📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lĩnh Nam chích quái - Trần Thế Pháp 🔒

44 trả lời, 237 lượt xem — Trang 2 / 2
XXIX
Truyện Bố Cái Đại Vương [1]

Đại vương họ Phùng, tên là Hưng, người huyện Đường Lâm, Giao Châu, tù trưởng biên man, hiệu là Lang, hào phú, có dũng lực, có thể vật được trâu, đánh được hổ. Em là Hãi cũng có sức mạnh, vác nổi nghìn cân, vác cả tảng đá mười hộc hoặc chiếc thuyền con mà đi hơn mười dặm; các man lào đều sợ uy danh.
Niên hiệu Đại Lịch đời Đường Đại Tông, nhân Giao Chỉ binh loạn trong nước, anh em đem nhau khắc phục các lân ấp, đất đai đều thuộc về anh em cả. Hưng cải danh là Cự Lão, Hãi cải danh là Cự Lực, đều hiệu là Đô Quân, Đô Bảo. Bọn tù trưởng Đường Lâm và Phong Châu thảy đều quy phục, từ đó uy danh chấn động. Quan Đô hộ nhà Đường là Cao Chính Bình đem binh dưới trướng đánh không hơn được, ưu phẫn thành bệnh mà chết. Hưng vào chiếm cứ đô phủ, làm việc cai trị được mười bốn năm rồi mất, dân chúng muốn lập Hãi lên thay, quan Tá lại đầu mục Bồ Phá Lặc là một người mạnh mẽ, sức có thể xô núi, không chịu nghe theo; dân chúng mới suy tôn người con của Hưng tên là An lên làm Đô phủ quân để ủy lạo lòng hoài vọng của nhân dân. Hãi tránh Bồ Phá Lặc, dời sang ở động Chu Nham, rồi sau không biết chết ở đâu.
An suy tôn thân phụ làm Bố Cái Đại Vương, bởi theo phương ngôn thì gọi cha bằng Bố, gọi mẹ bằng Cái, nên chi tôn xưng như vậy. Phùng An nối ngôi được ba năm, Đức Tông sai Triệu Xương sang làm Đô hộ An Nam; Xương đến nơi sai sứ dụ An; An cùng với man nhân về đầu hàng Triệu Xương; các người họ Phùng bỏ đi tản mát hết.
Hưng mất rồi, thường hiển linh dị, dân chúng cho là thần mới lập miếu ở phía Tây đô phủ mà phụng sự; hễ khi nào gặp đến mấy việc như trộm cướp và nghi ngục mà đến đền thờ thì thấy rõ họa phúc, nhờ thế hương hỏa được vô cùng vậy. (Nay Thổ tù tranh trưởng cũng hiệu là Lang).
-------------------
[1] tức Phùng Hưng.
0
XXX
Truyện Trinh Linh Nhị Trưng phu nhân

Xét quốc sử thì hai bà Trưng họ Lạc, bà chị tên là Trắc, bà em tên là Nhị, người làng Mê Linh châu Phong, con gái Lạc tướng Giao Châu, ban đầu gả cho Thi Sách ở Châu Diên; Phu nhân người hùng dũng, hay quả quyết khi hành sự.
Lúc bấy giờ, Thái sử Giao Châu Tô Định là một người tham bạo, người trong châu lấy làm khổ sở, bà chị phẫn nộ cùng với bà em cử binh công hãm Giao Châu, rồi đến mấy quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lược định Lĩnh Nam hơn sáu mươi thành, tự lập làm vua, mới xưng là họ Trưng vậy. Trưng Vương đóng đô ở thành Ô Diên; Tô Định chạy về Nam Hải; Hán Vũ Đế nghe tin cách chức Định, sai hai tướng quân Mã Viện và Lưu Long đem đại quân sang đánh, đến Lạng Sơn, hai chị em cự chiến hơn một năm.
Sau thấy lực lượng của Mã Viện cường thịnh, e khó chống nổi, hai bà mới thối binh bảo vệ Cấm Khê; quân lính đào ngũ rất nhiều; Phu nhân thế cô bị hãm, chết ở hồ Lãng Bạc, có kẻ bảo Phu nhân lên núi Hy Sơn, không biết đi đâu. Người trong châu thương tiếc, lập đền thờ ở cửa sông Hát Giang mà phụng sự, nhân dân gặp phải tai nạn đến cầu đảo tất hiển thần linh.
Thời Lý Anh Tông, gặp trời đại hạn, Vua sai Uy Tịnh thuyền sư đảo mưa, cảm ứng một ngày thì mưa xuống, mát mẻ thấu người; một chốc, vua nằm ngủ, hốt nhiên mộng thấy hai người đội mũ phù lưu, bận áo lục, đai đỏ, cỡi ngựa sắt, theo mưa mà đi qua. Vua lấy làm lạ mới hỏi. Thần nhân đáp rằng
- Thiếp tức là chị em Nhị Trưng, phụng mệnh Thượng đế làm mưa.
Vua bèn ân cần xin thêm thì giơ tay bảo thôi. Vua tỉnh dậy cảm tạ, sắc phong lập đền miếu rất đẹp mà thờ. Sau lại thác mộng xin vua lập đền ở làng Cổ Lai; vua nghe theo, sắc phong là Trinh Linh Nhị Phu Nhân.
Triều nhà Trần gia phong huy hiệu là Uy Liệt Chế Thắng Thuần Trinh Bảo Thuận, đến nay hương hỏa vô cùng vậy.
0
XXXI
Truyện Mỵ Ê Trinh Liệt Phu Nhân

Phu nhân vốn người nước Chiêm Thành, không có họ, tên là Mỵ Ê, vợ Vua Chiêm Thành là Sạ Đẩu.
Thời vua Lý Thái Tông, Sạ Đẩu thất lễ phiên thần vua thân hành nam chinh, Sạ Đẩu đem binh dàn ở sông Bố Chính mà chờ; sau rồi bị Vương giết, phu nhân Mỵ Ê bị bắt; đến sông Hoàng giang, phu nhân nghe Trung sứ phụng mệnh đòi đến hầu thuyền ngự; phu nhân phẫn uất vô cùng, lấy tấm chiên trắng tự quấn mình rồi nhảy xuống sông mà chết; mỗi khi sương sớm đêm trăng thường có những tiếng khóc ai oán, người trong nước nghe thấy mới lập đền miếu mà phụng tự.
Sau khi vua đi chơi sông Lý Nhân, ngồi trong thuyền rồng, thấy đền miếu ở bên sông, lấy làm lạ mới hỏi tả hữu, Tả hữu thưa rằng:
- Đó là đền Mỵ Ê phu nhân.
Vua cảm động bảo rằng:
- Quả có trinh liệt, thế nào cùng báo trẫm.
Đêm ấy đến canh ba, vua mộng thấy một người bận y phục Chiêm Thành, lạy hai lạy mà khóc rằng:
- Thiếp có nghe đạo người đàn bà là một mực theo chồng sống cùng giường, thác càng huyệt, thủ tiết không ô nhục, huống chi Sạ Đẩu tuy không thể tranh tiên cùng Bệ hạ nhưng khí khái nam nhi cũng đã đắc ý một phương, thiếp vẫn đội sủng huệ; Sạ Đẩu vì lỗi đạo, Thượng đế giáng trách, mượn tay Bệ hạ để đến bây giờ quốc phá thân vong, lòng thiếp ngày đêm không quên việc đồ báo; một buổi sáng, may nhờ Bệ hạ sai Trung sứ đưa thiếp xuống tuyền đài, thiếp rất cảm ơn chứ nào có thuật gì mà xưng là linh, nói thêm nhàm tai Bệ hạ.
Nói đoạn bỗng bay lên không mà đi.
Vua kinh hãi tỉnh dậy, sai Thị thần đem rượu, giết sinh vật đến tế, phong làm Thân Chính Phu Nhân.
Qua đến niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, nhà Trần gia phong là Tá Lý Phu Nhân, đến năm Trùng Hưng thứ tư, gia phong hai chữ Trinh liệt, đến năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Trực Mãnh để biểu dương cái tiết đoan trinh của phu nhân.
0
XXXII
Truyện Hồng Thánh Đại Hồng Vương [1]

Xét Sử ký thì Vương họ Phạm, tên là Cự Lượng, xưa thời vua Lý Thái Tông, phủ Đô hộ có nhiều nghi ngục, quan Sỹ sư không hay minh quyết, nghĩ nên lập đền miếu ở ngục, ý muốn nhờ sự hiển hách của thần linh và để răn đe kẻ gian trá, mới tắm gội đốt hương xin cáo với Thượng đế.
Đêm ấy, vua mộng thấy một Sứ giả áo đỏ, nói là Thượng đế có khẩn sắc cho Cự Lượng làm Minh Chủ ngục tụng đô phủ. Vua hỏi Thiên sứ rằng:
- Thế thì là người nào, hiện giữ chức gì?
Thiên sứ:
- Vua Lê Đại Hành có người bầy tôi là Phạm thái úy, làm tôi tận trung với vua, đến ngày tạ thế, Thượng đế khám xét công lao, bổ làm Nam Đài Trung Ty Lục, lấy chức cũ sai xét đoán nghi ngục của dân gian.
Nói đoạn không biết đi đâu.
Vua tỉnh dậy, vời hỏi tả hữu, quan Tể chấp nói:
- Ấy là một người hiền lành, là cháu quan Châu mục Vũ An là Phạm Chiêm, con quan Tham chính Phạm Man, em quan Đô úy Phạm Dật. Phạm Chiêm giúp vua Ngô Vương có công khai quốc gia phong Đồng Giáp tướng quân. Phạm Man giúp Nam Tấn vương thăng chức Tham chính. Phạm Dật giúp vua Đinh Tiên Hoàng. Phạm Cự Lượng giúp vua Lê Đại Hành có công, quan thăng Thái úy đều là bậc danh dự cả.
Vua cho là phải, phong làm Hồng Thánh Đại Vương.
Vua lại mộng thấy thần nhân bận đồ quan phục cổ miễn, rảo đến trước sân lạy tạ, giống như thị thần còn sống. Vua lấy làm lạ, sai soạn văn khắc bia đá, để chép sự linh dị của thần.
----------------
[1] Truyện Phạm Cự Lượng.
0
XXXIII
Truyện Minh Ứng An Sở Thần Từ [1]

Xét Đỗ Thiện thấy chép Vương họ Lý tên là Phục Man, người làng Cổ Sở.
Lý Thái Tổ ngự chơi đến bến đò làng Cổ Sở, trông thấy tú khí của núi sông, cảm hứng tràn ngập, mới rót rượu đổ xuống sông mà nói:
- Trẫm nghe chỗ này sơn kỳ thủy tú, nếu có nhân kiệt, địa linh, thần kỳ, xin thụ minh hưởng của ta.
Rồi thì đến đêm mộng thấy một dị nhân cao lớn đẹp đẽ cúi đầu xưng tạ rằng:
- Thần là người bản hương, họ Lý tên Phục Man, giúp vua Lý Nam Đế làm Tả tướng, nhờ sự trung liệt được danh, trao cho một dãy sông nước Đỗ Động giữa dân cư. Đến ngày chết, Thiên đế khen là người trung trực, lại gia phong giữ chức như cũ. Thần thường nhiều lần lãnh quỷ binh đánh phá nghịch tặc nhiều năm ở đây. Nay gặp Bệ hạ đoái thương cho thần giữ chức hôm mai ở đây.
Rồi lại than rằng.
Thiên hạ gặp mờ tối,
Trung thần giấu tính danh.
Giữa trời nhật nguyệt sáng.
Ai chẳng thấy rõ hình.

