Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đoàn quân áo đen - Thẩm Thệ Hà 🔒

4 trả lời, 23 lượt xem — Trang 1 / 1
Đoàn quân áo đen
Tác giả: Thẩm Thệ Hà
 
- I -
Tinh thần tương trợ

Hôm nay Phi đi học với vẻ mặt vô cùng buồn bã. Thường ngày, Phi cùng đi với Phong, dọc đường hai trẻ chuyện trò vui vẻ. Nay nó đi đơn độc một mình, bảo không buồn sao được.
Phi đến trường thật sớm, nhưng các bạn còn đi sớm hơn nữa. Đến nơi, nó đã thấy bọn thằng Thái, thằng Liêm, con Lê, con Hạnh đang ngồi dước gốc xoài, bàn tán chuyện gì có vẻ rất quan trọng. Khi thấy bóng Phi, thằng Thái gọi to:
- Phi ơi, lại đây!
Con Lê cũng lên tiếng:
- Sao hôm nay lẻ bồ vậy? Còn Phong đâu?
Phi không đáp vội, đặt chiếc cặp sách xuống cỏ rồi ngồi xuống cạnh thằng Liêm. Làn cỏ còn đượm sương mai, những cánh hoa trinh nữ nở khắp đó đây điểm những màu hồng, trắng trên nền cỏ xanh.
Thằng Liêm nhắc lại:
- Thằng Phong đâu?
Bây giờ Phi mới đáp, giọng thật buồn:
- Phong không đi học được. Má nó vừa chớm bịnh.
Bốn gương mặt ngây thơ bỗng lộ vẻ lo lắng, sợ hãi. Con Hạnh nhanh nhẩu hỏi:
- Hồi nào, hở Phi?
- Mới hồi khuya này.
- Mà phải bịnh ấy không?
- Không biết.
Chữ “bịnh ấy” Hạnh nói ra với một giọng mất bình tĩnh rõ rệt, chứng tỏ bọn trẻ đang bị ám ảnh bởi những hình ảnh gì ghê gớm.
Thằng Thái đếm khẽ trên đầu ngón tay rồi mới xác nhận:
- Làng mình có đến mười ba người chết vì bịnh đó rồi.
Con Lê cũng nhẩm tính:
- Mà chỉ mới gần hai tuần nay thôi.
Con Hạnh le lưỡi, lắc đầu:
- Thật khủng khiếp!
Cả năm đứa im lặng một lúc, như đang tưởng tượng đến những thảm trạng vừa xảy đến cho dân làng Gia Lộc, quận Trảng Bàng. Gần hai tuần này, làng Gia Lộc phải trải qua một cơn bão lốc dữ dội vì một chứng bịnh truyền nhiễm vô cùng độc hại, bịnh dịch hạch. Bà Tám đầu làng đang mạnh giỏi phây phây, bỗng lâm bịnh bằng những cơn sốt mê man, vài ngày sau hạch nổi lên ở háng rất đau đớn, khi hạch chưa kịp chảy mủ thì bịnh nhân đã chết. Chị Năm bán hột vịt trên chợ cũng bị và chết giống y như vậy. Cơ quan Y tế đến khám nghiệm và xác nhận bịnh dịch hạch đang khởi sự hoành hành. Họ thiết lập ngay hàng rào Y tế để ngăn ngừa chứng bịnh truyền nhiễm ấy lan tràn ra khỏi làng, đồng thời tiêm thuốc ngừa và chữa bịnh cho đồng bào. Nhưng cho đến nay, người thứ mười ba đã bỏ mạng.
Vì lẽ đó, lúc này hễ nói đến bịnh là người ta lo sợ và nghĩ ngay đến chứng bịnh nguy hiểm ấy. Bọn trẻ đang có tâm trạng đó. Hay tin má Phong bị bịnh, không bảo nhau mà cả bọn đều nghĩ đến bịnh dịch hạch. Và chúng ái ngại, lo lắng giùm bạn.
Thái phá tan sự yên lặng:
- Bọn này đang bàn một việc.
Phi hỏi nhanh:
- Việc gì vậy?
- Việc “Người thứ mười ba”.
- Mầy làm như là truyện gián điệp! Tao không hiểu gì cả.
- Việc “Người thứ mười ba”. Vừa chết vì bịnh dịch hạch ấy mà.
Phi nhếch nụ cười méo xệch trên môi:
- Tưởng là chuyện gì quan trọng!
Liêm tiếp lời bạn:
- Quan trọng chớ mậy. Vì người thứ mười ba là ba con Liên.
Phi kinh ngạc, sửng sốt:
- Trời! Ba con Liên chết rồi à?
- Phải, mới trưa hôm qua.
- Liên có đi học không?
- Nó xin phép ở nhà để lo đám tang.
Liên là bạn gái đồng học lớp Nhất với bọn chúng. Gia đình Liên rất nghèo. Ba nó làm nghề khuân vác hàng hóa cho các xe hàng; má nó bán bánh canh ở đầu chợ mỗi sáng. Nay ba nó mất đi, gia đình Liên càng phải cơ cực nhiều hơn.
Phi dàu dàu hỏi:
- Bây giờ chúng ta tính sao đây?
Lê dịu dàng nói:
- Chúng tôi vừa bàn với nhau, lát nữa bọn mình xin phép thầy góp tiền các bạn trong lớp để đi điếu ba chị Liên.
Phi tán thành ngay:
- Phải, đó là việc nên làm. Rồi sau này mình còn phải tìm cách giúp đỡ chị Liên để biểu lộ tinh thần tương thân, tương trợ.
Hạnh vẫn chưa hết lo lắng:
- Còn má anh Phong?
Phi cố lấy giọng bình tĩnh để trấn an bạn:
- Chưa biết chắc má anh ấy bị bịnh gì. Để chúng mình hỏi thăm lại xem.
Tiếng trống trường nổi lên, báo hiệu tới giờ vào học. Bọn trẻ ôm cặp đứng dậy, mặt vẫn lộ vẻ bâng khuâng. Thầy giáo Minh đứng trước cửa, trông chừng học sinh sắp hàng đôi từ từ vào lớp. Gương mặt thầy trông vừa hiền lành, vừa nghiêm khắc.
Hôm nay tới giờ Sử ký, thầy giảng thao thao rất hấp dẫn, nhưng bọn Phi không thấy hứng thú chút nào. Tâm hồn chúng còn vấn vương vì cái chết của ba chị Liên, căn bịnh của má anh Phong và chứng bịnh truyền nhiễm đang cướp mạng người ngày này qua ngày khác.
Tuy giảng hăng say nhưng thầy đoán biết tâm lý lũ trẻ ngây thơ. Thầy muốn phá tan sự sợ hãi của chúng, nhưng thầy đã hoài công. Sự lơ đãng của chúng hôm nay rất hợp lý. Dứt bài giảng, thầy đưa mắt khoan dung nhìn bọn trẻ, cất giọng hiền từ khả ái:
- Thầy thấy mấy em có vẻ khác thường. Có chuyện gì vậy?
Phi bạo dạn đứng lên:
- Thưa thầy, ba trò Liên đã chết vì bịnh dịch hôm qua.
Thầy Minh buồn buồn nói:
- Thầy biết rồi.
Phi không còn rụt rè nữa, giọng nó tràn đầy cảm xúc:
- Chúng em xin phép thầy cho chúng em góp tiền đi điếu ba chị ấy.
Thầy giáo thương mến nhìn lũ trẻ, đôi mắt thầy chan chứa bao cảm tình. Không còn gì cảm động, sung sướng hơn được thấy học trò mình biết tình, biết nghĩa, biết giúp đỡ lẫn nhau. Thầy dịu dàng nói:
- Mấy em có lòng, thầy rất cảm động. Thầy đã nghĩ đến việc đó nhưng thầy muốn chính tự mấy em nói lên.
Cả lớp lặng im nghe lời thầy, lòng dạt dào niềm kính mến. Thầy ôn tồn nói tiếp:
- Mấy em cử đại diện quyên tiền, thầy cũng góp một phần trong đó. Chiều nay, thầy cùng vài em đại diện đi điếu ba trò Liên.
