quyết định chuyện ấy”.
“Thôi đi, không có chuyện gì sẽ xảy ra với anh cả”.
“Đúng, anh sẽ chẳng có mệnh hệ gì. Anh chỉ muốn em đồng ý lấy anh làm chồng. Mình nên làm đám cưới. Bởi vì chuyện mình không cưới nhau không ổn nữa rồi. Không ổn tí nào”.
Olanna nhìn một con ong đất đang bay chập chờn xung quanh một cái tổ nằm dưới góc tường. Đối với nàng, chuyện không chính thức cưới nhau luôn có ý nghĩa; đó là cái nhu cầu bảo tồn tình yêu bằng cách gói nó trong lớp khăn quàng của sự khác biệt. Nhưng cái khuôn khổ cũ thích hợp với lý tưởng của nàng đã không còn và bây giờ Arize, cậu mợ Mbaezi - Ifeka suốt đời sẽ là những khuôn mặt chết lặng trong quyển album. Giờ đây đạn bom đã rơi đầy Nsukka. “Vậy là anh phải mang rượu đến gặp bố em,” Nàng nói.
“Như thế là em chấp thuận?”
Một con dơi lượn nhanh xuống và Olanna cúi thụp đầu. “Vâng, đó là lời chấp thuận”. Nàng trả lời.
Buổi sáng, nàng nghe người rao tin của làng đi ngang nhà, đánh một tiếng ogene [1] thật to. “Sẽ có một buổi họp cho tất cả người Abba, ngày mai, vào lúc bốn giờ chiều, ở Quảng trường Amaeze!” Coong-coong-coong. “Sẽ có một buổi họp cho tất cả người Abba, ngày mai, vào lúc bốn giờ chiều ở Quảng trường Amaeze!” Coong-coong-coong. “Abba báo cho biết tất cả mọi người phải tham dự!” Coong-coong-coong. “Người nào không tham dự buổi họp, Abba sẽ phạt!”
“Em tự hỏi không biết phạt nặng như thế nào”, Olanna nói, nhìn Odenigbo thay quần áo. Chàng nhún vai. Chàng chỉ có hai cái áo sơ-mi và vài cái quần mà Ugwu vội vàng mang theo. Nàng mỉm cười nghĩ rằng mình biết chàng sẽ mặc gì mỗi buổi sáng khi chàng thay quần áo.
Hai người mới vừa ngồi xuống ăn sáng thì chiếc xe Land Rover của bố mẹ nàng tiến vào.
“May quá”, Odenigbo nói. “Anh sẽ nói với bố em ngay. Tuần tới chúng ta có thể làm đám cưới ở luôn đây”. Chàng mỉm cười. Chàng có cái vẻ gì đó rất trẻ thơ kể từ khi nàng đồng ý kết hôn với chàng, một vẻ vui mừng rất trẻ thơ, nàng ước gì nàng cũng cảm thấy như thế.
“Anh biết cách thức không phải như thế”, nàng nói. “Anh và gia đình anh phải đi đến Umunnachi và làm cho đúng lễ nghi”.
“Dĩ nhiên là anh biết. Anh chỉ nói đùa thế thôi”.
Olanna đi ra cửa, tự hỏi không biết bố mẹ đến làm gì. Hai người chỉ mới đến thăm hồi tuần trước; lúc ấy nàng chưa thật sự sẵn sàng cho cuộc độc thoại đầy kích động của mẹ nàng trong khi bố nàng đứng cạnh gật đầu lia lịa: Đi về Umunnachi ở với bố mẹ; Kainene nên rời Port Harcourt cho đến khi mình biết chắc cuộc chiến này sẽ đi đâu về đâu; mấy đứa giúp việc người Yoruba mình để lại Lagos chắc là sẽ ăn cắp hết đồ trong nhà; mẹ nói cho con biết, mình nên thu xếp mang tất cả những chiếc xe trở lại.
Chiếc Land Rover đậu cạnh cây kola và mẹ nàng bước ra. Bà đi một mình. Olanna thở dài nhẹ nhõm khi thấy bố nàng không đi cùng. Mỗi lần đối phó với một người thì dễ hơn.
“Chào mẹ, nno”, Olanna ôm mẹ nói. “Mọi chuyện ổn chứ?”
Mẹ nàng nhún vai với cái vẻ mọi chuyện cũng thường. Bà mặc một cái váy bằng vải Anh màu đỏ và một cái áo màu hồng, giày thấp màu đen bóng. “Tất cả đều ổn”. Mẹ nàng nhìn quanh, giống như cái cách nàng nhìn, len lén, lần chót trước khi dúi vào tay nàng một phong bì đựng tiền. “Anh ta đâu rồi?”
“Odenigbo? Anh ấy đang ăn sáng ở trong nhà”.
Mẹ nàng đi trước ra hàng hiên, đứng dựa vào một cây cột. Bà mở ví, ra hiệu cho Olanna nhìn vào bên trong. Trong ấy chứa đầy đồ nữ trang lấp lánh, san hô hồng, vàng bạc cũng như đá quý.
“A! A! Mẹ, những thứ này để làm gì?”
“Đi đâu mẹ cũng mang theo chúng. Kim cương mẹ giấu trong áo nịt ngực”. Mẹ nàng thì thầm. “Nne, không ai biết chuyện gì sắp xảy ra. Bố mẹ nghe nói Umunnachi sắp thất thủ và quân đội liên bang đang ở rất gần đây”.
“Bọn phá hoại đâu có ở gần đây. Quân đội mình đã đánh đuổi chúng về đến Nsukka rồi”.
“Nhưng bao lâu thì chúng sẽ quay trở lại?”
Olanna không thích cái vẻ cau có gắt gỏng của mẹ, cái cách mẹ hạ thấp giọng như là không muốn Odenigbo nghe. Nàng quyết định không nên nói cho mẹ nghe dự định kết hôn của nàng. Chưa phải lúc.
“Tóm lại”, mẹ nàng nói, “bố và mẹ đã thảo xong kế hoạch. Bố mẹ sẽ thuê người chở bố mẹ đến Cameroon và lấy vé máy bay cho bố mẹ đi London. Chúng ta sẽ dùng giấy thông hành của người Nigeria; người Cameroon sẽ không cản trở bố mẹ. Chuyện không dễ dàng nhưng đã lo xong. Bố mẹ mua bốn vé”. Mẹ nàng vỗ nhẹ lên khăn trùm đầu của bà như để biết chắc là cái khăn vẫn còn ở đó. “Bố con đã đi đến Port Harcourt để nói với Kainene”.
Olanna thấy tội nghiệp thay trong cái nhìn khẩn khoản của bà. Mẹ nàng biết nàng sẽ không bỏ chạy đi London với bà và Kainene cũng thế. Nhưng mà bản tính của bà là vẫn cố gắng làm một cử chỉ đầy ý nghĩa dù biết trước là sẽ thất bại.
“Mẹ biết là con sẽ không đi mà”, nàng nói nhẹ nhàng và muốn vươn tay ra chạm vào làn da tuyệt diệu của bà. “Nhưng bố và mẹ nên đi, nếu làm như thế bố mẹ sẽ cảm thấy an toàn hơn. Con sẽ ở lại với Odenigbo và Bé By. Chúng con sẽ an toàn và đi Umuahia trong một vài tuần nữa để Odenigbo bắt đầu làm việc ở văn phòng Bộ”. Olanna ngập ngừng một chút. Nàng muốn nói chúng con sẽ làm đám cưới ở Umuahia nhưng thay vì thế nàng nói, “Chừng nào lấy lại được Nsukka chúng con sẽ trở lại”.
“Nhưng nếu không lấy lại được Nsukka thì sao? Nếu cuộc chiến tranh này cứ kéo dài thì sao?”
“Nó sẽ không kéo dài đâu”.
“Làm sao mẹ có thể bỏ con mà chạy cho an toàn mỗi cái mạng của mẹ thôi chứ?”
Nhưng Olanna biết là mẹ nàng rất có thể và sẽ làm việc ấy. “Chúng con sẽ an toàn mẹ ạ!”
Mẹ nàng quệt tay lau nước mắt, mặc dù không có giọt nước mắt nào cả, trước khi bà lấy ra từ trong ví một lá thư gửi bằng đường hàng không. “Đây là lá thư của Mohammed. Có người mang nó đến Umunnachi. Chắc anh ta nghe tin Nsukka phải di tản và nghĩ là con sẽ đến Umunnachi. Rất tiếc là mẹ phải mở lá thư, để biết chắc không có gì nguy hiểm trong ấy”.
“Không có gì nguy hiểm?” Olanna hỏi. “Gini? Mẹ nói cái gì thế?”
“Ai mà biết được? Chẳng lẽ nó không phải là kẻ thù sao?”
Olanna lắc đầu. Nàng mừng là mẹ nàng sẽ ra nước ngoài và nàng sẽ không phải chịu đựng bà cho đến khi cuộc chiến này chấm dứt. Nàng muốn chờ tới khi mẹ nàng về rồi mới đọc thư, để mẹ nàng không theo dõi nét mặt nàng mà tìm kiếm một biểu lộ xúc cảm, nhưng nàng không thể kìm được nên rút lá thư vẻn vẹn một trang giấy ra ngay. Nét chữ của Mohammed cũng như chính anh vậy, quý phái và mềm mại, với những đường uốn nét lượn trang nhã, lịch thiệp. Anh ấy muốn biết nàng có được an toàn hay không, anh ấy cho nàng số điện thoại để gọi nếu nàng cần giúp đỡ. Anh ấy nghĩ cuộc chiến này vô nghĩa và hy vọng nó sớm chấm dứt. Anh ấy nói yêu nàng.
“Cảm ơn Chúa là con đã không lấy hắn làm chồng”, mẹ nàng nói, nhìn nàng gấp lá thư. “Con có thể tưởng tượng được con sẽ lâm vào tình cảnh như thế nào không? O di egiwu!
Olanna không nói gì cả. Mẹ nàng đi về ngay sau đó; bà không muốn vào gặp Odenigbo. “Con vẫn có thể thay đối ý kiến, nne, cả bốn chỗ đều đã được mua rồi”, bà nói rồi bước lên xe, tay ôm chặt cái ví chứa đầy nữ trang. Olanna vẫy tay cho đến khi chiếc Land Rover khuất dạng.

Điều làm nàng ngạc nhiên là rất nhiều người, cả đàn ông lẫn đàn bà ở Abba đã đến quảng trường dự buổi họp, chật kín quanh cây udala cổ thụ. Odenigbo kể cho nàng nghe ngày chàng còn bé, chàng và đám bạn bị bắt đi quét quảng trường của làng vào buổi sáng, nhưng thay vì quét sân, mấy đứa đánh nhau giành mấy quả udala rụng. Mấy đứa không thể leo lên cây hái quả vì đó là điều cấm kỵ; udala thuộc về thần linh. Nàng nhìn lên cây lúc các trưởng lão nói chuyện với đám đông và tưởng tượng Odenigbo ở đây lúc còn là một cậu bé con, nhìn lên cây như thể nàng đang nhìn, và hy vọng tìm thấy một chút bóng dáng của thần linh. Không biết tính chàng có hiếu động như Bé By hiện giờ không? Rất có thể còn hiếu động hơn Bé By nữa ấy chứ.
“Abba, kwenu”, ông thầy dibia Nwafor Agbada nói; đây là người mà thiên hạ nói rằng thuốc của ông mạnh nhất vùng.
“Da-a-a!”, tất cả mọi người trả lời.
“Abba, kwezuenu!
“Da-a-a!”
“Abba chưa bao giờ bị ai đánh bại cả. Tôi nói là Abba chưa bao giờ bại trận cả”. Giọng của ông rất mạnh mẽ. Ông chỉ có vài mảng tóc trên đầu giống như mấy miếng bông gòn, cây gậy của ông rung mạnh lúc ông dậm nó xuống đất. “Chúng ta không kiếm chuyện tranh giành, nhưng khi mấy cái trò tranh giành của họ đến đây thì chúng ta sẽ đè bẹp họ. Chúng ta chiến đấu chống Ukwulu, Ukpo và tiêu diệt họ. Cha chúng ta chưa bao giờ kể cho chúng ta nghe về bất cứ cuộc chiến tranh nào mà chúng ta bị bại trận, ông chúng ta cũng chưa từng kể cho cha chúng ta điều đó. Chúng ta không bao giờ chạy bỏ quê hương. Ông cha chúng ta cấm điều đó. Chúng ta không bao giờ chạy bỏ quê hương!”
Đám đông reo hò. Olanna cũng thế. Nàng nhớ tới buổi biểu tình tán thành độc lập ở trường đại học. Hành động của đám đông luôn làm cho nàng có cảm giác được tán thành hay được san sẻ quyền lực, cái ý nghĩ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi mong manh tất cả mọi người đoàn kết lại trong một sự kiện độc nhất có thể xảy ra.
Nàng kể cho Odenigbo nghe về lá thư của Mohammed lúc hai người đi bộ về nhà sau buổi họp. “Anh ấy chắc là rất bứt rứt khó chịu về tất cả mọi chuyện xảy ra. Em không thể tưởng tượng được cảm giác của anh ấy”.
“Sao em có thể nói thế?” Odenigbo nói.
Nàng giật mình bước chậm lại và quay mặt về hướng chàng.
“Có chuyện gì thế?”
“Em nói là có một gã Hausa theo Hồi giáo khát máu đang bứt rứt! Hắn là một tên đồng lõa, đồng lõa một cách tuyệt đối trong tất cả những chuyện xảy ra với đồng bào của mình, làm sao mà em có thể nói là hắn ta bứt rứt?”
“Anh đang nói đùa phải không?”
“Anh có thể nói đùa được sao? Làm sao mà em có thể nói như thế sau khi em chứng kiến những chuyện ở Kano? Em có thể tưởng tượng nổi chuyện gì đã xảy ra với Arize? Chúng hãm hiếp đàn bà có thai trước khi mổ bụng họ!”
Olanna thụt lùi. Nàng vấp phải một hòn đá trên đường. Nàng không thể ngờ chàng lại có thể mang chuyện Arize ra nói như thế coi nhẹ một kỷ niệm đau buồn để cố giành phần thắng trong một cuộc tranh cãi không đáng có. Cơn giận dữ làm lòng nàng băng giá. Nàng bắt đầu đi nhanh qua mặt Odenigbo và khi về đến nhà, nàng ngã vật ở phòng khách, không ngạc nhiên khi Bóng Tối lại ám ảnh nàng. Nàng vật vã chống trả, cố gắng thở và cuối cùng kiệt sức nằm trên giường. Nàng không nói chuyện với Odenigbo ngày hôm sau và cả ngày hôm sau nữa. Khi người anh họ của mẹ nàng, bác Osita, đến từ Umunnachi để bảo cho nàng biết là nàng bị bắt buộc phải đi dự buổi họp ở làng của ông, nàng đã không nói cho Odenigbo biết. Nàng chỉ lẳng lặng bảo Ugwu chuẩn bị cho Bé By và khi Odenigbo đi họp, nàng chở chúng đi bằng xe của chàng.
Nàng nghĩ đến cách mà Odenigbo sẽ nói, “Anh xin lỗi, anh xin lỗi”, bằng một giọng hơi nóng nảy, làm như chàng có quyền được nàng tha thứ. Có lẽ chàng nghĩ rằng nếu nàng đã tha thứ tất cả mọi chuyện xảy ra vào lúc Bé By chào đời, chắc là nàng cũng sẽ tha thứ bất cứ chuyện gì khác nữa. Nàng ghét cái ý nghĩ ấy. Có lẽ đó là lý do tại sao nàng đã chẳng thèm nói cho chàng biết là nàng đi Umunnachi. Hay là nàng biết lý do tại sao nàng bị gọi đến Umunnachi và vì thế nàng không muốn thảo luận với Odenigbo.
Nàng lái xe trên con đường đất gồ ghề, cỏ mọc cao bên lề và nghĩ chuyện thật là thú vị khi dân làng có thể nói với mình Umunnachi mời bạn đến, như thế Umunnachi là một người chứ không phải là một làng. Trời đang mưa. Đường sá lầy lội. Nàng liếc nhìn căn nhà ba tầng của bố mẹ đang tiến dần về phía nàng lúc nàng lái xe qua đó; chắc là giờ họ đang ở Cameroon rồi, hay có lẽ đang ở London hoặc là Paris, đọc báo để biết tình hình thời cuộc ở quê nhà. Nàng đậu xe trước nhà ông bà, gần hàng rào bện bằng rơm. Bánh xe trơn trượt. Sau khi Ugwu và Bé By ra khỏi xe, nàng ngồi bất động một lúc lâu, nhìn giọt mưa chảy dài trên mặt kính. Nàng cảm thấy ngực thắt lại và nàng cần có thì giờ thở nhịp nhàng để giải tỏa nó, để có thể trả lời những câu hỏi của các vị trưởng lão đặt ra cho nàng trong buổi họp. Họ sẽ ôn tồn, nhưng trang trọng, và tất cả mọi người đều tề tựu trong phòng khách ngột ngạt, các cụ già, các bác, các chú, vợ của họ, vài người anh em họ và có thể có ai đó địu một đứa trẻ sau lưng.
Nàng sẽ nói thật mạch lạc rõ ràng và nhìn xuống nét phấn trắng vẽ đầy trên nền nhà. Có nét đã phai mờ từ nhiều năm, có nét thẳng đơn giản, có nét cong phức tạp, có chỗ là tên tắt của một người. Lúc còn bé, nàng đã nhìn ông nàng trình bày một phần nzu cho khách và nàng theo dõi tất cả những cử động của những người đàn ông lúc họ vẽ bằng phấn trên nền nhà và của tất cả những người đàn bà lúc họ để dây phấn lên mặt, đôi khi còn ăn cả phấn nữa. Có một lần, khi ông nàng bước ra, Olanna nhai một mẩu phấn và vẫn còn nhớ cái vị phấn lờ lợ trong mồm.
Ông của nàng, Nweke Udene, có lẽ sẽ chủ trì buổi họp nếu ông còn sống. Nhưng Nwafor Isaiah sẽ chủ trì buổi họp này; ông bây giờ là người già nhất của dòng họ, umunna. Ông sẽ nói, “Nhiều người đã trở về và chúng ta cứ dán mắt ra đường trông ngóng con cái chúng ta như vợ chồng Mbaezi - Ifeka và con gái chúng là Arize cũng như thông gia của chúng ta từ Ogidi. Chúng ta cứ chờ và chờ nhưng chúng ta vẫn chưa gặp lại họ. Nhiều tháng trôi qua và mắt chúng ta đã mỏi mòn vì ngóng trông. Chúng ta mời cháu đến buổi họp ngày hôm nay để kể cho chúng ta nghe những gì cháu thấy. Umunnachi đang hỏi về tất cả những người con của làng sống ở miền Bắc mà đã không thấy trở về. Cháu đã ở đó, cháu gái của chúng ta. Những gì cháu kể cho chúng ta nghe, chúng ta sẽ kể cho Umunnachi nghe”.
Hầu như mọi việc đều diễn ra đúng như thế. Chỉ có một chuyện Olanna không ngờ đến là bác Dozie, chị của mợ Ifeka, quát to. Đó là một người đàn bà dữ tợn; nghe đồn bác Dozie có lần đánh chồng, khi ông bỏ đứa con bị ốm ở nhà một mình và đi theo vợ lẽ. Lúc ấy bác Dozie bận đi hái khoai dừa ở agu. Đứa bé suýt chết, nghe nói, bác Dozie đã dọa là sẽ cắt cái của quý của đức lang quân trước khi bóp cổ ông cho đến chết, nếu đứa bé có mệnh hệ gì.
“Đừng nói láo, Olanna Ozobia, i sikwana asi!” Bác Dozie hét toáng lên. “Mày sẽ bị bệnh bỏng rạ nếu mày nói láo. Ai bảo mày là cái xác mày nhìn thấy chính là xác em tao? Ai bảo mày? Đừng có nói láo. Mày sẽ bị dịch tả mà chết”.
Con trai của bà, Dozie, dẫn bà đi chỗ khác. Thằng bé Dozie cao lớn đến nhanh. Lần nàng gặp nó gần đây nhất cũng đã vài năm. Nó nắm chặt mẹ và bà cố đẩy nó qua một bên như thể bà muốn nhào vào đập cho Olanna một trận. Olanna ước gì nàng có thể để cho bà làm việc ấy. Nàng muốn bác Dozie đánh nàng, tát nàng, nếu làm được như vậy bà sẽ thấy dễ chịu hơn và có thể biến tất cả những điều nàng kể với hội đồng trở thành điều bịa đặt. Nàng ước gì Odinchezo và Ekene cũng la mắng, tra vấn nàng tại sao còn sống sót mà không chết như em của họ, như cha mẹ của họ và em rể của họ. Nàng ước gì mọi người không chỉ ngồi đó, im lặng cúi nhìn như những người đàn ông đang chịu tang thường làm rồi sau đó nói với nàng rằng họ mừng là nàng không nhìn thấy thi thể của Arize; tất cả mọi người đều biết mấy tên quái vật đó làm gì với những người đàn bà có mang.
Odinchezo ngắt một cái lá thật to trên cây ede và đưa cho nàng để tạm dùng thay thế cái ô lúc nàng chạy vội vàng ra xe. Nàng chậm rãi mở cửa xe để mưa chảy lên trên mái tóc tết thành bím của nàng, qua mắt rồi lăn xuống má. Nàng ngạc nhiên khi thấy cuộc họp hội đồng gia tộc chấm dứt nhanh như thế và thời khắc xác nhận cái chết của bốn người trong gia đình diễn ra nhanh đến vậy. Nàng đã đem đến cho những người còn sống lý do để cử hành tang lễ, mặc đồ tang, tiếp khách đến chia buồn và nói “Ndo nu”. Nàng đã cho họ cơ hội tiếp tục sống sau khi để tang và coi như Arize, chồng và cha mẹ của cô ấy vĩnh viễn không còn. Bốn cái chết câm lặng, những đám tang được cử hành, không có thi thể mà chỉ dựa vào lời nói của nàng như tảng đá ngàn cân đè nghiến lấy tâm trí nàng. Nàng tự hỏi không biết mình có nhầm lẫn hay không, nếu như nàng chỉ tưởng tượng ra những xác chết nằm trong bụi cát, nhiều thi thể trong sân mà chỉ cần nhớ tới cũng đủ làm nàng nôn nao. Cuối cùng khi nàng mở cửa xe, Ugwu và Bé By phóng vội vào trong, nàng ngồi thừ người một lúc lâu, biết là Ugwu đang ngó chừng nàng với đầy vẻ âu lo và Bé By bắt đầu ngủ gật.
“Cô có muốn con lấy nước cho cô uống không?” Ugwu hỏi.
Olanna lắc đầu. Dĩ nhiên hắn biết là nàng không cần uống nước. Hắn chỉ muốn kéo nàng ra khỏi cơn mê để nàng nổ máy và đưa tất cả mọi người về Abba.
-----------------------
[1] Ogene: cổng.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương mười tám


