2.
Chắc thầy tướng phán số nó tha hương nên bố nó lấy tên làng đặt cho con. Làng Hà ngay gần ngã ba sông, nhưng không có nhà nào sống nghề chài lưới, cả làng cấy lúa và trồng màu. Thuyền cá neo đậu ngoài bến toàn dân nơi khác. Một năm dịch tả không biết từ đâu kéo về vật chết nửa làng. Nội ngoại nhà nó chết cả. Mẹ nó vùi xác bố nó và các con trong vườn. Rồi chính nó lại vùi xác mẹ. Quan phủ, quan huyện sợ dịch lan ra khắp vùng sai rắc vôi bột quanh làng và lệnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Sợ mất giống, chờ đêm nó mò mẫm bơi qua sông sang Nam Định. Có lẽ kiếp trước nhà nó ăn ở có đức nên giời thương cho nó sống. Ngày lang thang, ai thuê gì làm nấy. Tối ngủ vạ vật trong chợ Năng Tĩnh. Tình cờ bà chủ lò mổ trâu dọn hàng sớm bắt gặp nó khò trên ván bán thịt, thương tình đưa về nhà sai vặt. Khi nó có bắp tay, bà cho vào lò làm chân chặt xương. Lò mổ này có tiếng ở thành Nam. Mờ sáng, các quán cơm đầu ghế đã đến lấy lòng, dạ dày, ông bán mì sực tắc người Hoa đến lấy thịt, lấy xương, còn bao nhiêu bà mang ra chợ bán lẻ. Ở nhà, bà mẹ chồng vơ hết bạc nhạc cho ninh rồi sai người ra chợ mua bún, thế là cả nhà chủ và kẻ làm xì xụp. Ngày nào cũng như ngày nào.
Nhờ chăm chỉ, lại không chè tàu, thuốc lào, không rượu nên Hà tích cóp được chút vốn. Rồi nó xin bà chủ về quê. Ban ngày mà làng thưa vắng lạnh lẽo như bãi tha ma. Căn nhà lá ba gian ngày nào còn trơ vài cột xoan. Nó mua tre dựng lại. Lập bàn thờ. Nhưng đêm nào nó cũng thấy những bộ xương trắng hếu bay lượn xung quanh, lại có đêm hàng chục bóng ma ngồi cạnh nó thì thầm. Con Vàng sủa đến khan tiếng, ma chẳng sợ mà còn đồng thanh cười. Sợ quá, nó bán nhà rồi trở lại thành Nam. Khi Tây đến, quan ta sợ Tây mà Tây chẳng để ý nên nó chớp ngay thời cơ ra ven thành chiếm miếng đất công dựng nhà mở quán bán bún xáo trâu. Chẳng phải học ai mà vốn không nhiều. Gọi là nhà song thực ra chỉ hơn túp lều một tí, mái cao, đêm có tấm phên che cửa. Bên trong, độc chiếc phản bằng những tấm xoan ghép lại. Phía sau làm chỗ đun nấu. Quán nằm trên con đường chính vào thành nên gà gáy canh năm đã dồn tiếng người đi chợ. Và quán bún xáo là điểm dừng chân của họ. Có lần đang ngồi bán hàng, một ông già thủng thẳng:
- Lấy vợ đi thôi!
Nghĩ ông thương nó một mình cặm cụi bán hàng vất vả, nó cười. Ông già chỉ tay vào quần.
- Nhè cả ra quần rồi kìa!
Nó nhìn xuống cái quần nâu bạc thấy mấy vết thẫm như mật mía bắn vào chưa khô. Nó xấu hổ. Từ lâu nó cũng muốn lấy vợ đẻ nhiều con vì nhánh Nguyễn Đăng của họ Nguyễn chỉ còn mình nó. Con gái ở các làng mười một mười hai tuổi đã có nhà nhắn nhe đánh tiếng, đâu vào đấy cả. Thừa ra cho thiên hạ chỉ còn các cô gia cảnh không khốn cùng thì sứt môi lồi rốn. Mà nó lại chẳng là người làng nào ở đất Nam Định. Đã thế lại mồ côi cha mẹ, không ruộng, không vườn. Cũng đôi lần nó nghĩ nhờ người mối lái cho một đám song chẳng biết nhờ ai. Việc ông cụ phát hiện nó nhè ra quần không phải lần đầu, thỉnh thoảng đêm ngủ nghĩ đến chuyện ấy là bắn tứ tung. Và ông giời đã cho nó gặp Lan.