Được thầy cho phép, bọn học sinh mừng rỡ, nhao nhao lên. Sau một hồi bàn tán, chúng bằng lòng cử các bạn Phi, Thái, Tâm, Lê, Hạnh làm đại diện. Nhờ học sinh từ lâu đã quen thuộc lối bầu Trưởng lớp, Trưởng toán, nên việc cử Đại diện và quyên tiền được diễn ra nhanh chóng trong trật tự tuyệt đối. Thầy giáo rất bằng lòng. Thầy chỉ dẫn bọn trẻ mua lễ vật phúng điếu. Khi mọi việc đã sắp xếp xong xuôi, thầy mới nghiêm giọng bảo:
- Bây giờ mấy em qua cơ quan Y tế tiêm ngừa. Không em nào được trốn đấy.
Sỡ dĩ thầy phải nghiêm giọng dặn kỹ, vì mỗi lần có trồng trái hay tiêm ngừa, những đứa sợ đau hay tìm cách trốn tránh.
Một học sinh đứng lên lễ phép, thưa:
- Thưa thầy chúng em đã tiêm ngừa rồi.
Thầy mỉm cười giảng giải:
- Hôm nay mấy em tiêm ngừa lần thứ nhì, vì muốn phòng ngừa chắc chắn, theo đúng phương pháp, phải tiêm ngừa hai hay ba lần cách nhau tám ngày.
Một em khác đứng lên:
- Tiêm ngừa chắc chắn khỏi bị bịnh dịch, phải không thầy?
Thầy đáp nhanh để làm an lòng bọn trẻ:
- Phải, em nào trốn thì theo ba trò Liên đấy.
Thằng Thái lém lỉnh hỏi:
- Sao họ bảo bịnh dịch là do Thần Ôn dịch gây ra. Việc ấy có thật không thầy?
- Đó là việc huyền hoặc, dị đoan. Có dịp, thầy sẽ giải thích rõ ràng về vấn đề này. Thôi, mấy em Trưởng lớp, Trưởng toán hướng dẫn các bạn em qua Chi Y tế. Phải sắp hàng đôi và đi cho có trật tự.
Học sinh ngoan ngoãn vâng lời thầy, không em nào trốn tránh như những lần trước. Một phần vì cảnh chết chóc xảy ra hàng ngày làm cho chúng sợ hãi, một phần vì chúng tin tưởng ở lời giải thích của thầy.
Chiều hôm ấy, Đại diện lớp Nhất A là Phi, Thái, Tâm, Lê, Hạnh theo thầy Minh đi phúng điếu ba trò Liên. Ở nhà tang nhân về, bọn trẻ thấy lòng buồn vô tả. Nhà Liên rất thưa thớt người đến điếu, có lẽ người ta sợ bị truyền nhiễm nên ít ai dám đến, trừ những thân bằng quyến thuộc.
Bọn trẻ đi về ngang phố chợ, chứng kiến cảnh thê lương của một làng bị dịch. Nhà nào đã có người chết thì cửa đóng kín, vôi trắng rải khắp từ nhà trong đến sân ngoài, trên cửa lại vẽ những dấu thập trắng trông thật rùng rợn. Những nhà chưa bị Thần Chết đến viếng cũng rải vôi khắp nơi, đó là chưa kể những lớp bột sát trùng DDT được nhân viên y tế xịt khắp nhà cửa, bàn ghế. Đâu đâu cũng nhuộm màu trắng toát, một màu tang tóc, ảm đạm, thê lương...
Hạnh rùng mình nói khẽ:
- Thấy ghê quá!
Lê cũng nói khẽ, giọng run run:
- Không biết Thần Ôn Dịch còn đến viếng nhà ai?
Phi làm ra vẻ dạn dĩ, cất giọng trêu đùa:
- Gần đến nhà Lê rồi đó.
Lê háy mắt, mắng ngay:
- Anh quỷ này nói lảng. Đến gần nhà anh thì có.
Biết mình lỡ lời làm cho bạn thêm sợ, Phi hối hận xin lỗi:
- Tôi nói đùa đấy, Lê đừng giận.
Lê ngảnh mặt, không thèm đáp. Mắt nó chớp chớp, cơn giận dỗi, cơn sợ hãi đang dồn dập trong tâm hồn ngây thơ, chất phác.
Về đến nhà Phi, bọn trẻ thấy trước sân nhà có bày một mâm cỗ. Tâm hỏi Phi:
- Nhà mầy hôm nay có cúng kiến gì đó?
- Tao không biết. Để vào hỏi ba tao xem. Còn sớm, tụi bây vào nhà tao chơi một lát.
Thái cười đùa:
- Có cỗ, mầy không mời, chúng tao cũng vào.
Dứt lời, Thái nối gót ngay theo Phi. Cả bọn vào nhà, thấy ba Phi đang ngồi một mình, vẻ mặt buồn rầu lo lắng. Bọn trẻ cúi đầu chào. Ba Phi cố gượng nở nụ cười:
- Các cháu đi điếu về đấy à?
Thái đáp thay các bạn:
- Vâng.
Phi hỏi ngay:
- Hôm nay cúng ai vậy ba?
- Ba cúng Thần Ôn Dịch đó.
Bọn trẻ ngạc nhiên đưa mắt nhìn nhau. Phi cũng ngạc nhiên không kém.
- Thần Ôn Dịch là ai vậy ba?
- Là vị Thần đang gieo bịnh dịch ở làng ta.
Lê bày tỏ cảm nghĩ chân thành của mình:
- Người ta sợ Thần Ôn Dịch đến viếng nhà, sao bác làm mâm cỗ để rước Thần đến?
Ba Phi vốn là người bình dân chất phác, rất tin tưởng ở thần quyền. Ông quên mất cơn sợ hãi, ôn tồn giải thích.
- Các cháu chưa biết ngày mai này, làng ta có tổ chức một cuộc lễ “Tống Thần Ôn” rất trọng thể hay sao? Bác cũng phải làm cỗ để tống tiễn Tướng quân Ôn Dịch chớ.
Hạnh vui vẻ hỏi:
- Cuộc lễ chắc vui lắm, phải không bác?
Không đợi ba Phi trả lời, Tâm lại hỏi tiếp:
- Lễ “Tống Thần” tổ chức ở đâu vậy bác?
Ba Phi phải trả lời một lượt cho hai đứa:
- Cuộc Lễ tổ chức ở hai đền Quan Công và Thánh Công và diễn hành khắp phố cho dân chúng chiêm bái. Ngày mai là Chúa nhật, các cháu đi xem cho biết. Chắc vui lắm.
Lê tò mò hỏi:
- Tại sao gọi là Tướng quân Ôn Dịch, hở bác?
- À, đó là do sách vở ghi chép lại. Các cháu hãy ngồi xuống chơi, bác sẽ kể chuyện ly kỳ này cho mà nghe.
Bọn trẻ ngoan ngoãn ngồi xuống bộ ván bu quanh ba Phi. Người đàn ông đứng tuổi, da rám nắng vì lao động, mắt sáng rỡ một niềm tin, cầm ly rượu để lên nhấp một hớp. Ông “khà” một tiếng ngon lành rồi mới bắt đầu vào chuyện.
0
- II -
Chuyện Tướng quân Ôn Dịch

Ngày xưa, ở hạt Quốc Oai, có một chàng thư sinh tên là Dĩ Thành. Chàng tánh khí cương trực, thường xem thường những việc yêu ma, quỷ quái.
Một hôm say rượu, Dĩ Thành cỡi ngựa đi nghêu ngao. Bọn ma quỷ thấy chàng, sợ hãi bỏ chạy. Chàng cả cười, gọi chúng lại, bảo rằng:
- Nay ta vui, muốn tìm các ngươi nói chuyện. Sao các ngươi lại bỏ chạy?
Ma quỷ liền họp lại, đồng lòng tôn chàng lên ngồi phía trên.
Chàng bèn hỏi:
- Các ngươi hay phá quấy, là tại lẽ gì?