Ugwu là người đầu tiên nhìn thấy người ta lũ lượt dẫn nhau đi trên con đường đất chạy ngang Abba. Họ kéo lê mấy con dê, mang khoai củ và đội thùng trên đầu. Trẻ con đội mấy cái chậu nhỏ hoặc kéo mấy đứa nhỏ hơn chạy loạn. Ugwu nhìn họ đi ngang qua, có người yên lặng, có người nói um sùm; hắn biết có rất nhiều người trong đám chạy loạn này không biết mình sẽ đi về đâu.
Ông Chủ về nhà sau buổi họp khi trời vừa sẩm tối. “Ngày mai mình sẽ đi Umuahia”, Ông Chủ nói. “Mình cũng đã định đi Umuahia từ trước rồi, chỉ là đi sớm hơn dự định một hay hai tuần thôi”. Ông Chủ nói rất nhanh, nhìn vào khoảng không. Ugwu tự hỏi không biết vì Ông Chủ không muốn thú nhận là làng của ông sắp thua trận hay bởi vì Olanna không chịu nói chuyện với Ông Chủ. Ugwu không biết chuyện gì xảy ra giữa hai người, nhưng bất kể là chuyện gì, chắc chắn nó phải xảy ra trong lúc hai người đi dự hội nghị của làng ở quảng trường. Olanna về nhà, im lặng một cách khác thường. Nàng nói chuyện như một cái máy. Nàng để hắn quyết định mọi việc từ thức ăn cho đến những gì liên hệ tới Bé By, suốt buổi ngồi thừ trên cái ghế nghiêng ngoài hàng hiên. Có lần hắn thấy nàng đi đến gốc cây ổi rồi ve vuốt thân cây, hắn tự nhủ sẽ đến kéo nàng đi, sau một phút, trước khi hàng xóm tưởng nàng lên cơn điên. Nhưng nàng không đứng lâu ở đó. Nàng lặng lẽ quay lại ngồi ở hàng hiên.
Lúc này nàng vẫn mang cái vẻ lặng lẽ ấy. “Em vào trong gói ghém quần áo và thức ăn cho tất cả mọi người để ngày mai mình đi, Ugwu”.
“Vâng, thưa cô”.
Hắn nhanh chóng thu xếp hành lý - nói cho cùng họ chẳng có mấy tài sản. Không giống như ở Nsukka, hắn gần như mụ mị với quá nhiều thứ để chọn lựa, giờ này, ở đây, hắn chỉ đem theo rất ít đồ. Hắn mang đồ ra, xếp sẵn vào trong xe từ rất sớm và đi vòng vòng quanh nhà để biết chắc là mình không quên thứ gì. Olanna đã gói mấy quyển album và tắm cho Bé By. Họ đứng chờ cạnh xe khi Ông Chủ kiểm tra mực nước và dầu trong máy xe. Trên đường, người ta lũ lượt đi từng nhóm, rất đông.
Cái cổng gỗ xây bằng bùn trong vách tường đằng sau nhà kêu cọt kẹt rồi mở ra và Aniekwena vào sân. Ông ấy là anh họ của Ông Chủ. Ugwu không thích cái lối nhếch mép giảo hoạt của ông ta; ông ta hay đến thăm vào giờ ăn và nói, “Ố! Ồ!”, một cách ngạc nhiên rất giả tạo khi Olanna mời ông cùng dùng bữa với gia đình nàng. Ông có vẻ vô cùng lo lắng. Sau lưng là mẹ của Ông Chủ.
“Chúng tôi đã chuẩn bị xong, Odenigbo, nhưng mẹ của chú không chịu thu xếp đồ của bà để đi”. Aniekwena nói.
Ông Chủ đóng nắp ca-pô. “Mẹ. Con tưởng mình đã thống nhất với nhau là mẹ sẽ đi Uke”.
Ekwuzikwananu nofu! Đừng có nói như vậy với mẹ! Con bảo là mình phải chạy và tốt hơn hết là mẹ nên đi về Uke. Nhưng con có nghe thấy mẹ đồng ý chưa nào? Mẹ có nói ‘ồ’ với con không?”
“Vậy mẹ có muốn đi Umuahia với chúng con không?” Ông Chủ hỏi.
Bà mẹ nhìn chiếc xe đã sẵn sàng khởi hành. “Nhưng tại sao con phải chạy chứ? Chạy đi đâu? Con có nghe thấy tiếng súng không?”
“Người ta chạy khỏi Abagana và Ukpo, điều đó có nghĩa là lính Hausa đang đến gần và sắp sửa vào đến Abba”.
“Thế con không nghe dibia nói là Abba chưa bao giờ bị thất thủ? Người nào có thể làm cho mẹ phải chạy, bỏ nhà bỏ cửa chứ? Alu melu! Con có biết là bố con đang mắng chúng ta không?”
“Mẹ, mẹ không thể ở lại đây. Không có ai ở lại đây cả”.
Bà ngẩng lên và nheo mắt, nhìn một cách chăm chú như là tìm một trái kola chín mùi trên cây quan trọng hơn là nghe lời Ông Chủ nói.
Olanna mở cửa xe và bảo Bé By ngồi vào ghế sau.
“Tin tức không tốt. Lính Hausa đang đến gần”, Aniekwena nói. “Tôi sẽ đi đến Uke. Nhắn cho chúng tôi biết tin khi chú đến Umuahia”. Ông ta quay người bỏ đi.
“Mẹ!” Ông Chủ quát to. “Đi thu dọn đồ ngay thôi!”
Mẹ Ông Chủ tiếp tục nhìn lên cây kola. “Mẹ sẽ ở đây coi chừng nhà cửa. Mấy đứa chạy đi rồi cũng phải quay về. Mẹ sẽ ở đây chờ. Tại sao mẹ phải bỏ nhà bỏ cửa mà chạy đi đâu chứ, gbo?
“Có lẽ nhẹ nhàng thuyết phục mẹ sẽ dễ hơn là la lối om sòm”, Olanna nói bằng tiếng Anh. Giọng nàng có vẻ xa cách, ngắn ngủn. Ugwu chưa hề nghe lại giọng nói này kể từ cái lần mấy tháng trước ngày Bé By chào đời.
Mẹ Ông Chủ nhìn họ một cách ngờ vực, cứ như bà chắc mẩm là Olanna vừa mới nói xấu bà bằng tiếng Anh.
“Chẳng lẽ mẹ không đi với chúng con thật sao?” Ông Chủ hỏi. “Biko. Đi với chúng con đi mà”.
“Đưa chìa khóa nhà của con cho mẹ. Có khi mẹ cần lấy đồ trong nhà”.
“Đi với chúng con đi mẹ”.
“Đưa chìa khóa cho mẹ”.
Ông Chủ trân trối nhìn bà rồi lặng lẽ đưa cho bà một chùm chìa khóa. “Xin mẹ đi với chúng con”, Ông Chủ lặp lại, nhưng bà chẳng trả lời rồi buộc chùm chìa khóa vào trong một chéo áo.
Ông Chủ leo lên xe. Lúc lái xe đi, ông cứ quay lại nhìn, có lẽ để xem mẹ có đổi ý không; biết đâu bà sẽ chạy theo Aniekwena ngay lập tức hay vẫy tay ra hiệu cho ông dừng lại. Nhưng bà đã chẳng làm thế. Bà đứng đấy, song không vẫy tay. Ugwu cũng nhìn bà cho đến khi họ rẽ ra đường đất. Tại sao bà có thể ở lại đó, chỉ một mình, không có người thân xung quanh như thế chứ? Nếu tất cả mọi người ở Abba đã bỏ đi, không còn ai buôn bán, họp chợ nữa, bà lấy đâu ra thức ăn?
Olanna chạm vào vai Ông Chủ. “Mẹ sẽ không sao đâu. Lính liên bang sẽ không ở lại Abba nếu họ đi qua”.
“Ù”, Ông Chủ nói, nghiêng người hôn lên môi nàng. Ugwu cảm thấy nhẹ người vì họ đã nói chuyện bình thường trở lại. Dòng người tị nạn đã bắt đầu thưa dần.
“Giáo sư Achara đã giúp chúng ta tìm một căn nhà ở Umuahia”, Ông Chủ vui vẻ nói to. “Có một số bạn cũ đã đến đấy, và mọi chuyện sẽ sớm trở lại bình thường. Mọi chuyện sẽ trở lại hoàn toàn bình thường”.
Vì Olanna vẫn lặng thinh, Ugwu trả lời, “Vâng, thưa ông”.

Ngôi nhà thì chẳng có vẻ gì bình thường cả. Mái tranh và vách tường nứt nẻ, không sơn siếc gì sất, Ugwu lo lắng, nhưng cũng không bằng cái hố được dùng làm cầu tiêu có tấm sắt gỉ sét đậy bên trên để đuổi ruồi. Nó làm Bé By sợ kinh hồn. Lần đầu tiên con bé phải dùng cái nhà cầu này, Ugwu giữ con bé thăng bằng còn Olanna thì dỗ dành nó. Bé By khóc mãi. Con bé khóc nhiều hơn trong những ngày kế tiếp, làm như nó chợt hiểu ra căn nhà này không xứng đáng với Ông Chủ. Căn nhà xấu xí, cỏ mọc lởm chởm và mấy khối xi măng chất đống ở góc nhà. Nhà hàng xóm thì quá gần, gần đến độ mình có thể ngửi thấy mùi xào nấu úng dầu và nghe tiếng trẻ con nhà họ khóc. Ugwu chắc chắn là Giáo sư Achara đã đánh lừa Ông Chủ thuê căn nhà này; có cái gì đó rất dối trá, xảo quyệt trong cặp mắt ốc nhồi của ông ta. Thêm vào đó, nhà ông ta ở cuối đường rất to và sơn trắng thật quyến rũ.
“Đây không phải là một căn nhà, thưa cô”, Ugwu nói.
Olanna cười to. “Nhìn em kìa. Chẳng lẽ em không biết là bao nhiêu người phải ở chung nhà với người khác sao? Vấn đề thật sự nghiêm trọng đấy. Còn bây giờ mình có một căn nhà với hai phòng ngủ, nhà bếp, phòng khách và phòng ăn. Mình rất may mắn là có quen biết một người ở ngay trong địa hạt Umuahia này”.
Ugwu không nói gì nữa. Hắn ước gì nàng đừng quá tin người như thế.
“Chúng ta quyết định tháng sau làm đám cưới”, vài ngày sau Olanna bảo hắn. “Đám cưới sẽ nhỏ thôi, tiệc cưới cũng làm ở đây”.
Ugwu nghe mà hết hồn. Đám cưới của họ, hắn tưởng tượng là phải tươm lắm lắm cơ, căn nhà ở Nsukka sẽ được trang hoàng như ngày hội, mấy tấm khăn trải bàn trắng tinh dưới những đĩa thức ăn đầy ú ụ. Tốt nhất là họ nên chờ cho đến khi chiến tranh chấm dứt, hơn là tổ chức tiệc cưới trong căn nhà chật chội, tù túng và gian bếp đầy mùi mốc ẩm này.
Ngay cả Ông Chủ cũng có vẻ chẳng để ý đến căn nhà. Buổi chiều, ông trở về từ văn phòng Bộ Nhân lực, ngồi bên ngoài, hài lòng nghe radio của Biafra và Đài BBC, làm như nền đất của hàng hiên không bết đầy bùn đất, làm như mấy cái ghế gỗ dài ở đó cũng giống như mấy ghế nệm sofa ở Nsukka. Bạn ông bắt đầu đến chơi sau đó vài tuần. Đôi khi Ông Chủ đi với họ đến quán rượu Mặt Trời Mọc ở cuối đường. Đôi khi ông ngồi nói chuyện với bạn ở hàng hiên. Những cuộc viếng thăm của bạn bè Ông Chủ làm Ugwu quên đi những khiếm khuyết tồi tàn của căn nhà. Hắn không còn dọn mời xúp ớt hay rượu, nhưng hắn có thể thường xuyên nghe những giọng trầm bổng, tiếng cười, tiếng hát, và cái giọng sang sảng của Ông Chủ. Sinh hoạt gần giống như ở Nsukka ngay sau tuyên bố ly khai; hy vọng mọi thứ sẽ trở lại như cũ.
Ugwu thích Julius, người mặc áo đính cườm dài đến đầu gối, nhà thầu xây dựng của quân đội, thường mang đến từng thùng bia hiệu Golden Guinea, mấy chai rượu whisky hiệu White Horse, đôi khi là xăng dầu đựng trong một cái thùng màu đen; cũng chính Julius là người đã đề nghị Ông Chủ xếp lá dừa lên nóc xe để ngụy trang và sơn đèn pha bằng nhựa đen.
“Có lẽ mình không đến nỗi bị oanh tạc, nhưng phải cẩn thận đề phòng!” Ông Chủ nói, lúc ông cầm chổi quét sơn trong tay. Một ít nhựa đen chảy qua cái chắn bùn làm bẩn màu sơn xanh. Sau đó, khi Ông Chủ vào trong nhà, Ugwu cẩn thận lau sạch, cho đến khi nhựa đen chỉ che bóng đèn pha.
Người khách mà Ugwu thích nhất là Giáo sư Ekwenugo. Ông là thành viên của ban Khoa học. Móng tay trên ngón trỏ của ông rất dài và giũa nhọn giống như một lưỡi dao găm nho nhỏ. Ông giũa móng tay lúc ông nói về cái mà ông và các đồng nghiệp đang chế tạo, loại mìn có sức công phá cực mạnh được gọi là ogbunigioe, dầu dùng cho phanh xe làm bằng dầu dừa, máy xe bằng kim loại vụn, xe tăng, lựu đạn. Mọi người reo mừng bất cứ khi nào ông tuyên bố một điều gì, Ugwu cũng reo mừng từ cái ghế của hắn trong nhà bếp. Giáo sư Ekwenugo tuyên bố hỏa tiễn đầu tiên của Biafra được chế tạo thành công đã tạo nên tràng pháo tay dữ dội.
“Chúng tôi vừa phóng hỏa tiễn chiều nay, vừa mới chiều nay thôi”, ông vừa nói vừa vuốt ve cái móng tay của ông. “Hỏa tiễn được chế tạo ở đất nhà. Đồng bào tôi ơi, chúng ta đang trên đường đi lên”.
“Chúng ta đang ở trên xứ sở của những thiên tài!” Julius nói trống không. “Biafra là đất của thiên tài!”
“Đất của thiên tài”, Olanna lặp lại, nét mặt thanh tú của nàng đang chuyển từ cười mỉm sang cười to.
Tiếng vỗ tay sau đó nhường chỗ cho tiếng hát.

Mãi-mãi đoàn kết!
Mãi-mãi đoàn kết!
Nước cộng hòa của chúng ta sẽ chiến thắng!


Ugwu cũng hát và lại ước gì mình có thể gia nhập Lực lượng Nhân dân Tự vệ hay quân chính quy, đi săn lùng bọn Nigeria núp trong lùm bụi. Những bản tin chiến sự trở thành những điểm sáng trong ngày của hắn, tiếng trống dập dồn, giọng nói hào hùng vang lên:

Đề cao cảnh giác là giá trị của tự do! Đây là Đài Phát thanh Biafra Enugu! Tiếp theo là bản tin chiến sự hằng ngày.

Sau những tin tức đầy lạc quan - quân đội Biafra đã đánh đuổi tàn quân của kẻ thù, quân Nigeria thương vong rất lớn, những cuộc thu dọn chiến trường đang kết thúc - hắn cứ mơ ước được gia nhập quân đội. Hắn sẽ giống như những người được tuyển mộ vào quân đội, ở trong trại huấn luyện - trong khi họ hàng và những người chúc mừng đứng bên ngoài reo hò - hắn sẽ xuất hiện, ánh mắt rạng ngời, trong bộ đồng phục uy nghi, thẳng cứng vì nhuộm hồ, hình nửa mặt trời vàng sáng rực trên tay áo.
Hắn thèm muốn được đóng một vai, sẵn sàng hành động. Chiến thắng. Vì thế khi tin tức được loan báo trên radio là Biafra đã lấy lại vùng đất chính giữa miền Tây và quân đội Biafra diễu hành ở Lagos, hắn cảm thấy một cảm giác kỳ lạ: nhẹ người vì thoát khỏi chiến tranh pha lẫn với sự thất vọng. Chiến thắng là của họ và hắn rất nóng lòng được trở lại căn nhà trên phố Odim, được ở gần gia đình hắn, được gặp lại Nnesinachi. Tuy vậy, chiến tranh hình như kết thúc quá sớm và hắn chưa kịp góp phần. Julius mang đến một chai whisky, những người khách cùng nhau hát và hò hét say sưa về sức mạnh của Biafra, về cái ngu của đám Nigeria, cái ngớ ngẩn của kẻ đọc tin tức trên Đài BBC.
“Nhìn mấy cái mồm bẩn thỉu của bọn Anh. ‘Một cú đánh thật đẹp mắt của Biafra’, đúng vậy!”
“Chúng ngạc nhiên vì vũ khí của Harold Wilson cho bọn Muslim chăn bò đã không giết chúng ta thật nhanh như chúng từng thầm hy vọng!”
“Anh nên trách bọn Nga, không phải bọn Anh”.
“Chắc chắn là bọn Anh. Lính của ta mang về một ít đạn đại bác của Nigeria thu được ở khu Nsukka để phân tích. Mỗi cái vỏ có in hàng chữ BỘ CHIẾN TRANH NGA trên ấy”.
“Mình cũng cứ bắt sang băng tần có giọng Anh trên đài mãi”.
“Vậy thì cả hai, Anh và Nga. Những sự hợp tác không được phép của Chúa sẽ không thành công”.
Tiếng nói càng lúc càng to, Ugwu không còn muốn nghe. Hắn đứng dậy, đi ra đằng sau ngồi trên những khối gạch ngói, xi-măng. Mấy đứa bé trong đội thiếu nhi đang tập trên đường bằng gậy có hình dáng như súng, đứa này gọi đứa kia là đại úy, tiểu đoàn trưởng bằng một giọng cao lanh lảnh.
Một người bán hàng rong đầu đội rất cân một cái mâm thật đầy đi qua. “Ai mua garri, garri đây!”
Cô ta dừng lại khi có một cô gái trẻ từ căn nhà đối diện gọi. Hai người mặc cả, đôi co một lúc rồi bỗng nhiên cô gái trẻ la lớn, “Này, chị bán hàng hay ăn cướp hả? Đừng có nói là mình bán garri với cái giá đó”.
Người bán hàng rong gầm gừ rồi bỏ đi.
Ugwu biết cô gái trẻ này. Ngay từ đầu hắn đã để ý đến cô ta vì cặp mông tròn thật là tròn lắc rất nhịp nhàng, hết bên này sang bên kia, theo nhịp bước của cô. Tên cô ta là Eberechi. Hắn đã nghe hàng xóm nói sau lưng cô ta rằng bố mẹ cô đã đem cô cho một viên sĩ quan từ nơi khác đến như người ta đem hạt kola cho một người khách đến chơi nhà. Nửa đêm, họ gõ cửa nhà viên sĩ quan, và khi cửa mở ra, người ta đẩy cô vào trong một cách nhẹ nhàng. Sáng hôm sau, ông sĩ quan tươi cười cảm ơn bố mẹ cô cũng đang cười rõ tươi, trong khi Eberechi đứng bên cạnh.
Ugwu nhìn cô nàng vào bên trong và tự hỏi không biết cô ta cảm thấy thế nào khi bị đem cho một người xa lạ, chuyện gì xảy ra sau khi cô bị đẩy vào phòng và ai là người có lỗi, bố mẹ cô ta hay ông sĩ quan. Hắn không muốn suy nghĩ quá nhiều về việc đổ lỗi cho người nào, mặc dù, việc này làm hắn nhớ lại chuyện của Ông Chủ và Olanna trong những tuần trước khi Bé By được sinh ra, những tuần mà hắn muốn quên đi hơn là nhớ.

