📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

NHỮNG ĐÀN BÀ LỪNG DANH TRONG LỊCH SỬ - NGUYỄN VỸ

16 trả lời, 183 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.12.2017 10:49:38 bởi Ct.Ly>
I-  Trưng Nữ Vương - Nữ anh hùng Việt Nam ( CTLy hoàn tất)
II- Cléopâtre  - Hoàng hậu Ai Cập Ticonuong  hoàn tất
III-  Saba – Hoàng hậu Ethiopie Ticonuong hoàn tất
IV- Théodora – Hoàng hậu Hy Lạp CtLy hoàn tất
V- Lucrece Borgia – Hoàng hậu La Mã CtLy  hoàn tât
VI-  Poppèe – Hoàng hậu La Mã CtLy hoàn tất
VII-  Agrippine - Mẹ của Néron  dothiHang hoàn tất
VIII-  Messaline – Hoàng hậu La Mã   dothihang hoàn tất
IX-  Đắc Kỷ - Vợ vua Trụ  Yeut Hoàn tất
X-  Dương Quý Phi - Vợ vua Đường Minh Hoàng Hoàn tất
XI-   Vũ Tắc Thiên – Hoàng hậu Trung quốc Yeut hoàn tất
  XII- Từ Hi Thái Hậu- Hoàng hậu Trung quốc  yeut hoàn tât
XIII- Catherine II - Nữ hoàng Nga quốc -  dothiHang hoàn tất
XIV- Désirée Clary - Vị hôn thê của Napoléon I-  Đã gửi dothiHang
XV-  Joséphine - Vợ của Napoléon - Đã gửi dothiHang
XVI- Walewska - Vợ của  yeur hoàn tất
XVII- Marie Louise - Vợ của  yeut hoàn tất
XVIII-  Catherine d’ Aragon - Vợ của vua Henri VIII -  yeut hoàn tat
XIX-  Anne Boleyn - Vợ của -  yeut hoàn tat
XX-  Jane Seymour  -  yeut hoàn tat
XXI-  Anne de Clèves hoàn tât
XXII- Catherine Howard  Ct.Ly hoàn tất
XXIII-   Catherine Paar   Ct.Ly hoàn tât
XXIV-  Sissi - Nữ hoàng Áo quốc   Ct.Ly hoàn tất
XXV-  Victoria - Nữ hoàng Anh quốc   Ct.Ly hoàn tất
XXVI-  Mata – Hari - Nữ gián điệp Quốc tế đã gửi Ticonuong
XXVII- Eva Péron - Vỡ T.Th  Argentine đã hửi ticonuong
XXVIII- Svetla A – Con gái Stalin   Yeut hoàn tất
XXIX-  Anastasia – Công chúa Nga  Yeut hoàn tat
XXX-    Marie Curie - Nữ bác học Pháp  CtLy đã nhận
 
 
---&---
 
NHỮNG ĐÀN BÀ LỪNG DANH TRONG LỊCH SỬ
NGUYỄN VỸ
Sống Mới xuất bản
 
MỤC LỤC
I-  Trưng Nữ Vương - Nữ anh hùng Việt Nam
II- Cléopâtre  - Hoàng hậu Ai Cập
III-  Saba – Hoàng hậu Ethiopie
IV- Théodora – Hoàng hậu Hy Lạp
V- Lucrece Borgia – Hoàng hậu La Mã
VI-  Poppèe – Hoàng hậu La Mã
VII-  Agrippine - Mẹ của Néron
VIII-  Messaline – Hoàng hậu La Mã
IX-  Đắc Kỷ - Vợ vua Trụ
X-  Dương Quý Phi - Vợ vua Đường Minh Hoàng
XI-   Vũ Tắc Thiên – Hoàng hậu Trung quốc
XII- Từ Hi Thái Hậu- Hoàng hậu Trung quốc
XIII- Catherine II - Nữ hoàng Nga quốc
XIV- Désirée Clary - Vị hôn thê của Napoléon I
XV-  Joséphine - Vợ của Napoléon
XVI- Walewska - Vợ của
XVII- Marie Louise - Vợ của
XVIII-  Catherine d’ Aragon - Vợ của vua Henri VIII
XIX-  Anne Boleyn - Vợ của
XX-  Jane Seymour
XXI-  Anne de Clèves
XXII- Catherine Howard
XXIII-   Catherine Paar
XXIV-  Sissi - Nữ hoàng Áo quốc
XXV-  Victoria - Nữ hoàng Anh quốc
XXVI-  Mata – Hari - Nữ gián điệp Quốc tế
XXVII- Eva Péron - Vỡ T.Th  Argentine
XXVIII- Svetla A – Con gái Stalin
XXIX-  Anastasia – Công chúa Nga
XXX-    Marie Curie - Nữ bác học Pháp
 
***
 
BẠN ĐỌC THÂN MẾN
 
Tôi đã thuật lại, trong quyển sách này, đời sống rất hấp dẫn, chứa rất nhiều bài học quý giá, của ba mươi người đàn bà lừng danh nhất trong Lịch-sử Đông Tây tự cổ chí kim. 
 
Tôi bắt đầu bằng TRƯNG - NỮ - VƯƠNG, vì hai lý do. Xét về  khách quan lịch sử và về phương diện giá trị tác phong, Trưng Nữ Vương không những là một anh hùng của Dân tộc Việt Nam mà còn là một nữ anh hùng bậc nhứt trên thế giới. Vả lại, Jeanne d'Arc thua kém Trưng Vương trên nhiều phương diện lắm mà được cả  thế giới khâm phục trải qua các thời đại, là nhờ người Pháp biết truy tôn bậc Nữ anh hùng của họ. 
 
Từ trước đến nay, người Việt Nam chưa hề viết nhiều về Trưng Nữ Vương, chưa ca ngợi xứng đáng Vinh quang lẫm liệt của Trưng Nữ Vương cho thế-giới biết. Cho nên tôi thấy cần phải đưa Bà từ quên lãng bất công của địa vị một anh hùng địa phương Việt-Nam lên bậc Thần tượng tối cao, chói lọi, xứng đáng của  Lịch sử Loài Người. Tác phẩm nầy đang được dịch ra Anh Pháp ngữ chinh vì mục đích ấy. 
 
Tôi cố ý gát ra ngoài một số các nữ chính trị gia tuy cũng nổi tiếng xưa nay, nhưng phong độ cá nhân và ảnh hưởng tinh thần trên đời sống nhân loại không đáng kể, như các Nữ Hoàng, Nữ Thũ Tướng, Nữ Ngoại giao, Nữ Cách mạng, v.v ..
 
Các Nữ Văn sĩ, Thi sĩ, Nghệ sĩ. nổi danh trên thế giới cổ kim, sẽ được giới thiệu đầy đủ trong một quyển sách khác được ấn hành riêng. Nữ Thi hào Hồ xuân-Hương của Việt Nam sẽ có mặt trong tác phẩm Thi tuyển quốc tế ấy. 
 
Kỷ nguyên Lạc-Long, năm 1848  
Sài-gòn, tháng 4-1909
N.V. 
 
***
 
I - TRƯNG NỬ VƯƠNG
1 - Giòng máu Long nữ.
NGÀY 1 tháng 8, năm Việt lịch 2893, kỳ nguyên Lạc Long (tức là năm 14 sau J.C., thế kỷ 1 Tây lịch) tại đất Mê Linh, tỉnh Sơn Tây, có hai chị em sinh đôi.
Người ra chào đời trước được đặt tên là Trưng Trắc người kế tiếp ra sau, nhỏ hơn, tên là Trưng Nhị.
Thân phụ là cựu Lạc-tướng họ Trưng, có làm quan dưới thời Triệu Đà. Thân mẫu là bà Man Tniện, nhũ danh Trần thị Đoan, là một cháu ngoại của giòng giõi Hùng Vương XVIII.
 
Bá goá chồng sớm, nhưng ở vậy nuôi con gái, giáo dục hai con trong tinh thần yêu nước, yêu nhà.
Năm Việt lịch 2913, kỷ nguyên Lạc Long. Trưng Trác 20 tuổi, được mẹ gả cho Đặng thi Sách, một thanh niên thế phiệt, cũng là gióng giõi Lạc-tướng, và đang làm Lệnh doãn huyện Chu Diên. Chức Lệnh doãn lúc bấy giờ tức là Quận trưởng ngày nay.
Chu Diên là một trong 10 huyện rộng lớn của xứ Giao Chỉ, mà người Tàu đô hộ đặt tên là Giao Chỉ quận. Đầu thế kỷ thứ 1, Tây lịch, từ năm 111 trước J .C, đến năm 39 sau J.C, tức là suốt thời kỳ 150 năm, từ năm Việt lịch 2768 đến 2918 kỷ nguyên Lạc Long, lãnh thổ Việt-Nam mới gồm có hai xứ : Giao Chỉ Quận và Cửu Chân quận (hiện nay là Bắc Việt và Bắc Trung Việt đến tỉnh Nghệ An) đã bị lệ thuộc nhà Hán. Đó là lần thứ nhất trong Lịch sử Dân tộc Việt-Nam, giòng giõi Long Nữ, Lạc Long, Hùng Vương, bị người Tàu đô hộ.
 
Cùng năm hôn nhân của Trưng Trắc và Đặng thi Sách (2913 Việt lịch, 34 Tây lịch), vua Hán Quang Vũ cử viên tân thái thú qua cai trị Giao Chỉ, tên là Tô Định.
Tô Định là một tham quan ô lại, bất cố liêm sỉ, lại chính sách vô cùng tàn ác, gây oán hận trong khắp nhân dân Giao Chỉ. Bấy giờ lại có nạn lụt lớn, khiến dân chúng đã thốt ra câu ca dao than thở:
Trời mưa nước ngập sông Đoài  
Cỏ lên đè lúa, cá trôi lềnh bềnh. 
 
Nhân dân đã bị đói rét vì nạn lụt lại còn bị Tô Định chuyên chế, bốc lột gắt gao, áp bức vô nhân đạo. Mùa màng mất hết, dân không đủ lúa ăn, mà thuế địa tô thì nặng, dân phải đi xâu lực dịch đêm ngày, bị đánh đập tàn nhẫn. Tiếng kêu rêu oán thán nổi dậy khắp nơi. Trước cảnh đau khổ quá bi đát của đồng bào, viên Lệnh Doãn Đặng thi Sách làm tờ khuyến cáo tâm huyết bằng chữ Hán, gởi lên Thái thú Tô Định, như sau :
 
‘‘...Loát nhĩ Nam phương, ức vạn sinh linh giai Triều đình xích tử. Thừa lưu, tuyên hóa, tất dĩ ái dân vi tiên. Tử kim vi chánh, trung ngôn gia mưu giã kiến tội, bôn tẩu thừa thuận giả kiến thưởng. Cơ thiếp đắc dĩ lộng chính, biền bế đắc dĩ thiện quyền
‘‘ Tuy ái dân chi thuyết vô thời vô chi, nhi tổn hạ chi tâm dũ nhật dũ liệt ! Tuấn dân cao dĩ phong kỳ tài, kiệt dân lục dĩ cung kỳ dục ! Tự thị phú cường, lẫm hữu thái-a chi thế, bất tri khuynh bại, thí như triêu lộ chi nguy.
 ‘‘Như bắt tế chi dĩ khoan, tắc nguy vong lập chí hỉ’’ .
 
Dịch nghĩa :
(Phương Nam đành là nhỏ, nhưng ức vạn sinh linh đều là con đỏ của Triều đình. Kẻ được thừa mệnh Vua đi tuyên dương đức hóa, tất nhiên phải lấy việc yêu dân là trước cả.
 Ngày nay, Ngài làm hành chánh, lại bắt tội người nói thẳng, kẻ mưu hay, cho bọn tỳ thiếp được lộng xen vào chính sự, bọn nịnh thần được chuyên giữ quyền hành.
Tuy ngoài miệng luôn bô bô thương dân, mà trong bụng thì chăm chăm bốc lột. Rán mỡ dân để thêm giàu có, rút sức dân để thỏa thích lòng tham. Cậy rằng giàu mạnh, tưởng như gươm Thái A sắc bén, sao chẳng biết rằng nguy biến có thể đến, như sương sớm rã tan.  Nếu không gấp sửa đổi khoan hồng thì sẽ gặp ngay, bại diệt...).
 
Tô Định xem xong thư nổi giận đùng đùng, không những không biết bình tĩnh, sáng suốt, nghe lời trung chánh, thay đổi sách lược , lại còn quyết sát hại người chí khí can cường. Hắn kéo quân vào huyện Chu Diên, bắt Đặng thi Sách đem ra pháp trường xử tử. Bá Man Thiện, mẹ hai bà Trưng, cũng chết trong khi chống cự lại quân Tô Định.


2 -  Diệt địch.
Trưng Trắc và Trưng Nhị cùng gia tướng Đô Dương chạy về Mê Linh, quyết trả nợ Nước, báo thù chồng, đền ơn Mẹ
Năm sau, Việt lịch 2919, kỳ nguyên Lạc Long ( Tây lịch 40), Trưng Trắc và em triệu tập được 80 000 quân, gầm cả quân nhân phụ nữ.
Ngày 6 tháng Giêng, bà vừa được 21 tuổi, cùng với các tướng sĩ Nam Nữ, làm lễ tế cờ thật là cảm động, và truyền lệnh khởi nghĩa, diệt địch Bắc xâm phục hồi xã tắc.
Ngày 7, Bà thao diễn binh sĩ trên bãi Trương Sa, bên sông Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên, rồi Bà đích thân chỉ huy tiến quân vào đánh Tô Định tại thành Liên Châu.
Trước làn sóng công hãm ào ạt bất ngờ của một vị Nữ tướng lẫm liệt oai phong, Tô Định tuy qnân số đông hơn, tàn bạo, nhưng không có tinh thần, kháng cự không nổi. Trưng Trắc đánh đuổi Tô Định quyết lấy đầu kẻ thù của Dân, của Nước, nhưng Tô Định trốn thoát về quận Nam Hải, tỉnh Quảng Đông. Thừa thế thắng lợi, Trưng Trắc kéo quân đánh khắp quận Giao chỉ, nơi nào có tàn quân Tàu chiếm đóng. Bá lấy được 56 thành trì, và hoàn toàn khôi phục lại độc lập và chủ quyền của Đất Nước, trong thời gian mấy tháng.
 
Bà lên ngôi trị nước, lấy niên hiệu Trưng Nữ Vương Nguyên - Niên đổi quốc hiệu là Triệu  Quốc, lấy Mê Linh làm kinh đô.
 
           Trong đám tướng sỉ của Bà, có hai vị Nữ tướng tài ba nhất : Đông Cung tướng quân và Thị Nội tướng quân Đông-Cung Tướng quân tên thật là Hoàng Thiếu Hoa, quê huyện Gia Hưng, tỉnh Thanh Hóa, quận Cửu Chân. Bà đi khắp nơi, tuyên truyền những hành vi tàn ác của quân Tàu, và chính nghĩa của Bà Trưng. Dân chúng, cả nam lẫn nữ, tình nguyện theo Bà rất đông, thành lập một đạo quân phục quốc, theo về phục vụ Bà Trưng, và thâu được nhiều chiến công.
Khi Bà Trưng lên ngôi, ban thưởng cho tất cà binh sĩ, thì bà được phong chức Đông Cung tướng quàn. Bà còn trẻ, và chưa có chồng.
 
Thị Nội Tướng Quân, tên thật là Phùng thị Chinh, vợ ông Đinh Lượng, người tỉnh Sơn Tây, lảng Trang Phú Nghĩa. Bà rất đa mưu, đa trí, được Bà Trưng rất tín dụng. Bà có thai nhưng cũng cương quyết xin ra chiến trận, mặc dầu Bà Trưng ngăn cản. Trong lúc hai Bà Trưng cỡi voi xung phong, bà Thị Nội tướng quân cũng cỡi ngựa theo sau, đốc thúc binh sĩ. Tại vậy mà giữa lúc lâm trậm, bà bị động thai, nhưng Bà còn múa gươm chém được vài tên tỳ tướng của Tô Định rồi bị sẩy thai. Bà vẫn cố phá được vòng vây của quân Tầu, và phi ngựa thoát ra được.
Sau này, được tin Trưng Nữ Vương tự trầm, Bà Thị Nội tướng quân cũng cầm gươm tự sát luôn.
 
3 -  Triều đại Trưng Vương mở màn cho lịch sử Việt Nam độc lập.
 
 Quyển ‘‘Hoàng Việt Giáp tí niên biểu; quyển thượng’’ viết bằng Hán tự của cụ Ngô Bá Trác, in tại Huế, năm Khải Định thứ 10, chép về Trưng kỷ như sau :
‘‘Canh Tý (40) Trưng nữ Vương nguyên niên
‘‘Tân Sửu (41) Trưng nữ Vương nhị niên
‘‘NhâmDần(42) Trưng nữ Vương tam niên
‘‘Quý Mão (43) Đệ tam thứ Nội thuộc.
 
Quyển ‘‘Synchronisme Chinois’’  của vị Linh mực Tàu Mathias Tchang S.J viết bằng Pháp văn, và in tại Thượng Hải năm 1905, chép về Trưng Kỷ như sau :
39  (Kỷ Hợi) - Reine Trưng Vương, TrưngTrắc, I.
40 (Canh Tý)- Reine Trưng Vương, Trưng Trắc, II
41 (Tân Sửu) - Reine Trưng Vương,Trưng Trắc, III.
42 (Nhâm Dần) Soumission aux Hán(Hán thuộc).

Quyển ‘‘Concordance – Calendrier’’ của C.Cordier và Lê đức Hoạt, in tại Hà Nội năm 1935, chép:
 ‘‘Phụ Canh Tý (40) Trưng Vương.
Chí Trưng Trắc cặp kỳ
Quý-Mảo (43) muội Trưng Nhị, et sa soeur Trưng Nhị’’.
         ***
Trưng nữ Vương đánh đuổi quân Tàu, khôi phục giang sơn Việt-Nam, gầy dựng độc lập và tự chủ cho đất nước Lạc Long, đem thái bình an lạc cho nhân dân giòng giõi Long Nữ thần.
Trưng nữ Vương không chịu lệ thuộc nhà Hán, nên không nghĩ đến việc sai sứ qua Tàu để cầu phong như nghi lễ của một nước chư hầu.
Tra cứu kỹ lại Lịch sử dân tộc Việt Nam, thì thấy rõ ràng từ khi con trai của Long Nữ Thần Mẫu, là Lạc Long, lên ngôi lập quốc, thành họ Hồng Bàng, khai quốc từ năm 2879 trước Tây lịch, thì Kỷ nguyên Lạc Long truyền nối liên tục đến đời Vua Hùng Vương Mười Tám, rồi bị họ Thục (Thục An dương Vương) đến họ Triệu (Triệu Đà) là người Tàu ở Quảng Tây, Quảng Đông, qua chiếm ngôi vua. Lần thứ nhất, dân ta đã gián tiếp làm nô lệ người Tàu đến 246 năm. Đến Triệu ai Vương và mẹ là Cù Thị đem nước Nam Việt mà dâng hẳn cho nhà Hán.
Nhà Hán trực tiếp đô hộ nước ta trong thời kỳ thứ hai này kéo dài từ năm 2768 đến 2918. Kỷ nguyên Lạc Long (từ 111 trước J.C. đến 39 sau J.C.). Năm 2919 Việt lịch (năm 40 Tây Lịch, lần đầu tiên Trưng nữ Vương mới là người Việt Nam chính tông giòng giỏi Hùng Vương, đánh đuổi quân Tàu ra khỏi biên thùy, nối lại truyền thống độc lập và tự chủ của dân tộc Việt, là nòi giống Rồng Vàng của Long Nữ Thần Mẫu, mẹ Lạc Long Quân.
Rất tiếc Trưng nữ Vương khôi phục lại giang sơn mới được 3 năm, thì nhà Hán lại xua quân qua tái chiếm. Quân thù được chỉ huy do Mã Viện (tên thật là Mã văn Uyên), 70 tuổi, làm Phục Ba tướng quân, cùng Phụ lạc hầu Lưu Long, Lâu Thuyền tướng quân, và Đoàn Chi. Đạo quân xâm lăng tràn xuống miền Trung châu, theo sông Thái Bình và sông Thương kéo lên đánh kinh thành Mê Linh, năm 2920 Việt lịch (41 tây lịch).
Trưng Vương cỡi voi ra ngoài thành ứng chiến. Quân Mã Viện thua to. chạy về trên bờ hồ Lãng Bạc. Hồ này người Tàu còn đặt tên là Dâm đàm hồ, ở phía Tây thành Đại La cũ, đến đời nhà Lê đổi tên là Tây Hồ vì ở phía tây thành Thăng Long. Hiện nay dân chúng Hà nội vẫn thường gọi là Hồ Tây, hoặc Hồ Lãng Bạc theo tên cũ.
 
Năm Quý Mão, 2922 Việt lịch, (43 Tây lịch), vua Đông Hán cho thêm 500.000 viện binh qua giúp, lén theo miền duyên hải vào phía Nam, kéo ra hợp với quân Mã Viện tại hồ Lãng Bạc. Trận đánh nơi đây vô cùng ác liệt. Dưới sự chỉ huy của Trưng nữ Vương. Nam tướng Đô Dương và Nữ tướng Đông Cung đã phá tan nhiều vòng vây của quân Mã Viện. Nhưng vì quân số của ta ít hơn quân địch, và chính sự tai hại của đoàn quân nam nữ ô hợp mà quân ta bị bại trận phải rút lui về Mê Linh.
 
Truyền thuyết thuật lại rằng chính trong trận này quân Tàu đã thua liểng xiểng. Mã Viện thấy trận thế đã xoay chiều bất lợi cho y, bèn lập mưu ra lệnh quân sỉ của y cởi bỏ hết cả áo quần để nhào tới phản công đoàn quân phụ nữ. Lính đàn bà con gái, của Nữ tướng Đông Cung mắc cỡ bỏ chạy tán loạn. Đông Cung tướng quân không ngăn cản nổi làn sóng triệt thoái hổn loạn của nữ binh, đành phái tâu với Trưng Vương lui về Mê Linh giữ thành.
 
Mã Viện sai Lưu Long đuổi theo nhưng giữa đường bị quân Trưng Vương phục kích, quân Tàu chết hại rất nhiều, đành phải rút lui đến đóng tại Cẩm Khê (Vỉnh Yên). Trưng Vương đem quân đến công hãm thành này, nhưng bị quân Tàu đông hơn quân ta gấp bội, tràn ra đánh dữ. Trận đánh cực kỳ ác liệt. Quân ta phải thua bị địch đuổi theo ráo riết và bị tan vở gần hết.
 
Trưng Vương và Trưng Nhị đem số tàn quân thưa thớt chạy đến Hát Giang, thuộc làng Hát Môn, chỗ sông Đáy nhập vào Hồng Hà. Để khỏi bị Mã Viện bắt sống, hai chị em Trưng Vương cùng nhảy xuống sông trầm mình, ngày 6 tháng 2 năm 2922, Kỷ nguyên Lạc Long (Quý Mão), năm 43 tây lịch.
 
Tướng Đô Dương còn kháng chiến, chạy vào huyện Cu Phong quận Cửu Chân (Thanh Hóa), nhưng sau bị quân Tàu đến đánh, xin ra đầu hàng.
 
4 - Đồng trụ chiết.
 
Mã Viện thắng trận xong rồi, theo lịnh Hán Quang Vũ, sát nhập đất Giao Chỉ vào lĩnh thổ nhà Hán. Dân tộc Việt Nam lại bị người Tàu đô hộ lần thứ ba.
 
Theo chính sử của quân Tàu thì Mã Viện rút quân về theo đường Mông Cáy, qua sông Na Lương, và đóng binh ở Đông Hưng, thuộc tỉnh Quảng Đông.
Trước khi qua sông, y truyền lịnh lấy một cây súng đồng, dài độ một thước rưởi, và chạm vào đầu súng 6 chữ :
‘‘Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt’’.
 
Y sai đào lỗ chôn cây súng đồng đó trên đỉnh núi. Nhưng vài tháng sau, viên thái thú đi quan sát thì không thấy cây súng đồng đâu nữa. Sau khi hỏi vài người Tàu ở gần đấy, viên thái thú làm tờ phúc trình gởi về Đông Hưng cho Mã Viện, nói rằng: Người Giao Chỉ đã lén nhổ trụ đồng bán cho thợ đúc chuông. Thủ phạm chắc là bọn lính dư đảng của Trưng Nữ’’.
 
Trái lại, sử Việt để tránh tiếng nhổ lén, chép rằng nguời Giao Chỉ qua lại nơi đó, ai cũng bỏ vào gốc trụ đồng một vài hòn đá, lâu ngày thành núi đá cao, lấp mất trụ đồng. Nhưng ông Turion, Quan Ba Hàng hải đường trường của Pháp (Capitaine aux longs cours), chỉ huy chiếc tàu Pháp Espadon có nhiệm nụ thường xuyên đi tuần bờ biển vịnh Hạ Long, Bắc Việt, hồi năm 1900, có đến Mông Cáy, có qua Động xem đền thờ Mã Viện, và có tra cứu sử Việt và sử Tàu, có phê bình rằng : ‘‘Chỗ cấm trụ đồng là nơi núi cao, vắng vẻ, có ai đến đó làm gì mà lượm đá liệng vào cho đến nỗi lấp mất trụ đồng ? Đã vậy, lúc bấy giờ người An Nam đang oán thù Mã Viện dữ lắm, thì ai dại gì lại lượm đá liệng vào để cây trụ đồng càng đứng vững lâu ngày, với ý nghĩa hăm dọa và điếm nhục nước An Nam ? (Theo Hải Long du ký của Trần hữu Tư, thông ngôn hữu thệ, interprète assermenté của Turion).
 
Trong sử Tàu còn chép rằng: Mã Viện, đọc tờ phúc trình của viên thái thú Giao Chỉ, nổi giận liền sai thợ cất một ngôi đền trên đỉnh hòn núi con ở biên giới, đối diện với núi Hồ Sơn bên Mông Cổ để trả thù dân Giao Chỉ. Trong đền y sai thợ tạc một pho tượng lớn,chân mặt đạp lên trên lưng một pho tượng nhỏ chừng bằng đứa con nít, nằm sấp, ngóc đầu lên và le lưỡi ra. Tượng lớn tay cầm đoản đao giơ lên, một tay nắm đầu tóc tượng nhỏ. Trước đền, có tấm  hoành phi thêu bốn chữ : ‘‘Oai trấn Nam bang’’. Bất cứ ngươi Tây hay người Việt-Nam, ai cũng hiểu rằng tượng nhỏ là người Giao Chỉ. Năm 1900 người Pháp có yêu cầu chính phủ Trung Hoa bỏ tấm hoàng phi kia, vì họ cho rằng bốn chữ ‘‘Oai trấn Nam bang’’ có nghĩa là người Tàu còn uy quyền trấn giữ nước An Nam. Nhưng viên thống đốc Quảng Đông chỉ đổi chữ bang thành chữ biên, thành ra ‘‘Oai trấn Nam biên’’, và giảng nghĩa rằng ‘’ Người Tàu chỉ trấn giữ biên giới phía Nam của họ mà thôi’’ .
Hiện giờ đền thờ Mã Viện, hai pho tượng kia, và cả tấm hoành phi  ‘‘Oai trấn Nam biên’’ ở Đông Hưng.
 
5. - Nữ anh hùng độc nhất trong lịch sử nhân loại.
 
Đúng về phương diện Lịch sử Việt Nam, có một nhà viết sử nhận xét quá sai lầm về Triều đại Trưng Vương. Đó là Ngô thời Sĩ, trong quyển Đại Việt Sử Kỷ tiền biên, bàn như sau đây :
‘‘Xét từ đời Hồng Lạc về sau, quốc thống mất đã lâu, đến năm Bà Trưng tự lập, Sử cũ vội cho là chính thống, nhưng xét ra họ Trưng dựng nước, trước sau có ba năm vọt nổi lên lại mất ngay, như thế chưa có thể gọi là một nước được. Như thế theo lời chép Sử liệt quốc, phải chu niên hiệu hai Bà vào bên phải trên niên hiệu nhà Hán’’.
Có lẽ do theo tài liệu trên đây mà trong bản ‘‘Tableau Chronologique des Dynasties annamites’’ của L.Cadière đăng trong quyển V, trang 77-145, Bulletin des E.F.EO, chỉ chép đời Hồng-Bàng từ năm 2879 đến 258 (trước J.C.) đời Thục từ 257 đến 208, đời Triệu từ 207 đến 111 rồi kế đó chép đến thời Bắc thuộc từ 111 trước J.C. đến 543 sau J.C. tức là gồm cả đời Trưng Vương trong thời đô họ của Tàu.
 
Như trên, là hai lối chép Sử hoàn toàn sai lầm Lịch sử chân chính Việt - Nam phải cộng nhận Triều đại Trưng Nữ Vương là chính thống. Trong đền thờ Hai Bà Trưng ở làng Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh SơnTây, lập từ thời Mã Viện rút quân về Tàu , đã có bức hoành đề 4 chữ lớn ‘’Lạc - Hùng-Chính-Thống’’.
Vua Tự Đức có phê trong quyển ‘‘ Khâm Định Việt sử’’ về chươngTrưng Nữ Vương như sau :
‘‘Hai bà là bọn quần thoa mà có chí khí anh hùng, làm việc nghĩa khí khinh động cả đến Hán triều. Tuy thế cô, thời trái, nhưng cũng đã làm cho hưng khởi lòng người để làm gương sáng trong sử sách.
‘‘Kìa những bọn tu mi nam tử khép áo làm tôi tớ cho người, chẳng cũng mặt dày xấu hổ mà chết được ư ! …’’
Trên phương diện Lịch sử quốc tế, khắp thế giới '°* cỏ không có một nước nào có được một vị anh hùng Nữ Kiệt như Trưng Nữ Vương.
Người Pháp thường hãnh diện với nữ thánh Jeanne d'Arc (1412-1431) mà họ khéo tuyên truyền, đề cao,sùng bái, để cho cả Thế giới đều biết tên và khâm phục.
Nhưng, đọc lại lịch sử Jeanne d'Arc và Trưng Trắc, so sánh sự nghiệp, chiến công, và vị trí của hai nữ kiệt này trong bối cảnh lịch sử đương thời của hai nước, thì sự cách biệt thật là xa lắc xa lơ. Jeanne d'Arc không tạo được những nét oai phong, hùng dũng, những chiến công oanh liệt phi thường như Trưng Trắc. Dừ chỉ thành công trong 3 năm nhưng bà Trưng cũng đã báo thù được cho chồng, trả được nợ Nước, đền được ơn Mẹ.
 
Hơn hết tất cả, Trưng Nữ Vương đã xây dựng một Triều đại chính thống của Dân tộc Việt Nam ở thời kỳ 1, đã một lần đuổi quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi, và nhiều lần đánh tan rã quân thù của một đế quốc hùng cường bậc nhất ở Á đông. Một tấm thân bồ liễi đơn cô thế cô, với một đoàn quân ô hợp, bà rút gươm ra tử chiến, đánh tơi bời một quân đội ghê gớm của một Trung-Quốc khổng lồ.
 
Một bậc ‘‘nữ nhi’’ như Trưng Trắc và Trưng Nhị là một gương Liệt nữ chói lọi không riêng gì trong lịch sử Nhân Dân Việt Nam, mà chung khắp cả Loài Người.
Vì uy thế hiển hách của Trưng Nữ Vương, độc nhất vô nhị trong Lịch sử nhân loại, mà tôi xin ghi thanh danh của bà vào trang đầu quyển sách ‘‘ Những Người Đàn Bà Lừng Danh Trong Thế Giới’’.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2017 12:10:49 bởi Ct.Ly>
9 - Đắt kỷ
 
Thế kỷ XII trước J.C vào khoảng những năm 1166 đến 1134, nghĩa là cách đây trên 3090 năm, bên Tàu có Thọ - Tân Hoàng đế là ông Vua cuối cùng của nhà Thương, trong Sử thường gọi là Vua Trụ. Ông là người rất thông minh, lại có tài hùng biện. Các quan Triều – thần tâu sơ qua một việc gì là ông hiểu thấu triệt vấn đề, và hành động rất mau lẹ. Ông làm điều chi quấy, có ai can gián, ông lấy lý lẽ để bào chữa rất trôi chảy, thuyết phục được mọi người và ai cũng cho ông là có lý. Nhà vua lại có sức mạnh phi thường. Sử xưa chép rằng tay không ông vật ngã một lần 9 con trâu, bưng nổi cột nhà, làm gãy cả xà trinh.Sức mạnh của Vua Trụ không kém gì Hạng Võ, và không thua gì Hercule trong thần thoại Hy Lạp.
Nước Tàu lúc bấy giờ đã văn minh phồn thịnh. Những ông Vua cuối cùng của Triều đại nhà Thương, Võ- Ất, Thái – Đinh, Đế Ất, Thọ Tân, đều ăn chơi xa xỉ, yến tiệc linh đình, và xa hoa dâm đãng. Vua Trụ lại rất là tàn bạo, không khác gì Hoàng đế Néron của La Mã.
Và, cũng như Néron, Vua Trụ đã mất nước và bị giết chết rất thảm hại, chỉ vì một người đàn bà!

CÔ GÁI NHÀ HỌ TÔ LÀM SỤP CẢ MỘT TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC
Muốn tâng công với vua Trụ, một tiểu tướng họ Tô đem đứa con gái út tên là Đắt Kỷ dâng cho Hoàng Đế. Đắt Kỷ có một nhan sắc lộng lẫy, sắc sảo, ăn đứt tất cả các phi tần cung nữ mà vua Trụ đã sai người đi tìm kiếm khắp nước đem về nuôi trong cung điện để thỏa thích dục tình.
Từ ngày có Đắt Kỷ, nhà vua chê ghét hết các cung tần, bỏ bê cả việc nước, ngày đêm chỉ say mê bên cạnh Đắt Kỷ mà thôi. Nàng khéo chiều vua, khéo tâng bốc nịnh bợ, khéo mơn trớn vuốt ve. Với đôi bàn tay ngọc, với một nụ cười, đôi khóe mắt, nàng làm cho Trụ vương như ngây như dại, cả uy quyền bạo ngược của Chúa tể đều để cho một tay nàng sai khiến.
Miệt mài trong cuộc truy hoan, đắm say tửu sắc, vua Trụ chấp nhận tất cả những gì Đắt Kỷ làm, và Đắt Kỷ có bàn định những việc chi, nhà vua cũng gật đầu cười: “Phải! Phải!”. Nàng tâu xin với vua bổ nhậm hai người anh của nàng. Tô Địch và Tô Thành làm chức quan Đại trào để thao túng mọi việc chính trị trong nước. Vua Trụ gật đầu: “Được! Được!” Tô Địch là một tay tàn bạo khét tiếng, dựa uy thế của em gái và của Vua mà làm biết bao nhiêu chuyện hà lạm trong nước và khắc khổ nhân dân. Người ta đã đặt cho y biệt hiệu là Ác Lai.
Đắt Kỷ thấy vua Trụ thích chuyện dâm dục, bèn truyền lịnh cho nhạc sư tên là QUyên đặt ra một bản nhạc dâm ô. Theo Sử Tàu, thì bản nhạc này trồi lên là ai nghe cũng phải nảy lòng dâm dật. Nhưng Đắt Kỷ vẫn chưa bằng lòng, còn muốn thấy một điệu múa làm cho xúc động cả tâm thần vua Trụ, và bày ra vũ khúc “Bắc Lý”.
Nghe lời Đắt Kỷ, vua Trụ cho xây “lộc đài” rộng ba dặm, cao một ngàn thước, bắt dân đóng thuế thật nặng, để bỏ tiền vào đấy cho đầy kho. Lại cắt kho “Cự kiêu” rất lớn để chứa đầy thóc lúa.
Vua lập ra “Khuyển đài” ở chốn Sa-Khưu để nuôi hàng trăm nghìn chó, ngựa, cọp, beo, khỉ, để cho Đắt Kỷ săn bán, dựng hí trường để nhân dân ca hát cho Đắt Kỷ nghe. Nàng băt sđào một cái ao rộng 25 dặm để chứa rượu, rồi mỗi lần bảo 300 người chu mỏ hụp xuống ao uống như trâu ngựa để nàng xem. Nàng bắt trai gái cởi truồng múa hát suốt đêm trong vườn Thượng uyển trong lúc nhạc công thổi nhạc dâm ô, và Vua Trụ ngồi trên lầu uống rượu với nàng, nhìn xuống cười cho thỏa thích.
Kẻ phạm tội bất tuân lệnh của nàng, thì bị trói tay dẫn đến trước mặt đông đủ bá quan. Vua Trụ nghe theo lời Đắt Kỷ, sai lính chất một đống củi to lớn, đốt cho cháy đỏ phừng, bắt ngang trên lửa một cây cầu bằng đồng bôi mỡ, rồi khiến tội nhân phải leo lên đi trên cầu. Bị cháy nóng và mỡ trơn, tội nhân phỏng chân té nhào xuống lửa, thì Đắt Kỷ khoái chí cười ngất. Vua Trụ cũng cười sặc sụa, khiến các quan triều thần ai cũng phải cười để được lòng Vua và Hoàng hậu.
Theo Sử Tàu chép lại, thì Vua Trụ nghe lời nàng Đắt Kỷ mà giết người cho đến đỗi say máu và ăn cả thịt người nữa. Một vị chư hầu, tên là Cừu đem con gái đẹp đến dâng Vua Trụ. Đắt Kỷ ghen, bảo Vua Trụ giết đi và giết cả Cừu hầu, lấy thịt làm mắm.Ngạc hầu đem lời can gián, vua Trụ bắt giết luôn Ngạc hầu, lấy thịt làm nem.
Cổ Công Đản (tức là Chu Văn Vương) là bậc hiền triết, có đạo đức, từ tâm, làm chức Tây bÁ bị vua Trụ bắt bỏ tù ở Dữu Lý. Người con trai trưởng của Văn Vương là Bá Ấp Khảo đến thăm cha, bị vua Trị giết làm thịt nấu canh, và đem canh đãi Văn Vương. Văn Vương không biết , cứ ăn. Vua Trụ liền nói: “Ta nghe Tây Bá là bực Thánh nhân mà nay ăn thịt của con thì đâu phải là Thánh nhân cả!” Đắt Kỷ thích chí cười rầm lên.
Chính sách và hành động của Vua Trụ và của nàng Đắt Kỷ khiến cho những người can trực trong Triều đình phẩn uất. Dân chúng muốn nổi loạn. Hai phần ba thiên hạ theo nhà Chu. Ba vị đại thần là Vi Tử, Cơ Tử và Tỷ Can liền khuyên răn Vua, nhưng Vua không nghe. Tỷ Can là chú ruột của Vua, rất oán ghét Đắt Kỷ. Đắt Kỷ quyết trả thù cho hả giận. Một hôm, Đắt Kỷ bị đau bụng (nàng có chứng bịnh đau bụng kinh niên). Nàng nói với vua Trụ:
-          Thầy thuốc bảo rằng bịnh của thiếp chỉ có lấy trai tim của Tỷ Can sắc thuốc uống là khỏi hẳn, vì Tỷ Can là bậc Thánh nhân, mà trái tim của Thánh nhân có bảy lỗ, khác với người phàm.
Vua Trụ nghe theo lời của Đắt Kỷ, truyền đòi Tỷ Can đến để mổ bụng lấy trái tim làm thuốc cho nàng uống.
Truyền ký huyễn hoặc lại kể thêm rằng trước khi Tỷ Can ra đi, thầy của Tỷ Can có tu phép Tiên cho Tỷ Can một lá bùa và dặn Tỷ Can: chừng nào họ mổ lấy trái tim xong, Tỷ Can đắp cái bùa lên chỗ mổ và lúc ra về ai hỏi gì cũng đừng nói, thì khỏi chết. Tỷ Can đến, Đắt Kỷ truyền lịnh mổ bụng lấy trái tim xong rồi, ông đắp lá bùa lên vết mổ và thản nhiên ra về. Giữa đường, Tỷ Can gặp một cô gái bưng thúng rau muống (Theo truyền kỳ thì Đắt Kỷ vốn là loài Hồ ly tinh hóa ra người con gái ấy) chặn đường Tỷ Can, hỏi: “Ông có mua rau vô tâm không?” Cọng rau muống không có ruột, nên gọi là “rau vô tâm”, và có ý ngạo Tỷ Can đã bị mổ tim rồi, trong ruột trống rỗng như cọng rau muống. Tỷ Can làm thinh, nhất định không nói một lời, theo lời dặn của thầy. Nhưng cô gái bán rau muống cứ đi theo hỏi mãi, Tỷ Can tức giận không thể làm thinh được nữa, mắng một câu thì tự nhiên ông ngã gục xuống chết liền.
Chính sách tàn bạo và khốc liệt của Vua Trụ vì nghe theo Đắt Kỷ, đã gây ra oán giận khắp dân gian. Giặc dậy nơi nơi, các nước chư hầu đua nhau khởi nghĩa. Con trai của Văn Vương là Cơ Phát, làm chức Tây Bá, (sau lên ngôi là Chu Võ Vương), hội 100 nước chư hầu tại bên Mạnh Tân, tuyên bố tội trạng của vua TRụ và Đắt Kỷ, cử Lã Vọng làm nguyên soái, kéo quân đi trừ diệt kẻ hôn quân. Hai ông Bá Di, Thúc Tề gõ cương ngựa lại can, Võ Vương không nghe và quyết tiến binh.
Vua Trụ thua chạy vào Lộc đài, rồi bận áo đeo đầy những ngọc ngà châu báu, nhảy vào lửa chết. Võ Vương chiến thắng cầm cây Đại Bạch Kỷ vào thẳng thành tới chỗ vua Trụ chết, chỉ còn cái xác cháy. Ngài lấy gươm vàng chém đầu Trụ, treo lên chót cây cờ trắng và giết luôn Đắt Kỷ.
Thế là Triều đại nhà Thương bền được 661 năm, đến đời vua Trụ, chỉ vì say mê một con ác phụ mà bị sụp đổ thảm hại, trong máu và trong lửa.
 
Đến nay đã trên 3000 năm, cái tên gớm giếc của Đắt Kỷ trong Lịch sử Trung Hoa vẫn còn người ta nhắc tới, cũng như Popée, cũng như Agrippine của thời Néron ở La Mã, để làm gương cho những đàn bà hậu thế.




Đăng nhập để trả lời
0
10 – DƯƠNG QUÝ PHI
 
Vua Đường Huyền Tôn, cũng gọi là Đường Minh Hoàng (người Tàu và người Âu châu gọi là T’ang Hiuan Tsong, 713-756 sau J.C) ngồi trước lầu Trầm Hương thấy mấy khóm hoa mẫu đơn lấy giống từ Giang Nam về trồng trong vườn Nam Uyển có bốn màu, đỏ thâm, đỏ tươi, hồng, trắng, đều nở hết một lượt đẹp quá. Vua liền cho mời Dương Quý Phi (Tàu và người Âu châu gọi là Yang Kouei Pei), và mở tiệc vui mừng để cùng người yêu uống rượu xem hoa. Ban nhạc của Vua trổi khúc du dương để chầu vua và Quý Phi. Nhưng Huyền Tôn bảo: “Thưởng hoa mẫu đơn mà nghe nhạc của các người thì nhàm tai của Quý Phi. Hãy lập tức đi triệu quan Hàn Lâm Lý Thái Bạch đến đây làm thơ để ngâm cho Quý Phi của ta nghe! Mau lên! Nhạc trưởng Quý Niên cùng mấy người lính hầu vội vàng chạy đến nhà thi sĩ Lý Bạch, nhưng không có ông ở nhà. Đi tìm khắp kinh đô Tràng An, có người bảo thấy quan Hàn lâm đang ngồi trong một tiệm rượu. Quý Niên chạy tới nơi thì thi sĩ họ Lý say li bì, đang nằm ngủ trong quán. Mấy người lay gọi mãi ông không dậy. Không biết làm sao, vì Vua bảo đi gọi Lý Bạch đến thì làm thế nào cũng phải đưa Lý Bạch vào chầu Vua, nếu không thì có tội, hai người lính phải khiêng ông lên lưng ngựa và quất ngựa chạy về lầu Trầm Hương. Vua bảo đặt Lý Bạch nằm trên chiếc hoa ngay trước thềm, nơi Vua và Dương Quý Phi đang ngồi uống rượu. Thi sĩ họ Lý vẫn ngủ như chết, ngáy khò khò, sặc mùi rượu. Quý Phi tâu: “Thần thiếp nghe người ta nói rằng lấy nước lạnh đắp lên mặt người say rượu là tỉnh ngay”. Vua Huyền Tôn liền truyền cung nữ làm theo lời của Quý Phi. Một lát, Lý Bạch tỉnh rượu, lóp ngóp ngồi dậy. Trông thấy vua, ông quỳ xuống tâu. “ Kẻ hạ thần thật đáng tội, cúi xin Bệ hạ rộng lượng dung tha”. Vua bảo: “Hôm nay Trẫm cùng Quý Phi ngắm hoa mẫu đơn, vậy khanh làm bài thơ để phổ nhạc cho Quý Phi nghe”. Lý Bạch cầm bút thảo luôn một hơi ba bài thơ, chữ đẹp như rồng bay, phượng múa, đề là “Thanh Bình tam chương” dâng lên vua ngự lãm. Vua đưa Quý Phi ngâm:
I
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.
Nhược phi Quần ngọc sơn đầu kiến.
Hội hướng diêu đài nguyện hạ phùng.
II
Nhất chi nùng diệm lộ ngưng hương,
Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường.
Tá vấn Hán cung thùy đắc tự,
Khả liên phi yến ỷ tân trang.
III
Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan.
Thường đắc quân vương đới tiêu khan.
Giải thích xuân phong vô hạn hận.
Trầm hương đình bắc ỷ lan can.
Xin tạm dịch:
I
Áo tợ làn mây, mặt tợ hoa,
Ngoài hiên gió thoảng giọt sương sa.
Phải người đã hiện nơi Quần ngọc.
Hay khách Diên đài bóng nguyệt nga!
II
Sương đượm cành tươi bát ngát thơm,
Ngẫm ngùi thần nữ chốn Vu sơn!
Xót xa Phi yến trong cung Hán.
Thử hỏi bằng ai chút phấn son?
III
Hương trời sắc nước khéo hòa hai,
Cười mím, quân vương ngắm nghía hoài.
Đừng dựa hiên Trần hình dáng ngọc,
Gió xuân tiêu tán hận trần ai!


Dương Quý Phi và vua Huyền Tôn cùng nhau khen ngợi thi tài của quan Hàn Lâm Lý Bạch và vua truyền lệnh cho ban nhạc phổ nhạc ngay cả ba bài Thanh Bình để Quý Phi nghe. Quý Phi phục tài của Lý Bạch, liền rót một ly rượu bồ đào đưa tận tay tặng thưởng thi nhân.
Nhưng Quý Phi là ai, mà được vị Đại Hoàng đế của nhà Đường sủng ái, chiều chuộng đến như thế? Nàng đẹp như thế nào đến đỗi một bậc Thi Bá nổi danh khắp thiên hạ cũng phải tuân lịnh Vua, mà làm thơ ca ngợi nàng?
Chúng tôi hãy tìm xem lý lịch của kẻ giai nhân lừng lẫy tiếng tăm này và ảnh hưởng cùa nàng đối với vua Huyền Tôn và cả Triều đại nhà Đường tai hại như thế nào.
Nụ cười hoa nở hơn xưa
Sáu cung son phấn đều thua mặt nàng…
Bạch cư dị
(Thi sĩ đời Đường)
Có một sự kiện không tốt tý nào mà vài quyển sách Sử của Tàu không nói đến hoặc nói sai lạc rằng Dương Quý Phi đang ở nhà với chú ruột, và mặc áo đạo sĩ, thì được tiến cử vào làm cung phi, gần một năm sau nhà Vua mới tôn lên ngôi Hoàng Hậu. Sự thật thì Dương Quý Phi, tên thật là Thái Châu, đã là vợ của Thọ Mạo Vương, một trong những Hoàng tử con của Vua.
Thái Châu ở với Thọ Mạo Vương gần được một năm, rồi vua Huyền Tôn trông thấy nàng đẹp quá, mới cướp nàng dâu về làm Cung phi, và đày Thọ Mạo Vương đi xa.
Cha nàng là Dương Huyền Diệm, làm một chức quan nhỏ ở Thục châu. Nàng mồ côi từ thuơ còn bé, ở làm con nuôi cho người chú là Dương Huyền Kiều cũng làm quan ở Hà Nam. Nhờ sắc đẹp và trí óc thông minh, nàng có học khá, biết làm thơ, đánh đàn, nàng được Thọ Mạo Vương, con của Vua Đường Huyền Tôn cưới về làm vợ. Lúc bấy giờ Vua Huyền Tôn đang yêu chuộng nhất là nàng Võ Huệ Phi. Vì nàng mà vua truất phế Hoàng Hậu, để đưa nàng lên thay thế. Đến năm thứ 24, Huệ Phi chết, nhà vua thương tiếc vô cùng, trong đó trên 3000 cung phi chẳng có cô nào được lọt vào long nhãn cả. Một hôm vừa
 
 
Chàng đi rảo một vòng để xem cảnh tượng kinh hoàng bi thảm ấy.
Bỗng dung, chàng nhìn thấy Dương Quý Phi, vội vàng cúi xuống ôm lấy người ngọc. CHàng kêu lên:
-          Dương Quý Phi!.. Dương Quý Phi!... Dương Quý Phi!...
Xác giai nhân đã lạnh ngắt như băng giá. Nhưng khi An Lộc Sơn kề mũi trên đôi má của nàng còn hơi ưng ửng một chút màu hồng, chàng còn nghe một hơi thở yêu ớt. Chàng vui mừng gọi to lên:
-          Dương Quý Phi!.. Dương Quý Phi!... Dương Quý Phi!...
Người ngọc còn hé mắt được một chút xíu, đôi mắt đã đục ngầu, rồi nhắm riết lại. Nàng đã hoàn toàn tắt thở.
An Lộc Sơn ôm xác chết của Dương Quý Phi, khóc nức nở…
Theo dương lịch, hôm đó là ngày 18 tháng 7 năm 756. Chiếu theo sử Việt Nam ta thì vào khoảng 30 năm sau vua Mai Hắc Đế, dưới thời Bắc thuộc thứ ba, “An Nam đô hộ phủ”.
Vua Huyền Tôn di cư sang đất Thục, sau đó con Vua là Tức Tôn khôi phục lại được sơn hà. An Lộc Sơn bị con là Khánh Tự giết, một bộ tướng là Sử tử Minh lại giết Khánh Tự mà quy hàng nhà Đường.
Vua Đường Huyền Tôn trở về Kinh đô cũ, Tràng An. Nhớ Dướng Quý Phi quá, ngày đêm không ăn không ngủ được, nhà Vua bèn sai họa sĩ vẽ lại hình Dương Quý Phi để treo trong cung điện. Sớm, tối, nhà Vua chỉ ngoofi nhìn hình người yêu mà khóc sướt mướt, không còn gì an ủi được nữa mối hận nghìn thu ấy.
Thi sĩ Bạch cư Dị, đời Đường, có làm bài “Trường Hận Ca” thương xót cuộc tình duyên đau đơn của Đường Huyền Tôn, và có lẽ của cả An Lộc Sơn:
Thiên trường, địa cửu, hữu thời tận,
Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ!
………………
(Trời tan, đất vỡ có ngày.
Muôn đời, muôn kiếp, hận này, khôn nguôi!)




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2017 11:35:54 bởi Ct.Ly>
Đánh máy DothiHang
 
7- AGRIPPINE, Mẹ của NÉRON
 
LẤY CHỒNG HỒI 13 TUỔI
DONITIUS Ahenosarbus! Chỉ một cái tên đó cũng đủ làm rợn tóc gáy những người dân La Mã thời bấy giờ. Thế kỷ I sau J.C. Cái tên mọi rợ làm sao! Lão này là một vị quan chấp chính tàn bạo, điên khùng, trụy lạc, vô liêm sỉ, mà nhân dân La Mã ghê tởm. Còn Agrippine, là cháu hai đời của Hoàng đế Auguste, cũng là một cô gái dữ tợn, đã có tiếng ngay từ lúc còn bé là một hung nữ của dòng dõi César…Số kiếp xui khiến ông lão Ahenobarbus gặp cô bé Agrippine, lại mê vẻ đẹp sắc bén của nàng và xin cưới nàng làm vợ, Agrippine mới có 13 tuổi!
Chín tháng sau, tháng 12 năm 37 sau J.C. Agrippine sinh một đứa con trai, có ác tướng, mà nàng đặt tên là Néron. Bà con thân thuộc đến mừng, thì Ahenobarbus chỉ đứa bé nằm trong nôi, mặt mũi dữ tợn và bảo:
-         Ta và Agrippine phối hợp với nhau chỉ có thể đẻ ra một con ác quỷ!
Câu nói nầy, Lịch sử cổ La mã còn ghi lại nguyên văn và chẳng phải là câu nói ngoa. Néron lớn lên, Agrippine nhờ một thầy bói khoa chiêm tinh coi số tử vi cho Néron, Thầy bói nói:
-         Sau này, Néron sẽ lên ngôi hoàng đế nhưng chàng sẽ giết mẹ.
Agrippine trả lời:
-         Nó giết ta thì cứ giết, miễn là nó được lên ngôi Hoàng đế!
Từ ngày vợ đẻ, ông lão Ahenobarbus (tục gọi ông già râu đỏ) bỏ kinh đô đi mất. Ông đã hung dữ, vợ ông còn hung dữ hơn ông!. Bây giờ ông thấy đứa con mới ra đời, nét mặt đã đầy sát khí, ông sợ quá, đang đêm trốn ra hòn đảo Sicile, rồi chết tại đó.
Agrippine không hề thương nhớ chồng. Nàng là một người đàn bà tham lam vô độ, một ác phụ chỉ có một hoài bão là chiếm ngôi Hoàng Đế La Mã để làm bá chủ thiên hạ. Hoàng đế Caligula đang trị vì Đế quốc La Mã, chính là anh ruột của nàng. Nàng quyết tâm ám hại anh, để dành riêng ngôi báu. Muốn đạt mục đích ấy, nàng bắt đầu quyến rũ vị quan hầu cận của vua, còn trẻ tuổi, tên là Lépide. Ngay hôm đầu, nàng hiến thân cho y. Lépide vừa sung sướng vừa kinh ngạc, nhưng Agrippine cười, nói thầm vào tai y:
-         Chàng có muốn Agrippine trẻ đẹp của chàng lên ngôi Hoàng đế La mã không?
Lépide càng kinh hồn, nhưng cô gái 22 tuổi trừng mắt ngó y:
-         Chàng phải giết anh của ta! Caligula phải chết, để ngôi báu của dòng họ César cho Agrippine này! Hoài vọng của ta hoàn thành, ta sẽ chính thức lấy chàng để cùng  trị vì Đế quốc La mã .
Lépide , 20 tuổi, vị quan hầu của Caligula, liền hăng hái tuân theo lịnh nàng. Bất ngờ Caligula có ban mật vụ, biết rõ câu chuyện. Lépide bị xử tử tức khắc. Agrippine bị đày ra đảo Pontiques. Nhà vua chỉ ngón tay vào mặt cô em gái:
-         Con khốn nạn! Chừng nào mi trở về được kinh đô, ta sẽ nhường ngôi cho mi!
 
KHI MỘT VỊ HOÀNG HẬU MÊ TRAI…
Ngày 24 tháng hai năm 41, Caligula bị một nhóm loạn quân ám sát ngay trong cung điện. Người bác ruột của vua, tên Claude, sợ hãi quá, lật đật chui trốn phía sau một tấm màn, ngồi run cầm cập. Không dè, loạn quân trông thấy, lôi ông ta ra, và tôn ông lên ngôi Hoàng đế!
Agrippine nghe tin mừng, vội vàng từ giã đảo Pontiques, trở về Kinh đô. Nhưng đâu phải nàng định về Cung điện, để đóng vai người cháu gái ngoan ngoãn của vị Vua mới! Nàng vẫn nuôi tham vọng giành ngôi Hoàng đế cho riêng nàng cơ mà! Hoàng đế Caligula vừa bị ám sát, là anh ruột của nàng, Hoàng đế Claude lên ngôi kế vị, là bác ruột của nàng. Agrippine đã không thành công với anh, thì nàng quyết sẽ thành công với bác vậy.
Nhưng Claude có vợ…mà chính vợ của Claude lại là Messaline, chị họ của nàng. Người chị họ mà nàng ghét cay độc! Tại vì Messaline cũng là một trang tuyệt sắc giai nhân và đang được làm Hoàng hậu. Messaline cũng đã biết rõ tính nết của Agrippine, nên nàng đề phòng.
Nàng không muốn cho Agrippine ở trong Cung điện vì nàng sợ cô em họ tìm cách quyến rũ Claude và chiếm ngôi Hoàng hậu.
Agrippine thấy tình hình trong Cung điện chưa được thuận lợi cho nàng trong lúc này. Nhưng nàng vẫn không nản chí. Nàng kiên nhẫn chờ cơ hội…Trong khi chờ đợi và để cho Messaline hết nghi ngờ, nàng quyết định lấy tạm một người chồng, để làm bung xung…
Agrippine kết hôn với Passiénus, một chính khách có tài hùng biện, tiếng tăm lừng lẫy ở La Mã. Chàng lại là một triệu phú, tiền của và vàng bạc châu báu nhiều vô kể. Agrippine tha hồ tiêu xài và mở rộng phòng khách tiếp đón các gia đình thượng lưu ở kinh đô, không kém gì trong Cung điện của Hoàng đế. Hơn nữa, nàng quyết tranh đua về mọi phương diện để cho hơn Messaline. Hoàng đế Claude và Hoàng hậu Messaline có con trai là Thái tử Britannicus, đồng lứa với Néron là con trai của Agrippine. Nàng giáo dục Néron một cách vô cùng nghiêm khắc, tàn nhẫn, bắt buộc Néron phải giỏi hơn Britannicus về các môn học vấn và thể thao. Néron là một cậu con trai rất hung dữ, nhưng cậu chỉ là con cọp con, vẫn khiếp sợ con cọp mẹ. Agrippine sắp kế hoạch: làm sao cho Néron được làm Hoàng đế, để nàng làm Hoàng thái hậu. Nàng kiên nhẫn đợi chờ cơ hội.
Và cơ hội đã đến. Năm 48, Messaline bỗng dưng yêu say mê chàng công tử Silius, con một  nhà quyền quý, “người đàn ông đẹp nhất La mã”. Hoàng hậu say mê chàng cho đến đỗi bao nhiêu bàn ghế tủ giường và đồ đạc quý giá nhất trong Cung điện của nàng, nàng lén chở hết ra biệt thự của Silius, không còn gì trong Cung Hoàng hậu nữa. Đêm nào Hoàng hậu cũng lẻn nhà Vua để ra ngủ với Silius đến gà gáy sáng Hoàng hậu mới lò mò chạy về Cung điện.
Vậy mà Hoàng đế Claude chẳng hay biết tí gì. Thế rồi một hôm Claude đi kinh lý, Hoàng hậu Messaline ở nhà tuyên bố chính thức kết hôn với người yêu. Bí thư của Hoàng đế là Narcissse tin cho ngài hay, ngài lật đật trở về kinh đô, bắt chém đầu Silius. Tức thì Hoàng hậu lấy dao poa- nha tự đâm vào bụng chết theo người tình.
Hoàng đế Claude buồn rầu thề với các quan triều thần:
-         Trẫm nhất định ở góa suốt đời, không thèm lấy vợ nữa.
 
NGHỊ VIỆN TUÂN LỆNH VUA, SỬA LẠI LUẬT GIA ĐÌNH CỦA LA MÃ ĐỂ CHO CHÁU ĐƯỢC LẤY BÁC.
 
Agrippine lúc bấy giờ đã 32 tuổi. Nàng là cháu ruột của Hoàng đế Claude, gọi Hoàng đế là bác. Hoàng hậu Messaline chết rồi, Agrippine được tự do vô ra cung điện. Nàng lân la ở ngày đêm, một tay nàng lo điều khiển các công việc trong Cung. Nàng săn sóc cho Hoàng đế và dần dần làm chúa tể cả Hoàng đế nữa. Tất cả các nàng công chúa hoặc con gái các nhà quyền quý có đôi chút nhan sắc bén mảng đến Cung điện đều bị Agrippine đuổi đi hết, cấm tiệt không cho một giai nhân nào đến gần Hoàng đế.
Agrippine ăn ngủ luôn bên cạnh Claude. Ít lâu sau, Hoàng đế tuyên bố với Triều thần rằng ngài nhất định làm lễ chính thức cưới Agrippine làm Hoàng hậu. Luật gia đình La Mã lúc bấy giờ vẫn cấm chú bác kết hôn với cháu. Nhưng tuân theo lệnh của Hoàng đế. Thượng nghị viện La Mã bèn sửa đổi bộ luật gia đình, làm một luật mới cho phép bác được lấy cháu. Mấy kẻ nịnh thần và lũ luật sư chầu rìa mong được xin xỏ ân huệ của Hoàng đế Claude và tân Hoàng hậu Agrippine , xúm nhau tán dương luật mới là hợp luân lý và văn minh La Mã! Đồng thời, Agrippine bảo với kẻ thân tín nói với chồng chính thức của nàng là nhà chính khách triệu phú Passienus, nên tự ý chết đi và để lại hết gia tài cho nàng. Nếu không thì y cũng sẽ chết, và chết một cách đau đớn hơn.
Vì danh dự một nhà chính khách hùng biện lừng lẫy tiếng tăm ở La Mã từ lâu, Passienus bèn uống thuốc độc tự tử, và tuân lệnh vợ làm tờ di chúc để lại cho Agrippine tất cả cơ đồ sự nghiệp của chàng.
Rảnh tay rồi, Agrippine được tự do kết hôn với Hoàng đế Claude.
 