Cả bọn đồng nói:
- Vì chúng tôi đói khát.
- Các ngươi hay làm cho người ta chết, là tại lẽ gì?
- Vì chúng tôi muốn thêm quân.
Chàng nghiêm giọng nói:
- Phá quấy người là việc không nên; giết chết người là việc tội lỗi. Quân thêm thì ăn uống phải thiếu, các ngươi than đói khát là tại ai? Các ngươi sống quen thói ngang tàng, chết lại tung hoành phá phách. Ta nghe: “Trời hiếu đức, người hiếu sanh”. Tại sao các ngươi lại nghịch Trời, loạn người làm vậy?
Cả bọn đều lặng thinh, không biết trả lời thế nào. Lát sau, một con quỷ buồn bã nói rằng:
- Ngài trách chúng tôi cũng phải. Sống quen thói ngang tàng, chết không nơi nương tựa, đó là một hình phạt rõ ràng. Nay bơ vơ nơi cỏ loáng, mồ hoang, gió sương tê tái. Nếu chúng tôi không xoay xở, làm sao có đủ miếng ăn? Vả lại, người dương thế tội ác dẫy đầy, có hành phạt như thế cũng chưa thấm vào đâu.
Dứt lời, chúng xúm nhau dọn mâm cỗ ê hề, ân cần mời Dĩ Thành. Chàng vui vẻ ngồi vào bàn, ăn uống tự nhiên.
Tiệc xong, chúng nói với Thành:
- Lâu nay chúng tôi chỉ ô hợp, không có người thống xuất chỉ huy. Nay Sứ quân đã đến đây, chúng tôi đồng lòng cử Sứ quân làm Tướng lãnh.
Dĩ Thành vội nói:
- Ta làm Tướng các ngươi thì được rồi, song ta còn một mẹ già, lấy ai sớm hôm săn sóc.
Một tên quỷ nói:
- Điều ấy Sứ quân không ngại. Sứ quân cứ ở trần thế mà ban lệnh, khỏi cần phải về nơi chín suối.
Dĩ Thanh nhận lời. Chàng căn dặn rằng:
- Làm Tướng thì lệnh phải nghiêm. Bất tuân tất phải trị. Vậy từ đây các ngươi phải triệt để tuân lệnh ta mới được.
Bọn ma quỷ dạ dạ vâng lời.
Chàng bèn ban lệnh rằng:
- Nay nghiêm lệnh đầu tiên của ta là, từ đây các ngươi phải bỏ thói dâm ô, không được phá phách, không được bắt chết người vô tội, không được kết đảng giả hình. Ai bất tuân, sẽ bị phạt.
Rồi chàng chia chúng ra từng bộ, sai đi trấn các nơi, có việc gì quan hệ, lập tức trình cho chàng hay.
Cách một tháng sau, bỗng có Sứ giả Minh Ty đến mời chàng, bảo Diêm Vương có lệnh đòi.
Dĩ Thành lưỡng lự, chưa biết nên đi hay không. Đêm đó, chàng cho triệu các bộ hạ ma quỷ đến, hỏi rằng:
- Diêm Vương có lệnh đòi ta. Chẳng hay có nên đi hay không?
Bọn ma quỷ bàn tán một lúc, thưa rằng:
- Chúng tôi có nghe Diêm Chúa đang cần Tướng cai quản bộ Dạ Xoa. Có lẽ Diêm Chúa mời ngài về việc ấy. Ngài nên đi, không việc gì nguy hiểm mà phải từ khước.
Dĩ Thành cười hỏi:
- Như vậy là phúc hay là họa?
Bọn chúng thưa:
- Như vậy là phúc cho Sứ quân lắm. Tước phẩm của Diêm Chúa như tước phẩm của Thiên Đình, không kẻ hèn mọn nào làm được. Nay Diêm Chúa cử ngài tức vì nghĩ đến tánh cương chính, trí thông minh của ngài đó.
Dĩ Thành vui vẻ nói:
- Sống ở, thác về, ta có luyến gì nợ đời mà tham sống sợ chết. Đã gặp cơ hội, không gây được sự nghiệp vẻ vang ở cõi thế thì âu là lưu danh muôn thuở ở cõi âm. Khi ta đã làm Tướng lãnh Dạ Xoa, ta sẽ chọn các ngươi vào đạo quân của ta.
Bọn ma quỷ mừng rỡ đội ơn, rồi từ giã chàng, ai về bộ nấy.
Dĩ Thành lo thu xếp việc nhà song xuôi, liền theo Sứ giả đến chầu Diêm Chúa.
Diêm Vương thấy Thành, niềm nở nói:
- Ta đang đợi Sứ quân đây. Xét sổ trần gian, ta biết Sứ quân là người cương trực. Nay bộ Dạ Xoa thiếu Tướng, phiền tướng quân cai quản giùm.
Dĩ Thành khiêm tốn nói:
- Tôi tài hèn sức mọn, đâu như Bốc Thương, Nhan Hồi ngày trước, e không đủ sức đảm đương nhiệm vụ quan trọng ấy chăng?
Diêm Vương nghiêm giọng nói:
- Xưa Bốc Thương, Nhan Hồi có tài làm chức Tu văn Lang, nay tướng quân có đức làm Tướng lãnh, tưởng cũng không hẹp gì Sứ quân lắm.
Sợ Diêm Chúa phiền trách, Dĩ Thành vội cúi đầu lãnh chức. Diêm Chúa lấy làm đẹp dạ, thân đưa chàng đến dinh Dạ Xoa.
* * * * *
Cùng làng với Dĩ Thành có một nhà nho ẩn dật tên là Lê Ngộ.
Lê Ngộ và Dĩ Thành xưa là đôi bạn thân. Ngày còn phiêu bạt, hai người đã từng sống chung nhau, lấy làm tương đắc.
Một đêm, Lê Ngộ ngồi xem sách, đến khuya mòn mỏi, gục đầu trên sách thiu thiu ngủ. Đang mơ mơ màng màng, Lê Ngộ bỗng giật mình vì những tiếng rộn rịp trước ngõ. Chàng lấy làm lạ, bèn vén màn ra xem. Ngoài đường có một đoàn kỵ mã, người đi đầu cưỡi ngựa thanh song, bộ hạ theo sau tấp nập.
Lê Ngộ kinh ngạc vì người thống lãnh đoàn kỵ mã giống hệt Dĩ Thành, người bạn tri kỷ của mình. Chàng đang ngơ ngác, chợt có tiếng cười to.
- Đã quên cố nhân rồi sao?
Lê Ngộ vẫn chưa tin là thật. Vị thống lãnh vội nhảy xuống ngựa, tiến lại bên Ngộ, tươi cười nói:
- Lê huynh tệ quá, mới xa nhau mấy năm mà đã vội quên cố nhân rồi. Đệ là Dĩ Thành, hiện làm Tướng Lãnh Dạ Xoa ở Âm phủ.
Lê Ngộ càng kinh ngạc:
- Mới nhìn đã nhớ ngay là bạn cũ. Nhưng lạ sao xưa mới là thư sinh nho nhã, nay bỗng trở thành võ tướng oai phong?
Dĩ Thành vui vẻ thuật lại chuyện mình. Lê Ngộ dẫn bạn vào thư phòng cùng luận đàm thế sự. Nhân nghĩ đến thân thế, Lê Ngộ cất giọng phàn nàn:
- Tôi xưa nay vốn chuộng âm đức, chưa hề làm ác. Thế mà suốt đời phải tha hương cầu thực, thân chẳng đủ ấm no. Bạn bè thảy đều nên danh, so tài sức cũng như nhau, sao có kẻ sướng người khổ như thế?
Dĩ Thành thành thật nói:
- Tài cần phải gặp thời, giàu nghèo đều có số. Tài như Vương Bột nếu không gặp gió thì đâu đến kịp Đằng Vương Các mà lưu danh muôn thuở. Nghèo như Đặng Thông là bầy tôi của Hán Văn Đế mà còn phải đi ở nhờ rồi chết đói. Chẳng qua là do ở số mạng cả, không thể cầu mà được.