Ông Chủ tìm thấy một người có thể ngăn mưa trong ngày cưới. Ông già đến sớm, đào một cái hố ở sau nhà, nhóm một đống lửa trong đó và ngồi trong đám khói xanh dày đặc ấy, thêm lá khô vào cho bén lửa.
“Không có cơn mưa nào đến cả, không có gì xảy ra cho đến khi đám cưới kết thúc”, ông nói khi Ugwu mang cho ông một đĩa cơm với thịt. Ugwu ngửi thấy mùi rượu gin nồng nặc trong hơi thở của ông. Hắn quay người vào bên trong để khói không bám vào cái áo sơ-mi đã được là cẩn thận của hắn. Hai người anh họ của Olanna, Odinchezo và Ekene, mặc quân phục đang ngồi trên hàng hiên. Người thợ chụp ảnh đang hí hoáy với cái máy ảnh. Có một vài người khách đang ngồi trong phòng khách, nói chuyện và cười, chờ Olanna, thỉnh thoảng có người đi đến đặt một cái gì đó - nồi, ghế, quạt máy - vào đống quà.
Ugwu gõ cửa phòng nàng và mở cửa.
“Giáo sư Achara đã sẵn sàng để đưa cô đến nhà thờ”, hắn nói.
“Được rồi”. Olanna không nhìn vào gương nữa. “Bé By đâu rồi? Con bé không ra ngoài chơi phải không? Tôi không muốn con bé làm bẩn áo đâu”.
“Em ấy đang ở trong phòng khách”.
Olanna đang ngồi trước một cái gương cong. Tóc nàng vấn cao để lộ rõ những nét thanh tú trên làn da mịn màng. Ugwu chưa bao giờ thấy nàng đẹp đến thế, tuy vậy, có một vẻ gì đó rất miễn cưỡng trong cái cách nàng vỗ nhẹ vào chiếc mũ màu ngà và hồng ở một bên đầu của nàng để chắc chắn là chiếc mũ được giữ chặt.
“Chúng tôi sẽ làm lễ mang rượu sau, khi nào quân đội của chúng ta giành lại Umunnachi”, nàng nói, làm như Ugwu không biết.
“Vâng, thưa cô”.
“Tôi có nhắn tin cho chị Kainene ở Port Harcourt. Chị ấy không đến, nhưng tôi vẫn muốn báo tin”.
Ugwu ngập ngừng. “Họ đang chờ, thưa cô”.
Olanna đứng dậy và ngắm mình. Nàng vuốt tay lên cái áo cưới màu ngà và hồng, xòe ra ở thắt lưng, ngừng tay, chỉ chỉ vào phía dưới đầu gối của nàng. “Mấy đường may không đều. Arize may chắc chắn đẹp hơn”.
Ugwu không nói gì. Ước sao hắn có thể thò tay ra và chạm vào môi nàng mà tẩy xóa nụ cười héo úa, nếu chỉ cần làm như thế là đã đủ.
Giáo sư Achara gõ vào cánh cửa khép hờ. “Olanna? Cô đã sẵn sàng chưa? Odenigbo và Julius đang chờ ở nhà thờ”.
“Tôi đã xong. Xin mời vào”, Olanna nói. “Ông có mang hoa không?”
Giáo sư đưa cho nàng một bó hoa nhựa đủ màu. Olanna bước lui lại. “Cái gì thế? Tôi muốn hoa tươi, Emeka”.
“Nhưng không có ai trồng hoa ở Umuahia. Dân ở đây chỉ trồng cái có thể ăn được”, Giáo sư Achara nói và bật cười.
“Thế thì tôi không ôm hoa vậy”, Olanna nói.
Trong một lúc lâu, hai người do dự không biết phải làm gì với bó hoa nhựa, Olanna ngần ngừ đưa bó hoa ra trong khi Giáo sư Achara đụng tay vào nhưng không cầm. Cuối cùng ông cầm lấy nó và nói, “Để tôi xem có thể tìm thấy cái gì khác không” rồi rời phòng.
Đám cưới rất đơn giản. Olanna không ôm hoa. Nhà thờ Công giáo Thánh Sebastian nhỏ và số người đến dự cũng chỉ chiếm phân nửa số ghế. Ugwu không để ý xem có những ai đến dự, bởi vì hắn còn mải nhìn chăm chăm vào cái khăn trắng cũ kỹ nhàu nát trải trên bàn thờ rồi tưởng tượng đến đám cưới của mình. Lúc đầu, cô dâu của hắn là Olanna, nhưng sau đó biến thành Nnesinachi và sau đó biến thành Eberechi với cặp mông tròn trịa hoàn hảo trong bộ áo cưới màu ngà và hồng có cái mũ bé xíu cùng một màu.
Sự hiện diện của Okeoma ở sau nhà đã mang Ugwu ra khỏi thế giới tưởng tượng của hắn. Okeoma không giống trước đây chút nào, theo trí nhớ của Ugwu; cái đầu bù xù, cái áo sơ-mi nhăn nheo của nhà thơ đã biến mất. Bộ quân phục phẳng phiu, vừa vặn làm anh ta có vẻ gọn gàng hơn, gầy hơn. Trên tay áo có dấu hiệu xương và đầu lâu bên cạnh hình nửa mặt trời vàng. Ông Chủ và Olanna ôm chầm lấy anh ta không biết bao nhiêu lần. Ugwu cũng muốn ôm chầm lấy anh bởi vì bộ mặt tươi cười của Okeoma đã mang quá khứ trở về với một sức mạnh mà trong một vài giây ngắn ngủi, Ugwu có cảm tưởng căn phòng mù mịt khói ngăn mưa là phòng khách của căn nhà trên phố Odim.
Okeoma dẫn theo người anh họ cao gầy, bác sĩ Nwala.
“Anh ấy là bác sĩ Giám đốc điều hành của Bệnh viện Albatross”, Okeoma giới thiệu. Bác sĩ Nwala cứ nhìn Olanna bằng vẻ chiêm ngưỡng rất lộ liễu và kỳ cục đến nỗi Ugwu muốn bảo anh ta là không được phép trố cặp mắt ốc nhồi ra nhìn Olanna, mặc cho anh ta có là bác sĩ hay không, không cần biết. Ugwu có cảm giác không những hắn có quan hệ với Olanna mà còn chịu trách nhiệm về hạnh phúc của nàng nữa. Lúc Ông Chủ và Olanna khiêu vũ bên ngoài trong tiếng vỗ tay của bạn bè, hắn nghĩ, họ là gia đình của mình. Đám cưới của họ giống như con dấu đảm bảo vững chắc, bởi vì hễ họ còn hứa là vợ chồng thì thế giới của hắn còn bền vững, an toàn. Họ khiêu vũ, hai thân thể kề sát nhau một lúc lâu cho đến khi Julius thay nhạc khiêu vũ bằng Tân nhạc, và họ được kéo rời ra, nắm tay, nhìn vào mắt nhau, nhún mình theo bài hát mới của Rex Lawson. “Chào mừng Biafra, Vùng đất của Tự Do”. Với đôi giày cao gót, Olanna cao hơn Ông Chủ. Nàng cười rạng rỡ. Khi Okeoma nâng ly nói lời chúc mừng, nàng lau nước mắt và bảo anh thợ nhiếp ảnh đứng đằng sau dàn máy, “Khoan, khoan, đừng chụp vội”.
Ugwu nghe thấy tiếng động ngay trước khi họ chuẩn bị cắt bánh trong phòng khách, cái tiếng gầm rít rền vang trên trời. Lúc đầu nó như tiếng sấm, xong nó ngừng một chút và trở lại, to hơn, nhanh hơn. Không biết từ đâu gần đây, đàn gà bắt đầu kêu quang quác.
Có người gào lên, “Máy bay địch! Bom!”
“Ra ngoài! Tất cả ra ngoài!” Ông Chủ hét to, nhưng có một vài người khách chạy vào phòng ngủ và kêu thất thanh, “Jesus! Jesus!”
Tiếng động trở nên to hơn, ngay trên đầu.
Họ chạy - Ông Chủ, Olanna ôm Bé By, Ugwu, thêm vài người khách - chạy ra luống khoai mì bên cạnh nhà và nằm sấp xuống. Ugwu nhìn lên và thấy máy bay lượn thấp trên bầu trời xanh như hai con chim săn mồi. Chúng vãi đạn tứ tung trước khi những quả bóng đen sẫm được lăn ra từ phía dưới bụng, cứ như mấy chiếc máy bay đang đẻ trứng khổng lồ vậy. Tiếng nổ đầu tiên to đến độ bên trong lỗ tai của Ugwu nghe có tiếng lùng bùng và người hắn run rẩy theo mặt đất đang rung chuyển. Người đàn bà trong căn nhà đôi diện chạy đến kéo áo Olanna. “Cởi áo ra! Cởi cái áo trắng này ra! Chúng sẽ nhìn thấy và nhắm vào chúng ta mà bắn!”
Okeoma giật phăng cái áo lính của mình, cúc văng tung tóe và quấn quanh người Olanna. Bé By bắt đầu khóc. Ông Chủ bịt hờ miệng con bé, làm như tên phi công có thể nghe thấy tiếng nó vậy. Tiếng nổ thứ hai tiếp theo sau, rồi thứ ba, thứ tư, thứ năm, cho đến khi Ugwu thấy nước tiểu ấm nóng trong quần đùi của mình và tin là trận bom sẽ không bao giờ chấm dứt. Nhưng chúng ngừng. Mấy cái máy bay bay xa dần. Không ai động đậy hay nói một lời nào, rất lâu, cho đến khi Julius đứng dậy nói, “Chúng đi rồi”.
“Mấy cái máy bay bay thấp dễ sợ”, một đứa bé trai nói một cách kích động. “Cháu nhìn thấy cả tên phi công!”
Ông Chủ và Okeoma là người đầu tiên đi ra ngoài đường. Okeoma nhìn có vẻ nhỏ thó hơn khi anh chỉ mặc cái áo lót và quần. Olanna tiếp tục ngồi trên mặt đất ôm Bé By, cái áo lính vẫn còn khoác bên ngoài áo cưới của nàng. Ugwu đứng dậy, đi ra ngoài đường. Hắn nghe bác sĩ Nwala nói với Olanna, “Để tôi giúp cô đứng dậy. Đất bẩn sẽ dính đầy áo của cô”.
Khói dâng lên từ khu nhà gần nhà máy xay ngô cách đó một con đường. Hai căn nhà bị sập, chỉ còn lại đống gạch vụn đầy bụi và một vài người đang đào xới điên cuồng chỗ đống xi-măng ngổn ngang nói, “Anh có nghe tiếng khóc, phải không?”. Một lớp bụi rất mịn màu bạc phủ lên khắp thân hình của họ, khiến họ giống như những bóng ma không có tay chân, mắt mở trân trân.
“Đứa bé còn sống, tôi nghe thấy tiếng khóc, tôi nghe thấy mà”, có người nào đó nói. Đàn ông, đàn bà xúm lại giúp và nhìn trân trối qua đống gạch vụn, có người chỉ đứng nhìn và một số khác nghiến răng rít lại cùng với cái búng tay. Một chiếc xe bị cháy, thân hình của một người phụ nữ nằm cạnh đó, quần áo đã cháy hết, một số chỗ lở loét màu hồng trên da thịt đã cháy nám đen và khi có người nào đó che thi hài này bằng một mảnh vải dệt bằng cây đay, Ugwu vẫn còn nhìn thấy cặp chân đen màu than. Trời âm u. Mùi ẩm ướt của cơn mưa sắp đến hòa lẫn với mùi khói cháy khét. Okeoma và Ông Chủ cũng tham gia đào xới đống gạch vụn. “Tôi nghe thấy tiếng đứa bé”, người nào đó lại nói, “Tôi nghe thấy tiếng đứa bé”.
Ugwu quay người đi. Có một chiếc xăng đan rất hợp thời trang đang nằm lăn lóc trên mặt đất, hắn nhặt chiếc dép lên và ngắm nghía cái quai da, cái gót hình khối tam giác trước khi trở lại chỗ cũ. Hắn hình dung một cô gái trẻ sang trọng đã đi đôi dép rồi tháo bỏ nó để chạy đến chỗ trú ẩn an toàn. Hắn tự hỏi còn chiếc kia đâu rồi.
Khi Ông Chủ về nhà, Ugwu vẫn còn ngồi trên nền nhà trong phòng khách, lưng dựa vào tường. Olanna đang khều khều miếng bánh trong cái đĩa con. Nàng vẫn còn mặc áo cưới; cái áo nhà binh của Okeoma đang vắt trên thành ghế bên cạnh. Khách khứa dần dần ra về, không ai nói năng gì nhiều, nét mặt họ như bị ám ảnh bởi một vẻ tội lỗi, dường như họ xấu hổ vì đã để cho trận oanh tạc phá vỡ đám cưới.
Ông Chủ tự rót cho mình một ly rượu dừa. “Em có nghe tin gì không?”
“Không”, Olanna trả lời.
“Quân ta đã mất hết những phần đất chiếm lại được ở giữa miền Tây, và cuộc tiến quân vào Lagos đã không thành. Nigeria đã tuyên bố bây giờ là chiến tranh chứ không phải là cảnh sát giữ an ninh trật tự nữa”. Chàng lắc đầu. “Chúng ta bị phản bội và bị bỏ rơi”.
“Anh có muốn thử không?” Olanna hỏi. Cái bánh được đặt giữa bàn, vẫn còn y nguyên, chỉ có một miếng nhỏ được nàng vừa mới cắt ra.
“Anh chưa muốn ăn lúc này”. Chàng uống nốt chỗ rượu dừa và rót thêm ly nữa. “Chúng ta phải đào một cái hầm trú ẩn”. Giọng chàng thản nhiên, làm như không phải cái chết vừa mới cận kề vài phút trước. Chàng quay sang Ugwu. “Em có biết cái hầm trú ẩn ra làm sao không, bạn tốt?”
“Có, thưa ông”, Ugwu trả lời. “Giống như cái của Hitler”.
“Tốt, ừ, tôi cũng nghĩ thế”.
“Nhưng thưa ông, người ta nói hẩm trú ẩn là nấm mồ tập thể”. Ugwu nói.
“Nói nhảm. Hầm trú ẩn an toàn hơn là ruộng khoai mì”.
Bên ngoài, màn đêm đã buông xuống, bầu trời thỉnh thoảng sáng rực vì ánh chớp. Olanna bất thình lình nhảy dựng lên từ ghế đang ngồi và hét to, “Bé By đâu rồi? Ke Bé By?”, rồi chạy thoắt vào trong phòng ngủ.
Nkem!” Ông Chủ chạy theo nàng.
“Anh có nghe không? Chúng lại đánh bom mình nữa kìa”.
“Đó là tiếng sấm”. Ông Chủ túm lấy Olanna từ phía sau và giữ nàng lại. “Đó chỉ là tiếng sấm. Chúng bị người ngăn mưa giữ lại, cuối cùng cũng được thả ra. Đó chỉ là tiếng sấm thôi”.
Chàng ôm nàng một lúc lâu cho đến khi Olanna ngồi xuống và tự cắt cho mình một miếng bánh khác.

4. Quyển Sách: Thế Giới Im Lặng Khi Chúng Tôi Chết
Ông ta lý luận rằng người Nigeria không có một nền kinh tế riêng cho đến khi họ có độc lập. Chính sách thực dân rất độc đoán, đó là một chính thể chuyên chế độc ác được thiết lập để bảo vệ quyền lợi của nước Anh. Nền kinh tế Nigeria trong thập niên 1960 chỉ gồm có tiềm năng - nguyên liệu thô, nhân lực, tinh thần cao, một ít tiền dự trữ của Bộ Thương mại để lại sau khi người Anh đã lấy đi một phần để xây dựng nền kinh tế hậu chiến của họ. Và mấy mỏ đầu mới được khám phá. Nhưng những nhà lãnh đạo mới của Nigeria đã quá lạc quan, quá tham vọng với những dự án phát triển mà họ nghĩ là sẽ chiếm được lòng tin cậy của nhân dân, quá ngây thơ trong việc chấp nhận tiền cho vay bóc lột của nước ngoài, quá phấn khởi trong việc bắt chước người Anh, học đòi thái độ kẻ cả ăn trên ngồi trốc, nhà thương tốt hơn, lương cao bổng hậu hơn, đã bỏ rơi người Nigeria khá lâu. Ông ta chi phác thảo tổng quát những vấn đề phức tạp mà một quốc gia mới thành lập phải đương đầu, nhưng tập trung vào cuộc thảm sát năm 1966. Những lý do ai cũng có thể nhìn thấy dễ dàng - trả thù “cuộc đảo chính Igbo”, chống đối sắc lệnh thống nhất có thể khiến người miền Bắc thất thế trong điều hành dân sự - không phải là vấn đề chính. Cả con số người chết, ba ngàn, mười ngàn hay năm chục ngàn cũng không phải là vấn đề chính. Vấn đề chính là cuộc thảm sát đã làm người Igbo sợ hãi và trở nên đoàn kết. Vấn đề chính là cuộc thảm sát đã biến những người vốn ban đầu là người Nigeria sau trở thành những người Biafra đầy nhiệt huyết.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Phần III
Đầu thập niên sáu mươi

