Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

dacky - duong qui phi

4 trả lời, 33 lượt xem — Trang 1 / 1
9 - Đắt kỷ
Thế kỷ XII trước J.C vào khoảng những năm 1166 đến 1134, nghĩa là cách đây trên 3090 năm, bên Tàu có Thọ - Tân Hoàng đế là ông Vua cuối cùng của nhà Thương, trong Sử thường gọi là Vua Trụ. Ông là người rất thông minh, lại có tài hùng biện. Các quan Triều – thần tâu sơ qua một việc gì là ông hiểu thấu triệt vấn đề, và hành động rất mau lẹ. Ông làm điều chi quấy, có ai can gián, ông lấy lý lẽ để bào chữa rất trôi chảy, thuyết phục được mọi người và ai cũng cho ông là có lý. Nhà vua lại có sức mạnh phi thường. Sử xưa chép rằng tay không ông vật ngã một lần 9 con trâu, bưng nổi cột nhà, làm gãy cả xà trinh.Sức mạnh của Vua Trụ không kém gì Hạng Võ, và không thua gì Hercule trong thần thoại Hy Lạp.
Nước Tàu lúc bấy giờ đã văn minh phồn thịnh. Những ông Vua cuối cùng của Triều đại nhà Thương, Võ- Ất, Thái – Đinh, Đế Ất, Thọ Tân, đều ăn chơi xa xỉ, yến tiệc linh đình, và xa hoa dâm đãng. Vua Trụ lại rất là tàn bạo, không khác gì Hoàng đế Néron của La Mã.
Và, cũng như Néron, Vua Trụ đã mất nước và bị giết chết rất thảm hại, chỉ vì một người đàn bà!
CÔ GÁI NHÀ HỌ TÔ LÀM SỤP CẢ MỘT TRIỀU ĐẠI TRUNG QUỐC
Muốn tâng công với vua Trụ, một tiểu tướng họ Tô đem đứa con gái út tên là Đắt Kỷ dâng cho Hoàng Đế. Đắt Kỷ có một nhan sắc lộng lẫy, sắc sảo, ăn đứt tất cả các phi tần cung nữ mà vua Trụ đã sai người đi tìm kiếm khắp nước đem về nuôi trong cung điện để thỏa thích dục tình.
Từ ngày có Đắt Kỷ, nhà vua chê ghét hết các cung tần, bỏ bê cả việc nước, ngày đêm chỉ say mê bên cạnh Đắt Kỷ mà thôi. Nàng khéo chiều vua, khéo tâng bốc nịnh bợ, khéo mơn trớn vuốt ve. Với đôi bàn tay ngọc, với một nụ cười, đôi khóe mắt, nàng làm cho Trụ vương như ngây như dại, cả uy quyền bạo ngược của Chúa tể đều để cho một tay nàng sai khiến.
Miệt mài trong cuộc truy hoan, đắm say tửu sắc, vua Trụ chấp nhận tất cả những gì Đắt Kỷ làm, và Đắt Kỷ có bàn định những việc chi, nhà vua cũng gật đầu cười: “Phải! Phải!”. Nàng tâu xin với vua bổ nhậm hai người anh của nàng. Tô Địch và Tô Thành làm chức quan Đại trào để thao túng mọi việc chính trị trong nước. Vua Trụ gật đầu: “Được! Được!” Tô Địch là một tay tàn bạo khét tiếng, dựa uy thế của em gái và của Vua mà làm biết bao nhiêu chuyện hà lạm trong nước và khắc khổ nhân dân. Người ta đã đặt cho y biệt hiệu là Ác Lai.
Đắt Kỷ thấy vua Trụ thích chuyện dâm dục, bèn truyền lịnh cho nhạc sư tên là QUyên đặt ra một bản nhạc dâm ô. Theo Sử Tàu, thì bản nhạc này trồi lên là ai nghe cũng phải nảy lòng dâm dật. Nhưng Đắt Kỷ vẫn chưa bằng lòng, còn muốn thấy một điệu múa làm cho xúc động cả tâm thần vua Trụ, và bày ra vũ khúc “Bắc Lý”.
Nghe lời Đắt Kỷ, vua Trụ cho xây “lộc đài” rộng ba dặm, cao một ngàn thước, bắt dân đóng thuế thật nặng, để bỏ tiền vào đấy cho đầy kho. Lại cắt kho “Cự kiêu” rất lớn để chứa đầy thóc lúa.
Vua lập ra “Khuyển đài” ở chốn Sa-Khưu để nuôi hàng trăm nghìn chó, ngựa, cọp, beo, khỉ, để cho Đắt Kỷ săn bán, dựng hí trường để nhân dân ca hát cho Đắt Kỷ nghe. Nàng băt sđào một cái ao rộng 25 dặm để chứa rượu, rồi mỗi lần bảo 300 người chu mỏ hụp xuống ao uống như trâu ngựa để nàng xem. Nàng bắt trai gái cởi truồng múa hát suốt đêm trong vườn Thượng uyển trong lúc nhạc công thổi nhạc dâm ô, và Vua Trụ ngồi trên lầu uống rượu với nàng, nhìn xuống cười cho thỏa thích.
Kẻ phạm tội bất tuân lệnh của nàng, thì bị trói tay dẫn đến trước mặt đông đủ bá quan. Vua Trụ nghe theo lời Đắt Kỷ, sai lính chất một đống củi to lớn, đốt cho cháy đỏ phừng, bắt ngang trên lửa một cây cầu bằng đồng bôi mỡ, rồi khiến tội nhân phải leo lên đi trên cầu. Bị cháy nóng và mỡ trơn, tội nhân phỏng chân té nhào xuống lửa, thì Đắt Kỷ khoái chí cười ngất. Vua Trụ cũng cười sặc sụa, khiến các quan triều thần ai cũng phải cười để được lòng Vua và Hoàng hậu.
Theo Sử Tàu chép lại, thì Vua Trụ nghe lời nàng Đắt Kỷ mà giết người cho đến đỗi say máu và ăn cả thịt người nữa. Một vị chư hầu, tên là Cừu đem con gái đẹp đến dâng Vua Trụ. Đắt Kỷ ghen, bảo Vua Trụ giết đi và giết cả Cừu hầu, lấy thịt làm mắm.Ngạc hầu đem lời can gián, vua Trụ bắt giết luôn Ngạc hầu, lấy thịt làm nem.
Cổ Công Đản (tức là Chu Văn Vương) là bậc hiền triết, có đạo đức, từ tâm, làm chức Tây bÁ bị vua Trụ bắt bỏ tù ở Dữu Lý. Người con trai trưởng của Văn Vương là Bá Ấp Khảo đến thăm cha, bị vua Trị giết làm thịt nấu canh, và đem canh đãi Văn Vương. Văn Vương không biết , cứ ăn. Vua Trụ liền nói: “Ta nghe Tây Bá là bực Thánh nhân mà nay ăn thịt của con thì đâu phải là Thánh nhân cả!” Đắt Kỷ thích chí cười rầm lên.
Chính sách và hành động của Vua Trụ và của nàng Đắt Kỷ khiến cho những người can trực trong Triều đình phẩn uất. Dân chúng muốn nổi loạn. Hai phần ba thiên hạ theo nhà Chu. Ba vị đại thần là Vi Tử, Cơ Tử và Tỷ Can liền khuyên răn Vua, nhưng Vua không nghe. Tỷ Can là chú ruột của Vua, rất oán ghét Đắt Kỷ. Đắt Kỷ quyết trả thù cho hả giận. Một hôm, Đắt Kỷ bị đau bụng (nàng có chứng bịnh đau bụng kinh niên). Nàng nói với vua Trụ:
-         Thầy thuốc bảo rằng bịnh của thiếp chỉ có lấy trai tim của Tỷ Can sắc thuốc uống là khỏi hẳn, vì Tỷ Can là bậc Thánh nhân, mà trái tim của Thánh nhân có bảy lỗ, khác với người phàm.
Vua Trụ nghe theo lời của Đắt Kỷ, truyền đòi Tỷ Can đến để mổ bụng lấy trái tim làm thuốc cho nàng uống.
Trueyefn ký huyễn hoặc lại kể thêm rằng trước khi Tỷ Can ra đi, thầy của Tỷ Can có tu phép Tiên cho Tỷ Can một lá bùa và dặn Tỷ Can: chừng nào họ mổ lấy trái tim xong, Tỷ Can đắp cái bùa lên chỗ mổ và lúc ra về ai hỏi gì cũng đừng nói, thì khỏi chết. Tỷ Can đến, Đắt Kỷ truyền lịnh mổ bụng lấy trái tim xong rồi, ông đắp lá bùa lên vết mổ và thản nhiên ra về. Giữa đường, Tỷ Can gặp muộn cô gái bưng thúng rau muống (Theo truyền ký thì Đắt Kỷ vốn là loài Hồ ly tinh hóa ra người con gái ấy) chặn đường Tỷ Can, hỏi: “Ông có mua rau vô tâm không?” Cọng rau muống không có ruột, nên gọi là “rau vô tâm”, và có ý ngạo Tỷ Can đã bị mổ tim rồi, trong ruột trống rỗng như cọng rau muống. Tỷ Can làm thinh, nhất định không nói một lời, theo lời dặn của thầy. Nhưng cô gái bán rau muống cứ đi theo hỏi mãi, Tỷ Can tức giận không thể làm thinh được nữa, mắng một câu thì tự nhiên ông ngã gục xuống chết liền.
Chính sách tàn bạo và khốc liệt của Vua Trụ vì nghe theo Đắt Kỷ, đã gây ra oán giận khắp dân gian. Giặc dậy nơi nơi, các nước chư hầu đua nhau khởi nghĩa. Con trai của Văn Vương là Cơ Phát, làm chức Tây Bá, (sau lên ngôi là Chu Võ Vương), hội 100 nước chư hầu tại bên Mạnh Tân, tuyên bố tội trạng của vua TRụ và Đắt Kỷ, cử Lã Vọng làm nguyên soái, kéo quân đi trừ diệt kẻ hôn quân. Hai ông Bá Di, Thúc Tề gõ cương ngựa lại can, Võ Vương không nghe và quyết tiến binh.
Vua Trụ thua chạy vào Lộc đài, rồi bận áo đeo đầy những ngọc ngà châu báu, nhảy vào lửa chết. Võ Vương chiến thắng cầm cây Đại Bạch Kỷ vào thẳng thành tới chỗ vua Trụ chết, chỉ còn cái xác cháy. Ngài lấy gươm vàng chém đầu Trụ, treo lên chót cây cờ trắng và giết luôn Đắt Kỷ.
Thế là Triều đại nhà Thương bền được 661 năm, đến đời vua Trụ, chỉ vì say mê một con ác phụ mà bị sụp đổ thảm hại, trong máu và trong lửa.
Đến nay đã trên 3000 năm, cái tên gớm giếc của Đắt Kỷ trong Lịch sử Trung Hoa vẫn còn người ta nhắc tới, cũng như Popée, cũng như Agrippine của thời Néron ở La Mã, để làm gương cho những đàn bà hậu thế.
 
 
 
10 – DƯƠNG QUÝ PHI
Vua Đường Huyền Tôn, cũng gọi là Đường Minh Hoàng (người Tàu và người Âu châu gọi là T’ang Hiuan Tsong, 713-756 sau J.C) ngồi trước lầu Trầm Hương thấy mấy khóm hoa mẫu đơn lấy giống từ Giang Nam về trồng trong vườn Nam Uyển có bốn màu, đỏ thẩm, đỏ tươi, hồng, trắng, đều nở hết một lượt đẹp quá. Vua liền cho mời Dương Quý Phi (Tàu và người Âu châu gọi là Yang Kouei Pei), và mở tiệc vui mừng để cùng người yêu uống rượu xem hoa. Ban nhạc của Vua trổi khúc du dương để chầu vua và Quý Phi. Nhưng Huyền Tôn bảo: “Thưởng hoa mẫu đơn mà nghe nhạc của các người thì nhàm tai của Quý Phi. Hãy lập tức đi triệu quan Hàn Lâm Lý Thái Bạch đến đây làm thơ để ngâm cho Quý Phi của ta nghe! Mau lên! Nhạc trưởng Quý Niên cùng mấy người lính hầu vội vàng chạy đến nhà thi sĩ Lý Bạch, nhưng không có ông ở nhà. Đi tìm khắp kinh đô Tràng An, có người bảo thấy quan Hàn lâm đang ngồi trong một tiệm rượu. Quý Niên chạy tới nơi thì thi sĩ họ Lý say li bì, đang nằm ngủ trong quán. Mấy người lay gọi mãi ông không dậy. Không biết làm sao, vì Vua bảo đi gọi Lý Bạch đến thì làm thế nào cũng phải đưa Lý Bạch vào chầu Vua, nếu không thì có tội, hai người lính phải khiêng ông lên lưng ngựa và quất ngựa chạy về lầu Trầm Hương. Vua bảo đặt Lý Bạch nằm trên chiếc hoa ngay trước thềm, nơi Vua và Dương Quý Phi đang ngồi uống rượu. Thi sĩ họ Lý vẫn ngủ như chết, ngáy khò khò, sặc mùi rượu. Quý Phi tâu: “Thần thiếp nghe người ta nói rằng lấy nước lạnh đắp lên mặt người say rượu là tỉnh ngay”. Vua Huyền Tôn liền truyền cung nữ làm theo lời của Quý Phi. Một lát, Lý Bạch tỉnh rượu, lóp ngóp ngồi dậy. Trông thấy vua, ông quỳ xuống tâu. “ Kẻ hạ thần thật đáng tội, cúi xin Bệ hạ rộng lượng dung tha”. Vua bảo: “Hôm nay Trẫm cùng Quý Phi ngắm hoa mẫu đơn, vậy khanh làm bài thơ để phổ nhạc cho Quý Phi nghe”. Lý Bạch cầm bút thảo luôn một hơi ba bài thơ, chữ đẹp như rồng bay, phượng múa, đề là “Thanh Bình tam chương” dâng lên vua ngự lãm. Vua đưa Quý Phi ngâm:
I
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.
Nhược phi Quần ngọc sơn đầu kiến.
Hội hướng diêu đài nguyện hạ phùng.
II
Nhất chi nùng diệm lộ ngưng hương,
Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường.
Tá vấn Hán cung thùy đắc tự,
Khả liên phi yến ỷ tân trang.
III
Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan.
Thường đắc quân vương đới tiêu khan.
Giải thích xuân phong vô hạn hận.
Trầm hương đình bắc ỷ lan can.
Xin tạm dịch:
I
Áo tợ làn mây, mặt tợ hoa,
Ngoài hiên gió thoảng giọt sương sa.
Phải người đã hiện nơi Quần ngọc.
Hay khách Diên đài bóng nguyệt nga!
II
Sương đượm cành tươi bát ngát thơm,
Ngẫm ngùi thần nữ chốn Vu sơn!
Xót xa Phi yến trong cung Hán.
Thử hỏi bằng ai chút phấn son?
III
Hương trời sắc nước khéo hòa hai,
Cười mím, quân vương ngắm nghía hoài.
Đừng dựa hiên Trần hình dáng ngọc,
Gió xuân tiêu tán hận trần ai!
Dương Quý Phi và vua Huyền Tôn cùng nhau khen ngợi thi tài của quan Hàn Lâm Lý Bạch và vua truyền lệnh cho ban nhạc phổ nhạc ngay cả ba bài Thanh Bình để Quý Phi nghe. Quý Phi phục tài của Lý Bạch, liền rót một ly rượu bồ đào đưa tận tay tặng thưởng thi nhân.
Nhưng Quý Phi là ai, mà được vị Đại Hoàng đế của nhà Đường sủng ái, chiều chuộng đến như thế? Nàng đẹp như thế nào đến đỗi một bậc Thi Bá nổi danh khắp thiên hạ cũng phải tuân lịnh Vua, mà làm thơ ca ngợi nàng?
Chúng tôi hãy tìm xem lý lịch của kẻ giai nhân lừng lẫy tiếng tăm này và ảnh hưởng cùa nàng đối với vua Huyền Tôn và cả Triều đại nhà Đường tai hại như thế nào.
--&--
Nụ cười hoa nở hơn xưa
Sáu cung son phấn đều thua mặt nàng…
Bạch cư dị
(Thi sĩ đời Đường)
Có một sự kiện không tốt tý nào mà vài quyển sách Sử của Tàu không nói đến hoặc nói sai lạc rằng Dương Quý Phi đang ở nhà với chú ruột, và mặc áo đạo sĩ, thì được tiến cử vào làm cung phi, gần một năm sau nhà Vua mới tôn lên ngôi Hoàng Hậu. Sự thật thì Dương Quý Phi, tên thật là Thái Châu, đã là vợ của Thọ Mạo Vương, một trong những Hoàng tử con của Vua.
Thái Châu ở với Thọ Mạo Vương gần được một năm, rồi vua Huyền Tôn trông thấy nàng đẹp quá, mới cướp nàng dâu về làm Cung phi, và đày Thọ Mạo Vương đi xa.
Cha nàng là Dương Huyền Diệm, làm một chức quan nhỏ ở Thục châu. Nàng mồ côi từ thuơ còn bé, ở làm con nuôi cho người chú là Dương Huyền Kiều cũng làm quan ở Hà Nam. Nhờ sắc đẹp và trí óc thông minh, nàng có học khá, biết làm thơ, đánh đàn, nàng được Thọ Mạo Vương, con của Vua Đường Huyền Tôn cưới về làm vợ. Lúc bấy giờ Vua Huyền Tôn đang yêu chuộng nhất là nàng Võ Huệ Phi. Vì nàng mà vua truất phế Hoàng Hậu, để đưa nàng lên thay thế. Đến năm thứ 24, Huệ Phi chết, nhà vua thương tiếc vô cùng, trong đó trên 3000 cung phi chẳng có cô nào được lọt vào long nhãn cả. Một hôm vừa
 
thiếu trang 129 - 144
 
 
Chàng đi rảo một vòng để xem cảnh tượng kinh hoàng bi thảm ấy.
Bỗng dung, chàng nhìn thấy Dương Quý Phi, vội vàng cúi xuống ôm lấy người ngọc. Chàng kêu lên:
-         Dương Quý Phi!.. Dương Quý Phi!... Dương Quý Phi!...
Xác giai nhân đã lạnh ngắt như băng giá. Nhưng khi An Lộc Sơn kề mũi trên đôi má của nàng còn hơi ưng ửng một chút màu hồng, chàng còn nghe một hơi thở yếu ớt. Chàng vui mừng gọi to lên:
-         Dương Quý Phi!.. Dương Quý Phi!... Dương Quý Phi!...
Người ngọc còn hé mắt được một chút xíu, đôi mắt đã đục ngầu, rồi nhắm riết lại. Nàng đã hoàn toàn tắt thở.
An Lộc Sơn ôm xác chết của Dương Quý Phi, khóc nức nở…
Theo dương lịch, hôm đó là ngày 18 tháng 7 năm 756. Chiếu theo sử Việt Nam ta thì vào khoảng 30 năm sau vua Mai Hắc Đế, dưới thời Bắc thuộc thứ ba, “An Nam đô hộ phủ”.
--&--
Vua Huyền Tôn di cư sang đất Thục, sau đó con Vua là Tức Tôn khôi phục lại được sơn hà. An Lộc Sơn bị con là Khánh Tự giết, một bộ tướng là Sử tử Minh lại giết Khánh Tự mà quy hàng nhà Đường.
Vua Đường Huyền Tôn trở về Kinh đô cũ, Tràng An. Nhớ Dương Quý Phi quá, ngày đêm không ăn không ngủ được, nhà Vua bèn sai họa sĩ vẽ lại hình Dương Quý Phi để treo trong cung điện. Sớm, tối, nhà Vua chỉ ngồi nhìn hình người yêu mà khóc sướt mướt, không còn gì an ủi được nữa mối hận nghìn thu ấy.
Thi sĩ Bạch cư Dị, đời Đường, có làm bài “Trường Hận Ca” thương xót cuộc tình duyên đau đớn của Đường Huyền Tôn, và có lẽ của cả An Lộc Sơn:
Thiên trường, địa cửu, hữu thời tận,
Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ!
………………
(Trời tan, đất vỡ có ngày.
Muôn đời, muôn kiếp, hận này, khôn nguôi!)
 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.11.2017 22:14:09 bởi Ct.Ly>
30 – MARIE CURIE
 
NHÀ NỮ BÁC HỌC ĐÃ KHÁM PHÁ RA CHẤT RADIUM
(Thán mến tặng riêng các bạn Nữ sinh viên trường Đại-Học Khoa-Học. Sài-gòn đã yêu cầu tôi viết bài này.)