Lê Ngộ thở dài bất mãn:
- Số mạng gì mà bất công như vậy.
Dĩ Thành tìm lời an ủi bạn:
- Đó cũng là cách để thử thách lòng người. Kẻ sĩ đáng quý là nghèo mà vẫn trong sạch, tài trí vẫn vững bền, trên không oán trời, dưới không trách người, xứng đáng là bậc trượng phu quân tử.
Câu chuyện hàn huyên kéo dài đến gần sáng. Trước khi chia biệt, Dĩ Thành bảo đuổi hết người nhà ra, rồi bảo nhỏ với bạn rằng:
- Tôi mới vâng lệnh Thượng Đế thống lãnh đạo quân Ôn Dịch đi chọn quân ở các quận, huyện. Nhân coi lại sổ dân đinh, mới nhớ đến Lê huynh. Nhà Lê huynh phúc mỏng, e không khỏi tai họa. Nên mau mau kíp về.
Lê Ngộ sợ hãi nói:
- Đã tưởng tình đến viếng, xin che chở luôn cho.
Dĩ Thành cảm động nói:
- Nếu không có ý đó thì đã chẳng đến đây. Hiềm vì miền Lê huynh ở do Tướng quân họ Đinh thống xuất, tôi không có thẩm quyền, thật là khó quá!
Lê Ngộ toát mồ hôi:
- Nghĩ mà đến là tình; khó mà giúp là nghĩa. Nay bạn đã tưởng tình mà đến thì cũng nên vì nghĩa mà giúp cho trọn niềm.
Vị Tướng Lãnh Dạ Xoa kiêm Tướng quân Ôn Dịch chau mày nghĩ ngợi. Một lúc lâu, Dĩ Thành mới bảo bạn:
- Chỉ còn một cách. Tướng quân họ Đinh quản lĩnh đạo quân áo đen toàn là những tên ác quỷ, kêu xin cũng vô ích. Lê huynh về sửa soạn cỗ bàn bày sẵn. Khi chúng tới, đang lúc đói, thấy cỗ chắc chúng ăn ngay. Đợi chúng ăn xong, Lê huynh bước ra sụp lạy, đừng kêu nài gì cả. Như thế, họa may chúng tha cho.
Dặn dò xong, Dĩ Thành từ giã bạn lên đường. Lê Ngộ quyến luyến đưa bạn đến tận cổng. Đoàn kỵ mã lại rộn rịp buông vó câu muôn dặm...
Hôm sau, Lê Ngộ vội vã trở về quê. Đến nơi, chàng mới rõ cả làng đang khủng khiếp vì bịnh dịch hạch. Dân làng đã có hàng trăm người bỏ mạng sau những cơn sốt mê man. Đó đây vang lên những tiếng khóc lóc thảm thiết. Một màu tang tóc nhuộm trên quê hương yêu dấu.
Lê Ngộ vào nhà, mới hay vợ và con đều bị bịnh rất nặng. Cảnh nhà trông thật điêu tàn. Nhìn vợ, con nằm trên giường bịnh, chàng ngậm ngùi rơi lệ. Chàng thấy lòng đau xót vô cùng. Vì mãi đeo đuổi theo công danh, mà tài bất phùng thời, chàng trở về đây với hai bàn tay trắng, chứng kiến cảnh thê nhi bịnh hoạn nheo nhóc.
Chợt nhớ lời bạn, Lê Ngộ cho dọn một mâm cỗ ngon lành. Chàng đem bày mâm cỗ trước sân để đón đạo quân Ôn Dịch. Sắp đặt xong xuôi, chàng ngồi ủ rũ bên giường bịnh, chờ mong thực hiện lời dặn của cố nhân.
Một lúc sau có tiếng ồn ào rộn rịp trước ngõ. Lê Ngộ nhìn ra, thấy một đoàn âm binh áo đen vừa tới. Người nào người nấy thật là kỳ hình dị tướng có vẻ hung hăng vô cùng. Kẻ đầu trâu, người mặt ngựa; kẻ mặt xanh, người mặt rằn; kẻ nhăn nanh, người múa vuốt. Đoàn quân dừng lại trước nhà họ Lê.
Vị thống lãnh đi đầu mặc áo tía, mặt rằn, râu quắm, giống như bức tượng Châu Xương. Lê Ngộ đoán đó là Tướng quân Ôn Dịch họ Đinh.
Thấy mâm cỗ dọn sẵn, bọn âm binh xôn xao bàn tán:
- Chúng ta đang đói. Hãy làm một bụng đã rồi hẵn đi.
- Không được. Chúng ta phải đợi lịnh chủ tướng.
Đinh Tướng quân nghe bọn âm binh bàn tán, lại ngửi thấy mùi thơm nghi ngút, cũng bắt thèm thuồng. Ông cười to, ra lịnh:
- Mâm cỗ như vầy, bỏ đi rất uổng. Ta cứ thư thả đánh chén, rồi đền ơn chủ nhân sau.
Tướng quân ngồi xuống, cất chén rượu lên môi. Bọn âm binh vội vã ráp vào, ăn uống chuyện trò vui vẻ. Lê Ngộ nghĩ thầm: “Thật quả là bọn ôn hoàng dịch lệ!”. Thoáng chốc, tiệc đã tàn. Bọn âm binh đứng dậy toan đi. Lê Ngộ vội bước ra, sụp lạy trước người áo tía.
Đinh Tướng quân kinh ngạc hỏi:
- Gã kia là ai?
Bọn quỷ nói:
- Chắc gã là chủ nhân mâm cỗ này.
Chúng bèn day lại hỏi Lê. Chàng cứ cúi lạy, không đáp lời nào.
Người áo tía lấy ra một quyển sổ xem kỹ lại từng trang. Bỗng ông ngạc nhiên hỏi bộ hạ:
- Gã này có âm đức, sao nhà hắn có đến năm tên ghi trong sổ bộ âm binh. Nay ta đã ăn của nhà nó, lẽ nào làm ngơ không cứu?
Một tên bộ hạ thân tín kính cẩn thưa:
- Lúc nãy Tướng quân hứa sẽ đền ơn cho chủ nhân mâm cỗ, vậy ta phải giữ chữ Tín cho người thế gian kính nể.
Đinh Tướng quân gật đầu nói:
- Âu là ta xóa bỏ vài tên trong sổ, rồi sẽ tâu lại với Diêm Chúa sau.
Nói xong, người áo tía lấy bút son xóa năm tên trong sổ âm binh. Thực hành xong cái cử chỉ cao đẹp ấy, vị Tướng quân có tiếng là hung dữ cảm thấy lòng mình thơ thới, nhẹ nhàng vì đã đền ơn được chủ nhân một cách đàng hoàng, xứng đáng. Ông nở nụ cười, đưa tay vuốt chòm râu quắm, rồi ra lịnh cho đoàn quân ôn binh áo đen tiếp tục lên đường.
Tiếng người, ngựa rộn rịp xa dần...
Lê Ngộ mừng rỡ và chừng đó chàng mới hiểu rõ lời dặn dò ý nhị của cố nhân. Nếu lúc nãy chàng lên tiếng van xin, vị Tướng quân kia sẽ nghi ngờ mình cố ý bày mâm cỗ ê hề để đút lót, việc đó có thể làm cho ông ta nổi giận lôi đình. Chi bằng cứ để cho ông ta nghĩ đến cách đền ơn, tương xứng với phẩm cách của một Tướng lãnh trước ba quân. Và cử chỉ ấy sẽ làm cho ông ta hãnh diện.
Qua ngày sau, cả gia quyến Lê Ngộ đều bình phục như xưa.
Lê Ngộ thầm cảm ơn Dĩ Thanh đã tận tình, tận nghĩa với bạn cũ. Chàng cũng thầm kính phục vị Tướng quân tuy mang tiếng hung ác nhưng vẫn còn biết giữ chữ Tín để nêu một tấm gương cao đẹp cho người đời.
