HỒI TỰA
Mổ bụng mẹ, quái nhân cứu bào thai
Đã sang tháng hai rồi mà tiết trời trên một cánh đồng bằng ở Lũng Tây vẫn còn giá lạnh như mùa đông vậy.
Mặt trăng tuy lờ mờ nhưng những vì sao lại rất sáng tỏ. Trên sông Sơ Sắc, tiếng băng va đụng vào nhau hợp với tiếng gió Bắc thổi, tạo nên một bản nhạc hùng tráng và phức tạp, tựa như một bản nhạc đại hoà tấu. Tiếng nhạc ấy vẫn còn lan đi những mấy dặm xa…
Trên nam ngạn con sông, giữa đám bụi cỏ lau, người ta bỗng thấy một người đang đứng sừng sững nhìn về phía bờ sông bên kia. Dưới ánh trăng lờ mờ, chỉ thấy thân hình người ấy cao hơn trượng, mặc áo bào đen. Nhưng điều rất kì lạ là từ trên vai trở lên người ấy lại có những hai cái cổ và tất nhiên trên mỗi cổ lại có một cái đầu. Không hiểu người này là quỉ hay là ma mà lại có đến hai cái đầu như thế?
Người ta nghe thấy tiếng cái đầu bên phải thở dài một tiếng rồi nghếch đầu nhắm mắt hình như đang lắng tai nghe ngóng điều gì. Giây lát sau y mới cất tiếng nói:
- Xem cung cách này có lẽ đêm nay anh em chúng ta đừng có hòng ngồi yên mà câu cá như mọi khi đâu?
Y vừa nói vừa lắng tai nghe tiếp. Nhưng y đang nói chuyện với ai? Vì lúc đó bốn bề yên ắng như tờ và không có một bóng người nào khác?
Một lát sau cái đầu bên phải bỗng nghiêng một bên và mở mắt ra nhìn về phía Nam Hải mắt đỏ ngầu phát ra hai luồng ánh sáng chói lọi và mặt của y cũng đỏ như máu trông rất khủng khiếp.
Y cười khỉnh một cái rồi cất giọng khàn khàn đáp:
- Có bảy người cưỡi bảy con ngựa phi tới. Trông chúng có vẻ là những nhân vật võ lâm. Đệ chắc đây lại là một vụ thù sát hay cướp bóc gì cũng nên? Lão Đại bảo như thế có đúng không? Chắc chúng lại như chó cắn chó mèo cào mèo đều là cá mè một lứa hết. Từ xưa tới nay lúc nào cũng thế. Chuyện của võ lâm cứ oan oan tương báo không thể nào phân biệt được ai thực ai hư ai trái ai phải cả. Anh em chúng ta chẳng tội gì mà phải dây dưa vào chuyện của chúng, cứ việc đứng yên ở đây lẳng lặng chờ xem hà tất mà phải mua dây mà cột vào mình làm chi? Lão Đại cho ý kiến của đệ có hợp lý hay không?
Lạ lùng thật! Người đã mọc hai đầu mà lại còn có hai tư tưởng khác biệt nhau! Nếu người không biết nghe thấy hai cái đầu ấy trò chuyện với nhau như vậy thế nào cũng phải sợ hãi đến hồn bay bạt vía chứ không sai.
Cái đầu bên phải đột nhiên ngẩng lên trợn mắt đôi ngươi cũng phóng ra hia luồng ánh sáng chói lọi như hai ngọn đèn pin vậy.
Bộ mặt bên này gầy gò và già dặn hơn khác hẳn bộ mặt của Lão Nhị không những da dẻ đã hồng hào mà lại còn rất trắng trẻo và nom rất hiền từ chứ không có vẻ hung ác và dữ tợn như bộ mặt của cái đầu phía bên trái. Vì vậy ai nom thấy vẻ mặt của cái đầu thứ nhất cũng đã có cảm tình ngay.
Ông ta đưa mắt về phía nam thấy có mấy người đang cưỡi ngựa phi tới. Thị giác và thính giác của Lưỡng Thủ Quái Nhân rất mẫn cảm nếu không vì sinh đôi và hai đầu một thân như vậy thì nội công của họ cũng đã luyện đến mức thượng thừa rồi.
Lão Đại lại nói:
- Họ đã tới kia kìa! Chúng ta mau nhảy sang bờ bên kia trốn tránh đi đừng để họ nhìn thấy mặt anh em chúng ta. Bằng không họ chưa kịp đấu thí mạng với nhau đã kinh hoàng đến mất cả hồn vía như vậy có phải là rất tội nghiệp cho bọn chúng không?
Lão Nhị dùng giọng mũi kêu “hử” một tiếng đầu lắc lư mấy cái rồi chếch sang bên trái đoạn thở dài một tiếng rồi hậm hực nói thầm:
- Những kẻ thường tục này khốn nạn thật! Chúng chỉ biết trọng bộ mặt và hình dáng bề ngoài thôi. Chúng coi anh em chúng ta như một loại quái vật gì ấy! Vừa gặp mặt đã sợ hãi như trông thấy loài rắn rết vậy. Sự thật kẻ độc ác nhất thiên hạ lại là những kẻ có bộ mặt xinh đẹp và dáng vẻ ưa nhìn nhất.
Sở dĩ y vẫn thường hay lẩm bẩm như vậy vì người đời cứ coi anh em y là quái nhân không ai chịu gần gũi cả.
Lão Đại thấy Lão Nhị lẩm bẩm như vậy vội kêu “suỵt” một tiếng giơ tay phải lên vỗ vào cánh tay trái một cái rồi khuyên bảo rằng:
- Thôi chú đừng nói nữa! Chúng ta mau sang bờ sông bên kia đi!
Hai người cùng nhún mình một cái rồi thân hình chung của hai người liền phi sang bờ sông bên kia nhanh như điện chớp vậy. Sang tới bờ bên đó rồi hai anh em vội chui ngay vào một bụi cây để ẩn núp. Khinh công của hai anh em nhà họ lợi hại thật chỉ khẽ nhún mình một cái đã vượt qua được mặt sông rộng chừng mười mấy trượng ngay.
Anh em quái nhân vừa đi khỏi chỗ đứng cũ của mình ở bên Nam ngạn đã có hai người cưỡi ngựa phi tới. Hai con ngựa phun hơi ra như khói và mồ hôi nhễ nhại đủ thấy chúng đã chạy một quãng đường xa như thế nào.
Người đàn ông ăn mặc võ trang trông rất anh tuấn, hai mắt sáng như hai ngọn đèn lôi, còn thiếu nữ tóc xoã xuống vai trông như một nàng tiên vậy, nhưng lúc này trông mặt nàng tái mét, bụng phồng lên như một cái trống, cau mặt, tay ôm bụng hình như chửa sắp tới ngày sinh đẻ vậy!
Hai người đi tới cùng gò cương cho ngựa đứng lại, người đàn ông vội phi thân xuống đất trước và đỡ người đàn bà xuống sau chàng nhanh nhẹn lấy một vật gì ở trong người ra và bỏ vào trong lòng người đàn bà , rồi lấy hai viên thuốc cho người đàn bà uống với giọng bi đát, chàng thúc giục người đàn bà rằng:
- Thiến muội! Thời gian cấp bách lắm rồi bắt buộc huynh phải dùng đến hạ sách này! Thiên muội mau bơi qua sông để tìm đường tẩu thoát đi! Nếu hiền muội sống sót, nên mai danh ẩn tích mà gắng dạy dỗ đứa trẻ sắp chào đời.
Người đàn bà uống xong hai viên thuốc đó hình như đã bớt đau. Nghe thấy người đàn ông nói như vậy, vội giơ hai tay ra ôm chặt lấy hai chân người đàn ông nức nở khóc:
- Lân đại ca… đại ca đã quên lời thề năm xua rồi hay sao? Chúng ta thề sống chết có nhau, sao đại ca nỡ bỏ em sống một mình như thế.
Người đàn ông cũng khóc sướt mướt, ngồi xổm xuống vuốt tóc người đàn bà, thở dài đáp:
- Thiến muội! Quý hồ lòng của chúng ta rắn như sắt đá, thì dù ở trên trời hay dưới trần thì rồi chúng ta cũng được tái ngộ! Xin em nên nhớ kĩ lời nói đó, dù ngu huynh có mệnh hệ nào thì hồn phách vẫn ở cạnh em, bảo vệ cho mẹ con em. Cho đến khi nào đứa nhỏ thành người lúc ấy... Thiên muội hãy theo ngu huynh sang thế giới cực lạc… Chỉ mong Thiên muội nên coi trọng dòng dõi và mối huyết thù của nhà họ La mà chịu đựng đau khổ.
Chàng ta chưa nói dứt, bọn người đuổi theo đã tới chỗ cách hai người chừng mấy chục trượng rồi. Chàng nọ bèn ngậm mồm nắm cánh tay phải người đàn bà quát lớn:
- Thiến muội! Em nên giữ gìn thân thể…
Chàng dùng tay trái đẩy vào sau lưng nâng có một cái thế là nàng nọ đã bắn ra giữa sông liền.
Thiếu phụ tên là Thiến Muội khinh công cũng khá cao siêu nàng gắng sức nhảy tới một tảng băng đang trôi trên mặt sông ở chỗ cách nàng mấy trượng.
Người đàn ông đẩy vợ đi rồi liền rút trường kiếm ra đấu với kẻ địch. Bên địch có năm người tất cả, đều mặc võ trang màu đen, đầu và mặt chúng dùng khăn đen phủ kín, chỉ để lộ ra hai con mắt thôi. Tên nào tên ấy đều cầm Thanh Cương kiếm vừa tới nơi chúng đã nhắm người nọ đâm lia lịa ngay.
Người đi trước trông thấy Thiến Muội nhảy xuống sông để đào tẩu liền quát lớn:
- Mi chạy đi đâu?
Y vừa nói vừa nhún vai một cái, người đang ngồi trên yên ngựa đã phi lên cao ba trượng. Khi sắp hết đà, y vội giở thế “Ngư ưng nhập thuỷ” (cá và chim ưng nhảy vào nước) phi vượt qua đầu của Lân đại ca, nhảy xuống giữa sông để đuổi bắt Thiến muội.
Còn bốn tên kia đều nhảy xuống đất bao vây chặt Lân đại ca. Thấy kẻ thù đuổi theo vợ cưng của mình Lân đại ca tức giận vô cùng, hai mắt như nổ lửa. Chỉ thấy chàng ngẩng đầu lên rú một tiếng rất lớn và giơ tay trái lên ném luôn một mũi ám khí bạc vào người của kẻ tử thù đang bay lơ lửng trên không. Khi mũi ám khí bạc ấy sắp tới đích liền hoá thành năm mũi như một bông hoa mai, có ánh sáng loé mắt nhắm người nọ bắn tới.
Bốn tên đồng đảng thấy thế, kinh hãi vô cùng vội cảnh báo tên nọ rằng:
- Lão Đại cẩn thận có ám khí ném tới đấy!
Lân đại ca ném xong mũi ám khí bạc rồi chả cần nhìn xem mũi ám khí của mình có trúng hay không, mà chỉ múa tít thanh kiếm nhằm bốn tên nọ tấn công luôn, mồm thì quát mắng:
- Ác tặc khinh người quá đỗi. Các người mau nạp mạng cho ta.
Bốn tên nọ không ngờ chàng ta ra tay nhanh như vậy, đều kinh hãi và lui về phía sau tránh né.
Tên đuổi theo Thiến muội đang lơ lửng trên không, phần vì tiếng sóng gió kêu quá lớn phần vì tiếng kêu của Lân đại ca che lấp, nên y không nghe thấy tiếng ám khí bay tới. Đến khi y nghe thấy tiếng cảnh báo của đồng bọn mới hay có ám khí bay tới, vội giở môn Thiên Cân Truỵ ra hạ thân xuống một tảng băng đang trôi trên mặt sông. Đồng thời y móc túi lấy ra một mũi kim nhằm Thiến Muội đang ở chỗ cách y chừng hai trượng ném luôn.
Y nhận thấy hạ thân xuống tránh phi tiêu của đối phương đồng thời ra tay ném phi châm một cách khéo léo, vừa đúng thì giờ vừa đúng mực thước như thế không sao thất thế được. Nhưng y có ngờ đâu mũi phi tiêu ở phía sau vẫn theo sát nút. Thì ra y chỉ tránh được ba mũi ở phía trên thôi, còn hai mũi ở phía dưới thì bắn trúng vào vai của y, ngập sâu vào thịt chừng hai tấc.
Đau nhức thấu xương, y không sao chịu nhịn được, phải kêu lên một tiếng. Vì kêu như thế, chân khí bị bài tiết ngay, nên y té ngay xuống dưới sông kêu đến “bõm” một tiếng.
Thiến Muội ở đằng trước cũng bị phi châm của địch thủ bắn trúng, cùng lúc ấy nàng cảm thấy chân bị phi châm bắn trúng tê dại đi nên không sao đứng vững được ở trên tảng băng kia rồi cũng té xuống nước ngay. Trong lúc đó Lân đại ca ở trên bờ vừa tấn công được một thế kiếm bỗng nghe thấy tiếng Thiến Muội kêu la, liền quay đầu lại nhìn. Chàng vừa nhìn thấy vợ cưng của mình ở dưới nước khua chân múa tay, biết ngay nàng trúng phảỉ ám khí của kẻ địch rồi. Bằng không, nàng giỏi khinh công như thế, dù tảng băng có trơn đến đâu, vẫn có thể nhảy sang được bờ bên kia rồi, chứ có khi nào lại luống cuống như thế được.
Bốn tên địch thủ kia lùi về phía sau hơn trượng để tránh thế kiếm lợi hại của Lân đại ca, và chúng lại trông thấy Lão Đại của chúng bị té xuống nước, trong lòng vừa kinh hãi vừa tức giận. Đồng thời chúng lại thấy Lân đại ca quay người nhìn đến nỗi đờ cả người như tượng gỗ vậy. Chúng thừa cơ móc túi lấy phi châm ra ném vào người đối phương, rồi chúng cũng múa kiếm xông vào tấn công cùng một lúc.
Lân đại ca thấy vợ cưng bị té xuống nước như bị dao cắt, mới đứng đờ người như kẻ thất hồn nên phi châm của kẻ địch bắn tới cũng không hay và cả bốn thanh kiếm đâm tới cũng không biết tránh né. Chờ tới lúc bốn thanh kiếm và phi châm của kẻ thù đâm trúng người lúc ấy chàng mới hay biết, muốn tránh hay chống đỡ cũng muộn mất rồi. Nên chỉ nghe thấy chàng rú lên một tiếng rất thảm khốc, thân hình của chàng bị đâm chém đến nát bét.
Bốn tên nọ không ngờ giết nổi Lân đại ca một cách dễ dàng như thế. Nên chúng cũng ngẩn người ra giây lát. Rồi hai tên chạy tời bờ cứu Lão Đại của chúng, còn hai tên thì ngồi xuống khám xét thi thể của Lân đại ca.
Tên Lão Đại rất giỏi bơi lội khi bị bắn trúng hai mũi phi tiêu, y vẫn còn gượng bơi vào bờ được. Hai tên nọ rút hai mũi phi tiêu từ người y ra y vừa rét vừa đau người cứ run lẩy bẩy mãi, nhưng y cũng gượng lên tiếng hỏi:
- Lão Tam có thấy gì không?
Hai tên khám xét cái xác của Lân đại ca một hồi, rồi lại ra lục soát những vật ở trong túi da ở trên ngực nhưng không tìm thấy vật mà chúng muốn tìm kiếm? Nên chúng nghe thấy Lão Đại hỏi như thế liền mắng chửi ngay:
- ĐM… không thầy gì hết, tôi đoán chắc vật ấy ở trong người mụ giặc cái kia? Lão Tứ, chú thử xuống sông tìm kiếm cái xác của mụ giặc cái kia xem sao?
Tên ngồi lục soát với y có lẽ là Lão Tứ, thấy Lão Đại ở dưới sông lên run lẩy bẩy như vậy y biết nước sông ở đây lạnh lắm, ít ai chịu đựng nổi vì thế Lão Đại công lực thâm hậu như vậy mà vẫn run đến như thế kia. Vì vậy y có vẻ rất bất mãn Lão Tam sai bảo mình như vậy, liền lạnh lùng trả lời rằng:
- Còn tìm kiếm gì nữa, nước chảy mạnh như thế kia, có lẽ xác của nó đã trôi…
Băng bó xong vết thương, Lão Đại liền ngồi dậy thở hắt ra với giọng run run nói tiếp:
- Thôi! Nước lạnh lắm để ngày mai hãy hay. Tối hôm nay ta phải tìm chỗ nào nghỉ ngơi và sưởi ấm cái đã, bằng không ta sẽ chết rét mất! Ngày mai chúng ta xuống miền hạ du tìm kiếm xác của y thị thì hơn. Hà! Thôi chúng ta lên ngựa đi ngay đi đừng ở lại đây nữa?
Nói xong, y gượng nhảy lên trên mình ngựa đi quất roi cho ngựa chạy trước.
Quái nhân Lưỡng Đầu đang núp ở bờ bên kia đưa mắt nhìn theo bóng của năm tên nọ càng chạy càng xa.
Lão Đại thở dài một tiếng và nói:
- Năm tên nọ khốn nạn thật. Nếu là trước kia, ngu huynh thế nào…
- Thôi, thôi! Việc của ai thì người đó tự lý lấy, việc thị phi ở trên đời vốn dĩ không có một định luật nào cả, Lão Đại không nên xét đoán một cách quả quyết như vậy.
Lão Nhị trả lời như trên, hiển nhiên y bất mãn lời nói của Lão Đại và cũng có lẽ vì câu, nếu năm xưa của Lão Đại mà y bực mình? Y lẩm bẩm nói tiếp:
- Thiết nghĩ năm xưa chúng ta đã bước chân vào giang hồ đã hoài bão như thế nào? Hành vi của chúng ta đường đường chính chính như vậy, mà vẫn không được người đời lượng thứ cho, đi đến đâu họ cũng bảo anh em chúng ta là quái vật. Bây giờ thì…
Lão Đại chăm chú nhìn xuống đáy sông bỗng lớn tiếng ngắt lời Lão Nhị:
- Đừng nói vội, Lão Nhị hãy xem hình như đã có cá mắc vào lưới rồi.
Nói xong, y nhảy luôn lên bờ phía nam giơ tay phải ra lôi sợi dây thừng đen cột ở trên cành cây giật mạnh một cái. Ở giữa sông chỗ cách y chừng năm trượng bỗng có một vật gì đen lù lù bắn tung lên.
Lão Nhị bỗng kêu ủa và nói:
- Là người đấy! Chính là người đàn bà chết dẫm hồi nãy.
Y vừa nói vừa giơ tay trái ra đỡ lấy tấm lưới có cuốn chặt một người ở trong, và người nằm trong chính là Thiên Muội, vừa bị rớt xuống sông hồi nãy. Lưỡng Đầu Quái Nhân vội cởi lưới ra, Lão Nhị giơ tay trái ra chộp lấy người đàn bà đó định vứt xuống sông, Lão Đại vội khuyên “không nên” và vội giơ tay phải ra cướp lấy người đàn bà, rồi nhẹ nhàng đặt nàng xuống mặt đất mồm thì lẩm bẩm:
- Tuy chúng ta không muốn lý đến việc của người đời, nhưng không thể nào trông thấy chết mà không cứu. Người đàn bà này đã chết đâu mà Lão Nhị lại định vứt nàng xuống sông, gián tiếp giết nàng như thế?
Y vừa nói vừa lật sấp người Thiến Muội xuống thấy phía sau lưng nàng có rất nhiều kim nhô ra, liền cau mày lại thở dài nói tiếp:
- Bị thương thế này thì sống sao nổi?
Lão Nhị cười nhạt đỡ lời:
- Thứ phi châm này tên là Thanh Tòng Truy Hồn Châm, của Tô Châu Ngũ Hổ đã khét tiếng thiên hạ rồi, nếu không có thuốc giải độc của Ngũ Hổ thì không thể nào sống sót được. Tuy con nhỏ này công lực khá cao siêu và đã biết bế huyệt đạo rồi, nhưng bây giờ biết lấy đâu ra thuốc giải cứu y thị thoát chết? Hà! Không hiểu sao vợ chồng y thị lại bị nạn thê thảm thế này?
Y vừa nói vừa giơ tay trái ra, để vào chỗ ngực của Thiến Muội khẽ chộp một cái, trong người của Thiến Muội liền có một vật bay lên, rơi vào trong bàn tay hộ pháp của y tức thì. Còn Lão Đại thì cứ chăm chú thăm mạch cho Thiên Muội, tuy trông thấy Lão Nhị lấy được vật gì nhưng y vẫn không nói chỉ khẽ lẩm bẩm:
- Có lẽ người lớn không sao sống được còn thằng nhỏ ở trong bụng đã đủ ngày đủ tháng rồi cũng nên? Lão Nhị chúng ta nên giúp nó ra đời đi!
Lão Nhị cứ nhìn cuốn sách bọc da lấy được ở trong người của Thiên Muội rồi khẽ lắc đầu đáp:
- Lão Đại muốn làm gì thì làm tôi không biết và tôi cũng không muốn lý gì việc này.
Lão Đại khẽ thở dài tay trái đưa lên gãi đầu một cái rồi bỗng tự nói:
- Được rồi!
Thế rồi y giơ hai ngón tay ra, cách không chỉ vào bụng của Thiến Muội đang mê man bất tỉnh hai cái, đã rạch được bụng nàng ta ra, máu tươi bắn tung toé và lôi được cái bào thai ra ngay. Đứa bé vừa ra khỏi bào thai đã khóc oe oe và múa chân múa tay.
Lão Nhị đang chăm chú vào cuốn sách bọc da ở trong nghe thấy tiếng trẻ con khóc liền cau mày lại nói:
- Hôi hám lắm! Hôi hám lắm! Lão Đại chúng ta mau đi thôi!
Lão Đại cúi đầu nhìn đứa nhỏ mặt lộ vẻ hớn hở và giơ hai ngón tay ra cách không cắt một cái, đầu rốn của thằng bé như bị lưỡi kéo cắt vậy, rồi y thuận tay nhặt một miếng giẻ rách, dùng ngón tay chấm vào máu của người đàn bà viết vào miếng giẻ mấy chữ như sau:
“Con của nhà họ La”
Viết xong, y dùng miếng giẻ đó cuộn lấy thằng bé và nói:
- Lão Nhị mau kiếm cái gì cho thằng nhỏ ăn đi, xem nó đói như thế kia có tội không?
Lão Nhị bỏ cuốn sách vào túi, thuận tay móc một viên thuốc đen to bằng hạt đậu, thơm phưng phức ra nhưng y trù trừ có vẻ tiếc rẻ không muốn cho thằng nhỏ uống viên thuốc ấy.
Lão Đại thấy vậy vội thúc giục:
- Thôi chú đừng có tiếc của như vậy nữa, biết thứ thuốc này khó chế luyện thực nhưng bây giờ ta dùng để cứu người chứ có phải…
Lão Nhị quay lại lườm Lão Đại rồi mới chịu bỏ viên thuốc vào mồm thằng bé quả nhiên thằng bé nín khóc hẳn.
Lão Đại thấy thế mừng rỡ khôn tả, chắc lưỡi mấy cái khen ngợi rằng:
- Thằng bé này ngoan thực! Ngoan thực! Lão Nhị chúng ta…
Lão Nhị dùng giọng mũi “hừ” lắc đầu bảo:
- Chúng ta không nuôi thằng bé được đâu.
Lão Đại nghe nói ngẩn người giây lát rồi đáp:
- Cũng được! Chúng ta không biết kiếm người nuôi hộ hay sao? Sau này nếu nó thực là một thằng bé có tương lai thì chúng ta sẽ chỉ điểm một con đường cho nó bằng không thì…hà…
Lão Nhị đưa mắt nhìn thằng nhỏ bỗng kêu ủa một tiếng và tiếp lời:
- Thằng nhỏ này mặt mũi khôi ngô lắm, chắc sau này rất có tương lai. Nhưng số nó gian truân thực, chưa mở mắt chào đời bố mẹ đã bị giết hại một cách thảm khốc! Có lẽ bố mẹ nó chết cũng chỉ vì trong người có báu vật thôi! Chúng ta nuôi được nó nhưng cứ để xem số mạng nó thế nào?
Y vừa nói vừa cất bước đi luôn. Chỉ trong chốc lát đã mất dạng Lưỡng Đầu Quái Nhân và thằng nhỏ liền.
Trên bờ sông lại yên lặng như cũ và chỉ còn hai xác chết ngổn ngang ở đó. Tuy mùa đông, sương đóng băng nhưng chắc cả hai không còn biết giá lạnh là gì nữa.
Thời gian trôi chảy như nước sông chảy đều đều vậy… Một ngày, hai ngày, một năm hai năm…
Cánh đồng băng ở hai bên bờ sông cũng theo thời gian mà thay đổi lúc thịnh lúc suy, nhưng trong những ngày gió tầm thường ấy, đố ai ngờ một cánh đồng giản dị này lại nảy nở ra một con người phi thường.
HỒI THỨ HAI
Được làm người chăn bò trong mục trường
Trong Ngọc Môn Quan, trên bờ hồ Ha Lạp có tất cả ba mục trường, Lũng Tây mục trường là mục trường lớn nhất. Trường chủ là Lũng Tây nhất chưởng Tô Trị Toàn. Lão trường chủ này không những võ công cao siêu mà tài và thế cũng đều hơn người. Vì vậy y mới được bầu làm lãnh tụ của miền đó. Còn hai mục trường nữa là Thạch Gia mục trường của Hồi Mã Thương Thạch Liên sáng lập và Vĩnh Xương của Tam Liên Kiếm Mã Vĩnh Xương.
Ba trường chủ kết giao với nhau rất thân, nên người trong võ lâm kêu họ là Lũng Tây Tam Bá.