Nói đoạn bỗng biến bay đi mất
Vua Thái Tổ giật mình tỉnh dậy, đem chuyện mộng nói với một người; quan Đại phu Vương Nhậm Chí nói:
- Đó là ý thần muốn lập đền miếu, trùng tu hình tượng.
Vua sai quần thần xin keo, quả được, mới khiến thợ thiết lập đền miếu chạm trổ hình tượng giống như đã thấy trong mộng, gia phong làm Phúc thần một phương.
Đến khoảng năm Nguyên Phong nhà Trần, mọi Thát Đát vào cướp, ngựa què không tiến được, khua vào trong thôn; thôn nhân ỷ uy lực của thần, đem dân chúng ra cự, phá được quân giặc; Thát Đát không dám dòm dỏ nữa.
Đầu nhà Trần, đời Trùng Hưng nguyên niên, giặc Bắc lại vào cướp, đến chỗ nào đều đốt phá nhà cửa, kịp đến đi ngang qua Từ Sở, như có phòng hộ, may lông mùa thu không dám xâm phạm.
Giặc đã yên, vua gia phong mỹ hiệu bốn chữ: Diên An Minh Ứng, đến nay càng hiển hách thần linh vậy.
-----------------
[1] Truyện Lý Phục Man.
0
XXXIV
Truyện Đại Than Đỗ Lỗ Thạch Thần [1]

Xét Đỗ Lỗ bản truyện thì Vương họ Cao tên Lỗ là một người tài giỏi của An Dương Vương. Tục danh Đỗ Lỗ Thạch Thần cũng gốc bởi tên thần là linh của Thạch Long vậy.
Sau khi bình định Nam Chiếu xong, Cao Biền đi tuần hành ở châu Vũ Ninh, đến một chỗ địa đầu, mộng thấy một dị nhân mình cao chín thước, tướng mạo kỳ khôi, búi tóc dùi trống, giắt trâm bằng dao, áo cụt đỏ, nịt đỏ, đến yết kiến Cao Vương; Cao Vương hỏi:
- Ngươi tên là gì?
Thưa:
- Thần tên là Cao Lỗ, ngày xưa giúp An Dương Vương làm Tướng quân, thường có công lớn đuổi giặc, bị Lạc hầu dèm pha nên bỏ đi. Sau khi đã mất thì Thượng đế thương là trung trực nên cho giữ một dải giang sơn, chức Quan Lãnh Đô Tướng Quân; việc bình Nam Chiếu, việc thảo trừ giặc cướp, việc gieo mạ gặt lúa đều am tường cả, làm Phúc thần một phương. Nay theo Minh Công tước bình nghịch tặc, bờ cõi lặng lẽ, thần phải trở về bản bộ, nếu không cáo tạ thờ phi lễ.
Cao Vương lấy làm lạ, hỏi:
- Lạc hầu việc gì lại ghét?
Thưa rằng:
- Việc u âm không thể tiết lậu.
Cao Vương lại hỏi thì đáp rằng:
- An Dương Vương là tinh Kim Kê, Lạc hầu là tinh Bạch Viên, mỗ là tinh Thạch Long. Gà với vượn hợp nhau, còn rồng thời tương khắc là vì vậy.
Nói đoạn, biến mất.
Cao Vương nói với liêu thuộc, tự ngâm thơ rằng:
Đẹp lắm đất Giao này,
Vững vàng muôn thuở đây.
Cổ hiền lại tương kiến.
Trọn chẳng phụ linh đài.

Lại ngâm thơ rằng:
Bách Việt yên bờ cõi.
Một vùng định núi sông.
Thần linh đều thuận giúp.
Phúc họ Đường chẳng cùng.

Lại ngâm thơ rằng:
Sông núi nước Nam đẹp.
Long thần ở đất linh.
Châu dân khỏi nhăn trán;
Nay lại được an bình.

Trải qua mấy triều gia phong mỹ hiệu, đến nay hương hỏa còn rực rỡ vậy.
----------------
[1] Truyện Cao Lỗ.
0
XXXV
Truyện Xung Thiên Chiêu Ứng Thần Vương

Xét Cổ Pháp ký và bia Kỷ Đức thì Vương gốc là vị Thổ thần chùa Kiến Sơ. Ngày xưa làng Phù Đổng lập đền Thổ địa thần ở bên hữu của chùa để làm nơi tụng niệm, đến sau tăng đồ vắng vẻ, năm tháng chầy lâu, người làng lấy chỗ thần từ theo tập tục mà cầu đảo. Kịp đến khi Đa Bảo thuyền sư trùng tu chùa quán, thầy Trụ trì Truyền Đăng cho là dâm từ ý muốn dời đi.
Một hôm thần đề bài thơ ở một gốc cây trong đền rằng:
Phật pháp hay gìn giữ.
Là nhờ Trú Kỳ Viên.
Nếu không bọn ta đó;
Đã dời chỗ khác liền.
Chẳng chép Kim Cương bộ;
Giấu kín Ná-la-diên.

Vài ngày sau lại thấy tám câu Kệ đề rằng:
Phép Phật từ bi lớn.
Sáng trùm cõi tam thiên.
Vạn thần đều biến hóa;
Tâm giới thảy quanh bênh.
Thầy ta làm chính lệnh.
Tà quỷ dám tranh tiên.
Nghe theo lời thầy dạy.
Lớn nhỏ học Kỳ Viên.

Pháp sư hiểu biết mới thiết đàn để cho thần thụ giới, cúng đều dùng đồ chay cả.
Xưa kia vua Lý Thái Tổ đang buổi tiềm long biết nhà sư Đa Bảo là người cao hạnh, thường cùng theo ông đi chơi, sau khi thụ thiền thì vua thân hành đến chùa. Khi ấy nhà sư tước ngự giá đi ngang bên đền có lên tiếng hỏi thần rằng:
- Phật tử đã có thể bỏ trần tục, lại có thể khánh hạ tân Thiên tử không?
Thần lập tức trả lời, tự đề bốn câu rằng
Đế đức càn khôn lớn.
Uy linh động tám miền;
Uy minh nhờ ân trạch,
Nhuần thấm khắp Xung thiên.

Vua nghe đọc bài thơ, biết tình ý của thần mới cho hiệu là Xung Thiên Thần Vương, hốt nhiên bài thơ biến mất. Vua lấy làm lạ, sai thợ chạm trổ tượng thần, dung mạo trác vỹ và các thị tùng, làm lễ khai quan khánh tán xong, hốt nhiên thần lại hiện ở cột chùa bốn câu kệ rằng:
Một bát nước công đức.
Theo duyên hóa thế gian.
Quang minh lại soi sáng.
Bóng lặn nhật lên non.

Sư đem bài kệ trình vua Lý Thái Tổ, Thái Tổ không hiểu ý làm sao; sau đến đời Lý Huệ Tông mất ngôi là đời thứ tám, tức là bát công đức, húy chữ 旵 [1] tức là bóng mặt trời lên núi mất nước. Kệ của thần cũng đáng tin thay!
Trải mấy đời, gia phong mỹ tự, phụng sự hương hỏa để biểu dương sự phù hựu của thần.
-----------------
[1] 旵 là chữ Sảm, tên của Lý Huệ Tông khi chưa lên ngôi. Chữ Sảm gồm có chữ nhật nghĩa là mặt trời, trên chữ sơn nghĩa là núi. Chữ này không thấy trong Từ Hải.
0
XXXVI
Truyện Khai Thiên Trấn Quốc Đằng Châu Phúc Thần

(Đây là một vị trong mười hai Sứ quân. Miếu ở huyện Kim Động, xã Đằng Châu).
Xét sử Đỗ Thiện thì thấy chép rằng Thần vốn là vị Thần Thổ địa ở cổ miếu Đằng Châu. Xưa cuối đời Lê Ngọc Triều, Lý Thái Tổ chưa lên ngôi, còn giữ thân vệ binh, thực ấp ở Đằng Châu, có khi đi chơi xem đến bản hương, thuyền đi giữa sông bỗng gặp gió to mưa lớn, vương ngoảnh lại hỏi:
- Trên bờ sông là đền thờ thần gì thế, có linh ứng không?
Thưa rằng:
- Đó là đền thờ thần Thổ Địa của Đằng Châu, dân thường đến cầu mưa đảo nắng, cho là linh ứng.
Vua Thái Tổ lớn tiếng bảo rằng:
- Nếu làm lui được một trận gió mưa, khiến nửa bên tạnh ráo mới là linh ứng.
Trong khoảng chốc lát, quả một nửa sông mưa, một nửa sông tạnh; vua cho làm lạ bèn khiển sửa sang từ vũ mà phụng sự. Thôn nhân có bài thơ rằng:
Tốt bấy Đại vương danh vọng trọng.
Đằng Châu Thổ địa hiển thần linh.
Khiến cho mưa lớn không xâm phạm.
Một nửa sông mưa, nửa vắng tanh.

Vua nghe bài thơ, thầm có ý tự phụ. Kịp đến thời của Ngoại Triều hôn bạo, vua toan mưu đại sự nên đến đền thần xin cáo mộng. Đêm ấy, vua mộng thấy thần nhân cáo rằng:
Muốn thắng tất thắng.
Muốn thành là thành.
Muôn nước hưởng thăng bình.
Ba năm nên hoan lạc.
Bảy miếu tự an ninh.

Rồ vua tỉnh dậy, chưa hiểu ý (...) quẻ,
què bói cho là điềm lành.
Sau Vua Thái Tổ lên ngôi, thăng (...) làm Thái Bình Phủ, đặt thần làm Khai Thiên Thành Hoàng Đại Vương.
Đời Trùng Quang nguyên niên gia phong mỹ hiệu bốn chữ: Khai Thiên Trấn Quốc. Đền thần ở trong đê sông thường bị nước lụt tràn vào; người trong thôn ở gần bờ sông có khi trông thấy xe ngựa, cờ lọng và thị tùng như là đến để phòng hộ nước lụt; bởi vậy đê tuy bằng phẳng thấp bé mà nước lụt không vào làm hại được, đó là nhờ ở sức hộ trì của thần.
Trải qua lâu năm sông lở gần đến đền thần; đến niên hiệu Tống Nguyên, năm Bính Tuất, về tiết mùa đông, lại đắp nền lập miếu trên đê lớn, gian giữa sắp xong. Một hôm, huyện lại và thợ thuyền ngủ ở nhà tranh ngoài chân đê thì nghe tiếng người đến mượn cuốc xẻng, tiếng cuốc bới vọng lại như thợ thuyền đang công tác. Đến sáng họ qua xem thì thấy cái trụ bằng đá đã đem dời vào bên tả ngạn hơn ba thước; như thế linh dị càng rõ hơn vậy.
Kịp đến ngày rước thần vào đình, quan Tri phủ Khoái Châu tên là Hoàng Nam Kim có đề bài thơ ở miếu rằng:
Bờ bãi đất chia rành chói chói.
Khai thiên huyền tạo ngóng vơi vơi.
Đền thành muốn biết chân linh tích.
Đêm ấy công thần khéo chuyển dời.

0
XXXVII
Truyện Bạch Hạc Thần Từ

Xét Giao Châu ký của Triệu Công thì thấy chép rằng: Thần này vốn hiệu là Thổ Lệnh Trưởng: Trong khoảng niên hiệu Vĩnh Huy Cao Tông nhà Đường, Lý Thường Minh sang làm Đô đốc Phong Châu.
Thường Minh mới đến nhậm chức, thấy đất rộng nghìn dặm, núi sông bao bọc, mới dựng quán Linh Quán tại làng Bạch Hạc, thờ tượng Tam Pháp cho xứng với phong cảnh kỳ vỹ; lại biệt lập trước sau hai cái nhà ngang, nghĩ muốn đắp tượng thần Hộ Quán nhưng chưa biết thần nào linh bèn đốt hương cầu rằng
- Thần kỳ ở đây, nếu có linh hiển thì kíp hiện hình trạng để tiện đắp tượng.
Đêm mộng thấy hai dị nhân, diện mạo ôn nhã, có đồ đệ theo hầu, rầm rộ kéo đến nhà ngang trước sân.
Thường Minh hỏi rằng:
- Các ông tên họ là gì?
Một người xưng là Thổ Lệnh, một người xưng là Thạch Khanh. Xin thử so sánh võ nghệ, ai hơn thời ở trước. Thạch Khanh vâng lời, nhảy một cái qua bên kia bờ sông đã thấy Thổ Lệnh đứng đó rồi. Khi ấy Thổ Lệnh được ở trước. Thần tượng uy linh người trong châu kinh sợ, phụng sự hương hỏa, làm vị Phúc Thần ở Tam Giang vậy.
Triều nhà Trần, Hàn Lâm Học Sĩ Nguyễn Cố hộ giá vua đi đánh Ai Lao, đến đền bái yết, có đề bài thơ rằng:
Rùa, rồng, phù, ấn buộc lưng ngang.
Việc ấy mong cầu phụ tướng quan.
Hèn yếu thư sinh không chỗ cậy,
Đến xin từ quán được bình an.

Lại có Học Sĩ Vương Đức Thành hộ giá nam chinh, đến lúc khải hoàn, vua bảo làm bài thơ tán thần rằng:
Tỳ hưu mười vạn rõ Vương linh.
Thế ép Vân Nam ải ngoại thành.
Giang tả con con nào đủ mộ.
Gió reo tiếng hạc khiếp Tần binh.

