📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn Ernest Hemingway 🔒

58 trả lời, 266 lượt xem — Trang 2 / 2
Đổi thay lớn

- Thôi được - Người đàn ông nói - Còn chuyện ấy thì sao?
- Không - Cô gái đáp - Em không thể.
- Cô bảo là cô không thể.
- Em không thể - Cô gái nói - Em bảo vậy đấy.
- Cô nói cô sẽ không.
- Thôi được - Cô gái nói - Anh có nó theo cách của mình.
- Tôi không có nó theo cách của mình. Lạy Chúa, giá mà tôi đã.
- Anh đã có trong suốt khoảng thời gian dài. - Cô gái nói.
Hãy còn sớm, không có ai ở quán cà phê trừ tay bồi và hai người này đang ngồi cạnh nhau ở cái bàn trong góc. Đã cuối hè, da dẻ hai người sạm nắng đến nỗi trông họ khác lạ giữa Paris. Cô gái vận bộ đồ bằng vải tuýt, da cô màu vàng mịn màng, mái tóc màu hạt dẻ được cắt ngắn, tỉa cao, thật duyên dáng trên trán. Người đàn ông nhìn cô.
- Tôi sẽ giết cô ta. - Anh nói.
- Xin đừng. - Cô gái nói. Cô có hai bàn tay thật đẹp, người đàn ông ngắm chúng. Đôi bàn tay màu nâu, mảnh mai và cực kỳ đẹp.
- Tôi sẽ. Thề có Chúa, tôi sẽ.
- Làm thế thì anh cũng sẽ chẳng hạnh phúc đâu.
- Chẳng nhẽ cô không còn việc gì khác để làm ư? Chẳng nhẽ cô không còn chuyện rắc rối gì khác để mà can thiệp vào nữa hay sao?
- Có lẽ không - Cô gái nói - Anh sẽ làm gì với nó.
- Tôi đã bảo cô rồi.
- Không, em muốn nói thực cơ.
- Tôi không biết - Anh nói. Cô nhìn anh và chìa tay ra - Phil đáng thương ôi!
Anh ta nhìn hai bàn tay nhưng không nắm lấy.
- Không, cám ơn. - Anh nói.
- Có thật là không tốt khi ngỏ lời hối hận?
- Không.
- Và cũng không khi kể cho anh nghe sự thể như thế nào sao?
- Tôi không nghe thì hơn.
- Em rất yêu anh.
- Ừ, việc này đã chứng tỏ tình yêu ấy.
- Em lấy làm tiếc - Cô nói - Nếu anh không hiểu.
- Tôi hiểu. Vấn đề rắc rối là ở đấy. Tôi hiểu.
- Anh hiểu - Cô nói - Dĩ nhiên, việc này càng khiến nó thêm tồi tệ.
- Đương nhiên - Anh nói lúc nhìn thẳng vào cô - Bao giờ tôi cũng hiểu. Cả đêm cũng như ngày. Đặc biệt là về đêm. Tôi sẽ hiểu. Cô không phải lo về điều ấy.
- Em xin lỗi. - Cô nói.
- Giá như đấy là một gã đàn ông...
- Đừng nói như thế. Chẳng có người đàn ông nào cả đâu. Anh biết điều ấy. Anh không tin em sao?
- Nói nghe thật buồn cười - Anh nói - Tin cô. Nghe thật buồn cười.
- Em lấy làm tiếc - Cô nói - Đấy là tất cả em muốn nói. Nhưng một khi chúng ta đã quá hiểu nhau thì vờ vịt phỏng có ích lợi gì.
- Không - Anh nói - Tôi nghĩ là không.
- Nếu anh muốn, em sẽ quay lại.
- Không. Tôi không muốn cô.
Rồi họ chẳng nói lời nào mãi một lúc sau.
- Anh không tin em yêu anh phải không? - Cô gái nói.
- Ta đừng nói chuyện ngớ ngẩn ấy. - Người đàn ông nói.
- Anh không thực sự tin rằng em yêu anh sao?
- Tại sao cô không chứng minh đi?
- Có bao giờ anh đòi hỏi vậy đâu. Anh chẳng hề bảo em chứng minh điều gì cả. Nói vậy không lịch sự.
- Cô là một cô gái khôi hài.
- Còn anh thì không. Anh là người đàn ông tuyệt vời đến nỗi đã làm tim em tan nát và xa anh...
- Dĩ nhiên, cô phải.
- Vâng - Cô nói - Em phải và anh biết điều đó.
Anh không muốn nói lời nào, cô nhìn anh rồi lại chìa tay ra. Người bồi đứng ở góc xa của quầy rượu. Khuôn mặt và cả áo jacket của ông ta đều màu trắng. Ông biết hai người này và nghĩ họ là một đôi trẻ trung xinh xắn. Ông đã từng chứng kiến nhiều đôi trẻ xinh đẹp tan vỡ rồi những đôi mới lại được hình thành nhưng họ chẳng bao giờ kẻo dài cho tử tế. Ông không nghĩ về chuyện ấy nữa mà chuyển sang con ngựa. Nửa tiếng nữa, ông sẽ nhờ người sang bên kia đường hỏi xem chú ngựa ấy có thắng hay không.
- Chẳng nhẽ anh đã không đối xử tốt với em rồi để em đi đó sao? - Cô gái hỏi.
- Cô nghĩ tôi sẽ làm gì nào?
Hai người bước vào cửa, đi đến quầy rượu.
- Vâng, thưa ông. - Người bồi nhận yêu cầu.
- Anh không thể tha thứ cho em à? Một khi anh biết điều ấy? - Cô gái hỏi.
- Không.
- Sao anh không nghĩ về những thứ chúng ta đã từng có, từng trao cho nhau để có thể nghĩ khác đi mà thông cảm cho nhau?
- Sự trụy lạc là con quỷ thoát thai từ lối sống đáng sợ như thế, - Người đàn ông trẻ tuổi cay đắng nói - rồi sẽ trá hình dưới dạng vẻ này hoặc dạng vẻ khác nhưng sẽ bị phát hiện. Rồi chúng ta bằng cách, bằng cách rồi giữ lấy. - Anh không thể nhớ câu ấy - Tôi không thể dẫn ra đây được. - Anh nói.
- Ta đừng nói về sự trụy lạc nữa - Cô nói - Nghe chẳng lịch sự
- Thì đồi bại vậy. - Anh nói.
- James, - Một trong hai vị khách gọi người bồi - trông cậu rât khỏe.
- Ông cũng rất khỏe. - Người bồi đáp.
- James thân - Vị khách khác nói - Cậu béo ra đấy James.
- Tệ thật, - Người bồi nói - tôi cứ phì ra mới khiếp chứ.
- Đừng quên thêm rượu mạnh James à. - Vị khách thứ nhất nói.
- Vâng, thưa ông - Người bồi nói - Hãy tin tôi.
Hai người ngồi bên quầy nhìn hai người ngồi bên bàn rồi lại nhìn người bồi. Hướng về phía người bồi là thuận chiều.
- Em nghĩ sẽ tốt hơn nếu anh không sử dụng những từ như thế - Cô gái nói - Không cần thiết phải dùng từ ấy đâu.
- Thế cô muốn tôi gọi nó là gì?
- Anh không phải gọi tên nó. Anh không phải đặt tên gì cho nó cả.
- Đấy là tên của nó.
- Không - Cô gái nói - Chúng ta được cấu thành bởi vô số các phẩm chất. Anh đã biết điều ấy. Anh đã tận dụng chúng triệt để rồi.
- Cô không cần phải nói. - Thôi được rồi.
- Anh hiểu sai mọi thứ. Em biết. Mọi thứ đều sai đối với anh. Nhưng em sẽ quay lại. Em đã nói với anh là em sẵn sàng quay lại. Em sẽ quay lại ngay bây giờ.
- Không, cô không.
- Em sẽ quay lại.
- Không, cô sẽ không. Chí ít là với tôi.
- Anh sẽ thấy.
- Ừ - Anh ta nói - Sự tồi tệ của nó là ở đấy. Có lẽ cô sẽ...
- Đương nhiên, em sẽ.
- Vậy thì hãy tiếp tục đi đi.
- Thật vậy sao? - Cô chưa thể tin anh nhưng giọng nói có vẻ hạnh phúc.
- Đi đi. - Anh nghe giọng mình thật kỳ lạ. Anh đang nhìn cô, nhìn vào các đường lượn trên môi, khoảng cong của xương gò má, vào mắt, vào mái tóc cắt cao trên trán, vào vành tai rồi cổ cô.
- Thật quá sức tưởng tượng. Ồ, anh rất tuyệt vời - Cô nói - Anh rất tốt đối với em.
- Rồi khi quay lại, cô hãy kể tôi nghe tất cả chuyện ấy. - Giọng anh nghe rất kỳ lạ. Anh không nhận ra nổi. Cô liếc nhanh nhìn anh. Anh đã quyết định xong điều gì đó rồi.
- Anh muốn tôi đi thật sao? - Cô nghiêm túc hỏi.
- Ừ - Anh nghiêm túc đáp - Đi ngay đi. - Giọng anh không bình thường miệng anh đắng lắm - Ngay bây giờ. - Anh nói.
Cô đứng dậy bước nhanh ra ngoài. Cô không quay lại nhìn anh. Anh dõi theo bóng cô. Trông anh giống như cái người trước lúc bảo cô đi. Anh rời bàn đứng dậy, lấy hai tờ séc, mang đến quầy bar.
- Tôi là một người khác rồi James à - Anh nói với người bồi - Anh hiểu, tôi đã là người đàn ông hoàn toàn khác.
- Vâng, thưa ông, gì vậy? - James hỏi.
- Sự đồi bại - Người đàn ông trẻ rám nắng nói - là điều rất kỳ lạ đó James.
Anh nhìn ra cửa. Anh thấy cô đang bước xuống đường. Khi nhìn vào gương, anh thấy mình thực sự là người đàn ông khác. Hai vị khách bên quầy dịch người nhường chỗ cho anh.
- Ông đúng đó, thưa ông. - James nói.
Hai vị kia dịch thêm tí nữa để anh có thể thoải mái hoàn toàn.
Người đàn ông trẻ soi vào tấm gương phía sau quầy.
- Tôi bảo tôi là người đàn ông khác, James à. - Anh nói. Ngắm mình trong gương, anh biết điều ấy rất thực.
- Trông ông khỏe lắm đấy, thưa ông - James nói - Hẳn ông đã trải qua mùa hè tốt lành.

Lê Huy Bắc dịch
0
Sau cơn bão

Chẳng có gì, chẳng có gì đáng để đấm nhau cả, thế mà chúng tôi lại xông vào nhau, tôi trượt chân, bị hắn quật ngã, hắn chèn gối lên ngực tôi, dùng hai tay bóp cổ như thể muốn giết chết tôi, còn tôi thì cứ cố rút dao ra khỏi túi để cắt, buộc hắn buông tôi ra. Mọi người quá say để kéo hắn khỏi tôi. Hắn làm tôi nghẹt thở và đập đầu tôi xuống sàn, tôi lấy được con dao ra, bật lưỡi và cắt đứt bắp cơ trên cánh tay hắn; hắn buông tôi ra. Nếu hắn có muốn thì cũng chẳng thể nào giữ được cổ tôi nữa. Rồi hắn ôm tay lăn lộn và gào lên; tôi nói:
- Mày muốn bóp tao chết nghẹt để làm cái mẹ gì?
Suýt nữa tôi đã giết hắn. Tôi không thể nuốt suốt cả tuần lễ. Hắn làm cổ tôi bị thương tổn.
À, tôi ra ngoài đó và nhiều đứa đi cùng hắn, có vài đứa rượt theo tôi, còn tôi rẽ hướng đi xuống cạnh cầu cảng, ở đấy tôi gặp một gã và gã nói ai đó đã giết người trên phố. Tôi hỏi, - Ai giết hắn? - gã đáp - tôi không rõ là ai giết hẳn nhưng hắn đã chết thẳng cẳng rồi. Trời đã tối và nước đang ngập lên đường; không có ánh sáng, cửa sổ vỡ và thuyền bè ngập thành phố, cây cối bị gió thổi gãy và mọi thứ đều bị thổi tung lên; tôi lấy xuồng ngồi vào chèo ra và tìm thấy con thuyền của tôi ở nơi tôi neo bên trong quần đảo nhỏ Mango; nó vẫn còn nguyên vẹn duy chỉ bị nước ngập tràn. Thế là tôi kéo nó lên bơm nước ra. Đêm có trăng nhưng nhiều mây và sóng còn mạnh nhưng tôi vẫn đưa thuyền ra; và khi trời sáng tôi đã rời khỏi cảng Eastern.
Này, người anh em, đấy là một cơn bão. Thuyền của tôi là chiếc tầu tiên ra khơi và chắc bạn chưa bao giờ nhìn thấy dòng nước nào như thế. Nó trắng như thùng chứa dung dịch kiềm và chảy từ cảng Eastern đến Sou’west Key, bạn không thể xác định được bờ. Có một dòng nước lớn chảy xuyên qua chính giữa bãi biển. Cây cối và mọi thứ bị cuốn đi, một dòng nước cắt ngang và mặt nước trắng như phấn, kể cả mọi thứ nổi trên nó: cành và thân cây, những con chim chết và tất cả mọi thứ đang trôi lềnh bềnh. Bên trong quần đảo, lũ bồ nông trên khắp thế giới và tất cả những loài chim đang di cư qua vùng ấy đã quy tụ lại. Chúng hẳn đã tìm lánh vào trong này khi biết bão sắp đến.
Tôi nằm lại ở Sou’west Key một ngày và chẳng có ai đuổi theo tôi. Thuyền của tôi là chiếc đầu tiên rời khỏi bến, bỗng tôi thấy xa xa chơi vơi một cái cột buồm, tôi hiểu chỗ ấy hẳn có một con tàu đắm và tôi bắt đầu hành trình tìm kiếm nó. Tôi đã tìm thấy. Đấy là chiếc thuyền có ba buồm dọc và tôi chỉ nhìn thấy ba đỉnh cột buồm nhô khỏi mặt nước. Chiếc thuyền chìm ở chỗ nước sâu quá do vậy tôi không thể vớt được thứ gì trên thuyền. Thế là tôi tiếp tục tìm kiếm thứ khác. Tôi đã xem xét đủ mọi thứ và tôi biết tôi nên vớt lấy bất cứ thứ gì được trong tầm tay. Tôi đã bỏ qua ba cồn cát tính từ chỗ chiếc thuyền ba cột buồm dọc chìm, nhưng tôi chẳng tìm thấy thứ gì và tôi tiếp tục đi thêm một khoảng xa. Tôi đã đi khá xa, tiến về phía bãi cát lầy và cũng không tìm thấy gì cả nên tôi vẫn tiếp tục. Rồi khi đi vào trong tầm của vùng sáng Rebecca, tôi thấy đủ loại chim - và quả thật là cả một đàn chim - đang lượn vòng trên thứ gì đó và tôi hướng mũi thuyền về phía ấy để xem đấy là cái gì.
Tôi có thể nhìn thấy một vật giống như chiếc cột buồm nhô lên mặt nước và khi tôi đến gần, lũ chim bay vọt lên lượn vòng quanh tôi. Ở đó nước trong, phần đầu của vật gì đó mấp mô trên mặt nước còn khi đến gần hơn tôi thấy nó đen sẫm dưới nước tựa cái bóng dài và tôi đến ngay bên trên nó: dưới nước là một chiếc tàu, chìm nghỉm, lớn như thể một tòa nhà dài. Tôi thả thuyền trôi qua. Con tàu nằm nghiêng, đuôi tàu chìm sâu trong nước. Tất cả các ô cửa sổ đều được đóng chặt, tôi chỉ có thể nhìn thấy mặt kính ánh lên trong nước và toàn bộ con tàu, con tàu lớn nhất mà tôi đã từng thấy trong đời đang nằm đó và tôi lái thuyền dọc theo hết cả chiều dài của nó. Khi đi hết, tôi buông neo rồi kéo chiếc xuồng trên khoang thuyền ra phía trước, đẩy nó xuống nước và chèo tới trong lúc đàn chim vẫn bay dày đặc xung quanh.
Tôi có một cái kính lặn có thể nhìn rõ dưới nước nhưng tay tôi run đến nỗi khó có thể giữ được nó. Tất cả các cửa sổ trên tàu đều đóng kín, bạn có thể thấy được điều đó khi nhìn dọc theo các dãy cửa nhưng ở phía dưới, gần đáy tàu hẳn có một lỗ hổng nào đó bởi lẽ những mẩu đồ vật không ngừng nổi lên. Bạn không thể nói chúng là gì. Chỉ là những mẩu nhỏ. Đấy là thứ lũ chim đang săn đuổi. Bạn chẳng thể nào thấy chim nhiều đến thế. Cả đàn bay quanh tôi, gào thét điên cuồng.
Tôi có thể nhìn thấy mọi thứ thật rõ ràng. Tôi có thể thấy con tàu bị lật nghiêng và dưới nước trông nó dài đến cả dặm. Nó nằm trên dải cát trắng sạch sẽ và phần nhô lên ấy là cái cột buồm phía trước hay thiết bị gì đó bị bong ra khi con tàu chìm nghiêng xuống. Mũi tàu không chìm sâu trong nước. Tôi có thể đứng trên dòng chữ, tên con tàu, ở đầu mũi mà vẫn nhô được đầu lên khỏi mặt nước. Nhưng cái cửa sổ gần nhất thì lại chìm sâu đến gần bốn mét. Tôi không thể đưa cây sào đến cửa sổ mà tôi định đập vỡ kính. Tấm kính rất cứng. Thế là tôi phải chèo xuồng quay lại thuyền để lấy cái cờ lê buộc vào đầu cây sào nhưng tôi cũng không thể nào đập vỡ nó. Tôi đứng nhìn qua mặt kính vào con tàu với mọi thứ bên trong, tôi là người đầu tiên tìm ra nó nhưng tôi không thể vào bên trong. Con tàu hẳn chứa một khối lượng hàng hóa trị giá năm triệu dollar.
Ý nghĩ về giá trị của con tàu khiến tôi phát run lên. Bên trong cửa sổ gần nhất tôi nhìn thấy cái gì đó nhưng không thể xác định rõ qua lớp kính. Tôi chẳng thể nào xoay xở được với cây sào, tôi cởi đồ, đứng hít mấy hơi thật sâu, cầm cái cờ lê rời đuôi xuồng lặn xuống. Tôi có thể lặn trong vòng một giây là đã đến được gờ cửa sổ, tôi nhìn vào và thấy một người đàn bà, tóc xõa bềnh bồng bên trong. Tôi có thể thấy cô ta rất rõ rồi tôi dùng cờ lê gõ thật mạnh hai lần vào cửa kính, tôi nghe tiếng động dội vào tai nhưng kính vẫn chưa vỡ, tôi phải ngoi lên.
Tôi bám vào xuồng để thở, rồi leo lên thở thêm vài hơi nữa rồi lại lặn xuống. Tôi lần đến nắm lấy gờ cửa sổ, mấy ngón tay bám chặt lấy còn tay kia vung cờ lê giã thật lực xuống tấm kính. Nhìn qua cửa kính, tôi có thể thấy người đàn bà đang lềnh bềnh trong khoang ngập nước. Có lẽ trước đó tóc cô ta được cặp vào đầu nhưng bây giờ nó đã xõa tung. Tôi có thể thấy mấy chiếc nhẫn trên bàn tay của cô ta. Cô ta lập lờ sát cửa sổ, tôi đập vào lớp kính hai lần nhưng cũng chưa làm nó nứt. Khi ngoi lên, tôi nghĩ hẳn mình sẽ không thể phá vỡ được nó trước lúc phải bơi lên để thở.
Tôi lặn xuống thêm lần nữa và đập rạn tấm kính, nhưng chỉ rạn thôi rồi khi trồi lên, mũi tôi chảy máu, tôi đứng trên mũi tàu, đôi chân trần giẫm lên dòng chữ, đầu tôi nhô lên, nghỉ một lát rồi tôi bơi tới xuồng, đu người lên, ngồi đợi cái đầu hết đau rồi nhìn qua kính lặn nhưng máu mũi tôi rỏ xuống nên tôi phải chùi cái kính. Sau đó tôi nằm ngửa trên xuồng, ấn tay vào dưới mũi để cầm máu và tôi nằm đó, ngửa đầu nhìn lên cả triệu con chim đang bay lượn xung quanh.
Khi hết chảy máu, tôi lại nhìn qua lớp kính rồi chèo đến thuyền để tìm xem có vật gì nặng hơn cái cờ lê nhưng tôi không thể kiếm được cái nào; thậm chí chỉ là một cái móc bọt biển. Tôi quay lại, mặt nước dần dần trong hơn, bạn có thể nhìn thấy mọi thứ trôi trên dải cát trắng ấy. Tôi ngại cá mập nhưng không có bóng dáng một con nào. Bạn có thể nhìn thấy cá mập từ xa. Nước thì trong còn nền cát thì trắng. Có một cái móc sắt để làm neo trên xuồng, tôi cắt nó ra, mang khỏi xuồng và lặn xuống. Nó kéo tôi thẳng xuống, vượt qua cửa sổ, tôi chộp lấy gờ cửa nhưng không thể bám vào nên cứ bị lôi tuột đi, trượt qua sườn cong của con tàu. Tôi buộc phải buông tay khỏi chiếc móc. Tôi nghe nó đánh sầm một tiếng và tôi có cảm giác như thể mình phải mất cả năm mới trồi lên được mặt nước. Chiếc xuồng bị thủy triều cuốn đi, mang cái mũi đang chảy máu vào trong nước, tôi bơi đến xuồng và lấy làm mừng là trong lúc bơi, chẳng có con cá mập nào xuất hiện; nhưng tôi đã mệt lử.
Đầu tôi như thể sắp nổ tung, tôi nằm trên xuồng nghỉ một lát rồi chèo quay lại. Chiều đang dần trôi. Tôi cầm cái cờ lê lặn xuống một lần nữa nhưng chẳng làm được gì. Cái cờ lê ấy quá nhẹ. Có lặn thêm nữa cũng chẳng lợi ích gì nếu không có một cái búa lớn hoặc thứ gì đó đủ nặng để phá vỡ lớp kính. Rồi tôi lại buộc cái cờ lê vào cây sào, nhìn qua mắt kính lặn, tôi dộng mạnh xuống mặt kính, rồi cứ thế giã cho đến lúc cái cờ lê tuột ra, tôi thấy rõ nó trên tấm kính rồi trượt xuống theo sườn tàu, rơi ra, chạm mặt cát lầy rồi chui tụt xuống. Đến lúc ấy, tôi chẳng còn làm được trò trống gì nữa. Cờ lê đã mất và trước đó thì cái móc sắt cũng đã chìm, thế là tôi đành chèo xuồng quay lại thuyền. Do quá mệt nên tôi không thể kéo chiếc xuồng lên khoang thuyền, mặt trời đã xuống rất thấp. Đàn chim sắp bỏ đi, rời khỏi con tàu còn tôi thì hướng mũi thuyền vào Sou’west Key, kéo theo chiếc xuồng, đàn chim bay phía trước và cả phía sau. Tôi rất mệt.
Tối ấy trời tiếp tục nổi gió và kéo dài suốt cả tuần. Người ta không thể ra khơi tìm con tàu ấy được. Từ thành phố, có mấy thằng đến báo tôi biết là cái gã bị tôi cắt vẫn bình yên, trừ cánh tay của gã, khi tôi quay lại thành phố chúng phạt tôi năm trăm dollar. Đấy là món tiền thu xếp bởi vài đứa trong chúng, bạn của tôi ấy mà, đã thề sống thề chết là gã ấy đã xách rìu rượt theo tôi; nhưng rồi lúc bọn tôi quay lại con tàu thì cánh Hy Lạp đã dùng thuốc nổ phá lối vào con tàu và quét sạch. Chúng lấy được két sắt. Chẳng ai biết chúng kiếm được bao nhiêu. Con tàu chở vàng và chúng lấy sạch. Chúng vét không còn một mống. Tôi đã tìm thấy nó trước nhưng tôi chẳng kiếm được một xu.
Rõ là một vố chết tiệt. Người ta bảo chiếc tàu vừa đến bên ngoài cảng Havana thì cơn bão ập đến, nó không thể vào cảng hoặc những ông chủ không cho phép thuyền trưởng đưa tàu vào; họ bảo ông ta muốn thử; như thế con tàu phải ra đi. Trong đêm tối, họ cố đưa tàu xuyên qua vịnh giữa Rebecca và Tortugas thế là con tàu đã đâm phải cát lầy. Có lẽ bánh lái của nó đã bị cuốn đi. Có lẽ nó bị bỏ mặc, không tay lái. Nhưng dẫu sao thì chắc thủy thủ đoàn không biết có cát lầy rồi khi bị mắc kẹt, thuyền trưởng hẳn đã ra lệnh mở các khoang giữ thăng bằng để con tàu nằm yên. Nhưng nó đã va phải cát lầy, khi các khoang được mở thì phần đuôi bị chìm trước rồi cả con tàu lật nghiêng sang một bên. Có bốn trăm năm mươi hành khách và thủy thủ đoàn trên tàu và khi tôi tìm thấy thì họ chắc hãy còn trong ấy. Hẳn họ đã mở các khoang cấp cứu ngay khi con tàu đâm phải cát, nhưng ngay lúc ấy cát lầy đã nhấn chìm nó. Sau đó hẳn các nồi hơi nổ tung, nó đã làm cho nhiều thứ ở trong tàu nát nhừ, nổi lên thành nhiều mảnh trên mặt nước. Dầu sao thì điều đáng buồn cười là chẳng có con cá mập nào. Không có lấy một con. Tôi có thể nhìn thấy chúng trên nền cát trắng sạch sẽ ấy.
Nhưng giờ đây thì có nhiều cá lắm; những con cá mú, loài lớn nhất. Hầu như con tàu đã ngập trong cát nhưng chúng vẫn sống trong đấy, các loại cá mú lớn nhất ấy. Vài con cân nặng từ 130 đến 150 kg. Thỉnh thoảng bọn tôi ra đấy bắt mấy con. Từ chỗ tàu chìm bạn có thể nhìn thấy ánh điện của Rebecca. Bây giờ người ta đã cắm một cái phao nơi ấy. Con tàu chìm cuối vùng cát lầy, ngay mép vịnh. Nó chỉ chạy chệch hướng chừng 100 mét. Trong đêm mưa bão, họ không thấy đường bởi màn mưa ngăn không cho họ xác định được Rebecca. Thêm nữa, họ chưa đủ kinh nghiệm với kiểu cát lầy. Thuyền trưởng không quen xử lý tình huống đó. Họ đã vạch sẵn hành trình và người ta cho tôi hay họ có loại la bàn tự điều khiển bánh lái. Có lẽ họ không biết mình ở đâu khi bị gió bão thổi bạt đành phải ghé sát bờ để định hướng. Có lẽ họ đã bị mất bánh lái. Dẫu sao thì trên hành trình đến Mexico, con tàu không còn cơ hội đâm phải thứ gì khác một khi đã nằm trong vịnh đó. Nhưng người ta cũng còn hồ nghi việc con tàu đã húc phải cát lầy trong đêm mưa gió ấy và thuyền trưởng ra lệnh mở các khoang cứu hộ. Không một ai có thể lên boong trong mưa bão. Mọi người chắc phải ở bên dưới. Họ không thể sống trên boong. Nhưng thế hẳn sẽ còn những cảnh tượng kinh hoảng nào đó bên trong tàu bởi bạn biết con tàu đã chìm rất nhanh. Như cái cách tôi thấy cái cờ lê chìm xuống. Thuyền trưởng chỉ không biết con tàu đã đâm vào cát lầy một khi ông ta không am hiểu vùng biển này. Ông ta chắc biết đấy không phải là đá. Ông hẳn có thể nhìn thấy rõ từ trên đài chỉ huy. Ông ta chắc biết chuyện gì sẽ xảy ra khi tàu chìm. Tôi không rõ nó chìm có nhanh không. Tôi thầm hỏi liệu có ai ở đó với ông ta không. Bạn có nghĩ là họ ở trong đài chỉ huy hay là bạn nghĩ họ điều khiển ở bên ngoài. Người ta chẳng thấy cái xác nào. Không có lấy một cái. Không có xác nào nổi cả. Họ cũng không dạt xa với phao cứu đắm. Hẳn họ đã ở bên trong. Chà, bọn Hy Lạp đã cuỗm sạch. Tất cả mọi thứ. Rõ là bọn chúng nhanh tay thật. Chúng quét sạch con tàu. Thoạt tiên là lũ chim, tiếp đến là tôi rồi bọn Hy Lạp sau đó, nhưng thậm chí lũ chim còn có thể kiếm được nhiều hơn tôi.

Lê Huy Bắc dịch
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 07:59:41 bởi casau>
Lịch sử tự nhiên của cái chết

Đối với tôi dường như chiến tranh luôn là mảnh đất hoang chưa được các nhà nghiên cứu tự nhiên quan sát. Chúng ta có những trang miêu tả đầy ấn tượng và hấp dẫn về hệ thực-động vật ở Patagonia trong ấn phẩm gần đây của W. H. Hudson, Đức giám mục Gilbert White đã kể rất hay về hành trình viếng thăm thưa thớt, không đều đặn của loài chim rìu đến Selbome, còn linh mục Stanley đã tặng chúng ta một quyển sách rất giá trị và không kém phần thông dụng, Lịch sử họ hàng của loài chim. Nhưng liệu chúng ta có thể hy vọng cung cấp cho độc giả những sự kiện thú vị và hiếm thấy về cái chết không? Tôi hy vọng là có thể.
Khi Mungo Park, vị du khách kiên nhẫn đang đi theo lộ trình của mình bỗng ngất đi giữa cái hoang vắng rợn người của hoang mạc châu Phi, trần trụi và cô độc, tin rằng thời gian còn sống của mình đã được đánh số, chẳng có gì xuất hiện để gợi trong gã khao khát sống ngoại trừ việc nằm xuống đợi chết thì một bông hoa rêu nhỏ đẹp tuyệt vời đập vào mắt gã. “Mặc dù toàn bộ cái cây kia”, gã nói, “chẳng nhỉnh hơn một ngón tay của ta nhưng ta không thể ngắm mà không ngưỡng mộ sự kiên định tuyệt vời của bộ rễ, lá và quả nang của nó. Liệu tạo hóa, người có thể gieo trồng, chăm tưới và nuôi dưỡng hoàn hảo trên vùng âm u của thế giới này một sinh thể quá ư nhỏ bé, trông như thể bị bỏ rơi trên mặt đất và phải chịu đựng những sinh vật ra đời sau nó không? Chắc chắn là không. Những cảnh tượng như thế này hẳn không cho phép ta tuyệt vọng; ta phải gượng dậy bất chấp cái bụng đói và cơn choáng váng, tiến về phía trước, với niềm tin rằng sự cứu rỗi sắp đến trong tầm tay, ta không được tuyệt vọng”.
Ở vào vị trí đáng để ngưỡng mộ và hoài nghi của kiểu tính cách này như Linh mục Stanley nói thì bất kỳ ngành nghiên cứu Lịch sử tự nhiên nào cũng có thể không tán dương sự kiên định, tình yêu và hy vọng mà mỗi một ai trong chúng ta cũng cần trong hành trình của riêng mình để vượt qua sự mông muội của cõi đời chăng? Vậy nên ta hãy cùng xem xét thứ cảm hứng nào mà ta có thể nhận được từ những cái chết.
Trong chiến tranh, giống đực của loài người thì luôn luôn chết mặc dù điều này không đúng với các loài vật, tôi thường thấy những con ngựa cái chết giữa đám ngựa nghẽo. Một khía cạnh thú vị nữa của chiến tranh, và là điều duy nhất mà các nhà nghiên cứu tự nhiên gặp may là kết quả rút ra qua việc quan sát cái chết của đám lừa. Suốt hai mươi năm theo dõi trong cuộc sống bình thường, tôi chưa hề nhìn thấy một con lừa chết và đã bắt đầu nảy sinh trong lòng mối nghi hoài rằng cái giống vật này chưa bao giờ chết thật cả. Đôi khi tôi cũng bắt gặp những cảnh tượng gợi trong đầu hình ảnh những chú lừa chết nhưng khi đến gần, những con vật ấy hãy còn sống, cái chết của chúng chỉ là sự phản hồi của quá trình thư giãn hoàn toàn. Nhưng trong chiến tranh những con vật ấy cũng chết hệt như cách lũ ngựa gục xuống hay giãy giụa trong cơn hấp hối.
Phần lớn những con lừa chết mà tôi nhìn thấy đều nằm dọc theo đường núi hay nằm dưới chân dốc nơi chúng bị đẩy xuống để tránh làm nghẽn con đường. Chúng dường như hài hòa trong cảnh quan rừng núi nơi mỗi con được người ta làm cho thích nghi với tình huống thực tại và lúc đó trông chúng ít phi lý hơn sau này ở Smyma, những người Hy Lạp đập gãy chân của những con vật thồ hàng của họ rồi đẩy chúng ra khỏi cầu cảng xuống vũng nước cạn cho chết đuối, số lượng lừa và ngựa chết đuối chỗ nước cạn đã kêu đòi Goya vẽ về chúng. Mặc dù nói theo nghĩa đen thì ta khó có thể nói chúng kêu đòi Goya bởi vì chỉ có một Goya duy nhất đã chết từ lâu, và người ta lại càng nghi ngờ hơn khi đám súc vật ấy lại có thể kêu đòi, tái hiện cảnh ngộ của chúng trong tranh nhưng rất có thể nếu chúng phát âm được rõ ràng thì ai đó hẳn sẽ nghe được tiếng nói ấy để làm nguôi ngoai phần nào thảm cảnh của chúng.
Đề cập đến giới tính của cái chết thì còn có điều này, con người ta quen nhìn tất cả các cái chết là của đàn ông còn khi thấy xác chết của một phụ nữ thì họ lại khá sửng sốt. Lần đầu tiên tôi chứng kiến sự đảo lộn cái chết thông thường là ở vụ nổ xưởng sản xuất đạn ở ngoại vi Milan, Italy. Chúng tôi lái xe tải đến khu vực thảm họa trên con đường phủ bóng bạch dương, men theo những con mương có nhiều sinh vật phù du mà tôi chẳng thể nào nhìn rõ bởi xe tải đang khuấy tung những đám bụi lớn. Đến khu vực trước đây là xưởng đạn, trong lúc vài đứa trong bọn tôi được phân đi kiểm tra mấy kho đạn lớn chưa nổ vì một lý do nào đó thì một toán được cử đi dập lửa lúc này đang lan sang cánh đồng lân cận; bọn tôi còn nhận thêm lệnh lập tức phải tìm kiếm xác chết trên cánh đồng và vùng phụ cận. Chúng tôi tìm thấy và mang đến nhà xác dã chiến một số lượng lớn những xác chết và tôi phải thẳng thắn thừa nhận rằng mình đã bị sốc khi thấy trong số tử thi ấy, xác của phụ nữ nhiều hơn xác đàn ông. Dạo ấy phụ nữ chưa có mốt cắt tóc ngắn như họ cắt mãi nhiều năm sau này ở châu Âu và Mỹ, nhưng lúc đó điều bực mình nhất, có lẽ tại vì quá lạ lẫm, là kiểu tóc và càng chướng tai gai mắt hơn khi nó xuất hiện trong thời tóc dài đang ngự trị này. Tôi nhớ sau khi gom hết các tử thi còn nguyên vẹn, chúng tôi bắt đầu nhặt nhạnh các mảnh vụn. Nhiều mảnh bám trên hàng rào dây thép gai dày bao xung quanh xưởng, từ những mẩu thịt bất động ấy chúng tôi có thể kéo lên cả chuỗi bầy nhầy, một sự kiểm nghiệm hữu hiệu cho sức công phá ghê gớm của loại thuốc nổ cực mạnh. Nhiều mẩu chúng tôi tìm thấy cách xa ngoài đồng, chúng bị đẩy đi xa hơn bởi độ nặng của chúng.
Trên đường quay trở lại Milan, tôi nhớ một hoặc hai người trong số chúng tôi tranh luận về điều vừa xảy ra và đồng ý rằng cái khung cảnh hoang tàn và thực trạng chẳng có ai bị thương hẳn đã làm giảm đi nhiều nỗi kinh hoàng của thảm họa mà lẽ ra chắc đã khủng khiếp hơn nhiều. Khung cảnh đó cũng cho thấy vụ nổ diễn ra rất đột ngột, vì thế xác chết vẫn không gây khó chịu lắm khi mang đi và việc làm đó như thể đang diễn ra trên chiến trận. Mặc dù bụi bặm nhưng cảm giác dễ chịu khi đánh xe đi qua nhiều miền quê Lombard xinh đẹp lại là sự bù dắp cho nhiệm vụ khó chịu vừa rồi và trên đường về, trong lúc luận bàn về cảm giác, cả bọn đồng ý rằng đấy là điều thực sự may mắn bởi ngọn lửa mới bùng lên ngay khi chúng tôi vừa đến đã nhanh chóng bị dập tắt trước lúc kịp lan đến mấy kho đạn khổng lồ còn sót lại. Bọn tôi cũng đồng ý rằng việc gom nhặt những mẩu tử thi là công việc kỳ lạ; nó gây nên sự kinh ngạc rằng thay vì nổ tung theo từng bộ phận thì cơ thể con người chẳng bị tung ra theo các đường mổ phẫu thuật thường làm mà bị cắt nát tùy hứng dưới sự tác động của loại đạn có sức công phá mạnh.
Một nhà nghiên cứu tự nhiên, muốn thu lượm độ chính xác thì có lẽ chỉ nên giới hạn sự quan sát của mình vào một giai đoạn và tôi trước tiên sẽ đưa anh ta đến với cuộc tấn công quân Áo vào tháng 6-1918 ở Italy. Bởi đấy là cuộc chiến mà cái chết đã hiện diện với số lượng khổng lồ nhất của nó, một cuộc rút lui bị chặn lại và một cuộc tấn công sau đó nhằm tái chiếm trận địa đã bị thất thủ để các vị trí sau khi trận đánh kết thúc cũng giống hệt như trước đó, ngoại trừ sự hiện diện xác chết. Kể cho đến khi người chết được chôn cất thì hình hài chúng mỗi ngày một thay đổi. Sắc da của các tộc người Cáp-ca từ trắng chuyển sang vàng, đến xanh vàng rồi đen kịt. Nếu bị để lâu dưới cái nóng thì da thịt chuyển sang dạng giống hệt nhựa than đá; đặc biệt là ở những chỗ bị bắn nát hay bị gãy vụn thì chúng phát ngũ sắc hệt như màu than đá. Xác chết trương lên hàng ngày mãi cho đến khi thỉnh thoảng chúng trở nên chật chội trong bộ quân phục, cứ nén chặt cho đến khi sắp nổ tung. Những xác chết riêng lẻ có thể trương phình đến một kích cỡ to lớn không thể nào tin được còn những khuôn mặt thì căng phồng tròn vạnh như mấy quả bóng. Điều kinh ngạc, tiếp theo sự to béo dị thường, là khối lượng giấy tờ vương vãi quanh xác chết. Vị trí sau cùng của chúng, trước lúc tử thi được chôn cất phụ thuộc vào vị trí mấy cái túi của bộ quân phục. Với quân Áo, những cái túi nằm phía sau quần và kẻ chết, sau một thời gian ngắn, tất cả đều nằm úp mặt xuống, hai cái túi bên hông bị lộn ra, giấy tờ chứa bên trong rải đều trên đám cỏ quanh chúng. Cái oi bức, ruồi và vị trí hiển thị của tử thi trên cỏ cùng với đám giấy tờ bao quanh để lại những ấn tượng mạnh trong ký ức của con người. Mùi chiến trận dưới tiết trời oi nồng là thứ mùi không thể nào quên. Bạn có thể nhớ rằng có một loại mùi như thế, nhưng sẽ chẳng có điều gì xảy ra với bạn để gợi lại thứ mùi ấy. Nó chẳng giống mùi trung đoàn mà bất thình lình sống lại trong bạn lúc đi trên ô-tô, bạn nhìn lại và phát hiện ra người đã mang mùi ấy đến cho bạn. Nhưng mùi vị kia sẽ biến mất hẳn khi bạn yêu; bạn nhớ nhiều điều đã xảy ra, nhưng còn cảm giác thì không thể nào nhớ lại được.
Ai đó hẳn sẽ hoài nghi trước những gì mà vị du khách nhẫn nại Mungo Park đã chứng kiến: cảnh chiến địa trong tiết trời nóng bức để củng cố lòng tin của mình. Vào độ cuối tháng Sáu và cả tháng Bảy, cây thuốc phiện thường mọc xen giữa đám lúa mì, cây dâu phủ đầy lá và bạn có thể nhìn thấy những lớp sóng nhiệt tỏa ra từ nòng mấy khẩu súng khi bị mặt trời chiếu trúng qua đám lá; quanh mép công sự mặt đất chuyển sang màu vàng chóe chỗ mấy băng đạn nằm trùi trũi. Xem những ngôi nhà bình thường bị sụp đổ thì dễ chịu hơn xem những ngôi nhà bị đạn bom phá nát, nhưng một vài du khách sẽ khoan khoái hít đầy lồng ngực bầu không khí chớm hạ trong lành đó và có những suy nghĩ giống Mungo Park về những hình ảnh họ tưởng tượng trong đầu.
Điều đầu tiên bạn khám phá được ở các xác chết là đây: bị giã thẳng cánh, họ chết như loài súc vật. Nhiều kẻ chết rất nhanh bởi những vết thương mà bạn nghĩ rằng đến thỏ cũng không chết vì những vết thương như thế. Họ chết bởi những vết thương rất nhỏ như đôi lúc lũ thỏ chết vì ba bốn mảnh đạn ghém mà hầu như khó có thể xuyên đuọc qua da. Những kẻ khác thì chết như mèo, sọ bị xuyên thủng, mảnh đạn găm vào não, họ ngắc ngoải đúng hai ngày giống như lũ mèo lúc lần vào trong thùng than với một viên đạn trong đầu và sẽ không chết cho đến khi bạn cắt đầu chúng, có lẽ lúc ấy cái giống mèo vẫn chưa chết, người ta bảo chúng có chín kiếp, tôi không rõ lắm nhưng hầu hết con người ta đều chết như lũ súc vật, chẳng phải chỉ riêng đàn ông. Tôi chưa bao giờ chứng kiến cái gọi là cái chết tự nhiên vậy nên tôi đổ lỗi tất cả cho chiến tranh và cũng giống như kẻ lữ hành kiên nhẫn Mungo Park kia, người nhận biết còn có một điều gì khác nữa, điều luôn ẩn sau một điều khác, và khi ấy tôi đã chứng kiến.
Một kiểu chết tự nhiên duy nhất mà tôi đã nhìn thấy chẳng hề chảy tí máu nào, chảy máu thì tệ lắm, kiểu chết vì chứng cảm cúm Tây Ban Nha. Mắc phải bệnh này, bệnh nhân sổ mũi, ngạt thở và chắc bạn biết người bệnh chết như thế nào: vào giai đoạn cuối, bệnh nhân lại hóa thành trẻ nhỏ, mặc dù thể xác đã to đùng, nhưng hắn ta vẫn bĩnh ra khăn trải giường như đã từng bĩnh ra tã và cuối cùng chất dịch màu vàng cứ rỉ ra, nhỏ giọt sau khi tim ngừng đập. Vậy nên bây giờ tôi muốn trông thấy cái chết của bất kỳ kẻ tự xưng là nhà nhân văn chủ nghĩa nào, bởi lẽ vị du khách nhẫn nại như Mungo Park hay cả tôi vẫn đang sống và có lẽ sẽ sống để được thấy cái chết thực sự của những thành viên thuộc giới trí thức này và xem cái cách tồn tại cao thượng mà họ tạo ra. Trong lối suy nghĩ của một nhà nghiên cứu tự nhiên thì đối với tôi, hóa ra là trong lúc nghi lễ là tuyệt đối thì một ai đó cần phải không lịch sự nếu vấn đề chủng tộc được đặt ra. Bởi một khi những kẻ cầm quyền ra lệnh sinh đẻ thì thật là trái đạo lý, trái đạo lý quá mức và tôi cũng nghĩ rằng có lẽ đó là do nguồn gốc của những kẻ ấy, những người là hoặc đã là: con cái của những cuộc hôn phối hợp thức. Dầu nhìn thấy cái kết cục của đôi người và hình dung cái cách lũ giun, bọ cố tồn tại trong môi trường khô cằn cố hữu; nơi những cuốn sách kỳ quặc của họ tan thành cát bụi và tham vọng của họ được chú thích đầy bên dưới trang sách.
Có lẽ trong lúc các công dân tự nguyện ấy có mối quan hệ hợp pháp với lịch sử tự nhiên của cái chết, mặc dù sự tự nguyện đó có thể chẳng còn ý nghĩa gì khi cuốn sách này được xuất bản. Nhưng nó lại bất công với những cái chết khác, những người không chết trong sự lựa chọn ở tuổi trẻ của họ, những người chẳng có lấy cuốn tạp chí nào, và nhiều người trong số đó thì ta chẳng còn nghi ngờ gì về việc họ chưa từng mó đến một bài bình luận, nhưng lại được tìm thấy trong cái oi nồng của thời tiết với nửa đấu giòi bọ đang đục khoét tại nơi trước đây là miệng họ. Với cái chết, không phải lúc nào tiết trời cũng nóng, nhiều lúc trời mưa, nước mưa rửa sạch khi họ nằm trong mưa, nước mưa làm đất mềm khi họ được vùi xuống và đôi khi trời cứ mưa cho đến lúc đất hóa bùn, họ lại trồi lên và người ta lại chôn họ. Hoặc trong mùa đông trên núi, bạn lại vùi họ xuống tuyết rồi mùa xuân, khi tuyết tan thì người khác lại phải chôn họ. Họ có những nghĩa địa đẹp trên núi, chiến tranh ở vùng núi là loại chiến tranh đẹp nhất trong tất cả các loại chiến tranh và một lần trong số ấy, tại nơi có tên gọi là Pocol, người ta chôn vị tướng bị một tay bắn tỉa nã xuyên qua đầu. Đấy là nơi nhiều nhà văn nhầm lẫn, những người viết mấy cuốn sách có nhan đề Những vị tướng chết trên giường, bởi vị tướng ấy chết trong giao thông hào đào dưới tuyết, trên vùng núi cao; ngài đội chiếc mũ Alpini cắm lông chim ưng với một cái lỗ phía trước mà bạn không thể đút lọt ngón tay út và một cái lỗ phía sau bạn có thể đút lọt cả nắm tay vào nếu nắm tay ấy nhỏ và bạn muốn đút nó vào, ở đó máu vương tràn trên tuyết. Vị tướng ấy rất cừ và cả tướng Von Behr cũng thế. Ông chỉ huy lực lượng Alpenkorps Bavaria tại mặt trận Caporetto và bị giết trong xe chỉ huy của mình bởi lực lượng tập hậu Italy khi ông đang dẫn đầu đội quân của mình tiến vào Udine, và nhan đề của tất cả những cuốn sách như thế hẳn sẽ là Những vị tướng luôn luôn chết trên giường nếu chúng ta muốn diễn đạt một cách chính xác những chuyện như thế.
Cũng ở miền núi, đôi khi tuyết rơi trên những người chết bên ngoài trạm cấp cứu nằm bên phía rặng núi bảo vệ tránh đạn pháo. Người ta đưa họ vào cái hang khoét từ sườn núi, trước lúc mặt đất đóng băng. Trong hang có một người đầu bị vỡ như kiểu một lọ hoa có thể vỡ và được đính lại bằng màng nhầy và một lớp băng quấn rất kỷ thuật mà bây giờ đã thấm ướt và đông cứng, bộ não bị nhiều mảnh xương sọ làm xây xát nhưng người ấy vẫn còn thoi thóp suốt một ngày, một đêm rồi thêm một ngày nữa. Những người khênh cáng yêu cầu bác sĩ vào khám anh ta. Mỗi lần đưa cáng vào họ đều nhìn thấy anh ta và dẫu cho không nhìn thì họ vẫn nghe tiếng anh ta thở. Mắt bác sĩ đỏ quạch, mi mắt sưng phồng, gần như nhắm hẳn bởi hơi cay.
Ông khám qua anh ta hai lần; một lần vào ban ngày và một lần với cây đèn pin. Cảnh tượng ấy hẳn là hình mẫu tốt cho một bức họa khắc bằng axit của Goya, ý tôi muốn nói là cái lần bác sĩ khám bằng đèn pin ấy. Sau lần khám thứ hai, bác sĩ mới tin lời mấy người khênh cáng khi họ bảo anh ta vẫn còn sống.
“Các cậu muốn tôi phải làm gì bây giờ?” Ông hỏi.
Chẳng có gì để họ muốn cả. Nhưng chỉ lát sau họ xin phép đưa anh ta ra đặt bên cạnh những người bị thương nặng.
“Đừng. Đừng. Đừng!” Bác sĩ đang bận rộn nói. “Chuyện gì vậy? Các cậu sợ hắn ta à?”
“Bọn tôi không thích nghe hắn ở đó bên những người chết”.
“Thì đừng có nghe. Nếu các cậu đưa hắn ra thì tôi sẽ phải đưa hắn vào”.
“Bọn tôi không bận tâm đến điều đó, thưa đại úy bác sĩ”.
“Đừng”, bác sĩ nói. “Đừng. Các cậu không nghe tôi bảo đừng sao?”
“Tại sao ông không tiêm cho hắn một liều morphine cực mạnh?” Viên sĩ quan pháo binh, người đang đợi băng vết thương trên cánh tay, hỏi.
“Anh nghĩ đấy là trường hợp duy nhất tôi dùng morphine à? Anh có muốn tôi mổ mà không cần morphine sao? Anh có súng, hãy ra ngoài đó bắn chết hắn đi”.
“Hắn đã bị bắn rồi”, viên sĩ quan nói. “Nếu có ai trong số bác sĩ bọn anh bị thương thì hẳn các anh đã đối xử khác”.
“Cám ơn anh rất nhiều”, bác sĩ nói trong lúc vẫy cái kẹp trong không khí.
“Ngàn lần cảm ơn anh. Mắt bị sao vậy?” ông ta đưa kẹp chỉ vào. “Sao anh lại bị như thế?”
“Hơi cay. Nếu bị hơi cay, bọn tôi xem là may mắn”.
“Bởi các anh được rời khỏi tuyến đầu”, bác sĩ nói. “Bởi vì bọn anh có thể lợi dụng hơi cay để chuồn đến đây. Anh xát hành vào mắt thì có”.
“Ông hơi quá rồi đấy. Tôi không chấp những lời sỉ nhục của ông. Ông bị điên”.
Mấy người khênh cáng bước vào.
“Thưa đại úy bác sĩ”, một trong số họ nói.
“Ra khỏi đây ngay!” bác sĩ quát.
Họ bước ra.
“Tôi sẽ bắn anh chàng đáng thương ấy”, viên sĩ quan pháo binh nói. “Tôi nhân đạo. Tôi sẽ không để anh ta phải chịu đưng”.
“Vậy thì bắn hắn đi”, bác sĩ nói. “Cứ bắn hắn đi. Nhớ chịu trách nhiệm. Tôi sẽ viết báo cáo. Bị thương, bị giết bởi trung úy pháo binh tại trạm sơ cứu tiền tiêu. Bắn hắn đi. Cứ đi mà bắn hắn”.
“Ông là đồ vô nhân đạo”.
“Nhiệm vụ của ta là cứu chữa thương binh, không phải giết họ. Việc ấy dành cho các quý ngài pháo binh”.
“Vậy thì tại sao ông không cứu chữa cho hắn?”
“Ta đã làm như thế rồi. Ta đã làm tất cả những gì có thể làm”.
“Sao ông không chuyển hắn xuống dưới bằng tàu điện?”
“Anh là hạng người nào mà sao cứ tra vấn mãi thế? Anh là sĩ quan cấp trên của tôi chắc? Anh chỉ huy trạm sơ cứu này à? Trả lời tôi xem nào”.
Viên sĩ quan pháo binh nín thinh. Tất cả những người trong phòng là binh sĩ, chẳng có ai là sĩ quan.
“Trả lời tôi đi”, bác sĩ đang giữ cây kim trong kẹp. “Thử mở miệng ra đi”.
“Đ-mẹ mày”, viên sĩ quan pháo binh chửi.
“Thế đấy”, bác sĩ nói. “Thế đấy, mày nói như thế đấy. Được. Được. Mày sẽ biết”.
Viên sĩ quan pháo binh đứng dậy tiến về phía ông ta.
“Đ-mẹ mày, anh ta chửi. “Đ-mẹ mày. Đ-mẹ mày. Đ-cả đám chị em nhà mày nữa...!”
Bác sĩ tạt cả khay i-ốt đầy vào mặt anh ta. Viên sĩ quan vừa rờ rẫm tiến về phía ông ta vừa đưa tay rút súng. Bác sĩ lách mình bước ra sau anh ta vừa đưa chân gạt rồi khi anh ta ngã xuống, bác sĩ tống cho anh ta mấy đá rồi đoạt khẩu súng cầm trong đôi tay đi găng. Viên sĩ quan ngồi trên sàn dùng bàn tay lành dụi mắt.
“Tao sẽ giết mày!” anh ta nói. “Tao sẽ giết mày ngay khi có thể nhìn thấy”.
“Tao là chỉ huy,” bác sĩ nói. “Mọi chuyện sẽ được bỏ qua nếu mày biết tau là chỉ huy. Mày không thể giết tao vì tao đã tước súng của mày. Trung sĩ. Phụ tá! Phụ tá!”
“Phụ tá đang đi theo tàu điện”, viên trung sĩ nói.
“Dùng cồn pha nước rửa mắt ngài sĩ quan này đi. Hắn bị trúng i-ốt. Mang cho tôi cái chậu rửa tay. Tôi sẽ xem xét ngài sĩ quan này sau”.
“Mày đừng có hòng mà đụng vào người tao”.
“Giữ chặt lấy hắn. Hắn hơi khùng”.
Một trong mấy người khênh cáng bước vào.
“Thưa đại úy bác sĩ’.
“Cậu cần gì?”
“Cái người bị thương trong nhà xác...”.
“Ra khỏi đây ngay”.
“Đã chết rồi, thưa đại úy bác sĩ. Tôi nghĩ ông hẳn vui lòng khi biết tin này”.
‘Thấy chưa, chàng trung úy tội nghiệp của tôi ơi? Chúng ta gây gổ nhau một cách ngớ ngẩn. Trong chiến tranh chúng ta cãi cọ nhau chẳng vì mục đích gì cả”.
“Đ-mẹ mày", viên trung úy pháo binh nói. Anh ta vẫn chưa thể nhìn rõ. “Mày đã làm tao mù”.
“Chẳng sao đâu”, bác sĩ nói. “Mắt của anh sẽ ổn. Chẳng sao đâu. Đúng là rồ mới gây gổ nhau”.
“Ái! Ái! Ái!” viên trung úy bỗng nhiên hét lên. “Mày đã làm tao mù. Mày làm tao mù!”
“Giữ chặt lấy hắn”, bác sĩ nói. “Hắn đang đau lắm đấy. Giữ hắn thật chặt vào”.

Lê Huy Bắc dịch
0
Một nơi sạch sẽ và sáng sủa

Đêm đã khuya, quán cà phê không còn ai trừ ông lão ngồi dưới bóng cây nơi ngọn đèn điện chiếu sáng. Ban ngày, đường phố bụi bặm, nhưng về đêm sương lắng bụi xuống, ông lão thích ngồi nán lại bởi lẽ lão điếc và bởi lẽ bây giờ, không gian đêm yên tĩnh, lão cảm nhận sự khác biệt. Hai người bồi trong quán biết lão đã khá say và cũng vì lão là khách quen nên họ biết nếu say quá, lão sẽ quên trả tiền lúc ra về, họ trông chừng lão.
“Tuần trước lão tự sát hụt”. Một người bồi nói.
“Tại sao?”
“Lão tuyệt vọng”.
“Vì cái gì?”
“Chẳng vì gì cả”.
“Sao anh biết chẳng vì cái gì cả?”
“Lão có nhiều tiền”.
Họ ngồi bên chiếc bàn dựa sát tường, gần cửa ra vào và nhìn ra sân nơi các dãy bàn trống trơn trừ bàn của ông lão trong bóng lá khẽ đung đưa theo gió. Ngoài phố, một cô gái và anh lính bước qua quán cà phê. Đèn đường rọi sáng số hiệu bằng đồng trên cổ áo anh ta. Cô gái để đầu trần, rảo bước trên canh anh lính.
“Đội tuần tra sẽ tóm hắn”, một người bồi nói.
“Có nghĩa lý gì nếu hắn đạt được ước muốn?”
“Tốt hơn hết hắn nên rời khỏi phố. Đội tuần tra sẽ bắt gặp. Chúng vừa mới qua đây năm phút trước”.
Ổng lão ngồi trong bóng cây dùng ly gõ vào đĩa. Người bồi trẻ hơn đi về phía lão.
“Bác cần gì?”
Lão nhìn hắn. “Cho ly nữa”, lão nói.
“Bác sẽ say đấy”, người bồi nói. Lão nhìn hắn. Người bồi đã bước xa.
“Lão sẽ ngồi suốt cả đêm”; hắn nói với tay đồng nghiệp. “Bây giờ em chưa buồn ngủ. Em chưa bao giờ đi ngủ trước ba giờ. Lẽ ra tuần trước lão chết quách đi cho rồi”.
Người bồi lấy chai rượu mạnh và chiếc đĩa trên quầy trong quán rồi bước về phía bàn ông lão. Hắn đặt đĩa xuống, rót đầy ly rượu.
“Tuần trước ông chẳng chết quách cho rảnh nợ”, hắn nói với người điếc. Lão đưa tay ra hiệu. “Thêm tí nữa”, lão nói. Người bồi tiếp tục rót cho đến lúc rượu tràn qua miệng chảy xuống thành ly vào chiếc đĩa trên cùng của chồng đĩa. “Cảm ơn”, lão nói. Người bồi mang chai rượu vào trong quán. Hắn lại ngồi ở bàn, với tay đồng nghiệp.
“Giờ thì lão đã say”, hắn nói.
“Tối nào lão cũng say”.
“Lão tự sát để làm gì nhỉ?”
“Tao làm sao biết được”.
“Lão tự tử bằng cách nào?”
“Dùng dây treo cổ”.
“Ai cắt lão xuống?”
“Cháu gái lão”.
‘Tại sao họ cứu?”
“Lo cho linh hồn lão”.
“Lão có bao nhiêu tiền?”
“Rất nhiều”.
“Lão phải đến tám mươi tuổi rồi”.
“Dầu sao thì tao nghĩ lão cũng đã tám mươi”.
“Em muốn lão về. Em chưa bao giờ ngủ trước ba giờ sáng. Kiểu giờ giấc gì kỳ lạ vậy?”
“Lão nán lại bởi lão thích ngồi”.
“Lão cô đơn. Em không cô đơn. Vợ em đang đợi trên giường”.
“Lão cũng đã từng có vợ”.
“Vợ viếc bây giờ cũng chẳng có ý nghĩa gì với lão”.
“Mày không nên nói thế. Lão sẽ khá hơn khi sống với vợ”.
“Cô cháu chăm sóc lão. Ai bảo cô ta cứu lão”.
“Tao biết”.
“Em không muốn mình già như vậy. Người già là đồ tệ hại”.
“Đâu phải thường xuyên thế. Ông lão này sạch sẽ. Lão uống không để rớt một giọt ra ngoài. Thậm chí ngay cả bây giờ, lúc đang say. Nhìn lão xem”.
“Em không muốn nhìn lão. Em mong lão về. Lão chẳng thương gì những người phải làm việc cả”.
Đằng kia sân, ông lão rời mắt khỏi ly rượu, nhìn ra quảng trường rồi quay về phía hai người bồi.
“Cho ly nữa”, lão nói, tay chỉ vào cái ly. Người bồi, đang sốt ruột, bước vội đến.
“Hết”, hắn đáp trông trổng theo lối của những kẻ dốt ngữ pháp khi nói với một thằng say hay với người ngoại quốc. “Không còn tối nay. Đóng bây giờ”.
“Ly nữa”, lão nói.
“Không. Hết” người bồi lấy khăn cọ cọ mép bàn và lắc đầu.
Lão đứng đậy, chậm rãi đếm chồng đĩa, lấy chiếc ví da trong túi ra trả tiền, không quên nửa peseta tiền phục vụ.
Người bồi nhìn lão bước xuống đường, một ông lão rất già, bước đi không vững nhưng vẫn có phong cách.
“Sao mày không để lão ngồi lại uống?” người bồi không vội về hỏi. Họ đang đóng cửa. “Chưa đến hai rưỡi”.
“Em muốn về nhà ngủ’'.
“Sớm quá chăng?”
“Với em hơn là với lão”.
“Giống nhau cả thôi”.
“Anh nói nghe như ông cụ. Lão có thể mua một chai uống ở nhà”.
“Chẳng giống đâu”.
“Vâng, không giống”, người bồi có vợ đồng ý. Hắn không thích bất công. Hắn chỉ vội về.
“Còn mày nữa? Mày không sợ về nhà sớm hơn thường lệ sao?”
“Anh đang sỉ nhục tụi em đấy à?
“Không anh bạn, chỉ đùa chút thôi”.
“Chẳng sợ”, người bồi đang vội, đứng lên khi đóng xong cánh cửa chớp bằng sắt, nói. “Em có niềm tin. Em tin tất cả”.
“Mày còn tuổi trẻ, niềm tin và công việc”. Người bồi lớn tuổi nói. “Mày có mọi thứ”.
“Còn anh thì thiếu gì?”
“Mọi thứ, trừ công việc”.
“Anh có mọi thứ em có”.
“Không. Tao không hề có niềm tin và tao cũng không còn trẻ”.
“Thôi nào. Đừng nói ngớ ngẩn nữa, khóa cửa thôi”.
“Tao cũng thuộc dạng người thích nán lại muộn trong quán cà phê”, người bồi lớn tuổi nói. “Với tất cả những ai không muốn đi ngủ. Với tất cả những ai cần một ngọn đèn trong đêm”.
“Em muốn về nhà đi ngủ”.
“Chúng ta là hai kiểu người khác biệt”, người bồi lớn tuổi hơn nói. Bây giờ gã mặc đồ để về nhà. “Vấn đề không chỉ là tuổi trẻ hay mềm tin mặc dù những thứ ấy nghe thật hấp dẫn. Mỗi tối tao lần lữa đóng cửa chỉ bởi luôn nghĩ có ai đó sẽ cần quán cà phê”.
“Này anh. Có nhiều tiệm rượu mở suốt đêm đấy”.
“Mày không hiểu. Đây là quán cà phê sạch sẽ và dễ chịu. Nó được thắp sáng. Ánh sáng rất hài hòa và lại có cả bóng lá nữa”.
“Tạm biệt”, người bồi trẻ hơn nói.
"Tạm biệt”, gã kia đáp. Tắt hết mấy ngọn đèn điện, gã tiếp tục độc thoại một mình. Ánh sáng, dĩ nhiên, nhưng điều quan trọng là nơi này sạch sẽ và dễ chịu. Mày không muốn âm nhạc. Chắc chắn mày không cần nhạc. Và mày cũng chẳng hề hào hứng khi đứng trước một quán bar đầy ắp tiếng nhạc trong những lúc như thế này. Lão sợ gì? Không phải nỗi dằn vặt hay mối đe dọa. Đấy chính là hư vô, lão biết quá rõ. Tất thảy đều hư vô, cả con người cũng hư vô nốt. Chỉ có nhận thức ấy cùng với ánh sáng và sự sạch sẽ ngăn nắp nào đó là thực sự cần thiết. Nhiều người sống trong hư vô nhưng chẳng hề cảm nhận được nó. Nhưng lão biết tất cả là nada [1] y pues nada y nada y pues nada [2]. Nada của chúng ta những người sống trong nada, nada là tên Người vương quốc Người nada Người sẽ là nada trong nada như nó trong nada. Ban cho chúng con nada này nada thường ngày của chúng con và nada cho chúng con nada của chúng con như chúng con nada những nada của chúng con và nada cho chúng con không ở trong nada nhưng cứu vớt chúng con khỏi nada, pues nada [3]. Chào hư vô ắp ứ hư vô, hư vô cùng người. Gã mỉm cười và đừng trước quán bar có máy pha cà phê bằng áp suất hơi bóng loáng.
“Anh dùng gì?” chủ bar hỏi.
Nada
Otro loco mas [4]” chủ bar nói và quay đi.
“Một cốc nhỏ”, người bồi nói.
Chủ bar rót cho gã.
“Ánh sáng rực rỡ và dễ chịu nhưng bar không sạch”, người bồi nói.
Chủ bar nhìn gã nhưng không đáp. Đã quá khuya để bắt chuyện.
“Anh có uống thêm nữa không?” chủ bar hỏi.
“Không cám ơn”, người bồi nói rồi bước ra. Gã không thích quán bar lẫn tiệm rượu. Một quán cà phê sạch sẽ và sáng sủa là chuyện khác. Bây giờ, chẳng nghĩ ngợi gì nữa, gã sẽ về nhà rồi lên phòng mình. Gã sẽ nằm trên giường và cuối cùng, trong ánh sáng ban ngày, gã sẽ ngủ. Rốt cuộc, gã tự nhủ, có thể đấy chỉ là chứng mất ngủ. Hẳn nhiều người mắc bệnh ấy.

Lê Huy Bắc dịch
---------------------------
[1] Hư vô
[2] Chỉ là hư vô và hư vô thì là hư vô.
[3] Chỉ là hư vô.
[4] Lại một thằng điên.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 13:13:20 bởi casau>
Ánh sáng của thế giới

Khi thấy chúng tôi bước vào, tay phục vụ nhìn lên rồi lấy hai cái nắp bằng thủy tinh đậy lên hai cái bát đựng món quái quỷ gì đấy.
- Cho tôi một cốc bia. - Tôi nói. Anh ta rót bia rồi đóng vòi lại bằng cần gạt trong khi vẫn cầm cốc bia trên tay. Tôi đặt đồng xu lên quầy, anh ta đẩy cốc bia về phía tôi.
- Ông dùng gì? - Anh ta hỏi Tom.
- Bia.
Anh rót bia, đóng vòi lại rồi khi nhìn thấy tiền anh lại đẩy chéo cốc bia qua cho Tom.
- Có chuyện gì thế? - Tom hỏi.
Tay phục vụ không trả lời. Anh ta chỉ nhìn qua đầu chúng tôi và hỏi người đàn ông mới vào.
- Ông dùng gì?
- Whisky. - Người đàn ông trả lời. Tay phục vu bày ra một cái chai, một cốc không và một cốc nước.
Tom với tay nhấc nắp cái bát. Nó đựng chân giò lợn ngâm chua và một vật bằng gỗ hình thù trông như thể cái kéo có hai cái răng nhọn đầu mũi để gắp thịt.
- Đừng. - Tay phục vụ nói và đậy cái nắp trở lại. Tom cầm cái kéo - nĩa gỗ trên tay - Để nó về chỗ cũ - Tay phục vụ nói.
- Mày biết ở đâu. - Tom nói
Tay phục vụ đưa tay xuống dưới quầy, nhìn hai đứa tôi. Tôi đặt năm mươi xu lên quầy, anh ta nhổm thẳng người lên.
- Ông dùng gì? - Anh ta hỏi.
- Bia. - Tôi đáp, và trước khi rót bia anh ta mở nắp cả hai cái bát.
- Món chân lợn của anh bốc mùi hôi như chó ấy - Tom nói rồi nhổ toẹt tất cả những thứ có trong miệng xuống sàn nhà. Tay phục vụ không nói gì. Người đàn bà uống vội chỗ whisky, trả tiền rồi đi ra mà không thèm nhìn lại.
- Có mày hôi thì có - Tay phục vụ nói - Cả cái lũ cặn bã chúng mày hôi thì có.
- Hắn bảo chúng ta là đồ cặn bã. - Tommy nói với tôi.
- Này - Tôi nói - Ta ra khỏi đây thôi.
- Lũ cặn bã chúng mày cút khỏi đây ngay. - Tay phục vụ nói.
- Tôi đã nói là chúng tôi sẽ đi - Tôi đáp - Đấy không phải là ý kiến của anh.
- Bọn tao sẽ quay lại. - Tommy nói.
- Không, bọn mày chớ quay lại. - Tay phục vụ nói với Tommy.
- Nói cho hắn hiểu hắn đã sai lầm như thế nào. - Tom quay sang nói với tôi.
- Đi thôi. - Tôi nói.
Bên ngoài, trời tối và dễ chịu.
- Đây là cái xó chết tiệt nào? - Tommy nói.
- Tớ không biết - Tôi trả lời - Ta đến ga đi.
Chúng tôi vào thành phố từ đầu này rồi đi ra ở đầu kia. Thành phố nực mùi da thú, mùi vỏ cây dùng để nhuộm và mùi của đống mùn cưa to tướng. Khi chúng tôi đến, trời đang tối, và giờ đây bóng tối đã bao trùm cả không gian lạnh giá, mấy vũng nước trên đường đã bắt đầu đóng băng quanh rìa.
Ở ga, năm cô điếm, sáu người đàn ông da trắng và bốn người đàn ông da đỏ đang chờ tàu. Thật là chật chội, lại thêm hơi nóng phả ra từ bếp lò, không khí ngập mùi khói hăng hắc. Khi chúng tôi bước vào không ai nói gì cả và cửa bán vé đã đóng.
- Anh có thể đóng hộ cửa lại, được không? - Ai đó nói.
Tôi nhìn xem ai vừa nói. Đó là một người đàn ông da trắng. Ông ta mặc chiếc quần dài lụng thụng, đi đôi giày bọc cao su chống nước của cánh thợ rừng và khoác áo mackinaw như những người khác, nhưng không đội mũ, khuôn mặt của ông ta rất trắng, đôi bàn tay cũng trắng và thon.
- Anh đóng cửa lại chứ?
- Đúng vậy. - Tôi trả lời rồi đóng cửa lại.
- Cảm ơn - Ông ta nói. Một trong số những người đàn ông còn lại cười khẩy - Đã bao giờ dây vào tay đầu bếp nào chưa? - Ông ta hỏi tôi.
- Chưa.
- Cậu có thể làm quen với gã này - Ông nhìn người đầu bếp - Anh ta thích đấy.
Người đầu bếp mím chặt môi, ngoảnh mặt đi.
- Hắn bôi nước chanh lên tay - Người đàn ông vẫn nói - Hắn ta chẳng bao giờ cho tay vào nước rửa bát. Hãy nhìn xem chúng trắng như thế nào kia.
Một trong những cô điếm cười vang. Cô ta là cô điếm lớn nhất và là người phụ nữ lớn nhất mà tôi từng gặp trong đời. Cô mặc chiếc váy lụa có thể đổi màu. Hai cô điếm khác cũng to gần như vậy, nhưng trọng lượng của cô lớn nhất thì cũng phải đến 157 kg. Bạn khó mà tin nổi nếu như bạn chưa tận mắt nhìn thấy cô này. Cả ba đều mặc váy đầm đổi màu. Họ ngồi sát vào nhau trên ghế. Họ thật đồ sộ. Hai cô khác có ngoại diện như những cô điếm bình thường, cả hai nhuộm tóc màu vàng.
- Nhìn bàn tay hắn kìa. - Người đàn ông nói và hất đầu về phía người đầu bếp.
Cô điếm ban nãy lại cười rũ rượi và lắc đầu.
Người đầu bếp quay lại và nói rất nhanh.
- Cái đồ núi thịt kinh tởm nhà cô.
Cô điếm vẫn cười rung cả người.
- Ôi, lạy Chúa tôi - Cô nói. Cô ta có giọng nói dịu dàng - Ôi, lạy Chúa lòng lành.
Hai cô điếm khác, cũng to lớn, ngồi lặng lẽ và điềm tĩnh như thể chẳng thấy khôi hài gì, nhưng hai cô này cũng to lớn, lớn gần bằng cô to nhất. Cả hai phải nặng đến 115 kilô. Hai cô khác tỏ vẻ trang nghiêm.
Còn những người đàn ông, trừ người đầu bếp và một người đã nói, có hai người mặc áo choàng dài kín cổ, một người thích thú lắng nghe nhưng hơi rụt rè, còn người kia dường như muốn nói điều gì, cả hai là ngươi Thụy Điển. Hai người da đỏ ngồi ở cuối ghế băng, người nữa đứng tựa lưng vào tường. Người đàn ông ban nãy đang định nói điều gì đó giờ đây nói với tôi. - Giống như thể lên đỉnh đụn cỏ.
Tôi cười và nói lại điều đó với Tommy.
- Thề có Chúa, tớ chưa bao giờ chứng kiến nơi đâu như chốn này - Cậu nói - thử nhìn ba ả ấy!
Ngay lúc đó người đầu bếp lên tiếng.
- Các cậu bao nhiêu tuổi?
- Tôi chín mươi sáu còn cậu kia sáu chín. - Tommy nói.
- Hố! Hố! Hố! - Cô điếm to lớn cười rũ rượi. Cô có giọng nói thật dễ thương. Mấy cô điếm khác không cười.
- Ô, cậu không thể trả lời nghiêm túc được à? Ngươi đầu bếp nói - Tôi hỏi thật lòng đấy mà.
- Chúng tôi một người mười bảy tuổi và người kia mười chín tuổi. - Tôi trả lời.
- Can hệ gì tới cậu? - Tommy quay sang vặc tôi.
- Bình tĩnh.
- Các cậu có thể gọi tôi là Alice. - Cô điếm to lớn nói rồi lại bắt đầu lắc lư.
- Đó là tên chị à? - Tommy hỏi.
- Đúng vậy - Cô trả lời - Alice. Không phải thế sao? - Cô quay lại phía người đàn ông ngồi cạnh anh bếp.
- Alice, đúng thế đấy.
- Đó chỉ là một cái tên của cô. - Người đầu bếp nói.
- Đấy là tên thật của tôi. - Alice đáp.
- Thế còn tên của mấy chị kia? - Tom hỏi.
- Hazel và Ethel. - Alice nói. Hazel và Ethel cùng mỉm cười. Trông họ không được sáng sủa cho lắm.
- Tên chị ta gì? - Tôi hỏi một cô tóc hoe vàng.
- Frances. - Cô trả lời.
- Frances gì?
- Frances Willson. Tên đó có liên quan gì tới cậu không?
- Còn tên chị? - Tôi hỏi một cô khác.
- Ồ, chẳng có gì lạ cả. - Cô ta trả lời.
- Cậu ấy muốn tất cả chúng ta làm quen với nhau - Người đàn ông từ đầu đến giờ đã nói, giải thích - Bộ cô không muốn kết bạn sao?
- Không - Cô tóc nhuộm vàng nói - Chí ít là với ông.
- Cô đúng là hạng cục cằn - Người đàn ông nhận xét - Và sẽ cứ mãi cục cằn như thế.
Cô tóc vàng nhìn bạn và lắc đầu.
- Đồ bảo thủ chết tiệt. - Cô ta nói. Alice cứ rũ người ra mà cười.
- Chẳng có gì đáng cười cả - Người đầu bếp nói - Các người có thể cười tùy thích nhưng chẳng có gì đáng cười cả. Hai bạn trẻ, các cậu tới đâu?
- Anh đi đâu vậy? - Tom hỏi lại anh ta.
- Tôi tới Cadillac - Người đầu bếp nói - Cậu đã đến đó chưa? Chị gái tôi sống ở đó.
- Hắn lại có cả chị gái nữa cơ đấy. - Người đàn ông vận chiếc quần lụng thụng nói.
- Anh không thể ngừng nói năng theo kiểu ấy được à? - Người đầu bếp hỏi - Chúng ta không thể ăn nói một cách nghiêm túc sao?
- Cadillac là quê của Steve Ketchel và Ad Wolgast. - Người đàn ông dè dặt nói.
- Steve Ketchel? - Một trong những cô tóc vàng hỏi lớn như thể cái tên ấy độp mạnh vào tai có - Bố anh ấy đã bắn chết con mình. Vâng, lạy Chúa, chính bố anh ấy. Không còn một người đàn ông nào giống Steve Ketchel nữa dâu.
- Stanley Ketchel không phải tên của anh ta à? - Người đầu bếp hỏi.
- Trời, câm miệng đi - Cô tóc vàng nói - Anh thì biết quái gì về Steve? Stanley. Anh ấy không phải là Stanley. Steve Ketchel là người đàn ông tốt nhất, đẹp nhất, từng tồn tại trên cõi đời này. Tôi chưa bao giờ gặp người đàn ông nào trong sáng, trắng trẻo và đẹp như Steve Ketchel. Không có người đàn ông nào giống anh ấy. Anh di chuyển tựa mãnh hổ và là người tốt nhất, tự do nhất, hào phóng nhất trên đời.
- Cô biết anh ta à? - Một trong những người đàn ông hỏi.
- Tôi biết anh ấy à? Tôi biết anh ấy à? Tôi yêu anh ấy à? Ông muốn hỏi tôi như vậy chứ gì? Tôi biết anh ấy như là ông biết một ai đó trên cõi đời này. Tôi yêu anh ấy như ông yêu Chúa vậy. Chưa có người đàn ông nào tốt bụng, trắng tréo và đẹp trai đến tuyệt vời như Steve Ketchel nhưng bố anh đã bắn anh chết thê thảm như một con chó.
- Cô đã ra biển với anh ấy chứ?
- Không, tôi không biết anh ấy từ trước đó cơ. Anh ấy là người đàn ông duy nhất mà tôi từng yêu.
Mọi người tỏ vẻ rất kính phục cô tóc vàng, người đang kể câu chuyện bằng kiểu giọng oang oang có vẻ cải lương, nhưng Alice bắt đầu rung mạnh người. Tôi cảm thấy điều đó do ngồi bên cô.
- Lẽ ra cô nên kết hôn với anh ấy. - Người đầu bếp nói.
- Tôi không muốn làm ảnh hưởng tới sự nghiệp của anh ấy - Cô tóc vàng nói - Tôi không muốn cản trở bước tiến của đời anh. Anh ấy đâu cần một người vợ. Ôi, lạy Chúa, đấy mới là người đàn ông thực thụ.
- Đó là cách nhìn tỉnh táo - Người đầu bếp nói - Chẳng phải Jack Johnson đã đánh bại anh ấy sao?
- Đấy là trò bịp - Cô tóc vàng lại lên tiếng - Cái đồ chó hoang lớn xác ấy bất ngờ tấn công anh ấy. Anh ấy vừa mới hạ nốc ao Jack Johnson, cái ngữ con hoang to xác ấy. Tên da đen ấy đã đánh anh bằng đầu cây đinh ba.
Cửa bán vé mở, ba người da đỏ đi về hướng đó.
- Steve quật ngã gã da đen. - Cô tóc vàng nói. Anh ấy quay lại cười với tôi.
- Tôi nghĩ cô đã nói là chưa ra biển cơ mà. - Một người nào đó lên tiếng.
- Tôi chỉ ra đó để dự trận đấu ấy. Khi Steve quay lại cười với tôi thì gã da đen chó đẻ ấy như từ dưới địa ngục chui lên, bất ngờ đánh anh. Steve có thể xơi tái hàng trăm thằng giống như cái gã da đen chó má ấy.
- Anh ấy là một đấu thủ vĩ đại. - Một người thợ rừng lên tiếng.
- Thề có Chúa, anh ấy là thế đấy - Cô tóc vàng nói - Tôi tin rằng giờ đây Chúa cũng không có những đấu thủ như anh ấy. Nom anh ấy tựa như một vị thánh. Anh ấy trắng trẻo, sáng sủa, đẹp đẽ, dịu dàng và mạnh mẽ như mãnh hổ hoặc như một tia chớp.
- Tôi đã thấy anh ấy trong cuốn phim quay lại. - Tom nói.
Tất cả chúng tôi đều rất xúc động. Toàn thân Alice rung lên, tôi thấy cô đang khóc. Mấy người đa đỏ đã ra ngoài sân ga.
- Anh ấy tuyệt vời hơn bất cứ ông chồng nào trên thế gian này - Cô tóc vàng lại lên tiếng - Chúng tôi đã kết hôn với nhau trước sự chứng giám của Chúa, giờ đây tôi đã thuộc về anh ấy và mãi mãi sẽ là của anh ấy, toàn bộ đời tôi là của anh. Tôi không đoái hoài tới thân xác của mình nữa. Mọi người có thể chiếm đoạt thân xác tôi. Nhưng linh hồn tôi thì đã thuộc về Steve Ketchel. Thề có Chúa, anh ấy đúng là một người đàn ông.
Tất cả mọi người đều cảm thấy một điều gì đó rất khủng khiếp. Câu chuyện khiến họ buồn và vô cùng lúng túng. Lúc bấy giờ Alice, vẫn run rẩy, lên tiếng.
- Cô là kẻ dối trá bẩn thỉu - Cô nói bằng giọng nho nhỏ - Trong đời mình cô chưa hề có Steve Ketchel và cô biết rõ điều đó.
- Chị nói như thế mà được à? - Cô tóc vàng hỏi lại đầy kiêu hãnh.
- Tôi nói thế vì đó là sự thật - Alice nói - Tôi là người duy nhất ở nơi này đã từng gặp Steve Ketchel khi tôi từ Mancelona đến và gặp anh ở đó; Chúa sẽ đánh chết tôi nếu không phải là sự thật.
- Chúa cũng có thể đánh chết tôi. - Cô tóc vàng nói.
- Điều này hoàn toàn đúng và cô cũng thừa biết như vậy. Nó không giản đơn như là thứ trang điểm đâu và tôi còn nhớ những gì anh ấy đã nói với tôi.
- Anh ấy nói gì với chị? - Cô tóc vàng hỏi đầy tự mãn.
Alice vẫn đang khóc nên cô khó có thể nói trong sự run rẩy như thế.
- Anh ấy nói “Alice em là người đàn bà thật đáng yêu”, - Anh ấy đã nói đúng như thế.
- Giả dối! - Cô tóc vàng thét lên.
- Đó là sự thật - Alice khẳng định - Anh ấy đã nói nguyên văn như thế.
- Giả dối! - Cô tóc vàng nói đầy kiêu hãnh.
- Không, đó là sự thật, sự thật, sự thật, thề có Chúa Jesus và đức mẹ Mary.
- Steve không bao giờ nói như thế. Đó không phải là kiểu nói của anh ấy. - Cô tóc vàng nói một cách sung sướng.
- Đó là sự thật - Alice dịu dàng nói - Dù cô có tin hay không thì điều đó cũng chẳng can hệ gì tới tôi. - Alice không khóc nữa và bình tĩnh trở lại.
- Steve không thể nói như thế. - Cô tóc vàng tuyên bố.
- Anh ấy đã nói như thế đấy - Alice khẳng định và mỉm cười - Tôi nhớ anh ấy đã nói như vậy và tôi thực sự đáng yêu lúc anh ấy nói, cả bây giờ tôi vẫn đáng yêu hơn cô, người đang trâng tráo cứ nhận vơ vào mình.
- Chị không thể lăng mạ tôi - Cô tóc vàng nói - Chị chỉ là một núi thịt đầy nhục dục. Tôi có ký ức của tôi.
- Không - Alice nói với giọng ngọt ngào vô cùng đáng yêu - Cô chẳng có một chút ký ức thật nào cả ngoại trừ ruột gan của mình. Mọi thứ cô chỉ đọc trên báo mà thôi. Tôi trong sáng, cô biết điều đó, những người đàn ông thích tôi ngay cả khi tôi to lớn hơn thế này, cô biết điều đó, tôi chưa bao giờ giả dối và cô biết điều đó.
- Mặc tôi với ký ức của tôi - Cô tóc vàng nói - Với sự thật của tôi, những ký ức tuyệt vời.
Alice nhìn cô ta rồi nhìn chúng tôi, vẻ mặt của cô đã mất đi sự đau đớn và cô mỉm cười với khuôn mặt xinh đẹp nhất mà tôi từng thấy. Cô có khuôn mặt xinh đẹp, làn da mịn màng và giọng nói đáng yêu, cô thật sự đẹp và rất thân thiện. Nhưng Chúa ơi, cô to quá. Cô ta to bằng ba người phụ nữ bình thường. Tom thấy tôi nhìn cô ta bèn nói.
- Thôi, ta đi nào.
- Tạm biệt. - Alice nói. Cô ta nói thật dịu dàng.
- Tạm biệt. - Tôi nói.
- Các cậu đi hướng nào? - Người đầu bếp hỏi.
- Không cùng đường với ông đâu. - Tom đáp.