Hàng ngày, gà gáy canh tư, nó vội vã vào lò bún, vợ nó nằm rốn rồi dậy nhóm bếp đun lại nồi xáo hầm từ chiều hôm trước. Nó mang bún về thì nồi xáo sùng sục và bát đũa cũng sẵn sàng. Nhìn nồi xáo trắng như mắt ma, vợ nó dặn:
- Lần sau nhớ xin thêm tí tiết.
Nồi xáo có thêm tiết bóp vụn chuyển sang màu nâu xỉn trông đậm mắt hơn. Nhớ lúc còn nhỏ, bố thường cho tí rau răm mỗi khi nấu lòng trâu, Lan bắt chước cho vào. Khách khen, nó phổng mũi như bảo chồng “công tôi đấy”. Hàng ngày, bán hết hàng là hai đứa quấn quýt, ríu rít. Nó tự nhận nó là “cứt chó” còn bảo vợ là “cây thài lài” và giảng giải “cứt chó” mà không có thài lài thì phí cứt, “thài lài” không có cứt thì thài lài còi cọc cằn cỗi. Lan thấy hay hay khen chồng biết ví von.
Từ ngày lấy chồng Lan nghĩ đến thằng Lân nhiều hơn. Nhiều đêm chồng quấy xong lăn ra ngủ ngáy khò khò nhưng nó vẫn trằn trọc. Nó biết em vất vả cực nhọc. Có lần nó tính liều về làng đến nhà Lý Tung chấp nhận làm vợ ba để giải thoát cho thằng Lân. Nó hỏi ý kiến dì nhưng bị mắng.
- Nhỡ thằng Lân thương mày nó không chấp nhận thì chuyện lại thối thêm. Từ từ để tính cách khác.
Dì Mùng nói đúng. Rồi cứ bán hàng xong đếm tiền, nó lén giấu vài trinh vào cái hố gần mép ao. Chả biết bao giờ mới thành món đủ để trả nợ nhưng nó nghĩ tích tiểu thành đại.
Như mọi lần, hôm nay chồng đòi, Lan nhất quyết không cho. Chồng xị mặt thì vợ kéo tay bắt cho ngồi vào lòng, không được cựa quậy.
- Tôi có chuyện này muốn nói với mình...
Chồng nó vểnh tai chờ đợi.
- Tôi muốn vợ chồng mình giải thoát thằng Lân ra khỏi nhà Lý Tung.
- Tiền đâu mà chuộc...? Hà trợn mắt.
- Vì không có tiền mới phải tìm cách cho nó trốn... Mình vờ làm người mua tre rồi bằng mọi cách gặp thằng Lân hẹn nó canh mấy, ngày nào, địa điểm ở đâu sau đó mình đón nó ngoài hàng rào rồi đưa nó đi...
Nghe vợ nói, Hà lặng người. Ngỡ tưởng cô ta chỉ giỏi chuyện giường chiếu nào ngờ thêm tính liều.
- Thế nào Lý Tung cũng sai người lùng sục quanh vùng và có thể ra cả thành Nam nên tôi tính đưa nó ra Hòn Gai, Tây đang đào mỏ ngoài đó cần phu...
- Sao nhà biết?
- Mình chỉ biết rúc đầu vào ti, không nghe khách ăn bún nói chuyện hử?
- Nhưng chính mình nói với tôi Lý Tung bảo nếu thằng Lân bỏ trốn lão sẽ đào mồ mả cha mẹ lên cho chó tha xương là gì?
Lan nổi cáu nhìn chồng. Hà lảng bằng cách quay đi chỗ khác vì nó đã mấy lần phải hứng khi Lan cáu. Ban ngày hỏi không thèm trả lời, đêm đừng có đụng vào người, đụng vào là bị cấu nát con cu. Thực ra nó hỏi để rõ mọi chuyện, không có ý gì khác. Nó im thít kiểu trẻ con bị quát.
