Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Zazie trong tàu điện ngầm / Raymond Queneau

5 trả lời, 36 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.01.2018 21:31:53 bởi Ct.Ly>
Zazie trong tàu điện ngầm 
Raymond Queneau
Dịch giả: Cẩm Thơ
Nguyên bản : Zazie dans le métro.
Tiểu thuyết Pháp
Zazie dans le metro - Raymond Queneau © Editions Gallimard (Paris) 1959
 
µµµ
 
Cánh Cửa Mở Rộng
Tủ sách hợp tác giữa
Nhà toán học Ngô Bảo Châu,
nhà văn Phan Việt
với Nhà xuất bản Trẻ
Tủ sách CÁNH CỬA MỞ RỘNG được thực hiện nhằm mục đích giới thiệu những đầu sách có giá trị của thế giới và trong nước đến bạn đọc Việt Nam, đặc biệt là bạn đọc trẻ, góp phần thúc đẩy việc đọc sách, tinh thần hiếu học, coi trọng trí thức và những giá trị sống. Các tựa sách trong tủ do nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt tuyển chọn và giới thiệu.
Tủ sách được phân thành ba mảng: văn học, khoa học xã hội - kinh tế, và khoa học tự nhiên; trước mắt cấu tạo tủ sách gồm 80% các sách có khả năng tiếp cận đông đảo bạn đọc và 20% cho các sách chuyên ngành.
 
***
 
Lời giới thiệu của
Nhà toán học Ngô Bảo Châu
và Nhà văn Phan Việt
 
Thay lời tựa
 
Mẹ gửi Zazie lên Paris cho cậu Gabriel trông. Zazie không quan tâm đến những cung điện tráng lệ, những di tích văn hoá và lịch sử mà chỉ thích đi tàu điện ngầm.
Bạn đang cầm trong tay mình cuộc phiêu lưu của cô bé mới có mười ba tuổi nhưng đã đủ tinh ranh để mọi người xung quanh, trong đó có vũ công Gabriel, hồng hộc chạy theo cả tuần.
Đây còn là cuộc phiêu lưu của ngôn ngữ. Ngôn ngữ hàng ngày được Raymond Queneau nhào nặn thành những tổ hợp cũng ngộ nghĩnh, tinh ranh không khác gì Zazie. Khi tiếng lóng bị buộc vào những cấu trúc trừu tượng của ngữ pháp, nó làm chúng ta bật cười, một nụ cười hồn nhiên, vô tư, không hề gợn mỉa mai, chua chát.
Cả tôi và bạn đều cần cái nụ cười ấy lắm, để còn có sức khoẻ mà sống với cuộc sống xung quanh, một cuộc sống nhiều khi chỉ toàn một màu xám xịt.
NGÔ BẢO CHÂU và PHAN VIỆT
 
***
 
THAY LỜI TỰA
“Hoidaumahoithe” như một tiếng sấm mở đầu cho Zazie trong tàu điện ngầm. Raymond Queneau trở nên danh tiếng và được tán thưởng, đặc biệt trong giới trẻ  đang khao khát nổi dậy.
Bởi vì, chúng ta phải nhớ tới nước Pháp của năm 1959, năm mà tác phẩm ra đời, là một đất nước đang bị gò bó như thế nào trong những quan điểm xã hội hết sức cứng nhắc và hẹp hòi về phương diện giáo dục và tình dục... Phải nhớ lại cái nước Pháp xám xịt như màu áo đồng phục học trò của các trường tiểu học và trung học phổ thông thời ấy để hiểu được sự đón nhận hào hứng mà bạn đọc đã dành cho tác phẩm.
Zazie, với vốn ngôn ngữ sống sượng của mình (như thói quen thường xuyên chêm ba chữ "cái đít tôi" khi bộc bạch chẳng hạn), đã trở thành mẫu mực cho lớp trẻ nổi loạn và ngạo mạn, đang đấu tranh để phá rối những quy chế, luật lệ, và làm phát triển những tư tưởng “từ thiện”, “phải đạo”. Lớp trẻ ấy, mười năm sau, vào năm 1968 đã xuống đường để thay đổi bộ mặt của xã hội. Và Zazie hẳn là đã có mặt trong đoàn người ấy!
Nhưng thành công văn học này không chỉ là kết quả ngẫu nhiên của hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ: ở thời điểm này, Raymond Queneau đã là một tác giả có tầm cỡ trên văn đàn. Rất trẻ, khi mới ở tuổi 20, ông đã đứng vào hang ngũ, hay nói đúng hơn là đã đi theo xu hướng của chủ nghĩa siêu thực. Rời khỏi xu hướng này vào năm 30, ngược lại với André Breton, “giáo hoàng” của trường phái siêu thực, ông coi tiểu thuyết như một phương tiện diễn đạt, biểu cảm hiện đại. Chỉ ba năm sau, với cuốn Le chiendent (tạm dịch là Cỏ hoang), Queneau đã nhận được giải thưởng đầu tiên của ông và cũng khánh thành giải thưởng văn học này, Les Deux Magots, tên một quán rượu nổi tiếng ở Saint Germain des Prés. Hơn thế nữa, đấy chính là đại bản doanh của Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir, nơi được coi như một ngôi đền của chủ nghĩa hiện sinh và của trí tuệ Pháp.
Cũng như vậy, Raymond Queneau trở nên danh tiếng và được công nhận là một trong số những người có vai trò quan trọng trong nền văn hóa Pháp giai đoạn sau chiến tranh. Ngay thời kỳ đó, ông đã bắt tay vào một công trình có tính chất nền tảng: khai thác và sử dụng một chất liệu ngôn ngữ đã hoàn toàn trút bỏ những gì thuộc về kinh điển. Loại ngôn ngữ mà ông coi là tiếng Pháp tân hiện đại.
Theo ông, cần phải có một loại cú pháp và từ vựng gần gũi với tiếng nói, một chất liệu và phong cách ngôn ngữ mà văn học không nên xa vời. Và nếu cần thiết, ông sẽ áp dụng một cách thích thú, rất lâu trước khi SMS xuất hiện, lối viết theo phiên âm. Lối viết này được ông khai thác rất rộng rãi để sáng tác Zazie trong tàu điện ngầm, điển hình là những “câu” và những từ như: “doukipudonktan” (D'où qu'ils puent donc tant / Từ đâu mà họ hôi đến vậy), “essmefie” (Elle se méfie / Con bé cảnh giác), “gzactement” (exactement /chính xác)... Được viết theo ý tưởng trên, Zazie trong tàu điện ngầm là một cuốn tiểu thuyết để đọc thành tiếng... Ông không ngần ngại Pháp hóa những từ tiếng Anh, biến những “blue jeans” thành “bloudjinnze” (quần jean xanh), “glass” thành “glasse” (ly cốc) và sáng tạo ra những từ như “factidiversialité”, một từ mới “nghe” qua có vẻ thông thái nhưng lại là một từ không có thật, có thể hiểu là “những sự việc vụn vặt”. Loại ngôn ngữ này chỉ tồn tại trên đường phố, được sử dụng nơi chợ búa, sinh sôi nẩy nở trong những quán rượu. Ngôn ngữ “vỉa hè” chứ không phải ngôn ngữ “thính phòng”. Một ngôn ngữ không giống như bất cứ một loại ngôn ngữ nào.
Dịch Queneau, đặc biệt là dịch Zazie, như thể khai phá một vùng đất lạ, nơi mà chiếc địa bàn chỉ định được một hướng Bắc rất mơ hồ. Bản dịch cần tìm lại không chỉ nội dung mà cả nhạc điệu của từ ngữ trong tác phẩm nguyên bản. Và về khía cạnh tinh thần: một cú đá đít thật mạnh vào những thể chế và quy định già cỗi!
Và thế là Raymond Queneau, với “ngôn ngữ hiện đại mới của Pháp”, đã trở thành đồ đệ của Victor Hugo vĩ đại, người đã tuyên bố trong bài thơ Trầm tưởng của mình:

Trên trận chiến của những vần thơ alexandrine khuôn sáo
Tôi làm bùng dậy ngọn gió cách tân táo bạo
và chụp chiếc mũ đỏ tươi lên cuốn từ điển cũ kỹ cỗi cằn...

 
Tác giả vốn hết sức tò mò này quan tâm đến mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực toán học (ông đã gia nhập Hội Các Nhà Toán Học năm 1948) và áp dụng môn khoa học này vào văn học. Và dựa trên ý tưởng đó, ông sáng lập một nhóm văn học quan trọng, nhóm Oulipo. Tập hợp quanh ông là những nhà văn như Italo Calvino, như Goerges Perec (người đã viết cuốn tiểu thuyết La Disparition, tạm dịch là Biến mất, mà không hề sử dụng một chữ “e” nào), những nhà thơ như Jacques Roubaut và những nhà toán học danh tiếng.
Theo những người có nhiệt huyết không muốn nền sáng tạo nghệ thuật đi theo lối mòn, thì các nghệ sĩ phải luôn luôn đưa ra cho mình những khó khăn, thử thách  và tìm tòi mới. Chỉ có như thế thì sự tự do sáng tạo nghệ thuật mới có thể phát triển và người ta mới có thể hình dung ra những hình thức biểu cảm mới. Họ tóm tắt ý  tưởng này như sau: “Những con chuột xây cho mình con đường xoáy trôn ốc mà chính chúng đặt ra nhiệm vụ là phải tự thoát ra được”
Raymond Queneau, khi cho ra đời Zazie, đã nắm vững được tất cả các thể loại văn học. Trong một tác phẩm ngay trước đó, với tựa đề hết sức minh bạch là Exercices de style (tạm dịch là Thử nghiệm phong cách) đã chứng minh cho chúng ta điều đó. Ông đã thích thú kể’ lại bằng 99 kiểu khác nhau một câu chuyện nhỏ rất đỗi bình thường về cuộc gặp gỡ trên một chuyến xe buýt. 99 phong cách văn học khác nhau: ly kỳ hay mạo hiểm, lãng mạn hay thô thiển trắng trợn, hiện đại hay cổ điển như thể’ loại alexandrine, v.v.

Không nghi ngờ gì nữa: Zazie trong tàu điện ngầm là một tác phẩm văn học rất kỳ công. Dưới một hình thức cấu trúc có vẻ hơi lộn xộn là một câu chuyện được xây dựng hết sức chặt chẽ với các tình huống khác nhau, trong đó nhân vật chính phải vượt qua nhiều thử thách.
Câu “Con già đi!” kết thúc truyện như tiếng còi báo hiệu thời thơ ấu của cô bé Zazie đã đi qua.
Đây cũng là một hình thức “road movie” (phim hành trình). Trong cuộc chạy đua ấy, bằng những lời lẽ rất “phóng khoáng” và cái nhìn trong sáng của mình, Zazie  đã đương đầu với thế giới người lớn, với những lời dối  trá, những bộ mặt giả tạo của họ.
Zazie trong tàu điện ngầm lẽ ra có thể được viết như  một bi kịch: Queneau kể lại câu chuyện của một bé gái  khoảng 10 - 13 tuổi được mẹ gửi cho người cậu (có thể  là đồng tính luyến ái) để đi với người tình. Còn bản thân  cô bé cũng từng là con mồi nhục dục của chính cha mình, rồi người yêu của mẹ mình... Nhưng bằng nghệ thuật và tài năng của Queneau, qua thứ tiếng Pháp tân hiện đại, loại ngôn ngữ đường phố ấy, đã biến hóa câu chuyện bi đát buồn thảm này thành một chuyện khôi hài lấp lánh ánh sáng vui tươi.
Ông đã không ngần ngại vượt qua những điều cấm cản của xã hội Pháp vào giai đoạn ấy: xuyên suốt tác phẩm, bằng một giọng văn hài hước, tác giả đã khéo léo đề cập đến những vấn đề động chạm đến tình dục dưới những bộ mặt khác nhau. “Đồng tình luyến ái là gì?”, Zazie chất vấn cậu Gabriel, ông cậu mà người vợ là chị Marceline dịu dàng, kín đáo bỗng trở thành anh chàng Marcel khi câu chuyện kết thúc! Một mối "bòng bong" vui nhộn làm chối tai, chướng mắt những cơ cấu thể chế và nhà thờ vào giai đoạn mà đồng tính luyến ái bị coi như một tội ác và bị luật pháp trừng phạt như một tội ác.
Queneau, qua Zazie trong tàu điện ngầm, đã cho chúng ta thấy bộ mặt thật của một xã hội người lớn hết sức dung tục với những bộ máy han gỉ, với những lời lẽ không bàn cãi được và sự hèn hạ hiển nhiên. Và một xã hội mà ta ngầm hiểu là phải thay đổi ấy.
 
Đôi dòng về tác giả Raymond Queneau:
 
Raymond Queneau (1903 -1976) là một nhà toán học, nhà văn và nhà thơ. Ông là tác giả của 14 cuốn tiểu thuyết, 1400 bài thơ, và lời thoại của hai bộ phim truyện La Mort en ce jardin (tạm dịch là Cái chết trong khu vườn, Luis Bunuel) và Monsieur Ripois (tạm dịch là ông Ripois, René Clément). Ông cũng viết lời cho một số bài hát rất nổi tiếng của nhóm Anh Em Nhà Jacques và nữ ca sĩ Juliette Gréco như ca khúc “ơi cô bé, nếu em hình dung, ơi cô bé...” (đã được Gabriel sử dụng để đối thoại với Zazie).
Ông giữ một vị trí chủ chốt trong nền văn học Pháp như Giám đốc Thư viện La Pléiade, một tủ sách quý giá của nhà xuất bản Gallimard, và thành viên Ban Giám khảo Giải thưởng Goncourt.
 
Michel STRULOVICI
Nhà văn, nhà báo, phóng viên thường trực Nhật báo Humanité tại Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1978, cựu Trưởng ban Ban Biên tập Văn hóa Nghệ thuật Đài truyền hình France 2.
(Cẩm Thơ dịch)




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.01.2018 10:13:01 bởi Ct.Ly>
Chương I


 
Hoidaumahoithe, Gabriel bực tức tự hỏi. Quá đáng, mấy người này chắc chẳng rửa ráy bao giờ. Trên báo người ta nói chưa tới mười một phần trăm số căn hộ ở Paris là có phòng tắm, mình cũng chẳng ngạc nhiên tí nào, nhưng không có phòng tắm thì vẫn cứ tắm rửa được chứ sao. Tất cả những người đang đứng quanh mình đây, chỉ vì chẳng chịu khó một tí đấy thôi. Nhưng mặt khác, không đời nào mà những người bẩn thỉu nhất Paris lại được chọn ra đây cả. Làm gì có chuyện! Sự tình cờ đã tập trung họ lại mà thôi. Không ai có thể cho rằng những người đang đứng đợi trên sân ga Austerlitz lại hôi hám hơn những người đứng đợi trên sân ga Lyon. Thật đấy chứ, làm gì có chuyện. Mùi đâu lại có cái mùi...
Gabriel lôi từ trong tay áo ra một vuông lụa màu tím và chấm chấm mũi.
-  Cái gì mà hôi thế? - Một mụ lớn tiếng nói.
Mụ ta nói câu đó ra mà không nghĩ đến mình, mụ ta có vị kỷ đâu, mụ muốn nói đến cái mùi nước hoa bốc ra từ quý ông này này.
-  Cái ấy, má trẻ ạ, - Gabriel trả lời, anh luôn rất nhanh nhẹn khi đối đáp - là nước hoa Râu Ria hiệu Fior [1].
-  Đáng lý không được phép tra tấn thiên hạ như thế mới phải! - Con mụ bọ chó kia tiếp tục, chắc mẩm đấy là quyền của mụ.
-  Nếu tôi không nhầm thì, thưa má trẻ, có lẽ má trẻ cho rằng hương thơm tự nhiên của nàng có thể trọi được những đóa hoa hồng chăng? Thế thì, má trẻ nhầm rồi, má trẻ ạ, má trẻ nhầm rồi.
-  Anh có nghe thấy không? - Mụ nói với một gã thấp bé đứng bên cạnh, hẳn gã là người được quyền leo mụ ta một cách hợp pháp - Anh có thấy cái thằng lợn ù này nó thiếu tôn trọng tôi thế nào không?
Gã thấp bé xem xét thân hình lực lưỡng của Gabriel và tự nhủ, đây quả là một chàng lực sĩ, mà mấy chàng lực sĩ thì bao giờ cũng tốt tính, không khi nào họ lợi dụng sức mạnh của họ, vì như vậy thì hèn quá. Rất vênh váo,  gã la lên:
  -  Này, vượn[2], mày hôi lắm.
Gabrie thở dài. Lại phải zở [3] bạo lực ra rồi. Tình huống ép buộc ấy làm anh ngán ngẩm. Từ khi xuất hiện giống người, chưa bao zờ hết cái nạn này. Thôi thì, việc gì phải làm thì cứ làm thôi. Có phải lỗi tại anh, tại Gabriel này  đâu, nếu suốt đời, cứ những kẻ yếu đuối lại là những kẻ hay đi phá bĩnh thiên hạ... Nhưng dù sao, anh cũng muốn cho con dĩn kia một lối thoát thân:
-  Nhắc lại một tí xem! - Gabriel bảo.
Hơi ngạc nhiên vì chàng đô con đối đáp lại, gã thấp bé phải mất một lúc để trau chuốt một câu trả lời, ấy là:
-  “Nhắc lại một tí” cái gì?
Anh ta khá hài lòng về cách trả lời của mình, cái gã thấp bé kia. Chỉ mỗi tội, cái tủ gụ nọ lại không để’ gã yên: nó nghiêng mình xuống và tuôn ra một chuỗi những từ không dấu, không trọng âm này:
Nhungzimayvuanoi...
Gã thấp bé bắt đầu sợ. Đó là thời gian dành cho anh ta, là khoảnh khắc để’ rèn lấy một tấm lá chắn bằng ngôn từ. Và mấy lời lẽ đầu tiên mà anh ta nghĩ ra là một câu  thơ alexandrine[4]:
-  Trước tiên tôi không cho phép anh được mày tao với tôi.
 
