Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

ĐGLC- NXK

10 trả lời, 60 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.02.2018 12:17:11 bởi Ct.Ly>

 
 
 
 
 
Chương 5
 
Đã mang lấy nghiệp vào thân
 
Buổi sáng hôm phát hiện ra Rêu tự tử ở giếng, chùa làng bỗng tấp nập hẳn lên. Tiếng bà Thêu hờ khóc con gái. Bà tỉ tê kể lể khiến ai nghe cũng ái ngại. Rõ hoàn cảnh của Rêu nên người ta càng thương cảm. Nhất là khi vớt xác cô lên, đặt cô nằm dài trên cỏ. Tôi không được ra nhìn, nhưng dân làng được đến bảo rằng cô vẫn như lúc sống, vẫn đẹp như hoa. Mớ tóc đen như mun xòa trên cỏ. Da mặt trắng toát, trắng hơn cả ngày thường. Đôi mắt nhắm nghiền. Đôi môi như thoáng một nụ cười chua xót. Người cô mặc chiếc quần đen, áo trắng. Người ta bảo trông cô thánh thiện, tinh khiết và trong văn vắt. Trong văn vắt, đấy là lời nói của chính người dân làng Sọ. Tôi lúc ấy còn bị giam, làm sao nghe được, nhưng về sau tôi được nghe chính mồm người kể lại nói như vậy. Tại sao lại thốt ra được một chữ về Rêu chính xác đến như vậy nhỉ? Riêng tôi, chơi với cô bé, là bạn thân của cô, nên có cảm nghĩ về con người tinh khiết của cô như vậy, điều đó dễ hiểu thôi. Còn người làng, chỉ đến khi cô chết, họ mới nhận ra điều đó. Phải chăng vì cô chết dưới giếng, chết trong nước, cho nên mới có liên hệ với nước trong văn vắt. Cô đẹp, điều này ai cũng thấy. Cô hát hay như họa mi. Giọng con mi thì lảnh lót và lại trong veo như pha lê. Có lẽ giọng hát của cô cũng gợi nên một mối liên tưởng nữa chăng. Bây giờ thì tôi hiểu rồi. Rêu có một thân phận đầy cảm thương. Chỉ có khác, cái chất tinh khiết trong vắt của cô, khi chết dân làng mới nhận ra. Còn lũ trẻ chúng tôi, bạn của cô thì đã nhận thấy lâu rồi.
 
Đám ma của Rêu, giữa hồi cải cách, mà đông người lắm. Phú nông địa chủ cũng đi đưa, bần cố cũng đi đưa, cốt cán cũng đi đưa, cả đội trưởng Khoát cũng đi đưa. Khi hạ huyệt, đám thanh thiếu niên khóc như ri. Điều này dễ hiểu. Nhưng mà... Cả cốt cán lẫn cánh địa chủ cũng khóc. Thật là lạ! Hóa ra Rêu là người chẳng mang thành phần nào. Địa chủ cũng tìm thấy ở cô một cái gì đó. Mà nông dân cũng cho rằng cô đã được sinh ra từ bùn lầy.
Cái chết của Rêu làm anh đội Khoát nghi ngờ. Trong cải cách, có một người tự tử, đó là một chuyện lớn. Thông thường nó gây khốn đốn cho nhiều người. Người ta sẽ đặt câu hỏi: tự tử hay là bức tử. Nếu tự tử, thì tại sao lại tự tử. Phản ứng giai cấp chăng? Sợ hãi hay là trốn tránh sự đấu tranh của nông dân. Còn nếu bức tử, thì ai đã giết? Giết để gieo rắc hoang mang đe dọa quần chúng đấu tranh, hay để bịt đầu mối.
Người bị khốn đốn trước tiên là những địa chủ, những người có liên quan tới địa chủ, những phần tử dính líu tới phong kiến đế quốc, những phần tử phản cách mạng... Lẽ dĩ nhiên hai thầy trò tôi bị nghi trước tiên. Chúng tôi bị quy là phần tử phản động, lại ở gần liền kề nơi xảy ra cái chết. Thầy tôi bị nghi ít hơn, bởi vì cụ già rồi, không thể hành động được. Tuy nhiên, vẫn bị tra vấn, vặn vẹo; người ta vẫn có thể cho rằng cụ không hành động nhưng là người vạch ra kế hoạch. Anh Khoát hỏi:
- Ông sư già! Hãy khai ra, tại sao ông lại mưu mô giết hại cô Rêu? Cô ấy là người hiền lành tử tế. Cô ấy như cái hoa mới nở. Ông là người tu hành nhưng sao ác độc. Rõ là đồ khẩu Phật tâm xà. Giết cô ấy để làm gì? Đe dọa nông dân ư? Phá hoại cải cách gây hoang mang ư? Bịt đầu mối chăng? Có phải cô Rêu đã biết điều gì về tổ chức phản động?
- A di đà Phật! Oan cho kẻ tu hành tôi quá! Tôi bị cùm ở đây nào có biết gì.
-  Ừ thì không giết. Nhưng ông đã sai ai giết?
- A di đà Phật! Tôi không sai ai cả. Nhà chùa là chốn từ bi. Cô bé chết đi, lòng tôi cũng vô cùng thương xót.
Tra khảo sư cụ không xong, anh Khoát lôi tôi ra xét hỏi. Anh ngồi trên ghế, bắt tôi quỳ dưới đất. Anh không gọi tôi là chú tiểu nữa. Với tôi, anh thẳng thừng hơn. Bởi vì với anh, tôi là kẻ nghi can số một. Anh thẳng cánh tát tôi một cái tát phủ đầu:
- Thằng An! Nghe cho kỹ đây! Mày đã giết cô Rêu như thế nào. Hãy khai ra thật tỉ mỉ.
- Bẩm ông đội, tôi bị oan. Tôi là bạn cô Rêu. Làm sao tôi có thể giết bạn.
Tôi vừa nói vừa khóc. Tôi khóc thương cái chết của Rêu. Tôi khóc thương cho số kiếp của tôi.
- Có câm mồm nín đi không? Mày làm liên lạc viên cho bọn Việt Nam Quốc dân đảng. Tội ác đã rành rành. Người làng đã
tố cáo tội ác của chúng mày. Hãy nghe cho rõ đây. Tao muốn biết ai là người đã sai mày làm cái việc giết người đó.
-  Bẩm không. Không ai sai cả.
-  Sư cụ phải không?
-  Không phải.
- Mụ Nấm còn bí mật trốn trong chùa. Mụ ta chỉ đạo phải không?
-  Dạ, không.
- Chắc đêm qua, mệt quá, hai anh du kích gác ngủ gật. Mày tự tháo cùm đi giết cô Rêu.
Việc đổ tội thật hoang đường. Anh đội cải cách cũng thật có trí tưởng tượng. Tôi nghĩ như vậy song không dám nói. Còn anh Khoát vẫn cứ khăng khăng:
- Tao biết bọn phản động chúng mày mà. Không việc gì chúng mày không dám làm. Tao không đổ oan cho chúng mày đâu. Thì trường hợp con mẹ Nấm rành rành ra đấy. Nó cũng bị cùm bằng cái cùm ở chân như mày. Thế mà mụ ta mở khóa trốn đi được. Vậy thì mày cũng mở khóa ra và đi giết người. Điều ấy có gì là lạ.
May cho tôi là hai anh du kích gác hai thầy trò tôi đêm ấy cũng có mặt trong cuộc thẩm vấn. Họ thanh minh:
- Thưa anh đội, chú tiểu An khai đúng đấy ạ. Lúc cô Rêu nhảy xuống giếng, chúng em nghe rõ ràng con chó trắng cứ tru lên thảm thiết... Cả con chim lợn nữa... Nó cứ bay vòng quanh chùa... Em nói thật mà...Vừa bay vừa kêu. Nghe rợn lắm. Chú tiểu và chúng em lúc ấy đều thức... Em còn chạy ra sân nghe ngóng cho rõ. - Em đã định ra vườn chùa xem sao... nhưng nhớ lời anh dặn: “Không được rời phạm nhân nửa bước, và không được ngủ gật”, nên em lại thôi. Chúng em sợ xổng tù như trường hợp mụ Nấm nên lại thôi không đi nữa.
Anh Khoát lườm hai anh du kích, rồi cho gọi cả tổ trưởng du kích tức là Trắm đến để xác minh. Trắm nói như đinh đóng cột:
- Chúng em đã rút kinh nghiệm trường hợp bỏ trốn của mụ Nấm, cho nên sự canh gác đêm qua em đảm bảo không hề có sự sơ sót. Chúng em bố trí người đi tuần quanh chùa, bảo đảm vòng ngoài. Cứ mười lăm phút em lại tạt vào nhà tổ vì sợ du kích gác tù ngủ gật. Em xin bảo đảm không hề có ai ngủ gật. Em cũng xin bảo đảm không hề có chuyện chú tiểu An tự tháo cùm đi giết người. Em xin chịu trách nhiệm, nếu nói sai anh cứ bắt em vào tù.
 
Tôi nhìn Trắm bằng con mắt biết ơn. Trắm là bạn thân của Căn. Lúc đi học thầy Hải, Trắm và Căn đã về bè với nhau làm cho tôi khốn khổ. Tuy nhiên tôi không hận anh ta. Và có thể nói càng về sau này càng mến anh ta. Nhất là khi biết được chính anh là người đã giúp mẹ con bà Nấm, tôi càng kính trọng Trắm. Nếu không có Trắm, không biết đời của Huệ, người bạn thân thời thơ ấu của tôi sẽ đi tới đâu. Có thể bà Nấm sẽ bị xử tử. Và Huệ sẽ bị chết đói. Điều ấy có thể xảy ra lắm chứ. Bị bao vây, rồi chết đói, chuyện tang tóc ấy đã từng xảy ra và mắt tôi đã từng thấy.
 
Cái đêm hôm mẹ con bà Nấm bỏ trốn, quá nửa đêm, tôi đang mơ màng sắp chìm vào giấc ngủ, chợt nghe tiếng con chó vàng rít lên khe khẽ. Tôi tỉnh ngủ ngay, lắng nghe. Tôi biết con chó kêu lên như vậy là người quen. Nếu là người lạ, con chó đã sủa lên một cách náo nức. Con vàng là chó nhà chùa nên chẳng cắn người bao giờ. Có khách lạ, nó sủa rất khiếp, nhưng vừa sủa vừa lùi. Lùi đến trước nhà tổ thì dừng lại. Nhà tổ là nơi ở của thầy tôi. Đây là điểm dừng cuối cùng của nó. Nó sẽ không lùi nữa, nhưng sẽ vẫn sủa mãi cho đến khi có người ra mới thôi. Còn với người quen, con vàng không bao giờ sủa một tiếng, trường hợp này nó không lùi mà vẫy đuôi theo khách đến nhà tổ. Đêm hôm ấy, con vàng gọi người ra tiếp khách bằng cách lấy chân gãi vào chiếc cửa lim.
Tôi vội lật đật ra hỏi “Ai đấy”. Tiếng thì thào trả lời:
-  Chú tiểu An mở cửa mau lên. Tôi đây. Huệ đây mà.
Thầy tôi nghe tiếng cũng ra. Bà Nấm lên tiếng cầu khẩn:
-  Bạch sư cụ. Mẹ con chúng con xin được nhà chùa cứu giúp.
- Thím Trần đấy ư. Cả hai mẹ con vào trong này. Câu chuyện ra sao nói cho tôi rõ. Cả hai mẹ con đừng có sợ - Rồi quay sang tôi thầy bảo - Con đóng cửa lại. Không cần thắp đèn...
Qua câu chuyện bà Nấm, tôi mới biết Trắm đã tìm cách giúp mẹ con bà Nấm bỏ trốn. Mẹ con bà vào rừng Cò, cái hầm bí mật bà biết vì bỏ hoang đã lâu đã bị sập, không còn dùng làm chỗ trú ẩn được nữa. Nhưng trốn đi ngay đêm nay cũng không ổn, vì trời sắp sáng. Mà đội Khoát lúc này đã phát hiện ra mẹ con bà bỏ trốn, đã cho quân du kích đi chẹn các ngả đường. Thầy tôi bảo ở chùa có hai chiếc hầm bí mật: một ở bờ ao có miệng hầm dưới nước, trốn ở đây tuyệt đối an toàn, nhưng vì bỏ đã lâu nên không ai có thể biết tình trạng ra sao; còn chiếc hầm thứ hai, cửa hầm chui vào ở dưới đít pho tượng hộ pháp, hầm này nghe nói có từ đời xưa, nơi để trú ẩn khi gặp thời loạn lạc và cũng là nơi chứa ván in kinh Kim Cương. Bà Nấm và Huệ đã trú ẩn trong ấy hai ngày. Anh đội Khoát đã vào chùa nhiều lần nhưng không bao giờ ngờ chuyện này có thể xảy ra. Và cũng chính sư cụ tôi đã mách cho bà Nấm cách đi dường vòng để về Hà Nội...
 
Tôi cứ nghĩ miên man mãi về những chuyện đã xảy ra với mẹ con bà Nấm. Và qua chuyện đó tôi mới hiểu thực chất con người của Trắm. Phải nói ngày trước tôi không hận Trắm, nhưng thực bụng tôi không thích Trắm. Còn chính lúc này đây, tôi đã hoàn toàn biết rõ, anh hào hiệp và khảng khái. Phải nói, ngày xưa Trắm cũng chẳng thích tôi, bởi vì nếu không tại sao lúc trước anh lại về hùa với Căn để trêu chọc tôi cho đến mức điêu đứng. Có lẽ cả Căn, cả Trắm đều ghét bộ quần áo nâu chú tiểu của tôi. Còn phút này đây, tôi vô cùng cám ơn lòng tốt, lòng trung thực của Trắm. Trắm giúp mẹ con bà Nấm cái Huệ, đó là một nhẽ khác. Còn đối với tôi, người mà anh không ưa, nhưng anh vẫn giúp. Điều ấy tôi vô cùng cảm kích. Bởi vì hôm ấy, nếu như không có lời xác nhận như đinh đóng cột của anh, không biết thầy trò tôi sẽ bị tra khảo đến bao giờ mới thôi. Oan sai ư? Trong cơn co giật cuồng nộ ấy, ai người ta thèm để ý đến điều đó, nhất là đối với một con người bị gọi là phản động. Bị gọi là phần tử phản động tức đã mắc tội tày trời rồi. Nếu có quàng lên cổ kẻ ấy thêm một chút oan sai, thì tội của nó cũng không hề to thêm. Vả lại, tôi phải biết ơn anh ta, vì biết đâu đấy... trong lúc bão to gió lớn ấy... có chuyện gì lại chẳng có thể xảy ra. Mạng con người ta chỉ là mạng của con sâu cái kiến.
 
Mấy hôm sau, hai thầy trò tôi được giải lên Đoàn ủy. Hai tay tôi bị trói bằng dây thừng, đầu kia của sợi dây ấy lại trói tay thầy tôi. Một sợi dây thừng thứ hai thòng lọng vào cổ tôi. Thầy tôi đi đầu, tôi đi giữa, sau cùng là anh du kích cầm sợi dây thừng thòng lọng cổ, dong chúng tôi đi như người lái trâu dắt trâu đi chợ bán. Anh du kích thứ hai, chừng là tổ trưởng, vai đeo súng trường đi bên cạnh nói:
- Đây là hai tên Quốc dân đảng phản động rất nguy hiểm. Nhỡ ra để xổng mất, là chúng ta mất đầu. Cho nên, phải hết sức cảnh giác. Hễ chúng có ý định chạy trốn, lập tức anh phải giật mạnh để siết chặt lấy cổ thằng sư con. Tên này làm liên lạc cho tổ chức phản động. Rất lanh lẹn, rất lợi hại...
Họ quàng dây thòng lọng vào cổ tôi ở giữa sân chùa. Chị tôi và sư bác ra tiễn. Chị Nguyệt thương tôi khóc rưng rức. Sư bác nói:
-  Chú tiểu An còn nhỏ. Các anh lại có súng. Làm sao chạy nổi.
Sư cụ hiền từ nói:
- A di đà Phật! Người tu hành có khi nào chạy trốn quả nghiệp. Các con chớ lo. Đã không chạy trốn, thì làm sao chiếc thòng lọng kia xiết chặt cổ.
Họ dong hai thầy trò tôi từ cuối làng đến đầu làng rồi mới ra đường cái. Tôi buồn rầu nhìn sang hai bên đường làng, nhìn những lũy tre, những hàng rào râm bụt, những mái rạ, những ao bèo... Những người thân trong chùa ra đến tam quan thì bị đuổi lại. Trên đường đi, chẳng thấy bóng một người nào, đến cả những đứa trẻ vẫn thường ra chùa nghịch ngợm cũng không thấy bóng. Chỉ có mấy con chó nhách đứng trong sân sủa bâng quơ, và mấy chú bò vàng đứng bên cây rơm nhìn chúng tôi với những đôi mắt ngây thơ ngơ ngác. Ở nơi sắp tới, số phận thầy trò tôi sẽ ra sao. Nếu không là chốn hiểm ác, chắc cũng là nơi buồn tủi, chắc cũng là nơi lưu đày. Tiễn chúng tôi đến nẻo lưu đày mà sao lại thế này. Một nỗi niềm cô đơn dâng lên trong tôi. Sợ hãi chăng? Buồn tủi chăng? Trách tình đời nóng lạnh ư? Hình như có cả. Tôi biết... tôi biết, với người tu hành, thế chẳng là phải. Nhưng biết sao được. Tôi còn quá trẻ, chỉ là một kẻ tập tu. Còn những nỗi niềm trong tâm là điều khó tránh.
Tôi nhìn lên thầy tôi phía trước. Thầy tôi vẫn đĩnh đạc bước thong dong. Hai tay bị trói đưa ra đằng trước, nhưng gương mặt thầy tôi chẳng vương một chút giận hờn. Thầy tôi vẫn dạy: “Bình thường tâm là đạo. Gặp nghịch cảnh chẳng oán hận. Gặp thuận chiều, chẳng vui mừng. Người thiền, khi vui cũng thiền, khi đau khổ cũng thiền. Vậy là thầy tôi nói sao, làm vậy.
Phải chăng, lúc này đi đến chốn oan nghiệt, chẳng biết rằng sắp tới cái gì đang chờ đợi mình, thầy tôi cũng vẫn kiên trì cái công việc thiền hành của mình. Chẳng có gì đau khổ trên mặt thầy, nhưng cũng chẳng có chút kiêu hãnh trên gương mặt ấy. Tôi chợt thấy xấu hổ với bản thân. Ôi! Cái bình thường tâm sao mà khó!
 
Chúng tôi đi bộ từ bảy giờ đến mười giờ sáng mới đến trụ sở Đoàn ủy. Đó là một ngôi đình tọa lạc trên một khu đất rộng có nhiều cây cổ thụ. Dưới những tán lá là những ngôi nhà tranh tre mới làm khang trang sạch sẽ. Hai anh du kích dẫn thầy trò tôi vào phòng hành chính. Ở đây toàn những người mặc quần áo nâu, nhưng không phải là nông dân ra vào tấp nập. Tôi biết họ không phải nông dân vì có người đeo kính, có những bàn tay búp măng và gương mặt nào cũng trắng trẻo. Lần đầu tiên đến cửa quan nên tôi hồi hộp vô cùng. Tim tôi đập lồng lộn.
Một người chắc là địa chủ, râu ria xồm xoàm, quần áo rách rưới nem nép ngồi ở xó phòng. Nhìn ông ta, tôi chợt so sánh ngầm. Hóa ra thầy trò tôi bị trói ở cổ tay và bản thân tôi bị thòng lọng nơi cổ vẫn chưa phải là bị ngược đãi nặng nề. Ông địa chủ kia bị trói cổ tay lại còn bị trói cả bắp tay. Ngay cả đến đôi chân cũng bị trói tím bầm. Người ta bảo ông ta kháng cự khi nghe tin bị giải lên Đoàn ủy. Ông ta nghe tin bị giải lên Đoàn ủy, vào trại số 1, tức là bị rơi vào hỏa ngục. Vì thế cho nên, ông địa chủ này phản kháng không chịu đi. Du kích phải trói tay, trói chân ông lại rồi vứt ông lên xe cút kít đẩy tới đây. Đến Đoàn ủy, họ phải xỏ đòn tre khiêng ông như khiêng lợn, vứt vào xó nhà. Đáng lẽ ông ta phải được cởi trói đôi chân, nhưng vì sợ ông ta chạy trốn, nên ông ta mới nằm còng queo như thế kia.
Ừ nhỉ! Chính bản thân tôi cũng đã nghe người ta kể về trại số 1, về cái chốn xà lim địa ngục ở Đoàn ủy. Vậy cớ làm sao thầy trò tôi lại chẳng hề phản ứng chút nào? Hay vì thầy trò tôi là những thầy tu. Những ông thầy chùa bị nhiễm nặng lòng từ bi. Lòng từ bi che đậy tất cả, cho nên nỗi sợ sệt bản năng của con người bình thường cũng bị tê liệt. Người ta bảo ở lò sát sinh thành phố, những con bò bị đập vào đầu trước khi chết rống lên ồ ồ và những con lợn bị chọc tiết thường có tiếng kêu thét vang đến trời xanh, thế mà khi dẫn lũ bò đi vào lò mổ, chúng không hề sợ hãi dừng chân mà lại chạy nhanh đâm đầu xông vào tử địa, cứ như thể nơi chết chóc ấy có sức hút của một tảng nam châm khổng lồ. Chẳng lẽ cái chết cũng có sức hút, và thầy trò tôi đang nhắm mắt lao vào chỗ chết.
Phải nói, cho đến lúc ấy, đến lúc nhìn thấy ông râu ria xồm xoàm bị trói như con lợn vứt vào xó nhà sắp bị đem đi chọc tiết, thì những ý nghĩ lo sợ kể trên mới đột ngột xuất hiện trong óc tôi.
Người cán bộ hành chính cất tiếng hỏi lạnh lùng:
-  Tên Nguyễn Văn An?
-  Dạ, có. - Tôi khe khẽ trả lời.
-  Nói to lên. Sao cứ lí nhí như ngậm hột thị. Khai đi.
-  Thưa, tôi là chú tiểu ở chùa Sọ.
-  Tội gì?
-  Dạ, bẩm tôi không biết ạ.
- Tội phản động. Tội chống phá cách mạng. Lại còn giấu giếm quanh co hả? Bé tí mà đã ngoan cố. Được, rồi xem còn chối cãi được không? - Người cán bộ dồn tôi bằng những câu hỏi vừa khẳng định tội lỗi, vừa đe dọa, làm cho tôi đần ra chẳng biết nói lại ra sao.
- Tên Thích Vô úy kia hả? Sư cụ hả? Sư hổ mang hả? Ông đã già lão thế kia! Đáng lẽ phải biết thân biết phận chứ. Làm nghề tu hành, làm cái việc mê tín dị đoan, ru ngủ quần chúng đã là trọng tội, huống chi còn phản ứng lại cách mạng, chống đối lại cách mạng. Ông già có hiểu tội ông là tội gì không?
- A di đà Phật! - Thầy tôi không trả lời, mà chỉ cúi đầu nhũn nhặn niệm Phật.
Có lẽ sự khiêm nhường, cam chịu ấy đã làm nguôi lòng người cán bộ đi chút ít. Ông ta không nói nữa chỉ hất hàm bảo hai người du kích.
- Một người ở lại hoàn tất thủ tục bàn giao với tôi. Còn một người dẫn họ sang nhà A để làm việc lấy cung ngay. Thôi, bỏ cái dây thòng lọng ở cổ thằng bé ra. Đã tới đây họ không trốn được đâu.
Như vậy, ở đây mới là cổng địa ngục, vẫn chưa đến nơi. Còn bị hỏi cung ở nhà A. Rồi tiếp sau nhà A, còn nhà B, nhà C... Mới ở cổng địa ngục mà đã thế này... Không biết nhà A rồi sẽ ra sao. Tôi nghĩ vậy và thần kinh tôi căng lên như sợi dây đàn. Tôi vừa đi vừa phấp phỏng. Tôi ngạc nhiên khi lúc đó nhìn thấy thầy tôi vẫn bước đi rất lặng lẽ bình an. Không phải một dáng điệu hiên ngang như những người anh hùng đi ra pháp trường mà các cuốn sách mô tả. Cái lưng gầy còng xuống có nhuốm nét buồn thì phải. Có cả sự cam chịu ở đấy, tuy nhiên không có chút quỵ lụy. Hình như thầy tôi đã biết trước. Tôi lại bắt gặp cả vẻ mặt đau đớn nhưng rất tự nhiên của ngày xưa, của cái ngày tôi lên phố huyện đón thầy tôi từ nhà giam Đơ Bê  (2B =phòng nhì) của Tây về. Tôi còn nhớ như in con đường toàn ổ gà; tôi và ông kéo xe  vã mồ hôi đẩy chiếc xe bò lộc cộc đưa thầy về chùa. Cứ mỗi lần bánh xe gặp ổ gà giật nảy lên, là thầy tôi lại kêu rên đau đớn. Đau đớn thể xác nhưng không hận thù số kiếp. Không biết tới bao giờ tôi mới tu được như thầy. Thú thực, lúc này lòng tôi oán hận lắm, lo lắng lắm. Oán hận bất công, vì sự thực chúng tôi có làm gì đâu. Còn lo lắng ư? Có lẽ tôi không chịu đựng nổi. Vì, chịu đựng làm sao được, khi hai tay bị treo lên trời, hai chân dậm trên cứt đái. Lũ ruồi nhặng, dòi bọ rúc vào mồm, vào mắt, vào mũi mà không đuổi được. Rồi hôi thối, đói khát, mưa nắng... Cứ tưởng tượng như thế, tôi đã run rẩy...
Đã đến nhà A. Ngôi nhà lá khang trang sạch sẽ. Sạch như li như lau. Trật tự chứ không bề bộn như nhà hành chính vừa qua. Ở một đầu hồi, có tủ hồ sơ. Ở đầu hồi kia là hai dãy ghế băng. Ở giữa, kê một bàn giấy. Sau bàn giấy, một cán bộ trạc tuổi bốn mươi mặt mũi phong trần nhưng sáng sủa đang ngồi trước một tập hồ sơ. Ông ta ôn tồn bảo anh du kích:
-  Cứ cởi trói cho họ.
Ở đây chúng tôi không phải ngồi xổm dưới đất mà được ngồi trên hai chiếc ghế đẩu. Anh du kích lễ phép đến mức khúm núm xin phép lui ra.
-  Báo cáo đồng chí Bí thư, chúng em đi về được rồi chứ ạ.
Tôi nảy người ngạc nhiên. Đến lúc này tôi mới biết người chúng tôi đang gặp lại chính là ông Bí thư Đoàn ủy đoàn cải cách ruộng đất X. Chính ông là người có quyền sinh quyền sát trong cuộc thay trời đổi đất này. Ông đã rất có kinh nghiệm vì đã làm suốt cả ba đợt: đợt một, đợt hai, đợt ba. Ông nổi tiếng là người sắt đá, kiên định lập trường. Chính bàn tay ông đã ký vào bản án tử hình của hàng trăm tên địa chủ gian ác, phản động. Ông là một hung thần, như nhiều người đã thầm thì vào tai nhau, khi nói về ông. Gặp phải hung thần, chúng tôi sẽ bị giam vào chốn xà lim khủng khiếp đến mức quỷ khóc thần sầu kia, đó là điều chắc chắn. Tôi lo lắng bồn chồn nhưng vẫn còn đủ tỉnh táo để ngắm nhìn con người sắp dẫn chúng tôi vào vực sâu hiểm ác, chốn địa ngục trần gian.
Ông ta là Chiến, với dáng vẻ bình thường giống như trăm ngàn con người bình thường khác. Nhưng nhìn thật kỹ mới thấy những nét khác biệt. Thứ nhất ông Chiến gày guộc. Hơi cao. Ngực lép. Những ngón tay dài. Ông hút thuốc lá liên miên, mới vào một lát tôi đã thấy ông nối liên tiếp hai điếu. Tôi chợt nhận ngay ra ông ta không phải người nhà quê. Thư sinh thì đúng hơn. Nét khác biệt thứ hai là đôi mắt và đôi môi. Mắt dài và rất sáng, rất sắc. Đôi môi tái xám và mỏng, lúc nào cũng hơi mím lại nên trông càng mỏng hơn. Tôi hiểu con người này cương nghị và quyết đoán.
 