Phạm Ngọc Thưởng dịch
0
Hỡi quý ông, Chúa ban phước lành cho các bạn

Dạo ấy, quang cảnh hoàn toàn khác biệt, bụi bốc lên trên những ngọn đồi mà bây giờ đã bị san xuống, còn thành phố Kansas thì nom rất giống Constantinople. Bạn có thể không tin chuyện này. Và không một ai lại tin nhưng nó là sự thực. Chiều nay, tuyết đang rơi và bên trong nhà kính bày bán ô-tô, ánh đèn hắt vào bóng tối đang vội đến; có một chiếc ô-tô đua, toàn thân màu bạc với dòng chữ Dans Argent trước mũi. Tôi đoán dòng chữ ấy có nghĩa: vũ hội bạc hoặc vũ nữ bạc, và phải suy nghĩ hồi lâu nghĩa của nó nhưng lại khoái hình thức của chiếc xe và hài lòng trước kiến thức ngoại ngữ của mình, tôi đi trong tuyết, dọc con phổ. Tôi đang từ tiệm rượu Woolf Brothers; nơi ấy nhân dịp lễ Giáng Sinh và lễ Tạ ơn bữa ăn tối với món gà tây miễn phí được phục vụ; quay về bệnh viện, hai phẫu thuật viên cấp cứu đang ngồi, một người là bác sĩ Fischer ở bên bàn, người kia là bác sĩ Wilcox, đang trên ghế tựa lưng vào tường.
Bác sĩ Fischer gầy có mái tóc vàng màu cát, môi mỏng, đôi mắt tinh nghịch và đôi tay của một con bạc. Bác sĩ Wilcox thấp người, da đen và luôn mang theo cuốn cẩm nang Bạn của bác sĩ trẻ và những chỉ dẫn được soạn theo từng chủ đề bệnh, có cả triệu chứng và cách điều trị. Nó cũng có phụ lục trích ngang dành cho việc tham khảo các triệu chứng để đưa ra các chẩn đoán. Bác sĩ Fischer gợi ý rằng bất kỳ một ấn phẩm tương lai nào cũng nên có phần phụ lục trích ngang để nếu cần tham khảo cách điều trị có sẵn thì nó cho thấy kiểu bệnh và triệu chứng. “Như một nhân tố giúp đỡ cho trí nhớ”, ông ta nói.
Bác sĩ Wilcox tự ái vì cuốn sách ấy nhưng không thể hành nghề mà không có nó. Cuốn sách được đóng bìa da, vừa vặn trong túi áo khoác của ông và ông mua nó theo lời khuyên của một trong những giáo sư, người nói, “Wilcox, anh không thể hành nghề như một bác sĩ phẫu thuật được, trong phạm vi của mình, tôi đã làm hết sức để anh không được nhận bằng bác sĩ. Nhưng bây giờ anh đã là thành viên của chuyên khoa này, nhân danh con người, tôi khuyên anh hãy kiếm một cuốn Bạn của bác sĩ trẻ và những chỉ dẫn để hành nghề, bác sĩ Wilcox. Hãy học cách sử dụng nó”.
Bác sĩ Wilcox không nói gì nhưng đã mua một cuốn bọc da ngay trong ngày hôm ấy.
“Này Horace”, bác sĩ Fischer nói khi tôi bước vào phòng đón tiếp nặc mùi thuốc lá, i-ốt, các-bo-níc và máy sưởi tỏa nhiệt quá nóng.
“Chào quý ông”, tôi nói.
“Có tin túc gì dưới phố không?” bác sĩ Fischer hỏi. Ông ta sính nói năng theo lối cường điệu nào đó mà với tôi dường như ông ta nghĩ cách nói đó là rất lịch thiệp.
“Thịt gà tây miễn phí ở tiệm Woolf”, tôi trả lời.
“Anh tham dự tiệc chứ?”
“Dồi dào”.
“Nhiều đồng nghiệp hiện diện chứ?”
“Đủ tất, toàn bộ chiến hữu”.
“Tiệc Giáng sinh vui nhiều không?”
“Không nhiều”.
“Bác sĩ Wilcox đây cũng đã hơi dự tiệc rồi đó”, bác sĩ Fischer nói. Bác sĩ Wilcox nhìn ông ta rồi nhìn tôi.
“Uống tí chứ?” ông hỏi.
“Không, cảm ơn”, tôi đáp.
“Chẳng sao” bác sĩ Wilcox nói.
“Horace” bác sĩ Fischer nói, “anh không bận tâm khi chúng tôi gọi anh là Horace, có phải không?”
“Không”.
“Anh bạn Horace tốt bụng. Bọn tôi có một ca cực kỳ thú vị”.
“Để tôi kể”, bác sĩ Wilcox nói.
“Anh có nhớ anh chàng đến đây hôm qua không?”
“Anh chàng nào nhỉ?”
“Cái cậu muốn thiến ấy”.
“Ừ”, tôi ở đó lúc cậu ta đến. Cậu bé chừng mười sáu tuổi. Cậu ta bước vào, đầu không đội mũ, rất hồi hộp vì sợ nhưng cương quyết. Cậu ta có mái tóc xoăn. Cơ thể cân đối, môi vẩu.
“Có chuyện gì vậy hở con trai?” bác sĩ Wilcox hỏi cậu.
“Cháu muốn được thiến” - Cậu bé đáp.
“Tại sao?” bác sĩ Fischer hỏi.
“Cháu đã cầu nguyện và xoay xở đủ cách nhưng chẳng gì có thể giúp cả”.
“Giúp cái gì?”
“Dục vọng xấu xa ấy”.
“Dục vọng xấu xa gì?”
“Cái cách mà cháu bị. Cách mà cháu không thể kìm lại. Cháu nguyện cầu suốt đêm về chuyện đó”.
“Chuyện gì thế cơ chứ?” bác sĩ Fischer hỏi.
Cậu bé kể cho ông ta. “Nghe này, anh bạn”, bác sĩ Fischer nói. “Chẳng có gì sai trái với cháu cả. Đấy là cách cháu được sinh ra để làm. Việc ấy không có gì là tội lỗi cả”.
“Nó lầm lạc”, cậu bé nói. “Đấy là tội lỗi chống lại sự trong sạch. Tội lỗi trước Chúa trời và Đấng Jesus của chúng ta”.
“Không đúng”, bác sĩ Fischer nói. “ Đấy là thuộc tính tự nhiên. Là cách cháu sẽ là và rồi sau này cháu sẽ nghĩ mình là người may mắn”.
“Ôi, các bác không hiểu”, cậu bé nói.
“Nghe này”, bác sĩ Fischer nói rồi ông giảng giải những cơ chế gì đó cho cậu bé.
“Không. Cháu không nghe đâu. Bác không thể buộc cháu nghe những lời ấy được”.
“Hãy lắng nghe nào”, bác sĩ Fischer nói.
“Mày thật là thằng ngốc thảm hại”, bác sĩ Wilcox bảo cậu bé.
“Vậy là các bác không làm hay sao?” cậu bé hỏi.
“Làm gì?”
“Thiến cháu”.
“Nghe này”, bác sĩ Fischer nói. “Chẳng ai thiến cháu cả. Cơ thể cháu hoàn toàn khỏe mạnh. Cháu có một thân hình cường tráng và cháu đừng băn khoăn về chuyện ấy. Hãy nhớ rằng nếu cháu theo đạo thì những điều cháu đang lo ngại chẳng có tội lỗi gì đâu mà đấy chính là những phương tiện để hoàn thành phép bí tích”.
“Cháu không thể kìm được nó”, cậu bé nói. “Cháu nguyện cầu suốt đêm và cả vào ban ngày. Đó là tội lỗi, tội lỗi thường trực chống lại sự trong sạch”,
“Ồ, hãy đi và...” bác sĩ Wilcox nói.
“Nếu bác nói như thế thì cháu sẽ không nghe bác nữa đâu”, cậu bé nghiêm túc nói với bác sĩ Wilcox. “Bác có vui lòng làm không?” cậu hỏi bác sĩ Fischer.
“Không”, bác sĩ Fischer đáp. “Bác đã bảo với cháu rồi, anh bạn trẻ”.
“Đuổi nó ra khỏi đây”, bác sĩ Wilcox nói.
“Cháu sẽ ra”, cậu bé nói. “Đừng đụng đến cháu. Cháu sẽ tự ra”.
Lúc ấy khoảng năm giờ của ngày hôm trước.
“Vậy chuyện gì đã xảy ra?” Tôi hỏi.
“Thế là vào lúc một giờ sáng hôm nay”, bác sĩ Fischer nói, “Chúng tôi nhận được ca: một anh chàng tự thiến bằng dao cạo”.
“Thiến ư?”
“Không đúng”, bác sĩ Fischer nói “Cậu ta chẳng biết thiến là gì”.
“Cậu bé có thể chết”, bác sĩ Wilcox nói.
“Tại sao?”
“Do mất máu”.
“Bác sĩ phẫu thuật tài ba ở đây, bác sĩ Wilcox, đồng nghiệp của tôi, đang trực ca mà không thể nào tìm thấy trường hợp cấp cứu này trong danh mục quyển sách của ông ấy”.
“Quỷ tha ma bắt kiểu nói ấy của bạn”, bác sĩ Wilcox nói.
“Tôi chỉ muốn diễn đạt theo cách thân thiện nhất, thưa bác sĩ”, bác sĩ Fischer nói trong lúc nhìn bàn tay, ngắm bàn tay với thiện ý bày tỏ bổn phận mà sự sao nhãng quy chế của liên bang đã gây cho ông những rắc rối riêng. “Horace đây sẽ xác nhận rằng tôi chỉ diễn đạt theo lối thân thiện nhất. Cậu bé đã tự mình cắt bỏ, Horace à”.
“Ừ, tôi muốn bạn đừng giày vò tôi về chuyện đó nữa”, bác sĩ Wilcox nói. “Chẳng cần phải giày vò tôi đâu”.
“Giày vò bạn, thưa bác sĩ, vào cái ngày, đúng cái ngày kỷ niệm sinh nhật của đức Chúa Jesus?”
“Đức Chúa của chúng ta chứ? Bạn không phải là dân Do Thái đó sao?” Bác sĩ Wilcox nói.
“Tôi thật là. Tôi thật là. Cái đầu tôi thường mắc lỗi. Tôi không thể buộc nó thực hiện đúng tầm quan trọng của nó. Cảm ơn bạn đã nhắc nhở tôi về chuyện ấy. Đúng rồi. Chúa của loài người, không nghi ngờ gì nữa Chúa của mọi người - và sự giày vò vào ngày Chủ nhật lễ Lá (Chủ nhật trước lễ Phục sinh)”.
“Bạn nhanh thật đấy”, bác sĩ Wilcox nói.
“Một pha chẩn đoán tuyệt vời, thưa bác sĩ. Tôi luôn luôn cực kỳ nhanh nhẹn. Chắc hẳn là quá nhanh trước những tình huống không có nguy hiểm trước mắt. Bỏ quá cho nhé, Horace. Con người ta không có nhiều khả năng nhưng đôi lúc tôi có thể thấy được một tia sáng yếu ớt. Nhưng chỉ là chẩn đoán - mà không có sách”.
“Quỷ tha ma bắt bạn đi”, bác sĩ Wilcox nói.
“Càng tốt, bác sĩ ạ”, bác sĩ Fischer nói. “Càng tốt. Thậm chí tôi còn xem qua nó. Chỉ nhìn trộm thôi, thật đấy. Rồi sẽ quay nhìn nơi khác ngay. Thế anh có biết cậu bé nói gì không hở, Horace, lúc ông bạn bác sĩ quý hóa đây đưa cậu ta vào? Cậu nói. “Ôi, cháu đã yêu cầu các bác làm điều này. Cháu đã nhiều lần cầu xin các bác làm cho cháu”.
“Lại đúng ngay vào lễ Giáng Sinh”, bác sĩ Wilcox nói.
“Ý nghĩa của ngày đặc biệt ấy không quan trọng”, bác sĩ Fischer nói.
“Với bạn thì có thể không”, bác sĩ Wilcox nói.
“Anh nghe ông ấy nói chứ Horace?” bác sĩ Fischer hỏi. “Anh nghe ông ấy nói chứ? Đã phát hiện ra điểm yếu của tôi, gót chân Achilles ấy mà, để công kích; anh bạn bác sĩ đây đang phát huy thế thượng phong của mình”.
“Bạn cực kỳ nhanh đấy”, bác sĩ Wilcox nói.

Lê Huy Bắc dịch
0
Con đường bạn sẽ chẳng hề theo

Cuộc tấn công đã tràn qua cánh đồng, bị chặn bởi làn đạn súng máy từ con đường trũng và mấy ngôi nhà trên cánh đồng, không gặp sự kháng cự trong thị trấn rồi vươn đến bờ sông. Đạp xe đi dọc con đường, thỉnh thoảng phải xuống đẩy bởi nhiều đoạn bị hỏng nặng, Nicholas Adams hiểu chuyện gì đã xảy ra qua vị trí của những người chết.
Họ nằm một mình hoặc chụm lại trong vạt cỏ dại hay dọc theo con đường, túi bị lộn ra ngoài, ruồi bâu dày đặc và; xung quanh mỗi cái xác hoặc đống xác, là cả mớ giấy tờ vương vãi.
Trong vạt cỏ và trên cánh đồng, bên cạnh đường và nhiều nơi trên đường, ngổn ngang các vật dụng: một nhà bếp dã chiến hẳn được đưa đến đây lúc tình hình còn đang yên ổn, rất nhiều túi dết tết bằng da; bom nổ chậm, mũ sắt, súng trường, thỉnh thoảng một cái báng súng nhô lên, lưỡi lê cắm trong lớp đất bụi, rốt cuộc thì chúng đã chui vào lòng đất, bom nổ chậm, mũ sắt, súng trường, xẻng đào hầm, thùng đạn, súng lục star-shell - vỏ đạn vương vãi xung quanh - dụng cụ cứu thương mặt nạ, phòng hơi độc, thùng đựng mặt nạ trống rỗng, một khẩu súng máy chồm chỗm ba chân trên đống vỏ đạn, những thắt lưng đầy đạn thòi ra trong đống thùng, can chứa nước mát hết nhẵn, lăn lông lốc, cả đống khóa nòng vứt lung tung, xác người chết trong tư thế kỳ quặc và quanh họ, trên cỏ, có nhiều loại giấy má đặc biệt hơn.
Có vô khối sách kinh, đám bưu ảnh chụp một đơn vị súng máy, đứng trong hàng vui vẻ như tấm hình đội bóng của một ấn phẩm báo ở trường cao đang, mà giờ chúng đang trương phình lên trong cỏ, những tấm bưu ảnh tuyên truyền in hình một quân nhân trong bộ quân phục Áo đang chồm lên người đàn bà bị đè ngửa ra trên giường; cảnh ấy được vẽ đầy ấn tượng, được miêu tả cực kỳ hấp dẫn với tư thế chẳng gì khác hơn là một vụ cưỡng hiếp trong đó váy người đàn bà bị kéo ngược trùm lên đầu, thỉnh thoảng là cảnh một gã ngồi lên đầu ấy. Rõ ràng, rất nhiều bưu ảnh kích dục này được phát ra chỉ ngay trước cuộc tấn công. Bây giờ chúng đang trộn lẫn giữa những bức ảnh con heo, tấm bưu thiếp tục tĩu với những bức ảnh nhỏ nhắn của các cô gái quê được chụp bởi các phó nháy miệt vườn, vài tấm hình trẻ con và những bức thư, thư, thư. Sẽ luôn có nhiều giấy tờ quanh các xác chết và những đống gạch ngói đổ nát, cuộc tấn công này không ngoại lệ.
Đấy là những cái xác mới và người ta chẳng quan tâm tới bất kỳ thứ gì ngoài túi của chúng. Xác của quân ta, hoặc giả anh nghĩ khác đi thì vẫn cứ là xác quân ta, Nick chú ý, là rất ít. Áo khoác của họ cũng bị lột ra, túi họ cũng bị lộn ra và tư thế nằm chết của họ cho thấy cách thức và kỹ xảo của cuộc tấn công. Thời tiết nóng đã làm tất thảy bọn họ trương phình lên bất chấp cả quốc tịch.
Rốt cuộc thì vài bằng chứng cho thấy thị trấn đã phòng thủ suốt tuyến dọc theo con đường trũng nhưng rất hiếm hay không có người Áo nào chết trong tư thế nằm ngửa trên con đường. Chỉ có ba xác chết trên đường và chúng bị bắn hạ lúc đang chạy. Nhà cửa của thị trấn bị bom đạn tàn phá, đường phố ngổn ngang các đống vôi vữa, gạch vụn, nhiều cây xà nhà gãy, mái ngói vỡ, và cơ man nào là hố, vài chiếc quanh miệng hãy còn vàng quạch bởi hơi thuốc súng. Có nhiều mảnh đạn, bom trộn lẫn trong đống hoang tàn.
Dẫu sao thì Nick Adams cũng chẳng thấy bóng người kể từ lúc anh rời Fornaci đạp xe trên con đường xuyên qua miền quê rợp bóng lá, nhờ những đợt sóng nhiệt tỏa ra trong không gian bên trên tán lá lúc mặt trời rọi vào khối kim loại, anh phát hiện ra mấy khẩu súng dưới tán dâu tây phía bên trái đường. Bây giờ, anh đi xuyên qua thị trấn, lòng ngạc nhiên vì thấy nó hoang vắng rồi rời xa trên con đường thấp dưới bờ sông. Bên ngoài thị trấn, không gian mở ra trụi trần nơi con đường đổ dốc, anh có thể thấy dòng sông êm đềm chảy, thấy đoạn lượn thấp của bờ bên kia và cả dải bùn được mặt trời hong khô, trắng xóa nơi người Áo đào công sự. Cả vùng ấy trù phú, xanh tươi lúc anh nhìn thấy nó lần cuối và; trải qua bao thăng trầm lịch sử, cái vùng đất thấp phía bờ sông ấy vẫn chưa hề bị thay đổi.
Tiểu đoàn án ngự dọc bờ bên trái. Có cả dãy hầm trú ẩn trên đỉnh bờ sông với vài quân nhân phòng thủ. Nick quan sát vị trí đặt súng máy và dàn pháo hiệu trên bệ phóng. Binh sĩ trong những hầm trú ẩn trên bờ sông đang ngủ. Chẳng anh nào muốn gây hấn. Anh tiếp tục đi và lúc vừa vòng qua khúc cua trên bờ sông đầy bùn thì một thiếu úy trẻ có bộ râu bù xù và đôi mắt đỏ ngầu, thâm quầng, chĩa súng lục vào anh.
“Mày là ai?”
Nick bảo anh ta:
“Tôi biết trả lời sao nhỉ?”
Nick đưa anh ta xem giấy giới thiệu dán ảnh có con dấu của quân đoàn ba và chứng minh thư. Anh ta cầm lấy.
“Tôi sẽ giữ cái này”.
“Anh không được giữ”, Nick nói. “Hãy đưa trả tôi chứng minh thư và cất súng di. Nào. Hãy đút nó vào bao”.
“Làm sao tôi biết được anh là ai?”
“Anh đã xem giấy giới thiệu”.
“Ngộ nhỡ giấy giả thì sao? Đưa tôi chứng minh thư ấy”.
“Đừng có ngốc”, Nick vui vẻ nói. “Đưa tôi đến gặp chỉ huy đại đội của anh đi”.
“Tôi sẽ đưa anh đến sở chỉ huy tiểu đoàn”.
“Cũng được”, Nick nói. “Xin hỏi, anh có biết đại úy Paravicini không? Người ấy cao, có bộ ria mảnh, trước đây là kiến trúc sư và nói tiếng Anh?”
“Anh quen ông ấy hả?”
“Sơ sơ”.
“Ông ấy chỉ huy đại đội mấy?”
“Đại đội hai”.
“Ông ấy đang chỉ huy tiểu đoàn”.
“Tốt”, Nick nói. Anh mừng khi biết Para vẫn bình yên. “Chúng ta đến tiểu đoàn đi”.
Ngay khi Nick vừa ra khỏi thị trấn, ba quả đạn bắn lên cao, rồi vòng qua bên phải của một trong những ngôi nhà đổ; từ lúc đó không còn tiếng súng nào nữa. Nhưng vẻ mặt của tay sĩ quan này trông như thể mặt của kẻ đang hứng chịu trận mưa bom. Do có cùng độ căng thẳng nên giọng nói nghe mất tự nhiên. Khẩu súng của anh ta khiến Nick đâm ngại.
“Cất nó đi”, anh nói. “Còn có cả con sông giữa bọn nó và anh kìa mà”.
“Nếu anh là gián điệp thì tôi sẽ bắn chết anh ngay bây giờ”, viên thiếu úy nói.
“Bình tĩnh nào”, Nick nói, “Chúng ta hãy lên tiểu đoàn”. Tay sĩ quan ấy làm anh quá đỗi lo ngại.
Đại úy Paravicini đã được phong thiếu tá, gầy và cao trông ra đáng người Anh hơn bao giờ hết, đứng bật dậy từ sau bàn làm việc trong hầm trú ẩn của sở chỉ huy tiểu đoàn lúc Nick chào.
“Xin chào”, ông nói. “Mình không nhận ra cậu. Cậu đang làm gì trong bộ quân phục này vậy?”
“Họ đút mình vào nó”.
“Mình rất mừng khi gặp lại cậu, Nicolo”.
“Hẳn rồi. Trông cậu khỏe đấy. Chiến sự thế nào?”
“Tụi mình đã đánh một trận ra hồn. Thật đấy. Một cuộc tấn công tuyệt vời. Mình sẽ cho cậu xem. Nhìn này”.
Ông ta chỉ lên bản đồ cuộc tấn công đã diễn ra như thế nào.
“Mình đi từ Fomaci”, Nick nói. “Mình có thể hiểu diễn biến của trận đánh. Một cuộc tấn công rất hoàn hảo”.
“Nó thật ngoạn mục. Cực kỳ ngoạn mục. Cậu đang đi tới trung đoàn đó à?”
“Không. Mình được lệnh đi lòng vòng để cho mọi người thấy bộ quân phục này”.
“Kỳ nhỉ”.
“Nếu họ thấy một bộ quân phục Mỹ thì điều ấy có nghĩa họ sẽ tin rằng nhiều người Mỹ khác đang đến”.
“Nhưng làm sao họ biết được đấy là quân phục Mỹ?”
“Cậu sẽ bảo họ”.
“Ồ. Được, mình hiểu. Mình sẽ phái một hạ sĩ dẫn đường để cậu đi một vòng lên tuyến trước”.
“Như thể một chính khách chánh hiệu”, Nick nói.
“Trông cậu quá lạ trong bộ đồ dân sự. Nó làm cho con người thực sự đổi khác”.
“Thêm một cái mũ phớt”.
“Hoặc một cái mũ phớt lông thú thứ thiệt”.
“Mình có nhiệm vụ đút thuốc lá, bưu thiếp và những thứ đại loại như thế đầy túi”, Nick nói. “Mình nên mang theo một túi đầy chocolate. Những thứ ấy khi phân phát sẽ được kèm theo mớ từ ngữ ngọt ngào và một cái vỗ nhẹ vào lưng. Nhưng chẳng có một điếu thuốc, một tấm bưu thiếp hay một thỏi chocolate nào cả. Thế là họ bảo dẫu sao thì cũng cứ lăng xăng vài vòng”.
“Mình tin chắc sự xuất hiện của cậu sẽ làm cả đoàn quân tăng thêm lòng dũng cảm”.
“Giá mà cậu đừng tin”, Nick nói. “Mình cảm thấy chuyện này đã quá đủ tồi tệ. Về nguyên tắc, hẳn mình phải mang cho cậu một chai rượu mạnh”.
“Về nguyên tắc”, Para nói và mỉm cười, lần đầu tiên ông để lộ hàm răng màu vàng. “Lối diễn đạt hay thật. Cậu có thích dùng một ít Grappa không?”
“Không, cám ơn cậu”, Nick đáp.
“Nó chẳng có một tí ête”.
“Mình vẫn có thể cảm nhận được vị ấy”, đột nhiên Nick nhớ rõ mồn một.
“Cậu biết mình không hề biết cậu say cho đến lúc tự cậu kể ra trên chuyến xe quay về ấy”.
“Mỗi đợt tấn công đều làm mình kinh hãi”, Nick nói.
“Mình không thể chịu đựng nổi nó”, Para nói. “Ngay dấu hiệu đầu tiên của trận đánh mình cảm nhận được nỗi sợ hãi, đúng ngay dấu hiệu đầu tiên, và nó đã khiến mình thấy hoang mang rồi sau đó thì mình thèm uống dữ dội”.
“Cậu không cần rượu”.
“Lúc lâm trận cậu can đảm hơn mình nhiều”.
“Không đâu”, Nick nói. “Mình hiểu bản thân mình nên thích biểu lộ nỗi kinh hoàng. Mình không xấu hổ về chuyện đó”.
“Mình chẳng bao giờ thấy cậu say cả”.
“Không say ư?” Nick nói. “Chẳng bao giờ à? Thì đã chẳng phải là tối hôm ấy lúc hai đứa đạp xe từ Mestre đến Portogrande, mình buồn ngủ bèn lấy chiếc xe đạp thế cho cái mền kéo lên đắp tận cằm đó sao?”
“Lần ấy không phải ở chiến tuyến”.
“Chúng ta hãy đừng nói về lòng can đảm của mình nữa”, Nick nói. “Đấy là vấn đề mà mình đã quá hiểu để chẳng cần phải suy nghĩ thêm”.
“Cậu nên ở lại đây thêm lát nữa”, Paravicini nói. “Cậu có thể chợp mắt một lát nếu buồn ngủ. Bọn chúng, trong trận oanh tạc vừa rồi, cũng chẳng làm căn hầm này suy suyển bao nhiêu. Vả lại bây giờ hãy còn quá nóng để ra ngoài”.
“Mình nghĩ chẳng cần vội làm gì”.
“Thực ra sức khỏe cậu thế nào?”
“Mình khỏe. Mình hoàn toàn khỏe mạnh”.
“Không. Ý mình muốn nói thực tế cơ”.
“Mình bình thường. Chỉ có điều mình chẳng thể ngủ được nếu không có bất kỳ loại ánh sáng nào. Đấy, bây giờ mình ra nông nỗi vậy đấy”.
“Mình nghĩ triệu chứng ấy hắn là do ám ảnh. Mình không phải là bác sĩ nhưng mình hiểu điều ấy”.
“Ừ các bác sĩ bảo tốt hơn hết là cứ để nó giảm dần. Tình trạng sức khỏe của mình là vậy. Chuyện gì nhỉ? Mình không lẩn thẩn chứ, có phải không?”
“Dường như cậu đang tràn trề sinh lực”.
“Sẽ là cả địa ngục ưu phiền nếu một lần người ta trao cho bạn tờ xác nhận bạn là kẻ tâm thần”, Nick nói, “thì chẳng một ai dám đặt chút niềm tin nào vào bạn nữa đâu”.
“Mình xin phép nghỉ một tí đây, Nicolo”, Paravicini nói. “Như bọn mình đã biết, đây đâu phải là sở chỉ huy tiểu đoàn. Bọn mình chỉ đang đợi để bị lôi ra ngoài. Cậu đừng nên ra ngoài trong cái nóng này. Thật là ngốc đấy. Nằm lên giường kia kìa”.
“Mình có thể nằm một lát”, Nick nói.
Nick nằm lên giường. Anh rất thất vọng bởi những điều mình cảm nhận được, thậm chí rõ ràng càng thất vọng rõ hơn với đại úy Parvicini. Căn hầm này không lớn bằng căn hầm nơi trung đội của nhóm tốt nghiệp 1899, do mới ra trận lần đầu nên đã bị khủng hoảng tinh thần bởi đợt oanh tạc trước cuộc tấn công và Para bảo anh đưa hai đứa ra ngoài để cho chúng thấy sẽ chẳng có điều gì xảy ra, anh buộc chặt sợi dây vải qua miệng để giữ đôi môi im lặng. Biết chúng sẽ không giữ được khi nghe tiếng bom. Biết việc ấy cực kỳ tàn nhẫn.
- Nếu hắn vẫn cứ gào, hãy đánh dập mũi hắn để hắn có chuyện mà suy nghĩ. Mình suýt bắn một đứa song bây giờ đã quá muộn. Tất cả bọn chúng quá tệ. Hãy đánh dập mũi hắn. Bọn chúng đang oanh tạc trở lại đến năm giờ hai mươi. Chúng ta chỉ còn bốn phút nữa. Hãy đánh dập mũi cái đồ chó chết đần độn kia và tống cái thân lừa ngu ngốc đó ra khỏi đây. Cậu có nghĩ là chúng sẽ vượt qua được chứ? Nếu chúng không thể thì cứ bắn chết cả hai và bằng cách nào đó hãy tống khứ hết những thằng khác đi. Trung sĩ, hãy đi sau chúng. Đi trước chẳng có lợi gì bởi sẽ chẳng hay chuyện xảy ra sau lưng mình đâu.
Khi đi, buộc chúng đưa tay lên trời. Thực ác độc. Thôi đuợc. Thôi được rồi. Này, nhìn đồng hồ kìa, nghe âm thanh lặng lẽ ấy, âm thanh lặng lẽ có giá trị ấy “Savoia”. Làm nó dịu đi, chẳng còn thời gian để làm chuyện đó, anh không thể tìm thấy đồng hồ của mình sau khi hầm sập, một dạo toàn bộ chấm dứt trong vụ sập hầm; hóa ra là nó làm họ sợ, và làm dịu nỗi hoang mang trên con dốc mà lần duy nhất anh không mượn hơi men. Rồi sau đó họ quay lại căn nhà truyền tin bị cháy trụi, hình như sau đó bốn ngày có mấy thương binh đi xuống rồi không xuống nữa nhưng bọn mình đi lên rồi bọn mình đi xuống và bọn mình đi xuống - bọn mày luôn luôn đi xuống. Rồi còn có cả chú nhóc Gaby Delys, thực ngộ nghĩnh khi đội mũ lông; anh gọi em là nhóc búp bê một năm trước tadada, anh báo em khá xinh khi đội mũ tadada và cả khi bỏ mũ, Gaby cao to và Harry Pilcer cũng chính là tên em, bọn mày thường ra khỏi taxi bằng cửa sau khi nó trườn lên sườn dồi dốc rồi mỗi tối mày có thể thấy ngọn đồi ấy khi mày mơ về Sacré Coeur, bị nổ tung trắng xóa, tựa bong bóng xà phòng. Thỉnh thoảng bạn gái anh ở đó và thỉnh thoảng nàng đến với người khác mà anh chẳng thể cắt nghĩa được, nhưng ấy là đêm tối dòng sông chảy tràn bờ và lặng lẽ hơn bao giờ và bên ngoài Fossalta có một ngôi nhà thấp sơn vàng có rặng liễu bao uanh có cái chuồng ngựa thấp và cả một con kênh, anh đến đó cả ngàn lần nhưng chẳng hề thấy nó, nhưng ở đó những buổi tối mênh mông như ngọn đồi, chỉ làm anh hoảng sợ. Ngôi nhà ấy có ý nghĩa hơn bất kỳ thứ gì và hằng đêm anh có nó. Đấy là điều anh cần nhưng nó làm anh sợ đặc biệt khi con thuyền nằm đấy lặng im trong đám liễu trên bờ kênh và đôi bờ không giống dòng sông này. Mọi thứ ở nơi này thấp hơn khi so với mọi thứ ở Portogrande, nơi họ gặp chúng đang lội trong bùn băng qua vùng đất ngập lụt nâng cao súng cho đến khi chìm nghỉm cùng chúng trong nước. Ai đã ra lệnh ấy nhỉ? Nếu nó đừng chồng chéo nhau một cách thảm hại như thế thì anh hẳn đã thực hiện tốt rồi. Điều đó là lý do anh chú ý đến mọi việc đến từng chi tiết để nhớ chúng rành rành đến thế anh có thể biết ngay mình đang ở đâu, nhưng bất thình lình mọi chuyện lẫn lộn lung tung mà chẳng có lý do nào như bây giờ, anh đang nằm trên giường tại sở chỉ huy tiểu đoàn, cùng Para đang chỉ huy tiểu đoàn và anh trong bộ quân phục sặc mùi Mỹ. Anh ngồi dậy nhìn quanh; mọi người nhìn anh. Para đã ra ngoài. Anh lại nằm xuống.
Một góc Paris đến sớm hơn cả và anh chẳng sợ gì nó ngoại trừ lúc nàng đi với một gã khác và sợ rằng họ lại gọi tay tài xế lần nữa. Đấy là những gì để lo sợ về nơi ấy. Chẳng hề về chiến tuyến. Bây giờ anh không mơ về chiến tuyến tí nào nữa nhưng hình ảnh làm anh kinh hãi đến độ mà anh chẳng thể nào giũ bỏ được là ngôi nhà dài màu vàng và bề rộng khác thường của dòng sông. Giờ thì anh trở lại ngay đó bên cạnh dòng sông, anh cũng đã đi qua cùng thị trấn ấy, nhưng không có một ngôi nhà nào. Cũng chẳng có dòng sông mang dáng hình ấy. Rồi thì mỗi tối anh lạc đến đâu, mối hiểm nguy là gì và tại sao anh chợt thức, sũng nước, kinh hoàng hơn cả lúc ở trong đợt oanh kích, bởi lẽ một ngôi nhà, một chuồng ngựa dài và một con kênh sao?
Anh ngồi dậy, cẩn thận đặt chân xuống, chúng tê cứng bất cứ lúc nào phải đi suốt cả khoảng đường dài; đáp lại cái nhìn của sĩ quan phụ tá, nhóm truyền tin và hai liên lạc viên cạnh cửa, anh đội cái mũ sắt đi trận bọc vải của mình lên đầu.
“Tôi tiếc là không có chocolate, bưu thiếp và thuốc lá”, anh nói. “Nhưng tôi đang mặc đồng phục”.
“Thiếu tá sắp về ngay đó”, tay sĩ quan phụ tá nói. Trong quân đoàn ấy, sĩ quan phụ tá không phải là sĩ quan được ủy quyền.
“Bộ quân phục này chưa chuẩn lắm đâu”, Nick bảo họ. “Nhưng nó tạo cho người ta ý tưởng: Sẽ có hàng triệu người Mỹ đến đây ngay lập tức”.
“Ông cho rằng họ sẽ phái quân Mỹ đến đây chứ?” tay sĩ quan phụ tá hỏi.
“Ồ, là cái chắc. Người Mỹ to gấp hai tôi, khỏe mạnh, lương tâm trong sạch, ngủ vào buổi tối, chẳng hề bị thương, chẳng hề bị nổ tung, không bao giờ có trong đầu một căn hầm sập, không hề sợ hãi, không uống, chung thủy với bạn gái họ để lại đằng sau, hầu hết bọn họ chẳng biết xúc xắc là gì, những thằng người tuyệt diệu. Anh sẽ thấy”.
“Ông có phải là người Italy không?” tay sĩ quan phụ tá hỏi.
“Không, người Mỹ. Hãy nhìn bộ quân phục này. spagnolini cắt may song nó chưa thật chuẩn lắm đâu”.
“Người miền bắc hay miền nam Mỹ”.
“Miền Bắc”, Nick đáp. Bây giờ anh cảm thấy hình ảnh ấy đang đến. Anh trầm xuống.
“Nhưng ông nói tiếng Italy”.
“Tại sao không? Anh có phiền khi tôi nói tiếng Italy không? Tôi chẳng có quyền nói tiếng Italy ư?”
“Ông được tặng huy chương của Italy”.
“Chỉ mấy dài ruy băng và giấy tờ. Huy chương sẽ đến sau. Hoặc là người ta tặng chúng cho binh sĩ để họ giữ lại rồi họ ra đi; hoặc là chúng bị thất lạc cùng với hành lý của anh, thì anh có thể mua lại vài chiếc khác ở Milan. Chỉ giấy tờ là quan trọng. Các anh chớ có tỵ. Nếu ở tuyến trước đủ lâu thì bản thân anh sẽ được nhận vài chiếc”.
“Tôi là cựu chiến binh trong chiến dịch Iritrea”, tay sĩ quan phụ tá tự hào nói. “Tôi tham chiến ở Tripoli”.
“Có lý do để tôi gặp anh”. Nick đưa tay ra. “Những thứ ấy hẳn phải được cố trong thời gian dài. Tôi thấy mấy dải băng của anh. Hẳn anh đã từng ở Carso chứ?”
“Tôi chỉ vừa mới được gọi lại bởi cuộc chiến này. Lớp chúng tôi đã quá già”.
“Có hồi tôi chưa đủ tuổi”, Nick nói. “Nhưng bây giờ tôi đã bị thải khỏi cuộc chiến”.
“Thế tại sao bây giờ anh tại ở đây?”
“Tôi đang trình diện bộ quân phục Mỹ”, Nick đáp. “Anh không nghĩ nó rất có ý nghĩa sao? Tuy cổ áo này hơi chật nhưng chẳng mấy nữa anh sẽ thấy hàng triệu người không đếm xuể mặc kiểu quân phục này nhung nhúc cả đàn tựa lũ cào cào. Châu chấu đỏ, hẳn anh biết, loài chúng ta gọi châu chấu, thật ra ở Mỹ là cào cào. Con châu chấu thật thì có màu xanh nhỏ và khá yếu ớt. Nhưng anh không được nhầm lẫn một con cào cào bảy năm tuổi với một chú ve sầu có thể phát ra âm thanh kéo dài rất đặc trưng mà giờ đây tôi chẳng thể nào mường tượng nổi. Tôi cố hình dung lại nhưng không được. Tôi gần như bắt được âm thanh ấy nhưng rồi nó cứ mờ nhạt đi. Anh sẽ thứ lỗi nếu tôi dừng cuộc đối thoại ở đây chứ?”
“Đi tìm xem thiếu tá ở đâu”, sĩ quan trợ lý sai một trong hai người liên lạc. “Tôi có thể nhận ra là anh đã bị thương đấy”, ông ta nói với Nick.
“Rất nhiều nơi”, Nick nói “Nếu anh quan tâm đến những vết sẹo, tôi có thể cho anh xem những cái thật đặc biệt nhưng tôi vẫn cứ muốn nói về lũ châu chấu. Loài côn trung chúng ta gọi châu chấu như đã nói thực sự là cào cào. Một dạo nó từng giữ vai trò quan trọng trong đời tôi. Câu chuyện hẳn sẽ cuốn hút nên anh có thể nhìn vào bộ quân phục lúc tôi kể”.
Tay sĩ quan phụ tá đưa tay ra hiệu cho gã liên lạc thứ hai ra khỏi hầm.
“Hãy nhìn kỹ bộ đồng phục. Anh biết đó, Spagnolini đã cắt may. Anh cũng có thể nhìn đấy”, Nick nói với người truyền tin. “Thực ra tôi không có cấp bậc. Tôi làm việc tại lãnh sự quán Mỹ. Các anh cứ tự nhiên quan sát. Thậm chí có thể nhìn kỹ nếu các anh thích. Tôi sẽ kể các anh nghe về cào cào Mỹ.
Chúng tôi luôn luôn ưa một loài có tên gọi là loài nâu-trung bình. Chúng có thể lặn giỏi trong nước và cá rất thích chúng. Những con lớn - lúc bay phát ra âm thanh như thể tiếng con rắn chuông dùng để dọa đối thủ của nó, kiểu âm thanh lạnh lùng - có đôi cánh rực rỡ, vài con màu đỏ rực, số khác màu vàng điểm sọc đen, nhưng cánh của chúng tan thành nhiều mảnh khi chạm nước và trở thành kiểu mồi nhếch nhác, nhưng loài nâu-trung bình là chủng loại cào cào mập tròn, chắc nịch và ngon bổ mà tôi đã giới thiệu nãy giờ bằng những lời đầy nhiệt thành hẳn là điều các quý ông có lẽ chưa bao giờ được nghe nói đến. Và tôi phải lưu ý thêm rằng bạn sẽ chẳng bao giờ bắt đủ lượng châu chấu để dùng trong một ngày câu nếu cứ đuổi theo chộp chúng bằng tay hay quật bằng vợt. Làm thế nào thì thật ngớ ngẩn và lãng phí thời gian. Tôi nhắc lại, thưa quý ngài, các ngài sẽ chẳng tóm được bao nhiêu nếu làm theo cách ấy. Thao tác đúng và kỹ thuật nên được dạy cho các sĩ quan trẻ ở mỗi khóa huấn luyện nếu tôi biết ít nhiều để giảng về nó, và một ai đó đã biết ngoài những điều tôi sẽ nói, là dùng một tấm lưới hoặc làm một tấm lưới bằng vải màn bình thường. Hai sĩ quan giữ hai đầu lưới kéo căng ra hoặc diễn đạt theo cách khác là mỗi người đứng mỗi đầu, một tay cầm đằng dưới một tay nắm đằng trên lưới rồi chạy theo chiều gió. Lũ châu chấu bay theo gió sẽ chạm và mắc vào lưới. Thực ra thì chẳng có tí mẹo gì khi bắt một số lượng lớn châu chấu và theo ý tôi thì chẳng một sĩ quan nào mà lại chẳng có đủ chiều cao để nắm một chiếc màn muỗi thích hợp cho khả năng ứng biến để làm một trong những kiểu lưới bắt châu chấu ấy. Thưa quý ngài, tôi hy vọng mình đã trình bày mạch lạc. Có còn thắc mắc gì nữa không? Cả lớp, nếu còn điều gì chưa hiểu thì cứ mạnh dạn hỏi. Nói đi. Không có ai hả? Vậy thì tôi sẽ kết thúc bằng lưu ý này. Bằng từ ngữ của chàng quân nhân vĩ đại ấy và của quý ông, ngài Henry Wilson: Thưa quý ngài, hoặc bạn phải thống trị hoặc các bạn phải bị trị. Tất cả chỉ có thế, thưa quý ngài, tạm biệt!”.
Anh giở cái mũ sắt bọc vải rồi đội nó trở lại rồi khom người bước qua cánh cửa thấp của căn hầm ra ngoài. Para, cùng đi với hai liên lạc viên, đang bước xuống giao thông hào trên con đường trũng. Trong ánh nắng, trời rất nóng và Nick tháo mũ.
“Nên có một hệ thống để tưới ướt mấy thứ này”, anh nói. “Mình sẽ nhúng cái này xuống sông”. Anh bước lên bờ.
“Nicolo”, Paravicini gọi. “Nicolo. Cậu đi đâu đấy?”
“Thực ra mình không phải đi”. Nick cầm cái mũ trong tay bước xuống bờ dốc. “Đúng là phiền toái thật, ướt hoặc khô. Cậu thường xuyên đội mũ sao?”
“Bất cứ lúc nào”, Para đáp. “Nó đang làm mình hói. Vào trong đi”.
Vào hầm, Para bảo anh ngồi xuống.
“Cậu biết chúng hoàn toàn chẳng tốt lành tí nào”, Nick nói. “Mình nhớ lần đầu tiên bọn mình đội, nó thật thoải mái, nhưng rồi hằng bao nhiêu lần mình thấy nó dính đầy não”.
“Nicolo”, Para nói. “Mình nghĩ cậu nên quay lại. Mình cho rằng sẽ tốt hơn nếu cậu đừng đến chiến hào cho đến lúc cậu có được những tiếp phẩm ấy. Chẳng còn gì để cậu làm ở đây đâu. Nếu cậu đi quanh, thậm chí chỉ phân phát vài thứ có giá trị, thì binh sĩ sẽ tập trung lại rồi sẽ dẫn đến bắn nhau. Mình không muốn điều ấy”.
“Mình biết việc này thật là ấu trĩ” Nick nói. “Nhưng nó không phải là ý kiến của mình. Mình nghe tin lữ đoàn ở đây thế là mình nghĩ mình sẽ gặp cậu hoặc một ai đó mình quen. Mình có thể chọn giữa Zenzon và San Dona. Và mình muốn đến San Dona để gặp lại lữ đoàn”.
“Mình sẽ không nghĩ cậu đến mà không có mục đích”, đại úy Paracivini nói.
‘Thôi được”, Nick đáp. Anh cảm thấy hình bóng đó lại đang đến.
“Cậu hiểu chứ?”
“Dĩ nhiên”, Nick nói. Anh đang cố giữ nó lại.
“Bất kỳ mục đích nào của việc ấy cũng nên được tiến hành vào ban đêm”.
“Tất nhiên”, Nick nói. Bây giờ anh biết mình không thể dừng nói được nữa rồi.
“Cậu thấy đó, mình đang chỉ huy tiểu đoàn”. Para nói.
“Thế cậu không xứng đáng hay sao?” Nick nói. Này nó đến. “Cậu có thể đọc và viết phải không?”
“Ừ”, Para dịu dàng đáp.
“Điều rắc rối là cậu đang chỉ huy một tiểu đoàn quá tơi tả. Nếu nó khôi phục lại đủ quân số thì họ sẽ điều cậu quay về đại đội. Mà sao họ không chôn người chết nhỉ? Giờ mình vẫn thấy chúng. Mình không sợ khi lại nhìn thấy xác chết lần nữa. Người ta có thể chôn bất kỳ lúc nào trong suốt khoảng thời gian mình đến đây và việc ấy hẳn tốt hơn nhiều đối với cậu. Cậu luôn là người sợ máu mà”.
“Cậu để xe đạp ở đâu?”
“Trong ngôi nhà cuối cùng”.
“Cậu nghĩ sẽ ổn chứ?”
“Đừng lo”, Nick nói “Lát nữa mình sẽ đi”.
“Nằm nghỉ tí nữa, Nicolo”.
“Ừ”.
Anh nhắm mắt và rồi nơi ấy thay vì một người đàn ông có bộ râu, ngắm anh qua đầu ruồi khẩu súng, hoàn toàn bình tĩnh trước lúc bóp cò, một tia chớp trắng rồi một cú nện tựa dùi cui vào gối anh. Cơn đau nóng dịu, phun bắn vào bờ đá trong lúc chúng vượt qua anh, anh thấy một ngôi nhà dài màu vàng với cái chuồng ngựa thấp và dòng sông rộng hơn, tĩnh lặng hơn nhiều so với hình ảnh trước đấy. “Lạy Chúa”, anh nói. “Mình phải đi ngay”.
Anh nhổm dậy.
“Mình sẽ đi Para à”, anh nói “ Mình sẽ đạp xe trở lại ngay trong chiều nay. Nếu đồ tiếp tế tới, thì tối nay mình sẽ chuyển đến. Nếu không thì mình sẽ đến vào buổi tối khi có món gì đó để mang theo”.
“Đạp xe bây giờ vẫn còn nóng lắm”, đại úy Paravicini nói.
“Cậu đừng lo”, Nick nói. “Giờ thì mình hãy còn bình thường một lúc nữa. Ban nãy mình có một cơn nhưng không quá khủng khiếp. Chúng dần dễ chịu hơn. Mình có thể biết lúc nào mình sắp có một cơn bởi lẽ khi ấy mình nói nhiều lắm”.
“Mình sẽ cử cậu liên lạc đi với cậu”.
“Mình muốn cậu đừng. Mình biết đường”.
“Cậu sẽ chóng quay lại chứ?”
“Đương nhiên”.
“Để mình cử”.
“Không cần”, Nick nói. “Chỉ cần mật hiệu”.
“Thôi được, vậy thì: Ciaou”.
“Ciaou” Nick nói. Anh bắt đầu quay lại trên con đường lỗ chỗ đến nơi để chiếc xe đạp. Vào buổi chiều, con đường sẽ có bóng mát khi anh vượt qua kênh. Đằng kìa, cây cối mọc hai bên bờ vẫn chưa bị đạn bom tàn phá mảy may. Trên đoạn đường ấy, một dạo lúc hành quân, họ đã vượt qua trung đoàn kỵ binh Terza Savoia đang cầm thương phóng đi trên tuyết. Hơi thở của đàn ngựa tuôn thành làn sương trắng trong bầu không khí lạnh. Không, chuyện ấy ở nơi nào khác kia. Nó ở đâu nhỉ?
“Tốt hơn là mình nên đi lấy chiếc xe đạp cà tàng ấy”, Nick tự nhủ. “Mình không muốn bị lạc trên đường đến Forinaci.

Lê Huy Bắc dịch
0
Mẹ của gã pê đê

Khi bố mất, hắn hay còn nhỏ, người quản lý đã mai táng ông vĩnh viễn. Hóa ra ông là người biết tiên liệu việc mai sau. Nhưng khi mẹ mất, tay quản lý của hắn nghĩ hai đứa không còn làm bà phiền nữa. Bởi chúng yêu thương nhau lắm; hắn là kẻ Pê Đê, hẳn bạn chưa biết điều ấy, nhưng dĩ nhiên hắn là thế đấy. Hắn chỉ chôn mẹ có năm năm thôi.
Rồi khi từ Tây Ban Nha về Mexico, hắn nhận được giấy báo lần thứ nhất. Người ta nói thời hạn năm năm đã hết và hắn cần phải thu xếp để giữ lại mồ của mẹ. Chỉ cần đóng hai mươi dollar là có được một nấm mồ vĩnh viễn. Dạo ấy do có tiền nên tôi bảo với hắn, Paco, để tôi lo liệu việc ấy. Nhưng hắn bảo đừng, cứ để mặc hắn. Hắn sẽ thu xếp ổn ngay. Đấy là việc của mẹ và hắn muốn tự mình thu xếp.
Độ tuần lễ sau, hẳn nhận được tờ nhắc nhở lần hai. Tôi đọc cho hắn nghe rồi bảo tôi tưởng hắn đã làm việc ấy rồi.
“Chưa”, hắn đáp, hẳn chưa làm.
“Để tao làm”, tôi nói. “Chỉ ngay đây, trong két bạc này”.
“Đừng”, hắn nói. Chẳng ai có thể lay chuyển được ý định của hắn. Tự hắn sẽ làm việc ấy một khi hắn muốn. “Phải biết nơi nào cần thiết để chi tiền chứ?”
“Thôi được”, tôi nói, “tùy mày”. Trong thời gian ấy, ngoài khoản thu nhập như thường lệ hắn ký một hợp đồng đấu sáu trận với bốn ngàn peso mỗi trận. Chỉ tính riêng ở thủ đô, hắn đã kiếm hơn mười lăm ngàn dollar. Hắn rất bận, chỉ có thế.
Tuần sau, thông báo thứ ba được gởi đến, tôi đọc cho hắn. Người ta bảo nếu tiền không được trả vào thứ Bảy tới thì mộ của mẹ hắn sẽ bị đào và hài cốt sẽ được gom vào đống xương công cộng. Lúc về thành phố vào chiều hôm ấy, hắn nói sẽ thu xếp việc đó.
“Sao không để tao làm?” tôi bảo hắn.
“Đừng dây vào việc của tao”, hắn nói. “Đấy là việc của tao, tao sẽ thu xếp”.
“Thôi được, nếu đó là điều mày muốn làm”, tôi nói. “Hãy làm lấy việc của mày đi”.
Hắn lấy tiền ở két mặc dù lúc nào hắn cững luôn mang theo một trăm peso hay nhiều hơn thế trong người, hắn nói hắn sẽ thu xếp. Hắn mang tiền đi và thế là, dĩ nhiên, tôi nghĩ hắn đã làm việc ấy.
Một tuần sau, tờ thông báo đến, họ bảo do không nhận đuợc hồi âm từ lần báo cuối cùng nên xương cốt của mẹ hắn đã bị gom dồn vào đống xương chung.
“Lạy Chúa”, tôi bảo hắn, “mày nói mày đã trả cho việc này và đã mang tiền đi nhưng bây giờ chuyện gì đã xảy ra với mẹ mày vậy? Lạy Chúa, thử nghĩ xem! Đống xương chung và mẹ của chính mày. Tại sao mày không để tao làm việc đó? Tao sẽ nộp ngay khi thông báo đầu tiên đến”.
“Không phải việc của mày. Đấy là mẹ tao”.
“Không phải việc của tao, đúng, nhưng là việc của mày. Dòng máu nào chảy trong huyết quản cái thằng người nỡ đối xử với mẹ mình như thế? Mày không xứng đáng có một bà mẹ”.
“Đấy là mẹ tao”, hắn nói. “Giờ thì mẹ đã gần gũi tao hơn. Giờ thì tao không buồn và không phải nghĩ về việc mẹ phải nằm dưới mồ. Bây giờ mẹ luôn ở bên tao trong không gian, tựa như đàn chim và những đóa hoa. Bây giờ mẹ luôn luôn ở cùng tao”.
“Lạy Chúa”, tôi nói, “dẫu sao thì mày mang cái dòng máu nào trong người cơ chứ? Tao không muốn nghe mày nói nữa”.
“Mẹ là tất cả quanh tao”, hắn nói. “Giờ đây tao sẽ chẳng bao giờ buồn”.
Dạo ấy hắn đang vung hết tiền vào đám đàn bà, đang cố tỏ ra mình là một gã đàn ông và là một thằng ngố thực sự, những hành động đó chẳng tác động mảy may đến những người biết đôi điều về hắn. Hắn nợ tôi hơn sáu trăm peso mà vẫn chưa chịu trả.
“Sao mày lại cần nó ngay bây giờ cơ chứ?” hắn hỏi. “Mày không tin tao sao? Bọn mình không phải là bạn của nhau à?”
“Việc này chẳng liên quan gì đến tình bạn hay lòng tin. Sự thực là tao phải bỏ tiền thanh toán các khoản trong lúc mày đi vắng, bây giờ tao cần lấy lại và mày phải trả tao”.
“Tao không còn tiền”.
“Mày còn đấy”, tôi nói, “ở trong két ấy, mày có thể trả tao”.
“Tao cần khoản ấy cho một việc”, hắn nói. “Mày không biết tao cần phải chi tiền cho bao nhiêu khoản cần thiết đâu”.
“Tao đã ở đây suốt thời gian mày đến Tây Ban Nha và mày đã nhờ tao trả những khoản ấy khi đến hạn, những thứ liên quan đến ngôi nhà, mà trong lúc đi xa mày chẳng gởi về một xu, tao phải rút tiền túi ra trả hơn sáu trăm peso, bây giờ tao cần tiền, mày phải trả lại tao”.
“Tao sẽ trả mày ngay”, hắn nói. “Nhưng giờ đây tao kẹt lắm”.
“Để làm gì”.
“Vì tí việc riêng”.
“Tại sao mày không trả tao một ít từ tài khoản?”
“Tao không thể”, hắn nói. “Tao rất cần số tiền đó. Nhưng tao sẽ trả mày”. Hắn chỉ đấu đến lần thứ hai ở Tây Ban Nha, khán giả không thể chịu đựng nổi, họ phát ngấy lên vì hắn, rồi hắn mua bảy bộ đồ thi đấu mới và đây là cách hắn làm: hắn buộc mấy bộ đồ cẩu thả đến độ bốn chiếc đã bị hỏng bởi nước biển trên hành trình quay về, hắn chẳng thể nào mặc được chúng.
“Lạy Chúa”, tôi bảo hắn, “mày đến Tây Ban Nha. Mày ở lại đó suốt cả mùa mà chỉ đấu có hai trận. Mày xài hết thảy tiền kiếm được vào áo quần rồi làm hỏng chúng bởi nước muối đến nỗi không thể nào mặc được. Đấy, mùa đấu của mày thế đấy và việc riêng của mày cũng là thế đấy. Tại sao mày không trả tao tiền mày nợ để tao có thể đi?”
“Tao muốn mày ở lại”, hắn nói, “rồi tao sẽ trả cho mày. Nhưng giờ thì tao đang cần tiền”.
“Mày rất cần tiền để trang trải cho nấm mồ của chính mẹ mày để mẹ mày mồ yên mả đẹp. Phải thế không hả?” tôi hỏi.
“Tao hạnh phúc với những gì đã xảy ra với mẹ”, hắn nói. “Mày chẳng thể hiểu nổi”.
“Chúa ơi! Tao không thể hiểu à!” tôi nói. "Mày trả tao số tiền mày nợ hoặc tự tao sẽ lấy trong két”.
“Tao sẽ giữ kỹ két”, hắn nói.
Ngay chiều hôm ấy hắn đưa một thằng vô lại đến gặp tôi, cái gã đồng hương nào đó ở thị trấn của hắn, một kẻ cháy túi, rồi nói. “Đây là người anh em đang cần tiền để về nhà bởi mẹ cậu ấy ốm nặng”, Gã ấy chỉ là một thằng cha vớ vẩn, bạn biết đấy, một kẻ mà trước đây hắn chưa hề gặp, nhưng lại là đồng hương với hắn và hắn muốn tỏ ra mình là tay đấu bò hào phóng, vĩ đại trước người cùng quê ấy.
“Đưa cho cậu ta năm mươi peso ở trong két”, hắn bảo tôi.
“Mày vừa nói không còn tiền trả tao”, tôi nói. “Nhưng sao bây giờ mày lại muốn biếu năm muơi peso cho cậu này”.
“Cậu ấy là đồng hương đấy”, hắn nói, “và đang gặp khó khăn”.
“Đồ khốn nạn”, tôi nói. Tôi đưa hắn chìa khóa két. “Mày hãy giữ lấy. Tao sẽ về thành phố”.
“Đừng giận”, hắn nói. “Tao sẽ trả cho mày”.
Tôi lái ô-tô về thành phố. Đấy là xe của hắn nhưng hắn biết tôi lái tốt hơn hắn. Mọi thứ hắn làm, tôi có thể làm tốt hơn. Hắn biết điều đó. Thậm chí hắn chẳng hề biết đọc, biết viết. Tôi sắp đi gặp vài người và tìm cách để buộc hắn trả tiền lại cho tôi. Hắn bước theo nói. “Tao sẽ đi cùng mày rồi sẽ trả cho mày. Chúng mình là bạn tốt của nhau, chẳng cần phải cãi cọ”.
Chúng tôi về thành phố, tôi đang lái. Chỉ ngay trước lúc hai đứa vào thành phố, hắn rút ra hai mươi peso.
“Tiền đây”, hắn nói.
“Đồ lật lọng không mẹ kia”, tôi mắng hắn và chửi cho hắn biết hắn đã tiêu tiền như thế nào. “Mày cho cái đồ vô lại ấy năm mươi peso mà chỉ trả tao hai mươi peso trong lúc mày nợ tao sáu trăm. Tao sẽ không lấy của mày một xu nào nữa. Mày biết cách để xài nó”.
Tôi bước ra khỏi xe, không một xu dính túi và không biết tối nay sẽ ngủ ở đâu. Sau đó tôi đến chỗ hắn cùng với một người bạn để lấy đồ đạc. Tôi không hề nói chuyện với hắn mãi cho đến năm nay. Tối nọ, tôi gặp hắn đang đi cùng với ba người bạn trên đường đến rạp chiếu bóng Callao ở Gran Via, Madrid. Hắn chìa tay cho tôi.
“Chào Roger, anh bạn cũ”, hắn chào tôi. “Sức khỏe thế nào? Mọi người bảo mày đi nói xấu tao. Mày đã nói hoàn toàn không đúng về tao”.
“Những gì tao nói chỉ là mày chẳng hề có mẹ”, tôi bảo hắn. Đấy là câu tệ hại nhất, được dùng để nhục mạ kẻ khác trong ngôn ngữ Tây Ban Nha.
“Đúng đấy”, hắn nói. “Người mẹ đáng thương của tao mất khi tao hãy còn rất nhỏ nên dường như tao chưa hề có mẹ. Chuyện này buồn lắm”.
Sẽ luôn có một kẻ thích chơi trội trước bạn. Bạn chẳng thể nào làm động lòng chúng. Chẳng người nào, vật nào lại có thể làm chúng cảm động. Chúng xài tiền cho bản thân hoặc cho những chuyện phù phiếm, nhưng chúng chẳng bao giờ trả nợ mà cố kiếm một ai đó trả thay. Tôi nói với hắn những gì tôi nghĩ về hắn ngay lúc ấy, tại Gran Via trước mặt ba đứa bạn của hắn còn hắn thì trong lần gặp ấy đã nói với tôi như thể là bạn bè. Dòng máu nào đã sản sinh ra cái giống người như thế?

Lê Huy Bắc dịch
0
Một bạn đọc viết

Nàng ngồi bên bàn, trong phòng ngủ, tờ báo mở trước mặt và không nhìn những bông tuyết tan khi chúng chạm xuống mái nhà bên ngoài cửa sổ. Nàng viết lá thư này, một mạch, không dừng lại hay tẩy xóa.
Roanoke, Virginia
Mồng sáu tháng hai 1933
Thưa bác sĩ
Tôi muốn ông cho tôi một lời khuyên - tôi phải quyết định một việc mà không dám xin ý kiến của bố mẹ. Vả lại, do không còn biết phải tin vào ai và cũng không cần phải tiếp xúc mà vẫn có thể thoải mái tâm sự nên tôi viết thư nhờ ông. Chuyện là thế này - năm 1929 tôi kết hôn với một quân nhân Hoa Kỳ, trong năm ấy, chồng tôi được điều sang làm việc tại Thượng Hải, Trung Quốc - anh đã ở lại đấy ba năm rồi quay lại nhà mẹ anh ấy ở Helena, Arkansas bởi vì vài tháng trước, anh đã giải ngũ. Anh viết thư cho tôi - tôi đến và biết anh đang mắc phải một căn bệnh truyền nhiễm rồi khi tôi hỏi, anh bảo đang điều trị nhưng bây giờ tôi không thực nhớ rõ tên bệnh, chỉ nhớ phát âm như thể “siflus” (bệnh giang mai). Ông có biết bệnh ấy không? Xin hãy cho biết liệu tôi có việc gì không nếu lại chung sống với chồng, kể từ lúc anh quay về từ Trung Quốc, tôi đã không gần gũi. Anh quả quyết với tôi là sau đợt điều trị, anh sẽ khỏi. Ông có nghĩ thế không? Tôi thường nghe bố tôi bảo nếu mắc phải bệnh đó thì bệnh nhân sẽ chết. Tôi tin bố nhưng cũng rất tin chồng. Hãy làm ơn, làm ơn bảo tôi phải làm gì. Tôi đã sinh một bé gái trong lúc anh ấy đang ở Trung Quốc.
Tôi chân thành cảm ơn ông và tuyệt đối nghe theo lời khuyên của ông tôi là và ký tên nàng.
Hẳn ông ấy sẽ bày cho mình cách hành động đúng đắn, nàng thầm nhủ. Ông ấy rất có thể khuyên mình. Tấm hình ông trên báo trông như thể ông thấu hiểu mọi chuyện. Trông ông rất thông minh. Hằng ngày, ông khuyên bảo mọi người. Hẳn ông ấy hiểu mình muốn hành động đúng. Dẫu sao, thời gian đã quá lâu. Đấy là khoảng thời gian dài. Và căn bệnh đã kéo đài. Lạy Chúa, lâu quá. Mình biết anh phải chấp hành lệnh điều động, nhưng mình không hiểu anh làm việc ấy để làm gì. Ôi, lạy Chúa, giá như anh đừng đến đấy. Mình chẳng bận tâm nguyên do anh mắc bệnh. Nhưng mình ước giá mà Chúa giữ cho anh khỏi bệnh. Mình chẳng biết phải xử sự sao đây. Ước gì Chúa giúp anh không nhiễm bệnh. Mình chẳng hiểu tại sao anh lại mang bệnh.

Lê Huy Bắc dịch
0
Thụy Sĩ tôn kính

Phần I
Chân dung ngài Wheeler ở Montreux

Bên trong quán cà phê trên sân ga, không khí ấm áp và sáng sủa. Những chiếc bàn gỗ sáng bóng vì lau chùi; trên bàn, những bao bánh bích quy mặn bọc giấy bóng được bày ở rá. Những chiếc ghế được chạm trổ, mặt ghế tuy đã mòn vẹt nhưng ngồi thì rất thoải mái. Một chiếc đồng hồ có vỏ bằng gỗ được chạm trổ, treo trên tường và một quầy rượu ở cuối phòng. Bên ngoài cửa sổ tuyết đang rơi.
Hai người phu khuân vác của ga đang ngồi uống rượu vang mới cất ở chiếc bàn bên dưới đồng hồ. Một người phu khác đi vào và nói tàu tốc hành Simplon - Orient bị chậm một tiếng ở Saint Maurice. Anh ta ra ngoài. Một nữ tiếp viên đến bên bàn của ngài Wheeler.
“Tàu tốc hành bị chậm một tiếng, thưa ngài”, cô nói. “Tôi mang cà phê cho ngài nhé?”
“Nếu cô nghĩ nó sẽ không làm tôi chong mắt ra”.
“Thưa?”. Cô tiếp viên hỏi.
“Hãy mang cho tôi”, ngài Wheeler nói.
“Cảm ơn”
Cô mang cà phê từ bếp ra, ngài Wheeler nhìn ra ngoài cửa sổ nơi tuyết đang rơi trong ánh sáng hắt ra từ phía sân ga.
“Cô có nói được ngoại ngữ nào khác ngoài tiếng Anh không?” ông ta hỏi cô tiếp viên.
“Ồ, có thưa ngài. Tôi nói được tiếng Đức, tiếng Pháp và mấy thổ ngữ”.
“Cô có muốn uống một chút gì không?”
“Ồ, không thưa ngài. Không được phép uống ở trong quán với khách ạ”.
“Cô có hút xì gà không?”
“Ồ, không, thưa ngài. Tôi không hút thuốc”.
“Được đấy”, ngài Wheeler nói. Ông ta lại nhìn ra ngoài cửa sổ, uống cà phê rồi châm một điếu thuốc.
“Fraulein” [1] ông ta gọi. Cô tiếp viên đi đến.
“Thưa ngài, ngài cần gì ạ?”
“Cần cô”, ông ta nói.
“Ngài không nên đùa với tôi như vậy”.
“Tôi không đùa đâu”.
“Vậy thì ngài đừng nói thư thế nữa”.
“Tôi không có thời gian để tranh luận”, ngài Wheeler nói. “Tàu sẽ đến trong vòng bốn mươi phút nữa. Nếu cô chịu lên gác với tôi, tôi sẽ trả cô một trăm frăng”.
“Thưa ngài, ngài đừng nên nói như thế. Tôi sẽ gọi bảo vệ vào nói chuyện với ngài đấy”.
“Tôi không cần bảo vệ”, ngài Wheeler nói, “và cũng không phải một tay cảnh sát hay một gã bán thuốc lá nào cả. Tôi cần cô”.
“Nếu ngài còn nói những điều như vậy thì ngài phải ra khỏi đây. Ngài không được ở đây mà nói năng như thế”.
“Tại sao tôi lại phải đi cơ chứ? Nếu cô đi khỏi đây thì tôi đã không nói chuyện được với cô”.
Cô tiếp viên đi ra ngoài. Ngài Wheeler nhìn để xem cô nói gì với mấy người bảo vệ không. Cô đã không nói.
“Mademoiselle!” [2]. Ông ta gọi. Cô tiếp viên đi đến “Mang cho tôi một chai Sion”.
“Vâng, thưa ngài”.
Ngài Wheeler nhìn cô bước ra, lát sau đi vào với chai rượu rồi mang đến bàn ông ta. Ông ta nhìn lên đồng hồ.
“Tôi sẽ trả cô hai trăm frăng” ông ta nói.
“Xin đừng nói như thế nữa”.
“Hai trăm frăng là một khoản tiền lớn”.
“Ngài không được nói như vậy nữa!” Cô tiếp viên nói. Cô đã để lạc mất giọng tiếng Anh của mình. Ngài Wheeler chăm chú nhìn cô.
“Hai trăm frăng”
“Ông là kẻ đáng ghét”.
“Tại sao cô không đi đi? Tôi không thể nói với cô nếu như cô không ở đây”. Cô tiếp viên rời bàn, đi về phía quầy. Ngài Wheeler uống rượu và thỉnh thoảng mỉm cười một mình.
“Mademoisslle” ông ta gọi. Cô tiếp viên giả vờ không nghe thấy. “Mademoiselle” ông ta lại gọi. Cô tiếp viên đi đến.
“Ông muốn gì?”
“Rất nhiều. Tôi sẽ trả cô ba trăm frăng”.
“Ông là kẻ đáng nguyền rủa”.
“Ba trăm frăng Thụy Sĩ”.
Cô bỏ đi, ngài Wheeler nhìn theo cô. Một người phu khuân vác mở cửa. Anh ta là người trông hành lý cho ngài Wheeler.
“Tàu sắp đến, thưa ngài”. Anh ta nói bằng tiếng Pháp. Ngài Wheeler đứng lên.
“Mademoiselle” ông ta gọi. Cô tiếp viên đi về phía bàn. “Chỗ rượu này bao nhiêu đây?”
“Bảy frăng”.
Ngài Wheeler lấy tám frăng để lên bàn. Ông ta mặc áo khoác vào và theo sau người phu khuân vác ra sân ga, nơi tuyết đang rơi.
“Aurevoir Mademoiselle”, [3] ông ta nói. Cô tiếp viên nhìn ông ta đi. Ông ta quả là xấu xí, cô nghĩ, thật xấu xa và đáng ghét. Ba trăm frăng cho một việc như vậy là không đáng để làm. Đã bao nhiêu lần mình làm điều đó mà chẳng vì gì cả. Vả lại ở đây không có chỗ để làm việc đó. Nếu ông ta thông minh hơn một tí thì đã biết ở đây không có chỗ nào. Không có thời gian và không có chỗ để làm chuyện ấy. Người Mỹ là thế đấy.
Đứng trên sân ga đúc bằng xi-măng, bên cạnh những chiếc túi của mình, nhìn xuống đường ray theo hướng ánh đèn pha tàu hỏa quét xuyên qua tuyết, ngài Wheeler nghĩ rằng quả là quá rẻ khi giải trí như thế. Thật ra, ông ta chỉ tiêu phí, trừ tiền ăn tối, bảy frăng cho chai rượu và một frăng tiền buốc-boa. Bảy mươi lăm xu thì hẳn là tốt hơn. Bây giờ ông ta sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nếu như khoảng tiền buốc-boa chỉ hết bảy lăm xu. Một frăng Thụy Sĩ bằng năm frăng Pháp. Ngài Wheeler phải về Paris, ông ta là người rất cẩn thận về chuyện tiền nong và không quan tâm đến đàn bà.
Trước đấy, ông ta đã từng đến ga ấy và đã biết là không có cái gác nào để lên cả. Ngài Wheeler không bao giờ làm gì ngẫu nhiên.
 
Phần II
Ngài Johnson nói về điều đó ở Vevey


Bên trong quán cà phê trên sân ga, không khí ấm áp và sáng sủa; những chiếc bàn sáng bóng vì lau chùi; vài chiếc được trải khăn có sọc đỏ và trắng; những chiếc còn lại được trải khăn sọc xanh và trắng; bàn nào cũng có một cái rá đựng những bao bánh bích quy mặn bọc giấy bóng. Những chiếc ghế được chạm trổ, mặt ghế tuy cũ nhưng ngồi thì rất thoải mái. Một chiếc đồng hồ treo trên tường, một quầy rượu viền kẽm ở cuối phòng; bên ngoài cửa sổ, tuyết đang rơi. Hai người phu khuân vác của ga đang ngồi uống rượu vang mới cất ở chiếc bàn bên dưới đồng hồ.
Một người phu khác đi vào và nói rằng tàu tốc hành Simplon - Orient bị chậm một tiếng ở Saint Maurice. Một nữ tiếp viên đi đến bên bàn của ngài Johnson.
“Tàu tốc hành bị chậm một tiếng thưa ngài”, cô tiếp viên nói. “Tôi mang cà phê cho ngài nhé?”.
“Nếu điều đó không quá rắc rối”.
“Thưa?” cô tiếp viên hỏi.
“Tôi sẽ dùng một chút”.
“Cảm ơn”.
Cô mang cà phê từ trong bếp ra, ngài Johnson nhìn ra ngoải cửa sổ nơi tuyết đang rơi trong ánh sáng hắt ra từ phía sân ga.
“Cô nói được ngoại ngữ nào khác ngoài tiếng Anh không?”
“Ồ, có, tôi nói được tiếng Đức, tiếng Pháp, và vài thổ ngữ’.
“Tôi muốn mời cô uống một chút gì, được chứ?”
“Ồ, không, thưa ngài. Không được phép uống trong quán với khách ạ”.
“Thì một điếu xì gà vậy?”
“Ôi, không, thưa ngài”, cô cười to. “Tôi không hút thuốc, thưa ngài”.
“Tôi cũng không”, Johnson nói. “Đó là một thói quen xấu”.
Cô tiếp viên đi khỏi, Johnson châm một điếu thuốc và uống cà phê. Đồng hồ trên tường chỉ mười giờ kém mười lăm phút. Đồng hồ của ông ta hơi nhanh. Lẽ ra, tàu đã đến vào lúc mười giờ ba mươi - chậm một tiếng, nghĩa là mười một giờ ba mươi phút. Johnson gọi cô tiếp viên.
“Signorina” [4]
“Thưa, ngài cần gì ạ?”
“Cô không thích chơi với tôi à?” Johnson hỏi. Cô tiếp viên đỏ mặt.
“Không phải đâu, thưa ngài”.
“Tôi không liên quan đến những chuyện bạo lực đâu. Cô không thích đi dự một bữa tiệc và tìm hiểu cuộc sống ban đêm ở Vevey sao? Hãy mang một cô bạn gái đi cùng nếu cô muốn”.
“Tôi phải làm việc”, cô tiếp viên trả lời. “Tôi phải làm bổn phận của mình ở đấy”.
“Tôi biết”, Johnson nói. “Nhưng cô không thể đổi cho ai à? Người ta đã làm như thế trong thời Nội Chiến đấy”.
“Ồ, không, thưa ngài. Tôi phải làm công việc của mình ở đây”.
“Cô học tiếng Anh ở đâu vậy?”
“Ở trường Berlitz, thưa ngài”.
“Kể cho tôi nghe về ngôi trường đó đi”, Johnson nói. “Sinh viên Berlitz ngông cuồng lắm phải không? Thế còn những cái bá cổ và ôm hôn? Ở đó có nhiều người dịu dàng không. Đã bao giờ cô gặp Scott Fitzgerald chưa?”
“Gì cơ ạ?”.
“Ý tôi là thuở học ở trường Cao đẳng có phải là những ngày hạnh phúc nhất của đời cô? Mùa thu năm ngoái Berlitz đã lập được đội thể thao nào?”
“Ngài đang đùa đấy chứ, thưa ngài?”
“Chỉ một chút thôi”, Johnson nói. “Cô là một cô gái tốt lạ lùng. Nhưng cô không muốn chơi với tôi phải không?”
“Ồ, không phải thế đâu, thưa ngài”, cô tiếp viên trả lời. “Ngài có muốn tôi mang thêm một chút gì nữa không?”
“Phải đấy”, Johnson trả lời. “Cô có thể mang cho tôi cái ‘list’ rượu được không?”
“Vâng thưa ngài”.
Cầm cái “list” rượu, Johnson đi đến bên bàn nơi ba người phu đang ngồi. Họ ngẩng lên nhìn ông ta. Họ là những người đàn ông đứng tuổi.
“WollenSie Trinken?” [5] ông ta hỏi. Một trong ba người gật đầu
và mỉm cười.
“Oui monsieur” [6].
“Các ông nói được tiếng Pháp chứ?”
“Oui monsierur”.
“Chúng ta uống gì nhé? Connais vous des champagnes?” [7].
“Non monsieur” [8]
“Faultles connaître” [9] Johnson nói. “Fraulein”, ông ta gọi cô tiếp viên. “Chúng tôi cần rượu sâm banh”.
“Ngài thích loại sâm banh nào, thưa ngài?”
“Loại tốt nhất ấy”, Johnson đáp. “Laquélle est le best?” [10] ông ta hỏi mấy người phu khuân vác.
“Le meillieur?” [11] người phu - nói đầu tiên - hỏi.
“Tất nhiên”.
Người phu lấy từ trong túi áo khoác của anh ta ra cái kính, gọng mạ vàng đọc “list” rượu. Anh ta di ngón tay xuống bốn cái tên và giá rượu được đánh máy.
“Sportman” anh ta nói. “Loại Sportman là tốt nhất đấy”.
“Các ông đồng ý cả chứ, thưa quý ông?” Johnson hỏi mấy người phu khác. Một người gật đầu. Người kia nói bằng tiếng Pháp, “tôi không biết chất lượng của chúng nhưng tôi hay nghe nói về Sportman. Nó ngon đấy”.
“Cho một chai Sportman”, Johnson nói với cô tiếp viên. Ông ta nhìn vào bảng giá trên “list” rượu: mười một frăng Thụy Sĩ. “Thôi, cho cả ba chai sportman. Ông có phiền gì không nếu tôi ngồi vào đây với ông?” Ông ta hỏi người phu, người đã gợi ý chai sportman.
“Mời ngồi. Xin cứ tự nhiên”. Người phu mỉm cười với ông ta. Anh ta gập cái kính lại và để vào trong hộp của nó. “Có phải đây là dịp sinh nhật ông không?”
“Không”, Johnson trả lời. “Không phải lễ lạt gì đâu. Vợ tôi quyết định ly dị tôi”.
“Ra thế”, người phu nói. “Tôi hy vọng sẽ không”. Người phu khác lắc đầu. Người thứ ba dường như hơi bị điếc.
“Chuyện ấy thì phổ biến”, Johnson nói. “Như đi khám ở bác sĩ nha khoa ấy hay lần đầu tiên một cô gái có kinh nguyệt, nhưng tôi đã bối rối”.
“Điều đó cũng dễ hiểu thôi”, người phu già nhất nói. “Tôi hiểu chuyện ấy”.
“Không quý ông nào trong số các ngài bị ly dị, phải không?” Johnson hỏi. Ông ta ngừng làm hề với ngôn ngữ và nãy giờ đang nói bằng tiếng Pháp rất lưu loát.
“Không”, người phu đã gọi chai Sportman nói. “Ở đây người ta không ly dị nhiều đâu. Cũng có người ly dị nhưng không nhiều”.
“Với chúng ta”, Johnson nói, “lại là chuyện khác. Trong thực tế, tất cả mọi người đều ly dị”.
“Chắc thế”, người phu khẳng định. “Tôi đã đọc được điều đó ở trên báo”.
“Bản thân tôi thì có lẽ cũng hơi đần”, Johnson tiếp tục. “Đây là lần đầu tiên tôi ly dị. Tôi ba lăm tuổi”.
“Mais vous ête sencore jeune” [12], người phu nói. Anh ta giải thích cho hai người kia. “Monsieur n’a que trente-cing ans” [13]. Hai người phu kia gật đầu.
“Ông ta còn rất trẻ”, một người nói.
“Và thật sự đây là lần đầu tiên ông ly dị chứ?” người phu hỏi.
“Thật sự”, Johnson trả lời. “Hãy mở rượu đi, mademoiselle”.
“Và nó rất đắt?”
“Mười ngàn frăng”
‘Tiền Thụy Sĩ?”
“Không tiền Pháp”.
“Ôi, vâng. Hai ngàn frăng Thụy Sĩ. Tất cả trị giá ngang nhau, chỗ đó không phải là rẻ”.
“Phải”.
“Nhưng tại sao người ta lại làm thế?”
“Một người đề nghị”.
“Nhưng tại sao người ta lại đề nghị như vậy?”
“Để cưới một người khác”.
“Nhưng như vậy là ngu ngốc”.
“Tôi đồng ý với ông”, Johnson nói. Cô tiếp viên rót đầy rượu vào bốn chiếc ly. Tất cả cùng nâng cốc.
“Chúc sức khỏe”, Johnson nói.
“A votre santé monsieur”, [14] người phu nói. Hai người phu kia nói “Salut” [15]. Rượu sâm banh có vị như loại rượu táo ngọt, màu hồng.
“Có phải người Thụy Sĩ có thói quen phản xạ bằng một ngôn ngữ khác khi giao tiếp không?” Johnson hỏi.
“Không”, người phu nói. “Tiếng Pháp được xem là có văn hóa hơn. Ngoài ra, còn có thêm một lý do nữa là Suisse Romande” [16].
“Nhưng ông nói được cả tiếng Đức nữa cơ mà?
“Vâng. Tôi đến đây từ vùng nói tiếng Đức”.
“Tôi hiểu”, Johnson nói. “Và ông nói là ông chưa bao giờ ly dị?”
“Chưa. Nó quá đắt. Hơn nữa, tôi cũng chưa hề lấy vợ”.
“À!” Johnson nói. “Thế còn những quý ông khác?”.
“Họ đã lập gia đình”.
“Ông có thích hôn nhân không?” Johnson hỏi một trong những người phu.
“Cái gì?”
“Ông có thích cuộc sống gia đình không?”
“Oui. Cest normale” [17].
“Chính xác”, Johnson nói. “Et vous, monsieur?” [18].
“Cava” [19] một người phu khác trả lời.
“Pour moi” [20] Johnson nói. “Ca ne va pas” [21].
“Ông ấy sắp ly dị”, người phu đầu tiên giải thích.
“Ồ”, người phu thứ hai nói.
“À ha!” người phu thứ ba nói.
“Này”, Johnson nói, “chủ đề này có vẻ hết hấp dẫn rồi. Ông không quan tâm tới việc rắc rối của tôi”, ông ta nói với người phu đầu tiên.
“Vâng, đúng đấy”, người phu nói.
“Vậy thì hãy nói về chuyện khác đi”.
“Nếu ông muốn”.
“Chúng ta có thể nói về cái gì nhỉ?”
“Ông chơi thể thao à?”
“Không”, Johnson nói. “Nhưng vợ tôi chơi”.
“Thế ông giải trí bằng cách nào?”
“Tôi là nhà văn”.
“Viết có được nhiều tiền không?”
“Không. Nhưng khi người ta nổi tiếng thì tiền sẽ đến”.
“Thú vị thật”.
“Không”, Johnson nói. “Không thú vị đâu. Tôi xin lỗi, thưa quý ngài, nhưng tôi phải đi đây. Xin các ông vui lòng uống nốt chai rượu kia đi nhé?”
“Nhưng tàu sẽ chưa đến trong vòng bốn lăm phút nữa cơ mà”.
“Tôi biết”, Johnson nói. Cô tiếp viên đi vào, ông ta trả tiền rượu và bữa tối của mình.
“Ngài đi sao, thưa ngài?” cô hỏi.
“Ừ”, Johnson trả lời. “Tôi đi dạo một chút. Tôi sẽ để lại túi xách ở đây”. Ông ta quàng khăn, mặc áo khoác và đội mũ vào. Bên ngoài, tuyết rơi nhanh nhiều hơn. Ông nhìn qua cửa sổ vào nơi ba người phu đang ngồi bên bàn. Cô tiếp viên đang rót chai rượu cuối cùng được mở nắp vào đầy mấy chiếc ly của họ. Cô mang cái chai chưa mở nắp quay lại quầy. Như vậy có nghĩa là mỗi người sẽ kiếm được ba frăng từ chỗ rượu đó, Johnson nghĩ. Ông ta quay lại và đi xuống sân ga. Lúc ở trong quán cà phê ông đã nghĩ rằng nói chuyện đó ra thì nó sẽ làm ông nguôi ngoai; nhưng thay vì nguôi ngoai, nó chỉ làm ông buồn nôn.
 
Phần III
Con trai của đồng chí hội viên ở Territet


Bên trong quán cà phê trên sân ga ở Territet, không khí thật ấm áp; ánh điện sáng, mặt bàn ánh lên vì được đánh bóng. Trên bàn, người ta bày những rá bánh bích quy mặn được bọc trong giấy bóng và những tấm đệm bằng các tông dùng lót dưới những cốc bia để những chiếc cốc ướt đó sẽ không in dấu lên mặt bàn gỗ. Mấy chiếc ghế được chạm trổ, mặt ghế tuy đã mòn vẹt nhưng ngồi thì thoải mái. Một chiếc đồng hồ treo tường, một quầy rượu ở cuối phòng và bên ngoài cửa sổ tuyết đang rơi. Một ông già đang uống cà phê ở chiếc bàn bên dưới đồng hồ và đọc báo buổi tối. Một người phu khuân vác đi vào và nói rằng tàu tốc hành Simplon-Orient bị chậm một tiếng ở Saint Maurice. Cô tiếp viên đến bên bàn ngài Harris. Ngài Harris vừa ăn xong bữa tối.
“Tàu tốc hành bị chậm một tiếng, thưa ngài. Tôi mang cho ngài một chút cà phê nhé?”
“Nếu cô muốn”.
“Thưa?” cô tiếp viên hỏi.
“Được”, ngài Harris nói.
“Cảm ơn ngài”, cô tiếp viên nói.
Cô mang cà phê từ trong bếp ra, ngài Harris bỏ đường vào, nghiền mấy miếng đường bằng thìa và nhìn tuyết rơi ngoài cửa sổ trong ánh sáng hắt ra từ phía sân ga.
“Cô có nói được thứ ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Anh không?” Ông ta hỏi cô tiếp viên.
“Ồ, có, thưa ngài. Tôi nói được tiếng Đức, tiếng Pháp và vài thổ ngữ”.
“Cô thích nói thứ tiếng nào nhất?”
“Tôi thích tất cả nhiều như nhau, thưa ngài. Tôi không thể nói tôi thích ngôn ngữ này hơn ngôn ngữ kia”.
“Cô muốn uống một chút gì hoặc cà phê không?”
“Ồ, không, thưa ngài. Không được phép uống trong quán cà phê với khách ạ”.
“Cô không hút xì gà à?”
“Thưa ngài, không”, cô cười to. “Tôi không hút thuốc”.
“Tôi cũng không”, Harris nói. “Tôi không đồng ý với David Belasco”.
“Thưa?”
“Belasco. David Balesco. Cô có thể dễ dàng bắt chuyện với anh ta bởi vì anh ta là kiểu người luôn dỏng tai lên hóng chuyện. Nhưng tôi không đồng ý với anh ta. Sau đó cũng vậy, nhưng bây giờ thì anh ta đã chết”.
“Ngài sẽ bỏ qua cho tôi chứ, thưa ngài?”
“Chắc chắn rồi”, Harris nói. Ông ta ngồi cúi về phía trước ghế và nhìn ra ngoài cửa sổ. Phía bên kia căn phòng. Ông lão gấp tờ báo lại. Lão nhìn ngài Harris rồi cầm đĩa và tách cà phê của mình, đi đến bên bàn ngài Harris.
“Xin anh thứ lỗi nếu như tôi có gì không phải”, lão nói bằng tiến Anh. “Nhưng tôi chợt nảy ra ý nghĩ hẳn anh là thành viên của Hội Địa Lý Quốc Gia”.
“Mời ông ngồi”, Harris nói. Ông lão ngồi xuống.
“Ông dùng một ly cà phê khác hay rượu mùi nhé?”
“Cám ơn”, lão nói.
“Ông có vui lòng uống một chút rượu anh đào với tôi không?”
“Có thể. Nhưng anh phải uống với tôi”.
“Không. Tôi uống đủ rồi”. Harris gọi cô tiếp viên, ông lão móc trong túi áo khoác của mình ra một chiếc sổ bỏ túi bìa da. Lão tháo sợi dây cao su, lấy ra vài tờ giấy, chọn một tờ đưa cho Harris.
“Đây là giấy chứng nhận hội viên của tôi”, lão nói. “Anh có biết Frederic J. Roussel ở Mỹ không?”
“Tôi e là mình không biết”.
“Tôi biết ông ấy là người rất nổi tiếng”.
“Ông ấy ở đâu vậy? Ông có biết cái phần đất ấy của nước Mỹ không?”
“Ở Washington, tất nhiên. Trụ sở của Hội không phải đóng ở đấy à”.
“Tôi nghĩ là ở đó”.
“Anh nghĩ như vậy. Anh có chắc không?”
“Tôi đã đi xa khá lâu”, Harris nói.
“Vậy thì anh không phải là thành viên của Hội à?”
“Không. Nhưng cha tôi là thành viên. Ông ấy đã từng là thành viên lâu năm”.
“Vậy thì ông nhà chắc biết Frederick J. Roussel. Ông ta là một trong những quan chức của hội. Ông sẽ nhận thấy điều đó bởi vì nhờ ngài Roussel mà tôi được bầu làm hội viên”.
“Tôi hết sức vui mừng”.
“Tôi thấy làm tiếc vì anh không là hội viên. Nhưng anh có thể giành được sự bổ nhiệm thông qua cha anh?”
“Tôi cũng nghĩ như thế”, Harris nói. “Tôi phải vào hội khi quay trở lại”.
“Tôi khuyên anh nên làm thế”, ông lão nói. “Chắc anh thường xem tạp chí chứ?”
“Chắc chắn rồi”.
“Anh đã thấy số liệu với những bảng màu của hệ động vật Bắc Mỹ chưa?”
“Có. Tôi đã thấy ở Paris”.
“Và cả số liệu toàn cảnh núi lửa ở Alaska”.
“Đó là một kỳ quan đấy”.
“Tôi rất thích, ngoài ra, còn những bức ảnh động vật hoang dã của George Shiras III”.
“Chúng đẹp tuyệt”.
“Xin anh vui lòng nói lại?”
“Chúng thật xuất sắc. Cái gã Shiras đó...”
“Anh gọi anh ta là gã à?”
“Chúng tôi đã từng chơi với nhau”, Harris nói.
“Tôi hiểu. Anh biết George Shiras III. Anh ta hẳn là rất thú vị”.
“Anh ta thú vị lắm. Anh ta gần như là người đàn ông thú vị nhất mà tôi biết”.
“Chắc anh biết cả George Shiras II. Anh ta cũng thú vị phải không?”
“Ồ, anh ta không thú vị lắm đâu”.
“Tôi hình dung anh ta hay lắm đấy”.
“Tôi biết, điều đó thật buồn cười. Anh ta không hay lắm đâu. Tôi thường xuyên lấy làm lạ là tại sao...?”
“Hừm”, ông lão nói. “Tôi nghĩ bất kỳ người nào trong gia đình ấy cũng thú vị”.
“Ông có nhớ bức toàn cảnh của sa mạc Sahara không?” Harris hỏi.
“Sa mạc Sahara à? Đã gần mười lăm năm rồi”.
“Đúng đấy. Đó là một trong những bức tranh ưa thích của cha tôi”.
“Ông nhà không thích những bức mới hơn phải không?”
“Có lẽ cha tôi không thích. Nhưng ông ấy rất thích bức toàn cảnh Sahara”.
“Nó thật tuyệt vời. Nhưng đối với tôi giá trị nghệ thuật của nó còn lâu mới sánh kịp lợi ích của khoa học mà nó mang lại”.
“Tôi không biết”, Harris nói. “Gió cuốn tung tất cả cát và người Arab với chú lạc đà của ông ta đang khuỵu gối hướng về Mecca”.
“Nếu tôi nhớ không nhầm thì người Arab ấy đang đứng giữa chú lạc đà”.
“Ông hoàn toàn đúng”, Harris nói. “Tôi đang nghĩ về quyển sách của đại tá Lawrence”.
“Sách của Lawrence thì có liên quan đến dân Arab, tôi chắc thế”.
“Đúng vậy”, Harris nói. “Cái người Arab ấy đã khiến tôi nhớ nhầm bức tranh. Tay ấy hẳn là một anh chàng rất thú vị”.
“Tôi nghĩ hắn là vậy đấy”.
“Anh có biết bây giờ hắn làm gì không?”
“Bây giờ hắn ở Không Lực Hoàng Gia”.
“Tại sao hắn lại làm ở đấy!”
“Hắn thích”.
“Anh có biết hắn có phải là thành viên của Hội Địa Lý Quốc Gia hay không?”
“Tôi đang phân vân không biết hắn có phải là thành viên hay không?”
“Hắn chắc sẽ trở thành một hội viên rất tốt. Hắn là kiểu người mà họ muốn kết nạp làm hội viên. Tôi sẽ rất vui mừng được giới thiệu hắn nếu anh nghĩ họ sẽ thích hắn”.
“Tôi nghĩ họ sẽ thích đấy”.
“Tôi đã giới thiệu một nhà khoa học từ Vevey và một đồng nghiệp của tôi ở Lauzanne và cả hai đều đã được bầu. Tôi tin rằng họ sẽ hài lòng nếu tôi giới thiệu đại tá Lawrence”.
“Đó là một ý kiến tuyệt vời”, Harris nói. “Ông thường xuyên đến quán cà phê này phải không?”
“Tôi đến đây để uống cà phê sau khi ăn tối”.
“Ông công tác ở trường đại học à?”
“Tôi đã về hưu”.
“Tôi thì đợi tàu”, Harris nói. “Tôi sẽ lên Paris rồi đi thuyền từ Havre về Mỹ”.
“Tôi chưa bao giờ đến Mỹ cả. Nhưng tôi rất thích đi đến đó. Có lẽ tôi sẽ tham dự một buổi họp của hội vào lúc nào đó. Tôi sẽ rất vui mừng nếu được gặp cha anh”.
“Tôi chắc cha tôi cũng sẽ thích gặp ông đấy nhưng cha tôi đã mất vào năm ngoái. Tự sát, lạ thật”.
“Tôi thật sự xin lỗi. Tôi chắc rằng ông nhà mất đi là cả một sự mất mát lớn cho khoa học cũng như cho gia đình”.
“Khoa học thì bị mất nhiều hơn”.
“Đây là danh thiếp của tôi”, Harris nói. “Tên viết tắt của cha tôi là E. J chứ không phải là E. D. Tôi biết ông ấy hẳn sẽ vui mừng khi gặp ông đấy”.
“Cuộc tương kiến ấy hẳn sẽ vô cùng thú vị”. Người đàn ông lấy một tấm danh thiếp từ quyển sổ bỏ túi ra đưa cho Harris. Đọc là:
DR. Sigismond Wyer,
Ph. D Thành viên của Hội Địa lý Quốc gia Washington,
D C, U.S.A.
“Tôi sẽ giữ nó cẩn thận”, Harris nói.