Thế là từ địa vị một cô cháu gái gọi Hoàng đế Claude là bác, Agrippine bỏ chồng ngang nhiên kết hôn với bác và lên chức vị Hoàng đế. Lễ cưới vừa mới cử hành xong, thì Agrippine liền truyền lệnh bắt chém đầu nàng Lollia Paulina là người tình cũ của Hoàng đế Claude. Quân lính đem cái thủ cấp của Lollia vào cho Agrippine xem, tân Hoàng hậu tự tay cạy miệng kẻ thù tình địch ra để coi có phải là sún mất một cái răng cấm thì mới đúng là nàng. Xem đúng, bấy giờ Agrippine mới yên tâm.
Nhưng đã thật yên tâm chưa? Agrippine còn một địch thủ khác nữa, rất lợi hại. Chính là Britannicus, con trai của Claude, vì cậu bé này là Thái tử chánh thức sẽ được lên kế vị Vua cha khi nào Claude băng hà. Agrippine phải mưu toan diệt trừ Thái tử Britannicus để sau này con nàng là Néron sẽ lên ngôi Hoàng đế La Mã. Nhưng giết Thái tử là một vấn đề rất khó khăn, vì Britannicus đã được dân chúng yêu chuộng. Chàng là một trang thanh niên khôi ngô tuấn tú dễ gì một sớm một chiều dung mưu mô mà ám hại được chàng.
Agrippine bèn nghĩ thủ đoạn khéo léo để lần hồi gạt con trai của Claude ra ngoài. Nàng tìm cách bắt buộc Octavie là con gái của Claude phải hứa hôn với Néron, con trai của nàng. Octavie đã có vị hôn phu khác rồi, Agrippine buộc Oetavie phải từ bỏ hắn.
Năm sau, nàng nói với Hoàng đế phải chính thức nhận Néron làm con nuôi. Claude ưng thuận. Agrippine muốn gì là Claude cũng chiều theo cả. Đến nỗi Claude đã nghe lời nàng ra trước Thượng nghị viện La Mã để tuyên bố long trọng rằng khi nào ngài chết thì Néron sẽ lên kế vị.
Agrippine bằng lòng, truyền lệnh làm lễ thành hôn cho Néron với Octavie. Nàng còn sửa đổi các nghi lễ trong Triều La Mã tự danh cho chức vị Hoàng hậu được quyền hành với Hoàng đế. Agrippine tuyên bố cho đàn bà được bình đẳng với đàn ông, nhưng luật lệ ấy chỉ để áp dụng cho chức vị Hoàng hậu của nàng mà thôi. Nàng tiếp các Quốc trưởng và các Đại sứ ngoại quốc. Nàng chủ tọa các lễ duyệt binh. Nàng có một đội Ngự lâm quân riêng biệt để hầu hạ nàng, và một chiếc ngự thuyền trong đội Hải quân để nàng đi du lịch trên mặt biển. Nàng cho đúc tiền La mã với hình nàng in trên đồng tiền và một câu: “ Agrippine, Hoàng hậu La Mã” . Mỗi khi nàng ở kinh đô đi chơi đâu, đều có chiếc xe sáu ngựa, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Nàng đi tới đâu, dân chúng đều phải hoan hô: “ Vạn tuế”. Ai phản đối nàng bắt chém đầu.
 
 
MỘT ĐĨA NẤM XÀO
 
Trong năm 54, nghĩa là 5 năm sau khi Hoàng đế cưới cô cháu Agrippine và đặt nàng lên ngôi Hoàng hậu, Claude bỗng giật mình thấy rằng Agrippine đã lần hồi lấn ép hết quyền hành của mình, và con trai của nàng là Néron cũng ngang tàng như sắp sửa giành lên ngôi Hoàng đế vậy. Claude hơi hối hận, bèn quyết định làm lễ khoác áo đỏ cho Thái tử Britannicus, con trai ngài. Theo tục lệ của các Triều vua La Mã từ đời Hoàng đế César, con trai của vua đến tuổi trưởng thành được vua khoác cho chiếc áo thụng đỏ trong một buổi lễ long trọng để biểu hiện chức vị Thái tử chính thức sẽ được nối ngôi vua.
Claude tuyên bố:
-         Britannicus sẽ nối ngôi để cho dân tộc La Mã luôn luôn có một Hoàng đế kế tiếp dòng dõi César.
Agrippine tức giận bầm gan. Muốn thực hiện cho được cái tham vọng đặt Néron lên ngôi kế vị, nàng phải giết Hoàng đế Claude rồi sau cùng sẽ thanh toán nốt Britannicus. Nhưng trước hết, còn một người đàn bà nguy hiểm, là Domitia Lepida, chính là bà nội của Britannicus. Agrippine truyền lệnh cho bà này phải tự tử. Lepida không dám cãi lệnh Hoàng hậu, và thắt cổ tự tử. Thanh toán xong người đàn bà cuối cùng có thể nâng đỡ Britannicus, Agrippine cho dọn một bữa tiệc đặc biệt khoản đãi Hoàng đế và Triều thần. Biết Claude thích ăn nấm xào, nàng bỏ thuốc độc trong nấm. Claude đang ăn ngon lành bỗng dưng ôm bụng kêu la rên siết, nhưng Claude không chết. Agrippine làm bộ hoảng hốt trước mặt Triều thần và cho gọi một vị lương y đến gấp rút chữa bệnh cho Hoàng đế. Lương y đã được lệnh sắp đặt trước của Hoàng hậu, lấy một lông chim bồ câu có tẩm thuốc độc thọc vào cổ Hoàng đế, nói là để Hoàng đế nôn ra cho dễ. Không dè Hoàng đế trợn mắt chết tươi. (12 tháng 10 năm 54 sau J.C.)
Sáng hôm sau, trước mặt Triều thần và Nghị viện đông đủ, Agrippine mặc đồ đại tang khóc sướt mướt, tuyên bố Hoàng đế Claude đã băng hà. Ai nấy cảm động, cúi đầu gạt lệ. Bỗng 12 tên lính Ngự lâm quân của Agrippine từ trong Cung điện đi ra, đứng dàn hai bên ngai vàng. Néron mặt mũi dữ tợn, mình khoác chiếc áo đỏ bước ra ngai. Quân lính hoan hô : “ Hoàng đế muôn năm”. Triều thần và Nghị viện đành phải hô theo. Thế là Néron lên ngôi Hoàng đế La Mã, trong lúc Triều thần và Nghị viện cứ tưởng rằng người kế vị phải là Thái tử Britannicus. Nhưng Britannicus vừa bị lính của Agrppine bắt giam trong phòng kín ở sau cung điện.
Néron mới được 17 tuổi. Chiều hôm ấy, Néron ký sắc lệnh đầu tiên của Hoàng đế, tuyên dương  “ Hoàng Thái hậu Agrippine là người mẹ hiền lành nhất của La Mã”
 
CHIẾC DU THUYỀN LỘNG LẪY GIỮA ĐÊM HOA ĐĂNG
 
Con người cứ mù quáng hành động theo tham vọng cuồng nhiệt của mình. Nhưng thượng đế vẫn lặng lẽ sắp đặt cuộc trừng phạt cuối cùng xứng với tội ác của nó.
Néron lên ngôi Hoàng đế, sẵn oai quyền trong tay liền tìm cách gạt “bà mẹ hiền lành nhất của La Mã” ra ngoài vòng chính trị. Muốn tỏ cho bà biết rằng Hoàng đế không phải là con nít nữa, một hôm phái đoàn dân iểu xứ Arimenie đến yết kiến. Agrippine trong bộ y phục lộng lẫy bước ra Triều, liền bị Néron lễ phép đuổi đi:
-         Xin mời Hoàng Thái hậu vào Cung an nghỉ.
Agrippinr giận con lắm, nhưng làm gì được. Bà lại nghe bộ hạ báo cáo rằng Hoàng đế Néron đang yêu một con đầy tớ rất đẹp tên là Acté, người Hy lạp. Con nhỏ này mới 16 tuổi, đã chiếm được trái tim của Néron và xúi dục Vua ly dị với người vợ chính thức Octavie, do Agrippine đã cưới cho vua.
Agrippine nổi giận, hăm dọa sẽ đưa Britannicus ra trước nghị viện để tôn chàng lên ngôi Hoàng Đế chính thức. Bà chỉ vào mặt Néron:
-         Mi phải nhớ rằng mi chỉ là một kẻ ngoại dòng lên tiếm đoạt ngai vàng của dòng họ Cesar.
Néron làm thinh, nhưng một buổi chiều ông cho mời Britannicus đến uống rượu. Uống vừa hết cúp rượu Britannicus liền ngã lăn ra chết, sùi bọt mép. (Năm 55 sau J.C.)
Agrippine bắt đầu lo sợ cho số mạng của mình. Bà nhớ lời Thầy bói theo khoa chiêm tinh đã bảo trước cho bà biết hồi Néron mới 3 tuổi: “Néron sẽ lên ngôi Hoàng đế, và sẽ giết mẹ”
Sự thật thì Néron chưa dám thủ tiêu Hoàng Thái hậu, sợ mẹ còn phe đảng mạnh. Y chỉ giải tán đội Ngự lâm quân riêng của bà và mời bà sang ở một lâu đài to lớn tại thành phố Naples, cách xa La Mã. Thỉnh thoảng Hoàng đế đến thăm mẹ rồi về, chớ không dám ở lâu. Agrippine cũng gờm con, không dám đến gần.
Hai mẹ con giữ miếng với nhau và ngấm ngầm thù địch với nhau. Néron lúc bấy giờ say mê Poppée, đã nghe lời nàng đuổi con đầy tớ Hy lạp đi rồi và muốn ly dị vợ chính thức Octavie để đưa Poppée lên ngôi Hoàng Hậu. Nhưng Agrippine kịch liệt phản đối, vì bà còn quyền thế Hoàng Thái hậu, nhất định ngăn cản Néron không cho cưới Poppée. Do đó, Agrippine lại là mối căm thù của Poppée nữa.
Poppée trề môi bảo Néron:
-         Ngài là chúa tể một Đế quốc vĩ đại nhất trên hoàn cầu, Ngài là vị Hoàng đế lớn hơn hết thảy các vị Hoàng đế, mà ngài còn để Hoàng Thái hậu Agrippine sai khiến, có khác nào một đứa trẻ nít để cho mẹ nó dắt mũi.
Néron tức lắm, nhưng chỉ vỗ vai người yêu:
-         Em đừng lo…Ta đang chờ cơ hội.
Néron suy nghĩ các thứ âm mưu. Thuốc độc ư? Hoàng Thái hậu là một tay chuyên môn dùng thuốc độc rồi. Néron còn nhớ bà đã bỏ thuốc độc trong đĩa nấm xào cho Hoàng đế Claude…Và Néron cũng biết bà đã có dự trữ các thứ thuốc trừ độc để đề phòng.
Ám sát ư? Hơi khó, vì bà đã phòng bị mọi sự bất trắc. Sau cùng, có tên hầu cận của Néron, Anicétus, bày mưu đóng chiếc du thuyền giả, sơn quét thật đẹp, mời Hoàng Thái hậu đi ngự trên du thuyền, rồi ra giữa biển cho thuyền đắm. Néron cười, khoái trá, khen kẻ nịnh thần:
-         Diệu kế! Diệu kế!
Tháng 3 năm 59, Néron đến thành phố Baies, làm lễ thờ thần Minerve. Y viết một bức thư rất tha thiết mời Agrippine. Được thư, tưởng Néron còn chút tình mẫu tử, vui vẻ đến dự lễ. Néron ôm mẹ hôn âu yếm hai bên má, và cười giỡn như hồi còn con nít. Agrippine cũng mừng rỡ với con và ăn bữa cháo bồ câu ngon lành với Hoàng đế.
Xong tiệc, Néron tiễn mẹ ra bờ biển. trời đã tối, đêm nay không có trăng, nhưng muôn triệu ngôi sao lấp lánh trên vòm trời như một cảnh thiên đàng đầy châu ngọc. Trên mặt biển im lặng lao xao những gợn sóng vàng, một chiếc du thuyền rực rỡ các đèn treo như hội hoa đăng, đón chờ Hoàng Thái hậu. Néron vỗ vai mẹ:
-         Chiếc du thuyền con bảo đóng để tặng mẹ đó.
Agrippine vui mừng bước xuống ngự thuyền. Anicétus, vị quan hầu của Néron, người đã tự tay đóng chiếc thuyền đẹp lộng lẫy kia, được Néron phái đi theo Hoàng Thái hậu, để tiễn bà về Naples. Nàng cung nữ Acerronia người thân tín của bà đứng hầu bên cạnh.
Chiếc du thuyền nhẹ nhàng lướt sóng bơi ra giữa biển. Agrippine vui vẻ chuyện trò cùng Anicétus và khen ngợi Néron:
-         Hoàng đế đã biết ăn năn và đã hết lòng tôn thờ ta, ta bằng lòng lắm.
Bà vừa dứt lời thì mái thuyền lợp bằng chì bỗng rớt xuống với một tiếng “ầm”! ghê rợn, đè chết một sĩ quan. Đèn bỗng tắt hết, trong thuyền tối mù mịt, Agrippine bị một cây gậy đập vào đầu, bà vừa kêu lên một tiếng thì chiếc thuyền tự dưng bể ra làm hai, ai nấy đều rơi chìm xuống biển. Anicétus đã đề phòng trước, chụp tấm ván thuyền bơi thoát vào bờ. Y tưởng Agrippine chết chìm dưới biển rồi, nào dè bà đã bơi được, mặc dù bị nhiều vết thương trên đầu và trên vai. Bà gặp một chiếc ghe chài, nhờ người cứu vớt, đưa bà về đến Naples.
 
ĐÂM GƯƠM VÀO BỤNG TA ĐÂY NÀY
Được tin Agrippine thoát nạn, Néron vừa tức giận vừa lo sợ. Thế nào Hoàng Thái hậu lại không trả thù? Chỉ sợ bà thừa cơ hội này xúi giục quân đội nổi loạn.
Néron đang tức tối, uống luôn một hơi mười cúp rượu vang, đi qua đi lại trong cung, lo nghĩ mưu kế. Bỗng dưng một vị quan hầu Agrippine sai đến báo tin cho Néron biết bà vẫn khỏe mạnh. Néron liền ném một lưỡi gươm vào chân người ấy, và kêu lên:
-         Agrippine sai người đến giết ta!
Quân lính ùa ra trói tay chân người quan hầu và đem ra chém đầu giữa phố. Sẵn cơ hội, Néron sai Anicétus cầm đầu một đoàn quân kỵ mã phóng nước rút đến Naples, xô cửa vào lâu đài của Agrippine, bắt trói những người ở đấy, và ập vào phòng của Hoàng Thái Hậu. Agrippine đang nằm, không hoảng sợ. Một tên cầm khúc gỗ đập vào đầu bà, một tên lính khác rút lưỡi gươm ra toan đâm bà. Agrippine bình tĩnh chỉ một ngón tay vào bụng bà và bảo tên lính:
-         Mi hãy đâm lưỡi gươm vào đây!
Người lính đâm một lưỡi gươm vào bụng Agrippine, bà chết liền (ngày 20 tháng 3 năm 59, sau J.C.)
Đêm ấy, lính của Néron đốt xác Agrippine và quăng tro ra gió.
*
Có sắc lệnh của Néron cấm xây mả cho Hoàng Thái hậu, cấm lập đền thờ, cấm đúc tượng, cấm nói đến tên…
Vài kẻ tôi tớ trung thành lén lút nhặt được một nắm xương tàn của Agrippine, đào lỗ chôn bên lề đường đi Misène, ngay trước cửa một biệt thự. Chính nơi đây Néron đã từ trong bụng Agrippine lọt ra oe oe ba tiếng khóc chào đời…
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
8. MESSALINE
MỘT VỤ ÁM SÁT
 
Không ai ngờ rằng Claude, một người khờ khờ và nhút nhát, sẽ làm Hoàng đế La mã. Chế độ độc tài khát máu của Tiên đế Caligula đã gây cho dân chúng biết bao nhiêu uất hận căm thù. Nhưng việc dĩ nhiên…
Thiếu trang…
…của nàng . Claude có một cô cháu gái khác tên là Juliebị Caligula đầy đi xa. Vừa lên ngôi, Claude gọi Julie về. Nhưng Messaline không bằng lòng. Biết chồng bà dễ bị phụ nữ quyễn rũ, nhất là các cô cháu gái loại Julie ( Messaline cũng chả phải là một cô cháu gái đấy ư?). Nàng liền bắt đày Julie lần thứ hai đi thật xa, cùng một lượt với nhà triết học Senèque. Ông nay bị bọn nịnh thần đâm thọc và vu khống là chống tân Hoàng đế và Hoàng hậu. Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn,do áp lực của giới trí thức, Senèque được trả tự do và được trở về La mã. Còn Julie thì có đi không có về.
Một cháu gái thứ hai của Hoàng đế Claude, cũng tên là Julie, cũng bị Hoàng hậu Messaline tống cổ đi đến một nơi xa biền biệt, không còn hy vong trở về La mã. Hoàng đế Claude không dám hé môi phàn nàn một tiếng. Claude sợ nhất là những giấc chiêm bao hãi hùng và những điềm dữ. Từ hôn mục kích vụ Caligula bị ám sát, Claude cứ lo sợ chính mình cũng bị ám sát. Ông nằm chiêm bao thường thấy bọn sát nhân bao vây rình rập ông. Ông đâm ra nghi kỵ mọi người và mọi vật xung quanh ông. Trước khi đi ngủ, ông bắt quân lính xem xét kỹ tấm đệm, xem có ai giấu khí giới trong đó không. Bữa ăn nào ông cũng bắt tụi nấu bếp phải nếm trước các món ăn trước mắt ông.
Messaline lợi dụng tính sợ sệt và đa nghi của ông để lũng đoạn tinh thần ông và thực hiện những mưu mô thâm độc của nàng.
Nàng muốn cưỡng bách ông cụ già Appius Silanus ngủ với nàng, nhưng Silanus không chịu, vì ông chính là cha dượng của Hoàng đế Claude, nghĩa là cha chồng của nàng. Là Hoàng hậu, nàng không bằng lòng để ai cưỡng lại lệnh nàng, mặc dầu đó là cha chồng. Cho nên nàng quyết hại Silanus. Không khó gì. Nàng âm mưu với Narcisse, bí thư của Claude. Một đêm khuya, nàng đang ở trong phòng của Laude thì Narcisse gõ cửa phòng xin gặp Hoàng đế, để báo cho Hoàng đế “một tin rát quan trọng”
Cửa mở, Narcisse chạy ngay vào, nói với Claude đang nằm trên giường:
-         Tâu Hoàng đế, tôi vừa nằm chiêm bao thấy Silanus ám sát ngài. Tôi sợ quá, chạy lên đây báo cho Ngài rõ để Ngài đề phòng.
Claude tái mặt, tay chân run lập cập, đồng thời Messaline giả vờ hoảng hốt nhìn Narcisse:
-         Thế nào ? Sao lạ thế nhỉ? Liên tiếp mấy đêm nay ta cũng nằm thấy điềm chiêm bao khủng khiếp đó. Thế là nghĩa làm sao?
Nghe cả hai người cùng lúc báo tin giống hệt nhau, Claude thất thần, liền truyền lệnh cấp tốc:
-         Phải thủ tiêu Silanus nội trong đêm nay!
Thế là Silanus liền bị giết trong đêm đó. Sáng hôm sau, giữa phiên họp của Thượng nghị viện, Claude tuyên bố:
-         Trẫm cảm ơn các thần dân tuyệt đối trung thành với Trẫm, lúc nào cũng lo gìn giữ tính mạng của Trẫm dù là trong lúc họ đang ngủ mê.
 
BAN NGÀY LÀM HOÀNG HẬU , BAN ĐÊM LÀM GÁI ĐIẾM
Nhiều đêm, Messaline cởi y phục Hoàng hậu bỏ lại giường, mặc vào y phục của phụ nữ bình dân rồi lẻn ra khỏi Cung điện. Hoàng hậu đến các nhà chứa gái điếm danh tiếng ở ngoại ô, để ngủ với khách chơi, chơi cho thỏa mãn nhục dục. Mỗi lần nàng “nhảy dù” như thế, nàng lấy tên là Lycisca và đeo nơi ngực một trái tim vàng. Khách làng chơi chỉ biết nàng là một gái điếm hạng sang, giá tiền rất đắt, chứ không biết Lycisca chính là Hoàng hậu! tạm thỏa mãn được phần nào với người khách thứ nhất, lấy tiền xong lại ngủ với người thứ hai, thứ ba cho đến ba bốn giờ sáng mới trở về Cung điện.
Nơi đây nàng phớt tỉnh, đóng lại vai trò rất khéo léo của một người vợ yêu chồng, một vị Hoàng hậu oai nghiêm, và một …bà mẹ hiền trong gia đình.
Con quỷ cái này có hai đứa con rất dễ thương: Britannicus và Octavie. Britannicus được sinh ra hai mươi ngày sau khi cha chàng là Claude lên ngôi Hoàng đế. Một chàng trai rất thông minh, nhưng không được mập mạnh lắm.
Năm 46 sau Thiên Chúa giáng sinh, nhân dịp ngày đại lễ Nhi đồng ở La mã, Britannicus phải tham gia các cuộc chơi đánh giặc của trẻ con, theo tục lệ cổ truyền của La mã, bắt chước cổ tục của Hy lạp. Tất cả con nít từ 5,6 tuổi đến 10,11 tuổi từ con vua đến con thường dân, đều phải tập luyện các môn bắn ná, cưỡi ngựa ra trận, đấu kiếm v.v…Xong các môn biểu diễn, có cuộc thi Kỵ binh trước khi bế mạc Đại hội Nhi đồng.
Cuộc thi Kỵ binh thường chia thành hai đại đội kỵ mã từ 5 đến 10 tuổi. Đội thứ nhất được giao cho Britannicus làm chỉ huy trưởng. Chỉ huy đội thứ nhì là Néron, 9 tuổi, con trai của Agrippine.
Bà Agrippine này là tình địch ghe gớm nhất của Hoàng hậu.
Ở Triều đình La mã ai cũng biết rằng Agrippine, một cô cháu gái có tham vọng nhất của Hoàng đế Claude, gọi Claude là bác ruột, vẫn thường hăm dọa rằng nàng sẽ cướp chồng và cướp cả ngôi Hoàng hậu của Messaline. Khôn khéo và nhẫn nại, Agrippine chờ hoàn cảnh thuận lợi để thực hiện tham vọng của mình. Agrippine không phải hạng gái yếu hèn như cô cháu gái Julie của Claude mà đã bị Messaline ghen đày đi xa khỏi La mã. Messaline thù Agrippine lắm, nhưng không dám làm gì chống lại nàng hoặc làm hại nàng, vì Agrippine có cả một đám quý phái có thế lực trong Triều đình làm hậu thuẫn.
Néron là đứa con của Agrippine với người chồng trước Domitius. Ngay từ thiếu thời, Néron đã là đứa con nít xấu xí, hung dữ nhưng khỏe mạnh phi thường. Lớn hơn Britannicus 4 tuổi, con trai của Agrippine mạnh bằng hai con trai của Messaline. Trong cuộc Đại hội Nhi đồng, ngoài sự tranh tài tranh sức của hai cậu bé được giao quyền chỉ huy hai đoàn kỵ mã thiếu nhi, còn có sự cạnh tranh ảnh hưởng và uy tín của hai người mẹ thù địch. Sự cạnh tranh này mới thất là ghê gớm.
Người ta đồn rằng trước ngày thi đua hai đoàn ngựa, Messaline đã thuê người lẻn vào phòng ngủ của Néron, định bóp cổ chú bé cho chết quách, nhưng có một con rồng che chở cho Néron khỏi chết và xua đuổi bọn sat nhân đi. Sách sử La mã thuật chuyện này và phê bình rằng có lẽ chỉ là một lối tuyên truyền của Agrippine để đập mạnh vào óc tưởng tượng của dân chúng: một bên là âm mưu tội ác của Messaline, một bên là đứa trẻ có thần linh che chở.
Rốt cuộc, Néron thắng vẻ vang. Chiếc xe song mã do Néron cầm cương ngựa đã chạy trước quá xa chiếc xe của Britannicus. Sự thắng lợi của Néron chính là sự thắng lợi của Agrippine.
 
MỘT CON QUỶ CÁI TRONG LỊCH SỬ LA MÃ.
Hai nhà sử học Juvénal và Tacite có thuật lại Messaline mê chú kép hát Mnester.
Menester nổi tiếng về các trò hề làm cho khan giả cười và được dân chúng La mã thích lắm. Messaline muốn tình tự với chàng, và chỉ muốn lấy chàng làm của riêng, không cho ai giành giựt. Nhưng anh hề không dám vì làm tình nhân của bà Hoàng hậu, lỡ Hoàng đế biết thì cứ cầm chắc là mất đầu, chứ không còn là chuyện khôi hài nữa. Nhưng Messaline quyết lấy cho bằng được chàng hề Mnester. Để cho hắn ta khỏi còn lo sợ hậu họa, Messaline bảo với Claude:
-         Hoàng thượng hãy triệu kép hát Mnester vào Cung cho em hỏi chuyện.
Claude cười hỏi:
-         Bộ Hoàng hậu mê nó rồi hả?
-         Em đâu đã nói chuyện với hắn lần nào mà mê hắn? em muốn xem tại sao dân chúng La mã mê hắn. Hoàng thượng truyền lệnh cho hắn vào Cung
-         Gấp là ngày nào, và mấy giờ mới được chứ?
-         Nội ngày hôm nay
-         Được rồi
-         Nhưng Mnester sợ Hoàng thượng chém đầu nó. Vậy em muốn rằng Hoàng thượng gọi nó vào chầu rồi chính Hoàng thượng truyền lịnh cho nó vào Cung Hoàng hậu ngay.
Claude làm theo đúng ý muốn của Messaline. Mnester vào Cung do lệnh của Hoàng đế. Từ hôm đó, ngày nào , đêm nào Mnester cũng được vào Cung của Hoàng hậu. Messaline mê chú tình nhân kép hát đến nỗi nagf truyền lịnh phải dựng một pho tượng của chú hề nổi danh, nơi ngã tư thành phố.
Hề Mnester có một cô tình nhân thực thụ, tên là Sabina cũng nổi tiếng trong đám ăn chơi. Muốn làm hại cô này và cũng muốn nhân dịp này cưỡng đoạt luôn một gia tài đồ sộ của một người bạn thân và trung thành nhất của Claude, tên là Valerius Asiaticus. Messaline bày ra một việc hoàn toàn vu khống.
Nàng đặt chuyện nói với Claude rằng Sabina đã có chồng là Cornélius Scipion mà còn ngoại tình với Asiaticus. Vì vậy cả hai người đều phải ra tòa về tội ngoại tình và đồng lõa.
Trước vành móng ngựa, Asiaticus chỉ thở ra một câu:
-         Thà chết vì chính trị của Tibère,hay vì những cơn thịnh nộ của Caius César, còn vinh dự hơn là chết vì những thủ đoạn vu khống của một người đàn bà.
Nói xong, Asiaticus bạn thân nhất và trung thành nhất của Hoàng đế Claude lấy dao cắt gân chết rất can đảm, trước mặt quan tòa.
Còn Sabina thì uất ức quá, vào trong bồn tắm của nàng mà tự vận. Thế là Messaline thanh toán được Sabina để giữ lấy chú hề Mnester làm của riêng. Gia sản kếch sù của Asiaticus cũng bị Messaline tiếm đoạt, trong số đó có cái vườn của Lucullus là tuyệt đẹp và đắt tiền hơn cả.
Messaline chuyên quyền đến tích cực, không một ai dám khuyên răn, cản trở, chống đối. Hầu hết những quan lại cao cấp, công chức, tướng tá hoặc sĩ quan hầu cận được ra vô tự do trong Triều ddnhf của Haongf đế Claude, mà có thân hình mập mạnh, dẻo dai, gân guốc, rủi ro bị Hoàng hậu ghé cặp mắt xanh tới , cặp mắt rờn rợn như mắt mèo đều lo sợ sẽ bị làm “công tác” cho Hoàng hậu để Hoàng hậu được thỏa mãn xác thịt.
Nhưng Hoàng hậu lúc nào cũng ngứa ngáy them thuồng, chẳng bao giờ được thỏa mãn cả. Sử sách chép rằng có nhiều người đàn ông tuy đẹp trai, khỏe khoắn, nhưng không đủ sức cung phụng Hoàng hậu, liền bị Haongf hậu tức giận cho uống thuốc độc chết tốt sau khi ôm ấp lăn lộn trên nệm hơi. Trong số nạn nhân “ bất lực” bị Messaline cho về chầu Diêm chúa một cách bí mât tàn nhẫn và mau lẹ , có cả hai ông Thượng nghị viện có tên tuổi nơi nghị trường: Justus Catonius và Vinius.
Thế rồi năm 47, hai tướng lãnh âm mưu nổi loạn, Scriboniacus và Viniciacus. Có một đạo quân hung hổ dưới quyền chỉ huy của nhị vị Tướng quân. Họ định ám sát Claude , rồi sẽ thanh toán luôn Messaline. Nhưng cuối cùng một số quân sĩ không tuân lệnh đó, việc âm mưu bị đổ bể, hai ông tướng phải tự tử.
Từ vụ đảo chính hụt đó, Messaline càng thi hành chính sách độc tài cực kỳ tàn bạo. Nàng khủng bố cả đám quan liêu quý phái ở Triều đình, đàn áp thẳng tay, khiến cho những kẻ nào còn muốn sống đều phải cụp xương sống trước mặt Messaline.
Tuổi càng lớn, dâm dục của nàng càng khó thỏa mãn, nàng bày đặt ra những hình phạt khủng khiếp không khác gì cá cảnh hoang đường dưới địa ngục, để cho nàng chứng kiến: quăng nạn nhân trong đống lửa đang cháy phừng phực, bắt trói chân tay của nạn nhân vào một cây trụ để cho bọn nô lệ thay nhau đánh đập toàn thân bằng đủ thứ roi: roi cá đuối, roi da thú, roi dây cói… Tội gì? Tội chống lại mệnh lệnh của Hoàng Hậu.
Cá nhà lao La mã đều vang dội đêm ngày những tiếng kêu la rên siết không thể nào tả được.
Polype, một tình nhân trung thành nhất của Messaline khuyên can nàng, liền bị nàng sai người ám sát ngay sau khi nằm với nàng trên giường, vừa bước xuống đất, ra ngoài.
Trong lịch sử nhân loại, những người đàn bà khao khát về tình dục, dù như Võ hậu của Trung quốc, Catherine II của Nga, Lucrèce Borgia của La mã cũng không thể nào so sánh kịp vớ Messaline.
*
Nhưng việc gì rồi cũng có một kết cuộc. Một con quỷ cái như thế cũng phải có ngày đền tội ác ghê tởm của nó. Giờ phút giải phóng của nhân dân La mã đã đến sau bao nhiêu tai họa kế tiếp do kẻ ác phụ gây ra.
Vị cứu tinh xuất hiện, là một chàng trai trẻ rất đẹp tên là Silius. Trông thấy chàng, Hoàng hậu Messaline mê tít ngay. Nàng si Silius đến nỗi sẵn sàng hy sinh tất cả những người đàn ông khác còn được nàng yêu chuộng, như chú hề Mnester. Silius đã có vợ, tên là Julia Silana. Nhưng Messaline hăm dọa , sẽ giết Silana nếu cản trở mệnh lệnh của nàng.
Silana khiếp sợ, đàng câm miệng, rút lui trong bóng tối, Messaline công khai lấy Silius, tặng cho chàng không biết bao nhiêu là vàng bạc châu báu. Ba tháng sau Messaline quyết định làm lễ thành hôn chính thức với chàng.
Trước hết, nàng tự tôn lên tước vị Augusta, Hoàng hậu Tối cao của La mã, nắm trọn quyền trị quốc. Nhưng dù sao, Hoàng đế Claude hãy còn tại vị, nàng phải đợi ngày Claude đi kinh lý miền Ostie để chủ tọa một Đại lễ Thần linh ở đấy.
Đây phải nói đến một sự ngu ngốc không thể tưởng tượng được của Claude, Hoàng đế chính thức của La mã. Việc hôn nhân giữa Messaline và Silius không phải lén lút gì. Trái lại, Messaline có cho chồng biết đàng hoàng và ông chồng Hoàng đế ấy cũng đã bóp bụng mà tán thành. Tại sao lạ vậy? Tại vì một mưu ma chước quỷ của Messaline. Biết tính Claude rất lo sợ bị ám sát, bị tai nạn, và rất mê tín dị đoan những điềm chiêm bao kinh hãi, những lời phù thủy, Hoàng hậu Messaline hăm dọa Claude:
-         Em chiêm bao thấy cả thành phố La mã nổi dậy giết Hoàng đế…sợ quá, em vội vàng đi tìm thầy phù thủy và các chiêm tinh gia danh tiếng. Tất cả đều bảo em phải làm một giấy giá thú giả mạo với chàng Silius, em phải giả vờ nhận hắn làm chồng em. Hoàng đế phải tự tay ký tên chấp nhận cuộc hôn nhân đó, và đóng ấn vào giấy giá thú giả mạo đó, thì Hoàng đế mới khỏi bị ám sát và tránh được các điềm hung dữ trong chiêm bao. Hoàng đế cứ yên lòng chỉ là giấy hôn thú giả mạo thôi, em bắt buộc phải làm như thế ,mong Hoàng đế vui lòng chấp thuận. Chỉ vì tính mênh của Hoàng đế đang bị lâm nguy, đang bị quỷ sứ có sừng ở Âm phủ theo phá. Nếu Hoàng đế bằng lòng như em sắp đặt thì bọn quỷ sứ tưởng Silius là Hoàng đế chồng của em, và chúng sẽ giết chết Silius , chớ không giết Hoàng đế.Đó là mưu mô bí mật giữa Hoàng đế với em để đánh lừa lũ quỷ Lcifer và Sa tăng. Có thế tính mạng của Hoàng đế mới được chu toàn.
-         Còn thằng Silius thì sao? Claude ngẩn ngơ hỏi.
-         Em phải phỉnh nó ký tên vào giấy giá thú với em, nó đã chịu rồi. Em giấu kín, không cho nó biết vụ chiêm bao của em, và vụ quỷ sứ Lucifer sẽ giết hại nó.Em phải mưu mô dung Silius làm con vật hy sinh để cứu tính mệnh của Hoàng đế. Ngài có hiểu em không? Có yêu em không?
-         Ừ, Hoàng hậu muốn sao cũng được.
Thế là Claude nghe lời Messaline, liền hạ bút xuống ký tên vào giấy giá thú và đóng kèm ấn đỏ một bên, chấp nhận cuộc hôn nhân “chính thức” giữa Hoàng hậu Messaline ,vợ ông, và chàng Silius, một thanh niên đẹp trai của La mã.
Ký xong giấy, Claude yên lòng đi Ostie, không còn sợ quỷ sứ xúi dân chúng ám sát nữa! Lịch sử thế giới từ xưa đến nay thật không có ông vua nào ngu ngốc đến thế.
Vắng Claude, Messaline liền tổ chức lễ cưới vô cùng long trọng với Silius ngay trong Cung điện Hoàng đế. Cùng những công bộc trung thành với nàng, những kẻ hầu hạ, tôi tớ, những bọn nịnh thần vì thấy Claude đần độn quá, chắc không ở ngôi được lâu nên họ bám vào Messaline. Nàng mở yến tiệc linh đình, thết đãi Triều thần có hang nghìn người tham dự, chúc mừng, y như đám cưới thật của Hoàng hậu. Thôi thì ăn uống say sưa, tưng bừng hoan lạc, đàn ca nhẩy múa nhộn cả kinh đô. Nàng còn có ý định sẽ tôn Silius lên ngôi Hoàng đế, sau khi tìm cách thủ tiêu Claude.
Nhưng một nhóm người trung thành với Claude quyết định đi gặp Vua, nói cho biết rõ hết câu chuyện để Vua nghe và bàn việc ám hại Messaline. Ba người hăng hái đi tìm Hoàng đế là Narcisse, Caltitus, và Pallas. Nói chiyeenj đám cưới cho vua nghe, Vua bảo:
-         Chuyện Hoàng hậu làm, Trẫm đã biết rồi, Trẫm đã bằng lòng ký giấy chấp nhận cuộc hôn nhân, vì đó là giấy giả mạo để đánh lừa bọn quỷ Satan muốn ám hại Trẫm đó thôi.
Nghe Hoàng đế nói, ba nhà mưu sĩ bật ngửa ra. Caltistus và Pallas thấy việc âm mưu bại lộ, liền rút lui, để khỏi bị Messaline lấy đầu. Nhưng Narcisse quyết hành động một mình.
 Theo đúng kế hoạch đã định, ông có thuê hai con điếm và dắt theo với ông, Calpurnie và Cléopatre. Hai ả chạy đến níu áo Hoàng đế, la hét ầm ĩ bảo Hoàng đế đã làm hai ả có thai. Claude tái mặt, chưa hiểu chuyện chi nhưng đã run cầm cập. Ông chỉ sợ các quan và dân chúng đòi truất ngôi vì hành động bỉ ổi kia, dù là chuyện hoàn toàn vu khống.
Nhưng Narcisse giả vờ can thiệp. Ông đánh hai co điếm nói láo và tâu cho Hoàng đế biết tất cả mưu mẹo của Hoàng hậu, và chính hai con điếm này cũng là mưu của Hoàng hậu muốn làm nhục Hoàng đế, để Hoàng đế bị truất ngôi, Hoàng hậu sẽ lên kế vị và sẽ tôn Silius lên ngai vàng.
Claude tức giận quá, nghe lời Narcisse quyết đem quân sĩ trở về La mã gấp rút để trừng phạt Messaline và bè lũ nịnh thần đồng lõa với nàng.
Trong khi đó, ở Kinh đô, Messaline đang say sưa yến tiệc với người yêu…Bỗng tin Claude hồi kinh. Ai nấy sợ hãi vội vàng chạy toán loạn hết. Nhưng đám lính hộ vệ của Hoàng đế phi ngựa về trước đã ùa vào thành, chặn bắt tất cả những người dự tiệc.
Silius bị tử hình tức khắc. Những ai từ trước đến giờ đã liên lạc với Messaline, có cảm tình với Messaline đều bị giết hết. Traulus Montanus, một cậu thanh niên đẹp trai, bị Messaline bắt đem vào ngủ một đêm, bây giờ có người khai ra , cũng bị chém đầu.
Sau khi chứng kiến cuộc đền nợ máu của hang trăm người trong giây phút, Claude vào trong phòng tiệc ăn uống ngon lành, phớt tỉnh. Narcisse hỏi:
-         Tâu Hoàng thượng, còn Messaline thì sao?
-         Để mai hãy hay.
Narcisse biết tính sợ vợ ngu ngốc của Hoàng đế. Nếu để đêm nay Messaline năn nỉ ỉ ôi với chồng, thì thế nào Claude cũng nghe lời nàng và chắc chắn sáng mai Narcisse sẽ mất đầu. Biết trước như vậy, ông làm thinh bỏ ra ngoài. Gặp một chú lính hộ vệ trung thành của Vua, ông bảo:
-         Tụi mày vào phòng của Messaline, giết nó ngay bây giờ. Không được trễ môt phút! Lịnh của Hoàng đế!
Messaline đã trốn ra vườn của Lucullus, nằm lăn xuống đất. Mẹ nàng Lepida, ngồi cạnh khuyên nàng nên tự tử. Bốn người lính hộ vệ đang đi kiếm nàng , chưa kịp đâm thì nàng đã lấy dao găm tự thọc vào cổ họng. Máu phọt ra đỏ lòm.
Claude đang ngồi ăn. Lính chạy vào báo tin:
-         Tâu Hoàng đế, Messaline đã tắt thở!
Claude không nói một câu. Phớt tỉnh ngồi ăn , no nê xong, ông bảo viên quan hầu:
-         Cho Trẫm một ly nước uống.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.11.2017 19:53:27 bởi Ct.Ly>
IV - Hoàng hậu THÉODORA

 
 MỘT GIẤC CHIÊM BAO

ĐẾN thành phố Alexandrie, cô gái điếm Théodora vào thành do cửa Nguyệt Môn (Porte de la Lune) tên gọi như thế vì phía trên cửa có chạm hình một cô Hằng Nga Hy Lạp mà sắc đẹp gần lõa lồ làm khoái mắt biết bao du khách từ các phương xa đến.
Lần đầu tiên bước gót phiêu lưu đến đô thị xa hoa rực rỡ của Ai Cập, Théodora không khỏi hồi hộp rung động. Nở một nụ cười thỏa thích mênh mông, nàng đứng ngắm một đại lộ rộng lớn, lát đá bằng phẳng, sạch sẽ, chạy thẳng băng trước mặt nàng, đến một nơi mịt mùng vô tận. Hai bên đại lộ, đứng sừng sững hai dãy cột tròn bằng đá cẩm thạch kế tiếp nhau xa tít tận đâu đâu. Người ta qua lại rộn rịp. Théodora đủng đỉnh bước tới một công viên rộns lớn đông nghịt dân chúng, toàn những khách thừa lương nhàn rỗi đi ngao du.
Đây là dân chúng Alexandrie, lẫn lộn Thiên chúa  giáo, Do thái, Thần giáo Hy Lạp, La Mã... nổi tiếng  là dân phong lưu, giàu sang nhất thời bấy giờ của  đế quốc Byzantin, và cũng là dân trác táng nhất. Gái  làng chơi ở đây toàn là gái tuyệt đẹp, và đắt tiền
hơn ở các đô thị khác. Họ trang điểm toàn là vàng  ngọc châu báu, phục sức cực kỳ lộng lẫy. Chính  vì thế mà Théodora, tuy đẹp không kém ai, nhưng áo  quần không xa hoa, nữ trang không rực rỡ, tự thấy  mình như một cô gái quê lạc loài giữa phồn hoa đô nội.
Nàng ở Alexandrie chỉ mấy ngày, không được ai để ý đến, buồn tình nàng bỏ đi đến Antioche, một thành phố Thổ nhỉ Kỳ cũng nổi tiếng là một đại đô thị có rất nhiều thắng cảnh. Lần này nàng đi thuyền trong Địa trung Hải, suốt một tháng trời bán than nuôi miệng. Nằm trên thuyền, bềnh bồng trên mặt song, Théodora nhớ chuyện nàng Marie Ai Cập (Marie L’Egyptienne), trước nàng đâu chừng 50 năm ở Alexandrie, cũng sống bằng nghề “ăn sương” như nàng, và cũng như nàng đi thuyền đến Palestine để tiếp tục hành nghề. Nhưng khi đến trước cửa nhà thờ Saint Sépulere ở Jerusalem, bỗng Marie - Ai Cập thấy hiện ra Đức Mẹ khuyên nàng đi tu. Nàng nghe theo tiếng gọi mầu nhiệm, liền bỏ nghề mãi dâm vào sa mạc sống cuộc đời khổ hạnh suốt 17 năm... Nàng chết năm 42 [1] được thành Thánh, tức là nữ thánh Marie L’Egyptienne mà hiện giờ Giáo hội Thiên chúa hãy còn thờ
 
Có những phút chán nản Théodora cũng muốn bắt chước Marie-Ai cập, nhưng nàng chưa thấy hiện hình ảnh nhiệm mầu của Đức Mẹ.
Trái lại, lúc qua thành phố Damas, nàng bị kẻ trộm lấy mất chút ít tiền bạc và nữ trang mà nàng đã dành dụm được bấy lâu. Theo sử gia Procope, thì kẻ trộm không ai khác hơn là một khách làng chơi. Sau khi thỏa tình mây mưa, chờ nàng ngủ say, hắn liền lấy hết nữ trang và tiền bạc của nàng rồi chuồn mất. Sáng ngủ dậy sửa soạn đi Antioche, nàng mới thấy bị con người dã man, tàn nhẫn, vô nhân đạo, lột sạch hết của nàng không còn để một xu dính túi.
Đi bộ đến Antioche, đêm đầu tiên nàng xin ngủ nhờ trên một chiếc chõng mục nát, xiêu vẹo, ngoài xó hè một quán cơm. Chán nản, Théodora cầu nguyện Đức Mẹ Maria, mong được Ngài hiện ra bảo nàng đi tu trong sa mạc, như Marie - Ai Cập. Nhưng lúc ngủ.., nàng thấy chiêm bao một tiếng huyền bí khuyên nàng đừng tuyệt vọng và bảo nàng : “Con cứ tiếp tục hành trình và trở về Constantinople, nơi đây con sẽ ngủ với Hoàng đế, và con sẽ được lên ngôi Hoàng hậu. Con sẽ được hưởng giầu sang bậc nhất trên đời”.
Théodora ngủ dậy, còn nhớ rõ giấc ban đêm. Nàng không tin lắm. Bụng đói, nàng đi lang thang trong thành phố Antioche, vừa nghĩ rằng tiền đâu để trở về Constantinople  theo lời tiên tri trong mộng ?
Từ Antiochc đến thủ đô của đế quốc Byzantin, con đường dài thăm thẳm, còn xa lắc xa lơ... Ngẫu nhiên nàng gặp một người bạn gái cũ. Vũ nữ Macédonie lúc bấy giờ hành nghề tại vũ đài Antioche. Théodora kể lại quãng đời phiêu lưu của nàng cho bạn nghe và không quên thuật lại đầu đuôi giấc chiêm bao đêm qua. Macédonie bảo :
- Em biết nghề quỷ thật nữa chị ơi. Em có cả bùa yêu linh nghiệm lắm. Nếu chị muốn, em cho chị một lọ nước hoa với bùa yêu trong đó. Chị xức nước bùa này trên tóc thì đàn ông sẽ mê tít chị cơ ! Chị nên biết rằng loại bùa ái tình này linh nghiệm lâu bền có khi suốt đời, chứ không phải chỉ một tháng, một ngày đâu. Em nói thật đấy.
Nói xong cô vũ nữ Macédonie, người Hy Lạp, lấy trong túi ra một lọ nước thơm ngát, trao cho Théodora và cười bảo :
- Em chúc chị gặp nhiều may mắn nhé !
Théodora cảm ơn bạn, và cất kỹ lọ nước hoa để đến Constantinople hãy đem ra dùng. Bây giờ nàng phải ở lại Antioche để “làm tiền” một thời gian tạm sống qua ngày và để dành tiền đi Constantinople. Nàng tiếp tục nghề bán dâm vài tháng ở Antioche. Được mớ tiền kha khá, nàng thượng lộ về thủ đô Đế quốc Byzantin.
Théodora đến Constantinople ngay lúc tại đây vừa xảy ra một biến cố trầm trọng do sự thay đổi chính sách tôn giáo của triều đình đế quốc. Chung quanh việc Đức Mẹ Maria Đồng trinh sinh ra chúa Jésus tại thủ đô Constantinople có chia ra hai phe chủ trương hai thuyết chống đối lẫn nhau :
- Phe Chính thống (Orthodoxe) theo đúng Thánh Kinh, cho rằng Jésus Christ vừa là Chúa vừa là Người (à la fois Dieu et Homme). Chúa là do Đấng Chúa Cha mà có. Người, là do Đức Mẹ Maria mà có.
- Phe Tà thuyết (Hérésie monophysite) lại cãi rằng Jésus Christ là Chúa chứ không là người, là Chúa độc nhất, không phân chia ra thành người được (Dieu un et indivisible). Đức Mẹ Maria có thai Đức Jésus không phải thông lệ của người phàm trần, mà là theo phép mầu nhiệm của Chúa.
Hai phe này vẫn chống nhau kịch liệt từ lâu, mà ngay Đức Giáo Hoàng ở La Mã cũng bất lực, không thể nào dàn xếp cho đôi bên ổn thỏa. Hoàng đế Anastase của đế quốc Byzantin lại là người của phe Tà thuyết, luôn luôn ủng hộ phe này. Khi Théodora vừa chân ướt chân ráo đến Constantinople thì Hoàng đế Anastase băng hà, và trong Hoàng cung có một cuộc đảo chính. Đa số các quan Triều thần thuộc phe Chính thống bắt giam Hypatios là cháu đích tôn của Hoàng đế, và đã được Hoàng đế phong làm Thái tử để nối ngôi Vua. Hypatios cũng là người của phe Tà thuyết. Phe Chính thống mạnh hơn, bỏ di chúc của Hoàng đế không cho Thái tử Hypatios kế vị và bắt giam hết những người của phe Vua, để tôn lên ngôi một người của phe Chính thống được họ tín nhiệm, là JUSTIN. Ông này là Chỉ huy trưởng Ngự lâm quân, một sĩ quan già lụ khụ, trên 70 tuổi, dốt nát, không biết đọc, biết viết, nhưng có người cháu tên là JUSTINIEN, có học chút ít, và là một nhân vật có uy tín nhất của phe Chính thống.
Chính Justinien đã khôn khéo vận động với các đồng đảng để tôn Justin là chú của y lên ngôi Hoàng đế, và y làm cố vấn chính trị và tôn giáo. Cuộc đảo chính xy ra năm 518, lúc bấy giờ Justinien đã 36 tuổi.
Justin chỉ làm vua bù nhìn, Justinien mới là nhân vật đáng kể.
Theo các hình tượng còn để lại, và theo mấy câu vắn tắt của Procope tả hình dung của y thì Justinien là một người tầm thước, hơi mập, mặt tròn và núc ních, có để một làn râu mép lưa thưa. Toàn thể gương mặt không sáng sủa mấy, trông ngớ ngẩn là khác, nhưng thủ đoạn một tay. Trước kia, y là một kẻ tiểu tốt vô danh sống vất vưởng ở thôn quê. Còn chú của y, Justin, một tên võ học, bỏ nhà ra thủ đô kiếm việc làm trong Ngự lâm quân, được lên chức Chỉ huy trưởng hồi nào, gia đình cũng không ai hay biết, và cũng lâu lắm ông không có tin tức liên lạc vì với họ hàng cả. Thế rồi đột nhiên ông nhắn người về làng gọi Justinien ra thủ đô để làm thư ký cho ông. Justinien đem cả vợ con theo. Nhờ ở địa vị thư ký của viên Quan Ba Chỉ huy trưởng Ngự lâm quân hầu cạnh hoàng đế, Justinien giao thiệp với các quan Triều thần thuộc phe Chính thống, hăng hái tuyên truyền cho phe này, và xã giao khôn khéo dần dần gây được cảm tình và uy tín trong phe đảng.
Năm 518, khi Hoàng đế Anastasc băng hà, Justinien nuôi tham vọng làm vua, bèn cầm đầu phong trào diệt trừ phe Tà thuyết, và vận động cho người chú 70 tuổi ở Ngự lâm quân lên kế vị. Y biết rằng chú y gần chết và y sẽ nối ngôi Hoàng đế.
Bây giờ y đã là nhân vật số một của đế quốc, một vị Đại Trượng phu, một Tể tướng và là …người yêu chính thức của Théodora!
Justinien quen biết Théodora hồi nào, trong trường hợp nào ?
Không ai biết. Sử sách không nói đến. Ngay nhà viết sử Procope, theo dõi đời sống lãng mạn của cô gái làng chơi này từ thuở nàng mới có 10 tuổi, cũng không biết rõ. Còn bé, Théodora đã “phải lòng” mấy thằng cắt cỏ ngựa ở Trường Đua, và đã hiến thân cho chúng ở dưới gầm cầu Constantinople. Nhưng Procope không biết cuộc ái ân của nàng với vị Đại thần Justinien xẩy ra hồi nào Procope chỉ ghi một câu ngắn ngủi trong quyển Hồi ký của ông : “Khi nàng trở về thủ đô, Justinien gặp nàng và yêu nàng say mê”.
 
 
 CÔ GÁI ĐIẾM VÔ DANH BƯỚC LÊN NGÔI HOÀNG HẬU.
 
Nhà viết sử Procope không nói rõ trong trường hợp nào vị Trượng phu trẻ tuổi Justinien đã gặp Théodora lúc nàng vừa chân ướt chân ráo đến thủ đô Constantinople. Điều ấy khiến người hậu thế rất ngạc nhiên, vì Procope đã theo dõi những cuộc phiêu lưu của Théodora từ lúc thiếu thời, không sót một chuyện gì trong đời sống của nàng mà ông không thuật lại rõ ràng những chi tiết.
Các sách viết dưới thời Hoàng đế Justinien, thế kỷ VI, cũng không đá động đến chuyện ấy. Mãi thế kỷ thứ XI, mới có một vài nhà văn Hy Lạp chép rằng : “Théodora thuê một ngôi nhà nhỏ ở kế cận Cung điện nhà vua, và ở đây Théodora sống cuộc sống ẩn dật và đạo đức, suốt ngày chỉ đan len bỏ mối cho bạn hàng, làm kế sinh nhai như một cô gái hiền nết na, đứng đắn, nhưng tuy còn trẻ mà nhan sắc tàn tạ vì lúc dĩ vãng ăn chơi quá độ”. Có người cho rằng ngôi nhà này chính là do Justinien thuê cho Théodorn ở để đêm đêm ông có thể tới lui với nàng mà không sợ ai để ý. Sau khi lên ngôi Hoàng hậu, Théodora phá ngôi nhà này để dựng lên một thánh đường thờ Đức Bà Maria để tạ ơn Bà đã “thương nàng và tiếp dẫn nàng đến địa vị Hoàng hậu”.
Nhiều người đồng thời ở Hy Lạp trong giới trí thức và trưởng giả không hiểu tại sao Justinien có thể mê đắm nàng Théodora quá như thế. Có người cho rằng Théodora có “bùa yêu”. Phải chăng chính bùa yêu do cô bạn vũ nữ Macédonie đã cho nàng ở Antioche dạo nọ ? Cũng có thể, như nhiều nhà văn khác ở Hy Lạp và Ai Cập đã nói, Théodora là một cô gái làng chơi quá sành sỏi, nàng có những thủ đoạn quá tinh xảo về nghệ thuật luyến ái khiến cho Justinien đê mê đắm đuối vì nàng và không thể xa nàng được.
Procope đã viết về tình yêu của Justinien đối với nàng: “Théodora là mối tình mê khoái nhất của Justinien. Nàng đòi hỏi ân huệ gì, hoặc món vàng bạc châu báu nào, ông sung sướng lấy cho nàng đầy đủ như nàng mong ước.”
Một thời gian ngắn ngủi, Théodora đã trở nên giàu sang bậc nhất trong đế quốc Byzantin, huy hoàng tráng lệ không ai bì kịp. Nàng chỉ còn thiếu một điều, là thành hôn. Nàng nhỏng nhẻo đòi Justinien chính thức cưới nàng làm vợ. Sợ oai quyền của Ông Trượng phu, triều đình Hoàng đế chấp thuận ngay, nhưng thím của ông, là bà Hoàng hậu già, vợ vua Justin, quyết liệt phản đối. Người em dâu của vua, chính là mẹ ruột của ông, cũng không ưng thuận. Hai người đàn bà này đều cho rằng “Justinien bị bùa mê bã dột của con phù thủy” nên mới say mê nàng quá như vậy. Phải tìm cách ngăn cản “con yêu tinh đó vào Cung điện”.
Mặc dầu Justinien bênh vực người yêu đủ điều ôns cũng không thuyết phục được mẹ và thím của ông. Ông đành chờ cho hai bà này chết để cưới Théodora.
Vả lại, luật phép triều đinh không cho phép một vị đại thần thành hôn với một cô gái điếm, mặc dầu gái điếm ấy đã giải nghệ và đã trở về nếp sống lương thiện Justinien bèn ép buộc chú ông, là Hoàng đế Justin phài ký một sắc lệnh tôn Théodora lên bậc mệnh phụ. Như thế, Théodora không còn là “gái điếm” nữa. Tiếp theo đó, Hoàng đế lại phải ký một sắc lệnh thứ hai cho phép “những cựu vũ nữ, ca nữ, gái điếm đã giải nghệ, được phép đưa đơn lên Hoàng đế để xin phục hồi địa vị phụ nữ lương thiện và được kết hôn với bất cứ người đàn ông nào, kể cả các quan Đại thần trong triều đình; và vẫn được chức Mệnh phụ Phu nhân”.
 
Sắc lệnh được ban bố ra thì ba ngày sau, Justinien cử hành long trọng lễ thành hôn chính thức với Théodora. Và ngay hôm đó, Théodora được vào ở trong Cung điện với tư cách là mệnh phụ, vợ chính thức của vị Đại thần Justinien. Đó là năm 524 (có sách chép là năm 525).
Năm 527. Hoàng đế Justin lại ban ra sắc lệnh như sau đây :
“Để thỏa mãn nguyện vọng của thần dân, Trẫm quyết định giao phó cho cháu của Trẫm là Justinien trọng trách kế vị Ngai vàng của Đế quốc Byzantin”. Rồi ba ngày sau, ngày chúa nhật lễ Phục sinh, 1 tháng 4 năm 527, Justinien làm lễ phong vương tại nhà thờ Sainte Sophie. Lễ đăng quang của Hoàng hậu Théodora thì được cử hành trọng thể tại Chánh điện của Hoàng đế trước mặt bá quan văn võ. Xong, Tân Hoàng hậu được đưa ra bao lơn để giới thiệu với dân chúng và được dân chúng hoan hô theo nghi lễ đã sắp đặt trước. Có điều đáng chú ý là dân chúng cũng như triều đình sợ uy quyền đang mạnh của Justinien nên không ai dám hó hé tỏ một thái độ gì gọi là bất mãn. Prorope bảo: “Trước sự kiện trơ trẽn đó làm nhục cho Đế quốc, ở Nghị viện không có một vị nào đám tỏ vẻ phản đối hay khinh tởm. Trái lại, toàn thể nghị viên đều phải đến quỳ sụp trước mặt Théodora như trước một đấng Nữ thần.” Bên giới tu sĩ cũng thế, không một vị nào của Giáo Hội Thiên Chúa có một vẻ gì tức giận, hoặc kém hòa nhã. Trái lại tất cả những vị Linh mục và Giám mục đều cúi đầu cung kính tôn Théodora làm bậc Despoina. Còn quân đội thì: “Không có một vị Tướng tá nào tự cho là nhục nhã phải phụng sự Théodora như quốc mẫu. Họ sẵn sàng vì nàng mà hy sinh tính mạng nếu cần phải ra chiến địa...”. Dân chúng thì như một bầy nô lệ chìa tay ra van xin nàng che chở !”
 Tóm lại, “tất cả mọi người đều mặc nhiên chấp nhận sự kiện ô nhục kia: tôn một gái điếm lên ngôi Hoàng hậu”.
Bốn tháng sau, Hoàng đế Justin băng hà, Tân Hoàng đế Justinien và Hoàng hậu Théodora được toàn quyền xử dụng các lâu đài cung điện của Đế đô. Nàng bắt đầu phá bỏ hết các cảnh bài trí cũ kỹ của Cựu hoàng, và thay đổi toàn diện nếp sống hằng ngày trong Cung điện. Nàng sửa đổi lại nghi lễ để địa vị Hoàng hậu được nâng cao lên tột bực, bắt toàn thể cung nhân và triều đình phải răm rắp tuân theo mệnh lệnh của nàng. Cung điện của nàng ở được trang hoàng cực kỳ lộng lẫy. Các đoàn công nhân giỏi nhất trong nước: thợ nề, thợ mộc, thợ vôi, thợ vẽ, được gọi về Hoàng cung, làm việc quanh năm suốt tháng không ngớt ngày nào để xây cho nàng một bồn tắm vô cùng mỹ lệ và một phòng trang điểm huy hoàng nhất trong lịch sử Byzance. Procope có ghi lại thời khắc biểu của Théodora :
“...Mỗi buổi sáng, thật sớm, nàng đến bồn tắm và ở đấy thật lâu, nằm ngâm tấm thân ngà ngọc trong nước âm ấm, trong xanh và thơm phức. Xong, nàng tiếp các quan đến bái yết, dùng bữa trưa, rồi ngủ, rồi dùng bữa tối, rồi ngủ. Nàng ngủ ngày ngủ đêm...Các món ăn của nàng thì khỏi phải nói; Hoàng đế Justinien truyền lệnh cho các quan coi bếp phải dâng lên Hoàng hậu tất cả những thức ngon vật lạ, quý nhất ở Âu châu và Á châu. Có những buổi tối, nàng thức để sắp đặt và tính toán việc cai quản của cải của nàng.
Ngoài vô số vàng bạc, châu báu đủ loại, nàng còn có rất nhiều các biệt thự đồ sộ, lộng lẫy, mà nàng cho xây cất ở chung quanh cung điện, và ở khắp nơi trong thành phố, ở cả các đô thị ngoại quốc, ở lục địa Á châu và Ai cập. Nàng giao việc quản đốc các động sản và bất động sản của nàng cho một viên quan trẻ, đẹp trai, triệt để trung thành với nàng, tên Aérobinde.”
Theo Procopc kể lại. thi dư luận trong triều cũng như ngoài dân gian đồn rằng Hoàng hậu si mê Aéobinde nhưng về vấn đề tiền bạc của cải nàng rất phân minh và không lấy tiền cho trai như những đàn bà si tình khác. Chứng cớ là có lần Aérobinde tính sổ, làm mất đâu một món tiền khá lớn, liền bị nàng bắt binh lính trói ké hai tay, đánh đập tàn nhẫn, và chính nàng, chứng kiến cuộc hình phạt dã man ấy. Sau đó, Aérobinde bị thủ tiêu bí mật, không ai thấy tăm tích hắn đâu cả.
Nàng đặt ra một ban mật vụ riêng, dưới quyền điều khiển trực tiếp của nàng. Nhiệm vụ của ban này là đi rảo khắp các phố, nghe ngóng tin tức, dư luận của dân chúng và về tâu lại với nàng tên tuổi những kẻ nói xấu nàng, về bất cứ phương diện gì. Hầu hết những kẻ chống đối nàng đều bị thủ tiêu.
Nàng đặt ra những nghi lễ mới trong triều, và bắt buộc các quan đại thần phải đối xử với nàng cũng như với Hoàng đế. Mỗi buổi sáng, đúng 10 giờ, sau khi nàng tắm nước hoa và trang điểm xong, nàng tiếp các quan Đại thần đến vấn an nàng, nơi phòng khách riêng của nàng. Không một vị quan nào được miễn nghi lễ ấy dù ở chức cao tột bực trong triều. Vì đông quá, các quan phải chầu chực nơi phòng kế cận, có khi hàng giờ mới đến phiên mình được cho vào “bái yết Hoàng hậu”.
Procope chép : “Mỗi ngày, người ta thấy bọn đại thần chen chúc nhau đến “chầu Hoàng hậu” y như một bầy nô lệ, chờ đợi trong một căn phòng chật chội, thiếu ánh sáng và không khí. Tất cả đều phải chen lấn nhau để có chỗ đứng, và thỉnh thoảng phải nhón gót, ngửng cổ cho cao lên để các hoạn quan trông thấy mặt. Nhiều “cụ lớn” phải lo lót tiền cho các viên hoạn quan để được đưa vào bái yết trước các vị khác. Nhiều vị phải chờ đến hai ba ngày mới được Hoàng hậu tiếp, nhưng ngày nào cũng phải có mặt nơi đây. Khi được hoạn quan cho vào, thì vị Triều thần, phải khép nép tiến đến trước mặt nàng đang ngự trên ngai báu, và quỳ sụp xuống, nâng lấy hai bàn chân nõn mà và thơm ngát của nàng mà đưa lên môi hôn một cáck rất cung kính. Tuyệt đối cấm thưa bẩm một lời nào, một tiếng nào, nếu không được nàng truyền lệnh cho phép trước.
 