N.V
--&-
 CÔ NỮ SINH NGHÈO
MÙA thu năm 1891, các cậu sinh viên Đại học đường Sorbonne hay thầm thì chỉ chỏ một cô nữ sinh trẻ và đẹp, màu tóc ánh vàng, ở trong lớp ra, sau giờ Vật lý-học.
- Con bé nào đấy nhỉ?
- Một nữ sinh viên ngoại quốc. Cái tên khó đọc bỏ xừ... Nhưng luôn luôn đứng đầu lớp.
- Tên gì?
- Marya Sklodovrska.
Nam sinh viên khác, cũng như sinh viên có các quốc tịch khác, ở Đại học đường Sorboone chì “ngán”  cô gái ngoại quốc nào đấy, thế thôi. Chứ cô ta cũng chưa có thành tích gì để cho các cậu Cử nhân Khoa học tương lai phải đặc biệt chú ý đến. Ở một trường Đại học rạng danh cả thế giới như trường Sorbonne, muốn cho thiên hạ đặc biệt lưu ý tới thì ít nhất cũng phải có một thiên tài gì xuất chúng mới được.
     Cô Marya Sklodowska trông người thì đẹp thướt tha, duyên dáng, tuy không bao giờ “làm dáng” như các cô nữ sinh khác, nhưng có vẽ nhút nhát, ít giao thiệp với ai, ít ưa trò chuyện vớ vẩn. Đến giờ học, cô có mặt tại trường, rồi mãn lớp là cô về thẳng nhà, không khi nào đi chơi lang thang ngoài phố. Năm ấy cô 24 tuổi, một số nam sinh viên, học kém cô và ganh ghét cô, bảo cô là “làm phách” muốn “lập dị”, muốn làm ra vẻ “ta đây”. Nhưng cô không trả lời, chỉ chăm học, học mãi.
Một cô bạn gái người Pháp, quen thân với Marya, và học cùng lớp, méc lại cho tụi sinh viên con trai biết rõ lai lịch và đời sống cha Marya như sau dây:
“Marya Sklodowska (trong gia đình thường gọi là Mania) là người quê quán ở Polonia (Ba Lan), sinh ngày 7-11-1867. Gia đình cô nghèo, tuy ông than sinh làm giáo sư Vật lý và Toán tại một trường Trung học ở Polonia, mẹ làm giáo viên Tiểu học. Cô có một người anh và ba người chị. Cô là em út. Ông thân sinh học thông cả tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Nga. Nhờ vậy mà cô Marya cũng được cha chỉ bảo cho nhiều về văn hóa các nước ấy, và cô cũng có học thêm Pháp và Anh ngữ.
Năm 1883, cô 16 tuổi, đỗ tú tài Toán học và được thưởng một chiếc mề đay vàng và cô đổ đầu.
Nhưng mẹ cô chết sớm, cô phải nghỉ học. Cô về quê nghỉ một năm, và nhất định quên hết các môn học ở nhà trường. Cô viết thư cho các bạn, có câu sau đây:
 “Tôi quên hẳn hình học và đại số học, cho đến đỗi tôi không thể tưởng tượng rằng trong trường có dạy hai môn đó!”
Cô nghỉ dưỡng sức được một năm, thì ông thân sinh của cô đến hạn hưu trí. Tiền lương hưu trí không đủ nuôi gia đình, người con trai Josef, và ba cô con gái Bronia, Hela và Marya đều phải đi kiếm việc làm.
Marya đi dạy tư. Nhưng trong trí óc cô vẫn nuôi một lý tưởng. Cô vẫn đeo đuổi một mục đích khoa học.
16 tuổi, mới thi đổ tú tài, cô đã bảo: “Chỉ có khoa học là tiến bộ!”. Cô không theo đạo Thiên chúa, cô cho rằng những hiện tượng cụ thể và những sự kiện thực tế là quan trọng mà thôi. Thân sinh của cô, ông giáo sư vật lý học, gây ảnh hưởng cho cô rất sâu đậm trong khi giảng giải cho cô về những phát minh khoa học của Louis Pasteur, của Claude Bernard và triết học duy lý (Philosophie rationnelle) của Darwin. 18 tuổi, cô dạy tư tại nhà một ông luật sư ở Varsovie, một ông già trên 60 tuổi, góa vợ, mà có 6 cô con gái, và nuôi trong nhà những 5 đứa đầy tớ gái không làm gì cả, chỉ ăn rồi giỡn chơi với ông. Ông luật sư già lại muốn tằng tịu với cô giáo mới tới. Cô liền bỏ chỗ dạy tư lộn xộn này, đi tìm chỗ khác Một ông chủ đồn điền mời cô về dạy cho con ông ở một trại chăn nuôi miền thôn quê. Cô thích nơi này lắm, và tránh xa thành phố, được tỉnh mịch để cô học thêm. Con gái lớn của ông chủ, tên là Bronko, 18tuổi, thương cô lắm và mở rộng lớp học để cho cô dạy thêm học trò trong làng. Ba tháng sau, lớp học của cô có được 18 học sinh. Cô dạy mỗi ngày 2 giờ, thứ Tư và thứ Bảy 5 giờ. Cô quyết dạy cho được nhiều tiền, để dànd tiền sau này đi học thi cử nhân. Dạy bận rộn như thế, cô Marya vẫn còn thì giờ để học. Trong thời gian này, cô nghiền ngẫm ba quyển sách, Vật lý học cao đẵng của Daniell, xã hội học của Spencer (bằng Pháp văn) và Giải phẫu học và Sinh vật học của Bert (bằng tiếng Nga). Cô đang dạy học vui vẻ, yên tĩnh và chăm chỉ nghiên cứu các sách trên kia, thì đến mùa Hè, người con trai lớn của ông chủ, học ở thủ đô, về nhà nghỉ hè. Chàng cùng lứa với cô, 19 tuổi, thấy cô đẹp và học giỏi, đâm ra mê cô và muốn cưới cô làm vợ. Nhưng ông thân sinh của chàng không bằng lòng, bảo: “Con nhà giàu không lấy vợ nghèo.”
  Cô giáo dạy tư, lặng lẽ xách va li ra đi. Cô trở về ở với cha già. Ông cụ vừa xin được một chỗ làm; giám đốc viện Cải Huấn Thiếu nhi, được món tiền lương khá. Nhờ đó, cô Marya Sklodowska được ở nhà lo việc gia đình cho cha, khỏi phải đi kiếm việc làm ở ngoài. Cô ở nhà mãi đến năm 1891, cô 24 tuổi, dành dụm được số tiền nho nhỏ, xin cha cho sang Paris để tiếp tục học nữa. Cô mua vé xe lửa hạng tư, sang Pháp một mình với một chiếc vali nhỏ đựng y phục và ba vali sách vở. Đến kinh đô nước Pháp, cô liền tới Trường Đại học Sorbonne, ghi tên vào ban Toán Lý Hóa.
Mỗi tháng ông cụ chỉ gởi cho 40 đồng rúp, nghĩa là 90 đồng francs, để cô tảa nào là tiền phòng tiền trọ, tiền ăn, tiền mua sách vở, nào là tiền đóng học phí ở Đại học, giữa Kinh đô Paris.
            Vì vậy, cô Marya phải hết sức tiện tặn. Trong quyển sổ nhật ký của cô, cô đã chép chương trình hoạt động của cô như sau đây: “Không đi chơi - không đi xem hát - không đi dự các cuộc vui của bạn bè”.
          Cô chỉ học và nghiên cứu các sách Khoa học của Pháp. Mùa đông, trời lạnh thấu xương, cô không có than để đốt lò sưởi. Đôi khi có than thì cô lại đãng trí, quên đốt lò sưởi, vì đang chăm chỉ ngồi bàn viết những công thức đại số và những phương trình. 
       Năm 1893, cô 26 tuổi, đỗ cử nhân Vật lý học và đổ thủ khoa. Năm sau, 1894, cô lại đổ cử nhân Toán, cũng chiếm giải thủ khoa luôn! Sinh viên Đại học Sorbonne lại càng “ngán” cô thiếu nữ Polonia.

       Bây giờ ông cụ chưa gởi tiền sang kịp, cô Tú Marya chỉ còn vài đồng francs trong túi, đành ăn bánh mì trét bơ và uống nước trà cho đỡ đói, suốt ba tuần lễ như thế, trước ngày thi.
Thi đậu xong rồi cô mới nhận được tiền của cha, trừ các món tiền nhà, tiền than, tiền sách, tiền giặt ủi, còn lại vừa đủ cho cò ăn một bữa tiệc mừng đặc biệt, gồm có vỏn vẹn: 2 quả trứng gà, 1 bánh chocolat và 1 trái táo.
 
 LẤY CHỒNG: ÔNG GIÁO SƯ CỦA CÔ
Trong nhật ký của cô nữ sinh viên Marya sklodowska cô ghi hai câu rất lý thú: “Nhất định không yêu ai. Nhất định không lấy chồng”.
      Cô nói thật đấy.Nhưng cô nói thật trong lúc cô chưa gặp sự thật đó thôi. Sự thật hiển hiện ra dưới hình dạng một ông giáo sư dạy trường đại học Sorbonne- ông giáo sư của cô  tên là Pierre Curie. Ông này là một bậc kỳ tài của Khoa học, tuy chưa có tiếng tăm gì bao nhiêu. Ông sinh ngày 15-5.1859. Hồi ông 55 tuổi ông đã viết vài quyển sách nghiên cứu về Khoa học, và suốt ngày ông vẫn cặm cụi thí nghiệm các loại tinh thể (cristaux). Người đẫy đà, vầng trán cao, râu quai nón. Nét mặt, tuy vậy, vẫn là hiền lành đôi mắt mơ màng, nhìn suốt vào sự vật chung quanh.
    35 tuổi, ông chưa có vợ. Ông gặp cô thủ khoa Marya Sklodowska tại nhà giáo sư Kowalski, người cùng quê hương với cô. Ông khen cô, cô cảm ơn, rồi hai người nói chuyện với nhau say mê về vật lý học… Ông muốn đến thăm cô tại nhà riêng của cô. Cô mời anh đến căn phòng cô ở trọ. Căn phòng một cô nữ sinh viên nghèo, chẳng có gì cả ngoài các đống sách to tướng, đầy cả phòng, và các chai lớn, chai bé, đựng các chất hóa học của một nhà thí nghiệm. Ông bảo: “Cô có đầy đủ khả năng của một bậc Vĩ Nhân”.
      Sự giao thiệp mỗi ngày mỗi thân mật, từ tình Thầy Trò biến ra tình Bạn, rồi từ tình Bạn biến ra tình Yêu...Một năm sau. Ngày 26 tháng 7 năm 1895 ông giáo sư Vật lý học Pierre Curie, 36 tuổi, làm lễ thành hôn với cô Cử nhân vật lý học Marya Sklodowska, 28 tuổi. Từ đây, cô Marya thành ra bà Marie Curie.
 TUẦN TRĂNG MẬT CỦA CẶP VỢ CHỒNG NHÀ BÁC HỌC
 
 Không hiểu tại sao, ở xã hội nào cũng vậv, và ở thời đại nào cũng vậy, trừ những trường hợp đặc biệt, hầu hết những người được trời phó thác cho đôi chút tài hoa đều phải chịu cảnh nghèo nàn, thiếu hụt về vật chất trong một thời gian khá lâu.
 
Ông giáo sư Vật lý học Pierre Curie cưới cô thủ khoa Marya Sklodowska xong rồi, trong túi cả hai người không còn một đồng xu. Nhờ các món quà cưới khá đắt tiền do các bạn hữu tặng mừng, hai vợ chồng đem bán lấy tiền mua được hai chiếc xe máy (xe đạp) để đi du lịch hưởng tuần trăng mật. Với hai chiếc xe đạp kiểu 1895, đôi tân hôn đã bắt đầu có danh tiếng mà đâu được diễm phúc đi du lịch vòng quanh thế giới! Hay là sang Venise, Florence, Naples, Barcelone Genève! Cặp tình nhân của Khoa học chỉ khom lưng đạp xe máy đi dạo chơi từ sáng tới tối trên các nẻo đường xa châu thành Paris. Người ta thường gặp hai người âu yếm ngồi ăn bữa cơm trưa dưới bóng mát thanh tịnh của một cây cao trên bãi cỏ, nơi đòng quê. Họ ăn những gì? -Vài ổ bánh mì với một hộp fromage, vài trái cam, vài trái táo (pomme). Tối đến, người ta thường thấy đôi vợ chồng (chàng 36, nàng 28) thuê một quán trọ nghèo nàn ở dọc đường, để ấp ủ tình yêu say đắm. Không ai ngờ rằng vợ chồng tài hoa sắp trở nên hai bậc vĩ nhân của thế giới, hai nhà Đại Bác học của Thế kỷ Hai mươi, đã tạo được hạnh phúc yêu đương của họ với vài đồng francs giá thuê phòng ngủ mỗi đêm, và hai chiếc xe đạp cùi, đạp mỗi ngày lang thang trong nắng, gió...
Đi “du lịch hôn thú” được một tuần lễ hoàn toàn thơ mộng rồi hai vợ chồng trở về Paris thuê một căn nhà chật hẹp, có 3 phòng, ở số 24 đường La Glacière, giữa một khu vườn có cây cao, bóng mát. Căn nhà nghèo nàn, thiếu cả tiện nghi, nhưng hai vợ chồng định dùng nó làm một cái ổ của Khoa học. Chỉ có một tủ sách lớn có hàng nghìn quyển, và một cái bàn bằng gỗ trắng để làm việc, một chiếc ghế của chồng, một chiếc ghế của vợ. Trên bàn một đống sách vật lý-học, một cái đèn dầu lửa, một bình hoa. Thế thôi! Không có phòng khách. Không có chiếc ghế thứ ba cho khách ngồi. Mỗi buổi sáng cô vợ Marie Curie đốt lò lửa, đặt cái soong lên bếp nấu thịt, rồi khóa cửa đi với chồng đến trường Đại-học Khoa-học, nơi đây ông dạy học, bà thì làm việc tại phòng thí nghiệm của Học đường. Trong một tiếng đồng hồ rồi bà đạp xe máy chạy về nhà thì soong thịt cũng vừa chín... Bà bắc soong lên nấu một món khác, bỏ đấy cho nó chín để lên phòng làm việc, nghiên cứu các sách khoa học.
           Đời sống hàng ngày của cặp vợ chồng Pierre và Marie Curie trong năm đầu sống chung với nhau là như thế.
 
 ĐỨA CON GÁI ĐẺ THIẾU THÁNG: NỮ BÁC HỌC TƯƠNG LAI, NOBEL 1935
       Năm 1897, hơn 1 năm sau, bà Marie Curie có thai. Có thai đã được tám tháng, mà hai vợ chồng cao hứng hay đó là cái điên khùng của nhà bác học rủ nhau đạp xe máy đi chơi đến hải cảng Brest, cách Paris trên 660 ki lô mét! Bá quả quyết rằng đi như thế thì bà khỏe lắm, chẳng biết mệt tý nào. Ông chồng cũng ngây thơ (cái ngây thơ của các bậc thiên tài) tưởng đâu vợ mình là con gái của ông Trời, khác hơn người thường. Nhưng đi được nửa đường, bà thấy trong mình khó chịu, hai vợ chồng lại đạp xe máy quay về đến Paris ngày 12.9-1897- Ngay hôm ấy bà đau bụng rồi sinh ra một đứa con đứa con gái, đặt tên là Irène Curie, một em bé rất đẹp. Tuy bà đẻ thiếu tháng, nhưng không ngờ Irène cũns là một bậc thiên tài! Irène về sau cũng trở thành một nhà nữ bác học lừng danh thế giới như mẹ, và cũng được giải thưởng quốc tế Nobel về Hóa học, năm 1935.
 
         Phần thì chăm chỉ tìm tòi về Vật lý học, phần thì lo việc nhà cửa, bếp núc, bây giờ lại sinh ra đứa con gái đầu lòng, bà Marie Curie vẫn một mình đảm đương hết mọi việc, đầy đủ bổn phận và tình yêu vài chồng với con.
          Chính bà và chồng bà cũng không ngờ rằng trong căn nhà chật hẹp, và trong căn phòng thí nghiệm bé nhỏ của bà. giữa bao nhiêu là công việc nội trợ bê bối như thế, mà bà đã nhẫn nại bền chí, đi đến được một phát minh mới lạ và quan trọng nhất của Khoa học hiện đại! Nhà bác học Buffon nói: “Thiên tài là kết cấu của một sự bền chí lâu dài”, thật là đúng vậy!
 