-  Quá kém! - Gabriel đáp lại một cách đơn giản.
Rồi anh giơ tay lên như định táng cho kẻ đang đối thoại với anh một cái. Chưa gì, gã nọ đã tự lăn đùng xuống đất, nằm giữa đám cẳng chân người ta. Gã thèm được khóc chết đi được. Nhưng thật may mắn, đây zồi, tàu đã vào ga làm quang cảnh khác hẳn đi. Đám đông “thơm tho” hướng muôn cái nhìn của mình về phía những người xuống tàu đang bắt đầu diễu qua. Đi trước, bước chân vội vã, trên tay chỉ có mỗi chiếc cặp đựng tài liệu làm hành lý là những người đàn ông giới kinh doanh với cái vẻ ta đây biết rõ chuyện tàu bè  đi lại hơn thiên hạ.
Gabriel nhìn về phía xa; mấy nường ấy, mấy cô gái ấy, hẳn là đang còn rề rà đâu đây, phụ nữ thì bao giờ cũng rề rà! Nhưng không, một cô nhóc con bỗng trồi ra, nó hỏi anh:
-  Cháu là Zazie, cá zằng chú là cậu Gabriel của cháu?
-  Đúng, cậu đây - Gabriel trả lời, anh chỉnh cho giọng mình lịch lãm hơn - Cậu là cậu của cháu.
Con bé toét miệng cười. Gabriel cũng mỉm cười lịch sự bế con bé lên, nhấc nó tới ngang tầm môi của mình, anh hôn nó, nó hôn anh, anh thả nó xuống.
-  Cậu mùi rất thơm quá.
-  Nước hoa Râu Ria của Fior đấy - Anh chàng đô con zải thíc.
-  Cậu nhớ bôi cho cháu một tí đằng sau tai nhé?
-  Nhưng đây là nước hoa đàn ông.
-  Thế là cậu được thấy cái thứ ấy rồi nhé! – Jeanne Lalochère cuối cùng cũng xuất hiện - Cậu muốn được trông nom nó, thì đấy, nó đấy.
-  Tốt thôi! - Gabriel nói.
-  Chị có thể tin cậu được không đây? Cậu hiểu chứ, chị không muốn nó bị cả nhà đè ra hiếp đâu đấy.
-  Nhưng mẹ ơi, mẹ biết quá là lần trước, mẹ đã đến rất đúng lúc đấy thây!
-  Dù sao thì, - Jeanne Lalochère tiếp - chị cũng không muốn lại xảy ra chuyện ấy nữa đâu.
-  Chị có thể an tâm mà! - Gabriel nói.
-  Thế nhé. Ngày kia, chị sẽ gặp lại hai cậu cháu tại đây, chuyến sáu giờ sáu mươi đấy nhé.
-  Bên khu tàu đi? - Gabriel nhắc.
-  Natủrlich! [5]- Đã từng bị Đức “chiếm đóng”, Jeanne Lalochère đáp - Tiện đây, vợ cậu thế nào?
-  Em cám ơn chị. Chị không ghé thăm chúng em à?
-  Chị chẳng có thời gian.
-  Mẹ chuyên thế, mỗi lần có chàng nào, - Zazie chem. vào - thì gia đình chẳng là cái gì với mẹ cả!
-  Tạm biệt con yêu quý. Tạm biệt Gaby.
Chị tít mất.
Zazie bình luận sự kiện như sau:
-  Mẹ ăn phải bùa zồi.
Gabriel nhún vai. Không một lời, anh nhấc cái va-li của Zazie lên. Bấy giờ anh mới nói cái gì đó, đại loại:
-  Lên đường! - Anh bảo.
Rồi anh cắm đầu bước, hất sang trái hất sang phải tất cả những gì có trên lối đi của mình. Zazie phi theo sau.
-  Cậu ơi! - Nó la lên - Mình đi tàu điện ngầm chứ?
-  Không.
-  Không là thế nào?
Nó khựng lại. Gabriel cũng stop [6] luôn, anh quay lại, đặt cái va-li xuống và bắt đầu zải thíc.
-  Chính thế: không! Hôm nay hết cách. Có đình công.
-  Đình công á?
-  Chính thế: đình công. Tàu điện ngầm, loại phương tiện giao thông tuyệt vời của Paris ấy, đang ngủ khì dưới lòng đất, vì các nhân viên và ba cái kìm rập lỗ của họ đã đình chỉ mọi công việc.
-  A, quân khốn nạn! - Zazie hét lên - A, lũ bò cái. Lại làm thế với mình à!
-  Có phải mỗi mình cháu đâu bị họ làm thế đâu! - Gabriel nói một cách hoàn toàn khách quan.
-  Cháu cóc cần biết. Chẳng gì thì nó lại rơi đúng vào cháu! Cháu, kẻ đang rất sung sướng, rất hài lòng và rất rất đủ thứ, vì nhẽ ra cháu sẽ được đi tàu điện ngầm. Thiên địa, cái đếch gì!
-  Cháu phải chấp nhận thôi - Gabriel nói. Lời lẽ của anh đôi khi nhuốm tư tưởng Thomas đã hơi ngả theo Kant.
Và, đứng trên góc độ đồng-chủ-quan, anh nói thêm:
-  Và phải xăm sắn lên: Charles đang đợi.
-  Ôi zời, câu này cháu biết zổi! - Zazie la lên, tức tối - Cháu đọc được trong Những hổi ức của tướng Vermot.[7]
-  Không phải thế, - Gabriel nói - không phải thế đâu! Charles là một anh bạn, anh ta có một chiếc tắc [8]. Cậu đặt cho hai cậu cháu chiếc tắc của anh ta, vì cuộc đình công này. Hiểu chưa? Đi nào.
Anh xách cái va-li lên bằng một tay, tay kia lôi Zazie theo.
Charles đang đợi thật, anh tranh thủ đọc một tờ báo tuần, chuyên mục Những trái tim rỉ máu. Anh tìm kiếm, đã hàng năm trời anh vẫn tìm kiếm một tảng thịt tươi, để anh có thể dâng hiến cả bốn mươi lăm trái đào xuân của mình cho nó. Nhưng các cô nàng mà đã thở than như vậy trên tờ báo này, thì anh cho những cô đó một là quá gà tồ, hai là quá cám thiu. Xảo trá hoặc giả tạo. Chỉ một chút gian dối như cây kim dưới đáy đại dương nước mắt hay con bò ác nấp sau một con búp bê đáng thương nhất thì anh cũng phát hiện được.
-  Xin chào cô bé - Anh nói với Zazie mà không nhìn nó vì còn đang cẩn thận cất trang báo của mình xuống dưới mông.
-  Cái thùng bốn bánh của lão này rất xấu thậm tệ -Zazie nhận xét.
-  Leo lên đi, - Gabriel bảo - và đừng có ra vẻ ta đây.
-  Ra vẻ cái đít cháu! - Zazie nói.
-  Con bé cháu cậu nhộn nhỉ - Charles nói và lên ga, nổ máy.
Bằng một tay, nhẹ nhàng nhưng rất khỏe, Gabriel đẩy Zazie vào tận trong góc của chiếc tắc, rồi anh lên ngồi cạnh con bé.
Zazie phản đối.
-  Cậu đè bẹp cháu rồi! - Nó cáu điên, gào lên.
-  Nhiều hứa hẹn đấy... - Charles nhận xét ngắn gọn, giọng hiền lành.
Anh cho xe chạy.
Xe lăn bánh được một chút, Gabriel giơ tay chỉ cảnh vật bằng một động tác tuyệt đẹp.
-  Ôi, Paris! - Anh thốt lên, giọng khích lệ - Thành phố xinh đẹp làm sao. Hãy nhìn cho cậu xem có tuyệt không nào!
-  Cháu cần đếch gì - Zazie nói - Cháu í, cháu chỉ muốn có mỗi một điều là được đi tàu điện ngầm!
-  Tàu điện ngầm! - Gabriel kêu rống lên - Tàu điện ngầm!! Nhưng nó ở đây này!!!
Anh đưa ngón tay chỉ một thứ gì đó trên không.
Zazie chau mày. Nó nghi lắm.
-  Tàu điện ngầm á? - Con bé lặp lại – Tàu điện ngầm, phải chạy dưới đất thì mới là tàu điện ngầm. Rõ thật.
Nó nói thêm, giọng khinh khỉnh.
-  Nhưng cái thằng này, - Gabriel nói - là thằng chạy trên cao.
-  Thế thì không phải là tàu điện ngầm.
-  Nghe cậu zải thíc cho cháu đây này, - Gabriel bảo – lâu lâu hắn chòi lên khỏi mặt đất rồi hắn lại chui vào.
-  Chuyện không đâu!
Gabriel cảm thấy bất lực (động tác), rồi, rất muốn nói sang chuyện khác, anh chỉ vào một thứ ven đường.
-  Đây nữa! - Anh gào lên - Nhìn này! Panthéon đấy!!
-  Còn thiếu cái gì mà không phải nghe nữa! – Charles nói, không ngoái lại.
Anh lái xe chầm chậm để cô bé nhìn được những điều thú vị, đáng quan tâm, và nếu vượt chỉ tiêu, biết đâu, nó lại còn học hỏi được thêm vài kiến thức.
-  Đấy có lẽ không phải là Panthéon chắc? - Gabriel hỏi.
Có cái vẻ trêu ghẹo ranh mãnh gì đó trong câu nói của anh.
-  Không! - Charles đáp một cách cương quyết - Không, không và không! Đấy không phải là Panthéon.
-  Thế theo ông thì nó là cái gì nào?
Vẻ trêu ghẹo trong giọng nói gần như trở thành vẻ tấn công, và đối tượng là kẻ đối thoại, mà thực ra, anh này lại đang chuẩn bị thú nhận sự thất bại của mình.
-  Tớ cũng chẳng biết nữa - Charles nói.
-  Đấy, ông thấy chưa!
-  Nhưng đó không phải là Panthéon.
Nói gì thì nói, anh ta quả là một tay ương ngạnh, cái chàng Charles này.
-  Hay ta hỏi một người đi đường? - Gabriel gợi ý.
-  Người đi đường? - Charles đốp lại – Toàn bọn dở hơi.
-  Chính xác! - Zazie nói, tỉnh khô.
Gabriel chẳng đôi co. Anh vừa phát hiện ra một chủ đề mới rất hứng thú.
-  Còn đây, - Anh reo lên - đây là...
Nhưng anh bị ngắt lời bởi một siêu luận thuyết của ông anh vợ.
-  Tớ nghĩ ra rồi! - Anh này gào tướng lên - Cái mà ta vừa nhìn thấy chắc chắn không phải là Panthéon, mà là ga Lyon.
-  Có thể, - Gabriel nói, giọng ngạo mạn phớt đời - nhưng bây giờ đấy đã là chuyện quá khứ rồi, không nói đến nữa. Nhưng kìa, bé con, hãy nhìn cái kia cho cậu, kiến trúc ấy có hay không nào, Invalides đấy...
-  Cậu đúng là bị chập - Charles nói - Chỗ này chẳng dính líu gì với Invalides cả.
-  Vậy, - Gabriel nói - nếu đấy không phải là Invalides, thì hãy cho chúng tôi biết đấy cái zì nào.
-  Tớ không rõ lắm, - Charles đáp - nhưng nó bao quanh doanh trại Reuilly.
-  Mấy người này, - Zazie nói, giọng độ lượng - toàn là những tên rất buồn cười.
-  Zazie, - Gabriel tuyên bố với một giọng điệu oai nghiêm mà chẳng nhọc nhằn gì, anh có thể tìm thấy trong danh sách những tiết mục biểu diễn của mình - nếu cháu thíc một cách thực sự là được nhìn thấy Invalides và  ngôi mộ thật của ông Napoléon thật, cậu sẽ đưa cháu đi.
-  Napoléon cái đít cháu! - Zazie đốp lại luôn - Lão ta chẳng có gì là hấp dẫn đối với cháu cả, cái lão vênh váo với cái mũ dở hơi của lão ấy.
-  Thế cháu thíc cái gì nào?
Zazie không trả lời.
-  Phải đấy - Charles nói với vẻ dễ thương bất ngờ - Vậy cháu thíc gì?
-  Tàu điện ngầm.
Gabriel nói: A. Charles chẳng bảo gì. Rồi Gabriel tiếp tục bài diễn thuyết của mình và lại nói:
-  Thế-bao-giờ-thì-mới-hết, cái-cuộc-đình-công-chết- tiệt-này? - Zazie hỏi, nó cố thổi phồng sự giận dữ vào trong mỗi từ.
-  Cậu thì cậu làm sao mà biết được - Gabriel nói - Cậu có làm chính chị đâu.
-  Đấy không phải là chính chị, - Charles nói - đấy là vì mẩu bánh mì.
-  Còn ông - Zazie hỏi anh ta - thỉnh thoảng ông có tham gia đình công không?
 
-  Ừ thì, thưa bà, cũng phải tham gia để đòi tăng cước xe chứ.
-  Người ta phải giảm cước xe của ông mới đúng, chiếc xe thồ như xe của ông, không đâu có cái kinh dị hơn. Chẳng may, ông có ra bờ sông Marne [9] nhặt nó về không đấy?
Xắp đến nơi zồi - Gabriel nói, giọng hòa giải - Đấy, tiệm thuốc lá khu cậu đấy.
-  Khu nào? - Charles hỏi một cách ziễu cợt.
-  Khu vực có phố nhà tôi, nơi tôi đang ở ấy – Gabriel trả lời, rất ngây thơ.
-  Vậy thì, - Charles nói - không phải tiệm này.
-  Sao cơ? - Gabriel vặn lại - Ông dám chắc là không phải tiệm này?
-  Thôi đi - Zazie kêu lên - Hai người đừng có làm lại cái màn lúc nẫy nữa đấy!
-  Không, không phải tiệm này! - Charles trả lời Gabriel.
-  Hóa ra không phải thật! - Gabriel nói trong khi xe chạy ngang qua tiệm thuốc lá – Mình chưa bao giờ đến đây cả.
-  Ơ hay, cậu này... - Zazie thắc mắc - Khi cậu bị chập mạch như thế này, là cố ý hay vô tình đấy?
-  Để chọc cho cháu cười thôi, cháu yêu ạ - Gabriel trả lời.
-  Cháu cứ an tâm - Charles bảo Zazie - Cậu ấy không cố tình đâu.
-  Thế là không ma lanh - Zazie nói.
-  Sự thực là, - Charles nói - lúc thì cậu ấy cố tình, lúc thì không.
-  Sự thực! - Gabriel la lên (động tác) - Cứ như ông biết cái đấy là cái gì ấy. Cứ như trên thế giới này cũng có người biết cái đấy là cái gì ấy. Tất cả những thứ này (động tác) chỉ là chuyện không đâu: Panthéon, Invalides, doanh trại Reuilly, tiệm thuốc lá của khu phố, tất tật, chỉ là chuyện không đâu.
Anh nói thêm, vẻ thất vọng:
-  Ô là la, thật thảm hại!
-  Cậu muốn dừng xe ghé uống khai vị không? – Charles hỏi.
-  Đấy cũng là một ý.
-  Đến tiệm La Cave nhé?
-  Ở Saint-Germain-des-Prés ấy ạ? - Zazie hỏi, bắt đầu ngọ nguậy.
-  Chết thôi, bé con ơi - Gabriel nói - cháu hình dung ra cái gì vậy? Không đâu lại lỗi thời hơn chỗ đấy đâu.
-  Nếu cậu ngụ ý là cháu chậm sang trang, - Zazie nói - thì cháu có thể nói zằng cậu chỉ là một lão già dở hơi.
-  Ông có nghe thấy nó nói gì không? - Gabriel hỏi.
-  Làm thế nào được, - Charles đáp - thế hệ mới nó thế.
-  Thế hệ mới ấy à, - Zazie nói - nó đ...
-  Thôi thôi, đủ rồi! - Gabriel ngắt - Hiểu rồi. Hay ta ghé vào tiệm thuốc lá khu tôi nhé?
-  Cái khu đích thực ấy - Charles bảo.
-  Ừ - Gabriel nói - Xong thì ông ở lại ăn tối với bọn tôi.
-  Không hẹn thế rồi sao?
-  Có chứ.
-  Vậy còn sao nữa?
-  Thì tôi khẳng định lại.
-  Chẳng phải khẳng định, vì đã hẹn nhau rồi.
-  Thì cứ coi như tôi chỉ nhắc thế thôi, thỉnh thoảng
ông có thể quên.
-  Tớ chẳng quên.
-  Vậy là ông ở lại ăn tối.
-  Thế nào, cái cứt gì! - Zazie nói - Có đi uống khai vị không đây?
Gabriel ra khỏi chiếc tắc một cách khéo léo và mềm dẻo. Cả ba tới ngồi quanh một cái bàn đặt trên vỉa hè. Cô phục vụ xuất hiện một cách hững hờ. Zazie bộc lộ ngay lập tức điều mà nó mong muốn:
-  Một ca-cô-ca-lô - Nó yêu cầu.
-  Không có - Người ta trả lời.
-  Lại thế nữa! - Zazie kêu tướng - Thật tày trời!
Nó phẫn nộ.
-  Tôi thì, - Charles nói - cho tôi một cốc Beaujolais.[Một loại rượu vang)
Gabriel bảo:
-  Cho tôi một cốc sữa pha xi-rô - Anh hỏi Zazie – Còn cháu?
-  Cháu nói rồi: một ca-cô-ca-lô.
-  Cô ấy đã bảo là không có.
-  Nhưng cháu muốn mỗi ca-cô-ca-lô thôi.
-  Cháu có muốn mấy cũng chẳng được – Gabriel nói, hết sức bình tĩnh - Cháu biết rõ là không có rồi còn gì.
-  Tại mà làm sao ở đây lại không có? - Zazie hỏi cô phục vụ.
-  Tại vì (động tác).
-  Một cốc panaché vậy? (panache như một loại bia kông có cồn) - Gabriel gợi ý - Zazie, cháu thấy thế nào?
-  Một ca-cô-ca-lô, cháu không muốn gì khác.
Tất cả mọi người đâm ra nghĩ ngợi. Cô phục vụ gãi gãi một bên đùi.
-  Ngay cạnh đây thì có - Cuối cùng thì cô ta cũng nói ra - Bên cửa hàng của ông người Ý.
-  Thế nào, - Charles hỏi - cốc beaujolais của tôi đã đến chưa?
Cô ta vào lấy. Gabriel đứng dậy, không bình luận gì. Anh vụt biến đi một thoáng rồi trở lại với một cái chai có hai ống hút thò ra trên miệng. Anh đặt nó trước mặt Zazie.
-  Đây nhé, bé con nhé - Anh nói bằng một giọng rất hào phóng.
Không một lời nào, Zazie cầm lấy cái chai và bắt đầu chơi luôn điệu “tu, tù, tù”.
-  Đấy, ông thấy không, - Gabriel nói với bạn - có khó gì đâu. Đối với trẻ con, chỉ cần hiểu chúng là xong ngay.