 PHONG TRÀO TRANH ĐẤU “NIKA”.
Uy quyền của Théodora đã lên đến tột bực. Trong Lịch sử thế giới, chưa có một Triều đình nào mà một mỹ nhân từ một địa vị ty tiện nhất trong xã hội đã bước lên một ngôi tuyệt đỉnh trong thiên hạ, và dựa vào quyền lực ấy để chà đạp bọn đàn ông một cách kiêu căng và hách dịch như thế. Và không có Triều đình nào mà người đàn ông dù quyền cao chức cả cho mấy đi nữa, cũng phải sụp lạy bên chân người đàn bà một cách hèn mạt và khiếp đởm đến như thế.
Nhưng thời đại nào cũng có những kẻ liếm gót giày bọn quyền thế, dù kẻ có quyền thế đó xuất thân là một vũ nữ, một con điếm, và có những thằng đàn ông ngu xuẩn, mù quáng, mê muội, tôn một nhan sắc trụy lạc lên bậc mẫu nghi thiên hạ”,
Tuy nhiên, trong đám quan liêu của Triều đình Byzrntin và trong dân chúng đã có mầm bất mãn nổi dậy chống tân hoàng đế Justinien và hoàng hậu Théodora. Trong Triều hai phe “Áo Xanh” và “Áo Lục”  từ xưa vẫn là thù địch lẫn nhau, bây giờ đoàn kết lại để diệt trừ Justinien và Théodora, trons một cuộc “uống máu ăn thề” mở phong trào tranh đấu chung gọi là “Nika”. Nika tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “ta phải thắng”.
Nhân một buổi đại lễ thể thao tại trường đua ngựa Constantinople do Hoàng đế Justinien chủ tọa, tháng 1 năm 532, một nghị sĩ của phe Áo Lục bỗng đứng lên dõng dạc đả kích chánh sách bất công của nhà vua, và tác phong hỗn xược của Hoàng hậu. Hoàng đế Justinien đứng lên trả lời rất hăng hái, trước muôn nghìn dân chúng đang sôi nổi. Rốt cuộc, vua đuối lý, đứng dậy bỏ ra về. Dân chúng “xuống đường”, và cuộc tranh đấu bắt đầu bằng những cuộc đốt phá, cướp bóc. gây rối loạn khắp thủ đô Constantinople. Viên Đô trưởng đàn áp, bắt mấy tên cầm đầu cuộc phiến loạn, và quyết định đem xử bắn ngay tại Trường Đua. Trong đám đó có cả người của phe Áo Lục và phe Áo Xanh. Hai phe liên minh tuyên bố quyết tâm đoàn kết đánh đổ chế độ Justinien cho đến toàn thắng. Mặt trận “Nika” chống Justinien được thành lập với sự gia nhập của hai phe truyền thống thù địch nhau, tạm thời liên kết nhau. Cuộc khởi loạn lan rộng ra đến các vùng ngoại ô và sự đe dọa mỗi ngày mỗi bành trướng, mối nguy ngập cho số phận nhà vua. Justinien bắt đầu lo sợ...
 
 “TA QUYẾT KHÔNG TỪ BỎ NGÔI HOÀNG HẬU CỦA TA”
Trước tình thế chính trị trầm trọng, Hoàng đế Justinien nhóm họp một phiên Nội các khẩn cấp để tìm biện pháp thích nghi. Nhưng hầu hết các vị đại thần trong Triều-đình đều nhận thấy rằng tình hình đã tuyệt vọng, và đồng thanh khuyên Hoàng để âm thâm bỏ Kinh đô, đem hết vàng bạc châu báu trốn ra ngoại quốc. Nhà vua tán thành giải pháp lưu vong và lập tức truyền lịnh vận chuyển tất cả các kho vàng bạc châu báu trong cung điện xuống mấy chiếc tàu của vua đậu ngoài khơi biển. Nhà vua không dám cho Théodora biết quyết định của Triều đình, và đợi đến phút chót sẽ mời Hoàng-hậu xuống tàu thoát nạn.
Nhưng thấy lính tráng khiên những thùng nặng nề xuống tàu, và các quan cận vệ dọn dẹp đồ đạc quý báu trong Cung điện, bỏ hết vào các thùng lớn để di chuyển xuống bến tàu của vua, Théodora đoán biết có biến cố trầm trọng. Nàng chạy ngay qua tòa Nội các, nơi đây Hoàng đế còn đang thầm thì bàn luận với các người thân tín. Bị nàng hỏi đột ngột, Justinien phải trình bày cho Hoàng hậu rõ tình hình, và kế hoạch đi trốn ra hải ngoại, bỏ kinh đô và ngai vàng cho hai phe “phiến loạn” để mặc cho chúng xâu xé tranh giành nhau.
Théodora tức giận, đập tay xuống bàn, la lớn:
- Không ! Một ngàn lần không ! Ta không tán thành kế hoạch chủ bại, và rút lui hèn nhát như thế! Ta không thoái vị, và quyết bảo vệ ngôi Hoàng hậu của ta! Ta không bao giờ chịu rời gót ngọc ra đường phố mà không được bá tánh cúi đầu sụp lạy, hoan hô vạn tuế.
Kế đó, với một giọng oai nghiêm quyết liệt, khiến các quan triều thần run sợ không dám hó hé, Théodora truyền lịnh khiêng các thùng vàng và châu báu trở vô Cung điện không di chuyển đi đâu cả.
Nàng quyết ở lại, đương đầu với cuộc nổi dậy của dân chúng để bảo vệ Ngai Vàng.
 
 CHIA RẼ LÀ... CHẾT
Trong lúc đó, liên tiếp một tuần lễ, ngày đêm ào ạt dân chúng xuống đường đốt phá, cướp của giết người, gây ra cảnh  hổn loạn khắp cả thủ đô  Constantinople và các vùng lân cận. Hai phe “Áo Xanh” và “Áo Lục”, cầm đầu cuộc nổi dậy. Lúc đầu họ liên kết với nhau, nhưng vẫn ngấm ngầm thù hằn lẫn nhau, bây giờ họ trở lại xô xát lục đục trong nội bộ, gây cảnh chia rẽ vì “xôi thịt”, vì “tự ái vụn” vì  “anh hùng cá nhân”. Quần chúng ngơ ngác, không người chỉ huy, không còn tôn trọng kỷ luật nào nữa. Mạnh nhóm nào nhóm nấy tự động gây ra tình trạng vô chính phủ, vô luật lệ, chia nhau làm chủ thành phố được một vài ngày rồi bị lực lượng cận-vệ quân của  Justinien thẳng tay đàn áp. Không bỏ mất cơ hội, Théodora lợi dụng ngay mối chia rẽ nội bộ của hai phe Áo XanhÁo Lục. Nàng quăng tiền ra mua chuộc bọn Áo Xanh mà nàng có quen với một vài nhân vật quan trọng. Bọn Áo Lục cũng hy vọng được tiền viện trợ của Théodora, lén lút cho người vận động cửa sau, nhưng không được thỏa mãn. Théodora khai thác triệt để mối bất hòa của hai phái, nhưng nàng chỉ mua chuộc phái Áo Xanh và bỏ rơi phái Áo Lục. Nàng biết phe nầy thiếu kinh nghiệm chính trị và không có người lãnh đạo tài giỏi. Đám quần chúng vô tổ chức, vô lý tưởng, vô học thức của họ, dần dần chán nản, không còn tin tưởng vào thế lực của họ nữa.
Đợi tình thế lụn bại đã chín mùi, Théodora mới đánh một đòn bất ngờ để tiêu diệt phong Trào chống đối. Một hôm, chính nàng tổ chức một bọn Mật vụ ngay trong đám đồ đệ Áo Lục mà nàng đã cho tiền, để xách động quần chúng kéo đến biểu tỉnh tại Trường Đua thủ đô, “để đả đảo Justinien và Théodora”, “tiếp tục phong trào tranh đấu”. Quần chúng nhẹ dạ nghe lời bọn này, kéo đến tụ họp trên 30.000 người, chật ních trong khu Trường Đua có bốn bức tường cao. Trong lúc bọn tay sai giả vờ “biểu tình chống đối”, hô hào “đả đảo Théodora” và quần chúng hăng hái hò hét theo, đòi kéo vào đập phá Cung điện, thì hại tóp lính Ngự lâm quân, một do tướng Belisaire chỉ huy ùa vào cổng trước, và một do Mundo (tên Mundo nầy là một người cháu nội của tướng Mông Cổ Attila, phục vụ trong quân đội Byzance) tràn vào cổng sau và đóng ập cửa lại. Hai tốp lính bắt đầu cuộc tàn sát khủng khiếp chưa từng thấy trong Lịch sử Đế quốc, giết tận cùng, không còn sóng sót một mạng!
Mấy tên “lãnh tụ” hô hào sách động quần chúng biểu tình, cũng nhập bọn với Ngự lâm quân để tàn sát đám dân chúng đấu tranh.
Justinien ngồi vững trên ngai Hoàng-đế, nhờ thủ đoạn kiêu căng, tham tàn, vô lương tâm, vô nhân đạo, của nàng cựu vũ nữ Théodora, Hoàng hậu của Đế quốc Byzance !
 
 CUỘC ĐỜI TÀN CỦA THÉODORA.
Sau cuộc đàn áp tiêu diệt phong trào chống đối, Théođora còn ở ngôi Hoàng hậu được 16 năm. Lấy Justinien, nàng không có con. Nhưng bạn đọc còn nhớ trước kia, lúc còn 13, 14 tuổi, nghèo đói, giao du với bọn con trai cắt cỏ ngựa ở Trường Đua nàng đã có hai đứa con hoang thai với chúng, một trai và một gái. Một hôm, viên hoạn quan tâu với nàng rằng có một cậu con trai, tự xưng là con trai đầu lòng của Hoàng hậu, từ Ai-Cập đến, muốn xin vào yết kiến Hoàng hậu. Nàng truyền lệnh cho chàng thanh niên vào. Nhưng từ đó không ai còn thấy cậu ấy đâu cả. Theo dư luận do nhà văn Procope ghi lại, thì Hoàng hậu sợ rằng sự hiện diện của cậu trong Cung điện sẽ gây tiếng không tốt đẹp cho nàng vì gợi lại dĩ vãng một người mẹ quá nhơ nhuốc, nên nàng đã truyền lệnh cho bọn mật vụ bí mật thủ tiêu cậu con trai ấy.
Trái lại, đứa con gái của nàng thì trước kia đã có chồng và có một trai. Năm 547, cậu bé này đã 17 tuổi, lại được Théodora săn đón cưng yêu lắm. Nàng muốn cưới cho hắn đứa con gái độc nhất của Đại tướng Belisaire, tên là Antonina, 16 tuổi. Cô thiếu nữ yêu kiều nầy biết rõ hết dĩ vãng của Théodora và lai lịch không mấy vẻ vang của cậu con trai, cháu ngoại của nàng, nên cô cứ tìm cách từ chối, viện lẽ là cô còn nhỏ tuổi. Sư thật, cô đã quyết định rồi. Hoàng hậu đã 50 tuổi lại bị binh ung thư ở nơi vú, chắc chắn sẽ chết trong một vài tháng nữa. Théođora chết, Nàng sẽ khỏi bị ép buộc lấy thằng cháu ngoại của Hoàng hậu, mà nàng không ưa thích.
Dò biết thầm ý của Antonina, do Mật vụ tình báo Hoàng hậu cho gọi thiếu nữ vào cung để nàng được gần gụi người cháu ngoại của bà. Bà đã bầy mưu chước cho cậu này tìm cách cưỡng dâm Antonina để buộc nàng phải chấp nhận cuộc hôn nhân. Cô gái kiều diễm ngây thơ đã vô ý để chàng trai phá trinh... Sau đó nàng phải thành hôn với hắn, đúng như âm mưu của Hoàng hậu đã sắp đặt trước.
Tháng 5 năm 548, Théodora bị bịnh ung thư nơi vú mỗi lúc mỗi trầm trọng, phá hoại hết cơ thể của nàng. Nàng già sọm, chỉ còn da bọc xương, và chết âm thầm, buồn bã tại Ravenne, một thành phố nhỏ, hẻo lánh, nơi nàng đến để dưỡng bịnh từ tháng Chín năm trước.
Hoàng đế Justinien còn ở ngai vàng cho đến năm 565 mới băng  hà.
Một đứa cháu đích tôn của ông, là Justin, được Théodora gả cho một đứa cháu gái của bà, lên nối ngôi vua, lấy vương hiệu là Hoàng đế Justin II.

 
Chú thích:
[1] LỄ : 2 tháng 4




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.11.2017 23:04:51 bởi Ct.Ly>
5 - LUCRÈCE BORGIA
 
 
 CON CƯNG CỦA MỘT ĐỨC GIÁO HOÀNG

BORGIA là gia đình thế phiệt nhất của nước Ý, ở thế kỷ XV. Uy danh của giòng họ Borgia bắt đầu vang lừng từ khi Alphonse Borgia, Vị Hồng Y Giáo Chủ ở địa phận Valence được tôn lên làm Giáo Hoàng năm 1455, lấy tên là Giáo Hoàng Calixte III (1455-1458). Lịch sử của Lucrèce Borgia dính chặt với lịch sử của gia đình nàng sau khi Đức Giáo Hoàng Calixte III có tham vọng áp dụng chánh sách gia đình trị để thu cả giang sơn Ý đại lợi vào trong tay going họ Borgia.

Đức Giáo hoàng Calixte III đã thu góp được của Giáo dân một kho vàng, bạc của cải mênh mông. Đến khi cháu đích tôn của ngài, là Rodrigue Borgia, được tôn lên ngôi Giáo hoàng năm 1492 lấy tên là Alexandre VI (1492-1503) thì cả nước Ý đều phải phục tùng dòng họ Borgia trong thời gian 11 năm.
 
Chế độ tôn giáo gia đình trị của họ Borgia, Sử sách gọi là chế độ “vô luân lý”, trụy lạc và hỗn độn vô cùng. Đức Giáo Hoàng Alexandre VI có lấy một người đàn bà không có hôn thú tên là Roza de Cattanei, và sinh được bốn người con, ba trai, một gái. Trưởng nam là Juan [1] Borgia được vua xứ Espagne (Y pha nho) ban cho làm Quận công Gandia. Thứ nam là César Borgia được cha cho làm Hồng Y Giáo Chủ. (Năm 1497, César Borgia ám sát người anh cả là Quận công Gandia, Juan Borgia, vì ganh ghét). Người con trai thứ ba là Geoffroy Borgia. Ông này sau lấy một cô gái con riêng của quận công Calabre, và trở thành Hoàng thân Squillace. Người con thứ tư của Giáo Hoàng Alexandre VI, và được ngài cưng nhất, là nàng Lucréce Borgia, sinh năm 1480. Năm 15 tuổi (1493) nàng lấy Jean Sforza, một vị quan liêu ở Pesaro.

 LY DỊ LẦN THỨ NHẤT
Trong Điện La Mã Santa Maria in Porticus ở phía bên kia Escalier de Saint Pierre, trong tòa Thánh Vatican, đang nô đùa vui vẻ hai cô gái diễm tuyệt. Cô nào cũng có mái tóc ánh vàng được nổi tiếng là hai mái tóc đẹp nhất của La Mã, theo quyển Nhật ký của Burchard, thư ký Tòa Thánh.
Năm 1497, cô lớn nhất được 22 tuổi, phương danh Giulia, là tình nhân của Đức Giáo Hoàng Alexandre Borgia Cô bé hơn, 17 tuổi, là Lucrèce Borgia, con gái út của Ngài, và vợ của vị Đại quan Jean Sforza cưới nhau đã 4 năm.
Trong Sử chép rằng (2) ở xã hội La Mã thế kỷ XV, những chuyện yến tiệc say sưa và cuộc sống trụy lạc trong Tòa Thánh Vatican, không hề bị dư luận bình phẩm hay công kích gì cả, vì ở thời đại ấy những chuyện bê bối như thế là thường.
Lucrèce Borgia lấy chồng đã 4 năm, nhưng Jean Sforza không phải thật là chồng. Theo lời người ta đồn đãi thì cặp vợ chồng này chưa hề sống chung với nhau đêm nào. Vả lại Đức Giáo Hoàng Alexandre VI là cha vợ, và Jean Borgia là anh cả của vợ, đều khinh ghét y. Lý do là Jean Sforza không tỏ ra trung thành chút nào với đường lối chính trị của gia đình Borgia. Nhất là người anh vợ, Jean Borgia, cứ ép buộc em mình Lucrèce Borgia, phải ly dị với chồng.
Sforza được làm con rể của Đức Giáo Hoàng và đang được hưởng thụ uy quyền lớn lao, nhất định không chịu ly dị vợ.
Nhưng một hôm Lucrèce Borgia bảo khẽ cho chàng biết sự thật rằng anh cả của nàng đã được lệnh của Đức Giáo Hoàng, thân phụ, phải thủ tiêu chàng nội trong đêm ấy. Sforza sợ quá, vội vàng phi ngựa trở về quê quán của chàng ở Pesara, trên bờ biển Adriatiquc. Chàng giục ngựa chạy quá sức để kịp lánh nạn, đến nỗi vừa đến nhà thì ngựa kiệt sức té xuống chết.
Sforza trốn đi được hai tháng, thì ngày 6.6.1497 Lucrèce Borgia vào ở trong nhà tu kín của các bà Xơ Dominicaines ở San Sisto, trên đường Appienne.
 
Tám ngày sau, ngày 14- 6. Đức Giáo Hoàng Alexandre Borgia tuyên bố hủy bỏ hôn thú của ái nữ Lucrèce Borgia với Sforza, và nhìn nhận Lucrèce Borgia còn trinh tiết nguyên vẹn. Dân chúng La Mã không tin được rằng Lucrècc còn trinh, nhất là từ ngày 14 - 2- 1498. người ta khám phá ra xác chết của một người đàn ông trôi trên sông Tibre. Perotto, mà ai cũng biết là tình nhân của Lucrèce Borgia. Một tháng sau, tháng 3-1498, Lucrèce Borgia sinh một thằng con trai, đặt tên là Jean de Borgia. Con của ai? Sử sách quả quyết rằng không phải con của Sforza, người chồng bị ly dị. Có kẻ thì bảo chính là con của Đức Giáo Hoàng Alexandre Borgia, (cha của nàng). Có kẻ thì bão là con của César Borgia, (anh ruột của nàng). Có kẻ lại bảo là con của tình nhân Pérotto.
Sở dĩ có dư luận trong Sử sách hoang mang như thế, là chính vì Đức Giáo Hoàng Alexandre ban bố hai bản “Bulles”, hai sắc lệnh khai sinh cho hài nhi, khác hẳn nhau, sắc lệnh mở đầu bằng câu sau đây :
“Alexandre, évêque, Serviteur des serviteurs de Dieu, à notre fils bien aimé, noble Jean de Borgia”.
(Giáo Hoàng Alexandre, kẻ Phụng sự của những kẻ Phụng sự Chúa, trao đến con trai yêu dấu của ta, Jean de Borgia quý tộc).
Nhưng trong bulle đầu, thì nói: “Jean de Borgia, là con trai của César Borgia, và mẹ vô danh”. Trong bulle sau, thì lại nói chính là: “con trai của đức Giáo Hoàng”.
Sự lầm lẫn ấy để lại cho Lịch sử một nghi vấn nặng nề và một bản kết tội Lucrècc Borgia là loạn luân. Nhưng có sách bênh vực cho Lucrèce thì quả quyết: “Jean de Borgia là con trai của Lucrèce với tình nhân của nàng là Perotto”. Dư luận thời bấy giờ cho rằng tại chàng Perotto phàm phu này đã dám lén lút trao đổi ái ân với Lucrèce Borgia, nên y bị thủ tiêu, xác vứt xuống sông Tibre.
Dù sao, Đại sứ Cộng hòa Venise ở cạnh Tòa thánh Vatican có viết thư về báo cáo với Chính phủ Cộng hòa như sau: “Vị Giáo hoàng ấy tự cho phép mình làm những việc dị thường và không thể dung thứ được (Ce Pape se permet des choses extraordinaires et intolérables).
 
 NGƯỜI CHỒNG THỨ HAI CỦA LUCRÈCE BORGIA.
Thành thử, Jean de Borgia, con đầu lòng của Lucrèce là đứa con hoang thai mà không ai biết thực rõ ai là cha
Sau đó, Đức Giáo Hoàng Jean VI gả Lucrèce Borgia cho Alphonse d’Aragon, Hoàng thân Tiểu quốcSalerne. Ông Hoàng này, mới 17 tuổi cũng lại là con ngoại tình của vua Alphonse de Naples, và là em trai của Sancia, bà này là vợ của Geoffroy Borgia, anh thứ ba của Lucrèce. Lễ đính hôn của Alphonse và Lucrèce cử hành ngày 20-6-1498, và có điều kỳ lạ, là chàng rể không có mặt hôm lễ, mà lại có Hồng Y Giáo chủ Sforza là chú ruột của người chồng trước của Lucrèce, đại diện cho chàng rể!
Sau lễ đính hôn một tháng, chú rể Alphouse d’Aragon mới đến La mã để biết mặt vị hôn thê. Ồ, nàng đẹp quá! Chàng nhận thấy thế, và chàng hãnh diện sung sướng, ca ngợi vị quốc sắc thiên hương mà bây giờ ngẫu nhiên là người yêu của chàng! Nàng đẹp và phúc hậu, hiền lành, - chàng nhìn thấy thế, - chứ không phải nhí nhảnh lẵng lơ như Sancia, bà chị dâu có đôi mắt như lửa, ngó ai là làm cháy da, cháy thịt người ta!
Lucrèce Borgia, vị hôn thê mới 18 xuân xanh, lần đầu tiên gặp người chồng chưa cưới của nàng, cũng say mê chàng rồi. Nàng bảo : “Chàng là người con trai đẹp nhất của La mã!”
Cuộc gặp gỡ đầu tiên quả là một tiếng sét ái tình đánh vào tim đôi trai tài gái sắc. Rồi ngày 21 -7-1498, hai người thành hôn sau một nghi lễ vô cùng lộng lẫy. Hôn lễ dĩ nhiên là được cử hành ngay trong Tòa Thánh Vatican, do Đức Giáo hoàng làm chủ lễ.
Rồi hai vợ chồng sống những ngày nhung lụa đầy yêu đương và hạnh phúc. Các nhà văn nghệ trứ danh thời bấy giờ được mời vào Cung điện của Tòa Thánh để tham gia những cuộc truy hoan yến tiệc. Trước mặt Alphonse và Lucrèce, thi sĩ Aretin ngâm những bài thơ rất mơ mộng, tỏ tình chiêm ngưỡng Lucrèce. Họa sĩ Pinturicchio mời Lucrèce ngồi để chàng họa một bức hình tuyệt diễm. Cả Michel Ange, một thiên tài, đã nổi tiếng cũng xoắn xít bên nàng. Cũng vì muốn nàng được vui lòng, mà kiến trúc sư Bramante xây lại sân Tòa Thánh Vatican, và sửa sang lại Đền Saint Pierre, Lucrèce và Alphonse, đôi uyên ương có hạnh phúc nhất trên đời, đã sống được 2 năm, những chuỗi ngày âu yếm mê li tưởng không có gì làm phai nhạt được.
 Nhưng, bỗng dưng, Alphonse bỏ trốn La mã, lẻn đi mất biệt, giống như trường hợp Sforza, người thứ nhất của Lucrèce.

Tại sao thế! Lúc bấy giờ không ai hiểu lý do khiến người chồng đang được Lucrèce Borgia cưng yêu như thế lại lẻn trổn trở về Naples ?
Nhưng rồi Lịch sử lại hé màn bí mật cho biết rằng Alphonse bị người hăm đọa thủ tiêu, cũng như chàng Sforza trước đó. Vì Giáo Hoàng gả Lucrèce cho Alphonse, Hoàng thân xứ Naples, là cốt ý để thu phục xứ Naples về Tòa Thánh Vatican. Nhưng bây giờ chính sách của Vatican đã rõ rệt xoay chiều, bắt đầu xa lánh xứ Naples, quê hương của Alphonse, để ve vãn nước Pháp đồng minh mới.
Sự có mặt của Alphonse ở La mã sẽ không có lợi cho chính sách mới của Tòa Thánh Vatican, Alphonse biết thế, nên lo tẩu thoát trước, để tránh nạn sau.
Lucrèce Borgia khóc nức nở. Nàng đang yêu chồng tha thiết, và đang lúc say mê hạnh phúc, chàng lại bỏ đi không một tiếng từ giã. Nàng lại đã có thai với người yêu. Được tin, Alphonse nhắn nàng sang Naples ở với chàng. Nàng sửa soạn đi theo tiếng gọi của tình yêu, nhưng Đức Giáo Hoàng cấm nàng ra khỏi thủ đô Roma. Lucrèce tức tối, la khóc om sòm làm chấn động cả Tòa Thánh, và xôn xao dư luận trong thành phố.
Đức Giáo Hoàng thấy vậy, bèn nghĩ ra một mưa kế...
 
 MỘT ĐÊM HÈ TRỜI ĐẦY SAO
Đức Giáo Hoàng Alexandre VI giả vờ chiều theo ý con. Ngài dỗ dành Lucrèce Borgia và phong cho nàng làm Quận chúa cai trị đất Spolète ở miền Ombrie cách xa Roma. Chồng nàng, Hoàng thân Alphonse ở Naples được tin vội vàng phóng ngựa đến Ombrie tìm vợ yêu quý. Hai người sum họp tại lâu đài Spolète của Quận chúa, và cùng nhau sống một tuần trăng mật thứ hai trong thắng cảnh thơ mộng ở Ombrie trên bờ sông Tibre và sông Clitumne, có giòng nước linh thiêng mà thi sĩ Virgile đã tả trong những câu thơ bất tử.
Đửc Giáo Hoàng Alexandre VI, là cha vợ của Alphonse, đến Kinh đô của ái nữ để đón tiếp chàng rể, với những cử chỉ thân mật, quyến luyến, như không có chuyện gì đã xảy ra. Ngài lại hứa với con gái rằng khi nào nàng sắp sanh, ngài sẽ cho xe ngựa đến đón hai vợ chồng vê La mã để nàng sinh cho đầy đủ tiện nghi.

Hoàng thân Alphonse yên trí rằng việc cũ đã qua, và nhạc phụ còn quý chàng. Sau đó, ít lâu đôi vợ chồng son trẻ vui sướng trở về Roma, và ngày 1-11-1499, Quận chúa Lucrèce Borgia sinh một Hoàng nam ngộ nghĩnh, được mọi người nô nức đón mừng. Toàn thể Hồng Y Giáo chủ Hội ở Tòa thánh Vatican và đông đủ, các Đại-sứ Âu châu đều hân hoan dự lễ Báp tem cực kỳ long trọng của cháu ngoại Đức Giáo Hoàng. Tư lệnh đội quân cận vệ của Ngài ẵm hài nhi, có quan Tổng trấn Đô thành Roma và Đại sứ của Hoàng đế Maximilien theo hầu hai bên. Quận chúa Lucrèce ở nhà, nằm trên chiếc giường chạm trổ tuyệt đẹp bọc vải màu đỏ thẫm, tiếp các mạng phụ và các phu nhân ở Đô thành. Chồng nàng, Alphonse, Quận công De Bisceglia, đẹp trai và sung sướng, hãnh diện đứng nơi đầu giường vợ, khẽ nghiêng mình đặt trên trán nàng một nụ hôn âu yếm.
Ngày 26-2-1500, anh thứ hai của Lucrèce Borgia là César Borgia đi công cán ở xa, trở về Thủ đô, (César Borgia là anh ruột, đã bị dư luận La mã nghi là tình nhân của em gái, và là người đã âm mưu giết Sforzia, người chồng thứ nhất của Lucrèce).
César Borgia hồi hương được tiếp rước rất long trọng. Trên một ngàn người hoan hô đi tiên phong, chàng cưởi ngựa đi giữa, và một trăm người lính mặc nhung phục đen, tay cầm gươm đi sau.
Vừa về Thủ đô Roma, César Borgia đã tỏ vẻ khó chịu thấy cô em gái Lucrècc Borgia được trọng vọng bên cạnh chồng, người em rể mới mà chàng cho là khả ố. Chàng cau mày trước cảnh gia đình đầm ấm, đầy hạnh phúc của Lucrèce Borgia. Chàng trách Đức Giáo Hoàng Alexandre VI, thân phụ của chàng, sao lại để cho hai vợ chồng Lucrèce được địa vị như thế trong Tòa thánh Vatican? Nhưng Giáo Hoàng nháy mắt khẽ bảo con trai : “không lâu đâu”.
Vâng, không lâu đâu! Ngày 15-7-1500, trời đã tối, Lucrèce Borgia còn ở bên phòng Đức Giáo Hoàng, chồng nàng đi bộ sang đón nàng về. Có hai người đàn ông đi hộ vệ chàng: một người lính giữ ngựa, và một kẻ hầu cận. Cả ba người bước lên các bậc thềm trước Điện Thánh Pierre.
Đêm mùa Hè, trời đầy sao... Như thường lệ, có hàng trăm kẻ hành khất, không nhà không cửa, đến ngủ trước thềm Nhà Chúa... Trong lúc Alphonse và hai cận vệ sẳp sửa bước vào cửa Đền, thì ba kẻ ăn mày vô danh đang giả vờ nằm ngủ bỗng đứng phăng ngay dậy và đâm ba nhát poa-nha vào lưng ba người kia.
Quận công Alphonse, chồng của Lucrèce Borgia, kêu thét lên một tiếng rồi ngã gục xuống vũng máu trên thềm. Ba thằng sát nhân toan kéo chàng đem vất xuống sông Tibre, nhưng quân cận vệ của Đức Giáo Hoàng được báo động vội chạy ra tại chỗ. Thừa lúc lộn xộn, bọn bất nhân trốn được ra ngoài Tòa Thánh. Đã có sẵn ba chàng kỵ mã đứng chờ trong bóng tối, ba kẻ sát nhân nhảy lên ngựa, phi về hướng Nam mất tích.
Cận vệ quân của Đức Giáo Hoàng Alexandre VI liền khiêng Quận công Alphonse, toàn thân lạnh ngắt như đã chết rồi, vào tận phòng riêng của ngài. Lucrèce Borgia còn đang ở đây. Vừa trông thấy thân thể của chồng đẫm cả máu, nàng hét lên một tiếng thất thanh và té xỉu xuống đất.
Nhưng Alphonse còn thở được. Vết thương bị lưỡi dao đâm vào đầu khá nặng, máu chảy túa ra khá nhiều, nhưng nhờ Lucrèce vừa tỉnh dậy kịp thời cứu chồng. Và Alphonse có sức khỏe lướt qua được cơn khủng hoàng trầm trọng.
Lucrèce Borgia và người chị dâu Sancia, cấm cửa không cho một người nào vào phòng nàng, và lo săn sốc cho chàng. Không bao lâu chàng bình phục, khỏe mạnh lại như trước.
Sau đó ít lâu, thi sĩ Vincent Calmeta viết thư cho nữ Quận công Urbin, có câu : “Tất cả thành phố La Mã điều biết rằng vụ ám sát hụt này là do Quận công César Borgia chủ mưu”.
 
 NHỮNG HÌNH PHẠT CUỐI CÙNG, CẢ GIA ĐÌNH TAN NÁT.
Lucrèce Borgia và Alphonse muốn xây lại tổ ấm hạnh phúc xuýt bị tan tành trong vũng máu.
Nhưng César Borgia, người anh ruột ghen ghét và tàn ác, quyết thanh toán người em rể một lần cuối cùng. Chỉ một tháng sau. Đêm 19-8-1500 và lần này không cần thủ đoạn, mưu mô, César đi với hai tên sát nhân Micheletto và Miguel Corella, vào ngay phóng ngủ của vợ chồng cô em gái. Lucrèce Borgia hoản hốt la lên, bị César đuổi ra ngoài. Nàng chạy sang cầu cứu đức Giáo Hoàng, trong lúc César Borgia và hai đồng phạm đâm chết Alphonse và còn lấy giây thắt cổ chàng. Lúc Lucrèce Borgia trở về phòng, thì chỉ còn thấy cái xác cứng của người yêu. Nàng liền ôm chàng vào tay, khóc sướt mướt.
Đức Giáo-Hoàng sai người chôn Alphose thật lẹ, không làm rể rửa tội, không cầu nguyện, dưới lớp gạch hoa trong nhà thờ Santa Maria Delle Febbri.
Lucréce Borgia khóc ngày khóc đêm, bỏ ăn bỏ ngủ, trong ba hôm. Rồi buổi tối ngày thứ thư, César đi với một trăm người lính cầm dáo mác, đến thăm người em gái vừa góa chồng. Không ai biết hai anh em nói những gì, nhưng sau mấy hôm nàng từ giã Roma.
Đức Giáo Hoàng Alexandre VI thật hết lòng thương con gái. Ngài tìm cho nàng một người chồng mới, và lần này vì quyền lợi chính trị của ngài, ngài gã Lucrèce cho thế tử Alphonse D'este, con trai của Quận chúa Ferrate, ở Triều vua Pháp.
Năm 1503, Đức Giáo Hoàng Alexandre VI Borgis chết một cách buồn thảm. Giáo Hoàng Pie III lên kế vị, đuổi César Borgia ra khỏi Tòa thánh Vatican. Chàng trốn đến Navarre và chết nơi đây, năm 1507, nghèo khổ, bị mọi người bạc đãi, khinh khi.
Còn Lucrèce Borgia, cô gái kiều diễm năm xưa của Giáo Hoàng Alexandre VI, với hai đời chồng và vô số tình  nhân tiểu tốt vô danh, sống được 12 năm nữa nhưng bị đui mắt và bại nửa thân mình, không cử động được, cứ ngồi một chỗ.
Một buổi sáng tháng 6 năm 1519, cô độc và rên siết trong cơn đau trầm trọng, nàng trả linh hồn về Chúa.
 
Chú thích:
[1] Sử sách ở xứ Y Pha Nho ( Espagne) ghi là Giovanni Juan Borgia chứ không phải Jean
[2] Lucrèce Borgia hors sa légende, của André Castelot. Journal của Burchard Dictionnaire Encydonédique Larouste du XXè siècle (Lucrèce Borgia)
 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2017 10:52:24 bởi Ct.Ly>
6. POPPÉE, Hoàng hậu La Mã
 
NÀNG TẮM BẰNG SỮA LỪA
 
THỜI bấy giờ, vào khoảng năm 59. sau J.C... hầu hết các vương tôn công tử của Triều đại Néron đều say mê sắc đẹp lộng lẫy xa hoa của nàng Sabina Poppée. Nàng mới có 16 tuổi, mà đã làm cho các tuổi hoa niên của kinh thành La Mã nao nao rung động vì đôi mắt trong xanh như bích ngọc, nụ cười thu hút như nam châm, bộ ngực nở nang vun đầy như pho tượng Vệ nữ trong Cung điện Capitole.

Nhưng Sabina Poppée làm nghiêm, ít cười nói, không vui đùa. Nàng là con gái cưng của một gia đình quý tộc, mà nàng trước kia cũng là một hoa khôi lừng lẫy của Roma. Cho nên nàng khinh thường tất cả bọn thanh niên, dù là vương tôn công tử, theo van xin nàng một lời hứa hẹn. Không! Nàng đã từng bảo khẽ với mấy con a tỳ theo hầu hạ nàng : “Ta sẽ làm Hoàng hậu mới xứng đáng”. Nhưng lúc bấy giờ Hoàng đế Néron đã có Hoàng hậu Octavie. Ngài lại đang yêu mê mệt một con đầy tớ đẹp lộng lẫy, là Acte, người Hy lạp, đến nỗi Ngài xuýt bỏ Hoàng hậu Octavie để lấy con đầy tớ này.
Poppée lặng lẽ chờ cơ hội. Nàng biết rằng không sớm thì muộn Néron cũng sẽ ngã vào vòng tay nàng, Nàng còn trẻ quá mà, mới 16 tuổi, vội chi! Trong khi chờ đợi, nàng tạm kết hôn với một viên lão thần có thế lực trong Triều, Crispinus, một tay giàu có nhất ở kinh đô, để nàng hưởng cuộc đời hoa lệ theo ý thích. Nàng sinh cho ông này một đứa con trai. Đẻ xong, nàng lại càng đẹp lộng lẫy hơn nữa.
Nàng âm thầm sắp đặt mưu kế, giả bộ trung thành với chồng, để được tiếng là một thiếu phụ có đức hạnh đứng đắn, khôns lẳng lơ, lăng loàn, như những cô gái hoặc những cô vợ đẹp khác ở La Mã.
Nang ở luôn trong lâu đài của Crispinus, tiếp những quan khách bạn của chồng. Thỉnh thoảng nàng đi ra phố thì lấy một tấm màu xanh mỏng che mặt như không muốn cho ai trông thấysắc đẹp của mình. Ở nhà, nàng chỉ chăm lo săn sóc cho sắc đẹp mà thôi. Tóc nàng có một màu vàng hoe ánh ngời tự nhiên ai trồng thấy cũng trầm trồ khen ngợi. Nước da của nàng trắng mịn lúc nào cũng mát rượi và thơm ngác như hoa. Poppéc cho xây giữa nền lầu một hồ tắm hình bầu đục vừa vặn và xinh xinn, lát bằng đá xanh và đá hồng và mỗi buổi sáng nàng tắm bằng sữa lừa, để da nàng lúc nào cũng láng bóng như ngọc chuốt. Nàng nuôi mấy cô mỹ nữ Ai cập chuyên môn chế ra một thứ kem riêng biệt cho nàng thoa mặt. Cách làm thứ kem ấy được giấu kín không cho một người đàn bà nào khác biết cả. Luôn luôn nàng ở trong mát. Mùa hè nắng gắt, thì nàng che mặt với một chiếc mặt nạ thêu đẹp để ánh nắng khỏi chiếu vào mặt nàng, Nàng mới có 17 tuổi...
 
 KHOE VỢ ĐẸP VỚI VUA
Một hôm, trong một buổi tiệc, Poppée làm quen với một vị tướng trẻ tuổi, đẹp, hầu cận Hoàng Đế Néron và là người thân tín của ngài. Tên chàng là Orthon. Chàng khéo tán thế nào mà bỗng dưng Poppée xiu lòng, và phút chốc để cho vị tướng trẻ tuổi chiếm được trái tim của nàng, rất dễ dàng mau lẹ. Ai nấy cũng ngạc nhiên vì Poppée đã được tiếng là một cô vợ nết na thùy mị, chưa hề phản bội chồng lần nào và đang hưởng hoàn toàn hạnh phúc trên nhung lụa. Nhưng ai có hiểu được thâm tâm của nàng? Viên lão tướng Crispinus tuy hết sức chiều chuộng cưng yêu cô vợ trẻ nhưng không dám đưa nàng vào cung điện nhà vua, vì sợ Néron chiếm đoạt mất người yêu. Trái lại. Orthon viên quan hầu cận của Hoàng đế, hứa sẽ tiến dẫn nàng vào Cung để khoe với Néron và hãnh diện với Triều thần rằng đây, Poppée, vị quốc sắc thiên hương của La Mã, là người yêu của chàng.
 
Hai tháng sau, Poppée ly dị với Crispinus, để kết hôn với Othon. Crispinus cũng vừa bị cách chức vì một tội lỗi trong Triều. Néron là một vị bạo chúa, tàn ác nhất trong Lịch sử La Mã. Ai nấy cũng run sợ trước mặt ông.
Othon do dự ... Đã nhiều lần, chàng muốn giới thiệu với Hoàng đế cô vợ trẻ của chàng mới cưới, nhưng chàng e ngại. Bỗng dưng một hôm, sau một bữa tiệc trong Cung điện, Othon vội vã xin về sớm. Néron hỏi lý do, Othon say sưa đáp: “Tôi muốn về ngay với kho vàng của tôi... kho vàng mà Thượng đế đã ban cho tôi với sắc đẹp tuyệt trần mà cả LavMã đều thèm muốn, mà chỉ có tôi được hưởng…” (Dịch theo nguyên văn của nhà Sử học Cựu La Mã, facite, trons bộ sách Annales). Hoàng đế Néron, nghe mấy câu ấy, trố mắt ngó Othon rồi nở một nụ cười thèm thuồng: “À, vậy hả ? Ngươi hãy về đem lá ngọc cành vàng ấy đến cho Trẫm ngắm xem nào!”
Đêm ấy, Othon ngủ không được, mà Néron cũng không ngũ được. Viên quan hầu lo sợ ngày mai đưa Poppée vào chầu Vua, Vua sẽ đoạt luôn.
Còn Néron thì thao thức mơ tưởng năm canh: Poppée đẹp như thế nào mà Othon khoe khoang dữ rứa ?
Thật ra, Néron đã hết yêu Hoàng Hậu Octavie vì bà này không có con. Nhà Vua đã đem mối tình vương giả gieo rải khắp trong Cung điện, và sau cùng ông đã say mê con đầy tớ  Hy Lạp, Acte diễm lệ yêu kiều ..Nhưng cuộc tình duyên này đâu có vinh dự gì cho Hoàng Đế? Néron chờ đợi Poppéc...
 POPPÉE NHÕNG NHẼO, KHÔNG ƯNG THUẬN ...
Sáng hôm sau, Othon buộc lòng phải đưa vợ vào Cung. Vừa mới trông thấy nàng, Néron đã tối mày tối mặt, rồi cười ha hả, nắm hai bàn tay trắng mịn và thơm ngát của Poppée, kéo vào lòng mình.
Thoạt tiên, Poppée giả vờ như cũng đắm mê nét mặt anh hùng quắc thước của vị Đại đế La Mã. Nhưng nàng lễ phép né thân mình ra xa, không cho Néron mơn trớn. Nàng làm ra vẻ đạo đức, kháng cự bẽn lẽn :
- Muôn tâu Bệ Hạ, em là gái có chồng...
- Chồng em? Thằng Othon ấy à? Nó đâu có xứng đáng làm chồng em ?
- Tâu Bệ Hạ, Othon đă cưới em rồi, em là vợ chàng, em đâu có thể xa chàng được?
Néron cười nghiêng ngửa, cười sặc sụa :
- Ha ha! Ha ha ! Ta sẽ tống cổ Othon đi thật xa chớ bộ! Ta sẽ đày nó ra khỏi biên thùy Đế quốc La-Mã, em chớ lo!
Poppée lại nũng nịu, buồn rầu :
- Tâu Hoàng Thượng, không thể được... Em rất vinh hạnh được Ngài đoái thương, nhưng em rất tiếc, không thể nào được ạ...
Néron cảm động hỏi:
- Sao không được? Ta là Hoàng Đế La Mã ta muốn, không được sao ?
Poppée nghiêm nét mặt, đôi mắt trong xanh của nàng nhìn thẳng vào mặt Néron, như đôi mắt rắn:
- Ngài là Hoàng Đế, vâng, nhưng Ngài đã lấy một con đầy tớ làm vợ rồi. Em đây đâu phải hạng nô tỳ ? Lẽ nào em tự hủy danh dự của em để đứng ngang hàng với một kẻ tôi đòi Hy Lạp hay sao ?
Néron lại cười sằng sặc :
- À thế thì ta đuổi Acte ra khỏi nơi này! Ha ha! Nơi này chỉ có Poppée, chỉ có Poppée trong trái tim của ta mà thôi!
Néron nâng một cúp rượu vang đỏ uống một hơi, rồi cười ha hả! Ha hả!
Tuy vậy, Poppée vẫn chưa bằng lòng...Còn Hoàng Hậu Octavie? Còn bà mẹ rất hung dữ của Néron, Hoàng thái Hậu Agrippine? Hai người đàn bà, hai địch thủ. Nàng đã chiếm được dễ dàng trái tim của Néron, làm sao nàng chiếm được ngôi báu Hoàng Hậu La Mã?
Néron là một Hoàng Đế tàn bạo nhất thời bây giờ, một Tần thủy Hoàng của La Mã, mà Hoàng thái Hậu Agrippine lại còn nổi tiếng là một bà mẹ hung dữ hơn nửa. Bà là một con cọp mẹ yêu tinh muốn ăn thịt cả con cọp con Néron. Ấy thế mà Poppée vị quốc sắc thiên hương vừa mới chiếm được trái tim của Néron, đã quyết tâm ám hại Agrippinc, để rồi sẽ trừ diệt Octavie vợ của Néron, đặng cướp ngôi Hoàng-Hậu.
Nàng nói kích Néron :
- Ngài là Chúa tể một Đế quốc vĩ đại nhất trên trái đất, Ngài là vị Hoàng đế lớn hơn các vị Hoàng đế, mà Ngài còn để Hoàng thái Hậu Agrippine sai khiến, có khác nào một đứa trẻ nít để cho mẹ nó dắt mũi hay sao?
Néron nghe Poppée mỉa mai như thế, tự thẹn nhưng làm sao được ? Ông vẫn sợ Agrippine, và vỗ vai Poppée, cười lẳng lơ, khẽ bảo bên tai nàng :
- Em cứ yên tâm... Trẫm còn chờ cơ hội...
Poppée liền giả nét mặt rầu rầu, than thở :
- Em biết Hoàng-đế không thương em...! Octavie không đẹp hơn em, và lại không có con trai, nhưng Hoàng đế thương nàng hơn em .. Em biết thế. Nhưng không hề gì ! Nếu Hoàng  đế không trừ diệt Hoàng thái Hậu là người đã cưới Octavie cho Ngài, và cưng Octavie hơn em, thì... thôi... em sẽ trở về với Othon. người chồng của em, vì dù sao nó cũng yêu em hơn!
Nghe Poppéc dọa bỏ ông để tái hợp với Othon, thì Neron lo sợ mất người yêu, ông hứa thế nào cũng giết mẹ, để đẹp lòng nàng.
Đầu tháng Ba, năm 59, Néron lập mưu mời mẹ đến dự lễ cúng thần Minerve tại thành phổ Baies. Bề ngoài Hoàng đế tiếp đón Hoàng thái Hậu rất là trọng thể, và trước mặt bá quan văn vỏ, ông giả vờ hôn mẹ rất âu yếm và rót rượu nho trong cúp bằng vàng dâng lên Hoàng thái Hậu. Xong tiệc say sưa, Néron tiễn mẹ ra bờ sông và chỉ cho mẹ ruột chiếc thuyền mới đóng rất đẹp.
- Đây là chiếc thuyền mà con bảo đóng riêng để tặng mẹ. Anicéus, lính hầu cận của con, sẽ tiễn chân mẹ về.
Agrippine vui mừng, từ giã Hoàng Đế. Bà có ngờ đâu chiếc thuyền đẹp này, Néron đã bảo Anicétus đóng dối trá bằng hai miếng ván ghép sơ sài, rồi chạm trổ bề ngoài rất lộng lẫy để che giấu mưu mô. Thuyền ra giữa biển, tự nhiêu bị nứt làm đôi, chìm lĩm xuống đáy sâu. Anicétus đã có sẵn tấm ván chèo được vô bờ.
Nhưng Agrippine cũng chì bị thương xoànẹ bà cố hết sức bơi, Được nửa chừng gặp chiếc thuyền chài cứu vớt, Bà trở về Biệt điện của bà ở Naples.
Nghe tin Agrippine thoát chết, Néron lo sợ thế nào bà mẹ cũng trả thù ghê gớm. Ông liền sai hai lên hung thù đến ám sát ngay: một thằng đập một cây gậy bự vào đầu bà, một thằng khác đâm gươm vào bụng bà. Agrippine chết giẫy dụa trên vũng máu.
Được tin, Néron vui mừng, uống rượu say sưa, cười nghiêng ngửa trong lòng Poppée!
 
 MÓN QUÀ CƯỚI CỦA EM
Agrippine chết rồi, Poppée chỉ còn Hoàng hậu Octavie như cái đinh trước mắt. Nàng quyết nhổ cho rồi cái đinh ấy. Nhưng lần này thật khó, bởi lẽ Octavie rất hiền lành và được dân chúng kính phục. Viện cớ gì, lập âm mưu gì, để hại Octavie bây giờ? Poppée đã nghỉ được một thâm kế. Nàng cho tiền người nhạc sĩ thổi sáo Ai Cập, đẹp trai, và đầy tớ của Octavie, bảo chàng phải đặt chuyện vu cáo Octavie đã quyến rủ chàng. Như thế Hoàng hậu sẽ bị kết án ngoại tình. Quả nhiên, không những chàng thổi sáo Ai Cập đi “thú nhận” rằng có thong dâm với Hoàng hậu, mà cả đến những con nô tỳ trong Cung điện cũng nhìn nhận đúng như thế. Hoàng hậu Octavie bị đuổi ra khỏi Cung cấm, và bị đày ra Campanye. Néron, dĩ nhiên đã có lý đo để tuyên bố ly dị Ovtavie, và 12 ngày sau, nhà Vua chính thức làm lễ thành hôn với Poppée.
Nhưng dần dần “vụ án bí mật” kia bị dân chúng phê bình gắt gao, chàng thổi sáo đã nói thầm cho nhiều người biết là chàng bị Poppée bắt buộc phải vu khống cho Hoàng Hậu, Dân chúng biểu tình rầm rộ và hâm dọa vào phá Cung điện. Néron hoảng sợ, vội gọi Hoàng Hậu Octavie trở về Cung. Dân chúng mừng rỡ, kéo nhau hàng ngàn vạn người tới Đền Capitole để tạ ơn các vị Thần đi cứu thoát Octavie. Những pho tượng Octavie được dân chúng đặt vòng hoa phủ kín chung quanh, còn các pho tượng của Poppée bị lật đổ xuống đất, sẵn trớn dân chúng kéo vào Cung điện của Néron, chửi bới Poppée, nguyền rủa Poppée. Nhưng rồi quân lính của Néron cỡi ngựa cầm roi da ào ạt tiến ra sân, đánh đập túi bụi các đám biểu tình. Những kẻ ngã xuống đều bị ngựa giẫm lên mình chết quằn quại trên vũng máu, những kẻ thoát được thì kéo nhau chạy tán loạn khắp cả kinh thành .
Poppée lặng lẽ ngồi trong Cung chờ cho đám căm thù bị giết hết. Rồi nàng quỳ bên chân Vua, giả vờ khóc lóc than thở:
- Dân chúng muốn giết Ngài, giết em? Nếu Néron bị lũ trâu ngựa kia ám hại thì còn gì là Đế quốc La Mã vẻ vang muôn thuở? Em sẽ tặng cho Hoàng đế Néron, cho dân chúng La Mã, một Hoàng nam để nối nghiệp các đấng Césars, dân chúng không bằng lòng ư? Dân chúng muốn tôn lên ngai Hoàng đế La Mã một đứa bé con của thằng thổi sáo Ai Cập, nếu nay mai Octavie sẽ mang cái bào thai tội ác kia ư?
Néron nổi giận, như điên cuồng. Ông uống liên tiếp năm sáu cúp rượu nho, nét mặt hằm hằm, đầy ác khí. Ông bèn gọi tên lính hầu Anicécus trung thành nhất của ông, và bảo nó phải cương quyết vu cáo là có thông dâm với Hoàng hậu Octavie. Nó sẽ bị đày đi xa, nhưng Néron sẽ ban thưởng cho nó rất nhiều vàng bạc châu báu, sẽ cho nó hưởng phước lộc đời đời.
Anicétus tuân lệnh. Ra trước tòa nó bầy đặt ra những cuộc gặp gỡ lén lút với Hoàng Hậu Octavie, và những cử chỉ tồi bại của Bà. Nó còn dám vu khống cho Octavie phá thai mấy lần. Néron dựa theo bản án của tòa kết tội Octavie và đày Bà ra đảo Pandatéria. Binh lính của Néron trói tay trói chân Hoàng Hậu bị truất thế và được lệnh lấy dao rạch những gân máu cho Bà chết xỉu, Poppée bảo kẻ thân tín chặt đầu Octavie, đem đến nàng. Nàng đưa ngón tay ngà ngọc chỉ chiếc đầu còn dính máu, và cười hỏi Néron:
- Món quà cưới, Ngài tặng em đó, phải không?
Néron cười sặc sụa, nốc luôn mười cúp rrợu nho, rồi ngả đầu vào ngực nàng, lẩm bẩm:
- Phải đó, em ạ! ... Phải đó, em ạ!...
“EM MUỐN CHẾT TRẺ, ĐỂ ĐỪNG THẤY SẮC ĐẸP PHAI TÀN . . .”
 
Năm 62 sau J.C., Poppée hoàn toàn thỏa mãn nguyện vọng làm Hoàng hậu La Mã, vợ chánh thức của Néron, Hoàng đế danh tiếng đời đời trong Lịch sử La Mã.
Nhưng danh tiếng được bao lâu? Ba năm, vâng, chỉ được 3 năm thôi! Tuy Poppée tìm cách trở lại hiền lành, tu tỉnh, nàng lo sắp đặt lại các công việc trong Cung điện của Néron, nhưng nàng vẫn sợ mau đến tuổi già, vì nàng chỉ chuyên lo săn sóc sắc đẹp của nàng. Nàng bảo với Néron:
- Em muốn chết trẻ, để đừng thấy sắc đẹp phai tàn.
 
Chín tháng sau lễ cưới, tháng Giêng Năm 63, nàng sanh được một Công chúa đặt tên là Augusta. Néron mừng như được vàng, truyền lịnh cho dân chúng mở tiệc liên hoan toàn cõi Đế quốc. Thượng nghị viện La Mã quyết định lập một Đền thờ để tạ ơn các vị Thần. Nhưng chưa được 4 tháng, con bé đã chết. Néron thương khóc thảm thiết, và ký sắc lịnh truy tôn Augusta lên chức Nữ thần, và lập Đền Thờ. Để an ủi cơn đau xót, Néron truyền lịnh bắt đứa con trai của Poppée, Crispiuus, con riêng của Poppée với người chồng củ Cripinus, quăng xuống biển.
Thế rồi, một buổi chiều tháng 7 năm 56. Néron đi dự cuộc đua xe, về trể. Poppée càu nhàu gây gổ. Nàng đang có mang, bị Néron tức giậu đá một đá vào bụng, nàng té xuống chết tươi.
Thế là nguyện vọng của Poppée được chết trẻ, để khỏi thấy nhan sắc phai tàn, để được thực hiện một cách bất ngờ, và bi thảm.
Néron hối hận, khóc la inh ỏi, điên cuồng, ngày đêm không ngớt. Thượng nghị viện La Mã quyết định làm lễ quốc táng cho Poppée, nàng khỏi bị hỏa thiêu theo tục lệ bấy giờ. Sách sử có chép rằng Néror cho đi kiếm mua tất cả dầu thơm và nước hoa danh tỉếng của xứ Arabie để tẩm liệm xác chết của nàng
Các công chức, các vị Triều Thần, các nhân vật trọng yếu, ai không khóc Poppée, hoặc khóc ít thôi đều bị Néron xử tử.
Ai không sốt sắng trong việc lập đền Thờ nàng đều bị đày ra biên ải... Bất cứ ai trong chính phủ của Néron mà không than khóc Poppée, đều bị giết chết, hoặc bị lính đánh đập tàn nhẫn.
 
 BA NĂM SAU...
Mọi người thấy vậy hoảng hốt vội vàng đua nhau khóc Poppée, khắp nơi nơi!...Cả Đế quốc La Mã đều
ngập nước mắt khóc Poppée... và hăng hái dựng Đền Thờ “vì Nữ Thần của Dân-tộc” theo lệnh của Néron Hoàng Đế.
Nhưng 3 năm sau, Néron chết. Nhà vua độc tài vừa nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng, thì toàn thể dân chúng La Mã nô nức kéo nhau từng đoàn đi đốt phá tất cả các đền thờ “Nữ Thần của Dân tộc”, đập đổ, chà nát các pho tượng của Poppée và Néron. Các Thi sĩ và các nhà Viết Sử, đua nhau làm thơ, viết sách, nguyền rủa Néron và con ác phụ bạo tàn, kiêu căng phách lối, đã làm cho toàn dân La Mã điêu đứng, âm thầm nhịn nhục suốt bấy nhiêu năm dưới sách độc tài.
Othon, người chồng thứ hai của Poppée, đã bị Néron cướp vợ và đày đi xa, được dân chúng mời về, tôn lên ngôi Hoàng Đế...
Lịch Sử thuờng để dành cho loài người làm chuyện bất ngờ!




Đăng nhập để trả lời
0
đánh máy: yeut
 
11- Vũ Hậu


Đọc Lịch sử của Vũ Hậu, Trung Quốc đời Đường, có thể so sánh bà với Agrippine, vợ của vua Claude, mẹ của Néron Hoàng đế La Mã 600 năm trước. Tuy khác thời đại, khác phong thổ; nhưng cùng một giống đàn bà sắc nước hương trời, thông minh tuyệt bực, xảo quyệt gớm ghê, tàn bạo vô cùng, dâm ô thái quá, không ai kém ai!
NGƯỜI ĐẸP TRONG NHÀ TÙ.
Cô gái 14 tuổi, ở Hứa Châu, tên là Không, nhờ sắc đẹp kiều diễm mà được tuyển vào Cung Vua Đường Thái Tôn (1), không phải là thôn nữ “quê mùa” nhút nhát. Được vua Thái Tôn yêu chuộng, cô bé đã tìm cách chiếm trái tim của Hoàng đế, để được thỏa mãn một tham vọng lớn lao: làm “mẫu nghi thiê hạ”. Nàng Cung phi tuy nhỏ tuổi nhất trong đám mấy trăm Cung phi, nhưng tự biết rằng nàng đẹp hơn tất cả, khôn ngoan hơn tất cả, và được nhà vua yêu quý hơn cả. Nàng vẫn ngắm nghé Ngai Vàng, nhẫn nại chờ đợi, tự nghĩ rằng không sớm thì muộn nàng cũng sẽ lên ngôi Hoàng Hậu.
Trong lúc được Hoàng đế cưng yêu và được hầu hạ bên Long sàn, Vũ phi đã để ý đến người con trai của vua, Thái tử Lý Trị, vị Hoàng đế tương lai sẽ nối ngôi Cha. Thái tử Lý Trị mỗi lần đến thăm vua cha, cũng đã bị đôi mắt đa tình của Vũ phi thu hút, và nụ cười kín đáo đầy hứa hẹn của nàng đã làm cho vị Hoàng tử thanh niên, nhỏ hơn nàng 5 tuổi, say mê, âm thầm mơ ước…
Năm 649, Vua Đường Thái Tôn băng hà, thọ 53 tuổi. Vũ Phi kêu khóc rất thảm thương, mặc áo tang, bịt khăn tang, sửa soạn vào nhà tu cùng với tất cả các cung nữ khác, theo tục lệ trong Cung thời bấy giờ.
Thái tử Lý Trị lên nối ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Đường Cao Tôn.
Trước khi vào nhà tu, Vũ phi đến cao biệt Tân Hoàng đế. Đường Cao Tôn nhìn người đẹp mặc tang phục càng đẹp thêm, màu áo trắng càng làm nổi bật đôi má hồng và làn tóc buông rủ xuống hai vai, huyền mờ, ảo nảo. Nàng khóc nức nở. Cao Tôn thương xót vô cùng, cảm động không cầm được lệ ngọc.
Vua bảo:
-         Vũ phi vào chùa, Trẫm sẽ thường tới thăm.
Vũ Phi cúi đầu lạy tạ Cao Tôn, và lui gót. Đôi mắt nàng tràn trề châu lệ.
Vũ Phi đã 27 tuổi. Cao Tôn 22 tuổi, nét mặt thông minh nhưng còn ngây thơ, dáng điệu còn e ấp, tính tình còn yếu đuối.
Cao Tôn giữ đúng lời hứa, thường ngự đến nhà tu để thăm người đẹp đang đau khổ. Mỗi lần Hoàng đế vào phòng tu của Vũ phi, các cửa phòng đều đóng kín, để Hoàng đế an ủi giai nhân.
An ủi được một tháng thì Vũ phi bẽn lẽn.
-         Muôn tâu Hoàng thượng tiện nữ đã có… thai
Nàng lại khóc thút thít:
-         Muôn tâu Bệ Hạ, làm sao bây giờ đây? Không lẽ Phi ở trong nhà tu mà lại có thai ư? Không lẽ Phi ở trong nhà tu mà lại có thai ư? Tiện phi đã có thai thì ở trong nhà tu sao được nữa?
Đường Cao Tôn mỉm cười:
-         Trẫm sẽ đem kiệu đến rước phi về ở trong Cung với Trẫm.
Trong Cung đã có Vương Hoàng hậu, vợ chính thức của vua. Cao Tôn liền dỗ dành Hoàng hậu:
-         Hoàng hậu ở với Trẫm mười năm chưa có con. Trẫm muốn đón Vũ phi về cung để chờ ngày sinh Hoàng Nam. Hoàng hậu cứ yên tâm. Theo thường lệ, Vũ phi sinh con rồi thì làm thế nào Hoàng hậu cũng sẽ có thai.
Vương Hoàng hậu cũng còn trẻ, tính tình lại dịu lành, từ tốn, không nổi ghen mà cũng khôm dám cãi lệnh Vua. Cao Tôn vui mừng sai thị tỳ khiêng kiệu rồng đến nhà tu ở chùa Sư Nữ, đón rước Vũ phi hồi cung. Vũ phi hết lòng hết sức chiều chuộng Vương Hoàng hậu và thường nói với Hoàng hậu những lời tha thiết tri ân Hoàng hậu đã có lòng độ lượng tha tội cho thứ phi. Nàng rất khiêm nhường, lễ phép, không dám có một cử chỉ gì làm phiền lòng Hoàng hậu.
Đối với Cao Tôn, nàng vẫn có những nụ cười tình tứ duyên dáng, luôn luôn quỳ lụy, tôn kính và yêu đương, để dần dần chiếm trọn cả trái tim của nhà vua trẻ tuổi.
Nàng lại bỏ bạc vàng ra để mua chuộc các kẻ thị tỳ, các người hầu hạ, binh lính và các quan cận thần của vua.
Nàng ở cũ, sinh một công chúa. Vũ phi thất vọng: nàng vẫn cầu nguyện sinh Hoàng Nam để con nàng được nối ngôi thiên tử và để nàng dễ thực hiện cái mộng lên ngôi Hoàng hậu. Nhưng nàng chỉ thất vọng âm thầm, bề ngoài vẫn làm bộ vui mừng, sung sướng, bảo hỷ tín cho Hoàng đế và Hoàng hậu. Nàng đang sắp đặt mưu mô…
Vương Hoàng hậu báo tin sẽ đến thăm con. Hoàng hậu đến, Vũ phi mừng rỡ chỉ con trong nôi, để Hoàng hậu ẵm con lên hôn hít, nâng niu. Vũ phi làm dấu hiệu đuổi hết cá nữ tỳ ra ngoài, và nàng viện cớ là đi rửa tay, để Hoàng hậu ở trong phòng một mình với hài nhi. Một lúc lâu nàng trở vào. Hoàng hậu trao con cho nàng, để nàng đặt lại vào nôi. Hoàng hậu trò chuyện một lúc rồi ra về.
Vương Hoàng hậu vừa ra ngoài, thì Vũ phi liền bóp cổ đứa con cho nó chết. Xong, nàng lấy mền đắp lại, để cái xác hài nhi nằm nguyên trong nôi.
Vua Cao Tôn đến. Bước vào phòng, vị Hoàng đế trẻ tuổi lần đầu tiên được diễm phúc làm cha, tươi cười hỏi Vũ phi”
-         Công chúa của Trẫm đâu nào?
Vũ Phi cũng vẫn làm bộ vui mừng, đưa vua đến gần nôi con. Nàng giở chiếc mền ra, toan ôm con lên cho vua xem. Nhưng hài nhi chỉ là cái xác, lạnh ngắt, mặt mũi bầm tím, nơi cổ lại có dấu tay ai đã bóp chết. Vũ phi hét lên:
-         Trời ơi! Ai độc ác bóp cổ con tôi chết thế này?
Nàng giả vờ té xỉu xuống bên nôi, tay ôm xác con, kêu khóc ầm ĩ.
Vua Cao Tôn gọi các thị tỳ ra hỏi. Tất cả đều nói: lúc nãy có Hoàng hậu đến ôm công chúa. Rồi từ lúc Hoàng hậu ra về, các thị tỳ không đến xem công chúa, tưởng rằng công chúa vẫn nằm ngủ trong nôi. Còn Vũ phi thì đi tắm rửa, chỉ có Hoàng hậu ở trong phòng một mình.
Thôi, thế là đúng rồi, Hoàng hậu là thủ phạm. Hoàng hậu không có con, thấy Vũ phi sinh được công chúa, Hoàng hậu ghen ghét, bóp cổ cho công chúa chết! Chứ còn ai dám phạm tội ác như thế được?
Vũ phi la khóc rùm lên, và than van thảm thiết:
-         Công chúa là con của Trời Phật ban cho Hoàng đế, là huyết mạch của Hoàng đế, mà Hoàng hậu nỡ đang tay ám hại con tôi ư?
Hoàng đế nổi giận, tin chắc Vương Hoàng hậu là thủ phạm, liền sai thị tỳ đi mời Hoàng hậu đến ngay lập tức. Vụ này làm xôn xao trong cung điện, gây ra phẫn uất cả Triều đình, ai cũng kết tội Vương Hoàng hậu là bất nhân thất đức, ghen tuông đến nỗi phạm một tội ác dã man như thế. Vương Hoàng hậu nhất định kêu oan, nhưng ai mà tin được nữa? Chứng cứ rành rành ra đó, ai mà dám bóp cổ công chúa mới oe oe ra chào đời được vài hôm? Ai, nếu không phải là Hoàng hậu vì ghen nên mất cả lương tâm?
Vua Cao Tôn truyền lệnh đem Vương Hoàng hậu ra pháp trường xử chém.
Nhưng bấy giờ Vũ Phi lại khóc lóc, xin Hoàng đế mở lượng hải hà mà tha tội cho Hoàng hậu: chẳng qua vì ghen với Vũ phi mà thôi, chứ lẽ nào Hoàng hậu lại có thể độc ác với hài nhi vô tội ư?
Vũ phi cầu khẩn xin tha, vì nàng tâu rằng nàng thương Hoàng hậu lắm. Nàng tôn kính và quý mến Hoàng hậu lắm…
Vua Cao Tôn nể lời Vũ phi, tha tội cho Hoàng hậu, nhưng vua vẫn hầm hầm tức giận người đàn bà độc ác.
Vua cúi xuống đỡ Vũ phi dậy và an ủi nàng…
Mưu mô tự tay giết chết con để vu oán cho Vương hoàng hậu, Vũ phi đã thành công, nhưng người đàn bà xảo quyệt kia còn có kế hoạch nguy hiểm hơn nữa vừa để bưng bít hành vi tội ác của mình, vừa thực hiện tham vọng cao xa. Nàng giả vờ khóc lóc xin Hoàng đế rộng lượng tha thức cho Vương Hoàng hậu, nhưng nàng lại âm thầm sắp đặt một mưu mô khác để thanh toán tình địch của mình, một cách kín đáo hơn và khéo léo hơn.
Một hôm, bỗng dưng vua đau một chứng bịnh kỳ lạ, cứ nhói nơi ngực, như thể có ai cầm dao đâm vào ngực vua. Các vị Ngự y được mời đến cấp tốc để xem bịnh cho Hoàng đế, đều không hiểu là bịnh gì.
 