KHÁM PHÁ RA CHẤT RADIUM
 
Lấy chồng được 2 năm, và sinh cong cô bé Irène, thì bà Marie Curie đã có cấp bằng Cử nhân Toán và Vật lý học, và một giải thưởng của Hàn Lâm Viện Khoa Học nhờ một phát minh về các tính chất từ lực của thép trụng (Propriétés magnétiques de 1’acier trempé.)
       Bà vừa nuôi con, nào là tắm rửa con trong chậu giặt đồ, thay tã cho con, cho con bú, vừa lo ngày hai bữa ăn cho hai vợ chồng (ông đi dạy học suốt ngày) bà vẫn có thì giờ ngồi yên tĩnh trong thư viện và phòng thí nghiệm của bà, để soạn đề tài Luận án Tiến sĩ.
  Tình cờ bà đọc bài luận án của nhà Vật lý học Henri Becquerel vừa mới đậu tiến sĩ hồi năm trước. Sauk hi nhà bác học Đức, Roentgen (giải Nobel) Vật lý học 1901) đã khám phá được Quang tuyến X, nhà bác học Henri Poincaré có ý nghĩ thử tìm xem các vật có huỳnh quang (fluotrscents) có  phát tiết ra tia sáng giống như quang tuyến không. Henri Becquerel cũng nghiên cứu về đề tài ấy, và đã phát ra một hiện tượng mới lạ: những chất muối của một loại “kim khí hiếm có”, gọi là Uranium, tự nhiên ít tiết ra những quang tuyến có tính chất khác thường mà từ trước chưa có nhà bác học nào biết đến. Nếu ở trong phòng tối, đặt dưới quang tuyến của Uranium một tấm kiếng ảnh (plaque photoraphique ) bọc giấy ảnh ở ngoài, thì quang tuyến kia sẽ xuyên qua giấy ảnh làm cho giấy ảnh mờ đi, và ấn vào tấm kiếng ảnh làm cho tấm kiếng hóa đen. Henri Becquerel chỉ thí nghiệm và trình bầy hiện tượng quang tuyến Uranium như trên, mà không hiểu nguyên nhân vì sao quang tuyến Uranium lại ăn vào tấm kiếng ảnh.
       Bà Marie Curie và chồng bà suy nghĩ rất nhiều về hiện tượng trên kia. Hai vợ chồng bàn luận với nhau mãi, và thí nghiệm trên đủ các chất hóa học để tìm cho ra nguồn gốc điện lực của quang tuyến Uranium. Ông vẫn đi dạy học, chỉ buổi tối mới rảnh rang đôi chút để hợp tác với bà trong việc nghiên cứu. Bà thì rất nhẫn nại, thí nghiệm, tìm tòi trên tất cả các chất hoá học và bà khám phá ra một chất mới, bà gọi là THORIUM, cũng phát tiết ra quang tuyến như Uranium. Trong lúc ba còn tìm nguyên nhân vật lý học của sự phát tiết quang tuyến bà đặt cho nó một danh từ mới: phóng xạ (radio activité) Ấy là danh từ mà tất cả các nhà bác học ngày nay đều dùng, và đã mở màn cho một trạng thái mới nhất của Khoa học: tính chất phóng xạ của một số kim khí.
         Thí nghiệm mãi, bà Marie Curie lại nhận xét một hiện tượng khác, là có vài loại kim khi phóng xạ rất mạnh tuy rằng các loại này chứa đựng rất ít chất Uranium hoặc Thonium. Như thế, bà kết luận rằng quang độ phóng xạ (les degrés de radioactivité) mạnh hay yếu không phải do chất Uranium, hay Thonium trong kim khí có nhiều hay ít. Hay là có một chất phóng xạ nào khác hơn là chất Uranium chăng ?
        Theo bà phát minh ra được, thì chất mới, còn bí mật này, phóng xạ đến hai triệu lần mạnh hơn chất Uranium.
        Ngày 12-4.1898, giáo sư Lippmann trình bầy tại Hàn Lâm Viện Khoa học Pháp một kết quả đầu tiên của công tác thí nghiệm của bà Marie Curie như Sau đây:
        “Hai hợp chất của Uranium là Pechblende và Chalcolothe có tính chất phóng xạ mạnh hơn là chất Uranium”.
Tháng 7 năm 1898, bà Marie Curie báo tin đã khám phá ra được trong hợp chất pechblende, một nguyên tố mới. Bà lấy tên quê hương của bà là Polonia (Ba Lan) để đặt tên cho chất phóng xạ mới ấy, là Polonium.
          Ngày 26.12.1898, cách nhau trong khoảng mấy tháng hai ông bà Marie và Pierre Curie vui mừng trình bày tại Hàn Lâm Viện Khoa học sự hai ông bà đã phát minn ra được trong chất Pechblende, một nguyên tố hóa học thứ hai, có tính chất PHÓNG XẠ vô cùng mạnh mẽ. Hai ông bà đặt tên cho nguyên tố mới lạ ấy là RADIU.
         Sự phát sinh hai chất RADIUM và POLONIUM của Marie và Pierre Curie bỗng dưng làm đảo lộn tất cả các lý thuyết hóa học mà các nhà bác học thế giới đã tin tuởng từ bao nhiêu thế kỷ.
 
 THIÊN TÀI KHOA HỌC CỦA CÔ VỢ 29 TUỔI
       Những người tài giỏi bao giờ cũng có kẻ tiểu nhân ghen ghét, dèm pha và tìm cách phủ nhận giá trị của thiên tài. Hai vợ chồng Marie Curie không tránh khỏi định luật rất thường ấy. Trong lúc đa số các nhà bác học thế giới đang ngạc nhiên và thán phục về sự khám phá vô cùng quan trọng của bà Marie Curie và chồng bà thì có một số các nhà Hóa học vẫn chưa công nhận kết quả vĩ đại ấy. Vì họ cho rằng Marie và Pierce Curie chỉ mới thuyết trình về sự hiện hữu của chất Radium trong lý thuyết mà thôi, nhưng về thực tế chất Ridium mới lạ ấy vẫn chưa xuất hiện ra, chưa ai trông thấy nó, chưa rờ mó được nó, chưa biết nó như thế nào, trọng lực nguyên tử (poids atomique) của nó là bao nhiêu. Có vài nhà bác học lại chỉ trích bà Marie Curie là bịa đặt ra một chất hóa học không có, với những ức thuyết sai lầm, trái với những phương thức hóa học đã có từ trước tới nay. Có những kẻ ngu xuẩn còn dám cho rằng chất Radium do Marie và Pierre Curie phát minh ra trong lý thuyết chỉ là một “quái thai’’ của một cặp vợ chồng gàn, háo danh, lập dị.
 
       Pierre Curie hơi chán nản, vì ông mệt mỏi quá rồi.Nhưng  bà Marie Curie nhất định phải tìm cho có chất Radium thực tế để đưa cho người ta thấy chất Radium mới lạ mà từ xưa đến nay chưa ai biết, chưa ai nói đến, mà bây giờ, lần đầu tiên, bà Marie Curie, một nữ bác học trẻ tuổi, dám quả quyết là bà vừa khám phá được theo những thí nghiệm của bà về nguồn gốc phóng xạ của một vài loại kim khí.
     Bà tin tưởng rằng nếu bà có một số lượng kim khí pechblende khá nhiều, bà sẽ nấu ra và lọc ra được chất radium. Nhưng vợ chồng bà rất nghèo, tiền lương dạy học ở Đại học không đủ chi dụng trong gia đình (bây giờ lại phải nuôi một chị ở ), thì tiền đâu mà mua kim khí pechblende rất quý giá, để bà nấu và lọc láy chất Radium ?
           May quá, Chính phủ Autriche có một mỏ Peckblende (1) ở Saint Joachimsthal (Jachymov) trong tỉnh Bohême. Chính phủ khai thác mỏ này để lọc lấy chất Uranium và các chất muối Urane dung trong kỹ nghệ thủy tinh, còn cặn bã thì bỏ đi. Bà Marie cho rằng chính trong cặn bã Pechblende còn nguyên vẹn chất Radium mà không ai biết. Bà hỏi mua thứ bã đó. Nhờ một nhà bác học nước Autriche cổ động dùm, chình phủ Vienne bằng long biếu không cho bà Marie Curie một tạ bã Pechblende. Bà chỉ tốn tiền chuyên chở mà thôi.
      Bà Marie Curie vui mừng được có đủ nguyên liệu cần thiết nhưng bà lại lo về nỗi không có một căn phòng để nấu nguyên liệu ấy và lọc ra lấy chất Radium. Nhà bà chật chội quá. Hai vợ chồng mới yêu cầu viện Đại học Vật lý học cho ông bà mượn tạm một căn phòng bỏ không trong khu trường đại học, để dung làm nơi thí nghiệm. Ông viện trưởng bằng long. Đây là một phòng hoang vắng, trước kia trường Đại học Y khoa có lần mượn làm phòng mổ xẻ nhưng sau họ bỏ, không ai dùng đến nữa. Trong phòng dơ bẩn, có một chiếc bảng đen gãy nát vứt trong xó, vài chiếc bàn nhà bếp gãy chân, chất đống cạnh nơi cửa và mấy lò nấu bếp lâu ngày không dùng đã hư hỏng, vứt bừa bãi giữa nhà? Nền xi măng đã vỡ nát nhiều nơi. Sinh viên khoa học đồn với nhau rằng ở phòng này có ma. Họ ít muốn bén mảng tới đây làm chi, vì họ không thích làm bạn với ma. Mải nhà dột ba bốn chỗ. Bà Marie Curie phải kê lại các bàn thí nghiệm để tránh chỗ dột.
 
    Ông bà vui mừng được ông viện trưởng để cho trọn quyền sử dựng căn phòng hoang phế ấy. Lập tức bà Marie Curie cho chở về đấy một tạ bã Pechblende của chính phủ Autriche biếu bà và bà đặt ống, mua than củi các thứ vật dùng để nấu nguyên liệu quý báu kia, nguyên liệu cặn bã ai cũng coi là đồ vô dụng, vứt đi.
 
Trong nhật ký của bà, có chép mấy đoạn sau đây về cách làm việc của bà trong căn phòng thí nghiệm suốt 4 năm đằng đẵng:
      “... Chính trong cái chái dột nát và khổ cực này, chồng và tôi đã trải qua những năm sung sướng nhất trong đời sống của chúng tôi, những năm hoàn toàn hy sinh cho Khoa học. Nhiều khi tôi phải đứng suốt cả một ngày để khuấy trộn nồi kim khí sôi sùng sục bằng một cây sắt to lớn gần bằng tôi. Đến đêm, tôi mệt nhoài người, tay chân bủn rủn như muốn rụngvra cả...
      “...Chúng tôi không có tiền, không có kẻ phụ giúp, công việc thật là khó khăn, bề bộn, chỉ có hai vợ chồng cố gắng, tự đảm đương lấy hết. Chúng tôi phải sáng tạo ra từ con số không...
       “ …Có khi tôi phải nấu một lượt đến 20 kí lô nguyên liệu. Công việc ghê gớm là phải lôi kéo một thùng nguyên liệu ấy đến lò, trút nó vào chảo gang, nấu cho nó thật sôi, rồi cầm một thanh sắt dài to tướng để khuấy, khuấy mãi …”
        Cả thế giới không ai có thể tưởng tượng được sức làm việc kinh khủng của nhà nữ bác học trẻ tuổi ấy, với một trí óc thông minh vĩ đại, một ý chí cương quyết phi thường, một đức tính kiên nhẫn siêu phàm.
         Đế đỗi chồng của bà, nhà bác học Pierre Curie, cũng đã nhiều lần chán nản, lụt chí, muốn bỏ trôi công việc, đợi khi nào có đủ điều kiện thuận tiện sẽ tiếp tục thí nghiệm, nhưng bà nhất quyết đem đuổi đến cùng. Bốn năm như thế!
      Vâng, bốn năm, từ 1898 đến 1902, bà Marie Curie say mê bên lò thí nghiệm, quyết nấu mãi một tạ cặn bã pechblende của người ta vứt bỏ, để lọc lấy chất Radium kỳ lạ phi thường, mà bà đã khám phá ra trong lý thuyết, mà một số các nhà bác học khác không tin là có.
    Và bà đã thành công. Sau 45 tháng thí nghiệm, tìm tòi, bà đã lọc ra được Décigramme de Radium nguyên chất, trọng lượng nguyên tử là 224, [2]  
      Các nhà bác học thế giới đã được mục kích rõ rang kết quả vĩ đại và thực tế do bà Marie Curie đã khám phá ra. Toàn thể các nhà khoa học quốc tế đều xác nhận chất mới lạ, với trọng lượng nguyên tử 224.
 
TÍNH CHẤT PHÓNG XẠ KHÔNG NGỜ CỦA RADIUM VÀ GIẢI NOBEK 1903.
Nhiều người cho rằng chỉ có một mình bà Marie Curie đã có công lao phát minh ra chất Radium. Ông chồng bà chỉ giúp sức phần nào thôi, không quan trọng mấy. Nhưng sự thật thì ông Perrier Curie đã giúp rất nhiều vào công việc tìm kiếm của bà. Chính bà đã có ý nghĩ đầu tiên về Radium, bà đã kiên nhẫn tiến tới kỹ thuật phát minh và chất mới rất quan trọng ấy, nhưng ông cũng đã giúp bà nhiều về phần khoa học thuần túy, phần lý thuyết và các phương tiện đo lường đúng cân đúng lượng. Chất Radium đã xuất hiện được, là nhờ sự cộng tác chặt chẽ và có hiệu quả của hai ông bà Pierre cà Marie Curie.
Cặp vợ chồng bác học đã xác định những tính chất bất ngờ của Radium như sau đây :
- Radium chiếu qua một lớp giấy màu đen bọc ngoài một tấm kiếng ảh, làm cho tấm kiếng ảnh (plaque photographique) bị nám đen hết.
- Các chai bằng thủy tinh đựng Radium, bị biến ra màu tím.
- Giấy và các vật liệu bằng cellulose, đựng Radium, bị tan ra thành bụi.
- Radium chiếu ánh sáng rực rỡ trong đêm tối.
- Nhiều thể chất như kim cương, nhờ có Radium mà phát ra ánh sáng lân tinh (do đó người ta có thể phân biệt được kim cương thật và giả).
Và đây là tính chất quan trọng hơn cả, nguồn góc của nhiều sự phát minh và áp dụng ghê gớm khác về khoa học, là tính chất “truyền nhiễm” của Radium: các vật dụng, áo quần, không khí bị dính radium, đều cũng phóng xạ như nó.
 
Hy sinh cho Khoa học, chính Pierre và Marie Curie là những nạn nhân của khoa học, những vật hy sinh cho chất phóng xạ nguy hiểm của Radium ! Pierre Curie bất đầu thấy nhiều vết cháy trên da, cháy thâm xuống dưới làn da nữa. Marie Curie thì bị mấy đầu ngón tay muốn thối hết. Và cả hai bị chất phóng xạ của radium ăn vào trong máu, làm chậm sinh nở các hồng huyết cầu...
Tháng 6 năm 1903, Hàn lâm viện Hoàng gia Anh quốc mời ông bà Pierre và Marie sang diễn thuyết tại London. Các giới bác học và trí thức Anh nô nức đón mừng hai vị “cha mẹ đẻ của Radium”. Marie Curie được trọng vọng đặc biệt hơn : hàng muôn vạn cặp mắt của dân chúng thủ đô Anh kinh ngạc và ngưỡng phục trước người đàn bà bác học kỳ tài, độc nhất trên thế giới, từ cổ chí kim!
Tháng 11 năm 1903, Hàn lâm viện London tặng hai ông bà huân chương quý giá nhất: mề đay (médaille) Davy.
Kế đến ngày 10 tháng 10 năm 1903, Hàn lâm viện Khoa học ở Stockholm, của xứ Suède (Thụy Điển), tuyên bố tặng một nửa giải thưởng Nobel cho nhà bác học Becquerel, và một nửa cho hai ông bà Curie, về vụ phát minh ra tính chất phóng xạ của Radium [3].
   Nửa giải Nobel của ông bà Curie được 70.000 francs. Nhờ số tiền thưởng quốc tế này mà hai ông bà trả được nhiều món nợ, và nghỉ dạy ở viện Đại học, để ở nhà chuyên về công việc nghiên cứu.
    Danh tiếng ông bà lừng lẫy khắp thế giới … Thư từ, điện tín các nơi gởi tấp nập đến Paris, nơi căn phòng dột nát, trụ sở của công việc thí nghiệm, để chúc mừng và hoan hô hai bậc vĩ nhân mới của nhân loại. Một nhà triệu phú Mỹ ở Chicago viết thư xin bà Marie Curie cho phép y lấy tên bà đặt tên cho con ngựa đua mà y cưng nhất trong đời!
    Năm 1904, bà Marie Curie có thai. Ngày 6. 12. 1904, bà lại sinh ra một đứa bé thứ hai, đặt tên là Eve Curie [4]
 
Hai tháng sau kỳ khai hoa nở nhụy, bà lại trở về phòng thí nghiệm của bà, nơi đây hai vợ chồng đóng cửa làm việc cả ngày trong thanh tịnh. Cả hai đều tránh các cuộc tiếp xúc với khách thập phương mộ tài đến viếng thăm ít muốn giao thiệp với người ngoài, ít đi dự các tiệc tùng, chỉ trốn tránh trong nhà, như hai người ẩn dật.
 
