📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

CÔ GÁI ĐAN MẠCH (Từ trang 5 - trang 124)

1 trả lời, 155 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.02.2018 10:03:05 bởi ticonuong>
CÔ GÁI ĐAN MẠCH
(Tiểu thuyết)
Tác giả : DAVID EBERSHOFF
Người dịch : TRẦN NGUYÊN HƯƠNG
 
 
Lởi khen dành tặng cho tác giả David Ebershoff và tác phẩm Cô Gái Đan Mạch.
 
 
"David Ebershoff... đã tạo ra một thế giới trong tưởng tượng hết sức phong phú... Tác phẩm của ông là một siêu phẩm; những chi tiết về thời đại tô điểm thêm cho cốt truyện một cách tuyệt đẹp... Ebershoff đã viết lên một câu chuyện tình yêu vừa hiếm có, vừa xúc động xoay quanh tình huống phải đương đầu với nhiều bí mật của người khác... Đây là một cuốn sách với cốt truyện phức tạp và sâu sắc... Sự thông minh và khéo léo khi khai thác "chủ đề tình yêu" đã làm cho tiểu thuyết này trở thành một hiện tượng đáng chú ý"
 - Báo NewYork Times
 
" Một tiểu thuyết hiếm có... Tác phẩm Cô gái Đan Mạch là một bước đột phá hết sức táo bạo của một người lần đầu tiên viết tiểu thuyết. Vậy mà Ebershoff đã thành công với sự tinh tế, đẹp đẽ và đầy trí tuệ. Những thứ vốn đồng bóng và dung tục dưới bàn tay của kẻ nghèo lòng trắc ẩn, hóa ra lại trở thành điểm tựa để khám phá định dạng giới tính. Hơn nữa, đây đúng là một bản thánh ca tuyệt vời dành cho một tình yêu hiếm có và bền vững"
 - Báo Boston Globe
 
"Sức ảnh hưởng đầy uy lực của cuốn tiểu thuyết không chỉ do lời văn sinh động và đầy giai điệu của Ebershoff mà còn nhờ vào khả năng tránh xa những lời sáo rỗng đương thời về hiện tượng rối loạn định dạng giới tính và vấn đề chuyển giới".
 - Báo Chicago Tribune
 
"Ebershoff tôn trọng những tầng tầng lớp lớp những cảm giác mơ hồ và những day dứt âm thầm về tâm lý. Ông ấy bắt buộc chúng ta phải đào sâu suy nghĩ... Ở đâu đó trong những trang sách này, nắp đậy của chiếc hộp về định dạng giới tính được bật mở và toàn bộ sự biến hóa trở nên hết sức chân thực. Ebershoff đã thành công trong việc sử dụng mánh lới khiến cho những tác giả khác phải lắc đầu chào thua. Ông ấy thuyết phục chúng ta tin vào sự phản nghịch lạ lùng khiến chúng ta sẵn sàng bóp mèo bản thân nguyên thủy để tin vào một cái tôi khác... một quá trình trầm tư suy nghĩ đầy phức tạp để tìm kiếm bản chất của việc định dạng giới tính".
 - Tạp chí Esquire
 
"Một câu chuyện kỳ quái làm choáng ngợp tâm trí về sự biến đổi giới tính, lòng trung thành và tình yêu... Ngông cuồng, lôi cuốn, điểm thêm chút sợ hãi... đầy quyến rũ... Cuốn tiểu thuyết Cô gái Đan Mạch đánh dấu sự ra mắt hết sức nổi bật của tác giả"
 - Báo NewYork Post
 
"Vừa giật gân và bất chấp tất cả, lại cực kỳ thương tâm... Tiểu thuyết của Ebershoff thể hiện đầy đủ bối cảnh và sự khéo léo tôn trọng phẩm giá của nhân vật. Thật khó mà không cảm thấy xúc động"
 - Báo Baltimore Sun
 
"David Ebershoff đã viết nên một câu chuyện tình yêu được đặt tả tuyệt đẹp và sâu sắc (mặc dù đây là một câu chuyện hết sức phá cách)"
 - Tạp chí Milwaukee Journal Sentinel
 
"Làm người ta xúc động đến lạ thường... khó để phân loại và khó để buông xuống"
 - Báo Detroit News/ Free Press
 
"Ebershoff để ý đến từng chi tiết khi viết lách. Từng trang sách lấp lánh những màu sắc, hương thơm, kết cấu và chuyển động... một phong cách hành văn sáng tạo và hấp dẫn... Một cuốn tiểu thuyết quyến rũ, hay ho nhờ vào những hương vị mới lạ đầy tinh tế và những nhân vật với tấm lòng sâu sắc"
 - Báo San Francisco Chronicle
 
"Tác phẩm Cô gái Đan Mạch là một câu chuyện thật rất sâu lắng, gợi tình về lòng chung thủy trong hôn nhân và những lệch lạc về tính dục"
 - Tạp chí Mademoiselle
 
"Sự thức tỉnh về nhận thức trong tâm hồn của Einar xảy đến một cách chậm chạp và tinh tế qua ngôn ngữ văn thơ hết sức tao nhã... Ebershoff đã kể lại câu chuyện tuyệt vời này bằng giọng văn vừa linh hoạt, vừa cô đọng gợi cho người ta liên tưởng đến sự điêu luyện của một nhà văn chuyên viết về tiểu thuyết lâu năm chứ không phải là tác phẩm của một cây bút mới ra mắt công chúng. Ông đã nắm bắt được bản sắc Châu Âu của những năm 1930 và hoàn toàn làm chủ ngòi bút phát họa khung cảnh chính... với ý tưởng chuẩn xác và cái nhìn tinh tường đến từng chi tiết. Tác phẩm Cô gái Đan Mạch là một thành công sáng chói nhưng không phô trương, ẩn chứa sức công phá mạnh mẽ của trí sáng tạo với lịch sử và lòng vị tha"
 - Tạp chí Atlanta Journal Constitution
 
"Đúng là cuốn tiểu thuyết đầu tay cuốn hút đến ngạc nhiên"
 - Tạp chí Entertainment Weekly
 
"Một tác phẩm đầu tay được đầu tư tỉ mỉ và cực kỳ độc đáo"
 - Tạp chí Time Out New York
 
"Hiếm khi đề tài nhạy cảm như định dạng giới tính được gợi mở một cách tế nhị đến thế... Những cảm nhận về bối cảnh lịch sử của Ebershoff đã được viết thành lời một cách đầy cảm xúc nhưng cũng không kém phần thi vị"
 - Tạp chí Publishers Weekly (Starred Review)
 
"Văn phong của Ebershoff thật hoa mỹ... Tác phẩm đầu tay của Ebershoff chính là minh chứng tốt nhất cho điều này"
 - Tạp chí Interview
 
"Cuốn tiểu thuyết đầu tay tuyệt vời của David Ebershoff vốn dựa trên một câu chuyện có thật... nhưng được viết lại quá hay. Đây là một tác phẩm hoàn toàn làm choáng ngợp tâm trí người đọc. Một tác giả dày dạn kinh nghiệm cũng phải tự hào nếu viết được một truyện ngắn tinh tế, chắc chắn và đầy trí tuệ đến vậy. Còn nếu đây là tác phẩm đầu tay, thì đúng là một thành tựu đáng ngạc nhiên"
 - Báo Sunday Express
 
"Vừa kích thích, vừa khiến người ta mê đắm... một câu chuyện gây tiếng vang về sự hóa thân và quá trình định dạng giới tính. Quyển sách tuyệt vời này xứng đáng nhận được sự yêu thích từ lượng lớn độc giả"
 - Báo Daily Telegraph
 
"Một tác phẩm đầu tay vừa xúc động, vừa thanh nhã. Việc bẻ cong giới tính trong tiểu thuyết đã tồn tại rất lâu, xuất pháp từ Thần thoại Hy Lạp. Hai tiểu thuyết gần đây nhất đề cập đến vấn đề này là tác phẩm "Written on the body" (tạm dịch là "Viết trên thân thể") của nhà văn Jeannette Winterson và tác phẩm "Sacred Country" (tạm dịch "Đất nước thiêng liêng") của nhà văn Rose Tremain. Ebershoff cũng khai thác chủ đề tương tự nhưng không hề đi theo lối mòn mà lại bộc lộ sức sáng tạo cực kỳ nổi bật. Ông còn thể hiện được khả năng cảm nhận hết sức ấn tượng về thời gian và không gian - thủ đô Copenhagen, Paris hay Dresden đều lần lượt tái hiện lại một cách tinh tế. Ông nhạy cảm nhưng không ủy mị, lời văn gãy gọn nhưng tao nhã. Quan trọng hơn hết thảy, điều mà Ebershoff bộc lộ chính là khả năng của một nhà văn luôn biết cách hòa mình làm một với tác phẩm của mình"
 - Tạp chí New Statesman
 
"Cô gái Đan Mạch đẽ làm tôi say đắm... Một tác phẩm vừa tinh tế, vừa gợi cảm"
 - Tạp chí Elle
 
"Quyển sách này tác động đến từng giác quan. Không gian và thời gian được tái hiện lại qua hàng loạt hình ảnh vừa mang tính biểu tượng, vừa kích thích thị giác đến mức khiến người ta mê mẩn. Văn phong rất nghệ sĩ của tác giả hoàn toàn phù hợp với một tác phẩm có nghệ thuật đóng vai trò thiết yếu trong quá trình phát triển nhân vật. Từ việc Einar và vợ anh đối xử với nhau đầy vị tha đến một chủ đề khá hấp dẫn, tất cả đều được khắc họa một cách đầy tôn trọng"
 - Báo Art Newspaper
 
"Đây là một câu chuyện hết sức cảm động, được kể với một giọng văn trong sáng và tế nhị cho thấy tầm hiểu biết hết sức sâu sắc về những tình huống hết sức nhạy cảm. David Ebershoff đã rất nổ lực để tránh sử dụng những từ ngữ gợi dục hay khiêu dâm. Thay vào đó, ông đã sáng tạo ra một câu chuyện tôn vinh tình yêu đích thực, có cả đau khổ và hy sinh"
 - Báo Sunday Telegraph
 
"Tinh tế, thanh nhã khiến người ta phải rung động"
 - Tạp chí Observer
 
Dành tặng cho Mark Nelson
 
 
PHẦN MỘT
COPENHAGEN, NĂM 1925
 
 
CHƯƠNG MỘT
 
 
Vợ anh là người biết đầu tiên. Vào buổi chiều hôm đó Greta gọi với ra từ phòng ngủ: "Anh giúp em làm một việc được không? Giúp em việc này một chút thôi."
"Tất nhiên rồi," Einar đáp lại, ánh mắt vẫn chăm chú vào khung vải bố, "bất kỳ điều gì em muốn."
Đó là một ngày hơi lạnh với từng đợt gió rét thổi vào từ biển Baltic. Họ đang sống cùng nhau trong một căn hộ tại khu nhà Widow House. Einar, người đàn ông với vóc người nhỏ nhắn và chưa đầy ba mươi lăm tuổi, đang ngồi khắc họa lại khung cảnh mùa đông trên biển Kattergat dựa trên trí nhớ của mình. Vùng biển đen ngòm với những con sóng bạc đầu hung dữ là nơi đã chôn vùi hàng trăm ngư dân đang trên đường về cảng Copenhagen với mẻ cá biển đánh bắt được. Người hàng xóm sống ngay dưới lầu cũng là thủy thủ, một gã đàn ông với cái đầu nhìn giống hình viên đạn và hay chửi rủa vợ mình. Đang vẽ đến phần sóng cuộn màu xám xịt cho từng ngọc sóng, Einar tưởng tượng đến hình ảnh gã thủy thủ kia sắp chết đuối, bàn tay giơ cao trong tuyệt vọng nhưng vẫn dùng cái giọng rề rà, nát rượu chửi mắng vợ mình là con điếm xứ cảng. Nhờ vậy mà Einar đã biết mình cần phối màu tối đến mức nào: màu sắc phải xám xịt đủ để nuốt chửng cái loại đàn ông như vậy, giống như bột nhão đang nhấn chìm tiếng gầm nhỏ dần của gã ta.
Trẻ tuổi hơn chồng, Greta trông rất duyên dáng, với khuôn mặt căng tròn mịn màng lên tiếng: "Em sẽ ra ngay sau một phút nữa, rồi chúng mình bắt đầu."
Trong hội họa, Einar cũng khác hẳn vợ mình. Anh thường vẽ cảnh địa phương hoặc cảnh biển. Khung cảnh trong những bức hình chữ nhật của anh thường được chiếu sáng bởi nắng rọi xiên vào tháng sáu, hoặc là ánh sáng mờ nhạt của mặt trời tháng giêng. Greta thì chuyên về vẽ chân dung cho những người có chút ít thế lực. Cô thường vẽ họ với đôi môi hồng, từng thớ tóc sáng bóng và thường là với tỉ lệ thực. Herr I. Gluckstadt, nhà tài phiệt đứng sau việc thiết lập Khu cảng Tự Do Copenhagen. Christian Dahlgaard, nhà kinh doanh về da lông thú của nhà vua. Ivar Knudsen, thành viên quản trị của hãng đóng tàu Burmeister & Wain. Và nhân vật của ngày hôm nay là Anna Fonsmark, cô ca sĩ có giọng nữ trung của Nhà hát Hoàng gia Đan Mạch. Nhiều giám đốc điều hành và các nhân vật có máu mặt của ngành công nghiệp thường đặt Greta vẽ chân dung để trưng bày trong văn phòng, trên ngăn tủ đựng hồ sơ hoặc treo dọc hành lang hay bị chặn ngang bởi xe đẩy hàng của công nhân.
Greta xuất hiện ở khung cửa. "Anh có chắc là anh không cảm thấy phiền nếu tạm ngưng tay một chút để giúp em không?" Khẽ vuốt tóc ra sau, cô hỏi. "Em sẽ không nhờ anh nếu là việc không mấy quan trọng. Nhưng mà Anna lại hủy hẹn rồi. Anh giúp em ướm thử đôi tất lụa và cả đôi giày của cô ấy, được không?"
Từ phía sau Greta, ánh mặt trời tháng tư gọi qua tấm lụa mềm mại nằm trong bàn tay cô ấy. Nhìn ra ngoài cửa sổ, Einar có thể thấy tháp Rundetarn trông như một ống khói bằng gạch khổng lổ và ngay trên bầu trời là chiếc máy bay của hãng Deutscher Aero-Lloyd đang hối hả bay ngược về Berlin.
"Greta", anh hỏi lại "ý em là sao?" Một giọt sơn dầu rơi từ cây cọ vẽ xuống đôi ủng mà anh đang mang. Chú chó Edvard IV bắt đầu sủa vang, cái đầu trắng muốt cứ quay qua quay lại giữa Einar và Greta.
Greta giải thích: "Anna lại hủy hẹn rồi. Cô ấy cần phải tập luyện thêm cho vở Carmen. Em thì lại cần hình mẫu của một đôi chân để hoàn thành bức vẽ của cô ấy, không thì chẳng biết lúc nào xong được và em chợt nghĩ thay thế bằng chân anh cũng được mà."
Greta bước đến gần chồng mình, trên tay là một đôi giày màu vàng mù tạt với những chiếc khóa bằng thiếc. Cô đang mặc một chiếc áo khoác có hàng nút ở phía trước và có cả túi hộp để nhét những thứ linh tinh mà cô không muốn cho Einar thấy.
"Nhưng anh không thể mang giày của Anna được", Einar đáp lời. Ngắm nghía đôi giày, Einar nghĩ đến cảnh chiếc giày sẽ ôm khích đôi chân nhỏ nhắn khum khum và hơi đệm cao ở phần gót của minh. Những ngón chân của anh khá mảnh dẻ với chỉ vài cọng lông tơ màu đen. Anh lại hình dung ra cảng tượng đôi tất lụa hơi nhàu khẽ cuộn và lướt qua chỗ xương mắt cá chân trắng ngần. Rồi bao bọc lấy phần bắp đùi, gắn liền với phần móc của nịt bít tất. Einar buộc phải nhắm mắt lại.
Đôi giày trông y hệt như thứ mang trên chân con ma-nơ-canh mặc bộ váy màu lam đậm mà họ đã thấy qua khung kính tại cửa hàng bách hóa Fonnesbech. Einar và Greta phải dừng lại để ngắm nhìn qua khung kính đã được trang trí bằng một vòng hoa trường thọ. Greta xuýt xoa: "Đẹp thật, phải không anh?" Khi thấy chồng mình không phản ứng gì và phản chiếu từ tấm kính là hình ảnh đôi mắt anh mở to, Greta phải kéo Einar ra khỏi khung kính của cửa hàng Fonnesbech. Cô kéo anh ra ngoài đường lớn, băng qua cửa hàng bán ống nước, hỏi han: "Einar, anh không sao chứ?".
Phòng phía trước của căn hộ được dành ra làm xưởng vẽ. Trần nhà được chống đỡ bằng những cây xà mảnh, cong cong thành mái vòm trông như chiếc thuyền đánh cá bị lật úp. Hơi nước từ biển đã làm cong vênh những cửa sổ ở mái nhà, còn sàn nhà thì nghiêng rất nhẹ về hướng tây. Khi chiều xuống, mặt trời chiếu thẳng vào khu nhà Widow House, một mùi cá biển nhàn nhạt sẽ len lỏi vào từ các vách tường. Vào mùa đông, mưa phùn sẽ rỉ qua những chỗ dột trên phần mái kính, làm phồng rộp lớp sơn trên vách tường. Einar và Greta đều đặt giá vẽ ngay dưới phần mái kính đôi, bên cạnh mấy chiếc thùng sơn dầu đặt hàng từ chỗ Herr Salathoff tận Munich và mấy hàng khung vải bố còn để trắng. Khi Einar và Greta không vẽ, hai vợ chồng cất giữ tất cả mọi thứ dưới tấm vải nhựa màu xanh lá bị gã thủy thủ dưới lầu quăng lăn lóc ngay trên thềm.
"Tại sao em lại muốn anh mang giày của cô ấy?", Einar thắc mắc. Anh ngồi trên chiếc ghế bện dây thừng mang về từ túp lều nhỏ nằm sau trang trại của bà nội. Chú chó Edvard IV nhảy lên đùi anh, vẫn đang run rẩy vì tiếng quát tháo của gã thủy thủ dưới lầu.
"Để em hoàn thành bức vẽ cho Anna", Greta đáp. Rồi cô tiếp lời, "Em sẽ giúp anh mang giày mà." Trên gò má của cô lờ mờ một vết sẹo do bệnh thủy đậu. Ngón tay cô khẽ cọ vào vết sẹo ấy. Einar biết đó là thói quen của vợ mình khi cô áy náy.
Greta quỳ xuống tháo đôi ủng khỏi chân Einar. Mái tóc dài của cô vàng óng đúng chất Đan Mạch hơn hẳn màu tóc Einar. Cô thường vén tóc ra sau tai khi bắt tay vào việc gì mới. Lúc này, vài cọng tóc lòa xòa phủ qua mặt khi cô động đến nút buộc dây giày của Einar. Cơ thể cô toát ra mùi tinh dầu cam. Đây là loại tinh dầu được mẹ cô gởi sang hàng năm, gói kỹ trong kiện hàng đầy những lọ thủy tinh màu nâu mang nhãn hiệu "Chiết xuất tinh dầu vùng Pasadena". Mẹ Greta cứ nghĩ cô sẽ dùng nó để nướng bánh dùng kèm với trà, nhưng Greta lại dùng để điểm lên phía sau tai.
Greta bắt đầu cọ rửa hai bàn chân Einar đặt trong chậu. Cô dịu dàng mà thoăn thoắt cọ xát miếng bọt biển qua từng ngón chân anh. Einar cuộn ống quần lên cao hơn. Anh thầm nghĩ, hóa ra bắp chân mình cũng cân đối đấy chứ. Anh nhẹ nhàng duỗi thẳng chân, và con Edvard IV tung tăng chạy đến liếm mấy giọt nước dính trên ngón chân út, chính là ngón chân hình đầu búa và không có móng từ khi anh sinh ra.
"Chúng mình giữ bí mật này nhé, Greta?" Einar thì thầm. "Em sẽ không kể với bất kỳ ai khác, đúng không?" Anh vừa sợ, vừa kích động, tim anh đập thình thịch như chực nhảy ra khỏi lồng ngực.
"Em biết kể với ai bây giờ?"
"Với Anna"
"Anna không cần biết mấy việc này," Greta đáp.
Einar nghĩ, dù có được kể thì Anna vẫn là ca sĩ opera. Cô ấy chắc quen với việc đàn ông mặc trang phục phụ nữ, và phụ nữ mặc trang phục đàn ông như trong vở Hosenrolle. Đó là cú lừa bịp cổ xưa nhất trên thế giới, và trên sân khấu kịch opera, những chuyện thế này chẳng có gì là to tát hơn ngoài việc tạo ra sự nhầm lẫn. Mà nhầm lẫn thì thế nào cũng được hóa giải trong màn cuối cùng của vở kịch.
"Không ai biết chuyện này đâu", Greta trấn an, và Einar có cảm giác như ánh đèn sân khấu đang chiếu thẳng vào mình, bắt đầu thả lỏng và tự kéo tất lụa lên bắp chân.
"Anh đang kéo ngược tất đấy," Greta chỉnh lại đường may trên tất cho đúng hướng rồi bảo: "Kéo nhẹ nhàng thôi anh."
Chiếc tất thứ hai rách toạc. Einar hỏi: "Em còn chiếc nào khác không?"
Gương mặt Greta đông cứng lại như thể vừa nhận ra điều gì đó, rồi cô đi đến ngăn kéo tủ quần áo màu xám tro. Phần trên tủ quần áo là một ngăn riêng với chiếc gương hình bầu dục được gắn ngay trên cửa. Phần dưới là ba ngăn kéo với tay nắm hình khuyên làm bằng đồng thau, còn ngăn kéo trên cùng được Greta khóa lại bằng một chiếc chìa khóa nhỏ xinh.
Đưa cho Einar đôi tất lụa thứ hai, Greta nói: "Đôi này dày hơn." Đôi tất được gấp vuông vức gọn gàng. Với Einar, đôi tất trông như da người thật - như làn da nâu bóng của Greta sau kỳ nghỉ hè ở Menton. Cô dặn dò: "Cẩn thận nhé. Ngày mai em còn phải mang nó đấy."
Lấp lánh dưới mái tóc của Greta là làn da trắng mịn, và Einar bắt đầu tự hỏi cô ấy đang nghĩ gì dưới lớp da thịt ấy. Với ánh mắt hướng lên trên và cái miệng bĩu ra, chắc hẳn cô ấy đang chăm chú suy nghĩ điều gì đó. Einar cảm thấy khó lòng mở miệng để hỏi, anh cảm thấy mình như bị khóa chặt, bị chặn miệng bởi miếng giẻ lau cũ nghét lấm lem màu vẽ. Thế nên anh tự vấn trong thầm lặng với chút bực bội khẽ dâng trào dưới khuôn mặt nhợt nhạt, trơn láng trông như lớp da của quả đào trắng. Nhiều năm về trước, khi lần đầu đứng cạnh nhau cô đã xuýt xoa: "Anh đúng là một người đàn ông xinh đẹp."
Greta ắt hẳn đã nhận ra sự bực bội của anh vì cô lập tức vươn tay ra véo má Einar và dịu dàng lên tiếng: "Em không có ý gì đâu." Sau đó, cô tiếp lời, "Biết đến bao giờ anh mới thôi lo lắng người khác nghĩ gì về mình hử?"
Einar yêu nhất là lúc Greta quả quyết mấy lời như vậy - cách cô vung tay trong không khí và khăng khăng cho rằng những gì cô tin tưởng thì cả thế giới cũng phải nghe theo. Anh nghĩ chính là điều đó, cộng thêm gu yêu chuộng nữ trang bằng bạc là điểm mà cô giống dân Mỹ nhất.
"Thật là tốt vì anh không có nhiều lông chân", cô nói cứ như thể đây mới là lần đầu tiên chú ý đến. Cô đang pha trộn màu dầu trong mấy cái bát con bằng sứ hiệu Knabstrup. Greta đã hoàn tất nửa người trên của Anna, nơi lộ ra một lớp mỡ kha khá sau nhiều năm nhắm nháp mãi món cá hồi sốt bơ. Einar cực kỳ ấn tượng với cách Greta khắc họa hình dáng bàn tay của Anna ôm một bó hoa kim châm. Từng ngón tay được vẽ một cách cẩn thận, những khớp ngón tay khẽ cong lại, móng tay sạch sẽ được tô mờ. Những bông hoa kim châm màu trắng ngà tựa ánh trăng được điểm xuyết bởi nhụy hoa màu vàng nâu. Greta vốn là một họa sĩ có phong độ thất thường, nhưng Einar chưa bao giờ nói ra điều đó với cô. Thay vào đó, anh khen ngợi cô hết sức mình, có lẽ vượt quá so với thực tế, nhưng anh vẫn luôn giúp đỡ cô bất kỳ lúc nào có thể và sẽ cố gắng truyền đạt những kỹ thuật vẽ mà anh cho là cô chưa biết, đặc biệt là về ánh sáng và luật xa gần. Một khi Greta tìm thấy đề tài tâm đắc, Einar tin chắc cô sẽ trở thành một họa sĩ tài ba. Bên ngoài khu nhà Widow House, đám mây vừa trôi qua để ánh mặt trời rọi lên bức chân dung còn dang dỡ của Anna.
Greta mua một khúc gỗ sơn từ chị giặt quần áo gốc Quảng Đông làm bục đứng cho người mẫu. Hai ngày một lần, khi đến nhận quần áo, chị thợ giặt sẽ không gọi cửa mà đánh một tiếng "ping" bằng cặp chũm chọe màu vàng đeo trên ngón tay.
Đứng trên khúc cây, Einar bắt đầu cảm thấy hoa mắt và nóng bừng cả người. Anh liếc xuống cẳng chân và trông thấy đôi tất lụa phẳng lì, ngoại trừ mấy chỗ bị lông đâm xuyên qua, trông như tóc mọc lởm chởm trên đầu người ta. Đôi giày màu vàng trông quá tí hon để chống chịu sức nặng của anh, nhưng bàn chân anh khum khum hết sức tự nhiên, cứ như anh được duỗi thẳng những cơ bắp đã lâu không cử động. Có gì đó lóe lên trong đầu Einar và anh đang chợt nghĩ đến cảnh con cáo đang đuổi bắt chuột đồng: cái mũi hồng hồng, be bé của con cáo không ngừng sục sạo đánh hơi con chuột ở mấy mô đất trên vạt ruộng trồng đậu.
"Đứng yên nào," Greta lên tiếng. Einar đưa mắt ra cửa sổ và nhìn thấy mái vòm nhọn hoắt của Nhà hát Hoàng gia, nơi mà anh thỉnh thoảng được thuê vẽ cảnh dựng cho đoàn kịch opera. Lúc này, ngay bên trong nhà hát Anna đang dượt lại vở Carmen, cô ấy sẽ mạnh mẽ vung cánh tay mềm dẻo ngay trước cảnh dựng trường đấu bò tót do anh vẽ nên. Thỉnh thoảng khi Einar đang vẽ tranh tại nhà hát, giọng Anna sẽ cất lên sang sảng như tiếng đồng vang khắp đại sảnh. Giọng hát ấy khiến tay anh run lên đến mức cây cọ quệt nhòe phần nền của bức tranh, rồi lại buộc anh giơ tay lên dụi mắt. Chất giọng của Anna không hề đẹp. Giọng cô có phần góc cạnh, buồn thảm và dường như pha trộn giữa giọng nam và giọng nữ, nhưng giọng hát của cô lại có độ rung hơn những cô ca sĩ người Đan Mạch khác, vốn thường nhỏ nhẹ, trong trẻo và xinh đẹp nhưng lại không đủ để khán giả phải rùng mình. Giọng Anna mang hơi ấm hừng hực từ phương Nam, tiếng hát ấy sưởi ấm Einar, cứ như nơi cổ họng của Einar lúc nào cũng đỏ rực vì than hồng. Anh sẽ trèo xuống chiếc thang đặt cạnh hậu trường và lẻn vào cánh gà cửa nhà hát, anh sẽ nhìn ngắm Anna trong bộ áo chẽn lông cừu trắng muốt đang mở rộng khẩu hình khi tập dượt với nhạc trưởng Dyvik. Khi hát, cô thường hay nghiêng người ra phía trước. Anna luôn kể rằng cô cảm thấy có một sức hút từ âm nhạc luôn kéo cằm cô hướng về phía dàn nhạc giao hưởng. "Tôi hình dung ra có một sợi dây xích mảnh màu bạc nối liền và gắn chặt với đầu đũa của nhạc trưởng ngay từ chỗ này", cô nói và chỉ tay vào nốt ruồi mọc trên cằm trông không khác gì mẫu vụn bánh mì. "Nếu không có sợi xích ấy, tôi cảm giác chẳng biết phải làm gì, chẳng biết phải như thế nào mới là chính mình."
Khi vẽ, Greta sẽ dùng một chiếc lược đồi mồi chải tóc gọn ra phía sau. Lúc ấy, mặt cô trông to hơn cứ như khi Einar nhìn qua một cái bát chứa đầy nước. Greta có lẽ là người phụ nữ cao nhất mà anh từng quen biết. Chiều cao của cô đủ để liếc qua chỗ trống của mấy tấm rèm đính ren treo trước cửa sổ của căn hộ dưới tầng trệt. Khi đứng cạnh Greta, anh cảm thấy mình thật nhỏ bé, như đứa con trai luôn phải ngước mắt lên mới nhìn được từ cằm lên mắt cô, và phải cố gắng lắm mới với được tới tay cô. Chiếc áo khoác đắp túi hộp của Greta phải đặt hàng riêng từ chỗ cô thợ may có làn da trắng bóc ngay góc phố. Khi dùng thước dây màu vàng để đo vòng ngực và chiều dài cánh tay của Greta, cô thợ may vừa ngưỡng mộ vừa lấy làm khó tin rằng một phụ nữ cao to khỏe mạnh như vậy lại không phải là dân Đan Mạch.
Einar vô cùng ngưỡng mộ sự tập trung hết sức linh hoạt khi Greta vẽ tranh. Cô có thể vừa dặm thêm một chút ánh sáng ở mắt trái, sau đó mở cửa nhận hàng của công ty cung cấp sữa Busk, rồi dễ dàng quay lại với phần ánh sáng mờ hơn ở bên phải. Cô vừa vẽ vừa hát lên những ca khúc sinh hoạt lửa trại. Cô còn kể cho người mẫu về thời thiếu nữ của mình hồi còn ở California, nơi có chim công đến làm tổ trong vườn cam của ông cô. Một lần, khi vừa quay về đến cửa căn hộ trên những bậc cầu thang tối om, Einar còn nghe trộm Greta than thở với cô người mẫu về việc khoảng cách giữa lần thân mật của hai người càng lúc càng dài hơn. "Anh ấy lúc nào cũng nghiêm trọng hóa vấn đề, nhưng tôi chẳng bao giờ trách anh ấy." Einar có thể tưởng tượng ra cảnh vợ mình vừa hất tóc ra sau vừa càu nhàu.
"Chúng đang bị tuột kìa." Greta khẽ nhắc, chỉ chỉ cây cọ vào đôi tất. "Kéo chúng lên tí nữa."
"Có cần phải vậy không?"
Gã thủy thủ dưới lầu chợt đóng sầm cửa, tiếp theo đó là một màn im lặng ngoại trừ tiếng cười khúc khích của vợ anh.
"Ôi, Einar. Anh không bao giờ biết thư giãn sao?" Greta kêu lên, nụ cười của cô chìm nghỉm rồi vụt tắt. Con Edvard IV lon ton chạy vào phòng ngủ, bắt đầu lục lọi tấm khăn trải giường rồi lại thở dài. Nó là một con chó già sinh ra ở khu đầm lầy ở trang trại vùng Jutland. Mẹ nó cùng đám anh em khác đều bị chết ngộp dưới lớp than bùn ẩm thấp.
Căn hộ của hai vợ chồng nằm trên tầng gác mái của một tòa nhà do chính phủ mở cho những người vợ quá của ngư dân. Khác với những căn hộ mặt phố ở Copenhagen, căn hộ này có cửa sổ hướng ra phía Bắc, phía Nam và phía Tây, nên có đủ ánh sáng để Einar và Greta vẽ tranh.
Họ suýt nữa chuyển đến sống tại một căn nhà trong thị trấn của khu Christianshavn nằm phía bên kia vùng Inderhavn. Đó là nơi mà giới nghệ sĩ sống chung với gái điếm và mấy gã cờ bạc nát rượu, bên cạnh xưởng trộn xi măng và công ty nhập khẩu. Greta bảo sống ở đâu cũng được vì chưa có nơi nào làm cô cảm thấy khó ở sau khi đã chịu đủ thảm cảnh ngủ dưới mái nhà tranh suốt mười lăm năm đầu đời. Einar cực lực phản đối ý tưởng đó và tìm được một chỗ trong khu Widow House.
Mặt ngoài khu nhà được sơn màu đỏ. Khu nhà chỉ cách kênh Nyhavns một dãy phố. Cửa sổ mở ra từ mái nhà dốc đứng lợp ngói đã bị rêu phủ đen xì, còn phần mái kính thì được trổ rất cao. Mấy căn nhà khác dọc con phố đều được quét sơn trắng và lắp cửa trước kiểu tám ô tứ giác sơn xanh màu tảo. Đối diện con phố là nhà bác sĩ Moller, người chuyên cấp cứu cho mấy sản phụ sinh con giữa đêm khuya. Chỉ có vài chiếc ô tô chạy dọc con phố dẫn ra ngõ cụt tại Inderhavn, khiến cho không gian vắng lặng đủ để nghe rõ tiếng khóc của một cô bé nhút nhát vọng lại từ đàng xa.
"Anh muốn quay lại làm việc", Einar cuối cùng cũng mở miệng, mệt mỏi vì phải đứng trên đôi giày có khóa thiếc kéo chật ních.
"Vậy là anh không muốn mặc thử váy đầm của cô ấy sao?"
Khi cô nói đến từ "váy đầm", bụng dạ anh bỗng dưng nóng lên, rồi một nỗi xấu hổ dâng lên trong ngực. Einar trả lời: "Không, anh không muốn."
"Vài phút thôi cũng không được sao?" cô nài nỉ. "Em cần phải vẻ xong phần gấu váy lấp lửng trên đầu gối." Cô thả mình trên chiếc ghế bện thừng đặt cạnh anh, vuốt ve bắp chân anh qua lớp lục. Bàn tay cô như đang thôi miên anh, sự cọ sát nhẹ nhàng ấy khiến anh muốn nhắm mắt lại. Anh không hề nghe được âm thanh gì khác trừ tiếng móng tay cô ma sát khẽ khàng trên lớp tất lụa.
Nhưng bỗng nhiên Greta dừng lại và dịu dàng lên tiếng: "Không, em xin lỗi. Lẽ ra em không nên nhờ anh"
Lúc này Einar nhìn thấy tủ quần áo màu xám tro mở toang, trong tủ là váy đầm của Anna. Chiếc váy màu trắng với chuỗi hạt viền quanh gấu váy, phủ ngang đầu gối và quanh cổ tay áo. Ô kính bị rạn nứt và chiếc váy cứ thế đu đưa trên mắc áo. Có điều gì đó rất đặc biệt về chiếc váy - như chất vải lụa sáng mờ, hay phần ngực áo đính ren ở vạt trên, hoặc là hàng cúc áo đính móc trên cổ hay lúc tách ra thì như khuôn miệng nhỏ xinh khiến Einar thực sự muốn chạm vào nó.
"Anh có thích nó không?" Greta hỏi.
Anh định trả lời là không, nhưng như vậy thì đúng là nói dối. Anh thích chiếc váy, và anh có thể cảm thấy máu thịt dưới da đang muốn nổ tung.
Greta mang chiếc váy đến cạnh Einar và ướm thử lên ngực anh: "Vậy thì cứ mặc thử vài phút thôi cũng được."
"Greta", anh kêu lên, "Lỡ như anh..."
"Cứ cởi áo ra đi đã," cô bảo.
Và thế là anh cởi áo.
"Nhưng mà lỡ như..."
"Nhắm mắt lại đi nào." Cô lại ngắt lời anh.
Và anh ngoan ngoãn làm theo ý cô.
Ngay cả khi nhắm chặt mắt, anh vẫn cảm thấy thật dung tục khi cởi trần trước vợ mình. Cảm giác giống như bị cô bắt quả tang khi làm điều gì mà anh lỡ hứa với cô là sẽ tránh xa - không hẳn là ngoại tình. Chuyện này tựa như việc tái diễn một thói xấu mà anh thề sẽ từ bỏ, như nốc rượu aquavit tại mấy quán bar dọc kênh Christianshavn, ăn vụng món frikadeller trên giường ngủ, hay chơi đùa với bộ bài có in hình mấy cô gái mà anh đã mua vào một buổi chiều co đơn.
Greta nói thêm: "Cần cởi cả quần nữa." Tay cô vươn ra và cô lịch sự quay đầu qua hướng khác. Cửa sổ phòng ngủ mở toang và luồng không khí thoang thoảng mùi cá biển như quấn quít lấy da thịt anh.
Einar nhanh chóng kéo chiếc váy đầm qua đầu rồi chỉnh lại phần vạt váy. Mồ hôi khẽ rịn ra trên kẽ nách và thắc lưng anh. Cảm giác khô nóng làm anh chợt ước rằng nếu nhắm mắt, anh sẽ được quay về lúc còn là một cậu bé, với cái thứ đang đung đưa giữa hai chân anh vẫn còn nhỏ bé và vô hại như cây củ cải trắng.
Greta chỉ reo lên: "Tốt rồi." Rồi cô hướng cọ vẽ lên khung vài bố. Đôi mắt xanh biếc của cô khẽ nheo lại, giống như đang chăm chú nhìn vào thứ gì dính trên chóp mũi.
Khi đứng trên khúc gỗ sơn, Einar cảm thấy hơi kỳ lạ, giống như đang có một dòng nước vừa chảy qua và lấp đầy anh. Ánh mặt trời rọi lên thân hình anh, còn mùi cá biển vẫn thoang thoảng trong không khí. Chiếc váy rộng thùng thình chỉ trừ phần tay áo, anh cảm thấy thật ấm áp và mê muội như được đắm mình trong biển hè. Con cáo vẫn đang truy đuổi con chuột, và có một âm thanh cứ vọng lại trong đầu anh: tiếng khóc yếu ớt của một cô bé đang sợ hãi.
Einar cảm thấy thật khó để mở to mắt và tiếp tục dõi theo những chuyển động nhanh nhẹn mềm dẻo như loài cá khi bàn tay của Greta đưa ra vạch từng nét trên khung vải bố, rồi nhẹ nhàng thu lại. Mấy chiếc vòng và nhẫn trên tay cô cứ lay động như đàn cá bống. Einar cũng không thể tiếp tục mơ tưởng đến giọng hát của Anna tại Nhà hát Hoàng gia với chiếc cằm nghiêng về phía cây đũa của nhạc trưởng. Quả là giống với cảm giác ban đầu của anh: chất lụa mịn màng và mỏng nhẹ như miếng băng gạc thấm đẫm thuốc trị thương được khéo léo đắp lên vùng da thịt đang hồi phục. Ngay cả cảm giác e thẹn khi đứng trước mặt vợ mình cũng không còn rõ rệt như trước khi cô ấy đang hí hoáy tô vẽ với một biểu cảm thật xa lạ. Einar bắt đầu chìm đắm vào thế giới mờ ảo của những giấc mơ, một nơi mà chiếc váy đầm của Anna có thể thuộc về bất kỳ ai, thậm chí là thuộc về anh.
Và ngay khi mí mắt của anh trở nên nặng trĩu, còn xưởng vẽ bắt đầu tối dần, ngay lúc anh thở dài và thả lỏng bờ vai, khi con Edvard IV đang ngáy phì phò trong phòng ngủ, ngay chính thời điểm giọng hát sang sảng như đồng vang của Anna sắp sửa cất lên, thì một giọng nói vang lên: "Nhìn Einar kìa!"
Anh mở choàng mắt. Greta và Anna đang chỉ trỏ về phía anh, khuôn mặt của hai người sáng bừng và đôi môi đang mấp máy gì đó. Con Edvard IV sủa vang ngay trước mặt Einar. Và Einar Wegener bỗng dưng cứng đờ cả người.
Greta lấy bó hoa kim châm từ tay Anna. Đó là một món quà từ khán giả hâm mộ. Cô dúi bó hoa vào tay Einar. Với cái đầu nhỏ và ngẩng cao của nghệ sĩ chơi kèn trumpet, con Edvard IV bắt đầu chạy vòng quanh Einar như bảo vệ anh. Lúc này hai người phụ nữ lại phá lên cười, mắt Einar từ từ cụp lại và ngân ngấn nước. Anh có cảm giác là mình bị châm chọc bởi tiếng cười của bọn họ. Cùng với hương thơm của hoa kim châm màu trắng ngà là nhụy hoa màu vàng nâu đang rải rác trên vạt váy, đang ép vào chỗ sưng phồng đầy chói mắt ở phía dưới, cọ sát lên đôi tất lụa và cả lòng bàn tay ướt đẫm.
"Mày là một con điếm," gã thủy thủ dưới lầu gào lên, "Mày đúng là một con điếm xinh đẹp khốn nạn."
Từ lầu dưới, sự im lặng ngụ ý là có một nụ hôn tha thứ. Tiếp theo sau đó là một trận cười to hơn từ Greta và Anna. Và ngay khi Einar sắp sửa cất tiếng van nài họ rời xưởng vẽ một lúc để anh yên ổn thay váy đầm ra thì Greta lên tiếng. Giọng cô nhỏ nhẹ, thận trọng và có vẻ khách sáo: "Sao chúng mình không gọi anh là Lili nhỉ?"
 