* * * * *
Chập tối hôm sau, hai vợ chồng chuẩn bị lên đường thì trời lại đổ mưa, nước trút xuống như ông trời khóc bố. Vợ bảo nó mặc áo tơi lên đường, mưa gió càng bí mật. Thế là nó vác mai, vợ nó vác cuốc dầm mình vào nước. Đến đầu làng, gà vẫn chưa gáy canh một. Đoạn đường đất ra bãi tha ma ngập trên đầu gối. Hôm đưa ma bố nghe dì kể nước ngập đến rốn. Vì người chết vào mùa nước không có chỗ chôn nên người ta phải ủ xác trong trấu chờ nước rút mới phát tang. Đâu như từ thời vua Thiệu Trị, các cụ trong làng bàn nhau vật đất lên làm gò, và vào mùa nước cạn, năm nào làng cũng vạ thêm, cơi rộng ra, cao hơn nên tháng Bảy, nước trắng đồng nhưng tha ma không còn ngập.
Đồng chiêm đỉa nhiều hơn cá. Để chống lại lũ đỉa đói, Lan theo cách đàn bà con gái trong làng vẫn làm, lấy vải quấn từ mắt cá lên sát háng như xà cạp của lính dõng. Lại lấy vôi xát kỹ bên ngoài, vì đỉa sợ vôi, chạm vòi vào là lùi ngay. Lan cũng làm như thế cho chồng, còn bắt mặc thêm quần rồi lấy dây đay buộc chặt ống. Cẩn thận, Lan mang theo gói vôi, phòng những con ngoan cố. Hai vợ chồng ì ọp lần theo con đường ngập nước lên tha ma. Đêm đen kịt hơn nước chè đỗ đen, mò mẫm hồi lâu Lan mới tìm được chỗ có bốn khóm dứa dại. Ngày bố chết, Lan ở thành Nam nên dì Mùng bảo chú Sáng trồng bốn khóm dứa đánh dấu nếu nó có cơ hội về thắp hương còn biết mộ.
Lan chẳng lạ vì tha ma là chỗ chơi duy nhất của lũ trẻ mùa nước. Đứng ở đây nhìn về, không nhờ cây đa và mấy cây gạo thì làng chỉ như mảng bèo nổi trên mặt nước. Đàn bà, con gái chèo thuyền nan đi xúc cua, chiếc nọ nối đuôi chiếc kia ngoằn ngoèo như rắn bơi trên mặt nước. Tháng cuối năm, nước cạn, những con đường đất vòng vèo ra tha ma, nối với các làng bên lộ ra, hai bên mới rõ đâu là ruộng đâu là ao. Tháng Tư, thân lúa cao ngồng đã có hạt, mùi thơm non nhè nhẹ theo gió bay vào làng. Hoa súng từ các ao sâu ngoi lên mặt nước nụ đỏ thẫm, ven bờ loe ngoe cây thủy trúc đã có hoa. Mấy thằng con trai lấy lá dứa non quấn làm kèn, ba đứa xếp hàng dọc phồng mồm vừa đi vừa thổi, tiếng ò í e y như đám ma thật. Ngày nào cũng chơi trò đưa đám vì cũng chẳng còn trò gì. Chán thì xuống ruộng bắt cá đốt lửa nướng. Cá rô cái tháng này bụng đầy trứng ăn ngậy mồm. Có lần thằng Thiên xử tử con đỉa cắn chim nó bằng cách lấy gai dứa già mổ bụng, sau ném vào đống lửa, mùi khét lẹt.
Tiếng gà gáy canh một bị dìm trong mưa nhỏ hẳn. Lan che nón để chồng thắp hương, đánh đến chục que diêm mới châm được. Sợ tiếng mưa cha mẹ không nghe được, Lan khấn to cũng cốt để Hà nghe.
Con là Trần thị Lan, chồng con là Nguyễn Đăng Hà, hai chúng con cúi đầu lạy cha, lạy mẹ, từ ngày chúng con cùng cảnh không cha thiếu mẹ về ở với nhau, hôm nay chúng con mới về kính báo cha mẹ, lỗi tày đình con xin cha mẹ thương tình tha tội. Con cũng cúi đầu lạy xin cha mẹ tha tội vì đã đánh thức cha mẹ trong đêm mưa khuya khoắt lại để cha mẹ ướt át, lạnh lẽo nhưng chúng con không còn cách nào khác. Cha đi lúc nửa đêm thì sáng sớm Lý Tung đến thu nhà. Nghe tin chị Tĩn ra báo chú dì về ngay, con ngất trong gian nhà vắng lặng, có bà già chờ đò vào uống nước sớm vô tình trông thấy đã xoa dầu đánh gió con mới tỉnh, giá bà ấy không biết thì con cũng được theo cha mẹ. Cúng ba ngày cho cha xong, Lý Tung bắt ngay thằng Lân về nhà lão ở đợ. Nó cơ cực quá nên vợ chồng con quyết cứu em. Con mong cha mẹ phù hộ để việc giải thoát nó thành công. Chúng con hứa chỗ ở mới của cha mẹ cũng to và đàng hoàng như nhà cũ. Con đào nhẹ tay không để cha mẹ đau đớn. Con kính cẩn lạy cha mẹ.