 
 
Chú thích:
[1]  Pechblende : một loại quặng kẽm chứa nhiều chất Urane. Bà  Marie Curie quả quyết rằng trong loại kim khí này còn có chất Radium mạnh bằng mấy Urane.
[2] Có sách lại ghi là 225.
[3] Xin nhớ rằng vì bà Marie Curie nghiên cứu trên lý thuyết của nhà bác học Becquerel về các Sels Urane để soạn luận đề thi tiến sĩ mà bà đã đi dần đến khám phá ra chất Radium
[4] Eve Curie sau khi mẹ mất, có viết một quyển sách rất có giá trị về Mẹ, nhan đề là “Madame Curie”, nhà xuất bản Galhmard Paris. Sách này đã được dịch ra các thứ tiếng và được phổ biến khắp thế giới




Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 28 – SVETLANA
 
 
VẬN ĐỘNG THAY THẾ LENINE
Sauk hi Lénine chết, tháng 1 năm 1924, Đại hội Đảng Cộng Sản Liên Nga họp đề cử người thay thế vị lãnh tụ tối cao của Cộng Sản Đệ tam Quốc Tế. Bà Kroupskzia, quả phụ của Lénine, yêu cầu đọc bản di chúc chính trịnh của chồng bà để cho toàn thể Đại hội nghe.
Trong bản di chúc, Lénine nhấn mạnh sự cần thiết phải tách rời Stalin era khỏi ghế Tổng bí thư đảng và thay thế vào chức vị đó một đồng chí khác, trung tín hơn, và không có lợi dụng uy quyền để phục vụ cá nhân”.
Trong quyển hồi ý “Với Staline ở Kremlin”, viên cựu thư ký của Staline là Bajanov có ghi một đoạn như sau đây:
“…Nhìn gương mặt tái mét của Staline thật là đáng thương. Ngồi trên dãy ghế chủ tịch đoàn đầu cúi gầm xuống, đôi mắt nahwms lại có vẻ như đang tập trung ý nghĩ để đối phó, ông lặng thinh, nhưng người ta thấy rõ thần kinh hệ của ông đang bị căng thẳng phi thường.
“May mắn cho ông, giữa không khí im lặng nặng nề của phòng họp, đồng chí Zinoviev đứng dậy tuyên bố nhân danh chủ tịch phái đoàn Leningrad, duy trì Staline ở lại chức vụ Tổng bí thư đảng. Thế là Zinoviev cứu được Staline. Lúc bấy giờ cầu chì công tơ điện của Kremlin bị hư, phòng Saint André nơi nhóm họp Đại hội bị chìm trong tối. Người ta thắp mấy ngòn đèn nến. Nhờ không khí lu mờ, nửa tối nửa sáng đó, Staline mới có can đảm đứng dậy, nói:
-         Tôi xin Đại hội họp thi hành di chúc của Ilitch. Tôi xin từ chức.
Nhưng đó chỉ là một thủ đoạn, có lẽ đã sắp đặt trước, cho nên Zinoviev đứng dậy, nói rống lên:
-         Đại hội đã thông qua vấn đề này rồi. Không cần bàn cãi nữa.
Staline liền nói tiếp:
-         Nếu thế thì tôi xin tuân theo quyết định của Đại hội.
Công tơ điện đã được sửa chữa, đèn điện lại được bật lên, sáng trưng phòng họp. Staline mỉm cười, vui mừng được đa số đồng chí chấp thuận cho ông giữ nguyên chức vị cũ…”
Không bao lâu, nắm được trọn vẹn chính quyền trong tay. Staline thủ tiêu dần dần các đồng chí cũ đã giúp ông. Zinoviev cũng bị thanh toán luôn, và Staline trở nên một nhà chính trị độc tài tàn bạo và thâm hiểm nhất của nhân loại tự cổ chí kim, ngồi trên đầu trên cổ một dân tộc Một trăm sáu mươi lăm triệu người.
Không quá 10 năm, Djugachvili Staline, con của một ông thợ đóng giầy ở Georgie, đã được Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế suy tôn là “vị cha thiên tài của các dân tộc” (Le Père génial des Peuples).
  • BA VỢ THỨ NHẤT: EKATERINA SVANIDZE
Người này giúp cho ông rất nhiều trong những năm ông còn nghèo và chưa có chức vị gì. Quê mùa, không có học thức, nhưng rất tận tụy, lo cho chồng, và có với ông được một con trai, Iacha. Ông bỏ bê người con này, giao phó cho mẹ ông, bà Ekaterina Dougachvili mà ông thường gọi bằng tên tắt là K eke Iacha, năm 1943, bị quân Đức bắt làm tù binh và bị bắn chết trong trại giam.
Bà Svanidzé chết vì bịnh năm 1909, trước khi Cách mạng cộng sản thành công.
  • NGƯỜI VỢ THỨ HAI: NADEJDA ALLILOUEVA
Bà này là cựu nữ sinh viên Y khoa đã đỗ bằng bác sĩ, nhỏ hơn ông 27 tuổi. Lấy nhau không cưới hỏi, bà ở với ông được hai người con: một gái là cô Svetlana và một trai Bazile.
Ông đã ở địa vị tối cao của Đảng và của chánh phủ, được bà vợ trẻ rất tận tâm săn sóc, yêu thương. Nhưng tính tình tự do, khoáng đạt vì do ảnh hưởng văn nghệ, bà vẫn ghê tởm chánh sách sắt máu, mật vụ G.P.U.M.V.D của ông chồng độc tài quá tàn bạo. Bà cảm thấy rõ ràng dân chúng sợ hãi chồng bà hơn là thương mến, tôn sùng.
Không thích ở điện Kremlin với Staline, bà thường trực ở Datcha (biệt thự) Gorinka, cách thủ đô Moscou 45 ki lô mét. Datcha này rất sang trọng, lộng lẫy, có vườn rộng, có hồ tắm tân tiến, có bồi bếp, vú em, hầu hạ như một bà Hoàng. Staline cũng thường về đây nghỉ ngơi, sống đời vương giả không kém một vị Hoàng đế của thời Nga phong kiến. Nhưng hai vợ chồng cãi lộn luôn vì bất đồng tư tưởng chính trị. Bà thích tự do, ông thích độc tài. Thấy hai người con của ông, Svetlana và Bazile thường chứng kiến những cuộc cãi cọ, có nhiều khi xô xát giữa ông và bà, ông nổi giận tống hai người con về bên ngoại.
Ông lại truyền lệnh cho Iagoda, trưởng phòng mật vụ của ông dò xét hành động của bà. Thế rồi một hôm, ngày 5.10.1932, người ta thấy bà Nadejdo Alliloueva (gọi tắt là Nadia) đến điện Kremlin, gọi điện thoại nói chuyện với chồng. Staline đang làm việc ở văn phòng Trung Ương Đảng bộ, gần đây. Không ai nghe rõ câu chuyện cãi cọ giữa hai ông bà như thế nào, chị biết rằng 15 phút sau đó bà rút súng lục trong bóp ra, tự bắn hai phát vào ngực, ngã gục xuống chết liền trong vũng máu.
Staline tỏ vẻ ân hận về cái chết của cô vợ trẻ nhưng truyền lệnh cho tất cả các cơ quan chính phủ phải giấu nhẹm cái tin bi kịch này. Hơn một tháng sau, ngày 8.11.1932, đài phát thanh Moscou mới được phép loan tin “bà chết vì bị bịnh nặng”.
Nữ bác sĩ Rosenfeld, bạn thân của bà, phản đối cái tin đó, và nói cho nhiều người biết rằng bà Alliloueva không bị bịnh gì cả, chính bà đã tự tử bằng súng lục để phản đối chính sách tàn bạo dã man của Staline. Thế là hai hôm sau, bà bác sĩ Rosenfeld bị mật vụ bắt và đày đi Sibérie.
  • NGƯỜI VỢ THỨ BA: ROSAKAGANOVICH.
Bà này cũng trẻ, đẹp và lấy Staline cũng không có làm lễ cưới hỏi. Bà nguyên là một nữ công nhân làm việc ở nhà máy sợi Tadikestan. Staline đi kinh lý, thăm nhà máy, trông thấy cô gái duyên dáng 17 tuổi đang trông nom một máy dệt.
Ông truyền lệnh đưa cô về làm vợ. Rosa tỏ ra một tay nội trợ rất thành thạo, về xã giao cũng khôn khéo vô cùng. Mỗi tuần hai lần, cô tổ chức những cuộc tiếp tân và các dạ hội khiêu vũ rất đông đảo và hào hứng với sự tham gia vui vẻ của Staline.
Datcha (biệt điện) Gorinka trở thành nơi gặp gỡ của tất cả Ngoại giao đoàn, các Sứ thần ngoại quốc và các nhân vật cao cấp của “nhà nước Nga xô” cùng các phu nhân của họ.
Nhưng Staline vẫn tiếp tục chính sách khủng bố tàn ác của chế độ độc tài cộng sản.
Tháng 12 – 1934, Kirov, một đồng chí cao cấp của Staline, bị ám sát. Kế tiếp 3.000 cán bộ cao cấp khác bị bắt vì “phản cách mạng”. Tháng 9 – 1940, Staline trao quyền Mật vụ cho Béria…
Đến lượt bà Rosa Kaganovich, phu nhân thứ ba, cũng bị tình nghi “phản động”. Nhưng Rosa, thấy gương của bà vợ thứ hai, liền tuyên bố ly dị và biến mất. Năm 1941, không ai thấy bóng dáng của bà vợ trẻ đẹp, thông minh, lịch thiệp và duyên dáng kia đâu cả. Có dư luận đồn rằng bà bị mật vụ của Staline thủ tiêu. Mãi sau này, khi Staline chết rồi và bị Krouchev hạ bệ, Rosa mới xuất đầu lộ diện…
Té ra năm 1941, bà đã trốn đến vùng Oural bao la rừng núi và nơi đây bà đã bí mật kết hôn với một bác sĩ ở bệnh viện Sverdlovsk…
Tháng 10-1939, Staline sắp sửa làm lễ ăn mừng 60 tuổi, thì xảy ra vụ cô con gái cưng của ông. Cả Moscou, trong chính phủ, trong đảng, cũng như trong ngoại giao đoàn, ai cũng biết rằng Staline rất quyến luyến cô con gái lớn độc nhất của ông. Svetlana được chiều chuộng hết sức. Ông mời một bà giáo sư Pháp ở Paris và một bà giáo sư Anh ở London sang Moscou để dậy cô học Pháp ngữ và Anh ngữ. Bây giờ Svetlana nói và rất thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Đức. Cô giao thiệp với nhiều bạn trai ở Đại học Moscou, trong đám này có sinh viên Mark Friedmann, người Đức, được cô yêu say mê. Cả hai đều là “đoàn viên thanh niên cộng sản”.
Svetlana nói cho cha biết lòng cô quyết định thành hôn với ý trung thành. Stavline cau mày, làm thinh. Hôm sau, cậu tình nhân đau khổ bị Tổng giám đốc Mật vụ Béria, gọi đến văn phòng, và được đưa lên xe lửa đẩy đi tuốt xuống tỉnh Magadan, trên bờ biển Thái bình Dương của hai phận Nga.
Được tin, Svetlana hăm dọa tìm cách đi theo người yêu. Thế rồi nàng biến mất, Staline, lần đầu tiên ngồi trong điện Kremlin, hai tay ôm mặt khóc nức nở. Ông truyền lịnh cho Béria phải tìm cho được con gái ông trong 24 tiếng đồng hồ, và cứ mỗi giờ, bất cứ ngày đêm, phải báo cáo cho ông biết kết quả cuộc lùng kiếm ấy.
Béria tìm được nàng trong nhà một cô bạn gái của nàng ở ngoại o Moscou. Lập tức nàng được đưa về điện Kremlin. Bị ông bố làm dữ, cô con gái đành phải hứa với ông là không kết hôn với Mark Fiedmann, nhưng cô đòi phải tức khắc đưa chàng về Moscou và để chàng tiếp tục học ở Đại học. Staline chấp nhận và Friedmann được trả về Đại học.
Rốt cuộc rồi, năm 1945, Svetlana cũng… lấy cho được người yêu.
Em trai của Svetlana, Buzite phục vụ trong Quân đội, được làm Đại tá Không quân Nga năm 1945, Chuẩn tướng năm 1948, Thiếu tướng năm 1952. Nhưng chàng cứ ở luôn trong trại với đồng đội, không thích về ở với cha.
Một thời gian được hưởng tình yêu trọn vẹn, nhưng không có con, Svetlana và Friedmann gây lộn với nhau về vấn đề gia đình rồi cùng ly dị.
Svetlana lấy một người chồng thứ hai là một sĩ quan, rồi người chồng thứ ba là một lãnh tụ thanh niên cộng sản Ấn Độ, tên là Singh, sinh viên ở Moscou. Không được bao lâu, Singh chết vì bịnh lao.
Đầu năm 1967, Svetlana xin phép chính phủ Sô Viết cho nàng đem xác của người chồng về Ấn Độ để làm lễ hỏa thiêu cho chàng và rắc tro chàng xuống Hàng Hà (Gange) theo phong tục Ấn Độ.
Chính phủ Sô viết chấp thuận, nàng đi máy bay, chở cốt của Singh về New Delhi.
Nhưng nàng trốn luôn không về Nga nữa, để đi tìm Tự do ở tòa Đại sứ Mỹ.
Tránh rắc rối về ngoại giao với Nga sô, Chính phủ Mỹ không chấp thuận lời yêu cầu của con gái Staline.
Svetlana phải đến tạm trú tại vùng Cherland, Thụy Sĩ, chờ cơ hội thuận tiện.
Hiện nay, Svetlana đã ở luôn Hoa Kỳ, nhập tịch dân Mỹ và viết sách tố cáo chế độ độc tài cộng sản…
 
 
 
 
 
 
CHƯƠNG 29. ANASTASIA, Công Chúa Nga
 
Trên mười quyển sách đã viết ra từ năm 1921 đến 1963, và trên 30 nhân chứng được mời ra trước tòa án Hambourg ngày 15-5-1961, một phim xi nê “Anastasia” do Juliette Greco đóng vai chính xuất hiện trên màn ảnh thế giới năm 1955, chỉ vì một công chúa nước Nga 17 tuổi mà ai cũng tưởng đã bị giết chết rồi nhưng bỗng dưng “sống lại”. Vụ Anastasia đã làm sôi nổi dư luận quốc tế hồi Tiền Chiến và sau Đệ Nhị Thế Chiến, lại được bùng lên, khiến cho mọi người thắc mắc phân vân.
Muốn hiểu rõ sự bí mật ly kỳ này, tôi mời bạn trở lùi lại Lịch sử nước Nga trước đây khoảng 50 năm.
1917, Đệ Nhất thế chiến đã kéo dài 3 năm, quân Nga bại trận. Thừa dịp ấy, ngày 12-3-1917, dân chúng Nga nổi dậy sau khi không chịu đựng được nữa những áp bức dồn dập bằng vũ lực và chính trị hà khắc của Nga Hoàng. Công việc đầu tiên của Đảng cách mạng lên cầm quyền là bắt Hoàng đế Nicolas II và toàn thế gia đình của ông đem giam tại Tsarskoié- Seto. 5 tháng sau, đoàn tù nhân ấy bị dời đến Toboisk, và tháng 5 năm 1918 sau khi chính phủ cách mạng ký hiệp ước ngưng chiến ở Brest-Litovsk với Đức, nhà vua và Hoàng gia lại bị dời một lần nữa đến Ekateri-neubourg, nơi đây tất cả đều bị nhốt dưới một cái hầm trong nhà Thống chế Ipatief.
Thế rồi, đêm 16 tháng 7, gần 1 giờ khuya, bỗng dưng bọn lính gác tù dưới quyền chỉ huy của Yourov thì mở cửa hầm xông vào ngục. Yourovski là viên cảnh sát trưởng rất trung thành với Hoàng đế trước kia, lúc Nga hoàng còn quyền thế, bây giờ chính y cầm súng tiến tới trước mặt Nicolas II, chĩa súng vào ngực ông và bảo:
-         Ta được tin bè đảng của mi âm mưu cứu thoát mi ra khỏi ngục tù, nên ta phải bắn mi chết.
Vừa dứt lời, Yourovski nổ cò, pan! Pan! Pan! Nga hoàng ngã gục xuống chết ngay tại chỗ không kịp nói một lời.  Rồi đến Hoàng hậu Alexandra cùng một lượt với thái tử và 4 công chúa: Olga, Tatiana, Marie, Anastasia đều ngã xuống dưới những loạt súng. Một nàng hầu tên là Demidova, bác sĩ Borkine, thầy thuốc riêng của Hoàng gia, và hai tên cận vệ trung tín cũng bị giết luôn. Tất cả 11 xác chết nằm ngổn ngang trên các vũng máu.
1 giờ khuya, bọn lính vứt những xác ấy trên một chiếc xe cam không nhà binh, chở đến một khu rừng gần đó và tưới benzene lên để đốt. Xong họ đổ hết cả đống tro lẫn xương xuống một cái giếng hoang.
Nicolas II, vị hoàng đế độc tài cuối cùng của nước Nga, và tất cả gia quyến, Hoàng hậu và 5 người con, đều bị chết một cách khủng khiếp như thế dưới những miệng súng mà trước kia chính ông đã dùng để đàn áp dân Nga. Dòng họ Romanov đã trả nợ cho Lịch sử trong cuộc thanh toán đẫm máu ấy.
Không ngờ…
Hai năm sau, một tin vặt đăng vài dòng trong các tờ báo hàng ngày ở Berlin, kinh đô nước Đức, mà không ai để ý, lại là thời điểm của một vụ bí mật độc nhất vô nhị trong Lịch sử, làm xôn xao cả hoàn cầu.
Đêm 17.2.1920, một đêm rét buốt mùa Đông ở Berlin, đường phố vắng tanh, một người lính cảnh sát đứng gác cầu Bendler trên con sông Landwehr, bỗng huýt còi liên tiếp ba bốn hồi và người ta nghe tiếng giầy chạy đọp đọp trên cầu. Người ta tưởng cảnh sát đuổi bắt một kẻ bất lương. Nhưng y nhảy xuống sông mặc dầu nước lạnh cóng người, và vớt lên một thiếu nữ chán đời vừa thừa lúc đêm hôm vắng vẻ đã nhảy xuống sông tự tử. Viên cảnh sát gọi xe chở nàng đến một bốt gần đấy. Các người lính gác tại đây vội vàng mượn đồ đàn bà thay cho nàng, lấy ba bốn chiếc mền đắp cho nàng và đốt thêm lò sưởi để cho nàng ấm…Một lúc nàng tỉnh lại, ngơ ngác nhìn ông cò và mấy người lính. Nàng đẹp lắm, trạc 19 tuổi, đôi mắt long lanh, nhưng gương mặt hốc hác, đầy nét đau khổ.
Cảnh sát hỏi nàng tên họ là chỉ, ở đâu, tại sao tự tử, nhưng nàng không nói. Họ lục soát trong quần áo nàng, không có thẻ căn cước, không có đồ vật gì chứng tỏ tên tuổi, địa chỉ và nghề nghiệp của nàng. HỎi mấy lần, nàng cũng không trả lời, không thốt một câu nào cả. Mãi đến sáng, nàng vẫn im lặng. Cảnh sát đành phải chở nàng vào nhà thương Elisabeth. Hai vị bác sĩ hỏi nàng là ai, nàng vẫn không trả lời. Đôi mắt nàng ngơ ngác như một người lạc lõng.  Ngày 27, bác sĩ cho biết là “người thiếu nữ vô danh” thường có những cơn khóc thầm vô cùng ảo não. Nếu thả nàng ra, chắc thế nào nàng cũng sẽ trở lại bờ sông để nhảy xuống nước tự tử.
Ngày 30.9, người ta chở nàng đến nhà thương điên Dalldorf. Nơi đây bác sĩ chuyên về cá bệnh thần kinh khám nàng và cho biết là nàng chạc từ 26 đến 30 tuổi, không phải một người mất trí. Sự thực, như các bạn đã biết, nàng mới có 19 tuổi, mà vì quá đau khổ nên trông gương mặt đã già. Bác sĩ dỗ dành hỏi gì nàng cũng không nói. Nàng không mở miệng thốt một lời nào với ai cả. Người ta đành để nàng ở luôn trong nhà thương điên Dalldorf, mặc dầu nàng không có triệu chứng gì là điên cả. Suốt thời  gian ở bệnh viện, “nàng vô danh” có những cử chỉ và cốt cách của một người quý phái, đúng đắn, lịch sự với tất cả mọi người, nhưng ít khi nói chuyện và lúc nào cũng buồn rầu, đau khổ mà không hề kể tâm sự cho ai nghe. Những bà Xơ trông nom bệnh viện tìm cách quen thân với nàng gần hai năm trời, cũng không biết được tên họ nàng là gì, quê quán ở đâu, làm nghề nghiệp gì, và tại sao nhảy xuống sông tự tử? Không ai khám phá được những bí mật của “nàng vô danh” ấy.
Sự ngẫu nhiên khiến trong số bệnh nhân ở nhà thương Elisabeth có một cô tên là Marie Kolart Peuthert cùng ở chung trạm IV, phòng B, với nàng. Cô này trước kia làm thợ may ở Nga. Một hôm cuối tháng 10-1921, bà Xơ y tá cho cô mượn một tờ báo Đức: Berliner Illustrerte Zeitung. Cô Peuthert vui mừng mở ra xem,  gặp một trang đăng hình 3 cô công chúa Nga. Dưới hình có in mấy dòng sau đây:
“Một trong những bức hình cuối cùng của ba công chúa Nga chụp trong lúc bị giam. Bên trái là công chúa Anastasia mà người ta đồn rằng đã may mắn thoát chết trong cuộc tàn sát gia quyến Nga hoàng, và nghe đâu hiện nay công chúa đang trốn tránh ở Paris”.
Cô Peuther trao trang hình ấy cho “nàng vô danh” xem, nàng vẫn điềm nhiên không thổ lộ một phản ứng nào cả. Nhưng cô thợ may cười bảo:
-         Em biết chị là ai rồi.
“Nàng vô danh” vội vàng lấy tay bịt miệng cô, và khẽ bảo:
-         Đừng nói! Đừng nói!
Nhưng cô Peuthert không thể im được. Xem “nàng vô danh” giống hệt như người trong ảnh, cô quả quyết rằng con người bí mật này chính là Công Chúa Anastasia, con gái thứ tư của Nga hoàng Nicolas II, đã do một sự may mắn ly kỳ nào đó mà thoát khỏi những viên đạn của bọn lính sát nhân đêm 17.7.1918.
Hình chụp mấy ngày trước đêm Nga hoàng và toàn thể gia quyến bị tàn sát, lúc đó công chúa Anastasia 16 tuổi. Đến nay, 3 năm qua, nàng 19 tuổi và đúng là cái bộ dạng một cô gái 19 tuổi của “người bí mật vô danh”. Xem ảnh, xem người, cô Peuthert tin chắc chắn đây là công chúa Anastasia mặc dầu cô gái bí mật vội vàng đính chính là không phải.
Tin này đồn ra rất nhanh chóng, và các báo chí khắp thế giới đều đặt ra câu hỏi:
-         “Có phải công chúa Anastasia còn sống sót đó không? Cô gái vô danh ở bệnh viện Elisabeth, Berlin, có đúng là công chúa Anastasia đó không?”
Do cô thợ may người Nga Marie Peuthert khám phá và loan tin ra, “Vụ bí mật Anastasia”, bắt đầu làm xôn xao dư luận thế giới từ đây.
 
