📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Linh Hồn Hay Xác Thịt - THẦN HỒ 🔒

5 trả lời, 93 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.10.2017 12:07:25 bởi Ct.Ly>
PHỔ THÔNG BÁN NGUYỆT SAN
Linh Hồn Hay Xác Thịt
Tiểu thuyết của TCHYA
 
Tác giả THẦN HỒ
 
 
---&---
 
TCHYA
Tặng LÃNG NHÂN
 
NGƯỜI TA ở đời, nếu có được sự gì sướng vui, thú vị nhất, là chỉ trong lúc còn trẻ trung, hăng hái, dần dà tuổi trẻ đã qua thì những khoái lạc mình được trải, phần nhiều, kém hẳn vẻ say sưa. Đời niên thiếu có nhiều hi vọng và tưởng tượng đó, ta có thể đi sâu vào cõi mộng mơ hồ, huyền bí, rồi cho rằng mình đã một vài phen được thoát ly cõi thế, bay lên một từng vũ trụ, thiêng liêng đẹp đẽ dị thường.
 
Những phút mê say túy lý ở đời, hoặc mê vì ái tình, hoặc say vì nghĩa vụ, những phút ấy, thường thường, làm cho cuộc đời đỡ tẻ, đỡ buồn, không đến nỗi vô nghĩa. Ông Hóa công thực đã suy nghĩ sâu xa : ông đặt ra những cuộc khoái lạc phù phiếm để đánh lừa nhân loại, bắt nhân loại phải ham mê những thú phù phiếm ấy. Mà nhân loại có bị vướng vít trong gầm vật dục, giống nòi mới không đến nỗi bị tiêu diệt dần dần. Nếu ai cũng thấy đời vô nghĩa lý, ai cũng chán sự ‘‘tử, lộc, thê, tài’’ thì tất đã bao người tự hủy hoại thân mình, không muốn sống làm người nữa.
 
Thế cho nên từ đời thượng cổ, vẫn có người ham sống, vẫn có người sợ chết, vẫn có người bon chen danh-lợi, vẫn có người điêu đứng vì tình. Ấy là nghiệp con người; ấy là luật của Trời, mình không thể nào tránh khỏi luật đó được.
 
Đành vậy, sống cũng không hại gì; nhưng nếu bao nhiêu khoái lạc trên đời, chỉ trong lúc còn ngây  thơ  hưởng mới có thú vị thâm thúy, thì trở về già, cuộc đời chả hóa ra một trường thất vọng lắm ru ? May thay !  Trẻ có thú trẻ, già có thú già ; mỗi một tuổi nhớn lên, ta trông đời bằng một con mắt khác.
Vẫn biết hi vọng[sub]?[/sub] tưởng tượng, hai sự ấy đều theo thời gian bay mà dần dà biến cả; nhưng cũng nhiều khi, trong lúc mình chịu đã ê chề thương tâm và thất vọng, trong buổi mình tưởng đời mình không còn có thú vị gì, một vài giờ khoái lạc tự nhiên thoảng qua cuộc sinh hoạt của mình như một giấc mộng, làm cho mình phải tin rằng trong đời còn lắm điều êm ái, còn lắm điều may-mắn, mà mình nên cứ kiên tâm sống mãi để chờ thời...
 
Những giờ ấy, ta có thể ví như những phút thiêng- liêng, huyền bí, như những phút sáng láng lạc vào trong một quãng thời gian ảm đạm mịt mờ, Đời ta ví như một miếng đất bằng phẳng lặng, trơ tẻ ; những phút kia tựa hồ như những chòm núi đá nhô lên, để làm cho phong cảnh đổi thay, gập ghềnh, ngoạn-mục !
Ấy, chỉ nhờ những phút khoái lạc dị kỳ ấy mà người ta cố bám lấy sự sống, để mong rằng, một ngày kia, được biết rõ nghĩa cuộc đời. Nghĩa cuộc đời, nó tức là những phút thiêng liêng ấy đó.
Tôi mới sống đến quãng ngoài bốn mươi mà đã thấy đầu râu lâm râm đốm bạc cả; tôi đã vì tình, chịu nhiều phen thương tâm tha thiết, đã vì công danh sự nghiệp, chịu nhiều phen nhục nhã điêu linh. Thành ra tôi nghĩ đến đời tôi mà chán quá ; nếu không còn chút hi vọng một ngày kia sẽ có tên tuổi trong văn giới thì có khi tôi tự tử đã lâu rồi.
 
Nhưng tôi vẫn cố kiên tâm, cố nén lòng buồn bã sống nốt quãng đời vô vị mà tuổi già càng làm cho vô vị. Tôi già rồi ! Bốn mươi tư tuổi đầu rồi! Còn làm trò trống gì nữa ! Nếu tôi sinh trưởng làm một dân Âu Mỹ, thì đến tuổi này, mới là vừa đúng tuổi hoạt động thành người ; nhưng sinh làm dân Việt-Nam, thì quá bốn, mươi, đã là một ông Cụ trẻ ! Như người ta mau mắn ra, ắt đã có con đàn cháu đống ; tôi đây chỉ một thân trơ trọi, sống ngày nào là thấy ngày ấy lạnh lùng !
 
Nhưng mà thôi. Đã trót làm người phải chịu khó chịu rầu cho trọn kiếp ; có gia đình hay không, cung thế, nào hơn gì đâu mà thèm bận tấc lòng ! Chả qua có vợ, có con, cũng chỉ tổ làm nô lệ để nuôi chúng nó ! Từ khi Thục Nga bỏ tôi một mình ở lại, tôi không bao giờ nghĩ tới thú tục huyền. Thục Nga tuy không phải vợ tôi, nhưng tôi thực đã yêu nàng quá một người vợ chính thức, có cheo cưới theo tục lệ.
 
Phàm ở đời, có là nhân tình, yêu mến nhau mới được lâu dài bền chặt ; lúc đã lấy nhau, đôi bên cùng chóng chán nhau ngay. Có lẽ bởi Thục Nga và tôi chỉ là một đôi nhân tình, nên khi nàng chết đi, tôi không tài nào quên được hình ảnh nàng; hình ảnh ấy đã khảm chặt dưới đáy tâm hồn tôi. Tôi còn nhớ lúc đưa tiễn nàng về cõi hư linh, tôi khóc không còn nước mắt. Chao ôi! đau đớn làm sao kể xiết! Một nguời đàn bà đã làm quan niệm cho sắc đẹp mình ước muốn, một người thiếu phụ, những đêm mưa dầm gió bấc, dùng tấm da mịn màng êm ấm ủ cho quả tâm lạnh lẽo của mình, một người mỹ nhân da trắng tóc dài, cặp mắt sắc đen cũng như đôi môi mịn đỏ, một người vợ thuần thục, nết na, mội người nhân ngãi yêu mến mình một cách nồng nàn, đầm thắm, con người ngọc ấy, bỗng tự dưng để tôi trơ trọi trên cõi trần mờ mịt, tẻ buồn này !
 
Tôi làm thế nào quên đựợc những giờ ái ân chúng tôi đã cùng nhau nếm vị, những lúc say sưa, huyền bí, mà nàng cho tôi được làm chủ tấm thân băng tuyết của nàng ! Những buổi cùng nhau khăng khít dưới trăng tà, trong một Tạo hóa nồng nàn đầy cảm hứng, những cuộc đi chơi thong thả, cầm tay nhau cùng ngắm  vẻ âm thầm rực rỡ của buổi tà dương, những quãng thời gian chan chứa ái tình mà chúng tôi hẹn hò nhau cùng trải, trong khi trùng than dưới cỏ, để khóc bên hoa ; những ngày  ấm áp đối diện nhau ngẫm mấy câu thơ ‘‘Chinh Phụ’’, trong khi trước lò than tiếng đàn Tỳ văng vẳng giọng bi hoài; những phút ấy, những cuộc ấy, ngày nay tôi biết tìm đâu thấy nữa, nếu tôi không theo nàng xuống chốn Tuyền đài !
 
Nàng chết đi, tôi không thể yêu ai được nữa. Không có người đàn bà nào có thể khiến tôi quên nàng, không nghĩ đến cuộc đời xưa nữa. Nếu ngày nay tôi sống trong một bầu trời hiu quạnh, mà vẫn không hề thấy trơ trọi buồn rầu, ấy chỉ vì luôn luôn tôi nghĩ đến nàng, nghĩ đến quãng đời tôi đã với nàng, cùng sống. Tôi sống để nhớ lại, để ôn lại, quãng đời thiêng liêng ấy. Những ngày dĩ vãng, đối với tôi, tức là nhẽ làm cho tôi chịu sống kham khổ thế này. Hình ảnh nàng là bạn của tôi, là sự nghiệp của tôi, là thân thế của tôi. Tôi chỉ muốn nhắm mắt cả ngày đêm cho bao giờ nàng cũng hiện về trước mặt.
Kia kìa ! Nàng đứng trong một Tạo Hóa âm thầm mà rực rỡ, man mác mà nồng nàn, nàng mặc một thứ áo mềm như lụa, bóng như sa tanh, lờ mờ như sương tuyết, óng ả như gió chiều ; nàng nhìn tôi bằng đôi mắt say sưa, tình tự ; nàng hé miệng đào cười tươi như bông hoa hồng mai hàm tiếu, hẹn tôi lên chốn mơ hồ... Chao ôi ! tỉnh dậy làm gì ? Tỉnh dậy làm gì để phải trông thấy cõi đời ô trọc ! Đã tám chín năm nay, không giờ nào hương hồn nàng không theo tôi, như cùng tôi vẫn cùng vui,cùng sống. Vì thế, tôi có thể thui thủi ở mãi một mình trơ trọi, tôi có cần gì phải lập nên gia thất như người ? Tôi đã có Nàng, tôi an nhàn  sinh hoạt trong lòng Nàng, bên cạnh Nàng ; tôi đã có bạn bè yêu mến tôi rồi, còn việc gì phải lấy ai cho bận bịu?
 
Sống như tôi, kể cũng sướng mà cũng khố I Sướng là sướng khi mơ màng trong mộng tưởng, khổ là khổ lúc mở mắt ra, Thấy mình vừa đốn, vừa già! Nhưng thôi ! buồn mà làm gì ? Ngao ngán nữa làm gì ? Trời đã sinh ra tôi có chút thông minh, tư tưởng, tôi cũng đành vui vẻ chôn hết quãng đời đa lụy, cùng ngọn đèn, quyển sách, tạm vui trong lúc yếu hèn. Tôi chỉ biết có một thú nữa thôi: thú vùi thân thể và linh hồn trong cõi văn chương, mỹ thuật. Tôi không nghĩ gì nữa. Cũng không ham muốn gì nữa. Bao giờ chết, đã có thân bằng, cố hữu, làm ơn chôn hộ; bao giờ nghèo, đã có máy mẫu ruộng ở nhà quê nuôi chođủ ấm, đủ no. Vì thế, tôi mặc kệ cuộc xoay vần, chẳng bon chen, cũng chẳng đua cười cùng ai cả, Tôi chỉ có một thân, một bóng, nhưng chẳng hề trách ông Cao Canh cay nghiệt bao giờ.
 
Cũng có nhẽ tại tôi rất tin ở lòng quảng đại cũa đấng Thượng Hoàng, tại tôi rất thành thực kính yêu đức Chí Tôn, Chí Thánh, tại tôi rất thủy chung phúc hậu trong khi giao du với thiên hạ, để khỏi phụ ơn Ngọc Đế, để Ngài chứng minh cho tấm lòng ngay thẳng của tôi, Cho nên Ngài nghĩ thương tôi, và lúc tôi đã hết cả hi vọng sống lại quãng đời niên thiếu, Ngài cho tôi tình cờ được nếm một vài giờ say sưa, huyền ảo, khiến tôi những tưởng mình đã có hạnh phúc đưa linh hồn và thân thể vào một nơi  khoái lạc tuyệt đích, một nơi mà người trần gian chưa mấy kẻ đã được vào.
Xác thịt tôi ngày nay như còn tê tái, mỗi khi tôi nghĩ tới phút thiêng liêng êm ấm đó. Tôi còn sống ngày nào, là ngày ấy, tôi không thể quên được lúc quả tâm già cằn của tôi đã hồi hộp, như thủa nó còn non nớt, lúc hình hài khô yếu của tôi đã rung động tựa buổi nó còn hăng hái, dẻo dai, lúc linl hồn tôi chan chứa, mê man chả khác phút nó còn ngây dại, lúc cảm giác tôi bị một thứ khoái lạc gì làm cho tiêu hẳn như tuyết lan ra nước lã, một thứ khoái lạc dị kỳ, khó hiểu, không thuộc về vật dục mà cũng không phải ở tinh thần. Khoái lạc đó có nhẽ làm bằng ái tình, một nguồn ái tình đã nguội mà hồi nóng lại, một nguồn ái tình đã chết rồi, mà bỗng trở về, lại nhuốm vẻ thơ ngây. Ôi ! nói làm sao, tả làm sao, cái cảm giác mà tôi đã có ? Họa chăng khi nào tôi chết rồi mà còn viết được, dễ chừng lúc ấy tôi có thể cắt nghĩa rõ ràng cho bạn hiểu cái thú vẩn vơ nhưng thắm thía, thô tục nhưng cao xa, cái thú êm ả, dịu dàng, mơ hồ, huyền bí, mà ông  Cao Xank éo le đã thương tôi, cho tôi được nếm vị, có biết đâu khi tôi trải qua thú ấy, quãng đời thừa tôi còn sống bỗng hóa ra một trường đau khổ dị thường ?
 
&&&
 
Tối hôm ấy, tại nhà Hát Tây, Cao đẳng học sinh viên diễn tấn kịch: Huyền Trân công chúa. Tác giả vở kịch ấy, nhân quen biết tôi khi chàng còn nhỏ tuổi, không muốn quên một bạn già xưa nay từng phục văn tài chàng, biếu tôi một vé đi xem. Tôi không phải một tay sành về kịch, nhất là về ‘‘kịch thơ mới’’, lần đầu tiên đem ra diễn trên sân khấu Hà Thành, hóa nên dù cảnh đẹp, dù người xinh, dù thơ hay, dù đàn ngọt, tôi không thấy gì cảm cả, chỉ hả mồm ngồi nhìn hết quan Toàn quyền lại sang quan Thống sứ, và nhất là để tâm ngắm rất kỹ những sắc đẹp tiêu hồn của mấy cô thiếu nữ An Nam với những bộ đùi non hồng hào, mũm mĩm trắng trảo, nõn nà, của mấy ả nữ học sinh quý quốc, mặc váy cộc, ra nhảy đùa, múa hát dưới ánh đèn sáng rực của sân trò.
Tôi ngồi xem ngót hai giờ, lúc ấy thấy hai mắt muốn dở hơi nhắm lại. Tôi lim dim buồn ngủ. Chỉ xuýt nữa là ngủ gật. Bỗng hình như tôi cảm thấy một sự gì rất lạ, tựa hồ một luồng điện chạy vụt qua người, khiến tôi gây gấy rùng mình, tâtn hồm hồi hộp, rồi mở choàng mắt ra.
 
Cha mẹ ôi ! tôi điên hay mê ngủ ? Hay tôi đã chết xuống Tuyền đài ? Tôi vẩn vơ, không hiểu rõ ra sao, lòng tự hỏi lòng chả biết mình ốm lúc nào[sub],[/sub] chết lúc nào mà chóng thế ! Hay mình nằm mơ, nằm mộng ; nhưng, nếu thực tôi mơ màng, thì tôi ngủ tự lúc nào ? Tôi nhớ kỹ hiện tôi còn sống, mà tôi không ngủ, vì tôi ngồi chính giữa nhà Hát Tây. Chung-quanh tôi lại có quan viên làng báo. Tôi nhớ rõ tôi vào ngồi xem có ‘‘các’’, quả thực không phải tôi mơ hoảng chút nào, Nhưng, muốn cho chắc chắn, muốn chắc chắn rằng mình còn thức, còn tỉnh, mình vẫn sáng suốt như người thường, tôi đem ngón tay út lên mồm, cắn rất mạnh.
Tôi thấy tôi đau quá. Sợ rằng sự thí nghiện ấy chưa đủ,tôi lại tự véo đùi. Thôi đích thực rồi: tôi còn sống, và vẫn tỉnh, Nhưng… vì sao tôi thấy sự quái gỡ như vầy?
 
Trước mặt tôi, trong một ‘‘lô’’ ở từng gác sang nhất, một đôi mắt đen, sáng quắc, chòng chọc nhìn tôi. Một đôi mắt tôi vẫn xưa nay ghi sâu trong tâm trí. Đôi mắt ấy, nó dài  như mắt phượng, nó dịu dàng nằm dưới một đôi lông mày bán nguyệt đặt trên cái trán vừa vặn và trắng nuột, như một đôi lá liễu cong cong. Nó sắc sảo làm sao, cặp mắt bồ câu ấy ! Chả thế mà cổ nhân đã phải tặng cho luồng nhỡn tuyến cái mãnh lực xiêu quán, đổ thành ! Đôi mắt này, nó cũng không kém gì những đôi mắt long lanh của các mỹ nhân trong iịch sử. Lông mi dài, nhỏ, vành cong lên, tua tủa như những sợi tơ đen, Mí mắt trên, hai ăn sâu lõm vào trong, nhuộm mầu timvtím, xanh xanh, của một lần phấn đươm. Mí mắt dưới cũng kẻ vẽ rất công phu, tĩ mĩ, hóa nên mỹ lệ vô ngần. Mỗi lẫn hai mi mắt ấy sẽ khép lại rồi mở choàng, một luồng điện lại từ đôi đồng tử đen nháy, sáng ngời, nhấp nhấy chiếu ra, sắc như lưỡi kiếm, lóng lánh tựa sao sa, nhưng lại đầm ấm, dịu dàng, như ánh nắng buổi chiều xuân, le-lói.
 
Quái lạ ! làm sao trên thế gian này lại có một người đàn bà thứ hai có cặp mắt giống hệt như cặp mắt tôi thường khắc trong đáy óc ? Mà không những thế, khuôn mặt đeo cặp mắt ấy cũng là khuôn mặt tôi thường tưởng nhớ ; tâm thước, hình dáng và bộ điệu của mỹ nkân có đôi mắt say sưa, kiều diễm ấy cũng quả là tầm thước, hình dáng và bộ điệu người mà tôi thương tiếc, chốc đã mười lăm năm rồi ! Dễ thường tôi điên mất ? Có lẽ đâu người chết đi bỗng sống lại thế này ? Ồ hay ! Thục Nga ! Thục Nga, có lẽ là Thục Nga, vì nếu không phải chính Nàng, thì đôi mắt tinh anh tuyệt mỹ kia còn có thể là mắt ai được nữa ?
 
Cũng cặp mắt  sắc sảo và mơ mộng, cũng làn tóc vừa dài vừa mượt, giấu dưới vành khăn nhung gọn ghẽ, để lộ ra mái tóc óng ả, vầng lưỡi trai phẳng mịn với hai bên tóc mai rủ xuống lòa xòa; cũng nước da lợt trắng lợt xanh, nhưng một mầu xanh phơn phớt dịu dàng, biểu hiệu của những làn da quí phái; cũng đôi má nhung thoáng vàng, thoáng đỏ, chả khác gì trái đào vừa chín tới trên cây; cũng đôi lưỡng quyền hơi nhè nhẹ nhô lên, dưới cái trán sáng sủa hơi gồ ra chút đỉnh; cũng đôi môi mịn màng, mỏng, đỏ, mỗi lần cười phô bộ răng đen nhưng nhức, lại vành cong lên như cánh thắm đóa hoa hồng; cũng chiếc cầm tròn, nhỏ, xuôi xuôi, khi cúi xuống, lại làm lộ, đường sau, một cái gáy nõn nà, ngon đẹp quá!
 
Người thiếu phụ kia ngồi một mình trong một ‘‘lô’’ sang nhất, không những nhìn tôi chòng chọc, lại còn ngảnh trông tứ phía, có khi ngấp nghé đứng dậy, làm cho tôi  được hạnh phúc ngắm một cách rất kỹ luỡng tất cả những nét đặc biệt, làm nên nhan sắc của nàng.
 
Một làn áo nhung lam bọc tấm hình hài yểu điệu, một tấm hình hài, trông xa, cũng biết rất mềm dẻo, rất thướt tha, kiều mị, mỗi một khi sức mạnh ái tình làm cho rung động, tê mê. Chao ôi !  người đàn  bà kia, tôi đã biết rõ nàng như biết những đường chỉ trên bàn tay tôi vậy ! Không cần gần gụi nàng cho lắm, tôi cũng hiểu rõ rằng xác thịt nàng là một xác thịt làm bằng sương tuyết, làm bằng điện tuyến, làm bằng một chất tục mà thanh, một chất sờ nắn được mà cũng mơ-hồ, huyề ảo...
 
... Đã bao lần, bên cạnh một làn da vừa mát lạnh, vừa ấm dịu, như da nàng, tôi đã biết một thân thể giống đúc như thân thể nàng, đã thấy thân thể ấy, dưới gợn tê tái của một luồng ái ân đầm  thắm, nồng nàn, cháy bùng lên như lửa đượm, lại tiêu tán ra như tuyết, như băng, để uốn éo, quay lượn trong tay tôi như ngọn gió tuôn bay man mác, để biến ra một thứ tiếng âm thầm, tuyệt diệu, như tiếng đàn réo rắt buổi đêm trường.., Trời ôi ! tôi biết tả làm sao, tả làm sao cho cạn những cảm giác, mà giờ đây, tâm hồn tôi chan chứa ?
Nếu người thíếu phụ kia chỉ có đẹp, thì dù nàng đẹp đến thế nào chăng nữa, tôi cũng không bao giờ để mắt ngắm nàng. Nhưng khốn nỗi người đó, không hiểu vì sao, giống Thục Nga như hai giọt nước, giống như in, như tạc, như Thục Nga sống lại; hay là chính thực Nàng hiện hồn về cho tôi lại được thấy Nàng ? Da thịt Thục Nga ngày nay dễ chừng đã tan ra nưóc cả, có lẽ nào sau mười tám năm xa cách, tôi còn được thấy vợ tôi bằng thịt bằng da?  Nếu người thiếu phụ kia không phải là ma, không phải là hương hồn Thục Nga nhân một phút thiêng liêng mà tụ lại, thì có khi mắt tôi vì hoa lên mà trông quáng cả, trông một người con gái chưa từng quen mặt lại tưởng nhầm là người mình yêu, mình tiếc, mình thường luôn luôn thấy trong giấc mộng si tình?
 
Lạ thực ! tôi cố tự véo đùi, giụi mắt, cố thí nghiệm mãi để xem mình tỉnh hay mê, mà quay đi quay lại,thế nào cũng vẫn thấy Thục Nga ngồi tươi cười trước mặt! Thục Nga cũng hình như để ý đến tôi, cứ đăm đãm hai mắt nhìn tôi không chán, lại có vẻ muốn gọi tôi mà không dám gọi, vẫy tôi mà không dám vẫy, khiến tôi càng như dại, như ngây. Người tôi run lên, mặt tôi xám lại như khi bị ngộ gió, mắt tôi trông đèn thành ba mươi sáu ngọn, tai tôi ù ù, nghe âm nhạc tưởng chừng như gió khóc, mưa hờn trong đêm lạnh. Chỉ một chút nữa, tôi hóa điên, điên thật. Tôi sợ quá, sợ lại mừng. Mừng vì trông thấy người yêu duy nhất của mình, nhưng sợ là sợ người yêu ấy không phải người mà lại là ma quỉ hiện về để giun giủi mình đi cùng nàng vào cõi Chết. Nếu quả không phải hồn Thục Nga trở lại, thì có bao giờ tôi được thấy một người đàn bà giống hệt Nàng, từ kẽ tóc chân tơ ? Không những chỉ giống vẻ mặt mà thôi đâu ! Từ nét cười say đắm, từ đuôi mắt đậm đà, cho đến lối chống tay lên gò má, lối vuốt sáp trên cặp môi, cho đến cách đem nhè nhẹ mấy ngón tay búp măng lên đầu, sửa lại mái tóc hơi hơi lệch, tất cả bao nhiêu vẻ đẹp, tất cả bao nhiêu nết xấu, người đàn bà kia đã ăn cắp của Thục Nga. Thế thì kẻ kia mà không phải Thục Nga, thì còn có thể là ai được nữa?
 
Tôi dám chắc rằng bao nhiêu người đã quen biết tôi và quen biết người tôi yêu thủa trước, không ai trông thấy người tôi đã thấy mà không kinh hoàng, tê tái, đinh ninh rằng vợ tôi sống lại, trở về. Cái lối đeo chiếc kiềng vàng óng ả thế kia, cái lối đeo mỗi bên cổ tay một chiếc vòng ngọc trạm thế kia, trừ Thục Nga ra, không còn ai theo dáng lối điểm trang thanh tú ấy. Nếu vậy thì quả thật tình nhân tôi sống lại; song không hiểu vì sao, Nàng không đến tìm tôi ở tận nhà tôi ?
 
Tâm trí tôi đương vẫn vơ, tìm những lý lẽ giả nhời câu hỏi ấy, thì là màn nhung từ từ hạ xuống, sân khấu đương âm âm tối, bỗng dưng choàng sáng tỏa ra. Hai con mắt đen của người thiếu phụ mà tôi cho là vợ tôi như chiếu thẳng vào tôi, không chớp. Trông làn da xanh lợt kia mà ánh đèn vàng nhạt trong phòng hát càng làm cho xanh một cách dị kỳ, ai không bảo người nhìn tôi không có một sẳc đẹp long Ianh, dữ dội sắc đẹp của Thục Nga khi tắt nghỉ, sắc đẹp của một con ma đã chết, mở quan tài đứng dậy rồi thong thả bước ra ? Người thiếu phụ tôi trông thấy kia, tuy làm cho tôi nhớ lại em Thục Nga tôi thương, tôi tiếc, nhưng cũng làm cho tôi nghĩ đến nhiều điều quái gở, mà đâm ra lạnh buốt cả sương sườn.
 
Tôi còn chưa hết cơn hồi hộp, sợ, mừng, thì một mảnh giấy đã từ đâu, mượn tay một đứa trẻ con, đưa đến :
 
 “ Nếu ông có phải là ông Đỗ khánh Thần, thì xin ông quá bộ, hết hồi sau, lên chơi trên từng trên mội phút.
Ông sẽ vào loge số 15. Tôi có câu chuyện muốn cùng ông giải tỏ. Kính bái.’’.
 
Trông nét chữ viết, thì không phải chử Thục Nga. Đã thế, tôi không có gì đáng sợ nữa; kẻ kia đã  gọi, tôi cứ sang, nào có ngại gì !
 
Hồi kịch tôi xem, lúc ấy, sao nó dài dòng quá vậy ? Khi màn vừa từ từ hạ, đèn chưa kịp mở, tôi đã vội xô ghế ngả ra môt xó, xách mũ cho nhanh để tếch thẳng đến từng trên. Loge 13, rồi 15, Tôi gõ cửa. Một tiếng nói nhẹ nhàng, thảnh thót, như rót vào tai tôi một khúc âm nhạc êm đềm :
- Xin ông cứ vào !
 
Trời ôi ! tôi tả lại làm sao cái phút mà xác thịt và link hồn tôi cũng bị, trong một câu chuyện của một người đàn bà, tan ra như mây nước cả ?
‘‘ - Em nhìn anh một lúc lâu, em ngợ quá. Bây giờ anh già đi nhiều lắm. Ô ! tóc anh đã bạc cả rồi ! Da mặt của anh cũng nhăn nheo cả. Chắc là anh lo nghĩ nhiều lắm nhỉ ?’’
Chết nỗi ! Có nhẽ là Thục Nga sống lại thực, vì cớ sao nàng đối với tôi, thân mật quá như vầy ? Sao lại tự xưng bằng em ? Sao lại gọi tôi bằng anh ? Càng ngày, tôi càng đi vào một con đường bí mật. Mà biết đâu tôi sẽ khó lòng ra khỏi quãng đường này ! Lạ quá.
‘‘- Kìa ! anh không nhận được em ư ? Sao mà mặt anh thừ ra như thế hở?’’
Một giọng cười giòn giã, trong trẻo, sang sảng như chuông đồng, khánh ngọc, làm cho tôi, đã kink hoàng mê mẩn, nghe tiếng cười, càng lạnh buốt cả người.
‘‘ - Chết thật ! anh bây giờ đốn thật! Làm sao trông anh ngượng nghịu, e lệ thế kia? Em có đâu là người xa lạ mà làm anh phải sợ ? Hay là anh quá yêu, quá tưởng nhớ Thục Nga để đến nỗi đâm ra khốn khổ thế này ? Rõ tội nghiệp anh quá ! Anh là một kẻ chung tình ; Thục Nga thực là một người bạc phận!
‘‘ - Thật quả là anh không nhận biết em ư ? Em là  Quỳnh Nga, Quỳnh Nga mà ngày xưa anh ghét cay ghét đắng,Quỳnh Nga mà nhiều phen đã làm lỡ duyên anh. Anh không nhận được em cũng phải. Em xa cách anh đã mười sáu, mười bảy năm có lẽ; anh lại chỉ biết em trong lúc em hãy còn thơ. Nhưng em, em vẫn nhớ anh,vẫn ghi  hình ảnh anh trong linh hồn em, từ buổi trước. Tuy anh có khác đi chút đỉnh, nhưng em nhận được anh ngay. Chẳng hay anh đã ra khỏi cơn ngạc nhiên, mê mẫn chưa ?
‘‘ Anh Thần !Anh là một người đáng yên, đáng quí. Từ đã lâu, từ khi em biết nghĩ, em vẫn đêm ngày hối hận, lúc thiếu thời, đã làm rẽ duyên anh. Em rất buồn đã làm cho anh chịu khổ, đau, nhớ, tiếc. Nhưng sự nhỡ rồi, còn biết làm thế nào để tạ tội cùng anh? Bấy lâu em không có dịp ở Hà thành, vì thế, chưa được gặp anh để giãi tỏ nỗi lòng cho anh hiểu. Em vừa về Hà nội, vừa về chưa được nửa ngày. Tình cờ lại khiến em, chưa kịp đi hỏi dò tìm đến, đã gặp ngay anh ở chỗ này, may quá !
« Anh Khánh Thần !  anh có vui lòng tha thứ lỗi em không ?’’.
 
Trong khi thiếu phụ ngồi nắm tay tôi nói một hơi dài một câu chuyện làm cho tôi đương tê mê, bỗng hóa ra người tỉnh mộng, óc tôi vẫn vơ nghĩ đến những  thời trai trẻ, những thời mà tôi cùng Thục Nga còn an nhàn hưởng thú yêu nhau. Phải rồi ! Bây giờ tôi nhớ ra rồi ! Thảo nào tôi cứ tưởng Thục Nga hiện hồn về mãi ! Thì nào có sự gì lạ ! Quỳnh Nga là em ruột Thục Nga ! Nếu em giống hệt như chị, ấy chỉ  tại vì truyền thống, có sự gì đáng ngại, làm cho tôi phải kinh hoàng ! Nói vậy thời nói, chớ lúc nhớ tiếc Thục Nga đã hầu tan hồn, nát trí, mà, sau mười tám năm ly biệt, lại gặp một người giống đúc như Nàng, thìchẳng cứ là tôi, dẫu đến Hóa công cũng phải giật mình hoảng sợ !
Nỗi sợ đó, nay bỗng biến tan đi phút chốc, để nhường chỗ cho những kỷ niệm thủa chúng tôi còn thơ ấu cả, Thục Ngạ, Quỳnh Nga và tôi.
 
----&---
 
Hồi đó, tôi hai mươi ba tuổi,  Thục Nga hai mươi mốt, Quỳnh Nga thì mới vừa lên sáu tuổi đầu. Cha mẹ hai chị em Thục và Quỳnh đều mất sớm, hai chị em phải trông cậy ở lòng thương mến của người chú ruột, cấp vốn cho ả Thục mở một ngôi hàng tạp hóa ở Hàng Đường. Chị buôn bán và làm lụng nuôi em; đôi gái thơ mồ côi rất đỗi thương nhau, chị thương em chả khác gì mẹ thương con vậy. Quỳnh Nga đi học tại trường hàng Cót. Lúc tôi bắt đầu quen biết Thục Nga, Quỳnh Nga còn bé quá; vả lại hai chúng tôi cùng giấu giếm không cho đứa trẻ em được biết, nên trong ba năm trời, Quỳnh Nga vẫn không ngờ chị nó có tình Iang. Mãi đến khi lên sáu, khi nó bắt đầu cắp sách đi học, một hôm, ở trường về, nó mới bắt được chị nó, đương cợt cười, đú đởn, đứ đởn trong lòng tôi.
 