Khấn xong, nó quỳ xuống bùn nhão, một tay vẫn giữ vành nón tay kia lạy mộ bố rồi lạy sang mộ mẹ. Hà cũng quỳ lạy y như vợ. Rồi hai đứa đầu trần mặc mưa dội xuống che nón cho đến khi ba nén hương cháy đến chân tăm mới thôi.
Hà lấy mai xắn còn nó bê, một lúc lại đổi. Cái huyệt sâu gần cán mai, nó vục mặt xuống nước mò hòn đất, tóc dầm trong nước. Cả hai quần quật, nhờ đất mềm nên gà gáy canh tư đã xong một huyệt còn huyệt kia cũng được phân nửa. Sợ gặp người làng đi nhấc đó sớm, hai vợ chồng nó nhanh chóng rời tha ma. Nó quấn khăn ướt sũng kín mít, còn chồng nó kéo cái nón lá già ngang mặt, cả hai tong tả về. Nó ước phải mất vài đêm nữa việc chuyển quan mới xong.
* * * * *
Xong việc chuyển mộ, Hà giả làm người mua tre dò dẫm vào trại. May cho nó hôm đó cha con Lý Tung đi ăn giỗ tổ, một người làng bên làm công dẫn nó xem tre. Đi lại ngó nghiêng thì nhìn thấy thằng Lân đang đánh gộc. Nó nhận ra ngay vì Lân hao hao giống vợ nó. Gầy guộc đến thảm. Vờ hỏi han và nhân lúc ông kia ra gốc cây chuối vạch quần, nó dặn dò thằng Lân. Ông ta tiểu xong thì nó cũng vừa kịp hẹn giờ, hẹn ngày. Nó lại vờ bảo ông ta nay mai sẽ quay lại hỏi chủ. Chập tối nó lên đường, Lan tiễn chồng một đoạn rồi bảo:
- Xong việc, tôi thưởng nhà trọn ngày.
Nó hăng hái như ăn mày sắp ăn cỗ. Được một quãng dài bỗng nó đi chậm hẳn. Ừ thì chị em thương nhau, giúp nhau lúc hoạn nạn nhưng nếu cứu được thằng Lân và đưa nó ra Hòn Gai liệu Lý Tung có để cho vợ nó yên không? Thế nào lão cũng sai người tìm vợ nó. Mà tìm được thế nào lão cũng bắt ở thế chỗ thằng Lân. Nó không thể cãi Lan là vợ nó vì ai chứng kiến nó cưới hỏi, nếu có ra công đường nó cũng thua. Cứu em vợ là mất vợ, nghĩ thế nó rùng mình, sẽ ra sao nếu mất vợ? Nó đắn đo hồi lâu, nó biết vợ nó rất thương em mới liều thế. Bỏ về thế nào cũng có chuyện mà chuyện gì thì nó không thể đoán được, qua vụ việc này nó hiểu thêm vợ nó chẳng vừa. Nếu vợ có giận bảo tính cách khác cho trọn vẹn cả hai đàng. Thế là nó quay đầu về nhà. Con Vàng thấy chủ quấn quýt liếm cái chân bàn cuốc. Nó nhẹ nhàng tháo sợi dây buộc cửa, cẩn thận buộc lại rồi leo lên giường sờ sờ ngực vợ. Lan hét toáng lên, nó nhanh nhảu:
- Tôi đây mình ơi!
- Thằng Lân đâu rồi?
- ... Tôi nghĩ phải tìm cách khác, cách đó nguy hiểm lắm...
- Nhà là thằng hèn!
Vợ nổi nóng nhưng nó không biết giải thích thế nào, bảo sợ mất vợ thì to chuyện hơn. Nó ra bàn ngồi mặc vợ gào thét mắng mỏ.