0
XXXVIII
Truyện Thần Châu Long Vương

Đời truyền: Thần vương là tinh của Viêm Long Vương. Xưa đời Hồng Lạc có người làng Hãn Kiều, họ Đặng, một người tên là Quyết, một người tên là Thiện Xạ, anh em xuống biển làm nghề bắt cá. Lúc bấy giờ họ gặp một vật lạ, hình trạng giống như gỗ, dài vừa ba thước, màu như màu trứng chim, theo con nước mà nổi lên; hai người vớt được; đêm bỗng nghe trong đốt gỗ có tiếng như hai người nói chuyện; anh em cả kinh đem quăng gỗ ra sông, chống thuyền đi nơi khác mà ngủ thì mộng thấy một người đến bảo hai anh em rằng:
- Bởi vì trước đây bà Đông Hải Long Phi tư thông với Viêm Long Vương, sợ Đông Hải Vương biết nên đem gởi cho bọn ngươi gìn giữ, chớ cho kẻ khác xâm phạm đến; nó khôn lớn lên sẽ làm phúc cho các ngươi không việc gì mà sợ.
Hai người giật mình tỉnh dậy cùng nói với nhau hốt nhiên đã thấy đốt gỗ đen sán lại bên thuyền; hai người lấy làm lạ, vớt lên chở về. Về đến làng Bố Bái, đốt gỗ ở trong thuyền bỗng nhảy lên trên bờ. Hai anh em cho là thần muốn ở chỗ này mới lập đền thờ, thuê thợ khắc gỗ làm tượng mà phụng sự; thần linh ứng, hiệu là Long Quân.
Tiên triều sai người tìm ngọc châu ở cửa biển thì tìm được rất ít, duy chỉ có con cháu nhà họ Đặng là tìm được rất nhiều. Sai quan hỏi tại sao, con cháu họ Đặng đem sự thực trình cáo. Sai quan vâng triều mệnh sắp lễ đến tế, do đó tìm được rất nhiều ngọc châu. Vua bao phong cho hiệu là Thần Châu Long Vương, trải qua mấy đời đều gia phong mỹ hiệu rất có linh ứng, nhưng sau có kẻ gian hoài oán, trừ yểm, cũng có hại cho lương dân, thật đáng tiếc.
0
XXXIX
Truyện ni sư Đức Hạnh

Thanh Lương ni sư người họ Phạm, con nhà thế tộc Giao Chỉ, xuất gia làm Ni ở Thanh Lương, không kể đồ mặc chỉ biết khổ hạnh, cốt lấy cần khẩn giải ngộ làm thông sướng; sư thường tập phép xước ngại, diện mạo giống như La Hán, tăng đồ xa gần đều kinh sợ coi là một vị Ni Sư ở đời; nhà của Sư thì cho tăng đồ làm chùa Hồng Vũ. Có Trần Tứ, tên là Huệ Thông Đại Sĩ ở núi Vọng Đông, một hôm bảo đồ đệ rằng:
- Ta muốn đem thân này thí cho hổ lang.
Một đêm đạo sĩ ngồi vào phiến đá nhỏ và tuyệt thực ba ngày; hổ lang đến ngồi quanh không dám đến gần. Tăng đồ khẩn xin đạo sĩ trở về am, mở cửa nhập định. Khi gần mất, Huệ Thông tập họp tăng đồ để thuyết pháp, nhân đó đóng cửa ngồi yên mà hóa, thọ hơn tám mươi tuổi. Trà Tỳ có cốt Phật Xá Lỵ rất nhiều, vì vậy có quan dựng tháp ở bản tự.
Trước kia Huệ Thông thường dặn đệ tử rằng:
- Sau khi ta chết, nên lấy xương ta cho thế gian rửa bệnh.
Đến lúc thu cốt, đệ tử không nỡ lấy chỉ bỏ vào hòm đậy lại; cách đêm bỗng thấy cái xương lớn để ở trên ghế ngoài hòm; chúng lấy làm lạ, cho là linh nghiệm.
Sau người nào có bệnh đến cầu đảo, đệ tử mài vào nước đem cho rửa, lập tức lành ngay; lời thề nguyền sâu xa đến như thế.
0
XL
Truyện Phạm Tử Hư thờ thầy

Thời vua Lý Huệ Tông, có Phạm Tử Hư, người làng Nghĩa Lư, huyện Cẩm Giang, nhà nghèo túng, dời đến ở Hoa Phong; người thiếu niên sống cô độc, nhưng lại lạc đạo và hiếu học; theo thầy là Công Trạng, tên chữ là Công Trực, chàng thường như lời giáo huấn, học tập ý kiến thầy mà làm văn chương. Đến khi Công Trực mất, đứa con tuổi còn ấu thơ chưa có thể phụng sự, Tử Hư thưa với mẹ rằng:
- Thầy nghèo con dại, mẹ có thể để cho con bao nhiêu ruộng?
Bà mẹ nói:
- Có thể cho con sáu sào.
Từ Hư khóc:
- Xin mẹ trích ra hai sào bán cho người trong thôn lấy tiền để giúp thầy.
Bà mẹ cũng khóc nghe theo, bán hai sào ruộng được ba mươi quan tiền. Tử Hư mua sắm các vật để trợ tế cho thầy. Lại làm nhà ở bên mộ thầy, ngày đêm hương hỏa, phụng sự trong ba năm, xong việc mới trở về. Đến khoa Giáp Tý thì ứng thí, đậu tam trường; khoa Đinh Mão lại ứng thí đậu tứ trường. Năm ấy tháng Mười một, trên đường từ nhà đến Kinh, Tử Hư đi đến chùa Châư Võ; gặp ngày trời nắng to, Tử Hư vào nghỉ ở chùa, bỗng thấy Công Ttực ngồi ở trong. Tử Hư kinh sợ vừa lạy vừa khóc rằng:
- Thầy về âm ty đã bảy tám năm nay, không hiểu vì sao lại thấy ở đây?
Thầy bảo:
- Tử Hư có nghĩa với ta nên ta hiển hiện lên đây để bảo cho biết.
Tử Hư cúi đầu khóc rống:
- Ngày thầy về, nhà con nghèo túng không lấy gì làm lễ, ngày nay gặp thầy cũng tại tay không mà thôi, lấy gì làm nghĩa?
Thầy đáp:
- Sinh thời, ta ở trên dương thế có công bình chính trực nên Thượng đế cho làm Phán quan, kiêm trị việc cống cử.
Tử Hư thưa:
- Thầy có biết phận mệnh của con ra sao không?
- Nay thì ta chưa biết, con cứ về đi, đến ngày hai mươi tháng Chạp sang năm lại đến chùa này, ta sẽ bảo cho.
Tử Hư bái lạy về nhà. Đêm ngày, chàng suy nghĩ và tin vào lời nói của Thầy. Đến ngày, Tử Hư thưa với mẹ rằng:
- Mẹ ở nhà, con đi qua Kinh sư theo quan Kinh có việc.
Rồi đem theo rượu thịt đến chùa, đã thấy thầy và các đệ tử ở đó rồi. Tử Hư cúi đầu lạy, dọn rượu thịt dâng lên thầy; thầy trò cùng nhau ăn uống.
Thầy bảo Tử Hư cởi áo mũ đi giao lại cho đệ tử, rồi lấy áo mũ của đệ tử mặc cho, xong thầy lấy tay phất vài ba cái; Tử Hư nhắm mắt lại theo thầy đi lên trời. Đến chỗ làm việc của Nam Tào Bắc Đẩu, Tử Hư ngồi hai bên tả hữu, thầy cũng ngồi phía dưới cùng luận xét những người đức hạnh văn chương trong thiên hạ để yết tên lên bảng.
Có người tiến cử Trần Thái ở Quế Dương, ưu bác về văn học. Nam Tào nói:
- Trần Thái có văn học nhưng không có đức hạnh.
Có người tiến cử người làng Tây Mục là người có văn học Nam Tào nói:
- Người Tây Mục lấy văn học kiêu ngạo với người, vả lại người vợ bất tiếu, không được.
Đến người làng An Lạc tên là Phạm Công Bình giỏi văn học, vả lại tổ tông, cha mẹ đều tốt, vợ lại hiền, đáng đậu nhất đó là Trạng nguyên. Nguyễn Viết Chất người Phụng Sơn, văn học sắc sảo đức hạnh cũng hoàn toàn, đáng đậu nhì, đó là Bảng nhãn. Vương văn Hiệu người làng Thượng Hiền, văn học đầy đủ, đáng đậu thứ ba, đó là Thám Hoa, kịp đến Dương Chánh người làng Thượng Phúc, văn học tuy kém nhưng mẹ và vợ đều hiền lành, nhà nghèo nhưng mộ đạo, đáng đậu thứ tư, ấy là Hoàng Giáp. Trước sau được bốn mươi người biên tên vào bảng. Phán quan mới tiến cử người Hoa Phong Phạm Tử Hư, văn học khả thủ, Nam Tào nói:
- Tử Hư lấy văn học lên mặt với người khác.
Phán quan thưa:
- Tủ Hư còn trẻ tuổi, tuy có kiêu ngạo với người nhưng chưa từng hại người.
Ông quan áo tía nói:
- Tử Hư mồ côi từ nhỏ, mẹ có tiết hạnh, vả lại có nghĩa với Phán quan, cũng nên dung thứ cho nó đậu chót.
Lập tức niêm tên họ Tử Hư ở sau bốn mươi người, treo bảng ở cửa nhà trời.
Quan ngồi bên hữu là Bắc Đầu nói:
- Tử Hư văn học khá, nếu để đậu chót, e có trái thứ tự.
Quan áo tía nói:
- Ta lấy chữ “Bạch” thêm vào thì nó bị truất xuống chót, có trái gì đâu.
Năm sau là năm Mậu Thìn tháng Ba thi hội, Tử Hư vào đệ nhất trường, vì thiếu trị kinh, khảo quan thấy sai mới treo cảo ở dưới công đường, rồi lại đưa bài vào chấm, quả trúng cao đệ. Đến trường đệ tứ, Tử Hư văn thể thuần hậu, điển nhã cẩn mật đáng được đậu cao, chỉ vì hai chữ “bạch” nên không được lấy đậu. Kể được lấy đậu chỉ có bốn mươi người. Khảo quan tâu với vua để treo bảng. Vua bảo rằng:
- Mỗi khoa lấy năm mươi người làm hạn, khoa này lấy ít quá không được.
Lại khiến Khảo quan xét tên nào văn thể thuần hậu thì lấy thêm, không câu nệ chữ bạch; Khảo quan lấy thêm một quyển, quả là Tử Hư, dán thêm tên ở dưới bốn mươi người, mới hay ý trời rất nghiệm, vinh tiến đã định sẵn không thể dối vậy.
Sau này Tử Hư làm nên quan to, đến chức Tán Trị Dực Vân Công Thần Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, đai ngọc mão vàng, tham lùng Lại Bộ thượng thư.
0
Lời nói đầu

Lĩnh Nam Chích QuáiViệt Điện U Linh Tập là hai văn phẩm có liên quan với nhau, bởi vậy, trong khi tác phẩm của Lý Tế Xuyên đang được ấn hành thì chúng tôi cũng cho tác phẩm của Trần Thế Pháp lên khuôn. Phương pháp nghiên cứu tác phẩm này vẫn là phương pháp nghiên cứu quyển trước. Những điều đã chú thích ở quyển trên sẽ không nhắc lại ở cuốn sau.
Bản Lĩnh Nam Chích Quái này được dịch theo một bản chép tay do Phạm Quỳnh đã thuê viết lại. Nhà học giả Phạm Quỳnh trong khi cho người sao lục những bản cổ văn thường sửa chữa lại những điểm mà ông cho là sai. Do đấy, bản chép tay mà chúng tôi gọi là bản Phạm Quỳnh này có nhiều chỗ khác với những bản A.33, A.749, A.750, A.1200, A.1300, A.1897, A.1920 v. v... mà Gaspardone đã nhắc tới trong Bibliographie Annamite. Chúng tôi sẽ có dịp làm hiệu bản một khi có đầy đủ những bản chép tay của Lĩnh Nam Chích Quái.
Bản phiên dịch cũng như phần dẫn nhập chắc chắn còn nhiều khuyết điểm; chúng tôi nhận thấy còn có thể nghiên cứu tác phẩm một cách kỹ lưỡng hơn nếu có đầy đủ thì giờ và phương tiện, nhưng chúng tôi cũng nghĩ rằng nếu không bắt đầu bằng chỗ bắt đầu thì không có một công cuộc gì được khởi sự; do đấy, chúng tôi mạnh bạo cho ấn hành tập sách này để góp phần vào việc soạn thảo một bộ Việt Nam Văn Học Toàn Thư hiểu đúng nghĩa của chữ Toàn Thư. Trong tinh thần này, những tác phẩm cổ văn như Khóa Hư Lục, Thiền Uyển Tập Anh, Nhị Khê Thi Tập, Ức Trai Thi Tập, Kiến Văn Tiểu Lục, Hoàng Việt Thi TuyểnHoàng Việt Văn Tuyển v. v... đã nghiên cứu và phiên dịch xong, sẽ được lần lượt ấn hành.
Chúng tôi mong rằng những nỗ lực của chúng tôi sẽ được các học giả trong nước, các bạn giáo sư, sinh viên và học sinh tán thành ủng hộ để cho công cuộc nghiên cứu của chúng tôi được phổ biến một cách sâu rộng.