Ba mục trường liên kết với nhau, mục trường nào cũng rộng hơn trăm dặm và nuôi hàng nghìn hàng vạn bò, ngựa và dê. Những mã sư với mục đồng cũng có hàng mấy trăm, nhất là mục trường Lũng Tây lại càng rộng lớn hơn và ở ngay trên một cánh đồng hoang, cạnh bên bờ hồ, và còn trồng những cây gỗ lớn rào quanh trại.
Trong trại có rất nhiều nhà cửa, chuồng bò, chuồng ngựa, chuồng dê. Mã sư, mục đồng với gia quyến của họ thì ở riêng một nơi như một thị trấn nhỏ, trong đó có cả tửu lầu, tiệm ăn và các cửa hiệu.
Chiều hôm đó mặt trời vừa bắt đầu lặn, mã sư và mục đồng đang dẫn từng đàn ngựa, dê và bò về trại. Hàng nghìn vạn súc vật chen chúc nhau đi vào cửa trại, bước chân chúng kêu như sấm động và khua cát bụi bay mù mịt như thiên quân vạn mã kéo tới trông thập phần rầm rộ uy nghi.
Từ xa, Thiên Tứ đã trông thấy đàn ngựa và bò trở về trại, những nhà cửa trong trại chi chít như một thị trấn nhỏ. Trong lòng rất phấn khởi, y biết đã sắp tới Lũng Tây mục trường rồi, liền thúc mạnh con bò già rảo cẳng tiến mau về phía trại.
Khi Thiên Tứ tới trước cửa trại thì những súc vật của mục trường đã bị dồn hết vào chuồng, nơi cổng trại chỉ còn có vài chục tên mục đồng quanh quẩn đi lại mà thôi.
Y vội tiến lên hỏi một người lớn tuổi đang cưỡi ngựa rằng:
- Xin hỏi đại thúc, nơi đây có phải là mục trường Lũng Tây không?
Người cưỡi ngựa tay cầm roi, mình mắc võ trang, tuổi trạc bốn mươi, trông rất hiền lành. Y ngắm nhìn Thiên Tứ, thấy thằng nhỏ nhà quê, đầu tóc bù rối, da dẻ bị phơi đen nhánh, cưỡi một con bò già, trên sừng bò còn đeo một cái bọc áo. Y ngạc nhiên vô cùng nhưng vẫn vui vẻ trả lời:
- Phải! Cậu bé muốn kiếm ai thế.
Thiên Tứ cười lắc đầu đáp:
- Cha cháu bảo cháu tới đây học võ, chứ không nói cháu tới đây kiếm ai hết. Xin hỏi đại thúc, nơi đây ai là người có tài giỏi nhất?
Người nọ nghe hỏi cả cười, nhưng thấy Thiên Tứ phấn khởi như vậy và có vẻ chờ đợi mình trả lời, liền đáp:
- Nếu nói về tài ba thì trường chủ của chúng tôi tài giỏi nhất, nhưng ông ta bận việc lắm, và cũng không khi nào nhận dạy một đồ đệ không rõ lai lịch như cậu đâu!
Nghe người đó nói như vậy, không khác gì bị một chậu nước lạnh đổ từ trên đầu xuống, suýt nữa thì Thiên Tứ đã bật khóc thành tiếng. Y vội giơ tay lên gãi đầu và cứ ngẩn người ra, không biết ăn nói làm sao nữa!
Thấy thằng nhỏ có dáng điệu tội nghiệp như vậy người đó không nhẫn tâm chút nào, lại hỏi tiếp:
Cậu bé, nhà cậu ở đâu thế? Tôi khuyên cậu nên về ngay thì hơn…
Thiên Tứ cương quyết lắc đầu, tỏ vẻ nhất định không về nữa. Y nghĩ bụng:
“Ta đã cất công tới đây rồi, dù sao cũng không về nhà nữa. Vả lại...”
Y vừa nghĩ vừa đưa mắt nhìn người nọ, thấy người ấy đang ngồi yên ở trên mình ngựa, hai mắt lóng lánh nhìn mình, trông rất oai nghi, liền nghĩ ngay được một kế buột miệng nói:
- Đại thúc dạy võ cho cháu trước nhé? Chẳng hay đại thúc có bằng lòng dạy cho cháu hay không?
Người nọ ngẩn người ra giây lát, mặt lộ vẻ hổ thẹn. Y tự biết võ học của y chỉ là nhân vật hạng hai, hạng ba của mục trường thôi, và hàng ngày lại bận điều khiển mười mấy tên mục đồng chăn ngựa chăn bò, còn thì giờ đâu mà dạy cho thằng nhỏ này nữa? Nhưng y thấy Thiên Tứ khẩn khoản nhìn mình với thái độ rất thành khẩn, đang có vẻ chờ đợi mình trả lời.
Người biết võ công bao giờ cũng thích làm thầy kẻ khác. Cũng vì cái tính đặc biệt ấy thúc đẩy, nên y thở dài một tiếng rồi đáp:
- Thôi được! Bây giờ cháu hãy tạm theo ta, sau này có dịp may ta sẽ giới thiệu cháu với trường chủ. Nhưng… cháu có chịu khổ được hay không?
Thiên Tứ cả mừng, vội đáp:
- Được! Được! Cháu chịu được khổ!
Thế rồi người đó hỏi thăm gia cảnh của Thiên Tứ.
Thiên Tứ cứ theo đúng sự thật mà kể cho người đó biết, nhà mình ở Ngưu Gia Loan, cha tên là Lão Thực, làm nghề nông. Mấy ngày trước đây, cha với mẹ nó cùng chết một lúc. Trước khi chết, cha nó có trối trăn, dặn dò nó nên đến mục trường Lũng Tây để học võ, vân vân…
Khi kể xong y lại hỏi:
- Đại thúc quý danh là gì?
Người nọ thấy y là một thằng nhỏ con nhà nông, nên mới đoán chắc cha nó trối trăn như thế là bảo nó đổi nghề chứ không phải nhất định bảo nó tới học võ đâu nên nghĩ bụng:
“Việc này cũng không có khó khăn gì hết, quý hồ thằng nhỏ theo ta đôi ba năm, học được cách chăn bò, nuôi ngựa, rồi sau đó sống bằng nghề này, chả hơn làm nghề nông như cha nó hay sao?”
Nghĩ đoạn, y liền đáp:
- Ta họ Trần tên Tứ, làm mã sư ở trong mục trường này. Từ giờ trở đi, cháu cứ gọi ta là chú Tứ là được rồi.
Nói xong, y liền giật cương quay đầu ngựa đi vào trong trại ngay. Thiên Tứ thúc bò đi theo sau, vừa đi vừa nhìn ngược nhìn xuôi, thấy cái gì ở nơi đây cũng mới lạ hết. Y lại ngạc nhiên nhất là ở trong những cái chuồng bò chuồng ngựa liên miên ấy, sao lại có nhiều người đang bận rộn như vậy. Chính y cũng làm cho nhiều người phải ngừng tay chú ý nhìn. Có người lên tiếng hỏi Trần Tứ rằng:
- Lão Tứ, thằng nhỏ này ở đâu tới thế?
Trần Tứ chỉ ậm ừ trả lời cho qua chứ không cho họ biết sự thật. Một lát sau y đã dẫn thằng nhỏ đi tới trước một căn nhà nhỏ.
Căn nhà này là của Trần Tứ. Năm nay y có bốn mươi rồi mà vẫn còn độc thân. Thế là từ đó trở đi Thiên Tứ theo Trần Tứ ở luôn nơi đó.
* * *
Không bao lâu, y đã biết rành rẽ khá nhiều công việc của mục trường. Y biết trường chủ là Lũng Tây Nhất Chưởng Tô Trị Toàn. Dưới trướng trường chủ lại còn chia rất nhiều cấp bậc, Trị Toàn không hay hỏi han tới công việc của mục trường, tất cả việc to việc nhỏ đều do tổng quản Tô Chí Oai quản lý hết.
Chí Oai là em con cô con cậu với trường chủ tuổi trạc bốn mươi, suốt ngày mặc áo dài, trông vẻ rất văn nhân, trong tay lúc nào cũng cầm cái ống điếu, vẻ mặt rất tươi tỉnh, vừa cười vừa hút ống điếu phì phèo. Nhưng hai mắt của y rất lanh lợi, rất sáng và hình như trong suốt được lòng người vậy. Cho nên những người trong mục trường, từ trên chí dưới, ai ai cũng phải kính nể và sợ y lắm.
Dưới tổng quản lại còn có cả văn phòng, dưới văn phòng có vòng bò với vòng ngựa. Tổng lãnh vòng bò tên là Hạ Võ, là một đại hán vạm vỡ, cao lớn lực lưỡng, tiếng nói vang như sấm động, tính tình lại nóng nảy, hơi tí là ra tay đánh người ngay.
Tổng lãnh vòng ngựa là Vương Anh, cũng giống như Hạ Võ nhưng tính nết hiền lành hơn một chút. Mỗi người tổng lãnh lại điều khiển một số đầu mục, mỗi đầu mục lại cai quản một số mã sư và mục đồng.
Trần Tứ là một đầu mục của vòng ngựa. Bây giờ Thiên Tứ đã trở nên một mục đồng của y.
Sáng nào cũng vậy, theo luật lệ đã quy định của mục trường thì mỗi tảng sáng là tất cả những người dưới ba mươi tuổi đều phải tập họp trên quảng trường trong trại để luyện tập võ công và huấn luyện bò ngựa cùng luyện tập sức khỏe.
Ngày nào Chí Oai cũng có mặt tại quảng trường, tay cầm ống điếu chỉ huy mọi người, trông coi các tổng lãnh và đầu mục dạy bảo các thủ hạ luyện tập võ công cùng huấn luyện ngựa bò.
Thiên Tứ cũng theo tới đó để học võ. Ngày nào Trần Tứ cũng dạy y pho quyền căn bản, nhưng y rất đần, mỗi một thế thức phải dạy tới dăm ba lần mới biết. Tuy nhiên, y lại có một điểm tốt là không tham, thế võ nào cũng vậy, chưa thuộc hiểu thì y cứ chăm chỉ luyện đi luyện lại tới khi nào thuộc hiểu mới thôi, chứ không bao giờ học đòi thêm những thế võ khác. Vì vậy, bất cứ thế võ nào mà y đã học thuộc lòng rồi thì cũng vững chãi và đúng lề đúng lối hơn những người khác.
Ngoài việc tập võ ra thì suốt ngày y phải đi chăn ngựa và bò. Sinh hoạt này đối với y không khổ nhọc chút nào, nhưng phải một nỗi là y không thích ngựa thôi. Vì y cho rằng ngựa rất là khó huấn luyện, nhất là những con ngựa rừng chưa được huấn luyện qua, hễ tới gần chúng, thường bị chúng đá một cái té ngã ngay, nên y ưa thích bò hơn. Y cho bò thực thà ngoan ngoãn, chỉ hơi dạy bảo qua loa là chúng đã ngoan ngoãn nghe theo mình sai khiến liền. Nhưng sự thực đó là bởi y chăn bò từ thuở nhỏ tới giờ nên đã quen thuộc với tính nết của bò đấy thôi.
Vì vậy không bao lâu, y yêu cầu Trần Tứ đổi y sang vòng bò, và đảm nhiệm công việc chăn bò.
Những người quen biết với Trần Tứ thấy Thiên Tứ thật thà chăm chỉ như vậy nên ai cũng thương y hết, và nhất là y rất khiêm tốn, chịu học hỏi, bất cứ việc gì không biết là hỏi cho kỳ biết và học kỳ được mới thôi.
Tuy ngớ ngẩn và hơi đần độn một chút, nhưng y lại rất chịu khó và chăm chỉ, dù làm việc suốt ngày, hay công việc có nặng nề đến đâu, y cũng không ca thán, cho nên ai ai cũng thích và giúp đỡ y. Y muốn cầu điều gì cũng dễ được toại nguyện hơn người khác.
Lúc nào cũng vậy, Thiên Tứ cưỡi con bò già đi trước dẫn đầu, đàn bò lững thững theo sau, chẳng cần phải có người đi cạnh hò hét như đối với những bò khác.
Khi đi tới cánh đồng cỏ, đàn bò liền phân tán ra kiếm ăn mỗi tốp dăm ba con, khi nào Thiên Tứ cưỡi lên mình con bò già thúc con bò ấy và kêu “họ” một tiếng thật dài thế là những con bò khác dù tản ra xa ở đâu cũng phải vội vã trở về rồi đi theo con bò già đầu đàn trở về trại liền, chứ không cần có một người nào đến chăm sóc hết.
Nhờ vậy, những người chăn bò khác khỏi phải mất công phiền phức như trước, và cả Thiên Tứ cũng rảnh rỗi nhiều.
Trong lúc nhàn rỗi, không như những người khác tụm năm tụm ba lại trò chuyện hay nhậu nhẹt, mà Thiên Tứ chỉ lẳng lặng đi ra chỗ khác để luyện tập những miếng võ đã học hỏi được lúc sáng hay là luyện môn tọa công mà ông già hai đầu đã truyền thụ cho.
Không bao lâu, y đã tiến bộ hơn trước rất nhiều. Lúc này y cảm thấy không những hơi sức đã mạnh, có thể kéo ngược lại một con bò đang phóng chạy mà còn luyện được pho Lục Hợp chưởng pháp của Trần Tứ dạy cho tới mức xuất thần nhập hóa nữa.
Tại biên giới Trung Hoa, trên miền Bắc, mùa đông trở về rất sớm. Mới cuối mùa thu mà trời đã rét mướt vô cùng, cây cỏ khô héo hết, gió lạnh như bị dao cắt, nên hễ cứ tới mùa thu, mục trường Lũng Tây không cho bò ngựa và dê ra ngoài ăn cỏ nữa. Ngày hai lần, mục đồng đem cỏ khô vào chuồng cho súc vật ăn có khi quá rét còn phải đốt lửa cho súc vật sưởi ấm để khỏi chết rét.
Thiên Tứ rất chăm chỉ, bao giờ cũng làm tròn phận sự của mình mà còn làm nhanh hơn người khác, nhờ vậy mà y nhàn rỗi hơn các mục đồng kia. Trần Tứ thấy y siêng năng và chịu khó như vậy cũng phải khen ngợi và thương yêu. Mỗi sáng dạy võ công cho y mà tối nào cũng vậy, còn dạy cho y học văn nữa. Nhưng tiếc thay, cả văn lẫn võ, Trần Tứ chỉ hiểu biết có hạn thôi, nên dạy cho Thiên Tứ mới được có mấy tháng đã cảm thấy mình hết chữ nghĩa rồi, đành phải nghĩ cách giới thiệu thằng nhỏ cho một thầy đồ nào đó, có như vậy thằng nhỏ mới mong giỏi thêm được.
Thầy đồ dạy ở trong mục trường cũng là họ hàng xa của trường chủ tên là Tô Trị Văn, tuổi đã ngoài sáu mươi, nhưng là một thông nho học nhiều biết rộng. Vì mục trường ở tại nơi biên cương xa lánh nên thầy đồ phải đem cả gia đình đến ở để chủ trì trường học tư của mục trường.
Trị Văn là một tú tài thi rớt, trường chủ Trị Toàn đón về dạy bảo con cháu mình đã lâu năm. Bây giờ thầy đồ thấy Trần Tứ xin cho một tên mục đồng vào học y không ngần ngại gì liền nhận lời ngay.
Trường chủ Tô Trị Toàn tuổi đã năm mươi, vợ là Trương thị rất hiền hậu. Hai vợ chồng có ba đứa con, hai trai, một gái. Con trai trưởng là Tô Loan, tuổi đã mười tám, ba năm trước đã vào trong quân đội làm môn hạ cho Thái Bạch Thần Tú. Con trai thứ là Tô Hãn, tuổi mới mười bốn cùng em gái là Tô Xảo Yến ở nhà học văn luyện võ.
Trị Toàn còn hai tên đồ đệ là Châu Liêm Thương Thạch Lỗi, tuổi đã đôi mươi, cũng là con trai của Thạch trường chủ và Kim Vũ mới lên mười bằng tuổi với Xảo Yến.
Trong bọn trẻ đó chỉ có Thạch Lỗi là lớn hơn hết, võ công cũng cao hơn cả. Y ở trong mục trường của y, cứ cách ba ngày mới tới mục trường một lần thôi. Còn những đứa trẻ khác đều ở trong một căn nhà lớn tại hậu trại, ở cạnh bờ hồ.
Căn nhà này phía giáp hồ là không có tường quây thôi, còn những mặt kia thì tường đều xây bằng đá cao hơn trượng, cửa nhà sơn màu đỏ hồng, vừa to vừa rộng, trước cửa có một đôi sư tử đá trông rất hùng vĩ. Trong nhà, lầu các, thủy tạ, cây cỏ sum xuê, kiến trúc rất tráng lệ.
Ba căn nhà ở nơi chính giữa thì căn ngoài cùng là khách sảnh và phòng ngang, căn thứ hai là thư phòng với tiểu hoa sảnh, ngoài ra còn có diễn võ sảnh để cho con cái luyện võ. Còn căn thứ ba kia là phòng ngủ, ngoài gia đình trường chủ ở trong đó ra thì Kim Vũ cũng được ở trong ấy.
Thầy đồ với vợ thì ở một căn nhà cách nhà của trường chủ không xa, nhưng trường học lại ở trong một căn phòng ngách thuộc căn nhà ngoài của trường chủ.
Nhà họ Tô này là võ lâm thế gia, tất nhiên cả nhà đều chú trọng việc học võ hơn là học văn. Vì thế ngày nào cũng vậy, buổi sáng với buổi tối là giờ học võ, chỉ có buổi trưa khoảng hai ba tiếng đồng hồ là học văn thôi.
Buổi sáng Thiên Tứ cũng bận rộn lắm, không có thì giờ học hành. Từ khi y được phép vào học trong tư thục ấy, Trị Văn chỉ cho phép khi nào con gái của nhà họ Tô học xong thì y mới được vào học, và mỗi ngày cũng chỉ được học có một tiếng thôi.
Do đó, ngày nào Thiên Tứ cũng được vào nhà riêng của trường chủ học hành. Mới hơn một tháng y đã thuộc lòng cuốn Tam Tự Kinh với Thiên Tự Văn rồi.
Miền tây bắc trời rét hơn nơi khác nên mới tháng mười đã có mưa tuyết. Khắp mục trường Lũng Tây đâu đâu cũng có tuyết phủ. Đã hai ngày liền trời cứ mưa tuyết hoài không ngớt. Thiên Tứ đã làm xong công việc. Y vừa đi vừa lẩm nhẩm đọc Thiên Tự Văn vội vàng về nhà thay quần áo sạch sẽ rồi tới tư thục học ngay.
Ngồi canh cổng là lão Vương nhận ra được y liền cho vào. Y đi qua hành lang, tiến thẳng vào trong phòng học. Chưa đi tới nơi, xa xa đã nghe thấy thầy đồ đang lớn tiếng đọc sách y liền nghĩ bụng:
“Có lẽ các vị công tử với tiểu thư chưa học xong?”
Tuy đã vào trong nhà này học rồi, nhưng y chưa bao giờ gặp các vị thiếu gia với tiểu thư hết, vì các thiếu gia với tiểu thư con của trường chủ chưa hề ra khỏi căn nhà này nửa bước, và ngày nào y tới nơi thì những người đó đã tan học và vào nhà trong rồi.
Hôm nay y tới sớm, lòng hiếu kỳ thúc đẩy muốn gặp để biết thiếu gia và tiểu thư, con của chủ nhân là người thế nào? Vì vậy y lẳng lặng tới dưới cửa sổ, ngó qua khe cửa nhìn trộm vào bên trong.
Ngờ đâu, y chưa kịp nhìn kỹ thì đã có tiếng kêu “bộp”, một hòn đá ở bên trong ném ra xuyên thủng giấy cửa sổ bắn trúng vào đầu y tức thì.
Thiên Tứ giật mình đánh thót một cái nghiến răng chịu đau giơ tay lên sờ đầu, mới hay trán đã bị sưng vù và tay còn dính đầy mực. Y cúi xuống mặt đất để xem vật đó là vật gì, mới hay đó là cái nghiên mực.
- Ai đó?
Tiếng nói của thầy đồ Trị Văn, nghe thấy tiếng động liền hỏi như vậy. Tiếp theo lại còn có tiếng cười khúc khích nữa.
Thiên Tứ bực mình vô cùng, nhưng vẫn phải cố nén lửa giận và khẽ đáp:
- Con! Thiên Tứ đây!
Trị Văn biết Thiên Tứ đã tới, liền bảo bọn trẻ kia rằng:
- Thôi! Các con đã học xong, vào nhà trong đi!
Mặt dính đầy mực, Thiên Tứ không tiện đi vào trong lớp, nhưng lại không có nước rửa, y trông thấy tuyết phủ trên mặt đất, liền nghĩ ngay được một cách, vội nhặt hai nắm tuyết xoa ngay lên mặt.
Tiếng cười khúc khích lại nổi lên ở phía sau. Y chưa kịp quay người lại nhìn, thì đã nghe có tiếng mắng chửi:
- Tiểu tử rồ dại này ở đâu vào thế?
Tiếng nói đó chưa dứt, y đã bị đá trúng một cái, loạng choạng về phía trước ba bước. Tuyết rơi trên mặt đất trơn làm y không sao giữ được thăng bằng liền trượt chân ngã xuống đất. Thế là người y dính đầy tuyết, cả sách vở cặp dưới nách cũng dính đầy tuyết núi.
Thiên Tứ tức giận khôn tả, quay người lại nhìn thấy một thằng nhỏ tuổi trạc mười hai, đứng ở trên hành lang, đầu đội mũ da che gió, mình mặc võ trang màu tía hồng, da trắng như ngọc, môi đỏ, răng đều đặn, trông rất tuấn tú, nhưng chỉ phải một nỗi môi hơi mỏng, và lúc này y đang bĩu môi, hai mắt trợn ngược, tỏ vẻ khinh thị và ghét Thiên Tứ vô cùng.
Thiên Tứ lại tưởng thằng nhỏ ấy là thiếu gia con của trường chủ, không biết có nên nổi khùng hay không, thì thằng nhỏ ấy lại chỉ tay chửi tiếp:
Thằng nhỏ nhơ bẩn này! Ai cho phép mày vào trong này? Có mau nói rõ nguyên nhân bằng không, thiếu gia sẽ đánh gãy cái đùi chó của mi cho coi!
Một con nhỏ mặc áo đỏ, váy đỏ, nghe thấy tiếng nói ở trong nhà vội chạy tới xem. Con nhỏ đó rất xinh, ai trông thấy cũng phải mến yêu ngay.
Con nhỏ đó thấy Thiên Tứ đứng dưới hành lang, mặt dính đầy mực, mặc áo vải mộc đầu tóc bù rối, hai mắt rất to lóng lánh như hai ngọn đèn tỏ. Thấy hình dáng của Thiên Tứ như vậy, thoạt tiên con nhỏ ngẩn người ra nhìn, rồi bỗng cười khúc khích hỏi:
- Vũ sư ca, y là ai thế?
Lúc ấy một thiếu niên tuổi trạc mười bốn mười lăm, bên trong bước ra, mặc áo bào mắt to, lông mày rậm, nom rất oai mãnh. Thấy Thiên Tứ nhem nhuốc như vậy y cũng phải phì cười và hỏi:
- Này, thằng nhỏ kia, mi có phải là Thiên Tứ đấy không?
- Phải đấy cháu Hãn ạ! Y chính là La Thiên Tứ mà chú đã nói cho các cháu biết đấy!
Trị Văn ở bên trong bước ra và trả lời hộ Thiên Tứ như thế. Ông ta thấy Thiên Tứ mặt mày bẩn thỉu như vậy cũng ngạc nhiên hỏi:
- Thiên Tứ, sao mặt con lại bẩn thỉu như thế này?
Thằng nhỏ vừa đá Thiên Tứ té ngã đã trợn mắt lên nhìn Thiên Tứ, mồm mép như muốn nói. Tuy y chưa nói ra tiếng nhưng Thiên Tứ cũng hiểu là y đang dọa nạt không cho mình lên tiếng nói.
Tuy Thiên Tứ không sợ uy hiếp ấy nhưng y không muốn mách người lớn như vậy, nên vừa thấy thầy đồ hỏi, y định nói dối, nhưng vì y chưa nói dối ai bao giờ nên không biết phải nói sao cho phải.
Ngờ đâu con bé áo đỏ đã nhanh nhẩu trả lời trước y:
- Vũ sư ca đánh y đấy! Đây, lão xem, cái nghiên mực này chẳng phải của Vũ sư ca là gì?
Lúc này Trị Văn mới chú ý đến cái nghiên mực dưới đất, và thấy cửa sổ bị ném thủng, liền nổi giận quát mắng Kim Vũ rằng:
- Kim Vũ, sao con táo gan như thế? Nhân lúc ta không để ý, con dám dùng nghiên mực này ném y như vậy? Thử hỏi con có còn coi sư trưởng vào đâu nữa không?
Mắng xong, ông ta nói với thiếu niên kia rằng:
- Hãn nhi, con lấy cái thước kẻ lại đây cho thầy!
Thì ra thiếu niên ấy là Tô Hãn, con trai của trường chủ, còn con bé mặc đồ đỏ là Tô Xảo Yến, con gái cưng của trường chủ. Thằng nhỏ tinh nghịch đã ném Thiên Tứ chính là Kim Vũ, nhị đệ tử của trường chủ.
Tô Hãn thấy lão sư nổi giận định đánh sư đệ mà xưa nay vẫn hợp với mình, tuy trong lòng không muốn nhưng không dám trái lệnh, chỉ nói “Vâng” một tiếng rồi trợn mắt lên nhìn Thiên Tứ thôi, chứ không chịu đi.