Không hiểu vì sao, từ hôm đó, trông tôi, nó lấy làm ghét lắm. Ảc  cảm của nó đối với tôi là một ác cảm tự nhiên,  vô lý, ác cảm của một đứa trẻ còn ấu trĩ; song ác cảm ấy ghi rất sâu trong óc nó, khiến cho, trong mấy năm trời, không bao giờ nó nể chị mà dung thứ cho tôi. Nhất là khi nó bị mấy đứa trẻ con bạn nó chế giễu rằng chị nó mất tiết giá vì tôi từ khi mới vừa đôi chín, thì Quỳnh Nga trông mặt tôi lại càng ghét cay, ghét đắng, chỉ muốn làm cho tôi phải khổ sở điêu đứng để báo thù tôi cho bõ tức mới nghe.
 
Mà nào tôi có làm hại chị nó đâu ! Thế mà nó vẫn yên trí  rằng tôi là một kẻ làm nhục nó và chị nó, phá tan hạnh phúc nhà nó, lấy mất tình Thục Nga yêu nó, rồi đêm ngày nghĩ cách làm cho tôi phải xa lìa chị nó, không cho tôi được cùng nàng tình tự, chuyện trò. Trời ôi ! nó có biết đâu ! Biết đâu đã yêu nhau như tôi và chị nó yêu nhau, thì dù đến Trời sanh kia, cũng khó lòng làm cho chúng tôi chia rẽ ! Nhưng mà trong óc đứa trẻ con, đã yên trí sự gì thì tất hết sức làm cho đạt mục đích. Quỳnh Nga đã ghét tôi, nó cố làm cho tôi phải, vì nó, đau đớn, buồn rầu cho hả giận.
 
Sự rủi may khiến cho nó thắng thế. Nó thắng thế là nhờ chú nó, Sau khi chịu một cách nặng nề để cho tôi cùng Thục Nga, trong hai năm trời, đi lại cùng nhau thân mật, một hôm, Quỳnh Nga nghĩ ra mệt kế, một kế làm cho tôi, về sau, phải ôm hận suốt đời. Lúc đó, nó đã lên tám tuổi.
 
Không hiểu ai xui nó, nó làm ra bộ tươi cưòì vui vẻ, để đánh bẫy tôi. Tôi đã bị sắc đẹp Thục Nga làm cho mê mẫn tâm thần, thì còn có sợ gì mà không dám cùng nàng tình tự ? Nhưng từ trước đến giờ, Thục Nga vẫn trốn nhà sang nhà tôi, không bao giờ tôi sang nhà nàng, là cốt để tránh mặt con bé em ranh mãnh. Như thế, chúng tôi vẫn được yêu ổn, không bị ai lôi thôi kiếm chuyện bao giờ. Đến khi Quỳnh Nga làm ra bộ vui vẻ cùng tôi, nó trách móc tôi làm sao không lại chơi nhà nó. Nó lại vờ cắt nghĩa tôi nghe: đêm chị nó bỏ nó một mình trơ trọi, nó sợ quá, hóa nên không ngủ được phút nào. Nó van tôi giữ hộ chị nó ở nhà, cho nó được yên lòng ngỷ kỹ.
 
Yên chí rằng con bé ngày nay đã dần dà biết mến yêu anh rể nó, tôi mua cho Quỳnh Nga rất nhiều kẹo bánh, và, từ khi ấy, chúng tôi đóng đô ở Hàng Đường, không đi đâu xa một bước nào nữa cả. Có ai ngờ Quỳnh Nga đã đi báo chú nó tự bao giờ không rõ, để chú nó xăm xăm chạy đến, bắt được tôi cùng Thục Nga đương hẹn bể thề non Ông chú thấy tôi bèn nổi cơn thịnh nộ, đuổi tôi ra, rồi bắt Thục Nga xếp hàng hóa dọn ngay nhà đi chỗ khác.
 
Vì câu chuyện éo Ie vô Iý ấy, tôi tự dưng, mất hẳn Thục Nga. Mà cũng không biết vết tích nàng ở đâu hết cả. Thôi, thế là xong. Bao nhiêu nguyền xưa ước cũ, bao nhiêu duyên thắm tình nồng, phút chốc, theo ngọn sóng của thời gian, biến ra thành thương tâm và thất vọng. Tôi chết dở, sống dở, ngẫn ngơ,điêu đứng, sống mấy tháng trời trong một trường đau đớn dị thường. Cách đấy tám tháng sau, tôi được tin Thục Nga tạ thế ở Thanh Hoá.  
 
Thế là từ lúc ấy, ôm mối hận bên lòng canh cánh, tôi nhẫn nhục đeo kiếp sống thừa lẻ Ioi cô trích, mãi đến ngày, đến ngày tôi tự nhiên được gặp Quỳnh Nga, sau mười tám năm li biệt.
 
Quỳnh Nga trông vẻ mặt tôi buồn rầu, ảm đạm, cầm tay tôi, thỏ thẻ khuyên rằng :
‘‘ - Anh Khánh Thần ôi! Sự đã lỡ rồi, em còn biết chữa làm sao cho được nữa ! Em thủa ấy hãy còn bé dại, song lỗi lớn trong đời em, em nhớ mãi chẳng bao quên. Không hiểu vì sao, em lại nhẫn tâm tàn ác thế! Sau khi chú em biết chuyện, chú em bắt chị em phải lập tức bỏ cửa hàng và công việc, dọn nhà ngay vào quê, trong Thanh Hóa, ở cùng tất cả gia đình của chú thím em. Đằng đẵng mấy tháng trời, chị em buồn rầu ủ rũ, em thấy chị em đau đớn, nghĩ càng thương càng hối, nhưng đã trót rồi thì biết nói làm sao. Chị em quên ngủ, quên ăn; khi được tin chú thím em nhất định đem chị em cố ép gả chồng, thì chị em khóc sướt mướt đến năm đêm rôi thụ bệnh mà mất.
 
‘‘Chị em mất chóng quá anh ạ, chỉ ốm có ba ngày đã lìa bỏ cõi trần. Chỉ tại chị em trước kia quá ưu sầu, tư  lự. Khi chị em tắt nghỉ, hai mắt chị vẫn mở, em trông thần sắc chị tưởng chừng như chị chết mà trong lòng vẫn còn thèm muốn điều gì. Chị em chết  tâm hồn chưa được thỏa. Chị em còn muốn sống, sống để cùng anh kết cấu nốt thiên tiểu thuyết ái tình. Chị em vẫn hận, vẫn tiếc không được cùng anh trọn nhời thề cũ. Bên giường chị em, em khóc đã hầu ra huyết lệ; thật là vì em mà nên nỗi nước này.  Chị em chết chỉ vì em, hai chúng em mồ côi thui thủi có nhau, chị em thác, em còn biết có ai thương yêu, chiều chuộng em như thủa nọ ! Thực là lỗi ở em, em hối hận quá, những muốn chết theo chị em cho đỡ khổ. Thấy em vật mình than khóc, chị em cầm tay em, nhìn em, ứa lệ, bảo rằng :
‘‘ - Quỳnh Nga em ôi ! em chớ khóc làm chi nữa ! Không phải vì em đâu, chả qua chỉ là oan nghiệt ! Chị đây không may bạc phận, chị không oán trách gì, chỉ giận nỗi đã làm cho anh Khánh Thần vì chị phải từ đây ôm mối hận nghìn thu !... Bao giờ em lại gặp anh, em sẽ xin lỗi anh cho chị nhé ! Em sẽ đưa cho anh quả tâm này, quả tâm của chi. Thôi, chị về đây !...
‘‘ - Rồi chị em mất. Đây này, đây là quả tâm bằng vàng bình sinh chị em thường đeo trên ngực, chị em muốn tặng anh chút của này làm kỷ niệm, xin anh trân trọng giữ lấy, cho chị em dưới chín suối, được vui lòng.’’
--- &----
 
Vì sao tôi yêu Quỳnh Nga, sự ấy không bao giờ tôi hiểu rõ. Tôi chỉ biết đã mười tám năm có lẻ, quả tim tôi chưa hề vỗ đập cho một người thiếu phụ nào. Cũng có lẽ vì Quỳnh Nga giống hệt như người tôi yêu, tôi tiếc, tôi thờ trong chỗ thiêng liêng sáng láng nhất của tâm hồn tôi, nên khi vừa mới gặp nàng, tôi bị sắc đẹp nàng thôi miên, chiếm hẳn bản ngã của tôi trong chốc lát.
 
Nhưng Quỳnh Nga? Biết rằng nàng có rủ lòng thương đến tôi không? Quỳnh Nga là một người đàn bà còn ít tuổi, nàng lại là gái có chồng. Tôi đây đã đứng bóng rồi, đã sắp thành người vô dụng; một thiếu phụ còn xuân hơ hớ, dễ gì đã động lòng yêu mến đến tôi ru? Vả lại ngày nay tôi chỉ còn trơ trọi tấm thân già cằn, kiết xác, Quỳnh Nga vừa giầu, vừa đẹp, được nàng yêu tất phải là người vừa trẻ, vừa sang. Thì tôi còn hi vọng gì mà mơ ước hão huyền cho mệt xác? Chả quá già rồi, thì tưởng đến những điều vô lý cho đỡ thèm, đỡ muốn, chớ thực tình, mình cũng tự biết mình không còn mầu mã gì có thể khiến lòng một bạn gái phải say mê. Đã vậy, yêu Quỳnh Nga, tôi đành phải chôn sâu trong đáy dạ, tôi bây giờ chỉ còn được yêu nàng một cách viển vông, mơ mộng, yêu nàng mà không dám tỏ cho nàng biết rõ mối tình chan chứa; yêu nàng chỉ riêng bằng tưởng tượng mà thôi. Có nhẽ Quỳnh Nga cũng không biết, vì nàng, tôi đến phải chết mê chết mệt; nàng đối với tôi tự nhiên như đối với anh, với bạn, tuyệt nhiên không hề nghĩ tới ái tình.
 
Chắc trong tâm trí nàng, nàng nhận rằng yêu tôi hẳn là một điều vô lý, không bao giờ nên để ý tới. Nàng ngày nay nghiễm nhiên là vợ một ông quan giàu và danh giá, không nhẽ nàng nhất đán quên bổn phận và địa vị mình để tư tình cùng một chàng văn sĩ đã già, lại kiết như tôi ? Quỳnh Nga, khi vừa đúng tuần hai chín xuân xanh, đã may được hạnh phúc đẹp đôi cùng một luật khoa cử nhân, con nhà thế phiệt. Chàng kia mê nhan sắc nàng, hết sức xin phụ mẫu cưới cho chàng người chàng đã tự kén chọn. Mấy năm sau khi về làm dâu quan Nghệ Tĩnh Tổng đốc, Quỳnh Nga được thấy mình nhẩy lên địa vị nội tướng quan Tri phủ Điện Hà. Rồi quan Tri phủ, tuy tuổi chả có bao, được thăng hàm Án sát, nhờ thế lực của quan Tổng đốc, ngày nay đã có chân trong điệu phủ các thân thần.
 
Một bà Án còn trẻ măng như đóa hoa vừa tươi cười hé nhị, một  thiếu phụ mà sắc đẹp và thanh thế vang lừng khắp xứ Trung Kỳ, có nhẽ nào nhân mấy tháng xuân ra thăm viếng cảnh Hà thành lại quên hẳn bản ngã mình, mà yêu mến tình-lang của chị? Không được ! Không thể nào được ! Trừ ra khi tôi cũng là một ông quan sang trọng, lắm tiền!
 
Vì thế, tuy nhiều phen Quỳnh Nga cho mời tôi lại ăn tiệc, hoặc nói chuyện ở ‘‘ô ten’’ nàng vẫn giữ một thái độ nghiêm trang, nền nếp. Tôi không dám đi sâu vào sự tự do, xuồng xã. Cũng không dám nghe tiếng gọi của con tâm đêm ngày thổn thức, không dám theo sức mạnh của xác thịt rung động, nóng bừng. Tôi vẫn phải đối với Quỳnh Nga như đối với một người em đáng kính trọng. Tôi phải cố nén lòng hồi hộp, cố đuổi ra khỏi linh hồn những ý nghĩ vẩn vơ. Tôi ngậm miệng nhai sự thèm thuồng, nhai mãi mà vẫn không nuốt được.
 
Tháng ngày cứ thế lần hồi đi mãi, non một tháng trời đã thoảng lúc nào rồi. Một buổi chiều, trong khi cùng nhau uống cạn một ấm trà, Quỳnh Nga nhìn tôi, bảo nhỏ:
‘‘ - Ngày kia em lại phải về trong ấy. Chúng ta đã đến ngày phải vĩnh quyết nhau đây. Có lẽ sau này, em khó có dịp gặp anh được nữa. Ngày nay được gặp anh, là vì em đã phải tìm thiên phương bách kế để theo đúng lời dặn của chị em khi lâm chung, mười tám năm về trước. Nhưng gặp nhau lần này, thì từ đây, đôi ta tất phải xa nhau. Anh nên coi em như đã chết theo chị em rồi vậy. Đừng nên nghĩ đến em nữa. Về phần em, em sẽ cầu Trời khấn Phật cho anh khỏe mạnh và sống lâu. Anh phải nên tự trọng lấy thân, chớ có ưu  phiền mới được !
     ‘‘Ngày mai, trước khi em từ biệt anh đi theo chồng em, em muốn cùng anh đi chơi một hôm ra khỏi ngoài thành Hà Nội, Cuộc du lịch ấy sẽ là kỷ niệm của thời gặp gỡ đôi ta.Em muốn trong cuộc đi chơi ấy, anh sẽ quí em, chiều-chuộng em, tỏ rằng anh đã quên hẳn thù xưa, thứ lỗi cho em rồi vậy. Anh có thuận không ?’’.
 
Mặt trời buổi tà dương, theo nhời nói của Quỳnh Nga, biến vào quãng không gian ảm đạm. Một vẻ im lặng thấm thía đến câu hỏi cuối cùng của thiếu phụ, vì tôi sung sướng quá, không biết trả lời sao nữa, chỉ dằn lòng se sẽ gật đầu. Tôi sợ nói một nhời, nhời ấy sẽ chạm mạnh vào cảm giác êm ả của tôi, khiến cảm giác ấy phải tan, biến đi vào thời dĩ vãng...
 
Ngày hôm sau, thuê một chiếc  ‘‘ô-tô’’, chúng tôi đi về vùng Nam Định. Ăn cơm trên mặt cỏ. Ngủ trưa trong một quán ở dọc đường. Thở không khí buổi chiều giữa một quãng đồng hoang. Viếng một tòa miếu cỗ, ngã lưng ven sườn núi.
 
Trời tối đến lúc nào không rõ, chúng tôi lững thững ra về. Quỳnh Nga, cả ngày hôm đó nô cười như một người con gái nhỏ. Nàng dắt tay tôi lôi kéo, như em dắt tay anh đi dạo mát, tuyệt nhiên không tỏ ra vẻ gì lơi lả, lẳng lơ. Đến tối, khi tôi bảo xe quay về Hà Nội, nàng lại cố dìu tôi về Nam Định ăn cơm. Bữa cơm ấy, nàng uống rất nhiều rượu mạnh. Ăn xong, nàng lại gọi xâm banh.
 
Dưới ánh đèn lờ mờ, mặt nàng bị hơi rượu bốc lên làm cho đỏ ửng. Nàng nói cười lúc bấy gíờ cũng không giữ nữa, có nhiều khi nàng kề đầu vào dựa vai tôi. Tôi phải mắm môi nghiến lợi để nén lòng cho khỏi làm bậy, làm càn, tôi hết sức giữ mình bình tĩnh và điềm đạm. Ở Khách-sạn bước ra, nàng bắt tôi phải đem nàng đi xem chớp bóng, chớp bóng tan, nàng rủ tôi cùng ở lại Nam thành :
‘‘ - Đã đi chơi, thì phải chơi cho trọn ngày giờ, chúng ta ở lại đây, sáng mai về nào đã lấy gì làm muộn !’’.
 
Hai chúng tôi thuê hai buồng liền nhau ‘‘ô ten’’ Thương mại. Tôi đưa nàng đến tận phòng, cúi chào, rồi lui ra, về phòng tôi, đi ngủ. Tôi ngủ, mà nào ngủ được. Cả người tôi hồi hộp, bồn chồn. Tôi những muốn cậy cửa sang phòng ai, quỳ xuống chân vị nữ chúa kiều diễm kia để kể lễ tình yêu, nỗi mến. Nhưng tôi không dám. Cứ lưỡng lự như thế mãi, tôi nằm trằn trọc suốt canh chầy. Hồn tôi, du dương, như vơ vẩn bay vào cõi mộng...
Trong lúc bàng hoàng, ngây ngất, cảm giác tôi, như hồn tôi, cũng lơ mơ, vơ vẩn, mà ngũ quan tôi thì như bị chìm đắm, tiêu tán đi trong một gầm sương che, khói tỏa ; tôi chỉ nhận được rằng cả thân thể lẫn linh-hồn tôi đương phiêu diêu trong một bầu không khí mơ hồ, huyền ảo, trong một cõi đời gì khó hiểu, khó tả, mù mịt hắt hiu những mây cùng gió, nửa tối mờ, nửa lợt sáng, lại hình như chứa đầy những tấm màn lụa xám cứ phất phưởng dập dềnh trôi giữa quãng lưng chừng. Có nhẽ tôi mê ngủ. Nhưng không phải mê ngủ, vì thỉnh- thoảng trong trí não tôi còn có thể vụt qua được một ý nghĩ phân minh. Nhưng tôi không trông thấy gì cả, không nhận được hiện trạng nữa. Hiện trạng cuộc đời, lúc ấy, bỗng hóa ra bình bồng, không rõ rệt, không vững vàng. Vì tôi không có mắt. Tôi chỉ thoáng nghe thấy tiếng động, thoảng ngửi thấy mùi thơm, thoáng sờ thấy một vật mịn trơn, ấm áp, và mát lạnh. Lạ quá, cái gì thế này?
Tôi toan ngồi nhỏm dậy để kêu, nhưng... môt bàn tay ai - hình như bàn tay thì phải - một bàn tay mềm  mại, thơm tho, đậy chặt lấy mồm tôi, áp một làn da êm dịu xuống cặp môi khô khan lạnh lẽo của tôi. Đã mê đắm mê say trong giấc ngủ, tôi lại càng thấy tâm hồn dần dần nặng chình chịch rồi chìm mãi, chìm mãi. Nặng như mà không, nhẹ...Tựa hồ tấm thân  của cô Ngọc nữ, trong như sương móc, đầm như gió xuân, tựa hồ hình hài cao quí của một giai nhân tối mỹ lệ, tôi đa tình, từ từ ngả nhẹ xuống thân  thể khô héo tiều tụy của tôi, trong khi dưới chân tôi, trên ngực tôi, trên mặt tôi, tua tủa rủ xuống không biết bao nhiêu là lượt là tơ lụa, mềm lả như làn gió thoảng, thơm nồng như mùi hoa đưa, rồi biến đi, tan đi, như sương, như khói. Ôi ! êm dịu, êm mát, êm ấm... chả biết vì đâu giấc ngủ đêm nay lại khoan khoái thế này ? Thôi, ngủ đi, ngủ say đi. Mơ vơ vẩn làm gì cho mệt ?
 
Nhưng mà nào phải tôi mơ ! Quả nhiên, phải, quả nhiên, tôi nhận thấy, cảm thấy, bên má tôi, phều phào có hơi người thở, rồi không hiểu vì đâu - có lẽ tự trên trời sa xuống, tự âm phủ tung lên, - một làn tóc dài quá, dầy quá, mượt quá, thơm quá, rũ tỏa xuống mặt tôi, che lắp mắt mũi tôi, ám hẳn Iinh hồn tôi, đè nén nghị lực tôi, để giúp cho một sức mạnh dị kỳ lôi kéo tôi đi, lôi mãi, lôi mãi... đưa tôi vào bờ bến một cõi khoái lạc, nửa cao khiết, nửa tục tằn. Tôi chết rồi, có lẽ chết hẳn rồi, bởi cớ, này này, tôi thấy mình được hạnh phúc ôm trong lòng thiết tha đau đớn, con người mà bấy nay tôi nhớ, tôi thương : Thục Nga, nhân tình tôi, vợ tôi, em Thục Nga  của tôi  quá cố từ ngày xưa. ngày xưa, xa lắm... Tôi xuống Âm ty thực rồi, thực rồi ! Vì nếu không phải thế, làm sao, làm sao, tôi lại được bùi ngùi âu yếm em Thục Nga, này, nhỉ ?
‘‘ -Thục Nga em ôi ! Anh nhớ em đã gần nát trí, anh thương em đã rữa mất tâm rồi! Ôi! biệt ly ! Tới nay thấm thoát đã bao lâu, vì đâu mãi ngày nay anh mới được cùng em gặp gỡ? Phải chăng anh đã bỏ cõi trần đi theo em vào cõi mộng, phải chăng anh đã thoát ly được cuộc đời đau khổ của anh? Em Thục Nga! Thục Nga ! Sao em không nói chuyện cùng anh? Em ôi !  Anh sung sướng quá ! Được gặp em, anh không còn ân hận nỗi gì. Em có thấu cho tình duy nhất của anh không, hở em ?’’
 
Gặp người yêu, dù là trong một giấc mê, ai mà không cảm động ? Nhất là tôi xa cách Thục Nga lâu ngày quá, nên khi tưởng tượng đến nàng, khi cảm thấy hình như nàng về chung gối cùng tôi, tôi ghì chặt lấy nàng không buông, kể lể cho thỏa thuê những nỗi nhớ nhung, thương tiếc. Rồi, quá xúc động, tôi òa lên khóc nức nở, khóc bao nhiêu càng thấy khối lòng nhẹ nhàng khoan khoái bấy nhiêu. Trong khi khóc, tôi cũng say sưa tê tái.
 
Tôi đã sống một giờ thiêng liêng nhất trong đời tôi, giờ mà tôi cảm thấy người tôi yêu sống lại, về âu yếm tôi một cách chân thành, khao khát, dẫu rằng Nàng  lạnh lùng im lặng, không hé môi nói lấy nửa nhời. Thục Nga đã làm cho tôi như chết ngất trong tay Nàng, nhưng tôi được chết rất êm đềm, mát mẻ.
 
Tôi không thể làm sao tả lại được giờ tôi đã trải. Quãng thời gian ấy nó dài hay ngắn, đến bây giờ tôi cũng vẫn không hay. Tôi chỉ nhớ mang máng rằng người tôi bỗng nóng bừng lên, tâm tôi đập mạnh như muốn thoát ra ngoài lồng xương ngực, mắt tôi trông không rõ nữa, tai tôi chỉ nghe được những tiếng lộn  xộn, xì xào, mà tứ chi và  thân thể tôi thì như đều nhủn mềm ra, không theo ý muốn của tôi sai khiến nữa.
Xác thịt và linh hồn tôi đều bị một xác thịt sạch thơm hơn sai khiến, tôi như một người nô lệ, hi sinh  hết cả hình hài cho một giờ vật dục thiêng liêng. Máu tôi, xương tôi, vá tất cả bao nhiêu gân cốt trong người tôi, lúc ấy, như tan ra một luồng không khí nhẹ, như tiêu trong một gầm sương tuyết mơ hồ.
Một trường êm ái, say sưa, đau đớn và tê tái...
 
Đến khi tôi giật mình tỉnh lại, thì tôi còn nằm trơ trên chiếc giường rộrg rãi trong phòng. Tôi vùng đứng dậy, tung chân, cảnh tượng tôi thấy trước khi đi ngủ vẫn không có gì thay đổi cả. Tôi chạy vội sang phòng bên cạnh : Quỳnh Nga đã bỏ tôi, biến tự lúc nào rồi! Chỉ trên bàn, một bức thư còn sót lại :
 
 Anh yêu quí của chị em,
Em đã hẹn đi, em phải đi. Em xin phép anh về trước. Từ đây đôi ta sẽ không bao giờ còn gặp nhau được nữa, hóa nên trước khi đi, em muốn làm xong phận sự và  nghĩa vụ của em. Em ra Hà Nội chỉ cốt để tìm anh, cốt tìm anh, là chỉ vì chị em, khi trước,đã nhờ em đưa cho anh quả tim mà chị em muốn tặng anh làm kỷ niệm cuối cùng. Ngoài sự ấy, em không hiểu vì sao, em lại muốn được gặp anh cho thỏa lòng ao ước. 
 
Chị em, trước buổi lâm chung, vẫn tiếc không được cùng anh trọn nghĩa, trăm năm ân ái. Chị em ôm hận mà chết. Vì thế chết không nhắm mắt. Em trông thần sắc chị em, biết rằng chị em, dù thác, vẫn không tắt hết lửa lòng, vẫn còn mơ tiểc một cuộc ái ân mà, nhắm mắt, cũng chưa thỏa nguyện.
Ngày nay chị em thịt đã nát rồi, nhưng em làm sao quên được nỗi, chỉ tại em, anh chị đã phải lìa nhau giữa khi yêu mến nhau đằm thắm? Từ ngày em biết nghĩ, không một phút nào em không hối hận đã làm lỡ duyên của người em u quí nhất trên đời, Vì thế, em ;nghĩ thương hại cả anh, Em dẫu được hạnh phúc, ngày nay, có địa vị giầu sang, quí trọng ; song, tuy giẫm trên đống vàng, em vẫn chẳng nguôi lòng !
 
Em đã hết sức cúng cấp, cầu cho linh hồn chị em đó siêu linh, tịnh độ, cho chị em được ngậm cười vui vẻ dưới suối vàng, Nhưng em vẫn không bao giờ hiểu được vì sao, trong người em, luôn luôn có cảm giác là hồn chị em, trong mười mấy năm nay, không khi nào được thỏa. Vì chị em lúc hấp hối còn muốn yêu anh, hôn anh, cùng anh hưởng thú ái tình cho đến cực điểm. Không maychị em chết mà vẫn chưa được mãn nguyện. Vậy nên hương hồn chị em vẫn như mờ ám, nặng nề.
 
‘‘Sự em làm phải chăng là một việc thiêng liêng, huyền bí ? Cái đó em không rõ. Em chỉ biết hình như em bị một sức mạnh sai em. Thân thể anh ôm tối qua quả là thân thể em: nhưng linh hồn anh làm cho  sung sướng trong quãng thời khắc ấy, có nhẽ là linh hồn chị em. Em đã dùng da thịt, em để  làm chỗ hẹn hò cho hai anh chị. Linh hồn hai anh chị đã họp nhau trong xương tủy của em.
 
Bây giờ em có thể lặng lẽ sống nốt đời niên thiếu của em ; em đã rũ sạch được một mối hận cắn rứt em từ thủa em còn bé dại. Chị em ngày nay được thỏa nguyện, hồn chị em sẽ thơm, sẽ nhẹ, sẽ phiêu phiên bay bỗng lên Trời... Chị em sẽ mỉm cười nơi Cõi Chết...
 
‘‘Phận sự của em đã tròn rồi, em xin cùng anh vĩnh quyết. Anh sẽ hiểu vì sao em trao thân cho anh một cách quá dễ dàng. Ấy chỉ vì em bị một sức mạnh thiêng liêng bắt em phải hi sinh trinh tiết của em đi rửa sạch một lỗi xưa em đã phạm. Lỗi ấy, bây giờ chắc anh cũng vui lòng tha thứ cho em ?
 
Anh  ôi ! Thời gian bay sẽ bảo rõ anh hay em đã làm một sự tối thiêng liêng hay đã phạm thêm một lỗi xấu xa, đê nhục. Cái đó, lấy mắt thịt trần gian mà xét thì ta không bao giờ giải quyết được ; họa chăng khi anh gặp chị em nơi chín suối, chị em sẽ cắt nghĩa rõ anh hay. Chỉ một mình chị em có thể biết được thôi, chỉ có Nàng, ngoài cõi Sống, có thể cho đôi ta thấy rõ về mặt thật của đêm hôm qua, một đêm em được biết một sự khoái lạc vật chất lẫn tinh thần mà cả đời em, có nhẽ không khi nào em còn được hưởng vị một lần thứ hai nữa.’’
 
Em anh :
QUỲNH NGA đốn thủ
TCHYA
(Copyright by Tchya avril 1936)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.10.2017 15:16:10 bởi Ct.Ly>
NGẪU-NHĨ
 
ĐỜI  người chả qua toàn dệt bằng những phút vui buồn vô nghĩa; những phút, khi đầu ta lốm đốm huê râm, sẽ để lại cho ta một cảm giác nặng nề khó chịu: cảm giác là đời ta, tuyệt nhiên, không có một vẻ gì xuất sắc, dị kỳ. Ta sẽ phải rầu rầu nét mặt nhận rằng đời ta trống trải, tẻ ngắt, không sống cũng được, mà sống cũng chẳng ích gì.
 
Nhưng, may thay; đối với những kẻ ưa sống một cuộc đời phiêu linh, lãng mạn, những phút đã sinh hoạt thường hay để lại trong óc người đã trãi một dấu hiệu rực rỡ, một dư vị êm đềm, mà tấm màn quên ảm đạm của Thời gian, khó lòng phủ kín lên được. Những phút ấy, mỗi khi hồi tưởng lại, càng chói lọi thêm nữa, nếu nguyên nhân run rủi cho ta được hưởng nó lại là một sự tình cờ. Càng ngẫu nhĩ bao nhiêu, bấy nhiêu, những thú vui ta được hưởng càng tăng phần khoái lạc, mà những nỗi buồn ta bị trải cũng càng tăng vẻ thấm  thía, chua cay. Cho nên khi nhắc lại những ngày giờ đã sống một cách nồng nàn, hồí hộp, trí nhớ ta không bao giờ bỏ sót kỷ niệm nào. Rồi cả đời ta, ta cũng không thể quên được những kỷ niệm ấy.
 
 
Có lẽ sự gặp gỡ người thiếu phụ bí mật kia trên cầu Sông Cái, đối với anh Trung, là một việc tình cờ run rủí, một việc khiến tâm anh đã bị một đêm hồi hộp, lại khiến hồn anh phải buồn rầu hối hận đến bây giờ, Anh kể lại tôi nghe câu chuyện của anh, nét mặt lộ ra vẻ đã từng chịu lương tâm cắn rứt. Mắt anh đăm đăm cứ nhìn ra phía chân trời xa thẳm, hình như anh muốn bay hồn vào cõi không gian mờ mịt, cố tìm cho ra hình ảnh người thiếu phụ mà tình cờ đã xô đẩy vào lòng anh.
 
Nhưng ngày nay... Ngày nay, anh chỉ còn là một kẻ đem nghị lực ra chống chọi với cuộc đời túi bụi; mà thiếu phụ kia, một mỹ nữ buồn như liễu rủ, đẹp như hoa xuân, đã hình hài ra nước, xương cốt ra bùn: thiếu nữ ấy đã vùi hồn trong cõi hư linh, khiến anh Trung, dù mơ tưởng đến đâu, cũng không bao giờ được thoáng thấy hình dung nàng nữa.
 
Chẳng qua chỉ tại tình cờ. Ông Trời ác nghiệt đã cho phép anh gặp nàng để xui anh phải tâm hồn tê tái; nhưng rồi, phút sau, ông lại bắt nàng phải xa anh mãi mãi, đày đọa anh trong một gầm thương nhớ vô biên. Một mỹ nhân, càng làm ngắn cuộc tình duyên của ta với nàng bao nhiêu càng bắt ta chỉ được thoáng thấy vẻ đẹp của nàng bao nhiêu thì lại càng khiến ta phải khát khao thương nhớ, khiến ta tưỏng tượng nàng đẹp thêm lên cực điểm rồi sùng kính nàng trong tâm hồn ta như thờ kính  một vị nữ thần. Có nhẽ vì những cớ ấy nên anh Trung, giờ đây, bỗng hóa ra một người mê gái; nhưng anh mê một thiếu phụ đã chết, một hình ảnh đã mờ; anh mê một cái bóng.
 