Đào Thu Hằng dịch
-------------------------
[1] Tiếng Đức: Cô.
[2] Tiếng Pháp: Cô.
[3] Tiếng Pháp: “tạm biệt cô”
[4] Tiếng Tây Ban Nha: Cô.
[5] Tiếng Đức: Các ông có muốn uống rượu không?
[6] Tiếng Pháp: Vâng thưa ngài.
[7] Các ông có thạo sâm banh không?
[8] Không, thưa ngài.
[9] Tôi không sành lắm.
[10] Loại nào là tốt nhất?
[11] Loại tốt nhất ư?
[12] Nhưng ông vẫn còn trẻ.
[13] Ông ta chỉ ba mươi lăm tuổi.
[14] Tiếng Pháp: Chúc sức khỏe ngài.
[15] Xin mời.
[16] Miền Thụy Sĩ nói tiếng Pháp.
[17] Vâng, chuyện thường tình ấy mà.
[18] Còn ngài thì sao?
[19] Cũng vậy.
[20] Với tôi.
[21] Điều ấy không xảy ra.
0
Một ngày chờ đợi

Cháu bước vào phòng, đóng các cửa sổ trong khi chúng tôi vẫn còn ở trên giường, trông cháu có vẻ ốm. Cháu rùng mình, gương mặt trắng nhợt, đi chậm chạp, lộ vẻ đau đớn khi di chuyển.
“Chuyện gì thế, Schatz?”
“Con bị đau đầu”.
“Tốt hơn là con nên đi ngủ”.
“Không, con chẳng sao đâu”.
“Con đi ngủ đi. Khi nào mặc quần áo xong, bố sẽ xem thế nào”.
Khi tôi xuống dưới nhà, cháu đã mặc đồ, đang ngồi bên lò sưởi với cái vẻ thảm hại của một thằng nhỏ chín tuổi đang rất mệt mỏi. Tôi đặt tay mình lên trán cháu, tôi biết cháu bị sốt.
“Con đi ngủ đi”, tôi nói, “con bị ốm đấy”.
“Con không sao đâu”, cháu nói.
Khi bác sĩ đến, ông ta đo nhiệt độ thằng bé.
“Bao nhiêu?” Tôi hỏi ông ta.
“Một trăm linh hai độ”
Xuống dưới nhà, bác sĩ để lại ba thứ thuốc con nhộng màu khác nhau với các chỉ dẫn sử dụng. Một loại để hạ sốt, thứ nữa có công dụng nhuận tràng, loại thứ ba chế ngự môi trường axít, ông ta giải thích. Ông ta như thể biết tất cả về bệnh cúm và nói rằng không có gì phải lo lắng cả nếu như không sốt quá một trăm linh tư độ. Đấy là căn bệnh nhẹ và không có gì nguy hiểm nếu bệnh nhân không bị viêm phổi.
Vào phòng, tôi ghi nhiệt độ của thằng bé và lập thời gian biểu uống thuốc.
“Con có muốn bố đọc không?”
“Vâng. Nếu bố muốn”, thằng bé nói. Gương mặt cháu trắng bệch, thâm quầng dưới mắt. Cháu vẫn nằm bẹp trên giường và có vẻ như rất thờ ơ với những gì đang diễn ra.
Tôi đọc to cuốn “Chuyện về những tên cướp biển” của Howard Pylte, nhưng tôi thấy cháu không theo dõi những gì tôi đọc.
“Con cảm thấy thế nào, Schatz?” Tôi hỏi cháu.
“Vẫn như cũ, thưa bố”, cháu nói.
Tôi ngồi xuống chân giường, đọc và đợi cho đến lần uống thuốc sau. Thuốc sẽ giúp cháu trở về trạng thái ngủ tự nhiên nhưng tôi thấy cháu cứ nhìn xuống chân giường, cái nhìn rất lạ.
“Tại sao con không cố ngủ? Lúc nào uống thuốc bố sẽ đánh thức con dậy”.
“Con thích thức thế này hơn”. Lát sau cháu bảo tôi, “bố ơi, bố không phải ở đây với con nếu điều đó làm phiền bố”.
“Bố chẳng phiền đâu”.
“Không, con nghĩ bố không nên ở lại đây nếu điều đó làm phiền bố”.
Tôi nghĩ có lẽ cháu hơi mê sảng một chút còn sau đó, vào lúc mười một giờ tôi cho cháu liều thuốc đã kê trong đơn rồi ra ngoài một lát.
Hôm ấy trời sáng và lạnh, tuyết rơi đầy mặt đất và đông cứng đến nỗi tất cả những thân cây trụi lá, những bụi cây rậm, những cụm cây bị phát cụt, đồng cỏ, mặt đất đều như được đánh vécni bóng loáng bằng băng. Tôi dắt theo chú chó xù nhỏ giống Ailen đi trên con đường đọc theo một con lạch đã đóng băng, nhưng đi và đứng trên mặt băng bóng loáng quả thật là khó và chú chó lông hung đỏ đã bị trượt ngã, còn tôi ngã uỵch một hai lần, khẩu súng thì rơi và trượt dài trên mặt băng.
Chúng tôi làm bầy chim cút đậu dưới bờ đất sét cao phủ đầy bụi rậm bay vù lên rồi tôi đã hạ hai con khi chúng bay ra ngoài tầm mắt vượt qua đỉnh bờ đất. Vài con trong bầy ẩn vào cây nhưng đa số cũng tản vào trong các bụi rậm bị chặt chất thành đống và chúng cần phải nhảy lên những bụi cây phủ đầy băng tuyết vài lần trước khi bay vụt đi. Trong khi ra ngoài, bạn rất khó giữ thăng bằng trên tuyết, nhưng bụi cây bùng nhùng làm cho việc săn bắn khó khăn, tôi hạ hai con, để xổng năm con rồi quay lại, hài lòng khi tìm thấy một bầy cút ở gần nhà và cảm thấy hạnh phúc bởi sẽ còn rất nhiều chim cho ngày săn tới.
Về đến nhà, mọi người nói rằng thằng bé từ chối không cho bất cứ ai vào phòng.
“Bố đừng vào”, cháu nói. “Bố đừng để lây bệnh từ con”.
Tôi lại gần cháu, tôi thấy cháu vẫn giữ nguyên tư thế nằm từ lúc tôi đi, mặt trắng bệch nhưng hai gò má đỏ ửng vì sốt và vẫn nhìn chằm chằm vào chân giường như trước.
Tôi đo nhiệt độ cho cháu.
“Bao nhiêu ạ?”
“Khoảng một trăm độ”, tôi nói. “Chính xác là một trăm linh hai và bốn phần mười độ”.
“Một trăm linh hai đấy”, cháu nói.
“Ai bảo thế?”
“Bác sĩ”.
“Nhiệt độ của con ổn rồi”, tôi nói. “Chẳng phải lo lắng gì nữa”.
“Con không lo gì cả”, cháu nói, “nhưng con không thể không suy nghĩ”.
“Đừng nghĩ gì cả”, tôi nói. “Cứ yên chí đi”.
“Con đang yên chí”, cháu nói và nhìn thẳng về phía trước. Rõ ràng là cháu đang căng thẳng về một điều gì đó.
“Con uống viên thuốc này với nước đi”.
“Bố nghĩ nó có tác dụng tốt hơn không?”
“Tất nhiên là sẽ tốt hơn”.
Tôi ngồi xuống, mở quyển “Tên cướp biển” và bắt đầu đọc nhưng thấy cháu không theo dõi nên tôi dừng lại.
“Bố nghĩ con sẽ chết vào lúc mấy giờ?”. Cháu hỏi.
“Cái gì?”
“Còn bao lâu nữa thì con chết?”
“Con chết sao được. Có chuyện gì xảy ra với con vậy?”
“Ồ, vâng, có ạ. Con nghe ông ta nói một trăm linh hai độ”.
“Người ta không thể chết bởi sốt một trăm linh hai độ. Đó là một cách ngu ngốc”.
“Người ta chết, con biết mà. Tại trường học hồi ở Pháp mấy đứa bạn bảo với con, người ta không thể sống khi thân nhiệt lên tới bốn tư độ. Thế mà con thì đã một trăm linh hai độ”.
Thằng bé đợi chết suốt cả ngày, kể từ lúc chín giờ sáng.
“Schatz đáng thương của bố ơi”, tôi nói. “Thật tội nghiệp cho con. Nó như dặm và kilômét vậy. Con không thể chết. Đó là một kiểu nhiệt kế khác. Ở loại nhiệt kế ấy thì thân nhiệt bình thường ba bảy độ. Còn loại nhiệt kế này thì những 98 độ cơ mà.
“Bố có chắc thế không?”
“Hoàn toàn chắc chắn”, tôi nói. “Nó như dặm và kilômét ấy. Con biết đấy, giống như khi chúng ta đi ô-tô được bảy mươi dặm thì sẽ thành bao nhiêu kilômét ấy mà?”
“Ồ”, cháu thốt lên.
Rồi cái nhìn chằm chằm của cháu vào phía chân giường dần dần dịu đi. Toàn bộ cơ thể cháu cũng chùng xuống, rốt cuộc, đến ngày hôm sau cháu hoàn toàn rã rời và dễ dàng khóc bởi những việc không đâu vào đâu.

Đào Thu Hằng dịch
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 12:58:16 bởi casau>
Con bạc, bà xơ và radio

Khoảng nửa đêm, người ta đưa họ vào rồi suốt đêm tiếng rên của người Nga dội khắp hành lang.
- Anh ta bị bắn vào đâu? - Ông Frazer hỏi cô y tá trực đêm.
- Tôi chắc là vào đùi.
- Thế còn người kia?
- Ồ, tôi sợ là anh ta sẽ chết.
- Anh ta bị bắn vào đâu?
- Hai phát vào bụng. Nhưng họ chỉ tìm thấy một viên đạn.
Cả hai người là công nhân trồng củ cải đường, một là người Mexico và người kia là người Nga; khi họ đang ngồi uống cà phê trong một tiệm mở cửa suốt đêm thì một người bước vào, nã đạn vào người Mexico. Người Nga bò nấp dưới bàn cũng bị dính một phát đạn lạc từ người Mexico lúc anh này ngã lăn xuống sàn bởi hai viên đạn đã găm vào bụng. Đấy là những gì báo chí đưa tin.
Người Mexico khai với cảnh sát là anh ta không biết người bắn mình. Anh ta cho đó là một vụ rủi ro.
- Rủi ro gì mà hắn đã nã vào anh tám phát và hai trong số đó lại găm trúng anh?
- Đúng đấy, thưa ngài. - Người Mexico nói, anh ta tên là Cayetano Ruiz.
- Tay ấy đã vô ý bắn trúng tôi thôi, cái đồ dê cụ, - Anh ta nói với người phiên dịch.
- Anh ta nói gì vậy? - Thiếu úy cảnh sát điều tra nhìn qua giường hỏi người phiên dịch.
- Anh ta nói đấy chỉ là sự tình cờ.
- Bảo anh ta hãy nói thật đi, anh ta sắp chết rồi đấy. - Người điều tra nói.
- Không - Cayetano nói - Nhưng hãy bảo ông ấy rằng tôi đau lắm và không muốn nói nhiều.
- Anh ta bảo anh ta đã nói sự thực, - Người phiên dịch nói, rồi quả quyết nói với cảnh sát điều tra - anh ta không biết hắn. Chúng bắn sau lưng anh ta.
- Ừ - Người điều tra nói - Tôi biết điều ấy, nhưng tại sao mấy viên đạn lại găm vào người từ phía trước?
- Có lẽ vào lúc anh ta đang quay người lại. - Người phiên dịch nói.
- Nghe này - Cảnh sát điều tra nói, ngón tay ông ta run run gần như dí sát cái mũi nhọn hoắt, trên khuôn mặt vàng như nghệ của người đàn ông sắp chết, trừ đôi mắt hãy còn tinh nhanh như mắt diều hâu - Tôi cóc thèm bận tâm đến kẻ bắn anh, nhưng tôi có trách nhiệm phải làm rõ vụ này. Anh không muốn kẻ bắn anh bị trừng phạt ư? Dịch cho anh ta nghe. - Ông ta bảo người phiên dịch.
- Ông ấy yêu cầu hãy nói kẻ bắn anh.
- Mandarlo al carajo [1] - Cayetano rất yếu, khẽ nói.
- Anh ta bảo chẳng nhìn thấy kẻ ấy - Người phiên dịch nói - Tôi đã bảo ông là chúng bắn từ phía sau.
- Hỏi anh ta ai bắn người Nga kia vậy?
- Người Nga tội nghiệp - Cayetano nói - Cậu ấy đã ôm đầu lăn xuống sàn. Cậu ấy hét lên khi bị chúng bắn, đến giờ cậu ấy hãy còn gào thét. Người Nga tội nghiệp.
- Anh ta bảo mình không biết gã ấy. Có lẽ đấy cũng là gã đã bắn anh ta.
- Nghe này, - Sĩ quan điều tra nói - đây không phải là Chicago. Và anh không phải là một tên găngxtơ. Anh chẳng cần phải xử sự theo lối của phim ảnh. Chẳng hề gì khi nói ai là kẻ bắn anh. Mọi người đều có thể khai ai bắn mình. Họ có quyền làm thế. Nếu anh không nói ra kẻ bắn anh thì kẻ đó rất có thể sẽ bắn người khác. Giả dụ như hắn có thể bắn một phụ nữ hoặc một đứa trẻ. Anh không thể để mặc hắn hoành hoành như thế. Ông dịch hộ cho anh ta nghe đi - Viên cảnh sát nói với ông Frazer - Tôi chẳng tin nổi tay phiên dịch này.
- Tôi là người rất đáng để tin cậy. - Người phiên dịch nói. Cayetano ngước nhìn ông Frazer.
- Nghe đây, anh bạn - Ông Frazer nói - Ngài cảnh sát bảo rằng chúng ta không phải ở Chicago mà đang ở Hailen, Montana. Anh không phải là kẻ cướp và chuyện này thì chẳng có chút liên quan gì đến phim ảnh đâu.
- Tôi tin ông ấy - Cayetano phều phào nói - Ya lo creo [2].
- Bất kỳ ai cũng có quyền vạch mặt kẻ tấn công mình. Ở đây ai cũng làm như thế, ông ấy nói. Ông ấy còn nói: chuyện gì sẽ xảy ra nếu sau khi bắn anh, gã ấy bắn một phụ nữ hoặc một đứa trẻ.
- Tôi chưa lập gia đình. - Cayetano nói.
- Ông ấy nói bất kỳ một phụ nữ hay một đứa trẻ nào đó.
- Hắn chẳng phải là thằng rồ. - Cayetano.
- Ông ấy bảo anh nên khai hắn ra. - Ông Frazer kết thúc.
- Cảm ơn ông - Cayetano nói - Ông là một trong những thông dịch viên vĩ đại. Tôi biết tiếng Anh, nhưng tồi. Song tôi hiểu hết. Sao chân ông bị gãy vậy?
- Bị ngã ngựa.
- Xúi thật. Tôi xin chia buồn. Có đau lắm không?
- Bây giờ thì không. Thoạt tiên thì có.
- Này, ông ơi - Cayetano nói - Tôi rất đau. Ông bỏ quá cho tôi. Tôi đang đau, đau lắm. Rất có thể tôi sẽ chết. Hãy làm ơn tống khứ cái lão cảnh sát ấy ra khỏi đây bởi lẽ tôi kiệt sức lắm rồi. - Anh ta có vẻ muốn trở nghiêng người nhưng rồi vẫn nằm im.
- Tôi đã dịch chính xác từng lời ông nói, anh ta bảo tôi nói với ông rằng anh ta thật sự không thấy kẻ bắn mình và rằng anh ta rất yếu và tỏ ý muốn xin ông thẩm vấn sau. - Ông Frazer nói.
- Anh ta rất có thể chết.
- Điều này rất có khả năng.
- Đấy là lý do tại sao tôi muốn hỏi anh ta ngay bây giờ.
- Kẻ ấy đã bắn vào lưng anh ta, tôi đã nói với ông rồi mà. - Người phiên dịch nói.
- Ôi, thôi tùy Chúa. - Thiếu úy điều tra thốt lên rồi đút cuốn sổ vào túi.
Ra ngoài hành lang, thiếu úy điều tra đứng với người phiên dịch bên cạnh chiếc xe lăn của ông Frazer.
- Tôi chắc là ông cũng nghĩ rằng ai đó đã bắn từ phía sau lưng?
- Đúng đấy - Frazer đáp - Kẻ ấy bắn vào lưng anh ta. Còn ông thì nghĩ sao?
- Đừng có bực mình như thế - Thiếu úy nói - Giá mà tôi có thể nói được tiếng Tây Ban Nha.
- Tại sao anh không học?
- Ông đừng nên bực bội quá vậy. Tôi cũng chẳng vui vẻ gì khi cứ căn vặn mãi thế đâu. Nếu tôi có thể trực tiếp thẩm vấn thì sự việc hắn đã khác rồi.
- Ông không cần thiết phải nói tiếng Tây Ban Nha - Người phiên dịch nói - Tôi là một thông dịch viên rất đáng tin cậy.
- Ôi, lạy Chúa - Thiếu úy nói - Thôi, tạm biệt. Tôi sẽ đến gặp anh khi nào cần thiết.
- Cám ơn ông. Tôi luôn sẵn sàng phục vụ.
- Tôi chắc là ông đã bình phục. Chuyện ấy hẳn cũng là do rủi ro. Có nhiều tai nạn rủi ro quá.
- Kể từ khi ông ấy nối xương đến nay cái chân đã ổn.
- Phải, nhưng điều ấy xảy ra đã lâu, lâu lắm rồi.
- Đừng để ai đó bắn ông từ phía sau lưng.
- Được rồi - Ông ta nói - Được rồi. Chà, tôi lấy làm mừng vì ông không còn bực bội nữa.
- Tạm biệt. - Ông Frazer nói.
Suốt khoảng thời gian dài, ông Frazer không gặp lại Cayetano, nhưng mỗi buổi sáng, xơ Cecilia cung cấp tin tức cho ông. Anh ta đã quá yếu, bà nói, bây giờ anh ta rất nguy kịch. Anh ta bị viêm màng bụng, các bác sĩ nghĩ anh ta chẳng thể nào sống nổi. Cayetano thật đáng thương, bà nói. Hai bàn tay anh ta mới đẹp làm sao, khuôn mặt thì rất dễ mến và chẳng bao giờ anh ta rên rỉ. Bây giờ, mùi hôi thối bốc lên thật khủng khiếp. Bà nói, anh ta đưa tay chỉ vào mũi, mỉm cười rồi lắc đầu. Anh ta cảm thấy khó chịu vì cái mùi ấy. Nó làm anh xấu hổ, xơ Cecilia tiếp tục nói. Ồ, anh ta là một bệnh nhân cực kỳ dễ thương. Anh ta luôn mỉm miệng cười. Dầu không đi xưng tội với Cha nhưng anh ta hứa sẽ cầu nguyện; kể từ lúc được đưa đến bệnh viện, chưa có người Mexico nào đến thăm anh ta cả. Cuối tuần này, anh người Nga sẽ ra viện. Tôi không bận lòng gì về người Nga ấy, xơ Cecilia nói. Cái anh chàng đáng thương ấy, anh ta cũng chịu nổi đau đớn. Viên đạn được bôi mỡ, nên chất bẩn làm vết thương nhiễm trùng nhưng anh ta rên rỉ quá lắm, còn tôi thì luôn thương những người bị nặng hơn. Anh chàng Cayetano ấy mà, anh ta bị thương rất nặng. Ồ, anh ta là người bị nặng thực sự, một người bị thương rất nặng, anh ta thật dễ thương và dịu dàng; anh ta không hề lao động tay chân. Anh ta chẳng phải là công nhân trồng củ cải đường. Tôi biết anh ta không làm nghề ấy. Bàn tay anh ta mịn màng, không bị chai. Tôi biết anh ta bị thương rất nặng. Bây giờ tôi sẽ xuống dưới để cầu nguyện cho anh ta. Cayetano đáng thương, dẫu cho nỗi đớn đau có lớn đến nhường nào chăng nữa thì anh ta cũng không hé răng rén lấy một tiếng. Họ bắn anh ta vì lẽ gì cơ chứ? Ôi, Cayetano đáng thương! Tôi sẽ xuống và cầu nguyện cho anh ta.
Bà xuống và cầu nguyện ngay cho anh ta.
Trong bệnh viện, radio bắt sóng không rõ lắm cho đến lúc chạng vạng tối. Người ta bào sờ dĩ có hiện tượng ấy là do vùng đất có nhiều quặng hoặc do vấn đề gì đó liên quan đến dãy núi; nhưng dẫu sao thì nó cũng không hoạt động tốt được cho đến lúc bên ngoài trời bắt đầu tối; rồi suốt đêm nó nói ra rả, khi một đài ngừng phát sóng thì bạn có thể dò bắt các sóng ở phía đông. Sóng cuối cùng mà bạn có thể bắt là Seattle của Washington; bởi vì các múi giờ không trùng nhau nên khi sóng ngừng phát vào lúc bốn giờ sáng thì ở bệnh viện đã năm giờ; rồi vào lúc sáu giờ sáng bạn có thể bắt được sóng phát bản nhạc báo thức bằng kèn vào lúc năm giờ ba mươi của Minneapolis. Hiện tượng ấy cũng do chênh múi giờ, ông Frazer thường thích nghĩ về những người thổi kèn buổi sáng đang trên đường đến đài phát thanh rồi hình dung ra dáng điệu của họ lúc bước ra khỏi chiếc xe đỗ trên đường, mang nhạc cụ đi trong bóng tối trước khi trời sáng. Có lẽ hình ảnh tưởng tượng đó không đúng bởi họ để nhạc cụ tại phòng phát thanh, nhưng ông luôn hình dung họ mang nhạc cụ. Ông chưa bao giờ đến Minneapolis và nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ đến đó, nhưng ông biết đội kèn ấy hoạt động ra sao trước khi trời sáng.
Nhìn ra ngoài cửa sổ bệnh viện, bạn có thể thấy một cánh đồng đầy cỏ năn nhô lên dưới lớp tuyết và một ít đất sét không cây cối. Sáng nọ, do muốn để ông Frazer nhìn được hai con gà lôi đang đi trên vùng tuyết ấy, bác sĩ đã kéo cái giường về phía cửa sổ, thế là cái đèn đọc sách rơi khỏi cái giá ở đầu giường trúng vào đầu ông. Bây giờ chuyện này nghe chẳng còn buồn cười nữa nhưng lúc ấy thì rõ thật là buồn cười. Mọi người đang nhìn ra cửa sổ, trong lúc bác sĩ, một bác sĩ tài ba nhất, vừa chỉ mấy con gà lôi vừa kéo cái giường về phía cửa sổ và rồi, như trong một đoạn phim hài, ông Frazer bị cái đế đèn bằng chì đập xuống đầu, bất tỉnh. Chuyện này dường như tương phản với việc điều trị hay bất kỳ mục đích nào khi người ta đến bệnh viện, mọi người nghĩ sự việc thật khôi hài và dùng nó để trêu cả bác sĩ lẫn ông Frazer. Ở bệnh viện, mọi chuyện đơn giản hơn nhiều, kể cả những trò đùa.
Từ cửa sổ khác, nếu xoay giường lại, bạn có thể nhìn thấy thị trấn với những làn khói mỏng vươn lên, dãy núi Dawson trông sừng sững khi tuyết mùa đông phủ dày. Thị trấn và những ngọn núi là hai cảnh vật mà người ngồi trên xe lăn có thể chiêm ngưỡng vào lúc sáng sớm. Nhưng nếu ở bệnh viện, tốt hơn cả là bạn cứ nằm yên trên giường; dẫu cho hai cảnh ấy nếu có thời gian quan sát từ một phòng có điều hòa nhiệt độ thì sẽ hấp dẫn hơn vô khối cảnh được ngắm trong vòng vài phút tại những căn phòng trống, nóng bức đang đợi một ai đó hoặc bỏ hoang mà bạn cử phải lăn xe vào rồi lại lăn ra. Còn nếu bạn ngồi lâu trong phòng để ngắm thì bất kể là cảnh gì, cũng cuốn hút và sẽ khiến bạn ngất ngây đến độ bạn sẽ chẳng thể rời mắt khỏi nó, dẫu chỉ để đổi góc nhìn. Vào lúc ấy, với chiếc radio bạn sẽ tìm thấy những chương trình lạ. Mùa đông ấy, những giai điệu hay nhất được phát trên đài là: “Hát về những điều đơn giản”, “Dàn đồng ca nữ” và “Lời nói dối vô hại”. Ông Frazer nghĩ, chẳng có giai điệu khác nào hấp dẫn bằng chúng. “Betty Co-ed”cũng hay đấy, nhưng lời nhạc khôi hài của nó chẳng thể nào lọt được vào tai và được tăng mạnh đến nỗi chẳng một ai ở đó thích nghe nữa, cuối cùng ông chuyển sóng, không nghe ca nhạc mà chuyển sang bóng đá.
Khoảng chín giờ sáng, bệnh viện bắt đầu chiếu X-quang; nhưng vào lúc ấy, radio mới bắt đầu chương trình của Hailey và như thế thì chẳng thể nào lần được sóng. Nhiều người ở Hailey muốn nghe chương trình này đã phản đối những cỗ máy X-quang của bệnh viện bởi đã làm hỏng chương trình buổi sáng của họ, nhưng mọi việc vẫn cứ như cũ mặc dù nhiều người cảm thấy xấu hổ thay cho bệnh viện vì đã không chịu vận hành máy vào lúc bệnh nhân không nghe radio.
Vào thời điểm cần thiết để tắt radio, xơ Cecilia vào.
- Cayetano thế nào rồi hở xơ Cecilia? - Ông Frazer hỏi.
- Ồ, anh ta rất nguy kịch.
- Anh ta bất tỉnh rồi sao?
- Không, nhưng tôi sợ anh ta sắp chết.
- Còn bà thì thế nào?
- Tôi rất lo cho anh ta, ông có hay là tịnh không có lấy một người nào đến thăm anh ta cả chứ? Bởi cách cư xử của cái đám Mexico ấy, anh ta chắc là chết như một con chó. Bọn chúng thật bỉ ổi.
- Bà có muốn lên đây nghe chương trình buổi chiều không?
- Ồ, không - Bà nói - Tôi quá bồn chồn. Tôi sẽ vào nhà nguyện để cầu kinh.
- Chúng ta vẫn còn nghe nó được cơ mà - Ông Frazer nói - Họ đấu trên bãi biển và do khác nhau về múi giờ, trận đấu sẽ muộn lại như thế chúng ta có thể nghe được.
- Ồ, không. Tôi không thể. Các môn thi đấu quốc tế này gần như vắt kiệt sức tôi. Khi các cầu thủ critkê chuẩn bị vụt bóng, tôi cầu lớn: “Ôi, lạy Chúa, hãy phù hộ cho họ! Ôi, lạy Chúa, đừng để họ vụt vào nhau! Ôi, lạy Chúa, cầu cho anh ta vụt an toàn!”. Rồi khi họ chuẩn bị thi đấu môn thứ ba, ông còn nhớ chứ, thật là quá sức đối với tôi. “Ôi, lạy Chúa! Anh ta húc phải chướng ngại vật mất! Ôi, lạy Chúa, mong anh ta vượt qua được hàng rào!”. Rồi sau đó, như ông còn nhớ đấy, khi các tay đua Cardinal tăng tốc độ, cảnh tượng mới thật khủng khiếp. “Ôi, lạy Chúa, đừng để họ không thấy! Ôi, lạy Chúa, đừng để họ lóa mắt! Ôi, lạy Chúa, hãy ban phước cho họ! Họ chỉ đùa chơi!” Nhưng môn thi đấu này thì tệ hơn nhiều. Đây là trận đấu của Notre Dame. Lạy Đức Mẹ. Không, tôi sẽ ở trong nhà nguyện. Lạy Mẹ. Họ sắp đấu, hãy vì Đức Mẹ. Vì Đức Mẹ, tôi ước lúc nào đó ông sẽ biết về Đức Mẹ. Ông có thể làm được điều đó. Tôi biết ông có thể, ông Frazer à.
- Tôi không biết gì về Đức Mẹ để viết cả. Mọi chuyện dường như đã được viết hết rồi - Ông Frazer nói - Bà cũng sẽ không thích cách tôi viết. Và Đức Mẹ cũng chẳng quan tâm đến việc ấy đâu.
- Có lúc rồi ông sẽ viết về Mẹ - Xơ nói - Tôi biết rồi ông sẽ. Ông phải viết về Đức Mẹ.
- Tốt hơn là bà nên lên đây nghe tường thuật trận đấu.
- Với tôi, nó đã quá đủ rồi. Không, tôi sẽ vào nhà nguyện để làm những gì sức mình có thể.
Chiều hôm ấy, lúc trận đấu đã được chừng năm phút thì một y tá tập sự vào phòng hỏi.
- Xơ Cecilia muốn biết cuộc chơi đang diễn ra như thế nào?
- Nói với bà ấy là họ đã ghi được một điểm.
Một lát sau, người tập sự ấy lại vào phòng.
- Bảo với bà ấy họ đang chơi một trận quyết liệt đầy hấp dẫn. - Ông Frazer nói.
Lát sau, ông rung chuông gọi cô y tá trực tầng.
- Nhờ chị xuống nhà nguyện hay nhắn ai hộ tôi đến xơ Cecilia rằng hết một phần tư hiệp rồi, Notre Dame được mười bốn không và trận đấu vẫn sôi nổi. Bà ấy có thể ngừng cầu nguyện.
Vài phút sau, xơ Cecilia vào phòng. Bà rất hồi hộp,
- Mười bốn không có nghĩa là gì. Tôi chẳng hiểu chút nào về môn thể thao này cả. Với món bóng chày, đấy là tỉ sổ thắng an toàn. Nhưng tôi chẳng hiểu chút nào về bóng đá. Có lẽ nó chẳng quan trọng. Tôi sẽ quay xuống nhà nguyện và cầu nguyện cho đến khi trận đấu kết thúc.
- Họ sẽ thua đấy - Frazer nói - Tôi dám bảo đảm với bà như thế. Ở lại nghe với tôi đi.
- Không. Không. Không. Không. Không. Không. Không - Bà nói - Tôi sẽ xuống nhà nguyện ngay bây giờ để cầu nguyện.
Ông Frazer nhắn tin xuống mỗi khi đội Notre Dame thắng, rốt cuộc khi trời đã tối một lúc lâu, kết quả trận đấu đã được công bố.
- Xơ Cecilia thế nào rồi?
- Vẫn cứ ở trong nhà nguyện. - Cô nói.
Sáng hôm sau xơ Cecilia vào phòng. Bà rất hài lòng và tỏ vẻ tự tin.
- Tôi biết chúng chẳng thể nào thắng được Đức Mẹ - Bà nói - Chúng không thể. Cayetano cũng đỡ hơn. Anh ta đã khá hơn nhiều. Anh ta sắp có khách. Dẫu chưa gặp nhưng họ sẽ đến, điều này sẽ khiến anh ta cảm thấy vui hơn bởi biết mình không bị đồng bào bỏ rơi. Tôi đã đến gặp anh chàng O’Brien ở Sở Cảnh sát và đề nghị anh ta cử ngay mấy người Mexico đến thăm Cayetano đáng thương. Chiều nay anh ta sẽ bảo mấy người đến. Khi ấy, con người tội nghiệp đáng thương kia sẽ cảm thấy đỡ hơn. Thật là ác độc khi chẳng có ai đến thăm anh ta.
Khoảng năm giờ chiều hôm ấy, ba người Mexico bước vào phòng.
- Bọn tôi vào được chứ? - Tay to con nhất hỏi, y khá béo và có đôi môi rất dày.
- Tại sao không? - Ông Frazer đáp - Mời các anh ngồi. Các anh uống tí gì chứ?
- Cám ơn nhiều. - Tay to con nói.
- Cám ơn. - Tay nhỏ choắt và đen nhất nói.
- Cám ơn, không - Tay gầy nói - Nó đã lên đến đầu tôi rồi. - Y vẽ vào đầu.
Cô y tá mang ra mấy cái cốc.
- Làm ơn lấy hộ tôi cái chai, - Frazer nói - nhãn Red Lodge ấy - Ông nhắc.
- Mác Red Lodge là tuyệt vời nhất. - Tay to con nói.
- Radio có mấy kênh? - Tay không uống hỏi.
- Bảy.
- Tuyệt nhỉ - Y nói - Giá của nó là bao nhiêu vậy?
- Tôi không biết. - Ông Frazer đáp - Tôi chỉ thuê nó.
- Các anh có phải là bạn của Cayetano không?
- Không - Tay to con đáp - Bọn tôi là bạn của gã đã bắn anh ta.
- Bọn tôi được cảnh sát cử tới đây. - Tay nhỏ nhất nói.
- Bọn tôi có một chút địa vị, - Tay to con nói - tôi và cậu ấy - Rồi đưa tay chỉ vào tay không uống. - Cậu kia cũng có một tí đấy - Y chỉ vào tay choắt người đen đủi - Cảnh sát bảo phải đến, thế là bọn tôi đến.
- Tôi rất mừng vì các anh đã đến.
- Tôi cũng vui khi được gặp ông.
- Các anh dùng thêm một ly nhỏ nữa chứ?
- Sao không nhỉ? - Tay to con nói.
- Với sự cho phép của ông. - Tay nhỏ con nhất nói.
- Trừ tôi - Tay gầy nhom nói - Nó dội lên cả đầu tôi rồi.
- Rượu rất ngon. - Tay nhỏ con nhất nói.
- Các anh không bảo bạn của Cayetano đến thăm anh ta à?
- Hắn không có bạn.
- Mọi người đều có bạn.
- Tay này thì không.
- Anh ta làm nghề gì?
- Hắn là một con bạc.
- Anh ta tử tế chứ?
- Tôi tin là thế.
- Từ túi tôi, - Tay nhỏ con nhất nói - hắn ăn một trăm tám mươi dollar. Bây giờ một trăm tám mươi dollar ấy đâu còn giá trị trên thế gian này nữa.
- Với tôi, - Tay gầy nhom nói - hắn thắng hai trăm mười lăm dollar. Thử hình dung món tiền ấy.
- Tôi chẳng bao giờ chơi với hắn. - Tay to con nói.
- Anh ta chắc giàu lắm. - Ông Frazer thử gợi.
- Hắn nghèo hơn chúng tôi - Tay Mexico nhỏ con nói - Hắn chẳng có gì ngoài chiếc sơ-mi mặc trên người.
- Và bây giờ, chiếc sơ-mi ấy lại bị mất giá thêm - Ông Frazer nói - Đạn đã xuyên thủng nó.
- Rõ thế.
- Kẻ bắn anh ta bị thương cũng là một con bạc chứ?
- Không, hắn là công nhân trồng củ cải đường. Hắn đã chuồn khỏi thị trấn.
- Các anh phải nhớ điều này - Tay to con nhất nói. - Hắn là cây guitar giỏi nhất thị trấn. Hắn chơi cừ lắm.
- Thật là xấu hổ.
- Tôi cũng nghĩ thế - Tay to con nhất nói - Hắn lại có thể đụng đến cả guitar nữa cơ chứ.
- Không còn người nào chơi giỏi nữa sao?
- Không, thậm chí chỉ là cái bóng của họ.
- Có một người chơi accordion, gã ấy khá đấy. - Tay gầy nhom nói.
- Hiếm người có thể chơi được nhiều loại nhạc cụ - Tay to con nói - Ông thích âm nhạc không?
- Hà cớ gì mà tôi lại không thích?
- Chúng ta sẽ tổ chức một tối hòa nhạc chứ? Ông có nghĩ bà xơ ấy sẽ cho phép? Bà ta có vẻ tốt bụng lắm.
- Tôi chắc bà ấy sẽ cho phép nếu Cayetano có thể nghe.
- Bà ta có hơi khùng không? - Tay gầy nhom hỏi.
- Ai?
- Bà xơ ấy.
- Không - Ông Frazer nói - Bà ấy là người phụ nữ rất thông minh và cực kỳ độ lượng.
- Tôi chẳng tin tưởng gì vào cái đám cha cố, thầy tu và các bà xơ ấy. - Tay gầy nhom nói.
- Hồi còn nhỏ, cậu ấy đã từng ở đấy. - Tay nhỏ con nhất nói.
- Tôi đã từng là thầy tu cấp dưới - Tay gầy nhom tự hào nói - Giờ thì tôi chẳng còn tin gì nữa, kể cả cái thế giới nhôm nhoam này.
- Sao vậy? Điều ấy có làm anh đau đầu không?
- Không - Tay gầy nhom đáp - Chỉ có rượu mới làm tôi đau đầu. Tín ngưỡng là thuốc phiện của người nghèo.
- Tôi nghĩ cần sa mới là thuốc phiện của dân nghèo. - Frazer nói.
- Ông đã bao giờ hút thuốc phiện chưa? - Tay to con hỏi.
- Chưa.
- Tôi cũng thế - Y nói - Nó có vẻ rất tệ hại. Một ai đó dây vào thì không thể nào dừng lại được. Thuốc phiện là tội lỗi.
- Giống như tôn giáo. - Tay gầy nhom nói.
- Cái thứ này, - Tay Mexico nhỏ con nhất nói - là đối thủ cực kỳ mạnh đối với tôn giáo.
- Chống lại cái gì đó thì sức mạnh là cần thiết. - Ông Frazer lịch sự nói.
- Tôi kính trọng những người có đức tin dẫu cho họ tin chỉ vì thơ ngây. - Tay gầy nhom nói.
- Tốt. - Ông Frazer nói.
- Ông cần thứ gì? - Tay Mexico to con hỏi - Ông có thiếu gì không?
- Nếu có bia ngon, phiền các anh mua hộ mấy chai.
- Chúng tôi sẽ mang bia đến.
- Uống thêm tí nữa trước lúc các anh đi?
- Tuyệt đấy.
- Bọn tôi đang ăn cướp của ông.
- Tôi không thể uống. Nó bốc lên đầu. Rồi tôi đau đầu lắm, cả dạ dày cũng đau.
- Tạm biệt các anh.
- Tạm biệt và cám ơn ông.
Họ đi khỏi, ông ăn xong bữa khuya rồi vặn radio nhỏ đến mức còn có thể nghe được, các chương trình phát thanh kết thúc theo trật tự: Denver, Salt Lake City, Los Angeles và Seattle. Từ radio, ông Frazer không nghe được lời miêu tả nào về Denver. Ông chỉ có thể thấy Denver qua tờ Denver Post và hoàn thiện bức tranh trong trí tưởng tượng của mình qua tờ The Rocky Mountain News. Ông cũng không thể hình dung nổi Salt Lake City hay Los Angeles qua những gì nghe được từ radio. Salt Lake City trong trí tưởng tượng của ông là một nơi sạch sẽ, hơi tối, có nhiều phòng cá độ trong rất nhiều khách sạn, điều này gợi ông nhớ về Los Angeles. Nhưng cũng vì những phòng cá độ này mà ông chẳng thể hình dung nổi nó. Trong khi đó, ông biết rất rõ về Seattle, những chiếc taxi màu trắng to lớn (được trang bị mỗi chiếc một radio) thuộc công ty taxi, mỗi tối đều đưa ông đến quán rượu trong khu người Canada, nơi họ gọi điện mời ông đến dự các bữa tiệc có nhạc chọn lọc. Hằng đêm, từ hai giờ sáng, ông đã có mặt ở Seattle để thưởng thức nhiều nhạc phẩm khác nhau mà khách hàng yêu cầu, khung cảnh ấy sống động như ở Minneapolis, nơi mỗi buổi sáng, các nhạc công rời khỏi giường để đi đến đài phát thanh. Ông Frazer bỗng trỗi lên cảm giác yêu quý Seattle ở Washington rất nhiều.
Mấy tay Mexico mang bia đến, nhưng bia không ngon. Ông Frazer tiếp họ song ông không có hứng trò chuyện, rồi khi họ đi khỏi, ông biết họ chẳng bao giờ đến nữa. Thần kinh của ông trở nên căng thẳng, ông không thích tiếp chuyện mọi người trong lúc ở trạng thái ấy. Thần kinh của ông trở nên căng thẳng vào cuối tuần thứ năm bởi trong lúc đang hài lòng trước cảm giác dễ chịu thì ông bực mình vì đã bị đẩy vào tình huống quen thuộc mà ông đã biết rõ câu trả lời. Trước đấy, ông Frazer đã trải qua tất cả các tình huống này. Điều duy nhất mới đối với ông là radio. Ông mở nó suốt đêm, vặn thật bé chỉ đủ vừa nghe tiếng; ông đang luyện cách lắng nghe mà không phải suy nghĩ.
Khoảng mười giờ sáng hôm ấy, xơ Cecilia mang bưu phẩm vào phòng. Trông bà rất tươi tỉnh, ông Frazer thích ngắm nhìn và nghe bà nói, nhưng còn thư từ, từ một thế giới khác đến, lại còn quan trọng hơn. Mặc dù, mớ thư từ ấy chẳng có gì hấp đẫn.
- Trông ông khỏe hơn nhiều lắm đấy - Bà nói - Chẳng mấy nữa ông sẽ từ giã chúng tôi.
- Vâng - Ông Frazer nói - Sáng nay, trông bà rất hạnh phúc.
- Ồ, đúng đấy. Sáng nay, tôi cảm thấy mình như thể một vị thánh.
Ông Frazer hơi giật mình trước thông báo này.
- Đúng đấy - Xơ Cecilia tiếp tục - Đấy là mục tiêu tôi muốn phấn đấu. Một vị thánh. Hồi hãy còn bé xíu, tôi đã mơ ước trở thành một vị thánh. Khi đã là thiếu nữ tôi nghĩ nếu mình rũ bỏ cõi trần tục vào sống trong tu viện thì mình có thể thành thánh. Đấy là ước nguyện của tôi và tôi nghĩ mình phải trở thành thánh. Tôi khát khao mình trở thành thánh. Tôi hoàn toàn tin chắc mình sẽ đạt được ước nguyện. Rồi trong khoảnh khắc ấy, tôi nghĩ mình đã là thánh. Tôi rất hạnh phúc bởi điều ấy quá đơn giản và dễ dàng. Khi thức giấc vào buổi sáng, tôi khao khát mình trở thành thánh, nhưng tôi vẫn chưa thể. Tôi chẳng thể nào thành thánh. Tôi rất muốn thành thánh. Tất cả những gì tôi muốn là hình ảnh của một vị thánh. Đấy là ước vọng duy nhất mà tôi hằng nuôi dưỡng. Rồi sáng nay, tôi cảm thấy như thể mình đã thành thánh. Ôi, tôi mơ mình là một vị thánh thực sự.
- Bà sẽ thành thánh. Mọi người đều có những gì họ muốn. Đấy là điều người ta luôn bảo tôi.
- Giờ thì tôi không biết. Khi tôi hãy còn bé, ước nguyện ấy dường như quá đơn giản. Tôi biết mình sẽ thành thánh. Nhưng tôi biết, việc ấy sẽ mất nhiều thời gian khi tôi nhận thấy nó không phải bỗng nhiên đến. Giờ đây, dường như không thể nào chịu đựng nổi.
- Thì tôi chẳng báo là bà có cơ duyên tốt lành đó sao.
- Ông có thực sự nghĩ thế không? Đừng, tôi không muốn được động viên. Xin đừng động viên tôi. Tôi muốn trở thành thánh. Tôi khao khát được làm một vị thánh.
- Tất nhiên, bà sẽ là một vị thánh. - Ông Frazer nói.
- Không hẳn, có lẽ tôi sẽ không. Nhưng, ồ, giả mà tôi là thánh nhỉ! Giá mà tôi là thánh nhỉ!
- Anh bạn Cayetano của bà sao rồi?
- Anh ta sắp bình phục nhưng hãy còn bị liệt. Một viên đạn đã xuyên trúng dây thần kinh đùi nên làm cái chân ấy tê liệt. Họ sẽ phẫu thuật nó khi anh ta khỏe hơn để anh ta có thể đi lại.
- Có lẽ dây thần kinh ấy sẽ phục hồi.
- Tôi đang cầu nguyện để nó phục hồi - Xơ Cecilia nói - Ông nên đến thăm anh ta.
- Tôi không có hứng thú gặp bất kỳ ai cả.
- Tôi tin là ông muốn gặp anh ta. Họ có thể đẩy anh ta vào đây.
- Thôi cũng được.
Anh ta được đẩy vào, người ốm nhách chỉ còn xương bọc da, tóc anh ta màu đen và cần phải cắt, cặp mắt vui nhộn, bộ răng rất xấu khi mỉm cười.
- Hola, amigo! Que tal? [3]
- Như anh thấy đấy - Ông Frazer nói - Thế còn anh?
- Hãy còn sống nhưng một chân bị liệt.
- Tệ thật nhỉ - Ông Frazer nói - Nhưng dây thần kinh ấy sẽ hồi phục và cái chân lại khỏe như xưa.
- Họ cũng bảo tôi như thế.
- Có còn nhức không?
- Bây giờ thì không. Nhưng đôi lúc tôi suýt phát điên lên vì cơn đau trong bụng. Tôi nghĩ chỉ một cơn đau ấy thôi cũng đủ để giết chết tôi.
Xơ Cecilia đang nhìn họ với vẻ hạnh phúc.
- Bà ấy đã kể cho tôi nghe rằng anh chẳng hề rên lấy một tiếng. - Ông Frazer nói.
- Nhiều người cùng ở trong căn phòng ấy. - Người Mexico khiêm tốn nói.
- Ông có đau lắm không?
- Đau lắm. Nhưng không đau bằng anh. Khi y tá ra khỏi, tôi hét suốt một, hai tiếng đồng hồ. Điều ấy làm tôi đỡ đau. Bây giờ thần kinh tôi tệ thật.
- Ông có radio. Nếu tôi có một phòng riêng và radio thì tôi sẽ gào thét suốt đêm.
- Tôi không tin điều đó.
- Hombre si [4]. Chuyện ấy rất lành mạnh. Nhưng người ta sẽ không làm thế khi có nhiều người chung phòng.
- Chí ít, - Ông Frazer nói - đôi tay vẫn nguyên vẹn. Họ nói với tôi anh kiếm sống bằng đôi tay.
- Vả cả cái đầu nữa - Anh ta nói rồi đưa tay vỗ trán - Nhưng cái đầu thì chẳng có giá trị cho lắm.
- Ba người đồng hương của anh đã đến đây.
- Cảnh sát cử đến thăm tôi.
- Họ mua đến ít bia.
- Chắc là dở lắm.
- Ừ, dở.
- Tối nay, cảnh sát bảo họ đến chơi bản xê-rê-nát cho tôi nghe. - Anh ta cười rồi xoa bụng - Tôi không thể không buồn cười. Bởi vì cái thứ nhạc công như họ thì chỉ tổ làm người ta chóng chết hơn.
- Cả đứa bắn anh cũng vậy à?
- Lại một thẳng ngốc nữa. Tôi đánh bài ăn hắn ba mươi tám dollar. Món tiền này chẳng đáng để giết người.
- Ba tay ấy bảo với tôi là anh ăn rất nhiều tiền.
- Và nghèo hơn bọn ấy.
- Thế ư?
- Tôi là người theo chủ nghĩa lý tưởng, nghèo kiết xác. Tôi là nạn nhân của ảo tưởng. - Anh ta cười, xoa bụng rồi lại cười - Tôi là con bạc chuyên nghiệp nên tôi thích đánh bạc. Thích những canh bạc thực sự. Những canh bạc lẻ tẻ thì chỉ toàn là những ngón cờ bạc bịp. Trong một canh bạc thực sự, người chơi phải cần may mắn. Tôi chẳng gặp may.
- Chẳng bao giờ ư?
- Chẳng bao giờ. Tôi hoàn toàn không gặp may. Bằng chứng, bây giờ ta thử nghĩ về cái đồ dê cụ đã bắn tôi. Hắn có biết bắn súng không? Không. Phát đầu tiên hắn bắn vào không khí. Phát thứ hai thì lại lạc vào anh bạn người Nga đáng thương. Với hai phát ấy, dường như vận may đã đến với tôi. Rồi chuyện gì xảy ra? Hắn bắn trúng bụng tôi hai phát. Hắn là kẻ may mắn. Tôi không gặp may. Người ta sẽ chẳng bắn trúng con ngựa nếu cứ giữ bàn đạp. Tất cả chỉ nhờ may mà thôi.
- Tôi tưởng hắn bắn anh trước khi bắn người Nga.
- Không, người Nga trước, tôi sau. Báo chí đưa tin sai đấy.
- Tại sao ông không bắn lại hắn?
- Tôi không bao giờ mang theo súng. Với vận hạn của tôi ấy mà, nếu mang theo súng thì một năm tôi đã bị treo cổ mười lần. Tôi là một con bạc quèn, chỉ thế thôi. - Anh ta dừng một lát rồi tiếp tục - Khi tôi kiếm được tiền thì tôi chơi bạc, nhưng khi chơi bạc thì tôi lại thua. Tôi đã từng đặt ba nghìn dollar. Một canh bạc tử tế. Mà không chỉ một canh đâu nhé.
- Sao không tiếp tục chơi?
- Nếu tôi sống lâu thì vận mạng sẽ thay đổi. Đã mười lăm năm nay, vận tôi đen lắm. Nếu gặp thời thì tôi sẽ giàu ngay. - Anh ta nở miệng cười - Tôi là một con bạc tử tế nếu không thì bây giờ tôi đang tận hưởng giàu sang.
- Anh cứ xui trong bất kỳ trò chơi nào hay sao?
- Với mọi thứ, kể cả đàn bà. - Anh ta lại mỉm cười, mấy cái răng hỏng chìa ra.
- Thật chứ?
- Thật.
- Rồi anh sẽ làm gì?
- Cứ tiếp tục, từ từ, đợi số phận thay đổi.
- Nhưng còn với phụ nữ.
- Không có con bạc nào gặp may với đàn bà cả đâu. Hắn ta phải tập trung hết sức. Hắn phải hoạt động về đêm. Lúc lẽ ra hắn ta phải đang ôm ấp một mụ đàn bà. Chẳng có kẻ hoạt động về đêm nào mà lại có thể giữ được một người đàn bà nếu cô ta có một tí giá trị.
- Anh đúng là một triết gia.
- Không, hombre [5]. Chỉ là con bạc của những thị trấn nhỏ. Một thị trấn nhỏ. Rồi một thị trấn nhỏ một thị trấn nhỏ nữa, sau đó là một thị trấn lớn, cứ thế mở rộng ra mãi.
- Rồi bị bắn thủng bụng.
- Lần đầu tiên, - Anh ta nói - và cũng sẽ là lần duy nhất.
- Nói chuyện với tôi có làm anh mệt không? - Ông Frazer hỏi.
- Không - Anh ta đáp - Có tôi làm mệt ông thì có.
- Cái chân thế nào?
- Nó chẳng giúp gì nhiều cho tôi. Còn chân hay liệt chân đối với tôi thì cũng thế. Tôi sẽ vẫn di chuyển được.
- Tôi cầu mong ông gặp nhiều may mắn, thật đấy, bằng cả tấm lòng tôi. - Ông Frazer nói.
- Tôi cũng mong ông như thế - Anh ta nói - Và mong cơn đau dừng lại.
- Chắc chắn nó sẽ chẳng kéo dài. Nó sắp hết. Đấy chỉ là chuyện vặt.
- Mong nó hết nhanh đi.
- Tôi cũng mong anh như thế.
Tối hôm ấy, mấy người Mexico chơi accordion và những nhạc cụ khác trong phòng, tiếng nhạc vui nhộn, xen giữa những âm thanh hít vào và thổi ra của accordion là tiếng chuông, tiếng nhạc đệm va tiếng trống; tất cả vang ngập ra cả hành lang. Trong phòng ấy, có một tay đã từng cỡi ngựa chưa thuần trong cuộc đua Midnight vượt cầu trượt vào buổi chiều bụi bậm, nóng bức, có đông đảo khán giả đứng xem; bây giờ, với cái lưng gãy, anh ta dự định, sau bình phục và rời khỏi bệnh viện, sẽ học nghề bọc da ghế. Có một người thợ mộc bị ngã khỏi giàn giáo, cả hai mắt cá và hai cổ tay đều bị vỡ. Anh ta nhẹ như một con mèo nhưng lại không có độ đàn hồi của loài vật ấy. Họ đang cố chữa để anh ta có thể đi làm trở lại nhưng việc điều trị sẽ mất thời gian dài. Ngoài ra, phòng ấy còn có chàng trai mười sáu tuổi, được đưa nhập viện từ một trang trại, với một cái chân gãy được bó bột không đúng kỹ thuật đang đợi đập ra bó lại. Và Cayetano Ruiz, con bạc của một thị trấn nhỏ, có một chân bị liệt. Đứng cuối hành lang, ông Frazer có thể nghe bọn họ cười đùa vui vẻ trong tiếng nhạc của mấy tay Mexico được cảnh sát phái đến. Mấy người Mexico đang trải qua những giờ phút vui vẻ. Với tâm trạng rất hưng phấn, họ vào phòng hỏi xem ông muốn họ chơi bài gì và sau tối hôm ấy, họ còn đến đấy chơi thêm hai lần nữa.
Lần cuối cùng họ đến, ông Frazer nằm trong phòng mở cửa nghe thứ âm nhạc ồn ào thảm hại mà không thể nào ngăn được dòng tư duy lại. Khi họ muốn biết ông thích họ chơi bài gì, ông đề nghị bản Cucaracha, một bản nhạc đòi hỏi sự khéo léo, lối biểu diễn thanh thoát với nhiều giai điệu lắt léo đến độ người trình diễn sẽ kiệt sức vì nó. Họ chơi ầm ĩ, đầy nhiệt tình. Bản nhạc này nghe hay hơn bất kỳ một nhạc phẩm nào khác có cùng giai điệu, ông Frazer cảm nhận được điều ấy nhưng không vì thế mà nó làm ông vui lên.
Bất chấp các giai điệu nóng bỏng đầy xúc cảm ấy, ông Frazer vẫn tiếp tục suy nghĩ. Thông thường, trừ lúc ông đang viết thì ông có thể kìm được dòng tư duy của mình về mọi chuyện, nhưng giờ thì ông đang nghĩ về những người đang chơi nhạc và nhớ lại những gì mà tay gầy nhom đã nói.
Tôn giáo là thuốc phiện của con người, ông Frazer tin điều ấy, cái thằng chủ ổ chích gầy nhom có cái bụng khó tiêu ấy. Ừ, cả âm nhạc cũng là thuốc phiện của con người. Cái đầu mít đặc già nua đã không nghĩ về điều ấy. Còn bây giờ, kinh tế học là thuốc phiện của người Italy và người Đức. Lại còn chuyện làm tình nữa chứ; nó có phải là thuốc phiện của con người ta không? Chỉ của vài người. Của những bậc ưu tú nhất của loài người. Nhưng bia rượu là thuốc phiện tuyệt diệu của con người, ồ, một loại thuốc phiện ngoại hạng. Mặc dù vài người thích radio, thì đấy cũng là một loại thuốc phiện khác của con người, một loại rẻ tiền mà ông đang sử dụng. Bầu bạn với những món trên là cờ bạc, lại là thuốc phiện của con người nhưng nếu đã từng có, từng có loại thuốc phiện cổ xưa nhất thì đấy chính là cờ bạc. Cả tham vọng nữa, cũng là một thứ thuốc phiện, khi kết hợp với niềm tin thơ ngây vào bất cứ thể chế chính trị bịp bợm nào. Những gì người ta cần là giảm sự cai trị xuống đến mức tối thiểu, thường xuyên phải ít. Tự do, thứ chúng ta từng tôn sùng bây giờ là tên một ấn phẩm của MacFadden. Chúng ta biết điều đó nhưng họ vẫn chưa tìm ra tên mới cho nó. Rồi cái gì mới là loại thuốc phiện thực sự? Cái gì là thuốc phiện thực sự, cụ thể của con người? Ông biết rất rõ. Nó chỉ vừa mới vượt qua vùng sáng trong đầu ông, cái vùng sáng xuất hiện vào buổi tối sau khi ông uống hết hai hay nhiều hơn nữa những cốc rượu; những gì ông biết là ở đó (dĩ nhiên nó không thực sự ở đó). Nó là gì nhỉ? Ông biết rất rõ. Nó là gì nhỉ? Tất nhiên; bánh mì là thuốc phiện của con người. Liệu ông có nhớ được điều này để tư duy vào ban ngày? Bánh mì là thuốc phiện của con người.
- Này, - Ông Frazer bảo cô y tá vừa vào - cô gọi hộ anh chàng Mexico gầy nhom ấy vào đây giúp tôi, được chứ?
- Ông có thích không? - Người Mexico hỏi khi đứng ở ngưỡng cửa.
- Thích lắm.
- Đấy là một giai điệu nổi tiếng trong lịch sử. - Người Mexico nói.
- Nó là giai điệu của một cuộc cách mạng thực sự.
- Này, - Ông Frazer hỏi - tại sao người ta không thể không được gây mê khi phẫu thuật.
- Tôi không hiểu.
- Tại sao tất cả các loại thuốc phiện của con người đều không tốt? Anh muốn làm gì với con người đây?
- Họ nên được cứu thoát khỏi sự ngu dốt.
- Đừng có nói ngớ ngẩn thế. Giáo dục là thuốc phiện của con người. Anh nên biết điều ấy. Anh đã hơi ý thức được vấn đề rồi đấy.
- Ông không tin vào giáo dục ư?
- Không - Ông Frazer đáp - Nhưng tin vào tri thức.
- Tôi không tán thành quan điểm của ông.
- Đã nhiều lần, tôi cũng không hài lòng khi tán thành quan điểm của chính bản thân mình.
- Ông có muốn nghe bản Cucaracha thêm một lần nữa không? - Người Mexico có vẻ lo lắng hỏi.
- Được đấy - Ông Frazer đáp - Hãy chơi bản Cucaracha thêm lần nữa. Nghe nó hay hơn nghe radio.
Một cuộc cách mạng, ông Frazer nghĩ, không phải là thuốc phiện. Cách mạng là một cuộc tẩy rửa; một trạng thái mê ly được duy trì bởi người khởi xướng. Thuốc phiện thì được sử dụng trước và sau đó. Ông đang tư duy mạch lạc, rất mạch lạc.
Lát nữa họ sẽ đi, ông nghĩ, và họ sẽ mang theo điệu Cucaracha theo cùng. Rồi nỗi bực bội ghê gớm của ông sẽ giảm xuống, radio được mở lên, người ta có thể vặn radio để không phải nghe gì nữa.

Lê Huy Bắc dịch
----------------------
[1] Hãy bảo hắn xéo đi (tiếng Tây Ban Nha).
[2] Tôi tin.
[3] Xin chào, ông bạn! Khỏe chứ?
[4] Thưa ông, thật đấy.
[5] Thưa ông.
0
Cha và con

Một cái biển báo rẽ nằm ngay giữa con phố chính của thị trấn nhưng ô-tô cứ đi thẳng, tin chắc công việc sửa chữa nào đó đã hoàn tất nên Nicholas Adams vẫn lái tới, vào thị trấn theo con phố được lát gạch, vắng vẻ, chốc lại phải dừng do đèn giao thông lúc bật, lúc tắt trong một ngày Chủ nhật ít người đi lại này, rồi sang năm sau nó sẽ được dỡ đi khi chi phí cho hệ thống tín hiệu giao thông không được chu cấp đầy đủ; đi dưới những tán cây rậm rạp của thị trấn nhỏ sẽ là một phần được giữ trong tim bạn nếu nó là thị trấn của bạn và bạn từng tản bộ dưới bóng mát của chúng, nhưng có điều là nó quá rậm rạp, ngăn không cho nắng xuống và làm xám xịt những ngôi nhà khiến người lạ cảm thấy ảm đạm; qua ngôi nhà cuối cùng và nhập vào đường quốc lộ vươn lên lượn xuống thẳng tít tắp có những bờ đất đỏ bị cắt thẳng xuống và rừng cây tái sinh mọc ở cả hai bên đường. Đây không phải quê hương anh nhưng thời tiết đang độ giữa thu nên lái xe băng qua vùng đất này và ngắm nhìn cũng rất thú vị. Cánh đồng bông hiện ra phía trước, những ruộng ngô lấp ló trên vùng đất quang, xen kẽ với vài thửa lúa. Xe chạy bon bon, con trai anh ngủ gà gật trên ghế bên cạnh, hành trình cũng khá dài; đã dự định thị trấn tới sẽ nghỉ qua đêm, Nick quan sát những cánh đồng ngô xen lẫn đậu tương hoặc đậu Hà Lan, những bụi cây và những con đường nhỏ cắt ngang, những chiếc xe thùng và nhà cửa nằm bên rìa cánh đồng, những bụi cây lớn, hình dung cả miền quê bên đường xe đi và rồi chuyển sang xem xét mấy khu rừng thưa như nguồn nuôi dưỡng hay chốn ẩn náu, hình dung ra nơi có thể tìm được một con gà gô và đâu là hướng bay của chúng.
Khi đi bắn chim cút bạn không được xộc ngay vào giữa đàn hay nơi trú đậu của chúng, khi chó đã tìm ra bầy chim hay khi chúng bay vụt đi, chúng sẽ đổ dồn về phía bạn, có con bay vụt lên, có con lướt qua bên tai, kêu vù vù và bạn nhìn rõ chúng chứ không như khi chúng bay ngang qua trên bầu trời, lúc đó bạn chỉ cần ngửa người chộp lấy chúng ngay trên vai, trước khi chúng cụp cánh hạ xuống lùm cây. Nghĩ đến miền quê này với bầy chim cút và việc cha từng dạy mình săn chim, Nicholas Adams bắt đầu nghĩ về người cha. Khi nghĩ đến ông, điều đầu tiên anh nhớ đến là đôi mắt. Ông cao to vạm vỡ, nhanh nhẹn, đôi bờ vai rộng, chiếc mũi khoằm như mỏ diều hâu, râu mọc kín cái cằm lẹm, những cái đó anh không bao giờ nghĩ đến, duy có đôi mắt. Chúng được một đội quân lông mi bảo vệ; nằm sâu khiến ta nghĩ đến một sự bảo vệ đặc biệt được sắp đặt cho bộ phận đặc biệt giá trị - đôi mắt. Đôi mắt nhìn xa hơn, lanh lẹ hơn mắt của bao người; chúng chính là món quà quý giá mà trời đã ban cho. Cha anh, - nói một cách hoa mỹ, - trông như thể một con cừu đực to sừng hay như một con đại bàng.
Anh đứng bên cha ở canh hồ, mắt anh lúc đó vẫn tốt và ông thường nói, “Họ vừa vẫy cờ”. Nick không nhìn thấy lá cờ lẫn cột cờ: “Kia kìa”, cha anh lại nói, “chị con, Dorothy đấy. Nó giương cao ngọn cờ và đang đi ra bến tàu đấy”.
Nick nhìn sang bên kia hồ, anh chỉ nhìn thấy bờ hồ dài trồng đầy cây, rừng gỗ cao cao đằng sau, bốt gác vịnh, quả đồi trọc của nông trường, và màu trắng căn lều của họ trong rừng cây nhưng anh không nhìn thấy cái cột cờ nào, bến tàu nào ngoại trừ màu trắng sáng của hồ và cung vòng của bờ.
- Con nhìn thấy đàn cừu trên sườn đồi bên bốt gác chứ?
- Con nhìn thấy.
Chúng chính là những đốm trắng trên quả đồi xám xanh.
- Cha còn đếm được có bao nhiêu con nữa. - Cha anh nói.
Cũng giống như những người có tài năng nào đó vượt qua nhu cầu của con người, cha anh rất băn khoăn. Rồi ông trở nên đa cảm, và giống như những người đa cảm, ông trở nên cục cằn và thô lỗ. Cùng lúc đó, ông cũng gặp nhiều rủi ro, tuy không phải tất cả do ông tự gây ra. Ông chết trong một cái bẫy chính ông từng giúp sức để đặt, còn người ta, trước khi ông chết thì bỏ mặc ông, mỗi người một kiểu. Tất cả những người đa cảm đều bị phản bội nhiều lần. Nick chưa thể viết về ông, nhưng anh sẽ viết, muộn hơn; miền quê chim cút này gợi anh nhớ về ông như thời ông còn sống, khi đó Nick hãy còn là một cậu bé và cậu đã rất biết ơn ông về hai việc, câu cá và bắn súng. Cha anh giỏi hai môn này nhưng không hề giỏi việc trai gái, Nick tỏ ra vui mừng về điều đó, về việc được nhận khẩu súng lần đầu tiên hay cơ hội để có nó và học cách sử dụng; để bây giờ, ở tuổi ba mươi tám, anh vẫn yêu thích câu cá và bắn chính xác như lần đầu anh được đi với cha. Niềm đam mê đó sẽ không bao giờ phai nhạt và anh vô cùng biết ơn cha vì đã giúp anh đến với chúng.
Trong quan hệ với mọi người thì cha anh không giỏi giang gì; hành trang bạn sẽ có thì mọi người cũng đã có và mỗi một người nắm bắt tất cả cơ hội dành cho mình để được hiểu biết mà không cần sự khuyên bảo; như thế sống ở đâu bạn cũng không bị lạ lẫm. Anh nhớ rất rõ hai điều cha anh từng dạy. Một lần họ cùng đi săn, Nick bắn một con sóc lông đỏ ở trên cây độc cần. Con sóc bị thương rơi xuống và khi túm nó lên Nick bị cắn vào ngón tay cái.
- Đồ chó chết bẩn thỉu - Nick rít lên và đập đầu con sóc vào thân cây - Xem mày cắn tao đây này.
Cha anh nhìn rồi nói. - Rửa sạch và về nhà bôi iốt vào.
- Đồ chó chết nhãi ranh. - Nick vẫn cáu.
- Con có biết đồ chó chết là gì không? - Cha anh hỏi.
- Bất kể thứ gì bọn con cũng gọi là đồ chó chết cả. - Nick đáp.
- Đồ chó chết là người có quan hệ với động vật.
- Sao lại thế?
- Cha không biết - Ông nói - Nhưng việc đó là một tội ác ghê tởm.
Trí tưởng tượng của Nick bị đảo lộn và hoảng sợ bởi lời cha, và anh nghĩ đến hàng loạt loài vật, không con nào có vẻ hấp dẫn hay thiết thực và đó là toàn bộ kiến thức nhục dục trực tiếp do cha anh dạy bảo, ngoại trừ một chủ đề khác. Một buổi sáng, anh đọc trong báo thấy Enrico Caruso bị bắt vì tội si mê.
- Si mê là gì [1].
- Đó là một tội ghê gớm. - Cha anh trả lời. Trí tưởng tượng của Nick liên tưởng đến ca sĩ giọng nam cao đang làm một việc gì đấy rất lạ lùng, kỳ quặc, ghê gớm bằng một chiếc máy nghiền khoai tây với một bà rất xinh đẹp nhìn giống ảnh Ana Held trên mặt trong của hộp xì gà. Hoảng sợ thực sự, nhưng anh quả quyết rằng khi đủ lớn anh phải cố si mê ít nhất một lần.
Cha anh kết luận chung lại rằng thủ dâm dẫn đến mù mắt, mất trí và tử vong, trong khi một người đàn ông đi với gái điếm sẽ mắc bệnh hoa liễu ghê tởm và phải tránh xa bọn họ. Mặt khác cha anh có được đôi mắt tuyệt vời anh chưa từng được thấy. Và Nick rất yêu ông, yêu suốt một thời gian dài. Giờ đây, hiểu rõ mọi việc từng như thế nào, thậm chí nhớ cả thời gian trước khi sự việc trở nên tồi tệ vốn không phải là việc đáng nhớ. Nếu viết anh sẽ bỏ qua nó. Anh đã bỏ qua quá nhiều điều khi viết lại những sự kiện. Vả chăng chưa đến lúc phải làm việc ấy. Vả lại còn quá nhiều người. Thế nên anh quyết định phải nghĩ đến việc khác. Không còn gì để nghĩ về cha anh và anh cũng đã nghĩ đến việc đó khá nhiều rồi. Công việc của người phục vụ tang lễ đã làm trên mặt cha anh chưa hề bị nhòa đi trong ký ức của anh, hơn thế mọi thứ vẫn còn quá rõ ràng, gồm cả các trách nhiệm. Anh đã ca ngợi người phục vụ tang lễ. Anh ta tỏ ra rất tự hào và có phần tự mãn. Những người phục vụ tang lễ đem lại bộ mặt cuối cùng cho người đã khuất. Nhưng anh ta chỉ làm qua loa quýt luýt khiến giá trị nghệ thuật là đáng ngờ. Bộ mặt tự nó trang điểm như nó vốn được trang điểm bao năm trước đó. Ba năm cuối đời nó đã thay đổi nhiều. Câu chuyện này khá thú vị nhưng do nhiều người còn sống nên anh chưa thể viết.
Sự học hỏi những vấn đề mới mẻ này của bản thân Nick bắt đầu ở trong rừng cây độc cần phía sau khu trại của người da đỏ. Để đến được đây, phải đi theo lối mòn nối từ căn nhà tranh qua vườn cây tới cánh đồng và tiếp đến là con đường chạy vòng bên vùng đầm lầy thì mới tới khu trại. Giờ đây, giá như anh còn có thể cảm nhận được cái lối mòn ấy bằng đôi chân trần. Đầu tiên là lớp đất mùn lá thông trải xuyên qua vườn cây độc cần sau căn nhà tranh nơi những khúc cây đổ đã mục nát thành mùn gỗ và những thanh gỗ bửa treo chênh vênh trên cây như những đường rạch loằng ngoằng được tạo ra trong ánh chớp. Ai cũng phải đi qua con suối trên một thân cây và nếu bị trượt chân thì dưới đó toàn thứ nước cặn bẩn đen ngòm. Phải trèo qua hàng rào để ra khỏi khu vườn và con đường mòn rắn khô dưới ánh nắng nhưng rồi băng qua cánh đồng mọc đầy cỏ, cây xấu hổ và mulen rồi tạt sang bên trái là vũng sình lầy bên con suối, ở đó loài chim choi choi sinh sống. Ngôi nhà mùa xuân ở bên con suối ấy. Bên dưới kho thóc là chuồng phân mà lớp phân trên cùng đã đóng khô lại. Lại có thêm cái hàng rào và một lối mòn khô rắn đi từ kho thóc lên nhà và một con đường cát nóng chạy xuống khu vườn, băng ngang con suối, đến đây mới qua cây cầu bắc bằng thân cây, ở đó những khóm cây đuôi mèo sinh sống mà người ta thường tẩm dầu hỏa để đốt sáng trong những đêm đi soi cá.
Con đường chính chạy xuống quẹo sang bên trái, men theo rừng cây, leo lên đồi, còn đi vào trong rừng là một con đường đất đá lổn nhổn, rộng rãi, dưới những tán cây mát mẻ, mở rộng ra để họ lấy chỗ róc vỏ cây độc cần mà người da đỏ đã hạ xuống, vỏ cây độc cần chất đống thành những hàng dài, chất cao lên, giống những ngôi nhà, thân cây đã róc vỏ vàng xỉn ra ngay chỗ bị đốn xuống. Họ để gỗ lại trong rừng mặc cho mục ra, thậm chí họ còn không dọn hoặc đốt đống cành lá lờm xờm. Họ chỉ cần vỏ cây dùng để thuộc da ở Boyne City; chuyên chở bằng cách kéo trên mặt hồ đã đóng băng vào mùa đông, sau mỗi năm rừng ít đi và đất trống nhiều lên, nóng hơn, ít bóng râm hơn, cỏ dại mọc um tùm.
Nhưng rừng vẫn còn dày ở phía trước, rừng nguyên sinh, ở đó cây cối cao tít lên mới trổ cành và bạn bước trên nền đất màu nâu xám, sạch sẽ và có nhiều suối lạch len lỏi chảy, không có cây mọc thấp ở đó, ngay cả ngày nóng nhất cũng vẫn mát và ba người bọn họ tựa lưng vào thân cây độc cần to lớn, gió thổi nhẹ tít trên đỉnh cây, ánh sáng dìu dịu soi xuống từng chùm, Billy nói:
- Mày có muốn Trudy nữa không?
- Thế em muốn à?
- Ừ.
- Thì đi nào.
- Không, ở đây cơ.
- Nhưng còn Billy...
- Em không ngại Billy. - Anh ấy là anh em.
Lát sau họ ngồi dậy, cả ba người, dỏng tai nghe con sóc đen ở trên một trong những cành cây cao nhất nhưng họ không nhìn thấy nó. Họ đợi con sóc cất tiếng kêu bởi khi kêu nó phải vẫy đuôi và Nick sẽ bắn ngay nếu có bất cứ chuyển động nào. Cha chỉ đưa cho anh ba viên đạn mỗi ngày để bắn và anh có khẩu súng săn một nòng, cỡ hai mươi ly, cái nòng của nó rất dài.
- Đồ chó không động đậy đi à. - Billy nói.
- Anh bắn nhé Nickie. Nhìn kỹ vào. Bọn em thấy nó nhảy đấy. Bắn nữa đi. - Trudy giục. Với cô câu nói ấy dài quá.
Họ lại ngồi xuống bên gốc cây và rơi vào im lặng. Nick cảm thấy trống rỗng, hạnh phúc.
- Eddie nói một đêm nào đấy nó sẽ đến ngủ với chị Dorothy của mày.
- Gì cơ?
- Nó nói vậy đấy.
Trudy gật đầu.
- Tất cả những gì anh ấy muốn làm là thế đấy. - Cô nói. Eddie là anh em cùng cha khác mẹ của họ. Nó mười bảy tuổi.
- Thằng Eddie Gilby mà mò đến ban đêm, thậm chí nó chỉ nói chuyện với Dorothy thôi thì em biết anh sẽ làm gì với nó không? Anh sẽ giết nó như thế này này. - Nick nâng khẩu súng lên, mím môi mím lợi lấy mục tiêu và bóp cò, đùng một cái một lỗ to bằng bàn tay sẽ găm vào đầu hay bụng của cái thằng nửa con hoang Eddie Gilby đó. “Như thế đấy. Anh sẽ giết nó giống như thế”.
- Tốt hơn anh ấy đừng nên đến. - Trudy nói. Cô đút tay vào trong túi Nick.
- Nó cần học hỏi thêm nhiều. - Billy chêm vào.
- Anh ấy chúa thô lỗ, - Tay Trudy lục lọi túi Nick - Nhưng anh không giết anh ấy chứ. Anh sẽ gặp nhiều rắc rối đấy.
- Anh sẽ giết nó như vừa rồi. - Nick khăng khăng. Eddie Gilby nằm ềnh trên mặt đất, ngực bị bắn vỡ toác còn Nick tự mãn dẫm chân lên người nó.
- Anh sẽ lột da đầu nó. - Anh nói ngây ngất.
- Đừng - Trudy ngăn - Đó là việc bẩn thỉu.
- Anh sẽ lột da đầu rồi gửi cho mẹ nó.
- Mẹ anh ấy chết rồi - Trudy nói. - Anh sẽ không giết anh ấy chứ, Nickie. Vì em anh đừng giết anh ấy nhé.
- Sau khi lột được da đầu nó, anh sẽ ném nó cho đàn chó.
Bilby đầy chán nản. - Tốt hơn nó nên cẩn thận. - Anh nói ảo não.
- Chúng sẽ xé nó ra tùng mảnh. - Nick nói, thỏa mãn với cái viễn cảnh vừa vẽ ra. Xong việc lột da đầu cái thằng lai giống đó rồi, đứng ngây người nhìn đàn chó xé xác nó, sắc mặt không hề thay đổi, anh ngả người ra sau dựa vào cây, hai tay ôm chặt ra sau gáy, Trudy túm lấy anh giật giật, khóc lóc:
- Đừng giết anh ấy! Đừng giết anh ấy! Đừng giết anh ấy! Đừng. Không. Đừng. Nickie. Nickie. Nickie!
- Gì thế?
- Đừng giết anh ấy.
- Anh phải giết nó.
- Anh ấy chỉ là một người dối trá.
- Thôi được rồi - Nickie nói - Anh sẽ không giết nếu nó không mò đến. Nó phải tránh xa anh.
- Tốt quá - Trudy nói - Anh muốn làm gì bây giờ không? Em thấy nhẹ cả người.
- Trừ phi Billy đi khỏi đây. - Nick đã giết Eddie Gilby, tha thứ cho nó, tha thứ cho cả mạng sống của nó và lúc này anh đã là một người đàn ông.
- Anh đi đi, Billy. Suốt ngày anh chỉ bám đuôi thôi. Đi đi.
- Đồ lợn - Billy cằn nhằn - Tao chán rồi. Bọn mình tới đây làm gì nhỉ? Săn bắn hay làm cái quái gì?
- Mày cầm lấy súng cũng được. Còn một viên đạn đấy.
- Được rồi. Tao sẽ hạ một con màu đen to đùng.
- Tao sẽ hú đấy. - Nick nói.
Rồi, một lúc sau, một lúc rất lâu sau đó Billy vẫn chưa quay lại.
- Anh có nghĩ mình sẽ có con không? - Trudy gập hai chân sát vào nhau, đê mê cọ vào người anh. Một cái gì đó trong Nick đã trôi đi mất.
- Anh không nghĩ vậy.
- Có một đứa con xinh xắn, quỷ thật.
Họ nghe thấy Billy nổ súng.
- Anh nghĩ có lẽ hắn đã hạ được một con.
- Đừng để tâm làm gì. - Trudy nói.
Billy xuất hiện giữa các thân cây. Anh vác súng trên vai, tay túm hai chân trước của một con sóc đen.
- Nhìn kìa, - Anh thốt lên - to hơn cả con mèo, thỏa mãn chứ?
- Anh hạ nó ở đâu?
- Đằng kia. Ngay lần đấy thấy nó nhảy lên.
- Về nhà đi. - Nick nói.
- Đừng vội. - Trudy nói.
- Anh phải về ăn tối.
- Thì về vậy.
- Mai còn muốn đi săn nữa không?
- Có chứ.
- Em lấy con sóc đi.
- Cám ơn.
- Sau bữa tối đi chơi chứ?
- Thôi.
- Anh thấy thế nào?
- Vui.
- Tốt rồi.
- Hôn lên má em này. - Trudy nói.
Bây giờ, đang lái xe trên đường quốc lộ, trời sắp tối, Nick không còn nghĩ về cha anh nữa. Thời điểm cuối ngày không bao giờ khiến anh nghĩ đến ông. Thời điểm cuối ngày luôn thuộc về riêng mình Nick và anh chưa bao giờ thấy thoải mái nếu giờ đó anh không được ở một mình. Cha anh trở lại với anh mùa thu hàng năm hay đầu mùa xuân, đó là lúc trên thảo nguyên đã có chim dẽ giun, hay lúc đó anh đã nhìn thấy những ruộng ngô, hay lúc đó anh nhìn thấy cái hồ, hay anh nhìn thấy con ngựa với chiếc xe độc mã, hay nhìn thấy, hoặc nghe thấy, đàn ngỗng hoang đã, hoặc vịt, nhớ lại lúc một con đại bàng chao xuống xuyên qua màn tuyết dày tấn công cái bẫy mồi phủ bạt, lao lên, hai cánh đập loạn xạ, các cặp vuốt mắc chặt vào tấm vải bạt. Lúc đó cha anh ở bên anh, thật bất ngờ. Trong những vườn cây ăn quả vắng vẻ và trên những cánh đồng vừa vỡ đất, trong những bụi rậm, trên những quả đồi nhỏ, hay những lúc đi trên bãi cỏ úa, những lúc xẻ gỗ hay chờ nước, ở xưởng xay bột, ở nhà máy rượu táo, trên con đập, luôn luôn hăng hái cao độ. Những thành phố nơi anh sống là những thành phố cha anh không biết tới. Qua tuổi mười lăm anh không còn chia sẻ gì với cha.
Khi trời lạnh, cha anh thường bị xước vùng dưới râu, còn trời nóng ông đổ mồ hôi rất nhiều. Ông thích làm việc trên cánh đồng dưới trời nắng chính vì ông không phải làm nhiều và ông yêu thích việc tay chân, những công việc mà Nick không hề thích. Nick yêu cha nhưng rất ghét mùi cơ thể ông nên một dạo anh phải một bộ đồ đã quá ngắn của cha, anh cảm thấy buồn nôn và cởi ngay ra và giấu nó dưới hai hòn đá trong một cái vũng và nói rằng anh đã đánh mất. Anh có nói lại với cha bộ quần áo bẩn như thế nào lúc cha bắt anh mặc vào, ông còn nói nó vừa mới được giặt sạch. Đúng là nó được giặt sạch thật nhưng đã lâu rồi. Lúc Nick bảo ông thử ngửi xem thì ông tỏ ý bực bội nhưng vẫn hít thử và bảo bộ quần áo thật sạch và thơm tho. Khi Nick đi câu cá về nhà không có bộ quần áo, lại còn nói đã đánh mất rồi, anh liền bị nện cho một trận vì tội nói dối.
Lát sau, ngồi trong căn lều gỗ mở toang cửa, khẩu súng ngắn của anh đã nạp đầy đạn và lên cò, nhìn sang bên hàng hiên phủ xanh, chỗ cha anh đang ngồi đọc báo, anh nghĩ thầm, “Mình có thể đưa ông ấy xuống địa ngục. Mình có thể giết ông ấy”. Cuối cùng anh thấy cơn giận dữ đã thoát khỏi anh, cảm thấy hơi choáng váng vì thứ anh cầm trong tay là khẩu súng chính cha anh đưa cho. Anh đi đến khu trại người da đỏ, đi bộ đến đó trong bóng tối, để rũ bỏ thứ mùi đó. Trong gia đình có đúng mùi của một người mà anh thích: đứa em gái. Với tất cả những người khác, anh tránh né đụng chạm. Cảm giác đó nhạt dần từ khi anh bắt đầu hút thuốc. Khứu giác tinh nhạy ấy thật là tốt. Nhưng nó tốt đối với một con chó săn chim chứ không tốt cho một con người.
- Lúc cha còn nhỏ và hay đi săn với người da đỏ thì như thế nào hả cha?
- Cha không biết nữa. - Nick giật mình. Anh không biết thằng bé đã tỉnh giấc. Anh nhìn con trai đang ngồi trên chiếc ghế phía sau mình. Ban nãy, anh thấy quá lẻ loi nhưng may mà có thằng bé bên cạnh. Anh không nhớ đã bao lâu rồi. - Cha cùng ông thường đi săn sóc đen cả ngày - anh kể. Ông chỉ cho cha ba viên đạn mỗi lần vì ông nói rằng ông sẽ dạy cha cách săn bởi một đứa trẻ hay bắn lung tung là không tốt. Cha đi cùng với một thằng bé khác tên là Billy Gilby và em nó là Trudy. Bọn cha thường lang thang cả ngày suốt mùa hè.
- Những cái tên ấy thật buồn cười đối với người da đỏ.
- Đúng, thật buồn cười. - Nick đồng tình.
- Nhưng cha kể cho con họ thế nào đi.
- Họ thuộc người Ojibway - Nick nói - Họ rất đẹp.
- Nhưng ở với họ thì như thế nào?
- Khó nói lắm - Nick Adams nói - Anh có thể nói cô ấy chủ động làm trước cái việc mà chưa có ai làm tốt hơn thế và còn có thể nói đến đôi chân nâu mịn, cái bụng phẳng, hai bầu vú căng tròn, vòng tay âu yếm, cái lưỡi nhạy cảm mềm mại, đôi mắt lim dim, mồm miệng thơm tho, thoải mái, chắc nịch, ngọt ngào, ươn ướt, đáng yêu, ôm chặt, đau, đầy đặn, cuối cùng, không điểm hết, không bao giờ hết, không bao giờ cho đến lúc kết thúc, kết thúc bất ngờ, một con chim lớn bay giống con cú lúc chạng vạng, chỉ những lúc trời sáng ở trong rừng gỗ và lá cây độc cần đâm vào bụng mày. Bởi thế khi mày đến nơi người da đỏ từng sinh sống mày đánh hơi thấy họ đã rời đi và tất cả những lọ thuốc giảm đau rỗng và đàn ruồi không làm mất đi vị ngọt, hơi thuốc và mùi gì giống mùi da chồn mactét. Không một chuyện vui về họ, không một bà da đỏ nào mang theo những cái đó. Cũng không một mùi vị lờ lợ phát nôn của họ. Cũng không một dấu hiệu công việc cuối cùng nào. Đấy không phải là cách họ kết thúc. Họ tất cả đều kết thúc giống nhau. Trước kia lâu lắm thì tốt. Bây giờ không tốt.
Và về những cái khác. Khi con bắn một con chim đang bay, con bắn cả đàn chim đang bay. Chúng khác nhau đấy chứ và chúng bay khác hướng nhau đấy chứ nhưng cảm giác là một và con cuối cũng như con đầu. Anh phải cám ơn cha rất nhiều vì việc đó.
- Có lẽ con không giống họ - Nick nói với con trai - Nhưng cha nghĩ con sẽ.
- Có phải lúc còn bé ông đã sống với họ?
- Đứng thế. Lúc cha hỏi ông về họ ông chỉ nói ông có nhiều bạn trong số họ.
- Liệu con sẽ được sống với họ không?
- Cha không biết nữa - Nick nói - Việc đó tùy vào con.
- Con phải lên mấy tuổi mới được tự mang súng ngắn đi săn?
- Mười hai tuổi nếu cha thấy con đã cẩn trọng.
- Ước gì bây giờ con đã được mười hai tuổi.
- Sẽ chóng thôi.
- Ông thì thế nào hở cha? Con không nhớ được ông trừ việc ông có đưa cho con khẩu súng hơi và một lá cờ Mỹ hồi con từ Pháp sang. Ông như thế nào nhỉ?
- Tả ông khó lắm. Ông là một thợ săn cừ và đánh cá giỏi; ông có đôi mắt tuyệt vời.
- Ông giỏi hơn cả cha à?
- Giỏi, bắn giỏi hơn cha nhiều và cụ của con cũng là một tay thiện xạ.
- Con cuộc là ông không thể giỏi hơn cha.
- Không, giỏi hơn. Ông bắn rất nhanh và gọn nữa. Cha thích xem ông bắn hơn xem tất cả những người khác cha biết. Ông thường thất vọng mỗi khi nhìn cách cha bắn súng.
- Sao chưa bao giờ chúng ta đến cầu nguyện bên mộ ông?
- Chúng ta sống ở đầu khác của đất nước. Nơi đó xa đây lắm.
- Ở Pháp thì không như thế này. Ở Pháp chúng ta sẽ đi. Con nghĩ con phải đến cầu nguyện bên mộ ông.
- Lúc nào đó chúng ta sẽ đi.
- Con hy vọng chúng ta sẽ không phải sống ở một nơi nào khác để đến nỗi con không thể đến cầu nguyện bên mộ cha khi cha qua đời.
- Chúng ta sẽ phải sắp xếp.
- Cha có nghĩ chúng ta đều phải được chôn ở một địa điểm thuận lợi? Chúng ta có thể được chôn ở Pháp, được thế thì tốt biết bao.
- Cha không muốn bị chôn ở Pháp. - Nick nói.
- Ồ, thế thì chúng ta phải chọn một nơi nào đấy thích hợp trên đất Mỹ. Chúng ta có được chôn ở trang trại không?
- Đấy là một ý.
- Để con có thể dừng lại cầu nguyện bên mộ ông trên đường tới khu trại gia súc.
- Con là người rất thực tế.
- Con không thể thấy vui được khi chưa đến thăm mộ ông.
- Chúng ta sẽ phải đi - Nick khẳng định - Cha biết là chúng ta sẽ đi.