Xảo Yến thấy thầy đồ bảo đánh Vũ sư ca, lấy làm thích thú lắm, cười khì nhảy nhót vào trong thư phòng vừa đi vừa nói:
- Để con đi lấy cho! Con đi lấy cho…
Kim Vũ tức đến tái mét mặt, vì y nhận thấy đánh một thằng mục đồng như thế có nghĩa lý gì đâu, sao thầy đồ lại định đánh mình? Nhưng tính y rất kiêu ngạo, không thèm cãi lại, cứ đứng yên ra đó không cử động gì hết, hai mắt hậm hực giận dữ nhìn thẳng vào mặt Thiên Tứ.
Xảo Yến lại lấy cây thước lớn nhất ra, dài chừng hai tấc, dày năm phân. Vừa ra tới nơi con nhỏ đã đưa ngay cây thước cho thầy đồ, rồi khoanh tay về phía sau lưng đứng sang một bên, trợn trừng hai mắt xem. Nó cho việc này là thích thú lắm, nên mặt nó cứ tươi cười hoài.
Trị Văn cầm lấy cây thước, một tay vén râu lên, mồm thì quát bảo:
- Kim Vũ, con chìa tay ra đây!
Tô Hãn thấy vậy ấp úng định nói, có ý khuyên thầy đồ, nhưng Trị Văn đã xua tay không cho y nói và quát bảo:
- Việc này không liên can gì đến con, con đừng có can thiệp vào! Kim Vũ…
Kim Vũ vẫn không trả lời đứng quay lưng về phía thầy đồ. Nó nghe thấy thầy đồ nói thế, biết phen này thầy đồ đã quyết tâm đánh nó một trận rồi, nên nó chỉ nghiến răng, mím môi chịu đựng thôi, và không chờ thầy đồ hỏi câu thứ hai, đã chìa ngược tay trái về phía sau luôn.
Trị Văn chỉ muốn đánh nhẹ thằng nhỏ vài cái để cảnh cáo nó về sau đừng có nghịch như thế nữa, nhưng bây giờ thấy nó bướng bỉnh và vô lễ như vậy, ông ta càng giận thêm, giơ cao tay đánh mạnh xuống một hơi hai mươi thước.
Tuy Kim Vũ là người đã được học võ nhưng dù sao tuổi hãy còn nhỏ, sự luyện tập và kinh nghiệm còn non nớt, vẫn chưa biết cách vận công để giảm cơn đau. Hơn nữa cái thước ấy bằng gỗ trầm, vừa to vừa nặng mà ông ta lại đánh thật mạnh, nên mới được mười roi chiếc tay nhỏ của Kim Vũ đã sưng húp, đau đến nỗi thằng nhỏ nước mắt nhỏ ròng, nhăn mặt nhe răng, nhưng nó vẫn bướng bỉnh và cứng cỏi, tuy đau nhưng nó vẫn chịu chứ không kêu rên nửa lời.
Càng bị đánh bao nhiêu, y càng hậm hực lườm Thiên Tứ bấy nhiêu và nghĩ bụng:
“Thế nào rồi cũng có một ngày thiếu gia sẽ giết mi cho mà xem.”
Dù sao Trị Văn cũng lớn tuổi rồi, sức lại yếu, nên đánh được hai mươi roi đã thở hồng hộc, liền ngừng tay nghỉ và hỏi tiếp:
- Kim Vũ, con đã biết tội chưa?
“Ta có tội lỗi gì đâu? Lão cẩu kia, ngươi tưởng ngươi làm thầy người ta thì tha hồ tác oai tác phúc phải không? Hừ! Thế nào cũng có một ngày thiếu gia này lớn lên rồi sẽ trả thù, đánh lại lão cẩu bốn mươi roi cho mà coi!”
Kim Vũ vừa nghĩ vừa chửi thầm như vậy, nhưng mặt vẫn lầm lì, chẳng nói chẳng rằng, và cũng không dùng tay xuýt xoa bàn tay vừa bị đánh đòn đau và sưng vù kia.
Tô Hãn thấy vậy cũng thầm khen ngợi Kim Vũ là một kẻ gan dạ, còn Xảo Yến thì trông thấy sư ca bị đánh mà không chịu khuất phục như thế, trong lòng cảm thấy có một ý niệm khác lạ, chính tự nó cũng không biết nên cảm phục hay khinh bỉ sư ca nó.
Trị Văn thấy Kim Vũ bướng bỉnh và cứng cổ như vậy, lắc đầu mấy cái rồi nói:
- Kim Vũ, thầy không đánh oan cho con đâu! Con thử nghĩ lại xem, nếu con không chuyên tâm học hành chỉ thích chơi bời lêu lổng, trong khi thầy giảng bài, con đã không chịu nghe thì chớ, vừa thấy có người đi tới gần, nhân lúc thầy không để ý đã dùng nghiên mực ném người ta như thế! Con có biết không? Hành vi này của con, một là không coi người trên vào đâu, hai là không chăm chú vào sự học hành, ba là dùng nghiên mực ném bừa người như thế, nhỡ ném thủng óc Thiên Tứ nó chết ngay tại chỗ thì sao?
Kim Vũ lại nghĩ tiếp:
“Cái gì mà bề trên với chả bề trên nào! Thiếu gia này trông thấy rõ tiểu tử man dại ấy mới dùng nghiên mực ném nó đấy chứ! Dù thiếu gia có ném chết thì cũng tại số nó chết yểu, ai bảo nó đến gần xem trộm như thế?”
Thầy đồ lại nói tiếp:
- Cho nên thầy chỉ phạt nhẹ con như vậy để con biết lỗi mà hối cải.
Nói tới đó, ông ta lại thở một hơi mới nói tiếp:
- Thôi được! Ba con đi vào nhà trong đi!
Kim Vũ nghe nói, chẳng nói chẳng rằng bước chân ra khỏi phòng học chạy thẳng vào bên trong liền. Anh em Tô Hãn vái thầy đồ một lạy rồi thủng thẳng đi ra.
Xảo Yến đi được vài bước, quay đầu lại nhìn Thiên Tứ, thấy y đang đứng ngẩn người ra ở đó liền cười khì một tiếng, tiếng cười của con nhỏ trong như tiếng chuông bạc, rồi con nhỏ uốn lưng xoay người chạy thẳng vào nhà trong, như một con chim én lướt vào nội trạch vậy.
Trị Văn bảo Thiên Tứ đi rửa mặt trước rồi mới vào học sau.
Từ khi học ngoại công đến giờ, đầu óc của Thiên Tứ sáng suốt hẳn, nên y học sách dễ nhớ hơn trước nhiều, thầy đồ chỉ dạy đến lần thứ hai là y đã hiểu ngay.
Hôm đó, thầy đồ chưa nguôi cơn giận nên chỉ dạy qua loa rồi cho nghỉ luôn. Thiên Tứ vái chào thầy đồ xong, cũng như ngày thường đi ra ngoài của để đi thẳng về nhà.
Ngờ đâu y mới đi được một quãng bỗng nghe thấy phía sau có tiếng người gọi. Y vội quay đầu lại nhìn, mới hay Kim Vũ tay trái dùng vải trắng quấn chặt, đang hậm hực chạy tới. Y ngẩn người chẳng hiểu đối phương kiếm mình làm chi? Ngờ đâu Kim Vũ vừa tới gần, chẳng nói chẳng rằng, liền nhắm mặt y tấn công luôn một quyền.
Vì không đề phòng, suýt chút nữa thì Thiên Tứ đã bị Kim Vũ đánh trúng. Cũng may, trong nửa năm nay ngày nào y cũng chịu khó luyện tập quyền cước và nội công nên thân pháp của y rất nhanh nhẹn, quyền của đối phương vừa sắp tấn công trúng đầu mũi thì đã ưỡn người tránh ngay thế quyền ấy, mồm thì quát hỏi:
- Này! Anh làm gì thế? Tôi có điều gì thất lễ với anh đâu? Sao vừa gặp mặt chưa chi anh đã đánh tôi như vậy rồi?
Kim Vũ không thèm trả lời, thấy quyền thứ nhất đánh hụt lại ra tay tấn công luôn quyền thứ hai. Lần này y nhằm bụng Thiên Tứ tấn công tới.
Thiên Tứ nhảy lùi về phía sau hai bước tránh khỏi thế quyền thứ hai, và đang đinh nói thêm thì Kim Vũ đã giận dữ mằng chửi:
- Tiểu tử vô lại kia! Thế nào thiếu gia cũng phải đánh mi chết mới thôi!
Y vừa ngồi sụp xuống, giơ hai tay lên, xoay người tiến tới gần Thiên Tứ, tay trái đưa lên tấn công hờ một thế để làm rối loạn mắt của địch, còn tay phải nhắm ngực của đối thủ đấm luôn.
Năm đó Kim Vũ tuy mới có mười một tuổi, nhưng đã theo Trị Toàn học võ năm năm rồi, nên nội ngoại công của y đều tiến bộ rất nhanh chóng.
Y là một thằng nhỏ rất khôn khéo, biết lấy lòng người lớn nên vợ chồng Trị Toàn rất thương yêu y, coi y như là con đẻ vậy, từ cái ăn cái mặc đều cho y được hưởng ngang với Tô Hãn. Vì y lớn tuổi hơn, lại được theo danh sư luyện tập lâu năm như vậy, tất nhiên cả sức khỏe lẫn võ công của y phải mạnh gấp đôi Thiên Tứ.
Thấy tấn công hai quyền mà đối phương đều tránh được hết, y vội giở Địa Sát chưởng pháp của lão trường chủ truyền thụ cho tấn công tiếp.
Địa Sát chưởng pháp là một tuyệt học của Lũng Tây nhất chưởng, nhờ pho chưởng pháp này mà y lừng danh thiên hạ. Pho chưởng này gồm tất cả mười lăm thức. Thức thứ nhất là Song Sát Lượng Ấn, giơ hai cánh tay lên rẽ sang hai bên, trông như thế Bạch Hạc Lượng Kí của phái Võ Đang vậy. Nếu không có Địa Sát thần công phò trợ thì đó chỉ là một thế hư. Nếu Địa Sát thần công luyện tới mức hỏa hầu, hai gan bàn tay sẽ đỏ như san hô, thần công chân lực dồn ra hai luồng nhu kình nóng hổi nhắm kẻ địch tấn công, thì dù kẻ địch đứng ở đâu, cứ trong vòng hơn một trượng thế nào cũng bị nhu kình ấy thấu qua yếu huyệt mà xâm nhập tận trong người. Nhu kình ấy sẽ quạt tam muội chân hỏa ở trong người địch lên, thế là kẻ địch sẽ bị tự thiêu mà chết. Nếu không đánh trúng yếu huyệt của kẻ địch, chỉ trúng ngoài da thịt thôi, nơi bị chưởng lực quét trúng sẽ bị cháy xém như là bị miếng sắt nung đỏ dí vào vậy.
Kim Vũ hãy còn ít tuổi, tất nhiên chưa luyện tới mức độ đó, cho nên y vừa ra tay đã giở một thế tấn công hờ trước. Thiên Tứ thấy đối phương múa chưởng xông tới gần, tuy y không biết kẻ địch sử dụng pho chưởng gì nhưng y cũng đoán biết đó là một pho chưởng pháp lợi hại. Cho nên y không dám khinh thường, vội chăm chú nhìn vào hai bàn tay của đối phương luôn.
Tới khi tả chưởng của Kim Vũ đưa lên, tiếp theo đó y lại thấy trước ngực nóng hổi và có một luồng kình lực lấn át tới. Y giật mình đến thót một cái, không kịp cúi đầu xuống để vội đưa chân lùi ngay bước nữa, và giơ hữu chưởng lên nhằm mặt Kim Vũ phản công lại một thế, còn tả chưởng thì giơ lên như năm cái móc nhằm cổ tay phải của địch chộp luôn. Đó là thế Cổn Thủ Hổ Tọa và cũng là thế thứ nhất của pho Lục Hợp chưởng pháp.
Kim Vũ chỉ liếc nhìn là biết đối phương sử dụng Lục Hợp quyền rồi, nên y bĩu môi và nghĩ thầm:
“Môn võ tầm thường quê mùa này mà cũng đòi giở ra ở trước mặt thiếu gia, thực không biết tự lượng chút nào…”
Y vừa nghĩ vừa định nhấn sức tấn công tiếp. Ngờ đâu y bỗng kinh hoảng vì thấy Lục Hợp chưởng pháp rất tầm thường, không ngờ trong tay của đối phương lại trở nên mạnh mẽ đến thế? Không những chưởng lực của mình bị chưởng lực của đối phương đẩy ngược lại, và nếu không rụt tay lại cấp kỳ thì thế nào cũng bị đối phương bắt trúng chứ không sai, nên y hoảng sợ vô cùng, vội xoay sang thế Sát Thần Cử Hỏa, tả chưởng nhanh như điện chớp đẩy mạnh vào khuỷu tay của đối phương.
Tuy lúc ấy Thiên Tứ đã trả đũa phản công lại, nhưng sự thực y không muốn đả thương Kim Vũ. Vì y sống nơi đây nửa năm nay, đã biết thân phận địa vị của mình chỉ là một tên mục đồng thôi, còn Kim Vũ là đệ tử cưng của trường chủ, địa vị của y trong mục trường này không khác gì kim chi ngọc điệp. Nếu mình đả thương y, dù có mất việc làm cũng không sao, nhưng từ nay trở đi không được ở lại nơi đây tiếp tục học văn học võ nữa, như vậy thì thực là oan uổng.
Vì thế khi thấy Kim Vũ đổi thế tấn công, y vội lùi ngay về phía sau năm bước, giơ hai tay lên xua lia lịa và nói:
- Này này! Có chuyện gì anh cứ nói đi? Tôi có điều gì thất lỗi với anh đâu mà anh…
Kim Vũ thấy mình giở ba thế tuyệt học ra một lúc mà không đánh trúng thằng nhỏ hèn hạ này cái nào, y cảm thấy mất sĩ diện vô cùng. Hổ thẹn quá hóa ra tức giận, y nghiến răng mím môi, hậm hực quát:
- Thằng con hoang kia, mày chạy đi đâu nào?
Nói xong, y vẫn dùng tuyệt học Địa Sát chưởng mà xông lên, nhằm các nơi yếu huyệt của Thiên Tứ tấn công tới tấp.
Thấy đối phương vô lý như vậy, bất đắc dĩ Thiên Tứ phải giở hai mươi bốn thức Lục Hợp chưởng pháp ra phản công luôn. Chỉ trong thoáng cái, đôi bên đã đấu được mười hiệp. Thiên Tứ nhờ có thân pháp linh hoạt, nội lực sung túc, và pho chưởng pháp luyện tập một cách rất thuần thục, nên y có vẻ thạo thuộc và lanh lẹ lắm.
Kim Vũ tuy có chưởng pháp rất tinh diệu và ác độc nhưng vì nội lực kém hơn đối phương một mức nên nhất thời không làm gì nổi. Vì thế, tuy đấu lâu như vậy nhưng đôi bên vẫn ngang tài nhau.
Đấu được trên mười hiệp, phần vì Kim Vũ cũng thuộc Lục Hợp quyền nên đối phương định giở thế gì ra thì y đã biết trước, hơn nữa y lại biết tâm sự của đối phương không dám đả thương mình, cho nên y không dè dặt gì nữa, càng đấu càng hăng, càng đấu càng liều. Vì vậy đấu thêm dăm ba hiệp nữa, Thiên Tứ đã cuống cả chân tay lên, lùi bước liên tiếp.
Thiên Tứ thấy đối phương không biết điều chút nào, tức giận khôn tả, không sao nhịn được nữa đang suy nghĩ không biết có nên trả đũa thực sự không, thì bỗng nghe đằng xa có tiếng người quát bảo:
- Vũ nhi, mau ngừng tay lại!
Thiên Tứ nghe tiếng nói đã nhận ra là tiếng của Tô Chí Oai, tổng quản của mục trường. Vì trong lòng hơi hoảng sợ, chỉ sơ suất một chút, hông bên phải bị trúng một chưởng đau như lửa thiêu loạng choạng lui về phía sau mấy bước ngã lăn ra đất, bên tai còn nghe thấy tiếng kêu “ối chà” của Xảo Yến nữa. Y chưa kịp nhìn kỹ con nhỏ thì đã chết giấc rồi.
* * *
Thiên Tứ từ từ tỉnh lại, thấy chỗ bị đánh ở dưới hông không những đã hết nóng hổi mà còn mát mẻ dễ chịu vô cùng. Y chưa mở mắt ra nhìn đã cảm thấy hình như mình đang nằm ở trên đống bông gòn, quần áo của mình đã được cởi hết và trên người đang có một cái chăn gấm mềm nhũn, trơn tuột, mà mình chưa bao giờ đắp qua, đang phủ kín. Đồng thời bên tai y nghe thấy tiếng người ồn ào, có cả già trẻ lẫn nam nữ. Sau cùng, y lại nghe thấy một giọng nói tuy đã hạ thấp mà vẫn còn kêu như chuông, rằng:
- Cốt cách của thằng nhỏ này khá lắm! Tại sao từ trước tới nay ta chưa thấy y bao giờ? Có phải y mới tới làm đấy không? Sao y lại đánh nhau với Vũ nhi như thế?
Thiên Tứ không biết người đó là ai, nhưng tiếp theo đó y lại nghe Xảo Yến nói:
- Thưa cha, thằng nhỏ này làm công việc chăn bò đấy. Chiều nào nó cũng vào nhà ta theo lão sư học sách. Nghe lão sư nói nó chịu khó lắm, nhưng nó cũng rất dốt. Hôm nay nó tới hơi sớm một chút, đại ca Vũ sư ca với con chưa học xong. Vũ sư ca thấy nó đi tới cửa sổ ngó nhìn, nhân lúc lão sư không để ý liền dùng nghiên mực ném vào đầu y. Hà hà! Mặt y mới nhem nhuốc như vậy. Sau lão sư biết, ông ta nổi giận liền đánh sư ca hai mươi roi. Chính con đã đi lấy thước cho lão sư đây!
Lúc này Thiên Tứ mới biết người lên tiếng chính là trường chủ. Y hé mắt nhìn trộm, thấy mình nằm ở trong một cái phòng ngủ rất lịch sự, một ông già trạc ngũ tuần đang ngồi trên cái ghế thái sư ở cạnh cửa sổ.
Ông già mặc áo dài màu tía, đầu đội khăn vuông, thân hình vạm vỡ, mặt tròn như trăng, râu dài hơn thước, hai mắt sáng như điện, mày rậm và xếch ngược, mũi quặp vào như mỏ chim ưng, trông thần thái của ông ta rất là oai nghiêm.
Tổng quản Chí Oai tay vẫn cầm ống điếu, mắt nhìn thẳng vào giường của Thiên Tứ đang nằm. Xảo Yến như một con chim nhỏ đang đứng dựa vào lòng của Trị Toàn, một tay cứ đưa cao lên, lôi râu của người cha, miệng thì cất tiếng nói kêu như tiếng chim oanh vậy.
Trị Toàn cúi đầu nhìn con gái cưng, vừa cười vừa hỏi tiếp:
- Xảo Yến, năm nay con bao nhiêu tuổi mà lại gọi người ta là thằng nhỏ như thế? Hà! Thảo nào mà Vũ nhi lại chả tức giận! Ai bảo con đi lấy thước kẻ để lão sư đánh nó làm chi?
Xảo Yến nũng nịu đáp:
- Lão sư bảo con đi lấy chứ! Ai bảo sư ca tự dưng hà hiếp người ta như vậy? Chả là anh ấy không đáng bị đòn hay sao mà cha còn bênh cho anh ấy? Cha thiên vị lắm, con không chịu đâu!…
Trị Toàn cười ha hả, tiếng cười vang như tiếng chuông ngân. Cười xong, y nói tiếp:
- Vũ nhi bậy thực, hơi tí là hà hiếp người! Hơn nữa dù có đánh nhau cũng không nên sử dụng Địa Sát chưởng như thế!
Nói xong, y lại quay lại hỏi người tổng quản:
- Lão nhị có biết lại lịch của thằng nhỏ này không? Cốt cách và trí tuệ của thằng nhỏ này nếu để nó luyện võ thì thuộc hàng thượng tuyển, nhưng không biết nhân phẩm của y có khá không?
Chí Oai bèn kể qua loa lại lịch của Thiên Tứ cho trường chủ nghe và nói tiếp:
- Nó rất chăm chỉ, chịu khó và thật thà, nhưng phải cái hơi tối dạ một chút, bằng không tiểu đệ đã giới thiệu nó cho đại ca rồi!
Trị Toàn ngẫm nghĩ giây lát rồi đứng dậy nói tiếp:
- Việc đó để sau này hẵng nói, hiện giờ thằng nhỏ trúng phải Địa sát chưởng, phải đôi ba ngày mới khỏi được. Lão nhị hãy dặn bảo người nhà để y ở lại đây dưỡng thương.
Nói xong, y dắt tay Xảo Yến đi luôn. Xảo Yến vừa đi vừa hỏi:
- Thưa cha, sao thằng nhỏ này vẫn chưa tỉnh?
Trị Toàn đáp:
- Ta chả sớm nói cho con biết rồi là gì? Địa Sát chưởng rất lợi hại, tuy chân lực của Vũ nhi hãy còn non nớt, nhưng thằng nhỏ này vẫn bị thương rất nặng rồi. Dù bây giờ đã cho nó uống thuốc, nhưng nó chưa luyện được nội công gì hết, thì ít nhất nó cũng phải mê man bất tỉnh nửa ngày mới tỉnh lại được.
Tiếng nói của y càng lúc càng xa. Người tổng quản chờ cho trường chủ đi khỏi cũng lẳng lặng đi luôn. Lúc ấy trong phòng chỉ còn lại một mình Thiên Tứ thôi.
Chờ mọi người đi hết, Thiên Tứ cảm thấy hãy còn nhức đầu liền ngồi xếp bằng vận công điều tức. Y vận công được ba lần thì vết thương ở trên người đã lành lặn hẳn. Y định xuống đất nhưng tìm không thấy quần áo, đành phải nằm xuống và đắp chăn như trước và ngẫm nghĩ về lời nói của trường chủ vừa rồi.
Lúc ấy trời đã tối. Thiên Tứ cảm thấy đói bụng thì bỗng thấy một thằng nhỏ tay cầm đèn, tay bưng một cái khay bước vào. Y nhận ra thằng nhỏ này chính là thằng nhỏ hầu cận trường chủ, họ Tô tên Thanh vội ngồi dậy chào hỏi:
- Thanh đại ca, thực cảm phiền đại ca quá.
Tô Thanh thấy Thiên Tứ đã ngồi dậy được, ngạc nhiên hỏi:
- Ủa! Sao anh đã khỏi rồi ư? Lạ thực, vừa rồi tôi nghe trường chủ nói anh bị Kim thiếu gia dùng Địa Sát chưởng đánh trúng, ít nhất cũng nằm năm ba ngày mới có thể cử động được. Sao bây giờ… anh lại lành nhanh chóng đến thế?
Thiên Tứ mỉm cười, nghĩ thầm:
“Có lẽ nhờ ta đả tọa vận công điều tức mấy lần nên mới khỏi một cách nhanh chóng như vậy chăng?”
Tuy vậy y không dám nói rõ, chỉ trả lời rằng:
- Cảm ơn anh đã có lòng hỏi thăm như vậy. Bây giờ em đã khỏe hẳn rồi. Quần áo em ở đâu, anh làm ơn cầm lại hộ em!
Tô Thanh để đèn và cái mâm xuống, ngắm nhìn Thiên Tứ hồi lâu rồi nói tiếp:
- Quần áo của anh bị đánh rách, vừa rồi lúc trường chủ cứu anh đã cởi ra và bảo người đi giặt và vá rồi. Có lẽ bây giờ chưa khô đâu. Theo chỗ em biết tuy trong người anh không thấy sao nữa, nhưng môn Địa sát chưởng này lợi hại lắm. Anh nên ngoan ngoãn nằm nghỉ ngơi trong hai ngày nữa thì hơn!
Nói xong, y đem mâm đựng thức ăn lại cho Thiên Tứ. Thấy những món ăn rất ngon lành, lại đang lúc đói bụng, Thiên Tứ không khách sáo gì cả chỉ cảm ơn một tiếng rồi ngồi dậy ăn lấy ăn để. Cơm và món ăn quá ít ỏi chưa đủ no, nhưng y không dám hỏi xin thêm. Chờ Tô Thanh dọn dẹp và đi ra khỏi phòng, y lại nằm xuống ngẫm nghĩ sự đời.
* * *
Sáng sớm hôm sau, Thiên Tứ lại vận công điều tức thêm một lần nữa, càng cảm thấy dễ chịu hơn và không còn đau đớn gì nữa. Tính hay cử động, khi nào y chịu nằm yên trên giường mãi như thế được, đang nóng lòng sốt ruột thì y đã nghe thấy tiếng cánh cửa kêu “kẹt” một tiếng và có một đầu người nho nhỏ, với bộ mặt rất xinh đẹp ngó vào.
Thiên Tứ giật mình kinh hãi, vội nằm xuống lấy chăn trùm kín giả bộ đang nằm ngủ. Xảo Yến đi tới cạnh giường cười khì một tiếng, Thiên Tứ càng hổ thẹn thêm nhưng vẫn mở mắt ra nhìn. Xảo Yến thấy y đã tỉnh liền vừa cười vừa hỏi:
- Thế nào, anh đã khỏi chưa?
Từ thuở lọt lòng đến giờ Thiên Tứ chỉ gặp có cô bé áo xanh một lần thôi, nhưng cũng chưa hề nói chuyện với một con nhỏ nào xinh đẹp như thế này cả. Bây giờ Xảo Yến đang ở cạnh và vẻ mặt tươi cười như thế, tuy y nằm ở trong chăn những vẫn nhận thấy mình đang trần truồng, nên y hổ thẹn đến hai má đỏ bừng, cứ ấp úng mãi không sao trả lời được câu hỏi ấy của cô gái nhỏ.