 
Chú thích:
[1] Barbouze (bản gốc) còn chỉ công an mật, mật vụ, mật thám, vì họ hay đeo râu giả. Sau Đại chiến Thế giới thứ II và cuộc chiến tranh Algérie, dân Pháp có ấn tượng rất xấu về những người này.
[2] Gorille (bản gốc) cũng là tiếng lóng để gọi lính cảnh vệ, hộ vệ.
[3] Trong truyện, tác giả cố ý viết sai chính tả một số từ cho giống cách phát âm trong văn nói hàng ngày. Những từ này về sau đều được in nghiêng và không chú thích lại
[4] Thể thơ mười hai chân có nguồn gốc rất xa xưa.
[5] Tất nhiên rồi (Tiếng Đức)
[6] Dừng lại (tiếng Anh).
 [7]“Charles đang đợi” trong tiếng Pháp phát âm rất giống từ “charlatan”, có nghĩa là “đồ lăng băm” hay “kẻ lừa đảo”, nên Zazie hiểu nhầm câu nói của Gabriel sang một câu nói vui nó đã đọc trong Sách lịch Vermot. Zazie lấy râu ông này (Những hổi ức của tướng De Gaule) gắn cằm bà kia (Sách lịch Vermot) nên tựa sách biến thành Những hổi ức của tướng Vermot.
  [8] Viết tắt của chữ “tắc-xi”.
[9]Trong Đại chiến Thế giới thứ I, quân đội Pháp đã huy động hàng trăm chiếc xe tắc-xi để chở quân tiếp viện cho một trận chiến rất khốc liệt trên bờ song Marne, gần thủ đô Paris.
 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.01.2018 19:38:47 bởi Ct.Ly>
Chương II

 
Đến rồi đây... - Gabriel nói.
Zazie xem xét ngôi nhà. Con bé không bày tỏ ấn tượng của mình.
-  Thế nào? - Gabriel hỏi - Có được không?
Zazie ra hiệu như tỏ ý là không bộc lộ quan điểm.
-  Tớ, - Charles nói - tớ ghé gặp Turandot. Tớ có mấy việc cần nói với lão ấy.
-  Hiểu rồi - Gabriel đáp.
- Có cái gì để mà hiểu vậy? - Zazie hỏi.
Charles bước xuống năm bậc dẫn từ vỉa hè tới quán cà phê kiêm tiệm ăn La Cave, đẩy cửa và đi tới tận cái quầy kẽm đóng bằng gỗ từ thời tạm chiếm  [1].
-  Chào ông Charles - Mado Bàn-chân-nhỏ nói, cô đang phục vụ một người khách.
-  Chào Mado - Charles nói mà không nhìn cô.
-  Con bé đấy à? - Turandot hỏi.
-  Chính xác - Charles trả lời.
-  Nó lớn con hơn tôi nghĩ.
-  Thì sao?
-  Tôi không hài lòng. Tôi đã nói với Gaby rồi, không để có chuyện trong nhà tôi.
-  Nào, cho tôi một cốc beaujolais.
Turandot lẳng lặng rót, vẻ trầm ngâm. Charles nuốt ực cốc rượu, chùi ria mép bằng mu bàn tay, rồi nhìn ra bên ngoài một cách lơ đãng. Muốn nhìn được bên ngoài, phải ngửa cổ lên, nhưng thế thì cũng chỉ nhìn thấy gọi là vài bàn chân, cổ chân, khúc dưới của ống quần, và thi thoảng, may ra thì thấy được đầy đủ một con chó, một con basset thôi. Gần ô cửa sổ có treo một cái lồng đựng một con vẹt buồn thiu. Turandot rót rượu vào cốc của Charles và tự rót cho mình một tị, Mado Bàn-chân-nhỏ tới đứng bên cạch sếp, sau quầy rượu, và phá tan sự im lặng.
-  Ông Charles ạ, - Cô nói - ông là một người rất hay bâng khuâng.
-  Bâng khuâng cái đít tôi - Charles độp lại liền.
-  Quả thật, - Mado Bàn-chân-nhỏ kêu lên - hôm nay ông không được lịch sự mấy.
-  Đến chết cười... - Charles nói, vẻ thảm hại - Con bé con, nó nói năng kiểu ấy đấy.
-     Tôi không hiểu? - Turandot nói, vẻ không thoải mái tí nào.
-  Rất đơn giản, - Charles đáp - Con nhóc này, nó không thể nói một chữ mà lại không đệm “cái đít tôi” vào được.
-  Thế nó có kết hợp động tác với lời nói không?
Turandot hỏi.
-  Chưa đâu, - Charles trả lời giọng nghiêm trọng nhưng sẽ đến lúc thôi.
-  Ôi không, - Turandot rên rỉ - cái đấy thì không!
Ông ta lấy hai tay ôm đầu, giả vờ như muốn bứt nó ra, một cử chỉ chẳng có nghĩa lý gì. Rồi lại tiếp tục bài diễn thuyết của mình với những lời lẽ sau:
-  Cứt ơi là cứt, tôi không muốn chứa một con ranh mất dạy toàn nói những điều bẩn thỉu như thế trong nhà tôi. Tôi đã thấy ngay từ bây giờ là nó sẽ làm sa đọa cả cái khu
phố này. Chỉ tám ngày nữa thôi...
-  Nó ở có hai ba ngày thôi - Charles bảo.
-  Thế là đã quá lắm rồi! - Turandot kêu lên -Chỉ cần hai ba ngày là nó đủ thời gian để thò tay vào sau khóa quần của tất cả các lão già lẩm cẩm, những khách hàng vẫn cho tôi cái vinh hạnh được phục vụ ấy. Tôi không muốn
có chuyện, cậu nghe không, tôi không muốn có chuyện!
Con vẹt đang nhấm nhấm một cái móng, nhìn xuống, thôi không trau chuốt nữa, tham gia vào cuộc trò chuyện.
-  Anh ba hoa, - Con Xanh-lá-cây nói - anh ba hoa, anh chỉ biết ba hoa.
 
-  Nó có lý đấy - Charles bảo - Dù sao, tôi cũng không phải là người để ông đem chuyện của mình ra mà kể lể.
-  Kệ mẹ ông ấy - Gabriel nói một cách trìu mến – Nhưng tôi tự hỏi là tại sao ông lại vào đây để nhắc lại những lời tục tĩu của con nhỏ với lão ấy.
-  Tớ là tớ rất thẳng tính - Charles nói - Với lại, việc cô cháu gái của cậu rất chi là mất dạy thì cậu sẽ chẳng giấu được đâu. Trả lời tớ xem, lúc còn là nhóc con, cậu có nói năng như thế không?
-  Không - Gabriel trả lời - Nhưng tôi đâu có phải là một đứa con gái.
-  Lại ăn thôi!
Marceline, tay bưng thẫu súp ra, dịu dàng nói.
-  Zazie ơi, - Chị gọi một cách dịu dàng - lại ăn đi cháu.
Chị bắt đầu lấy muôi nhẹ nhàng múc ra từng đĩa.
-  Ái chà, - Gabriel nói với vẻ hài lòng - nước thịt hầm!
-  Có gì đâu mà - Marceline nói dịu dàng.
Cuối cùng thì Zazie cũng lại với họ. Con bé ngồi xuống, cái nhìn trống rỗng, thất vọng tự thừa nhận là mình đang đói.
Sau món nước thịt hầm, có dồi đen và món khoai tây với pho mát bỏ lò vùng Savoie, rồi đến món gan ngỗng béo, mà Gabriel đem từ rạp ca-ba-rê về, anh không từ được cái tật ấy, tuy bên phải đã có nhưng bên trái anh vẫn cứ thó. Sau nữa là món tráng miệng ngọt nhất trong các món ngọt. Cuối cùng là cà phê chia ra từng tách. Cà phê, bi-cô-zơ [2] Charles và Gabriel cả hai đều làm việc ban đêm. Charles đi làm ngay sau cốc xi-rô pha rượu xơ-ri, một thứ bất ngờ rất được chờ đợi, còn Gabriel chỉ bắt đầu sau mười một giờ. Anh duỗi dài hai chân ra dưới gầm bàn, thò cả sang phía bên kia nữa là đằng khác và mỉm cười với Zazie đang ngồi ngay đuỗn trên ghế.
-  Thế nào, bé con - Anh nói như vậy - Thế người ta xắp lên zường chứ?
-  Người ta là ai? - Con bé hỏi.
-  Thì dĩ nhiên là cháu rồi - Gabriel trả lời và rơi ngay vào bẫy - Ở đằng ấy mấy giờ thì cháu đi ngủ?
-  Đằng ấy và đằng này là hai đằng, cháu hy vọng thế đấy nhé.
-  Đúng thế - Gabriel nói, vẻ cảm thông.
-  Chính vì vậy mà người ta để cháu ở đằng này, để không phải làm như đằng ấy. Đúng không?
-  Đúng.
-  Cậu nói đúng là để nói thế thôi, hay cậu nghĩ như vậy thật?
Gabriel quay lại phía Marceline đang tủm tỉm cười:
-  Em thấy nó lý luận giỏi thế nào chưa, một cô nhóc mới ở tuổi này? Đấy, ta cứ tự hỏi vì sao lại bõ công cho chúng nó đến trường.
-  Cháu, - Zazie tuyên bố - cháu muốn đi học đến tận sáu mươi lăm tuổi.
-  Đến tận sáu mươi lăm tuổi? - Gabriel nhắc lại, với chút ngạc nhiên.
-  Vâng - Zazie nói - Cháu muốn làm cô giáo.
-  Nghề ấy không dở đâu - Marceline nói dịu dàng – Có cả lương hưu.
Chị thêm câu ấy một cách tự nhiên vì chị giỏi môn tiếng Pháp.
-  Lương hưu cái đít cháu - Zazie nói - Cháu thì cháu không phải vì lương hưu mà muốn làm cô giáo.
-  Tất nhiên rồi - Gabriel bảo - Cậu mợ cũng đoán thế chứ.
-  Thế thì vì lý do gì nào? - Zazie hỏi.
-  Thì cháu sẽ zải thíc cho cậu mợ thôi.
-  Cậu không tự đoán ra được chứ gì?
-  Dù sao chúng cũng giỏi khiếp, lớp trẻ ngày nay - Gabriel nói với Marceline.
Rồi với Zazie:
-  Thế nào? Tại sao cháu lại muốn làm cô giáo nào?
-  Để phá lũ nhóc con cho sướng! - Zazie trả lời - Những đứa bằng tuổi cháu của mười năm, hai mười năm, năm mươi năm, một trăm năm hay nghìn năm nữa thì vẫn là một lũ trẻ để quậy cho biết tay.
-  Ái dà - Gabriel nói.
-  Cháu sẽ phù thủy hết cỡ với chúng nó. Cháu sẽ bắt chúng liếm sàn gỗ. Cháu sẽ cho chúng ăn giẻ lau bảng. Cháu sẽ cắm cái com-pa vào đít chúng. Cháu sẽ đá đít chúng. Vì vào mùa đông, cháu sẽ mang giày bốt, ống cao đến tận đây này (động tác). Có gắn đinh thúc ngựa thật dài để làm rách mông chúng nó ra.
-  Cháu biết không, - Gabriel bình tĩnh nói - theo báo chí thì đấy hoàn toàn không phải là chiều hướng mà nền giáo dục hiện đại sẽ tiến tới đâu. Ngược lại, người ta hướng về sự nhẹ nhàng, sự thông cảm và tấm lòng. Có phải thế không Marceline, trong báo chí người ta nói thế?
-  Đúng thế - Marceline trả lời dịu dàng - Nhưng cháu, Zazie, ở trường người ta có hành hạ cháu không?
-  Họ cứ thử động vào cháu xem.
-  Hơn nữa, - Gabriel nói - hai mươi năm tới thì sẽ chẳng còn cô giáo nữa: các cô ấy sẽ được thay bằng phim ảnh,tê-vê,[3] điện tử, những thứ đại loại thế. Hôm nọ trong báo
cũng viết vậy đấy, phải không Marceline?
-  Đúng thế - Marceline dịu dàng trả lời.
Zazie suy tính về cái tương lai ấy một tí.
-  Vậy thì, - Con bé tuyên bố - cháu sẽ làm nhà du hành vũ trụ.
-  Thế chứ - Gabriel nói vẻ tán thưởng - Có thế chứ, phải sống theo thời đại của mình.
-  Vâng, - Zazie tiếp - cháu sẽ làm nhà du hành vũ trụ để lên trên ấy phá lũ người sao Hỏa.
Rất phấn khởi, Gabriel vỗ đùi:
-  Nó có nhiều ý tưởng đấy, cô bé con này.
Anh hài lòng lắm.
-  Dù sao thì cháu nó phải đi nằm thôi - Marceline nói một cách dịu dàng - Cháu không mệt sao?
-  Không ạ - Zazie vừa nói vừa ngáp.
-  Con bé mệt rồi - Marceline dịu dàng nhắc lại ý chị với Gabriel - Nó phải đi nằm thôi.
-  Em nói đúng đấy - Gabriel trả lời và bắt đầu soạn thảo một câu ra lệnh, và, nếu có thể, thì là một câu không thể đối đáp lại được.
Nhưng anh chưa kịp đặt xong thì Zazie đã hỏi anh có tê-vê không.
-  Không - Gabriel nói.
Anh nói thêm, không thực lòng lắm:
-  Cậu thíc xem phim màn ảnh rộng hơn.
-  Vậy là cậu có thể đãi cháu một buổi xem phim màn ảnh rộng.
-  Muộn lắm rồi - Gabriel bảo - Với lại, cậu không có thời gian, mười một giờ cậu phải đi làm.
-  Có ai cần đến cậu đâu - Zazie nói - Mợ với cháu sẽ đi một mình.
-  Cậu không thíc thế - Gabriel chậm rãi nói, vẻ dữ tợn.
Anh nhìn chằm chằm vào mắt Zazie và nói thêm một cách độc ác:
-  Mợ Marceline không bao giờ ra khỏi nhà nếu không có cậu.
Anh tiếp tục:
-  Điều đó, cậu sẽ không zải thíc cho cháu, nhóc ạ, thật quá dài dòng.
 