Huế ngày 1-2-1960
Lê Hữu Mục
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.01.2018 12:57:40 bởi casau>
Dẫn nhập

I. Nhan đề của tác phẩm:
Các nhà khảo cứu về Lĩnh Nam Chích Quái tỉ dụ Guspardone, Dương Quảng Hàm, Hoa Bằng, Maurice Durand v. v... đều viết tên của tác phẩm là Lĩnh Nam Trích Quái, chua chữ trích là 摭 và hiểu 摭 nghĩa là gom góp lượm lặt; trong bài Bibliographie Annamite [1], Gaspardone đã dịch Lĩnh Nam Trích QuáiRecueil des êtres extraordinaires du Lĩnh Nam, nghĩa là chữ trích đã được hiểu theo nghĩa chữ recueil, một tập thu góp những bài đã có sẵn. Cố giáo sư Dương Quảng Hàm, trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, tuy đã chua chữ Trích là 摘 nhưng cũng đã hiểu Trích là nhặt lấy, là góp nhặt [2]. Như vậy chữ Trích đã được chua hai cách khác nhau, nhưng đã được hiểu theo một nghĩa. Sự thực ý nghĩa của hai chữ 摭 và 摘 trái ngược hẳn nhau; theo Từ Hải thì 摭 phải đọc là chi ích thiết, âm chích, và nghĩa là từ trên đất mà lượm lặt lên; do đấy, 摭 đọc là Chích cho đúng cách phát âm [3] diễn tả hành động của một người cúi xuống để lấy một vật gì ở dưới lên; cái ở dưới đất là một cái gì tầm thường, là cát bụi chẳng hạn, một cái gì lẻ tẻ, rời rạc, không có giá trị; về văn chương thì những cái tầm thường ấy có thể là những mẩu chuyện vu vơ, một vài tình tiết không có liên lạc gì với nhau, nay được một nhà trí thức chích lên, nghĩa là thu góp lại, sắp đặt cho có đầu đuôi, rồi tổ chức những tình tiết vụn vặt khi trước thành một câu chuyện có hệ thống, có ý nghĩa. Phải phân tích sâu xa chữ chích, ta mới thấy sự góp phần quan trọng của tác giả Lĩnh Nam Chích Quái trong công cuộc duy trì và phát huy những giá trị cũ của dân tộc; từ những câu chuyên Hồng Bàng, Ngư Tinh, Mộc Tinh mà có lẽ người bình dân đã được nghe lõm bõm đây đó, ông đã đúc kết thành một câu chuyện hấp dẫn về đời Hùng Vương, trình bày cả một bức tranh lịch sử linh hoạt và sinh động, người nghe đã bị chinh phục hoàn toàn đến nỗi ngộ nhận đó là một câu chuyện có thực.
Ngược lại, chữ 摘 [4] có một ý nghĩa khác hẳn; nó diễn tả cử chỉ của một người giơ tay ra để hái những quả đã có sẵn ở trên cây; việc làm của người ấy không có gì là mới mẻ; quả hái được vẫn giữ những màu sắc cũ; một đôi khi những màu sắc ấy có thể phai nhạt đi, quả hái được cũng có thể héo khô đi. Nói một cách rõ hơn, chữ 摘 không bao hàm một cử chỉ sáng tạo; nó chỉ việc lấy của người ta đã làm sẵn sàng mà sử dụng; dĩ nhiên, trích cũng một đôi khi giả thiết một sự lựa chọn, nhưng dù sao, sự lựa chọn ấy cũng chỉ là một sự lựa chọn những cái đã hình thành, chẳng hạn những mẫu chuyện đã được viết xong, những tình tiết đã được sắp đặt một cách ngăn nắp. Do đấy, công việc chích 摭 tích cực bao nhiêu thì công việc trích 摘 tiêu cực bấy nhiêu; chích càng sáng tạo thì trích càng máy móc.
Vì những lý do đó, công việc của tác giả Lĩnh Nam là đã chích quái chứ không phải trích quái; bao nhiêu những chuyện truyền kỳ của ta xưa, ông đã không cứ để nguyên như vậy mà góp nhặt thành sách; công việc ấy quá dễ dàng; nhưng đàng này, tác giả đã chích quái nghĩa là từ những mẩu chuyện bé nhỏ rơi rớt trong dân gian, ông xây nên một lâu đài truyện cổ nguy nga; từ những cát bụi muôn phương, ông trau chuớt thành châu ngọc. Công sáng tạo của tác giả đáng được kể như là công trình của một nhà tiểu thuyết; tác phẩm của ông là một trong hai tập đoản thiên đầu tiên của văn học Việt Nam. Ta nói đến tác phẩm như là một sản phẩm tinh thần của tác giả cũng như là một tinh hoa của cuối đời Trần.
Căn cứ vào những lý do trên, tôi đề nghị nên để nhan đề của tác phẩm này là Lĩnh Nam Chích Quái. Những tên khác của tác phẩm cũng nên viết lại như thế, tỉ dụ Lĩnh Nam Chích Quái Liệt Truyện; Lĩnh Nam Chích Quái Truyện Lục; Lĩnh Nam Chích Quái Lục; Tham Bổ Lĩnh Nam Truyền Văn Thần Dị Chích Quái Liệt Truyện.

II. Trần Thế Pháp, tác giả Lĩnh Nam Chích Quái.
Những phân biệt ở trên cho ta thấy sự cần thiết phải biết tên tác giả.
Đầu tiên, ta không thể theo các nhà khảo cứu đời Lê mà cho rằng tác giả của Lĩnh Nam Chích Quái là Vũ Quỳnh hay Kiều Phú. Trước hết, Phan Huy Ôn trong cuốn Thiên Nam Lịch Triều Liệt Huyện Đăng Khoa Bị Khảo, quyển thứ tư nói về tỉnh Hải Dương, huyện Đường An tức là khi nói về quê quán của Vũ Quỳnh, đã cho rằng Vũ Quỳnh, đỗ tiến sĩ năm 1478 là tác giả của Lĩnh Nam Chích Quái nhưng điều này, chính Vũ Quỳnh đã tự cải chính trước; trong bài tựa Lĩnh Nam Chích Quái đề năm 1492, ông thú nhận không biết sách được khởi tác vào thời nào, hoàn thành do ai mà tính danh bị bỏ khuyết không thấy chép [5]; như vậy, công việc của Vũ Quỳnh chỉ là một công việc hiệu chỉnh, sắp đặt, là công việc tất nhiên của một nhà khảo cứu văn học và sử học như Vũ Quỳnh; ta cũng không thể vì công trình hiệu chính ấy mà để tên của Vũ Quỳnh lên đầu tác phẩm Lĩnh Nam Chích Quái. Điều này, chính Gaspardone đã nhắc nhở từ năm 1934 khi viết Bibliographie Annamite. Đã đành bản mà ta phỏng đoán là bản chính rất có thể không được bố cục một cách hợp lý như bản đã được Vũ Quỳnh sắp đặt lại [6]; bản chính, nghĩa là bản mà Vũ Quỳnh chưa hiệu đính [7], chưa được chia thành quyển, và thứ tự của các truyện [8] khác hẳn với thứ tự của các truyện trong bản của Vũ Quỳnh. Đây là bố cục của bản chính, theo như Vũ Quỳnh đã nói trong bài Tựa, và cũng dựa theo Phan Huy Chú trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí [9]:
1) Hồng Bàng
2) Dạ Soa
3) Bạch Trĩ
4) Kim Qui
5) Tân Lang
6) Tây Qua
7) Chưng Bỉnh
8) Ô Lôi
9) Phù Đổng
10) Lý Ông Trọng
11) Chử Đồng Tử
12) Thôi Vỹ
13) Từ Đạo Hạnh
14) Dương Không Lộ
15) Ngư Tinh
16) Hồ Tinh
17) Nhị Trưng
18) Tản Viên
19) Nam Chiếu
20) Man Nương
21) Tô Lịch
22) Mộc Tinh.
Bố cục này không được hợp lý vì không tôn trọng thứ tự thời gian; truyện Hồng Bàng đi với truyện Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh, biểu dương những vĩ tích của Lạc Long Quân thì truyện Hồng Bàng được sắp ở số 1, Ngư Tinh số 15, Hồ Tinh số 16 và Mộc Tinh số 22; truyện Ô Lôi xảy ra đời Trần Dụ Tôn (1341-1357) lại được để trước truyện Nhị Trưng v. v... Vũ Quỳnh đã thấy những khuyết điểm này và đã sắp đặt theo như mục lục mà ta đọc ở sau bài Tựa của tác phẩm này. Tuy vậy, việc làm của Vũ Quỳnh cũng không được đúng lắm; đáng lẽ ra ông phải tôn trọng bố cục của tác giả, và chỉ được phê bình những khuyết điểm của bố cục ấy ở một chỗ khác. Công việc chỉ có thế mà Vũ Quỳnh đã được coi là tác giả của Lĩnh Nam Chích Quái thì thực là một điều lạ.
Trong khi Phan Huy Ôn công nhận một cách sai lầm như thế thì Nguyễn Hoàn cũng sai lầm không kém. Trong Đại Việt Lịch Triều Đăng Khoa Lục [10] ghi tên những thí sinh trúng tuyển các kỳ thi từ năm 1075 đến năm 1787, Nguyễn Hoàn, trong quyển 1, tờ 20 đã cho Kiều Phú là tác giả của Lĩnh Nam Chích Quái; Kiều Phú người xã Lạp Hạ, huyện Ninh Sơn (nay là phủ Quốc Oai, Sơn Tây) sinh năm 1447 và đỗ tiến sĩ năm 1475; như vậy, ông chỉ là một người đồng thời với Vũ Quỳnh vì Vũ Quỳnh sinh năm 1453; nếu Vũ Quỳnh công nhận Lĩnh Nam Chích Quái đã được khởi thảo từ đời Lý hay đời Trần [11] thì Kiều Phú không thể là tác giả của cuốn Lĩnh Nam Chích Quái; tựa của Kiều Phú đề năm 1493, nghĩa là sau bài Tựa của Vũ Quỳnh một năm, không thể nào ông đảm nhận cho ông cái vinh dự làm tác giả cuốn Lĩnh Nam Chích Quái [12].
Nếu Vũ Quỳnh và Kiều Phú không phải là tác giả của Lĩnh Nam Chích Quái thì ai là người đã sáng tác ra nó? Tôi có thể nói người đó là Trần Thế Pháp.
Không ai biết rõ về Trần Thế Pháp cả. Toàn Thư cũng như Sử Ký không thấy nhắc đến tên ông; Bị Khảo cũng như Đăng Khoa Lục cũng vậy. Theo Lê Quý Đôn thì Trần Thế Pháp là người huyện Thạch Thất (Sơn Tây) và có tên hiệu là Thức Chi. Ông đã không có cái hân hạnh được sử sách nhắc nhở đến tên, nhưng ông được người bình dân quen biết, bởi vậy, trong Kiến Văn Tiểu Lục [13], Lê Quý Đôn đã viết “Lĩnh Nam Chích Quái, 1 q. [14] tương truyền là tác phẩm của Trần Thế Pháp; bài Tựa Nam Bản của Thiếu Vi cũng nói thế; không biết Thế Pháp là người xứ nào” [15]. Giọng nói của Lê Quý Đôn là một giọng nói khẳng định; ông chỉ không biết Thế Pháp là người ở đâu, nhưng ông cho rằng theo lời người ta nói thì Trần Thế Pháp là người đã viết ra Lĩnh Nam Chích Quái; sợ rằng hai chữ “tương truyền” chưa đủ mạnh mẽ để cho người đọc tin, ông vội vã nói thêm đấy cũng là chủ trương của Thiếu Vi trong Nam Bản; ta tiếc không biết Thiếu Vi là ai và Nam Bản là gì, nhưng nếu đã là người mà tác giả đã dùng để tăng cường cho uy tín của mình thì nhất định phải là một người đáng kể, nhất là người ấy cũng từng là một người có vinh dự đề tựa cuốn Lĩnh Nam Chích Quái. Do đấy, trong khi chờ đợi những bằng chứng xác đáng hơn, ta có thể coi Trần Thế Pháp là tác giả của Lĩnh Nam Chích Quái chính bản, gồm 22 truyện mà ta đã liệt kê ở trên; 19 truyện phụ lục là của một nho sĩ họ Đoàn đời nhà Mạc đã thêm vào; ta sẽ không chú ý đến phần phụ lục này (tức Lĩnh Nam Chích Quái quyển 3) cũng như ta sẽ không nói tới quyển Tục Biên Lĩnh Nam Chích Quái Liệt Truyện do Nguyễn Nam Kim đã hoàn thành, quyển Lĩnh Nam Chích Quái Tiếm Đỉnh của một nho sĩ vô danh [16] v. v...