Chương mười chín

Ugwu ngồi trên bậc thềm dẫn ra sân sau. Những giọt mưa rơi trên lá cây, không khí có mùi ẩm ướt, hắn và Harrison nói về chuyến đi sắp tới của Richard.
“Tufia! Không hiểu tại sao ông chủ lại muốn xem cái ngày hội quỷ ở làng của chú mày”, Harrison nói. Ông ta ngồi dưới Ugwu vài bậc thềm; Ugwu có thể nhìn thầy khoảng đầu hói của ông ta.
“Có thể ông Richard muốn viết sách về quỷ sứ”, Ugwu trả lời. Dĩ nhiên ori-okpa không phải là ngày hội quỷ, nhưng hắn không nên bất đồng ý kiến với Harrison. Hắn cần Harrison ở trong trạng thái vui vẻ để hắn có thể hỏi ông về hơi cay. Hai người im lặng một lúc lâu, nhìn mấy con kền kền bay lượn trên đầu; nhà hàng xóm vừa mới giết một con gà.
“À, mấy quả chanh này đã chín rồi”, Harrison chỉ về phía cây chanh. “Tôi dùng mấy quả tươi để làm bánh meringue [1]”, ông nói thêm bằng tiếng Anh.
“Me-rinh là cái gì?” Ugwu hỏi. Harrison sẽ thích nghe những câu hỏi như thế này.
“Chú mày không biết nó là cái gì à?” Harrison cười. “Đó là thức ăn của người Mỹ. Tôi sẽ làm để ông chủ mang đến đây khi cô chủ của chú mày từ London về. Tôi biết cô ấy sẽ thích loại bánh này”. Harrison quay sang liếc nhìn Ugwu. Ông ta trải tờ báo xuống trước khi ngồi lên bậc thềm; tờ báo nhăn nhúm lúc ông ta xê dịch. “Cả chú mày cũng sẽ thích nó”.
“Vâng”, Ugwu nói, mặc dù hắn thề là sẽ không bao giờ ăn thức ăn của Harrison sau khi hắn ghé qua nhà của Richard và nhìn thấy Harrison dùng thìa múc vỏ cam bỏ vào một nồi xốt. Có thể hắn sẽ ít cảnh giác hơn nếu nhìn thấy Harrison nấu bằng trái cam; nhưng đằng này lại nấu bằng vỏ, thật chẳng khác gì việc chọn miếng da đầy lông của con dê thay vì dùng thịt của nó.
“Tôi cũng sẽ dùng chanh để làm bánh; chanh rất tốt cho cơ thể”, Harrison nói. “Thức ăn của người da trắng bổ dưỡng, không giống mấy thứ vô vị người mình hay ăn”.
“Vâng, đúng vậy”. Ugwu đằng hắng. Đáng lẽ hắn nên hỏi về hơi cay bây giờ nhưng hắn lại nói lảng sang chuyện khác, “Để cháu chỉ cho ông xem phòng của cháu”.
“Ừ” Harrison đứng dậy.
Khi hai người vào phòng của Ugwu, hắn chỉ lên trần nhà, trang trí theo mẫu hình trắng đen. “Cháu tự làm đấy”, hắn nói. Hắn đã nâng một mẩu nến rọi lên trên ấy hàng giờ, thường xuyên ngừng lại để dịch chuyển cái bàn hắn dùng để đứng lên.
O maka, đẹp quá”. Harrison nhìn cái giường lò xo hẹp ở trong góc, bàn và ghế, những cái áo sơ-mi treo lên hàng đinh đóng vào tường, hai đôi giày xếp cẩn thận trên nền nhà. “Mấy đôi giày này mới đấy hả?”
“Cô chủ mua cho cháu ở tiệm Bata”.
Harrison rờ đống nhật báo trên bàn. “Chú mày đọc mấy cái này hả?” Ông ta hỏi bằng tiếng Anh.
“Vâng”. Ugwu đã lấy lại từ thùng đựng sách báo cũ; tờ Mathematial Annals thì không thể hiểu nổi, nhưng ít nhất là hắn cũng đọc, cho dù không hiểu hết, vài trang của tờ Socialist Review.
Trời bắt đầu đổ mưa. Tiếng mưa lộp độp trên mái tôn trở nên to và càng to hơn hơn khi đứng dưới mái hiên và nhìn nước mưa rơi xuống từ mái nhà, tạo thành những đường song song.
Ugwu đập đen đét vào cánh tay của mình - hắn thích không khí mát lạnh của trời mưa, nhưng không thích bầy muỗi bay vo ve xung quanh. Cuối cùng rồi hắn cũng hỏi câu mà hắn muốn hỏi tò lâu. “Ông có biết làm cách nào để tìm được hơi cay không?”
“Hơi cay? Tại sao chú mày hỏi thế?”
“Cháu đọc về nó trên báo của Ông Chủ cháu, và cháu muốn xem nó ra làm sao”. Hắn không muốn nói cho Harrison biết, thật ra hắn nghe Ông Chủ nói về hơi cay khi ông kể các nhân viên của Hạ viện miền Tây đấm đá lẫn nhau cho đến khi cảnh sát tới xịt hơi cay khiến họ ngất xỉu và những người giữ trật tự đến vác thân thể mềm rũ của họ ra xe. Hơi cay làm Ugwu mê quá. Nếu nó thực sự có thể làm người ta ngất xỉu thì Ugwu muốn có loại hơi cay này. Hắn sẽ xịt hơi cay vào Nnesinachi khi hắn về thăm nhà với Richard để dự hội làng ori-okpa. Hắn muốn dẫn cô ra cánh rừng cạnh dòng suối và bảo cô nàng hơi cay là một loại thuốc xịt có phép màu làm cho cô khỏe mạnh. Cô nàng sẽ tin lời hắn. Cô nàng sẽ rất nể phục hắn khi nhìn thấy hắn về làng bằng xe hơi của một người da trắng, do đó sẽ tin hết những lời hắn nói.
“Rất khó mà tìm được hơi cay”, Harrison nói.
“Tại sao?”
“Chú mày còn nhỏ quá nên không hiểu đâu”. Harrison gật đầu một cách bí mật. “Chừng nào chú mày là một người trưởng thành, tôi sẽ nói cho”.
Đầu tiên, Ugwu hơi khó nghĩ, trước khi hắn nhận ra rằng Harrison cũng chẳng biết hơi cay là cái thá gì song không muốn thú nhận. Hắn hơi thất vọng. Hắn phải hỏi Jomo.
Jomo biết hơi cay là gì và ông ta cứ cười như nắc nẻ tới khi Ugwu nói cho ông ta biết mục đích dùng hơi cay của mình. Jomo chắp tay vào nhau lúc ông ta cười. “Chú mày là một con cừu, aturu”, cuối cùng Jomo nói. “Tại sao chú mày lại muốn dùng hơi cay với một đứa con gái? Nghe này, về làng, khi thời gian thích hợp và cô ấy cũng thích chú mày, cô ấy sẽ đi theo và làm theo lời chú mày. Chú mày không cần phải dùng hơi cay”.
Ugwu nhớ lời của Jomo lúc Richard chở hắn về làng sáng hôm sau. Anulika chạy ra đường mòn khi nó nhìn thấy hai người và nó dạn dĩ bắt tay Richard. Nó ôm chầm lấy Ugwu và, khi tất cả mọi người cùng đi về, nó kể cho Ugwu biết là bố mẹ đang ở ngoài nông trại, người chị họ mới vừa sinh một em bé hôm qua, Nnesinachi đã đi lên miền Bắc tuần trước.
Ugwu dừng lại và nhìn nó chòng chọc.
“Có chuyện gì xảy ra à?” Richard hỏi. “Hội làng không bị hủy bỏ đấy chứ?”
Ugwu thầm ước sao cái ngày hội này được hủy bỏ. “Không, thưa ông”.
Hắn dẫn đường ra quảng trường, đàn ông, đàn bà và trẻ em đã tụ họp, và ngồi đầy dưới gốc cây oji với Richard. Không bao lâu, lũ trẻ vây lấy hai người, reo hò: “Onye ocha, người da trắng”, rồi thò tay ra sờ tóc của Richard. Chàng nói, “Kedu? Xin chào, em tên là gì?”, chúng nhìn chàng chằm chặp, cười khúc khích và nép vào nhau. Ugwu dựa người vào thân cây và thầm tiếc khoảng thời gian mà hắn đã bỏ ra để tơ tưởng đến lúc gặp Nnesinachi. Bây giờ cô ta đã đi mất và một gã lái buôn miền Bắc sẽ đoạt được cái của trời cho ấy. Khó khăn lắm hắn mới nhận thấy mmuo: những thân hình cường tráng đổ bóng trên cỏ, họ đeo những chiếc mặt nạ gớm ghiếc và mấy ngọn roi dài đong đưa trong tay. Richard chụp ảnh, ghi chép vào sổ tay, đặt câu hỏi, hết câu này đến câu khác - đó là cái gì, họ nói những gì, mấy người đang kìm giữ mmuo bằng sợi dây là ai, điều đó có nghĩa gì - cho đến khi Ugwu thấy bực bội vì hơi nóng, vì mấy câu hỏi vớ vẩn, vì tiếng ồn ào và vì nỗi thất vọng do không được gặp Nnesinachi.
Trên đường về, hắn chỉ nhìn qua cửa xe, chẳng nói lấy một lời.
“Em đã thấy nhớ nhà, phải không?” Richard hỏi.
“Vâng, thưa ông”, Ugwu trả lời. Hắn muốn Richard im mồm đi. Hắn chỉ muốn được yên tĩnh một mình. Hắn hy vọng Ông Chủ vẫn còn ở câu lạc bộ để hắn có thể lấy tờ Renaissance ở phòng khách rồi cuộn tròn trong phòng mà đọc. Hoặc hắn có thể xem ti vi; nếu may mắn, hắn sẽ được xem một bộ phim Ấn Độ. Đôi mắt to đẹp của các cô diễn viên, lời ca, hoa, ánh sáng rực rỡ, lời than khóc... là những thứ mà hắn rất cần lúc này.
Khi mở cửa sau để vào nhà, hắn sững sờ nhìn thấy mẹ của Ông Chủ đang đứng cạnh bếp. Amala đứng bên cửa. Ngay cả Ông Chủ cũng không biết họ đến, nếu không Ông Chủ đã bảo hắn dọn dẹp phòng dành cho khách.
“Ồ”, hắn nói. “Chào bà ạ, chào cô Amala”. Lần viếng thăm trước vẫn còn in đậm dấu ấn trong tâm trí hắn: Bà cụ quấy nhiễu Olanna, gọi nàng là một mụ phù thủy, mắng nhiếc nàng và tệ nhất là còn đòi rước dibia yểm nàng.
“Cháu có khỏe không, Ugwu?” Bà sửa cái váy của mình trước khi vỗ nhẹ lưng hắn. “Con ta nói là cháu chỉ cho một ông da trắng xem thần linh trong làng cháu, phải không?”
“Vâng, thưa bà”.
Hắn có thể nghe giọng nói sang sảng của Ông Chủ ở phòng khách. Có lẽ một người khách đến thăm và Ông Chủ quyết định không đến câu lạc bộ.
“Cháu có thể đi nghỉ, i nugo”, bà cụ nói. “Ta đang sửa soạn cơm tối cho con ta rồi”.
Khi bà chiếm giữ căn bếp của hắn và dùng cái chảo Olanna thích nhất để nấu món ăn nặng mùi của bà thì niềm ao ước mãnh liệt duy nhất của hắn là mong sao bà ấy về đi. Nhưng hắn lại nói: “Cháu ở đây để phòng khi bà cần sai bảo, thưa bà”.
Bà nhún vai và tiếp tục nhặt hạt tiêu. “Cháu nấu ofe nsala có ngon không?”
“Cháu chưa bao giờ nấu món ấy ạ”.
“Tại sao vậy? Con ta thích món này lắm”.
“Cô chủ của cháu chưa bao giờ bảo cháu nấu ạ”.
“Nó không phải là cô chủ của cháu, rõ chưa. Nó chỉ là một con đàn bà sống chung với người đàn ông đã nhặt nó về”.
“Vâng, thưa bà”.
Bà cụ mỉm cười, lấy làm vui mừng khi thấy hắn hiểu ra một việc hệ trọng và ra hiệu chỉ vào hai cái bình bằng đất nung ở trong góc. “Ta mang một ít rượu dừa mới cất cho con ta. Người cất rượu giỏi nhất trong làng vừa mới mang đến cho ta sáng nay”.
Bà rút cái nút lá của một bình và rượu sánh tràn ra, trắng, tươi, mùi ngọt thơm bốc lên. Bà rót một ít vào ly, đưa cho Ugwu.
“Thử xem!”
Vị rượu rất nồng trên lưỡi của hắn, loại rượu dừa đậm đặc được chế biến từ nhựa cây dừa trong mùa khô làm dân làng say rất nhanh, vừa uống vào đã chân nam đá chân chiêu. “Cảm ơn bà. Rượu ngon lắm”.
“Người làng cháu nấu rượu có khéo không?”
“Thưa bà, có ạ”.
“Nhưng chắc không bằng người làng ta. Rượu Abba ngon nhất xứ Igbo. Đúng không, Amala?”
“Đúng thế thưa bà”.
“Rửa cái chén này cho ta”.
“Vâng, thưa bà”. Amala bắt đầu rửa chén. Vai và cánh tay của cô lắc theo nhịp chuyển động. Ugwu chưa từng nhìn kỹ cô ta, thì bây giờ hắn mới để ý thấy hai cánh tay thon, đen sẫm và cả khuôn mặt của cô ướt bóng nhẫy, tựa như cô ta tắm bằng dầu lạc vậy.
Giọng của Ông Chủ to và khẳng khái, vẳng tới từ phòng khách. “Nhà cầm quyền ngu dốt của chúng ta cũng nên chấm dứt quan hệ với bọn Anh. Chúng ta phải bày tỏ quan điểm chính trị của mình. Tại sao nhà cầm quyền Anh không tích cực hơn ở Rhodesia? Cái chuyện phong tỏa kinh tế một cách què quặt này thì có làm được trò trống gì?”
Ugwu đến gần cửa để lắng nghe; chuyện ở Rhodesia và những gì đang xảy ra ở Nam Phi luôn hấp dẫn hắn. Hắn không thể hiểu được tại sao những người giống như Richard lại có thể tước đoạt những gì thuộc về những người dân giống như hắn, Ugwu, mà chẳng có lý do chính đáng gì cả.
“Lấy cho ta cái mâm, Ugwu”. Bà cụ nói.
Ugwu lôi ra một cái mâm cất trong tủ đựng bát và sắp xếp như muốn giúp bà cụ dọn thức ăn cho Ông Chủ, nhưng bà xua tay đuổi hắn đi chỗ khác. “Ta ở đây nên cháu có thể nghỉ một chút. Tội nghiệp cháu quá. Cái con mụ ấy sẽ tiếp tục hành hạ cháu khi nó ở nước ngoài về, làm như thể cháu không phải là con người vậy”. Bà mở một gói gì nho nhỏ và rắc vào bát xúp. Ugwu đột nhiên nghi ngờ; hắn nhớ đến con mèo đen xuất hiện ở sân sau khi bà cụ đến lần trước. Và cái gói cũng màu đen nữa, giống như màu lông con mèo.
“Cái gì thế, thưa bà? Cái mà bà bỏ vào trong thức ăn của Ông Chủ con ấy?” Hắn hỏi.
“Đó là một thứ gia vị đặc biệt của người Abba”. Bà quay lại, nhếch môi cười. “Nó ngon lắm”.
“Vâng, thưa bà”. Rất có thể là hắn sai khi nghi ngờ bà bỏ thuốc của dibia vào trong thức ăn của Ông Chủ. Có thể Olanna nói đúng và con mèo đen chẳng có nghĩa lý gì cả, chỉ đơn giản là con mèo của láng giềng, mặc dù hắn không biết nhà nào lại có con mèo đen với đôi mắt lóe sáng màu vàng và đỏ như thế.
Ugwu không còn nghĩ về thứ gia vị lạ lùng hay là con mèo đen nữa, bởi vì khi Ông Chủ ăn tối, hắn đã lén rót một ly rượu dừa và thêm một ly nữa bởi vì nó ngọt quá, sau đó hắn có cảm giác như trong đầu hắn có lót một lớp len rất mềm. Hắn đi không nổi. Tiếng Ông Chủ chập chờn vang ra từ phòng khách, “Chúc mừng tương lai của Phi châu vĩ đại! Chúc mừng những người anh em độc lập của chúng ta ở Gambia và những anh em Zambia đã rời bỏ Rhodesia!”, theo sau đó là một chuỗi cười giòn giã. Rượu dừa cũng làm Ông Chủ say. Ugwu cười hùa theo, mặc dù hắn ở trong nhà bếp và cũng không biết chuyện gì tức cười. Cuối cùng hắn ngủ gục trên ghế, gục đầu xuống cái bàn sặc sụa mùi cá khô.
Hắn thức dậy, thấy mấy khớp xương của mình cứng ngắc. Mồm hắn chua lè và đầu nhức nhối, hắn ước gì mặt trời không chói chang quá như thế và Ông Chủ đừng nói to đến thế sau khi đọc mấy tờ báo lúc điểm tâm. Vì sao lại có nhiều chính khách vẫn còn tại chức hơn là người mới được tuyển cử? Toàn là trò bẩn thỉu. Cuộc bầu cử này là sự gian lận tồi tệ nhất. Mỗi chữ như phập phồng, đập thon thót trong đầu của Ugwu.
Sau khi Ông Chủ đi làm, bà cụ hỏi, “Thế cháu không đi học à, gbo, Ugwu?”
“Chúng cháu đang nghỉ lễ ạ”.
“Ồ!” Bà có vẻ thất vọng.
Sau đó, bà chà xát cái gì đó lên lưng của Amala và cả hai đang đứng trước phòng tắm. Sự hoài nghi của hắn quay trở lại. Có cái gì đó không được bình thường trong cách bàn tay của bà cụ xoa tròn, chậm chạp, như hòa hợp nhịp nhàng, như một nghi lễ, và thêm vào đó, cái cách Amala đứng yên lặng, lưng thẳng và tấm quấn của cô trễ xuống tận thắt lưng, đường cong của bộ ngực nhỏ nhắn của cô có thể nhìn thấy từ bên hông. Có lẽ bà cụ đang thoa thuốc lên người Amala. Nhưng thật vô lý, bởi vì nếu thật sự bà cụ đi gặp dibia, thuốc sẽ phải dành riêng cho Olanna chứ không phải cho Amala. Hay là loại bùa chú này hiệu nghiệm với đàn bà và bà cụ phải tìm cách bảo vệ chính mình và Amala để chắc chắn chỉ có Olanna chết, hoặc là không sinh nở được, hoặc trở nên điên cuồng, có lẽ bà cụ đang làm thí nghiệm đợt đầu để tự bảo vệ vì Olanna đang ở London và bà sẽ chôn thuốc này trong sân cho đến khi Olanna trở lại.
Ugwu rùng mình. Có cái gì rất đen tối đang treo lơ lửng trong nhà. Hắn lo sợ bởi cái vẻ hớn hở của bà cụ, bởi cái cách bà hát ư ử trong miệng rất lạc giọng, cái cách bà giành quyền nấu ăn phục vụ Ông Chủ, những lời bà thầm thì vội vội vàng vàng với Amala. Hắn lén nhìn theo bà một cách chăm chú mỗi khi bà đi ra ngoài để xem bà có chôn cái gì không, để hắn có thể đào lên khi bà vào trong nhà. Nhưng bà chẳng chôn gì cả. Khi hắn kể cho Jomo nghe về việc hắn nghi bà cụ đã đi cầu dibia để tìm cách giết Olanna, Jomo nói, “Rất đơn giản, bà cụ rất vui mừng vì có lại người con trai cho riêng mình, thế nên bà ta sung sướng đến độ nấu ăn và hát mỗi ngày. Chú mày có biết mẹ ta sung sướng như thế nào mỗi lần ta về thăm bà mà không dẫn vạ theo không?”
“Nhưng lần trước, khi bà đến thăm, em thấy con mèo đen”, Ugwu nói.
“Cái con bé giúp việc nhà của Giáo sư Ozumba ở cuối đường là một mụ phù thủy. Nó bay lên ngọn cây xoài ban đêm để gặp đám bạn phù thủy của nó, vì ta luôn phải quét lá bọn chúng ném xuống. Con bé đó mới chính là người mà con mèo đen đang tìm”.
Ugwu cố gắng tin Jomo, tin là hắn tìm tòi lý do quá sâu xa nhưng không có thực về hành động của bà cụ, cho đến tối hôm sau, lúc bước vào bếp sau khi nhổ cỏ ở mảnh vườn, hắn nhìn thấy ruồi bâu đầy trên đống bọt trong chậu rửa bát. Cửa sổ hầu như không mở. Hắn chưa bao giờ nhìn thấy nhiều ruồi đến thế, cả trăm con ruồi xanh bụ bẫm có thể len vào chỗ cửa mở hé, tạo thành đàn ruồi dày đặc, hỗn loạn. Chúng tượng trưng cho một cái gì đó khủng khiếp. Ugwu chạy vào phòng làm việc gọi Ông Chủ.
“Quái lạ”, Ông Chủ nói; ông gỡ mắt kính rồi lại đeo vào. “Tôi tin là Giáo sư Ezeka có thể giải thích hiện tượng này, một dấu hiệu của sự di cư tập thể. Đừng đóng cửa sổ, nếu không em sẽ tình cờ bẫy chúng trong nhà đây”.
“Nhưng, thưa ông”, Ugwu nói; ngay lúc đó bà mẹ của Ông Chủ bước vào bếp.
“Đôi khi lũ ruồi vẫn thế”, bà nói. “Chuyện này cũng bình thường thôi. Chúng sẽ đi ra bằng chính cái cách chúng vào”. Bà dựa vào cửa và giọng của bà đầy vẻ đắc thắng.
“Vâng, vâng”. Ông Chủ quay trở lại phòng làm việc. “Mang trà. Bạn tốt của tôi”.
“Vâng, thưa ông”. Ugwu không thể hiểu được tại sao Ông Chủ không mấy bận tâm, tại sao ông ấy không nhận thấy rằng đám ruồi đó chẳng bình thường chút nào. Lúc hắn mang trà vào phòng làm việc, hắn nói, “Thưa ông, mấy con ruồi đó ngầm báo với chúng ta một điều gì đấy”.
Ông Chủ chỉ lên bàn. “Đừng rót trà, cứ để đấy”.
“Mấy con ruồi trong nhà bếp, thưa ông, đó là điềm của một thứ thuốc có hại của dibia. Có người đã chế ra một loại thuốc nguy hiểm”. Ugwu muốn nói thêm rằng hắn biết rất rõ người ấy là ai, nhưng hắn không rõ Ông Chủ sẽ phản ứng như thế nào.
“Cái gì?” Mắt Ông Chủ nheo lại sau cặp kính.
“Mấy con ruồi, thưa ông. Có nghĩa là có người làm thuốc yểm căn nhà này”.
“Đóng cửa lại và để tôi làm việc, bạn tốt”.
“Vâng, thưa ông”.
Khi Ugwu quay trở lại nhà bếp, đám ruồi đã bay đi mất. Cánh cửa sổ vẫn ở nguyên vị trí cũ, hơi hé mở; ánh nắng chiều yếu ớt chiếu sáng lên một lưỡi dao phay trên bàn. Hắn không muốn đụng vào cái gì cả; những chuyện bí hiểm bao trùm xung quanh hắn đã làm dơ bẩn cả bát đĩa xoong chảo. Lần đầu tiên hắn thấy mừng vì đã để cho bà cụ nấu ăn, nhưng hắn không ăn món ugba và cá rán bà nấu cho bữa tối, không nhấm một chút nào món rượu dừa còn dư sau khi đã đãi Ông Chủ và khách, và cũng không ngủ yên đêm đó. Hắn bồn chồn, trằn trọc, nước mắt giàn giụa, ước gì hắn có thể nói chuyện với người nào hiểu chuyện như Jomo, dì của hắn và Anulika. Cuối cùng hắn ngồi dậy, đi vào gian nhà chính để lau bụi bám trên bàn ghế, tìm một việc gì nhẹ nhàng và không cần chú tâm để khỏi phải suy nghĩ vẩn vơ. Ánh ban mai nhờ nhờ đỏ chiếu hắt bóng trong gian bếp. Hắn rón rén bật đèn như sợ gặp phải một cái gì đó. Chẳng hạn như mấy con bọ cạp; có lần một người vì ghen đã thả bọ cạp vào lều của chú hắn, và liên tiếp mấy tuần lễ, cứ mỗi lần thức giấc là chú hắn lại nhìn thấy mấy con bọ cạp đen bò lởn vởn xung quanh hai đứa con sinh đôi mới sinh của ông. Một trong hai đứa bé bị bọ cạp cắn, suýt nữa thì chết.
Ugwu lau giá sách trước. Hắn dọn hết những giấy tờ đặt chính giữa bàn và cúi người quét bụi lúc cửa phòng ngủ của Ông Chủ mở ra. Hắn liếc vào hành lang, ngạc nhiên thấy Ông Chủ thức dậy sớm thế. Nhưng lại là Amala mới vừa bước ra khỏi phòng. Hành lang tối lờ mờ, đôi mắt thẹn thùng của cô gặp đôi mắt của Ugwu là người còn ngượng ngùng hơn. Cô ngập ngừng một lát trước khi vội vã chạy về phòng dành cho khách, áo trễ nải ở vùng ngực. Một tay giữ áo, cô chạy đụng cả vào cửa phòng, đẩy cánh cửa ra làm như là cô đã quên cách mở cửa, trước khi vào phòng. Amala, cái cô Amala cục mịch, tầm thường, lừ lừ chẳng nói chẳng rằng đã ngủ trong phòng ÔngChủ! Ugwu đứng yên như trời trồng, cố gắng để đầu óc đang quay cuồng của mình bình tĩnh lại mà suy nghĩ. Thuốc của bà cụ đã gây ra chuyện này, hắn chắc chắn thế, nhưng nỗi lo lắng của hắn không phải là chuyện xảy ra giữa Ông Chủ và Amala. Hắn chỉ sợ lúc Olanna phát giác ra chuyện này.
------------------------
[1] Một loại bánh có vỏ cứng, chính giữa là kem có mùi chanh, bên trên là kem đánh bằng lòng trắng trứng gà với đường trắng.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương hai mươi