0
- III -
Lễ tống Ôn Thần

Sáng hôm sau, đúng theo lời hẹn trước, bọn trẻ gặp nhau trước rạp hát Đồng Phước. Hôm nay vắng Tâm nhưng lại có Liêm, thành ra cũng đủ bộ năm “Ngũ hổ”, trong số đó có hai con hổ nhút nhát nhất là Hạnh và Lê.
Hạnh đến sau cùng. Vừa trông thấy Phi, nó đã nheo mắt hỏi:
- Đêm qua, anh Phi đã gặp Tướng quân chưa?
Lê lém lỉnh tiếp lời bạn:
- Cứ trông dáng anh ấy cũng biết anh đã quỳ lạy mệt đừ.
Phi lắc đầu đáp khẽ:
- Tôi có trông thấy Tướng quân nào đâu!
Hạnh nhoẻn cười duyên dáng:
- Vậy thì uổng toi mâm cỗ!
- Không uổng đâu. Hôm nay ba tôi đem mâm cỗ đó xuống thuyền.
- Để làm gì?
- Để tống Thần Ôn ra biển.
Lê vỗ tay reo lên:
- Hay quá! Chừng nào Tống Thần ra biển, chúng mình đi xem.
Liêm cắc cớ hỏi:
- Ở đây làm gì có biển?
Thằng Phi nhanh nhẩu đáp:
- Thì đưa Thần ra sông, rồi đoàn ôn binh sẽ chèo thuyền ra biển. Có khó gì?
Thằng Thái ranh mãnh nói:
- Đố tụi bây biết đoàn ôn binh này thuộc đoàn quân áo đỏ, áo vàng, áo xanh, áo trắng hay áo đen?
Lê làm bộ suy nghĩ, mắt nó đăm đăm nhìn vào khoảng không như đang tìm kiếm những bóng dáng vô hình. Một lúc lâu, nó mới cười tủm tỉm, hai má núm hai đồng tiền:
- Chắc là đoàn quân áo đen.
Thái chất vấn ngay:
- Sao biết là đoàn quân áo đen?
- Vì vị Tướng quân thống lãnh đoàn quân này rất hung tợn, chỉ mới hai tuần mà đã sát hại mười mấy người, và bao nhiêu người đang bị bệnh nữa.
Nghe lời nói hồn nhiên của Lê, thằng Phi chợt nhớ đến một người bạn vắng mặt, một người bạn mà nếu có mặt hôm nay, “Ngũ hổ” sẽ biến thành “Đào Cốc Lục Tiên”. Nó băn khoăn hỏi:
- Thằng Tâm sao không đến?
Đang hí hởn, Thái bỗng xụ mặt buồn xo:
- Nó bị bịnh.
Phi hỏi nhanh:
- Hồi nào?
- Mới hồi khuya này.
- Bịnh gì?
- Không biết.
- Giờ nó ở đâu? Mình phải đi thăm nó chớ.
- Người nhà đã chở nó vào nhà thương hồi tảng sáng. Nơi đây, người ta không cho bất cứ ai vào thăm.
Hạnh tái mặt, giọng run run:
- Gì mà ghê quá vậy?
Thái thở dài:
- Chắc người ta sợ truyền nhiễm.
Lê chớp chớp mắt:
- Mới chiều hôm qua nó còn đi với bọn mình.
Giọng Lê biểu lộ sự xúc cảm chân thành, làm cho cả bọn đều bùi ngùi ái ngại. Tâm là một học sinh không thông minh mấy nhưng cần mẫn, thật thà, được thầy yêu, bạn mến. Nhất là đối với bọn Phi. Mỗi lần họp nhau đủ sáu đứa thành Đào Cốc Lục Tiên, thì chúng cãi vã ỏm tỏi, tranh biện đủ vấn đề, không ai chịu thua ai. Mặc dầu hay cãi vã, chúng rất thương yêu nhau, hay giúp đỡ đùm bọc lẫn nhau.
Phi đưa mắt nhìn các bạn, thành thật nêu ý kiến:
- Phải chi đêm qua thằng Tâm nói với ba nó bày mâm cỗ trước sân thì nó đâu có bị bịnh.
Liêm nhếch nụ cười mai mỉa:
- Để rước bọn ác ôn à? Người ta sợ bọn chúng gần chết mà còn bày đặt đón rước. Nên tống bọn chúng đi mới phải.
Thái thẳng thắng nói:
- Nhà tụi tao có đứa nào bày mâm cỗ đâu, sao không bị bọn ác ôn bắt?
Phi lặng thinh. Nó không bằng lòng lời nói ngang của hai bạn, nhưng nó không thể biện minh ý kiến mình một cách cụ thể. Nó băn khoăn, không biết nên tin thầy hay tin cha. Thầy nó phản đối dị đoan; ba nó thì tin tưởng Thần quyền. Lời thầy nó rất hữu lý, nhưng đến nay, có những hiện thượng huyền bí mà khoa học chưa giải thích được. Chính những điều đó làm cho lòng người còn thắc mắc, hoang mang.
Phi còn đang nghĩ ngợi, bỗng những tràng trống, chuông từ đâu vẳng lại từng hồi.
Thùng, thùng... thùng...
Boong, boong... boong...
Thằng Thái reo to:
- Người ta đang làm lễ Tống Thần. Mình đi xem đi.
Con Hạnh hỏi:
- Ở đền nào vậy?
Thằng Phi đề nghị:
- Không đền Nhị Phủ thì đền Thất Phủ. Mình đến đền Nhị Phủ trước; không có, mình sẽ sang đền Thất Phủ.
Không đứa nào cãi vã nữa. Chúng kéo nhau đi xem lễ.
Nguyên làng Gia lộc có rất nhiều chùa, đền, miếu. Chùa thờ Phật thì có Phước Lưu Tự, Phước Lâm Tự. Đền thờ Thánh thì có đền Nhị Phủ, đền Thất Phủ. Miếu thờ Thần thì có Miếu Ngũ Hành, Miếu Cả thờ Thần Đình Làng.
Trong số các nơi thờ phụng thiêng liêng này, có đền Nhị Phủ và đền Thất Phủ nổi tiếng là linh thiêng nhất. Đền Nhị Phủ thờ Đức Thánh Công; đền Thất Phủ thờ Đức Quan Công. Hai đền này do những người Huê kiều trong quận góp công góp của xây cất, nhưng lễ bái thì người Việt chiếm đa số. Đặc biệt đền Nhị Phủ có một ông người Tiều, Đức Thánh Công thường nhập vào người đồng này để ban bùa phép cho những ai đến xin chữa bịnh hoặc điều khiển những buổi Lễ lớn như: Lễ cầu mưa những năm hạn hán, Lễ Tống Ôn Thần những khi có bịnh dịch, v.v...
Khi bọn Phi đến trước đền Nhị Phủ thì thấy người ta đứng đông nghẹt từ trong chí ngoài. Trong đền, tiếng chuông, trống vang rền. Người lớn khăn áo chỉnh tề, vẻ mặt nghiêm trang, kính cẩn. Con nít ồn ào chen lấn, đứa leo lên hàng rào, đứa bu quanh cửa sổ, đứa chen vào tận chánh điện. Quang cảnh thật tưng bừng, náo nhiệt.
Con Hạnh nói:
- Đông quá, làm sao vào xem?
Thằng Thái bàn:
- Ở trong chật lắm, mình cứ đứng ngoài sân.
Con Lê lắc đầu lia lịa:
- Đứng ngoài sân để nhìn lưng thiên hạ à?
Thằng Phi phì cười. Nó chỉ đống than trải giữa sân, làm ra vẻ hiểu biết rành rẽ:
- Lát nữa Đức Thánh công sẽ đi trên đống than người ta trải kia kìa. Mình đứng ở đây xem rõ hơn cả.
Con Lê hất hàm nói:
- Đi trên đống than đó thì ai không đi được!
Thằng Phi giải thích:
- Người ta sẽ đốt than lên chứ. Đức Thánh sẽ đi chân không trên lửa.
- Thế chân không bị phỏng à?
