📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thiên tài lạc lối - Thẩm Thệ Hà

4 trả lời, 13 lượt xem — Trang 1 / 1
Thiên tài lạc lối
Tác giả: Thẩm Thệ Hà
 
- I -
Thần đồng xuất hiện

Ngày xưa, không nhớ rõ vào triều đại nào của nước Trung Hoa, đất Hàng Châu bỗng xuất hiện ba thần đồng tiếng đồn vang khắp xa gần.
Đó là ba đứa trẻ mồ côi đã tình cờ gặp gỡ nhau trong một đoàn mãi võ. Chúng gồm một gái và hai trai. Cả ba đã từng biểu diễn võ, văn làm cho nhiều người mến phục.
Đứa bé gái độ mười bốn tuổi tên là Phi Yến. Cô bé có tài vũ rất uyển chuyển dịu dàng, nhất là vũ trên dây rất thần tình, đi đến đâu cũng được người xem hoan nghênh nhiệt liệt. Mặc dầu còn bé, thân hình chưa phát triển đúng mức theo tuổi dậy thì, Phi Yến cũng đã biểu lộ một nhan sắc tuyệt vời qua gương mặt sáng rỡ như ngọc, đôi mày thanh thanh, đôi mắt lóng lánh như ôm ấp nhiều mộng đẹp tương lai. Gót son bé bỏng đã sớm dày dạn với phong trần. Tài ba của nàng đã làm ngẩn ngơ bao du tử.
Hai đứa bé trai, một tên là Tử Lệ, một tên là Tây Nhạn.
Tử Lệ thông minh xuất chúng, bảy tuổi đã biết làm thơ khẩu chiếm, mười tuổi đã làm cho bao văn nhân mặc khách ngưỡng mộ thiên tài. Năm nay nó đã mười lăm tuổi, có tài ứng đối nhanh nhẹn tất cả những câu đối dầu hiểm hóc kỳ dị đến đâu (có thể so sánh Trạng Quỳnh nước ta) và có tài ngâm thơ làm cho người nghe phải sôi sục căm hờn vùng lên tranh đấu, hoặc bùi ngùi xúc cảm mà rơi lệ dầm dề.
Tây Nhạn võ dũng hơn người, sức mạnh phi thường như Lý Ngươn Bá đời Đường hay như Trần Quốc Toản ở nước ta. Năm tám tuổi, nó có lần đánh gục một con trâu chứng cứu thoát một lũ mục đồng; năm mười hai tuổi, nó một mình đánh tan một bọn cướp hung dữ đầy khí giới, với những ngọn dao thần tốc bách bộ xuyên dương. Nguyên Tây Nhạn có tài phóng dao rất tài tình, lợi hại như những tay cao bồi của thời đại nguyên tử. Năm nay nó được mười lăm tuổi. Nó đã ứng dụng tài phóng dao trong đoàn mãi võ, nên được khán giả ưa chuộng võ thuật nồng nhiệt hoan nghênh.
Ba đứa trẻ sống chung nhau trong đoàn mãi võ, thương yêu nhau như ruột thịt, chia vui xẻ buồn với nhau trên bước đường phiêu bạt giang hồ. Nhưng mỗi đứa có một tâm sự và hoài bão khác nhau.
Một lần nọ, Phi Yến thổ lộ tâm sự nó cho hai bạn nghe:
- Tôi là đứa bé khổ nhất trên đời này. Các bạn biết không, ngày xưa tôi sống êm đềm trong nhung lụa, được sự thương yêu chiều chuộng của bà mẹ hiền và người cha lúc nào cũng lo lắng cho tương lai con.
Mẹ tôi dạy tôi về công, ngôn, dung, hạnh. Cha tôi dạy tôi văn chương, đạo đức. Mẹ thường bảo tôi: “Người con gái cần phải trau dồi công, ngôn, dung, hạnh. Đó là bốn món trân bảo của giới nữ lưu”. Cha tôi thường khuyên tôi: “Con cũng cần học tập văn chương, đạo đức để mở mang kiến thức, để khỏi thua kém những trang liệt nữ từ nghìn xưa”. Những lời khuyên quý đến bây giờ như còn văng vẳng bên tai tôi. Nhưng ngoài văn chương ra, tôi còn một sở thích khác mà tôi không thể học ở cha, mẹ. Đó là môn vũ. Tôi thích vũ lạ lùng. Mỗi lần đọc sách có mô tả những vũ khúc Nghê Thường hoặc vũ khúc dịu dàng của Tiên nữ chốn Thiên Thai, tôi đắm chìm trong mơ mộng, để hàng giờ tưởng tượng hoạt cảnh thiên tiên. Rồi tôi tập múa một mình qua sự tưởng tượng ấy. Sau đó tôi lại tập múa chơi với các bạn hàng xóm đồng trang lứa.
Có lần mẹ tôi bắt gặp tôi đang tập múa một mình trong vườn hoa sau nhà, mẹ đứng ngắm tôi một lúc rồi mới dịu dàng nói:
- Ai dạy con múa vũ khúc đó?
- Sách dạy con đấy, con đã bắt chước những nàng tiên trong sách.
- Vũ khúc gì vậy, con?
- Nghê Thường Vũ Y.
- Vũ khúc của Hằng Nga trên Nguyệt điện phải không?
- Phải rồi, mẹ tài quá.
Mẹ tôi cười hiền lành:
- Mẹ thấy con có tài về vũ. Nhưng mà vũ có ích gì đâu con?
- Sao lại không có ích, mẹ? Nếu không có ích sao chị Hằng Nga biết vũ, sao các Tiên nga biết vũ, sao các cung nữ trong triều biết vũ?
Mẹ tôi cười đùa:
- Vậy con muốn lên Cung Trăng, lên Tiên giới hay vào Cung Điện?
- Cung Trăng và Tiên giới xa vời quá. Con muốn làm Hoàng hậu, được không mẹ?
- Nên làm người dân thường, sung sướng hơn con ơi!
Mẹ tôi không nghiêm khắc lắm, nên để tôi vui chơi tập luyện lấy một mình. Cũng từ đó, tôi nẩy sinh một hoài bão sẽ làm Hoàng hậu một ngày kia, khi gặp được cơ hội.
Hai năm sau, mẹ tôi mất vì bạo bệnh. Chiến tranh xảy đến gây tang tóc cho biết bao gia đình, tàn phá biết bao đô thành làng mạc. Dân chúng sống khổ sở, lầm than. Cha tôi chết ngoài chiến trận. Nhà tôi bị giặc đốt cháy trong một trận càng quét. Tôi bơ vơ lạc lõng giữa chợ đời, không một người bà con thân thuộc. Tôi không biết phải đi đâu, ngủ ở đâu, làm sao để sống, làm sao để tránh những tai nạn khủng khiếp trong buổi loạn ly?
Tôi đi lang thang, đói khát, xin ăn từng bữa như một đứa trẻ ăn mày. Tôi ngủ nơi cầu sương điếm cỏ, quán gió lều hoang. Cho đến một hôm, tôi gặp một đoàn mãi võ đang biểu diễn tài nghệ cho khán giả xem. Tôi say mê quên cả đói. Lúc ấy, anh Tây Nhạn phóng đoản đao tài quá, làm tôi ớn lạnh cả người; anh Tử Lệ ngâm thơ hay lạ lùng, làm tôi nhớ đến những ngày đầm ấm xa xưa mà bùi ngùi rơi lệ. Tôi xin nhập đoàn mãi võ. Thấy tôi có chút tài múa hát, chú Thiết Phủ mới cho tôi theo đoàn.