Olanna ngồi đối diện với mẹ nàng trong phòng khách trên lầu. Mẹ nàng xem đó là phòng trang điểm, bởi vì đây là chỗ bà tiếp bạn bè, chỗ họ cười đùa và gọi nhau bằng những tên thân mật tự đặt cho nhau – Mỹ Nhân! Vàng! Ugodiya! – và rỉ tai nhau chuyện con trai của người nào đang chạy theo gái ở London trong khi đám bạn lập gia đình ở quê nhà, người nào đã mua đăng ten nội địa và cố đánh lừa người ta, bảo là hàng ngoại mới ra lò ở Âu châu, người nào toan tính cướp chồng của ai, người nào nhập cảng bàn ghế, đồ dùng tối tân nhất ở Milan. Tuy vậy bây giờ căn phòng rất im lặng. Mẹ nàng một tay nâng ly nước có pha khoáng chất và thuốc bổ, tay kia cầm khăn. Bà đang khóc. Bà đang kể cho Olanna nghe về tình nhân của bố nàng.
“Ông ấy mua cho nó một căn nhà ở Ikeja”, mẹ nàng nói. “Bạn của mẹ cũng ở cùng con đường ấy”.
Olanna nhìn động tác rất quý phái của mẹ khi bà lấy khăn tay chấm lên mắt. Cái khăn tay như làm bằng vải xa tanh không thể nào thấm nước được.
“Mẹ nói chuyện với bố chưa?” Olanna hỏi.
“Mẹ nói gì với ông ấy đây? Gwa ya gini?” Mẹ nàng đặt ly nước xuống. Bà chẳng nhấp ngụm nào từ khi một trong những cô giúp việc bưng ly lên trên một cái khay bạc. “Chẳng còn chuyện gì để mẹ có thể nói với ông ấy cả. Mẹ chỉ muốn kể cho con biết để người ta không nói là mẹ chẳng biết gì cả”.
“Con sẽ nói chuyện với bố”, Olanna nói. Đó là điều mà mẹ nàng muốn. Nàng vừa từ London về mới được một ngày; niềm hy vọng bừng lên nhưng sau khi nàng đến gặp bác sĩ phụ khoa ở Kensington đã tắt ngấm. Nàng đã quên cảm giác hy vọng tràn ngập trong lòng nàng khi ông nói là chẳng có gì “hỏng hóc” trong cơ thể nàng, và nàng chỉ phải – ông nháy mắt – tích cực hơn. Ngay lúc ấy, nàng ước gì nàng đã về đến Nsukka.
“Tệ hại nhất là cái con mụ ấy chỉ là đồ đầu đường xó chợ”, mẹ nàng nói, vặn vẹo cái khăn tay. “Một con dê Yoruba ở trong bụi có hai đứa con với hai thằng đàn ông khác nhau. Mẹ nghe nói là nó già và xấu òm”.
Olanna đứng dậy. Đối với mẹ nàng, người đàn bà ấy có hình dáng như thế nào không thành vấn đề. Chẳng lẽ bố nàng không già và xấu hay sao chứ? Cái làm mẹ nàng bận tâm không phải là cô tình nhân kia, nàng biết. Điều quan trọng nhất là ông đã mua cho tình nhân một căn nhà trong một khu phố mà chỉ có dân nhà giàu của Lagos ở.
“Hay là mình nên chờ lúc Kainene đến thăm, để nó nói chuyện với bố con thay vì con, nne?” Mẹ nàng nói, tay chấm nước mắt thêm lần nữa.
“Kìa mẹ, con nói là con sẽ nói chuyện với bố!”, Olanna nói.
Nhưng buổi chiều hôm ấy, khi nàng bước vào phòng của bố, nàng chợt nhận ra mẹ mình nói đúng. Kainene là người thích hợp nhất để thảo luận chuyện này với ông. Kainene sẽ biết chính xác nên nói những gì để không cảm thấy vụng về, vô dụng như nàng đang cảm thấy bây giờ, Kainene với tính tình ương ngạnh, miệng lưỡi sắc sảo và lòng tự tin vô bờ bến.
“Bố”, nàng nói rồi đóng cửa sau lưng lại. Ông đang ngồi ở bàn làm việc, lưng dựa vào một cái ghế làm bằng gỗ màu sậm. Nàng không thể hỏi ông là chuyện ấy có thật hay không, bởi vì bố phải biết là mẹ đã biết chuyện ấy có thật, và nàng cũng biết. Nàng tự hỏi trong một khoảnh khắc về người đàn bà ấy, cô ta như thế nào, bố và cô ta đã nói chuyện gì với nhau.
“Bố”, nàng lại nói. Nàng sẽ chỉ dùng tiếng Anh bởi vì tiếng Anh giúp người ta có thể giữ vẻ lạnh nhạt và xa cách. “Con ước gì bố nể mặt mẹ của con một chút”. Nàng không định bắt đầu như thế. Mẹ của con, thay vì chỉ dùng chữ Mẹ, cứ như là nàng đã loại ông ra ngoài vòng tình cảm, như ông đã trở nên một người xa lạ không thể nào gọi bằng một danh xưng cũ, không thể là bố của con.
Ông dựa lưng vào ghế.
“Quan hệ với người đàn bà ấy và mua cho cô ta một căn nhà ở chỗ bạn của mẹ sống là bốđã không tôn trọng mẹ”. Olanna nói. “Hết giờ làm bố đến đó, rồi tài xế của bố đợi bên ngoài và bố chẳng bận tâm là có người sẽ nhìn thấy bố. Bố làm thế chẳng khác nào tát vào mặt mẹ con”.
Bố nàng cúi mặt xuống, ánh mắt của một người đang dò dẫm tìm ý lựa lời.
“Con sẽ không bảo bố phải làm gì, nhưng bố phải làm cái gì đó, tại vì mẹ không vui”. Olanna nhấn mạnh chữ phải, hơi gằn giọng lúc phát âm chữ này. Từ xưa đến nay nàng chưa bao giờ phải nói chuyện với bố nàng theo kiểu này; nói đúng hơn, nàng ít khi nói chuyện với bố. Nàng đứng đó nhìn bố chòng chọc; sự im lặng giữa hai người là một lỗ hổng, một khoảng trống rỗng.
Anugo m, bố đã nghe con nói”, ông trả lời. Ông dùng tiếng Igbo bằng một giọng rất nhỏ, có vẻ như đồng lõa, làm như nàng đã xúi ông cứ ngoại tình, cứ lừa dối bà nhưng phải biết khéo léo. Điều này làm nàng nổi giận. Có lẽ đúng thế, cái kết quả của nó, là điều mà nàng đã bảo bố nàng, nhưng nàng vẫn cảm thấy bực tức. Nàng nhìn quanh phòng ông và nghĩ thầm, sao cái giường to đùng của ông có vẻ gì xa lạ quá; trước đây nàng chưa bao giờ nhìn thấy màu vàng kim nhũ óng ả trên chiếu chăn hay chú ý đến tay kéo của cái tủ đứng chạm trổ tinh vi đó. Ông có dáng vẻ của một người hoàn toàn xa lạ. Một người đàn ông béo phệ mà nàng không quen.
“Bố chỉ biết nói có thế thôi à, bố đã hiểu rõ lời con chưa vậy?” Olanna hỏi, lớn giọng.
“Thế con muốn nghe bố nói cái gì?”
Olanna bỗng cảm thấy thương hại ông, tội nghiệp cho mẹ, cho mình và cho cả Kainene. Nàng muốn hỏi bố tại sao họ chỉ là những kẻ xa lạ mang cùng một họ.
“Bố sẽ lo chuyện ấy”, ông nói thêm. Ông đứng dậy và đi về phía nàng. “Cảm ơn con, ola m”, ông nói.
Nàng không biết nên hiểu sao về chuyện ông cảm ơn nàng, hay cái cách ông gọi nàng là cục vàng của bố, cái cách mà ông đã thôi gọi kể từ khi nàng còn rất bé và bây giờ nó có vẻ trang nghiêm đầy cố ý. Nàng quay người rời khỏi phòng.

Sáng hôm sau khi nàng nghe mẹ nàng lên giọng ở phòng bên, “Chẳng-được-cái-tích-sự-gì! Đồ ngu!”, nàng vội vàng chạy xuống cầu thang. Nàng tưởng tượng họ đang đánh nhau, mẹ nàng đang túm áo bố như kiểu đám đàn bà hay làm khi chồng họ ngoại tình. Tiếng inh ỏi vang từ nhà bếp. Olanna đứng khựng lại ở ngưỡng cửa. Có một người đàn ông đang quỳ trước mẹ nàng, hai tai giơ lên trời, lòng bàn tay ngửa lên như van xin.
“Xin bà tha cho. Xin làm ơn tha cho!”
Mẹ nàng quay về phía người hầu, Maxwell, đang đứng nhìn bên cạnh. “I fugo? Hay là nó nghĩ chúng ta thuê nó để cho nó muốn ăn cắp cái gì cũng được, Maxwell?”
“Không ạ, thưa bà”. Maxwell trả lời.
Mẹ nàng quay người nhìn gã đàn ông đang quỳ trên nền nhà. “Đây là điều mày vẫn làm từ khi mày đến đây có phải không, cái thằng vô dụng kia? Mày đến chỉ để ăn cắp đồ nhà bà hả?”
“Thưa bà, xin bà tha cho con. Lạy Chúa, xin bà tha lỗi cho con”.
“Mẹ, có chuyện gì vậy?” Olanna hỏi.
Mẹ nàng quay trở lại. “Ồ, nne, mẹ không biết là con đã thức dậy”.
“Có chuyện gì thế?”
“Cái con thú hoang này, mình mới thuê nó vào tháng trước, vậy mà nó đã muốn ăn cắp tất cả mọi thứ trong nhà mình”. Bà quay lại người đàn ông đang quỳ. “Đây là cách mày trả ơn cho người đã thuê mày đây à, thằng ngu kia?!”
“Ông ấy làm gì?” Olanna hỏi.
“Đến đây mà nhìn”. Mẹ nàng dẫn nàng ra sân sau, chỗ một chiếc xe đạp đang dựa vào cây xoài. Một cái túi sợi đan đã rơi khỏi yên sau xe, gạo đổ trên đất.
“Nó ăn cắp gạo và chuẩn bị về. Trời xui đất khiến sao mà cái túi rơi xuống. Ai mà biết nó ăn cắp những gì từ trước đến giờ. Hèn gì mẹ cứ phải đi tìm mấy chuỗi hạt”. Hơi thở của mẹ nàng trở nên dồn dập.
Olanna trân trối ngó mấy hạt gạo trên nền đất và suy nghĩ không biết tại sao mẹ nàng lại có thể để cho bản thân giận dữ đến thế và không biết bà có tin vào cơn thịnh nộ của bà không.
“Cô, xin cô nói với bà. Con bị ma xui quỷ khiến mà”.
Bàn tay chắp theo lối nguyện cầu của người tài xế đang đối diện với Olanna. “Xin cô nói giùm với bà”.
Olanna tránh nhìn gương mặt đầy nếp nhăn và tròng mắt vàng vàng của người đàn ông; ông ta có vẻ già hơn nàng tưởng, chắc chắn hơn sáu mươi tuổi. “Đứng dậy đi”, nàng nói.
Ông già nhìn nàng có vẻ do dự, mắt liếc nhìn mẹ nàng.
“Tôi bảo đứng dậy!” Olanna không định lên giọng với ông cụ nhưng giọng nàng nghe khá gay gắt. Ông già đứng dậy, có vẻ ngượng nghịu, mắt nhìn xuống đất.
“Mẹ, nếu mẹ muốn đuổi ông ta thì cứ đuổi, và hãy đuổi ngay lập tức”, Olanna nói.
Ông già kêu lên thảng thốt như là ông không nghĩ nàng lại nỡ nói như thế. Mẹ nàng cũng ngạc nhiên liếc Olanna, nhìn người đàn ông rồi nhìn Maxwell, sau đó hạ bàn tay đang chống nạnh xuống. “Tôi cho ông thêm một cơ hội nữa nhưng không được đụng đến bất cứ cái gì trong nhà này, trừ khi được phép. Ông có nghe tôi nói không?”
“Vâng, thưa bà. Cảm ơn bà lắm. Cầu Chúa phù hộ cho bà”.
Ông già vẫn còn tiếp tục ca bài ơn huệ cho đến khi Olanna lấy một quả chuối trên bàn và rời khỏi nhà bếp.
Nàng kể cho Odenigbo nghe mọi chuyện và cả cảm giác khó chịu của nàng khi thấy một ông già tự hạ thấp mình như thế qua điện thoại. Nàng chắc mẩm là mẹ nàng sẽ đuổi ông già, nhưng chỉ sau khi bà bỏ ra cả tiếng đồng hồ mạt sát ông ta đang muối mặt dưới đất trong cơn giận mà bà cho là rất chính đáng. “Nó không đầy bốn bát gạo nhỏ nữa”, nàng nói.
“Nhưng đó vẫn là ăn cắp, nkem”.
“Bố em và mấy ông chính khách bạn ông ấy ăn cắp tiền bằng mấy cái hợp đồng của ông, nhưng không ai bắt ông quỳ mà van xin được tha thứ. Rồi họ dùng tiền ăn cắp đó để xây nhà và cho mấy người như ông già đó thuê với giá cắt cổ làm họ không còn đủ tiền để mua thức ăn”.
“Em không thể bào chữa cho chuyện ăn cắp này bằng một chuyện ăn cắp khác”. Odenigbo có vẻ trầm tĩnh lạ lùng; nàng cứ nghĩ là chàng sẽ phát cáu, la lối về chuyện bất công trong xã hội.
“Thế sự bất bình đẳng bắt buộc phải dẫn đến nhục nhã sao?” Nàng hỏi.
“Thường thì như thế”.
“Anh có ổn không?”
“Mẹ anh đang ở đây. Bà đến mà không báo trước”.
Hèn gì chàng nói chuyện bằng một cung cách như thế. “Thế bà có ở lại đến thứ Ba không?”
“Anh không biết. Anh ước gì có em ở đây”.
“Em mừng là em không có mặt ở đấy. Anh đã nói với bà về chuyện phá lời nguyền của một mụ phù thủy có học vấn chưa?”
“Anh nói với mẹ trước khi bà có thể nói bất cứ lời nào kiểu không có chuyện gì để phải thảo luận cả”.
“Anh có thể làm mẹ vui lòng bằng cách cho bà biết mình đang cố gắng để có một đứa con với nhau. Hay là bà sẽ sợ mất hồn vì em sẽ có một đứa con với anh? Dòng máu phù thủy của em sẽ truyền qua cháu nội của bà”.
Nàng đã hy vọng là Odenigbo sẽ cười, nhưng chàng không cười. “Anh mong chóng tới thứ Ba”, chàng nói sau một lúc im lặng.
“Em cũng thế”, nàng nói. “Bảo Ugwu phơi tấm thảm trong phòng ngủ, anh ạ”.
Đêm ấy, khi mẹ vào phòng nàng, Olanna ngửi thấy mùi nước hoa hiệu Chloe, một mùi rất dễ thương nhưng nàng không biết tại sao người ta cần dùng nước hoa khi đi ngủ. Mẹ nàng có rất nhiều lọ nước hoa; chúng được xếp thẳng hàng trên đầu tủ của bà như một ngăn kệ trong tiệm nước hoa: chai thấp, chai thuôn, chai tròn. Ngay cả khi nếu tối nào bà cũng dùng nước hoa trước lúc đi ngủ, bà cũng không thể dùng hết số đó trong năm mươi năm.
“Cảm ơn, nne”, bà nói. “Bố của con đã tìm cách làm lành”.
“Thế à?” Olanna không muốn biết bố nàng đã làm những gì để giảng hòa nhưng nàng có một cảm giác thật kỳ lạ, như đã làm một việc rất thành công khi nàng nói chuyện với bố giống như Kainene đã từng làm, bắt ông làm một việc gì hữu ích.
“Bà Nwizu sẽ ngừng gọi điện thoại bảo cho mẹ biết là bà thấy ông ta ở đó”, mẹ nàng nói. “Bà ta lại đơm đặt chuyện về mấy người có con gái không chịu lấy chồng. Mẹ nghĩ là bà ta tìm cách chọc tức mẹ để xem mẹ có trả đũa không. Con gái bà ta lấy chồng năm ngoái mà nhà bà ta không đủ tiền mua món hàng nhập cảng nào cho đám cưới. Ngay cả cái áo cưới cũng mua tại Lagos!” Mẹ nàng ngồi xuống. “Mà này, có người muốn được làm quen với con. Con biết gia đình Igwe Onochie không? Con trai họ là kỹ sư. Mẹ nghĩ cậu ấy đã gặp con ở đâu đó, và cậu ấy rất thích con”.
Olanna thở dài, dựa lưng, lắng nghe mẹ nói.