- Chân Thánh mà phỏng sao được.
Câu chuyện đến đây bỗng có tiếng ồn ào từ phía trong. Người lớn con nít từ trong đền túa ra, đứng bao quanh đống than. Bốn người lo đốt than, quạt cho ngọn lửa lên cao và than cháy đỏ rực.
Một tiếng thét to oai phong và hùng dũng. Một người mặc yếm đỏ, hai tay cầm hai thanh gươm, từ chánh điện chạy nhanh ra, theo sau một đoàn người hộ vệ. Người yếm đỏ trụ bộ, thét lên, rồi múa gươm loáng loáng chém xối xả vào lưng mình. Đoàn người hộ vệ đưa những ngọn côn lên đỡ để bảo vệ đồng Thánh, nhưng nhiều nhát gươm đã chạm vào da thịt, nhiều vết máu đã rướm đỏ cả lưng.
Lê sợ hãi, đưa tay bụm mặt, không dám nhìn. Hạnh lùi lại, núp sau lưng Lê. Bọn con trai trố mắt nhìn, vẻ ranh mãnh nhường cho sự khiếp sợ.
Điệu trống bát nhã vang lên nhịp nhàng làm cho bầu không khí thêm vẻ trang nghiêm, huyền nhiệm. Người yếm đỏ trợn mắt (như muốn dọa nạt những kẻ vô hình) hai thanh gươm lóe hào quang trước ngọn lửa. Tiếng thét thứ ba vang lên, oai dũng hơn lần trước. Đồng Thánh từ từ bước lên đống than đã cháy đỏ rực. Ông đạp chân lên lửa như người ta đi trên nền cỏ non êm. Ông đi nhiều vòng trên đống than trải dài độ năm thước, cho đến ngọn lửa dịu xuống tàn dần.
Người đứng xem đều im lặng. Lê bỏ tay xuống, len lén nhìn, Hạnh cũng trờ tới trước, trố mắt quan sát. Phi siết chặt lấy tay Thái. Thái nắm lấy tay Liêm lúc nào nó không hay.
Giữa lúc mọi người đang hồi hộp theo dõi từng bước chân của người yếm đỏ - mà họ xem như hiện thân của Đức Thánh Công - những tràng chuông, trống vang lên từng hồi, lần này không phải từ chánh điện đưa ra mà từ xa vọng lại. Người yếm đỏ lập tức rời bỏ đống lửa, chạy vụt ra đường nhanh như tên bắn. Đoàn hộ vệ hối hả xách côn chạy theo. Người xem không hiểu gì cũng chạy túa ra đường.
Vì Hạnh, Lê quá chậm chạp nên bọn Phi còn ở lại trong sân. Phi đưa mắt nhìn dõi theo, thấy đoàn người đang tiến về phía đền Thất Phủ.
Bây giờ Lê mới lấy lại vẻ mặt bình thường. Nó le lưỡi, nói khẽ:
- “Ông lên” oai quá! Lúc đầu, Lê không dám nhìn.
Đôi má Hạnh bắt hồng hào trở lại. Nó chúm chím cười:
- Hạnh cũng vậy. “Ông” múa gươm làm cho Hạnh rùng mình. Nhất là khi thấy máu!
- Mỗi khi “Ông” thét, Lê giật mình phát run lên. Ghê thấy mồ!
- Tại sao “Ông” lại chém vào lưng mình làm chi?
- Tại sao “Ông” mặc yếm đỏ mà không mặc áo đỏ?
- Tại sao “Ông” bước đi trên lửa mà không bị phỏng?
Những câu hỏi dồn dập của Hạnh, Lê, không đứa nào giải đáp được. Những điều ấy ra ngoài sự hiểu biết của chúng. Cũng như phần đông dân làng, chúng quen gọi Đức Thánh Công là “Ông” đền Nhị Phủ thì gọi là “ Đền Ông” đồng lên thì gọi là “Ông lên”. Tiếng “Ông” vừa có tính cách tôn xưng, vừa biểu lộ sự thành kính tuyệt đối.
Đợi cho hai đứa bạn gái hết nêu thắc mắc, Thái mới nheo mắt, môi nở nụ cười chế nhạo:
- Hạnh, Lê làm hổ danh “Ngũ hổ” quá!
Lê bĩu môi:
- Còn lâu!
Hạnh chu miệng:
- Người ta sợ máu, chớ bộ!
Phi ôn tồn hơn cả:
- Giờ mình qua đền Thất Phủ. Hạnh, Lê dám đi xem nữa không?
Lê làm bảnh:
- Đi thì đi chớ.
Cả bọn kéo nhau sang đền Thất Phủ, cách đó chỉ một trăm thước. Nơi đây, người xem cũng đông nghẹt đứng chật cả hai bên đường. Thái đi tiên phong cố vạch một lối vào cho đồng bọn. Chúng chen được vào sân đền, đứng xen lẫn những đám trẻ khác.
Giữa sân có một chiếc kiệu mang tượng Đức Thánh Công, một chiếc kiệu khác trống không, một chiếc thuyền bằng giấy bồi dài độ hai thước, màu sắc sặc sỡ. Chiếc thuyền này rất lạ mắt. Hai hàng thủy thủ áo đen ngồi dọc theo mạn thuyền. Trước mui, hai hình nộm khác, kẻ cầm giáo, người cầm đao, mặt ngẩng lên, mắt trợn trừng như dọa nạt ai. Có lẽ đó là hai tên quân cận vệ. Giữa thuyền, một hình nộm to lớn, mặt rằn áo tía, trông oai phong lẫm liệt như một... Ôn Thần. Mà quả đó là hình nhân tượng trưng cho Ôn Thần, vị hung thần đã gây tai họa khủng khiếp cho làng này. Khoang thuyền chứa đầy thực phẩm, nào gà luộc, vịt quay, nào đầu heo, thịt nguội, nào bánh ngọt, trái cây...
Thái bấm tay Phi, hỏi nhỏ:
- Có mâm cỗ nhà mầy trong đó không?
- Chắc có chớ mậy.
Hạnh liến láu hỏi:
- Mâm cỗ nào đâu, anh Phi?
Phi đang đưa mắt tìm kiếm thì có tiếng thét to vang dậy. Cả bọn giật mình, lặng im phăng phắc. Người yếm đỏ ban nãy từ trong đền chạy ra, lần này tay không cầm gươm mà cầm mấy cây nhang cháy rực. Đoàn hộ vệ vẫn nhanh nhẹn theo sau.
Đồng Thánh đi quanh thuyền, dùng mấy cây nhang điểm vào các hình nhân, từ vị Tướng quân áo tía, đến đoàn cận vệ, thủy thủ bao quanh.
Phi làm lạnh nói:
- “Ông” đang “điểm nhãn” đó!
Lê ngạc nhiên hỏi:
- Điểm nhãn là gì vậy, anh Phi?
- Là pháp thuật điểm con ngươi vào mắt hình nhân cho thiêng.
Khi ông Đồng điểm nhãn xong, hai hộ vệ kính cẩn dâng gươm. Đồng tiếp lấy gươm, múa loang loáng một hồi, rồi chém xối xả vào lưng. Bỗng ông Đồng thét to, tung mình nhảy lên chiếc kiệu trống. Bốn người vạm vỡ vội vàng khiêng kiệu lên vai. Đồng chỉ thẳng gươm, ra lịnh lên đường.
Chiêng, trống hòa vang một khúc nhạc quân hành.
Kiệu Đồng Thánh dẫn đầu. Kế đó là kiệu Tượng Thánh. Tiếp theo là thuyền ôn binh. Sau cùng là đoàn lễ nhạc. Dân làng theo sau hàng hàng lớp lớp. Trẻ con chạy theo hai bên đường reo ó trợ oai.
Hiện tượng lạ lùng nhất là kiệu Tượng Thánh. Chiếc kiệu này được hơn mười thanh niên lực lưỡng khiêng trên vai. Như bị điều khiển bởi một sức mạnh nhiệm mầu, chiếc kiệu nghinh ngang như một con thần mã. Khi thì nó chạy như bay rồi đột nhiên dừng lại. Khi thì nó đi chậm rãi rồi đột nhiên xoay tròn. Khi thì nó nhảy qua mương, lắc lư như say rượu.