LÊN NGÔI HOÀNG HẬU
Chợt có kẻ tìm thấy ở dưới gối của Vương Hoàng hậu một chiếc bùa vẽ hình vua, có đóng một cái đinh xuyên qua ngực. Chiếc bùa được đem trình lên Vua, trước mặt bá quan văn võ trong buổi Đại triều. Vua hằm hằm căm giận, lập tức truyền lệnh đem Vương Hoàng hậu ra pháp trường xử trả, vì chứng cớ đã rành rành ra đó. Nếu Hoàng hậu không cố tình ám hại vua thì tại sao có chiếc bùa kia ở ngay dưới gối bà? Mặc dầu có hai vị lão thần, là Phong huyền Linh và Đỗ như Hối cương quyết bào chữa cho Hoàng hậu, nhà vua nhất định không nghe. Huyền Linh dõng dạc nói:
-         Muôn tâu Hoàng thượng, không có bằng chứng để kết tội Hoàng hậu.
Vua nổi giận chỉ ngay cái bùa:
-         Chứng cớ đấy!
Đỗ Như Hối kính cẩn:
-         Muôn tâu Bệ hạ, biết đâu có kẻ khác đem bùa kia giấu dưới gối Hoàng hậu để vu khống, và cố tâm làm hại Hoàng hậu chăng?
Vua trợn mắt hỏi:
-         Kẻ khác là ai vậy?
Nhưng nào ai dám tố cáo ai!
Vũ Hậu núp sau màn nghe rõ hết, lặng lẽ chờ vua.
Lúc vua vào hậu cung, Vũ Hậu quỳ xuống khóc:
-         Muôn tâu Hoàng đế, kẻ đàn bà tội ác ém bùa để hại thánh thể, chứng cớ đã rõ ràng. Nhưng cúi xin Hoàng đế mở lượng khoan hồng, tha cho hắn tội chết. Chỉ nên truất ngôi Hoàng hậu và giam hẳn dưới hầm kín chịu tội chung thân. Còn hai vị lão  thần Phong huyền Linh và Đỗ như Hói, tuy đã có công giúp nước dưới thời tiên đế, nhưng ngày nay lại phản Hoàng đế, bênh vực cho mụ đàn bà kia thì nếu Hoàng đế còn tin dùng ắt là một hại lớn trong Triều đình, hậu quả không biết đâu mà lường được.
Nhà vua nghe lời Vũ Hậu, liền đầy hai vị trung thần đi hai tỉnh xa. Đồng thời, Vũ Hậu được vua tôn lên ngôi Hoàng hậu, thay thế cho Vương hậu bị truất phế. Lễ tôn Hoàng hậu năm 655, được cử hành rất trọng thể. Vũ Hậu lúc bấy giờ đã 32 tuổi, mặc chiếc áo gấm xanh thêu những con phụng bay, hai cánh xòe ra, sắc màu rực rỡ. Nàng đội chiếc mão bằng vàng nạm đầy kim cương, ngọc thạch. Vũ Hậu thiết triều để cho văn võ bá quan cung bái.
Trong lúc ấy, cựu Hoàng hậu bị còng chân còng tay, giam hãm trong một hầm đá, chật hẹp, tối om, đào sâu dưới đất ngay dưới nền cung điện. Cửa ngục chỉ chừa một lỗ nhỏ vừa đủ để ngày hai buổi lính đút vào một nắm cơm cho ăn.
Một buổi chiều, thừa dịp Vũ Hậu ngự du ngoài thành, Vua Cao Tôn không khỏi nhớ người vợ xưa hiền lành, duyên dáng, lén xuống ngục tối thăm bà. Trông thấy Vương hậu, ốm tong ốm teo, đầu tóc rũ rượi, mặt mày xanh mét, chỉ còn như cái xác không hồn, nhà vua hối hận, rưng rưng hai ngấn lệ. Vua nắm tay bà, hứa sẽ thả bà ra.
Nhưng khi vua vừa ở dưới hầm ngục lên thì có nữ tỳ của Vũ hậu đến mời vua sang cung. Vua không ngờ rằng Vũ Hậu có nuôi nhiều thám tử. Nàng đi dạo chơi vừa về đã có chúng tâu lại rõ ràng việc Vua lén xuống ngục tối thăm Vương hậu.
Vũ hậu hỏi vua:
-         Trong lúc thiếp đi chơi vắng, chẳng hay Bệ Hạ làm chi?
-         Trẫm ở trong cung xem sách.
-         Bệ Hạ có ngự xuống ngục tối thăm kẻ nữ phạm nhân kia không?
-         Không.
Vũ Hậu lặng lẽ, không hỏi gì nữa. Nhưng nàng sai lính xuống hầm lôi Vương hậu ra đánh một trăm roi. Xong, nàng truyền lịnh chặt hai tay hai chân bà, rồi ngâm bà trong một thùng rượu. Hôm sau bà chết, trong Cung điện không còn ai dám nhắc đến tên bà nữa.
Thấy vua Cao Tôn hèn nhát, khiếp sợ nàng. Vũ Hậu một ngày mỗi lộng quyền, nhất là từ năm 660. Nàng độc đoán đối với vua, tàn ác với các Hoàng thân trong Tôn thất nhà Đường, khắc nghiệt với bá quan văn võ. Nàng không bằng lòng người nào, liền đày người ấy ra khỏi Trường An, kinh đô nhà Đường, hoặc buộc người ta phải uống thuốc độc, hay thắt cổ tự tử. Ai cưỡng lại, nàng bắt chém ngay. Vợ và con gái của những vị quan vô phúc ấy đều bị bắt vào cung để làm tôi tớ cho nàng. Vua Cao Tôn biết những gia đình này oan ức vô tội, nhưng nhà vua đã để cho Vũ Hậu cướp hết cả quyền hành, đâ còn dám bênh vực, che chở cho ai. Hơn nữa, nàng cấm tuyệt các cung nữ không được đến gần vua, sợ rằng sẽ có một nàng quý phi mới chiếm được lòng vua rồi sẽ hại nàng và thay thế nàng.  Nàng nhất quyết giữ độc quyền ngôi Hoàng hậu để một mình tự do lung lạc trong Cung cấm nhà đường.
 
THI SĨ LẠC TÂN VƯƠNG.
Hàn Quận chúa là chị ruột của Vũ Hậu. Nàng đẹp hơn Vũ Hậu nhiều và hiền lành dịu dàng hơn. Hàn Quận chúa được vua yêu chuộng và có thai, sinh được một Hoàng nam. Bỗng dung, một hôm, Hàn Quận chúa vừa ăn cơm xong thấy đau bụng dữ dội rồi lăn ra chết, sùi bọt mép…Vũ Hậu vờ vĩnh thương tiếc chị, khóc lóc rất là thê thảm.
Hàn Quận chúa cũng đã có một người con gái lớn, Vệ công tước, rất đẹp, thường ra vào Cung điện. Một hôm giai nhân ăn cơm xong cũng đau bụng rồi chết, y như trường hợp của mẹ. Vũ hậu cũng thương xót cô cháu bất đắc kỳ tử, và khóc la thảm thiết vô cùng.
Thấy thảm cảnh trong Cung điện như thế, vua Cao Tôn buồn rầu, sinh bịnh hoạn. Nhà vua âm thầm đau khổ, đâu dám tỏ tâm sự cùng ai. Chỉ có một hôm, viên tể tướng hỏi nhỏ nhà vua:
-         Tâu Bệ Hạ, thần trộm xem như dạo này ngọc thể bất an….
Vua gật đầu, nói thầm:
-         Trẫm buồn vì Vũ Hậu lạm quyền, giết hại bao người vô tội.
-         Tâu Bệ Hạ, nếu Bệ Hạ truất ngôi Vũ Hậu, ắt triều chính sẽ yên.
-         Trẫm cũng đã nghi như thế. Vậy khanh viết sắc lệnh đưa Trẫm xem. Nhưng khanh phải giữ bí mật, rất bí mật đấy nhé!
-         Thần xin tuân lệnh.
Không biết làm sao thám tử của Vũ Hậu lại biết được vụ âm mưu “đảo chính” này, và tố cáo với nàng. Hôm sau, vua Cao Tôn ngồi trên ngai vàng, đang xem tờ sắc lệnh thì Vũ Hậu chợt bước vào. Nàng tiến đến vua:
-         Hoàng thượng đang ngự lãm giấy gì thế?
Vua hốt hoảng, vội giấu tờ sắc lệnh trong áo. Nhưng Vũ hậu đòi xem cho kỳ được. Hoàng đế sợ run lên, không dám giấu tờ giấy bí mật nữa, trao cho Vũ hậu và bảo:
-         Đây chỉ là bản dự thảo sắc lệnh chớ không phải sắc lệnh.
-         Ai viết đây? Hoàng Thượng cho thiếp biết được chăng?
Nhìn thấy nét mặt giận dữ của Vũ Hậu, vua Cao Tôn liền ấp úng trả lời:
-         Phó Tể..tể tướng viết đấy.
Vũ Hậu liền gọi quân hầu bắt Phó Tể tướng đem ra chém đầu ngay giữa chợ, và bắt vợ con vào cung làm tôi tớ cho nàng…
Chính sách bạo tàn kinh khủng của Vũ Hậu khiến cho trong Triều đình, ngoài dân gian ai nấy đều khiếp đảm uy quyền của nàng. Duy có một người nhất định không sợ, và quyết tâm chờ đợi cơ hội để nổi dậy cuộc đảo chính. Người ấy là một thi sĩ, một trong nhóm thi nhân “Tứ Kiệt” có danh tiếng nhất ở thời bấy giờ: Lạc Tân Vương (Lo Pin Wang).
Lạc Tân Vương, tác giả bài thơ bất hủ “Dịch thủy tống biệt”, đã có lời phê bình Vũ Hậu như sau đây, ngay sau lúc nàng âm mưu vu cáo cho Vương Hoàng hậu bóp cổ chết con nàng:
Mày cong như râu bướm,
Nhan sắc chịu nhường ai!
Vu cáo người, không gớm,
Che mặt sau cánh tay!
Mê hoặc Vua hôm sớm,
Hồ ly tinh, ghê thay!
(N.V dịch)


Lúc bấy giờ, có thể nói rằng nhà thơ Lạc tân Vương hầu như là người duy nhất không biết sợ uy quyền của Vũ Hậu. Nhưng không sợ cũng không làm gì được người đàn bà hiểm độc ấy. Chính trưởng nam của nàng là Thái tử Lý Hoằng, một hôm không tuân lịnh của nàng, liền bị chết ngay sau khi ăn cơm trúng thuốc độc.
Nàng giết con trai trưởng như thế, rồi cho con trai thứ, là Hoàng tử Lý Hiền, lên làm Thái tử. Lý Hiền vẫn nơm nớp lo sợ, xin ra ở riêng ngoài thành. Không bao lâu, Lý Hiền lại bị mẹ tình nghi là có ý phản loạn, và bị đày ra quan ải. Nơi đây, Lý Hiền chết một cách hoàn toàn bí mật, do lịnh của Vũ Hậu.
Vua Đường Cao Tông, phần bị buồn phiền, loại trí, phần lo cho uy thế của nhà Đường suy sụp, càng ngày càng đau nặng. Năm 693, vua mắc chứng bệnh phong huyễn, đầu lại bị sưng lên, đôi mắt gần mù. Các vị Ngự y dùng khoa châm cứu để chữa bịn cho vua…Vũ hậu lúc bấy giờ đã có thâm ý để cho vua chết, bèn nổi giận la mắng ngự y:
-         Sao các ngươi dám lấy tay sờ mó trên long nhãn của Hoàng đế? Tội các người đáng chết chém!
Nhưng nhà vua cứ để các ngự y châm cứu thử xem may ra hết bịnh. Không ngờ nhờ môn châm cứu ấy mà đôi mắt vua khỏi mù, đầu vua hết sưng. Vũ Hậu giả vờ reo mừng hoan hỉ, vội vàng lấy một trăm thước lụa ban thưởng cho các ông thầy thuốc. Nhưng một tháng sau tự nhiên bịnh vua tái phát một cách vô cùng bí mật, và ngày 27 tháng 12 năm 683, vua Đường Cao Tôn băng hà…cũng một cách bí mật vậy.
Tuân lịnh của Vũ Hậu, Triều thần tôn Hoàng tử thứ ba, là Lý Triết lên ngôi, lấy niên hiệu Trung Tôn Hoàng đế.
Sự thật, thì Trung Tôn làm vua để lấy vì đó thôi, chứ tất cả quyền hành đều ở trong tay Vũ Hậu.
Trung Tôn lên làm vua cũng chẳng được bao lâu, liền bị Vũ Hậu truất ngôi, đầy đi tỉnh xa. Hoàng Tử thứ tư, Lý Đản, lên thay thế, nhưng cũng bị Vũ Hậu giam trong cung cấm không cho tiếp xúc với Triều đình
Tháng 9 năm 690, Vũ Hậu lại truất phế thái tử Đản, rồi nàng tự xưng là Vũ Tắc Thiên Hoàng Đế (Wou Tsotien).
 
THI SĨ CẦM ĐẦU CUỘC ĐẢO CHÍNH…HỤT
Đời chính trị của Vũ Hậu thật là đầy tội ác. Không ai ngờ rằng một bà Hoàng Hậu có thể giết chồng giết cond dể cướp ngôi thiên tử, và thi hành một chính sách độc tài bạo ngược, ngồi trên đầu trên cổ một nước Tầu đang cường thịn, và rộng mênh mông dưới thời nhà Đường. Nước Tàu của Vũ Hậu còn rộng hơn Trung quốc ngày nay: Phía Bắc gồm cả Cao ly, Mãn Châu, phía Tây đến biên giới Thổ nhĩ Kỳ, phía Tây Nam bao cả Tây Tạng, phía Nam chiếm cả Giao chỉ (bắc Việt bây giờ). Hơn nữa một châu Á trên mấy trăm triệu người đều phải cúi đầu khom lưng làm nô lệ cho một người đàn bà chuyên chế bậc nhất trong Lịch sử nhân loại.
Về đời tư, Vũ Hậu cũng là một người đàn bà dâm ô số 1. Bà đã gần 70 tuổi, nhưng trong Cung điện của bà chỉ chứa toàn những bọn trai tráng từ 29 đến 35 tuổi, các ông thầy chùa còn trẻ măng, để thỏa mãn nhục dục của bà. Những chàng thanh niên ấy đều phải đánh phấn, thoa son và tranh nhau làm duyên dáng để được Nữ hoàng chiếu cố đến. Mỗi đêm, bốn năm cậu phải luân phiên nhau hầu hạ bà, kế tiếp nhau từ canh một đến canh năm. Trong số đó, có hai anh em họ Tchang, 21 và 20 tuổi, là được Vũ Tắc Thiên sủng ái hơn cả.
Nhà Đường có rất nhiều thi sĩ có tài và có tiếng. Nhưng vẫn có một số các nhà Thơ tầm thường chỉ ca tụng Vũ Hậu, để được Vũ Hậu ban cho ân huệ. Cũng như dưới các chế độ độc tài phong kiến, luôn luôn có một bọn “văn nhân”, “thi sĩ”, chuyên môn nịnh bợ uy quyền cầu mong các vị thánh chúa ban thưởng bạc vàng, địa vị. Bọn đó thường có khi vỗ ngực tự xưng là Thi Hào, Thi Bá, làm Thơ viết sách để tâng bốc nhà vua, lập hội lập đàn để suy tôn thánh thượng. Bọn Văn nô đó, từ Cổ chí Kim, ở xứ nào cũng có cả.
Nhưng vẫn có một số thi nhân chân chính, đứng hẳn ra ngoài, nhất định không hùa theo. Nhà thơ quyết liệt chống lại Vũ Hậu chính là Lạc tân Vương một thi sĩ có thiên tài, có chí khí, có lòng yêu nước, yêu dân, thương xót người đồng loại bị kẻ phụ nữ chuyên quyền áp bức. Thi sĩ cầm đầu một nhóm người cách mạng, trong đó có Từ Kính Nghiệp và các con cháu Cựu hoàng Đường cao Tôn, nổi dậy ở Dương Châu, Thi sĩ tự tay viết tờ hịch kể tội Vũ Hậu. Trong hịch có câu:
“Ngôn do tại nhĩ, trùng khởi vong tâm. Nhất phần chí thổ vị can, lục xích chí co hà tại?” Lời nói “của tiên đế” còn văng vẳng bên tai, lòng trung quân há dễ quên được ư? Một nấm đất chưa khô (vua Cao Tôn vừa băng hà), mà đứa con mồ côi sáu thước kia đâu? (hoàng tử Đản bị giam cầm).
Tờ hịch này gây ra cảm xúc mạnh mẽ trong nhân gian, đến cả Vũ Hậu xem cũng phải giật mình. Nhưng cuộc đảo chính thất bại, Từ Kính Nghiệp bị chặt đầu, bọn quân lính của Vũ Hậu dâng thủ cấp lên bà rồi đem bêu ra ngoài chợ. Lại một lần nữa, Vũ Hậu thắng thế. Uy quyền càng thêm mạnh. Thi sĩ Lạc tân Vương buồn lòng, vào trú trong chùa Linh Ấn, cạo đầu đi tu, sau làm Hòa thượng. Số người trí thức và bình dân theo Nghĩa quân bị bắt bớ, tù tội, giết chóc vô số kể.
 
CUỘC ĐẢO CHÍNH THỨ BA. CÁI CHẾT BUỒN THẢM CỦA VŨ HẬU
Nhưng mọi việc đều kết cuộc theo lòng Trời. Vũ hậu củng cố Ngai vàng được 15 năm, bằng xác chết, bằng căm thù, bằng oán hận của toàn dân.
Bà đã 80 tuổi. Thể xác đã mòn mỏi, tinh thần kiệt quệ, các kẻ tôi tớ trung thành với bà đều dần dần xa lánh, hoặc bị giết chết một cách thê thảm. Quân lính cũng chán nản vì chính sách tham tàn bạo ngược của một người đàn bà khát máu, không còn muốn ủng hộ chính sách của Vũ Hậu nữa. Một buổi sáng tinh sương, đầu tháng giêng năm 705, một bọn lính cầm dáo mác ùa vào cung điện giết chết hết bọn trai tráng trong “A phòng” và chặt đầu hai anh em chàng Tchang cưng nhất của bà. Chính tể tướng Trương Gián Chỉ chỉ huy cuộc đảo chính này, Vũ Hậu nằm trong buồng, nghe tiếng kêu la kinh hãi, vội vàng chạy a. Gặp Trương Gián Chi, bà hỏi:
-         Chuyện chi thế, Tể tướng?
Một tên lính kề gươm vào cổ bà, nhưng Tể tướng khoát tay bảo:
-         Đừng giết hắn.
Tể tưởng buộc Vũ Hậu phế vị tức khắc, và bỏ nhà Chu, khôi phục nhà Đường, tái lập Lư lăng Vương lên ngôi (Đường Trung Tôn), bắt giam Vũ Hậu trong ngục (22 tháng 5 năm 705).
Cuộc đảo chính thành công, và cả sự nghiệp bạo tàn dâm loạn của Vũ Hậu trong hăm mấy năm trời bị sụp đổ trong nháy mắt.
Vũ Hậu chết âm thầm, lạnh lẽo trong ngục thất, vài tháng sau. Bà thọ được 81 tuổi. Có sách nói là 83 tuổi. Người ta chôn xác bà Vũ Tắc Thiên Hoàng đế như một kẻ ăn mày, không một ai thương tiếc.
 
SAU VŨ HẬU, ĐẾN VI HẬU…
Chuyện Vũ Hậu đến đây đã chấm dứt. Nhưng rồi Đường Trung Tôn lên nối ngôi, cũng lại bị một thiếu phụ là Vi Hậu chuyên quyền.
Trung Tôn là một nhà vua quá hiền lành, yếu ớt, cả ngày chỉ thích xem Kinh Phật để cho Vi Hậu lộng quyền trong cung cấm.
Dưới thời Vũ Hậu, có ông sư Trần Huyền Trang (Yi-Tsing) người ở Hồ Bắc, năm 671 đi theo đường biển, ghé Sumatra, sang Tích Lan và Ấn Độ học Kinh, 24 năm sau Thầy trở về Tàu (năm 695), thỉnh về trên 650 quyển Kinh, bộ kinh Tam Tạng, và dịch ra Hoa ngữ. Vua Trung Tôn mời thầy vào cung để dậy Kinh Phât, hoặc chính vua thân hành đến chùa để dịch Kinh Tam Tạng với Thầy. Vua mê học Phật, bỏ bê việc nước cho Vi Hậu.
Vi Hậu lại là một người đàn bà dâm dục không kém gì Vũ Hậu, không kém gì Messaline của La Mã thuở xưa. Vi Hậu gả con là công chúa Trường Lạc cho Vũ sùng Huấn, con trai của Vũ tam Tư (Wo San Sseu). Ông này lợi dụng tình nghĩa suôi gia, thường ra vào tự do nơi cung điện rồi tư thông với Vi Hậu (Wei). Thái tử Trọng Tuấn, là con riêng của vua Trang Tôn, lập mưu giết Vũ tam Tư và Vi hậu, không ngờ cuộc âm mưu bị bại lộ, thái tử TRọng Tuấn bị giết. Vi Hậu bỏ thuốc giết luôn chồng (3 tháng 7 năm 710) để một mình rảnh tay cai trị. Nhưng đêm 25 tháng 7, Hoàng tử Long Cơ đem binh nào cung, giết Vi Hậu và cả gia đình họ Vũ. Quân lính cắm thủ cấp của Vi Hậu trên lưỡi mắc đem bêu ra giữa chợ, bỏ mặc cho dân chúng lấy xuống chà đạp, và quăng xuống hồ.
Thái tử Long Cơ tôn cha là Tương Vương lên ngôi, lấy niên hiệu là Đường Duệ Tôn (Jouei-Tsong).
Duệ Tôn ở ngôi chỉ hai năm, rồi tự ý thoái vị làm Thái thượng hoàng, nhường ngôi cho Thái tử Long cơ ngày 8 tháng 9 năm 712. Long Cơ lên nối nghiệp Đế, lấy niên hiệu là Đường Huyền Tôn (Hiuan-Tsong), tức là vua Đường Minh Hoàng (712-759).
Đường Huyền tôn nổi danh trong Lịch sử là một vị hoàng đế vĩ đại, một đáng minh quân của thời Thịnh Đường, thời đại lý thái bạch và đỗ phủ. Nhưng về sau trong nước ông cũng có loạn An Lộc sơn chỉ vì một nụ cười đổ nước nghiêng thành củ một giai nhân khác là Dương Quý Phi (Yang Kouei Fei)…
 
 
 
 
 
 
 
 
12 – TỪ HI THÁI HẬU
Đây là lịch sử một người đàn bà khắc nghiệt và tàn bạo nhất của nước Tàu ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Bàn tay ngọc của bà nắm cả quyền sinh tử của một đế quốc phong kiến, rộng một nửa châu Á, gồm trên 400 triệu dân. Cuộc đời dâm đãng của bà mãi cho đến 80 tuổi vẫn còn làm kinh ngạc cả thế giới, và trên địa hạt chính trị một mình bà nắm đầu cả một triều đại Mãn Thanh, mà bà làm cho run sợ, kinh hồn, trong 5 năm chuyên quyền độc đoán, đương đầu với 6 cường quốc: Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nga, Nhật.
Hai nhà văn lừng danh nhất của nước Tàu, Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, khuyên bà, bà không nghe. Một tay gian hùng bậc nhất ở triều đình, Viện thế Khải sợ bà như sợ cọp. Ngồi trên ngai vàng, và dẫm chưn lên hàng triệu xác chết. Thế mà cả nước Tàu chẳng ai dám làm gì bà. 83 tuổi bà chết, nước Tàu bỗng  dưng không có chủ, rơi vào nội loại, đồ nát tan tành…
 
TRÊN NGỰC CÓ HÌNH CON HỔ
Mới ra chào đời 3 hôm, cô bé Lan Nhi đã có một ông thầy xem tướng bảo: nơi ngực có hình con hổ, đó là điềm quý tướng, về sau khi lớn lên được tiến cung làm Chúa tể thiên hạ”.
Cha mẹ của Lan Nhi thuộc dòng thế gia lệnh tộc được trọng vọng nhất ở Mãn Châu. Tuy vóc vạc bé nhỏ nhưng bẩm chất cứng cỏi, đứa bé đã thường thích tắm gội bằng nước lạnh và phơi truồng trước gió mùa giá rét.
Vào thời ấy ly loạn tràn lan khắp xứ Trung Hoa. Hai nước Pháp và Anh dùng võ lực uy hiếp Chính phủ của Hoàng đế nhà Thanh buộc phải mở rộng các thương cảng cho ngoại quốc thông thương, bồi thường chiến phí và nhượng Hương Cảng cho người Anh làm tôi giới. Toàn dân sôi sục căm hờn, nhất là đối với các giáo sĩ và những nhà doanh thương ngoại quốc.
Một người tên là Hồng Tú Toàn đứng lên cầm đầu một đám nghĩa quân, và xưng hiệu “Thái bình thiên quốc” nổi lên chống lại triều đình Mãn Thanh. Người theo rất đông, thế giặc mạnh như vũ bão, sắp tươi tỉnh của cha Lan Nhi trấn nhậm, ông cùng gia quyến lo chạy trốn trước, bỏ cả nhiệm vụ. Về sau bị triều đình khép tội, bất cầm ngục. Ông sầu muộn nên phát bệnh chết trong khám.
Từ đó Lan Nhi và mẹ lưu lạc đó đây, sau cùng vì đói khổ quá nên Lan Nhi phải bán mình vào nhà một trọc phú ở Quảng Đông. Bị hành hạ khổ sở đủ điều, tuy vậy nàng cố nhẫn nhục chịu đựng.
Khi Hoàng Đế Đạo Quang băng hà, vua Hàm Phong lên nối ngôi Thiên Tử và giáng chiếu tuyển chọn cung nữ. Theo tục lệ triều Mãn Thanh, cung nữ được tuyền trong hàng quý tộc và hoàng phái, Lan Nhi vốn dòng quý phái nên nàng quyết định ghi tên ứng thí.
Trước ngày lễ tuyển phi, quan Thái phó tới dạy cho Lan Nhi những cách đi đứng, lễ nghi và đối đáp theo tục lệ trong Cung.
Lúc nàng đến trình diện trước ban giám khảo, nàng đã làm cho toàn ban chấm thi phải lấy làm lạ về tài ứng đối trôi chảy và dáng dấp yêu kiều của nàng. Kể từ đó phải chịu một phen lựa kín đáo về thân thể do những bà giám khảo xem xét kỹ lưỡng trong căn phòng vắng vẻ.
Những thiếu nữ được trúng tuyển sẽ được trình diện trước Hoàng đế và Ngài sẽ chọn những người mà Ngài ưa thích nhất. Số phận của đám người ấy sẽ được địn đoạt trong giờ phút chót này. Trong khi chờ đợi Ngự giá trong vườn Thượng uyển, đám thiếu nữ ấy bị bọn thái giám lên mặt hống hách, nên khép nép sợ hãi. Duy có Lan Nhi vẫn nghiễm nhiên như thường. Nàng đợi lúc xe giá đến gần, liền lên giọng chỉ trích bọn Nội gián kia, cốt làm cho nhà Vua lưu ý đến mình. Thật quả như dự đoán của nàng, vua Hàm Phong ngạc nhiên về sự dạn dĩ ấy, và đăm đăm nhìn sắc đẹp lộng lẫy của nàng, liền chấm cho nàng được trúng tuyển. Ngồi trên chiếc kiệu hoa rực rỡ ánh vàng có các phó quan theo hầu thẳng tiến vào Cung điện, Lan Nhi đã thỏa giấc mộng phi tần từ lấy lâu ôm ấp.
 
NGỒI BÊN CHÂN VUA
Sau buổi tiến Cung, Lan Nhi từ địa vị một Cung nữ tầm thường không bao lâu làm cho mọi người phải chú ý. Dùng tài ăn nói bặt thiệp, khéo chiều chuộng, nàng đã làm đẹp lòng Hoàng hậu Từ An, vợ chính thức của Hoàng đế. Về phần vua Hàm Phong, Ngài không khỏi đắm say vì sắc diễm kiều và giọng nói dịu dàng của quý phi, đào tơ mơn mởn, đến nỗi khuya sớm không rời.
Sau một thời gian tạm yên loạn “Thái bình của Hồng Tú Toàn lại nổ bùng ghê gớm hơn bao giờ hết. Loạn quân vây hãm Nam kinh và uy hiếp cả Bắc kinh. Quân triều phải liều thân ngăn trở mới chận được bước tiến vũ bão của quân phiến loạn. Trong khi ấy Lan Nhi khéo chia xẻ nỗi lo âu phiền muộn của nhà Vua bằng cách khuyên lơn và dự bàn tới việc nước. Nàng âu yếm ngồi dưới chân vua, đọc các sớ tâu từ xa gởi về, và đàm đạo cùng Vua về cách giải quyết những vấn đề rắc rối. Trong những trường hợp này, nàng Cung phi yêu dấu của Vua đã tỏ ra thông minh phi thường.
Thời vận đã đến kịp lúc giúp cho nàng sớm toại nguyện, vì sau đó không lâu, nàng sanh được một Hoàng nam đúng vào chỗ mong ước của vua Hàm Phong, vì Hoàng hậu Từ An không có con, Lan Nhi liền được đưa lên chức Tây phi.
Sau khi được lòng nhà vua sủng ái, nàng càng ráo riết hoạt động để kéo những kẻ quyền uy trong Triều về phe mình, trong số ấy có cả các vị Đại tướng và những bậc Vương hầu. Trong lúc Lan Nhi củng cố địa vị bên trong thì bên ngoài những cuộc đổ máu vẫn tiếp diễn mãi không ngừng.
Lợi dụng cảnh hỗn độn trong nước, Triều đình bất lực, người Anh và người Pháp bèn thừa cuộc tàn sát giáo sĩ, tuyên chiến với Trung Hoa, chiếm lấy Quảng Đông, rồi tiến thẳng tới Bắc Kinh. Quân Triều vỡ tan trước lực lượng hùng hậu của đối phương. Nhà vua nhất định dời đô về Nhiệt Hà, cách Bắc Kinh 125 dặm ở về mạn Bắc Vạn Lý Trường Thành.
Đấy là năm 1860, một thời kỳ u ám thảm thê nhất trong lịch sử Trung Hoa, Quân Đồng Minh Anh, Pháp cướp bóc châu ngọc, phóng hỏa thiêu hủy Cung điện, tiếng kêu khóc vang rền một phương trời, khói bốc mù mịt lan rộng hàng trăm dặm.
Hơn nữa, loạn “Thái bình” đoạt lấy Nam Kinh, tín đồ Hồi giáo nổi loạn phá Đại lý. Biết thế chống cự không lại, Thanh Triều phải chịu cầu hòa và ký hòa ước với Anh Pháp. Theo bản ký kết thì ngoài khoảng bồi thường quân phí, Triều đình còn phải cắt đất nhường các đô thị lớn cho Anh và Pháp làm tô giới và người ngoại quốc được tự do thông thường trong nước.
Hoàng Đế Hàm Phong vừa thất vọng vừa đau ốm. Triều thần đổ tội cho Tây phi đã mê hoặc quân vương. Bất đắc dĩ nhà vua phải chiều theo ý của quần thần, hạ chỉ buộc Tây Phi phải tử tiết sau khi vua bằng hà. Nhưng ngọc tỉ (ấn vua) không cánh đã bay đâu mất, khi người ta kiếm để đóng vào tờ sắc chỉ nói trên.
 
CẦM ĐẦU MỘT NƯỚC
Ngày 25-8-1861 vua bằng hà, thọ được 30 tuổi. Chiếc ấn Vua bỗng nhiên lại xuất hiện trong tay vị thân vương Quảng, bác ruột của vua, và là một trong những tinh nhơn tin cậy nhứt của Tây phi. Hành động trước tiên của nàng là tiêu diệt bọn Đại Thần trước kia đã tố cáo nàng, khiến các quan đều khiếp vía.
Tây phi đưa đứa con trai mới 5 tuổi lên ngôi, đặt hiệu là Đồng Trị Hoàng Đế, và tự phong cho mình làm Thái hậu hiệu là Từ Hi. Nàng mới có 27 tuổi. Vì Đồng Trị còn nhỏ, nên Từ Hi Thái Hậu cầm quyền nhiếp chính, coi sóc tất cả việc nước. Quảng, ông bác chồng và là tình nhân của nàng, được nàng tôn làm Phụ chánh Đại thần, nhưng nàng không cho dự việc nước. Từ đó về sau nàng càng lộng quyền, trở nên bạo tàn, kiêu xa thái thậm. Nàng đem tất cả quân lực vào việc dẹp loạn “Thái Bình”, đoạt lại được Phúc châu và phá tan quân giặc trong những năm về sau.
Từ khi Cung điện bị phá hủy, Triều đình dời tới một khu cấm ở giữa Bắc Kinh, chung quanh có những bức tường đá, bên trong có hồ sen, có ao cá vàng, có những vườn hoa mẫu đơn, những khu rừng con con trồng toàn kỳ hoa dị thảo. Nàng truyền lịnh đàn ông không được hớt tóc, và ăn mặc chải chuốt, đàn bà không được trang điểm. Những đứa trẻ sanh trong thời kỳ có tang của đứa vua đều bị coi là con hoang vì mẹ cha chúng đã phạm vào luật thanh kiết.
Sau thời kỳ tang chế, mọi người đều nảy nở bao niềm hy vọng trong tâm khảm, chỉ riêng có Hoàng Đế Đồng Trị lúc ấy được 12 tuổi. Tuy là con ruột của Từ Hi Thái Hậu, được nối nghiệp Đế Vương, nhưng nhà vua thiếu niên cảm thấy mình ở CUng điện nguy nga mà không khác gì bị giam hãm chốn lao tù. Ngày ngày hoàng đế phải dậy từ buổi sớm tinh sương, ngự trên ngai vàng và nghe những bản sớ tâu dài dằng dặc mà ngài chẳng hiểu tí nào cả. Mỗi cử động của ngài đều phải tuân theo một kỷ luật khắc nghiệt. Mẹ là Từ Hi Thái Hậu, chỉ luôn luôn nói tới quyền lợi và bổn phận, không hề có một cử chỉ gì bộc lộ lòng trìu mến thương yêu con. Dần dần Ngài đâm ra oán ghét con người khô khan, hách dịch và vô nhân đạo ấy, trong lòng vị ấu quân nảy sinh ra ý tưởng thoát ly ra khỏi sự kềm chế của bà.
Năm Ngài lên 17 tuổi, Triều đình chọn được 7 thiếu nữ con nhà quý tộc để cho Ngài chọn lựa Hoàng Hậu. Thay vì nghe theo lời Từ Hi Thái Hậu, buộc phải chọn nàng Thân Bình, hoàng đế lại chọn thiếu nữ A Lư Đức, có sắc đẹp lộng lẫy vừa lòng Ngài. Từ Hi quắc mắt nhìn con, cố nén một tiếng kêu căm hờn.
Từ đó giữa Từ Hi Thái Hậu và Hoàng Hậu mới sinh ra mối tư thù.
Thoạt tiên Thái Hậu tìm cách chia rẽ vua và Hoàng hậu, viện cớ “quốc gia hữu sự không nên ninh sách” kỳ thật là sợ Hoàng hậu có thai thì ngôi vị và quyền uy của mình sẽ bị gãy đổ. Nơi phòng Vua bị bọn hoạn quan canh phòng không cho Hoàng hậu đến thường, một mặt khác Thái hậu ngầm đưa các cung tần đến cho con đắm chìm trụy lạc, càng ngày càng sa đọa trong nhục dục, để đừng còn tưởng nhớ đến Hoàng hậu nữa. Nhà vua gặp cảnh chia ly với người yêu, đâm ra thất vọng, chơi bời phóng đãng, tiêu mòn sức lực trong cảnh mê ly bất kể ngày đêm. Không bao lâu, nhà Vua vướng bệnh nặng, ngự y khám xong cho thấy Ngài mắc bệnh phong tình.
Dầu có lời ngăn cấm của Từ Hi Thái Hậu, khi nghe tin chồng hấp hối, Hoàng hậu cũng xông đại vào chốn long sàng. Nhà vua dù kiệt sức cũng cố thảo bức di chúc, ra lịnh sau khi Ngài băng hà, Triều đình bắt giam Từ Hi Thái Hậu. Tin ấy đến tai Thái Hậu, bà tức tốc đến nơi bắt nhà Vua phải đưa di chúc ra, Đồng Trị sợ hãi không dám cãi lịnh. Từ Hi xem xong liền kề vào ngọn bạch lạp, đốt cháy vèo.
Canh hai đêm ấy, nhà vua vì quá khiếp đảm nên băng hà (12-1-1875) Ngài mới hưởng thọ được 19 tuổi.
Tang lễ cử hành xong, Từ Hi Thái Hậu liền lập một người cháu mới được 4 tuổi lên ngôi, tức là vua Quang Tự. Về sau nghe tin con dâu có mang và nếu sanh con trai thì ngôi báu phải trả về đứa bé và chức Thái Hậu cũng mất hết uy quyền, vì phải thuộc về Hoàng Hậu. Sau vài hôm tính kế, Từ Hi Thái Hậu cho vời Hoàng hậu và thân phụ nàng vào cung, đem hết lý lẽ nền luân lý chuyên chế giảng giải cho cha con Hoàng Hậu hiểu rõ ràng vì quyền lợi của quốc gia, mà không thể để cho đứa bé được ra đời vì nó đã mang phải bịnh di truyền của cha nó điều này có thể làm nhục nhã cho quốc thể ngàn đời. Chỉ có cách hy sinh thì danh dự của Hoàng hậu, của Hoàng đế vừa băng hà, và quốc thể của Thanh triều mới có thể cứu vãn được.
Cố nén dòng lệ đau thương tủi hờn, Hoàng Hậu A Lư Đức vì lòng trung trinh, xem phận sự nặng hơn tánh mạng, kết liễu đời mình và luôn cả bào thai đang đang nằm trong bụng bằng chén độc dược, sau khi chồng chết được 70 ngày.
Vững tin vào uy quyền của mình, Từ Hi Thái Hậu càng ngày càng xa xỉ kiêu căng, xây thêm Cung điện, bày đủ cuộc vui. Nhưng trong cung còn có Từ An Thái Hậu là vợ của vua Hàm Phong.
Muốn diệt trừ luôn bà này để được một mình hoàn toàn tự do, Từ Hi hâm bắt giam từ An. Bà này liền lấy trong tay áo ra một đáo sắc chỉ của Hoàng Đế quá cố để lại trao cho Từ Hi xem. Trong bản chỉ ấy, vua Hàm Phong bảo rằng “Từ Hi là một người đàn bà dẫy đầy tham vọng và chuyên chế, nên Ngài trao cho Từ An Thái Hậu trọn quyền bắt giam Từ Hi để xét xử, nếu thấy cần cho quyền lợi của Triều đình”.
Thế mà Từ An không bao giờ dùng đến quyền hành ấy. Để tỏ lòng cao thượng của mình, Từ An Thái Hậu liền đốt mảnh giấy trước sự kinh ngạc của Từ Hi Thái Hậu.
Từ Hi tỏ vẻ cảm động và cảm ơn Từ An về cử chỉ đẹp đẽ ấy. Muốn tỏ tình thân mật, sau khi về Cung, Từ Hi sai thái giám mang biếu Từ An một chiếc bánh do chính tay bà gói, Từ An vui vẻ ăn chiếc bánh ấy, và bị trúng độc chết ngay trong đêm đó.
Hôm sau, anh ruột của Từ An Thái Hậu đến trước cửa Ngọ môn đầu cáo kẻ đã đầu độc em gái của ông, và kêu nài điều tra về cái chết bất ngờ ấy. Nhưng chẳng ai dám nghe những lời kêu thông thiết của ông! Ông kêu mãi đến nỗi khan cổ, khóc hết hơi và cuối cùng kiệt sức, đâm ra cuồng trí, xé quần áo và chết trong cơn mê sảng…
Kể từ đó, Từ Hi Thái Hậu tự do say đắm thú vui riêng và chọn những thanh niên trai tráng từ 16 đến 20 tuổi, vui thú trăng hoa. Những chàng trai trẻ may mắn ấy đều bị Thái Hậu cho thủ tiêu một cách âm thầm bí mật, sau một thời gian ân ái.
 
Cuộc đời dâm đãng của Từ Hi Thái Hậu là cả một trường hi hữu trong lịch sử. Cho đến 80 tuổi, Từ Hi Thái Hậu vẫn còn sức lực, da thịt của bà còn tươi thắm như hồi còn 40 tuổi. Luôn luôn trong phòng Thái Hậu, có rất nhiều chậu hoa quý, và một bày chó, một bầy mèo. Tiếp các bà Phu nhân vợ các Đại sứ Ngoại quốc, Từ Hi Thái Hậu đưa họ đi dạo trong vườn Ngự uyển, và luôn luôn bà đi khỏe hơn họ. Bà nhảy ngang qua những dòng suối uốn quanh, bà leo lên các gò đá lởm chởm, bà đi bách bộ hằng hai ba giờ không thấy mỏi. Một hôm, trong một cuộc tiếp tân, giữa đám đông các bà vợ của các ông Đại sứ Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ý, bà cười nói với bà Đại sứ Pháp như sau đây:
“Quý bà cứ phàn nàn rằng phụ nữ mình mau già. Đó là bởi tại chồng của các bà quên bà, và tình nhân của bà bỏ rơi bà…”
Bà Stéphen Pichon, vợ của viên Đại sứ Pháp, nghe Từ Hi Thái Hậu nói như thế, bà trố mắt nhìn Thái Hậu, hoàn toàn kinh ngạc. Trong lúc đó, các bà Đại sứ Mỹ, Anh, Đức, Ý, Nga cười ngất, và cũng theo phép xã giao phải trầm trồ khen ngợi Thái Hậu.
Câu chuyện bất hủ này được truyền sang Âu Châu làm tài liệu lịch sử và ngoại giao vô cùng thú vị cho các nhà báo thời bấy giờ. Đến nỗi một tờ báo bệ vệ, già cổ lỗ nhất của Anh quốc, là tờ Time, cũng không khỏi không đăng mấy dòng tỏ lời khâm phục sức khỏe dẻo dai hiếm có của Thái Hậu Trung Hoa!        
Từ Hi Thái Hậu xuống lịnh tuyển vợ cho vua Quang Tự, nhưng bà không khỏi ngạc nhiên khi nghe Bộ Lễ trình chỉ có vỏn vẹn hai thiếu nữ ứng cử.
Nguyên nhân sự thờ ơ ấy chỉ vì những quan nhà Thanh không muốn cho các con gái họ vào Cung điện của bà Tư Hi là nơi luôn luôn xảy ra những chuyện ám sát và đầu độc vì quyền lợi hoặc chính trị. Bà Từ Hi tức giận truyền chỉ cho vờ 8 thiếu nữ, con của các quan mà Bà cho là có đủ điều kiện để tham dự cuộc tuyển lựa làm Hoàng Hậu.
Tới ngày chọn lựa, những thiếu nữ nói trên được đưa vào một gian phòng, cực kỳ lộng lẫy. Từ Hi Thái Hậu ngự trên ngai vàng, nét mặt lạnh lùng đôi mắt sắc như dao. Hoàng Đế Quang Tự, cháu bà, khép nép đứng bên trái. Đoàn hoa khôi trang diện vô cùng diễm lệ lần lượt diễn qua trước mặt Thái Hậu và Hoàng Đế, mỗi nàng cầm nơi tay một phiến bài có ghi rõ ràng tên tuổi, gia thế, chức vị của mẹ cha quê quán. Thái Hậu trao cho Hoàng Đế một cây vương trượng, để lúc Hoàng Đế ưng ý nàng nào thì ngài sẽ trao cây vương trượng cho nàng đó cầm.
Say sưa vì sắp đẹp yêu kiều một nàng trong bọn Vua Quang Tự toan trao cây vương trượng cho nàng nhưng bất ngờ Từ Hi Thái Hậu gằn mạnh một tiếng chỉ cho nhà vua một thiếu nữ khác, con gái của một người anh họ của Thái Hậu, Hoàng Đế lấy làm phẫn uất nhưng không dám trái lịnh, đành chọn vị Hoàng Hậu không vừa ý mình. Người thiếu nữ được vì vua trẻ tuổi để ý, buồn bã ra về, lòng vô cùng chán ngán vì thất vọng. Không thể chống lại niềm tủi nhục đau hờn, sau khi tắm gội tinh khiết, nàng kết kiễu cuộc đời bạc phước của mình bằng một giải lụa màu trinh trắng.
Vua Quang Tự nghe tin ấy buồn bã vô cùng. Ngài nhất định không yêu Hoàng Hậu do Thái Hậu ép buộc gán cho Ngài, Ngài đi tìm an ủi trong cánh tay một nàng cung nữ, xinh đẹp, dịu dàng, có học thức tên là Ngọc Trân. Do theo những lời khuyên nhủ của Ngọc Trân, Hoàng Đế nhất quyết ban hành những sự cải cách chống lại quyền uy tàn ác của Thái Hậu. Để theo kịp liệt cường về mọi mặt, Ngài cho dịch sách vở Âu châu ra tiếng Trung Quốc và tạo lập những đoàn hùng binh võ trang theo kỹ thuật Tây phương. Thái Hậu ngoài mặt giữ vẻ thản nhiên, nhưng thâm tâm vô cùng căm tức.
Một hôm Hoàng đế ra lịnh cho vị Đại thần Viên Thế Khải bắt Từ Hi Thái Hậu hạ ngục, nhưng Viên Thế Khải tuy rập đầu tuân lệnh vua, nhưng lại sợ Thái Hậu, nên đem mọi việc kể lại cho Thái hậu rõ.
Ngày hôm sau, vào lối 8 giờ sáng khi Hoàng đế lâm triều như thường lệ, một sắc lệnh của Thái Hậu dạy đoàn quân Ngự lâm bắt giữ nhà vua và sau đó đem giam vua ở Doanh đài, trong Hoành thành, ròng rã mấy năm!
Cung nữ Ngọc Trân là người yêu của vua cũng bị giam vào lãnh cung, không một ai được phép thăm viếng. Ngày ngày nàng ngồi dưới một gốc cây táo trong sân cung, tự tay thảo hằng bao nhiêu bài thơ tịnh lâm ly não nuột mà không bao giờ được đến tay quân vương. Hè qua Thu lại, rồi đến Đông về, muôn ngàn cỏ hoa rời cành nơi cung cấm, nàng cung nữ đáng thương kia cũng chết lần mòn trong đá lạnh.
Cây táo mà dân chúng gọi là “Cây táo Ngọc Trân” hiện nay vẫn còn và hàng năm cũng trổ hoa sớm hơn những cây táo khác, hình như còn phảng phất hồn thiêng của Ngọc Trân cung nữ.
Sau đó, Từ Hi Thái Hậu phải đương đầu với bao nhiêu chuyện rối rắm về chính trị. Các địa phương đã trở thành những quốc gia thực sự ở trong nước. Quân Nga chiếm Lữ Thuận, người Đức đánh luôn Thành Đào. Đối với người Tây phương, nước Tàu là miếng mồi béo bổ cần được phân chia gấp. Đứng trước cơ nguy rõ rệt ấy, toàn dân Trung Hoa cực kỳ phẫn uất nên gây ra loạn.
Quyền Phi (les Boxeurs) vùng dậy khắp nơi. Bọn nãy vẫn khăn đỏ tự xưng không chung đội trời với người Tây phương.
Họ tàn sát Nam tước Von Ketteler, sứ thần Đức quốc và tấn công các sứ quán ngoại quốc, bao vây, công hãm các khu nhượng địa, non ba tháng trời mới có viện binh tiếp cứu.
Trong giai đoạn này, Từ Hi Thái Hậu trải qua những giờ phút kinh hoàng và do dự. Ngài thừa rõ nếu quân nội loại đắc thắc thì Ngài sẽ bị chúng hạ bệ. Lúc cuộc chiến đấu sắp tàn. Ngài e người ngoài quốc sẽ tìm vua Quang Tự để ký hòa ước, vì vậy Ngài truyền đến Doanh đài mở cửa ngục rước Hoàng đế về và cùng nhà vua đào tẩu. Vua Quang Tự từ khi nghe tin Ngọc Trân đã chết thì như kẻ không hồn, tha hồ cho bọn thị vệ lôi kéo. Một buổi sáng mùa Đông lạnh lẽo, nhà Vua co ro trên một chiếc kiệu phủ rèm kín. Từ HI Thái Hậu cải trang làm một cô gái quê, các cung tần thị vệ đi xe ngựa, giã từ kinh kỳ, trốn ra cửa Bắc.
Trong lúc ấy đoàn quân ngoại quốc chiến thắng, say sưa, bạo tàn, hãm hiếp, đốt nhà cướp của, cảnh điêu tàn hiện rõ khắp nơi nơi!...
 
 
HOÀNG HÔN CỦA NỮ CHÚA
Sau đó không lâu, Hòa ước Bắc kinh được ký kết để chấm dứt cuộc lưu vong của Hoàng gia. Lẽ dĩ nhiên triều đình Trung Hoa phải nhận hết phần lỗi, không chịu bồi thường chiến phi và cắt dất nhượng địa thêm nữa. Dù nậy Từ Hi Thái Hậu vẫn mãn nguyện vì được an toàn trở về ngôi hậu. Trái lại toàn dân còn uất ức và ngấm ngầm hoạt động để gây màm cách mạng về sau này.
Nhà Vua đã mất hết ý nghĩa về đời sống quanh mình và ngày đêm nằm bên bàn đèn thuốc phiện để tiêu sầu. Thái Hậu mặc tình chuyên chế. Dến năm 80 tuổi mà sắc diện bà vẫn tươi trẻ như một thiếu phụ ngoài 40, một điều mà mọi người không khỏi lấy làm lạ.
Vào khoảng hạ tuần tháng 11, năm 1908, sau khi dự yến nơi cung điện, Từ Hi phát bịnh. Trong khi ấy, vua Quang Tự, cũng vướng bịnh nặng và trút hơi thở cuối cùng, miệng còn lẩm bẩm tên người yêu.
Thái Hậu thấy cần gấp rút chọn người kế vị, ngài chọn Phổ Nghi, chất của Ngài, lên ngôi vị Hoàng Đế này mới có 2 tuổi và lấy niên hiệu là Tuyên Thống. Từ HI Thái Hậu băng hà ngày 15 tháng 11 năm 1908. Trong những năm chót, bà đã lo xây dựng nơi yên giấc ngàn thu của mình, và sau khi an tang vẫn có hoạn quan ngày đêm canh giữ mộ phần.
Dưới Triều đại của Từ Hi Thái Hậu, nước Trung Hoa chịu không biết bao nhiêu là thảm bại nhục nhã. Đó cũng vì chế độ tàn bạo u mê của bà. Mỗi lần thảm bại càng nung sôi chất chứa lòng uất hận của toàn dân.
Các Văn sĩ Trung quốc như Lương Khải Siêu sau khi bôn tẩu ra ngoại quốc khỏi bàn tay rướm máu của nhà Thanh có viết  nên sách “ Trung quốc sỉ”, lời văn hùng hồn, bi tráng, giọng thành thực thiết tha hài tội Tây Thái Hậu (tức là Từ Hi) và chính sách tôi tệ của bà đã đưa TRung Hoa vào con đường vong quốc. Từ Hi Thái Hậu chết rồi, dân tộc Trung Hoa bừng tỉnh dậy lật đổ Thanh triều.
Nhưng than ôi, cuộc cách mạng của Tôn Văn cũng không làm sao cứu vãn được Trung Hoa, vì một người đàn bà của Triều đại Mãn Thanh đã làm cho nước Tàu mục nát, đổ gãy tan tành!




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2017 20:09:10 bởi Ct.Ly>
21-  SÁU BÀ VỢ CỦA ANH HOÀNG HENRI VIII
ANNE DE CLÈVE
 
 
 
NGƯỜI VỢ THỨ TƯ CŨNG BỊ “CHO VỀ VƯỜN’’NỐT.
 
HENRI VIII đã 42 tuổi. Cả Âu châu đã đồn đãi ông là một ông vua “sát thê”. Ba Hoàng hậu: một bà bỏ trốn, một bà bị chặt đầu, một bà chết yểu. Ông quyết định lập lại gia đình và chọn một người vợ thật vừa ý. Nghe Đại Sứ ở Ý báo cáo rằng công chúa Christine de Milan đẹp lắm và ngoan lắm, vua phái người đến cầu hôn. Nhưng công chúa tra lời: “ Nếu tôi có hai cái đầu, thì tôi xin sẵn sàng dâng lên vua Henri VIII một cái”. Nàng công chúa tỏ ý sợ qua làm hoàng hậu nước Anh sẽ bị vua Henri VIII chặt đầu như Anne Boleyn, nên công chúa vội vàng thối thác.
Thủ tướng Thomas Cromwell đề nghị một người đàn bà khác: ANNE DE CLÈVE, em gái của quận công de Clèves, nước Đức, là người có uy tín rất lớn đối với tình hình nội trị của Đức quốc.
Nghe Thomas Cromwell khen Anne de Clève là một giai nhân tuyệt diễm, vua Henri VIII phái họa sĩ Holbein sang Đức để vẽ chân dung của nàng đem về cho vua xem. Sự thật Anne de Clève là một người nhan sắc rất tầm thường, vô duyên, mặt mũi xấu xí, tay chân cục mịch. Đôi mắt hí, nước da tái mét. mặt rỗ, mũi kỳ lân, điệu bộ như đàn ông, cử chỉ thô kệch như một kẻ tôi tớ. Nhưng họa sĩ Holbein ăn tiền hối lộ, vẽ dung nhan của công nương de Clèves như một mỹ nhân yêu kiều khả ái.
Vua Henri VIII xem hình vẽ, hoàn toàn ưng thuận. Lập tức nhà vua sai sứ sang Đức để rước vị hôn thê.
Anne de Clève sang Anh, được vị Hồng y giáo chủ của giáo phái Anh quốc là Cramner, đại diện Anh hoàng, cùng với năm vị Giám mục, ra bến tàu để chào đón Tân Hoàng hậu, một buổi chiều tháng Giêng năm 1540.
Nhưng than ôi, đến khi Anne de Clève được đưa về cung điện để diện kiến cùng vua, thì Henri VIII cau mày, thất vọng, vị hôn thê xấu quá, chẳng giống một tí nào với bức vẽ của họa sĩ Holbein. Nhà vua tỏ vẻ bất bình và khinh ghét. Vua tức giận bảo với Thủ tướng Thomas Cromwell: “Cù lần lắm! Cô nương cù lần lắm! Người ta lừa gạt trẫm, trẫm không lấy cái con quỷ ấy đâu!”
Thủ tướng Cromwell muốn tìm cách bênh vực Anne de Clève, nhưng Henri VIII nhăn mặt bảo:
- Các người phỉnh gạt trẫm. Không đời nào Trẫm chịu lấy con ngựa cái của nước Đức ấy đâu.
Vua bỏ đi.
 Lúc Anne de Clève chưa đến và vua còn chờ đợi nàng, thì vua có để sẵn một chiếc áo măng tô đắt giá bằng zibeline định để tặng Tân Hoàng hậu. Nhưng khi Vua thấy mặt Anne de Clève rồi, vua bỏ đi, và đem cất luôn chiếc áo măng tô, không cho cô nàng nữa.
Sự từ chối của Anh Hoàng không cưới Anne de Clève sau khi đã ưng thuận rước nàng về Anh quả là một hành động xấc xược và vụng về, có thể gây ra nhiều rắc rối ngoại giao giữa nước Anh và các nưóc Âu châu theo giáo phái Luther.
Vua Henri VIII đành phải nghe lời Thủ tướng Thomas Cromwell, tuy trong lòng ông rất tức giận. Thủ tướng là người đã mưu mô để cử Anne de Clève làm Tân Hoàng hậu.
Hôn lễ được vua chấp thuận và cử hành ba ngày sau khi Anne de Clève đến London, nhưng vua ra lệnh làm đám cưới rất sơ sài, cấm tất cả các cuộc liên hoan, bãi bỏ mọi sự đón rước linh đinh, và không cho chuông nhà thờ reo báo tin mừng.
Năm tháng sau, vua ly dị với Anne, cho nàng một số tiền và hai lâu đài ở Richmond, bắt nàng đến trú ẩn nơi ấy.
Còn Thủ tướng Cromwell, thì Vua truyèn lệnh bắt giam trong tháp London vì tội phản bội, bị xử chặt đầu ngày 28 tháng 7 năm 1540.
 