* * * * *
Gần tháng nay bến Lương Xá bỗng đông khách lạ thường, khách vào quán uống bát nước vối, ăn kẹo bột không phải dân quanh vùng. Họ nói chuyện nhẹ nhàng chẳng toang toác như mấy bà buôn. Từ người già đến con trẻ, áo quần không mới nhưng sạch sẽ gọn gàng. Hỏi ông cụ áo the, khăn đóng, bà Mùng mới biết khi lính Pháp chiếm Hà Nội, thành phố nhộn nhạo, lại thêm quân Cờ Đen [1] quấy nhiễu, cướp bóc buộc nhiều gia đình phải chạy loạn về quê nương nhờ họ hàng, trú tạm nhà người quen nghe ngóng chờ ngày trở về. Nay Cờ Đen buộc phải rút khỏi Bắc Kỳ, thành phố dần ổn định nên mọi người đón thuyền trở lại Hà Nội. Nhưng lạ hơn, sáng nay mở mắt, bà thấy một chiếc thuyền mành kềnh càng đậu mé sông. Sợ mắt kèm nhèm trông gà hóa quốc, bà lấy tay áo chùi dử, đúng là thuyền mành thật, loại thuyền mà Hoa thương ở Hải Phòng thường dùng đi mua thóc. Ông Vẹn chạy về mừng ra mặt.
- Bến này sống lại rồi!
Chắc hóng hớt ở đâu ông ổng khoe vợ.
Lương Xá lá bến nhỏ nằm trên sông Đào, con sông nối sông Cái với sông Đáy. Dù có đò ngang, đò dọc nhưng mỗi ngày cũng chỉ trên chục chuyến cả đi và về. Dân chài tụ lại thành xóm không đủ đông làm bến xôn xao. Năm Pháp chưa chiếm An Nam, vua Tự Đức cho Hoa thương được quyền mua bán thóc thì thuyền mành vẫn đậu bến này. Khi quân Pháp bình định Bắc Kỳ, lính kéo về thành Nam, họ dùng bến này chuyển thực phẩm cho lính, sau thấy bất thuận, họ chuyển sang đường bộ. Và cũng từ đó không thấy thuyền mành về nữa, dân đồn Pháp tạm cấm Hoa thương mua thóc. Những năm trước, mỗi ngày bà Mùng bán vài lít rượu, ngoài phu An Nam, đám chân chèo thuyền mành ngày nào cũng mua. Trong lúc chờ lái thương vào sâu tít các làng gom thóc, họ cũng chẳng biết làm gì ngoài vào phố rồi uống say cho dễ ngủ.
Bà đang bê cái bàn tre thì Lan đến. Từ ngày về ở với thằng kia, thỉnh thoảng nó vẫn qua lại, lần nào cũng hỏi tin tức thằng Lân. Tin về làng đã khan, tin về em nó càng khan hơn, nó buồn mỗi khi dì lắc đầu và đó là lúc bà thấy quý nó nhất. Nhưng hôm nay da mặt nó xanh, con gái da đang đẹp mà xanh rớt thì chỉ có sẩy thai.
- Để cho nó húc lắm vào! - Bà lầu bầu thương xót - Tí nữa về cắt thuốc uống ngay không chết đấy.
Một ông trung niên người Hoa lững thững vào quán, tướng mạo sáng láng, phong độ. Ông ta mặc quần màu ghi sáng, ống rộng, áo cài nút vải, bím tóc dài đến lưng, nói tiếng An Nam rành rẽ, rõ ràng.
- Chồng bà đâu rồi?
- Có chuyện gì để tôi đi gọi?
- Tôi muốn nhờ ông ấy tìm cho năm bảy phu chuyển thóc từ thuyền con lên thuyền mành.
Bà Mùng bảo cháu:
- Mày ù đi tìm chú về đây!
Lan đứng dậy, ông ta sỗ sàng nhìn xuyên qua khe yếm. Nó biết, và hơi nhếch mép ý như “cho ông chết thèm”.
- Cô ấy là cháu bà à? - Ông ta hỏi.
Bà Mùng gật đầu. Linh cảm người đàn ông này để ý cháu, tự dưng bà thấy sờ sợ.
* * * * *
Từ hôm con Mực bị đánh bả, thằng Tơi buồn bã, nó với con Mực là bạn. Cả ngày chơi với nhau, lại còn dẫn đi bắt chuột đồng. Song khổ nhất không còn con Mực ăn phân. Ban đêm thằng Tơi, con Dọc sợ ma, không dám lên đê cứ ỉa quanh nhà, gió thổi mùi thối xông vào nhà nhức đầu. Bà quyết giảm tiêu pha tích cóp mua con chó khác.