Những người khiêng kiệu bị lôi cuốn bởi năng lực huyền bí ấy. Họ bị hấp dẫn theo kiệu, muốn rời bỏ cũng không được. Đến khi nào họ mệt đừ và kiệu đi thong thả, họ mới có thể nhờ người khác vào thay. Lạ một điều là kiệu không bao giờ đổ và Tượng Thánh trong kiệu không bao giờ ngã. Sự kỳ bí này làm cho dân làng càng tin tưởng ở thần quyền.
Bọn Phi lấy làm lạ, theo sau mãi chiếc kiệu ấy. Chúng không dám đến gần, sợ chiếc kiệu vụt chạy hoặc xoay tròn, chúng không tài nào tránh kịp. Cũng may, kiệu không hề chạm vào ai và người khiêng kiệu không hề vấp ngã. Có lúc chúng tưởng chiếc kiệu phải đổ xuống mương sâu, nhưng rồi kiệu vẫn bình yên, ung dung dẫn đạo đoàn người đi tống Ôn Thần ra biển.
Đến bờ sông, đoàn người dừng lại. Người yếm đỏ nhảy xuống kiệu, phi nhanh quanh bờ như một cao thủ võ lâm. Đoàn hộ vệ phải chạy theo gần hụt hơi mới kịp. Sau một hồi múa gươm, hò hét (có lẽ để dương oai với lũ ôn binh) Đồng Thánh chỉ thẳng mũi gươm xuống nước. Đoàn tùy tùng vội vã đưa thuyền Tướng quân Ôn Dịch xuống sông.
Một cơn gió thổi đến, chiếc thuyền lơ lửng trôi đi...
Những hồi chiêng, trống lại nổi lên, vang vang trong gió lộng...
0
- IV -
Khoa học chiến thắng

Sau ngày cử hành Lễ Tống Ôn Thần, dân làng Gia Lộc không ai bị bịnh dịch hạch nữa. Thậm chí có vài người đã nhuốm bịnh cũng lần hồi bình phục lại như xưa.
Một tuần lễ đã qua. Hôm nay Phi đến trường, gặp lại đầy đủ Đào Cốc Lục Tiên. Vừa trông thấy Tâm đứng với các bạn trước sân trường, Phi mừng rỡ chạy lại nắm tay bạn:
- Mầy bịnh, tụi tao lo quá!
Tâm vui vẻ nói:
- Có gì mà lo?
- Tụi tao sợ mầy gia nhập đoàn ôn binh.
- Ai thèm gia nhập.
- Mầy khéo nói! Chúng bắt mầy theo chớ.
- Làm sao bắt được một cao thủ trong Đào Cốc LụcT iên?
Cả bọn đều cười. Thái khoái chí cười to hơn hết. Chúng kéo nhau đến dưới một gốc cây vú sữa xum xuê tàn lá, đồng ngồi xuống đệm cỏ mơn mởn xanh tươi. Hạnh nhìn bạn, thấy vẻ mặt Tâm còn xanh xao tiều tụy. Nó cảm động hỏi:
- Anh Tâm nằm nhà thương có buồn lắm không?
- Buồn muốn chết! Nhất là nhớ thầy, nhớ bạn...
- Tụi này muốn vào thăm, nhưng người ta không cho.
Tâm thở dài:
- Người ta sợ lây đó. Tâm cũng tưởng đã tàn đời.
Liêm tò mò hỏi:
- Rồi làm sao mầy bình phục được?
- Nhờ các y sĩ, y tá tận tâm cứu chữa. Họ cho tao uống thuốc và tiêm thuốc cho tao mỗi ngày. À, má thằng Phong cũng đã khỏi bịnh, ra nhà thương trước tao một bữa.
Năm đứa Phi, Thái, Liêm, Hạnh, Lê đưa mắt nhìn nhau, tỏ vẻ nghi ngờ lời nói của bạn. Từ ngày xem Lễ Tống Thần Ôn, chúng đinh ninh dân làng hết bịnh là vì đoàn quân của Tướng quân Ôn Dịch đã bị đưa ra biển. Mà phần đông dân làng đều tin như thế. Sự việc diễn ra quá rõ ràng, có lẽ vì Tâm nằm nhà thương nên không hay biết gì chăng?
Hạnh đang trầm ngâm bỗng nhoẻn cười bẽn lẽn:
- Từ bữa xem Tống Thần, đêm nào Hạnh cũng nằm chiêm bao.
Lê dịu dàng hỏi:
- Chị chiêm bao thấy gì?
- Thấy người mặc yếm đỏ cầm hai thanh gươm cứ rượt theo Hạnh. Hạnh chạy mà chân Hạnh cứ cuống lên, Hạnh trượt té xuống mương và bừng tỉnh dậy.
Liêm bật cười, chế nhạo:
- Tại chị thỏ đế quá nên hay bị ám ảnh. Biết vậy, phải chi hôm trước chị núp luôn sau lưng Lê, có hơn không.
Hạnh mắc cỡ, lặng thinh. Lê nắm chặt tay Hạnh, cười nụ:
- Từ rày muốn khỏi chiêm bao thấy bị rượt, chị hãy đọc mười lần bốn chữ “Đào Cốc Lục Tiên” để tự nhắc rằng mình là tiên thì không ai dám rượt. Bài học của anh Tâm đó.
Bọn trẻ vỗ tay vang dậy, hoan hô lời nói ngộ nghĩnh của Lê.
Tiếng trống vang lên, báo hiệu giờ vào học. Bọn trẻ đứng dậy, ôm cặp vào sắp hàng trước cửa lớp. Chúng vào lớp rất trật tự và ngồi im phăng phắc.
Sau khi điểm danh xong, thầy giáo Minh vui vẻ nói:
- Hôm nay thầy rất vui mừng thấy em Tâm đã hết bịnh và hay tin má em Phong đã bình phục.
Tâm và Phong đứng lên một lượt:
- Chúng em cảm ơn thầy.
Thầy bảo chúng ngồi xuống rồi cất giọng vô cùng cởi mở:
- Một lần trước, thầy có hứa sẽ giải thích những huyền thoại dị đoan về bịnh dịch. Vậy em nào có điều gì thắc mắc, cứ thẳng thắn nêu ra.
Cả lớp lặng im. Bọn Đào Cốc Lục Tiên đưa mắt nhìn nhau, trao đổi ý kiến. Thái nháy mắt với Phi, Liêm, Tâm gật đầu lia lịa. Lê và Hạnh mỉm cười. Không nói với nhau tiếng nào mà bọn chúng đã hội ý.
Phi đứng lên, lễ phép nói:
- Thưa thầy, bịnh dịch hạch có phải do Ôn Thần gây ra hay không?
Thầy tươi cười đáp:
- Chắc chắn là không.
Phi mạnh dạn hỏi tiếp:
- Tại sao có sách chép rõ chuyện “Tướng quân Ôn Dịch”?
- Sách chép không hẳn là đúng sự thật. Chuyện “Tướng quân Ôn Dịch” chỉ là một truyện thần thoại hoang đường, do một nhà văn giàu tưởng tượng thêu dệt ra để giải thích một hiện tượng mà ngày xưa người ta chưa chứng nghiệm được bằng khoa học.
- Vậy thì truyện đó có ích lợi gì đâu, thưa thầy?
- Mặc dầu không giải thích được hiện tượng một cách đứng đắn, xác thật, truyện đó cũng có đôi chút giá trị về phương diện luân lý. Dĩ Thành nêu cao tấm gương cương trực, tận tình tận nghĩa với bạn bè. Lê Ngộ biểu lộ tiết tháo người quân tử trong cảnh hàn vi. Tướng quân Ôn Dịch giữ được chữ Tín đối với người chưa quen biết. Bao nhiêu đức tính đó cũng đủ làm gương sáng cho các em.