  • TÂM SỰ CỦA NÀNG CÔNG CHÚA
Cô Peuthert không còn nghi ngờ gì nữa. Ngày 20-1-1922, cô lành bệnh, được ra khỏi nhà thương Elisabeth. Vài tuần sau cô tìm gặp đại úy Schwabe, người Nga đi cư ngụ tại nhà thờ Thiên Chúa của người Nga ở thủ đô Berlin. Đại úy trước kia đã chỉ huy tiểu đoàn phòng vệ Hoàng thái hậu Nga. Cô kể rõ cho đại úy nghe về vụ cô gái vô danh ở nhà thương Dalldorf giống hệt với ảnh công chúa Anastasia. Đại úy vô cùng cảm xúc, vội vàng đi ngay đến Dalldorf, ngày 8.3, để tìm gặp nàng. Sau khi thấy mặt, đại úy cũng nhìn nhận đúng là công chúa Anastasia không. Nhưng nàng không trả lời, chỉ ôm mặt khóc, khóc nức nở, và không nói gì hơn.
Ra về sau khi thăm viếng nàng, hai mẹ con bà Tolstoi lại tuyên bố rằng…nàng chính là Công chúa Tatiana cô gái thứ hai, chứ không phải cô công chúa út, Anastasia. Rồi từ đó, ngày nào cũng có các cựu võ quan, cựu bộ trưởng và ngoại giao Nga di cư ở Đức, toàn những người đã từng ra vô Cung điện và từng biết mặt các công chúa Nga, bây giờ đến thăm nàng tại nhà thương Dalldorf và đều công nhận đúng là công chúa Anastasia. Hơn nữa, Bác tước Kleist, cựu Đô trưởng Moscou, xin phép được đón “cô gái vô danh” về nhà ông để ông nuôi dưỡng. Và ngày 22-3-1922, nàng từ giã bệnh viện về ở nhà Bá tước.
Dần dần, nhờ sự khéo léo, bá tước Kleist dò hỏi lâu ngày, nàng thú nhận nàng là công chúa Anastasia…Coi Bá tước như người thân tín, nàng kể lại cuộc phiêu lưu của nàng như sau đây:
-         Ở dưới hầm giam trong nhà Thống soái Ipatieff ở Ekaterinenbourg, khi bọn lính nã súng vào tàn sát cả gia đình tôi, thì tôi liền níp sau lưng chị hai tôi là Tatiana. Chị Tatiana bị trúng đạn chết ngay tức khắc. Còn tôi thì cũng bị thương nặng ngã nằm bất tỉnh bên cạnh xác các chị tôi, nhưng tôi chưa chết. Khi tôi hồi tỉnh được thì tôi thấy tôi nằm trong nhà một người lính. Người này đã cứu tôi, tên là Alexandre Tschaikovski. Hắn ta đưa tôi đến Bucarest, nhưng hắn đã lợi dụng hoàn cảnh của tôi mà hãm hiếp tôi. Tôi có thai và cuối năm 1918 tôi sinh một thằng con trai, đặt tên Alexis. Ngày 18-1-1919, tội bị bắt buộc phải làm lễ thành hôn với tên lính Alexandre Tschaikoviski. Tháng 8 năm ấy hắn đánh nhau với người ta ngoài đường phố ở Bucarest và ngày sau thì chết. Sauk hi hắn chết, tôi định lên  Berlin để tìm dì tôi là Công chúa Irène de Prusse. Nhưng khi đến thủ đô Đức, tự nhiên tôi cảm thấy hoàn cảnh hiện tội của tôi quá ô nhục đau khổ, tôi không còn mặt mũi nào để đến thăm dì tôi. Vì dù sao tôi cũng là một Công chúa Nga, lại phải đi lấy một tên lính quèn, thì còn chi là danh dự? Vả lại cả gia đình tôi cũng chết hết rồi, tôi còn sống đây, nhưng trong người mang đầy thương tích, tôi bị bể cả hàm răng, tôi còn sống sót làm chi? Buồn quá tôi đi lang thang trên bờ sông sẵn lúc vắng vẻ, tôi nhìn nước sông lặng lẽ trôi, tôi muốn nhảy xuống sông cho đời  tôi trôi đi như dòng nước… Thế là tôi không do dự nữa…Nhưng người cảnh sát đứng đâu trong bóng tối, trông thấy, lại nhảy xuống nước vớt tôi lên…
Nói đến đây, nàng khóc sướt mướt.
  • NHƯNG NÀNG CÓ PHẢI THẬT LÀ CÔNG CHÚA ANASTASIA  KHÔNG?
Thế giới hiện còn chia ra hai phe: một quả quyết PHẢI, một nhất định KHÔNG?
Vụ án lạ lùng nhất của thế kỷ, xử tại Hamburg năm 1961, vẫn không giải quyết được hai câu hỏi trên kia.
Các báo chí Âu châu đua nhau phanh phui vụ “bí mật Anastasia” và mạnh ai nấy đi khám phá tận nơi tận gốc. Theo những cuộc điều tra cuộc điều tra của nhiều người thì có lẽ những tiết lộ của “nàng Tschaikovski” (vợ của người lính Tschaikovski, theo lời cô ấy khai) là đúng với sự thật. Công chúa Anastasia, cô gái út của Nga hoàng, có lẽ đã thoát chêt được mọt sự may mắn phi thường. Theo cô thuật lại, thì trong nhưng người lính ôm 11 xác chết bỏ lên xe nhà binh để chở đi đốt, có một người là Tschaikovski thấy xác cô còn nóng và còn thở, liền đem giấu riêng một nơi và trên xe chỉ còn 10 xác chết đem đi đốt mà thôi. Trong đêm tối khủng khiếp, không ai để ý đến sự biến mất một cái xác, và khi xe nhà binh chở đống xác đến ven rừng, mấy người lính chỉ lo đốt cho mau cháy thành tro để rồi họ đổ đống tro xuống một cái giếng sau, rồi lấp đất lại. Không ai ngờ có một cái xác đã thoát khỏi cuộc thủ tiêu khủng khiếp vội vàng ấy.
Người lính Tschaikovski thừa lúc đêm khuya lộn xộn đã giấu được cái “xác” còn sống của Công chúa Anastasia, lẻn đem được cái xác ấy về tận quê quán của y ở Bucarest, thủ đô xứ Roumanie. Nơi đây y đã săn sóc cho nàng và thừa một lúc nàng mê man bất tỉnh, y lấy nàng có chửa.
Tất cả những lời thú của nàng như trên kia và trường hợp nàng tự tử, thái độ của nàng từ lúc được người cảnh sát vớt lên cho đến suốt thời kỳ nàng ở bệnh viện Dallforf, đều là những yếu tố để cho một số đông người, nhất là trong thân tộc của nàng, các ông Hoàng bà Chúa của nước Nga, di cư ở Đức, ở Mỹ,  và những cựu sĩ quan của Nga hoàng, tin chắc rằng nàng chính là công chúa Anastasia.
Nhưng trái lại, có một số đông người khác cũng trong thân tộc của nàng, nhất là công chúa Irène de Prusse, dì của Anastasia, ở Berlin, lại quả quyết rằng nàng chỉ là một kẻ đàn bà giả mạo, chứ Công chúa Anastasia chính thức đã chết rồi, và không thể sống được.
Câu chuyện ly kỳ nhất, là phe nhìn nhận và phe không nhìn nhận đều có những bằng cớ đích xác, thật khó mà phân biệt phải trái và chính những sự kiện trái ngược ấy đã được phơi bày ra trước Tòa án Hamburg ở Đức ngày 15.5.1961 chỉ làm cho vụ bí mật Anastasia càng bí mật thêm mà thôi.
  • CUỘC ĐỜI PHIÊU LƯU CỦA CÔNG CHÚA ANASTASIA
Ở Việt nam các báo không nói đến vụ án ly kỳ này, cho nên chỉ những người có theo dõi các báo chí Tây phương mới biết mà thôi, tuy nó đã làm sôi dư luận quốc tế, nhất là từ 1950 đến 1961.
Nay chúng ta hãy trở lui lại thời gian ấy và dò theo những bước phiêu lưu của “cô gái vô danh” kia từ lúc Bác tước Kleist đến nhà thương Dalldorf xin rước nàng về ở nhà ông ngày 22.3.1922. Các bạn đã biết rằng Bá tước Kleist tin chắc cô gái vô danh chính là Công chúa Anastasia. Ở nhà Bá tước Kleist ít lâu, nàng bỏ đi đến ở nhà ông Grunberg, cựu thanh tra cảnh sát Nga, di cư ở Đức. Rồi nàng bị bịnh lao, vào nhà thương Westend, một thời gian ra ở lại nhà Bá tước Kleist. Tháng giêng 1925 nàng trở lại ở nhà Grunberg. Bệnh lao tái phát, nàng vào bệnh viện La Vierge, được một người phụ nữ Nga săn sóc chu đáo, bà Rathlef. Năm 1929, bà này có viết và xuất bản một quyển sách dày, nhan đề là Anastasia? Enquête sur la survivance de la plus jeune des filles du Tsar Nicolas II (điều tra về sự sống sóng của cô con gái trẻ đẹp nhất của Nga hoàng Nicolas đệ Nhị) để chứng minh một cách chắc chắn rằng “cô gái vô danh” kia là công chúa Anastasia, mà bây giờ trong lý lịch chính thức gọi là “bà Tschaikovski”, vợ góa của người lính Ba Lan đã cứu nàng.
Cuối năm 1929, một công chúa trong hoàng tộc Nga, di cư sang Mỹ từ lâu và lấy chồng Mỹ, là công chúa Xenia, một trong những người dì của Anastasia, lấy tên chồng là Mrs. Leeds, mời nàng sang Mỹ ở với công chúa. Không muốn đề nàng mang mãi cái tên khó đọc “Bà Tschaikovski” và để tránh cái nhục làm quả phụ một người lính Ba Lan, công chúa Xenia đặt cho nàng cái tên Mỹ là bà Anderson. Đến năm 1931, “Bà Anderson” từ giã nước Mỹ, trở về Đức, ở trong một bệnh viện bài lao. Và từ đấy, các báo Âu Mỹ gọi nàng là Bà Anderson.
Hiện bà vẫn còn ở nước Đức, trong một khu rừng núi hoang vui gọi là Forêt-Noire, trong một ngôi nhà nhỏ giữa bốn bức tường cao có hàng rào dây kẽm gai bao bọc chung quanh, với sự bảo trợ của một Hoàng thân Đức, Prince de Saxe Altenburg, và sự săn sóc thường xuyên của bà Bá tước Von Heydebrand ở hầu hạ công chúa.
  • TRƯỚC TÒA ÁN HAMBURG (15.5.1961)
Người đàn bà nay đã trên 60 tuổi với cả một dĩ vãng phiêu bạt trầm luân trong 45 năm, mà không ai biết tên thật là gì, kẻ gọi là Bà Tschaikovski (theo tên Nga), người gọi bà Anderson (theo tên Mỹ), kẻ bảo là công chúa Anastasia, người bảo là không phải. Công chúa đã chán nản đến nỗi tìm đi ẩn trú trong một khu rừng hoang, lại bị gọi ra trước một phiên tòa để nghe người ta xử về lý lịch của mình!
Phiên tòa ở một thành phố Đức, nhưng hầu như một phiên tòa quốc tế vì có rất đông các báo chí khắp thế giới đên dự. Thật là một vụ kiện hi hữu trong Lịch sử. Ai kiện? CHính là một số các ông Hoàng bà Chúa của cựu trào Nga hoàng Nicolas II, dòng họ Romanoff hiện ở Danemark và ở Đức, kiện người đàn bà vô danh kia không phải là Công chúa Anastasia! Và ai kiện lại? Cũng chính là một số ông HOàng bà Chúa khác của dòng họ Nga hoàng, cương quyết nhìn nhận đấy là Công chúa Anastasia!
Còn chính đương sự, với ba bốn cái tên giả mạo khác nhau, cả tên Nga lẫn tên Mỹ, lại cứ im lặng: nàng không trả lời rằng PHẢI, nàng không trả lời rằng KHÔNG.
Trước kia nàng đã thú nhận nàng là công chúa Anastasia, nhưng bây giờ nàng không cần cãi vã nữa. Ai bảo phải, nàng cũng ừ, ai bảo nàng không phải, nàng cũng…ừ!
Hồ sơ Anastasia phô bầy giữa Tòa án Hamburg rất nhiều, không thể kể hết ra đây từng chi tiết, chỉ biết Tòa án đã đưa ra nhiều lý do để chứng minh rằng:
“bà Anderson-Tschaikovski không phải là Công chúa Anastasia”.
Tại sao Tòa án xét xử như vậy?
Chỉ vì một lý do quan trọng nhất là bà có tiết lộ rằng hồi Đại chiến 1914-1918 quận chúa de Hesse của nước Đức là anh của Hoàng hậu Nga, có bí mật đi qua Nga để để lén lút vận động đình chiến. Quận chúa de Hesse ra tòa phản đối kịch liệt rằng hồi đó ông không hề có qua Nga lần nào cả.
Về điểm này, các người bênh vực cho Công chúa Anastasia quả quyết rằng hồi 1916, Quận chúa de Hesse có bí mật sang Nga để vận động đình chiến riêng, nhưng việc đó được giấu kín vì sợ mang tiếng là phản bội với các Đồng minh của Đức, và đó là một hành động hèn nhát của quận chúa giữa lúc chiến tranh. Do đó mà Quận cháu de Hesse là người hăng hái nhất ra tòa để phủ nhận “Bà Anderson” là công chúa Anastasia. Đây là vấn đề danh dự của nước Đức đối với lịch sử Âu châu.
Và chính là điểm rất quan trọng trong vụ án Anastasia. Bà Anderson đã vô tình đưa ra một việc bí mật trong Thế chiến 1914-1918, không ngờ việc ấy có liên hệ đến danh dự của nước Đức và riêng danh sự của quận chúa de Hesse.
Một lý do thứ hai, là người ta biết rằng Nga Hoàng có gởi tại ngân hàng Anh quốc một số tiền kếch xù, từ 10 đến 20 triệu roubles. Nếu “Bà Anderson” được Tòa án chứng nhận là công chúa Anastasia thì nàng là con gái chính thức của Nga hoàng, sẽ là người được hưởng cái gia tài vĩ đại kia. Vì thế nên hai người dì của nàng là Công chúa Irène và CÔng chúa Olga ra tòa cương quốc phủ nhận nàng là Anastasia. Chỉ vì vẫn đề quyền lợi cá nhân. Họ muốn đừng có Anastasia để cả gia quyến của họ được chia nhau gia tài của Nicolas II!
Dư luận cho rằng các vị quan tòa Hamburg đã bị áp lực của quận chúa de Hesse vì vấn đề chính trị, và của các bà Chúa ông Hoàng của dòng họ Romanoff vì vấn đề quyền lợi chung quanh gia tài to lớn của Nga hoàng còn gởi ở ngân hàng Anh, nên đã tuyên bố một bản án bất công và sai lầm.
Kết cuộc Tòa xử: đối với Pháp luật Anderson-Tschaikovski không phải là Công chúa Anastasia. Nhưng dư luận thì chính là công chúa Anastasia đã bị gia tộc của dòng họ Romanoff không nhìn nhận.
Vì một gia tài trên 20 triệu đồng rúp, và vì một hành động thầm lén của một ông Hoàng nước Đức muốn ém nhẹm không cho tiết lộ một việc làm hèn nhát của ông trong Lịch sử.