Xảo Yến được cha mẹ nuông chiều từ nhỏ tới giờ, và ai cũng phải tâng bốc nàng nên tính nết lại càng tinh nghịch và ương ngạnh thêm. Nó thấy Thiên Tứ xấu hổ như vậy lại cười khúc khích hoài.
Xảo Yến vừa cười vừa giơ tay ra bóp mũi Thiên Tứ và hỏi tiếp:
- Này! Sao không nói? Có phải anh câm đấy không?
Thiên Tứ quay mặt đi để tránh khỏi bị bóp mũi véo tai và lẩm bẩm đáp:
- Không! Tôi… cảm ơn tiểu thư có lòng đến hỏi thăm như vậy… tôi đã khỏi rồi.
Thấy bóp mũi y không được, Xảo Yến lại véo tai y lôi lại, giả bộ hờn giận:
- Hừ! Ai thèm để ý đến mình đâu mà cảm ơn như vậy! Khỏi rồi sao không xuống giường, lại cứ nằm ỳ trong chăn như thế làm chi?
Con nhỏ vừa véo tai Thiên Tứ vừa lôi kéo lên. Đau quá không chịu nổi nữa, Thiên Tứ biết nếu mình đứng dậy thì thân hình lõa lồ như thế có phải là hổ thẹn không? Nên y vội đưa tay ra nắm lấy cổ tay của Xảo Yến và nói:
- Tiểu thư, mau buông tay ra! Tôi… tôi không có mặc quần áo đâu!
Xảo Yến nghe nói ngẩn người ra và buông tay luôn, rồi đảo ngược đôi ngươi một vòng hờn giận nói tiếp:
- Ta không tin! Vừa rồi anh chả dậy rồi là gì?
Nàng vừa nói vừa lôi mạnh cái chăn của Thiên Tứ đang đắp lên, quả thấy y trần truồng thật. Xảo Yến rú lên một tiếng rồi quay đầu ù té chạy luôn.
Thoạt tiên Thiên Tứ giật mình đến thót một cái, sau thấy Xảo Yến hoảng sợ bỏ chạy, không sao nhịn được cũng bật cười ha hả.
* * *
Năm hết tết đến, tuy mục trường Lũng Tây vẫn bị tuyết bao phủ nhưng đâu đâu cũng có treo đèn chăng hoa cảnh tượng vui đẹp không tả.
Thiên Tứ vẫn ở với Trần Tứ, nhưng công việc của y bây giờ không phải suốt ngày chăn bò như trước nữa. Nhờ bị Kim Vũ đả thương, y đã được trường chủ để ý tới. Vì thấy cốt cách của y rất tốt nên lão trường chủ muốn thu y làm đồ đệ, nhưng khi nghe nói đến Địa Sát chưởng pháp của trường chủ lợi hại và ác độc như vậy y lại không muốn học nữa.
Phần vì Trị Toàn không muốn cưỡng ép, phần vì muốn y làm việc ở mục trường này lâu ngày sẽ tâm phục khẩu phục, tự động xin học hỏi ngay, nên lão trường chủ không bắt y đi chăn bò như trước nữa, đổi y vào trong nhà riêng làm lụng, mỗi ngày chỉ phải quét dọn sân và lối đi, buổi sáng thì ở diễn võ trường hầu hạ nước nôi cho anh em Tô Hãn với Kim Vũ luyện võ.
Ngày nào cũng vậy, Trị Toàn đích thân dạy bảo con cái với đồ đệ, thỉnh thoảng cao hứng y lại dạy cho Thiên Tứ một vài miếng võ thưởng. Bất cứ trường chủ dạy pho võ công nào, Thiên Tứ cũng chịu khó học và còn chăm chỉ hơn anh em họ Tô với Kim Vũ nhiều, nhưng y không chịu vái trường chủ làm sư phụ, và không muốn học hỏi pho Địa Sát chưởng pháp ác độc ấy.
Sự thật năm đó Thiên Tứ mới lên tám, có biết cái gì là ác độc hay không ác độc, và ý nghĩa của việc bái sư như thế nào đâu? Sở dĩ y khăng khăng không chịu học hỏi pho chưởng pháp ấy là vì y đã bị Kim Vũ đánh một chưởng, và đã biết pho chưởng pháp ấy rất lợi hại, chỉ lỡ tay tấn công một thế cũng có thể giết chết đối phương liền. Ngoài ra, y còn được nghe Trần Tứ với Tô Thanh các người nói thần công của trường chủ lợi hại như thế nào. Ông ta đứng cách xa hơn trượng, chỉ tấn công một chưởng thôi, cũng có thể đốt chết được kẻ địch liền.
Thiên Tứ không muốn sát sinh và cũng không muốn giết người, nên y nhận thấy pho võ công ấy quá lợi hại như thế, khi đã học hỏi được, chỉ hơi sao nhãng một chút là có thể giết người liền. Đồng thời, ngày nào y cũng thấy anh em họ Tô với Kim Vũ học đi học lại chỉ có một môn chưởng pháp ấy thôi, nên y mới tưởng lầm nếu vái sư rồi thì thế nào lão trường chủ cũng bắt mình học hỏi pho võ công ấy. Vì thế mà y không chịu bái sư. Tuy thỉnh thoảng trường chủ dạy y một thế võ nhưng y không chịu gọi trường chủ là sư phụ.
Công việc buổi chiều của Thiên Tứ là vào trong phòng học đọc sách. Lúc nào y cũng được học chung một giờ với anh em Tô Hãn và y cũng học tới bộ Tứ Thư rồi.
Hai tháng nay, Thiên Tứ với Xảo Yến gặp mặt nhau luôn, nên chơi với nhau rất thân mật. Tuy cũng có lúc Xảo Yến chọc tức y, nhưng lần nào cũng vậy, Xảo Yến lại ngấm ngầm tặng y những món quà hoặc thức ăn kỳ lạ. Hễ thấy Kim Vũ làm khó dễ y, Xảo Yến liền can thiệp và bênh vực ngay. Tô Hãn lớn tuổi nhất, tuy không coi Thiên Tứ là kẻ thâm thù, nhưng y vẫn coi rẻ thằng nhỏ, cho nó là xuất thân đê hèn, nên vẫn giở bộ mặt chủ nhân ra mà hà hiếp thằng nhỏ.
Càng bị hai người hà hiếp bao nhiêu, Thiên Tứ càng nhận thấy tấm lòng của Xảo Yến quí hóa bấy nhiêu. Vì vậy y rất thương cô bé, coi cô bé như là tri kỷ vậy, có điều gì không vui hay bất mãn, liền đi kiếm Xảo Yến mà kể lể hết cho con nhỏ nghe ngay. Cũng có đôi khi Xảo Yến nổi tính tiểu thơ lên, mắng chửi hoặc đánh đập y nhưng y vẫn vui lòng chịu nhịn.
Hôm đó là hai mươi chín tháng chạp, toàn thể nhân viên của mục trường đã làm xong phận sự ai nấy đều về nhà sớm để ăn tết. Trong nhà riêng của Trị Toàn, cảnh tượng lại càng vui vẻ hơn nhà của những người làm công khác, mọi sự học hành và luyện võ đều đình chỉ hết.
Thiên Tứ vừa quét xong tuyết ngoài sân, đang định về nhà Trần Tứ thì đột nhiên thấy Xảo Yến xuất hiện. Con nhỏ hai tay chống nạnh mặt đỏ bừng, cứ ngẩn người ra nhìn vào mặt y hoài và giả bộ hờn giận hỏi:
- Nhìn cái gì? Không nhận ra bổn tiểu thư là ai hay sao?
Thiên Tứ vội đáp:
- Không phải thế! Vì hôm nay chị Xảo Yến mặc áo xanh trông rất đẹp nên tôi cứ tưởng là người khác.
Xảo Yến sầm nét mặt lại, hỏi tiếp:
- Người khác nào? Người đó là ai?
- Cô ta mặc bộ đồ màu xanh, tuổi trạc như chị vậy. Mắt rất to và tròn, chưa cười hai má đã lộ núm đồng tiền ngay. Thật đẹp…
Y chưa nói dứt lời đã bị Xảo Yến tát kêu đến “bốp” một cái, và mắng luôn:
- Giỏi thật! Quân này lại quen biết cả em họ của ta! Sao ngươi không đi đến nhà nó mà ở…
Vừa bị mắng vừa bị đánh một cái tát, Thiên Tứ ngơ ngác không hiểu tại sao, lại thấy Xảo Yến giơ tay ra đánh tiếp, tuy không muốn trả đũa nhưng y vẫn giơ tay lên chống đỡ, mồm thì vội vã cãi:
- Chị Xảo Yến hãy nghe tôi nói…
Xảo Yến giậm chân xuống đất một cái:
- Hừ! Ai là chị Xảo Yến của ngươi? Thật không biết xấu hổ!
Kim Vũ đang ở trong phòng, nghe thấy tiếng quát mắng của Xảo Yến vội chạy ra xem mới hay sư muội mình đang nổi giận, và thấy Thiên Tứ lại dám gọi sư muội mình là chị Xảo Yến, y càng tức giận thêm, liền nhảy xổ lại, vừa giơ chưởng tấn công vừa lớn tiếng mắng chửi:
- Đánh chết tên cho má vô lễ này! Mi không soi gương xem mình là hạng người như thế nào mà dám gọi Yến muội của ta là chị Xảo Yến như thế…
Xảo Yến đang nổi giận, không như những lần khác ngăn cản Kim Vũ, trái lại càng xúi giục thêm:
- Vũ sư ca cứ đánh mạnh vào! Đánh cho quân vô lương tâm này một trận thật đau đi!
Thiên Tứ bị Kim Vũ chửi như thế đã động lòng tự ái, đau đớn vô cùng giờ lại nghe thấy Xảo Yến nói như vậy, càng đau khổ thêm, biết còn ở lại nữa thế nào cũng bị Kim Vũ đả thương chứ không sai. Vì thế, không đợi Kim Vũ tấn công chưởng thứ hai tới, y đã quay người chạy luôn.
Y không chạy ra cửa lớn mà nhảy qua bờ tường đá chạy thẳng về nhà Trần Tứ. Ngờ đâu Kim Vũ không chịu buông tha cứ đuổi theo tiếp. Thấy vậy, Thiên Tứ không chạy về nhà Trần Tứ nữa mà chạy thẳng ra ngoài trại.
HỒI THỨ BA
Dắt bò vào mục trường gây họa lớn
Lúc ấy trời đang mưa tuyết, gió bấc thổi tới giá lạnh như dao cắt. Cánh đồng cỏ bị tuyết phủ lấp hẳn nên không sao phân biệt đâu là bãi cỏ đâu là đồi núi nữa!
Thiên Tứ tuổi mới lên chín, một thân một mình mặc bộ áo vải đơn, đi lang thang trên mặt tuyết. Gió bấc thổi tới khiến mặt y rét đến tái mét, môi cũng thâm tím, hai tay cứ xoa vào nhau hoài, người thì run lẩy bẩy, nhưng y vẫn không có vẻ gì là sợ hãi, cứ tiến thẳng về phía trước.
Y vừa đau lòng vừa hoang mang không biết bây giờ nên đi đâu? Y không hận ai, chỉ đau lòng thôi. “Vì không ngờ bỗng dưng chị Xảo Yến lại giở mặt với mình như thế? Mọi khi chị ấy vẫn bênh vực mình, cấm sư huynh hà hiếp mình, nhưng lần này chị ấy lại xúi giục sư huynh đánh đập mình, bắt buộc mình phải bỏ chạy tới chốn hoang vu này.”
Y biết mình không thể nào ở lại mục trường Lũng Tây nữa. “Tuy người ở trong mục trường ai cũng thương mến mình, nhưng bây giờ tiểu thư nghìn vàng của trường chủ đã ghét bỏ mình, thử hỏi còn ai dám dung nạp mình nữa không?”
Lúc này y hoang mang vô cùng vì y không nghĩ ra được nên đi đâu? Ngoài mục trường Lũng Tây, còn nơi nào để cho y được ăn ở và học hỏi tài ba như ở đây không?
Y cứ lững thững đi vòng qua một ngọn đồi lớn tuyết phủ kín, bỗng y thấy phía trước có một cái gò tuyết cao bằng nửa người nằm chắn lối đi. Y liền giẫm lên cái gò ấy để tiến về phía bên kia, ngờ đâu bỗng có tiếng kêu “Hò” từ dưới cái gò ấy vọng lên. Tiếp theo đó cái gò bỗng tự động nổi cao ngay lên. Y giật mình kinh hoảng, trượt chân một cái té ngay xuống bên dưới. Y vội đạp chân một cái, đã đứng ngay lên rồi vội quay lại nhìn, vừa kinh hãi vừa mừng rỡ.
Thì ra đó là một con bò nằm ở đấy bị tuyết phủ lên, y lại tưởng là một cái gò, nên vừa giẫm chân vào lưng bò thì con vật đã kêu “Hò” một tiếng và đứng lên ngay. Trái lại, y rất mừng rỡ là vì vốn thích bò nhất, ngờ đâu nơi đây lại may mắn gặp được một con. Con bò này có đôi mắt đỏ như máu và lóng lánh như hai ngọn đèn. Nó đang trợn mắt nhìn y, mũi nó phun ra những luồng hơi trắng liên tiếp.
Thiên Tứ thấy vậy kinh hãi thầm, tưởng con bò này bị điên, nhưng y vẫn theo thói quen gọi nó một tiếng để tỏ ra mình là bạn của nó chứ không phải kẻ địch.
Con bò nghe thấy tiếng kêu của y, hai mắt không còn hung ác như trước. Nó rung người một cái, tuyết phủ ở trên người nó đều rụng xuống đất hết, và đã lộ ra những điểm kì lạ hơn bò thường.
Thì ra con bò này không những to gấp đôi bò thường mà mình còn mọc đầy lông trắng bóng nhoáng, đầu nó hao hao đầu ngựa, hai cái sừng cong cong dài chừng một thước rưỡi, bốn cái chân nó như bốn cái trụ vừa to vừa khỏe. Bên trên bốn móng chân lại có bốn chùm lông đen rất dài. Ngoài ra, móng chân của nó hơi giống chân hổ, dưới bụng còn có một cái vú thật to giống như cái hồ lô rượu, đuôi dài và lông đuôi quét gần tới mặt đất.
Thiên Tứ thấy con bò kinh dị như vậy, ngạc nhiên vô cùng bèn hỏi:
- Ngoan ngoãn! Mi có phải là bò không?
Con bò quái dị nghe thấy y lên tiếng hỏi liền từ từ đi đến cạnh.
Thiên Tứ sống cạnh loài bò từ nhỏ đến giờ nên rất thuộc tính nết của chúng. Lúc này y thấy con bò quái dị, tuy khác bò thường nhưng y vẫn dùng những động tác đối phó với bò thường để an ủi vuốt ve nó thử xem. Ngờ đâu, con bò quái dị vươn cổ thật dài lên kêu “Hò, hò, hò” ba tiếng và ngoan ngoãn đứng yên để y vuốt ve. Thiên Tứ mừng rỡ vô cùng, quên cả sự đau khổ, liền nhảy lên lưng con bò, khẽ vỗ vào cổ nó một cái và nói:
- Ngân ngưu! Đi thôi!
Vì thấy lông của nó màu trắng như bạc nên gọi nó là Ngân Ngưu. Con Ngân Ngưu ấy cũng kỳ lạ thật. Nó quay đầu lại nhìn Thiên Tứ một cái, kêu “Hò” một tiếng và rảo cẳng phóng đi luôn.
Thiên Tứ ngồi trên lưng bò, thấy cảnh vật ở hai bên núi như bay giật lùi, gió tạt vào mặt và tuyết bắn vào người đau đớn khôn tả. Con bò bạc ấy càng chạy càng nhanh, không khác gì đằng vân giá vũ, và y cảm thấy ngồi trên lưng nó rất êm. Đồng thời chân lông của nó tỏa ra những luồng hơi nóng, nên y không thấy giá lạnh như trước nữa.
Thiên Tứ không thấy rét run như lúc trước, mặc dù con Ngân Ngưu phóng chạy như bay. Y khoái chí liền vươn cổ hú lên một tiếng thật dài. Con Ngân Ngưu cũng kêu lên “Hò, hò” và phóng nhanh hơn trước nhiều.
Một lát sau con Ngân Ngưu đã phi tới đỉnh một ngọn đồi, trên đó có một cây cổ thụ rất to và cành lá rậm rạp như một chiếc lọng lớn, dưới gốc cây xung quanh hơn trượng không có một chút tuyết nào và còn che được cả gió lạnh nữa. Thiên Tứ bỗng nghĩ ra được một kế, vội bảo với con Ngân Ngưu ngừng chân lại.
Con bò ấy hình như biết nghe tiếng người, đang phóng nhanh như vậy mà Thiên Tứ bảo ngừng chân, nó đứng yên ngay.
Thiên Tứ bỗng vỗ tay vào cổ nó một cái, rồi nhảy xuống đất và tiến thẳng đến gốc cây kín gió ngồi xuống vận công điều tức liền. Con Ngân Ngưu thấy Thiên Tứ ngồi ở chỗ đó lắc đầu mấy cái rồi y nằm ngay xuống chỗ bên cạnh.
Thiên Tứ hành công xong lại luyện một hồi quyền cước. Lúc này y mới cảm thấy đói bụng, bụng kêu như nước sôi vậy. Còn con Ngân Ngưu thì vừa nhai cỏ vừa lim dim ngủ.
Thiên Tứ thấy cái vú của nó đầy sữa như vậy liền thèm rỏ dãi. Đói quá không sao chịu được, y bèn ngồi cạnh con bò, giơ tay ra thử rờ vào vú của nó xem sao? Thấy con bò không có phản ứng gì hết, y mới dám cúi đầu xuống bú luôn. Con bò quay đầu lại nhìn một cái rồi lại nhắm mắt ngủ luôn.
Thiên Tứ cảm thấy sữa con Ngân Ngưu vừa thơm vừa ngọt, chứ không hôi như sữa của những con bò thường. Bú no rồi y cảm động vô cùng, nằm gối đầu vào bụng con bò, nhỏ nhẻ kể lể tâm sự của mình cho con bò hay. Không biết con bò ấy nghe có hiểu lời y nói hay không? Nhưng chỉ thấy nó vẫn nằm nhắm mắt, mồm vẫn nhai cỏ, thỉnh thoảng quay đầu lại mở một con mắt lên ngó nhìn thằng nhỏ nằm ở cạnh đó.
Thiên Tứ thấy thái độ của con bò như vậy rất mãn ý. Vì xưa kia y vẫn thường kể lể tâm sự của mình với con bò đen nhánh như thế. Con bò già đen ấy vẫn nhìn y như vậy, và thỉnh thoảng còn kêu “hò, hò” hai tiếng, hình như đã trả lời y rồi.
Thiên Tứ ngẩng đầu lên nhìn sắc trời, thấy bốn bên vẫn còn u ám, nơi đó lại là một chốn hiu quạnh, không thấy một bóng người nào hết nên y rầu rĩ vô cùng, nghĩ bụng:
“Nơi đây chả là chỗ ông già quái dị dạy ta luyện nội công hồi nọ là gì? Môn nội công tâm pháp của ông ta công hiệu thực! Chắc ông ta tài ba lắm? Ta phải theo ông ta học hỏi mới mong tài giỏi được, nhưng biết ông ta ở đâu mà tìm kiếm?...”
Y nhận thấy cứ ở mãi nơi đó cũng vô ích nên vội bảo con Ngân Ngưu rằng:
- Ngân Ngưu, chúng ta đi tới chỗ có người ở đi? Bằng không…
Hình như con Ngân Ngưu cũng hiểu ý nghĩa lời nói ấy nên nó đứng dậy ngay. Thiên Tứ lại tưởng nó có chủ nhân khác và nó biết đường đi về nhà của chủ nhân nên y mừng thầm và nghĩ tiếp:
“Nếu được về nhà chủ nhân của nó cũng hay! Ta sẽ làm việc cho chủ nhân nó để tạm kiếm miếng cơm ăn…”
Nghĩ đoạn, y phi thân lên lưng nó ngay và bảo rằng:
- Chúng ta đi thôi.
Chờ y ngồi vững rồi, con Ngân Ngưu lại phóng về lối cũ. Thiên Tứ tưởng nó về nhà chủ nhân của nó thực, nên cứ để mắt cho nó đưa đi đâu thì đi. Không bao lâu y đã trông thấy đằng xa có một cái trại lớn, nhưng khi tới gần mới biết con Ngân Ngưu lại đưa mình quay trở về mục trường Lũng Tây.
Y đang ngạc nhiên, bỗng thấy cửa trại mở rộng bên trong có mấy người cưỡi ngựa phi ra. Từ khi luyện tập tọa công tới giờ, hai mắt của y rất sáng, người ấy là tổng quan Tô Chí Oai, đầu mục vòng ngựa Vương Anh, đầu mục vòng bò Hạ Võ với Trần Tứ.
Y không hiểu trời giá lạnh như vậy, mấy người đó còn đi đâu? Ngày thường mấy người ấy rất có cảm tình với y nên y muốn tiến lên hỏi thăm xem họ đi đâu và có việc gì.
Cả hai bên đều phóng rất nhanh, chỉ trong nháy mắt những người nọ đã trông thấy Thiên Tứ rồi. Trần Tứ bỗng lớn tiếng kêu gọi:
- Thiên Tứ đi đâu thế? Có mau trở về không…?
Con Ngân Ngưu chạy rất nhanh, không bao lâu Thiên Tứ đã tới cạnh mấy người kia rồi. Nghe thấy Trần Tứ gọi như thế, y cảm động vô cùng vội bảo con Ngân Ngưu:
- Ngừng lại!
Con bò quái dị ấy dừng chân ngay và đứng ở chỗ cách mấy người kia chừng năm thước. Bọn Trần Tứ trông thấy con Ngân Ngưu quái dị như vậy cũng kinh ngạc vô cùng. Trần Tứ lại lên tiếng hỏi tiếp:
- Con đang cưỡi con vật gì thế?
Thiên Tứ vỗ đầu con Ngân Ngưu đáp:
- Con bò!
Chí Oai là người rộng kiến thức như thế mà chưa hề trông thấy một con thú nào nửa bò nửa ngựa như thế này. Nhưng y là người rất trầm tĩnh, nên y chỉ tỏ vẻ hơi ngạc nhiên thôi, rồi đưa hai mắt nhìn con bò một cái và hỏi Thiên Tứ:
- Thiên Tứ, từ sáng tới giờ ngươi đi đâu thế? Trường chủ không thấy ngươi có hỏi Yến tiểu thơ. Thoạt tiên Yến tiểu thơ cũng bảo không biết, nhưng sau cô ấy lẳng lặng đi đến nhà Trần Tứ để kiếm ngươi mà không thấy. Lúc đó, cô bé mới lo âu liền về thưa trường chủ ngay, trường chủ rất thương ngươi, thấy thế liền gọi Yến tiểu thơ với Kim Vũ tới hỏi chuyện. Khi đã biết rõ nguyên nhân, ông ta liền la hai người bọn họ một hồi và bảo bọn ta tìm ngươi ngay…
Thiên Tứ nghe Chí Oai nói như thế cảm động đến ứa nước mắt ra. Y không ngờ Xảo Yến lại biết hồi tâm và đi khắp nơi tìm kiếm mình như vậy. Đồng thời, y cũng không ngờ trường chủ lại coi trọng mình đến thế?
Chí Oai thấy hai mắt của Thiên Tứ đỏ ngầu và ươn ướt liền đổi giọng nói:
- Thôi ngươi mau vào trong trại để yết kiến trường chủ ngay cho ông ta khỏi lo âu, và ngươi cũng nên đi gặp Kim Vũ với Yến tiểu thư. Có lẽ lúc này cô bé đang khóc cũng nên.
Nói xong, y quay đầu ngựa trước, mấy người kia cũng quay đầu ngựa theo y vào trang trại ngay. Thiên Tứ thúc con Ngân Ngưu đi sau cùng.
Mọi người phi ngựa tới trước chuồng ngựa. Tuy Thiên Tứ hãy còn nhỏ nhưng theo Trị Văn học văn bấy lâu nay đã biết lễ nghi như thế nào nên chờ mọi người nhảy xuống ngựa xong, y cũng nhảy xuống theo và tiến lên cảm tạ từng người một. Vì phải vội vào yết kiến trường chủ nên Thiên Tứ thuận tay nhốt con Ngân Ngưu vào chuồng ngựa luôn.
* * *
Thư phòng riêng của Trị Toàn được trang hoàng rất lịch sự. Lúc ấy lão trường chủ đang ngồi cầm cuốn sách nhưng không thấy giở trang nào ra đọc mà chỉ cau mày lại như đang suy nghĩ một vấn đề gì nan giải vậy.
Tô Trị Toàn vội đáp:
- Cứ vào!
Thiên Tứ vội lùi bước vào quì vái ba lạy. Xưa nay y vẫn là người kém ăn nói, tuy trong lòng muốn nói mấy câu để cảm ơn nhưng y không hiểu nên nói thế nào cho phải chỉ đành cúi đầu vái mấy cái để thay những lời nói ấy thôi.