Tô Đức Huy dịch
---------------------
[1] Tiếng lóng, nghĩa đen (mash) có nghĩa là nghiền, xay... (N.D).
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.11.2017 20:35:30 bởi casau>
Thủ đô của thế giới

Madrid đầy rẫy bọn con trai được đặt tên là Paco, đó là cách gọi tắt của tên Francisco, và có một trò đùa ở Madrid về một ông bố đã đến đây đăng một quảng cáo ở mục “Tìm người” trên tờ El Liberal nói rằng: Paco đến gặp bố ở khách sạn Montana vào trưa thứ ba, mọi chuyện sẽ được bố tha thứ, và rồi một quân đoàn vệ binh được huy động tới để giải tán tám trăm nam thanh niên đến đấy vì mẩu tin đó. Nhưng với Paco, người đang làm hầu bàn ở khách sạn Luarca, hắn không có cha để tha thứ và cũng không có lỗi gì để cha tha thứ. Hắn có hai chị gái làm hầu phòng ở Luarca, cả hai đến đây từ một ngôi làng nhỏ, như một cô hầu phòng cũ ở Luarca, cô này làm việc chăm chỉ và trung thực nên nhờ đó tiếng thơm bay đến ngôi làng của cô cùng cư dân ở đó; hai cô chị đã lo tiền cho hắn đi Madrid và kiếm cho hắn chân hầu bàn thử việc ở đấy. Hắn đến từ một ngôi làng thuộc Extra madura, nơi mà điều kiện sống cực kỳ nguyên thủy, thức ăn khan hiếm, không ai biết tới các tiện nghi và hắn đã phải làm việc cực nhọc từ khi biết suy nghĩ.
Hắn có thân hình săn chắc với mái tóc đen nhánh hơi quăn, hàm răng chắc và một làn da đẹp đến nỗi hai cô chị cũng phải ghen tỵ, hắn còn có nụ cười cởi mở và hồn nhiên. Hắn rất nhanh nhẹn, được việc và yêu thương các chị, các chị hắn trông có vẻ xinh đẹp và tinh đời; hắn yêu Madrid, dù đó vẫn là một nơi khó có thể tin, và hắn yêu công việc của hắn, dưới ánh đèn sáng sủa, khăn trải bàn sạch sẽ, được mặc những bộ dạ phục, thức ăn đầy trong bếp, tất cả trông có vẻ đẹp một cách lãng mạn.
Thường có khoảng từ tám đến mười hai người sống ở khách sạn Luarca và ăn uống ở phòng ăn của khách sạn nhưng với Paco, người trẻ nhất trong ba hầu bàn, thì khách hàng đáng quan tâm thực sự là những tay đấu bò.
Những tay đấu bò hạng hai sống ở khách sạn tư nhân này, bởi vì Calle San Jeronimo là một địa chỉ tốt, thức ăn tuyệt vời, tiền thuê phòng và giá ăn hàng ngày lại rẽ. Một tay đấu bò thì rất cần khoe mẽ, nếu không phải ở sự giàu có thì chí ít cũng phải có được diện mạo đáng kính, bởi vì ở Tây Ban Nha, tiền bạc và địa vị được đánh giá cao hơn lòng dũng cảm, vậy nên những tay đấu bò ở lại Luarca cho đến khi tiêu hết đồng peseta cuối cùng. Không có tài liệu nào nói về bất cứ tay đấu bò nào rời khách sạn tư Luarca để đến một khách sạn tốt hơn hoặc đắt tiền hơn; những tay đấu bò hạng hai chưa bao giờ trở thành hạng nhất; nhưng bọn họ xuống dốc từ nơi Luarca này rất nhanh bởi vì bất cứ một ai có thể ở đó sẽ không làm được cái gì hết, và hóa đơn tính tiền không bao giờ đưa cho khách nếu họ không yêu cầu, cho đến khi bà chủ chạy tới và biết đó là trường hợp vô vọng.
Vào thời gian này ở Luarca có ba tay đấu bò lừng danh cùng với hai tay kỵ sĩ đâm giáo rất cừ và một tay trợ thủ đấu bò xuất sắc. Khách sạn Luarca quả là sang trọng đối với những kỵ sĩ đâm giáo và trợ thủ đấu bò mà gia đình đang sống ở Sevilla, họ cần thuê phòng trọ ở Madrid trong suốt thời gian thi đấu vào mùa xuân; nhưng bọn họ được trả lương cao và công việc ổn định cùng với hợp đồng hấp dẫn trong suốt mùa đấu đến, ba tay trợ thủ đó có thể kiếm được nhiều tiền hơn bất cứ ai trong số ba đấu sĩ kia. Trong ba đấu sĩ thì một đứa bị ốm nhưng cố giấu diếm; một đứa đã qua thời danh tiếng ngắn ngủi như một ngôi sao băng, và đứa thứ ba là một kẻ nhát gan.
Kẻ nhát gan đã có một thời oanh liệt, cho đến khi hắn bị sừng bò húc một cú tồi tệ vào bụng dưới vào ngay phút đầu trong mùa đấu đầu tiên với tư cách một đấu sĩ chuyên nghiệp, thì vẫn còn giữ được sự nhanh nhẹn và khéo léo của những ngày thành công. Hắn nhiều khi vui đùa thái quá và thường hay bật cười cho dù có hoặc không có lý do. Thời còn thành công, hắn rất nghiện những cú chơi khăm để mua vui nhưng bây giờ hắn đã từ bỏ. Những trò đó đã dấy lên niềm tin mà hắn đã không còn nữa. Tay đấu bò này có một bộ mặt thông minh, cởi mở và giữ được nhiều phong cách riêng.
Còn tay đấu bò đang ốm là một gã thận trọng, không bao giờ để lộ căn bệnh đó và tỉ mỉ nhấm nháp từng món được bày lên bàn ăn. Hắn có rất nhiều khăn mùi xoa và tự giặt là ở trong phòng, gần đây, hắn phải bán đi những bộ quần áo đấu sĩ của mình. Trước lễ Giáng sinh, hắn bán rẻ một bộ và một bộ khác, vào tuần đầu tiên của tháng Tư. Đó là những bộ quần áo rất đắt tiền, luôn được giữ gìn cẩn thận và hắn chỉ còn một bộ nữa. Trước khi ốm, hắn đang là một đấu sĩ đầy hứa hẹn, thậm chí còn nhạy bén nữa và, mặc dù mù chữ, hắn vẫn giữ những mẩu báo viết về sự khởi nghiệp của hắn ở Madrid, người ta nói rằng hẳn còn cừ hơn cả Belmonte. Hắn ăn một mình ở cái bàn nhỏ và rất ít khi nhìn lên.
Tay đấu bò vốn nổi tiếng một thời thì thấp, da nâu và trông rất đàng hoàng. Hắn cũng ăn một mình ở một chiếc bàn riêng biệt, hắn ít khi mỉm cười và không bao giờ cười to. Quê hắn ở Valladolid, nơi mọi người sống cực kỳ nghiêm túc, và hắn đã là tay đấu bò có triển vọng; nhưng phong cách của hắn đã trở nên lỗi thời trước khi hắn gây được niềm say mê ở công chúng bằng đức tính can đảm và khả năng bình tĩnh của mình. Điều khác lạ là hắn thấp đến nỗi khó nhìn rõ được những cái u lưng của con bò, nhưng cũng có nhiều đấu sĩ lùn khác, và vì thế hắn đã chẳng bao giờ ghi được ấn tượng gì trong lòng công chúng.
Trong các tay kỵ sĩ đâm giáo, có một gã gầy, mặt diều hâu, tóc hoe, tuy mảnh khảnh nhưng tay chân cứng như sắt, hắn luôn đi ủng chăn bò, uống say mèm vào mỗi tối và nhìn đắm đuối bất cứ phụ nữ nào có trong khách sạn. Gã kia thì cao lớn, da bánh mật, mặt nâu, trông đẹp trai với mái tóc đen như người da đỏ và hai bàn tay rất lớn. Cả hai là những kỵ sĩ đâm giáo rất cừ mặc dù gã thứ nhất bị đánh giá là đã vung phí rất nhiều năng lực trong rượu chè và ăn chơi trác táng, còn gã thứ hai thì lại quá ương ngạch và ưa cãi cọ đến nỗi khó mà làm trợ thủ cho bất cứ đấu sĩ nào quá nổi một mùa.
Còn tay trợ thủ đấu bò thì trạc tuổi trung niên, tóc nâu, nhanh nhẹn và mặc dù có tuổi, khi ngồi cạnh bàn gã trống như một thương gia khá già. Đôi chân của gã vẫn còn dẻo dai trong mùa đấu này, và khi còn di chuyển được thì gã đủ thông minh và kinh nghiệm để có công việc đều đặn trong một thời gian dài. Điểm khác nhau có thể là, khi tốc độ đôi chân đáng lẽ phải nhanh thì gã luôn luôn sợ ở những nơi mà bây giờ gã vẫn còn thấy yên tâm và bình thản, cả trong hay ngoài đấu trường.
Tối nay, mọi người rời hết, phòng ăn chỉ còn gã kỵ sĩ đâm giáo với bộ mặt diều hâu quá say, một gã chuyên bán đấu giá đồng hồ ở các hội chợ và lễ hội Tây Ban Nha, có vết chàm ở mặt, cũng uống quá nhiều, và hai thầy tu đến từ Galicia đang ngồi ở cái bàn trong góc, tiếp tục uống tì tì khi chưa đủ đô nhất định. Dạo ấy, ở Luarca, rượu được tính chung vào tiền thuê phòng và tiền bữa ăn hàng ngày, những tay hầu bàn mang những chai rượu Valdepenas mới lần lượt đến bàn gã chuyên bán đấu giá, đến bàn tay kỵ sĩ đâm giáo và cuối cùng là bàn hai thầy tu.
Ba đứa hầu bàn đứng ở cuối phòng. Đó là luật của khách sạn; bọn họ phải đứng đấy cho đến khi khách ở bàn do họ phụ trách về hết, nhưng đứa phục vụ tại bàn của hai thầy tu có hẹn đến dự buổi mít tinh của tổ chức Công đoàn và Paco đồng ý đảm nhiệm thay cho hắn.
Ở trên lầu, tay đấu bò đang ốm nằm một mình, sấp mặt trên giường. Tay đấu bò một thời vang bóng đang nhìn qua cửa sổ, chuẩn bị đi tới quán cà phê. Còn tay đấu bò nhát gan kéo được cô chị gái của Paco vào phòng và cố thuyết phục thị làm điều gì đó nhưng thị cười to và từ chối. Tay đấu bò này tiếp tục: “Làm đi nào, cô bé”.
“Không”, cô chị đáp. “Tại sao tôi phải làm như thế”.
“Chiều anh một chút thôi mà”.
“Anh vừa ăn xong và bây giờ muốn tôi như món tráng miệng chứ gì?”
“Chỉ một lần thôi, có hại gì khi làm điều đó đâu?”
“Để tôi yên. Để tôi yên, tôi van anh”.
“Chỉ một chút thôi mà”.
“Để tôi yên, tôi van anh”.
Dưới phòng ăn, tay hầu bàn cao nhất đã bị muộn buổi mít tinh, nói: “Nhìn mấy con lợn đen đang uống kia”.
“Hết cách nói rồi hay sao”, tay hầu bàn thứ hai nói: “Họ là những khách đáng kính, họ đâu có uống nhiều quá”.
“Với tao, nói như thế thì mới đúng”, tay hầu bàn cao đáp. “Có hai thứ đáng nguyền rủa ở Tây Ban Nha, đó là lũ bò đực và bọn thầy tu”.
“Nhưng đâu phải bản thân một con bò hay một thầy tu”, tay hầu bàn thứ hai nói.
“Đúng”, tay hầu bàn cao đáp. “Nhưng chỉ qua cá nhân mới tấn công được cả tập đoàn, cần thiết phải giết từng con bò một và từng thầy tu. Tất cả bọn chúng. Sau đó thì sẽ không còn một mống nào nữa”.
“Để dành cái đó cho buổi mít tính”, tay hầu bàn kia nói.
“Hãy nhìn thói dã man trên đất Madrid này”, tay hầu bàn cao nói. “Bây giờ là mười một rưỡi rồi mà bọn này vẫn còn phàm uống phàm ăn”.
“Bọn họ chỉ mới bắt đầu ăn lúc 10 giờ”, tay hầu bàn kia nói. “Như mày biết đấy còn có biết bao nhiêu là món. Rượu lại rẻ và đã được trả tiền rồi. Vả lại rượu cũng không phải mạnh lắm”.
“Làm sao mà có sự đồng cảm của cánh làm công với bọn ngu ngốc như mày?” tay hầu cao hỏi.
“Này”, gã hầu bàn thứ hai, trạc tuổi năm mươi, nói. “Tao đã lao động cả đời. Phần đời còn lại tao cũng phải làm việc. Tao không phàn nàn gì về lao động. Lao động là chuyện bình thường”.
“Đúng, nhưng thiếu công việc là chết”.
“Tao luôn luôn lao động”, gã hầu bàn già hơn nói. “Mày đi dự mít tinh, không cần thiết phải ở lại đây”.
“Ông là bạn tốt”, tên hầu bàn cao nói. “Nhưng ông thiếu ý thức hệ”.
“Mejor si me falta eso que otro” (thà thiếu ý thức hơn là thiếu việc làm), tay hầu bàn cao tuổi nói. “Mày đi dự mít tinh đi”.
Paco không nói gì. Hắn không hiểu về chính trị nhưng khi gã bồi bàn cao nói về việc cần thiết phải giết bọn tu sĩ và vệ binh thì hắn nghe rất nhiệt thành. Gã hầu cao nói về cách mạng và cách mạng cũng đầy lãng mạn. Bản thân hắn muốn trở thành một tín đồ Công giáo tốt, một nhà cách mạng và có một công việc ổn định, như hiện nay, và hắn cũng đang mơ ước trở thành một tay đấu bò.
“Đi dự mít tinh đi, Ignacio”, hắn nói, “Để việc tôi làm cho”.
“Hai đứa tôi làm giùm cho”, gã hầu bàn lớn tuổi nói thêm.
“Một người làm cũng được rồi”, Paco nói. “Cứ đi dự mít tinh đi”.
“Pues me voy” [1], gã hầu bàn cao nói, “và cám ơn nhiều”.
Trong khi đó, trên lầu, cô chị gái Paco vừa khéo léo thoát khỏi vòng tay gã đấu bò như vừa thoát khỏi vòng tay của một tên đô vật, bây giờ thị tức giận nói. “Đúng là phường chết khát. Một gã đấu bò vô tích sự. Đồ bị thịt nhát như cáy. Nếu anh có giỏi thì hãy sử dụng nó ở ngoài đấu trường đi”.
“Đúng là kiểu ăn nói của một con đĩ”.
“Đĩ cũng là phụ nữ, nhưng tôi không phải là con đĩ”.
“Rồi cô sẽ là một con đĩ”.
“Không việc gì đến anh”.
“Hãy đi đi”, gã đấu bò nói. Bây giờ, chính gã lại cự tuyệt, tính nhát gan cố hữu của gã lại trỗi dậy.
“Đi hả? Có thứ gì không bỏ anh mà đi?” cô chị nói: “Anh không cần tôi dọn giường sao? Tôi được trả tiền để làm chuyện đó mà”.
“Đi đi”, gã đấu bò nói. Khuôn mặt to lớn, ưa nhìn của gã trở nên nhăn nhó, giận dữ trông như muốn khóc. “Đồ con đĩ. Đồ con đĩ bẩn thỉu”.
“Đúng là một gã đấu bò”, thị nói, đóng sầm cửa lại. “Ôi, anh đấu bò ơi”.
Trong phòng, gã đấu bò ngồi xuống giường. Gã vẫn còn nhăn nhó, với bộ mặt đó ở trong trường đấu, gã đã chuyển thành nụ cười thường trực, làm hoảng sợ những người ngồi ở hàng đầu khi họ biết họ đang xem cái gì. “Ra thế”, gã nói to thành tiếng. “Ra thế. Ra thế đấy”.
Gã nhớ lại thời gã đang lên, chỉ mới cách đây ba năm. Gã nhớ lại sức nặng của chiếc áo Jacket đấu sĩ thêu chỉ vàng kim tuyến đè lên vai gã vào chiều tháng Năm nóng nực, khi mà giọng nói của gã vẫn đều đều như nhau ở trường đấu hay quán cà phê và, lúc gã nhìn rõ lưỡi kiếm nhọn thọc sâu trên đỉnh u vai con bò, nơi mà bụi bẩn bám trên u thịt bao phủ bởi lớp lông ngắn màu đen, bên trên là cặp sừng nhọn hoắt giang rộng, hạ thấp dần xuống khi gã tiến đến để giết nó. Gã từng nghĩ lưỡi kiếm đâm vào dễ dàng làm sao, cứ như đâm vào một khối bơ đặc, trong khi một tay gã nhấn chuôi gươm, tay trái buông xuống, vai trái nghiêng về phía trước, trọng lượng cơ thể dồn lên chân trái, sau đó nó không trụ trên chân nữa. Nó đã chuyển lên bụng dưới của gã và khi con bò hất cái đầu lên, cặp sừng đâm vào người gã và gã bị hất tung hai lần trước khi người ta kéo được gã ra. Nên bây giờ gã bước tới để giết nó thì cũng chỉ là một hành động hiếm hoi, gã không dám nhìn vào cặp sừng và liệu có ả điếm nào biết được những gì đã trải qua trước khi vào trận? Chúng biết gì mà dám cười gã? Tất cả chúng chỉ là những ả điểm và sự hiểu biết của chúng có thể quẩn quanh trong phạm vi đó.
Dưới phòng ăn, tay kỵ sĩ đâm giáo ngồi nhìn mấy thầy tu. Nếu có phụ nữ trong phòng thì gã sẽ nhìn chằm chằm vào họ. Nếu không có cả phụ nữ, gã sẽ nhìn một cách thích thú với một người ngoại quốc, un inglés [2] chẳng hạn, nhưng vì không có cả phụ nữ lẫn người nước ngoài, nên bây giờ gã nhìn một cách thích thú và hỗn xược vào hai thầy tu. Khi gã nhìn chằm chằm tay chuyên bán đấu giá có vết chàm ở mặt thì tay này đứng dậy, gấp tấm khăn ăn và đi ra, để lại hơn nửa chai rượu vừa gọi sau cùng. Nếu tay này đã trả đủ tiền ở khách sạn Luarca thì lẽ ra nên uống hết chai đó. Hai thầy tu không nhìn lại tay kỵ sĩ đâm giáo. Một trong hai vị ấy nói: “Đã mười ngày nay tôi ở đây chờ gặp hắn và suốt ngày tôi cứ ngồi ở phòng chờ mà hắn vẫn không chịu tiếp”.
“Thế phải làm gì bây giờ?”
“Không làm gì hết. Còn làm được gì nữa? Ta không thể chống lại chính quyền”.
“Tôi ở đây đã hai tuần mà không được việc gì. Tôi đợi nhưng họ không chịu tiếp”.
“Chúng ta đến đây từ một miền bị lãng quên. Khi nào tiền hết ta sẽ về”.
“Trở lại miền bị bỏ rơi ấy thôi. Madrid quan tâm gì đến Galicia? Chúng ta là người tỉnh lẻ mà”.
“Họ hiểu hành động của người anh em Basilio của chúng ta”.
“Tôi vẫn không thực sự tin tưởng vào lòng trung thực của Basilio Alvaraz”.
“Madrid là nơi con người ta phải học cách hiểu. Madrid giết chết Tây Ban Nha”.
“Giá như họ dễ dàng tiếp một người rồi từ chối cũng được”.
“Không. Ông sẽ bị chán nản và mệt mỏi bởi đợi chờ”.
“Thôi được, tôi sẽ chờ xem. Tôi có thể chờ đợi như mọi người khác”. Đến lúc đó tay kỵ sĩ đâm giáo đứng dậy, đi đến bàn của hai thầy tu và đứng lại, với mái tóc hoa râm và bộ mặt diều hâu, gã nhìn chằm chằm vào họ và mỉm cười.
“Một kỵ sĩ đấu bò”, một ông thầy tu nói với ông kia.
“Và là một tay đấu bò giỏi”, tay kỵ sĩ đâm giáo đáp rồi bước ra khỏi phòng ăn, gã vận chiếc áo Jacket xám, eo lưng áo có hoa văn, chân vòng kiềng mặc quần bò với đôi ủng gót cao, lững thững bước đi trên sàn nhà và mỉm cười một mình. Gã sống trong một thế giới nhỏ bé, chật chội, đầy tính chuyên nghiệp của năng lực cá nhân, của chiến thắng trong men rượu, màn đêm và ăn nói ngỗ ngược. Bây giờ gã châm một điếu xì gà và đẩy lệch cái mũ qua một bên rồi bước ra, đi đến quán cà phê.
Hai thầy tu cũng lập tức rời quán ngay sau khi tay kỵ sĩ đâm giáo đi ra bởi chợt ý thức rằng, họ là những người cuối cùng trong phòng ăn, và bây giờ thì không còn một ai trong phòng ngoại trừ Paco và người hầu bàn trung niên. Chúng lau dọn bàn và đem những cái chai vào bếp.
Trong bếp có một cậu đang rửa bát. Hắn lớn hơn Paco ba tuổi; hay hoài nghi, cáu gắt.
“Cầm lấy”, người hầu bàn đứng tuổi nói, và rót một ly Valdepenas đưa cho hắn.
“Tại sao lại không nhỉ?” hắn đón lấy ly rượu.
“Còn mày, Paco?” người hầu bàn đứng tuổi hỏi.
“Cám ơn”, Paco đáp và ba người uống với nhau.
“Tao về đây”, người hầu bàn đúng tuổi nói.
“Chúc ngủ ngon”, hai cậu kia đáp.
Ông ta đi ra và chỉ còn hai đứa ở lại. Paco cầm tấm khăn của một trong hai thầy tu và đứng thẳng, hai gót trụ lại, hạ tấm khăn xuống, cái đầu dịch theo hướng chuyển động, hắn vung tay chậm rãi như động tác khi đấu bò. Hắn xoay người và bước chân phải lên một ít, lặp lại như thế lần hai, hắn giành lại địa thế từ địa hình hơi khó khăn với một con bò tưởng tượng và lặp lại như thế lần ba, chậm, hoàn hảo và khéo léo, sau đó thu khăn trở lại bên eo rồi lắc hông lách khỏi “con bò” một cách điệu nghệ.
Gã rửa chén có tên là Enrique, nhìn Paco một cách bực bội và cười nhạo:
“Con bò thế nào?” Hắn hỏi.
“Rất ghê”, Paco đáp. “Xem này”.
Dáng đứng thẳng và mảnh khảnh, Paco làm liên tiếp bốn lần nữa một cách hoàn hảo, nhuần nhuyễn, tao nhã và lịch lãm.
“Con bò như thế nào?” Enrique đang đứng tựa ở bồn tắm hỏi, tay hắn cầm ly rượu và bụng mang tạp dề.
“Vẫn còn sung sức lắm”, Paco nói.
“Mày làm tao phát ốm cả lên”, Enrique nói.
“Tại sao?”
Enrique tháo tạp dề của hắn và hình dung ra một con bò trước mặt, rồi biểu diễn bốn động tác hoàn hảo, điệu nghệ, lừ đừ như dân gypsy và kết thúc bằng điệu nhảy ri-bô-lê-rô Tây Ban Nha làm cho chiếc tạp dề lắc thành một hình vòng cung qua mũi con bò ngay khi hắn bước xa khỏi nó.
“Đã thấy chưa”, Enrique nói, “vậy mà tao chỉ là đứa rửa bát”.
“Vì sao?”
“Vì sợ”, Enrique nói. “Giống nhu nỗi sợ của mày nếu được đứng trong trường đấu với một con bò”.
“Không”, Paco đáp. “Tao sẽ không sợ”.
“Leche” [3] Enrique nói. “Mọi người ai cũng sợ. Nhưng một tay đấu bò thì có thể kiềm chế được nỗi sợ để có thể đấu với con bò. Tao đã tham gia một trận đấu tài tử và sợ đến nỗi không chạy được nữa. Mọi người nghĩ đó là một câu chuyện rất buồn cuởi. Nên mày cũng có thể sợ. Nếu như không vì sợ hãi thì bất kỳ một thằng đánh giày nào ở Tây Ban Nha cũng đều có thể trở thành một đấu sĩ. Mày, một thằng nhà quê, sẽ còn sợ hơn cả tao nữa kia”.
“Không đời nào”, Paco đáp.
Biết bao nhiêu lần hắn đã luyện trong trí tưởng tượng. Đã quá nhiều lần hắn nhìn thấy cặp sừng, nhìn thấy cái mũi ươn ướt con bồ, cái tai giật giật, cái đầu cúi xuống tấn công, những cái chân chạm đất bình bịch và sức nóng con bò lướt qua người khi hắn tung chiếc khăn đấu, con bò lại tấn công khi hắn tung tiếp chiếc khăn đấu, sau đó lặp lại, và lặp lại, kết thúc bằng cú lượn vòng của con bò xung quanh người khi hắn đưa ra món võ nghệ tuyệt chiêu, rồi nhẹ nhàng buớc ra xa con bò cùng với mớ lông bò dính vào dải thêu kim tuyến trên áo Jacket bởi con bò lượn quá sát người hắn; con bò đứng đó như bị thôi miên còn đám đông thì vỗ tay tán thưởng. Không, hắn sẽ không sợ. Người khác thì có. Nhưng hắn thì không. Hắn biết hắn sẽ không sợ. Thậm chí nếu hắn đã từng sợ thì với bất kỳ cách nào hắn cũng sẽ phải đấu. Hắn tin tưởng. “Tao sẽ không sợ”, hắn nói.
Enrique nói: “Leche”, và lặp lại lần nữa. Enrique nói tiếp: “Nếu giả dụ tao và mày thử để xem sao?”
“Bằng cách nào?”
“Nghe này”, Enrique đáp. “Mày nghĩ về con bò nhưng mày không nghĩ về cặp sừng. Cặp sừng rất mạnh, nó xé toạc như một con dao, đâm sắc như một lưỡi lê, và giết chết mày như một cái dùi cui. Hãy xem”, hắn mở ngăn kéo, lấy ra hai con dao thái thịt. “Tao buộc hai con dao này vào chân ghế. Sau đó tao đóng vai con bò”, để mày đấu cùng với ‘cặp sừng’ ở đầu tao. Hai con dao là cặp sừng. Nếu mày đấu được thì mày khá”.
“Cho tao mượn cái tạp dề của mày”, Paco nói: “Chúng ta cùng thử ở ngoài phòng ăn đi”.
“Không”, Enrique đáp, bỗng nhiên đổi giọng dịu dàng.
“Thôi đừng thử nữa, Paco”.
“Cứ thử đi”, Paco nói. “Tao không sợ đâu”.
“Mày sẽ sợ khi thấy những con dao đâm tới”.
“Chúng ta cứ thử xem”, Paco nói. “Đưa cho tao cái tạp dề”.
Trong khi Enrique đang buộc nhanh hai con dao thái thịt sắc lẻm, to bản vào chân ghế bằng hai chiếc khăn bẩn quấn hết một nửa của từng con dao, siết chặt và thắt nút thì hai cô hầu phòng, chị của Paco đang trên đường tới rạp chiếu phim để xem Grete Garbo trong “Anna Cheistir”. Còn hai thầy tu, một mặc quần lót và gã khác mặc đồ ngủ đang ngồi đọc kinh, lần tràng hạt. Tất cả những đấu sĩ ngoại trừ tay đang ốm, đều đã có mặt tại quán cà phê tối Fomos, nơi gã kỵ sĩ đâm giáo to lớn, tóc đen đang chơi bi-da, tay đấu bò người thấp, nghiêm trang đang ngồi chung bàn với nhiều gã khác trước một ly cà phê sữa, cạnh đấy là tay trợ thủ đấu bò trạc tuổi trung niên và những tay trợ thủ nghiêm trang khác.
Gã kỵ sĩ đâm giáo hay uống rượu, tóc hoa râm đang ngồi với ly rượu cazalas cực mạnh và chăm chú nhìn một cách thích thú cái bàn trước mặt gã, nơi tay đấu bò nhát gan cùng ngồi với một gã đã từ bỏ vai trò đấu sĩ chính để làm trợ thủ, cạnh đó còn có hai ả điếm trông rũ rượi.
Gã chuyên bán đấu giá đang đứng ở một góc phố trò chuyện với mấy người bạn. Tay hầu bàn cao tại cuộc mít tinh của tổ chức Công đoàn đang chờ thời cơ phát biểu. Tay hầu bàn trung niên ngồi ngoài hiên quán Cafe Alvarez và đang uống một ly bia nhỏ. Bà chủ khách sạn Luarca đã ngủ trong giường, kẹp một cái gối dài giữa hai đùi, đó là người đàn bà to lớn, béo, trung thực, sạch sẽ, dễ tính, rất sùng đạo và không ngày nào lại không tưởng nhớ và cầu nguyện cho người chồng quá cố suốt hai mươi năm nay. Trong phòng, chỉ có một mình tay đấu bò ốm nằm úp mặt trên giường cùng với chiếc khăn mùi xoa che miệng.
Bây giờ, phòng ăn hoàn toàn vắng vẻ, Enrique đã buộc xong cái nút cuối cùng của những chiếc khăn ăn quấn quanh hai con dao vào chân ghế và nhấc nó lên. Hắn chĩa chân ghế có buộc dao về phía trước và đưa cả chiếc ghế lên trên đầu cùng hai con dao chếch hướng tới trước, mỗi con dao nằm một bên đầu hắn.
“Nặng ra phết”, hắn nói. “Hãy xem, Paco. Nó rất nguy hiểm. Đừng có thử”. Hắn toát mồ hôi.
Paco đứng đối diện với hắn, cầm chiếc tạp dề căng rộng, nắm lấy mép tạp dề được gấp cuộn lại trong mỗi bàn tay, ngón trỏ chĩa xuống, ngón cái chĩa lên, trải rộng để bắt ánh mắt bò.
“Húc thẳng phía trước”, hẳn nói. “Rồi quay mình lại làm như một con bò. Húc bao nhiêu lần là tùy ý mày”.
“Làm thế nào để mày biết lúc nào sẽ cắt cú húc qua?” Enrique hỏi. “Tốt hơn là làm thử ba cú sau đó mới bắt đầu”.
“Thôi được”, Paco đáp. “Nhưng cứ húc thẳng. Ê, xông tới nào, con bò!”
Đầu cúi xuống, Enrique chạy thẳng về phía hắn, và Paco vung tấm tạp dề ngay trước đầu mũi dao khi nó dí sát phía trước bụng hắn và khi nó vừa đi ngang qua, hắn có cảm giác là một cặp sừng thực sự, đen trũi, mũi sừng trắng nhờn, và khi Enrique lướt qua, quay lại để tấn công thì hắn cảm thấy đấy là một khối thân thể nóng, hai sườn con bò rớm máu rầm rập vượt qua, sau đó quay lại nhanh như một con mèo và tấn công trở lại khi hẳn vung chiếc khăn đấu một cách chậm chạp. Rồi con bò quay lại và lại tấn công, và, khi hắn xem cái mũi nhọn chĩa lên lao tới, chân trái của hắn bước những bước ngắn còn con dao thì đã không đi ngang qua mà đâm vào người hắn một cách dễ dàng như xuyên vào một túi đựng rượu với nhát cắt cực nhanh, nóng hổi xuyên tới, đầu mũi và xung quanh lưỡi thép đột nhiên cứng lại và Enrique hét lên “Ôi! Ối! Để tao gỡ ra!” và Paco trượt về phía chiếc ghế, tấm khăn đấu vẫn nắm trong tay, Enrique kéo cái ghế ra trong khi con dao đã cắm vào hắn, cắm vào hắn - Paco.
Con dao giờ đã được rút ra và hắn ngồi trên sàn nhà, trong lúc vũng máu nóng cứ loang rộng ra.
“Đặt khăn vào chỗ đó. Giữ chặt lấy!” Enrique nói. “Giữ chặt lấy. Tao sẽ đi gọi bác sĩ. Mày phải bịt chặt lấy chỗ máu chảy”.
“Nên có một cái cốc cao su”, Paco nói. Hắn đã thấy cái đó được sử dụng trong trường đấu.
“Tao đã húc thẳng”, Enrique nói, và bật khóc. “Tao làm thế là chỉ muốn để mày thấy nó nguy hiểm như thế nào thôi”.
“Đừng lo lắng”, Paco nói, giọng hắn có vẻ xa xôi. “Nhưng hãy đi gọi bác sĩ đi”.
Trong trường đấu, người bị thương được nâng lên và được mang đi, người ta chạy cùng với hắn tới phòng giải phẫu. Nếu động mạch đùi của hắn cạn hết máu trước khi tới được đó thì người ta sẽ phải mời cha cố.
“Nhớ mời một cha cố nhé”, Paco nói, trong khi vẫn giữ chặt tấm khăn áp vào bụng dưới. Hắn không thể tin chuyện này lại xảy ra với hắn.
Nhưng lúc Enrique đã chạy dọc theo đường Carrera San Jeromino đến trạm sơ cứu ban đêm và để Paco ở lại một mình, thì ban đầu hắn còn ngồi được, lát sau co rúm người lại và quỵ xuống sàn, cho đến khi mọi việc qua đi, hắn có cảm giác cuộc đời đang từ bỏ hắn như nước bẩn tháo khỏi bồn tắm khi chiếc nút đã được rút ra. Hắn sợ hãi và cảm thấy mất cảm giác, hẳn cố đọc một bài kinh sám hối và nhớ được bài kinh đó bắt đầu ra sao nhưng trước khi hắn đọc nhanh như hắn muốn “Ôi, lạy Cha, con thực lòng sám hối vì đã xúc phạm Cha đáng kính và con...” thì hắn đã quá kiệt sức và ngã sấp mặt xuống sàn, mọi chuyện qua đi rất nhanh. Một động mạch đùi bị cắt thì cạn máu nhanh hơn ta tưởng nhiều.
Khi bác sĩ từ trạm cấp cứu bước lên bậc thang, cùng đi với một cảnh sát đang giữ chặt tay Enrique, thì hai cô chị của Paco vẫn đang ở trong rạp chiếu phim Gran Via, họ rất thất vọng về bộ phim Garbo bởi những minh tinh màn bạc trong phim quá ư là khổ sở, trong khi người ta đã quen nhìn những nữ tài tử đó trong môi trường sang trọng và đầy ấn tượng. Khán giả cũng hoàn toàn không thích bộ phim và phản đối bằng cách huýt sáo và đậm chân xuống sàn. Tất cả những người khác ngụ ở khách sạn hầu như đang còn làm công việc của mình khi tai nạn xảy đến, ngoại trừ hai ông thầy tu đã cầu kinh xong và chuẩn bị đi ngủ, còn tay kỵ sĩ đâm giáo tóc hoa râm thì đã cầm ly qua ngồi chung bàn với hai ả điếm. Đó chính là cô mà tay đấu bò nhát gan đã từng mua rượu để uống cùng.
Paco không bao giờ biết bất cứ điều gì về chuyện này cũng như tất cả những gì mà đám người kia sẽ làm trong ngày tới và những ngày tiếp theo. Hắn không có ý niệm về việc họ đã thực sự sống và kết thúc như thế nào. Thậm chí hắn không nhận ra tất cả bọn họ đã kết thúc. Hắn chết, như cách nói của người Tây Ban Nha, đầy ảo tưởng. Hắn không có thời gian trong cuộc đời để mất mát bất cứ điều gì, thậm chí, đến cuối đời, cũng không thể kết thúc kịp lời sám hối.
Hắn cũng không có thời gian để thất vọng với bộ phim Garbo đang làm cho dân Madrid thất vọng trong suốt cả một tuần.

Phan Thanh Nam dịch
---------------------
[1] Được rồi, tôi đi nhé.
[2] Một người Anh.
[3] Đồ hôi sữa.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.11.2017 04:08:35 bởi casau>
Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro

Kilimanjaro là một ngọn núi phủ tuyết cao gần 5850 mét và nghe nói đó là ngọn núi cao nhất ở Châu Phi. Đỉnh phía tây của nó gọi là Masai “Ngã je Ngài”, ngôi nhà của Thượng đế. Ở gần kề đỉnh phía tây, có xác một con báo đã khô và đông cứng lại. Con báo tìm kiếm gì ở độ cao ấy, nào đã có ai giải thích cho ra nhẽ.
- Cái kỳ diệu là nó chẳng có đau gì hết - Hắn nói, - Chính như thế mà người ta biết khi nào nó bắt đầu.
- Có thật thế không?
- Hoàn toàn thật. Dù sao anh cũng lấy làm ân hận ghê gớm về cái mùi tỏa ra từ anh. Chắc hẳn nó làm phiền em.
- Đừng nói thế! Em xin anh đừng nói thế!
- Em nhìn chúng kìa - Hắn nói - Giờ thì do nhìn thấy hay do ngửi mùi mà chúng kéo đến thế kia?
Chiếc giường nhỏ trên đó người đàn ông nằm, đặt dưới bóng râm tỏa rộng của một cây mimoza, và phóng mắt vượt quá bóng râm đó nhìn ra vạt đồng bằng chói chang, hắn thấy ba con chim to tướng ngồi chồm chỗm, nom đến là dâm tục, trong khi một tá con khác liệng trong bầu trời, đổ những vệt bóng vùn vụt khi chúng bay qua.
- Chúng đã lượn quanh đó từ hôm chiếc cam-nhông bị gục - Hắn nói - Hôm nay là lần đầu tiên có con đậu xuống đất. Thoạt đầu, anh đã quan sát rất cẩn thận cách chúng liệng, ngộ nhỡ có khi muốn tả chúng trong một truyện ngắn. Bây giờ, cái đó đâm buồn cười.
- Em mong anh đừng nói thế. - Nàng nói.
- Anh chỉ chuyên gẫu thế thôi - Hắn nói - Anh thấy dễ chịu hơn nhiều nếu anh nói chuyện. Nhưng mà anh không muốn phiền lòng em.
- Anh biết đấy, cái đó đâu có làm em phiền lòng, - Nàng nói - Chỉ tại em quá đỗi bồn chồn bực dọc về nỗi không thể làm được bất cứ cái gì đấy thôi. Em nghĩ chúng mình có thể ráng hết sức thu xếp êm ả mọi sự cho đến khi máy bay tới.
- Hoặc cho đến khi máy bay không tới.
- Xin anh bảo cho em có thể làm gì. Chắc phải có một điều gì đó em có thể làm được chứ!
- Em có thể phăng-teo cái chân này đi, và biết đâu làm thế lại chả chấm dứt được cơ sự ấy, mặc dầu anh chả tin mấy. Hoặc giả em có thể bắn anh. Bây giờ, em là tay súng cừ rồi. Anh đã dạy em bắn mà, đúng thế không?
- Em xin anh đừng có nói năng kiểu ấy. Em đọc cho anh nghe nhé, được không?
- Đọc gì?
- Bất cứ cái gì trong cặp đựng sách mà chúng mình chưa đọc.
- Anh không thể nghe đọc sách được - Hắn nói - Chuyện gẫu vẫn là dễ dàng nhất. Chúng mình cãi vã, cái đó làm thời gian qua mau.
- Em không cãi vã. Em không bao giờ muốn cãi cọ. Chúng mình đừng cãi nhau nữa. Dù chúng mình có đâm bực bội đến thế nào đi nữa. Có thể hôm nay, họ sẽ mang về một cái cam-nhông khác cũng nên. Cũng có thể là máy bay sẽ tới.
- Anh không muốn di chuyển - Người đàn ông nói - Bây giờ, di chuyển chẳng có nghĩa gì hết, ngoại trừ để làm em yên tâm thanh thản hơn.
- Thế là hèn nhát.
- Em có thể để cho một thằng đàn ông chết yên ổn mà không nhiếc móc nó không? Xỉ vả anh thì ích gì.
- Anh không phải là sắp chết.
- Đừng có ngớ ngẩn. Anh đang ngắc ngoải đây. Em hỏi những cái con khốn kiếp kia xem. - Hắn nhìn ra chỗ lũ chim dơ dáy to đùng đang ngồi, những cái đầu trần trụi rụt vào trong bộ lông uốn vồng lên. Một con thứ tư sà xuống, chân thoăn thoắt chạy, rồi từ từ đi lạch bạch về phía những con kia.
- Bọn nó thì ở quanh chỗ cắm trại nào mà chẳng có. Đừng có để ý đến chúng. Người ta không thể chết, nếu không nhắm mắt buông trôi.
- Cô đọc được cái ấy ở đâu vậy. Cô thật ngu hết chỗ nói.
- Anh có thể nghĩ về một người nào khác.
- Lạy Chúa, - Hắn nói - trước nay đó vẫn là nghề của tôi mà.
Thế rồi hắn nằm và yên lặng một hồi, nhìn qua ánh nhiệt lung linh của dải đồng bằng đến tận bìa rừng. Có mấy con linh dương hiện ra nhỏ bé và trắng tinh trên nền vàng và, ở đằng xa, hẳn thấy một bầy ngựa vằn, trăng trắng trên nền xanh lục của rừng. Đó là một chỗ cắm trại thú vị dưới những cây to sát một quả đồi có nước trong lành, và kề bên là một hố nước đã gần cạn khô, nơi sáng sáng, gà gô trắng bay từng đàn.
- Anh muốn em đọc cho anh nghe không? - Nàng nói. Nàng đang ngồi trên một chiếc ghế bố cạnh giường hắn - Có gió hây hẩy lên đấy.
- Không, cảm ơn.
- Có thể xe cam-nhông sẽ tới.
- Tôi đếch cần xe cam-nhông.
- Em thì em cần.
- Cô cần biết bao thứ mà tôi không cần.
- Đâu mà bao nhiêu thứ, Harry.
- Anh uống một ly, được không?
- Em nghĩ cái đó có hại cho anh. Từ điển Black [1] nói rằng phải tránh mọi thứ rượu. Anh không nên uống.
- Malo! - Hắn gọi to.
- Dạ, thưa Bwana [2].
- Mang uýtxki-xôđa lại đây.
- Vâng, thưa Bwana.
- Anh không nên uống - Nàng nói - Vừa rồi em nói nhắm mắt buông trôi là có nghĩa như thế đấy. Người ta bảo cái đó có hại cho anh. Em biết cái đó có hại cho anh.
- Không - Hắn nói - Cái đó tốt cho anh.
Thế đấy, mọi sự đến đây là hết - Hắn nghĩ - Vậy là bây giở hắn tuyệt không hòng gì làm tròn được cái ấy. Vậy đây là cái cách nó kết thúc bằng một cuộc đôi co vặt vãnh về một ly rượu.
Từ khi chân phải hắn bắt đầu bị hoại thư, hắn chẳng thấy đau gì và nỗi khiếp sợ cũng biến mất cùng với cái đau, và giờ đây hắn chỉ cảm thấy mệt ghê gớm và giận dữ về nỗi nó chấm dứt như thế này. Về cái hiện đang tới, hắn chẳng mấy quan tâm muốn biết. Hàng bao năm, nó ám ảnh hắn; nhưng giờ đây tự bản thân nó chẳng có ý nghĩa gì nữa. Thật kỳ lạ là cái mệt lại khiến cơ sự đâm dễ chịu biết bao.
Giờ đây hắn sẽ không bao giờ biết những điều mà hắn đã để dành đến khi nào đủ điêu luyện để viết cho hay thì mới viết. Ở mặt khác, hắn cũng sẽ không phải chịu thất bại khi thử viết những điều ấy. Có thể là mày không bao giờ đủ sức viết những điều đó, và chính vì thế mà mày gác lại và trì hoãn mãi không dám bắt đầu hạ bút cũng nên. Thôi nhé, bây giờ thì hắn chả còn mong gì viết được nữa.
- Giá chúng mình đừng bao giờ tới đây - Người đàn bà nói. Nàng đang nhìn hắn cầm cốc rượu và nàng cắn môi - Cứ ở Paris thì đâu đến nỗi anh bị một cái gì như thế này. Anh vẫn luôn nói là anh yêu Paris mà. Đáng lẽ chúng mình có thể cứ ở lại Paris hoặc đi bất cứ đâu. Em sẵn sàng đi bất cứ đâu. Em đã báo em sẵn sàng đi bất cứ nơi nào anh muốn. Nếu lúc ấy anh muốn đi săn thì chúng mình đã có thể đi săn ở Hungari và tha hồ thoải mái.
- Cái đồng tiền chết tiệt của cô. - Hắn nói.
- Nói vậy là không đúng - Nàng nói - Tiền của em cũng là của anh, xưa nay vẫn vậy. Em đã bỏ tất cả và em đã đi bất cứ đâu anh muốn đi, và em đã làm những gì anh muốn làm. Song ước sao giá chúng mình đừng bao giờ đến đây.
- Trước cô bảo là cô thích nơi này kia mà?
- Em có nói thế, khi anh không sao cả. Nhưng bây giờ thì em căm ghét cái chốn này. Em không hiểu tại sao cái chứng ấy lại xảy ra đến với chân anh. Chúng mình đã làm gì để xảy ra nông nỗi này.
- Tôi đồ rằng cái tôi đã làm là quên không bôi i-ốt ngay khi bị xước da. Thế rồi tôi đã chẳng để ý gì đến nó bởi lẽ tôi chả bao giờ bị nhiễm trùng. Rồi sau đó, khi nó dở chứng, chắc là tại đi dùng cái dung dịch cácbôlic loãng ấy thay vì các chất khử trùng khác đã hết, nên mới đâm ra liệt các mạch máu nhỏ và chứng hoại thư bắt đầu. - Hắn nhìn nàng - Còn gì khác nữa?
- Em không định nói chuyện ấy.
- Nếu chúng ta thuê một gã thợ cơ khí tốt thay vì cái thằng cha tài xế non tay nghề người kikuyu ấy, thì ắt gã đã kiểm tra lại xăng dầu và chả bao giờ để cháy “biên” trong cam-nhông.
- Em không định nói chuyện ấy.
- Nếu cô không bỏ gia đình cô, bỏ cái lũ lĩ chết tiệt nhà cô ở Old Westbury, Saratoga, Palm Beach mà theo tôi thì....
- A, vì em đã yêu anh. Nói vậy thật bất công đấy. Bây giờ, em vẫn yêu anh. Em sẽ yêu anh mãi mãi. - Anh có yêu em không?
- Không - Người đàn ông nói - Tôi không nghĩ thế. - Tôi chưa bao giờ yêu cô.
- Harry, anh nói gì vậy. Anh quẫn trí rồi.
- Không. Tôi làm gì có trí mà quẫn.
- Anh đừng uống cái ấy - Nàng nói - Anh yêu, xin anh đừng uống cái ấy. Chúng mình phải làm tất cả những gì chúng mình có thể làm.
- Để cô làm - Hắn nói - Tôi mệt chán rồi.
Giờ đây, trong tâm trí hắn, hiện lên một cái ga xe lửa ở Karagatch, hắn đang đứng với bọc hành lý và đèn pha đằng đầu đoàn tàu Simplon-Orient xẻ dọc bóng đêm; hắn đang rời khỏi miền Thrace sau cuộc rút lui. Đó là một trong những điều hắn dành lại để sau này sẽ viết, và cũng sáng hôm ấy, vào lúc điểm tâm, hắn nhìn ra ngoài cửa sổ, trông thấy tuyết trên những ngọn núi ở Bungari, cô thư ký của Nansen hỏi lão già có phải tuyết đấy không, và lão già cũng nhìn ra mà rằng, không, đấy không phải là tuyết, và cả bọn cùng nói. Đấy không phải là tuyết, chúng mình nhầm rồi. Nhưng mà đấy đúng là tuyết thật và khi thực hiện trao đổi cư dân, hắn đã tống các cô ra lội tuyết. Và chính là lê bước trong tuyết mà các cô đã lang thang đến khi chết gục mùa đông năm ấy.
Cũng chính là tuyết rơi suốt cả tuần Nôen cái năm ở trên vùng cao Gauertal, cái năm họ ở nhà bác tiều phu, căn nhà có cái lò sứ vuông to tướng chiếm nửa gian buồng, họ ngủ trên những chiếc nệm nhồi lá gồi, cữ ấy có anh chàng đào ngũ đến, đôi chân nhỏ máu trên tuyết. Anh ta bảo cảnh sát đuổi theo sát anh ta, họ đã cho anh ta đôi bít tất len và giữ bọn cảnh binh lại nói chuyện cho đến khi lấp hết dấu chân.
Ở Schrunz, hôm Nôen, tuyết sáng chói cả mắt khi ta ngồi trong tiệm rượu nhìn ra và trông thấy từng người từ nhà thờ đi về nhà. Chính tại đó, họ đã leo lên con đường vâng màu nước tiểu được xe trượt qua lại bào nhẵn thín, men theo bờ sông với những trái đồi thông dốc đứng, ván trượt tuyết mang nặng trên vai, và cũng tại đó, họ đã lao cái chặng xuống dốc băng cực kỳ ấy bên trên Madlener - haus, tuyết nom mượt như kem bánh gatô và như bột, và hắn nhớ lại cái đà lao nhanh mà êm ru không tiếng động khi toàn thân liệng xuống như một con chim.
Đêm ấy, họ bị tuyết làm nghẽn đường một tuần, lưu lại Madlener - haus trong bão tuyết, đánh bài dưới ánh đèn lồng khói mù và Her Lenifn [3] càng thua cay, tiền đặt cược càng cao lên mãi. Cuối cùng ông ta thua sạch sành sanh. Nhẵn nhụi tất cả, nào tiền quỹ của trường dạy trượt tuyết, nào toàn bộ lãi trong mùa, rồi vốn liếng của ông ta nữa. Hắn có thể mường tượng lại ông ta với cái mũi dài, tay bốc bài và mở xòe ra “sans voir” [4]. Dạo ấy lúc nào cũng có sát phạt, không có tuyết, cũng đánh bạc, tuyết nhiều quá cũng đánh bạc. Hắn ngẫm nghĩ về tổng số thời gian hắn đã tiêu phí vào việc đánh bạc trong cả đời mình.
Nhưng hắn chưa bao giờ viết lấy một dòng về cái đó cũng như về cái ngày Nôen giá rét, sáng sủa với rặng núi in bật lên nơi cuối dải đồng bằng, cái ngày Barker bay qua chiến tuyến ném bom chuyến tàu chở bọn sĩ quan Áo về Pháp, xả súng máy vào họ khi họ chạy tán loạn. Hắn nhớ lại Barker sau phi vụ ấy bước vào phòng ăn sĩ quan và bắt đầu kể chuyện. Và không khí mới ắng lặng đi làm sao chứ, rồi một tay nào đó nói: “Mày là thằng sát nhân chó đẻ khốn kiếp”.
Cũng vẫn là người Áo, bấy giờ họ giết, ít lâu sau lại trượt tuyết với hắn. Không, không phải vẫn những người ấy. Hans, bạn trượt tuyết với hắn trong cả năm ấy, đã từng ở đội săn của nhà vua, và khi họ cùng đi săn thỏ ở con thung nhỏ, mé trên nhà máy cưa, họ đã chuyện trò về chiến sự ở Pasubio, về trận đánh ở Pertica và Asalone, và hắn chưa bao giờ viết lấy một chữ về cái đó. Cũng như về Monte Corno, cũng như về Siete Commun, cũng như về Arsiedo.
Hắn đã sống bao nhiêu mùa đông ở vùng Voralberg và vùng Aclberg nhỉ? Tính ra là bốn, và hắn nhớ đến anh chàng có con cáo đem bán, cái lần họ đi bộ vào Bludenz để mua quà tặng, nhớ đen cái vị anh đào của loại rượu anh đào ngon ngon, tuyết bụi trút nhanh ào ạt trên mặt băng mỏng, họ vừa hát: “Hi! Hô! Rolly kêu! ” vừa lao nốt đoạn cuối xuống đến quãng dốc đứng, tuột thẳng một lèo, rồi băng qua vườn cây ăn quả, quặt ba lần, và vượt quãng hào đâm ra con đường băng giá đằng sau quán trọ. Tháo tung dây buộc, hắt chân một cái cho rời ván trượt tuyết và dựng nó lên dựa vào vách gỗ quán trọ. Có ánh đèn từ cửa sổ, mé bên trong, người ta đang chơi phong cầm trong cái ấm cúng ám khói và nồng nồng mùi rượu vang mới.

- Ở Paris, chúng mình trọ tại đâu nhỉ! - Người đàn bà hỏi, giờ đây nàng đang ngồi trên một chiếc ghế bố cạnh hắn ở châu Phi.
- Tại khách sạn Crillon. Cô biết thừa đi rồi còn hỏi.
- Tại sao lại biết thừa đi rồi?
- Bởi vì bao giờ chúng mình cũng trọ ở đấy.
- Không, không phải bao giờ cũng vậy.
- Tại đó và tại Lầu Henry IV ở St. Germain. Anh bảo anh yêu chỗ đó mà.
- Yêu, yêu, tình yêu là một đống phân - Harry nói - Và tôi là con gà trống nhảy lên trên đó mà gáy.
- Nếu số phận buộc anh phải ra đi - Nàng nói - thì có nhất thiết là anh phải hủy hoại tất thảy những gì anh để lại trên đời không? Em muốn nói là anh có phải mang đi tất cả không? Anh có nhất thiết phải giết ngựa của anh, vợ của anh và đốt yên cương cùng áo giáp của anh đi không?
- Có chứ - Hắn nói - Đồng tiền đáng nguyền rủa của cô là áo giáp của tôi. Tuấn Mã và Chiến Bào của tôi.
- Đừng nói thế.
- Thôi được. Tôi sẽ im. Tôi không muốn xúc phạm cô.
- Bây giờ thì hơi muộn mất rồi.
- Thế cũng được. Tôi sẽ lại tiếp tục xúc phạm cô. Thế lại vui hơn. Điều duy nhất tôi thực tình muốn làm với cô, bây giờ tôi không đủ sức làm nữa rồi.
- Không, nói thế không đúng. Trước đây anh muốn làm bao nhiêu thứ và tất cả mọi thứ anh muốn làm em đều đã làm.
- Ôi, Christ, lạy Chúa tôi, cô có thôi huênh hoang đi không? - Hắn nhìn nàng và thấy nàng khóc.
- Nghe đây em - Hắn nói - Em tưởng anh làm thế là vui thú lắm sao? Anh không biết tại sao mình lại làm thế. Đó là cái lối cố giết để giữ cho mình sống sót, anh ngờ vậy. Anh đã cảm thấy dễ chịu khi chúng mình bắt đầu trò chuyện. Anh đâu có định gây sự, thế mà bây giờ anh đâm điên điên khùng khùng như chó dại và hết sức phũ phàng với em. Em yêu, em đừng có để ý đến những gì anh nói. Anh yêu em, thực tình. Em biết đấy, anh yêu em. Trước đây anh chưa từng yêu ai khác như cách anh yêu em.
Hắn lại tự thả mình vào sự dối trá quen thuộc vốn là mánh khóe kiếm cơm của hắn.
- Anh thật dịu ngọt với em.
- Cô là con đĩ - Hắn nói - Đĩ tĩ vàng [5]. Thơ đấy nhé. Giờ đây, trong tôi đầy chất thơ. Sự thối mục và chất thơ. Thối và thơ. Thơ thối.
- Im đi, Harry, tại sao giờ đây anh lại phải tự biến mình thành con quỷ như vậy?
- Tôi không thích để lại cái gì - Người đàn ông nói - Tôi không thích để lại các thứ trên đời.
* * * * *
Bây giờ là buổi chiều, và hắn đã ngủ. Mặt trời đã khuất sau núi, một vùng bóng đen trải dài suốt cánh đồng bằng và những con vật nhỏ đang kiếm ăn gần chỗ cắm lều, đầu chúi nhanh và đuôi vắt ve, hắn quan sát thấy giờ đây chúng đã tách ra khỏi rừng cây bụi. Lũ chim thôi không rình đợi ở dưới đất nữa. Chúng tót cả lên một cái cây, nặng nề đậu trên đó. Chúng đông thêm nhiều. Gã bồi riêng của hắn đang ngồi cạnh giường.
- Memsahib [6] đi săn - Gã bồi nói - Bwana cần gì ạ?
- Không cần gì cả.
Nàng đi giết tí thịt và, vốn biết hắn rất thích theo dõi thú săn, nàng đã đi thật xa để khỏi quấy rối cái khoảng đồng bằng nằm ngay trước mặt hắn. Cô ta bao giờ cũng lo xa, hắn nghĩ. Lo lắng đến bất cứ điều gì cô ta biết hoặc đã từng đọc được hay nghe thấy.
Khi hắn đến với nàng, đời hắn đã bỏ đi rồi, cái đó đâu phải lỗi tại nàng. Làm sao một người phụ nữ có thể biết được trong những điều anh nói ra chẳng có gì là thực bụng; rằng anh nói chỉ do thói quen và chỉ cốt cho mình được thoải mái? Từ sau khi hắn thôi không chân thành nữa, những lời dối trá của hắn lại có tác dụng chinh phục phụ nữ hơn là hồi hắn nói thật với họ.
Kể ra bảo hắn là không có gì thật để mà nói, thì đúng hơn là hắn nói dối. Trước đó, hắn đã có một cuộc đời và cuộc đời ấy đã chấm dứt, thế rồi hắn lại tiếp tục sống trở lại cuộc đời ấy với những người khác, với nhiều tiền bạc hơn, với những gì hay ho, tốt đẹp nhất ở những chốn cũ và một số nơi mới nữa.
Ta tránh không suy tư và như thế thật là tuyệt. Bên trong ta là gang, là thép cứng rắn, nên ta thấy không sụp tan tành như số đông người khác, và ta tỏ thái độ bất cần cái công việc xưa nay ta vẫn làm, giờ đây khi ta không còn khả năng tiếp tục nữa. Nhưng trong thâm tâm, ta vẫn tự nhủ rằng rồi đây ta sẽ viết về những con người ấy, về những kẻ giàu sụ; rằng thực ra, ta không thuộc giới họ, mà chỉ là một tên gián điệp chui vào trong bọn họ; rằng ta sẽ từ bỏ cái thế giới ấy và sẽ viết về nó, và sẽ đến lúc cái đó được viết ra bởi một người thấu hiểu những gì mình viết. Nhưng mà hắn sẽ không bao giờ làm điều ấy, bởi vì mỗi một ngày không viết, mỗi một ngày sống đầy đủ tiện nghi, mỗi một ngày là cái đồ mà hắn khinh bỉ, cứ làm cùn khả năng của hắn và làm mềm những ý chí làm việc của hắn, đến nước là, cuối cùng, hắn chẳng làm gì hết. Những người hắn quen biết hiện nay đều cảm thấy thoải mái hơn nhiều khi hắn không làm việc. Châu Phi là nơi hắn từng thấy mình hạnh phúc nhất trong thời kỳ tốt đẹp của đời hắn, cho nên hắn đã đến đây để bắt đầu lại lần nữa. Họ đã tiến hành cuộc xafari [7] này với tiện nghi tối thiểu. Không gian khổ, thiếu thốn nhưng cũng chẳng chút xa hoa, và hắn đã nghĩ có thể dày dạn trở lại bằng cách ấy. Hắn đã nghĩ rằng, cách nào đó, hắn sẽ có thể khử đi lớp mỡ bao quanh tâm hồn hắn như kiểu một võ sĩ vào rừng làm việc, tập tành để làm tiêu mỡ khỏi cơ thể vậy.
Nàng đã lấy đó làm thú vị. Nàng bảo nàng yêu thích cái đó. Nàng yêu thích bất cứ cái gì náo nức hồi hộp, kéo theo một thay đổi cảnh trí, ở đó có những bộ mặt mới và sự vật đều thú vi. Và hắn đã có cái ảo tưởng là ý chí làm việc đang hồi sức. Giờ đây, nếu cơ sự kết thúc như thế này, - và hắn biết rằng đúng là thế, - thì hắn cũng chả nên bắt chước con rắn ngoắt lại tự cắn mình vì nỗi lưng bị gãy. Đâu phải lỗi tại người đàn bà này. Nếu không có cô ta thì cũng nên có một ả khác. Nếu hắn sống trong dối trá, thì cũng cố mà chết trong dối trá. Hắn nghe thấy một tiếng súng bên kia núi.
Nàng bắn rất cừ, cái cô ả tốt bụng ấy, cái con đĩ tĩ vàng ấy, người bảo vệ nhiệt thành mà cũng là kẻ hủy hoại tài năng của hắn. Tầm bậy. Chính hắn đã hủy hoại tài năng của mình. Tại sao hắn lại đổ tội cho người đàn bà này chỉ vì cô ta bao hắn chu tất? Hắn đã hủy hoại tài năng mình bằng cách không sử dụng đến nó, bằng những lần tự phản bội bản thân, phản bội những điều mình tin, bằng rượu chè vô độ đến nỗi cùn mòn cả cảm quan, bằng lười nhác, ẽo ợt, bằng đua đòi điệu dàng, bằng hợm hĩnh và định kiến, bằng mưu kế giảo hoạt. Gì vậy nhỉ? Một bản liệt kê các sách cũ chăng? Mà tài năng của hắn là gì mới được chứ? Thì đúng là hắn có tài thực, nhưng đáng lý sử dụng nó thì hắn lại đem buôn bán nó. Nó không khi nào thể hiện ra những gì hắn đã làm, mà bao giờ cũng ở những gì hắn có thể làm. Và hắn đã chọn cách kiếm sống bằng một cái gì khác, chứ không phải bằng ngòi bút. Cũng thật là kỳ lạ, ờ, đúng thế, một lần hắn phải lòng một người đàn bà khác, thì bao giờ cũng vớ được một nàng lắm tiền nhiều của hơn nàng trước, cái đó chẳng kỳ lạ sao? Nhưng khi hắn thôi không yêu nữa, khi hắn thấy chỉ toàn nói dối, như đối với người đàn bà này, bây giờ đây, người giàu có nhất trong tất cả, người có tất cả tiền bạc trên thế gian, đã từng có chồng và mấy con, đã từng bồ bịch và không thỏa mãn với những người tình ấy, hiện yêu hắn tha thiết như một nhà văn, như một đấng nam nhi, như một bạn đời và như một tài sản quý báu, phải, thật kỳ lạ là khi hắn chẳng yêu gì nàng và chỉ dối trá, thì hắn lại có thể làm cho nàng sung sướng, bõ với đồng tiền nàng bỏ ra, hơn là khi hắn yêu chân thành.
Tất cả chúng ta, ai làm công việc gì, ắt hẳn đã được phú bẩm từ lúc lọt lòng, hắn nghĩ. Anh kiếm sống như thế nào, thì tài năng của anh ở chỗ đó. Hắn đã suốt đời bán sinh lực dưới hình thức này hay hình thức khác, và chính khi không quá nặng tình nặng nghĩa, người ta lại cho đi những cái giá trị gấp bội số tiền bạc nhận được. Hắn đã khám phá ra điều đó, nhưng bây giờ cả cái đó, hắn cũng chả bao giờ viết ra nữa. Không, hắn sẽ không viết cái đó, mặc dầu nó rất đáng viết.
Kìa, nàng đã xuất hiện, nàng đang đi ngang qua bãi trống về phía cắm lều. Nàng mặc Jodphur [8] và mang súng săn. Hai gã bồi khiêng một con linh dương tommic đi theo sau nàng. Cô ta còn đẹp, hắn nghĩ, và cô ta có một thân hình khả ái. Nàng có biệt tài trên giường và thích thi thố tài năng đó trên giường; nàng không xinh, nhưng hắn ưa bộ mặt nàng; nàng đọc rất nhiều, thích cưỡi ngựa, săn bắn, và rành là nàng uống rượu quá nhiều. Chồng nàng chết khi nàng còn là một thiếu phụ tương đối trẻ và trong một thời gian, nàng đã dốc hết mình vào hai đứa con vừa mới lớn (chúng chẳng những không cần đến nàng, mà còn thấy vướng víu khi có mẹ ở bên cạnh là đằng khác), vào chuồng ngựa của nàng, vào đọc sách, vào be lớn be nhỏ. Nàng thích đọc vào buổi tối trước bữa ăn và uống rượu Scotch pha xôđa trong khi đọc. Đến bữa thì nàng đã ngủ ngà ngà và sau một chai vang trong khi ăn, nàng thường đủ say để sụp vào giấc ngủ.
Đó là trước thời kỳ bồ bịch. Sau khi đã có nhân tình nhân bánh, nàng không uống nhiều đến thế nữa, vì nàng khỏi cần say mới ngủ được. Song đám bồ bịch này làm nàng phát ngán. Nàng đã từng lấy một người đàn ông không bao giờ làm nàng ngán, mà cái đám này thì khiến nàng quá ớn.
Thế rồi một trong hai đứa con nàng chết trong một vụ máy bay rơi, và sau khi mọi việc đã kết thúc, nàng chẳng thiết bồ bịch nữa, và bởi ruợu không đủ để gây tê, nàng buộc phải làm lại cuộc đời. Đúng cái, nàng bỗng sợ cảnh cô đơn, một nỗi sợ hãi nhói buốt. Nàng muốn có ai đó bạn bầu, nhưng phải là người mà nàng kính trọng.
Mọi sự đã mở đầu rất đơn giản. Nàng thích những gì hắn viết và xưa nay nàng vẫn thèm muốn lối sống của hắn. Nàng ngỡ hắn làm đúng những điều hắn muốn. Những bước nàng tiến hành để chiếm được hắn và cái cách như thế nào mà rốt cuộc, nàng đâm yêu hắn, đều nằm trong một tiến trình quy củ mà qua đó nàng đã xây dựng cho mình một cuộc đời mới, và hắn đã bán chác nốt những gì còn sót lại từ cuộc đời cũ của hắn.
Hắn đã đánh đổi nó lấy an ninh, lấy tiện nghi nữa, cái đó hiển nhiên không chối cãi được. Và lấy gì khác nữa? Hắn cũng không biết. Bất kỳ cái gì hắn muốn, nàng đều sẵn sàng mua cho hắn. Hắn biết vậy. Hơn nữa, nàng còn là một phụ nữ cực kỳ dễ thương. Hắn ưng ngủ với nàng như bất cứ ai; dễ thương là ưng hơn cả, vì nàng giàu, vì nàng rất dễ chịu, biết trân trọng và vì nàng không bao giờ gây chuyện cãi cọ om xòm. Và giờ đây cuộc đời mà nàng đã ra công xây dựng lại này sắp đến chỗ kết thúc, chỉ vì cách đây hai tuần, hắn không chịu bôi i-ốt khi một cái gai cào xước đầu gối hắn trong lúc họ tiến lên định chụp ảnh một bầy trâu nước đang đứng nghển đầu ngó nghiêng, đồng thời hách mũi đánh hơi, vểnh tai nghe ngóng, sẵn sàng lao vào rừng ngay từ tiếng động đầu tiên. Chúng đã vụt đi khi hắn kịp chụp. Kìa, nàng đã đến.
Hắn xoay đầu trên giường nằm để nhìn về phía nàng. “Chào”, hắn nói.
- Em bắn được một con linh dương đực - Nàng khoe với hắn - Đem nấu xúp cho anh thì tuyệt. Và em sẽ sai nghiền với khoai tây ăn kèm món Klim. Anh thấy trong người thế nào?
- Đỡ nhiều.
- Tuyệt diệu! Anh biết đấy, em vẫn nghĩ là có lẽ anh sẽ đỡ mà. Lúc em đi thì anh đang ngủ.
- Anh đã ngủ một giấc ngon lành. Em đi có xa không?
- Không xa. Chỉ quành ra sau núi thôi. Em đã bắn con linh dương một phát ra bắn.
- Em bắn tuyệt vời, em biết đấy!
- Em mê bắn. Em mê châu Phi. Thật đấy. Nếu anh khỏe mạnh, thì đây là dịp vui thú nhất em từng được hưởng. Anh không biết là đi săn với anh thú vị nhường nào đâu. Em yêu cái xứ sở này.
- Anh cũng yêu nó.
- Anh yêu, anh không hình dung được là em cảm thấy tuyệt diệu nhường nào khi thấy anh đỡ đâu. Em không sao chịu đựng nổi khi anh bực bội như thế kia. Anh sẽ không nói với em như thế nữa chứ? Anh có hứa với em không?
- Không - Hắn nói. - Tôi không nhớ tôi đã nói những gì.
- Anh không nhất thiết phải hủy hoại em chứ, phải không anh? Em chỉ là một con đàn bà đứng tuổi yêu anh và muốn làm những gì anh muốn làm. Đời em đã bị hủy hoại hai, ba lần. Anh không muốn hủy hoại em lần nữa chứ?
- Tôi những muốn hủy hoại cô vài ba lần trên giường. - Hắn nói.
- Ừ. Đó là một sự hủy hoại tốt. Trời sinh chúng ra là để được hủy hoại theo cách ấy. Ngày mai, máy bay tới đây.
- Làm sao em biết?
- Em chắc chắn thế. Nó nhất định phải tới. Bọn bồi đã chuẩn bị sẵn củi và cỏ khô để đốt làm hiệu. Hôm nay, em đã xuống kiểm tra lần nữa. Có khối chỗ để hạ cánh và chúng ta chuẩn bị đốt lửa cả hai đầu.
- Cái gì khiến em nghĩ rằng mai nó sẽ tới?
- Em chắc chắn là nó sẽ tới mà. Đáng lẽ nó đã phải ở đây rồi. Thế rồi, vô thành phố, họ sẽ chữa lành chân anh và chúng mình sẽ tiến hành những cuộc hủy hoại tốt lành. Chứ đừng hủy hoại bằng cái kiểu nói năng dễ sợ nọ.
- Ta làm một ly chăng? Mặt trời lặn rồi.
- Anh thấy có nên không?
- Anh uống một ly.
- Chúng mình cùng uống mỗi đứa một ly.
- Molo, letti dui whitskey-soda [9]! - Nàng gọi.
- Em nên đi ủng chống muỗi vào. - Hắn bảo nàng.
- Em đợi khi nào tắm xong mới đi.
Họ uống với nhau trong khi trời tối dần, và ngay trước lúc tối mịt, không còn đủ ánh sáng để bắn, thì một con linh cẩu đi ngang qua bãi trống trước khi quành ra sau núi.
- Cái con khốn khiếp này đêm nào cũng qua đó, - Người đàn ông nói - Hai tuần nay, đêm nào cũng thế.
- Chính nó là cái con vẫn làm ồn ban đêm. Nhưng em mặc kệ. Dù sao nó cũng là một giống vật ghê tởm.
Giờ đây cùng uống rượu với nàng, chẳng thấy đau đớn gì ngoài cái bất tiện là phải nằm mãi trong một tư thế duy nhất, trong khi đám bồi nhóm một đống lửa, ánh sáng bập bùng nhảy nhót trên các bạt lều, hắn có thể cảm thấy sự trở lại chấp nhận cuộc sống đầy khước từ êm ái này. Nàng rất tốt với hắn. Ban chiều, hắn đã tàn nhẫn và bất công với nàng. Quả là một phụ nữ cao đẹp, phải, thực sự là tuyệt diệu. Và đúng lúc ấy, hắn chợt nghĩ ra mình sắp chết.
Ý nghĩa ấy ào ập tới, không phải như mưa trút, cũng chẳng như gió cuốn, mà xịch tới bất thần như một trống rỗng tanh tưởi, và điều kỳ lạ là ở ngoài rìa lại thấy lẩn quất bóng con linh cẩu.
- Gì thế, Harry? - Nàng hỏi hắn.
- Chả có gì cả - Hắn nói - Em nên chuyển sang mé bên kia thì hơn. Phía có gió ấy.
- Molo đã thay băng chưa?
- Rồi. Anh chỉ cần bôi boric nữa thôi.
- Anh thấy trong người thế nào?
- Hơi choáng váng một tí.
- Em đi tắm đây - Nàng nói - Em sẽ trở ra ngay, cùng ăn với anh rồi chúng mình sẽ dọn giường vào trong lều.
Thế đấy, hắn nghĩ thầm, chúng mình thôi cãi vã là tốt. Hắn chưa bao giờ cãi cọ nhiều với người đàn bà này, trong khi với những người phụ nữ hắn yêu thì hắn lại cãi cọ nhiều đến nỗi rốt cuộc bao giờ cũng vậy, với những eo xèo cãi vã gặm mòn, họ đã giết chết những gì từng có với nhau. Hắn đã yêu quá mãnh liệt, đòi hỏi quá nhiều và cuối cùng hắn đã làm mòn xác mòn xơ tất cả.
Hắn nhớ lại lần ấy hắn lủi thủi một mình ở Constantinople, hắn đã cãi nhau ở Paris trước khi ra đi. Hắn đã chơi đĩ suốt, rồi đến lúc tàn cuộc, thay mình chẳng những không giết được nỗi cô đơn, mà còn làm cho nó tệ hơn, hẳn bèn viết cho nàng, người tình đầu tiên, người đã bỏ hắn, một bức thư kể lể với nàng rằng hắn chẳng bao giờ đủ sức giết được nỗi cô đơn... Rằng có lần ngỡ trông thấy nàng trước cửa hiệu Regence, hắn đã thấy nôn nao trong người và xuýt té xỉu như thế nào. Rằng thấy người phụ nữ nào hao hao giống nàng là hắn theo liền, dọc suốt Đại lộ, sợ thấy ra rằng đó không phải là nàng và sợ mất cái cảm giác nó tạo cho hắn. Rằng tất cả những lần ngủ với ai khác chỉ làm cho hắn càng tiếc nhớ nàng thêm. Rằng những gì nàng đã làm chẳng mảy may hệ trọng, bởi lẽ hắn biết mình không thể nào khỏi được bệnh yêu nàng. Hắn viết lá thư đó tại Câu lạc bộ, hoàn toàn chay tịnh không uống một giọt và gửi qua bưu điện đến New York xin nàng viết cho hắn về địa chỉ văn phòng ở Paris. Như thế xem ra cũng đúng mức. Và đêm hôm ấy, nhớ nàng đến trống trếnh, nôn nao cả ruột gan, hắn lang thang qua hiệu Taxim, vớ được một cô gái và đưa cô ta đi ăn đêm. Sau đó, đến một tiệm nhảy, cô ta nhảy tồi, và hắn bỏ cô ta để chuyển sang một ả người Armeni hừng hực nhục dục, ả cứ cọ bụng hoài vào người hắn đến mức hắn gần như bỏng rát lên. Hắn đã nẫng ả từ tay một gã pháo thủ quèn người Anh sau một trận ẩu đả. Tay pháo thủ yêu cầu hắn ra ngoài và họ đánh nhau trong bóng tối, trên lớp sỏi giữa phố. Hắn nện trúng gã kia hai lần vào quai hàm, mạnh ra dáng, và khi gã ta không ngã, thì hắn biết là phải quạng ra trò đây. Gã pháo thủ đánh trúng người hắn, rồi vào cạnh mắt. Hắn quai tay trái lần nữa, trứng, và gã pháo thủ ngã lên hắn, túm lấy áo vét-tông của hắn, xé đứt tay áo và hắn choảng hai cú vào sau tai gã, rồi vừa đẩy vừa thôi tay phải vào mặt gã. Khi gã pháo thủ đổ gục, đầu gã nện xuống trước, hắn kéo ả kia chạy vì nghe thấy tiếng quân cảnh tới. Họ nhảy vào một chiếc tắcxi và phóng ra Rimmili Hissa, dọc theo Bosphorus, đi quanh quanh, và trở về trong đêm lành lạnh, lên giường ngủ và thân thể ả cũng chín nẫu như vẻ ngoài của ả... Hắn rời khỏi ả trước khi ả thức giấc, coi bộ khá phờ phạc trong ánh ban mai, và xuất hiện ở nhà hàng Pera Palace với một bén mi mắt tím bầm, áo vét-tông vắt trên cánh tay vì mất một ống.
Cũng đêm ấy, hắn đi Anatolia và hắn nhớ lại là, về sau trong chuyến đi ấy, hẳn đã phi ngựa suốt ngày qua những cánh đồng trồng cây thuốc phiện (rút cục, nó gây một cảm giác đến là kỳ cục, mọi khoảng cách đều như sai lạc đi), phóng miết tới chỗ đánh úp bọn sĩ quan mới chân ướt chân ráo từ Constantine đến, chả hiểu mô tê gì cả, và pháo binh đã nã vào đoàn quân, và tay quan sát người Anh đã khóc như con nít.
Ngày hôm ấy lần đầu tiên, hắn trông thấy những xác lính mặc váy balê màu trắng, đi giày mũi cong, có ngù ở trên. Bọn Thổ Nhỉ Kỳ cứ ùn ùn kéo đến. Hắn đã trông thấy những gã mặc váy chạy và hắn với tay quan sát người Anh cũng chạy cho tới khi phổi hắn đau nhói và miệng đắng nghét như ngậm xu. Họ dừng lại sau mấy tảng đá và kia, bọn Thổ vẫn kéo đến đông nghìn nghịt như trước, về sau, hắn đã thấy những điều hắn không bao giờ tưởng tượng nổi và về sau nữa, hắn còn chứng kiến những điều tệ hơn nhiều. Cho nên khi trở về Paris lần ấy, hắn không bụng dạ nào nói chuyện về cái đó, thậm chí không chịu nổi khi nghe nhắc đến nó. Và kia, trong tiệm cà phê, khi hắn đi ngang qua, là cái anh chàng thi sĩ Mỹ với chồng đĩa để trước mặt, cái bộ mặt củ khoai mang một vẻ ngây ngô đần độn, đang nói chuyện về trào lưu Đađa với một người Rumani xưng tên là Tristan Tzara [10], lúc nào cũng đeo chiếc kính một mắt, lúc nào cũng đau đầu, và về tới phòng riêng với vợ mà bấy giờ hắn lại yêu, tạnh hết cãi cọ, tạnh hết điên khùng, sung sướng được trở lại tổ ấm, thì văn phòng đã chuyển thư từ giấy má về tận nhà. Thành thử, một buổi sáng, bức thư trả lời bức hắn viết hồi nọ được mang vào trên một cái khay và khi nhận ra nét chữ, hắn lạnh toát cả người và toan nhét nó xuống dưới một cái thư khác. Nhưng vợ hắn đã hỏi: “Thư ai gửi thế mình?” và thế là kết thúc sự mở đầu của cái đó.
Hắn nhớ lại những giờ phút vui thú đã trải qua với tất cả những người đàn bà của hắn cùng những cuộc cãi lộn. Bao giờ họ cũng chọn những nơi thú vị nhất để gây sự cãi nhau. Và tại sao bao giờ họ cũng nhè những lúc hắn khinh khoải nhất để cãi nhau nhỉ? Hắn chưa bao giờ viết gì về cái đó, vì thoạt đầu, hắn không muốn làm người nào tổn thương và sau đó, xem chừng không cần cái đó cũng đủ đề tài để viết rồi. Song hắn luôn luôn nghĩ rằng, cuối cùng, hắn sẽ viết về nó. Có biết bao chuyện cần viết. Hắn đã chứng kiến thế giới đổi thay; không phải chỉ đơn thuần sự kiện; mặc dầu hắn đã thấy nhiều sự kiện và quan sát con người song hắn còn thấy được sự biến đổi tinh tế hơn và hắn có thể nhớ lại những biểu hiện con người ở những thời kỳ khác nhau. Hắn đã ở trong cuộc, hắn đã theo dõi, quan sát và bổn phận của hắn là phải viết về cái đó: nhưng giờ đây, hắn vĩnh viễn không làm được việc đó nữa rồi.

- Anh thấy trong người thế nào? - Nàng hỏi. Lúc này, nàng đã ra khỏi lều sau khi tắm xong.
- Tốt thôi.
- Bây giờ anh có thể ăn được không?
Hắn trông thấy Molo mang chiếc bàn gấp đằng sau nàng, và gã bồi kia mang thức ăn tới.
- Anh muốn viết. - Hắn nói.
- Anh phải ăn tí xúp cho lại sức chứ.
- Anh sẽ chết đêm nay - Hắn nói - Anh không cần lại sức.
- Đừng có lâm ly thế, Harry, em xin. - Nàng nói.
- Mũi em để đâu nhỉ. Giờ đây anh đã bị thối hoại tới nửa đùi rồi. Anh ăn xúp làm cái cóc khô gì mới được chứ? Molo, mang whiky-soda lại đây.
- Xin anh ăn xúp đi. - Nàng dịu dàng nói.
- Thôi được.
Xúp nóng quá. Hắn phải cầm bát chờ cho nguội để có thể húp được, và ngay cả bây giờ, hắn cũng phải cố mới nuốt trôi mà không nhổ ra.
- Em thật là một phụ nữ tuyệt vời - Hắn nói - Đừng để ý đến anh.
Nàng nhìn hắn với bộ mặt nàng đã quen thuộc, xiết bao thân thương, được miêu tả trong Đinh thúc ngựaThành thị và nông thôn, có điều hơi tàn phai hơn vì rượu, có điều hơi tàn phai hơn vì chiếc giường ân ái, nhưng Thành thị và nông thôn không hề phô bộ ngực chắc mẩy kia, cặp đùi ân cần kia và đôi bàn tay nây nây ve vuốt kia, và trong khi hắn nhìn, nàng mỉm cười, nụ cười khả ái quen thuộc của nàng, thì hắn lại cảm thấy cái chết lại đến. Lần này thì không ào ạt, mà chỉ thoảng một hơi, như một cơn gió làm ngọn nến chập chờn rồi lại bốc cao lên.
- Bảo chúng lát nữa mang màn của anh ra, mắc vào cây và khơi lửa to thêm. Đêm nay, anh không vào lều đâu. Chả việc gì phải di chuyển. Đêm sáng thế này chắc không mưa đâu.
Vậy ra người chết như thế đấy, thành những tiếng thì thào không nghe rõ. Ờ, sẽ chẳng có cãi cọ gì nữa. Hắn có thể hứa vậy. Lẽ nào bây giờ hắn lại đi làm hỏng cái điều duy nhất hắn chưa từng kinh qua bao giờ? Hắn có thể làm hỏng. Mày đã làm hỏng đủ mọi thứ. Nhưng có lẽ lần này thì không.
- Em có ghi tốc ký được không?
- Em chưa bao giờ học. - Nàng trả lời hắn.
- Thôi được, không sao.
Cố nhiên, chẳng còn thì giờ nữa, mặc dầu hắn có cảm giác như mọi sự dồn lại đến mức có thể thu gọn trong một đoạn văn ngắn nếu biết cách.
Có một căn nhà gỗ, với những kẽ trát vữa trắng, trên một trái đồi ven hồ. Trên một cái cột cạnh cửa ra vào, có chuông để gọi mọi người về dùng bữa. Đằng sau nhà là những cánh đồng và đằng sau những cánh đồng là rừng cây to. Một hàng bạch dương Lombardy chạy từ nhà đến bến. Những cây dương khác viền quanh mỏm. Một con đường dẫn lên đồi, men theo bìa rừng và hắn thường hái quả mâm xôi dọc theo con đường ấy. Thế rồi căn nhà bằng gỗ súc ấy bị cháy rụi và tất cả những khẩu súng treo ở những giá chăn hươu phía trên lò sưởi trống đều cháy và sau đó, những nòng súng, với lớp chì chảy ra trong ổ đạn và báng cháy mất tiêu, nằm chỏng trơ trên đống tro dùng làm nước kiềm cho vào những nồi sắt to nấu xà phòng, và mình hỏi ông nội là có lấy những nòng ấy đem chơi được không, thì ông bảo không được. Mình biết đấy vẫn còn là những khẩu súng của ông và ông không bao giờ mua khẩu nào khác nữa. Ông cũng chằng đi săn nữa. Bây giờ căn nhà được xây dựng lại bằng gỗ xẻ, vẫn ở nguyên chỗ cũ, quét vôi trắng, và từ cổng nhà, có thể trông thấy rặng bạch dương và quá nữa là khu hồ, nhưng chẳng bao giờ còn có những cây súng nữa. Những nòng súng từng treo ở các chân hươu trên tường căn nhà bằng gỗ súc, nằm ngoài kia, trên đống tro và không ai đụng tới chúng.
Ở vùng Rừng Đen, sau chiến tranh, chúng tôi thuê một con suối cá hồi. Có hai lối đi tới đó. Một lối từ Triberg xuống thung lũng rồi theo đường thung dưới bóng của hàng cây chạy dọc con đường trắng, và tiếp đó, vào một con đường nhánh leo lên đồi, qua nhiều trại nhỏ với những ngôi nhà lớn của Schwarzwald [11] cho đến chỗ con đường ấy vắt qua suối. Đó là chỗ chúng tôi bắt đầu câu cá.
Đi lối kia thì phải leo dốc tới bìa rừng, rồi vượt đỉnh đồi qua những rừng thông, sau đó đâm ra ven cánh đồng cỏ và đi ngang đồng cỏ tới cầu. Dọc con suối có những cây bulô. Suối hẹp, không to, nhưng trong và chảy xiết, với những vũng lặng ở chỗ nước khoét vào dưới đám rễ bulô. Tại khách sạn ở Triberg ông chủ được một mùa kinh doanh tốt đẹp. Thật là thú vị, và tất cả chúng tôi đều là bạn bè thân thiết. Năm sau, xảy ra nạn lạm phát, số tiền ông ta kiếm được năm trước không đủ mua trữ thực phẩm để mở khách sạn, và ông ta đã treo cổ tự vẫn.
Những điều ấy thì có thể đọc cho người khác ghi hộ song không thể làm thế với đoạn nói về Quảng trường Contrescarpe, ở đó những người bán hoa đem nhuộm hoa trên đường phố, thuốc nhuộm chảy lênh láng trên hè nơi các xe buýt khởi hành, và các ông bà già lúc nào cũng say rượu vang và rượu bã nho tồi; và lũ trẻ thò lò mũi xanh trong giá rét: mùi mồ hôi bẩn thỉu, mùi nghèo khổ và mùi say khướt ở quán Café des Amateurs [12] và những ả giang hồ ở tiệm Bal Musette [13] mà họ ở ngay tầng trên đó. Chị gác cổng tiếp đãi anh lính thuộc đội Vệ binh Cộng hòa trong phòng thường trực của mình, chiếc mũ sắt có chùm tua lông ngựa của anh chàng đặt trên ghế. Người phụ nữ ở thuê căn phòng trước mặt có chồng là một tay đua xe đạp và nỗi hân hoan của nàng buổi sáng hôm ấy tại cửa hàng đồ sữa khi giở tờ báo “L’Auto” [14], thấy tin chồng về thứ ba trong cuộc đua Paris - Tua, cuộc đua lớn đầu tiên của anh ta. Nàng đỏ bừng mặt và cười vang, rồi vừa chạy lên gác vừa khóc, với tờ báo thể thao màu vàng trong tay. Tay chồng bà chủ tiệm Bal Mussette lái tắc xi, và khi hắn, Harry đây, cần đáp một chuyến máy bay sớm, tay chồng ấy đến gõ cửa đánh thức hắn và họ uống mỗi người một cốc vang trắng tại quầy trước khi khởi hành. Hồi ấy, hắn quen biết những người hàng xóm trong khu phố đó, bởi vì tất cả đều cùng cảnh nghèo...
Ở quanh khu Quảng trường có hai loại người: cánh say rượu và cánh thể thao. Đám say rượu tìm cách giết cánh nghèo của mình bằng hơi men; đám thể thao thì cố tống khứ nó bằng tập tành. Họ là con cháu những chiến sĩ Công xã Paris, và họ hiểu rõ chính kiến của mình không vất vả gì. Họ biết ai đã bắn cha chú, anh em, họ hàng và bạn bè của họ khi toán quân Versaille vào chiếm thành phố sau thời kỳ Công xã và hành quyết bất kỳ ai chúng bắt được mà có đôi tay sần chai, hoặc đội mũ cát-két, hoặc mang bất kỳ dấu hiệu gì tố cáo nguồn gốc xuất thân công nhân của họ. Chính trong khung cảnh nghèo khổ ấy và trong cái khu bên phố trước cửa một hiệu bán thịt ngựa và một hợp tác xã rượu vang, hắn đã khởi bút mở đầu tất cả những gì hắn sẽ làm sau này. Chẳng có nơi nào khác ở Paris mà hắn yêu như thế, những cây tỏa lan man cành lá, những ngôi nhà cổ trát vữa trắng, mé dưới quét vôi náu, cái dãy dài xe buýt màu xanh lục ở quảng trường tròn đó, dòng đỏ tía thuốc nhuộm hoa chảy trên hè, quãng phố Giáo chủ Lemoine đột ngột dốc tuột xuống tận bờ sông, và mạn kìa là cái thế giới chật chội chen chúc của phố Mouffetard. Con phố ngược lên về phía điện Pantheon và con phố kia mà bao giờ hắn cũng rong ruổi qua bằng xe đạp, đường phố duy nhất được rải nhựa trong toàn khu, nhẵn thín dưới bánh xe, với những ngôi nhà cao hẹp và cái khách sạn rẻ tiền, nơi Paul Verlaine [15] đã chết. Căn hộ họ ở chỉ có hai buồng, và hắn thuê một phòng ở tầng trên cùng của cái khách sạn ấy với giá sáu mươi phrăng một tháng làm chỗ viết lách, và từ chỗ đó hắn có thể nhìn ra các mái nhà, các ống khói và tất cả những điểm cao ở Paris.

Từ căn hộ, chỉ có thể nhìn thấy cửa hiệu của lão bán gỗ và than. Lão cũng bán cả rượu nữa, rượu tồi. Cái đầu ngựa óng vàng ngoài cửa hàng bán thịt ngựa, ở đó lủng lẳng những bộ xương ngựa vàng vàng đỏ đỏ giữa khung cửa sổ mở và cái hợp tác xã quét vôi màu xanh lá cây, nơi họ vẫn mua rượu vang; rượu vang ngon và rẻ. Còn lại là tường trát vữa và cửa sổ của hàng xóm. Những người hàng xóm ấy, ban đêm, khi có kẻ say rượu nằm ềnh ra phố rên rẩm và rền rĩ theo cái kiểu “bét nhè” [16] điển hình Pháp mà người ta tuyên truyền là không có thật, thường mở cửa sổ ra ngó, và liền sau đó là tiếng xì xào bàn tán.
- Chà, cảnh sát đâu nhỉ? - Cái đồ chó chết, khi người ta không cần đến nó thì bao giờ nó cũng có mặt. - Hắn lại đang ngủ với một mụ gác cổng nào rồi! - Tìm “agent” [17] đến đây! Cho đến khi có người nào đó hắt một xô nước từ một cửa sổ và tiếng rên ngừng bặt. - Cái gì đấy? - Nước. - À, thông minh đấy. Và các cửa sổ đóng lại. Marie, người đàn bà giúp việc của hắn phản đối chế độ ngày làm tám tiếng: “Nếu anh chồng làm việc đến sáu giờ, trên đường về nhà, anh ta chỉ say ti tí thôi; và không vung phí quá nhiều tiền. Nếu anh ta chỉ làm đến năm giờ thì đêm nào anh ta cũng sẽ say mèm và nhà không có tiền. Chính vợ người công nhân chịu thiệt vì việc rút ngắn giờ làm việc”.
- Anh có muốn húp thêm tí xúp nữa không? - Lúc này, người đàn bà hỏi hắn.
- Không, cảm ơn em. Xúp ngon lắm.
- Thử tí nữa thôi.
- Anh muốn uống thêm một ly whisky-soda.
- Cái đó không tốt cho anh đâu.
- Phải. Nó có hại cho tôi. Nhạc và lời của Cole Poter: biết rằng anh đang phát điên vì tôi.
- Anh thừa biết rằng em thích anh uống rượu.
- A phải. Có điều là nó có hại cho tôi.
Để cho cô ta đi khỏi đã, hắn nghĩ. Mình sẽ uống thỏa thích. Không phải lả thỏa thích, mà là uống hết chỗ rượu hiện có ở đây. Ôi, hắn mệt. Quá mệt. Hắn sẽ ngủ một lúc. Hắn nằm im và cái chết không thấy đến. Chắc nó đang đi tua ở một chỗ khác. Nó đi xe đạp thành từng cặp và di động lặng lẽ trên đường phố.
Không, hắn chưa bao giờ viết về Paris. Chưa bao giờ viết về cái Paris mà hắn yêu thương. Nhưng còn tất cả những cái khác mà hắn chưa viết thì sao?
Thế còn cái trại nuôi súc vật và cái màu xám bạc của bụi cây ngải đắng, dòng nước trong veo chảy xiết trong những con mương và màu xanh lục rậm rì của cỏ linh lăng thì sao? Con đường mòn leo lên đồi và trâu bò về mùa hè thì nhút nhát như hươu nai. Tiếng trống và tiếng rậm rịch liên tục đều đặn vào mùa thu cả một khối từ từ di chuyển bụi mù lên khi người ta lùa chúng xuống. Và đằng sau rặng núi, ngọn cao nhất nổi bật lên sắc nét trong ánh chiều, và những phút ruổi ngựa xuôi theo con đường mòn đi xuống, trong ánh trăng vằng vặc tràn ngập thung lũng. Giờ đây, hắn nhớ lại cái lần nắm đuôi ngựa xuyên qua rừng mò mẫm đi xuống trong bóng tối bưng mắt cùng tất cả những chuyện hắn định viết.
Còn cả chuyện về cái thằng nhỏ dở ngây dở dại mà bận ấy họ để lại coi trại, dặn không được cho ai lấy cỏ khô và cái lão già khốn kiếp ở Ngã Ba dạo xưa vẫn đánh đập thằng nhỏ, hồi nó còn làm cho lão, ghé vào xin ít thức ăn cho ngựa. Thằng nhỏ từ chối và lão già dọa lại đánh nó. Thằng nhỏ vớ lấy cây súng trên bếp và bắn lão khi lão định vào kho, và khi họ trở về trại thì lão đã chết được một tuần, cóng lạnh trong ràn, xác đã bị chó ăn mất một phần. Còn lại bao nhiêu, cậu đem bó chăn, chất lên một cái xe trượt chằng dây thật chặt và bảo thằng nhỏ giúp cậu một tay kéo đi, rồi hai thầy trò cậu lướt ván trượt tuyết đưa xe ra đến đường cái đi tiếp sáu mươi dặm tới tận tỉnh để giao thằng nhỏ cho cảnh sát. Nó thì không ngờ mình sẽ bị bắt. Nó ngỡ mình đã làm tròn bổn phận và nó sẽ được thưởng cơ. Nó đã giúp một tay kéo xác lão già về tỉnh để mọi người thấy là lão xấu xa như thế nào, và khi tay quận trưởng cảnh sát còng tay thằng nhỏ, nó không thể tin đó là sự thật. Thế rồi nó òa lên khóc. Đó là một câu chuyện hắn đã để dành định viết: Hắn biết chí ít là hai mươi câu chuyện lý thú ở vùng ấy mà hắn chưa hề viết một chuyện nào. Tại sao?