Tối hôm ấy, vui vầy anh em đủ mặt, anh quá nể nhời tôi, đã trịnh trọng đem cuộc tình duyên của anh kể lại cho chúng tôi được rõ. Nói hết một đoạn, anh lại chấm câu bằng một tiếng thở dài. Mà, nghe xong chuyện của anh, chúng tôi cũng không khỏi không ngậm ngùi, thương-tiếc.
 
----&&&--
 
- Chắc các anh cho là người ta sống chết không phải vì số mệnh. Trước tôi cũng tin như vậy. Nhưng, nếu ngày nay tôi lại tin rằng người ta sống chết có số, mà số chỉ là một sự tình-cờ - trong đời ta, việc gì, sự gì chả là tình cờ ? - là bởi, một đêm kia, tôi đã qua một trường hợp éo le, bắt tôi phải tin rằng thọ mệnh của mình đã có luật định trước, mà mình không, thể nào tránh khỏi luật ấy được. Giời cho sống đến giờ nào, ta chỉ sống được đến giờ ấy, không được hơn nữa.
 
Vả lại, các anh chả biết có bao giờ nhận thấy trong đời nhiều khi, nếu ta tự thấy trong người khỏe mạnh hăng hái, thì ta ưa vui, ưa sống, mà khi cảm thấy mình hoặc yếu ớt, hoặc trụy lạc, thì hay đâm ra chán nản, muốn quyên sinh. Và, khi đã chán nản, nếu không có sự gì ngăn trở nỗi chán nản ấy, thì ta lại buồn rầu mãi mãi, không bao giờ hết buồn rầu. Chính trong những lúc tâm trí lại suy tàn ấy, thì ta thường đâm ra yếu nhược, không có chí đua chen hăng hái với người đời nữa, ta chỉ muốn tự hủy mình cho đỡ khổ, đỡ buồn.
 
Các anh có nhận thấy thế không?
 
Tôi năm nay đã hơn ba chục tuổi đầu, mà thú thực, mới hai năm trước gần đây, tôi chưa biết yêu ai đến mê mẫn cả. Và tôi cũng chưa từng yêu ai, chưa từng được ai yêu. Tôi chỉ chơi phiếm vu vơ, nhân ngãi với mấy ả giang hồ đã lũa. Độ ấy, tôi làm trợ bút cho một tờ nhật báo, lại hay đi đắnh hạc khắp đó đây.
 
Tôi có một người nhân ngãi ở Gia Lâm, một ‘‘me tây’’ đã hết duyên, về dưỡng lão. Nhân-ngãi tôi độ ba mươi nhặm, ba mươi sáu tuổi, người đậm đà, hay chớt nhả, nhưng không hề làm cho tôi phải tức, hay chịu thiệt vì những sự chơi đùa, nghịch ngợm, bao giờ. Tôi quen thói, mỗi chủ nhật bốn năm kỳ, sang nhà nhân tình đánh chắn.
 
Các anh vốn biết thú đánh chắn với phái ‘‘giang hồ’’ là một thú có nhiều ý vị; nhiều phen, xong sự đua nhau bằng quân bài là bạc, tôi hay được biết mùi hết ả nọ đến nàng kia. Nhân ngãi tôi may lại là một đứa không ghen, thành ra cậu Mã Giám Sinh này tha hồ mà hưởng nhiều khoái lạ. Có nhẽ cũng vì quá ham mê sắc dục nên tâm tôi trơ cứng lại, không cho tôi được nếm vị ái tình.Tôi tuyệt nhiên chả biết yêu ai; hết cuộc trăng gió mây mưa là xách mũ, cúi đầu, tếch thẳng. Con gái đẹp hay xấu tôi cũng cho là cùng một loạt, tôi chưa từng để ý đến ai. Chỉ mỗi ngày hai buổi viết bài vở xong xuôi, là một mạch bay sang Gia Lâm họp chắn. Đời tôi chỉ có thế, tôi chỉ biết mon men kiếm ăn miền ‘‘huê nguyệt’’, không nghĩ đến thú gì khác nữa, mà cũng không thèm ước thú gì hơn.
 
Tôi sống một cách  thản nhiên, sung sướng; dẫu rằng sống như thế, thiên hạ cho là  ‘‘cẩu hoạt’’, tôi cũng chẳng cần gì. Tôi tự hào là sinh hoạt đầy đủ, mãn nguyện rồi, không thiết gì nữa cả. Rượu có, gái nhiều, tốn ít tiền lại được lắm thú vị, tôi tin rằng tôi khôn ít người sánh kịp, mà các công tử ăn chơi phung phí, toàn là phường ‘‘mỏ trắng’’ vứt tiền toi.
 
Nhân ngãi tôi là một kẻ đã nhiều từng trải, nó hiểu đời và ranh vặt ít ai bì. Nhưng, trong nghề văn tự của tôi nó rất yêu tôi, quí tôi, và hơn nữa, chiều tôi như con cưng của nó vậy. Tôi chỉ tiếc rằng nó già hơn tôi đến năm sáu tuổi, không thì chúng tôi đẹp đôi một cách lạ thường. Tính nhân ngãi tôi rất vui; song biết tôi là người đứng đắn nghiêm nghị - mặc dầu tôi hay tằng tịu với những chị em bạn nó đến họp chắn - nó đối với tôi không hay đùa bỡn bao giờ.
Hôm ấy vào quãng mùa đông - trung-tuần tháng một. Cả ngày, tôi cứ vơ vẩn, cầm bút víết không ra chữ, cắn hết mười móng tay mà vẫn chẳng ra văn. Lại bị anh em bạn ở tỉnh xa lên chơi, ám ảnh mãi cho đến tối. Ba bài báo, vì thế, đành để đến đêm về viết; ăn cơm xong, tôi chạy thẳng sang Gia Lâm. Tôi đã quen thói như vậy, không đi được một vòng thăm nhân ngãi, thì  đẹm về khó ngủ cho yên. Nào có phải vì tôi mê con bé ấy đâu, chỉ tại tính đã tập rồi, thì khó bỏ đi cho được.
 
Vừa bước chân nhà ra đi, mưa phùn ở đâu đã âm thầm rỏ xuống. Gió bắt đầu cũng gây gắt lạnh. Tôi định quay về nhà nằm khoèo cho ấm áp, nhưng chả hiểu tại sao, lại quyết chí cứ đi chơi. ‘‘Trời có mưa, đánh chắn mới thú’’, tôi tự nghĩ như vậy. Rồi tôi đi sang Gia-Lâm.
--&---
 
Nhà nhân ngãi tôi, hôm ấy, ngẫu nhiên thưa khách, Mọi hôm, chị em đến đầy nhà, quây quần nhau lại. Cười đùa và tán chuyện; hôm nay bỗng dưng tẻ ngắt, buồn teo. Tôi cũng chẳng đế ý đến sự thay đổi ấy, chỉ phàn nàn trời mưa rả rích, làm cho tôi cùng hóa buồn. ..
 
     Muốn được đẹp lòng tôi, nhân ngãi tôi bàn đánh đố mười chơi tạm. Nhân tiện có hai người bạn gái nữa, bốn chúng tôi tụ nhan cùng đánh đố mười, Trong hai giờ đồng hồ, tôi thua hết, không còn một xu dính ví. Tôi chỉ có ba đồng bạc, đánh quăng một hào mà thua hết cả ba đồng. Đen, thực là đen. Tôi vươn vai, đứng dậỵ. Tan cuộc.
 
Tôi uể oải ra về, thì bị nhân ngãi níu lại. Nhìn đồngi hồ đã gần mười một giờ đêm. Lúc ấy còn hơi sớm, tôi vẩn vơ cũng không muốn ra về lắm, vả lại trời còn mưa tí tách mãi, nên phải dằn lòng ngồi rán lại chờ, Nhân ngãi tôi có nấu sẵn cháo gà, nhất định nằn nỉ ép tôi ở lại ăn cháo đã. Sau một cuộc đánh kiệu xuông thi hương, thi hội, ba chị ả và tôi lại họp nhau xung quanh mâm cháo nóng, vừa ăn vừa nói chuyện bông đùa. Chầu cháo hầu xong, chuông đồng hồ đã báo hiệu một giờ bốn mươi nhăm phút. Tôi mặc áo ra về.
- Mợ cho vay một đồng làm lộ phí; tôi thua gạch túi mất rồi.
 
Nhân ngãi tôi mỉm cười, mở tủ chè lấy ra một cái ‘‘xắc’’ da đã cũ. Nó mở  ‘‘xắc’, lục một lúc, đưa cho tôi một tờ giấy bạc một đồng, mặt nó có vẻ nghiệm nghị, thản nhiên; tôi vô tình cứ cầm tờ giấy bạc bỏ bao, rồi mở cửa, chào mọi người, đi thẳng.
 
Ra đến đường cái, gió lạnh tạt vào mặt làm cho tôi khoan khoái; tôi nhận ra rằng trận mưa phùn đã tạnh lúc nào rồi. Trời lại qnang, trăng lại tỏ, cảnh vật nhuộm một màu phờ phạc, một vẻ im lặng lạnh lùng. Chả có cái xe nào. Cũng không có một người quá khách. Gõ nặng nề đế giầy trên đường nhựa, tôi từ từ lên dốc, thong thả lên đầu cầu.
Mấy ngọn đèn le lói  tỏa ra một thứ ánh sáng lù mù, buồn tẻ. Những dịp cầu sắt nối tiếp nhau thẳng tuột dưới ánh trăng ảm đạm, in trên mặt nước rung rinh của dòng Sông Nhị những chiếc bóng khẳng kheo dài dằng dặc, mập mờ ẩn hiện, theo hình gợn sống bấp bênh trôi. Con đường ván, trắng một mầu trắng đục mà vàng, kẽ một nét dài trong khoảng không gian mờ ám. Đêm đã khuya, gió lại lạnh; trên cầu Sông Cái tuyệt nhiên, không thấy bóng người. Tịch mịch.
 
Những tấm lim trên cầu trả lời lại những tiếng nhịp nhàng của đế giầy tây gõ mạnh. Dư âm của dịp gõ ấy, đục và cách quãng, biến một cách rất mau trong quãng đêm tà. Bóng đi trước, người theo sau, tôi lẳng lặng đi, đi mãi. Ngoài tiếng giầy tôi lọc cọc, chỉ còn nghe thấy tiếng nước âm thầm đụng vào trụ đá, tiếng gió rì rào tạt và vấp vào những song sắt khổng lồ. Cảnh một đêm mùa đông, trên một con đường tẻ vắng, - nhất là trên cầu Sông Cái, - gieo vào linh hồn người quá khách một nỗi buồn rầu vô hạn, một nỗi buồn pha đủ vẻ sợ, lạnh, cảm, sầu. Trên thì trời cao thăm thẳm, mà mầu sáng trăng nhợt nhạt làm cho nửa trắng nửa xanh; dưới thì nước sông cuồn cuộn, mà những hoa trôi bèo giạt, pha với những đám bọt đục ngầu, hay trắng xóa, làm cho mặt nước tựa hồ bùn vẩn, hoặc đen, hoặc vàng. Một thứ mầu của ban đêm, không ngọn bút nào tả được.
 
Mây nước bao la tứ phía, con mắt tôi chỉ trông thấy không gian như phẳng lặng một mầu. Làm quen với cảnh hiu quạnh trong ngót nửa tiếng đồng hồ, tôi tự nhiên có cảm giác là, ngoài tôi ra, không còn có ai sinh hoạt trong lúc canh khuya này nữa. Một đêm lạnh lẽo. Lại quá canh hai rồi ! Không bì với những đêm hè nóng bức mà trên cầu suốt đêm có khách thừa lương, đêm hôm ấy chỉ được hân hạnh thấy có một tôi, ung dung đi trên sàn ván.
 
Bỗng đâu, tâm linh tôi như bị một  mãnh lực gì rung động ; một luồng điện vừa như thoảng qua óc tôi, tôi bàng hoàng tỉnh dậy. Thì ra vừa đi vừa nghĩ đến những bài viết báo, tôi đưa hồn vào cõi mơ mộng của Văn chương. Vì thế, tôi không trông thấy cảnh vật bề ngoài, mà có trông thấy cũng như nhìn qua một tấm màn bằng lượt mỏng. Lúc bị thần hồn lay động, tôi mới rùng mình đứng lại, ngảnh nhìn bốn phía xung quanh. Con mắt tôi bỗng chú ý vào một bóng trắng trên cầu, trước mặt tôi, độ chừng  tám mươi thước, Cái bóng ấy hình như động đậy, có lẽ là một người cũng đi đêm, vớ vẩn, như tôi.
 
Nhưng quái lạ! chiếc bóng kia không đi, lại chỉ đứng ỳ ra một chỗ. Có lẽ một người bộ hành đứng lại nghỉ chân, Mà chỉ có thể là một kẻ bộ hành đứng lại nghỉ chân. Vì cố nhiên, không phải là một người đi dạo mát. Trừ ra kẻ kia loạn óc hay lập dị, không bao giờ có ai đi  hứng gió trên cầu Sông Cái trong một đêm đông lạnh lẽo vào quãng một hai giờ! Mừng rằng sẽ có bạn cùng đường để chuyện vãn cho vui, tôi bước mau, cố theo kịp con người áo trắng.
 
Tiếng giầy tây lộp cộp đụng vào sàn ván hình như động đến tai người ấy, người ấy đứng dậy ngảnh nhìn tứ phía, rồi như có ý muốn đâm đầu nhảy xuống trường giang, Người ấy leo vội lên chấn song ven cầu, đứng thẳng người và giơ tay ra đằng trước, sắp co chân nhẩy xuống nước. Tôi không dám đi nữa, vội né mình tránh vào chỗ tối, đứng lại nhìn. Kẻ muốn quyên sinh kia tựa hồ chưa quyết định, còn nghĩ ngợi điều gì. Ngảnh nhìn tứ phía, không thấy ai, mà cũng không nghe tiếng động nữa, hắn lại trụt xuống, ngồi bên ven cầu, không tự tử nữa. Hoặc giả thấy không gian  thăm thẳm mà bỗng dưng sợ chết; hoặc vì còn muốn ngồi một mình ôn lại cho phỉ chí những ngày giờ đã sống, suy nghĩ cho kỹ càng hết nhẽ, trước khi nhắm mắt lìa đời.
Tôi không rõ lại làm sao kẻ kia muốn hủy thân, song những vẻ ngại ngùng, lưỡng lự của hắn, tôi rõ biết cả, tôi không lấy làm lạ. Vì cứ suy theo tâm lý học, một người, có can đảm đến đâu, cũng không bao giờ đủ nghị lực vong thân mình một cách thản nhiên, đường đột đó.
 
Nghĩ như vậy, tôi cố tìm một kế, nhân lúc người khốn nạn kia đương phàn vân chưa quả quyết, cứu người ấy qua khỏi cơn tâm trí bị trụy lạc, suy tàn.
 
 
Tôi đứng yên trên cầu, không động đậy. Tôi đứng trong bóng tối, lại mặc quần áo xám, nên hình ảnh tôi trộn lộn vào hình ảnh lờ mờ, u ám của cảnh vật buổi đêm tàn. Vừng trăng đươug rạng tỏ trên không bỗng bị đám mây đen phủ kín. Một dịp may hiếm có cho cuộc hành động của tôi. Tôi không dám bỏ phút nào, vội vàng ngồi thụp xuống. Rồi tháo bỏ đôi giầy tây khó chịu, cho khỏi bị người ta để ý đến tôi, trong khi tôi đi đứng. Tôi tựa như một người ăn trộm. Buộc chặt dây giầy vào bên cạnh sườn cho đỡ vướng, tôi nép vào bóng tối, từ từ bò lại mé người áo trắng đương ngồi.
Thì giờ lúc ấy đối với tôi, sao mà nhanh chóng quá vậy? Mau, mau lên chút nữa, người ta sắp đâm đầu xuống nước bây giờ ! Tôi cố sức mon men lại gần. Vài mươi thước nữa. Tôi gần tới đích. Khi tôi chỉ còn cách xa người kia độ chừng năm sáu thước, tôi mới nhận ra rằng người ấy là một người đàn bà. Người đàn bà ấy quay lưng lại phía tôi đứng. Tôi không dám tiến lên nữa, vì thấy kẻ kia cứ ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Đường đột lại phá tan giấc mơ màng của hắn là một sự rất bất tiện và ra ngoài khuôn khổ của luân lý cùng phép lịch sự, nên tôi không dám bước mạnh nữa, đành ngồi nép vào xó tối, chờ một dịp may có thể giúp tôi làm quen với chị ả một cách dễ dàng không đến nỗi bị ngượng.
Tôi ngồi yên, không cựa và cố thở rất sẽ. Người đàn bà cũng ngồi lẳng lặng gục đầu vào gối, tựa hồ đương ngủ say sưa. Trông đằng sau lưng, tôi không thể đoán biết người đó già hay trẻ. Song tôi nhận thấy chị ả tầm thước nhỏ nhắn, mảnh khảnh; hình như hắn xuất thân ở một chốn phong lưu. Tôi ngồi chờ độ nửa giờ mới được thấy ả thở dài mấy tiếng, rồi từ từ đứng dậy.
 
Lần này, như không có mãnh lực gì có thể lay chuyển được định ý nữa, người đàn bà ấy lẹ làng leo lên song sắt, kêu một tiếng thảm thiếl rồi văng mình xuống dưới cầu.
 
Nếu tôi chỉ chậm độ nửa phút, tấm thân liễu yếu của người  khốn nạn ấy ắt sẽ thành một cái xác chết trôi. Như một con hổ rình đã lâu mới tóm được mồi, tôi vươn mình một cái rất mạnh, rồi, nhanh như cắt, tôi níu lấy áo người kia kéo lại. Người đàn bà ấy ngã vào tay tôi, tôi bế nàng ngang lưng, đặt xuống sàn ván.
- Bà làm gì thế ? Nông nỗi đến thế nào mà bà nỡ quyên sinh ?
 
Người đàn bà không trả lời, chỉ ngồi bưng mặt khóc. Nàng khóc sướt mướt, khiến tôi cũng phải động lòng. Cứ thế đến non mười phút; mãi sau cùng, nàng thong thả rút mùi xoa lau những ngấn lệ, rồi nhìn tôi, thổn thức :
- Ông là ai ? Sao ông không để cho tôi được chết ? Ông cứu tôi làm gì ? Càng khiến tôi phải ôm khối đau khổ biết đến bao giờ dứt được!
 
Dưới ánh sáng đèn lờ mờ, tôi mới nhận rõ người tôi cứu là một thiếu phụ rất xinh, rất đẹp. Hình ảnh người thiếu phụ ấy, trời ơi ! ngày nay còn in sâu trong tâm khãm của tôi, tôi bao giờ có thể quên nàng được ! Một cặp mắt, ôi! hết sức mơ màng tình tứ, mà cũng rất tinh anh trong trẻo; một cặp xuắt đen nhay nháy mà những ngấn  lệ càng làm cho lóng lánh, sáng ngời. Cặp mắt ấy dài như mắt phượng, nó vừa lẳng lơ, vừa nghiêm nghị, vừa sâu sắc, vừa hiền từ. Tôi chưa từng thấy mỹ nhân nào có đôi mắt đáng yêu như vậy. Có nhẽ cũng vì luồng nhỡn tuyến của tôi, buổi đầu tiên, chạm ngay phải những tia sáng trong mắt nàng chiếu ra - những tia sáng ôi ! biết bao say sưa ngây ngất, thấm thía não nùng ! - nên ngay từ lúc bấy giờ tôi đã phải bàng hoàng, tê tái, tựa hồ linh hồn tôi bị đôi mắt ấy nó thôi miên. Rồi từ buổi ấy đến ngày nay, tôi không bao giờ quên được cặp mắt dị kỳ, sâu sắc đó.
 
Thiếu phụ của tôi không những chỉ đẹp vì đôi mắt; tất cả những nét khác trông người nàng cũng không kém gì vẻ mỹ lệ, yêu kiều.
 
Trông nét mặt nàng, quái lạ! không biết sao tôi nhận thấy một vẻ đẹp thùy mị, ngây thơ, làm cho tôi phải thương phải mến, mà tôi cũng nhận thấy một vẻ đẹp dữ dội, tàn ác, khiến cho lôi phải ghê sợ, rùng mình. Trong một khắc, tôi đã tưởng tượng nàng là ma, là một loài yêu tinh hiện lên để cám dỗ tôi trong khoảng đêm khaya lạnh vắng.
 
Thiếu phụ mặc quần áo trắng ; mầu thuần trắng đó, với đôi mắt đen sáng kia, tự nhiên gieo vào linh hồn tôi một nỗi lo sợ viển vong. Có nhẽ tại nàng đẹp một vẻ đẹp vừa nồng nàn, dữ đội, vừa kín đáo, êm đềm, nên, đứng trước một quang cảnh cũng có mấy đặc tính ấy, tôi vội vã nghỉ rằng nàng là một loài ma quỉ bởi cảnh vật ấy tạo nên. Gia dĩ người con gái kia, một đôi khi, lại chòng chọc nhìn tôi, khiến tôi lại càng phải bồn chồn, kinh hãi.
 
Nhưng tôi cũng đánh bạo. Đi đêm gặp ma là nhẽ thường, và dù nàng có là ma đi nữa, nàng đã làm gì được tôi ? Xưa nay tôi chưa từng làm sự gì ám muội, đến Thần Thánh tôi còn chưa sợ, nữa là ma I Hoặc giả nàng là người thật, thì cái thú kề bên một mỹ nữ như nàng, ở đời, hồ dễ đã mấy khi được hưởng ? Nghĩ thế, tôi đuổi ra ngoài linh hồn hết cả bao nhiêu ý nghĩ nhu nhược, tôi nhìn người tôi đã cứu, lên giọng một nhà triết học và đạo đức, nghiêm nghị nhủ rằng:
- Thưa bà, tôi vẫn biết làm quấy nhiễu bà như thế này là một sự không phải. Song một người đàn ông như tôi, thấy một kẻ  đồng bào quyên sinh, mà kẻ ấy lại thuộc về nữ lưu phái, nếu cứ lẳng lặng bước qua, không cứu giúp, thì đối với công luật cũng như đối với lương tâm, sẽ có tội rất lớn: tội đã, vì lòng ích kỷ và óc đê tiện của mình, để chết một người oan uổng. Vì thế, dù bà không lượng cho mà mắng  chửi tôi, tôi cũng phải làm hết bổn phận của tôi trước đã.
 
Nhưng, nếu bà cho phép, dám hỏi vì nông nỗi thế nào mà bà phải quyết chí lìa đời ? Tôi xin lỗi bà đã tò mò, thóc mách như vậy, song nếu bà cho tôi được rõ tâm sự của bà, nếu tôi có thể giúp đỡ bà trong phương diện nào để bà đỡ sầu, đỡ tủi được, thì, tôi xin nguyện có Trời, tôi sẽ giúp ngay. Bà chớ nề hà, nếu bà có việc gì cần sai khiến tôi, bà cứ nói, nhất nhất tôi đều xin vâng. Còn gì thú hơn là đem hết tâm trí và nghị lực để phụng sự một giai nhân nữa !
 
Tôi cố ý đá một câu lẳng lơ, nhưng thiếu phụ không lấy làm giận. Nàng nhìn tôi một lúc, như ngại ngùng, như e lệ, mãi sau cùng, nàng thổn thức đáp rằng:
- Rất đội ơn ông đã có lòng quãng đại cứu giúp một kẻ hèn yếu. Song tâm sự của tôi nói ra thì dài lời lắm, chỉ sợ nhàm tai ông thôi, vả lại sự sầu khổ của tôi nó thuộc về khối óc và con tâm, dù ông có lòng tốt muốn giúp tôi chăng nữa, cũng khó lòng giúp được ông ạ. Dù sao mặc lòng, trước khi tôi  quyết tình từ giã hẳn cõi đời này, mà đã từ lâu tôi cho là tàn ác, tôi cũng muốn được danh dự và hạnh phúc kể lại tâm sự tôi cho một người được biết - người ấy dù có quen biết tôi hay không mặc lòng - ngõ hầu khi hồn tôi lìa khỏi xác, mảnh hồn ấy sẽ được lâng lâng bay nhẹ bởi lẽ đã trút được những nỗi thương tâm, thống khổ, đã  truyền được nguyện vọng của mình cho một kẻ thương mình, hiểu mình và sẽ, trên nấm mồ, cỏ sầu hoa héo, rỏ cho mình vài giọt lệ chân thành.
‘‘Nếu ông không chê tôi là một người ti tiện, bỉ ổi, thì xin ông ngồi xuống đây ! Tôi được gặp gỡ ông thật là một sự may mắn. Lúc nãy, tôi cứ phân vân: muốn nhảy xuống sông mà vẫn tiếc rẽ chưa có thể giãi lòng mình cho ai biết được. Nay ông hiểu cho là đủ ; khi nào đã ngỏ, hầu ông nghe hết các nỗi đoạn trường thống khổ, tôi sẽ vui lòng tự tử, tịnh không còn ân hận nỗi gì, vì đã có một người - (mà người ấy may thay! lại là một kẻ trượng phu!) - biết rõ duyên cớ bắt tôi phải quyên sinh, rồi vì thế sẽ không chê tôi là một đứa tiện tỳ hèn hạ.
 ‘‘Vậy ông hãy ngồi xuống đây! Đêm khuya, cảnh vắng chỉ có hai ta. Nhân vì sự gặp gỡ tự nhiên, tôi mong rằng ông sẽ không bắt lỗi tôi về cách đứng ngồi chung đụng. Xin rước ông ngồi xuống !’’.
 
Thiếu phụ tuy mời tôi ngồi xuống ba lần, song nàng vẫn đứng nói một hồi không ngớt. Đợi khi nàng nói xong, vén áo ngồi thụp xuống, bấy giờ tôi cũng bắt chước đặt mình lên trên sàn ván, và, nhân dịp ấy, cởi đôi giầy buộc ở bên sườn, đi giầy vào cho đoan trang, chững chạc.
 
Chao ôi ! tôi tả lại sao nổi những cảm giác tôi đã có cái đêm hôm ấy ! Khi tôi mới thoạt trông thấy người thiếu phụ xa lạ mà tình cờ đã cho tôi gặp gỡ, đôi mắt  long lanh, tình tứ, mơ mộng và sâu sắc của người con gái ấy như thôi miên hẳn tâm linh tôi, làm cho tôi bị bàng hoàng, tê tái cả một đời tôi,  thú thực, tôi chưa từng thấy giai nhân nào đến nỗi phải xiêu hồn.
Thế mà đêm đó chả hiểu vì sao - có lẽ vì hoàn cảnh âm thầm, bí mật; có lẽ vì sự gặp gỡ ngẫu-nhĩ; có lẽ vì trường hợp lạ lùng hiếm có, có lẽ vì ánh sáng mập mờ ẩn hiện của đêm khuya chỉ cho tôi thấy người tôi cứu một cách rất mập mờ: có lẽ vì sức tưởng tượng của tôi bởi quá bị  xúc cảm mà thành ra quá mạnh ; - tôi trông thiếu phụ của tôi đẹp quá, đẹp một vẻ đẹp tựa hồ Trời tạo ra để cho tôi yêu, tôi mến, một vẻ đẹp phẳng phất, như vẻ xưa nay tôi từng mơ ước được trông thấy trên nét mặt và trong dáng điệu người đàn bà. Chả biết từ trước đến giờ tôi có mong mỏi tìm thấy một nhan sắc như thế hay không, song từ khi tôi gặp được giai nhân tuyệt mỹ của tôi, tôi bỗng có cảm tưởng nàng là ý trung nhân tôi đó. Vì thế, bên cạnh nàng, lần đầu tiên trong đời tôi, con tâm già cằn của tôi hồi hộp, thớ thịt trơ cứng của tôi rung động: tôi được nếm vị ái tình !
 
Nhất là càng đi sâu vào đời tư của nàng, càng nghe rõ tâm sự nàng kể lại, tôi càng thấy linh hồn bị chìm đắm trong một thứ khoái lạc dịu dàng! Êm ái, một thứ khoái lạc cao khiết tôi chưa từng hưởng bao giờ.
Trời ôi ! giọng nói của nàng nó mới nhẹ nhàng trong trẻo làm sao! Nàng nói khoan thai, nhủ nhỉ, như rầu rĩ, như thổn thức, như ngại ngùng. Tiếng nàng lanh lảnh như chuông. Có lắm lúc, nó nỉ non tựa tiếng mưa thu rả rích, có lắm lúc khi nó thiết tha não nuột chẳng khác gì tiếng gió thu âm ỉ buổi canh tàn. Nàng nói... nàng nói... hồn tôi như tan dần ra khỏi, xác tôi như biến nhẹ ra hơi; tôi như bấp bênh trôi lơ lửng trong một gầm âm-nhạc.
 
... Một quãng đời luân lạc của một thiếu nữ có học, có tài, mà từng bị muôn nghìn cay đắng, nó dần dần hiển hiện ra trong trí não tôi, trong khi bạn gái tôi gảy khúc đàn lòng tha thiết. Thiếu nữ con nhà khuê các, theo đuổi sử kinh tại trường Trung học đến năm mười tám tuổi, rồi, vì việc nhà, phải bỏ văn chương theo học lấy công, dung. Bíết vẻ, biết làm thơ, thiếu nữ có tính tình lãng mạn. Ưa sống một cuộc đời không bó buộc, từ buổi tóc còn bỏ xõa, nàng đã xây đấp lên biết bao nền hi vọng viển vông. Hi-vọng đó, rồi chỉ như những lâu đài bằng cát, bị đời thực tại đạp đổ một cách dễ dàng, vô lý, sau khi nàng hiểu rõ thế nào là nghĩa chữ ‘‘chung tình’’. Con gái đã mất trinh, đối với cha mẹ còn khư khư quí trọng nền luân lý cổ, không được quyền sống tự do trong chốn gia đình. Thiếu nữ đành phải buộc mình li dị với cửa nhà, dấn thân vào trường gió bụi. Vì nàng muốn giữ chặt lấy quan niệm mà óc nàng cùng học thức nàng, chịu ảnh hưởng của đời mới, đã tạo nên trong những giờ vật lộn với cảnh nặng nề bó buộc của gia-đình.
Nàng, cũng như muốn ngàn thiến niên cùng tuổi, cũng như nhiều kẻ khác có chút hồn tài tử, đã bị một cách rất hiểm độc sâu cay,nạn khủng hoảng tinh thần sinh ra bởi sự đụng chạm đường đột của hai làn tư tưởng Đông Tây, gặp nhau không những chỉ ở trong óc người nam tử.
Thiếu nử thấy mình như bị lạc giữa một hoàn cảnh không hợp với  tình hình mình nữa, một hoàn cảnh đã hủ lậu, đã không đúng với thời thế, lại còn đè nén nhiều linh hồn yếu ớt dưới cái mãnh lực của một dĩ vãng hầu tàn. Sau một hồi suy nghĩ phân vân, nàng quyết chí ra đi, đi tim mục dích cao xa trong một cuộc sinh tồn phóng lãng. Mái đầu xanh dầm dãi mãi với trường gió bụi, nàng dần dần có tư tuởng là giẫm chân trên một đất nước trơ tẻ, cằn cỗi, không có gì là thú vị đậm đà. Mà, trong những ngày giờ phiêu giạt giữa lớp sóng người ô trọc, nàng cảm thấy ‘‘ái tình là chữ chi chi..’’. Rồi, nhắm mắt bước liều theo con đường mà số phận đã kẻ ra trên thảm tương lai mờ mịt, nàng cứ đi, đi mãi, theo đuổi trong tâm hồn một quan niệm viển vông.
Trên ‘‘ngõ hẹp của những gió trăng vô nghĩa’’, nàng đạp hết thất vọng này đến thất vọng khác, mãi đến ngày mỏi mệt, chán nản, nàng thấy rõ rệt rằng quả tâm nàng đã trơ cứng như non. Từ đấy trở đi, nỗi buồn bã của một kẻ đã quá thời nìên thiếu, đã thiêu đốt cả khối hi vọng của mình ngày nay còn sót lại như đống tro tàn, nỗi cô thân trích ảnh của một con én lạc đàn bay rã cánh trong buổi chiều tà giữa một quãng trời sầu vô định, nỗi lạnh lẽo. quạnh hiu của một khách lữ hành phiêu giạt, đi mòn chân mà vẫn chưa thấy bến bờ nào rực rỡ để nghỉ ngơi, bao nhiêu những nỗi thảm sầu,u uất ấy, chúng nó đồng rủ nhau lại cẳn rứt linh hồn nàng, đè nén nghị lực nàng, khiến cho thiếu nữ cương quyết và sốt sắng khi xưa, bỗng phút chốc biến ra một chị ả nạ dòng yếu ớt, mệt mỏi, trong óc chứa chan những cảm tưởng yểm thế, chỉ còn biết cúi đầu lủi thủi, mặc cho tuổi già đến rữa phai má phấn, đốm bạc tóc mây, rồi đưa vào cõi đời đen tối, mơ hồ, mà nhân loại từ buổi sơ khai đã bị chìm, bị đắm : Cõi Chết.
 