Nhiều lúc tôi khóc thầm một mình khi nhớ đến cha và mẹ. Nhất là những buổi chiều tà bảng lảng, gió heo may làm se thắt lòng thơ, tôi nhớ tha thiết những bóng hình thân yêu, những lời khuyên răn như khắc sâu tâm khảm. Nghĩ đến những lời khuyên của mẹ, tôi chợt nhớ đến câu bông đùa của người từ mẫu: “Nhưng mà vũ có ích lợi gì đâu con?” Tôi muốn gọi hương hồn mẹ tôi mà nói rằng: “Mẹ ơi, nhờ biết vũ mà con mới sống đến ngày nay. Vũ có ích đấy chứ, phải không mẹ?”
Đôi lần nhớ đến mộng đẹp mình ôm ấp ngày thơ, tôi tự thẹn thùng với bóng. Tôi tự trách thầm: “Mình như vầy mà ước mơ làm Hoàng hậu. Thôi vỡ mộng rồi, Phi Yến ơi!”
Lần lần, tôi bớt buồn và cố quên đi những ngày ảm đạm. Cũng may, tôi có được hai người bạn chân thành luôn luôn an ủi. Đó là anh Tử Lệ và anh Tây Nhạn.
Nghe Phi Yến thuật lại cuộc đời thơ ấu, Tử Lệ và Tây Nhạn càng thấy thương mến bạn hơn. Người bạn gái ấy có tâm hồn rất thơ mộng, phải chăng đó là tâm hồn nghệ sĩ giàu cảm lụy, như người đời thường bảo?
Tử Lệ thành thật nói:
- Phi Yến có ghét chiến tranh chăng?
Phi Yến chau mày đáp khẽ:
- Yến ghét chiến tranh vô cùng.
Tử Lệ cao hứng:
- Người xưa có câu thơ: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”, thật đã lột trần sự tàn nhẫn của chiến tranh.
Phi Yến che miệng cười:
- Thôi, xin can anh, đừng xổ thơ ra nữa. Yến biết tài anh rồi mà...
Tây Nhạn xen vào câu chuyện:
- Phi Yến có thích làm Hoàng hậu nữa không?
- Thích chớ, mặc dầu không còn hy vọng...
- Nếu sau này Yến làm Hoàng hậu, Yến sẽ làm gì?
- Hoàng hậu Phi Yến sẽ tâu Vua phong anh làm Nguyên soái, anh Tử Lệ làm Trạng nguyên.
Tử Lệ phì cười:
- Trạng nguyên phải đi thi mới đỗ chứ.
Biết mình nói bậy, Phi Yến đỏ mặt nói ngang:
- Không cần thi.
- Đó là luật lệ riêng của Phi Yến à?
- Có thể vậy.
- Vậy thì nhà Vua nào phong Phi Yến làm Hoàng hậu chắc chắn sẽ trở thành hôn quân.
- Anh này nói lạ!
- Nói thật đấy! Vì chưa chi Phi Yến đã đòi sửa đổi luật lệ, sau này Phi Yến còn mê hoặc quân vương đến đâu.
Phi Yến bẽn lẽn cúi đầu:
- Yến không đủ bản lĩnh như anh tưởng đâu.
Cả ba đều cười, vẻ mặt vui tươi hí hởn. Suy nghĩ một lúc, Phi Yến bỗng nói:
- Nếu Yến có đủ bản lĩnh, Yến sẽ làm sao cho đất nước tránh khỏi họa chiến tranh. Yến sẽ làm sao cho nhân dân an hưởng thái bình, và văn nghệ sẽ là phương tiện nâng cao đời sống tinh thần của con người, biểu dương sức mạnh tinh thần của dân tộc...
Đăng nhập để trả lời
0
- II -
Văn tài và võ tài

Một buổi chiều mùa đông. Sau một ngày trình diễn mệt mỏi, ba trẻ ngồi quanh ngọn lửa hồng, trước ngôi cổ tự.
Nền trời lấp lánh sao. Vài con chim ăn đêm chớp cánh trên từng không buông ra những tiếng kêu lảnh lót. Gió dìu dịu mơn vờn mái tóc trẻ thơ. Ánh trăng vàng lung linh trên nội cỏ.
Phi Yến mở đầu câu chuyện:
- Hôm nay anh Tử Lệ hãy kể chuyện cho chúng tôi nghe.
Tử Lệ thân mật nhìn bạn:
- Chuyện gì bây giờ?
- Anh là thiên tài về văn chương, anh có biết bao chuyện hay ho, lý thú. Nào, kể đi anh.
Tây Nhạn đề nghị:
- Tôi chắc cuộc đời anh cũng là một câu chuyện lý thú lắm rồi. Vậy hãy kể lại dĩ vãng của anh đi, Tử Lệ!
Đôi mắt Tử Lệ mơ nhìn về chốn xa xăm như đang tìm lại những bóng hình quen thuộc, những kỷ niệm ấu thời. Nó bỗng thở dài nói khẽ:
- Đời tôi thật ra không có gì ly kỳ như các anh, chị tưởng đâu. Tôi không hãnh diện chút nào, và nếu phải kể lại thì thật là một sự não lòng.
Phi Yến nhanh nhẩu nói:
- Càng não lòng, Yến càng thích nghe. Mà chuyện anh chắc không có Vũ khúc Nghê Thường hay tiếng hát Thiên Thai đâu, phải không anh?
Tử Lệ nhoẻn một nụ cười buồn:
- Có chứ, chị. Văn, vũ, nhạc vốn liên quan mật thiết với nhau mà.
- Vậy thì anh kể mau đi.
Tử Lệ bắt đầu kể với giọng thật đầm ấm, dịu dàng:
- “Tôi sinh ra trong một gia đình trung lưu, vốn dòng nho phong lễ giáo. Khi còn bé, tôi đã học tập văn chương kinh sử. Thú thật, tôi say mê văn chương hơn mọi thú trên đời. Chẳng hiểu tôi có chút thiên tư nào không mà khi mới lên bảy, nhiều người đã bắt tôi làm trò tiêu khiển. Mỗi lần có khách đến chơi nhà, cha tôi thường bắt tôi ra để trắc nghiệm. Khách ra câu đối cho tôi đối lại, hoặc ra đề cho tôi làm thơ. Khách thường khen tôi thông minh. Có người còn ca ngợi tôi là thần đồng.
Tôi không hiểu tôi thông minh ở chỗ nào. Và tôi càng hổ thẹn khi người ta ca ngợi mình là thần đồng. Nhưng rồi tiếng đồn cứ vang ra mãi, hết nho sĩ lại đến văn nhân tìm đến thử tài tôi. Họ làm cho tôi mỗi lần đến trường phải ngại ngùng với bạn, bỡ ngỡ với thầy.
Năm tôi lên mười, thầy tôi nghiêm nghị bảo: “Thầy đã hết chữ dạy con rồi. Con nên tìm thầy khác học hỏi thêm. Thầy tin tương lai con sẽ sáng lạng”. Trong làng không còn thầy nào giỏi hơn dạy tôi, nên tôi chỉ còn cách đọc sách để trau dồi thêm năng khiếu của mình.
Trong sách có những câu:
- Thi trung hữu hoa.
- Thi trung hữu nhạc
- Thi trung hữu nữ nhan như ngọc.