Từ lúc chúng tôi vào, ông ta chỉ nhìn qua chút xíu, sau đó lại mải miết xem hồ sơ. Cứ như thể chúng tôi không có mặt ở đó. Im lặng. Cái im lặng rờn rợn. Cái im lặng đè trĩu lên trái tim run rẩy của tôi. Ông Chiến ngẩng đầu lên, gương mặt lạnh lùng không thể đoán biết. Ông nhìn thẳng vào mặt thầy tôi rồi hỏi một câu mà ai cũng thừa biết.
-  Sư cụ là sư huynh của ông Vô Trần.
-  Thưa vâng.
- Nguyễn Vô Trần. Hay thật. - Đôi môi mỏng của ông chợt nở một nụ cười bí hiểm, có vẻ như chế giễu. - Cũng lạ! Đi làm cách mạng rồi, đã xuất tam bảo rồi mà vẫn giữ nguyên tên khi ở chùa. Sư cụ có thấy buồn cười không?
Thầy tôi nói rất nhẹ nhàng, tìm lời để khỏi mếch lòng con người lạnh lẽo ấy. Cái lạnh lẽo đầy quyền uy. Trong giờ phút nghiêm trọng này, ông ta lại nói có vẻ tầm phào bâng quơ. Như thế nghĩa là gì? Điềm tốt hay xấu cho số phận của hai thầy trò. Vì thế thầy tôi không thể lỡ lời:
- Bẩm, tôi không thấy buồn cười... Chỉ thương cảm cho chú ấy... Hai anh em tôi được thầy tôi nuôi từ bé, được sư cụ đời trước, đặt tên cho. Chú ấy không quên tên tức là không quên ơn của sư cụ, người chẳng khác gì cha mình. Thiết tưởng chú Trần là người có nghĩa...
-  Tôi hiểu. Nhưng cái chết là ở chỗ ấy...
-  Sao ạ?
Ông Chiến không giải thích, mà càng nhìn sâu hơn vào khuôn mặt của thầy tôi. Rồi bất chợt hỏi một câu đốp chát:
-  Sư cụ nằm trong tổ chức phản động?
- A di đà Phật. Thật oan cho người tu hành. Năm nay tôi sáu nhăm tuổi. Xuất gia từ thuở nhỏ. Tôi đã xa lánh trần thế mấy chục năm nay. Không bao giờ dám càn rỡ, sa vào chốn thị phi. Xin ông Bí thư soi xét.
Không hiểu ông Chiến này là người thế nào. Ông ta vặn hỏi thầy tôi, lại xoay đổi chủ đề rất đột ngột. Chẳng hiểu mục đích của ông là gì. Bỗng nhiên ông nói:
- Cụ theo đạo Phật. Cụ rao giảng từ bi. Vậy cụ thấy cách mạng thế nào. Cụ cứ nói cho thật lòng... Có phải như thế này không: Cụ thì từ bi. Mà đối lại với từ bi tức là bạo lực. Mà chúng tôi thì bạo lực. Vậy có phải cụ coi chúng tôi là ác không?
- A di đà Phật! Đức Thế Tôn dạy thế gian đức từ bi đó là ngài mong muốn điều thiện và hạnh phúc cho đời. Đạo Phật không có lý thuyết về chính trị nhà nước. Tôi chỉ là nhà sư ở chốn thôn quê, đâu dám lạm bàn đến chuyện đại sự. Tuy nhiên nhà Phật có nói đến nhân duyên. Thưa ông Đoàn ủy, phải tùy duyên thôi ạ. Hợp hợp, tan tan...
Lời nói của thầy tôi hợp lẽ lắm chứ, phải đạo lắm chứ. Ông ta đưa ra một câu hỏi thật khó. Và thầy tôi cũng rất kín đáo lựa lời. Vậy cớ sao ông Chiến, ông Đoàn ủy lại đứng dậy thế kia? Đứng dậy và ngắm nhìn thầy tôi. Rồi đi lại và ngắm nhìn thầy tôi. Ngắm nhìn một ông sư nhỏ bé, khiêm nhường, có thể nói là tiều tụy; cứ như thể con người nhỏ thó của thầy là một bí ẩn; cứ như thể cái ông sư quê mùa này là một đối tượng cần phải mổ xẻ tìm hiểu tỉ mỉ; cứ như thể ông cụ già quê mùa ấy thuộc về một miền ký ức xa lạ, một thứ cổ vật mà người ta đã quên lãng từ lâu, nay đột ngột hiện ra.
Ông Đoàn ủy ngắm chán, rồi đập tay vào trán. Tôi nhìn ông ta, bụng lo lắng. Cuộc hỏi cung như thế này sao? Người ta kết luận số phận con người bằng những câu hỏi cóc nhảy như thế này sao? Những câu trả lời của thầy tôi như thế lại là những bằng chứng tội phạm hay sao? Tôi sợ hãi chờ đợi những lời phán quyết. Tuy nhiên, lời mở miệng của ông ta lại không phải là lời phán quyết. Lại thêm một câu hỏi cóc nhảy nữa. Câu hỏi làm tôi chẳng hiểu ra sao. Còn câu hỏi ấy làm thầy tôi lúc đầu rất ngỡ ngàng:
- Xin hỏi một câu cuối cùng. Có phải ngày xưa, cụ ở cái am... tên là gì nhỉ? Nó ở sau lưng Yên Tử.
Nghe câu hỏi ấy, có lẽ thầy tôi nhớ lại thời mình còn là một du tăng cầu đạo. Những kỷ niệm xưa làm thầy tôi sáng mắt lên chăng:
-  Dạ, bẩm ông Đoàn ủy. Tên cái am ấy là Am Tịch Mịch.
- Đúng rồi, đúng là Tịch Mịch. Một ông sư kỳ lạ và một con hổ...
Ông Đoàn ủy nói dở chừng rồi ngồi vào ghế. Sau đống hồ sơ. Ông cúi xuống loáy hoáy viết mấy dòng chữ rồi ký.
Cuối cùng, ông ngẩng lên, đưa tờ giấy cho thầy tôi, vẻ mặt vẫn lạnh lẽo như băng, rồi nói:
- Tôi đã biết rõ hồ sơ của hai thầy trò cụ rồi. Đây là lệnh. Người ta sẽ đưa hai thầy trò xuống trại cải tạo số 2. Hai thầy trò hãy gắng cải tạo cho tiến bộ.
 
Không phải vào trại số 1 ư? Được vào trại số 2 ư? Thật hay là mơ? Tôi không thể tin ở tai mình nữa khi nghe lời tuyên bố của ông Chiến Đoàn ủy.
 
Trại số 2 nằm trong một thung lũng nhỏ giữa núi rừng. Một con đường mòn độc đạo giữa hai trái núi dẫn vào. Chúng tôi không đi bằng ôtô mà phải cuốc bộ ba mươi cây số. Một đoàn tù dây. Những sợi dây thừng buộc nối người nọ với người kia. Bốn anh du kích bồng súng đi áp giải. Những quãng thừng cách giữa hai người vừa đủ để bước đi thoải mái, tuy nhiên khá bất tiện. Bởi vì cùng đi thì ổn, nhưng hễ một người ngồi xuống là hai người trước và sau lập tức bị kéo căng ngang lưng ngang bụng. Bởi vì tất cả phải cùng đi, cùng nghỉ, thậm chí đái ỉa cũng phải đồng thời cùng một lúc. Chả thế mà quãng đường chỉ ba mươi cây, chúng tôi phải đi mất mười ba mười bốn tiếng. Người dẫn tù đến trại cải tạo chắc đã rút được kinh nghiệm nên mới ba giờ sáng đã dựng chúng tôi dậy rồi phát cho mỗi người một nắm cơm, bắt khởi hành ngay. Cũng vì có kinh nghiệm nên lúc mới lên đường ông ta bắt chúng tôi đi thật nhanh. Lúc ấy mới ngủ dậy, hãy còn sức khỏe nên chúng tôi đi rất trật tự mặc dù trời rét. Lại cũng đi nhanh vì đi nhanh đỡ rét. Mùa đông, song đó là một ngày nắng. Con đường đất đỏ gồ ghề sỏi đá, hai bên đường chẳng một bóng cây. Càng đi con đường càng hoang vắng. Chỉ có đồi trọc, sim, mua, cỏ lau, cỏ tranh. Suối nước cũng không. Làng bản cũng không thấy bóng. Nóng, khát, mệt, chân rát bỏng. Có thể nói, lúc ấy chúng tôi há mồm ra mà đi. Lểu thểu đưa chân. Chỉ thèm nằm xoài ra cỏ, chỉ thèm vục mặt xuống nước. Rồi ngã, rồi chửi thề, nói tục, gây sự với nhau. Những người giải tù quát tháo, vút roi tre cũng chẳng ăn thua gì. Đến nỗi, khi thấy giữa đồi hoang xuất hiện một ngôi nhà mồ, chúng tôi cũng chẳng sợ hãi gì, vội chạy tới tìm bóng râm trú nắng. Nghỉ ở đấy rất lâu, chừng hai tiếng đồng hồ mới lại sức. Rồi chúng tôi như đoàn quân thất trận tiếp tục lên đường. Giá như lúc ấy, chúng tôi được cởi dây trói buộc, chắc cũng chẳng ai tìm đường trốn, sẩm tối chúng tôi mới tới khu rừng trại giam. Tối mịt, chúng tôi mới tới những lán giam trong thung lũng.
Thung lũng có núi cao, rừng rậm bốn bề bao quanh. Cây rừng trong thung đã bị đốn hạ hết. Đất đã biến thành nương. Một số cuối dòng suối biến thành ruộng nước. Nơi đây trước kia là trại giam tù thường phạm, nay được nhường chỗ làm trại cải tạo địa chủ và phản động. Trại giam nằm ở đầu dòng suối, trên một quả đồi thấp. Có hàng rào dây thép gai mang từ các đồn bốt Tầy bị triệt hạ đem về. Có khoảng một chục lán giam. Mỗi lán khoảng ba chục tù nhân nằm ngủ trên hai dãy sạp dài. Tù nhân được chia thành các tổ nhỏ từ ba đến năm người. Nhiệm vụ các tổ là phải quản lý nhau thật chặt chẽ. Quản lý theo kiểu ngũ gia liên bảo. Người nọ phải để mắt tới người kia. Một người có lỗi, nếu bốn người kia không tố cáo, họ cũng liên đới chịu trách nhiệm. Nghĩa là họ cũng phải chịu tội theo. Nhưng nếu người nào biết và tố cáo, người ấy lập công sẽ được khen thưởng. Nghĩa là sẽ được giấy khen, sẽ được ưu đãi, sẽ được tự do một nửa, hoặc sẽ được giảm thời gian cải tạo tùy theo mức độ. Tổ của tôi gồm thầy tôi, tôi, thầy giáo Hiếu và anh Tần. Anh Tần dù có tội, nhưng thành phần bần cố nên được chỉ định làm tổ trưởng. Anh Tần làm con nuôi một ông chánh tổng từ lúc còn bé. Chị Xim, bố mẹ chết đói, cũng được ông chánh tổng nhặt về nuôi nấng. Tuy danh nghĩa là con nuôi, nhưng thực chất họ là hai người ở, bởi vì họ vẫn phải làm quần quật suốt ngày như những người làm công khác trong nhà ông chánh. Chỉ có cái khác là họ được ông chánh ghép đôi thành vợ chồng và cho một mảnh đất méo mó đầu thừa đuôi thẹo gần đấy rồi làm một căn nhà tre cho ở. Tuy nhiên họ vẫn phải đến làm cho nhà ông chánh. Đội cải cách về. Vợ chồng Tần, Xim được bắt rễ. Chị Xim theo đội tố ông chánh đã bóc lột chị tận xương tận tủy, thậm chí cưỡng hiếp chị. Nhận làm con nuôi rồi lại hiếp con. Tội ác ấy trời không dung, đất không tha. Anh Tần mắng vợ là đồ vô liêm sỉ, chỉ vì một tí quyền lợi mà dám đặt điều ăn không nói có. Lại mắng thậm tệ là đồ ăn cháo đá bát, bởi vì cái lúc bố mẹ chết đói, nếu ông chánh không rủ lòng thương nhặt về nuôi, hỏi chị Xim còn sống được đến bây giờ không. Tố ông chánh tội ác, nhưng thực ra chị mới là người mắc tội tày trời vì đã vu oan cho người hiền lành. Người đàn bà như vậy liệu có còn xứng đáng làm vợ được không? Anh suy nghĩ rất lâu rồi lặng lẽ bỏ nhà ra ở lều cá. Anh đội cải cách đến khuyên nhủ thế nào Tần cũng chẳng nghe. Hồi đánh Pháp, ông chánh làm Chủ tịch Mặt trận, anh Tần là du kích, vẫn thường phải đi hộ vệ ông từ vùng du kích ra vùng tự do và ngược lại. Vừa là chủ tớ, lại vừa cùng hoạt động với nhau, nên khi ông chánh bị quy địa chủ, bị bao vây không có gì ăn, anh Tần đánh liều, lén lút tiếp tế thức ăn cho ông. Ông chánh thực ra là địa chủ kháng chiến nay bị quy là địa chủ gian ác có nợ máu. Bị oan ức lại tuyệt đường sống nên ông thắt cổ chết. Người ta điều tra biết Tần vẫn liên lạc với địa chủ và lại tiếp tế cho địa chủ... Người ta kết luận ông chánh là phản động, Tần cũng nằm trong tổ chức ấy. Vì sợ lộ nên Tần đã giết ông chánh để bịt đầu mối. Vì lẽ đó Tần bị đi trại cải tạo.
Thầy giáo Hiếu là người Hà Nội, đậu tú tài, làm giáo viên cấp 2, đi theo kháng chiến suốt chín năm chống Pháp. Trong một cuộc nói chuyện tâm sự với người bạn thân, ông nói:
- Cải cách ruộng đất là cần thiết. Muốn lấy ruộng thì cứ việc lấy. Cần gì phải đấu tố, bắt giết, để sinh ra cái chuyện vô luân, con tố cha, vợ đấu chồng...
Người bạn thân ấy đã phản bạn, vì muốn lên chức hiệu trưởng. Thầy giáo Hiếu bị điều tra lý lịch. Người ta về quê Hiếu và biết gia đình bố mẹ anh là một địa chủ nhỏ. Hiếu bị quy là phần tử bóc lột phản ứng giai cấp có hành động tuyên truyền chống phá cách mạng.
 