Muốn tránh giờ khốc liệt ấy, cái giờ mà Tử Thần sẽ bay lướt qua trên một thân hình tiều tụy, muốn tránh cái giờ mà mình sẽ phải trông thấy mình trụy lạc, má hóp, mắt quầng, nhan sắc phôi pha, tàn rữa, nàng nghĩ chỉ còn cách là, trước giờ ấy, tự đem hủy tấm thân ngà ngọc, cho khỏi phải chịu đọa đày lâu nữa, khỏi phải, mang nặng nề mảnh thân đau nhục, ngày ngày ngâm khúc đoạn trường. Vì quãng đường đời, tới nay, nàng đã đi hầu hết những khúc éo le, gai góc. Vì trong tình trường ; nàng đã nếm hết các mùi ngon ngọt, chua cay. Vì quan niệm nàng thở, nàng đã thấy hiện trạng làm cho tan tác.
 
      Như cánh hoa trôi trên dòng sòng chảy mạnh, như con chim chiều bị làn gió ngược làm cho lạc mất đường về, nàng tự thấy mình lơ lửng không biết nương tựa vào đâu, không biết trông cậy vào ai, cũng không biết đi về chốn nào hòng để dung thân được nữa.
 
Nàng chán nản. Tuy chưa đội hết, trên mái tóc xanh còn óng ả, hai mươi bảy tuổi xuân mơn mởn, nàng đã cho mình già yếu, xấu xa rồi, Mắt tôi thấy nàng đẹp một vẻ đẹp ít kẻ trên đời này sánh kịp, mà nàng thì tự tưởng mình như phôi pha, tiều tụy, không còn mãnh lực gì có thể trả lại cho nàng nét khuynh thành, diễm lệ của ngày xuân. Theo tâm lý, cái đó không lấy gì làm lạ. Đối với một kẻ đã uống một hơi cạn hết các nguồn sinh thú ở đời, thì, vì quá kinh nghiệm sâu xa, kẻ ấy đâm ra chán hẳn việc đời mà tự cho mình già, xấu. Bởi lẽ chưa đến tuổi già, tuổi xấu, mình đã thấy mình không còn trí đua tranh, không còn hồn vui vẻ nữa rồi. Mà, lúc đã chán nản, buồn rầu, lúc đã thấy mình yếu hèn, trụy lạc, ai là người còn có lòng tự phụ, cho mình là trẻ đẹp ru? Vì cớ ấy nên  thiếu phụ của tôi muốn chết. Nàng muốn chết trước khi nàng bị má răn, mắt hõm, trước khi sắc đẹp điêu tàn. Nàng muốn chết trong khi tuổi chưa đến nỗi quá già, sắc cũng chưa đến nỗi quá bị thời gian mài giũa. Nàng muốn ôm cái trẻ, cái đẹp để cùng nàng cùng sang thế giới bên kia, Bởi thế, nàng quyên sinh.
    Nàng có ngờ đâu lại có một kẻ vô duyên, tự nhiên vô cố, đến quấy nhiễu nàng, không để cho nàng được tự do thỏa nguyện ý chí trong một đêm đông vắng lạnh.. Nàng có ngờ đâu trên cầu sông Cái, lại có tôi đến ngăn nàng trong khi nàng nhảy xuống dòng sông.
Mà nàng cũng có ngờ đâu, vì chuyện ngẫu- nhĩ ấy xui nên, tôi đã phải trong quãng đời thừa này mà tôi còn đeo đẳng như đeo một mối hận nặng nề, nhục nhã, ôm một mối thất tình khó giải, khiến cho đến bạc đầu, tôi không bao giờ được biết thú yêu đương?..
---&&---
Đêm hôm ấy, rồi tôi đưa thiếu phụ của tôi qua khỏi cầu Sông Cái. Chúng tôi cùng về Hà nội. Tôi lật đật, cũng quên không hỏi bạn gái tôi tên họ là gì. Nghe chuyện nàng kể lại xong xuôi, tôi chỉ biết ngậm ngùi than thở, khuyên nhủ nàng đừng nên phẫn chí quyên sinh. Tôi ngỏ cho nàng biết tôi cũng là một kẻ bị nạn giao thời ám ảnh, hóa nên ngót ba chục tuổi đầu mà vẫn gối lẻ phòng không. Tôi, cũng như nàng, vì tìm ái tình mà lạc mất ái tình, nên đành chịu buồn rầu, thất vọng. Tôi lại hứa với nàng sẽ đem hết tài hoa, nghị lực, giúp nàng ra khỏi bước đoạn trường.
     Tôi không hiểu bên cạnh nàng tôi nói những gì; tôi chỉ nhớ tôi nói liên miên, nói rất nhiều, nhiều lắm. Có lẽ tôi thú thực với nàng rằng, ngay buổi sơ thân gặp gỡ, tôi đã yêu nàng một cách rất nồng nàn. Bởi vì cả đời tôi, tôi chưa tìm được giai nhân nào vừa ý. Ngày nay ắt hẳn ông trời xanh xui khiến, cho nên tôi được biết nàng. Mà nhất là biết nàng trong một trường hợp cực kỳ bi đát, lạ lùng, tôi có thề với nàng rằng dẫu đến thịt nát xương tan, tôi cũng sẽ không thể nhãng quên nàng được.
Tôi đoán rằng trong lúc nàng đang bị tâm hồn sôi nổi những nhời nói của tôi, đối với nàng, là một bài thuốc giải rất hay. Nàng nghe nói cũng bùi tai, nghiêng đầu vào lòng tôi, đứng khóc. Tôi hết sức vuốt ve, an ủi cho nàng đỡ khổ, rồi dìu nàng cùng tôi, đi thong thả qua cầu. Nàng khóc lóc hồi lâu, nghe chừng cũng hạ được nhiều nỗi thương tâm, khổ não ; nàng ngẩng mặt nhìn tôi chòng chọc, rồi bỗng lau ngấn lệ hai bên khóe mắt, cầm tay tôi, nhoẻn miệng tươi cười:
- Thực ông Trời hay bày ra lắm cảnh lạ lùng ; sự gặp gỡ ngẫu nhĩ đêm nay, nếu sau này có một kết quả mỹ miều, thì thọ mệnh của em, vì anh, sẽ may phúc thêm lên được vài mươi năm nữa. Anh là cứu tinh của em, Nhưng nếu chẳng may có ngăn trở điều gì, thì anh nên tin rằng, em không đủ sức sống lâu được nữa, dẫu rằng sự ngăn trở kia chỉ là một sự cỏn con.
 
Tôi lại hết sức vỗ về nàng, thề rằng sống chết cũng sẻ yêu nàng mãi mãi. Tôi lại cùng nàng vừa đi vừa xây đắp nhiều hi vọng về tương lai rực rỡ, tin rằng sau khi đã bị hết các nỗi điêu linh, đau đớn, chúng tôi sắp đến thời được hưởng thú mặn mà. Tôi khuyên nàng phải nên kiên nhẫn, vững tâm, cùng tôi gây nên một cuộc sinh tồn mới lạ. Tôi in vào trí nàng rằng cõi đời sau này của chúng tôi sẽ đầy dẫy những điều như ý, không còn đâu là dấu vết cũ của cái dĩ vãng đã phai. Trên bàn cờ của  thời gian, chúng tôl lại bày ván khác. Yên chí như thế, nàng và tôi từ từ gõ dịp giầy trên sàn ván mé ven cầu.
 
Sông Nhị Hà, dưới chân chúng tôi, vẫn tuôn chảy một dòng nước đục ngầu bọt trắng. Trời cao vẫn âm thầm lặng lẽ; mảnh trăng trong đã xế về Đoài.
 
Chúng tôi lần về đến Hà nội. Muốn đối với nàng cực kỳ có lễ phép, tôi đưa nàng đến một nhà khách sạn mé đầu cầu. Nhà ô ten ấy tôi vốn hay đi lại đấy đã từ lâu nên chủ nhà và các người làm công có quen tôi lắm lắm. Muốn cho nàng có chỗ tử tế để nghỉ ngơi sau khi tâm linh bị mỏi mệt vì suy nghĩ quá, tôi vội đưa nàng vào nhà khách sạn quen ấy và dặn dò các bồi phòng chăm nom săn sóc đến nàng.
- Em cứ an tâm ở đây mà ngủ một đêm, đến mai anh sẽ lại đón em đi ăn cơm sáng. Rồi mọi việc sau nầy ta sẽ tính toán dần dần. Hôm nay cốt nhất em phải tỉnh duỡng tinh thần ; anh còn phải về nhà viết mấy bài báo để mai đưa nhà in sớm. Em có cần dùng gì cứ bảo bồi, nó sẽ cung em đủ hết, mai anh ghé qua ri sẽ tính trả tiền sau, Bây giờ anh hãy trả tiền buồng, còn sự lặt vặt khác, em muốn lấy gì thì cứ gọi tự nhiên, không ngại. Đây là chỗ anh có quen tự trước, em cứ yên lòng ngủ lại cho yên. Cố mà tỉnh dưỡng tinh thần, đừng nghĩ lẩn quẩn nữa nhé ! Thôi, em đi ngủ đi mai anh lại đón.
 
Tôi cúi chào thiếu phụ của tôi, rồi móc túi lấy ra đồng bạc mà nhân ngãi tôi  bên Gia Lâm cho mượn. Tôi đưa trả tiền phòng trước, dặn dò tên bồi cẩn thận, rồi nhẹ nhàng, phớn phở ra đi. Vừa đi, vừa xây nặn một dãy lâu đài  cát. Về đến nhà, nghĩ vui vẻ quá, không thế nào nặn óc viết thành văn. Nhưng cũng cố trầm ngâm nguệch ngoạc cho ra ba bài báo, để mai đưa lên tòa soạn kẻo sai nhời. Viết đến sáng ngày, khi mặt trời chiếu qua cửa thì vừa xong công việc, Thế là thức một đêm dòng.
Vội đưa bản thảo cho nhà báo, tôi chỉ kịp bắt tay chào ông chủ nhiệm là đã xin cáo thoái ra về. Ra đến ngoài đường, tôi thuê xe một mạch lên nhà ô ten Hàug Đậu. Đến khách sạn tôi trèo mau thang gác, lên buồng số 5 tìm bạn gái của tôi. Tới nơi, một quang cảnh dị kỳ khiến tôi phải bồi hồi, kinh ngạc. Buồng số 5 cửa mở toang hai cánh mà trong buồng lạnh ngắt không ai. Chăn màn vẫn y nguyên, tịnh không có bóng người nào ở đó. Tôi thấy lạ bèn gọi bồi phòng gạn hỏi, thì nó trả lời tôi buồng số 5 không có ai thuê. Sau khi gắt gỏng, hỏi dồn, nó mới nhớ ra, và nói mấy nhời làm cho tôi xuýt nữa phát điên vì quá giận:
- Vâng, phải. Hôm qua ông có đưa lại đây một người con gái, xong người ấy lại đi ngay. Bởi vì đồng bạc thuê buồng hôm qua là một đồng bạc giả. Tôi có cho lên đổi thì người con gái bảo không có tiền. Ông chủ tôi không biết thế nào, bèn cho tôi xuống bảo cô ấy nếu không có tiền phòng thì xin cô đi chỗ khác... Cô ta nghe thấy thế thì vội vàng đi ngay.
- Thế cô ấy có dặn là đi đâu không? Hay có bảo gì không? Có nhắn gì tôi không?
- Bẩm không. Cô ấy chỉ thở dài và nói một mình rằng: ‘‘ Chả qua chỉ là số mệnh; trái thế nào được với số mệnh !’’. Rồi cô ấy tất tả đi ngay, hình như đi về mé cầu Sông Cái...
--& &---
- Thưa các anh, thọ mệnh con người ta thật co ông Trời định trước. Sáng hôm sau, tôi chỉ còn biết chạy ra bờ sông xem có chuyện gì không. Quả nhiên, người ta có vớt được xác một người  thiếu phụ mặc áo trắng. Người ấy hẳn là người tôi gặp gỡ lúc đêm khuya.
 
Người ấy ngày nay sẽ còn được thở không khí chúng ta đương thở, nếu trong sự tôi gặp nàng không chen vào lắm nỗi rủi ro. Trước hết, nếu nhân ngãi tôi, - xưa nay vẫn đứng đắn không hay bỡn cợt, - không đùa tôi khiến tôi phải bị điêu đứng vì một tờ giấy bạc giả, thì có đâu nên nỗi nước này ! Nếu tôi đánh đố mười không bị vận rấp, vận đen, thì làm gì đến nỗi phải vay đồng bạc ấy ! Mà mọi ngày tôi vẫn quen ngủ lì bên nhà nhân ngãi, sao tối đó ai xui tôi cứ nhất định ra về ? Có lẽ vì về nhà, tôi mới viết được ba bài báo. Mà cũng vì mấy bài báo ấy nên tôi không đưa người con gái kia về nhà. Tôi muốn được thảnh thơi để làm việc, và sau nữa, muốn đối với nàng cho có lễ phép, cho ra vẻ khách hào hoa. Giá tôi cứ chịu tục tằn đưa ngay nàng về nhà tôi thì có hơn không, sao còn để nàng ở ‘‘ô ten’’ rồi đến sáng mai lại đón? Mà sao nàng không có chút lòng kiên nhẫn chờ tôi vài tiếng đồng hồ ? Tôi suy nghĩ mãi mới hiểu rằng những sự tự nhiên đã xảy ra đều là những sự định trước cả để đưa thiếu phụ của tôi vào cõi chết. Nếu không có các điều ấy thì có lẽ nàng còn sống; nhưng ông Trời ác nghiệt đã bầy ra những lớp gàn trở để khiến nàng phải quyết chí quyên sinh. Trước khi nàng gặp gỡ tôi, nàng còn phân vân chưa muốn chết. Nhưng sau khi nàng đã kể rõ tâm sự rồi, thì nàng quả quyết lắm, vì như nhời nàng nói, nàng đã có kẻ hiểu cho nàng, vậy nên có chết đi cũng không oán hận điều gì nữa cả. Vì không có tôi khuyên giải và hứa sẽ yêu nàng mãi mãi, vị tất nàng đã  chịu sống thêm vài phút đồng hồ. Chả qua nàng còn chưa được thỏa nguyện về tình, nên cũng muốn thử chơi xem lần nữa. Nhưng lần này, nàng lại bị thất vọng. Đêm đã khuya, nàng không có chỗ nương tựa, nhà ô ten lại đuổi nàng ra, thì nàng chỉ còn có cách là đi lang thang ngoài phố. Gặp tôi trong cơn ngẫu nhĩ, nghe tôi nói thì hay lắm, nhưng biết sau này tôi có thực bụng với nàng không ? Mà biết tìm tôi ở đâu ? Cớ sao tôi bảo yêu nàng, lại còn đưa trả tiền phòng bằng một đồng bạc giả ? Hay là tôi đánh lừa nàng?
 
Đã chán nản đến cực điểm rồi lại còn bị nhiều điều khó chịu, nàng không thể kiên gan được nữa. Nàng thấy nỗi buồn ở đâu xồng xộc lại tuôn ra. Nhân vì chí đã quyết rồi, nàng lại thỗn thức chạy ra cầu Sông Cái.
 
Lúc ấy vào khoảng bốn năm giờ sáng, có lẽ nàng thấy nỗi lòng chan chứa, và tâm hồn lại dần dần đâm ra yếu nhược suy tàn. Lần này, như nghe Thần Chết kêu gọi nàng dưới đáy trường giang, nàng vâng theo mệnh lệnh của các oan hồn, đâm đầu xuống nước.....
 
Thế là hết, Một cái xác đàn bà vô thừa nhận, bấy giờ tôi phải đem về. Một phút cũng là tình, tôi cứ theo đúng lời chỉ bảo của lương tâm, làm ma chay cho nàng tử tế!
Nhưng từ ngày ấy, tôi không bao giờ quên được người đàn bà mà, ngẫu nhĩ, tôi yêu, Trong đời tôi, tôi biết cũng lắm nhân tình, nhưng chưa hề thấy mình yêu ai thực bụng. Đến khi gặp người thiếu phụ trên cầu Sông Cái, làm tâm hồn tôi, tự nhiên, như bị người ấy chiếm ngay trong nửa khắc đồng hồ. Cuộc ái tình của nàng và tôi dẫu trong một đêm đông kia, chưa được bền chặt, vững vàng, thế mà nó cũng làm tôi phải cả đời đeo lụy.Tôi thấy tôi không thể yêu ai được nữa. Tôi chỉ được nếm vị ái tình có vài tiếng đồng hồ, nhưng thế cũng là đủ lắm.
 
Giờ đây tôi chỉ sống bằng tưởng tượng; có lẽ người  thiếu phụ xa lạ kia, quá cảm tình tôi chân thật, nên ngày đêm vẫn hiển hiện rõ ràng trong trí nhớ tôi, không bỏ tôi một khắc nào trơ trọi. Vẩn vơ phảng phất trong một cõi thiêng liêng, vô hình ảnh, chỉ có nàng biết cho tôi, thấu cho tôi, là không đeo lỗi với nàng. Tôi đây đã cố hết sức cứu nàng ra khỏi bước gian truân, nhưng tôi còn biết làm sao trước mảnh lực vô cùng của số mệnh? Khiến cho tôi, dẫu đến khi nhắm mắt xuôi tay, cũng vẫn ôm mối hận bên lòng! Hận vì đã bỏ lỡ một dịp hiếm có trên đời, làm cho một kẻ vì thế bị chết oan, một người vì thế bị sống khổ.
 
Người sống khổ đó, thưa các anh, nó là tôi.
 
Ngày nay đây, đeo nặng một khối tình tuyệt vọng, tôi chỉ còn biết tìm thú khuây khỏa trong chén rượu, cung đàn. Thỉnh thoảng tôi lại đi bách bộ trên cầu Sông Cái để hồi tưởng lại cái giờ tôi được thấy tâm hồn xúc động, cái giờ mà thời gian đã cuốn vào một cõi xa xăm, Nhưng giờ ấy, trong óc tôi còn để lại một  dấu vết không mãnh lực gì xóa được.
 
Nếu trên đời này có một kẻ chung tình đến cực điểm, kẻ ấy hẳn phải là tôi. Các anh cũng có yêu, cũng có chung tình, nhưng sự yêu đương của các anh có lẽ còn là vật chất. Tôi đây, tôi yêu, tôi quí, tôi sùng kính một người vợ tôi chưa từng biết tên tuổi, một người vợ chưa bao giờ cùng tôi biết mùi xẻ gối, chung chăn. Nhưng dù sao tôi vẫn thấy tâm tôi suốt ngày vỗ đập cho nàng, nàng mà ngày nay chỉ còn là một hình ảnh đã phai, một cái bóng đã lạt: một con MA.
 
Tôi yêu con ma ấy, sở dĩ tôi quá si như vậy là chỉ vì con ma đó, trong lúc nó còn sống, đã thôi miên tôi bằng một cặp mắt sâu sắc, dị kỳ.
 
Đấy, thưa các anh, tâm-sự của tôi nó chỉ vẩn vơ có thế.
 
Aout 1936




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.10.2017 13:12:19 bởi Ct.Ly>
THỦ XÚ
 
 
TÔI không muốn nói chỗ xảy ra câu chuyện này, nó là chỗ nào. Nhưng muốn cho các bạn không phải vẩn vơ tìm kiếm, ta tạm cho chỗ ấy là thành Hà nội, để gọi là có một hình-ảnh rõ ràng.
 
Vậy thì, mùa xuân năm ấy, vào khoảng cuối tháng ba, trên con đường sầm uất chạy vòng quanh hồ Hoàn Kiếm, từ ga Xe điện đến nhà Gô-đa, người ta thấy tấp nập những người qua lại. Công tôn, vương tử, thiếu gì yến lả, oanh lơi, Chỉ bởi trong gian nhà  Philharmonique  trước ngã ba, một cuộc chợ phiên tưng bừng đương đón rước muôn ngàn hồng tía.
 
Cảnh xuân rực rỡ, lại đúng ngày nắng ráo êm đềm, nên thú vị chơi xuân càng lắm vẻ tốt tươi, đằm thắm. Những lớp sóng người dào giạt, những hàng xe pháo nghênh ngang, những gánh quà bôn ba giữa chốn náo nhiệt, đua tranh, tất cả các thứ ấy chen nhau, xô nhau, dồn đập lại chật đường như nêm cối. Trước cửa nhà Philharmonique, cờ bay phấp phới, vải căng ngang đường, biển vẽ hoa giấy, dán và treo lủng lẳng phía trên cửa ra vào, như muốn giục lòng khách chẩy hội vào góp vui cho thỏa chí. Lại những dịp kèn tây hùng tráng, để tiếng ồn ào của  thiên hạ, để bắn vào tai những khách qua đường. Vui, thực là vui; sao mà ngày hội hôm nay được dịp tưng bừng như vậy? Có lẽ cũng bởi tại hôm đó đúng tuần lễ bái trong đền Ngọc Sơn, nên đáng náo nhiệt một phần thì lại hóa hai, vì thêm cả những phụ nữ thành tâm đi lễ Thánh.
 
Trên vệ đường đông nghịt những kẻ đi xem ngớ ngẩn, bỗng dưng, người ta nhận thấy hai cậu học sinh, ăn mặc cực kỳ sang trọrtg, vừa đi vừa nói chuyện rất ung dung. Hai cậu đó hình như không để ý xem hội hè gì, chỉ bàn nhau về những lý thuyết cao siêu trong triết học. Cậu lớn tuổi nhất nói:
- Mày không rõ. Phật học không tin ở sự thiên tạo bởi thế nên đức Phật mới cắt nghĩa sự sinh tồn bằng Thập nhị nhân duyên. Đạo Phật muốn tìm ra một nguyên nhân rõ rệt, không muốn dùng một câu cắt nghĩa dễ dàng mà các đạo khác thường vin vào khi lý luận : ‘‘Trời sinh ra muôn vật’’.
- Đành vậy. Nhưng, ta phải nhận rằng, ngoài mọi sự liên tiếp nhau theo những luật định sẵn, người ta có thể đào tạo ra được những cái mới. Ví như ta làm câu văn, câu văn ấy tuy là kết quả của nhiều sự ở ngoài vòng định ý của ta, nhưng một phần câu văn ấy là của ta, sự tạo ra nó là bởi ta có thể tạo ra được. Cái sức đào tạo ấy, đối với Hóa công, cũng thế. Sao lại bảo Trời không sinh ra Thế gian này? Cái nguyên nhân của Thế gìan, của Vũ trụ, tức là Trời. Chỉ có Trời.
- Mày lại ngụy biện rồi.
- Ngụy biện thế nào ?
Chàng trẻ tuổi, nói đến đây, thì nét mặt lộ ra vẻ ngao ngán, không muốn nói chuyện nữa. Chàng chỉ muốn chạy vào vui phiên chợ, đùa bỡn cùng những hiện trạng trước mắt, để mặc Trời, Phật, cùng thuyết thiên tạo trong gầm tư tưởng viễn vông. Một nàng phở đi trở lên bỗng chia rẽ hai cậu học sinh ra hai ngả. Cậu nhớn tránh ra vài bước rồi lại túm lấy tay cậu bé để bàn xong câu chuyện bỏ quên. Về phần cậu bé, thì hình như cậu đãng trí, thờ ơ ; được tránh cậu lớn một giây, cậu lấy làm đắc chí lắm. Câu chuyện Phật và thiên tạo, bắt đầu từ buổi tan học chiều hôm qua, không thỏa nguyện linh hồn cậu nửa. Bây giờ cậu chỉ muốn kiếm cớ từ giã bạn, rồi đi ngay vào đám vui đùa. Đối với cậu, ngày xuân vui sướng là đủ thích rồi, cậu không cần Trời, Phật nữa. Sự phồn hoa náo nhiệt, vẻ tấp nập của thị thành, thay cho nền triết lý chứa đầy óc ngây thơ của cậu.
 
Không bao giờ  Nguyễn Khai Hoa thấy mình trai trẻ như hôm nay. Có ai được thấy  Hà Thành náo nhiệt hơn ngày hôm đó? Biết bao nhiêu là ô tô bóng nhoáng, bao nhiêu là công tử phất phơ, bao nhiêu là mỹ nhân tha thướt ? Mà, trên nét mặt các mỹ nhân ấy, có khi nào lại được thấy, như sáng nay, bao nhiêu là sáp son trên môi họ, bao nhiêu là phấn hồng trên má họ, bao nhiêu là ý nghĩ mơ màng trong đôi  đồng tử họ, khuynh thành? Một làn gió thoảng, như êm dịu, như thơm tho, đưa những mùi phấn sáp và mùi nước hoa qua mũi cậu. Những làn áo lụa, đủ các màu óng ả, phất  phơ bay như những lá cờ thêu. Nguyễn Khai Hoa đưa hồn vào cõi mộng...
- Mầy nghĩ thế có phải không ?
Cậu nhớn, Trần Chí Lâm, lại nắm tay bạn hỏi dồn về triết học.
- Tao cũng chả biết...
Cậu bé mơ màng, ngây ngất trả lời.
Thực ra, cậu cũng không buồn nghe nữa. Một người thiếu nữ vừa thoăn thoắt, tạt qua. Mùi da má nàng như đánh thức cậu ra khỏi giấc mơ tê tái.
- Lâm ạ, tao xin lỗi mày. Tao đi đường này tý nhé !
Cậu Lâm buồn bả lắc đầu mấy cái, rồi để tay vào mé trái tim, cười:
- Tao hiểu rồi. Thôi mày đi.
 
Người con gái, vừa thoáng qua, đã biến rất mau chóng trong lớp sóng người tấp nập, Cậu Khai Hoa cố tình theo đuổi kịp nàng. Len lỏi mãi trong đám hội, thích cánh chen vai mãi, cậu mới tìm được cô ả kia đang đi thẳng xuống Gô-đa, Như một thám tử đi rình, cậu Hoa không bỏ sót dáng điệu nào của thiếu nữ mà cậu cố theo sau từng bước.
 
Đã mấy ngày hôm nay, người con gái ấy khiến cậu phải đế ý đến nàng một cách tò mò, tỷ mỷ. Nhiều cảm giác dị kỳ, khó hiểu, làm bằng tính thóc mách nhiều hơn là sự thương yêu xui cậu phải rình mò xem xét cách hành vi cử động của nàng.
‘‘Chắc hẳn nàng có nhân tình, nhân ngãi gì đây !’’ Cậu Khai Hoa lòng tự nhủ lòng như vậy. Nhưng mà nàng yêu ai, có hẹn hò thề ước cùng ai, cậu chỉ muốn biết rõ ràng cho thỏa nguyện. Không đi xa vào những chỗ éo le của tư tưởng, cậu nhận ngay thấy ý muốn che chở cho nàng không đủ để cắt nghĩa sự cậu cố theo riết nàng mà thực tâm cậu không muốn làm, nhưng, không hiểu rõ vì sao, cậu cứ như bị một mãnh lực gì bắt cậu phải làm cho kỳ được. Hành tung của cậu, nói cho đúng, rất là phi lý, bởi lẽ cậu kém nàng có đến hai tuổi, mà, trong tình trường, kinh nghiệm của cậu không có tý gì đáng gọi là sâu sắc, hơn người.
 
Bạn sẽ lấy làm lạ biết rằng thiếu nữ đó, tức là chị cậu, Tên nàng là Nguyễn An Trinh.
 
Đi luồn qua lũ người xem hội chật đông như nêm cối, cậu Khai Hoa vừa chen vai thích cánh, vừa cố đuổi kịp cô Trinh để rình xem bạn thiếu niên nào dám cả gan cùng chị cậu chỉ non thề biển. Nhân tình của cô ắt hẳn là một người có nhiều về xuất sắc, nếu không chị cậu đã không bị kẻ ấy làm cho tâm trí thẫn thờ! Thực vậy. Từ đã nửa tháng nay, cô An Trinh cứ hoảng hốt, thay đổi hẳn tính tình, làm cho cậu không thể nhận được nét mặt tươi vui của nàng nữa.
 
Trước kia, chị cậu bao giờ cũng vui vẻ, tính khí khoan hòa, điềm đạm, hay đùa, hay cợt, khiến cho cả gia đình, vì nàng, ngày ngày thường được hả hê. Cô Trinh, trong cửa trong nhà, tựa như một tia ánh sáng. Trên thì cha mẹ đã già, chỉ biết an nhàn dưỡng lão và làm thần coi giữ một cái gia tài. Dưới thì chỉ có cô Trinh, rồi đến cậu. Một gia đình phong phú, thuận hòa, êm ấm, tịnh không bao giờ dám chen vào một sự đổi thay. Thế mà sao ngày nay, chị cậu Hoa lại bỗng hóa ra ủ rũ, buồn rầu hay gắt gỏng, hay giận giỗi, coi chốn phòng khuê ấm áp như một nhà tù bó buộc, lại hình như muốn khát khao thèm muốn một điều gì? Bây giờ nàng ngồi bàn ăn chỉ hơi giúng vào bát cơm một tý bằng đầu đũa, không bì với mấy năm về trước, nàng ăn uống bao giờ cũng khỏe khoắn, ngon lành. Chả hiểu vì sao lại có sự dị kỳ như vậy ?
 
Rồi, ngày lại ngày, sắc đẹp mặn mà, diễm lệ, của cô Trinh có phần như phai nhạt; cô biếng soi gương, điểm phấn, ăn mặc tuy còn chải chuốt nhưng điếm đàng, không có vẻ tự nhiên.
‘‘Thế nào mình cũng biết cái đứa đã để lụy đến chị Trinh, - cậu Hoa tự nhủ lòng như vậy. - Rồi mình sẽ được rõ biết ! Chị cứ đi đi, đi đi, tôi sẽ theo chị đến cùng trời cuối đất !’’
 
Kẻ kia lấy mắt tính vui vẻ của chị cậu tức là lấy mất hạnh phúc của gia đình cậu, và hơn nữa, ăn trộm mất tình chị cậu yêu quí cậu bấy nay, chia xẻ mảnh tình cao sạch đó. Cậu phải tìm cho ra kẻ ấy, cậu phải tìm cho ra nguồn gốc xui có Trinh, tự nhiên, thay hẳn tính tình !
 
Cậu Hoa đi, đi mãi. Cậu len lỏi giữa đám người tụ nhau trùng trùng điệp điệp trên Bờ Hồ. Mắt cậu không dời bỏ một khắc nào hình ảnh chị cậu đi trước cậu độ hơn mười bước. Chị cậu hình như không có vẻ đi xem ngày hội, cũng hình như không có vẻ đi chơi. Cô đi một cách rất mau, không để ý đến ai hết. Một người bán hàng thêu mờí cô mua một cái mặt gối cô lắc đầu đáp lại người ấy một cách khinh bỉ lạnh lùng
 
Đi qua hiệu Gô đa, đến một chỗ ngã tư, cô quặt sang bên trái. Chỗ ấy vắng người qua lại nên cậu Hoa lại phải nép vào một xỏ kín để ẩn thân. Cậu thấy rõ chị cậu, đến đầu đường dừng gót lại. Nàng ngoảnh nhìn tứ phía có vẻ sợ sệt, xem có ai theo dõi nàng không. Một lúc lâu, nàng mới quả quyết bước đi, đi vào một con đường vắng.
Đến chỗ này mới khó nghĩ. Câu chuyện đi rình càng thêm hiểm hóc éo le. Cậu Hoa cứ phải chạy từ gốc này sang gốc cây kía, vừa đi, vừa nấp bóng. May thay, đến một phố ta, lại có đông người qua lại. Phố đó gần một cái chợ lớn, nên xe xe gánh gánh, dập dìu. Cậu Hoa nấp sau một cái xe bò, vừa lần từng bước một, vừa để ý đến cô Trinh đi đường trước.
 