Chọn cái áo tứ thân mới nhất, bà Mùng bỏ vài hào tiền trinh vào bao rồi nhét trong thắt lưng sồi đã sờn, cẩn thận so hai đầu bằng nhau mới thắt. Đi chợ phiên với người dân quê cũng giống như đi hội, nghèo cũng phải chọn bộ tươm nhất.
Chợ Rồng ngày phiên đông đúc vì là chợ chính của cả vùng Sơn Nam Hạ [2], dân Hà Nam cũng đổ về bán mua. Chợ nằm ở trung tâm Nam Định, ngày nào cũng họp nhưng cứ năm ngày, bắt đầu từ ngày mồng Một mới đúng phiên. Hàng gì cũng có nên dân thành Nam rất tự hào.
Chợ Rồng họp suốt quanh năm
Khách thương tứ xứ về thăm nhớ đời
Có lần một ông cụ chờ đò ngồi uống nước lan man đủ chuyện, cụ kể chợ Rồng xây năm Thìn thời vua Tự Đức nên Tổng đốc Nam Định đặt tên là Rồng, nhưng chẳng ai rõ xây năm Bính Thìn hay Mậu Thìn.
Len qua dãy tạp hóa của các chủ Tàu, họ nói với nhau bằng tiếng Quảng, có khách họ lại chuyển sang nói tiếng An Nam. Vòng qua hàng cá, hàng gà vịt mới đến dãy bán chó. Đến cuối dãy bà thấy một ông cụ bán một đàn, chắc vẫn chưa thôi bú. Ông cụ luôn tay dồn mấy con chó đen nghịch ngợm vào một chỗ. Nhấc con này, xem con kia lại vành mồm nó nhìn lưỡi, cuối cùng bà chọn được con đen tuyền, lưỡi có đốm. Những con như thế vừa khôn, vừa trung thành với chủ. Cò kè mặc cả, ông cụ đồng ý bán giá hào rưỡi. Thấy Tây đen, Tây trắng mang súng nòng dài đi lại, bà hoảng, cứ như bọn chúng sắp lôi mình ra bắn. Bế con chó, bà luồn lách đám đông về ngay. Vừa tới nhà thấy thằng Lân lèo khèo ngồi trên chõng. Chân tay khô quắt, cái áo có mấy miếng vá thô vụng. Mắt bà rơm rớm. Năm ngoái về quê giỗ cha, bà đến trại xin thăm cháu nhưng con trai Lý Tung dứt khoát không cho gặp. Trang trại rộng tới gần chục mẫu, xung quanh có hàng rào tre gai. Đến mùa cấy lão bắt thằng Lân tát nước bằng gầu sòng, cái gầu to hơn cả người nó. Rồi gánh phân lợn rải ra ruộng. Cấy xong quay sang đốn gốc tre, xay thóc, giã gạo. Công việc đè lên vai nó quanh năm. Ác nỗi lão khoán việc, làm xong mới được ăn. Có ngày hết việc gà đã gáy canh một, ăn bát cơm rồi ngủ chưa tròn giấc trời bừng sáng. Thấy dì rơm rớm, nó cũng sụt sịt.
- Mày trốn khỏi trại cụ Lý Tung à? - Nó lắc đầu.
- Cụ Lý cho phép mày à? - Nó lại lắc đầu.
Cách đây không lâu có một anh cao lênh khênh đến trại hỏi mua tre và xưng với nó là chồng chị Lan. Nó bán tín bán nghi vì chị cưới chẳng nhẽ không báo tin cho nó dù biết Lý Tung không cho đi. Nhà còn hai chị em, chị cưới mà lờ em còn ra gì nữa. Anh ta bảo sẽ cứu nó ra rồi đưa xuống Hòn Gai. Đúng hẹn, gà gáy canh một nó ra rào tre gần ao làng. Đàn chó lớn bé không sủa còn chạy theo. Chui qua rào đã phạt gai từ chiều, nó ra hẳn ngoài trại căng mắt nhìn mãi mà chẳng thấy chồng chị đâu.
- Cái lão cao lêu đêu có phải là chồng chị Lan không dì?