Tôi nhận thấy những lời này thật đúng. Nhờ đọc sách, tôi đã hòa mình trong những cảnh sắc lạ lùng của năm châu bốn biển, cả đến những cảnh Tiên giới. Phật giới như Bồng Lai, Cực Lạc. Nhờ đọc sách, tôi tưởng tượng đến những vũ khúc tuyệt vời của Hằng Nga, Ngọc Nữ, và mới nhận thức văn nghệ có tác dụng lớn lao đến tinh thần con người. Nhờ đọc sách, tôi hình dung được những dung nhan diễm lệ của những trang giai nhân trải mấy ngàn năm vẫn ngự trị trong lòng nhân thế. Và cũng nhờ đọc sách mà tôi trở thành một thi sĩ vô danh, ôm hoài bão dùng văn chương để tô điểm cho cuộc đời thêm đẹp, người đời sẽ đùm bọc nhau trong tình thương...
Năm tôi được mười ba tuổi thì một biến cố xảy ra. Chiến tranh đã lan đến làng tôi, gây nên cảnh điêu tàn, tang tóc. Mẹ tôi chết thảm thiết vì bị một toán quân vô loại hãm hiếp. Cha tôi vì muốn bảo vệ cho mẹ tôi mà bị chúng giết chết và bỏ xác xuống vực sâu. Tôi phải trốn chui trốn nhủi trong lùm bụi mới thoát khỏi những bàn tay hung ác.
Nghe đến đây, Phi Yến phẫn uất, đôi mắt sáng lên:
- Bọn giặc thật dã man!
Tử Lệ lắc đầu tiếp:
- Bọn sát hại cha mẹ tôi nào phải là giặc.
- Hay là bọn cường đồ đại đạo?
- Cũng không phải.
- Vậy chớ chúng là ai?
- Chúng là quân của triều đình.
Phi Yến và Tây Nhạn đều trố mắt, ngạc nhiên. Sự thật đó ra ngoài sự tưởng tượng của chúng. Phi Yến cau mày hỏi:
- Quân của triều đình phải bảo vệ dân, sao lại nhẫn tâm sát hại dân lành? Như vậy làm sao được lòng dân?
- Dưới quyền bạo chúa, quân làm sao không bạo tàn. Quân bạo tàn là cái mầm gây ra loạn lạc. Đó là nguyên nhân khiến loạn lạc cứ kéo dài, gieo đau khổ lầm than cho dân tộc.
Phi Yến thở dài:
- Chung qui chúng mình đều là nạn nhân.
Tây Nhạn nãy giờ lặng nghe, không dằn được nữa phải lên tiếng:
- Chiến tranh không buông tha cả những mái đầu xanh vô tội. Cuộc đời tôi có khác gì hai bạn đâu?
Phi Yến chớp mắt nhìn sang Tây Nhạn:
- Kẻ vũ dũng như anh mà cũng biết đau khổ à? Tôi cứ tưởng đời anh chắc phải có nhiều nét hào hùng lắm chứ.
- Hào hùng cũng có, mà bi thảm cũng nhiều.
- Vậy thì anh hơn hẳn chúng tôi rồi. Nào, anh kể lại cho chúng tôi nghe đi, anh Tây Nhạn.
Tây Nhạn ngẩng mặt nhìn trời cao, đôi bàn tay nắm chặt, đôi mắt long lanh. Vẻ mặt nó có vẻ hiên ngang, rắn rỏi lạ thường. Với giọng trầm hùng, nó từ từ đưa hai bạn trở về quá khứ:
- Gia đình tôi ngày xưa nghèo hơn gia đình hai bạn. Cha mẹ tôi là những nông dân lam lũ, khổ cực lắm mới tìm đủ miếng ăn.
Mới sáu tuổi, tôi đã phải ra đồng chăn trâu hoặc vào rừng đốn củi. Cũng may trời phú cho tôi một sức khỏe phi thường mới chịu đựng nổi nắng mưa, sơn lam chướng khí. Hàng ngày ra đồng, tôi cùng bọn mục đồng thường chia phe đánh giặc. Trận nào tôi cũng chiến thắng oanh liệt. Có lần một mình tôi chấp cả bọn trên năm mươi đứa, tôi tả xông hữu đột đánh chúng một trận tơi bời. Từ đó chúng tôn tôi làm Nguyên soái, râm rấp tuân lịnh tôi.
Một hôm, sau một trận chiến, tôi đang vui vẻ tự đắc vì thần lực của mình, bỗng nghe một giọng vang lên chế giễu. Tôi ngảnh lại, thấy một cụ già chống gậy trúc đang đứng nhìn bọn tôi. Cơn giận tôi phút chốc đã dịu xuống vì vẻ mặt quắc thước uy nghi của ông cụ. Tôi kính cẩn thưa:
- Thưa cụ, tại sao cụ cười chúng cháu?
Ông cụ đưa tay vuốt chòm râu bạc, môi vẫn nở nụ cười:
- Lão cười một mình cháu thôi đấy chứ.
- Sao cụ lại cười cháu?
- Lão cười vẻ tự đắc của cháu. Dường như cháu cho mình là vô địch trên đời, cháu có một sức mạnh không ai sánh được. Phải vậy không cháu?
Tôi vẫn cố giữ lễ phép:
- Thưa cụ, vậy cụ có biết một đứa trẻ nào hơn cháu không?
Ông cụ lại cất tiếng cười ha hả:
- Thật ra, lão chưa biết có đứa trẻ nào hiện nay có sức mạnh bằng cháu. Nhưng với sức mạnh đó, cháu sẽ làm gì?
- Hiện nay, cháu giúp đỡ cha mẹ trong việc chăn trâu, đốn củi. Sau này, cháu sẽ làm Nguyên soái cầm quân đánh giặc, trăm trận trăm thắng.
- Hoài bão của cháu to tát thật đấy, nhưng theo lão nghĩ, cháu chỉ có thể làm Nguyên soái của bọn chăn trâu mà thôi.
Tôi đã hơi bất mãn, không còn giữ lễ độ lúc ban đầu:
- Cụ khinh cháu quá! Sao cụ cho là cháu không thể cầm quân đánh giặc?
Ông cụ ôn tồn nói:
- Muốn làm Nguyên soái, người ta cần phải có Trí và Dũng. Hai điều kiện ấy, cháu chưa có được điều kiện nào cả. Cái sức mạnh của cháu chưa phải là Dũng đâu. Sức mạnh của cháu chưa chắc đã thắng nổi một ông già có Trí.
- Cụ đã nói quá đáng chăng?
- Không quá đáng đâu, cháu. Đây lão vui lòng làm người để cháu thí nghiệm. Lão đứng đây, đố cháu làm thế nào thắng được lão bằng sức mạnh.
Ông lão đứng cách tôi chỉ độ năm thước, tay mân mê cây gậy trúc. Tôi ngần ngại nói:
- Cháu không dám đâu. Cụ đã già rồi, nếu rủi cháu lỡ mạnh tay...
Ông cụ thản nhiên:
- Cháu cứ thử rồi biết. Cháu cứ đem hết sức mình ra, đừng e ngại gì cả. Lão nói thật đấy.
- Vậy cháu xin phép cụ.
Dứt lời, tôi nhảy tới đưa tay chụp cụ già. Cụ chỉ nghiêng mình tránh và cất tiếng cười ngạo nghễ. Lúc đầu tôi không dám dùng hết sức mình, nhưng tiếng cười của cụ làm cho tôi đâm cáu. Tôi xoay mình lại, đấm mạnh vào vai cụ. Tiếng cười ròn rã vẫn như xoáy vào tai tôi. Tôi lại đấm hụt vào không khí. Tôi tức mình đấm đá lung tung. Ông cụ chỉ nhẹ nhàng tránh né, bóng cụ thấp thoáng quanh người, tôi không thể nào chạm vào người cụ được. Đến khi đã mệt đừ, tôi mới dừng tay, kinh ngạc:
- Cháu chịu thua cụ rồi.