Cái tổ tâm giao bốn người chúng tôi sống với nhau rất hòa thuận. Sư cụ, thầy tôi yếu lắm nhưng vẫn phải làm việc theo đúng nhiệm vụ của một người đi cải tạo, nghĩa là làm việc đồng áng, chặt củi, đóng gạch, chăn nuôi v.v... Tôi phải cố sức làm thêm cho phần việc của thầy. Tuy nhiên, nếu không có anh Tần giúp đỡ chủ yếu, thì có lẽ thầy trò tôi ngày nào cũng bị phạt vì không làm tròn phần việc. Anh Tần rất giỏi việc đồng áng. Nếu chỉ phải làm riêng phần của mình, chắc anh chỉ cần nửa buổi là xong. Nhưng anh còn phải lo giúp cho thầy tôi và cả thầy giáo Hiếu nữa chứ.
Một hôm, ông Đoàn ủy xuống trại cải tạo. Ông bắt gặp chúng tôi đang dỡ sắn. Ông dừng xe lại và nói với thầy tôi:
- Trại cải tạo bảo rằng hai thầy trò sư cụ lao động rất chăm chỉ. Như vậy là tốt. Thế này nhé: đừng nghĩ rằng bắt cải tạo vì chúng tôi muốn hành hạ sư cụ đâu. Chúng tôi muốn tốt cho các vị đấy. Những người như các vị thay đổi cái đầu là điều quan trọng. Cũng nên nhớ rằng ở đây là kỷ luật sắt. Ở đây không nương nhẹ tay với bất cứ ai... Cụ hiểu ý tôi chứ.
Tôi hết sức ngạc nhiên. Ông Đoàn ủy cho chúng tôi về trại số 2 là điều ngạc nhiên thứ nhất. Khi về thăm trại, ông chẳng nói chuyện với phạm nhân nào, mà chỉ nói với thầy tôi, đó là điều ngạc nhiên thứ hai. Đến tối, trước khi ngủ, tôi hỏi sư cụ:
-  Thầy ơi! Có phải trước đây, thầy đã quen ông Đoàn ủy?
Thầy tôi trả lời:
- Cái hôm mới đến Đoàn ủy, khi ông ta nói đến am Tịch Mịch, ta mới chợt nhớ ngày xưa đã gặp ông ta. Hồi ấy, ta tu ở sau núi Yên Tử. Một đêm, có mấy người mặc quần áo nâu cõng đến am Tịch Mịch một người ốm và nhờ ta cứu giúp. Ông ta bị sốt rét nặng. Đang sốt, nóng như hòn than. Lại mê man bất tỉnh. Ta vào núi hái lá rừng chữa cho khỏi bệnh, về sau, ta mới biết ông ta là cán bộ Việt Minh hoạt động ngoài mỏ than. Đó là con người cực kỳ thông minh. Lý luận rất sắc bén. Ăn nói sôi nổi. Lúc nào cũng hừng hực như lửa cháy. Ông ta bảo thầy: “Tôi cảm ơn ông đã hết lòng cứu giúp trong lúc tôi thập tử nhất sinh. Tôi với ông là những người đều hiểu đời có nhiều bất công đau khổ. Tuy nhiên chúng ta theo hai con đường diệt khổ khác nhau. Một đằng đấu tranh với bất công. Xin lỗi sư ông cho tôi nói thật lòng. Tôi sợ rằng con đường của Phật tuy vĩ đại nhưng ảo tưởng. Và nếu đi quá mức đến một giới hạn nào đó sẽ là thứ thuốc ru ngủ cho những con người tuyệt vọng...”. Ở ông ta có cái gì quá mức cuồng nhiệt khiến cho thầy lo lắng, cảm thấy bất an. Khi nói ông ta nhỏm dậy, mắt sáng rực, nói hùng hồn, mặc dầu mồ hôi vã ra trên trán. Thầy không nói gì, chỉ đỡ ông ta nằm xuống mà rằng: “Anh còn yếu lắm. Chớ xúc động quá mức. Lúc này lo cho sức khỏe là trước hết... Cả suy nghĩ cũng chưa nên vội vàng quá độ kẻo hao tổn tinh thần... Còn về phần tôi. Chỉ là một ông sư quê mùa. Chúng tôi có nghĩ gì to tát lắm đâu. Chỉ là làm theo lời Phật dạy. Cứ thấy tâm mình an lành và mọi người được an lành... đã là sung sướng lắm rồi”.
Tôi thưa với sư cụ:
- Bạch thầy, có lẽ nhờ cuộc gặp gỡ ấy, và cũng nhờ đức độ của thầy, cho nên thầy trò ta mới không phải vào trại số 1 và được đến trại thứ 2.
Chúng tôi vào trại chưa đến một tháng, thì một sự việc xảy ra làm cho tôi phải bàng hoàng kinh ngạc. Một buổi tối tôi đã lên sạp bắt đầu ngủ thì có người lật chiếc chiếu đắp thay chăn của tôi ra, đập vào lưng tôi, gọi:
-  An, An ơi! Mày phải không?
Tôi trở dậy, sững sờ, bởi vì trước mặt tôi chính là Trắm.
-  Sao cậu lại ở đây? - Đó là câu hỏi ngay lập tức của tôi.
Qua trả lời của Trắm tôi được biết Trắm bị phát hiện đã giúp mẹ con bà Nấm đi trốn. Anh đội Khoát liên hệ các sự việc lại đi đến kết luận:
- Thằng Trắm cũng nằm trong tổ chức phản động. Tổ chức này khá mạnh ở làng Sọ. Vợ chồng nhà Nấm đã lũng đoạn cả tổ chức thiếu nhi của xã, đã biến tổ chức của ta thành của địch; đã biến thiếu niên xã thành một bộ phận liên lạc cho Việt Nam Quốc dân đảng. Con Huệ, thằng An, thằng Trắm, cả thằng Căn đang đi bộ đội cũng đều là liên lạc viên của tổ chức này. Lẽ dĩ nhiên, Trắm vì lẽ đó phải tìm mọi cách giúp đỡ mẹ con mụ Nấm. Chỉ riêng cái Rêu là không dính líu. Cũng có thể vì Rêu chơi thân với tổ liên lạc, đã biết hành động của chúng nên bị chúng giết đi để bịt đầu mối...
Chao ôi! Lời kết luận của Khoát thật ghê gớm. Cũng may, thầy tôi và tôi đã vào trại 2 nên Trắm mới không bị kết tội nặng hơn. Tối hôm ấy Trắm được ngủ với tôi. Sáng hôm sau Trắm cứ nằn nì cán bộ xin vào tổ của tôi nhưng không được.
Cuộc sống ở trại cải tạo cứ bằng lặng trôi đi. Đói khát. Mỗi bữa chỉ một bát cám và một mẩu sắn. Cực nhọc. Chúng tôi hàng ngày lao động quần quật, để hoàn thành mức khoán. Có những lúc cực nhọc quá, tôi kêu ca oán thán. Tối đến thầy bảo tôi rằng:
- Con là người tu hành đạo của đức Thế Tôn. Không phải chỉ ở chùa mới tu. Người Phật tử tu ở mọi lúc, mọi nơi. Gặp cảnh an bình cũng tu. Gặp cảnh oan nghiệt cũng tu. Có thể nói, chính những lúc ấy mới là cơ hội để ta tìm đến chân như. Con chỉ nói miệng đời là bể khổ, điều ấy chưa đủ. Bản thân trải qua cảnh khổ, chính lúc ấy ta mới hiểu thế nào là khổ đế. Khổ cực ở đời chỉ là chứng cứ, là sự nhắc nhở cho người tu hành cái chân lý không thể chối cãi được của đức Thế Tôn rằng đã mang lấy nghiệp vào thân, con người còn chịu khổ. Thậm chí, con còn phải nghĩ đến chuyện cám ơn nỗi khổ, bởi vì đó là những phút lý tưởng cho ta suy ngẫm về nỗi khổ ở đời, và nó có thể làm phong phú thêm trải nghiệm của ta.
Nghe lời thầy dạy, nhìn những người đồng cảnh lầm lũi làm việc tôi cũng cắn răng cam chịu. Và quả thực khi suy ngẫm nhiều, tôi thấy mình dễ chịu đựng hơn, hay có thể nói sức chịu đựng của mình được tăng lên. Tuy nhiên, những người khác trong tổ của tôi không giống như tôi. Nghe thầy tôi nói về chữ nhẫn, anh Tần và thầy giáo Hiếu chỉ mỉm cười. Thầy giáo không tranh luận mà nói:
- Cụ là người tu hành nên nghĩ thế. Còn chúng tôi nghĩ khác. Chúng tôi chắc chẳng chịu đựng được mãi đâu.
Sư cụ nhìn vào đôi mắt của thầy Hiếu. Hình như không nói nhưng thầy tôi biết thầy giáo đang toan tính một điều gì. Thầy tôi vẫn đăm đăm nhìn thầy giáo Hiếu. Rồi hai bàn tay gầy guộc nắm lấy bàn tay thầy giáo. Không một lời nào, nhưng đã có bao lời giao cảm qua đôi tay già truyền đến cho thầy Hiếu.
Chẳng mấy chốc những điều dự cảm không nói ra lời của thầy tôi đã thành sự thật. Một đêm tôi đang ngủ bỗng nhiên choàng tỉnh giấc. Chợt cảm giác như thấy thiêu thiếu một cái gì. Trại cải tạo phát cho hai người một chiếc chiếu đắp thay chăn lúc mùa đông. Vì chiếu ngắn, đắp hở chân, cho nên anh Tần sáng kiến lấy lá cọ rừng kết thành một chiếc áo tơi thật rộng, thật dài để đắp trùm lên trên chiếu cho cả bốn người trong tổ. Từ khi có thêm chiếc chăn lá khổng lồ đó, tôi thường ngủ một mạch từ tối cho đến sáng mới tỉnh dậy. Thế mà đêm nay tôi lại thức giấc dở chừng. Tôi sờ tay sang phải vẫn chạm phải tấm thân gầy gò khẳng khiu của thầy tôi. Nhưng sờ sang trái mới biết tại sao tôi cảm thấy thiếu. Sờ gần rồi lại sờ xa vẫn không thấy gì. Anh Tần và thầy giáo Hiếu đã biến đâu mất. Hình như lúc ấy tôi có ý định kêu to lên, nhưng nghĩ một lát tôi lại thôi. Tôi xoay sang thầy, đập khẽ vào lưng và thì thầm: “Thầy ơi! Anh Tần, và thầy giáo Hiếu đã...”. Ngay lập tức, thầy tôi quài tay sang, bịt mồm tôi. Thế là tôi hiểu ngay. Thì ra chuyện này thầy tôi đã biết trước tôi. Tôi liền nằm im thin thít. Cho tới sáng tôi không ngủ lại được, cứ nằm đấy và miên man suy nghĩ. Hóa ra hai người đã chuẩn bị cho cuộc trốn trại này từ lâu lắm. Không biết lúc này họ đang ở đâu. Đến lúc ấy tôi mới ôn lại những điều tôi biết. Thầy giáo Hiếu có lần kể rằng thầy có mấy năm dạy học ở vùng cao. Thầy kể có một ông già người Mèo rất yêu cái chữ. Thầy Hiếu ở nhờ trong gia đình cụ. Thầy đã dạy học cho con cháu cụ, ngoài ra còn có cái ơn chữa khỏi bệnh cho bà vợ cụ. Thầy Hiếu vì thế được nhận là con của gia đình. Mà người Mèo lại rất trung thực và tín nghĩa. Đã tin ai, quý ai, và nhận ai là người của mình thì dù chết cũng không thay lòng đổi dạ hoặc phản bội... Như vậy là rõ rồi... Chắc thầy Hiếu đang lẩn trong rừng, trốn khỏi cái địa ngục này để đến nơi có thể là vô cùng nghèo đói, nhưng có những con chim tự do bay liệng trên bầu trời mênh mông, ở đấy sự công chính, sự tín nghĩa của những con người chất phác còn quý hơn mạng sống... Chắc chắn ở đó, núi cao, rừng sâu và con người sẽ che chở cho họ đến hết những phút gió to bão lớn. Trong lúc tôi nghĩ ngợi và tưởng tượng liên miên như vậy thì cả lán vẫn im phăng phắc chìm trong giấc ngủ. Thỉnh thoảng mới có tiếng ho hoặc có ai đó ngáy. Thực sự chẳng ai biết chuyện gì đã xảy ra sao? Hay là người ta biết nhưng im lặng. Những người nằm ở đây là những người đã nếm trải những trái đắng trong cuộc đất chuyển. Họ là những con người đã bị lăng nhục, bị phản bội, thậm chí bị người thân phản bội. Cho nên họ biết cái giá của sự phản bội. Nhưng lát nữa thôi, khi mặt trời thức dậy, tất cả sẽ bại lộ. Không biết đến lúc ấy rồi sẽ ra sao? Tôi cầu xin đức Phật hộ trì cho chúng tôi, cho tất cả mọi người giữ được sự trong trắng, lòng ngay thẳng, sự lương thiện. Tôi cầu mong Phật tính luôn ở với con người, tôi cầu mong cho những người bạn của tôi, đã sổ lồng, sẽ tìm được tự do ở những phương trời xa lạ...
Thầy tôi đã ngồi dậy nhập thiền. Chắc chắn thầy tôi cũng đang cầu xin với đức Phật những điều như thế cho những người bạn của chúng tôi. Chính lúc ấy, một hồi còi rúc vang. Cán bộ trực trại gọi mọi người ra khỏi lán. Một ngày mới ở trại cải tạo số 2 bắt đầu.
Khi biết tin, trại trưởng xuống ngay và đùng đùng nổi giận:
- Cùm ngay lập tức tất cả bọn bóc lột phản động lại. Hôm nay cấm trại. Thẩm vấn. Đứa nào biết và tố cáo đích xác sẽ được khen thưởng, được giảm án nhẹ tội. Kẻ nào biết mà che giấu sẽ bị trừng phạt thật nặng.
Lẽ dĩ nhiên thầy tôi và tôi là người bị thẩm vấn đầu tiên. Tôi bị vặn vẹo suốt một buổi sáng.
- Thầy cháu và cháu ở cùng một tổ với hai tên Tần và Hiếu. Chúng nó trốn mà thầy trò cháu không trốn. Thế là tốt. Ta biết thầy trò cháu tu hành chuộng việc thiện. Song cũng cần xác định ngay: Che giấu cho những tên chống đối Đảng, Chính phủ, việc đó không phải là thiện. Ta cũng biết nhà chùa luôn giữ thân, khẩu, ý theo chánh đạo. Lời nói thẳng thắn đúng sự thật, không che giấu sự thật, ấy là lời nói ngay thẳng theo bát chánh đạo, theo đúng lời Phật dạy.
- Thưa cán bộ. Thực quả con không biết gì ạ. Buổi sáng dậy con mới biết các ông ấy trốn.
- Thế này nhé. Để dễ làm việc, ta sẽ hỏi từng câu. Hỏi câu nào, cháu trả lời câu ấy. Trước khi trốn, Tần, Hiếu có bàn bạc cùng ai không?
-  Không ạ.
-  Ví dụ nói với sư cụ thầy của cháu.
-  Không ạ.
- Có chuẩn bị gì không? Ví dụ phơi cơm để làm lương khô chẳng hạn.
-   Cháu không biết ạ.
- Thế lúc khám, còn một túi cơm khô rơi tung tóe ra sạp cháu có trông thấy không?
-   Dạ... dạ... Có ạ.
-  Cơm chứ có phải cái kim bé tí đâu? Phơi cơm dù chỉ một nắm cũng phải tãi ra mẹt, ra lá chuối. Ai có mắt mà chả thấy ngay. Phải nói rằng cháu biết nhưng đã che giấu cho hai tên Tần, Hiếu.
-   Dạ... oan cháu lắm.
-   Thế còn lúc nửa đêm, lúc hai tên bỏ trốn cháu có biết không?
-   Thực quả là không ạ.
- Ta nghe lúc đi ngủ, cả bốn người tổ cháu cùng đắp một chiếc áo tơi lá thật to có phải không?
-   Dạ, thưa đúng vậy ạ.
- Vậy, khi hai người chui từ chăn áo tơi ra nó sột soạt có phải không?
-   Dạ, có sột soạt ạ.
-  Nó sột soạt tức là nó đánh thức cháu dậy. Theo ta, cháu đã tỉnh ngủ lúc quá nửa đêm. Cả hai thầy trò cháu đều biết Tần và Hiếu bỏ trốn, nhưng đã che giấu cho kẻ phạm tội nên không báo cho trại biết ngay lúc đó. Cháu có hiểu không. Hai đứa bỏ trốn làm trại phải điều một trung đội cán bộ và du kích đi truy đuổi suốt từ sáng tới giờ. Cháu có hiểu che giấu là gì không? Là đồng lõa, là cùng đồng lòng với kẻ phạm tội. Là không chịu cải tạo. Là trong thâm tâm vẫn chống đối cải cách ruộng đất. Tội ấy rất to. Ta rất thương người nhà chùa hiền lành. Nhưng ta không thể bao che được cho thầy trò cháu.
Người cán bộ thẩm vấn tôi ăn nói rất tử tế ngọt ngào nhưng cuối cùng thì cả hai thầy trò tôi đều bị trừng phạt. Tôi còn bị hỏi nhiều câu hỏi nữa tôi không nhớ hết. Thầy tôi còn bị hỏi nhiều hơn tôi. Tôi chỉ bị thẩm vấn một buổi sáng. Còn thầy tôi, cả ngày. Khi bị hỏi xong, tôi thấy run rẩy trong lòng. Thú thực, tôi sợ hãi. Tôi vẫn không theo được lời thầy dạy. “Vô úy” là tên thầy tôi. Không run sợ trước mọi nghịch cảnh ở đời. Đó là ý nghĩa tên thầy tôi. Thế mà tôi vẫn sợ.
Trung đội truy tìm mang cả chó đi đánh hơi. Không phải chó săn phương Tầy. Chỉ là hai con chó giống của người Mèo, nhưng chúng đánh hơi, đi săn rất tài. Hai con chó cao to như hai con bê. Rất nhanh nhẹn và rất hung dữ. Phải hai ngày sau họ mới tìm được dấu vết hai người trong rừng. Chắc vì quá vất vả nên anh du kích đi truy tìm vô cùng tức giận. Đã thế hai người khi bị phát hiện còn tìm đường bỏ chạy. Anh du kích liền suỵt chó truy kích. Một con chồm lên cắn gáy đè sấp anh Tần xuống. Cũng may con chó chỉ dọa chứ chưa cắn thật. Nếu không, Tần đã chết. Còn với thầy giáo Hiếu? Con chó thứ hai đuổi theo dữ hơn. Nó xông vào xé quần áo thầy Hiếu rách tươm. Cuối cùng nó cắn vào bắp chân làm thầy không chạy được nữa. Thầy bị khiêng về trại như con lợn bị khiêng đi chọc tiết. Giống con lợn sắp bị chọc tiết, bởi vì trong trường hợp ấy, lợn thường kêu váng trời. Thầy Hiếu cũng vậy, khi bị khiêng đi, thầy cũng la hét váng trời.
Sau hai ngày tra hỏi, khi biết chắc rằng hai người trốn trại chỉ là hành động tự phát riêng lẻ chứ không phải do một tổ chức bí mật chỉ đạo. Ban chỉ huy trại ra một quyết định trừng phạt. Ôi chao cách trừng phạt! Sao con người lại có thể nghĩ ra được những cách hành hạ con người quái quỷ đến vậy! Anh Tần và thầy Hiếu bị trừng phạt đã đành. Hai thầy trò tôi, tuy không trốn chạy, nhưng biết mà không báo cáo ngay, tức là đồng lõa đồng mưu. Vả lại chúng tôi còn cùng một tổ, những người cùng tổ đều phải liên đới chịu trách nhiệm; hơn nữa, còn phải làm gương cho các tổ khác thấy mà sợ nữa chứ, vì thế hai thầy trò tôi cũng bị nghiêm trị.
Chúng tôi được dẫn đi theo một hàng dọc. Ba người lớn đều bị trói tay, chỉ có tôi không bị trói. Người nào cũng cởi trần trùng trục, chỉ mặc độc một chiếc quần đùi. Họ dẫn chúng tôi đi qua trước mặt toàn thể trại viên. Thú thật lúc đó tôi vẫn không biết mình sẽ bị trừng phạt ra sao. Tôi đã được thầy tôi dặn, khi bước đi tôi cố quên mọi thứ đang xảy ra và không nghĩ tới mọi việc sắp xảy ra với mình, dù là những điều xấu nhất. Chỉ nhất tâm nhất niệm cầu xin đức Phật hộ trì và đọc hồng danh chư Phật. Phải nói rằng, tôi mới chỉ là kẻ tập tu, cho nên tôi chưa được nhất tâm cho lắm; chứng cứ là tai tôi vẫn còn nghe thấy những tiếng rì rầm lao xao. Hình như có ai đó nói vào tai tôi. Đúng thế! Rõ ràng có ai đó đã thì thầm vào tai tôi. Tôi đi giữa trại viên. Làm sao lại có thể có người dám ghé vào tai tôi để thì thầm được nhỉ. Chẳng có lẽ... nhưng rõ ràng có ai đó thì thầm mà chỉ mình tôi nghe thấy. Tiếng thì thầm rõ mồn một, nhắc đi nhắc lại mấy lần. Tiếng thì thầm bí ẩn ấy vẫn dặn tôi rằng: “Hai tay phải giơ lên trời. Giơ lên trời! Nhất định phải giơ lên trời! Hãy nhớ lấy!”. Tôi ngơ ngác vì chẳng hiểu ý nghĩa câu nói ấy là thế nào... Tôi ngơ ngác nhìn ba người lớn đi phía trước. Thầy tôi đi đầu. Người điềm tĩnh và lặng lẽ. Thầy chẳng nói một lời, nhưng tôi biết chắc rằng trong lòng thấy tôi đang niệm hồng danh đức Phật. Tiếng nói thì thầm vào tai tôi phải chăng là của thầy? Có phải không nhỉ? Có thể lắm chứ. Trong những phút cực kỳ phức tạp hay nguy khốn, con người có thể nói được với nhau mà không cần phải thốt nên lời. Nếu thầy không nói thì phải có một trại viên nào đó đã có kinh nghiệm và muốn truyền kinh nghiệm nào đó cho tôi. Và cũng bằng một cung cách bí ẩn siêu không gian như vậy. Tôi cứ nghĩ ngợi vơ vẩn như vậy. Rồi bỗng dưng tôi chợt chú ý tới đôi tay bị trói của thầy. Cả hai người kia cũng bị trói tay. Chỉ có tay tôi là tự do. Không hiểu có mối liên hệ gì không giữa những đôi tay này. Tôi thầm nghĩ chắc phải có, tuy nhiên, ý nghĩa của câu nói “giơ tay lên trời” đối với tôi khi ấy vẫn hoàn toàn bí ẩn...
Người cán bộ dẫn chúng tôi ra vườn rau, theo sau là tất cả trại. Vườn rau xanh ngắt non tơ. Một vườn cải xanh hàng ngày vẫn được một tiểu đội trại viên chăm sóc rất chu đáo. Thế này nghĩa là thế nào nhỉ. Trừng trị một bọn cứng đầu cứng cổ tại sao lại phải mang ra vườn rau?
Người ta tập trung tất cả trại viên chúng tôi quanh một cái hố rộng cuối vườn. Đó là cái hố chứa phân. Hơn ba trăm con người hàng ngày đại tiện ở ba dãy hố xí công cộng. Cứ mỗi tuần lại phải mang những thùng phân từ hố xí ra đổ xuống những hố lớn ở vườn rau xa nhà. Khi hố xí đầy thì cắt lá xanh phủ lên trên, rồi lấp đất, chờ cho phân hoại sẽ gánh đi bón ruộng.
Lúc này, chúng tôi đang vây quanh một hố phân đã đầy ắp. Lúc này thì tôi đã mang máng hiểu điều gì sắp xảy ra. Phải nói là đầu óc tôi thấy bàng hoàng. Ông trại trưởng lên tiếng:
- Các anh được bố trí đến trại hai này là may mắn lắm rồi. Các anh là bọn bóc lột, là những phần tử phản động. Giai cấp bóc lột và phản động là phải bị tiêu diệt. Đảng đã nhân đạo mở ra con đường sống, cho các anh lao động cải tạo. Lao động là vinh quang, lao động biến các anh từ con người ăn bám, trở lại thành những con người của giai cấp cần lao, biết sống bằng đôi bàn tay của mình, bằng những giọt mồ hôi của mình đổ ra. Đáng lẽ ra, ý nghĩa ấy các anh phải tự hiểu và các anh phải cám ơn tấm lòng nhân đạo của Đảng, rồi ra sức mà lao động. Thế mà, đã có những kẻ vong ơn bội nghĩa, trốn tránh lao động, trốn tránh cải tạo. Không những lười biếng, lại còn tìm cách trốn trại. Trốn ư? Các anh định trốn đi đâu? Gầm trời miền Bắc này, chỗ nào chẳng có con mắt của nhân dân. Hay là các anh định trốn vào Nam theo giặc. Đừng mơ tưởng hão huyền. Khắp nơi đều là thiên la địa võng. Các anh biết rồi đấy, tội trốn trại là cực nặng. Phải trừng trị nghiêm khắc để cho từ bây giờ sẽ không có một trại viên nào còn tơ tưởng nghĩ đến nữa. Ban chỉ huy trại cải tạo số 2 đã tham khảo ý kiến, nay ra quyết định: Hai trại viên đã thực sự phạm tội là Lê Văn Hiếu và Nguyễn Văn Tần thì phải trị tội thật nặng. Hai tên chống đối đó phải ngâm mình xuống hố phân trong thời gian nửa tiếng. Hai tên phải từ từ đi xuống hố cứt. Bao giờ cứt ngang đến vai mới được dừng lại. Tất cả trại, hãy trông gương mà nhớ lấy suốt đời. Nếu lần sau có kẻ nào trốn trại, tôi sẽ cho kẻ ấy ngâm cứt suốt ngày chứ không phải nửa tiếng. Hãy đứng đấy, mở mắt to ra mà nhìn, mà nhớ cho đến lúc chết cũng chớ có quên, để chớ có khi nào dám manh tâm chống đối...
Còn như hai kẻ tòng phạm trong tổ của Hiếu và Tần...
Tôi nghe lời ông trại trưởng nói mà rợn tóc gáy. Thì ra hình phạt là quái gở đến như vậy. Đến lúc này tôi mới hiểu hết ý của cái tiếng nói vô hình vô ảnh thì thầm bên tai tôi lúc nãy. Ba người lớn bị trói tay. Khi xuống hố, tay họ sẽ ngâm trong cứt. Còn đôi tay tôi được tự do, tôi sẽ giơ lên trời. Tôi hiểu. Phải giữ cho đôi tay sạch sẽ. Chắc chúng sẽ được việc lắm đây... Hai người kia phải xuống hố phân, chắc số phận thầy trò chúng tôi cũng thế thôi. May ra kẻ tòng phạm tội nhẹ hơn nên thời gian thụ án sẽ được giảm nhẹ đi chút ít. Tôi cay đắng nhìn bộ mặt nhăn nheo của thầy tôi. Thầy tôi đang lim dim con măt, chẳng nói gì. Cũng chẳng chút biến động nào trên gương mặt từ bi ấy. Thầy tôi vẫn bảo: “Trong những phút trái ngang nhất của cuộc đời, tâm ta rất dễ xao động. Mà tâm xao động dấy niệm lên là ta dễ hành xử sai. Tốt nhất hãy niệm hồng danh đức Phật, và hãy nghĩ rằng: Mỗi khó khăn ở đời là một bước để ta tôi rèn, để đi đến gần Đạo hơn”.
Đã có lệnh bắt hai kẻ phạm tội bước xuống hố.
Ở trên bờ, mùi xú khí nồng nặc bốc lên. Những bàn chân xé rách lớp phân khô trên mặt hố. Khí hôi thối khắm khú bị màng phân khô cứng trên mặt hố giam hãm như lũ tù bị giam trong tù ngục, nay bỗng chốc được giải phóng. Chúng sôi lên ùng ục rồi như lũ ngựa hoang đang cuồng cẳng bỗng phi nước đại. Xú khí ào ạt bốc ra thối hoăng cả vùng trời.
Tôi nôn nao, xây xẩm mặt mũi rồi nôn khan, cố ngăn lại mà không nổi. Tất cả cơ quan trong họng tôi đều quằn quại, cuồn cuộn. Những cơn co thắt nôn ọe cứ diễn ra bất chấp ý chí của tôi cữỡng lại. Thầy tôi đứng bên cạnh, mở mắt ra, an ủi:
- Cố gắng lên con. Tất cả sẽ qua nhanh thôi. Hãy cố định tâm. Tâm mà an thì mọi thứ trong ta sẽ an trở lại.
Tôi và thầy tôi chờ đợi đến lượt mình thụ hình. Ông trại trưởng muốn tra tấn thầy trò tôi bằng sự chờ đợi hay sao mà chưa thấy ông tuyên bố tội trạng của hai người. Tù nhân chúng tôi bâu quanh hố phân nhìn thầy giáo Hiếu và anh Tân dưới hố. Mọi người xanh lè con mắt. Cùng lúc ấy ông trại trưởng mới nói:
- Còn hai người kia, sư cụ Vô úy và chú tiểu An, họ cũng có tội, ở trong tổ mà không báo cáo. Kẻ nào sắp đi trốn mà không có dấu hiệu chuẩn bị. Họ bảo không biết, nhưng thực ra họ biết. Chẳng qua che giấu cho nhau. Ban chỉ huy trại suy tính mãi. Đáng lẽ ra họ cũng phải xuống hố cứt. Nhưng xét đi xét lại, từ lúc vào trại họ đều hiền lành, chưa mắc lỗi gì. Cho nên, tha cho hình phạt ngâm mình dưới hố, nhưng cũng phải phạt để cho họ thấm thìa. Hai thầy trò phải đi gánh phân một tháng. Phải gánh hết hố phân đã hoai đổ ra ruộng và phải chặt đủ lá xanh rồi băm ủ hố phân mới.
Tôi thở phào. May mắn đã thoát được thứ hình phạt kinh hoàng. Tôi nghĩ chắc ông Bí thư Đoàn ủy, con người có thế lực cao đã che chở cho thầy trò tôi bằng một cách nào đó.
Ông trại trưởng nói tới đây thì có tiếng thầy giáo Hiếu kêu lên dưới hố:
-   Tôi lạy ông trại trưởng. Cho tôi lên bờ. Tôi van xin ông đấy!...
Mọi người đưa mắt nhìn xuống. Người ta thấy hai cái đầu trọc của hai người tù trắng xóa. Cái gì ngoe nguẩy thế kia? Trời ơi!... Những con dòi! Những con vật nhỏ bé, trắng nhởn, bóng nhẫy từ những kẽ nứt chui lên. Lũ sinh vật ngoe nguẩy lúc nhúc sao mà lắm thế. Những tiếng kêu thét của hai con người làm ta sởn tóc gáy.
-   Trời ơi! Chúng rúc vào mồm tôi!...
-   Ôi giời đất ơi. Chúng chui vào óc tôi rồi.
Sư cụ Vô Úy lúc này phải lên tiếng:
- Kính thưa cán bộ trưởng trại... Tôi nghe tiếng của ông giáo Hiếu hàng ngày. Tôi biết lúc này ông ấy đang nói thật... Tôi biết chắc lũ dòi đã chui vào óc ông ta... Thưa cán bộ... Tôi nghe giọng thật là thảm thiết, khác thường... ông Hiếu không nói dối đâu. Xin cán bộ hãy rủ lòng thương... Cứu một người phúc đẳng hà sa... Xin cán bộ dừng lại kẻo không kịp nữa...
Thầy tôi vốn có cái tài chỉ nghe tiếng nói, cảm nhận được nỗi đau của người khác, chỉ nghe âm sắc tiếng nói biết được cái thống thiết đã tới mức nào. Tôi nhìn mặt ông trưởng trại, thấy ông ta liếc nhìn đồng hồ đeo tay và lẩm bẩm: còn năm phút nữa. Thầy tôi nhìn vào mắt ông trưởng trại và hiền từ bảo:
- Tôi biết ông trưởng trại đã nghĩ trong lòng thế là đủ rồi. Sao cán bộ chẳng nói điều ấy ra?
Và tôi lúc này chợt nhớ ra cái tiếng nói thầm thì vô hình vô ảnh khi trước. Tiếng nói ấy phải chăng vốn là tiếng nói của thầy tôi. Thảo nào tôi nghe quen quen. Và tôi chợt hiểu thêm một điều về thầy tôi. Thầy chẳng những có thể nghe được nỗi đau của người khác, mà còn có thể truyền giao những cảm xúc từ bi của mình cho người khác. Phải chăng chính lúc này thầy tôi đang truyền giao lòng từ bi cho ông cán bộ, làm thức dậy cái tốt đẹp sẵn có trong ông ta và biến nó thành hành động.
Tôi sở dĩ nghĩ vậy, vì lúc ấy tôi thấy khuôn mặt sắt thép của ông trưởng trại bỗng như chùng xuống. Và ông ta đột nhiên ra lệnh:
-  Thôi được rồi. Cho ngừng lại.
Ông trại phó nghe lệnh, huýt một tiếng còi:
-  Cho hai anh lên bờ.
Hai người tù cuống quýt lên bờ. Riêng tôi, không hiểu sao, tôi đã tự động cởi chiếc áo đang mặc của mình ra từ lúc nào không biết. Hình như tiếng nói quen thuộc ấm áp lúc trước đã lại vang lên bên tai tôi: “Con lấy chiếc áo phủi cho lũ dòi rơi xuống. Nhè nhẹ thôi, kẻo chúng bị nát nhừ”. Trước thì tôi không biết, chứ bây giờ tôi nghĩ đó là tiếng của thầy tôi.
Và khi họ vừa lên bờ, tôi đã kịp thời dùng chiếc áo phẩy nhẹ lũ dòi khỏi hai chiếc đầu lâu kỳ dị. Hai khuôn mặt đầy dòi bọ trắng nhởn ngọ nguậy, phút chốc đang từ hình dạng ma quỷ đã trở lại thành những khuôn mặt người. Thầy giáo Hiếu lại trở về thầy Hiếu. Anh Tần lại ra anh Tần.
Ông trại phó lại rúc lên hồi còi cho phép hai người tù được ra suối tắm rửa. Hai người tù chỉ đợi có thế, vội ba chân bốn cẳng đạp phăng hàng rào, dẫm cả lên những luống cải đang trổ hoa vàng, vội vã đến vũng nước được hình thành từ dòng suối chảy ra, nhảy ùm xuống và ngụp lặn. Họ vặt những búi lá chó đẻ rồi ra sức kỳ cọ, hòng mong mùi thơm hắc của cỏ cây sẽ xóa đi cái mùi thum thủm mà dòng nước dù trong sạch thế nào cũng không thể làm phai đi được.
Cũng may, lúc ấy đã vào mùa xuân. Đã hết những đợt gió lạnh cắt da cắt thịt. Ông trưởng trại lại cho phép cởi trói và cho đốt một đống lửa ven bờ suối cạnh những bụi sim, bụi mua. Hàm răng của những người tù đã thôi đánh cầm cập. Anh Tần vạm vỡ nên đã trở lại bình thường. Chỉ có thầy giáo Hiếu là vẫn nhăn nhó. Thầy lắc đầu, ngoáy tai. Thầy ôm đầu, thỉnh thoảng lại rên la nhăn nhó. Thỉnh thoảng thầy lại yên được một lát. Có lẽ con dòi trong tai thầy giáo nhờ lửa ấm nên không ngọ nguậy. Tuy nhiên, sự yên tĩnh ấy không kéo dài. Chỉ vài phút sau thầy lại ôm đầu mà rống lên đau đớn. Thậm chí khoảng nửa tiếng sau, thầy bỗng như người điên rồ, nhảy cỡn lên chạy vòng quanh sân mà kêu trời. Có lẽ con dòi trong tai đang giãy giụa đục khoét. Sự ấm áp bên đống lửa làm con dòi ngủ quên, lúc này nó lại hoạt động.
Ông y sĩ trại giam phải sai người giữ chặt thầy giáo Hiếu lôi vào trạm xá. Thầy Hiếu vẫn lồng lộn kêu la, ông y sĩ phải trói vào chiếc chõng tre mà việc khám bệnh vẫn khó khăn. Cuối cùng, ông y sĩ phán rằng:
- Trường hợp này gay đây. Phải cho đi bệnh viện chuyên khoa Ô Rờ Lờ (ORL) mới xong. Nếu chậm, con dòi chui vào óc thì hết đường cứu chữa.
Ông y sĩ này vốn là y tá làm việc với Tầy ở bệnh viện Bạch Mai. Đi kháng chiến có thành tích nên được đề bạt làm y sĩ. Ông ta sính nói tiếng chuyên môn theo kiểu Tầy. Ông trưởng trại nghe phải chuyển bệnh nhân đi bệnh viện đã ngại, nay lại nghe ba tiếng Ô Rờ Lờ (ORL=oto-rhino-laryngologie=  tai mũi họng) của ông y sĩ nên càng ngại thêm. Ông ta vốn tin quần chúng vốn có nhiều mưu mẹo sáng kiến. Ông liền đứng ra giữa sân hô hào anh em:
-  Thầy giáo Hiếu bị dòi chui vào tai. Trong anh em, ai là người có khả năng chữa bệnh cho Hiếu?
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy Trắm giơ tay:
-  Tôi xung phong xin thử xem sao.
-  Anh đã làm y tá rồi sao?
-  Không, tôi làm thợ cạo.
-  Thợ cạo kiêm ông lang hả?
-  Không, tôi làm thợ cạo tồi, nhưng lấy ráy tai thì giỏi.
Trại trưởng vỗ đen đét vào đùi.
-  Giỏi! Tôi hiểu rồi. Đúng là quần chúng nhiều sáng kiến.
-  Nhưng điều kiện là phải có một cái dip dáy tai thợ cạo. Một cái dip đầu nhọn thật dài.
-  Không lo. Dip dáy tai thì có sẵn.
Chuyện này thì tôi hiểu. Trắm vốn là đứa khéo tay. Trắm lại chơi thân với Căn. Ông Trần bố Căn có thời đã nức tiếng về nghề lấy dáy tai. Nghe nói hồi trước Cách mạng đã có lần ông thoát khỏi tay bọn mật thám Tầy cũng là nhờ có tài lấy dáy tai. Ông Trần không muốn thất truyền cái nghề mọn quý báu mà thằng con ông là Căn với bàn tay chuối mắn sẽ không bao giờ thành tài, nên đã truyền nghề cho Trắm. Thằng Trắm giỏi bách nghệ - Người làng vẫn bảo thế - Nó đã thích nghề gì, cứ chạm tay vào là khắc làm giỏi. Nó bắt cá giỏi chẳng kém gì bố. Thợ cày cũng tài. Rổ, rá, thúng, mủng, lờ, giỏ tự tay nó đan truốt. Lúc rỗi rãi còn vác cái hòm thợ cạo đi các làng cắt tóc rong.
Trắm chuẩn bị lấy con dòi trong tai thầy giáo Hiếu ra có vẻ rất nghiêm trọng và khó khăn. Nó trói thầy giáo Hiếu vào cột hiên bắt một người giữ chặt đầu thầy giáo. Rồi nó tuyên bố:
- Con dòi chui rúc rất sâu. Sắp sửa vào óc rồi. Do đó lấy ra sẽ đau. Ngọ ngoạy đầu, đâm thủng màng nhĩ, đâm vào óc, tôi không chịu trách nhiệm. Ông muốn tôi lấy nó ra hay đưa đi bệnh viện cho người ta mổ óc ông ra? Muốn tôi làm chứ gì... Vậy thì ngồi yên! cắn răng lại nếu đau... Nào! Tất cả dãn ra cho đủ ánh sáng...
Trắm nheo mắt trái, mở to mắt phải, nín thở, bàn tay trái kéo căng vành tai thầy giáo Hiếu, rồi từ từ đưa cái díp dài ngoằng vào lỗ tai thầy giáo Hiếu. Thỉnh thoảng anh lại nói một câu ngắn:
- Thấy rồi. Tôi thấy nó rồi... Căng mọng... Được rồi... Đau hả? Chớ ngọ nguậy... Tôi rút nó ra đây... A ha! Tóm được cu cậu rồi.
Trắm giơ con dòi trắng nhẫy ra trước ánh sáng cho mọi người xem. Trại trưởng có vẻ hể hả.
- Cậu Trắm khá lắm! Thế là khỏi phải đi bệnh viện... Đồng chí y sĩ, hãy bơm thuốc sát trùng vào tai thầy giáo Hiếu cho chắc ăn. Hôm nay, cho cậu Trắm nghỉ một ngày...
Nhờ có chuyện con dòi kỳ lạ ấy, Trắm chiếm được lòng tin của ông trại trưởng. Cũng phải nói rằng, sự chiếm được lòng tin ấy còn nhờ vào việc ông này mắc nghiện lấy dáy tai, hoặc nhờ vào một kỷ niệm nào đó rất riêng tư của ông. Sau này, Trắm được đặc ân, được ông thường xuyên gọi đến nhà riêng giúp gia đình ông làm những việc vặt.
Sau cái ngày chịu sự nhục hình kỳ quái ấy, trong những ngày điêu linh ấy, tôi cảm thấy cuộc sống thật là trò hề, lại vừa bi thảm. Tôi buồn rũ hẳn đi, mặc dù tôi cố cưỡng lại. Nhất là về đêm. Ở rừng mà cũng lắm cú thế ư? Cú cũng kêu suốt đêm. Cứ cảm giác như là khu rừng có bao nhiêu cú đều tập trung lại đây tất cả. Có kẻ bảo: Người ở đâu khắc cú kéo tới đó. Chả là có người là có chuột, và có chuột là có cú. Đêm nào cũng nghe chuột rúc rích trên mái. Người ta nghe chuột rúc rích mà đoán điềm lành. Còn tôi nghe chuột rúc đêm mà mắt cứ căng ra không tài nào ngủ được. Thức thâu đêm, nghe gió rừng than thở, nghe muôn vạn con côn trùng ngoài thung lũng tấu lên khúc nhạc đệm rền rĩ bất tận, nghe những con ễnh ương phồng bụng, ngoác mồm van xin đất trời những giọt mưa ân huệ, rồi nhìn vài con đom đóm lạc loài từ rừng chui vào căn nhà giam khốn khổ để lập lòe bay lượn.
 