Lúc ấy vào khoảng mười giờ sáng. Mặt trời lên đã cao chiếu vào hai dẫy hàng ở bên đường, Ngày xuân vui vẻ, lại đi giữa một nơi náo nhiệt, ồn ào, Cậu Hoa tự thấy tâm hồn phấn khởi. Chị cậu đối với cậu, thực như giọt nước xan đôi. Cũng rong rổng cao, cũng nước da xanh lợt, cũng đôi mắt say sưa. Chắc chị cậu, như cậu, cũng đang bị ảnh hưởng ngây ngất của nắng xuân đầm ấm.
Cô Trinh ngày hôm nay ăn mặc một cách dịu dàng nhưng hơi đĩ. Trước kia có bao giờ nàng chịu mặc một mầu gì lòe loẹt như các gái giang hồ? Tuy nhiên mầu áo nàng, dẫu nó có sặc sỡ thật, cũng còn mỹ miều, lịch sự, hơn những màu thiên hạ thường ưa. Dù thế nào mặc lòng, cô Trinh cũng vẫn còn hào hoa, quí phái lắm.
 
Chỉ tiếc rằng nàng không còn đủ vẻ đại gia như thủa trước, giá nàng cứ bận những thứ áo có mầu kín đáo, sắc đẹp nàng sẽ có một vẻ sang trọng, diễm lệ không ai so sánh cho bằng. Hôm nay tóc nàng vấn theo lối Huế, nàng đeo kiềng, cài khuy cổ, không mặc lối Bắc Kỳ, mở khuy cổ, đeo hạt vàng, như những buổi ngày xưa. Tóc nàng lòa xòa rủ xuống hai bên má, và óng ả cuộn trên đỉnh đầu thành một mái tóc lỏng lẻo, rất đẹp, và ở trên gáy trắng nuột thành một làn lưỡi trai mềm mại, dịu dàng. Chỉ những vì tóc, nàng đã đẹp lắm rồi, lọ là phải cần đến áo. Làn áo hôm ấy bằng một thứ hàng len mầu đỏ sẩm, nhưng có những đường hoa ngang dọc nổi lên. Kể trông thì cũng hơi rợ, nhưng hàng len ấy mà bao bọc một thân hình đều đặn cao rong rỗng và tha thướt như thân hình cô Trinh, thì, áo càng sặc sỡ bao nhiêu, lại càng cho ta được thấy vẻ đẹp của tấm thân ngà ngọc phô bày ra bấy nhiêu. Một cái lưng thon thon, ỏng ẹo theo dịp để giầy thoăn thoắt, làm cho mảnh quần sa tanh trắng mịn cứ phất phơ rung động, thỉnh thoảng lại để lộ ra một tý gót nõn nà. Trông cái dáng điệu gọn gàng, nhẹ nhõm kia, dù là trông đằng sau, ai mà không phải yêu, phải mến? Nhất là cô Trinh mặc một bộ áo căng sát thân thể, khiến cho mỗi một khi hai chân bước đi thì vẻ núng nính và dáng điệu yêu kiều càng làm tăng sắc đẹp cô gấp bội, Theo ý cậu Hoa, chị cậu tức là khuôn mẫu cho nhan sắc của thiếu nữ tân thời.
Nhưng mà, này, cô Trinh đi đâu ? Chắc không phải cô đi chơi. Vì nếu cô đi chơi, thì đã không đi vội thế, mà lại vừa đi vừa có vẻ sợ, thỉnh thoảng cứ phải liếc ngang liếc ngửa xem có ai theo gót cô không. Mỗi khi gặp một người quen, hình như cô lại cố ý lảng tránh.
Mãi sau cùng, hình như mỏi chân lắm, cô thuê xe đi. Khốn nạn cho cậu Hoa! Cậu lại phải bẻ sụp mũ xuống mắt, lộn cổ áo lên, tháo bỏ cà-vạt, rồi thu hình trong một chiếc xe giương mui, sau khi đeo thêm lên mắt một cặp kính râm, và dặn dò phu xe bảo phải theo xe cô Trinh cho kỳ được.
 
Hai cái xe cùng nuốt đường trong độ một khắc.  ‘‘Lần này ta sẽ biết rõ mặt thực của chuyện đó’’, cậu Hoa vừa bước xuống xe, vừa tự nói một mình.
 
--&&--
 
Sau khi đi qua mấy con đường vắng vẻ, cô Trinh cho đổ xe xuống một nơi biệt thự nguy nga. Nhìn trước nhìn sau, cô có ý như muốn rõ biết mình không bị ai theo; lúc bấy giờ mới thoắt như một cái bóng, lẩn vào trong biệt thự ấy.
 
Nấp sau một cây gạo lớn, cậu Hoa trông được rõ ràng. Cậu thấy cô đỗ xe thì vội vàng cho xe quặt lại vào một đường rẽ khuất, rồi cậu đi lùi vào sau một thân cây gạo lớn ở đầu đường.
 
Biệt thự ấy của ai? Võ vẽ dăm chữ nho còn sót lại, cậu Hoa nhận thấy trên phía cổng một tấm biển gỗ lớn, thiếp vàng ba chữ ‘‘Tuấn Khanh viên’’, Sau vẻ náo nhiệt của chợ phiên, giờ đây, tiếp đến một cảnh tiêu điều, lặng lẽ. Bốn bề tịch mịch âm thầm hình như không có người sinh hoạt ; cách tỉnh thành chỉ có độ vài cây số, mà nơi biệt thự này rõ ràng ra cảnh chốn thôn quê. Bên ngoài, một bức tường cao không cho kẻ tò mò nhìn vào trong tư thất, hình như chủ nhân nhà ấy muốn giữ nhà cửa mình riêng hẳn ra một vùng, không cho dính dáng với các cửa nhà lân cận.
 
 Mé trên tường cao, cổng kín, trổ ra những cành cây cổ thụ rườm rà, Những con chim, nấp trong rừng lá âm u, hót gọi nhau vui vẻ. Cậu Hoa nhìn khe cửa thấy mé trong có một vườn cây lớn, hai dẫy thông cao vút mọc hai bên con đường gạch rộng chạy từ cổng đến thềm nhà. Cậu tưởng tượng chốn ấy như một chỗ Bồng Lai tiên cảnh.
 
Cô Trinh đã lẻn vào trong tòa nhà bí mật ấy tự bao giờ. Hai cánh cổng hình như hé mở. Cậu Hoa trèo ngay lên một cây sấu lớn mọc ở ven tường, ngõ hầu nhìn vào phía trong nhà cho rõ rệt. Quả nhiên cậu được thấy chị cậu đứng ở trên thềm ngoài, nói chuyện cùng một người nữa.
 
Người ấy, quái lạ, lại là một người con gái bẻ nhỏ, rất xinh! Mà nào phải ai đâu xa lạ ! Chính là cô Trần Bạch Yến, con quan Tuần Cao Viễn đấy mà ! Ồ ! ngỡ là ai! làm cho cậu phải mất công toi mãi!
Nhưng mà lạ ! có làm sao cô Trinh lại hẹn hò cô Yến đến nơi này ! Nhà quan Tuần ở mãi phố Đường Thành, sao chị Trinh không đến đấy, lại vào đây làm gì nhỉ ? Mà nếu đi thăm cô Yến, thì sao lại ngại ngùng, lo sợ, không tự nhiên ? Lạ, lạ thật.
Cậu đã trót đi rình từ mấy bữa, thì thử xem có chuyện gì bí hiểm hay không. Có nhẽ nào vì cô Yến mà chị Trinh thay đổi tính tình đến thế ? Hẳn có sự gì cậu chưa hiểu, cậu phải tìm cho ra manh mối rõ ràng ! Đành rằng chị Trinh hẳn không có ý tứ gì, song có lẽ chị và cô Yến đang mưu với nhau một việc gì bí mật. Vả lại Hoá yêu Yến. Yến kém Trinh hai tuổi, nghĩa là cùng tuổi với Hoa. Yến và Trinh cùng học năm thứ tư ở một trường Trung học con gái, còn Hoa thì học mau hơn một chút, mới mười chín tuổi đã đỗ phần Thứ nhất tú tài tây.
 
Yến là bạn thân của Trinh, thường đến nhà Trinh vui chơi, và nhiều khi, ăn uống, Trinh tuy đẹp thật, đẹp một vẻ đẹp tự nhiên và sắc sảo, song nhiều khi nàng vui vẻ và bạo dạn quá, hóa nên dáng điệu nàng có phần cứng cỏi, không nhu mì. Trái lại, Yến đẹp một sắc đẹp thùy mị, dịu dàng, đầy thi vị, Hai con mắt ngây thơ sáng sủa, nhiều khi hay hàm dưỡng nhiều vẻ đắm đuối say sưa. Một cặp môi đỏ chói, hơi dầy, mơn mỡn như một trái cây thơm ngọt. Sinh trưởng trong một chốn phong lưu, đài các, chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục nghiêm khắc, cổ hủ, Bạch Yến có nhiều bộ điệu và dáng dấp của một thiên kim tiểu thư rất lịch sự, hào sảng, khiến cho mỗi vẻ của nàng có một nét rất khuynh thành diễm lệ, bắt cậu Khai Hoa phải chết mê chết mệt vì tình,
 
Cậu, ngày hôm qua, còn tưởng tượng bắt được chị cậu trong tay một thiếu niên nào khôi ngô, anh tuấn; cậu có ngờ đâu những ý nghĩ ấy lại thành ra sai cả, mà cô Trinh bây giờ niềm nở vui đùa gần một nàng thiếu nữ cậu yêu !
 
Làm sao lại có sự dị kỳ như vậy ? Những bí mật càng ngày càng tăng mãi. Cái biệt thự này, không phải của quan Tuần Cao Viễn, nó vốn là nhà riêng của ông Hàn Lê  Văn Tỷ kia mà ! Từ khi ông Hàn bất hạnh mất đi, thì tòa nhà ấy bỏ không đã đến hai năm có lẽ. Vợ con ông Hàn cho nhà đó là có hung thần ám ảnh, không dám ở mà cùng dắt nhau lên ở tỉnh thành. Từ lúc ấy, cũng không có ai thuê, thành ra nơi biệt thự nguy nga kia vẫn chịu để rêu phong, cỏ phủ.
Nếu vậy, chắc không có ai ở trong nhà này cả, trừ ra hai ả táo gan kia. Cậu có thề lẻn vào xem xét cử-động của hai nàng, sẽ không có ai ngăn cậu cả. Cậu bèn trụt xuống gốc cây, tìm lối vào trong biệt thự.
Đi vào chính môn thì hơi thất sách, vì thế nào nghe tiếng giầy gõ trên đường gạch, hai cô cũng sẽ biết ngay, và trong chốn thanh u tẻ vắng này, một tiếng động cũng vang lừng tứ phía. Tốt hơn là cậu tìm vào lối sau cho tiện ; cậu bèn lần theo tường đá, quặt ra mé vườn sau. Tới nơi, cậu tìm mãi không có cổng. Túng thế, cậu phải trèo lên một cây nhãn, đánh đu truyền sang một cây ổi lớn mọc trong vườn. Rồi cậu trụt xuống.
Vài con chim, thấy động, vỗ cánh bay lên một lượt. Một khắc, cảnh vật lại nhuộm mầu lặng lẽ như xưa. Một vẻ hiu quạnh nặng nề bao bọc lấy Khai Hoa, cậu bỗng thấy rùng mình, ghê sợ. Chung quanh người cậu, cỏ mọc cao non một thước ; các cây cối um tùm, rậm rạp, làm cho vườn sau nhà hóa thành một nơi rừng cấm âm thầm.
Rẽ lá, vạch gai, cậu đi lần từng bước một. Khi gần vào đến tư thất, cậu nghe văng vẳng hình như hai cô đang nói chuyện ở từng gác phía trên. Cậu tìm cách trèo lên sân thượng, để nghe cho rõ hai cô nói chuyện những gì. Cậu bèn lên một cây muỗm mọc ở góc nhà, định bụng lần theo ria tường để tiến vào trong gác. Những cành khô, bị cậu đụng, xào xạc gẫy rơi răng rắc, khiến cậu lại phải đứng yên và ngồi thụp xuống hồi lâu. Khi thấy đã yên yên, cậu nhìn tường, đắn đo bề cao mãi, rồi mới quả quyết leo lên cây muỗm.
 
Cậu thấy trong tâm hồn phấn khởi lạ thường. Một là vì thói tò mò xui giục cậu phải đi rình, hai là vì được nhìn trộm sắc đẹp của ý trung nhân, trong một trường hợp cực kỳ thú vị. Cậu đọc sách thấy tả những sự mạo hiểm trèo non, vượt suối, cậu cũng tưởng tượng như mình đương mạo hiểm trong một nơi đầy đá sỏi và gai. Cậu thấy cậu sung sướng hăng hái vô cùng, bởi lẻ cậu được nghịch ngợm một cách tự  nhiên, lý thú. Vài bước nữa, cậu cố hết sức lần vào rìa gạch ven sân thượng. Cái sân đó, ngày nay bìm  bìm leo và hoa ‘‘antigone’’ đã che phủ kín, nó nhuộm một vẻ bí mật lạ lùng, Nhìn ra mặt sân, một cái cửa lớn khóa chặt và một cái cửa sổ chỉ hơi hé mở. Đứng trên cây muỗm nhìn vào nhà tư thất, cậu thấy cái mái nhà ngói đã cũ uốn theo một diềm kiểu tầu cong lên hai đầu và ở mỗi đầu lại có xây một con rồng cuộn khúc, Tòa nhà biệt thự đó làm cho cậu mơ màng, tưởng như lạc vào một ca viện nào nghiêm cấm đầy thi vị.
Ngắm vẻ rực rỡ và vẻ êm ả của tòa nhà, cậu bỗng nhiên cho là hai cô Trinh và Yến là hai nữ tài tử, biết tìm một chỗ rất nhã nhặn để chuyện trò to nhỏ cùng nhau. Chuyện của các cô, phải nói ở một nơi im lặng, vì hai cô cần hết sức thành tâm, tỉnh trí, để kể cho nhau những tâm sự vơi đầy, não nuột như thơ. Các cô thực quả sống trong biệt thự đó một quãng đời tiên nữ.
 
Cậu Hoa thấy nóng lòng, sốt ruột, muốn vào ngay xem hai cô làm những việc gì. Cố vài bước nữa. Một chút, cậu bị trượt chân ngã xuống, Ngã xuống thì thật chết. Một cành khô gẫy rơi xuống vườn, thảm cỏ đỡ ngay lấy, không để có tiếng kêu vang động.
 
Sau một buổi nhọc nhằn hết sức, cậu Hoa lần bám được một rìa gạch ở ống máng chìa ra. Cậu bám lấy rìa gạch ấy, cất mình trèo vào sân thượng, Rồi cậu dán tai vào khe cửa.
 
--&&---
 
Tuổi của hai cô Trinh và Yến không phải là tuổi chơi ‘‘búp bê’’ nữa. Các cô đã đến tuổi biết đem quả tâm vỗ đập cho Ái Tình. Thế thì các cô rủ nhau lại chỗ vắng này để làm một trò gì không phải là Ái Tình mà cũng không phải là sự nghịch ngợm ? Hai cô muốn, nói chuyện, muốn đọc sách, thì cần chi đến chốn tẻ  lạnh này ? Sự bí mật bao giờ cũng bí mật. Cậu Hoa vẩn vơ suy nghĩ. Chắc hai cô thế nào cũng có kèm theo hai cậu, nhưng hai cậu kia ẩn nấp không ra mặt đấy chớ gì! Ấy, chỉ có thế mà thôi, cần gì phải lý luận cho mệt. Tuổi các cô là tuổi cần yêu ; vậy hai cô có hai nhân tình. Không muốn ăn mảnh lẻ loi, hai cô, vì quá thân với nhau, cùng rủ nhau lại thăm nhân tình ở cùng một chỗ. Có nhẽ là thế đấy. Ừ, mà như thế hẳn đúng vào tâm lý hai cô.
 
Một giọng cười giòn giã vội ngắt ý nghĩ cậu Hoa trong lúc ấy. Cửa sổ nhìn ra sân thượng bỗng mở toang ra. Rồi, hình như cảnh vật bên ngoài làm cho hai cô lo sợ, hoảng hốt, bỗng nhiên thấy hai cô nói rất nhỏ không phân biệt được những gì. Nấp vào chỗ lá cây rậm rạp, um tùm, gần chỗ cửa lớn khóa chặt, thông sân thượng cùng gác trong, cậu Hoa cứ ngồi yên lặng, thở rất sẽ, không dám cựa.
 
Một lúc lâu cậu không nghe thấy gì nữa. Ngắt hết lá non lại vò đến hoa bìm bìm, cậu vừa ngồi chồm hỗm đợi chờ, vừa chơi nghịch hít những mùi hoa thơm bát ngát vào mũi cậu, trộn lộn với mùi rêu mốc, mùi lá khô, mùi vôi gạch để lâu ngày. Bỗng chốc, cậu nghe tiếng cửa mé bên kia phòng mở rộng, rồi tiếng giầy lộp cộp đi xuống thang gác và ra hiên, Hết sức cẩn thận, đắn đo từng bước, cậu bò lại mé cửa số mở, lắng nghe xem còn ai ở trong phòng gác, xong ló đầu lên nhìn trộm cho kỹ càng, rồi cậu mới nhảy qua cửa sổ vào trong phòng mà lúc này hai cô ngồi nói chuyện.
 
Đứng nấp vào tường, hé mắt nhìn xuống thềm sàn trước, cậu thấy cô Yến bảo cô Trinh:
- Cứ thế nhá ! Thứ bảy sau nhá !
- Ừ, nhưng mà ta nên đến vào buổi chiều, vì buổi sớm, tôi không thích, Cô Trinh đáp lại.
- Phải đấy. Ta nên đến về chiều, thú hơn, Nhưng mà ta nên về đi. Mau lên!
Hai cô nói đến đây thì thoăn thoắt tiến ra mé cổng. Cậu Hoa càng ngày càng thấy lắm sự dị kỳ.
  Quái lạ ! Cậu tự hỏi lòng, hai ả này không có nhân tình, lúc nẫy chỉ có một mình họ ngồi trong phòng trên gác. Thế thì lạ thực !
 
Khi hai cô đi khỏi, cậu nhìn xục xạo bốn bể, mong rằng sẽ tìm được kẻ nấp ở trong  biệt thự. Quả nhiên, nhà cửa vắng teo, không còn ai nữa. Cậu tự cho mình là rồ dại, điên cuồng. !
     - Hai nàng ấy dắt nhau đến chơi đấy, việc gì cứ phải nghĩ vơ vẩn cho bận lòng, mệt trí ?
 
Tuy lẩm bẩm như vậy, nhưng cậu Hoa thấy trong hồn chưa thỏa nguyện chút nào. Cái biệt thự này, từ khi ông Hàn tạ thế, bị để trơ trọi, không có đồ đạc gì bày biện trong nhà, Sao ngày nay, trong một phòng ngủ nhìn ra gác sân, bỗng lại thấy có giường bàn cẩn thận? Một cái giường tây gỗ kiểu mới, rộng độ một người nằm, cao độ ba mươi phân, bày ngay ở giữa phòng áp đầu vào mé tường hướng Nam, nghĩa là trông ra sân thượng. Trên giường có đệm gối sẵn sàng tử tế, dưới chân giường lại có trải thảm bằng lông. Cách cái giường độ không xa, có một cái bàn viết, trên đầy những sách và các giấy má bề bộn. Trong phía tường đối diện với giường nằm, ở vào giữa hai tấm cửa lớn mở ra sân và cửa sổ, một cái tủ lim lớn khép chặt hai cánh nặng nề.
Cậu Hoa nhìn, thấy cái tủ bỗng sung sướng vỗ đầu: cậu đã tìm ra diệu kế:
- Thứ bảy sau, thế nào ta cũng đến đây trước, rồi xem các ả làm gì!
Rồi cậu ung dung sửa lại áo quần, thắt lại cà vạt, thong thả đi ra ngoài biệt-thự.
 
---&&&--
 
Thứ bảy. Từ buổi sáng, cậu Hoa đã mầy mò mãi, ướm hết chìa khóa này đến chìa khóa khác mới mở được cửa tủ ; cậu lại tìm trong cánh cửa vài chỗ kín đáo để chọc thành vài lỗ thủng, ngõ hầu đứng trong tủ có thể nhìn ra ngoài mà trông thấy được tỏ tường.
 
Đến chiều thứ bảy, quả nhiên, hai cô Trinh và Yến dắt nhau đi đến. Hai cô thực thà không biết có người đã lập tâm rình mò những hành tung kín đáo của mình. Lơi lả dựa vai vào nhau, cô Yến nũng nịu bảo cô Trinh bằng một giọng nói dịu dàng, thỏ thẻ :
- Cái nhà này là của ông Hàn Tỷ ; người nhà ông Hàn cho là có ma nên không dám ở, bán rẻ lại cho thày em. Thày em định chữa để cho thuê nhưng chưa có thì giờ, vậy nên cứ để hoang vu như thế này mãi. Hồi một năm về trước, em có một người anh con nhà bác, anh Phấn, muốn tìm nơi tĩnh mịch để học thi Túctài. Thày em liền cho dọn một phòng  sạch sẽ để anh Phấn ở đây, rồi ngày hai buổi anh đi xe đạp về nhà em ăn cơm cho khỏi phải nấu nướng phiền phức. Bây giờ nhân vụ nghỉ hè, anh Phấn về quê, vậy nên mình mới có cái buồng này để vui chơi cho thú vị. Chị em mình thực có số gặp may, Trinh nhỉ, chả có thế sao chúng mình lại có một nơi biệt lập như chốn này ? Chị có thích không hở chị ?
- Không !  Không gọi là chị ! Gọi là ‘‘cậu’’ cơ ! Trinh đáp lại.
- Ừ thì cậu. Cậu vào đây đi cậu ! Lại đây ta đọc quyển TốTâm bỏ dở từ sáng hôm kia !
Nói đến đây, cô Yến lôi cô Trinh lại chỗ giường tây, trước mặt tủ. Hai cô giũ chăn giũ đệm, giải lại chăn giường cẩn thận rồi cởi áo ra, hí hởn nhảy lên giường như hai đứa trẻ con. Cậu Hoa đứng trong tủ lấy làm lạ rằng sao chị mình từ trước đến nay vẫn thùy mị, nhu mì mà bỗng dưng lại hóa ra một cô con gái táo bạo vô cùng, không hề tỏ vẻ gì thẹn thùng cả. Có Trinh không những thế, lại nghịch ngợm như một cậu con trai, tịnh không còn điệu bộ gì ngây thơ, e lệ nữa. Cậu Hoa thấy quả tim thắt lại, nhưng cậu cũng thấy trống ngực đánh thình thình, dồn dập không sao đè nén được.
 
Cậu rùng mình, nhắm mắt lại. Cậu  không dám nhin chị trong khi cô chị khỏa thân. Vì cậu tự ngượng, tự cho mình  vô đạo, có ý tưởng loạn luân, không chính
 
 đáng. Có nhẽ cậu sẽ dằn lòng nhắm nghiền mắt lại nếu, bên cạnh cô Trinh, không có một pho tượng khác hơ hớ làm cho cậu phải ngây ngất, thèm thuồng. Pho tượng ấy là cô Yến, cũng khỏa thân và ăn mặc như chị cậu.
 
Cô Trinh thì trông khỏe mạnh, cứng cát như con trai, mà cô Yến thì lại nhỏ nhắn, xinh tươi, thực rõ là một cô thiếu nữ thướt tha, óng ả, Từ nét mặt ngây thơ của cô, từ làn tóc và đôi mắt đen nháy, từ nước da lờn lợt hơi xanh, cho đến tấm ngực nhỏ xíu, tròn trĩnh, tay chân mềm dẻo, cái lưng và cái bụng thon thon, chỗ nào trong người cô, cậu Hoa trông cũng thấy đẹp ghê đẹp gớm. Cậu cố đứng yên không động đậy,
mồm thì nuốt nước dãi mà mắt thì đắm đuối nhìn hình hài cô Yến nằm trên đệm trắng phau phau. Cô Yến làm cho cận xuýt nữa chết ngây trong tủ. Mỗi một nét cười của cô, mỗi một bộ điệu của cô, là một sự có ảnh hưởng rất sâu trong linh hồn cậu, là một dịp xướng lên để bắt con tâm cậu phải họa lại mấy lần. Cậu nóng bừng cả mặt.
 
Ở mé ngoài tủ, hai cô vẫn thản nhiên, không biết có người rình. Hai cô kề vế kề vai, cùng nhau hớn hở nằm đọc sách, bình phẩm văn và cười như nắc nẻ. Bỗng cô Trinh vứt sách vào một xó, rồi đờ mắt nhìn lên trần như vẩn vơ suy nghĩ điều gì. Cô Yến thì rúc đầu vào vai cô Trinh, nằm yên không cựa. Một chốc, cô Trinh lật mặt cô Yến ngửa ra, rồi bỗng ôm choàng lấy cổ cô Yến mà hôn lấy hôn để. ...................
  ..........................................................
Hai cô lúc ấy làm những sự gì không rõ, chỉ biết khách hàng quan là cậu Hoa bỗng tức lộn ruột lên, dằng hắng, giẫm chân, rồi mở toang cửa tủ nhảy xổ ra như một con mãnh thú.
Hai cô sợ hãi không còn hồn vía nào nữa, vội kéo chăn đắp chùm kín mít cả mặt cả người. Hai cô run lẩy bẩy, mặt tái mét không còn một giọt máu, không dám ló đầu ra, mà cũng chẳng dám nói gì.
- Hừ, chị Trinh, tôi biết chị rồi nhé ! Tôi biết rõ vì làm sao mấy tháng nay chị thay hẳn tính tình ! Thôi tôi đi.
 
Nói vội vàng xong mấy lời, cậu Hoa chạy vụt xuống gác, đi mất. Ra đến đường, cậu phải ngồi bên bờ cỏ, cố nén con tim cho nó đừng đập quá mạnh, quá nhiều.
 
Trong gian phòng trên gác, hai cô Trinh và Yến hồi lâu mới hoàn hồn ; hai cô ở trong chăn chui ra, vội mặc áo cho nhanh rồi, vừa sợ, vừa lo, ôm chặt lấy nhau, ngồi khóc. Mãi đến tối mịt, hai cô mới lững thững ra về.
 
--&&---
 
 
Cách đấy ba bốn hôm sau, cô Trinh về nhà, không dám giáp mặt em trai nữa. Cô lo ngay ngáy, chỉ sợ cậu Hoa đem tuyên bố bí mật của cô thì cô thiệt cả phẩm giá và danh dự một đời. Đến buối ăn cơm, cô không dám xuống phòng ăn, cáo là có bệnh. Cha mẹ cô đều không biết chuyện, tưởng cô đau yếu thực. Chỉ có cậu Hoa biết rõ nguồn gốc của căn bệnh cô, nhưng cậu khôn, không nỡ nói ra, sự cô mất hết sĩ diện và mang tiếng xấu thì sẽ không có ai lấy nữa. Sẵn lòng thương chị hết sức và tha thứ tội lỗi cho chị, miễn là từ đây chị sẽ sửa lại tính nết, cậu không muốn để cô Trinh bị thẹn quá, phải tránh mặt cậu trong bữa ăn. Vì thế cậu vội vàng viết cho cô một bức thư, tỏ ý rằng cậu vẫn giữ bí mật nhưng chuyện kín côa chị, và vui lòng tha cho chị một lần đầu. Cậu lại khuyên chị không nên phiền lòng, không nên ngượng, cứ xuống ăn uống như thường. Cậu còn bảo cô Trinh viết thư an ủi cô Yến, cho Yến biết rằng không khi nào cậu Hoa có giã tâm làm hại và bôi nhọ danh dự của hai cô.
 
Quả nhiên, sau khi nhận được bức thư, cô Trinh tìm cậu Hoa, vừa khóc vừa xin lỗi. Cậu phải hết sức dỗ dành cô chị, và xin cô chị chớ nề hà. Cậu hiểu cho tình chị lắm, miễn là từ đây, chị nên cố gắng sửa mình. Chị rất cám ơn em ; từ buổi ấy lại ra vào đi lại như thường, nhưng mỗi lần thấy em chị cũng vẫn có chiều ngượng nghịu, Có một điều rất quan hệ, là cô Trinh tựa hồ như cấm cung, không bước chân ra ngoài nửa bước, không lồng phách lên đi chơi như trước nữa, Trong gia đình cậu Hoa lại được vui vẻ như xưa; song le cái vui này nó phảng phất giống như một cái vui miễn cưỡng, một cái vui mượn.
 
Cô Trinh ở nhà, không đi chơi bao nhiêu, thì cậu Hoa lại tựa hồ thay cô, ra đường lêu lổng bấy nhiêu.  Từ khi cậu hãm được cô trong chốn khuê phòng không cần phải khóa then gì cả, cậu hình như đắc chí, được tự do bay nhảy, không sợ gì cô chị lôi thôi quở trách, giày vò. Vì cô chỉ nể cậu, nhường cậu ; cô có lỗi sẵn nên phải chiều cậu hết sức, Cậu được thể, bôn ba ngang dọc cho phỉ chí, tịnh không còn ai ngăn trở chút nào. Thì ra cậu bị mê sắc đẹp của bạn cô Trinh, cô Yến[sub].[/sub][sub] [/sub]Từ trước đến nay, cậu hai ba lần dò la  ý tứ của bạn chị, song Yến vẫn giữ một thái độ nghiêm nghị khiến cậu đành ngậm miệng, khoanh tay. Bởi lúc đó, cô đương bị Trinh ‘‘thủ-xú’’, hóa nên không bao giờ nghĩ đến thủ chung tình cùng một cậu con trai, Cũng vì thế mà Khai Hoa thất vọng. Khi cậu tìm được dịp làm cho hai cô phải sợ, cậu không nề hà gì, cốt ý khiến cho hai cô phải lo lắng và thẹn thùng, để cậu thừa cơ bắt chị ở nhà, ngõ hầu tranh lấy người yêu của chị. Cậu lại xui chị viết thư cho Yến, cảm lòng Yến một cách trực tiếp. Quả nhiên, Yến viết thư cám ơn cậu và xin cậu nghĩ tình, giữ thể diện và danh giá cho.
 
Được một dịp hay và hiếm có ở đời, cậu Hoa vội vàng chộp lấy. Bằng một bức hoa tiên rất đẹp, cậu tả trong năm trang mối tình cao quí bấy lâu cậu chứa trong lòng. Cậu thề với Yến rằng nếu Yến không phụ lòng cậu yêu đương, thì dẫu chết cậu cũng không khi nào làm hại Yến. Thế nghĩa là nếu Yến không nghe lời cậu, thì cậu sẽ trả thù cho Yến biết tay. Hiểu rằng mình không tránh khỏi được lưới sắt Hoa đã giăng khắp cả chung quanh mình, hiểu rằng nếu không chiều ý Hoa, Hoa sẽ làm cho mình và cả Trinh nữa đều mất thanh danh, phẫm giá, Yến phải nén lòng tuân theo mệnh lệnh của Hoa.
 
Từ đấy, Hoa yêu Yến không biết đất trời là gì nữa.
 
Yến có yêu Hoa không, cái đó không ai hiểu rõ, chỉ biết rằng từ khi đôi uyên ương trẻ ấy dắt nhau đi trên đường tình ái, thì không ngày nào chúng không gặp nhau trong biệt thự ông Hàn Lê. Cuộc sum họp và âu yếm của đôi bên, chỉ có Yến và Hoa riêng biết mà thôi, tuyệt nhiên không còn ai rõ hai đứa trẻ ấy, chúng nó đã cùng nhau luyến ái. Cả nhà quan Tuấn Cao Viễn, chả ai hay cô Yến có tri âm, cũng như cả nhà bố mẹ cô Trinh, không ai biết cậu Hoa có nhân ngãi. Hai anh chị đi lại với nhau rất là kín đáo, khiến ai cũng phải ngờ cả đôi vẫn còn dại dột thơ ngây. Hơn nữa, những thư từ chúng viết cho nhau, chúng đều hẹn xem xong phải đốt ngay tức khắc.
 