Nàng trở lại Nsukka vào giữa buổi chiều, trong cái giờ im ắng mà mặt trời ra sức phả hơi nóng, ngay cả lũ ong cũng đậu yên vì kiệt sức. Xe của Odenigbo ở trong ga ra. Ugwu mở cửa trước khi nàng kịp đưa tay gõ cửa, áo sơ-mi của hắn không gài cúc, một mảng áo dưới nách đẫm mồ hôi. “Xin chào, cô đã về”, hắn nói.
“Ugwu”. Nàng thấy nhớ khuôn mặt tươi cười, chân chất của hắn. “Unu anokwa ofuma? Em ở nhà có khỏe không?”
“Dạ có ạ”, hắn trả lời rồi ra ngoài mang hành lý của nàng ở xe vào.
Olanna đi vào. Nàng nhớ mùi xà phòng thoang thoảng trong phòng khách sau khi Ugwu giặt mấy tấm rèm cửa. Bởi vì nàng tưởng là mẹ của Odenigbo đã về, cho nên nàng khựng lại khi thấy bà ngồi trên sofa, quần áo chỉnh tề, đang lúi húi với cái túi xách. Amala đứng gần đó, tay cầm một hộp kim loại nhỏ.
Nkem!” Odenigbo nói, vội vàng bước đến. “Rất mừng thấy em về. Mừng lắm!”
Khi họ ôm nhau, người chàng không thả lỏng, tì hẳn vào nàng và cái hôn phớt lên môi nàng nhạt nhẽo. “Mẹ và Amala sắp đi. Anh sẽ đưa hai người ra bến xe”, chàng nói.
“Chào mẹ”. Olanna nói, nhưng không có vẻ gì muốn gần gũi, thân mật hơn.
“Olanna, kedu?” Bà mẹ hỏi. Lần này chính bà là người chủ động ôm nàng trước; bà cũng là người mỉm cười thân mật đầu tiên. Olanna khá bối rối nhưng mừng thầm. Có lẽ Odenigbo giải thích cho bà hiểu tình cảm nghiêm túc của hai người và chuyện hai người dự định có con với nhau đã chinh phục tình cảm của bà mẹ.
“Amala, em có khỏe không?” Olanna hỏi. “Tôi không biết là em cũng đến”.
“Xin chào cô”. Amala lúng búng trong miệng, mắt nhìn xuống đất.
“Mẹ đã mang hết đồ chưa?” Odenigbo giục. “Thôi đi nào. Đi nhé!”
“Mẹ đã ăn gì chưa?” Olanna hỏi.
“Bữa sáng làm tôi vẫn còn no”. Bà nói. Bà có một vẻ hớn hở đáng nghi ngờ trên mặt.
“Mình phải đi ngay thôi”, Odenigbo nói. “Lát nữa con có hẹn đi đánh bóng”.
“Thế còn em, Amala?” Olanna hỏi. Nét mặt tươi cười của bà mẹ bỗng chốc làm Olanna muốn họ ở lại lâu thêm một chút. “Tôi mong là em đã ăn trưa”.
“Đưa Amala chìa khóa để nó bỏ đồ vào trong xe”, bà mẹ nói với Odenigbo.
Odenigbo đi về phía Amala nhưng dừng lại khá xa, vì thế chàng phải nghiêng người và vươn tay để đưa chìa khóa. Cô ta nhón lấy chìa khóa, thật cẩn thận để không chạm vào ngón tay của chàng. Chỉ trong khoảnh khắc, rất ngắn ngủi thoáng qua, nhưng Olanna chú ý thấy cả hai cố gắng bằng mọi cách để tuyệt nhiên không chạm vào nhau, cho dù chì là phớt qua, dường như họ cùng chia sẻ một bí mật rất đáng sợ đến độ họ không muốn chạm vào nhau dù chỉ là một ngón tay.
“Chúc thượng lộ bình an”, nàng nói. Nàng nhìn chiếc xe nhẹ nhàng rời sân, đứng tần ngần rồi tự cho là mình ngộ nhận; chẳng có ý nghĩa gì trong cử chỉ ấy cả. Nhưng nó vẫn làm nàng bận tâm. Cảm giác giống hệt lúc nàng đang chờ trong phòng bác sĩ phụ khoa, cầm chắc là có cái gì đó không bình thường trong cơ thể nhưng vẫn muốn bác sĩ bảo mình là không có gì đáng lo.
“Cô ạ, cô có muốn ăn gì không? Cô có muốn con hâm nóng cơm không?” Ugwu hỏi.
“Không ăn ngay bây giờ đâu”.
Trong một thoáng mong manh nàng đã rất muốn hỏi Ugwu xem hắn có nhìn thấy cái nàng đã nhìn thấy, hoặc là có nhìn thấy bất cứ chuyện gì không. “Ugwu, đi xem có quả bơ nào chín không”.
“Vâng, thưa cô”. Ugwu có vẻ ngần ngừ một chút trước khi đi.
Nàng đứng ở cửa trước cho đến khi Odenigbo trở lại. Nàng không biết vì lý do gì mà nàng thấy thấp thỏm trong lòng, tim nàng đập liên hồi. Nàng mở cửa và nhìn vào mặt chàng dò hỏi, kiếm tìm.
“Có chuyện gì xảy ra không?” Nàng hỏi.
“Em hỏi thế là có ý gì?” Chàng cầm mấy tờ báo trong tay. “Một đứa học trò của anh lỡ kỳ thi cuối, sáng hôm nay nó đến đưa anh tiền hối lộ để anh cho nó qua. Cái thằng thật ngu dốt”.
“Em không biết là Amala cũng đến cùng mẹ”. Nàng nói.
“Ừ”. Chàng bắt đầu sắp xếp mấy tờ báo, tránh ánh mắt của nàng. Dần dần, cơn giận dữ xâm chiếm Olanna. Nàng biết. Nàng biết những cử chỉ lóng ngóng của chàng, cái vẻ hốt hoảng trên mặt chàng, cái cách chàng vội vàng làm ra vẻ bình thường, chứng tỏ là đã xảy ra chuyện đáng lẽ không nên xảy ra.
“Anh đã có gì với Amala”, Olanna nói. Đây không phải là một câu hỏi, tuy thế, nàng vẫn mong rằng chàng sẽ trả lời như đó là một câu hỏi, nàng muốn chàng trả lời không và giận dỗi trách móc nàng chỉ vì nàng đã dám nghĩ như thế. Nhưng Odenigbo không nói gì. Chàng ngồi xuống cái ghếbành của chàng và nhìn nàng.
“Anh tằng tịu với Amala”, Olanna lặp lại. Nàng sẽ nhớ mãi nét mặt của chàng lúc ấy, cái cách chàng nhìn nàng như là không bao giờ chàng có thể tưởng tượng được cảnh này lại xảy ra và không thể nghĩ ra cách nào để nói cái gì, làm cái gì.
Nàng quay vào trong bếp và suýt nữa ngã vào cạnh bàn ăn vì khối đá trong ngực nàng quá nặng, quá to so với vóc dáng của nàng.
“Olanna”, chàng nói.
Nàng không thèm để ý đến chàng. Chàng không đi theo nàng bởi vì chàng sợ quá, cái sợ của tội lỗi. Nàng không ra xe và lái về nhà nàng ngay lập tức. Trái lại, nàng ra ngoài sân và ngồi trên những bậc thềm ở sân sau, nhìn con gà mái gần cây chanh đang canh chừng sáu chú gà con, dắt đám con về phía những mẩu thức ăn vụn trên mặt đất. Ugwu đang hái bơ trên cây ở gần phòng của hắn. Nàng không biết nàng ngồi đó bao lâu cho đến khi con gà mái bắt đầu kêu quang quác và dang rộng cánh để che chở đàn con, nhưng chúng không kịp chạy tìm chỗ trú ẩn. Một con diều hâu bổ nhào xuống và bắt đi một con gà con màu ốp trắng. Tất cả diễn ra thật nhanh, cú bổ nhào xuống của con diều hâu và đường bay mang theo con gà con trong móng vuốt, nhanh hơn sức tưởng tượng của Olanna. Con gà mẹ đang chạy xung vòng quanh, kêu quang quác, bụi bay mù mịt. Đám gà con sững sờ, bối rối và nàng tự hỏi không biết chúng có hiểu hành động chạy quanh chạy quéo của con gà mẹ là một cách thương tiếc chịu tang hay không. Rồi thì, cuối cùng, nàng bật khóc.
* * * * *
Những ngày mù mờ nối tiếp trôi qua. Olanna cố gắng nghĩ ra việc gì đó để làm. Lần đầu tiên khi Odenigbo đến nhà nàng, nàng phân vân không biết có nên cho chàng vào hay không. Nhưng chàng gõ cửa, rồi gõ tiếp và nói, “Nkem, mở cửa cho anh, nkem, mở cửa xem nào”, cho đến khi nàng mở cửa. Nàng nhâm nhi ly nước, lắng nghe chàng kể rằng chàng say và Amala đã quyến rũ chàng, khiến chàng phải làm chuyện ấy, nó chẳng có nghĩa lý gì, nó chỉ là một phút say đắm điên cuồng. Sau khi chàng kể xong, nàng đuổi chàng về. Nàng bực dọc khi thấy chàng đủ tự tin đế nói cái hành động ấy là phút say đắm điên cuồng. Nàng ghét cách biểu lộ ấy và nàng cũng ghét cái giọng điệu thật bình tĩnh, chắc chắn khi lần sau chàng đến và nói, “Nó chẳng có nghĩa lý gì cả, nkem, chẳng có nghĩa lý gì cả”. Điều quan trọng với nàng không phải là cái ý nghĩa của nó mà là việc chàng đã phạm phải – chàng ngủ với một cô gái quê giúp việc của mẹ mình khi nàng chỉ vắng mặt ba tuần lễ. Cái cách chàng phá hủy lòng tin của nàng có vẻ quá dễ dàng. Nàng quyết định đi Kano bởi vì, nếu có nơi nào nàng có thể bình tâm suy nghĩ, nơi ấy phải là Kano.
Điểm dừng đầu tiên của chuyến bay ở Lagos, lúc nàng đang ngồi trong phòng đợi, một người con gái cao gầy vội vã đi qua. Nàng đứng dậy và suýt nữa đã gọi Kainene! khi nàng nhận ra không thể là Kainene được. Da Kainene đen đậm hơn và không bao giờ mặc một cái váy màu xanh lá cây với một cái áo màu đỏ. Nàng ước đó là Kainene biết bao nhiêu. Hai người sẽ ngồi bên nhau, nàng sẽ kể cho Kainene nghe về Odenigbo và Kainene sẽ nói một cái gì đó rất khôn ngoan, rất mỉa mai và cũng đầy an ủi cùng một lúc.
Ở Kano, Arize nổi giận đùng đùng.
“Con thú hoang Abba ấy. Cái mẩu thịt thừa bệnh hoạn của hắn chẳng chóng thì chày cũng rụng thôi mà. Chẳng lẽ hắn không biết là hắn nên thức giấc mỗi sáng, quỳ mà cảm ơn Chúa là được chị để mắt đến?” Cô nói, trong lúc chỉ cho Olanna xem những mẫu vẽ của bộ váy cưới xòe bồng. Nnakwanze đã xin cưới Arize. Olanna thấy tất cả các bộ váy ấy đều xấu và kiểu cách quá, nhưng nàng thích cơn thịnh nộ của Arize, bởi đó là để bênh vực nàng; vì thế nàng chỉ vào một trong sốnhững hình mẫu và nói nhỏ, “O maka. Cái này xinh quá”.
Mợ Ifeka chẳng nói gì về Odenigbo cho đến vài ngày sau. Olanna đang ngồi trên hàng hiên với mợ; mặt trời rất chói chang, mái hiên bằng tôn nứt ra như để phản kháng lại, nhưng nó vẫn còn mát hơn là cái nhà bếp đầy khói, chỗ ba người hàng xóm cùng nấu ăn một lúc. Olanna tự quạt cho mình bằng một cái quạt nan. Hai người đàn bà đang đứng cạnh cổng, một người hét to bằng tiếng Igbo – “Tôi đã bảo chị là hôm nay phải trả tiền cho tôi! Tata! Ngày hôm nay, không phải ngày mai! Chị đã nghe thấy cơ mà, vì tôi đã nói rát cổ bỏng họng ra rồi” – trong khi người đàn bà kia năn nỉ, ra dấu bằng hai bàn tay của bà và liếc nhìn lên trên.
“Cháu có khỏe không?” Mợ Ifeka hỏi. Mợ đang nhào bột làm bằng đậu nghiền trong cái cối đá.
“Cháu khỏe, mợ ạ. Cháu thấy dễ chịu hơn khi cháu về đây”.
Mợ Ifeka thò tay vào cối bắt ra một con bọ đen. Olanna quạt nhanh hơn. Mợ Ifeka im lặng làm nàng muốn kể nhiều hơn.
“Cháu nghĩ là cháu sẽ hoãn chương trình ở Nsukka và sẽ ở lại Kano”, nàng nói, “Cháu có thể dạy ở học viện một thời gian”.
“Không được”. Mợ Ifeka đặt cái chày xuống. “Mba. Cháu phải về Nsukka”.
“Cháu không thể trở lại nhà anh ấy, mợ ạ”.
“Mợ không bảo cháu về nhà anh ta. Mợ bảo cháu phải về Nsukka. Thế cháu không có nhà của mình à? Còn công việc của cháu? Odenigbo đã làm cái chuyện mà tất cả đàn ông đều làm, đã nhét cái mẩu thịt thừa của hắn vào cái lỗ đầu tiên mà hắn có thể tìm được khi cháu ở xa. Đã chết ai nào?”
Olanna đã ngừng quạt, cảm thấy mồ hôi ướt rịn chân tóc.
“Khi cậu của cháu quen với mợ, mợ cũng lo lắng bởi vì mợ nghĩ là những người đàn bà bên ngoài sẽ đến và thế chỗ mợ ngay trong nhà mợ. Bây giờ mợ biết là không có cái gì cậu làm có thể thay đổi cuộc đời của mợ. Đời mợ chỉ thay đổi khi nào mợ muốn thay đổi”.
“Mợ nói thế là nghĩa gì?”
“Cậu sẽ cẩn thận hơn, bởi vì cậu nhận thấy là mợ không còn sợ nữa. Mợ nói cho cậu biết nếu cậu làm bất cứ cái gì để mợ thấy nhục nhã, mợ sẽ cắt quách cái con rắn ở giữa hai chân của cậu”.
Mợ Ifeka trở lại với việc nhào bột của mợ; Olanna tưởng tượng đến cuộc hôn nhân của cậu mợ bắt đầu rạn nứt.
“Cháu không bao giờ được phép có thái độ như thể cuộc đời của mình thuộc về một người đàn ông. Cháu có nghe mợ nói không?” Mợ Ifeka nói. “Cuộc đời của cháu thuộc về cháu và chỉ là của riêng cháu, soso gi. Cháu về ngay thứ Bảy này. Để mợ làm nhanh một ít abacha cho cháu mang về”.
Mợ nếm một chút bột rồi nhổ ra.

Olanna ra về vào ngày thứ Bảy. Người đàn ông ngồi cạnh nàng trên máy bay, phía bên kia hàng ghế có màu da đen bóng của gỗ trắc nàng chưa từng thấy bao giờ. Trước đó nàng đã để ý đến anh ta, vận bộ âu phục ba mảnh bằng len, trừng trừng nhìn nàng suốt lúc ngồi ở phòng chờ. Anh ta đề nghị mang hành lý giúp nàng, sau đó đã hỏi người tiếp viên xem anh ta có thể sang ngồi cạnh nàng không bởi vì chỗ ấy trống. Bây giờ anh ta đưa cho nàng tờ New Nigerian và hỏi. “Cô có thích đọc quyển này không?” Anh ta đeo một chiếc nhẫn mặt ngọc mắt mèo rất to.
“Vâng, cảm ơn ông”. Olanna cầm tờ báo. Nàng lướt qua các trang, biết là anh ta đang nhìn mình, và cũng biết tờ báo là cái cớ để anh ta bắt chuyện. Bỗng nhiên, nàng ước gì nàng bị anh ta quyến rũ, một điều gì đó vừa điên rồ vừa ma thuật xảy ra giữa hai người, và khi máy bay đáp xuống, nàng sẽ cùng anh ta tay trong tay đến với một cuộc đời tươi sáng mới.
“Cuối cùng rồi người ta cũng phải đổi ông hiệu phó người Igbo ở trường Đại học Lagos”, anh ta nói.
“Ô”.
“Tin ở bìa sau ấy”.
Olanna lật ra bìa sau. “Tôi thấy rồi”.
“Tại sao lại để một người Igbo làm hiệu phó ở Lagos được nhỉ?”, anh ta hỏi và khi Olanna không nói gì, anh ta tiếp, “Vấn đề là người Igbo muốn kiểm soát tất cả mọi việc trên quốc gia này. Tất cả! Tại sao họ không ở miền Đông của họ chứ? Họ làm chủ tất cả các cửa tiệm, họ nắm hết mọi ngành dân sự, thậm chí cả lực lượng cảnh sát. Nếu cô bị bắt với bất cứ tội gì, chỉ cần cô nói keda là họ sẽ thả cô ra ngay”.
“Chúng tôi nói kedu, không phải keda”, Olanna nói nhỏ nhẹ. “Nó có nghĩa là: Anh có khỏe không?
Anh ta nhìn nàng chằm chặp và nàng cũng nhìn lại trân trân, nghĩ nếu anh ta là đàn bà thì chắc phải đẹp lắm với cái màu da óng ả thế kia.
“Cô là người Igbo?”, anh ta hỏi.
“Vâng”.
“Nhưng cô có nét mặt của người Fulani”. Anh ta nói, vẻ như buộc tội nàng.
Olanna lắc đầu. “Igbo”.
Người đàn ông làu bàu cái gì đó nghe như lời xin lỗi trước khi quay mặt đi và bắt đầu nhìn cái cặp táp của mình. Khi nàng trả tờ báo, anh ta có vẻ miễn cưỡng nhận lại, và mặc dù nàng thỉnh thoảng liếc nhìn nhưng anh ta không nhìn lại nàng cho tới tận khi hai người xuống ở Lagos. Nếu như anh ta biết rằng cái định kiến của anh ta đã đem đến cho nàng bao nhiêu là khả năng chọn lựa. Nàng không bị bắt buộc phải là một người đàn bà bị phản bội mà người yêu đã ngủ với một cô gái quê. Nàng có thể là một cô gái người Fulani, trên một máy bay chế giễu người Igbo với một người xa lạ quyến rũ. Nàng có thể là người đàn bà làm chủ cuộc đời nàng. Nàng có thể là bất cứ cái gì.
Lúc hai người đứng dậy để xuống máy bay, nàng nhìn anh ta và mỉm cười, nhưng kìm mình không nói cảm ơn anh bởi vì nàng muốn giữ nguyên cả nỗi ngạc nhiên và sự ăn năn của anh ta.