Trị Toàn thấy y mồm ấp úng và cứ gật đầu hoài như vậy liền tỏ vẻ vui mừng, từ từ xua tay ra hiệu bảo y đứng dậy, và một tay thì vuốt râu nói:
- Con nhỏ xấu tính lắm, Thiên Tứ không nên bận lòng vì nó! Vũ nhi cũng hãy còn ít tuổi, tính hay xúc động, sự thực lão phu biết cả hai đứa ấy đều là người lương thiện…
Nói tới đó, y ho khan một tiếng rồi tiếp:
- Sự thực lão phu cũng là người từng trải, biết rõ tính nết của những người thiếu niên bao giờ cũng háo thắng. Sau này, nếu chúng còn hà hiếp ngươi thì ngươi cứ việc ra tay trả đũa… Hà! Sự thực ngươi là một người rất thuần hậu, nhưng căn cốt thuộc hạng thượng thừa. Nếu ngươi chịu học pho Địa Sát chưởng pháp của lão phu thì chỉ nửa năm thế nào tài nghệ của ngươi cũng hơn anh em chúng nó ngay,… nhưng…
Nói tới đó lão trường chủ lại cứ ho khan mấy tiếng và cứ đăm chiêu ngắm nhìn Thiên Tứ hoài, ngờ đâu Thiên Tứ không hiểu ý nghĩa lời nói đó, không biết trường chủ muốn thu mình làm đồ đệ. Hơn nữa, y cứ cho pho Địa Sát chưởng pháp ấy quá ác độc, nếu luyện thành công, chỉ ra tay tấn công một cái là đả thương người ngay. Như vậy muốn vỗ vai hay bắt tay người khác để làm quen với nhau cũng không tiện. Mặc dù y có những ý nghĩ ấy, nhưng lúc này y thấy Trị Toàn đối xử với mình như vậy, trong lòng đã rất cảm động. Nếu Trị Toàn cứ nói trắng ra muốn nhận y làm đồ đệ, có lẽ y không do dự gì cả mà nhận lời ngay chứ không sai.
Trị Toàn thấy Thiên Tứ cứ đứng ngẩn người ra, chẳng nói chẳng rằng, trong lòng có vẻ không vui, sau y nghĩ bụng:
“Y hãy còn nhỏ, sau này có nhiều cơ hội. Chờ lúc nào y tự lên tiếng xin làm đồ đệ, lúc ấy ta sẽ thu nhận y cũng chưa muộn”. Rồi y nói:
- Thôi được, ngươi hãy đi ra ngoài kia đi!
Thiên Tứ cung kính vái Trị Toàn một lạy rồi mới đi ra ngoài. Y định vào nhà trong thăm Xảo Yến, ngờ đâu y chưa bước chân đi đã nghe thấy bên ngoài hàng rào có mấy tiếng bò ngựa kêu vọng vào. Nghe tiếng rất đinh tai ấy, y biết ngay con bò đó đang phẫn nộ vô cùng, và cũng nhận ra đó là tiếng kêu của con Ngân Ngưu. Y kinh hoảng vô cùng, vội rảo chân chạy ra bên ngoài. Vừa ra tới cửa lớn thì y đã nghe tiếng người la ngựa hí rất ồn ào chạy tới rồi. Y vội chạy tới cạnh bờ tường đưa mắt nhìn ra đã cả kinh thất sắc.
Thì ra trước một chuồng ngựa đang có mấy chục con ngựa chạy loạn xạ, kêu hí luôn mồm, còn con Ngân Ngưu cứ đuổi theo đàn ngựa dùng sừng húc, chân đá, con nào bị nó đá trúng là vỡ bụng lòi ruột chết một cách thảm khốc liền.
Mười mấy tên mục đồng với mã sư tay cầm thương bổng với dây thừng vừa đuổi theo vừa kêu la, nhưng khi con Ngân Ngưu quay đầu lại thì bọn người ấy lại rút lui luôn, không ai dám tới gần nó cả.
Vì chỗ mình đứng cách nơi xảy ra thảm kịch cũng khá xa, Thiên Tứ biết kêu gọi chưa chắc con Ngân Ngưu đã nghe thấy, nên y đành rảo cẳng chạy về phía đó. Đang lúc ấy lại có một bọn cung thủ, người nào người nấy đều cầm cung tên, vừa tiến tới gần vừa nhắm con Ngân Ngưu bắn luôn. Tuy Thiên Tứ tức giận con Ngân Ngưu vì nó đã giết chết nhiều ngựa như vậy, nhưng y lại rất ưa thích và thương tiếc nó vô cùng, nên không nhẫn tâm trông thấy nó bị bắn chết đành phải dừng chân nhắm nghiền hai mắt lại.
Ngờ đâu, y nghe thấy tiếng bò rống rất lớn. Tiếp theo đó lại có tiếng người thất thanh kêu la. Y vội mở mắt ra nhìn mới hay những mũi tên của bọn cung thủ đã bắn trúng mấy con ngựa ngã lăn ra đất, còn con Ngân Ngưu thì chẳng có việc gì cả. Trái lại nó còn đang rất hăng máu xông thẳng vào đám đông để húc những người vừa dùng cung tên bắn nó.
Bọn cung thủ thấy con bò hung hăng như vậy không kịp bắn tiếp, người nào người nấy cả kinh thất sắc vội vứt cả cung tên xuống đất bỏ chạy tán loạn liền.
Ngân Ngưu chạy như bay, chỉ trong nháy mắt nó đã đuổi kịp một người. Nó liền cúi đầu xuống, dùng sừng hất mạnh một cái, người nọ đã bị tung lên cao ngay.
Thiên Tứ thấy vậy vừa lo âu vừa tức giận rú lên mấy tiếng thực lớn, và rảo cẳng chạy thẳng tới quảng trường.
Lạ thực! Còn bò vừa nghe thấy tiếng rú kêu của Thiên Tứ liền dừng chân lại ngay.
Còn người bị con bò hất tung lên cao hơn trượng và đang rớt xuống, nếu cứ để y rớt thẳng xuống đất dù không vỡ sọ chết thì cũng bị gãy tay. Đang lúc nguy hiểm đó đột nhiên có một bóng đen nhảy lên giơ tay ra đỡ luôn lấy người nọ rồi từ từ hạ xuống đất.
Thiên Tứ xa xa trông thấy như vậy vừa kính phục vừa ngưỡng mộ, sau y nhìn kỹ mới biết đó là Tô Chí Oai, tổng quản sư của mục trường. Y vẫn mặc cái áo dài, tay vẫn cầm ống điếu nhẹ nhàng đặt người nọ xuống đất, rồi xông lại chỗ con Ngân Ngưu luôn.
Lúc ấy hung tính của con Ngân Ngưu đã dịu dần, nó chỉ quay tít ở giữa quảng trường để tác oai thôi chứ không húc và đá người lẫn ngựa nữa. Chí Oai thừa cơ lướt tới phía sau con Ngân Ngưu, rồi đột nhiên nhảy lên cao hơn trượng, tay phải cầm ống điếu nhắm mắt con bò điểm xuống, tay trái thì dùng Phách Không chưởng nhắm đầu nó tấn công luôn.
Con Ngân Ngưu bỗng phát hiện trên không có người, nó rống một tiếng thật lớn, bốn chân nhún mạnh, người nó cũng bay luôn lên không nửa trượng, dùng đầu húc thẳng vào bụng dưới của Chí Oai.
Chí Oai không ngờ động tác của con bò lại nhanh nhẹn như vậy, hai thế một thức của mình vô hình chung đã trật đích, thế Phách Không chưởng đáng lẽ đánh vào đầu con bò nay chỉ có thể đánh vào lưng nó thôi, nếu cứ tiếp tục như thế mà không thu chiêu nhảy sang một bên tránh né thì bụng y thế nào cũng bị sừng bò húc trúng. Lấy mạng người để đổi với mạng thú thật không đáng chút nào, bất đắc dĩ y phải thu thế công lại, phất mạnh hai tay một cái người đã lên thêm được ba thước, thừa thế dùng hai chân nhắm hai mắt con bò đá luôn.
Con bò húc không trúng bụng Chí Oai và nó cũng vừa hết đà nên người nó rớt xuống bên dưới ngay nhưng chân nó chưa chạm vào mặt đất đã văng mình ra ngoài hai trượng liền. Cũng vì thế mà hai chân Chí Oai mới đá hụt. Tuy vậy, y là người có võ công rất cao siêu, nên chỉ thấy y khẽ xoay người đã phi thân lên con bò liền. Y định vận hết công lực dùng Thiên Cân Trụy để giẫm vào lưng con Ngân Ngưu. Y yên chí dù con bò không gãy xương sống chết tốt thì ít nhất cũng bị gãy một vài cái xương sườn, bị thương nặng mà nằm lăn ra đài chứ không sai?
Ngờ đâu sự thật lại trái ngược hẳn. Y giẫm vào lưng con bò nó chỉ dừng lại thôi chứ không suy chuyển gì cả. Trái lại, việc giẫm lên lưng nó làm cho nó nổi hung lên. Nó ngẩng mặt lên trời rống lên một tiếng, hất cái đuôi thật dài lên không khác gì một cây roi bạc, nhằm hai ống chân của Chí Oai quất tới.
Chí Oai không ngờ con bò biết dùng đuôi tấn công mình như vậy nên hoảng sợ vô cùng vội tung mình nhảy lên cao ngay.
Con Ngân Ngưu thấy quất không trúng, đột nhiên quay đầu lại trợn tròn đôi mắt đỏ như máu bắn ra hai luồng hung quang nhìn thẳng vào mặt Chí Oai, hai chân trước đá xuống đất mấy cái, mũi phun ra hai luồng khói trắng, hầu như muốn nhảy vồ lấy Chí Oai vậy.
Chí Oai cả giận nghĩ bụng:
“Với thân phận của mình mà không diệt trừ nổi con bò quái dị này, nếu đồn ra bên ngoài thì ta còn mặt mũi nào mà nhìn thiên hạ nữa”.
Nghĩ như vậy, vừa xuống tới mặt đất đã vận Địa Sát huyền công thần chưởng lên. Chỉ trong nháy mắt hai bàn tay của y đã đỏ như lửa, rồi y liền nhắm đôi mắt của con Ngân Ngưu tấn công luôn.
Tuy con Ngân Ngưu không biết thế thức chưởng pháp gì hết, chỉ thấy đối phương tấn công là nó cúi đầu tránh né luôn. Đồng thời, nó còn nhảy vồ tới dùng sừng húc địch thủ luôn là khác. Nhờ nó cúi đầu như thế, vô hình chung hai cái sừng của nó đã che chở cho hai con mắt của nó, nên chỉ nghe thấy phụp một tiếng, chưởng lực của Chí Oai đã đánh trúng vào hai cái sừng.
Con Ngân Ngưu chỉ hơi sững lại một chút rồi xông lên húc như cũ. Chí Oai thấy vậy cả kinh, vội nhảy sang bên trái để tránh né. Con Ngân Ngưu vừa xông qua người y, chỉ cách có nửa tấc nữa thôi là y đã bị con Ngân Ngưu húc phải, thực là nguy hiểm vô cùng.
Chí Oai thấy dịp may hiếm có, định dùng thế Sát Thần Cử Hỏa in hai bàn tay vào bụng con bò. Quả nhiên thế đó đã in trúng, con bò chịu không nổi hơi nóng của chưởng lực ấy liền rống lên một tiếng, thân hình của nó đã đổ ngay về bên trái liền.
Chí Oai mừng rỡ khôn tả, đang định tiến lên bồi thêm một thế nữa để đánh chết con bò quái dị này ngay. Ngờ đâu con Ngân Ngưu chỉ bị thương nhẹ thôi, nó thấy Chí Oai nhảy tới liền dùng đuôi quất mạnh một thế, Chí Oai sơ ý không kịp đề phòng, bị đuôi nó quất trúng, đau đến kêu “hự” một tiếng, vừa đau vừa tức giận nên y chết giấc ngay tại chỗ.
Lúc ấy, Thiên Tứ vừa chạy tới trông thấy con bò đả bị thương tổng quản, sợ gây nên tai họa lớn, tức giận khôn tả khỏi cần biết có địch nổi con Ngân Ngưu hay không liền thét lên một tiếng nhảy xổ lại ngay.
Con Ngân Ngưu bị đánh trúng một chưởng té ngã, hơi nghỉ ngơi một chút lại rống lên một tiếng rồi đứng dậy ngay. Nó vừa trông thấy một cái bóng đen nho nhỏ nhảy xổ tới không biết nếp tẻ gì hết liền cúi đầu xuống định húc.
Thiên Tứ vừa nhẩy xổ tới bỗng trông thấy con Ngân Ngưu đứng dậy, trong lòng đã hơi hoảng sợ vì công lực của y tuy đã luyện tới mức khá cao, nhưng y không biết cách vận dụng nên thấy con bò đứng dậy như vậy mà cũng không sao ngừng chân lại được. Trái lại, y còn lao vào chỗ giữa hai cái sừng con bò là khác.
Đang lúc ấy y bỗng nghe thấy giọng nói khàn khàn kêu gọi:
- Thiên Tứ không nên làm như thế!
Đồng thời y còn nghe thấy một tiếng thất thanh kêu la rất lảnh lót, y đã nhận ra đó là tiếng nói với tiếng kêu của hai cha con trường chủ, nhưng lúc ấy y đã nằm trên đầu bò rồi. Nhờ có trí khôn rất nhanh, y vội dùng hai tay ôm chặt lấy hai cái sừng bò tuy vậy người y vẫn bị sức mạnh con bò hất tung lên.
Mặc dù hai chân đã bị chổng lên trời y vẫn không chịu buông tay vì y nghĩ thầm:
“Nếu ta buông tay ra người của ta thế nào cũng bị quăng ra ngoài khi rớt xuống đất không chết cũng bị thương nặng.”
Vì vậy, người y bị hất lộn một vòng, lúc rớt xuống lưng y vừa đè lên lưng con bò kêu đến “bộp” một tiếng, tuy xương cốt của y rất cứng cỏi nhưng cũng đau đến nhăn mặt lại.
Con bò giật mình kinh hãi cứ cắm đầu ù té chạy luôn. Thiên Tứ nắm ngửa trên lưng con bò thấy cảnh vật hai bên đi giật lùi và nhanh như bay vậy y càng hoảng sợ thêm hai tay vẫn nắm chặt hai cái sừng bò, đồng thời y lại còn dùng hai chân quặp chặt lấy bụng nó nữa.
Trường chủ Tô Trị Toàn vừa ra tới nơi thấy vậy kinh hoảng và không kém tức giận liền giở khinh công ra đuổi theo con Ngân Ngưu để cứu Thiên Tứ nhưng con Ngân Ngưu chạy nhanh như gió, dù Trị Toàn xưng hùng Lũng Tây thực những cũng không sao đuổi kịp nó.
Trị Toàn thấy vậy tức giận khôn tả liền nhặt lấy miếng băng ở trên mặt đất lên ném. Tuy mấy miếng băng đó không phải là ám khí nhưng do bàn tay của Trị Toàn ném ra cũng có thể ném thủng sắt đá lợi hại vô cùng.
Ngờ đâu xương cốt và da của con bò rất cứng rắn dù có mấy miếng băng ném trúng cũng không làm gì được nó, trái lại nó bị đau lại càng chạy nhanh thêm chỉ trong nháy mắt nó đã chạy ra tới trước cửa trại rồi.
Lúc ấy cửa trại đang mở rộng, Trị Toàn thấy vậy định ra lệnh đóng cửa trại nhưng đã muộn rồi, con Ngân Ngưu tựa như một làn khói chạy thẳng ra ngoài cửa trại luôn. Tới khi Trị Toàn đuổi theo ra đến ngoài cửa trại thì chỉ còn thấy một điểm trăng trắng đang chạy ở phía đằng xa thôi.
Biết có đuổi cũng không kịp nữa, đồng thời lại lo đến vết thương của Chí Oai nên y đành phải quay trở vào trước bảo thủ hạ kiếm mấy con ngựa tốt để đuổi theo con Ngân Ngưu mà cứu Thiên Tứ trở về.
Xảo Yến chỉ thấy có một mình người cha quay trở vào thôi nên nó nghĩ Thiên Tứ nằm ở bụng con bò như thế thế nào cũng rất nguy hiểm, trong lòng nó lại càng lo âu thêm, đồng thời nó cũng lấy làm lạ không hiểu con Ngân Ngưu này ở đâu tới mà lại xuất hiện ở trong trại như thế?
Hai cha con Trị Toàn vội vào trong nhà để chữa thương cho Chí Oai, trong lúc ấy Xảo Yến khẽ hỏi một mã sư về lai lịch con Ngân Ngưu ấy. Nó nghe thấy con Ngân Ngưu là do Thiên Tứ ở bên ngoài đem về, lúc ấy nó mới ân hận mình không nên nổi giận xúi sư huynh đánh Thiên Tứ để y phải chạy ra ngoài như vậy. Nếu y không chạy đi như thế thì khi nào y lại gặp con quái vật mà đem về trại để gây tai họa như trên? Bây giờ Thiên Tứ đang nằm trên lưng con quái vật và bị nó đem đi xa như vậy, không biết y có thể còn sống được không?
Xảo Yến càng nghĩ càng đau lòng vội chạy về phòng nằm trên giường khóc thầm. Lúc này nó chỉ còn một hy vọng là những người cha vừa phái đi may ra cứu được Thiên Tứ trở về thôi. Dù Thiên Tứ có bị thương nặng Xảo Yến cũng không lo vì nó biết cha nó thế nào cũng chữa khỏi được nên nó vừa nghĩ bụng vừa đảm bảo rằng:
“Thế nào cha ta cũng chữa khỏi cho y. Từ giờ trở đi ta nhất định đối xử tử tế…”
Nhưng đêm hôm đó những người đuổi theo đã về tay không. Vì không tìm thấy tung tích của Thiên Tứ đâu hết.
Ngày hôm sau, Chí Oai vì bị thương quá nặng và tuổi già sức yếu chịu đựng không nổi nên tắt thở. Trong mục trường phủ đầy không khí bi ai, người nào người nấy đều bận rộn vì việc làm ma chay cho tổng quản sự, nên việc đi tìm kiếm Thiên Tứ ngưng hẳn.
Xảo Yến nhận thấy Chí Oai thúc thúc tài ba như thế mà còn bị con quái vật giết chết huống hồ là Thiên Tứ, nên nó yên trí là Thiên Tứ cũng không sao tránh thoát được mà bị con Ngân Ngưu quật chết chứ không sai. Vì vậy, Xảo Yến rầu rĩ luôn mấy ngày liền.
Con Ngân Ngưu xưa nay vẫn sống tự do, quen đi rồi nên nhốt nó vào trong chuồng ngựa thì nó chịu sao nổi? Hơn nữa bầy ngựa khi thấy là loài khác nên đều chạy lại cắn nó và đá luôn luôn. Nó là dã thú lại sức mạnh như hổ, khi nào chịu nhịn được mấy con ngựa ức hiếp như thế. Nên nó nổi hung húc và đá chết luôn mấy con ngựa. Những con ngựa khác thấy thế hoảng sợ phá cửa chuồng chạy ra bên ngoài vì vậy trên quảng trường mới hỗn loạn vô cùng.
Lúc ấy con Ngân Ngưu cắm đầu chạy một mạch vòng quanh mục trường Lũng Tây phi tới bờ hồ Ha Lạp. Mùa đông nào cũng thế, mặt hồ Ha Lạp bị đóng băng rất dày, có thể phi ngựa trên đó cũng được. Ngân Ngưu chạy vượt qua mặt hồ và một cánh đồng mênh mông tiến thẳng lên một ngọn núi cao.
Thiên Tứ nằm trên lưng con bò tuy không thấy xóc mấy nhưng y cũng biết tốc độ của con bò rất nhanh. Tài ba mà y học hỏi được ít ỏi lắm nên y chỉ có một cách nằm yên ở trên lưng con bò thôi chứ không sao xoay người lại để cưỡi trên mình con Ngân Ngưu được.
Thiên Tứ vừa nằm trên lưng con Ngân Ngưu vừa nghĩ bụng:
“Mi cứ việc chạy đi, khi nào mi mệt rồi ta sẽ đánh cho mi một trận nên thân mới được. Ai bảo mi gây nên tai họa lớn như thế!”
Vì vậy y cứ nằm yên để cho con bò chạy, chứ không lên tiếng vuốt ve và bảo nó ngừng chân lại.
Một lát sau y thấy cảnh vật hai bên đã thay đổi, chỉ thấy những tảng đá lởm chởm và những cây cối cao chọc trời thôi. Lúc này y mới kinh hoảng nhất là thấy con bò càng lên cao.
Thiên Tứ chưa được lên núi cao bao giờ, chỉ nghe thấy người ta nói trên núi có nhiều thú dữ và những thú dữ ấy lại hay ăn thịt người. Nhưng y chưa trông thấy những loại thú dữ ấy bao giờ nên không biết sợ hãi là gì cả. Trái lại y còn thích thú là việc khác. Vì vậy, y chỉ mong con bò đưa mình lên một ngọn núi thật cao và có rất nhiều thú dữ. Và cũng vì ý nghĩ ấy đã làm cho y quên cả sợ hãi. Y cứ ngó nhìn cảnh vật mới lạ bay lướt qua hai bên hoài. Càng lên cao bao nhiêu tiết trời càng giá lạnh bấy nhiêu, nhưng nhờ có hơi nóng ở trong người con bò bốc lên đã làm cho y đỡ giá lạnh.
Leo lên một ngọn núi cao dốc như thế mà tốc độ của con bò không hề giảm bớt tí nào. Hình như nó sắp về tới nhà của nó vậy. Thiên Tứ thấy nó vui vẻ kêu “hò” hoài. Một lát sau, Thiên Tứ lại nghe thấy phía đằng xa cũng có tiếng kêu “hò” trả lời. Con Ngân Ngưu nghe thấy tiếng kêu trả lời ấy càng mừng thêm.
Thiên Tứ sống cạnh loài bò từ nhỏ, tuy y không biết tiếng nói của chúng nhưng tính hỷ nộ ai lạc của chúng ra sao y biết rõ lắm.
Thiên Tứ thấy mình đã lên trên núi cao rồi, và nghĩ tới sắp được gần gũi đàn thú dữ trong lòng càng thích thú thêm và nghĩ bụng:
“Phen này ta phải lấy ít da báo da gấu gì đó đem về. Tuy chị Xảo Yến lớn hơn ta một hai tuổi nhưng chắc nàng chưa lên núi cao bao giờ đâu! Nếu ta đem được da thú dữ về tặng cho chị ấy chắc nàng thế nào cũng mừng lắm!”
Y mải nghĩ mà quên cả mình hiện đang ở đâu. Đột nhiên con bò ngừng chân lại, Thiên Tứ chưa kịp đề phòng không kẹp chặt mình con bò nên người của y bị cái giật mạnh đẩy bắn về phía trước. Sự biến hóa đột ngột ấy khiến y ngơ ngác không hiểu gì hết. Chờ tới khi y biết mình sắp sẽ ra sao rồi thì người của y đã bay ra khỏi lưng con bò và rớt xuống rất nhanh.
Trong lúc nguy hiểm ấy, y hé mở mắt ra nhìn thấy bên dưới mình toàn là mây dày đặc và bốn phía xung quanh đều có những vách băng bén nhọn. Còn con Ngân Ngưu đang đứng ở bên mép sườn núi đang cúi đầu nhìn y. Như một ngôi sao bị rớt xuống bên dưới rất nhanh.
Đến lúc này y mới biết mình bị rớt xuống vực thẳm sâu vô cùng, như vậy thế nào cũng tan xương nát thịt chứ không sai, và còn sống sót làm sao được nữa chứ!
Y thất vọng vô cùng, liền rú lên một tiếng thật to làm vang động cả bốn vách. Đồng thời y cũng không nghĩ ra được cách gì để cứu cho mình thoát chết nên y chỉ mở to đôi mắt ra nhìn chờ đợi số mạng muốn xếp đặt ra sao thì ra thôi.
Một lát sau đã rớt càng nhanh hơn trước và càng rớt xuống bên dưới bao nhiêu thì càng thấy giá lạnh bấy nhiêu nên người y đã chịu đựng không nổi mà phải run lẩy bẩy.
Y thở dài một tiếng nghĩ bụng:
“Sao số mệnh của ta lại hẩm hiu…”
Ngờ đâu y vừa nghĩ tới đó đã thấy cái đà rớt xuống bỗng chậm hẳn và dường như có một luồng sức mạnh hút người y bắn sang một bên vậy.
Thấy trước mắt bỗng sáng ngời y biết đã thoát khỏi đám mây và sương mù rồi nên y mừng rỡ khôn tả nhưng khi y mở to mắt lên nhìn thì lại kinh hoảng đến suýt tí nữa chết giấc.
Thì ra y đã bị hút vào một cái hang động rộng hơn trượng, cạnh cửa hang đang có một con mãng xà rất lớn, thân hình nó to bằng cái thùng đựng nước, đầu to như mặt bàn, hai mắt to như hai cái thanh la và xanh biếc, mồm há to như cái hang vô đáy, cái lưỡi ở trong mồm nó phun ra dài hơn hai trượng, hai hàm răng vàng khè sắc bén như cưa, và cái răng nào cũng dài hơn thước trông rất kinh khủng.
Thiên Tứ thấy người mình đang bị sức mạnh của con mãng xà hút thẳng vào trong mồm. Khi sắp tới gần cái lưỡi của nó đã cuốn chặt lưng y và lôi mạnh vào trong mồm ngay. Y cảm thấy mình nóng hổi luôn, chân tay đã chết cứng đờ nên y kinh hoảng vừa khua múa hai tay. May mắn y đã chộp được một chiếc răng dài ở hàm trên con rắn.
Từ khi luyện tập tọa công tới giờ sức lực của Thiên Tứ đã mạnh hơn trước, nhất là trong lúc nguy nan này hơi sức lại càng tăng thêm nên y đã nắm được cái răng ấy rồi khi nào y chịu buông tay.
Thế là y với cái lưỡi con trăn giằng co nhau. Một lát sau bỗng nghe thấy kêu “soạt” một tiếng, cái răng ấy của con trăn đã bị y lôi ra khỏi lợi và trên lợi của con trăn đã có máu bắn ra như mưa liền.
Lúc ấy, y liền bị lưỡi của con trăn lôi ngay vào trong bụng. Ngờ đâu chiếc răng y vừa lôi ra vẫn còn cầm chặt trong tay. Nhưng không hiểu tại sao nó lại buông lưỡi và nhả ra. Nhờ vậy Thiên Tứ mới thoát nạn. Y vội nhảy ra khỏi miệng con trăn, đứng ở bên cạnh cửa hang giây lát, rồi cứ thế mà theo mình con trăn chạy thẳng vào trong hang sâu hoắm.