Trông con đom đóm bay, tôi lại nhớ tới cái Huệ, người bạn học của tôi. Lúc này Huệ ở đâu? Cái đêm bà Nấm và Huệ từ chùa trốn đi, tôi khắc khoải mất ngủ cả đêm. Cứ tưởng tượng ra bao nhiêu tai họa sẽ đến với họ. Người ta bảo thân gái dặm trường, vong gia thất thổ. Chúng tôi là lũ trẻ mới lớn... Bây giờ Rêu đã lìa trần... Không biết cô ở cõi nào? Cõi ngạ quỷ, chúng sinh? Người trong như pha lê ấy chắc đang trụ ở cõi trời. Căn thì trong quân đội, còn Huệ đang lưu lạc ở phương trời nào?
 
Sau cuộc trừng phạt, thầy tôi vẫn điềm nhiên, không hận thù. Thầy tìm hiểu, và biết rằng ông trại trưởng có một thời thơ ấu rất khốn khổ. Đi ở cho nhà giàu từ khi còn nhỏ. Không tấc đất cắm dùi, không học hành, bị đói khát, bị đánh đập hành hạ. Lớn lên lấy vợ. Vợ có chút nhan sắc bị cường hào cưỡng hiếp. Như thế cũng chưa hết. Tiếp đó, cô lại bị bà chủ ghen, lột truồng ra, treo lên đánh cho đến trụy thai...
Cuộc sống thảm thương thế đó. Cho nên người trại trưởng mang mối hận thù to lớn đi vào cách mạng. Cuộc cải cách là lỗ hổng xì hơi để hận thù bung ra biến thành bão to gió cả... Tôi hiểu thầy tôi muốn phân tích, muốn đi tìm cái Phật tính trong con người để mà tha thứ. Tôi còn bé nhưng tôi cũng hiểu chứ, tôi cũng biết tha thứ cho những kẻ hành hạ tôi chứ. Đức Phật bảo sân hận là một trong những nguyên nhân tạo thành đau khổ thế gian. Hận thù nối tiếp hận thù sẽ muôn đời muôn kiếp không tan. Cái vòng luẩn quẩn như thế sẽ chẳng bao giờ dứt. Tôi hiểu lắm chứ. Nhưng muốn thế con người phải có lòng cao thượng tuyệt vời. Mà tôi dù sao vẫn là kẻ phàm phu... Hay là tôi đang ngụy biện, hay là tôi đang cố tìm những lý lẽ để cố che giấu tâm hồn yếu hèn của mình?... Thú thật, khi thấy con người bị đẩy xuống hố phân, một luồng nộ khí đen ngòm, dù tôi cố ngăn giữ, vẫn cứ ngùn ngụt xông lên, che kín đặc tâm hồn tôi. Thú thật, tôi đã căm hận, mặc dầu những lời Phật dạy luôn ở trong tôi.
Sau cái vụ nhục hình hố phân ấy, thầy giáo Hiếu thoát chết, tôi và anh Tần trở lại bình thường, chỉ riêng thầy tôi bỗng trở nên ốm yếu. Cũng may, càng ngày cậu Trắm càng được lòng trại trưởng. Ông nghiên cứu lý lịch biết Trắm thành phần cố nông. Ông ra sức giáo dục Trắm:
- Thành phần cố nông là chỗ dựa của cách mạng. Tôi biết cậu tốt. Hoặc là cậu hàm oan, có điểm cách mạng chưa rõ. Nếu thế cậu phải làm cho rõ để lấy lại sự tin cậy của cách mạng. Hoặc là cậu nhất thời sai lầm nhưng chỉ là kẻ a dua, vì trẻ tuổi nên bị bọn chúng lợi dụng... Vậy tốt hơn hết, cậu phải đái tội lập công. Biết gì thì cứ tố... Tố càng mạnh càng tỏ rõ lập trường. Tố những kẻ nào ư? Bọn đầu sỏ chứ còn ai... Ví dụ như lão sư gia chẳng hạn... Bây giờ, tôi cho phép cậu đi sát bọn họ... Không sợ liên quan gì đâu... Cậu là bạn thằng chú tiểu chứ gì? Ở đây chỉ có cậu là người dễ gần bọn họ nhất... Hãy xem có phải chính lão sư đã tổ chức vượt ngục không?... Hãy để ý xem tổ chức của họ còn những ai?... Hãy nhớ rõ xem họ hay gặp gỡ những ai?... Cậu biết đấy... Tim ra được tổ chức của chúng, công của cậu là rất to...
 
Về sau, Trắm kể lại với tôi như thế. Tuy nhiên, trại trưởng lại không hề biết Trắm là con người vô cùng lương thiện. Anh là người hành động và suy nghĩ một cách hồn nhiên. Anh không thể làm ác hoặc vu oan cho bất cứ ai. Cái hồn nhiên của anh chính là cái lương tri của con người. Còn thầy tôi thì nói đó là Phật tính trong mỗi con người. Cho nên, không những Trắm chẳng làm hại thầy trò tôi, mà lại còn lợi dụng hoàn cảnh để giúp đỡ thầy tôi. Khi ấy, thầy tôi ốm lắm. Người bỗng nhiên gầy rộc đi. Lúc nào cũng hâm hấp sốt. Rồi tiếp theo là những cơn ho xé ruột xé gan. Những cơn ho dịu đi để nhường chỗ cho những cơn đau bụng... Trong những ngày tháng ấy, có lẽ cũng nhờ thân với ông trại trưởng nên Trắm luôn kiếm được trứng gà đem về, để cho tôi làm món “trứng gà lá mơ tam thể” chữa bệnh cho thầy tôi. Đến khi ấy sư cụ chỉ còn da bọc xương, không thể bắt đi lao động được nữa. Thầy tôi đi ngoài ra máu. Trước thì đi nhiều bận. về sau thì không thành bận. Ở lỗ hậu môn luôn rỉ ra thứ nước đỏ lờ lờ. Trạm xá cho thuốc cũng không khỏi. Người ta sợ bệnh lây lan, nên cách ly thầy tôi, cho ở trong cái lán nhỏ xa khu trại giam. Chẳng biết Trắm xin xỏ, lạy lục ông trại trưởng thế nào, mà ông ta cho phép tôi được ra đấy chăm sóc cho thầy. Có lẽ thầy tôi cảm thấy trong người yếu lắm rồi, cho nên nhân lúc còn tỉnh táo, người dặn dò tôi. Cho đến lúc ấy tôi mới hiểu thầy tôi rất yêu tôi:
- Con ơi! Nhớ lấy câu này nhé: “Con người ta sinh ra ở đời... tức là đã có duyên... hạnh ngộ... đã là hạnh phúc lắm rồi”... Phật dạy có sinh là có khổ... Đời vốn vậy... Sao ta lại buồn... Giải thoát là việc lớn... Mọi chuyện đều là nhỏ... Muốn thành sự việc gì ở đời... đều phải mệt nhọc đau khổ... Con của ta hay buồn... Ta biết đó là ưu điểm của con, mà cũng là cản trở của con...
 
Đêm hôm ấy, thầy tôi nói nhát gừng nhưng nói rất lâu. Tôi vừa khóc, vừa nghe. Có lẽ vì thế nên tôi không nhớ hết lời thầy... Đại khái, trong óc tôi chỉ còn lại những điều như vậy. Nói nhiều nên thầy tôi mệt. Thầy lịm đi. Tôi hô hoán lên. Mọi người ùa đến, nhưng ai cũng lắc đầu. Thầy tôi đã chìm dần vào cõi hôn mê.
 
Chính cái ngày buồn thảm ấy, Trắm chạy xuống căn lều nhỏ, cái nhà xác trong thung lũng giữa rừng, và hớn hở bảo tôi:
-  Sống rồi! sống rồi! An ơi!
-  Ai sống? - Tôi hỏi.
-  Chúng mình chứ ai!
Tôi lặng lẽ không nói gì. Còn Trắm giải thích:
- Tớ vừa ở trên nhà ông trưởng trại về. Có tin rất vui. Chính phủ mới ra sắc lệnh sửa sai. Thế là chúng mình sống rồi.
 
Lúc bấy giờ, tôi đang ngồi ủ rũ bên cái xác thầy tôi. Tôi như kẻ vô cảm trước cái tin thực sự là vui của Trắm. Trước cái xác của thầy, thực quả tôi thấy ở cõi đời này, giữa cái sống và cái chết thật quá mong manh. Buồn ư? Vui ư? Sao con người ta dễ dàng buồn vui lắm vậy. Thực sự lúc bấy giờ tôi như một kẻ dửng dưng. Bên cạnh cái xác của một con người thánh thiện, cái vui dễ dãi của con người là một điều xúc phạm. Hình như sự lặng im của tôi làm Trắm chợt hiểu. Cái vui bồng bột cũng qua đi rất nhanh. Anh nói: “Để tôi xem nào”, rồi cúi xuống nắm lấy tay thầy. “Hãy còn hơi ấm”. Anh lẩm bẩm. Xong rồi, ghé tai sát lồng ngực. Tiếp theo, lấy sợi tóc đặt trước mũi. Cuối cùng Trắm bảo:
-  Rất mong manh, nhưng hơi thở vẫn còn.
Tôi đứng yên bèn cạnh, bội phục sự bình tĩnh và tháo vát của Trắm. Không biết ai đã dạy mà Trắm biết cả những việc khi con người sắp lìa cõi đời. Trắm tất tả chạy ra khỏi cái lều xác, tôi cũng chẳng hiểu anh định làm gì. Một lúc sau, Trắm quay lại, hai tay bưng cái bát to. Tôi hỏi:
-  Bát gì?
-  Nước - Trắm trả lời.
Tôi nhìn vào cái bát đầy váng mỡ vàng khè.
- Không phải nước. Tôi nói - Cậu định cho thầy uống thứ nước này? Nếu tôi không nhầm. Đó là nước luộc thịt. Nước xương lợn. Thầy của tôi không bao giờ ăn thịt.
- Ừ đúng là nước thịt. Thì sao nào - Tôi ngần ngừ. Còn anh nghiêm khắc hỏi tôi - Cậu muốn thầy sống hay chết?
-  Nhưng...
- Không nhưng gì hết. Đừng có câu nệ vớ vẩn. Cứ thử xem sao.
Tôi bần thần, ngồi phịch xuống. Còn Trắm, anh thản nhiên cầm cái thìa múc thứ nước đầy váng mỡ kia, cậy mồm thầy ra, đổ vào. Tôi cúi đầu. Có tiếng cậu ta nói khẽ.
- Hay rồi!... Sư cụ liếm môi... Nước trần tục đấy... Nước của đời người chúng con đấy... Cụ nếm rồi... Con tin là cụ sẽ khỏi.
 
*
* *
Điều vô cùng kỳ lạ đã xảy ra. Nhờ bát nước xuýt, bát nước vật chất váng mỡ ấy mà thầy tôi lại quay trở về với cuộc đời. Trắm còn cho thầy tôi uống thứ nước trần tục ấy thêm vài lần nữa. Ông y sĩ có bộ ria nhỏ giải thích rằng, thầy tôi không mắc bệnh gì hết. Vì ông cụ quá ốm yếu, thân thể quá suy kiệt, lại thêm lao động mệt nhọc, cuộc sống ô uế, nên sinh ra bệnh. Sự thiếu thốn kiệt cùng đã gây ra phản ứng cơ thể. Đi ngoài ra máu tức là tín hiệu tột cùng. May mà Trắm nghĩ ra cách chữa dân gian. Trắm cười và bảo:
- Tôi chẳng nghĩ đến cách chữa dân gian. Tôi chỉ thương ông cụ thôi. Thương cụ cả đời chẳng biết ăn miếng thịt. Thì trước khi cụ chết. Hãy cho cụ ăn thịt xem sao. Chắc cụ chẳng nhai được thịt miếng. Thì cho cụ uống nước xuýt. Nước ấy chẳng qua cũng là thịt tan ra mà thôi. Cụ khỏi bệnh, chẳng qua là tôi gặp may.
Nghe câu trả lời vừa hài hước vừa báng bổ của Trắm, tôi chỉ ngồi lặng im. Tôi chẳng hề giận bạn tôi, mà lại còn cám ơn là đằng khác. Tôi còn hiểu thêm nghĩa của chữ tùy duyên. Nếu tốt đẹp, ta chẳng nên chấp trước một điều gì.
 
Nửa tháng sau, thầy tôi đã ngồi dậy được nhưng còn yếu lắm. Chúng tôi đã được sửa sai. Chúng tôi được phép quay trở về chùa cũ. Sư bác Khoan Độ mang lên trại một chiếc xe bò. Chúng tôi đặt thầy tôi lên xe. Sư bác làm bò kéo xe. Tôi và Trắm đẩy phía sau. Tôi nhớ lại lần tôi kéo xe bò đưa thầy tôi từ nhà tù “Đơ Bê” từ phố huyện trở về.
Đây là lần thứ hai tôi kéo chiếc xe bò cọc cạch đưa thầy tôi từ cõi chết trở về.
 