Ông cụ không cười nữa, giọng cụ thật dịu dàng:
- Bây giờ cháu có nhận rằng lão nói đúng hay không?
- Cụ nhận xét rất đúng.
- Vậy muốn làm Nguyên soái, cháu phải khổ công rèn luyện nhiều hơn nữa. Dầu là thiên tài, cũng phải cần học tập. Cháu nên nhớ lời khuyên này của Gia Cát lượng đời Tam Quốc: “Tài cần phải học; học cần phải tĩnh. Không học, không rộng được tài. Không tĩnh, không thành được học”.
Tôi phục thiện, cúi đầu:
- Cháu xin nghe theo lời dạy của cụ.
Ông lão vui vẻ nói:
- Lão có mấy trò này. Cháu thích trò nào, lão sẽ vui lòng dạy cho.
Cụ già lấy trong mình ra một ống sáo. Cụ đặt lên môi, thổi một khúc nhạc lạ lùng. Bọn trẻ mục đồng như bị chi phối bởi âm thanh huyền bí, đồng loạt nhảy múa tung tăng, múa đến mệt đừ mà không sao ngừng lại được. Đến khi cụ già ngừng thổi, bọn trẻ mới ngừng múa, mặt đứa nào đứa đó nhăn nhó như khỉ đột.
Cụ già hỏi tôi:
- Cháu thích học pháp thuật đó không?
Tôi lắc đầu thưa:
- Theo cháu, đó là tà thuật, không ích lợi gì. Cháu không thích học.
Cụ già tủm tỉm cười:
- Tốt lắm! Còn trò này...
Dứt lời, cụ già tế chiếc gậy trúc lên không. Chiếc gậy biến thành một con rồng vàng giương nanh múa vuốt, uốn mình bay lượn trên không. Cụ già bỗng đưa tay lên, rồng vàng biến mất, chiếc gậy trúc lại rơi vào tay cụ. Bọn trẻ vỗ tay hoan nghênh vang dậy.
Cụ già tươi cười hỏi tôi:
- Cháu có thích học pháp thuật đó không?
Tôi đáp không nghĩ ngợi:
- Cây gậy trúc của cụ giống như gậy Trầm Hương của Tôn Tẩn. Pháp thuật đó rất hay, song cháu không thích học vì nó không ích lợi gì.
Cụ già gật đầu nói:
- Lão chỉ còn trò cuối cùng. Đây không phải là tà thuật mà phải khổ công rèn luyện.
Cụ già lấy trong túi ra những ngọn đoản đao mỏng như lá liễu. Cụ nhìn lên không trung, thấy ba chiếc nhạn đang tung cánh bay ngang. Cụ phóng một ngọn đao đi vừa nói:
- Trúng cánh phải con giữa.
Quả nhiên, con nhạn chính giữa rơi xuống, bọn trẻ chạy đến lượm lên, mũi đoản đao ghim ngay vào cánh phải.
Bọn trẻ lại hoan nghênh nhiệt liệt. Tôi vội vàng nói:
- Xin cụ dạy cho cháu môn này.
Cụ già hiền lành nhìn tôi, tỏ vẻ vừa ý:
- Lão biết tại sao cháu chọn môn này. Chính thì không thích tà, cháu ghét tà thuật là phải. Các môn tà thuật đều không có ích lợi thiết thực cho đời sống con người. Môn phóng đao sẽ giúp ích cho cháu nhiều sau này. Lão vui lòng chỉ dạy cho cháu.
Tôi vội quỳ xuống bái tạ. Cụ già mỉm cười tiếp:
- Tất nhiên môn phóng đao không giúp cháu đoạt được ấn Nguyên Nhung, lão tài sơ trí thiển không thể giúp cháu đạt thành mộng lớn. Cháu hãy tìm người tài ba hơn mà học hỏi.
Từ đó, những lúc nhàn rỗi, cụ già thường đến dạy tôi môn phóng đao. Hai năm sau, tài phóng đao của tôi có thể so sánh với những danh tướng bắn tên giỏi nhất trong sử sách. Khi tôi thành tài rồi, cụ già đi đâu mất, không thấy tăm dạng đâu nữa.
Năm sau nữa thì chiến tranh bùng nổ. Hàng ngàn thanh niên theo tiếng gọi tùng quân cứu nước. Tôi còn quá nhỏ, không thể lên đường cứu nước như người. Trước khi lên đường tùng chinh, cha tôi ân cần dặn tôi ráng phụng dưỡng và bảo vệ mẹ già, rồi người ra đi không hẹn ngày trở lại.
Một hôm, giặc tràn vào làng, vơ vét của cải và hãm hiếp phụ nữ. Tôi một mình đánh tan một toán kỵ mã vài chục đứa, chúng phải bỏ chạy nhưng cướp theo người từ mẫu của tôi. Đứa trẻ cô thế như tôi làm sao bảo vệ được mẹ hiền trước bầy lang sói? Tôi gào thét, uất ức, muốn kêu lên cho thấu trời xanh. Nhưng tiếng gào thét của tôi không cứu được mẹ hiền. Tôi đành bơ vơ lên đường tìm mẹ. Nhờ còn bé, không bị nghi kỵ, tôi len lỏi vào nhiều trại giặc, nhưng mẹ tôi vẫn biệt tăm hơi. Dầu không tìm được mẹ, tôi cũng lén đốt phá kho lương của giặc hoặc ném đao sát địch để trả thù. Trại nào có gót chân tôi đặt đến là có lửa dậy, đao bay. Thét rồi giặc nghi ngờ cả trẻ con, không dám cho đứa nào đến gần trại.
Tôi gia nhập đoàn mãi võ để xê dịch đây đó, mong ngày kia gặp lại mẹ cha. Nhưng đến nay, tôi chưa được tin tức gì của hai người thân yêu ấy. Có lẽ họ đã về lòng đất lạnh, chưa kịp thấy đứa con mình mang được ấn Nguyên Nhung...
Nghe dứt câu chuyện, Phi Yến nhoẻn cười, nói:
- Quá khứ của anh thật xứng đáng là đời một tráng sĩ. Dầu sao, anh vẫn còn nhiều hy vọng...
Tử Lệ cần thấy an ủi bạn:
- Anh đừng lo. Trời đã sanh thiên tài, ắt phải có chỗ dùng.
Tây Nhạn nhìn hai bạn, mỉm cười:
- Anh Tử Lệ nói chí lý. Trời sanh ba chúng ta, ắt phải có chỗ dùng. Chỗ dùng đó là đi tha phương cầu thực.
Cả ba im lặng. Ngọn lửa sắp tàn vẫn lung linh trên ba vẻ mặt ưu tư. Ngọn lửa sắp tàn như đốt tàn bao mộng đẹp...
Đăng nhập để trả lời
0
- III -
Kỳ sĩ Động Đình hồ

Nhầm tiết trời xuân tươi đẹp, lầu Nhạc Dương tấp nập khách phong nhã hào hoa. Không còn gì thích thú hơn ngồi trên lầu cao, nhắp chung rượu cho ấm lòng lữ thứ, nhìn ra hồ Động Đình thơ mộng với những làn sóng gợn lăn tăn...