Cuộc chung tình của cậu Hoa và cô Yến rất mặn mà, đầm thắm, mặn mà đầm thắm mãi tới ngày, không hiểu vì sao, cậu Hoa phẫn chí quyên sinh. Sự ấy xảy vào ngày mùng tám tháng chín tây, bảy ngày trước khi, tàn vụ hè, ở các trường bắt đầu vào học. Cậu Phấn vừa ở nhà quê lên, thăm hai cụ Tuần xong thì bắt đầu về thư phòng xếp đồ đạc và sách vở, Khi thoạt bước chân vào cửa, Phấn bỗng giật mình kinh ngạc chạy ra ngoài kêu la cầu cứu om xòm. Chỗ biệt thự hẻo lánh quạnh hiu, làng giềng ở tận nẻo xa nên không có ai nghe thấy gì cả. Cậu Phấn lại phải đạp xe đạp về nhà quan Tuần báo tin dữ dội; cả nhà đổ lại xem thì thấy một cậu con trai rất tuấn tú nằm cứng đờ hết thở ở trên giường. Không biết cậu kia làm sao len lỏi đến chốn này ; xét kỹ thì thấy ở trên bàn một bài thơ tuyệt mệnh nằm gần một chai rượu xâm banh uống cạn và một cốc sữa pha thuốc phiện uống hết ba phần. Vỏ một hộp thuốc phiện hai đồng, mở toang, vứt mé trên thảm lông, bên cạnh một vỏ hộp sữa con chim còn đựng nhiều sữa đặc. Cả nhà quan Tuần không ai biết người thiếu niên thiệt mạng đó là ai, và vì sao lại lẻn đến biệt thự này tự tử. Mãi khi cô Yến vào xem tường tận, họ mới biết rằng cậu con trai đó là em ruột cô Trinh, con ông Phủ Nguyễn...
 
Họ Nguyễn đau đớn đem xác con về chôn cất, cô Trinh đau lòng thương em chết thảm thiết, khóc ngất đi đến bốn năm lần, Ông Phủ bà Phủ vật mình lăn lộn, trách Trời già ác nghiệt nỡ xui ra sự bất hạnh nhường này. Vì cậu Khai Hoa là của quý trong một gia đình hiếm hoi; trông cả vào thằng con một. Hai ông bà suy nghĩ mãi không hiểu vì sao con mình đến phải quyên sinh. Đọc lại bài thơ của cậu Hoa để lại trên bàn, không ai rõ cậu đau đớn thế nào mà phải quyết tình cắt đứt hẳn dây trần lụy.
 
Cậu Khai Hoa ngày nay chỉ là một nắm xương nằm trong một ỗ đất bùn. Sự cậu tự tử ngày xưa, không còn aì nhắc đến nữa. Vì cha mẹ cậu, buồn rầu, đã theo cậu xuống Tuyền đài, sau khi gây dựng xong cho chị cậu yên bề gia thất. Cô Trinh đã lấy được một ông Quan vừa trẻ, vừa giầu.
 
Cậu Hoa bị ám hại hay tự cậu quyên sinh, sự đó không ai được rõ. Cha mẹ cậu già lẫn quá nên vẫn tin rằng tự cậu vong thân. Song thiên hạ đồn rằng có nhẽ cậu bị người ta đầu độc, vì giữa ngày cậu chết, về buổi sáng, có kẻ được rõ thấy, trong biệt thự ông Hàn Tỷ, đi ra hai cái bóng đàn bà. Hai cô thiếu nữ.
 
Nhưng đó chỉ là điều phỏng đoán. Biết rõ được duyên cớ xui cậu Hoa đã phải lìa đời, bây giờ may ra chỉ có hai vị phu nhân, rất danh giá, rất giầu sang, vẫn thường đi lại đánh tổ tôm với nhau trong một tòa nhà tây lớn hai từng ở đường Quan Thánh.
 
Hai vị phu nhân ấy vị tất đã muốn nhắc lại chuyện cũ, vì hai bà hiện thời còn bận nhiều việc cửa, việc nhà. Việc làm phúc nữa.
 
Theo ý của kẻ viết chuyện này, thô thiển, cậu Hoa sở dĩ chết đi chỉ vì cậu quá tò mò, thóc mách, muốn hiểu đến kỳ cùng nghĩa của hai chữ «Thủ », nó là gì. Nguyên nhân cái chết của cậu. nó ở trong lòng hai chữ ấy.
 
Juillet 1936




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.10.2017 12:19:42 bởi Thanh Vân>
SỐ KIẾP
 
 
HỒI đó, khi tôi gặp Nguyễn quốc Cương, thì không ngày nào, đêm nào, tôi không lấy làm băn khoăn, khó chịu. Tôi quen biết Cương từ thủa đầu còn để chỏm ; hai chúng tôi học một lớp cho đến lúc cùng thi Trung học; rồi từ đấy, cuộc sinh tồn cực nhục đã bắt chúng tôi mỗi người một ngã, xa nhau.
 
Trong ngót bảy năm trời, tôi không được thấy Cương môt lần nào cả. Chỉ mang máng nghe nói anh thi ba khoa đều trượt, nền buồn rầu bỏ hẳn việc học hành. Tôi Iại biết rằng anh đã theo một viên đốc tờ tây, bỏ nhà lên tận chốn sơn lâm cùng cốc.
 
Thật vậy. Anh Cương, phẫn chí, ly dị hẳn với nghề nghiên bút, anh thi vào ngạch khán hộ, rồi lại tự đầu đơn xin bổ đến Sơn La, Hình như anh lấy cảnh rừng cao núi cả làm thú vị, anh ở biệt mãi trên Thượng du không trở về nữa.
 
Mãi cho đến ngày nay; ngày nay, không biết vì lẽ gì, tự nhiên tôi thấy Cương lần mò về Hà nội, thuê một căn nhà nhỏ ở phố Sinh Từ. Tình cờ gặp anh một buổi tối ngồi hứng gió trong hàng Kem ven bờ hồ Hoàn Kiếm, tôi biết rõ anh đã nằn nì khẩn khoản mãi mới được đổi về Hà nộí, làm khán hộ trong nhà thương Phủ Doãn. Hiểu thấu tình cảnh và chí hướng anh ngày trước, tôi lấy làm lạ lắm. Xưa kia, anh nhất định bỏ nhà bỏ cửa, rắp tâm lên an cư lạc nghiệp ở Sơn La. Anh lại muốn lấy một cô nàng, rồi cùng người vợ thổ ăn ở đến bạc đầu, nhắm mắt. Nhưng nay tôi hay rằng vợ thổ chưa kịp lấy, mà ý định anh đã thấy tiêu rồi.
 
Vì sự gì anh thay hẳn tính tình, cái đó tôi không hiểu. Tôi chỉ đoán nổi trong đời anh, hẳn có việc rất kỳ dị xảy ra, một việc có thể khiến toàn thân thể và linh hồn anh lay động. Chả thế mà, lộ ra một vẻ mặt hãi hùng đến tột điểm, anh đỉ tai nói sẽ tôi biết không bao giờ anh còn dám cả gan trở lại chốn đồng rừng.
 
Anh Cương chỉ bảo có thế. Anh không nói gì thêm nữa, Buổi chúng tôi gặp gỡ nhau sau bảy tám năm li biệt chả cho tôi một cảm tưởng gì dễ chịu, mà trái lại, làm cho tính tò mò hiếu sự của tôi càng sội nổi hơn nhiều. Thành ra chả ngày đêm nào tôi không theo riết anh Cương, cố ý cạy răng anh, bắt anh kể rõ câu chuyện bí mật chốn rừng thiêng mà anh giấu trong đáy óc. Theo lẽo đẽo mãi vẫn thấy vô công hiệu, tôi rủ anh cùng dọn đến ở một căn nhà. Anh cũng không vợ như tôi, chúng tôi được thỏa thuận về sự ăn chung nằm chạ ấy. Nhưng ngày tháng lần hồi trôi mãi; tôi thì vẫn thất vọng như thường. Càng gần gụi anh Chương, tôi càng thấy anh lắm sự bí mật, mà rút cục, vẫn chưa hiểu vì sao anh bỏ rừng rú trở về.
 
Tôi đoán phỏng là anh sợ cọp. Bởi lẽ vừa đến ở cùng anh một gác, tôi đã thấy treo cao trên tường một bức tranh Thần Bạch hổ ngồi chồm chỗm rất oai hùng.Hai mắt sáng quắc, một bộ ria có vẻ ngang tàng, ngạo ngược, ông Bạch hổ nhà tôi coi chừng như muốn thị  uy một cách rất sỗ sàng. Tôi đối với ông cũng như ông đối với tôi, nghĩa là cả đôi bên cùng có vẻ tự tôn, tự đại. Trái lại, anh Cương thì không thế. Ngày nào, khi sắp đi ngủ, anh cũng đèn nhang trước bức tranh Thần Bạch hổ, rồi anh quỳ xuống khấn lầm rầm hồi lâu không ngớt, lại kính cẩn rập đầu lạy bốn lạy, như lạy ông bà ông vải giữa từ đường.
 
Tôi có ý chế anh, thì anh vội nghiêm nét mặt, khuyên tôi đừng nên nhạo báng. Rồi anh nằm xuống ngủ, say như chết. Có lắm khi, giữa quãng đêm trường tịch mịch,lúc tôi đương mơ màng trong giấc ngủ liên miên, tôi bị giật bắn người lên, vì nghe ngay bên mình có tiếng ai hò hét :
‘‘ - Con lạy Đức ông vạn lạy! Ngài tha cho con!’’
Tôi mở mắt, thì thấy anh Cương đương quằn quại,. la lớn như thế rồi ú ớ hồi lâu, tựa hồ anh đang bị ở trong cơn ảo mộng. Tôi vội vàng đánh thức anh dậy; anh tỉnh táo rồi, tôi hỏi anh thấy những gì, Anh lắc đầu không nói, nhưng nhảy bổ xuống sàn, lấy áo khăn mặc vào chỉnh đốn rồi lại ra đèn hương khấn vái trước ảnh Thần Bạch hổ dán trên tường. Xong rồi anh lại đi ngủ, không nói năng gì cả.
 
Tôi giận lắm, nhưng không biết làm thế nào để cậy răng anh được, đành chờ có dịp sẽ bắt anh làm cho mãn ý của tôi. Song le, trong lúc chờ chực, tôi xiết bao là bực bội! Trong một tuần lễ, ít ra cũng ba ngày bị đánh thức dậy, trong lúc đương ngủ ngon, vì những tiếng kêu oái oái; rồi khi đã dậy rồi, lại phải dằn lòng mục kích vẻ nghiêm nghị, sợ sệt, của anh Cương khi anh quỳ lạy trước Thần tượng một ông Bạch hổ mơ hồ.
 
Mãi rồi cũng hóa nhàm; dần dần sau tôi quen cái đời chung chạ với anh Cương; anh muốn kêu mấy thì kêu, tôi cứ ngủ khì ra không biết. Cũng có đêm tôi bị đánh thức dậy vì anh lục đục ra khấn khứa, nhưng rồi lại trở mình ngủ lại, mặc cho anh làm gì thì làm. Tôi xuýt đã quên bẵng hẳn tâm sự anh Cương, tôi cho là anh hóa dại, không để ý đến những hành vi kỳ quặc của anh nữa.
 
Nhưng anh thì không thế. Bao giờ cũng như bao giờ, anh tựa hồ cung kính giống hổ một cách đặc biệt. Mỗi khi lên chơi trên vườn Bách thú, anh mà đi gần đến cũi hổ thì lộ ngay ra một vẻ nhũn nhặn, lễ phép lạ thường. Còn cách con hổ bị nhốt đến năm thước tây, anh đã cúi đầu vái nó, rồi đứng xa xa đôi mắt ngắm thần uy của Chúa Sơn lâm. Không bao giờ anh dám lại gần chuồng, kéo anh, ép anh, thì anh giẫy nẩy lên, rồi chạy. Có một sự làm cho tôi rất chú ý, là khi có bóng anh đi lại thăm cũi hổ, thì con hổ trong lồng giương mắt nhìn anh, nhìn chán lại gầm lên,làm cho anh phát sợ phải chuồn ngay, không dám ngoái cổ lại.
 
Một lần khác, tôi dẫn anh đi qua cửa một đền thờ. Trước cửa đền, một tấm bình phong trên có khắc hình một ông hổ vàng dữ tợn. Tôi cố ý nói chuyện rõ hùng hồn và dìu anh Cương đi sát bên cạnh bình phong, thử xem khi lơ đãng, anh có sợ Thần hổ của anh không. Môt bước... hai ba bước... anh Cương đương vui vẻ tiến lên, thì; bỗng dưng, gần đến chỗ bình phong, mặt anh xám lại, người anh run lên, anh lộ ra một vẻ khủng khiếp lạ thường. Không những thế, anh lại còn vội quỳ rạt xuống cạnh đường, cúi đầu rập đất lạy bốn lạy rồi cung kính đứng dậy vùng ăãng chạy mất.
 
---&&--
 
Mãi đến một hôm mưa dầm gió bấc, một hôm mà lòng người, chịu không nổi sức dè nén của tâm sự, cũng như không gian chịu không  nổi sức đè nén của những luồng điện khí chất âm ỷ giữa vừng mây, mãi đến hôm ấy, tôi mới được hân hạnh hứng trên môi anh Cương một cân chuyện ly kỳ, huyền hoặc, một câu chuyện tôi không muốn tin mà sau rồi cũng phải tin, một chuyện ma thiêng hổ dữ của chốn Sơn lâm u uất.
 
‘‘- Hồi đó, anh ạ, tôi làm ở Mai Sơn, cách tỉnh thành Sơn La độ vài chục cây số. Tôi nguyên có quan thày che chở, liền được hân hạnh coi riêng một nhà thương nho nhỏ, một  ‘‘infirmerie’’.
 ‘‘Tôi sống ở Mai Sơn một quãng đời không vẻ vang nhưng bình tĩnh, không giầu có nhưng thảnh thơi. Mỗi ngày, chỉ bận chăm nom coi sóc một vài bệnh nhân đến xin thuốc, còn thì ngồi rỗi cả ngày. Cũng có hôm không ai mò tới y viện cả. Thỉnh thoảng lắm lắm mới được tiếp một vài ông tây hay bà đầ, đi săn bắn bị nạn, vào nhờ băng bó; còn ngày thường ra, chỉ toàn một lũ thổ dân.
 
‘‘Tôi cư xử với người đường ngược nhũn nhặn và tử tế, hóa nên ai cũng có lòng yûu quí; kẻ nào có tâm sự gì, không bao giờ không kể cặn kẽ tôi nghe.
 
 ‘‘Một buổi sáng tinh sương - vào khoảng trung tuần tháng bảy - tôi đương mơ màng ngủ kỹ bỗng giật mình choàng dậy, rồi được nghe tiếng đấm cửa thình thình xen vào tiếng kêu gọi rầm rĩ. Tôi nhận ra tiếng người bản thổ. Tôi cho người nhà mở cửa, thì thấy hấp tấp đi vào một người Thái khỏe mạnh, hùng dũng, mà cánh tay bên phải, lấp dưới một ống tay áo rách tơi tả, bị một vật gi cào xé, đến nỗi máu tia từng dòng xuống bàn tay, rồi dọng lại.
Tôi hỏi :
‘‘ Anh làm sao thế ? Vì sao tay lại bị thương ?’’
Người Thái đáp :
‘‘ - Thưa thày ông cọp cào !’’
Tôi rất lấy làm lạ, nhưng cũng không hỏi căn vặn, chỉ lấy cồn ra rửa sạch chỗ thương tích cho người bị nạn, bôi thuốc cẩn thận xong đâu đấy băng lại gọn ghẽ, Băng xong, tôi đợi cho người Thái quay đi để lộn vào ngủ lại; nhưng tôi nào được như ý, bởi người kia cứ ngần ngừ như muốn ở lại, hoặc để cảm ơn tôi hay únói chuyện gì, tôi không rõ. Một lức lâu, tôi hỏi :
‘‘ - Anh còn muốn uống thuốc hay xin thuốc gì nữa không ?
‘‘ - Thưa thày, con hiện mệt quá, đói quá, muốn ngồi nghỉ một chốc rồi lại về, đường xa lắm...
 Nói xong, người Thái bỗng che mặt sụt sùi khóc, Tôi bỡ ngỡ, không biết anh ta có chuyện gì đau xót, chỉ đành khuyên dỗ anh nên bớt cơn sầu não, vào nằm nghỉ trong nhà một lúc cho đở mệt. Tôi lại bảo người nhà, sẵn sữa bò, pha cho anh ta một cốc lớn, ăn với mẩu cơm nắm còn sót lại tự hôm qua. Người Thái ăn uống xong, đứng dậy lại gần tôi, tìm lời cảm tạ. Lúc bấy gíờ tôi mới ngắm anh ta kỹ lưỡng: hắn là một thiếu niên cường tráng, trông tướng mạo khôi ngô, lẫm liệt, tưởng chừng như một vị anh hùng hay một tên tướng cướp có can tràng. Một người cứng cáp như thế đáng lẽ không khi nào sụt sùi khóc lóc như một cô con gái thì phải, thế mà anh chàng này vẫn cứ âu- sầu, ủ dột, làm cho tôi càng không hiểu vì sao một tráng sĩ như anh phải nuốt lệ ngậm ngùi,
Tôi nói:
‘‘ - Anh không nên tạ ơn tôi, sự tôi băng bó  và giúp đỡ anh chỉ là bổn phận của tôi phải thế, Tôi thấy anh buồn rầu, khóc lóc, tôi đoán rằng anh hẳn có một mối thương tâm gì chất nặng ở trong lòng. Mối đau đớn ấy là thế nào, mà vì sao anh đến nỗi bị hổ cào, anh có thể nói cho tôi biết không, may ra giúp anh đỡ khổ chút nào, tôi xin hết sức.
 
 Tôi nói xong, người Thái trố hai mắt sáng quắc nhìn tôi không chớp; hắn bỗng nhích mép cười gằn, lộ ra một nét cười chua chát, rồi đôí mắt hắn bỗng mờ ám hẳn đi, hai dòng lệ từ khóe mắt trào ra, chảy ròng ròng xuống hai gò má. Hắn như chán nản, ngồi phịch xuống một cái ghế trước mặt tôi, ôm đầu cúi một lúc rõ lâu, mãi sau cùng mới ngẩng lên, nói:
 
‘‘ - Xin thày ngồi xuống đây, câu chuyện của tôi dài lắm, thày muốn nghe xin chịu khó mất một chút thì giờ. Tôi tên là Kắm, ở cách đây chừng năm mươí cây số. Cha tôi lúc còn sống vốn làm nghề phù thủy, thày tạo, ông lại biết xem cả tướng số. Vì thế tôi cũng có học về khoa lý số, tôi thường khi rỗi rãi, xem tướng hộ các bà con, Sau khi cha tôi mất, tôi bỏ nghề phù thủy, chỉ yên phận cày cấy kiếm lúa ăn và nuôi một ít súc vật để đem bán kiếm tiền độ nhật.
‘‘ Mãi đến năm hai mươi hai tuổi, tôi chưa có vợ. Cha mẹ tôi cử giục tôi luôn luôn phải lập thành gia thất cho hai ông bà có cháu để nưng niu. Chiều lòng cha mẹ tôi, tôi gá nghĩa cùng một người thiếu nữ quanh vùng tôi ở. 
 
‘‘ Vợ tôi đẹp lắm. Tôi rất được vừa ý. Người thon thon mềm mại, tóc đen mượt, môi đỏ thắm, lưng nhỏ như lưng ong mà nước da trắng bóc như trứng gà luộc. Tôi quý vợ tôi lắm.
 
‘‘ Lấy nhau vừa được ba năm, chưa có con, thì cha mẹ tôi đã lần lượt rủ nhau qua đời cả. Như tôi đã kể, tôi bèn thay nghề, không theo chí hướng của cha tôi nữa. Như thế tôi được rỗi rãi hơn nhiều, được ở nhà kề bên mình vợ, không phải đi cúng vái, đi liệm cho người chết và đi làm bùa yếm ma tà. Tôi tự cho thế là sung sướng.
 
‘‘Bỗng một hôm, cũng là vì sự tình cờ xui khiến, tôi ngồi buồn xem tướng cho vợ tôi. Từ ngày chúng tôi lấy nhau, không bao giờ tôi nghĩ đến sự bấm số hoặc xem tay cho nhà tôi cả. Khi tôi ngắm nghía bàn tay mềm mại và trắng nuột của người tôi yêu quý, tôi không tài nào tránh khỏi sự kinh hoàng. Thày có biết đọc những nét khắc trên bàn tay, thày có biết những nét ấy nó đối với định mệnh con người có liên lạc rất mật thiết, lúc bấy giờ thày sẽ hiểu được sự sợ hãi của tôi rnó lớn lao dường nào. Mặt tôi tái đi không còn một giọt máu, Tôi giụi mắt bốn năm lượt, cầm tay vợ tôi căng ra chín mười lần, tôi vẫn thấy nét bút Tử thần đề rõ rệt trên nước da của thiếu phụ tôi yêu mến: ‘ ‘‘Mày phải chết vì nghiệp cọp bắt !’’.
 
‘‘Không tin ở sự thí nghiệm riêng của tôi, tôi đem nhà tôi sang nhờ ông thày tạo quen cha tôi ngày xưa xem tướng hộ. Ông thày thắp hương khấn khứa, rồi ông vẽ bùa, rồi ông bấm độn, mãi sau cùng, ông bảo tôi:
‘‘ - Vợ mày có số hổ tha, phải cẩn thận, đừng cho nó vào rừng buổi tối.
 
 ‘‘ Thế là từ hôm ấy, hai vợ chồng tôi đâm ra lo lắng; tôi giữ riết nhà tôi, không cho xa tôi một bước. Nó có muốn đi đâu, đã có tôi đi kề bên cạnh, không bao giờ tôi để nó phải len lỏi vào rừng vắng một mình.
 
‘‘Như thế mãi đến tối hôm qua, chúng tôi vẫn được sống một quãng đời êm thắm. Ngày hôm qua, tôi phải đem vợ tôi sang Mường Vat, đường xa quá, tôi đã ngần ngừ ba bốn bận, không muốn đưa đi. Song việc nhà là việc hệ trọng, mà nghĩa tử là nghĩa tận, thế nào tôi cũng phải cho vợ tôi sang giáp mặt bà sinh mẫu nàng, hiện đương thập tử nhất sinh. Sau khi vợ tôi lấy tôi, thì bà mẹ vợ tôi, trước kia góa bụa, cũng đi lấy chồng, theo chồng xuống Mường Vat. Cách đây bốn năm hôm, bà thấy trong mình ốm nặng, vội sai người lên báo cho vợ chồng tôi biết, và xin phép tôi cho vợ tôi được đến thăm bà trước khi bà tắt nghỉ. Lẽ tất nhiên là tôi không bao giờ dám từ chối, tôi bèn đánh liều đưa vợ đi một chuyến xem sao.
 
‘‘Tôi ăn mặc gọn ghẽ xong xuôi, giắt trong mình một con đao bẩy dài và sắc. Tôi lại bắt vợ tôi mặc quần áo đàn ông cho khó nhận và đeo bên sườn một lưỡi dao găm. Sáng hôm qua, mờ mờ sương, hai vợ chồng tôi dậy sớm, khởi hành. Tôi rắp tâm đi một ngày, hết khu rừng rậm thì đến Mai Sơn, rồi từ Mai Sơn, hoặc đi đò, đi bè, hoặc theo dọc sông … chúng tôi sẽ tới Mường Vat.
 
‘‘ Cả ngày hôm qua, thôi thì trèo đèo, lặn suối, thôi thì gia công tổn sức, tôi đem vợ tôi đi được hơn 30 cây số. Đường núi gập ghềnh khó đi quá; tôi đã quen xông pha, có thể đi nhanh được, nhưng vợ tôi yếu đuối, vừa đi vừa nghỉ, mới đi được bấy nhiêu đường. Tối đến, đáng nhẽ đã ra khỏi rừng từ lâu, mà hóa ra chúng tôi còn lần mò giữa chốn hoang vu, rậm rạp. Tôi sợ quá, vừa sợ vừa lo lắng, bởi hai vợ chồng đã bị tối, lại bơ vơ ở ngay sườn núi, trong rừng. Tôi bèn tìm một cây lớn, bảo vợ đứng nép vào đó, rồi tôi tháo con dao bẫy ra cầm lăm lăm trên tay.
 
‘‘Thình lình, có tiếng sột sạt. Tôi chưa kịp định thần nhìn kỹ, thì một con hổ to đã đi sát lại gần. Tôi thấy hai mắt nó sáng trưng, đỏ ửng. Cách chỗ tôi đứng chừng ba bốn trượng, con quái vật ấy dừng lại, chòng chọc nhìn tôi. Lúc ấy tôi tuy sợ đến cực điểm, nhưng tai nạn gần kề bên họng lại nghĩ đến số phận vợ tôi sắp bị mãnh thú kia đoạt mất, hóa nên càng hăng hái. Còn thì giờ đâu mà sợ hãi với bồn chồn ! Tôi cầm chắc cán dao bẫy trong tay phải,tay trái thì ôm lấy vợ, rồi đứng nép vào gốc cây thủ thế. Con hổ gầm lên một tiếng  vang cả sườn núi, xong nhảy bổ lại vồ tôi. Tôi ôm vợ chạy né ra, giơ dao chống cự. Nhưng tôi không thể nào lanh lẹn được, vì vợ, tôi cứ phải ôm lẽo đẽo bên sườn. Vợ tôi thì khiếp run lên, mềm nhủn người ra, không còn lê đi được. Tôi luống cuống, chưa biết định kế gì cho thoát. Con hổ vồ tôi không trúng, lại đập đuôi quay bắn lại, tát tôi. Chẳng may cho Nhình, nó tát ngay trúng vào mặt, ngã gục xuống.
 
‘‘Máu tôi lúc ấy sôi lên sùng sục, mắt tôi hoa lên, tôi bỏ xác vợ xuống đất, khoa dao lại chém con mãnh hổ. Tôi chém lia, chém lịa, Con quái vật kia thì cứ cố xán lại, định hễ tôi hở cơ, thì cướp xác Nhình để chạy. Mỗi khi hổ ghé mồm định ngoạm lấy người tôi yêu quí, tôi lại giơ hai tay giáng mạnh xuống một dao. Nó bị đau, nhảy chồm lên, gầm hét, rồi lăn xả vào tôi cấu xé. Tôi nhanh chân, né sang chỗ khác, giơ dao kháng cự hồi lâu, Nó tát được vào tay tôi một cái, cào một lằn rõ sâu, tôi rách cả tay áo, cả cổ tay, mà vẫn không chịu buông dao, chạy trốn. Mãi mãi, con hổ không làm thế nào để tha xác vợ tôi cho được, nó bèn cúp đuôi, bỏ mồi, chạy tuột vào rừng.
 
‘‘ Tôi tra dao vào vỏ, quì xuống ôm lấy Nhình, thì vợ tôi, tuy còn hôi hổi nóng, nhưng trái tim đà hết đập. Tôi đau đớn quá, cứ đứng ngây người ra nhìn vợ, không đủ nghị lực ẵm nàng dậy, cũng không đủ thần lực và tình cảm để khóc nàng, Tôi tựa hồ sắp hóa ra người điên dại. Mãi hồi lâu, tôi nghe một tiếng ‘‘à uôm’’ vang động rừng sâu mới giật mình hồi lại, nhìn lên trời thì vừng trăng sáng trắng đã chênh vênh treo lỏng lẻo trên cành.
 
‘‘Tôi bèn cởi tấm khăn vấn đầu của tôi và của Nhình ra ; buộc tấm khăn ấy qua ngực vợ tôi rồi leo lên ngọn cây lớn làm khiên ẩn thân cho tôi lúc nẫy. Tôi luồn làn khăn qua một cành cây chắc chắn, lấy thế đứng vững vàng trên cây, cố sức kéo xác nhà tôi treo lủng lẳng giữa trời, Xong xuôi, tôi buộc chặt đầu khăn vào một cành khác gần chỗ tôi, rồi ngồi xuống canh cái thây ma vừa chết.
 
 
‘‘ Tôi định tâm treo xác vợ tôi lên cây để thú dữ không có thể đến cấu xé thịt xương của người yêu tôi được; tôi muốn canh giữ thân thể vợ tôi cho được toàn vẹn, ngõ hầu sáng mai, cõng vợ tôi về nhà, làm ma chay tử tế cho nàng. Tôi cho rằng nếu để xác nàng bị các mãnh thú giầy vò, ắt linh hồn nàng không được mát mẻ, rồi, vừa thác oan, vừa uất ức, nàng sẽ hóa ra một con ma khổ sở, khó lòng được dễ siêu linh. Vì thế, tôi nhất quyết ngồi chồm hỗm trên ngọn cây, câm đầu dây khăn thật chắc, chờ cho tới sáng,
‘‘ Trăng lúc bấy giờ rạng tỏ, bóng cây um tùm chiếu xuống đất tựa hồ một giọt mực to loang lổ khắp mặt một tấm thảm mầu lợt xám, lợt vàng. Trời quang đãng không mây, ánh sáng sao, hòa với ánh trăng, càng làm cho không trung sáng sủa, Nhờ có trăng sao, tôi cũng đở bồn chồn, lo ngại. Bởi lẽ trong rừng, mịt mùng và thăm thẳm, không còn bóng một người nào. Trừ hai vợ chồng tôi, một sống, một chết, xung quanh toàn là một vẻ im lặng nặng nề,u uất, mà thỉnh thoảnng những tiếng lạnh lẽo của những con dã thú và những con dạ điểu càng làm cho thêm ảm đạm, tiêu điều. Con chim Tử quy rúc một hồi áo não, thê lương, trong khi đàn cú vọ ăn sương lên giọng nhắn nhe Thần Chết. Rồi đàn hoẵng vừa chạy vừa kêu lên một tiếng kêu bi đát, rồi ông ba mươi đáp lại bằng một cái ‘‘à uôm’’  nghe tạnh buốt xương lưng.
‘‘Giữa một hoàn cảnh đáng sợ, đáng buồn, tôi ngồi trên cây cùng một xác chết, dưới chân lũng lẳng. Tôi vốn là người táo bạo, không sợ ma cũng như không sợ cọp, tôi cứ ngồi điềm nhiên canh xác vợ tôi.
''Lúc ấy tôi không tài nào tránh khỏi sự thổn thức bồn chồn! Tôi tuy đau tựa xé lòng mà vẫn không có tâm nào khóc vợ. Trong đầu tôi còn lắm điều lo ngại, còn thì giờ đâu ngồi sụt sịt, thở than! Một tiếng vỗ cánh của con chim bay đi tìm mồi, một cành lá khô rụng xuống, một tiếng sột sạt trong bụi lau, mỗi một tiếng động là một cái máy làm cho tôi giựt mình chú ý vào thây chết. Tôi chỉ sợ một con ác điểu, hoặc một con báo xám, hoặc một con hồ ly, đến leo cây rồi rỉa xác vợ tôi, Vì thế, mỗi lần có tiếng gì là lạ, là một lần tôi đứng dậy, rút dao ra, thủ thế. Tôi không hiểu vì sao lúc ấy tôi can đảm lạ. Tôi quyết định rằng bất kể vật nào xán lại cạnh vợ tôi, tôi cũng cùng con vật ấy chẳng cùng sinh tử. May sao, có lẽ vì hương hồn vợ tôi rất tinh sáng thiêng liêng, nên không có một loài ác cầm, dã thú nào dám lại trêu trọc tôi trong cơn tôi hăng hái. Mà tôi hăng hái, có lẽ cũng vì tôi yêu vợ tôi lắm lắm, hóa nên khi nàng bị lìa tôi phút chốc, tôi không còn nghĩ gì đến thân thể và số mạng của tôi.
 
‘‘ Tôi cầm dao lăm lẳm trong tay, ngồi ôm lấy thân cây, không cựa cạy. Tôi tuy hơi giờn giợn vì đêm trường trong rừng khuya vừa âm thầm vắng lạnh, lại vừa đầy những hình ảnh ma thiêng thú dữ vô ngần, song cũng vẫn còn đủ can đảm ngồi yên, không đến nỗi vì khủng khiếp mà bị tâm thần rối loạn. Lòng tôi lúc ấy chỉ bị bồn chồn đau đớn, nhưng tôi không hề sợ hãi một sự gì. Tôi ngồi yên lặng canh xác vợ tôi có đến quá bốn năm giờ; lúc tôi nhìn lại bóng trăng thì đã thấy trăng quá đĩnh đầu vài bốn thước. Khi đó, chừng độ khoảng canh ba[sub],[/sub] bắt đầu sang giờ Tí. Đương bàng hoàng tựa lưng vào thân cây, nghĩ vơ, nghĩ vẩn, bỗng tôi nghe một tiếng gầm vang lừng xé từng không hiu quạnh, rồi một con hổ lớn từ từ tiến lại mé tôi ngồi. Tôi đứng dậy rút dao, chờ sẵn.
 