hêt chương 5




Đăng nhập để trả lời
0
Phần III - Về Cõi Nhân Gian
Chương I
 
Ngày giỗ tổ

 
Hôm ấy là ngày giỗ sư tổ Vô Chấp. Tổ có nhiều học trò vì người trụ trì ở hai nơi, chùa Ổi trên Hà Nội và chùa Sọ tại đây. Giá như ở thời xưa, con cháu tam bảo ở hai nơi đều tụ tập về đủ cả, chắc chắn ngày giỗ này đông vui lắm. Nhưng vì hoàn cảnh thời mạt pháp nên ngày giỗ cụ làm nhỏ thôi và làm ở hai nơi, hai ngày trước sau; như thế cũng tiện cho con cháu ở hai chùa đi lại.
Nay nói riêng về chùa Sọ.
Cái đêm hôm trước ngày giỗ, chập tối đã có con đom đóm to, xanh lè bay vào nhà chị Thì. Con đom đóm bay dọc suốt cả ba gian nhà, bay cả vào căn buồng đầu hồi của vợ chồng thằng Trắm, rồi lại bay ra lượn lờ quanh bàn thờ gia tiên, quanh quẩn nấn ná có đến hơn tiếng đồng hồ mới chịu bay ra sân, cuối cùng bay về phía chùa và biến mất. Đêm hôm ấy, chị Thì nằm mơ thấy cụ Thầm. Cụ hỏi con gái:
-  Này Thì, mày có nhớ ngày mai là ngày gì không?
-  Thưa u, con chẳng biết là ngày gì cả.
- Rõ đoảng. Đoảng ơi là đoảng. Mai là ngày giỗ sư tổ ngoài chùa. Con ơi, ngày xưa, lúc u mới sinh mày ra, nhà chẳng còn hạt gạo củ khoai. Bố mày đi nhủi tép ngoài đồng rét quá phải cảm, người sốt nóng như hòn than. Mẹ phải ôm mày ra chùa ăn mày cửa Phật. Sư tổ thương tình ra tay cứu giúp. Có sư tổ mày mới còn sống đến giờ, mới có con có cháu. Rồi sau đó nhà chùa còn cho cấy rẽ mấy sào đất tam bảo, nhà ta mới có cái mà sống. Đừng có quên. Không bao giờ được quên con nhé.
Chị Thì choàng tỉnh, mồ hôi toát ra như tắm. Và lúc ấy mới quá nửa đêm, chị đã hoàn toàn tỉnh giấc. Chị lục sục vào buồng lấy gạo nếp, rồi thắp đèn, đưa nắm gạo trong lòng bàn tay lên ngắm nghía. Chị bực mình lẩm bẩm vì rõ ràng chị đã nhắc vợ thằng Trắm rằng đây là gạo chỉ dùng trong những ngày giỗ tết. Thế mà nó giã chưa được trắng. Giần sàng cũng chưa được kỹ. Thế là chị lọ mọ một mình bưng thúng gạo xuống nhà ngang, đổ gạo vào cối rồi hì hụi một mình giã gạo. Tiếng chày thậm thịch vang trong đêm khuya. Đêm vắng lặng. Tiếng chày một mình chậm chạp thả nỗi cô quạnh vật vờ trong lũy tre làng, nghe buồn thối ruột. Tiếng chày đánh thức anh Lẫm dậy, làm anh không tài nào ngủ được nữa. Anh ra hiên rít điếu thuốc lào, rồi mò xuống nhà ngang hỏi vợ:
- Có chuyện gì mà mình phải giã gạo giữa đêm khuya? Đánh thức cả nhà dậy cả. Không khéo cả làng cũng thức dậy theo mình. Rõ là rồ!
Chị Thì trả lời chồng:
- Không sao! Nhà mình hẻo lánh rìa làng. Vườn lại rộng. Chẳng ai thức dậy vì tiếng chày của tôi đâu. Có khi tiếng chày xa xa còn ru người ta ngủ say thêm là khác.
Anh Lẫm bước lên, đạp cần cối giúp vợ. Chị Thì đủng đỉnh giải thích cho chồng rõ.
- Vừa rồi u về báo mộng làm tôi sực nhớ ra. Ngày mai là ngày giỗ cụ sư tổ ngoài chùa. Mình chịu ơn nhà chùa rất nhiều. Thế mà vô ơn, quên cả ngày giỗ của tổ là chẳng hay đâu.
Hai vợ chồng rủ rỉ bàn tính với nhau. Chị Thì nói:
- Tôi tính thế này: ngày mai nhà mình lên chùa tất cả. Tôi là đàn bà, phải lên chùa sớm hơn. Còn lo việc bếp núc. Chứ một mình cô Nguyệt thì biết xoay xở ra sao. Sớm tinh mơ, sau gà gáy, tôi sẽ đội gạo lên chùa.
- Không tiện đâu! - Anh Lẫm ngẫm nghĩ rồi trả lời - Mình không biết chứ, họp ban quản trị hợp tác người ta nói nhà chùa gay gắt lắm. Nào là phục hồi mê tín dị đoan ư. Nào là hữu khuynh để lại cho nhà chùa ba sào ruộng không vào tập thể hợp tác, tức là tư hữu, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa...
- Tư bản gì ba sào ruộng nhép ấy. Thế chẳng nhẽ không cho người ta sống hay sao? Nhà chùa có bốn người. Sư cụ thì già rồi. Sư Khoan Độ và chú tiểu An thì hợp tác xã hé môi sai làm việc gì cũng cung cúc làm ngay, chẳng phàn nàn lấy một lời. Ba sào ruộng một mình cô Nguyệt phải cáng đáng. Ba sào ruộng nuôi bốn người, rồi lại phải đèn nhang hàng ngày, rồi lại còn ngày rằm mùng một, giỗ tết. Hoa lợi ba sào ruộng tôi hỏi được bao nhiêu? Ban chủ nhiệm hợp tác xã phải vừa vừa thôi. Ông là đội trưởng, khi đi họp cùng ban chủ nhiệm, phải biết lựa lời bênh vực người ta với chứ. Người dân là thấp cổ bé họng. Nhà chùa cũng là dân, nhưng còn thấp cổ bé họng hơn nhiều.
Người chồng phải mềm dẻo dỗ vợ:
- Tôi bàn thế này mình nghe xem có được không. Tôi đi thì không tiện rồi. Tôi lên chùa tức là mình công khai ủng hộ mê tín dị đoan, chống lại ý kiến của chủ nhiệm hợp tác. Họ chỉ mong có thế thôi. Họ sẽ tước cái chân đội trưởng sản xuất của tôi. Thử hỏi đến lúc ấy, còn có ai là người trong làng này che chắn cho nhà chùa. Riêng mình, mình lên chùa thì chẳng sao cả. Bởi vì mình là con bà cụ Thầm. Mà cụ Thầm đã suốt đời nương bóng nhà chùa. Mình đi ăn giỗ cụ sư già. Đấy là lẽ đương nhiên. Còn thằng Trắm, sự thật nó lên chùa là phải, nhưng cũng như tôi, nó là xã đội phó, là cán bộ, nếu lên chùa cũng không tiện. Cũng may, mấy hôm nay nó đang họp trên huyện. Còn con cái Hiếu, vợ thằng Trắm, nó đang bận con nhỏ. Đàn bà bận con, không lên chùa, thì cũng chẳng ai nỡ trách.
Cái Hiếu, không biết đã đứng ở nhà ngang tự lúc nào, bỗng lên tiếng. Nó nói rõ ràng dứt khoát:
- Thầy u ạ, con đã nghe hết mọi chuyện thầy u bàn tính rồi... vâng... cháu nó đang ngủ say. Con xuống đây giúp u sàng gạo... Mà con xin thưa với thầy thế này. Ông con, cụ chánh ấy, ngày xưa cũng là học trò của sư tổ chùa làng. Ngày xưa con biết sư cụ Vô Úy và ông con vẫn hàng ngày qua lại với nhau, rồi nhận nhau là anh em. Nay ông con chẳng may thiệt phận đi rồi. Nhưng đã là học trò thì dù thế nào cũng vẫn là học trò. Ngày giỗ thầy, học trò phải theo giỗ. Nay ông con mất rồi. Con xin được thay cho ông con lên chùa. Vợ chồng con chưa ở riêng, nên tuy chưa đội gạo lên chùa, cũng xin được đến cúi lạy trước tam bảo.
Xong câu chuyện, cối gạo cũng đã trắng. Hiếu lấy cái trạc chữ Y chống cần cối lên, rồi vét gạo ra sàng sẩy. Chị Thì lấy nắm gạo lên lòng bàn tay xem xét. Nhìn những hạt gạo trắng muốt, thơm thoảng, óng ả, mười hạt như một, mắt chị sáng lên vẻ hài lòng. Cũng khi ấy, con gà sống mơ ngoài chuồng cất tiếng gáy ran.
Chị Thì đổ gạo vào thúng, đặt thêm lên trên gạo một nải chuối, một thẻ hương. Chị khoác lên người chiếc áo dài màu nâu, chiếc áo mà chỉ những ngày trọng đại, một năm đôi ba lần mới xỏ tay vào. Chị Thì đội gạo lên chùa. Theo sau là Hiếu, cô con dâu bồng đứa con vẫn say sưa ngủ. Hiếu lấy chiếc khăn vuông che sương cho con. Miệng Hiếu cắn vào một góc chiếc khăn nên không nói được ra tiếng. Vừa đi, Hiếu vừa nựng con bằng cái thứ tiếng nâng niu ậm ừ trong cổ họng, thứ ngôn ngữ ấm áp của người mẹ. Chẳng ai biết người mẹ đang nói gì với con, nhưng chắc là đứa bé hiểu, bởi vì qua ánh sáng bàng bạc của đêm sáng trời, người mẹ nhìn thấy đứa bé mỉm cười rồi nó lại tóp tép cái mồm trông đến là yêu. Vừa đúng lúc ấy mẹ con chị Thì đã đến trước tam quan. Đã nghe thấy một hồi chuông ngân nga và tiếng mõ trong tòa thượng điện. Sư cụ đã bắt đầu làm lễ.
* * *
Không thấy chú An; sư bác Khoan Độ là người nhận lễ. Sau khi đặt nải quả và hương lên bàn thờ, ba mẹ con bà cháu nhà chị Thì ngồi xệp xuống chiếc chiếu sau lưng sư cụ kính cẩn làm lễ. Sau đó họ nhanh chóng xuống ngôi nhà lá cạnh ao chùa giúp cô Nguyệt chuẩn bị cỗ.
Chị Thì và cô Nguyệt gặp nhau tay bắt mặt mừng. Cô Nguyệt khoe luôn:
- Chị Thì à, đêm qua u chị, cụ Thầm về thăm em đấy. Em thấy một con đom đóm rõ là to, rõ là xanh, xanh biêng biếc, cũng lập lòe, nhưng lập lòe rõ là chậm. Cụ già rồi mà. Suýt soát chín mươi mới chết. Chậm chạp như vậy mới đúng là cụ. Em khấn: “U ơi nếu thực là u thương con, u về thăm con thì u hiển linh cho con biết”. Em khấn xong, cây hương trên bàn thờ đột nhiên cháy bùng. Thế mới biết u thật là thiêng...
- Thế thì đúng rồi - Chị Thì xác nhận - Chập tối đêm qua u cũng về thăm chị. Thăm nhà chị trước rồi mới đến thăm nhà em. Chị không khấn như em nhưng chị biết chắc là u. Bởi vì người bay suốt ba gian nhà. Thăm hết các xó xỉnh. Bay cả vào buồng con Hiếu. Cụ thăm cháu cụ đấy. Cụ không hiển linh như ở chùa, nhưng cụ thiêng thì là điều chắc chắn. Bởi vì cụ báo mộng cho chị đấy. Chị thật đoảng. Chạy công điểm hợp tác xã lu bù ngày nọ qua ngày kia đến nỗi lú lẫn quên mất cả ngày giỗ sư tổ trên chùa. Thế là cụ mắng cho một trận. May mà cụ nhắc cho, nếu không em lại phải vất vả một mình.
Cô Nguyệt cười:
- Em đời nào lại chịu làm một mình. Nếu cụ không nhắc chị, thì chỉ lát nữa thôi, em sẽ đến nhà chị bắt chị ra cho bằng được. Chị có quên thì cũng phải nhớ.
Cái Hiếu đã đặt con ngủ xong, chạy ra đãi đậu. Nó hỏi:
- Cô Nguyệt ơi. Nhà chùa năm nay có đỗ xanh mẩy và sóng quá nhỉ.
- Của sư thúc Vô Trần gửi về đấy. Ba bốn năm bặt tăm. Năm nay gửi đỗ lễ về trước. Không biết người có về giỗ cụ năm nay không?
Cô Nguyệt làm cỗ chay thật khéo. Chỉ bằng các loại đỗ, các loại gạo, các loại củ quả, hoa lá, cô có thể chế ra đầy đủ, giò, nem, ninh, mọc... Cách chế biến thật tinh xảo và phức tạp: nào giã nhuyễn, nào cán mỏng, nào gói tròn gói vuông; rồi thì rán, thì hấp, thì đồ, thì chưng... Phải mất tới mấy tiếng đồng hồ mới xong.
Làm lễ Phật ở đại điện xong, sư cụ mới làm lễ cúng ở nhà tổ.
[h5]Khoảng mười giờ sáng, có tiếng còi ôtô ở ngoài tam quan. Rồi một chiếc commăngca (ô tô con, có động cơ khoẻ, thường dùng trong quân sự. )[/h5]  qua cổng lớn chạy vào đỗ ở sân chùa. Rồi một cô gái bước xuống. Cô trạc ngoài hai mươi tuổi. Tóc tết thành hai chiếc đuôi sam dài thả xuống hai bên vai. Cô mặc quần đen, áo sơmi màu trứng sáo, đi dép nhựa. Tay cô xách chiếc làn nhựa đỏ đựng hoa quả và một thẻ hương. Cô có đôi con mắt rất dài và rất đen. Cả mớ tóc trên đầu cô cũng đen nhánh. Ở cô toát ra sự thanh sạch và hiền hậu nhưng thoáng chút buồn buồn. Dáng đi của cô uyển chuyển và khoan thai. Chẳng có chút hấp tấp vội vã. Người xem tướng có thể đoán cô sẽ có một tương lai thanh thản và nhàn nhã.
Sư Khoan Độ bước ra đón khách.
-  A di đà Phật - Cô gái cung kính chắp tay trước ngực chào.
- Ai di đà Phật - Sư Khoan Độ trang nghiêm đáp lễ, rồi đỡ lấy chiếc làn đồ lễ, dẫn khách vào chiếc bàn kê ở góc sân - Xin cho nhà chùa được phép hỏi thí chủ...
- Kìa sư bác, không nhận ra được tôi ư. Tôi là người làng Sọ đây mà.
-Dạ...
- Sư bác Khoan Độ vẫn chưa nhận được rồi. Tôi là con ông Vô Trần. Sư bác đã nhớ chưa?
- Vâng. Cô Huệ. Cô khác xưa nhiều quá. Gần chục năm rồi còn gì. Ngày xưa cô còn bé tí. Ngày xưa, cô đi học cùng với chú An... Hóa ra là người nhà... Sư thúc tôi hôm nay có về không?
- Thầy tôi năm nay cứ định về giỗ tổ. Mấy hôm vừa rồi cứ nắc nỏm nhắc tới ngày về. Nhưng hôm qua lại nhận được lệnh phải đi dự một cuộc họp quan trọng. Thành thử, tôi phải về một mình.
Họ làm lễ xong, rồi xuống nhà tổ. Sư cụ Vô úy ngồi ở tràng kỷ. Cô Huệ cung kính khom lưng vái lạy:
- Dạ thưa, thầy con hôm nay bận việc quân đội, sai con về trước là lễ Phật, lễ tổ, sau nữa là thăm sức khỏe sư cụ Thầy con, tuy xa chùa, nhưng luôn nhớ tới sư huynh của người. Khi tổ viên tịch, cha con may mắn được sư thầy dạy dỗ, chẳng khác nào người cha thứ hai... Cho nên, cha con không về được đã sai con thay mặt cha về kính lạy sư cụ. Cha con nói rằng lúc nào cũng đinh ninh trong dạ những lời dạy bảo của sư tổ trước khi ra ngoài đời.
Sau khi Huệ đã làm xong mọi nghi lễ, sư cụ và Huệ ngồi nói chuyện. Sư cụ cứ đăm đăm nhìn cô cháu. Có vẻ sư cụ hài lòng với cô cháu có gương mặt và cử chỉ hiền hậu. Cụ nói :
- Kể từ ngày cải cách, con trốn khỏi làng, dễ thường đã được hơn mười năm rồi đấy. Từ đó không có tin tức của gia đình con. Cũng nghe loáng thoáng người mất kẻ còn, ta xót thương lắm, hôm nay được trông thấy con thế này, ta mừng vô cùng.
Huệ chớp chớp mắt. Câu nói của sư cụ bỗng làm trỗi dậy trong tâm trí cô gái cái đêm kinh hoàng trên con sông Hồng hung dữ. Đêm hôm ấy, hai mẹ con Huệ nhảy xuống dòng sông giữa những con sóng. Nước đã cuốn Huệ đi. Hình như cô đã bám được vào một khúc gỗ. Rồi nước đưa cô vào bãi giữa. Huệ ngất đi chẳng biết gì nữa. Khi cô tỉnh dậy thì thấy mình nằm bên một bếp lửa. Những người dân tứ xứ đến làm ăn vào mùa khô trên bãi giữa đã cứu sống cô. Cô gái gần như hóa câm suốt ngày khóc, phải hàng tháng sau đầu óc mới dần dần tỉnh lại. Cô đi tìm cha. Cũng đúng lúc ấy thì sửa sai. Cô đến Bộ Quốc phòng. Ông Vô Trần lúc ấy là một Chính ủy Trung đoàn cũng có chút tiếng tăm, cho nên Huệ dễ dàng tìm được cha mình. Cả một quãng đời bi thương nhưng cũng không thiếu tình người nồng ấm, vì vậy Huệ mới không hóa điên. Tuy nhiên, dấu vết của quãng thời gian ấy vẫn không phai mờ trong cô. Huệ đã trở thành một cô gái trầm ngâm và có chút u buồn.
Nghe sư cụ hỏi, quãng đời ấy bỗng trỗi dậy, nhưng Huệ không muốn nhắc đến nữa. Cô chỉ trả lời một cách ngắn gọn:
- Bạch sư cụ. Mẹ con chẳng may qua đời. Thầy con thì bận việc quân sự. Con được đi học đến hết lớp mười thì vào học trường y sĩ. Con ở tập thể. Nay sắp ra trường.
- Vậy là rất tốt. Con làm nghề chữa bệnh cho người thật quý hóa vô cùng.
- Bạch thầy. Kỳ này cha con sắp vào chiến trường. Chẳng biết đến bao giờ mới được về thăm sư cụ. Cho nên, không về giỗ tổ lần này, cha con lấy làm băn khoăn lắm.
Câu chuyện dần dần chuyển sang những người làng Sọ. Đến lúc bấy giờ Huệ mới được biết cái Rêu đã trẫm mình ở cái giếng thơm ngoài vườn chùa. Cạnh giếng bây giờ dân làng xin nhà chùa cho xây một cái miếu nhỏ, bởi vì ai cũng tin rằng những bà cô tự tử chết trẻ bao giờ cũng rất thiêng. Nói rằng dân làng đề nghị xây nhưng thực ra là bà Thêu đề nghị xây. Bà Thêu hiện giờ làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, lại là vợ ông chủ tịch huyện. Bà Thêu đã đi bước nữa, ông chủ tịch chồng bà lại chính là anh Khoát, anh cán bộ đội cải cách hét ra lửa khi xưa. Cô Rêu chết trong cải cách ruộng đất, bà Thêu lại lấy anh đội cải cách. Có lẽ trong lòng bà và cả trong lòng chồng bà nữa, đã có chút gì là sợ sệt, là ân hận chăng, cho nên trong việc xây miếu cho cô Rêu, bà và chồng bà tích cực lắm, dù cho việc xây ấy có sinh ra dư luận. Chi bộ bảo thế là mê tín dị đoan, chuyện này có thể ảnh hưởng không tốt tới lập trường, tới con đường công danh tiến lên của ông bà; thế mà ông Khoát, bà Thêu cứ lơ đi, không đếm xỉa đến dư luận.
Khi nói đến Rêu, Huệ cứ đưa mắt nhìn ra cửa như muốn nói một điều gì mà không nói được. Đúng lúc ấy, từ cửa xuất hiện một bóng người, đó là Hiếu. Hiếu nghe tin Huệ về, bế con lên với bạn. Huệ ôm lấy đứa trẻ và tíu tít cùng bạn đủ mọi chuyện:
-  Tên thằng bé là gì?
-  Tên là Chép.
- Rõ khỉ. Bây giờ là đời mới rồi. Mà nhà chúng mày vẫn cứ đặt tên con như thuở ngày xưa. Sao không đặt tên khác cho nó đẹp.
- Bố là Trắm, con là Chép. Cũng hay cũng đẹp chứ sao.
-  Ừ nhỉ! Ông Trắm đâu?
- Thưa với cô, anh Trắm bây giờ là xã đội phó. Sáng nay anh ấy bảo đi họp huyện. Họp gì mà lắm thế. Sắp trưa rồi vẫn không thấy mặt.
-  À mà cả... chú tiểu An cũng chẳng thấy đâu.
Nói ra được câu nói mà từ lúc đầu Huệ đã muốn hỏi sư cụ nhưng không dám, Huệ nhẹ cả người. Nhưng nói xong Huệ cảm thấy má mình nóng bỏng. Không biết nóng mặt thế này, má mình có ửng lên không. Huệ thẹn thùng suy nghĩ. Chắc là có ửng. Chẳng thế mà cái Hiếu tủm tỉm cười. Giá mà ở chỗ khác, chắc cái Hiếu phải trêu Huệ đến chết. Nhưng không khí trang nghiêm cửa Phật không cho phép nói những điều sàm sỡ, nên Hiếu nghiêm nét mặt lại ngay. Cô bảo bạn:
- Bây giờ không còn là chú tiểu như xưa nữa đâu. Bây giờ phải gọi An là sư thầy An.
- Bạch cụ, pháp hiệu của sư thầy An là gì, con quen miệng gọi thầy An nên không nhớ được.
Sư cụ hiền từ trả lời:
- Chú ấy đã được thọ giới cụ túc. Ta đặt cho pháp danh là Khoan Hòa. Sư huynh là Khoan Độ. Sư đệ là Khoan Hòa. Khoan Dung và Hòa Thuận. Hòa là hạt thóc. Hòa ở chữ hài hòa, hòa hảo, hòa bình, hòa hiếu... Kể cũng dễ nhớ đấy chứ.
Nghe sư cụ giảng giải chữ Hòa, mắt Huệ cứ như mơ màng. Nó vốn đã buồn buồn, lúc này hình như lại buồn thêm một chút. Rồi sư cụ bỗng dưng sực tỉnh và có vẻ ngạc nhiên:
- Có lẽ sắp đến ngọ rồi nhỉ. Quái lạ sao hôm nay thầy An về muộn thế. Mọi hôm chỉ khoảng chín giờ là về.
- Bạch cụ, hàng ngày sư thầy An vẫn phải đi đâu mà chín giờ mới về? - Huệ ngạc nhiên hỏi.
- Chả là thế này. Bà Thêu chủ nhiệm hợp tác vừa đến chùa giải thích: Mọi công dân dù ở nhà hay ở chùa đều vẫn là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong độ tuổi lao động, thì người công dân phải đóng góp ngày công cho việc xây dựng làng xã. Anh An tuy đi tu, nhưng dù sao vẫn là công dân. Vậy thì, mỗi năm anh An phải đi đắp đê hoặc làm việc công ích mười lăm ngày. Đợt này, hợp tác xã gọi An đi đào mương. An còn phải học tập và làm phật sự ban ngày. Cho nên An xin phép được nhận khoán và làm việc ban tối. Mỗi ngày khi đánh kẻng, xã viên ra đồng đào mương. Hết giờ, khi đánh kẻng mọi người ra về, thì An ra đồng nhận việc. Hợp tác xã cắm cột mốc giao khoán. An tranh thủ, lúc thì làm vào buổi hoàng hôn, lúc thì làm trước buổi bình minh cho đến khoảng chín giờ thì về... Mà thôi, thế này vậy nhé. chắc thầy An mắc bận chuyện gì đó. Đã trưa rồi. Chả có khách lạ. Chỉ toàn người nhà. Ta để phần thầy An. Xin dọn cỗ ở nhà tổ để tất cả mọi người cùng thụ lộc tổ.
Cỗ được bày trên bàn. Mọi người ngồi hai bên tràng kỷ. Mọi người mới bưng bát lên thì nghe tiếng con chó già rít lên mừng rỡ. Rồi một bóng người xuất hiện ngoài sân. Con chó già cứ bíu lấy ríu rít, nhảy chồm lên tới ngực anh ta. Sư cụ cười:
- An đã về hả con? Thôi, vàng ơi, buông ra cho thầy mày đi chứ. Gớm! Mới xa nhau từ sáng tới giờ... cứ làm như thể đã xa nhau hàng tháng. - Nói xong, sư cụ cười móm mém và bảo:
- Chú An rất có duyên với súc vật. Từ khi chú ở chùa, thường dễ đã nuôi đến gần chục con chó. Con nào cũng quấn quýt với chú ấy. Còn nhớ cái bận thầy trò ta đi tù. Lúc ấy nhà chùa nuôi con chó vàng. Khi chú An bị bắt, con vàng lồng lộn như điên định cắn các anh du kích. Người ta phải cho chú An dừng lại ngồi xuống, ôm lấy nó, vuốt ve nó, như thế mới móc được cái xích vào cổ, và có thế du kích mới giải chú An đi được.
Sư cụ Vô Úy nói đến đấy thì dừng lại. Hình như cụ cảm động khi nhắc lại chuyện xưa. Cô Huệ nhìn cụ sư già, đọc thấy những tình cảm trìu mến trên gương mặt cụ, đọc được cả tình cảm đặc biệt ấy trong giọng nói buồn buồn của cụ ở đoạn cuối câu chuyện:
- Có phải không nhỉ, hả thầy Khoan Độ... Khuyển mã chi tình mà. Chú An đi thì con chó cũng bỏ ăn. Thầy Khoan Độ phải dỗ dành: “Con cố mà ăn, cố mà sống. Kẻo rồi lúc chú An về, thầy trò lại chẳng được gặp mặt nhau”. Con vật hiểu được tiếng người đấy. Nghe câu ấy, con chó mới chịu ăn. Nhưng ăn lẻo lớt quá nên cứ ốm lơ ốm lửng. Nó gần chết thì có tin sửa sai. Thầy Độ lại bảo nó: “Cố mà sống thêm vài hôm nữa. Chờ tôi đi đón sư cụ và chú An về hãy chết”. Con vàng nghe vậy liền cố gắng sống thật. Khi chúng tôi về đến chùa, nó còn đủ sức bò ra đến sân trước. Khi chú An ôm nó vào lòng, nước mắt con chó chảy ròng ròng. Chỉ đến lúc ấy nó mới chịu nhắm mắt.
Huệ đăm đăm nhìn người bạn thuở ấu thơ đứng ở thềm nhà tổ. Không còn nhận ra được người bạn thân thiết hiền lành thuở nào. Đó là một chàng trai cao cao gầy gầy. Đầu cạo trọc nhẵn. Môi đỏ. Mắt sáng. Trán rộng. Trẻ măng mà đã có những nếp nhăn. Giá như anh không mặc bộ quần áo nâu bạc, và không có nước da ngăm ngăm dãi dầu, thì ta tưởng anh là một thư sinh hơn là một nhà sư. Thầy An tức là thầy Khoan Hòa tay chắp trước ngực:
- Bạch thầy, con về muộn. Đào mương xong con định về thì có lệnh phải lên ủy ban. Con xin lỗi và chào chư vị.
-  Có việc gì không hả con?
-  Dạ chuyện bình thường. Chuyện riêng thôi ạ.
Huệ vẫn đăm đăm nhìn An, không nói một lời. An vẫn chưa nhìn thấy Huệ. Cô Hiếu vừa chỉ vào Huệ vừa lên tiếng hỏi:
-  Thầy An có biết ai đây không nào?
Lúc bấy giờ An mới nhìn cô gái lạ.
- Dạ... thưa... tôi chưa... À... À... Có phải... cô Huệ không ạ... Vâng... Đúng là cô Huệ... con sư thúc phải không ạ.
Mọi người đều cười, khen sư thầy có trí nhớ lâu. Đã mười năm rồi mà vẫn có thể nhận ra người bạn thuở nhỏ.
Mọi người liền ngồi nhích ra, để thầy An ngồi cạnh cô Huệ. Bữa ăn chay bỗng trở nên vui vẻ. Nó không đông người nhưng hoàn hảo. Hoàn hảo không phải vì có nhiều người từ xa đến, mà hoàn hảo vì những người có liên quan đến những vui buồn của ngôi chùa đều có mặt, hoặc ít nhất cũng cử những hậu duệ của mình đến dự. Hậu duệ nhỏ bé nhất là thằng cu Chép. Nó mới hơn một tuổi đang bi bô tập nói. Nó reo lên nói tiếng “Giò! Giò!”. Sư cụ gắp cho bé hai miếng giò chay. Mỗi tay một miếng. Người ta không nhắc lại chuyện buồn mà chỉ nói chuyện vui. Lúc bấy giờ Huệ mới bảo An:
- Em chịu không nhận được ra anh. Thế mà anh vẫn nhận ra em. Tài thật.
- Tài gì cơ chứ. Đôi con mắt ấy thì quên sao được.
- Đôi mắt làm sao?
- Mắt dài khác hẳn mọi con mắt. Và buồn nữa chứ.
- Buồn ư? Anh tài đoán thật. Nhưng đừng tưởng... Em cũng có tài đoán người khác đấy.
- Cô đoán được gì ở tôi nào?
- Đoán rằng anh đang tư lự. Muốn giấu một điều gì nhưng giấu không nổi. Có đúng không nào?
-... Thì... thầy bói đoán mò.
- Chẳng mò đâu... Có chuyện gì mà phải lên ủy ban? Thử thành khẩn xem nào...
- Ờ... ờ...
- Đúng rồi chứ gì. Sợ nói ra, mọi người ăn mất ngon chứ gì...
Hai người còn đang truy hỏi nhau thì con chó già bỗng cắn rộn lên ở phía tam quan. Có tiếng người dậm chân vỗ tay dọa con chó. Chú chó già từ sân trước cứ lùi dần, lùi mãi cho đến sân nhà tổ. Đến đây, cậy có mọi người, nó không lùi nữa, mà đứng ngay giữa sân hung hăng sủa váng trời đất. Người truy kích con chó là một trang thanh niên vạm vỡ tóc rễ tre đen nháy, lông mày rậm đen nháy. Con người cao to lực lưỡng đó cất tiếng ồm ồm:
- Con xin chào sư cụ ạ.
Người reo lên đầu tiên bằng thứ tiếng bi bô là cu Chép:
- A a... Bố! Bố!
Sư cụ thân chinh đứng dậy ra đuổi chó và nghênh tiếp anh Trắm xã đội phó. Trắm nói, sau khi bước vào nhà:
- Hôm nay là ngày giỗ sư tổ. Bà ngoại con, gia đình con đã được ăn mày cửa Phật. Con phải có mặt trong một cuộc họp trên huyện nên bây giờ mới tới được để dâng hương cúng tổ.
Sự cụ Vô Úy hôm nay rất vui. Có lẽ sự có mặt của cô Huệ đã góp nhiều vào niềm vui ấy. Đã bao năm rồi bặt tin của Vô Trần, hôm nay cụ mới nhận được đầy đủ tin tức về gia đình người sư đệ lưu lạc này. Dù ông ta không về chùa được, song Huệ đã về, tức là ông ta vẫn không quên cái ngôi chùa làng vô danh này, tức là ông ta vẫn không quên người đồng đạo sư huynh đã rất yêu mến ông, cùng chia ngọt sẻ bùi với ông suốt một thời ấu thơ. Ông sư già lạc vào những suy tưởng, bỗng giật mình vì cái giọng trầm ồm ồm của anh xã đội Trắm. Anh ta đang nói với cụ đấy:
- Bạch sư cụ. Bữa nay nhân tiện họp mặt cả nhà đầy đủ con cũng xin thưa với cụ một điều, một tin thật là quan trọng. Mà cũng có thể đó là tin vui... xã cân nhắc khá kỹ lưỡng... Mà huyện cũng cần nhắc cẩn thận... Đối với nhà chùa, đây cũng là sự tin tưởng ở trên...
Anh xã đội cất lời đã làm mọi người chú ý. Cách nói rề rà, vòng vo của anh ta càng làm mọi người chú ý, chờ đợi. Chờ đợi, bởi vì cái ý chính anh ta nói mãi vẫn chưa hiện ra. Cuối cùng, Trắm mới độp một câu:
- Trên đã ra quyết định: Kỳ này chú An được nhập ngũ, kỳ này chú An sẽ là anh bộ đội cụ Hồ.
Mọi người đưa mắt nhìn An. Người sư trẻ đầu hơi cúi. Tự nhiên An thấy mặt mình nóng lên. Huệ cũng quay sang nhìn An. Đôi mắt cô mở to. Cô là người đầu tiên nói lên sự ngạc nhiên:
- Sư mà cũng đi nghĩa vụ quân sự sao?
- Chứ sao! Ai chả có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. - Trắm hồn nhiên nói to giải thích - Chú An hai tư tuổi, khỏe mạnh, thông minh, được sự dạy dỗ chu đáo của nhà chùa. Kỳ này, vào bộ đội, ở một môi trường mới, chú càng được dạy dỗ và rèn luyện chu đáo hơn. Mà, vào bộ đội đâu có dễ. Con ông trưởng bạ, học hết lớp chín, làm đơn tình nguyện cũng có được đi đâu. Trên không duyệt thành phần bóc lột. Còn chú An, người ta biết cả cha lẫn mẹ đều bị giặc Pháp giết. Thành phần trong sạch. Vinh dự lắm chứ! Sáng nay tôi họp trên huyện cũng là vì chuyện ấy. Lúc nãy, mời chú An lên xã cũng là vì chuyện ấy...
Huệ nói riêng với An, lúc ấy vẫn còn đang cúi đầu:
- Nào! Em xin có lời chúc mừng anh bộ đội. Nào! Cứ giấu mãi! Thế mới biết em xem tướng tài thật. Lúc nãy em đoán anh tư lự như giấu một điều gì. Hóa ra là việc anh sắp đi bộ đội...
Đến đây, mọi người tưởng câu chuyện chỉ có thế, thì Trắm lại tuyên bố thêm một câu nữa làm mọi người càng ngạc nhiên thêm:
- Kỳ này, cả tôi cũng gia nhập quân đội. Trên cũng cân nhắc và đồng ý rồi. Làng Sọ chúng ta đã đăng ký rồi: Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người.
Bây giờ thì đến lượt cô Hiếu, vợ anh cũng tròn mắt ra ngạc nhiên.
Hóa ra, bữa tiệc chay hôm nay, ngoài việc giỗ tổ, còn là buổi họp mặt kính cáo lên chư Phật và chư tổ rằng, từ ngôi chùa quê nhỏ bé này, có hai người con sắp sửa lên đường.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.02.2018 23:02:58 bởi Ct.Ly>
Chương 2
 