- Dì có được miếng trầu nào đâu... Thế nó làm sao?
Thằng Lân kể tường tận cho dì nghe. Bà lắc đầu:
- Nó âm mưu cứu cháu mà không hề nói cho dì một câu. Con này to gan thật.
- Hôm kia có một ông người to lớn, tóc tết đuôi sam trả hết tiền bố cháu nợ Lý Tung nên cụ lý cho ra. Giờ cháu ở tạm nhà chú Sáng.
Đích thị Hồng. Thuyền ông ta mới rời Lương Xá hôm qua. Vài lần lão hỏi thăm con Lan, bà chỉ qua loa nó đã có chồng, không thêm bất cứ chuyện nào khác. Lại con Lan toang toác rồi.
- Ông ta là Hoa thương về đây mua thóc...
- Sao lại bỏ tiền chuộc cháu?
- Mày hỏi chị mày, sao dì biết được.
Hôm đó nó đang gánh phân ra ruộng. Hai thúng phân lợn nặng trĩu đè lên vai làm nó phải nghỉ trộm Ngồi chưa hết mệt thì có anh làm công chạy đến bảo về ngay gặp cụ Lý. Nó tưởng bị phạt vì tội nghỉ trộm. Vào đến sân, nó thấy ông to cao tết đuôi sam đang chờ. Lý Tung vung tay, “Giờ mày là người của ông ấy”, nó nghĩ Lý Tung bán nó cho ông này, chẳng biết sẽ ra sao nhưng nó thấy người nhẹ bẫng vì thoát khỏi chốn khổ ải. Nó theo ông ta ra cổng trại, ông này hỏi han vài câu rồi bảo nó về nhà. Sợ ông ta đổi ý, nó chạy một mạch về nhà chú Sáng.
Bà Mùng nghi ngờ con Lan cầu khẩn vì không ai tự nhiên giúp một người mới quen. Bà lại nghĩ có thể ông ta mê mẩn con Lan nên nó mở miệng, ông ta giúp ngay. Bà không cho nó đến thăm chị vì nghi ngờ con Lan và thằng kia đang hục hặc. Nhìn răng cháu vàng xỉn, bà dẫn vào phố chiết cho đen. Cũng đến tuổi lấy vợ rồi mà răng như thế chó nó lấy. Trước khi nó về, bà cẩn thận:
- Chú Sáng hỏi gì cứ bảo hôm nào dì về thưa chuyện.
Hôm sau Lan mò đến. Nó khóc rống như bò mẹ lạc con trách dì không cho chị em nó gặp nhau.
- Ông Hồng về tận làng trả hết nợ của bố mày cho Lý Tung nên lão ấy giải phóng thằng Lân.
Nó ngạc nhiên vì chỉ kể gia cảnh, chẳng hề nhờ vả. Nào ngờ ông ta tìm về làng... Sao ông ấy tốt thế. Mặt nó ngây ra như ngỗng giời.
- Tao nghe thằng Lân kể, chồng mày định cứu nó sau lại không đến chỗ hẹn là thế nào?
- Đàn ông mà hèn!... Cháu định cứu thằng Lân rồi cho nó trốn ra Hòn Gai làm phu nhưng cái thằng già dái non hột sợ Lý Tung bắt cháu, nó sẽ mất vợ nên về gần đến làng nó lại bỏ về, dì bảo có điên không.
Bà cũng chả biết khuyên bảo thế nào. Bà lo cho con Lan làm thế nào giả được cái ơn cho người ta. Vớ vẩn có khi lại theo ông kia chưa biết chừng. Như đoán được ý dì, nó khẽ thở dài:
- Nợ ông ta còn hơn nợ Lý Tung... Từ nay cháu có thể tự do về làng mà không phải sợ con ác quỷ ấy nữa...
- Ông ấy cứu thằng Lân là có ý đấy...
Nó có nhờ vả đâu, mặc kệ ông ta. Mà chịu ơn còn hơn mắc nợ.
- Dù mày tự vác bướm đến ở với thằng kia thì thiên hạ vẫn cho mày là gái có chồng. Đừng làm điều thất đức để họ hàng mất mặt với làng xóm nghe chưa. - Bà Mùng dọa dẫm.