Nhạc Dương Lâu hôm nay được thêm ba khách lạ, một tráng sĩ, một thi sĩ, một giai nhân. Đó là Tây Nhạn, Tử Lệ và Phi Yến. Cả ba hôm nay không còn bé bỏng như ngày nào, mà đều trở thành những thiếu niên mỗi người một bản sắc. Tây Nhạn tác phong của một tráng sĩ “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Tử Lệ có dáng dấp của một tao nhân mặc khách rất mực hào hoa. Phi Yến đã trở thành một tuyệt thế giai nhân, một nhan sắc làm mờ đi bao nhan sắc.
Chú Thiết Phủ đã từ trần, cả ba nối nghiệp chủ nhân điều khiển đoàn mãi võ đi chu du khắp nẻo sông hồ. Sau một ngày mãi võ bình thơ kiếm được khá tiền, ba bạn rủ nhau lên lầu Nhạc Dương ngắm cảnh Động Đình hồ cho thỏa lòng bấy lâu mơ ước.
Tử Lệ chọn một chiếc bàn đặt cạnh khung cửa hình bán nguyệt. Cả ba vừa ăn uống vừa đưa mắt nhìn phong cảnh dưới hồ. Trời mây in xuống mặt hồ một màu biêng biếc. Xa xa, một cánh buồm bọc gió lướt nhẹ như cánh chim. Ánh hồng phản chiếu sắc nước màu mây, tô điểm xuân quang thêm huy hoàng rực rỡ.
Tử Lệ cao hứng gõ nhịp trên bàn, ngâm khe khẽ hai câu thơ của Lý Bạch:
“Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường giang thiên thế lưu”.
(Nền xanh mờ bóng thuyền đơn độc,
Chỉ thấy sông dài nước chảy xuôi...)

Nguyên nước Tàu có “Ngũ hồ” tức là năm cái hồ danh tiếng: Động Đình, Bành Trạch, Thanh Thảo, Thao Cách và Cự Khu. Riêng Động Đình là cái hồ đẹp nhất, thuộc về tỉnh Hồ Nam, dài hai trăm dặm, rộng một trăm dặm. Thi nhân các đời Đường, Tống thường cảm hứng trước phong cảnh ngoạn mục của Động Đình hồ mà sáng tác nên nhiều bài thơ, nên mượn lời thơ của bậc Thần thi đời Đường để hòa tiếng lòng theo mây, nước.
Phi Yến bỗng chỉ xuống mặt hồ.
- Các bạn xem kìa.
Tử Lệ và Tây Nhạn dõi mắt nhìn theo nàng chỉ. Từ phía nam, một chiếc thuyền nhỏ đang phăng phăng lướt tới. Một gã đàn ông trạc bốn mươi tuổi mày rô, mắt xếch, râu xồm, đang đứng chống nạnh trên thuyền. Gã mặc bộ võ phục màu lam, lưng không đeo kiếm, hông mang một cái túi da beo. Điều lạ lùng là gã không hề cầm đến mái chèo mà chiếc thuyền không buồm vẫn lướt nhanh, không hề chòng chành hoặc xoay hướng.
Mọi người còn đang ngạc nhiên thì chiếc thuyền ấy đã cập bến. Gã râu xồm nhảy lên bờ rồi đi thẳng một mạch lên lầu. Phi Yến bảo hai bạn:
- Gã này không phải là một kẻ tầm thường.
Tây Nhạn gật đầu, Tử Lệ ra vẻ nghĩ ngợi. Giữa lúc ấy người đàn ông đã lên đến lầu, lựa một chỗ ngồi trong một góc tường. Gã rảo mắt nhìn quanh. Tầm mắt gã bỗng dừng lại trước Phi Yến. Gã nheo đôi mắt xếch, bộ râu xồm đồng thời rún rẩy, trông khả ố vô cùng. Phi Yến bẽn lẽn ngảnh nhìn nơi khác, hai má đỏ bừng càng làm tăng thêm vẻ kiều diễm tuyệt vời.
Biết gặp phải một tên Ma đầu lợi hại, Tây Nhạn quắc mắt nhìn gã, tay gõ nhịp ngọn đoản đao trên bàn. Gã vẫn thản nhiên, nhăn nhở cười để cố gây thiện cảm. Gã xô ghế, tiến lại bàn bọn Phi Yến. Cả ba chưa biết phải đối phó thế nào thì gã đã ngang nhiên kéo ghế ngồi xuống chung bàn.
Gã tươi cười nói:
- Buổi sáng hôm nay, tôi được hân hạnh xem cô nương và tráng sĩ biểu diễn tài nghệ ở thành Lạc Dương. Thật là ba tài năng xuất chúng.
Phi Yến bất đắc dĩ phải lên tiếng:
- Tôn ông khen tặng quá lời.
Gã râu xồm nhìn mấy thanh đoản đao của Tây Nhạn, khinh khỉnh nói:
- Tài phóng đoản đao của tráng sĩ thật có một không hai. Xin bội phục, bội phục.
Gã đưa mắt nhìn ra nền trời xanh, bỗng reo to:
- Kìa một cặp chim bay thật đẹp. Giá tráng sĩ có thể dùng đoản đao bắt được đôi chim kia làm đồ nhắm thì tuyệt biết mấy!
Phi Yến im lặng, mắt dõi theo cặp chim. Giọng cười ròn rã của gã râu xồm làm cho Tây Nhạn tức giận. Nhân trên tay đang cầm một thanh đoản đao, chàng phóng nhanh theo cặp chim. Một con chim trúng đao, chao cánh mấy lượt rồi rơi xuống mặt hồ.
Gã râu xồm cười to hơn:
- Phóng đao tuyệt quá, nhưng rất tiếc, rất tiếc...
Tử Lệ bực mình hỏi:
- Tôn ông rất tiếc điều gì?
Gã làm ra vẻ vô cùng tiếc rẻ:
- Rất tiếc... mất toi đôi chim lẫn ngọn đoản đao. Thế thì lấy gì làm đồ nhắm đây?
Tây Nhạn hậm hực nhưng không trả đũa được vì gã nói có lý. Chàng lặng im, cúi đầu. Giữa lúc ấy, bỗng một đôi chim khác từ phương nam bay lại. Gã râu xồm nheo nheo đôi mắt xếch.
- Tôi xin dùng chút thuật mọn bắt đôi chim ấy để đãi quý khách một bữa rượu.
Dứt lời, gã lấy trong túi da beo ra hai thanh kiếm gỗ bằng gang tay, nhắm đôi chim phóng tới. Hai thanh gỗ bỗng biến thành hai đoản kiếm mỏng như lá liễu bay đến cắm phập vào thân chim, rồi lại quay trở về rớt xuống trước mặt bốn người. Khách trên lầu đều ngạc nhiên, trố mắt nhìn. Gã thản nhiên rút kiếm ra khỏi thân chim, hai ngọn kiếm lại biến thành hai thanh gỗ. Gã bỏ bửu bối vào túi da beo, đoạn cất tiếng gọi tửu bảo:
- Bây hãy đem chim ra làm đồ nhấm để ta thết khách quý.
Tây Nhạn vừa thẹn vừa ngạc nhiên. Chàng biết gã tỏ ý khinh thường tài nghệ mình, đồng thời muốn khoe khoang bản lĩnh lợi hại. Tử Lệ thì băn khoăn lo ngại, không biết việc gì sẽ xảy đến cho bọn chàng.
Lát sau, tửu bảo mang lên một mâm rượu thịt, trong đó có hai con chim bay mùi thơm phức. Gã râu xồm mời mọi người vào tiệc.
Trong bữa tiệc, gã râu xồm tươi cười hỏi:
- Quý khách biết tôi là ai không?