Bọn trẻ chăm chú lắng nghe. Bây giờ, bọn Phi mới hiểu rõ ý nghĩa câu chuyện hoang đường mà chúng cứ ngỡ là chuyện thật. Xầm xì với nhau một lúc, Thái đại diện các bạn đứng lên, kính cẩn thưa:
- Thưa thầy, nếu không do Ôn Thần gây ra, vậy tại sao có bịnh dịch hạch?
Thầy Minh ôn tồn giải thích:
- Bịnh dịch hạch là một bịnh truyền nhiễm gây ra bởi một thứ vi trùng do bác sĩ Yersin tìm ra năm 1894, cho nên người ta đặt tên là vi trùng Yersin. Vi trùng này sát hại các loài gậm nhấm như chuột, sóc, chồn, rồi những con bọ chét từ loài gậm nhấm bò ra cắn người và truyền bịnh. Dịch hạch thường phát triển theo mùa, nên người ta gọi là ôn dịch.
- Bịnh dịch hạch truyền nhiễm dễ sợ lắm, phải không thầy? Chỉ mới nửa tháng mà làng ta chết mười mấy người.
- Như vậy đã có gì là khủng khiếp! Các em biết không, ngày xưa, ở kinh thành Constantinople, một trận dịch tễ hoành hành rất ghê gớm, mỗi ngày số người chết lên đến mười ngàn. Ở Trung Hoa năm 1900, một trận dịch tễ dữ dội sát hại trên một ngàn người mỗi ngày, và lan truyền nhanh chóng từ tỉnh này sang tỉnh khác.
Hạnh rùng mình, le lưỡi. Lê làm gan đứng lên:
- Thưa thầy, tại sao ngày nay người chết vì dịch hạch ít hơn ngày xưa?
- Nhờ sự tiến bộ của khoa học, nhờ loài người văn minh đã biết cách ngừa bịnh và chữa bịnh. Để bịnh khỏi lan tràn, người ta thiết lập hàng rào Y Tế. Để ngừa bịnh, người ta tiêm thuốc ngừa, diệt hết bọ chét, côn trùng bằng chất DDT, tiểu trừ chuột và các loài gậm nhấm. Để trị bịnh, người ta có nhiều thứ thuốc trụ sinh rất hiệu nghiệm như Terramycine, Streptomycine, Tetracycline, v.v... Với những thứ thuốc mới phát minh này, dầu bịnh nguy kịch cũng có thể chữa lành, trừ phi đừng để quá muộn.
Lê chưa hoàn toàn thỏa mãn, nó lại hỏi:
- Thuốc hay như thế, sao còn có người chết?
Thầy Minh mỉm cười:
- Như thầy vừa nói đó, vì người ta để quá muộn, không còn cứu chữa được nữa. Vả lại, khi tình nghi nơi nào có bịnh dịch hạch, cơ quan Y Tế mới cho nhân viên đến khảo nghiệm. Khi xác nhận chắc chắn bịnh dịch hạch rồi, người ta mới thiết lập hàng rào Y Tế và áp dụng phương pháp phòng ngừa chữa trị. Như vậy làm sao tránh khỏi một số người mạng vong.
Thằng Liêm đứng lên, nêu thắc mắc:
- Thưa thầy, tại sao anh Tâm đã tiêm ngừa rồi mà con mắc bịnh?
Câu hỏi của Liêm làm cho thầy Minh giật mình, kinh ngạc. Thầy kinh ngạc vì chính thầy chưa nghĩ đến trường hợp thằng Tâm. Suy nghĩ một lúc, thầy bỗng kêu thằng Tâm, dịu dàng hỏi:
- Em Tâm hãy nói thật, em đã tiêm ngừa mấy lần?
Thằng Tâm ấp úng đáp:
- Thưa thầy, em chỉ tiêm ngừa một lần. Lần đầu, vì sợ đau, em lén trốn. Lần sau, vì sợ chết, em mới chịu đi tiêm.
Thầy Minh thở ra, khoan khoái đã tìm ra ánh sáng:
- Thì ra là vậy. Em tiêm ngừa chỉ có một lần và chỉ cách có một ngày. Các em nên biết rằng: Thứ thuốc ngừa này tên là Vaccin EV do GIRARD và ROBIE sáng chế, viện Pasteur bào chế, chứa đựng một tỷ vi trùng dịch hạch đã yếu trong một phân khối thuốc, có tính miễn dịch 10 ngày sau khi tiêm. Như vậy phải 10 ngày sau khi tiêm mới chắc chắn thoát nguy, đằng này em Tâm chỉ cách tiêm một ngày...
Một tia sáng lóe lên trong đầu óc bọn trẻ. Đám mây mù tan dần trong tâm não ngây thơ. Thằng Phi gãi tai, ngập ngừng hỏi:
- Thưa thầy, tại sao sau cuộc Lễ Tống Thần, bịnh dịch hạch mới chấm dứt?
Thầy Minh hùng hồn giảng tiếp:
- Đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên về thời gian. Xưa kia, ở Ấn Độ, Trung Hoa, Phi Châu, mỗi lần có bịnh dịch, dân địa phương cũng tổ chức những lễ Tế Thần, Tống Thần vô cùng trọng thể. Một lúc có hàng chục Đồng Thánh, Đồng Thần lên, cũng biểu diễn những trò xảo thuật huyền bí như đi trên lửa, xiên lình vào mép, ăn miểng chai như người ta ăn bánh v.v... Nhưng rồi dân chúng vẫn chết như rạ, rốt cuộc phải nhờ khoa học chận đứng chết chóc lan tràn.
Thằng Phi cố nêu thắc mắc.
- Khoa học có giải thích được những hiện tượng huyền bí ấy không, thưa thầy?
Thầy Minh xoa tay, vui vẻ đáp:
- Phải công nhận có những hiện tượng kỳ lạ mà khoa học thực nghiệm chưa giải thích được, vì vậy những người tin tưởng dị đoan mới sáng lập ra một khoa học riêng gọi là “Khoa học huyền bí”. Song, theo thầy, những gì khoa học thực nghiệm đã giải thích chứng minh được một cách cụ thể, thì ta không nên tin tưởng Thần quyền một cách mù quáng nữa. Tinh thần dị đoan làm cho dân tộc chậm tiến, lạc hậu.
Thằng Phi hỏi câu cuối cùng:
- Vậy người ta không có quyền tín ngưỡng sao thầy?
Thầy Minh tươi cười kết luận:
- Chúng ta có quyền tự do tín ngưỡng chứ, song phải phân biệt tín ngưỡng và mê tín. Thầy nhớ Đức Phật Thích Ca có nói một câu vô cùng thâm thúy: “Phật tại tâm. Mỗi chúng sinh đều là một vị Phật tương lai”. Vậy mỗi chúng ta sẽ là Phật nếu ta hoàn toàn giác ngộ. Biết mình sẽ là Phật, tại sao ta còn lại sợ Thần, Thánh, Ma, Qủy để biến mình thành những tên nô lệ của họ?
Bọn trẻ không còn đứa nào thắc mắc gì nữa. Lời giảng rành rẽ của thầy làm cho chúng như bừng tỉnh cơn mê. Chúng thấy lòng thơ thới, nhẹ nhàng không còn những gì u ám vấn vương trong tâm hồn.
Tan giờ học, bọn trẻ ra về, đứa nào cũng hân hoan, cởi mở.
Ra đến đường, thằng Liêm bỗng nhếch môi cười trêu Hạnh:
- Từ nay, chị Hạnh hết sợ người yếm đỏ xách gươm chạy rồi đó.
Hạnh ngước đầu nhìn bạn:
- Tại sao vậy?
- Vì chị hiện nay là Tiên và tương lai sẽ là Phật kia mà.
Bọn trẻ đắc ý cười to, giọng cười giòn tan lâng lâng trong gió. Hạnh bẽn lẽn cúi đầu.
Thẩm Thệ Hà
 
HẾT
0
Truyện đã mang vào thư viện
Cảm ơn và chúc casau năm mới vạn an
 
📎 bonne année 2018 (1)




0