Em nó đi ở trừ nợ, họ hàng thương suông, có giúp được gì đâu, còn làng xóm chỉ nhằm nhằm nhà nào hở ra là cạnh khóe. Thằng Lân bị Lý Tung phạt bằng cách bắt cho hai chân vào chậu nước toàn đỉa đói nhưng làng xóm có ai lên tiếng bảo lão ta ác độc đâu. Lan sầm sầm bỏ về. Bữa cơm chiều, bà lo lắng kể lại cho chồng, ông Vẹn nhấp chén rượu.
- Số nó thế, sao bà lại cãi nhau với số! Mà ngày mai bà về quê ngay đi không lại lôi thôi đấy.
* * * * *
Sợ người làng nhìn thấy mới sáng mà bà vào nhà ông Sáng sẽ nghi ngờ “chắc nhà nó có chuyện gì rồi” nên chờ đường làng lắng tiếng lào xào mới dám ra ngõ, ngó trước ngó sau thấy đường cái không có người mới vội đi. Bà quá hiểu dân làng mình, có khi chỉ là đi thăm nhau bình thường nhưng họ cũng túm tụm thêu dệt thành câu chuyện có đầu có cuối rất tệ. Chả bao giờ là chuyện hay.
Chỉ có mình ông Sáng ở nhà. Sắp đến vụ chiêm nên vợ ông và thằng Lân chắc ra đồng. Ông Sáng đang cài nan tre mỏng vào chỗ rách, cái dậm đã quá cũ. Ông đoán có chuyện liên quan đến cháu vì bà ấy về làng nhưng hiếm khi đến nhà ông. Chồng bà nói đúng, chưa nghe hết câu chuyện mặt ông Sáng hằm hằm. Chờ bà trình bày hết ông nói như mắng.
- Bà bảo đằng ngoại không có quyền, sao bà không về nói với tôi một câu hay bà tiếc mất mấy hào lãi?
- Ông nói thế oan cho tôi, lúc đó thằng Lân còn đang ở nhà cụ Lý. Tôi sợ cụ biết con Lan ở thành Nam sai người ra đòi nợ thì nó lấy gì để trả?
- Cứ cho bà nghĩ thế là đúng... nhưng sao bà không ngăn nó? Nó ở với bà, bà phải có trách nhiệm răn dạy nó, bà thả rông, nó chửa hoang làng bắt vạ ai chịu?
- Chuyện diễn ra nhanh quá, buổi chiều thằng kia đến, tôi đã mắng mỏ rồi, nói điều hay lẽ phải, luân lý đạo đức cho cả hai song chúng nó bỏ ngoài tai, tôi biết không cho nó cũng đến ở với thằng kia mà cho thì tôi không dám... mong ông hiểu cho...
- Bà có biết tại sao lão kia lại bỏ tiền ra chuộc thằng Lân không?
- Nào tôi có phải là ông ta đâu?
- Thế bà phải hỏi con Lan chứ?
- Thằng Lân ra chơi, nghe cháu kể tôi mới rõ. Để chiều nay ra tôi sẽ hỏi con Lan và bắt nó ngày mai về thưa chuyện với ông.
- Làng này bà biết rồi, có bé xé ra to, có ít xít ra nhiều... tệ lắm... Tôi nói cho bà biết nếu chuyện vỡ ra bà phải chịu, họ ngoại nhà bà phải gánh tiếng xấu.
Nói xong ông Sáng hút thuốc lào. Sao lại buộc tội họ ngoại, lúc nhà nó khốn đốn họ nội có đỡ được đồng trinh nào đâu. Điên người bà đi luôn. Sáng hôm sau ông Sáng bỏ buổi dậm đợi cháu đến khi mặt giời gần đứng bóng cũng không mặt mũi nó. Hậm hực vì mất giỏ cá nhưng tức hơn là nó coi chú chẳng ra gì. Hay dì nó xui?
----------------
[1] Từ Quảng Tây (Trung Quốc) sang hoạt động ở Bắc Kỳ. Vì cờ hiệu của họ có màu đen nên được gọi là Hắc Kỳ quân hay quân Cờ Đen. Họ đánh Pháp đồng thời cũng cướp bóc, giết dân An Nam. Quân Cờ Đen phải rút về nước khi chính phủ Pháp và nhà Thanh ký hòa ước Thiên Tân năm 1885.
[2] Thời nhà Nguyễn bao gồm các tỉnh Thái Bình, Nam Định, một phần của tỉnh Ninh Bình và các huyện ven biển mới được khai khẩn.