Tân binh
 
 
Tôi cố gắng đào cho mau xong khúc mương mà hợp tác xã giao khoán để kịp về chùa giúp mọi người chuẩn bị việc cúng bái làm giỗ sư tổ. Nhưng vừa sắp xong việc thì anh giao thông xã đi tới:
- May quá! Sư thầy vẫn còn ở đây. Có việc khẩn, ủy ban ra lệnh triệu tập gấp thầy đến trụ sở sáng nay. Có mặt đúng tám rưỡi. Thôi! Việc đào mương chưa xong cứ để đấy. Rửa tay chân cho sạch. Đi ngay bây giờ là vừa.
Tôi đến ủy ban, chờ một lát, thì bà Thêu, Chủ nhiệm hợp tác thôn kiêm Phó bí thư Đảng ủy xã xuất hiện. Bà mời tôi vào phòng làm việc. Bà đặt chiếc túi dết bằng vải xanh lên mặt bàn rất ngay ngắn, rồi tươi cười với tôi:
- Xin có lời chúc mừng anh An. Xin lỗi nhé. Từ nay không gọi là sư thầy nữa. Mọi người sẽ xưng hô với anh là anh An. Thế nào? Anh nghe thấy thế nào? Sư thầy An! Nghe xa cách quá! Còn anh An! Nghe thân tình hơn chứ nhỉ? Xin chúc mừng anh được trở về gần gũi với mọi người.
Mới gặp tôi, khi tôi chưa nói một lời bà Thêu đã nói một thôi một hồi như vậy. Nói xong, còn bắt tay tôi rất chặt, rất nồng nhiệt. Tôi ngớ ra, ngạc nhiên không hiểu bà chủ nhiệm kiêm phó bí thư chúc mừng tôi về chuyện gì. Lúc ấy, bà mới giải thích:
- Anh An ạ, Đảng ủy xã đã họp, đã phân tích cặn kẽ. Sở dĩ phải như vậy, vì anh đang là thanh niên, cũng là một công dân. Dù là sư, cũng vẫn là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mà đã là công dân thì ai cũng có quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Quyền lợi tức là có quyền bình đẳng trước pháp luật, có quyền làm người, có quyền bầu cử v.v... còn nghĩa vụ công dân, đã là người công dân, ai ai cũng phải có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Thế nào anh An, công dân An, anh có đồng ý với lời tôi nói không?
-  Thưa bà chủ nhiệm, tôi đồng ý. - An rụt rè trả lời.
- Thế là tốt. Bây giờ ta nói chuyện cụ thể. Khi nãy, tôi nói về nguyên tắc, về quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Còn bây giờ cụ thể như thế này: Đợt này, xã đã duyệt xong danh sách nghĩa vụ quân sự. Trong danh sách có tên đồng chí Nguyễn Văn An, hai tư tuổi, hiện thường trú tại chùa Sọ, nghề nghiệp tôn giáo. Ngày lên đường nhập ngũ - mồng 5 tháng Tư năm...
Nghe xong, tôi như bàng hoàng. Bởi vì, tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện này. Trong những ngôi chùa quanh vùng mà tôi được biết, tôi chưa thấy một nhà sư nào đi bộ đội. Ừ nhỉ! Bây giờ tôi mới chợt nhớ ra. Ở các chùa trong huyện hầu hết chỉ có sư già, sư trung niên và các chú tiểu nhỏ xíu. Có lẽ ở độ tuổi trai tráng, tôi là người duy nhất. Cùng lứa tuổi với tôi, hồi xưa, khi đánh Pháp, chẳng mấy người đi tu. Ở thời loạn, người ta dễ dàng gặp cái chết. Người ta lánh chết, tìm sống. Ngôi chùa, khi ấy không che chở được cho người tu hành. Có khi quân Pháp còn chú ý tới chùa, bởi vì chùa thường rộng rãi, hẻo lánh, còn sư sãi thì giống hệt mọi người dân quê, sẵn sàng giúp đỡ cách mạng. Cho nên, ngôi chùa thường là nơi ẩn nấp lý tưởng của Việt Minh, cũng do đó ngôi chùa hay bị Tầy đốt phá. Hơn nữa, chính quyền cách mạng lại không khuyến khích đi tu. Cho nên, có thể nói vào thời kỳ ấy, Phật giáo ở thôn quê lâm vào cảnh suy tàn.
Tôi suy nghĩ miên man như vậy nên hầu như không nghe thấy những lời của bà Thêu Phó Bí thư kiêm Chủ nhiệm Hợp tác xã. Chắc bà nhận ra sự lơ đãng của tôi, nên đột nhiên bà cao giọng làm tôi chợt tỉnh ngay khỏi dòng nghĩ miên man.
- Đồng chí An có biết không, đồng chí thuộc thành phần nào? Nghề nghiệp tôn giáo ư? Cách mạng nói tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân. Giai cấp bóc lột đã lợi dụng tôn giáo. Đồng chí An có biết hạnh phúc là gì không? Là đấu tranh dứt đứt mọi xích xiềng. Sở dĩ chúng tôi phải bàn cãi cân nhắc chính là vì điểm này. Đồng chí là thầy tu nhưng gốc rễ là thành phần bần cố. Bố mẹ lại bị Tầy giết. Xuất thân căn bản như vậy nên chúng tôi đặt niềm tin vào đồng chí. Hãy tỉnh ngộ, hãy nhớ lại nỗi đau khổ. Hãy sục sôi lòng căm thù giặc. Cách mạng kiên quyết kéo đồng chí trở về với giai cấp của mình...
Bà Thêu, bà Chủ nhiệm, bà Phó Bí thư càng nói càng cao giọng, hùng hồn, khiến đầu óc tôi tê dại đi. Trong đó chứa chất bao nỗi niềm riêng mà bà đâu có biết.
 
Khi ăn giỗ xong, Huệ, Hiếu và Trắm rủ tôi đến nhà Trắm chơi. Hai vợ chồng Trắm Hiếu bế con ríu rít đi trước. Tôi và Huệ cùng nhau theo sau. Lạ thật, thuở xưa, lúc học thầy giáo Hải, ngày nào tôi chả đến nhà Huệ, lúc đầu đi học ngày nào Huệ chả kèm cặp tôi học để đuổi kịp các bạn. Lúc ấy, hai đứa luôn bên nhau, có làm sao đâu. Ấy thế mà hôm nay đi bên Huệ, tôi cứ thấy ngường ngượng. Có lẽ xa nhau lâu quá nên sinh ra thế. Hay là tại bây giờ tôi đã lớn, đã trở thành một nhà sư thực sự. Cũng chẳng phải nữa. Bởi vì, kể từ hôm nay, kể từ lúc bà Thêu chủ nhiệm tuyên bố tôi phải lên đường nhập ngũ tôi đâu còn có thể là nhà sư được nữa. Tôi sẽ là người thường hay tôi sắp sửa là một người thường. Huệ cứ mỉm cười mãi và nhìn vào mặt tôi. Cô ấy bảo:
-  An sợ phải không?
-  Huệ nói gì cơ?
- Anh sợ... - Rồi cô giải thích thêm cho rõ - Không phải em nói lúc này đi bên cạnh em anh sợ. Mà là việc... anh sợ từ lúc lên ủy ban, sợ từ khi bà Thêu tuyên bố anh nằm trong danh sách những người nhập ngũ.
-  Tức là tôi sợ ra trận?
-  Không phải cái sợ ấy... Mà là sợ khác cơ...
 
Lời nói của Huệ làm tôi nghĩ ngợi. Từ ngày xưa Huệ vẫn thế. Nhìn vào mắt tôi, cô ấy có thể biết được những cảm xúc của tôi. Lại nhớ ban sáng. Lúc bà Thêu giảng giải và thuyết phục tôi, chắc chắn bà ấy chẳng biết gì về những cảm xúc những nỗi niềm của tôi lúc ấy. Mà lòng tôi mang nhiều nỗi niềm thật. Tôi nghĩ đến chị tôi. Tôi ra đi thì chị Nguyệt ra sao?
Thật là trớ trêu. Chị tôi muốn cắt tóc xuất gia, thì sư cụ thầy tôi lại không cho. Còn tôi, tôi đã làm lễ thí phát, thì bây giờ lại phải rời chùa. Tôi còn nghĩ nhiều, nhất là, tới thầy tôi. Người đã ngoài bảy mươi. Người đã mất bao công phu dạy dỗ tôi. Rồi lại cùng tôi chia sẻ bao ngày khổ sở, bi thương. Không biết lên đường kỳ này, tôi có còn gặp lại được người nữa không? Nghĩ như vậy, tôi bảo Huệ:
- Có lẽ Huệ nhầm rồi. Từ sáng, khi nhận được tin nhập ngũ, mình lo và thương nhiều hơn là sợ. Lo cho chị Nguyệt, lo cho sư bác Khoan Độ. Và thầy thì... thương nhiều...
Huệ cười.
- Lo và thương thì ai chả biết. Kẻ nào xa nhà mà không biết lo lắng, thương xót người thân... thì có họa là... là ngợm. Đằng này sợ cơ.
Tôi lặng lẽ không đáp, lơ đãng đưa mắt nhìn cánh đồng xanh mởn mênh mông. Làng Sọ cong cong như lưỡi liềm. Chùa làng nằm ở chuôi liềm. Nhà Trắm nằm ở mũi liềm. Nếu đi đường chính giữa làng sẽ phải đi vòng cung. Chúng tôi chọn đường tắt, thẳng từ chuôi đến mũi liềm. Đường này do Huệ chọn. Thứ nhất là gần, thứ nhì là để hít thứ hương quê từ thuở ấu thơ, mà đã lâu sống ở nơi đô hội Huệ không được hưởng. Con đường nhỏ được lúa xanh hai bên nhô lên che tới bụng. Giữa đồng xanh, trên con đường nhỏ, bao nhiêu kỷ niệm xưa bỗng ùa trở về. Vì nhớ, sao có thể quên được, ở chính con đường này xưa kia có hai đứa trẻ vẫn tay trong tay đi bắt cào cào châu chấu... Chắc không chỉ riêng tôi mới nhận được ân huệ của những kỷ niệm rất xưa ào ạt trở về. Có lẽ Huệ cũng vậy bởi vì cô đã nắm lấy tay tôi từ lúc nào không biết. Tôi nhìn cô, thấy mặt cô bỗng ửng lên rồi nhìn xuống bàn tay mình, và mủm mỉm cười ranh mãnh. Cô nói như riêng cho tôi:
- Không sao chứ nhỉ. Giá như hôm qua nắm tay An thế này là có tội. Còn bây giờ... thì không. Có phải không nhỉ.
Tôi không trả lời, mà quay trở lại câu hỏi cũ:
-  Huệ cứ bảo tôi sợ. Thế là sao? Tôi nghĩ mãi và vẫn chưa hiểu.
-  Vì anh mới bước vào. - Còn em thì đã trải.
-  Vẫn chưa rõ.
- Anh có biết cái đêm em bị chìm dưới dòng sông Hồng cuồn cuộn sóng nó như thế nào không? Em hoảng hốt... Em hét lên gọi mẹ. Mẹ ơi! Mẹ ơi! Em chẳng nghe thấy tiếng trả lời. Chỉ nghe tiếng ào ào hung dữ của sóng nước. Rồi em mê man đi. Tỉnh dậy, thế là em mất mẹ... Từ đấy, em như con chim non bị đẩy ra khỏi cái tổ ấm êm. Con chim non phải tự bay một mình. Phải tự mình vỗ cánh nếu không muốn rơi xuống đất.
- Tôi cũng đã trải qua chuyện đó rồi chứ. Mấy ngày đêm lang thang khi cha mẹ bị giết. May mắn mới gặp được chùa Sọ.
- Cái khác là ở chỗ ấy. Từ khi mẹ em chết, em tìm đến bố. Nhưng bố em liên miên xa nhà, gửi em vào một trại thiếu nhi quân đội. Mỗi năm cha con chỉ gặp nhau vài lần. Còn anh của em ư? Anh em ở một trại khác và nhập ngũ khi mới mười bốn tuổi. Còn trường hợp An hoàn toàn khác chứ. Anh An gặp được sư cụ Vô úy. Cụ khác nào cha anh, khác nào mẹ anh. Lại có chị Nguyệt luôn ở cùng chùa. Ngôi chùa làng ta chính là gia đình là tổ ấm của anh. Anh bị mất tổ ấm thứ nhất, nhưng lại tìm được tổ ấm thứ hai. Anh đã quen với sự an bình, sự che chở của ngôi chùa... Quen quá nên không nhận ra hết giá trị của nó... Lần này, anh mới thực sự vào đời. Cũng như tôi thôi. Cũng như con chim non bị đẩy ra khỏi tổ, mới lần đầu tập bay mà không có mẹ bên cạnh. Bay một mình, sợ lắm chứ. Người như anh, ra chiến trận, em nghĩ chắc anh không sợ phải đối diện với hòn tên mũi đạn. Tôi không bảo anh có nỗi sợ ấy. Cái sợ mà tôi nói chính là cái sợ kể trên cơ.
Tôi biết ơn Huệ. Tôi cám ơn Huệ nhưng tôi không nói ra lời. Tôi chỉ xiết chặt bàn tay nhỏ nhắn của Huệ. Huệ còn muốn nói thêm nữa nhưng cô vẫn lặng im. Hai bàn tay nắm lấy nhau cũng đủ nói nhiều quá rồi.
Khi ở nhà Trắm ra, chúng tôi đến nhà bà Thêu để thắp cho Rêu một nén nhang. Bà Thêu đã đi thêm bước nữa cùng với anh đội Khoát. Hai người đã có với nhau một đứa con, đó là thằng Bình, một đứa bé khôi ngô, giống hệt người chị đã quá cố. Trông bé Bình, sự thương nhớ Rêu cồn cào trong lòng chúng tôi. Thoáng một cái đã mười năm rồi. Những chuyện xưa như những vết tử thương đã liền da. Mặt Huệ buồn trông thấy. Có lẽ cô nghĩ tới những ngày trốn chạy khỏi làng, nghĩ tới người mẹ đã mất. Còn tôi, những ngày kỳ dị quái đản trong trại cải tạo cũng hiện về nhưng tôi cố đuổi chúng đi. Con người cần chôn chặt quá khứ cho nó ngủ yên. Hiện tại mới là quan trọng. Phật đã dạy như vậy. Sự hận thù là những vấy bẩn chỉ làm cho gương mặt con người xấu xí. Tôi liếc nhìn Huệ. May thay! Gương mặt người bạn gái thời thơ ấu của tôi lúc này rất đẹp. Đôi mắt ngây thơ to dài lúc nào cũng buồn thăm thẳm, lúc này sao long lanh. Chỉ có những tâm hồn cao thượng mới có ánh mắt sáng trong như thế. Tôi tin ở sự cao thượng.
Chúng tôi còn ra nghĩa địa chùa thắp hương cho thầy Hải, cho bà cụ Thầm. Huệ cứ nấn ná mãi đến gần tối mới lên được xe. Trước lúc xe chạy còn dặn tôi câu cuối cùng.
- Huệ lo cho anh An, bởi vì ngôi chùa cái tổ ấm cưu mang An gần hết thời thơ ấu là một chốn đặc biệt khác hẳn đời thường. Quân đội và nhà chùa khác nhau như lửa và nước. Không biết rồi An chịu đựng ra sao? Dù sao thì cũng phải cố gắng. Huệ tin ở An. Viết thư ngay cho Huệ nhé.
Sự chu đáo lo lắng của Huệ làm tôi cảm động. Tôi không ngờ Huệ nghĩ sâu xa như thế. Cô bạn gái của tôi thật nhạy cảm. Sự việc xảy ra đột ngột quá, nó mới xảy ra ban sáng. Tôi là người trong cuộc vẫn chưa kịp suy nghĩ được gì, trong khi đó Huệ đã tiên cảm được bao nhiêu điều. Câu nói của Huệ bỗng làm dấy lên trong lòng tôi bao suy nghĩ. Tôi bỗng nhớ lại cái phút mà bà Thêu chủ nhiệm báo cho tôi quyết định phải đi nhập ngũ, tôi không hề có phản ứng đột ngột gì. Chỉ ngạc nhiên thôi, cảm giác của tôi lúc ấy đúng là ngạc nhiên. Sở dĩ thế, vì trước tôi chưa có tiền lệ. Tôi chưa thấy một ông sư nào đi bộ đội, hay là ở địa phương nào đó, có chuyện ấy mà tôi không biết. Ngay khi tôi nói chuyện với bà chủ nhiệm thì những chiếc máy bay Thần sấm đang ù ù bay trên bầu trời làng tôi. Người quê tôi quen rồi. Người ta bảo Mỹ thả bom Hà Nội, và làng tôi chỉ nằm trong vòng lượn của máy bay phản lực thôi. Cái làng nhỏ của tôi chưa phải là mục tiêu của Mỹ. Dù sao thì hàng ngày thần chết vẫn lơ lửng bay trên đầu chúng tôi. Hàng ngày Đài truyền thanh của xã vẫn thông báo những trận đánh lớn ở miền Nam. Nghĩa là từng phút từng giây vẫn có những người con ngã xuống vì đất mẹ. Tôi là người tu hành, nhưng vẫn là một người con, trong hàng triệu người con ấy. Vậy thì, liệu tôi có quyền được miễn trừ tham dự không?
Huống chi, chiến tranh với tôi đâu có gì xa lạ. Tôi sinh ra trong chiến tranh. Cha mẹ tôi lại chết vì chiến tranh. Chỉ có điều khác, tôi có duyên được ngôi chùa che chở. Tôi có duyên được tiếp xúc, tiếp nhận sự từ bi bao la của đức Phật giữa lúc thế gian đầy cảnh tang thương giết chóc. Vậy tôi sẽ hành xử ra sao khi lúc này đây thế gian yêu cầu tôi rời bỏ ngôi chùa yên ấm. Có một đạo hữu nào đã bảo tôi rằng: “Hãy để cho mọi việc tự nhiên xảy ra. Cái chính là ở tâm ta”. Phải chăng là thế? Các vị Bồ tát xưa nay đã chẳng sống như thế sao? Phải, còn rất xa tôi mới hiểu được và làm được theo lý tưởng Bồ tát. Nhưng ít nhất tôi cũng có đủ can đảm và nghị lực tuổi trẻ để hòa vào thế gian để cùng gánh chịu những vui buồn, đau khổ của thế gian này. Muốn hưởng ngoại lệ, đó là điều tôi không muốn.
Tôi không hề nói ra miệng những điều thầm kín ấy. Nhưng nhìn vẻ mặt của tôi, bà Thêu chủ nhiệm rất hài lòng. Bà bảo:
- Cô cứ tưởng nghe quyết định, cháu sẽ phản ứng. Chính vì vậy mới phải mời cháu lên ủy ban. Bây giờ thì cô yên tâm rồi.
Bà Thêu xưng cô cháu với tôi. Điều ấy làm tôi cảm động. Nghĩa là bà ấy vẫn nghĩ tới Rêu, người bạn trong trắng như pha lê của tôi. Nghĩa là có thể ông Khoát chồng bà, một người rắn như thép, cũng nghĩ như thế. Đã là người ai chẳng biết sám hối, ít nhất là biết day dứt trước sự bất hạnh mà mình có góp phần tạo ra. Những người sắt đá như họ mà trong lòng vẫn có lúc ám ảnh sự thương xót. Vậy thì, còn ngại ngần gì nữa. Thế gian mênh mông đau khổ, trái ngang, song cũng là mênh mông tình thương...
Trước lúc lên đường, có cả một tuần chuẩn bị. Tôi là người tu hành, có gì đâu mà phải chuẩn bị. Tuy vậy, chị Nguyệt của tôi cũng phải bận rộn may cho tôi một bộ quần áo nâu mới. Tôi bảo:
-  Quân đội sẽ phát quần áo đầy đủ. Việc gì phải may thêm.
- Không được. Cụ bảo phải may cho em một bộ quần áo nhà chùa. Em hiểu chứ. Dù là người lính, em cũng từ nhà chùa mà nên người, xếp ở đáy ba lô. Lúc nào cũng cõng nó ở trên lưng em nhớ đừng quên.
Chị Nguyệt nói với tôi, rơm rớm nước mắt. Tôi chẳng biết an ủi chị thế nào. Tôi dặn chị:
- Sư cụ yếu lắm rồi. Không biết đến khi quay trở về chùa em có còn gặp lại thầy được nữa không. Chị nhớ chăm nom hầu hạ thầy chu đáo.
- Em chẳng cần dặn chị cũng biết. Trên đời, chỉ còn cụ là người thân nhất của chị em mình.
Còn cách ba hôm trước ngày lên đường, một hôm, cậu Trắm lên chùa gặp tôi:
-  Trên xã muốn tiễn cậu lên đường thật trọng thể.
-  Sư cụ không cho bày vẽ đâu.
-  Chả là thế này: Khi cậu làm sư, nhà chùa làm lễ xuất gia cho cậu. Bây giờ cậu vào quân đội, cũng phải làm lễ xuất tam bảo cho cậu chứ.
Tôi cười, chối từ:
- Rõ nhiều khê vớ vẩn. Nhà nước bảo tôi đi bộ đội. Tôi chấp hành lệnh. Nào có kêu ca gì đâu. Sao các vị cứ thích làm rùm beng lên thế... Tôi hiểu rồi. Cứ như thể tôi bằng lòng đi bộ đội, và điều đó là một thắng lợi của xã.
Trắm nghe vậy cười to hô hố:
- Thế đấy... Cứ tưởng sư thầy An ngù ngờ. Hóa ra tinh quái đáo để.
Cười xong, Trắm ra về và cũng không thấy ủy ban xã nhắc lại chuyện đó nữa.
Tôi đem chuyện ấy thưa lại với sư cụ Vô úy. Thầy tôi bảo:
- Con từ chối hay không tùy ở tâm con. Người chân tu không câu nệ, chấp trước. Đức Trần Nhân Tông thời xưa, lúc nhỏ đã là một phật tử thuần thành, nhưng người vẫn làm vua, vẫn hai lần đánh thắng quân Nguyên, vẫn có gia đình có con cái. Chỉ khi đánh giặc xong, đất nước đã thanh bình người mới lên núi đi tu.
 
Mấy ngày trước khi lên đường, tôi xin phép được ngủ cùng phòng với thầy tôi. Cũng như cái hồi thầy bị bệnh nặng, tôi trải chiếu xuống đất nằm bên giường. Tôi muốn luôn luôn được kề bên để nâng giấc cho thầy. Thầy trò tôi, bao nhiêu năm rồi, lúc nào cũng luôn ở bên nhau. Kỷ niệm cái lần tôi đẩy xe bò đưa thầy tôi từ nhà giam   ‘‘Đơ Bê” phố huyện về chùa chẳng khi nào tôi quên được. Rồi kỷ niệm những ngày tù ở trại giam cải cách... Những ngày mười chết một sống ấy đã gắn bó thầy trò tôi với nhau bằng mối tình thâm sinh tử. Tôi biết ơn công sinh thành của cha mẹ đẻ mình. Nhưng thú thật, những ngày thơ ấu của tôi đã quá xa rồi. Thú thật, những kỷ niệm thời bé ấy tôi chẳng nhớ được là bao. Thời gian đã làm phai nhạt. Ôi! Thời gian! Thật bạc bẽo xiết bao. Nhưng những kỷ niệm với thầy tôi thì thật khó quên. Tôi may mắn được lớn lên với thầy. Lúc nào cái bóng từ bi của thầy cũng bao bọc che chở cho tôi. Người là người cha thứ hai, người mẹ thứ hai của tôi. Còn hơn cả thế. Sự cộng sinh cộng tử trong lúc nguy nan là một chất keo kết dính. Hơn nữa thầy còn là người cha tinh thần, dẫn dắt tôi đi trên con đường cao thượng. Sự cao thượng của đức Phật từ bao đời nay đã thấm đẫm tâm hồn làng quê. Thiếu nó tâm hồn người ta sẽ bị què quặt...
Lần này thì khác, thầy chẳng bằng lòng để tôi nằm dưới đất. Chỉ còn ba ngày thầy trò ở bên nhau thôi. Thầy muốn tôi ngủ trên giường. Thầy muốn trong ba đêm này thân xác tôi cũng gần gụi bên thầy. Ôi chao! Chỉ việc nhỏ thế thôi mà lòng tôi xiết bao xúc động. Cứ như thể đây là lần cuối cùng thầy trò tôi ở bên nhau vậy. Cả thầy tôi, cả tôi nữa, đều không nói ra điều ấy, nhưng hình như cả hai người đều cảm nhận như thế. Mà có lẽ thế thật, bởi vì ai có thể đoán biết được ngày mai sẽ ra sao. Thời chiến tranh, tôi lại sắp là người lính. Mà điều chắc chắn là tôi sẽ vào chiến trường... Còn thầy tôi? Năm nay người đã bảy lăm tuổi...
 