Zazie nhìn đi chỗ khác và ngáp.
-  Cháu mệt rồi - Nó nói - Cháu đi nằm đây.
Con bé đứng lên. Gabriel giơ má cho nó. Nó hôn anh.
-  Da cậu rất mềm mại - Nó nhận xét.
Marceline đưa con bé vào buồng và Gabriel đi lấy một cái bao nhỏ xinh xắn bằng da lợn có ghi tắt tên anh. Anh lại ngồi, tự rót cho mình một cốc to xi-rô pha loãng với một ít nước và bắt đầu làm tay cho mình; anh rất mê việc này, và xoay xỏa tốt, anh là người thợ làm móng mà anh thíc hơn cả. Anh cất tiếng hát khe khẽ một điệp khúc dâm dục, rồi, khi đã kết thúc bài Kỳ công của ba ông thợ kim hoàn, anh huýt sáo, nho nhỏ thôi để đừng đánh thức cô bé con, mấy điệu nhạc hiệu thời trước như kèn báo giờ đi ngủ, nhạc chào cờ, điệu “Chàng hạ sĩ tưng tưng tưng”, vân vân... Marceline trở ra.
-  Chỉ một tí là con bé đã ngủ ngay - Chị nói dịu dàng.
Rồi đến ngồi và rót cho mình một ly rượu xơ-ri.
-  Một thiên thần bé con - Gabriel bình luận bằng một giọng trung lập.
Anh ngắm nghía khâm phục cái móng tay mà anh vừa làm xong, đấy là ngón út.
-  Mình có thể’ làm cái gì với con nhóc cho hết ngày? - Marceline dịu dàng hỏi.
-  Chuyện ấy không phải là một vấn đề to tát – Gabriel nói - Trước tiên, anh sẽ dẫn nó đi tháp Eiffel vào chiều mai.
-  Thế sáng mai? - Marceline hỏi một cách dịu dàng.
Mặt Gabriel nhợt đi.
-  Tuyệt đối, - Anh bảo - tuyệt đối là nó không được đánh thức anh dậy.
-  Anh thấy không - Marceline nói, giọng dịu dàng - Một vấn đề đấy.
Gabriel có vẻ mỗi lúc một lo lắng hơn.
-  Tụi nhóc con là chuyên môn dậy sớm vào buổi sáng. Con bé sẽ không để cho anh ngủ yên... lấy lại sức... Em biết anh rồi đấy. Anh là anh phải lấy lại sức. Giấc ngủ mười tiếng của anh là tối quan trọng. Cho sức khỏe của anh.
Anh nhìn Marceline.
-  Em không nghĩ đến điều đó à?
Marceline nhìn xuống.
-  Em không muốn cản trở anh làm nhiệm vụ của mình - Chị dịu dàng nói.
-  Anh cảm ơn em - Gabriel nói giọng nghiêm trọng - Nhưng làm thế quái nào để anh đừng có phải nghe thấy tiếng nó sáng mai đây?
Họ bắt đầu suy nghĩ.
-  Mình có thể, - Gabriel nói - cho nó uống một viên thuốc ngủ, để nó ngủ ít ra cũng phải đến mười hai giờ trưa, mà nếu đến tận bữa phụ lúc bốn giờ chiều của nó thì còn hay hơn nữa. Nghe nói có những loại thuốc đạn rất hiệu nghiệm.
-  Pằng, pằng pằng! - Turandot làm một cách kín đáo đằng sau cánh cửa gỗ.
-  Vào đi - Gabriel bảo.
Turandot có con Xanh-lá-cây tháp tùng bước vào. Ông ta ngồi xuống, không đợi mời mọc gì, và đặt chiếc lồng chim lên bàn. Xanh-lá-cây nhìn chai xi-rô với vẻ thèm thuồng khó mà quên được. Marceline đổ một ít vào cái máng nước của nó. Turandot thì từ chối lời mời (động tác). Gabriel đã làm xong ngón giữa, bắt đầu tấn công sang ngón trỏ. Người ta còn ngần ấy việc phải lo, nên chưa nói năng gì.
Xanh-lá-cây uống ực chỗ xi-rô của của mình. Nó quệt mỏ vào cái xích đu, rồi cất tiếng với những lời lẽ như sau:
-  Anh ba hoa, - Con Xanh-lá-cây nói - anh ba hoa, anh chỉ biết ba hoa.
-  Tôi ba hoa cái đít tôi - Turandot tự ái đốp lại.
Gabriel dừng công việc của mình lại và nhìn khách một cách dữ tợn.
-  Nhắc lại tí xem ông vừa nói những gì thế? - Anh nói.
-  Tôi bảo, - Turandot đáp - tôi bảo, tôi ba hoa cái đít tôi.
-  Ông muốn ngụ ý gì trong đó? Nếu tôi được mạn phép hỏi ông.
-  Tôi muốn ngụ ý rằng việc con bé con nó ở đây, là tôi không thíc.
-  Cái chuyện ông thíc hay ông không thíc, ông nghe chưa? Tôi cóc cần biết.
-  Xin lỗi. Tôi cho cậu thuê nhà này không có trẻ con, bây giờ cậu có một đứa mà không được sự đồng ý của tôi.
-  Sự đồng ý của ông, ông có biết là tôi sẽ nhét nó vào đâu không?
 -  Tôi biết, tôi biết, từ đây đến lúc cậu làm tôi mất cả danh dự vì cô cháu của cậu, sẽ chẳng mấy đâu.
-  Không thể nào lại vô thông minh như ông được, ông có hiểu vô thông minh nghĩa là thế nào không, hả đồ ngu?
-  Đấy đấy, - Turandot bảo - bắt đầu rồi đấy.
-  Anh ba hoa, - Xanh-lá-cây nói - anh ba hoa, anh chỉ biết ba hoa.
-  Bắt đầu cái gì? - Gabriel hỏi, đe dọa ra mặt.
-  Cậu bắt đầu nói năng diễn đạt với cái lối rất chướng tai.
-  Hắn bắt đầu chọc tức anh đấy - Gabriel bảo với Marceline.
-  Anh đừng cáu - Marceline nói một cách dịu dàng.
-  Tôi không muốn có một con nhóc con khốn nạn trong nhà tôi - Turandot nói bằng một ngữ điệu thống thiết.
-  Tôi mặc mẹ ông! - Gabriel gào lên - Ông nghe thấy không, tôi mặc mẹ ông.
Anh nện nắm đấm xuống bàn, nó toạc ra đúng chỗ mà lệ thường bàn nào cũng hay bị. Cái lồng chim rơi xuống thảm, theo sau là chai xi-rô, bình rượu xơ-ri, mấy cái ly nhỏ và đống đồ làm móng lủng củng. Xanh-lá-cây kêu than tru tréo, nước xi-rô chảy vào cái bao bằng da, Gabriel thét lên một tiếng thét vô vọng và nhào xuống để nhặt món đồ bị ô nhiễm. Vì làm thế mà anh xô đổ cả cái ghế anh đang ngồi xuống đất. Một cánh cửa mở ra.
-  Cái cứt gì thế! Không để người ta ngủ yên nữa sao?
Zazie mặc một bộ pyjama. Con bé ngáp rồi nhìn Xanh- lá-cây với vẻ thù địch.
-  Đây đúng là một của hàng bán thú – Con bé tuyên bố.
-  Anh ba hoa, - Con Xanh-lá-cây nói - anh ba hoa, anh chỉ biết ba hoa.
Hơi bị trộ, con bé lơ con vật đi, quay sang để ý đến Turandot, nó hỏi cậu nó về nhân vật này.
-  Thế người này là ai đây?
Gabriel đang lau cái bao bằng một góc khăn trải bàn.
-  Cứt thật, - Anh lẩm bẩm - toi đời rồi.
-  Em sẽ tặng anh một cái bao khác - Marceline nói dịu dàng.
-  Thế thì dễ thương quá - Gabriel bảo - Nhưng nếu như vậy, đừng lấy loại bằng da lợn thì anh sẽ thíc hơn.
-  Thế anh thíc loại gì hơn nào? Da bê nhé?
Gabriel bĩu môi.
-  Da cá nhám?
Bĩu môi.
-  Da của Nga?
Bĩu môi.
-  Thế da cá sấu?
-  Sẽ đắt đấy.
-  Nhưng sẽ bền và sang.
-  Đúng thế, chính anh sẽ tự mình đi mua.
Gabriel cười banh miệng, quay lại phía Zazie:
-  Cháu thấy không, mợ cháu chính là hiện thân của lòng tốt.
-  Cậu vẫn chưa nói cho cháu biết người này là ai?
-  Đây là ông chủ nhà - Gabriel trả lời - Một ông chủ đặc biệt, một người anh em, và chủ của quán rượu dưới kia.
-  Của quán rượu La Cave á?
-  Chính xác - Turandot nói.
-  Người ta có nhẩy đầm dưới tầng hầm [4] của ông không?
-  Cái đó thì không - Turandot nói.
-  Quá kém! - Zazie nói.
-  Cháu chẳng phải lo cho hắn - Gabriel nói - Hắn thu nhập tốt đấy.
-  Ở Xanh-giéc-manh-đề-prế [5], - Zazie nói - họ kiếm tiền cứ ngon như không ấy, tất cả các báo đều nói thế.
-  Cháu tốt bụng nhỉ, lại lo đến công việc làm ăn của tôi! - Turandot nói với vẻ trịch thượng.
-  Tốt bụng cái đít tôi! - Zazie quặc lại.
Turandot bật ra một tiếng như tiếng mèo kêu, đầy vẻ chiến thắng.
-  Á à! - Ông ta nói với Gabriel - Cậu không thể cãi ngược với tôi được nữa, tôi đã nghe thấy cái đít tôi của nó rồi nhé.
-  Ê, không nói những thứ bẩn thỉu như thế chứ! - Gabriel bảo.
-  Nhưng có phải tôi nói đâu, - Turandot nói - con bé đấy chứ.
-  Ông này mách lẻo nhỉ - Zazie nói - Rõ xấu tính!
-  Với lại thế là đủ rồi - Gabriel bảo - Đến lúc tôi phải biến đây.
-  Làm nghề gác đêm chắc hay lắm - Zazie nói.
-  Không một nghề nào là nghề hay lắm cả! – Gabriel nói - Thôi, cháu đi ngủ đi.
Turandot nhặt cái lồng chim lên và bảo:
-  Ta sẽ tiếp tục cuộc trò chuyện.
Rồi ông ta thêm với vẻ tinh tế:
-  Cuộc trò chuyện cái đít tôi.
-  Ông có ngốc không đấy? - Marceline dịu dàng hỏi.
-  Vẽ cũng chẳng ra ai ngốc bằng - Gabriel bảo.
-  Vậy thôi nhé, chúc một đêm tốt lành! - Turandot nói, vẫn tử tế - Tôi đã qua một buổi tối dễ chịu, không phí thời gian chút nào.
-  Anh ba hoa, - Con Xanh-lá-cây nói - anh ba hoa, anh chỉ biết ba hoa.
-  Nó dễ thương nhỉ - Zazie nhìn con vật và nói.
-  Thôi cháu đi ngủ đi! - Gabriel bảo.
Zazie ra bằng một cửa, những vị khách mời buổi tối ra bằng một cửa khác.
Gabriel chờ cho tất cả trở lại yên tĩnh rồi mới đi. Anh xuống cầu thang không một tiếng động, như một người thuê nhà đúng mực.
Nhưng Marceline thấy có một vật nằm vương trên mặt tủ, chị cầm lấy, chạy ra mở cửa, cúi nghiêng người xuống và dịu dàng gọi trong cầu thang:
-  Gabriel, Gabriel.
-  Gì thế? Có chuyện gì thế?
-  Anh bỏ quên thỏi son của anh.
 
Chú thích:
 [1] Ngày xưa, người Pháp đóng các quầy rượu bằng kẽm. Khi đến đây chiếm đóng, quân đội Đức bắt tháo gỡ tất cả sắt thép để sản xuất vũ khí đạn dược. Dù đã thay các quầy kẽm bằng các quầy gỗ, nhưng người Pháp vẫn gọi là “kẽm”, theo thói quen.
[2] Because: vì, bởi vì (tiếng Anh).
[3] TV. (Télévision)
[4] La Cave: hầm rượu.
[5] Saint-Germain-des-Prés (xem trang 27).




Đăng nhập để trả lời
0
Chương III
 
 
Trong góc buồng, Marceline đã xắp đặt một chỗ na ná kiểu như phòng vệ sinh: bàn, chậu nhỏ, bình nước, đủ cả... cứ làm như đây đang ở giữa một xó xỉnh nhà quê vậy. Làm thế là để Zazie khỏi có cảm giác lạ nước lạ cái.
Nhưng Zazie lạ nước lạ cái: hàng ngày, nó vẫn sử dụng cái bệ vệ sinh phụ nữ bắt vít vào sàn gỗ. Do là đã dung chán đi rồi, nó còn biết được vô số điều tuyệt vời của nghệ thuật công trình phụ nữa là đằng khác. Phát kinh vì lối trang bị nguyên thủy này, nó chỉ quệt quệt chỗ này, chấm chấm chỗ kia qua loa một tí với ít nước, rồi them một nhát lược, một nhát chứ không hơn, lên tóc.
Nó nhìn xuống sân sau: không có động tĩnh gì. Trong căn hộ cũng vậy, có vẻ như không có gì xảy ra cả. Tai dán vào cửa, Zazie chẳng phát hiện ra một tiếng động nào. Nó lặng lẽ ra khỏi buồng. Gian phòng-khách-kiêm-phòng- ăn tối u và câm lặng. Nó bước đi, bàn chân nọ đặt trước mũi bàn chân kia như kiểu “đứa nào đến trước, đứa ấy được bắt đầu chơi trước”, tay lần mò bờ tường và đồ vật,
nhắm mắt lại còn thú vị hơn nữa. Con bé đến được một cánh cửa khác, nó mở ra, thận trọng một cách đáng kể. Căn phòng khác này cũng tối u và câm lặng, ai đó đang ngủ một cách yên lành. Zazie đóng cánh cửa ấy lại, đi giật lùi trở ra, đi thế cũng rất thíc. Sau một khoảng thời gian lâu ghê gớm, con bé đến được một cánh cửa khác nữa, là cánh thứ ba. Nó mở ra, thận trọng không kém gì lần
trước. Bây giờ, con bé thấy mình đang đứng trước chỗ ra vào được chiếu sáng một cách êm ả bởi một khoang cửa sổ, trang trí bằng những mảnh kính màu đỏ và xanh da trời. Còn phải mở thêm một cánh cửa nữa là Zazie phát hiện ra mục đích chuyến du ngoạn của nó: phòng vê-xê. [1]
Vì cái vê-xê này làm theo kiểu Anh, Zazie được trở lại với thế giới văn minh, vậy là con bé ngồi trong đó những hơn mười lăm phút. Nó thấy rằng nơi đó không những hữu dụng mà còn rất thú vị. Hết sức sạch sẽ, sơn
quét trơn tru. Giấy vệ sinh mềm như lụa, vui vẻ nhàu đi trên những ngón tay. Vào thời điểm này trong ngày, lại có cả một tia nắng: một làn hơi sáng mỏng chiếu xuống từ ô cửa sổ nhỏ. Zazie suy nghĩ một lúc lâu, nó tự hỏi có nên giật nước xả hay không. Nếu giật thì sẽ gây rối loạn là cái chắc. Nó phân vân, nó quyết định, nó giật nước, khối nước ục xuống, Zazie chờ đợi, nghe ngóng, nhưng
dường như không một thứ gì động đậy cả, cứ như đây là ngôi nhà của người đẹp ngủ trong rừng. Zazie lại ngồi xuống tự kể cho mình nghe câu chuyện cổ tích và xen vào đó những cận cảnh có các diễn viên nổi tiếng. Nó
nhầm lẫn một chút trong câu chuyện, nhưng cuối cùng, lấy lại được ý chí phê phán của mình, con bé đi đến việc tự tuyên bố là những chuyện cổ tích rất dở hơi và quyết định ra khỏi đấy.
Lại đến trước chỗ ra vào của căn hộ, phát hiện them một cánh cửa nữa, rất có khả năng là mở ra phía cầu thang, Zazie vặn chiếc chìa khóa vẫn được cắm trong ổ bởi cái tính thận trọng rất hão huyền. Đúng thế thật: bây
giờ Zazie đang đứng trước bậu cửa dẫn ra cầu thang. Nó đóng cửa lại sau lưng mình thật khẽ khàng, rồi cũng thật khẽ khàng, nó đi xuống. Đến tầng hai, nó dừng lại: không
động tĩnh gì cả. Bây giờ nó có mặt ở tầng một, và đây là hành lang, cửa dẫn ra đường rộng mở... Một khoang chữ nhật đầy ánh sáng. Đây rồi, Zazie ra được đây rồi, nó ra
đến ngoài đường rồi.
Đấy là một con phố yên ắng. Xe cộ ít đến nỗi người ta có thể chơi nhẩy lò cò dưới lòng đường. Chỉ có vài cửa hiệu có sắc vẻ tỉnh nhỏ bán đồ tiêu dùng hàng ngày. Những người qua lại bước đi một cách chừng mực. Khi sang đường, trước tiên họ nhìn sang trái, rồi sang phải, kết hợp ý thức công dân với sự thận trọng quá đáng. Zazie không đến nỗi thất vọng lắm, nó biết là nó đang thực sự ở giữa Paris, rằng Paris là một thành phố lớn và cả Paris không phải nơi nào cũng giống như con phố này. Nhưng để hiểu và để hoàn toàn tin chắc vào điều đó, thì phải đi xa hơn nữa. Đấy là việc mà nó bắt đầu làm ngay, ung dung như không.
Nhưng Turandot đột nhiên từ trong tiệm cà phê của ông ta chui ra, đứng dưới chân mấy bậc lên xuống, ông gọi to:
-  Ê, bé con, cháu đi đâu thế?
Zazie không trả lời, nó chỉ xoải thêm bước chân ra mà thôi. Turandot leo lên mấy bậc thang.
-  Ê, bé con! - Ông ta nghiêm giọng hơn và tiếp tục hét lên.
Thế là Zazie chuyển sang nhịp độ thể dục. Đến khúc ngoặt, nó đâm chéo sang cho nhanh. Phố sau rõ ràng là tấp nập hơn nhiều. Bây giờ Zazie chạy thật nhanh. Chẳng ai có thời gian và cũng chẳng có ai lo lắng để mắt đến nó làm gì. Nhưng Turandot cũng lại phóng nước đại. Lao theo nữa là đằng khác. Ông ta đuổi kịp được con bé, túm
lấy cánh tay nó, không một lời, bằng nắm tay chắc nịch, ông bắt cho con bé đi ngược trở lại. Zazie không ngần ngại gì. Nó hét tướng lên:
-  Cứu tôi với! Cứu tôi với!
Tiếng kêu đã thu hút ngay được sự chú ý của các bà nội trợ và những công dân quanh đấy. Họ liền dẹp sang một bên những bận rộn hoặc những không bận rộn riêng tư của mình để quan tâm đến sự cố.
Sau kết quả đầu tiên tương đối khả quan, Zazie lại tiếp tục:
-  Cháu không muốn đi mới ông này, cháu không quen ông í. Cháu không muốn đi mới ông í.
Vân vân.
Turandot, tin chắc vào mục đích cao quý của mình, để ngoài tai những tiếng kêu la ấy. Nhưng ông ta hiểu ngay rằng ông ta đã lầm khi nhận ra mình đang bị bao vây giữa một
vòng những người theo chủ nghĩa đạo đức rất nghiêm khắc.
Trước đám quần chúng rất có giá này, Zazie chuyển từ những nguyên do tổng quát sang những lời buộc tội đặc thù, cụ thể và tình tiết.
-  Ông này, - Con bé nói - ông í nói với cháu những điều bẩn thỉu.
-  Ông ấy nói những gì với cháu? - Một bà hỏi, vẻ dụ dỗ.
-  Bà ơi, - Turandot kêu lên - con bé này bỏ trốn khỏi nhà. Tôi đem nó về cho gia đình nó.
Cái vòng người cười khẩy trong mối nghi hoặc đã ăn vào sâu đậm rồi.
Bà kia vẫn gặng hỏi. Bà ta cúi xuống Zazie.
-  Nào, cô bé, đừng sợ, kể cho tôi nghe những gì ông ta đã nói với cháu, cái thằng cha xấu tính này.
-  Nhưng bẩn thỉu lắm! - Zazie thì thào.
-  Ông ấy bảo cháu làm những điều...?
-  Đúng thế, thưa bà.
Zazie hạ giọng, rỏ vào tai bà ta một vài tình tiết. Bà này thẳng người lên và nhổ phẹt vào mặt Turandot.
-  Kinh tởm! - Bà tạt thêm cho ông câu ấy.
Và bà lại nhổ toẹt một lần nữa trúng giữa “quả lê”  [2] của ông ta.
 