Đăng nhập để trả lời
0
13
CATHERINE II – NỮ HOÀNG ĐẾ NƯỚC NGA
 
            CÓ CHỒNG CHÍN NĂM CÒN TRINH TIẾT
 
 
Cũng như Từ Hy thái hậu của Tầu. Catherine Đệ nhị, Nữ hoàng đế của nước Nga (1729-1796) là một bực phụ nữ lừng danh trong Lịch sử thế giới. Người Nga đã tôn bà là Catherine Đại đế (Catherine In Grande) . Khác hơn bà Từ Hy tàn bạo và chính trị vung về, Catherine II là một vị nữ hoàng sáng suốt, cai trị rất khéo, điều khiển việc nước rất thông minh. Nhờ bà mà Đế quốc Nga hồi thế kỷ XVIII đã mở mang phồn thịnh và gây được uy tín lớn lao với các cường quốc trên thế giới, ai cũng kính nể bà và được công chúng Nga tôn sung, yêu mến.
Nhưng Catherine II lại cũng nổi tiếng là một người đàn bà đa dâm. Về phương diện tình dục, Catherine không kém gì Từ Hy Hoàng thái hậu của nhà Mãn Thanh Trung quốc hồi Thế kỷ XIX.
Các nhà sử học trên thế giới đã viết rất nhiều sách về thời đại Catherine Đại đế của Đế quốc Nga. Nhưng tất cả đều khen ngợi bà và kính phục bà, tuy đời tư của nữ hoàng vĩ đại này đã chứa đầy những thiên tình sử ly kỳ, quái gở. Ngoài những tình nhân có tên tuổi trong Lịch sử: Sultikof, Orloff, Potemkine, nhất là Potemkine – Poniutowsky, Landekoi (một họa sĩ 48 tuổi), Zoubov (một tên lưu manh 24 tuổi), còn có vô số những tình nhân qua đường, tạm bợ một vài tháng. Như anh thợ rèn Zavadovski, anh binh nhì Zorick, chàng thám tử Arkarow, anh da đen Yermoloff, Namonov, v.v… và v.v…không biết mấy trăm người! Tuy vậy, Catherine Đệ II vẫn để lại trong Sử sách danh tiếng lẫy lừng của một vị Đại Hoàng đế của nước Nga hồi thế kỷ 18. Dân chúng Nga vẫn gọi bà là “Bà mẹ yêu quý của chúng ta”.
Sinh năm 1729 ở Allemagne (Đức), tên thật của bà là Sophie Zerbst, con gái của một vị Hoàng thân nhỏ và nghèo. Năm 15 tuổi Sophie được Nữ hoàng nước Nga lúc bấy giờ là Elizabeth gọi sang Nga để gả cho cháu ruột của bà là Thái tử Pierre Ulrich, 17 tuổi.
Thái tử Pierre là một thanh niên vừa ốm yếu, vừa đần độn, lại hay say rượu, hoang đường, tính tình bần tiện, ít trí khôn. Tuy còn trẻ tuổi, nhưng chàng không chịu học hành gì cả, chỉ thích cưỡi ngựa đi chơi lang thang cả ngày với mấy sĩ quan hầu cận.
Hôn lễ được cử hành long trọng ngày 21 tháng 8 năm 174 tại thủ đô nước Nga.
Nhưng thái tử Quận công Pierre hoàn toàn bất lực về sinh lý, mà nữ quận chúa Sophie, vợ của nàng thì lại rất đẹp, và rất đa tình. Mới có 15 tuổi, Siphie đã ưa trang sức, làm dáng, cả ngày chỉ xức dầu thơm, nước hoa, bà đùa rỡn với các ông Hoàng và các quận công trai trẻ trong cung, bạn thân của chồng. Tuy vậy , suốt chín năm đằng đẵng, Sophie vẫn chung tình với Thái tử Pierre, và cả trong triều và ngoài dân chúng Kinh đô Saint-Petersbourg không một ai ngờ rằng sau chín năm thành hôn với Thái tử nữ quận chúa Sophie vẫn còn trinh tiết nguyên vẹn!
 
Thật là một chuyện hy hữu trên đời. Không có người chồng nào cưới một cô vợ trẻ và đẹp tuyệt trần như Sophie mà chín năm trời không hề rờ mó đến vợ. Sự thật, thái tử Pierre không phải là một chàng điên khùng, hay không biết tình ái là gì. Nhưng chàng thanh niên 26 tuổi vẫn giấu kín không cho ai biết chàng bị một cái tật ở nơi bí hiểm không cho phép chàng làm tròn bổn phận thiên nhiên của người đàn ông đối với vợ. Tội nghiệp cho quận chúa Sophie kiều diễm, mang tiếng là vợ chính thức của Thái tử, Hoàng hậu tương lai của Đại Đế quốc Nga, mà phải chịu âm thầm đơn độc, nhịn suốt chín năm lạnh lẽo, chưa hề được hưởng cái lạc thú mê ly, say sưa tuyệt diệu của ái tình, như tất cả những người vợ khác.
May sao, nhờ một bác sĩ danh tiếng, tên là Boerhave, có tài cao thuật khéo, đã dùng dao kéo giải phẫu để cởi mở cho Thái tử cái cục nợ thắc mắc đã làm bí lối lưu thông cho dòng men sinh lực.
 
Bac sĩ Boerhave được Hoàng hậu Elizabeth, cô ruột của Thái tử, ban tặng một viên ngọc kim cương to bằng ngón chân cái để thưởng công ơn quý báu của nhà đại y khoa.
Hoàng gia Nga và cả Triều thần đều vui mừng, vì nhờ sự kiện đó mà Thái tử Pierre đã có thể làm đầy đủ bổn phận sinh lý của một người chồng. Ngai vàng của Đại Đế quốc sẽ chắc chắn có người kế vị nối dõi .
Thế rồi vợ của Thái tử , nữ quận chúa Sophie quả nhiên có chửa.
Nhưng ai nấy đều ngạc nhiên. Sao nữ Quận chúa có chửa mau chóng vậy nhỉ? Sau chín năm trinh tiết vì chồng bất lực, bây giờ Thái tử vừa được bác sĩ khai thông cho đường sinh dục, mới được 4 tháng  mà nữ Quận chúa đã sinh ra được một đứa con trai rồi.
Thái tử Pierre nhất định không tin rằng đứa con trai kia là con của chàng.
Thì có người chồng ngu ngốc nào tin được rằng vợ mình mới có chửa với mình hơn bốn tháng đã sinh nở. Thì đây , cái bí mật đã tiết lộ liền, đứa con trai ra đời ngày 20-9-1754, tốt đẹp, kháu khỉnh, rất khỏe mạnh, nhưng …không giống Thái tử chút nào.
 
Một đứa con ngoại tình! Cả trong Triều, ai mà không biết chuyện nữ quận chúa Sophie có một tình nhân để thay thế chồng trong lúc người chồng còn bệnh hoạn ốm yếu, không có khả năng sinh lý.
Chính trong quyển Nhật ký của nàng Quận chúa Sophie cũng nhìn nhận rằng người tình vụng trộm ấy là Soltykoff, một vị thượng quan trong Triều. Dù muốn dù không, đứa con trai kia cũng phải chính thức là con của Thái tử. Người ta đặt tên cho vị Hoàng nam bất ngờ ấy là Paul Petrovich (sau này sẽ lên ngôi tức là Hoàng đế Paul 1er).
 
CUỘC ĐẢO CHÍNH TRONG TRÁI TIM QUẬN CHÚA VÀ TRÊN NGAI VÀNG NƯỚC NGA
            Ngày 24-12-1761, Hoàng hậu Elizabeth băng hà, thái tử Pierre lên nối ngôi, lấy hiệu là Hoàng đế Pierre III. Bấy giờ ông đã 35 tuổi, nữ Quận chúa Sophie được Triều đình tôn làm Hoàng hậu Catherine.
 
Một thời gian không lâu, Triều đình và dân chúng nhận thấy rõ ràng Pierre đệ tam không xứng đáng là một vị Hoàng đế Nga, một Đại Đế quốc nằm giữa Châu Âu và châu Á, diện tích rộng lớn 22 triệu kiloomet vuông, dân số gần 170 triệu người.. Pierre III chủ trương chính sách thân thiện với Allemagne (Đức) là thù địch của Nga, ông lại gây nhiều điều bất bình trong Quân đội và trong hầu hết các giới nhân dân. Ông ban bố nhiều sắc lệnh độc đoán, tăng thuế nặng nề và ăn chơi xa xỉ. Ông đem một cô tình nhân là Vorontsof, người xấu xí, ăn nói tục tĩu, tính nết cộc cằn về ở trong cung với ông. Ông muốn tôn nàng  lên làm Hoàng hậu, và không giấu diếm ý định hủy bỏ giấy hôn thú với Hoàng hậu Catherine và bắt giam Catherine trong nhà tù. Nhưng ý định của Hoàng đế chưa thực hiện được thì bỗng dưng xảy ra một cuộc đảo chính bất ngờ và khôn khéo, làm kinh ngạc cả thế giới, mà người chỉ huy là Hoàng hậu Catherine.
Không ai tưởng tượng được rằng Catherine, một người đàn bà hiền lành, khả ái mới có 33 tuổi, đã có những thủ đoạn chính trị tài tình đến thế.
Catherine có một người tình, một vị quan cao cấp trong Triều, tên Gregor Orlov, anh ruột của đại úy Alexis Orlov trong quân đội Nga hoàng.
 
Tháng 6-1762, Hoàng đế Pierre III với cung phi Vorontsor đi nghỉ mát ở hải cảng Oranienbaum, bỏ Hoàng hậu Catherine ở lâu đài Peterhof, cách thủ đô không xa.
 
5 giờ sáng ngày 9-7, Hoàng hậu Catherine đang ngủ ngon giấc thì có tiếng gõ cửa. Hoàng hậu tỉnh dậy lắng nghe rồi điềm nhiên hỏi:
-         Đại úy Orlov?
Tiếng ngoài cửa đáp:
-         Dạ phải, đã đến giờ rồi, xin rước Hoàng hậu lên xe.
-         Chờ ta mặc đồ.
Hoàng hậu Catherine mặc nhung phục Đại tá Ngự lâm quân, mở cửa hỏi Đại úy Orlov:
-         Đã sẵn sàng cả rồi chứ?
-         Tâu Hoàng hậu xong cả. Chiều hôm qua, chúng tôi đã phao tin trong các trại lính ở Thủ đô rằng Hoàng đế đã bắt giam Hoàng hậu rồi và quân đội phải cứu Hoàng hậu.
Catherine gật đầu, rồi lên chiếc xe song mã trực chỉ về thủ đô Saint-Peterbourg, cách đó ba chục kilomet. Trời mới mờ mờ sáng, đường cái vắng teo, sương mù bao phủ cảnh vật xung quanh. Hoàng hậu ngồi lặng lẽ trong xe. Mắt đăm đăm nhìn về phía trước, mong chóng đến kinh đô. Bẩy giờ rưỡi sáng, mặt trời vừa mọc, thì chiếc xe đã đến Saint-Peterbourg. Hoàng hậu bảo Đại úy Orlov đánh xe thẳng đến trại lính Isimailovski. Đến cổng trại, Đại úy nhẩy xuống xe, hô to :
-         Catherine vạn tuế!
Toàn thể binh sĩ vừa mới ngủ dậy, đổ xô ra sân trại, ngạc nhiên trông thấy Hoàng hậu Catherine đẹp rực rỡ và oai nghiêm lạ thường trong bộ nhung phục Đại tá Ngự lâm quân. Theo mệnh lệnh của Catherine nên đánh đòn tâm lý, thừa lúc binh sĩ say mê sắc đẹp lẫm liệt của Catherine, đại úy Orlov rút gươm sáng quắc giơ lên cao và hô to:
-         Catherine vạn tuế! Catherine vạn tuế!
Thế là toàn thể binh sĩ trại Ismailovsky bỗng dưng hào hùng hô theo:
-         Catherine vạn tuế!
Đại úy Orlov lại hô to:
-         Chúng ta tuyên thệ trung thành với nữ hoàng Catherine!
Toàn thể binh sĩ hô theo:
-         Chúng tôi tuyên thệ trung thành với Nữ hoàng Catherine!
-         Hoàng đế Catherine vạn vạn tuế!
-         Hoàng đế Catherine vạn vạn tuế!
Catherine vừa duyên dáng, vừa oai nghi, đứng dậy mỉm cười chào binh sĩ. Binh sĩ càng nhiệt liệt hoan hô. Cuộc đảo chính khai diễn bằng một nụ cười mỹ nhân trong bộ nhung phục oai nghiêm.
Một sĩ quan đến dắt theo một con ngựa trắng tuyệt đẹp, để Catherine cưỡi. Catherine lên ngồi chễm chệ trên yên ngựa, đi đến nhà thờ Kazan để làm lễ. Binh sĩ trại Ismailovski có đội nhạc dẫn đầu, ào ạt đi theo. Một số dân chúng bỗng nghe chưa hiểu rõ chuyện gì cũng hân hoan đưa vị Hoàng hậu trẻ đẹp đến nhà thờ. Các trại lính khác tron kinh đô thấy vậy cũng tuyên bố ủng hộ Catherine, và buổi trưa hôm đó, nhờ tuyên truyền khôn khéo, toàn thể thủ đô Saint-Petersbourg đều náo nhiệt “ Hoan hô Hoàng đế Catherine II lên ngôi!” và “Đả đảo Pierre III!”.
Cuộc đảo chính của Catherine thành công mau chóng là nhờ ba yếu tố: nhờ chế độ độc tài của Nga hoàng Pierre đã làm cho dân bị đàn áp, đau khổ, và oán thù nhưng không dám nói ra, nay có người cầm đầu khôn khéo và can đảm, nên họ ùa theo. Nhờ cuộc bố trí và tuyên truyền tâm lý trong quân đội và quần chúng do nữ hoàng khéo sắp đặt, khéo vận dụng thời gian, và lôi cuốn được quần chúng trong hoàn cảnh phấn khởi và bất ngờ. Dĩ nhiên cũng nhờ sắc đẹp của Nữ hoàng Catherine rực rỡ, oai nghiêm trong bộ nhung phục Đại úy Ngự lâm quân.
Vua Pierre III lúc bấy giờ đang hú hí với nàng cung nữ Vorontsor ở thành phố nghỉ mát Oranienbaum, chưa hay biết biến cố bất ngờ đang xảy ra ở thủ đô Saint-Peterboung.
Cuộc đảo chính của hoàng hậu Catherine đã thành công tốt đẹp chỉ trong một buổi sáng, mà Hoàng đế Pierre III không được một tin tức gì cả. Hài hước nhất, là ngay buổi sáng ấy, Ở tại Oranienbaum Pierre III nghe lời nàng cung phi yêu quý, sắp sửa ký sắc lệnh ly dị Hoàng hậu Catherine và bắt giam bà vào môt nhà tù kín, và tôn nàng cung phi lên chức Hoàng hậu.
Buổi trưa ở thủ đô dân chúng treo cờ hoan hô Nữ hoàng Catherine Đệ nhị, tân Hoàng Đế thì năm giờ chiều Catherine vẫn mặc nhung phục Đại úy Ngự lâm quân cỡi con bạch mã đi đầu đoàn quân mấy ngàn người, và cả dân chúng hăng hái đi theo, trực chỉ đến thành phố Oranienbaum, nơi Hoàng đế Pierre III đang nghỉ mát.
Tất cả đều đi bộ, như một cuộc dạo chơi xa mười cây số. Dọc đường, quân đội và dân chúng vẫn hô to lien tiếp hai khẩu hiệu:
-         Đả đảo Pierre III! Hoan hô Hoàng đế Catherine Đệ nhị !
Đoàn người lữ hành vừa đi vừa ca hát, thật là vui vẻ, dưới một vòm trời đã tối đen, lấp lánh muôn vì sao. Catherine Đệ nhị  dẫn đầu được coi như là vị Nữ thần của tuổi trẻ và của Chiến thắng.
Ở Oranienbaum, mãi đến gần tối Hoàng đế Pierre III mới hay tin cuộc đảo chính, và được người thân tín báo cho hay là Hoàng hậu Catherine đang kéo quân đến Oranienbaum. Nhà Vua liền cấp tốc đến trại lính Thủy quân ở Cronstadi, hô hào hải quân chống cự đoàn “quân phiến loạn”. Nhưng hải quân cũng đang thù ghét chính sách độc tài của Nga hoàng, nên sửa soạn đón tiếp Catherine và không tuân lệnh Hoàng đế nữa. Pierre III thất vọng và sợ hoảng, phải vội vàng quay về Oranienbaum, phái một vị Đại thần đi đón đường Catherine để điều đình. Nhưng Catherine bảo:
-         Ngươi về tâu với Hoàng đế hãy ký giấy thoái vị, thì sẽ giữ được tính mệnh.
Pierre III sợ chết, lập tức ký giấy thoái vị. 8 giờ tối, Catherine tới Oranienbaum, được dân chúng đốt đèn đốt đuốc ra tận ngoại ô đón tiếp, hoan hô nhiệt liệt.
Hoàng đế xin tiếp kiến nhưng Hoàng hậu không tiếp. Hoàng hậu truyền lệnh cho một toán lính giải Pierre III đến giam giữ tại một biệt thự ở giữa đồng quê Ropscha. Ông khóc lóc năn nỉ quân lính cho ông mang theo ba món đồ mà ông quý nhất: một cây đàn violon, một con khỉ và cung phi Vorontsor. Nhưng quân lính không cho ông mang theo một món đồ nào cả.
Cuộc đảo chính trong trái tim của Hoàng hậu Catherine và trên ngai vàng của Đại Đế quốc Nga đã thành công vẻ vang, tốt đẹp, không rơi một giọt máu.
Catherine trở về thủ đô Saint-Petersbourg được toàn thể dân chúng và quân đội đón tiếp nồng hậu.
Bà lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Hoàng đế Catherine Đệ nhị và cai trị ba mươi bốn năm, cho đến khi băng hà (tháng 11 năm 1796, thọ 67 tuổi)
*
Trong lịch sử Thế giới, khi nói đén Nữ Hoàng đế Catherine Đệ nhị, là người ta nghĩ đến một người đàn bà “kinh khủng” mà tên tuổi không những nổi bật lên trên mọi thời đại, lại còn chói rạng cả mấy thế hệ sau. Dĩ nhiên là Lịch sử chỉ chú trọng đến địa vị lẫm liệt của một phụ nữ trên trường chính trị quốc tế, và ảnh hưởng lớn lao của bà đối với đời sống của một quốc gia rộng mênh mông trên 22 triệu kilomet vuông, và một khối thần dân trên 170 triệu người tôn kính và trung thành với bà trong nửa thế kỷ.
Một bực phụ nữ kỳ tài như thế hẳn là có một đời tư cũng phi thường, độc đáo, vượt lên trên tất cả mọi thích nghi của con người và của xã hội.
Riêng đời sống tình cảm của Catherine II cũng đã chứng tỏ một cá tính sôi nổi đặc biệt. Tôi đã so sánh bà với Từ hy Thái hậu của nước Tàu về phương diện tình dục. Cả hai đã để lại trong Lịch sử nhân loại cái gương tiêu biểu của đàn bà làm chúa tể đàn ông.
Catherine II đã tổng hợp trong số kiếp của bà vừa nhan sắc vừa tài hoa vừa tình cảm dồi dào và tự chủ, kịch liệt và diệu hòa, oai nghi và trụy lạc.
 