- Nào biết tại sao? - Hắn nói.
- Tại sao cái gì, mình?
- Chả tại sao cái gì cả.
Từ khi có hắn, nàng không uống dữ như trước nữa. Nhưng nếu hắn sống, hắn sẽ không bao giờ viết về nàng, bây giờ thì hắn biết chắc điều đó. Cũng chẳng viết về bất kỳ ai trong số các cô nàng. Cái bọn giàu thật chán ngắt, và họ uống rượu quá đáng, cờ bạc quá đáng. Họ vừa chán phèo vừa hay lặp đi lặp lại. Hắn nhớ đến anh chàng Julian tội nghiệp, cậu ta kính sợ họ một cách lãng mạn, có lần cậu ta đã khởi thảo một truyện ngắn, mở đầu như thế này: “Những người rất giầu có vốn khác anh, khác tôi”. Và ai đó đã bảo Julian; Phải, vì họ có nhiều tiền hơn. Nhưng Julian không thấy đó là hài hước. Cậu ta nghĩ họ là một nòi giống đặc biệt, lộng lẫy, mê hồn và khi cậu ta thấy ra rằng họ không phải thế, cậu ta sụp xuống y hệt như khi gặp bất kỳ điều gì khác làm cậu ta sụp xuống.
Xưa nay hắn vẫn khinh những kẻ suy sụp. Đâu phải cứ hiểu rõ cái gì thì phải ưa thích cái ấy. Hắn có thể bất chấp tất, hắn nghĩ vậy, bởi vì không gì có thể làm hắn tổn thương, nếu hắn không thiết.
Được lắm. Giờ đây hắn sẽ dửng dưng với cái chết. Có một điều bao giờ hắn cũng khiếp hãi, đó là cái đau. Hắn có thể chịu đau như bất kỳ người đàn ông nào khác, miễn là đừng quá kéo dài và đừng làm hắn kiệt sức, nhưng ở đây, hắn bị một cái gì đó đã làm hắn đau, khủng khiếp và đúng lúc hắn cảm thấy mình sắp quỵ thì cái đau bỗng dứt hẳn.
Hắn nhớ lại hồi đã lâu, khi Williamson, sĩ quan giật bom, bị thương vì một quả lựu đạn chày do một tên trong một đội tuần tra Đức ném khi đêm hôm ấy cậu ta mò vào qua hàng rào dây thép gai, và cậu ta đã gào thét xin mọi người giết mình đi cho rồi. Đó là một gã béo, rất dũng cảm, một sĩ quan tốt, mặc dầu nghiện những trò trưng trổ ngông nghênh. Nhưng đêm ấy, cậu ta bị kẹt trong hàng rào dây thép gai, pháo sáng soi rõ mồn một, và ruột lòi ra lòng thòng vướng vào dây thép gai đến nỗi phải cắt rời mới mang được cậu ta sống sót trở về. Bắn tao đi, Harry! Lạy Chúa, mày bắn tao đi cho rồi! Có một lần họ đã từng tranh luận về chuyện Thượng đế không bao giờ giáng xuống chúng sinh cái gì mà con người không chịu nổi, và ai đó nêu ra cái thuyết là đến một lúc nào đó, cái đau sẽ tự khắc làm cho người ta ngoẻo. Nhưng hắn không bao giờ quên Williamson cái đêm ấy. Không gì làm cho Williamson tịch đi được, cuối cùng hắn đã phải cho cậu ta tất cả những viên moóc phin hắn vẫn để dành riêng cho mình, và mặc dù vậy, vẫn không công hiệu ngay tức thì.
Tuy nhiên, cái mà hắn hiện đang phải chịu, vẫn rất nhẹ nhõm; và nếu có cứ tiếp tục, không tệ hơn, thì chả việc gì mà lo. Có điều, hắn vẫn ưng có người tâm đắc hơn để bạn bầu.
Hắn ngẫm nghĩ một chút về tâm hồn bầu bạn mà hắn muốn có.
Không, hắn nghĩ, khi mà mọi điều mày làm, mày đều làm quá rề rà và quá muộn, thì mày đừng trông mong gì mọi người. Mọi người đã đi cả rồi. Cuộc vui đã tàn và giờ đây chỉ còn có mày với nữ chủ nhân.
Mình đâm ớn luôn cả cái chết như ớn tất cả mọi thứ khác, hắn nghĩ.
- Thật phát ớn. - Hắn nói ra thành tiếng.
- Ớn cái gì, mình?
- Bất cứ cái chết tiệt gì mà người ta làm bôi ra quá lâu.
Hận nhìn bộ mặt nàng xen giữa hắn và đống lửa. Nàng ngả người trên chiếc ghế và ánh lửa soi tỏ những nếp nhăn dễ thương trên mặt nàng, và hắn thấy nàng đã buồn ngủ. Hắn nghe thấy con linh cẩu lục xục ngay bên ngoài tầm chiếu sáng của đống lửa.
- Anh vừa viết - Hắn nói - Nhưng thế mà hóa mệt.
- Liệu anh có thể ngủ được không?
- Chắc chắn được. Sao em không vào lều nằm?
- Em thích ngồi đây với anh.
- Em có cảm thấy gì lạ không? - Hắn hỏi nàng.
- Không. Chỉ hơi buồn ngủ thôi.
- Anh thì có. - Hắn nói.
Hắn vừa mới cảm thấy cái chết lại lướt qua lần nữa.
- Em biết đấy, cái duy nhất anh không bao giờ mất, là tính tò mò. - Hắn nói với nàng.
- Anh chả bao giờ mất cái gì cả. Anh là người đàn ông hoàn hảo nhất em từng biết.
- Jesus - Hắn nói - Đàn bà chả biết gì mấy. Đó là cái gì nhỉ? Trực giác của em à?
Bởi vì đúng lúc ấy, cái chết đã đến dựa đầu lên chân giường, và hắn có thể ngửi thấy hơi thở của nó.
- Em đừng bao giờ tin những sự mường tượng ấy, nào lưỡi hái, nào đầu lâu - Hắn bảo nàng - Nó cũng có thể là hai gã cảnh sát đi xe đạp hay một con chim. Hoặc giả nó có thể là một cái mõm bè bè như một con linh cẩu.
Giờ đây, nó đã tiến lên người hắn, nhưng nó không còn hình thù gì nữa, chỉ choán không gian mà thôi.
- Em bảo nó đi đi.
Nó không đi khỏi mà còn xáp lại gần hơn.
- Hơi thở mày gớm quá - Hắn bảo nó - Đồ con hoang tanh hôi.
Nó nhích lại gần hắn hơn nữa, và bây giờ hắn không đủ sức nói với nó, và khi nó thấy hắn không thể nói được, nó bèn tiến sát hơn chút nữa, và lúc này hắn cố đuổi nó đi mà không phải lên tiếng, nhưng nó sấn lên người hắn đến độ toàn bộ sức nặng của nó đè lên ngực hắn, và trong khi nó ngồi thu lu đó khiến hắn không cựa quậy, nói năng gì được, hắn nghe thấy tiếng người đàn bà: “Bwana ngủ rồi. Nhấc giường lên thật nhẹ nhàng và khiêng vào trong lều”.
Hắn không lên tiếng được để bảo nàng đuổi nó đi, và giờ đây, nó thu mình đè nặng hơn, khiến hắn không thở được. Thế rồi, khi họ nhấc bổng chiếc giường lên, mọi sự đột nhiên ổn định đâu vào đó và cái trọng lượng nó biến khỏi ngực hắn.
Đó là buổi sáng, và sáng được một lúc thì hắn nghe thấy tiếng máy bay. Mới đầu hiện ra một chấm rất nhỏ rồi nó lượn một vòng rộng và đám bồi chạy ra đốt lửa bằng dầu hỏa rồi chất cỏ khô lên thành hai đống to ở hai đầu bãi phẳng, gió sớm tạt khói về phía lều. Chiếc máy bay lượn hai vòng nữa, lần này thấp hơn, rồi là là xuống và hạ cánh êm ru, và kìa lão Compton quần thụng, áo vét tuýt, mũ phớt nâu, đang đi về phía hắn.
- Làm sao vậy, chú gà trống già? - Compton nói.
- Chân tôi, - Hắn đáp - ông dùng điểm tâm nhé?
- Cảm ơn. Tôi chỉ xin tí trà thôi. Đây là loại máy bay Puss Moth, ông biết đấy. Tôi không chở cả Memsahib được. Chỉ có chỗ cho một người thôi. Xe cam-nhông của ông bà đã lên đường.
Helen kéo Compton ra một chỗ, nói riêng với ông ta. Compton quay trở lại, vui vẻ hơn bao giờ hết.
- Chúng tôi sẽ đưa ông lên máy bay ngay lập tức - Ông ta nói - Tôi sẽ quay lại đón Memsahib. Tôi e là phải ghé Aruha để tiếp nhiên liệu. Tốt hơn là ta đi luôn thôi.
- Thế ông không dùng trà ư?
- Ông biết đấy, tôi cũng không mê trà lắm.
Đám bồi nhấc cái giường, khiêng đi vòng qua những lều bạt màu xanh lục, dọc theo vách đá xuống khoảng đồng bằng, qua chỗ những đống lửa lúc này đang cháy sáng rực, ngốn hết chỗ cỏ, được gió quạt bùng lên, tới chỗ máy bay. Đưa hắn lên được kể cũng khó khăn chật vật, nhưng khi đã vào được trong máy bay, hắn nằm ngủ trên chiếc ghế da, cái chân đau duỗi thẳng tựa vào một bên của chiếc ghế Compton ngồi. Compton mở máy và vào khoang lái. Ông ta vẫy Henlen và đám bồi, và khi tiếng đì đạch chuyển thành tiếng nổ giòn quen thuộc, chiếc máy bay quành góc (Compton quan sát đã tránh những hố do lợn rừng khoét), kêu ro ro, chồm chồm trên quãng mặt bằng giữa hai đống lửa, rồi sau cái xóc nẩy cuối cùng, bay lên khỏi mặt đất và hắn trông thấy cả bọn đứng ở dưới vẫy theo, cụm lều trại bên sườn núi lúc này bẹt xuống, cánh đồng bằng trải rộng, những lùm cây và khu rừng cũng bẹt xuống, với những dấu đường thú chạy nhẵn lì dẫn đến những hố nước đã cạn và lại thấy một điểm nước mới toanh mà hắn chưa từng biết đến. Lũ ngựa vằn, lúc này chỉ là những cái lưng tròn nhỏ, và những con linh dương đầu bò, giờ là những vật phình đầu, như đang leo lên, trong khi chúng di chuyển thành hàng dài qua cánh đồng, thấy bóng máy bay lướt lướt tới, lại chạy tản ra, bây giờ chúng bé tí tẹo, di động đều, không phóng nhanh, và cánh đồng giờ đây xám vàng hút tầm mắt, còn ngay đằng trước là cái lưng của lão Compton mặc áo vét tuýt và cái mũ phớt nâu. Thế rồi họ bay trên những ngọn đồi đầu tiên với những con linh dương đầu bò trèo lên theo vệt đường mòn, sau đó họ bay trên những ngọn núi với những quãng rừng đột ngột sâu thẳm màu xanh diệp và những dốc mọc đầy tre chắc khỏe, rồi lại rừng rậm nữa in bật nét điêu khắc trồi lên, lõm xuống cho đến khi họ vượt qua, và đồi núi thoải xuống thấp dần, rồi lại một dải đồng bằng giờ đây nóng thiêu và nâu tía, họ lắc lư vì nóng và Compton ngoái lại xem hắn có chịu đựng tốt chặng đường bay hay không. Rồi lại thấy những ngọn núi khác đen sẫm trước mặt.
Thế rồi đáng lẽ tiếp tục bay đến Aruha thì họ lại rẽ trái, hắn nghĩ bụng hiển nhiên là họ đủ xăng, và nhìn xuống, hắn thấy một đám mây hồng như bột rây bay là là mặt đất, và trên không tựa hồ tuyết đầu mùa trong một cơn bão lốc không biết từ đâu tới. Hắn biết là châu chấu đang từ phương Nam bay tới. Rồi họ bắt đầu vọt lên cao, hình như họ bay về phía đông, thế rồi trời tối sầm lại, và họ mắc vào một cơn dông, mưa dày đến nỗi tưởng như bay qua thác, thế rồi họ thoát ra và Compton ngoảnh đầu lại, nhe răng cười, đưa tay chỉ và kìa, ở đằng trước, tất cả những gì hắn nhìn thấy, rộng như cả thế gian, mênh mông, cao ngất và trắng xóa dưới ánh mặt trời, trắng đến độ không tin được, là cái chóp vuông của ngọn Kilimanjaro. Và hắn biết rằng đó chính là nơi hắn đang đi đến.
Đúng lúc ấy, con linh cẩu ngừng rền rĩ trong đêm và bắt đầu phát ra một âm thanh kỳ lạ gần như tiếng người khóc. Người đàn bà nghe thấy và cựa mình, không thoải mái. Nàng không thức giấc. Trong giấc mơ, nàng thấy mình đang ở ngôi nhà tại Long Ailen, và đó là đêm trước hôm con gái nàng ra mắt giới thượng lưu, không hiểu làm sao cha nó lại có mặt và ông ta rất thô bạo. Thế rồi tiếng con linh cẩu to đến độ làm nàng thức giấc và trong một lúc, nàng không biết mình đang ở đâu và nàng hốt hoảng. Rổi nàng cầm lấy đèn bấm rọi vào cái giường nhỏ kia mà đám người hầu đã khiêng vào lều sau khi Harry ngủ thiếp đi. Nàng nhìn thấy hắn nằm lù lù trong màn, nhưng không hiểu sao một chân lại tòi ra, thõng xuống lủng lẳng cạnh giường. Băng đã tuột hết và nàng không dám nhìn vào đó.
- Molo - Nàng gọi - Molo! Molo!
Rồi: - Harry, Harry!
Giọng nàng cất cao lên: - Harry! Em xin mình. Ôi Harry!
Không thấy trả lời, nàng không nghe thấy hắn thở.
Bên ngoài, con linh cẩu vẫn phát ra cái tiếng kỳ lạ, đã làm nàng thức giấc. Nhưng nàng không nghe thấy vì tim nàng đang đập mạnh.

Dương Tường dịch
---------------------
[1] Một loại từ điển y khoa thông dụng (N.D)
[2] Thổ ngữ Phi: Ông chủ (N.D).
[3] Tiếng Đức trong nguyên bản: ông (N.D).
[4] Tiếng Pháp trong nguyên bản: không buồn xem. - N.D.
[5] Nguyên văn: You rich bitch (Cô là con điếm giàu có). Rich vần với bitch.
[6] Thổ ngữ Phi: Bà.
[7] Chuyến đi săn xa.
[8] Quần đi ngựa, chẽn ống từ đầu gối đến mẳt cá.
[9] Bồi, mang uytxki-xorfa lại đây.
[10] Nhà thơ và nhà văn nổi tiếng gốc Rumani, quốc tịch Pháp (1896 - 1938), kiện tướng của phong trào Đađa.
[11] Tiếng Đức: Rừng Đen.
[12] Tiếng Pháp: Tiệm cà phê của những người nghiệp dư.
[13] Tiếng Pháp: Vũ hội đồng quê.
[14] Tiếng Pháp: Xe hơi - một tờ báo thể thao của Pháp.
[15] Một trong những nhà thơ tiêu biểu của phái tượng trưng Pháp, thế kỷ XIX.
[16] Tiếng Pháp trong nguyên bản: ivresse.
[17] Tiếng Pháp: nhân viên cảnh sát.
0
Cuộc đời hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber

Đến giờ ăn trưa, bọn họ ngồi dưới mái kép xanh của lều ăn, vờ như chẳng có chuyện gì xảy ra.
- Mọi người uống nước cam hay chanh? - Macomber hỏi.
- Tôi uống cốc tai [1] - Robert Wilson bảo hẳn.
- Tôi cũng thế. Tôi muốn uống thứ gì đó. - Vợ Macomber nói.
- Tôi nghĩ đấy là điều đáng làm. - Macomber tán thành - Bảo hắn pha ba ly cốc tai.
Gã phục vụ tuân lệnh, lấy mấy cái chai ra khỏi túi lạnh bằng vải bạt tỏa hơi ẩm theo làn gió thổi xuyên qua rặng cây ngả bóng trên lều.
- Tôi nên trả chúng bao nhiêu? - Macomber hỏi,
- Một bảng Anh là đủ - Wilson bảo hắn - Ông đừng làm hư chúng.
- Trưởng nhóm sẽ chia chứ?
- Dĩ nhiên.
Nửa giờ trước, Francis Macomber được tay đầu bếp, mấy đứa trẻ giúp việc, gã lột da và đám phu khuân vác dùng tay và vai khênh từ rìa khu trại vào lều trong niềm hân hoan chiến thắng. Mấy người mang súng không dự đám rước ấy. Khi bọn người bản xứ đặt hắn xuống trước cửa lều, hắn nhận lời chúc tụng, bắt tay từng người một rồi đi ra lều, ngồi xuống giường cho đến lúc vợ hắn bước vào. Khi vào lều nàng không nói gì với hắn, ngay lập tức hắn ra khỏi lều, rửa mặt và tay trong cái chậu nhỏ rồi đến lều ăn, ngồi xuống chiếc ghế bạt mềm mại, đón làn gió trong bóng mát.
- Ông có được con sư tử của mình rồi đó - Robert Wilson nói với hắn - một con sư tử đúng nghĩa.
Vợ Macomber liếc nhìn nhanh Wilson. Nàng đẹp tuyệt và là người đàn bà biết gìn giữ sắc đẹp, năm năm trước, sắc đẹp và địa vị xã hội đã mang lại cho nàng năm ngàn đô-la trong việc xác nhận, có kèm theo ảnh, một loại mỹ phẩm, mà nàng chưa hề dùng bao giờ. Nàng lấy Francis Macomber được mười một năm.
- Nó là con sư tử kiêu hùng, có phải không? - Macomber hỏi. Giờ thì cô vợ nhìn hắn. Nàng nhìn hai người đàn ông như thể chưa từng gặp họ trước đây.
Một là Wilson, tay thợ săn người da trắng, nàng biết đúng là mình chưa từng gặp ông ta từ trước. Ông ta có vóc người trung bình, tóc hung vàng và bộ ria cứng, khuôn mặt đỏ au, đôi mắt màu xanh cực kỳ lạnh lùng với những nếp nhăn trắng mờ nơi đuôi mắt toát lên sự vui vẻ lúc mỉm cười. Bây giờ ông cười với nàng, nàng chuyển ánh mắt từ mặt ông xuống đôi vai nhô lên trong chiếc áo cổ cao, rộng với bốn viên đạn lớn đeo ủ nơi lẽ ra là túi ngực bên trái, nhìn vào đôi bàn tay vạm vỡ, sạm nắng; nhìn vào cái quần cũ lụng thụng, đôi bốt vấy bẩn của ông rồi lại nhìn gương mặt đỏ. Nàng để ý nơi màu đỏ của da mặt chững lại trước vạch tròn trắng bởi chiếc mũ Stetson, bây giờ đang treo trên một trong những cái móc của cột lều.
- Nào, chúc mừng con sư tử - Robert Wilson nói. Ông lại mỉm cười với nàng, còn nàng thì không cười, lạ lẫm nhìn chồng.
Francis Macomber rất cao, thân hình chắc nịch và nếu bạn không bận tâm đến dáng xương hơi dài, mái tóc đen cắt ngắn như thể một gã chèo thuyền, môi hơi mỏng thì hắn là người đẹp trai. Hắn vận cùng kiểu đồ đi săn như của Wilson nhưng còn mới, hắn ba lăm tuổi, giữ gìn cơ thể cường tráng, giỏi các môn thể thao trên sân, đoạt nhiều giải thưởng về câu cá nhưng lại vừa mới phô ra trước mặt bàn dân thiên hạ mình là kẻ hèn nhát.
- Mừng con sư tử - Hắn nói - Tôi chẳng thể nào bày tỏ hết được lòng biết ơn trước những gì ông đã làm.
Margaret, vợ hắn, rời mắt khỏi hắn và lại nhìn Wilson.
- Chúng ta đừng nói chuyện về con sư tử nữa. - Nàng nói.
Wilson nhìn nàng, không cười nhưng bây giờ thì nàng lại cười với ông.
- Một ngày thật kỳ lạ - Nàng nói - Sao ông không đội mũ ngay cả lúc ngồi trong trại vào buổi trưa? Ông nhớ là ông đã bảo với tôi như thế mà.
- Đội cũng được thôi. - Wilson đáp.
- Ông biết mình có gương mặt rất đỏ, thưa ông Wilson. - Nàng nói với ông ta rồi lại mỉm cười.
- Tại rượu đấy. - Wilson nói.
- Tôi không nghĩ thế. - Nàng nói. Francis uống nhiều nhưng mặt anh ấy chẳng hề đỏ.
- Hôm nay nó đỏ rồi. - Macomber cố đùa.
- Không - Margaret nói - Mỗi tôi là đỏ mặt hôm nay. Nhưng mặt ông Wilson thì luôn đỏ.
- Chắc là do huyết tộc - Wilson nói - Xin bà vui lòng đừng đề cập đến mặt mũi của tôi nũa, có được chăng?
- Tôi chỉ vừa mới bắt đầu.
- Vậy thì chúng ta hãy quẳng nó đi. - Wilson nói.
- Chuyện trò cũng thật là quá khó. - Margaret nói.
- Đừng có ngốc, Margot. - Chồng nàng bảo.
- Chẳng khó đâu - Wilson nói - Đã hạ được con sư tử dũng mấnh ấy.
Margot nhìn họ, cả hai thấy nàng sắp khóc. Wilson biết trước chuyện này từ lâu và ông sợ. Macomber đã qua nỗi sợ ấy.
- Giá mà chuyện đó không xảy ra. Ôi, giá mà chuyện ấy đừng xảy ra. - Nàng nói rồi về lầu mình. Nàng không bật tiếng khóc nhưng họ thấy vai nàng run run dưới làn áo màu hồng ánh lên dưới nắng trời.
- Đàn bà thật phức tạp - Wilson nói với gã cao to - Rỗng tuếch. Dễ xúc động bởi những chuyện không đâu vào đâu.
- Không đúng - Macomber nói - Tôi nghĩ, kể từ bây giờ chuyện ấy sẽ ám ảnh cả quãng đời còn lại của tôi.
- Ngớ ngẩn. Chúng ta đã hạ được kẻ giết thịt khổng lồ - Wilson nói - Quên hết mọi chuyện đi. Dẫu sao thì nó cũng chẳng nghĩa lý gì.
- Có lẽ bọn tôi sẽ cố - Macomber nói - Nhưng tôi sẽ không bao giờ quên những gì ông đã làm cho tôi.
- Vô nghĩa - Wilson nói - Tất cả đều vô nghĩa.
Thế rồi họ ngồi đó trong bóng mát của khu trại; được cắm dưới tán keo xòe rộng với vách đá đầy cuội phía sau lưng và thảm cỏ trải dài đến bờ suối trước mặt, bên kia là rừng; và uống những ly nước mát lạnh, tránh nhìn vào mắt nhau trong lúc bọn giúp việc dọn bàn ăn trưa. Wilson hiểu bọn chúng đã biết mọi chuyên và khi ông thấy anh chàng phục vụ Macomber tò mò nhìn ông chủ lúc đang đặt đĩa lên bàn, ông đe bằng tiếng Swahili. Cậu ta lúng túng quay mặt đi.
- Ông nói gì với nó vậy? - Macomber hỏi.
- Không có gì. Chỉ bảo nó nhanh lên hoặc sẽ được nhận mười lăm phát.
- Phát gì vậy? Đánh nó hả?
- Hẳn là bất hợp pháp - Wilson nói - Lẽ ra ta chỉ phạt tiền chúng.
- Ông vẫn thường xuyên đánh chúng à?
- Ồ, vâng. Nếu chúng kiện thì sẽ lôi thôi. Nhưng chúng không kiện. Chúng thích bị quất hơn là chịu phạt tiền.
- Lạ thật nhỉ? - Macomber nói.
- Chẳng lạ gì đâu - Wilson nói - Nếu là chúng, ông sẽ chọn gì? Một trận đòn ra trò hay chịu mất tiền công?
Rồi ông cảm thấy khó xử khi hỏi thế và trước lúc Macomber kịp trả lời, ông nói tiếp:
- Bọn ta đều phải nhận một trận đòn mỗi ngày, ông biết đấy, bằng cách này hay cách khác.
Tình thế chẳng tốt hơn - Lạy Chúa, ông nghĩ - Mình ngoại giao theo kiểu gì đây?
- Vâng, bọn ta nhận một trận - Macomber không nhìn ông, nói - Tôi rất lấy làm ân hận về chuyện con sư tử ấy. Nó không đi xa thêm tí nào nữa, có phải không? Ý tôi là sẽ chẳng ai nghe được chuyện đó, phải không?
- Ông muốn nói là tôi sẽ kể chuyện đó ở câu lạc bộ Mathaiga chắc? - Bây giờ Wilson lạnh lùng nhìn hắn. Ông không lường trước được tình huống này. À thì ra hắn là thằng đàn ông đốn mạt như chính sự hèn nhát của hắn, ông nghĩ. Mãi đến hôm nay, mình vẫn mến hắn. Nhưng làm sao ta hiểu được một người Mỹ cơ chứ?
- Không, - Wilson nói - tôi là thợ săn chuyên nghiệp. Bọn tôi chẳng bao giờ đi đàm tiếu về khách hàng của mình. Ông có thể yên tâm về chuyện đó. Nhưng lẽ ra thì không nên đề nghị bọn tôi đừng nói.
Bây giờ ông quyết định rằng việc cắt đứt quan hệ hẳn dễ chịu hơn nhiều. Rồi thì ông có thể ăn một minh. Ông chỉ gặp họ trong các cuộc săn theo một nguyên tắc rất nghi thức. - Người Pháp gọi nó là gì nhỉ? Sự tôn trọng đặc biêt - và thà quan hệ có xấu đi thì còn hơn phải chịu đựng cái đồ cặn bã yếu đuối này. Ông đã sĩ nhục hắn và thực sự muốn cắt bỏ quan hệ tình cảm gần gũi. Rồi thì ông có thể đọc sách trong bữa ăn nhưng cũng phải uống Whisky của họ. Đấy là cách nói cho tình huống đó một khi cuộc săn trở nên xấu đi. Bạn gặp một tay thợ săn da trắng khác và hỏi: - Công việc thế nào? Và hắn trả lời: - Ồ, tao vẫn uống Whisky của họ, thì bạn hiểu mọi chuyện đã trở nên tồi tệ.
- Tôi xin lỗi. - Macomber nói rồi ngước khuôn mặt Mỹ của hắn nhìn ông, khuôn mặt sẽ vẫn giữ được vẻ trẻ trung đó cho đến tuổi trung niên; Wilson để ý cái đầu tóc húi cao, đôi mắt đẹp nhưng hơi xảo, mũi thẳng, môi mỏng và cái hàm xinh xắn của hẳn. - Tôi tiếc là mình không biết điều đó. Còn rất nhiều thứ tôi không biết.
Đấy, hắn xử sự như thế đấy, Wilson nghĩ. Ông đã sẵn sàng cắt phăng quan hệ với hắn, nhưng đấy, cái thằng cha ấy lại đi xin lỗi sau khi bị ông sỉ nhục. Ông thử thêm lần nữa.
- Đừng sợ tôi rêu rao chuyện ấy - Ông nói - Tôi phải kiếm sống. Anh biêt đấy, ở châu Phi thì không có một phụ nữ nào bắn trượt con sư tử của mình và cũng chẳng có người đàn ông nào lại bỏ chạy cả.
- Tôi đã chạy như một con nhỏ. - Macomber nói.
Mày còn biết làm quái gì bây giờ với cái thằng cha nói năng theo kiểu đó, Wilson thầm nhủ.
Wilson nhìn Macomber bằng đôi mắt xanh dửng dưng của xạ thủ súng máy; còn kẻ kia thì mỉm cười với ông. Hắn có nụ cười dễ thương nếu bạn không chú ý đến cái gì đó vương trong mắt khi hắn bị tổn thương.
- Có lẽ tôi sẽ lấy lại can đảm trước đám trâu rừng - Hắn nói - Ta sẽ săn chúng, có phải không?
- Ngay sáng mai, nếu ông muốn. - Wilson bảo hắn. Có lẽ ông đã sai. Nhưng hẳn phải xử sự như thế. Chắc chắn người ta chẳng thể nào kể một câu chuyện ngu ngốc nào đó về một người Mỹ. Ông lại có thiện cảm với Macomber. Giá mày có thể quên được sáng nay. Nhưng rõ ràng mày không thể. Buổi sáng hôm nay chẳng thể nào tồi tệ hơn chính sự tồi tệ của nó.
- Bà chủ đến đấy. - Ông nói. Đang bước từ lều sang, trông nàng tươi tắn, vui vẻ và thật đáng yêu. Nàng có khuôn mặt trái xoan rất hoàn hảo, hoàn hảo đến mức người nhìn sẽ ngỡ nàng hơi đần. Nhưng nàng chẳng đần tí nào, Wilson nghĩ, không, không đần.
- Ông thế nào rồi hả Wilson mặt đỏ đẹp trai? Anh cảm thấy khá hơn chứ Francis, cưng?
- Ồ dễ chịu vô cùng. - Macomber nói.
- Em đã quên hết mọi chuyện - Nàng nói lúc ngồi vào bàn - Francis giỏi săn sư tử hay không thì có gì là quan trọng cơ chứ? Đấy không phải là nghề của anh ấy. Đấy là nghề của ông Wilson. Ông Wilson thật sự gây ấn tượng trong việc bắn giết. Ông giết mọi thứ có phải không?
- Ồ, mọi thứ, - Wilson nói - đơn giản là bất cứ thứ gì.
Bọn họ, ông nghĩ, là những kẻ cay nghiệt nhất thế gian; cay nghiệt nhất, ác độc nhất, lì lợm nhất, hấp dẫn nhất, còn mấy thằng đàn ông của họ thì nhũn như con chi chi hoặc hồn phiêu phách tán khi họ ngoắt ngoa tru tréo. Hoặc chính vì thế mà họ mới lấy làm chồng để dễ bề sai khiến? Chúng chẳng suy tính nhiều như thế đâu vào lúc lấy chồng, ông nghĩ. Ông lấy làm tự hào rằng mình quá hiểu về đám đàn bà Mỹ ấy, trước vụ này, bởi lẽ đây là một ả cực kỳ hấp dẫn.
- Chúng ta sẽ săn trâu rừng vào sáng mai. - Ông bảo nàng.
- Tôi cũng đi. - Nàng nói.
- Không, bà đừng đi.
- Ồ, tôi sẽ đi chứ. Em đi cùng nhé, Francis?
- Sao không ở lại trại?
- Các vàng cũng không - Nàng nói - Các vàng tôi cũng không để phí những pha như sáng nay.
Lúc ả bỏ đi, Wilson nghĩ, lúc ả đi khỏi để khóc, ả thực là con mụ tuyệt diệu. Như thể ả thấu hiểu, nhận ra sự thương tổn với hắn, với ả và biết thế nào là bản chất của sự việc. Hai mươi phút ả bỏ đi rồi quay lại, lạnh lùng trong lớp men ác độc của đồ đàn bà Mỹ. Chúng là hạng đàn bà ác độc nhất. Thục sự độc ác nhất.
- Ngày mai bọn anh sẽ thu xếp cuộc săn khác cho em. - Francis Macomber nói.
- Bà không nên đi. - Wilson nói.
- Ông quá nhầm - Nàng bảo ông - Bởi tôi muốn như thế để xem ông biểu diễn một lần nữa. Sáng nay ông thật đáng yêu. Có nghĩa nếu bắn vỡ đầu một vật gì đó thì được xem là đáng yêu.
- Bữa trưa đây rồi - Wilson nói - Bà rất vui, có phải không?
- Tại sao không? Tôi không đến đây để mà ủ ê.
- Ừ, không ủ ê. - Wilson nói. Ông có thể nhìn thấy lớp cuội dưới lòng suối và rặng cây trên bờ cao phía bên kia rồi ông nhớ lại buổi sáng.
- Ồ, không - Nàng nói - Thật hấp dẫn. Còn ngày mai. Ông chẳng hiểu tôi khao khát cái ngày mai ấy ra làm sao đâu.
- Đây là món thịt nai mà ông đã bắn cho bà. - Wilson nói.
- Chúng là loại thú to bằng con bò và nhảy như thỏ phải không?
- Tôi nghĩ miêu tả như vậy là chính xác đó. - Wilson nói.
- Thịt ngon thật. - Macomber nói.
- Anh đã bắn nó hả Francis? - Nàng hỏi.
- Ừ.
- Chúng không nguy hiểm phải không?
- Chỉ khi nào chúng ngã vào bà. - Wilson bảo nàng.
- Tôi rất thích.
- Bớt cái trò ỡm ờ ấy một chút đi, Margot. - Macomber nói lúc cắt miếng bít tết nai, cắm nĩa vào miếng thịt, kèm thêm ít khoai tây nghiền, cà rốt và nước sốt.
- Em nghĩ mình có thể - Nàng đáp - Nếu anh đề nghị dịu dàng như thế.
- Tối nay chúng ta sẽ uống sâm banh mừng con sư tử. - Wilson nói - Buổi trưa trời quá nóng.
- Ồ, con sư tử - Margot nói - Tôi quên bẵng cái con sư tử!
Thế, Robert Wilson thầm nghĩ, ả đang cho hắn leo cột mỡ đây, có phải không nhỉ? Mày có nghĩ ả cố tạo ra vẻ tử tế bề ngoài như vậy? Một mụ đàn bà sẽ hành động như thế nào nếu ả phát hiện ra chồng mình là một thằng hèn đích thực? A cực kỳ độc ác nhưng tất cả bọn chúng đều độc ác. Nhưng, tao đã chứng kiến quá đủ sự ác độc của bọn mày.
- Bà dùng thêm ít thịt nai nữa. - Ông lịch sự mời nàng.
Xế chiều hôm ấy, Wilson và Macomber lên xe đi với tay lái xe người bản xứ và hai người mang súng. Bà Macomber ở lại trại. Trời quá nóng để ra ngoài, nàng nói, nàng sẽ đi cùng họ vào sáng sớm mai. Lúc họ lái xe ra, Wilson thấy nàng đứng dưới hàng cây to, trông lộng lẫy hơn trong bộ kaki màu hồng nhạt, mái tóc đen của nàng chải ngược ra sau đầu, búi thành búi trễ xuống cổ, mặt nàng tươi tắn như, ông nghĩ, như thể nàng đang ở Anh. Nàng vẫy tay chào họ lúc chiếc xe lao qua đám cỏ, vòng qua rừng cây lên rặng đồi nhỏ có nhiều lùm cây ăn quả.
Trong lùm cây, phát hiện ra đàn sơn dương, họ rời xe, rón rén tiếp cận con đực già có bộ sừng dài, vươn rộng. Macomber hạ ngay nó bằng một phát đạn rất chính xác ở khoảng cách hai trăm mét rồi cả đàn hoảng sợ bỏ chạy, chồm lên lưng nhau bằng những bước nhảy cao và dài đến nỗi khó có thể tin được, uyển chuyển như những bước nhảy đâu đó ta gặp trong mơ.
- Phát đạn cừ đấy, - Wilson nói - khó hạ chúng lắm.
- Cái đầu đáng giá chứ? - Macomber hỏi.
- Thật tuyệt - Wilson trà lời hắn - Ông cứ bẳn như thế thì chẳng có chuyện rắc rối nào xảy ra đâu.
- Ông nghĩ mai bọn ta sẽ tìm thấy trâu rừng chứ?
- Chắc chắn tìm thấy. Chúng đi ăn vào lúc sáng sớm và nếu gặp may thì ta có thể gặp chúng ở chỗ rừng trống.
- Tôi muốn xóa bỏ con sư tử ấy đi - Macoraber nói - Thật chẳng hay hớm gì khi để vợ thấy chồng mình hành động theo kiểu đó.
Mình cho rằng như thế thì thật là quá sức tồi tệ, Wilson nghĩ, vợ hay không vợ, hay cứ nói mãi về chuyện đã xảy ra rồi. Nhưng ông nói.
- Tôi chẳng nghĩ về chuyện ấy nữa. Bất kỳ ai cũng có thể hoảng sợ khi mới gặp con sư tử lần đầu. Chuyện đó đã chấm dứt.
Nhưng tối hôm ấy, sau bữa tối và chầu Whisky pha soda cạnh đống lửa trước lúc đi ngủ, Francis Macoraber nằm trên giường đã mắc màn, lắng nghe tiếng rì rầm của đêm, thì câu chuyện vẫn chưa chấm dứt. Nó cũng không chấm dứt mà cũng chẳng bắt đầu. Nó ở đó chính xác như nó xảy ra với vài phần của nó trơ trơ không thể gột rửa và hắn xấu hổ đến khổ sở vì nó. Nhưng còn hơn cả xấu hổ, hắn cảm nhận nỗi kinh hãi âm âm, lạnh lẽo trong lòng. Nỗi sợ hãi vẫn ở đó giống cái lỗ trũng nhớt nhợt lạnh lẽo trong mọi trống rỗng nơi một lần sự tự tin của hắn từng ngự trị và nó đã làm hắn phát ốm. Nó vẫn ở đó với hắn lúc này.
Nó bắt đầu từ tối hôm trước khi hắn thức giấc và nghe con sư tử gầm đâu đó ở phía trên, dọc dòng suối. Tiếng gầm sâu thẳm, kết thúc bằng những âm thanh gầm gừ khô khốc, nghe như như thể nó ở ngay ngoài lều, rồi khi Francis Macomber choàng tỉnh trong bóng tối, tiếng gầm gừ làm hắn sợ. Chẳng ai biết hắn sợ, và cũng không có người nào sợ cùng hắn; cứ thế hắn nằm cô đơn, hắn không biết thành ngữ Somali có câu: Bất kỳ người đàn ông dũng cảm nào cũng luôn hoảng sợ trước con sư tử ba lần: lần đầu thấy dấu chân, lần đầu nghe tiếng nó gầm và lần đầu đối mặt với nó. Rồi trong lúc họ đang ăn sáng dưới ánh đèn lồng trong lều, trước lúc mặt trời mọc, con sư tử lại gầm và Francis nghĩ nó đang đứng ngay rìa khu trại.
- Tiếng gầm nghe như của con sư tử già - Robert Wilson nói lúc nhìn lên khỏi đĩa cá hun khói và ly cà phê của mình - Nghe tiếng khạc của nó kìa.
- Nó ở gần đây không?
- Khoảng một dặm phía trên suối.
- Chúng ta sẽ thấy nó chứ?
- Chúng ta sẽ thấy.
- Tiếng rống vang xa đến thế cơ à? Nghe như thể nó ở ngay trong khu cắm trại.
- Vang xa lắm - Robert Wilson nói - Cách nó vang thật lạ. Hy vọng nó dễ hạ. Bọn kia bảo ở đây có một con rất to.
- Nếu bắn thì tôi sẽ nhắm vào đâu, - Macomber hỏi - để chặn lại?
- Vào vai - Wilson đáp - Nếu có thể thì ông bắn vào cổ. Nã gãy xương. Quật nó xuống.
- Hy vọng là tôi bắn trúng. - Macomber nói.
- Ông bắn rất giỏi - Wilson bảo hắn - Hãy bình tĩnh. Ngắm cho chắc. Phát đầu tiên là phát quyết định.
- Khoảng cách chừng nào là vừa?
- Không thể nói trước được. Con sư tử có ý kiến riêng về chuyện này. Đừng bắn nếu không đúng tầm, như thế ông mới chắc ăn được.
- Chừng dưới một trăm mét hả? - Macomber hỏi.
Wilson liếc nhanh hắn.
- Một trăm là vừa. Nhưng có lẽ phải đến gần nó thêm một tí nữa. Đừng bắn nếu khoảng cách xa hơn thế. Một trăm là tầm bắn tốt đấy. Với khoảng cách ấy ông có thể bắn nó bất kỳ nơi nào ông muốn. Bà chủ đến rồi kìa.
- Chào ông - Nàng nói - Chúng ta lần theo con sư tử ấy chứ?
- Ngay khi bà dùng xong bữa sáng. - Wilson đáp - Bà cảm thấy thế nào?
- Tuyệt diệu - Nàng nói - Tôi hồi hộp lắm.
- Tôi đi xem mọi thử đã sẵn sàng chưa. - Wilson bước ra. Lúc ông đi, con sư tử lại gầm.
- Cái gã ầm ĩ này - Wilson nói - Chúng ta sẽ bắt hắn câm miệng.
- Chuyện gì vậy, Francis? - Vợ hắn hỏi.
- Chẳng có gì. - Macomber đáp.
- Không, có đấy - Nàng nói - Anh khó chịu về cái gì vậy?
- Chẳng có gì đâu. - Hắn đáp.
- Nói cho em biết đi - Nàng nhìn hắn - anh không được khỏe hay sao?
- Cái tiếng gầm chết tiệt ấy - Hắn nói - Em biết đấy, nó cứ rền vang suốt đêm.
- Sao anh không thức em dậy - Nàng nói - Em háo hức muốn nghe.
- Anh phải giết cái đồ thối tha ấy. - Macomber khổ sở nói.
- Đúng, đấy là lý do để anh đến đây, có phải không?
- Ừ. Nhưng anh căng thẳng. Nghe cái giống ấy gầm, thần kinh anh căng hết cả lên.
- Vậy thì hãy giết nó và chặn tiếng gầm ấy lại như Wilson đã bảo
- Đúng đấy, em yêu - Francis Macomber nói - Nói thì dễ, có phải không?
- Anh không sợ chứ, hả anh?
- Dĩ nhiên là không. Nhưng anh chỉ căng thẳng bởi tiếng gầm gừ suốt đêm của nó.
- Anh sẽ khử nó một cách ngoạn mục - Nàng nói - Em biết anh làm được. Em rất háo hức xem điều đó.
- Ăn xong đi, rồi chúng ta sẽ lên đường.
- Trời vẫn chưa sáng - Nàng nói - Giờ giấc thật kỳ quặc.
Chính ngay khi ấy, con sư tử cất giọng gầm bằng âm thanh rỉ rên trầm sâu trong lồng ngực, đột ngột những tiếng gừ trầm gia tăng như làm chuyển rung cả bầu không khí và kết thúc bằng tiếng thở dài và tiếng gừ trầm sâu trong lồng ngực.
- Nghe như thể nó ngay đây. - Vợ Macomber nói.
- Lạy Chúa - Macomber nói - Anh căm thù cái tiếng gầm khốn khiếp đó.
- Đầy ấn tượng đấy nhỉ.
- Ấn tượng gì. Đáng sợ thì có.
Lúc đó Robert Wilson bước vào; mang theo khẩu Gibbs 505 nòng lớn, ngắn, thô kệch, và nhoẻn miệng cười.
- Ta đi thôi - Ông nói - Người mang súng của ông sẽ mang theo khẩu Springfield và khẩu súng lớn. Mọi thứ đã xếp cả lên xe rồi. Ông bà sẵn sàng cả chứ?
- Vâng.
- Tôi sẵn sàng. - Bà Macomber nói.
- Phải bắt nó ngừng ngay tiếng ồn ấy - Wilson nói - Ông ngồi phía trước. Bà có thể ngồi sau này với tôi.
Họ lên ô-tô rồi, trong ánh bình minh nhợt nhạt, đánh xe ngược dòng suối xuyên qua rừng cây. Macomber mở khóa nòng khẩu súng trường, kiểm tra mấy viên đạn vỏ kim loại, đóng chốt và để chế độ an toàn. Hắn thấy tay mình run run. Hắn sờ mấy viên đạn trong túi và lướt tay qua số đạn đeo trên ngực. Hắn quay lại hàng ghế phía sau của chiếc xe hình hộp, không có cửa, nơi Wilson ngồi canh vợ hắn, cả hai cười với vẻ kích động, Wilson cúi người tới trước thì thầm.
- Nhìn xem chim đang sà xuống kìa. Có nghĩa ông bạn già đã rời con mồi của mình.
Đằng kia bờ suối, trên rừng cây, Macomber có thể thấy đàn kền kền lượn vòng rồi lao thẳng xuống.
- Khả năng là con sư tử sẽ đến uống nước ở đây - Wilson thì thào - Trước lúc nó đi nghỉ. Hãy quan sát kỹ.
Họ đang lái chậm, dọc theo bờ suối cao dựng thẳng đứng xuống lòng suối đầy cuội rồi lái dích dắc qua những thân cây lớn. Lúc Macomber mải quan sát bờ bên kia, hắn thấy Wilson nắm tay mình. Chiếc xe dừng lại.
- Nó kia kìa - Hắn nghe tiếng thì thầm. - Ở phía trước, bên phải. Xuống hạ nó đi. Một con sư tử kiêu hùng.
Bây giờ Macomber đã thấy con sư tử. Nó đứng quay sườn lại, cái đầu đồ sộ ngẩng cao ngoái nhìn họ. Làn gió nhẹ sớm mai ngược chiều họ đang khuấy tung cái bờm sẫm đen; con sư tử trông khổng lồ, đôi vai đồ sộ, thân hình tròn căng bóng nhẫy in bóng lên bờ dốc, trong ánh sáng ban mai trắng đục.
- Khoảng cách bao xa? - Macomber giương khẩu súng trường lên hỏi.
- Chừng bảy mươi lăm. Xuống hạ nó đi.
- Tại sao không bắn từ đây?
- Ông không được bắn trên xe - Hắn nghe Wilson nói vào tai - Xuống đi. Nó sẽ không đứng đó cả ngày đâu.
Macomber ra khỏi chỗ khoét cong trên thành xe bên cạnh chỗ ngồi phía trước, đặt chân lên bậc rồi bước xuống đất. Con sư tử vẫn đứng im kiêu hãnh và bình thản nhìn vật ấy, vật mà mắt nó nom tựa một con tê giác đặc biệt nào đó. Hơi người không tạt về phía ấy nên nó quan sát cái vật lạ đó, cái đầu to tướng khẽ đưa qua đưa lại. Trong lúc quan sát cái vật kia, không hề sợ hãi, nhưng do dự trước khi đi xuống bờ uống nước với cái vật đối diện ở phía bên kia, nó thấy một bóng người tách khỏi vật ấy bèn quay cái đầu nặng nề, tiến nhanh về phía lùm cây, ngay khi đó nó nghe một tiếng nổ chói tai rồi cú đập mạnh của viên đạn cỡ 30 - 06 nặng 220 grain [2] vào sườn, nóng bỏng xuyên qua dạ dày gây cảm giác buồn nôn. Nó vùng chạy, nặng nề, những bước chân to lớn, đung đưa cái bụng tròn căng đã bị thương, xuyên qua các thân cây về phía rừng cỏ cao và bụi rậm, rồi một tiếng nổ nữa, trượt qua nó, xé toang không khí ở phía trước. Rồi súng lại nổ và nó cảm thấy một cú thúc mạnh khi viên đạn cẳm vào xương sườn phía dưới và xuyên qua, máu nóng hổi và bọt trào lên miệng, con sư tử phóng nhanh về vạt cỏ cao nơi có thể giấu mình, không bị nhìn thấy, đợi họ mang vật phát ra tiếng nổ đến thật gần để có thể lao ra, vồ gã mang vật ấy.
Lúc ra khỏi xe, Macomber không suy xét được hành động của con sư tử. Hắn chỉ biết tay mình đang run và khi rời xa chiếc xe, hắn gần như không có khả năng buộc đôi chân cử động. Chúng như thể đã hóa đá, nhưng hắn có thể cảm thấy các bắp thịt đang giật giật. Hắn giương súng, nhắm vào điểm nối giữa đầu và vai con sư tử rồi bóp cò. Không có tiếng nổ mặc dù hắn bóp cho đến lúc hắn ngỡ ngón tay đã bị gãy. Rồi hẳn nhận ra mình chưa tháo chốt an toàn và lúc hạ thấp khẩu súng để mở chốt an toàn, hắn lê một bước chân hóa đá về phía trước, rồi con sư từ thấy rõ hình hắn bên cạnh chiếc xe, quay lại chạy chậm, rồi, khi Macomber bắn, hắn nghe một tiếp “bập”, có nghĩa viên đạn đã trúng nhưng con sư tử vẫn tiếp tục chạy. Macomber lại bắn, mọi người nhìn thấy viên đạn xới tung một đám bụi phía trước con sư tử đang chạy: Hắn lại bắn, nhớ hạ thấp tầm ngắm và mọi người nghe tiếng viên đạn găm trúng vào con sư tử chuyển sang phi nước đại vào đám cỏ cao trước lúc hắn đóng xong khóa nòng.
Macomber đứng đó, cảm thấy quặn đau trong bụng, hai tay hắn giữ khẩu spingfield vẫn lên cò, run rẩy, vợ hắn và Robert Wilson đang cạnh hắn. Hai người mang súng cũng đứng gần đấy, huyên thuyên bằng tiếng Makamba.
- Tôi đã bắn trúng nó - Macomber nói - Trúng nó hai lần.
- Ông bắn thủng bụng nó và đâu đó ở phía trước. - Wilson nói với vẻ chẳng hào hứng tí nào. Hai người mang súng trông rất ủ ê. Giờ thì chúng lặng im.
- Có lẽ ông đã giết nó - Wilson tiếp tục - Chúng ta phải đợi một lát trước khi vào tìm xem.
- Ông nói gì vậy?
- Để nó kiệt sức trước khi lần theo vết nó.
- Ồ. - Macomber nói.
- Quả đúng là con sư tử kiêu hùng - Wilson vui vẻ nói - Dầu sao thì nó cũng đã lủi vào cái nơi tai hại quá.
- Sao lại tai hại?
- Không thể phát hiện cho đến lúc ông ở ngay cạnh nó.
- Ồ. - Macomber nói.
- Ta đi thôi - Wilson nói - Bà có thể ở lại đây, trên xe. Chúng ta sẽ lần theo vết máu.
- Ở lại đây nghe Margot. - Macomber nói với vợ. Cái miệng khô khốc làm hắn khó nói.
- Tại sao? - Nàng hỏi.
- Wilson bảo thế.
- Chúng tôi sẽ đi xem - Wilson nói - Bà ở lại đây. Từ đây bà có thể nhìn rõ hơn.
- Thôi cũng được.
Wilson nói với gã tài xế bằng tiếng Swahili. Gã gật đầu đáp:
- Vâng, thưa ông.
Rồi họ đi xuống bờ dốc, nhảy và lách qua những tảng đá băng qua suối, bám vào đám rễ cay nhô ra, lần lên bờ bên kia, bước dọc theo cho đến lúc tìm thấy chỗ con sư tử quay mình bỏ chạy khi Macomber bắn phát đầu tiên. Mấy người mang súng tìm ra vệt máu sẫm trên đám cỏ thấp, vệt máu trải dài về phía rừng cây sau bờ suối.
- Chúng ta làm gì? - Macomber hỏi.
- Chẳng có cách nào khác - Wilson nói - Ta không thể mang ô-tô sang. Bờ quá dốc. Đợi nó yếu thêm tí nữa rồi ông và tôi vào tìm.
- Chúng ta không thể đốt cỏ được sao? - Macomber hỏi.
- Xanh quá.
- Không thể sai bọn xua thú vào sao?
Wilson nhìn hắn với vẻ đánh giá.
- Dĩ nhiên chúng la có thể - Ông nói - Nhưng làm thế có khác chi giết người. Ông thấy đấy, ta biết con sư tử đã bị thương. Ông có thể đuổi một con sư tử không bị thương - nó sẽ bỏ chạy bởi tiếng động - nhưng một con sư tử khi đã bị thương thì nó sẽ tấn công. Ông chẳng thể nào thấy nó cho đến khi ông ở ngay bên cạnh nó. Nó sẽ thu mình nằm bẹp gí ở nơi ẩn nấp mà ông không nghĩ một con thỏ ẩn mình được. Ông không thể sai bọn chúng vào làm việc ấy. Vào đấy người ta rất dễ bị thương.
- Thế còn mấy đưa mang súng?
- À, chúng sẽ đi với ta. Đấy là nhiệm vụ của chúng. Ông thấy đó, chúng được thuê để làm việc ấy. Nhưng trông chúng chẳng vui vẻ tí nào, có phải không?
- Tôi không muốn vào trong đó. - Macomber nói. Câu nói buột ra trước lúc hắn kịp hiểu mình đã nói gì.
- Tôi cũng thế - Wilson vui vẻ nói - Nhưng rõ ràng chẳng còn cách nào khác. - Rồi sau một thoáng suy nghĩ, ông liếc nhìn Macomber và lập tức phát hiện thấy hắn đang run rẩy và cái nhìn đầy thông cảm hiện lên trên nét mặt ông.
- Dĩ nhiên ông không cần phải vào - Ông nói - Đấy là việc tôi được thuê làm, ông biết đó. Đấy là lý do giá thuê tôi đắt đến thế.
- Có nghĩa ông sẽ vào một mình à? Sao không mặc xác nó ở đó?
Toàn bộ tâm trí của Robert Wilson nãy giờ tập trung vào con sư tử và tình thế hiện tại, ông không nghĩ về Macomber ngoại trừ đã lưu ý thấy hắn khá hoảng sợ, đột nhiên ông cảm nhận như thể mình mở nhầm cánh cửa của một khách sạn và chứng kiến cảnh tượng thật xấu hổ.
- Ông nói gì vậy?
- Sao không để mặc nó?
- Ý ông là ta vờ như nó chưa bị bắn trúng?
- Không, chỉ mặc nó.
- Không làm thế được.
- Tại sao không?
- Lý do là chắc chắn nó phải chịu đựng đau đớn, thêm nữa ai đó cũng có thể tình cờ đi qua chỗ nó.
- Tôi hiểu.
- Nhưng ông không phải bận tâm về chuyện đó.
- Tôi muốn đi - Macomber nói - Ông biết đó, tôi chỉ sợ thôi.
- Lúc ta vào, tôi sẽ đi trước - Wilson nói - Kongoni tìm vết. Ông hơi lùi về một bên, sau tôi. Rất có khả năng ta sẽ nghe tiếng nó gầm gừ. Nếu tìm thấy, ông và tôi cùng hắn. Đừng sợ gì cả, tôi sẽ ở bên ông. Có điều là, chắc ông hiểu lẽ ra ông không nên đi. Như thế sẽ tốt hơn nhiều. Sao ông không quay lại ngồi với bà trong lúc chờ tôi giải quyết xong việc này?
- Không, tôi muốn đi.
- Thôi được - Wilson nói - Nhưng chớ có vào nếu ông không muốn. Ông biết, bây giờ đấy là trách nhiệm của tôi.
- Tôi muốn đi. - Macomber nói.
Họ ngồi hút thuốc dưới bóng cây.
- Có muốn quay lại nói chuyện với bà trong lúc ta đợi không? - Wilson hỏi.
- Không.
- Tôi sẽ quay lại bảo bà đợi.
- Ừ - Macomber nói. Hắn ngồi đó, mồ hôi ướt đầm cánh tay, mồm khô đắng, dạ dày trống rỗng; muốn lấy hết can đảm bảo một mình Wilson đi kết liễu con sư tử. Hắn không biết Wilson tức giận bởi đã không chú ý trạng thái của ông lúc ban đầu và câu ông bảo hắn quay lại với vợ. Lúc hắn ngồi đó, Wilson đến.
- Tôi lấy khẩu súng tớn cho ông - Ông ta nói - Cầm lấy. Tôi nghĩ ta đợi thế đủ rồi. Ta đi thôi.
Macomber cầm khẩu súng và Wilson nói:
- Lùi sau tôi chừng năm mét về phía bên phải và làm chính xác những gì tôi dặn.
Rồi ông dùng tiếng Swahili nói với hai người mang súng, mặt chúng trông ảm đạm.
- Ta đi thôi. - Ông nói.
- Cho tôi ngụm nước? - Macomber đề nghị. Wilson nói với người mang súng lớn tuổi đang đeo cái bi đông ở thắt lưng, gã tháo ra, mở nắp đưa cho Macomber, hắn cầm lấy, cảm nhận độ nặng của cái bình và lớp vỏ nỉ xù xì miết vào tay. Hắn nâng bình uống rồi nhìn vào đám cỏ cao phía trước với những tán cây tròn bên trên. Cơn gió nhẹ đang thổi về phía họ, đám cỏ dập dờn theo chiều gió. Hắn nhìn người mang súng và hiểu gã cũng đang chịu đựng cùng nỗi sợ.
Cách chừng ba mươi lăm mét trong đám cỏ, con sư tử lớn nằm dán mình xuống đất. Tai nó dựng ra sau, cử động duy nhất của nó là cái đuôi rậm màu đen khẽ ngoe nguẩy. Nó nằm dán xuống đất ngay khi vào đến chỗ nấp, vết thương xuyên qua cái bụng no tròn gây nhức nhối rồi nó kiệt sức dần bởi vết thường xuyên qua phổi cứ trào bọt máu trong mồm mỗi khi thở. Mình nó đẫm ướt và nóng, ruồi bâu vào miệng các vết thương nhỏ do mấy viên đạn rắn xé rách trên lớp da màu hung; đôi mắt vàng to của nó, nhíu lại bởi hận thù, nhìn thẳng về phía trước, chỉ chớp lúc cơn đau kéo đến do hơi thở, vuốt nó cắm ngập trong lớp đất màu nâu mềm. Cả cơ thể nó, sự khó chịu, nỗi đau đớn, lòng căm thù cùng với tất cả sức mạnh còn lại đều dồn căng trong sự tập trung cao độ cho cú nhảy vồ. Nó đã nghe tiếng họ nói chuyện và chờ đợi, tập trung hết tàn lực chuẩn bị cho cú tấn công ngay khi bọn người kia đặt chân vào vùng cỏ. Lúc nghe tiếng người, đuôi nó gồng cứng quật lên quật xuống, rồi, lúc họ bước vào ria vùng cỏ, nó gầm một tiếng khô khốc và xông ra.
Kongoni, người mang súng già, đi đầu, lần theo vết máu, Wilson quan sát vùng cỏ để dò động tĩnh, khẩu súng lớn của ông đã sẵn sàng, người mang súng thứ hai nhìn về phía trước và lắng nghe, Macomber đi sát Wilson, khẩu súng trường của hắn đã lên đạn; lúc họ vừa mới đặt chân vào vùng cỏ, Macomber nghe tiếng gầm sặc máu rồi thấy cỏ dạt ra trong tiếng rít. Điều tiếp theo mà hắn biết là hắn đang chạy, chạy thục mạng trong cơn hoảng sợ ra vùng đất trống về phía suối.
Hắn nghe khẩu súng lớn của Wilson: ca-ra-wong! Thêm một phát nữa ca-ra-wong! Rồi quay lại nhìn, con sư tử bây giờ trông thật khủng khiếp, nửa cái đầu của nó như bị phạt bay đi, đang bò về phía Wilson bên rìa vùng cỏ cao trong lúc người mặt đỏ nạp đạn vào khẩu súng trường ngắn, xấu xí và cẩn thận ngắm rồi, ca-ra-wong vang lên từ họng súng, thân hình con sư tử màu vàng, nặng nề, đang trườn chững lại, cái đầu đồ sộ bị phạt mất duỗi dài về phía trước, rồi Macomber, đứng chết trân giữa khoảng trống nơi hắn chạy ra, tay cầm khẩu súng đã nạp đạn trong lúc hai người da đen và gã da trắng quay nhìn hắn với vẻ khinh bỉ, biết con sư tử đã chết. Hắn bước về phía Wilson, cả khối cao lớn của hắn như thể hiện thân của sự điếm nhục thảm hại, Wilson nhìn hắn và nói:
- Muốn chụp ảnh không?
- Không. - Hắn đáp.
Cho tới lúc đến ô-tô, họ chỉ nói bấy nhiêu thôi. Lát sau Wilson nói:
- Con sư tử cừ thật. Bọn chúng sẽ lột da nó. Ta cứ ở đây, trong bóng mát.
Vợ Macomber không nhìn hắn và hắn cũng chẳng nhìn nàng, hắn ngồi cạnh nàng ở ghế sau, Wilson ngồi ghế trước. Một lần, không nhìn vợ, hắn đưa tay nắm tay nàng nhưng nàng rút ra. Nhìn qua suối, đến nơi mấy người mang súng đang lột da con sư tử, hắn nhận ra rằng nàng đã thấy mọi chuyện. Trong lúc ngồi đó, vợ hắn đưa tay về phía trước đặt lên vai Wilson. Ông quay lại, nàng cúi người lên chiếc ghế thấp hôn lên miệng ông.
- Ồ, tôi. - Wilson nói, mặt đỏ hơn sắc màu bình thường.
- Ông Robert Wilson - Nàng nói - Ông Robert Wilson mặt đỏ tuyêt vời.
Rồi nàng lại ngồi xuống bên cạnh Macomber, nhìn qua suối nơi con sư tử đang nằm ngửa, những bắp cơ trắng, những cẳng chân trần trụi đầy gân, cái bụng phình lên trắng nhởn lúc mấy người da đen lột đi lớp da. Cuối cùng những người mang súng đưa bộ da ẩm ướt nặng nề đến, họ cuộn lại trước lúc đặt lên xe rồi xe nổ máy. Không ai nói câu nào cho đến lúc họ về tới trại.
Đấy là chuyện con sư tử. Macomber không hiểu con sư tử cảm nhận ra sao lúc nó lao ra, và cũng chẳng hiểu trong suốt cả khoảng thời gian khi tiếng nổ đinh tai của khẩu 505 với tốc độ nòng là hai tấn đã xé toạc mõm nó, lại càng không hiểu cái gì đã chặn nó lại sau đó, khi viên đạn thứ hai rít lên, tiện văng cái hông rồi nó cố bò, lết về vật tóe lửa, phát ra tiếng nổ hủy diệt nó. Wilson hiểu đôi điều về chuyện ấy và chỉ diễn đạt bằng mấy từ, “Con sư tử cừ thật” nhưng Macomber chẳng hiểu cách Wilson cảm nhận những thứ khác. Hắn cũng không hiểu những suy nghĩ của vợ ngoại trừ việc nàng đã phát ngấy hắn.
Trước đó, vợ hắn đã chán ngấy hắn nhưng không lâu. Hắn rất giàu và sẽ giàu hơn thế nữa, hắn biết ngay cả bây giờ nàng cũng không bỏ hẳn. Đấy là một trong số vài điều mà hắn thực sự thấu hiểu. Hắn biết điều đó, biết rõ về mô-tô - cái này là trước hết - về ô-tô, săn vịt trời, câu cá, cá hồi và các loại cá lớn của biển khơi, về tình dục trong sách, nhiều sách, quá nhiều sách, về tất cả các môn thể thao chơi trên sân, về chó, nhưng với ngựa thì không nhiều, về việc theo đuổi đồng tiền, về tất cả mọi thứ lưu tồn trong thế giới của hắn và về vợ hẳn sẽ không bỏ hắn. Vợ hắn có một sắc đẹp mê hồn và nàng còn tuyệt đẹp ở Châu Phi, nhưng ở xứ hắn, nàng đã hết thời đối với mọi người và cả với nàng để có thể bỏ hắn, hắn biết điều đó. Nàng đã đánh mất cơ hội từ bỏ hắn và hắn biết điều đó. Nếu hắn đã khá hơn với phụ nữ thì hẳn nàng sẽ phải bắt đầu lo sợ hắn kiếm cô vợ mới, trẻ đẹp hơn nhưng nàng quá hiểu hắn để khỏi lo lắng về điều đó. Dẫu sao thì hắn là người rất độ lượng, như thể đấy là đức tính tốt đẹp nhất ở hẳn nếu không xem là điều tệ hại nhất.
Nhìn chung họ nổi tiếng như là một đôi vợ chồng tương đối hạnh phúc mà người đời thường xuyên đồn thổi rằng sẽ rạn vỡ nhưng điều đó chẳng bao bao giờ xảy ra vả, như tay bình luận viên xã hội đã viết, họ đang thêm gia vị cho cuộc phiêu lưu đã bị ghen tị quá đỗi và kéo dài cuộc tình lãng mạn của mình bằng một chuyến đi săn vào miền đất được giới thiệu dưới cái tên Châu Phi đen kịt cho đến lúc Martin Johnson thắp sáng nó lên trên vô số cuốn phim về nơi đang đuổi theo con sư tử Simba già, trâu rừng, voi Tembo cũng như thu thập mẫu vật cho Bảo tàng lịch sử tự nhiên. Cũng chính tay bình luận ấy đã đưa tin họ tối thiểu đã ba lần bên bờ vực tan vỡ trong quá khứ mà đúng thế thật. Nhưng họ luôn dàn xếp ổn thỏa. Họ có một cơ sở liên kết vững chắc. Margot quá đẹp để Macomber không ly dị nàng còn Macomber lại quá nhiều tiền để Margot không bỏ hắn.
Lúc ấy khoảng ba giờ sáng, vừa mới chợp mắt được một lát sau khi thôi không nghĩ về con sư tử, Francis Macomber thức giấc rồi lại chìm vào giấc ngủ, rồi đột nhiên thức giấc, hoảng sợ bởi giấc mơ về con sư tử với cái đầu đẫm máu chồm lên người hắn, rồi lắng nghe trong lúc nhịp tim đập dồn dập, hắn nhận ra rằng vợ hắn không còn
ở trong lều, trên chiếc giường ở đằng kia nữa. Hắn nằm thức cùng với phát hiện đó suốt hai tiếng đồng hồ.
Cuối khoảng thời gian ấy, vợ hắn vào lều, khoan khoái dỡ mùng chui vào giường.
- Cô ở đâu về đấy? - Macomber hỏi trong bóng tối.
- Xin chào - Nàng nói - Anh vẫn thức à?
- Cô ở đâu về đấy?
- Em vừa ra ngoài thở một lát.
- Cô đã, đồ quỷ cái.
- Anh muốn em nói gì đây hở anh yêu?
- Cô ở đâu về đấy?
- Ra ngoài thở một tí.
- Đấy là cách gọi mới cho nó hả. Đồ con đĩ.
- Phải đấy, đồ hèn.
- Cũng được - Hắn nói - Thì đã sao?
- Với em thì chẳng sao. Nhưng ta đừng nói nữa, anh yêu, bởi lẽ em rất buồn ngủ.
- Cô nghĩ rằng tôi sẽ chịu đựng hết mọi chuyện.
- Em sẽ biết anh sẽ, cưng.
- Không, tôi sẽ không.
- Nào anh yêu, ta đừng nói nữa. Em buồn ngủ quá.
- Sẽ không có chuyện ấy nữa. Cô đã hứa sẽ không có.
- Vâng, nhưng bây giờ thì có đấy. - Nàng ngọt ngào nói.
- Cô đã bảo nếu bọn ta đi chuyến này thì chuyện đó sẽ không tái diễn. Cô đã hứa.
- Vâng thưa anh. Em đã rất muốn như thế. Nhưng chuyến đi đã hỏng bét từ hôm qua. Ta không cần phải nói chuyên đó nữa chứ?
- Cô chẳng nhẫn nại một khi có cơ hội phải không?
- Nào, anh yêu, ta đừng nói nữa. Em buồn ngủ lắm rồi.
- Tôi cứ nói.
- Vậy thì, xin lỗi, em ngủ đây. - Rồi nàng ngủ.
Vào lúc ăn sáng, trước khi mặt trời mọc, cả ba ngồi vào bàn và Francis Macomber nhận ra rằng trong tất những thằng hắn không thích, Robert Wilson là đứa hắn ghét nhất.
- Ngủ ngon chứ? - Wilson hỏi bằng giọng khàn khàn lúc đang nhồi thuốc vào tẩu.
- Còn ông?
- Ngủ bí tỉ. - Tay thợ săn da trắng đáp.
Đồ đểu, Macomber nghĩ, mày thực đểu cáng.
Thế là ả làm hắn thức giấc khi trở về, Wilson nghĩ, và hướng cái nhìn dưng dửng, lạnh lùng vào hai người, ừ mà tại sao hắn không đặt cô vợ vào đúng cái nơi của ả? Hắn nghĩ mình là hạng gì cơ chứ? Một ông thánh bằng thạch cao phỏng? Hắn phải để ả vào đúng cái nơi của ả. Lỗi tại hắn.
- Ông có chắc chúng ta sẽ tìm thấy trâu rừng không? - Macomber hỏi lúc đẩy đĩa mơ ra xa.
- Có khả năng - Wilson đáp rồi mỉm cười với nàng - Sao bà không ở lại trại?
- Đừng hòng.
- Sao không bảo bà ở lại trại? - Wilson nói với Macomber.
- Ông đi mà bảo cô ta. - Macomber lạnh lùng nói.
- Thôi, đừng có bảo với ban gì ở đây nữa, - Quay sang Macomber; Margot nói rất dịu dàng - đừng ngốc nữa, Francis.
- Các người đã sẵn sàng cả chưa? - Macomber hỏi.
- Bất cứ lúc nào - Wilson bảo hắn - Ông muốn bà đi cùng chăng?
- Với tôi đi hay không thì có khác gì cơ chứ?
Quái quỷ thật, Robert Wilson nghĩ. Cách nói năng hoàn toàn quái quỷ. Vậy thì cơ sự sẽ là thế. Đúng nó sẽ như thế.
- Chẳng gì khác đâu. - Ông nói.
- Ông có chắc là mình không thích ở lại trại với cô ấy và để tôi đi săn trâu rừng một mình không? - Macomber hỏi.
- Đừng nói thế - Wilson nói - Nếu tôi là ông thì tôi sẽ không ăn nói vớ vẩn như vậy đâu.
-Tôi không nói năng vớ vẩn. Tôi kinh tởm.
- Kinh tởm, từ xấu đấy.
- Francis, anh có vui lòng ăn nói đàng hoàng được không? - Vợ hắn nói.
- Tôi đang nói năng cực kỳ nghiêm túc - Macomber nói - Các người đã từng chén loại thức ăn nào dơ dáy như thế này chưa?
- Thức ăn có chuyện gì vậy? - Wilson điềm nhiên hỏi.
- Không tệ hơn những chuyện khác đâu.
- Tôi sẽ cố kiềm chế, anh bạn, nếu tôi là anh - Wilson nói rất bình thản - Thằng nhỏ hầu bàn bên kia có thể biết một tí tiếng Anh đó.
- Kệ mẹ nó.
Wilson đứng dậy, bập vài hơi thuốc, bước ra nói với một trong mấy người mang súng đang đợi vài câu bằng tiếng Swahili. Macomber và vợ vẫn ngồi ở bàn. Hắn bắt đầu uống tách cà phê.
- Nếu anh làm ầm ĩ tôi sẽ bỏ anh đấy, anh yêu. - Margot lặng lẽ nói.
- Không, cô sẽ không.
- Anh cứ thử đi rồi biết.
- Cô sẽ không bỏ tôi.
- Được - Nàng nói - Tôi sẽ không bỏ nếu anh cư xử đúng mực.
- Cư xử đúng mực ư? Nói nghe lạ nhỉ. Cư xử đúng mực.
- Vâng, cư xử đúng mực.
- Sao cô không tự mình cư xử đúng mực đi?
- Em đã cố xử sự như thế từ lâu rồi. Đã lâu lắm rồi.
- Tôi ghét cái con lợn mặt đó ấy - Macomber nói - Tôi kinh tởm cái bản mặt hắn.
- Ông ta thực sự dễ thương.
- Này, câm ngay cái miệng đi. - Macomber gần như thét lên. Ngay lúc đó, chiếc xe chạy đến dừng trước lều ăn, gã tài xế và hai người mang súng bước ra. Wilson đến gặp hai vợ chồng ngồi bên bàn.
- Đi săn chứ? - Ông hỏi.
- Đi - Macomber đứng lên nói - Đi.
- Tốt hơn nên mang theo áo len. Ngồi trong xe sẽ lạnh đấy. - Wilson nói.
- Tôi sẽ đi lấy cái áo jacket da. - Margot nói.
- Để thằng giúp việc lấy. - Wilson bảo nàng. Ông leo lên phía trước với gã tài xế, Francis Macomber và vợ lặng im ngồi phía sau.
Hy vọng cái thằng thộn ngớ ngẩn này không nảy ra ý định bắn vỡ đầu mình, Wilson thầm nghĩ. Mang theo đàn bà đi săn thật là phiền toái.
Trong ánh sáng đùng đục, chiếc xe lạng xuống đoạn suối cạn đầy cuội để băng qua dòng suối rồi bò thẳng lên bờ dốc nơi Wilson đã ra lệnh mở một con đường từ hôm trước để họ có thể chạy đến vùng rừng thưa tựa công viên trải dài tít đằng kia dọc bờ suối.
Một buổi sáng trong lành, Wilson nghĩ. Sương buông dày và, khi bánh xe lăn qua trảng cỏ và những bụi cây thấp, ông có thể ngửi thấy mùi dương xỉ bị giày nát. Có mùi như mùi cỏ roi ngựa, ông thích mùi sương lúc mờ sáng, ông thích mùi cây cỏ bị nghiền nát, thích hình bóng của thân cây màu đen hiện ra sau màn sương sớm khi chiếc xe mở đường xuyên qua vùng đất, tựa công viên chưa có lối đi. Ông chẳng nghĩ về hai người ngồi ở ghế sau nữa, bây giờ trong đầu ông là lũ trâu rừng. Những con trâu rừng ông săn thường lủi trong đầm lầy rậm rạp, vào ban ngày không thể bắn chúng nhưng đêm tối, chúng ra ăn ngoài vùng đất trống và nếu ông đưa được xe cắt ngang giữa chúng và đầm lầy thì Macomber sẽ có cơ hội hạ chúng. Ông không muốn đi săn trâu với Macomber trong đầm lầy rậm rạp. Thực ra ông chẳng muốn đi săn trâu hay bất kỳ một loại thú nào với Macomber, nhưng ông là một thợ săn chuyên nghiệp vả lại trong đời ông đã từng đi săn với đủ hạng người. Nếu hôm nay họ gặp trâu rừng thì chỉ còn đi tìm tê giác nữa mà thôi và cái anh chàng đáng thương kia sẽ kết thúc trò chơi nguy hiểm của mình rồi mọi thứ đâu sẽ vào đấy. Ông chẳng còn gì để làm với người đàn bà đó nữa. Macomber cũng sẽ quên vụ này. Với cái kiểu này hẳn hắn đã phải ngậm ngùi quên đi bao nhiêu vụ trước đó. Anh chàng đáng thương. Hẳn có cách để quên đi chuyện ấy. Ừ, mà đó chính là lỗi của hắn ra.
Ông, Robert Wilson, luôn mang theo chiếc giường đôi trong các chuyến đi săn để thỏa mãn những vận may bất ngờ mà ông có thể nhận. Ông đã từng săn với nhiều khách hàng, những người ngoại quốc, những kẻ phóng đãng, những người người mê thể thao, với những người đàn bà không cảm thấy đồng tiền của mình xứng đáng giá trị nếu chưa được ngủ trên chiếc giường ấy với tay thợ săn da trắng. Khi xa họ, ông rất xem thường, mặc dù lúc ấy ông rất thích một vài trong số đó, nhưng ông sống dựa vào họ, và một khi họ còn thuê ông thì tiêu chuẩn của họ cũng là tiêu chuẩn của ông.
Tất cả chuẩn mục của họ là của ông ngoại trừ việc săn bắn. Ông có chuẩn mực riêng của mình về chuyện bắn giết và họ hoặc sẽ phải tuân theo những chuẩn mực ấy hoặc sẽ phải thuê người khác. Ông cũng biết rằng bọn họ đều ngưỡng mộ ông về chuyện ấy. Nhưng tay Macomber này là một kẻ kỳ cục. Mẹ kiếp, giá mà gã đừng. Giờ lại cô vợ. Ừ, con vợ. Chà, vợ. Hừ, ả vợ. Thôi được, mình phớt tất. Ông quay lại nhìn họ. Macomber ngồi giận dữ và cau có. Margot mỉm cười với ông. Hôm nay trông nàng trẻ hơn, thơ ngây hơn, tươi tắn hơn và không đẹp một cách đần đần. Chỉ có Chúa mới biết tim ả chất chứa những gì, Wilson nghĩ. Tối qua nàng không nói nhiều. Điều đó mang lại cảm giác dễ chịu khi gặp lại.
Chiếc xe leo lên con dốc thoai thoải, chạy xuyên qua rừng cây đến trảng cỏ, men theo bóng của hàng cây nơi bìa rừng, tài xế đi chậm, Wilson chăm chú nhìn đồng cỏ trải dài tít tận đằng kia. Ông bảo dừng xe lại, dùng ống nhòm dã chiến quan sát vùng đất trống. Đoạn ông ra hiệu cho tài xế đi tiếp, chiếc xe từ từ di chuyển, gã tài xế tránh những hố do lợn rừng ủi và vòng qua các ổ kiến. Rồi lúc đang quan sát đồng cỏ, Wilson đột nhiên quay lại nói.
- Trời, chúng kia rồi!
Nhìn theo hướng chỉ, trong lúc chiếc xe nhảy chồm về phía trước và Wilson nói nhanh với gã tài xế bằng tiếng Swahili, Macomber thấy ba con vật đen trũi, khổng lồ: thân hình đồ sộ, dài ngoằng của chúng trông như thể cả khối hình trụ hay loại xe bồn lớn màu đen; đang phi nước đại qua rìa đằng kia của đồng cỏ. Cổ và thân chúng căng cứng khi chạy và hắn có thể nhìn thấy những chiếc sừng màu đen rộng vươn cao trên đầu khi chúng phóng đi trong tư thế đầu ngẩng cao, không cử động.
- Chúng là ba con đực già - Wilson nói. - Ta sẽ chặn lại trước lúc chúng kịp đến đầm lầy.
Chiếc xe đang lao với tốc độ bốn mươi lăm dặm một giờ, khi Macomber nhìn, con trâu lớn dần cho đến lúc hắn có thể thấy con vật khổng lồ mốc thếch trụi lông vấy đầy bùn với cái cổ như gắn chặt vào vai và màu đen bóng của cặp sừng khi nó đang phi, hơi lùi lại so với mấy con kia, bằng những bước sải dài đều đặn, rồi chiếc xe tròng trành như thể vừa phóng lên mặt đường, họ tiến gần hơn và hắn có thể thấy tầm vóc đồ sộ của con trâu đang sải bước, bùn đóng trên lớp da thưa lông, cặp sừng trải rộng, cái miệng với lỗ mũi rộng hoác chĩa thẳng về phía trước, hắn từ từ giương súng lên và nghe tiếng quát của Wilson - Không được bắn trên xe, đừng có điên! Hắn không cảm thấy sợ mà chỉ thấy ghét Wilson, trong lúc phanh gấp, chiếc xe trượt mạnh cày thành những rãnh sâu khi chững lại, Wilson nhảy ra phía bên này, hắn lao xuống phía bên kia, trượt chân theo trớn khi chạm phải mặt đất đang chạy lùi lại rồi bắn vào con trâu đang phóng chạy, nghe những viên đạn cắm phập vào mình con vật, nã hết đạn vào con trâu đang phi đều đặn, cuối cùng sực nhớ phải bắn vào tai và lúc lóng ngóng lắp đạn, hắn thấy con vật quỵ xuống. Quỳ gối, cái đầu lớn lắc lắc rồi hắn nhìn hai con đang phi, ngắm con chạy trước và bắn trúng. Hắn bắn thêm phát nữa nhưng trượt rồi hắn nghe tiếng gầm ca-ra-wong từ khẩu súng của Wilson và thấy con trâu phía trước ngã chúi mũi xuống.
- Hạ nốt con kia đi - Wilson nói - Bắn thế mới là bắn!
Nhưng con trâu ấy vẫn đang đều đặn sải bước, hắn bắn trượt, bụi tung lên rồi Wilson bắn trượt, bụi tung thành đám mù và Wilson hét.
- Đi thôi. Nó xa quá rồi!
Và chộp cánh tay hắn rồi cả hai lại nhảy lên xe. Macomber và Wilson bám vào thành xe, chiếc xe tròng trành lao đi trên mặt đất mấp mô, đuổi theo con trâu to khỏe, cái đầu ngật ngưỡng đang lao thẳng về phía trước.
Họ đuổi kịp nó, Macomber đang lắp đạn, đánh rơi vài viên xuống đất, bị kẹt đạn, rồi gỡ được, lúc họ gần như đuổi sát con trâu. Wilson hét lớn - Đứng lại, - chiếc xe trượt mạnh đến nỗi sắp lật nhào, Macomber chúi người về phía trước song vẫn đứng được, gạt chốt an toàn, ngắm bắn vào cái lưng đen tròn đang phi trước mặt, ngắm bắn lần nữa, rồi lại bắn, bắn và những viên đạn hắn thấy đều cắm vào mình trâu nhưng chẳng làm nó hề hấn gì. Rồi Wilson bắn, một tiếng nổ đinh tai, hắn thấy con trâu loạng choạng. Macomber bắn tiếp, lần này ngắm cẩn thận, hạ con vật khuỵu gối xuống.
- Xong rồi. - Wilson nói - Công việc hoàn hảo. Cả ba con.
Macomber cảm thấy cực kỳ phấn chấn.
- Ông bắn mấy phát? - Hắn hỏi.
- Chỉ ba phát, - Wilson đáp - ông giết con đầu tiên. Con lớn nhất. Tôi giúp ông kết liễu hai con kia. Sợ chúng trốn vào bụi rậm. Ông đã hạ chúng. Tôi chỉ giúp một tay. Ông bắn cừ đấy.
- Ta lại xe đi. - Macomber nói - Tôi muốn uống.
- Đến giết con kia đã. - Wilson bảo hắn. Con trâu quỳ gối, văng đầu giận dữ, trợn mắt, cuồng nộ rống vang khi họ đến gần.
- Nhìn kìa, nó không đứng dậy đâu - Wilson nói - Đi vòng qua một tí và bắn vào cổ, ngay phía sau tai.
Macomber cẩn thận ngắm vào chính giữa cái cổ đồ sộ đang hất lên hất xuống trong cơn điên khùng và bắn. Phát đạn nổ, cái đầu duỗi dài về phía trước.
- Thế là xong - Wilson nói - Trúng vào xương. Chúng đáng gờm đấy, phải không?
- Bọn ta uống đi. - Macomber nói. Trong đời, hắn chưa bao giờ cảm thấy vui như thế.
Vợ Macomber ngồi trong xe, khuôn mặt trắng bệch.
- Anh thật tuyệt vời đấy, anh yêu - Nàng nói với Macomber - Một cuộc săn đuổi ra trò.
- Có dữ dội không? - Wilson hỏi.
- Thật kinh hoàng. Trong đời, tôi chưa bao giờ kinh hoàng hơn thế.
- Bọn ta hãy uống một chầu đi. - Macomber nói.
- Dĩ nhiên rồi - Wilson nói - Mời bà uống trước. - Nàng hớp một ngụm whisky nguyên chất từ cái chai dẹt trong bao da và hơi rùng mình khi nuốt. Nàng trao cái chai cho Macomber, hắn đưa cho Wilson.
- Cực kỳ hồi hộp - Nàng nói - Nó làm tôi đau đầu lắm. Dầu sao thì tôi không biết các anh được phép bắn từ trên xe.
- Chẳng ai bắn từ trên xe cả. - Wilson lạnh lùng nói.
- Ý tôi là dùng xe đuổi theo chúng.
- Thật khác thường - Wilson nói - Đối với tôi nó như thể là môn thể thao thực sự khi chúng ta rượt theo bầy trâu. Dẫu sao thì việc truy đuổi theo cách ấy cho chúng ta nhiều cơ hội vượt qua con đường đầy ắp ổ gà hơn là săn đuổi bằng chân. Nếu muốn, lũ trâu có thể tấn công bọn ta bất cứ lúc nào ta bắn. Chúng có đủ cơ hội. Nhưng chớ có kể chuyện này cho bất kỳ ai. Nó phạm pháp nếu đấy là điều bà muốn nói.
- Với tôi chuyện đó dường như thật bất công. - Margot nói - Ngồi trong ô-tô đuổi theo những con thú lớn không có khả năng chống trả.
- Thế là sao? - Wilson nói.
- Điều gì sẽ xảy ra nếu người ta nghe được chuyện này ở Nairobi?
- Tôi mất giấy phép là cái chắc. Với thêm nhiều điều phiền toái khác - Wilson nói rồi uống một ngụm từ cái bình dẹt - Tôi sẽ bị mất việc.
- Thật chứ?
- Vâng, thật đấy.
- Này - Macomber nói, lần đầu tiên trong ngày hắn mỉm cười - Bây giờ cô ta đang kiếm chuyện với ông đấy.
- Anh có cách diễn đạt mọi thứ hay gớm nhỉ, Francis. - Margot Macomber nói. Wilson nhìn họ. Nếu một thằng cha đốn mạt lấy một con mụ khốn nạn, ông đang nghĩ, thì lũ con của chúng sẽ đểu cáng đến chừng nào? Rồi ông nói - Chúng ta bỏ quên một đứa mang súng. Ông có để ý thấy không?
- Trời đất, không. - Macomber nói.
- Hắn đến đây rồi - Wilson nói - Hắn chẳng sao. Hẳn hắn ngã nhào khi chúng ta rời con trâu đầu tiên.
Người mang súng đứng tuổi đội mũ len, mặc quần soóc, áo chẽn kaki, mang dép cao su với vẻ mặt lầm lầm, khinh bỉ, tập tễnh bước về phía họ. Lúc đến nơi, gã nói với Wilson bằng tiếng Swahili, cả bọn thấy sự thay đổi trên nét mặt của tay thợ săn da trắng.
- Ông ta nói gì vậy? - Margot hỏi.
- Hắn bảo con trâu đầu tiên đứng dậy đi vào bụi rậm. - Wilson nói, không lộ chút sắc thái nào trong giọng điệu.
- Ồ. - Macomber lơ đãng nói.
- Rồi sẽ giống như chuyện con sư tử cho mà xem. - Margot nói đầy vẻ quả quyết.
- Sẽ chẳng giống tí nào với chuyện con sư tử đâu - Wilson bảo nàng - Ông muốn uống nữa chứ, Macomber?
- Vâng, cảm ơn. - Macomber đáp. Hắn đợi cảm giác như đã từng xảy ra với con sư tử trở lại nhưng nó không đến. Lần đầu tiên trong đời, hắn thực sự cảm thấy mình chẳng sợ hãi tí nào. Thay vì nỗi sợ, cảm giác hưng phấn kỳ lạ đang bao trùm hắn.
- Chúng ta sẽ đi xem con trâu thứ hai - Wilson nói - Tôi sẽ bảo tài xế đưa xe vào bóng mát.
- Các anh định làm gì đấy? - Margaret Macomber hỏi.
- Đi xem con trâu. - Wilson nói.
- Tôi sẽ đi cùng.
- Thì đi.
Cả ba bước về phía con trâu thứ hai đang nằm thành đống đen ngòm lù lù trên cỏ, cái đầu chúi về phía trước, cặp sừng đồ sộ vươn rộng.
- Cái đầu đẹp thật - Wilson nói - Sừng vươn dài hơn cả mét.
Macomber nhìn con vật với vẻ hài lòng.
- Trông nó thật đáng ghét - Margot nói - Chúng ta không thể vào trong bóng mát được sao?
- Dĩ nhiên - Wilson nói - Nhìn kìa - Ông nói với Macomber và chỉ tay.
- Có thấy mảng cây bụi kia không?
- Thấy.
- Đấy là nơi con trâu đầu tiên lủi vào. Gã mang súng bảo lúc hắn ngã xuống, con trâu vẫn còn nằm. Hắn quan sát chúng ta phóng theo hai con trâu đang phi nước đại. Nhưng khi hắn nhìn lên, con vật đã đứng dậy nhìn hắn. Gã mang súng bỏ chạy thục mạng, con trâu từ từ đi vào bụi cây ấy.
- Chúng ta có thể đi tìm nó ngay bây giờ được không? - Macomber háo hức hỏi.
Wilson nhìn hắn với vẻ đánh giá. Mẹ kiếp, như thể đây là một người khác lạ, ông nghĩ. Hôm qua hắn sợ đến phát ốm, còn hôm nay hắn lại là một gã can đảm đến quái quỷ.
- Không, chúng ta sẽ mặc nó thêm một lát nữa.
- Làm ơn đi vào bóng râm đi. - Margot giục. Mặt nàng nhợt nhạt trông như thể bị ốm.
Họ rẽ lối đi đến chiếc xe đỗ dưới một thân cây đơn độc, tán xòe rộng và leo lên.
- Có nhiều khả năng là nó chết trong đó - Wilson lên tiếng - Lát nữa bọn ta sẽ vào xem.
Macomber cảm nhận được niềm hạnh phúc hoang sơ không thể nào cắt nghĩa nổi mà trước đây hắn chưa hề biết.
- Lạy Chúa, đúng là một cuộc săn đuổi ra trò - Hắn nói - Tôi chưa bao giờ cảm nhận được cảm giác như thế. Thật diệu kỳ phải không Margot?
- Tôi căm ghét nó.
- Sao vậy?
- Tôi căm thù nó - Nàng cay đắng nói - Tôi ghét nó.
- Ông thấy đấy, tôi không nghĩ mình còn sợ bất kỳ thứ gì nữa - Macomber nói với Wilson - Điều đó đã xảy ra trong tôi ngay sau khi chúng ta mới nhìn thấy con trâu và rượt theo nó. Giống như con đập đang vỡ tung. Một niềm phấn khích vô tận.
- Tẩy sạch gan ông - Wilson nói - Những điều rất đỗi buồn cười vẫn thường xảy ra với nhiều người.
Gương mặt Macomber rạng rỡ lên.
- Ông hiểu điều gì đó đã xảy ra với tôi - Hắn nói - Tôi cảm thấy mình hoàn toàn đổi khác.
Vợ hắn chẳng nói gì mà chỉ nhìn hắn thật lạ. Nàng ngồi lủi sâu vào ghê. Macomber dịch về phía trước nói chuyện với Wilson đang xoay người lại.
- Ông biết không, tôi muốn đi săn lại sư tử - Macomber nói - Bây giờ, tôi hoàn toàn chẳng sợ chúng nữa. Rốt cuộc thì chúng có thể làm gì được cơ chứ?
- Đúng đấy - Wilson nói - Điều tệ nhất nó có thể làm là giết ông. Nói thế nào nhỉ? Shakespeare. Hay lắm. Xem thử tôi có thể nhớ được không. Ồ đoạn hay lắm. Trong những hoàn cảnh nào đó, tôi thường thầm nhắc. Ta nghe nhé. - “Bằng cả danh dự của mình, tôi chẳng quan tâm; con người ta chỉ có thể chết một lần, ta nợ Thượng đế cái chết thì hãy để cho nó diễn ra theo cách của nó, người chết năm nay thì năm sau sẽ không còn chết nữa”. Tuyệt quá phải không?
Ông rất ngượng khi nói ra triết lý sống ấy của mình nhưng trước đấy ông đã từng chứng kiến cảnh nhiều người bỗng chốc trở nên khôn lớn, điều đó luôn làm ông xúc động, vấn đề không phải là lần sinh nhật thứ hai mốt của họ.
Khả năng kỳ lạ của săn bắn, đột nhiên cuốn ta vào hành động mà không kịp suy nghĩ, đã mang lại cảm giác ấy cho Macomber và, dẫu cho nó có xảy ra theo cách nào đi chăng nữa thì nó cũng đã xảy ra. Hãy nhìn anh chàng thộn kia ngay bây giờ đi, Wilson nghĩ. Rằng vài người trong số họ vẫn mãi là trẻ con, Wilson nghĩ. Đôi khi suốt cả cuộc đời. Hình dáng họ cứ trẻ trung cho đến khi họ năm mươi. Những gã đàn ông, - trẻ con Mỹ vĩ đại. Bọn người kỳ lạ thật. Nhưng bây giờ ông đã mến Macomber. Gã kỳ cục thật. Chắc rồi cũng sẽ chấm dứt cái trò bị cắm sừng. Ừ, như thế hẳn sẽ tốt đẹp đấy. Việc ấy cực kỳ tốt. Suốt cả đời mình, anh chàng đáng thương chắc luôn chìm trong cảm giác sợ hãi. Chả biết điều gì gây nên chuyện đó. Nhưng bây giờ đã chấm hết. Không còn thời gian để sợ con trâu nữa. Không sợ rồi bắt đầu can đảm. Cả ô-tô cũng thế. Lòng can đảm dễ đến hơn khi có ô-tô. Bây giờ đã là một gã kiêu hùng. Như cái cách ông đã từng chứng kiến trong thời gian chiến tranh. Hệ trọng hơn cả là chuyện mất trinh nữa. Nỗi sợ hãi ra đi tựa như một vết mổ. Cảm giác khác sẽ thế chân ngay vào đó. Phẩm chất cơ bản của một người đàn ông. Khiến hắn trở thành đàn ông. Đàn bà cũng hiểu điều đó. Chẳng còn sợ cái cóc khô gì nữa.
Từ góc sâu của chỗ ngồi, Margaret Macomber nhìn hai người, Wilson thì chẳng có gì thay đổi. Nàng thấy Wilson vẫn là người nàng gặp hôm trước, lúc nàng nhận ra tài năng trác tuyệt của ông. Nhưng bây giờ nàng thấy sự thay đổi ở Macomber.
- Ông có cảm thấy hạnh phúc về những gì sắp xảy ra hay không? - Macomber hỏi, vẫn đang thăm dò khối tài sản mới của mình.
- Lẽ ra ông đừng bận tâm về chuyện đó. - Wilson nói trong lúc nhìn vào mặt người kia - Hắn phù hợp hơn nhiều khi nói anh hoảng sợ. Hãy ghi nhớ, ai rồi cũng có lúc sợ, nhiều lần trong đời.
- Nhưng ông có cảm giác hạnh phúc về hành động sắp đến không?
- Có - Wilson đáp - Có đấy. Nhưng đừng nói nhiều quá về tất cả chuyện này. Đừng nói nữa. Chẳng hay ho gì khi ông cứ nói mãi về nó.
- Cả hai người nói năng lẩn thẩn vừa vừa chứ - Margot nói - Giỏi giang gì khi các anh dùng xe đuổi theo mấy loài thú không có khả năng tự vệ mà nói năng như các bậc anh hùng.
- Xin lỗi - Wilson nói - Tôi hơi bốc. Ả thực lo lẳng về chuyện đó, Wilson nghĩ.
- Nếu cô không hiểu bọn tôi đang nói chuyện gì thì tại sao không bịt tai lại? - Macomber bảo vợ hắn.
- Bỗng chốc anh trở nên can đảm gớm nhỉ. - Vợ hắn nói với vẻ khinh khỉnh nhưng thái độ coi thường ấy không được tự tin cho lắm. Cô nàng rất sợ điều gì đó.
Macomber cười, tiếng cười thỏa mãn, khỏe khoắn.
- Cô có biết tôi có - Hắn nói - Tôi thực sự có.
- Chưa muộn chăng? - Margot cay đắng nói. Bởi trong nhiều năm trước nàng đã cố làm hết sức và cái cách họ đang sống bây giờ thì không phải lỗi của riêng ai.
- Với tôi thì chưa muộn. - Macomber nói.
Margot không nói gì mà chỉ ngồi lùi sâu vào góc ghế.
- Ông có nghĩ là chúng ta chờ nó đủ rồi chứ? - Macomber vui vẻ hỏi Wilson.
- Ta đi xem thôi - Wilson nói - Ông còn đạn đó không?
- Người mang súng còn một ít.
Wilson gọi bằng tiếng Swahili, người mang súng lớn tuổi hơn - đang lột da đầu của một trong mấy con trâu - đứng dậy, rút hộp đạn khỏi túi đưa cho Macomber, hắn lắp đầy ổ đạn rồi đút mấy viên còn lại vào túi.
- Có lẽ ông nên bắn khẩu Springfield - Wilson nói - Ông quen nó. Chúng ta để khẩu Mannlicher lại xe với bà. Người mang súng sẽ vác khẩu súng nặng của ông. Tôi dùng khẩu canon xấu xí này. Bây giờ để tôi nhắc ông đôi điều về chúng. - Ông giữ điều này cho đến giờ phút cuối bởi lẽ không muốn làm Macomber sợ - Khi con trâu xông ra, đầu nó sẽ nghểnh cao và lao thẳng tới. Gốc sừng che kín hết các điểm bắn vào não. Đích duy nhất lúc này là bắn thẳng vào mũi. Điểm ngắm khác có thể sát thương là vào ngực hoặc nếu ông đứng một bên thì hãy bắn vào cổ hoặc vào vai. Một khi bị thương chúng rất điên cuồng. Chớ có làm điều gì phi lý. Hãy chọn điểm bắn dễ dàng nhất. Bọn chúng lột xong cái đầu rồi. Ta đi chứ?
Ông gọi mấy người mang súng, họ vừa đi vừa chùi tay, người lớn tuổi hơn leo lên ngồi phía sau.
- Tôi chỉ cần Kongoni - Wilson nói - Tay kia ở lại canh chừng bầy chim.
Khi chiếc xe từ từ băng qua vùng đất trống tiến về phía hòn đảo rậm rạp cây bụi trải dài như chiếc lưỡi lá lượn theo lòng suối cạn cắt qua vùng đất thấp của miền đầm lầy, Macomber thấy tim mình đập mạnh, miệng lại khô khốc nhưng đấy là do trạng thái hưng phấn chứ không phải vì sợ hãi.
- Đây là nơi nó lủi vào - Wilson nói. Rồi bảo người mang súng bằng tiếng Swahili - Tìm vết máu đi.
Chiếc xe đỗ song song với vệt cây bụi. Macomber, Wilson và người mang súng bước xuống. Quay nhìn lại, Macomber thấy cô vợ đang nhìn hắn, khẩu súng đặt bên cạnh. Hắn vẫy tay với nàng nhưng nàng không đáp lại.
Trước mặt, bụi cây chằng chịt, nền đất khô ráo. Người mang súng đứng tuổi đang toát mồ hồi đầm đìa, Wilson kéo sụp mũ xuống tận mắt, cái cổ đỏ của ông thấp thoáng ngay trước mặt Macomber. Bất thình lình, người mang súng nói gì đó với Wilson bằng tiếng Swahili rồi vượt lên.
- Nó đã chết trong đó - Wilson nói - Săn khá đấy. - Rồi quay sang nắm lấy tay của Macomber nhưng khi họ đang bắt tay và hớn hở cười với nhau, người mang súng cất tiếng thét man dại rồi họ thấy gã chạy tạt ngang ra khỏi bụi cây, nhanh như một con cua và theo sau là con trâu mũi hếch lên, miệng ngậm chặt máu đang rỏ giọt, cái đầu đồ sộ chĩa thẳng về phía trước, lao ra tấn công, đôi mắt lợn ti hí đỏ ngầu máu của nó dán vào họ. Wilson đi đầu quỳ xuống bắn và khi Macomber bóp cò, hắn không nghe được tiếng súng của mình do bị lấp trong tiếng gầm từ khẩu súng của Wilson mà chỉ thấy những mảnh vụn như ngói đá đen bắn tung ra từ gốc sừng đồ sộ, cái đầu nảy lên, hắn lại nhắm nã vào cái mũi rộng và thấy cặp sừng nảy nên, mảnh sừng bay tung tóe; giờ thì hắn không còn thấy Wilson nữa, ông đang cẩn thận ngắm bắn vào thân hình khổng lồ của con trâu gần như chồm lên người hắn, khẩu súng của hắn giương cao ngang với cái đầu đang lao đến, cái mũi hếch rộng; hắn thấy đôi mắt ti hí hung tợn và cái đầu sắp sửa bổ xuống rồi hắn cảm thấy một cú đập mạnh, đầy máu, nóng hổi, ngột ngạt bất thình lình nổ tung trong đầu; đấy là tất cả những gì hắn có thể cảm nhận được.
Wilson vừa mới lạng nhanh người sang bên để bắn vào vai. Macomber vẫn đứng nguyên bắn thẳng vào mũi, đạn đi hơi cao trúng cặp sừng rắn đặc, nghiền nát và bắn tung tóe như khi ta nã đạn vào một mái ngói đá đen, còn bà Macomber thì từ trên xe dùng khẩu Mannlicher 6,5 bắn vào con trâu khi nó sắp sửa húc Macomber, viên đạn xuyên qua đầu chồng cách gáy độ 5 cm và hơi lệch sang một bên sọ.
Giờ thì Macomber nằm úp mặt, cách nơi con trâu đang nằm nghiêng chưa đến hai mét, cô vợ quỳ chồm lên người hắn, Wilson đứng cạnh nàng.
- Tôi sẽ không lật ông ấy lại đâu. - Wilson nói.
Người đàn bà đang vật vã khóc.
- Tôi lại đằng xe đây - Wilson nói - Khẩu súng ở đâu?
Nàng lắc đầu, khuôn mặt nàng nhúm nhó. Người mang súng nhặt khẩu súng lên.
- Để yên nó như thế - Wilson nói - Đi gọi Abdulla để hắn có thể làm chứng cho hiện trường.
Ông quỳ xuống, rút khăn tay khỏi túi, trải lên cái đầu tóc cắt ngắn của Macomber. Máu thấm vào nền đất xốp, khô ráo.
Wilson đứng dậy, thấy con trâu nằm nghiêng, chân nó chìa ra, mấy con bét đang bò trên cái bụng thưa lông của nó. - Con trâu tuyệt thật - Đầu ông đang máy móc nhẩm tính. - Chừng một mét hai, giỏi đấy hoặc khá hơn. Khá hơn. - Ông gọi gã lái xe và bảo hẳn đắp mền lên cái xác rồi đứng cạnh đó. Sau đấy ông bước lại xe nơi người đàn bà đang ngồi khóc trong góc.
- Làm thế được đấy - Ông lạnh lùng nói - Ông ta chắc cũng sẽ bỏ bà.
- Đừng nói. - Nàng nói.
- Dĩ nhiên đấy là tai nạn rủi ro - Ông nói - Tôi biết thế.
- Đừng nói. - Nàng nói.
- Đừng lo - Ông nói - Sẽ có nhiều chuyện thật rắc rối đó nhưng tôi sẽ chụp vài bức ảnh, nó sẽ rất có ích cho cuộc điều tra. Ngoài ra còn có tôi làm chứng của mấy người mang súng và của cả lái xe. Bà hoàn toàn yên tâm.
- Đừng nói. - Nàng nói.
- Còn cả khối chuyện phải làm - Ông nói - Tôi sẽ bảo lái xe đến hồ, đánh điện gọi máy bay đến đưa ba chúng ta về Nairobi. Tại sao bà không đầu độc ông ấy? Đấy là cách người ta làm ở Anh.
- Đừng nói. Đừng nói. Đừng nói nữa. - Người đàn bà gào lên.
Wilson nhìn nàng bằng đôi mắt xanh dửng dưng của mình.
- Tôi dừng ngay đây - Ông nói - Tôi hơi cáu. Tôi đã bắt đầu thấy mến chồng bà.
- Ôi, xin đừng nói nữa - Nàng nói - Làm ơn, làm ơn đừng nói.
- Thế thì tốt hơn đấy - Wilson nói - Cầu xin thì tốt hơn nhiều. Giờ thì tôi sẽ im lặng.