Một ông quan tâm lo lắng:
-  Hắn ta đã bảo con bé làm gì cho hắn?
Bà kia rỏ vào tai ông này những tình tiết kiểu Zazie.
-  Ồ! - Ông này thốt lên - Không bao giờ tôi lại nghĩ đến những thứ đó.
Rồi ông ta lại làm tiếp một câu, vẻ nghĩ ngợi hơn:
-  Không, không bao giờ!
Rồi ông quay lại một vị công dân khác:
-  Thật không thể... Nghe tôi này (tình tiết)... Không thể tin được.
-  Sao lại có những tên khốn nạn hoàn hảo như thế nhỉ! - Vị công dân khác nói.
Trong khi đó, các tình tiết được lan truyền khắp đám đông. Một chị nói:
-  Không hiểu.
Một ông zải thíc cho chị. Ông này lấy từ túi mình ra tờ giấy và bằng một chiếc bút bi, vẽ vẽ cho chị ta.
-  Vậy thì... - Chị này nói một cách mơ mộng.
Rồi thêm:
-  Thế có tiện lợi không? - Chị hỏi về cái bút bi.
Hai người ưa chuộng tranh luận với nhau:
-  Tôi ấy mà, - Một anh tuyên bố - tôi nghe nói là (tình tiết)...
-  Cách khác thì tôi cũng chẳng ngạc nhiên! – Anh kia tiếp lời - Người ta khẳng định rõ với tôi rằng (tình tiết)...
Bị tính tò mò kéo ra khỏi cái cửa hiệu tạp pí lù của mình, một chị bán hàng thổ lộ những chuyện kín đáo của chị:
-  Chính tôi đây này, ông nhà tôi, có hôm, tự dưng giở chứng lại muốn (tình tiết)... Không biết ông í lôi đâu ra cái đam mê í, tôi thử hỏi các vị.
-  Có thể là ông ấy đã đọc được một cuốn sách bậy bạ - Ai đó có ý kiến.
-  Rất có thể. Nhưng tôi ấy à, tôi xin nói với các vị là tôi đã hỏi nhà tôi là: “Anh muốn rằng...?” (tình tiết). “Đừng có mà...”, tôi trả lời ông ấy, “nếu anh muốn thế thì đi mà đú với mấy thằng đực Rệp ấy  [3]. Đừng có nhiễu tôi với cái trò bậy bạ ấy của anh!” Đấy, tôi đã trả lời ông chồng tôi thế, khi ông ấy muốn là tôi (tình tiết)...
Quanh chị ta, mọi người đều đồng tình.
Turandot không nghe chuyện của chị này. Ông ta không ảo tưởng gì. Tranh thủ mối “quan tâm kỹ thuật” vừa phát sinh sau lời buộc tội của Zazie, ông ta lẳng lặng rút lui. Qua hết góc phố bằng cách men men theo bờ tường và mau chóng tìm lại cái tiệm rượu của mình, luồn ra sau cái quầy kẽm bằng gỗ từ ngày tạm chiếm, ông ta tự rót rượu beaujolais cho mình vào một chiếc cốc quả bóng [4] to tướng, ực một lèo, rồi làm thêm một lần nữa. Đoạn ông ta chấm chấm trán bằng cái thứ mà ông vẫn dung làm khăn mùi xoa.
Mado Bàn-chân-nhỏ đang gọt khoai tây, hỏi:
-  Ông làm sao thế?
-  Thôi, nhắc đến làm gì. Cả đời tôi, chưa bao giờ lại có cái sợ nào như thế. Họ cho tôi là một tên cuồng dâm, cái đám dở hơi ấy. Tôi mà ở lại đấy, thì họ nghiền tôi ra mất.
-  Sau thì đừng có mà làm chó terre-neuve nữa! – Mado Bàn-chân-nhỏ nói.
Turandot không trả lời. Ông vặn cái tê-lê dưới hộp sọ của mình lên để xem bản tin thời sự cá nhân với cảnh ông vừa phải trải qua, mà vì nó, xuýt nữa thì ông nếu không được đưa vào lịch sử thì ít ra cũng được đưa vào
mục Chuyện vặt mỗi ngày. Ông ta run lên khi nghĩ đến số phận rủi ro có thể dành cho mình. Mồ hôi lại vã ra, ròng ròng trên mặt.
-  Giờ... giờ... giời ơi! - Ông ta lắp bắp.
-  Anh ba hoa, - Con Xanh-lá-cây nói - anh ba hoa, anh chỉ biết ba hoa.
Turandot, lau mồ hôi và tự rót cho mình cốc Beaujolais thứ ba.
-  Giờ... giời ơi! - Ông ta nhắc lại.
Ông cho rằng đây có lẽ là từ cảm thán thích hợp nhất với cảm xúc hiện đang làm ông rối rắm này.
-  Mà thôi, - Mado Bàn-chân-nhỏ nói - ông đã chết đâu.
-  Cô thử như tôi, khắc biết.
-  Thử như tôi khắc biết không có ý nghĩa gì cả: ông là ông, tôi là tôi.
-  Thôi, đừng bàn cãi nữa, tôi chả còn bụng dạ nào.
-  Ông không nghĩ là phải báo cho mấy người kia à?
Ôi đúng thật, chết mẹ, ông không nghĩ ra. Ông bỏ cốc rượu thứ ba vẫn còn đầy ở đấy, vọt đi.
-  Ơ kìa - Marceline nói dịu dàng, tay cầm một chiếc áo len.
-  Con bé con, - Turandot thở hồng hộc, nói - con bé con ấy, như thế là, nó giăng buồm mất rồi.
Marceline không đáp lại, đi thẳng vào buồng. Chính xác. Conbedazangbuomzoi.
-  Tôi thấy nó, - Turandot nói - tôi thử giữ nó lại. Vù- ù-ụt (động tác)!
Marceline lại phòng Gabriel, lay anh, anh nặng lắm, khó mà xoay trở, đánh thức anh còn khó hơn. Ngủ, anh khoái việc này lắm. Anh thở phì phì và vùng vẫy, anh đã
ngủ là ngủ, không có lôi anh dậy cái kiểu ấy được.
-  Gì, gì thế? - Rồi anh cũng kêu lên.
-  Zazie biến đi mất rồi! - Marceline dịu dàng.
Anh nhìn chị. Anh không bình luận gì. Anh hiểu rất nhanh, Gabriel ấy. Anh không đần. Anh đứng lên. Anh vào đảo một vòng trong phòng Zazie. Anh thíc tự chính mình nhận định mọi tình huống. Gabriel ấy.
-  Có khi con bé bị kẹt trong nhà vê-xê? - Anh nói, giọng lạc quan.
-  Không đâu - Marceline trả lời nhỏ nhẹ - Turandot nhìn thấy nó đang trốn đi.
-  Cụ thể, ông nhìn thấy gì những gì nào? - Anh hỏi Turandot.
-  Tôi nhìn thấy nó bỏ trốn, thế là tôi tóm lấy, định mang nó về cho cậu.
-  Thế là tốt! - Gabriel nói - Ông đúng là một ông bạn.
-  Nhưng mà con bé đã dấy động mọi người, nó gào lên thế này này, rằng tôi đã bảo nó làm những trò gì đó.
-  Thế có đúng vậy không? - Gabriel hỏi.
-  Tất nhiên là không rồi.
-  Ai biết đâu được.
-  Đúng, ai biết đâu được.
-  Ông thấy đấy.
-  Để ông ấy kể tiếp đi - Marceline dịu dàng nhắc.
-  Thế là, tất cả những người xúm lại quanh tôi đều sẵn sàng đánh vỡ mặt tôi ra. Họ làm như tôi là một thằng cuồng dâm, cái đám dở hơi ấy!
-  Ông hãi lắm à?
-  Chứ còn gì. Cả đời tôi, chưa bao giờ lại có cái sợ nào như thế. Ngay cả khi máy bay thả bom.
-  Tôi thì, - Gabriel nói - tôi chưa bao giờ sợ khi máy bay bỏ bom. Chừng nào mà là máy bay của Anh, thì tôi, tôi nghĩ rằng bom của họ không dành cho tôi mà cho bọn Fridolin [5], vì tôi là tôi chờ đón người Anh, cánh tay dang rộng.
-  Đấy là một lý do dại dột... - Turandot nhận xét.
-  Chả gì thì tôi cũng chưa bao giờ sợ và lại còn chưa hề bị xứt mẻ gì, dù chỉ một tị cái móng tay cũng không, ông thấy đấy, ngay cả những trận ghê gớm nhất. Tụi Đức thì hãi kinh, cứ là phóng tọt vào hầm trú ẩn, cái tụi sợ rụt cổ vào ấy, tôi thì tôi cười chết luôn. Tôi đứng ngoài để xem pháo hoa, đoàng, trúng giữa tâm, một kho vũ khí nổ tung, nhà ga tan tành, nhà máy thành đống vụn, thành phố cháy rực, một cảnh tượng thật hào hùng.
Gabriel kết luận và thở dài:
-  Nói cho cùng, chúng ta đã có một cuộc sống không đến nỗi tệ lắm.
-  Còn tôi, - Turandot nói - chiến tranh, tôi chả có gì để tự hào cả. Với cái trò chợ đỏ chợ đen, tôi xoay xỏa như một thằng dở hơi. Không biết tôi bị làm sao, mà không một thứ tiền phạt nào là tôi lại không được nếm. Họ xỉa của tôi đủ thứ... Nhà nước, thuế vụ, thanh tra, họ đóng cả cửa tiệm của tôi. Năm 44, tính ra nếu còn thì tôi chỉ còn mỗi một ít vàng vẫn cất để đấy, may quá, vì đúng lúc đó, một quả bom rơi vào, trụi sạch. Rủi thế. May là tôi
được thừa kế cái nhà này, không thì...
-  Thực ra thì ông cũng chẳng phải kêu ca gì, - Gabriel nói - Ông ung dung quá rồi, nghề của ông là cái nghề lười nhác.
-  Cậu thử như tôi, khắc biết. Rất mệt mỏi cái nghề của tôi, mệt mỏi, và hơn nữa lại không lành mạnh.
-  Thế ông nói gì nếu ông phải làm đêm như tôi. Và phải ngủ ngày. Ngủ ngày là mệt vô cùng tuy chẳng có vẻ gì lắm đâu. Đấy là tôi chưa nói đến việc bị dựng dậy vào cái giờ không giống ai như hôm nay... Tôi hy vọng là không phải sáng nào cũng như thế này.
-  Có lẽ phải khóa trái cửa, nhốt con bé này lại – Turandot nói.
-  Tôi tự hỏi tại sao nó lại trốn đi? - Gabriel thì thầm, vẻ trầm ngâm.
-  Con bé không muốn gây tiếng động - Marceline dịu dàng - để khỏi làm anh thức dậy, nó đi dạo thôi.
-  Nhưng anh không muốn nó đi dạo một mình – Gabriel nói - Đường phố có khác nào trường học chuyên dạy những trò bậy bạ, ai cũng biết thế mà.
-  Rất có thể là nó làm cái mà báo chí vẫn gọi là “bỏ nhà ra đi” - Turandot nói.
-  Nếu thế thì không phải chuyện đùa đâu - Gabriel nói - Có lẽ phải đi báo cho tụi cá thôi, đành vậy... Thế thì mặt mũi tôi còn ra thế nào nữa?
-  Anh không nghĩ là... - Marceline nói dịu dàng – Anh cứ thử đi tìm nó đã hay sao?
-  Anh á, - Gabriel nói - anh vào đi ngủ lại đây.
 
Anh đi về phía cái giường.
-  Đi tìm con bé thì chẳng qua cũng chỉ là đi làm nhiệm vụ của cậu - Turandot nói.
Gabriel cười khẩy. Anh làm duyên và bắt chước giọng của Zazie:
-  Nhiệm vụ cái đít tôi! - Anh tuyên bố.
Rồi thêm:
-  Nó khắc tự trở về một mình.
-  Giả dụ, - Marceline nhỏ nhẹ - giả dụ con bé rơi vào tay một tên dâm đãng?
-  Giống Turandot á? - Gabriel nói một cách vui vẻ.
-  Tôi chẳng thấy buồn cười tí nào - Turandot nói.
-  Gabriel, - Marceline dịu dàng nói - anh nên cố gắng một chút để tìm nó về.
-  Em đi đi.
-  Em còn một thùng quần áo trên bếp  [6].
-  Hai người nên đem đồ ra cái thứ tự động gì đó của Mỹ mà giặt - Turandot nói với Marceline - Để bớt việc đi.
-  Này, - Gabriel nói ý nhị - Nếu cô ấy thíc tự giặt lấy quần áo thì sao? Hả? Dính dáng gì đến ông nào? Ông ba hoa, ông ba hoa, ông chỉ biết ba hoa thôi. Cái thứ đồ Mỹ của ông ấy, tôi để nó vào đây này.
Và anh vỗ vào mông mình.
-  Ồ! - Turandot ziễu cợt - Tôi cứ tưởng là cậu chuộng Mỹ lắm.
-  Chuộng Mỹ! - Gabriel kêu lên - Ông thíc sử dụng những từ mà ông không hiểu ý nghĩa, nhỉ. Chuộng Mỹ! Cứ như là việc ấy ngăn được người ta mang đồ dơ của mình ra giặt trước mặt cả nhà hay sao ấy. Marceline và tôi, chẳng những là những người chuộng Mỹ, mà ngoài ra, đồ đầu đất ạ, đồng thời, ông đã nghe rõ chưa, đầu đất ạ, ĐỒNG-THỜI, chúng tôi cũng là những người chuộng giặt đồ nữa. Rõ chưa? Nói gì được nữa không, hả, đầu đất?
Turandot không tìm ra tí gì để trả lời. Ông ta trở lại vấn đề cụ thể và thực tại, vấn đề “cái áo sơ mi trắng”, cái áo không dễ gì giặt sạch.
-  Cậu nên chạy đi tìm con bé con - Ông ta khuyên
Gabriel.
-  Để lại gặp chuyện như ông lúc nãy ấy à? Để bị cái ông Chúng văn Dân kia đánh cho tan xương ra à?
Turandot nhún vai.
-  Cậu cũng thế, - ông ta nói với giọng khinh thị - cậu ba hoa, cậu ba hoa, cậu chỉ biết ba hoa.
-  Đi đi anh! - Marceline dịu dàng nói với Gabriel.
-  Cả hai người làm phiền tôi quá! - Gabriel cấm cảu.
Anh quay vào phòng mình, mặc quần áo đâu vào đấy, buồn bã sờ cằm vì anh chưa kịp nhổ râu, thở dài rồi lại xuất hiện.
Turandot và Marceline, không, Marceline và Turandot thì đúng hơn đang bàn cãi về “cái gì hay, cái gì không hay” của máy giặt. Gabriel hôn lên trán Marceline.
-  Vĩnh biệt em, - Anh nói với chị giọng nghiêm trọng - anh đi làm nghĩa vụ của anh đây.
Anh bắt thật chặt tay Turandot; xúc động đến nghẹt thở, anh không sao phát âm được những từ có tính chất lịch sử ngoài “anh đi làm nghĩa vụ của anh đây”, nhưng cái nhìn của anh thì đã phảng phất vẻ bâng khuâng trầm tư của những người mà định mệnh lớn lao đang đón đợi họ. Hai người kia thì suy ngẫm. Anh bước ra. Anh đã ra đến bên ngoài.
Ngoài đường, anh hít hít mấy hơi gió, và chỉ ngửi thấy những mùi vị thường ngày và đặc biệt là mùi của La Cave tỏa ra. Anh không biết là phải đi về phía bắc hay phía mười hai giờ vì con phố hướng về phía ấy [7]. Nhưng một tiếng gọi cắt ngang sự phân vân của anh. Đấy là Gridoux, người thợ giày, từ cửa hàng của ông ta, đang ra hiệu cho anh. Gabriel tiến lại gần.
-  Tôi cá là anh đang tìm cô bé con.
-  Vâng - Gabriel lầu bầu không một chút hào hứng nào.
-  Tôi biết con bé đi đâu rồi.
-  Ông bao giờ cũng biết tất cả mọi việc - Gabiel nói với một tâm trạng không được vui.
Cái lão này, anh tự nhủ thầm, mỗi lần nói chuyện với lão, là lão lại làm cho cái tính tự ti của mình tăng thêm.
-  Ông không quan tâm đến điều đó à? - Gridoux hỏi.
-  Tôi buộc là phải quan tâm.
-  Vậy thì tôi kể nhé?
-  Đến chết cười với mấy ông thợ giày này, - Gabriel trả lời - họ không ngơi tay bao giờ. Người ta có thể nghĩ rằng họ thíc thế, và để chứng minh là họ không ngơi tay bao giờ, họ ra đứng sau những cái tủ kính để làm việc
cho người ta chiêm ngưỡng. Chẳng khác gì mấy bà thợ mạng tất ấy.
-  Còn anh, - Gridoux đối lại - anh đứng vào đâu để người ta chiêm ngưỡng anh?
Gabiel gãi gãi đầu.
-  Chẳng đâu cả - Anh uể oải nói - Tôi thì tôi là nghệ sĩ. Tôi chẳng làm gì xấu. Với lại, đây không phải lúc để mà nói chuyện này. Việc con nhỏ mới cấp tốc kia.
-  Tôi trò chuyện vì tôi rất vui khi được trò chuyện - Gridoux trả lời từ tốn.
Ông ta nghếch mũi ra khỏi công việc của mình.
-  Thế nào, - Ông ta hỏi - cái anh chàng ba hoa chết tiệt kia, anh có muốn biết điều zì hay không nào?
-  Thì tôi đã nói với ông là khẩn cấp mà lại.
Gridoux tủm tỉm.
-  Turandot đã kể cho anh nghe khúc đầu rồi?
-  Ông ấy kể những gì ông ấy muốn kể’.
-  Sao đi nữa thì những điều anh quan tâm, là những gì xảy ra sau đó.
-  Đúng - Gabriel nói - Chuyện gì đã xảy ra sau đó?
-  Sau đó? Thế khúc đầu anh không quan tâm sao? Con bé đang làm cái việc là bỏ nhà trốn đi đấy. Trốn nhà!
-  Rõ là vui vẻ! - Gabriel lẩm bẩm.
-  Anh chỉ còn nước đi báo công an.
-  Tôi chưa thấy cần thiết lắm - Gabriel nói, giọng yếu hẳn đi.
-  Nó chẳng tự về đâu.
-  Ai biết đâu đấy.
Gridoux nhún vai.
-  Xét cho cùng, tôi nghĩ sao ư? Là tôi mặc kệ.
-  Tôi cũng thế! - Gabriel bảo - Thực tâm mà nói.
-  Anh, anh cũng có cái tâm à?
Đến lượt Gabriel nhún vai. Nếu cả cái lão này lại cũng trở nên xấc xược thì... Không một lời, anh quay về nhà lên giường đi ngủ.
 