I - HOÀNG THÂN ORLOV
Lên ngôi Hoàng đế vừa được 7 hôm thì Catherine được tin chồng bị ám sát đã chết. Nhưng dân chúng Nga và các nước trên thế giới đều không ngạc nhiên tý nào khi nghe lời hiệu triệu sau đây của Nga Hoàng Catherine:
       “ Ta lên ngôi nước Nga được bảy hôm thì được tin cựu Hòang Pierre III bị bệnh trĩ và bệnh đau bụng kinh niên tái phát. Lo lắng theo bổn phận một người Gia tô giáo, ta đã lập tức truyền lệnh săn sóc thuốc men cần thiết cho Cựu hoàng. Nhưng Ta rất buồn phiền được tin chiều qua rằng Chúa đã dứt đời sống của Cựu Hoàng. Ta đã ra lệnh đưa linh cữu của Ngài đến an tang tại nhà thờ Nevski.
Với tư cách là Nữ Hoàng đế và là Quốc Mẫu của Đế quốc Nga. Ta mời tất cả thần dân trung thành của Ta hãy gác bỏ chuyện cũ mà lo tống táng cho Cựu hoàng, thiết tha cầu nguyện Chúa cứu vớt linh hồn của Ngài và tin tưởng rằng cái chết đột ngột này là một quyết định của Đấng cao cả và chỉ có Chúa là sắp đặt vận mệnh của tổ quốc chúng ta theo những đường lối mà chỉ có ý muốn thiêng liêng của Chúa là biết được thôi.
                                             Thủ đô Petersbourg, tháng 7 năm 1762
                                                                    CATHERINE


Người ta không ngạc nhiên mặc dầu dư luận trong dân chúng và cả thế giới đều biết rõ rằng tuy cựu hoàng Pierre III chết vì bị ám sát chứ không phải vì bệnh trĩ hay bệnh đau bụng, nhưng Catherine II hoàn toàn không dính líu gì tới vụ ám sát ấy. Chính bà rất buồn phiền vì cái chết quá đột ngột của chồng.
Khi đại úy Orlov đến báo tin ấy, bà rất đỗi ngạc nhiên và đau đớn. Bà òa khóc nức nở trước mặt thủ tướng Panine, bà té xỉu xuống ghế, rồi bảo: “ Thôi rồi! Lịch sử sau này sẽ không bao giờ tha thứ cho Ta vì cái tội ác mà chính Ta không phải là thủ phạm !”
Nhưng bà cũng che đậy dùm cho người vì quá yêu bà mà phải giết hại Cựu Hoàng. Người yêu thủ phạm ấy chẳng phải một bí mật đối với ai cả. Ai cũng biết người đàn ông say mê Nữ Hoàng lúc bấy giờ là Hoàng thân Orlov. Hoàng thän đã sai em ruột là Đại úy Orlov, giết Pierre III giữa một bữa ăn, để ông được rảnh tay tự tình với Nữ hoàng. Chính ông đã sắp đặt tất cả với người em trong vụ đảo chính vừa rồi để đưa Catherine lên ngôi Hoàng đế, và ai cũng biết ông có tham vọng muốn làm chồng chính thức của Nữ hoàng.
 
Nhưng Hoàng thân Orlov tưởng lầm rằng Catherine II là một người đàn bà tầm thường. Nếu bà tầm thường thì cuộc đảo chính vừa rồi đã không thành công. Đó là một cuộc đảo chính lạ thường, rất lãng mạn, mặc dầu nhờ sự giúp sức của hai anh em Orlov và một nhóm người trung thành với bà nhưng phải là một người đàn bà có trí, có dũng, có tài hoa đặc biệt mới chỉ huy được một biến cố quan trọng như thế, làm đảo lộn cả Lịch sử của Đại Đế quốc Nga, trong mấy tiếng đồng hồ không rơi một giọt máu.Vì thân phận của bà bị đe dọa, bị sỉ nhục, vì chính sách suy đồi và tàn bạo độc tài của chồng bà, vì vận mệnh và tương lai của nước Nga, nên bà đã gây ra cuộc đảo chính. Nhưng khi nghe tin chồng bà bị người yêu ám sát thì bà tức giận đau khổ, lương tâm bị cắn rứt vì một tội ác mà bà không chủ mưu. Tuy vậy, nghĩ đến công ơn của Hoàng thân Orlov đã giúp bà thành công trong cuộc đảo chính, bà lại lấy oai quyền của Nữ Hoàng để mà che đậy dùm tội ác của người yêu đã vì bà mà ám hại Cựu Hoàng. Lịch sử đã sáng suốt phê phán thái độ của Catherine, và vẫn kính phục bà ở điểm đó. Tha thứ cho Orlov nhưng bà không yêu chàng nữa. Trong quyển Nhật ký của bà viết toàn bằng Pháp văn (bà là bạn thân của thi hào Voltaire của Pháp), Catherine có ghi rõ những ý nghĩ thầm kín của bà, ý nghĩ của một người vợ đau đớn vì chồng chết, của một người tình tha thứ nhưng tức giận người yêu thủ phạm, và của một vị Nữ Hoàng đã đặt danh dự của mình và của Tổ quốc lên trên tình yêu.
Orlov có tham vọng lớn lao, muốn chính thức làm lễ thành hôn với Nữ hoàng. Catherine không trả lời và phái ông đi Moscou để trừ bệnh dịch chuột đang tàn sát thảm hại nhân dân thành phố ấy.
 
2 – VASSILTCHIKOV
 
3 – TỂ TƯỚNG POTEMKINE
 
Trong Triều đình, ít người ưa Hoàng Thân Orlov, vì tính hách dịch, phách lối, tự cao tự phụ. Nhưng người ta ưa Potemkine. Chàng là ai? Buổi sáng sớm xảy ra đảo chính năm 1762, trong sân  trại Ismailovski, các bạn còn nhớ một viên trung úy hăng hái đặt một con tuấn mã tuyệt đẹp đến để Catherine cỡi cho oai. Xong chàng quỳ xuống để suy tôn vị Nữ Hoàng diễm lệ, mà chàng đã thầm mê sắc đẹp. Viên trung úy ấy tên là Potemkie. Cử chỉ của chàng được Catherine để ý, và sau khi lên ngôi Hoàng đế, bà tặng chàng 10.000 Nga kim, đeo thêm cho chàng một lon, cho chàng đi học thêm các lớp Đại học, rồi chàng thi đỗ, được Nữ Hoàng gọi về Triều, thăng lên chức Trung tá. Catherine gởi gắm chàng cho Đai tướng Roumiantsov. Lúc bấy giờ có chiến tranh giữa Turquie và Nga. Trung tá Potemkine cầm quân ra trận lập được chiến công rực rỡ và được lên chức Thiếu tướng. Được  đại tướng phái chàng về kinh đô để tường trình về chiến sự. Potemkine vừa đến  Peterbourg thì được biết Nữ Hoàng đang có một tình nhân mới tên là Vassiltsikov. Potemkine buồn rầu chán nản, liền từ giã kinh đô để đi tu. Chàng vào nhà tu kín Nevski, và chép trong nhật ký như sau đây:
“ Trời ơi! Yêu làm chi cho đau khổ, yêu Nàng mà ta đâu dám thổ lộ cho nàng hay. Nàng không thể là của ta ! Trời mọi rợ, Trời ban cho Nàng một sắc đẹp kiều diễm chi vậy? Trời ban cho Nàng một cốt cách oai nghiêm vĩ đại chi rứa? tại sao Trời lại muốn phải là Nàng, chỉ có Nàng là ta mới có thể yêu được? Chỉ có nàng mà cái tên thiêng liêng sẽ không bao giờ được thốt ra khỏi miệng ta, và hình ảnh khỏi tim ta.”
Catherine được tin Thiếu tướng Potemkine thất vọng đi tu, liền bảo với nữ bá tước Bruce: “ Không. Trẫm không muốn chàng Thiếu tướng anh dũng kia sẽ trở thành một ông cố đạo”.
Nữ Hoàng liền sai nữ Bá tước đến nhà tu khuyên chàng và bảo chàng nên trở ra chiến trường để đánh quân thù của đất nước.
Thiếu tướng Potemkine lập tức vâng lệnh Nữ Hoàng, cởi áo thày tu bỏ lại nhà thờ và phi ngựa ra chiến địa. Sau một chiến công oanh liệt trên trận tuyến Hắc hải, được binh sĩ nhiệt liệt hoan hô, Potemkine được Nữ Hoàng ký sắc lệnh thăng lên chức Trung tướng. Chàng lật đật nhảy lên lưng ngựa phi về kinh đô để tạ ơn Thánh Chúa.
 
Nữ Hoàng đế Catherine II mở rộng hai cánh tay ngọc ngà ra đón vị anh hùng.
Cùng hôm ấy , Nữ Hoàng đuổi tình nhân cũ ra khỏi cung điện. Vassiltchikov cuốn gói ra đi ngày 18-3-1774. Và cũng hôm ấy, bà vợ của Đại tướng Roumiantsov là thượng cấp của Potemkine, viết thư cho chồng ở mặt trận:
“ Em khuyên mình từ nay các giấy tờ báo cáo gởi về Nữ hoàng đế, nên gởi thẳng cho Potemkine”. Bà đại tướng khuyên chồng như thế là khôn ngoan. Vì từ hôm ấy Potenkine ở luôn trong Cung điện, ngay trong phòng mà Vassiltchikov vừa ra đi. Trung tướng Potemkine được nhận là người yêu chính thức của Nữ hoàng đế. Potemkine không đẹp trai, nhưng Catherine thường bảo với các quan hầu cận: “ Potemkine là người đàn ông đẹp nhất của nước Nga”. Potemkine lại có tật ưa cắn móng tay, Catherine cũng âu yếm phê bình: “ Potemkine là người cắn móng tay vĩ đại nhất của nước Nga”.
Nghĩ cũng buồn cười! Khi người đàn bà yêu say mê, cả vũ trụ đều bé nhỏ hơn người yêu của mình.
Trong cung, bà thường gọi Potemkine bằng những danh từ sau đây:
“ Người yêu của ta…Người bạn quý của ta…Trái tim nhỏ của ta…tâm hồn của ta…Cưng của ta…Con pu pê cưng của ta…Đồ chơi yêu dấu của ta…” bà cũng dùng những danh từ chỉ thú vật để gọi chàng:
“ Con chim bồ câu yêu quý…con trĩ bằng vàng… Con Gà gô bằng vàng…Con Công… Con chó tut u cưng… Con Cọp cưng…Con Sư tử đực trong rừng thẳn…Con chó sói và con chim của em…”.
Có khi Nữ hoàng Catherine yêu Potemkine quá không còn biết gọi chàng bằng gì nữa, thì bà lại gọi :
“ Hột nút áo của em…Viên kẹo của em…”
Hoặc là:
“ Sắc đẹp cẩm thạch của trẫm…Người yêu của Trẫm mà không có Vua Chúa nào đẹp bằng…Hỡi người đàn ông đẹp nhất của ta…Trên đất này không có người đàn ông nào đẹp bằng mình giỏi bằng mình…”
Trong quyển nhật ký của nữ hoàng và trong các quyển hồi ký của các cung nữ, các quan hầu cận, ghi chép lại cuộc tình duyên của Nữ hoàng Catherine II với Potemkine đều đầy rẫy những danh từ và những câu lý thú phi thường như thế.
 
Tuy chưa chính thức làm lễ thành hôn (có nhà sử học đã quả quyết là làm lễ thành hôn lén hồi cuối năm 1774, nhưng không có bằng cớ chính xác). Nữ Hoàng Catherine vẫn đôi khi gọi chàng là “ chồng yêu quý của ta…chồng cưng của ta…em yêu mình và sẽ yêu mình vĩnh viễn…em là vợ trung thành vĩnh viễn của chàng…v.v…
 
4 – ZAVADOVSKI
5 – ZORICK
6 – MAMONOV
7 – YERMOLOF
8 – ARKAROV
9 – LANDSKOV
10 – ZOUBOV
v.v…
v.v….và…v.v…
 
Tình yêu trung thành vĩnh viễn… được hai năm (1774 – 1776)! Sự đòi hỏi tình dục của Catherine mỗi ngày mỗi hăng, mỗi mạnh mà Potemkine mỗi ngày mỗi yếu về sinh lý, do đó tình yêu thiết tha của Nữ Hoàng cũng giảm bớt phần nhiều.
Tuy tình yêu tinh thần vẫn nguyên vẹn cho đến mãn đời bà, nhưng tình yêu về thể xác không còn được thỏa mãn nữa, và Potemkine cũng tự cảm thấy mình không còn đầy đủ khả năng để cung phụng , những nhu cầu quá bồng bột, quá mãnh liệt của Nữ Hoàng đế.
 
Catherine ký sắ lệnh thăng Trung tướng Potemkine lên làm Hội đồng Tư vấn, Phó chủ tịch Hội đồng quân sự, Hoàng thân bá tước Đại tướng tư lệnh, và được bổ nhiệm làm Thống đốc các tỉnh miền Nam, đóng đô ở Novgorod. Từ đây về sau Potemkinre vẫn triệt để trung thành với Nữ Hoàng, phụng sự chính sách cai trị của bà rất đắc lực. Thỉnh thoảng , ông trở về Kinh đô, đến thăm Nữ Hoàng và ở một lâu đài nguy nga trong Cung điện, có đường luồn kín đáo đi thong qua phòng ngủ của Bà. Tuy không còn là người yêu chính thức của Catherine II nhưng Potemkine vẫn giữ vẹn toàn tình xưa nghĩa cũ, và bà vẫn coi ông là người quý nhất trong đời bà. Bà vẫn bàn bạc với Potemkine, và hỏi ý kiến ông về mọi việc Quốc chính, từ vẫn đề quan trọng về ngoại giao, về chiến tranh, cho đến việc lặt vặt trong Cung điện và trong đời sống riêng của bà. Đối với dân chúng, với Triều đình, với Thế giới, Potemkine vẫn tỏ ra là một người thần dân luôn luôn tôn kính vị Nữ Hòng đế của nước Nga.
 
Catherine có một cậu tình nhân trẻ tuổi hơn bà nhiều lắm, tên là Zavadovski. Cậu này cũng được vào ở trong Cung điện, nơi phòng cũ của Potemkine và các tình nhân trước. Nhưng Zavadovski chỉ ở được vài tháng rồi bị đuổi. Một người đàn ông khác , tên là Zorick, được vào Cung thay thế. Zorick cũng chỉ được một tháng rồi bị người khác đổi phiên, tên là Mamonov. Từ đây Nữ Hoàng cứ thay đổi tình nhân như thay áo . Kế tiếp người này đến người khác, toàn là hạng người vô giá trị, từ một tên gián điệp (Arkarov) đến một họa sĩ tầm thường. Họa sĩ Landrskov mới có 18 tuổi, đẹp trai nhưng nét vẽ không đẹp tý nào, mà Nữ hoàng Catherine đã 60 tuổi. Bà vẫn hết sực chiều chuộng Landrskov và cũng yêu chàng cho đến nỗi chàng quá yếu sức, mắc bệnh ho lao rồi chết trong tay Nữ hoàng.
Sau Landrskov, Catherine II lại yêu một chàng lưu manh, 17 tuổi cũng đẹp trai tên PlatonZoubov.
Năm 1796, Catherine Ii đã 67 tuổi. Bà đã chia sớt tình yêu với Zoubov cho đến khi chàng 24 tuổi. Trong 7 năm, Zoubov đã gây nhiều tai hại trong Cung điện, vì trẻ tuổi mà tự phụ, thiếu học thức lại ngang tàng hách dịch. Cả Triều đình chán ghét và khinh khi chàng. Con trai của Catherine là Thái tử Paul, hết sức can gián mẹ mà không được.
 
Ngày 16-11-1796, Nữ hoàng Catherine II đau nặng. Bà đang ngồi viết thư tự nhiên chảy mồ hôi, mặt mày xanh rờn và kêu đau bụng. Zoubov chạy tới thì nữ hoàng vừa té xỉu. Bà chỉ lẩm bẩm vài tiếng không rõ rồi tắt thở trong tay tình nhân cuối cùng, mà Lịch sử cũng không biết rõ là người thứ mấy.
 