 
 
CHƯƠNG 2
 
 
Greta Wegener là một họa sĩ hai mươi chín tuổi. Cô là một người thuộc dòng dõi nhà Waud gốc California. Ông nội cô, Aspley Haven Waud đã phất lên nhờ chuyển nhượng đất đai. Còn cha cô Aspley Jr. lại trở nên giàu có hơn thế nữa nhờ vào vườn cam. Trước khi chuyển đến Đan Mạch vào năm cô lên mười, nơi xa quê nhà Pasadena nhất mà cô từng đặt chân đến chính là San Francisco. Tại nơi ấy, vào một ngày khi đang mãi mê lắc vòng ngay trước nhà Dì Lizzie trên đồi Nob Hill, cô đã vô tình thúc khuỷu tay trúng vào người anh sinh đôi khiến anh ấy va vào một chiếc xe ngựa đang chạy qua. Carlisle may mắn sống sót với một vết sẹo lỏm dài vĩnh viễn trên cẳng chân; vài người cho rằng anh ấy chẳng thể nào hồi phục như xưa. Khi lớn lên, Greta đã nói rằng Carlisle chẳng bao giờ có được một khung xương cao to kiểu Tây. Cô nhớ lúc lên mười tuổi, cô đã cao nhòng và thường ngồi trên sàn tàu được làm từ gỗ tếch để luyện tiếng Đan Mạch trong suốt hành trình trên biển. Cô nhận xét: "Một vài người họ Waud sinh ra với khung xương kiểu đấy, trong khi vài người khác thì không." Dân Đan Mạch chắc chẳng có vóc người cao to kiểu Tây đâu; mà sao họ lại cần điều đó chứ? Vì vậy mà đối với hầu hết, Greta đều tỏ ra khoan dung với khuyết điểm này của họ. Cô đặc biệt không xét nét việc này với Einar, giao sư dạy mỹ thuật đầu tiên và cũng là người chồng thứ hai của cô. Tính đến mùa Xuân năm 1925, họ đã kết hôn sáu năm rồi. Có đôi lúc, Greta cảm thấy mọi chuyện như mới xảy ra cách đây sáu tuần, nhưng nhiều khi cô lại tưởng như mình đã trải qua sáu đời người đầy ý nghĩa.
Einar và Greta gặp nhau lần đầu tại Học viện Mỹ thuật Hoàng gia vào ngày 1 tháng 9 năm 1914, chỉ vài tuần sau khi quân Đức chiếm đóng Luxembourg và Bỉ. Năm ấy Greta tròn mười bảy, Einar chỉ mới hơn hai mươi tuổi nhưng đã là giảng viên môn hội họa. Anh hay nhút nhát và e thẹn khi đối mặt với những người nhỏ tuổi hơn và vẫn còn độc thân. Từ hồi ấy, cô đã là thiếu nữ có bờ vai rộng với dáng điệu đặc trưng của thời thơ ấu nhong nhong trên lưng ngựa. Cô còn để tóc dài đến tận thắc lưng trông thật khiêu khích giữa mấy con phố lờ mờ ánh đèn tại Copenhagen. Dân Đan Mạch lượng thứ cho hành vi này vì cô đến từ California, một nơi mà chưa ai trong số họ từng được thấy tận mắt. Nhưng họ tưởng tượng những người như Greta đang sống trong những căn nhà thoáng đãng rợp bóng cây chà là với quặng vàng lấp lánh dưới lớp đất đen ngay trong vườn nhà.
Một ngày nọ, Greta thử nhổ lông mày và chúng chẳng bao giờ mọc ra lại. Cô cảm thấy đây đúng là tiện lợi. Sáng nào cô cũng kẽ lông mày bằng mấy cây bút chì sáp tậu được từ căn phòng không có cửa sổ ở tầng ba khu nhà Magasin du Nord, nơi mà chị em phụ nữ có nhu cầu chăm sóc sắc đẹp thường bí mật đến mua sắm. Mỗi khi mở sách ra, Greta có một thói quen không kềm chế được lạ nặn mụn trên mũi. Thói xấu này đã để lại vài vết sẹo nhỏ cỡ đầu bút chì trên da khiến cô lo lắng hết sức. Cô thường cho rằng mình là cô gái cao nhất Copenhagen, nhưng thực tế thì sai bét. Sao có thể không kể đến Grethe Janssen, cô gái yểu điệu hiện đang là tình nhân của ngài Thị trưởng và luôn luôn lượn ra lượn vào các cửa hàng dọc hành lang khách sạn D' Angleterre trong bộ váy dài đính pha lê ngay giữa ban ngày.
Dù thế nào thì Greta vẫn luôn nghĩ mình thuộc tuýp phụ nữ khó có khả năng kết hôn nhất. Khi một người đàn ông trẻ tuổi nào đó - như anh chàng đẹp mã người Đan Mạch thuộc dòng dõi quý tộc đang suy tàn, hay như cậu con trai của tay trùm tư bản ngành thép của Mỹ đã dành cả năm trời chu du khắp Châu Âu - mời cô đến xem múa ballet hay đi thuyền buồm dọc kênh Christianshavn, thì ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu cô vẫn luôn là thế này: Anh sẽ chẳng bắt được tôi đâu. Cô chỉ muốn trở thành nữ họa sĩ. Một phụ nữ trẻ trung được suốt ngày tự do vẽ vời bên khung cửa sổ tràn ngập ánh sáng. Một người chỉ gặp gỡ bạn bè giữa đêm khuya khi nhóm bạn tám người tụ tập tại chỗ của Sebastian, đấy là quán rượu yêu thích của cô để hớp hai ly Peter Heering có vị anh đào. Cả bọn sẽ ở đó cho tới khi ngài cảnh sát có gương mặt dài như lưỡi cày đi tuần vào một giờ sáng và ra lệnh cho quán đóng cửa.
Nhưng chính Greta cũng biết ước vọng đó vừa ngớ ngẩng vừa không thực tế tí nào. Vì sao ư? Vì quý cô trẻ tuổi Greta Waud sẽ không bao giờ được phép sống như vậy.
Khi còn bé, cô thường viết đi viết lại vào cuốn sổ ghi chép dòng chữ "Greta Greta Greta", cố lờ đi cái họ "Waud" như thể muốn biết mình sẽ như thế nào nếu chỉ đơn thuần là Greta, mặc dù chưa ai từng gọi cô như vậy. Cô chẳng hề muốn cho ai biết về gia đình mình. Ngay cả khi trưởng thành, cô cũng chưa từng có ý dựa dẫm vào những mối quan hệ của gia đình. Cô khinh bỉ tất cả những kẻ chỉ biết dựa dẫm vào cha ông. Mà có đúng là điều đó chẳng có ý nghĩa gì không?
Greta phải chuyển đến Đan Mạch từ khi còn là một cô bé. Lúc đấy, cha cô, một người đản ông với cánh tay dài ngoằng và bộ râu sườn cừu, được bổ nhiệm đến đại sứ quán. "Sao bố lại muốn làm vậy?" Greta thắc mắc khi ông lần đầu tiên thông báo với cô về vị trí mới được bổ nhiệm. Mẹ cô nhắc nhở: "Ngoan nào, Greta. Con đang nói chuyện với cha con đấy." Greta đã quên mất rằng tên mình được đặt theo tên mẹ của cha, tức là bà nội của cô. Bà Gerda Carlsen là người Đan Mạch chính gốc với mái tóc vàng óng như gỗ sồi. Bà lớn lên ở đảo Bornholm. Người ta thường nhận ra bà Gerda nhờ vào những bông hoa anh túc đỏ như máu được cài phía sau tai. Bà còn được biết đến vì là người con gái đầu tiên của gia đình đã lên thuyền buồm rời bỏ vùng đảo Baltic. Khác với những thanh niên tò mò muốn rời đi để tới Copenhagen, bà lại chọn đến miền Nam California. Với bối cảnh thời đó, chuyện này giống như thể bà di cư lên mặt trăng. Sau vài năm quản lý bãi chăn ngựa hết sức thành công, rốt cuộc bà cũng được ông Aspley Waud chú ý đến. Không lâu sau đó, cô gái cao khều từ đảo Bornholm với mái tóc dài đến eo được cài những bông hoa anh túc, đã trở thành bà chủ lớn của vùng California. Khi biết được cha sẽ dẫn cả gia đình về Đan Mạch, Greta có phần thờ ơ đến mức chính cô cũng phải thừa nhận rằng mình chẳng thể cảm nhận được bất kỳ mối liên hệ thân tình nào. Cô cũng không nhận ra là cha muốn bù đắp cho bà nội, người phụ nữ tên Gerda Carlsen Waud có đôi mắt xanh thẩm. Bà qua đời khi đứa con tra Aspley Jr. mới trưởng thành đã dẫn bà đến chỗ rìa hẻm núi Arroyo Seco ở Pasadena để chụp ảnh với cảnh đẹp đàng xa. Ông kinh hoàng chứng kiến cảnh tượng khoảng đất sụp xuống do bị kiến đục, kéo theo mẹ ông rớt xuống vực thẳm phía dưới, vướng ngay chỗ chạc cây hình chữ Y chết người trên thân cây tiêu huyền sần sùi có nhiều mắt.
Mùa Thu năm 1914, tại Học viện Hoàng gia, Greta cho rằng hầu hết mọi người, đặc biệt là những quản lý học viên sẽ xì xào bàn tán hai chủ đề: tình hình chiến trận và cô. Dù đi đến đâu, cô cũng gây xôn xao. Rốt cuộc là có vấn đề gì với mái tóc vàng hoe như cái chuông báo động gắn sau lưng cô, đặc biệt khi về lại miền Nam California. Mới năm ngoái, khi Greta qua về Pasadena để học chơi tennis và cưỡi ngựa vào mùa hè, cô đã để mắt tới anh chàng bán thịt đang điều khiển chiếc xe ngựa. Anh ta có mái tóc đen tuyền xoăn tít. Bàn tay ấm áp của anh ta kéo cô lên tấm ván ngồi ở phía trước và họ cùng ngồi xe ngựa xuống đại lộ Wilshire rồi ngược lại. Cô chăm chú nhìn cách anh ta điều khiển cái kẹp sắt khi anh dỡ từng dẻ sườn quay và những tảng sườn cừu nguyên khối xuống mấy nhà ở công viên Hancock. Trên đường về nhà, chàng cố hôn cô không chỉ một lần, điều đó là Greta cảm thấy thất vọng. Lần đầu tiên trong đời cô cảm thấy nghi ngờ về độ dài của tóc mình. Đến cuối chặng đường, anh chỉ thốt ra: "Dài quá.", và thế là Greta nhún vai rồi đi thẳng vào phòng. Nhưng sáng hôm sau, ngay tại bàn ăn sáng, mẹ cô mấy máy môi mỏng và bảo: "Greta, con gái yêu của mẹ. Con có thể giải thích cho mẹ về việc này được không?" Mẹ cô giở ra một bài báo từ tờ American Weekly. Trên đó là một lời nhận xét kín đáo như sau: "Có vẻ quý cô Greta Waud đang dự định dấn thân vào nghề bán thịt?" Nhiều tuần sau đó, nỗi sợ hãi do tin đồn phơi bày trên trang báo xã hội bao trùm cả nhà. Mỗi sáng sớm, tiếng huýt sáo của cậu bé giao báo làm bước chân cả nhà đông cứng lại. Câu chuyện chẳng bao giờ tiếp diễn, nhưng tất nhiên tin đồn cuối củng cũng bị lan truyền. Điện thoại trên lầu không ngừng réo suốt hai ngày trời. Cha Greta còn không đến ăn trưa tại Câu lạc bộ California dưới thị trấn, còn mẹ cô trải nghiệm một khoảng thời gian khủng khiếp để tìm kiếm nguồn thịt tươi thay thế. Ngay sau đó, ba mẹ cô phải hủy bỏ kỳ nghỉ hè ở California, và Greta lên đường trở về Copenhagen đúng lúc hiện tượng Bắc cực quang và pháo hoa tỏa sáng tại công viên Tivoli.
Tháng chín năm cuối cùng của tuổi thiếu niên, khi chiến tranh vọng tới trong những đám mây dông, Greta bắt đầu nhập học tại Học viện Hoàng gia. Ngày đầu tiên đến trường, Greta ngạc nhiên khi Einar đứng trước tấm bảng đen lờ mờ dấu vết của buổi học trước đó và hỏi cô: "Còn em? Em tên là gì?"
Khi Greta trả lời anh, Einar - trong suy nghĩ của cô lúc đó vẫn còn là giáo sư Wegener - đánh dấu vào sổ theo dõi lớp học, rồi tiếp tục hỏi những học viên khác. Đôi mắt nâu, to tròn như búp bê của anh thoáng nhìn cô rồi chuyển sang chỗ khác. Dựa vào vẻ nhúc nhát đó, Greta bắt đầu cho rằng anh hẳn chưa từng gặp phải một người Mỹ nào trong đời. Cô hất nhẹ làn tóc qua vai, như thể đang vung vẫy một lá cờ.
Sau đó, khi năm học vừa bắt đầu, chắc là có ai đó xì xào với Einar về chuyện cha cô với đại sứ quán và cả câu chuyện chiếc xe ngựa của hàng thịt - đúng vậy, tin đồn có thể vượt qua Đại Tây Dương - bởi vậy, anh càng lúng túng hơn trước mặt cô. Cô thất vọng khi anh tỏ vẻ mình là một trong số những gã đàn ông không cách nào cảm thấy thoải mái khi ở cạnh cô gái con nhà giàu. Cảm giác ấy giống hệt như sự sống đang bị thiêu đốt, bởi Greta chưa từng đòi hỏi một cuộc sống giàu sang, không hẳn lúc nào cô cũng để tâm tới chuyện đó. Einar không thể giới thiệu một bức vẽ đáng giá nào ở phòng triển lãm Kunstudstillingen và còn không có khả năng chỉ đường cho cô đến cửa hàng chuyên bán dụng cụ mỹ thuật gần bệnh viện Kommunehospitalet. Cô mới anh tới dự buổi tiệc chiêu đãi tại Đại sứ quán Mỹ dành cho ông chủ một hãng đóng tàu đến từ Connecticut và bị từ chối. Anh còn khước từ lời thỉnh cầu đi xem một vở kịch opera cùng cô. Khi hai người trò chuyện, anh hiếm khi nhìn thẳng vào cô, nhưng cô vẫn luôn chăm chú nhìn anh khi họ gặp nhau và dõi mắt theo anh từ xa, qua cửa sổ, khi anh băng qua khoảng sân trong Học viện với bước chân vừa ngắn vừa vội. Khuôn ngực anh nhỏ hẹp với gương mặt tròn, làn da nhợt nhạt, và đôi mắt sâu đến mức Greta không biết có thứ gì ẩn sau nó. Chỉ cần nói chuyện với anh, Greta cũng đủ sức làm mặt Einar đỏ bừng từ thái dương xuống tận cổ. Anh đúng là ngây thơ như con nít, và điều đó mê hoặc Greta, một phần bởi khi còn bé, cô luôn tỏ ra già dặn và thẳng thắn tới mức khiến người ta phải đối xử như với người lớn. Một lần nọ, cô đã thắc mắc: "Giáo sư, anh kết hôn chưa?" và câu hỏi ấy làm mí mắt anh run rẩy như không kiểm soát được. Anh mím môi lại như đang cố gắng phát âm một từ xa lạ: "Chưa."
Những học viên khác xì xào về Giáo sư Wegener. Một cô bạn thì thào: "Giáo sư sinh ra và sống trong một gia đình toàn là người lùn và bị mù đến tận năm mười lăm tuổi." Cậu bạn đang muốn thu hút sự chú ý của Greta thì bảo: "Giáo sư sinh ra trong một vũng lầy." Cậu bạn ấy đang mãi vẽ mấy tượng thần Hy Lạp, và Greta không nghĩ ra thứ gì hoặc ai khác có thể nhàm chán hơn thế. Khi cậu ta mời cô đến công viên Tivoli chơi đu quay, cô chỉ biết đảo mắt qua lại. "Hừ, Giáo sư Wegener sẽ không chấp nhận cậu đâu, nếu đó là điều cậu mong chờ," cậu ta gằn giọng, đá chân vào gốc cây du.
Ở nhà, mẹ cô vẫn còn lưu tâm đến sự kiện chiếc xe ngựa của hàng thịt nên thường chăm chú quan sát khi Greta về nhà vào mỗi buổi tối. Ánh sáng tỏa ra từ lò sưởi chẳng đủ để hé lộ điều gì từ ánh mắt của Greta. Một buổi tối nọ, mẹ cô bảo: "Greta, con gái yêu của mẹ. Nếu con không sắp xếp được người đi cùng vào buổi tiệc sinh nhật thì mẹ sẽ hỏi thăm giúp con người nào đấy." Bà đang miệt mài thêu thùa bên lò sưởi ở phòng khách, và Greta còn nghe thấy tiếng Carlisle đang tung hứng bóng tennis trong phòng ngủ trên lầu. "Mẹ chắc là con trai nữ Bá tước nhà Recke sẽ muốn đến đi cùng con đấy," Bà Waud lên tiếng. "Tất nhiên là cậu ấy không biết khiêu vũ, nhưng nhìn thì cũng đẹp trai, miễn là con đừng để ý tới cái bướu kinh khủng kia là được. Con đồng ý không, Greta?" Gương mặt nhòn nhọn của bà khẽ ngước lên. Ngọn lửa đỏ trong lò sưởi đang yếu dần, vả tiếng đập bóng tap-tap-tap của Carlisle vang vọng khắp phòng, làm cho ngọc đèn chùm run lên bần bật. "Rốt cuộc chừng nào nó mới ngừng cái trò đó", bà Waud cáu kỉnh, "trái banh tennis ngu xuẩn." Bà gấp gọn tấm vải thêu và đứng dậy. Tư thế bà cứng đơ như một mũi tên kết tội nhắm thẳng vào phòng Carlisle. Cô thở dài và đáp: "Con đoán là Carlisle lúc nào chả như vậy." Và sau đó, ánh lửa trong lò sưởi dường như đột nhiên bốc cao lên làm sáng bừng cả phòng khách, bà Waud nói tiếp: "Ừ, phải rồi. Carlisle lúc nào chả vậy. Mà sao con không đi cùng Carlisle? Anh con cũng chưa có bạn đi cùng mà. Con có thể đi với anh con, thành một cặp cùng ngày sinh nhật." Thế nhưng Greta - vẫn đang đứng ở cửa phòng khách, phản đối bằng hai tay: "Carlisle à? Con không thể nào đi với Carlisle được. Chẳng có gì vui cả. Ngoài ra, con thừa sức kiếm một người đi cùng với con." Hàng lông mày xám như lông chim bồ câu của mẹ cô khẽ nhướng lên. Bà vặn lại: "Ồ thật thế sao? Là ai cơ?"
Greta có thể cảm thấy móng tay mình đang bấm chắc vào lòng bàn tay khi cô quả quyết: "Mẹ cứ chờ mà xem," cô cao giọng. "Dù sao thì con cũng sắp đủ mười tám tuổi rồi."
Tuần sau, Greta chặn Einar ngay cầu thang trong Học viện Hoàng gia. Einar đang nắm lấy lan can màu trắng khi cô níu lấy cổ tay anh và hỏi: "Em nói chuyện với Giáo sư được không?"
Lúc đó đã trễ lắm rồi, xung quanh đều không có ai và cầu thang cực kỳ tĩnh lặng. Giáo sư Wegener đang khoác trên người bộ vest màu nâu với phần cổ áo màu trắng pha chút nâu nhạt. Trên tay anh là một khung vải bố còn trắng tinh to như quyển sách. "Bọn em sẽ tổ chức một bữa tối để chúc mừng sinh nhật," Greta nói, "em sắp tròn mười tám tuổi - anh trai sinh đôi và em". Rồi cô tiếp lời, "Em đang tự hỏi, thầy có muốn đến tham dự không?"
Sắc mặt Einar trầm xuống như thể anh ăn phải thứ gì đó ôi thiu. Rồi anh cũng lên tiếng: "Cô gái à, mong cô hiểu cho," Anh nói tiếp, "có lẽ cô nên cân nhắc việc đổi sang lớp khác? Tôi nghĩ đó là phương án tốt nhất." Anh chạm vào cổ họng như thể có thứ gì mỏng manh cần được nâng niu đang đung đưa ở đó.
Cho đến lúc này, Greta mới nhận ra xét trên phương diện nào đó, Giáo sư Weneger còn non nớt hơn cô. Khuôn mặt anh trông như một cậu bé với khuôn miệng nhỏ và vành tai lúc nào cũng ửng hồng. Bỗng dưng có thứ gì đó thôi thúc Greta dùng tay ôm lấy khuôn mặt Einar. Anh khẽ nhảy dựng lên khi ngón tay cô chạm vào gò má, tựa như vầng thái dương ấm áp đang nằm gọn giữa hai bàn tay cô. Greta ôm lấy mặt Einar, và anh không từ chối. Rồi cô hôn anh với khung vải bố kẹp giữa hai người. Đó chính là thời khắc Greta nhận ra Einar Wegener không chỉ là người đàn ông mà cô muốn đi cùng vào bữa tiệc sinh nhật lần thứ mười tám, mà còn là người đàn ông mình muốn kết hôn. "Anh đúng là một người đàn ông xinh đẹp," cô thốt lên.
"Tôi có thể đi được không?" Einar hỏi, ngay lập tức lùi ra sau.
"Ý thầy là đi dự tiệc?"
"Ồ, không phải vậy..."
"Tất nhiên là thầy có thể đi dự tiệc rồi. Đó là lý do vì sao em đến hỏi thầy mà."
Và rồi, trong sự ngỡ ngàng của cả hai người, Einar quay người đối mặt với Greta và hôn cô lần thứ hai.
Thế nhưng ngay trước buổi tiệc, trước khi Greta tròn mười tám tuổi, cha cô cho rằng Châu Âu không còn an toàn nữa. Không lâu sau khi quân Đức tấn công vào lãnh thổ Pháp, cha Greta mang cả nhà rời Đan Mạch về quê nhà. Ngồi bên chiếc bàn gỗ tròn màu vàng óng, ông bình luận: "Nếu quân Đức chiếm được Bỉ thì có lý do nào ngăn họ không đánh thẳng đến đây?" Mẹ Greta gật gù: "Đúng đấy," trong khi vẫn vòng vòng quanh phòng với mấy bó rơm lót thùng vận chuyển. Cảm giác như mình đang là kẻ tị nạn đang bỏ trốn, Greta bước lên con tàu Princess Dagmar mà chẳng có thứ gì trong túi ngoại trừ một mẫu giấy với lời nhắn từ Einar: "Hãy quên tôi đi. Đó có lẽ là quyết định tốt nhất."
 
Lúc này, giữa Mùa Xuân ẩm ướt của năm 1925, và hơn mười năm đã trôi qua, Greta lại có cảm giác như mình đang nắm giữ một bí mật gì đó về chồng. Suốt vài tuần sau đó, Greta và Einar chẳng hề nhắc đến chuyện chiếc váy đầm của Anna. Hai người đều bận rộn với giá vẽ và dè dặt để không chạm mặt nhau. Bức chân dung của Anna đã được hoàn thành và Greta hiện đang tìm kiếm đơn hàng mới. Một hai lần gì đó, khi hai người ăn tối hoặc thức khuya để đọc sách, có điều gì đó thôi thúc Greta nhớ lại chuyện chiếc váy đầm, và cô suýt nữa buột miệng gọi anh là Lili, cũng may là cô dừng lại kịp thời. Chỉ có một lần kia, cô đã trả lời anh bằng một câu hỏi: "Có chuyện gì vậy, Lili?" Ngay lập tức cô nói xin lỗi. Hai người phá lên cười và cô hôn lên trán anh. Cô chẳng mảy may suy nghĩ nhiều về sự cố ấy cứ như Lili chỉ là một nhân vật trong vở kịch mà họ đã xem tại nhà hát Folketeatret.
Rồi vào một tối nọ, khi quầng sáng tỏa ra từ ánh đèn bao trùm lên chiếc ghế tựa, Greta đang lướt mắt qua tin tức về đảng phái Tự do Xã hội đăng trên tờ Politiken. Einar tiến lại gần, ngồi bệt xuống đất và gối đầu lên đùi cô. Đầu anh nằng nặng mà ấm áp cứ thế tựa vào bắp đùi Greta trong khi cô vẫn say sưa đọc báo. Cô nhẹ nhàng vuốt tóc anh, rồi sau vài phút lại nhấc tay lật sang trang mới. Khi đã đọc hết tất cả tin tức, cô gấp tờ báo lại, lôi từ túi áo khoác ra một cây bút chì và bắt đầu giải ô chữ.
"Anh cứ mãi nghĩ về cô ấy," Einar lên tiếng.
"Ai cơ?"
"Lili bé bỏng"
Thoáng rời mắt khỏi ô chữ, Greta đáp: "Vậy sao chúng ta không để cô ấy xuất hiện thêm lần nữa?" Ngón tay lờ mờ vết mực in cứ chạm vào vết sẹo mờ do bệnh thủy đậu.
Greta thường hay phát ngôn mà không chút đắn đo suy nghĩ, cứ như có thứ gì đó trong lòng luôn sôi sục, thôi thúc cô phải phủ nhận, phải thể hiện tư tưởng cấp tiến. Từ khi kết hôn, cô đã không ít lần đưa ra những tư tưởng ngớ ngẩn như: Sao chúng mình không chuyển về sống ở Pasadena để trồng cam? Sao vợ chồng mình không mở một phòng khám nhỏ tại đây để chữa bệnh cho mấy cô gái làng chơi tại Istedgade? Sao chúng mình không chuyển đến nơi nào trung lập một tí như Nevada, nơi chẳng ai biết mình là ai? Những lời như vậy nghe như cấm kỵ trong hôn nhân, nhưng may thay chúng chỉ lấp lửng, nhỏ nhặt, đen xì và ngược ngạo một cách vô hại như một con dơi đang ngủ say. Chí ít đó là suy nghĩ của Greta, còn tâm tư Einar ư, cô chẳng thể nói được.
Có một lần cô đã thử phác họa hình ảnh con dơi đang ngủ - chỉ có hai lớp da đen thui bọc quanh thân hình của một con chuột - và thất bại thảm hại. Kỹ thuật của cô không đủ điêu luyện để vẽ những ngón tay bị kéo dài ra còn ngón cái bé xíu cong lại như cái móc. Cô chưa được huấn luyện để tạo hình đường nét cho cơ thể động vật. Einar thỉnh thoảng sẽ vẽ thêm heo rừng, chim sẻ hay cả con Edvard IV vào phong cảnh trong tranh. Nhiều năm liền, anh đã hứa sẽ dạy cô cách vẽ động vật, nhưng cứ mỗi lần khi ngồi xuống học thì lại có chuyện xảy ra như: có điện tín gửi từ California, cô thợ giặt quần áo đánh một tiếng "ping" ngay ngoài phố bằng cặp chũm chọe đeo trên ngón tay, một trong những khách hàng quen của Einar gọi điện thoại đến. Khách hàng quen của anh thường là những người đầu tóc đã bạc phơ, có địa vị và thích sống ẩn dật sau những cánh cửa chớp màu xanh lục luôn đóng chặt.
Vài ngày sau đó, Greta quay về khu nhà Widow House sau khi gặp gỡ ông chủ phòng triển lãm tranh, người cuối cùng đã quyết định từ chối trưng bày tranh cô vẽ. Nhà buôn tranh nghệ thuật - một người đàn ông đẹp mã với vết tàn nhang trông như một vệt so-co-la dính trên cổ, chưa hề thẳng thừng từ chối Greta, nhưng cái cách người đó đưa tay gõ nhẹ dưới cằm nói cho Greta biết anh ta không hề hứng thú. "Toàn bộ đều là tranh chân dung à?" anh ta cao giọng hỏi. Anh ta biết, và tất cả những người sống ở Copenhagen đều rõ ràng là cô đã kết hôn với Einar Wegener. Greta cảm thấy chính vì lý do này mà anh ta kỳ vọng được chiêm ngưỡng những bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp do cô mang đến. "Cô có bao giờ cho rằng những bức họa của mình có lẽ quá mức" - anh ta ngập ngừng để lựa chọn từ chính xác - "khoa trương?" Lời nói này làm Greta sôi máu, và cô có cảm giác như cơn giận dữ cháy bùng lên trong chiếc váy đầm với ve áo cách điệu theo kiểu âu phục nam giới. Quá khoa trương? Làm sao lại quá khoa trương? Cô giật phắc tập tranh vẽ trong tay nhà buôn và nhấc gót quay đi. Gương mặt cô vẫn hiện rõ cảm xúc nóng giận và ấm ức mãi đến khi lên tới tầng trên của khu nhà Widow House.
Khi mở cửa, Greta nhìn thấy một cô gái đang ngồi trên chiếc ghế bện thừng. Trong chốc lát, Greta thậm chí còn không nhận ra cô gái ấy là ai. Cô ấy đang ngồi đối diện cửa sổ, trên tay là một quyển sách và con Edvard IV đang chễm chệ trên đùi. Cô ấy mặc một chiếc váy đầm màu xanh dương với cổ áo trắng tinh có thể tháo rời. Nằm trên xương quai xanh của cô ấy là một trong những sợi dây chuyền vàng của Greta. Cô gái ấy - Greta quen cô ấy sao? - thoang thoảng hương thơm vị bạc hà và sữa.
Gã thủy thủ dưới lầu vẫn không ngừng nhiếc mắng vợ mình, và mỗi khi cụm từ "con điếm" vọng lên thì cổ của cô ấy ửng hồng, rồi lại nhạt dần. "Con điếm", gã thủy thủ cứ lặp đi lặp lại, khiến màu hồng cứ nổi lên rồi lại chìm xuống trên cổ của cô ấy.
Greta cuối cùng cũng lên tiếng: "Lili?"
"Đây là một quyển sách tuyệt vời." Lili cầm quyển lịch sử California được cha Greta gởi sang cùng với một thùng đầy những hộp thiếc đựng chanh ngâm đường, dưỡng chất Pasadena tinh khiết và một túi vải bố chứa đầy búp hoa khuynh diệp để xông hơi cho da mặt.
"Em không muốn quấy rầy đâu," Greta đáp lại.
Lili thì thầm khe khẽ. Con Edvard IV gầm gừ một cách lười biếng, hai tay dựng đứng. Cửa trước còn mở toang và Greta vẫn chưa cởi áo khoác ngoài. Lili quay lại với quyển sách, và Greta chăm chú nhìn vào cái cần cổ tái nhợt đang lấp ló giữa lớp cánh hoa trên cổ áo. Greta không biết chồng mình định làm gì tiếp theo. Cô tự nói với mình rằng đó là việc quan trọng đối với Einar, và rằng cô nên nghe theo sự dẫn dắt của anh. Thế nhưng đó không phải là phản ứng tự nhiên đối với Greta. Cô đứng ở lối vào căn hộ, tay vẫn còn giữ lấy nắm cửa trong khi Lili vẫn ngồi yên lặng trên ghế bên ô cửa kính tràn ngập ánh nắng. Lili hoàn toàn phớt lờ Greta, trong khi Greta vẫn mong Lili đứng lên và nắm lấy tay mình, nhưng chuyện ấy không hề xảy ra, và cuối cùng cô nhận ra là cô nên để Lili một mình. Vậy nên cô đóng luôn cánh cửa phía sau lưng, bước xuống dãy cầu thang tối om và tiến thẳng ra phố. Cô gặp phải chị thợ giặt người Quảng Đông và tiễn chị ấy một đoạn.
Một lúc sau, khi Greta quay về khu nhà Widow House, Einar đang vẽ tranh. Anh đang mặc chiếc quần tây kẻ ca rô bằng vải tuýt phối kèm với áo vest, tay áo xắn lên tận khuỷu tay. Đầu anh trông thật nhỏ bé giữa phần cổ áo ngay trên nút thắt cà vạt. Gương mặt anh bầu bĩnh với hai má ửng hồng, khuôn miệng anh bĩu ra như đang ngậm lấy một đầu của cây cọ vát đầu hình hạt phỉ. "Bức vẽ đang được dần hoàn thiện," anh vui vẻ reo lên. "Cuối cùng thì anh cũng phối được tông màu chuẩn cho phần tuyết trên bãi đất hoang. Em thử nhìn xem?"
Einar đã quen vẽ tranh cảnh vật với kích cỡ nhỏ đến mức ai cũng có thể giữ bức họa thăng bằng trong tay. Khung cảnh trong bức tranh này đặc biệt u ám, một vũng lầy chìm ngập trong bụi tuyết của mùa đông. Một mảnh tuyết xám xịt là thứ duy nhất ngăn cách giữa mặt đất lầy lội và bầu trời. Greta khẽ hỏi: "Đây là vũng lầy ở làng Bluetooth?" Gần đây cô cảm thấy ngán khi nhìn vào những cảnh quan do Einar vẽ. Cô không sao hiểu được lý do anh cứ vẽ đi vẽ lại một thứ mà không biết chán. Anh sẽ hoàn tất bức vẽ bãi đất hoang này trong đêm nay và bắt tay vào sáng tác một bức mới ngay sáng mai.
Một ổ bánh mì lúa mạch nằm trên bàn. Einar đã đi chợ, mặc dù việc đó nghe chẳng hợp với anh tí nào. Còn có một hộp tôm đông lạnh cùng một đĩa thịt bò xé sợi, thêm vào đó là một tô hành củ ngâm giấm. Mấy củ hành trắng tròn như những hạt ngọc trai làm cô nhớ tới chuỗi hạt mà mình và Carlisle đã xâu lại khi họ còn bé và anh trai vẫn chưa đủ sức để chơi đùa bên ngoài. "Lili vừa đến đây sao?" Cô cảm thấy mình cần phải chủ động lên tiếng trước, bằng không thì Einar sẽ chẳng buồn nói gì.
"Đến khoảng một tiếng đồng hồ, hay là ít hơn một chút. Em có thể ngửi được mùi của cô ấy không? Mùi nước hoa của cô ấy?" Anh đang ngâm rửa mớ cọ vẽ trong một cái bình, nước trong bình đang chuyển dần sang màu trắng đục giống như thứ sữa loãng mà Greta phải mua lúc vừa quay trở lại Đan Mạch sau khi chiến tranh kết thúc.
Greta không biết nói gì, cô cũng không rõ chồng mình muốn cô nói gì. "Cô ấy sẽ còn quay lại đây chứ?"
"Chỉ khi nào em muốn vậy," Einar đáp lời, lưng vẫn xoay về phía cô.
Bờ vai anh không hề rộng hơn một cậu bé. Anh gầy đến mức Greta thỉnh thoảng nghĩ rằng tay cô có thể vòng quanh người anh đến hai lần. Cô lẳng lặng ngắm nhìn bờ vai phải của anh đang động đậy khi anh xả sạch mấy cây cọ. Có điều gì đó trong lòng đang thôi thúc cô tiến lên đứng sau lưng anh, giữ tay anh lại và khẽ bảo anh hãy đứng yên. Tất cả những gì cô muốn là để anh tự do theo ý muốn, nhưng cùng lúc ấy cô cũng không cưỡng lại mong muốn được vòng tay ôm chặt và nói với anh rõ ràng về chuyện của Lili. Và họ đứng đó, trong căn hộ trên tầng gác mái trong khu nhà Widow House, với những ô cửa sổ phủ đầy bụi mờ. Ở đó, Greta đang ôm siết lấy Einar trong khi cánh tay của anh cứng đơ bên mạn sườn. Cuối cùng, cô khẽ khàng lên tiếng chấp nhận - chỉ vì vi cô, đó là chuyện đã rồi. "Điều đó phụ thuộc vào Lili. Cô ấy cứ làm tất cả những gì cô ấy muốn thôi."
 
Vào thang sáu, thành phố tổ chức buổi Vũ hội Nghệ thuật tại tòa nhà Radhuset. Suốt cả tuần lễ, Greta cất tấm thiệp mời ngay trong túi áo và tự hỏi nên làm gì với nó. Mới đây, Einar vừa tuyên bố sẽ không đi đến mấy vũ hội linh tinh nữa, nhưng Greta có ý tưởng khác, cô đã nhìn thấy khao khát ẩn giấu trong mắt Einar khi anh vẫn chưa sẵn sàng thừa nhận.
Một đêm nọ, khi đang ở nhà hát, cô dịu dàng hỏi: "Anh có muốn đi dự vũ hội trong bộ dáng của Lili không?" Cô đề nghị vì đoán được đó là điều mà Einar đang mong chờ. Anh ấy sẽ chẳng bao giờ thừa nhận những khát khao như thế. Anh ấy vốn hiếm khi thừa nhận điều gì, trừ khi cô chủ động thúc đẩy. Những lúc như vậy, anh cứ để mặc cho cảm xúc tuôn trào, và cô luôn chống tay lên cằm kiên nhẫn lắng nghe.
Họ đang ngồi xem biểu diễn ở ghế ngồi khu ban công phía trên lầu Nhà hát Hoàng gia. Tấm vải nhung màu đỏ trên chỗ để tay đã trở nên bạc thếch. Nổi bật phía ngoài màn sân khấu là dòng chữ khắc nổi EJ BLOT TIL LYST (1). Sàn sân khấu bằng gỗ sồi đen đã được đánh bóng từ lúc chiều. Hương dược liệu phản phất trong không khí khiến Greta nghĩ đến mùi của căn hộ sau khi Einar đã lau dọn sạch sẽ.
Bàn tay Einar hơi run rẩy, làn da dưới cổ ửng hồng. Chỗ ngồi của Greta và Einar cao ngang tầm với chiếc đèn chùm được làm từ nhiều quả cầu pha lê màu khói. Ánh đèn chiếu lên phần xương quai hàm, nơi cánh đàn ông thường để tóc mai. Râu của anh màu nhạt đến mức chỉ cần cạo râu mỗi tuần một lần, số ria mọc ở trên môi ít đến nổi Greta có thể đếm từng cọng nếu muốn. Gò má của anh luôn nhàn nhạt như màu trà hoa hồng, điều này làm cho Greta thỉnh thoảng phải liếc nhìn với ánh mắt ganh tị.
Dàn nhạc giao hưởng đang dần xuất hiện trên sân khấu, chuẩn bị sẵn sàng cho vở Tristan und Isolde. Cặp đôi ngồi cạnh Einar và Greta đang len lén bỏ chân ra khỏi đôi giày bệt dành cho buổi tối. Einar cuối cùng cũng trả lời: "Anh tưởng chúng mình đã thống nhất là sẽ không tham gia vũ hội năm nay."
 
(1) Đây là khẩu hiệu của Nhà hát Hoàng gia tại Thủ đô Copenhagen, theo tiếng Đan Mạch có nghĩa là "Không chỉ phục vụ cho nhu cầu giải trí"
 
"Chúng mình không nhất thiết phải đi. Em chỉ là nghĩ đến..."
Đèn trần tối dần, và nhạc trưởng tiến đến trước dàn nhạc. Suốt năm tiếng đồng hồ sau đó, Einar ngồi cứng ngắc, hai chân khép lại, tay siết chặt tờ giới thiệu chương trình. Greta biết anh vẫn luôn hướng về Lili, giống như một người anh nghĩ đến cô em gái xa cách đã lâu nay vừa trở về nhà. Đêm nay Anna diễn vai Brangane, cô hầu gái của Isolde. Giọng hát của cô ấy làm Greta liên tưởng đến những hòn than trong bếp lò, và mặc dù giọng cô không hề chuẩn như giọng nữ trung, nó vẫn rất phù hợp và ấm áp trong từng góc cạnh. Giọng của một cô hầu gái thì còn có thể như thế nào nữa chứ? "Một vài người phụ nữ thú vị nhất mà em biết đều không phải thuộc dạng xinh đẹp tuyệt trần," cô lầm bầm bình luận với Einar khi họ đang nằm trên giường và tay Greta đang cuộn dưới vùng eo ấm áp của anh. Khi đó, cô đã gần đi vào giấc ngủ và không tài nào phân biệt được mình đang ở đâu, Copenhagen hay California.
Ngày hôm sau, khi trở về nhà sau buổi gặp gỡ với ông chủ một phòng triển lãm tranh khác, một người đàn ông rụt rè và tầm thường đến mức không nỡ nói lời từ chối để cô phật lòng, Greta đã lao đến ôm Einar. Lúc ấy, trên má và tóc của anh hiển hiện vết tích của Lili, là hương thơm thoang thoảng của bạc hà và sữa.
"Lili vừa đến đây sao?"
"Cô ấy ở đây suốt cả buổi chiều."
"Cô ấy đã làm gì?"
"Cô ấy đến dạo quanh cửa hiệu Fonnesbech và mua cho mình một vài thứ."
"Một mình?" Greta hỏi.
Einar gật đầu. Anh đã vẽ xong tranh cho ngày hôm nay và đang ngồi trên chiếc ghế có tay vịn bằng gỗ cây óc chó với tờ Politiken trải rộng trong tay và con Edvard IV cuộn tròn dưới chân anh. "Cô ấy nhờ anh nhắn với em rằng cô ấy muốn tham dự vũ hội."
Greta không nói gì. Cô có cảm giác như ai đó đang giải thích quy tắc của một trò giải câu đố mới toanh, cô vẫn đang nghe và gật gù, nhưng thực chất lại đang nhủ thầm, mình hy vọng là sẽ hiểu rõ hơn khi trò chơi bắt đầu.
"Em cũng muốn cô ấy đến tham dự buổi vũ hội mà, phải không?" Einar hỏi. "Em thấy sao nếu cô ấy thay anh đi cùng với em?"
Đang xoắn đuôi tóc thành nút thắc mà tí nữa sẽ rối như mớ bòng bong, Greta đáp: "Em không thấy phiền đâu."
Đêm đó, Greta nằm trên giường, cánh tay cô đặt lên ngực Einar. Khi hai người kết hôn, bà của Einar đã tặng cho hai người một chiếc giường chân cao làm từ gỗ sồi. Chiếc giường nhỏ nhắn như bất kỳ ai trong gia đình nhà Wegener, ngoại trừ cha của Einar. Nhiều năm qua, Greta dần quen với việc nằm xéo và gác ngang qua chân Einar. Thỉnh thoảng khi cảm thấy hoài nghi với cuộc sống hiện có ở Đan Mạch, Greta có cảm giác mình là một cô bé con, và Einar với gương mặt tinh xảo như búp bê Trung Hoa cùng bàn chân nhỏ xinh chính là món đồ chơi yêu thích của cô. Lúc ngủ, đôi môi bóng của anh sẽ bĩu ra, tóc anh rũ xuống ôm lấy khuôn mặt. Greta còn không đếm nổi những đêm mình không ngủ chỉ để ngắm hàng lông mi dài khẽ lay động trong khi anh đang nằm mơ.
Đêm đã khuya lắm rồi, phòng ngủ hoàn toàn tĩnh lặng trừ vài tiếng còi phát ra từ chuyến phà đang rời bến Bornholm, một hòn đảo trên biển Baltic, đó chính là quê hương của bà nội cô. Greta càng ngày càng thao thức nhiều hơn khi nghĩ đến Lili, nhớ tới khuôn mặt mộc mạc, bờ môi trên rõ ràng đang run rẩy, ánh mắt sâu sũng nước khiến Greta không biết cô ấy có bật khóc vào lúc nào hay không. Chiếc mũi thanh tú là Lili trông như một cô gái thực thụ.
Lili hóa ra còn e thẹn hơn Einar, ít nhất là khi tiếp xúc ban đầu. Đầu cô khẽ cúi thấp khi nói chuyện, và đôi lúc cô sẽ hốt hoảng đến mức không nói nên lời. Chỉ cần được hỏi những câu đơn giản như: "Cô đã từng nghe nói đến vụ hôả hoạn khủng khiếp ở vũng tàu đậu của công ty Mậu dịch Hoàng gia Greenland chưa?", Lili sẽ nhìn chằm chằm vào Greta hoặc Anna rồi quay mặt đi. Lili thích viết giấy nhắn và dán khắp căn hộ, đặt bưu thiếp mua được từ chỗ người phụ nữ mù đứng trước cổng công viên Tivoli lên trên tủ quần áo màu xám tro hay đính trên phần rìa bé xíu trên khung vẽ của Greta.
Nhưng chị chẳng quen ai ở vũ hội cả. Em nghĩ chị có nên đi không?
Để anh Einar ở nhà có ổn không? Anh ấy sẽ không thấy phiền lòng chứ?
Và một lần nọ cô viết:
Chị thấy mình không đẹp tí nào. Hãy cho chị lời khuyên.
Greta trả lời tin nhắn, đặt chúng tựa vào cái tô đựng lê ngay trước lúc rời khỏi căn hộ:
Quá trễ rồi, em đã thông báo với mọi người là chị sẽ tới. Chị đừng lo gì cả. Mọi người đều nghĩ chị là em họ của Einar mới từ Bluetooth đến đây. Vài người đã hỏi em rằng chị có cần ai đó đi cùng hay không, nhưng em đã nói rằng không cần thiết. Chị sẽ không phật ý phải không? Em không nghĩ là chị - không biết đây có phải là từ thích hợp hay không - sẵn sàng cho việc này.
Vào buổi tối, Einar và Greta thường ăn tối với bạn bè tại quán cà phê yêu thích kế bên kênh Nyshavn. Thỉnh thoảng, khi đã say khước vì rượu aquavit, anh sẽ khoác lác như trẻ con về một trong những buổi triển lãm thành công của mình. "Tất cả tranh đều bán sạch!" Anh dõng dạc tuyên bố, làm Greta nhớ lại những lúc Carlisle không ngừng khoác lác về điểm số môn hình học hay về người bạn đẹp trai mới quen.
Nhưng những lời nói của Einar làm Greta thấy xấu hổ khi cô cố gắng lờ đi những lúc anh đề cập đến tiền bạc. Rốt cuộc thì rêu rao như vậy để làm gì? Làm sao mấy người bạn có thể giả vờ như mấy chuyện đó không ảnh hưởng gì đến họ? Cô sẽ liếc Einar khi trên bàn ăn còn mấy miếng xương cá hồi đầy dầu mỡ nằm chỏng chơ trên đĩa ăn. Cô không bao giờ kể với Einar về món tiền hồi môn cha gởi trước khi tiễn cô đến Đan Mạch, và cũng chẳng hề đề cập đến khoản thu nhập gởi vào tài khoản ở ngân hàng Landmandsbanken sau mỗi mùa thu hoạch cam, không phải vì ích kỷ mà vì cô lo tiền bạc sẽ làm anh thay đổi thành người khác, kiểu người mà cô không hề muốn chung sống. Vào một ngày đáng hận, cô đã mua đứt khu nhà Widow House, nhưng cô chẳng dám hé răng kể với Einar, người vẫn đều đặn rảo bước trong căm hận đến nộp tiền thuê nhà hàng tháng cho thu ngân tại ngân hàng Landmandsbanken. Greta biết mình sai rồi, nhưng cô không biết phải làm sao bây giờ?
Mỗi khi bị kích động, anh sẽ gõ tay lên bàn, tóc rũ xuống quanh mặt anh, cổ áo sơ mi rộng lộ ra bộ ngực hồng mịn. Người anh không hề dư chút mỡ nào, ngoại trừ chỗ ngực mềm nhỏ như bánh bao. Greta sẽ vỗ vào cổ tay anh nhắc anh uống rượu aquavit chậm thôi - đây là cách mẹ Greta đã làm khi cô uống thử loại rượu Tennis Specials tại Câu lạc bộ Valley Hunt. Nhưng Einar dường như chưa từng hiểu được ám hiệu của cô, và thay vào đó anh sẽ nâng ly rượu thon dài đến gần môi cô, nhìn quanh bàn rượu rồi mỉm cười như thể xin phép.
Einar là người đàn ông kỳ quặc về mặt vật chất, Greta biết rõ điều này. Cô nghĩ rằng, nếu áo sơ mi của anh mở rộng xuống dưới thêm tí nữa thì tất cả mọi người trên bàn rượu có thể liếc nhìn bờ ngực trông khêu gợi như cô gái mới lớn. Với mái tóc xinh xắn và chiếc cằm nhẵn nhụi như tách trà, anh đúng là khiến người ta dễ nhầm lẫn. Anh xinh đẹp đến mức thỉnh thoảng những bà già trong công viên Kongens Have sẽ phá luật để ngắt những bông tulip trong vườn hoa công cộng để tặng anh. Môi anh còn hồng hơn màu của bất kỳ thỏi son nào mà Greta có thể mua được ở tầng ba tòa nhà Magasin du Nord.
"Nhớ nói với bọn họ vì sao anh không đền dự vũ hội," Greta nhắc chồng lúc ăn tối vào một đêm nọ. Thời tiết ấm áp và họ đang ăn uống tại dãy bàn ngoài trời với ánh lửa của một vụ hỏa hoạn hắt lên từ phía xa. Trước đó không lâu, hai con tàu đang chạy trên kênh đào vừa va phải nhau khiến mùi kerosene và gỗ vụn tan tỏa trong đêm.
"Vũ hội?" Einar nghiêng đầu hỏi lại.
"Greta nói với chúng tôi là em họ anh đang trên đường từ Jutland đến đây," Helene Albeck, viên thư ký tại công ty Mậu dịch Hoàng gia Greenland lên tiếng. Cô ta trông chắc nịch trong bộ váy đầm màu xanh lục kiểu trễ eo. Một lần nọ, khi đã say khướt, cô ta kéo tay Einar và đặt lên đùi mình, Einar lập tức chống cự làm Greta cảm thấy hài lòng sau khi chứng kiến sự việc qua kẽ hở trên cửa bếp.
"Em họ tôi?" Einar hỏi lại, nghe như đang lúng túng. Cánh môi trên trở nên ẩm ướt và anh im bặt như thể quên mất cách nói chuyện.
Chuyện này xảy ra không chỉ một lần. Greta đề cập đến Lili khi nói chuyện với bạn bè, thậm chí với Anna, và gương mặt Einar nhăn lại giống như anh chưa hề biết ai là Lili. Anh và Greta chưa từng đề cập đến chuyện này sau đó, về việc anh hiểu nhầm một cách trẻ con kìa. Lili là ai cơ? À, phải, Lili. Em họ tôi á? Vâng, em họ tôi, Lili. Rồi sự việc sẽ lặp lại vào ngày hôm sau. Mọi chuyện sẽ diễn ra cứ như bí mật nhỏ của họ chính là bí mật riêng của Greta. Giống như Greta đang bày trò gì đó sau lưng Einar. Cô cân nhắc sẽ phải thảo luận trực tiếp với anh, nhưng rồi lại quyết định không làm vậy. Có lẽ cô sợ gây áp lực quá nhiều với anh, hay anh sẽ đâm ra oán hận sự tọc mạch của cô. Hay có lẽ nỗi sợ hãi lớn nhất của cô chính là việc Lili biến mất mãi mãi, với hình ảnh chiếc cổ áo có thể tháo rời màu trắng tinh phấp phới theo từng bước chân trốn chạy, bỏ lại Greta một mình ở khu nhà Widow House.
 