III. Soạn niên của Lĩnh Nam Chích Quái:
Vì không biết Trần Thế Pháp là người thời nào, ở đâu, ta khó lòng xác định được soạn niên của Lĩnh Nam Chích Quái, nhưng ta có thể lý luận để thử tìm hiểu tác phẩm đã được viết vào khoảng những năm nào.
Đầu tiên, căn cứ vào bài Tựa của Vũ Quỳnh đề năm 1492 trong đó nhà hiệu chỉnh thú nhận không biết Lĩnh Nam Chích Quái đã được hoàn thành vào thời kỳ nào, ta có thể nói tác phẩm đã được viết lâu năm trước thế hệ của Vũ Quỳnh. Vũ Quỳnh sinh năm 1453, đỗ tiến sĩ năm 1478, đề tựa Lĩnh Nam Chích Quái năm 1492, viết xong Đại Việt Thông Giám Thông Khảo năm 1510, như vậy, nhà văn học kiêm sử gia ấy có đủ phương tiện và học thức đề biết rõ về tác phẩm và tác giả mà đã đành chịu không nắm được tài liệu nào đủ biết thời Trần Thế Pháp còn sống phải rất xa đối với thời đại của Vũ Quỳnh. Ý kiến này cũng là ý kiến của Gaspardone. Từ năm 1492 trở lại năm 1428 là năm Lê Lợi lên ngôi, tình thế đã được ổn định, năm này qua năm khác không xảy ra một biến cố nào quan trọng, do đấy, nếu đến năm 1492 mà Vũ Quỳnh không biết gì về soạn niên của Lĩnh Nam Chích Quái thì từ 1428 trở đi, không có một tài liệu nào về tác phẩm nói trên đã được công bố; nếu đã có một tài liệu nào được công bố thì không có lý do gì tài liệu ấy lại bị thất lạc, không đến tay Vũ Quỳnh, giữa một thời kỳ mà không có một biến cố chính trị nào có thể làm cho tài liệu kia bị tiêu hủy. Như vậy, ta có thể nói soạn niên của Lĩnh Nam Chích Quái phải kể trước năm 1428.
Từ 1428 trở về 1407, lịch sử trải qua bao nhiêu giai đoạn khủng khiếp; đất nước rung chuyển dưới gót giày xâm lăng của quân Minh; giữa khói lửa tơi bời, trước những lời kêu gọi xuất quân của Giản Định Đế, của Trấn Quí Khoách, của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, khó lòng có một nhà nho nào ngồi yên lặng rở những cuốn Tài Quỷ Ký, Nam Hải Cổ Tích Ký mà ghi lại những chuyện xa xưa. Nếu nhà nho ấy có can đảm sáng tác trong thời gian này thì những sáng tác phẩm ấy đã hồi quang những cảnh hỗn loạn của chiến tranh, những hình ảnh rùng rợn của máu lửa, hoặc đã là những lời ca tụng khí phách anh hùng như Nghĩa Sĩ Truyện, những lá thư khuyến dụ địch như những lá thư hùng dũng của Nguyễn Trãi gửi cho quân Minh. Ngược lại, Lĩnh Nam Chích Quái mang một nội dung khác hẳn; không khí của tác phẩm trang nghiêm nhưng yên tĩnh; đâu cũng là hòa bình, đơn giản, nghĩa là Lĩnh Nam Chích Quái không thể là một tác phẩm được hoàn thành trong khoảng thời gian từ 1407 đến 1427. Như vậv, ta có thể nói rằng soạn niên của Lĩnh Nam Chích Quái là từ khoảng Trần Dụ Tôn đến hết đời Hồ, nghĩa là từ 1341 đến 1407 nhưng soạn niên của tác phẩm ấy có thể đặt vào cuối đời Trần [17] thì đúng hơn là đặt vào đời Hồ.
Tại sao lại kể từ đời Trần Dụ Tôn mà thôi? Đó là ta căn cứ vào truyện Hà Ô Lôi xảy ra năm Thiệu Phong thứ 6 tức là năm 1346 đời Trần Dụ Tôn. Truyện Hà Ô Lôi là truyện thứ 8 trong mục lục của bản chính và là truyện thứ 21 trong bản hiệu đính của Vũ Quỳnh. Vai chính trong truyện là vua Trần Dụ Tôn và Hà Ô Lôi, một đứa con hoang có tài mà nhà vua rất tín sủng. Năm Ô Lôi 15 tuổi, tức là năm 1360 thì được nhà vua đãi vào hàng tân khách. Năm sau, tức là năm 1361, chàng được mật lệnh đi chinh phục cho nhà vua bà Quận chúa A Kim trẻ đẹp nhưng góa chồng ở làng Mọc. Theo sử, từ năm 1358, sau khi Trương Hán Siêu và Minh Tông mất đi, Dụ Tôn tha hồ tự do sống phóng túng, cờ bạc, rượu chè, say mê ca kịch đến nỗi đã cướp vợ của kịch sĩ Dương Khương mặc dầu bà này đã có mang hai tháng chỉ vì bà này là nữ kịch sĩ; bảy tháng sau, Dương Nhật Lễ ra chào đời, được làm con nuôi của Dụ Tôn và trước khi Dụ Tôn băng hà đã được chiếu nối ngôi dù Dụ Tôn còn có một người anh là Cung Định Vương Phủ; Dương Nhật Lễ làm vua từ 1369 đến 1370, sau bị Trần Ngô Lang lừa vào cung, Tuyên Vương Kính đem quân về kinh giết chết, nhưng trước khi chết còn được Cung Định Vương (sau đó là vua Nghệ Tông) chạy đến ôm lấy mà khóc, chứng tỏ anh em vua Dụ Tông vẫn còn say mê mẹ con Dương Nhật Lễ. Ta có thể nói Dương Nhật Lễ của lịch sử là Hà Ô Lôi của Lĩnh Nam Chích Quái. Cũng một nguồn gốc không có gì đẹp đẽ ấy, cũng một cái tài về ca kịch và cũng được mọi người say mê đến nỗi quên cả địa vị của họ và bỏ bê trễ cả công việc. Đọc truyện Hà Ô Lôi, ta thấy mọi tình tiết của câu chuyện ăn khớp với đời sống xa hoa trụy lạc của Trần Dụ Tông, từ cái tính quay cuồng vì nghệ thuật, những mánh khỏe cỏn con để săn sắc đẹp, đến cái vẻ quyến rũ của tiếng hát v. v... Phải là một người đương thời với Trần Dụ Tông mời có thể là một chứng nhân nhãn tiền như vậy. Căn cứ trên câu truyện Hà Ô Lôi, ta có thể nói rằng Trần Thế Pháp sống vào đời Trần Dụ Tông, và cuốn Lĩnh Nam Chích Quái đã được hoàn thành ngay sau thời kỳ ấy, từ 1370 đến 1400.

IV. Nguồn gốc Lĩnh Nam Chích Quái.
Dân tộc nào cũng vậy, trong giai đoạn đầu tiên, cũng sản xuất ra một số truyện thần thoại, nghĩa là những truyện linh quái [18] để giải thích nguồn gốc của mình. Thần thoại nghĩa là nói đến thần, nhưng chữ thần ở đây không nhất thiết chỉ là những thực thể siêu nhiên, vô hình; thần ở đây có thể là những thần thánh, hoặc nửa thần nửa người, hoặc những anh hùng liệt sĩ mà những vĩ tích oai linh trong thế gian đã liệt vào hàng thần thánh. Sau truyện thần thoại là những truyện chắc chắn đã có từ khi có loài người, ta thấy xuất hiện nhiều loại truyện truyền thuyết trong đó tính cách linh quái đã phai nhạt rất nhiều và các tình tiết phô diễn được ẩn náu dưới những màu sắc của lịch sử. Cùng với hai loại này, ta còn nhận thấy loại truyện cổ tích, cốt yếu ở điểm duy trì và phát huy những phong tục, những tập quán, những quy ước luân lý cũ. Phân tích ba khuynh hướng này trong truyện truyền miệng của ta xưa, ta thấy rõ ràng nguồn gốc của Lĩnh Nam Chích Quái.
Đầu tiên về phương diện thần thoại, nói theo Lê Quý Đôn [19], Lĩnh Nam Chích Quái “giả thác truyện hội rất nhiều, không thể kể xiết”. Maspéro [20] chứng minh truyện Hùng Vương là truyện trích ở các tác phẩm Trung Hoa [21]. Nguyễn Đổng Chi cho rằng “chiến tranh giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh hay chiến tranh giữa Cường Bạo Đại Vương với Thần Sét có nhiều điểm rất giống chiến tranh giữa thần Chúc Dong với thần Cộng Công trong truyện thần thoại Trung Hoa, giữa thần Chang Lô Cô với thần Lun Cung trong truyện thần thoại của dân tộc Mán, giữa cua và quạ trong truyện thần thoại Ba-na”. Przyluski [22] có cảm tưởng đã đọc truyện Kim Qui ở đâu rồi bởi vì các miền vùng Nam Hải ngày xưa đều có những truyện tương tự. Những quan điểm này về nguồn gốc các truyện thần thoại trong Lĩnh Nam Chích Quái không phủ nhận bản sắc của truyện này bởi vì cùng nằm trong một địa phương, các dân tộc Đông Nam Á dĩ nhiên có sự giao lưu về phương diện văn hóa. Ngay từ thời Bắc Thuộc, Triệu Xương và Tăng Cổn là hai nhà hành chính Trung Hoa đã có cơ hội biên tập một ít truyện cổ của ta trong Giao Châu Ký đủ biết người Việt đã đủ khả năng sáng tạo văn nghệ từ trước rồi. Còn về những tác phẩm mà Maspéro [23] đã dẫn, làm thế nào để chứng minh rằng các tác phẩm ấy có trước những câu truyện truyền miệng của ta? Mọi quả quyểt về vấn đề này đều vội vã và sai lầm.
Về loại truyền thuyết, nguồn gốc của Lĩnh Nam Chích Quái là do sự truyền khẩu của dân gian, đúng như lời Vũ Quỳnh đã nói trong bài Tựa danh tiếng của ông. Những lời truyền khẩu này căn cứ trên những hiện tượng lịch sử xác thực, đồng thời được óc tưởng tượng hồn nhiên và phong phú của nhân dân tô điểm đã dựng nên những tình tiết lý thú. Qua những truyện Trầu Cau, Dưa Hấu, Bánh Chưng v. v.... ta thấy thức dậy cả một quá khứ xa xăm trong những nét vàng son rực rỡ. Về loại này, nguồn gốc của Lĩnh Nam Chích Quái là óc tưởng tượng rất sáng tạo của người Việt, những phong tục đặc biệt của ta xưa, những thổ sản mà chỉ riêng ta có.
Sau cùng, về loại truyện cổ tích, ta có thể tìm thấy ba nguồn gốc. Nguồn gốc Trung Hoa như Việt Tỉnh, và điều này, chính Lê Quý Đôn đã nói đến trong Kiến Văn Tiểu Lục; ngoài ra còn có nguồn gốc ở khẩu truyền, ở dã sử như truyện Lý Ông Trọng, truyện Nhị Trưng, Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ; sau cùng, có truyện là tác phẩm của chính Trần Thế Pháp. Có lẽ tác giả vì một lý do thận trọng hay khiêm tốn nào đó đã để lẫn lộn tác phẩm của mình vào với những truyện truyền miệng, gần giống như La Bruyère của văn học Pháp, khi xuất bản cuốn Les Caractères lần đầu tiên năm 1688 vì muốn đánh lạc dư luận, đã phải nhan đề tác phẩm của ông là tác phẩm dịch của một triết gia Hy Lạp sống vào thế kỷ thứ 4 trước Thiên Chúa Giáng Sinh [24]. Truyện rõ rệt là tác phẩm của Trần Thế Pháp là truyện Hà Ô Lôi.