Lê Huy Bắc dịch
------------------------------
[1] Nguyên văn gimlet: một loại thức uống phổ biến ở những vùng thuộc địa Anh thuộc châu Mỹ, thành phần: hai phần ba rượu gin và một phần ba chanh, ướp lạnh.
[2] 1 grain = 0,065 gam.
0
Ông lão bên chiếc cầu

Ông lão mặc bộ đồ rất bẩn, đeo đôi kính gọng thép đang ngồi bên lề đường. Có một chiếc cầu phà bắc qua sông. Xe chở hàng, xe tải, đàn ông, đàn bà và trẻ con đang vượt qua. Mấy chiếc xe hàng, do lừa kéo, chậm rãi bò lên bờ dốc khi qua khỏi cầu. Binh lính giúp đẩy hộ. Mấy chiếc xe tải chuyển bánh chạy trước. Những người nông dân lê chân trong bụi đất ngập đến mắt cá. Nhưng ông lão vẫn ngồi đấy, không nhúc nhích. Lão quá mệt để đi tiếp. Nhiệm vụ của tôi là băng qua cầu, thăm dò đầu cầu bên kia và tìm xem bước tiến của quân địch. Tôi thu xếp xong mọi thứ rồi quay lại. Bấy giờ chỉ còn vài chiếc xe ngựa và ít người rớt lại, nhưng ông lão vẫn ngồi đó.
“Bác từ đâu đến?” Tôi hỏi.
“Từ San Carlos”, lão đáp và mỉm cười.
Đấy là quê hương của lão. Lão hãnh diện và mỉm cười khi có người nhắc đến.
“Tôi nuôi gia súc”, lão giải thích.
“Tuyệt”, tôi tiếp lời song thật chưa hiểu hết.
“Ừ”, lão nói, “tôi ở lại, anh biết đấy, để chăm nom gia súc. Tôi là người cuối cùng rời khỏi thị trấn San Carlos”.
Trông lão chẳng giống người chăn cừu hay nuôi gia súc tí nào. Tôi nhìn bộ đồ bẩn màu đen, khuôn mặt xám bẩn, đôi kính gọng thép của lão và hỏi: “Chúng thuộc loại nào?”
“Nhiều loài”, lão trả lời và lắc đầu. “Tôi phải để chúng lại”.
Tôi đang quan sát chiếc cầu và miền đồng bằng trông hệt như ở Châu Phi của vùng châu thổ Ebro và tự nhủ chẳng biết bao lâu nữa, chúng tôi mới có thể thấy quân thù. Tôi lắng nghe để xem có tiếng động nào là dấu hiệu chứng tỏ chúng đang đến. Ông lão vẫn ngồi đấy.
“Chúng là loại gì?” tôi hỏi.
“Có ba loại cả thảy”, lão giải thích, “hai con dê, một con mèo, và bốn cặp chim bồ câu”.
“Và bác đã thả chúng?”, tôi hỏi.
“Ừ. Bởi vì pháo. Đại úy bảo tôi phải đi bởi vì pháo”.
“Bác sống một mình à?” tôi tiếp tục hỏi trong lúc đang nhìn về phía bên kia cầu nơi những chiếc xe ngựa cuối cùng đang vội vã lăn bánh xuống bờ dốc.
“Ừ”. Lão đáp, “Chỉ sống với mấy con vật mà tôi mới kể. Con mèo, dĩ nhiên, sẽ tự xoay xở được. Giống mèo có thể tự kiếm ăn lấy. Nhưng tôi không biết điều gì sẽ xảy ra với các con khác”.
“Bác theo phái nào?” tôi hỏi.
“Tôi không quan tâm đến chính trị”, lão đáp “Tôi đã 76 tuổi. Tôi đã đi được 12 ki-lô-mét. Và tôi nghĩ chẳng nên đi nữa”.
“Bác không thể ở lại nơi này”, tôi nói. “Nếu bác muốn đi nhờ xe, thì hãy còn vài chiếc đang đỗ trên lối rẽ về hướng Tortosa”.
“Tôi ngồi thêm lát nữa”, lão nói, “rồi sẽ đi. Những chiếc xe ấy về đâu?”
“Đến Barcelona”, tôi đáp
“Tôi không quen ai ở đó”, lão nói, “dẫu sao thì cũng cảm ơn anh. Cảm ơn anh rất nhiều”.
Lão lơ đãng và mệt mỏi nhìn tôi, rồi nói như muốn chia sẻ nỗi lo với người khác. “Con mèo sẽ tự xoay xở được, tôi chắc thế. Chẳng cần phải lo cho nó. Nhưng còn những con khác. Anh nghĩ gì về chúng?”
“Chẳng sao, chúng có thể tự lo được”.
“Anh tin vậy sao?”
“Tại sao không”, tôi nói, rồi nhìn sang bờ bên kia, nơi ấy bây giờ chẳng còn một chiếc xe nào nữa.
“Nhưng chúng làm sao tránh được đạn pháo một khi tôi bị buộc phải rời đi vì pháo kích?”
“Bác có mở chuồng chim ra không?” Tôi hỏi.
“Có”.
“Vậy thì chúng sẽ bay”.
“Ừ, chắc chắn chúng sẽ bay. Nhưng còn những con khác. Tốt hơn hết là không nên nghĩ gì về chúng”, lão nói.
“Nếu cháu là bác, cháu sẽ đi”, tôi giục, “cố đứng dậy và đi ngay”.
“Cảm ơn”, lão đáp và co chân gượng đứng dậy, lảo đảo rồi ngồi bệt trở lại trên con đường đầy bụi.
“Tôi phải trông nom chúng”, lão buồn bã nói, nhưng đến tôi, “Tôi chỉ quan tâm đến mấy con vật”.
Tôi không biết phải nói gì với lão. Hôm ấy là ngày Chủ nhật Phục sinh. Quân đội Fascis đang tiến về Ebro. Bầu trời u ám dường như sà thấp xuống, vì thế máy bay của chúng không hoạt động được. Điều ấy cùng với thực tế là giống mèo có thể tự xoay xở, đã mang lại cho ông lão niềm may mắn.

Lê Huy Bắc dịch
0
Tố giác

Quán Chicote ngày trước ở Madrid là một nơi kiểu như quán The Stork, không có nhạc và những tiểu thư mới lớn, hoặc giống như câu lạc bộ Waldorf dành cho cánh đàn ông nếu họ cho phép các cô gái vào. Bạn biết đấy, các cô gái có thể vào nhưng bởi đó là nơi dành cho nam giới nên họ chẳng được quan tâm gì cả. Pedro Chicote là chủ quán và cá tính của ông đã tạo nên phong cách riêng cho quán. Ông là người đứng quầy giỏi, luôn thoải mái, dễ chịu và cực kỳ vui vẻ. Thời buổi bây giờ, nhiệt tình là thứ hiếm hoi và ít người giữ được nó lâu dài. Điều này không thể lẫn lộn với nghệ thuật quảng cáo của các cửa hàng. Sự nhiệt tình mà Chicote có được không phải là thứ giả dối hay được khoác vào. Ông cũng luôn khiêm tốn, giản dị và rất thân thiện. Ông thực sự dễ chịu, thoải mái và vẫn còn khả năng kỳ diệu như George, người phục vụ tại quán Ritz ở Pari. Đó là cách so sánh cao nhất mà bạn có thể dành cho bất kỳ ai trong nghề; ngoài ra ông còn điều hành khéo léo một quán rượu hấp dẫn nữa.
Hồi đó, bọn trưởng giả học làm sang trong đám thanh niên nhà giàu ở Madrid hay la cà ở nơi có tên gọi là Nuevo club còn dân xịn thì đến Chicote. Tôi không có thiện cảm với nhiều người tới đó, cũng như với những người lớn tới The Stork nhưng tôi chưa bao giờ thấy không thoải mái khi ở Chicote. Một lý do là ở đây người ta không nói chuyện về chính trị. Có nhiều quán cà phê mà ở đó, bạn đến là để nói chuyện chính trị. Bạn có thể nói quanh nhiều chủ đề khác nhau rồi tối đến, tất cả những cô gái dễ thương nhất trong thành phố xuất hiện ở đấy và bắt đầu một buổi tối vui vẻ, chúng tôi đã có nhiều buổi tối dễ chịu khởi nguồn ở đó.
Hồi ấy, quán còn là nơi bạn ghé vào để biết tin ai đã rời thành phố đi đâu hoặc ai mới tới. Và nếu mùa hè, không còn ai trong thành phố, thì lúc nào bạn cũng có thể ngồi thưởng thức một cốc gì đó vì tất cả những người phục vụ đều nhiệt tình.
Chicote giống như một câu lạc bộ mà bạn không phải trả một chút xíu phí tổn nào và có thể rủ một một cô nàng ở đó đi chơi. Chắc chắn nó là quán rượu tốt nhất Tây Ban Nha và tôi nghĩ nó là một trong những quán tốt nhất thế giới; tất cả chúng tôi, những người thường lui tới đây, đều có tình cảm gắn bó với nó.
Một điều nữa là thức uống ở đây rất tuyệt. Nếu bạn gọi một ly Martini thì nó sẽ được pha bằng thứ rượu ngon nhất hợp túi tiền, Chicote có loại whisky nguyên thùng lấy từ Scotland tuyệt hơn những thứ rượu quảng cáo khác đến nỗi quả là thảm hại khi so sánh nó với những loại Scotch thông thường. Khi chiến tranh nổ ra, Chicote đến San Sebastian để điều hành quán rượu mùa hè của mình. Ông vẫn còn quản lý nó và người ta nói đấy là quán rượu ngon nhất trên đất Tây Ban Nha của Franco. Những người phục vụ tiếp quản rượu ở Madrid cho đến ngày nay, nhưng thứ rượu ngon ấy bây giờ không còn nữa.
Hầu hết khách quen của Chicote đều theo phái Franco nhưng vài người trong số đó lại về phe Cộng hòa. Bởi đó là một nơi rất vui nhộn và bởi vì những người thực sự vui nhộn thường là những người dũng cảm nhất lại là những người bị giết nhanh nhất nên phần lớn những khách cũ của Chicote bây giờ đã chết cả rồi. Loại whisky thùng đã hết được vài tháng nay và chúng tôi cũng đã uống hết chỗ rượu gin vàng cuối cùng vào tháng 5 năm 1938. Bây giờ, ở đó không còn nhiều thứ đáng để đến nên tôi cho rằng nếu Luis Delgado đến Madrid muộn hơn một chút, hắn có lẽ đã không tới đó và đã không gặp rủi ro. Nhưng khi hắn tới Madrid vào tháng 11 năm 1937, họ vẫn còn rượu gin vàng và thứ rượu ký ninh của dân da đỏ. Những thứ đó chẳng đáng để người ta liều mạng tới uống, nên có lẽ hắn chỉ muốn uống một cốc ở nơi quen thuộc. Biết rõ hắn, biết rõ nơi đây trong những ngày trước thì ta có thể hiểu được sự việc.
Hôm ấy, ở Đại sứ quán người ta làm thịt một con bò và cậu bồi gọi đến khách sạn Florida cho chúng tôi biết rằng người ta đã để dành cho chúng tôi khoảng năm cân thịt tươi. Tôi đi tới đó nhận thịt lúc trời nhá nhem tối trong một ngày mùa đông Madrid. Hai vệ binh mang súng trường ngồi trên ghế, ngoài cổng Tòa đại sứ, và thịt đã để sẵn ở trong phòng của cậu bồi.
Cậu ta bảo miếng thịt rất ngon tuy con bò hơi gầy. Tôi móc túi áo khoác mời cậu ta ăn ít hạt hướng dương rang và vài củ đấu, chúng tôi đứng tán chuyện một lúc trên lối dành cho ô-tô có rải sỏi của Tòa đại sứ bên ngoài phòng cậu ta.
Tôi đi bộ về, băng qua thành phố với tảng thịt nặng xách trong tay. Chúng đang nã pháo xuống Gran Via, tôi rẽ vào Chicote chờ cho qua đợt pháo kích. Quán ồn và đông, tôi ngồi xuống chiếc bàn nhỏ trong góc, tựa vào cửa sổ chất đầy bao cát, còn miếng thịt thì để trên cái ghế dài bên cạnh và uống rượu gin pha nước khoáng. Không ai gọi thứ nước này từ khi chiến tranh nổ ra và nó vẫn được bán với giá cũ như từ trước chiến tranh. Chưa có báo buổi chiều nên tôi mua ba tờ tin Chính đảng của một bà già. Giá bán mỗi tờ mười cent, tôi đưa một đồng peseta và bảo bà ta không phải trả lại tiền thừa. Bà nói Chúa sẽ phù hộ cho tôi. Tôi không tin vào điều đó nhưng vẫn đọc ba tờ tin ấy và uống rượu gin pha nước khoáng.
Anh bồi, tôi biết từ trước, đến bên bàn nói vài câu với tôi.
“Không”, tôi nói. “Tôi không tin là như vậy”.
“Đúng đấy”, anh ta khẳng định lúc nghiêng đầu và cái khay cũng nghiêng theo cùng hướng. “Bây giờ đừng nhìn. Hắn đang ở đó”.
“Đấy chẳng phải là việc của tôi”, tôi bảo anh ta.
“Thì tôi cũng thế”.
Anh ta quay ra, tôi mua giấy mời báo buổi chiều vừa được một bà già khác mang vào rồi đọc. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa về người đàn ông mà anh bồi vừa nói. Cả hai chúng tôi đều biết rõ hắn. Tất cả mọi điều mà tôi có thể nghĩ là: đồ ngốc. Thật là ngốc đến không chịu nổi.
Vừa lúc đó, một người bạn Hy Lạp đi vào và ngồi xuống bàn. Anh ta từng là đại đội trưởng thuộc Lữ đoàn mười lăm, và đã tùng bị bom vùi trong lúc bốn người khác bị chết, anh được gửi về bệnh viện để theo dõi một thời gian rồi chuyển đến nhà an dưỡng hay một nơi đại loại như vậy.
“Anh khỏe không, John?” tôi hỏi. “Uống thử cái này xem”.
“Anh gọi thức uống này là gì vậy hả Emmunds?”
“Gin pha nước khoáng”.
“Nước khoáng nào thế?”
“Ký ninh. Thử xem”.
“Chà. Tôi không muốn lắm nhưng ký ninh thì lại rất tốt cho bệnh sốt. Tôi sẽ nếm một chút thôi”.
“Bác sĩ bảo anh thế nào hả John?”
“Đâu có cần thiết phải đi bác sĩ. Tôi có sao đâu. Chỉ có điều lúc nào đầu tôi cũng kêu o o”.
“Anh phải đi khám thôi, John ạ”.
“Tôi cũng có đi. Nhưng họ không hiểu. Họ bảo tôi không có đủ giấy tờ để nhập viện”.
“Để tôi gọi điện cho”, tôi nói. “Tôi biết mấy tay ở đó mà. Có phải tay bác sĩ người Đức không?”
“Phải đó”, John nói. “Tay người Đức, nói tiếng Anh tồi lắm”.
Vừa lúc đó, anh bồi đi tới. Anh ta đã già, hói đầu và vẫn giữ phong cách phục vụ theo kiểu cũ mà chiến tranh không thể làm thay đổi. Trông anh ta rất bồn chồn.
“Tôi có thằng con trai đang ở ngoài mặt trận”, anh ta nói. “Một đứa khác đã chết. Bây giờ lại là chuyện này”.
“Đó là chuyện của anh”.
“Thế còn ông? Tôi đã nói với ông rồi mà”.
“Tôi đến đây chỉ để uống một cốc trước khi ăn tối?”
“Còn tôi thì làm việc ở đây. Cứ cho tôi biết đi”
“Đó là việc của anh”, tôi nói. “Tôi đâu phải là chính khách”.
“Anh có hiểu được tiếng Tây Ban Nha không John?” Tôi hỏi anh bạn người Hy Lạp.
“Không. Tôi chỉ hiểu được vài từ nhưng tôi nói được tiếng Hy Lạp, tiếng Anh, tiếng Ả Rập. Một thời tôi nói tiếng Ả Rập rất tốt. Này, anh có biết tôi bị chôn sống ra sao không?”.
“Không. Tôi chỉ biết có lần anh bị bom vùi. Thế thôi”.
Anh ta có khuôn mặt đen dễ nhìn và hai bàn tay đen xỉn cứ huơ lên khi nói chuyện. Anh ta là người gốc đảo và ăn nói rất nghiêm túc.
“Ra thế, tôi sẽ kể cho anh nghe. Anh biết đấy, tôi có rất nhiều kinh nghiệm trong chiến tranh. Trước đây tôi đã từng là đại úy trong quân đội Hy Lạp. Tôi là một quân nhân từng trải. Nên khi thấy máy bay đến, lúc bọn tôi đang ở dưới chiến hào tại Fuentes del Ebro, tôi quan sát rất kỹ. Tôi thấy nó bay qua, nghiêng cánh rồi vòng trở lại”. (Anh ta dùng tay diễn tả máy bay nghiêng cánh và vòng trở lại), “hướng xuống bọn tôi, tôi nói, A ha, nó tìm bộ tổng tham mưu. Nó đi do thám đấy, lát nữa thôi, những chiếc khác sẽ đến”.
“Đúng như lời tôi nói, những chiếc khác bay đến nên tôi đứng đấy quan sát. Tôi theo dõi rất kỹ. Tôi nhìn và chỉ cho cả đội thấy. Chúng bay qua, từng nhóm ba chiếc rồi tôi nói với cả đại đội, ‘Thấy chưa: Bây giờ chúng bay theo đội hình đấy?’.
‘Một đội ba chiếc nữa bay qua’, tôi nói với đại đội, Bây giờ thì được rồi. Ổn rồi. Không có gì phải lo lắng nữa? Đó là những điều tôi nhớ được trong suốt tuần sau”.
“Chuyện đỏ xảy ra khi nào?”
“Cách đây khoảng một tháng. Anh biết không có chiếc mũ sắt đã úp xuống mặt khi bom vùi nên tôi có không khí trong đó để thở cho đến khi người ta đào tôi lên nhưng tôi đã không biết gì nữa. Trong chút không khí tôi thở đó có cả khói bom, nó làm cho tôi phát ốm suốt cả khoảng thời gian dài. Bây giờ thì tôi khỏe rồi, chỉ còn tiếng o o trong đầu nữa thôi. Anh gọi thứ đồ uống này là gì nhỉ?”
“Gin pha nước khoáng. Nước khoáng Schweeppes của dân da đỏ. Trước chiến tranh đây là quán rượu rất thú vị, hồi đó một cốc như thế này giá tới năm pesseta trong khi một đô-la chỉ ăn bảy pesseta. Gần đây chúng tôi mới biết họ vẫn còn nước khoáng mà giá thì không thay đổi. Cũng chỉ còn một thùng thôi”.
“Thứ này uống tốt đấy. Mà này. Trước chiến tranh, thành phố trông ra sao?”
“Được lắm. Giống như bây giờ, chỉ có điều là có nhiều thứ để ăn hơn”.
Anh bồi tới và cúi xuống bàn.
“Nếu tôi không làm thì sao?” anh ta nói. “Đó là trách nhiệm của tôi mà”.
“Nếu anh muốn thì hãy đến trạm điện thoại, gọi theo số này. Ghi đi”.
Anh ta ghi số. “Xin gặp Pepé”. Tôi bảo.
“Bản thân tôi chẳng thù ghét gì ông ta”, anh bồi nói. “Nhưng nó thuộc vấn đề chính nghĩa. Chắc chắn, một người như thế sẽ gây nguy hiểm cho sự nghiệp của chúng ta”.
“Mấy người bồi kia không nhận ra hắn sao?”
“Tôi nghĩ là có. Nhưng chẳng ai nói gì cả. Hắn là khách quen mà”.
“Tôi cũng là khách quen”
“Có lẽ không chừng hắn đã đổi phe rồi cũng nên”.
“Không”, tôi nói. “Tôi biết hắn không đổi”.
“Tôi chưa hề tố giác một ai cả”.
“Đó là việc của anh. Có thể một trong những anh bồi khác sẽ tố cáo hắn”.
“Không, chỉ có những bồi cũ biết hắn mà bồi lâu năm thì có lẽ không tố giác”.
“Mang cho tôi thêm ít gin vàng và bia đắng”, tôi nói. “Nước khoáng thì vẫn còn trong chai”.
“Hắn nói chuyện gì vậy?” John hỏi. “Tôi chỉ hiểu mang máng thôi”.
“Có một điều đàn ông ở đây mà ngày xưa, chúng tôi biết hắn. Hắn là tay bắn chim cu tuyệt diệu, tôi thường gặp hắn trong những lần đi săn. Hắn theo phát xít nhưng bây giờ lại tới đây, bất kỳ vì lý do nào thì quả thật hắn là kẻ đại ngốc. Hắn thì vẫn luôn can đảm nhưng cực ngốc”.
“Chỉ hắn cho tôi xem đi”.
“Hắn ngồi ở cái bàn với mấy tay phi công đấy”.
“Đứa nào?”.
“Đứa có khuôn mặt nâu sạm, mũ lưỡi trai sụp xuống mắt. Đứa đang cười đấy”.
“Hắn theo phát xít à?”
“Ừ”.
“Đây là dịp để tôi nhìn rõ nhất một tên phát xít kể từ hồi rời Fuentes del Ebro. Có nhiều phát xít ở đây không?”.
“Thỉnh thoảng có mấy thằng”.
“Hắn cũng uống như anh”, John nói. “Chúng ta thì sao? Này, anh đã bao giờ ở Nam Mỹ, West Coast hay Magallanes chưa?”.
“Chưa”
“Không sao. Chỉ có điều là có quá nhiều bạch lu-uộc”.
“Quá nhiều cái gì?”
“Bạch lu-uộc”, anh ta kéo dài chữ “luộc”. “Anh biết nó có tám cái vòi ấy mà”.
“Ồ,” tôi nói, “bạch tuộc”.
“Bạch lu-uộc”, John nói. “Anh biết đấy, tôi còn là thợ lặn nữa. Nơi đó làm việc tốt, kiếm được khá tiền chỉ có điều là khá nhiều bạch luộc”.
“Chúng nó quấy anh không?”
“Tôi không rõ nữa, lần đầu tiên lặn ở Magallanes, tôi thấy bạch luộc. Nó đứng chồm chỗm như thế này này”. John chống mấy ngón tay lên bàn, mu bàn tay nhô cao, nhún lên nhún xuống đôi vai và nhướng lông mày lên. “Nó đứng cao hơn cả tôi và nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi vội vàng giật dây để người ta kéo lên”.
“Nó to bằng nào hả John?”
“Tôi không thể nói chính xác được bởi vì cái kính lặn làm cho hình ảnh méo đi chút ít. Nhưng cái đầu tròn đồ sộ cũng phải khoảng một mét hai. Rồi nó đứng chồm chỗm trên đầu vòi mà nhìn tôi như thế này này (anh ta trừng trừng nhìn vào mặt tôi). Nên khi người ta kéo tôi lên khỏi mặt nước, gỡ kính lặn ra, tôi nói rằng sẽ không bao giờ lặn xuống đấy nữa. Lão chủ hỏi ‘Có việc gì vậy John, bọn bạch luộc sợ mày hơn mày sợ chúng cơ mà’. Tôi nói với lão ‘Không có chuyện ấy đâu!’ Anh bảo bọn mình uống thêm chút rượu phát xít này nữa có phải không?”
“Đúng đó”, tôi nói.
“Tôi nhìn người đàn ông ở bàn đằng kia. Hắn tên là Luis Delgado, lần cuối tôi nhìn thấy hắn là vào năm 1933, lúc đang bắn chim cu ở Saint Sebastian và tôi còn nhớ là đã đứng cùng với hắn trên đỉnh bệ bắn để xem, phát đạn chung kết. Chúng tôi đánh cá với nhau, số tiền cược nhiều hơn số tôi có và tôi tin rằng nó còn lớn hơn số tiền hắn đã mất cho cá cược trong cả năm; khi xuống cầu thang tôi còn nhớ hắn tỏ ra rất thoải mái và nhớ cả cái kiểu hắn tỏ ra rất vinh dự khi chung tiền cược. Tôi còn nhớ chúng tôi đứng ở quầy rượu, uống một ly Martini, tôi có cảm giác khá nhẹ nhõm và một người cá độ khi thoát khỏi khả năng thua cuộc rồi tự hỏi vụ cá cược này khiến hắn kiệt quệ tới mức nào. Cả tuần tôi bắn rất tệ còn hắn thì bắn tuyệt lắm tôi vững tin rằng mình sẽ thắng nhưng lại rút thăm phải những con chim không thể nào hạ được”.
“Bọn mình đấu bằng đồng duro đi?” hắn đề nghị.
“Ông muốn thế à?”
“Ừ, nếu ông thích”.
“Ăn bao nhiêu?”
Hắn lấy ví ra, nhìn vào rồi cười.
“Tôi nghĩ bao nhiêu là tùy ông”, hắn bảo. “Nhưng giả sử mình đấu tám nghìn peseta đi. Trong này hình như có đủ đấy”.
Hồi đó, chỗ tiền ấy gần bằng một nghìn đô-la.
“Tốt thôi”, tôi bảo và tất cả cảm giác nhẹ nhõm đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự căng thẳng thường gặp khi bước vào trò cờ bạc. “Ai đấu với ai?”
“Tôi sẽ đấu với ông”.
Chúng tôi lắc đồng năm peseta nặng trong lòng hai bàn tay khum lại với nhau; rồi mỗi người dùng tay phải che kín đồng tiền trên mu bàn tay trái. “Của ông là gì?” hắn hỏi.
Tôi mở tay ra để thấy mặt đồng xu lớn hơn bằng bạc có hình vua Alfonso XIII nhìn nghiêng, trông như một đứa trẻ.
“Mặt ngửa”, tôi nói.
“Cầm lấy cả đi, chơi thoải mái nhé nhưng nhớ mua cho tôi một ly rượu”. Hắn trút sạch tiền trong ví ra. “Ông sẽ không mua một khẩu Purdey tốt chứ, phải không?”.
“Không”, tôi nói. “Nhưng này, Luis nếu ông cần ít tiền”. Tôi đẩy mấy tờ giấy bạc một ngàn peseta hơi nặng, màu xanh sáng cuộn chặt còn mới cứng về phía hắn.
“Đừng vớ vẩn, Enrique”, hắn bảo. “Chúng ta cá cược đàng hoàng mà, phải không?”
“Phải. Nhưng bọn mình biết nhau khá rõ rồi mà”.
“Chưa hẳn đâu”.
“Thôi được”, tôi nói. “Ông đã nói vậy thì thôi. Bây giờ ông thích uống gì?”
“Gin với nước khoáng được không?” Ông ta biết thứ rượu tuyệt vời ấy.
Thế là chúng tôi uống rượu gin pha nước khoáng rồi tôi cảm thấy rất áy náy đã làm hắn cháy túi nhưng cũng thấy hưng phấn vì được bạc; trong đời, tôi chưa bao giờ thấy gin pha nước khoáng ngon đến thế. Chẳng lợi lộc gì ở đây khi dối trá về những điều ấy hoặc giả vờ không vui sướng khi được bạc; nhưng gã Luis Delgado này là một tay cờ bạc rất dễ thương.
“Tôi nghĩ nếu người ta chỉ cờ bạc những gì họ có được thì sẽ chẳng còn gì là thú vị. Đúng không, Enrique?”
“Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ có khả năng để thử điều ấy”.
“Đừng vờ nữa. Ông có cả đồng tiền”.
“Không, tôi không có”, tôi nói. “Thật đấy”.
“Ồ, ai cũng có tiền cả”, hắn nói. “Chỉ có điều là bán cái này hoặc cái khác để có thôi”.
“Tôi không có nhiều đâu. Thật đấy”.
“Thôi, đừng cố giả vờ nữa. Tôi chưa bao giờ thấy một người Mỹ nào nghèo cả”.
“Tôi nghĩ điều đó cũng đúng thôi. Hắn chưa bao giờ gặp những người như thế ở quán Ritz hay Chicote thì tất cả những người Mỹ hắn gặp ở đó lại là hạng mà hắn chưa từng thấy; trừ tôi mà tôi lại là một sai lầm. Nhưng tôi sẽ sẵn sàng chi ra bất cứ thứ gì để không phải gặp hắn ở đây.
Dẫu sao, nếu hắn muốn làm một việc vô cùng ngu ngốc như vậy thì đó là việc của hắn. Nhưng khi tôi nhìn về phía bàn ấy và nhớ lại ngày xưa tôi thấy áy náy với hắn và tôi cũng rất áy náy vì đã cho anh bồi biết số điện thoại. Văn phòng phản gián của Bộ chỉ huy ở Seguridad. Kể ra, anh ta có thể dễ dàng gọi tổng đài để hỏi số của Seguridad. Nhưng tôi đã cho anh ta một cách nhanh nhất để Delgado bị tóm trong trạng thái quá vô tư, chính đáng, không can dự và, trong sự thèm muốn muôn đời bẩn thỉu để thấy người ta xử sự ra sao thì đứng trước những xung đột tình cảm; vốn đã làm cho các nhà văn trở thành những người bạn hấp dẫn như thế”.
Anh bồi lại đến.
“Ông nghĩ sao?” anh ta hỏi.
“Nếu là tôi thì không đời nào tố giác hắn”, tôi nói, tôi đang cố gắng gỡ lại cho mình việc đã cho số điện thoại. “Nhưng tôi là người nước ngoài và cuộc chiến này là của các anh, là vấn đề vướng mắc của các anh”.
“Nhưng ông đứng về phe chúng tôi mà”.
“Chắc chắn và luôn sẽ là như thế. Nhưng điều đó không bao gồm việc tôi phải đi tố giác một người bạn cũ”.
“Thế còn tôi?”
“Với anh thì lại là chuyện khác”.
Tôi biết đó là sự thật và không còn gì để nói nữa, có điều tôi chỉ mong giá mà mình không biết gì về vụ này.
Sự tò mò của tôi, bởi từ lâu muốn biết con người ta sẽ phản ứng như thế nào trong tình huống ấy, xấu hổ thay, đã được thỏa mãn. Tôi quay sang John và không nhìn về phía bàn Luis Delgado ngồi. Tôi biết, hắn đã bay với bọn phát xít được hơn một năm nay, vậy mà ở đây, trong bộ đồng phục của phe Cộng hòa, hắn đang nói chuyện với ba tay phi công Cộng hòa trẻ, thuộc lớp vừa mới được huấn luyện tại Pháp.
Không ai trong nhóm phi công trẻ ấy biết hắn và tôi tự hỏi có phải hắn tới đây để cố cuỗm một chiếc máy bay làm chuyện gì khác. Cho dù có làm gì ở đây chăng nữa thì giờ đây hắn thật quá ngu xuẩn khi đến Chicote.
“Anh thấy thế nào, John?” tôi hỏi.
“Rất dễ chịu”, John đáp. “Thứ này uống được đấy. Có lẽ nó làm tôi hơn chếnh choáng. Nhưng nó lại hữu ích cho cái đầu o o của tôi”.
Anh bồi lại đến, có vẻ rất kích động.
“Tôi đã tố cáo hắn”, anh ta nói.
“Được, đấy”, tôi nói, “bây giờ anh chẳng còn day dứt gì nữa”.
“Đúng”, anh ta tự hào nói. “Tôi đã tố cáo hắn. Bây giờ họ đang trên đường đến đây để bắt hắn”.
“Ta đi thôi”, tôi bảo John. “Sắp có lộn xộn ở đây đấy”.
“Vậy thì đi là tốt nhất”, John nói. “Lúc nào cũng có vô số những vụ lộn xộn xảy ra ngay cả khi người ta cố tránh. Tính tiền đi chứ?”
“Các ông không ở lại sao?” anh bồi hỏi.
“Không”.
“Nhưng ông đã đưa tôi số điện thoại mà”.
“Tôi hiểu. Anh sẽ phải còn biết rất nhiều số điện thoại nếu anh còn quẩn quanh trong thành phố này”.
“Nhưng đó là nghĩa vụ của tôi”.
“Phải. Sao lại không chứ? Nghĩa vụ là thứ rất cao cả mà”.
“Còn bây giờ thì sao?”
“Ồ, bây giờ anh đã cảm thấy hài lòng về bổn phận công dân của mình rồi, phải không? Có thể anh cũng sẽ cảm thấy hài lòng như thế cả sau này nữa và không chừng lại còn cảm thấy sung sướng nữa cơ đấy”.
“Ông quên gói đồ kìa”, anh bồi nhắc. Anh ta đưa cho tôi miếng thịt gói trong hai cái phong bì lớn dùng để gói những tờ báo Spur, chất đống tại một trong số các văn phòng của Đại sứ quán.
“Tôi hiểu”, tôi nói với anh ta. “Thật đấy”.
“Hắn là khách quen xưa và lại là một khách hàng tử tế nữa. Trước đây tôi chưa từng tố giác một ai. Tôi không tố giác để giải trí đâu”.
“Đừng nghĩ rằng tôi nói với ý đùa chơi hay thù hận gì. Hãy bảo hắn rằng chính tôi đã tố cáo hắn. Dù gì đi nữa thì hắn cũng đã ghét tôi vì bất đồng quan điểm chính trị. Hắn sẽ thấy đau khổ lắm nếu biết anh là người tố cáo”.
“Không. Mỗi người phải biết nhận trách nhiệm của mình. Xin ông hiểu giùm cho?”
“Tôi hiểu”, tôi đáp, rồi nói dối. “Tôi hiểu và rất tán thành”. Người ta phải thường xuyên nói dối trong chiến tranh và khi nói dối thì họ phải tỉnh bơ và thành thật hết mức.
Chúng tôi bắt tay rồi tôi cùng John đi ra cửa. Tôi quay nhìn về phía Luis Delgado ngồi khi bước ra. Hắn gọi một ly gin pha nước khoáng nữa để trước mặt mọi người trong bàn đang cười phá lên bởi câu nói gì đó của hắn. Hắn có khuôn mặt màu nâu hài hước cùng với đôi mắt của một xạ thủ và tôi thầm nhủ không biết hắn đang đóng vai gì.
Hắn quả là ngốc khi tới Chicote. Nhưng thật ra đó là việc hắn có thể làm để khi trở về phía mình, hắn có thể có chuyện để mà khoác lác.
Khi chúng tôi ra khỏi cửa, quay người bước lên đường phố, một chiếc xe lớn của Cục An ninh đỗ xịch trước cửa quán Chicote, tám người trên xe nhảy xuống. Sáu người trang bị súng tiểu liên chia nhau trấn các vị trí ngoài cửa. Hai người mặc thường phục vào trong. Một người yêu cầu chúng tôi cho xem giấy tờ và khi tôi nói, “người ngoại quốc”, hắn bảo hãy đi đi; không có chuyện gì đâu.
Lúc đi trong bóng tối về phía Gran Via, chúng tôi giẫm lên nhiều mảnh thủy tinh mới vỡ trên vỉa hè và nhiều gạch đá vụn bởi cuộc pháo kích. Không khí vẫn còn sặc mùi khói súng, trên suốt con đường mùi thuốc súng nồng nặc và mùi gạch đá bị nghiền vụn giăng khắp nơi.
“Anh ăn ở đâu?” John hỏi.
“Tôi có một ít thịt đủ dùng cho cả bọn, chúng tôi có thể nấu trong phòng”.
“Để tôi nấu cho”, John nói. “Tôi nấu khá lắm. Tôi nhớ có hồi tôi từng là đầu bếp trên tàu”.
“Có lẽ thịt hơi dai”, tôi nói. “Vừa mổ đấy”.
“Ồ, không”, John nói. “Trong chiến tranh chẳng có thứ thịt nào là thịt dai cả”.
Trong bóng tối, nhiều người đang vội vã về nhà sau khi đã tạt vào các rạp chiếu bóng đợi cho hết đợt pháo kích.
“Việc gì mà thằng cha phát xít ấy lại vào cái quán nơi người ta biết rõ hắn?”
“Hắn khùng nên mới làm thế”.
“Đó là vấn đề nan giải của chiến tranh”, John nói. “Có quá nhiều kẻ phát điên”.
“John”, tôi bảo. “Tôi nghĩ anh đã hiểu được đôi điều ở đó”.
Đến khách sạn, chúng tôi đi vào cửa, vượt qua đống bao cát chất cao để bảo vệ bàn làm việc của người trực, tôi hỏi lấy chìa khóa nhưng anh ta bảo có hai người bạn của tôi muốn lên phòng để tắm. Anh ta đã đưa họ chìa khóa.
“Ta lên đi, John”, tôi nói. “Tôi muốn gọi điện thoại”.
Tôi đến phòng điện thoại và gọi đúng số lúc nãy tôi đã cho anh bồi.
“Xin chào, Pepé đấy phải không?”
Một giọng nói phát ra từ đôi môi mỏng vọng qua máy. “Qué tal Enrique?” [1]
“Nghe này, Pepé, cậu vừa tóm được tay Luis Delgado ở Chicote phải không?”
“Si, hombre, si sin novedad [2]. Không gặp khó khăn gì”.
“Hắn không biết tí gì về anh bồi chứ?”
“Không, hombre [3], không biết đâu”.
“Vậy thì đừng cho hắn biết. Nói với hắn là mình tố cáo đấy, được chứ? Đừng đả động gì tới anh bồi cả”.
“Chẳng thay đổi được gì đâu. Hắn là gián điệp. Hắn sẽ bị xử bắn. Việc này chẳng có gì phải cân nhắc cả”.
“Mình biết”, tôi nói. “Nhưng như thế là có khác đấy”.
“Nếu bạn muốn, hombre. Nếu bạn muốn. Khi nào tôi gặp bạn đây?”
“Bữa trưa mai nhé. Bọn mình có một ít thịt”.
“Và whisky như trước chứ. Tuyệt lắm, hombre, tuyệt lắm”.
“Salud [4], Pepé, cảm ơn cậu”.
“Salud. Enrique. Không có gì. Salud”.
Đó là giọng nói kỳ dị và sặc mùi chết chóc mà chẳng bao giờ tôi nghe quen được, nhưng khi đi lên cầu thang, tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều.
Tất cả chúng tôi - những khách quen của Chicote - đều có tình cảm với nơi ấy. Tôi biết đấy là lý do tại sao Luis Delgado lại ngu ngốc lần mò đến đó. Hắn có thể thục hiện công việc của mình tại một nơi nào khác. Nhưng nếu hắn đến Madrid thì hắn phải đến đó. Hắn đã từng là khách hàng tử tế như anh bồi nói và chúng tôi đã từng là bạn của nhau. Tuy nhiên bất kỳ hành vi tốt đẹp nào, dù nhỏ mà bạn có thể làm, thì đều đáng làm. Nên tôi vui vì đã gọi cho anh bạn Pepé ở Segundad, bởi lẽ Luis Delgado là khách quen cũ của Chicote và tôi không muốn hắn vỡ mộng hay cay đắng về những người bồi ở đó trước khi chết.

Đào Thu Hằng dịch
-----------------------------
[1] Enrique đấy à, có khỏe không (tiếng Tây Ban Nha)
[2] Phải, bạn à, phải. Chẳng có gì lạ cả.
[3] Có nghĩa là người. Trong trường hợp này tôi dịch là bạn.
[4] Chào nhé.
0
Con bướm và cỗ xe tăng

Tối hôm ấy, lúc đang đi từ văn phòng kiểm duyệt về khách sạn Florida, tôi gặp mưa. Cuốc bộ được khoảng nửa độ đường, phát ngấy với cơn mưa thế là tôi bèn tạt vào Chicote để làm một ly. Đấy là mùa đông thứ hai của Madrid bị phong tỏa trong làn đạn pháo, mọi thứ đều thiếu thốn, kể cả thuốc lá lẫn sự bình tĩnh của con người, lúc nào người ta cũng cảm thấy hơi đói và rất dễ cáu một cách vô lý, bất chợt trước cả những việc họ chẳng thể làm gì được như thời tiết. Lẽ ra tôi đã về đến nhà. Khoảng đường chỉ còn có năm dãy nhà nữa thôi, nhưng khi thấy cửa quán Chicote, tôi nghĩ mình nên tạt vào uống nhanh một ly rồi đi liền một hơi qua những vũng bùn và gạch ngói đổ nát bởi bom đạn ngổn ngang trên phố, vượt qua sáu dãy nhà để về khu Gran Via.
Quán đông nghịt. Bạn chẳng thể nào đến gần quầy rượu, tất cả các bàn đều ngồi kín. Không gian tràn ngập khói thuốc lá, tiếng hát, những người vận đồng phục, mùi áo khoác da bị ướt, người ta đang chuyền những ly rượu qua đám đông đứng đến ba lớp quanh quầy.
Một anh bồi tôi quen tìm được cái ghế từ bàn kia rồi tôi ngồi xuống bên cạnh gã người Đức có khuôn mặt trắng, mỏng, yết hầu lộ ra; đang làm việc tại cục kiểm duyệt và hai người khác mà tôi không biết. Bàn tôi ngồi ở giữa phòng, hơi lệch về bên phải nếu nhìn từ cửa vào.
Bạn không thể nào nghe được giọng nói của mình bởi tiếng hát, tôi gọi một ly gin pha Angostura rồi ngồi nhâm nhi đợi mưa tạnh. Quả thực quán đông lắm, mọi người rất vui; có lẽ hơi quả hưng phấn bởi thứ rượu Catalan vừa mới cất mà họ đang uống. Hai người cùng bàn mà tôi không biết vỗ vào lưng tôi rồi một cô gái ở bàn chúng tôi nói điều gì đấy, tôi không nghe rõ nhưng vẫn đáp, “là cái chắc”.
Trông cô ta khá tợn, bây giờ tôi không nhìn quanh nữa mà nhìn vào bàn chúng tôi: thật khá dữ. Nhưng hóa ra là, khi anh bồi đến, tôi mới biết cô ta đề nghị tôi mời cô một ly rượu. Gã đi cùng cô trông không có ấn tượng lắm. Nhưng cô ta thì lại có đủ ấn tượng cho cả đôi. Cô ta có một khuôn mặt rắn rỏi, khá cổ điển; vóc dáng thì trông như thể một huấn luyện viên sư tử, còn gã đi cùng cô thì bộ dạng trông cứ như là một cậu học sinh bị buộc phải đeo chiếc cà vạt cũ. Dĩ nhiên gã đâu có đeo. Gã vận áo khoác da như tất cả bọn tôi. Chỉ có điều là nó không ướt bởi lẽ gã đã vào quán trước lúc trời mưa. Cô ta cũng vận áo khoác da, chiếc áo hợp với khuôn mặt của cô.
Đến lúc này, tôi thầm ước giá mình đừng tạt vào đây mà cứ đi thẳng một mạch về nhà để có thể thay đồ, lau khô người, nằm gác chân thoải mái lên giường và uống một ly gì đó; tôi thấy mệt mỏi khi mải nhìn hai người trẻ tuổi này. Cuộc đời thì ngắn ngủi nhưng đàn bà xấu thì lại sống lâu và cử ngồi ì ra đó, phía bên kia bàn; tôi quyết định: mặc dù là một nhà văn và được xem là lúc nào cũng tò mò vô độ về đủ hạng người thì tôi thực sự chả cần biết hai người đã cưới nhau chưa, đã tìm thấy cái gì ở nhau, quan điểm chính trị của họ là gì, gã ta có xu nào, cô ta có xu nào không hay bất cứ điều gì có liên quan đến họ. Tôi nghĩ chắc họ ở đài phát thanh. Hễ khi nào bạn thấy một gương mặt thường dân lạ lẫm ở Madrid thì cứ như rằng người ấy là nhân viên của đài phát thanh. Rồi để nói cho có chuyện, tôi hét lớn hỏi qua mớ âm thanh lùng nhùng, “Các bạn làm ở đài phát thanh hả?”
“Chúng tôi làm ở đấy”, cô gái đáp. Vậy là đúng đấy, họ làm ở đài phát thanh.
“Còn đồng chí thì thế nào?” tôi hỏi tay người Đức.
“Khỏe. Còn anh?”
“Ướt sũng”, tôi đáp và hắn phá lên cười, đầu ngoẹo cả sang một bên.
“Anh còn điếu thuốc nào đấy không?” hắn hỏi. Tôi đưa hắn một trong hai gói thuốc cuối cùng của tôi, hắn rút hai điếu. Cô gái rắn rỏi rút hai điếu còn người đàn ông trẻ với vẻ mặt đeo cà vạt ở trường thuở bé, lấy một điếu.
“Lấy nữa đi”, tôi gào lớn.
“Đủ rồi, cám ơn ông”, gã đáp và tay người Đức rút điếu thuốc.
“Không phiền anh chứ?” gã mỉm cười.
“Dĩ nhiên là không”, tôi đáp. Rõ ràng tôi có hơi bực, gã thấy điều đó. Nhưng cơn thèm thuốc của gã lớn đến nỗi gã bất chấp. Tiếng hát đã ngưng đi một lát hoặc giả có một khoảng dừng trong bài hát tựa điều thường thấy xảy ra trong một cơn bão, chúng tôi có thể nghe rõ giọng của nhau.
“Ông ở đây lâu chưa?” cô gái rắn rỏi hỏi tôi. Cô ta phát âm chữ “ở” nghe như chữ “ờ”.
“Thỉnh thoảng”, tôi đáp.
“Chúng ta phải có một cuộc nói chuyện nghiêm túc”, tay người Đức nói. “Tôi muốn nói chuyện với anh. Khi nào chúng ta có thể nào?”
“Tôi sẽ gọi cho anh sau”, tôi nói. Tay người Đúc này thực là kẻ rất kỳ lạ, chẳng có người Đức tử tế nào lại thích hắn. Hắn sống với ảo tưởng rằng mình có thể chơi được piano, nhưng nếu bạn kéo hắn ra khỏi cái piano ấy thì hắn chẳng sao nếu không chúi mũi vào rượu hoặc tìm cơ hội tán gẫu và đến nay, chưa ai có thể kéo hắn ra khỏi hai ngón ấy.
Nói chuyện tầm phào là món hắn thạo nhất, hắn luôn nắm được những thông tin mới nhất, bất ngờ nhất về bất kỳ ai mà bạn muốn quan tâm ở Madrid, Valencia, Barcelona và những trung tâm chính trị khác.
Nhưng ngay khi ấy, tiếng hát lại rộ lên, bạn chẳng thể cứ hét lên mãi để tán gẫu, thế là buổi chiều ở Chicote đã nhuốm vẻ buồn tẻ, tôi quyết định sẽ ra về ngay sau khi đãi xong những người quanh bàn một chầu.
Chỉ khi ấy, sự việc bắt đầu. Một thường dân vận comlê màu nâu, sơ-mi trắng, cà vạt đen, tóc chải hất ra sau để lộ vầng trán rộng, nãy giờ đã trêu chọc từ bàn này sang bàn khác, đang dùng khẩu súng nhỏ xịt nước vào một số các bồi bàn. Mọi người cười ầm lên, trừ anh bồi lúc ấy đang bưng một khay rượu đầy. Anh ta tỏ ý bực bội.
“No hay derecho”, anh bồi nói. Câu ấy có nghĩa, “Anh không được phép làm như thế”, đấy là câu phản đối đơn giản nhất nhưng mạnh mẽ nhất trong ngôn ngữ Tây Can Nha.
Người đàn ông cầm súng phun nước, hài lòng với thắng lợi của mình và dường như chẳng màng đến thực tế là cuộc chiến đã bước sang năm thứ hai, anh ta đang sống trong một thành phố bị phong tỏa, nơi mọi người đã quá căng thẳng và kể cả anh ta, trong quán chỉ có bốn người mặc thường phục, bây giờ lại xịt nước vào người bồi khác.
Tôi nhìn quanh tìm nơi để lẩn tránh. Anh bồi này cũng bực bội, còn người cầm súng thì cứ hồn nhiên xịt vào anh ta hai lần. Vẫn còn vài người nghĩ trò đùa ấy thật thú vị, kể cả cô gái rắn rỏi. Nhưng anh bồi thì đứng lại, lắc đầu. Môi anh ta giần giật. Anh bồi này lớn tuổi, tôi biết anh ta đã phục vụ ở Chicote này suốt mươi năm nay.
“No hay derecho” anh ta nghiêm mặt nói.
Dĩ nhiên mọi người cười vang, còn người đàn ông mang súng phun nước, không để ý tiếng hát đã tắt, lại cứ xịt nước vào gáy của anh bồi. Anh ta quay lại, tay vẫn giữ cái khay.
“No hay derecho”, anh ta nghiêm mặt nói. Lần này, câu nói không còn là lời phản đối. Đấy là lời tuyên án, tôi thấy ba người vận quân phục rời bàn đứng dậy tiến về phía người mang súng phun nước, sau đó cả bốn người bước nhanh ra khỏi cánh cửa quay tròn rồi người ta có thể nghe tiếng đạp mạnh khi ai đó đấm vào miệng người mang súng. Một người khác nhặt cây súng phun nước quẳng ra cửa cho theo cùng chủ nó.
Ba người kia bước vào với vẻ mặt nóng nảy, giận dữ nhưng rất nghiêm nghị. Rồi cánh cửa xoay tiếp, người mang súng phun nước lại bước vào. Tóc anh ta rũ xuống tận mắt, mặt vấy đầy máu, cà vạt bị kéo xệch sang một bên, áo sơ-mi bị xé rách. Tay cầm cây súng phun nước, đôi mắt trợn trừng, khuôn mặt trắng bệch, anh ta bước vào phòng xịt bừa bộn một phát, không nhằm vào ai nhưng đầy vẻ thách thức rồi rê mũi súng vào những người trong quán.
Tôi thấy một trong số ba người đàn ông lúc nãy bước về phía anh ta, tôi thấy rõ mặt người đàn ông này. Có thêm nhiều người nữa tiến tới, họ ép người mang súng lùi lại giữa hai cái bàn phía bên trái căn phòng, tính từ cửa vào, bây giờ người mang súng chống trả kịch liệt, rồi khi tiếng súng vang lên, tôi chộp lấy cánh tay của cô gái rắn rỏi chạy ra phía vai nhưng nó không nhúc nhích.
“Cúi xuống sau góc quầy rượu này”, tôi bảo, cô ta quỳ gối xuống.
“Nằm sát xuống”, tôi bảo rồi đẩy mạnh. Cô ta nổi cáu.
Tất cả những người trong quán, trừ gã người Đức đang chui dưới cái bàn và anh chàng trông như cậu học sinh nọ đang lùi vào góc, nép sát vào tường, đều rút súng cầm tay. Trên cái ghế dài dọc theo tường, ba cô gái tóc vàng chóe - nhưng chân tóc lại đen - đang nhón chân đứng nhìn rồi gào lên thật khủng khiếp.
“Tôi không sợ”, cô gái rắn rỏi nói. “Chuyện này thật ngớ ngẩn”.
“Tôi chắc là cô không muốn ăn một phát đạn trong vụ chạm súng”, tôi nói. “Nếu cái tay cầm súng phun nước ấy có nhiều bè bạn trong quán này thì sự thể chắc sẽ nghiêm trọng lắm”.
Nhưng rõ ràng anh ta không có bạn đi cùng bởi lẽ mọi người bắt đầu lại đút súng vào bao, ai đó nhấc cô gái tóc vàng đang la hét xuống, còn những người đang tiến về phía người bị bắn vội bước lùi lại, người mang súng phun nước nằm ngửa lặng lẽ trên sàn nhà.
“Không ai được phép rời khỏi nơi này cho đến khi cảnh sát đến”, từ trên cửa, ai đó hét lên.
Hai tên cảnh sát mang súng trường đang tuần tra trên phố, rẽ vào đứng trấn ở cửa, nhưng ngay lúc lời tuyên bố ấy được phát ra, tôi thấy sáu người xếp thành hàng như một đội bóng đá, lách khỏi đám đông bước ra cửa. Ba trong số đó là những người đầu tiên quẳng người mang súng nước ra cửa. Một số họ là người đã bắn anh ta. Họ đi xuyên qua hai người cảnh sát mang súng như một hàng rào chắn khi chơi bóng bầu đục nhưng lại thiếu mất phần sân và một hộ vệ. Ngay lúc đó họ ra khỏi, một viên cảnh sát chĩa súng ngang cửa và hét, “Không ai được bước ra. Tuyệt đối không một ai”.
“Tại sao mấy tay ấy lại được? Sao lại giữ bọn tôi trong lúc có người được phép đi?”
“Họ là thợ máy, họ phải trở lại phi trường”, ai đó nói.
“Nhưng nếu có người đã đi thì thật là ngố mới giữ những người khác lại”
“Mọi người phải đợi Cục An ninh đến. Mọi việc phải được giải quyết hợp pháp và trật tự”.
“Nhưng các anh không hiểu là nếu có người đã đi thì thật là ngốc mới đi giữ những người khác lại sao?”
“Không ai được phép rời khỏi, mọi người phải chờ”.
“Thật khôi hài”, tôi nói với cô gái rắn rỏi.
“Không, chẳng khôi hài tí nào. Thật khủng khiếp”.
Bây giờ chúng tôi đang đứng, còn cô ta thì đang phẫn nộ nhìn về phía người mang súng phun nước nằm. Tay anh ta dang rộng, một chân co lên.
“Tôi sẽ đến giúp anh chàng bị thương khốn khổ ấy. Tại sao chẳng có ai giúp đỡ hay làm cái gì đấy cho anh ta?”
“Tôi thì cứ để anh ta nằm một mình”, tôi nói. “Cô đâu muốn dây dưa tới chuyện này”.
“Nhưng làm thể thì chẳng nhân đạo tí nào. Tôi đã từng theo học lớp y tá. Tôi sẽ sơ cứu cho anh ta”.
“Còn tôi thì sẽ không”, tôi nói. “Đừng lại gần anh ta”.
“Tại sao đừng?” Cô ta rất bực bội và gần như là căm phẫn.
“Bởi vì anh ta đã chết”, tôi nói.
Khi cảnh sát đến, họ giữ mọi người ở lại đó suốt ba tiếng đồng hồ. Họ điều tra bằng cách ngửi tất cả các khẩu súng. Bằng cách này, họ sẽ nhận ra khẩu nào vừa mới được bắn. Sau khi ngửi chừng bốn mươi khẩu, họ dường như chán phương pháp điều tra này, vả lại những gì họ có thể ngửi được chỉ là mùi áo khoác da bị ướt. Rồi họ ngồi xuống cái bàn đặt ngay sau xác của anh chàng phun súng nước, lúc này trông như thể một hình nhân biếm họa bằng sáp tái ngoét của chính anh ta đang nằm trên sàn với hai bàn tay sáp và khuôn mặt sáp xám ngắt, và bắt đầu kiểm tra giấy tờ của mọi người.
Nhìn qua chiếc sơ-mi bị xé toạc, người ta có thể thấy người phun nước không mặc may ô, còn đế giày của anh ta cũng mòn vẹt. Lúc nằm đó, trên sàn nhà, trông anh ta bé nhỏ và thật đáng thương. Mọi người phải bước qua xác anh ta để đến cái bàn nơi hai cảnh sát viên mặc thường phục ngồi kiểm tra chứng minh thư của từng người. Anh chồng, do căng thẳng đã mấy lần đánh mất rồi lại tìm được giấy tờ của mình. Anh ta có giấy tờ thông hành an toàn để ra vào đâu đó nhưng lại đút nhầm vào một cái túi nào đấy rồi tiếp tục tìm, vã cả mồ hôi cho đến khi thấy nó. Rồi anh ta lại để vào một cái túi khác và phải lục lọi tìm kiếm lần nữa. Anh ta đổ mồ hôi đầm đìa khi tìm kiếm, đầu tóc rối tung, mặt đỏ bừng. Bây giờ trông anh ta không chỉ có dáng điệu của một cậu học sinh bị bắt đeo cà vạt cũ mà còn như thể mấy chú nhóc ở những lớp thấp hơn đội mũ lưỡi trai bé xíu. Hẳn bạn đã từng nghe cách các sự kiện quan trọng tác động đến tuổi tác của con người. Thế đấy, vụ bắn giết này đã làm anh ta trông trẻ hơn cả mười tuổi.
Trong lúc đứng đợi đến phiên mình, tôi bảo cô gái rắn rỏi rằng tôi nghĩ toàn bộ những sự kiện này sẽ kết nên một câu chuyện rất hay, và ngày nào đó tôi sẽ viết nó. Cái cách sáu người xếp hàng băng ra cửa gây ấn tượng mạnh. Cô ta sửng sốt rồi bảo tôi đừng nên viết truyện ấy bởi vì nó sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp của nền Cộng hòa Tây Ban Nha. Tôi đáp rằng tôi đã ở Tây Ban Nha lâu lắm rồi, từ những ngày xưa, dưới thời quân chủ, người ta đã thường bắn giết nhau; và rằng hàng mấy trăm năm trước nền Cộng hòa người ta cũng luôn chặt đầu nhau bằng những con dao to bản có tên gọi là Navajas ở Andalicia; và rằng nếu tôi chứng kiến một vụ bắn người dớ dẩn tại quán Chicote trong thời gian chiến tranh thì tôi cũng có thể viết lại như thế các vụ nổ súng xảy ra ở New York, Chicago, Key West hoặc Marseilles. Nó chẳng liên quan tí nào đến chính trị cả. Cô ta bảo tôi không nên. Có lẽ rất nhiều người nữa cũng bảo tôi đừng nên. Tuy nhiên, gã người Đức nghĩ đấy có vẻ là câu chuyện hay và tôi đưa cho gã điếu Camel cuối cùng. Rốt cuộc thì, dẫu sao sau chừng ba tiếng đồng hồ, cảnh sát bảo bọn tôi có thể đi.
Ở khách sạn Florida, mọi người đang lo về tôi, bởi lẽ vào những ngày bom đạn ấy, nếu bạn thả bộ khỏi nhà mà chưa về sau khi những quán rượu đóng cửa vào lúc bảy giờ ba mươi, thì mọi người lo sợ. Tôi rất mừng vì đã về nhà, tôi kể lại câu chuyện trong lúc bọn tôi nấu bữa khuya trên cái bếp điện, món thịt thật ngon.
Rồi suốt đêm trời không mưa nữa, sáng hôm sau, thời tiết đã chuyển sang ngày đầu đông se lạnh, quang đãng, dễ chịu, vào lúc mười hai giờ bốn mươi lăm phút, tôi đẩy cánh cửa quay của quán Chicote để uống một ly gin pha nước khoáng trước bữa trưa. Vào giờ ấy, quán vắng khách, hai anh bồi và viên quản lý, bước lại bàn tôi. Cả ba đang mỉm cười.
“Họ đã bắt được kẻ giết người chưa?” tôi hỏi.
“Đừng có đùa sớm thế?” viên quản lý nói. “Anh có thấy anh ta bị bắn không?”
“Có”, tôi đáp.
“Tôi cũng thấy”, ông ta nói. “Tôi đến ngay đấy khi sự việc xảy ra”. Ông ta chỉ vào góc bàn. “Hắn chĩa súng sát ngực anh ta rồi bóp cò”.
“Họ đến lấy fiambre”, anh bồi dùng tiếng lóng Tây Ban Nha để chỉ cái xác, từ này còn được dùng để chỉ món thịt đông lạnh trên thực đơn, “vào hồi mười một giờ sáng nay”.
“Nhưng anh chưa biết hết chuyện này”, viên quản lý nói.
“Đúng đấy. Ông ấy chưa biết đâu”, một anh bồi nói.
“Chuyện này thật hiếm thấy”, anh bồi khác nói. “Thật hiếm thấy”.
“Và cũng đáng buồn nữa”, viên quản lý nói. Ông ta lắc đầu.
“Đúng đấy, đáng buồn nhưng cũng rất lạ kỳ”, anh bồi nói. “Thật đáng buồn”.
“Kể cho tôi nghe đi”.
“Một chuyện thật hiếm có”, viên quản lý nói.
“Kể cho tôi nghe đi. Kể đi, kể cho tôi đi”.
Viên quản lý cúi người lên bàn, ra vẻ rất bí mật.
“Trong khẩu súng phun nước mà anh biết rồi đấy”, ông ta nói. “Anh ta đổ đầy nước hoa. Anh chàng đáng thương”.
“Như thế thì chẳng phải là trò đùa tai hại, ông đồng ý chứ?” anh bồi nói.
“Tình thực, trò ấy chỉ làm không khí vui lên. Lẽ ra mọi người đừng nên tức giận”, viên quản lý nói. “Anh chàng thật đáng thương”.
“Tôi hiểu” tôi nói. “Anh ta chỉ muốn làm cho mọi người vui”.
“Đúng đấy”, viên quản lý nói. “Tình thực, vụ này chỉ là một sự hiểu lầm tai hại”.
“Thế còn cây súng phun nước?”
“Cảnh sát đã thu nó. Họ gởi về lại cho gia đình anh ta”.
“Tôi nghĩ họ sẽ rất mừng khi nhận lại được khẩu súng”, tôi nói.
“Đúng đấy”, viên quản lý nói. “Chắc thế. Một khẩu súng phun nước thì luôn hữu dụng”.
“Anh ta là ai vậy?”
“Thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật”.
“Đã lấy vợ chưa?”
“Rồi, sáng nay cô vợ đến đây với cảnh sát”.
“Cô ta lăn xuống cạnh anh ta và thổn thức, ‘Pedro, chúng đã làm gì anh, Pedro? Ai đã nhẫn tâm làm cho anh ra nông nỗi này? Ôi Pedro!’.”
“Sau đó cảnh sát phải dìu cô ta lui bởi vì lúc ấy cô ta không còn tự chủ được nữa”, một anh bồi nói.
“Dường như phổi anh ta bị yếu”, viên quản lý nói. “Nhưng những ngày đầu của phong trào, anh ta đã tham chiến. Người ta bảo anh ta đã chiến đấu ở Sierra nhưng phổi quá yếu để có thể tiếp tục chiến đấu”.
“Rồi chiều hôm qua anh ta chỉ lang thang trong thành phố với mục đích trêu đùa để mọi người vui”, tôi tiếp lời.
“Không phải đâu”, viên quản lý nói. “Anh thấy đấy, vụ này thật hi hữu. Mọi việc rất khó ngờ. Chuyện này tôi nghe từ mấy tay cảnh sát, bọn họ cừ thật nếu có đủ thời gian. Họ đã điều tra những người cùng làm việc trong xưởng với anh ta. Sở dĩ họ biết được điều này là nhờ đã tìm ra tấm thẻ nghiệp đoàn trong túi nạn nhân. Hôm qua, anh ta mua một khẩu súng phun nước và một lọ nước hoa định dùng để đùa vui ở một đám cưới. Anh ta đã tuyên bố dự định này. Anh ta mua mấy thứ ấy ở bên kia đường. Cái nhãn đính trên lọ nước hoa có ghi địa chỉ. Cái lọ ấy được tìm thấy trong buồng vệ sinh. Anh ta vào đấy để trút nước hoa vào súng. Sau khi mua xong, chắc anh ta tạt vào đây vì trời mưa”.
“Tôi nhớ lúc anh ta bước vào”, một anh bồi nói.
“Trong bầu không khí vui vẻ, ngập tràn tiếng hát, anh ta cứ chạy hết chỗ này đến chỗ khác”.
Viên quản lý tiếp tục suy luận theo lô gíc cố hữu của người Tây Ban Nha.
“Là do niềm phấn kích bởi men rượu cộng với cái phổi yếu” ông ta nói.
“Tôi không thích câu chuyện này lắm”, tôi nói.
“Này”, viên quản lý nói. “Thât là hi hữu. Cơn bốc đồng của anh ta tiếp xúc với sự căng thẳng của chiến tranh giống như con bướm”.
“Ồ, rất giống một con bươm bướm” - Tôi nói. “Thật quá giống con bươm bướm”.
“Tôi không đùa đâu”, viên quản lý nói. “Anh có hiểu điều ấy không? Giống như một con bướm và cỗ xe tăng”.
Ý tưởng ấy khiến ông ta cực kỳ hài lòng. Ông ta đang chìm vào mê cung của siêu hình học Tây Ban Nha.
“Ta hãy uống vì sự liên tưởng ấy”, ông ta nói. “Anh phải viết một câu chuyện về việc này”.
Tôi nhớ người đàn ông cầm cây súng phun nước với hai bàn tay và khuôn mặt như tạc bằng sáp, xám ngắt, cánh tay dang rộng, chân co lên, trông anh ta hơi giống con bươm bướm; không giống nhiều đâu, chắc bạn đã hình dung ra rồi. Nhưng trông anh ta cũng chẳng giống con người. Anh ta gợi tôi nhớ về xác của một con én.
“Cho tôi một ly gin pha nước khoáng kí ninh Schweppers”, tôi gọi.
“Anh ta phải viết một câu chuyện về sự kiện này”, viên quản lý nói. “Ở đây. Ở đây may lắm”.
“May ư?” tôi nói. “Này, tối qua một cô gái người Anh bảo tôi đừng nên viết. Bởi lẽ nó sẽ mang lại điều không tốt cho phe Cộng hòa”.
“Thật ngớ ngẩn”, viên quản lý nói. “Câu chuyện này rất hấp dẫn và thực sự quan trọng. Niềm vui bị hiểu lầm va chạm với sự căng thẳng chết người thường xảy ra ở đây. Đối với tôi sự kiện này cực kỳ hi hữu và hấp dẫn nhất mà tôi từng chứng kiến trong đời. Anh phải viết về nó”.
“Thôi được”, tôi nói. “Tôi sẽ viết. Anh ta có con cái gì không?”
“Không”, viên quản lý đáp. “Tôi đã hỏi cảnh sát. Nhưng mà anh phải viết chuyện ấy và đặt nhan đề là Con bướm và cỗ xe tăng”.
“Thôi được”, tôi nói. “Tôi hứa. Nhưng tôi không thích nhan đề này lắm”.
“Nhan đề này rất nhã” viên quản lý nói. “Nghe thuần túy văn chương”.
“Thôi được”, tôi nói, “Tôi đồng ý. Ta đặt nhan đề cho câu chuyện là Con bướm và cỗ xe tăng”.
Rồi tôi ngồi đó, trong buổi sáng quang đãng và dễ chịu, quán rượu tỏa mùi sạch sẽ do mới được quét dọn, bên cạnh là viên quản lý và cũng là bạn cũ, người bây giờ đang tỏ ra rất hài lòng trước thỏa thuận văn chương mà hai đứa vừa bàn bạc; tôi uống một ngụm gin pha nước khoáng rồi nhìn ra cửa sổ chất đầy bao cát và hình dung ra người vợ đang quỳ gối ở đấy thổn thức, “Pedro. Pedro. Ai đã làm anh ra nông nỗi này, hỡi Pedio”. Rồi tôi nghĩ cảnh sát cũng chẳng thể nào tìm cho cô được câu trả lời dẫu họ có sẵn trong tay tên của người đàn ông, kẻ siết cò.