 
 
CHƯƠNG BA
 
 
Cha Einar là một nông dân trồng lương thực đã từng phá sản và bị trục xuất khỏi Hội Khai khẩn Đất hoang. Lần đầu tiên rời khỏi trang trại của mẹ mình trong làng Bluetooth, đêm đó ông đã đạp xe đến thị trấn Skagen, vốn là mũi đất xa nhất của Đan Mạch để đón cô dâu tại cửa hiệu chuyên đan lưới đánh cá. Ông ngủ lại trong gian nhà trọ lợp rong biển nằm ngay trên vịnh và thức dậy lúc bình minh để kết hôn. Lần thứ hai, và cũng là lần cuối cùng rời khỏi quê nhà Bluetooth, ông quay về thị trấn Skagen với thi thể của vợ mình và đứa con tên là Einar đang được quấn kỹ trong tấm chăn len kẻ sọc. Xung quanh thị trấn Skagen, sương muối đã làm cho mặt đất đóng băng. Vì không tài nào đào nổi một chỗ chôn cất tử tế, người ta đành quấn thi thể mẹ Einar vào một tấm lưới đánh cá đã được rũ sạch rồi thả cô chìm vào vùng biển băng giá. Mới tuần trước, một con sóng xám xịt đã cuốn trôi gian nhà trọ trên vịnh. Nên lần này cha của Einar phải ngủ luôn trong cửa hàng đan lưới, xung quanh là mớ móc câu đã hoen gỉ, mấy cuộn dây thừng và cả hương hoa anh thảo nhàn nhạt giống như mùi toát ra từ mẹ của Einar.
Cha anh cao dong dỏng nhưng lại yếu ớt vì bệnh xương thủy tinh. Ông đi lại nhờ vào một khúc chạc cây gắn vào gậy chống. Khi Einar còn bé, ông đã ốm liệt giường vì căn bệnh hiếm gặp này. Ban ngày, Einar sẽ lén bước vào phòng cha khi ông đang ngủ. Anh nhìn thấy miệng cha nhễu nước dãi, bong bóng phì phèo theo từng hơi thở. Einar sẽ rón rén đi trên mũi chân tiến lại gần, vươn tay khẽ vuốt từng mái tóc xoăn vàng óng của cha. Einar luôn ao ước có một mái tóc như vậy, nó dày đến mức phủ kín chiếc lược bạc, đẹp tuyệt như dây kim tuyến quấn quanh cây thông Giáng Sinh. Nhưng có một thứ còn hơn thế, đó chính là căn bệnh của cha, căn bệnh bí ẩn đã rút cạn sinh lực của ông và làm đôi mắt hình quả trứng trở nên mờ đục và ướt át, từng ngón tay thêm mảnh dẻ và vàng vọt. Einar nghĩ cha mình - một người đàn ông đang mê man trong khi cơ thể đang lụn bại dần dần mục ruỗng, với hơi thở khò khè - trông thật xinh đẹp. Một người đàn ông bị hủy hoại cơ thể đã không còn hữu dụng.
Nhiều lần Einar trèo lên chiếc giường nhỏ bằng gỗ sồi và chui vào dưới tấm chăn lông vịt. Bà nội anh đã dùng những viên kẹo cao su bạc hà nhỏ xíu để và những lổ thủng trên tấm chăn, khiến giường anh có thêm hương thơm thanh mát. Einar vùi đầu vào gối, còn con Edvard II sẽ nằm cuộn tròn giữa anh và cha, không ngừng phe phẩy cái đuôi trắng muốt cọ sát với tấm trải giường. Nò rên ư ử, thở dài và lại còn hắt hơi. Einar sẽ bắt chước y hệt. Anh hành động như vậy vì biết rõ cha thương con Edvard II nhiều như thế nào và Einar chỉ muốn cha thương mình nhiều như thế.
Trên giường, Einar sẽ nghỉ ngơi và cảm nhận hơi ấm yếu ớt từ cơ thể gầy guộc của cha, bộ xương sườn hiện lên rõ ràng qua lớp áo ngủ. Mấy đường gân xanh trên cổ đập yếu cứ như chúng đã đến hồi sức cùng lực kiệt. Einar sẽ chạm tay cha rồi nắm chặt cho đến khi bóng hình nhỏ thó và thẳng đuột của bà nội bước đến bên cửa và xua Einar đi chỗ khác chơi. "Cháu chỉ làm cha cháu ốm nặng hơn thôi," bà nội mắng mỏ qua loa. Vì quá bận rộn với chuyện đồng áng, bà vẫn thường nhờ mấy người hàng xóm tốt bụng trông chừng Einar.
Bên cạnh cảm giác ngưỡng mộ cha mình, Einar cũng oán hận ông không kém. Những lần phải đào xới trong bãi lầy, dùng xẻng xúc than bùn, Einar thỉnh thoảng lại nguyền rủa cha. Trên cái bàn kê cạnh giường bệnh của cha có đặt một khung ảnh trắng đen hình oval chân dung của mẹ Einar, với mái tóc được tết thành viền cuộn quanh đầu và đôi mắt màu bạc. Bấy kỳ khi nào Einar đụng đến tấm ảnh của mẹ, cha anh sẽ giật lấy và quát: "Con đang làm xáo trộn sự yên nghĩ của mẹ con đấy." Đối diện với giường là tủ quần áo màu xám tro chứa đầy quần áo của mẹ, cách sắp đặt mọi thứ vẫn còn y nguyên như hồi bà hạ sinh Einar. Một ngăn kéo chứa váy nỉ với đá cuội được may dưới gấu váy nhằm tránh gió thổi tốc váy; một ngăn kéo khác chứa đầy quần áo lót, tất cả đều có màu xám xịt như bầu trời; trên giá treo là vài bộ váy đầm tay phồng bằng vải gabardine; áo cưới của bà giờ đã ngã ố vàng, còn lớp vải trở nên mỏng tang đến mức chỉ cần khẽ chạm vào cũng sẽ rách toạc. Trong tủ còn có một chiếc túi rút chứa chuỗi hạt nhỏ màu hổ phách, một chiếc kẹp trang sức chạm khắc màu đen và một chiếc nhẫn kiểu có chấu đính kim cương loại nhỏ.
Thỉnh thoảng, khi sức khỏe đột nhiên tốt hơn, cha anh sẽ rời khỏi trang trại. Một ngày nọ, khi trở về nhà sau mấy tiếng đồng hồ ngồi trò chuyện bên bàn ăn nhà hàng xóm, ông bắt gặp Einar - lúc đó mới bảy tuổi - trốn trong ngăn tủ với chuỗi hạt màu hổ phách quấn trên cổ, và chiếc khăn choàng cổ màu vàng quàng qua đầu trông như mái tóc dài tuyệt đẹp.
Cha anh tức đến đỏ bừng cả khuôn mặt, đôi mắt hõm sâu vào trong hốc mắt. Einar có thể nghe được cơn tức đang nổ lách tách trong từng hơi thở phát ra từ cổ họng. "Con đang làm cái trò gì vậy?" cha anh quát to. "Con trai không được làm cái trò đó!" Và Einar bé bỏng trả lời: "Tại sao không được chứ?"
Cha anh qua đời khi anh mười bốn tuổi. Gã đào mộ kỳ kèo thêm mười đồng krone nữa thì mới chịu đào một cái huyệt đủ dài để chôn chiếc hòm xuống. Ngay tại khu nghĩa địa, bà nội, người đã lần lượt chôn hết mấy đứa con của mình, đã đưa cho Einar một cuốn sổ tay bìa nhỏ. Bà ra lệnh: "Viết những suy nghĩ riêng tư của cháu vào đó." Gương mặt bà mịn màng, tròn quay như cái đĩa, thể hiện rõ sự giải thoát khi đứa con trai kỳ quặc vô dụng cuối cùng đã chết. Cuốn sổ tay to bằng lá bài, gắn dọc gáy là cây bút chì màu ngọc lưu ly được cố định bằng vòng da đà điểu. Bà đã giật lấy nó từ một người lính Phổ khi Liên bang Đức chiếm đóng vùng Jutland trong thời chiến vào năm 1864. "Giật lấy cuốn sổ rồi bắn chết anh ta," bà thỉnh thoảng kể lại trong lúc trộn pho mát.
Bluetooth là tên một trong những vị vua đầu tiên của Đan Mạch. Không ai biết quốc gia này được hình thành từ lúc nào, hay người Đan Mạch từ đâu tới, mặc dù truyền thuyết kể rằng những người dân Greenland đã rời bỏ vùng đất cằn cỗi để đến chăn thả đàn cừu ở vùng này. Nơi này chẳng có gì ngoài một ngôi làng được vây quanh bởi hàng loạt bãi lầy. Mọi thứ ở Bluetooth đều ướt nhẹp: chân người, chó nuôi, và cả những tấm thảm cũng như mấy bức tường trong hội trường vào mùa Xuân. Ngôi làng có một lối đi bộ lót ván chạy ngang qua vùng đất lầy lội hướng ra đường lớn và những cánh đồng ngũ cốc. Mỗi năm, lối đi bộ sẽ lún xuống một khoảng bằng với cánh tay của bé gái, và tháng năm hàng năm, khi sương muối tan ra thành từng mẫu nhỏ như vảy cá, cánh đàn ông trong làng Bluetooth lại dùng búa đóng chặt những tám ván đã cong vênh vào mấy khoảng đất cứng vàng vọt bé tẹo.
Khi còn là một cậu nhóc, Einar có một người bạn tên là Hans sống ở rìa ngoài của ngôi làng, trong một căn biệt thự xây bằng gạch và là nhà đầu tiên có điện thoại trong thị trấn. Vào ngày nọ, trước khi hai đứa trở thành bạn thân, Hans bảo sẽ tính Einar một đồng ore cho mỗi lần nhấc ống nghe. Anh chẳng nghe thấy gì ngoài sự tĩnh mịch đến trống rỗng. Hans quàng tay lên vai Einar, lắc nhẹ và bảo: "Nếu có ai gọi điện đến tìm cậu, tớ sẽ cho cậu nhấc máy."
Cha Hans là một nam tước. Mẹ cậu ta có mái tóc hoa râm xoăn tít và chỉ dùng tiếng Pháp khi nói chuyện với con mình. Nửa phần dưới khuôn mặt Hans đầy tàn nhang. Giống như Einar, Hans trông nhỏ thó hơn hẳn mấy đứa con trai khác. Nhưng khác với Einar, Hans có giọng nói khàn khàn nhanh như tên bắn, chất giọng đặc trưng kiểu con trai tốt bụng lúc nào cũng sôi nổi và liến thoắng một cách nhiệt tình đầy tự tin với người bạn thân nhất, với cô giáo người đảo Corse, và cả với cha phó tế mũi đỏ. Cậu ta chính là dạng con trai khi đêm xuống thì đã vui đến mệt nhoài, chỉ biết nằm lên giường, đi vào giấc ngủ ngay tức khắc và đột nhiên im lặng hơn cả đầm lầy. Einar biết rõ điều này vì mỗi khi anh ngủ lại biệt thự qua đêm, anh sẽ hào hứng đến mức không nhắm mắt nổi và cứ thao thức mãi cho đến bình  minh.
Hans lớn hơn Einar hai tuổi, nhưng việc này chẳng mấy quan trọng. Khi mười bốn, Hans vốn nhỏ bé hơn bạn bè cùng lứa nhưng lại cao hơn Einar. Với cái đầu to, mất cân đối với cơ thể, Hans nhìn giống người lớn hơn bất kỳ đứa con trai nào mà Einar từng biết lúc cậu mười hai tuổi. Hans hiểu rõ cách người trưởng thành kiểm soát cuộc đời họ: đó là không hề cảm kích việc ai đó chỉ đích danh những hành động mâu thuẫn của họ. Mỗi khi bà Borh hoặc bà Lange sang ngồi lê đôi mách, cha của Einar, vốn lúc nào cũng than vãn về bệnh tật liệt giường, sẽ lập tức gạt chiếc chăn lông vịt qua một bên và phi như bay đến chỗ ấm trà. Những lúc đó, Hans sẽ khuyên nhủ Einar: "Đừng, đừng phản bác gì cả." Hay khi khép chặt những ngón tay vào nhau giống như vây máy chèo của loài cá, cậu ấy thường đề nghị Einar đừng nói cho cha biết việc mình muốn trở thành họa sĩ. "Cậu sẻ còn đổi ý nhiều lần nữa. Sao phải nói cho cha cậu biết chứ?" Hans sẽ lý sự, những ngón tay của cậu ấy khép lại khẽ chạm vào cánh tay Einar làm những cọng lông tay đen mảnh dựng đứng lên và lổ chân lông sần lên. Chính vì Hans biết rất nhiều chuyện nên Einar cho rằng lời cậu ta nói luôn là chân lý. Một ngày nọ, trong lúc dạy Einar cách trèo lên cây sồi cổ thụ mọc trên rìa đất cạnh bãi lầy, Hans lên lớp Einar: "Ước mơ của mình thì không nên chia sẻ lung tung." Rễ cây sồi quấn quanh tảng đá một cách kỳ quái. Tảng đá có màu trắng sữa xen lẫn những vệt lấp lánh của khoáng chất mica, chói đến mức không thể nhìn thẳng vào nó trong những ngày nắng to. "Tớ muốn trốn nhà đến Paris, nhưng tớ sẽ không kể với bất cứ ai về ý định này. Tớ sẽ tuyệt đối giữ bí mật. Một ngày, tớ sẽ đột nhiên biến mất, đến lúc đó thì người ta mới biết là tớ đã bỏ đi." Hans huyên thuyên, treo ngược thân mình và đánh đu trên một cành cây. Áo cậu ta trượt xuống để lộ ra mấy cọng lông đang lún phún ngay giữa ngực. Chỉ cần sơ ý một chút, cậu ta sẽ ngã thẳng vào hố bùn lộ thiên đang nổi bong bóng.
Nhưng Hans chẳng bao giờ trải nghiệm cảnh chìm nghỉm trong bãi lầy. Lúc Einar tròn mười ba tuổi, anh và Hans đã trở thành bạn thân. Điều này làm cho Einar cực kỳ ngạc nhiên vì anh chẳng mong đợi gì ngoài những lời khinh miệt từ một thằng con trai kiểu như Hans. Thậm chí Hans còn nài nỉ Einar chơi tennis cùng cậu ta trên bãi cỏ khô cạnh biệt thự mà cậu ta dùng đường bột để kẻ sân. Khi nhận ra Einar không tài nào vung vợt tennis một cách chuẩn xác, Hans đã dạy bạn mình về những quy tắc của trọng tài, khăng khăng rằng đó là phần còn quan trọng hơn. Một buổi chiều nọ, Hans và một trong bốn người anh em ruột quyết định khỏa thân chơi tennis để chọc tức mẹ cậu ấy. Trong chiếc áo len tay dài, Einar ngồi trên tảng đá phủ đầy địa y, trên đầu là cây dù màu hồng do Hans dựng lên để che nắng. Einar cố gắng phân xử trận đấu một cách khách quan, mặc dù anh có cảm giác là mình sẽ không ngần ngại giúp Hans chiến thắng. Vậy Einar ngồi trên tảng đá hô to: "40-0 lợi thế cho Hans... Một cú giao bón ăn điểm trực tiếp từ Hans," khi Hans và người anh em của cậu ta đuổi theo trái bóng tennis khắp bãi cỏ khô. "Thằng nhỏ" nhỏ hồng hồng của hai cậu bé lắc lư qua lại giống cái đuôi cụt của giống chó Schnauzer, làm Einar đang nép mình dưới tán dù cảm thấy e thẹn không thôi, mãi đến khi Hans ghi điểm quyết định kết thúc trận đấu. Rồi ba cậu bé lau khô người, cánh tay trần nóng ấm của Hans tì nhẹ vào lưng Einar.
Hans có một con diều làm từ giấy và gỗ balsa được nam tước phu nhân mang về từ Berlin. Diều được mô phỏng theo hình tàu ngầm và Hans rất thích thả nó bay thật cao, giống như đang ngụp lặn giữa không trung. Cậu ấy nằm dài trên bãi cỏ linh lăng, kẹp chặt cuộn dây diều giữa hai đầu gối và hướng mắt nhìn cánh diều bay cao vời vợi trên bãi lầy. "Quân Đức cũng có kiểu máy bay tương tự như thế này," cậu ba hoa với nhành cỏ vẫn ngậm trên môi. Cậu cố gắng chỉ cho Einar cách thả diều bay cao, nhưng Einar chẳng bao giờ nhận biết được luồng gió chính xác. Cánh diều làm từ giấy thông thảo cứ bay lên theo làn gió nhẹ rồi đâm đầu xuống đất hết lần này đến lần khác, và Einar nhìn thấy Hans khẽ cau có mỗi lần diều tiếp xúc với mặt đất. Hai cậu vội vàng chạy đến tìm chiếc diều, vốn thường đang nằm úp ngược trên mặt đất. Einar áy náy: "Hans ơi, tớ không biết có chuyện gì xảy ra nữa. Tớ xin lỗi cậu." Hans nhặt diều lên, phủi nhẹ những cánh hoa bồ công anh và reo lên: "Vẫn còn tốt chán." Thế nhưng Einar không bao giờ biết thả diều; và một ngày nọ khi hai cậu bé duỗi lưng nằm trên vạt cỏ linh lăng, Hans lên giọng: "Đây, cậu giữ lấy diều đi." Cậu ấy cuộn dây diều vào giữa hai đầu gối của Einar rồi nằm xuống bãi cỏ. Einar có thể cảm nhận được vị trí của hang cáo ngay bên cạnh mình. Mỗi khi diều no gió kéo căng dây, cuộn dây sẽ xoay tròn và lưng Einar sẽ cong lên. "Đúng rồi. Điều khiển nó bằng đầu gối của cậu," Hans lên giọng dạy dỗ. Và cứ thế, Einar càng lúc càng quen với cuộn dây không ngừng xoay tròn, diều lao xuống rồi lượn lên cao theo bóng chim hồng tước. Hai cậu bé cười phá lên, cái mũi đỏ ửng dưới ánh nắng. Hans lấy một nhánh lau sậy cù lên bụng Einar. Gương mặt Einar gần Hans đến mức có thể cảm thấy hơn thở của chính cậu khi nhánh lau sậy phất phơ qua lại. Einar muốn nằm gần Hans đến khi đầu gối của hai đứa chạm vào nhau, vào khoảnh khắc đó dường như Hans sẽ cởi mở với bạn mình về bất cứ điều gì. Einar quay vụt về phía người bạn tốt nhất của mình, và đám mây duy nhất trên bầu trời khẽ nép mình qua một bên nhường ánh mặt trời rọi lên khuôn mặt của hai cậu bé. Và ngay lúc đó, khi Einar dịch đầu gối xương xương của mình về phía Hans, một cơn gió hung hãn tốc thẳng vào cánh diều làm cuộn dây thoát khỏi gọng kìm giữa đầu gối của Einar. Hai cậu bé chỉ biết nhìn con diều hình tàu ngầm chao liệng ngay trên kia bay cao lên rồi đâm sầm xuống bãi lầy đen đủi, ngay sau đó bị bùn lầy nuốt chửng như thể nó nặng như một tảng đá.
"Hans," Einar kêu lên.
"Không sao đâu," Hans nhẹ nhàng bảo trong lời thì thào pha chút sửng sốt, "Chỉ cần cậu đừng nói với mẹ tớ là ổn thôi."
Mùa hè trước khi cha Einar qua đời, hai cậu bé đang chơi đùa trên cánh đồng mọc đầy rêu trước nhà bà nội Einar, bùn sình nhèm nhẹp giữa đôi ủng. Trời ấm áp và hai đứa đã ở trên cánh đồng suốt cả buổi sáng. Rồi đột nhiên Hans chạm vào cánh tay của Einar và hỏi: "Einar thân mến, tối nay chúng ta ăn gì?". Trời vừa trưa, và Hans thừa biết không có ai ở trang trại ngoại trừ cha của Einar đang ngủ thiêm thiếp trên giường.
Lúc đó Hans đã bắt đầu trổ mã. Cậu ta tròn mười lăm tuổi và cơ thể đã phát triển cân xứng với cái đầu to tướng của cậu. Trái táo Adam đã hiện trên cổ và cậu ấy cao hơn rất nhiều so với Einar vốn mới tròn mười ba tuổi và chưa kịp nhổ giò. Hans thúc Einar đi về trang trại. Trong nhà bếp, Hans ngồi chễm chệ trên bàn ăn với khăn ăn quàng trên cổ áo. Einar chưa bao giờ nấu ăn và anh cứ thế đứng ngây người bên bếp lò. Hans thong thả lên tiếng: "Nhóm lửa. Nấu nước sôi, rồi bỏ vào đấy vài củ khoai tây nhỏ và một tảng đùi cừu." Sau đó, càng lơ đãng hơn, chất giọng ồm ồm của cậu dần dịu lại, "Einar. Giả vờ đi nào."
Hans tìm thấy chiếc tạp dề của bà nội Einar với dây buộc làm từ cọng cói nằm rũ rượi bên cạnh ống hút khói. Cậu ta đeo tạp dề cho Einar rồi cẩn thận thắt dây quanh eo bạn mình. Hans chạm tay vào gáy Einar, cứ như chỗ ấy có một túm tóc mà cậu muốn vén qua bên cạnh. "Cậu chưa từng chơi trò này sao?" Hans thì thầm, giọng cậu ấy vừa ấm áp, vừa mượt mà vờn qua tai Einar, những ngón tay với móng tay gặm nham nhở đặt lên cổ Einar. Hans kéo chặt dây buộc tạp dề đến mức Einar phải bất ngờ hít sâu một hơi thật khoan khoái. Hai là phổi của anh căng đầy không khí cho đến khi cha Einar lững thững bước vào bếp, mắt ông trợn lên và miệng dúm dó thành hình chữ O.
Einar cảm thấy chiếc tạp dề như muốn tuột xuống chân.
Cha của anh chĩa thẳng chiếc gậy vào Hans và gầm lên: "Để con tao yên."
Cửa bếp đóng ầm lại và căn bếp trở nên tối sầm và chật chội. Einar có thể nghe tiếng đôi ủng của Hans phát ra tiếng nhèm nhẹp khi bước qua chỗ bùn, tiến thẳng về phía bãi lầy. Einar còn nghe rõ tiếng cha mình thở khò khè, và cả tiếng cú đấm của cha dộng vào má anh. Và rồi, vang vọng qua bãi lầy và cái hồ đầy nòng nọc, trải trên cánh đồng rêu nước, văng vẳng trong ánh chiều là giọng hát của Hans với vài câu ngắn ngủi:
Ngày xửa ngày xưa có một ông già sống trên vũng lầy.
Ở nơi đó, ông sống cùng cậu con trai xinh đẹp và chú cún nhỏ lười biếng.
 
 
 
CHƯƠNG BỐN
 
 
Greta trải qua sinh nhật lần thứ mười tám trên con tàu Princess Dagmar. Cô đứng hờn dỗi bên lan can tàu. Cô chưa hề quay lại California kể từ mùa hè sau sự cố chiếc xe ngựa của hàng thịt. Chỉ cần nghĩ về căn nhà gạch quét sơn trắng toát trên đỉnh đồi, nhìn ra nơi đại bàng làm tổ tại hẻm núi Arroyo Seco, và cả dãy núi San Gabriel có màu tía lúc hoàng hôn cũng làm cô cảm thấy nuối tiếc khôn nguôi. Cô biết mẹ mình muốn cô kết bạn với mấy cô con gái của bạn mẹ - với Henrietta, con gái của gia đình sở hữu mấy mỏ dầu ngay cạnh bờ biển; với Margaret, con gái của chủ tòa báo; với Dottie Anne, con gái của gia đình sở hữu trang trại nuôi gia súc lớn nhất vùng California, chính là khu vực phía Nam Los Angeles với diện tích không hề kém cạnh so với toàn bộ lãnh thổ Đan Mạch. Cha mẹ Greta mong cô sẽ trưởng thành giống như con gái của những nhà ấy, như thể cô chưa từng đi, như cái cách mà một quý cô nếu đã sinh ra ở California thì phải sở hữu những phẩm chất sau: thông minh, lễ phép, cưỡi ngựa thành thạo và điềm tĩnh. Tại Câu lạc bộ Valley Hunt, tiệc khiêu vũ dịp Giáng sinh chính là dịp ra mắt của những cô gái con nhà quyền quý. Vào đêm đó, những cô gái sẽ bước xuống cầu thang trong bộ váy đầm phồng, lá trạng nguyên trắng bạc gài trên tóc. "Chúng ta quay về Pasadena lúc này là đúng ngay dịp con phải ra mắt mọi người," mẹ Greta nói hàng ngày suốt chuyến hải trình. "Cảm tạ Chúa vì sự tiến đánh của quân Đức."
Phòng của Greta ở căn nhà trên đỉnh đồi có một cửa sổ tò vò hướng ra bãi cỏ phía sau và nguyên một vườn hoa hồng với những cánh hoa đang héo tàn dưới cái nóng của mùa Thu. Mặc dù điều kiện ánh sáng phù hợp, nhưng căn phòng quá nhỏ để vẽ vời. Mới ở đấy có hai ngày mà cô đã cảm thấy tù túng, cứ như ngôi nhà, với ba tầng phòng ngủ và tiếng guốc gỗ lộp cộp mỗi khi cô hầu gái người Nhật Bản lên xuống cầu thang, đang bóp nghẹt trí tưởng tượng của cô. "Mẹ, con muốn trở về Đan Mạch lập tức, ngay ngày mai! Chỗ này quá tù túng đối với con," cô phàn nàn. "Có thể chỗ này hợp với mẹ và anh Carlisle nhưng con thấy con chẳng làm được việc gì nên hồn. Con cảm giác như con sắp quên cách vẽ vời như thế nào luôn rồi."
"Greta, con gái yêu, chuyện này là không thể," mẹ cô trả lời, vẫn bận rộn với việc biến chuồng ngựa thành bãi xe ô tô. "Làm sao ở California mà con còn cảm thấy tù túng? Con thử so với vùng đất Đan Mạch nhỏ bé xem!" Greta phải đồng ý rằng ý kiến này không có logic tí nào, nhưng đó chính là cảm nhận của cô.
Cha cô gởi một bài khảo sát thống kê về đất nước Đan Mạch được xuất bản bởi Hội Kiểm soát Khoa học Hoàng gia. Greta dành một tuần với nó, nghiền ngẫm hết những biểu đồ trong cảm giác tủi thân và mong chờ: năm ngoái ở Đan Mạch có 1.476.000 con heo và 726.000 con cừu. Tổng số lượng gà mái là 12.000.000 con. Cô sẽ đọc từng con số rồi lại ngẩng đầu nhìn qua cửa sổ tò vò. Cô ráng ghi nhớ chỗ số liệu ấy như thể cô sẽ cần đến chúng ngay lập tức, mặc dù cô không thể nói rõ ràng rằng cô cần chúng để làm gì. Và cô lại tiếp tục nài nỉ mẹ mình: "Con quay về không được sao? Con không thèm quan tâm đến tình hình quân Đức đâu mà."
Cảm thấy cô đơn, Greta thả bộ về phía hẻm núi Arroyo Seco, rảo bước dọc theo lòng sông đã khô cạn, nơi mà lũ chim choi choi đang tìm kiếm nguồn nước. Lưu vực sông cạn trơ đáy vào mùa Thu, từng bụi cây ngải đắng và mù tạt, oải hương sa mạc và hoa rồng, tất cả đều khô giòn; rồi quả toyon, quả coffeeberry, quả cơm cháy, quả sumac vị chanh cũng chung số phận. Không khí ở Calofornia khô nóng đến mức làm bong tróc làn da của Greta; khi cô thả bộ dọc theo lòng sông đầy cát, cô có thể cảm nhận từng mạch máu trong mũi nứt ra và chảy máu. Một con chuột túi má nhận ra chim đại bàng lượn vòng trên bầu trời nên vội vã lủi ngang qua mặt cô. Lá sồi đung đưa xào xạc trong gió. Cô nhớ đến những con phố nhỏ tại Copenhagen, nơi có mấy tòa nhà mấp mé dọc lề đường, trông nhưng một cụ già trông sợ hãi bước xuống lòng đường. Cô nhớ đến Einar Wegener, bóng hình anh mờ ảo như trong mơ.
Ở Copenhagen ai cũng biết đến Greta, nhưng chẳng ai kỳ vọng điều gì từ cô; cô còn giống kẻ ngoại lai hơn cô thợ giặt tóc đen quê ở Canton đã lang thang khắp chốn và hiện tại đang làm việc cho mấy cửa hàng nhỏ ở khu Istedgate. Tại Copenhagen, bất kể cô cư xử ra sao người ta đều tôn trọng cô như cái cách mà dân Đan Mạch khoan dung cho hàng tá những bá tước phu nhân lập dị thường chỉ biết thêu thùa trong những tòa trang viên phủ đầy rêu. Về California, cô lại trở thành quý cô Greta Waud, em gái sinh đôi của Carlisle, người thừa kế của vùng Orange. Những ánh mắt cứ soi mói dọc theo từng bước chân cô. Tính trong địa phận hạt Los Angeles, có không đầy mười người đàn ông thích hợp để kết hôn với cô. Người ta cũng biết cô sắp chuyển vào ở trong một ngôi nhà kiểu Ý nằm ở bờ bên kia hẻm núi Arroyo Seco. Và con cô sẽ lớn lên trong phòng dành riêng cho trẻ em và chơi đùa trong phòng vui chơi của ngôi nhà ấy. "Con chẳng cần phải chờ đợi nữa đâu," mẹ cô nói ngay trong tuần đầu tiên quay lại California. "Đừng quên là con đã mười tám tuổi rồi." Và tất nhiên chẳng ai quên mất sự kiện chiếc xe ngựa của hàng thịt. Một cậu trai khác đã thay thế vị trí người giao hàng, nhưng mỗi lần tiếng lộc cộc của chiếc xe vang lên, một khoảnh khắc xấu hổ lại bao trùm lên ngôi nhà quét sơn trắng.
Carlisle què quặc, cái người luôn bị đau chân mỗi khi Đan Mạch trở lạnh, đang chuẩn bị nhập học ở Stanford. Đây là lần đầu tiên cô cảm thấy ganh tị với anh mình - ganh tị rằng anh được phép tập tễnh băng qua sân trường đầy cát đến lớp học dưới ánh mặt trời trong trẻo của vùng Palo Alto, trong khi cô phải ngồi trong phòng đón nắng với quyển sổ ký họa đặt trên đùi.
Greta bắt đầu mặc áo choàng kiểu họa sĩ và cô cất tờ giấy nhắn của Einar ở túi áo trước. Cô ngồi trong phòng hứng nắng và viết thư cho anh, mặc dù cô thấy thật khó khăn khi nghỉ ra chuyện gì đó để báo cho anh biết. Cô không muốn kể cho anh biết việc mình đã không vẽ vời gì từ lúc rời khỏi Đan Mạch. Cô không muốn viết về thời tiết vì đó là thứ chỉ có mẹ cô mới hay nói đến. Thay vào đó, cô viết thư kể về những dự định của mình khi trở lại Copenhagen: quay lại học tại Học viện Hoàng gia; cố gắng sắp xếp một buổi triển lãm nhỏ để trưng bày tranh cô vẽ tại Trung tâm Triển lãm Den Frie Udstilling; thuyết phục Einar tháp tùng cô vào bữa tiệc sinh nhật mười chín tuổi. Suốt cả tháng đầu tiên vừa quay về California, cô đi bộ đến bưu điện nằm trên phố Colorado để gửi những bức thư. "Thư sẽ đi rất chậm đấy," thư ký bưu điện nói qua song cửa sổ bằng đồng. Và Greta trả lời, "Đừng nói với tôi rằng hiện giờ quân Đức cũng thiêu hủy thư tín."
Cô không thể sống như thế này, cô kể lể với Akiko, một trong mấy cô hầu gái người Nhật với cái mũi lúc nào cũng sụt sịt. Cô hầu gái sẽ cúi đầu chào rồi mang cho Greta một bông hoa trà thả nổi trong cái tô bằng bạc. Mình phải thay đổi thứ gì đó, Greta tự nhủ với chính mình khi cô tức giận đến sôi máu, mặc dù cô chẳng đặc biệt căm giận ai ngoại trừ quân Đức. Vừa mới đây thôi, cô vẫn còn là đứa con gái tự do nhất Copenhagen, nếu không nói là nhất thế giới, và giờ đây những tên lính Đức bẩn thỉu gần như đã phá hủy cuộc sống của cô. Cô đã trở thành một kẻ bị đày ải, bị trục xuất đến tận California, nơi hoa hồng dại mọc cao đến ba mét và chó sói Bắc Mỹ trong hẻm núi gào rú suốt đêm. Cô không thể tin nổi mình lại trở thành loại con gái cả ngày chỉ biết chờ đợi đến lúc thư tín đến, một xấp phong bì và chả có cái nào đến từ Einar.
Cô đánh điện cho cha van xin ông cho cô trở lại Copenhagen. Ông trả lời: "Đường biển không còn an toàn nữa." Greta đòi mẹ cho cô đến học ở Stanford cùng anh Carlisle, nhưng mẹ cô bảo rằng trường duy nhất phù hợp với cô là trường Seven Sisters ở vùng phía Đông đầy tuyết phủ.
"Con có cảm giác như con đang bị vò nát," cô than vãn với mẹ.
"Đừng có đóng kịch nữa," quý bà Waud đáp lại, vẫn bận rộn xoay xở việc gieo hạt mới cho cánh đồng vụ đông và vườn hoa anh túc.
Một ngày nọ, Akiko gõ nhẹ vào cánh cửa phòng Greta, cúi đầu chào và trao cho cô một tập sách nhỏ. "Xin lỗi cô chủ," Akiko nói. Rồi cô ấy lại vội vàng lui ra ngoài, bước lộp cộp trên đôi guốc gỗ. Tập sách nhỏ giới thiệu về cuộc họp mặt lần tới của Hiệp hội Mỹ thuật và Thủ công vùng Pasadena. Greta lại nhớ đến những tay nghiệp dư của Hiệp hội với bảng màu kiểu Paris nên quăng tập sách giới thiệu qua một bên. Cô quay lại với quyển sổ ký họa nhưng chẳng tài nào nghĩ ra được ý tưởng gì.
Một tuần sau đó, Akiko quay lại trước cửa phòng Greta. Cô ấy trao cho Greta một tập sách giới thiệu thứ hai. "Xin thứ lỗi cho tôi," Akiko nói, tay vẫn che miệng. "Nhưng tôi nghĩ cô chủ sẽ thích nó."
Mãi cho đến lần thứ ba, khi Akiko đưa đến tập sách giới thiệu thì Greta mới quyết định tham gia buổi họp mặt. Hiệp hội này sở hữu một căn nhà một tầng bằng gỗ, ngược hướng với Pasadena ngay tại chân đồi. Mới tuần trước, một con sư tử núi với bộ lông vàng như màu hoa hướng dương đã thình lình xông qua bụi thông cuối đường và tóm lấy một đứa trẻ ở gần đó. Những thành viên của hội không còn biết thảo luận về chuyện gì khác. Chương trình nghị sự bị hủy bỏ, và người ta bắt đầu thảo luận về một bức tranh tường mô tả lại cảnh tượng đó. "Bức tranh đó sẽ được đặt tên là: Cú tập kích bất ngờ của sư tử!" có ai đó đã tuyên bố. Một thành viên khác thì đề nghị: "Sao không làm một bức tranh khảm?" Thành viên của hội phần đông là phụ nữ, nhưng vẫn có một số ít đàn ông tham gia, và nhiều người trong số họ hay đội mũ nồi. Ngay khi buổi họp mặt sắp thống nhất ý kiến về việc trưng bày một bức tranh tập thể ở thư viện thành phố vào ngày đầu năm mới, Greta lủi ra tít phía sau căn phòng. Suy đoán của cô đúng là chính xác.
"Cô không tham gia sao?" một người đàn ông chợt hỏi.
Người đó là Teddy Cross, với vầng trán rất trán và cái cổ dài nghiêng về bên trái. Chính Teddy Cross là người đã mời cô rời khỏi buổi họp mặt và đến tham quan xưởng gốm của anh ta trên phố Colorado, nơi lò nung luôn đốt ngấu nghiến từng khúc gỗ óc chó cả ngày lẫn đêm. Cổ chân anh đầy cơ bắp do thường xuyên dùng chân quay bàn xoay làm gốm. Teddy Cross là người đã trở thành chồng của Greta sau buổi ra mắt vào đêm vũ hội Giáng sinh tại Câu lạc bộ Valley Hunt; người ngay trước khi chiến tranh thế giới kết thúc đã bỏ mạng dưới ánh nhìn sững sờ của Greta.
Anh là người đàn ông thứ hai mà Greta yêu. Cô yêu Teddy vì những chiếc bình sứ cổ lọ do anh nhào nặn từ cao lanh và kính mờ. Cô yêu gương mặt trầm tĩnh lởm chởm râu ria và cách anh nhếch mép mỗi khi nhúng đồ gốm vào thùng men sứ. Anh là người gốc Bakerfields, con trai của gia đình nông dân trồng dâu. Vết nhăn nheo xuất hiện trên vùng da quanh mắt do tật nheo mắt lúc còn bé. Anh hỏi Greta về Copenhagen, về dòng kênh đào và những vị vua, nhưng anh không phán xét gì về những chuyện cô kể, mí mắt là thứ duy nhất chuyển động trên gương mặt anh. Cô kể với Teddy rằng có một họa sĩ tài hoa chuyên vẽ tranh phong cảnh đã đem lòng yêu cô, nhưng anh chỉ nhìn chằm chằm. Anh chưa từng đặt chân đến phía đông vùng Mojave, và lần duy nhất anh đến thăm một trong những khu nhà nằm dọc đại lộ Orange Grove là khi anh được thuê sản xuất gạch men trang trí trước lò sưởi và lót sàn phòng ngủ phụ ở hành lang phía trước.
Greta thích thú với cái ý nghĩ hẹn hò cùng anh; dắt tay anh đi dạo quanh những đình hóng mát tại sân tennis, nơi sẽ diễn ra những buổi tối tiệc tùng ở Pasadena vào mỗi mùa thu; khoe khoang với anh về mấy cô gái hay đến Câu lạc bộ Valley Hunt như thể cô không phải là một trong số họ, không còn giống họ nữa - đàng nào thì cô cũng chuyển đến sống ở Châu Âu. Cô sẽ trèo lên xe ngựa của hàng thịt nếu cô muốn, hay cô sẽ để một anh thợ gốm sứ tháp tùng cô.
Đúng như mong đợi, mẹ Greta cấm cửa Teddy Cross, nhưng điều này không hề ngăn cản việc Greta sẽ dắt anh dạo quanh Pasadena, đến thăm hỏi mấy cô nàng tẻ nhạt như Henrietta, Margaret và Dottie Anne trong khu vườn rợp bóng mát của họ. Mấy cô gái đều không cảm thấy phiền về sự hiện diện của Teddy, với Greta, điều này đồng nghĩa với việc bọn họ hoàn toàn phớt lờ anh. Đồ gốm của anh bán chạy hết mức. Greta phát hiện rằng khi anh đến dự tiệc với những vệt đất sét bám dưới móng tay, anh trông quyến rũ lạ thường. Mẹ Greta, người hay tuyên bố trong những bữa tiệc tùng rằng bà chắc chắn sẽ coi trọng California hơn đất Châu Âu cũ kỹ lạc hậu, vẫn thường vỗ nhẹ vào tay Teddy bất kỳ lúc nào họ gặp mặt. Cử chỉ của bà khiến Greta cảm thấy bực mình. Mẹ cô biết nếu bà tỏ thái độ không tốt với Teddy Cross ngay trước mặt người khác, thì mối bất hòa sẽ nhanh chóng được đăng tải trên tờ American Weekly.
"Bọn họ khinh thường anh," Greta càu nhàu với Teddy trong một bữa tiệc.
"Chỉ có vài người như vậy thôi," anh trả lời, vẻ mặt rất vui khi ngồi cạnh Greta trên chiếc trường kỷ đan bằng liễu gai đặt cạnh hồ bơi, khi gió Santa Anas thôi bay mấy chiếc lá cọ xuống đất và bữa tiệc hừng hực diễn ra sau mấy ô cửa của căn nhà lớn. Giá mà anh ấy biết được! Greta nghĩ ngợi, chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu - với ai, hoặc là với cái gì cô không biết rõ, nhưng mà cô đã sẵn sàng.
Một ngày nọ, nguyên một tập thư cột bằng dây vải lại đến, và Akiko mang một phong bì màu xanh dương đến tận phòng Greta. Cô nhìn chằm chằm vào phong bì, đặt nó lên lòng bàn tay mình để ước thử trọng lượng của nó. Cô không thể tin được là Einar lại viết thư cho cô, đầu óc cô không ngừng suy đoán anh có thể nói gì với cô: Có vẻ như chiến tranh sắp đến hồi kết và chúng mình sắp được ở bên nhau vào dịp Giáng Sinh. Hoặc là: Anh sẽ đến California bằng chuyến tàu vượt biển lần tới. Hay cũng có thể là: Những bức thư em gởi có ý nghĩa với anh nhiều hơn những gì anh có thể nói nên lời.
Trường hợp nào cũng có thể xảy ra, Greta tự nhủ với lòng mình khi chiếc phong bì vẫn nằm trên đùi cô. Anh ấy có thể đã đổi ý thì sao. Chuyện gì cũng có thể xảy ra mà.
Và rồi Greta bóc lớp xi niêm phong.
Bức thư được gửi cho "Cô Waud thân mến," và chỉ gồm một dòng ngắn ngủi: "Dựa vào diễn biến của những sự kiện thế giới cùng nhiều khía cạnh khác, tôi cho rằng chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau, và có lẽ đó là điều tốt nhất."
Greta gấp bức thư lại và nhét vào túi áo. Vì sao Einar có thể nghĩ như vậy? Cô tự hỏi chính mình, lấy tay áo chùi nước mắt. Vì sao anh ấy không hề ấp ủ một tia hy vọng nào? Cô đau lòng đến mức không biết làm gì tiếp theo.
Sau đó, Akiko chạy đến trước cửa phòng Greta và thông báo với cô, "Cô chủ có điện thoại. Là cậu Cross."
Và thế là qua chiếc điện thoại đặt tại đại sảnh trên lầu, ngay chỗ tai vách mạch rừng với mẹ cô, Greta đã mời Teddy đi cùng mình đến buổi khiêu vũ ra mắt. Anh đồng ý, nhưng với một điều kiện rằng Greta phải ngừng lo lắng về chuyện anh có thể hòa hảo với mẹ cô hay không. "Anh sẽ mời mẹ em khiêu vũ một điệu cho em thấy," anh trấn an cô. Nhưng Greta đảo mắt và thầm nghĩ chính Teddy mới không hiểu anh đang chuẩn bị gặp rắc rối như thế nào. Khi cô gác máy điện thoại, mẹ cô chỉ nói: "Vậy thì mọi chuyện coi như đã xong xuôi. Nhưng con phải giúp cậu ta chọn một bộ lễ phục đuôi tôm cho đàng hoàng đấy."
Có tất cả bảy cô gái sẽ ra mắt trong đêm khiêu vũ ấy. Bạn nhảy của họ đều là những chàng trai vốn theo học ở Harvard, Princeton hay thao luyện tại căn cứ quân sự ở Tennesse, San Francisco và đang về nhà nghỉ đông. Một cô gái bị bệnh hen đã mời anh Carlisle tháp tùng vì lá phổi của cô ấy quá yếu để di chuyển theo tốc độ của một bạn nhảy lão luyện. Và Greta, lần đầu tiên nghĩ rằng cô nên quên hết mọi thứ về Einar Wegener, cũng ra sức chuẩn bị bằng cách tập luyện động tác nhún đầu gối và cúi chào.
Chiếc váy thắc eo cao màu trắng tinh chẳng bao giờ hợp với vóc người Greta. Vai áo đính đầy ren, còn chiều dài váy thì hụt cả khúc, để lộ bàn chân cô. Hay ít nhất đó là cảm nhận của Greta; cô chỉ nghĩ tới việc để lộ bàn chân to dài khi bước xuống cầu thang đại sảnh của Câu lạc bộ Valley Hunt. Lan can cầu thang được bọc kín bởi những vòng hoa trang trí với cây thường xanh, táo và ớt. Mấy người khách tham dự đeo nơ bướm màu trắng đang đứng rải rác quanh câu lạc bộ và nhâm nhi loại rượu pha Tennis Specials, lịch thiệp ngắm nhìn bảy cô gái vừa được ra mắt. Người ta đã trang hoàng cho bốn cây thông Giáng sinh đặt xung quanh. Trong lò sưởi, ngọn lửa leo lét đã không ngừng cắn nuốt những khúc gỗ tùng bách.
Một trong mấy cô gái mang đến một chiếc bình bạc đựng đầy rượu whisky có nắp chai xà cừ. Cô và mấy người được ra mắt vào đêm nay chuyền tay nhau bình rượu trong lúc bận rộn trang điểm và gắn những khóm lá trạng nguyên trên tóc. Bình rượu làm cho buổi đêm sáng bừng lên, cứ như người quản lý câu lạc bộ đã chỉnh mấy ngọn đèn treo trên tường lên mức sáng nhất. Điều này làm cho những ngọn lửa ảm đạm trong lò sưởi giống như mấy con quái vật đang chực chờ nhảy xổ ra từ màn ảnh.
Khi Greta bước xuống cầu thang, cô nhún đầu gối và cúi thấp người chào, cằm cô gần như song song với tấm thảm đậm chất Phương Đông. Những thành viên câu lạc bộ vỗ tay tán thưởng, trong khi vẫn giữ ly rượu thăng bằng trên tay. Khi cô bước vào phòng khiêu vũ, Teddy Cross đã đứng chờ cô ở đấy từ bao giờ. Trong bộ lễ phục với nơ bướm trắng, anh trông cao lớn hơn bình thường. Tóc Teddy Cross bóng mượt do sáp dưỡng, và dung mạo của anh có điều gì đó rất khác lạ. Với mái tóc vàng kim sẫm màu, nếp nhăn trên đuôi mắt và làn da nâu rám nắng khỏe mạnh, trái táo Adam trên cổ nhấp nhô lên xuống vì hồi hộp, anh trông hao hao đàn ông Đan Mạch.
Khi đêm đã về khuya, sau những điệu valse, món thịt bò quay và dâu tây đi kèm với rượu vang vùng Oregon, Greta và Teddy lẻn ra khỏi bữa tiệc va rảo bước về sân tennis. Trời đêm trong trẻo và se lạnh, thế nên Greta phải nâng cao tà váy để rũ bớt những giọt sương bám trên đó. Cô đã ngà ngà say, cô biết rõ điều đó vì vừa rồi đã nói đùa một cách vô duyên về những trái dâu tây và cha mẹ của Teddy. Cô lập tức xin lỗi anh, nhưng chỉ cần nhìn cái cách anh gấp khăn ăn và đặt lên bàn thì cũng biết anh có vẻ hơi tự ái.
Thả bộ đến sân tennis là ý của cô, như là cách cô hối lỗi với Teddy về tất cả mọi thứ, về cuộc sống kỳ quặc tại Pasadena mà cô đã áp đặt anh phải bước vào. Nhưng cô chẳng chuẩn bị trước kế hoạch nào cả, cô chẳng nghĩ ra mình sẽ làm gì để bù đắp cho anh. Hai người đi đến đình hóng mát trên sân tennis nằm xa nhất, nơi có một vòi nước lạnh và một chiếc ghế sofa nhỏ đan bằng liễu gai sơn màu xanh lục. Trên chiếc ghế sofa có mùi gỗ khô đã bị mọt ăn, họ bắt đầu hôn nhau.
Cô không kềm chế được mà cứ suy nghĩ về sự khác nhau giữa nụ hôn với Teddy và với Einar. Trên tàu Princess Dagmar, cô đã đứng trước gương và thử hôn chính mình. Mặt gương lạnh lẽo làm cô nhơ đến cảm giác khi hôn Einar, và cô bắt đầu cho rằng nụ hôn tại cầu thang của Học viện Hoàng gia có gì đó giống như khi cô tự hôn mình. Nhưng nụ hôn với Teddy hoàn toàn khác biệt. Bờ môi anh thô ráp và mạnh mẽ, hàng râu phía trên môi đâm nhẹ vào miệng cô. Cổ anh nép vào cổ cô một cách mạnh mẽ và thô bạo.
Buổi khiêu vũ vẫn tiếp diễn trong trụ sở câu lạc bộ, vì vậy Greta nghĩ cô phải tỏ ra cuồng nhiệt hơn. Cô biết mình nên làm gì tiếp theo, nhưng cũng phải mất mấy phút sau mới thuyết phục được bản thân. Greta nhấc tay đặt lên phía trên đùi của Teddy. Ồ, chỉ nghĩ đến thôi mà nó đã cứng đến vậy, nói gì đến việc thực sự kích thích nó! Nhưng cô vẫn muốn làm vậy, hay ít nhất cô cho rằng mình muốn thế và còn chắc rằng đó là điều Teddy đang mong muốn thông qua hành động rúc vào cổ và loay hoay cọ xát hàng ria cứng như sắt một cách mạnh bạo. Greta đếm đến ba rồi khẽ nín thở và với tay đến khóa kéo quần Teddy.
Tay anh giữ cô lại. "Đừng, đừng làm vậy," anh kêu lên, tay vẫn nắm lấy cổ tay cô.
Greta chưa từng nghĩ là anh sẽ từ chối. Cô biết ánh trăng sáng đến mức chỉ cần ngước mắt lên, cô sẽ nhìn rõ cái nhíu mày đầy lo âu về việc làm trái với lễ nghi trên mặt anh. Biểu hiện ấy sẽ làm cô xấu hổ đến chết mất. Greta nhớ đến lần gần đây nhất cô để một người đàn ông từ chối mình, và bây giờ, cô và Einar đã bị ngăn cách bởi lục địa và đại dương, đó là chưa kể đến cuộc chiến tranh ác liệt.
Trên chiếc ghế sofa đan bằng liễu gai tại sân tennis xa nhất của Câu lạc bộ Valley Hunt, Greta Waud và Teddy Cross vẫn đang yên lặng gần một phút, bàn tay đầy những vết chai của anh vẫn kìm chặt cổ tay của cô.
Cô tự hỏi mình nên làm gì tiếp theo, và vào lúc này cứ như bị một điều gì đó thúc giục, cô dụi mặt vào lòng Teddy. Greta bắt đầu sử dụng những mánh khóe mà cô đọc được từ mấy cuốn tiểu thuyết mua từ bên khu phố hư hỏng tại Nhà ga Trung tâm Copenhagen, hay nghe lõm từ mấy cô hầu gái gốc Litva vốn nhiều chuyện và hay cợt nhã đang làm việc ở nhà mình. Teddy cố gắng ngăn cản cô, nhưng tiếng "dừng lại" phát ra từ môi anh càng lúc càng yếu dần. Cuối cùng, anh đành buông tay cô.
Sau khi mọi chuyện kết thúc, váy của cô trở nên nhàu nhĩ và cuộn cao đến tận ngực. Áo đuôi tôm của anh cũng rách toạc. Và Greta, người chưa từng trải qua chuyện gì cuồng nhiệt như thế, đang nép mình dưới cơ thể cao gầy của Teddy, lắng nghe tim anh đập thình thịch trên ngực mình và ngửi thấy mùi mằn mặn chua xót ướt đẫm giữa hai chân. Greta biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Cô cam lòng đưa tay ôm chặt lưng Teddy và nghĩ thầm, mình sẵn sàng chấp nhận chuyện này nếu anh ấy dẫn mình rời khỏi nơi đây.
Họ tổ chức lễ kết hôn vào ngày cuối cùng của tháng Hai, trong khu vườn của căn nhà nằm trên Đại lộ Orange Grove. Mấy cô hầu gái người Nhật Bản rắc đầy những cánh hoa trà lên thảm cỏ, và Teddy mặc bộ y phục đuôi tôm mới toanh. Đám cưới được tổ chức gọn nhẹ với vài người anh em họ đến từ vùng San Marino, Hancock Park và bờ biển New Port. Hàng xóm của họ, một nữ thương nhân thừa kế công ty kẹo gôm từ Chicago cũng đến tham dự, chỉ vì bà Waud rêu rao rằng bà ấy từng trải qua chuyện tương tự như con gái. Cha mẹ của Teddy cũng được mời đến, mặc dù chẳng ai mong đợi sự xuất hiện của họ; việc băng qua tuyến đường Ridge Route từ vùng Bakersfield vài tháng Hai không phải lúc nào cũng khả thi.
Ngay sau đám cưới và kỳ trăng mật ngắn ngủi tại dãy phòng hướng ra vườn của khách sạn Coronado ở San Diego, Greta ngồi khóc mỗi ngày. Cô khóc không phải vì đã kết hôn với người đàn ông tên Teddy Cross mà vì cô càng cách xa đất nước Đan Mạch yêu dấu và cuộc sống mà cô hằng mong đợi, khi cha mẹ Greta đã tiễn cô đến định cư tận Bakersfield. Ông Waud mua cho vợ chồng Greta và Teddy một căn nhà nhỏ kiểu Tây Ban Nha có mái ngói màu đỏ kèm lưới sắt hiệu Seville che trên cửa sổ và cả một bãi đỗ xe ô tô rợp bóng hoa giấy. Bà Waud thì gởi Akiko đến sống cùng họ. Lan can của tòa nhà ở Bakersfield được chạm trổ từ sắt và cửa phòng đều làm theo kiểu cổng tò vò. Còn có cả hồ bơi hình bầu dục và một phòng sinh hoạt chung được xây thấp xuống chứa mấy kệ sách. Căn nhà lọt thỏm giữa một khu rừng trồng cây chà là nên trong nhà vừa rợp bóng mát vừa thông thoáng.
Cha mẹ Teddy có đến thăm nhà một lần, dáng người họ hơi gù với đôi tay nhuốm màu hồng nhàn nhạt từ mấy trái dâu. Họ sống ngay ngoài ruộng dâu, trên một khoảnh đất mùn rộng vài mẫu Anh, trong một gian nhà hai gian làm từ gỗ bạch đàn. Đôi mắt hay nhíu chặt dưới mí mắt nhăn nheo bởi ánh mặt trời, và họ gần như lặng người khi ngồi trong căn phòng sinh hoạt chung của Greta, níu chặt lấy tay nhau, cùng nhau xem xét sự giàu có đang bày ra trước mặt: ngôi nhà kiểu Tây Ban Nha, bức tranh ngoại cảnh treo ngay phía trên lò sưởi, đôi guốc gỗ dày cộp của Akiko khi mang khay trà đến. Greta rót trà hồng đài ướp đá mời ông bà Cross, và họ ngồi cùng nhau trên chiếc ghế sofa trắng tinh mà bà Waud đã đặt riêng ở cửa hiệu Gump. Ai cũng cảm thấy dè dặt và gượng gạo vì tình huống này. Greta lái xe Mercer Raceabout đưa ông bà Cross về tận nhà. Chiếc xe chỉ có hai chỗ ngồi làm bà Cross phải nép vào lòng ông Cross. Trời sụp tối rất nhanh khi chiếc xe đi bon bon trên đường, còn làn gió lạnh đầu xuân thổi ngang qua đồng ruộng. Một cơn gió rít qua những luống cày, cuốn tung bụi đất mù mịt. Greta phải mở cần gạt nước để làm sạch mớ đất cát trên kính chắn gió. Phía xa xa, ánh đèn vàng hắt ra từ ngôi nhà ván gỗ của ông bà Cross. Bụi đất mù mịt đến mức Greta chẳng nhìn thấy gì ngoài ánh đèn. Cứ như cô và ông bà Cross đang cùng nghĩ đến một chuyện, bà Cross bảo, "Đó là nơi Teddy sinh ra." Ông Cross, tay vẫn ôm chặt vợ mình, tiếp lời: "Con lúc nào cũng nói nó sẽ trở về mà."
Suốt thời gian còn lại của Mùa Xuân, Greta thường ngủ gục trên một trong những chiếc ghế sofa trắng tinh đặt trong phòng sinh hoạt chung. Cô ghét vùng Bakersfield, cô ghét ngôi nhà kiểu Tây Ban Nha, cô thậm chí còn ghét lây sang cả đứa bé đang lớn dần lên trong bụng mình. Nhưng cô chưa bao giờ ghét Teddy Cross. Mỗi buổi chiều, cô ngồi đọc sách, còn anh liên tục mang những tấm khăn mặt ấm áp đặt lên trán cô. Bụng Greta lớn nhanh như thổi, còn cô thì ngày càng yếu dần. Trước tháng Năm, cô đành ngủ tại phòng sinh hoạt chung vì quá yếu ớt và nặng nề để leo lên cầu thang. Teddy cũng ngủ trên chiếc giường nhỏ bên cạnh cô.
Đầu tháng Sáu, chính là thời điểm oi bức nhất ở Bakersfield, nhiệt độ có thể lên đến 37 độ C trước chín giờ sáng. Akiko làm quạt giấy cho Greta; Teddy mang khăn lạnh thay vì khăn nóng cho cô. Và khi Greta cảm thấy khó ở, Akiko sẽ rót trà xanh ướp đá cho Greta từ chiếc chén sơn trong lúc Teddy cao giọng ngâm thơ.
Nhưng rồi một ngày, khi Teddy đang xuống thành phố Pasadena để lấy chiếc bàn xoay từ xưởng gốm cũ vẫn chưa bị đóng cửa, thời tiếc oi bức và cơn khó ở cũng đã đến hồi kết thúc. Với sự giúp sức của Akiko, cô hầu gái với mái tóc đen như quạ, Greta hạ sinh một cậu bé xanh xao, dây rốn quấn quanh cổ như chiếc cà vạt bé xinh. Greta đặt tên cho con là Carlisle. Ngày hôm sau, cô và Teddy chôn cất cậu bé trong khuôn viên căn nhà bằng gỗ bạch đàn của ông bà Cross, trong gió bụi mù mịt, ngay bên rìa của ruộng dâu vẫn đang xào xạc.
 