Phi Yến liến láu:
- Tôn ông là Kỳ sĩ Động Đình hồ.
Gã đưa tay vuốt râu, cất tiếng cười ha hả.
- Đó chỉ là danh hiệu do cô nương ban cho.
- Vậy tôn ông là ai?
- Tôi là quân sư của Hoàng đế đương triều.
Bọn Phi Yến kinh ngạc, nhìn gã như nhìn một hiện tượng lạ lùng. Đại hán lộ vẻ đắc ý, cất giọng oang oang:
- Nhờ thần thông pháp thuật nên tôi được Hoàng đế tin dùng. Hiện nay, Hoàng đế đang cần nhiều nhân tài ra giúp nước. Tôi lãnh sứ mạng chu du khắp nơi để tuyển chọn những phần tử ưu tú của quốc gia. Nhận thấy cô nương và nhị vị đây toàn là tinh anh của đất nước, tôi lấy làm ngưỡng mộ. Vậy nếu quý vị muốn tiến thân để lưu danh muôn thuở, tôi sẵn sàng tiến cử với Hoàng thượng, chắc chắc quý vị sẽ được đắc dụng hợp với tài năng. Quý vị nghĩ sao?
Đề nghị bất ngờ của đại hán làm cho bọn Phi Yến bàng hoàng, ngơ ngác. Mộng làm Hoàng hậu tưởng đã tiêu tan, giờ lại sống dậy trong lòng cô gái nhiều ảo vọng. Đôi mắt nàng đột nhiên sáng rỡ, đôi môi nàng chớm nở nụ yêu đời. Cái ấn Nguyên nhung cũng đang tượng hình trong tâm hồn Tây Nhạn. Chàng thấy đây là dịp “ngàn năm một thuở”, nếu không chịu bắt lấy thì thật là uổng phí cả đời trai. Chỉ có Tử Lệ là trầm ngâm, hoài nghi những lời hứa hẹn, hoài nghi cả những viễn ảnh tốt đẹp ở tương lai.
Phi Yến không cần đắn đo thắc mắc, niềm nở nói:
- Nếu tôn ông vui lòng tiến cử, thật là sự may mắn cho chúng tôi. Sau này được thỏa chí bình sinh, chúng tôi nguyện suốt đời nhớ ơn tôn ông.
Đại hán không đợi sự chấp thuận của hai chàng trai trẻ, nghiêm giọng như ra lệnh:
- Bây giờ tôi đưa cô nương về triều trước ra mắt Hoàng thượng, còn nhị vị cứ thẳng đến Trường An, chúng tôi sẽ sẵn sàng đón tiếp.
Tây Nhạn nghĩ thầm: “Không hiểu gã có thật tâm không, nếu gã âm mưu bất chánh, làm thế nào mình giải cứu kịp Phi Yến?” Tử Lệ cũng cùng một ý nghĩ ấy, toan lên tiếng phản đối thì gã đại hán râu xồm đã thản nhiên hỏi Phi Yến:
- Cô nương có biết sự tích con hạc vàng lên tiên, làm cho nổi danh lầu Hoàng Hạc.
Phi Yến nhoẻn cười duyên dáng:
- Phải sự tích Phí Văn Vi thành tiên cỡi hạc vàng bay về tiên giới?
- Phải rồi. Cô nương có muốn bắt chước Phí Văn Vi chăng?
Phi Yến chưa kịp trả lời, đại hán đã móc trong túi ra một tờ giấy vàng giống hình con hạc, trao cho Phi Yến. Vô tình, Phi Yến cầm lấy ngắm nghía. Đại hán đứng lên thổi mạnh, tờ giấy bỗng biến thành một con hạc vàng to lớn. Hắn lẹ làng thót lên mình hạc, hai tay cặp lấy người Phi Yến. Con hạc đập cánh tung bay ra khoảng trời xanh biếc, biến mất trong rặng núi trập trùng xa.
Sự kiện xảy ra nhanh chóng quá sức tưởng tượng của mọi người. Hai chàng trai chỉ còn biết đưa mắt nhìn theo bóng chim, lòng vô cùng lo sợ cho số phận của người bạn gái.
Tử Lệ dàu dàu nói:
- Chẳng hiểu gã đại hán đó có phải là quân sư của Hoàng đế đương triều không, nhưng chắc chắn gã là môn đồ của Bạch Liên giáo.
Tây Nhạn căm tức:
- Gã dùng tà thuật, chắc không phải là kẻ thiện nhân. Tôi tin rằng chính sẽ thắng tà. Bây giờ mình phải làm sao đây?
- Cứ theo lời gã, mình thẳng đến Trường An thử xem.
Thế là hai chàng trai trẻ thẳng tiến về Trường An, mong tìm được người bạn gái đã cùng sống những ngày bôn ba gian khổ...
Đăng nhập để trả lời
0
- IV -
Ba cái máy

Lầu Linh Quang hôm nay tưng bừng nhã nhạc. Tiếng tiêu thiều trầm bỗng ngân dài dìu dặt theo những làn gió thu hiu hắt buổi bình minh.
Hoàng đế say sưa ngắm nhìn đoàn vũ nữ đang thướt tha trong những bộ xiêm y rực rỡ. Họ múa nhịp nhàng theo tiếng nhạc, giọng hát thanh thanh hòa hợp như tiếng oanh, tiếng yến, tiếng loan, tiếng phụng hòa minh. Thanh và Sắc rộn ràng trên gác Phượng.
Vũ khúc chấm dứt. Âm nhạc im lắng, trả lại bầu không gian yên tĩnh. Hoàng đế nâng cốc rượu do một vũ nữ vừa dâng, môi nở nụ cười đắm say hoan lạc. Nhấp xong chung ngự tửu, nhà vua ngà ngà truyền lệnh:
- Phi Yến!
Phi Yến trang điểm cực kỳ diễm lệ, uyển chuyển tiến ra trước vũ trường theo lệnh của nhà vua. Vóc người nàng mảnh khảnh, chiếc lưng ong làm nổi bật sự cân đối nhịp nhàng của toàn thân. Một vẻ đẹp làm thỏa mãn cảm quan vương giả. Một đóa hoa làm khép nép cả muôn hoa.
Nhạc trổi lên một nhịp điệu êm mơ. Kiều nữ Phi Yến phất tay áo rực rỡ như một cánh chim, nhẹ nhàng nhảy lên chiếc cẩm đôn đặt giữa vũ trường. Dáng người nàng lả lướt như con yến vừa chớp cánh tung bay, thật xứng đáng với tên Phi Yến. Nàng đứng lặng một phút trên cẩm đôn, hai cánh tay dang ra phất phới mảnh xiêm y, một chân nàng duỗi thẳng ra phía sau thon thon tuyệt mỹ. Trông nàng giống tạc một con yến đang giương cánh.
Nhạc bỗng chuyển điệu, Phi Yến bắt đầu vũ trên chiếc cẩm đôn. Chiếc lưng ong uốn éo dịu dàng, tà áo lụa tung bay như cánh bướm. Rồi nàng xoay mình quay tít trên cẩm đôn như chiếc bông vụ, lúc đầu người ta còn trông thấy mờ mờ gương mặt ngọc, nụ cười hoa, sau chỉ thấy một vầng hào quang ngũ sắc đang chuyển động trong khoảng không gian nhất định.
Nhạc lần lần chìm lắng. Phi Yến tung mình bay xuống đất, nghiêng đầu chào vua, gương mặt vẫn tươi như đóa hoa hàm tiếu.