 
 
 
--&---
 
 
22 -  SÁU BÀ VỢ CỦA ANH HOÀNG HENRI VIII
CATHERINE HOWARD
 
 
 
 
 MỘT HOA HỒNG KHÔNG GAI
VUA ra lệnh xử chém Thủ tướng Cromwell ngày 28. 7.1540  và ngay hôm ấy vua cưới luôn cô thứ năm: Catherine Howard, 18 tuổi, sau khi mời hoàng hậu Anne de Clève, nàng Công Chúa Đức bạc phước vô duyên, phải đi xa thủ đô Anh không bao giờ trở lại.
Catherine Howard đẹp hơn Anne de Clève thùy mị và duyên dáng hơn, ngây thơ dịu hiền, tính nết không chê vào đâu được. Nàng là trưởng nữ một gia đình thế phiệt có uy tín và thế lực trong Triều đình và được tuyển chọn vào Cung để hầu Hoàng hậu Anne de Clève. Lần đầu tiên vua Henri VIII trông thấy Catherine trong một dạ hội, nhà vua mê ngay và đêm ấy Catherine cũng ngoan ngoãn tuân theo mệnh lệnh của Vua, rất dễ dàng, không chống cự. Sự thật Catherine không có tham vọng làm Hoàng hậu. Được vinh hạnh làm tình nhân của vua, nàng cũng đã sung sướng rồi. Nhưng sau một đêm đắm đuối bên hương vị ngào ngạt của cô gái đương tơ, nhà vua đã say mê nàng, và nhất định tôn nàng lên ngôi Hoàng hậu. Vua đê mê khẽ bảo với quần thần: “ Nàng là một hoa hồng không có gai”.
Sau đêm ấy, vua tống cổ hoàng hậu Anne de Clève, người con gái xấu xí đã làm cho vua thất vọng, và đem chặt đầu Thủ tướng Cromwell, người đã lừa gạt vua, rồi làm lễ thành hôn với Catherine.
Lúc bấy giờ, tóc vua đã bạc, bụng vua đã phệ, chân vua bị ung thư, vua quyết định Catherine sẽ là người vợ cuối cùng và chắc rằng Hoàng hậu thứ năm sẽ là người bạn lòng yêu quý nhất của Vua trong những ngày tàn tạ.
Nhưng dân chúng Anh đã gọi Henri VIII là “ Râu Xanh”  theo một truyện tích thuở xưa của Pháp như sau đây. Có một hung chúa đã chặt cổ liên tiếp sáu người vợ sau khi đã thỏa mãn dục tình với mỗi người. Người ta gọi tên chàng là Râu Xann (Barbe Bleue) vì chàng có một bộ râu xanh, và mặt chàng hung ác ghê tởm. Cắt cổ xong sáu người vợ, chàng treo sáu xác chết còn đẫm máu trong một căn buồng kín trong lâu đài của chàng. Đến người vợ thứ bảy, sau khi thỏa mãn dục tình, chàng trao cho nàng chìa khóa căn buồng và bảo : “Tao cấm mày không được mở cửa căn buồng bí mật của tao. Nếu mày mở tao sẽ giết mày.” Xong rồi chàng đi vào rừng. Chàng vừa ra khỏi nhà, thì người vợ lấy chìa khóa mở cửa buồng xem có gì ở trong. Vừa trông thấy sáu xác chết đàn bà treo lủng lẳng đầy máu và không có đầu, nàng kinh hoảng đánh rơi chìa khóa xuống một vũng máu và té xỉu. Nàng vội vàng ngồi dậy chạy ra ngoài và khóa cửa buồng lại nhưng máu dính vào chìa khóa nàng rửa mãi không sạch. Nàng biết thế nào cũng sẽ bị chúa Râu Xanh giết, liền bảo cô em gái của nàng là Anne leo lên cái tháp cao ngó xuống cánh đồng mênh mông xem hai người anh của nàng đã đến hay chưa. Vì nàng biết hôm ấy hai người anh của nàng, hai chàng kỵ mã làm Ngự lâm pháo thủ, sẽ đến thăm nàng. Nhưng Anne đứng trên tháp cao nhìn tứ phía chẳng thấy bóng hai người anh đến. Chốc chốc nàng hỏi: “Anne ơi, em ơi, em không thấy có gì đến ư?”  thì Anne đáp: “Em chỉ thấy nắng bụi mịt mù và cỏ xanh um”. Chàng Râu Xanh chợt về, thấy chìa khóa dính máu liền hăm he giết vợ. Nhưng cùng lúc ấy hai người anh của nàng cũng phi ngựa đến nơi. Chàng Râu Xanh cầm gươm đang sắp chặt cổ vợ thì hai chàng kỵ mã nhảy xổ tới chém đầu hung chúa...
Ấy là chuyện cổ tích Pháp. Dân chúng Anh gọi vua Henri VIII của họ là “Râu Xanh” kể cũng không oan. Vì ông đã chặt đầu một người vợ, hai người bị đuổi đi, một người chết yểu, rồi đến người vợ thứ năm, Catherine Howard, cũng sẽ bị chặt đầu, sau 15 tháng sống chung tràn trề hạnh phúc. Trong tuần trăng mật ngắn ngủi ấy, nhà vua cưng Catherine hơn những cô vợ trước. Có nàng, vua tự thấy trẻ lại, và đêm ngày truy hoan trong cuộc tình duyên đắm say thơ mộng. Cho đến đỗi nhà vua bỏ bê cả việc nước, không them đoái nhìn tới mặc dầu trong lúc ấy Charles Quint, Hoàng đế Đức và François I, vua nước Pháp, đang tranh giành nhau làm bá chủ Âu châu. Tân hoàng hâu nước Anh được vua đưa đi thăm các tỉnh miền Bắc, với một đoàn tùy tùng trên bốn ngàn người, có cả bộ binh và pháo binh. Vì yêu mê Catherine, Henri VIII muốn nàng được tôn trọng đặc biệt và tất cả các cuộc đón rước vua và hoàng hậu đều được tổ chức tưng bừng trọng thể.
15 tháng! Vâng, tất cả giấc mộng huy hoàng ấy chỉ kéo dài được 15 tháng thôi. Bỗng một hôm, một kẻ nịnh thần thù ghét Catherine tâu với vua rằng Catherine trước kia chỉ là một cô gái lăng loàn, thường chung chạ với nhiều bọn trai, và nhất là với người anh họ, Tom Culpeper, hiện làm quan cận vệ của Vua.
Giám mục Thiên chúa giáo của Giáo Hội Anh quốc là Cramner, được phe thù địch ganh ghét Catherine trao cho nhiệm vụ tố cáo các “tội ác” của Catherine: nào là lúc 16 tuổi nàng đã “mèo chuột” với một nhạc sư tên là Manox, nào là Catherine có bùa yêu làm mê hoặc nhà vua, nàng là một con mẹ phù thủy ghê tởm. v.v...
Nghe những lời buộc tội nặng nề với những “bằng chứng”  phần nhiều, là bịa đặt, hoặc thêu dệt, vua Henri VIII nổi giận đùng đùng la hét lên : “Thế thì nó là con chó! Con chó cái đi kiếm đực! Trẫm sẽ tự tay trẫm chặt cổ nó. Trẫm truyền lịnh hãy bắt con đĩ ấy với tất cả mấy thằng tình của nó, đem ra tra tấn cho cực kỳ nghiêm khắc, rồi báo tin cho trẫm biết.”
Henri VIII chỉ vì mù quáng nghe lời những nịnh thần và những kẻ vì quyền lợi cá nhân, bè đảng, mà tố cáo Catherine, cũng vì ghen vô cớ với cô vợ trẻ đẹp, mà ra lệnh cho tòa án kết nàng vào tội tử hình.
Catherine Howard, Hoàng hậu Anh quốc, vợ thứ năm của Anh hoàng Henri VIII, bị lên đoạn đầu đài sau một phiên tòa theo lịnh vua. Nàng vừa đặt đầu trên miếng gỗ thì một lão đao thủ phủ mặc quần áo đỏ cầm đao chặt xuống một lát, đầu nàng bay xuốnc đất,  máu tóe lên trời...
Nàng chưa được 20 tuổi.
 
 
--&--
 
 
 
 
 
23. SÁU BÀ VỢ CỦA ANH HOÀNG HENRI VIII
CATHERINE PAAR
 
 
NÀNG LẠI SUÝT BỊ CHÉT CHÉM...
ĐÔI mắt to, cái mũi to, lông mày rậm, bà Hoàng hậu thứ sáu đã góa một đời chồng lúc 16 tuổi, đến 30 tuổi lại góa một lần thứ hai.
Năm 1533, bà tái giá với Henri VIII. Lần này, nhàvua đã chán ngán về cái tiếng đồn “Râu Xanh” của toàn dân gán cho ông, ông nhất định sống yên ổn để dưỡng tuổi già với bà vợ cuối cùng. Bà này hết sức chiêu chuộng vua, và dĩ vãng, cũng như hiện tại, không tố cáo nàng một tội ác nào được. Nhà vua cũng hoàn toàn thỏa mãn với người vợ lớn tuổi đã có nhiều kinh nghiệm.
Bỗng một hôm, trong một cuộc đàm luận về tôn giáo, nhà vua nói về Thánh Thể của Chúa thì Catherine mỉm cười, tỏ ý không tin. Tức thì, hôm sau, có kẻ đâm thọc với vua: “Hoàng hậu phải là một kẻ tà đạo mới có ý chống báng giáo điều của Chúa”.
Henri VIII ngẩm nghĩ gật đầu: “Ừ, tà đạo... tà đạo... phải bắt giam hoàng hậu để tra tấn... rồi chặt đầu…”
Nhưng Catherine Paar khóc lóc quỳ xuống van lơn vua: “Thần thiếp chỉ muốn học hỏi nơi triết lý cao siêu của Hoàng thượng...”
Lúc bấy giờ nhà vua đã ốm yếu, bị bại, không đi được, rồi một đêm, gần 1 giờ sáng, gương mặt vua bỗng đổi ra màu tím bầm. Vua trợn mắt, trào máu ra miệng, chết không trối được một lời.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.11.2017 10:45:12 bởi Ct.Ly>
24 -  SISSI, Nữ hoàng Áo Quốc
 
 
CHẮC đa số bạn đọc, nhất là bạn trẻ, đều có xem phim Sissi mà vai công chúa, do Romy Schneider đóng, đã làm cho các bạn say mê suốt mấy tiêng đồng hồ.
Sissi chính là tên của Hoàng Hậu Elisabeth d'Autriche, nổi tiếng trong Lịch sử, một giai nhân Tây phương mà đời sống cho đến cái chết, là do một định mệnh lạ lùng sắp đặt từ thuở bé. Danh từ “Hoàng Hậu của Cô Đơn” (L’Impératrice de la Solitude) mà nhà văn Maurice Barrès đặt cho bà, có thể gồm cả ý nghĩa chua chát, bi thương của một số kiếp tài hoa đáng lẽ được rất nhiều hạnh phúc, mà chỉ toàn là đau khổ âm thầm.
---&--
Con gái út trong gia đình có ba trào gái của Cựu Vương Maximilien I và nữ Quận chúa Ludowika, xứ Bavière, nước Đức, công chúa Sissi ra đời năm 1837. đúng vào đêm Noël, cùng một giờ với Chúa Giáng sinh. Nàng đẹp như một nàng tiên giáng thế.
Lúc bé, tính tình của Sissi đã giống hệt cha, vua Maximilien, một tâm hồn nghệ sĩ, một hiệp khách hào hoa phong nhã, rất ưa thơ mộng, hơn là một ông vua trị quốc. Ông thích làm thơ, đánh nhạc, và có mở một tao đàn gồm 14 chàng nhạc sĩ, cả ngày họa đờn, ngâm thơ. Ông rất ham mê du lịch, khi thì sang Ai Cập để xem Kim tự tháp của vua Chéop, khi thì đi Ý, đi Thụy sĩ, đi Syrie, Tiểu Á Tế Á. Mỗi lần du lịch về, ông tả cho công chúa nghe những thắng cảnh hùng tráng, kể cho nàng nghe những sự tích huyền ảo mê ly...
Công chúa Sissi say sưa nghe cha kể chuyện, và hồn thơ nẩy nở, rạt rào, ngay từ lúc hãy còn là một cô bé ngây thơ. Năm 1852, Sissi mới 15 tuổi, đã yêu một bá tước cũng hay thơ...thẩn như nàng. Tình yêu mới chớm nở, thì người yêu bị chết thình lình. Sissi làm bài thơ sau đây mà nàng cẩn thận chép trong nhật ký:
Ô vous, sombres yeux!
 Je vous ai tant contemplés
Que votre image dorénavant
 Ne sortira plus de mon coeur.
Jeune et frais amour
Resplendissant comme le mois de Mai!
L'automne est venu
 Et tout est déjà fini!
(Than ôi, đôi mắt đầy bóng tối!
 ta đã nhìn ngươi biết bao nhiêu lần.
 từ nay cầu xin hình ảnh của ngươi
 không rời trái tim ta nữa.
Tình yêu tuổi trẻ thấm tươi,
rực rỡ như trời tháng Năm
 mùa thu đã đến,
tất cả đã hết rồi! )
Cô công chúa 15 tuổi đã khóc mùa thu, đã khóc tình yêu chết yểu trong mùa Thu! Nghe vang lên tiếng chuông nhà Thờ tiễn hồn người bạc mệnh, làm xáo động hồn thơ, công chúa ghi những cảm xúc ấy trên trang giấy học trò :
Le sort est en jeté.
Richard, hélas, n’est plus!
 Le glas sonne, seigneur!
Seigneur! Ayez pitié de moi!
 (Thôi số kiếp đành phải thế,
Richard anh ơi! từ nay anh không còn!
tiếng chuông vĩnh biệt rền vang! Chúa ơi!
Chúa ơi ! Xin Chúa thương con!)
Trong lúc nhớ nhung, Sissi lại làm thơ, chép vào nhật ký :
J’ai trop longlemps fixé
Mon regard sur ton visage
Et me voici toute éblouie
Par le rayonnement de ta beauté !
Quand le premier rayon de soleil!
 Me salue au matin,
Je lui demande toujours
 S’il vient de t’embrasser ?
Et chaque nuit je prie
Le clair de lune d'or
 De te dire en secret
Que je t'aime...
( Đã lâu lắm, từ muôn thuở,
Em nhìn mãi gương mặt anh,
Đến đỗi bây giờ em đẹp rực rỡ,
Nhờ hào quang diễm tuyệt của anh.
Lúc tia nắng mới hừng,
Chào em buổi mai sớm,
Thì em hỏi âu yếm:
Phải ánh nắng vừa mới hôn anh ?
Và mỗi đêm em vẫn nhắn.
Ánh trăng tỏ vàng.
Bảo thầm với anh.
Rằng em yêu anh...
 
Tôi nói thật, tôi chưa được đọc của một cô em nào 15 tuổi mà có giọng thơ thành thực hồn nhiên và cảm động như thế.
Thế rồi một buổi chiều mùa xuân 1854 mọi người đều rộn rịp... quấn quít chung quanh Néné, tức công chúa Hélène, cô gái lớn nhất trong gia đình. Vừa được tin của một vị tướng quan của Triều đình Vienne thân thuộc với gia đình, cho biết: Hoàng đế xứ Autriche, François Joseph, 24 tuổi, muốn cưới công chúa Hélène, tôn làm Hoàng Hậu. Đồng thời, một vị quan hầu cận của Hoàng đế phi ngựa đến trao bức thư của Hoàng đế báo tin ngày hôm sau Ngài sẽ đến lâu đài Possenhofen của Maximilien để thăm Cựu Vương và Quận chúa Ludowika, và làm lễ đính hôn với công chúa Hélène.
 Được tin, cả nhà vui mừng rộn rịp, đặt mọi nghi lễ để ngày mai đón tiếp vị Hoàng đế trẻ tuổi. Sissi, có gái út, nữ thi sĩ mơ mộng và tinh nghịch nhất nhà, cứ theo trêu ghẹo người chị cả sắp lên ngôi Hoàng hậu. Công chúa Hélène, đôi má đỏ bừng, sung sướng quá không nói gì được, chỉ hôn lên mái tóc ống ánh vàng gợn sóng của cô em gái chưa đầy 17 tuổi.
Quận chúa Ludowika, mẹ hiền lành âu yếm, lo tập cho Hélène cách thức quỳ gối làm lễ chào Hoàng đế như thế nào, nói với Hoàng đế như thế nào, cho đúng nghi lễ Triều đình. Bà sửa soạn lại đầu tóc của công chúa và gọi thợ may danh tiếng nhất ở Bavière đến may gấp trong đêm ấy một chiếc áo đẹp nhất, để sáns hôm sau Hélène mặt đón vị “Hoàng tử đẹp trai”.
Nên biết rằng Hoàng đế François Joseph và Hélène là hai anh em bạn dì, mẹ của Hoàng đế và mẹ của Hélène là chị em ruột. Nhưng François Joseph đã xin với Đức Giáo Hoàng La Mã cho phép cuộc hôn nhân trái luật ấy.
Sáng hôm sau, lâu đài Possenhofen két hoa kết lá tưng bừng náo nhiệt, kẻ hầu người hạ ra vô tấp nập Mọi người hồi hộp chờ Hoàng đế.
10 giờ, công chúa Hélène còn đứng soi gương đánh lại tí phấn trên đôi má hồng đào, thì nghe tiếng vó ngựa rộn rịp nhịp nhàng mỗi lúc mỗi gần Possenhofen. Vì hoàng đế trẻ tuổi, đi xe tứ mã, có một đoàn lính kỵ mã chạy theo hộ vệ... Nhưng thay vì chạy thẳng vào sân, xe của Hoàng đế ngừng nơi cổng. Có lẽ thấy cảnh vườn rộng lớn, xinh đẹp, cỏ cây đầy bóng mát, hoa nở muôn màu như một bồng lai tiên cảnh, Hoàng đế đi một mình dạo chơi xem vườn, chưa vào lâu đài vội
Tôn trọng sở thích bất ngờ của vị Hoàng đế trẻ tuổi Cựu Vương Maximilien và Quận chúa Ludowika vẫn đứng chờ trước bao lơn, không muốn quấy rầy vị chàng rể oai nghi... mơ mộng...
Ngài bước chậm rãi, ngó say mê hai con thiên nga bơi yểu điệu, duyên dáng trên mặt nước hồ xanh... Bỗng ngài trông thấy một thiếu nữ mặc toàn trắng, đẹp rực rỡ, đôi mắt xanh đầy ánh sáng, tóc vàng óng ánh chảy xuống đến hai bên vai, nhởn nhơ với gió..
Ai đấy nhỉ?
Không phải công chúa Hélène, vì Hoàng đế đã biết mặt Hélène nàng cao lớn hơn, và 22 tuổi.
Thiếu nữ thần tiên đi trên cỏ xanh, chỉ mới độ 15, 16 tuổi, có hai con chó bergers đủng đỉnh đi cạnh nàng. Bỗng nàng chạy đến bá ngay cổ Hoàng đế, và cười dòn tan.
Với giọng nói tinh nghịch và trong như pha lê, nàng bảo:
- Chào Hoàng đế! Chị Hélène của em đang chờ anh trong phòng!
François Joseph bật cười. Ngài đổi ý kiến ngay tức thì, nở nụ cười say mê, nhìn Sissi:
- Không! Anh sẽ cưới em. Hoàng hậu sẽ là em!
Rồi Hoàng đế nắm tay Sissi đi vào trước mặt Cựu Vương Maximilien và Quận chúa Ludowika, khẽ nghiêng đầu bảo:
- Trẫm xin làm lễ đính hôn với công chúa Sissi.
 Mọi người đều trố mắt ngạc nhiên. Nhưng Hoàng đế muốn, là Trời muốn.
 Ngày 4-3-1854 hợp đồng giá thú được ký giữa Hoàng đế François Joseph 24 tuổi, và Công chúa Sissi, 17 tuổi.
 Ngày 20-4, trước khi từ giã lâu đài Possenhofen để đi kinh đô Vienne thành hôn với François Joseph, Sissi viết trong nhật ký 6 câu thơ :
 
Adieu, demeure silencieuse!
Adieu, vieux chateau,
Et mes premiers rêves d'amour!
Vous saluerez encore le mois de Mai
 Mais aujourd'hui je vous dis adieu, chérie,
Je vais être si loin de vous!
 (Vĩnh biệt, ngôi nhà yên tĩnh.
Vĩnh biệt, lâu đài xưa,
Và những giấc mơ ái tình đầu tiên của ta!
 Các ngươi sẽ còn chào tháng Năm
Nhưng nay ta chào các người thân thương của ta
Ta sẽ đi về một nơi thật xa)
 
Công chúa đi xe lục mã với đông đủ các chị em của nàng, cả cô Hélène, người chị này đáng lẽ được gả cho Hoàng đế. Hélène vẫn vui vẻ khuyên bảo em nên chiều chuộng Hoàng đế và trung thành với tình yêu của Hoàng đế.
Đến Munich, một đám đông dân chúng đón chào Hoàng Hậu tương lai của xứ Autriche. Một chàng thi sĩ dâng tặng nàng hai câu thơ:
 
Rose de Bavière à peine éclose
 Nous vous saluons sur les rives du Danube!
 (Hởi Hoa Hồng của đất Bavière vừa mới nở,
 Chúng tôi chào Hoa trên bờ sông Danube!)
 
Nàng đến đâu cũng được toàn dân chúng đón chào bằng những tiếng “Hoan hô Elisabeth ! Hoan hô Elisabeth!”
Đến lâu đài Schoenbrun, một bà mạng phụ của Triều đình dâng lên nàng một tấm chương trình được in rất đẹp, bằng tiếng Đức :
 
“Zeremoniel bei dem offentlichen Einzug ihrer koniglichen Hoheit, der durchlauchtigsten Prinzessin Elisabeth”.
(Nghi lễ chính thức đón tiếp Công chúa Elisabeth tại Vien)
 
Ngày 24-4-1854, lúc 7 giờ tối, tại nhà Thờ Augustins, Công chúa Elisabeth làm lễ thành hôn với Hoàng đế François Joseph.
Đức Hồng Y Giáo chủ Rauscheri đọc mấy lời khen ngợi :
“ Từ hồ Constance đến biên giới Siebenburger, 38 triệu thần dân Autriche đặt hoàn toàn tin tưởng nơi Hoàng đế François Joseph và Hoàng hậu Elisabeth, và thân kính chào hai Ngài.
 Cầu chúc hai Ngài hoàn toàn trìu mến nhau như một đôi tình nhân trốn trên một hòn đảo giữa những bão tố, một hồn đảo mọc đầy Hoa Hồng và Hoa Tím..”
 
 Hôn lễ cử hành xong, 21 tiếng súng đại bác nổ rền trời, mở màn cho các cuộc liên hoan chào mừng Hoàng Hậu Sissi. Trở về Schoenbrun, Hoàng Hậu và Hoàng đế ra đứng trên bao lơn hàng giờ để chào dân chúng nhiệt liệt hoan hô hai người.
 Sau bữa tiệc rất long trọng dùng toàn đĩa muỗng bằng vàng, Hoàng đế và Hoàng Hậu lên tọa vị trên Ngai để tiếp nhận những lời chúc mừng nồng nhiệt của các Hoàng thân, Công chúa, của các quan Đại thần, của Ngoại giao đoàn, và của các phái đoàn dân chúng.
 Một giờ khuya, các nghi lễ đã xong, quan khách ra về. Mười hai tên lính cận vệ cầm những cây đèn nến to tướng, tiễn đưa Hoàng hậu Elisabeth về Loan phòng với Hoàng đế.
Bỗng giữa đêm tân hôn tưng bừng xinh đẹp ấy, một trận giông tố ào ào nổi dậy làm sụp đổ bao nhiêu nhà cửa, tung bay các mái ngói, đổ gẫy các cây cối, để thành phố bị tàn phá tơi bời.
 Câu chuyện thần tiên của cô Công chúa Noël mới bắt đầu đến đây đã gần như chấm dứt!
Công chúa Sissi lúc 17 tuòi đã có tâm hồn nghệ sĩ, do truyền thống của cha, đến khi làm Hoàng Hậu Elisabeth của Autriche, cũng không bỏ được cái nghiệp chướng phiêu lưu thơ mộng. Chả thế mà Hoàng hậu, khắc hình con chim Hải Âu (La Mouette d’ Océan) trên con dấu của bà, để tượng trưng cho cuộc đời của bà phiêu linh đây đó, thích bay cao, xa đất gần mây, ưa hòa mình trong bão táp!
Ở Triều đình Vienne, bà đã tỏ ra một tâm hồn độc lập, luôn luôn muốn thoát ly ra khỏi khuôn khổ tầm thường như một con chim bị nhốt trong lồng vàng cứ muốn tung lồng bay ra mà chỉ đập cánh vào song
Đã thế, nàng lại còn bị một bà mẹ chồng khủng khiếp, bà nữ Quận chúa Sophie, luôn luôn rất khắc nghiệt đối với các nghi lễ Triều đình. Hoàng hậu Elisabeth, với tính dễ dãi, với tâm hồn thơ mộng, cứ bị bà rày la mãi, và bị những lời đàm tiếu, phê pháo có ác ý, của phần đông các bà mạng phụ, phu nhân. Nhưng nàng bất chấp.
Một hôm có đại tiệc trong Hoàng cung, Elisabeth chủ tọa. Nàng cởi phăng đôi găng ra để ăn thong thả. Toàn thể quan khách đều vô cùng ngạc nhiên. Ngay lúc đó, bà mẹ chồng, nữ Quận chúa Sophie, truyền lịnh cho một nữ tỳ đến tâu khẽ với Hoàng Hậu rằng theo phép xã giao thông thường cũng như nghi lễ bắt buộc ở Triều đình thì Hoàng Hậu phải luôn luôn mang găng suốt trong các bữa đại tiệc. Tức thì Elisabeth trả lời: “Ta không mang găng, và cái thông lệ đó từ nay sẽ bỏ”. Bà mẹ chồng hết sức tức giận nhưng không làm gì được.
Hoàng Hậu thường đi dạo phố buôn bán đông đúc của kinh đô Vienne, một mình với một nữ tỳ Một hôm nàng mua đồ lặt vặt trong một tiệm buôn ở đường Karterstrasse, một đường phố bình dân nhất. Dân chúng bu lại đông nghẹt để xem và hoan hô nàng. Cảnh sát làm phúc trình. Bà mẹ chồng biết được rầy nàng một cách mỉa mai:
- Hoàng Hậu ở kinh đô Vienne mà cũng tưởng như ở miền núi quê mùa của Hoàng Hậu hay sao ?
Elisabeth đáp lại liền :
- Thưa Quận chúa, đâu cũng là đất nước của Autriche, và cũng là nhân dân của xứ Autriche
 Nàng rất thương dân nghèo. Nàng thường đi viếng các viện mồ côi, các bệnh viện, không sợ các bịnh truyền nhiễm, các nhà thương điên. Nàng rửa chân cho các bà già nghèo khổ.
 Một dịp năm mới, nàng xin Hoàng Đế một cuộc phóng thích hơn I30 các tù nhân. Hoàng đế và mẹ phản đối.Nàng phải khóc lóc và dùng hết lý lẽ để yêu cầu Hoàng đế một cuộc đại ân xá phạm nhân. Sau cùng bởi cảm kính lòng yêu nước yêu dân và tình bác ái, nhân đạo của nàng nên Hoàng đế phải nghe theo nàng, ký sắc lệnh tha hàng nghìn tội nhân.
Sau khi sanh được hai gái, hai công chúa kiều diễm, bốn năm sau hôn lễ ngày 21-8.1858. Elisabeth mới sanh một hoàng nam đặt tên la Rodolphe.
 Sinh cậu con trai này rất khó khăn, Elisabeth suýt chết. Không ngờ hoàng tử Rodolphe sau này khi lớn lên, sẽ tự tử với người yêu Vetsara, gây ra thảm kịch Mayerling mà các nhà sử sách thường nhắc đến.
Nhờ bác sĩ giỏi cứu mạng sau khi sinh Rodolphe, Elisabeth muốn thoát ly triều đình, liền xin phép Hoàns đế được đi du lịch các nơi. Sự thật, nàng muốn đi xa để thỏa mãn tính ưa phiêu lưu của nàng, và nhất là để tránh xa bà mẹ chồng quá khắc khổ.
 Bây giờ người ta gọi nàng là “Hoàng hậu phiêu du” (L’Impéatrice errante).
“Hoàng hậu phiêu du” không phải đi du lịch để hưởng thú nhàn hạ, xem các thắng cảnh, mà chính là để quên những buồn bực ở Triều đình, xa lánh bà mẹ chồng cay nghiệt, hủ lậu, không thích hợp với tính tình cởi mở, hòa nhã, và nhất là nghệ sĩ tính của Hoàng hậu. Hơn nữa, chính nàng đã thố lộ tâm sự với cả Hoàng đế rằng nàng muốn “quên cảnh sống rực rỡ xa hoa của Cung điện” mà chính nàng không ưa. Ở Vienne, bà Hoàng Thái-hậu Sophie nhảy đong đỏng lên khi được báo cáo của đại sứ Autriche ở Pháp gởi về méc với bà và Hoàng đế rằng Hoàng hậu Elisabeth ở Paris đi xe ô tô buýt như một kẻ thường dân. Ở Ai Cập, nàng tìm đến sa mạc, rồi đi lang thang trong sa mạc, giữa cơn nắng cháy, cho đến khi nào khát nước quá và mỏi chân nàng mới quay về. Nàng không cần ai phê bình, chỉ trích, vì nàng như con chim Hải âu bay lượn quá cao, không có mũi tên nào bắn trúng vào nàng được. Đi ngoài phố, nàng không muốn cho ai biết mặt, luôn luôn che chiếc dù, hoặc cái quạt, để tránh những cặp mắt tò mò có thể khám phá ra nàng là Hoàng hậu Elisabeth của Đế quốc Autriche.
Trong Lịch sử Đông Tây, ít có một vị Hoàng hậu nào như thế. Một hôm, sau khi dạo lang thang trên bờ sông Seine để hóng gió, trò chuyện với các người đi dạo mát như nàng mà không biết nàng là ai lúc trở về lâu đài tráng lệ của nàng thì được tin Ông Jules Grévy, Tổng Thống Pháp đến thăm. Tổng Thống Grévy không quen với nghi lễ vua chúa, tỏ vẻ ngượng nghịu, thì nàng tìm cách trò chuyện rất tự nhiên như một người bạn, bỏ hết các tục lệ phiền phức của Triều đình, khiến ông Tổng Thống Pháp càng kinh ngạc và càng kính trọng nàng như một vị Thần nữ. Có hôm ở Côte d’Azur, nàng đi dạo chơi xem các vườn hoa, mà cũng không cho ai biết tên, theo tính quen của nàng. Nàng vào xem vườn hồng rất đẹp của một bà triệu phú, phu nhân của một cựu Đại sứ Autriche. Bà này hách dịch đuổi nàng ra, tưởng một kẻ lạ giả vờ xem hoa để hái trộm hoa. Nàng mỉm cười, xin lỗi rồi đi ra. Tối hôm đó, có người cho con mẹ “đại sứ” biết người thiếu phụ xem hoa lúc sáng chính là Hoàng hậu Elisabeth. Con mẻ hoảng hốt, vội vàng đi xe song mã đến biệt điện của nàng để tạ tội. Hoàng hậu Elisabeth vẫn tươi cười tiếp đón con-mẻ, không hề tỏ mộr chút nào giận dỗi. Hoàng đế François Joseph nghe quan hầu thuật lại câu chuyện trên kia, phì cười bảo : “May phúc cho Hoàng hậu không bị con mụ phù thủy ấy lấy roi quất cho một trận đòn !”
Có lần khác nàng ở Paris, Hoàng đế nghe tin vị Tổng Thống mới của nước Pháp là Sadi Carnot bị ám sát. Ngài biên thư khuyên Hoàng hậu nên coi đó như một bài học, và cần phải thận trọng, giữ gìn. Nhưng nàng không cần, và mỗi khi trông thấy bóng dáng những viên thanh tra mật thám có phận sự phải theo dõi nàng để che chở tính mạng của nàng, thì nàng tìm cách lẻn đi chỗ khác. Nàng muốn đi chơi tự do, đừng có ai theo dòm ngó, coi chừng nàng như một đứa con nít.
Một hôm, nàng đến thăm thành phố Hambourg của Đức. Thấy một lâu dài đẹp quá, nàng muôn vào xem. Đang đi chiếc xe ngựa bình dân nàng bảo xe quẹo vào sân, bị người lính gác cỗng chận lại, nhất định không cho vào. Thấy nàng cứ năn nỉ cho vào xem một lát rồi ra ngay, người lính gắt gỏng:
- Đã bảo cấm người ngoài, không được vào! Đây là Biệt điện nghỉ mát của Hoàng đế nước Đức, chứ không phải một tàng cổ viện.
Bấy giờ nàng mới thỏ thẻ với người lính :
- Tôi là Hoàng hậu Elisabeth, nước Autriche.
Người lính không tin, tưởng là một con mẹ điên bèn cười xòa lên rồi gọi viên Đại úy chỉ huy ở trong trại, với giọng khôi hài:
- Thưa Đại úy, có một bà khách lạ thật đẹp muốn xin phép vào thăm biệt điện.
Viên Đại úy từ trong trại nói vọng ra:
- Không cho vào!
Người lính nói tiếp:
- Người đẹp ấy tự xưng là Hoàng hậu Elisabeth nước Autricne!
Viên đại úy nghe nói có người đẹp, liền ra cổng xem. Té ra ông biết mặt Hoàng hậu Elisabeth, vội vàng đứng thẳng người chào, và hô lên:
- Hoàng hậu Autriche!
Người lính gác cũng hoảng hốt đứng nghiêm, bồng súng chào, và cả trại lính đều cầm súng chạy ra sân, sắp hàng chào.
Nàng được đại úy kính cẩn đưa đi xem khắp biệt điện Nàng rất thỏa mãn, và lúc ra về nàng hốt tất cả tiền ở trong bóp đưa tặng đại úy và anh em binh sĩ. Thật là một giai thoại hi hữu.
58 tuổi, Hoàng hậu Elisabeth vẫn còn tươi đẹp. Có lẽ nhờ một phương pháp do công chúa Diane Poitiers truyền lại và nàng áp dụng rất siêng năng, là mỗi buổi sáng sớm, nàng cưỡi ngựa, cho ngựa chạy nhanh trong một tiếng đồng hồ. Nhờ khí trời có sương, có tia nắng mặt trời mới mọc, mặt nàng ửng hồng lên và cơ thể khỏe mạnh phi thường. Nang bảo sương sớm trong ánh nắng bình minh có tinh chất cải tử hoàn đồng còn hơn là nước suối của nữ thần Jouvence. Hằng ngày nàng chỉ uống sữa tươi và ăn trái cây. Nàng xa lánh các buổi tiệc và chỗ đông người, chỉ ưa đi du lịch, phiêu lưu giữa những cảnh đẹp thiên nhiên và làm thơ. Nàng thường bảo:
- Tôi chỉ có ba người yêu: Núi, Bể và Hiu quạnh.
Nàng chỉ khâm phục một thi sĩ: Henri Heine. Nàng bảo:
- Henri Heine là Thần Thơ.
   Nhưng, ai có đọc kỹ những bài thơ của Henri Heine mới cảm thấy một định mệnh lạ thường, bởi Henri Heine là một nhà thơ của Đinh Mệnh! Và bởi Hoàng hậu Elisabeth là một người đàn bà của Định Mệnh. Đó là cái ám ảnh của đời nàng. Trong gia đình của nàng, đã có bao nhiêu người bị bất đắc kỳ tử! Hình như Elisabeth tìm trốn tránh những bóng ma, mà cứ gặp những bóng ma! Này nhé: chị ruột của nàng là nữ Công tước d’Alençon bị chết cháy trong hội chợ Bazar de la Charité. cháu ruột của nàng, nữ Côns tước Mathilde, một cô bé mới có mười hai tuổi cũng bị chết cháy, vì bị cha cấm hút thuốc, một hôm cô em hút lén, bị cha bắt gặp, vội vàng giấu điếu thuốc đang cháy trong túi áo, bổng lửa cháy áo rồi gặp gió cháy bùng lên, khiến cô bé mắc cỡ không dám cởi áo, bị chết thiêu luôn.
 Người anh họ của Elisabeth, là vua Louis II ở Bavière, cũng một thi sĩ, bị chết chìm trong một hồ nước trong xanh, giữa những đàn thiên nga đang bơi lội, và ông cũng say mê bơi lội theo đàn thiên nga trắng... Sau cùng là con trai của nàng, thái tử Rodolphe tự tử bên cạnh người yêu Vetsara ở Mayerling.
Thế rồi, một hôm, ngày 10.9.1898, một tin sét đánh từ Genève loan đi khắp Âu Châu: Hoàng hậu Elisabeth d’Autriche bị ám sát!
Mới nghe, không một người nào tin được. Hoàng đế François Joseph bị ám sát hụt mấy lần thì người ta còn hiểu được nguyên nhân, chứ Hoàng hậu Elisabeth bị ám sát, thì thật là chuyện phi lý.
Thủ phạm, bị bắt ngay được tên là Luccheni, một tên vô chính phủ, người Ý, sinh ở Paris năm 1875, khi bị tra hỏi, đã khai ngay:
- Phải giết chết những kẻ làm lớn trên thế giới này!
Hắn là thằng điên. Đáng lẽ hắn chờ cơ hội giết một vị Vua Chúa nào đó, nhưng định mệnh quá oái oăm lại sui hắn gặp một Hoàng hậu và định mệnh quá tàn nhẫn xui Hoàng hậu Elisabeth đúng chiều hôm đó, đi chơi lang thang trên bờ hồ Genève, đang tìm vần thơ, lại gặp một thằng khùng có tâm địa sát nnân. Vô cớ, hắn cầm một con dao chạy tới đâm ngay vào ngực Hoàng hậu Elisabeth...
Nàng tắt thở trên bờ hồ thơ mộng...




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.11.2017 14:40:32 bởi Ct.Ly>
25- Nữ Hoàng VICTORIA
 
 
NỮ hoàng Anh Quốc hiện nay, Elizabeth II, là cháu ba đời của một vị Nữ hoàng lớn nhất trong lịch sử nước Anh từ xưa đến nay: Victoria. Sinh năm 1819, chết năm 1901 (thọ 82 tuổi), bà lên ngôi từ năm 18 tuổi (1837), một tay bà cai trị Đế quốc Anh trong 61 năm, đã làm cho nước Anh từ một nước yếu đuối ít mở mang, trở nên một cường quốc hùng cường nhất của thế giới từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX được toàn thể nhân dân Anh nhiệt liệt sũng bái, và cả thế giời kính phục.

Không phải như Nữ hoàng Catherine II của nước Nga, hay như Từ Hi Hoàng thái hậu của Trung quốc mà đời tư bừa bãi về tình duyên dù sao cũng để lại một vết nhơ trong lịch sử của họ, Nữ hoàng Victoria đã nêu một gương xán lạn về tài hoa cũng như đức hạnh trên cả hai phương diện chính trị và gia đình: trung thành với tổ quốc và dân tộc Anh như thế nào bà cũng thủy chung với chồng bà như thế ấy, chứng tỏ một vị Nữ chúa oai nghiêm, và hiền hòa, một người vợ âu yếm, một người mẹ gương mẫu, một bậc phụ nữ tài giỏi vào bậc nhất trong Lịch sử nước Anh va Lịch sử nhân loại.
 
18 LÊN NGÔI
Không ai ngờ một cô công chúa từ nhỏ tới giờ chỉ biết chúi mũi vào sách học, bỗng dưng được lên ngôi vua, đã tỏ ra một thái độ bình tĩnh và oai nghi như công chúa Victoria.
Ngày 20 tháng 6 năm 1837, hồi 5 giờ sáng, công chúa còn đang ngủ trong lâu đài Kensington, thí giáo chủ ở Canterbury và viên Thị Vệ Đại thần của Anh triều đến gõ cửa. Mẹ của công chúa là nữ Công tước Kent vội vàng đánh thức con gái dậy. Nàng điềm nhiên khoác tạm chiếc áo dài, và thong thả đi một mình ra phòng khách.
 
Viên Thị Vệ Đại thần quỳ xuống trước mặt Công chúa và kính cẩn báo tin để nàng biết theo Hiến pháp Anh, từ giờ phút này nàng là Nữ hoàng của Anh quốc. Nàng mỉm cười duyên dáng gật đầu, không nói một lời. Cô Công chúa 18 tuổi không ngạc nhiên, không tỏ  vẻ vui mừng, không sợ sệt.
Đúng 11 giờ, thủ tướng Melbourne đến đón nàng,tới chủ tọa Hội đồng chánh phủ đầu tiên của nàng. Tất cả Triều đình hồi hộp đợi chờ, bỗng hai cánh cửa mở rộng, lính thị vệ hô to: “Nữ-Hoàng”, toàn thể các vì Tổng trưởng, Đại tướng. Đô đốc đều đứng đậy: từ ngoài cửa bước vào một thiếu nữ, thướt tha mảnh khảnh, để tang cho cha, đi mạnh dạn, điềm nhiên, đến ngồi trên Ngai vàng. Với một giọng thật rõ ràng, thật chững chạc, và êm đềm duyên dáng, nàng đọc bài huấn từ đầu tiên để khai mạc Hội đồng chánh phủ.
Xong, vẫn nét mặt điềm tĩnh và dịu hiền không thay đổi, vị Nữ Hoàng trẻ tuổi chào mọi người, và bước ra và giữa những cặp mắt ngạc nhiên và kính phục của tất cả các nhân vật chánh phủ.
Ngoài đường, dân chúng vỗ tay reo mừng ầm ĩ, và bài quốc thiều “cầu Chúa cứu Nữ hoàng!” (God save the Queen)-  được hát lên vang dậy cả kinh thành London và khắp nước Anh.
Về tới cung điện, vừa gặp mẹ, nàng hỏi :
- Má ơi, hôm nay con đã thật là Nữ Hoàng nước Anh rồi phải không?
- Con đã thấy rõ rồi.
- Thế thì má hãy để con ngồi một mình trong một tiếng đồng hồ.
Ai cũng biết từ lúc nhỏ đến bây giờ, Công chúa Victoria luôn luôn ở bên cạnh mẹ. Lúc học, lúc chơi, lúc ăn, lúc nghỉ, đều có mẹ kèm một bên. Nữ Công tước Kent săn sóc cho con gái từng ly từng tí, nhất là về trí dục và đức dục. Nhưng bây giờ công chúa đã là Nữ hoàng, cử chỉ đầu tiên của nàng là tỏ cho mẹ và mọi người thấy rõ rằng nàng sẽ là một vị Nữ hoàng cương quyết, thông minh, không chịu ảnh hưởng của ai hết, chỉ biết quyền lợi của nước của dân, và danh dự và bổn phận của một vị Quốc trưởng. Sau khi suy nghĩ một tiếng đồng hồ, nàng truyền lịnh đưa mẹ sang ở một lâu dài khác để nàng ở một mình trong Điện. Nàng muốn vị Nữ hoàng phải tự mình quyết định mọi việc quan trọng trong nước, không nên có mẹ, hoặc người nào khác ở bên cạnh và bầy biểu nọ kia
Mới 18 tuổi, vừa lên ngôi, Nữ hoàng Victoria đã có ý thức rõ rệt về trách nhiệm năng nề của mình đối với quốc gia và dân tộc, trước mặt thế giới.
Bà mẹ đã nuôi và dạy nàng từ nhở đến lớn, bây giờ đã hết nhiệm vụ, và không được xen vào việc nước. Đối với ông bác ruột của nàng là vua Léopold của nước Belgique, nàng cũng có thái độ cương quyết như thế. Và sau này, ngay đối với chồng, người chồng rất yêu là Albert, Nữ hoàng Victoria cũng không bao giờ để cho xen vào việc triều chính.
Và cô gái 18 tuổi ấy một mình đã nắm vững vận mệnh của đại cường quốc Anh trong 64 năm trời.
 
 VỢ CỦA MÌNH ĐÂY, ALBERT !
Ba năm đầu từ khi lên ngôi, Nữ hoàng Victoria chưa muốn lấy chồng. Tuy lúc bấy giờ nàng đã có một người yêu trong đám các người anh họ của nàng, là hoàng tử Albert, con ông bác ruột, Leopold, vua nước Belgique, nhưng nàng không nghĩ đến chuyện hôn nhân. Nàng yêu Albert nhất trên đời, và hồi 17 tuổi, nàng đã chép trong nhật ký: “Ta yêu anh Albert nhiều lắm, nhiều lắm, nhiều hơn hết thảy các người anh họ khác. Albert đẹp quá, đẹp quá, với đôi mắt xanh xanh, đôi môi ngon lành, hai hàm răng trắng nõn, trắng nõn.”
 Nhưng khi lên ngôi rồi, Victoria do dự chưa muốn lấy chồng. Nàng muốn một mình đóng vai Nữ hoàng trong một thời gian hoàn toàn tự chủ, không bị một thế lực nào, hay một ảnh hưởng nào làm sai lạc nhiệm vụ khó khăn và quan trọng của nàng.
Đã nhiều lần, nàng đã tỏ cho vị Thủ tướng lão thành của chánh phủ thấy ý chí cương quyết của nàng, muốn làm theo ý mình, miễn là không trái với Hiến Pháp và không hại đến quyền lợi của quốc gia.
Nhưng được ba năm, chính phủ, dân chúng, triều đình, ai nấy cũng yêu cầu Nữ hoàng lo việc gia thất.
 Năm 1840, nàng báng lòng kết hôn với hoàng tử Albert, người anh họ của dòng dõi Saxe - Cobourg ở Đức. Albert là một chàng trai giàu tình cảm nhưng nghiêm khắc, thích đời song gia đình, ưa âm nhạc, thích giao du với các văn nghệ sĩ tài hoa, nhưng lại ghét đàn bà và nhất là những đàn bà hay làm dáng hoặc lẳng lơ. Có những đêm đại hội, Nữ hoàng khiêu vũ cho đến sáng, còn Albert thì 10 giờ tối đã nằm ngủ trên ghế tràng kỷ trong Điện. Albert muốn tham dự vào việc nước, nhưng Nữ hoàng Victoria cho biết rằng Hiến pháp của Anh quốc không cho phép điều đó, và nàng cứ để chàng ở ngoài rìa việc chính trị.
Thỉnh thoảng, Albert thấy cần nói với vợ một đôi ý nghĩ của chàng về một vấn đề quan trọng, Nữ hoàng mỉm cười âu yếm, bá cổ chồng, vuốt ve chồng, và lẩm bẩm những câu: “Mình đáng yêu lắm … em yêu mình lắm…mình cưng của em…” Như thế, tức là Nữ hoàng thích nói chuyện yêu đương và hạnh phúc gia đình với chồng con hơn là nói chuyện chính trị. Albert hiểu ý vợ, đành làm thinh vậy. Ai cũng biết Nữ hoàng yêu chồng say mê, và đối xử với chồng hoàn toàn là một người vợ dịu hiền tùng phục, trung thành và tận tụy
Một hôm Albert giận vợ, bỏ vào phòng riêng, đóng chặt cửa, Nữ hoàng Victoria cũng tức giận chạy theo, gõ cửa. Trong phòng, Albert hỏi :
- Ai đấy ?
Victoria đáp :
- Mở cửa cho Nữ hoàng nước Anh.
Albert không thèm mở, làm thinh. Một lúc lâu, Victoria lại gõ cửa. Lại có tiếng Albert hỏi:
- Ai đấy?
- Vợ của mình đây, Albert! Mở cửa cho em.
Bấy giờ Albert mới mở cửa cho vợ. Victoria phục người chồng cương quyết, liền ôm lấy chồng, hôn lấy hôn để để rồi xin lỗi chàng. Từ đó về sau, Nữ hoàng Victoria thỉnh thoảng nghe lời chồng về một vài vấn đề quan trọng khó giải quyết. Trong tập nhật ký của bà, bà có ghi: “Albert rất quý báu của ta, Albert là không ai so sánh được…”
 
Ở gần chồng, nhận thấy Albert là một người đàn ông thông thái, hiểu biết sâu rộng, tính tình lãng mạn nhưng cao thượng, vị Nữ hoàng trẻ tuổi càng ngày càng yêu chồng, tỏ ra một cô vợ rất hiền lành và rất quý trọng chồng. Không những bây giờ bà đã để ông Hoàng Albert tham gia vào Quốc chánh, bà lại còn nghe lời Albert triệt để trong tất cả mọi việc, hoàn toàn tùng phục ông về mọi phương diện Quốc gia, Quốc tế và gia đình. Đến đổi triều đinh và dân chúng Anh quốc, cũng như các nhà ngoại giao trên thế giới đều ngạc nhiên rằng trước kia Nữ hoàng Victoria rất cương quyết, nhiều khi độc tài, mà từ khi lấy chồng được một năm bà đã hoàn toàn thay đổi, trở nên một người vợ rất ngoan ngoãn, hiền lành, quý trọng và phục tùng phu quân triệt để.
Những ngày rành công việc, bà cởi ngựa đi dạo chơi với Albert trên cánh đồng quê. Bà hỏi ông những điều bà không biết về các môn khoa bọc, văn học, lịch sử, và ông trả lời cho bà nghe thông suốt mọi vấn đề. Cứ mỗi lần đi dạo như thế, là Nữ hoàng Victoria được nghe phu quân Albert nói cho biết cây này tên là cây gì nó sống cách nào, hoa và trái của  nó như thế nào, nó chịu những khí hậu nào, nó được dùng làm gì, đời sống của loài ong như thế nào, của loài kiến như thế nào, ai đã xây dựng lâu đài kia, tiểu sử của nhân vật ấy như thế nào, đây là quê hương của một thi sĩ tên là gì. Ở thế kỷ nào, và ông đọc cho bà nghe vài đoạn thơ hay của thi sĩ…
Nhờ vậy mà Nữ hoàng Victoria học hỏi thêm được rất nhiều về văn hóa.
Trong các đám tiệc lớn, các Đại sứ và Lãnh sự ngoại quốc cũng như các vị Bộ trưởng chinh phủ rất đỗi kinh ngạc được nghe Nữ hoàng Victoria nói chuyện thông suốt về nhiều vấn đề lịch sử, khoa học, văn học, địa dư, của thế giới tự cổ chí kim. Họ cũng biết vị lão sư thông thái của bà không ai khác hơn là  ông Hoàng Albert!
Mùa đông trời rét buốt, không đi chơi được thì Nữ hoàng Victoria ở nhà ngồi thêu những tấm thảm, đan những áo len, và trong lúc ấy chồng bà đọc cho bà nghe lịch sử Hiến pháp của các quốc gia hùng cường trên thế giới. Ông vừa đọc, vừa giảng, so sánh với Hiến pháp nước Anh, và rút kinh nghiệm lịch sử trong việc chính trị, để cho bà hiểu và theo đó mà cai trị nước Anh.
Trước kia Nữ hoàng Victoria còn trẻ tuổi, ham khiêu vũ và đi xem hát, nhưng từ một năm sau khi sống chung với ông Hoàng Albert, nhiễm theo tính chồng, bà chỉ ở trong cung điện với ông, lo việc gia đình, săn sóc con cái, đánh đờn cho ông nghe, hoặc nghe ông giảng giải các vấn đề quan trọng.
Trong tập nhật ký của bà, Nữ hoàng Victoria có chép: “Cảm ơn Chúa! Cuộc đời của tôi bây giờ thay đổi hẳn. Bên cạnh Albert, tôi mới hiểu thế nào là chân hạnh phú!”.
Ông Hoàng Albert yêu vợ, chiều vợ, mà cũng có nhiều lần tỏ ra cương quyết với vợ để tránh cho bà vợ của ông một vài hành động sai lầm mà một người đàn bà, dù người ấy là Nữ hoàng nước Anh, thường tự mình không thấy rõ cái nguy hại về sau. Nữ hoàng Victoria luôn luôn vâng lời chồng. Trong quyển hồi ký của bà, bà có thú nhận rằng: “Nhờ ta vâng lời Albert mà tránh được các hành vi vụng về. À ! Nếu không có Albert thì ta đã lầm lỗi biết bao nhiêu điều dại dột có hại cho vận mệnh Đế quốc Anh!”
Ông hoàng Albert rất thận trọng trong mỗi cử chỉ, điềm đạm trước mọi biến cố, và chu đáo giúp đỡ rất nhiều cho Nữ hoàng Victoria. Các nhà Sử học Anh quốc đều công nhận điều ấy.
Mỗi buổi sáng, ông dậy thật sớm, ngồi bàn làm việc một mình trong yên tĩnh, không muốn có ai quấy rầy. Trên bàn thắp một ngọn đèn xanh, cây đèn rất tiện mà ông mua bên Đức. Ông ghi chép các giấy tờ xem xét các bản báo cáo của các Bộ, đặt ra các sắc lệnh. Đến 8 giờ, Nữ hoàng ngủ dậy, vội vàng đến văn phòng coi công việc của chồng làm, vâng lời chồng về mọi vấn đề, âu yếm hôn chồng để cảm ơn, rồi ký tất cả các lệnh do chồng đã làm sẵn. Xong rồi hai vợ chồng vào phòng ăn điểm tâm.
Albert làm tất cả các việc của vợ. Ông lo từng chi tiết về công việc lưỡng viện, các Bảo tàng viện, về quân đội, về các trường đại học, trung học, tiểu học, các Hàn lâm viện Khoa học, các tổ chức kỹ nghệ, thương mãi, lao động, nông nghiệp cho đến cả các vấn đề lặt vặt về tiên công của thợ, và các loại phân để bón ruộng lúa mì...
 
Nữ hoàng Victoria sung sướng, thường tuyên bố với mọi người: “Xưa nay không một người vợ nào có được một ông chồng như Albert. Các đô thị, các thôn quê ở nước Anh và ở khắp đế quốc Anh và đâu đâu cũng có dấu vết bàn tay tài hoa của Albert và trí óc vĩ đại của Albert...”
Mấy nhà báo ở Luân Đôn đã phải viết, nửa thật nửa khôi hài; “Albert là vua nước Anh!”,
Mà thật thế, nhờ có ông Hoàng Albert, mà nước Anh dưới thời đại Nữ hoàng Victoria đã trở nên một đế quốc hùng cườrg nhất và có uy tín nhất trên thế giới. Dân chúng Anh hoàn toàn ngưỡng phục và tôn sùng vị Nữ hoàng hiền lành của họ mà họ nhiệt liệt hoan hô trong mọi thường hợp. Vì họ được hưởng một đời sống sung sướng, đầy đủ, tự do, thoả mãn về tình thân và vật chất. Đối với ông Hoàng Albert, họ rất tôn trọng, và trong nước không hề có một phe đảng nào chống đối lại chính sách của Nữ hoàng Victor và của chồng bà.
Nhưng vì ông làm việc quá sức để giúp đỡ vợ cai trị một đế quốc cường thịnh rộng lớn, nên ông trở nên yếu sức, và mau già. Ông đã sói trán, rụng tóc và lưng khòm. Nữ hoàng lại càng ngày càng mập hơn, vui tươi hơn, con cái càng đông đúc, quốc gia hùng cường thịnh đạt.
Nhưng ông Hoàng Albert vẫn có tính nghệ sĩ. Ông hay chán đời. Một hôm ông bảo vợ: “Mình tôi tin chắc chắn rằng nếu tôi đau nặn, tôi sẽ để cho đau rồi chết, chứ tôi không tranh đấu để sống.”. Nữ hoàng âu yếm hôn chồng và đáp: “ Em sẽ tranh đấu để cho mình sống.”
Một hôm, năm 1861, ông bị bịnh thương hàn trầm trọng. Các bác sĩ danh tiếng nhất lo chữa nhưng bịnh tình không thuyên giảm. Nữ hoàng ngồi luôn bên cạnh chồng, đọc tiểu thuyết cho ông nghe khuây khỏa và đánh đàn cho ông vui. Bà vẫn lạc quan tin rằng chồng bà không thể nào chết được. Ông mới 42 tuổi. Nhưng hôm sau, bà đang chủ tọa Hội đồng Nội các thi có quan cận vệ chạy đến cho biết ông hoàng Albet  vừa trút hơi thở cuối cùng.
Vừa nghe tin, Nữ hoàng hét lên một tiếng kinh hoàng, như một con thú bị nạn, và ngã gục xuống ghế chết giấc. Người ta phải cấp cứu thật lâu ba mới hồi tỉnh được.
 
 
 MỘT BÀ VỢ GÓA TRUNG THÀNH ĐẾN CHẾT
 
Nữ hoàng Vitoria góa chồng, còn sống được 40 năm nữa. Một mình bà đảm đương việc cai trị nước Anh cho đến 82 tuổi băng hà, năm 1901
Suốt 40 năm góa bụa, Nữ hoàng Victoria vẫn một mực trung thành với kỷ niệm của chồng, không một ngày nào, giờ nào bà quên được hình ảnh của người yêu. Suốt 40 năm, các gian phòng trong cung điện Buckingham từ hồi ông Hoàng Albert còn sống sắp đặt thế nào, bà để y nguyên như thế, không thay đổi một chiếc bàn, hay một lọ hoa. Cứ mỗi buổi sáng, mỗi buổi trưa, mỗi buổi chiều, và suốt 40 năm như thế, không một ngày nào quên lãng, đến bữa ăn là bà truyền lịnh phải đặt trên bàn ăn, ngay chỗ Albect thường ngồi trước mặt bà, những đĩa, muỗng, dao, nĩa, và khăn ăn, y như Alber còn sống. Sáng dậy, đến giờ Albert rửa mặt thường lệ, bà bắt phải pha nước nóng trong lavabo và mỗi bữa tối pha nước nóng trong phòng tắm vào đúng giờ chồng tắm như lúc ông còn sống. Trước khi đi ngủ, bà lấy bộ áo quần ngủ của chồng, sắp trên giường, như có ông hoàng Albert nằm thật bên cạnh bà.
Vua nước Belgique, có lần sang London viếng Nữ hoàng Victoria, có yêu cầu Nữ hoàng hoãn giờ tiếp kiến 10 phút. Nhưng Nữ hoàng không đồng ý. Bà nói thẳng với vua Belgique: “Tôi xin nhắc lại để Ngài hiểu cho rằng tôi triệt để tuân theo tất cả tập tục, giờ phút nghi lễ, cách thức sinh hoạt hàng ngày trong triều đình và trong cung điện do chồng tôi đã sắp đặt: tôi coi đó là lẽ sống của tôi, quyết định của tôi, tất cả những gì chồng tôi đã muốn, đã làm, đã bảo, nay mặc dầu chồng tôi không còn nữa nhưng tôi vẫn còn tuân theo. Không có uy quyền nào của nhân gian có thể yêu cầu tôi thay đổi một mảy may nào những cái gì chồng tôi đã muốn.”
Giờ phút nào nhắc đến chồng bà, bà cũng nói với các nữ quan hầu cận: “Albert yêu quý của ta... Hôm nay hoa hồng nở đẹp quá, à, nếu Albert yêu quý của ta còn sống...Hôm nay bát canh này chú bếp nấu ngon quá, à nếu Albert của ta còn... Trời hôm nay bắt đầu đổ tuyết rơi, à nếu Albert yêu quý của ta còn...” v.v...
Luôn luôn bà nhắc nhở đến “Albert yêu quý” của bà, và suốt 40 năm góa chồng, Nữ hoàng cứ như thấy chồng còn sống bên cạnh bà... cho đến đỗi tấm kiếng soi mặt của bà đã cũ quá rồi, đã vàng khè và đã lu mờ, vị quan hầu xin cho đổi tấm kiếng mới, Nữ hoàng trừng mắt bảo: “Không, không. Ngươi không biết rằng tấm kiếng này, Albert yêu quý của đã cùng soi mỗi ngày với ta tư?”
Năm Nữ hoàng Victoria được 80 tuổi, dân chúng muốn tổ chức rất long trọng lễ mừng đại thọ của bà, kéo nhau đến trước sân điện Buckingham, đông nghẹt có hàng mấy trăm ngàn người, vỗ tay hoan hô bà suốt mấy tiếng đồng hồ không ngớt, người ta thấy Nữ hoàng đứng trên bao lơn, khóc ròng rã. Toàn dân cảm động lại ho to lên lời chúc tụng và hát van lên bài quốc thiều “Chúa cứu Nữ hoàng!”
Nữ hoàng Victoria băng hà năm 1901, thọ 82 tuổi.