Chú thích:
[1]  W.C
 [2] Dân chúng Pháp ví bộ mặt vua Louis XIV với quả lê. Từ đó, nó trở thành tên gọi thô tục của bộ mặt.
 [3] Thời xa xưa, người Hy-lạp và một số dân tộc Ả-rập thường quan hệ tình dục
không phân biệt giới tính.
[4] Loại cốc tròn, có chân, dùng để uống rượu vang.
[5] Một trong những tên gọi khinh miệt mà người Pháp vẫn dùng để chỉ người Đức từ nhiều thế kỷ.
[6] Trước đây, khi chưa có máy giặt, người ta đun quần áo để giặt cho sạch.
 [7] Theo quy chế xác định vị trí, hướng trước mặt bao giờ cũng là hướng mười hai giờ, tức hướng Bắc đối với Gabriel trong hoàn cảnh này. Nhưng người Pháp lại có thói quen gọi miền Nam, phía Nam là mười hai giờ trưa. Như vậy, chẳng khác nào Bắc và Nam nằm cùng một hướng.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.01.2018 00:28:13 bởi Ct.Ly>
Chương VIII
 
 
Ôi Paris! Gabriel đầy hào hứng và khát khao thốt lên.
-  Này Zazie - Anh đột ngột nói thêm, tay chỉ một vật gì đó xa lắm - Nhìn kìa, tàu điện ngầm đấy!!!
-  Tàu điện ngầm? - Con bé làm thế.
Nó nhíu mày.
-  Tất nhiên rồi, đấy là tàu điện ngầm trên cao! – Gabriel nói một cách ngọt ngào.
Trước khi Zazie có thời gian để ca thán, anh lại reo lên:
-  Đấy nữa! Đằng kia kìa! Nhìn xem!!! Panthéon!!
-  Có phải là Panthéon đâu - Charles cãi – Invalides đấy chứ.
-  Mấy người đừng có xắp xửa đấy! – Zazie nói.
-  Nhưng mà, - Gabriel hét - không lẽ đây không phải
Panthéon?
-  Không, đấy là Invalides! - Charles trả lời.
Gabriel quay lại và nhìn sâu vào tận tròng mắt anh ta:
-  Ông có chắc không đấy? - Anh hỏi - Ông chắc chắn đến thế cơ à?
Charles không trả lời.
-  Thế ông hoàn toàn tin chắc vào cái gì? - Gabriel không chịu thôi.
-  Tớ nghĩ ra rồi! - Charles hét tướng lên - Chỗ này, không phải là Invalides đâu, đấy là nhà thờ Thánh Tâm!
-  Thế ông, - Gabriel nói một cách vui vẻ - ông có phải là một tên “thánh hâm” không đấy?
-  Mấy kiểu pha trò này, ở tuổi của hai người, - Zazie nói - làm cháu phát thương hại.
Họ quay ra im lặng ngắm nhìn cảnh vật trải rộng trước mặt, và rồi Zazie, mắt nhìn theo sợi dây dọi, dõi xuống quan xát những gì đang xảy ra khoảng ba trăm mét ở bên dưới.
-  Cũng chẳng cao lắm đâu - Con bé nhận xét.
-  Cứ nói thế! - Charles nói - Gần như không thấy cả người còn gì.
-  Đúng vậy - Gabriel nói, hít hít mũi - Người thì không rõ mà mùi thì vẫn có.
-  Nhưng chưa bằng trong tàu điện ngầm! - Charles bảo.
-  Ông có đi bao giờ đâu - Gabriel nói - Mà tôi thì cũng thế.
Muốn tránh cái chủ đề khó chịu này, Zazie nói với cậu:
-  Cậu chẳng xem xét gì cả. Cúi xuống mà xem, hay ra phết.
Gabriel thử cúi xuống nhìn thoáng một tí vào khoảng sâu.
-  Đếch gì, - Anh vừa nói vừa lùi lại - mình bị chóng mặt rồi.
Anh lau trán và lại làm xực lên mùi nước hoa.
-  Thôi, - Anh nói thêm - tôi đi xuống đây. Khi nào hai người chán xem thì... Tôi đợi ở tẫng chệt nhé.
Anh bỏ đi luôn trước khi Zazie và Charles kịp níu anh lại.
-  Phải đến gần hai mươi năm rồi tôi chẳng lên đây - Charles nói - Mặc dù tôi vẫn chở người ta đến.
Zazie để ý quái gì chuyện ấy.
-  Ông chẳng mấy khi cười - Nó nói với anh - Ông bao nhiêu tuổi?
-  Cháu đoán tôi bao nhiêu?
-  À, ông không trẻ lắm: ba mươi.
-  Cộng mười lăm.
-  Ô thế thì ông lại có vẻ không quá già. Còn cậu Gabriel?
-  Ba mươi hai.
-  Ô, thế thì cậu ấy lại có vẻ già hơn.
-  Tuyệt đối đừng nói với cậu ấy nhé, cậu ấy sẽ khóc đấy.
-  Tại sao? Tại vì cậu ấy áp dụng đồng tình luyến ái à?
-  Cháu moi thứ ấy ở đâu ra đấy?
-  Đấy là cái lão ấy đã nói thế với cậu Gabriel, cái lão đưa tôi về ấy. Lão ấy lão nói là người ta có thể bị đi tù vì thế, vì đồng tình luyến ái. Thế đấy là cái gì?
-  Không đúng thế đâu.
-  Đúng mà, đúng là lão ấy nói vậy - Zazie đáp, phẫn nộ vì người ta lại có thể nghi ngờ dù là một chữ trong lời lẽ của nó.
-  Tôi có muốn nói thế đâu. Tôi muốn nói rằng, những gì gã kia nói về Gabriel là không đúng.
-  Rằng cậu ấy đồng tình luyến ái là không đúng á?
-  Ừ. Cháu hiểu chính xác rồi đấy.
-  Không có gì để phải vào tù cả.
-  Tất nhiên rồi.
Họ im lặng mơ mộng ngắm nhìn nhà thờ Thánh Tâm một lúc.
-  Thế ông, - Zazie hỏi - ông có đồng tình luyến ái không?
-  Tôi có vẻ gì của một thằng pê-đan không?
-  Không, vì ông là một lái xe, ông có đạp đâu.
-  Đấy, cháu thấy đấy.
-  Tôi chẳng thấy gì cả.
-  Chả nhẽ tôi lại phải vẽ ra cho cháu thấy à?
-  Ông vẽ có giỏi không?
Charles quay người sang phía khác và đắm mình chiêm ngưỡng những chiếc mũi tên của nhà thờ Nữ Thánh Clotile, tác phẩm của Gau và Ballu, rồi bảo:
-  Hay ta đi xuống nhé?
-  Ông hãy nói cho tôi nghe, - Zazie hỏi, không hề nhúc nhích - tại sao ông không có vợ?
-  Đời là thế.
-  Nhưng tại sao ông không lấy vợ?
-  Tôi không tìm được ai vừa ý.
Zazie huýt sáo một cách thán phục.
-  Ông rất kiêu quá đáng - Nó bảo.
-  Thế đấy. Nhưng, thử nói xem, khi lớn lên, cháu có nghĩ rằng sẽ có nhiều đàn ông mà cháu muốn lấy làm chồng đến vậy không?
-  Một phút, - Zazie nói - mình đang bàn về ai đây? Về đàn ông hay đàn bà?
-  Về đàn ông đối với cháu, đàn bà đối với tôi.
-  Không thể so sánh được - Zazie nói.
-  Cháu không nhầm.
-  Ông thật buồn cười! - Zazie bảo - Ông không bao giờ biết là mình nghĩ gì cả. Chắc thế thì mệt mỏi lắm. Có phải tại vì vậy mà ông rất hay có vẻ nghiêm trang không?
Charles cố mỉm cười.
-  Thế tôi, tôi có vừa ý ông không?
-  Cháu chỉ là một cô bé con.
-  Có những đứa chỉ mười lăm tuổi đã lấy chồng, có khi chỉ mười bốn. Có những người đàn ông họ thích thế.
-  Thế thì, tôi, tôi có vừa ý cháu không?
-  Tất nhiên là không - Zazie trả lời rất đơn giản.
Sau khi đã được nếm qua cái sự thật hiển nhiên này, Charles nói tiếp với những ngôn từ sau:
-  Cháu biết không, cháu có những ý nghĩ lạ lùng so với tuổi của cháu.
-  Đúng thế, tôi cũng chẳng biết tôi kiếm chúng ở đâu ra nữa.
-  Tôi không phải là người có thể trả lời cháu về điều đó.
-  Tại sao người ta có thể nói ra điều này mà điều khác thì không?
-  Nếu không nói ra những điều mà mình cần nói thì sẽ làm cho người khác không hiểu được mình.
-  Thế ông, ông có nói ra những điều ông cần nói để làm cho mọi người hiểu được ông hay không?
-  (động tác)
-  Nhưng mình có bắt buộc phải nói tất cả những điều mà mình nói ra đâu, mình có thể nói những điều khác.
-  (động tác)
-  Hãy trả lời đi chứ!
-  Cháu làm tôi mệt cái đầu quá. Đấy có phải là những câu hỏi đâu.
-  Có chứ, đấy là những câu hỏi. Nhưng là những câu hỏi mà ông không biết trả lời thế nào.
-  Tôi nghĩ rằng tôi chưa sẵn sàng để lập gia đình - Charles trả lời một cách suy tư.
-  Ồ, ông biết không? - Zazie nói - Tất cả phụ nữ không phải ai cũng đặt ra những câu hỏi như tôi đâu.
-  Tất cả phụ nữ, các người có nghe thấy không, tất cả phụ nữ... Nhưng cháu chỉ là một cô bé con.
-  Ồ, xin lỗi ông, tôi đã phát triển đầy đủ rồi.
-  Thôi, không có nói đến chuyện thiếu nghiêm chỉnh nữa.
-  Có gì là không nghiêm chỉnh đâu. Đấy là cuộc sống.
-  Cuộc sống sạch sẽ quá nhỉ.
Anh vân vê ria mép và lại ngắm nhìn nhà thờ Thánh Tâm, vẻ u buồn.
-  Cuộc sống, - Zazie nói - chắc ông phải biết rõ. Nghe nói là trong nghề của ông, người ta thấy được những điều hay lắm.
-  Cháu lôi đâu ra cái chuyện đó vậy?
-  Tôi đọc được trong tờ Sanctimontronais Chủ Nhật, tờ báo rất cập nhật, mặc dù chỉ là báo địa phương, trong đó có đăng cả những câu chuyện tình của những nhân vật nổi tiếng, cả tử vi nữa. Người ta nói là lái xe tắc-xi có thể được nhìn thấy tình dục dưới mọi hình thức với đủ mọi hạng người. Bắt đầu bằng những khách đi xe muốn thanh toán bằng hiện vật chẳng hạn. Thế ông gặp chuyện ấy thường không?
-  Thôi, đủ rồi, đủ rồi!
-  Đấy là tất cả những gì ông biết nói: “đủ rồi, đủ rồi”. Ông chắc bị dồn nén về sinh lý.
-  Con bé này thật quá đáng.
-  Thôi, đừng kêu ca nữa, nói cho tôi nghe về những rắc rối của ông đi.
-  Còn thiếu cái gì mà không phải nghe nữa!
-  Đàn bà, họ làm ông sợ, đúng không?
-  Tôi thì tôi đi xuống đây! Chóng cả mặt. Không phải vì cái thứ này (động tác). Mà vì một con nhóc con như cháu.
Anh bỏ đi và chỉ một lúc sau đã có mặt ở độ cao cách mực nước biển có vài mét. Gabriel đang đợi, mắt không lanh lợi lắm, bàn tay đặt trên hai đầu gối dạng rộng. Khi nhận ra Charles không đi với Zazie, anh bật dậy, gương mặt chuyển sang màu xanh-lo-lắng.
-  Sao ông lại làm thế! - Anh kêu lên.
-  Tôi mà làm thì cậu đã phải nghe tiếng nó rơi rồi - Charles trả lời, lòng nặng trĩu, và ngồi xuống.
-  Rơi xuống thì đã chẳng sao. Nhưng để nó một mình...
-  Cậu sẽ đón nó ở chỗ cửa ra. Nó chẳng bay đi mất đâu.
-  Ừ, nhưng từ giờ cho đến khi con nhóc xuống được tới đó, không rõ nó còn gây ra cho tôi những trò khỉ gì nữa (thở dài). Tôi mà biết vậy...
Charles không phản ứng gì.
Gabriel chăm chú nhìn ngọn tháp một lúc lâu, rồi anh nhận xét:
-  Tôi tự hỏi tại sao người ta lại lấy hình ảnh một người đàn bà làm biểu tượng cho thành phố Paris. Với một thứ như thế này. Trước khi nó được xây lên thì có thể. Nhưng bây giờ thì chẳng khác gì người đàn bà đã trở thành đàn ông vì tập thể thao quá nhiều. Thấy trên báo nói thế.
-  (im lặng)
-  Thế nào, ông bị câm rồi à. Ông nghĩ sao về việc này?
Charles nhả ra một tiếng ngựa hí rất dài và đau đớn, hai tay ôm lấy đầu rền rĩ.
-  Hắn cũng vậy, - Anh vừa nói vừa rên - hắn cũng vậy... Lúc nào cũng thế... Lúc nào cũng lại chuyện tình dục...
Lúc nào cũng chỉ chuyện ấy... Luôn luôn... Mãi mãi... Kinh tởm... Thối rữa... Họ chỉ nghĩ đến chuyện đó...
Gabriel vỗ vào vai anh, rộng lượng.
-  Có vẻ không ổn à? - Anh nói - Chuyện gì vậy?
-  Cháu cậu ấy... Cô cháu mất zậy của cậu ấy...
-  Này, cẩn thận đấy! - Gabriel kêu lên, rút tay lại để giơ lên trời - Cháu tôi là cháu tôi. Ăn nói từ tốn một chút, nếu không, ông sẽ được nghe khối thứ về bà của ông đấy.
Charles làm một cử chỉ đầy thất vọng, rồi đứng bật dậy.
-  Thôi, tôi đi đây. Hy vọng là không phải gặp lại cái con nhỏ này nữa. Vĩnh biệt.
Rồi anh đi vụt về phía chiếc xe tàng của mình.
Gabriel chạy theo anh:
-  Thế bọn này sẽ về nhà bằng cách nào?
-  Cậu đi tàu điện ngầm.
-  Ông này nói hay thật! - Gabriel cằn nhằn và không đuổi theo nữa.
Chiếc tắc đi xa dần.
Gabriel đứng đó, trầm ngâm rồi phát ngôn ra những lời lẽ sau đây:
-  Tồn tại hay hư vô, đấy mới là vấn đề. Lên, xuống, đi, lại... Bao nhiêu con người phải làm cho đến khi khuất bóng. Một chiếc tắc-xi đưa anh ta đến, một chuyến tàu điện ngầm mang anh ta đi, ngọn tháp chẳng để ý gì đến hắn, điện Panthéon cũng chẳng thèm nhìn. Paris chỉ là giấc mộng, Gabriel chỉ là cơn mơ (đáng yêu), Zazie, giấc mộng của cơn mơ (hay của cơn ác mộng) và tất cả việc này chỉ là giấc mộng của cơn mộng, giấc mơ của cơn mơ, cũng chỉ khá hơn sự điên rồ được gõ trên máy chữ bởi một nhà tiểu thuyết ngu ngốc (ồ, xin lỗi) đôi chút. Đằng kia, xa hơn một tí, quảng trường Cộng Hòa đi tới một chút nữa, là những nấm mộ của bao người dân Paris đã từng sống, từng lên và xuống những bậc thang, từng qua và lại trên những con phố và từng làm lụng, đến tận khi khuất bóng. Một chiếc phóc-xép lôi anh ta ra, một chiếc xe tang mang anh ta đi mất, còn ngọn tháp thì han gỉ và điện Panthéon thì rạn nứt nhanh  hơn cả những bộ xương người chết còn quá hiện diện, không chịu tan vào trong những đống mùn đầy lo âu của đô thành. Tôi thì vẫn đang sống. Và đến đó thì sự hiểu biết của tôi dừng lại vì, đúng vào thời điểm này, chính tại nơi đây, tôi không biết gì về chàng tắc-xi-men bỏ chạy trong chiếc xe đi thuê xộc xệch, hay về cô cháu tôi đang treo mình ở độ cao ba trăm mét trên không hoặc người vợ Marceline dịu dàng của tôi vẫn quanh quẩn ở nhà, tôi chỉ biết điều sau đây, diễn tả một cách alexandrine: “Đây, những người gần như đã chết vì họ ang vắng mặt”. Nhưng tôi đang nhìn thấy gì đằng sau mớ gáo dừa lông lá của những người đáng mến đang vây quanh tôi?
Khách du lịch đã làm thành một vòng tròn quanh anh vì tưởng anh là một hướng dẫn viên bổ sung. Họ quay hết đầu về hướng mà anh đang nhìn.
-  Ông thấy được gì thế ạ? - Một vị trong số họ, có vẻ thực thụ tiếng Pháp, hỏi anh.
-  Vâng, - Một ông khác tiếp lời - phía đó có gì để xem vậy?
-  Đúng thế, - Ông thứ ba thêm - chúng tôi phải xem cái gì?
-  Xemcaizi? - Vị thứ tư hỏi - Xemcaizi? Xemcaizi? Xemcaizi?
-  Xemcaizi? - Gabriel trả lời - Thì xem (một động tác dứt khoát) Zazie, Zazie cháu tôi, đang ra khỏi đám đông và đi về phía chúng ta.
Máy quay phim nháy lia lịa, rồi người ta rẽ ra cho con bé vừa đi vừa tủm tỉm kia tiến lại:
-  Thế nào, cậu? Cậu thu được nhiều tiền chứ?
-  Cháu thấy đấy - Gabriel trả lời vẻ hài lòng.
Zazie nhún vai và nhìn đám khán giả. Nó không nhìn thấy Charles và nêu lên nhận xét đó.
-  Anh ta biến rồi - Gabriel nói.
-  Tại sao?
-  Chẳng tại sao cả.
-  Chẳng tại sao, đấy không phải là một câu trả lời.
-  Thì... Anh ta đi khỏi, thế thôi.
-  Ông ấy có lý do chứ.
-  Cháu biết đấy, Charles thì (động tác)...
-  Cậu không muốn nói ra với cháu à?
-  Cháu cũng biết rõ như cậu mà.
Một ông khách du lịch tham gia:
-  Male bonas horas collocamus si non dicis isti puellae the reason why this man Charles went away [1].
-  Ông già bé nhỏ của tôi, - Gabriel trả lời - cứ lo việc của ông đi đã. She knows why and she bothers me quite a lot [2].
-  Ô! Thế là, - Zazie kêu lên - bây giờ thì cậu lại biết nói cả ngôn ngữ rừng rú nữa.
-  Cậu không có cố tình - Gabriel trả lời và cụp mắt xuống một cách khiêm tốn.
-  Most interesting![3] - Một trong những người khách du lịch nói.
Zazie trở lại điểm khởi đầu của nó.
-  Tất cả những chuyện này đều không zải thíc được cho cháu tại sao Charles lại zăng buồm?
Gabriel cáu lên.
-  Tại vì cháu đã nói với anh ấy những điều mà anh ta không hiểu được. Những điều không hợp với tuổi của anh ấy.
-  Thế cậu, cậu Gabriel, nếu cháu nói với cậu những chuyện mà cậu không hiểu, những chuyện không hợp với tuổi của cậu, thì cậu sẽ làm gì?
-  Cứ thử xem - Gabriel nói giọng lo lắng.
 