Nhà vua đắc ý cười ha hả, đưa tay kéo Phi Yến ngồi xuống cạnh mình.
- Ái phi vừa trình diễn một vũ khúc thật tân kỳ. Thật xứng đáng là con chim yến yêu quý của quả nhân.
Phi Yến nhoẻn cười:
- Tiện thiếp chỉ mong làm đẹp dạ quân vương.
Nhà vua hoan hỉ ra lệnh:
- Tử Lệ!
Chàng thanh niên tuấn tú bước đến, dáng điệu phong nhã của một thi sĩ hào hoa. Nhà vua hỏi:
- Khanh đã làm thơ xong chưa?
Tử Lệ cung kính tâu:
- Tâu bệ hạ, tiện sĩ vừa làm xong một bài thơ cảm tác, xin đọc lên để Thánh thượng ngự lãm.
Chàng thiếu niên cất giọng thanh tao ngâm bài thơ ca ngợi vẻ đẹp tuyệt vời của Phi Yến. Nhà vua nheo nheo mắt, lấy làm thích ý, ban cho chàng một chung rượu Bồ Đào.
Hoàng đế lại truyền lệnh:
- Tây Nhạn!
Tức thời chàng tráng sĩ có gương mặt khôi ngô, thân hình vạm vỡ, vâng lệnh vua tiến ra vũ trường. Chàng mặc võ phục, mang võ hài. Chàng quỳ xuống nền đá hoa, hai cánh tay dang thẳng, hai bàn tay xòe ra. Vừa lúc ấy nhạc êm ái trổi lên. Phi Yến yểu điệu tiến đến cạnh chàng, khẽ nhún mình nhảy lên khoảng không rồi đáp xuống nhẹ nhàng như một chiếc lá. Mũi giày nàng vừa chấm trên bàn tay xòe ra của Tây Nhạn, nàng đã uốn mình cử một vũ khúc tuyệt kỳ. Tà áo màu bay lượn như muôn hoa tơi tả trong vườn thu. Múa được một lúc, nàng chuyển mình nhảy sang tay kia, dáng lả lướt như một bóng chim, trông rất ngoạn mục. Thế rồi nàng vũ chuyền từ tay này sang tay kia của Tây Nhạn. Và trước khi nhạc chấm dứt, nàng tung mình lên khoảng không với cánh xiêm y phất phới, rồi là là đáp xuống ngay trước mặt nhà vua.
Hoàng đế đưa tay ra đón nàng, đôi mắt mẩn mê say đắm:
- Ái phi múa thật là tuyệt đẹp, có lẽ còn uyển chuyển hơn Dương quý phi ngày xưa.
Phi Yến đáp qua hơi thở mệt nhọc:
- Bệ hạ khen tặng quá lời.
Hoàng đế nhìn sang Tây Nhạn:
- Khanh quả là một lực sĩ có sức mạnh phi thường, có kém gì Lý Ngươn Bá hay Hạng Võ.
Tây Nhạn cúi đầu kính cẩn:
- Đội ơn bệ hạ có lời ban khen.
Nhà vua lại phán:
- Ái phi còn vũ khúc nào tuyệt mỹ nữa, hãy trình diễn cho quả nhân thưởng thức.
Mặc dầu còn thấm mệt, Phi Yến cũng phải vâng lệnh tiến ra vũ trường. Tây Nhạn chưa được lệnh rút lui, phải họp với nàng trình diễn. Chàng quỳ một chân, còn chân kia duỗi thẳng ra. Phi Yến bước đi nhịp nhàng theo điệu nhạc, toàn thân lả lướt, dịu dàng. Gót hài của nàng dẫm lên bàn chân đang duỗi của bạn. Rồi vừa bước vừa vũ, nàng lần lần tiến lên đầu gối, đến vai, đến ót, và sau cùng nàng đứng nhẹ nhàng trên đầu Tây Nhạn. Một chân nàng đặt trên đầu lực sĩ, chân kia duỗi thẳng ra phía sau, mình nàng hơi nghiêng về phía trước. Tây Nhạn im lặng như pho tượng, mặt không hề biến sắc.
Khi nhạc chuyển điệu, Phi Yến tung mình nhảy lên không, rơi là là như cánh hoa xuống trước mặt nhà vua. Gót hài vừa chấm đất, nàng lấy đà quay tít toàn thân như chong chóng. Nhịp quay từ từ dừng lại, Phi Yến duyên dáng nghiêng mình chào.
Mặt rồng hớn hở:
- Con chim yến của trẫm hôm nay biểu diễn những điệu múa tuyệt trần. Tử Lệ đâu, hãy làm thơ ca ngợi ái phi của trẫm đi.
Phi Yến mệt nhọc nép mình vào quân vương, nụ hoa trên môi nàng nở ra, đôi mắt ngập ngừng hướng về chàng thi sĩ...
* * * * *
Nhưng nào ai hiểu được tâm sự của giai nhân, thi sĩ và tráng sĩ?
Từ ngày theo gã quân sư râu xồm về đây, cả ba đều được nhà vua trọng dụng. Phi Yến được phong chức Quý phi, Tử Lệ được phong hầu, Tây Nhạn được phong tướng. Tuy chưa hoàn toàn đạt được ước vọng ngày thơ, nhưng theo cái đà này, nếu biết tận tụy phục vụ nhà vua, thì cái ngôi Hoàng hậu, Nguyên Nhung không phải là khó chiếm.
Hai năm sống trong cung vàng điện ngọc, cả ba đều mang cái tâm trạng chán nản lạ thường. Thực tế phũ phàng đã làm tan bao mộng đẹp. Ba thiên tài giờ đây biến thành ba cái máy: Tây Nhạn là pho tượng máy, Phi Yến là cái máy múa, Tử Lệ là cái máy làm thơ. Ba cái máy ấy chỉ phục vụ cho một cá nhân độc đoán. Mỗi lần muốn tiêu khiển, nhà vua chỉ cần vặn một cái ốc, tức thì pho tượng Tây Nhạn sẽ cử động, cái máy Phi Yến sẽ nhảy múa, cái máy Tử Lệ sẽ phát ra thơ. Thật là mai mỉa!
Ba người đã nhiều lần bí mật gặp nhau.
Có lần Phi Yến đã buồn rầu tâm sự:
- Xưa tôi mơ làm Hoàng hậu đem lại hòa bình cho đất nước, dùng văn nghệ để nâng cao đời sống tinh thần con người, chớ nào phải đem nghệ thuật phục vụ cho cá nhân, đem nhan sắc làm trò tiêu khiển cho bạo chúa.
Tử Lệ thở dài áo não:
- Xưa tôi mơ làm thi nhân để gieo Tình Thương cho nhân thế, chớ nào phải đem văn chương làm nô lệ cho bạo quyền.
Tây Nhạn cau mày căm giận:
- Xưa tôi mơ làm Nguyên soái để cầm binh cứu nước, chớ nào phải đem vũ dũng để làm trò vui cho bạo chúa, làm công cụ cho bạo lực gieo lầm than, đau khổ cho đồng bào.
Phi Yến cất giọng bùi ngùi:
- Chúng mình lạc lối rồi. Biết làm sao đây?
Cả ba im lặng. Phi Yến nhớ đến những ngày phiêu bạt, cuộc đời tự do thích thú biết bao nhiêu! Con yến ngày xưa mới quả thật là con yến của trời mây, của trăng hoa, của non nước. Mặc tình mà ca hót! Mặc tình mà tung bay! Giờ đây nàng thấy luyến tiếc những cuộc viễn du trên sóng nước hay giữa cỏ nội hoa ngàn...