 
 
CHƯƠNG NĂM
 
 
Lili nghĩ con đường mòn lát sỏi chạy dọc Copenhagen chắc sẽ đủ tối và an toàn để đảm bảo sự riêng tư cho giao dịch bí mật. Con đường hẹp đến mức không đủ để lắp đèn đường, còn nếu mở cửa sổ tường bên này thì cánh cửa sẽ đập thẳng vào cửa sổ tường bên kia. Người dân sống dọc con đường này rất hà tiện thắp đèn trong mấy căn phòng sát mặt đường. Không gian gần như tối om ngoại trừ vài cửa hiệu còn mở cửa. Đằng kia là quán cà phê mang phong cách Thổ Nhĩ Kỳ, nơi khách hàng thường ngồi trên mấy chiếc gối bọc nhung đặt cạnh cửa sổ. Xa thêm chút là khu nhà thổ nép mình kín đáo dưới những cánh cửa chớp, với chuông cửa bằng đồng thau nhìn giống núm vú. Đi tiếp một đoạn nữa là một quán rượu nằm dưới tầng hầm. Ngay lúc Greta và Lili băng qua chỗ ấy, một người đàn ông gầy gò với hàng ria mép vuốt sáp kỹ càng nhanh chóng biến mất dưới những bậc thang dẫn đến nơi mà anh ta có thể gặp những người cùng sở thích.
Lili đang mặc một chiếc đầm bằng vải chiffon với cổ áo thủy thủ và tay áo được viền bằng vải lanh. Chiếc váy đầm nhẹ nhàng lay động theo từng bước chân và cô chăm chăm vào tiếng sột soạt để cố gắng không nghỉ đến những chuyện có thể xảy ra sau đó. Greta cho cô mượn một sợi dây chuyền ngọc trai quấn thành ba vòng quanh cổ, khiến nó gần như bị che khuất hoàn toàn. Lili còn đội một chiếc mũ nhung vừa mua từ cửa hiệu Fonnesbech. Chiếc trâm cài tóc bằng vàng đính kim cương và đá mã não của Greta được thiết kế giống hệt loài bướm chúa nép mình dưới chiếc mũ đội trên tóc Lili.
"Chị đẹp đến mức em chỉ muốn ôm hôn chị," Greta xuýt xoa khi Lili đang thay quần áo. Greta hào hứng đến mức ôm lấy Lili và dìu cô nhảy một điệu valse khắp căn hộ giữa tiếng sủa inh ỏi của con Edvard IV. Lili nhắm mắt, lớp phấn trang điểm vừa cứng, vừa nặng - và nghĩ đến viễn cảnh Lili và Einar được hòa làm một ngay tại thành phố Copenhagen.
Con hẻm dẫn ra tòa thị chính Radhuspladsen chính là quảng trường lớn nằm xéo với công viên Tivoli. Đài phun nước với những vòi phun hình rồng đang chảy róc rách. Nhìn qua hướng khách sạn Palace, trên đỉnh cột là bức tượng đồng điêu khắc hai người Vikings đang thổi kèn lur. Quảng trường đang lúc tấp nập, với nhiều người đến tham gia tiệc khiêu vũ lúc nửa đêm, cùng hàng loạt khách du lịch Na Uy đang hào hứng với giải đua xe đạp từ Copenhagen đến Oslo được tổ chức vào ngày mai.
Greta không hề thúc ép Lili. Cô để chị ấy đứng bên tòa thị chính Radhuspladsen và lẳng lặng chờ đến khi linh hồn của Lili bé bỏng lấp đầy thân xác Einar, kiên nhẫn như khi dùng một tay nhồi bông vào con rối.
Dưới mái nhọn dát đồng của tòa nhà Radhuset là tháp đồng hồ bốn mặt cao sừng sững đến hơn một trăm mét, Lili cảm giác như mình đang nắm giữ bí mật lớn nhất thế giới - cô sắp lừa gạt toàn bộ dân Copenhagen. Đồng thời, một phần khác trong lòng mách bảo đây là trò gay go nhất mà cô từng chơi. Điều này là cô nhớ đến Mùa Hè ở Bluetooth với cánh diều hình tàu ngầm đâm sầm xuống mặt bùn. Einar Wegener, với gương mặt tròn nhỏ nhắn, cũng sắp trượt thẳng xuống đường hầm tăm tối. Lili hướng mắt nhìn Greta trong bộ váy đầm đen tuyền, và cảm thấy dễ chịu hẳn khi nghĩ đến những gì sắp xảy ra. Không biết từ đâu, Lili đột nhiên xuất hiện. Đúng vậy, tất cả là nhờ vào Greta.
Những người bước vào hội trường thành phố trông ai cũng bảnh bao và lịch thiệp, với chút hơi men làm hồng từng đôi má. Vài cô nàng trẻ tuổi trong bộ váy màu kẹo ngọt phe phẩy chiếc quạt trước ngực, liến thoắng hỏi han về những họa sĩ nổi tiếng. "Ai là Einar Nielsen?" một cô lên tiếng. "Kia có phải là Erik Henningsen không?" Những chàng trai trẻ với hàng ria mép đã được vuốt sáp chỉn chu cầm trên tay điếu xì gà Sumatra. Còn có những nhà tư bản công nghiệp trẻ tuổi, những kẻ đã giàu lên nhanh chóng từ việc sản xuất hàng loạt xoong nồi và bát đĩa sành nhờ vào máy móc và khuôn đúc, cũng đến tụ hội với hy vọng tiến vào xã hội thượng lưu.
"Em sẽ không bỏ chị một mình đúng không?" Lili hỏi Greta.
"Không bao giờ."
Nhưng Lili đã bắt đầu cảm thấy rối bời.
Bên trong khuôn viên tòa nhà Radhuset là một khoảng sân lợp mái che được trang hoàng theo phong cách Ý thời Phục Hưng. Ba mặt sân là phòng trưng bày mở được nâng đỡ bằng nhiều cột chống. Trên trần là mái che với những thanh dầm bằng gỗ được đan cài khéo léo. Một dàn nhạc giao hưởng đang biểu diễn trên sân khấu. Và còn có cả một chiếc bàn dài đầy ắp những khay hàu tươi ngon. Hàng trăm người đang khiêu vũ, bàn tay của những chàng trai đặt trên những chiếc eo thon của những cô gái có đôi mắt được trang điểm màu xanh dương. Hai cô nàng ngồi trên ghế dài đang hí hoáy viết lời nhắn cho ai đó, thỉnh thoảng lại rúc rích cười. Một nhóm đàn ông mặc lễ phục đang đứng thành vòng tròn, hai tay đút túi quần và lướt mắt khắp phòng. Lili cảm thấy bối rối. Cô gần như không dám cảm nhận xung quanh. Nỗi sợ hãi chực chờ gần như xé toang lồng ngực Lili, như mách bảo cô không thuộc về nơi này. Cô nghĩ đến việc rời đi, nhưng đã quá muộn rồi. Lili đứng giữa tiệc khiêu vũ, khói thuốc và tiếng nhạc dần len lỏi vào mắt và tai cô. Nếu cô nằng nặc muốn rời đi, Greta sẽ khuyên cô nên bình tĩnh lại; Greta sẽ bảo cô đừng lo lắng, vì chẳng có việc gì trên đời đáng để người ta phải lo lắng cả. Cô ấy sẽ phất tay một cái rồi phá lên cười.
Đứng cạnh Lili là một cô gái cao kều trong chiếc đầm hai dây đang hút một điếu thuốc lá màu bạc. Cô ta đang rì rầm trò chuyện với anh chàng da đen chắc là đến từ phía Nam. Cô gái trông thanh mảnh với đường cơ bắp xinh đẹp phía sau lưng. Còn chàng trai thì có vẻ yêu say đắm đến mức chỉ biết gật đầu đồng ý và chặn lời cô bằng một nụ hôn dài.
"Kia là Helene," Greta giới thiệu. Helene Albeck đang đứng phía bên kia căn phòng, với mái tóc đen ngắn được tỉa tót cẩn thận đúng mốt ở Paris, theo lời Greta.
"Em sang nói chuyện với cô ấy đi," Lili đề nghị.
"Rồi để chị một mình sao?"
"Chị không chắc là mình muốn bắt chuyện với ai chưa."
Greta băng qua mấy cô vũ công, tóc cô xõa dài sau lưng. Cô hôn chảo Helene, người có vẻ sốt sắng muốn kể cho Greta chuyện gì đó. Tại Công ty Mậu dịch Hoàng gia Greenland, Helene quản lý tranh vẽ, đĩa than, đĩa ăn viền vàng, và những mặt hàng xa xỉ khác trên những chuyến hàng mùa hè rời cảng Copenhagen thứ ba hàng tuần. Hai năm qua, Helene đã sắp xếp việc đóng gói, vận chuyển tranh của Einar đến Godthab, và tại nơi ấy, một đại lý phòng tranh sẽ bán chúng dưới hình thức đấu giá. Mất rất lâu để chuyển tiền bán tranh qua Bắc Đại Tây Dương, nhưng mỗi khi nhận được tiền, Einar luôn hãnh diện đưa cho Greta trong một cặp tài liệu bọc da chia thành nhiều ngăn.
Mấy cô vũ công dời qua chỗ khác, che khuất Greta và Helene. Lili đang ngồi trên băng ghế dài làm từ gỗ hồng đào khắc hình nàng tiên cá. Không khí thật ấm áp trong khoảng sân có mái che, và cô cởi chiếc khăn choàng cổ. Khi cô đang gấp gọn chiếc khăn lại, một người đàn ông trẻ tuổi đến bên ghế dài và nói: "Tôi có hân hạnh được nhảy một điệu với cô không?" Anh ta trông thật cao, với mái tóc nâu vàng xoăn tít. Lili đã liếc nhìn anh ta từ lúc anh lấy chiếc đồng hồ bỏ túi ra xem giờ, đến lúc vắt chân lên rồi bỏ chân xuống. cơ thể của anh ta thoang thoảng mùi ngũ cốc, còn đôi tai thì ửng hồng không biết vì nhiệt độ ấm áp hay vì lo lắng.
Lili lôi cuốn sổ bìa thiếc từ ví cầm tay, chính là quyển sổ mà bà nội đưa cho Einar. Sau đó cô bắt đầu viết những suy nghĩ của mình về người đàn ông đó. Cô viết, anh ta thật giống với cha Einar thời trẻ. Là cha anh thời còn mạnh khỏe và đủ sức làm lụng ngoài cánh đồng đầy rêu nước. Chắc đây là lý do mình cứ nhìn chằm chằm anh ta, Lili đặt cuốn sổ nhỏ xuống. Sao mình cứ nhìn anh ta mãi không thôi nhỉ? Tại sao mình không tài nào rời mắt khỏi đôi chân dài của anh ta, hàng tóc mai dày lan xuống má như râu quai nón mọc một nửa? Không thể rời mắt khỏi chiếc mũi khoằm và bờ môi đầy đặn. Còn cả mái tóc dày xoăn tít nữa.
Người đàn ông nghiêng người lại gần bắt chuyện. "Cô là phóng viên à?"
Lili ngước mắt lên khỏi vạt váy.
"Hay là một nữ thi sĩ?"
"Cả hai đều không phải."
"Vậy cô đang viết gì vậy?"
"Ồ, cái này à," cô trả lời, thoáng giật mình vì anh ta đã bắt chuyện với cô, cô vẫn không thể tin được là người ta lại chú ý đến mình. Cô cảm giác như chẳng ai nhận thấy sự hiện diện của mình. Chính cô còn khó lòng cảm thấy mình đang hiện hữu.
"Cô là họa sĩ sao?" người đàn ông vẫn tiếp tục hỏi.
Nhưng Lili đã vơ vội lấy khăn choàng và ví cầm tay rồi lên tiếng: "Xin thứ lỗi cho tôi."
Cô quá kinh ngạc để tiếp tục trò chuyện với anh ta. Cả người bỗng dưng nóng bừng lên, nên Lili đột nhiên muốn cởi bỏ hết quần áo rồi đắm mình vào làn nước biển. Cô lủi ra ngoài hội trường qua cánh cổng dẫn ra vườn hoa phía sau.
Bên ngoài gió đang thổi nhẹ. Cây sồi già tỏa bóng khắp cả vườn hoa nhỏ như để che giấu ai đó đang treo mình trên tòa tháp Radhuset để do thám. Thoang thoang trong không khí là mùi hoa hồng và đất mùn tơi xốp. Vạt cỏ óng ánh màu bạc như vây cá chuồn. Lili tiến thêm vài bước và nhìn thấy cặp tình nhân vừa gặp trong hội trường, cô gái mặc váy hai dây và anh chàng hâm mộ cuồng nhiệt đang hôn nhau say đắm sau gốc cây sồi. Bàn tay chàng trai đặt lên đùi cô gái, trong khi váy cô đã bị vén lên tận eo, chiếc móc nịt bít tất hơn ánh lên trong đêm tối.
Sửng sốt, Lili quay người bước đi và đụng ngay anh chàng vừa ngồi trên băng ghế dài cùng cô lúc nãy.
Anh ta thì thầm: "Cô đã từng nghe kể về sự tích của cây sồi già này chưa?"
"Chưa hề."
"Người ta nói rằng nếu cô ăn quả cây sồi này rồi chỉ cần ước nguyện là sẽ trở thành bất kỳ người nào mà cô muốn trong vòng một ngày."
"Vì sao người ta lại nói như vậy?"
"Vì sự thật vốn là thế mà." Anh nắm lấy tay cô và dắt cô đến băng ghế.
Hóa ra anh là một họa sĩ tên Henrik Sandahl. Anh vừa tổ chức một loạt các bức tranh về cá ở biển Bắc Hải: những khung tranh hình vuông phác họa nào là cá bơn sao, cá bơn Bắc Âu, cá bơn Đại Tây Dương và cả loài cá lưỡi trâu thân dẹp hiếm thấy. Greta đã có dịp chiêm ngưỡng những bức tranh của anh ta. Một ngày nọ, cô về nhà, vội vàng thả túi xách và chùm chìa khóa xuống đất, mắt vẫn mở to. "Em chưa từng thấy kiểu tranh nào như thế," cô kể với Einar. "Anh nên đến xem tận mắt. Ai có thể tưởng tượng được mình sẽ động lòng với khuôn mặt của loài cá tuyết chứ."
"Có ai đi cùng cô đến đây không?" Henrik hỏi.
"Vợ của anh họ tôi."
"Là ai nhỉ?"
Lili nói cho anh ta biết.
"Einar Weneger sao?" Henrik hỏi lại. "Tôi biết rồi."
"Anh quen anh họ tôi sao?" Lilil thắc mắc.
"Ồ,không. Nhưng anh ấy là một họa sĩ tài ba. Tài năng của anh ấy còn hơn những gì người ta hay nhận xét." Anh ta thoáng ngập ngừng. "Tôi chắc là cô đã nghe những lời này, nhưng hiện nay nhiều người lại cho rằng anh ta hơi cổ hủ."
Đó là lần đầu tiên Einar cảm nhận được thế giới quan của mình đảo lộn như thế nào khi hóa thân thành Lili. Anh có thể chối bỏ bản thân mình chỉ bằng việc tròng qua đầu chiếc áo lót hai dây viền ren hình vỏ sò. Einar có thể trốn tránh sức ép của xã hội bằng việc tự tay đeo sợi dây chuyền ba vòng kết từ ngọc trai Tây Ban Nha lên cổ mình. Anh có thể chải mái tóc dài mượt cúp vào mặt và khẽ nghiêng đầu như một cô thiếu nữ đang háo hức.
Rồi Henrik nắm lấy tay Lili. Những sợi lông thô cứng trên cổ tay anh làm cô giật mình hoảng hốt vì chưa từng nắm tay người nào khác ngoài Greta.
"Em hãy kể cho tôi nghe về bản thân em đi, Lili," Henrik mở lời.
"Tên tôi được đặt theo tên loài hoa lili."
"Vì sao những cô gái luôn nói những lời ngớ ngẩn như thế nhỉ?"
"Vì sự thật vốn là thế mà."
"Tôi không tin những cô gái nói rằng họ giống như một bông hoa."
"Tôi không biết tôi có thể chia sẻ với anh thêm điều gì nữa."
"Hãy bắt đầu bằng việc em từ đâu đến?"
"Jutland. Một ngôi làng nhỏ tên là Bluetooth, nằm trong một vùng đầm lầy." Cô kể với Henrik về những đồng cỏ linh lăng, về những trận mưa đá làm thủng tường bên của trang trại.
"Nếu tôi tặng em một quả sồi để ăn," Henrik tò mò hỏi cô, "em muốn trở thành người nào?"
"Tôi chẳng biết nữa," Lili đáp lời.
"Em cứ ước đi."
"Tôi không thể."
"Được rồi. Vậy thì em không cần phải ước nguyện gì đâu." Và rồi Henrik bắt đầu kể cho cô nghe câu chuyện về việc một vị Hoàng tử Ba Lan đã miễn một ngày làm việc trong tuần cho tất cả phụ nữ tại đất nước này; đó là người mà Henrik muốn trở thành.
Trước khi cô nhận ra thì đêm đã về khuya, cũng sắp nửa đêm rồi. Gió thổi mạnh hơn.. Còn cây sồi, với những chiếc lá tròn thuôn thuôn như tai người, khẽ nghiêng mình như muốn nghe lỏm câu chuyện giữa Henrik và Lili. Ánh trăng dần bị che khuất, không gian xung quanh tối om ngoại trừ ánh đèn vàng hắt ra từ cửa ra vào tòa nhà Radhuset. Henrik vẫn nắm chặt tay Lili, vân vê cọ sát vào phần đệm thịt ngón tay cái của cô. Nhưng Lili có cảm giác như bàn tay và ngón tay của mình thuộc về người khác. Cảm giác như người đó sắp đến tuyên bố chủ quyền với cô.
"Lẽ ra đêm nay chúng ta nên gặp nhau sớm hơn mới phải?" Henrik luyến tiếc, ngón tay anh khẽ run rẩy, mân mê sợi chỉ sút ra trên tay áo choàng.
Lili nghe được tiếng Einar cười rộ lên, một túi bọt khí chứa đầy tiếng cười khúc khích; phảng phất trong túi khí là cảm giác khó chịu của Einar. Einar đang cười khoái trá trước sự vụng về của người đàn ông khác đang giở trò tán tỉnh và ve vãn phụ nữ. Anh đã bao giờ nói gì lố bịch trước mặt Greta chưa nhỉ? Hình như là không; Greta hẳn đã bảo anh ngừng ngay mấy lời nói vô nghĩa đó. Cô ấy ắc phải lắc lắc vòng tay bằng bạc và kêu lên, "Ôi trời, làm ơn dừng lại, vì Chúa," mắt cô đảo tới đảo lui. Greta sẽ đe dọa rời khỏi nhà hàng nếu Einar không chấm dứt việc đối xử với cô như trẻ con. Rồi Greta sẽ đột ngột quay sang tập trung vào con cá tuyết chấm đen nằm trên đĩa và im lặng không nói lời nào cho đến khi chỉ còn mỗi cái đầu cá nằm trơ trọi trên lớp giấm. Ngay sau đó, cô sẽ hôn Einar và thong thả dạo bước về nhà cùng anh.
"Tôi cần đi tìm Greta," Lili thốt lên.
Màn sương đêm thổi từ cảng biển làm cô lạnh cóng. Một ý nghĩ chợt đến với cô: Lili, với đôi tay trần, đang cảm nhận từng làn gió, chứ không phải Einar; cô cảm nhận luồng không khí ẩm ướt nhanh chóng vấn vít lấy phần tóc vô hình mọc sau gáy. Sâu thẳm bên trong, dưới lớp vải chiffon, áo lót hai dây, và cuối cùng là chiếc quần nhỏ với dây rút bằng len, Einar cũng thấy lạnh buốt - nhưng đó là cái lạnh tê tái khi bạn nhìn một người không mảnh vải che thân đang chống chọi với giá rét. Anh nhận ra rằng Lili và mình có nhiều điểm chung: hai lá phổi với tỉnh mạch có màu xanh; một trái tim đập thình thịch; viền mắt thường đỏ ửng vì mệt mỏi. Nhưng trong hộp sọ giống như đang tồn tại hai bộ não, mỗi bên một nửa: của anh và của cô.
"Nói với Greta là anh sẽ tiễn em về tận nhà," Henrik thủ thỉ.
Lili đáp, "Với điều kiện là anh chỉ được đưa tôi đến góc đường gần khu nhà Widow House thôi. Anh Einar có thể đang thức chờ tôi về, và anh ấy không thích nhìn thấy tôi ở một mình với người lạ. Rồi anh ấy và Greta lại lo lắng liệu tôi có đủ chín chắn để sống tại Copenhagen hay không. Hai người bọn họ là vậy, luôn luôn vạch sẵn những gì tôi làm, luôn muốn biết rõ liệu tôi có dính dáng đến rắc rối nào không."
Và bỗng nhiên Henrik, với bờ môi mỏng tím tái, ở giữa là một vết khô nứt, hôn Lili. Anh ấy bất ngờ cúi đầu xuống, đặt môi mình lên môi cô rồi rời ra ngay. Anh cứ thế lặp đi lặp lại, trong khi bàn tay vuốt ve phần da thịt trên khuỷu tay rồi lần xuống thắc lưng cô.
Điều làm cô bất ngờ nhất về nụ hôn của anh ấy là cảm giác khi tóc mai cào nhẹ vào da cô, thêm vào đó là vòng tay nặng nề, rắn chắc mà ấm áp của người đàn ông trẻ tuổi. Đầu lưỡi anh trơn mịn một cách kỳ lạ, cứ như một ly trà nóng bỏng tay đã tẩy sạch những nụ vị giác sần sùi. Lilli muốn đẩy anh ra và nói rằng cô không thể nào thuận theo, nhưng dường như là không thể. Cứ như bàn tay cô không bao giờ có thể đẩy Henrik, người có mái tóc xoăn tít như sợi dây đang vấn vít quanh cổ cô, ra xa.
Henrik kéo cô đứng dậy khỏi băng ghế sắt. Cô cảm thấy lo lắng vì nhỡ đâu anh ôm chầm lấy cô. Qua làn váy anh có thể một cơ thể kỳ cục, xương xẩu với bộ ngực phẳng lì, kèm bộ phận nam tính đang căng nhức giữa hai chân. Anh dẫn Lili men theo hành lang dọc bên hông tòa nhà Radhuset, tay vẫn kéo tay cô. Đầu anh trông giống như đầu của con rối cứ lắc lư vì phấn khích. Cái đầu trông tròn trịa, cứng cáp với phần trán phản phất nét đặc trưng của dân Mông Cổ. Và đây có lẽ là lý do vì sao Einar không hề thấy gượng gạo khi níu chặt bàn tay ẩm ướt của Henrik rồi bước theo anh ta: đó chỉ là một trò vui, trò đùa giả trang thành Lili, và những trò vui như thế thường chẳng tính. Trò đùa không phải là nghệ thuật, càng không phải là hội họa, và chắc chắn không thể trở thành hiện thực. Trước kia - và cả đêm nay, khi bàn tay ướt đẫm mồ hôi của Henrik đan chặt với tay mình - Einar chưa bao giờ nghĩ mình bất thường hay vượt qua giới hạn. Năm ngoái, khi anh đến khám về tình trạng hiếm muộn của hai vợ chồng, bác sĩ hỏi anh: "Einar à, anh có bao giờ mơ tưởng đến ai khác ngoài vợ anh chưa? Có khi nào anh mơ tưởng đến người đàn ông khác không?" "Không, chưa bao giờ. Chưa từng có," anh trả lời. "Lời phỏng đoán của ông sai rồi." Einar còn tâm sự với vị bác sĩ rằng chính anh cũng cảm thấy ghê tởm khi trông thấy mấy gã đàn ông hồng chóe từ đầu đến chân với cặp mắt hấp háy sợ sệt cứ lởn vởn gần nhà vệ sinh trong công viên Orstedparken. Đồng tính luyến ái! Thật vớ vẩn!
Và, lần nữa, đó là lý do để Einar nắm tay Henỉk chạy thục mạng dọc con hẻm nhỏ sau tòa nhà với mấy lá cờ Đan Mạch treo trên những thanh xà sáng bóng. Đó là lý do khiến anh vấp ngã khi mang đôi giày màu vàng mù tạt mà Greta cho mượn vào chiều thứ Tư, hôm ấy khi cô cần một hình mẫu để phác họa đôi chân. Đó là lý do anh để mặc chiếc váy liền hai dây hạn chế sải chân của mình: Einar chỉ đang bày một trò đùa. Anh biết điều đó. Greta biết điều đó. Nhưng anh chẳng biết gì dù là đôi chút về bản thân mình.
Bên ngoài tòa thị chính Radhuspladsen, tàu điện vang rền, tiếng chuông nghe thân thiện nhưng sầu thảm. Ba người Na Uy ngồi trên thềm đài phun nước đang cười đùa và đang say bí tỉ.
"Đi hướng nào?" Henrik hỏi. Ra khỏi con hẻm nhỏ tràn ngập mùi cà phê và bánh quy tẩm gia vị từ mấy chiếc xe bán hàng gần đó, đến đường lớn, vóc người anh trông nhỏ bé hơn. Trong khoang bí mật của dạ dày Einar có gì đó đang cháy bỏng, và anh không biết làm gì hơn ngoài việc quan sát đài phun nước, nhìn chằm chằm vào bức tượng hai người Vikings thổi kèn lur rồi đảo mắt qua mái nhà dốc đứng của những tòa nhà xung quanh quảng trường.
"Đến đâu?" Henỉk lại hỏi. Anh ta nhìn lên trời, cánh mũi phập phồng.
Khi ấy, Einar chợt có ý nghĩ; Lili cũng có ý nghĩ. Và nghe có vẻ kỳ cục, nhưng ý nghĩ ấy đại loại là như thế này: lơ lửng trên tòa thị chính Radhuspladsen. Einar đang dõi bước theo từng cử động của Lili khi bờ môi trên cử động đầy cương quyết khi thì thầm với Henrik: "Đến đây nào." Anh nghe thấy ý nghĩ của cô: Greta sẽ không bao giờ biết được. Lili đang nghĩ đến chuyện gì - Greta sẽ không bao giờ biết được chuyện gì kia? - Einar không tài nào đoán được. Khi anh, Einar, chủ nhân cách biệt của thân xác bị vay mượn, đang tính hỏi Lili về điều mà cô ấy muốn ám chỉ; khi anh, Einar, lơ lửng vòng vòng trên không như một hồn ma, suýt lên tiếng thắc mắc - không phải theo kiểu anh tài xế hỏi anh nên rẽ hướng nào tại ngã ba đường - về việc Greta không biết chuyện gì cơ, thì ngay lúc ấy, Lili cảm thấy cánh tay cô nóng bừng lên. Bàn tay siết chặt làn váy chiffon, nửa bộ não đang truyền tín hiệu, và cô cảm thấy một dòng máu chảy từ mũi xuống môi mình.
"Ôi, Chúa ơi! Em đang chảy máu kìa." Henrik thét lên.
Cô dùng tay bịt mũi. Dòng máu đặc quánh chảy xuống miệng cô. Bài nhạc phát ra từ tòa nhà Radhuset cứ vang vọng trong mũi cô. Mỗi giọt máu cô nhỏ xuống, cô thấy càng thanh khiết, trống rỗng nhưng thanh khiết hơn.
"Chuyện gì xảy ra vậy?" Henrik hỏi dồn. "Làm sao lại chảy máu thế kia?" Anh hét lên, và máu còn chảy nhiều hơn như muốn tỏ lòng biết ơn trước sự quan tâm của anh. "Để tôi giúp em nào." Trước khi cô kịp ngăn cản, anh đã chạy vụt qua tòa thị chính Radhuspladsen để nhờ người ta gọi giùm một chiếc ô tô. Anh ta chuẩn bị vỗ vào vai người phụ nữ gác tay trên cửa xe đang mở. Lili trân trối nhìn ngón tay của Henrik chầm chậm duỗi ra. Lúc đó cô chợt nhận ra.
Lili cố kêu lên "Đừng!" - nhưng cô không sao nói nên lới. Henrik đã vỗ vào tấm lưng săn chắc màu đen của Greta, người đang đứng bên đường tiễn Helene vào ô tô riêng của Công ty Mậu dịch Hoàng gia Greenland.
Chuyện tiếp theo diễn ra như thể Greta chẳng hề nhìn thấy Henrik. Cô chỉ nhìn về phía Lili, với màu máu như phát sáng ở bên kia tòa thị chính Radhuspladsen. Sắc mặt Greta trở nên cứng đơ, và Lili nghĩ mình có thể nghe tiếng cô ấy thì thào: "Ôi, không. Vì Chúa, không thể nào." Điều tiếp theo mà Lili biết được là chiếc khăn choàng cổ màu xanh dương, chính là chiếc khăn Lili lén mượn dùng, được áp lên mũi, và cô ngã gục vào vòng tay Greta, văng vẳng bên tai là giọng nói nhẹ nhàng êm dịu của Greta, "Lili, chị có sao không? Ôi, Lili. Làm ơn đừng có chuyện gì xảy ra." Và sau đó Greta vặn hỏi: "Anh ta làm chị bị thương à?"
Lili lắc đầu nguầy nguậy.
"Vậy hì chuyện gì đã xảy ra?" Greta hỏi tiếp, trong khi ngón tay cái vẫn xoa vào hai bên thái dương của Lili. Lili không đủ sức để nói tiếp, chỉ biết nhìn theo bóng dáng của Henrik vừa bị Greta hù dọa, băng qua tòa nhà Radhuspladsen, đôi chân anh thon dài và nhanh nhẹn, mái tóc xoăn tít tung bay nhè nhẹ. Kỳ lạ thay, bước chân Henrik nện trên thềm sỏi làm Einar nhớ đến cú đấm của cha dộng vào má mình, khi ông bắt gặp môi Hans dừng trên cổ anh, với tạp dề của bà nội còn mang trên người.
 