Đăng nhập để trả lời
0
Chương 16 –
 
NHỮNG NGƯỜI YÊU CỦA NAPOLÉON: Nữ Bá Tước WALEWSKA
 
BÁN MÌNH CHUỘC NƯỚC
Ngày 1.1.1807, toàn thể dân chúng xứ Pologne đều nô nức đợi chờ. Vâng, họ chỉ còn biết đợi chờ thôi, vì họ đã hoàn toàn chiến bại, và đau khổ xót xa nhìn thấy Tổ quốc thân yêu của họ đã bị xâm lăng và chia sẻ lần thứ ba trong Lịch sử. Ba địch thủ ghê gớm nhất ở Trung Âu, ba hoàng đế tàn bạo của Nga, Đức và Autriche, đã thông đồng với nhau dùng võ lực để cướp đất Pologne và chia mỗi người một khu vực: Russie lãnh phần Lithuanie và Ukraine. Autriche lấy Cracovie, Varsovie, Lublin. Prusse (Đức) lấy hết một vùng từ sông Oder đến sông Niemen. Quốc gia Pologne bị tiêu diệt hẳn không còn gì nữa cả. Vua Stanislas đã phải thoái vị, rồi chết năm 1797. Còn vị anh hùng kháng chiến của nhân dân, là Kossciuszko cũng đã bị quân Nga bắt bỏ tù ở Saint Pétersbourg, sau mấy năm chiến đấu tuyệt vọng.
Dân tộc Pologne, anh hùng khí khái, bây giờ đành phải nuốt nước mắt, cam phận vong nô, chịu kiếp tôi đòi, còn phương tiện nào nổi dậy được nữa để khôi phục giang sơn?
Một tiếng oán hận ngậm ngùi cây đắng đã nức lên dưới ngòi bút của một thi nhân, như tiếng khóc của non sông: Finis Poloniae! (Pologne đã tận số rồi!)
Bỗng ngày 1.1.1807, cả xứ Pologne ngồi nhỏm dậy vui mừng, nghe ngóng, đợi chờ,… Ngài sắp đến đấy chăng? Phải, chính là Ngài đến đây! Tiếng vó ngựa của Ngài bước đi, hùng dũng, nhịp nhàng với tiếng giày của đại hội đang dẫm trên cương thổ Pologne, vang động cả vòm trời Âu châu, làm cho các ngai vàng rung ring chuyển động…Ngài đến để đánh Hoàng đế Alexandre của Nga, đánh Hoàng đế François của Autriche, đánh vua Frédéric của Đức, để sửa đổi lại cục diện của Âu châu. Phải, chỉ có Ngài, Hoàng đế Napoleon Đệ Nhất, anh hùng của nước Pháp cách mạng, là nhân dân Pologne có hy vọng kêu xin giải phóng cho Tổ quốc của họ mà thôi. Cho nên sáng hôm 1.1.1807 nghe tin Napoléon đang kéo đại hội binh mã sang Pologne, vừa đến thành phố Bronie trên đường tiến đến thủ đô Varsovie, thì dân chúng vui mừng ào ạt kéo đến đấy để hoan hô Napoléon. Đàn ông, đàn bà, con nít, ông già, bà lão, cả một dân tộc vong quốc, bị Russie, Autriche Prusse, cướp mất cả đất đai, đứng đông nghẹt hai bên đường, vừa trông thấy Napoléon cỡi con bạch mã oai nghiêm tiến vào kinh đô, muôn nghìn cái miệng đều hô to lên một câu: Hoàng đế muôn năm! Hoàng đế muôn năm!”
Một thiếu phụ rất trẻ và rất đẹp từ trong đám đông dân chúng, nhảy ra, vội vàng quỳ bên chân ngựa của Napoléon, ngước mặt nhìn lên ông với hai giòng nước chảy ràn rụa trên má. Nàng kêu gào:
-         Bệ hạ đến đây, nhân dân Pologne vui mừng đón tiếp,  tôn ngài như một vị Chúa, xin Ngài thương xót truyền lệnh cho những kẻ xâm lăng hãy trả lại Tổ quốc của chúng tôi cho chúng tôi!
Napoléon cảm động quá, liền sai quân thị vệ cấp tốc đi kiếm một bó hoa. Ông trao bó hoa tặng giai nhân, với một nụ cười, và bảo:
-         Trẫm muốn gặp bà tại kinh thành Varsovie.
Mỹ nhân cung kính cúi đầu cảm tạ.
Người thiếu phụ kiều diễm ấy, được vinh dự nhận bó hoa của Napoléon trao tặng, chính là Nữ Bá Tước De Walewska.
Màu tóc vàng rực rỡ như ánh thái dương, đôi mắt xanh như màu da trời, hình vóc thướt tha duyên dáng, nhưng nữ bá tước de Walewska luôn luôn đội nón màu đen với một tấm voan đen phủ hai bên, từ ngày tổ quốc Pologne của bà bị diệt vong.
Nhũ danh là Marie Laczinska, bà là con gái một gia đình nghèo, nhưng đã lừng danh vì nhan sắc sầu mơ diễm ảo. Bà mới 16 tuổi, cha mẹ đã gả bà cho một ông Bá tước, già 74 tuổi, tên là Colonna de Walewice-Walewski, nhưng là triệu phú. Bà sống cạnh người chồng này, chẳng biết yêu thương hạnh phúc là gì. Tuy còn trẻ tuổi, và vẫn được đồng bào của bà rất mến phục vì lòng nhiệt tâm ái quốc của bà. Bà đã khóc ròng rã từ khi nước Pologne bị hai hoàng đế nước Russie, nước Autriche và vua xứ Prusse dùng vũ lực đến cướp lấy và chia sẻ thành ba mảnh để mỗi nước chiếm lấy một khu vực sáp nhập vào đất đai của họ.
Hôm gặp Napoléon, Nữ bá tước de Walewska đã 19 tuổi. Napoléon 36 tuổi.
Napoléon đến Varsovie, ba hôm sau có buổi đại hội. Nữ bá tước de Walewska được mời đến dự. Hoàng đế Pháp mê sắc đẹp của bà đến đỗi giữa lúc các quan khách đang khiêu vũ, nhịp nhàng theo nhịp điệu du dương, thì Napoléon viết trên một mảnh giấy mấy dòng tán tỉnh vụng về sau đây, đưa quan thị vệ đến trao tận tay Nữ bá tước:
 
“Giữa phòng tiệc đông đảo, ta chỉ nhìn thấy bà, ta chỉ để ý đến bà, ta chỉ ngắm nghía bà. Bà trả lời gấp cho N. biết cảm tình thế nào, ta nóng lòng đợi thư hồi âm”.
Nữ Bá Tước Walewska xem giấy chỉ mỉn cười nhã nhặn mà không trả lời. Tuy rằng bà rất tôn sùng Hoàng đế Napoléon, cất khâm phục bậc anh hùng tài hoa siêu việt, nhưng dù sao bà vẫn là một phụ nữ có đôi chút lòng tự ái, lẽ nào nhất kiến vi kiến Hoàng đế buông lời chọc ghẹo mà bà đã ưng thuận ngay ư?
Ba lần, Napoléon sai người đến thuyết phục giai nhân, ba lần nàng mỉm cười, từ chối.
Napoléon không giận. Nhưng hôm sau, hôm sau nữa, hôm sau nữa, liên tiếp ba hôm như rứa, Hoàng đế cứ viết thư gửi đến nữ Bá Tước tán tỉnh bà, khen ngợi bà, tỏ tình tha thiết yêu đương. Giai nhân cương quyết chối từ, viện lẽ nàng đã có chồng. Nàng không thể dâng trái tim của nàng và hiến tấm thân của nàng cho Hoàng đế được.
Napoléon buồn rầu bực tức, có khi nổi giận, hăm he dọa nạt, có khi lại xuống nước, làm lành, năn nỉ, ỉ ôi.
Thái độ trung trực và cương quyết của bà càng tăng phẩm giá của Nữ bá tước de Walewska. Nhưng chính phủ lâm thời vong quốc của Pologne, biết rõ cuộc tình duyên trắc trở của Napoléon, liền viết thư sau đây gởi Nữ Bá Tước Walewaka:
“Hồi xưa nàng Esther ưng thuận làm vợ vua Assuérus của nước Perse, đâu phải vì tình yêu mà chỉ vì lòng ái quốc nhiệt thành của nàng muốn cứu dân tộc Juifs khỏi bị diệt vong. Và Esther đã tìm được hạnh phúc và hãnh diện vì đã cứu được Quốc gia của nàng.
Thưa bà, chúng tôi cũng mong ước thấy bà được hạnh phúc ấy và hãnh diện ấy.
Chúng tôi xin phép nhắc bà một câu nói bất hủ của Fénelon, một nhà triết học lừng danh, một văn hào Pháp, một tu sĩ có đức độ cao siêu. Ông đã nói: “Les homes qui ont toute autorité en public, ne peu-vent, par leurs délibérations, établir aucun lien effect-tif si les femmes ne les aident à l’exécuter” (Những người đàn ông dù có đủ cả uy quyền đối với công chúng, cũng không thể, với những cuộc đàm thoại xây dựng được một liên hệ cụ thể nào, nếu không có những người đàn bà giúp họ thực hành công tác ấy).
Nữ bá tước de Walewska suy nghĩ rất nhiều về bức thư đó của những nhà ái quốc Pologne. Đã vậy, hầu hết những bạn hữu thân tín của nàng, cả dư luận của dân chúng, cho đến cả nhà Đại thi sĩ danh tiếng nhất của Pologne thời bây giờ là Mickiewicz cũng khuyên bảo nàng: “Hoàng đế Napoléon là một bậc vĩ nhân của Lịch sử. Chỉ có Ngài là giải phóng được Tổ quốc chúng ta, nếu Ngài muốn. Vậy Nữ bá tước nên vì nước mà quên mình. Phu nhân hy sinh tấm thân nghìn vàng cho Napoléon, chính là hy sinh cho Tổ quốc vậy!”
Hy sinh như nàng Esther đã hy sinh cho Hoàng đế Assuérus chăng. Nghe theo tiếng gọi của tình yêu Hoàng đế, tức là nghe theo lời khuyên bảo của nhà tu sĩ Fénelon và nhà thi hào Mickiewisz chăng?
Gần một tuần lễ, Nữ bá tước de Walewska băn khoăn thắc mắc vì vấn đề tâm sự, tiền thối lưỡng nan…Yê Napoléon?....Khỏi yêu Napoléon? Hy sinh vì ái tình? Hy sinh vì Tổ quốc?
Sáu đêm trường nàng trằn trọc không ngủ…
Napoléon cũng thế! Ban ngày hoàng đế lo sửa soạn chiến tranh, một mình ngài điều binh khiển tướng đế phải đương đầu với một nước Russie to lớn hùng cường, một nước Autriche cũng anh dũng, một nước Prusse đang hăng hái quyết chiến để giữ gìn lãnh thổ. Nhưng ban đêm, ngài nằm thao thức, buồn rầu, vì người đẹp của Pologne không hề nhượng bộ.
Ngài ngồi dậy, viết bức thư cuối cùng sau đây để hôm sau, sáng ngày thứ bảy, sai quan thị vệ trao đến mỹ nhân:
“Phu nhân không sao làm thỏa mãn nhu cầu tha thiết của một trái tim say mê chỉ muốn chạy đến ôm lấy chân ai mà tỏ tình yêu dấu? Ta chỉ tiếc, vì lòng ước muốn của ta vô bờ bến, nhưng nhiệm vụ của ta cũng quá nặng nề, nên ta không làm sao đến cạnh phu nhân để tỏ hết nỗi lòng! Đến đây! Ai ơi, đến đây với ta! Ta sẽ càng mến thương tổ quốc của em nhiều hơn nếu em thương hại trái tim đang đau khổ của ta!”
Nữ bá tước đã trằn trọc sáu đêm, với hình ảnh chói lọi của Napoléon mà nàng tôn kính, mà nàng vẫn do dự không dám ôm ấp vào lòng.
Bỗng sáng ngày thứ bảy, vừa ngủ dậy, nàng nhận được bức thư tha thiết chân thành của ai kia…
Nàng xúc động quá, ngồi lặng lẽ xuống ghế, nhắm mắt mơ màng…Nàng mới có 19 tuổi. Bỗng nữ bá tước tài hoa son trẻ bừng mắt đứng dậy, tươi cười nói với quan thị vệ:
-         Nhờ ông về tâu Hoàng đế, chốc nữa tôi sẽ xin đến hầu chuyện với Ngài về số phận của Quê Hương tôi.
Một lát sau, Napoléon đang chăm chú nghiên cứu các địa điểm chiến trường trên một bản đồ lớn trải trên mặt bàn, nữ công tước Waleweka bước vào. Nàng mặc áo đen, đội nón đen phủ tấm voan đen để tang cho Tổ quốc. Nàng quỳ bên chân Napoléon tha thiết van lơn:
-         Tâu hoàng thượng, đây không phải là Nữ bác tước de Walewska, mà đây là xứ Pologne đến quỳ bên chân ngài. Xin ngài hứa cho một lời châu ngọc: xứ Pologne chỉ ngưỡng vọng lên ngài, nhờ ngài giải phóng cho quê hương tôi khỏi bị làm nô lệ! Chúng tôi mong được vinh dự tôn Hoàng thượng làm bậc ân nhân cứu dân tộc Pologne!
Napoléon mỉm cười, nâng đỡ nữ bá tước dậy, mời nàng ngồi:
-         Tôi hứa với phu nhân, tôi sẽ giải phóng cho Pologne,
Nữ bá tước liền đứng dậy:
-         Tâu Hoàng đế, Hoàng đế có cho phép tôi đêm nay trở lại dâng Hoàng đế tấm lòng tri ân không bờ bến của tôi?
-         Đêm nay ta chờ phu nhân.
Nữ bá tước kính cẩn chào, đi ra.
8 giờ tối, Napoléon vẫn còn đứng trước bản đồ, sắp đặt chiến thuật dàn trận trên sông Danube. Nữ bá tước bước vào, lần này bà mặc áo hồng rực rỡ. Napoléon cười hỏi:
-         Bây giờ là nữ bá tước đến, hay là xứ Pologne đến?
Walewska mỉm cười duyên dáng:
-         Tâu Hoàng đế đây là người yêu của Ngài đến!
-         Thế thì bây giờ đến lượt anh quỳ bên chân em.
Nói xong, Napoléon quỳ bên chân nàng hôn lên chân nàng, và lẩm bẩm ba tiếng thông thường mà tất cả những người yêu đều nói, bất cứ là vị Hoàng đế hay chú thuyền chài:
-         Anh yêu em!
Walewska âu yếm cúi xuống đỡ Napoléon dậy, không ngờ hoàng đế kéo tay bà xuống, đè bà nằm luôn lên đất, không kịp đưa nhau lên giường nệm hoa…
 
WALESWKA SAY MÊ NAPOLÉON
Vì tổ quốc, với sự đồng lõa của tất cả một dân tộc đang tha thiết hy vọng nơi nàng, nữ bá tước Marie de Walewska, một mỹ nhân 19 tuổi, đã hiến cả tấm thân nghìn vàng của nàng cho Napoléon.
Nhưng, kỳ diệu thay, Marie vừa rơi trong tay vị anh hùng trong một phút say mê, thì lúc tỉnh lại nàng cảm thấy không thể nào rời xa chàng được nữa. Người đàn ông đã chiếm được trái tim của nàng và xác thịt của nàng, bây giờ đây không phải là hoàng đế Napoléon, mà là người yêu của nàng. Để đáp lại sự hy sinh tuyệt đích của Marie, chàng đã tặng cho nàng một tuyệt thú say sưa, tràn trề hạnh phúc. Nàng sung sướng thú thật với Napoléon: “Em mê anh mất rồi!”
Napoléon ôm ghì đầu nàng, cái đầu nhỏ nhắn, xinh xắn, ngào ngạt hương xuân, áp vào ngực chàng và âu yếm bảo:
-         Từ nay em ở luôn bên cạnh anh nhé?
Marie đê mê rung động, khẽ đáp:
-         Vâng.
Đêm ấy là mồng 7 tháng 1 năm 1807. Cuộc tình duyên của Marie de Walewska đã thành ra một việc chánh thức, gần như một quốc sự, Napoléon công khai giới thiệu nàng là người “vợ Ba Lan” của ông. Các nhà ái quốc Pologne chứa chan hy vọng. Họ biết rằng Hoàng đế nước Pháp và Nữ Bá tước Marie đã thành thật gắn bó cùng nhau, thì chỉ có cô vợ trẻ đẹp ấy là có thể van xin ông giữ lời hứa giải phóng cho xứ Pologne.
Lịch sử đã chứng nhận rằng vì yêu Marie de Walewska mà Napoléon đã thực hiện được lời hứa ấy một phần nào, lời hứa ái tình và danh dự. Ông bắt buộc Hoàng đế Alexander của nước Russie và vua Prusse trả lại cho Pologne những lãnh thổ mà Russie và Prusse đã xâm chiếm. Ông đã tạo ra một khu vực Pologne độc lập, gọi là Grand Duché de Varsovie và lập một bộ đội Pologne trao cho Thống chế của Pologne là Poniatawshi  làm tổng tư lệnh. Ngần ấy cũng đủ cho nhân dân xứ Pologne biết ơn Napoléon, và Marie de Walewska yêu ông mỗi ngày mỗi tha thiết say mê hơn. Một buổi tới, Napoléon có chút ít thì giờ rảnh, ngồi bàn cặm cụi đặt một bài hát cho quân đội của ông. Marie de Walewska thương ông làm việc quá nhiều, nằm giường khẽ gọi ông:
-         Bỏ đấy, mình ạ, đừng thèm làm công việc nhỏ mọn. Lại đây nằm với em!
Napoléon vứt bút, xé tờ giấy mà trên đó ông đã ghi được vài câu hát, và đến giường nằm với người yêu.
Trong thời gian một tháng ở Varsovie, Napoléon và Marie de Walewska đã sống những ngày yêu đường đầy ngập hạnh phúc.
Ngày 7.2.1807, Napoléon kéo đại đội binh mã đến nghinh chiến với quân đội Russe tại Eylau. Marie đến Vienne để chờ đợi tin tức. Chiều tối, sau khi tiếng súng đã thưa dần và quân Pháp đã thắng trận, Napoléon lấy một miếng giấy đặt trên mặt trống, viết vội vài dòng sau đây, gởi về Marie:
“Bạn diệu hiền của anh đi, khi em đọc thư này chắc em đã nghe tin về chiến cuộc rồi. Trận giặc đã kéo dài hai ngày và hôm nay quân ta đã toàn thắng.
“Con tin của anh vẫn quanh quẩn bên em. Yêu anh nhé, em Marie hiền lành ngoan ngoãn của anh! Và tin nơi tình yêu của N.”
Viết xong bức thư tình cho Mari de Walewska, Hoàng đế để lại viết tiếp luôn bức thư tình khác gởi cho bà vợ Joséphine ở Paris cũng đang chờ đợi ông…
Nhưng ông không về với Joséphine. Thắng trận xong Napoléon ở lại nơi lâu đài Finekenein để cho quân đội nghỉ ngơi trong mùa lạnh. Suốt 3 tháng ở nơi đây, Walewska và Napoléon sống một tuần trăng mặt say sưa nhất trong đời ông. Trước mặt bá quan và các vị đại sứ ngoại quốc, các vì vua chúa Âu châu, Marie de Wamewska được coi như một vị Hoàng hậu. Ngoài những giờ tiếp khách, Hoàng đế và cô vợ trẻ tuổi âu yếm với nhau như một đôi uyên ương say mê khăng khít chỉ biết hưởng hạnh phúc của tình yêu.
Tháng 6-1807, Napoléon lại đại thắng quân Nga trên sông Niémen. Hoàng đế Alexandre bắt buộc phải ký hòa ước tại Tilsit. Quân đội Napoléon ca khúc khải hoàn trở về Pháp. Marie de Walewska buồn bã, sợ phải từ giã Napoléon, nhưng ông muốn nàng theo ông về Paris. Ông để nàng ở một lâu đài tráng lệ, và mỗi ngày ông đều đến thăm nàng, với mối tình chung thủy.
Năm 1809, Napoléon lại sang đánh giặc ở Autriche. Walewska cũng theo ông, như hình với bóng. Ông sắp đặt cho nàng ở một cung điện nguy nga tại Vienne, và yêu quý nàng như cặp vợ chồng mới cưới. Rồi nàng có thai…
Napoléon hết sức vui mừng, và bây giờ ông có chứng cớ chắc chắn rằng ông có con trai để nối dòng. Cưới Joséphine về mấy năm không có con, đó là lỗi tại Joséphine không sinh sản được nữa, chứ nhất định không phải tại ông.
Cũng năm ấy, Napoléon ly dị với Joséphine và năm sau, 1810 hoàn cảnh chính trị của nước Pháp xúi giục ông cưới Công chúa Marie Louise, con gái của Hoàng đế nước Autriche, về làm hoàng hậu chính thức của nước Pháp.
Đáng lẽ Napoléon cưới Marie de Walewska, nhưng theo ý kiến chung của Triều đình, Hoàng đế nước Pháp kết hôn với con gái Hoàng đế Autriche, sẽ có ảnh hưởng tốt hơn cho hòa bình của Âu châu và củng cố đế quốc Pháp thêm vững chắc hơn.
Mặc dầu chính thức lấy Công chúa Marie Louie làm Hoàng hậu Napoléon vẫn giữ nguyên vẹn tình yêu tha thiết với Marie de Walewska. Năm 1810, Marie sinh được con trai, đặt tên là Alexandre Walewski. Napoléon ban cho người con ngoại tình này chức vị Bá tước. Năm 1811, Hoàng hậu Marie Louise cũng sinh con trai được tôn làm Quốc vương La Mã (roi de Rome).
Nếu đừng có chiến tranh đảo lộn tình hình Âu châu một lần nữa thì Triều đại Napoléon được vững bền, vẻ vang biết mấy!
 
PAPA HOÀNG ĐẾ
Nhưng trong lúc ai cũng tưởng rằng uy thế của Napoléon đang thời lẫm liệt nhất, thì định mệnh của ông lại xoay chiều ngược lại. Ngôi sao của vị César của nước Pháp bắt đầu lu mờ.
Sau một chiến trận kinh khủng mà một mình phải chống bốn địch thủ ghê gớm: Anh, Đức, Nga, Autriche, ông bị đại bại, và bắt buộc phải thoái vị ngôi Hoàng đế. Ngày 21.4.1814 ông bị bốn nước đồng minh Âu châu đẩy qua cù lao Elbe, giữa Địa Trung Hải.
Sáu trăm binh sĩ và hai vị Thống chế trung thành nhất với ông, theo ra hầu hạ ông nơi hoang đảo.
Hoàng hậu Marie Louise cũng hứa sẽ đem con ra ở với ông. Nhưng vị anh hùng thất thế không ngờ bị bà vợ bỏ rơi, không một lời thương nhớ.
Marie Louise đem Quốc vương La Mã về ở với Hoàng đế Autriche, là bố vợ và cũng là thù địch của Napoléon, Napoléon chờ đợi đêm ngày, biệt vô âm tín…
Trong lúc ông đang tức giận Marie Louise thì được tin Nữ Bá tước Marie de Walewska, cô vợ Polonaise trẻ đẹp và diệu hiền của ông, ẵm con trai bốn tuổi ra thăm ông. Nàng đi một chiếc tàu buồm nho nhỏ, ra đến đảo Elbe vào lcus trời tối mù mịt, đêm 1.9.1814. Napoléon ở nhà, đợi chờ từ lúc hoàng hôn. Chờ mãi chưa thấy nàng đến, ông sốt ruột đi bách bộ băng qua một khu rừng hoàng vắng để đi đón nàng. Gặp nàng giữa rừng, ông ôm chầm lấy người yêu bảo:
-         Anh chờ em lâu lắm!
Đứa con trai bốn tuổi của nàng ẵm trong tay Alexandre Walewski, bỗng cất tiếng ngây thơ, chào ông:
-         Bonjour Papa Empereur! (con chào papa Hoàng đế).
Napoléon phì cười, cõng con lên lưng, và dắt vợ vào một chòi hoang giữa rừng, ngủ luôn nơi đây…
Trong tất cả những người vợ và người yêu của Napoléon, Marie de Walewska là người hiền lành nhất, yêu ông nhiều nhất, và trung thành với ông nhất.
Tuy nàng lo ngại rằng HOàng hậu Marie Louise có thể ra đảo Elbe để ở với Napoléon và hai bà không ưa nhau nhưng nàng cũng van lơn Hoàng đế:
-         Em đến đây dâng cả đời em cho anh. Em chỉ xin anh một túp nhà nho nhỏ, ở một xó nào kín đáo cũng được, xa anh cũng được, miễn là khi nào anh gọi đến em, thì có em sẵn sàng chạy đến anh ngay.
Napoléon xiêu lòng, nhưng lúc bấy giờ ông đang âm mưu cuộc thoát ly để trở về nước Pháp, giành lại ngôi báu, Ông khẽ bảo nàng:
-         Không được đâu em ạ. Em phải về ngay.
Marie de Walewska đứt từng đoạn ruột, nhưng yêu chồng, chiều chồng,  tuân lịnh chồng, đành phải âm thầm đau xót từ giã phu quân. Đứa con bốn tuổi lại bắt tay cha, với giọng nói ngây thơ cảm động:
-         Bonjour Papa – Empereur (1).
Napoléon chạy vào cái chòi hoang ngồi khóc nức nở. Tám ngày liền, ông rầu rĩ, nằm luôn trong chòi, không ló mặt ra.
Bốn tháng sau, ngày chủ nhật, 26.21815, Napoléon kéo 600 người lính trung thành của ông và hai vị Thống chế xuống tàu, vượt biển, đổ bộ lên đất Pháp. Con Chim Đại Bàng lại bay vụt về Paris được toàn thể quân đội và dân chúng hoan hô dậy trời dậy đất. Napoléon trở lại ngôi Hoàng đế.
Nhưng hai năm sau, 1817, Marie de Walewska đau nặng, trút hơi thở cuối cùng, miệng còn lẩm bẩm ba tiếng:
-         Napoléon!.. Je t’aime!
(Napoléon…em yêu anh!...)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
17 – NHỮNG NGƯỜI YÊU CỦA NAPOLÉON: MARIE LOUISE
TÔI NHẤT ĐỊNH SẼ KHÔNG BAO GIỜ LẤY HẮN
Napoléon, sau trận đại thắng vẻ vang diệt quân Autriche ở Wagram (6.7.1809) đã thành vị chúa tể tối cao của toàn thể Âu châu. Hai địch thủ ghê gớm nhất đã bị đại bại, Hoàng đế Alexander của Russie đầu hàng ở Tilsitt và Hoàng đế Francois của Autriche ký hiệp ước nhượng bộ ở Vienne, cả lục địa Âu châu không còn ai dám đương đầu với ông nữa.
Trở về Paris, vị Hoàng đế hiển hách của nước Pháp mới bắt đầu tổ chức hệ thống hòa bình trên lục địa, và củng cố triều đại Napoléon. Toàn dân nước Pháp đều mong mỏi Hoàng đế có con trai để đảm bảo Ngai vàng. Hoàng hậu Jossphine vì không sinh sản được nữa, nên bị vua li dị và Nữ Bác tước Marie Walewska, cô vợ trẻ đẹp xứ Ba Lan, rất được Hoàng đế yêu chuộng nhưng nàng sẽ chỉ là người yêu vĩnh viễn của Napoléon mà thôi. Tình thế chính trị của nước Pháp và của Âu châu lúc bấy giờ xúi giục Napoléon phải cưới hoặc một Công chúa của Hoàng đế Nga, hoặc một Công chúa của Hoàng đế Autriche.
Vì lẽ đường sá quá xa xôi và Nga hoàng chậm trả lời, nên Napoléon quyết định kết hôn với nữ quận công Marie Louise, công chúa của Autriche, con gái của Hoàng đế Francois. Cũng như Quang Trung ở Việt Nam trước đó mười mấy năm đã đòi cưới con gái của Hoàng đế Càn Long vậy.
Đám cưới chính trị và ngoại giao này lại xảy ra không khác nào một tiểu thuyết ái tình ly kỳ, gay cấn la. Vì mục đích cưới vợ lần này là kiếm một đứa con trai, nên Napoléon đã thốt ra một câu rất lý thú:
“Ta sẽ cưới một cái bụng!”
Con trai? Thì Napoléon đã có hai đứa con ngoại tình: của nàng cung nữ Denuetle, và của cô vợ Ba Lan, Marie Walewska. Nhưng Napoléon muốn có một Hoàng nam với một Hoàng hậu chính thức, xứng đáng với ngôi Hoàng đế của ông. Bên Autriche, vua và triều đình cũng vội vàng ưng thuận gả công chúa Marie Louise cho Napoléon để nhờ đó mà xin xỏ được đôi phần êm dịu bớt trong hiệp ước Vienne vừa ký sau trận đại chiến ở Wagram.
Napoléon chưa biết mặt vì chưa gặp Marie Louise lần nào. Ông chỉ nghe nói rằng công chúa nước Autriche không đẹp bằng Joséphine nhưng duyên dáng. Ông hỏi ý kiến hội đồng gia tộc và cả triều đình, ai nấy đều tán thành, rồi ông phái người con của Joséphine, Eugène de Beauharnais, sang cầu hôn chính thức Marie Louise. Con Marie Louise thì nghe đến cái tên của Napoléon nàng đã nhún vai, trề môi, xoay tròn đôi mắt to tướng, nói với các cung nữ:
“Người ta đồn rùm lên là hắn muốn cưới ta, nhưng ta không lo ngại. Ta chỉ thương hại nàng công chúa nào bị hắn lựa chọn làm nạn nhân cho chính trị của hắn. Chứ ta thì ta nhất định không đời nào lấy hắn.”
Marie Louise cứ tưởng tượng Napoléon Bonaparte là một ông bà bị ghê tởm, dữ tợn, một hung thần đáng ghét. Lúc bấy giờ Napoléon 40 tuổi, Marie Louise 18 tuổi. Nàng là con gái lớn của hoàng đế Francois. Nàng không đẹp lắm, vóc người đẫy đà cao lớn, bộ ngực thật to, nhưng hai cánh tay nhỏ, hai bàn tay mũm mĩm, cặp mắt lồi, đôi môi dày như thèm thuồng khao khát vật dục. Kể về toàn diện, Công chúa Marie Louise thua xa nữ Bá tước Marie Walewska, và cũng không sánh được với cựu Hoàng hậu Joséphine.
Về khả năng, thì nàng có học 6 thứ tiếng ngoại ngữ, đánh dương cầm nghe được, về không đến nỗi tệ trí óc thông minh vừa vừa thôi. Từ nhỏ đến lớn, Công chúa ở luôn trong cung điện, ít được cơ hội giao du rộng rãi. Tính tình mềm yếu, non dạ, không cương quyết, thích chơi bời, óc không có lý tưởng.
Công chúa không thích nước Pháp, và thù Napoléon vì ông đã đánh bại nước Autriche ba lần, và đã hai lần đuổi thân phụ của nàng, là hoàng đế Francois, ra khỏi kinh thành Vienne.
Nhưng chính vì bại trận, và sợ sệt Napoléon, nên Hoàng đế nước Autriche đã nhất định dùng cô con gái lớn làm vật hy sinh, dâng nàng cho vị chúa tể của nước Pháp và của Âu châu để cầu xin chút lượng khoan hồng giữ vững địa vị, nuôi chí phục thù để rửa hận mai sau.
Nhưng không dám ép duyên con gái, Hoàng đế Francois sai vị Tể tưởng Metternich đến thuyết phục nàng. Công chúa Marie Louise trả lời:
-         Nếu vì quyền lợi của Phụ hoàng ta thì phụ hoàng ta muốn sao, ta cũng chiều theo ý ngài.
Nói như vậy, tức là chịu rồi vì Công chúa đã biết rõ ý định của vua cha. Vả lại tất cả hoàng gia Autriche và toàn thể chính phủ đều đồng thanh khuyên nhủ công chúa nhận lời làm vợ Napoléon, làm Hoàng hậu nước Pháp Marie Louise tuy hồi đầu phản đối, khinh bỉ, nhưng rồi thích được vinh dự làm Hoàng hậu nước Pháp nấp bóng một vị César của châu Âu, nên nàng hăng hái nhận lời ngay.
Cuộc hôn nhân của Napoléon với Marie Louise như thế không phải là một cuộc hôn nhân vì ái tình, nhưng cũng không phải là một cuộc hôn nhân vì ái tình, nhưng cũng không phải là một cuộc hôn nhân gắng gượng.
Nó vẫn thích ứng với nhu cầu lịch sử thời bấy giờ, hợp với quyền lợi của hai nước Pháp và Autriche. Nó cũng hợp với tâm lý và khát vọng của Công chúa không thích nước Pháp, và thù Napoléon vì ông đã đánh bại nước Autriche ba lần và đã hai lần đuổi thân phụ của nàng, là hoàng đế Francois ra khỏi kinh thành Vienne.
Nhưng chính vì bại trận, và sợ sệt Napoléon, nên Hoàng đế nước Autriche đã nhất định dùng cô con gái lớn làm vật hy sinh, dâng nàng cho vị chúa tể của nước Pháp và của Âu châu để cầu xin chút lượng khoan hồng giữ vững địa vị, nuôi chí phục thù để rửa hận mai sau.
Nhưng không dám ép duyên con gái, Hoàng đế Francois sai vị Tể tướng Metternich đến thuyết phục nàng. Công chúa Marie Louise trả lời:
-         Nếu vì quyền lợi của Phụ hoàng ta thì phụ hoàng ta muốn sao, ta cũng chiều theo ý ngài.
Nói như vậy, tức là chịu rồi vì Công chúa đã biết rõ ý định của vua cha. Vả lại tất cả hoàng gia Autriche và toàn thể chính phủ đều đồng thanh khuyên nhủ công chúa nhận lời làm vợ Napoléon, làm Hoàng hậu nước Pháp Marie Louise tuy hồi đầu phản đối nước Pháp nấp bóng một vị César của châu Âu, nên nàng hăng hái nhận lời ngay.
Cuộc hôn nhân của Napoléon với Marie Louise như thế không phải là một cuộc hôn nhân vì ái tình, nhưng cũng không thể là một cuộc hôn nhân gắng gượng.
Nó vẫn thích ứng với nhu cầu lịch sử thời bấy giờ, hợp với quyền lợi của hai nước Pháp và Autriche. Nó cũng hợp với tâm lý và khát vọng của Công chúa Marie Louise muốn tọa hưởng hạnh phúc tột bực của một địa vị cao sang nhất, vẻ vang nhất, oai nghi nhất, trên tất cả các ngai vàng Âu châu.
Napoléon có quyền kiêu hãnh. Từ một viên Trung úy pháo binh 1795, mới 14 năm qua, đã trở thành Hoàng đế của nước Pháp, sắp cưới Công chúa của một hoàng gia danh tiếng nhất châu Âu, Napoléon ngày đêm mong đợi Công chúa Marie Louise mau mau qua Paris làm vợ mình.
Được tin Công chúa đã nhận lời đính hôn, Napoléon vui mừng viết thư cảm ơn nàng. Rồi ông sai Thống chế Berthier làm Đặc sứ sang Viene, thủ đô Autriche, để đại diện Hoàng đế nước Pháp làm lễ rước dâu. Em gái của ông, Công chúa Caroline, cũng được ông cho sang Vienne, đem lễ vật và đồ nữ trang quý báu để tặng Marie Louise, và sẽ cùng ngồi một chiếc xe tứ mã với nàng trên đường về Pháp.
Trong lúc chờ đợi, ông hỏi viên y sĩ Corvisart:
-         Thí dụ một người đàn ông 60 tuổi lấy vợ, còn có thể có con được nữa không?
-         Tâu Bệ hạ, có thể được ạ.
-         70 tuổi?
-         Tâu Bệ hạ, 70 tuổi cũng còn có con.
-         Như thế thì trẫm mới 40 tuổi, Công chúa Marie Louise 18 tuổi, chắc có nhiều con lắm hả?
-         Muôn tâu Hoàng thượng, trong 10 năm nữa ngài có thể đặt một Hoàng tử trên mỗi ngai vàng của Âu châu.
Nóng ruột muốn biết rõ Marie Louise đẹp như thế nào, ông hỏi Lejeune, viên quan hầu của Thống chế Berthier, ở Viene vừa đem về một tấm ảnh của Marie Louise gởi tặng Hoàng đế:
-         Xem ảnh không biết rõ được người. Mị phải nói thật cho ta nghe, theo mi nhận xét thì công chúa Marie Louise có đẹp không?
-         Tâu Hoàng thượng, Công chúa xinh lắm.
-         Xinh lắm, nghĩa là thế nào? Công chúa có cao không?
-         Tâu ngài, Công chúa cao như Hoàng hậu xứ Hollande.
(Hoàng hậu xứ Hollande, tức là cô Hortense de Beauharnais, con gái riêng của Joséphine, con nuôi của Napoléon, đẹp lộng lẫy, được Napoléon rất yêu chuộng và gả cho Louis Bonaparte, em ruột của ông, được ông cho làm vua và Hoàng hậu xứ Hollande).
-         Tóc của nàng màu gì?
-         Tâu ngài, tóc của công chúa cũng như tóc của hoàng hậu xứ Hollande.
-         Thế thì nàng giống hệt hoàng hậu xứ Hollande à?
-         Tâu Hoàng thượng tất cả những điều ngài hỏi, con trả lời đúng theo sự thật.
Napoléon đuổi Lejeune ra ngoài rồi quay lại than phiền với quan thị vệ, đại thần Telleyrand:
-         Trẫm khó mà biết được sự thật, chúng nó chỉ nói nịnh thôi. Xem ảnh, trẫm biết rằng Marie Louise chẳng đẹp chút nào. Nhưng Trẫm không cần: miễn là nàng hiền lành và đẻ cho TRẫm một bầy con trai kháu khỉnh và mập thù lù như thế này này, thì trẫm sẽ yêu nàng như yêu người đàn bà đẹp nhất thế giới vậy.
Marie Louise có gửi qua Paris một chiếc giày của nàng dùng làm kiểu cho thợ giầy ở Paris đóng một đôi giày đẹp để nàng mang hôm lễ cưới. Chiếc giày kiểu của công chúa hình thức nhỏ nhắn, xinh xắn, trông dễ thương. Napoléon cầm lên ngắm nghía, khen:
“Xem một chiếc giày này, trẫm cũng đã mê công chúa rồi đó! Có ai có được bàn chân bé nhỏ như thế này đâu!”
Trong lúc Napoléon sốt ruột muốn gặp vị hôn thê ngay lập tức, thì Marie Louise cũng đã được lịnh vội vã từ giã Vienne sang Paris. Đường mây thăm thẳm, dặm liễu xa xôi, đoàn xe tứ mã cầm hiệu kỳ chữ N, ngày đêm không nghỉ ngơi, chạy vùn vụt lên đèo, xuống ải, vượt núi, băng sông, đưa công chúa về mau mau nơi lâu đài hoa lệ tại đây Hoàng đế, hai tay chắp sau lưng, đi lại đi qua, hồi hộp đợi chờ…
Rất nịnh đầm, và để tỏ lòng ân cần tha thiết, ngày nào Napoléon cũng gởi đến tận tay vị hôn thế một bó hoa quý và một bức thư âu yếm, để nàng đọc dọc đường.
Công chúa cũng hồi âm mỗi ngày bằng những mảnh giấy xanh xanh, những câu văn khách sáo, lời thư vô vị mà Napoléon vẫn đọc say mê.
Ngày 27 tháng 3, được tin đoàn xe rước Marie Louise đang tiến gần đến Soissons, cách Paris gần 150 ki lô mét, Napoléon không nhẫn nại đợi chờ được nữa, truyền lịnh sửa soạn gấp rút một chiếc xe song mã để ông thân hành đi Soissons đón công chúa. Ông muốn có cuộc gặp gỡ đột ngột để cho Marie Louise ngạc nhiên chơi. Thống chế Murat cũng được phép đi theo Hoàng đế để đón vợ ông là công chúa Caroline, trời mưa như thác đổ. Chiếc xe song mã được lịnh chạy hết tốc lực để kịp đến Soissons gặp đoàn xe của Marie Louise. Trời đã gần tối, Napoléon đến làng Courcelles, cặp chiếc xe trạm đi tiên phong trong đoàn xe công chúa. Trời vẫn mưa ào ào. Napoléon xuống xe, chạy vào đụt mưa trước cửa nhà thờ. Một lúc sau, đoàn xe Marie Louise đến nơi. Napoléon phóng ra đường cái, đón chiếc xe của vị hôn thê.
Người đánh xe vừa trông thấy ông, liền ghìm giây cương ngựa, cho xe ngừng. Y nhảy xuống đường, đứng chào và hô to lên:
-         Hoàng đế!
Napoléon mỉm cười, làm dấu hiệu bảo y đừng la to như thế, rồi không cần theo nghi lễ nào cả, ông vội vàng mở cửa xe công chúa, thót vào xe ngồi kề nàng, ôm lấy nàng, hôn lấy hôn để…Marie Louise vừa ngạc nhiên, vừa kinh hoảng, trong giây phút say sưa bất thần nàng không nói được một lời. Napoléon nắm bàn tay vợ, âu yếm hỏi han, cười đùa vui vẻ, giỡn cợt ngây thơ y như một chàng thanh niên si tình 20 tuổi.
Ông truyền lịnh cho xe tiếp tục chạy, không ngừng.
Ông thấy nàng đẹp, đẹp hơn ông tưởng tượng. Và dù sao nàng cũng là một vị Nữ Quận chúa, điệu bộ, cử chỉ, ngôn ngữ có vẻ quý phái nhưng vẫn là ngây thơ, rụt rè, e lệ, khiến ông yêu ngay. Marie Louise qua phút kinh ngạc vừa rồi, cũng cảm mê ông liền. Trước kia nàng tưởng ông dữ tợn lắm, không dè nàng gặp một vị Hoàng đế còn trai trẻ với cặp mắt nhìn nàng rất âu yếm, nụ cười chân thật, diệu hiền. Rồi hai bên chuyện trò thân mật nhau ngay. Nàng không còn giữ gìn e lệ nữa.
Đến thành phố Compiègne, cách Paris còn trên 120 ki-lô-mét, trời hãy còn mưa, và tối đen như mực. Napoléon muốn nghỉ đêm tại đây. Hoàng đế miễn lễ nghi cho tất cả các nhân vật cao cấp và các phái đoàn dân chúng đến chào mừng. Ngài chỉ muốn dùng bữa riêng với Marie Louise trong căn phòng vắng vẻ, không ai được quấy rầy. Và ngài muốn Marie Louise làm vợ của Ngài ngay đêm nay. Ngài hỏi công chúa:
-         Trước khi em ra đi, thầy mẹ của em bảo em như thế nào?
Công chúa mỉm cười, âu yếm đáp:
-         Thầy mẹ em bảo em là hoàn toàn thuộc về anh, và tuân lời anh về mọi việc.
Tuy chưa về đến Paris để làm lễ cưới, và cũng chưa chính thức là hoàng hậu của nước Pháp, nhưng đêm nay Marie Louise đã hoàn toàn thuộc về vị Hoàng đế yêu quí của nàng.
 
 
QUỐC VƯƠNG LA MÃ.
Hôn lễ cử hành ngày 1.4.1810, dĩ nhiên là vô cùng trọng thể.
Làm vợ Napoléon, Hoàng hậu Marie Louise được tràn trề hạnh phúc, hưởng đầy đủ tất cả tình yêu tha thiết của chồng.
Trong một bức thư viết về hoàng đế Autriche, thân phụ của nàng, Marie Louise đã có đôi lời tâm sự:
“Từ khi con đến đây, luôn luôn con được Người yêu quí. Con rất mang ơn Người, và cũng đáp lại bằng tình yêu chân thật…Người săn sóc đến con một cách âu yếm niềm nở khiến con vô cùng cảm động…con sung sướng lắm…”
Metternich, đại sứ Autriche ở Paris, cũng tường trình với hoàng đế Francois trong một bức thư, có đoạn như sau:
“Hoàng đế Napoléon lúc nào cũng tỏ ra rất thương yêu công chúa và công chúa cũng thông cảm với Ngài sâu đậm và chiều theo ý Ngài. Công chúa rất phấn khởi và hân hoan.
Trong một thư khác, Marie Louise viết cho chú của nàng, là Quận Công Wuzboung:
“Cháu không muốn để cho người buồn phiền một tý nào cả”
Marie Louise quấn quít luôn bên cạnh chồng. Có khi bận nhiều công việc, Napoléon không gần gũi nàng trong vài ba hôm, thì nàng nhớ nhung, buồn rầu, khóc lóc.
Nàng viết thư cho công chúa Caroline, em ruột của Napoléon:
“Xa người một ngày tôi chịu không được. Người đi kinh lý nơi nào, tôi cũng hy vọng đi theo bên sát cạnh Người…”
Năm ấy Hoàng hậu có thai. Rồi ngày 20.3.1811, 22 tiếng súng đại bác báo tin Thái tử ra đời, được Napoléon banngay cho chức vị “Quốc Vương La Mã”. Không những riêng triều đình và hoàng gia vui mừng được thấy Napoléon đã có thái tử kế vị, mà toàn thể nhân dân Pháp hãnh diện với một đế quốc lớn nhất của Âu châu và Thế giới, và triều đại Napoléon là triều đại vẻ vang nhất của Lịch sử. Quốc vương La Mã ra đời, hình như để chứng nhận rằng ngai vàng của Napoléon được củng cố và địa vị bá chủ của nước Pháp và của dân tộc Pháp được tăng cường hơn bao giờ hết.
Nhưng Napoléon đâu có ngờ ngôi sao chói rạng của ông đã bắt đầu lu mờ dần, ngay sau khi vừa tắt những ngọn pháp bông rực rỡ muôn màu chào mừng Quốc vương La Mã.
Hương vị ái tình của Napoléon và Marie Louise vẫn say sưa, ngào ngạt, hạnh phúc gia đình trong cung điện Tuileries vẫn được êm ấm, cho đến cuối tháng 3 năm 1814…vỏn vẹn được 3 năm.
Uy thế của Napoléon đang hiển hách, bỗng dưng ngày 30.3.1814 Hoàng đế nước Pháp phải thoái vị sau một trận đại bại bất ngờ trên chiến trường Âu châu. Ba nước Anh, Nga, Đức liên minh đem toàn lực quật ngã nhà độc tài trên bờ sông Niemen.
Napoléon bị đày ra đảo elbe, cheo leo giữa Địa Trung Hải, tuy còn được giữ nguyên chức vị Hoàng đế, Marie Louise không còn ở trên ngôi Hoàng hậu nước Pháp nữa nhưng chính phủ Anh là kẻ chỉ huy cuộc chiến thắng anh dũng này, lập mưu kế không muốn cho Marie Louise theo chồng, và tặng cho nàng chức Quận chúa ngự trị riêng biệt vùng đất Parme ở nước Italie.
 
NGƯỜI TÌNH NHÂN MỘT MẮT
Người ta muốn chờ xem Marie Louise phản ứng như thế nào. Nàng không chống lại quyết định của ba cường quốc liên minh? Hay cựu Hoàng đế nhất quyết đòi theo chồng ra làm vua trên hòn đảo bé xíu? Đầu tiên, nàng tỏ rat rung thành với Napoléon, người chồng mà trong bốn năm chung sống nàng đã tha thiết yêu quý, chiều chuộng, kính phục. Mặc dầu hoàng đế Francois d’ Autriche, thân phụ của nàng, bắt buộc nàng phải đem con về ở bên cạnh ông, tại kinh đô Vienne – người ta muốn bắt cóc con trai của Napoléon không cho nó theo cha – nàng cũng xin phép hoàng đế Francois cho nàng đi nghỉ mát ở vùng nước suối Aix, trong tỉnh Savoie, một đôi tháng rồi nàng sẽ định liệu. Marie Louise lúc bấy giờ vẫn một lòng thương nhớ Napoléon mà trước kia, ở Paris, trong những giờ phút say mê trong tay chồng, nàng thường gọi yêu là Nana hay là Popo. Marie Louise nhất định sắp đặt vượt biển thăm người yêu bị đẩy ngoài hoang đảo. Hoàng đế Francois chỉ ưng thuận cho đi nghỉ mát ở Aix, nhưng phải để đứa con trai ở lại với ông ngoại nó.
Để dụ dỗ Marie Louise, Hoàng đế Francois mưu mô với Thủ tướng Metternich của Autriche sai một viên thiếu tướng đến ở bên cạnh Quận chúa để hầu hạ nàng. Viên tướng ấy tên là Neipperp.
Thâm ý của những kẻ thù của Napoléon – bốn nước Anh, Nga, Đức, Autriche – là giữ con trai của Napoléon là Quốc vương La Mã (đứa nhỏ mới 3 tuổi) ở tại kinh đô Autriche, kềm chế nó, đừng cho nó biết một tý gì về Napoléon, dạy cho nó học tiếng Đức, và khi nó lớn lên sẽ cho nó vào quận đội Đức, để cho nó đừng có cơ hội trở về đất Pháp gây lại uy tín, nối theo nghiệp cha. Vì bọn thù địch của Napoléon biết rằng hễ con trai của Napoléon xuất hiện trên đất Pháp thì toàn thể nhân dân Pháp sẽ hoan hô nó và tôn nó lên ngôi Hoàng đế, kế vị Napoléon đệ Nhất.
Để thực hiện thâm mưu ly gián, Hoàng đế Autriche hủy bỏ chức vị “Quốc vương La Mã” của đứa cháu ngoại và đổi lại cho nó chức “quận công Reichstadt”. Nó cũng không được ở gần mẹ nó, mà bị giao phó về sự nuôi dưỡng và dạy dỗ cho hoàng hậu Marie Ludovica, bà mẹ ghẻ của Marie Louise và là người thù không đội trời chung của Napoléon.
Marie Louise lúc đầu tiên không biết âm mưu chia rẽ ấy. Bà dự tính ở nghỉ mát ở Aix ít lâu, rồi sẽ đòi đem “quốc vương La Mã” đến đây để hai mẹ con cùng xuống tàu ra đảo Elbe.
Nhưng việc xảy ra sai hẳn với dự định của bà. Bà được vua cha, Hoàng đế Autriche, bắt buộc bà phải đi lập tức đến Parme để nhận chức Quận chúa ngự trị nơi đó. Napoléon bị đày ra đảo Elbe rồi, thì bây giờ bà hoàn toàn bị ở dưới quyền kiểm soát của vua Autriche. Bà lại được tin cho biết rằng tướng Niepperg đang chờ đón bà tại ngoại ô Genève, ngày 17.7.1814 để đưa bà đến Parme.
Bá tước Niepperg là một nhà võ tướng ngoài 40 tuổi, con mắt bên phải bị hư, phải bịt lại vì một lưỡi gươm đâm vào, giữa một chiến trận. Trông bộ tịch kịch cõm của ông ta, đàn bà không thể nào ưa được.
Hoàng đế Autriche và Thủ tướng Metternich giao phó cho ông nhiệm vụ làm quan cận vệ bên cạnh cựu hoàng hậu Marie Louise vì ông là người rất thù ghét Napoléon, luôn luôn mong ước cho triều đại Napoléon sụp đổ. Ông được phái đến hầu hạ Marie Louise với mục đích không cho bà gần gũi với người Pháp, nhất là người nhà của Napoléon và các người còn trung thành với cựu hoàng đế Pháp. Một vài nhà sử học lại gán cho vua Autriche, thân phụ của Marie Louise, cái ẩn ý muốn cho Niepperg tìm lời đường mật quyết rũ Marie Louise để làm tình nhân của bà, để bà đừng còn tưởng nhớ đến Napoléon nữa.
Mấy ngày đầu, Marie Louise rất ghét viên quan cận vệ Niepperg. Nhưng Niepperg khôn khéo và nhẫn nại, ngày một ngày hai dùng đủ các mánh lới khôn khéo để dụ dỗ bà, và rốt cuộc là chinh phục được trái tim quá dễ dàng của Nữ Quận Chúa.
Chỉ trong vòn hai tháng, cựu hoàng hậu Marie Louise, vợ chính thức của Napoléon, đã nghiễm nhiên trở thành cô tình nhân…gần như chính thức…của viên quan cận vệ Niepperg.
Marie Louise, người đàn bà nhẹ dạ, viết thứ về vua cha ở Autriche, đã nói: “Bá tước Niepperg rất chiều chuộng con, con rất thích những cử chỉ của ông đối với con”.
Trong Lịch sử thường có những chuyện dùng đàn bà con gái đẹp để quyến dụ kẻ thù. Đây trái lại , bốn cường quốc liên minh chống Napoléon lại dùng tên võ tướng một mắt để quyến rũ vợ Napoléon, để cô lập hóa người anh hùng mạt vận đã bị đày ra hoang đảo…
 
ĐỂ TRỨNG TRONG CÁI TỔ CỦA CHIM ĐẠI BÀNG
Niepperg, viên thiếu tướng một mắt, không có danh tiếng gì, so sánh với Napoléon, không khác nào chim sâu chim sẻ, sánh với chim Đại bàng! Nhưng hoàng hậu Marie Louise là một người đàn bà nhẹ dạ nhu nhược, quen nếp sống dễ dãi, xa hoa, thích chơi bời, phù phiếm, lại bị viên quan cận vệ lưu manh, có nhiều thủ đoạn, ngày đêm có đeo theo tán tỉnh bà, đến đỗi bà say mê mà quên lãng Napoléon.
Trước đó một tháng, Marie Louise còn viết bức thư  sau đây cho Hoàng đế ở đảo Elbe:
“Em rất đau khổ vì chưa được ra ở với Anh, bên cạnh Anh, trên hòn đảo hạnh phúc của Anh. Em tưởng tượng đảo ấy sẽ là nơi thiên đường của em, xin Anh hãy tin lòng em. Nếu tự em phải đối việc đi ra đảo, thì em đã nói thật cho Anh biết rồi! Không đâu, Anh hiểu em nhiều hơn ai hết. Anh đừng nghe dư luận nói bậy bạ về em. Em sẽ cố gắng ra với Anh càng sớm càng hay…”
Napoléon đọc thư, càng tin lòng thành thật của Marie Louise, và tức giận những kẻ đang tìm cách giam giữ vợ con ông không cho ra đảo ở với ông.
Ông liền sai đại úy Hurault cầm một bức mật thư của ông đến trao tận tay Hoàng hậu. Trong thư ông dặn bà tìm cách trôn đi ra đảo một mình, và sau đó.
 
 
 
 
 
ANNE BOLEYN trang 273
 
Quý tộc ở Paris. Năm cô 15 tuổi, được gọi về London, nhân dịp một dạ hội, được nàh vua trông thấy và để ý, mê say.
Nhà vua tỏ ngay tình yêu, nhưng Anne lễ phép duyên dáng chối từ:
-         Tâu Bệ hạ, em không thể làm  tình nhân của Bệ hạ được, mặc dầu đó là một vinh dự lớn lao cho đời em.
-         Em muốn làm Hoàng hậu không?
Anne Boleyn mỉm cười e lệ:
-         Bệ hạ cho phép em suy nghĩ kỹ một thời gian đã.
Đêm ấy, vua Henri VIII quyết định ly dị Hoàng Hậu Catherine d’ Aragon, để cưới Anne Boleyn. Nhưng đây là cả một vấn đề rắc rối khó khăn, đụng chạm đến luật pháp của Thiên chúa giáo, và sẽ có ảnh hưởng phiền phức đến chính trị trong nước, đến cả chính trị Âu châu.
Và sự phiền phức về tôn giáo quả thật đã gây ra một biến cố vô cùng quan trọng: sự ly khai giữa nước Anh và Tòa thánh La Mã.
Trong lúc nhà vua thách đố đức Giáo hoàng: ông này không cho phép vua ly dị Hoàng hậu theo luật pháp của đạo Thiên chúa, trong lúc Henri VIII cương quyết từ bỏ cả Giáo hoàng và tự lập riêng quyền bá chủ của Thiên chúa giáo Anh quốc, để được tự do ly dị Catherrine và cưới Anne Boleyn, thì cô con gái 15 tuổi của ông Đô trưởng lại chơi cái trò cút bắt với nhà vua…Khi biến, khi hiện, khi chịu, khi không, khi giận hờn, khi nhõng nhẽo, nàng làm cho trái tim vua như bị phong ba bão tố, đầu óc vua như điên đảo tang thương, gây ra tiếng vang dội ly kỳ hồi hộp, náo động khắp các kinh đô Âu châu,
Lúc bấy giờ là năm 1527. Từ Paris đến Moscou, từ Stockholm đến Barcelone, đến Madrid, đến Rome. Đâu đâu cũng bàn tán xì xầm mấy câu hỏi:
-         Đức Giáo hoàng Clément VII sẽ nhượng bộ Anh hoàng Henri VIII không?
-         Anh hoàng sẽ dám chống lại Tòa Thánh Vatican và ly khai với vị giáo chủ tối cao của Thiên chúa giáo không?
-         Anne Boleyn sẽ ưng thuận lấy vua và lên chiếm ngôi Hoàng hậu Anh quốc không?
-         Henri VIII sẽ ly dị được Hoàng hậu Catherine không?
Toàn thể Âu châu hồi hộp đợi chờ và cuộc diện tôn giáo, chính trị của Âu châu sắp sửa có gì thay đổi quan trọng vì một cô gái đẹp 15 tuổi.
 
 
YÊU NHAU LẮM…CẮN NHAU ĐAU
“Con rắn bé cưng của Trẫm!” “Cái đồ ngọt ngọt chua chua của trẫm”, “Vị thuốc độc mê say của tram!”. Đây là những câu mà vua Henri VIII thường dùng để nói với Anne Boleyn, cô gái kiều diễm 15 tuổi, tình nhân của vua. Có khi vua gọi bằng tên tắt, thân yêu hơn: “Nane”. Một buổi, Nane vào cung điện thăm vua. Đang đứng nói chuyện, cô nhõng nhẽo kêu:
-         Ô, sao tự nhiên em nghẹt thở thế này?
Nhà vua vội vàng đến gần xoắn xít hỏi:
-         Làm sao? Làm sao? Em làm sao thế?
Nane giả vờ thở khó khăn, và khẽ bảo:
-         Bệ hạ cởi hộ cái cooc xê cho em, để em dễ thở một tý.
Henri VIII sung sướng thò tay vào người Anne Boleyn để cởi cái corset. Lớp vải yếm tụt xuống, để lộ ra hai vai và nửa thân người thiếu nữ trắng như  ngà và mát rượi, thơm ngát. Dưới làn áo sơ mi mỏng, nhà vua thấy rõ bộ ngực của mỹ nhân, vun tròn và thu hút. Vua tưởng đâu sẽ chiếm được dễ dàng tấm thân quý báu ấy, nhưng Anne Boleyn cười rũ rượi chạy đi trốn. Nhà vua bụng phệ, chạy đuổi theo, thở ồng ộc. Khi đuổi bắt được người yêu, nàng quỷ quái quỳ xuống chân vua, tâu:
-         Xin Bệ hạ, tha lỗi cho em. Em là con gái còn trong trắng. Em chỉ trao thân hèn này cho người nào mà em yêu cơ!
-         Thế nghĩa là Nane không yêu Trẫm sao?
-         Tâu Bệ hạ kẻ tiện nữ này thường tâu với bệ hạ rằng nó nhất định trong đời nó sẽ không làm một điều gì tội lỗi. Trong lúc bệ hạ đã có vợ rồi, mặc dù em có yêu bệ hạ thế mấy đi nữa, nhưng nếu em dâng cái xác phàm này cho bệ hạ thì hóa ra em là kẻ xúi giục Bệ hạ phạm tội thông dâm? Thật em không dám.
Henri VIII hết van vỉ đến ỉ ôi, hết khẩn khoản cầu xin đến hăm he dọa nạt, nhưng Anne Boleyn vẫn một mực chối từ. Anh hoàng đành chịu thua cô con gái ông Đô trưởng.
Một hôm, trong bữa tiệc có đông đủ triều thần, và các vị đại sứ cùng các quí phu nhân, nhà vua bảo Anne Boleyn:
-         Nếu Nane không tuân lịnh Trẫm, Trẫm sẽ truyền lịnh bắt Nane giam vào Tháp London.
Nghe nói sẽ bị bắt nhốt trong Tháp London là nơi mà ai vào đấy chỉ còn chờ cái chết mà thôi, Anne Boleyn rầu rầu nét mặt, và để cho vua thấy hai hàng châu lệ ứa tuôn trên đôi má ửng đào. Vua lại gần, bảo:
-         Nane sợ?
-         Bệ hạ không thương em nên mới hăm dọa em như thế. Nhưng thà em chết chứ em không thể làm vừa lòng bệ hạ.
Nhà vua tức mình, không biết nói sao được, bèn quay lại kiếm chuyện la mắng các vị bộ trưởng, và cầm cả cây gươm đạp vào những con chó của ngài.
Về phòng riêng, lần này nhà vua quyết định ly dị Catherine d’Aragon để cưới cho được Anne Boleyn. Ông ngồi lại bàn, viết bức thư cho cô gái đẹp. Ông rán chải chuốt câu văn, thành bức thư tình tư sau đây:
“Nếu em vui lòng làm tròn bổn phận của một người yêu trung thành và hiến cả tâm hồn lẫn thể xác cho trẫm, trẫm xin hứa với em rằng trẫm sẽ đuổi ra khỏi tâm tư cũa trẫm, ra khỏi tình yêu mến của trẫm tất cả những người đàn bà nào ganh ghét em.”
Anne Boleyn khoái lắm. Cô hãnh diện, vì mới có 15 tuổi mà được nhà vua có uy thế nhất ở Âu châu quỳ bên chân cô, van xin cô một tình yêu. Nhưng cô nhất định giữ ngọc gìn vàng, chỉ chịu hiến thân cho vua khi nào cô sẽ là chính thức Hoàng hậu nước Anh mà thôi. Vua mà còn có vợ, thì không bao giờ cô chịu mất trinh cho vua.
Trước thái độ cương quyết chối từ của Anne Boleyn, không những Henri VIII không giận nữa mà nhà vua lại càng say mê cô hơn. Nhà vua khen thầm rằng con gái mà biết giữ gìn đạo đức như thế sẽ là người vợ trung thành duy nhất. Người vợ như thế mới xứng đáng làm Hoàng hậu! Anne Boleyn yêu quý của vua “con rắn bé cưng của trẫm”, đâu phải là thứ đàn bà con gái lăng loan, mất nết! Với vua mà cô còn quyết liệt giữ gìn phẩm giá nghìn vàng như thế, thì cô mới sẽ xứng là mẫu nghi thiên hạ!
Để cho vui lòng Nane, thôi thì nhà vua mở tiệc mở tùng, kế tiếp những đêm dạ hội, liên hoan, đờn ca hát xướng, vui say nhộn nhịp cả cung điện Buckingham đêm này qua đêm khá. Nhưng Hoàng hậu Catherrine còn đấy. Bà mỗi ngày mỗi già, mỗi xấu mà không sinh được một hoàng nam nào cả. Anne Boleyn thì trái lại, cứ còn trẻ mãi, đẹp lộng lẫy mãi, và tính tình vui vẻ mãi. Nàng lại chỉ mặc một màu áo trắng, để phô trương rằng nàng hãy còn ngây thơ trong sạch, mặc dầu là người yêu của Hoàng thượng, nhưng vẫn là một tiên nữ ngào ngạt hương trinh.
Lần cuối cùng, nhà vua hỏi ý kiến các vị cố vấn vì lâu nay nhà vua còn do dự bởi lẽ nếu từ bỏ Hoàng hậu Catherine d’ Aragon là người dòng họ với Hoàng đế Charles Quint của Đức, thì thế nào cũng sẽ có sự gây gổ và thù oán giữa Hoàng đế Đức và Anh hoàng. Vua xứ Espagne cũng sẽ tức giận và có thể tuyệt giao với Anh, vì Catherine là một công chúa cưng của xứ Espagne.
Toàn dân Âu châu theo đạo Gia tô sẽ phản kháng nhà vua sao không theo luật Đại cấm ly dị vợ, và cấm lấy nhiều vợ. Nhưng Henri VIII cười bảo:
-         Vậy chứ trong Thánh Kinh (La Bible) các vị David, Salomon, Abraham, Jacob đều theo chế độ đa thế đó thì sao?
Rốt cuộc vua Henri VIII chính thức xin Giáo hoàng Clément VII cho phép vua ly dị Catherine d’ Aragon. Giáo hoàng do dự, không quyết định. Nhưng dưới áp lực của dư luận các triều đình Âu châu và của Hoàng hậu Catherine Aragon thống thiết van lơn giáo hoàng đừng nhượng bộ, Clément VII không chấp thuận cho Henri VIII ly dị.
Sự từ chối chính đáng của Giáo hoàng quyết giữ đúng theo phép Đạo, lại chính là đóm lửa châm vào ngòi thuốc sung của Henri VIII. Cơn thịnh nộ của Anh hoàng nổ bùng lên ghê gớm, không có gì ngăn cản được nữa. Nhà vua quá yêu Anne Boleyn, quyết cưới cô cho kỳ được. Mà muốn cưới cô, trước hết phải ly dị Catherine. Giáo hoàng cho phép Đạo không chấp thuận cho nhà vua ly dị, thì nhà vua ly khai cả với Tòa Thánh La Mã. Đức Hồng Y Giáo chủ Wolsey, đại diện của Giáo hoàng tại Anh quốc, bị vua đuổi ra khỏi nhà thờ, các của cái sự nghiệp của Hồng Y ở London đều bị nhà vua tịch biên và niêm phong. Nhà vua ký sắc lệnh bắt bỏ tù Hồng Y Giáo Chủ về tội làm gián điệp.
Ngày 27.11.1530, Hồng Y Wolsev, người đẫy đà to béo, mà vì bị xúc động quá mạnh, bị nhục nhã, bị nguyền rủa, đã lăn ra chết không kịp thở. Cũng may là ông thoát khỏi được tội chết chém vì vua Henri VIII đã sửa soạn kết án tử hình vị Hồng y đại diện tối cao của Tòa thánh Vatican…
Kế đó, nghe theo lời xúi giục của vị cố vấn Cromwell một tay chính trị đại mưu lược, đại gian hùng, vua Henri VIII thiết lập riêng Giáo Phái Anh quốc (Eglise Anglicane) mà chính vua tự suy tôn làm Giáo chủ, biệt lặp hẳn với Tòa thánh La Mã. Bao nhiêu luật Thiên chúa giáo do Tòa thành đã ban ra đều bị vua Henri VIII sửa đổi hết, để áp dụng những luật lệ riêng cho giáo phái Anh quốc.
Anne Boleyn bây giờ tuy chưa chính thức lên ngôi, nhưng cũng đã được triều đình suy tôn như Hoàng hậu. Cô đã có chửa và thúc giục vua Henri VIII gấp rút sắp đặt cuộc hôn nhân. Catherine d’ Aragon phải tự ý bỏ cung điện trốn ra ngoài…
 
THÀ TRẪM ĐI ĂN MÀY ĂN XIN. CHỨ KHÔNG BAO GIỜ TRẪM BỎ KHANH
Anne Boleyn có thai cuối năm 1532, nhưng mãi đến tháng 6 năm 1533, hôn lễ mới chính thức cử hành, và Anne Boleyn được tôn lên ngôi Hoàng hậu trong một buổi lễ cực kỳ long trọng tại nhà thờ Westminster. Dân chúng nô nức đi xem đông nghẹt cả hai bên đường phố. Súng đại bác bắn chào mừng tân Hoàng hậu, nổ ầm ầm suốt ngày làm chim bồ câu bay tán loạn trên vòm trời London, và rung rinh cửa kiếng các lâu đài trong thành phố. Hoàng hậu “mang bầu” đã bảy tháng, nhưng vẫn hãnh diện ôm cái bụng bự ngồi xe tứ mã đi từ nhà thờ trở về cung điện, qua các đường phố lớn.
Nhưng dân chúng chỉ hoan hô”: “Lậy chúa phù hộ cho vua!” – God save the King – mà không có một lời hoan hô Hoàng hậu. Xe đang lăn bánh chậm chậm trên đường, bỗng Hoàng hậu muốc ọc mửa. Các bà mệnh phụ vội vã đưa ra một tấm lụa trắng tinh, để Hoàng hậu nôn ngay vào đấy.
Trở về cung, vua Henri VIII đã cho gọi một chiêm tinh gia danh tiếng đến để xem tuổi của Hoàng hậu và tuổi của vua có hợp nhau không và Hoàng hậu sẽ sinh trai hay gái…Nhà vua cười bảo ông thầy tướng số:
-         Trẫm thích có con trai để kế nghiệp, chứ trẫm ghét có con gái.
Nhà chiêm tinh quả quyết:
-         Tâu Bệ hạ, tuổi của Bệ hạ và của Hoàng hậu hợp nhau lắm, và chắc chắn Hoàng hậu sẽ sinh hoàng nam.
Nhưng ngày 7 tháng 9, Hoàng hậu sinh một công chúa. Vua Henri VIII nổi giận, đòi bắt chém đầu anh thầy bói. Nhưng rồi trông thấy Anne Boleyn khóc lóc thê thảm, vua làm lành trở lại. Anne Boleyn hỏi:
-         Hoàng thượng có ghét bỏ em không?
-         Không, thà trẫm đi ăn mày ăn xin, chứ không đời nào trẫm bỏ khanh.
Lời thề thốt của nhà vua si tình, kể cũng đã thật là mùi mẫn, thật là tha thiết, mê ly, nhưng các bạn sẽ ghét bỏ mà còn bị kết tội chết chém trên sân cỏ trước ngục tháp London.
 