Trong ba đêm ấy, thầy trò tôi chẳng nói chuyện với nhau nhiều lắm đâu. Hình như thầy tôi thức nhiều hơn là ngủ. Hình như, những điều gì cần nói thầy đã nói với tôi cả rồi. Cũng có thể, sự nằm kề bên, rồi nghe thầy thở, cảm nhận hơi thở của thầy cũng là một cách nói... Thầy muốn tôi ở kế bên để trao tặng cho tôi nguồn từ lực của người, lòng từ bi khoan dung của người. Thầy muốn tôi không quên lòng đại từ, đại bi của đức Phật, muốn nó thấm thật sâu vào từng tế bào, da thịt tôi. Bởi ví tôi sắp đi đến những nơi mà ở đấy cái chết, sự không khoan dung luôn cận kề từng phút từng giây...
Đêm cuối cùng, thầy mới nói với tôi mấy câu. Thầy bảo rằng:
-  Thầy nghe nói con từ chối buổi lễ liên hoan xuất tam bảo?
- Thưa thầy, vâng. Bà Thêu bảo con: “Làm lễ xuất tam bảo tức là chúng tôi giải phóng cho anh đó”.
-  Con trả lời ra sao?
- Bạch thầy, con trả lời: Tôi vào chùa là tự nguyện. Có bị ai cưỡng bức đâu mà phải giải phóng.
- Ừ, thế cũng phải. Thầy dặn con điều này. Phật giáo là một lối sống. Mà đã là lối sống thì tu ở chùa cũng được, tu ở ngoài cũng được.
-  Thưa thầy, vậy là con có thể tu ngay giữa chiến trường.
- Được con ạ. Đã là người thì phải biết ta sinh ra từ đâu và đời sống tinh thần ta ra sao. Con sinh ra là người Việt thì phải có bổn phận với đất Việt. Con lại là phật tử, vậy phải có trách nhiệm phật tử.
Nói xong, thầy tôi im lặng rất lâu. Trong phút im lặng gần như tuyệt đối ấy, lòng tôi bao phân vân. Tôi nghe rõ mồn một tiếng tặc lưỡi của con mối trên cây xà ngang trần nhà. Còn thầy tôi thì như tìm lời nói... Cuối cùng, thầy tôi mới lên tiếng. Hình như thầy biết tôi đang phân vân điều gì. Thầy bảo:
- Không phải chỉ có con suy ngẫm thôi đâu. Thời xưa, người mình cũng đã suy ngẫm. Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông, một bậc đại Bồ tát ngày xưa cũng đã hai lần đánh quân Nguyên. Đánh giặc ư? Chắc chắn là bao nhiêu máu đã chảy. Nhưng cuối cùng người lên núi đi tu. Và có ai dám bảo người không phải Bồ tát. Và người dạy chúng ta: “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên”, “Cư trần” ta hãy ở giữa cõi trần này mà vui đạo. “Tùy duyên”! Hãy tùy duyên mà hành đạo. Con vẫn thức đấy chứ. Hãy nhớ lấy hai chữ tùy - duyên con ạ.
Tôi trả lời:
- Bạch thầy, con còn thức.
* * *
Hôm tiễn tôi lên đường, chị Nguyệt không đi, bởi vì nếu đi chắc chắn chị tôi sẽ khóc như mưa như gió, điều ấy chẳng ích lợi gì. Thầy tôi cũng không đi, bởi vì những điều cần dặn dò thầy tôi đã nói cả rồi. Chỉ có sư bác Khoan Độ đưa tôi ra đến tận sân đình. Như đã biết, sư bác là thầy dạy võ của tôi. Sư bác bảo: “Hóa ra tôi dạy chú học võ cũng có ích. Tôi xuất thân giang hồ. Từ võ biền thành người xuất gia. Còn chú, xuất thân tu hành, nay thành một chiến binh. Thế mới biết lẽ đời vô thường. Không thể đoán trước nổi điều gì”. Trước ngày lên đường mươi hôm, sư bác cứ khăng khăng bắt tôi học một bài võ bí truyền, bài ngọc trản, tức là cái chén ngọc. Đó là bài võ gồm toàn những chiêu chết người như móc mắt, xọc ngón tay vào yết hầu, chặt gáy... Sư bác rủ rỉ: “Mình là kẻ tu hành, lấy từ bi làm gốc, không bao giờ dùng những thế võ này. Nhưng biết đâu đấy, đời người lính luôn ở chốn sa trường, nhỡ một phút nào đó ta lâm vào tình thế nguy nan, bị hãm vào tử địa... thì biết tính làm sao... Tôi dạy chú chỉ để phòng xa mà thôi...”. Sư bác Khoan Độ là người cứng rắn, ít khi biểu lộ tình cảm nhưng nhìn con mắt bác, nghe giọng nói của bác hôm ấy, tôi biết người buồn lắm. Hơn một chục năm rồi còn gì. Chúng tôi ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, lại cùng chung bao phút buồn vui... Lúc tôi lên xe ôtô, sư bác đứng dưới gốc cây phi lao già. Người đi tiễn chạy theo xe tản ra hết, nhưng bác cứ lặng lẽ đứng đấy cho tới lúc xe của chúng tôi ngoặt sang con đường rẽ.
** *
Chúng tôi được huấn luyện ở Bắc Giang. Chúng tôi đóng quân gần một khu rừng dẻ. Lúc ấy vừa mới gặt xong. Rơm phơi đầy ngõ xóm. Chúng tôi đi trên những con đường làng phủ kín rơm. Rơm phơi cả trên đầu những bức tường đất thậm chí cả trên những mái nhà. Một thế giới rơm vàng thơm nức. Nắng hanh sấy khô làm cọng lúa phơi càng bốc hương mạnh. Hương rơm vừa ngọt vừa thơm ngào ngạt. Ở sân kho hợp tác vang tiếng cười của những cô gái phơi thóc. Ở sân đình, những ông bà già cùng lũ trẻ tết mũ rơm. Trông lũ trẻ đi học, đội mũ rơm mới vàng hoe, cười toe toét chào các anh bộ đội thấy ấm áp trong lòng.
Hết mùa lúa thì đến mùa hoa dẻ. Rừng dẻ phủ kín những quả đồi thấp bên kia cánh đồng. Chúng tôi tập luyện trên bãi đất trống ở bìa rừng. Lăn, lê bò toài, xạ kích, kỹ thuật, chiến thuật... Tất cả đều được học dưới khu rừng. Đúng vào mùa hoa dẻ. Hoa dẻ rừng trắng ngà. Màu trắng phớt vàng. Giống như hoa nhãn trên cái giếng ở vườn chùa. Nếu như chỉ có một cây, ta khó có thể nhận ra hương hoa dẻ. Nhưng đằng này là cả một khu rừng toàn dẻ. Cho nên vô vàn những bông hoa li ti đã tỏa ra một thứ hương ngan ngát kỳ lạ mà tôi chưa từng được biết. Ngồi tháo lắp súng, nghe gió đùa trên những tán lá dẻ, tôi cứ tưởng những bông hoa dẻ cũng biết thì thầm.
 
Khi đầu, chúng tôi đóng quân trong nhà dân. Chúng tôi đã được học tập đầy đủ về công tác dân vận cho nên đã thực hiện được đúng câu “đi dân nhớ, ở dân thương”. Thực ra, đơn vị chúng tôi hầu hết đều là nông dân nên việc làm đó chẳng có gì là khó. Học tập bận rộn đến thế, chiến trường miền Nam đòi hỏi khẩn trương là thế, mà chúng tôi cũng dành ra được hai ngày đi gặt cho dân.
Trắm có nhiều điều kiện thuận lợi hơn tôi. Vì đã là đảng viên và xã đội phó nên dù mới vào lính, nhưng Trắm đã được đề bạt làm B phó, giúp việc cho các cán bộ khung. Còn tôi, dù sao tôi cũng đã nhiều năm ở chùa, cho nên tôi phải biết thân phận của tôi.
Hầu hết tân binh đều thuộc thành phần bần cố nông. Họ hồn nhiên và tếu táo. Sự có mặt của tôi trong đơn vị luôn là một đề tài đùa bỡn chọc ghẹo của họ. Riêng cái đầu trọc của tôi đã thành vấn đề. Mọi người đều để tóc. Riêng tôi, cái đầu nhẵn thín. Cái đầu trọc ấy như một sự đánh dấu. Nó làm tôi khác hẳn mọi người. Anh em gọi tôi là “sư cụ”, là “sư hổ mang”. Đến lúc này tôi mới hiểu hết sự lo ngại mà Huệ đã nói với tôi hôm xưa. Huệ có nói với tôi: “Phải làm sao để cho giống tất cả mọi người. Phải hòa đồng với mọi người”. Bây giờ thì tôi hiểu thấm thìa rồi. Hãy cứ nhìn một đàn chó con mà xem. Nếu ta thả vào đó một con chó lạ cùng lứa tuổi, dù con chó lạ ấy có giống hệt những con chó kia, thì nó cũng lập tức bị đàn chó xua đuổi, những con chó cùng đàn sẽ cắn xé con lạc đàn, và con chó mẹ sẽ khêng cho bú, số phận kẻ lạc loài chắc chắn sẽ thảm thương. Trắm thấy tôi bị trêu trọc, phải đứng ra bênh vực và gắt gỏng với tôi:
-  Sao trước hôm nhập ngũ chú còn bảo sư bác cạo đầu cho?
- Thì có biết đâu. Sư bác bảo muốn cho tôi khi vào bộ đội trông phải bảnh bao.
- Ngu ơi là ngu. Thôi nhé. Từ nay phải để tóc. Phải làm sao cho tóc mọc thật nhanh.
Đại đội trưởng đã trên ba mươi tuổi là người từng trải. Anh chấn chỉnh, nói mọi người phải biết giữ đoàn kết. Xa nhà rồi, xa cha mẹ anh em rồi, nên phải coi đơn vị như gia đình của mình, coi đồng đội như anh em của mình. Còn với tôi, anh đến tỉ tê:
- Tớ biết cha mẹ cậu bị giặc Pháp giết. Cậu có thù với đế quốc. Nhưng cậu cũng đã ở chùa hơn mười năm. Đã bị tiêm nhiễm nhiều tư tưởng lạc hậu. Bọn đế quốc phong kiến rất là thâm độc. Chúng dùng tôn giáo làm thứ thuốc phiện ru ngủ dân chúng, làm cho họ quên mất rằng kẻ thù chính của chúng ta là giai cấp bóc lột. Họ làm cho quần chúng mê muội đi tìm thiên đường, đi tìm niết bàn mà quên mất chuyện đấu tranh giai cấp. May mà cậu mới qua tuổi chú tiểu. Sự tiêm nhiễm chưa sâu sắc. Cậu tin đi. Đời sống bộ đội sẽ rèn luyện cậu, giúp đỡ cậu gột rửa những tư tưởng lạc hậu. Cậu sẽ tiến bộ. Cậu phải cám ơn cách mạng đã giải phóng cho cậu, đem cậu trở lại cuộc đời bình thường.
Tôi còn biết trả lời anh cán bộ đại đội ra sao nữa. Tôi chỉ còn biết ngồi im lặng.
Có lẽ chỉ có hai người trong đơn vị thương tôi, cảm thông với tôi. Họ chẳng bao giờ lấy việc ở chùa của tôi làm trò đùa hay cho là vấn đề cần phải dạy dỗ. Đó là Cường và Tiến trong tổ ba người. Các cụ xưa bảo có ăn nhạt mới thương đến mèo. Phải chăng vì hai người ấy cũng có hoàn cảnh tương tự như tôi. Nghĩa là họ cũng có những vướng mắc về thành phần, lý lịch. Cường thành phần tư sản. Bố anh là thợ sửa chữa ôtô. Ông cụ là thợ giỏi, lại là người cần kiệm chắt bóp. Cho nên sau hai chục năm làm việc, ông tậu được một mảnh đất nằm ở một cửa ô Hà Nội. Có đất làm xưởng, có nghề giỏi trong tay, lại có chút lưng vốn, ông liền mở xưởng sửa chữa, sau đó mua hai chiếc ôtô cũ không chạy nổi nữa. Song vào tay ông, như có tay tiên sờ vào, chúng lại chạy bon bon trên con đường Hà Nội - Hải Phòng. Rồi từ hai chiếc ôtô cà tàng ấy, ông sắm dần tới năm chiếc. Nước chảy chỗ trũng. Năm năm sau, ông đã tậu được ba căn nhà ở Hà Nội. Tuy giàu có, nhưng ông bố Cường là người thức thời. Năm 1954 giải phóng Thủ đô, được người em trai từ Việt Bắc trở về giải thích, ông hiểu ngay mình cần phải làm gì. Ông đem hai ngôi nhà hiến cho Chính phủ. Rồi lại đem cả cái xưởng sửa chữa ôtô hái ra tiền của mình đưa vào nhà nước. Cũng nhờ thế Cường được vào đại học. Nhưng dưới Cường còn tới năm đứa em lộc ngộc. Ông bố Cường, thứ nhất vì tiếc của, thứ hai vì lo cho tương lai của lũ con, nên gầy rộc hẳn đi, suốt ngày thở ngắn than dài. Đứa em đốt dưới của Cường xin đi bộ đội cũng không đắt vì thành phần tư sản. Cho nên khi trường đại học có đợt tuyển quân anh xung phong ngay. Ông bố bảo:
- Anh học năm thứ ba. Leo cây gần đến lúc hái quả. Anh vào bộ đội liệu có phí đi không?
- Con nghĩ kỹ rồi bố ạ. Đối với cách mạng, nhà mình coi như chưa đóng góp cái gì. Phải có người tham gia. Hoặc làm cán bộ. Hoặc đi bộ đội... Con có năm đứa em. Phải cứu lấy chúng bố ạ. Nếu không, với cái thành phần tư sản, gia đình mình không biết còn rơi xuống vực thẳm nào.
Ông già thở dài:
- Anh muốn cứu gia đình. Thầy xin biết ơn con. Thầy già rồi. Sức tàn lực kiệt rồi. Chỉ còn biết trông cậy vào con dìu dắt lũ em.
Tâm tư Cường như thế đấy. Anh còn trẻ nhưng tâm hồn đã già dặn. Còn đâu lòng dạ hồn nhiên để cười trên số phận của tôi.
Còn Tiến, thân phận anh cũng chẳng sáng sủa gì hơn. Bố anh là địa chủ, mẹ anh cũng thuộc thành phần địa chủ. Đám cưới của họ là một chuyện ly kỳ. Ông cụ ăn hỏi một cô gái nhà giàu xinh đẹp. Đám cưới được tổ chức linh đình. Song, đêm tân hôn, chàng trai mới ngã ngửa ra. Bên nhà gái đã đánh tráo cô dâu. Đem cô chị thế vào cô em. Thực ra cô chị cũng không xấu xí. Chỉ phải tội đã cứng tuổi. Sợ rằng cô con gái lớn ế chồng nên ông bố vợ mới làm như thế. Hơn nữa, trước khi cưới, ông còn xem số cho cô chị với chàng rể. Gái hơn hai, trai hơn một. Tiêu chuẩn đã biến thành câu tục ngữ lưu truyền ngàn đời, như thế là phải lẽ. Vả lại, khi xem số giữa cô em và chàng rể lại không thấy hợp. Cho nên ông mới quyết định đánh tráo.
Chàng rể cay hơn ăn ớt, song vì ông bố vợ có quyền thế, và ông lại đền bù cho chàng rể hơn mẫu ruộng hồi môn, nên chàng đành phải chịu ngậm bồ hòn làm ngọt. Chàng rể cũng là tay thâm nho. Chàng không ghét gì vợ, nhưng cay cú, chàng trả thù bố vợ bằng cách bỏ lửng. Có vợ cũng như không. Chàng không mắng chửi, không hành hạ, nhưng việc chung đụng ăn nằm với vợ thì tuyệt nhiên không. Người đàn bà cắn răng cam chịu cô đơn lạnh lẽo...
Thế rồi một chuyện tày đình xảy ra. Bỗng dưng bụng bà vợ cứ dần dần to lên. Vì là nhà danh giá nên câu chuyện bắt buộc phải giấu nhẹm. Người chồng đắng cay trói vợ lại, lấy roi dâu quất vào mông lúc đêm khuya:
- Mày chửa với ai?
Đánh thì đánh, người đàn bà vẫn cắn răng không khai. Ôi! Thật tức chết đi được! Cái nhà này bao nhiêu là đàn ông. Năm tay thợ cày lực lưỡng. Ba ông chú người nào cũng hàng đàn thê thiếp nhưng trông thấy lũ đàn bà phây phây ông nào cũng nuốt nước bọt. Lại còn ông cụ cố nữa chứ. Bố ông, lão địa chủ già tám mươi tuổi, thế mà năm ngoái còn đè cô thợ cấy ra ở chuồng trâu mà hiếp... Biết ai là thủ phạm bây giờ. Mà con vợ ta thì phây phây ra thế. L. tù, cu hãm mà. Chuyện này phần nào cũng do tại ta. Ta cứ đánh nó mãi. Ngộ nhỡ nó chết thì sao? Ngộ nhỡ đứa con trong bụng nó lại thuộc về của một ông chú nào, hoặc có thể của cha ta thì sao? Nghĩ đến thế; anh chồng rùng mình và cởi trói cho vợ.
Nhờ có sự nghĩ ngợi ấy, đứa trẻ tức là Tiến được cất tiếng chào đời. Sau cuộc sinh nở ấy, một chàng trai tá điền bỏ ông chủ, theo Việt Minh lên chiến khu. Vậy thì đứa trẻ ấy là con ai? Liệu có thể là con nguời chiến sĩ cách mạng, hay là một giọt máu của gia đình nhà ông. Người đàn bà ấy bị hậu sản chết năm 1947. Ông địa chủ giao Tiến cho người vợ lẽ thứ tư của ông. Bà này vô sinh, nên thương yêu Tiến như con đẻ. Anh cũng được đi học như những đứa trẻ cùng lứa. Hồi cải cách ruộng đất, người ta bàn luận về thành phần của Tiến. Mẹ Tiến rõ ràng xuất thân địa chủ, nhưng suốt đời bị đối đãi còn kém hơn cả cố nông. Vậy bà ta thành phần gì? Ông địa chủ thì rõ ràng không phải bố Tiến. Nếu Tiến là con của một trong các ông chú, hay của ông cố tức lão địa chủ dê già thì đi một nhẽ. Thế ngộ nhỡ chính là con của anh Việt Minh lên chiến khu thì sao? Anh ta là liệt sĩ. Nếu thằng Tiến là con liệt sĩ mà ta lại quy cho nó là địa chủ thì tức là ta mang tội với cách mạng. Nhưng tìm ra sự thật ở đâu bây giờ. Mẹ Tiến đã chết. Lão cố địa chủ dê già cùng bốn ông chú đều ở suối vàng cả rồi. Cuối cùng người ta đành ghi lý lịch của Tiến: Thành phần chưa xác định.
- Thế là chết rồi - Cường lắc đầu - Chưa xác định tức là không rõ ràng. Lý lịch không rõ ràng ư? Mày có phấn đấu cả đời cũng chẳng ngóc đầu lên được đâu con ạ.
- Tao không tin. Mấy lại, tao điều tra rồi. Người làng bảo ông Việt Minh trước khi bỏ làng lên chiến khu đã vào thăm mẹ tao lúc đó đang ốm nặng. Ông ấy bón cháo cho mẹ tao ăn và ông ấy khóc. Mẹ tao cũng khóc. Chúng mày thấy chưa? Tại sao hai người cùng khóc. Cả làng ai cũng bảo tao là con ông liệt sĩ.
Chúng tôi im lặng. Tiến nói thêm:
-  Mấy lại, cả làng bảo tao không giống người họ Lý (tức là ông địa chủ).
-   Thế tại sao cả làng không chứng nhận vào lý lịch?
-   Cũng không biết tại sao.
-   Thế mày có thù ghét họ Lý không?
-  Không. Họ Lý vẫn cho tao đi học. Còn u tao, mẹ nuôi tao ấy, thì rất thương tao. Cho nên có người làng xui tao nộp đơn lên tỉnh xin cắt đứt với họ Lý... nhưng tao không làm... Dù sao đi nữa, tao cũng cảm thấy, và tin chắc rằng tao là con ông Việt Minh liệt sĩ. Tao nghĩ như vậy có đúng không?
-  Mình chẳng biết nói sao. Nhưng nghĩ kỹ thấy hoàn cảnh cậu khổ thật, phức tạp thật - Cường trả lời rồi quay sang tôi - Còn cậu ý kiến thế nào?
Tôi gật đầu:
-  Con người sinh ra là thế. Ai cũng khổ. Cậu cũng thế. Tớ cũng vậy. Lẽ dĩ nhiên Tiến khổ hơn chúng mình.
Cường cười:
-  Cậu trả lời chán bỏ mẹ đi được. Chả trách chúng nó gọi cậu là “sư cụ”.
Thì ra tổ ba người chúng tôi là tổ đặc biệt. Toàn những anh lý lịch có vấn đề. Chắc người ta ghép lại một chỗ cho tiện giáo dục. Điều đặc biệt đáng nói là tổ chúng tôi lại là tổ xuất sắc của đơn vị. Trên thao trường luôn được biểu dương. Học tập chính trị, Cường là cây lý luận của đại đội. Trong sinh hoạt, đó là tổ đoàn kết nhất. Bắn đạn thật, cả ba đều đạt loại giỏi.
Nói đến chuyện tích cực, có một chuyện mà mãi mãi sau này tôi vẫn không quên. Trong ba người chúng tôi, Tiến là người tích cực hơn cả. Có người bảo: Cậu ta muốn chứng tỏ mình là con liệt sĩ, muốn phấn đấu cho xứng với dòng máu cách mạng luôn sục sôi trong huyết quản của mình. Cũng có thể chẳng phải vậy. Chỉ hoàn toàn tự nhiên thôi. Tôi cũng giống cậu ta. Chúng tôi là những con người lương thiện. Khi đã làm việc gì đều muốn làm cho tốt công việc của mình. Thầy dạy tôi như vậy. Phật dạy tôi như vậy. Cả những sách ngoài đời cũng dạy con người như vậy. Anh chàng Tiến béo phệ của chúng tôi là loại người như vậy.
Tôi nhớ bữa ấy là một ngày lễ lớn. Chúng tôi chuẩn bị một cuộc liên hoan lửa trại. Khắp làng rộn lên tập hát, tập múa, tập kịch. Đi đâu cũng nghe thấy tiếng ghita, tiếng sáo, tiếng nhị. Đoàn thanh niên xã cũng góp vui. Các em thiếu nhi cũng góp vui. Thật tưng bừng náo nhiệt. Trung đội chúng tôi chuẩn bị một vở kịch. Kịch cương thôi. Trung đội trưởng bịa ra một cốt truyện, cốt truyện được đại đội thông qua về mặt nội dung. Sau đó đội kịch họp lại thêm râu, thêm ria, quy định lời thoại.
Những cây củi gộc chỉ dùng để nấu bánh chưng được dân làng ủng hộ. Những cành cây, thần cây, gộc cây được dựng chụm đầu vào nhau ở giữa sân kho. Rồi tưới một can dầu hỏa vào đống củi. Lửa xua tan cái giá lạnh của đợt gió mùa đông bắc cuối xuân. Ấm áp quá nên những gương mặt tươi hơn hớn, những tiếng cười ròn hơn, những giọng hát lảnh lót hơn, những điệu múa dẻo hơn.
Cô bí thư chi đoàn xinh xắn dẫn chương trình. Cô giới thiệu tiết mục kịch của trung đội tôi. Đã lâu rồi, nên tôi chẳng còn nhớ chi tiết vở kịch. Nhưng đại loại đó là câu chuyện ôn nghèo kể khổ. Tấn tuồng diễn lại chuyện ngày xưa nông dân nghèo bị địa chủ bóc lột đến tận xương tủy ra sao. Giá như trung đội trưởng là một người trẻ thì anh ta có thể nghĩ ra một cốt truyện khác: Chuyện về hợp tác xã tếu táo chẳng hạn, hoặc là diễn lại một đoạn trò Lưu Bình - Dương Lễ chẳng hạn. Đằng này, Trung đội trưởng của chúng tôi lại là cố nông, anh chính là Trắm. Trắm đã là xã đội, đã được học tập, chỉnh huấn trên tỉnh. Cho nên anh mới muốn kịch phải có lập trường chính trị. Và lập trường cao nhất là đấu tranh giai cấp, vì thế nội dung câu chuyện mới là mâu thuẫn địa chủ nông dân.
Anh chàng Tiến béo phệ hiền hòa của chúng tôi sắm vai địa chủ. Bởi vì địa chủ ăn uống thỏa thuê nên phải to béo; mà người to béo nhất trung đội lại chính là Tiến.
Tiến cầm cái roi tre, mặc áo the đen, đội khăn xếp, hai bên mép vẽ bộ ria vểnh, chắp tay sau đít, đi lại bên đống lửa rất oai vệ. Chắc là anh đã được chứng kiến nhiều những dáng điệu của các ông chú, ông bác, ông cụ cố ở những ngôi nhà thôn quê khang trang lợp ngói... cho nên anh đóng trò rất đạt. Ngồi vắt chân chữ ngũ cũng oai. Ăn nói thì đĩnh đạc, cử chỉ thì đàng hoàng sang trọng. Có thể nói, Tiến không dùng lối diễn biếm họa, thậm xưng, mà dùng cách tả chân, cách điệu. Còn người đóng vai cố nông cũng khéo. Anh ta gầy nhom, rách rưới, quỵ lụy. Vai địa chủ không đánh mà chỉ nói, chỉ quát. Giọng nói sang cả, oai vệ. Còn người cố nông thì không nói, hoặc là sợ quá mất tiếng nói, nên chỉ làm điệu bộ. Những điệu bộ thảm hại, rúm ró, khúm núm.
Theo tôi nghĩ, đứng về mặt kịch, cặp diễn ấy khá thành công. Bởi vì họ mới chỉ diễn năm phút thôi, mà khán giả đã bị hút hồn. Quanh đống lửa, người xem im phăng phắc... Nhưng bỗng dưng một tiếng thét vang:
-  Hỏng! Hỏng bét rồi! Chúng mày là lũ phản động.
Chủng tôi nhìn bóng người nhảy ra, đứng bên đống lửa.
Đó là Trung đội trưởng. Anh ta đuổi hai diễn viên ra, rồi dõng dạc, hùng hồn diễn thuyết một tràng dài. Trắm nói:
- Chúng tôi xin lỗi tất cả các đồng chí và đồng bào. Tôi xin lỗi vì cách đóng không có lập trường. Có thể nói cách đóng vô chính trị đã đem lại một phản tác dụng. Bản chất địa chủ là gì? Là độc ác, tàn bạo, thâm hiểm... hút máu người không tanh... Làm sao một địa chủ cầm roi mà không đánh. Làm sao một nông dân dưới cảnh áp bức của địa chủ mà chỉ thều thào van lơn như một thây ma. Làm sao một tên địa chủ đê hèn lại được đóng như một con người đàng hoàng sang trọng. Các đồng chí diễn viên ơi. Tôi nói thật với các anh như thế là hỏng, là mất lập trường, là không hiểu thế nào là hỏng, nói tóm lại là vô chính trị. Thưa đồng bào, đồng chí. Tôi thật lòng xin lỗi.
Cuộc liên hoan mới được nửa chừng nhưng bài diễn văn của Trung đội trưởng như một gáo nước lạnh. Tất cả bỗng nhiên chùng xuống, xẹp xuống. Người ta chỉ hát thêm hai bài hát nữa rồi giải tán.
Chúng tôi trở về nhà như chó cụp đuôi. Tiến bảo tôi: “Sao thế nhỉ? Mình đã cố gắng hết sức. Chỉ muốn đóng cho thật đạt. Sao thiếu úy lại bảo mình là vô chính trị, mất lập trường?”.
Cường, chàng sinh viên mỉm cười, giải thích:
- Chỉ tại cậu thực sự có năng khiếu diễn viên. Cậu phải biết ở nơi khỉ ho cò gáy này, có ai cần đến sự tinh tế. Nếu cậu biết hò hét, biết quát tháo, biết đánh đập, biết đùng đùng nổi giận, thì dù cách ấy rất thô thiển, ngô nghê... cậu cũng sẽ được khen.
Còn Trung đội trưởng lại nói khác. Anh, nửa như giải thích, nửa như giáo dục:
-  Cách diễn của cậu không phải cách diễn của công nông binh. Hình như cậu đã học xong cấp ba. Có đọc tí chút sách vở phải không. Nói chung là vứt... Hãy ném cái mớ sách ấy vào sọt rác. Diễn như cậu chỉ để phục vụ bọn tiểu tư sản, bọn tư sản địa chủ. Cậu định cãi hả... Cậu cho rằng cậu thành tâm và không cố ý hả... Đúng như vậy đó. Tôi biết cậu không cố ý. Nhưng cậu có hiểu tại sao ý muốn một đằng mà kết quả lại một nẻo không? Không hiểu à?... Thế này nhé... Nói thế nào cho cậu hiểu nhỉ... Ừ... Chẳng có cách gì khác... Phải nói rằng... thực chất... bản chất của cậu đã bi tiêm nhiễm bản chất của giai cấp địa chủ... Có lần... cậu đã nói với tôi về hoàn cảnh riêng... Đúng vậy... Có thể người cha là bần cố nông. Song nếu người con không sống như bần cố nông... mà lại sống theo hoàn cảnh địa chủ... anh ta sẽ bị tiêm nhiễm lề thói của giai cấp bóc lột... Cậu hiểu tôi nói rồi chứ... Có nghĩa là những lề thói bóc lột ấy, khi được giáo dục, chúng sẽ lặn sâu xuống, chìm xuống đáy lòng. Nó chìm xuống chứ không bị tiêu diệt. Và gặp dịp nó sẽ trỗi dậy, bùng phát bộc lộ ra mà ta không biết... Cậu đã hiểu tại sao khi diễn kịch cậu lại mất lập trường không?... Rất đơn giản! Chỉ tại cái bản chất tầng lớp trên của cậu, từ lâu nay nó vẫn ngủ im trong đáy sọ não cậu. Nay gặp dịp nó bừng thức dậy. Bây giờ, cậu hiểu rõ chưa? - Chính vì thế nên Đảng mới nói những thành phần lớp trên phải tự cải tạo nhiều hơn tầng lớp dưới... bởi vì lập trường, sự trung kiên của thành phần lớp dưới là máu thịt của anh ta. Người nghèo... dù chưa được giáo dục đến nơi đến chốn... bản chất của anh ta đã cách mạng, đã tốt đẹp rồi... Cậu đừng nản... Tôi biết cậu thực tâm phấn đấu... Chỉ có điều phải phấn đấu nhiều hơn thôi. Thế nhé. Tôi tin ở cậu.
 