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
14 – NHỮNG NGƯỜI YÊU CỦA NAPOLÉON
                    DÉSIRÉE CLARY

 
NAPOLEON Bonaparte (1769-1821), chàng sĩ quan bé nhỏ trong đội Pháo binh của Cách mạng Pháp hồi 26 tuổi đến năm 35 tuổi (1804) được dân chúng tôn lên làm Hoàng đế của người Pháp, quả thật là một bậc kỳ tài trong Lịch sử thế giới. Và cũng như hầu hất những bậc vĩ nhân trên thế giới, Napoleon có rất nhiều người yêu, và rất nhiều vợ. Những chuyện tình duyên của ông đã được sử sách nói đến không ngớt, nhắc đi nhắc lại mãi, mà các thế hệ loài người đọc lúc nào cũng thấy thích thú say mê. Những bà vợ trẻ và đẹp của Napoleon I được dùng làm đề tài cho hàng nghìn hàng vạn sách báo trên thế giới đủ các thứ tiếng, trải qua hết đời này đến đời khác vẫn còn quyến rũ trí óc tò mò, học hỏi của các lớp người. Trước khi nói đến những bà vợ có danh tiếng nhất của Napoléon I : Joséphine, Walewska, Marie Louise…chúng ta không nên bỏ qua vị hôn thê đầu tiên của ông, từ một cô hàng vải nhút nhát ở Marseille trở thành một bà hoàng hậu oai nghiêm của xứ Suède- Désirée Clary.
Cô con gái út của ông chủ hàng vải chỉ được hân hạnh lọt vào cặp mắt xanh của Napoléon trong lúc ban sơ, khi ông này hãy còn là một Thiếu úy pháo quân vừa ở đảo Corse qua. Nhưng từ đấy nàng đã bước vào Lịch sử dưới tia sáng chói lọi của ngôi sao Hoàng đế đang xuất hiện trên trời Âu. Người anh cả của Napoléon Bonaparte là Joseph Bonaparte đã kết hôn với người chị cả của Désirée. Cô Julie không đẹp, nhưng hiền lành dễ thương.
Thấy Napoléon bê bối, mèo mỡ lung tung, Joseph quyết định lập gia thất cho em, và một hôm đưa chàng đến chơi nhà mẹ vợ.
Napoléon mặc y phục lôi thôi lếch thếch. Tóc để phủ dài hai bên tai. Quần áo nhà binh thì nhầu nát, cũ kỹ, da mặt xanh rờn, khuôn mặt dài và nhọn như lưỡi dao, trông không có vẻ đẹp trai tý nào cả. Điệu bộ thì nóng nảy, cương quyết, tuy vẫn lịch thiệp và nhã nhặn.
Nơi phòng khách của gia đình Clary, Désirée ngồi tiếp chuyện với Napoleon. Ngay giây phút đầu tiên thái độ , cử chỉ , ngôn ngữ và cặp mắt sáng rực của chàng đã làm cho trái tim Désirée đê mê xao động.
Bẽn lẽn, rụt rè, nàng chưa dám thổ lộ tâm tình với chàng nhưng sau khi chàng về, nàng nhõng nhẽo thú thật cùng chị: “ Napoléon là một người khác thường…Em yêu chàng rồi đó chị ạ…Em bắt đền chị đó…” Julie mỉm cười:
-         Sao em lại bắt đền chị?
-         Ai bảo chị giới thiệu chàng cho em.
Ngày hôm sau, Napoléon đến , gặp Désirée ngoài vườn,Trông thấy chàng Désirée đỏ ửng đôi má. Chàng nắm tay nàng hỏi vội vã:
-         Thế nào? Em muốn kết hôn với anh không?
Désirée thẹn chưa trả lời. Napoléon hối thúc:
-         Sao em? Nói nhanh lên cho anh nghe…Anh nóng lòng muốn biết em nghĩ như thế nào. Em muốn làm vợ anh không?
Désirée nhút nhát cúi mặt xuống mỉm cười không nói ra lời, tay trái cứ mân mê một cành lá. Napoléon lại thúc dục:
-         Sao em? Em yêu anh hay không yêu anh? Anh thì yêu em rồi đó…Em thì sao? Nói mau lên.
Nàng ngước mắt lên âu yếm nhìn chàng. Không cần dài dòng, khách sáo vô ích, Napoléon kéo Désirée vào lòng, ôm ghì lấy nàng, đè lên môi nàng và hôn say sưa thật lâu, thật lâu rồi buông ra, tủm tỉm cười nhìn nàng hỏi:
-         Em là vị hôn thê của anh nhé?
Désirée sung sướng gật đầu và siết chặt bàn tay người yêu.
Napoléon nhờ thắng trận Toulon, vừa được đặc biệt thăng chức Thiếu tướng, và nhận được lệnh của bộ Tổng tham mưu gọi lên Paris gấp.
Chàng đến người yêu để tạm từ giã và căn dặn:
-         Anh lên Paris xem như thế nào, rồi anh sẽ về ngay để cưới em. Em chờ anh nhé.
-         Vâng, em chờ anh.
Napoléon ở luôn trên thủ đô.
Désirée Clary buồn, nhớ khóc , viết thư:
“   Anh ơi. Anh giữ sức khỏe quý báu của anh nhé. Sức khỏe của anh chunhs là sức khỏe của em, vì không có anh chắc là em không sống được. Anh nhớ lời thệ ước trăm năm mà anh đã trao cho em. Em thì em vẫn trung thành với lời hứa…”
Napoléon trả lời thư cũng tha thiết yêu đương. Chàng xin ảnh của Désirée và gởi ảnh tặng nàng,
Nhưng người anh cả của gia đình là Etienne Clary, không thích Napoléon lắm. Ngắm bộ tịch của chàng, Etienne đã có lần bảo với Désirée:
-         Tao tưởng rằng gia đình mình có một thằng Bonaparte cũng đủ rồi. Chị mày lấy Joseph thì được chứ mày muốn lấy Napoléon nữa tao thấy không nên. Thằng đó không có tương lại đâu.
Kế đó, bà Clary, mẹ Desiree đưa nàng sang du lịch bên Ý. Thành phố Gênes. Désirée hơi chán nản, phần thì thấy gia đình không sốt sắng về việc nàng đính hôn với Napoléon, phần thì người yêu ở luôn trên Paris, đường xá xa xôi, thư từ bất tiện giữa lúc nước Pháp đang trải qua một cuộc cách mạng lớn, tình thế lộn xộn, Désirée dần lười viết thư cho “ vị hôn thê”.
Napoléon ở Paris vẫn nhở Désirée và viết cho anh cả Joseph ở Marseille:
“ Anh à, sao dạo này Désirée không viết thư cho tôi nữa?”
Có lần, chàng chán nản, viết cho Joseph: “ Cuộc đời là một giấc mộng thoáng qua.”
Thấy anh có hạnh phúc với Julie, chàng đã thốt ra một câu: “ Cái anh Joseph khỉ thế mà sung sướng!” “ Qu’il est heureux, ce coquina de Joseph!”
Bặt tin Désirée lâu quá , Napoléon nhắn hỏi anh cả: “ Désireé còn sống hay đã chết?”
Désirée thật ra vẫn một lòng yêu nhớ vị hôn phu. Nàng lại biết rằng Napoleon có số đào hoa và ở Paris chàng vẫn vui thích với mấy cô thiếu nữ và mấy bà góa chồng còn trẻ và đẹp. Nàng bỗng nổi ghen gửi cho chàng một bức thư:
“ Lâu lắm, anh chả viết thư cho em. Sao thế anh?  Anh có biết rằng ở đây em buồn lắm, chán lắm không?Dù non sông cách trở, em vẫn một lòng nhớ anh. Cuộc đời cuả em vẫn là của anh. Vừa rồi có một người bạn của anh Joseph có đến Gênes, và gặp em. Y cho biết ở Paris người ta chơi bời vui thích lắm…Em mong rằng cuộc sống phồn hoa náo nhiệt ở thủ đô không thể khiến anh chóng quên con bé nhà quê ở Marseille, vợ chưa cưới của anh. Y gặp anh cặp tay đi chơi mát với bà T…(1) trong khu rừng Boulogne, nhưng em nghĩ có lẽ nào anh lại quên hôm đi dạo mát của hai đứa mình trên bến Marseille?”
Désirée không ngờ một điều là Napoléon đang nổi tiếng như cồn, nhờ chiến công của chàng trong ngày lịch sử 13 Vendemiaire…Napoléon được chính phủ cách mạng đặc biệt lưu ý, và được các giới chính khách Paris tâng bốc, đề cao  như một vị anh hùng. Chàng cũng đang say mê một quả phụ đẹp lộng lẫy, lớn hơn chàng 12 tuổi, và cũng yêu chàng tha thiết, Bà Joséphine de Beauharnais.
Bà này là vợ của Đại tướng Beauharnais đã tử trận, và là bạn thân của các nhân vật cao cấp, nhất là của Barras, Chủ tịch Chính phủ cách mạng.
So sánh Joséphine với Désirée Clary, Napoléon thấy hai người khác nhau một trời một vực.
Thế rồi, không bao lâu Napoleon chính thức kết hôn với Joséphine…

Napoléon kết hôn với Josephine vì ái tình, nhưng cũng vì tham vọng. Địa vị của Joséphine, một quả phụ giàu sang ở thủ đô, với sắc đẹp lộng lẫy và quý phái quyễn rũ Napoléon hơn là một cô gái ở tỉnh, dầu cô này hiền lành chất phác hơn. Viên Thiếu tướng trẻ tuổi đang mơ chuyện cao xa, hy vọng nhờ Joséphine vận động với Chủ tịch chính phủ cách mạng, Barras, bạn thân của nàng, để cho chàng được lên Trung tướng Tư lệnh Bộ đội Viễn chinh Pháp sang đánh giặc ở Italie. Và chàng được toại nguyện.

(1) Bà Tallien, một tình nhân của Napoleon ở Paris
Nghe tin Napoléon đã thành hôn với Joséphine. Désirée Clary gửi cho vị hôn phu bạc tình một bức thư ngây thơ cảm động sau đây:
“Anh đã cưới vợ thật rồi ư? Thôi thế là Désirée đau khổ này không còn hy vọng gì được yêu anh nữa, được nhờ anh nữa! Từ nay, em chỉ còn một chút an ủi là biết rằng anh sẽ tin chắc nơi mối tình chung thủy của em; chung thủy với anh rồi chết. Em sẽ cho anh thấy rằng em sẽ trung thành mãi với lời thề nguyện…Giữa lúc anh đang tận hưởng hạnh phúc, em mong rằng anh đừng quên Désirée. Anh nên thương hại cho số phận của nó…”
Được thư này, Napoléon thành thực hối hận và đau xót lắm. Ông biết rằng Désirée vẫn yêu ông tha thiết nhưng vì hoàn cảnh chính trị, khi ông chọn lựa Joséphine ông đành chịu vậy, không thể trở về với người yêu cũ. Nhưng ông quyết thế nào cũng nâng đỡ Désirée. Ông tự hứa sẽ xây dựng cho Désirée một tương lai rực rỡ, sẽ đưa nàng lên một địa vị xứng đáng, sẽ giới thiệu nàng cho một vị tướng sĩ có danh vọng. Ông liền sắp đặt gả Désirée cho  Thiếu tướng Dophot trẻ tuổi đẹp trai, chỉ huy dưới quyền của ông. Hai bên đã ưng thuận nhau rồi, Désirée sắp sửa làm lễ thành hôn với vị hôn phu mới thì rủi thay cho số phận của nàng Dophot bị tử trận ngày 28-12-1797.
Désirée khóc suốt mấy tháng, bỏ ăn bỏ ngủ.
Lúc bấy giờ, nhờ Napoléon mà anh ruột của ông là Joseph Bonaparte được làm Đại sứ Pháp ở Tòa thánh Roma (La mã) bên cạnh Giáo hoàng Pie VI. Vợ của Joseph, Julie Clary chị ruột của Désirée . Ở nhờ anh rể và chị ruột Désirée được an ủi, vỗ về và làm quen với nhiều nhân vật thân cận của Tòa Đại sứ. Joseph giới thiệu cô em vợ cho một viên Thiếu tướng khác, bạn thân của ông là Bernadotte.
Thiếu tướng Bernadotte lớn hơn Napoléon 5 tuổi. Trước kia ở dưới quyền của Napoléon, sau làm đại sứ Pháp ở Vienne. Bernadotte nổi tiếng là một vị quan cương quyết và cứng rắn, thường chống chọi Napoléon. Désirée chưa được quen biết Bernadotte nhiều nhưng đang lúc buồn rầu thất vọng, được anh rể và chị gái giới thiệu là nhận lời ngay. Hôn lễ cử hành ngày 18-8-1798 tại Paris, do Joseph là anh và Lucien là em của Napoléon làm chứng. Được tin này Napoléon hối tiếc chứ không vui mừng gì vì bây giờ ông mới nhận thấy Joséphine có tính nết lẳng lơ, không đứng đắn chân thật bằng Désirée Clary. Ghen và buồn, ông chỉ gửi về Joseph một câu chúc mừng cho Désirée ngắn ngủi như sau: “ Tôi chúc Désirée có hạnh phúc với Bernadotte.” Désirée hiểu ngầm rằng Napoléon vẫn còn yêu mình.
Napoléon lên chức Đại tướng, với những chiến công oanh liệt ở Italie,ở Egypte…Cả Châu Âu, Phi châu, Cận đông đã bắt đầu ghê sợ vị anh hùng của Cahcs mạng Pháp, đem quân đến đâu là thắng đến đó, và thắng những trận vang lừng nhất của Lịch sử.
Bernadotte ganh ghét bậc anh tài được lừng danh bốn bể, và tìm cách làm hại Napoléon. Nhưng Désirée Clary, cô vợ trẻ, đẹp ngoan ngoãn của ông dùng lời lẽ dịu hiền khuyên lơn và can gián không cho ông có một hành động nào có thể cản trở sự nghiệp và thanh danh của người yêu cũ.
Ở Egypte về, Napoléon gây cuộc đảo chính, rồi được tôn lên ngôi Hoàng đế nước Pháp . Bernadotte căm giận hết sức, nhưng nghe lời vợ, ông cũng không phản đối, để mặc Napoléon tha hồ làm mưa làm gió, chuyển động tất cả các ngai vàng châu Âu.
Một năm sau lễ thành hôn, Désirée sinh được con trai. Chiều theo ý vợ, Bernadotte xin Napoléon làm cha đỡ đầu cho đứa nhỏ. Napoléon vui vẻ nhận lời ngay, và đặt tên cho con trai đầu lòng của Désirée là Oscar, lấy tên một  nhân vật của thi sĩ Ossian mà Napoléon mến phục. Hơn nữa, lên ngôi Hoàng đế xong, Napoléon liền tặng cho vợ chồng Bernadotte (nói là tặng cho Désirée thì đúng hơn) một lâu đài tráng lệ đáng giá 400.000 quan, và thăng chức Bernadotte lên làm Thống chế.
Désirée Clary sung sướng và hãnh diện được Napoléon cất nhắc từ một cô hàng vải ở tỉnh lên làm bà Thống chế ở Thủ đô, và được Hoàng đế luôn luôn săn sóc đến. Tuy vậy Désirée không thích ra vào Cung điện của Napoléon vì nàng ganh ghét Hoàng hậu Joséphine. Hễ ai nhắc đến tên Joséphine thì Désirée bĩu môi nói : “ Cái con mẹ già ấy chỉ làm khổ Hoàng đế”.
Năm 1805, Thống chế Bernadotte được lệnh chỉ huy một quân đoàn ở Asteslitz. Chiến công của Bernadotte không được rực rỡ lắm, nhưng Napoléon cũng ban thưởng ông, và tặng ông chức Hoàng tước Vương quốc Ponte Corvo.
Năm 1810, Hoàng đế Napoleon ký sắc lệnh bổ Thống chế làm Phó vương ở Rome, với lương tháng hai triệu Pháp kim. Bernadotte cùng vợ sắp sửa đi nhậm chức mới thì có một việc lạ lùng xảy ra.
Vua Charles XIII nước Suède, bắc Âu, già sắp chết, không có con trai nối ngôi, gửi thư xin Napoléon cho ông một người kế vị . Quốc hội Suède cũng đồng thanh gửi lời cầu khẩn ấy. Napoléon liền cử Bernadotte lên ngôi Vua Suède. Trong thâm tâm của ông, ông muốn cho Désirée Clary, người yêu cũ lên chức Hoàng hậu. Thế là ngày 20-5-1810, nhờ uy quyền của Napoléon, Bernadotte kế vị vua Charles XIII và Désirée Clary làm Hoàng hậu nước Suède.
Tiễn Bernadotte và Désirée ra đi, Napoléon còn tặng cho hai vợ chồng một triệu Pháp kim, và phong chức tước cho người anh ruột của Désirée ở Marseille.
Désirée chỉ ở Stockholm, thủ đô Suède, một thời gian ngắn, rồi trở về Paris. Nơi đây, Hoàng hậu Désirée có người chị ruột Julie, vợ Joseph, cũng được Napoléon cho làm Hoàng hậu xứ Espagne.
Désirée chỉ thích ở Paris ăn chơi thỏa thích. Mãi đến năm 1823, Hoàng hậu mới chịu đến Stockholm để dự lễ cưới của Thái tử Oscar, con trai trưởng của bà. Rồi từ đó ở luôn xứ Suède.
Năm 1844, Bernadotte chết, Thái tử Oscar liền kế vị. Hoàng hậu Désirée còn sống 15 năm nữa, thọ 80 tuổi.
Bà vẫn nhắc đến Napoléon mãi mãi và mỗi lần bà lấy ra khoe với mọi người những bức thư tình cũ kỹ của chàng Trung úy Napoléon Bonaparte gửi cho bà ở Marseille hồi còn 18 tuổi thì đôi mắt của bà sáng rực hẳn lên, nét mặt bà hồng hào, bà nở nụ cười hãnh diện, cất giọng nói đê mê:
-         Tôi không bao giờ quên rằng tôi là mối tình đầu tiên của Napoléon, và mối tình trong sạch nhất của Hoàng đế
Vua nước Suède hiện nay là Gustave V, là cháu ba đời của Hoàng hậu Desiree Clary và Quốc vương Bernadotte, do Napoleon đặt lên ngai vàng xứ ấy, từ năm 1810




Đăng nhập để trả lời
0