Lê Huy Bắc dịch
0
Dưới mỏm đất

Trong cái nóng oi ả của ngày cùng bụi bốc mù mịt, chúng tôi trở về, miệng khô đắng, mũi nghẹt thở và vai vác nặng, xuôi từ trận tuyến xuống mỏm đất dài bên bờ sông nơi quân dự bị Tây Ban Nha đang án ngự.
Tôi ngồi tựa lưng vào vách giao thông hào nông choèn, đầu và vai tôi tì lên bờ đất, đã được dọn sạch kể cả những viên đạn lạc, và nhìn những thứ trong lòng chảo ở bên dưới. Có một đội xe tăng dự bị, chúng được ngụy trang bằng những cành ô liu. Bên trái chúng là xe của bộ tham mưu được trát bùn và phủ cành cây và, giữa hai dãy xe ấy là một đoàn dài những người khiêng cáng đổ xuống từ hẻm núi hướng về mấy chiếc xe cứu thương đang đỗ trên vùng đất phẳng ngay dưới chân mỏm đất. Đoàn lừa thồ những bao bánh mì, những thùng rượu vang, đạn dược, được dẫn nhích dần qua hẻm núi vào rẻo đất; nhóm người đã chuyển xong thương binh, mang mấy chiếc cáng nhẹ tênh chậm rãi bước lên lối mòn sau lưng đàn lừa.
Ở bên phải, phía dưới đoạn lượn vòng của mỏm đất, tôi có thể nhìn thấy lối vào hang, nơi bộ tham mưu lữ đoàn đặt bản doanh, những sợi đây điện truyền tin của họ chạy từ đỉnh hang lượn qua mỏm đất nơi chúng tôi đang ẩn nấp.
Những người đi xe mô-tô, mặc đồ da, đội mũ sắt phóng xe lên xuống con đường tắt, nếu gặp đoạn dốc quá thì họ xuống xe đẩy bộ hoặc để chúng lại bên cạnh đường rồi tiếp tục bước về phía cửa hang và đi khuất vào trong. Lúc tôi nhìn, một người Hungary đi mô-tô to lớn mà tôi quen, ra khỏi hang, đút mấy tờ giấy vào trong ví da, bước đến chỗ để mô-tô, đẩy nó đi xuyên qua dòng lừa thồ và những người khiêng cáng rồi vắt chân ngồi lên yên, rồ máy phóng qua mỏm đất, tung bụi mịt mù.
Phía dưới, cắt ngang vùng đất phẳng, nơi mấy chiếc xe cứu thương đang chạy đến chạy đi, là một rặng cây xanh đánh dấu bờ của dòng sông. Có một ngôi nhà lớn với mái ngói đỏ tươi, một xưởng cưa, tường xây bằng đá xám và từ trong cụm cây mọc quanh ngôi nhà lớn ở phía bên kia sông những tiếng súng của chúng tôi đang vọng lại. Họ đang bắn thẳng về phía chúng tôi, cứ hai phát một, sau tiếng đề-pa bùng - bùng của những viên đạn cỡ ba inch thì tiếng mấy quả đạn rít lên, bay thẳng về phía chúng tôi, vòng qua đầu. Như thưòng lệ, chúng tôi thiếu pháo. Dưới ấy chỉ có bốn khẩu đội thay vì cần phải có đến bốn mươi, nên họ chỉ bắn mỗi lần hai khẩu. Cuộc tấn công đã thất bại trước lúc chúng tôi xuống đây.
- Anh là người Nga à? - Một người lính Tây Ban Nha hỏi.
- Không, người Mỹ - Tôi đáp - Anh có nước không?
- Có, thưa đồng chí. - Anh ta đưa tôi một cái túi da lợn. Số quân dự bị này chỉ là lính trên danh nghĩa bởi thực tế họ đang mặc quân phục. Nhưng người ta lại không định sử dụng họ để tấn công, họ án ngự dọc theo tuyến chạy qua đỉnh mỏm đất này, họ tụ tập thành nhóm ăn, uống, chuyện trò hoặc đơn giản hơn là ngồi ngủ gật và chờ đợi. Cuộc tấn công được lữ đoàn Quốc tế đảm nhiệm.
Hai chúng tôi cùng uống. Nước có mùi nhựa đường và mùi lông lợn.
- Rượu vang thì tốt hơn - Anh lính nói - Tôi sẽ đi lấy rượu vang.
- Đúng. Nhưng lúc khát thì cần có nước.
- Không có cái khát nào giống như cái khát của chiến trận. Ngay cả ở đây, trong lực lượng dự bị, tôi cũng khát rất nhiều.
- Đấy là nỗi sợ hãi - Một người lính khác nói - Khát là sợ hãi.
- Không - Người khác nói - Những cơn khát thường là do sợ hãi, Nhưng ở chiến tuyến, có nhiều cơn khát ập đến mà cũng chẳng phải vì sợ hãi gì cả.
- Nơi chiến địa thường xuyên có sự sợ hãi. - Người lính thứ nhất nói.
- Chỉ với mày thôi. - Người lính thứ hai nói.
- Chuyện ấy là bình thường. - Người lính thứ nhất nói.
- Chỉ với mày thôi.
- Hãy câm cái miệng thối của mày lại. - Người lính thứ nhất nói.
- Đơn giản tao chỉ là người nói lên sự thật.
Hôm ấy là một ngày tháng Tư quang đãng, gió thổi mạnh đến nỗi mỗi con lừa vượt qua hẻm núi đều khuấy tung lên một đám mây bụi, hai người khiêng hai đầu cáng cũng sủi tung hai đám bụi, chúng quyện vào nhau; và bên dưới, trên khoảng đất bằng, những vệt bụi dài cuộn lên từ sau mấy chiếc xe cứu thương theo làn gió cuốn bay đi.
Bấy giờ, tôi cảm thấy hoàn toàn an tâm rằng tôi sẽ không bị giết vào hôm ấy, bởi lẽ lúc sáng, chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình và đã hai lần trong suốt đợt tấn công vào lúc sáng sớm lẽ ra chúng tôi đã chết nhưng điều đó lại không xảy ra; vậy nên tôi lại càng tin tưởng. Lần chết hụt đầu tiên diễn ra khi chúng tôi bám theo đoàn xe tăng để chọn một nơi quay phim đợt tấn công. Lát sau, bỗng nhiên tôi không thích vị trí ấy và đã chuyển mấy chiếc camera sang bên trái chừng một trăm mét. Nhưng trước lúc rời đi, tôi đã đánh dấu nơi ấy theo cách cổ xưa nhất để nhớ vị trí, và chưa đầy mười phút sau, một quả đạn cỡ sáu inch rơi trúng ngay nơi tôi đã đứng và xóa sạch dấu vết của bất kỳ ai có mặt trên vùng đất ấy. Thay vào đó là một cái hố rộng, nổ tung, toang hoác.
Rồi hai tiếng đồng sau, một sĩ quan người Ba Lan, được biệt phái từ tiểu đoàn về bộ tham mưu đã đề nghị đưa chúng tôi đến các cứ điểm mà người Ba Lan vừa mới chiếm được; nhưng lúc vừa ra khỏi góc khuất của khe đồi, chúng tôi vấp phải làn đạn súng máy mạnh đến nỗi cả bọn phải toài người xuống bò lui, cằm rê sát đất, mũi bám đầy bụi và ngay lúc ấy cả bọn phát hiện ra điều đáng buồn là suốt cả ngày hôm đó, người Ba Lan chẳng chiếm được cứ điểm nào cả mà lại còn bị đẩy lùi ra phòng tuyến ban đầu của mình. Và bây giờ, lúc đang nằm ẩn trong giao thông hào người tôi ướt đẫm mồ hôi, đói, khát và cảm thấy trong lòng trống rỗng bởi mối hiểm nguy của cuộc tấn công đã chấm dứt.
- Anh có chắc mình không phải là người Nga không? - Một người lính hỏi - Hôm nay có mấy người Nga ở đây.
- Vâng. Nhưng chúng tôi không phải là người Nga.
- Anh có một khuôn mặt Nga.
- Không - Tôi nói - Anh sai rồi, đồng chí à. Tôi có một khuôn mặt hơi buồn cười nhưng nó không phải là mặt của một người Nga.
- Anh kia mới có khuôn mặt Nga kìa. - Người lính khác chỉ vào một người trong số chúng tôi, người đang hí hoáy với chiếc camera.
- Có lẽ. Nhưng anh ấy cũng chẳng phải là người Nga. Anh ở đâu vậy?
- Extremadura. - Anh ta tự hào nói.
- Có người Nga nào ở Extremadura không? - Tôi hỏi.
- Không - Anh ta đáp, thậm chí có vẻ tự hào hơn - Không có người Nga nào ở Extremadura và cũng chẳng có người Extremadura nào ở Nga cả.
- Quan điểm chính trị của anh là gì?
- Tôi căm thù hết thảy những người nước ngoài. - Anh ta nói.
- Đấy là một cương lĩnh chính trị phổ quát.
- Tôi căm thù người Moor, người Anh, người Pháp, người Italy, người Đức, người Bắc Mỹ và cả người Nga.
- Anh ghét họ theo trật tự ấy à?
- Đúng vậy, nhưng có lẽ tôi ghét người Nga nhất.
- Bạn này, bạn có những quan điểm rất thú vị - Tôi nói - Bạn có phải là một anh chàng phát xít không?
- Không. Tôi là người Extremadura và tôi căm ghét người ngoại quốc.
- Hắn có những quan điểm rất kỳ quặc - Người lính khác nói - Anh đừng quá xem trọng những lời hắn nói. Tôi đây này, tôi thích người ngoại quốc. Tôi ở Valencia. Mời anh dùng thêm một ly rượu nũa.
Tôi đưa tay đón ly rượu, miệng tôi hãy còn vương vị rượu. Tôi nhìn anh chàng Extremadura. Anh ta cao và gầy. Khuôn mặt hốc hác, râu ria lởm chởm, hai má sưng vù. Anh ta đứng bật dậy trong cơn tức giận, tấm áo choàng bằng vải mềm vắt qua vai.
- Hãy cúi đầu xuống - Tôi bảo anh ta - Có nhiều đạn lạc đang bay trên ấy đấy.
- Tôi chẳng sợ đạn lạc và tôi ghét tất cả bọn nước ngoài. - Anh ta nói với vẻ hung tợn.
- Anh không cần phải sợ đạn, - Tôi nói - nhưng anh nên tránh chúng một khi còn ở trong lực lượng dự bị. Quả là chẳng khôn ngoan tí nào khi để bị thương trong lúc mình có thể tránh được.
- Tôi chẳng sợ bất kỳ thứ gì. - Người Extremadura nói.
- Anh thật may mắn đấy, đồng chí à.
- Thật đấy, - Người lính khác, đang cầm ly rượu nói - hắn chẳng biết sợ là gì, ngay cả với cái lũ khốn ở trên trời ấy.
- Hắn bị điên - Một người lính nữa nói - Mọi người ai cũng sợ máy bay. Chúng giết thì ít nhưng lại gieo nỗi kinh hoàng thì vô cùng tận.
- Tao không sợ. Cả máy bay lẫn mọi thứ trên đời - Người Extremadura nói - Nhưng tao lại ghét bất cứ một thằng ngoại quốc nào.
Từ trên hẻm núi, bước đi bên cạnh hai người khiêng cáng và dường như chẳng chú ý chút nào đến việc mình đang ở đâu, một người cao lớn vận quân phục của lữ đoàn Quốc tế đang lần xuống, cái mền quấn quanh vai và được buộc vào ngang hông. Đầu ngẩng cao, trông anh ta như thể người đang đi trong cơn mộng du. Anh ta ở vào độ tuổi trung niên, không mang súng và, nhìn từ chỗ tôi nằm, trông anh ta chẳng bị thương tích gì.
Tôi nhìn anh ta một mình bước ra khỏi cuộc chiến. Trước lúc đến gần mấy chiếc xe của bộ tham mưu, anh rẽ sang trái, mái đầu vẫn ngẩng cao trong tư thế kỳ lạ ấy, anh vượt qua đỉnh mỏm đất rồi khuất khỏi tầm mắt.
Người đi cùng tôi, mải bận thay phim cho camera xách tay nên đã không để ý đến anh ta.
Môt quả đạn lẻ loi bay vòng qua mỏm đất, nổ tung bụi và khói đen ngòm ngay trước chiếc xe tăng dự bị.
Ai đó thò đầu ra khỏi hang của bộ tham mưu lữ đoàn rồi lại biến mất vào bên trong. Tôi nghĩ nơi ấy trông thật dễ chịu để đến nhưng rồi sực nhớ ra là chắc mọi người đang giận dữ bởi cuộc tấn công đã bị thất bại, như thế tôi không muốn gặp họ. Nếu một chiến dịch thành công thì họ vui vẻ cho quay phim. Nhưng nếu nó thất bại thì bất kỳ ai, trong môi trường cáu kỉnh ấy, cũng đều có nguy cơ bị áp tải lùi ra sau.
- Bây giờ, bọn chúng có khả năng bắn vào ta đấy. - Tôi nói.
- Việc ấy với tôi thì cũng chẳng có gì khác. - Người Extremadura nói. Tôi đã bắt đầu hơi mệt mỏi với tay này.
- Các anh có nhiều rượu dự trữ không? - Tôi hỏi. Miệng tôi vẫn khô đắng.
- Vâng, còn đấy bạn à. Còn mấy gallon nữa - Người lính thân thiện nhất trả lời. Anh ta thấp người, tròn quay và rất bẩn, bộ râu lởm chởm dài gần bằng những sợi tóc trên cái đầu húi cua của anh ta - Anh có nghĩ bây giờ chúng sẽ bắn ta không?
- Có thể lắm - Tôi đáp - Nhưng trong cuộc chiến này ta chẳng thể nào nói trước được gì đâu.
- Cuộc chiến này thì có chuyện gì hả? - Người Extremadura giận dữ hỏi - Anh không thích cuộc chiến này sao?
- Câm mồm lại! - Người lính thân thiện quát - Tôi chỉ huy ở đây, còn những đồng chí này là khách của chúng ta.
- Vậy thì đừng để hắn nói xấu cuộc chiến của chúng ta - Người Extremadura nói - Không một thằng ngoại quốc nào được phép đến đây nói xấu cuộc chiến của chúng ta.
- Thành phố nào là quê hương của đồng chí? - Tôi hỏi người Extremadura.
- Badajoz - Anh ta đáp - Tôi đến từ Badajoz. Tại Badajoz, chúng tôi bị cướp bóc, tước đoạt của cải; còn phụ nữ thì bọn Pháp, bọn Anh làm nhục, giờ thì đến lượt lũ người Moor. Những gì bọn Moor làm bây giờ thì chẳng tệ hơn điều bọn Anh làm dưới thời Wellington. Anh nên đọc lịch sử. Tổ tiên tôi đã bị giết bởi người Anh. Ngôi nhà gia đình tôi sinh sống cũng bị người Anh đốt.
- Tôi lấy làm tiếc về chuyện đó - Tôi nói - Thế tại sao anh lại ghét người Bắc Mỹ?
- Cha tôi đã bị bọn chúng giết ở Cuba khi người bị cưỡng bức đi lính đến đấy.
- Tôi cũng buồn về việc ấy. Buồn thực sự. Xin chia buồn cùng gia đình. Thế tại sao anh lại ghét người Nga?
- Bởi vì chúng là hiện thân của sự độc tài, tôi ghét cái bản mặt chúng. Và anh lại có một khuôn mặt Nga.
- Có lẽ tốt hơn là ta nên rời khỏi đây - Tôi bảo người đi cùng, cậu ta không biết tiếng Pháp - Tớ như thể mang một khuôn mặt Nga, điều ấy đang gây rắc rối cho tớ đây.
- Tớ sắp ngủ đây - Cậu ta nói - Đây là nơi tốt lành. Đừng nói nhiều quá thì cậu sẽ không gặp rắc rối.
- Ở đây có một đồng chí không thích tớ. Tớ nghĩ hắn là kẻ tôn thờ chủ nghĩa vô chính phủ.
- Chà, hãy dè chừng để khỏi bị hắn bắn. Tớ ngủ đây.
Ngay khi đó, hai gã vận áo khoác da; một gã lùn, béo ục ịch, gã kia có chiều cao trung bình; cả hai đội mũ lưỡi trai dân sự, gương mặt bèn bẹt, xương gò má nhô cao, mấy khẩu súng lục Mauser đút trong bao đeo ở quần; bước ra khỏi hẻm núi tiến về phía bọn tôi.
Gã cao nói với tôi bằng tiếng Pháp.
- Anh có thấy một đồng chí người Pháp đi qua đây không? - Gã hỏi - Một đồng chí quấn cái mền quanh vai như thể một cái bao đựng đạn? Một đồng chí khoảng chừng bốn lăm, năm mươi tuổi? Anh có thấy một đồng chí như thế rời mặt trận đi theo hướng nào không?
- Không - Tôi trả lời - Tôi không thấy đồng chí nào như thế cả.
Gã nhìn tôi một lát, tôi để ý thấy mắt gã có màu vàng phớt xám, cứ nhìn trân trân không hề chớp.
- Cảm ơn đồng chí. - Gã nói bằng cái thứ tiếng Pháp quê quê của gã rồi nói nhanh với gã đi cùng bằng thứ tiếng mà tôi chẳng thể nào hiểu nổi. Chúng bước đi rồi leo lên chỗ cao nhất của mỏm đất, từ đó chúng có thể nhìn thấy hết cả mọi ngóc ngách ở bên dưới.
- Đúng là một khuôn mặt Nga. - Người Extremadura nói.
- Im đi! - Tôi quát. Tôi đang nhìn hai gã vận áo khoác da. Chúng đang đứng đó, dưới làn mưa đạn, dõi mắt lùng sục khắp cả vùng đất vụn vỡ bên dưới mỏm đất và nhìn ra cả phía dòng sông.
Bất thình lình, một gã đã nhìn thấy cái chúng cần và đưa tay chỉ. Rồi cả hai băng mình chạy tới như mấy con chó săn mồi, một gã chạy thẳng xuống từ mỏm đất, gã kia cắt chéo góc như thể đón đầu. Trước lúc gã thứ hai chạy khỏi đỉnh mỏm đất, tôi thấy hắn rút súng chĩa về phía trước lúc đang chạy.
- Anh thích thế chứ? - Người Extremadura hỏi.
- Cũng chẳng tốt lành gì hơn anh. - Tôi nói.
Khuất sau đỉnh của một mỏm đất song song với mỏm đất bên này, tôi nghe những tiếng nổ đanh của mấy khẩu Mauser. Chúng tiếp tục bắn hơn mười phát. Tầm bắn của chúng hẳn là rất xa. Sau một loạt tiếng nổ, hai khẩu súng dừng lại một lát rồi chỉ độc một phát súng nữa vang lên.
Người Extremadura ảm đạm nhìn tôi, không nói. Tôi nghĩ tình thế sẽ dễ chịu hơn nếu tiếng súng lại rộ lên. Nhưng không còn tiếng súng nào nữa.
Hai gã vận áo da, đội mũ thường dân quay lại, vượt qua mỏm đất, rồi cùng nhau bước xuống hẻm núi với dáng đi khuỷu gối kỳ quặc của những sinh vật hai chân lúc đi xuống sườn đồi dốc. Chúng quay lên hẻm núi khi một chiếc xe tăng gầm rú bò xuống, và bước sang lề đường đợi chiếc xe chạy qua.
Hôm ấy, những cỗ xe tăng lại thất bại. Khi về đến chỗ nấp trên mỏm đất, tháp tăng bật tung lên, những người lính lái xe, vừa từ tuyến trước lui về, đội mũ da bước ra, họ nhìn thẳng về phía trước như những cầu thủ bóng đá bị mời ra sân bởi khả năng chơi kém cỏi của mình.
Hai gã mặt bẹt vận áo khoác da đứng cạnh chúng tôi trên mỏm đất đợi chiếc xe chạy qua.
- Các anh đã tìm thấy đồng chí các anh cần chưa? - Tôi hỏi gã cao bằng tiếng Pháp.
- Được rồi, cảm ơn đồng chí. - Gã đáp và nhìn tôi với vẻ dò xét.
- Hắn nói gì vậy? - Người Extremadura hỏi.
- Hắn bảo đã tìm thấy người mà cả hai đang lùng kiếm. - Tôi đáp. Người Extremadura không nói gì nữa.
Sáng hôm ấy, tất cả bọn tôi đã ở nơi mà người Pháp trung niên đã rời đi. Chúng tôi ở đó, ngập trong bụi bặm, khói súng, tiếng gầm đinh tai, thương tích, cái chết, nỗi sợ hãi cái chết, lòng dũng cảm, sự hèn nhát, sự rồ dại và cảm giác thất vọng bởi cuộc tấn công thất bại. Chúng tôi đã ở đó trên chiến trường bị đạn bom cày nát mà không một ai có thể vượt qua và có thể sống sót. Bạn toài người xuống nằm bẹp dí; tìm một mô đất che đầu, vùi sâu cằm vào lớp bụi bẩn; đợi lệnh để xông lên sườn đồi kia nơi không một ai có thể lên đến mà còn sống sót.
Chúng tôi ở đó, cùng với những người nằm đợi đoàn tăng đã không đến; chờ đợi dưới tiếng rít khét lẹt, tiếng nổ rung trời của đạn pháo; đất lẫn với kim loại tung lên như những cục máu đông phun ra từ một đài phun bẩn thỉu; và phía trên đầu là lưới đạn vun vút bay tựa một tấm rèm lửa. Chúng tôi hiểu tâm trạng của những đang chờ đợi. Họ đã tiến lên phía trước xa đến mức khả năng họ cho phép. Con người ta không thể đi xa hơn và không thể sống sót một khi mệnh lệnh cứ vượt quá tình thế thực tại.
Suốt cả buổi sáng, chúng tôi đã ở đó, tại nơi người Pháp trung niên đã bỏ đi. Tôi hiểu cái cách một người Pháp trung niên đã bỏ đi. Tôi hiểu cái cách một người đột nhiên hiểu rõ sự ngu ngốc của cái chết trong một đợt tấn công không thành; hoặc bất thình lình thấy điều ấy hiện ra rõ ràng, như bạn có thể nhận thấy rõ ngay trước lúc chết; thấy sự vô vọng của nó, thấy sự cực kỳ ngu xuẩn của nó, thấy bản chất thực của nó, rồi đơn giản chỉ bước lùi lại và quay người bỏ đi như người Pháp kia đã làm. Anh ta rời khỏi cuộc chiến không phải vì hèn nhát, chỉ đơn giản là đã quá hiểu nó; và bỗng nhiên biết rằng mình phải giã từ, biết rằng mình không còn con đường nào khác để lựa chọn.
Người Pháp ấy đã rời bỏ cuộc chiến bằng một phong thái hết sức trang nghiêm và tôi đã hiểu anh ta với tư cách là một con người. Nhưng, ở vị trí của một người lính, những gã vệ binh kia đã hạ anh ta và rồi cái chết mà anh ta lẩn tránh đã đuổi kịp khi anh ta vừa mới vượt qua mỏm đất, nơi không còn đạn bay, pháo nổ, để đi về phía dòng sông.
- Vậy đấy. - Người Extremadura nói rồi hất hàm về phía hai gã vệ binh.
- Chiến tranh - Tôi nói - Trong chiến tranh, kỷ luật là điều cần thiết.
- Và sống với kiểu kỷ luật ấy thì chúng ta sẽ chết chăng?
- Dầu sao thì bất cứ ai cũng sẽ chết cho dù không có kỷ luật.
- Có thứ kỷ luật này và thứ kỷ luật nọ - Người Extremadura nói - Xin hãy nghe tôi. Vào tháng Hai, chúng tôi đã đến đây, chỗ chúng ta đang đứng bây giờ, và bọn phát xít đã tấn công. Chúng hất bọn tôi ra khỏi những ngọn đồi mà hôm nay lữ đoàn Quốc tế của các anh cố chiếm lại nhưng không thể. Chúng tôi bị đẩy lùi lại đây, tới mỏm đất này. Rồi lữ đoàn Quốc tế tiến lên án ngự phía trước.
- Tôi biết điều đó. - Tôi nói.
- Nhưng anh chưa biết điều này - Anh ta cáu kỉnh nói - Có một đứa đồng hương của tôi do hoảng sợ bởi trận ném bom đã tự bắn vào tay mình để có thể rời khỏi mặt trận.
Nhiều người trong số nhóm lính đang lắng nghe, gật gật đầu.
- Những người làm như thế thì sẽ được băng bó và bị gài lại ngay chiến tuyến - Người Extremadura nói - Làm thế là đúng.
- Phải - Tôi nói - Đúng là nên làm như thế.
- Đúng là nên làm như thế - Extremadura nói - Nhưng thằng ấy lại làm hắn bị thương nặng đến nỗi xương đã vỡ vụn, vết thương bị nhiễm trùng nên tay hắn bị cắt bỏ.
Nhiều người lính gật đầu.
- Tiếp tục đi, kể cho anh ấy nghe nốt đoạn còn lại. - Một người nói.
- Có lẽ tốt hơn là đừng kể nữa. - Người tự xưng là chỉ huy, có khuôn mặt lởm chởm râu và đầu tóc húi cua, nói.
- Bổn phận của tao là phải kể. - Người Extremadura nói.
Người chỉ huy nhún vai.
- Tao không thích chuyện ấy - Anh ta nói - Nhưng cứ tiếp tục đi. Tao thì thậm chí cũng chẳng muốn nghe kể về nó.
- Thằng ấy nằm bệnh viện ở dưới thung lũng từ tháng Hai - Người Extremadura nói - Vài người trong số bọn tôi đã đến thăm hắn tại bệnh viện. Tất cả đều nói hắn được mọi người ở bệnh viện yêu mến bởi đã cố làm một người có ích với bàn tay lành lặn. Hắn không bị bắt giữ. Hắn chẳng được chuẩn bị gì trước cả.
Người chỉ huy lẳng lặng đưa tôi ly rượu. Mọi người đang lắng nghe; như thể những người không biết đọc, biết viết lắng nghe một câu chuyện.
- Hôm qua, vào lúc xế chiều, trước lúc chúng tôi biết sắp có một đợt tấn công. Hôm qua, trước lúc mặt trời lặn, khi chúng tôi đã nghĩ hôm nay cũng giống như mọi ngày, thì họ đưa hắn từ vạt đất bằng theo lối mòn, qua hẻm núi lên đây. Chúng tôi đang nấu bữa tối thì họ đưa hắn đến. Chỉ có bốn người: hắn - Paco - cùng hai gã vận áo khoác da, đội mũ dân sự mà anh vừa nhìn thấy và một sĩ quan của lữ đoàn, chúng tôi thấy cả bốn người leo lên hẻm núi, tay Paco không bị trói và cũng không bị nắm giữ.
- Khi thấy hắn, cả bọn chúng tôi vây quanh chào hỏi “Chào Paco, mày khỏe chứ? Mọi chuyện thế nào hả Paco, anh bạn cũ?” - Hắn đáp:
“Mọi chuyện tốt đẹp cả. Tất thảy đều ổn, chỉ trừ cái này” - Hắn đưa cho bọn tôi thấy mẩu tay cụt. - Paco nói: “Đấy là hành động ngu ngốc và hèn nhát. Tớ lấy làm xấu hổ vì mình đã hành động như thế. Nhưng tớ sẽ hoàn thành nhiệm vụ bằng một bàn tay. Tớ sẽ làm tốt những gì mình có thể với bàn tay này cho Sự nghiêp cách mạng của chúng ta”.
- Đúng đấy - Một người lính ngắt lời - Cậu ấy đã nói như thế. Tôi nghe cậu ấy nói thế.
- Chúng tôi nói chuyện với hắn - Extremadura tiếp tục kể - Và hắn chuyện trò với chúng tôi. Nhưng một khi những người vận áo da và đeo súng lục đến thì đấy luôn là dấu hiệu bảo điềm gở trong chiến tranh tựa như khi họ mang bản đồ và ống dòm tác chiến đến. Nhưng chúng tôi chỉ nghĩ họ đưa hắn lên thăm và tất cả chúng tôi những người chưa có điều kiện đến thăm ở bệnh viện đều rất vui mừng khi gặp lại hắn, và như tôi đã nói, lúc ấy đã là giờ ăn tối, một buổi tối quang đãng và ấm áp.
- Làn gió này chỉ thổi suốt vào ban đêm. - Một người lính nói.
- Lát sau, - Giọng người Extremadura trở nên trầm xuống - một người trong số họ nói với viên sĩ quan bằng tiếng Tây Ban Nha - Chỗ ấy ở đâu?
- Thằng Paco này bị thương ở khu vực nào? - Viên sĩ quan hỏi.
- Tôi trả lời hắn - Người chỉ huy nói - Tôi chỉ chỗ ấy. Nó xa hơn nơi anh đang đứng một tí.
- Nó đây này. - Một người lính nói. Anh ta chỉ tay, và tôi có thể nhìn thấy nơi ấy bởi còn dấu vết cho thấy đúng là ở đây.
- Rồi thì một tên nắm tay Paco dẫn đến chỗ đó và giữ cánh tay hắn trong lúc tên kia nói bằng tiếng Tây Ban Nha. Hắn nói tiếng Tây Ban Nha với cơ man nào là lỗi. Thoạt tiên, chúng tôi muốn phì cười, cả Paco cũng bắt đầu mỉm cười. Tôi không thể hiểu hết cái bài diễn văn ấy, nhưng nội dung của nó chắc là: Paco phải bị trừng trị để làm gương, để không ai còn dám tự hủy hoại cơ thể mình và tất cả những người khác cũng sẽ nhận hình phạt tương tự nếu vi phạm kỷ luật.
- Rồi trong lúc một tên nắm giữ cánh tay Paco; lúc này trông Paco rất xấu hổ vì bị bêu riếu như thể trong lúc hắn thực sự ăn năn và hổ thẹn; thì một tên rút ngay súng bắn thẳng vào gáy Paco mà không một lời báo trước. Không một lời nào.
Tất cả những người lính đều gật đầu.
- Bởi thế, - Một người nói - anh có thể nhìn thấy ở kia. Cậu ấy đã ngã đập miệng xuống đất. Anh có thể nhìn thấy dấu vết.
Từ nơi tôi nằm, tôi có thể thấy rõ chỗ ấy.
- Cậu ấy không được cảnh báo hay có cơ hội chuẩn bị - Người chỉ huy nói - Việc làm đó thật ác độc.
- Đấy là lý do tại sao bây giờ tôi căm thù người Nga cũng như tất cả những tên ngoại quốc khác - Người Extremadura nói - Chúng tôi có thể tự nhủ với bản thân mình rằng sẽ không còn ảo tưởng về bọn ngoại quốc nữa. Tôi xin lỗi vì anh là người nước ngoài. Nhưng với tôi bây giờ thì không còn ngoại lệ gì nữa. Anh đã ăn bánh và uống rượu cùng chúng tôi. Bây giờ tôi nghĩ là anh nên đi đi.
- Đừng nói thế - Người chỉ huy bảo người Extremadura - Lịch sự là điều thực sự cần thiết đấy.
- Tôi nghĩ tốt hơn là chúng tôi nên đi. - Tôi nói.
- Anh không giận chứ? - Người chỉ huy hỏi - Các anh có thể ở lại trong hầm này bao lâu tùy thích. Anh có khát không? Anh có muốn uống thêm tí rượu nữa chứ?
- Cảm ơn anh rất nhiều - Tôi nói - Tôi nghĩ chúng tôi nên đi thì tốt hơn.
- Anh hiểu nỗi căm thù của tôi chứ? - Người Extremadura hỏi.
- Tôi hiểu sự căm thù của anh. - Tôi đáp.
- Tốt - Anh ta nói rồi chìa tay ra - Tôi không từ chối một cái bắt tay. Riêng đối với anh, cá nhân tôi, xin chúc anh gặp nhiều may mắn.
- Tôi cũng chúc anh như thế - Tôi nói - Với tư cách cá nhân và cả với tư cách của một người Tây Ban Nha.
Tôi đánh thức người quay camera rồi chúng tôi rời mỏm đất đi về phía tổng hành dinh lữ đoàn. Bây giờ cả đoàn tăng đang lùi lại, bạn chẳng thể nghe nổi giọng mình trong tiếng rú gầm ấy.
- Cậu nói chuyện suốt có phải không?
- Chỉ nghe thôi.
- Có gì thú vị không?
- Nhiều lắm.
- Bây giờ cậu định làm gì?
- Trở về Madrid.
- Chúng ta nên đến gặp vị tướng đã.
- Ừ - Tôi nói - Chúng ta phải gặp.
Vị tướng rất giận dữ. Ông ta nhận lệnh mở một cuộc tấn công chớp nhoáng bằng cả một lữ đoàn, san phẳng các mục tiêu trước khi trời sáng. Lẽ ra cuộc tấn công được thực hiện tối thiểu bằng một sư đoàn. Nhưng ông chỉ sử dụng ba tiểu đoàn và để lại một tiểu đoàn dự bị. Tay chỉ huy lực lượng xe tăng người Pháp, để lấy can đảm cho trận đánh, đã nốc rượu nhiều đến nỗi rốt cuộc bị say túy lúy, không chỉ huy được nữa. Tay ấy sẽ bị bắn lúc tỉnh rượu.
Lực lượng tăng đã không tập kết đúng giờ và cuối cùng đã không chịu tấn công, hai tiểu đoàn kia không thể chiếm được cứ điểm. Tiểu đoàn thứ ba đã giành chiến thắng nhưng đấy chỉ là một cứ điểm nhô ra trên tuyến phòng thủ của quân địch và sau đó không thể nào giữ được. Kết quả duy nhất của cuộc tấn công là mấy tù binh, số người này được chuyển cho lính tăng đưa về nhưng họ đã giết hết số tù binh ấy. Vị tướng chỉ còn mỗi sự thất bại để trưng bày bởi người ta đã giết hết tù binh của ông.
- Tôi có thể viết gì về cuộc tấn công này? - Tôi hỏi.
- Những gì có trong thông báo chính thức. Anh có còn chút whisky nào trong cái chai dẹt kia không?
- Còn đấy.
Ông ta uống một ngụm rồi cẩn thận liếm môi. Có dạo, ông ta đã từng là đại úy thuộc lực lượng khinh kỵ binh Hungary, và có hồi ông ta đã tóm gọn một đoàn tàu chở vàng ở Siberia khi đang chỉ huy một đội kỵ binh không chính quy của Hồng quân và gìn giữ số tài sản ấy suốt cả mùa đông khi nhiệt độ xuống đến âm bốn mươi độ. Chúng tôi là bạn tốt của nhau, ông ta thích whisky, nhưng bây giờ ông ta đã qua đời.
- Hãy rời khỏi đây ngay - Ông ta nói - Anh có xe chưa?
- Có rồi.
- Anh đã quay được đoạn phim nào chưa?
- Một ít thôi. Những chiếc xe tăng.
- Xe tăng ư? - Ông ta cay đắng nói - Cái đồ con lợn. Đồ hèn nhát. Cẩn thận để đừng bị giết đấy - Ông ta nói - Lẽ ra anh nên làm một nhà văn.
- Bây giờ tôi chưa thể viết.
- Thì để sau này hãy viết. Anh có thể viết mọi thứ sau này. Nhưng đừng để bị giết. Đặc biêt hãy ghi nhớ là đừng để bị giết. - Ông ta nói.
- Giờ thì hãy đi khỏi nơi này.
Ông ta không thể tự khuyên bảo chính bản thân mình bởi chỉ hai tháng sau, ông đã bị giết. Nhưng điều quái đản nhất về cái ngày hôm ấy là những cỗ xe tăng chúng tôi quay được, chúng mới hùng dũng làm sao. Trên màn hình, chúng tiến phăng phăng lên ngọn đồi, chồm lên đỉnh tựa những còn tàu chiến dũng mãnh rồi lạch xạch bò về phía ảo tưởng chiến thắng mà chúng tôi đã đưa vào phim.
Kẻ đến gần chiến thắng nhất trong ngày hôm ấy có lẽ là người Pháp kia, người ngẩng cao đầu rời bỏ chiến trận. Nhưng chiến thắng của anh ta chỉ được kéo dài theo bước chân của anh đến giữa quãng đường vắt qua mỏm đất. Chúng tôi thấy anh nằm đó, tay chân dang rộng trên triền dốc, cái mền vẫn quấn quanh người trong lúc chúng tôi theo lối tắt đi xuống, vào xe của bộ tham mưu đang đợi để đưa chúng tôi về Madrid.

Lê Huy Bắc dịch
0
Chẳng có ai chết

Bức tường vôi hồng của ngôi nhà bong ra, phai màu vì ẩm thấp: từ hiên nhà, bạn có thể nhìn thấy biển, rất xanh phía cuối đường. Những cây nguyệt quế mọc cao bên lề đường, tỏa bóng lên ban công thượng, trong bóng lá, không khí mát mẻ. Lồng chú chim mốc-kinh treo trong góc hành lang, lúc này nó ngừng hót, thậm chí cũng không còn chim chíp nữa, bởi lẽ chàng trai chừng hai tám tuổi gầy, đen, mặt quầng thâm, râu bù xù vừa cởi áo pun đang mặc che lên lồng. Bây giờ anh đứng miệng hé mở, lắng nghe. Ai đó đang cố mở khóa cánh cửa phía trước.
Lúc lắng nghe, anh nhận ra tiếng gió đang luồn qua hàng nguyệt quế bên cạnh lan can, tiếng còi tắc xi chạy trên đường và tiếng trẻ con đang chơi đùa trên vạt đất trống. Rồi anh lại nghe tiếng chìa khóa xoay trong ổ ấy, anh nghe tiếng gậy bóng chày vụt trúng quả bóng và tiếng reo lanh lảnh bằng tiếng Tây Ban Nha vang lên từ vạt đất trống. Anh đứng im, liếm ướt môi và lắng nghe ai đó đang cố mở cảnh cửa phía sau.
Người đàn ông trẻ ấy, tên là Enrique, tháo giày, cẩn thận đặt xuống, nhẹ nhàng di chuyển trên lớp gạch lát hiên cho đến lúc anh có thể cúi nhìn xuống cánh cửa phía sau. Không có ai ở đó. Anh khẽ bước về lại phía trước ngôi nhà, giấu kín mình, nhìn xuống đường.
Một người da đen đội mũ rơm hẹp vành, chóp bẹt, vận chiếc áo choàng len màu xám và quần dài màu đen đang bước trên lề đường, dưới tán nguyệt quế. Enrique dõi nhìn nhưng chẳng còn một ai nữa. Anh đứng yên một lúc quan sát và lắng nghe rồi nhấc chiếc áo khỏi lồng chim, mặc vào.
Mồ hôi tuôn đầm đìa trong lúc anh lắng nghe, bây giờ anh dịu đi trong bóng lá và làn gió Đông bắc mát mẻ. Chiếc áo che bao súng da đeo qua vai, sợi dây đeo uốn vòng, ngả màu trắng muối do mồ hôi và cứ trĩu xuống bởi khẩu colt cỡ đạn 45; khẩu súng làm nách anh hơi cộm lên. Anh nằm xuống chiếc giường vải bạt kê sát tường. Anh vẫn lắng nghe.
Con chim trong lồng lại khẽ kêu rồi cất tiếng hót, người đàn ông trẻ nhìn nó. Rồi anh đứng dậy, tháo chốt cửa, mở lồng ra. Con chim thò đầu qua ô cửa mở, rụt vào rồi lại thò ra, đưa mỏ mổ vào góc cửa.
“Bay đi”, chàng trai khẽ nói. “Không có cạm bẫy nào đâu”.
Anh đút tay vào lồng, con chim bay lùi lại, đập cánh loạn xạ vào nan lồng.
“Mày thật ngốc”, chàng trai nói. Anh rút tay ra khỏi lồng. “Mình sẽ để cửa mở”.
Anh nằm úp mặt xuống giường, cằm tỳ lên cánh tay và vẫn lắng nghe. Anh nghe tiếng con chim bay khỏi lồng rồi anh nghe nó hót trên cây nguyệt quế.
“Nếu ngôi nhà này được xem là hoang vắng thì thật là ngốc mới giữ con chim ấy lại”, anh nghĩ “cứ ngốc như thế rồi sẽ gặp vô khối rắc rối. Mình làm sao có thể khiển trách được người khác trong khi lại dại dột đến thế?”.
Trên vạt đất trống, bọn trẻ vẫn mải mê chơi bóng, bây giờ trời hơi mát. Chàng trai tháo dây đeo, đặt khẩu súng lục cạnh đùi. Lát sau anh chìm vào giấc ngủ.
Khi anh thức giấc, trời đã tối, ánh đèn đường trên góc phố chiếu xuyên qua đám lá nguyệt quế. Anh đứng dậy, đi ra phía trước ngôi nhà, ẩn mình trong bóng tối và chỗ khuất của bức tường, nhìn xuống đường. Một người đội mũ rơm bẹp vành, chóp bẹt đang đứng dưới cái cây trong góc phố. Enrique không nhìn rõ màu áo quần của hắn, nhưng hắn là người da đen.
Enrique bước nhanh ra hành lang sau nhưng không có ánh sáng phía ấy ngoại trừ luồng sáng từ phía cửa sổ sau của hai ngôi nhà bên cạnh hắt ra đồng cỏ. Sau ấy chắc có nhiều người. Anh biết điều đó, nhưng anh không thể nghe rõ như hồi chiều bởi radio ở ngôi nhà thứ hai đang mở.
Thình lình, một tiếng còi lanh lảnh vang đến, người trẻ tuổi nổi da gà. Cơn sợ ập đến nhanh như khi người ta đỏ bừng mặt, như thể luồng nhiệt quất mạnh và tan nhanh như khi nó đến. Tiếng còi phát ra từ radio; đấy là phần chương trình quảng cáo và giọng của phát thanh viên nối theo, “Kem đánh răng Gavis. Không thay thế được, hảo hạng, số một”.
Enrique mỉm cười trong bóng tối. Giờ là lúc ai đó chắc đang đến ngôi nhà.
Sau tiếng còi là tiếng trẻ khóc qua băng ghi âm và lời phát ngôn của phát ngôn viên bảo nó sẽ nín với Malta - Malta, tiếp đó là tiếng còi xe máy và tiếng khách hàng yêu cầu xăng xanh. “Chớ có dông dài gì nữa. Tôi cần xăng xanh. Tiết kiệm hơn, tiện dụng hơn, hảo hạng nhất”.
Enrique thuộc lòng tất cả các quảng cáo đó. Chúng đã không thay đổi suốt mười lăm tháng kể từ ngày anh ra trận; hẳn người ta sử dụng cùng đĩa ghi âm ở đài phát thanh, cùng tiếng còi đã đánh lừa anh, gây cho anh cảm giác ớn lạnh hệt như phản ứng của con chó săn chim cứng người lại khi bắt rõ mùi cun cút.
Khi mới bắt đầu, anh không có cảm giác như bị kim châm đó. Mối nguy hiểm và nỗi sợ hãi chiến trận đã một lần khiến anh cảm thấy ruột gan trống rỗng. Chúng ta làm anh cảm thấy yếu ớt như khi người ta yếu vì sốt rét và anh biết mình không còn khả năng cử động như khi người ta phải buộc đôi chân lê tới trong lúc đôi chân ấy cứng đơ như thể chúng ta đã mất cảm giác. Giờ đây tất cả đã qua và anh chẳng còn gặp khó khăn trước bất cứ việc gì anh định làm. Cảm giác như bị kim châm ấy là tất cả những gì còn sót lại của nỗi kinh hoàng vô độ mà vài người dũng cảm thường gặp phải. Đấy là phản ứng duy nhất của anh trước mối hiểm nguy, ngoại trừ việc đổ mồ hôi mà anh biết anh luôn mắc phải, nhưng giờ thì nó chỉ mang lại cảm giác ấm áp và chẳng còn gì nữa.
Khi anh đứng nhìn ra cái cây nơi người đàn ông đội mũ rơm bây giờ đang ngồi bên lề đường thì một hòn đá rơi trên ban công lát gạch hoa. Enrique tìm nó cạnh bức tường nhưng không thấy. Anh quờ tay xuống dưới giường nhưng vẫn không tìm thấy. Khi anh quỳ xuống một viên cuội nữa rơi trên nền gạch, này lên rồi lăn vào góc nhà cạnh đường. Enrique nhặt lên, xuống cầu thang, đi về phía cánh cửa đằng sau.
Anh đứng một bên cánh cửa, rút khẩu colt ra khỏi bao, khẩu súng nặng trĩu trong tay phải.
“Chiến thắng”, anh nói rất khẽ bằng tiếng Tây Ban Nha, miệng anh cảm giác buông ra từ ấy trong lúc đôi chân trần nhẹ nhàng di chuyển qua phía bên kia cánh cửa.
“Cho những ai tìm kiếm”, ai đó nói bên ngoài cánh cửa. Đấy là giọng phụ nữ, nói nốt nửa kia của mật khẩu, giọng ấy nhanh và hồi hộp.
Enrique kéo cái chốt đôi trên cánh cửa, tay trái mở cửa, tay phải vẫn cầm khẩu colt.
Một cô gái mang cái rổ đứng trong bóng tối. Đầu cô trùm chiếc khăn tay.
“Chào em”, anh nói rồi đóng cửa, chốt lại. Anh có thể nghe tiếng cô thở trong bóng tối. Anh bưng cái rổ và vỗ vào vai cô.
“Anh Enrique”, cô nói, anh không thể nhìn thấy ánh mắt lấp lánh và nét mặt của cô.
“Lên gác đi”, anh nói. “Có kẻ nào đó đang theo dõi phía trước ngôi nhà. Em có thấy hắn không?”
“Không”, cô đáp. “Em đi tắt qua vạt đất trống”.
“Anh sẽ chỉ hắn cho em xem. Lên ban công đi”.
Họ lên cầu thang, Enrique mang cái rổ. Anh đặt nó xuống cạnh giường, rồi bước ra mé ban công nhìn xuống. Gã da đen đội mũ rơm lẹp vành, chóp bẹt đã đi.
“Rồi”, Enrique lặng lẽ nói.
“Rồi cái gì?” cô gái hỏi, lúc này cô đang vịn tay anh nhìn xuống.
“Hắn đi rồi. Có gì ăn đấy?”
“Em xin lỗi là để anh ở đây một mình suốt một ngày”, cô nói. “Em rõ quá là ngốc khi phải đợi trời tối mới đến đây. Suốt ngày lúc nào em cũng muốn đến”.
“Cứ đến đây là ngu ngốc tất. Đang đêm, họ đưa anh đến đây bằng thuyền rồi để anh lại với mật khẩu mà chẳng có gì để ăn trong ngôi nhà đang bị theo dõi. Người ta không thể ăn mật khẩu. Lẽ ra họ đừng ấn anh vào cái nơi đang bị theo dõi vì một lý do khác. Nhưng dẫu sao thì ta cũng hãy ăn đi đã. Em thế nào hả Maria?”
Trong bóng tối, cô hôn lên miệng anh, thật lâu. Anh cảm nhận được đôi môi mọng mím chặt của cô và cơ thể run run của cô khi nép sát vào anh rồi cơn đau nhói từ lưng dưới anh dội đến.
“Á! Cẩn thận”.
“Cái gì vậy?”
“Lưng”.
“Lưng làm sao? Bị thương à?”
“Em thử nhìn xem”, anh nói.
“Em có thể xem bây giờ chứ?”
“Để lát nữa. Chúng ta ăn rồi phải đi khỏi nơi này. Họ giấu thử gì ở đây?”
“Rất nhiều thứ. Những thứ còn lại sau cuộc thất bại tháng Tư. Những thứ để chuẩn bị cho tuơng lai”.
“Tương lai dài dằng dặc”, anh nói. “Họ có biết ngôi nhà bị theo dõi không?”
“Em không rõ”.
“Cái gì kia?”
“Mấy khẩu súng trường còn trong hộp. Có nhiều đạn lắm”.
“Mọi thứ nên chuyển đi ngay tối nay”, miệng anh đầy thức ăn. “Phải mất hàng năm nữa chúng ta mới cần lại những thứ này”.
“Anh có thích món escabecche không?”
“Rất ngon, ngồi gần lại đây”.
“Enrique”, cô nói và ngồi nép sát vào anh. Một tay cô đặt lên đùi anh còn tay kia thì vuốt ve cổ anh. “Enrique yêu thương”.
“Cẩn thận khi sờ vào người anh đấy”, anh nói lúc đang ăn. “Lưng đau lắm”.
“Anh có hạnh phúc khi được quay về từ chiến trận không?”
“Anh không nghĩ về điều đó”, anh nói.
“Enrique, Chucho thế nào rồi?”
“Chết ở Lérida”
“Felipe?”
“Chết. Cũng ở Lérida”
“Còn Arturo?”
“Chết ở Teruel”
“Còn Vicente?” cô hỏi bằng giọng đều đều, bây giờ hai tay cô đã đặt lên đùi anh.
“Chết. Trong đợt tấn công vượt đường ở Celadas”.
“Vicente là em trai em”. Lúc này cô ngồi im, côi cút, tay cô đã rời khỏi đùi anh.
“Anh biết”, Enrique nói. Anh tiếp tục ăn.
“Nó là đứa em duy nhất của em”.
“Anh nghĩ là em đã biết tin”, Enrique nói.
“Em không biết và nó là em trai em”.
“Anh xin lỗi, Maria. Lẽ ra anh không nên nói theo cách ấy”.
“Nó đã chết rồi ư? Anh biết nó chết à? Có thật không?”
“Em này. Rogelio, Barilio, Esteban, Felo và anh là còn sống. Những người khác đã chết hết cả rồi”.
“Tất cả ư?”
“Tất cả”, Enrique đáp.
“Em không thể nào chịu đựng nổi điều đó”, Maria nói. “Trời ơi, em chẳng thể nào chịu đựng nổi nữa”.
“Đừng đề cập đến việc này thì tốt hơn. Họ đều đã chết”.
“Nhưng đấy đâu chỉ là cái chết của em trai em, Vicente. Em có thể chịu đựng được mất mát đó. Những người đã khuất là những thành viên ưu tú của đảng chúng ta”.
“Đúng, những thành viên ưu tú của đảng”.
“Chiến tranh tệ hại quá. Nó hủy diệt những người tài ba nhất”.
“Đúng. Nó cần phải thế”.
“Sao anh có thể nói như vậy. Nói như thế là tội lỗi đấy”.
“Không. Chiến tranh phải như thế”.
Bây giờ cô đang khóc còn Enrique tiếp tục ăn. “Đừng khóc”, anh nói. “Điều cần làm bây giờ là phải nghĩ cách lật đổ bọn chúng”.
“Nhưng nó là em trai em. Anh không hiểu sao? Em trai em”.
“Tất cả chúng ta là anh em. Một số đã hy sinh và vài người còn sống. Bây giờ cấp trên cử bọn anh về địa phương, vậy thì sẽ còn có hy sinh. Nhưng nếu không thì sẽ chẳng còn ai. Bây giờ chúng ta phải tiến hành công việc”.
“Nhưng tại sao tất cả bọn họ đều bị giết?”
“Bọn anh thuộc sư đoàn tiên phong. Mọi người hoặc là bị giết hoặc là bị thương. Những ai còn sống cũng đều bị thương cả”.
“Vicente bị giết như thế nào?”
“Nó đang băng qua đường thì bị dính phải làn đạn súng máy từ ngôi nhà trong trang trại bắn ra. Con đường bị phong tỏa bởi ngôi nhà ấy”.
“Anh cũng ở đó chứ?”
“Ừ. Anh ở đại đội một. Bọn anh ở bên phải cậu ấy. Bọn anh đã tấn công ngôi nhà nhưng phải mất nhiều thời gian. Ở đó bọn chúng có ba khẩu súng máy. Hai khẩu đặt trong nhà, một khẩu đặt ở chuồng ngựa. Việc tiếp cận mục tiêu thật là khó. Bọn anh phải dùng tăng nã đạn vào cửa sổ, trước lúc xông lên bịt miệng khẩu cuối cùng. Anh đã bị mất tám người. Chừng ấy là quá nhiều”.
“Trận ấy xảy ra ở đâu?”
“Ở Celadas”.
“Em chẳng hề nghe nói”.
“Đúng”, Enrique nói. “Cuộc tấn công ấy không thành công. Chẳng một ai nghe nói về nó cả. Đấy là trận mà Vicente và Ignacio hy sinh”.
“Anh nói điều ấy là để biện hộ ư? Những con người như thế đáng chết trong cuộc tấn công thất bại tại một đất nước khác sao?”
“Chẳng có xứ sở nào khác cả, Maria, ở đó người ta nói tiếng Tây Ban Nha. Chết ở đâu thì cũng chẳng có vấn đề gì nếu người ta chết vì tự do. Dẫu sao thì điều cần làm là sống chứ không phải chết”.
“Nhưng thử nghĩ về những người đã khuất - cách xa đây - trong thất bại”.
“Họ không phải đi để mà chết. Họ đi chiến đấu. Cái chết chỉ là tình cờ”.
“Nhưng còn thất bại. Em trai của em chết trong thất bại. Chucho trong thất bại, Ignacio cũng trong thất bại”.
“Họ chỉ là một phần mà thôi. Điều bọn anh phải làm là không có thể. Bọn anh đã làm nhiều việc mà khả năng chưa cho phép. Đôi lúc, những người bên cạnh không chịu tấn công. Đôi lúc, bọn anh đâu có đủ pháo. Đôi lúc, bọn anh được lệnh xông lên nhưng đâu có đủ lực lượng - chẳng hạn như ở Celadas. Những điều đó dẫn đến thất bại. Nhưng kết cục, đấy không phải là thất bại”.
Cô không trả lời, anh đã ăn xong.
Bây giờ gió mát rượi thổi qua tán cây: trên ban công, trời lạnh. Anh xếp mấy cái đĩa vào lại trong rổ rồi chùi lại miệng bằng khăn ăn, anh lau tay cẩn thận rồi quàng tay qua người cô gái. Cô đang khóc.
“Đừng khóc, Maria”, anh nói. “Chuyện xảy ra thì đã xảy ra rồi. Chúng ta phải nghĩ về công việc sắp tới. Còn nhiều việc phải làm”.
Cô không nói gì và anh có thể nhìn thấy mặt cô, trong ánh sáng của ngọn đèn đường, đang nhìn thẳng về phía trước.
“Ta phải kiểm điểm lại tất cả những gì thuộc về sự lãng mạn. Nơi này là một ví dụ của chủ nghĩa lãng mạn ấy. Ta phải dừng khủng bố. Chúng ta phải tính toán cẩn thận để không bao giờ rơi lại vào cuộc phiêu lưu cách mạng nữa”.
Cô gái vẫn không nói gì, anh ngắm nhìn khuôn mặt cô, khuôn mặt mà lúc nào anh cũng nghĩ về khi đầu óc rảnh rang, không vướng bận công việc.
“Anh nói như một cuốn sách”, cô nói. “Không phải như một con người”.
“Anh xin lỗi”, anh nói. “Đấy là một bài học duy nhất mà anh được học. Đấy là những việc anh biết mình phải làm. Với anh, điều ấy thực tế hơn bất kỳ thứ gì khác”.
“Với em điều thực tế nhất chính là những cái chết ấy”, cô nói.
“Điều đó làm ta kinh hãi. Nhưng nó không quan trọng”.
“Anh lại sách vở rồi”, cô giận dữ nói. “Tâm hồn anh là một cuốn sách”.
“Anh xin lỗi, Maria. Anh nghĩ là em sẽ hiểu”.
“Tất cả những gì tôi hiểu là cái chết”, cô nói.
Anh biết điều đó không đúng bởi vì cô không nhìn thấy họ chết như anh đã nhìn thấy trong khu rừng ôliu ở Jarama, trong cái nóng tại ngôi nhà đổ nát ở Quijorna và trong lớp tuyết ở Teruel. Nhưng anh biết cô trách anh vì đã còn sống trong khi Vicente lại chết và bỗng nhiên - chút tình cảm nhỏ nhoi, thẳng thắn còn lại trong anh mà anh không ý thức nó vẫn còn đó đã khiến anh cảm thấy bị tổn thương sâu sắc.
“Có một con chim”, anh nói. “Con mốc-king ở trong lồng”.
“Vâng”.
“Anh đã thả nó ra”.
“Anh tử tế nhỉ!” Cô nói với vẻ châm biếm. Lính tráng đều đa cảm tất như vậy sao?”
“Anh là một quân nhân tốt”.
“Em tin điều ấy. Anh nói như một người hùng. Em trai em thuộc lính hạng gì?”
“Rất cừ. Cừ hơn cả anh. Anh không cừ. Đấy là khiếm khuyết”.
“Nhưng anh biết tự phê bình và ăn nói rất sách vở”.
“Nếu anh cừ thì đã tốt hơn rồi”, anh nói. “Anh không học được điều đó”.
“Và những người dũng cảm thì đều đã chết”.
“Không”, anh nói. “Basilio là người dũng cảm”.
“Vậy thì anh ấy sẽ chết”, cô nói.
“Maria! Đừng nói như thế. Em nói nghe ảm đạm quá”.
“Còn anh thì nói cứ như là một cuốn sách”, cô đáp lời anh. “Xin đừng đụng vào tôi. Trái tim anh khô cằn, tôi căm ghét anh”.
Bây giờ anh lại bị tổn thương, anh nghĩ về việc trái tim mình khô cằn và nghĩ về việc chẳng điều gì có thể làm anh tổn thương trở lại ngoại trừ vết thương, rồi đang ngồi trên giường anh cúi người tới trước.
“Kéo áo anh lên”, anh nói.
“Tôi không muốn”.
Anh kéo áo và nghiêng người qua. “Maria nhìn này”, anh nói. “Cái này thì chẳng có trong sách vở đâu”.
“Tôi không thể thấy”. Cô nói. “Và tôi không muốn nhìn”.
“Sờ tay em vào chỗ thắt lưng ấy”.
Anh cảm thấy mấy ngón tay cô chạm lên chỗ da căng phồng nơi một quả bóng chày có thể chui lọt; cái sẹo kỳ quặc ấy là do vết thương mà viên bác sĩ phẫu thuật đã đút nắm tay đeo găng cao su của mình vào để làm vệ sinh, vết sẹo chạy từ hông bên này sang hông bên kia. Anh cảm nhận sự tiếp xúc của cô và rùng mình. Rồi cô ôm chặt lấy anh và hôn; môi cô là hòn đảo trong biển đau đột ngột, trắng xóa với những con sóng mù câm, dâng lên, quá mức chịu đựng, lấp lánh quét sạch người anh. Đôi môi ở đó, vẫn đứng yên rồi trào dâng, và nỗi đau tan đi khi anh ngồi đỏ, một mình, mồ hôi ướt đẫm, Maria đang thổn thức và nói. “Ôi! Enrique. Hãy thứ lỗi cho em. Xin hãy tha lỗi cho em”.
“Không sao đâu”, Enrique nói. “Chẳng có lỗi lầm gì cả. Chỉ có điều đấy không phải là sách vở”.
“Nhưng nó thường nhức nhối phải không anh?”
“Chỉ khi anh bị chạm hay va phải cái gì đó”.
“Thế còn dây sống lưng?”
“Nó cũng bị chạm phải. Thận cũng thế, nhưng chúng đã ổn rồi. Mảnh đạn xuyên từ bên này sang bên kia. Còn nhiều vết thương ở dưới thấp và cả ở chân nữa”.
“Enrique, hãy tha lỗi cho em”.
“Chẳng có gì để tha thứ cả. Nhưng có điều bất tiện là anh không thể làm tình được nữa và anh lấy làm tiếc rằng anh không phải là người dũng cảm”.
“Chúng mình có thể làm tình sau khi vết thương bình phục”.
“Ừ”.
“Rồi em sẽ chăm sóc anh”.
“Không. Anh sẽ chăm sóc em. Anh chẳng bận tâm đến việc này tí nào cả. Duy chỉ có nỗi đau khi bị chạm phải hay vấp phải, vết thương chẳng làm phiền anh. Bây giờ ta phải làm việc. Ta phải rời ngay chỗ này. Tối nay mọi thứ ở đây phải được rời đi. Chúng phải được giấu ở một nơi mới, không bị tình nghi; một nơi nào được bảo quản tốt. Phải mất một thời gian dài nữa chúng ta mới cần đến chúng. Còn nhiều việc phải làm trước khi chúng ta có thể trở lại giai đoạn ấy. Phải giác ngộ nhiều người. Chỗ lựu đạn này đến lúc ấy có thể không còn sử dụng được nữa. Khí hậu này sẽ làm hỏng kíp nổ. Nhưng bây giờ chúng ta phải đi. Anh thật là ngốc khi ở lại đây lâu đến thế và cái thằng ngốc đưa anh đến đây sẽ phải giải trình trước ủy ban”.
“Tối nay em sẽ đưa anh đến đó. Họ nghĩ ngôi nhà này an toàn để anh ở lại hôm nay”.
“Ngôi nhà này không ổn”.
“Ta sẽ đi ngay bây giờ”.
“Lẽ ra ta nên đi lúc này”.
“Hôn em đi, Enrique”.
“Chúng ta sẽ làm việc ấy rất thận trọng”, anh nói.
Rồi, trong bóng tối trên giường, giữ tư thể thận trọng, mắt anh nhắm lại, môi họ chạm nhau, hạnh phúc hiện hữu không còn nỗi đau, bỗng chốc cảm giác gia đình hiện về đẩy lùi cơn đau, sự sống lại quay về và không còn đau đớn, xúc cảm thoải mái của tâm trạng được yêu không kèm theo nỗi đau, đã từng thiếu vắng tình yêu, giờ đây được đắp đầy, môi chạm môi trong bóng tối, ép chật để họ cảm nhận hạnh phúc, tình yêu, bóng tối và hơi ấm gia đình mà chẳng có chút đau đớn nào trong bóng tối bỗng nhiên tiếng còi vọng đến, cắt ngang, vang rền như thể đã gom hết cả nỗi đau trên thế gian này lại. Đấy là tiếng còi thật, không cần còi phát ra từ radio. Không phải một cái còi mà là hai. Chúng đang đến từ hai ngả đường.
Anh quay đầu rồi đứng dậy. Ý nghĩ đang ở nhà trong anh không còn nữa.
“Ra khỏi cửa và băng qua vạt đất”, anh nói. “Đi đi. Anh có thể bắn từ trên này để đánh lạc hướng”.
“Không, anh đi đi”, cô nói. “Đi đi, em ở lại trong nảy bắn ra và chúng sẽ nghĩ anh còn ả trong nhà”.
“Đi nào”, anh nói. “Cả hai chúng ta cùng đi. Ở đây chẳng có chỗ cố thủ. Số vũ khí này thật vô dụng. Tốt hơn là trốn đi”.
“Em muốn ở lại”, cô nói. “Em muốn bảo vệ anh”.
Cô đưa tay lấy khẩu súng trong bao dưới cánh tay anh, anh khẽ tát vào má cô. “Đi nào. Đừng có ngốc, cô bé đi nào!”
Bây giờ họ xuống cầu thang, anh cảm nhận sự gần gũi của cô kề bên anh. Anh đẩy mạnh cửa, hai người cùng bước ra, họ ra khỏi ngôi nhà. Anh đóng và khóa cửa lại. “Chạy đi, Maria”, anh nói. “Băng qua vạt đất theo hướng ấy. Chạy đi!”
“Em muốn đi cùng anh”.
Anh lại vỗ nhanh vào người cô. “Chạy đi”. Rồi nhào xuống cỏ mà bò. Tha lỗi cho anh Maria. Nhưng hãy chạy đi. Anh chạy theo hướng khác. “Chạy đi”, anh giục. “Quỷ à, chạy đi”.
Họ cùng chạy ra đồng cỏ. Anh chạy hai mươi bước và khi mấy chiếc xe của cảnh sát dừng lại phía trước ngôi nhà, tiếng còi tắt, anh dán người xuống đất và bắt đầu trườn.
Phấn hoa cỏ bám đầy mặt anh và khi anh vặn người trườn mạnh tới, cát nhọn đâm vào người anh và đầu gối anh đau buốt; lát sau anh nghe tiếng chúng vòng quanh ngôi nhà. Ngôi nhà đã bị bao vây.
Anh bò điềm tĩnh, mải suy nghĩ, không để ý đến cơn đau. “Tiếng còi hú sao thế nhỉ?” anh nghĩ. “Tại sao không có chiếc xe thứ ba bọc hậu? Tại sao không có đèn pha hay đèn quét trên cánh đồng nhỉ? Mấy gã Cuba này”, anh nghĩ. “Chúng ngốc và sơ hở đến vậy sao? Chắc chúng nghĩ không có ai ở trong nhà. Chắc chúng đến chỉ để lấy vũ khí. Nhưng tại sao lại hú còi?”
Ở phía sau, anh nghe tiếng chúng phá cửa, chúng đã bao vây chặt ngôi nhà. Anh nghe hai tiếng còi phát ra từ chỗ gần ngôi nhà và anh tiếp tục trườn đi.
“Đồ bị thịt”, anh nghĩ. “Nhưng bây giờ chắc chúng thấy cái rổ và mấy chiếc đĩa. Đồ ngốc! Cứ đi mà tập kích ngôi nhà như thế!”
Lúc này anh gần chạm mép vạt đất trống, anh biết mình phải đứng dậy, chạy băng qua đường đến cụm nhà phía xa kia. Anh nhận thấy cứ lê người như thế vết thương hơi nhức. Anh có thể điều khiển từng động tác di chuyển. Chỉ tại những cử động mạnh gây ra nhức nhối, anh ngại phải nhổm người đứng dậy.
Anh quỳ một chân lên đồng cỏ, cảm thấy nhức nhối, nghiến răng chịu đựng rồi lại cố chịu đựng một lần nữa khi kéo chân kia tới, quỳ gối đứng dậy.
Anh dợm chân chạy về phía ngôi nhà bên kia đường, sau vạt đất trống bên cạnh; khi ánh đèn pha chiếu đến, anh ở trong luồng sáng, đối mặt với nó, hai bên luồng sáng là những vùng tối đen.
Đèn pha chiếu từ chiếc xe cảnh sát, không hú còi, lặng lẽ đến án ngự ở góc phía sau vạt đất.
Khi Enrique đứng dậy, gầy gò, hốc hác, hiện rõ mồn một trong ánh đèn và đang rút khẩu súng lục lớn trong túi da đeo dưới nách thì từ chiếc xe đỗ trong bóng tối, khẩu tiểu liên nã đạn vào anh.
Anh chỉ cảm nhận được loạt đầu tiên và có cảm giác như bị dùi cui quật ngang ngực. Những phát tiếp theo anh chỉ nghe tiếng vang.
Anh ngã úp mặt xuống cỏ; khi đang ngã hay có lẽ là giữa khoảng thời gian đèn pha bật sáng và khi viên đạn thứ nhất găm vào người, anh đã kịp nghĩ. “Chúng chẳng ngốc thế đâu. Có lẽ chúng đã chuẩn bị trước”.
Nếu anh còn đủ thời gian để nghĩ tiếp thì đấy chắc là hy vọng sẽ không có xe cảnh sát ở góc bên kia. Nhưng góc ấy cũng có xe và đèn pha của nó đang quét trên cánh đồng. Luồng sáng rộng đang nhấp nhô trên vạt cỏ nơi cô gái Maria náu mình. Trong chiếc xe tối, mấy tay xạ thủ, lăm lăm hướng đầu ruồi mũi súng Thompson đáng sợ theo luồng đèn pha.
Trong bóng cây, đằng sau chiếc xe sẫm đen, nơi đặt ngọn đèn pha, có một người da đen đang đứng. Hắn đội chiếc mũ rơm hẹp vành, chóp bẹt và chiếc áo khoác len. Bên trong sơ-mi, hắn đeo chuỗi hạt bùa màu xanh. Hắn đứng lặng im quan sát ngọn đèn quét đi quét lại.
Ánh đèn chiếu trên vùng cỏ nơi cô gái nằm dán chặt xuống, cằm vùi trong đất. Cô không nhúc nhích từ khi nghe tiếng súng. Cô có thể nhìn thấy nhịp tim mình đang dội vào đất.
“Mầy trông thấy nó chưa?” một người trong xe hỏi.
“Bảo chúng lùng đồng cỏ phía bên kia”, viên trung úy ngồi trước nói. “Này”, hắn gọi tay da đen đang đứng dưới bóng cây. “Đi đến ngôi nhà, truyền lệnh cho chúng lùng qua đồng cỏ về phía chúng ta. Chỉ có hai đứa thôi, sao?”
“Chỉ hai đứa”, tên da đen nói bằng giọng khe khẽ. “Ta sẽ tóm được đứa kia”.
“Đi đi”.
“Vâng thưa ngài trung úy”, tên da đen nói.
Cầm chiếc mũ rơm bằng cả hai tay, hắn chạy dọc theo rìa cánh đồng về phía ngôi nhà, nơi bây giờ đèn tỏa sáng từ mọi cửa sổ.
Cô gái nằm trên cánh đồng, hai tay ôm chặt lấy đầu. “Hãy giúp ta chịu đựng lần này”, cô nói với đám cỏ chứ không phải với một ai khác bởi ở đó chẳng còn ai nữa. Rồi, bỗng nhiên, một mình, nức nở, “Giúp chị với, Vicente. Giúp tôi với, Felipe. Hãy cứu tôi, Chucho. Cứu tôi, Arturio. Hãy cứu em ngay Enrique. Cứu em”.
Có lúc cô cầu nguyện nhưng rồi cô quên bẵng, bây giờ cô cần điều gì đó. “Hãy giúp ta đừng khai nếu chúng bắt được ta”, cô nói, miệng kề sát cỏ. “Giúp em đừng khai, Enrique. Giúp chị đừng khai báo gì cả Vicente”,
Đằng sau qua lớp cỏ, cô có thể nghe tiếng chúng lùng sục như thể những kẻ đi xua thú đang dồn một con thỏ. Chúng dàn rộng, tiến lên như thể một toán lính sắp xung trận, tay vung những chiếc đèn điện trên cỏ.
“Ôi, Enrique” cô nói, “hãy cứu em”.
Cô buông tay khỏi đầu và ép chặt hai bên sườn. “Như thế thì tốt hơn”, cô nghĩ. “Nếu ta chạy, chúng sẽ bắn. Như thế sẽ đơn giản hơn”.
Cô từ từ đứng dậy chạy về phía chiếc xe. Ánh đèn chiếu thẳng vào cô, đôi mắt mù câm, trắng xóa, cô chạy trong luồng sáng ấy. Cô nghĩ đấy là giải pháp tốt nhất cho mình.
Phía sau, bọn chúng hét toáng lên. Nhưng không có tiếng súng. Có ai đó quật cô rất mạnh và cô ngã xuống. Cô nghe hơi thở của hắn khi hắn giữ chặt cô.
Một đứa khác xốc nách nâng cô dậy. Giữ chặt hai cánh tay cô, chúng đưa cô về phía chiếc xe. Chúng không thô bạo mà cứ từ từ kéo cô về phía xe.
“Không”, cô nói. “Không. Không”.
“Nó là chị gái Vicente Irtube”, trung úy nói. “Con bé có ích đấy”.
“Nó đã được thẩm vấn trước đây rồi”, kẻ khác nói.
“Chưa đủ nghiêm túc đâu”.
Không”, cô nói. “Không không”, cô gào lớn, “Giúp chị, Vicente! Giúp em, giúp em, Enrique”.
“Chúng chết ráo cả rồi”, một kẻ nói. “Chúng chẳng giúp được gì cho mày đâu. Đừng có ngốc”.
“Đúng”, cô nói. “Họ sẽ giúp tao. Chính những người chết ấy sẽ giúp tao. Ô, đúng, đúng, đúng! Những người đã hy sinh của chúng tao sẽ giúp tao”.
“Vậy thì cứ thử nhìn Enrique đi”, viên trung úy nói. “Xem thử hắn có giúp gì được cho mày không. Hắn ở trên thùng chiếc xe kia kìa”.
“Bây giờ anh ấy đang giúp tao”, cô Maria nói. “Bọn mày không hiểu anh ấy đang giúp tao sao? Cám ơn anh, Enrique. Ôi, cảm ơn anh”.
“Đi thôi”, viên trung úy nói. “Nó bị điên rồi. Để lại bốn người canh số vũ khí ấy, chúng ta sẽ điều một chiếc xe tải đến chở. Chúng ta đưa cái con điên này về trụ sở. Đến đó nó có thể khai ra”.
“Không”, Maria nói lúc đang giữ chặt tay áo hắn. “Mày không thể nhìn thấy lúc này mọi người đang giúp đỡ tao sao?”
“Không”, viên trung úy nói. “Mày điên rồi”.
“Chẳng có ai chết mà không vì mục đích gì đó”, Maria nói. “Lúc này mọi người đang giúp đỡ tao”.
“Độ một tiếng nữa, cứ để chúng giúp mày”, viên trung úy nói.
“Họ sẽ giúp”, Maria nói. “Đừng lo. Bây giờ đang có rất nhiều người giúp tao”.
Cô ngồi yên, giữ người bất động, tựa vào lưng ghế. Lúc này, dường như có một sự tự tin kỳ lạ. Lòng tự tin ấy tương tự như ở một cô gái khác, khá nổi tiếng ở thời cô ta cách đây hơn năm trăm năm tại khu chợ của thành phố có tên là Rouen.
Maria không nghĩ về điều này. Bất cứ một ai khác trên xe cũng không nghĩ về điều đó. Hai cô gái tên là Jeanne và Maria chẳng có điểm gì chung ngoại trừ lòng tự tin bộc phát trào dâng khi họ cần nó. Nhưng tất cả nhóm cảnh sát trên xe lúc này cảm thấy khó chịu về Maria khi cô ngồi ngay ngắn, khuôn mặt bừng sáng trong ánh đèn cao áp.
Mấy chiếc xe khởi hành, trên hàng ghế sau của chiếc xe phía trước, bọn lính đang xếp mấy khẩu súng máy vào trong hộp vải bạt dày, báng súng được tháo ra xếp vào túi vải, nòng súng và tay nắm để trong túi có nắp, ổ đạn để trong những chiếc túi vải hẹp.
Tay da đen đội mũ rơm bước ra khỏi bóng ngôi nhà, chận chiếc xe đi trước lại. Hắn leo lên ngồi ở nghế phía trước cùng với một người đang ngồi bên cạnh tài xế, bốn chiếc xe leo lên đường chính dẫn đến con đường men biển đổ về La Havana.
Ngồi chật chội trên ghế trước của chiếc xe, tay da đen thọc tay vào túi áo sơ-mi và lần mấy ngón tay trên chuỗi hạt bùa màu xanh. Hắn ngồi chẳng nói câu nào, mấy ngón tay bíu chặt chuỗi hạt. Hắn từng làm công nhân ở cảng trước khi đi làm mật thám cho cảnh sát Havana, hắn sẽ được trả năm mươi đô-la cho phi vụ tối nay. Năm mươi đô-la lúc đó là khoản tiền lớn ở La Havana, nhưng tay da đen chẳng còn nghĩ đến chuyện tiền nong gì nữa. Hắn khẽ quay đầu, rất chậm khi chúng đi vào con đường cao tốc sáng rực ở Malecon, nhìn lại và thấy khuôn mặt cô gái rạng rỡ, kiêu hãnh, đầu vẫn ngẩng cao.
Tay da đen hoảng sợ, hắn lần mấy ngón tay khắp một vòng chuỗi hạt bùa màu xanh rồi giữ chặt. Nhưng chúng không thể giúp hắn xua đi nỗi sợ bởi lẽ lúc này hắn đang gặp một ma lực cao hơn.

Lê Huy Bắc dịch
0
Con sư tử tốt bụng

Ngày xửa ngày xưa, có một con sư tử sống cùng với nhiều sư tử khác trong rừng. Những con sư tử kia rất độc ác. Hằng ngày chúng ăn thịt ngựa vằn, linh dương và tất cả các loài thú sống trong rừng. Thỉnh thoảng chúng còn ăn cả thịt người. Chúng giết người Swahili, Umbulu, Wandorobo và đặc biệt chúng rất thích ăn thịt lái buôn người Hindu. Bởi lẽ họ rất béo và thịt họ hợp với khẩu vị của bầy sư tử.
Nhưng con sư tử này, con sư tử đáng yêu bởi chú quá tốt và có đôi cánh trên lưng. Cũng do đôi cánh ấy mà chú bị đàn sư tử giễu cợt.
“Nhìn đôi cánh trên lưng nó kìa”, chúng nói rồi đồng loạt cười rống lên. “Nhìn thức ăn của nó kìa”, chúng bêu riếu bởi chú sư tử tốt bụng chỉ ăn kẹo mềm và bánh rán chứ không ăn bất kỳ một loại thịt nào.
Bầy sư tử ác độc cười hăng hắc rồi giết thêm một lái buôn Hindu nữa để lấy máu ông ta cho vợ chúng uống. Lưỡi của chúng liếm kêu láp láp láp tựa lưỡi mấy con mèo khổng lồ. Chúng chỉ ngừng để nhăn nhở cười hoặc cười rống lên giễu tấm lòng tốt và đôi cánh của con sư tử tử tế. Rõ ràng chúng là những sư tử ác độc và xảo quyệt.
Lúc ấy, con sư tử tốt bụng chỉ ngồi lặng im, xếp cánh và hỏi xin một cốc nước Negroni hoặc Americano. Chú luôn uống nước ấy thay vì liếm máu của lái buôn Hindu. Ngày nọ, chú từ chối ăn thịt tám con thú nhỏ mà chỉ ăn bánh kẹo và uống nước.
Điều ấy đã khiến đàn sư tử ác độc rất giận dữ. Một trong những con sư tử cái và là con xấu xa nhất trong cả bọn mà mồm chẳng bao giờ khô máu lái buôn Hindu, thậm chí ngay cả khi đã chùi xuống bãi cỏ, lên tiếng. “Mày là cái thá gì mà dám lên mặt nghĩ bản thân mình cao quý hơn bọn tau? Mày sinh ra từ đâu vậy hỡi thằng sư tử ăn kẹo mềm kia? Nói cho bọn tau biết mày đang làm gì ở đây?” Nó gầm gừ với con sư tử tốt bụng rồi cả bọn rống lên đe dọa.
“Bố tôi sống ở thành phố. Tại đấy, ông đứng trên bệ của tháp đồng hồ và quan sát cả ngàn chú chim câu. Chúng là thần dân của ông. Khi chúng bay, âm thanh phát ra tựa như một dòng sông đang mải miết xuôi. Có nhiều biệt thự trong thành phố bố tôi hơn bất kỳ thành phố Phi châu nào. Bốn con ngựa đồng cực lớn đứng đối diện với bố tôi. Bọn chúng hướng một chân vào không trung vì sợ người.
“Trong thành phố của bố, mọi người đều đi bộ hoặc đi bằng thuyền và không một con ngựa bằng xương thịt nào dám đặt chân vào thành phố vì sợ bố tôi”.
“Bố mày là đồ quái vật sư tử đầu chim”, con sư tử cái ác độc nói trong lúc liếm ria.
“Mày là kẻ nói dối”, một con khác lên tiếng. “Làm gì có kiểu thành phố như thế”.
“Đưa cho tau miếng thịt gã lái buôn Hindu”, con sư tử cực ác khác nói. “Thịt đứa vừa mới bị giết ấy”.
“Mày là thằng nói dối vô tích sự và là con của quái vật sư tử đầu chim”, đứa độc ác nhất trong đám sư tử cái nói. “Bây giờ tau nghĩ tau sẽ giết và ăn thịt mày, cả cánh lẫn thịt da”.
Điệu bộ ấy đã làm chàng sư tử tốt bụng hoảng sợ bởi lẽ cậu chưa hề thấy đôi mắt chuyển sang màu vàng của con sư tử cái. Đuôi nó đưa lên đưa xuống, máu đông đỏ sẫm cả ria mép, hơi thở của nó rất hôi bởi nó chẳng bao giờ đánh răng. Hơn nữa, vuốt nó đang quặp mấy mẩu thịt người Hindu.
“Đừng giết tôi”, cậu ta nói. “Bố tôi là một sư tử hùng tráng. Ông luôn được kính phục và những điều tôi kể hoàn toàn là có thật”.
Chỉ ngay lúc ấy, con sư tử độc ác nhảy vồ cậu. Song cậu đã kịp thời vỗ cánh bay lên rồi lượn vòng trên đầu bầy sư tử độc ác. Bọn chúng đồng thanh rống lên và nhìn cậu. Cậu nhìn xuống và nghĩ, “Bọn chúng thực xấu xa”.
Cậu lượn thêm vòng nữa để trêu chúng rống to hơn. Sau đó cậu hạ thấp xuống để nhìn vào mắt con sư tử cái độc ác lúc này đang chồm người lên hai chân sau để vồ cậu. Nhưng vuốt của nó không với được đến cậu. “Tạm biệt”, cậu nói bằng tiếng Tây Ban Nha ngọt ngào để chứng tỏ mình là con sư tử có học. “Tạm biệt”, cậu chào chúng bằng tiếng Pháp du dương.
Bọn chúng cũng rống, gầm gừ bằng phương ngữ sư tử Châu Phi.
Rồi cậu vỗ cánh cao hơn nữa hướng về phía Venice. Cậu hạ cánh xuống Piazza, nơi mọi người vui mừng gặp lại cậu. Cậu lại bay tiếp thêm chốc nữa để hôn lên hai má của bố, rồi cậu thấy mấy con ngựa vẫn giữ nguyên tư thế hướng một chân trước vào khoảng không. Basilica trông rực rỡ sắc màu của bong bóng xà phòng, Campanile vẫn y nguyên chốn cũ, nơi chim câu sẽ về cư ngụ qua đêm.
“Châu Phi thế nào?” bố cậu hỏi.
“Thưa bố, thật man rợ”, chàng sư tử tốt bụng đáp.
“Bây giờ, nơi này đã có đèn vào buổi tối rồi”, bố cậu nói.
“Con đã thấy”, cậu trả lời với dáng vẻ của một đứa con ngoan.
“Mắt bố hơi bị chói”, bố cậu phàn nàn. “Con đi đâu bây giờ hở con trai?”
“Con đến quán bar Harry”, cậu đáp.
“Cho bố gởi lời thăm Cipriani và bảo ông ta rằng vài hôm nữa bố sẽ đến thanh toán mọi khoản”, bố cậu nói.
“Vâng, thưa bố”, cậu nói rồi nhẹ nhàng đáp xuống, đi bộ đến bar Harry.
Chẳng có gì thay đổi trong cửa hàng của Cipriani. Tất cả bạn bè hãy còn đó. Nhưng bản thân hắn ít nhiều đã thay đổi kể từ khi rời châu Phi về.
“Một suất Negroni, thưa ngài Barone?” ông Cipriani hỏi.
Nhưng con sư tử tốt bụng đã lang thang trên khắp các nẻo đường châu Phi và châu Phi đã làm hắn đổi thay.
“Bác có bánh sandwish nhân thịt lái buôn Hindu không?” hắn hỏi Cipriani.
“Không, nhưng tôi có thể kiếm được một ít”.
“Trong lúc chờ làm bánh, bác hãy mang cho cháu một chai martini cực mạnh”. Hắn nói thêm, “với rượu gin hiệu Gordon”.
“Được rồi”, Cipriani nói. “Sẽ có ngay”.
Bây giờ, quan sát các khuôn mặt tử tế đang nhìn mình, hắn biết hắn đã về nhà, rồi hắn biết hắn cũng đã từng đi đó đi đây. Hắn rất tự hào về việc ấy.

Lê Huy Bắc dịch
0
Chú bò thủy chung

Ngày ấy có một con bò, tên nó không phải là Ferdinand và chú chẳng quan tâm đến bất cứ thứ gì ngoại trừ những bông hoa. Chú thích đánh nhau, dẫu đã từng so tài với hết thẩy những con bò cùng tuổi hay đủ mọi lứa tuổi nhưng chú luôn là nhà vô địch.
Sừng chú rắn như loại gỗ quý và nhọn tựa lông nhím. Sau mỗi trận đấu, gốc sừng thường đau song chú không bận tâm. Cơ trên cổ chú dồn lên thành cục u lớn mà người Tây Ban Nha gọi là morillo ấy vồng lên như ngọn đồi nhỏ mỗi khi chú chuẩn bị giao đấu. Chú luôn sẵn sàng chiến đấu, lông, da chú đen bóng, mắt chú phát ra những tia sáng của lòng dũng cảm.
Ngoại diện ấy toát lên vẻ hiếu chiến và thái độ cao thượng trong cuộc đấu tựa như phong cách của ai đó lúc ăn, lúc đọc hoặc đi lễ nhà thờ. Mỗi độ lâm trận. Chú đánh hết mình. Những con bò khác không sợ chú bởi chúng có cùng dòng máu kiêu hùng và ý chí bất khuất.
Song chúng không thích khiêu chiến bởi lẽ chúng chẳng muốn đánh nhau với chú.
Chú không tự kiêu và cũng chẳng ác độc, nhưng chú mê đánh nhau như người ta thích hát, thích làm vua hay tổng thống. Chú chẳng hề có tham vọng trong giao đấu. Đánh nhau, với chú chỉ là bổn phận, nghĩa vụ và niềm hứng khởi.
Chú giao chiến trên vùng đất sỏi gồ ghề, trong rừng bẩn và trên cả đồng cỏ ngọt ngào cạnh dòng sông. Chú chạy mười lăm dặm mỗi ngày, suốt từ bờ sông lên đến những vùng đất xấu. Chú đánh nhau với bất cứ con bò nào nhìn chú. Nhưng chẳng bao giờ chú nổi giận.
Nói điều ấy thực ra không chính xác lắm bởi lẽ cơn giận của chú chỉ âm ỉ trong lòng. Song chú chẳng rõ nguồn cơn vì không có thời giờ để suy xét. Chú rất cao thượng và say sưa chiến trận.
Rồi chuyện gì xảy ra? Chủ của chú, nếu bất kỳ ai sở hữu một con vật như thế thì sẽ biết ngay sự vô giá của nó song lại rất lo lắng bởi phải tốn rất nhiều tiền để bồi thường chiến phí do chú gây ra. Một con bò bình thường, trị giá hơn cả ngàn dollar song sau khi chúng đánh nhau với chú bò siêu hạng này, giá của chúng chỉ còn hai trăm dollar và đôi lúc còn thấp hơn.
Thế nên ông chủ - một con người tốt bụng - quyết định sẽ giữ chú bò ấy lại để lấy giống, thay vì đưa chú đến đấu trường để làm vật hy sinh. Từ đó, chú thành nhà truyền giống.
Nhưng chú là con bò kỳ lạ. Ngay khi được thả vào đồng cỏ với đàn bò cái, chú đã bị hớp hồn bởi một cô nàng trẻ, đẹp, cân đối, cơ thể tròn lẳn, sáng sủa và đáng yêu hơn tất cả các ả bò cái khác. Thế là từ đây chú không mê đánh nhau nữa, chú yêu nàng đến nỗi chẳng đoái hoài đến bất kỳ một ai. Chú chỉ muốn ở bên cạnh nàng, những ả khác chẳng có nghĩa lý gì đối với chú.
Do vậy, người chủ đã bán chủ cùng với năm con bò đực khác cho trường đấu. Cuối cùng, chú phải xung trận dẫu cho con tim đang khắc khoải vì yêu. Bởi chú lâm trận thật kiêu hùng nên tất thảy người xem đều ngưỡng mộ. Tuy nhiên người thán phục chú nhất lại chính là kẻ giết chú. Cuối trận đấu, tấm áo jacket của người hại chú - được gọi là đấu sĩ - đã sũng nước, miệng anh ta khô khốc.
“Con bò cừ thật”, đấu sĩ nói trong khi trao thanh kiếm của mình cho người giữ. Thanh kiếm bị vấy máu đến tận chuôi và máu từ tim của chú bò kiêu hùng, chưa từng gặp hiểm nguy trong bất kỳ tình huống nào, đang rỏ xuống từ lưỡi kiếm. Xác chú được bốn con ngựa kéo ra khỏi đấu trường.
“Phải rồi, nó là con bò bị Marques ở Villamajor loại bỏ khỏi trại giống do bởi quá thủy chung”, tay giữ gươm hiểu biết mọi chuyện nói.
“Có lẽ tất cả chúng ta cũng nên chung thủy”, đấu sĩ nói.

Lê Huy Bắc dịch
0
Con người của thế giới

Gã mù nhận rõ từng âm thanh của tất cả các loại máy khác nhau trong quán rượu. Tôi không biết gã phải mất bao nhiêu thời gian để phân biệt các âm thanh ấy nhưng chắc hẳn là không lâu bởi lẽ mỗi lúc gã chỉ kiếm ăn ở một quán. Gã kiếm sống ở hai khu phố và chỉ rời khỏi Flat vào lúc trời tối, mát mẻ để đi đến Jessup. Gã thường đứng cạnh lề đường khi nghe tiếng xe đang đến. Ánh đèn sáng sẽ soi thấy và dù chiếc xe có dừng lại để cho gã đi nhờ hay không thì rồi nó cũng tiếp tục lăn bánh trên mặt đường băng giá. Vận may của gã phụ thuộc vào xe của họ có chở nặng hay có phụ nữ mà đặc biệt là vào lúc này, trong mùa đông, khứu giác cực nhạy của gã mù sẽ nhận ra ngay lập tức. Song người ta thường đỗ lại để gã đi nhờ bởi vì gã là một người mù.
Mọi người đều biết gã và gọi gã là Blindy. Đấy là tên gọi thân mật đối với gã mù ở miền ấy. Quán rượu, nơi gã làm việc là Pilot. Ngay cạnh nó, còn có một quán nữa, cũng với mấy cái máy đánh bạc và một phòng ăn tối. Quán rượu đó có tên là Index. Cả hai lấy tên từ những ngọn núi và đều là những quán hấp dẫn với các quầy hàng cũ kỹ, trò đỏ đen và chẳng có chút gì khác biệt ngoại trừ thức ăn ở Piiot ngon hơn và món bít tết rán ở Index thì hấp dẫn hơn. Về sau Index mở cửa suốt đêm để có thể đón khách vào lúc sáng sớm và ngay từ lúc mặt trời mọc cho đến mười giờ sáng các bợm nhậu đã có mặt ở nhà hàng. Jessup chỉ có hai quán này và chúng không hoạt động theo kiểu quán rượu bình thường. Song đấy là lý do để chúng tồn tại.
Blindy hẳn thích quán Pilot bởi vì khi bạn bước vào, những chiếc máy được đặt đối diện với quầy, dọc theo tường bên trái. Cách bầy bố ở đây khiến gã kiểm soát tốt hơn so với khi kiếm ăn ở Index nơi các nhà máy được bố trí rải rác trong phạm vi rộng với nhiều phòng. Vào đêm nay, bên ngoài trời rất lạnh. Gã bước vào quán với những vụn băng trên chòm râu và mấy vết mủ nhỏ đã đóng băng trong hai hốc mắt. Trông gã không thực sự khỏe khoắn. Thậm chí cả mùi toát ra từ gã cũng đã bị đóng băng nhưng trạng thái ấy không kéo dài. Gã điềm tĩnh trở lại ngay khi cánh cửa được khép sau lưng. Thường ngày, tôi chẳng để ý nhiều đến gã song bây giờ tôi đang quan sát gã kỹ lưỡng bởi tôi biết gã luôn được cho đi nhờ và đã không hiểu tạo sao gã mù ấy lại bị cóng lạnh quá đỗi. Cuối cùng tôi hỏi:
“Anh đã cuốc bộ từ đâu, Blindy?”
“Wille Sawyer thả tôi ở bên dưới cầu xe lửa. Chẳng còn xe nào cả nên tôi đi bộ đến đây”.
“Chuyện gì đã khiến y để bác đi bộ?” ai đó lên tiếng.
“Bảo tôi quá hôi”.
Có người kéo tay cầm của chiếc máy, Blindy bắt đầu nghe tiếng quay. Nó khó xác định. “Quý ông nào chơi hả?” gã hỏi tôi.
“Anh không nghe thấy sao?”
“Không”.
“Chẳng ai chơi cả. Blindy, hôm nay là thứ Tư”.
“Tôi biết tối nay là thứ mấy. Đừng nói với tôi về điều đó”.
Blindy đi dọc theo dãy máy, sờ vào máng của chúng thử xem có vật gì ai đó để quên. Rõ ràng, chẳng có gì, nhưng đó là việc đầu tiên của gã. Lát sau gã quay lại quầy rượu, nơi chúng tôi đang ngồi và Al Chaney mời gã uống.
“Không”, Blindy đáp. “Tôi phải thận trọng trên các con đường ấy”.
“Ông muốn nói đến những con đường nào?” một người hỏi gã. “Ông chỉ đi trên một con đường. Nối nơi này và phố Flat”.
“Tôi đã đi trên rất nhiều tuyến đường”, Blindy nói. “Và cứ mỗi lần, tôi đều có thể bị đuổi ra khỏi xe mà đi bộ”.
Có người đụng vào máy nhưng không quá mạnh Blindy nhẹ nhàng bước về phía ấy. Đó là chiếc máy đánh mỗi lần 25 xu và tay thanh niên, người đang chơi, miễn cưỡng chìa cho gã một phần tư dollar. Blindy sờ qua trước khi đút vào túi.
“Cảm ơn”, gã nói. “Bạn sẽ được”.
Tay thanh niên đáp “Thật dễ chịu khi nghe điều ấy”. Hắn đút 25 xu vào máy rồi kéo tay quay lần nữa.
Hắn đánh tiếp và lần này vận may đã đến, hẳn được rất nhiều tiền và đưa cho Blindy 25 xu.
“Cảm ơn”, Blindy nói. “Số anh đang đỏ”.
‘Tối nay là của tôi”, tay đang chơi đáp.
“Vận may của anh cũng là vận may của tôi”, Blindy nói. Con bạc đánh tiếp rồi nhưng vận đỏ đã bỏ hắn. Blindy kiên nhẫn đứng bên cạnh. Điệu bộ hắn không còn vẻ hứng khởi như trước. Cuối cùng hắn ngừng chơi rồi đi đến quầy rượu. Blindy lạc mất hắn nhưng mà gã chẳng còn cách nào nhận ra bởi tay thanh niên chẳng nói lời nào. Như thế, Blindy lại kiểm tra những chiếc máy lần nữa, rồi đứng đấy đợi xem có ai đến chơi.
Không có ai ở cạnh những cái máy cũng như ở bàn đánh xúc xắc. Còn bên gian chơi bài xì, mấy con bạc đang ngồi sát phạt nhau. Một buổi tối yên tĩnh trong tuần ở thị trấn. Chẳng huyên náo. Mọi góc lặng im không một tiếng động ngoại trừ ở quầy rượu. Nhưng ở đấy không khí rất dễ chịu. Tất cả suôn sẻ cho đến khi Blindy bước vào. Bấy giờ mọi người đang tính xem nên dời quán Index bên cạnh hay trở về nhà.
“Tôi mời anh một ly được chứ, Tom?”
Frank - người phục vụ - hỏi tôi. “Uống nhé?”
“Tôi đi tắm’'.
“Vậy thì hãy nhấp một chút gì đã”.
“Như mọi khi”, tôi nói. Frank hỏi chàng trai, người vận bộ đồ Oregon Cities nặng nề, đội cái mũ màu đen, có khuôn mặt rám nắng và bộ râu được cạo sạch, rằng anh ta muốn dùng gì. Anh ta chọn loại rượu tương tự, một cốc Whisky Old Forester.
Tôi gật đầu với anh ta, nâng cốc. Cả hai cùng nhấp một ngụm. Blindy đi về phía xa tận cuối dãy bàn máy. Tôi đoán gã ý thức được rằng sẽ chẳng có ai vào quán khi gã đứng ở cửa. Gã làm điều ấy hoàn toàn có tính toán.
“Sao ông ta bị mù?” chàng trai hỏi.
“Tôi không biết?” tôi trả lời.
“Trong trận ấu đả”, Frank đáp.
“Ông ta! Đánh nhau?” người lạ mặt ngạc nhiên. Y lắc đầu.
“Ừ”, Frank tiếp lời. “Giọng của gã cũng bắt đầu the thé từ đó. Kể Cho anh ta nghe đi Tom”.
“Tôi chưa bao giờ được nghe vụ ấy”.
“Ừ, anh đã không nghe”. Frank lên tiếng. “Dĩ nhiên là không. Anh không có mặt ở đây”, Tôi biết “Thưa ông, bữa ấy là một đêm tối trời, lạnh như hôm nay. Có thể lạnh hơn. Trận ẩu đả diễn ra rất nhanh. Tôi không chứng kiến được lúc bắt đầu. Khi thấy thì họ đã ở bên ngoài quán Index, Blackie, là Blindy bây giờ và một gã khác Willie Sawyer; đang quấn lấy nhau, khuỵu xuống, cấu xé và cắn nhau; tôi thấy một con mắt của Blackie treo lủng lẳng trên gò má. Hai người quần nhau trên mặt đường phủ băng, tuyết đồn đống lại trong ánh đèn của quán Index và quán này. Hollis Sands đứng ngay sau Wille Sawyer, người đang móc được một con mắt của đối thủ, và hét toáng lên “Cắn nó đi! Cắn nó nát như thể cắn một quả nho!” Blackie đang ngoặm vào mặt Wille Sawyer rồi với một cú giật mạnh, tình địch của y bị một lỗ trên mặt, tiếp tục, Blackie đớp miếng khác, cả hai gã lăn trên mặt băng, rồi Wille Sawyer cấu vào con mắt còn lại để khiến Blackie chịu thua và rồi Blackie cất lên một tiếng thét mà cả đời, bạn có lẽ chưa bao giờ nghe thấy. Kinh hoàng hơn ngay cả khi ta cắt một tiết con lợn”.
Blindy đang đứng đối điện với chúng tôi. Chúng tôi vội quay đi khi ngửi phải mùi hôi toát ra từ gã.
“Cắn nát nó như thể cắn một trái nho”, gã nói bằng giọng the thé, rồi nhìn chúng tôi, gật gật đầu. “Đấy là con mắt trái. Hắn móc con mắt còn lại, không cần một lời khuyên nào. Sau đó hắn tiếp tục tẩn khi tôi chẳng còn trông thấy gì nữa. Đó là hành vi tồi tệ”, gã tự nhận xét.
“Lúc ấy tôi vẫn còn có thể đánh nhau được”, gã nói. “Nhưng hắn đã tước đi đôi mắt trước lúc tôi kịp hiểu điều gì xảy ra. Hắn làm điều ấy với một cú móc điệu nghệ”. Ừ, Blindy nói mà không có chút thù hằn nào, “Điều đó đã làm tiêu tan đi những tháng ngày oanh liệt của tôi”.
“Mang cho Blackie một cốc”, tôi bảo Frank.
“Tên tôi là Blindy, Tom. Tôi đã kiếm được cái tên đó. Anh biết rằng tôi đã kiếm được nó từ cái thằng mà tối nay đã thả tôi xuống dọc đường. Hắn cắn con mắt. Chúng tôi không phải không từng là bạn của nhau”.
“Ông đã làm gì với y?” người lạ mặt hỏi.
“Ồ, anh sẽ thấy ngay thôi mà”, Blindy nói. “Anh sẽ nhận ra ngay bất cứ lúc nào anh gặp hắn. Tôi sẽ để điều ấy đến bất ngờ”.
“Anh ấy không muốn miêu tả”, tôi nói với người lạ mặt.
“Anh biết đấy, đó là một trong những lý do mà thỉnh thoảng tôi muốn biết”, Blindy tiếp tục. “Tôi chỉ muốn nhìn hắn bằng chính đôi mắt của mình”.
“Anh đã biết hắn trông ra sao rồi”, Frank bảo gã. “Anh đã một lần sờ tay lên mặt hắn”.
“Đã lặp lại điều ấy một lần nữa vào tối nay”, Blindy hạnh phúc nói. “Đó là nguyên nhân tại sao hắn đuổi tôi ra khỏi xe. Hắn ta không phải là người không có khiếu khôi hài tí nào. Tôi đã từng bảo hắn trong một đêm lạnh như đêm nay rằng hắn nên bịt kín lại toàn bộ như thế những gì bên trong khuôn mặt của hắn sẽ không bị lạnh. Hắn thậm chí đã không nghĩ rằng đấy là trò đùa. Anh biết đó, Wille Sawyer sẽ chẳng bao giờ là con người của thế giới”.
“Blackie, tôi đã đãi anh một chầu rồi đó”, Frank nói. “Tôi không thể đưa anh về, bởi nhà tôi chỉ ở xế bên kia đường. Nhưng anh có thể ngủ lại phía sau quán”.
“Anh thật tốt, Frank. Duy chỉ đừng gọi tôi là Blackie. Tôi chẳng còn là Blackie nữa. Blindy là tên tôi”.
“Uống chứ, Blindy”.
“Vâng thưa ông”, Blindy đáp. Gã đưa tay ra tìm chiếc cốc rồi điềm tĩnh nâng lên, hướng về phía ba chúng tôi.
“Wille Sawyer ấy mà”, gã nói, “có lẽ bây giờ đang nằm chòng queo ở nhà. Wille Sawyer, hắn không biết thế nào là cuộc chơi”.