Ngờ đâu, y mới chạy được hai trượng thì con trăn ấy bỗng co người lại. Thế là lối đi của y bị bít chặt liền. Y kinh hãi vô cùng, vì phía đằng sau là vực thẳm muôn trượng, tất nhiên là y không thể nào lui được nên y nổi khùng đang định thí mạng với con trăn.
Trong lúc ấy y ngẫu nhiên đưa mắt nhìn đầu con trăn vừa phát hiện một điểm kì lạ. Thì ra mồm con trăn vẫn há hốc như cũ hai con mắt to như thanh la của nó bắn ra hai luồng ánh sáng xanh chiếu thẳng vào mặt y, khiến y cũng phải hoa mắt, nhưng có một điều rất lạ, đôi mắt con trăn không có vẻ gì là hung ác, trái lại còn rất nhu hòa và hình như muốn van lơn cầu khẩn y vậy.
Y sống bên cạnh bò và dê từ nhỏ nên rất thuộc tính nết của các loài cầm thú, nay y thấy thái độ của con trăn như vậy trong lòng vừa mừng rỡ vừa ngẩn người ra. Y mừng là vì biết con trăn này không có ý định giết hại mình nữa, còn y ngẩn người ngạc nhiên là vì không hiểu con trăn đồ sộ như vậy tại sao lại phải nhờ vả một thằng nhỏ như mình. Lòng hiếu kì thúc đẩy y liền lên tiếng hỏi:
- Này, ngươi muốn ta giúp gì thế?
Y hỏi con trăn một cách ngây thơ như vậy, nếu người khác nghe thấy thì thế nào cũng phì cười cho y là si ngốc. Ngờ đâu con trăn lại biết nghe gật đầu lia lịa hai mắt còn rướm lệ nữa.
Thiên Tứ thấy mình đoán trúng như vậy càng mừng rỡ thêm, ra tay làm việc nghĩa là mỹ đức của trời xanh ban cho. Vì vậy y cũng không biết mình có thể giúp được hay không liền ưỡn ngực khẳng khái nhận lời:
- Được ngươi nói đi! Quí hồ Thiên Tứ ta làm được, thế nào ta cũng giúp ngươi ngay.
Tuy con trăn không biết nói tiếng người nhưng nó biết nghe. Chỉ thấy hai mắt nó đang nhìn xuống dưới tay y. Thoạt tiên Thiên Tứ không hiểu gì hết sau y nhìn xuống tay mới vỡ nhẽ kêu “ủa” một tiếng.
Thì ra trong lúc nhổ được chiếc răng của con trăn y đang hoảng sợ, quên đó là chiếc răng mà vẫn cầm trong tay.
Lúc này, y thấy con trăn nhìn vào tay mình liền cúi đầu nhìn xuống chiếc răng đang cầm trong tay, mới hay đó là một cái gậy dài sáu thước bằng vàng sáng quắc, hai đầu gậy có bánh xe, đường kính của bánh xe dài hơn thước, răng cưa của bánh xe vừa nhọn vừa sắc bén khôn tả. Chỗ trục của bánh xe tức là đuôi gậy lại nhọn như chiếc dùi dài chừng năm tấc, trên có khảm một hạt châu màu tía hồng sáng quắc.
Đến lúc này, Thiên Tứ mới biết rõ sự thật, bỗng thất kinh la lên một tiếng. Con trăn thấy vậy chìa cái mồm không khép lại được trước mặt y.
Lúc ấy y mới trông thấy trong mồm của nó còn một chiếc gậy bằng vàng nữa, cũng giống như chiếc gậy mà y đang cầm trong tay. Thì ra hai chiếc gậy ngáng hai bên mồm con trăn và hai đầu gậy cắm sâu vào trong hàm nó đã không biết bao nhiêu năm rồi. Vì thế bấy lâu nay con trăn cứ phải há hốc miệng ra như vậy hoài.
Thiên Tứ đã biết rõ nguyên nhân, liền động lòng thương và nghĩ bụng:
“Tội nghiệp cho con trăn này, quanh năm mồm cứ há hốc như thế mãi thật đau khổ biết bao! Lạ thật! Nó há mồm ra như thế này thì làm sao mà ăn uống được? Chả lẽ nó không cần nhai, thức ăn cũng nuốt vào trong bụng chăng?”
Nghĩ tới đó y thử há to mồm xem, quả nhiên há như vậy chỉ có cái lưỡi là không thấy sao thôi, còn khắp mồm thì đâu cũng ngượng nghịu khó chịu hết sức, nên y lắc đầu lẩm bẩm nói:
- Tội nghiệp thật! Tội nghiệp thật!
Y cầm chiếc gậy chỉ vào chiếc gậy trong mồm con trăn và hỏi tiếp:
- Có phải ngươi muốn ta lấy hộ chiếc gậy này ra cho ngươi không?
Con trăn gật đầu hai mắt tỏ vẻ cảm động. Thiên Tứ liền cương quyết đáp:
Được. Ta vui lòng giúp ngươi. Nhưng biết làm sao bây giờ?
Y lắc đầu vì không nghĩ được cách nào để lấy chiếc gậy ấy ra. Y hỏi ý kiến con trăn rằng:
- Có phải như vừa rồi đã rút chiếc gậy này không?
Con trăn lại gật đầu và vội lui về phía sau hai trượng thè cái lưỡi dài ra ngay. Thiên Tứ cảm thấy trong mồm nó có một sức hút rất mạnh hút người mình bay thẳng vào trong mồm nó. Y kinh hãi vô cùng thì lưỡi con trăn đã cuộn lấy ngang lưng và kéo vào mồm luôn. Y cũng vội giơ tay ra chộp. Ngờ đâu y không chộp trúng răng con trăn mà lại chộp nhầm phải mồm nó suýt tí nữa thì y bị đau đến chết giấc. Tuy con trăn không trông thấy gì nhưng thấy y va đụng mạnh như vậy nó cũng biết y không chộp trúng chiếc gậy nên nó lại dùng lưỡi cuộn lưng y đưa ra ngoài mồm.
Thiên Tứ lắc đầu mấy cái lui về phía sau năm bước và nói tiếp:
- Phen này không được chúng ta làm lại lần nữa vậy!
Nói xong y giơ tay co chân lấy hai mắt ngắm đúng chiếc gậy trong mồm con trăn rồi nói tiếp:
- Được rồi. Lại thử một lần nữa xem sao!
Con trăn nghe nói lại thè lưỡi ra lôi người Thiên Tứ vào trong mồm luôn. Lần này y đã chuẩn bị trước nên vừa lôi vào tới mồm con trăn y đã nhanh tay chộp lấy cây gậy luôn. Chỉ nghe thấy kêu “bộp” một tiếng, y đã rút được cây gậy ra khỏi lợi con trăn và con trăn ngậm được mồm lại ngay. Lúc ấy Thiên Tứ vẫn còn nằm ở trên lưỡi con trăn thì mồm con trăn ngậm lại ngay. Y cảm thấy khó thở vô cùng vội ngồi dậy kêu gọi:
- Này! Này! Làm sao thế? Có mau buông ta ra ngoài mồm của ngươi ngay không?
Ngờ đâu y tha hồ kêu đến khan cả tiếng mà con trăn cũng không chịu há mồm. Không những khó thở mà đầu mặt và mình mẩy đều bị dính đầy máu tanh. Y tức giận khôn tả liền mắng chửi con trăn thiếu nghĩa khí, nó đã nhờ mình cứu giúp nó khỏi đau khổ, rồi bây giờ nó lại ngậm mình trong mồm không chịu buông tha.
Thiên Tứ đang bực tức định dùng chiếc gậy đó chống vào mồm con trăn thì ngờ đâu y chưa kịp chống con trăn đã nhả y ra đất liền. Y lóp ngóp bò dậy thấy khắp đầu mặt mình mẩy đều dính đầy máu tanh hôi.
Y đang định mắng chửi mấy câu, ngẫu nhiên ngẩng đầu lên nhìn thấy con trăn đang tỏ vẻ mừng rỡ và cảm ơn mình, nên y cũng nguôi cơn giận và vui vẻ theo. Lúc này y mới có thì giờ ngắm nhìn kỹ con trăn thấy ngoài người con trăn đâu đâu cũng có vảy màu tía, miếng vảy nào cũng to bằng miệng cái chậu, chỉ riêng dưới cổ và bụng thì không có vảy thôi. Người nó nằm trong hang và bên trong tối đen như không thấy đáy. Vì vậy y không biết người nó dài ngắn ra sao?
Thiên Tứ hãy còn ít tuổi, nên vẫn còn tính nết trẻ con. Y thấy con trăn không có ý hại mình nên y không sợ hãi như trước nữa trái lại y còn hỏi hang này thông đi đâu? Có lối ra không…? Thoạt tiên con trăn gật đầu, sau lại lắc đầu khiến Thiên Tứ ngơ ngác không hiểu gì hết. Y lại thấy con trăn cúi rạp đầu xuống tận đất nhìn y chớp nháy mắt mấy cái.
Y hiểu ngay, vội hỏi:
- Có phải ngươi muốn ta cưỡi lên mình đấy không?
Con trăn lại gật đầu. Thiên Tứ mừng rỡ khôn tả, thuận tay nhặt hai chiếc gậy rồi nhảy lên đầu con trăn. Nhưng những miếng vảy ở trên đầu nó vừa dày vừa cứng khiến cho y ê mông khôn tả nhưng vẫn phải vỗ về:
- Ngoan lắm!
Con trăn chờ y ngồi yên rồi liền bò vào trong. Người nó to lớn như thế nhưng khi bò lại nhanh như gió, chỉ trong nháy mắt nó đã lui được mấy trượng rồi. Vì cái hang rất sâu nên nên càng vào trong bao nhiêu lại càng tối om bấy nhiêu. Cũng may nhờ có ánh mắt con trăn có ánh sáng lờ mờ tỏa ra Thiên Tứ mới trông thấy rõ hoàn cảnh.
Đột nhiên con trăn ngừng lại, Thiên Tứ đưa mắt nhìn xung quanh vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ. Thì ra nơi đó đã lớn rộng hẳn, mỗi bề chừng mười trượng, trên đỉnh hang có những thạch chung nhũ treo lơ lửng và màu sắc rất đẹp. Nửa người con trăn cuốn chặt ở trong hang đã chiếm nửa thạch động ấy còn nửa người của nó thì chìa ra một cái hang động ở bên ngoài.
Thiên Tứ thè lưỡi ra và lớn tiếng hỏi:
- Ngoan ngoãn! Nơi đây thích thú thật! Nhưng ngày thường ngươi ăn gì? Nếu không ăn uống có phải là chết đói không và làm sao ngươi lớn được như vậy?
Con trăn ngẩng đầu lên nhìn những cây thạch chung nhũ treo lơ lửng ở trên đỉnh động. Chỉ nghe xoẹt một tiếng, đã có một cây trở xuống và bị nó nuốt chửng luôn.
Thiên Tứ thấy vậy kinh ngạc vô cùng hỏi tiếp:
- Ối chà! Ăn đá ư? Được để ta ăn thử xem…
Y vừa nói vừa giơ tay lên nắm thử một cây. Không ngờ thạch chung nhũ này lại mềm và trơn tuột. Y chỉ khẽ véo một cái đã lấy được một miếng luôn. Y thấy mẩu đá ấy màu phấn hồng vừa mềm vừa trong suốt như kẹo mạch nha vậy, lại còn có mùi thơm ngọt bốc lên nữa. Như vậy có phải là đá đâu? Tuy trong lòng kinh ngạc nhưng Thiên Tứ vẫn bỏ vào mồm ăn thử, quả thấy vừa ngọt vừa thơm lại hơi dính răng không khác gì kẹo mạch nha vậy.
Đã nửa ngày rồi Thiên Tứ chưa ăn uống gì hết, nên y lại bẻ một mẩu thạch chung nhũ nữa xuống ăn. Ngờ đâu cây đá này lại khác cây đá trước cũng thơm ngon như vậy nhưng lại giòn như bánh đa.
Thiên Tứ đang kinh ngạc thì con trăn đã hạ thấp đầu xuống. Y vội nhảy xuống đất chạy ra chỗ trước mặt con trăn giơ mẩu đá thạch chung nhũ lên nói tiếp:
- Không ngờ thứ đá này lại ngon như vậy! Thảo nào mà ngươi chẳng to lớn như thế! Ngươi có biết…
Y định hỏi vật này là vật gì, nhưng sau nghĩ lại con trăn không biết nói, có hỏi cũng vô ích nên y không hỏi nữa.
Con trăn thấy y ăn ngon lành như vậy liền bẻ một mẩu màu tía dài hơn thước xuống. Thiên Tứ đỡ lấy mẩu đá ấy thấy còn thơm ngon hơn thứ màu hồng. Nhưng chỉ chỗ quãng đầu là mềm thôi, quãng giữa thì giòn giòn còn quãng cuối thì cứng như sắt đá. Y ăn quãng mềm xong đã thấy no bụng rồi còn quãng giòn y bẻ làm mấy mảnh cho vào trong túi.
Con trăn đưa mắt ra hiệu cho Thiên Tứ nhìn theo tầm mắt nó, mới hay chỗ giữa lưng nó có một sợi xích to bằng miệng bát, xuyên ngang qua lưng, một đầu quấn vào người nó còn một đầu thì chôn xuống dưới đất. Lúc này Thiên Tứ mới vỡ nhẽ, sở dĩ con trăn không ra khỏi được nơi đó là vì bị cái xích xích chặt. Nhưng y không hiểu con trăn khỏe như thế, răng sắc bén như thế mà tại sao lại không cắn đứt được cái xích sắt để thoát khỏi chốn hang động này?
Bây giờ y thấy con trăn ra hiệu cho mình như vậy đoán chắc nó muốn mình chặt đứt cái xích này hộ nó, nhưng y nghĩ với sức lực của y yếu ớt như thế thì làm sao mà chặt đứt nổi cái xích sắt to như vậy nên y lắc đầu đáp:
- Không được! Cái xích này to quá, ngươi cũng không dứt đứt nổi!
Nói tới đó y sực nghĩ ra một việc liền buột miệng hỏi tiếp:
- Ai đã xích ngươi như thế?
Nhưng y sực nghĩ tới con trăn không biết nói, nên lại thôi không hỏi nữa. Ngờ đâu con trăn đột nhiên dẫn y tiến thẳng vào trong hang động chỗ đuôi của nó đang nằm. Hang động này còn chật hơn hang động ngoài và cũng tối hơn nhiều. Đi khúc khuỷu mãi mười mấy trượng rồi mà chưa tới chỗ tận cùng nhưng con trăn đã duỗi thẳng hết nửa người rồi mà vẫn chưa đi tới chỗ cuối động. Nó liền ngẩng đầu lên nhìn Thiên Tứ ra hiệu bảo y nhảy xuống đất trước.
Thiên Tứ vội vàng nhảy xuống dưới đất và hỏi luôn:
- Ngươi bảo ta nhảy xuống làm chi?
Con trăn co người lại khẽ va đụng vào Thiên Tứ một cái, hình như ý bảo y cứ tiến vào bên trong đi. Từ khi ăn xong thạch chung nhũ đến giờ y cảm thấy khỏe khoắn hơn rất nhiều, và ở trong bóng tối mãi như vậy mắt của y cũng sáng hơn trước nhiều nữa. Lúc này y cũng có thể trông thấy những vật ở cách xa hơn trượng rồi.
Y thấy con đường hầm sâu lắm, lòng hiếu kỳ thúc đẩy y tiến thẳng vào bên trong nhưng trước khi đi y vẫn ngẩng đầu hỏi lại:
- Ngươi bảo ta đi thẳng vào bên trong ư? Bên trong là nơi nào thế? Thôi được để ta vào trong đó xem sao vậy…
Nói xong hai tay cầm hai chiếc gậy rồi mới lần mò vào bên trong.
HỒI THỨ TƯ
Vào hang sâu gặp kỳ ngộ
Kỳ nhân kể chuyện trong hang cốc
Thiên Tứ tiến thẳng vào trong hang động, không biết đã đi được bao lâu và qua bao nhiêu đường quanh rồi. Y chỉ biết càng đi sâu vào bên trong bao nhiêu càng thấy dốc xuống bấy nhiêu và đường đi cũng chật hẹp hơn trước nhiều có chỗ y phải lách người mới qua được. Đi thêm một quãng nữa, y bỗng thấy có ánh sáng chiếu vào tưởng là đã ra khỏi hang động rồi, mừng rỡ khôn tả vội tiến nhanh lên hai bước không ngờ chân y vấp phải một tảng đá đau nhức vô cùng. Y đang định cúi đầu nhìn xuống xem có việc gì không thì đã nghe thấy tiếng kêu ầm ầm như sấm động và như gặp phải động đất vậy. Tiếp theo đó hai bên vách rung động và từ từ khép vào giữa.
Thấy vậy y giật mình kinh hãi và nghĩ bụng: “Nếu ta còn dừng chân ở lại đây thế nào cũng bị vách đá kẹp chết bẹp chứ không sai?”
Y vội nhảy về phía trước luôn. Quả nhiên chỉ nghe thấy có tiếng kêu “bùng” hai vách đá ấy khép lại liền. Y kinh hoảng vô cùng và nghĩ thầm:
“May mắn thật!”
Vừa hoàn hồn xong y vội đưa mắt nhìn bốn xung quanh, bỗng mừng đến thất thanh kêu la.
Thì ra chỗ y đang đứng lại là một thạch thất vốn tinh mỹ bốn bên vách sáng như gương và trên vách đá ở phía sau lại có rất nhiều khung vuông như một cái giá lớn vậy. Trong những cái khung đó đều có để đầy đủ các thứ đồ hoặc đồ cổ hoặc sách vở. Ngoài ra, lại còn có một căn phòng để đầy đủ sách, phòng này mỗi bề dài ba trượng, trên đỉnh có khảm những hạt châu có ánh sáng tỏa ra, dưới đất có sập đá có đỉnh đồng và lư hương trông rất cổ kính. Trên bàn học có đủ văn phòng tứ bảo và có để một cuốn sách bọc lụa hình như chủ nhân vừa đọc sách mới vừa rời khỏi nơi đây không lâu vậy?
Hai bên vách tả hữu có khắc hai bức tượng người và mười hai cầm thú đang bay lượn chạy nhảy vân…vân… Y nhận thấy tượng người đó ngồi xếp bằng tròn đầu trần đi chân đất tóc và râu dài đến tận ngực. Hai pho tượng ấy giống hệt nhau chỉ khác ở chỗ một pho tượng thì hai tay để lên nhau và để ở dưới bụng còn pho tượng kia thì hai tay giơ thẳng lên, hai bàn tay một hướng lên trời một úp xuống mặt đất. Còn mười hai pho tượng cầm thú trong đó vẽ đúng mười hai thứ súc vật của mười hai giờ như: chuột, trâu, hổ, thỏ, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, heo. Con nào cũng điêu khắc như vật sống vậy, và trước mỗi con có một cánh cửa, y không biết cửa đó thông đi đâu cả?
Hai bên vách của cánh cửa ấy có khắc những chữ tường trắng chữ son, xa xa trông thấy đỏ hỏn nên y không biết được là những chữ gì?
Thiên Tứ tưởng trong thạch thất này còn có chủ nhân nên không dám đụng chạm đến mọi vật. Y thấy đường lui đã bị tắt nghẽn, đồng thời y cũng muốn biết chủ nhân là ai để cầu chủ nhân chỉ điểm lối thoát cho mình vì vậy y đi đến cạnh cửa, để xem những chữ khắc ở trên vách nói gì và tiện thể đợi chờ chủ nhân quay trở về là mình hỏi thăm luôn. Y đi tới gần thấy những chữ khắc ở vách bên phải viết rằng:
“Trời sinh ra vạn vật nào cũng có cách để mưu sống và truyền tiếp. Tuy là gà, chuột, heo, chó, cũng đều có cách sinh sống của chúng. Mỗ có tính hiếu kỳ từ nhỏ, theo tiên sư học tập và nghiên cứu các bí quyết trị cầm thú, tốn công mấy chục năm mới tìm ra được tập quán của bách thú và hiểu rõ ông trời quả thật từ bi trước khi sanh ra vật gì, đã ban cho năng lực tiên thiên của vật đó trước. Chúng ta tuy là con người do trời đất sinh, tại sao lại không có năng lực ấy? Nhưng tiếc thay đời sống của con người ngày càng thay đổi và chỉ nghĩ đến cách làm thế nào cho sống được yên ổn, nên khỏi cần phải phát triển tiềm tàng không những thế lại còn hay tự huỷ hoại thân thể của mình. Những tập quán xấu đó càng ngày càng tệ nên bách bệnh mới sinh ra. Mỗ hiểu biết lý lẽ ấy rồi mới chuyên tâm nghiên cứu và định nhờ mười hai con vật của mười hai giờ để căn cứ vào những tài ba của nó mà hợp thành một pho Đại năng Thần công. Sau lại nghiên cứu thêm được Thập Nhị Cầm chưởng. Mỗ ngày đêm luyện tập hai pho võ công ấy nhờ vậy mới sống được lâu cho đến ngày nay. Mỗ không muốn hai pho võ công này bị tiêu huỷ nên mới khắc lên trên vách để cho những người sau này tới đây mà biết căn cứ vào đó để học tập.
Con Thiết giáp tỷ mảng phía sau động là một con linh vật, duy tính nết của nó rất hung ác, tuy nó không dám hại người nhưng bách thú có tội tình gì mà nó cứ bắt bách thú để làm món ăn, mỗ không nhẫn tâm trông thấy bách thú bị nó tàn sát như vậy mới luyện Hàn Thiết (sắt lạnh) chế thành một cái xích xuyên qua lưng nó cột xuống dưới đất. Dù nó vẫn còn có thể hút những con chim bay qua để ăn nhưng nó đã hết cách đuổi bắt cầm thú rồi. Gần đây mỗ thấy tâm huyết rạo rực luôn biết ngày quy Tây phương không xa, nên mới khắc mọi sự lên trên vách đá này để làm kỷ niệm đời đời.”
Dưới ký tên Kỳ Liên Bách Thú Tiên Ông năm Kỷ Sửu đời nhà Tuỳ.
Thiên Tứ xem xong những lời lẽ ấy, vì sức học của y hãy còn kém nên vẫn có mấy chỗ không hiểu cho lắm nhưng y đã có khái niệm là động chủ Bách Thú Tiên Ông chết đã lâu năm rồi và con trăn lớn ở phía sau động là bị Tiên Ông trói lại. Y thấy Tiên Ông có tài ba kinh người như thế trong lòng rất luyến tiếc và nghĩ bụng:
“Tiếc thay Tiên Ông chết sớm quá bằng không ta theo ông ta học những tài ba phục thú có phải hào hứng biết bao không”.
Y vừa nghĩ vừa đi sang vách đá phía bên trái, thấy chữ ở bên vách đá này nông hơn những nét chữ vách phía bên kia và không phải bút tích của Bách Thú Tiên Ông y ngạc nhiên vô cùng nhưng vẫn đọc thử:
“Mỗ là Kim Trượng Hành Giả ngẫu nhiên đi du ngoạn Kỳ Liên, lỡ chân rớt xuống vực thẳm bị con mãng xà hút vào suýt bị nó nuốt chửng, cũng may mỗ nhờ biết mấy miếng võ và trong tay có đôi trượng liền căng mồm nhờ vậy mới thoát chết. Mỗ lần mò vào trong này mới phát hiện chỗ ở của Tiên Ông, mừng rỡ quá đọc những lời của Tiên Ông để lại mới hiểu thấu sự đời rồi tiềm cư ở trong này nghiên cứu tuyệt học của Tiên Ông.
Võ công và học thức của Tiên Ông quả thực phi thường tiếc thay mỗ không còn đồng trinh, không thể nào thừa hưởng y bát của Tiên Ông được mới xoay sang học thuốc để sau này ra ngoài đời tế thế cứu người, tài ba của mỗ đã học thành công, tiếc thay võ công của mỗ lại hèn kém nên không thể nào ra khỏi chốn tuyệt địa này! Nản chí vô cùng mỗ lại xoay sang học bói khi học thành thì mới biết đó là ý trời sức người không thể cứu vãn được.
Còn con trăn ở phía sau động đã bị mỗ dùng gậy cáng chặt mồm nó, mấy hạt châu ở đầu đuôi hai cây trượng đều là những hạt trừ độc nên dù nó có hút những vật khác vào cũng không sao tiêu hoá nổi, vì chất độc của nó đã bị những hạt châu kia trừ hết rồi, nhưng không vì thế mà nó bị chết đói, nó có thể ăn thạch chung nhũ để sống.
Thạch chung nhũ ở trong động tuy là chất đá nhưng rất lạ lùng, vì bên trong bao hàm tinh tuý của đá. Ăn thứ đá non của nó người sẽ nhẹ, sức sẽ mạnh và được sống lâu thêm. Bởi con trăn chưa hết hung tính nên mỗ biết nó có thứ linh dược ấy mà không sao lấy để ăn được. Như vậy có phải là ý trời không? Mỗ không dám trái ý trời, chỉ đem sức của mình viết những cái gì học hỏi được làm thành một cuốn sách, và khắc chữ lên đá để cho những người tới sau học hỏi.”
Dưới ký tên Thục Đông Kim Trượng Hành Giả, viết vào năm Tân Hợi đời nhà Đường.
Thiên Tứ xem xong mới vỡ nhẽ, một mặt y tiếc thay hộ Kim Trượng Hành Giả và một mặt y cũng lo cho mình. Vì đến Kim Trượng Hành Giả tài ba như thế mà cũng không sao ra khỏi chốn tuyệt địa này huống hồ là mình. Vì vậy y rất nóng lòng sốt ruột tay cầm đôi gậy chạy thẳng ra ngoài.