V. Phân tích Lĩnh Nam Chích Quái.
A. Những truyện thần thoại:
Đây là những truyện như Hồng Bàng, Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh, Đổng Thiên Vương, Tản Viên.
Đầu tiên, ta thử phân tích truyện Hồng Bàng, Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh mà ta có thể mệnh danh là Bốn vĩ tích của Lạc Long Quân [25]. Lạc Long Quân tên là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương, con cháu Thần Nông và Long Nữ, con gái của thần Động Đình Hồ.
Vĩ tích thứ nhất của Lạc Long Quân là triệt hạ Ngư Tinh. Ngư Tinh là một quái vật ăn thịt người; thân nó dài hơn năm mươi trượng, mặt như mặt người, chân giống như chân rết, biến hiện như gió bão. Dân chúng vô cùng kinh dị. Lạc Long Quân thương dân mới đóng một chiếc thuyền lớn chèo đến tận hang Ngư Tinh ở giữa biển Đông, rèn một khối sắt rồi bế một người lên giứ cho Ngư Tinh ăn; Ngư Tinh há miệng định nuốt mồi thì khối sắt nung đỏ đã được lao thẳng vào miệng. Cuộc thủy chiến giữa Lạc Long Quân và Ngư Tinh bùng nổ dữ dội. Được sự cộng tác của Thủy Dạ Xoa ngăn gió bão, Lạc Long Quân toàn thắng, đầu tiên chém được khúc đuôi của Ngư Tinh, sau chém được khúc đầu. Ngư Tinh chỉ còn một khúc giữa nổi lềnh bềnh trên mặt biển.
Vĩ tích thứ hai là diệt trừ Hồ Tinh chín đuôi. Con hồ này là một con yêu quái đã sống hơn một ngàn năm, chuyên môn dụ dỗ con trai con gái vào hang để làm gì không biết. Lạc Long Quân sai bộ hạ lái nước sông vào làm cho hang của hồ tinh bị ngập lụt trôi đi để lại một cái vực sâu nay gọi là Tây Hồ. Lạc Long Quân còn dùng bùa phép trấn yểm để cho hồ tinh không lai vãng đến được nữa.
Vĩ tích thứ ba của Lạc Long Quân là cộng tác với thân phụ là Kinh Dương Vương để sát hại Mộc Tinh. Mộc Tinh nguyên là cây chiên đàn sống hơn ngàn năm, thân cao nghìn tầng nên biến thành yêu tinh hay ăn thịt người, mỗi năm phải chọn một người cho nó ăn nó mới để cho dân chúng yên ổn. Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân thắng được yêu tinh nhưng cuộc giao chiến rất khủng khiếp; Mộc Tinh không bị giết mà chỉ thua chạy để rồi được nhân dân suy tụng là thần Xương Cuồng.
Vĩ tích thứ tư của Lạc Long Quân là bắt cóc nàng Âu Cơ, vợ yêu của Đế Lai. Đế Lai chống cự mãnh liệt nhưng Lạc Long Quân có sức mạnh quán thế lẽ nào lại chịu bó tay, nhất là khi Âu Cơ đã thỏa thuận chung sống với chàng. Đế Lai buồn bã trở về Bắc, sau bị hại vào tay Hoàng Đế.
Truyện thần thoại thứ hai là truyện Đổng Thiên Vương tức truyện Thánh Gióng. Câu truyện xảy ra đời Hùng Vương thứ ba, tức là đời khuyết sử. Trong khi Hùng Vương đang lo âu vì bị Ân Vương đàn áp thì Long Quân xuất hiện báo trước sự giáng sinh của một kỳ nhi. Kỳ nhi giáng thế, ba năm qua rồi mà vẫn chưa biết nói; một hôm, một sứ giả đến làng Phù Đổng tức là làng của kỳ nhi và kỳ nhi bỗng biết nói; sau đấy, kỳ nhi lớn như thổi, cưỡi ngựa sắt xông ra mặt trận, gươm sắt của kỳ nhi vung lên làm cho lực lượng của Ân Vương tan tành. Nạn can qua chấm dứt, kỳ nhi cỡi ngựa bay thẳng lên trời, chỉ để lại cho thế gian một vết chân trên núi đá.
Truyện núi Tản Viên cũng là một truyện thần thoại rất lý thú. Thần Tản Viên hay là Tản Viên Sơn Đại Vương là một trong số năm mươi người con trai của Lạc Long Quân theo bố lên núi. Đại Vương từ phía cửa Thần Phù mà đi lên, thường thích dừng chân ở những nơi đồi núi để ngắm cảnh. Sau Đại Vương cùng với Thủy Tinh cùng đến hỏi Mỵ Nương; Vương được Mỵ Nương nhưng bị Thủy Tinh muôn đời căm thù, lúc nào cũng muốn làm cho hạnh phúc của Vương ngập lụt trong cơn phẫn nộ của chàng.
Như vậy, qua phần phân tích trên, ta thấy rằng truyện thần thoại trong Lĩnh Nam Chích Quái là những truyện giải thích nguồn gốc của dân tộc Việt Nam, biểu dương những công trình gian khổ của tổ tiên trong nỗ lực xây dựng đất nước, đề cao tính cách thần thánh của giống nòi. Ta không dám nói đó chỉ là những chuyện hoang đường, bởi vì truyện dù hoang đường đến đâu cũng chứa đựng một phần sự thực và truyện thực đến đâu cũng pha trộn đôi chút hoang đường. Tính cách nổi bật trong loại truyện này là thần lực đã giữ một vai trò chủ yếu, nhưng thần lực tán trợ cho nhân lực để cho nhân lực thực hiện được những vĩ tích siêu phàm. Các nhân vật trong truyện còn mang những kích thước kỳ dị của thời đại ban sơ; không khí còn thơm mùi đất mới; cả thế gian đang bừng nở trong ánh nắng buổi đầu.
B. Những truyện truyền thuyết:
Sau truyện thần thoại là truyện truyền thuyết. Truyện này không biểu dương năng lực của giống nòi trong quá khứ mà chỉ giải thích lý do của một phong tục, biện minh nguồn gốc của một hiện tượng lịch sử hay địa lý. Dĩ nhiên thời gian của câu truyện vẫn có thể là thời tiền sử như truyện Trầu Cau, Truyện Bánh Chưng, Dưa Hấu, hoặc trong những thời đại sau như trong truyện Kim Qui v. v.... Truyện thường được dựng trong khung cảnh của một di tích lịch sử mà ý nghĩa đã bị lớp bụi thời gian làm phai mờ; đó là truyện Kim Qui, một truyện truyền thuyết lịch sử; có khi truyện nhắc lại nguồn gốc sâu xa của một tập tục như truyện Trầu Cau, truyện Bánh Chưng và đó là những truyện truyền thuyết phong tục; ngoài ra, còn có những truyện truyền thuyết giải thích một hiện tượng địa lý, tỉ dụ truyện Dưa Hấu, truyện sông Tô Lịch.
1) Lịch sử:
Về loại truyền thuyết lịch sử, ta có thể kể truyện Kim Qui là một truyện điển hình. Truyện và lịch sử có thể xác nhận An Dương Vương không phải là một nhân vật hoang đường. Theo Giao Châu Ngoại Vực Ký [26] viết vào thế kỷ thứ 3 thì Triệu Đà “cử chúng công An Dương Vương”, như vậy An Dương Vương thực sự là một nhân vật lịch sử, mặc dầu bị Maspéro phủ nhận [27]. Nhưng câu chuyện xảy ra giữa An Dương Vương và Triệu Đà đã được nhà viết truyện truyền thuyết sắp đặt lại. Mở đầu là dòng dõi của An Dương Vương và mối thù truyền kiếp của nhà vua với Hùng Vương mà duyên do cũng chỉ là một câu truyện tình. Sau đấy là những nỗi khó khăn của nhà vua khi xây thành, việc nhà vua gặp một ông già từ phương Tây đi đến báo cho nhà vua biết sự cộng tác của Sứ giả Thanh Giang tức thần Kim Qui. Thế rồi tác giả kể lại những phút sôi nổi khi thần Kim Qui đương đầu với chủ quán Ngộ Không là người đã dùng tà thuật để làm cho thành của An Dương Vương bị lay đổ. Ngộ Không thất bại, quỷ tinh tan rã, thành Cổ Loa được xây cất, nhưng lúc thần Kim Qui ra đi là lúc An Dương Vương gặp khó khăn với Triệu Đà. Triệu Đà không thắng được Vương vì Vương có nỏ thần của Kim Qui trao tặng. Một mưu nhỏ của Đà đã đủ làm cho Trọng Thủy là con thành phò mã và chính vì sự nhẹ dạ của Mỵ Nương mà Trọng Thủy biết được bí quyết của Vương và làm cho Vương thất bại. Trên đường đi tìm thần Kim Qui, Vương đã giết Mỵ Nương; Trọng Thủy tìm đến với nàng thì chỉ còn ôm ấp một thây ma đã lạnh ngắt. Thành Cổ Loa vẫn còn đấy cùng với giếng Trọng Thủy, cách Hà Nội 17 cây số về phía Đông quan lộ số 3, ở giới hạn hai tỉnh Bắc Ninh và Phúc Yên. Câu truyện có lẽ chỉ có một phần nào đúng sự thực, và khung cảnh sẵn có của thành Cổ Loa chắc đã cung cấp nhiều tài liệu cho nhà làm truyện vốn giàu tưởng tượng sáng tạo. Nhà viết truyện truyền thuyết chỉ cần một di tích lịch sử đã đủ xây dựng nên cốt truyện. Cái tài của ông là tìm cho những thành phần của di tích lịch sử ấy một sự liên lạc hợp lý. Sự liên lạc hợp lý ấy đã có trong truyện Kim Qui.
2) Phong tục:
Về loại phong tục, ta có thể kể hai truyện điển hình là truyện Trầu Cautruyện Bánh Chưng.
Truyện Trầu Cau giải thích tục lệ ăn trầu và cưới xin của ta. Đó là truyện của hai người anh em ruột là Cao Tân và Cao Lang đang ở thuận hòa với nhau thì bỗng nhiên một người con gái đến làm cho hạnh phúc của họ tan vỡ. Người em buồn bã đi lang thang rồi chết hóa thành cây; người anh về sau cũng chết hóa thành một tảng đá; người vợ thương chồng đi tìm cũng lại chết hóa thành cây trầu. Sau đấy Hùng Vương biết truyện và tình cờ khám phá ra cái thú ăn cau trầu. Đó là một cách bóng bẩy để nói đến căn bản của hôn nhân Việt Nam là ái tình.
Truyện Bánh Chưng kể lại sự quý trọng của người Việt Nam đối với bánh dày và bánh chưng. Nguồn gốc của hai thứ bánh ấy có tính cách thần thánh vì chính thần thánh đã báo mộng cho Lang Liệu biết cách làm bánh. Bánh dày hình tròn là hình trời; bánh chưng hình vuông là hình của đất, nhân là chất làm cho trời đất có liên hệ và do đấy có sinh sản.
Hai truyện này được xếp vào loại truyền thuyết vì tính cách giải thích của truyện quá rõ rệt; lời giải thích rất khách quan và có cứ điểm trong thực tại. Có lẽ ý định giáo huấn cũng cảm thấy thấp thoáng sau khung của câu truyện, nhưng ý định ấy chỉ gián tiếp và hoàn toàn phụ thuộc. Bởi vậy, ta không xếp những truyện này vào loại cổ tích bởi vì cổ tích bao giờ cũng chứa đựng một ý hướng giáo huấn.
3) Địa lý:
Truyện truyền thuyết còn có một tính cách là giải thích một hiện tượng địa lý. Trong Lĩnh Nam Chích Quái, hiện tượng đó là sự sản xuất dưa hấu của ta và lịch sử sông Tô Lịch.
Tại sao ta chú ý đến việc trồng tỉa dưa hấu? Nhà viết truyện truyền thuyết giải thích cho ta hiểu nguồn gốc của cây dưa hấu ở nước ta. Đây cũng là một nguồn gốc thần thánh vì chính chim - sứ giả của trời - đã mang hạt dưa đến cho An Tiêm lấy giống. An Tiêm đã tin ở trời; vì lòng tin ấy mà An Tiêm bị Hùng Vương nghi kỵ rồi đẩy ra một hòn đảo hoang vắng; bị đầy ải, An Tiêm vẫn tin ở trời, và tin ở cần lao. Trời đã cảm động trước cuộc đời nhẫn nại ấy và đã sai chim mang hạt dưa đến. Nhờ dưa, An Tiêm đã sống sung túc và làm hòa được với Hùng Vương.
Ngoài ra, ta còn có sự tích sông Tô Lịch kể trong truyện Nam Chiếu. Tô Lịch là tên một vị thần tóc trắng xóa mà Cao Biền thường thấy xuất hiện ở một phụ lưu của sông Cái; sau đấy, Biền lấy tên của thần để đặt cho tên sông. Đó là sông Tô Lịch.
Những truyện này là những giai thoại liên can đến lịch sử, phong tục hay địa lý. Những giai thoại này không được chính sử nhắc đến nhưng chúng rất ích lợi để cho ta hiểu rõ bộ mặt sau của sử học, địa lý và phong tục học.
C. Những truyện cổ tích:
Trong khi truyện thần thoại nói về thần thánh thì truyện cổ tích nói về người với một mục đích ám tàng hay hiển thị là giáo huấn người ấy theo tinh thần của câu truyện đã xảy ra ngày xưa, bởi vậy, truyện cổ tích thường có tính cách luân lý. Trong Lĩnh Nam Chích Quái, ta có thể phân biệt nhiều loại cổ tích.
1) Lịch sử:
Đầu tiên là loại cổ tích lịch sử đề cập đến một nhân vật lịch sử như Lý Ông Trọng, sau đấy cường điệu nhân vật ấy bằng những nét mạnh bạo hơn cốt nhấn mạnh vào một ưu điểm nào như truyện Không Lộ, Giác Hải, hoặc tô điểm cho truyện thêm những nét kỳ dị khác thường, tỉ dụ truyện Từ Đạo Hạnh và Minh Không.
Truyện Lý Ông Trọng xảy ra cuối đời Hùng Vương, qua An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng. Lý Ông Trọng tên thực là Lý Thân, thân cao hai trượng ba thước, cống hiến sang Tần Thủy Hoàng được trọng dụng và trở thành một sự sợ hãi cho Hung Nô; ngay sau khi đã chết mà Lý Thân vẫn đủ uy lực làm cho Hung Nô khiếp đảm và dân Trung Hoa thờ phụng. Truyện cổ tích này có mục đích nêu lên những cái hùng mạnh của dân Việt để tiêu trừ tinh thần tự ti mặc cảm của người mình đối với Bắc phương.
Truyện Không Lộ và Giác Hải kể lại tiểu sử của hai vị thiền sư danh tiếng đời Lý cốt đề cao cuộc đời tu hành khổ hạnh của hai ngài, trình bày một tấm gương sáng về đạo đức cho người đời noi theo.
Truyện Từ Đạo Hạnh và Minh Không cũng vậy, nhưng nhiều chi tiết ly kỳ đã được thêm thắt ra để cho đời sống của hai vị ấy có một màu sắc đặc biệt hấp dẫn.
2) Thế sự:
Loại cổ tích thế sự trình bày những bức tranh tả chân về người đời, lột trần những hành vi xấu xa giả dối của họ, tố cáo những cảnh bất công ngang trái của đời người.
Truyện Man Nương đưa ra ánh sáng đời sống mâu thuẫn của một tăng già, một đàng chăm chỉ tụng niệm, một đàng lại phạm những tội ác ghê tởm sau khi đã xâm phạm tiết hạnh của một người con gái trong chùa tên là Man Nương.
Truyện Hà Ô Lôi phản ảnh những nếp sống hư đốn đời Trần Dụ Tôn, tố cáo cuộc sống bê tha trụy lạc của các bậc vua chúa ngày xưa, sự dâm ô của họ không kiêng nể một ai và sẵn sàng bênh vực cho tội lỗi. Cảnh sống giả dối của các bà góa cũng được phơi bày bằng những nét thô bạo. Cả một xã hội suy tàn được trưng ra với tất cả những cái xấu xa bỉ ổi. Kết luận của câu truyện là một con người say mê thanh sắc như Hà Ô Lôi đã bị đền tội một cách xứng đáng. Xã hội đã phỉ nhổ con người điếm đàng ấy. Giọng ca dâm dật của nó không làm cho phong tục dịu dàng hơn mà chỉ gây ra những cảnh náo nức dục tình.
Nhưng thế sự không phải chỉ có những cảnh bế tắc bi đát. Truyện Việt Tỉnh cho ta hiểu rằng cái thiện sẽ thắng thế gian, đạo đức bao giờ cũng được trọng thưởng bằng một đời sống đầy đủ về sau. Thôi Vỹ nhờ công đức của cha mẹ cũng như của chính mình đã được Ân Vương muôn đời hàm ân và tưởng lệ.
3) Tình cảm:
Sau cùng, truyện cổ tích còn mang những màu sắc tình cảm rất đậm đà. Đàm Nhất Dạ là khung cảnh của một truyện tình thi vị như ca dao giữa một công chúa trẻ đẹp và một bác dân quê chài lưới nghèo nàn. Nhưng công chúa đã gặp chàng đánh cá trong một trường hợp hết sức tiền định. Công chúa tưởng rằng sẽ mãi mãi không lập gia đình đã trở về với tình yêu. Họ đã sống với nhau những ngày chứa chan hạnh phúc, trong một tình yêu trong sáng, một tín ngưỡng vững vàng và một tinh thần lao động rất đáng khen. Truyện Đầm Nhất Dạ đã đưa ra một mô hình về tình yêu chân chính trong tự do.