BỊ MẤT ĐẦU HOÀNG HẬU MỚI 95 TUỔI.
Công chúa đầu lòng được đặt trên là Elisabeth, chính là Anh hậu Elisabeth I rất tài giỏi sau này.
Sinh ra Elisabeth, Anne Boleyn không còn được nhà vua cưng như trước. Bị các triều đình Âu châu chế nhạo, vua Henri VIII bắt đầu nhận thấy rằng Anne Boleyn chỉ có sắc đẹp son trẻ, chứ tính nết rất là hư hỏng. Hay mưu mô, xảo quyệt, lúc vui thì cười đùa như trẻ con, lúc không vừa ý thì đổ cộc và đôi khi dám hỗn với vua Henri VIII đã chán bỏ dần dần nàng Hoàng hậu trẻ tuổi mà trước đó một năm, vì yêu nàng, vua đã từ bỏ cả Tòa Thánh La Mã và Đức Giáo Hoàng. Đôi khi, trước mặt cả triều đình, Anne Boleyn dám gây gổ với vua và làm vẻ giận dữ. Vua im lặng. Nhưng triều đình tôn kính vua, đã có vài vị quý tộc tức giận Anne, bắt đầu vận động để làm hại Anne. Thủ tướng Cromwell đã đặt mưu kế đưa vào một lũ cận thần để hầu hạ Hoàng hậu, toàn là bọn thanh niên đẹp trai. Bọn này bầy ra các cuộc chơi để giải trí Hoàng hậu và suốt ngày tìm đủ cách để quyến rũ nàng…Vua Henri VIII vẫn không nói gì, và Anne lại có thai lần thứ hai. Trong lúc ấy, các bà mệnh phụ, vợ các quan triều thần, và chính gia đình của vua cũng tìm cách giới thiệu cho vua một thiếu nữ 25 tuổi, hiền lành, lễ phép, có giáo dục, tên là JANE SEYMOUR.
Jane Seymour không đẹp bằng Anne Boleyn, nhưng tính tình điềm đạm, nhu mì, không thô cộc và nóng nảy như Anne, cho nên được vua Henri VIII yêu và được ra vào tự do trong cung điện.
 
Tháng 9 – 1534, Anne Boleyn lại sinh ra một hài nhi chết yểu.
 
Vua Henri VIII cứ thắc mắc lo sợ, Phải chăng Chúa trời đầy đọa vua cho nên mới xui khiến vua gặp phải Anne và lấy nàng làm Hoàng hậu?
Thủ tướng Thomas Cromwell chọn ngay lúc này để làm hại Anne Boleyn. Ông phúc trình lên vua những điều tra bí mật của ban trinh thám về Hoàng hậu và các chàng cận vệ đẹp trai. Rồi thủ tướng truyền lịnh bắt giam người anh ruột của hoàng hậu là Georges Boleyn, người này thường bày đặt xúi giục Anne làm chuyện này chuyện nọ có hại đến uy tín của vua. Mấy chàng thanh niên hầu cận của Anne cũng bị bắt để tra tấn. Trong đám này có nhạc sĩ trẻ tuổi Mark, người được Anne yêu mến nhất, khai rõ hết những hành động của Anne, cả những đêm mà Anne lén vua để tiếp chàng trên giường ngủ.
Hai vị quan tòa áo đỏ chứng kiến cuộc tra tấn khủng khiếp ấy dưới ánh sáng của trăm nghìn bó đuốc cháy sáng rực trong sân tòa án. Theo lệnh của Thủ tướng, người ta giấu không cho Anne biết một tí gì về các vụ tra tấn những người đồng lõa với Anne. Nàng vẫn kiêu căng, hãnh diện chủ tọa các buổi lễ, hoặc đi xe tứ mã dạo chơi ngoài phố. Nhưng đi đến đâu, nàng cũng thấy dân chúng không chào nàng, và còn tìm cách xa lánh nàng. Chuyện của Hoàng hậu trong cung điện mà ngoài dân chúng đồn đãi với nhau biết hết. Toàn thể thủ đô London đều ghét nàng. Nàng trở về cung, gây gổ với vua, với những lời nặng làm tổn thương danh dự của đấng Anh hoàng. Vua Henri VIII là người có học thức và có giáo dục, vẫn nhã nhặn, ít nói không mấy khi trả lời lại những lời đanh đá và hỗn xược của Anne Boleyn.
Rồi hai tuần sau, Thủ tướng Thomas Cromwell tâu lên vua tờ phúc bẩm xin vua cho bắt Anne Boleyn giam trong tháp London. Bấy giờ nàng mới biết rằng Triều đình cũng thù ghét nàng, nàng quay lại mỉm cười nhìn vua, xin vua lấy uy quyền mà che chở cho nàng. Nhưng vua Henri VIII điềm nhiên, cứ yên lặng để mặc cho quân lính bắt trói nàng đem đi. Tòa án buộc Anne Boleyn hai tội nặng:
 
-         Nói hỗn với vua, phạm đến uy tín của vua.
-         Thông dâm với bọn quan hầu.
-          
Tòa tâu lên vua xin kết án như thế nào. Vua nghiêm khắc truyền lịnh:
-         Các ông cứ xử đúng theo pháp luật.
Ngày 18.5.1536 tòa xử Anne Boleyn mất chức Hoàng hậu và bị chặt đầu.
Anne Boleyn khóc sướt mướt, quay lại tâu xin vua một thỉnh nguyện cuối cùng:
-         Xin Hoàng thượng săn sóc Elisabeth, con gái 3 tuổi của tôi.
Vua nghiêm nghị bảo:
-         Mi là người đàn bà vô giáo dục, hỗn xược, không xứng đáng làm mẹ Elisabeth.
Dân chúng đứng đông nghẹt chung quanh công trường Tháp London, chờ xem Anne Boleyn bị chặt đầu. Toàn thể reo to lên:
-         Lạy Chúa phù hộ Vua! (God save the King!) Lạy Chúa phù hộ Vua!
Đó là một lời hoan hô Vua và kết tội Anne Boleyn.
Anne Boleyn quỳ xuống, để cái đầu vào thớt gỗ, vừa mở miện để niệm Kinh cầu Chúa thì bị lát dao của đao phủ phập xuống một cái, đầu nàng lìa khỏi cổ, rơi xuống thùng bột cưa. Dân chúng lại vui mừng reo lên:
-         God save the King!
Ngày hôm sau, vua Henri VIII cử hành hôn lễ với Jane Seymour.
 
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG 20 – SÁU BÀ VỢ CỦA ANH HOÀNG HENRI VIII JANE SEYMOUR
NGƯỜI VỢ HIỀN LÀNH NHẤT LẠI CHẾT SỚM
Anne Boleyn bị chặt đầu xong thì ngày hôm sau Henri VIII vội vàng cưới người vợ thứ ba, Jane Seymour. Lúc bấy giờ ông đã 42 tuổi, và không hề có một chút ân hận. Hơn nữa, nhà vua cho rằng giết Anne Boleyn tức là rửa được vết nhơ của Ngai Vàng, tránh được cho vua một hiểm họa lớn lao.
Bây giờ ông cần yên tĩnh, và chính Jane Seymour là người đàn bà thuần hậu và yên tĩnh ấy. Bà Hoàng hậu thứ ba này không đẹp nét mặt lại khờ khạo, chẳng biết làm gì cả, nhưng được cái nhu mì, nhẫn nại, triệt để tuân theo ý vua, cho nên vua bằng lòng. Ngày 12.10.1537, Jane Seymour lại sinh cho vua một đứa con trai mà vua hằng mong ước, tên là Edouard. Mười năm sau, hoàng tử Edouard lên nối ngôi cha lấy niên hiệu là Edouard VI, nhưng chỉ được 6 năm rồi chết vì bịnh ho lao.
Hoàng hậu Jane Seymour sinh con được 12 ngày thì từ trần, ngày 24.10.1537. Thế là người vợ thứ ba hiền lành nhất, chỉ ở với vua được hơn một năm.
Henri VIII đau đớn vô cùng, vội vàng kiếm người vợ khác để an ủi cho cuộc đời bạc phước của mình.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.11.2017 11:44:32 bởi ticonuong>
II. CLÉOPÂTRE
(HOÀNG HẬU AI CẬP)
 
Thời kỳ mà nước ta, nhà Triệu bị nhà Hán sang đánh lấy nước và đổi Nam Việt thành Giao Chỉ quận, thì ở bên kia trời Âu, một người đàn bà đang làm nghiêng nước nghiêng thành cả một đế quốc chỉ vì sắc đẹp của nàng. Tên nàng đã lừng lẫy trong lịch sử, hồi 40 năm trước khi Chúa Jésus ra đời: đó là Cléopâtre, Hoàng hậu trẻ tuổi của xứ Ai Cập, vợ của Hoàng đế La Mã - Julius CÉSAR. Rồi khi César chết lại trở thành vợ của Đại tướng La Mã MARC ANTOINE.
Nhà văn sĩ triết học Pháp PASCAL, trong quyển Pensées, đã nói về nàng như sau đây: "Giả sử cái mũi của Cléopâtre ngắn hơn một chút, thì tất cả bộ mặt của trái đất sẽ bị thay đổi hẳn". Pascal muốn nói rằng tình yêu đôi khi có một nguyên do rất nhỏ nhưng có một hậu quả rất ghê gớm. Sắc đẹp tuyệt trần của Cléopâtre đã làm lung lay Đế quốc La Mã, suýt nữa làm xáo trộn cả Châu Phi, Châu Á, Châu Âu... và chỉ trong khoảng mươi, mười lăm năm thôi.
 
CLÉOPÂTRE VII là con gái của Vua AI CẬP PTOLÉMÉE AULETE. Nhà Vua chết, truyền ngôi lại cho em trai của nàng là PTOLÉMÉE XIV. Nàng muốn giành ngôi vị bị người em bắt đày đi xa. Nhưng khi nàng nghe tin Danh tướng La Mã CÉSAR, sau khi thắng trận lớn ở Pharsale, đánh bại được kẻ thù Pompée, đổ bộ lên hải cảng Alexandrie của Ai Cập định chiếm luôn xứ này thì Cléopâtre lập mưu kế để gặp César.
Cléopâtre soạn một giỏ áo mới may cho lính, nàng chui vào trốn dưới đống áo và sai bốn kẻ hầu hạ trung thành khiêng giỏ vào Tổng Hành Dinh của César.
Bốn người hầu thưa với César:
- Thưa Ngài, đây là giỏ áo của Công chúa Cléopâtre tặng Ngài ban cho binh sĩ.
César hỏi:
- Công chúa Cléopâtre đâu?
Đại tướng La Mã vừa hỏi xong thì bỗng dưng từ dưới lớp áo xếp đầy trong giỏ chui ra một nàng Công chúa diễm lệ tuyệt trần. César ngạc nhiên đăm đăm ngó nàng. Nàng có sắc đẹp quyến rũ mê hồn, nhoẻn một nụ cười tình làm điên đầu vị Đại tướng lừng danh nhất trong lịch sử từ xưa. César lẩm bẩm hỏi như điên như dại:
- Cléopâtre?... Nàng là Cléopâtre?...
Nàng sụp quỳ ngay bên chân César:
- Vâng, Cléopâtre... Người tôi tớ của vị Anh hùng La Mã.
Đêm ấy, Cléopâtre ở lại trong dinh của César và hôm sau nàng được lên ngôi Hoàng hậu xứ Ai Cập. Em nàng, Vua Ptolémée, chống lại César liền bị giết chết.
Cléopâtre đóng đô ở Alexandrie để được gần người yêu. Vì yêu nàng, César không chiếm đóng Ai Cập nữa và còn giúp nàng xây dựng xứ sở. César mê Cléopâtre, ngày đêm cứ quấn quít bên cạnh nàng không rời xa nửa bước. Ngài ở luôn đó trên ba tháng thì Hoàng hậu Cléopâtre thọ thai.
César kéo quân về La Mã, được dân chúng hoan hô nhiệt liệt và được tôn lên làm Hoàng Đế. César liền cho gọi Cléopâtre qua La Mã ở với Ngài. Ngài cho đúc một pho tượng của Cléopâtre dựng trong Đền thờ Nữ thần Venus. Ở La Mã được sáu tháng, Cléopâtre trở về Ai Cập, sanh được một con trai, con của César mà nàng đặt tên là Césarion.
Rồi Hoàng đế César chết Cléopâtre lúc bấy giờ mới 24 tuổi. Nàng vô cùng đau xót, ngày đêm đóng cửa ở trong cung điện không bước ra ngoài.
 
***
 
Nhưng nàng lại được tin Đại tướng Marc Antoine, cũng là một vị anh hùng quắc thước của Đế quốc La Mã, được phái đi chinh phục các nước Miền Đông, bắt đầu là Ai Cập. Antoine kéo chiến thuyền đổ ngay trước cửa biển Alexandrie, sắp lên lấy thành, Cléopâtre quyết xoay ngược tình thế. Hết sức tham lam, nàng nuôi hoài bão lấy sắc đẹp để quyến rũ Antoine, rồi dùng Antoine đánh lại Đế quốc La Mã, xâm chiếm cả Châu Phi và Châu Á, để thu hết thế giới về trong tay nàng, để nàng sẽ truyền ngôi báu cho con là Césarion, con trai của nàng và César.
Sự thực, chính Cléopâtre vẫn tưởng nhớ đến César, quyết để cho con trai của nàng và của César ngày sau nối nghiệp lớn của nhà Đại Anh hùng, làm bá chủ hoàn cầu. Chớ Cléopâtre thật tình không yêu Antoine, nhưng nàng quyết lấy sắc đẹp để quyến rũ vị Đại tướng này làm tay sai cho nàng.
Antoine là một người lực lưỡng, to lớn, tóc quăn xuống đến cổ như vị thần Apollo, râu xồm xoàm, ngực rộng, vai to, 50 tuổi.
Khi được tin chiến thuyền của Antoine kéo vào cửa biển Alexandrie để xâm chiếm Ai Cập, Cléopâtre liền xuống chiếc du thuyền của nàng và sai quân hầu mời Đại tướng Antoine đến Hoàng hậu thết đại yến tiếp tân. Antoine bước vào du thuyền của Cléopâtre thì thấy nàng nằm lả lơi trên một chiếc nệm hoa, điệu bộ ẻo lả gần như bức tượng khỏa thân của Thần Vệ nữ.
Hoàng hậu nở một nụ cười... đôi mắt huyền mơ... Antoine bất giác ngã gục xuống cạnh nàng. Thế là trong một phút đê mê ấy, lịch sử xứ Ai Cập lại bắt đầu biến chuyển...
Nàng đãi một bữa tiệc phi thường gồm toàn những cao lương mỹ vị mà Antoine chưa hề dùng đến bao giờ: nguyên một con công lớn đứng xòe cánh trên đĩa ở giữa bàn, đó là con công đã làm thịt rồi, khách chỉ cần khẽ nhổ lông ra là ăn được ngay, chung quanh đĩa có mười hai trứng công; ngỗng nấu với sữa dê và mật ong; heo luộc nguyên một con đứng trên bàn, nhưng khi lấy dao xẻ cái bụng heo thì trong bụng heo bay ra hai con hạc trắng còn sống; cừu cũng nguyên con nhưng rô ti một nữa, luộc một nữa; các thứ nấm hương xào với lưỡi chim. Rượu thì toàn rượu thơm đựng trong bình bằng vàng, bằng ngọc thạch tiện thành hình Vệ nữ.
Trong bữa tiệc có đờn ca múa hát. Tiệc xong Antoine đã say mèm, cười sằng sặc hỏi Cléopâtre:
- Hoàng hậu có thể đãi một bữa tiệc khác, mắc tiền hơn và những món ăn lạ hơn nữa không?
Cléopâtre muốn tỏ cho vị Đại tướng La Mã biết kho vàng của Triều đại Ptolémée, mấy đời làm Vua ớ Ai Cập là vô tận. Nàng liền sai nữ tì mang lên một ly giấm thật chua đặt trên bàn. Nàng gỡ một chiếc hoa tai to và đỏ rực bằng ngọc lưu ly mà nàng đeo tòn ten, óng ánh dưới ngọn đèn pha lê. Nàng bỏ chiếc hoa tai ấy vào ly giấm, viên ngọc bị giấm chua làm mất màu đỏ tươi và dần dần chỉ còn màu trắng nhạt. Nàng nhìn Antoine:
- Đấy Ngài thấy không, chiếc hoa tai của em bằng ngọc lưu ly trị giá sáu ngàn con bò... Bây giờ nó đã chết. Em còn một chiếc nữa đây, Ngài muốn em bỏ nốt vào ly giấm nữa không?
Antoine kinh ngạc, trố mắt nhìn Cléopâtre chưa biết trả lời cách nào được, thì vị Hoàng Hậu trẻ tuổi và đẹp lộng lẫy đê mê mĩm cười gỡ chiếc hoa tai kia nữa, bỏ vào ly giấm...
Nàng nhoẻn một nụ cười duyên bảo vị Đại tướng La Mã:
- Thân em đây cũng như viên ngọc đó vậy, nếu Ngài muốn em tan vào giấm để vui lòng Ngài, em sẽ tan ngay.
Antoine liền ôm lấy nàng, gục đầu vào lòng nàng say mèm, lẩm bẩm mấy tiếng như kẻ mất hồn mất vía:
- Hay là anh... sẽ tan... trong lòng... em??
Đêm ấy tiệc đã tan, trong chiếc du thuyền còn leo lắt ngọn đèn nhựa, Cléopâtre nằm uể oải trên chiếc nệm hoa, đôi mắt nhìn lên ngôi sao Vệ Nữ đang lấp lánh trên mui thuyền, bên cạnh Đại tướng La Mã Marc Antoine nằm ngủ say như chết. Áo chiến bào bằng sắt của chàng đã cởi bỏ dưới đôi chân mũm mĩm của ai kia, cô vợ góa tuyệt đẹp của César...
Marc Antoine, viên dũng tướng của La Mã, sau một đêm say sưa bên cạnh Hoàng hậu Ai Cập, đã hoàn toàn bị nàng chinh phục. Sách Tàu xưa có câu danh ngôn: "Nhi nữ tình trường, anh hùng khí đoan". Đại tướng Marc Aontoine đã ngã vào trong lòng Cléopâtre thì còn gì chí khí anh hùng của chàng nữa? Chàng đã lãnh nhiệm vụ của La Mã kéo đại binh qua chiếm thành Alexandrie. đánh lấy Ai Cập, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, dè đâu chưa đổ bộ lên hải cảng Alexandrie, chàng đã bị đôi mắt đa tình của Hoàng hậu Ai Cập thu hút hết tinh thần của chàng, làm cho chàng say mê điên đảo. Các bạn hãy xem pho tượng của Antoine hiện còn để trong Bảo tàng viện của Tòa Thánh Vatican, với nét mặt anh hùng quắc thước thế kia của một vị Đại tướng lừng danh trong lịch sử La Mã, vậy mà chàng đã phải quỳ lụy bên chân một "nhi nữ" đào tơ liễu yếu.
Mặc dầu ở La Mã Antoine đã đính hôn với Fulvia rồi, Cléopâtre vẫn tuyên bố làm lễ thành hôn ờ Ai Cập với chàng. Lễ thành hôn của Hoàng Hậu và Đại Tướng được tổ chức vô cùng lộng lẫy, suốt mấy ngày đêm đại hội liên hoan khắp cả đô thành. Nơi mấy ngã tư đường phố, từ cá vòi phông ten rượu chảy ra cho dân chúng uống tha hồ. Hàng vạn người được Hoàng Hậu đãi ăn uống say sưa, rồi đờn ca múa hát vang dậy cả non nước của triều đại Ptolémée... Nhưng thật ra đâu phải vì Cléopâtre khắn khít tình duyên với Marc Antoine. Nàng chưa mãn tang César Đại Đế, nàng mới có 24 tuổi, và đứa con trai quý của nàng với César hãy còn bé bỏng. Nàng không sao quên được César, bậc vĩ nhân thông minh tuyệt vời, anh hùng muôn thuở. César nghệ sĩ, thi sĩ đa tình và đa cảm mà nàng đã yêu mê đắm đuối, dâng hết cả tuổi trẻ cho chàng, dâng hết cả quê hương Ai Cập cho chàng César mà chàng đã mất sớm, nàng đau xót biết bao. Cho nên bây giờ nàng quyết định làm sao lấy hết cả Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, cả Đế quốc La Mã để làm một Đế quốc vĩ đại cho đứa con trai độc nhất, 3 tuổi, Césarion - đứa con trai yêu dấu của nàng và của César.
Marc Antoine chỉ là phương tiện để nàng sử dụng để thực hiện tham vọng lớn lao kia.
Cléopâtre đã thành công được giai đoạn đầu, ngay từ khi Đại tướng La Mã kéo đoàn chiến thuyền oai vệ vừa mới cập bến Alexandrie. Marc Antoine đến với nhiệm vụ lấy thành và xâm chiếm Ai Cập nhưng bây giờ đây Hoàng Hậu đã dùng sắc đẹp mà chinh phục được chàng, không những nàng giữ vững được giang san Ai Cập, mà còn dùng chàng để chinh phục các nước Phương Đông nữa.
Sau lễ thành hôn, tới Mùa Xuân, Cléopâtre bảo Marc Antoine kéo đại binh qua đánh Ba Tư và Ấn Độ. Nàng cho một đội binh Ai Cập đi với binh lính La Mã, một đoàn lạc đà, một đoàn xe để chở khí giới và lương thực. Marc Antoine - Đại tướng La Mã, bây giờ đã thành ra Đại tướng của Cléopâtre, đi chinh phục những Đế quốc mới ở Á Châu cho nàng. Nàng muốn Antoine đem về cho nàng những kho tàng vàng ngọc châu báu của Ba Tư và Ấn Độ.
Nhưng tình hình chiến sự không làm thỏa mãn được tham vọng của nàng. Các dân tộc Cận Đông đã liên kết với nhau để chống cự lại Marc Antoine. Chàng đã vượt qua sa mạc mênh mông của Arabie, nhưng khi đến đóng trại nơi biên giới Ba Tư thì liền bị đoàn quân kỵ mã Scythes đến đánh tan hoang. Quân Ba Tư lại cướp lấy gần hết các đồ hành lý và lương thực của đoàn quân La Mã - Ai Cập khiến cho binh lính của Marc Antoine chết đói, chết khát, trở nên điên cuồng chém giết lẫn nhau.
Marc Antoine buồn bã đem quân về Alexandrie và chỉ uống rượu suốt ngày để quên cái nhục lớn ấy. Nhưng Hoàng hậu Cléopâtre không hề nản chí. Không chinh phục được Ba Tư, Ấn Độ thì nàng quyết đánh lấy La Mã. Nàng tạm bỏ Châu Á để quay sang Châu Âu. Thật là từ Thượng cổ chưa có vị Đại tướng nào chớ đừng nói đến đàn bà lại có tham vọng quá lớn lao và điên cuồng đến thế. Nàng sắp đặt liên kết với các nước nhỏ Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ để đánh La Mã. Hoàng đế AUGUSTE được tin ấy liền bày binh bố trận để canh phòng La Mã.
Hoàng đế Auguste là người thế nào? Nối nghiệp cho Đại đế César, OCTAVE (tức Auguste) cháu của César lúc mới kế vị chỉ là một cậu thanh niên ốm yếu. Mặt mũi thì lác ăn, ngứa ngái cứ gãi hoài, răng thì thúi hết, tóc thì rụng hết, đi cà thọt phía bên trái, người ốm tong ốm teo, trông như anh chàng cùi. Đã vậy ông còn bị bệnh đau gan, đau ruột, nước da xanh nhờn, lúc nào ông cũng mặc hai ba chiếc áo bện lông cừu trùm kín cổ, bịt kín tai mà vẫn hay nhức đầu sổ mũi. Ông lại không ưa trang sức như César, không bao giờ tắm rửa, ngồi trên ngai vàng mà cứ gãi sột sột khắp mình mẩy không biết mỏi tay.
Ấy thế mè Hoàng đế Auguste của Đại Đế quốc La Mã lại là một bậc vĩ nhân tài tình của lịch sử. Được tin chiến thuyền của Cléopâtre và Marc Antoine kéo đến hãm thành La Mã, Hoàng đế Auguste đem binh ra đánh một trận làm tan tành hết lực lượng quân thù. Marc Antoine kéo tàn binh về Alexandrie và cũng chỉ uống rượu say sưa suốt ngày để quên các cuộc bại trận đau đớn và nhục nhã.
Hoàng đế Auguste quyết sang Ai Cập để bắt giết Marc Antoine, viên Đại tướng phản bội. Được tin, Cléopâtre liền tổ chức lại quân đội, củng cố các thành trì, tăng cường phòng thủ Hải cảng Alexandrie. Nàng không nhờ cậy nơi sức của Marc Antoine nữa, nhưng nàng cũng không bỏ chàng.
Một hôm Hoàng hậu Cléopâtre đang ngồi trên ngai, chủ tọa một buổi đại triều quyết định việc chống giữ thành trì. Chung quanh nàng có đủ bá quan văn võ, ai nấy đều tôn kính nàng và sợ sệt vì sắc đẹp của nàng diễm lệ và uy nghi. Những cung nữ quỳ hai bên cầm quạt quạt cho nàng và dâng rượu lên cho nàng. Đại tướng Marc Antoine từ ngoài vén bức màn gấm treo trước cửa điện bước vào. Chàng say rượu, đi ngả qua ngả lại không vững, mặt đỏ gay, nước dãi nhểu lòng thòng nơi miệng. Chàng vịn vào cột đá cẩm thạch bước không được nữa, cất tiếng lè nhè hỏi:
- Hoàng hậu yêu quý của ta ơi! Chừng nào Octave qua đây? Liệu ta có đủ sức đánh nó không?
Trước mặt các quan triều thần, Cléopâtre vẫn tỏ vẻ hiền lành, nhoẻn một nụ cười duyên dáng đáp:
- Đại tướng cứ về phòng nghỉ, uống rượu, chơi với bạn bè. Việc bảo vệ Alexandrie nay để mặc ta.
Nàng biết không còn dùng được Marc Antoine nữa rồi. Chàng đã hoàn toàn hư hỏng vì quá mê nàng, nhưng nàng cứ để yên chàng đấy không nỡ ghét bỏ và cũng không yêu. Nàng vẫn đeo đuổi tham vọng để cho đứa con trai của nàng và César một đế quốc to lớn xứng đáng với uy danh của một vị Đại Đế. Nàng có nghĩ đến chuyện lần này dùng sắc đẹp lộng lẫy của nàng để chinh phục Hoàng đế Auguste không? (Hay là Auguste muốn lợi dụng nàng chăng?) Lịch sử không có nói rõ. Nhưng có điều lạ là trước khi hàng binh, Auguste có phái một viên sứ giả đến liên lạc với nàng. Hoàng đế chỉ yêu cầu nàng trao trả Marc Antoine lại cho La Mã, còn nàng vẫn giữ được ngôi báu Ai Cập và Triều đại Ptolémée vẫn tiếp tục làm chúa tể xứ Ai Cập. Nếu không, Ai Cập sẽ bị La Mã xâm chiếm.
Muốn tỏ cho Auguste thấy Cléopâtre cũng là một vị Nữ chúa Anh hùng, nàng mĩm cười từ chối:
- Không! Ta quyết giữ Antoine không phải vì tình yêu, nhưng vì ta không muốn làm một việc phản bội. Ngươi về tâu với Auguste, nếu quân đội La Mã sang đây, ta sẽ sẵn sàng nghênh chiến.
Chiều hôm ấy, trong lúc nàng còn đang thảo luận chiến lược phòng thủ với các tướng lãnh Ai Cập, Marc Antoine lại thất thểu đi vào phòng hội nghị, mồm sặc mùi rượu, hỏi nàng:
- Có tin gì lạ không?
Cléopâtre trả lời:
- Không... chẳng có gì cả.
Cléopâtre sai người thân tín mang cậu bé Césarion qua giấu bên Ấn Độ, để một mình nàng rảnh tay chống giữ thành trì Alexandrie, bảo vệ ngôi báu, kho tàng và bảo vệ dân tộc của nàng.
Octave (Hoàng đế Auguste) kéo binh qua hạ được Hải cảng Alexandrie sau một trận quyết liệt. Quân đội La Mã đổ bộ lên thành phố, nhưng Cléopâtre nhất định không chịu đầu hàng. Nàng đã cho xây một ngôi mộ nguy nga cao lớn như một lâu đài, nàng vào đó với các cung nữ và truyền lệnh khóa chặt then cửa lại.
Antoine còn ở lại trong Cung điện Hoàng hậu. Vừa biết tin Alexandrie thất thủ, chàng bèn cởi áo sắt, lấy gươm rạch bụng. Chàng còn thò tay vào moi hết ruột gan ra. Chàng có sức mạnh phi thường, mặc dù máu chảy lai láng, gan ruột còn dính lòng thòng nơi bụng nhưng chàng vẫn chưa chết. Chàng nằm yên tĩnh trên nền gạch hoa. Sực có quân lính đến bảo:
- Thưa Đại tướng, Hoàng hậu cho mời Ngài đến nơi trú ẩn gấp.
Antoine ngồi vùng dậy, cười vui vẻ:
- Hoàng hậu gọi ta ư? Ha, ha. Thật là phúc đức cho ta vậy! Ta đã sống vì nàng, giờ đây ta được nàng gọi đến để chết bên chân nàng. Ta vui lòng đến ngay.
Nói dứt lời, Antoine chống hai tay lên gạch cố lấy sức đứng dậy, và nhờ hai tên lính đỡ chàng đi đến với Cléopâtre. Một đàn ruồi bu đen nghịch nơi vết thương còn chảy máu ở bụng, chàng lấy tay xua đuổi nhưng chúng vẫn không bay đi lại còn đậu cả trên khúc ruột gan đeo lòng thòng chỗ bụng. Dân chúng hai bên hàng phố đổ xô ra coi cảnh tượng ghê rợn ấy, cả quân lính của Hoàng đế Auguste.
Thấy Antoine đến, Cléopâtre bảo với các cung nữ:
- Ta không muốn để Antoine bị chết nhục trong tay Octave. Chàng phản bội Đế quốc La Mã, nhưng chàng trung thành với ta. Ta không yêu chàng, nhưng ta kính trọng người trung tín.
Nói xong, nàng bảo các cung nữ mở cửa mả cho Antoine vào. Nhưng vì then cửa đóng chặt quá, các bàn tay yếu ớt của cung nữ không thể nào mở then được. Nàng truyền lệnh leo lên nóc mồ cao thả một sợi dây sắt xuống cho Antoine bám lấy đó mà leo lên, nhưng đến nửa chừng chàng té xuống. Cléopâtre truyền lệnh cho binh sĩ ở ngoài buộc dây sắt vào thân Đại tướng để nàng cùng các cung nữ kéo lên. Dân chúng và binh lính bên ngoài đông nghẹt đã chứng kiến cảnh tượng phi thường ấy. Kéo Antoine vào được trong ngôi mộ rồi, Antoine còn mĩm cười nhìn nàng và nói:
- Cám ơn Hoàng hậu! Ta được chết vẻ vang trước mặt nàng. Ta được tin Octave muốn thỏa hiệp với nàng, nhưng ta khuyên nàng, hãy coi chừng hắn. A! Cléopâtre! Cléopâtre! Đáng lẽ nàng được sung sướng... Đáng lẽ nàng phải được làm Chúa tể hoàn cầu. Cléopâtre! Cléopâtre!
Dứt lời, Antoine tắt thở. Cléopâtre cho khâm liệm chu đáo. Vừa xong thì một vị quan hầu leo được vào báo tin cho nàng biết Octave đã cho người tìm được Césarion và đã giết chết. Nghe vậy nàng tức giận vô cùng, nhưng vẫn bình tĩnh như thường. Nàng truyền cho cung nữ đem một giỏ trái sung chín, là thứ trái cây mà người Ai Cập lúc bấy giờ ưa dùng. Ở dưới đáy giỏ, nàng đã giấu mà không cho ai biết một con rắn Aspic - loại rắn độc nhất của Châu Phi, nó cắn là chết liền.
Cléopâtre mặc triều phục Hoàng hậu sặc sỡ muôn màu, đội mũ kim cương và đeo tất cả các châu báu vào đầy mình. Xong, nàng thò tay vào đáy giỏ mĩm cười bảo:
- Ta muốn lựa một trái sung chín.
Con rắn Aspic từ đáy giỏ trườn lên đã quấn vào tay nàng, bò lên cánh tay nõn nà của Cléopâtre và phóng đầu tới cắn ngay vào vú nàng một cái. Không đầy một phút, nàng đã ngã ra chết.
Hoàng đế Auguste không hay biết tin ấy. Buổi chiều, Ngài sai một vị sứ giả mời Cléopâtre tới tổng hành dinh. Sứ giả vào chỉ thấy Hoàng hậu Ai Cập nằm nhắm mắt với một nụ cười trên môi. Sắc đẹp lộng lẫy của nàng vẫn không phai mờ.
Cléopâtre bèn cho chạm một pho tượng của Cléopâtre với con rắn Aspic quấn vào cánh tay, rồi cho chở pho tượng ấy về La Mã. Có tin đồn trước rằng, Cléopâtre đã bị bắt, dân chúng La Mã nô nức tưởng đâu Octave sẽ giải Hoàng hậu Ai Cập còn sống làm tù binh để đi diễu qua các phố. Cho nên, khi nghe quân đội của Octave về, dân chúng La Mã kéo ra đứng chật hai bên đường để xem mặt Cléopâtre. Nhưng khi dân chúng thấy binh sĩ khiên bức tượng Cléopâtre với khuôn mặt diễm lệ, oai nghi và con rắn Aspic quấn trên tay thì ai nấy đều cảm động, thương tiếc một trang quốc sắc thiên hương đã chết oanh liệt vì tổ quốc của nàng.
Pho tượng của Cléopâtre được dân chúng La MÃ chiêm ngưỡng và lịch sử cho rằng, mặc dầu Cléopâtre thất bại, nàng vẫn đã chinh phục được trái tim của mấy triệu người La Mã.
Chỉ nhìn thấy bức tượng của Hoàng hậu Ai Cập, thanh niên La Mã cũng cảm thấy say mê. Họ kéo nhau sang xứ sở của Cléopâtre để thưởng thức sắc đẹp của phụ nữ Ai Cập. Từ đấy, họ chỉ vui say bên xứ người, không còn nghĩ đến đất nước quê hương. Tinh thần dân tộc của người La Mã trở nên nhu nhược, nên chẳng bao lâu La Mã bị các nước lân cận đem binh xâm chiếm, La Mã bị thất bại chua cay.
Tuy Cléopâtre chết đi, thân hình kiều diễm của nàng đã chôn vùi dưới ba tấc đất song sắt đẹp lộng lẫy của nàng vẫn còn phảng phất trên dương gian và đã làm cho Đế quốc La Mã phải điêu đứng đến nỗi phải sụp đổ tan tành.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 07.12.2017 10:12:28 bởi ticonuong>
EVA PÉRON
(VỢ TỔNG THỐNG ARGENTINE)
 
 
Một cô gái 17 tuổi, mồ côi cha, thất nghiệp, đi lang thang trong Thủ đô kiếm việc làm.
Tên cô là Maria Eva Duarte, sinh ngày 7 tháng 5 năm 1919 trong xóm Los Toldos ở vùng ngoại ô bình dân của Buenos Aires, Thủ đô xứ Cộng hòa Argentine, Nam Mỹ. Cha cô là một người thường dân, lấy một cô vợ trẻ không làm giấy giá thú, sinh được năm người con gái, Maria Eva Duarte là cô con gái út. Mẹ cô sinh cô được mấy hôm thì người cha chết. Gia đình nghèo túng, bà bèn dọn đến ở một quận nhỏ gần Thủ đô. Nhờ mẹ cần kiệm, cô con gái lớn được đi học, rồi làm công chức ở Sở Bưu điện. Bà dành dụm tiền mở một nhà nội trú nuôi cơm tháng cho học trò. Nhờ vậy mà bà gả được hai cô con gái cho hai cậu học trò ở gác trọ nhà bà.
Maria Eva bấy giờ đã 16 tuổi, còn đi học, tính tình ranh mãnh nhất nhà. Bà mẹ cũng có ý định hể có một cậu học trò nào ở trọ nhà bà mà có ý thương cô bé, thì bà sẽ gả nốt cô con gái út cho người ta, nhưng Eva không thích thế. Mặc dù nhỏ tuổi, cô đã có ý tự lập không muốn ỷ lại vào mẹ và chị, cũng không muốn lấy chồng học trò. Có một viên sĩ quan còn trẻ tuổi, ăn cơm tháng nhà bà, muốn ve vãn Eva, bà mẹ bằng lòng. Nhưng cô nữ sinh 16 tuổi trề môi bảo mẹ: "Con không thèm làm vợ sĩ quan. Một là con lấy chồng làm Đại tướng, hai là con lấy tài tử xi nê". Mẹ cô ép gả cô cho viên sĩ quan, tức mình cô bỏ nhà trốn lên Thủ đô.
Trong túi không có một đồng xu, Eva đi lang thang kiếm việc làm. Cô đến gõ cửa từng nhà để xin việc. Cô bằng lòng làm cả đứa ở. Với giọng nói cương quyết nhưng dễ thương, cô bảo: "Rửa chén bát, quét nhà, giặt đồ, hoặc làm thư ký, đánh máy chữ, bán hàng cháu làm được cả". Nhưng ai cũng lắc đầu không nhận. Eva không thất vọng.
Nhân có cuộc thi tuyển ba cô điện thoại viên vào Sở Bưu điện, cô làm đơn ứng thí và thi đậu. Nhưng làm được mấy tháng, cô chán nản bỏ việc đi đóng xi nê.
Eva có sắc đẹp ăn ảnh, nhưng vì không biết "chiều chuộng" đạo diễn nên cô chỉ được đóng vai phụ trong nhiều phim không có tiếng tăm. Cô muốn đóng với tài tử lừng danh, nhưng đạo diễn không cho, cô tức giận bỏ đi. Đài phát thanh Belgrano cần dùng một nữ xướng ngôn viên, cô đến xin. Nhờ nói năng tự nhiên và giọng tốt, cô được thâu nhận vào làm.
Cô vừa được 17 tuổi.
 
* MỘT CUỘC ĐỘNG ĐẤT LỚN LAO Ở TỈNH SAN JUAN, VÀ MỘT TIẾNG SÉT ĐÁNH VÀO TRÁI TIM ÔNG TỈNH TRƯỞNG.
 
Eva làm xướng ngôn viên Đài phát thanh Belgrano cho đến khi 25 tuổi vẫn chưa chịu lấy chồng. Bao nhiêu người muốn yêu cô, cô không yêu. Hỏi cưới, cô không nhận. Người ta bảo: "Eva khó tánh quá nhỉ!". Cô mĩm cười đáp: "Chưa gặp người yêu, chưa phải lúc yêu".
Mấy cô bạn gái chế nhạo Eva: "Chà, làm cao dữ! Định chờ tới mấy chục tuổi mới lấy chồng?"
Eva mĩm cười đáp:
- Chưa biết.
- Muốn kén ông chồng như thế nào đấy?
- Chưa biết.
Không phải cô gái 25 tuổi muốn làm cao. Lương xướng ngôn viên của cô mỗi tháng chỉ một ngàn rưỡi đồng, vừa cho cô tự túc gọi là để sống cuộc đời bình dị, nghèo nàn, tạm bợ thế thôi.
Nhan sắc tuyệt đẹp, tính tình rất vui vẻ, lịch thiệp, nhưng không có người lọt được vào mắt xanh của cô. Đôi mắt xanh màu da trời đã làm bao nhiêu người mê mệt, nhưng Eva vẫn thờ ơ, chưa thấy lòng rung động vì tình yêu...
Bỗng dưng một buổi sáng năm 1944, cả xứ Argentine và khắp thế giới xúc động vì một tin kinh khủng: Thành phố San Juan bị một trận động đất ghê gớm, trong giây phút có trên mấy ngàn người chết và mấy chục ngàn người không có nhà ở. Nhà cửa, lâu đài sụp đổ ngổn ngang, cả thành phố bị tiêu diệt gần hết. Tỉnh trưởng San Juan là một Đại tá tên là Juan Péron tức tốc lên phi cơ bay về Thủ đô để cầu cứu với chính phủ.
Ông được phép kêu gọi thế giới giúp đỡ tiền của và dụng cụ để cấp cứu tai nạn. Ông đi thẳng tới Đài phát thanh hỏi ông Giám đốc:
- Tôi cần một nữ xướng ngôn viên có giọng nói thật tốt và thật cảm động để đọc lời kêu gọi của tôi.
Ông Giám đốc trả lời liền:
- Thưa Đại tá, chúng tôi có cô Maria Eva Duarte.
Ông Giám đốc cho gọi Eva đến trình diện với Đại tá. Eva và Juan Péron gặp nhau, bỗng dưng như có tiếng sét đánh xoẹt vào hai trái tim. Bốn mắt chạm nhau, thông cảm nhau từ ngay phút đầu tiên.
Péron trao cho Eva một tờ giấy và bảo:
- Cô hiểu tôi muốn gì chứ? Tiếng nói của cô sẽ là tiếng lòng của tôi, truyền ra trên các làn sóng điện để cứu mấy vạn người đang quằn quại đau thương ở San Juan. Tôi tin hoàn toàn nơi cô.
Eva khẽ gật đầu, cầm tờ giấy đến trước máy phát thanh đọc. Péron nghe hết từ đầu đến cuối. Giọng nói của Eva vô cùng cảm động, tha thiết, hồi hộp, đau thương khiến chính ông là tác giả cũng rưng rưng ứa hai dòng lệ. Eva đọc xong, đọc lại một lần nữa, cảm động hơn nữa.
Xong, tay còn run run, cô trả tờ giấy lại cho Đại tá. Péron xúc động quá, nắm bàn tay Eva khẽ bảo:
- Cảm ơn cô Eva. Dân chúng San Juan xin cảm ơn cô.
Chiều hôm ấy, ông mời Maria Eva Duarte đi dùng bữa với ông tại Le Tigre, một tiệm ăn thơ mộng nhất ở Thủ đô Buenos Aires. Trong câu chuyện thân mật giữa hai người. Đại tá Juan Péron thú nhận:
- Tôi có vợ, nhưng đã ly dị từ lâu. Còn cô?
- Tôi chưa có chồng.
- Cô bao nhiêu tuổi?
- 25. Còn ông?
- 49.
Hai người nhìn nhau mĩm cười im lặng. Hai tia mắt phối hợp êm đềm và chặt chẽ, cuộc tình duyên bất ngờ của hai số kiếp.
Từ hôm ấy, chiều nào người ta cũng thấy chiếc xe hơi của Đại tá Péron đến đậu trước cổng Đài phát thanh Belgrano để đón cô Eva.
Nhờ sự tận tâm cứu vãn tai nạn San Juan và sự tuyên truyền khôn khéo của Eva, Đại tá Péron được uy tin lớn đối với dân chúng và chính phủ. Ông được gọi về Thủ đô làm Phó Tổng thống, kiêm Bộ trưởng Bộ Lao động và Bộ Quốc phòng. Eva vẫn còn làm xướng ngôn viên ở Đài phát thanh để cổ động dân chúng ủng hộ Péron.
Hình như đôi tình nhân đã sắp đặt với nhau một kế hoạch tuyên truyền khéo léo để Péron được dân chúng ủng hộ trong cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới, tháng Hai năm 1946.
Ở Đài phát thanh, Eva luôn tận dụng các câu hỏi để cổ động cho người yêu và đề cao những tác phong chính trị và xã hội của ông.
Mấy cô bạn gái của Eva biết rõ cuộc ái ân say mê của nàng với Đại tá Péron, nhưng vẫn nhạo báng nàng, vờ như không biết.
- Thế nào chị Eva, chừng nào chị lấy chồng đấy?
- Chưa biết.
- Chị muốn kén người chồng như thế nào?
- Chưa biết.
 
* MỘT MÌNH NÀNG CHỈ HUY 50.000 NGƯỜI DÂN ĐÓI RÁCH "KHÔNG CÓ ÁO SƠ MI", CHIẾM DINH TỔNG THỐNG.
 
Giữa lúc uy thế của Péron đang tăng cường nhờ sự cổ động rất khôn lanh của Eva, thì một vị Trung tướng tên là Avalos, ganh ghét Péron liền nổi loạn gây một cuộc đảo chính, ngày 12 tháng 10 năm 1945. Mục đích của cuộc đảo chính là bắt Péron bỏ tù và đuổi Maria Eva Duarte ra khỏi Đài phát thanh. Cuộc đảo chính của Avalos thành công và Péron bị đày ra đảo Martin Gracia. Eva cũng bị viên Giám đốc Đài phát thanh đuổi ra khỏi sở. Nàng cười gằn hỏi viên Giám đốc:
- Vì lý do gì ông đuổi tôi?
Viên Giám đốc mặt lạnh như chì, chỉ trả lời:
- Lệnh của Chính phủ.
Nàng chỉ ngón tay vào mặt ông:
- Được rồi. Tôi sẽ trở lại đây, rồi ông sẽ biết tôi.
Về đến nhà, nàng gục đầu xuống gối khóc nức nở. Péron đã bị bắt và bị đưa đi đày, không kịp tin cho nàng hay, nàng cũng không kịp đến gặp mặt người yêu. Nàng mở bóp lấy tấm ảnh của Péron ôm ấp vào ngực rồi đưa lên môi hôn. Nàng hôn say mê bóng người yêu xa vắng, mĩm cười nhìn bóng và khẽ bảo với bóng:
- Em sẽ trả thù cho mình ! Em sẽ trả thù cho chúng ta !
Nàng vui mừng nhớ lại lễ thành hôn của Péron và nàng được tổ chức bí mật tại làng Magdaléna chỉ ba hôm trước khi người yêu bị bắt đi đày. Bây giờ nàng là vợ chính thức của Péron và nàng đã đổi tên thành Evita Péron, nhưng trong chính phủ chưa ai biết. Nàng và chồng muốn tạm giấu lễ thành hôn ấy là để tiện cho công việc hoạt động bí mật của nàng trong cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới.
Nàng sung sướng tưởng mình đang có thai, té ra không phải. Evita chép trong nhật ký: "Thượng đế chưa muốn cho ta có con vội trong lúc ta còn phấn đấu quyết liệt cho người yêu trở về với ta. Nhưng ta và chàng sẽ sung sướng xiết bao nếu khi chàng lên ghế Tổng thống, ta sẽ tặng chàng một đứa con yêu quý"
Bây giờ mặc dầu người yêu của Evita là một tên tù bị lưu đày ra một hòn cù lao giữa biển, nàng vẫn cương quyết đấu tranh cho chàng được trở về và đắc cử Tổng thống. Nàng tin tưởng như thế vì nàng hiểu rõ tình hình chính trị và xã hội của nước Cộng hòa Argentine đang khao khát một biến đổi cho đời sống của nhân dân được tốt đẹp hơn.
Nàng bắt đầu đi vận động, nàng khéo hô hào kêu gọi những lớp bình dân thiếu ăn, thiếu mặc mà nàng gọi là descamisados - "những kẻ không có áo sơ mi". Chỉ 5 ngày sau hôm Đại tá Péron bị bắt đi đày, một mình Evita vận động trong Thủ đô Buenos Aires được 50.000 người "không có áo sơ mi" do chính nàng làm lãnh tụ, chỉ một cuộc biểu tình khổng lồ trước Dinh Tổng thống vào ngày 17 tháng 10 năm 1945 và đi diễn khắp trong thành phố, giăng biểu ngữ và la to một khẩu hiệu duy nhất: "Chúng tôi muốn Péron về!"
Đoàn người "không có áo sơ mi" hung hăng kéo vào chiếm Dinh Tổng thống và cương quyết đòi Péron về để tranh cử Tổng thống. Chính phủ hoảng sợ và muốn tránh cuộc nổi loạn của dân chúng, vội vàng cho người ra cù lao rước Đại tá Péron về.
Evita đã thắng rất vẻ vang được giai đoạn đầu và chính quyền bắt đầu kinh sợ nàng. Nhưng còn ba tháng nữa mới tới ngày bầu cử Tổng thống mới. Một hôm, Evita tới Đài phát thanh báo với viên Giám đốc Yankevitch:
- Trước hết, ông phải trả đủ tiền lương của tôi từ hôm ông đuổi tôi vô cớ, để tôi thất nghiệp cho đến nay. Rồi ông giao tất cả các cơ quan của Đài phát thanh cho tôi sử dụng để vận động cuộc tranh cử Tổng thống cho Đại tá Péron.
Viên Giám đốc còn ngoan cố hỏi khinh khỉnh:
- Cô lấy quyền gì đòi hỏi vô lý như thế?
Evita rút trong bóp của nàng ra tờ hôn thú đã ký với Péron còn mới tinh, chìa ra trước mặt viên Giám đốc.
- Ngó vào đây này, đồ ngốc!
Yankevitch là một người Nga nhập quốc tịch Argentine, trố mắt nhìn tờ giấy giá thú của Evita Péron, rồi hoảng hồn cúi đầu khúm núm:
- Tôi xin bà Đại tá tha lỗi cho tôi, và xin bà cứ tự tiện sử dụng Đài phát thanh từ hôm nay. Tôi xin sẵn sàng ủng hộ bà và Đại tá Péron.
Ngày 24 tháng 2 năm sau, 1946, Péron được đại đa số phiếu bầu lên làm Tổng thống. Thế là Eva Duarte, cô gái nghèo mồ côi cha, ở ngoại ô kinh thành, thất nghiệp, đi lang thang xin việc hồi 10 năm trước không ai dùng, nay đã nghiễm nhiên thành bà Tổng thống Eva Péron lừng danh cả Thế giới.
 
* NHƯ NÀNG KIỀU SAU KHI LẤY TỪ HẢI
 
Juan Péron được bầu cử lên làm Tổng thống nước Cộng hòa Argentine, liền mua tặng vợ một chiếc áo ấm bằng lông thú trị giá 5 triệu đồng và các đồ nữ trang trên 5 triệu để tạ ơn nàng đã vận động đám dân nghèo, đa số quần chúng "không có áo sơ mi" bỏ phiếu cho ông đắc cử. Eva, lúc bấy giờ đã nghiễm nhiên thành bà Tổng thống, "đệ nhất phu nhân" trong nước, không chịu ngồi không để hưởng cái địa vị cao sang tột bực ấy. Nàng quyết tâm làm sao cho tiếng tăm của nàng lừng lẫy khắp thế giới, được làm chúa tể cả nước, làm lãnh tụ thật sự của 17 triệu dân Argentine. Nàng dựa vào đám dân nghèo làm đầu cơ chính trị để củng cố địa vị của Péron và của nàng. Nàng lập ra một đảng cần lao gọi là Descamisados (Những kẻ không có áo sơ mi) quy tụ tất cả những người lao động bình dân, nhất là phụ nữ, mà nàng cho tăng lương và biếu quà bánh, vuốt ve o bế họ. Một mặt, nàng dùng chính sách mị dân đối với lao động để họ ủng hộ nàng, một mặt nàng trả thù lại những kẻ đã đối xử với nàng không tốt trong lúc nàng chưa "lên chân". Cũng như nàng Kiều sau khi được Từ Hải lấy làm vợ, lập tức lấy ân báo ân, lấy oán báo oán. Evita Péron cũng dựa vào uy quyền của chồng đuổi hết những nhân viên Đài phát thanh, bắt đầu từ viên Giám đốc đã khinh miệt nàng. Nàng giải tán các hãng sản xuất xi nê đã cho nàng đóng các vai phụ. Nàng bỏ tù những kẻ đã làm trái ý nàng hoặc đã ganh ghét nàng về những vấn đề cá nhân vụn vặt. Nàng lấy quyền thế tranh giành các mối lợi lớn, chiếm độc quyền các kinh doanh, xây dựng cho nàng một tư bổn hàng mấy trăm triệu. Nàng là cột trụ trong các hội buôn kết xù, như hội Alesa mà đại diện là nhà tỉ phú Miguel Miranda, hội Hàng không và Xuất nhận cảng mà đại diện là kỹ sư Dodero và vợ của y là Betty, đôi bạn thân nhất của cặp vợ chồng Péron. Nàng gởi tiền nơi các Ngân hàng Thụy sĩ, xây cất lâu đài nhà cửa ở hai xứ Brésil và Uruguay.
Nàng đem người em trai của nàng là Juancito vào làm Chánh Văn phòng của Tổng thống Péron. Chị của nàng là Elisa, một nữ công chức thường của công ty Bưu điện, được nàng cho làm Tỉnh trưởng tỉnh Uunin. Hai người chồng của hai người chị khác được cho làm Tổng Giám đốc các Sở. Một tình nhân của mẹ nàng, là Entique Nicolin, nhân viên Bưu điện, được lên lảm Tổng Giám đốc Bưu chính và Viễn thông.
Người ta kể một hôm em trai của nàng là Juancito, Chánh Văn phòng của Péron, ngồi ăn trong một nhà hàng lớn với nhân tình làm đào hát mà chàng ta vừa tặng một chiếc xe hơi Mỹ. Trong lúc nói chuyện, cô nhân tình vui miệng nói một lời mỉa mai Eva Péron. Tức thì chàng đứng dậy đi thẳng ra sân nhà hàng châm lửa đốt luôn chiếc xe hơi Mỹ.
 
* EVA PÉRON RA TRANH CỬ PHÓ TỔNG THỐNG
 
Hai năm sau khi Juan Péron lên làm Tổng thống nước Cộng hòa Argentine, Eva đi du lịch Châu Âu định gây thêm uy tín. Lúc bấy giờ cả thế giới đã khét tiếng Eva, một thiếu phụ trẻ đẹp mà oai quyền lớn lao và hung dữ ở xứ Cộng hòa Argentine, vợ một vị Tổng thống độc tài chuyên chế. Cuộc du lịch ngoại giao của nàng năm 1948 đã làm xôn xao dư luận Âu Mỹ. Trước hết, nàng định viếng nước Espagne (Y Pha Nho) vì được Đại tướng Franco, Quốc trưởng xứ này mời nàng qua để tặng nàng một huy chương đặc biệt. Nàng cho chở trên chiếc phi cơ riêng của nàng mấy chục thùng nữ trang, đầy ngập những áo và nữ trang quý giá mà nàng đặt mua ở Thủ đô Buenos Aires. Tổng cộng các hóa đơn gởi đến Dinh Tổng thống còn nặng hơn ngân sách hàng năm của Bộ Quốc phòng Argentine.
Tổng thống Péron thấy vậy liền la rầy vợ và yêu cầu nàng trả lại bớt đồ nữ trang cho các tiệm kim hoàn, chỉ giữ lại một số vừa phải thôi. Eva không nghe, nhất định đem theo tất cả, và cũng không trả tiền cho các hóa đơn.
Tháng 11 năm 1948, nàng sang viếng nước Pháp, đem theo 40 va li, áo, nón, giày và nữ trang. Trên mỗi va li đều có đề tên nàng thật lớn bằng chữ đỏ. Nàng được Tổng thống Pháp Vincent Auriol mời đến Điện Rambouillet. Trước khi từ giã Paris, nàng có mua sắm các đồ nữ trang quý giá và các kiểu áo đẹp nhất của hai nhà may danh tiếng Fath và Dior, trị giá tất cả 20 triệu quan.
Đến nước Ý, Eva Péron được Tổng thống Ý Alcide de Gasperi tặng một chiếc Alfa Romeo và một con chó sói bằng cẩm thạch mà ông sai người mang ra để trong phi cơ riêng của nàng trong đêm trước khi nàng từ biệt La Mã. Nàng có đến viếng Giáo hoàng Pie XII và nàng đi trễ 20 phút, vì đến phút chót trước giờ hẹn, nàng muốn đến một tiệm kim hoàng lớn nhất ở Rome mua một hột kim cương đẹp nhất, đắt tiền nhất đeo trước ngực để vào yết kiến Giáo hoàng.
Eva Péron mặc đồ đen nhưng nàng để tóc xõa xuống đến dây nịt, và hột kim cương chói lọi sáng ngời trên ngực khiến cho Pie XII cũng phải khó chịu. Lúc về Argentine, nàng gởi tặng Giáo hoàng mười chiếc tàu chở đầy lúa mì.
Nàng muốn sang nước Anh để được Nữ hoàng Elisabeth đó tiếp, nhưng lúc nàng đến nước Pháp, Nữ hoàng Elisabeth chỉ gởi điện tín chào mà không mời nàng sang viếng nước Anh.
Eva, một cô gái nghèo, thất nghiệp xưa kia, rất hãnh diện trong cuộc du lịch này với tư cách vợ Tổng thống Cộng hòa Argentine. Nhưng sự việc Nữ hoàng Elisabeth của Anh quốc không muốn tiếp nàng, và cả Tổng thống Hoa Kỳ cũng không mời nàng đến Washington làm nàng nhột và xấu hổ với dân chúng Argentine. Vì thế, khi nàng về nước, nàng quyết vận động làm Phó Tổng thống để được chính thức sang viếng nước Anh và nước Mỹ.
Nàng đã làm Bộ trưởng Bộ Lao động, và tìm cách mua chuộc cảm tình của quần chúng cần lao để đến kỳ bầu cử Phó Tổng thống họ sẽ bỏ phiếu cho nàng. Nàng tăng lương cho thợ thuyền 40%, cho công nhân Bưu điện 70%, mặc dầu nền kinh tế của Cộng hòa Argentine đang bị khủng hoảng. Nàng lập ra các viện Tế bần, đặt tên là Viện Evita Péron (Evita là nên mà nàng mới đặt khi nàng lấy Juan Péron), các tổ chức xã hội để cứu giúp phụ nữ, các hợp tác xã phụ nữ...v...v.. Không phải vì nàng thương xót kẻ nghèo, chỉ có mục đích đầu cơ chính trị để mong sau này phe Descamisados sẽ ủng hộ nàng lên làm Phó Tổng thống, rồi sẽ kế vị chồng mà lên chức Tổng thống.
Ngày lễ Noel, nàng phân phát cho nhi đồng 5 triệu đồ chơi, từ con pu pê đến chiếc xe máy, và biếu cho cha mẹ cái em 4 triệu chai "pane dulce", là thứ nước cam của Argentine. Nàng tổ chức một trận đá bóng tròn cho thiếu niên cần lao và tặng 1.500.000. Những số tiền kết xù như thế đâu phải của riêng nàng. Chính là tiền công quỹ mà nàng bắt Quốc hội Cộng hòa Argentine chấp thuận lấy trong ngân sách ra để cho Viện Evita Péron nhân danh "Tổng thống phu nhân" tặng các nhi đồng và phụ nữ cần lao.
Nhưng mặc dầu nàng khôn khéo sắp đặt, tổ chức các cơ quan để ủng hộ tham vọng của nàng, đến kỳ bầu cử Phó Tổng thống, nàng ghi tên ra ứng cử, nhưng bị thất bại nặng nề. Nàng định tổ chức một cuộc mít tinh khổng lồ để diễn thuyết và cổ động cho nàng, nàng cho các trường nghỉ học, các sở nghỉ việc để người đi theo cho đông, nhưng không hiểu sao chỉ có 250.000 người, hầu hết là các cô các bà bị bắt buộc phải đi dự cuộc biểu tình. Còn đàn ông và các bạn cần lao đều không đến dự. Quân đội Cộng hòa Argentine thì nhiệt liệt phản đối Eva Péron ra ứng cử Phó Tổng thống. Họ cho rằng, nếu Tổng thống chết thì tự nhiên, theo Hiếp pháp, Phó Tổng thống sẽ lên thay thế chức Tổng thống và sẽ là Tổng Tư lệnh Quân đội.
Vì vậy, cuộc tranh cử Phó Tổng thống của Eva Péron bị thất bại chua chát. Muốn cứu vớt danh dự, nàng tuyên bố với báo chí: "Xét kỹ lại, vì tôi chưa đến 30 tuổi, là tuổi bắt buộc để tranh cử chức Phó Tổng thống, nên tôi rút lui"
 
* LÊN VOI, RỒI XUỐNG CHÓ
 
Tháng 8 năm 1951, Eva Péron ốm nặng. Các báo đăng tin rằng, ngày 6 tháng 11, một bác sĩ Mỹ có danh tiếng về khoa ung thư, George T.Peck được Tổng thống Péron mời đến chữa trị cho Tổng thống phu nhân. Nhưng Eva bị ung thư dạ dày khá nặng, càng ngày càng ốm yếu, sụt xuống còn 35 cân, không có thuốc nào cứu chữa được.
Ngày 4 tháng 8 năm 1952, Eva từ trần.
Theo lệnh của Tổng thống Juan Péron, xứ Cộng hòa Argentine phải để quốc tang cho Tổng thống phu nhân. Một số phụ nữ truy tôn nàng lên bậc "Thánh nữ Evita", nhưng Gia tô giáo phản đối.
Thi hài của nàng mặc áo lụa trắng, được tẩm nước hoa nằm trong hòm kiếng đặt ở Bộ Lao động, và thợ thuyền của Đảng Cần lao - Descamisados phải túc trực hầu hạ trong 360 ngày chờ xây dựng xong lăng tẩm của nàng mới cử hành đám táng. Mỗi buổi sáng, đúng 8 giờ, toàn thể dân chúng phải đứng im mặc niệm trong 15 phút, bất kể nắng mưa. Đàn ông đều phải đeo cà vạt đen, và băng đen nơi cánh tay. Trước các cửa ngõ, từng nhà một đều phải vẽ hình Eva Péron để truy niệm. Tại công trường Mayo, ở trung tâm Thủ đô Buenos Aires, Tòa Đô chánh có dựng lên một bức hình lớn nhất.
Chính phủ đúc nhiều pho tượng của nàng, dựng lên ở nhiều nơi. Nhà Bưu điện ngưng bán các loại tem, đợi ra một loại tem mới có hình Eva Péron và sẽ phát hành trên toàn quốc. Trong lịch sử thế giới, chưa có nước nào và chưa có lần nào, một người đàn bà chết mà được Chính phủ trọng vọng và truy tôn đến thế.
Nhưng được bao lâu?
Chỉ mấy năm sau thôi, cách mạng nổ bùng do cuộc đảo chánh bất ngờ của Quân đội Cộng hòa Argentine. Tổng thống Juan Péron bị lật đổ chạy trốn sang một xứ láng giềng. Phe quân nhân đảo chính lập chính phủ mới. Tức thì hôm sau, tất cả các pho tượng của Eva Péron bị dân chúng hạ bệ nằm ngổn ngang trên khắp các đường phố đầy những bức ảnh của Eva bị xé vứt lung tung. Những vết tích gì của Eva Péron đều bị xóa bỏ hết.
Tổng thống Juan Péron chạy trốn với một cô nữ sinh rất xinh đẹp, tình nhân của ông, mới thi đỗ tú tài.
Ông chạy trốn không kịp đem theo vàng bạc châu báu và 16 chiếc xe hơi Huê Kỳ của riêng ông và của Eva./.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.12.2017 11:16:22 bởi ticonuong>
XXVI. MATA-HARI
(NÀNG VŨ NỮ ĐỎ)
 
 
NỮ GIÁN ĐIỆP LỪNG DANH NHẤT THẾ GIỚI TRONG TRẬN ĐẠI CHIẾN 1914-1918. Làm trinh thám một lượt cho cà Nga, Đức, Hòa Lan, Ý, Pháp, Anh... Tình nhân của hầu hết các Quốc Trưởng, Đại Sứ và Tướng lãnh Châu Âu trong thời Đại chiến. Sắc đẹp huyền bí lạ lùng của MATA-HARI đã làm đảo lộn cả cục diện Âu Châu hồi đầu thế kỷ XX.
 