Bên ngoài động cũng có một cái đường hầm chỉ lọt ba người, cao chừng bảy thước. Đi được một quãng đã đến chỗ đường cùng, y thất vọng nản chí quay lại và rầu rĩ tột độ. Sau khi nghĩ lại, đằng nào cũng không ra khỏi nơi đây, chi bằng ở lại hang động này chơi có hay hơn không? Thế rồi y lấy những đồ cổ ở trên giá xuống chơi chán lại để về chỗ cũ.
Y cũng không biết trải qua bao nhiêu lâu mới xem xét tới cái khung giá cuối cùng, liền thấy một cuốn sách đề “Bách Thú Nhạc Phổ”. Còn vật bên cạnh thì cuốn thành một cái vòng nhỏ. Vừa lấy xuống xem vật đó đã duỗi thẳng ra ngay. Y thấy vật ấy như chiếc tiêu mà không phải là tiêu, như sáo lại cũng không phải là sáo, to bằng ngón tay cái dài chừng ba thước và đặc ruột, trên có năm cái lỗ to nhỏ khác nhau, đen như mun và bóng nhoáng, nên y cũng không biết vật đó làm bằng thứ gì? Nó rất dẻo dai nên mới cuốn tròn được.
Thiên Tứ thích thú vô cùng liền để mồm vào lỗ to nhất rồi thổi thử, liền phát ra tiếng kêu như hổ gầm ngay. Không ngờ một vật nhỏ như thế mà có tiếng kêu lớn như vậy khiến y cũng phải giật mình đánh thót một cái. Y lại thổi thử một cái lỗ thứ hai thấy tiếng kêu như long ngâm, lỗ thứ ba như loan phượng kêu, lỗ thứ tư như hoàng oanh hót, lỗ thứ năm kêu như vượn tiếu. Nói tóm lại năm cái lỗ ấy có năm thứ tiếng kêu khác nhau. Y như lượm được báu vật cứ cầm lên thổi hoài và cầm lên múa tít.
Ngờ đâu khi khua động lên trên không, bên trong liền có mấy thứ tiếng toả ra một khúc nhạc tiên nghe rất êm tai. Thấy vậy, Thiên Tứ lại càng múa nhanh hơn trước tiếng kêu của vật đó lại càng thay đổi khiến y như say như mê quên cả mình đang ở đâu.
Một lát sau mới ngừng tay, và thử lại kiếm xem vật này chế tạo như thế nào mà lại có những tiếng kêu kỳ lạ như vậy? Y tìm kiếm mãi mới thấy trên đỉnh có khắc ba chữ “Bách Thú Lệnh”.
Lúc ấy Thiên Tứ mới vỡ nhẽ, nghĩ bụng:
- Thảo nào cái trò chơi như tiếng thú, và tiếng chim như thế. Thì ra nó có liên quan đến bách thú. Như vậy khỏi cần nói vật này thể nào cũng là của Bách Thú Tiên Ông…
Nghĩ tới đó y lại ngẩng đầu lên nhìn hai pho tượng và nghĩ tiếp:
“Như vậy chắc hai pho tượng này thế nào cũng là Bách Thú Tiên Ông chứ không sai?”
Bây giờ y nhìn kỹ mới hay hai pho tượng ấy lại có những đường chỉ mờ và nhiều chấm đỏ, đầu đường chỉ ấy khởi điểm tự đan điền. Y nhận xét kỹ dáng điệu của Tiên ông, thấy giống hệt môn toạ công mà mình đã học hỏi được. Muốn chứng minh xem có đúng sự thực hay không, y vội cất cuốn nhạc phổ với cây Bách Thú Lệnh vào trong túi, rồi xếp bằng tròn ở chỗ trước mặt Tiên Ông từ từ vận công điều tức.
Lúc ấy y mới vỡ nhẽ những điểm đỏ và những đường chỉ hờ vẽ ở trên vách đó là chỉ rõ phương hướng của chân khí thông hành, nhưng y rất lấy làm lạ sao những đường chân khí thông hành ở trên đó lại khác hẳn những đường chân khí thông hành của mình đang luyện tập? Y liền nghĩ bụng:
“Chả lẽ đây lại là Đại Năng thần công chăng? Phải, nhất định là đúng rồi!”
Y lại thử theo những đường chỉ đó mà vận khí nhưng thấy khó thở lắm.
Thiên Tứ là người rất chăm chỉ và rất bướng bỉnh, y đã nhận ra đó là Đại Năng thần công rồi, và Bách Thú Tiên Ông lại còn nói công hiệu của nó có thể diên niên ích thọ, nên y nhất quyết phải học cho được mới thôi.
Từ đó trở đi y cứ cố gắng học tập, quả nhiên thấy tiến bộ dần trái lại y còn thấy dễ chịu gấp lối luyện tập thường trăm bội. Nên y lại càng cố gắng học tập thêm.
Một lát sau y thấy đói bụng, liền lấy mấy miếng đá chung nhũ ra ăn. Ăn xong không thấy đói khát ngay. Y lại ra xem những hình dáng con thú khắc ở trên vách. y lại thấy con lợn con heo ở cạnh người nên y để ý xem con vật ấy trước. Y thấy con heo này tai to mình mập đang nằm nhắm mắt ngủ trông như sống vậy, và cũng như heo thường thôi chứ không có gì khác lạ hết. Tuy thấy bên dưới có khắc hai chữ: “Trư Tĩnh” (heo nằm yên tĩnh) nhưng y vẫn không hiểu hai chữ đó chỉ cái gì liền nghĩ bụng:
“Chẳng lẽ Tiên Ông bảo ta nằm như con heo này chăng?”
Y lắc đầu cho ý nghĩ của mình không đúng, lại xem đến hình thứ hai là hình con hổ phác (hổ vồ). Con hổ ở trên đó đang nhảy lên trên cao vồ xuống. Cái đó không có gì là lạ cả, chỉ lạ nhất là trước ngực con hổ lại có sáu chân vồ vào sáu nơi khác nhau.
Y chưa được trông thấy hổ bao giờ nhưng hồi nhỏ vẫn thường nghe cha mẹ nói hổ chỉ có bốn chân thôi, nhưng bây giờ y lại thấy bức tranh con hổ này lại vẽ nó có những sáu chân ở phía dưới đằng trước nên mới ngạc nhiên vô cùng. Ngắm nhìn hồi lâu y không hiểu rõ nguyên cớ ra sao cả, lại xem hình thứ ba là long đằng (rồng bay). Con rồng ấy đang nhe răng múa vuốt bay nhảy ở trên mây. Con rồng này cũng có một điểm lạ là nó có nhiều vân gấp ba lần rồng thường.
Sau đó y lần lượt xem nốt chín con: rắn, dê, ngựa, khỉ, gà, chuột, trâu, thỏ, nhưng những con này không có điểm gì khác lạ hết nên y càng thắc mắc thêm và nghĩ bụng tiếp:
“Những con vật này ta vẫn thường trông thấy, Tiên Ông còn bảo ta học hỏi chúng làm chi? Và học bằng cách nào? Ta không có cánh như chúng và cũng không có móng như chúng học làm sao được?”
Nghĩ mãi cũng không vỡ nhẽ y đã thấy mệt mỏi liền ra chỗ sập đá và cứ thế nằm ngủ luôn.
Khi thức tỉnh y vẫn theo lệ thường luyện tập toạ công trước, tuy bây giờ ở trong tuyệt địa này không còn hy vọng ra khỏi được mà y vẫn không chịu bỏ tập quán này.
Vừa ngồi xuống y đã trông thấy tấm hình ở trên vách, y liền theo tấm hình đó mà luyện tập. Trước kia y luyện tập toạ công lấy ngự khí trước hết vận khí xuống đan điền đã rồi mới dồn chân khí đi theo xương sống mà lên tới thiên đình và do lỗ mũi thở hơi ra, nhưng tấm hình ở trên vách lại trái hẳn, trước hết dồn chân khí ở trên thiên đình xuống dưới xương sống vào đan điền do lỗ mũi thở ra. Vì hai lối toạ công trái ngược nhau, như vậy nhất là những đường chỉ ghi trên đó lại khác hẳn tổ chức cấu tạo thân thể của con người cho nên luyện tập khó khăn vô cùng.
Thiên Tứ không chịu khuất phục cố hết sức luyện tập phải thành công cho được mới thôi. Không hiểu tại sao ngày hôm nay y luyện tập thấy dễ dàng hơn hôm trước nhiều, và khí không hề bị cản trở chút nào?
Trong động không có ngày đêm, Thiên Tứ chỉ biết hễ mệt là ngủ, ngủ dậy là luyện toạ công. Luyện tập vài lần như vậy và những miếng chung nhũ ở trong túi đã ăn hết, ăn đến còn một miếng cuối cùng, tuy rất lo âu nhưng biết làm sao được. Bất đắc dĩ y đành nhất tâm nhất trí mà toạ công trước, để khỏi vì vấn đề ăn uống ấy làm sao nhãng sự tập tành của mình đi.
Lần này trải qua thời gian thật lâu, y đã theo được những đường chỉ ghi ở trên vách mà một hơi vận luyện khí mạch ra khắp tứ chi. Luyện tập luôn mấy lần như vậy y cảm thấy dễ chịu khôn tả. Và có một điều lạ nhất là mỗi lần hô hấp người như bay bổng lên trên không nhẹ nhàng như mất hết thăng bằng, tưởng tượng mình như thần tiên vậy.
Thiên Tứ kinh ngạc vô cùng vội đứng dậy hoạt động thử xem, thấy chân tay nhanh nhẹn khôn tả, khắp mình như tiềm tàng hơi sức rất mạnh và hình như hơi sức ấy cứ muốn nhảy ra khỏi người vậy.
Đã lâu không luyện tập chưởng pháp, nhân lúc sức mạnh dồi dào này y liền giở pho Lục hợp chưởng pháp ra luyện tập lại. Mỗi một thế thức đều có tiếng gió kêu vù vù. Thoạt tiên y còn chưa hay, sau đó hễ khi nào đi tới gần cái đỉnh đá ba chân, cao ba thước, chừng ba bốn thước là chưởng và quyền phong của y đã đẩy cho cái đỉnh ấy lắc lư như sắp đổ.
Thấy thế lòng hiếu kỳ thúc đẩy y tấn công thẳng một quyền vào cái đỉnh ấy thử xem. Y yên trí cái đỉnh ấy thể nào cũng bị đánh đổ chứ không sai. Ngờ đâu sau một tiếng “bộp” y cảm thấy cánh tay đau nhức vô cùng, y vừa rụt tay lại đã thấy cái đỉnh kêu “kèn kẹt” và quay tít ngay.
Y càng ngạc nhiên thêm liền trố mắt lên nhìn, lại thấy cánh cửa kêu kèn kẹt nữa. Y bỗng nghĩ ra một kế vội chạy ra bên ngoài, quả nhiên thấy chỗ tận cùng của hang động đã có một cái cửa vừa mở toang ánh mặt trời ở bên ngoài đã ló vào. Y mừng rỡ như điên như khùng, giơ chân lên đá tảng đá nhô lên ở trên mặt đất rồi phi thân ra bên ngoài ngay.
Ngờ đâu con đường ấy chính là con đường thông ra bên ngoài thực nhưng vì thời tiết quá lạnh trên vách đá đã bị kết chặt một lớp băng rất dày rồi.
Y chưa kip xem xét kỹ lưỡng đã vội nhảy ngay tới luôn, khi tới cửa hang động mới phát giác cửa hang đã bị một lớp băng dày bịt kín y muốn thâu thế lại nhưng đã muộn rồi.
Thiên Tứ đành phải nhắm mắt nghiến răng chịu đựng để mặt cho đau và mình mẩy của mình đụng vào vách băng. Chỉ nghe thấy lách cách mấy tiếng, không ngờ người của y đã xuyên ra khỏi bên ngoài vách băng luôn.
Y mở mắt nhìn mới hay bên ngoài là sơn cốc và người của mình đã giáng xuống bên dưới chừng mươi trượng rồi. Y giơ hai tay ra như cánh chim mà từ từ bay lượn xuống bên dưới. Thấy tốc độ hơi nhanh, y thử khom lưng co chân lại, quả thấy người mình giáng xuống chậm ba thành. Y cúi đầu ngắm nhìn mới hay bên dưới là rừng thông. Nơi chính giữa có một cây cổ thụ vừa cao vừa to trông như cái tán vậy, đường kính rộng gần tới mười mấy trượng thân cây phải mười người giương tay ôm mới đủ.
Cạnh cây thông cổ thụ ấy có một cái suối rất dài xuyên qua sơn cốc nhưng bị băng mỏng bao phủ kín. Bên cạnh rừng thông ở phía tay phải cũng có một cái rừng trồng đầy hoa nhưng đã bị tuyết bao phủ nên không biết đó là những cây gì?
Vì quá mừng rỡ Thiên Tứ để tiết lỡ hết chân khí, người y bị rớt ngay xuống chỗ cạnh rừng thông trên một tảng băng lạnh.
Y định thần nhìn xung quanh, thấy sơn cốc này ba mặt đều có núi cao bao quanh. Vách núi ở phía sau chỗ trên cao hàng nghìn trượng có một khe núi chừng hơn trượng như vậy. Y đoán khe núi ấy là lối ra mà mình vừa thoát thân. Y thở dài một tiếng và nghĩ bụng:
- Hà! Nếu ta không tình cờ tấn công vào cái đỉnh đá và cũng là cái nút cơ quan máy móc mở cửa hang mà đưa ta thoát thân thì có lẽ ta sẽ chết đói ở trên đó…
Vừa nghĩ tới đó y liền cảm thấy đói bụng ngay, liền ngẩng đầu nhìn lên phía trên chỗ cửa hang mà mình vừa được thoát thân. Bỗng cảm thấy hai mắt nhoà hẳn, hình như có một cái bóng người ở chỗ trên không cao độ mười trượng bay lướt qua tiếp thẳng vào trong rừng cây thông. Y ngạc nhiên vô cùng, vội dùng hai tay dụi mắt và nhìn lên phía trên lần nữa thấy trên tuyệt vách có một tảng băng vừa bị sứt một mảng lớn. Y chắc mình vừa va đụng phải nên vách băng mới bị sứt mẻ như thế? Ngoài ra y không thấy cái gì khác lạ cả, liền đứng dậy thủng thẳng đi vào trong rừng để tìm kiếm cái bóng vừa bay lướt qua.
Thiên Tứ đã xuyên qua mười mấy cây thông rất to rồi mà vẫn không thấy gì hết liền lớn tiếng kêu gọi:
- Trong này có ai không?
Tiếng kêu của y quá lớn và thêm có tiếng vang vọng trở lại khiến băng tuyết ở trên các vách núi đều vỡ lở rớt xuống như động đất vậy. Y chưa thấy tình cảnh như vậy bao giờ nên kinh hoảng vô cùng.
Y đang hoang mang luống cuống, bỗng nghe có tiếng người mắng chửi:
Thằng nhỏ này kêu như ma hú như thế làm chi? Mi thực không biết sống chết…
Giọng nói của người ấy khàn khàn, nhất là đột nhiên rơi vào tai càng khiến Thiên Tứ kinh hãi thêm. Y vội nhảy về phía trước hơn trượng rồi mới dám quay người lại nhìn, mới hay một quái nhân đứng cách chỗ mình hơn trượng, mặc áo đen gầy như cái que trúc, đầu lệch cổ méo mặt trắng không râu. Y định thần nhìn kỹ mới hay quái nhân này chính là lão bá đã dạy hắn luyện tập môn toạ công hồi đầu năm.
Lão bá này vẫn như trước, vai bên trái vẫn đeo một cái túi vải tròn trùng trục, bộ mặt hiền từ vẫn tươi cười hoài. Nhưng ban ngày ban mặt, đột nhiên trông thấy một người vừa gầy vừa cao và rất quái dị như vậy khiến y cũng phải kinh hoảng đến ngẩn người ra.
Ông già quái dị ấy thấy y quay trở lại liền cười và lớn tiếng hỏi:
- Em nhỏ kia sao lại tới nơi đây? Còn nhớ già này không?
Thiên Tứ thấy ông ta hỏi như vậy biết đúng là lão bá bá nói rồi, mừng rỡ khôn tả vội tiến lên đáp:
- Cháu vẫn còn nhớ lão bá bá hoài. Mấy bữa nọ cháu còn định đi kiếm lão bá bá để yêu cầu lão bá bá truyền thụ võ công cho đấy.
Ông già nọ nghe nói lớn tiếng cười ha hả:
- Được, được, quý hồ cháu chịu vái lão làm sư phụ thì cháu muốn học võ công gì lão cũng dạy cho.
Nói tới đó ông ta bỗng tỏ vẻ thắc mắc nhìn thẳng vào mặt Thiên Tứ hồi lâu mới hỏi tiếp:
- Từ hồi đó tới nay cháu học tập phương pháp của lão truyền thụ cho và có học tập thêm võ công của người khác không?
Thiên Tứ gật đầu lại lắc đầu đáp:
- Ngoài phương pháp của lão bá bá dậy cho, cháu còn học thêm mấy miếng võ của trường chủ mục trường Lũng Tây nữa.
Ông già vẫn nhìn mặt y hoài và mồm lẩm bẩm như tự nói:
- Sao thằng nhỏ này tiến bộ nhanh chóng đến như thế? Chả lẻ nó đã luyện tới mức Lục Hợp Qui Nhất chăng?...Không có lẽ…
Thiên Tứ không hiểu ông ta nói như thế có ý nghĩa gì vội hỏi:
- Lão bá bá nói cái gì Lục Hợp Qui Nhất thế? Cháu không hiểu gì cả?
Ông già giơ tay trái lên định chộp cái túi vải ở trên vai trái. Ngờ đâu tay phải bỗng nắm luôn tay trái lại không để cho tay ấy chộp vào cái túi ở trên vai. Đồng thời ông ta còn lên tiếng nói:
- Lão nhị hãy nghe mỗ nói rõ đã, không nên nóng nảy như thế làm nó hoảng sợ mất hồn vía thì sao.
Nói xong, tay trái rụt ngay lại và đưa về phía sau còn tay phải của ông ta thì giơ lên khẽ vỗ về đầu vai.
Thấy cử chỉ của ông già kì lạ như vậy, Thiên Tứ càng thắc mắc thêm ngơ ngác hỏi tiếp:
- Lão bá bá nói chuyện với ai thế? Nơi đây làm gì có ai tên là lão nhị?
Ông già mỉm cười và ngắt lời y ngay:
- Sao cháu hỏi nhiều vấn đề như thế? Già này hỏi cháu tại sao lại tới nơi đây? Có phải có người mách cho cháu nên cháu mới biết lão ở đây mà tới tìm kiếm không?
Thiên Tứ đang đói bụng nghe thấy ông già nói ở nơi đây mừng rỡ vô cùng vội hỏi tiếp:
- Ủa! Thế ra lão bá bá ở đây đấy? Chả hay lão bá có cái gì ăn cho đỡ đói không? Cháu đang đói bụng lắm.
Ông già lại mỉm cười, Thiên Tứ chỉ thấy hai mắt hoa lên một cái và thấy tay của mình đã bị tay của ông già nắm chặt liền. Ông già khẽ trả lời rằng:
- Nếu cháu đói thì hãy đi theo lão về nhà ăn uống một chút gì cho đỡ đói đã.
Ông già nói xong, chỉ hơi giơ chân lên là Thiên Tứ đã cảm thấy mình chân không đụng vào mặt đất, theo ông ta đi luôn. Khi đi tới dưới một cây cổ thụ, y lại nghe ông già khẽ quát:
- Lên!
Thiên Tứ đã thấy mình cùng với ông già cùng phi thân lên trên cao ngay và hai mắt hơi tối, đã tiến vào trong một căn nhà rất đặc biệt và nhã nhặn vô cùng.
Thì ra căn phòng ấy ở trong thân cây và ở chỗ cao chừng năm trượng hình tròn bốn vách là thân cây (khoét lòng cây làm thành) có một cửa ra vào và ba cửa sổ ở ba mặt. Đứng ở trong nhà có thể thấy hết cảnh sắc của cả sơn cốc ấy.
Trong nhà có giường ghế hẳn hoi nhưng mỗi thứ chỉ có một cái thôi, đều làm bằng gỗ thông, tuy hơi thô nhưng trông rất đặc biệt. Ông già nọ vào phòng lấy một khay trái cây để ở cạnh giường đem lên để trên mặt bàn. Ông ta quay người lại ngồi vào cái ghế, trông thấy Thiên Tứ rất kinh ngạc liền cười và nói tiếp:
- Cháu còn đứng ngẩn ra đó làm chi nữa? Cháu kêu đói bụng thì hãy ăn tạm ít trái cây này trước rồi lát nữa ăn cơm sau.
Thiên Tứ vâng lời vội vàng tới cạnh bàn, thấy trong mâm trái cây ấy có ba thứ tất cả là: trái thông, đào và mận. Y lấy trái đào ăn thử thấy rất ngọt, cả trái mận cũng vậy, riêng có thứ trái thông thì hơi đắng một chút thôi nhưng lại rất bùi và thơm. Lúc này y đang đói, chả còn biết lễ phép gì hết, ăn ngấu nghiến một hồi, đã ăn hết mâm trái cây liền.
Ông già ra giường ngồi chờ y ăn xong, mới chỉ tay vào cái ghế bảo y ngồi và hỏi:
- Cháu đã ăn no rồi, bây giờ hãy nói cho già này biết tại sao cháu lại tới nơi này?
Thiên Tứ vâng lời ngồi xuống cái ghế duy nhất đó và lần lượt kể chuyện cho ông già quái dị nghe, từ lúc rời khỏi mục trường cho tới lúc rớt xuống vực thẳm may được con trăn lôi vào trong hang, vào trong hang sâu làm thế nào ra khỏi được cái hang ấy…
Ông già quái dị vừa nghe vừa biến sắc luôn luôn, sau cùng còn buông tiếng thở dài, rồi đỡ lời nói tiếp:
- Tiểu tử giỏi lắm, không ngờ ngươi lại có bấy nhiêu sự may mắn đến thế, ngươi có biết lai lịch của con bò ấy như thế nào không? Ha! Thiên phúc của ngươi lớn lao thực!
Con bò bạc ấy tục gọi là Thiên Ngưu, sự thực thì nó là con của một con bò đặc biệt phối hợp với rồng mà sinh ra, nên nó có hai đặc tính không những xương đã cứng như sắt đá, sức mạnh vô cùng và còn có thể ngày đi hàng ngàn dặm. Nhưng tính nó rất hung hăng, không thích gần các đàn bò khác và cũng không chịu nghe lời người sai khiến nó. Vì nó sinh sống ở trong núi sâu rừng rậm rất khó bắt và nuôi như bò thường. Xưa kia Lão đại ta đã gặp nó ở trong núi này, nhưng đuổi bắt hàng nửa ngày mà không sao bắt được. Ngờ đâu tiểu tử ngươi lại có tài thuần phục nó như thế! Kể lạ lùng thật! Vì đây cũng là một dị số!
Thiên Tứ ngồi nghe thấy quái nhân nói con bò bạc có nhiều điểm kỳ lạ như vậy lại càng nhớ nhung và yêu mến con thú ấy thêm.
Ông già nói xong ngừng giây lát rồi lại nói tiếp:
- Ngươi ở trên Nam phong rớt xuống, Nam phong cao hơn trăm trượng, nếu rơi xuống mặt đất ngươi thế nào cũng bị tan xương nát thịt chứ không sai. Ngươi bay người rớt xuống tới lưng chừng lại gặp con trăn kia cứu giúp, nhờ vậy mà ngươi mới thoát chết. Như thế chả là một duyên số nữa hay sao.
Thiên Tứ xen lời hỏi:
- Cụ đã gặp con trăn ấy rồi ư?
Ông già lắc đầu, thở dài nói:
- Lão ở trong sơn cốc này đã hơn tám mươi năm. Có thể nói dãy núi Kỳ Liên này bất cứ hang động hay khe núi nào, lão cũng đã lui tới qua cả rồi nhưng lão không ngờ trên vách núi này lại có cái hang và trong cái hang đó lại có một con trăn đồ sộ như thế!
- Thế cụ đã vào trong hang núi ở trên đó chưa?
- Lão chưa nghe thấy ai nói tới cái tên Bách Thú Tiên Ông với Kim Trượng Hành Giả bao giờ, thì tất nhiên lão chưa hề lên trên đó lần nào. Thạch Chung Nhũ mà ngươi vừa nói đó là một di báu của võ lâm. Người trong giang hồ ăn nó không những khỏi đói mà còn tăng thêm nội lực rất mạnh nữa. Ngươi đã ăn quá nhiều, thảo nào đôi mắt ngươi lại sáng như vậy và tiếng nói lại lớn như thế?
Thấy quái nhân nói như vậy. Thiên Tứ mới vỡ nhẽ và nghĩ bụng:
- Thảo nào ta thấy sức khoẻ ta lại mạnh hơn trước rất nhiều và tha hồ sử dụng cũng không mệt mỏi. Ngoài ra từ khi ăn thứ đá ấy rồi, dù tiết trời lạnh lùng đến đâu, ta cũng thấy chả lạnh chút nào. Có lẽ vì ta đã ăn thứ đá mềm ấy quá nhiều rồi cũng nên?
Nghĩ tới đó, y móc túi lấy cây Bạch Thủ Lệnh cuốn thành vòng tròn và Bách Thú nhạc phổ ra đưa cho ông già quái dị và nói:
- Cụ xem trò chơi này có thích thú không? Thổi nó kêu như tiếng các con thú, còn cuốn sách này nữa, thứ bên trong kỳ quái lắm. Cụ thử xem bên trong thì khắc biết.
Ông già cầm hai thứ ấy xem một hồi rồi lại đưa cuốn Bạch Thủ Lệnh cho Thiên Tứ và đáp:
- Lão không biết Bạch Thủ Lệnh này làm bằng thứ gì nhưng dám chắc nó thế nào cũng là một vật báu.