Bất giác, nàng lặp lại rất khẽ:
- Biết làm sao đây?
Tây Nhạn nhớ lại thuở “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” mà cảm thấy thèm khát tự do, thèm khát không gian bát ngát, thèm khát vẫy vùng khắp bốn phương trời xa rộng. Chàng phẫn uất thét lên:
- Không thể như thế này mãi được.
Tử Lệ nhớ lại những ngày phiêu bạt, lòng thảnh thơi chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên nguồn cảm hứng dạt dào bao trùm cả trời đất. Bây giờ thế giới thi nhân chỉ thu hẹp trong cung điện, nguồn cảm hứng thi nhân chỉ để thỏa mãn thị hiếu một cá nhân. Chàng bất mãn nói to:
- Phải tìm lối thoát!
Không bảo nhau, ba người đều cùng chung một cảm nghĩ. Cả ba đều muốn thoát ly khỏi hoàn cảnh hiện tại để trở về với nhân dân.
Phi Yến cương quyết:
- Tôi sẽ rời khỏi nơi này, đem nghệ thuật phục vụ cho nhân dân.
Tử Lệ dứt khoát:
- Tôi sẽ rời khỏi nơi này, để làm tròn thiên chức của thi nhân.
Tây Nhạn rắn rỏi hơn:
- Tôi sẽ trở về con đường hành hiệp. Nhưng trước khi đi, chúng ta phải làm một cái gì...
Tử Lệ đưa ý kiến:
- Hoàng đế háo chiến, đắm mê tửu sắc chỉ vì sự mê hoặc cũa gã quân sư râu xồm Thiết Thạch.
Phi Yến tiếp lời:
- Phải, gã đã xui Hoàng thượng gây chiến, gã lại đích thân đi tìm gái đẹp để cung phụng nhà vua. Gã đã làm cho đất nước loạn ly, nhân dân ta thán.
Tây Nhạn gật đầu:
- Vậy chúng ta phải trừ hắn.
Lời Tây Nhạn như một bản án tử hình. Ba người lại cùng nhau bàn bạc cách xử án và cách thoát ly. Sau khi đã hội ý với nhau, cả ba chia tay, chờ ngày thi hành kế hoạch.
Đăng nhập để trả lời
0
Đoạn kết

Ngày quyết định đã đến.
Hoàng đế muốn đi du ngoạn để thưởng thức cảnh trời xuân tươi đẹp. Quân sư Thiết Thạch theo hộ giá. Phi Yến, Tây Nhạn, Tử Lệ được lệnh theo đoàn tùy tùng.
Hôm ấy, xa giá dừng lại ở thành Bội Châu. Mặt rồng hớn hở khi thấy xuân quang rực rỡ, hoa cỏ khoe màu, muôn hồng nghìn tía.
Đêm đến, dân chúng tưng bừng mở hội hoa đăng. Nhà nhà treo đèn kết hoa. Trên sông Bảo Giang, thuyền hoa trưng hình đủ kiểu, ánh đèn chiếu sáng cả một góc trời. Thuyền nào cũng trang hoàng tuyệt đẹp. Đa số trang trí hình Tứ linh, Lưỡng long tranh châu, Bát tiên quá hải v.v... Dân chúng đứng hai bên bờ sông, chen chúc nhau ngắm đoàn thuyền hoa nhẹ nhàng lướt sóng. Những tràng pháo nổ liên hồi, xác pháo toàn hồng nhuộm đỏ cả mặt sông.
Cuộc du thuyền kéo dài đến nửa khuya. Trong lúc dân chúng lũ lượt ra về thì một biến chuyển bất ngờ xảy đến.
Một chiếc thuyền nhỏ không đèn không hoa từ phía tả ngạn nhanh nhẹn lướt tới, kề sát một chiếc thuyền rồng to lớn uy nghi. Trên thuyền rồng, gã quân sư râu xồm Thiết Thạch đang đứng ở đầu thuyền, trố mắt ngạc nhiên nhìn chiếc thuyền nan quái dị. Bỗng có tiếng cười vang lên từ chiếc thuyền nan rồi một thiếu nữ diễm lệ xuất hiện trước mui, cất tiếng oanh lảnh lót:
- Chào quân sư.
Thiếu nữ đó chính là Phi Yến. Gã râu xồm vội nghiêng mình đáp lễ. Gã chưa kịp thốt lời nào thì một tiếng thét vang lên:
- Thiết Thạch! Đã đến giờ mi đền tội.
Quân sư nhìn sang phía đầu thuyền, bắt gặp đôi mắt sáng quắc của tráng sĩ Tây Nhạn. Gã cười to, khinh bỉ:
- Thằng nhãi ranh, mi đến đây làm gì?
Trên mui thuyền bỗng xuất hiện một thanh niên tuấn tú, dáng dấp thung dung nhàn nhã, Thi sĩ Tử Lệ. Chàng thi sĩ mỉm cười nhìn quân sư:
- Thiết Thạch! Mi can ba trọng tội: một là xúi Hoàng đế gây chiến, gây cảnh lầm than cho dân chúng; hai là mê hoặc nhà vua đắm say tửu sắc bỏ phế việc triều đình; ba là tìm bắt gái đẹp để làm mồi đưa vào Mê hồn trận. Mi đã làm loạn quốc gia, thao túng triều đình. Mi là một tên phản quốc, phản dân tộc. Chúng ta đã lên án mi, tử hình.
Gã râu xồm Thiết Thạch nổi giận chồm lên như con hổ dữ:
- Hừ! Ta sẽ xé xác tất cả chúng bây.
Lập tức, gã lấy ra trong túi da ra một cặp mộc kiếm tế lên không. Cặp mộc kiếm biến thành đôi đoản kiếm sáng ngời bay đến phía Tây Nhạn. Chàng tráng sĩ vội phóng hai thanh đoản đao lên một lượt, đánh rơi cặp mộc kiếm của gã râu xồm xuống mạn thuyền rồng.
Nhanh nhẹn như một con chim nhạn, chàng tráng sĩ phi thân qua thuyền rồng, sát bên gã quân sư. Thiết Thạch dùng tà thuật biến giấy thành hạc vàng, rồi lẹ làng thót lên lưng hạc. Đôi cánh hạc xòe ra bay bổng. Nhanh như chớp, Tây Nhạn rút ngọn đoản đao phóng theo. Lưỡi đao cấm phập vào lưng Thiết Thạch khiến gã rơi từ lưng hạc xuống dòng sông. Thế là rồi đời một tên phản quốc!
Chiếc thuyền nan quay đầu rẽ sóng, lướt vun vút như tên rồi biến mất trong màn đêm. Trên mạn thuyền, những tiếng hân hoan như âm vang cùng gió lộng:
- Từ nay, con chim yến từ giã cung vàng, trở về múa hát cho nhân dân.
- Con nhạn sẽ dọc ngang đây đó, phá cường quyền, diệt tham nhũng, để cho dân chúng bớt khổ đau.
- Còn tôi, tôi sẽ đem tiếng thơ ca ngợi cảnh thanh bình, diệt tham nhũng, đem Tình Thương gieo khắp cùng đất nước.
Đó là những lời cởi mở chân thành của giai nhân Phi Yến, tráng sĩ Tây Nhạn và thi sĩ Tử Lệ.
Cả ba đã trở về với nhân dân, sống hòa mình với nhân dân để hàn gắn những vết thương do chiến tranh gây ra trên quê hương yêu quý.

Thẩm Thệ Hà
 
HẾT
Đăng nhập để trả lời
0