Olanna thuê một chiếc xe tải loại nhỏ có tài xế và đến nhà Odenigbo. Ugwu theo sát nàng lúc nàng sắp xếp sách vở và chỉ cho anh tài xế những đồ phải bê đi.
“Hình như ngày nào Ông Chủ cũng khóc, thưa cô”, Ugwu nói với nàng bằng tiếng Anh.
“Đặt cái máy xay của tôi vào thùng giấy”, nàng nói. Cái máy xay của tôi, nghe lạ lẫm quá. Từ trước đến giờ nó vẫn được gọi là cái máy xay thôi, không có ý rằng nàng là chủ nhân.
“Vâng, thưa cô”. Ugwu vào trong bếp và trở ra với cái hộp giấy. Hắn cầm lên một cách cẩn trọng. “Thưa cô, xin thứ lỗi cho Ông Chủ”.
Olanna nhìn hắn. Hắn biết. Hắn đã thấy cô gái ấy chung giường với ông chủ của hắn; hắn cũng phản bội nàng. “Osiso! Để cái máy xay của tôi vào trong xe”.
“Vâng, thưa cô”. Ugwu đi ra cửa.
“Khách có còn đến vào buổi tối không?” Olanna hỏi.
“Không giống như lúc cô vẫn còn ở nhà, thưa cô”.
“Nhưng mà họ vẫn đến?”
“Vâng”.
“Tốt”. Nàng không có ý nói như thế. Nàng đã muốn nghe là Odenigbo không còn có thể tiếp tục sống theo cách mà hai người từng sống.
Khi chàng đến thăm nàng, nàng cố gắng để không bị thất vọng với cái vẻ rất bình tĩnh của chàng. Nàng đứng ở cửa và trả lời những câu chung chung, bực mình với cái vẻ vui mừng cố hữu không cần phải cố gắng của chàng, hoặc là cái vẻ rất tự nhiên khi chàng nói, “Em biết là anh không thể yêu một người đàn bà nào khác ngoài em, nkem”, như là chàng đinh ninh với thời gian, mọi chuyện sẽ trở lại như cũ. Nàng cũng bực mình với sự săn đón tình tứ của đám đàn ông. Đàn ông độc thân thích đến thăm nàng, người có vợ thì làm ra vẻ tình cờ gặp nàng bên ngoài chỗ dạy của nàng. Cách ve vãn của họ làm nàng phật ý, vì như thế nghĩa là họ cho rằng tình cảm của nàng và Odenigbo đã mãi mãi chấm dứt. “Tôi không thích”, nàng bảo họ, và kể cả khi nàng nói điều ấy, nàng hy vọng là không ai nói lại với Odenigbo bởi vì nàng không muốn chàng nghĩ rằng nàng bị lụy vì tình. Nàng đã không héo hon gầy mòn. Nàng thêm tư liệu mới vào bài giảng, nấu những món ăn ngon cầu kỳ, đọc sách mới, mua đĩa nhạc mới. Nàng trở thành thư ký của Hội Thánh Vincent de Paul; sau khi họ tặng thực phẩm cho dân làng, nàng viết báo cáo tường thuật buổi họp vào sổ tay. Nàng trồng hoa zinnias trong sân trước nhà, và sau rốt, nàng kết thân với Edna Whaler, cô bạn láng giềng người Mỹ.
Edna có một kiểu cười rất hiền. Cô dạy nhạc và bật những đĩa nhạc jazz khá to, nấu món thịt sườn heo rất mềm, hay kể về người đàn ông đã bỏ rơi cô một tuần trước ngày hai người làm đám cưới ởMontgomery, cô có một người bác bị treo cổ ngày cô còn bé. “Cậu biết cái gì luôn làm mình kinh ngạc?”, cô hỏi Olanna, làm như thể không nhớ mình đã hỏi cùng, một câu này chỉ mới hôm qua. “Một nhóm người da trắng ăn mặc chỉnh tề, quần áo sang trọng tụ lại để xem một người da trắng treo cổ một người da đen lên cây”.
Cô cười hiền lành và đưa tay vuốt tóc. Tóc cô bóng nhẫy dầu của máy sấy tóc. Ban đầu họ không nói về Odenigbo. Olanna thấy dễ chịu khi làm bạn với một người không có gì liên hệ với đám bạn cũ mà nàng và Odenigbo cùng quen biết. Có lần, đang hát theo ca sĩ Billie Holiday bài My Man, cô bỗng hỏi, “Tại sao cậu yêu anh ta?”
Olanna nhìn lên. Đầu óc nàng trống rỗng như một tấm bảng trắng. “Tại sao cậu yêu anh ta?”
Edna nhướng mày, miệng mấp máy nhưng không phát ra tiếng theo lời hát của Billie Holiday.
“Mình không nghĩ tình yêu phải có lý do”. Olanna nói.
“Chắc chắn là phải có”.
“Mình nghĩ tình yêu đến trước, sau đó mới có lý do. Khi mình ở cạnh anh ấy, mình thấy không cần bất cứ cái gì khác nữa”. Chính Olanna cũng ngạc nhiên với câu nói ấy của mình, nhưng cái sự thật bất ngờ này bỗng dưng làm nàng thèm được khóc.
Edna nhìn nàng. “Cậu không thể tiếp tục tự dối gạt mình là mọi chuyện đều ổn thỏa”.
“Mình không tự dối lòng”, Olanna nói. Giọng hát như thều thào của Billie Holiday bỗng làm nàng trở nên khó chịu. Nàng không ngờ là mình lại không thể giấu được tình cảm. Nàng tưởng những tiếng cười giòn tan của mình rất chân thật và Edna không hề biết nàng khóc khi chỉ còn lại một mình trong nhà.
“Mình không phải là người thích hợp nhất để cậu có thể bàn về đàn ông. Nhưng cậu cần thổ lộ tâm sự với một người nào đó”, Edna nói. “Một linh mục chẳng hạn, như là một cách trả công cho những việc từ thiện cậu đã làm cho Nhà thờ Thánh Vincent de Paul?”
Edna cười và nàng cũng cười theo, nhưng lúc đó nàng cũng đồng ý là nàng cần phải tâm sự với ai đó, một người đứng ở giữa không thiên vị ai để giúp nàng tìm lại chính mình, để đối phó với cái tôi của nàng đã trở nên xa lạ với chính nàng. Những ngày sau đó nàng thường lái xe đến Nhà thờ Thánh Peter, nhưng một hôm, nàng chợt đổi ý, không đến nữa. Cuối cùng vào một chiều thứ Hai, nàng phóng xe rất nhanh, chẳng để ý đến những đoạn đường mấp mô giảm tốc độ, bởi nàng không có thì giờ dừng lại. Nàng ngồi trên cái ghế băng gỗ của Cha Damian trong một văn phòng ngột ngạt và chăm chăm nhìn vào cái tủ chứa hồ sơ có dán nhãn NGƯỜI THẾ TỤC khi nàng nói về Odenigbo.
“Con không muốn đến câu lạc bộ giáo viên vì con không muốn gặp mặt anh ấy. Con không còn muốn chơi quần vợt. Anh ấy phản bội con, làm con đau đớn. Tuy vậy, dường như anh ấy vẫn chi phối cuộc sống của con”.
Cha Damian kéo cổ áo, sửa kính, vuốt sống mũi. Nàng tự hỏi không biết cha đang nghĩ đến chuyện gì, bất cứ chuyện gì; ông có thể làm thế lắm bởi vì ông không có câu trả lời cho nàng.
“Cha không thấy con Chủ nhật tuần trước”, cuối cùng ông lên tiếng.
Olanna thấy thất vọng, nhưng ông ấy là một linh mục và giải pháp duy nhất của ông chỉ có thể là: Hướng đến Chúa. Nàng đã thầm ước là ông sẽ làm cho nàng có cảm giác sự giận dữ của nàng là đúng, làm cho nàng nghĩ là nàng có quyền tự thương hại mình và khuyến khích nàng tìm lãng quên bằng những việc làm có ích và đạo đức. Nàng muốn ông nói một lời khiển trách Odenigbo.
“Cha nghĩ con nên đi lễ thường xuyên hơn?” Nàng hỏi.
“Đúng thế”.
Olanna gật đầu và kéo cái túi xách của mình đến gần hơn, chuẩn bị đứng dậy ra về. Đáng lẽ nàng không nên đến. Nàng không nên mong đợi một người, mặt tròn vành vạnh, mặc áo thụng trắng, tự nguyện tiết dục, có thể hiểu được lòng nàng. Ông ta nhìn nàng, đôi mắt ông ta có vẻ to hơn sau tròng kính.
“Cha nghĩ là con nên tha thứ cho Odenigbo”, ông nói và kéo cổ áo của ông lên làm như là nó khiến ông nghẹt thở. Olanna chợt thấy ghét ông ta. Cái điều ông nói nghe dễ dàng quá, dễ đoán ra quá. Nàng không cần phải đến đây để nghe câu nói ấy.
“Vâng”. Nàng đứng dậy. “Cảm ơn cha”.
“Không phải cho anh ta. Mà là cho bản thân con”.
“Sao ạ?” Ông vẫn còn ngồi, vì thế nàng nhìn xuống và bắt gặp cặp mắt của ông.
“Đừng nghĩ đó là sự tha thứ cho anh ta. Coi nó như là một cách cho phép con được an vui, hạnh phúc. Con làm gì được với nỗi khổ con tự chọn cho mình? Con có ăn được nỗi khổ tâm không?”
Olanna nhìn cây thập tự bên trên cửa sổ, nhìn gương mặt đau khổ mà thoáng buồn của Chúa Trời và không nói gì cả.
* * * * *
Odenigbo đến rất sớm, trước khi nàng ăn điểm tâm. Nàng biết có chuyện gì đó không hay xảy ra ngay cả trước khi nàng mở cửa và nhìn thấy nét mặt buồn rười rượi của chàng.
“Có chuyện gì thế?” Nàng hỏi, cảm thấy một nỗi khiếp sợ ghê gớm trong niềm hy vọng ngấm ngầm thoáng hiện trong đầu nàng, rằng: mẹ chàng mới chết.
“Amala có thai”, chàng nói. Giọng thản nhiên và cứng cỏi của một người mang tin dữ đến cho người khác nhưng vẫn cố làm ra vẻ cứng rắn, mạnh mẽ để người ta có thể dựa vào.
Olanna nắm chặt tay nắm cửa. “Cái gì?”
“Mẹ anh mới đến để báo cho anh biết là Amala có thai với anh”.
Olanna bật cười. Nàng cười, cười mãi không dứt, cười bởi màn kịch diễn ra trong những tuần vừa qua bỗng trở nên không tưởng.
“Mở cửa cho anh vào”, Odenigbo nói. “Làm ơn, nkem”.
Nàng bước lui từ phía sau cánh cửa. “Vào đi!”
Chàng ngồi xuống ở mép ghế, và nàng có cảm tưởng như là mình mới vừa hàn gắn những mảnh vỡ bằng sứ chỉ để cho chúng lại tan nát thêm lần nữa; cái đau đớn không phải ở sự tan vỡ lần thứ hai mà ở chỗ nhận ra công hàn gắn của mình chẳng có nghĩa lý gì, ngay từ đầu.
Nkem, làm ơn giúp anh, mình nên cùng lo chuyện này”, chàng nói. “Mình làm bất cứ điều gì em muốn, nhưng xin hãy giúp anh đối mặt với chuyện này”.
Olanna vào tắt bếp, nàng đang đun nước. Nàng trở lại, ngồi đối diện với chàng. “Anh nói chuyện chỉ xảy ra có một lần. Chỉ có một lần mà cô ấy có thai? Chỉ một lần mà thôi?” Nàng ước gì mình không phải lớn giọng. Nhưng chuyện này thật đáng ngờ, đáng ngờ như một vở tuồng, chàng chỉ ngủ với một người đàn bà trong cơn say mà lại có thể làm cho cô ta có thai.
“Chỉ có một lần thôi”, chàng nói. “Chỉ một lần”.
“Tôi biết rồi”. Nhưng mà nàng chẳng biết gì cả. Nàng bỗng thèm được tát vào mặt chàng một cái, bởi vì cái cách chàng tự cho mình có quyền nhấn mạnh vào câu chỉ một lần, làm như cái hành động ấy chỉ là một việc tất phải xảy ra. Làm như điều chính yếu là chuyện ấy xảy ra bao nhiêu lần chứ không phải là chuyện ấy không nên xảy ra, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
“Anh bảo với mẹ là anh sẽ gửi Amala đến bác sĩ Okonkwo ở Enugu và mẹ nói muốn làm việc ấy thì phải bước qua xác của bà trước đã. Bà nói là Amala sẽ giữ đứa nhỏ và cô ta sẽ nuôi dưỡng nó. Amala sẽ lấy một anh chàng thợ mộc ở Ondo”. Odenigbo đứng dậy. “Mẹ rắp tâm dàn xếp chuyện này ngay từ đầu. Bây giờ anh mới hiểu mẹ chắc chắn là anh say bí tỉ rồi mới bảo Amala đến với anh. Anh cảm tưởng như có người đẩy mình vào một tình huống mà mình không hiểu gì cả”.
Olanna nhìn chàng, từ cái quầng tóc như một vòng hào quang cho đến những ngón chân thon gầy của chàng trong đôi xăng đan, báo hiệu cơn thịnh nộ với người nàng hằng yêu thương sắp bùng lên. “Chẳng có ai đẩy anh vào bất cứ tình huống nào cả”, nàng nói.
Chàng đưa tay kéo nàng vào lòng nhưng nàng đẩy chàng ra, phẩy tay và đuổi chàng về. Lúc sau, trong phòng tắm, nàng đứng trước gương và thô bạo dùng hai tay bóp bụng mình. Cơn đau gợi cho nàng nhớ là mình vô dụng đến nhường nào; gợi cho nàng nhớ một đứa bé đang nằm trong cơ thể của một người đàn bà xa lạ khác mà không phải trong cơ thể nàng.

Edna gõ cửa rất lâu, đến nỗi Olanna phải đứng dậy, ra mở cửa.
“Có gì không ổn à?” Edna hỏi.
“Ông tôi thường hay nói là người đời như cái rắm ấy, nhưng ông còn là rắm có bã cơ”, Olanna nói. Nàng định nói đùa, nhưng giọng nàng lại nghẹn ngào, đầy nước mắt.
“Có chuyện xấu à?”
“Đứa con gái ngủ với anh ta có thai”.
“Thế thì có cái quái gì không hay với cậu chứ?”
Olanna nheo mắt; có cái gì không hay với chính nàng nhỉ?
“Bình tĩnh lại nào!” Edna nói. “Cậu tưởng là anh ta suốt ngày ngồi than thân trách phận như cậu đấy à? Khi cái gã khốn nạn ấy bỏ mình ở Montgomery, mình tìm cách tự tử, cậu có biết hắn đã làm gì không? Hắn bỏ đi xa và chơi cho một ban nhạc ở Louisiana!” Edna vuốt tóc mình một cách bực dọc. “Trông cậu kìa. Cậu là người nhân hậu nhất mà mình quen. Tự nhìn lại mình xem, cậu đẹp đến dường nào. Tại sao cậu cần những thứ bên ngoài không thuộc về cậu nhiều đến thế chứ? Tất cả những gì làm nên con người cậu còn là chưa đủ hay sao? Cậu yếu đuối quá đấy!”
Olanna lùi lại; sự phẫn nộ, nỗi đau xé lòng ập đến những suy nghĩ cuồng loạn làm nhói buốt tâm can nàng, khiến nàng bật ra những lời mạch lạc, rành rẽ. “Vị hôn phu của cậu bỏ cậu không phải là lỗi của tôi, Edna”.
Edna nhìn với vẻ hết sức kinh ngạc, rồi tỏ ra chán nản trước khi cô quay đi, bỏ về nhà. Olanna nhìn cô ấy đi, hối tiếc vì mình lỡ lời. Nhưng nàng chưa chịu xin lỗi vội. Nàng sẽ cho Edna một hay hai ngày để dịu xuống. Đột nhiên nàng thấy đói ngấu; lòng nàng trống rỗng theo dòng nước mắt rơi. Nàng không hâm nóng cơm jollof còn thừa cho đúng kiểu mà ăn hết ngay từ trong nồi, uống hai chai bia lạnh; chưa thấy hết đói, nàng ăn hết bánh bích quy và mấy quả cam trong tủ lạnh rồi quyết định đến tiệm Đông Phương mua rượu. Nàng thèm uống. Nàng sẽ uống thật nhiều rượu, tửu lượng của nàng được đến đâu uống đến đây, uống chừng nào say mới thôi.
Hai người phụ nữ đứng trước cửa ra vào, một người Ấn Độ trong ban Khoa học và một người Calabar dạy môn Nhân chủng học cười chào; nàng tự hỏi chẳng biết những cái liếc kín đáo của họ có đang che giấu lòng thương hại, nếu họ nghĩ là nàng yếu đuối và tâm hồn nàng đã tan nát.
Nàng đang ngắm nghía mấy chai rượu vang khi Richard đến gần bên nàng.
“Tôi đoán là cô”, chàng nói.
“Chào anh, Richard”. Nàng liếc vào giỏ của chàng. “Tôi không biết là anh tự đi chợ”.
“Harrison phải về làng vài ngày”, chàng nói. “Cô có khỏe không? Mọi chuyện đều ổn chứ?”
Nàng không thích cái vẻ thương hại trong mắt chàng. “Tôi rất khỏe. Tôi không quyết định được nên mua chai nào”. Nàng ra hiệu, chỉ về mấy chai rượu. “Sao tôi lại không mua luôn cả hai chai và nếu anh góp vui với tôi, thì chúng ta có thể quyết định là chai nào ngon hơn. Anh có thể bỏ ra chừng một giờ đồng hồ không? Hay là anh phải về để tiếp tục việc viết lách của anh?”
Richard có vẻ ngỡ ngàng bởi sự vui vẻ của nàng. “Tôi không muốn làm mất thì giờ của cô, thật đó”.
“Dĩ nhiên là anh không làm phiền tôi hay làm mất thì giờ của tôi. Thêm vào đó, anh chưa bao giờ đến thăm tôi cả” – nàng ngừng một chút – “ở nhà của tôi”.
Nàng sẽ trở lại cái vẻ duyên dáng cũ và hai người sẽ uống rượu vang, nói về sách của chàng, về hoa zinnias mới được nàng trồng, nghệ thuật Igbo-Ukwu, và cả thất bại lớn của cuộc bầu cử ở miền Tây. Và chàng sẽ trở về rồi nói cho Odenigbo biết là nàng rất vui, rất khỏe.
Khi hai người về đến nhà của nàng, Richard ngồi ngay đơ, cứng ngắc ở ghế sofa và nàng ước gì chàng ngồi với vẻ thư giãn thong dong, nửa nằm nửa ngồi như cái kiểu ở nhà Odenigbo; thậm chí ngay cả cách chàng nâng ly rượu vang cũng cứng ngắc. Nàng ngồi trên nền nhà lót thảm. Họ nâng ly chúc mừng sự độc lập của xứ Kenya.
“Anh chắc chắn là phải viết về những điều kinh khủng mà người Anh đã gây ra cho người Kenya”. Olanna nói. “Nghe nói họ đã cắt cả tinh hoàn của đàn ông Kenya phải không?”
Richard lẩm bẩm cái gì đó và nhìn lảng ra chỗ khác, dường như từ tinh hoàn làm chàng ngượng. Olanna mỉm cười và nhìn chàng. “Có không?”
“Có”.
“Thế thì anh nên viết về chuyện ấy”. Nàng uống ly thứ hai một cách chậm rãi, ngẩng cao đầu để hưởng thụ chất lỏng mát rượi chảy xuống cổ nàng. “Anh đã có nhan đề cho quyển sách của anh chưa?”
“Giỏ Chứa Bàn Tay”.
“Giỏ Chứa Bàn Tay”. Olanna nghiêng ly và uống hết chỗ rượu. “Nghe có vẻ thảm khốc quá”.
“Nó nói về sự lao động khổ nhọc. Những công việc tốt đẹp được hoàn thành – đường xe lửa chẳng hạn – nhưng đồng thời cũng là một sự bóc lột sức lao động và sự thâm nhập, lộng hành tai ngược của hoạt động kinh doanh thực dân”.
“Ồ”. Olanna đứng dậy và mở chai thứ hai. Nàng cúi người rót đầy ly của mình trước. Nàng cảm thấy ngây ngất, người lâng lâng bay bổng, nhưng đầu óc nàng rất tỉnh táo; nàng biết mình muốn làm gì và biết phải làm gì. Cái mùi như thể mùi mồ hôi của Richard xộc vào mũi nàng lúc nàng đứng trước chàng với chai rượu trong tay.
“Ly của tôi chưa vơi”, chàng nói.
“Không, nó không vơi”. Nàng để chai rượu vang lên nền nhà, ngồi cạnh chàng, vuốt những sợi lông tơ trên da chàng, cảm thấy nó mềm mịn vô cùng, không cứng nhám, đầy nam tính như của Odenigbo, chẳng có gì giống Odenigbo cả. Chàng nhìn nàng và nàng tự hỏi có phải mắt chàng chuyển thành màu xám hay là chỉ do nàng tưởng tượng. Nàng vuốt nhẹ má chàng và để tay mình tựa vào má chàng.
“Đến đây, ngồi trên nền nhà với tôi”, nàng nói sau một lúc im lặng.
Họ ngồi bên cạnh nhau, lưng dựa vào ghế sofa. Richard nói lẩm bẩm, giọng yếu ớt, “Tôi nên đi”, hay là một cái gì đó đại loại như vậy. Nhưng nàng biết là chàng sẽ không đi và khi nàng nằm duỗi người ra trên tấm thảm hơi nhám, chàng cũng sẽ nằm theo bên cạnh nàng. Nàng hôn môi chàng. Chàng kéo nàng lại gần, thật mạnh rồi cũng nhanh và bất chợt, chàng thả nàng ra rồi quay mặt đi. Nàng có thể nghe hơi thở dồn dập của chàng. Nàng mở khóa quần của chàng, kéo xuống, rồi bật cười khi nó mắc kẹt vì đôi giày của chàng. Nàng lột phăng cái áo của mình ra. Chàng ở trên người nàng, cái thảm chích vào làn da ở tấm lưng trần của nàng, nàng cảm thấy miệng chàng yếu ớt ngậm lấy cặp nhũ hoa của nàng. Nó chẳng giống cách Odenigbo cắn và mút, đầy rung động của nhục cảm khoái lạc. Richard không cho lưỡi của mình rà lướt khắp thân thể nàng bằng những cái liếm ngắn và rất nhanh làm cho nàng quên hết mọi thứ xung quanh; không những thế, khi Richard hôn vào bụng nàng, nàng nhận biết là chàng đang hôn vào bụng của mình.
Tất cả thay đổi khi chàng vào bên trong nàng. Nàng nhấc mông của mình lên, theo đúng nhịp những chuyển động, những cái ấn vào trong thật mạnh của chàng, dường như nàng ném đi những gông xiềng trói tay, nhổ hết những cây kim đã ghim vào da thịt nàng, thả cho mình tự do với những tiếng kêu rên thật to đã nổ tung thoát khỏi miệng nàng. Sau đó, nàng cảm thấy tràn ngập một cảm giác thật nhẹ nhàng, sảng khoái, một cái gì đó gần như là sự duyên dáng, một ân sủng tuyệt diệu.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương hai mươi mốt