 
CHƯƠNG SÁU
 
 
Mùa hè năm ấy, nhà buôn tranh nghệ thuật vốn là khách quen của Einar đã đồng ý trưng bày mười bức họa của Greta trong hai tuần. Einar dàn xếp bằng cách viết rõ trên phần đầu thư yêu cầu anh ta phải chiếu cố đặc biệt vợ mình. Mở đầu bức thư gởi cho Herr Rasmussen, anh viết: Vợ tôi đang cực kỳ giận dữ. Đúng ra, Greta sẽ không biết gì về sự sắp xếp này. Nhưng đáng tiếc thay, cô đã cố tình dùng ấm trà nóng và móng tay để mở bức thư mà Einar nhờ gởi. Chẳng vì lý do nào đặc biệt, ngoại trừ đôi lúc tâm trí Greta tràn ngập cảm giác tò mò về chồng mình và những việc anh làm khi không ở cạnh cô: anh đang đọc sách gì, anh ăn trưa ở đâu, anh trò chuyện với ai và về chủ đề gì. Không phải vì cô hay ghen tuông, Greta tự nhủ với lòng mình trong khi khéo léo dán bì thư lại như cũ. Không phải đâu, đơn giản là vì cô quá yêu anh mà thôi.
Rasmussen là một người đàn ông góa vợ, hói đầu với đôi mắt ti hí giống hệt người Trung Hoa. Ông ta sống cùng hai người con tại một căn hộ gần khu Amalianborg. Khi ông ta liến thoắng về việc sẽ trưng bày những bức tranh gần đây nhất của Greta, cô suýt nữa thì buộc miệng bảo không cần sự giúp đỡ của ông ta. Sau một hồi suy ngẫm lại, cô lại nhận ra là mình cần. Cô rụt rè bày tỏ với Einar, "Em không chắc có phải là nhờ anh nói chuyện với Rasmussen hay không. Nhưng ơn trời là anh ta đồng ý."
Cô mười chiếc ghế tựa và lấy lụa damask làm vỏ bọc cho từng cái đệm lưng. Cô còn đặt một chiếc ghế trước mỗi bức tranh trong phòng triển lãm. Trong lúc loay hoay sắp xếp tranh vẽ, cô giải thích với Rasmussen: "Dành cho những ai muốn dừng chân suy ngẫm." Sau đó cô viết thư cho tất cả những chủ bút của báo chí khắp Châu Âu có tên trong danh sách mà Einar đã tập hợp được qua nhiều năm. Thư mời thông báo lần ra mắt quan trọng đầu tiên - với những từ ngữ mà Greta cảm thấy khó lòng đặt bút vì chúng có vẻ quá khoa trương, quá nặng mùi tiền bạc, nhưng cô vẫn tiếp tục viết dưới sự thúc ép của Einar. Cô tự nhủ: "Cứ coi như đó là tất cả những gì mình cần phải làm thôi." Greta đích thân trao thư mới đến tận văn phòng báo Berlingske Tidende, National Tidende và cả tòa soạn báo Politiken, nơi viên thư ký đội chiếc mũ vải nhỏ màu xám đã nở một nụ cười khinh khỉnh và thẳng thừng từ chối cô.
Những bức tranh của Greta thường ngoại khổ và bóng loáng nhờ lớp nhựa cánh kiến quét lên để bảo vệ tranh. Lớp nhựa sáng bóng và cứng đến mức bạn có thể lau chùi như cửa sổ. Có mặt tại phòng trưng bày là vài nhà phê bình mỹ thuật đang lượn lờ quanh mấy chiếc ghế bọc lụa damask, nhâm nhi mấy chiếc bánh quy giòn tẩm mật ong được Greta dọn sẵn trên mâm bạc. Cô gợi ý cho mấy nhà phê bình cầm khư khư cuốn sổ tay đã lật ra nhưng vẫn còn trắng tinh một cách đáng ghét. "Bức tranh này vẽ Anna Fonsmark. Các anh có biết không, cô ca sĩ có giọng nữ trung ấy?" Greta lên tiếng giới thiệu. "Việc làm tôi đau đầu nhất là tạo tư thế phù hợp với cô ấy." Hoặc, cô chuyển sang một bức tranh khác, "Ông ta là một nhà kinh doanh chuyên về da lông thú của nhà vua. Các anh có thấy khối lông chồn được vẽ ở góc kia không? Đó là vật tượng trưng cho ngành kinh doanh của ông ấy." Khi thốt ra mấy câu đó, cô cảm thấy hối hận ngay lập tức; lời nói thô thiển vang khắp không gian như vọng lại từ những bức tranh phủ nhựa cánh kiến. Greta nhớ đến mẹ mình rồi đỏ mặt vì thẹn thùng. Nhưng đôi khi bản tính hấp tấp hoàn toàn lấn át lý trí khiến Greta không kịp kìm lại để suy nghĩ, lên kế hoạch và mưu tính. Bản tính sôi nổi vẫn luôn chạy lên chạy xuống dọc theo khung xương kiểu Tây của cô.
Cô đành tự thừa nhận rằng vài nhà phê bình đến tham dự chỉ vì cô là vợ của Einar Weneger. Một vài người thăm dò: "Dạo này Einar vẽ vời thế nào rồi? Chừng nào anh ấy mới tổ chức buổi triển lãm kế tiếp?" Một nhà phê bình đến đây vì cô là dân California và anh ta muốn tìm hiểu về những họa sĩ chuyên vẽ ngoại cảnh ở đấy - cứ như Greta quen biết với mấy gã đàn ông râu tia xồm xoàm hay đứng pha màu dưới ánh nắng chói chang của vùng Laguna Niguel.
Phòng triển lãm trên phố Krystalgade bị kẹp chặt, và lan tỏa trong bầu không khí của gian trưng bày là mùi pho mát nồng nồng từ cửa hiệu bên cạnh. Greta lo lắng không biết mùi pho mát fontina có ám vào khung tranh vải hay không, nhưng Einar bảo rằng lớp nhựa cánh kiến sẽ cản hết mùi. "Lớp bảo vệ này không thể bị xuyên thủng," anh cao giọng - âm điệu phát ra như con dơi cứ lởn vởn quanh hai người - nghe như đang gắt gỏng.
Ngày hôm sau, khi Greta quay về căn hộ, cô bắt gặp Lili ngồi đan một cái lưới trùm tóc, que đan va chạm lách cách trong lòng cô ấy. Cả Einar và Greta đều không biết vì sao Lili chảy máu mũi tại Vũ hội Nghệ thuật. Nhưng khoảng một tháng sau, mũi cô lại chảy máu, dòng chất lỏng đỏ thẫm cứ rỉ ra suốt ba ngày trong tháng Bảy. Einar khăng khăng chẳng có việc gì nhưng Greta lại lo lắng không thôi, như một người mẹ chứng kiến con mình ho sù sụ. Gần đây, giữa đêm khuya, Greta thường trèo xuống giường, chạy đến giá vẽ để họa lại cảnh Lili mặt mày tái mét gục ngã trong vòng tay Henrik. Bức tranh to gần bằng kích thước người thật. Với màu sắc tươi sáng và hình khối rõ ràng, bức tranh còn sống động hơn cả cảnh Lili chảy máu bên ngoài Vũ hội Nghệ thuật trong tâm trí Greta. Nằm xéo xéo trong cảnh nền là đài phun nước với những con rồng đang há miệng, cộng thêm bức tượng người Vikings thổi kèn lur bằng đồng. Bức tranh khắc họa nàng Lili yếu đuối với mái tóc lòa xòa trên mặt đang nằm trong vòng tay một người đàn ông. Vừa loay hoay với bức họa, Greta vừa tự nhủ với lòng rằng cô sẽ không bao giờ quên cảnh tượng ấy. Cảm giác kinh hoàng, bối rối và phẫn nộ hòa quyện vào nhau rồi đè nặng lên từng đốt xương sống. Cô biết có gì đó đã đổi thay.
"Chị đến lâu chưa?" Greta hỏi Lili.
"Chưa được một tiếng." Que đan vẫn lách cách trong lòng cô. "Chị vừa ra ngoài. Chị còn đi dạo quanh công viên Kongens Have và ngồi đan trên băng ghế. Em đã thấy bó hoa hồng chưa?"
"Chị nghĩ đó là ý tưởng hay ho à? Đi ra ngoài? Nhất là còn đi một mình?"
"Chị không đi một mình," Lili phân trần. "Henrik hẹn gặp chị. Anh ấy hẹn chị tại băng ghế."
"Henrik à," Greta trầm ngâm, "em biết rồi." Greta khẽ liếc mắt thử dò xét chồng mình. Cô không biết chồng mình muốn gì từ việc hóa trang thành Lili. Và giờ thì Einar ngồi đó, trên người là chiếc áo nâu phối kèm áo kiểu tay con màu trắng và đôi giày có khóa bằng thiếc không mấy thời trang mà cô cho anh mang thử vào ngày đầu tiên. Vậy đấy, anh cứ ngồi đó. Cảm giác hối hận mơ hồ dâng trào lên cổ họng của Greta: cô ước giá như mình vừa ít để ý vừa có thể quan tâm nhiều hơn đến chuyện Lili cứ đến rồi đi. Greta nhận ra rằng mình chẳng biết được nên làm gì cho đúng.
"Vậy anh chàng họa sĩ chuyên vẽ cá ấy thế nào rồi?" Greta dò hỏi.
Lili chồm người ra trước rồi bắt đầu kể về chuyến du lịch mới đây của Henrik ở New York, nơi anh ta đã ăn tối với phu nhân Rockerfeller. "Anh ấy đang trở thành một họa sĩ có thanh thế," Lili vẫn tiếp tục kể về mấy nhân vật trong giới nghệ thuật đã nhắc đến tên Henrik. "Em có biết anh ấy mồ côi cha mẹ không?" Lili bùi ngùi thuật lại thời niên thiếu của anh ta khi còn là thủy thủ học việc trên chiếc thuyền buồm đánh cá trên biển Bắc Hải. Sau đó, Lili kể rằng Henrik đã thừa nhận trên băng ghế công viên Kongens Have đặt trước hàng cây xanh, rằng anh chưa từng gặp cô gái nào giống với Lili.
"Rõ ràng là anh ta bị chị hút hồn." Greta có thể nhìn thấy mặt Lili đỏ bừng lên. Greta vừa quay trở về nhà sau một ngày chán ngắt ở phòng tranh, mười bức tranh của cô vẫn treo trên tường và chưa ai thèm hỏi mua. Giờ thì tất cả những chuyện này - hình ảnh chồng cô trong chiếc váy trơn màu nâu; chuyện nhảm về anh chành Henrik nhận lời ăn tối với phu nhân Rockerfeller tại Câu lạc bộ Nghệ thuật Quốc gia; ý nghĩ kỳ quặc về việc Lili và Henrik hò hẹn trên băng ghế dưới bóng tòa tháp Rosenborg Slot - làm cô cảm thấy điên đầu. Greta đột nhiên gặng hỏi: "Nói cho em biết, Lili. Chị đã hôn người đàn ông nào chưa?"
Lili im bặt, dãy ren rũ xuống gấu váy.
Hầu như câu hỏi tự bật khỏi miệng Greta. Trước kia, cô chưa từng suy tư gì về chuyện này vì Einar vẫn luôn gượng gạo và chậm chạp khi nhắc đến chuyện yêu đương. Cô không thể nào tin được anh có thể theo đuổi một nỗi ham muốn khác lạ như thế. Tại sao chứ, nếu không có cô, Einar sẽ chẳng bao giờ tìm thấy Lili. "Có khi nào Henrik là người đầu tiên không?" Greta hỏi. "Người đầu tiên hôn chị?"
Chỉ nghĩ đến chuyện này thôi mà Lilil đã nhướng mày. Cái giọng rề rà nát rượu của gã thủy thủ lại vọng lên từ tầng dưới. "Mày đừng hòng dối gạt tao!" gã hét lên. "Tao biết khi nào thì mày nói láo với tao."
"Hồi còn ở Bluetooth," Lili bắt đầu lên tiếng, "một cậu con trai tên là Hans từng hôn chị." Đó là lần đầu tiên Greta nghe nhắc đến Hans. Lili hồ hởi nhắc đến cậu ta, với những ngón tay ép chặt vào nhau rồi vùng vẩy trong không khí. Cô như đắm mình trong thế giới riêng khi kể với Greta về những mánh lới của Hans khi trèo lên cây sồi cổ thụ, về chất giọng ồ ồ và cả về con diều hình tàu ngầm đã chìm sâu trong vũng bùn.
"Vậy chị có nghe được tin tức gì của anh ấy không?" Greta tò mò.
"Theo như chị biết thì anh ấy đã chuyển đến sống ở Paris," Lili đáp, quay lại với việc đan móc. "Anh ấy là một nhà buôn tranh nghệ thuật, đó là tất cả những gì chị biết, chuyên buôn bán với người Mỹ." Rồi cô đứng lên, đi vào phòng ngủ, nơi con Edvard IV đang rên ư ử trong giấc ngủ và đóng cửa lại. Một tiếng sau, khi Einar tỉnh dậy, mọi chuyện cứ y như Lili chưa từng xuất hiện. Nếu không tính tới mùi hương sữa và bạc hà thì giống như cô ấy chưa bao giờ tồn tại.
Hai tuần trôi qua và Greta chưa bán được bức tranh nào. Cô không thể tiếp tục viện cớ tình hình kinh tế để chống chế cho sự nghiệp kém cỏi của mình. Chuyện này chẳng bao giờ liên quan đến Đại chiến Thế giới vốn đã kết thúc từ bảy năm trước hay nền kinh tế Đan Mạch cứ luôn phập phồng xao động vì tăng trưởng và đầu cơ. Nhưng sự thất bại của đợt triển lãm không hề khiến cô ngạc nhiên. Từ lúc họ kết hôn, danh tiếng của Einar luôn lấn áp vợ mình. Những bức tranh khổ nhỏ tả cánh đồng hoang và bão tố - thực sự chẳng có gì khác ngoài những vệt sơn xám xịt lên phông nền đen kịt - càng ngày càng trở nên đắt giá hơn. Trong khi đó, Greta chẳng bán được bức tranh nào. Cô chỉ biết nhận tiền công đều đều từ những tay giám đốc doanh nghiệp chẳng bao giờ nở được một nụ cười. Càng lúc, người ta càng chẳng buồn chú ý đến những bức chân dung cá nhân do cô vẽ - như chân dung của Anna, hay là bức họa về người phụ nữ mù trước cổng công viên Tivoli, và bây giờ là tranh vẽ Lili. Nói cho cùng, ai sẽ chọn mua tranh của Greta thay cho những tác phẩm của Einar, ai sẽ chú ý đến cô họa sĩ người Mỹ rạng rỡ vào táo bạo mà bỏ qua anh họa sĩ Đan Mạch tinh tế và ấm áp? Liệu có nhà phê bình nào tại Đan Mạch, chính là nơi mà phong cách nghệ thuật của thế kỷ thứ mười chín vẫn được coi là quá mới mẻ và không đáng tin cậy, sẽ dám lên tiếng ca ngợi rằng phong cách của cô vượt trội hơn anh? Đó là những gì Greta cảm nhận; ngay cả Einar cũng thừa nhận điều đó có thể là sự thật khi anh bị cô thúc vào tay. "Em ghét cảm giác như thế này," cô thỉnh thoảng càu nhàu, phồng má hờn dỗi vì sự ganh tỵ nhỏ nhen.
Tuy nhiên, có một bức tranh làm cô vô cùng thích thú. Đó là bộ tranh gồm ba bức vẽ trên những tấm gỗ nối với nhau bằng bản lề. Greta bắt đầu vẽ nó sau buổi vũ hội tại Radhuset. Bộ tranh khắc họa ba góc nhìn khác nhau về khuôn mặt của một cô gái có kích cỡ người thật: cô gái trầm tư suy nghĩ, hai mí mắt hồng hồng và mệt mỏi; cô gái đang sợ hãi đến trắng bệch, hai má hõm sâu; cô gái đang kích động quá mức, mái tóc tuột ra khỏi chiếc kẹp và cánh môi ướt át. Greta sử dụng cây cọ nét mảnh là từ lông thỏ và màu keo để tạo cho cô gái một làn da nửa trong suốt, nửa phát sáng như loài sâu dạ quang. Cô còn quyết định bỏ qua công đoạn phủ nhựa cánh kiến cho bộ tranh này. Khi dừng chân trước bộ tranh, vài nhà phê bình rút cây bút chì từ túi áo trước ngực. Tim Greta bắt đầu đập thình thịch trong lồng ngực khi nghe tiếng đầu chì sột soạt trên trang sổ. Một nhà phê bình khẽ tằng hắng; giây tiếp theo, người đàn ông Pháp bên rìa mắt mọc mụn cơm hỏi Greta: "Bức này cũng của cô sao?".
Nhưng bức tranh với tên Ba góc nhìn về Lili không đủ sức cứu lấy buổi triển lãm. Ramussen, người đàn ông nhỏ thó vừa đáp tàu sang New York để đổi vài bức họa của Hammershoi và Kroyer lấy cổ phần trong công ty sắt thép vùng Pennsylvania, đã cho đóng gói những bức tranh của Greta để trả lại. "Tôi sẽ giữ lại bộ tranh về cô gái dưới hình thức hàng ký gửi," ông thỏa thuận rồi ghi chép thông tin vào sổ sách.
Vài tuần sau đó, một bài báo cắt ra từ tạp chí nghệ thuật Paris mới được gởi đến khu triển lãm của Rasmussen qua đường bưu điện. Bài báo tóm lược bối cảnh mỹ thuật hiện đại của các nước vùng Scandinavia; chìm lấp trong mấy đoạn văn nhắc đến những họa sĩ tài năng nhất của Đan Mạch là một đoạn giới thiệu cực kỳ ngắn ngủi về Greta - ngắn tới mức hầu hết mọi người chẳng ai chú ý đến. "Một trí tưởng tượng phóng khoáng và ngẫu hứng," đó là những gì bài báo viết về Greta. "Bức tranh về cô gái tên Lili hoàn toàn đủ sức gây sốc nếu không muốn nói là quá đẹp." Bài nhận xét không đề cập gì thêm. Nội dung bài viết qua loa đúng kiểu khái quát. Rasmussen đã chuyển bài báo đến tận tay Greta. Cô đã đọc ngấu nghiến với một tâm trạng rối bời đến mức không biết chia sẻ cùng ai: với cô, điều sửng sốt hơn lời khen ngợi trên báo chính là việc tên của Einar không hề được nhắc đến. Ngành mỹ thuật Đan Mạch được tổng kết còn tên tuổi của Einar lại lơ lửng tận đâu đâu. Cô nhét bài viết vào ngăn kéo trong tủ quần áo màu xám tro. Nó nằm ngay dưới tập ảnh màu mực của Teddy và chồng thư cha cô gởi từ Pasadena. Trong thư, ông kể về mùa thu hoạch cam, chuyến đi săn chó sói Bắc Mỹ, và hội nữ họa sĩ tại Santa Monica mà cô có thể tham gia nếu quyết định vĩnh viễn rời xa Đan Mạch. Greta sẽ không bao giờ giao bài báo vào tay Einar. Bài báo là của cô, những lời khen ngợi thuộc về cô. Một lần nữa, cô không cảm thấy mình nhất thiết phải chia sẻ với anh.
Nhưng Greta không thể chỉ đọc bài nhận xét rồi gấp gọn và cất kỹ trong ngăn kéo. Không được, cô phải phản hồi, và thế là cô lập tức viết thư cho nhà phê bình.
Cô bắt đầu bức thư bằng dòng chữ:
"Cảm ơn ông vì đã viết ra một bài nhận xét rất sâu sắc. Bài báo sẽ chiếm giữ một góc đặc biệt trong tập hồ sơ lưu trữ của tôi. Lời văn của ông thật tử tế. Tôi hy vọng ông sẽ liên hệ với tôi khi đến thăm Copenhagen lần tiếp theo. Thành phố của chúng tôi tuy bé nhỏ nhưng tuyệt đối tao nhã. Có điều gì đó mách bảo tôi rằng ông chưa kịp trải nghiệm cuộc sống nơi đây. Trong khoảng thời gian tới, tôi có một thỉnh cầu mong ông đáp ứng. Chồng tôi, Einar Wegener, một họa sĩ chuyên vẽ tranh phong cảnh, đã mất liên lạc với người bạn thân thời thơ ấu. Điều duy nhất chồng tôi nghe được là hiện anh ấy đang sống ở Paris và có thể đang là một nhà buôn tranh nghệ thuật. Ông có ngẫu nhiên quen biết anh ta, Hans Axgil, một nam tước hay không? Anh ấy đến từ làng Bluetooth, vùng Jutland. Chồng tôi rất hy vọng được gặp lại anh ấy. Hiển nhiên là họ thân thiết với nhau một cách lạ thường từ khi còn bé. Chồng tôi thường hay hoài niệm - cánh đàn ông thường ngồi nhớ lại thời tuổi trẻ ấy mà - khi nhắc đến Hans và thời thơ ấu tại làng Bluetooth, một nơi chỉ toàn đầm lầy. Nhưng tôi chợt nghĩ, có thể ông quen biết Hans, vì thế giới Mỹ thuật còn nhỏ bé hơn những gì chúng ta nghĩ. Nếu ông biết được địa chỉ liên lạc với anh ấy, thì thật là tốt quá. Làm ơn hãy gởi cho tôi, và tôi chắc chắn sẽ cho Einar biết. Anh ấy cũng sẽ rất biết ơn ông."
 
 
 
CHƯƠNG BẢY
 
 
Một tuần sau Vũ hội Nghệ thuật, Lili hẹn Henrik tại công viên Kongens Have suốt ba buổi tối liên tiếp. Vẫn còn bối rối về bản thân mình, cô chỉ đồng ý gặp anh lúc trời đã chạng vạng. Thời điểm cuối tháng Sáu, phải sau bữa ăn tối thì bầu trời mới chập choạng tối. Mỗi tối khi bắt đầu thay quần áo, với tay lấy ra một chiếc váy từ tủ quần áo và chuẩn bị cho cuộc hẹn hò, lòng cô thường nặng trĩu vì cảm giác tội lỗi. Greta vẫn đang ngồi đọc báo trước phòng khách, và Lili có thể cảm nhận ánh mắt Greta chiếu lên người mình khi cô dặm thêm chút phấn, thoa chút son môi và độn thêm tất cuộn vào áo lót. Lili sẽ rón rén đi vòng qua con Edvard IV đang nằm ườn trên tấm thảm hình oval đặt trước tấm gương. Lili không quên ngắm kỹ bộ dạng mình trước gương, từ trái sang phải. Cô cảm thấy có lỗi vì đã để Greta ở nhà với tờ báo và quầng sáng hắt ra từ cây đèn đọc sách - nhưng không day dứt bằng việc bỏ lỡ cuộc hẹn với Henrik tại ngọn đèn đường bằng sắt.
"Chị đi ra ngoài à?" Greta thắc mắc vào đêm đầu tiên khi Lili hướng ra cửa trước, ngay lúc tiếng còi cất lên từ bến phà Bornholm.
"Chị chỉ đi dạo," Lili đáp lời, "hít thở chút không khí trong lành. Ở trong nhà mãi cũng không tốt."
"Vào giờ này ư?"
"Chỉ cần em không thấy phiền là được."
"Em không phiền lòng đâu," Greta nói, tay chỉ về chồng báo mà cô muốn đọc xong trước khi lên giường. "Nhưng chị đi một mình sao?"
"Chị không hẳn là đi một mình." Lili không dám nhìn thẳng vào Greta khi thốt lên lời này, mắt cắm xuống đất. "Chị có hẹn với Henrik." Và cô tiếp lời, "Nhưng chỉ tản bộ thôi."
Lili quan sát vẻ mặt Greta. Gò má cô ấy khẽ giật giật trông như đang nghiến răng kèn kẹt. Greta ngồi thẳng người trên ghế đọc sách rồi thình lình vò nát tờ báo trên tay. Rốt cuộc cô lên tiếng: "Đừng về muộn quá."
Henrik để Lili chờ đợi gần hai mươi phút dưới ngọn đèn đường. Cô bắt đầu lo lắng liệu anh ấy có đổi ý hay không, hay là anh đã nhận ra điều gì đó. Cô thấy sợ hãi khi phải đứng một mình trên đường. Nhưng cô cũng thấy rộn ràng vì cảm giác tự do, mạch đập thình thịch trên cổ mách bảo cô rằng cô có thể làm bất cứ điều gì mà mình muốn.
Khi Henrik rốt cuộc cũng đến nơi, anh thở dốc, mồ hôi lấm tấm trên môi. Anh rối rít xin lỗi. "Anh mãi mê vẽ nên quên mất thời gian. Lili, em có gặp chuyện này bao giờ chưa? Ví dụ như em quên mất mình là ai và mình đang ở đâu?"
Họ tản bộ bên nhau suốt nửa tiếng trong cảnh đêm ấm áp. Hai người không nói gì nhiều với nhau, và Lili cảm thấy không có gì đáng để lên tiếng. Henrik nắm tay cô. Khi đang đi dạo trên một đoạn đường không một bóng người ngoại trừ một con chó đi lạc, anh đã hôn cô.
Họ tiếp tục gặp nhau trong hai đêm sau đó, mỗi lần như vậy Lili đều lẻn ra khỏi căn hộ trong ánh nhìn chằm chằm của Greta qua trang báo. Henrik lúc nào cũng đến muộn, vội vàng chạy đến, màu vẽ còn dính đầy dưới ngón tay và lấm lem trên mái tóc xoăn tít.
"Anh muốn gặp Greta vào một ngày nào đó," Henrik tuyên bố. "Để chứng minh với cô ấy rằng anh không phải loại đàn ông chỉ biết bỏ chạy khi phụ nữ ngất xỉu."
Vào đêm thứ ba, họ ở bên ngoài đến tận khuya, quá giờ chuyến tàu điện cuối cùng, quá một giờ sáng và mấy quán rượu cũng đóng cửa. Lili để Henrik nắm tay mình khi họ tản bộ quanh thành phố, liếc nhìn hình ảnh phản chiếu qua ô cửa đen ngòm của mấy cửa hiệu, hôn nhau say đắm ở những chỗ tối dọc đường đi. Cô biết mình nên quay về khu nhà Widow House, nhưng điều gì đó trong lòng khiến cô chỉ muốn lang thang bên ngoài mãi mãi.
Ngày hôm sau, Greta khuyên Lili nên dừng việc gặp gỡ Henrik. "Chị nghĩ chuyện này có công bằng với anh ta không?" cô chất vấn. "Lừa dối anh ta như vậy, chị cho rằng anh ta sẽ nghĩ như thế nào chứ?"
Nhưng Lili dường như không hiểu Greta đang ám chỉ điều gì. Có vấn đề gì với việc Henrik sẽ nghĩ như thế nào? Trừ khi Greta nói toạc ra với Lili, cô thường quên mất mình là ai.
"Chị không muốn ngừng việc gặp gỡ anh ấy," cô quả quyết.
"Vậy thì làm ơn, hãy vì em, đừng gặp anh ta nữa."
Lili chỉ biết cam đoan rằng cô sẽ cố thử. Nhưng dù cho chính miệng nói ra, cô cũng biết chuyện này là không thể. Lúc đứng trong phòng khách, bên cạnh khung vẽ trống trơn của Einar, cô biết mình đã lừa dối Greta. Nhưng Lili không cưỡng lại được. Cô không thể dằn lòng.
Và thế là Lili và Henrik lén lút gặp nhau, vào lúc chiều tà, trước khi Lili phải về nhà ăn tối. Lúc đầu, Lili cảm thấy khó chịu khi gặp Henrik vào ban ngày, lúc ánh nắng chói chang trên mặt cô. Cô sợ anh sẽ phát hiện ra mình không hề xinh đẹp, hoặc nhận ra điều gì đó tồi tệ hơn. Cô mang một chiếc khăn choàng quấn quanh đầu, thắt nút dưới cằm. Cô chỉ cảm thấy thoải mái khi ngồi cạnh anh trong rạp chiếu phim Rialto tắt đèn tối om, tay trong tay, hay tại thư viện vắng lặng trong Học viện Hoàng gia, trong phòng đọc sách tối lờ mờ do những tấm rèm cuốn làm từ vải bạt màu lục.
Một đêm nọ, Lili hẹn Henrik bên hồ nước trong công viên Orstedsparken lúc chín giờ. Hai con thiên nga vẫn đang bơi lội trên mặt nước, còn cây liễu rủ xuống tận bãi cỏ. Henrik lại đến muộn, và khi đến nơi anh đã hôn lên trán cô. "Anh biết chúng mình chỉ gặp nhau được vài phút," anh nói, tóc anh cọ vào cổ cô.
Nhưng đêm đó, Greta đi dự tiệc chiêu đãi ở Đại sứ quán Mỹ. Cô ấy sẽ vắng nhà trong mấy tiếng nữa, và Lili sắp sửa nói với Henrik rằng bọn họ có thể tự do tận hưởng buổi tối bên nhau tại nhà hàng có bức tường ốp gỗ trên quảng trường Grabrodre Torv. Họ có thể tản bộ dọc công viên Langelinie như những đôi tình nhân Đan Mạch vào đêm mùa Hạ đẹp trời. Cô khó có thể tin vào chuyện tốt sắp kể với Henrik, người đã quen với việc mỗi lần gặp Lili là chỉ được hai mươi phúc. "Em có chuyện cần nói với anh," cô lên tiếng.
Henrik cầm lấy tay cô và khẽ hôn lên đấy, rồi đặt tay cô lên ngực anh. "Ôi Lili, em không cần nói thêm nữa đâu," anh đáp lời. "Anh biết rồi. Đừng lo lắng vì chuyện gì khác vì anh đã biết hết rồi." Mặt anh giãn ra, lông mày nhướng lên.
Lili rút tay ra khỏi lòng bàn tay của Henrik. Công viên thật vắng lặng, những người công nhân vốn hay băng qua chỗ này để về nhà đều đang quây quần bên bàn ăn. Một người đàn ông cứ lãng vãng gần nhà vệ sinh công cộng rồi lần lượt đốt từng que diêm. Người đàn ông thứ hai vừa đi ngang và quay lại nhìn sau lưng.
Henrik biết gì cơ? Lili tự hỏi, nhưng cô liền hiểu ra ngay sau đó.
Henrik vẫn nhướng mày, và cảm giác rùng mình kinh khủng quét qua người Lili, bất ngờ như thể Einar là người thứ ba có mặt ở đây - như thể anh vừa lùi một bước tránh khỏi phạm vi của lời bày tỏ thân mật giữa Lili và Henrik, lẳng lặng chứng kiến tất cả. Anh đứng đó, Einar trong tà váy đầm của cô gái trẻ trung, tán tỉnh một người đàn ông còn nhỏ tuổi hơn mình. Đúng là một cảnh tượng đáng sợ.
Lili lại rùng mình. Người đàn ông đứng trước nhà vệ sinh công cộng bước vào đó, và tiếp theo là tiếng va đập chói tai, một chiếc thùng rác bị đá văng ra.
"Em e là em không thể tiếp tục gặp anh nữa," Lili rốt cuộc cũng lên tiếng. "Đêm nay em sẽ phải nói lời tạm biệt với anh."
"Em đang nói gì vậy?" Henrik hốt hoảng. "Vì sao em lại nói thế?"
"Em chỉ là không thể gặp anh được nữa. Không phải lúc này," cô giải thích.
Anh níu lấy tay Lili nhưng cô rụt lại. "Nhưng đối với anh, nó chẳng có gì khác biệt. Có phải ý em muốn nói là chuyện này sao? Đó là điều anh cố nói với em. Có phải vì em nghĩ anh sẽ không..."
"Không phải lúc này," Lili lặp lại lần nữa, rồi cô bỏ anh lại một mình. Cô băng qua bãi cỏ khô cằn mùa hè, chúng suýt gãy rạp dưới chân cô, rồi đi thẳng đến lối ra khỏi công viên. "Lili," Henrik hét lên dưới hàng liễu rủ. Sẽ mất vài tiếng đồng hồ để treo chiếc váy đầm của Lili về chỗ cũ, tắm rửa và bắt đầu vẽ một bức tranh. Einar sẽ đợi Greta trở về. Cô vẫn luôn về nhà, cởi mũ và hỏi: "Buổi tối vui vẻ không anh?", rồi hôn lên trán anh nhằm chứng minh cho cả hai rằng Greta đã làm tốt mọi việc.
 
 
 
CHƯƠNG TÁM
 
 
Mùa hè nào cũng vậy, vào kỳ nghỉ tháng Tám, Greta và Einar lại đến Menton, một thị trấn Pháp nằm tại cảng biển cạnh biên giới với Ý. Sau mùa hè dài dằng dặt, Greta chào tạm biệt Copenhagen với cảm giác nhẹ nhõm. Khi chuyến tàu lửa xình xịt tiến về phía Nam, băng qua dãy núi Maritime Alps, cô cảm thấy như mìn đã bỏ lại điều gì đó sau lưng.
Năm nay, nhờ Anna, vốn vừa tham gia diễn opera tại Monte Carlo hồi tháng Năm, đã mách nước cho Greta và Einar thuê một căn hộ nằm trên đại lộ Boyer, xéo với con đường chạy qua sòng bạc thị trấn Menton. Chủ nhân của căn hộ là một tay người Mỹ, đã vội vàng cất công chạy sang Pháp ngay sau chiến tranh để thu mua những xưởng may quần áo bị đóng cửa ở vùng Provence. Anh ta hiện sống ở New York, trở nên giàu có và kiếm được bộn tiền từ việc chuyên bán quần áo đơn giản mặc thường ngày không có lớp lót cho những bà nội trợ ngụ ở phía Nam Lyon.
Bên trong căn hộ, nền nhà được lót đá cẩm thạch mát lạnh màu cam, phòng ngủ thứ hai được sơn màu đỏ. Một tấm bình phong kiểu Trung Hoa khảm xà cừ được đặt trong phòng khách. Cửa sổ phía trước mở ra một khoảng sân nhỏ vừa đủ để trồng vài chậu phong lữ và đặt hai chiếc ghế dây kim loại. Những buổi tối trời nóng bức, Einar và Greta sẽ ngồi ngoài đấy. Greta còn gác chân lên lan can tận hưởng cơn gió nhẹ lâu lâu lại thổi đến từ mấy cây cam và chanh trồng ngay dưới công viên. Greta mệt nhoài, vì vậy cô và Einar có thể ngồi cạnh nhau suốt buổi tối mà không nói lời nào ngoại trừ câu "Chúc ngủ ngon".
Vào ngày thứ năm của kỳ nghỉ, thời tiếc đột nhiên thay đổi. Gió Sirocco từ Bắc Phi điên cuồng thổi qua vùng Địa Trung Hải trũng thấp, đến tận bãi biển gập ghềnh, lùa qua cửa lớn trước hiên nhà làm tấm bình phong kiểu Trung Hoa ngã chỏng chơ.
Đang ngủ trưa trong căn phòng sơn màu đỏ, Greta và Einar nghe tiếng ngã ầm một phát. Hai người nhìn ra thì thấy tấm bình phong ngã trên ghế sofa cameback (1). Tấm bình phong vốn dĩ che khuất một giá treo đầy hàng mẫu những bộ quần áo thường ngày được sản xuất tại xưởng may của chủ nhà. Những chiếc váy hoa màu trắng vẫn đung đưa trên giá treo tựa như có một đứa trẻ đang níu lấy gấu váy.
Greta thấy những bộ quần áo trông thật đơn sơ, tay áo được viền một cách cẩu thả, và hàng nút may ngay phía trước để tiện cho con bú - quá thô thiển và thực dụng đến mức cô bắt đầu cảm thấy hơi ghét bỏ kiểu phụ nữ ăn mặc thế này.
 
(1) Sofa cameback: kiểu ghế sofa có phần lưng ghế uốn lượn hơn so với các chi tiết còn lại của chiếc ghế.
 