Thí zụ, - Zazie tiếp tục, không hề thương xót - nếu cháu hỏi cậu, cậu có phải là một người đông tình luyến ái hay không, thì cậu hiểu chứ? Câu ấy phù hợp với tuổi của cậu chứ?
-  Most interesting! - Một trong những người khách du lịch nói (vẫn là cái ông lúc nãy).
-  Khổ thân Charles - Gabriel thở dài.
-  Cái cứt gì, cậu có trả lời hay không nào! - Zazie la lên - Cậu hiểu từ này không: đồng tình luyến ái”.
-  Tất nhiên rồi! - Gabriel hét - Cháu có muốn cậu vẽ ra cho cháu thấy không?
Cái đám đông rất quân tâm tò mò kia bày tỏ sự ủng hộ. Một vài người còn vỗ cả tay.
-  Cậu đếch zám! - Zazie đốp lại.
Đúng lúc ấy, Fédor Balanovitch xuất hiện.
-  Nào, khẩn trương lên! - Anh ta quát - Schnell! Schnell [4]
 Lên xe ca đi, mau lên.
-  Where are we going now? [5]
-  Đến nhà nguyện Sainte-Chapelle - Fédor Balanovitch trả lời - Một báu vật của nghệ thuật gô-tíc. Khẩn trương lên nào! Schnell! Schnell!
Nhưng họ chẳng khẩn trương, vì quá bị hấp dẫn bởi Gabriel và cô cháu của anh.
-  Đấy nhé, - Cô cháu kia bảo ông cậu nọ, kẻ vẫn chưa hề vẽ vời gì - cậu thấy rõ là cậu đếch zám.
-  Sao mà nó lại có thể rầy rà đến thế được! - Ông cậu nọ nói.
Fédor Balanovitch, rất tự tin, leo lên vị trí trên xe của anh ta, và nhận ra là chỉ có ba, bốn cái nấm đi theo mình.
-  Thế là thế nào đây! - Anh ta rống lên - Không còn kỷ luật sao? Họ đang làm cái trò gì đấy, zời ơi!
Anh ta bóp mấy lần còi. Chẳng làm ai động đậy cả. Mỗi một chú cá vàng chịu trách nhiệm về trật tự giao thông nhìn anh ta bằng con mắt tối sầm. Vì Fédor Balanovitch không ham gây chuyện với giống người này, anh ta dời cái chòi gác của mình, xuống xe đi về phía nhóm người mà anh ta phụ trách để xem cái gì đã lôi kéo họ đến thái độ bất tuân như thế.
-  Hóa ra là Gabriella [6]! - Anh ta kêu lên - Cậu đang làm cái khỉ gì ở đây?
-  Suỵt, suỵt! - Gabriel nháy, trong lúc cái vòng tròn của những kẻ hâm mộ đang hào hứng một cách ngây thơ trước cảnh gặp gỡ này.
-  Rõ là! - Fédor Balanovitch vẫn tiếp tục - Chẳng lẽ bây giờ cậu lại diễn cho họ màn Cái chết của con thiên nga với bộ ba-lê hay sao?
-  Suỵt, suỵt! - Gabriel lại làm thế vì không tìm ra bài đít-cua nào khác.
-  Thế còn cô nhóc mà cậu dắt díu theo là gì đây? Cậu tìm ở đâu ra vậy?
-  Đây là cháu mình, cố mà tôn trọng người nhà của mình, ngay cả với thiếu niên.
-  Người này là ai đây? - Zazie hỏi.
-  Một anh bạn - Gabriel nói – Fédor Balanovitch.
-  Cậu thấy đấy, - Fédor Balanovitch nói - mình không làm anh chàng bai-nai [7] nữa, mình đã vươn lên về tầng lớp xã hội và mình dẫn tất cả cái lũ dở hơi này đến nhà nguyện Sainte-Chapelle.
-  Có khi cậu có thể cho tụi này về nhà đấy nhỉ. Với cuộc đình công phương tiện giao-thông-giao-thiếc, công- cộng-công-kiếc này, chẳng làm gì theo ý mình được cả. Đến tận chân trời cũng không thấy một chiếc tắc nào.
-  Chưa gì đã về là không được đâu! - Zazie nói.
-  Dù sao thì, - Fédor Balanovitch nói - đầu tiên ta phải ghé vào Sainte-Chapelle trước giờ đóng cửa cái đã. Sau đó, rất có thể là mình sẽ cho cậu về nhà cậu.
Anh ta nói thêm với Gabriel.
-  Nhưng có gì hay không, Sainte-Chapelle ấy? – Gabriel hỏi.
-  Sainte-Chapelle! Sainte-Chapelle! - Tiếng la ó của khách du lịch cùng với những kẻ phát ra tiếng la ó đó kéo Gabriel về phía chiếc ô-tô-ca với một sự nhiệt tình không thể cưỡng nổi.
-  Anh ta đã lọt vào mắt của bọn này rồi! – Fédor Balanovitch nói với Zazie cũng tụt lại phía sau như anh ta.
-  Đừng có mơ - Zazie nói - là tôi để mình bị kéo theo cái đàn bò này đâu đấy.
-  Tôi thì tôi mặc kệ - Fédor Balanovitch nói.
Rồi lên ngồi sau vô-lăng và cái micro, thứ mà anh ta sử dụng ngay lập tức.
-  Nào, nhanh nhẩu lên nào! - Anh ta “loa” lên một cách vui vẻ - Schnell! Schnell!
Những kẻ hâm mộ Gabriel đã để anh ngồi vào một cách đàng hoàng, và, dùng một cái máy chuyên dụng, đo “trọng lượng” ánh sang để chụp chân dung anh với hiệu quả ngược-sáng. Dù sự quan tâm này làm anh rất phấn khởi, Gabriel vẫn lo lắng cho số phận của cô cháu gái. Được Fédor Balanovitch cho biết là con bé không chịu đi theo đám rồng rắn này, anh rứt mình ra khỏi toán người nói đủ thứ tiếng đang hân hoan bao quanh, xuống xe, nhẩy bổ vào Zazie, túm lấy cánh tay con bé và lôi nó về phía chiếc ô-tô-ca.
Máy quay phim lại nhoay nhoáy chớp.
-  Cậu làm đau cháu! - Zazie tru tréo, điên lên vì tức giận.
Nhưng rồi chính nó, nó cũng bị đưa tới nhà nguyện Sainte-Chapelle trong chiếc xe lăn trên những lốp cao su nặng nề.
 
 
Chú thích:
 [1] Chúng ta sẽ phí phạm những phút giây đẹp đẽ này nếu anh không nói cho
con bé biết (tiếng La-tinh) lý do vì sao Charles bỏ đi (tiếng Anh).
   [2] Con bé đã biết lý do tại sao, và nó làm phiền tôi nhiều chuyện lắm rồi (tiếng
Anh).
 [3] Thú vị thật! (tiếng Anh)
   [4] Nhanh lên!! Nhanh lên!! (tiếng Đức)
   [5] Bây giờ chúng ta đi đâu? (tiếng Anh)
[6] Tên dành cho phái nữ của Gabriel.
[7] By night: về đêm (tiếng Anh).




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.01.2018 13:27:34 bởi Ct.Ly>
Chương IX
 
 
Mở to mấy cái “cửa sổ” của các vị ra, lũ nhà quê ạ! - Fedor Balanovitch nói - Bên phải, các vị xắp thấy nhà ga Orsay. Kiến trúc không xoàng tí nào, và có thể, đó sẽ là niềm an ủi cho các vị nếu ta đến nhà nguyện Sainte-Chapelle quá muộn. Mà với cái trò tắc đường tắc xá phải gió vì cuộc đình công kiểu “hai hòn...” của tôi này thì rất có khả năng bị lắm.
Cùng nằm trong tình trạng hoàn toàn và tuyệt đối mù tịt, không hiểu một tí gì, đám khách du lịch há hốc miệng. Những người mê muội nhất thì không hề để ý một chút
nào đến những tiếng loa lọc xọc kia. Họ trèo lên ghế, quay ngược người lại, tì vào lưng ghế, rung động chiêm ngưỡng siêu hướng dẫn viên Gabriel. Anh mỉm cười với
họ. Thế là, họ hy vọng...
-     Sainte-Chapelle - Họ thử phát âm - Sainte-Chapelle...
-  Vâng, đúng rồi - Anh nói một cách nhã nhặn – Nhà nguyện Sainte-Chapelle (im lặng) (động tác) một báu vật của nghệ thuật gô-tíc (động tác) (im lặng).
-  Cậu đừng có mà bắt đầu giở trò đấy nhé! - Zazie nói gay gắt.
-  Hãy nói tiếp đi, hãy nói tiếp đi! - Những vị khách du lịch la át cả tiếng con bé - Chúng tôi muốn lắng tai, chúng tôi muốn lắng tai!
Họ nói thêm với một sự nỗ lực rất Berlizt School [1].
-  Chẳng lẽ cậu lại để họ dắt mũi cậu à? - Zazie bảo.
Con bé cấu một tí thịt của anh qua lớp vải quần, ấn sâu móng tay vào đó và xoắn lại một cách độc ác. Gabriel đau quá, đến nỗi những giọt nước mắt bắt đầu chảy dài trên má anh. Những vị khách du lịch, mặc dù đầy kinh nghiệm về chủ nghĩa toàn cầu, nhưng chưa bao giờ được thấy một hướng dẫn viên khóc cả, đâm ra lo lắng. Phân tích thái độ lạ lùng này, một vài người theo phương pháp suy luận, những người khác theo linh tính, kết luận là phải có bồi dưỡng. Người ta bắt đầu quyên góp và đặt số tiền lên đùi anh chàng đáng thương, gương mặt anh lúc này vừa tươi tắn trở lại, do nỗi đau đớn đã đi qua hơn là do lòng biết ơn, vì số tiền kia quả là không đáng kể.
-  Tất cả những việc này hẳn là khá kỳ dị đối với các vị - Anh nói một cách e dè ngượng nghịu với đám khách du lịch.
 
Một bà nói được tiếng Pháp tương đối lịch thiệp bày tỏ quan điểm chung:
-  Thế nhà nguyện Sainte-Chapelle thì sao?
-  À... - Gabriel nói và vung mạnh tay.
-  Anh ta xắp nói đấy! - Cái bà đa-sinh-ngữ nọ bảo những người cùng nòi giống với bà ta bằng thứ ngôn ngữ bẩm sinh của họ.
Một vài người, quá khích lệ, leo lên đứng trên dãy ghế dài để đừng bỏ sót một tí gì, không những bài diễn thuyết mà cả những điệu bộ. Gabriel hắng giọng để thêm tự tin.
Nhưng Zazie lại bắt đầu.
-  Ái ui! - Gabriel rên rõ mồn một.
-  Khổ cho anh ta! - Bà kia kêu lên.
-  Quỷ con - Gabiel thì thầm và xoa đùi.
-  Cháu í, - Zazie nói vào lỗ tai anh - đèn đỏ tới là cháu sẽ tếch. Cậu biết là cậu phải làm gì rồi đấy.
-  Nhưng rồi mình làm thế nào để đi về nhà? – Gabriel rên rỉ nói.
-  Nhưng cháu đã nói với cậu là cháu chưa muốn về cơ mà.
-  Nhưng họ sẽ đi theo m...
-  Nếu hai cậu cháu không xuống xe, - Zazie nói với giọng tàn nhẫn - cháu sẽ bảo họ rằng cậu là một gã đồng tình luyến ái.
-  Thứ nhất, - Gabriel nói một cách ôn hòa - chuyện ấy không đúng, thứ hai, họ sẽ chẳng hiểu gì.
-  Nếu không phải thì tại sao cái lão dâm dục lại nói thế với cậu?
 
- Xin lỗi nhé (động tác). Chẳng có gì để chứng minh đấy là một tên dâm dục cả.
- Cậu cần gì nào?
- Cậu cần gì? Cần những sự việc cụ thể.
Và anh lại làm một cử chỉ mạnh mẽ, vô cùng rạng rỡ, rất ấn tượng đối với đám khách du lịch đã bị thôi miên vì sự bí ẩn của cuộc trao đổi này, thêm vào đó là những khó khăn về phần từ vựng có liên quan quá nhiều đến những ý tưởng xa lạ.
- Hơn nữa, lúc cháu dắt hắn về, - Gabriel còn thêm - cháu bảo đấy là một tên cớm.
- Đúng, nhưng bây giờ cháu bảo đấy là một tên zâm zục. Với lại, cậu mà biết cái quái gì về loại đó.
- Thôi, xin lỗi đi (động tác), cậu biết chứ.
- Cậu biết thế nào là một tên zâm zục?
- Quá đi chứ! - Gabriel trả lời vẻ tự ái - Cậu thường xuyên phải đẩy lùi những đợt tấn công của loại người ấy. Ngạc nhiên chưa?
Zazie phá lên cười.
- Điều đó không làm tôi ngạc nhiên tí nào! - Cái bà nói được tiếng Pháp tham gia. Bà ta hiểu lờ mờ rằng họ đang ở một chương về những ca phức cảm - Thật!! Chẳng ngạc nhiên chút nào!!!
Và bà ta liếc nhìn anh chàng cao lớn với vẻ mơ mộng.
Gabriel đỏ mặt, chỉnh lại cái cà vạt sau khi đã đưa một ngón tay vội vàng và kín đáo kiểm tra xem cái khóa quần có đóng kín hay không.
- Nào, - Zazie nói khi đã cười thỏa thuê - cậu đúng là một người cậu của mọi gia đình. Mình tếch nhé?
Con bé cấu tiếp anh một cái thật mạnh. Gabriel kêu “ái ui” và khẽ nẩy thót mình lên một cái. Tất nhiên là anh có thể bợp cho con bé một bợp làm cho nó văng hai ba cái răng ra, cái con oắt con ấy, nhưng những người mến mộ anh sẽ nói gì đây? Thà rằng anh biến đi khỏi tầm mắt của họ, còn hơn là để lại cho họ một hình ảnh đầy mụn nhọt và đáng chê trách của một tên ăn thịt trẻ con. Khúc đường tắc quả là một món quà quý hóa, Gabriel, theo sau là Zazie xuống khỏi xe một cách ung dung, rất đồng lõa, đầy mưu toan, zả zối. Vừa đi họ vừa vẫy chào, chỉ cốt để đánh lừa những người khách du lịch đang chưng hửng. Quả nhiên, những vị được gọi là khách du lịch này lại phải đi tiếp, khi chưa kịp tìm ra được giải pháp phù hợp. Còn Fédor Balanovitch, anh ta hoàn toàn dửng dưng trước việc Gabiel đến rồi lại đi, điều làm anh ta lo lắng là đưa được những con cừu non của mình đến nơi ấn định trước giờ mà những người bảo vệ bảo tàng đi nhậu. Vì đây sẽ là một sai sót của chương trình không thể sửa chữa được vì ngày hôm sau, những người khách du lịch này sẽ đi Gibraltar, nơi có những chiến lũy cổ xưa. Theo đúng hành trình của họ.
Sau khi nhìn đám du lịch xa dần, Zazie cười khẽ, rồi, vì đã thành thói quen một cách nhanh chóng, con bé dùng móng tay, qua lớp vải quần, nhéo một tí thịt đùi của cậu nó, hằn vào đấy một hình xoáy trôn ốc.
- Đếch gì! - Gabriel la lên - Cái trò này chẳng hay hớm đếch gì, cháu còn chưa hiểu à?
- Cậu Gabriel, - Zazie từ tốn nói - cậu vẫn chưa zải thíc cho cháu là cậu có đồng tình luyến ái hay không, đấy là cái thứ nhất. Cái thứ hai, cậu săn đâu ra được tất cả những thứ đẹp đẽ bằng cái tiếng rừng rú ấy để tuôn ra như lúc nãy? Trả lời đi!
- Đối với một cô nhóc, cháu quả là kiên trì - Gabriel nhận xét một cách uể oải.
- Trả lời đi! - Con bé đá một cái vào cổ chân anh.
Gabriel co chân lên nhảy lò cò, mặt nhăn nhó điệu bộ.
- Ui! - Anh kêu - Ui chà, chà ui.
- Trả lời! - Zazie bảo.