‘‘Dưới ánh trăng tròn vằng vặc, tôi nhận thấy con ác thú kia  chính là con hổ, buổi chiều, ra hại vợ chồng tôi. Trên trán nó, còn in rõ vết thương mà tôi đã lấy đao thưởng cho nó. Máu chảy ra, bây giờ đong lại, làm đỏ ngòm cả một bờm lông, Con mãnh hổ ấy đi một vòng dài lùng khắp khu rừng, rồi bỗng đứng lại đánh hơi một lúc. Mãi khi nó biết đích có hơi người còn lẩn quất trong cây lá, lúc bây giờ hó đi thẳng lại chỗ tôi.
 
‘‘Tới nơi, nó đứng dừng lại. Nó bỗng gầm lên một tiếng,tựa như mừng rỡ vui lòng, rồi nhảy lại phía thân cây, chạy vòng tròn đùa giỡn cùng một vật gì dưới đất. Tôi lấy làm lạ, nhìn xuống gốc cây, thì càng lấy làm lạ nữa. Nhờ có bóng trăng chiếu sáng, tôi nhận thấy bóng xác vợ tôi in rõ rệt trên đám cỏ xanh dờn. Thì ra con hổ chạy chung quanh bóng vợ tôi mà nó coi như một quả tú cầu dùng để vờn lên, vờn xuống. Tôi chú ý nhìn xem nó làm trò gì, thỉ chỉ thấy nó chạy vòng quanh cái bóng, vẫy cong đuôi như có ý vui vẻ lắm, lại giơ một chân trước lên cào nhè nhẹ mặt đất, tựa như xoa vuốt bóng em Nhình.
‘‘ Liền lúc ấy,một giọng cười giòn giã, lanh lảnh bỗng phát lên trong quãng đêm khuya vắng lạnh, Tôi giật mình, hoảng hốt, không hiểu vì sao, giữa rừng hiu quạnh, lại có người dám ra cười đùa cùng hổ, cũng không biết từ đâu vẳng ra những tiếng vui vẻ kia. Tôi đã tưởng là ma, cũng có phần giờn giợn... Tôi lắng tai nghe kỹ; tiếng cười sằng sặc tựa như gần kề ngay chỗ tôi đứng không xa. Càng hết sức thu nghị lực và tinh thần để quan sát, tôi càng đâm ra kinh khủng, yếu nhược. Tóc tôi bỗng dựng đứng cả trên đầu.
‘‘ Giọng cười kia, trời ôi! nào phải của ai đâu, chính là xác vợ tôi nó cười lên đó! Giọng cười lại không giống giọng nhà tôi khi còn sống, nó giòn giã sang sảng, tựa như tiếng cười của một đứa trẻ con khi có người cù nách; tuyệt nhiên lúc vợ tôi chưa thác, nàng không từng cười như thế bao giờ. Tôi nghiệm ra một sự rất lạ lùng: con hổ tựa như chạy vòng quanh cái bóng để pha trò hay đùa bỡn. Mỗi một khi con ác thú ấy giơ chân vờn cái bóng, là một lần, như nắc nẻ, vợ tôi cười rú một hồi.
 
‘‘ Tôi chưa từng bị cơn sợ hãi nào như thế. Góp nhặt hết cả tàn khí, tàn lực, mà người tôi vẫn mềm nhũn, không đủ can đảm đứng vững trên cây, xuýt nữa thì lăn beo xuống. Người tôi lúc bấy giờ mồ hôi toát ra như tắm, tôi bất giác run lên cầm cập, táo bạo đến như tôi, trước cảnh ngộ hãi hùng kia, cũng khó giữ được vẻ thản nhiên. Tôi phải vội vàng ngồi xuống, tra dao vào vỏ, rồi cố bíu lấy cành cây nằm rạp xuống, lại lấy dây lưng buộc mình vào cành cây đó cho khỏi rơi xuống gốc cây.
 
‘‘ Tôi đành nằm yên, nhìn xem tấn thảm kịch (mà con hổ đương diễn đi diễn lại một cách vui vẻ) kia bao  giờ mới hết, Con hổ hình như không biết chán, cứ vờn  bóng  cái xác hoài. Mỗi một lần vờn, là một lần cái xác lại rú cười lên, một cách lạnh lùng, đáng sợ. Tiếng cười phát ra bao nhiêu, ruột tôi như thắt lại bấy nhiêu, mà người tôi thì giá buốt. Tôi dẫu không muốn cũng không được, tự mình cứ phải buộc minh nằm xem một quái trạng kinh hồn. Tôi định tâm giữ thân thể vợ tôi cho tới sáng ngày, để cõng nàng về nhà khâm liệm và mai táng cho trọn nghĩa. Nhưng, gặp cảnh này tôi không thể nào khư khư cố ôm lấy xác nàng được nữa, số kiếp nàng đã thuộc về loài mãnh thú kia cai quản, thì dầu có chôn nàng, nó cũng đến đào bới mả lên để rỉa thịt mới nghe. Thì âu là sự thể đã thế này, tôi chỉ còn cách quăng trả xác vợ tôi cho nó là hơn cả.
‘‘ Tôi nghĩ làm cách đó tất thế nào cũng được ôn thỏa, song le chỉ sợ hương hồn nhà tôi vì sự ấy mà uất ức, lại ngần ngừ không dám làm. Tôi bèn nằm trên cây, định thần nghĩ đến nhà tôi, rồi lâm râm khấn khứa:
‘‘ Em Nhình sống khôn chết thiêng, xin phù hộ cho anh, em hỡi ! Anh định nằm đây canh xác em cho tới rạng đông, rồi cõng em về nhà để em được chôn cất theo tục lệ. Hương hồn em, nếu còn phảng phất quanh đây, xin nghĩ đến ân tình vợ chồng mà chứng giám cho lòng anh, đau đớn. Anh thấy con hổ đến vờn bóng em thì em cười, anh lấy làm lo sợ lắm. Nếu thực quả nghiệp em bị hổ ăn thịt, thì xin em bảo cho anh biết, anh sẽ cắt dây khăn cho người em rơi xuống. Có chăng, xin em lấy tiếng khóc làm hiệu, anh sẽ hiểu ý; bằng không, xin em lại cứ cười như thưòmg. Giữa đường đứt mối tơ duyên, anh vạn bất  đắc dĩ mới phải quăng xác em trả cho ác thú; vì như có thể cõng em về tử tể, thì dù xương tan thịt nát, lặn suối trèo đèo, anh cũng chẳng từ nan!
 
‘‘ Lạ thay ! Tôi vừa khấn xong, vợ tôi bỗng khóc lên rưng rức, khóc mãi không ngơi. Tôi chẳng còn biết thế nào, cũng đành liều theo định mệnh. Tôi nhắm mắt lại, rút dao ra, đưa lưỡi dao vào vành khăn, cắt làn vải buộc xác vợ tôi lủng lẳng. Thoát khỏi dây trói buộc. Thi hài vợ tôi nặng nề rơi xuống mặt cỏ xanh. Con dao cũng rời tay tôi, lăn xuống đất, Tôi thì ngã gục xuống cành cây, ngất đi, không còn đủ sức nhìn theo xác vợ tôi bị tha về ngả nào. May có thắt lưng bó chặt tôi vào thân cây, tôi không đến nỗi bị rớt từ trên không xuống đất...
 
‘‘ Tôi ngất đi không biết bao nhiêu thời khắc. Khi tỉnh dậy, mặt trời đã rạng đỏ phương đông. Tôi cởi khăn trói buộc mình, leo cây tụt xuống. Xác vợ tôi đã biến mất tự bao giờ.
 
‘‘ Ngậm ngùi cúi lượm con dao, tôi sửa lại áo quần, một mình thất thểu đi ra ngoài rừng thẳm. Tôi đi một quãng độ chừng năm sáu cây số, thì đến chốn này. Té ra, vợ tôi thực quá vô duyên; chúng tôi nếu chỉ gắng gượng đi chong chóng một chút nữa thôi thì có khi nào lại xảy ra tai nạn gớm ghê dường ấy! Mà chỉ cần cách độ vài ba cây số, chúng tôi đã thoát khỏi rừng! Thế mới biết duyên nghiệp con người đã có Trời định sẵn, không tài nào tránh được. Giả nhà tôi đừng vừa đi vừa nghĩ, thì bao giờ đến nỗi bị hổ kia ra chặn ngang đường !’’
 
Người Thái kể đến đây, lại cúi mặt sụt sùi khóc. Tôi nghe hết chuyện, vừa thương tâm, vừa sợ, thành ra tỉnh táo cả người, không còn muốn ngủ lại nữa. Tôi nghĩ thương hai người Thái quá, nhưng còn biết thế nào, chỉ đành khuyên dỗ anh ta đừng nên phiền não, bởi chung đó là số mệnh của vợ anh ta. Người Thái ngẩng mặt nhìn tôi, con mắt chứa chan những lệ.
‘‘- Thưa thầy, tôi vẫn biết đó là số kiếp, song tài nào mà chẳng đau đớn thiết tha, Sau khi đã ăn ở với nhau, đã yêu nhau khắng khít, thì đến khi bị nửa đời chia rẽ, ai người không đứt ruột, tan lòng ? Thầy đã có lòng thương an ủi, cám cảnh tôi, tôi biết lấy gì mà báo đáp?
‘‘- Cái đó không can gì, tôi đã bảo anh chỉ là bổn phận của tôi đó mà! Anh đã biết xem tướng số, vậy anh  thử lấy hộ tôi một quẻ xem sao?
‘‘ Tôi chìa tay trái cho người Thái. Hắn đưa ngang tay áo chùi nước mắt, mân mê ngắm nghía bàn tay tôi, Bỗng mặt hắn cứ tái dần dần, hắn ngước đôi mắt sáng đen nhìn thẳng vào mặt tôi, như có vẻ đau đớn, sợ hãi và thương tiếc. Hắn lại giụi mắt, ngắm kỹ làn da tay tôi đến ba bốn lượt. Càng xem tướng cho tôi, hắn càng lộ ra vẻ bồn chồn khó chịu, một lúc lâu, hắn vứt mạnh tay tôi xuống, thừ mặt ra, rồi thở dài :
‘‘- Khốn-nạn!  Ai ngờ đâu cuộc đời chua xót lắm vậy ! Số thầy chả khác gì số vợ tôi, những nét ngấn trong lòng bàn tay thầy cũng tương tự như trên tay nó. Thầy cũng có số bị ông ba mươi hãm hại, thầy nên bỏ đồng rừng trốn tránh cho xa. Thầy ơi ! những người tử tế đều không được hưởng sự sung sướng đâu thầy ạ !
‘‘- Người Thái nói xong, lại gục mặt xuống. Nó như nghiền ngẫm một sự gì. Một khắc, nó lại nói :
‘‘- Nhưng có một điều, thầy nên nhớ kỹ. Muốn tránh tai nạn thê thảm bị làm mồi cho mãnh thú, thầy nên, từ ngày hôm nay, kính thờ Thần Bạch hổ trong nhà. Rồi đêm đêm, thầy nên thành tâm cầu khẩn ông Thần ấy phù hộ cho được sống vẹn toàn, khỏe mạnh. Thầy cũng chớ nên khinh rẻ ông Ba mươi. Như thế, may ra thầy thoát khỏi số kiếp đáng thương mà vợ tôi đã chịu. Thôi xin lạy thầy.
 
 
‘‘ Người Thái dặn dò xong, cúi đầu chào tôi, rồi đi mất, không hề ngoảnh lại. Câu chuyện ngày nay tôi kể lại anh nghe rõ rệt, người ấy đã kể cho tôi nghe bằng giọng nói ngô nghê và ngộ nghĩnh của người miền Thượng du, Sau khi nghe chuyện đó, bao nhiêu chí hướng và tính nết của tôi đều thay đổi cả. Từ ngày ấy. tôi tin ở số mệnh, lại hóa ra sùng kính Thần Bạch hổ lạ thường. Tôi không dám len lỏi đi bắn trong rừng nữa, đêm ngày cho canh phòng rất cẩn mật những khu vườn bao bọc nhà tôi. Dần dần tôi đâm ra rát như cáy, bao nhiêu vẻ hung hăng, táo bạo tự nhiên biến mất bao giờ. Ở Mai Sơn lo ngại luôn luôn, tôi bất đắc-dĩ phải xin về Hà Nội cho yên ổn.
‘‘  Anh thấy tôi khác tính, ấy chỉ bởi tôi tin rằng số tôi bị hổ ăn thịt, hóa nên ngày đêm cầu khẩn Thần linh phù hộ tôi được tránh khỏi tai nạn hiểm nghèo, đau đớn ấy.’’
 
---&&&--
 
 
Anh Cương kể xong câu chuyện, tôi đã không sợ hãi thì thôi, còn phá lên cười một cách  mỉa mai. Khinh bỉ. Anh không bằng lòng, cau mặt lại. Tôi chế anh là một hạng người vô lý, giữa thế kỷ hai mươi này, mà dám tin những sự dị đoan. Tôi lại đem việc bí mật của anh ra nói tung cho tất cả bạn bè chúng tôi được rõ ; ai ai cũng cười anh Cương là một con dị vật hay tin nhảm việc hoang đường, Rồi họ đem anh ra làm một cái bung xung để giễu cợt. Mặc dầu bị giễu cợt, anh Cương cũng vẫn kính thờ Thần Bạch hổ của anh và cúi chào rất lễ phép con cọp trong vườn Bách thú. Bạn tôi trông thấy anh không ai nhịn cười cho được. Họ thấy anh sợbhãi, càng bắt ôm anh đem gí lại gần chuồng, làm cho anh mặt tái mét rồi giẫy lên đành đạch. Các bạn anh lại còn hay tụm năm tụm bảy để chuyện trò ghẹo chế anh. Họ định làm thế cho anh phải mất hẳn tính sợ cọp vô duyên, vô lý. Nhưng  anh Cương khó bảo quá, nói thế nào anh cũng vẫn không nghe.
Một buổi sáng mùa đông, anh Bắc đi Phủ Đoan về có bắn được một con hổ to và đẹp lắm. Anh đã khiêng nó vào tòa sứ Phú Thọ lĩnh thưởng, rồi anh đem lột da chia thịt cho khắp thân bằng cố hữu nếm mùi. Còn cái da hổ, đương tươi, anh đem về Hà Nội để mượn người nhét rơm, ngõ hầu giữ lấy kỷ niệm của một cuộc đi săn đắc chí.
 
Anh em bạn anh Cương và tôi, được tin anh Bắc có cái da hổ, bèn định bụng dọa anh Cương một mẻ làm trò tiêu khiển. Họ biên giấy cho mời anh Cương đến ăn tiệc, tuyệt nhiên giấu hẳn chuyện bắn bổ không  nói lộ ra. Cơm xong, quay vào bàn cà phê, hết lượt cà phê, chúng tôi tụm cả vào bàn đèn thuốc phiện. Bao nhiêu đèn điện, đã có hiệu sẵn, anh em đem tắt ngấm ngầm cả, chỉ để riêng mỗi một ngọn đèn dầu lạc mờ mờ tỏa ánh sáng đỏ ngầu.
 
Câu chuyện quanh bàn đèn đương nở như gạo vàng, anh Cương đương lim dim hưởng thú êm đềm tỉnh mạc, bỗng đâu, trong góc phòng bên trái, một cái bóng lù lù mở màn nhảy xổ vào. Một con hổ vàng to, trông rất dữ. Con hổ gầm lên một tiếng, nhảy nhót lại gần anh Cương.
 
Cương lúc ấy mặt như chàm đổ, chân tay luống cuống, mồm há ra mà không kêu được. Anh ôm chặt lấy tôi, tôi cứ giả vờ chạy lại chỗ con hổ đương ngồi chồm chỗm. Túng thế, anh Cương quay ra mở cửa chạy, thì các cửa đóng cả rồi. Anh em đều làm ra bộ hoảng kinh, ai ai cũng tìm mắc áo, gầm bàn, khe tủ, chui vào ẩn nấp. Chỉ còn chơ vơ anh Cương run lên vì khiếp nhược trước mặt con hổ già. Con hổ làm ra bộ nhảy nhót đắc ý, nó chỉ tìm cách xông vào anh Cương. Anh cứ tránh và né hoài, xuýt mấy lần bị ngã. Mãi sau cùng, anh lùi đã hết chỗ, phải đứng tựa vào tường. Con hổ được thế, lại gầm lên một tiếng rồi lăn vào tát anh Cương, Cương hét lên rất to, giơ tay ra đỡ, rỗi ngã lăn ra sàn, bất tỉnh nhân sự.
 
Anh em bạn thấy sự đùa đã có hại, bèn xúm lại nâng Cương dậy. Hai mắt Cương trợn ngược, chỉ còn lòng trắng, mồm thì xùi bọt ra ngoài. Tay anh bị vuốt nhọn con hổ giả xướt vào, bị một lằn toạc da, hơi rơm rớm máu, Gọi anh một lúc rõ lâu, anh mới hồi tỉnh lại, nhưng vẫn như người mê sảng, chưa hoàn hồn.
 
Tôi đem Cương về nhà, thì đến khuya anh phát sốt li bì, rồi nằm liệt giường chiếu. Sáng hôm sau, tôi cho gọi đốc tơ đến khám, khi cặp mạch anh thì thấy độ sốt 42. Ông thầy thuốc cau mày, hỏi nguồn gốc sự sốt của anh, tôi khai thực cả. Ông lắc đầu, nói:
‘‘ - Thế thì hỏng. Nguyên cái móng chân con hổ thường hay có trùng ‘‘létanos’’. Con hổ mới bắn được, hóa nên ở vuốt nó vẫn còn trùng. Bệnh nhân bị vuốt hổ làm xướt tay, những vi trùng nhiễm ngay vào máu, vả lại bệnh nhân bị sợ quá, người cũng yếu đi, phát sốt ngay. Có cứu bây giờ cũng muộn.
 
Quả nhiên, chả được bao lâu, phụ công thầy thuốc cứu cấp và các bè bạn trông nom, anh Cương tạ thế. Chúng tôi đều sụt sùi khóc lóc, đỗ lẫn tội cho nhau đã giết anh một cách bất ngờ. Đưa đám anh Cương xong, chúng tôi hối hận quá mất cả ăn cả ngủ.
 
 
Nhưng từ đó, càng thương tiếc anh Cương bao nhiêu, tôi càng đâm ra tin ở số- mệnh bấy nhiêu. Đứng trước tranh Thần Bạch hổ mà người bạn bất hạnh của tôi trước vẫn một niềm sùng kính, tôi bây giờ nhũn nhặn lễ phép, không hề dám láo xược như xưa. Rồi thấy ai cúng  vái hay khấn khứa các Thần linh, tôi chẳng khi nào mỉa mai cười cợt nữa.
 
Thế mới biết số anh Cương, anh không thễ nào tránh được. Dù hùm sống hay cọp chết, anh cũng vẫn bị nó cào. Mà chỉ có một nét cào, cũng đủ làm thiệt mạng kẻ có số chết về tay mãnh hổ.
 
Anh Cương đã tốn công giữ mình và cầu khẩn duyên nghiệp ông Trời đã định sẵn, thì dẫu có bay xa muôn dặm, cái nghiệp kia cũng kéo mình lại được, bắt mình phải chịu ý Trời.
Tôi ngẫu nhiên, đã được một bài kinh nghiệm về khoa số học.
 
(Juin 1937)
 
Phổ Thông Bán Nguyệt San
 
Số 17 ngày 1er Avril 1938
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.10.2017 11:51:29 bởi Ct.Ly>
THĂNG TRẦM
HAY LÀ CHIM CHIỀU ÉN LẠC.
 
 
NGÀY  hôm đó, vào khoảng hai giờ chiều, trong một gian phòng ở tầng gác thứ hai nhà khách sạn Đồng Lạc, người ta thấy hai cái xác - một người đàn ông và một người đàn-bà - ôm chặt lấy nhau, nằm co quắp dưới gầm bàn, trên sàn ván, Người đàn ông,trông độ 35, 36 tuổi, thân thể thì co dúm lại, một tay bám chặt lấy vai người đàn bà, còn một tay thì duỗi thẳng, nhưng năm đầu ngón tay lại tựa hồ muốn cắm sâu vào sàn gỗ. Anh ta có nhẽ chết từ sáng sớm; thịt đã cứng đét lại và da đã xám ngắt, lạnh, như đồng. Trông cách ăn mặc đoan trang, ai cũng phải bảo là một người thuộc vào hạng phong lưu, lịch sự; nhưng mặt mũi anh ta, trong lúc chết, có nhiều nét dị kỳ, ghê tởm, khiến người xem, bất giác, phải rùng mình. Một làn tóc, lốm đốm màu tro, rủ lòa xòa xuống hai bên gò má và xuống một cái trán hơi cao, mà những nét dăn cũ còn để lại nhiều lằn, in rõ rệt. Hai con mắt mở trừng trừng, như muốn đuổi theo khách bàng quan làm cho họ lẩn đến chỗ nào cũng vẫn thấy đôi mắt kia nhìn theo chòng chọc. Đôi mắt ấy trông không có thần nữa, Lòng trắng nhuộm màu hung hung. bởi lẽ những tia máu đỏ ngầu nổi hẳn lên như những đường mạng nhện. Còn đôi đồng tử, đen một sắc đen phờ phạc thì lộn ngược, theo dáng điệu của đôi lông mày dựng xếch và cau có lại. Những mí mắt, quầng tím và xưng húp, cùng với cái mũi to mà tròn, vì cớ ấy, cũng đều kéo ngược hay hếch cả lên, làm cho kẻ khốn nạn thiệt thân kia có vẻ một ông tướng Tầu trong cơn thịnh nộ.
Còn cái miệng ? Ôi ! cái miệng nó đáng sợ biết mấy ! Nó cười một vẻ cười đứt ruột, làm dăn đến ba bốn vành làn da của hai má hóp, biểu lộ ra một bộ điệu ghê tởrn và đau đớn lạ thường. Bọt mép xùi ra và chảy xuống càm; cập môi dầy mà xám bầm thì vảnh lên như hình bán nguyệt, để nhe ra một bộ răng cải mả tục tằn. Nét cười hiện trên môi người chết ấy tựa như một nét cười  vô nghĩa, một nét cười tạc vào đá, một nét cườí đứng sững trên một khuôn mặt lạnh lùng. Nó làm cho người ta trông thấy phải giật lùi, bưng mặt lại, không dám nhìn lâu nữa. Và hễ nhìn, mình cứ tựa hồ như có cảm giác là kẻ kia trông mình chòng chọc, và nhe răng, nhăn nhở, trao đổi với mình bằng một nụ cười độc địa, những ý tưởng dữ dội, tàn khốc, về cái chết bi đát của hẳn ta.
 
Người đàn ông trông ghê gớm thế, nhưng chị đàn bà lại có phần dễ coi hơn nhiều. Chị ả trông còn trẻ lắm, chỉ độ 23, 24 tuổi là cùng. Áo mặc cực kỳ tân thời, trông ra vẻ một khách ăn chơi đàng điếm. Một bộ áo ‘‘anben’’  hàng sặc sỡ, bao khít tấm hình
 
 
hài mảnh dẻo nhưng đều đặn và mỹ Iệ là thường. Tuy làn tóc xổ tung ra, lòa xòa phủ khắp hai vai, hơi che mất khuôn mặt bự đầy son phấn, ta cũng còn có thể nhận thấy một vẻ đẹp rất kiều diễm lộ ra rõ rệt dưới làn tóc mượt đen kía. Mà trong khi, dưới đôi lông mày nhỏ phăn, mành như lá liễu lại uốn như vành cung, đôi mắt nhắm nghiền khít lại, nhan sắc của thiếu phụ bạc mệnh trông càng lộng lẫy, khuynh thành. Chả thế mà những nhà thi sĩ Trung Hoa hay ca tụng về đa tình của các ‘Miên Mỹ nhân’’ cũng phải ! Người đàn bà đó đối với bạn tình, có vẻ hơi hờ hững, vì trông xác người đàn ông thì co quấp hẳn, cố ôm chặt lấy chị ả, mà chị ta lại nằm nghiêng, hai tay tuy ôm lấy lưng và cổ người đàn ông, nhưng nửa người về dưới thì choãi hẳn ra, khiến, một chần duỗi thẳng một chân hơi co, mà cái chân co chỉ chận nhẹ lên chân người đàn ông có một chút.
 
Độ mười ba giờ về trước, vào khoảng một giờ khuya, đôi trai gái đó vào thuê một căn phòng trên từng gác thứ hai nhà ô tên Đồng Lạc. Đến sáng mai, không thấy hai người trở dậy, Mãi đến trưa, cũng vẫn chưa thấy ra về. Đến non hai giờ chiều, bồi phòng rất lấy làm lạ, vì cả ngày không ai gặp cặp kia ra vào; mà cũng không nghe họ sai bảo gì, bèn đập cửa phòng, gọi to lên. Đập hồi lâu, vẫn không có tiếng trả lời, Đến lúc cậy cửa vào xem, thì đôi trai gái khổ sở kia đã nằm trơ trên ván gác.
 
Khi sen đầm và mật thám vào làm biên bản, cặp uyên ương vẫn còn nằm sóng sượt trong phòng. Mãi đến khi  thầy thuốc vào bắt mạch và khám tử thi, thiên- hạ mới biết rằng chỉ có một mình người đàn ông tắt thở đã lâu, còn người đàn bà thì thân thể chưa đến nỗi lạnh hẳn, quả tâm còn hơi đập mà mũi cũng còn thoi thóp thở ra.
 
Người đàn ông phải cho xe xuống nhà mổ để xem xét kỹ càng, còn người đàn bà thì được nằm cáng khiêng vào nhà thương Phủ Doãn.
 
Trong phòng, khám không có gì lạ cả, Giường màn vẫn y nguyên không hề có vết đụng chạm tới. Chỉ có ở góc phòng, về mé cửa sổ, người ta thấy mấy chiếc gối  trên giường bị vứt xuống đó. Và, trên chiếc bàn nhỏ vẫn thường nâng chai nước lọc, quan thầy thuốc ái ngại nhấc lên vỏ một hộp sữa bò còn bỏ dở và vỏ một hộp thuốc phiện nửa lạng mở toang.
 
Các viên chức đều lắc đầu khi bước trở ra; ai cũng thương cho số phận hai kẻ khốn nạn kia, biết trước rằng tính mệnh người đàn bà khó lòng cứu được, vì nàng đã tự tử bằng sữa pha thuốc phiện.
 
 
Ngày hôm sau, khi các báo chí thuật lại vạ tự sát trong nhà ‘‘xăm’’  Đồng Lạc, ta mới biết rằng người đàn ông chết co quắp là một viên phán sự làm việc ở một công sở lớn, còn người đàn bà thì không rõ lai lịch và hiện đương nằm mê mệt trong nhà thương. Cứ như lời nhiều kẻ biết mặt thiếu phụ đó, hình như chị ả là một cô ‘‘giăng hồ’’ gần đây làm vũ nữcho một tiệm nhảy đầm, và đeo cái tên rất mỹ lệ, rất dễ nghe; Lệ  Ngọc.
Duyên cớ xui viên phán sự kia nằm chết trong tay Lệ Ngọc, thiên hạ không ai biết cả. Nhiều tờ báo cố sức giải phẫu sự bí mật ấy, song phần nhiều đều là buông những lời phỏng đoán không đâu . Câu chuyện tự sát kia, dần dần cũng chui vào gầm quên, cõi tối.
Nguyên nhân một vụ ám sát hoặc một vụ án mạng, những nhà thám tử còn có thể, sau khi dò la mãi và lấy đủ chứng cớ, biết được một cách rõ ràng; rồi vì thế, xây lại được những trường hợp làm khuôn cho vụ ám sát hoặc án mạng ấy xảy ra. Nhưng, đứng trước một vụ quyên sinh, nhà chuyên-trách - dù giỏi về khoa giải phẩu tâm lý đến đâu - cũng không dám tự phụ rằng xét rõ  được duyên cớ đã khiến một người tự sát. Vì duyên cớ ấy, nhiều phen, rất bí hiểm và khó hiểu; trong những duyên cớ chính, thường hay xen vào nhiều duyên cớ phụ, mà, trừ kẻ tự tử ra, khó lòng có một kẻ thứ hai biết được.
 
Nếu không gặp một dịp may phanh trước mắt ta tấm màn bí mật của một vụ tự sát, thì thực không bao giờ ta trông rõ thấy căn nguyên. Những lời bàn luận và dị nghị của ta, chỉ toàn là điều phỏng đoán, có khi đúng, nhưng nhiều khi sai, vì những điều phỏng đoán đó đều không có cốt chắc chắn, đều chỉ dựa vào những hiện trạng bề ngoài. Còn về tình-thế bề trong, ai làm gì có thể đi sâu vào tâm hồn một kẻ quyên sinh mà rõ được? Kẻ ấy, trước khi chết, hẳn đã suy nghĩ chín chắn hết mọi lẽ, lúc bấy giờ mới quyết chí lìa đời. Thế tất cái cớ khiến hắn nhất định hủy mình, nó hẳn là một mãnh lực rất mạnh. Mãnh lực đó, một sự thất vọng hay phẫn chí nhỏ không tài nào tạo nỗi; nổi quyết nhiên phải là kết quả của muôn ngàn sự thất vọng hay phẫn chí mà chỉ riêng một mình kẻ tự sát biết thôi. Ai là người tự dám bảo có tài, suy bằng những hiện trạng bề ngoài, biết rõ được hết những nỗi thất vọng hay phẫn chí, mà người quyên sinh đã đem sang một thế giới bí mật vô hình ?
 
Cho nên, càng nghĩ kỹ, tôi càng phải cho là mình được một dịp may mắn nhất trần ai. Vì tình cờ tôi đã biết rõ tại sao viên phán sự tự tử trên gác nhà ô-ten Đồng Lạc kia, lại chết trong tay cô Lệ Ngọc. Sự này là một sự rất lạ ; tôi kể nó ra đây, trong lòng cũng thương tiếc ngậm ngùi.
 
Tôi dám nói to rằng những lời tôi viết ra đều đúng sự thực, không sai chút nào, bỡi lẽ những lời ấy là tự mồm cô Ngọc kể ra, trong một trường hợp bất ngờ hết sức. Ngày, nay cô Ngọc đã không còn chen chúc giữa lớp sóng người sống nữa, cô hiện là một cái bóng của thời dĩ vãng đã mờ. Mười giờ sau khi ông phán lìa đời, cô Ngọc cũng theo ông dìm hồn vào Cõi Chết. Cô tạ thế tại nhà thương Phủ Doãn,bơ vơ, trơ trọi, không có ai thân thích, họ hàng. Trong buổi lâm chung, cô không dặn dò gì lại; người khán hộ được mục kích khi cô tắt thở có thuật rằng, bên giường bệnh cô, lúc ấy, chả có người nào.
 
Thế thì câu chuyện của tôi, nó mọc cánh từ đâu mà bay ra nhỉ ?
 