VI. Giá trị của Lĩnh Nam Chích Quái.
A. Nội dung.
Qua phần phân tích trên, ta thấy Lĩnh Nam Chích Quái có những ưu điểm này về nội dung:
1) Một căn bản triết học chắc chắn:
Đầu tiên, tác giả tin vào nguồn gốc thần thánh của nhân loại, nghĩa là tin vào sự sáng thế, vào uy quyền tuyệt đối của Hóa Công và tính cách bất tất, hữu hạn của loài người. Luôn luôn giữa Hóa Công và nhân loại có một sự liên lạc chặt chẽ. Tưựng trưng cho quan niệm này là chiếc bánh chưng và chiếc bánh dày. Cái nhân ở giữa là một yếu tố quan hệ của sự hóa dục của trời đất. Nhờ sự sáng tạo, còn người xuất hiện ở trần gian. Sự hiện diện ấy không vô lý vì nó có một ý nghĩa. Con người hoàn toàn tự do trong chấp thuận hay không chấp thuận ý nghĩa ấy. An Tiêm đã lựa chọn cho đời mình có một giá trị. Tiên Dung cũng thế. Kết quả là Tiên Dung đã sống một cuộc đời vật chất hoàn toàn sung sướng trong hiện tại và hai vợ chồng về sau trở thành tiên bay về trời. Cuộc đời có ý nghĩa là ý nghĩa trong tự do. Cả tác phẩm toát ra cái không khí tự do ấy; nhưng tự do là tự do trong một vị trí, trong một vài điều kiện. Điều kiện ấy có thể là cần lao. An Tiên đã lao động cần cù. Chàng tin ở bàn tay mình cũng như tin ở Thượng đế. Trên hai nghìn năm, chàng đã là “tiền thân” của “ông già và biển cả”. Chử Đồng Tử và Tiên Dung cũng đã cần lao cặm cụi, hy sinh và nhẫn nại. Điều kiện ấy là tin yêu. An Tiêm đã tin và đã yêu. Tiên Dung cũng đã tin và đã yêu. Điều kiện ấy là những hàng động vị tha, những thực hiện đạo đức. Thôi Vỹ xả kỷ và Thôi Vỹ đã được sống ở Dao Trì. Con người là một thực thể bất diệt nên sẽ trở về nơi trường sinh. Xác thịt có thể tàn tạ nhưng linh hồn thì bất tử. Trần gian chỉ là một nơi thử thách tạm bợ. Dao Trì, Thủy Phủ, Thiên Cung mới là nơi vĩnh phúc. Đó là lời của Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Không Lộ và Giác Hải. Tin tưởng này dẫn đến một tinh thần lạc quan tích cực và nồng nhiệt. Tinh thần lạc quan tiêu cực chỉ sinh ra thất bại, tỉ dụ trường hợp An Dương Vương. Sự thành thực dù yếu đuối mà đưa đến tan vỡ cũng sẽ được đền bù, tỉ dụ trường hợp Mỵ Nương. Sự hối hận có thể sửa chữa những tội ác vô ý thức, tỉ đụ trường hợp Trọng Thủy. Vũ trụ quan sâu xa của Trần Thế Pháp cũng như của dân chúng vô danh đã gây được một nhân sinh quan rất lành mạnh.
2) Tinh thần đấu tranh:
Trước hết là tinh thần đấu tranh để thống nhất dân tộc. Những vĩ tích của Lạc Long Quân đối xứng với những giai đoạn bình định của xứ sở. Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh là những lực lượng phá hoại ẩn náu trong dân chúng làm cho họ điêu đứng khổ sở. Người anh hùng dân tộc là người biết hy sinh cuộc đời của mình cho chính nghĩa.
Sau đấy là tinh thần đấu tranh để bảo vệ giang sơn. Thánh Gióng là một anh hùng dân tộc luôn luôn nêu cao ý nghĩa quốc gia. Tinh thần ấy vô vị lợi, nhưng mãnh liệt và quả cảm. Lý Ông Trọng tượng trưng cho tinh thần bất khuất của người Việt. Thân hình vĩ đại của Lý Ông Trọng là lòng ước muốn to lớn của nhân dân Việt Nam được sống quật khởi và anh hùng hơn cả người Trung Hoa là người thường đàn áp họ.
Sau cùng là tinh thần đấu tranh để san bằng những cảnh bất công trong xã hội. Cái chết ô nhục của Hà Ô Lôi mang lại sự đắc thắng cho công lý. Kẻ có tội phải đền bù. Người xấu xa phải bị trừng phạt.
3) Giá trị lịch sử:
Ngoài ra, Lĩnh Nam Chích Quái còn mang nhiều giá trị lịch sử, lịch sử vẻ vang của tổ tiên trong công cuộc xây dựng đất nước (truyện Hồng Bàng), lịch sử chính trị của ta ngày xưa, khi 50 người trai theo mẹ xuống biển, 50 người trai theo bố lên núi, ám chỉ nguồn gốc duy nhất của người Việt, người Mán, người Thổ, người Mường. Các sử gia có thể đưa ra những lý thuyết ưu bác, nhưng qua truyện Hồng Bàng, Lạc Long Quân cùng hậu duệ vẫn là hình ảnh oai hùng của những người Việt đầu tiên. Truyện Tản Viên cũng như truyện Phù Đổng Thiên Vương cho ta hiểu sâu hơn về hành động của tiên tổ. Những truyện truyền thuyết còn cho ta biết rõ hơn về những thổ sản của nước ta ngày xưa, về phong tục, về hôn nhân, về tri thức và tình cảm của người Việt trong quá khứ. Lĩnh Nam Chích Quái làm chứng một cách xác thực rằng dân Việt là một dân tộc có tinh thần tôn giáo từ buổi đầu, ưa thích nghề nghiệp và cần lao, có tinh thần gia đình từ những ngày đầu tiên của lịch sử và đã biết đặt hôn nhân trên căn bản ái tình và lễ giáo. Giá trị lịch sử còn được thể hiện trong những tên thôn, tên làng, tên của đền đài lăng miếu làm cho tác phẩm ấy có một sắc thái cổ kính và chứa đựng nhiều tài liệu cho người đi sau. Những truyện mà Maspéro hoặc Przyluski đã thấy giống những truyện Trung Hoa, Phù Nam, chỉ chứng tỏ một cách rõ ràng hơn sự liên lạc giữa Việt Nam và các nước láng giềng. Sự vay mượn những tác phẩm Trung Hoa như Thái Bình Hoàn Vũ Ký [28], Thủy Kinh Chú [29], Tục Bác Vật Chí [30] nếu có thực đi chăng nữa không làm giảm bớt giá trị lịch sử của Lĩnh Nam Chích Quái mà còn làm chứng cho một phần sự thực lịch sử của những dân tộc Á Châu.
B. Hình thức.
1) Văn chương:
Ta thấy ngay một khuyết điểm lớn của Lĩnh Nam là đã được viết bằng chữ Hán; tuy vậy, ta cũng nên biết rằng Hán văn của tác phẩm không phải là Hán văn thuần túy của Trung Hoa nữa mà là một thứ văn riêng, một thứ văn lai, tuy đôi chỗ còn tuân theo văn phạm cú pháp của Hán văn. Đọc Lĩnh Nam Chích Quái, ta biết ngay tác giả của nó là một người Việt, Việt từ nội dung đến văn chương, ta không biết đời Trần đọc Hán văn như thế nào, nhưng ta có thể phỏng đoán cách đọc đến đời Trần đã dị biệt với cách đọc của Trung Hoa nhiều và do đó, chữ Hán ở đây đã trở thành chữ Hán Việt, tiếng Hán là tiếng Hán Việt.
Theo nhận xét ấy, ta có thể khảo sát văn chương của Lĩnh Nam Chích Quái. Đó là một lối văn kể chuyện giản dị và nhẹ nhàng; không có một điển tích nào xa xôi, không có một từ ngữ nào mà ngày nay không có trong những Từ Điển Hán Việt; lối văn được viết theo lời nói thông thường nên không có tính cách bát cổ của trường thi, không có những câu đối ý đối chữ kéo dài từng hai vế đi đôi với nhau. Đâu cũng sáng sủa, gọn gàng, có tính cách Việt Nam đến nỗi nhiều đoạn chỉ cần phiên âm là thành một câu tiếng Việt.
Ngoài ra, truyện Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam Chích Quái có ghi ba bài thơ tứ tuyệt bằng chữ nôm, do đấy có thể cho ta một ý niệm về thi ca đời Trần và về tình trạng của chữ nôm. Chữ nôm không biết đã được sáng chế từ bao giờ, nhưng chắc chắn không phải từ đời Sĩ Nhiếp, đời Phùng Hưng hay đời Đinh Tiên Hoàng. Từ những thời kỳ này, ta đã thấy lẻ tẻ có một vài chữ nôm được cấu tạo theo lối giả tá là một lối giản dị nhất vì chỉ cần tìm những chữ Hán đồng âm với tiếng Việt là có được một chữ nôm, tỉ dụ chữ 布蓋, chữ 瞿 để phiên âm những tiếng Bố, Cái, Cồ. Theo lý luận và kinh nghiệm của ngôn ngữ học thì loại giả tá dễ nhất được cấu tạo trước hết, sau đến loại hình thanh và hội ý là những loại đòi hỏi một sự đối chiếu, một sự suy luận; loại hội ý là loại tương đối ít nhất bởi vậy loại chữ hình thanh là một cứ điểm để cho chúng ta nhận định về sự hình thành của chữ nôm. Ta đã thấy những gì trong những bài thơ nôm ghi trong truyện Hà Ô Lôi. Đây là câu thơ thứ nhất:

đọc là:
Chỉn đà náu đến nguyện làm tôi
Hai chữ thiên tiên để cha Lôi.
Những chữ chỉn, đà, náu, nquyện, tôi, thiên, để, cha, Lôi, tuy trình độ âm thanh khác nhau nhưng đều là những chữ giả tá, chỉ có ba chữ đến, hai, chữ là những chữ hình thanh. Chữ đến có thể viết  bên là chữ chí để chỉ ý đi đến, bên là chữ điển để chỉ cách đọc; nhưng chữ đến cũng có thể viết 旦 (đán) theo lối giả tá. Như vậy, nhận xét của ta về câu thơ này là tuy những chữ giả tá chiếm đa số, chứng tỏ chữ nôm đang ở vào giai đoạn đầu nhưng cách viết chữ đến theo lối hình thanh chứng tỏ rằng đã bắt đầu có chữ hình thanh thuộc vào giai đoạn sau của chữ nôm. Bây giờ ta xét đến bài thơ thứ 2:

Sương kể dầu sương vẹn được mười
Những nơi quyền quý thiếu chi người
Bởi vì thanh sắc nên say đắm,
Khá tiếc cho mà lại khá cười.
Xem bài thơ trên, ngoài những chữ Hán Việt, ta thấy rất nhiều chữ giả tá như: kể, dầu, vẹn, được, mười, những nơi, thiếu, chi, vì, khả, tiếc, cho, tại, khá; những chữ hình thanh là: người, bởi, nên, mà, cười; như vậy, loại chữ hình thanh vẫn ít hơn loại chữ giả tá; những chữ hình thanh đáng chú ý là chữ người do bộ nhân đứng bên chữ ngại; chữ đáng lẽ chỉ là một chữ giả tá (nghĩa là chữ ma đọc trại đi) ở đây đã thành một chữ hình thanh vì có chữ nhi ở dưới để biểu ý; chữ cười bộ khẩu bên chữ kỳ để biểu âm; những nhận xét này cho biết chữ nôm đã hình thành nhưng chưa có nhiều chữ hình thanh, nghĩa là vừa mới thoát khỏi giai đoạn giả tá. Trong bài thơ thứ ba, chữ hình thanh đã nhiều hơn, lên đến 8 chữ đối 10 chữ giả tá; đặc biệt trong bài này, ta thấy chữ (trời) là một chữ hội ý (thiên + thượng = cao); đó là một chữ hội ý đầu tiên xuất hiện trong văn học Việt Nam. Vậy xét về cách chế tác của chữ, ta thấy chữ nôm trong giai đoạn trước nhà Hồ đang thoát dần từ giai đoạn giả tá mà ta gọi là giai đoạn thứ nhất của chữ nôm, kể từ đời Sĩ Nhiếp đến Nguyễn Thuyên, dần dần chuyển sang giai đoạn hình thanh mà ta gọi là giai đoạn thứ hai của chữ nôm kể từ Nguyễn Thuyên trở đi đến Hồ Quý Ly; từ Hồ Quý Ly trở đi, chữ nôm mới đủ từ ngữ để phô diễn những ý tình phức tạp; những bài thơ nôm nói trên làm chứng cho giai đoạn chuyển tiếp của chữ nôm từ thời kỳ thứ nhất sang thời kỳ thứ hai.
Xét về lời thơ thì ta thấy hình thức thi ca còn vụng về, hai câu thơ đầu gần như vô nghĩa; tại sao lại nói là “náu đến”? Câu sau có ý nói về nguồn gốc thần thánh của Lôi (hai chữ thiên tiên để cha Lôi) nhưng lời nặng nề biết chừng nào. Tuy chắc là mấy bài thơ này đã bị người sau sửa chữa nhưng ý thơ là một cái gì không thể sửa chữa được có thể cho ta một ý niệm về văn thơ chữ nôm đời Trần.
2) Kỹ thuật:
Đầu tiên là kỹ thuật bố cục toàn thể tác phẩm. Ai xem mục lục của Trần Thế Pháp (do Phan huy Chú ghi lại) cũng thấy rõ trật tự thời gian của các truyện đã bị xáo trộn như thế nào; có lẽ vì thế rnà Vũ Quỳnh đã hiệu đính tác phẩm và đã làm lại một bố cục khác; nhưng Vũ Quỳnh đã không thấy rằng sự xáo trộn ấy là một kỹ thuật của tác giả. Đọc Lĩnh Nam Chích Quái, ta công nhận tính chất lịch sử so với Việt Điện U Linh Tập đã được giảm bớt rất nhiều; tính chất thực sự của truyện là tính chất thần thoại biến thái thành truyền kỳ và cổ tích, do đấy, tác giả hình như đã có ý không tôn trọng trật tự thời gian, làm cho Lĩnh Nam Chích Quái là một trong những cuốn sách mà người ta có thể mở đọc bất cứ chỗ nào, lật trang này sang trang khác, đọc qua loa một vài đoạn rồi lại có thể ngừng bất cử ở đâu, như thế, người đọc không cảm thấy mỏi mệt, chán nản mà lại thấy rất nhiều thú vị.
Kỹ thuật kể chuyện cũng không kém tài tình. Người đọc cảm thấy có một sức lôi cuốn huyền bí. Ta đọc chuyện này sang chuyện kia một cách dễ dàng. Đó là nhờ ở cách tác giả dàn xếp các tình tiết của câu chuyện. Các tình tiết ấy liên tiếp nhau, ăn khớp với nhau chặt chẽ, theo một trật tự mà chỉ có một ý thức già giặn về kỹ thuật hành văn mới có thể trực giác thấy. Thường truyện được bắt đầu bằng phần giới thiệu nhân vật, giới thiệu dòng dõi, tên tuổi, quê quán; sau đấy, tác giả trình bày một vài đặc điểm của nhân vật, qua cuộc đối thoại của nhân vật với những nhân vật phụ thuộc đến một đoạn tả cảnh, tả tình rồi những tình tiết khác lại xảy ra làm cho câu chuyện ly kỳ hơn, phức tạp hơn, hấp dẫn hơn. Phần tả cảnh không được tác giả trau chuốt lắm như trong Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên nhưng phần tả tình đã được đặc biệt chú ý. Có thể nói, Lĩnh Nam Chích Quái là một tập ái tình tiểu thuyết, một thứ ái tình tự do nhưng lành mạnh, trong sạch, dù bị lễ giáo cấm đoán trong lúc đầu nhưng rồi về sau cũng được lễ giáo tha thứ và công nhận. Trong những lúc này, ngòi bút của Trần Thế Pháp rất phóng túng, dễ dàng và mỹ lệ. Một truyện như truyện Đầm Nhất Dạ hay truyện Trầu Cau vẫn để lại cho người đọc những ấn tượng sâu xa. Nhờ tính cách này mà sự phỏng đoán của ta về soạn niên của tác phẩm có căn cứ vững chắc. Năm 1329, Việt Điện U Linh Tập xuất hiện trong bầu không khí mới của Nho giáo vừa manh nha. Rồi sự quật khởi của nhà Minh, sự suy yếu của nhà Trần rõ rệt từ 1370 trở đi làm cho sự bành trướng của Nho học bị lâm vào một thời kỳ khủng hoảng từ 1370 đến 1400. Sự khủng hoảng về một ý thức hệ lấy Nho giáo làm căn bản bao giờ cũng đi đôi, ở Việt Nam, với một phong trào đối kháng chủ điểm dân tộc. Lĩnh Nam Chích Quái xuất hiện trong giai đoạn này.
Kỹ thuật của tác giả luôn luôn được nâng đỡ bằng những hình ảnh đặc sắc. Có khi hình ảnh là do sự tưởng tưởng của tác giả tạo thành, tỉ dụ hình ảnh thần Kim Qui đuổi quỷ tinh, hình ảnh thánh Gióng xông ra mặt trận; đấy là những bức tranh vĩ đại, những cuốn phim đại vĩ tuyến ngày xưa; những đường viền, đường nổi, bề sâu, bề rộng của bức tranh đều được vẽ bằng những nét mạnh bạo sắc sảo. Nhiều khi hình ảnh trong Lĩnh Nam Chích Quái là những chi tiết tả thực để nguyên vẹn hay được tô điểm thêm, được cường điệu hay kiểu thức hóa, tỉ dụ hình ảnh của Ngư tinh “mình dài hơn năm mươi trượng, có nhiều chân giống như hình con rết” Những hình ảnh này mang đến cho tác phẩm một sự sinh động riêng, một màu sắc cổ sơ của những thời hoang dại.

VII. Kết luận:
Xét một cách đại lược, Lĩnh Nam Chích Quái là một tác phẩm hay. Trong khi chờ đợi những công trình nghiên cứu khoa học hơn, ta có thể nói rằng dù Trần Thế Pháp đã viết Lĩnh Nam Chích Quái bằng Hán văn, tác phẩm vẫn nói được với mọi người Việt Nam, qua những mẩu chuyện xảy ra ở Việt Nam, những rung động của một tâm hồn người Việt.
---------------------
[1] Đăng trong Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême Otieat, lome XXXIV) N° 1-2, pp, 1-174.
[2] Việt Nam Văn Học Sử Yếu, trang 251.
[3] Người Trung Hoa đọc  là zh, ghi âm là
[4] Đọc là Trích như thường lệ.
[5]
[6] Theo tình trạng tài liệu hiện hữu, khó lòng biết rõ được bản nào là bản chính.
[7] Xin đọc bài tựa của Vũ Quỳnh.
[8] Bản chính có 22 truyện.
[9] Quyển 45.
[10] Thường gọi tắt là Đăng Khoa Lục, gồm 4 q. tựa đề năm 1779.
[11] Xem kỹ bài Tựa.
[12] Xin nhắc lại đây đang nói đến bản chính, nghĩa là bản gồm 22 truyện kể trong quyển 1 và q. 2 ; còn q. 3 là phần của một nho sĩ họ Đoàn.
[13] Quyển 4, trang 4a.
[14] Tức là cuốn chưa được Vũ Quỳnh hiệu chỉnh. Tuy là 1 q. nhưng gồm 22 truyện.
[15]
[16] Xin xem Bibliographie Amnamite của Gaspardone.
[17] Maspéro (Protectorat, p.584 n° 1, Etudes, I, p. 26, note).
[18] Danh từ ghép hai chữ u linh của Lý Tế Xuyên và chữ quái của Trần Thế Pháp để diễn tả một tánh cách kỳ lạ, siêu phàm. Chữ đồng nghĩa ở tiếng Pháp là merveilleux.
[19] Kiến Văn Tiểu Lục, q. IV, 4a.
[20] Etudes d’Histoire d’Annam, IV, BEFEO XVIII, 3, p. 6 s.
[21] Thái Bình Hoàn Vũ Ký, Thủy Kinh Chú.
[22] La princesse a l’odeur de posson et la nàgi in Etudes Asiatiques, 1925. II, tr. 265 s.
[23] Vì tinh thần khoa học, Maspéro ít tin vào dã sử, nhưng ông quên rằng Bắc sử cũng có nhiều sự sai lầm. Vì tự tôn, rất có thể người Trung Hoa không cần biết đến Phùng Hưng chẳng hạn.
[24] Đây là tên sách mà La Bruyère đã đặt: Le Caractères de Théophraste, traduits du grec, avec les Caractères ou les Mœurs de ce siècle.
[25] Ta liên tưởng đến Les sept travaux du roi Hercule trong thần thoại La-Hy.
[26] Quyển 37, tờ 4 b, cột 8-12, theo dẫn chứng của René Despierres trong Cổ Loa, Capitale du Royaume Âu Lạc, trang 22.
[27] Xem Thông Báo, quyển 23 (1924), trang 373-393.
[28] của Nhạc Sử đời Tống (q. 170, 9).
[29] của Lịch Đạo Nguyên, viết năm 535 (q. 37s 7).
[30] của Lý Thạch đời Đường (q. 5)
📎 02|08|03|07|04|05|06|01
0
Lĩnh Nam chích quái - Trần Thế Pháp
 
Đã mang vào thư viện
 
Cảm ơn và chúc cassau luôn an lành
 





0
«« « 1 2 » »»