Cô bước lên thử dựng lại tấm bình phong rồi bảo: "Giúp em một tay nào."
Einar đang đứng cạnh giá treo trang phục mẫu, gấu váy tung bay cọ cọ vào chân anh. Mặt anh trở nên đờ đẫn. Greta có thể thấy gân xanh hai bên thái dương của anh đang co giật. Cô nhận ra những ngón tay của anh, vốn giống như ngón tay của nghệ sĩ piano hơn là họa sĩ, khẽ run rẩy. "Anh đang định mời Lili đến thăm vợ chồng mình," anh lên tiếng. "Cô ấy chưa từng đến Pháp."
Greta chưa bao giờ xua đuổi Lili. Suốt mùa Hè, nhiều lần Einar thông báo Lili sẽ đến ăn tối, và Greta - vốn kiệt sức sau một ngày dài phải chăm chút cho buổi triển lãm thất bại, thầm kêu gào, ôi trời ơi, điều cuối cùng mình muốn làm vào lúc này là ăn tối với một ông chồng đang mặc áo quần phụ nữ. Nhưng Greta sẽ chôn chặt những suy nghĩ đó trong lòng mình, cắn chặt môi đến bật máu. Cô biết mình không đỉ sức ngăn cản Einar. Cô nhận ra, từ sau vụ việc với Henrik, Lili vốn có chính kiến của riêng mình.
Suốt vài tuần trước chuyến nghỉ mát ở Menton, Lili bắt đầu xuất hiện vào buổi chiều mà không hề báo trước. Greta thường rời khu nhà Widow House vì có hẹn ở ngoài. Khi về đến nhà, cô sẽ thấy Lili đứng bên cửa sổ trong bộ váy đầm rộng thùng thình, lại còn chẳng buồn cài hàng nút sau lưng. Greta sẽ giúp Lili chỉnh trang lại quần áo và đeo chuỗi hạt màu hổ phách lên cổ. Greta chưa bao giờ thoát khỏi cảm giác sửng sốt khi thấy chồng cô như thế, chờ đợi với cổ áo rộng mở hờ hững trên đôi vai yếu ớt. Cô chưa từng phàn nàn gì với Einar, hay với Lili, dù chỉ một lần. Thay vào đó, cô luôn chào đón Lili với tư cách là một người bạn xa lạ nhưng vui tính. Lúc giúp Lili mang giày, cô luôn ậm ừ rồi nói chuyện phiếm với cô ấy. Greta sẽ nghiêng chai nước hoa ra ngón tay trỏ rồi lướt đầu ngón tay xuống cổ và dọc theo phía trong cánh tay của Lili. Rồi cô ngắm Lili trong gương và thì thầm, giọng cô vẫn dịu dàng, thân thiết như lúc mới kết hôn, "Nhìn xem... thật là xinh đẹp hết sức."
Greta làm tất cả những điều này với sự tận tâm hết mức, vì lòng tin rằng cô có thể bỏ mặc bất kỳ ai trên đời này, ngoại trừ chồng mình. Cô đã từng coi trọng Teddy như thế. Greta có thể dám làm những chuyện đại loại như cáu gắt với mẹ, tranh cãi với cha, và phớt lờ mọi người ở Pasadena cũng như Copenhagen, nhưng sâu thẳm trong trái tim là tấm lòng khoan dung vô hạn chỉ dành cho người đàn ông mà cô yêu thương. Cô chưa từng hoài nghi lý do tại sao cô cho phép Lili xuất hiện trong cuộc đời mình. Cô vẫn luôn tự nhủ với lòng, chỉ cần đó là điều làm Einar vui. Bất kỳ điều gì cũng được.
Thế nhưng, Greta vẫn là Greta, và sự tận tâm hết gan ruột này thỉnh thoảng làm cô chạnh lòng. Sau chuyện Lili lén lút hẹn hò với Henrik, Greta bắt đầu kè kè đi theo mỗi khi Lili bước ra đường ở Copenhagen. Lili đã cam đoan sẽ không bao giờ gặp lại Henrik, rằng bọn họ đã chấm dứt, nhưng cho dù như vậy thì Greta biết chắc có hàng tá đàn ông trẻ tuổi có thể tâng bốc Lili đến khi cô ấy đỏ mặt và ngã vào vòng tay một gã nào đó. Và thế là Greta và Lili lại khoác chặt tay nhau, cùng tản bộ dưới hàng cây dọc công viên. Greta không ngừng quét mắt dọc con đường trải sỏi để tìm kiếm những kẻ khả nghi, vì cô biết rõ Lili với đôi mắt nâu ướt át có thể làm xao lòng cánh đàn ông Đan Mạch trẻ tuổi như thế nào. Một ngày nọ, Greta chụp cho Lili một bức ảnh trước cổng tòa tháp Rosenborg Slot, tòa lâu đài nhỏ bé bằng gạch phía sau Lili trông hơi nhòe nhưng lại mơ hồ toát ra vẻ đáng sợ. Hôm khác, Lili kéo Greta dừng lại trước nhà hát múa rối và ngồi xuống cạnh đảm trẻ con, gương mặt cô thoáng do dự còn đôi chân vụng về y như bọn nhóc.
"Greta?" Einar lặp lại. Anh đang đứng tựa lưng vào giá treo trang phục mẫu. Tấm bình phong kiểu Trung Hoa vẫn đang nằm chỏng chơ trên ghế sofa. "Em sẽ không thấy phiền nếu Lili đến đây thăm vợ chồng mình chứ?"
Greta bắt đầu dựng tấm bình phong lên. Từ khi họ đến Pháp, cô chưa từng cầm đến cọ vẽ. Cô chưa từng gặp người nào thú vị đến mức phải lên tiếng để mời đối phương làm mẫu để vẽ một bức chân dung. Thời tiết lúc nào cũng âm u và ẩm ướt, làm sơn dầu trên khung vải thật là khó khô. Suốt mùa Hè, cô đã thử đổi phong cách vẽ, bắt đầu dùng những màu sắc tươi sáng hơn, đặc biệt là màu hồng, màu vàng và màu vàng đồng, chọn nét vẽ to hơn và thậm chí với tỉ lệ lớn hơn. Đó là một phong cách hội họa hết sức mới mẻ với Greta nhưng lại khiến cô mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành bức tranh trên khung vải trắng trơn. Để vẽ tranh cỡ quá khổ với tông màu pastel vui tươi, Greta cần giữ vững niềm say mê từ nội tâm. Không có gì làm cho cô hạnh phúc hơn việc phác họa Lili.
Greta cân nhắc đến việc bắt tay vào làm một bức chân dung cỡ người thật mô tả phong cảnh Lili đứng ngoài khoảng sân nhỏ, cơn gió nhẹ làm tung bay mái tóc và tà váy, những bông hồng màu nâu trên váy ẩn hiện một cách xinh xắn, còn biểu cảm trên gương mặt Lili sẽ giống như trên gương mặt của chồng cô lúc này - hăng hái, lo lắng, làn da căng lên đỏ bừng như sắp nổ tung.
Greta và Lili thả bộ đến L'Orchidee trên Bonaparte. Đấy là một nhà hàng nổi tiếng với món mực luộc trong nước mực đen, theo lời Hans viết trong bức thư hẹn gặp vào buổi tối. Nhiều cửa hiệu trên phố đã đóng cửa từ chập tối. Vài túi rác nằm nép mình bên vệ đường. Mấy hòn đá cuội rơi từ rãnh lốp xe ô tô nằm chỏng chơ trên đường.
Thư của Hans đang nằm trong túi Greta, và cô đang cọ chiếc nhẫn cưới trên tay vào cạnh lá thư khi rảo bước cạnh Lili dọc con đường St. Michel hướng về cảnh. Với Greta, một trong những phong tục hay ho của Đan Mạch là việc đeo nhẫn cưới trên tay phải. Khi quay lại Đan Mạch lúc đã trở thành góa phụ, cô từng hứa với lòng mình rằng sẽ không bao giờ tháo chiếc nhẫn mạ vàng mà Teddy đã tặng. Cô không biết phải làm sao mới tháo nổi chiếc nhẫn của Teddy ra khỏi tay mình. Cô nhớ đến khoảnh khắc anh trao nó cho cô, vụng về lục lọi hai túi quần để tìm chiếc hộp nhung đen bé xíu. Nhưng rồi Greta nhận ra rằng mình không cần phải tháo nhẫn của Teddy. Vì vậy cô vẫn luôn đeo hai chiếc nhẫn cho đến tận bây giờ. Cô chơi đùa với hai chiếc nhận một cách công bằng, lơ đễnh xoay tròn chúng trên tay.
Greta chưa bao giờ kể với Einar quá nhiều về Teddy Cross. Cô quay lại Đan Mạch vào Ngày đình chiến, sáu tháng sau khi trở thành góa phụ, và lấy lại tên Greta Waud. Mỗi khi bạn bè hỏi đến chồng trước, cô đều bảo anh ấy chỉ đột ngột qua đời. Suy cho cùng, Greta luôn nghĩ ra khi mới hai mươi bốn tuổi và phải sống trong cái nóng bức khô hạn của vùng Califfornia, chỉ là hệ quả của một điều duy nhất: sự trớ trêu của cuộc đời. Chuyện này chẳng có nghĩa lý gì cả, thật đấy. Còn chuyện Teddy chẳng hề có vóc người kiểu Tây lại là một chuyện nữa chẳng công bằng tí nào. Thỉnh thoảng cô thoáng nghĩ, khi phải nhắm nghiền mắt để kìm nén cảm giác hối hận: có lẽ cô và Teddy chưa bao giờ được định sẵn là sẽ kết hôn với nhau. Có lẽ tình yêu của anh dành cho cô chưa vĩ đại bằng tình yêu cô dành cho anh.
Khi cả hai gần đến nhà hàng thì Greta chặn Lili lại rồi nói, "Đừng giận em, nhưng em có một điều ngạc nhiên dành cho chị." Cô đẩy phần mái tóc Lili ra khỏi mắt. "Em xin lỗi vì đã không nói trước với chị, nhưng em nghĩ mọi chuyện sẽ chẳng dễ dàng hơn nếu chị biết ngay trước khi đến nơi."
"Về chuyện gì cơ?"
"Chuyện chúng ta sẽ ăn tối với Hans."
Mặt Lili trở nên trắng bệt, và cô lập tức hiểu ra. Cô cụng trán vào cửa sổ của một cửa hàng thịt đã đóng cửa. Bên trong cửa hàng là mấy con lợn sữa bị lột da treo trên dây trông như mấy sợi dây móc thòng lọng màu hồng. Vậy mà Lili vẫn hỏi: "Hans là ai?"
"Thôi nào. Đừng hoảng hốt. Chỉ là Hans thôi mà. Anh ta muốn gặp chị."
Nhà phê bình người Paris với nốt mụn cơm mọc bên rìa mắt đã nhanh chóng trả lời thư của Greta, gửi cho cô địa chỉ liên lạc với Hans rồi còn hỏi thêm về tranh vẽ của Greta. Sự chu đáo của nhà phê bình làm Greta chìm đắm trong mơ mộng. Paris đang quan tâm đến tài năng hội họa của cô! Cô tự nhủ, mở hộp bút mua từ cửa hiệu Arhus, và bơm đầy mực vào cây viết máy của minh. Đầu tiên, cô viết thư cho nhà phê bình, hỏi: "Có triển vọng phát triển nào cho tôi ở Paris không? Liệu chồng tôi và tôi có nên cân nhắc việc rời khỏi Đan Mạch, cái nơi chả ai buồn quan tâm đến tôi là ai? Liệu cuộc sống của chúng tôi có tự do hơn nếu đến sống ở Paris không?"
Sau đó, Greta viết thư cho Hans. Cô mở đầu: chồng tôi có vẻ chưa bao giờ quên anh. Những khi anh ấy thả hồn mơ mộng bên giá vẽ, tôi biết anh ấy nhớ đến hình ảnh anh treo mình từ cây sồi và đung đưa trên bãi lầy. Mặt anh ấy thần ra. Cảm giác giống như anh ấy quay về tuổi mười ba, với đôi mắt long lanh và chiếc cằm nhẵn nhụi.
Hiện nay, khi đã là một người đàn ông hơn ba mươi tuổi, Hans Axgil sở hữu một cái mũi thanh tú, còn cổ tay được che phủ bởi lớp lông rậm vàng hoe. Anh đã trở thành một người đàn ông to cao cường tráng, chiếc cổ khỏe mạnh vươn cao trước ngực khiến Greta liên tưởng đến gốc cây tiêu huyền mọc bên rìa khu vườn nhà cô tại California. Einar đã miêu tả Hans giống như một cậu bé nhỏ thó, còi cọc của vùng đầm lầy. Biệt danh của anh ấy là Valnod, nghĩa là quả óc chó; nhiều người lý giải là vào mùa hè, da anh ấy sẽ biến thành màu nâu nhạt; trông giống như mới bị nhúng vào bãi bùn lâu năm ở làng Bluetooth. Bãi bùn chính là nơi Hans được sinh ra. Ngày ấy khi chiếc xe ngựa lật úp giữa cơn giông mưa đá, mẹ anh và hai cô hầu gái bị mắc kẹt giữa bãi hoang  chỉ với hộp diêm và chiếc áo khoác vải bạt của người lái xe cho mượn làm tấm lót đỡ đẻ.
Dĩ nhiên là bây giờ, Hans đã trở thành người đàn ông thực thụ, cao lớn như người Đức. Anh bắt tay với người khác bằng hai tay. Hai bàn tay ấy cũng thường đan sau gáy khi anh kể chuyện gì đấy. Anh không uống gì khác ngoài rượu champagne và nước có gas. Anh chỉ ăn độc món cá, một lần nếm thử một miếng thịt nai đã khiến anh mất hết khẩu vị suốt cả tháng trời. Anh là nhà buôn tranh, chuyên gia o bế những bậc thầy người Hà Lan để gom tranh bán cho những tay người Mỹ giàu có thường sưu tập tranh nhằm chất đống để đó. Đó là một công việc kinh doanh nghe có vẻ trái đạo đức, anh tâm sự với nụ cười để lộ hai răng cửa nhọn như mũi khoan. "Không phải lúc nào cũng vậy, nhưng thường là đủ sống," anh kể. Môn thể thao yêu thích của Hans vẫn là tennis. "Điều tuyệt vời nhất ở Pháp là sân đất nện. Sân bóng màu đỏ như đất sét. Những trái bóng tennis trắng tinh với đường viền bằng nhựa dính. Còn tay trọng tài ngồi chễm chệ trên ghế."
Nhà hàng nằm trên đường dẫn ra cảng biển. Dọc lối đi bộ là tám chiếc bàn kê dưới những tán dù sọc được cố định bằng hộp thiếc nhét đầy đá. Xa xa phía cảng thấp thoáng những người thủy thủ đang lục tục về nhà. Mấy du khách người Anh đứng bên bến tàu, tay trong tay, phía sau đầu gối rám nắng. Trên chiếc bàn ở nhà hàng còn bày lọ hoa cúc vạn thọ và tấm giấy bảo vệ khăn trải bàn.
Chưa kịp ngồi vào bàn, đó là nơi Hans đang ngồi chờ sẵn với bàn tay đan sau gáy, Greta đã bắt đầu băn khoăn về kế hoạch của mình. Đến tận lúc này, cô vẫn lo lắng Hans liệu có nhận ra nét tương đồng trên gương mặt Lili với Einar hay không? Greta sẽ làm gì nếu Hans chồm người qua bàn và thốt lên, "Sinh vật bé nhỏ xinh đẹp này là người bạn cũ của tôi, Einar đấy à?" Điều đó là không tưởng; nhưng Greta sẽ làm sao nếu Hans hỏi một câu như vậy? Và Lili sẽ phản ứng như thế nào? Rồi Greta nhìn vào Lili, xinh xắn trong bộ trang phục thường ngày với làn da rám nắng do nằm trên tấm phao nổi trên biển. Greta lắc đầu. Không, chẳng có ai ở đây ngoài Lili. Ngay cả Greta cũng chỉ nhìn thấy Lili. Và thêm vào đó, lúc anh chàng bồi bàn kéo ghế cho hai người, rồi Hans tiến đến hôn Greta và hôn Lili sau đó. Greta thầm nghĩ, Hans không còn có nét gì giống với cậu bé trong hồi ức của Einar về thời thơ ấu.
"À, giờ thì, kể cho tôi nghe về Einar đi," Hans cất lời khi món mực luộc được dọn ra trong chiếc liễn đựng súp.
"Tôi e là anh ấy đang một mình ở Copenhagen tối nay," Greta trả lời. "Ngay cả trong kỳ nghĩ mà anh ấy cũng quá bận rộn với công việc."
Lili gật gù, nâng góc khăn ăn lên miệng. Hans dựa lưng vào ghế, dùng nĩa xiên miếng mực. Anh tiếp lời, "Nghe có vẻ giống với Einar." Rồi Hans kể cho hai người nghe chuyện của Einar thường hay mang hộp sáp màu ra bên vệ đường để vẽ cảnh đầm lầy trên những hòn đá tảng. Ban đêm, mưa xuống sẽ rửa sạch bức tranh, và ngày hôm sau, cậu ấy lại vác hộp màu ra rồi tiếp tục hí hoáy phát họa.
"Thỉnh thoảng anh ấy sẽ vẽ tranh về anh," Lili kể.
"À, đúng rồi, mất mấy giờ liền đấy. Tôi sẽ ngồi bên vệ đường để cậu ấy vẽ mặt tôi lên hòn đá."
Greta chú ý thấy Lili vừa ngã vai ra sau, ngực cô ấy nhô lên như những bông hoa trinh nữ mong manh đang úp lại. Chúng vốn vẫn mọc khắp dãi núi phía trên Menton. Greta quên rằng, gần như quên mất, đó không phải là ngực thật; chúng chỉ là hạt của trái bơ gói trong khăn tay, rồi nhét vào áo lót mùa hè mà cô mua được tại cửa hiệu tạp hóa cạnh ga.
Greta cũng chú ý cách Lili - với đôi mắt thâm quầng của Einar được giấu kỹ dưới lớp phấn trang điểm - trò chuyện với Hans về Jutland. Có khao khát nào hiện rõ qua cách cô ấy khẽ cắn môi trước khi trả lời một trong những câu hỏi của Hans. Và còn cách cô ấy ngước cằm lên nữa chứ.
"Tôi biết Einar sẽ muốn gặp anh vào một lúc nào đó," Lili nói. "Anh ấy tâm sự với tôi rằng cái ngày anh bỏ trốn khỏi Bluetooth đúng là ngày tồi tệ nhất trong cuộc đời. Anh ấy nói, anh là người duy nhất để anh ấy vẽ trong yên bình, còn nói rằng dù có chuyện gì xảy ra, anh ấy hoàn toàn có thể trở thành một họa sĩ." Dưới ánh nến, bàn tay cô trông xương xương và mảnh dẻ, khẽ duỗi ra rồi lại khum khum hướng về vai của Hans.
Lúc tối muộn, Lili và Greta đi thang máy lồng sắt lên căn hộ đang thuê. Greta mệt đến mức phải nhờ Einar giúp cô cởi váy và lau sạch lớp son môi. "Hans không nhận ra, đúng không?" cô hỏi, khoanh tay trước bộ ngực phẳng lì hơn cả ngực Lili. Trên trần thang máy có lắp hai cái bóng đèn trơ trọi; ánh đèn soi rõ những đường nét trên trán Einar và quanh miệng anh, lớp phấn nền màu cam đã vón thành cục. Cái sụn nhỏ trên cổ Einar đột nhiên nhô lên trên chuỗi hạt màu hổ phách. Cơ thể anh toát ra một mùi nam tính: mùi lá cây ẩm tỏa ra từ khoảng sẫm màu tiếp giáp giữa cánh tay và bờ vai, hay nằm tại chân trái nối với chân phải.
Greta lăn ra ngủ trước khi Einar lên giường. Khi tỉnh giấc, cô nhận ra Lili trong chiếc áo lót hai dây đang nằm dưới lớp chăn mùa hè. Tóc cô ấy hơi xỉn màu, dưới ánh sáng lờ mờ gương mặt ấy trông thật sạch sẽ với mấy sợi râu lún phún trên má. Lili đang nằm duỗi thẳng lưng, lớp chăn mỏng nhẹ ôm lấy hai bầu ngực hình quả lê, và xuống dưới chút nữa là khối thịt mọc giữa hai chân. Lili chưa từng ngủ chung giường với Greta; hai người từng cùng nhau ăn sáng trong bộ kimono lụa với họa tiết hình con sếu, thậm chí còn đi mua tất lụa với nhau và Greta luôn là người đứng ra trả tiền như người mẹ hoặc người cô hiếm muộn trái tính. Nhưng Einar chưa từng ngủ trên giường với bộ dạng của Lili. Trái tim của Greta vốn đập thình thịch bỗng nặng trĩu như đeo đá. Chẳng lẽ đây cũng là một phần của trò chơi? Cô có nên hôn Lili như hôn chồng mình?
Hai vợ chồng càng ngày càng ít khi gần gũi nhau. Thường thì Greta nhận lỗi về mình. Cô hay thức khuya để vẽ vời, đọc sách, và lúc cô lật chăn lên thả mình nằm xuống thì Einar đã ngủ từ lâu. Thỉnh thoảng cô sẽ thúc vào người anh, hy vọng anh sẽ thức dậy, nhưng Einar ngủ rất sâu và sau đó cô cũng ngủ mất. Cô sẽ ôm chặt chồng mình suốt đêm đến lúc tỉnh giấc, tay vòng qua ngực anh. Vào mỗi buổi sáng yên tĩnh, ánh mắt họ chạm vào nhau. Những lúc khát khao chạm vào anh, ngay khi bàn tay cô vuốt ve ngực, rồi trượt xuống đùi anh, Einar sẽ lấy tay giụi mắt, rồi nhảy xuống giường. "Anh làm sao vậy?" Greta cất giọng, vẫn quấn mình trong chăn. "Không sao hết," anh trả lời khi xả nước vào bồn tắm. "Hoàn toàn không có việc gì đâu."
Những lần làm tình, thường là do Greta bắt đầu nhưng không phải lúc nào cũng vậy, cô sẽ cảm thấy chuyện xảy ra vừa rồi không hề thỏa đáng. Cứ như cô chẳng muốn chạm vào anh nữa. Cứ như anh chẳng còn là chồng cô nữa.
Ngay lúc này, Lili trở mình. Cơ thể cô ấy xoay nghiêng lại khiến Greta liên tưởng đến sợi dây dài ngoằn. Vết tàn nhang trên lưng đập vào mắt Greta, lại còn thêm nốt ruồi gồ lên giống như hòn đảo Zealand trông đen thui và ghê sợ như một con đĩa. Dưới lớp chăn mùa hè, hông Lili cong vòng tựa như chiếc ghế sofa cameback đặt trong phòng khách của căn hộ đang thuê. Chiếc hông cong này đến từ đâu? - cong như con đường chạy dọc theo sườn núi ngoằn ngoèo trên đảo Cote từ vùng biên giới Ý đến thành phố Nice; cong như chiếc bình hoa tròn với cổ lọ thuôn thuôn mà Teddy đã nặn trên chiếc bàn xoay. Nó trông chẳng khác gì hông của người phụ nữ chứ không phải hông của chồng cô. Cảm giác này giống như có một người không quen biết đang nằm trên giường cô. Greta suy tư về chiếc hông ấy mãi đến khi bình minh trải trên khoảng sân nhỏ của căn hộ, rồi cơn mưa làm căn phòng lạnh lẽo đến mức Lili phải kéo tấm chăn mùa hè lên tận cằm cho ấm, chỗ nhấp nhô trên hông biến mất dưới tấm chăn đang giương lên như một túp lều. Hai người lại chìm vào giấc ngủ, và khi tỉnh dậy, Greta nhìn thấy Lili đang cầm trên tay hai tách cà phê. Lili mĩm cười rồi cố gắng trượt người xuống lớp chăn, nhưng hai tách cà phê đổ nhào. Greta nhìn tách cà phê đổ tràn lên chăn đệm, chảy về phía cô và Lili bật khóc.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.03.2018 11:45:51 bởi ticonuong>
Sau đó, lúc chiều khi Einar đang loay hoay sau căn phòng trống để biến hình thành Lili, Greta lột khăn trải giường ra. Cô xốc lấy cái chăn mốc meo, trắng nhờ nhờ và có mùi của Einar, Lili và cà phê trộn lẫn vào nhau, trải lên lan can trước hiên, rồi lấy diêm đốt một góc. Có gì đó trong lòng khiến cô muốn thấy tấm chăn bị đốt trụi. Chẳng mấy chốc tấm chăn đã chìm trong ngọn lửa cuồn cuộn, và Greta nhìn từng mảnh tro bay rải rác trong lúc thả hồn suy tư về Teddy và Einar. Mấy mảnh chăn rơi lả tả từ khoảng hiên, mang theo làn khói đen mỏng manh, khẽ khàng bay lên rồi rớt xuống theo cơn gió mùa hè, cuối cùng hạ cánh trên tán lá xù xì trên cây cam và cây chanh mọc ở công viên dưới nhà. Một phụ nữ đứng dưới đường gào lên với Greta, nhưng cô phớt lờ bà ta rồi nhắm tịt mắt lại.
Cô chưa bao giờ kể với Einar về trận hỏa hoạn ở xưởng gốm của Teddy trên phố Colorado. Phía trước phòng là một lò sưởi lót gạch mên màu cam mang phong cách Mission (1). Vào một ngày tháng Giêng, trong lúc hứng lên dọn dẹp, Greta đã nhét vòng hoa Giáng sinh vào lò sưởi, đúng nơi có ngọn lửa nhỏ đang cháy âm ỉ từ lâu. Một làn khói trắng mù mịt bắt đầu bốc lên từ mấy chiếc lá xanh khô giòn. Ngay sau đó, một tiếng răng rắc điếc tai như tiếng súng vang lên, khiến Teddy từ xưởng phía sau chạy vội đến. Anh đứng lại nơi cửa. Từ biểu cảm trên mặt anh, Greta có thể đọc được câu hỏi: Em đang làm cái gì vậy? Và rồi, hai người cùng nhìn ngọn lửa bùng lên từ vòng hoa đang bốc khói nghi ngút; một giây sau, ngọn lửa với tay ra và đốt cháy chiếc ghế lắc lư làm bằng gỗ liễu gai. 
Ngay tức khắc căn phòng bốc cháy dữ dội. Teddy kéo Greta ra ngoài phố Colorado. Họ đứng ngoài lề đường chưa được mấy giây thì nắm đấm mạnh mẽ của ngọn lửa đập tan dãy cửa sổ lắp kính. Greta và Teddy lùi xuống lòng đường, đứng ngay giữa làn xe chạy. Mấy người tài xế liếc mắt nhìn, miệng tròn thành hình chữ O, còn lũ ngựa chồm lên nhảy ra khỏi tòa nhà đang bốc cháy và mấy chiếc ô tô nghiêng ngả.
Tất cả những lời Greta định nói đều có vẻ không ổn, khi ngọn lửa dâng cao quá trụ đèn đường và đường dây điện thoại vốn hay võng xuống do sức nặng của bọn chim giẻ cùi lam, cô tự nhủ một lời xin lỗi nghe thật sáo rỗng. Đúng là một cảnh tượng kinh hoàng, vậy mà Greta chẳng biết nói gì hơn ngoài câu: "Mình đã làm gì thế này?"
Teddy an ủi, "Anh lúc nào cũng có thể làm lại từ đầu mà." Trong xưởng gốm, hàng trăm lọ hoa và gạch men, hai lò nung, một ngăn đựng hồ sơ chứa đầy đơn đặt hàng và còn cuộc sống của một người thợ làm gốm tự thân lập nghiệp đã rạn nứt, nổ tung và vỡ tan thành từng mảnh đen thui. Lời xin lỗi sáo rỗng vẫn kẹt trong miệng Greta. Lời xin lỗi như bị dán chặt vào lưỡi cô như một viên đá không bao giờ tan chảy. Suốt vài phút liền, cô không nói nên lời, mãi đến khi mái nhà sập xuống, bùng cháy như tấm chăn bị thiêu rụi trong lửa.
"Em không cố ý đâu." Cô tự hỏi liệu Teddy có tin lời mình không. Khi tay phóng viên của tờ American Weekly đến hiện trường cùng mấy cây bút chì nhét trong băng vải cố định tay áo, Greta tự hỏi liệu có ai ở tại thành phố Pasadena này sẽ tin lời cô.
"Anh biết," Teddy an ủi cô hết lần này đến lần khác. Họ quan sát ngọn lửa đốt trụi bức tường phía trước. Họ nhìn chằm chằm vào những người lính cứu hỏa kéo lê cái ống nước phẳng lì, ủ rũ. Greta và Teddy đứng nhìn trân trối, mãi cho tới khi một tiếng khùng khục ẩm ướt dâng lên trong họng anh, tiếp đó là cơn ho thoát ra khỏi môi anh như báo hiệu điềm xấu.

  Chú thích:
(1) Phong cách Mission: Một phong cách nghệ thuật và sáng tạo được bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 tại Châu Mỹ.
 

 
 
CHƯƠNG CHÍN
 
 
Khi Einar hỏi Greta về cuộc gặp gỡ ấy, cô kể lại toàn những điều anh không tài nào nhớ nổi.
"Ý anh là anh quên hết rồi?" cô thắc mắc vào sáng hôm sau. "Anh quên là mình hẹn gặp anh ấy lần sau?"
Einar chỉ nhớ vài chuyện về đêm qua. Khi Greta kể lại việc Lili đã nhón chân hôn Hans chúc ngủ ngon, anh xấu hổ đến mức chỉ biết kéo chiếc ghế dây kim loại ra ngoài hiên, rồi nhìn chằm chằm vào hàng cây chanh trong công viên gần cả tiếng đồng hồ. Chuyện như không tưởng. Cứ như anh chưa bao giờ xuất hiện ở đó.
"Anh ấy tỏ ra rất vui khi gặp Lili. Và anh ấy kể về Einar một cách hết sức trìu mến. Anh ấy không chờ được để gặp lại anh. Anh có nhớ chuyện đó không?" Greta chất vấn. Cô chẳng hề có một giấc ngủ ngon. Đôi mắt trũng sâu trong hốc mắt. "Anh hứa với anh ấy là có thể gặp lại Lili hôm nay."
"Người đó không phải là anh," Einar phản bác. "Người đó là Lili."
"Phải," Greta cao giọng. "Người đó là Lili. Em cứ quên mãi."
"Nếu em không muốn cô ấy đến thăm chúng ta, tại sao em không nói thẳng ra?"
"Tất nhiên là em muốn Lili đến chơi. Chỉ là..." Greta ngập ngừng một chút. "Chỉ là em không biết anh muốn em đối xử với cô ấy như thế nào." Cô duỗi người trên ghế sofa và bắt đầu chọc tay vào mấy con bào ngư khảm trên tấm bình phong kiểu Trung Hoa.
"Em chẳng phải làm gì cả," Einar đáp lại. "Em không hiểu sao?"
Anh tự hỏi vì sao Greta chẳng để cho Lili tự do đi về mà không lo lắng quá mức. Nếu anh không thấy bực bội, thì sao Greta phải lo âu? Ước gì cô ấy sẽ yên lặng chào đón Lili khi vẽ chân dung. Ước gì Greta đừng xoi mói bằng những lời chất vấn kia - đấy là chưa nói đến ánh mắt của cô ấy - mỗi khi Lili lẻn ra rồi lẻn vào căn hộ. Thỉnh thoảng, chỉ cần biết Greta đang ở bên kia cánh cửa đang chờ Lili về nhà, cũng đủ để chút mồ hôi thịnh nộ rịn ra trong cái hõm dưới cánh tay cô.
Tuy vậy, Einar biết rõ mình cũng như Lili đều cần Greta.
Hans đang mong Lili đến vào lúc bốn giờ. Họ hẹn gặp nhau trước sòng bạc thành phố trên đường Promenade du Midi phía sau bờ biển trải đầy đá. Sáng hôm đó, Greta vẫn đang vẽ với trong phòng khách. Einar cố gắng vẽ trên hành lang, nơi nhìn ra nhà thờ St, Michel với những viên đá chỗ đen tuyền chỗ đỏ rực dưới bóng nắng buổi sáng. Cứ khoảng mười lăm phút Greta lại lầm bầm "Quỷ tha ma bắt." - đều đặn như tiếng chuông nhỏ báo hiệu mười lăm phút vang lên từ cái đồng hồ gắn trên lò sưởi.
Khi anh đến xem thử Greta có làm sao không thì cô đang dưa lưng vào chiếc ghế đẩu. Vài vệt xanh dương lấm tấm trên viền khung vải. Trong lòng cô là tập tranh phác thảo, lem luốc và dính đầy muội than. Con Edvard IV vẫn đang cuộn tròn dưới chân cô. Greta ngước lên, mặt cô trắng bệch như màu lông của con Edvard. "Em muốn vẽ Lili," cô lên tiếng.
"Còn lâu lắm cô ấy mới rời khỏi đây," Einar nói. "Cô ấy không rời khỏi nhà sớm vì đã hẹn với Hans lúc bốn giờ. Hay là để sau đó đi?"
"Làm ơn hãy mang cô ấy đến đây." Greta không dám nhìn thẳng vào anh, giọng cô trầm lắng hơn thường ngày.
Vào lúc ấy, Einar cảm thấy mình muốn mặc kệ cô. Anh còn phải hoàn tất bức tranh của mình. Anh tự nhủ với lòng rằng chỉ gọi Lili đến vào buổi chiều, để dành nguyên buổi sáng cho việc sáng tác vốn đã bị anh bỏ bê suốt thời gian gần đây, rồi đến khu chợ ngoài trời để mua sắm vật dụng thường ngày. Nhưng ngay lúc này, Greta muốn anh chọn giữa Lili và bản thân anh. Greta muốn anh hy sinh tranh của mình vì bức vẽ của cô ấy. Anh không muốn làm thế. Ngay lúc này, anh không hề khao khát Lili. Anh cảm giác như Greta đang ép mình phải chọn lựa. "Em có thể dành một tiếng đồng hồ với cô ấy trước khi Hans đến đây, được không?"
"Einar," Greta nài nỉ. "Làm ơn đi mà."
Trong chiếc tủ nhỏ đặt trong phòng ngủ có treo vài chiếc váy thường ngày. Greta khăng khăng bảo chúng quá xấu xí, kiểu dáng chỉ hợp với mấy cô bảo mẫu, nhưng Einar thấy trang phục đơn giản như vậy lại rất xinh xắn, người phụ nữ bình thường nhất trên thế gian cũng có thể mặc được. Anh lướt tay qua hàng móc áo treo trên ống chì, mân mê từng chiếc cổ áo nhỏ nhắn được hồ tinh bột cứng ngắc. Chiếc váy in hình hoa mẫu đơn trông thật mỏng manh làm sao; chiếc váy in hình ếch thì cổ áo lại quá rộng và còn dính bẩn. Thời tiết sáng nay ấm áp, và Einar kéo tay áo chùi môi. Có điều gì đó khiến anh cảm thấy tâm hồn mình đang bị cầm tù trong một chiếc lồng rèn bằng thép: nơi phập phồng trên trái tim anh luôn ép mạnh vào xương sườn, sâu thẳm trong anh là Lili đang khích động, vùng vẫy để thức tỉnh rồi va chạm vào trong sắt nhà tù trong cơ thể của Einar.
Anh chọn lấy một chiếc váy màu trắng tinh với hoa văn vỏ ốc xà cừ màu hồng. Tà váy phủ đến bắp chân anh. Chiếc váy màu trắng pha hồng tôn lên đôi chân xinh xắn hơi ngã màu do ánh nắng trên đất Pháp.
Chiếc khóa cửa hồng đang gắn hờ trên cổ. Anh nghĩ đến việc khóa cửa, nhưng lại biết rõ Greta không bao giờ bước vào mà không gõ cửa trước. Một lần nọ, lúc hai người mới kết hôn, Greta xồng xộc bước vào khi Einar đang nằm trong bồn tắm, khe khẽ hát khúc đồng dao: Ngày xửa ngày xưa có một ông già sống trên vũng lầy... Mọi chuyện lẽ ra rất bình thường, Einar biết rõ, người vợ trẻ bắt gặp chồng mình đang tắm, lại còn vui vẽ nghêu ngao hát một mình. Trong bồn tắm, Einar thấy được vẻ rạo rực trên mặt Greta. "Đừng dừng lại, cô nói rồi bước lại gần hơn. Nhưng Einar khó lòng tìm được sức lực để thở, anh cảm thấy vừa trần trụi vừa xấu hổ, cánh tay gầy guộc ôm lấy thân trên, tay duỗi ra như lá sung. Greta rốt cuộc cũng nhận ra là mình đã gây ra chuyện gì, nên cô rời khỏi phòng tắm và bảo: "Em xin lỗi, lẽ ra em nên gõ cửa trước."
Lúc này, Einar đã cởi hết quần áo, xoay lưng về phía tấm gương. Trong ngăn kéo của chiếc tủ đứng cạnh giường có một cuộn băng keo y tế màu trắng và chiếc kéo. Cuộn băng keo dinh dính và thô ráp như vải bạt. Einar kéo ra một đoạn và cắt thành năm miếng. Anh dán mỗi miếng lên cạnh giường. Sau đó nhắm nghiền hai mắt rồi cảm nhận bản thân mình trượt dài xuống đường hầm trong tâm hồn. Einar kéo dương vật xuống dưới và dán dính nó vào khoảng trống ngay dưới vùng kín.
Quần lót được làm từ chất liệu tổng hợp co giãn, Einar đoán chắc là do người Mỹ phát minh ra. "Không cần chi quá nhiều tiền để mua đồ lụa cho mấy thứ chỉ mặc một hai lần," Greta giải thích, trao hộp đựng cho anh, và Einar quá ngại ngùng để phản đối.
Quần lót hình tứ giác có màu bạc như xà cừ khảm trên tấm bình phong. Đai nịt bít tất bằng vải cotton viền ren mỏng. Có tám cái móc nhỏ bằng đồng thau để giữ chặt đôi tất lụa, và Einar vẫn cảm thấy cơ thể này phức tạp đến ly kỳ. Khi hột bơ bọc trong khăn tay bắt đầu hư thối, anh đã thay thế chúng bằng cách nhét hai miếng bọt biển Địa Trung Hải vào phần nhô ra trên áo lót hai dây.
Sau đó, anh tròng váy đầm qua đầu.
Anh bắt đầu cảm thấy hộp đựng đồ trang điểm thật giống như bảng màu. Quét vài cọ cho lông mày. Nhẹ tay dặm thêm chút màu cho mi mắt. Đi nét cho viền môi. Phết màu trộn lên má. Mọi thứ giống hệt như hội họa - như dùng cọ vẽ lên khung vải để tạo ra cảnh mùa Đông trên biển Kattergat.
Trang phục và phấn hồng đều quan trọng, nhưng quá trình biến thân chỉ thật sự diễn ra khi trượt xuống đường hầm sâu thẳm, trong âm thanh nghe như chuông báo hiệu bữa tối, và cứ thế Lili tỉnh giấc. Cô ấy luôn yêu thích tiếng pha lê kêu leng keng. Sự biến đổi chỉ xảy ra khi leo ra khỏi nơi đó, bàn tay ướt đẫm của cô níu chặt tay Einar, yên rằng thế giới tươi sáng tràn ngập âm sắc này thuộc về chính cô.
Einar ngồi trên giường, anh nhắm mắt lại. Đường phố tràn ngập tiếng gầm gừ của mấy chiếc ô tô. Cánh cửa trước hiên bị gió thổi đập cành cạch. Dưới mí mắt, anh lặng ngắm những vệt màu sáng lên giữa phông nền đen tối như pháo hoa nở rộ trên cảng Menton vào thứ Bảy tuần trước. Anh có thể nghe thấy tim mình đập chậm dần. Anh có thể cảm nhận miếng băng dính cố định lấy dương vật mình. Một luồng khí run rẩy vì kích động dâng lên từ cổ họng Einar. Anh thở dốc, da sởn gai ốc từ hai cánh tay xuống từng đốt sống lưng.
Sau cái rùng mình, anh đã trở thành Lili. Einar đã rời đi. Còn Lili sẽ làm mẫu cho Greta suốt cả buổi sáng. Cô ấy sẽ dạo quanh bến cảng với Hans, khẽ nâng tay che bớt mặt trời tháng Tám. Einar chỉ là một người thứ ba được nhắc đến trong đoạn đối thoại: "Anh ấy hơi nhớ làng Bluetooth," Lili kể, cả thế giới sẽ lắng nghe.
Một lần nữa, lại có hai linh hồn cùng tồn tại. Quả óc chó bị chia làm hai nửa, con hàu bị tách ra.
Lili quay lại phòng khách. "Cảm ơn chị vì đã nhanh chóng đến đây," Greta nói. Cô nói năng với Lili cực kỳ nhỏ nhẹ như sợ cô ấy sẽ tan vỡ nếu nghe ngữ điệu gay gắt. "Ngồi ở đây," Greta bảo, đập đập làm phồng mấy cái gối tựa trên ghế sofa. "Khoác một tay trên lưng ghế sofa, và giữ cho đầu quay về tấm bình phong."
Buổi làm mẫu tiêu tốn hết thời gian còn lại của buổi sáng và còn kéo sang tận chiều. Ngồi trên góc sofa, Lili nhìn chằm chằm vào cảnh trang trí bằng vỏ xà cừ trên bình phong. Cô cảm thấy đói bụng nhưng tự nhủ rằng hãy mặc kệ nó. Nếu Greta chưa ngừng tay, thì cô cũng không dừng lại. Cô làm việc này là vì Greta. Đó là món quà dành tặng Greta, là điều duy nhất Lili có thể dâng tặng cho cô ấy. Cô phải kiên nhẫn. Cô phải chờ cho đến khi Greta bảo mình phải làm gì tiếp theo.
Chiều muộn ngày hôm ấy, Hans và Lili cùng nhau đi tản bộ quanh phố phường ở Menton. Họ dừng chân trước gian hàng bán xà phòng hương chanh, mấy bức tượng nhỏ khắc từ gỗ cây olive và hộp quả sung tẩm đường. Hai người trò chuyện về Jutland, về bầu trời xám xịt và mặt đất bị giày xéo bởi lũ gia súc, về những gia đình định cư mãi một chỗ suốt bốn trăm năm, con cái họ kết hôn với nhau, dòng máu trộn lẫn đặc quánh và đầy tạp chất. Khi cha anh qua đời, Hans trở thành Nam tước Axgil, mặc dù anh căm ghét cái tước hiệu đó. "Đó là lý do anh rời khỏi Đan Mạch," anh tâm sự. "Tầng lớp quý tộc đã suy tàn. Nếu anh có chị em gái, anh chắc rằng mẹ sẽ muốn anh kết hôn với cô ấy."
"Anh đã kết hôn chưa?"
"Anh e là chưa."
"Nhưng chẳng lẽ anh không muốn kết hôn à?"
"Anh đã từng muốn vậy, một lần duy nhất. Ngày xưa, anh đã từng kết hôn với một cô gái."
"Chuyện gì đã xảy ra với cô ấy?"
"Cô ấy đã qua đời. Chết đuối dưới sông," và sau đó anh tiếp lời. "Ngay trước mắt anh."
Hans trả tiền cho cụ già để lấy một hộp xà phòng hương quýt. "Nhưng chuyện cũng lâu lắm rồi. Hồi ấy, anh vẫn còn là một cậu bé chưa trưởng thành."
Lili chẳng biết nói gì thêm. Cô đứng đó, trong bộ váy đầm thường ngày, trên con phố nồng nặc mùi nước tiểu, bên cạnh Hans.
"Sao em không kết hôn?" anh tò mò. "Anh cứ nghĩ một cô gái như em ắt hẳn phải kết hôn và quản lý một trang trại nuôi cá."
"Em không muốn làm chủ một trang trại nuôi cá." Cô ngước mắt nhìn lên trời. Bầu trời mới trong trẻo và tẻ nhạt làm sao, không hề có một đám mây, lại còn không xanh bằng bầu trời Đan Mạch. Mặt trời vẫn còn chiều gay gắt trên đầu Lili và Hans. "Còn lâu lắm em mới sẵn sàng để kết hôn. Nhưng em muốn kết hôn vào một ngày nào đó."
Hans dừng lại trước cửa hàng đang mở cửa để mua tặng Lili một lọ tinh dầu cam. "Nhưng thời gian của em đâu phải là vô tận," anh bảo. "Em bao nhiêu tuổi rồi?"
Lili bao nhiêu tuổi? Cô ấy nhỏ tuổi hơn Einar, vốn gần ba mươi lăm tuổi. Khi Lili xuất hiện và Einar rời đi, nhiều dấu hiệu tuổi tác đã lu mờ: dấu hiệu tuổi tác đã để lại vết nhăn trên trán và làm đôi vai chùng xuống; dấu hiệu tuổi tác đã khiến Einar càng lúc càng im lặng vì cam chịu. Dáng vẻ của Lili là điểm đầu tiên khiến người ta phải để ý, một sự dẻo dai đầy sức sống. Điểm thứ hai là chất giọng nhỏ nhẹ hiếm thấy của cô. Điểm thứ ba - theo Greta bảo là mùi hương của một cô gái chưa hề già đi.
"Em không nói được."
"Em không giống kiểu con gái rụt rè đến mức không dám thú nhận tuổi tác của mình," Hans trêu đùa.
"Em không phải," Lili nói. "Em hai mươi bốn tuổi."
Hans gật gù. Đó là chuyện bịa đặt đầu tiên về Lili. Khi nói ra, Lili cứ nghĩ là mình sẽ cảm thấy tội lỗi vì lời nói dối. Nhưng ngược lại, cô cảm thấy thông suốt hơn, cứ như rốt cuộc cũng đã thừa nhận một sự thật khó chấp nhận. Lili hai mươi bốn tuổi; cô chắc chắn là không già như Einar. Nếu nói vậy, Hans có lẽ sẽ nghĩ cô là một kẻ lừa đảo kỳ quái.
Hans trả tiền cho người bán hàng. Chiếc lọ hình vuông, và có màu nâu, còn nút bấc chẳng to hơn đầu ngón tay út của Lili là mấy. Cô thử mở nút ra, nhưng không tài nào khiến nó nhút nhích. "Giúp em nhé?" Lili năn nỉ.
"Em không phải là vô dụng như vậy chứ," Hans đùa giỡn. "Thử giật mạnh một cái nữa xem."
Và Lili đã làm thế, và lần này nút bấc bé xíu đã bật mở, và mùi cam lan đến mũi cô. Mùi hương làm cô nhớ đến Greta.
"Vì sao anh không nhớ được em lúc anh còn là một cậu bé nhỉ?" Hans thắc mắc.
"Lúc em còn bé xíu thì anh đã rời khỏi Bluetooth rồi."
"Anh nghĩ chắc là vậy. Nhưng Einar chưa bao giờ kể rằng anh ấy có một cô em họ xinh xắn thế này."
Khi quay về căn hộ, Lili thấy Greta vẫn đang ngồi trong phòng khách. "Ơn Chúa vì chị đã trở lại," cô reo lên. "Tối nay em muốn vẽ thêm tí nữa." Greta đưa Lili đến bên ghế sofa. Trên tay Lili vẫn còn đang cầm hộp xà phòng và tinh dầu cam. Cô để Lili dựa vào gối tựa, và những ngón tay cô vịn vào đầu Lili như một cái kẹp nhiều răng, chỉnh đầu cô ấy hướng về tấm bình phong kiểu Trung Hoa.
"Chị mệt lắm," Lili rên rỉ.
"Vậy thì ngủ đi," Greta đáp lại, áo khoác của cô lấm lem những vệt màu hồng và bạc. "Chỉ cần gối đầu chị lên cánh tay. Em sẽ tiếp tục vẽ thêm chút nữa."
Chiều hôm sau, Hans đón Lili trước căn hộ. Một lần nữa, họ cùng nhau tản bộ dọc những con phố hẹp uốn lượn quanh sườn đồi St-Michel, rồi rảo bước xuống cảng xem ngư dân phân loại mẻ nhím biển vừa bắt được. Cuối tháng Tám, thời tiết ở Menton vẫn còn khá nóng bức, không khí vừa ẩm vừa lặng gió. Lili nghĩ trời còn nóng hơn những ngày oi bức nhất ở Copenhagen. Có lẽ vì chưa bao giờ cảm nhận được cái nóng như vậy - dù sao thì chuyến đi này cũng là lần đầu tiên Lili đi du lịch ngoài phạm vi Đan Mạch - cô thấy thời tiết làm mình kiệt sức. Cô có thể cảm thấy chiếc váy thường ngày dính sát vào lưng khi đứng cạnh Hans để ngắm những mẻ lưới chứa đầy nhím biển. Cơ thể Hans áp sát đến mức cô nghĩ có phải bàn tay anh vừa đặt lên cánh tay đang đỏ bừng dưới ánh nắng của mình hay không. Đó là bàn tay của anh ấy, hay là thứ gì khác? Chẳng hạn như một luồng gió nóng.
Hai đứa bé người Gypsy, một trai một gái, tiến lại gần Lili và Hans, cố nài nỉ hai người mua một con voi chạm khắc nhỏ xíu. "Bằng ngà voi thật đấy," chúng cam đoan, chỉ tay vào phần ngà voi. "Món hời cho hai người đấy." Hai đứa bé nhỏ thó với quầng mắt đen thẫm. Nhưng cách chúng nhìn chằm chằm vào Lili làm cô cảm thấy bất an.
"Đi nào," cô gọi Hans, người đã đưa tay đỡ tấm lưng nhỏ nhắn vừa nóng, vừa đẫm mồ hôi của cô và dắt cô sang chỗ khác. "Em nghĩ, em cần ngồi nghỉ một lúc."
Nhưng khi Lili về nhà, Greta vẫn đang chờ cô. Greta tạo dáng cho Lili ngay trước giá vẽ, để cô ngồi trên sofa. "Ngồi yên nhé," Greta bảo. "Em chưa vẽ xong đâu."
Ngày hôm sau, Hans lái xe chở Lili đi dọc theo con đường ngoằn ngoèo dẫn đến khu Villefranche, chiếc xe hiệu Targe Florio ủi mấy viên đá vôi vỏ sò thẳng xuống biển. "Lần sau đừng để Einar ở lại Đan Mạch!" anh hét lên, giọng vẫn ồm ồm như hồi còn bé. "Ngay cả ông bạn già Einar cũng cần phải nghỉ ngơi chứ!" Làn gió ấm áp thổi qua mặt Lili, và vào lúc chiều muộn cô lại thấy bụng dạ mình cồn cào. Hans phải thuê một căn phòng trong khách sạn De l'Univers cho Lili nghỉ tạm. "Anh chỉ xuống lầu làm một tách cà phê và một ly rượu anisette thôi," anh cam đoan, nghiêng mũ chào cô. Sau đó, khi mới ló đầu ra khỏi căn phòng nhò, Lili bắt gặp Hans đang đứng ở đại sảnh nhà hàng De la Regence. Cô như nửa tỉnh nửa mê và mơ màng lên tiếng, "Thỉnh thoảng em cũng chẳng biết em bị làm sao nữa."
Vào một chuyến đi chơi khác, Hans và Lili cùng nhau lái xe lên thành phố Nice để mua vài bức tranh tại mấy gian hàng đồ cổ. "Vì sao Greta không muốn đi cùng chúng ta nhì?" Hans hỏi thăm. "Em đoán là chị ấy quá bận rộn với hội họa," Lili trả lời. "Chị ấy chăm chỉ hơn bất kỳ ai mà em từng biết. Thậm chí còn chăm chỉ hơn Einar. Một ngày nào đó, chị ấy sẽ trở nên nổi tiếng. Anh cứ chờ mà xem." Khi khăng khăng như thế, Lili có thể cảm nhận được ánh mắt của Hans chiếu lên người mình. Và cô cảm thấy thật là tuyệt khi một người đàn ông như Hans để tâm đến nhận định của mình. Trong gian hàng được coi sóc bởi một người phụ nữ có mấy cọng lông trắng mọc ở trên cằm, Lili tìm thấy bức chân dung hình oval của một người đàn ông trẻ tuổi đã qua đời, màu má anh ta trông thật kỳ quặc còn hai mắt thì nhắm nghiền. Cô mua bức tranh với giá mười lăm Franc, và Hans ngay lập tức mua lại từ tay cô với giá ba mươi Franc. Anh hỏi: "Hôm nay anh khỏe hẳn rồi chứ?"
Ngày nào cũng vậy, trước khi ra ngoài với Hans, Lili đều làm mẫu cho Greta trên ghế sofa. Cô cầm trên tay một quyển sách giới thiệu các loài chim ở Pháp, hoặc để con Edvard IV nằm trong lòng mình, bởi vì nếu không có gì để nắm giữ thì bàn tay cô sẽ run lên vì lo lắng. Nếu bỏ qua tiếng ồn ào ngoài phố thì căn hộ khá yên tĩnh, và chiếc đồng hồ gắn trên lò sưởi tích tắc chậm đến mức chiều nào cũng vậy, Lili sẽ đứng dậy ít nhất một lần để kiểm tra xem đồng hồ lên dây chưa. Sau đó, cô sẽ gối đầu mình lên lan can ngoài hiên rồi ngồi chờ cho đến khi Hans đến gọi cửa. Anh ấy sẽ đứng ngay ngoài phố và hét lên: "Lili! Nhanh lên, xuống đây nào!", rồi cô sẽ chạy như bay xuống bảy tầng cầu thang lắp gạch men, thiếu kiên nhẫn đến mức không chờ được thang máy.
Nhưng trước khi anh đến, Greta sẽ vỗ hai tay vào nhau và dõng dạc ra lệnh: "Cứ như vậy! Giữ gương mặt như vậy, đúng như em muốn. Lili đang chờ đợi, chờ đợi Hans."
Một ngày nọ, Lili và Hans đang ngồi tại quán cà phê ngoài trời dưới chân cầu thang dẫn lên nhà thờ St-Michel. Năm, sáu đứa trẻ người Gypsy, áo quần lấm lem, chạy đến bàn hai người chào bán bưu thiếp, những tấm ảnh chụp bờ biển Cote được đánh bóng bằng bút chì màu. Hans mua một bộ tặng Lili.
Không khí đặc quánh, mặt trời nóng hầm hập trên cổ Lili. Bia trong ly của cô ngả sang màu nâu. Một tuần với những buổi chiều đi chơi cùng Hans bắt đầu khiến Lili trông đợi thật nhiều, và cô tự hỏi Hans nghĩ gì về mình. Hans đã tản bộ dọc theo con đường ven biển cùng Lili; anh đã để cô khoác tay mình; Hans, với tiếng cười trầm thấp và chiếc áo vải lanh căn phồng, với làn da nâu sẫm màu trong nắng tháng tám, với biệt danh Valnod bị lãng quên từ lâu, đã hiểu rõ về Lili, chứ không phải Einar. Hans chưa hề gặp lại Einar từ khi hai đứa còn bé tí. Lili, chứ không phải Einar mới là người cảm nhận những đầu ngón tay thô ráp của Hans trên da mình.
"Em rất vui vì được gặp anh," cô nói.
"Anh cũng vậy."
"Rất vui vì chúng ta đã có dịp biết rõ hơn về nhau, theo cách này."
Hans gật gù đồng ý. Anh đang xem qua tập bưu thiếp, giơ lên vài tấm mà anh thích nhất - tấm bưu thiếp chụp sòng bạc thành phố, vườn cam quýt dưới đồi - để Lili thẩm định. "À phải, Lili à, em là một cô gái tuyệt vời. Một ngày nào đó, em sẽ làm một chàng trai cực kỳ hạnh phúc."
Sau đó, Hans có lẽ chợt nhận ra Lili đang nghĩ gì, vì anh bỏ điếu xì gà và tập bưu thiếp xuống, rồi hỏi cô, "Lili à, em có từng nghĩ là chúng ta... có thể? Nếu vậy thì anh xin lỗi. Chỉ là anh quá lớn tuổi so với em, Lili à. Anh đã trở thành một gã đàn ông quá bẳn tính so với người như em."
Hans bắt đầu kể với Lili về cô gái anh yêu nhất và đánh mất. Anh tâm sự rằng mẹ anh bảo anh đừng bao giờ quay về Bluetooth khi Ingrid - chuyện xảy ra từ rất lâu rồi - có thai. Hai người định cư ở Paris, sống cùng nhau trong một căn hộ trang trí bằng giấy dán tường nhìn qua điện Pantheon. Cô ấy gầy trơ xương ngoại trừ phần bụng đang to ra, còn hai cánh tay đầy tàn nhang. Hans hồi tưởng, gật gù hướng mắt nhìn lên trời. Họ đi bơi vào một buổi chiều tháng tám, không giống hôm nay. Con sông trải đầy sỏi trắng và có vài chiếc là ngả vàng rơi rải rác. Ingrid lội vào dòng nước, cánh tay cô mất thăng bằng. Hans đang nhìn cô từ bên bờ sông, ngấu nghiến một miếng thịt giăm bông. Rồi Ingrid bị trẹo chân, cô hét lên, sau đó một dòng nước xoáy kéo cô xuống. "Anh không cứu kịp cô ấy," Hans kể lại.
Nếu không tính đến thảm kịch ấy thì cuộc đời anh vốn luôn êm ả. "Bởi vì anh đã rời khỏi Đan Mạch," anh giải thích. "Cuộc sống ở đó quá ngăn nắp và khuôn phép với anh. Quá thoải mái." Greta thỉnh thoảng cũng nói vậy mỗi khi không vẽ được và bạn bè mời họ đến dự tiệc. "Quá thoải mái để làm việc," cô càm ràm, lắc lắc vòng tay bạc. "Quá thoải mái để được tự do."
"Và bây giờ thì anh đã quá quen với chuyện một thân một mình đến mức anh cũng không biết mình có thể kết hôn không nữa. Anh đã lúc quá sâu vào lối suy nghĩ cổ hủ của mình rồi."
"Anh không nghĩ hôn nhân là thứ duy nhất trên đời khiến tất cả chúng ta hy vọng sao? Không phải hôn nhân làm anh toàn vẹn hơn so với cuộc sống độc thân sao?"
"Không phải lúc nào cũng vậy?"
"Em lại nghĩ thế. Hôn nhân như một người thứ ba," Lili nói. "Nó tạo ra một người khác, một người trọn vẹn hơn so với hai người trong hôn nhân."
"Đúng vậy, nhưng không phải lúc nào nó cũng dẫn đến điều tốt đẹp nhất," Hans đáp lời. "Dù sao đi nữa, làm sao em biết được về mấy chuyện như thế này chứ?"
Ngay lúc này, có thứ gì đó mách bảo Lili phải kiểm tra ví tiền. Bàn tay cô cảm nhận được sự trống trải sau lưng ghế bằng sắt. "Mất rồi," cô thì thào nhỏ đến mức Hans phải ngẩng lên và lẩm bẩm, "Chuyện gì cơ?" Cô lặp lại, "Ví tiền của em mất rồi."
"Lũ nhóc người Gypsy," Hans gầm lên rồi đứng dậy. Quán cà phê nằm trong khuôn viên hình vuông có tới sáu con hẻm dẫn vào. Hans chạy xuống một con hẻm và nhận ra lũ nhóc người Gypsy không có ở đó, sau đó anh lại chạy sang ngõ khác, mặt anh đỏ bừng lên.
"Báo cảnh sát đi," rốt cuộc thì anh cũng lên tiếng, để lại vài đồng Franc trên bàn. Anh nhắc nhở một người phụ nữ đang treo túi xách kiểu rút dây trên ghế ngồi. Anh kéo tay Lili. Anh chắc phải thấy vẻ trắng bệch trên má cô, vì anh hôn lên đấy, rất dịu dàng.
Trong ví tiền chỉ có ít tiền và một cây son môi. Chiếc ví là của Greta, một chiếc túi con màu kem với quai xách cong cong. Ngoại trừ cây son môi, vài chiếc váy đầm, hai đôi giày và quần áo lót, Lili chẳng sở hữu thứ gì khác. Cô chẳng sở hữu bất kỳ hiện vật gì, và điều đó hấp dẫn Lili trong những ngày đầu tiên - cô có thể đến rồi đi, chẳng phải lo lắng gì ngoại trừ việc gió thổi tốc tà váy.
Đồn cảnh sát nằm trên quảng trường với khu vườn nhỏ trồng cam ở giữa. Ráng chiều phản chiếu lên cửa sổ phía trước đồn cảnh sát, và Lili có thể nghe thấy tiếng lách cách hạ cửa kéo xuống từ mấy người chủ tiệm. Lili nhớ ra kính mát của cô cũng nằm trong ví, một cặp kính ngộ nghỉnh với tròng kính bật lên do cha Greta gởi từ California. Greta chắc sẽ tức giận lắm nếu biết chúng bị mất, vì Lili chẳng chịu chú ý đến ai hoặc chuyện gì đang xảy ra chung quanh; và ngay đúng lúc này, đúng lúc Hans và Lili bước gần đến bậc thềm của đồn cảnh sát, nơi gia đình nhà mèo lem luốc đang duỗi lưng uốn éo, Lili chợt nhận ra cô có thể không báo cảnh sát về vụ trộm ví tiền. Cô khựng lại trên bậc thang.
Lili không hề có giấy tờ tùy thân, cô không có hộ chiếu; vì sao - và chuyện này chưa từng xảy ra với cô, thậm chí chưa ai buồn thắc mắc về việc - cô thậm chí chẳng có họ.
"Đừng làm to chuyện," cô nói. "Dù sao thì cũng chỉ là một cái ví vớ vẩn cũ mèm rồi.
"Vậy thì em chẳng bao giờ lấy lại được."
"Nhưng so ra thì chẳng đáng với những rắc rối," cô phân trần. "Và Greta còn đang đợi em. Em chợt nhận ra muộn mất rồi. Em chắc là Greta đang chờ em về. Tối nay em ấy muốn vẽ tranh."
"Cô ấy sẽ thông cảm mà."
"Có điều gì đó mách bảo rằng Greta muốn gặp em ngay bây giờ," Lili giải thích. "Em chỉ là cảm thấy có gì đó kỳ quái thôi."
"Thôi nào. Vào trong đi." Hans nắm lấy cổ tay Lili. Kéo tay cô bước lên bậc thềm đầu tiên. Anh vẫn hay đùa nghịch theo kiểu ra lệnh. Anh giật mạnh lần nữa, và lần này sức lực trên cổ tay làm cô cảm thấy đau nhói, mặc dù cũng chẳng đau hơn một cái bắt tay mạnh bạo là mấy.
Và ngay lúc đó - vì sao cô không bao giờ biết - điều gì đó thúc giục Lili và Hans nhìn xuống phía trước tà váy của cô. Một vệt máu tròn lan rộng trên tà váy trắng có hoa văn vỏ ốc xà cừ, màu máu đỏ thẫm đến mức nhìn như màu đen. Vệt máu lan rộng như làn sóng được tạo ra khi ném một viên sỏi vào mặt ao.
"Lili, em không bị thương chứ?"
"Không, không," cô chối đây đẩy."Em ổn mà. Em không sao. Nhưng em nên về nhà. Về với Greta." Lili có thể cảm nhận bản thân mình đang co rúm lại, tuột xuống đường ống, quay về với hang sâu của Lili.
"Để anh giúp em. Anh nên làm gì để giúp em?"
Mỗi giây trôi qua, bóng hình Hans lại trở nên xa dần; giọng nói của anh nghe như vọng lại từ một ống sắt xám xịt. Chuyện xảy ra giống như đêm vũ hội ở tòa nhà Radhuset: máu chảy ồ ạt, nhưng cô chẳng có cảm giác gì. Cô còn chẳng biết máu chảy ra từ đâu. Cô vừa hoảng hốt, vừa kinh ngạc như một đứa trẻ vừa vô tình giết chết một con vật. Một giọng nói nho nhỏ réo trong đầu cô, "Nhanh lên nào!" -giọng nói gấp gáp nho nhỏ vừa hốt hoảng vừa thích thú như khi xem vở kịch ngắn vào buổi chiều tháng tám ở Menton. Lili bỏ rơi Hans trên bậc thềm dẫn đến đồn cảnh sát, ngay lập tức xoay người lẩn vào chỗ rẽ, bỏ trốn khỏi anh ấy như lũ nhóc người Gypsy đã trốn thoát khỏi cô, vết máu trên váy vẫn lan rộng từ từ và kinh hoàng như một đợt dịch bệnh.
 