Hôm ấy, tôi thấy trong người bải hoải, buồn, không biết làm gi. Viết được một bài tiểu thuyết vừa xong, tâm thần tôi như quá bị xúc động, cần phải nghỉ ngơi tỉnh dưỡng. Tôi tự nghĩ không có cách gì tốt hơn là đi hút thuốc phiện, vì bên cạnh khay đèn êm tĩnh, tôi sẽ được dịu dàng hưởng thú thảnh thơi. Tôi vội mặc quần áo đi lên tiệm hút.
Vừa ngả lưng nằm xuống phản, tôi chưa hết bàng hoàng vơ vẩn, một cái bóng đen đã từ đâu, chạy lại giường tôi, Một người thiếu phụ. Tôi ngờ ngợ một chốc, nhìn người đàn bà ấy chòng chọc để giúp cho trí nhớ nhận được ai. Chị ả trông còn trẻ lắm, chỉ độ hai ba,hai mươi bốn tuổi. Người rong rỏng cao, mặc áo quần màu đen bới tóc theo kiểu Huế, đeo kiềng vàng. Trong một chốn âm u như tiệm hút, nhan sắc người đàn bà đó có một vẻ dị kỳ. Màu thuần đen nàng đã chọn làm nổi hẳn khuôn mặt trắng sanh, bự phấn, và cái kiềng vàng lóng lánh chiếu ánh đèn mờ, Tôi vừa nhận được mặt nàng, chưa kịp hỏi, thiếu phụ đã ngồi bên cạnh đùi tôi, nghiêng mình xuống cho sát mặt tôi, hỏi;
- Anh ! anh mà cũng đến đây à ! Đã lâu lắm em không được gặp. Bây giờ anh ở đâu, làm gì, lấy vợcon chưa ?
- Tôi ở phố nhà Rượu, vẫn làm báo. Mới lấy vợ được vài tháng; chưa có con. Còn em? Gió nào bạt em tới đây ? Em làm gì ở Hà Thành?
- Còn làm gì nữa! Còn nghề gì nữa mà làm!
‘‘Em ra đây lận đận đã nửa năm rồi, sống kham khổ chẳng có tương lai gì cả. Lại vừa bị nhân tình bỏ, thành ra trơ trọi, bơ vơ. Em rồi cũng đến chết thảm thương như chị Ngọc...’’
- Chị Ngọc nào ?
- Chị Lệ Ngọc mà anh không biết ? Chị Ngọc hồi tháng trước, chết trong nhà thương Phủ Doãn ấy mà! Chị Ngọc mà tự tử cùng một lượt với ông Phán Lân, anh không biết ư?
- Có có. Anh có biết cô Lệ Ngọc. Nhưng làm sao em lại cho là cô ấy chết thảm thương ? Vì cớ gì cô Ngọc chết, nào có ai hiểu!
- Thế mà em hiểu. Em biết rất đích xác, bởi lẽ nguyên nhân xui chị ấy chết, tự mồm chị ấy kể ra.
‘‘Nào có gì lạ đâu ! Hôm chị ấy quyên sinh, em tình cờ vào nhà thương Phủ Doãn. Nhân gặp người ta khiêng xác Ngọc vào, em nghĩ tình bè bạn,vội lại thăm chị ấy, dẫu rằng em chỉ quen chị ấy rất sơ sài. Nhưng cũng là dịp may cho em được gần chị ta trong lúc chị hồi tỉnh lại. Chị bèn kể lại tâm sự cho em nghe ; thành ra chỉ một mình em được hân hạnh hiểu vì sao chị và ông Phán Lân cùng tự tử. Khi em đi khỏi, Ngọc lại đâm ra mê sảng, được non một ngày, chị ấy tắt hơi. Em từ bấy giờ thương chị ấy quá, chị cũng chung số phận với em, hóa nên em nghĩ đến chị, không thể không rơi nước mắt. Em vẫn chôn chặt tâm sự của Ngọc dưới đáy tấm hồn, chưa kể lại cho ai nghe cả. Hôm nay nghĩ buồn duyên tủi phận, em lên đây để may ra giãi được nỗi sầu. Vì chỉ có thuốc phiện là chóng tiêu tán hết thương tâm, em phải mượn nó để tránh ý muốn quyên sinh ghê gớm... May sao lại được gặp anh, em mừng quá !
- Em lại nằm đây nói chuyện, ta cùng hút thuốc với nhau. Hôm nay anh cũng đương buồn, và lại muốn có một đầu đề tiểu thuyết. Tốt gì bằng em vừa hút vừa kể lại anh nghe câu chuyện cô Ngọc và ông phán Lân; khi kể xong, anh sẽ thưởng công cho em bằng một cái quà đáng giá. Em có nhận lời không ?
 
- Xin ký cả hai tay. Kìa! Anh cho lấy thuốc đi, em xin tiêm hầu anh một buổi.
 
Bên cạnh, ngọn đèn mờ tỏ, Marie Tâm, thiếu phụ vận hàng đen, vừa giơ bàn tay búp măng nỏn nà lăn thuốc trên mặt tẩu, vừa thong thả bằng một giọng oanh thỏ thẻ, kể tôi nghe những lời cuối cùng mà Lê Ngọc trối trăng lại lúc lâm chung.
--&&--
Ông phán Nguyễn quang Lân, là một viên chức rất thực thà, mẩn cán. Ông 36 tuổi. Hồi còn nhỏ, ông được học chữ tây khi lên 10; đến năm 18, ông xin vào tập sự trong sở Tòa Án Hàng Tre. Sống lâu lên lão làng, sau 18 năm làm việc siêng năng, đứng đắn, ông được thăng thư ký hạng nhất. Thân sinh ông thủa trước làm quan đến chức kinh lịch sắp được ra Hậu bổ thì không may lâm bệnh từ trần. Thân mẫu ông cố thủ tiết thờ chồng, và chăm nom nuôi nấng ông cho thành một người có chức phận.
 
Năm ông 20 tuổi, bà cụ lấy vợ cho ông. Khốn nỗi người vợ ấy lại nhà quê và hết sức ngu đần, nên, dù chị ta cũng dễ coi, ông không lấy gì làm thuận lắm, chỉ chiều lòng bà mẹ mà thôi: Ông Phán Lân vốn là người trung hậu, trong bụng tuy chê vợ, nhưng không hề nói ra để thân mẫu phải ưu phiền. Ông đành ngậm miệng, nhắm mắt, mãi tới ngày bà cụ trăm tuổi, tám năm sau khi ông ăn ở cùng vợ ông. Bà vợ ấy, đã xấu, đã nhà quê, lại còn có một tội lớn nữa là trong tám năm hương lửa, không cho ông được đứa con nào, Ông dẫu muốn dung nữa cũng không sao được, huống hồ trong buổi lâm chung, mẫu thân ông còn dặn ông phải mua hầu, mua thiếp, để giữ lấy dòng dõi về mai hậu.
 
Vậy nên, sau khi chu tất xong ma chay cho mẹ, ông buộc lòng phải tống vợ về quê, cho giấy để nàng cải giá. Rồi ông sống một thân cô độc, tự coi lấy việc gia đình, Đáng nhẽ cứ thế mãi cũng xong, nếu ống không thấy tâm hồn khao khát thú yêu đương, ân ái. Từ ngày nhớn lên, ông chỉ mãi mê làm việc cho tròn bổn phận và thờ mẹ cho tròn hiếu nghĩa, không còn thì giờ đâu nghĩ đến ái tình Mãi tới năm hai mươi tám tuổi đầu
59
khi mẹ đã chết, vợ đã về, chức phận cũng có bề vững vàng, chắc chắn, bấy giờ ông phán Lâu mời thèm mến, thèm yêu. Ông mơ tưởng lấy được một người vợ không giàu nhưng không xấu, biết chăm nom chiều chuộng ông, cùng ông gây nên một cảnh gia đình êm  vui, đằm thắm. Ông không còn trẻ măng gì nữa, không dám ước ao gì những thú quá ư mới mẻ, cao xa ; ông chỉ cần có một người vợ lịch sự, dễ coi, để trong những lúc ngồi đọc báo, đi xe giờ, xem chớp bóng, ông có hạnh phúc được luôn luôn kề bên mình một người thiếu phụ ông tin cậy và thương yêu. Ông chỉ ước mơ có thế. Và lại cầu nguyện rằng vợ ông sau này sẽ là người biết trả lại tình âu yếm cho ông, nghĩa là đối với ông chung thủy cũng như ông đối với vợ một niềm quí mến không bao giờ xao nhãng đơn sai.
Nghĩ thế nào, được thế ấy. Tìm kiếm chả bao lâu trong đám phụ nữ con nhà tử tế, luồng nhỡn tuyến và chí quyết định của ông sa ngay vào một  thiếu nữ rất xinh tươi, buôn bán ở Hàng Đường. Thìếu nữ con nhà thi lễ; ngoài nhan sắc thanh tao diễm lệ, những cách cử chỉ đoan trang, nề nếp, càng tăng vẻ con người óng ả, dễ coi. Chả thế mà ông phán Lân vào mua hàng chỉ có một lần, tâm thần ông đã bị thiếu nữ làm cho rối loạn. Về đến nhà, ông Phán đâm ra mê mẫn, ngày đêm chỉ mơ ước được cô kia làm bạn trăm năm. Ổng bèn mượn mối lài phân minh, xin hỏi cô về làm vợ. Họ nhà gái rất là kẻ biết điều, lịch thiệp ; sau khi rõ lai lịch, niên kỷ và thân thế ông, bằng lòng ngay cho thiếu nữ cùng ông gá nghĩa.
Mọi lễ đủ xong xuôi, cô Loan, con gái Hàng Đường, đã hóa ra mợ Phán. Mợ Phán người nhu mì, ngoan ngoãn, từ bộ đi về đứng, từ tiếng nói câu cười, không một cử chỉ nào ra ngoài qui củ của những gia đình nề nếp. Đến sự ăn ở cùng chồng, cô Loan càng khéo chìu, khéo chuộng, khéo cả nỉ non tình tự, khiến ông Phán không ngồi ở sở phút nào mà không nghĩ tới vợ hiền.Tan sở, ông lại vội vã về nhà, chẳng mất phút nào vô ích. Từ khi ông được vừa lòng đẹp ý, ông Phán yêu và hết lòng; trong gia đình êm thắm của ông không bao giờ xen vào một tí bất bình gì nho nhỏ. Đôi uyên ương hình như sinh ra để bay với nhau song song trong gầm hạnh phúc, chồnghòa, vợ thuận, tưởng chừng đến bách niên đôi lứa ấy vẫn yêu nhau.
 
Ông Phán không chơi bời, không rượu chè, cờ bạc, không thuốc phiện, cô đầu ; bao nhiêu nết xấu của những thiếu niên trạc tuổi như ông, ông đều không có cả. Ông bao giờ cũng làm ăn chăm chỉ, đến đúng giờ, về đúng khắc: ông như một cái đồng hồ. Trong cửa trong nhà, ông không làm một sự gì khác với những hành tung thường nhật; đi làm về hai buổi thì đối diện cùng vợ ăn cơm vui vẻ, ăn cơm xong lại cùng ngủ trưa, hay ngồi đọc báo với nhau. Một tuần lễ, hai vợ chồng đi xem chớp bóng Tàu hay đi xem Quảng Lạc độ một lượt; ngoài ra, lại ở nhà hú hí chuyện trò. Trong những giờ nhàn rỗi tiếp với buổi cơm tối, vợ ngồi khâu vá, đan áo, hay làm các việc vặt như bóc hạt xen, nấu mứt dứa, quấn thuốc lá quả cầu, trong khi chồng nằm khểnh ngâm Kiều hoặc đọc và giảng những câu chuyện Liêu Trai hay Tình Sử.
 
Đời ông Phán Lân nó đi đều như làn nước một con sông không bao giờ bị phong ba, bão táp, nó êm đềm vui vẻ lạ thường. Đối với ông, như thế nghĩa là vui vẻ. Đối với vợ ông, như thế cũng là sung sướng; cho nên, trong mấy năm cùng ông chăn gối, vợ ông vẫn hết lòng làm cho qnãng đời ấy được êm ả, dịu dàng, nghĩa là không khi nào có chút đổi thay gì nữa. Hai vợ chồng ông Phán Lân tựa như đã đồng ý với nhau đặt ra một trương trình thứ tự và tươm tất,để hai vợ chồng cứ việc theo mãi mãi đến già.
 
Nhưng … than ôi ! Đàn bà bao giờ cũng là kẻ yếu linh hồn hơn hết! Ông Phán Lân có đủ can đảm sống cuộc đời không sóng gió của ông cho đến chết, song vợ ông theo chương trình được dăm năm thì đã thấy chán nản lắm rồi ! Nói là dăm năm cũng còn là nói rộng rãi mà chơi: thực ra, cô Loan thấy khó chịu sau khi về làm vợ ông Lân được hai năm vài tháng. Cô tự thấy không thể dằn lòng sinh hoạt mãi trong một cảnh không chút gì là đặc sắc, chỉ loanh quanh có những thú tẻ, buồn. Vì những thú ấy ngày nào cũng vậy. Rồi chuỗi giờ cô đếm, chúng nó hóa ra nặng nề, đằng đẳng, chúng nó mài mòn tuổi xanh của cô giữa một thời cô phải sống cho đầy đủ, say sưa.
 
Cô Loan, ai ngờ đâu, bị tiêm nhiễm những tư tưởng mới tự khi nào không rõ. Cho nên vợ ông Phán, trước ông, đã phá tan hạnh phúc của gia đình. Cho nên chương trình ông đặt, ông tưởng theo nó tới khi hưu trí, mà hóa ra, giữa đường, ông phải bỏ nó chơ vơ. Cho nên ông đã chết trong tay một người đàn bà không phải cô Loan, mà lại chính là Lệ Ngọc.
 
--&--
Ai cũng biết ông Phán Lân là kẻ siêng năng mẫn cán, ưa sống một cuộc đời trưởng giả êm, vui.
 
Ai cũng biết ông Phán Lân là người đứng đắn không bao giờ có cử chỉ gì điên đảo ra ngoài vòng đạo lý, luân thường. Thế mà sao bỗng, giờ đây, ông hóa ra một khách ăn chơi đàng điếm ? Không tối nào ông không rượu chè be bét, mon men lên tửu quán, trà đình. Không tối nào ông không hút thuốc phiện hoặc đi cô đầu, mà nếu không thế; ông lại vùi thân trong một sòng phán thán hay xóc dĩa. Ban ngày, ông ngủ gà ngủ gật trong sở, không bì với những giờ, năm xưa, ông cặm cụi cạo giấy suốt cả buổi, chẳng khi nào trái bổn phận mình. Cách vài tháng trước gần đây, ông còn đi làm đúng giờ, tịnh chưa phải để quan trên quở trách một câu nào cả. Thế sao ngày nay ông bỗng nhiên sinh đốn : đi làm chậm đến một giờ, và chưa đến lúc ra về, ông đã ngồi đứng không yên, chỉ lăm le tếch ra ngoài cho sớm. Anh em đồng sự với ông lấy làm lạ lắm, không hiểu tại sao con người đắn đo mực thước như thế, phút chốc, hóa ngay ra một dân bợm bãi, ngang tàng ! Ông Phán Lân ăn mặc trước kia bao giờ cũng gọn ghẽ, diễm dắn; lúc tính tình ông thay đổi, cách ăn mặc của ông cũng theo tính nết, đổi thay. Đương ăn mặc ta, ông vận quần áo tây, và nhất đán, đem cho cả bao nhiêu quần áo ông vẫn dùng khi trước. Ông đâm ra ăn tiêu hoang rộng một cách không ai lường được. Xưa kia, ông chỉ hơi hỏi bạn một câu là tiền trăm họ cũng không ngại, đưa ngay ông mượn; đến bây giờ ông muốn cần một đồng, Hỏi ai họ cũng chối từ. Vì thế, ông trông đời bằng mắt bi quan, và có nhiều tư tưởng yếm thế.
 
Từ đâu xảy ra câu chuyện nực cười như vậy, câu chuyện ông Phán Lân mà cả sở Tòa án Hàng Tre bàn tán mãi không ngừng ? Thiên hạ dị nghị, là bởi chỉ trông thấy bề ngoài của ông Phán mà thôi; nếu ai đã được đi sâu vào tâm hồn tan nát rối loạn của ông, người ấy chắc không lấy gì làm lạ.
 
Thì ra ông Phán bị thất tình, thất vọng. Vợ ông, cô Loan, đã phụ ông, để ông trơ trọi một mình !
 
Từ ngày còn bé cho tới khi 28 tuổi đầu, ông Phán Lân chưa từng biết yêu ai. Lúc ông lấy cô Loan, ông chỉ biết có yêu Loan. Nhưng ông yêu Loan theo ý ông, ông đã đưa Loan vào một cõi hạnh phúc êm đềm, đầm thấm. Ông tưởng rằng đã làm cho Loan được hết sức hài lòng. Mấy năm đầu, còn bỡ ngỡ thơ ngây, Loan cũng chịu khó cúi đầu, tuân theo luật lệ của ông chồng đã đặt. Nhưng dần dà, nàng thấy đời nàng chán, tẻ, không có thú gì đáng gọi là có ý nghĩa sâu xa. Nàng vẫn đinh ninh rằng ái tình dệt bằng những thời khắc mơ mộng, say sưa, có ngờ đâu kiện trạng, càng kinh nghiệm, càng để lại cho nàng một dư vị buồn rầu, chua chát, Nàng đọc tiểu thuyết thấy tả cảnh những thú vui đằm thắm, vẫn tưởng tượng trong hồn chồng nàng sẽ yêu nàng cũng như những anh chồng giàu tình cảm hiện trên các trang sách nàng xem. Nàng cho là ông Phán Lâu cũng đủ tư cách làm chồng, mà những giờ ân ái nồng nàn, khắng khít, nàng thường ao ước, thế nào nó cũng sẽ tới. Rồi nàng đợi, nàng đợi... Thời-gian bay đem đến cho nàng nhiều thất vọng chua cay.
 
Đã trót thành vợ thành chồng, Loan đành chôn hẳn những mơ mộng viển vông để yên sống trong hạnh phúc gia đình êm ả. Nhưng hạnh phúc đó, đối với nàng nào đâu phải là hạnh phúc ; sao đời nàng buồn tẻ quá như vầy ? Nàng sẽ cố sức chịu hy sinh tuổi xuân xanh cho nghĩa vụ thiêng liêng của một người vợ ; nếu ông Phán sớm cho nàng được một đứa con tươi tốt, khiến nàng có thể cam lòng xóa bỏ hết các thị dục của tuổi thanh niên bồng bột, gượng vui cùng mụn con thơ. Khốn nỗi ông Phán Lân không đúc nổi được một đứa con nào, trong bảy năm hương lửa, âm thầm, Loan cứ phải một thân vò vỏ. Lấy chồng được hai năm, nàng đã thấy đời làm vợ một nhà cạo giấy cần mẫn, đúng mực, là một đời vô vị ; nàng đã hơi hơi chán nản, buồn rầu. Song nàng cũng cố chìu chồng vì đã trót thương chồng, không muốn để cho chồng khổ sở. Nàng hết lòng kiên nhẫn mới chịu được năm năm nữa. Nhưng hỡi ơi! đằng đẵng bảy năm trời bó buộc, đã đem đến cho nàng biết bao là hận, tủi, oán, sầu! Thoạt bước chân về nhà chồng, Loan vui vẻ đem quả tâm non rắp hiến cho người biết yêu nàng tận tụy. Trong hai năm đầu tiên, bởi thế, nàng đối với chồng ấu yếm biết dường nào! Khốn nỗi mối tình ông Phán trả lại cho nàng là một mối tình tẻ lạnh, hững hờ, khiến càng chung đụng với ông nàng càng thấy xa ông dần dần trong bể ái.
Rồi một ngày kia, sau khi đã chịu nhịn mãi, buồn mãi, vò võ mãi một mình một bóng, sống chán nản mãi bên một người không hiểu tâm hồn và ý chí mình, Loan không thể đừng được nữa, cô quá bị cám dỗ bởi tiếng gọi của con tâm suốt đêm ngày tha thiết, cô quyết lòng cắt đứt những dây bó buộc, lẹ làng xách hành lý ra đi. Cô ra đi sau khi đã xin lỗi ông và từ giã ông bằng một bức thư dài, cắt nghĩa rõ cho ông hiểu: hai người đã không hiểu được nhau thì không nên làm hại đời nhau vì những sự câu nệ và nhất là vì những phút giằn lòng nhẫn nại. Phải nên đoạn tuyệt với lòng giả dối, phải nên quyết liệt với những thói ngại ngừng. Cô xin ông nên tìm một người bạn trăm năm hợp với tư tưởng ông. Cô tự xét mình không được hạnh phúc và hân hạnh làm người bạn trăm năm đó, Vì thế cô ra đi. Cô ra đi để tự gây cho cô một cuộc đời hợp với ý chí của cô, vì cô không muốn gần ông, cô phải tiêu hết chuỗi ngày xanh mà, thiệt thòi, cô đã hi sinh cho ông quá nửa.
 
Đọc xong bức thư vĩnh quyết, ông Phán Lân ngã ngửa người ra. Ông mê man bất tỉnh. Ông chết ngất. Khi ông hồi tỉnh dậy, ông ôm đầu khóc lóc suốt nửa ngày. Rồi từ đấy, ông không thiết gì nữa cả. Vợ ông là kẻ xưa nay ông yêu quí nhất, bây giờ nỡ phụ bạc ông. Thế thì còn ai ở đời này ăn ở cùng ông chung thủy nữa ? Vợ ông là nhẽ khiến ông vui để sống, để làm ăn chăm chỉ, để mong một ngày kia có chút danh vọng trong đời. Ông, độ bảy năm nữa, thế nào chả được Bắc đẩu bội tinh, nhưng cái danh dự đó, bây giờ còn làm gì nữa ? Vợ đã phụ thì còn có sự gì đáng thiết, nhất là người vợ yêu quí kia lại là ái tình duy nhất của đời ông?
 
Ông Phán Lân hết sức phẫn chí. Chả mấy chốc ông thành ra như người mất vía, mất hồn. Bạn đồng nghiệp tưởng là ông mới có máu điên, vì thấy ông đương ngồi yên lặng bỗng rúc cười lên sằng sặc, rồi phút sau lại gắt gỏng om xòm. Nhưng không phải ông điên đâu mà sợ, ông chỉ đổi tính đấy thôi. Vì nếu ông điên, cớ sao ông biết uống rượu, đi cô đầu, đi đánh bạc?
 
Ông đánh bạc to lắm; có canh ông được ngót nghìn, cũng có canh ông thua sạt nghiệp. Bao nhiêu tiền ki cóp được trong 18 năm làm việc, ông đem ra nướng hết trong vài ngày. Rồi ông sống lần hồi một cách rất hồn nhiên, lãng mạn. Sự chơi bời không giờ, không nếp tựa như, một đôi khi, khuây khỏa được lòng ông. Từ lúc vợ ông đi, ông không khi nào nghĩ tới nàng nữa. Ông quên, quên hết. quên hẳn quãng đời đã trải. Sống làm trai phải cho đáng mặt trai, phải biết đủ mọi mùi mới được. Ông Phán Lân đã trải đủ mọi mùi. Ông lấy những khoái lạc vật chất để đè nén nỗi thương tâm ấy. Nổi thương tâm ấy, dần dà, cũng thấy phai đi.
 
Ông Phán sống một đời mới mẻ. Tuy cuộc đời mới này nó phiêu linh, bê tha và phóng đãng, những thú vui nó cho ông đuợc hưởng, làm cho ông vẫn trông đời bằng đôi mắt lạc quan. Nếu ông không gặp một cảnh ngộ gì nữa quá ư đau khổ, nhục nhằn, thì ông cứ mãi mãi vui lòng sống nổi chìm trong cuộc đời túi bụi đó.  Ông sẽ thành ra một khách làng choi đàng điếm cho tới khi ông lóa mắt bạc đầu. Ông sẽ hóa ra một lãng tử già, có lấy gì làm lạ. Đời, ông vẫn cho nó vui, nó thú, nó đáng sống không biết chừng nào. Ông mới chỉ là một kẻ thất tình, nào đâu đã là người  tuyệt vọng ? Vì thế, ông vẫn điềm nhiên đeo vết thương đi thẳng thắn trên con đường trần gai góc, ông không hề phẫn chí bao giờ.
 
Ổng Phán là ngườican đảm.
 
--&&&--
 
Bởi lẽ vị tình cay đắng, ông Nguyễn quang Lân đã phá tan hạnh phúc gia đình, một thứ hạnh phúc ông cho là tuyệt diệu. Bởi lẽ tình trường lầm lội, ông Phán Lân đã thành một khách hào hoa. Nhưng tuy chơi thì cứ việc chơi, bao giờ tâm hồn ông cũng bị một nỗi đau đớn gì cắn rứt. Trong ngót mười tháng, ông đã cố chống cự cùng nỗi đau đớn ấy, làm cho vết thương trong lòng ông nó hàn gắn dần dần. Ai ngờ vết thương kia càng ngày càng thấy loang lo, rỉ máu đỏ luôn luôn không ngớt. Mối sầu, ông tưởng nó theo thời gian mà tiêu tán, biết đâu màn quên không phủ kín nó, khiến hồn ông nhớ mãi cảnh thương tâm ? Ông kiên gan chịu đựng mãi nỗi ưu phiền, ông ngậm miệng cố vuốt nó xuôi đi cho thoát nợ. Nhưng ông không đủ sức đuổi hẳn nó ra ngoài cõi linh hồn, ông chỉ đủ sức dìm được nó vào cõi quên trong chốc lát.
 
Ông như một con vật còn mạnh mẽ bị một vết đạn xuyên sâu vào thớ thịt. Những lúc hăng máu, con vật kia tựa hồ không biết mình bị thương nữa; song những ngày trở giời độc đất, vết đau kia lại nhoi nhói, cắn rứt, làm cho con vật đó muốn yên thân không được, phải cuồng khấu lên hòng quên sự cắn rứt ấy đi.
 
Trong những lúc ‘‘phùng trường tác hí’’ ông Phán Lân, cũng như con vật hăng máu, quên rằng mình đeo một vết thương đau. Nhưng một buổi chiều kia, có lẽ là hôm ấy dở giời dở đất, ông Phán thấy trong lòng buồn quá, buồn hơn hết cả mọi ngày. Ông không thể nào giải được nỗi sầu, phải mặc áo đi lang thang ngoài phố. Mọi hôm có tiền ông có thể mua vui bằng thú cô đầu hay đánh bạc; chiều hôm nay, ông tức mình vì nỗi cả cửa nhà chỉ còn có dăm hào. Đi hút thuốc phiện khiến cho trong lúc say mơ, hồn càng thấm thía thấy đau; vậy tốt hơn là ông uống rượu nhiều cho mất hết trí khôn, họa chăng thoát khỏi lúc cõi lòng u uất. Ông Phán Lân bèn vào tiệm rượu, ông cho gọi một món thực phẩm ngon có tiếng rồi mua một chai rượu cúc uống dần dà. Khi ông ra khỏi cao lâu, gió mát tạt vào mặt ông làm cho ông thấy trong người phấn khởi. Ông lững thững đi dạo mát hết phố này sang phố khác, vừa đi vừa thỉnh thoáng ngã gúi ra đằng trước hay ôm lấy một cột đèn. Loạng choạng ra đến Bờ Hồ, gân cất chân ông không thể mang ông được nữa. Ông đụng phải một cây liễu lớn mà ông cho là một người bạn cố tri ; ông ôm chặt lấy cây liễu rồi ngã vật xuống gốc cây, xuýt nữa lăn xuống nước. Người ông mềm như bún. Quần áo ông lếch tha lếch thếch, ông không còn biết trời đất là gì.
 
Ông say quá nên không đễý đến ai; có biết đâu, gần chỗ ông ngã, trên bờ hồ, một người thiếu phụ đương để tâm săn sóc đến ông. Lúc ấy đã mười hai giờ đêm ba khắc. Thiếu phụ đứng vẩn vơ nhìn ra hồ đã ngót một giờ rồi nàng hình như chờ đợi ai, hay một mình ra hóng gió mát lúc đêm khuya thì không rõ. Chỉ biết nàng đi lại trên vỉa đường cũng đã khá lâu, vừa đi vừa ngậm một ý tưởng gì tha thiết. Thiếu phụ còn trẻ lắm, vào khoảng hai mươi ba, hai mươi bốn tuổi là cùng. Nàng rong rỏng cao, vận một bộ áo quần lụa mỏng, quần trắng và áo hàng sặc sỡ. Trông vẻ nàng ăn mặc và đi đứng, ta có thể đoán được nàng là một gái ăn chơi. Vì thiếu nữ con nhà lương đàn, không khi nào lại đứng một mình trong lúc khuya khoắt, vắng người như thế.
 
Mắt thiếu phụ rất đen và sáng, thỉnh thoảng đôi mắt ấy lại dăm dăm nhìn làn nước phẳng lặng như muốn đi sâu vào đáy nước để tìm kiếm một sự gì. Khi nàng thấy ông Phán Lân loạng choạng mãi rồi ngã gục xuống bờ cỏ bên hồ, sắp lăn xuống nước, nàng giật mình trông kỹ, thoăn thoắt đi lại phía ông ta để đỡ ông lên. Song ông Lân vừa nặng vừa mềm ; thiếu phụ biết ông ta say rượu nên không gọi làm gì cho mỏi
miệng. Nàng nhanh trí khôn, cho gọi một cái xe kéo, sai cu ly xốc nổi ông Phán dậy, khiêng ông để lên xe, kéo theo nàng đến một tòa nhà. Nàng vào nhà trước hồi lâu rồi thấy hai người đàn ông ra vác ông Phán lên lên gác.
 
Thì ra chốn ấy là một nhà xăm, ô ten Đổng Lạc; mà thiếu phụ là một cô ‘‘giăng há’’ vẩn vơ ra tìm khách ở ven hồ. Trông thấy người đàn ông, bề ngoài có vẻ phong lưu, cô nhân tiện cứu ông ta, rắp mong vì thế, sẽ được ông ta đền ơn cứu mạng.
 
Ông Phán Lân say lắm. Thiếu phụ ngồi bên cạnh ông biết là muốn cho ông tỉnh, chỉ có cách bắt ông nôn và cho ông uống một chút thuốc phiện là xong, Nàng bèn gọi bồi cho đi mua thuốc, cởi quần áo ông ra cho ông dễ thở và đặt ông nằm chéo trên gìường. Nàng ra ngoài kiếm một ít  ‘‘mùn thớt’’ và một cái lông gà, rồi vào lấy thân thể ông Phán làm trường thí nghiệm. Quả nhiên, sau khi đã thổ ra hơn một lít rượu và uống nửa  ‘’gam’’  thuốc phiện pha nước chè nóng, ông Phán Lân thấy trong người khoan khoái tỉnh dầ. Lúc bấy giờ ông mới bị thiếu phụ căn vặn hỏi ông những lẽ đã khiến ông xuýt nữa ngã trôi xuống nước,
 
Ông chưa trả lời vội. Thấy thiếu phụ vừa có duyên, vừa đẹp, ông gạn nàng cởi áo nằm bên cạnh ông thì ông mới kể chuyện cho nghe. Làm nghề chìu lòng khách đã quen, thiếu phụ không ngại ngùng gì cả. Dối đầu lên cánh tay ông Phán, nàng thuật lại ông nghe nàng đã cứu ông những thế nào. Ông vừa lấm tắc ngợi khen nàng, vừa đặt trên môi nàng một cái hôn còn nồng hơi rượu. Thế là, tình cờ, ông và thiếu phụ đã thành một đôi giai ngẫu.
 
Ông Phán Lân vốn có tính thực thà, chất phác. Ông không giấu giếm bạn gái ông một sự gì. Trong gian phòng vắng vẻ, giữa đêm trường tịch mịch, bên cạnh thiếu phụ mà một dịp tự nhiên đã cho được sum họp cùng ông, ông Phán, bằng một giọng buồn rầu thấm thía, tỉ mỉ kể lại quãng đời tình cay đắng của ông cho thiếu phụ nghe. Ông không hề bỏ sót một quãng nào, một tý gì ; nhất nhất ông kể lại rõ ràng, minh bạch. Nghe chuyện ông, thíếu nữ không nói một câu nào cả; ông tin rằng nàng ngủ, nhưng lúc ông quay xuống nhìn xem, thì thấy nàng hai má đầm đìa những lệ. Hai mắt nàng lóng lánh sáng quắc lên một cách dị thường. Nàng thương ông, lại tức giận cô Loan tệ bạc. Ông Phán Lân hết sức cảm động lúc thấy thiếu phụ xa lạ kia chân thành tưới trên vết thương đau của ông vài giọt lệ quý hóa, - dịu như thuốc Tiên Thánh, ngọt như nước Cam Lồ,- ông bồi hồi ngượng nghịu cúi đặt trên trán nàng một cái hôn trong trẻo, nhớ ơn, một cái hôn chỉ để riêng tặng cho những người thanh khiết. Thiếu phụ rùng mình, như cảm thấy quả tâm nàng, cùng quả tâm ông khách, chúng nó vỗ chung một dịp ái ân đằm thắm, não nùng.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Linh Hồn Hay Xác Thịt -  THẦN HỒ
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc Thanh Vân luôn vui





0