Lê Huy Bắc dịch
0
Là con chó dẫn đường

- Rồi sau đó chúng ta đã làm gì? - Ông hỏi. Nàng đáp.
- Chỗ ấy thật kỳ lạ. Em không thể nhớ được gì cả.
- Thế em có nhớ lúc bắt đầu chuyến safari không?
- Em nhớ. Nhưng không rõ lắm. Em nhớ những người phụ nữ đội những chiếc lọ trên đầu, theo lối mòn xuống bờ nước, nhớ cả đàn ngỗng, tiếng địa phương gọi là toto bơi tới bơi lui trên mặt nước. Em nhớ cả đàn di chuyển rất chậm và chúng luôn di chuyển cả đàn đi xuống hoặc đi lên. Có cả một con nước thật lớn nữa, những ngôi nhà màu vàng và luồng nước chạy dọc bên cạnh hòn đảo ở ngoài khơi. Gió thổi không ngừng nên không có ruồi, muỗi. Có một mái nhà, một sàn nhà bằng bê-tông và những cây cột chống mái ấy; suốt ngày đêm gió thổi qua chúng. Và dẫu cho ngày hay đêm thì thời tiết cũng mát mẻ và thật dễ chịu.
- Em có còn nhớ khi thuyền độc buồm to lớn tiến vào và tròng trành trên con sóng?
- Vâng, em nhớ con thuyền ấy và cả đám thủy thú rời boong lên bờ đi trên lối mòn, bầy ngỗng sợ chúng và cả phụ nữ cũng sợ chúng.
- Đấy là ngày chúng mình bắt được nhiều cá nhưng phải vào bờ bởi sóng lớn.
- Em nhớ chuyện ấy.
- Đến nay anh vẫn còn nhớ rõ - Nàng nói - Đừng có nhớ nhiều quá.
- Anh lấy làm tiếc là không bay đến Zanzibar - Ông nói - Bờ biển phía bên trên chỗ ta đứng là nơi đáp máy bay tuyệt vời. Người ta có thể đáp xuống và cất cánh ở đấy rất dễ dàng.
- Chúng mình có thể thường xuyên đi đến Zanzibar. Hiện tại, đừng có cố mà nhớ nhiều nữa. Anh có thích nghe em đọc không? Có nhiều thứ trong những tờ New Yorker mà chúng mình chưa đọc.
- Đừng, đừng đọc - Ông nói - Chỉ trò chuyện thôi. Hãy nói về những ngày tươi sáng.
- Anh có muốn biết thời tiết bên ngoài như thế nào không?
- Trời đang mưa - Ông nói - Anh biết mà.
- Trời đang đổ cơn mưa lớn - Nàng bảo ông - Không có du khách nào ra ngoài trong lúc thời tiết như thế này. Gió rất mạnh, chúng mình chỉ có thể ngồi yên bên lò sưởi này thôi.
- Dẫu sao chúng mình cũng có thể. Anh không quan tâm đến họ nữa. Anh chỉ thích nghe họ nói.
- Một đôi người tệ quá - Nàng nói - Nhưng vài người lại rất tử tế. Em nghĩ rõ là những người tử tế nhất đi đến Torcello.
- Điều ấy hoàn toàn chính xác - Ông nói - Anh đã không nghĩ về điều dó. Thực ra nơi này chẳng có gì để họ ngắm nếu bản thân họ không thật xinh đẹp để ngắm nhau.
- Em pha cho mình một ly nhé? - Nàng đề nghị - Mình biết đấy, em là một y tá rất tồi. Em đã không được học vả lại cũng chẳng có chút năng khiếu gì. Nhưng em có thể pha thức uống.
- Ta uống đi.
- Mình muốn uống gì?
- Gì cũng được. - Ông đáp.
- Em sẽ khiến mình ngạc nhiên. Em xuống dưới nhà pha đây.
Ông nghe tiếng cánh cửa mở rồi đóng và bước chân nàng xuống cầu thang, ông nghĩ, mình phải buộc nàng đi chơi một chuyến. Mình phải nghĩ ra cách để thực hiện. Mình phải tính toán cái gì đó thực tế một chút. Giờ đây, mình phải chịu cảnh này cho đến cuối đời, mình phải nghĩ cách để không làm hại cuộc đời nàng, để không hủy hoại đời nàng. Nàng rất dịu dàng nhưng nàng được sinh ra không phải để làm việc này. Ý mình là cái kiểu tử tế này. Ý mình là cứ tử tế mỗi ngày rồi chôn vùi cả cuộc đời trong sự hy sinh ấy.
Ông nghe tiếng nàng lên cầu thang và để ý sự khác lạ của bước chân khi nàng đang mang hai chiếc cốc so với lúc đi không. Ông nghe tiếng mưa chạm vào kính cửa sổ và ông ngửi thấy mùi gỗ sồi đang cháy trong lò sưởi. Khi nàng vào phòng, ông chìa tay đón cốc rượu, nắm giữ nó rồi cảm thấy nàng đưa cốc của mình chạm cốc ông.
- Đây là thức uống cũ của chúng mình được pha nơi này - Nàng nói - Campari, Gordon pha với đá.
- Anh lấy làm mừng rằng em không phải là hạng người luôn mở miệng than vãn “khổ quá”.
- Đúng - Nàng nói - Em chưa bao giờ nói như thế. Chúng mình đang ở trong vận bĩ mà.
- Hãy đứng vững trên đôi chân khi cơn khủng hoảng đã lên đến đỉnh điểm - Ông nói - Em có còn nhớ lúc chúng ta bỏ thành ngữ này không?
- Đấy là lúc xảy ra với con sư tử của em. Nó là con sư tử thật kiêu hùng đấy nhỉ? Em không thể đợi cho đến lúc chúng mình nhìn thấy nó.
- Anh cũng không thể. - Ông nói.
- Em lấy làm tiếc.
- Em có nhớ ta bỏ thành ngữ ấy lúc nào không?
- Em gần như nhắc lại được nó.
- Anh biết, - Ông bảo nàng - chúng ta đã cực kỳ may mắn khi đến đây. Anh nhớ rõ nó đến nỗi có thể sờ được. Đấy là một từ mới và chúng ta sẽ bỏ nó nhanh thôi. Nhưng nó thực sự tuyệt vời. Khi nghe tiếng mưa, anh có thể thấy nó rơi trên những phiến đá, trên dòng kênh và trên mặt phá rồi anh biết hình dáng cây cối cong theo từng đợt gió và cả hình bóng nhà thờ, tháp chuông hiện lên trong những luồng ánh sáng. Chúng ta sẽ không thể đi đến nơi nào tốt hơn nữa cho anh đâu. Nơi này thực sự lý tưởng. Chúng ta có radio, máy cát xét ghi âm thật tốt và anh sẽ viết tốt hơn những gì có thể. Nếu người ta có thời giờ nghe băng thì sẽ học được nhiều từ. Anh có thể làm việc chậm, có thể thấy được từ ngữ khi phát âm ra chúng. Nếu chúng sai thì anh nghe chúng sau, rồi anh có thể bỏ đi, làm việc trở lại cho đến khi tìm được từ đúng. Em yêu, nhưng bằng nhiều cách khác nhau chúng ta vẫn không thể tìm ra từ tốt hơn.
- Ồ, Philip.
- Cứt - Ông nói - Bóng tối thì chỉ là bóng tối. Cái này thì thực sự chẳng giống như bóng tối. Anh có thể nhìn thấy bên trong rất rõ và bây giờ đầu anh lại khá hơn lúc nào hết, anh có thể nhớ và hình dung rõ. Em cứ đợi xem. Hôm nay anh đã chẳng nhớ tốt hơn đó sao?
- Lúc nào anh cũng nhớ tốt cả. Và anh sắp khỏe.
- Anh khỏe - Ông nói - Bây giờ nếu em...
- Nếu em cái gì?
- Nếu em đi xa một thời gian để nghỉ ngơi và thay đổi không khí.
- Anh không cần em nữa hay sao?
- Dĩ nhiên là anh cần em, em yêu.
- Vậy thì tại sao ta lại bàn chuyện em ra đi? Em biết mình chăm sóc anh không khéo nhưng em có thể làm nhiều thứ mà những người khác không thể vả lại chúng mình yêu nhau mà. Anh yêu em, anh biết điều đó và chúng mình biết những điều mà không một người nào khác biết.
- Chúng ta đã làm nhiều thứ tuyệt vời trong bóng tối. - Ông nói.
- Và chúng mình cũng làm nhiều thứ tuyệt vời vào ban ngày.
- Em biết anh thích bóng tối. Bằng cách nào đó, nó là chất xúc tác.
- Đừng có lừa dối nhiều quá - Nàng nói - Anh không cần phải tỏ ra quá kiêu hãnh đến thế đâu.
- Nghe trời mưa kìa - Ông nói - Bây giờ thủy triều thế nào rồi?
- Đã rút xuống và gió lại đẩy nước rút xuống xa bờ hơn. Người ta gần như có thể đi bộ đến Burano.
- Tất cả ngoại trừ một nơi - Ông nói - Có nhiều chim không?
- Chủ yếu là nhạn và mòng biển. Chúng đỗ trên dải đất và khi bay lên, gió cuốn chúng đi.
- Không có người nào trên bờ à?
- Có vài người đang làm gì đó trên phía dải đất mà chỉ lộ ra khi có gió và thủy triều như thế này.
- Em có nghĩ đã sang xuân chưa?
- Em không biết - Nàng nói - Hẳn thời tiết chưa phải là mùa xuân đâu.
- Em đã uống hết cốc của mình rồi chứ?
- Sắp xong. Sao anh không uống đi?
- Anh đang để dành.
- Uống đi - Nàng nói - Khi anh không thể uống thì nó không tệ hơn à?
- Không đâu, em biết đấy - Ông nói - Những gì anh nghĩ khi em xuống dưới nhà là em có thể đi đến Paris, sang London, em sẽ gặp gỡ nhiều người, sẽ cảm thấy vui vẻ rồi khi em quay lại lúc ấy hẳn mùa xuân và, em có thể kể cho anh nghe mọi chuyện.
- Không. - Nàng nói.
- Em nghĩ làm như thế mới là thông minh - Ông nói - Em biết đây là công việc kéo dài chán ngắt, chúng ta phải biết cách tự mình thu xếp. Anh không muốn làm em mệt mỏi. Em biết...
- Em ước sao anh đừng nói “em biết” quá nhiều.
- Em hiểu chứ? Đấy là một trong số những vấn đề. Anh đã học được cách nói mà không tỏ vẻ bực bội. Khi quay lại, hẳn em sẽ phát điên vì anh.
- Anh sẽ làm gì vào ban đêm?
- Ban đêm thì dễ thôi.
- Em chắc thế. Em nghĩ hẳn là anh cũng đã học được cách ngủ rồi.
- Anh sắp - Ông bảo nàng rồi uống hết nửa cốc - Đấy là một phần của Kế hoạch. Em biết đấy là cách nó diễn ra. Nếu em đi xa, xả hơi một thời gian thì lương tâm anh sẽ thanh thản. Rồi lần đầu tiên trong đời, với lương tâm thanh thản ấy, anh dễ dàng chìm vào giấc ngủ. Anh sẽ lấy một cái gối, hiện thân cho lương tâm trong sạch của mình, ôm choàng qua nó rồi buông chùng ra khi ngủ. Nếu anh thức giấc bởi bất kỳ một sự kiện kỳ lạ nào đó thì anh chỉ tư đuy về những ý tưởng bẩn thỉu, hạnh phúc, quyến rũ mà thôi. Hoặc anh se hồi tưởng lại mọi chuyện. Em biết anh muốn em được vui vẻ.
- Xin đừng nói “em biết” nữa.
- Anh đã cố tập trung để không nói. Nó đã bị ngăn lại nhưng rồi anh lại quên và hạ chắn ngăn xuống. Dẫu sao thì anh cũng chẳng muốn em làm con chó dẫn đường.
- Em không phải và anh biết điều đó. Nếu có thì tự nguyện dẫn đường chứ không phải bị bắt dẫn đường.
- Anh biết điều ấy - Ông bảo nàng - Đến ngồi đây, em có bực mình không?
Nàng đến ngồi cạnh ông trên giường, cả hai nghe mưa nặng hạt rơi lên kính cửa sổ, ông cố không xoa đầu nàng và sờ khuôn mặt đáng yêu của nàng theo cách những người mù thường làm, nhưng chẳng còn cách nào khác để có thể chạm khuôn mặt ngoại trừ cách ấy. Ông ôm chặt nàng và hôn lên đỉnh đầu nàng. Hôm khác, mình sẽ phải cố thêm lần nữa, ông nghĩ. Mình không để là một kẻ quá ngốc về chuyện này. Thịt da nàng mới mịn màng làm sao, mình rất yêu nàng nhưng đã làm nàng thiệt nhiều quá, mình phải học cách chăm sóc nàng tốt hơn bằng cách mà mình có thể. Nếu mình nghĩ về nàng và chỉ nghĩ về nàng thôi thì mọi chuyện sẽ ổn cả.
- Giờ thì anh không nói “em biết” nữa - Ông bảo nàng - Chúng ta có thể bắt đầu từ đó.
Nàng lắc đầu và ông thấy nàng run rẩy.
- Anh cứ nói nếu anh muốn. - Nàng nói rồi hôn ông.
- Đừng khóc, thiên thần của anh. - Ông nói.
- Em không muốn anh ngủ với bất kỳ cái gối bẩn thỉu nào. - Nàng nói.
- Anh sẽ không. Không với bất cứ một cái gối bẩn thỉu nào.
- Dừng lại đi - Ông thầm nhủ - Dừng ngay lại đi.
- Ờ kìa, này - Ông nói - Bây giờ ta hay xuống dưới và ăn trưa tại nơi thoải mái trước đây của chúng ta, bên cạnh lò sưởi rồi anh sẽ nói cho em biết em tuyệt vời đến nhường nào và cái gì là vận may thực sự của chúng ta.
- Chúng mình thực sự may mắn.
- Chúng ta sẽ khiến mọi thứ dễ chịu.
- Nhưng em chỉ không muốn bị đuổi đi.
- Không ai đuổi em cả.
Nhưng lúc cẩn thận bám tay vịn và lần bước xuống cầu thang, ông nghĩ mình phải tìm cách bảo nàng đi, bảo nàng đi trước lúc mình có thể làm tổn thương nàng. Bởi lẽ mình chẳng thể làm tốt việc ấy. Đấy là những gì tao hứa với mày. Nhưng mày còn có thể làm được gì khác nữa? Chẳng thể, ông nghĩ. Mày chẳng thể nào làm bất cứ điều gì. Nhưng có lẽ, nếu mày cứ chịu đựng như thế thì mày sẽ thạo việc ấy.

Lê Huy Bắc dịch
0
Người mùa hạ

Khoảng giữa con đường rải sỏi từ thị trấn Hortons Bay đến hồ, có một dòng suối. Nước vỗ vào phiến đá chìm bên cạnh đường, tràn lên bề mặt rạn nứt của phiến đá rồi len qua cụm bạc hà rậm rạp chảy vào đầm lầy. Trong bóng tối, Nick nhúng tay xuống suối nhưng không thể để lâu bởi nước suối lạnh. Tay cậu chạm vào những gợn cát nhỏ mấp mô dưới đáy suối. Nick nghĩ giá mà mình có thể nằm dưới đáy suối. Chắc nó khiến mình thoải mái. Cậu rút tay lên rồi ngồi xuống rìa đường. Đêm ấy, trời nóng.
Phía dưới đường, nhìn qua rừng cậu có thể thấy màu trắng từ ngôi nhà Bean cất trên những chiếc cột nổi lên mặt nước. Cậu không muốn xuống bến. Mọi người đang bơi ở dưới ấy. Cậu chẳng muốn gặp Kate, đôi mắt Odgar có màu của mắt cá bị rán. Odgar chẳng biết chuyện gì chăng? Kate sẽ chẳng bao giờ lấy anh ta. Nàng sẽ không lấy người mà nàng không thấy hấp dẫn. Và nếu bị ép thì nàng sẽ thu mình lại, khó gần rồi lảng đi. Nhưng cậu lại có thể hấp dẫn nàng. Thay vì giấu mình và lảng xa, nàng lại cởi mở hết tấm lòng, dịu dàng, mời gọi vòng tay ôm ấp. Odgar nghĩ tình yêu là thế. Mắt anh ta lác và ửng đỏ quanh mi. Nàng không chịu để anh chạm vào người. Tất cả tình yêu của anh được biểu lộ bằng mắt. Rồi thì Odgar chỉ muốn quan hệ giữa hai người mãi mãi là tình bạn như cũ. Chơi đùa trên cát. Nặn hình bằng đất sét. Cùng nhau giong thuyền đi chơi suốt cả ngày. Kate luôn mặc đồ tắm. Odgar ngắm nàng.
Odgar ba mươi hai tuổi và đã hai lần chịu phẫu thuật vì chứng giãn tĩnh mạch. Dù xấu trai nhưng mọi người mến vẻ mặt của anh. Có lẽ, Odgar sẽ chẳng bao giờ có được điều đó và với anh nó lại là tất cả trên đời. Cứ mùa hè đến, anh lại khổ sở vì nó. Thực đáng thương. Odgar rất tử tế. Anh tử tế với Nick hơn bất kỳ một ai khác. Nếu muốn, Nick có thể đạt được điều đó ngay bây giờ. Odgar sẽ tự tử, Nick nghĩ, nếu anh biết chuyện ấy. Mình chẳng rõ anh ta sẽ tự sát như thế nào. Cậu không nghĩ về cái chết của Odgar nữa. Có lẽ anh ấy sẽ không tự tử. Nhưng nhiều người đã tự tử. Không phải chỉ vì thất tình. Nhưng Odgar nghĩ chỉ có thất tình mới gây nên chuyện đó. Chúa biết, Odgar yêu nàng lắm. Đấy là nỗi khát khao, khát khao thể xác, khai trinh, thuyết phục, chờ cơ hội, không hề hoảng sợ, dự đoán về những kẻ khác, chẳng bao giờ gạn hỏi, dịu dàng và khao khát, tạo niềm đam mê và hạnh phúc, vui đùa mà không làm ai lo sợ. Rồi đợi chờ mọi chuyện sẽ ổn thỏa sau đó. Đấy không phải là tình yêu. Tình yêu là nỗi lo. Bản thân cậu, Nicholas Adams, có thể có những gì cậu muốn bởi chúng ở trong tầm tay cậu. Cậu có thể tặng cho Odgar hoặc bảo cho Odgar chuyện ấy. Nhưng không phải bất cứ chuyện gì người ta cũng có thể dạy bảo cho kẻ khác. Đặc biệt là với Odgar. Đừng, thực sự đừng với Odgar. Với bất kỳ ai. Bất kỳ nơi nào. Nói, đấy luôn là lỗi lầm đầu tiên của cậu. Cậu đối thoại với bản thân quá nhiều. Dẫu sao còn nhiều việc mày cần làm để đến với các tiên nữ ở Princeton, Yale và Harvard. Tại sao không có thiếu nữ học tại những trường đại học của bang? Con trai và con gái có thể học chung. Chúng gặp gỡ, giúp đỡ rồi lấy nhau. Hà cớ gì mà phải trở thành những gã như Odgar, Harvey và Mike và đám còn lại? Cậu không biết. Cậu chưa hoàn toàn trưởng thành. Chúng ta là những người tốt nhất trái đất. Nhưng việc gì phải giống chúng? Cậu chẳng biết gì sất. Làm sao cậu có thể viết giống như Hardy và Hamsun một khi cậu chỉ nếm mùi đời mới được có mười năm. Cậu không thể. Hãy đợi đến lúc cậu năm mươi.
Trong bóng tối, cậu quỳ xuống dòng suối uống nước. Cậu cảm thấy dễ chịu. Cậu biết mình sẽ trở thành nhà văn vĩ đại. Cậu biết nhiều thứ và chúng sẽ chẳng bao giờ bằng cậu. Chẳng một ai có thể. Chỉ khi cậu chưa hiểu hết mọi thứ. Chuyện đó sẽ ổn thôi. Cậu biết. Nước lạnh làm mắt cậu đau. Cậu nuốt một ngụm lớn lạnh như băng. Đấy là hậu quả của việc nhúng mũi xuống nước uống. Tốt hơn là cậu nên đi bơi. Suy nghĩ thì chẳng tốt lành gì. Nó bắt đầu rồi cứ thế tiếp tục. Cậu bước xuống đường, vượt qua chiếc xe và nhà kho lớn phía bên trái nơi táo, khoai tây được xếp lên thuyền vào mùa thu, vượt qua nhà Bean sơn trắng nơi họ thỉnh thoảng khiêu vũ dưới ánh sáng của ngọn đèn lồng trên sàn gỗ cứng, đi ra bến nơi mọi người đang bơi.
Cả bọn bơi phía cuối bến tàu. Khi đi trên sàn gỗ nhám nhô cao trên mặt nước, Nick nghe tiếng cọ của hai lớp ván lát và tiếng sóng. Nước vỗ bên dưới bờ đá. Kia hẳn là Ghee, cậu nghĩ. Kate nhô lên khỏi mặt nước tựa con hải cẩu rồi trườn người lên bậc thang.
“Wemedge đây rồi”, nàng gào lên báo cho mấy người kia. “Xuống đi Wemedge. Kỳ diệu lắm”.
“Chào Wemedge”, Odgar nói. “Anh bạn, thú vị lắm”.
“Wemedge ở đâu?” đang bơi ngoài kia, Ghee hỏi.
“Có phải anh chàng Wemedge, người không bơi đấy không?” Giọng Bill trầm vang trên mặt nước.
Nick thấy dễ chịu. Thật buồn cười khi người ta gào với bạn như thế. Cậu tháo giày, kéo áo qua đầu rồi cởi quần dài. Đôi chân trần của cậu chạm vào lớp cát trên ván cầu tàu. Cậu chạy thật nhanh trên lớp ván kẽo kẹt, ngón chân dận vào mép ván, cậu gồng mình lại nhảy xuống làn nước mềm mại và sâu thẳm mà không phải cố lặn. Cậu đã hít căng lồng ngực khi nhảy rồi bây giờ từ từ nhả không khí ra dòng nước, uốn cong lưng, đạp thẳng chân, lao tới. Sau đó cậu trồi lên, bềnh bồng, úp mặt xuống nước. Cậu lật người rồi mở mắt. Cậu không để ý đến bơi mà chỉ thích lặn, ngụp sâu dưới nước.
“Cậu thấy thế nào Wemedge?” Ghee bơi sát cậu.
“Ấm như nước đái”.
Cậu thở sâu, tay giữ ngang mắt cá chân, kéo đầu gối lên tận cằm rồi chậm rãi lặn xuống. Nước ấm trên bề mặt nhưng cậu nhanh chóng vượt qua khoảng nước ấm xuống chỗ nước lạnh. Khi cậu lặn đến đáy, nước thật lạnh. Nick nhẹ nhàng dập dềnh sát đáy. Đáy nước đầy macnơ, chân cậu khó chịu khi giẫm phải lúc cậu duỗi người đạp mạnh để ngoi lên mặt nước. Trong đêm tối, cậu có cảm giác là lạ khi chui từ dưới nước lên. Nick nằm nghỉ trong nước, khẽ bơi và thư giãn. Odgar đang nói chuyện với Kate trên cầu tàu.
“Anh đã từng bơi trên biển nơi phát ra ánh lân tinh chưa Carl?”
“Chưa”, giọng Odgar không tự nhiên khi nói với Kate.
Bọn mình hẳn như những đối thủ biết thông cảm cho nhau, Nick nghĩ. Cậu hít một hơi dài, co gối đạp mạnh, lặn xuống; lần này cậu mở mắt. Cậu lặn nhẹ nhàng, thoạt tiên cậu nghiêng người rồi chúi đầu xuống. Chẳng tác dụng gì. Cậu không thể nhìn dưới nước trong đêm tối. Khi lặn lần đầu, cậu đã nhắm mắt đúng lúc. Phản ứng như thế thực buồn cười. Dẫu sao thì cũng không đúng. Cậu không lặn xuống nữa mà trồi lên bơi trong vùng nước mát, giữ người chìm dưới mặt nước. Thực quá đỗi buồn cười khi bơi dưới nước và lại càng tức cười hơn khi phải giữ thăng bằng để bơi. Bơi trên biển rất khoái. Sức đẩy của nước ấy mà. Nhưng lại có vị muối và cách nó làm người ta khát. Nước ngọt vẫn tốt hơn. Như dòng nước này trong buổi tối nóng nực. Cậu nhô lên thở ngay dưới mép bảo vệ cầu tàu rồi leo lên bậc thang.
“Ồ, Wemedge, anh lặn à”. Kate nói. “Thật đúng là thợ lặn”. Họ đang ngồi bên nhau trên cầu tàu, lưng tựa vào cái cột lớn.
“Biểu diễn cú lặn không tiếng động đi Wemedge”, Odgar đề nghị.
“Được thôi”.
Nước trên người đang nhỏ giọt, Nick bước trên ván cầu, trong đầu nhẩm lại cách lặn. Odgar và Kate quan sát cậu, thân hình mờ mờ trong bóng tối, đứng cuối ván cầu, gập người nhào lặn theo cách học lóm từ loài rái cá biển. Trong làn nước, khi xoay người lên thở, Nick nghĩ: Chúa ơi, giá mà mình có Kate ở dưới này. Cậu vội vã nhoài người lên, cảm thấy nước vào đầy mắt và tai. Cậu cần phải thở.
“Thật hoàn hảo. Rất tuyệt”, từ trên bến, Kate reo lên.
Nick leo lên bậc thang.
“Bọn ấy đâu cả rồi”, cậu hỏi.
“Chúng đang bơi ngoài vịnh”, Odgar đáp.
Nick nằm xuống cầu tàu, bên cạnh Kate và Odgar. Cậu có thể nghe tiếng động của Ghee và Bill đang bơi ngoài xa, trong bóng tối.
“Anh là thợ lặn cừ nhất đấy, Wemedge”, Kate nói, chân cọ vào lưng cậu. Nick rụt người bởi sự tiếp xúc ấy.
“Không”, Nick nói. Cậu đang nghĩ, nếu có khả năng sống với ai đó ở dưới nước thì cậu có thể nín thở ba phút, bám vào đáy cát rồi hai đứa cùng nhau ngoi lên, thở rồi lặn xuống, lặn thì rất dễ nếu người ta biết cách. Có dạo cậu đã uống một chai sữa, bóc vỏ và ăn một quả chuối dưới nước để biểu diễn, dĩ nhiên muốn làm nước như thế thì phải có trọng lượng để giữ cơ thể chìm xuống, nếu có một cái vòng ở đáy cát hoặc vật gì đó cho cậu quàng tay vào, thì cậu có thể thực hiện được điều ấy. Chà, chuyện đó sẽ thế nào nhỉ, dẫu sao thì mày cũng không thể kiếm được một cô gái như thế, con gái không thể nào chịu nổi, cô ta sẽ bị sặc nước; Kate sẽ bị chết đuối, Rate không giỏi lặn, cậu ước có một cô gái như thế, hẳn cậu sẽ kiếm được một cô như thế, hoặc giả là không bao giờ, chẳng có ai ngoài cậu có thể chịu đựng lâu được dưới nước. Đám thợ bơi ư? Đồ chết tiệt, cảnh bơi là những tay quý tộc rởm, chẳng một ai hiểu nước ngoại trừ cậu, có một gã ở Evanston có thể nín thở sáu phút nhưng hắn là thằng điên. Cậu ước mình là cá, không, cậu không thể. Cậu cười.
“Có chuyện gì vui vậy, Wemedge?” Odgar nói khàn khàn, bắt chước giọng Kate.
“Tôi muốn mình là cá”, Nick đáp.
“Ý tưởng ngộ nhỉ”, Odgar nói.
“Đúng thế”, Nick nói.
“Đừng có ngốc, Wemedge”, Kate nói.
“Em có muốn mình là cá không hở Butstein?” Cậu hỏi lúc nằm gối đầu lên tấm ván, quay mặt khỏi họ.
“Không”, Kate đáp. “Không phải tối nay”.
Nick tì mạnh lưng vào chân nàng.
“Anh muốn mình trở thành loài nào, Odgar?” Nick hỏi.
“J. P. Morgan”, Odgar đáp.
“Anh dễ thương thật, Odgar”, Kate nói. Nick cảm thấy Odgar đỏ mặt.
“Em muốn mình là Wemedge”, Kate nói.
“Em rất có thể trở thành bà Wemedge”, Odgar nói.
“Chẳng có ai sẽ trở thành bà Wemedge, cả”, Nick nói. Cậu căng hết cơ lưng. Cả hai chân Kate duỗi ra đặt lên lưng cậu như thể nàng để chúng lên cây gỗ trước lò sưới.
“Đừng quá khẳng định”, Odgar nói.
“Tôi hoàn toàn chắc chắn”, Nick nói. “Tôi sẽ cưới một nàng tiên cá”.
“Cô ta sẽ là bà Wemedge”, Kate nói.
“Không, cô ta sẽ không”, Nick nói. “Anh sẽ không cho phép”.
“Làm sao anh ngăn được cô ta”.
“Anh sẽ cản được. Chỉ để cô ta thử thôi”.
“Người cá không lấy chồng”, Kate nói.
“Thánh Mann sẽ bỏ đói cậu”, Odgar nói.
“Chúng tôi sẽ ở ngoài giới hạn ‘bốn dặm’”, Nick nói. “Chúng tôi sẽ mua thực phẩm từ những quái vật. Odgar, anh có thể vận đồ lặn xuống thăm bọn tôi. Nhớ cho Butstein đi cùng nếu cô ấy muốn. Bọn tôi sẽ ở nhà vào các chiều thứ Năm”.
“Ngày mai chúng ta sẽ làm gì?” Odgar nói, giọng anh ta lại khàn khàn giống giọng Kate.
“Ôi, trời đất, ta hãy khoan nói về ngày mai đã”, Nick nói. “Ta hãy nói về nàng tiên cá của tôi”.
“Chúng tôi chán nàng tiên cá của anh rồi”.
“Thôi được”, Nick nói. “Em và Odgar cứ việc nói chuyện. Anh nghĩ về cô ta đây”.
“Anh thật đồi bại, Wemedge. Anh cực kỳ xấu xa”.
“Không, anh không. Anh chỉ thật lòng thôi”. Rồi nhắm mắt lại, Nick nói. “Đừng quấy rầy anh. Anh đang nghĩ về cô ta”.
Cậu nằm đó, nghĩ về nàng tiên cá của mình trong lúc lòng bàn chân của Kate ẩn vào lưng, nàng nói chuyện với Odgar.
Odgar và Kate nói chuyện nhưng cậu không nghe họ. Không còn nghĩ ngợi gì nữa, cậu nằm đó, rất thanh thản.
Dưới kia, Bill và Ghee rời khỏi mặt nước, lên bờ đi về phía xe, rồi lùi nó lên cầu tàu. Nick đứng dậy mặc áo quần. Bill và Ghee ngồi ở ghế trước, mệt mỏi do bơi quá xa. Nick ngồi phía sau với Kate và Odgar. Chúng dựa lưng ra ghế. Bill rồ ga leo lên đồi, ngoặt sang đường chính. Trên đường, Nick nhìn thấy đèn của mấy chiếc xe phía trước khuất khỏi tầm mắt, rồi không thấy gì khi xe leo lên đồi, chập chờn lúc đến gần rồi lại mờ nhạt khi Bill vượt qua. Con đường được đắp cao dọc theo bờ hồ. Mấy chiếc xe lớn rời khỏi Charlevoix, đám trưởng giả giàu có ngồi bên cạnh lái xe của họ, rồ máy vượt lên, lấn đường và không bật đèn gầm. Chúng vượt qua như thể đoàn tàu lửa. Bill nháy đèn pha với những chiếc xe chạy ngược chiều, bên phía rừng cây, khiến những kẻ lấn đường dạt vào. Không có xe nào vượt Bill mặc dù đôi khi đèn xin đường ở xe họ nhấp nháy cho đến lúc Bill vượt bỏ họ. Bill chạy chậm trước lúc rẽ vào con đường cát, chạy qua vườn cây ăn quả về ngồi nhà trong nông trại. Chiếc xe, được hạ số, chậm rãi bò qua vườn cây. Kate ghé sát môi vào Nick.
“Khoảng một tiếng nữa, Wemedge”, nàng nói. Nick ép chặt đùi mình vào đùi nàng. Chiếc xe chạy vòng trên đỉnh đồi, trên vườn cây rồi dừng lại trước nhà.
“Cô đã ngủ. Bọn mình phải giữ yên lặng”, Kate nói.
“Tạm biệt các bạn”, Bill thì thào. “Sáng mai bọn tớ đến đón”.
“Tạm biệt, Smith”, Ghee khẽ chào. “Tạm biệt Butstein”.
“Tạm biệt Ghee”, Kate nói.
Odgar đang vào nhà.
“Tạm biệt các bạn”, Nick nói. “Hẹn gặp em, nàng tiên cá”.
“Tạm biệt Wemedge”, Ođgar nói từ trên cửa.
Nick và Ghee xuống con đường chạy vào vườn cây. Nick với tay hái quả táo từ một trong những cây giông Duchess. Nó hãy còn xanh nhưng cậu vẫn nhai miếng táo chát và nhả hột.
“Cậu và Bill bơi xa đấy, Ghee”, cậu nói.
“Chẳng xa lắm đâu Wemedge”, Ghee đáp.
Chúng ra khỏi vườn cây, đi qua thùng thư, lên con đường cao tốc.
Làn sương mù lạnh từ thung lũng lòng chảo nơi con đường cắt dòng suối đang tỏa lên. Nick dừng lại trên cầu.
“Đi thôi, Wemedge”, Ghee nói.
“Ừ”, Nick tán thành.
Chúng tiếp tục leo lên đồi đến nơi con đường chui vào rừng cây mọc quanh nhà thờ. Không có ngọn đèn nào trong những ngôi nhà chúng vượt qua. Thị trấn Hortons Bay đang chìm trong giấc ngủ. Chẳng còn chiếc xe nào vượt qua chúng.
“Mình chưa cảm thấy muốn về nhà”, Nick nói.
“Cậu có thích tớ đi cùng không”.
“Không, Ghee. Đừng bận tâm”.
“Thôi được”.
“Mình chỉ đi đến nhà với cậu”, Nick nói. Chúng mở chốt cánh cửa có rèm che và đi vào bếp. Nick mở nồi đựng thịt và nhìn quanh.
“Có dùng món này không hở Ghee?” Nick hỏi.
“Tớ chỉ cần miếng bánh”, Ghee đáp.
“Tớ cũng thế”, Nick nói. Cậu gói một ít thịt gà rán và hai miếng bánh nhân đào trong tờ giấy bóng đặt trên thùng đá.
“Tớ sẽ mang theo gói này”, cậu nói. Ghee nuốt miếng bánh kèm theo một ca nước đầy múc từ trong xô.
“Ghee à, nếu cậu muốn đọc thứ gì thì cứ lấy ở phòng mình”, Nick nói. Ghee đang nhìn bọc đồ ăn trưa Nick gói mang theo.
“Chớ làm chuyện gì ngu ngốc đó Wemedge”, nó nói.
“Chẳng sao đâu Ghee”.
“Cũng được. Duy chỉ đừng có ngốc”, nó mở cửa, bước qua sân cỏ về phía nhà.
Nick tắt đèn, cài cửa rồi bước ra. Cậu quấn gói đồ ăn trưa trong tờ báo, băng qua đồng cỏ ướt, leo qua hàng rào, lên con đường vào thị trấn len dưới đám cây du rậm rạp, vượt qua chiếc thùng thư cuối cùng trong dãy R. F. D ở ngã tư rồi bước lên đại lộ hướng về phía Charlevoix. Vượt con lạch, cậu qua cánh đồng, đi vòng quanh bìa vườn cây ăn quả, men đến vùng đất trống, vượt qua hàng rào vào cụm cây. Ngay chính giữa cụm rừng, bốn cây độc cần mọc kề sát nhau. Mặt đất mềm trải đầy lá cây, khô ráo. Cụm rừng chưa hề bị chặt phá mảy may và cây bụi không thể mọc trên nền rừng khô, ấm ấy. Nick đặt gói đồ ăn trưa cạnh gốc của một trong mấy cây độc cần rồi nằm xuống đợi. Cậu thấy Kate len qua rừng cây trong bóng tối nhưng vẫn nằm im. Nàng không thấy cậu bèn đứng lại một lát, tay ôm hai cái mền. Trong bóng tối, hình bóng đó nom tựa như một người khổng lồ mang thai. Nick giật mình rồi cảm thấy buồn cười.
“Chào Butstein”, cậu nói. Nàng đánh rơi mấy cái mền.
“Ôi Wemedge. Anh làm em sợ quá. Em đang lo là anh không đến”.
“Em Butstein yêu thương”, Nick nói. Cậu kéo nàng vào lòng, cảm nhận thân hình nàng ép vào mình, cả cơ thể ngọt ngào ép sát. Nàng ông chặt lấy cậu.
“Em yêu anh lắm, Wemedge”.
“Em Busttein yêu quý của anh”, Nick nói.
Chúng trải mền ra, Kate vuốt phẳng.
“Thực là mạo hiểm khi mang theo mền”, Kate nói.
“Anh biết’', Nick nói. “Ta cởi quần áo đi”.
“Ôi, Wemedge”.
“Càng khoái chứ sao”. Chúng cởi đồ rồi ngồi xuống chăn. Nick hơi xấu hổ khi ngồi như thế.
“Anh có thích em trần truồng không hở Wemedge?”
“Tuyệt vời. Ta đắp chăn thôi”, Nick nói. Chúng nằm giữa hai lớp mền xù xì. Cơ thể cậu nóng bừng ép sát người nàng mát mẻ, khát khao tìm kiếm, rồi dịu trở lại.
“Hạnh phúc chứ?”
Kate riết chặt lấy cậu thay cho câu trả lời.
“Có buồn cười không?”
“Ôi Wemedge. Em muốn như thế. Em rất muốn”.
Họ nằm bên nhau trong mền. Wemedge rê đầu xuống, mũi cậu kéo dọc theo cổ, đến giữa ngực nàng. Chúng như thể phím đàn piano.
“Em mát thật”, cậu nói.
Môi cậu nhẹ nhàng đặt lên một trong hai bầu vú nho nhỏ. Nó như sống dậy giữa đôi môi, lưỡi cậu ấn nhẹ xuống. Cậu cảm thấy toàn bộ cảm giác ham muốn đang quay lại rồi, lướt tay xuống dưới, cậu xốc Kate lên. Cậu vuốt nhẹ, nàng siết chặt cậu. Nàng ép chặt, khít vào đường cong của bụng cậu. Nàng cảm thấy diệu kỳ. Cậu sờ soạng, hơi lóng ngóng rồi tìm ra nó. Cậu đặt hai tay lên vú nàng rồi siết nàng vào lòng. Nick hôn điên cuồng vào lưng nàng. Đầu Kate ưỡn ra sau.
“Cách này thú vị chứ”, cậu hỏi.
“Em thích. Em rất thích. Em rất muốn. Ôi, yêu em đi Wemedge. Hãy yêu em đi. Yêu đi. Yêu đi. Nào, Wemedge. Nào, nào, Wemedge”.
“Rồi đấy”, Nick nói.
Đột nhiên cậu có cảm giác cái nền nhám đang miết vào thân hình trần truồng của mình.
“Em kém lắm sao hở Wemedge?” Kate hỏi.
“Không. Em thật tuyệt vời”, Nick nói. Tâm trí cậu đang quay cuồng rồi dịu đi. Cậu nhận thức được mọi thứ và rồi, “Anh đói”, cậu nói.
“Em ước giá mà chúng ta có thể ngủ lại đây suốt đêm”, Kate vuốt ve người cậu.
“Thú vị đấy”, Nick nói. “Nhưng chúng ta không thể. Em phải quay lại nhà”.
“Em không muốn về”, Kate nói.
Nick đứng dậy, làn gió như mơn man người cậu. Cậu mặc áo và có vẻ vui khi đã mặc xong. Cậu tiếp tục mặc quần dài và đi giày.
“Em mặc đồ đi, Stut”, cậu bảo.
“Em không muốn”, Kate đáp. “Tối nay em sẽ ngủ lại đây”. Nàng ngồi dậy trong mền. “Đưa hộ em mấy thứ ấy, Wemedge”.
Nick đưa quần áo cho nàng.
“Em vừa nảy ra ý nghĩ” Kate nói. “Nếu em ngủ ngoài này, thì mọi người sẽ nghĩ em là đồ ngốc mới ôm chăn ra nằm đây rồi mọi việc sẽ ổn cả thôi”.
“Em sẽ không thoải mải đâu”, Nick nói.
“Nếu khó chịu, em sẽ vào nhà”.
“Ta ăn trước lúc anh phải đi”, Nick nói.
“Đợi em mặc xong đồ đã”, Kate đáp.
Họ cùng nhau ngồi ăn thịt gà rán và bánh nhân anh đào.
Nick đúng lên rồi quỳ xuống hôn Kate.
Cậu đi qua đồng cỏ ướt đến ngôi nhà tranh, cẩn thận không gây tiếng động khi lên phòng mình. Nằm trên giường với chăn đệm thật là thoải máí, cậu duỗi thẳng người, đầu gối lên gối. Nằm giường rất thú, thoải mái, hạnh phúc, ngày mai đi câu, cậu đang cầu nguyện như cậu luôn cầu nguyện mỗi khi chợt nhớ, nguyện cầu cho gia đình, cho bản thân, một nhà văn vĩ đại trong tương lai, cho Kate, cho mọi người, cho Odgar, cho chuyến câu cá được tốt lành, cho Odgar đáng thương, Odgar đáng thương, đang ngủ trong ngôi nhà ấy, có thể không đi câu cá, có thể không ngủ suốt đêm. Thế đấy, con người ta chẳng thể làm được gì, dẫu chỉ một điều.

Lê Huy Bắc dịch
0
Câu chuyện Phi châu

Anh đang đợi trăng lên và cảm thấy lông con Kibo dựng lên dưới bàn tay lúc anh vỗ nó giữ im lặng, cả hai cùng đang chăm chú dõi theo và nghe ngóng, ông trăng lên cao tạo ra những cái bóng sau họ. Tay anh lúc này đang vòng quanh cổ con chó và thấy nó run rẩy gừ gừ. Mọi âm thanh của đêm đã ngừng lại. Họ không nghe thấy tiếng con voi, David chỉ nhìn thấy nó lúc con chó ngoảnh đầu lại và dường như chui tọt vào lòng anh. Lát sau bóng con voi đã trùm lên họ, nó di chuyển không gây một tiếng động và họ đã đánh hơi được con voi nhờ cơn gió nhẹ thoảng xuống từ phía ngọn núi. Nó toát ra một mùi thật nặng, già cỗi và chua loét, khi nó đi qua David thấy chiếc sừng bên trái dài tưởng chừng như chạm xuống đất.
Họ cố đợi nhưng không còn con nào đi qua nữa, David và con chó co cẳng chạy dưới ánh trăng. Con chó chạy sát ngay sau anh đến nỗi lúc David dừng lại mõm nó thúc ngay vào phía sau đầu gối của anh.
David phải quan sát một lần nữa và họ đuổi kịp con voi ở bìa rừng. Nó đang hướng về phía ngọn núi, chậm rãi bước đi trong làn gió đêm nhè nhẹ. David lại gần đến nỗi con voi che lấp mất cả vầng trăng, hít phải cái mùi chua loét già nua ấy, nhưng vẫn không thấy cái ngà bên phải đâu cả. Anh không dám đến gần hơn khi có con chó ở bên cạnh nên cầm vòng dây dẫn nó trở lại, ấn nó ngồi xuống một gốc cây và làm cho nó hiểu sự tình. Anh nghĩ con chó sẽ ở lại và nó cũng muốn thế nhưng lúc David vừa sải bước về phía con voi thì đã thấy mõm nó rúc rúc vào hõm chân sau đầu gối.
Người và chó bám theo con voi cho tới một khoảng trống giữa rừng cây. Nó dừng lại vểnh cặp tai lớn. Vóc dáng sừng sững của nó khuất trong bóng tối nhưng ánh trăng lại ngự trên đỉnh đầu nó. David lại gần phía sau nó, tay mềm mại khóa chặt hàm con chó, di chuyển nhẹ nhàng nín thở về phía bên phải dọc theo rìa luồng gió thoảng ban đêm vuốt qua má anh, men theo bờ gió trong bóng của con voi cho đến lúc anh đã nhìn thấy cái đầu của con voi và đôi tai đồ sộ khẽ ve vẩy. Chiếc ngà bên phải to không kém cái đùi của nó cong xuống sát đất.
Anh và Kibo lùi lại sau, gió lúc này thổi thốc vào cổ anh, họ tìm đường quay trở ra khỏi rừng vào vườn quốc gia. Con chó chạy phía trước anh, dừng lại đúng chỗ anh để lại hai cây giáo săn bên cạnh đường lúc bám theo con voi. Anh vòng dây da khoác chúng lên vai, tay luôn cầm ngọn giáo ưng ý nhất bước dọc theo con đường mòn về phía có vũ hội shamba. Bây giờ trăng đã lên cao, anh không hiểu sao vẫn chưa có tiếng trống từ chỗ hội. Có cái gì đó khác lạ nếu cha anh ở đây mà không có tiếng trống.
Từ lúc bước theo đường mòn David đã cảm thấy mệt.
Đã lâu rồi anh cảm thấy mình khỏe khoắn hơn và vạm vỡ hơn hai người đàn ông kia, anh sốt ruột bởi sự chậm chạp của họ và những đợt dừng chân mỗi tiếng một lần như quán tính của cha. Anh có thể vượt lên trước nhanh hơn Juma và cha nhưng đến lúc anh thấm mệt thì họ vẫn như không, tới trưa họ vẫn chỉ nghỉ có năm phút và anh nhận thấy rõ là bước chân Juma đã dài hơn một chút. Có thể là ông ấy không làm vậy. Có thể chỉ hình như nhanh hơn thôi, đống phân voi ngày càng tươi hơn nhưng vẫn chưa đuổi kịp nó.
Juma đưa cho anh cây súng trường lúc họ tới bãi phân cuối cùng nhưng chỉ sau đó một tiếng ông nhìn anh và lấy lại khẩu súng. Họ vừa leo ngang qua triền núi bên này, con đường bây giờ chạy dốc xuống và từ một khoảng trống trong rừng anh nhìn thấy vùng quê nhấp nhô phía trước. “Chỗ này bắt đầu khó đi đây, David”, cha anh nói.
Lúc sau, anh biết được đáng nhẽ anh đã bị buộc phải quay trở lại lễ hội shamba từ lúc anh kéo họ vào cuộc rượt đuổi này. Juma hiểu ngay ra từ những phút đầu tiên. Lúc này cha anh mới hiểu nhưng không biết phải làm gì. Thêm một lỗi lầm nữa của anh, họ còn biết làm gì hơn là đánh bài liều.
David cúi xuống nhìn hình dáng bàn chân to bè của con voi, chỗ này khóm dương xỉ bị giẫm bẹp xuống, chỗ kia đám cỏ dại gãy dập đang héo dần. Juma nhặt chúng lên và nhìn mặt trời. Juma đưa cho cha David cây cỏ gãy và ông vò cuộn nó giữa các ngón tay. David thấy những bông hoa màu trắng đã héo và ngả màu. Chúng vẫn chưa quắt đi dưới nắng, cánh chưa rụng.
- Quỷ thật - Cha anh thốt lên - Đi tiếp đi.
Đến chiều muộn họ vẫn lục tìm qua vùng quê gập ghềnh. Anh cảm thấy buồn ngủ, và khi nhìn hai người đàn ông xăm xăm phía trước anh hiểu rằng cơn buồn ngủ là kẻ thù của anh lúc này, anh cố bám theo bước chân của họ và rũ khỏi cơn buồn ngủ đang ập đến. Hai người họ cứ mỗi giờ lại đổi vị trí cho nhau và ở mỗi chặng nghỉ như quán tính người đi sau lại quay lại nhìn xem anh có đi theo kịp không. Tối đến, khi dựng xong một căn lều sơ sài trong rừng sâu, anh chìm vào giấc ngủ ngay khi vừa ngồi xuống, lúc tỉnh dậy anh thấy Juma đang cầm đôi giày đế bẹt của mình còn đôi bàn chân ông thì phồng rộp lên. Cha phủ lên người anh chiếc áo khoác của ông từ lúc nào và đang ngồi cạnh anh, tay cầm hai miếng thịt chín nguội ngắt với hai chiếc bánh bích quy. Ông chìa ra cho anh bình nước chè nguội.
- Ông ấy sẽ phải ăn thôi, Davey - Cha anh nói - Chân con được đấy. Khỏe như chân Juma. Ăn chậm thôi, uống ít chè rồi ngủ tiếp đi. Chúng ta không gặp rắc rối gì cả.
- Còn buồn ngủ quá.
- Con và Kibo đi săn suốt cả đêm hôm qua. Không buồn ngủ sao được? Nếu thích thì cứ ăn thêm thịt nữa đi.
- Thôi, con không đói.
- Tốt. Dạo này chúng ta khỏe đây. Ngày mai sẽ gặp nước. Vô số những con lạch nhỏ từ núi xuống.
- Thế con voi đi hướng nào?
- Juma cho là ông ta biết.
- Sự việc có tồi lắm không.
- Không tồi lắm đâu Davey.
- Con ngủ tiếp đây - David nói - Con không cần cái áo khoác của cha đâu.
- Juma và cha ổn thôi - Cha anh nói - Con biết, cha ngủ thì không cần đắp cái gì đâu.
David thiếp đi trước cả khi cha anh kịp chúc anh ngủ ngon. Anh thức giấc một lần, ánh trăng chiếu lên mặt, anh nghĩ tới con voi và đôi tai rộng đang vẫy lúc nó đứng trong rừng, đầu chúi xuống vì sức nặng của gặp ngà. David tưởng chừng cái cảm giác trống rỗng đêm đó lúc anh chợt nhớ đến con voi là do cơn đói nhưng hóa ra không phải vậy. Phải ba ngày sau anh mới hiểu ra nguyên nhân.
Ngày hôm sau cũng nhọc nhằn và còn lâu mới đến trưa, lúc mà anh nhận ra không chỉ có nhu cầu ngủ mới tạo nên sự khác biệt giữa một cậu bé và một người đàn ông. Ba tiếng đầu anh thấy sảng khoái hơn hai người kia nên xin Juma cho mang khẩu súng trường 303 nhưng ông lắc đầu. Ông cũng không cười, ông luôn là người bạn tốt nhất của anh và đã dạy anh đi săn. Hôm qua ông đưa cho mình, David nghĩ thầm, mà hôm này mình lại khỏe mạnh hơn. Anh khỏe, nhưng mới đến mười giờ anh hiểu rằng ngày hôm nay sẽ mệt không kém, thậm chí mệt hơn cả hôm qua.
Anh sẽ là thằng ngu nếu nghĩ anh có thể đi rừng với cha hay có thể đánh nhau với ông ấy. Anh cũng biết họ không chỉ là những người đàn ông. Họ là những thợ săn chuyên nghiệp nên anh cũng chợt hiểu ra tại sao Juma không lãng phí đến một nụ cười. Họ biết hết những động thái của con voi, thầm lặng ra hiệu cho nhau, và khi đường đi trở nên hiểm trở thì cha anh đành chịu thua Juma. Lúc dừng chân bên một con suối để lấy nước vào bình, cha anh nói: “Tiếp tục cho đến hết ngày chứ Davey”. Rồi họ cũng qua được vùng đất gập ghềnh và khi đang trèo về phía rừng thì thấy dấu đàn voi chuyển hướng sang bên phải theo vết cũ của một đàn voi khác. Anh thấy cha cùng Juma đang bàn luận và lúc tới gần họ thì Juma quay lại nhìn về phía đầu con đường họ vừa đi qua, nhìn về phía bãi đá trên những quả đồi xa tít ở vùng đất khô cằn, như thể đang xác định phương hướng rồi chuyển ánh mắt từ đó sang mấy mỏm đá của ba ngọn đồi xanh thẫm xa tít chân trời.
- Juma biết nó đang đi đâu lúc này - Cha anh giải thích - Ông ấy nghĩ ông ấy biết từ trước nhưng rồi lại phải rơi vào tình trạng này đây. - Ông ngoái nhìn vùng đất họ vừa qua hồi hôm - Chỗ ông ấy định tới lúc này dễ đi nhưng vẫn phải trèo.
Họ trèo đến tối mới dựng trại. David giết được hai con gà trống bằng súng cao su trong một đàn gà nhỏ khi chúng đi qua đường mòn lúc trời sắp tối. Đàn gà tung bụi mù con đường có dấu chân voi, chúng đi trật tự, chậm rãi, và khi viên sỏi bắn trúng lưng một con khiến nó nảy người lên, khập khiễng, cánh vỗ phành phạch thì một con khác chạy lên mổ nó, David liền móc viên sỏi khác, kéo căng dây thun ra sau ghim vào đúng sườn của con này. Anh chạy lên nhặt làm đàn gà vỗ cánh vù vù. Lần này Juma mới quay lại mỉm cười, David nhặt hai con gà lên, chúng còn ấm, béo núc và bộ lông vũ mềm mại, treo đầu chúng vào đốc con dao săn, Juma nướng hai con gà xiên bằng cây củi kêu xèo xèo trên một bếp than lâm râm lửa. Cha anh uống ngụm uýt-ki pha nước bằng nắp chiếc bi đông, họ nằm nhìn Juma nấu nướng. Lúc sau Juma mang cho cha con họ mỗi người một bộ lườn gà vẫn còn quả tim dính bên trong còn ông nhận lấy cái cổ, sống lưng và hai cặp chân.
- Một sự khác biệt lớn đấy Davey - Cha anh nói - Chúng ta được phần ngon rồi.
- Chúng ta còn cách nó xa không cha? - David hỏi.
- Sát nách rồi - Cha anh nói - Nhưng còn liệu xem nó có đi tiếp khi trăng lên không đã. Độ một hoặc hai tiếng nữa thì con sẽ tìm thấy nó.
- Sao Juma quả quyết là ông ấy biết nó đang đi đâu?
- Ông ấy đã làm nó bị thương và giết được bạn nó gần chỗ này.
- Khi nào cơ?
- Ông ấy nói năm năm trước. Nhưng cũng có thể là lâu hơn. Từ khi con còn bé tí.
- Thế từ lúc đó nó chỉ còn mỗi một mình thôi hả cha?
- Ông ấy nói vậy. Ông ấy chưa gặp lại nó. Chỉ nghe phong thanh về nó thôi.
- Ông ấy nói nó to thế nào cha?
- Gần hai trăm. To hơn bất kỳ con nào cha từng nhìn thấy. Ông ấy nói duy nhất còn có một con to hơn thế cũng ở gần đấy.
- Thôi con đi ngủ đây - David nói - Con hy vọng ngày mai sẽ khỏe hơn.
- Hôm nay con rất giỏi - Cha anh khen - Cha rất tự hào về con. Juma cũng vậy.
Trong đêm, anh thức giấc lúc trăng đã lên cao và chắc chắn là họ không hề tự hào về anh ngoại trừ cái sự khéo léo của anh đã hạ được hai con gà. Anh đã tìm thấy con voi lúc trời còn tối, bám theo nó và nhìn thấy rõ hai chiếc ngà, quay trở lại tìm cha và Juma để kéo họ vào cuộc săn đuổi này. David hiểu họ chỉ tự hào về những thứ đó thôi. Nhưng từ lúc cuộc rượt đuổi gian nan này bắt đầu, hóa ra anh không những chả giúp ích được gì cho họ mà còn là mối đe dọa khả năng thành công, bởi anh mang theo con Kibo; điều này sẽ gây trở ngại lúc tiếp cận con voi vào ban đêm, và anh cũng hiểu được hai người ấy cũng tự xỉ vả bản thân vì đã không bảo anh quay lại lúc còn đủ thời gian. Mỗi chiếc ngà của con voi nặng gần trăm cân. Một cặp ngà khi đã phát triển to hơn kích cỡ thông thường thì con voi chắc chắn sẽ bị săn và lúc này đây, cả ba người bọn họ cũng sẽ giết con voi chỉ vì hai chiếc ngà đó.
David chắc chắn lần này họ sẽ giết con voi; vì anh, David, đã trụ vững cả ngày để bám theo dấu vết nhưng đến trưa thì hỏng việc. Họ có lẽ tự hào về anh có mỗi việc đó. Nhưng anh không mang theo thứ gì khả dĩ có thể dùng để săn và họ sẽ rảnh tay hơn nếu không có anh. Hồi hôm, đã rất nhiều lần anh ước giá như đừng tiết lộ về con voi hay buổi chiều anh nhớ đã mong sao chưa bao giờ nhìn thấy nó. Lúc này, thức giấc dưới ánh trăng anh biết điều đó là không thực.
Sáng hôm sau họ lần theo dấu vết của con voi trên con đường voi đi có từ lâu lắm rồi, đường rắn và nhẵn phẳng xuyên qua rừng. Nhìn nó cứ tưởng voi đã đi qua từ thời kỳ nham thạch trên núi mới nguội, còn cây cối cũng mới vươn cao lên đan chen vào nhau.
Juma rất tự tin nên họ đi nhanh. Cả cha anh và Juma đều tin vào chính bản thân mình, đường dễ đi nên Juma đưa anh cầm khẩu 303, trên đường thỉnh thoảng lại có những khoảng rừng thưa, ánh sáng lọt xuống. Họ đi hết đường mòn thì gặp ngay những đống phân voi tươi nguyên còn bốc hơi và những dấu chân tròn to bè của một đàn voi kéo dài tới đầu đường mòn từ khu rừng bên trái. Juma giật phắt lấy khẩu 303 từ tay David. Đó là buổi chiều khi họ phấn khích bởi gặp được đàn voi, nhìn những cái trán màu xám sau những tán cây, những chiếc tai lớn phe phẩy, những chiếc vòi cuộn vào rồi nhả ra, tiếng cành cây gãy rắc rắc, cây đổ, những cái bụng voi kêu ùng ục và tiếng phẹt phẹt, oạp oạp của phân voi rơi xuống.
Cuối cùng, họ cũng tìm được đường đi của chúng và khi bắt vào con đường voi đi nhỏ hơn thì Juma nhìn cha David và nở nụ cười, để lộ những chiếc răng đều tăm tắp, cha anh gật đầu. Nhìn họ cứ tưởng họ đang có một bí mật bẩn thỉu, như cái đêm họ nhìn nhau ở vũ hội shamba lúc anh tìm thấy họ.
Chẳng mấy chốc cái trò bí mật của họ đã lộ rõ. Ở trong rừng, phía bên phải và đường đi của đàn voi dẫn đến đó, một cái đầu cao ngang ngực David, đã trắng hếu do mưa nắng. Trên trán có một vết lõm sâu, sống mũi chạy từ giữa hai hốc mắt trắng rỗng chẽ sang hai bên tới hai cái lỗ rỗng hoác chỗ cặp ngà đã bị chặt phăng.
Juma đưa tay chỉ chỗ con voi khổng lồ mà họ đã mất biết bao công sức rượt đuổi trong khi mắt vẫn nhìn chằm chằm vào cái sọ, rồi chỗ vòi voi quệt phải bên cạnh nơi nó nằm nghỉ và chỗ cặp ngà của nó chạm đất. Ông chỉ cho David vết lõm sâu trên mảng xương trán trắng hếu và bốn lỗ gần nhau xung quanh lỗ tai. Ông mỉm cười với David và cha anh, rồi lấy từ trong túi ra một viên đạn 303 đút vừa đúng cái lỗ trên trán voi.
- Chắc ở chỗ này Juma đã làm con voi bị thương đây - Cha anh nói - Đây là bạn nó. Một đứa bạn thực sự, cũng to lớn như thế. Nó tấn công và Juma đã hạ gục nó bằng mấy phát đạn vào tai.
Juma đang chỉ những mảnh xương vương vãi và dấu chân của con voi khổng lồ đã bước qua những mẩu xương ấy. Cả Juma và cha David hài lòng với những gì vừa tìm được.
- Theo cha thì nó với bạn nó đã ở bên nhau được bao lâu? - David hỏi.
- Cha không biết đâu - Ông nói - Con hỏi Juma xem.
- Cha hỏi giùm con đi.
Cha anh và Juma nói gì với nhau và Juma mỉm cười nhìn David.
- Có thể gấp ba, bốn lần cuộc đời con đấy - Cha anh nói - Ông ấy không biết mà cũng không quan tâm đến việc đó.
Con thì con quan tâm, David thầm nghĩ. Mình nhìn thấy nó dưới ánh trăng, nó cô độc còn mình thì có Kibo. Kibo cũng có mình. Nó đã không gây hại gì còn bây giờ cha con mình và Juma lại tìm đuổi tới chỗ nó đến thăm người bạn đã chết, mà lại còn sắp giết nó nữa chứ. Đó là lỗi của mình. Mình đã phản bội nó.
Bây giờ, Juma đã bước khỏi đường mòn và ra hiệu cho cha anh, cả hai đã sẵn sàng.
Cha mình không cần giết voi cũng sống được, David nghĩ tiếp. Juma không thể tìm được con voi nếu mình không phát hiện ra nó. Ông ấy đã có cơ hội nhưng chỉ làm được cho nó bị thương và giết chết bạn nó. Mình và Kibo đã tìm thấy nó và đáng lẽ đừng nói cho họ biết, đáng lẽ giữ bí mật cho nó thì nó sẽ còn sống, đáng lẽ cứ mặc họ say khướt ở lễ hội shamba. Juma say mềm và mình, không đánh thức được ông ta. Mình sẽ giữ mọi thứ bí mật mới được. Mình sẽ không bao giờ nói họ biết bất kể việc gì. Nếu họ giết con voi thì Juma sẽ hưởng phần của ông ta là cặp ngà và mua thêm một cô vợ bé. Sao mình không giúp nó khi có thể nhỉ? Việc mình phải làm là không thể để chậm sang ngày hôm sau. Không, việc đó chưa thể ngăn họ lại được. Juma vẫn tiến tới cho mà xem. Mình đáng lẽ đừng nói với họ. Đừng bao giờ, đừng bao giờ nói với ai bất kể việc gì. Đừng có bao giờ, đừng bao giờ, đừng bao giờ nói với họ điều gì. Cố mà nhớ lấy điều đó. Đừng bao giờ nói với ai bất cứ việc gì.
Cha anh đợi anh đến gần và nói rất nhẹ nhàng: “Nó sẽ nằm nghỉ tại đây. Nó sẽ không đi như trước nữa đâu. Chúng ta sẽ tấn công nó bây giờ”.
- Săn voi thật chết tiệt. - David nói lẩm bẩm.
- Gì đấy? - Cha anh hỏi.
- Săn voi thật chết tiệt. - Anh cố mềm giọng.
- Liệu hồn đấy, đừng có nói lung tung. - Ông nhìn anh nói dằn giọng.
- Thế đấy, David nghĩ. Ông ấy đâu có ngu. Ông ấy đã biết mọi việc thì không bao giờ còn tin mình nữa. Cũng được thôi. Mình cũng không cần vì mình sẽ không bao giờ nói cho ông ấy, hay bất cứ ai một điều gì nữa, không bao giờ việc đó lại còn xảy ra. Không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ.
Đến sáng, con voi trở lại triền núi phía xa. Nó không đi tiếp như trước nữa mà lững thững vô định, thỉnh thoảng lấy vòi cuốn thức ăn, David biết hai người đàn ông đến gần nó.
Anh cố nhớ lại cảm giác trước đây. Anh cũng không yêu gì con voi này. Anh phải ghi nhớ điều đó. Anh chỉ cảm thấy niềm thương hại bắt nguồn từ sự mệt mỏi của chính anh trong đó có sự thông cảm về tuổi tác. Anh quá trẻ và biết rằng nó hẳn phải rất già.
Anh luôn thấy lẻ loi và khi vắng Kibo nên ý nghĩ về việc Juma đã giết bạn con voi kia khiến anh ghét Juma, còn con voi thì thành bạn anh. Anh biết việc anh nhìn thấy con voi dưới ánh trăng, bám theo rồi lại gần nó ở chỗ rừng thưa và chiêm ngưỡng được cặp ngà vĩ đại đã có rất nhiều ý nghĩa. Nhưng anh chưa biết trên đời sẽ không còn cái gì quý giá bằng khoảnh khắc đó. Anh biết họ sẽ giết con voi và anh thì không thể làm gì để ngăn chặn. Anh đã phản bội con voi vào ngay lúc quay lại chỗ hội shamba báo cho họ biết. Họ sẽ giết mình, sẽ giết Kibo nếu bọn mình có cặp ngà, anh đã nghĩ vậy tuy biết việc đó là không thực.
Có lẽ con voi đang đi tìm chỗ nó được sinh ra và họ sẽ giết nó ngay tại đấy. Họ cần thế để cho công việc của họ được mỹ mãn. Họ cũng thích giết nó tại nơi đã giết bạn nó. Được thế là niềm vui lớn. Được thế sẽ khiến họ mãn nguyện. Những kẻ hại bạn bè tồi tệ.
Bây giờ họ lại sát rìa bụi rậm, con voi ở ngay trước mặt. David có thể ngửi thấy mùi của nó và họ đều nghe thấy tiếng giựt cành cây và tiếng xào xạc dưới bàn chân họ. Cha anh đặt tay lên vai anh đẩy lùi lại sau bắt đợi ở đó, ông bốc từ chiếc túi da nhỏ để trong túi một nắm tro to tung lên trời. Bụi tro lắc rắc bay nghiêng về phía họ, cha anh gật đầu với Juma, cúi khom xuống theo ông ta vào bụi cây rậm rạp. David theo dõi hai cái lưng, hai cái mông đít thò ra rồi lại khuất sau bụi cây. Anh không nghe được tiếng họ di chuyển.
David đứng chôn chân nghe tiếng voi ăn. Anh ngửi thấy mùi của nó mạnh như đêm trăng nọ anh lại gần được nó và chiêm ngưỡng cặp ngà tuyệt vời. Anh vẫn đứng đó, một lúc sau mọi thứ rơi vào im lặng và anh không còn ngửi thấy mùi của con voi. Bất thình lình, bỗng vang lên tiếng kêu thét và tiếng một cú quật mạnh, tiếng khẩu 303 nổ vang, rồi tiếng rền của khẩu 450 hai nòng của cha anh, lại tiếng động mạnh tiếng rừng cây bị xé toang nhưng dần dần chìm xuống, anh sục vào trong lùm cây rậm rạp và thấy Juma run lẩy bẩy, máu chảy xuống ướt đầy mặt còn cha anh mặt trắng bệch giận dữ.
- Nó lại chỗ Juma và quật ngã ông ấy - Ông kể lại - Juma nã vào đầu nó.
- Thế cha bắn vào đâu?
- Bất kể chỗ quái nào mà tao có thể, còn bây giờ hãy bám theo vết máu ngay.
Máu chảy rất nhiều. Một dòng dài cao ngang đầu David chảy xuống, lá cây, cây leo và những gì ở dưới nữa sẫm đen và bốc mùi hôi thối bởi những thứ từ trong ruột đổ ra.
- Mấy phát vào bụng và phổi - Cha anh nói - Chúng ta sẽ tìm được nó đã ngã gục hay ít nhất cũng bớt nguy hiểm. Hy vọng may mắn. - Ông nói thêm.
Họ dễ dàng tìm thấy, nó bị đau và tuyệt vọng bởi không thể di chuyển được. Nó quần nát bụi cây rậm rạp chỗ nó đứng ăn lúc nãy, mở lối đi vào khu rừng thưa, Juma cùng cha chạy dọc theo vết máu lớn. Con voi chui vào chỗ rừng rậm và David nhìn thấy con vật to lớn buồn bã, đứng tựa vào một thân cây. David chỉ nhìn thấy cái mông, cha anh tiến gần đến nó, anh bám theo, họ đi bên cạnh con voi mà như đi dọc theo một con tàu, Daivd thấy máu tứa ra từ bên sườn nó chảy xuống, cha anh nâng súng lên bóp cò, con voi nặng nề, chậm rãi, quay cái đầu mang cặp ngà vĩ đại nhìn họ và khi cha David nổ phát súng thứ hai thì con vật lảo đảo như thân cây bị đốn rồi đổ ầm xuống về phía họ. Nhưng nó chưa chết. Nó đã mất sức kháng cự và giờ thì ngã gục với phần vai bị gãy. Nó không di chuyển được nữa nhưng mắt nó vẫn sống và mở to nhìn David. Mí mắt nó rất dài và mắt nó là vật có sức sống nhất David từng thấy.
- Bắn vào lỗ tai nó ba phát nữa - Cha anh hét lên - Bắn đi.
- Cha bắn đi. - David nói.
Juma khập khiễng tới được chỗ họ, người dính đầy máu, mảnh da trán rách rủ xuống che lấp mắt trái, xương mũi lộ ra, một tai bị rách, không nói một câu, giật lấy khẩu súng từ tay David, thọc họng súng vào trong lỗ tai con vật nổ liền hai phát. Mắt nó mở to sau phát thứ nhất rồi chỉ còn đờ đẫn, máu đỏ tươi chảy từ lỗ tai ra thành hai dòng trên lớp da xám nhăn nheo. Dòng máu đó có màu khác và David thầm nhủ mình phải nhớ điều này, anh nhớ thật nhưng chúng không giúp ích gì. Giờ đây sự uy nghi hùng dũng và vẻ đẹp của con voi đã ra đi, nó chỉ còn là một đống nhăn nheo to lớn.
- Tốt rồi, chúng ta đã hạ được nó. David, cám ơn con - Cha anh nói - Giờ thì tốt nhất ta nên nổ một phát súng cho Juma được hoàn hồn. Lại đây nào Hempty Dumpty đẫm máu. Những chiếc ngà này sẽ phù hộ.
Juma lại gần ông, miệng cười nhăn nhúm, tay cầm cái đuôi voi không hề có một sợi lông. Họ pha trò một cách đáng xấu hổ và sau đó cha anh bắt đầu nói nhanh bằng tiếng Swahili. Chỗ có nước cách đây bao xa? Bạn phải đi bao xa để gọi người tới khiêng cặp ngà này đi?
Bạn thế nào, hả con lợn già không còn giá trị? Bạn bị gãy chỗ nào?
Cha anh nói tiếp những câu trả lời đã biết trước.
- Cha cùng con sẽ quay lại chỗ để ba lô. Juma lấy củi nhóm lửa. Túi y tế ở trong ba lô của cha. Chúng ta phải lấy lại túi trước khi trời tối. Ông ấy sẽ không bị nhiễm trùng đâu. Đấy không phải loại vết thương do vuốt động vật gây ra. Đi nào.
Tối hôm đó, ngồi bên bếp lửa, David chăm chú nhìn Juma lúc ấy đang mang bộ mặt đầy những vết khâu và mấy chiếc xương sườn gãy, tự hỏi liệu có phải con voi nhận ra ông lúc ông định tấn công giết chết nó. Anh mong sao nó nhận ra. Lúc này con voi đã là anh hùng như cha anh bấy lâu nay, anh nghĩ mình không mệt mỏi. Nó đáng lẽ đã giết Juma. Nhưng nó không nhìn mình theo kiểu nó muốn giết mình. Nó chỉ buồn bã nhìn mình đúng như tâm sự của mình. Nó đến thăm bạn cũ của nó vào đúng cái ngày nó bị giết.
David còn nhớ con voi đã mất hết vẻ hùng dũng như thế nào khi mắt nó mất đi sự sống và khi cha con anh mang mấy cái túi trở lại thì con voi đã bắt đầu trương lên mặc dù đêm khá lạnh. Con voi không còn là voi nữa; chỉ còn là một thân thế chết màu xám nhăn nheo đang phềnh lên với cặp ngà lớn màu vàng đốm nâu mà vì chúng họ đã giết chết con voi. Đôi ngà dính đầy vết máu khô, David dùng ngón tay cái cạo lấy một mẩu như cạo miếng sáp đóng khô và đút vào túi áo. Đó là tất cả những gì anh lấy từ con voi, tất nhiên trừ ý thức về sự cô đơn.
Thịt con voi xong, cha anh tìm cách bắt chuyện bên bếp lửa.
- Con biết nó là con vật sát nhân chứ Davey - Ông bắt đầu - Juma nói không ai biết đích xác nó đã giết bao nhiêu người.
- Thì họ đều tìm cách giết nó còn gì?
- Tự nhiên thôi, vì đôi ngà của nó.
- Thế tại sao nó lại là kẻ giết người?
- Như con ấy - Ông phân trần - Cha không hiểu sao con nhầm lẫn như vậy.
- Con thì muốn nó giết chết Juma đi còn hơn. - David nói.
- Con đi hơi quá rồi đấy - Ông nghiêm giọng - Juma là bạn của con mà.
- Không bao giờ nữa.
- Không cần phải chỉ trích ông ấy quá quắt như thế.
- Thì ông ấy cũng biết đấy còn gì.
- Cha nghĩ con đã đánh giá sai ông ấy rồi. - Cha anh nói vậy và họ dừng câu chuyện lại ở đây.
Khi họ trở về nhà an toàn với cặp ngà bù đắp cho công sức đã bỏ ra, họ dựng cặp ngà vào bức tường trát bùn để mọi người có thể sờ ngắm, chúng to và dài đến nỗi không ai tin được ngay cả khi họ sờ tay chạm vào và; không ai, kể cả anh, có thể với tay lên mũi cao nhất của nó, và ở chính chỗ đó nó cong quặp lại, hai mũi ngà châu vào nhau, Juma cùng cha con anh đã trở thành người hùng, Kibo là con chó anh hùng, và những người khiêng cặp ngà voi cũng là người hùng, những anh hùng say bí tỉ, cha anh nói, “Cha con ta làm lành đi con, Davey”.
- Được thôi cha. - Anh trả lời, và quyết định rằng đây là giờ phút bắt đầu việc anh sẽ không bao giờ hé răng nói bất cứ chuyện gì nữa.
- Cha rất mừng - Ông nói - Thế sẽ đơn giản hơn, tốt hơn.
Họ ngồi trên ghế dành cho cánh đàn ông dưới tán cây vả, cặp ngà dựa vào tường căn lều, và uống bia trong những chiếc cốc bằng vỏ quả bầu do một cô gái cùng em trai cô, những người phục vụ cho những anh hùng - mua về, con chó anh hùng ngồi chồm hỗm dưới đất, còn người chủ anh hùng của nó đang ôm con gà trống vừa được biến thành biểu tượng cho những anh hùng. Họ ngồi uống bia, tiếng trống lớn bắt đầu nổi lên.

Tô Đức Huy dịch
0
Con nghĩ mọi thứ đều gợi lại trong cha điều gì đó

- Câu chuyện rất hay - Ba cậu bé nói - Con có biết nó hay đến mức nào không?
- Con không muốn mẹ gởi nó cho cha, Papa à.
- Con có còn viết cái gì khác nữa không?
- Chỉ mỗi truyện đó. Thực sự con không muốn mẹ gởi nó cho cha. Nhưng nếu nó đoạt giải.
- Mẹ muốn cha giúp con. Nhưng nếu con có thể viết hay như thế thì con không cần ai giúp nữa. Những gì con cần là tiếp tục viết. Con mất bao nhiêu thời gian để viết truyện đó?
- Không lâu lắm, thưa cha.
- Con biết về loài mòng ấy ở đâu vậy?
- Con chắc là ở Bahamas.
- Con chưa hề đến Dog Rocks và Elbow Key. Và cả Cat Key lẫn Bimini cũng không có bóng một con mòng hay nhạn biển nào làm tổ. May ra ở Key West con mới có thể thấy những con nhạn cuối cùng làm tổ mà thôi.
- À, ở Killem Peters. Chắc chắn rồi. Chúng làm tổ trên đá san hô.
- Chính xác là trên các dải đất - Ba cậu nói - Thế thì con làm sao biết được loài mòng như con mòng trong truyện ấy là ở đâu?
- Có lẽ Papa đã kể cho con nghe về chúng.
- Đây là truyện rất hay. Nó gợi lại câu chuyện mà cha đã đọc từ rất lâu.
- Con nghĩ mọi thứ đều gợi lại trong cha điều gì đó. - Cậu bé nói.
Mùa hè ấy, cậu bé đọc cuốn sách mà ba cậu đã tìm cho cậu trong thư viện rồi khi đến ngôi nhà chính để ăn trưa, nếu không chơi bóng chày hoặc xuống câu lạc bộ bắn súng, thì cậu thường nói là mình bận viết lách.
- Đưa nó cho cha khi nào con muốn hoặc có thể hỏi cha về bất kỳ vấn đề gì - Ba cậu bảo - Hãy viết về những điều mà con đã biết.
- Con sẽ viết như thế. - Cậu bé đáp.
- Cha không muốn can thiệp hoặc trực tiếp nhúng tay vào công việc của con - Ba cậu nói - Nhưng nếu con muốn thì cha có thể giúp con giải quyết những vấn đề đơn giản mà cả cha và con đều biết. Đây là cách tập luyện hữu hiệu.
- Con nghĩ mình sẽ viết được.
- Đừng đưa nó cho cha cho đến khi con muốn. Con có thích cuốn Xa xôi và cổ kính không?
- Con thích lắm.
- Một trong những điều cha muốn nói là chúng ta có thể cùng nhau đi chợ hoặc đi xem chọi gà rồi sau đó mỗi người viết lại những gì mình thấy. Đấy là những gì con thực sự chứng kiến như lúc người nuôi gà chọi, sau khi trọng tài ra hiệu kết thúc hiệp đấu, vạch mỏ con gà, thổi không khí vào họng nó và chăm sóc trước lúc thả lại vào sới đấu. Những chuyện vặt vãnh đại loại như thế. Cứ thử xem cha con ta thấy được gì.
Cậu bé gật đầu rồi nhìn xuống đĩa của mình.
- Hoặc chúng ta có thể đến tiệm cà phê, lắc mấy ván xúc xắc rồi sau đó con có thể viết lại những câu đối thoại mà mình đã nghe. Đừng cố viết mọi thứ. Chỉ viết những gì con nghe mà nó có ý nghĩa gì đấy.
- Con nghĩ con chưa sẵn sàng để làm việc đó, Papa à. Con nghĩ con cứ tiếp tục theo cách con đã làm với câu chuyện vừa rồi thì tốt hơn.
- Vậy thì cứ làm đi. Cha không muốn can thiệp hay buộc con phải theo cha. Những điều cha vừa nói chỉ là những gợi ý để thực hành. Cha sẵn sàng làm những việc ấy cùng con. Chúng là những bài tập đơn giản, chưa phải là những ví dụ tốt đâu. Chúng ta có thể chọn những tình huống tốt hơn.
- Có lẽ con cứ tiếp tục theo cái cách của câu chuyện ấy thì tốt hơn.
- Đương nhiên. - Ba cậu nói.
Mình không thể viết hay như thế lúc ở vào độ tuổi của nó, ba cậu nghĩ. Mình cũng chưa từng gặp một người nào khác lại có thể viết giỏi như thế. Nhưng mình biết chẳng ai có thể bắn tốt hơn thằng bé vào lúc mười tuổi này; không chỉ bắn biểu diễn mà còn bắn trong cuộc thi, với những người đã trưởng thành và các tay súng chuyên nghiệp. Lúc mười hai tuổi, nó vẫn bắn giỏi như thế khi đi săn trên cánh đồng. Nó bắn như thể được ra-đa chỉ đường. Nó chẳng bao giờ bắn quá tầm hay để con chim đến gần quá, nó bắn với một phong cách đẹp đẽ, hoàn toàn tự tin và chính xác vào những con gà lôi trên cao hay bắn đuổi theo bầy vịt trời.
Trong cuộc thi bắn chim bồ câu sống, khi nó bước ra bệ xi-măng, quay người tiến về phía bảng sắt đã đánh dấu vị trí đứng bắn của nó bằng vạch đen, các tay súng chuyên nghiệp lặng im quan sát. Nó là đấu thủ duy nhất mà cả khán đài lặng im theo dõi. Một vài xạ thủ mỉm cười như thể có điều gì bí mật khi cậu bé nâng súng đặt lên vai rồi quay lại nhìn điểm để báng súng tì xuống. Khi má nó áp vào báng súng, tay trái đưa về phía trước, trọng lượng cơ thể nó dồn lên chân trái. Mũi súng nhích lên, hạ xuống, rê sang trái, sang phải rồi quay lại trung điểm. Gót chân phải hơi nhướng lên khi tất cả tâm trí nó dồn vào hai viên đạn trong ổ súng.
- Sẵn sàng. - Nó nói bằng giọng trầm vang nghe không giống giọng của một đứa bé.
- Sẵn sàng. - Người canh lồng đáp.
- Kéo. - Một giọng nói vang lên rồi từ một trong số năm lồng chim bất kỳ, một con bồ câu màu xám bay ra, và dẫu có chao cánh theo kiểu gì đi nữa thì con chim cũng sà nhanh xuống đám cỏ màu xanh, bay về phía hàng rào thấp màu trắng, phát đạn thứ nhất xuyên qua mình nó, rồi viên đạn thứ hai nối theo găm trúng. Khi con chim rã cánh, đầu nó chúi xuống, chỉ những người tinh mắt mới nhìn thấy được phát đạn thứ hai găm vào con chim đã chết lúc hãy còn lơ lửng trong không trung.
Cậu bé hạ súng, rời khỏi bệ xi-măng, đi về phía hành lang, mặt nó chẳng biểu lộ cảm xúc gì, mắt nó nhìn xuống và chẳng phác bất kỳ cử chỉ đáp lễ nào trước những tiếng vỗ tay hoan hô mà chỉ nói, - Cảm ơn - bằng kiểu giọng âm vang lạ lẫm, khi một tay súng chuyên nghiệp nào đó khen. - Ồ bắn giỏi đấy, Stevie.
Nó đặt súng vào giá rồi đợi xem ba nó bắn, xong rồi hai cha con đi đến quầy giải khát ngoài trời.
- Con có thể được phép uống Coca-cola chứ Papa?
- Nhưng đừng uống quá nửa lon đấy.
- Vâng. Con lấy làm tiếc vì mình đã chậm. Đáng lẽ con không nên hạ con chim kém như thế.
- Nó bay thấp và nhanh, Stevie à.
- Chẳng ai biết như thế nếu con không chậm.
- Con đang bắn tốt đấy.
- Con sẽ lấy lại tốc độ. Đừng lo, Papa à. Chỉ một ngụm Coke này thôi thì con cũng không còn chậm nữa.
Con chim thứ hai của nó đã chết trong không trung khi người giữ lồng lắc xua ra ngoài bằng đường bay được giấu kín. Mọi người có thể nhìn thấy phát đạn thứ hai xuyên trúng con chim trong không khí trước lúc nó rơi xuống đất, nó nằm cách cái lồng chưa đến một mét.
Khi cậu bé quay lại, một trong số những tay súng địa phương nói:
- Chà, cháu đã hạ con chim dễ quá, Stevie.
Cậu bé gật đầu và dựng súng vào giá. Nó nhìn bảng ghi điểm. Có ba tay súng đang dẫn điểm trước ba nó. Nó đi tìm ba.
- Con đã lấy lại được tốc độ rồi. - Ba nó nói.
- Con nghe tiếng lồng mở - Cậu bé nói - Con không muốn Papa thua đâu. Con biết cha có thể nghe rõ tiếng lồng. Nhưng bây giờ, cái lồng sổ hai tiếng lại lớn gấp hai lần bất kỳ cái lồng nào khác. Lẽ ra người ta phải tra mỡ cho nó. Con không nghĩ là không có ai biết đâu.
- Cha luôn rê súng theo tiếng lồng.
- Là cái chắc, nhưng nếu nó lớn quá thì nó ở phía bên trái cha. Phía bên trái lớn lắm.
Ba lượt đấu tiếp theo, ba nó không rút thăm trúng con chim ở lồng số hai. Khi rút trúng, ông không nghe tiếng lồng và đã phải hạ con chim bằng phát đạn thứ hai ở khoảng cách xa đến nỗi con chim chạm hàng rào rớt vào trong.
- Ồ, Papa, con lấy làm tiếc - Cậu bé nói - Họ đã tra dầu cho nó. Lẽ ra con nên im lặng mới phải.
Vào cái đêm sau trận chung kết cuộc thi bắn quốc tế mà hai cha con đã tham dự, họ đang chuyện trò và cậu bé nói.
- Con chẳng thể nào hình dung nổi một ai đó lại có thể bắn trượt chim câu cơ chứ?
- Chớ có nói như thế này với bất kỳ một người nào khác. - Ba nó bảo.
- Vâng, con chỉ nói với ba thôi. Nhưng chẳng có lý do gì để bắn trượt cả. Cái con mà con đã để mất điểm thì con cũng bắn trúng hai lần và nó rơi chết ở bên ngoài.
- Đấy là cách con bị thua.
- Con hiểu. Đấy là cách con thua. Nhưng con không hiểu làm thế nào mà một thiện xạ thực sự lại bắn trượt.
- Có lẽ hai mươi năm nữa con sẽ. - Ba nó nói.
- Con không có ý khoác lác đâu, Papa.
- Thôi được - Ba nó nói - Duy chỉ đừng nói như thế với người khác.
Ông nhớ lại chuyện ấy khi đang hồ nghi về câu chuyện và về lối viết của cậu bé. Với tài năng không thể nào tin được của nó, thằng nhóc đã không trở thành xạ thủ bắn chim mà bản thân nó đâu phải không được tập luyện và dạy bảo. Bây giờ nó đã quên hết những thao tác tập luyện. Nó đã quên cái cách mà mình đã dạy nó; khi nó bắn trượt lũ chim, mình đã cởi áo sơ-mi của nó và chỉ cho nó thấy vết bầm trên cánh tay nơi khẩu súng được đặt không đúng vị trí. Mình đã dạy nó bằng cách luôn bắt nó phải quay mắt nhìn lên vai để xem khẩu súng đã được đặt trúng vị trí chưa trước lúc gọi thả chim.
Nó cũng đã quên nguyên tắc dồn trọng lượng lên bàn chân phía trước, cúi đầu và rê nòng. Làm thế nào mà con biết trọng lượng được dồn lên chân trước? Bằng cách nhón gót phải. Cúi đầu, chuyển động, lấy tốc độ. Bây giờ việc con đoạt mấy điểm thì không là vấn đề gì nữa. Cha muốn con hạ chúng ngay khi chúng ra khỏi lồng. Chớ nhìn vào bất kỳ phần nào của con chim, ngoại trừ cái mỏ. Rê súng theo mỏ nó. Nếu con không nhìn rõ cái mỏ thì hãy nhắm vào nơi có lẽ là nó. Những gì cha nói con làm bây giờ chỉ là tốc độ.
Cậu bé là một tay thiện xạ bẩm sinh và, ông đã dạy để khiến nó trở thành tay súng hoàn hảo rồi hàng năm, khi bước vào mùa tập luyện để tăng tốc độ, nó có thể hạ từ sáu đến tám trong số mười con. Rồi tiến tới chín con và dừng tại đó; còn nếu tiến tới mức hạ hai mươi trên hai mươi thì hoàn toàn nhờ vận may và đó là tiêu chuẩn để phân biệt những tay súng hoàn hảo với những tay súng khác.
Nó chẳng bao giờ đưa cho ba xem truyện thứ hai. Vào cuối kỳ nghỉ ấy, nó vẫn chưa hài lòng với đoạn kết của câu chuyện. Nó bảo nó muốn chữa cho thật hay trước lúc đưa ba đọc. Ngay khi hoàn tất, nó sẽ gởi cho ba. Nó có một kỳ nghỉ rất tuyệt vời, nó nói, một trong những kỳ nghỉ đẹp nhất, nó rất mừng vì đã đọc được nhiều, nó cảm ơn ba vì đã không bắt nó viết quá sức bởi lẽ nếu không thì sau kỳ nghỉ này nó lại cần một kỳ nghỉ khác, kỳ nghỉ này thật tuyệt vời, có lẽ đó là kỳ nghỉ đẹp nhất và mọi người hẳn đã trải qua những khoảnh khắc diệu kỳ trong số những lần đáng nhớ mà mình đã có.
Bảy năm sau, người ba đọc lại câu chuyện đã đoạt giải. Nó nằm trong một quyển sách mà ông đã tìm thấy khi xem qua sổ sách trong phòng cũ của con trai. Ngay khi đọc, ông biết câu chuyện của con mình được viết lại từ đâu. Dẫu đã lâu lắm rồi, nhưng ông vẫn nhớ những cảm giác quen thuộc. Ông lật mấy trang rồi thấy, câu chuyện ở đấy, nhan đề cũng không đổi, trong một cuốn sách bao gồm nhiều truyện ngắn nổi tiếng của một nhà văn Ailen. Cậu bé đã copy nó chính xác như trong sách, kể cả cái nhan đề.
Trong vòng năm năm cuối của bảy năm ấy, kể từ khi truyện đó đoạt giải trong mùa hè cho đến lúc người ba tình cờ tìm ra cuốn sách, cậu bé đã làm nhiều chuyện thật đáng ghét và ngu ngốc, ba nó nghĩ. Nhưng điều ấy có lý do bởi tại nó bực mình vì ba đã bắt nó làm. Lỗi lầm của nó xuất phát từ sự bực bội. Trước khi việc đó xảy ra, nó vẫn là cậu bé tốt. Nhưng chỉ một vài năm sau mùa hè ấy, nó đã đổ đốn ra.
Giờ thì ông biết cậu bé chẳng thể nào tốt nữa. Ông thường nghĩ như thế khi hồi tưởng lại mọi việc. Và quả thật là buồn khi biết rằng môn bắn súng cũng chằng có ý nghĩ gì.

Lê Huy Bắc dịch
 
HẾT
0
Truyện ngắn Ernest Hemingway
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc casau luôn an lành
 
 




0
«« « 1 2 » »»