 
 
CHƯƠNG MƯỜI
 
 
Phong cách mới của Greta là vẽ với những gam màu Pastel tươi sáng, đặc biệt là màu vàng, màu hồng kẹo ngọt và màu xanh băng tuyết. Cô vẫn trung thành với tranh chân dung. Cô vẫn sử dụng thuốc màu đựng trong những lọ thủy tinh với nút chai không đáng tin cậy từ hãng màu tận thành phố Munich. Những bức họa của cô trước kia thường nghiêm trang, đơn giản và trịnh trọng. Còn mấy bức tranh mới của cô, với vẻ vô tư và đầy màu sắc, theo lời Lili, trông giống kẹo bơ cứng. Những bức tranh ngoại cỡ khắc họa người mẫu, tính đến hiện tại thì hầu hết là Lili, ở ngoài trời, giữa cánh đồng anh túc, trong vườn chanh hay đối diện vùng đồi núi Provence.
Khi vẽ, Greta không nghĩ về bất kỳ điều gì, hay ít nhất là không cảm giác được gì: đầu óc và tâm trí cô nhẹ nhàng như màu sắc pha trên bảng màu. Điều này khiến cô nhớ đến cảm giác lái xe thẳng về phía mặt trời, và cảm thấy vẽ tranh cũng giống như mù quáng nhấn ga tiến về phía trước với một niềm tin tuyệt đối. Vào những ngày thăng hoa nhất, cảm giác hưng phấn sẽ dâng trào khắp nơi khi Greta loay hoay từ hộp màu qua khung vải, cứ như có một luồng sáng trong suốt đã chặn hết mọi thứ, ngoại trừ trí tưởng tượng của cô. Khi tác phẩm dần được hoàn thiện, khi từng nét cọ phát họa chính xác đường cong trên gương mặt Lili hay tái hiện lại chiều sâu trong đôi mắt đen huyền, một âm thanh xào xạc sẽ vang lên trong đầu Greta làm cô nhớ đến cảnh tượng cây tre đầy gai nhọn va chạm vào mấy quả cam mọc trong vườn của cha. Vẽ tranh cũng giống như thu hoạch trái cây: âm thanh nặng trịch thật vui tai khi quả cam rớt phịch xuống nền đất mùn vùng California.
Dù có đúng là như vậy thì Greta vô cùng ngạc nhiên vì sự đón nhận nồng nhiệt của mọi người đối với những bức tranh vẽ Lili tại Copenhagen mùa thu năm ấy. Rasmussen ngỏ lời muốn được trưng bày chúng trong phòng triển lãm khoảng hai tuần trong tháng mười. Bộ ba bức tranh Lili Thrice gốc ngay lập tức được bán ra sau một hồi giành giựt giữa một người Thụy Điển mang găng tay màu tím làm từ da lợn và một giáo sư trẻ tuổi đến từ Học viện Hoàng gia. Bức chân dung Lili ngủ trên ghế sofa được bán với giá hơn 250 Kroner; mặc dù không cao bằng giá tranh của Einar, nhưng khoảng cách giữa giá cả nay được rút ngắn hơn bao giờ hết.
"Em cần phải thấy Lili hàng ngày," Greta nói với anh. Cô bắt đầu cảm thấy nhớ Lili khi cô ấy không còn ở đây. Greta vẫn luôn thức dậy rất sớm, trước cả bình minh, trước khi tiếng còi hiệu của chuyến phà đầu tiên vang lên từ bên kia dãy phố. Mùa thu năm ấy, có những buổi sáng Greta dậy còn sớm hơn thế, khi căn hộ vẫn còn tối om đến mức không nhìn thấy bàn tay đang đưa ra trước mặt mình. Cô ngồi co ro trên giường, ngay cạnh cô là Einar đang ngủ say và dưới chân anh là con Edvard IV. Khi đang mờ mịt trong giấc ngủ, Greta sẽ tự hỏi Lili đâu rồi? Rồi cô nhanh chóng trèo xuống giường và bắt đầu tìm kiếm khắp căn hộ. Lili đi đâu mất rồi? Greta thắc mắc, lật tung những tấm vải tarpaulin trong phòng khách, mở toang cửa tủ quần áo màu xám tro. Và chỉ khi mở chốt cửa trước, trên môi vẫn lẩm bẩm cùng một câu hỏi vì lo lắng, Greta mới choàng tỉnh giấc khỏi màn sương mù dày đặc của giấc ngủ.
Một buổi sáng mùa thu năm ấy, Greta và Einar đang ở trong căn hộ. Đó là lần đầu tiên họ cần phải đốt lửa sưởi ấm tính từ hồi tháng tư. Lò sưởi gồm ba tầng được làm từ ba chiếc hộp sắt đen xì chồng lên cao tận bốn feet. Greta dí que diêm vào tờ giấy bọc mấy khúc gỗ bạch dương trong lò. Lửa bén lên, rồi đốt cháy lớp vỏ cây.
"Nhưng Lili không phải ngày nào cũng đến được," Einar lên tiếng phản đối. "Anh không nghĩ là em hiểu được phải đẩu Einar đi chỗ khác và mời Lili đến là chuyện khó khăn như thế nào. Nếu phải làm hàng ngày thì đúng là quá sức." Anh đang cố tròng vào người con Edvard IV một chiếc áo len đan kiểu vặn thừng vừa được vợ gã thủy thủ gởi đến. "Anh yêu chuyện đó. Anh yêu Lili. Nhưng chuyện này quá khó khăn."
"Em cần phải vẽ Lili hàng ngày," Greta nài nỉ. "Em cần sự giúp đỡ của anh."
Và sau đó, Einar làm ra một hàng động thật kỳ lạ: anh băng qua xưởng vẽ rồi hôn vào cổ Greta. Cô thường cho rằng sâu thẳm trong tâm hồn Einar là sự giá lạnh của đất Đan Mạch. Cô còn chẳng nhớ được lần cuối cùng chồng hôn mình ở những chỗ khác ngoài những lúc hôn lên môi lúc đêm khuya, khi tất cả đều tối om và vắng lặng, ngoại trừ tiếng những gã nát rượu lang thang thỉnh thoảng vẳng đến cửa nhà bác sĩ Moller bên kia phố.
Hiện tượng chảy máu mũi đã quay trở lại với Einar. Anh vẫn khỏe mạnh hoàn toàn sau vụ việc ở Menton, nhưng một ngày gần đây, anh lại phải ép mạnh khăn tay lên mũi mình. Greta lặng nhìn vết máu thấm qua lớp vải cotton. Chuyện này làm cô phiền muộn rồi nhớ đến những tháng cuối cùng bên Teddy Cross.
Nhưng hiện tượng chảy máu chợt đến rồi cũng chợt đi mà chẳng để lại dấu vết gì ngoại trừ hai lỗ mũi Einar vừa đau buốt vừa ửng đỏ.
Rồi vào giữa đêm tuần trước, khi đợt sương giá đầu tiên vừa đọng trên bậc cửa sổ, Greta và Einar yên lặng tận hưởng bữa tối. Greta vẫn mải mê phát thảo trên cuốn sổ tay khi đưa một nĩa đầy cá trích lên miệng. Einar thì đang mơ màng dùng muỗng khuấy đều ly cà phê, và theo nhận định của Greta chắc anh đang thả hồn mơ mộng tận đâu rồi. Cô ngước mắt lên khỏi bức phác thảo Lili đứng bên cột hoa. Bên kia mép bàn là Einar với khuôn mặt dần trở nên tái nhợt. Cả người anh đột nhiên cứng đờ. Anh rời khỏi bàn ăn, để lại một vệt máu đỏ trên ghế ngồi.
Suốt hai ngày sau đó, Greta cố gặng hỏi anh về việc chảy máu, về nguyên nhân và nguồn gốc, nhưng Einar vẫn xấu hổ không chịu trả lời. Cứ như cô đang tra tấn đánh đập anh, hai gò má anh cứ rung lên sau những tràn thắc mắc của cô. Greta hiểu Einar đang muốn giấu diếm chuyện đó bằng cách dùng giẻ rách lau sạch vết bẩn rồi ném xuống dòng kênh. Nhưng cô biết rõ. Cái mùi như than bùn vẫn còn rõ rành rành. Dạ dày anh vẫn đang rối loạn. Những miếng giẻ rách dính máu vẫn lủng lẳng trên cột đá dọc cây cầu bắc qua dòng kênh.
Một buổi sáng nọ, Greta đến bưu điện để gọi một cuộc điện thoại riêng. Khi cô quay về căn hộ, Lili đang nằm trên chiếc xe kéo màu đỏ mượn từ tổ đạo cụ của Nhà hát Hoàng gia. Chiếc váy dạ hội cũng là hàng đi mượn; một nữ ca sĩ giọng nữ cao sắp về hưu với chiếc cổ già nua xanh xao đầy gân guốc đã từng mặc nó khi đóng vai nhân vật Desdemona. Greta cho rằng có lẽ Lili chưa bao giờ biết cô ấy trông như thế nào. Nếu cô ấy biết thì chắc chẳng dám nằm với tư thế này, hai chân mở rộng, bàn chân đặt dưới sàn phòng, mắt cá chân vặn vẹo như người say rượu. Với miệng há to và lưỡi lè ra ngoài trông cô ấy giống như vừa mới xài morphine quá liều. Greta thích hình ảnh này mặc dù cô chưa từng lên kế hoạch cho nó. Einar đã thức suốt đêm qua vì một cơn đau dạ dày và Greta e rằng còn kèm theo chảy máu nữa.
"Em đã giúp chị đặt một cuộc hẹn," Greta lập tức thông báo với Lili.
"Cuộc hẹn gì cơ?" Lili bắt đầu thở dốc, ngực cô liên tục phập phồng.
"Hẹn với bác sĩ."
Lili ngồi bật dậy. Cô ấy trông thật hoảng hốt. Đó là một trong những lần hiếm hoi mà Greta có thể nhìn thấy đường nét của Einar hiện trên gương mặt của Lili: vệt ửng đỏ vì thẹn thùng trên hàng ria đột nhiên lan đến tận môi trên. "Chị không sao cả," Lili phản đối.
"Em không nói chị bị làm sao." Greta tiến đến gần chiếc xe kéo. Cô thắc lại sợi dây ruy băng bằng vải satin trên tay áo Lili. "Nhưng chị đang bị ốm," Greta nói, hai tay cô thọc vào hai túi đắp trên áo khoác, nơi cô vẫn nhét vài mẫu bút chì nham nhở, tấm hình Teddy Cross giữa sóng biển Santa Monica, một mẫu vải lấy từ chiếc váy đầm dính đầy máu mà Lili đã mặc khi quay về căn hộ thuê ở Menton và khóc gọi tên Hans. "Em lo về hiện tượng chảy máu."
Greta nhìn chằm chằm vào gương mặt Lili: gương mặt với từng góc cạnh rúm ró lại vì xấu hổ. Nhưng Greta biết đề cập đến vấn đề này là chuyện nên làm. "Chúng mình cần biết tại sao chuyện đó xảy ra. Nếu chị không cảm thấy bị tổn thương khi..." cô bắt đầu khuyên nhủ. Greta rùng mình, một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng cô. Trong khi tay vẫn mân mê những sợi ruy băng kết thành cổ áo của chiếc váy dạ hội, cô tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với cuộc hôn nhân này. Cô vừa muốn một người chồng. Cô vừa muốn Lili. "Ôi, Einar."
"Einar không có đây," Lili đáp lại.
"Làm ơn hãy nhắn với anh ấy là đến gặp em tại Ga Trung tâm để kịp chuyến tàu lúc 11:04 đến Rungsted," Greta nói. "Em sẽ đi tới cửa hàng tạp hóa."
Cô bước lại chỗ tủ quần áo để tìm một cái khăn quàng cổ.
"Nếu như Einar không quay về kịp lúc thì sao?" Lili do hỏi. "Nếu như chị không tìm được anh ấy trước lúc đó thì sao?"
"Anh ấy sẽ đến kịp." Và cô tiếp lời, "Chị có thấy khăn quàng cổ của em đâu không? Chiếc khăn màu xanh dương có viền màu vàng ấy?"
Lili nhìn xuống vạt váy. "Chị không rõ nữa."
"Chiếc khăn nằm trong tủ quần áo mà. Trong ngăn kéo của em. Chị có mượn nó không?"
"Chị nghĩ là chị đã để quên nó ở quán Café Axel," Lili trả lời. "Chị chắc là người ta sẽ giữ nó lại. Chị sẽ đến lấy lại ngay bây giờ." Và cô nói tiếp, "Greta, chị xin lỗi. Chị không lấy bất kỳ thứ khác. Chị không hề đụng vào thứ gì khác."
Greta cảm thấy một cơn giận dỗi tích tụ trên vai mình. Cô tự nhủ có chuyện gì đó không ổn, nhưng cô lại gạt ý nghĩ đó qua một bên. Không, cô sẽ không để chuyện mượn một chiếc khăn quàng cổ làm rối tung cuộc hôn nhân của mình. Bên cạnh đó, chẳng phải Greta đã bảo Lili cứ lấy bất cứ thứ gì cô ấy muốn hay sao? Chẳng phải Greta muốn làm Lili vui vẻ hơn bất kỳ điều gì hay sao? "Chị ở nhà đi," Greta căn dặn. "Nhưng phải đảm bảo là Einar bắt kịp chuyến tàu."
Những bức tường quanh quán Café Axel đã ố vàng bởi khói thuốc lá. Nhiều sinh viên Học viện Hoàng gia thường đến đây vì món frikadeller và bia fadol được giảm nửa giá từ bốn giờ đến sáu giờ. Khi Greta còn là sinh viên, cô thường chiếm lấy chiếc bàn cạnh cửa ra vào và ngồi phác họa với tập giấy tì vào lòng. Khi bạn cô bước vào và hỏi cô đang vẽ cái gì, cô sẽ kiên quyết gấp tập giấy lại và trả lời, "Vài thứ cho giáo sư Wegener."
Greta hỏi người pha chế rượu về chiếc khăn choàng cổ màu xanh dương. "Em họ tôi cho rằng cô ấy để quên nó ở đây," cô giải thích.
"Em họ cô là ai?" Người pha chế rượu chùi tay vào chiếc khăn chuyên dùng để lau ly tách.
"Một cô gái mảnh khảnh. Không cao bằng tôi. Hơi nhút nhát." Greta ngưng bặt. Thật khó để mô tả Lili, vì nó làm Greta nhớ đến hình dáng Lili lả lướt trong thế giới của riêng cô, với chiếc cổ áo trắng tinh đang phấp phới và đôi mắt nâu đang ngước nhìn mấy chàng trai lạ đẹp mã. Mũi Greta bắt đầu phập phồng vì tức giận.
"Cô đang nói đến Lili có phải không?" Người pha chế rượu hỏi lại.
Greta gật đầu.
"Một cô gái tốt. Thường đến quán và ngồi đàng kia, gần cửa ra vào. Tôi chắc là cô đã biết rồi, nhưng mấy chàng trai bị chao đảo vì cố gắng gây sự chú ý với cô ấy. Cô ấy uống một ly bia với một trong số mấy anh chàng đó, và khi cậu ta quay đầu lại thì cô ấy đã biến mất. Đúng rồi, cô ấy để quên chiếc khăn choàng cổ."
Anh ta trao chiếc khăn cho Greta, và cô choàng nó qua đầu mình. Vẫn còn thoang thoảng mùi bạc hà và sữa.
Ngoài phố, không khí ẩm thấp, khí trời buốt giá và đầy vị mặn của biển. Làn da rám nắng của cô đã bạc màu còn đôi tay cô thì nức nẻ. Cô nhớ đến khung cảnh vùng Pasadena vào tháng mười đẹp như thế nào, với dãy núi lửa San Grabiel đã ngủ yên có màu mận chín và giàn hoa giấy leo dọc ống khói.
Ga Trung tâm vang vọng tiếng bước chân thoăn thoắt. Đàn chim bồ câu gù gù trên mái nhà gỗ, vệt phân chim màu phấn trắng trải dọc các thanh xà bằng gỗ sồi đỏ. Greta mua một thanh kẹo bạc hà từ cậu bé bán hàng rong. Khách hàng của cậu để lại một mớ giấy gói la liệt dưới sàn.
Einar đến kiot bán vé với vẻ mặt lơ ngơ. Gò má anh ửng đỏ vì chà xát quá mạnh, tóc anh bôi sáp bóng mượt. Anh vừa chạy hối hả, vừa lo lắng quệt tay lau mồ hôi trên lông mày. Lúc nhìn thấy anh giữa đám đông, Greta mới nhận ra vóc dáng của anh nhỏ bé như thế nào, đầu chỉ cao vừa đủ để dựa vào ngực một người đàn ông khác. Đó là cách Greta luôn nhìn nhận về Einar: cô phóng đại sự yếu ớt của anh; cô tự nhủ với mình, và cô dần tin rằng Einar với cổ tay xương xương, tấm lưng nhỏ bé và cong vòng đích thực vẫn là một đứa trẻ con.
Einar ngước mắt nhìn lũ bồ câu như thể đây là lần đầu tiên anh đến Ga Trung tâm. Anh rụt rè hỏi giờ từ một cô gái trẻ khoác một chiếc áo giống tạp dề.
Có điều gì đó khiến Greta bình tâm lại. Cô bước đến chỗ Einar và hôn anh. Cô chỉnh lại ve áo anh cho thẳng thớm. "Vé tàu của anh đây," cô dặn dò. "Bên trong là địa chỉ của vị bác sĩ mà em muốn anh gặp thử."
"Trước hết anh muốn nói với em một chuyện," Einar lên tiếng. "Anh muốn em nhất trí rằng anh chẳng bị làm sao cả." Anh vẫn đang dậm gót chân thình thịch.
"Tất nhiên là anh chẳng bị sao mà," Greta xua tay trấn an. "Nhưng em vẫn muốn anh đến gặp vị bác sĩ."
"Vì sao?"
"Vì Lili."
"Cô gái bé bỏng tội nghiệp," anh xuýt xoa.
"Nếu anh muốn Lili ở lại - ý em là với chúng mình - thì em nghĩ một bác sĩ nên biết về cô ấy." Những người đi mua hàng hầu hết là phụ nữ đang chen lấn bên cạnh hai người với túi lưới trĩu nặng đầy pho mát và cá trích.
Greta tự hỏi tại sao mình cứ nhắc tới Lili như thể cô ta là người thứ ba. Nếu như cô lên tiếng thừa nhận Lili chẳng qua chỉ là chồng cô trong bộ váy đầm, thì tâm hồn Einar sẽ bị nghiền nát. Cô có thể tưởng tượng ra được khung xương thanh mảnh của anh ấy sẽ co rúm lại thành một đống. Đúng vậy, nhưng đó chính là sự thật.
"Vì sao em lại làm vậy vào lúc này?" Einar thắc mắc. Viền mi mắt ửng đỏ của anh ấy gần như khiến Greta phải đổi ý.
"Em yêu Lili nhiều như anh yêu mến cô ấy, còn nhiều hơn..." nhưng cô buộc mình phải ngắt ngang. "Bác sĩ có thể giúp được cô ấy."
"Bằng cách nào? Làm sao có ai khác ngoài anh và em có thể giúp được Lili."
"Hãy chờ xem thử bác sĩ nói gì."
Einar cố gắng một lần cuối cùng. "Anh không muốn đi. Lili không muốn anh đi."
Greta thẳng lưng, khẽ ngước đầu lên. "Nhưng em muốn anh đi," cô khuyên nhủ. "Em là vợ anh, Einar à." Cô chỉ hướng cho anh biết đường ray số 8 và tiễn anh một đoạn, tay cô đặt lên eo anh. "Đi đi nào," cô ra lệnh khi anh lê bước trên sân ga, vượt qua cậu bé bán hàng rong, băng qua mớ giấy gói, bóng dáng anh dần khuất trong đám đông những người mua hàng, đầu anh trở thành một trong số hàng trăm đầu người, hầu hết là phụ nữ, đang bận rộn với những công việc vặt vãnh ở Copenhagen và béo lên vì sinh con, với bộ ngực trĩu xuống như Einar. Một ngày nào đó, Greta biết rõ, rồi sẽ đến một ngày, mấy người phụ nữ đó sẽ nhìn vào Einar đứng giữa đám đông và chỉ nhìn thấy hình ảnh của chính mình.
 
 
 
CHƯƠNG MƯỜI MỘT
 
 
Einar ngồi cạnh cửa sổ, vệt nắng chiều nằm gọn trên đùi anh. Đoàn tàu chạy ngang qua dãy nhà ngói đỏ, hàng áo quần đang phơi và lũ trẻ con đang vẫy tay trong sân. Một bà cụ ngồi đối diện anh, bàn tay khư khư giữ lấy quai của ví tiền. Bà mời anh nếm thử viên kẹo bạc hà từ thanh kẹo bọc giấy bạc. "Đến Helsingor à?"
"Đến Rungsted," anh đáp lại.
"Tôi cũng vậy." Một miếng ren đan lưới bao trọn mái tóc trắng của bà ấy. Mắt bà có màu xanh của băng tuyết, còn phần trái tai vừa dày vừa trễ xuống. "Cậu có bạn bè ở đấy sao?"
"Một cuộc hẹn."
"Hẹn khám sức khỏe à?"
Einar gật đầu, và bà cụ gật gù. "Ra là vậy." Bà cụ kéo vạt áo len của mình. "Tại viện nghiên cứu radium sao?"
"Tôi nghĩ vậy," anh trả lời. "Vợ tôi đã hẹn trước." Anh mở chiếc phong bì Greta đưa. Bên trong phong bì là một tấm thiếp màu vàng với lời nhắn của Lili dành cho Greta vào tuần trước: Đôi khi chị cảm thấy như mình bị giam cầm. Em có bao giờ cảm thấy như vậy chưa? Là do chị? Hay là do Copenhagen? Hôn em.
"Tấm thiếp của cậu có ghi tên bác sĩ Hexler," bà cụ lên tiếng. "Ngay phía sau là địa chỉ của bác sĩ Hexler. Cùng đường với tôi. Tôi sẽ vui lòng đưa cậu một đoạn đường. Vài người đã nói rằng ông ta đang quản lý học viện radium lớn nhất Đan Mạch." Bà cụ xiết chặt ví tiền vào ngực mình. "Có người còn nói rằng ông ta có thể chữa khỏi bất kỳ căn bệnh nào."
Einar cảm ơn bà cụ và ngả người dựa lưng ra sau ghế của mình. Qua khung cửa sổ, ánh mặt trời trông thật ấm áp. Anh đang cân nhắc đến việc bỏ qua cuộc hẹn. Khi cô bảo sẽ gặp anh ở Ga Trung tâm, một hình ảnh vụt qua trong đầu nhanh như chớp: hình ảnh Greta đang hất cằm lên giữa đám đông và chờ anh tại sân ga. Anh nghĩ đến việc sẽ mặc kệ cô và không bao giờ xuất hiện. Anh nghĩ đến chiếc cằm của cô chậm rãi hạ xuống khi từng giờ từng phút trôi qua và càng lúc càng rõ ràng là anh sẽ không đến. Rồi cô lê bước về nhà. Cô mở cửa căn hộ tại khu nhà Widow House và thấy anh đang ngồi tại bàn đợi cô về. Einar sẽ nói, "Anh không muốn gặp bác sĩ đâu." Và cô im lặng một lúc rồi bảo, "Thôi được rồi."
"Chúng ta đến nơi rồi," bà cụ trên tàu thông báo. "Lấy đồ của cậu đi."
Trên những cây thủy tùng trồng dọc đường Rungsted mọc đầy quả hình nón màu đỏ giống như phủ sáp. Sáng nay trời vừa mưa, không khí có mùi ẩm thấp của cây cỏ. Cụ bà hít vào thật sâu rồi rảo bước nhanh, hông bà chuyển động trong chiếc váy. "Đừng lo lắng," bà bảo.
"Tôi không hề lo lắng."
"Cảm thấy lo lắng không có gì sai cả." Họ rẽ vào con phố có những ngôi nhà khuất sau dãy tường thấp lè tè với những cánh cổng sắt màu trắng bạc. Một chiếc ô tô hở mui phóng vèo qua họ, tiếng động cơ kêu lên răng rắc. Tài xế, người đàn ông đội mũ đánh golf bằng da, đang vẫy tay về phía bà cụ. "Đây rồi," bà lên tiếng khi đứng trên góc phố đối diện cảng biển, chỉ vào một ngôi nhà màu xanh dương tầm thường đến mức người ta có thể nhầm nó với một cửa hiệu bánh ngọt. Bà siết tay Einar, ngay dưới nách. Rồi bà chỉnh lại cổ áo và đi về phía biển.
Einar phải chờ trong phòng khám của bác sĩ Hexler gần một tiếng đồng hồ. Một nửa căn phòng trông như phòng khách với một tấm thảm, một chiếc ghế sofa kèm hộc chứa đồ, mấy kệ sách và cỏ điếu lan để trên giá. Nửa còn lại có sàn phòng lót cao su, một cái bàn bọc nệm, dãy lọ thủy tinh chứa chất lỏng trong suốt, và một chiếc đèn ngoại cỡ có bánh xe.
Bác sĩ Hexler bước vào và nói, "Y tá không bảo cậu phải cởi quần áo sao?". Cằm ông ta dài và có một đường kẻ sâu đến mức tạo thành một cái khe. Tóc ông có màu bạc, và khi ngồi trên ghế đối diện Einar ông để lộ một đôi tất Scotland với họa tiết hình kim cương. Bà cụ trên tàu nói rằng người ta cũng biết đến ông ấy nhờ vào khu vườn hoa hồng, chính là khu vườn nhìn thấy qua cửa sổ, đang được tỉa tót để chuẩn bị cho mùa đông.
"Trục trặc trong hôn nhân?" ông thắc mắc. "Tôi hiểu có đúng không?"
"Không hẳn là trục trặc."
"Anh kết hôn được bao lâu rồi."
"Sáu năm," Einar nói. Anh nhớ lại đám cưới của họ tại nhà thờ St Alban trong công viên, cha phó tế trẻ măng là người Anh và còn bị dao cạo râu cứa một phát vào buổi sáng hôm đó. Anh ta cất tiếng với một giọng thanh thoát tựa không khí đang lan tỏa qua những ô cửa sổ lắp kính màu hồng và tràn vào lòng của mấy vị khách đến dự lễ cưới, "Đây là một đám cưới đặc biệt. Tôi thấy có điều gì đặc biệt ở đây. Trong vòng mười năm nữa, hai người sẽ trở thành những nhân vật xuất chúng."
"Có con chưa?" Bác sĩ Hexler hỏi tiếp.
"Vẫn chưa."
"Tại sao chưa?"
"Tôi không biết."
"Anh có sinh hoạt vợ chồng, đúng không?" gương mặt bác sĩ Hexler lạnh lùng đến chai sạn, và Einar có thể tưởng tượng cảnh ông ấy trong vườn hồng với nét mặt như vậy kèm thêm cảm giác thất vọng tột độ khi phát hiện ra một con sâu ăn trụi cánh hoa. "Cậu có thường xuyên sinh hoạt vợ chồng không?"
Lúc này Einar đã cởi sạch áo quần, chỉ trừ quần lót. Đống áo quần đặt trên ghế trông mới buồn bã làm sao, tay áo sơ mi trắng buông thõng từ lưng quần tây. Bác sĩ Hexler vẫy tay gọi anh đến ngồi trên chiếc sofa gắn kèm hộc chứa đồ. Qua một ống truyền thanh có đầu nói hình phễu, ông ta yêu cầu cô y tá mang cà phê và một dĩa hạnh nhân tẩm đường.
"Có phóng tinh hay không?" ông tiếp tục hỏi.
Những viên gạch của sự sỉ nhục chất cao xung quanh Einar. Mỗi lời xúc phạm, từ Greta, và giờ từ bác sĩ Hexler, là những viên gạch đỏ thắm đầy tổn thương chồng lên những viên gạch khác rồi tạo nên một bức tường. "Thỉnh thoảng," Einar đáp lại.
"Vậy thì tốt." Bác sĩ Hexler lật sang một trang khác trong cuốn sổ tay. Và rồi, "Vợ anh kể rằng anh thích ăn mặc như phụ nữ."
"Cô ấy nói vậy sao?" Ngay lúc đó y tá tiến vào, một người phụ nữ với mái tóc xoăn tít màu đỏ hoe. Cô đặt ly cà phê và dĩa hạnh nhân xuống bàn. "Có cần đường không?" cô hỏi.
"Cô Wegener kể với tôi về một cô gái," bác sĩ Hexler tiếp tục. "Một cô gái tên là Lili."
"Xin thứ lỗi, ông Wegener?" cô y tá lại lên tiếng. "Có cho đường không?"
"Không cần. Tôi không cần gì đâu." Cô rót cà phê cho bác sĩ Hexler và rời khỏi phòng.
"Anh Wegener, tôi là một chuyên gia. Gần như chả có một trục trặc nào mà tôi chưa từng chữa trị. Nếu anh cảm thấy xấu hổ, thì xin hãy nhớ rằng tôi không hề thấy vậy."
Einar không biết vì sao, nhưng đột nhiên anh muốn tin rằng bác sĩ Hexler sẽ thấu hiểu; rằng nếu anh kể cho bác sĩ Hexler về đường ống dẫn tới hang của Lili, rằng nếu Einar thừa nhận rằng Lili không phải là anh mà là một người khác, Hexler sẽ gõ nhẹ cây bút chì lên môi và bảo, "À, phải rồi. Không cần lo lắng gì hết. Tôi đã từng gặp qua trường hợp này."
Einar bắt đầu kể, "Đôi khi tôi cảm thấy mình cần đi tìm Lili." Anh sẽ nghĩ đến chuyện đó giống như cơn đói. Không hẳn là cảm giác đói bụng trước giờ ăn tối một tiếng đồng hồ, mà giống như bạn đã bỏ qua mấy bữa ăn, khi trong người bạn trống rỗng. Khi bạn lo lắng đến việc đĩa thức ăn tiếp theo sẽ đến từ đâu, thậm chí là rốt cuộc nó có đến hay không. Chuyện này làm cho Einar hoa mắt. "Thỉnh thoảng tôi sẽ không thở được khi nghĩ đến cô ấy," Einar nói.
"Anh tìm cô ấy ở đâu?" bác sĩ Hexler dò hỏi. Cặp kính dày cộm làm cho đôi mắt của ông ấy trông to như mấy quả trứng ngâm trong lọ đầy dầu ăn.
"Bên trong tâm hồn tôi."
"Và cô ấy luôn luôn ở đó sao?"
"Đúng vậy. Luôn luôn."
"Anh sẽ nghĩ gì nếu tôi bảo anh ngừng hẳn việc ăn mặc giống cô ấy?" bác sĩ Hexler khẽ nghiêng người ra phía trước.
"Ông nghĩ là tôi nên làm vậy sao, bác sĩ? Ông nghĩ là tôi đang làm tổn thương điều gì đó bằng hành động này sao?" Einar cảm thấy thứ trong quần lót mình teo nhỏ, vết nứt trên tấm đệm sofa gần như nuốt chửng lấy anh. Ngay lúc này Einar lại thèm một tách cà phê, nhưng anh chẳng còn đủ sức để lấy ấm cà phê đặt trên bàn.
Bác sĩ Hexler bật đèn khám nghiệm, cái lồng tráng bạc trở nên trắng sáng dưới ánh đèn. Ông hướng ánh đèn đến bụng Einar. Vài vệt tàn nhang màu nâu quanh rốn nhìn thật nổi bật, vài cọng lông đen nhánh làm Einar nhớ đến đám bụi bị gom lại ở góc phòng. "Anh có cảm thấy gì khi tôi làm thế này không?" bác sĩ Hexler hỏi, lòng bàn tay nhấn vào dạ dày Einar.
"Không."
"Ở đây thì sao?"
"Không."
"Còn ở chỗ này?"
"Không."
'Tôi biết rồi." Ông ta ngồi trên chiếc ghế đẩu đặt trước mặt Einar. Einar chẳng muốn gì hơn ngoài việc bác sĩ Hexler tuyên bố rằng không có chuyện gì với Lili và Einar, và cơ thể được chia sẻ giữa hai người là một hiện tượng biến gì chẳng hề nghiêm trọng hơn việc ngón chân không có móng chân, hay việc trên chiếc cằm dài của bác sĩ Hexler có một đường rãnh sâu đến mức có thể nhét vừa một chiếc chìa khóa
"Vậy ở dưới này thì sao?" ông hỏi, dùng que đè lưỡi chỉ vào vùng háng của Einar. "Tôi khám qua được không?"
Khi Einar tuột quần lót xuống, gương mặt bác sĩ Hexler đông cứng lại, chỉ có hai cánh mũi, với những lỗ chân lông nghẽn đầy những chấm đen, là còn cửa động. "Có vẻ như tất cả vấn đề nằm ở chỗ kia," ông ta phán đoán. "Anh có thể kéo quần lên được rồi. Sức khỏe của anh có vẻ tốt. Anh không muốn nói với tôi về chuyện gì khác sao?"
Mới ngày hôm trước, Einar đã nhét một mảnh giẻ rách vào quần lót. Liệu Greta có kể với bác sĩ chuyện đó chưa nhỉ? Einar cảm thấy như bị dồn vào chân tường. "Có chuyện này tôi nghĩ tôi cần phải đề cập," anh bắt đầu nói.
Khi Einar kể cho ông ta về tình trạng chảy máu, hai vai của bác sĩ Hexler ép lại như một gò đất. "À, vâng. Vợ anh có đề cập đến chuyện này. Có gì trong máu không? Máu có vón thành cục không?"
"Tôi không nghĩ vậy." Một viên gạch của sự sỉ nhục lại bị gắn chặt. Einar chỉ cảm thấy dễ chịu hơn đôi chút khi được nhắm mắt lại.
"Đến lúc phải chụp X-quang rồi," bác sĩ Hexler lên tiếng. Ông có vẻ ngạc nhiên khi Einar bảo anh chưa từng chụp bao giờ. "Việc này sẽ làm chúng ta biết có gì bất thường hay không," bác sĩ Hexler giải thích. "Cũng có thể sẽ đánh bật nỗi khao khát ấy ra khỏi tâm hồn anh." Einar có thể thấy bác sĩ Hexler tự hào như thế nào về máy móc kỹ thuật tại phòng khám, căn cứ vào hàng lông mày nhướn cao trên cặp kính. Ông bắt đầu thao thao bất tuyệt về tia gamma và nguyên tố radium có nguồn gốc tự nhiên từ muối radium. "Năng lượng phóng xạ đang trở thành phương thuốc thần kỳ cho rất nhiều chứng bệnh. Nó có tác dụng với vết loét, gàu trên tóc, và cả chứng bất lực," ông cam đoan. "Nó đã trở thành một phương pháp điều trị được ưa chuộng."
"Phương pháp này có ích gì với tôi?"
"Nó sẽ tìm kiếm bên trong anh." Và rồi, cứ như đang sỉ nhục, "Nó sẽ chữa lành bệnh tình của anh."
"Tôi thật sự cần nó sao?"
Nhưng bác sĩ Hexler đã ra lệnh qua ống nói hình phễu.
Khi mọi thứ dành cho Einar đã chuẩn bị sẵn sàng, một người đàn ông gầy gò với quả táo Adam nhô cao dẫn anh ra khỏi văn phòng của bác sĩ Hexler. Ông ta là Vlademar, trợ lý của bác sĩ Hexler. Sau đó, ông ta dẫn Einar tới một căn phòng có bốn bức tường lát gạch men và sàn phòng xây hơi dốc để tiện thoát nước, kèm thêm lỗ cống có che lưới tại góc phòng. Mấy chiếc đai vải bạt trắng toát treo lòng thòng từ giường bệnh đặt giữa phòng, và còn thêm những chiếc khóa sáng loáng dưới ánh đèn.
"Hãy thắc đai vào," Vlademar nói. Einar thắc mắc liệu việc này có cần thiết hay không, Vlademar trả lời với thái độ cáu kỉnh, quả táo Adam lại càng nhô cao.
Máy chụp X-quang có hình dạng giống chữ L bị lật ngược, với lớp vỏ kim loại được sơn màu xanh xỉn. Máy nằm ngay trên giường bệnh, một con mắt xám xịt to đùng làm từ thấu kính chĩa thẳng vào chỗ da ngay giữa rốn và xương chậu của Einar. Căn phòng có một cửa sổ đen thui, Einar tưởng tượng phía sau ô cửa ấy là hình ảnh bác sĩ Hexler đang ra lệnh cho Vlademar phải kéo cần gạt có tay nắm tròn nào. Mọi chuyện cứ thế diễn ra với Einar, khi ánh đèn trong phòng mờ đi và máy chụp kêu lên rền rĩ rồi lại vo vo, vỏ máy khẽ rung động báo hiệu đây mới là sự bắt đầu của hàng loạt xét nghiệm khác từ bác sĩ. Không biết vì sao nhưng Einar biết rõ phim chụp X-quang sẽ chẳng cho ra kết quả gì, và bác sĩ Hexler sẽ ra lệnh tiếp tục chụp X-quang hoặc sẽ gởi anh đến cho vị chuyên gia thứ hai rồi thứ ba nào đó. Đến lúc này thì Einar chẳng buồn quan tâm vì tất cả mọi thứ cần làm đều đáng giá với Greta và Lili.
Einar tưởng tia X-quang vừa lốm đốm vừa vàng khè, nhưng nó hoàn toàn vô hình và anh chẳng có cảm giác gì. Đầu tiên, Einar nghĩ máy móc không hoạt động. Anh suýt nữa đã vùng dậy và hỏi, "Có vấn đề gì không?"
Rồi máy chụp X-quang chuyển sang chế độ nhanh hơn, tiếng vo vo cao cỡ quãng tám. Vỏ máy màu cam bị lõm lại kêu lên lách cách, nghe như tiếng giấy nướng bánh được rũ cho khô. Sau đó Einar tự hỏi mình có vừa cảm thấy gì đó trên dạ dày không, nhưng anh cũng chẳng chắc chắn. Anh tưởng tượng ra dạ dày lúc nhúc những con giun phát sáng làm tổ trong vũng bùn ở Bluetooth. Anh tự hỏi liệu mình có thật sự cảm thấy có gì đó nóng bừng và kêu xì xì hay chỉ đang tưởng tượng ra. Einar tì vào khuỷu tay để bật người dậy, nhìn xuống phía dưới, nhưng chẳng có gì khác thường ở dạ dày vốn trông xám xịt dưới ánh đèn mờ. "Làm ơn hãy giữ yên," bác sĩ Hexler gắt lên qua ống nói hình phễu. "Nằm xuống đi."
Nhưng không có gì xảy ra, hay Einar chẳng cảm giác được gì. Máy vẫn kêu lên lách cách và một cảm giác trống rỗng lan tỏa khắp bụng anh: anh chẳng thể cảm giác được bụng mình có nóng lên hay không. Ngay lúc tưởng rằng mình cảm nhận được tia bỏng rát, Einar lại nhìn xuống nhưng bụng anh vẫn trông như cũ. "Nằm yên nào, anh Wegener," giọng bác sĩ Hexler lại bừng bừng tức giận. "Đây là chuyện hệ trọng đấy."
Einar không thể nào xác định được cái máy đã hoạt động bao lâu rồi. Đã hai phút trôi qua hay là hai mươi phút? Và chừng nào nó mới ngừng? Phòng tối dần, bây giờ thì gần như tối om, và một quầng sáng vàng vọt nhấp nháy quanh thấu kính xám xịt. Einar cảm thấy buồn chán, rồi đột nhiên lại buồn ngủ. Anh nhắm mắt lại và cảm thấy cơ thể mình đang trở nên nặng trình trịch. Anh nghĩ đến việc nhìn xuống dạ dày một lần cuối cùng, nhưng cánh tay không đủ sức giúp anh nâng người. Làm sao mà anh có thể mệt lử như vậy? Đầu anh nặng như một quả bóng bằng chì gắn trên cổ. Einar cảm nhận được hương vị của ly cà phê buổi sáng lan dần trong cổ họng.
"Cố ngủ đi nào, anh Wegener," Hexler lên tiếng. Cái máy kêu lên ầm ầm còn to hơn lúc trước, và Einar cảm thấy có cái gì đó nóng rực ép lên dạ dày anh.
Sau đó Einar biết có chuyện gì đó không ổn. Anh chỉ đủ sức hé mắt ra một chút xíu để bắt gặp cảnh tượng ai đó đang tì trán vào ô cửa sổ đen thui, và một cái trán thứ hai cũng ép vào để lại dấu vết mờ mờ. Nếu Greta ở đây, Einar mơ màng nghĩ, cô ấy sẽ cởi bỏ đai và đưa mình về nhà. Cô ấy sẽ đá ầm ầm vào chiếc máy xanh lè cho đến khi nó ngừng hoạt động. Tiếng kim loại va vào nhau loảng xoảng làm cả căn phòng rung lên, nhưng Einar chẳng thể mở mắt ra xem chuyện gì đã xảy ra. Nếu Greta ở đây, cô ấy sẽ hét vào mặt bác sĩ Hexler để ra lệnh cho lão tắt cái máy chết tiệt kia đi. Nếu Greta ở đây... nhưng Einar không thể hoàn tất dòng suy nghĩ đó vì anh đã ngủ thiếp đi - à không, còn hơn cả ngủ.
 