Nói xong ông lão giở cuốn nhạc phổ ra xem một hồi rồi thở dài nói tiếp:
- Trời đất bao la vật kỳ lạ gì cũng có. Tài không của thiên hạ cũng thế, dù ta học suốt đời cũng không sao học hết được. Tuy lão phu rất tinh xảo về tạo học, nhưng riêng về môn âm, lão cũng như ngươi vậy thôi, không hay biết một tí gì cả. Tiểu tử cứ giữ lấy, sau này thể nào cũng có cơ duyên gặp được người giỏi về âm thuật. Lúc ấy ngươi hãy nhờ người ấy giảng giải cho.
Thiên Tứ nhìn ra ngoài cửa sổ, bên phía nam thấy vách đổ sụn, nhiều nơi lộ cả chất đá ra, nhưng không một nơi nào có cửa ngỏ mở ra hết, y ngạc nhiên vô cùng. Thấy sắc mặt của y ông lão hiểu ý ngay, thở dài một tiếng giải thích:
Cơ duyên của đời ngươi lạ lùng lắm, nhưng việc gì cũng do ông Trời định đoạt hết, cũng như chuyện của ngươi vào động và ra động, chả phải là số trời đã định từ trước còn gì? Vừa rồi ngươi nói Kim Trượng Hành Giả, một vị động chủ rất giỏi về bói toán, chưa biết chừng ông ta đã biết câu chuyện của ngươi ngày nay rồi, ông ta đã sắp xếp lối thoát cho ngươi, nên ngươi mới ra được khỏi hang động ấy.
Thiên Tứ thần người nghe giây lát, đột nhiên lén hỏi tiếp:
- Cụ nhận lời dạy võ công cho cháu, sao cụ không dạy cho cháu đi?
Trước hết lão đây muốn hỏi ngươi câu này đã: Sau này ngươi muốn trở nên một người thế nào? Lão đây sẽ dạy võ công cho ngươi sau, và thế nào cũng giúp cho ngươi trở thành hạng người như thế!
Thiên Tứ ở trong mục trường học văn võ cả nửa năm trời, thường ngày vẫn nghe người ta nói đến những chuyện kỳ lạ của giang hồ cho nên y đã mơ tưởng cuộc đời của mình sẽ có một sự thay đổi rất lạ lùng. Y thấy ông già như vậy, không do dự gì hết vội trả lời ngay:
- Sau này cháu mong trở nên một đại hiệp khách đi lại trên giang hồ, đả bất bình, diệt trừ gian cứu người hèn yếu. Vì vậy, cháu muốn học những tài ba của cụ, như môn khinh công biết bay ấy chẳng hạn.
Ông già vỗ tay một cái khen ngợi:
- Tiểu tử này có chí khí lắm! Già sẽ giúp được thành tài. Nhưng ngươi có vui lòng vái già làm sư phụ không?
Ông già hỏi một câu. Thiên Tứ lại gật đầu một cái. Sau cùng y cương quyết đáp:
... quý hồ cụ vui lòng dạy võ cho con, thì đã khổ đến đâu, cháu cũng không sợ…
Nói xong y vội quỳ xuồng vái lạy ngay. Ông già đưa tay phải ra khẽ đưa lên một cái, Thiên Tứ đã cảm thấy có một vách tường vô hình ngăn cản, không cho mình quỳ xuống. Y ngạc nhiên vô cùng, ngẩn người nhìn ông cụ. Chỉ thấy ông ta khẽ thở dài rồi khẽ nói tiếp:
- Ngươi hãy ngồi xuống đây nghe già kể một câu chuyện này đã. Nghe xong, nếu ngươi không hãi sợ chút nào, già sẽ nhận ngươi làm đồ đệ. Bằng không già sẽ đưa ngươi rời khỏi nơi đây…
Thiên Tứ vâng lời ngồi xuống và y cướp lời nói:
- Cụ cứ kể đi cháu không sợ khổ sở gì đâu!
Ông già nhìn y một cái rồi thủng thẳng kể chuyện cho y nghe:
- Cách đây hơn trăm năm, có một vợ chồng sinh hạ được một quái thai. Quái thai đó là hai đứa trẻ sinh đôi, nhưng lại dính liền thành một. Nên khi đứa trẻ ra đời, vợ chồng nhà đó thấy đứa trẻ ấy có những hai đầu, hoảng sợ vô cùng, tưởng là U Linh thần quỷ làm nguỵ, quái vật hạ phàm nên không dám nuôi, liền lấy vải bọc đứa trẻ ấy đem vứt vào trong rừng hoang.
Đứa trẻ quái lạ ấy không biết là mình có dị hình, bị cha mẹ vứt vào trong rừng cứ oe oe khóc hoài. May mắn thay, có một dị nhân đi qua, nghe thấy tiếng khóc, liền động lòng trắc ẩn, đến gần bế đứa bé lên xem. Thấy đứa bé khác thường, tuy rất yếu ớt nhưng thân thể khí quan của nó vẫn bình thường. Ông ta liền đem đứa nhỏ quái thai ấy về nuôi và đi kiếm các loại thuốc bổ linh dược cho đứa trẻ uống để nó khỏi chết yểu.
Mười năm sau, đứa trẻ quái dị đã được mười tuổi, dị nhân nọ thấy hai cái đầu của đứa trẻ đều có tư tưởng thần kinh khác nhau. Mỗi một cái đầu điều khiển một bên tay chân vì vậy ông ta mới đặt cho cái đầu ở bên tay phải là Thích Hữu, còn cái đầu ở bên tay trái là Thích Tả. Chữ Thích với chữ Hỷ đọc theo tiếng miền Bắc Trung Hoa thì lại là đồng âm. Vì vậy ông ta mới lấy chữ Thích ấy làm họ cho chúng, có ý nghĩa là hai đứa trẻ ấy đã bị cha mẹ và người đời bỏ rơi. Thích Hữu với Thích Tả không những tính tình khác nhau mà mặt mũi cũng khác nhau nốt.
Thích Hữu ôn thuận hoà bình, làm việc gì cũng phải suy nghĩ thật chín chắn trước rồi mới làm, mặt cũng rất anh tuấn, nếu không bị vướng cái đầu của Thích Tả có thể gọi là mỹ nam tử được.
Còn Thích Tả thì trái ngược lại hẳn với Thích Hữu, tính nóng như lửa, hung ác khôn tả, hai mắt đỏ ngầu, trán dô mắt lõm, mũi đỏ mồm rộng, và giọng nói lại khàn khàn, nếu không có cái đầu của Thích Hữu thì y đi tới đâu, người ta trông thấy cũng mất hồn vía liền.
Dị nhân nọ trông thấy thằng nhỏ một thân hai đầu, cá tính lại khác nhau như vậy, liền nảy ra một ý nghĩ lạ kỳ. Từ năm chúng mười tuổi, ông ta dạy cho mỗi người một môn võ công khác nhau. Thích Hữu học Thiên La thần công thuộc môn nội công, Thích Tả học môn Thiên Lôi thần công thuộc môn ngoại công. Hai thứ thần công đó có tính chất khác nhau, Thiên La thần công thì phải điều tức dưỡng khí trước rồi dần dần mới luyện chưởng. Luyện thành công rồi thì hơi thở mạnh như gang thép, thật là thần địa vô phương. Còn Thiên Lôi thần công thì trái ngược, vì hoàn toàn dũng mãnh nên phải luyện gân cốt trước rồi mới luyện khí hành công, ra chưởng tấn công một cái kêu như sấm động một cái mạnh như sét đánh.
Mười năm sau, cả hai đã luyện thành công hai môn thần công đó, dị nhân lại dạy cho chúng những môn tập khác như: kiếm, chưởng, hai giới và khinh công vân… vân… Ngoài ra, còn dạy chúng học văn nữa.
Thích Hữu rất thông minh và tính lại phong lưu nên bất cứ thi từ ca phú gì cũng học hỏi được hết. Trái lại, Thích Tả cho bản sắc nam nhi phải hào hùng nên y chỉ thích học những bài thơ ca bi tráng, thích đọc những áng văn. Vì thế, tuy hai cái đầu mọc trên một cái thân nhưng hai người lại có tư tưởng hoàn toàn khác nhau.
Mười năm sau, dị nhân qua đời, Thích Hữu với Thích Tả vì không có người thân phân xử nên cứ hay cãi nhau. Thích Hữu tính tình đạm bạc tự biết thân thể quái dị kinh thường như vậy không nên bước vào nhân thế để làm cho người đời hoảng sợ. Nhưng Thích Tả chưa bị vậy bao giờ tự cho tài ba của mình đã siêu phàm nhập thánh nên muốn vào đời làm việc gì oanh liệt để cho người đời biết, tuy hình dáng của mình kỳ dị nhưng không phải là kẻ vô dụng, để các cha mẹ trong thiên hạ giác ngộ nếu có đẻ những đứa con quái thai không nên vứt bỏ như vậy nữa.
Vì những lý lẽ đó y quyết định phải ra đời. Nhưng Thích Hữu điều khiển một tay phải và một chân phải nên y không đồng ý thì Thích Tả dù có hứng cũng không sao lê bước đi được. Thích Hữu là người rất hiền từ, thấy Thích Tả cứ van lơn cầu khẩn, bản thân mắng chửi mãi, còn đe dùng đao chặt đôi người ra. Y biết chuyến đi này thế nào cũng không có kết quả tốt đâu nhưng lại không muốn làm trái ý Thích Tả, sau cùng y phải nhận lời.
Quả nhiên vào đời không lâu, người đời thấy anh em hai đầu như vậy tưởng là ma quỷ. Không chờ anh em y giải thích, người ta đã hoảng sợ đến chết giấc. Còn những người trong võ lâm, tuy không chết giấc tại chỗ nhưng cũng phải sợ đến mặt biến sắc, và không chịu làm bạn với anh em y, thậm chí còn dùng khí giới đối phó nữa là khác.
Thích Hữu với Thích Tả có một thân tài ba như vậy tất nhiên không sợ những người kia. Lúc đầu, chúng còn lui bước nhường nhịn, sau thấy bọn người đó hà hiếp quá đáng, chúng liền nổi giận và ra tay phản công luôn. Ngờ đâu, chúng vừa ra tay tấn công một chưởng đối phương đã chết liền. Tin này đồn đi khắp nơi, không bao lâu người trên giang hồ lại đồn lầm bảo anh em y là một ác ma thảm khốc vô cùng, nên từ đó trở đi hễ thấy anh em y xuất hiện là những người trong võ lâm rủ nhau đến bao vây và đánh chém anh em y liền.
Dù không muốn đả thương người nhưng trong lúc đánh nhau y cản trở sao nổi Thích Tả hạ độc thủ? Cho nên lúc nào cũng vậy phải chờ cho đến khi Thích Tả nguội cơn giận và có ý rút lui y mới lui được.
Trải qua mấy lần như vậy Thích Hữu đau lòng vô cùng, nhưng Thích Tả lại trái ngược hẳn, cho người đời không biết phải trái coi mình như kẻ thù nên y không những không chán nản chút nào, ngược lại tính nết y càng nóng nảy hung ác hơn trước nhiều. Y chẳng những không nghe lời khuyên bảo của Thích Hữu và về núi quy ẩn, trái lại còn quyết chí đi sâu vào trong đám người giết sạch những người dám coi thường mình.
Thích Hữu thấy khuyên không nổi, bất đắc dĩ mới lấy một túi vải bao trùm lấy đầu mình, để một mình Thích Tả ra mặt với đời thôi. Nhưng y có một điều ước là bất cứ việc rắc rối gì y cũng không ra tay trợ giúp và nếu Thích Tả đối phó không nổi cần phải có y ra tay giúp sức, khi giải quyết xong Thích Tả phải nghe lời y mà trở về núi sâu quy ẩn.
Mặt mũi của Thích Tả đã khó coi, người gầy và cao, giọng nói lại khàn khàn khó nghe, lại thêm cái đầu chếch sang một bên, còn vai bên kia như vác một túi vải đựng dưa hấu. Khi đi vào trong thị trấn tuy không bị mọi người ngăn cản và đánh mắng như trước nữa nhưng vẫn thường bị trẻ con tinh nghịch trêu chọc chế giễu.
Y là người nóng nẩy, khi nào chịu nhịn được những sự chế giễu ấy nên y nổi giận, ra tay đánh lũ trẻ kia liền. Y không ra tay thì thôi, đã ra tay thì đối phương không chết cũng bị thương nặng. Vì thế mà y đã gây nên rất nhiều chuyện phiền phức, cũng may võ công của y rất trác tuyệt nên không bao giờ bị thua ai cả. Tuy vậy, tiếng hung của y đã lan đi khắp nơi. Vì vậy, trong giang hồ mới có câu ca dao như sau: Ác ma đầu méo hung ác vô cùng hễ gặp là chém giết không tha!
Những kẻ tự cho mình là chính nghĩa trong võ lâm không biết rõ nếp tẻ gì hết, nghe thấy câu ca dao ấy là tìm kiếm ác ma đầu méo để tiêu diệt trừ hại cho đời ngay. Nhưng bọn chúng địch sao nổi Thích Tả? Sau chúng phải chia thành bọn mấy chục người đi khắp nơi lùng bắt Thích Tả.
Lúc ấy Thích Tả du lịch giang hồ đã được hai năm, đi đến đâu cũng gây thù oán chứ không ai chịu làm bạn với y. Tuy vậy, y đã học được khá nhiều quy tắc võ lâm.
Có một lần y nhận được một lá thư khiêu chiến, liền nổi giận và nhận lời ngay. Lá thư đó là của một bọn người dụ y đến ngày Trùng Cửu lên đỉnh núi Côn Lôn để quyết định sống mái.
Lần đó, quần hùng vì thấy Thích Tả đã đả thương và giết hại rất nhiều cao thủ, đã phát động toàn thể tinh anh. Có thể nói ngoài các vị chưởng môn các môn phái, các vị trưởng lão cũng tới rất nhiều.
Ngày hôm Trùng Cửu, đôi bên đối diện nhau. Thích Tả thấy đối phương vẫn thị người nhiều sức mạnh bao vây mình vào giữa và bảo mình thúc thủ chịu chết, như vậy sao y nhịn được, liền nổi khùng lên. Chỉ thấy y giơ chưởng ra tấn công một thế Thiên Lôi chưởng pháp, chưởng lực vừa giơ ra đã thấy có tiếng kêu như sấm động cát bụi bay mù mịt ngay. Chỉ trong chốc lát đã có ba người bị y đả thương nặng rồi.
Quần hiệp thấy y hung ác tàn nhẫn như vậy càng tức giận thêm ai nấy đều rút khí giới ra xông lên đánh úp.
Thích Hữu bị túi vải bao trùm không trông thấy cảnh ở bên ngoài, nhưng y rất tinh thông nên y nghe tiếng động đã biết đối phương rất nhiều người và đều dùng khí giới để tấn công. Lòng trắc ẩn xúi giục, y không muốn giết chết hay đả thương nhiều người, nên dùng chân phải phối hợp chân trái của Thích Tả giở khinh công tuyệt đỉnh ra chạy vòng quanh giữa đám đông, nhưng tay phải của y buông thõng. Đối phương có những tay thượng thừa người nào người nấy đều có kinh nghiệm đối địch phong phú. Đấu được vài hiệp họ đã nhận xét ra nhược điểm của địch thủ. Chúng thấy địch thủ chỉ tấn công bằng tay trái thôi, chứ tay phải hầu như là tàn phế không cử động được chút nào nên bọn họ cứ tìm bên phải mà tấn công. Nhưng họ thấy chưởng lực của địch thủ mạnh vô cùng nên họ không dám tới gần, chỉ dùng cách xa luân chiến định làm tiêu hao chân lực của địch thủ trước, rồi mới ra tay giết chết sau.
Thích Tả tính rất nóng nảy, Thiên Lôi thần công của y tuy uy mãnh vô cùng nhưng lại rất tổn hao chân lực. Chỉ trong nháy mắt đã đấu được mấy chục hiệp. Y thấy địch thủ phía Đông tiến thì phía Tây lui phía Tây tiến thì phía Đông lui, chứ không ai dám đấu xáp lá cà với y cả, nên chưởng lực tuy mạnh thật nhưng không sao đả thương một người nào cả. Y càng tức giận thêm, liền lên tiếng mắng chửi, bảo những người nọ là vô sỉ. Càng thế hơi sức của y càng hao tổn thêm. Mọi người thấy Thích Tả đã thấm mệt liền hò hét kêu rú và xông lên cùng một lúc, kẻ kiếm người lao, lại còn roi sắt lẫn xà mâu bao chặt lấy Thích Tả vào giữa.
Thích Tả giở hết sức cuối cùng ra tấn công luôn mấy thế Thiên Lôi chưởng, nhưng đối phương người nhiều sức mạnh và chưởng lực của y lại đuối sức hơn thì làm sao đẩy lui được những kẻ địch lợi hại như thế?
Tuy Thích Hữu với Thích Tả có tư tưởng khác nhau nhưng dù sao cũng chung một thân, huyết mạch liên thông vì vậy Thích Tả đuối sức thì Thích Hữu cũng bị đuối sức theo. Đồng thời, Thích Hữu nghe tiếng kêu la của địch càng lúc càng gần càng ồn ào. Lúc này y mới biết sự thể rất nghiêm trọng nên y phải lên tiếng hỏi:
- Lão nhị có cần lão đại này ra tay giúp không?
Thích Tả tính rất hiếu thắng, càng lép vế y càng không chịu thua. Nghe thấy Thích Hữu hỏi thế y sực nghĩ đến lời thề: “Nếu khi nào phải nhờ đến Thiên La thần công của Thích Hữu để xua đuổi kẻ địch thì từ đó trở đi y phải nghe lời Thích Hữu trở về rừng quy ẩn. Như vậy có phải là phụ hết những tài ba y đã học hỏi được trong bấy nhiêu lâu và cũng phụ hết tâm huyết của ân sư đã dạy bảo trong mấy chục năm không? Nên y dùng giọng mũi kêu hừ một tiếng rồi cất giọng khàn khàn đáp:
- Khỏi cần!
Y lại giở mười thành công lực ra sử dụng thế Hoành Tảo Ngũ Nhạc tấn công luôn một chưởng mạnh như vũ bão. Quần hùng thấy vậy mặt đều biến sắc, vội lui ra ngoài xa hơn trượng. Y lại khẽ quát:
- Đi!
Rồi y tung mình lên trên cao hơn trượng, vượt khỏi vòng vây quần hiệp mà đào tẩu luôn.
Quần hiệp thấy y đào tẩu khi nào lại chịu buông tha, ai nấy vội móc túi ám khí ném lên. Chỉ trong nháy mắt ám khí đông như đàn ong đều nhắm Thích Tả công tới. Thấy ám khí của địch sắp bắn trúng mình và mình lại đuối sức không sao nhảy lên cao thêm để né tránh được. Tuy y đã luyện được nửa người ngạnh công có thể chống đỡ được các thứ ám khí thật, nhưng bây giờ kẻ địch không những rất đông mà toàn cao thủ, biết đâu trong những thứ ám khí đó có một môn thứ phá được ngạnh công của mình
Còn một nửa người bên phải, tuy công lực của Thích Hữu rất tinh thâm nhưng vì giữ lời thề mà y không ra tay và cũng không vận công chống đỡ, nhỡ khi bị ám khí của địch ném mà bị thương, rồi y trách mình sơ suất không chịu bảo vệ cho y và y sẽ vịn lẽ đó mà bắt mình phải theo lời thề mà trở về nơi quy ẩn thì sao?
Vì những lý lẽ trên, y không kịp suy nghĩ thêm, vội nghiêng người ở trên không, dùng cánh tay trái gạt mạnh xuống bên dưới một thế, một luồng kình phong nhằm trúng ám khí tấn công luôn. Tuy chưởng lực của y mạnh thực, nhưng vẫn còn hai ba mũi ám khí trúng vào chân trái của y. Ba mũi ám khí ấy rất bá đạo, cắm sâu vào trong da thịt. Tuy không đau nhưng y đã cảm thấy tê liệt liền. Y giật mình kinh hãi, vì biết đã trúng phải ám khí có chất độc. Chân khí vừa bài tiết ra, người y liền rớt ngay xuống bên dưới.
Thích Hữu biết y đã bị thương vội hỏi:
- Lão nhị…
Y chưa nói dứt đã thấy người rớt xuống bên dưới. Y kinh hoảng vô cùng vội cởi cái túi vải ra, chân phải đạp mạnh một cái, người đã bắn ra ngoài hơn ba trượng và đang lên tiếng nói tiếp thì y đã nghe thấy Thích Tả lầm bầm nói:
- Lão Đại, lão Nhị đã trúng phải ám khí có chất độc rồi…
Thích Hữu giật mình kinh hãi mặt liền biến sắc, bảo y vội nhịn hơi nín sức đừng để cho chất độc theo máu chạy lên trái tim, rồi Thích Hữu vận Thiên La thần công lên hét lớn một tiếng đứng yên đợi cho kẻ địch tới.
Quần hùng thấy có mấy mũi ám khí trúng Thích Tả và thấy người y hơi chậm lại, ai nấy đều vui mừng khôn tả, đang định xông lên vây đánh.
Quần hùng đang tiến lên, bỗng thấy đối phương cởi cái túi vải trên vai ra, và phát hiện ra một cái đầu lâu nữa, ai nấy đều hoảng sợ vô cùng vội lui về phía sau, mặt đều biến sắc. Chờ tới khi thấy đối phương rớt xuống mặt đất và đứng yên, rồi mọi người mới hoàn hồn và đồng thanh quát tháo lại giở ám khí ra tấn công lần nữa.
Thích Hữu thấy vậy, vẫn dùng Thiên La thần công, giơ chưởng lên gạt những mũi ám khí đó, vừa khẽ hỏi Thích Tả bị trúng phải thứ ám khí nào? Chờ tới khi biết rõ người em đã trúng phải loại ám khí nào rồi. Y để ý nhìn kỹ và đã tìm thấy do một ông già gầy gò ném lên ám khí hình kim có chất độc đó. Y liền nhảy sổ vào trong đám đông mà nhằm ông già chộp luôn. Thân pháp của y nhanh như điện, thoáng như bóng ma, thoáng cái đã tới gần. Quần hùng thấy vậy kinh hoảng vô cùng vội rút lui luôn.
Nhân cơ hội ấy, Thích Hữu đã ra tay điểm trúng vào huyệt tê của ông già đã ném những mũi kim độc kia. Thích Tả thì tay trái túm lấy người ông già nọ, rồi thét lớn một tiếng lấy tiến làm lùi, múa tít người ông già để gạt những mũi ám khí của kẻ địch, và nhanh như một luồng khói đen chạy thẳng ra ngoài núi.
Tuy mọi người vẫn đuổi theo anh em Thích Hữu nhưng vì sự bức dây động rừng, tuy biết ông già bị kẻ địch bắt sống như vậy khó mà thoát chết nhưng không ai dám dùng ám khí tấn công nữa, nhỡ trúng ông già ấy thì sao.
Trong khi bôn tẩu, Thích Hữu với Thích Tả đã thò tay vào túi của ông già nọ lấy đá nam châm và thuốc giải độc ra. Đá nam châm dùng để hút những mũi kim độc ra còn thuốc dùng để uống. Như vậy, vết thương đã lành mạnh được rồi.
Thích Tả còn định quay lại tái chiến nhưng Thích Hữu không chịu, bất đắc dĩ Thích Tả phải vứt ông già xuống đất, rồi hai anh em rảo cẳng ù té chạy ngay.
Từ đó trở đi, trên giang hồ không thấy quái ma hai đầu xuất hiện nữa. Những người đã vây đánh y lần ấy, lại tưởng là y đã bị trúng độc và chết rồi, nhưng sự thật thì y ẩn núp ở trong núi sâu, không ra bên ngoài nữa đấy thôi.
Sau vụ đó, Thích Tả nản chí không còn nghĩ đến chuyện hành hiệp giang hồ như trước, và y còn oán hận người đời có mắt mà không ngươi, nên y cũng không muốn can thiệp đến việc của người đời nữa…
Anh em Thích Tả ở trong núi sâu ít lâu, cảm thấy cô độc, nên đã có lần đi kiếm những người cô độc như mình để ở cho vui. Nhưng lần nào cũng thế, người bị bắt về, nếu không phải hoảng sợ mà chết ngay tại chỗ thì cũng tưởng y là ma quỷ mà vội vàng chạy trốn ngay.
Thế rồi từ đó trở đi, anh em y cũng chẳng muốn bắt thêm ai về ở chung với mình nữa, và cứ sống cô độc như vậy luôn bảy mươi năm trời. Thỉnh thoảng đêm khuya, anh em thấy buồn bực lẻ loi quá, lại xuống núi vào nhà thường dân để xem đời sống gia đình của người ta. Thấy sự sung sướng của người đời như vậy, nhiều lúc anh em y cảm động đến ứa nước mắt ra. Anh em y chỉ muốn nhảy ngay xuống bên dưới để vui chung với họ, nhưng khi nghĩ đến mình có hai cái đầu quái dị như vậy, lại lắc đầu thở dài và nản chí rút lui luôn.
Chả lẽ anh em y lại cam tâm sống như vậy đến ngày chết hay sao? Cam tâm để tuyệt học của mình theo xác thịt mà bị chôn vùi xuống đất sâu hay sao? Không! Không! Anh em y vẫn còn hy vọng. Phải tìm được một người hiểu biết mình rồi truyền thụ hết tài ba của mình cho người đó mới đành lòng. Nếu không đạt được mục đích ấy, dù chết anh em y cũng không thể nhắm mắt.
Thiên Tứ lẳng lặng ngồi nghe ông già vô danh kể chuyện y cảm động ứa nước mắt ra. Y chỉ muốn được gặp ngay Thích Hữu và Thích Tả để an ủi anh em quái nhân ấy.