Không ai ngờ một nàng vũ nữ bí mật (sự thật thì không bí mật gì hết, chỉ tại nàng đổi tên và giấu nơi sinh trưởng để cho ai nấy đều lầm tưởng rằng nàng là một mỹ nhân của đảo Java) mà cả chiến cuộc Âu Châu hồi đệ nhất thế chiến 1914-1918 đã bị biến đổi rất nhiều. Hầu hết các Tướng lĩnh, các Đại sứ, các Quốc Trưởng Nga, Đức, Pháp, Anh, Ý, Hòa Lan đều bị nàng lừa rất tài tình, chỉ tại vì họ say mê đôi mắt đẹp huyền bí lạ lùng của người tuyệt thế giai nhân ấy.
Mata-Hari chỉ là một vũ nữ, gần như một con điếm. Trước Tòa án Quân sự, nàng cũng thừa nhận rằng nàng chỉ là một cô gái làng chơi. Ấy thế mà cả vận mệnh Âu Châu và thế giới hồi đầu thế kỷ XX gần như ở trong tay nàng. Mata-Hari thật là một người đàn bà phi thường vậy.
Nàng bị Tòa án Quân sự Pháp xử bắn ngày 15/10/1917, cái chết bi thảm khiến cho muôn vạn người khóc trên thế giới, muôn nghìn người ca ngợi, hầu hết các báo đều bênh vực cho nàng. Đến nay đã nửa thế kỷ, tính ra đã có trên 140 quyển sách viết về "những bí mật của đời sống và cái chết của Mata-Hari", và nhiều cuốn phim.
Ai cũng còn nhớ năm 1955, một cuốn phim nhan đề "Con gái của Mata-Hari" đã được quay tại Hollywood mà Greta Garbo đóng vai chính, làm Mata-Hari đã được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt...
Đây, tôi xin kể về "những bí mật của đời sống và cái chết của Mata-Hari"
 
* ÔNG HIỆU TRƯỞNG MÊ CÔ NỮ SINH... CÔ HỌC TRÒ PHẢI THÔI HỌC Ở NHÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH
 
Xem bức hình in trên đây, ai cũng tưởng rằng Mata-Hari là một cô gái Ấn Độ hay là Indonesia, nghĩa là một đệ tử huyền bí của Ấn Độ giáo (Hindouisme) với những vũ điệu uốn éo lả lơi trước tượng Thần Siva. Chính nàng cũng tuyên bố với mọi người như thế để cố giữ lấy tính cách "huyền bí" của nàng, nhưng sự thật không phải thế. Điều tra tận nguồn gốc, người ta biết rằng Mata-Hari chỉ là cái tên hấp dẫn do nàng bịa đặt ra từ khi nàng cũng bắt đầu bày ra một "vũ điệu thiêng liêng" và trở thành một vũ nữ có tiếng tăm ở Holland, và tên thật của nàng là Margaretha Geertruida Zelle, sinh ngày 7 tháng 8 năm 1876 tại Leeuwarden, một quận nhỏ của xứ Holland (Hòa Lan) ở phía Bắc nước Belgique và nước Pháp. Cha nàng là Adam Zelle, có cửa hàng bán mũ, cũng nổi danh ở địa phương vì có bộ râu xồm xoàm đen thui, và tính nết khả ố cả quận ai cũng ghét. Vợ ông là bà Antje, khi sinh đứa con gái kia ra thì được hàng xóm láng giềng ai nấy đều vui mừng khen ngợi vì đứa bé xinh đẹp quá. Cô mụ bảo ngay: "Con nhỏ này lớn lên sẽ đẹp nhất thế giới và tóc đen".
Cô mụ nói đúng. Mới 12 tuổi, Margaretha đã lớn như cô gái thường 16 tuổi, sắc đẹp lộng lẫy và đôi mắt - nhất là đôi mắt... huyền bí âm u. Đôi mắt của người Châu Âu mà lại xếch lên hai bên khóe như mắt người Á Đông, lại to lớn, tròng con ngươi đen nhánh, nhìn ai cũng như thôi miên, muốn hút người ta.
Cô bé mới 12 tuổi mà ra đường ai cũng phải nhìn, nhất là đàn ông, đi khỏi rồi còn quay lại trầm trồ: "Con nhỏ ngộ quá há!".
Cô 14 tuổi thì người cha vỡ nợ, cửa tiệm bị tịch biên, mẹ cô buồn rầu chết vào năm 1891. Margaretha vừa thi đỗ Trung học, mồ côi mẹ, cha bị sạt nghiệp, gia tài không còn một đồng xu, được ông chú đem về nuôi cho đi học trường Sư phạm, định cho sau này làm cô giáo.
Ông Hiệu trưởng trường Sư phạm thấy cô nữ sinh đẹp quá đâm ra mê tít. Ông không để cho cô học hành gì được cả. Cứ mỗi buổi sáng, ông gọi cô lên văn phòng đọc cho cô nghe những bài thơ ông đã làm để tặng cho đôi mắt đẹp huyền bí của cô, với nào là đôi môi đầy men yêu đương của cô, nào là mái tóc huyền của cô đen như một đêm mùa hè, nào là nước da của cô màu trời mơ, dịu dàng man mác... Cô nữ sinh Margaretha cứ cười ngất không biết trả lời sao cả.
Cái trò lăng nhăng ấy kéo dài trong hai tháng, Margaretha chê ông Hiệu trưởng làm thơ dở ẹc, không cảm động tí nào cả. Về nhà cô méc lại với chú thím và nhất định thôi học. Ông chú và bà thím chiều cô, để cô hoàn toàn tự do. Margaretha ở nhà chuyên môn đọc tiểu thuyết ái tình để giết thì giờ.
 
* MẤY DÒNG RAO VẶT "KIẾM VỢ" CỦA MỘT ĐẠI ÚY TRONG TỜ BÁO LÁ CẢI CỦA ÔNG CHÚ LÀ ĐẦU DÂY MỐI NHỢ
 
Ông chú của cô có một tờ báo tên là "Tin mỗi ngày", một tờ báo sống dở chết dở xuất bản tại Thủ đô La Haye. Một hôm Margaretha đọc trong báo ấy mấy dòng rao vặt ở mục "Hôn nhân" như sau đây:
"Đại úy của Đạo quân Viễn chinh của Anh Hoàng tại Ấn Độ về nghỉ phép ở Holland, muốn tìm một thiếu phụ trẻ, đẹp, duyên dáng để kết hôn. Hoàn toàn kín đáo. Hộp thơ số..."
Cô nữ sinh mơ màng suy nghĩ: Một Đại úy, chắc hẳn đã lớn tuổi rồi, nhưng không sao. Một Đại úy của Quân đội Anh Hoàng tại Ấn Độ chắc là oai lắm. Ấn Độ là một xứ xa lạ ở tít Á Đông. Margaretha tưởng tượng nếu đi du lịch đến các xứ này với một người yêu làm Đại úy trong Quân đội Viễn chinh của Anh Hoàng thì thật là một cuộc phiêu lưu ái tình thích thú lắm. Cô nữ sinh liền hăng hái lấy giấy bút viết thư cho viên Đại úy không quen biết, và kèm theo bức ảnh.
Trước khi biết kết thúc vụ này như thế nào, ta nên biết rõ về Đại úy. Tên là Rudolf Mac Leod, người Anh, Đại úy thuộc về dòng dõi một quý tộc có danh tiếng trong lịch sử xứ Scotland, một vùng ở phía Bắc England. Ông nhập ngũ trong Quân đội Anh Hoàng từ 22 tuổi, 17 năm ở bên Ấn Độ, bây giờ ông đã 39 tuổi, mới được nghỉ phép một tháng. Về Anh quốc, ông biết tin sắp được thuyên chuyển qua Java, trên quần đảo Indonesia, thuộc địa Holland. Ông bèn sang chơi bên Holland với ý định kiếm một người vợ đẹp của xứ này để đem theo qua Java. Vì ít giao du với phụ nữ nên ông định đăng mấy dòng "kiếm vợ" trên mặt báo "Tin tức mỗi ngày". 40 tuổi, nhưng người ông rất khỏe mạnh, mặc y phục Đại úy coi oai lắm, lại có một bộ râu lún phún trên bờ môi trông ra vẻ một gã rất đa tình. Đăng quảng cáo xong, Đại úy Mac Leod đợi một tuần lễ, nhận được 16 bức thư phúc đáp. Trong số đó, ông thấy có ảnh của một nữ sinh tên là Margaretha Zelle ở Thủ đô La Haye là đẹp hơn cả, và đẹp lạ lùng khiến ông mê ngay. Nhưng ông viết thư trả lời:
"Hỡi người đẹp không quen biết ơi! Cô 18 tuổi, mà than ôi tôi đã 40 rồi, có thể yêu nhau được không?"
Margaretha viết thư đáp:
"Chả cần tuổi tác! Có thể yêu nhau"
Đại úy Mac Leod lại viết:
"Tiếc quá! Tôi đang bị sốt nặng lắm. Không thể nào gặp được cô vào lúc này".
Margaretha trả lời:
"Chả cần sốt rét. Cho tôi biết địa chỉ, tôi đến thăm ông".
Cô nhận được phúc đáp liền:
"Chả cần địa chỉ. Tôi chờ cô trước Bảo tàng viện Amsterdam"
Thế là ngày Chủ nhật 24 tháng 3 năm 1895, Đại úy Mac Leod mày râu nhẵn nhụi, nhung phục bảnh bao đứng trước cửa Bảo tàng viện hồi hộp mong đợi người đẹp không quen.
Margaretha đến. Trước sắc đẹp rực rỡ huyền bí như một vị nữ thần Ấn Độ, chàng Đại úy sung sướng quá, mê ly quá, choáng váng mặt mày, muốn quỳ sụp dưới chân nàng. Cô nữ sinh 18 tuổi duyên dáng mĩm cười:
- Chào Đại úy!
Chàng lính quýnh lẩm bẩm trong mồm:
- Chào... chào... Margaretha...
Tiếng sét đã đánh xẹt vào hai trái tim xúc động...
Cuộc gặp gỡ hẳn là thú vị lắm, nên ngay hôm sau cô nữ sinh Margaretha Zelle viết thư cho chàng Đại úy đã ký là "Cô vợ bé nhỏ tương lai của anh. Yêu anh vô kể".
Sáu ngày sau, ngày 30/3/1895, hai người đính hôn.
Họ viết thư cho nhau mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều. Mãi đến cuối tháng Ba nàng vẫn còn ký tên là "Cô vợ bé nhỏ tương lai của anh"
Cuối tháng Tư, sau bốn tuần ôm ấp nhau thật gắn bó, Margaretha viết thư bỏ hẳn chữ "tương lai", chỉ còn lại "cô vợ bé nhỏ của anh", và tăng cường thêm mấy danh từ xưng hô mới: "Người yêu riêng của em".
Viên Đại úy sung sướng nhất trên đời. Mặc dầu chị ông cản trở bảo: "Sao chị xem con nhỏ ấy lẳng lơ quá", mặc dầu các bạn thân của ông cũng bảo: "Margaretha còn con nít quá, sợ bồng bột lúc đầu, sau này nó sẽ cắm sừng cho anh". Đại úy Mac Leod vẫn quyết định cưới cô nữ sinh về làm vợ. Lễ cưới được tổ chức long trọng ngày 11 tháng 7 năm 1895, 6 tháng sau cái quảng cáo "tìm vợ" đăng trên tờ báo "Tin tức mỗi ngày".
Cặp vợ chồng mới cưới về ở tạm nhà chị của chàng, Louise Leod. Nhưng hai tháng sau, chàng bắt đầu thấy "cô vợ bé nhỏ" của chàng hãy còn khờ khạo và nhỏng nhẽo quá. Tiền lương của ông Đại úy không có bao nhiêu mà bà Đại úy cứ đòi sắm găng mới, giày mới, nón mới, áo mới, thét rồi ông Đại úy nổi quạu công kích cô vợ trẻ.
Mac Leod là người trí thức yêu chuộng văn chương, âm nhạc, còn Margaretha tối ngày chỉ lo phấn sáp và diện bảnh, rủ chồng đi ăn tiệm, đi khiêu vũ, đi coi hát. Mac Leod bực mình nhưng ráng chiều cô vợ trẻ.
Ngày 23 tháng 4 năm 1896, Margaretha đã lừng danh là người đàn bà đẹp nhất ở Amsterdam, được vào yết kiến Nữ Hoàng Withelmine của xứ Holland. Nữ Hoàng cũng phải khâm phục nhan sắc diễm lệ tuyệt trần của bà Đại úy Mac Leod. Cả Triều đình Holland đều tấm tắc khen ngợi Đại úy đã có diễm phúc cưới được người vợ tuyệt thế giai nhân.
Thế rồi ngày 1/5/1897, Đại úy đem cô vợ trẻ đẹp và đứa con trai đầu lòng mới sinh, tên là Norman lên tàu Prince Amalia đi qua quần đảo Indonesia ở Đông Nam Á. Đầu tháng 6, hai vợ chồng ở tại Thủ đô Batavia, rồi vài ngày sau Đại úy đổi đi đóng ở Wilhem I, một đồn binh hẻo lánh ở Trung bộ Java.
Đến đây, Margaretha không có gì để giải trí đâm ra buồn chán. Phong cảnh rất nên thơ nhưng Margaretha đâu có biết thưởng thức, thiên nhiên, sơn thủy hữu tình đối với nàng chẳng có ý nghĩa gì cả. Cả ngày nàng chỉ ngồi trước tủ kính bôi son, trét phấn và lo trau dồi sắc đẹp, không ngó ngàng gì đến việc gia đình và con cái.
Rudolf Mac Leod được lên chức Thiếu tá và đổi đến hải cảng Malang, Margaretha được đến nơi đây lấy làm thích thú lắm. Malang - cũng như Nha Trang, là một hải cảng lớn, có đầy đủ tiện nghi của một thành phố tân tiến, đủ các trò giải trí, các nhân vật cao cấp, các tiệm khiêu vũ, các nhà hát. Tháng 5 năm 1898, Margaretha lại sinh đứa con gái tên là Louise Jeanne. Hạnh phúc gia đình của viên Thiếu tá Rudolf hình như được xây đắp bền vững hơn, nhưng đó chỉ là bề ngoài thôi. Nhan sắc diễm tuyệt của bà Thiếu tá trẻ tuổi, ham diện, ham chơi là nguyên nhân của sự gãy đổ sau này.
Tháng 9, nhân ngày Lễ mừng Nữ Hoàng Wilhemine lên ngôi, hai viên Trung úy đẹp trai có soạn một vở kịch mà họ mời bà Thiếu tá đóng vai chính là vai Hoàng Hậu. Đêm ca vũ nhạc kịch do Quân đội tổ chức được thành công rực rỡ là do bà Thiếu tá kiều diễm chủ tọa. Các Tướng lãnh, các Sĩ quan, các nhân vật cao cấp của chính phủ bao vây chung quanh bà Thiếu tá và không ngớt ngợi khen bà, hoan hô bà một cách nồng nhiệt. Ai nấy đều đua nhau nịnh bợ bà để được bà trao tặng một nụ cười...
Thiếu tá Rudolf hãnh diện có người vợ được thiên hạ tâng bốc lên mây xanh như thế, nhưng dần dần ông nhận thấy bà trao đổi rất nhiều cái liếc mắt tình tứ với những viên Sĩ quan khác, nhiều nụ cười đầy hứa hẹn với các chàng trai trẻ... Ông đâm ra ghen tức, mỗi ngày mỗi ghen... ghen dữ tợn, ghen ghê gớm, ghen ồn ào náo động cả thành phố Malang...
Ông liền xin di chuyển tới Medan (đảo Sumatra), một nơi điều hiu vắng vẻ cũng như Pleiku, Kontum vậy. Margaretha nhất định không đi theo chồng.
Thiếu tá Rudolf bèn đi một mình để cô vợ trẻ đẹp, "Hoàng Hậu Java" ở lại Malang.
Lúc đầu, nàng còn trả lời các bức thư yêu nhớ của người chồng si tình, dần dần nàng lạnh nhạt, không thèm viết thư, không thèm hỏi han thăm viếng nữa. Hai đứa con của nàng, nàng cũng bỏ bê, ốm yếu xanh xao, không ngó ngàng đến. Thiếu tá hoàn toàn thất vọng, sinh ra oán ghét và sau cùng quyết định ly dị, nhưng nàng không chịu ly dị.
Ngày 27/6/1899, đứa con trai lớn Norman bị con đầy tớ mọi thuốc chết. Thiếu tá đau khổ đến cực điểm, khóc lóc thê thảm và van xin Margaretha bằng lòng ly dị để cho chàng thoát khỏi tình thế tuyệt vọng. Nhưng bà Thiếu tá trẻ đẹp, duyên dáng lắc đầu: "Tôi không muốn ly dị vì tôi đợi anh chết để tôi được lãnh tiền trợ cấp quả phụ"
Tức mình, Thiếu tá nắm đầu tóc vợ lôi kéo nàng ra đường và lấy roi cá đuối đánh nàng bầm tím cả thân thể. Chàng còn rút súng ra chĩa vào mặt nàng: "Mày không chịu ly dị thì tao bắn mày chết ngay bây giờ!".
Cả thành phố đều xôn xao về vụ của gia đình Margaretha Zelle và Thiếu tá Mac Rudolf.
Ngày 30/8/1902, tòa án Amsterdam xử cho vợ chồng ly dị. Thiếu tá Rudolf lấy ngay người vợ khác, còn Margaretha Zelle về ở với cha tại Thủ đô La Haye.
Năm 1903, nàng đổi tên là Mata Hari, sang Paris hành nghề vũ nữ.
 
* MATA HARI - NÀNG VŨ NỮ ĐỎ, BẮT ĐẦU LÀM MÊ HOẶC CÁC GIỚI NGOẠI GIAO QUỐC TẾ Ở PARIS
 
Ở Paris, Mata Hari tự xưng là một vũ nữ của đảo Java, chuyên môn múa các vũ khúc Ấn Độ theo các sự tích huyền bí của Thần Vichnou. Ai cũng lầm tưởng, Mata Hari không phải là người phụ nữ Âu Châu, vì sắc đẹp của nàng và lối khiêu vũ của nàng y hệt người Ấn Độ và ai cũng tin rằng tuy Mata Hari quê ở đảo Java thuộc quần đảo Indonesia nhưng nàng tuyên bố rằng nàng vẫn theo tục lệ ca vũ huyền bí của Ấn Độ giáo từ thời Thượng cổ, trước thời kỳ Phật giáo nữa.
Lần đầu tiên trong một buổi dạ hội ở Tòa Đại sứ Chili tại Thủ đô Pháp, Mata Hari ra mắt các giới ngoại giao quốc tế, khiến cho toàn thể khán giả đều vô cùng xúc động. Trước khi giới thiệu Mata Hari, một ông già người Ấn Độ râu tóc bạc phơ tuyên bố mấy lời sau đây (theo lời thuật lại của một văn sĩ Mỹ có dự buổi trình diễn ấy):
- Thưa các Ngài, tôi xin phép giảng giải sơ qua ý nghĩa của vũ khúc mà nàng Mata Hari, người đẹp của Java sắp trình diễn nơi đây. Đây là sự tích nàng Công chúa Anuba biết ở dưới đáy biển Ấn Độ có một cái vỏ hến đựng một viên ngọc đen giống như viên ngọc huyền nạm trên chiếc gươm thần của Mescheb. Công chúa Anuba muốn có viên ngọc đen ấy bèn tìm cách quyến rũ anh chài lưới Amry để xúi anh xuống dưới đáy bể mò lấy viên ngọc ấy cho nàng. Người chài thuyền hoảng hốt nói với Công chúa rằng việc nàng muốn đó rất là điên rồ, vì cái vỏ hến có viên ngọc kia do một con ác quỷ dữ tợn đang gìn giữ, ai đến gần sẽ bị nó vồ nuốt vô bụng. Nhưng Công chúa nhất định muốn có viên ngọc quý, nàng nũng nịu làm tất cả các điệu bộ khêu gợi với cặp mắt sáng rực như lửa cám dỗ anh thuyền chài cho đến say mê nàng. Anh lặn xuống đáy biển để rồi một lúc sau trở lên đem được viên ngọc cho Công chúa Anuba, nhưng thân thể anh đã bị con ác quỷ cào cấu bấu xé đã nát thịt, tan xương, đầy cả máu me...
Công chúa không cần nhìn cái xác gần chết của anh thuyền chài, nàng chỉ nâng niu viên ngọc đen dính máu, ôm nó lên ngực, lên môi và múa hát mê ly ảo huyền trước ngọn đèn thần của tượng Thần Vichnou...
Nàng Mata Hari sẽ đóng vai Công chúa Anuba, nàng đẹp một sắc đẹp huyền ảo đê mê như nàng Urwaci, trong sạch như nàng Damayanti từ trong đền Thần Sakuntala hiện ra trước người thuyền chài..."
Ông già Ấn Độ vừa nói đến đây thì tất cả đèn trong phòng đều tắt hết, chỉ còn sáng rực rỡ một ngọn đuốc cháy hoe trên vũ đài mờ ảo... Một nữ thần xuất hiện với một sắc đẹp huyền bí lạ thường, gần như khỏa thân: đây là Mata Hari hiện thân Công chúa Anuba... Nàng múa qua, múa lại, uốn éo thân thể nõn nà, uyển chuyển những đường cong tuyệt mỹ... Làm cho gần 200 khán giả, đại diện cho toàn thể các nước trên thế giới hồi hộp... im lặng... nín thở... như bị thôi miên trong giấc mộng huyền mơ...
Suốt hai tiếng đồng hồ, cả vũ trụ lạ lùng huyền linh say sưa nàng vũ nữ Ấn Độ của Mata Hari...
Mata Hari ! Mata Hari ! Sáng hôm sau, các báo ở Paris đều đăng hình ảnh nàng và viết bài tường thuật đêm ảo tượng ở Tòa Đại sứ Chili với những lời khen tặng, ca ngợi đặc biệt nàng "Vũ nữ đỏ", "Vũ nữ máu", "Vũ nữ thần tiên" có một không hai trên thế giới, vô tiền khoán hậu từ cổ chí kim...
Chỉ có hai tiếng đồng hồ, và một vũ khúc mà tiếng tăm của nàng Mata Hari bỗng dưng trổi dậy cả kinh thành Paris, vang lừng khắp các Thủ đô Âu Mỹ.
Sau mỗi buổi trình diễn ca vũ như thế, nàng được hàng trăm ngàn người say đắm ước mơ. Các nhà triệu phú, các nhân vật thượng lưu quốc tế ở Paris tranh nhau mời nàng dự tiệc và khiêu vũ, kẻ đón người đưa tấp nập.
Người ta tò mò hỏi nàng quê quán ở đâu thì nàng giấu lai lịch thật của nàng mà bịa đặt cho có vẻ ly kỳ bí mật như sau đây:
- Em sinh ra ở Miền Nam xứ India, trên bờ biển Malabar, nơi một thành phố linh thiêng tên là Jaffuapatam. Gia đình em thuộc về hạng quý tộc Brahmanes. Thân sinh của em, Suprachetty, vì có tâm hồn thanh cao và bác ái nên được dân chúng tôn thờ là Assirvadam, có nghĩa là "Được Thượng đế yêu thương". Thân mẫu của em là một vị nữ tu sĩ tinh khiết ở đền Kanda Swany, chết hồi 14 tuổi ngay hôm sinh em ra đời. Các vị tu sĩ làm lễ hỏa táng cho mẹ em xong, rồi họ nuôi em trong đền và đặt tên em là Mata Hari, có nghĩa là "Đứa con của Bình Minh". Đến khi em biết đi được một bước, họ nhốt em trong một hầm kín ở dưới đất trong đền Siva để tập cho em điệu múa trong các lễ tế thần theo như Thân mẫu em đã múa. Múa xong, em được đi lên chơi trên vườn chùa và hái những cánh hoa lài để tết thành những vòng hoa thơm trắng đem trang trí điện thờ Thần. Đến khi em 14 tuổi, đã đến tuổi dậy thì, một đêm Xuân, Satky Pudja, vị nữ tu cai quản Đền Siva, làm lễ thành hôn cho em với Thần Siva và chỉ giáo cho em các nghi thức huyền ảo của ái tình và tính ngưỡng..."
Nói đến đây, Mata Hari bỗng run khắp cơ thể như bị Thần Siva nhập vào thể xác và đứng dậy múa. Những điệu múa lả lơi, uyển chuyển, làm nổi bật bộ ngực tuyệt đẹp của nàng, với những đường cong uốn éo mềm mại của tấm thân nửa kín nửa hở đầy khêu gợi.
Những người nghe Mata Hari kể chuyện như thế phần đông là các ông Hàn Lâm Viện, các nhà học giả, các ông Tổng trưởng, Đại sứ. Họ hỏi nàng:
"Thế nào là nghi thức ái tình trong đêm Xuân Satky Pudja ở Đền Kanda Swany?" thì nàng bịa đặt ra bằng lời nói huyền bí, bằng cử chỉ ly kỳ ảo tưởng, các nghi thức lạ lùng mà từ xưa tới nay không ai được biết.
Dưới ánh sáng chói lọi của muôn nghìn ngọn đèn màu, với hơi rượu ngà ngà say, với mùi thơm ngạt ngào của các loại nước hoa lạ của Arabie làm ngây ngất toàn thể cử tọa, Mata Hari vận y phục nghi lễ vô cùng lộng lẫy, chỉ che sơ sài đôi tuyết lê đầy đặn nở nang, và một tấm voan mỏng đeo đầy hột kim cương che dưới bụng để hở rốn và hở cả bắp đùi, cả đôi ống chân ngà trắng nõn, nàng vừa giảng giải từng điệu bộ, vừa uốn éo múa qua múa lại, ưỡn lên ưỡn xuống, nghiêng ngã, xoay tròn đưa ra trước mắt mọi người cả những nét đẹp khêu gợi, đê mê, của thân thể lõa lồ đầy nhựa sống lên men của nhục dục.
Rồi bỗng dưng trong lúc nàng như chìm đắm trong vũ điệu mê ly, các ngọn đèn đều tắt, chỉ còn mờ ảo một ánh sáng huyền mơ, một điệu đàn thần linh xa xăm trổi dậy. Một tu sĩ râu tóc bạc phơ chống gậy từ trong bước ra, dừng bước nhìn trời. Từ ba ngôi sao sáng rực hiện ra ba vị Nữ Thần... Tiếng đàn ầm ĩ, rên rỉ, kéo dài trong đêm mơ, réo rắc như dây tơ, như náo nức, như thổn thức, như rạo rực trong hương mơ... Vũ nữ Mata Hari thổi một tiếng sáo vi vu, âm u... tức thì từ trong rừng thẫm bò ra một con rắn thần... Rắn thần bò đến nàng, trườn lên mình nàng, quấn vào ngực nàng, rồi cùng với nàng say sưa trong vũ điệu mê hồn...
Cảnh tượng ly kỳ bí ẩn ấy khiến cho toàn thể khán giả đều hồi hộp, say sưa, như hoàn toàn bị thôi miên bởi sắc đẹp, bởi điệu múa, bởi không khí huyền ảo bao bọc nàng vũ nữ của Kanda Swany.
Trong thời gian không lâu, từ địa vị người vợ của Thiếu tá bị chồng bỏ, thất nghiệp, bơ vơ, nghèo nàn Mata Hari đã bỗng dưng trở nên một vũ nữ đanh tiếng được muôn nghìn người yêu mê. Một ông Tổng trưởng, một ông Hoàng tử ngoại quốc, và một ông Đại sứ là những tình nhân gắn bó nhất của nàng. Bây giờ nàng ở một lâu đài nguy nga tráng lệ trên Đại lộ Champs Êlysées - một Đại lộ sang trọng nhất của Paris. Nàng có xe hơi, có tài xế riêng, có bồi bếp. Y phục nàng rực rỡ như bà Hoàng hậu. Thân thể nàng đeo đầy những kim cương, ngọc thạch. Nàng tiêu xài tiền bạc như nhà triệu phú, sắm sửa xa hoa, ăn chơi phun phí. Lúc bấy giờ có ai dám nghi ngờ Mata Hari là một nữ gián điệp của một nước nào đâu. Ấy thế mà theo bản cáo trạng của Tòa án quân sự Paris mùa thu 1917, thì chính lúc bấy giờ Mata Hari cũng là tình nhân của Thái tử nước Đức Frédéric Guillaume - con của Hoàng đế Guillaume II, của Quận công Brunswick, và của Đô trưởng kinh thành Berlin.
Mata Hari nhìn nhận rằng, tất cả những nhân vật to lớn ấy đều là tình nhân của nàng, nhưng không bao giờ nàng làm gián điệp cho ai. Có thể trong thời kỳ chiến tranh (1914-1918), họ lợi dụng lòng thành thật của nàng để nàng vô tình thổ lộ những bí mật quân sự mà nàng biết được do những người yêu của nàng nói cho nàng nghe, chứ thật nàng không có ý làm gián điệp cho ai cả. Tuy nhiên, cũng vì tình nhân của nàng là những nhân vật cao cấp đủ các nước tụ họp ở Paris: Đức, Pháp, Anh, Mỹ, Ý, Nga, Hòa Lan nên người nước nào cũng lợi dụng những cuộc giao duyên rộng rãi của nàng để dọ thám người nước khác. Vì vậy, nếu Mata Hari quả thật là Nữ gián điệp, thì nàng đã vô tình làm Nữ gián điệp mà chính nàng củng không hề biết tới. Mata Hari chỉ muốn hưởng trọn vẹn đời sống xa hoa mỹ lệ mà thôi. Nàng đã viết trong nhật ký của nàng một đoạn văn như sau đây: "Ta sẽ chết như tất cả mọi vật trên đời đều phải chết. Trong khi chờ đợi Tử thần, ta phải sống những giây phút đầy đủ, tốt đẹp, vẻ vang. Thà rằng sống trên quả đất một cuộc đời ngắn ngủi nhưng rực rỡ, tưng bừng, còn hơn là kéo mãi một tuổi già không đẹp đẽ"
Vì vậy, Mata Hari không có lý tưởng về đời sống tinh thần, nàng cũng không cần đeo đuổi một mục đích gì cao cả. Chỉ yêu để sống, sống để yêu, và hạnh phúc đối với một nàng vũ nữ lừng danh quốc tế như nàng là ăn chơi, trang điểm, múa hát say sưa. Chính vì lẽ đó mà nàng luôn luôn sẵn sàng bán xác thịt của nàng với giá rất đắt, để cho được hưởng đầy đủ các lạc thú khoái trá mê ly. Chứ nàng không nghĩ đến việc làm nghề nữ gián điệp cho một quốc gia nào, bởi vì tất cả những người yêu của nàng đều cung cấp cho nàng đầy đủ đời sống xa hoa vật chất.
Nhan sắc cực kỳ lộng lẫy, huyền ảo của Mata Hari đã quyến rũ một số đông các nhân vật cao cấp của các nước thù địch với nhau trong Thế giới Đại chiến, những vị lãnh đạo trong các Chính phủ, các Tổng hành dinh quân đội. Nhưng nàng mặc kệ, sự quyến rũ của đôi mắt đẹp huyền bí của nàng đâu phải là một tội lỗi. Tại vì người ta mê nàng, đeo đuổi theo nàng, chứ nàng có lợi dụng nhan sắc của mình để phản bội ai đâu.
Nhiều người tình nhân của nàng Mata Hari đều quả quyết trước Tòa án Quân sự rằng nàng vô tội. Các nhà chính khách ngoại giao quan trọng như Junoy, Thượng nghị viện Espagne, Claven Moore; Thượng nghị viện Anh; Nhà triệu phú Mỹ Craward; Quận công Basile của Pháp; Đại tướng Bá tước Von Durt - bạn thân của Hoàng đế Đức Guilluame II; Đại sứ Ginoceli của nước Ý ...v...v.. đều bênh vực cho Mata Hari.
Có điều chắc chắn là trong thời gian chiến tranh, nàng đi du lịch nhiều nơi. Khắp Châu Âu, nước nào nàng cũng tới, thủ đô và thành phố lớn nào nàng cũng có ghé đến và ở một thời gian. Nhưng nàng quả quyết rằng, nàng không hề làm gián điệp cho ai cả.
Đại tá Massard, Thẩm phán Tòa án Quân sự Pháp tra hỏi nàng:
- Cô có chơi thân với ông Giám đốc Sở Trinh thám Đức, có phải không?
- Có. Ông ta là tình nhân của tôi. Và tôi cũng chơi thân với ông Giám đốc Sở Trinh thám Pháp, ông này cũng là tình nhân của tôi.
- Ông Giám đốc Sở Trinh thám Đức có tặng cô số tiền là 300.000 đồng Đức kim.
- Có. Đó là tiền ông cho tôi vì ông đã ngủ với tôi nhiều đêm. Cũng như các ông khác cho tôi nhiều tiền để trả những ân huệ riêng của tôi, chứ không phải tiền thuê tôi làm gián điệp.
- Cô có quen thân với Đại tá Nga, Marov?
- Có. Đại tá Marov ở Tổng hành dinh Nga, cũng là tình nhân của tôi. Thiếu tướng Giám đốc Đệ nhị phòng của Pháp cũng là tình nhân của tôi. Ông Tổng trưởng Chiến tranh của Pháp cũng là tình nhân của tôi...
Nghe Mata Hari kể một dọc những tình nhân của nàng, ai nấy đều ngán cả. Mà đúng thế, những tình nhân mà nàng kể tên đều giao du mật thiết với nàng. Cho nên hồi tháng 9 năm 1917, nàng bị mấy Sĩ quan Pháp tố cáo là nữ gián điệp, tất cả các Tổng hành dinh Âu Mỹ đều kinh ngạc, không ai tin cả.
Nhưng theo tất cả các giấy tờ tịch thu được ở nhà nàng thì các vị thẩm phán quân sự đều quả quyết nàng là nữ gián điệp. Nguy hơn nữa, chính tại nàng mà Quân đội Pháp bị thua nhiều trận lớn ở các mặt trận phía Bắc. Nàng đã cho người Đức biết trước các cuộc vận quân của Pháp, do những tin tức bí mật của các sĩ quan ở Tổng hành dinh Pháp nói cho nàng hay. Đó là bản cáo trạng tố cáo Mata Hari, nhưng Mata Hari thì quả quyết là không đúng. Một vài Sĩ quan Pháp ganh ghét nàng nên cố tình làm hại nàng đó thôi.
Dù sao, mùa Thu năm 1917, Mata Hari bị Tòa án Quân sự Pháp kết án tử hình. Theo bản cáo trạng thì Mata Hari làm nữ gián điệp cho cả mấy nước Nga, Đức, Pháp, Ý, Nga, Hòa Lan, nhưng nàng đối với nước Pháp nguy hại hơn cả nên ngày 13/2/1917 nàng bị bắt. Ngày 24 và 25 tháng 7, nàng bị ra tòa và cuối cùng bị xử bắn.
Mặc dù nhiều vị Luật sư nổi tiếng như Clunet và nhiều nhân chứng quan trọng, các nhà báo, nhà văn, họa sĩ, Tổng trưởng, Đại sứ, Sĩ quan, Nghị sĩ, Thủ tướng đã cố hết sức bào chữa cho nàng mà không được.
Sáng ngày thứ Hai 15/10/1917, Mata Hari - một hoa hậu của thế giới, có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành đã chết một cách oanh liệt, không khóc. Nàng không xin, không sợ, kiêu hãnh với một nụ cười tình tứ trên môi trước một loạt súng của 12 người lính Pháp dưới sự chỉ huy của Đại tá Semprou. Chính Đại tá rưng rưng ngấn lệ sau khi truyền lệnh bắn người đẹp của muôn thuở.
Có sách chép rằng, Mata Hari vừa gục xuống vũng máu thì có một tên kỵ mã tức tốc phi ngựa tới pháp trường Vincennes đưa giấy ân xá của Tổng thống Poincaré... Nhưng Mata Hari không còn nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.11.2017 08:13:23 bởi ticonuong>
III. HOÀNG HẬU SABA
 
* MỘT TÊN THỢ BẠC LÊN LÀM VUA
 
Hoàng hậu Saba (Hoàng hậu của xứ Saba) là tên lịch sử của người đàn bà đẹp, duyên dáng và đa tình của thời Tối Cổ mà trong Thánh Kinh của Thiên Chúa giáo đã có nói đến và khen ngợi (chương 1, Rois đoạn 10, Cựu Ước).
Đời nàng thật thơ mộng, nhất là cuộc tình duyên đầy say mê và cảm động của nàng, bị luật pháp Triều đình cấm ngặt, đã làm nổi bật lên bản chất thiên nhiên của người phụ nữ bất cứ ở xứ nào, ở thời đại nào, ở giai cấp nào: bản chất của TÌNH YÊU.
Nhưng trước hết, tôi muốn đưa bạn đọc trở về một đoạn lịch sử của sứ Saba để rồi bạn sẽ hiểu rõ hơn về tiểu sử của Hoàng hậu Saba.
Saba là một quốc gia Ả Rập tối cổ ở dọc bờ bể Hồng Hải, thế kỷ thứ VIII trước Công nguyên, nay là một phần đất của xứ Yemen. Lịch sử Ả Rập chép lại rằng, xứ này là quê hương của Hoàng hậu Saba, và gọi tên thật của nàng là Balkis hay là Balqtis. Trái lại, lịch sử xứ Ethiopie lại minh xác rằng chính xứ Ethiopie (Albyssinie ở Trung Phi Châu) mới đúng là quê hương của nàng, và tên thật của nàng - nhũ danh là Makeda. Hiện nay, hai nước này vẫn tranh giành vinh dự được là quê hương của Hoàng hậu Saba.
Nhưng xét kỹ về biến chuyển lịch sử thời bấy giờ thì cái thuyết của xứ Ethiopie có phần đích xác hơn.
Hay là nói: Nàng sinh ra ở Ethiopie mà làm Hoàng hậu ở Saba là đúng hơn cả.
Nhưng nàng là ai?
Trở về Kinh Cựu Ước, sau thời Đạo sĩ Moise từ biệt Ai Cập trở về Chanaan, không phải toàn thể dân Hébreux đã theo ông, một số đông không tin tưởng nơi đạo sĩ đã ở lại. Đó là những người giàu có đã gây dựng sự nghiệp khả vẻ vang ở kinh đô các Pharaon và không thích di cư về xứ Chúa. Trong đám đông người ở lại, có khá nhiều các cô gái điếm, đủ hạng gái làng chơi mà bọn thanh niên công tử, công tôn của Ai Cập rất ham chuộng. Tuy nhiên, lúc bấy giờ ở ngay trên đất Ai Cập, người Do Thái và dân Ai Cập bổn xứ đã có nhiều mối thù cố cựu. Hai bên đã tìm cách tàn sát lẫn nhau. Bỗng dưng có tin đồn khắp Thủ đô Ai Cập rằng đạo binh của Thái tử Ai Cập - con Vua Ramsès vượt qua Hồng Hải đã bị Chúa Trời của Do Thái làm nổi dậy sóng gió nhận chìm hết xuống đáy biển. Người Ai Cập được tin đó liền nổi giận, hầm hầm kéo đến các xóm của người Do Thái ở và tàn sát để trả thù cho quân đội của họ.
Người Do Thái bị giết chết rất nhiều, còn sống sót độ trăm người chạy tán loạn trong đêm tối để tìm nơi trốn thoát. Nhưng sáng hôm sau, họ bị khám phá, bị bắt hết và bị "Tòa án dân chúng" của Ai Cập kết tội xô xuống Hồng Hải, lúc bấy giờ gọi là Biển Máu - Huyết Hải. Chúa của Do Thái (tức là Chúa Trời trong Thánh Kinh gọi là l'Eternel) liền nổi trận cuồng phong thổi tất cả dân Ai Cập vào sa mạc để cứu bọn Do Thái. Nhờ vậy đám tàn dân Do Thái này kéo nhau đến định cư ở một nơi có gò núi cao và phì nhiêu, cây cỏ tươi tốt ở tận trung tâm Phi Châu còn hoang vu chưa có người khai khẩn. Ba ngàn năm trăm năm sau, đám dân Do Thái phiêu lưu này trở thành một dân tộc giàu mạnh nhờ các nghề trồng tỉa, chăn nuôi và nghề làm vàng bạc. Họ thành lập một xứ, đặt Thủ đô là Axoum, tức là xứ Ethiopie ngày nay.
Một chú thợ bạc giàu nhất tên là ANGUEBO được dân chúng tôn lên làm Vua.
 
* CÔNG CHÚA MAKEDE KHÔNG ĐƯỢC LẤY CHỒNG 
 
Vua ANGUEBO và vợ là RACHEL đến tuổi già mà không có con trai để nối nghiệp Quốc vương. Ông chỉ có một mụn con gái tên là MAMMÉTÉ, cô con gái độc nhất để truyền ngôi báu, có vương miện 7 viên ngọc thạch của Vương quốc Axoum.
Các ông cố đạo Do Thái có uy tín lớn với dân chúng được quyền định đoạt luật pháp trong nước, chấp nhận Công chúa Mammété được lên ngôi Hoàng hậu sau khi Vua chết. Nhưng nàng phải tuân theo một điều kiện, là suốt đời phải giữ trinh tiết, không được lấy chồng, và cũng không được yêu một người đàn ông nào.
Hội đồng cố đạo phán rằng: ngồi trên ngai báu của xứ Axoum phải là một Công chúa hoàn toàn trong sạch.
Mặc dầu Vua Anguebo phản đối và tìm cách vận động cho con gái độc nhất của ông khỏi bị luật pháp giã man kia ràng buộc, Hội đồng cố đạo vẫn cương quyết giữ lập trường và Công chúa Mammété bị bắt buộc chấp nhận điều kiện vô nhân đạo. Từ đó Công chúa Mammété được đổi tên thành MAKEDA, theo tiếng Ethiopien có nghĩa là Công chúa TRINH TIẾT.
Hôm Vua cha băng hà, Công chúa MAKEDA vừa tròn 20 tuổi. Bốn chục ngày sau, nàng được tôn lên ngôi Hoàng hậu Vương quốc Axoum, và trước Hội đồng cố đạo cùng toàn thể dân chúng Thủ đô, nàng khẳng khái làm lễ tuyên thệ.
"Giữ trọn trinh tiết, không yêu người đàn ông"
 
* SUỐT ĐÊM EM KHÓC VÌ NHỚ THƯƠNG ANH
 
Nhưng Hoàng tử đẹp trai hiện ra trước mắt Công chúa ngay lúc nàng vừa thốt ra lời tuyên thệ...
Trong đám các Vua chúa và quan khách ngoại giao của các xứ sở Ả Rập, Do Thái, Hy Lạp, Ai Cập, Ba Tư đến dự lễ đăng quang của Hoàng hậu, có Hoàng tử Assadaron, cháu đích tôn của Hoàng đế xứ Babylon.
Trong nghi lễ oai nghiêm tráng lệ, ngay giây phút đầu tiên hai tia mắt của nàng và của chàng vô tình chạm vào nhau, tiếng sét đã nổ trong tim chàng và nàng.
Và đêm ấy, khi những ngọn đuốc mỡ cá sấu đã tàn, khi tiếng nhạc du dương của đoàn cung nữ đã im lặng, trong khung cảnh lờ mờ thơ mộng của vườn Ngự uyển ngào ngạt hoa thơm, Hoàng hậu Makeda trẻ đẹp đã ngã gục vào đôi cánh tay say sưa âu yếm của Hoàng tử xứ Babylon.
Nhưng trong ngây ngất của tình yêu ban đầu và tình yêu tuyệt vọng, nàng vẫn giữ "trong trắng như viên ngọc trong lòng biển đại dương"
Hoàng tử Assadaron xin ở lại Axoum không về xứ. Cuộc giao thiệp lén lút giữa chàng và Hoàng hậu TRINH TIẾT mỗi ngày mỗi thân mật thêm, mặc dầu nàng biết rằng những đôi mắt cú vọ của Hội đồng cố đạo vẫn không ngớt dòm ngó nàng, theo dõi nàng trong ánh sáng và trong bóng tối. Nhất là ông Hoàng Amram, người của Hoàng tộc được đề cử làm cố vấn cho Hoàng hậu còn trẻ tuổi, lúc nào cũng nhìn nàng với đôi mắt soi mói, lạnh lùng, nghiêm khắc.
Nàng có nuôi hai con két đỏ, một trống một mái mà nàng tập luyện làm trung gian cho những cuộc gặp gỡ bí mật giữa nàng và chàng. Lúc bấy giờ người Ethiopien cũng như người Ai Cập chưa có văn tự, cho nên chưa biết viết thư, mặc dầu họ văn minh không kém Hy Lạp và Ba Tư.
Hoàng hậu dạy hai con két nói: "Na na Fikrit Aron", nghĩa là "Đến đây, đến đây tình nhân Aron". Aron tức là chữ đầu và chữ cuối trong tên của Hoàng tử Assadaron.
Mỗi lần trông thấy người yêu đi lang thang ngoài thành, Hoàng hậu thả hai con két đỏ ra, chúng bay đậu trên các cành cây và đua nhau kêu: "Na na Fikrit Aron" "Na na Fikrit Aron". Thế là Hoàng tử Assadaron hiểu ý, đêm đến lẻn vào vườn thượng uyển để gặp người yêu.
Hoàng hậu Makeda và "Aron" yêu nhau mỗi ngày mỗi thắm thiết say mê. Đã bao nhiêu lần nàng âu yếm và đau khổ gục đầu khóc thúc thít trong lòng tình nhân. Chàng ôm xiết nàng trong đôi cánh tay yêu đương khỏe mạnh, mơn trớn nàng, hôn nàng trên mái tóc, trên đôi mắt, làn môi với hai ngấn lệ âm thầm của tuyệt vọng.
Nhưng mặc dầu có những lúc men yêu đương làm cháy thịt cháy da, chàng van lơn đòi hỏi, Hoàng hậu Makeda trẻ đẹp, sầu mộng, đa tình vẫn cố nén giữ được trong trắng, không dám để phạm đến trinh tiết mà nàng đã tuyên thệ bảo toàn trước Chúa và thần dân.
Một buổi sáng, hai cung nữ da đen thân tín nhất của Hoàng hậu rón rén bước vào phòng nàng, trong bàn tay mỗi người có một vật gì đỏ tươi giống như con két, nhưng không cử động. Hai cung nữ vừa tiến đến gần nàng, vừa khóc.
Makeda ngó kỹ thì ra hai con két của nàng đã bị bàn tay bí mật nào cắt cổ chết, hai vết thương còn rỉ máu.
Nàng biết đó là một cảnh cáo nghiêm trọng, một điềm dữ cho tính mệnh của nàng và của người yêu. Nàng suy nghĩ suốt đêm, thấy cần phải báo tin gấp cho Hoàng tử Assadaron biết để chàng liệu xanh lánh khỏi nơi nguy hiểm này. Nàng trao cho cung nữ da đen mang đến cho chàng một bức vẽ do tự tay nàng vẽ ra. Nàng tin rằng Hoàng từ Assadaron sẽ đoán hiểu được ý nghĩa của bức tranh bí hiểm.
Hiện nay ở Ethiopie, bức vẽ này vẫn còn được lưu truyền trong dân chúng với bản dịch nghĩa sau đây:
" Aron anh ơi ! Những bàn tay bí mật và tàn ác đã bóp chết hai con két - sứ giả tình yêu của chúng ta.
"Cho nên em buồn, em khóc... suốt đêm vì nhớ thương anh, mắt em để tuôn rơi hai dòng thảm lệ.
"Thôi chúng ta hãy gạch một đường đen để tan cho tình yêu từ nay.
"Từ nay Makeda đau khổ và cô đơn, luôn luôn mắt tràn ngập lệ, tiếp tục nhiệm vụ lịch sử như kẻ nô lệ phải kéo cày trên mảnh đất gồ ghề đầy sỏi đá.
"Vĩnh biệt anh, Aron ơi ! Anh nên xa lánh chốn này. Giữa anh và em từ nay sẽ có một bức màn ngăn cách... Hãy quên em đi !"
 
 
***
 
 
Không được gần người yêu, vị Hoàng hậu trẻ đẹp, rất lãng mạn và hãy còn trinh tiếc nguyên vẹn muốn trả thù bọn đàn ông bằng một chính sách "trọng nữ khinh nam" vô cùng táo bạo, lận đầu tiên trong lịch sử các nước Cận Đông.
Nàng đặt ra luật lệ mới, ban cho phái nữ rất nhiều quyền hành trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Chính sách nữ quyền của nàng cực đoan đến đỗi dưới chế độ cai trị của nàng, người phụ nữ được quyền bỏ tiền bạc ra mua đàn ông như người ta mua những kẻ nô lệ để sai khiến vậy. Người con gái nào cũng có thể mua người đàn ông vừa ý mình về để làm chồng, và người vợ là chủ gia đình. Nàng động viên bọn đàn ông con trai khỏe mạnh trong nước để thành lập một đội quân trên ba trăm ngàn người do nàng chỉ huy. Nàng truyền lệnh đóng rất nhiều tàu thủy, thiết lập một đội hải quân hùng mạnh nhất thời bấy giờ, gọi là đoàn "Chiến Thuyền Xanh", đặt dưới quyền điều khiển của Hoàng hậu.
Chuẩn bị đầy đủ binh sĩ và khí giới, nàng kép quân đi chinh phục các nước lân cận, và nàng đánh đâu thắng đó. Lãnh thổ Ethiopie của nàng được mở rộng ra tận biên giới Ai Cập, bao gồm các vùng rộng lớn: Kenya, Ouganda và Soudan. Xứ Ethiopie của Hoàng hậu Makeda bao gồm cả Đông Bắc Phi Châu. Nàng kéo quân đội của nàng đến tận bờ biển Hồng Hải và muốn vượt bể sang đánh các xứ Ả Rập để chinh phục Á Châu.
Nói là làm. Nàng quyết thực hiện ý chí ấy trong cơn hăng say binh lửa để quên mối tình tuyệt vọng.
Nàng, một cô gái 21 tuổi, Hoàng hậu kiều diễm của một quốc gia mới sáng lập, vì luật pháp triều đình của bọn đạo sĩ già khắc khe cấm nàng không được yêu vị Hoàng tử đẹp trai Assadaron của nàng, nên nàng quyết cho con tim đau khổ hận thù của nàng say sưa trong máu lửa chiến tranh, trong cảnh giết chóc hàng vạn binh sĩ đàn ông mà nàng kiêu hãnh giẫm lên xác chết dưới đôi bàn chân ngà ngọc, oanh liệt. Nàng hăng hái truyền lệnh đoàn quân viễn chinh xuống thuyền vượt Hồng Hải đổ bộ lên vùng Ả Rập.
Sau ba năm chiến đấu khủng khiếp, Hoàng hậu Makeda trẻ đẹp chiếm được xứ Yémen, một thiên đường thơm mát của xứ Ả Rập huyền linh ảo địa.
Lãnh thổ của nàng bây giờ đã trở thành "Nhị Châu Đế Quốc", quê hương ở bên Phi Châu, tân cương thổ ở Á Châu Cận Đông, ở giữa là Hồng Hải. Nàng kéo quân vào đóng tại Thủ đô Saba của Yémen và đặt Saba làm Đông Đô của Tân Đế Quốc trong lúc Axoum là Tây Đô ở đất nhà.
Lịch sử Ả Rập còn để lại những bức tả cảnh vô cùng linh động của Kinh đô Saba huyền bí. Nơi đây, Hoàng hậu Makeda được suy tôn là Hoàng hậu Saba. Nàng gọi các kiến trúc sư danh tiếng đến phán rằng:
"Ta muốn một thành phô mỹ lệ được xây dựng nơi đây.
"Ta muốn ở Trung tâm Thành phố được cất lên ba vòng lâu đài hình bán nguyệt.
"Ta muốn ở ngay giữa những bán nguyệt ấy được dựng lên một lâu đài thứ tư cao vút lên mây để làm cung điện của ta.
"Sau cùng ta muốn rằng, trên thượng tầng cung điện của ta có một sân rộng, đổ đầy đất trồng cây, toàn những cây quý có hoa thơm và đẹp, thành vườn Thượng Uyển để cho các người tứ xứ đi tàu trên bể Hồng Hải từ xa ngước mắt lên đều thấy vườn cây cảnh của ta như treo lơ lững trên trời xanh."
Các kiến trúc sư cúi đầu vâng lệnh, ngày đêm lo xây cất và một năm sau tôn ý của Hoàng hậu Saba được thực hiện đúng theo điều mơ ước của Nàng.
Nhưng... Hoàng hậu Saba vẫn cứ buồn rầu chán nản giữa cung điện nguy nga, lâu đài tráng lệ ấy. Nàng bước đi một mình trong thực tế lộng lẫy của vinh quang, phú quý, đầy mùi thơm ngào ngạt của trăm nghìn cánh hoa. Đầy những kho vàng ngọc, châu báu mà nàng thò tay vào hốt có thể vứt từng nắm qua cửa sổ cũng không bao giờ hết được.
Y phục rực rỡ, chói sáng kim cương ngọc bích, trân châu đầy cổ, đầy tay, Hoàng hậu Saba đứng trên góc vườn Thượng Uyển, trên chín từng mây ngó xuống thành phố lui nhui, lúc nhúc những người qua lại... Bỗng nàng thấy trong xóm nhà lao động rách nát dưới một bóng cây dừa, một đôi trai gái nghèo nàn âu yếm hôn nhau.
Hoàng hậu Saba gục đầu vào chậu hoa quý, thổn thức một mình. Nàng lẩm bẩm:
"Cặp tình nhân kia giàu hơn Ta!"
 
 
***
 
 
Hoàng hậu Saba chạy nhanh vào cung điện, nàng đóng kín cửa không cho các nô tì vào hầu hạ. Ngã gục xuống chiếc long sàng bằng gỗ hương trầm, châu ngọc, kim cương, nàng ôm chiếc gối thơm ngát nước hoa và khóc nức nở.
Nàng cảm thấy cả cung điện rỗng không, chẳng có gì. Làm chủ bao nhiêu đất đai, thành trì, dân chúng; thâu về bao nhiêu kho vàng, kho ngọc nàng thấy con tim nàng vẫn trống trải, hoang liêu, vắng lặng như sa mạc Ả Rập.
Tiếng đờn, tiếng sáo réo rắt du dương từ phòng ca nhạc vang lên không làm cho tâm hồn nàng rạo rực, êm đềm nữa. Nàng truyền lệnh:
- Im đi !
Nàng đứng dậy, bước đi trong hành lang rộng mênh mông. Bóng nàng đơn độc, in lờ mờ trên các bức tường cẩm thạch thơm ngát nước hoa. Nàng gọi một nữ tỳ:
- Fedena !
Một cung nữ rất đẹp, độ 19 tuổi từ trong một căn phòng thoăn thoắt chạy ra quỳ xuống bên chân Hoàng hậu. Nàng bảo:
- Gọi cho ta một viên chiêm tinh nổi tiếng nhất.
Fadena đứng dậy cung kính nghiêng mình chào rồi biến đi. Một lát sau, chiêm tinh gia đến. Đó là một ông già râu trắng phau, đôi mắt sáng rực.
Ông ngồi trên sàn hoa bên chân Hoàng hậu. Nàng phán:
- Nhà ngươi xem tương lai của Trẫm như thế nào?
Ông lão chiêm tinh tươi cười lễ phép đáp:
- Hoàng Hậu đang băn khoăn về một vấn đề tâm sự, nhưng vấn đề sẽ được giải quyết một ngày gần đây. Thần xem các ngôi sao từ mấy đêm nay thấy triệu chứng Hoàng hậu sắp chinh phục được trái tim của một Quốc Vương tài ba trí tuệ bậc nhất trên hoàn cầu.
Hoàng Hậu mĩm cười hỏi:
- Quốc Vương ở nơi nào thế?
- Ngài ở Hướng Bắc.
Hoàng hậu khoát bàn tay mũm mĩm dịu dàng ra lệnh cho chiêm tinh gia rút lui. Nàng đứng dậy lên vườn Thượng Uyển, ngồi bên bờ một hồ nước soi mình vào ánh nước long lanh. Nàng còn trẻ lắm. Quả thật nàng diễm lệ và duyên dáng vô cùng.
Bỗng Fedena rón rén đến, quỳ xuống tâu:
- Tâu Hoàng hậu, có một người buôn tên là Tamrinn, từ Jérusalem mới đến, xin vào yết kiến Hoàng hậu.
- Có chuyện chi?
- Thưa Hoàng hậu, y có đem những trái sung ngon nhất ở Ả Rập và một hộp kim cương đến dâng Hoàng hậu để tỏ lòng tôn kính.
- Cho y vào.
Tamrinn ngồi trên sàn hoa, được Hoàng hậu ân cần hỏi han:
- Trẫm nghe danh tiếng lừng lẫy của Quốc vương Salomon ở Jérusalem. Những tiếng đồn về Ngài có đúng sự thật không?
- Muôn tâu Hoàng hậu kiều diễm, uy nghi của xứ Saba, quả thật lời đồn đãi về Đại Vương Salomon không quá đáng chút nào. Danh thơm của Ngài không những thấm nhuần trong óc của bọn thường dân chúng tôi, của toàn xứ Israel mà còn bay khắp miền Palestine, khắp các xứ Ả Rập cho đến các nước ở hai bên bờ Địa Trung Hải đều nghe danh Salomon, đều sùng kính Salomon - con trai kế vị của David Vĩ đại. Tiếp tục sự nghiệp vô cùng cao cả của David và xây dựng đền Jérusalem thiêng liêng huyền bí làm nơi trung tâm thờ Chúa của loài người. Công đức của Salomon vô lượng vô biên. Trí óc của Salomon khôn ngoan sáng suốt vô cùng, không vị Vua nào sánh kịp. Toàn thể Israel, toàn dân Do Thái chúng tôi đều nhờ ơn huệ của Đại Vương Salomon, con trai kế vị của David Vĩ đại.
Hoàng hậu Saba mĩm cười khẽ bảo:
- Cảm ơn.
Rồi nàng truyền lệnh cho Tamrinn lui ra. Người lái buôn ở kinh đô của Hoàng hậu Saba 7 ngày. Trước khi y từ biệt Saba trở về Jérusalem, y được Hoàng hậu triệu vào cung. Nàng gởi rất nhiều quý vật để dâng tặng Đại vương Salomon, trong số đó có một con sư tử nhỏ bằng ngọc thạch. Nàng dặn người lái buôn:
- Con sư tử này là một cái hộp đựng hai miếng ngà, trên mặt ngà có khắc nhiều bức vẽ. Nếu quả thật trí óc của Đại vương Salomon khôn ngoan và sáng suốt đúng y như lời mà ngươi đã tán dương với Ta thì Ngài sẽ đoán hiểu ý nghĩa của những bức vẽ ấy. Ta mong sẽ được Ngài gởi cho Ta xem ý nghĩa ấy như thế nào. Nhưng trước hết, Ngài phải tìm cho ra phương pháp mở con sư tử này mà không đập vỡ nó.
Tamrinn tuân lệnh đem con sư tử bí mật này về Jérusalem.
Hoàng hậu Saba kiên nhẫn chờ câu trả lời.
Một thời gian sau, không quá một tháng, Salomon phái đến Hoàng hậu một viên quan coi kho của Vua với một đoàn tùy tùng rất đông đảo. Salomon gởi đến nàng 24 thùng đựng đầy các thứ bửu vật: tơ lụa, các loại thuốc trường xuân, các loại nước hoa và vàng bạc, trân châu, kim cương, bích ngọc. Sau cùng, một món quý nhất và lạ nhất là một cái hộp bằng gỗ hương trầm chạm đúng kiểu mẫu đền Jérusalem. Nhưng đây chỉ là cái nắp hộp. Mở nắp ra, Hoàng hậu ngạc nhiên khi thấy con sư tử bằng bích ngọc của nàng được gửi trả về.
Đại Vương không tìm được bí pháp mở con sư tử ư? Nhưng nàng bấm một cái nút nhỏ ở dưới bụng con sư tử thì con sư tử mở ra. Trong bụng con sư tử, nơi nàng đã đặt hai miếng ngà, bây giờ nàng thấy một cuộn giấy bằng lá cây papyrus, trên đó có ghi những lời của Vua giảng giải những bức vẽ của Hoàng hậu như sau đây:
 
"Hoàng hậu Saba đội vương miện có 7 viên ngọc
"Rực rỡ như con công
"Trong trắng như trân châu còn nguyên trinh trong lòng đại dương
"Hoàng Hậu của Nhị Châu Đế Quốc có biển phân cách và nối liền ở giữa
"Vàng bạc châu báu tràn ngập như một dòng kim ngân chảy hoài không cạn
"Nhưng Hoàng Hậu buồn khóc dưới bóng cây trắc bá cô đơn
"Đêm, ngày trái tim của Hoàng Hậu bị đè nặng dưới một khối u sầu
"Nhưng, một đêm, các vì sao trên trời chỉ cho Hoàng Hậu biết Jérusalem rực rỡ tưng bừng dưới triều Vua Salomon
"Công lý và danh thơm của Ngài bay khắp hoàn cầu
"Giờ đây Hoàng Hậu Saba muốn được gặp Vua Salomon ở Jérusalem..."


Vị Hoàng hậu trẻ đẹp, lãng mạn và trinh nguyên của Saba hồi hộp sung sướng vì tiếng nói thầm kín của con tim nàng, tượng trưng bằng những nét vẽ bí hiểm như thế, chỉ có một người là Salomon đọc được, hiểu được mà thôi. Không như người yêu đầu tiên trước kia, Hoàng tử Assadaron tuy đẹp và trẻ, nhưng nàng gởi cho chàng những bức vẽ tỏ tình đau đớn mà chàng không biết trả lời. Và chàng ra đi, không hề tỏ chút tình quyến luyến nhớ thương.
Salomon dù lớn tuổi hơn nhiều, nhưng trong vũ trụ này còn ai thấu hiểu rõ lòng nàng bằng Đại vương? Salomon là người đàn ông độc nhất thông minh và khôn ngoan tuyệt vời, xứng đáng với tình yêu băng trinh mà giờ đây Nàng sẵn sàng dâng trọn vẹn cho Người.
Thế rồi Hoàng hậu Saba khởi hành qua Jérusalem để gặp mặt Vua Salomon - người kế vị oai nghi của David, người thông minh nhất trên hoàn cầu, người đang hồi hộp chờ đón Nàng trong đôi tay âu yếm.
Dù chỉ được làm vợ Salomon một đêm thôi, trong cuộc thăm viếng kỳ thú này cũng đủ là diễm phúc tuyệt vời cho cả cuộc đời Nàng.
Kết quả cuộc tình duyên diễm tuyệt ấy là khi trở về kinh đô Saba, Nàng đã có thai. Đứa con duy nhất của Salomon cho Nàng tên là Ménélik, sẽ kế vị Nàng trên ngôi Hoàng đế xứ Ethiopie.
Đó là bậc thủy tổ của Triều đại Négus của Đế quốc Ethiopie, hiện nay đang phát triển văn minh ở trung tâm Phi Châu. Một triều đại vẻ vang oanh liệt, liên tục hơn 3.000 năm lịch sử, khai nguyên do một mối tình vô cùng cảm động của một nàng Juliette Đông Phương.
Đăng nhập để trả lời
0