Richard cảm thấy nhẹ bẫng khi nghe tin ngài Winston Churchill qua đời. Nó cho chàng một cái cớ để tránh về Port Harcourt vào cuối tuần. Chàng không thể nào đối diện với Kainene lúc này.
“Anh phải dẹp cái lối nói đùa kỳ cục của anh về Churchill từ bây giờ đấy nhé?” Kainene nói qua điện thoại khi chàng bảo cho nàng biết là chàng phải đi Lagos để dự tang lễ của vị Thủ tướng Anh. Chàng bật cười khi nghĩ không biết mình sẽ ra sao nếu như nàng biết chuyện, bỏ chàng và chàng sẽ không bao giờ được nghe cái giọng mỉa mai, chế nhạo của nàng qua điện thoại.
Chuyện chỉ mới vài ngày trước đây, nhưng ngay cả căn nhà của Olanna cũng trở nên mù mờ trong trí nhớ; chàng ngủ quên sau đó trên nền phòng khách của Olanna và thức giấc với cơn nhức đầu, khát khô cổ họng cùng cảm giác rất tệ về cái thân thể trần truồng của mình. Nàng ngồi trên sofa, mặc quần áo chỉnh tề và im lặng. Chàng cảm thấy ngượng ngùng, không chắc là mình có nên nói gì về những chuyện đã xảy ra. Cuối cùng, chàng bỏ đi, không nói lời nào bởi vì chàng không muốn cái mà chàng nghĩ là sự hối hận trên mặt nàng sẽ biến thành nỗi oán ghét. Chàng không phải là người được nàng lựa chọn, có thể bất cứ người đàn ông nào cũng có được cái hân hạnh này. Chàng đã có cảm giác đó ngay cả trước khi được nhìn thân hình nàng không mảnh vải che, nhưng điều này không làm giảm đi cái lạc thú chàng tìm thấy trên thân hình đầy những đường cong gợi cảm của nàng, cái cách nàng chuyển động cùng nhịp điệu với chàng, cái cách nàng hưởng thụ cũng cuồng nhiệt như mang khoái cảm đến cho chàng. Chưa bao giờ chàng cương cứng như thế và giữ được trạng thái cương cứng lâu như thế – như khi chàng ân ái với nàng.
Tuy nhiên, chàng cảm thấy bị mất mát một điều gì đó. Khi nàng ở ngoài tầm với của mình, chàng đã tôn thờ, ngưỡng vọng nàng biết bao. Còn bây giờ, sau khi chàng đã nếm được chất rượu vang trên lưỡi nàng, đã gắn chặt lấy thân thể nàng, rất gần và thật sâu, đến nỗi chàng ngửi thấy mùi kem dừa dính trên da nàng, chàng cảm thấy mất mát một cái gì đó rất lớn lao, kỳ lạ. Chàng đã đánh mất sự tưởng tượng nhiệm màu. Nhưng điều chàng lo lắng nhất là mất Kainene.
Song, chàng tự trấn an là Kainene sẽ không bao giờ biết được.
* * * * *
Susan ngồi cạnh chàng trong buổi lễ tưởng niệm; khi một phần bài diễn văn của ngài Winston Churchill được phát, cô chắp đôi tay có đeo găng của mình lại thật chặt và dựa vào chàng. Richard cảm thấy nước mắt lưng tròng. Có lẽ đây là điều duy nhất hai người cùng chia sẻ; cả hai đều ngưỡng mộ Winston Churchill. Sau đó, cô mời chàng đi uống rượu với cô ở Câu lạc bộ Polo. Cô đã đưa chàng đến đây một lần trước đây và đã nói, khi họ ngồi trên thảm cỏ xanh trải dài, “Gần đây người Phi châu mới được phép vào, chỉ mới vài năm thôi, nhưng anh khó mà tưởng tượng được là họ đến đông tới mức độ nào, và họ cũng chẳng có vẻ gì trân trọng hay mang ơn, thật đó”.
Họ ngồi vào chỗ ngày xưa vẫn từng ngồi, gần hàng rào sơn trắng, một hầu bàn người Nigeria trong bộ âu phục màu đen đứng cạnh. Câu lạc bộ có vẻ trống trơn, mặc dù có một cuộc chơi polo đang diễn ra ở phía bên kia. Tiếng la hét, tiếng chửi thề của tám người phóng ngựa như bay theo sau một quả bóng vang dội trong không trung. Susan nói chuyện nhẹ nhàng, giọng nói chất chứa nỗi bùi ngùivề cái chết của một người cô chưa bao giờ quen biết. Cô nói thật là hay, bởi vì nghị sĩ cuối cùng được mai táng theo nghi lễ quốc gia là Quận công của Wellington, làm như đây là một điều mới lạ với chàng, và đáng buồn làm sao khi có một số người không biết Churchill đã cống hiến bao nhiêu cho nước Anh, và thật kinh khủng khi có người nào ở buổi lễ tưởng niệm đã phát biểu là mẹ của ông có mang dòng máu người da đỏ. Theo chàng nhớ thì da cô có vẻ bắt nắng nhiều hơn; chàng đã chẳng gặp cô kể từ khi chàng dọn về Nsukka. Cô trở nên vui vẻ hơn sau khi uống vài ly gin và nói đến một cuộn phim rất hay về hoàng gia đã được chiếu thử cho Hội đồng Anh xem.
“Anh có vẻ chẳng mấy chú ý, đúng không?”, cô hỏi, sau một lúc im lặng. Hai tai cô đỏ ửng.
“Ồ, anh có chú ý đấy chứ”.
“Em có nghe về người yêu của anh, con gái Ông Trùm Ozobia”, Susan nói. Từ người yêu được cô nói bằng một giọng nhạo báng, bắt chước cách nói của những người thất học.
“Tên cô ấy là Kainene”.
“Anh phải cẩn thận bằng cách lúc nào cũng dùng bao cao su đấy nhé. Cần phải luôn luôn cẩn thận, ngay cả khi giao du với những người có học thức nhất trong đám da đen này”.
Richard ngắm nhìn cái tĩnh lặng của màu xanh vô tận. Chàng chưa bao giờ có hạnh phúc với cô – cuộc sống mong manh, tất cả những tháng ngày kết thành một tấm voan mỏng của hư vô.
“Em đang qua lại với John Blake”, cô nói.
“Thế à?”
Susan cười to. Cô đang nghịch nghịch cái ly của mình, kéo nó dọc theo cạnh bàn, quẹt nhòa nước đọng xung quanh ]y. “Anh có vẻ ngạc nhiên?”
“Anh không ngạc nhiên”, chàng nói thế tuy có ý nghĩ khác. Không phải vì chuyện tình của cô mà vì vợ của John là Caroline, bạn thân của cô. Nhưng đây là một cuộc sống lưu vong. Tất cả mọi người đều làm thế ít nhất là theo những gì chàng biết, tất cả bọn họ đều ngủ với chồng hay vợ của người khác, những chuyện ăn nằm lăng nhăng nói chung chỉ là một cách tiêu khiển giết thì giờ nhàm chán ở miền nhiệt đới hơn là sự biểu lộ những đam mê chân thật của họ.
“Nó không có nghĩa lý gì, hoàn toàn chẳng có chút nghĩa lý nào cả”, Susan nói. “Nhưng em muốn anh biết là em sẽ cố ‘bận rộn’ trong khi chờ anh chấm dứt mối tình tăm tối của anh”.
Richard muốn nói rằng cô đã phản bội bạn của cô và chợt nhận ra nó nghe rất giả dối, ngay cả với chính chàng.

5. Quyển Sách: Thế Giới Im Lặng Khi Chúng Tôi Chết
Ông ta viết về nạn đói. Nạn đói là vũ khí của người Nigeria trong cuộc chiến. Nạn đói đánh gục Biafra và mang danh tiếng đến cho Biafra, làm cho Biafra trường tồn như quốc gia này đã tồn tại. Nạn đói khiến mọi người trên thế giới chú ý và biểu tình phản đối ở London, Moscow và Czechoslovakia. Nạn đói làm Zambia, Tamania, Ivory Coast và Gabon công nhận Biafra. Nạn đói đã đưa châu Phi vào trong cuộc tranh cử của Nixon ở Mỹ và làm cho các bậc cha mẹ trên toàn thế giới bảo con họ nên ăn nhiều hơn. Nạn đói thúc đẩy những cơ quan thiện nguyện ngầm mang thực phẩm bằng máy bay đến Biafra vào ban đêm bởi vì cả hai bên đều không chấp nhận lộ trình. Nạn đói thúc đẩy nghề chụp ảnh. Và nạn đói làm Hội Chữ thập đỏ Quốc tế gọi Biafra là cuộc cứu trợ nguy hiểm nhất kể từ Thế chiến thứ Hai.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương hai mươi hai

Chứng tiêu chảy làm Ugwu đau quặn cả người. Mặc dù hắn đã nhai mấy viên thuốc đắng nghét trong tủ thuốc của Ông Chủ hay mấy cái lá chua lè Jomo cho cũng chẳng thấy khỏi, bởi vì chứng tiêu chảy này chẳng có liên hệ gì đến thức ăn; bất cứ thứ gì hắn đụng tới cũng làm cho hắn chạy vội chạy vàng về chỗ ở của mình. Ấy là do hắn lo lắng quá. Nỗi sợ của Ông Chủ đã khiến hắn lo lắng đến như thế.
Từ khi bà cụ, mẹ Ông Chủ, mang tin Amala có thai đến, Ông Chủ đi liêu xiêu, vấp hết chỗ này đến chỗ kia, giống như mắt kính bị mờ, gọi hắn bưng trà bằng một giọng ỉu xìu và dặn hắn nói với khách là ông không ở nhà, mặc dù xe của ông đậu chình ình trong nhà xe. Ông Chủ thường nhìn trân trân vào khoảng không, nghe Tân nhạc và liên mồm nhắc đến Olanna. “Mình sẽ để nguyên như vậy cho đến khi cô chủ của em dọn về”, hay là “Cô chủ thích để nó ở hành lang”, chàng nói và Ugwu sẽ nói, “Vâng, thưa ông”, mặc dù hắn biết Ông Chủ sẽ chẳng để tâm mà nói những chuyện kiểu đó nếu như Olanna thật sự sẽ trở lại.
Chứng tiêu chảy của Ugwu trở nên nặng hơn khi bà cụ lại đến thăm cùng với Amala. Hắn chăm chú nhìn Amala; cô ta không giống vẻ có mang, vẫn thon thả và bụng lép kẹp. Hắn hy vọng bùa chú sẽ không hiệu nghiệm. Nhưng bà cụ bảo hắn, lúc bà gọt vỏ khoai dừa.“Khi thằng cu này ra đời, ta sẽ có người bầu bạn và mấy bà bạn già của ta sẽ không còn dám chọc ta là mẹ của một thằng con bị bất lực”.
Amala ngồi trong phòng khách. Cái thai mà cô đang mang làm tăng vị thế của cô, vì thế cô có thể ngồi rỗi rãi trong phòng khách nghe radio, không còn là cô giúp việc của bà cụ mà là người đàn bà sẽ sinh một đứa cháu cho bà. Ugwu nhìn cô ta từ cửa nhà bếp. Cũng may là cô ta không chọn cái ghế bành của Ông Chủ hay cái ghế nhỏ mà Olanna rất thích, nếu không hắn sẽ phải bảo cô ta đứng dậy, đi chỗ khác ngay lập tức. Cô ta ngồi, hai đầu gối khép lại, mắt tập trung vào đống báo chất ở giữa bàn, vẻ mặt vô hồn. Thật là chướng quá đi, một người tầm thường như thế này, váy áo thì chả ra cái gì, lại còn cái khăn sợi sùm sụp trên đầu nữa, thế mà lại là trung tâm của tất cả mọi chuyện. Cô ta không xinh đẹp cũng chẳng xấu xí; cô ta cũng giống như mấy cô gái trẻ khác hắn thường nhìn thấy ra suối làng mỗi buổi sáng. Cô ta không có gì đặc sắc. Nhìn cô ta bỗng nhiên Ugwu thấy nổi giận. Cơn giận của hắn không nhằm vào Amala mà hướng vào Olanna. Cô chủ không nên bỏ căn nhà của mình mà chạy trốn vì bùa của bà cụ đã đẩy Ông Chủ chui vào trong cái quần lót tầm thường của cô ta. Cô chủ nên ở đây để cho bà cụ và Amala biết ai mới thật là Bà Chủ của căn nhà này.
Lúc này trong nhà chỉ toàn những chuyện lặp đi lặp lại và tù túng đến nghẹt thở, bà cụ nấu những món xúp nặng mùi và ăn một mình vì Ông Chủ về nhà rất muộn còn Amala thì buồn nôn và Ugwu bị tiêu chảy. Nhưng bà cụ chả bận tâm; bà ngâm ư ử, nấu ăn, dọn dẹp và tự khen mình khi bà biết cách bật bếp. “Rồi có một ngày ta cũng sẽ có bếp riêng của ta, cháu đích tôn của ta sẽ mua cho ta một cái”, bà nói và cười to.
Hơn tuần sau, bà quyết định quay về làng và nói sẽ để Amala ở lại. “Con có thấy nó ốm như thế nào không?” Bà hỏi Ông Chủ. “Kẻ thù của mẹ muốn làm hỏng cái thai, chúng không muốn có người kế tục dòng họ mình, nhưng mình sẽ chiến thắng chúng”.
“Mẹ phải mang cô ấy theo”, Ông Chủ nói. Lúc đó đã quá nửa đêm. Bà cụ thức chờ cho đến khi Ông Chủ về và Ugwu đang ngái ngủ ở trong nhà bếp, chờ khóa cửa.
“Thế con có nghe mẹ nói là con bé ốm nặng không”, bà cụ nói. “Tốt hơn hết là phải để con bé ở lại đây”.
“Cô ta sẽ đi khám nhưng mẹ phải đưa cô ta về”.
“Con đang bỏ rơi đứa con của mình chứ không phải chỉ là con của Amala đâu”, bà cụ nói.
“Mẹ phải đưa cô ta về với mẹ”, Ông Chủ lặp lại. “Olanna có thể sẽ trở về một ngày gần đây và mọi chuyện sẽ không được êm thấm nếu Amala ở đây”.
“Con của con đây”, bà cụ nói rồi lắc đầu buồn bã, nhưng bà không cãi lẫy. “Ngày mai mẹ về vì mẹ phải dự một buổi họp umuada. Mẹ sẽ đến đón nó vào cuối tuần”.
Buổi chiều, bà cụ đi rồi, Ugwu thấy Amala trong vườn cải, ngồi bó gối trên mặt đất. Cô ta đang nhai ớt.
“Cô có sao không?” Ugwu hỏi. Có thể cô gái này bị ma ám và đến đây để làm phép với đồng loại của cô, ogbanije.
Amala chẳng nói chẳng rằng; rất ít khi cô ta mở miệng nên giọng của cô ta luôn làm Ugwu ngạc nhiên khi nó đầy vẻ trẻ con. “Ớt có thể phá cái thai”, cô nói.
“Gì cơ?”
“Nếu ăn thật nhiều ớt cay, có thể phá được cái thai”. Cô ta ngồi bó rọ trong bùn giống như một con thú đáng thương hại, nhai chậm rãi, nước mắt chảy dài xuống mặt.
“Ớt không làm được chuyện đó”, Ugwu nói. Tuy thế, hắn hy vọng cô ta nói đúng, rằng ớt có thể dùng để phá thai và cuộc sống của hắn sẽ trở lại như cũ. Olanna và Ông Chủ sẽ ở với nhau thật bình yên, hạnh phúc.
“Nếu ăn nhiều, đủ số lượng thì có thể”, cô ta quả quyết và với tay hái thêm một quả nữa.
Ugwu không muốn cô ta ăn hết đám ớt hắn trồng để dành nấu thịt hầm nhưng nếu cô ta nói đúng về tác dụng của ớt thì cũng đáng để cho cô ta ăn thoải mái. Mặt cô ta ướt nhèm vì nước mắt và nước dãi, thỉnh thoảng cô há mồm thè lưỡi vì cay, thở phì phò như chó vậy. Hắn muốn hỏi tại sao cô thuận lời làm việc ấy nếu cô không muốn có con. Cô ta đã tự ý đi vào phòng Ông Chủ; như thế cô phải biết âm mưu của bà cụ. Nhưng hắn đã không hỏi vì hắn không muốn kết bạn với cô ta. Hắn quay người bỏ vào trong nhà.

Rất lâu sau khi Amala về làng, Olanna đến chơi. Nàng ngồi một cách khách sáo ở sofa, chân bắt tréo như là một người khách lạ, và từ chối món chin-chin Ugwu mang ra trong một cái đĩa con.
“Mang nó vào bếp”, nàng nói với Ugwu, cùng một lúc với lời của Ông Chủ, “Để nó trên bàn”.
Ugwu đứng đấy với vẻ hoang mang không biết làm thế nào cho phải.
“Mang nó vào trong bếp đi”, Ông Chủ gắt gỏng, làm như Ugwu phải chịu trách nhiệm về sự căng thẳng đã ùa vào phòng. Ugwu không đóng cửa bếp để hắn có thể đứng gần đây lắng nghe, nhưng có lẽ hắn nên đóng cửa lại bởi vì Olanna lên giọng vừa đủ nghe. “Lỗi là tại anh chứ không phải tại mẹ anh. Chuyện xảy ra bởi vì anh đã để cho nó xảy ra! Anh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm!”
Ugwu nghe mà giật mình; không ngờ giọng nói mềm mại ấy lại có thể trở nên dữ dằn đến vậy.
“Anh không phải là một người đàn ông trắc nết hoang đàng, và em cũng biết thế. Chuyện này không thể xảy ra nếu mẹ anh không âm mưu dàn xếp!” Đáng lẽ Ông Chủ nên hạ giọng; đáng lẽ ông nên biết là một “thằng ăn mày” thì đừng có lên giọng.
“Mẹ của anh có kéo ‘thằng nhỏ’ của anh mà nhét vào chỗ đó của Amala không?” Olanna hỏi.
Ugwu bỗng thấy bụng quặn đau, vì thế hắn lật đật chạy về hướng cầu tiêu. Khi trở lại, hắn thấy Olanna đang đứng cạnh cây chanh. Hắn để ý mặt nàng, dò xem câu chuyện kết thúc như thế nào, hiện sự việc đã chấm dứt hay chưa và tại sao nàng ở ngoài này. Nhưng hắn không đọc được gì từ vẻ mặt của nàng. Khóe miệng của nàng hơi mím lại và có một vẻ gì rất tự tin, rất sang trong tư thế nàng đứng, mái tóc giả đang đội làm nàng có vẻ cao hơn rất nhiều.
“Cô có cần gì không, thưa cô?” Hắn hỏi.
Nàng đến gần để nhìn mấy cây anara. “Mấy cái cây này mọc khỏe quá. Em có dùng phân bón không?”
“Có ạ. Jomo mang đến”.
“Còn mấy cây ớt?”
“Cũng thế ạ!”
Nàng quay đi. Nàng đứng đây, đi giày cao gót đen, mặc cái váy dài đến đầu gối, xem ra chẳng mấy thích hợp. Nàng bận váy quấn hay một cái áo mặc trong nhà khi nàng ra ngoài vườn.
“Thưa cô?”
Nàng quay lại.
“Con có một người chú đang buôn bán ở miền Bắc. Người ta ghen tị với chú bởi vì chú làm ăn khá. Có một ngày chú giặt quần áo, khi lấy quần áo vào, chú thấy một miếng trên tay áo đã bị cắt”.
Olanna nhìn hắn; qua nét mặt hắn nàng biết là nàng chẳng có kiên nhẫn để mà nghe hắn con cà con kê.
“Người ta cắt áo để làm bùa hại nhưng cái bùa không linh nghiệm vì chú con đã đốt cái áo ngay lập tức. Ngày hôm đó có rất nhiều ruồi đến bu quanh căn nhà của chú”.
“Em nói lăng nhăng gì thế?” Olanna hỏi bằng tiếng Anh. Bởi vì nàng ít khi dùng tiếng Anh với hắn nên nghe sao có vẻ xa cách, lạnh nhạt.
“Bà cụ yểm bùa Ông Chủ, thưa cô. Con thấy ruồi bu đầy trong nhà bếp. Con cũng thấy bà bỏ cái gì đó vào thức ăn của Ông Chủ. Rồi con thấy bà xoa cái gì đó lên người Amala, và con biết đó là bùa bà dùng để dụ dỗ, mê hoặc Ông Chủ của con”.
“Nhảm nhí”, Olanna nói. Ugwu nghe như một tiếng rít, nhảm nhí, hắn thấy bụng mình quặn thắt. Nàng có vẻ rất khác. Da nàng và quần áo của nàng có vẻ được chăm sóc hơn. Nàng cúi xuống búng một con bọ trên áo trước khi bỏ đi. Nhưng nàng không đi vòng phía ngoài nhà, qua ga ra để ra chỗ chiếc xe của nàng đang đậu phía trước. Thay vì thế nàng đi vào nhà, qua cửa sau. Hắn đi theo. Trong nhà bếp, hắn nghe giọng nàng vọng ra từ phòng làm việc, cả một tràng dài mà hắn không thể nghe rõ và cũng không muốn nghe. Rồi sau đó là sự im lặng nặng nề. Có tiếng mở cửa và đóng cửa phòng ngủ. Hắn chờ một lúc trước khi rón rén băng qua hành lang và áp tai vào cánh cửa gỗ. Giọng nàng có vẻ khác. Hắn quen nghe tiếng kêu rên nén trong cổ họng của nàng, nhưng cái mà hắn đang nghe bây giờ lại là những âm thanh rất rõ ràng, những tiếng kêu đứt quãng, ngộp thở, ah-ah-ah, như đang chuẩn bị vỡ tung, như thể Ông Chủ vừa làm nàng thỏa mãn vừa làm nàng giận điên và nàng đang chờ xem có bao nhiêu khoái cảm nàng nhận được trước khi nàng thả tung cơn giận của mình. Tuy thế hy vọng dâng lên trong lòng Ugwu. Hắn có thể nấu món cơm jollof thật ngon để soạn sửa bữa ăn hòa giải cho họ.
Sau đó, hắn nghe tiếng xe của nàng nổ máy và thấy đèn xe sáng quắc gần bụi cây có hoa trắng, hắn nghĩ nàng sẽ mang một ít đồ dùng ở nhà nàng trở lại. Hắn dọn bàn cho hai người ăn nhưng chần chừ không mang thức ăn ra, chỉ giữ cho thức ăn ấm nóng trong nồi.
Ông Chủ vào trong bếp. “Hôm nay chú em định ăn một mình à?”
“Con đang chờ cô”.
“Dọn thức ăn cho tôi, osiso!”
“Vâng, thưa ông”, Ugwu nói. “Cô có sớm trở lại không ạ?”
“Dọn thức ăn cho tôi!” Ông Chủ lặp lại.
Đăng nhập để trả lời
0