Một bà trưởng giả đang lượn lờ rình mò quanh đấy lại gần đứa trẻ để nói với nó những lời lẽ này:
- Sao lại thế, cháu bé thân yêu, cháu làm đau cái ông tội nghiệp này đấy. Không nên đối xử tàn nhẫn với người lớn như vậy đâu cháu ạ.
- Người lớn cái đít tôi! - Zazie đốp lại - Hắn không muốn trả lời những câu hỏi của tôi.
- Đấy không phải là một lý do chính đáng. Cháu thân yêu, phải luôn luôn tránh bạo lực trong mối quan hệ giữa người với người. Điều đó đáng lên án vô cùng.
- Lên án cái đít tôi! - Zazie đốp luôn - Mà tôi có hỏi giờ bà đâu.
- Mười bốn giờ mười lăm - Bà trưởng giả trả lời.
- Bà có để yên cho con bé không nào! - Gabriel nói và ngồi xuống một cái ghế băng.
- Còn ông, tôi lại thấy ông có vẻ là một nhà giáo dục lạ kỳ! - Bà kia nói.
- Giáo dục cái đít tôi! - Đấy là lời bình luận của Zazie.
- Bằng chứng đấy, ông cứ nghe con bé nói (động tác) mà xem, thật là thô tục - Bà nọ nói và biểu lộ tất cả những dấu hiệu của một nỗi tởm lợm cực độ.
- Cứ lo cho cặp mông của bà đi đã! - Gabriel nói - Tôi có quan điểm riêng của tôi về giáo dục.
- Quan điểm nào? - Bà kia vừa hỏi vừa đặt mông của bà xuống cái ghế băng cạnh Gabriel.
- Trước tiên, cái thứ nhất, sự thông cảm.
Zazie ngồi xuống phía bên kia, cạnh Gabriel, nó lại véo anh, nhưng nhẹ thôi.
- Thế còn câu hỏi của cháu? - Cô bé yểu điệu hỏi anh - Người ta không trả lời sao?
- Chả lẽ tôi lại quẳng nó xuống sông Seine! - Gabriel thì thào và xoa đùi.
- Phải thông cảm chứ... - Bà trưởng giả kia nói với nụ cười quyến rũ nhất của mình.
Zazie nghiêng người sang nói với bà ta:
- Bà có thôi cái kiểu mời mọc với cậu tôi đi không đấy?
Bà có biết là cậu ấy có vợ rồi không?
- Cô ạ, những câu bóng gió của cô không phải là thứ dành để chụp mũ này nọ cho một người phụ nữ góa bụa đâu.
- Giá mà tôi biến đi được - Gabriel thì thào.
- Cậu phải trả lời trước đã - Zazie bảo.
Gabriel nhìn lên màu xanh của bầu trời và làm điệu bộ không có gì thờ ơ bằng.
- Anh ấy có vẻ không muốn đâu - Bà góa kia nhận xét một cách khách quan.
- Sẽ phải trả lời thôi.
Và Zazie giả bộ định véo anh. Người cậu nhẩy dựng lên mặc dù chưa bị đụng vào. Hai người thuộc phái nữ nhất mực sung sướng. Người lớn tuổi hơn, cố kiềm chế để đừng rung lên bần bật vì cười, xắp đặt câu hỏi sau đây:
- Cháu muốn ông ấy nói gì với cháu?
- Là cậu ấy có đồng tình luyến ái hay không?
- Anh ta ư? - Bà trưởng giả hỏi (một lát) - Không phải nghi ngờ gì nữa.
- Không nghi ngờ cái gì? - Gabriel hỏi bằng một giọng khá đe dọa.
- Rằng anh là một “nàng”...
Bà ta thấy chuyện này rất nhộn nên khúc khích cười.
- Thật là quá đáng! - Gabriel nói và đập nhẹ vào lưng bà, làm bà ta bị rơi tuột cả cái túi xách tay xuống.
- Không làm sao mà nói chuyện với ông được - Bà góa vừa nói vừa nhặt những thứ bị văng lung tung trên vỉa hè lên.
- Thế là cậu không tử tế với bà ấy - Zazie nói.
- Tránh trả lời những câu hỏi của một đứa trẻ thì làm sao giáo dục được nó - Bà góa nói thêm và trở lại ngồi cạnh anh.
- Phải cảm thông hơn chứ - Zazie nói thêm một cách giả tạo.
Gabriel nghiến răng.
- Nào, nói đi: ông có thế hay không?
- Không, không và không! - Gabriel trả lời cương quyết.
- “Mợ” nào mà chẳng nói thế - Không thấy thuyết phục tí nào, bà kia nhận xét.
- Thực ra, - Zazie nói - Cháu rất muốn biết đới là cái zì.
- Biết cái zì cơ chứ?
- Một người đồng tình luyến ái là cái zì?
- Tại vì cháu không biết à?
- Tôi cũng đoán được chứ, nhưng tôi rất muốn là cậu ấy nói cho tôi biết.
- Nhưng cháu đoán đó là gì?
- Cậu, cậu thử lấy cái khăn tay ra xem tí nào.
Gabriel thở dài, tuân lời. Cả phố nồng lên.
- Bà đã hiểu chưa? - Zazie hỏi bà góa một cách tế nhị.
Bà ta thấp giọng nhận xét:
- Râu Ria hiệu Fior.
- Chính xác - Gabriel nói, cất chiếc khăn tay vào túi - Một loại nước hoa đàn ông.
- Đúng thế thật - Bà góa bảo.
Và nói với Zazie:
- Cháu có đoán được cái gì đâu!
Zazie tự ái một cách khủng khiếp, quay lại Gabriel:
- Thế tại sao lão ấy lại vu cho cậu?
- Lão nào? - Bà kia hỏi.
- Lão cũng chả vu cho cháu là đứng vỉa hè là gì - Gabriel trả lời nhưng là trả lời cho Zazie.
- Ai đứng vỉa hè? - Bà ta lại hỏi.
- Ái ui! - Gabriel kêu lên.
- Đừng có quá đáng, cô bé của tôi ạ - Bà ta nói với vẻ độ lượng giả tạo.
- Không cần lời khuyên của bà.
Và Zazie lại cấu Gabriel.
- Trẻ con mới đáng yêu làm sao! - Gabriel lẩm bẩm một cách lơ đãng và chấp nhận nỗi thống khổ của mình.
- Nếu ông không yêu trẻ con, - Bà trưởng giả nói - vậy tại sao ông lại nhận dạy dỗ chúng.
- Đấy là cả một câu chuyện - Gabriel bảo.
- Hãy kể cho tôi nghe đi - Bà nọ yêu cầu.
- Thôi, xin cám ơn - Zazie nói - Tôi đã biết rồi.
- Nhưng tôi, - Bà góa bảo - tôi thì tôi chưa biết.
- Thế thì đã là cái đếch gì. Nào cậu, còn câu trả lời kia thì sao?
- Cậu đã nói không phải là không phải còn gì.
- Con bé dai dẳng ghê nhỉ - Bà kia nhận xét, tưởng ý kiến ấy của mình là độc đáo.
- Nó đúng là một con lừa con - Gabriel dịu dàng nói.
Bà kia lại đưa ra một nhận xét cũng không kém khôn ngoan so với nhận xét trước đó:
- Ông có vẻ như không biết rõ cô bé này lắm. Người ta có cảm giác như ông đang khám phá ra những ưu điểm này ưu điểm nọ của nó.
Bà ta nhấn mạnh chữ “ưu điểm” trong ngoặc kép.
- Ưu điểm cái đít tôi! - Zazie lầm bầm.
- Bà tinh như ruồi í - Gabriel nói - Thực ra người ta chỉ mới quẳng nó cho tôi từ hôm qua.
- Tôi hiểu rồi.
- Mụ hiểu cái gì? - Zazie hỏi một cách gay gắt.
- Bà ấy có biết là bà ấy đã hiểu cái gì không? - Gabriel nhún vai nói.
Không để ý đến cái ngoặc đơn có ý xấu này, bà góa nói thêm:
- Thế nó là cháu gái ông à?
- Chính xác - Gabriel trả lời.
- Còn đây là dì của tôi - Zazie thêm vào, nó tưởng đây là câu đùa rất mới mẻ, mà người ta sẽ tha thứ cho nó vì nó còn ít tuổi.
- Hello! - Đám người từ một chiếc tắc-xi bước xuống hét to.

Bất ngờ vì việc Gabriel mất tích, những người hâm mộ nhất trong đám khách du lịch, đi đầu là bà nói được tiếng Pháp, quay trở lại để đuổi bắt bằng được anh chàng siêu hướng dẫn viên của họ. Qua bao nhiêu vòng vo rắc rối và nhộn nhạo như mớ bòng bong của những đoạn đường tắc nghẽn, cực kỳ may mắn là họ vừa tóm được anh ta.
Không thấy họ trách móc tức giận gì mà tỏ vẻ hết sức phấn khởi, phấn khởi đến nỗi không hề nghi ngờ là họ có lý do để mà trách móc. Túm lấy Gabriel, vừa la hét “Montjoie! Sainte-Chapelle!” (2) họ vừa lôi anh đến tận chiếc xe của họ và, không kém phần khéo léo, ken anh vào đó, rồi họ tự chồng chất lên nhau để anh không thể bay đi đâu, chừng nào mà anh chưa đưa họ đến xem một cách chi li kỹ càng di tích ưa chuộng nhất của họ. Họ không hề bận tâm đến việc phải mang Zazie theo cùng. Trong lúc cái hòm bốn bánh đang nổ máy, cái bà nói được tiếng Pháp chỉ vẫy vẫy con bé một cách thân mật, vẻ nửa ziễu cợt nửa đồng mưu với nó. Trong khi đó thì bà kia, nói tiếng Pháp cũng không kém gì nhưng lại góa bụa, vừa nhẩy loi choi vừa la hét ầm ĩ. Những ông công dân, những bà công dân quanh đấy thì ngay bi giờ lại đang có mặt ở mí chỗ mà những tiếng láo nháo í không gây được tác động gì.
- Nếu bà cứ tiếp tục hét lên như thế, - Zazie cảu nhảu càu nhàu - thế nào cũng có một tên cớm dẫn xác đến cho mà xem.
- Sinh vật tồn tại bé bỏng ngốc nghếch ạ, - Bà góa nói - chính vì thế mà tôi la lối: “Ối bọn kít-náp-hướng-dẫnviên (3)!
Ối bọn kít-náp-hướng-dẫn-viên!”
Cuối cùng thì một nhân viên cảnh sát, được lời ca thán của bà lắm mồm báo động, đã có mặt.
- Có chuyện gì thế? - Anh ta hỏi.
- Ai ới đến ông! - Zazie nói.
- Mấy người chẳng đã làm toáng lên đấy à! - Gã công an bảo.
- Một người đàn ông vừa bị bắt cóc - Bà kia thở hổn hển nói - Một người đẹp trai cơ đấy.
- Tày trời! - Bắt đầu thấy hấp dẫn, gã cảnh sát lẩm bẩm.
- Đấy là dì của tôi - Zazie nói.
- Thế còn ông kia? - Tay công an hỏi.
- Thì cậu ấy là dì của tôi chứ còn ai nữa, rõ tậm tịt.
- Thế còn bà này?
Anh ta chỉ bà nọ.
- Bà này á, chẳng là gì cả.

Gã pô-lít-men im không nói nữa để cảm thụ được cái hương vị của tình huống. Mụ nọ, rất phấn khích vì cái thứ ngôn ngữ kiểu Zazie kia, ngay lập tức, sáng kiến ra một kế hoạch rất táo bạo.
- Chúng ta hãy đuổi theo bọn kít-náp-hướng-dẫn-viên, - Bà ta nói - đến tận Sainte-Chapelle và giải thoát cho anh ấy.
- Xa đấy chứ lị! - Gã trung sỹ công an thành phố nhận xét một cách cảnh vẻ - Tôi có phải là nhà vô địch môn chạy đua đâu.
- Ông lại muốn đi tắc-xi và tôi, tôi phải trả tiền chắc?
- Mụ này nói đúng đấy! - Vốn chặt chẽ trong việc tiêu pha, Zazie nói - Mụ không đến nỗi đần như tôi nghĩ.
- Rất cám ơn cô - Bà kia sung sướng nói.
- Không có gì - Zazie trả lời.
- Dù sao thì thế cũng là đáng quý.
- Thôi, được rồi mà - Zazie khiêm tốn.
- Khi nào thì hai vị kết thúc những trò khách sáo của các vị đây? - Gã công an nói.
- Có ai yêu cầu ông gì đâu - Bà nọ nói.
- Đúng là đàn bà! - Gã trung úy công an đường phố kêu lên - Bà không yêu cầu gì tôi là thế nào? Chỉ đơn giản là bà đã yêu cầu tôi phải chạy đứt cả hơi chứ còn sao nữa. Nếu thế mà không là gì thì tôi không hiểu cái gì ra cái gì nữa.
Anh ta thêm vào với vẻ nuối tiếc:
- Từ ngữ bây giờ chẳng còn những ý tứ như ngày xưa nữa.
Rồi anh ta vừa thở dài vừa nhìn xuống mũi giày của mình.
- Tất cả những thứ ấy có trả lại cậu tôi cho tôi đâu! - Zazie nói - Người ta sẽ lại nói là tôi muốn trốn đi, mà có đúng đâu.
- Đừng lo cô gái bé bỏng của tôi ạ, - Bà góa nói - tôi sẽ có mặt để làm chứng về thiện chí và sự vô tội của cô.
- Khi mà người ta thực-sự-vô-tội, - Anh công an đường phố nói - thì người ta chẳng cần đến ai cả.
- Lão khốn nạn - Zazie nói - Tôi biết tỏng cái kiểu của lão với cái đôi giày tổ chảng này rồi. Bọn ấy đều như nhau cả.
- Cô biết nhiều công an đến thế cơ à, cô bé khốn khổ của tôi?
- Bà không tưởng tượng được đâu bà tội nghiệp của tôi ạ - Zazie õng ẹo trả lời - Bà phải biết rằng mẹ đã bửa đầu bố bằng một cái rìu. Sau chuyện đó, bọn công an, tôi đã gặp không biết bao nhiêu mà kể, bà thân mến ạ.
- Thế cơ à! - Gã trung úy công an đường phố bảo.
- Công an thì đã là gì - Zazie nói - Các thẩm phán kìa. Họ ấy à...
- Cả một lũ cá sấu! - Gã trung úy công an đường phố nói với giọng công bằng.
- Thế mà, công an cũng như thẩm phán, - Zazie nói - tôi làm gọn hết. Thế này này (động tác).
Bà góa nhìn con bé, vô cùng thán phục.
- Còn tôi, - Anh công an đường phố hỏi - cô làm thế nào để chơi được tôi nào?
Zazie chăm chú quan sát hắn.
- Ông, - Nó nói - tôi đã thấy ông ở đâu rồi.
- Không thế được! - Gã công an nói.
- Sao lại không? Tại sao tôi lại không thể gặp ông ở đâu đó rồi?
- Đúng thế - Bà góa bảo - Nó có lý đấy, cô bé này này.
- Tôi rất cám ơn bà, bà ạ - Zazie nói.
- Không có gì.
- Có chứ, có chứ.
- Họ đang chọc tức mình đây! - Gã trung úy công an đường phố lầm bầm.
- Sao nào? - Bà góa nói - Ông chỉ biết làm có thế thôi à? Vận động lên một tí xem nào.
- Tôi là tôi chắc chắn là đã gặp hắn ta ở đâu đó rồi.
Nhưng bà góa chợt chuyển lòng thán phục của bà sang gã công an.
- Hãy cho chúng tôi xem tài năng của ông! - Bà ta nói những lời này cùng với ánh mắt nhục dục và nóng bỏng - Một viên công an đẹp trai như ông, nhất định là phải biết nhiều “thứ”. Chỉ trong phạm vi được phép thôi, tất nhiên rồi!
- Một con bò thì có! - Zazie nói.
- Không đâu - Bà kia bảo - Phải cổ vũ anh ấy. Phải biết thông cảm.
Rồi bà ta lại nhìn gã với con mắt ướt át và nồng nàn.
- Hãy nhìn đây! - Chàng pô-lít-men bỗng linh hoạt lên - Các vị sẽ thấy những gì mà các vị xắp thấy. Các vị sẽ thấy Trouscaillon có thể làm được những gì.
- Hắn tên là Trouscaillon! - Zazie hào hứng kêu lên.
- Còn tôi, - Bà góa nói, mặt hơi đỏ lên - tôi là bà Mouaque. Cũng như tất cả mọi người!
Bà ta bổ sung.
 
 
Chú thích:
[1] Tên một trường ngoại ngữ nổi tiếng tại Paris.
[2] Nhại câu “Montjoie, Saint-Denis!”, tiếng thét xung phong mà quân lính Pháp sử dụng đến tận thế kỷ thứ XVI.
[3] Guidenappeur: từ ghép giữa “guide” (hướng dẫn viên) và “kidnappeur” (bắt cóc trẻ em).




Đăng nhập để trả lời
0