 
 
CHƯƠNG MƯỜI HAI
 
 
Cái máy X-quang của bác sĩ Hexler vẫn kêu lên rền rĩ, Greta ép trán mình lên ô cửa sổ kính đen thui. Có lẽ cô đã sai lầm rồi; có lẽ chồng mình không hề cần gặp bác sĩ. Cô thầm nghĩ, lẽ ra nên lắng nghe những lời phản đối của anh ấy.
Bên kia lớp kính, Einar đang bị trói chặt trên giường bệnh. Anh thật xinh đẹp, với đôi mắt nhắm nghiền, làn da trông hơi tai tái sau lớp kính. Sóng mũi nhỏ xinh nhô lên từ gương mặt anh. "Ông có chắc là anh ấy cảm thấy thoải mái không," cô hỏi bác sĩ Hexler.
"Hầu hết là vậy."
Cô lo lắng rằng Einar đang dần rời xa cô. Thỉnh thoảng, cô cảm thấy phiền lòng khi Einar chẳng hề ghen tuông tí gì khi một gã đàn ông trên đường nhìn chằm chằm vào ngực cô; lần duy nhất anh bình luận là trong bộ dáng Lili, và anh nói, "Em đúng là may mắn."
Lúc Greta đến nghe bác sĩ Hexler tư vấn vào tuần trước, ông ta đã nói rằng có khả năng có một khối u ở vùng xương chậu là nguyên nhân gây ra chứng hiếm muộn và tình trạng rối loạn nam tính ở Einar. "Tôi chưa từng tận mắt chứng kiến trường hợp nào, nhưng tôi đã đọc về nó. Chuyện này có thể xảy ra mà không được phát hiện, vì triệu chứng duy nhất chính là hành vi kỳ quái." Một phần trong cô mong muốn lý thuyết này nghe hợp lý. Một phần kia lại muốn tin rằng một con dao mổ cong cong như lưỡi hái sẽ loại bỏ hoàn toàn khối u có vỏ ngoài giống như quả cam đỏ và cứng ngắt như quả hồng, sau đó Einar sẽ quay về với cuộc sống hôn nhân của hai người.
Bên kia cửa sổ, tiếng kim loại va chạm vào nhau cứ vang lên, nhưng bác sĩ Hexler trấn an rằng, "Mọi chuyện đều bình thường." Einar đang quằn quại trên giường bệnh, đôi chân anh ép vào đai vải. Mấy chiếc đai vải căng lên vì sức kéo đến mức Greta nghĩ chúng sẽ đứt lìa và cơ thể Einar sẽ bắn về phía bên kia phòng. "Chừng nào thì ông xong việc?" cô thắc mắc với Hexler. "Ông có chắc là mọi chuyện đều diễn ra thuận lợi không?" Cô xoắn lấy đuôi tóc khi nghĩ đến việc vì ghét cay ghét đắng sự thô bạo đó, và nếu như có chuyện gì xảy ra với Einar, cô chẳng biết phải làm thế nào nữa.
"Chụp X-quang mất thời gian lắm," Vlademar lên tiếng.
"Anh ấy có bị thương không? Trông như anh ấy đang đau đớn lắm."
"Không hẳn vậy đâu," bác sĩ Hexler trả lời. "Có khả năng sẽ bị một vết bỏng hoặc loét nhỏ trên da, nhưng ngoài ra thì chẳng có gì cả."
"Anh ta sẽ cảm thấy dạ dày hơi nhộn nhạo," Vlademar thêm vào.
"Việc này tốt cho anh ta," bác sĩ Hexler nói. Gương mặt ông ta điềm tĩnh với hàng mi đen rậm mọc quanh mắt. Ông ta thường lắp bắp những âm tiết đầu tiên của một câu, nhưng giọng ông ta trầm trầm đầy uy quyền. Nói cho cùng thì phòng khám cũng thu hút những quý ông lắm tiền nhất Đan Mạch, những quý ông với bụng phê trên thắt lưng luôn hối hả sản xuất giày cao su, thuốc nhuộm khoáng chất, phân supe lân và xi măng Portland nhưng lại mất quyền kiểm soát với những thứ dưới thắt lưng.
"Và nếu như ma quỷ đang ngự trị phía bên trong chồng cô thì," Vlademar nói thêm, "tôi sẽ lôi nó ra."
"Đó là cái hay của X-quang," Hexler giảng giải. "Nó đốt cháy những thứ xấu xa và giữ lại những thứ tốt đẹp. Nếu nói đây là một phép màu thì cũng chẳng phải là nói quá." Hai người đàn ông mĩm cười, hàm răng phản chiếu lên tấm kính đen thui, và Greta thấy một cảm giác vừa thống khổ vừa ân hận dâng lên trong ngực mình.
Khi mọi chuyện đã xong, Vlademar chuyển Einar qua căn phòng có hai cửa sổ nhỏ với tấm màn gấp gắn bánh xe bên dưới. Anh ngủ suốt một tiếng đồng hồ khi Greta hí hoáy vẽ. Cô đang vẽ Lili thiêm thiếp ngủ trên giường bệnh viện. Nếu máy chụp X-quang tìm ra khối u và bác sĩ Hexler loại bỏ nó thì chuyện gì sẽ xảy ra? Có phải cô chẳng bao giờ nhìn thấy Lili trên gương mặt Einar, trên bờ môi anh, trong những đường gân xanh chạy dưới cánh tay như những dòng sông trên tấm bản đồ? Cô đã liên lạc với bác sĩ Hexler đầu tiên là để Einar yên lòng - hay chỉ để làm chính cô yên lòng? Không đúng, cô gọi điện cho bác sĩ Hexler từ trạm điện thoại bé xíu ở bưu điện vì cô biết rằng mình phải làm gì đó vì Einar. Chẳng phải cô có trách nhiệm đảm bảo anh được quan tâm đúng mực hay sao? Nếu Greta có từng hứa với lòng mình điều gì, thì đó chính là không bao giờ để chồng rời khỏi cô một cách đơn giản như thế. Không bao giờ, sau chuyện của Teddy Cross. Greta lại nghĩ đến dòng máu tuôn trào từ mũi Einar, thấm qua lớp váy đầm của Lili.
Einar trở mình trên giường, khẽ rên rỉ. Mặt anh tái nhợt, hai má hóp lại. Greta đắp một cái khăn ấm ngang trán anh. Một phần trong co hy vọng Hexler ra lệnh cho Einar cứ thoải mái sống với tư cách là Lili, tìm một công việc đại loại như cô bán hàng sau quầy kính của cửa hàng bách hóa Fonnesbech. Phần còn lại trong Greta muốn được kết hôn với người đàn ông tai tiếng nhất thế giới. Cô vẫn luôn thấy phiền lòng khi người ta mặc định rằng cô sẽ sống một cuộc đời an phận sau khi đã kết hôn. "Em biết chị sẽ luôn hạnh phúc như cha và mẹ chị," cô em họ sống ở vùng Newport Beach đã viết thư ngay sau khi cô kết hôn với Einar; tất cả những gì Greta có thể làm là kềm chế chính mình để không xóa tên cô em họ kia ra khỏi trí nhớ. Nhưng mình không giống với người ta, cô tự nhủ với lòng mình khi xé vụn bức thư rồi cho vào lò sưởi bằng sắt. Chúng mình không giống với người ta. Đó là chuyện rất lâu về trước, trước khi Lili xuất hiện, nhưng ngay tại thời điểm đó Greta đã biết cô vừa kết hôn với một người đàn ông sẽ dẫn cô đến một chốn nào đó không giống bất kỳ nơi nào từng đặt chân đến. Đó cũng là điều cô trông đợi với Teddy, mặc dù chuyện này hóa ra chẳng thể trở thành sự thật với anh ấy. Nhưng Einar thì khác. Anh ấy rất kỳ lạ. Anh gần như chẳng hề thuộc về thế giới này. Và hầu như ngày nào cũng vậy, Greta cảm thấy ngay cả cô cũng không hề thuộc về nơi này.
Dưới cửa sổ là những bụi hồng trơ trụi của bác sĩ Hexler đang run rẩy trong gió. Cửa sổ bên kia hướng ra biển. Mặt nước phản chiếu mấy áng mây đen, đen kịt như mực. Một chiếc thuyền đánh cá đang vất vả quay về cảng. Nhưng làm sao cô có thể tiếp tục chung sống với một người đàn ông thỉnh thoảng lại muốn sống như phụ nữ? Mình sẽ không để một thứ như thế này ngăn cản mình, cô tự nhủ, với quyển sổ phác họa để trên đùi. Greta và Einar sẽ làm những gì họ muốn. Chẳng ai có thể ngăn cô làm những việc mà cô muốn. Ở một nơi nào đó mà chẳng có điều gì khiến hai người bị nhận diện - không có tin đồn nhảm, không có dòng họ, không có danh tiếng đã xây dựng từ trước. Không có gì ngoại trừ tranh của họ và tiếng thì thầm khe khẽ của Lili.
Cô đã chuẩn bị sẵn sàng, Greta nói với chính mình. Vì ai, vì điều gì, hay vì nơi nào, cô không chắc, nhưng cô vẫn luôn sẵn sàng.
Einar lại cựa mình trên giường, khó nhọc nhấc đầu lên. Bóng đèn trên trần chiếu một quầng sáng vàng vọt lên mặt anh, và hai má anh hóp lại. Chẳng phải sáng nay anh trông vẫn khỏe sao? Nhưng có lẽ cô chẳng lưu tâm đầy đủ đến Einar suốt mấy tháng vừa rồi. Có lẽ anh ấy đã đổ bệnh ngay trước mắt mà cô chẳng hề nhận ra cho đến tận bây giờ. Cô trở nên quá bận rộn, vẽ tranh, rồi bán tranh, sau đó viết thư cho Hans ở Paris để sắp xếp cuộc hẹn cho Lili, và còn hỏi thuê căn hộ tại khu Marais với hai cửa sổ ở trên tầng mái, một cho cô và một cho Einar. Vì tất cả như thứ kia mà Greta có thể đã bỏ điều gì đó cực kỳ nghiêm trọng đang phai mờ dần trên gương mặt chồng mình. Cô nhớ đến Teddy Cross.
"Greta," Einar gọi. "Anh có ổn không?"
"Anh sẽ khỏe lại thôi. Nằm nghỉ thêm chút nữa đi."
"Chuyện gì đã xảy ra?"
"Chỉ là tia X-quang quá mạnh thôi. Không có gì phải lo lắng cả."
Einar vùi mặt vào gối, anh lại thiếp đi lần nữa. Chồng Greta, anh ấy đây rồi. Vẫn là làn da mịn màng, cái đầu nhỏ, và hai bên thái dương hơi lõm vào, trông như một đứa trẻ. Vẫn là cái mũi phập phồng theo từng hơi thở. Vẫn là cái mùi nhựa thông và bột talc. Vẫn là viền mắt đỏ ửng gần như bốc lửa.
Greta thay cái khăn khác lên trán anh.
Khi bác sĩ Hexler cuối cùng cũng chịu đến thăm, Greta reo lên: "Rốt cuộc ông cũng đến."
Họ bước ra ngoài hành lang. "Anh ấy sẽ khỏe lên chứ?"
"Ngày mai anh ta sẽ đỡ hơn, và ngày hôm sau nữa thì lại càng khỏe lên." Greta nghĩ cô đang nhìn thấy nổi lo âu trên những nếp nhăn quanh miệng bác sĩ Hexler. "Phim chụp X-quang chẳng cho thấy điều gì cả."
"Không có khối u nào sao?"
"Không có gì hết."
"Vậy thì anh ấy bị làm sao?" Greta hỏi dồn.
"Về mặt sinh lý thì chẳng có chuyện gì cả."
"Vậy còn chuyện chảy máu thì sao?"
"Thật khó để chắc chắn, nhưng có thể chẳng có gì ngoài chế độ ăn uống. Phải đảm bảo anh ta kiêng các loại trái cây cứng và xương cá."
"Ông có thật sự nghĩ tất cả chỉ như vậy? Chỉ vì chế độ ăn uống?" Greta lùi lại một bước. "Ông có thật sự tin rằng anh ấy là một người đàn ông hoàn toàn khỏe mạnh không, bác sĩ Hexler?"
"Sức khỏe của anh ta bình thường. Nhưng anh ấy có bình thường hay không à? Hoàn toàn không. Chồng cô không bình thường đâu."
"Tôi có thể làm gì?"
"Cô có khóa cửa tủ quần áo không? Để anh ta khỏi động vào quần áo của cô."
"Tất nhiên là không rồi."
"Cô nên làm ngay lập tức."
"Chuyện này thì có lợi ích gì? Vì anh ấy cũng có váy đầm riêng."
"Quăng chúng đi hết ngay lập tức. Cô không nên khuyến khích chuyện này, cô Wegener. Nếu anh ta cho rằng cô đồng ý việc này, anh ta có thể nghĩ rằng chuyện giả trang thành Lili chẳng có gì sai trái." Bác sĩ Hexler ngừng lời. "Vậy thì anh ta chẳng có hi vọng nào đâu. Cô không phải là đang khuyến khích nó đấy chứ, có đúng không? Tôi hi vọng cô chưa bao giờ nói với anh ta rằng cô đông ý chuyện đó vì lợi ích của anh ta thôi."
Đó là điều Greta sợ hãi nhất, rằng chuyện Lili là do lỗi của cô. Rằng bằng cách nào đó cô đã làm hại chồng mình. Bức tường dọc hành lang vừa vàng nhợt nhạt, vừa bong tróc. Bên cạnh Greta là bức chân dung bác sĩ Hexler, đúng kiểu tranh chân dung mà cô vẫn thường vẽ.
Vài tuần trước, vào một ngày nọ, Greta nhận được một cuộc gọi từ Rasmussen thông báo rằng Lili đã đến phòng triển lãm. "Tất nhiên là tôi nhận ra cô ấy qua những bức tranh cô vẽ," ông ta nói. "Nhưng có điều gì đó không ổn. Cô ấy có vẻ yếu ớt, hoặc là thiếu nước." Rasmussen kể, ông ta đã đưa ghế ngồi cho Lili, và cô ấy nhanh chóng ngủ gục, bong bóng ánh bạc nở trên môi cô. Ngay sau đó, phu nhân nam tước Haggard đến phòng triển lãm cùng anh tài xế người Ai Cập. Ngài phu nhân thường cho rằng mình là quý tộc nổi tiếng nhất hiện thời, và bà ấy không thể nào ngừng nói về điều trái ngược - cái gọi là "chủ nghĩa hiện đại" - khi bắt gặp người mẫu của bức tranh ngủ gục trước bức họa vẽ chính mình. Vang vọng khắp phòng triển lãm là âm thanh của lớp da mềm mại làm nên đôi găng tay da đà điểu của phu nhân nam tước khi bà vỗ tay tán thưởng "toàn bộ khoảnh khắc này". Năm bức tranh treo trên tường chính là những bức được vẽ dưới cái nóng cuối tháng tám của miền Nam nước Pháp, từng bức tranh như được ánh mặt trời vùng Menton chầm chậm lan tỏa, hắt lên từ phía sau. Những bức tranh miêu tả Lili giống như lúc cô đang ngồi trên ghế: ngập ngừng, hướng nội, đẹp đến kỳ lạ từ vóc dáng đến tư thế, với cái mũi lớn và đầu gối xương xương, mí mắt lấp lánh như được bôi dầu và khuôn mặt sáng bừng. "Ngài phu nhân nam tước mua hết năm bức tranh," Rasmussen báo cáo. "Và Lili vẫn ngủ gục suốt quá trình mua bán. Greta, cô ấy có làm sao không? Tôi hi vọng là không. Cô không bắt cô ấy thức quá khuya đấy chứ? Chăm sóc cô ấy, Greta. Vì cô nữa."
"Ông không hề lo lắng về việc chảy máu à?" Greta hỏi bác sĩ Hexler. "Không một chút nào sao?"
"Không lo lắng bằng việc anh ta hoang tưởng mình là phụ nữ," bác sĩ đáp lại. "Ngay cả tia X-quang cũng không chữa được. Cô có muốn tôi nói chuyện với Einar không? Tôi có thể nói với chồng cô rằng chính anh ta đã làm mình bị thương."
"Nhưng anh ấy có làm vậy không?" Greta rốt cuộc cũng chất vấn. "Ý tôi là, anh ấy thật sự làm vậy à?"
"Vâng, tất nhiên rồi. Tôi tin là cô nhất trí với tôi, cô Wegener. Tôi tin rằng cô sẽ đồng ý rằng nếu chuyện này không ngừng lại thì chúng ta phải thử những biện pháp quyết liệt hơn. Rằng một người đàn ông như chồng cô làm sao có thể sống tử tế được. Dĩ nhiên là Đan Mạch cũng phóng khoáng, nhưng chuyện này không phải là vấn đề phóng khoáng hay không. Đây là chuyện tinh thần lành mạnh, cô có đồng ý hay không cô Wegener? Cô có đồng ý rằng có điều gì đó không bình thường về những khát khao của chồng cô? Rằng tôi và cô, với tư cách là những công dân có trách nhiệm, không thể để chồng cô tự do lang thang với bộ dạng là Lili? Không thể dù là ở Copenhagen. Không thể thỉnh thoảng làm vậy. Không thể cho dù dưới sự giám sát của cô. Tôi tin rằng cô sẽ đồng ý với tôi rằng chúng ta nên làm bất kỳ điều gì để trục xuất con quỷ này ra khỏi anh ta, bởi vì đó là toàn bộ vấn đề, cô có đồng ý với tôi không, cô Wegener? Một con quỷ. Cô Wegener, cô có đồng ý hay không?"
Ngay lúc đó, Greta, vốn đã là dân California tròn ba mươi năm và có thể đếm ít nhất ba lần cô gần như vô tình đưa mình vào chỗ chết - chẳng hạn như lần thứ hai, khi cô làm thử động tác trồng cây chuối trên lan can gỗ tếch của con tàu Frederick VII, con tàu đã đưa gia đình cô đến Đan Mạch khi cô lên mười - chợt nhận ra rằng bác sĩ Hexler hiểu biết quá ít ỏi, thậm chí là chả biết gì. Cô sai rồi, và cô nghe được từ sau tấm màn gấp tiếng Einar đang rên rĩ trên giường.
 
 
 
PHẦN HAI
PARIS, NĂM 1929
 
 
CHƯƠNG MƯỜI BA
 
 
Băng qua đại lộ Sabastopol, nằm về hướng bắc của tòa nhà Les Halles Centrales là một con phố dài đúng bằng hai dãy nhà. Nhiều năm qua, tên con phố không ngừng thay đổi. Ngày trước, khi một kho hàng chứa tiêu phát triển rồi lụi tàn trên đường đó, người ta gọi là phố Poivre. Rồi lúc một khách sạn dành cho bình lính hồi hương được mở ra, nó được đặt tên là phố Semaines. Nhưng bây giờ, khi tấm biển màu xanh pha trắng đã biến mất, người ta biết đến nó với cái tên thông tục là phố La Nuit (tạm dịch là phố Đêm). Mấy tòa nhà dọc đó đen kịt vì muội than đọng trên từng bậc cửa sổ, bám đầy mấy chiếc đèn dầu, đọng trên bồn tiểu công cộng, phủ cả lên mái hiên nát bươm trước tiệm buôn thuốc lá kèm theo rượu vodka lúa mì và gái làng chơi. Cửa nhà được đánh số nhưng chẳng hề có biển hiệu. Chẳng có ai khác ngoài ông chủ hiệu buôn thuốc lá có hàng ria mép đỏ quạch dính đầy những vụn bánh mì brioche từ bữa sáng, vẫn còn sinh sống hay kinh doanh, cả hợp pháp lẫn bất hợp pháp. trên con phố này. Tại vị trí của căn nhà số 22 là một cửa trước và ô kính mờ, bước vào trong là hành lang bốc mùi khai như bồn tiểu công cộng dính đầy muội than. Lên hết cầu thang là một cánh cửa xiêu vẹo vì những cú đạp, rồi đi vào phía trong là một quầy hàng của một phụ nữ tự xưng là Madame Jasmine Carton và con mèo giống Manx tên là Sophie.
Madame Jasmine Carton trông mập mạp nhưng vẫn giữ được nét thanh xuân. Lớp lông dày nâu nâu phủ đầy cánh tay và thỉnh thoảng lại mắc vào vòng tay bằng vàng của bà. Bà từng nói với Einar rằng một trong mấy cô gái bà trông nom đã rời khỏi nơi này để kết hôn với một hoàng tử Hy Lạp, bỏ lại Madame Jasmine Carton và con mèo Manx. Bà cũng khoe khoang rằng nhiều năm qua khách đến "chỗ vui vẻ" này còn có vài đại sứ, một thủ tướng và hàng đống tai to mặt lớn khác.
Chỉ với giá năm Franc, Madame Jasmine Carton trao cho Einar một chiếc chìa khóa gắn với quả cầu bằng đồng thau. Chìa khóa dành cho phòng số Ba, một căn phòng chật hẹp với ghế bành bọc len màu lục, thùng lưới để đựng giấy vụn luôn được dọn sạch một cách đầy ý tứ, và hai cửa sổ nhỏ với mành cửa màu đen đã kéo kín. Trên trần nhà lắp một bóng đèn chiếu sáng quanh ghế bành màu lục. Lẩn khuất sau mùi nước tiểu là dấu vết của thứ gì đó mằn mặn, đăng đắng và ướt át.
Lúc này mới là tháng năm, cứ hai ngày nắng ấm lại có một ngày lạnh lẽo. Căn phòng chật hẹp luôn lạnh buốt. Vào mùa đông, Einar mặc áo khoác ngồi trên chiếc ghế màu lục và nhìn chằm chằm vào bộ ngực phập phồng theo từng hơi thở của chính mình. Thời gian đến chỗ Madame Jasmine Carton chưa lâu để có thể xác định chắc chắn điều này, nhưng anh tưởng tượng được mấy bức tường xỉn màu - vốn đã ố vàng vì khói thuốc và còn bong tróc khắp nơi - sẽ tự mình đổ mồ hôi vào tháng tám.
Hôm trước, Einar cởi chiếc áo khoác ngoài có túi đắp trước ngực kèm dây thắt lưng móc rất đúng mốt. Greta đã mua chiếc áo này cho Einar, vì hầu hết quần áo của anh đều do cô mua. Greta tin rằng anh chẳng biết tí gì về phong cách ăn mặc tại Paris. Dĩ nhiên là ngoại trừ quần áo của Lili: những chiếc váy đầm trễ eo với băng đô lụa tiệp màu, đôi găng tay trẻ con kéo đến tận khuỷu tay với móc cài giống ngọc trai. Đôi giày đính kim cương giả có quai ngang mắt cá chân. Lili tự mua hết mấy thứ ấy. Einar để tiền tiêu vặt hàng tuần cho Lili trong một lọ mứt cam và cô ấy sẽ tiêu bằng hết chỉ trong hai ba ngày. Bàn tay cô ấy sẽ len qua phần miệng hẹp của lọ mứt và tóm lấy những đồng Centime. Tiền cho Lili: đó là tên mục ghi chép chi tiêu của Einar. Anh sẽ ráng tìm những đồng Franc trong túi quần thường ngày bằng vải gabardine để dành cho cô ấy. Nếu anh chẳng tìm được đồng nào, thỉnh thoảng Lili sẽ chạy đến tìm Greta, người mà trước mặt Lili chỉ biết nói những từ như "được" và "thêm nữa này".
Trong căn phòng nhỏ, Einar vén một trong hai chiếc mành. Phía sau lớp kính nhòe nhòe là một cô gái trong bộ áo nịt bó sát và quần tất màu đen đang đặt chân lên chiếc ghế gỗ uốn. Cô ả đang uốn éo nhảy nhót mặc dù chẳng có tiếng nhạc nào. Thấp thoáng sau ô cửa khác là gương mặt một gã đàn ông với chiếc mũi bóng nhẫy dí vào tấm kính đến mức trắng bệch. Hơi thở của gã ta để lại vệt hơi nước. Cô ả dường như nhận biết được sự có mặt của Einar và gã kia; trước khi giật mạnh những mảnh áo quần, cô sẽ nhìn xung quanh, mặc dù không nhìn trực tiếp vào gương mặt có chiếc mũi thấp của hai người rồi hạ cằm xuống.
Cô ta vừa lột bỏ găng tay nhìn tương tự đôi của Lili ra khỏi hai cánh tay mình. Cô ả chẳng hề xinh đẹp: máy tóc đen dựng đứng như điện giật và khô khốc, quai hàm dài như ngựa, hông thì quá to còn bụng thì nhỏ xíu. Nhưng Einar thầm nghĩ phong thái yểu điệu của cô ta có gì đó rất đáng yêu; nhất là kiểu phủ đôi găng tay, rồi bộ áo nịt bó sát và đôi tất ra sau lưng ghế gỗ uốn một cách gọn gàng, cứ như biết rõ mình sẽ cần đến chúng một lần nữa.
Chẳng mấy chốc cô ả đã trở nên trần trụi, ngoại trừ chỗ mang giày. Ả ta bắt đầu nhảy nhót hoạt bát hơn, duỗi từng ngón chân và nâng cao bàn tay. Ả còn ngả đầu ra sau, phô bày khí quản phập phồng dưới làn da trắng xanh.
Einar đến chỗ Madame Jasmine Carton được gần sáu tháng, bắt đầu ra khỏi nhà vào buổi chiều khi Greta có hẹn với nhà sưu tập tranh hay một trong những chủ biên tạp chí La Vie Parisienne, L'Illustration vốn đang thuê cô vẽ tranh minh họa cho mấy truyện ngắn. Nhưng lý do Einar đến chỗ Madame Jasmine Carton không giống với những gã đàn ông khác, mấy kẻ dí mũi đầy sẹo rỗ vào ô cửa bé tí còn lưỡi thì như con nhím biển la liếm khắp thùng thủy tinh đựng hải sản. Anh chỉ muốn ngắm mấy cô gái khiêu vũ thoát y, sau đó quan sát đường cong và bộ ngực trĩu xuống, ngắm nghía cặp đùi trắng ơn ởn và run rẩy như lớp váng sữa đọng trên tô sữa hấp cứ phập phồng mở ra rồi đóng lại - anh gần như nghe được tiếng xương đầu gối đập vào nhau qua lớp kính cửa sổ bóng nhờn. Anh cũng thích thú với mặt dưới của cẳng tay, nơi tĩnh mạch xanh lè, nóng hổi vì xấu hổ và bực bội, đang tuôn chảy không ngừng; và cả khoảng da thịt sưng phồng ngay dưới rốn - phần cơ thể khiến anh liên tưởng đến chiếc gối được mang đến bởi người chịu trách nhiệm mang nhẫn cho đám cưới. Anh đến chỗ Madame Jasmine Carton vì muốn quan sát phụ nữ và tìm hiểu cách làm thế nào để thân người gắn kết với tay chân rồi tạo ra hình hài người phụ nữ. Cách cô ả với mái tóc đen dựng đứng như điện giật lại hạ cằm xuống khi đang lơ đãng nắm lấy mỗi bên ngực mềm như kem sữa. Cách của cô gái xuất hiện sau cô ả kia, chính là cô nàng tóc vàng có thân hình gầy gò đang dạo quanh căn phòng bán nguyệt màu đen, tay chống ngang hông đầy xương xẩu. Hay cách của cô gái đêm thứ ba tuần trước, Einar chưa gặp cô ta bao giờ, mở rộng cặp đùi đầy tàn nhang rồi khoe vùng kín một cách chớp nhoáng. Cặp đùi nhanh chóng khép lại, sau đó cô tiếp tục nhảy nhót điên cuồng, mồ hôi chảy xuống cổ, trong khi hình ảnh chân thật về giới tính của cô ta làm bỏng mắt Einar, ngay cả khi nhắm tịt mắt lại và cố gắng quên đi mình là ai và đang ở đâu; ngay sau đó một lúc lâu, lúc nằm xuống giường cạnh Greta và cố gắng ngủ trong khi ngọn đèn cạnh giường phía bên cô còn bật sáng và cây bút chì đầu bẹt vẫn hí hoáy trên cuốn sổ tay gáy da đang cất giữ hết bức tranh này đến bức tranh khác, đáng giá cả một sự nghiệp, về Lili.
Einar và Greta hiện đang sống tại khu Marais. Ba năm trước, hai người rời khỏi Copenhagen. Đó là ý tưởng của Greta. Một ngày nọ, có thư giao đến khu nhà Widow House. Einar vẫn nhớ rằng Greta đọc lướt nhanh chóng, rồi nhấc nắp lò lửa bằng sắt và ném nó vào. Anh vẫn nhớ như in hình ảnh ngọn lửa màu vàng lóe ra khỏi lò khi ngấu nghiến cắn nuốt lấy bức thư. Sau đó, cô bảo với Einar rằng Hans muốn hai người chuyển đến Paris. "Anh ấy cho rằng, và em cũng có chung suy nghĩ rằng chuyển đi là tốt nhất," cô đề nghị. "Nhưng tại sao em lại đốt lá thư của anh ấy?" Einar thắc mắc. "Bởi vì em không muốn Lili đọc bức thư này. Em không muốn Lili biết rằng Hans muốn gặp lại cô ấy."
Họ thuê một căn hộ trong khu nhà xây bằng đá xẻ nằm trên phố Vieille du Temple. Căn hộ ở tầng bốn, tầng cao nhất với dãy cửa kính trổ ngay trên phần mái dốc và vài cửa sổ mở ra mặt phố. Phía sau căn hộ là một khoảng sân nhỏ. Vào mùa hè, khoảng sân tràn ngập sắc hoa phong lữ được trồng trong mấy cái thùng treo trên rìa cửa sổ và áo quần cứng còng trên dây phơi. Khu nhà nằm trên con phố chạy từ khách sạn Rohan, với lối vào uốn lượn theo lề đường và hai cánh cổng màu đen vĩ đại chặn ngay trước cửa. Con phố hẹp nhưng thoát nước tốt vào mùa đông, lại còn băng ngang qua khu Marais. Dọc con phố là những tòa khách sạn đang bị chuyển đổi thành văn phòng chính phủ hay kho hàng cho công ty xuất khẩu, có vài chỗ bị bỏ không và mấy cửa hàng của người Do Thái. Đó chính là nơi Einar và Greta thường tới mua hoa quả sấy khô và bánh mì sandwich vào ngày Chủ nhật, khi những chỗ khác đều đóng cửa.
Căn hộ có hai phòng làm việc. Trong phòng làm việc của Einar là mấy bức tranh vẽ cảnh đầm lầy nằm chễm chệ trên giá vẽ ngoại cỡ. Phòng làm việc của Greta lại đặt mấy bức tranh vẽ Lili thường được bán ngay cả lúc màu chưa kịp ráo. Trên tường có một chỗ lúc nào cũng ươn ướt và đóng màu dày cui. Đấy là nơi cô thường dặm màu thử cho đến lúc tìm được gam màu chuẩn nhất: như tông màu cho mái tóc của Lili, vốn sẽ ngả sang màu mật ong sau một hồi bơi lội dưới biển vào tháng tám; tông đỏ pha sắc tím của vệt ửng hồng quanh cổ cô ấy; tông trắng bạc cho màu da phía sau khuỷu tay. Mỗi phòng làm việc có đặt một giường xếp được lót thảm kilim. Thỉnh thoảng vào ban đêm, Greta sẽ ngủ luôn trên đó nếu cảm thấy quá mệt để leo lên giường ngủ của hai người trong căn phòng nhỏ phía sau căn hộ. Ở nơi đó, bóng tối giống như kén tằm che chở cho Einar. Khi tắt hết đèn trong phòng ngủ, không gian tối om đến mức Einar chẳng thể thấy được bàn tay anh đang giơ ra trước mặt, và anh thích điều này. Anh sẽ nằm đó đến tận bình minh, khi ròng rọc dây phơi kêu cọt kẹt và một trong mấy người hàng xóm sẽ tất bật treo một đợt quần áo khác lên.
Những sáng mùa hè, Lili thức dậy rồi bắt xe buýt thẳng đến cầu Solferino bắt ngang bờ sông ngay gần công viên Tuileries. Hồ bơi ở đó có một dãy phòng thay quần áo làm từ vải bạt kẻ sọc, trông chẳng khác gì mấy túp lều cao ngòng mà chật ních. Lili sẽ thay áo tắm bên trong lều, cẩn thận chỉnh lại phần váy xòe bên dưới để giữ được vẻ thùy mị theo ý muốn. Từ lúc rời khỏi Đan Mạch, cơ thể cô đã thay đổi. Hiện tại, ngực cô đã có da thịt, còn cơ bắp trở nên mềm mại dần, vừa đủ để lấp đầy cúp áo ngực cong nhẹ trên áo tắm. Mũ tắm cao su có mùi ngai ngái của cô sẽ cố định tóc về phía sau, ôm chặt lấy bầu má và khiến dáng vẻ cô càng thêm ưa nhìn với đôi mắt hơi xếch và khuôn miệng mở ra. Lili đã học được cách mang theo một chiếc gương cầm tay, và mỗi sáng mùa hè, khi đứng trong túp lều, cô ngắm nghía chính mình, vung vẩy gương săm soi từng mảnh da thịt cho đến khi người phục vụ hồ bơi phải vỗ mấy cái vào lều bạt và hỏi liệu quý cô có cần giúp đỡ hay không.
Trong bộ dáng ấy, Lili bước ngay xuống hồ bơi, chỉ ló đầu trên mặt nước. Bãi tắm này giống như phòng trà, nơi cô thường lấy cà phê và bánh sừng bò, vốn dành riêng cho phụ nữ. Cô sẽ bơi lội khoảng ba mươi phút, đôi vai xoay chuyển khi từng cánh tay vung qua đầu trông như cối xay gió đang chuyển động, cho đến khi một phụ nữ khác trong hồ dừng lại, rồi níu chặt lấy bờ hồ để ngắm nhìn sự duyên dáng của Lili, cánh tay cô thon dài, và người ta đành tặc lưỡi xuýt xoa, trông cô thật là mạnh mẽ.
Đó là điều làm Lili cảm thấy thích thú nhất: đầu cô lướt dọc khuôn viên bãi tắm như chú vịt con; mấy quý cô trong bộ áo tắm bằng len kia cứ nhìn cô chằm chằm với cảm xúc lẫn lộn giữa thờ ơ và tò mò đến tọc mạch; cách mà cô rời khỏi hồ bơi, đầu ngón tay nhăn nheo như quả mận khô, rồi dùng khăn lông chặm nhẹ dọc hai cánh tay khi lau khô người trong ánh sáng phản chiếu lấp lánh trên sông Seine. Cô dõi mắt nhìn dòng xe cộ đang băng qua sông. Và Lili nghĩ rằng tất cả những điều này có thể trở thành hiện thực nhờ vào việc cô và Greta đã rời khỏi Đan Mạch. Cô nghĩ rằng mỗi sáng mùa hè khi đứng bên hồ bơi dẫn nước từ sông Seine, cô lại được tự do. Paris đã mang tự do đến với cô. Một cảm giác rùng mình chạy dọc sống lưng còn ẩm ướt; đôi vai cô rụt lại.
Sau khi trả chiếc khăn tắm màu hồng cho người phục vụ, cô sẽ cởi sạch áo tắm trong lều, và mỗi khi xuất thần suy tư về cuộc sống cùng những khả năng mọi chuyện sẽ xảy ra, cô lại há hốc miệng thở hổn hển khi nhận ra ngay phía dưới, giữa cặp đùi trắng đang sởn gai ốc, là một thứ gì đó đã teo quắt lại. Cái vật đó làm cô ghê tởm đến mức phải khép chặt đùi mình, túm nó ra phía sau, hai đầu gối kẹp chặt vào nhau; cô có thể nghe loáng thoáng tiếng đầu gối chạm vào nhau. Âm thanh ấy giống như tiếng chũm chọe bọc nỉ đập vào nhau đúng đoạn cao trào, khiến cho Lili và Einar nhớ đến cô bạn gái tại chỗ Madame Jasmine Carton đã nhảy múa đầy bực bội và khép đầu gối mạnh bạo đến mức có thể nghe thấy tiếng xương đập vào nhau qua lớp kính nhòe.
Và thế là Einar chính là người đàn ông Đan Mạch bé nhỏ đứng trong lều thay quần áo của hồ bơi dành riêng cho phụ nữ cao cấp nhất Paris. Ban đầu anh cảm thấy bối rối, gương mặt phản chiếu trong gương mới trống rỗng làm sao. Anh không biết mình đang ở đâu, và cũng không hề nhận ra vạch sọc ngược nếu nhìn từ phía trong lều bạt. Không nhìn thấy vệt nước văng tung tóe theo từng sải bơi của mấy cô gái. Trang phục duy nhất treo trên mắc áo là chiếc váy đầm màu nâu trông thật đơn sơ phối với thắt lưng. Đôi giày đế xuồng đen tuyền. Ví tiền chứa vài đồng xu lẻ và một thỏi son. Khăn choàng cổ bằng vải chiffon họa tiết quả lê. Anh đột nhiên nghĩ mình vốn là một người đàn ông, vậy mà lại chẳng thể nào quay về căn hộ nếu không mặc hết những thứ này lên người. Rồi anh trông thấy chuỗi hạt hai vòng màu hổ phách mang đến từ Đan Mạch; bà nội anh đã mang chuỗi hạt này suốt cả cuộc đời, ngay cả khi trồng trọt trên cánh đồng đầy rêu nước. Lúc bà cúi xuống lấp cái tổ của con cáo đỏ, chuỗi hạt quấn quanh cổ kêu lách cách khi chạm vào xương ức. Bà đã tặng nó cho Greta, nhưng vì ghét cay ghét đắng màu hổ phách nên cô đã đưa nó lại cho Einar, và Einar nhớ rằng anh đã trao nó cho cô gái bé bỏng tên là Lili.
Mọi thứ đến với anh như thế này: từng mảnh, từng mảnh, chầm chậm, rồi nhanh dần nhờ vào chuỗi hạt hổ phách hay phát đập tay của người phục vụ lên cửa lều bạt khi cô ta thêm một lần nữa lại hỏi liệu quý cô có cần giúp đỡ hay không. Anh cố mặc chiếc váy nâu và đôi giày đế xuồng một cách chỉn chu nhất. Khi cài thắt lưng, anh thấy nổi xấu hổ như thiêu đốt mình, mặc dù hiện tại anh có vẻ chẳng biết gì về mấy chỗ móc và cài rắc rối trên váy đầm phụ nữ. Trong ví anh chỉ còn vài Franc, và anh biết ba ngày nữa mới có thêm tiền. Nhưng Einar không chịu đi bộ mà vẫy một chiếc ô tô, vì chiếc váy đầm màu nâu làm anh cảm thấy vướng víu không chịu được trên đường phố Paris. Chiếc khăn choàng cổ vắt sau lưng ghế đang tự mình bay phấp phới, và Einar không thích cảm giác choàng nó qua đầu rồi quấn quanh cổ. Mảnh vải chiffon mỏng nhẹ như sa, điểm xuyết mấy quả lê vàng giống như có thể siết cổ anh. Chiếc khăn đó thuộc về người khác.
Và thế là Einar rời khỏi hồ bơi trong trang phục của Lili, trên đầu vẫn đội mũ tắm cao su, rồi nhét một đồng Franc vào tay người phục vụ đang chìa ra, sau đó lả lướt bước đi như chú vịt con bơi trên mặt hồ, lơ lửng trên mấy lời tọc mạch của mấy cô nàng người Pháp thường nấng ná ở hồ bơi đến tận lúc bắt buộc phải về nhà để giúp những cô hầu gái người Ba Lan chuẩn bị bữa trưa cho bọn trẻ. Trong lúc đó, Einar luộm thuộm trong trang phục của Lili và hai mắt đỏ hoe, sẽ về chỗ Greta, người đã dành cả buổi sáng để dựng đạo cụ và phác thảo hình mẫu cho một bức tranh nữa về Lili.
Một ngày đầu tháng năm, Einar ngồi tại quảng trường Place des Vosges, trên băng ghế đặt dưới hàng cây xanh. Gió cứ thổi tung tóe nước từ đài phun bắn hết lên chân anh và để lại mấy vệt ướt trên sàn lát sỏi và cát màu. Lili đã đi bơi vào buổi sáng. Buổi chiều, Einar quay lại chỗ Madame Jasmine Carton để nhìn tận mắt cảnh một người đàn ông và một người đàn bà làm tình ngay trên sàn, qua lớp kính đen kịt. Chuyện này làm anh tốn tiền gấp ba lần so với phí vào cửa thông thường; Madame Jasmine Carton đã quảng cáo buổi trình diễn này suốt cả tháng trên tấm thẻ ghi chú đính trên ô cửa nhìn trộm. Tấm thẻ ghi chú còn ghi rõ thông tin người cần liên hệ, làm Einar nhớ đến mấy tấm thẻ mà Lili và Greta dùng để liên lạc qua lại những ngày đầu tiên còn ở Đan Mạch: bầu không khí tại Copenhagen vốn vừa lạnh, vừa khô, lại còn chứa đầy tạp âm gì đó khiến những lời tâm sự bí mật của hai người không được truyền tải đầy đủ.
Chàng trai nhìn không khác gì đứa con trai mới lớn, cao ráo và thanh mảnh, với làn da trắng xanh, đôi mắt xanh biếc mệt mỏi, và bộ xương sườn có thể đếm được. Chàng trai nhanh chóng trút bỏ hết bộ comple vải tuýt rẻ tiền, rồi quay sang giúp người đàn bà có vẻ lớn tuổi hơn cởi hết quần áo. Ngoại trừ chính mình, Einar chưa bao giờ nhìn thấy một người đàn ông khác trong trạng thái bị kích thích, cái đó giương lên như mũi giáo sắp phóng tới. Cái đó của chàng ta đỏ ửng, nhỏ nước và căng nhức. Người đàn bà dễ dàng đưa nó vào trong, và ngay khoảnh khắc ấy có vẻ khoan khoái. Trong căn phòng nhỏ tối đen hình bán nguyệt, hai người giẫy giụa khắc sàn, còn gương mặt của mấy lão già đáng tuổi ông nội của chàng trai thì dí sát vào từng ô cửa sổ. Anh chàng nhanh chóng làm xong, hạt giống theo hình vòng cung bắn thẳng vào gương mặt cau có của người đàn bà. Chàng ta đứng dậy, cúi chào, rồi nhanh chóng rời khỏi căn phòng, bộ comple vải tuýt cuộn thành một nùi dưới cánh tay. Đến lúc này, khi nhìn xuống đùi, Einar mới thấy một vệt ướt mằn mặn, như thể ly trà chứa đầy nước biển vừa bị lật úp. Mặc dù phải luôn biết rõ từ trước, nhưng giờ Einar mới thật sự nhận ra rằng: mình muốn chàng trai đó làm điều tương tự với Lili. Hôn cô ấy trước khi bờ ngực anh ta đỏ ửng, và khuôn miệng cong lên vì khoái cảm.
Sau đó, Einar nhận ra mình đang ngồi trên băng ghế tại quảng trường Place des Vosges. Anh mở áo khoác ra để đũng quần, vốn đã được tẩy sạch tại bồn rửa tay chỗ kia, khô hẳn. Mấy đứa trẽ con đang té nước vào nhau trong đài phun nước, rồi đè mấy chiếc vòng đồ chơi trên mặt đường lát sỏi, và một cô bé đang thả diều có hình con dơi. Mấy cô trông trẻ người Ý đang nói chuyện oang oang ngay trên đầu mấy chiếc xe đẩy em bé xếp thành vòng tròn. Einar quay người đi khỏi họ, xấu hổ vì vệt ướt. Mới sáng nay, mặt trời còn sưởi ấm khắp hồ bơi, vậy mà bây giờ lại trốn mất tăm sau mấy đám mây. Đột nhiên, công viên trở nên xám xịt, còn lũ trẻ trông như những hình bóng mờ nhạt. Quần Einar không khô nổi. Vải len ướt làm anh nhớ đến lũ chó trong trang trại tại Bluetooth, cảnh chúng nó quay về nhà sau một ngày săn ếch như thế nào. Bùn đất bê bết và lạnh lẽo làm bộ lông cứng đơ, và chúng nó chẳng bao giờ tẩy được cái mùi ẩm ướt ấy.
Cô bé đang thả diều thét lên. Dây diều trượt khỏi tay em và con diều từ trên trời rơi xuống. Cô bé vươn tay ra theo hướng diều rơi. Rồi em bắt đầu chạy, chiếc nơ bướm cài trên tóc sượt qua tai. Cô giữ trẻ quát lên và bảo cô bé phải dừng lại. Cô ta trông cực kỳ giận dữ, gương mặt đặt trưng kiểu Ý đỏ bừng và đầy giông tố. Cô bảo cô bé Martine đứng chờ cạnh xe đẩy em bé. Con diều đâm sầm xuống đất, lớp giấy làm diều màu đen bay phần phật trên khung. Rồi nó rơi xuống gần chân Einar.
Cô giữ trẻ rít lên, rồi đưa bàn tay xinh xắn chộp lấy con diều nhăn nhúm. Sau đó cô ta túm lấy cổ tay Martine và dắt cô bé quay trở lại chỗ xe đẩy, giữ em sát bên mình. Mấy cô giữ trẻ còn lại vẫn đứng tụm lại dưới hàng cây xanh, những chiếc xe đẩy em bé chạm thanh chắn vào nhau. Khi Martine và cô giữ trẻ kia tụ họp với bọn họ, tất cả đều quay ra sau nhìn một cách nghi ngờ. Rồi đám bánh xe quay đều tản ra xa, vang lên tiếng kin kít như lời than khóc.
Đó là lúc Einar nhận ra phải thay đổi điều gì đó. Einar đã trờ thành một người đàn ông khiến mấy cô giữ trẻ phải sợ hãi. Einar chính là gã đàn ông khả nghi với vệt ướt trên trang phục.
Đăng nhập để trả lời
0