 
Tôi và Cường ngồi cạnh Tiến, khi Trung đội trưởng tâm sự và giáo dục. Tôi hiểu anh thiếu úy không chỉ riêng nói với Tiến mà nói với cả chúng tôi.
Khi vào quân đội, mỗi người chúng tôi đều có ao ước riêng. Tôi ao ước được đi học y tá. Đối với một người thuộc nhà chùa như tôi, việc y tế là công việc thích hợp nhất. Cường thì muốn được vào tên lửa, ra đa, còn Tiến thì ba phải, vào binh chủng nào anh ta cũng chấp nhận. Tiến cho rằng anh ta là một người tích cực. Anh lại tin tưởng rằng với sự tích cực của mình, vào bất cứ môi trường nào, anh cũng có thể tiến bộ. Phải nói rằng động cơ cho sự năng nổ của tổ ba người trong những ngày đầu vào quân đội của chúng tôi một phần nào cũng bắt nguồn từ những ao ước riêng. Nhất là tôi và Cường, chúng tôi chỉ muốn được tuyển chọn vào những đơn vị mình thích.
Xong phần huấn luyện cơ bản, các đơn vị lục tục đến nhận tân binh. Điều đáng buồn là những nguyện vọng của tôi và Cường đều không được thỏa mãn. Mặc dù Cường rất giỏi toán lý cũng không được vào đơn vị tên lửa ra đa. Còn tôi, mặc dù tay chân mềm mại, tính nết dịu dàng cũng không được vào y tế. Tiến cười bảo:
- Các cậu không biết thân biết phận. Làm sao chúng ta có thể được chiều theo ý muốn. Hãy cứ để cho số phận đưa chúng ta đi.
Tôi cứ tưởng Tiến suy nghĩ đơn giản. Hóa ra không phải như vậy. Con người lúc nào cũng nhiệt tâm như lửa cháy kia lại là con người thâm thuý hơn chúng tôi nhiều. Cuối cùng, cũng như đa số trong đơn vị, chúng tôi được biên chế vào bộ binh. Cũng phải thôi. Cả ba chúng tôi, điểm xạ kích đều được xếp vào loại khá - giỏi.
Thời gian sau đó, chúng tôi tập luyện để chuẩn bị vào chiến trường. Những cuộc hành quân dã ngoại liên miên. Tập đeo nặng. Ngủ rừng. Ba giờ đêm báo động. Leo đèo lội suối. Hành quân đêm. Đào hầm cấp tốc. Chiến đấu trong rừng. Tao ngộ chiến...
Lúc nào tôi cũng buồn ngủ. Tôi vốn gầy gò. Anh em bảo:
- Chú sư thầy trông loẻo khoẻo lắm. Chắc chỉ một tháng thì đổ gục thôi.
Thế mà tôi không gục mới lạ. Chắc anh em không biết, suốt thời gian ở chùa, tôi chỉ ăn cơm hẩm với tương cà. Họ cũng không biết người nhà chùa chúng tôi “bất tác bất thực” không làm thì không ăn. Lao động cần cù và nếp sinh hoạt đạm bạc trong hơn mười năm qua không ngờ đã tạo cho tôi một sức mạnh dẻo dai không thể ai ngờ tới. Tôi nhớ có bận chúng tôi tập hành quân đường dài ba trăm năm mươi kilômét ở Hòa Bình. Ba lô, súng trường, bao gạo, lương khô, tất cả chừng ba nhăm cân. Đường dốc dựng đứng. Có đoạn toàn đá tai mèo. Hành quân đêm vừa đi vừa ngủ. Có lúc bì bõm trong mưa. Có lúc phải bơi qua suối. Ròng rã gần nửa tháng. Tiến khỏe như vâm, nhưng chủ quan, đã trượt chân suýt lăn xuống vực, may được bụi cây cản lại. Tiến không chết nhưng bị trẹo chân không đi được nữa. Tôi và Cường phải cõng nó đi. Tổ tôi vẫn hành quân theo kịp đơn vị. Sau đợt hành quân đường dài ấy, đại đội tôi có năm người ốm to. Riêng tôi, người như sắt lại, song sức khỏe chẳng hề gì.
Sau ba tháng tập luyện, tôi xếp vào hạng sức khỏe loại A.
Trước ngày lên đường đi B, tôi nhận được thư của thầy. Sư cụ viết rằng:
“... Mong cho con chân cứng đá mềm, ra mặt trận tránh được hòn tên mũi đạn. Hàng ngày lúc sáng, lúc tối, con nhớ niệm hồng danh đức Phật. Ánh sáng từ bi của đức Thế Tôn luôn hộ trì cho con và các bạn đồng ngũ. Hẹn ngày thầy trò ta tái ngộ...”




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.02.2018 11:37:46 bởi Ct.Ly>
Chương 3
 
Chuẩn bị lên đường


 
Tổng kết ba tháng học tập, tổ ba người Tiến, Cường, An được bầu là tổ tam tam xuất sắc nhất đại đội. Thật trái khoáy. Cái tổ thành phần chẳng ra gì lại là tổ giỏi nhất. Lúc ở nhà, Trắm là xã đội lại có chân trong Đảng ủy, cho nên vào bộ đội được đề bạt rất nhanh. Thoắt một cái đã là thiếu úy Trung đội trưởng. Đối với cái tổ tam tam xuất sắc ấy, Trắm luôn kèn kẹt giáo dục. Anh bảo: “Người thường chỉ cần phấn đấu một, thì các cậu phải phấn đấu gấp đôi mới hòng tiến lên được”. Cứ tưởng rằng Trắm là một người sắt đá, thiếu trái tim nhân hậu, nhưng thực ra không phải vậy. Nói đúng ra, Trắm sợ hết hồn sau cái đêm diễn kịch lửa trại. Hôm ấy, Tiến sắm vai địa chủ oai vệ quá, thâm hiểm quá. Còn vai cố nông thì lại thảm hại quá, quỵ luỵ và đê tiện quá. Nói đúng ra, Trắm đã là Đảng uỷ, cho nên anh sợ những gì bị quy là có vấn đề chính trị. Mà đóng kịch đâu phải chuyện thường. Tư tưởng là đấy; mà chính trị cũng là đấy. Anh là chỉ huy, anh có biết phương châm chính trị là thống soái không? Anh là chỉ huy mà để cho lính đề cao giai cấp bóc lột và hạ uy thế những người bần cố nông như thế sao. Tại sao là lãnh đạo, anh lại không duyệt trước. Có thể những người lính chỉ là vô ý thức, hoặc tự nhiên chủ nghĩa nên mới diễn như thế. Họ là những người trình độ thấp, giác ngộ còn kém. Còn anh, đã được tổ chức rèn giũa đã bao nhiêu lâu. Tổ chức đã tin tưởng anh, giao trọng trách cho anh, giao những tâm hồn người lính vào tay anh. Thế mà... Anh chính là người phải chịu trách nhiệm. Mất lập trường giai cấp ư? Tội họ thì ít. Tội anh thì nhiều. Tức là lập trường giai cấp của anh còn mơ hồ. Ai đã bị gán cho cái kết luận ấy, con đường tiến thân cách mạng sẽ vô cùng mờ mịt. Chỉ những ai được gọi là có lập trường giai cấp vững vàng mới có tiền đồ sáng sủa. Thật dễ hiểu tại sao trung đội trưởng Trắm lại khe khắt với tổ ba người Tiến, Cường, An như vậy.
Một hôm, Trắm lên trung đoàn họp. Anh gặp chính ủy. Ông ta kéo Trắm đi dạo trong một khu rừng thông. Là một thiếu úy quèn mà được nói chuyện với trung tá chính ủy thật là một vinh hạnh.
Ông trung tá chính ủy đã nhiều tuổi. Mái tóc hoa râm. Trạc ngoại năm mươi. Người tầm thước. Khuôn mặt nhiều nếp nhăn. Bộ quân phục cấp tá bạc mầu. Hàm răng hút thuốc lá nhiều được đánh chải kỹ lưỡng, tuy trắng nhưng kẽ răng vẫn vàng, có chỗ nâu nhạt. Ông cười. Cái cười hiền khô. Trung tá vỗ vai Trắm:
- Mình nghe ở trung đội của cậu có tổ tam tam Tiến, Cường, An rất đặc biệt.
Trắm chột dạ, nghĩ bụng: “Ghê thật, cái tổ ba người này đã đến tai trung đoàn. Mình biết nói gì về họ đây nhỉ”. Trắm phân vân như để hoãn binh, như để chờ xem cấp trên đang muốn biết gì về họ, để lựa lời mà nói. Cho nên trung đội trưởng trả lời một cách chung chung:
- Thưa thủ trưởng... Vâng... Đúng là họ ở trung đội của em... Trắm nói tiếng em rất khẽ, bởi vì ông trung tá đáng tuổi bố anh.
- Có gì cứ kể đi. Chớ có ngại... Mình nghe các cậu có tổ chức một đêm liên hoan... Đốt lửa trại... vì... nơi các cậu đóng quân, dân làng chẳng mấy khi được xem văn công. Chắc chắn là họ hưởng ứng rồi... Thành công chứ hả...
- Vâng cũng tương đối ạ - Trắm lí nhí. Chính đêm liên hoan ấy là điều Trắm ngại nhất... Nói thế nào bây giờ nhỉ... Nói là mấy cậu lính mất lập trường? Hay là mình đã sai? Trắm còn đang lưỡng lự tìm lời, thì cái giọng trầm trầm của ông chính ủy cất lên:
-  Mình biết, mình biết...
Té ra ông ta đã biết hết tất cả... Thủ trưởng của mình ma xó thật. Có thể chính trị viên đại đội đã báo cáo! Cũng có thể ông ta quen một cậu lính nào ở đại đội mình. Và Trắm cúi đầu xuống. Anh chờ những lời giáo huấn nghiêm khắc. Và kìa... Chính ủy đã lên tiếng bằng cái giọng trầm ấm mà dứt khoát.
- Mình biết là vì chính trị viên của cậu báo cáo. Anh ta bảo cậu Tiến rất lo. Cả cậu cũng thế. Cậu đã đứng lên, dừng cuộc liên hoan lại, giảng giải một lúc... Tớ hỏi đồng chí chính trị viên: “Thế theo cậu, trong chuyện này ai sai?”. Đồng chí ấy nói: “Cả cậu Tiến và trung đội trưởng đều sai...”. Nhưng tớ cười và bảo rằng chẳng ai sai cả...”.
Chính ủy nói xong, cười khẽ. Trắm ngạc nhiên nhìn lên gương mặt hiền của ông ta. Còn ông ta thì đặt câu hỏi.
-  Thế cậu đã bao giờ chứng kiến một gia đình địa chủ chưa?
-  Có chứ ạ. Thuở bé em đã được đi dự đấu địa chủ...
- Cái điều mình muốn nói là sinh hoạt của địa chủ cơ. Là cái đối xử của địa chủ cơ. Cậu còn nhỏ tuổi. Cậu sao biết được. Còn mình thì biết. Còn gặp nhiều là khác... Giải thích thế nào cho cậu hiểu đây... À nghĩa là họ có của... họ được ăn học... Họ cũng giống như mọi người chúng ta... Lẽ dĩ nhiên họ sống có nề nếp hơn... Bần cố nông của chúng ta, cơm chẳng có ăn, áo chẳng có mặc làm sao mà nề nếp được... Làm sao mà lễ nghĩa nhiều khê được... Lẽ dĩ nhiên họ là kẻ bóc lột... là kẻ tàn ác... Nhưng biết nói thế nào cho cậu hiểu đây...
Đến chỗ này thì chính ủy là người lúng túng, ông phải dừng lại lấy thuốc lá ra mời Trắm hút, rồi tự mình châm một điếu và hút lấy hút để. Cuối cùng ông nói:
- À. Thế này nhé. Trong chuyện này, cả hai đều không sai. Cậu không sai vì cậu có bao giờ sống ở chế độ cũ đâu mà biết địa chủ họ sống thế nào. Còn cậu Tiến không sai vì từ thuở bé cậu ấy đã sống trong một gia đình địa chủ. Bảo rằng địa chủ cần phải đánh đổ, rằng họ tàn ác... Thế rồi khi lên sàn diễn, đóng vai một cách biếm họa thô thiển, có lúc đóng vai một cách thậm xưng... Như thế cũng không phải... Nói chung... ở đây là nghệ thuật... Giống quá cũng không được... Thô thiển quá cũng không được. Mà sao các cậu lại đưa lên sân khấu cái chuyện ấy nhỉ... Sao chẳng đưa những chuyện sinh hoạt vui vẻ lên sàn diễn... Tóm lại đây là một lĩnh vực quá sức các cậu.
Chính ủy nói thật dài, song thật ra cuối cùng Trắm cũng hiểu rất lơ mơ. Và chỉ có một điều anh hiểu rõ nhất, đó là chính ủy của anh hiền lành. Và ông ta đã xá tội hết cho cả hai nguời. Ông chính ủy của anh còn biết An là một thầy chùa đi lính và Cuờng thuộc thành phần tư sản. Ma xó thật! - Trắm thầm nghĩ. Ông già còn biết tỉ mỉ Trắm là cố nông, đã từng là xã đội. Hình nhu ông ta quá chú ý tới cái trung đội quá vô danh, quá nhỏ bé của anh.
 
Sắp sửa vào chiến truờng. Ban chỉ huy đại đội họp để xét duyệt thuởng phép cho một số cá nhân xuất sắc. Thời gian chỉ hơn hai ngày. Cho nên chỉ những ai nhà gần, và có thể tin cậy tuyệt đối và tinh thần vững vàng mới được đề nghị. Bởi vì lúc này nếu nhỡ ra có cậu nào về nhà rồi đào ngũ thì thật gay go, sẽ ảnh hưởng đến toàn đơn vị. Cuộc bình xét cực kỳ gay gắt.
Trường hợp của Tiến được nêu ra. Đại đội trưởng nói:
- Cậu này đúng là tích cực xuất sắc. Chẳng ai phản đối được. Làm việc gì cũng hết mình. Xạ kích xếp loại giỏi. Song về mặt tinh thần ai dám đảm bảo. Gia đình địa chủ này. À... cậu ta lại mới lấy vợ, cưới được một tháng thì nhập ngũ. Nhỡ cậu ta ở tịt nhà luôn thì sao? Có nhiều động cơ để cậu ta không quay lại đơn vị... Trường hợp này phải cẩn thận... Để cho cậu ta phấn đấu...
Chợt có tiếng:
-  Trường hợp Tiến tôi xin đảm bảo.
Tất cả quay nhìn vào người phát biểu. Người ta ngạc nhiên. Hóa ra là trung đội trưởng Trắm. Đại đội trưởng nói:
- Đồng chí Trắm đảm bảo à? Sao nữa đây? Tôi tưởng chính đồng chí là người hôm xưa dừng đêm liên hoan lại để... chỉnh đốn lại tư tưởng cho cậu Tiến. Tôi tưởng chuyện tư tưởng lập trường của cậu này đã quá rõ ràng.
Hình như sự khoan dung cũng là một căn bệnh hay lây. Cái hôm nói chuyện với chính ủy, Trắm tự thú nhận là mình hiểu rất mơ hồ, tuy nhiên khi nghe chính ủy bảo họ chẳng có tội, anh thấy như lòng mình được cất đi một gánh nặng. Khi xem vở kịch bên đống lửa, anh thấy sờ sợ vì nó khác những điều anh đã xem. Khi đứng lên chỉnh đốn những diễn viên, anh lại cảm giác mình đã nói một cái gì đó hơi quá đáng. Tuy nhiên anh lại chẳng tìm được lý lẽ gì để phản biện lại. Hơn nữa, còn có một thói quen của xã hội, hễ gặp một điều gì còn chưa rõ ràng, người ta thường chọn cách ứng xử cực tả. Đó là cách lựa chọn thuận tiện và dễ dàng nhất. Bởi vì cực tả thường được coi là lập trường kiên định, thường được khen là tính giai cấp vững vàng. Và tiếp theo đó là sự tin cậy, sự đề bạt thăng chức. Có thể sự tỏ rõ lập trường của trung đội trưởng Trắm đêm liên hoan, cũng bắt nguồn từ tâm lý đó chăng. Đã có bao nhiêu chuyện buồn đã xảy ra từ đó. Và đã có biết bao nhiêu tâm hồn đã dần dần trở nên ti tiện cũng từ đó. Nhưng may thay, Trắm lại là một người lương thiện. Cho nên sau khi phát biểu ở đêm liên hoan, anh cứ thấy cấn cấn trong lòng. Và khi chính ủy xóa tội, giải tỏa cho anh, anh cũng lập tức đôn hậu hơn, rộng lượng hơn. Cho nên, trong buổi họp này, anh mới nói:
- Chuyện diễn kịch đêm liên hoan, tôi đã trực tiếp gặp chính ủy trung đoàn. Đồng chí ấy đã kết luận dứt khoát: Chẳng ai có tội gì hết. Chẳng ai mất lập trường gì hết. Đồng chí ấy còn nói với tôi, ai còn thắc mắc gì, xin trực tiếp gặp đồng chí ấy.
Trong cuộc họp ở trung đoàn, nhiều người đã trông thấy Trắm nói chuyện với chính ủy rất lâu. Cậu Trắm đâu có thể dám bịa đặt ra lời nói của chính ủy. Mà lời chính ủy tức là lời tối cao của trung đoàn. Bởi vậy, chẳng ai dám có ý kiến gì. Trắm liền báo cáo:
-  Trường hợp đồng chí Tiến của B tôi xuất sắc trong huấn luyện thì ai cũng rõ. Tôi xin bổ sung thêm, cái đoạn chúng ta hành quân ở lưng chừng núi B, khi ấy chúng ta phải lội qua một thung lũng lầy sụt. Các cụ già bảo hàng ngàn năm rồi lá rừng rụng đổ xô vào đấy, lâu dần hoại mục hóa thành bùn lầy. Hai bên là vách đá. Đường độc đạo. Tiến lên cũng chết. Lùi lại tìm đường khác cũng gay go. Trung đội tôi hành quân dẫn đầu. Chính đồng chí Tiến đã đưa ra sáng kiến lấy dao tỉa chặt những cành cây vừa và nhỏ trải xuống làm lối đi. Mỗi chiến sĩ năm cành cây. Nhờ sáng kiến ấy chúng ta đã qua vùng lầy an toàn.
Đại đội trưởng gật gù:
- Sáng kiến này của Tiến à. Bây giờ tớ mới biết. Chỉ riêng sáng kiến này cũng đáng thưởng đấy.
Thấy đại đội trưởng có vẻ xuôi, Trắm liền bổ sung:
- Trường hợp Tiến lý lịch phức tạp, cán bộ chúng ta ai cũng biết. Phải nói rằng, cậu ta có nhiều khổ tâm mà chẳng ai hay. Tuy rằng người ta vẫn cho ăn học nhưng thực tế là cô đơn. Họ hàng nhìn cậu ta bằng con mắt ngờ vực. Người mà cậu ta gọi là bố cũng không tin cậu ta là con ruột của mình. Ông ta tốt với Tiến nhưng mà tốt một cách hờ hững. Từ khi bị quy là địa chủ, suốt ngày đêm ông như người câm chẳng nói một lời. Không thèm nhìn mặt ai nhất là đối với Tiến. Trước khi chết, ông ta gọi Tiến vào và bảo rằng: “Anh không phải là con tôi. Tôi biết đích xác là thế vì chưa bao giờ tôi ăn nằm với mẹ anh. Nhưng tôi vẫn nuôi nấng anh tử tế. Thế là anh nợ tôi một điều. Khi cải cách ruộng đất, người ta xui anh lên đấu tôi. Anh còn bé nhưng nhất định không làm điều ấy. Tôi rất cảm ơn anh. Thế là tôi cũng nợ anh một điều. Thế là đôi bên hòa. Xong nợ. Tuy tôi lạnh nhạt với anh, nhưng khi tôi đã chui xuống đất, chỉ xin anh nhớ tới ơn nghĩa xưa giúp tôi một điều. Anh hãy chăm sóc tới bà Tư, mẹ nuôi của anh. Bà ấy tốt lắm. Chẳng may không có con nên coi anh chẳng khác gì con. Anh hiếu nghĩa với bà ấy, thì dù ở dưới suối vàng tôi cũng cám ơn anh”. Chính bà Tư này đã cưới vợ cho anh được một tháng thì Tiến lên đường nhập ngũ. Các đồng chí thử nghĩ xem, với thành tích cá nhân như thế với hoàn cảnh gia đình như thế, Tiến có xứng đáng được về hai ngày phép để thăm mẹ, thăm vợ trước lúc lên đường vào chiến trường hay không?
 
Trắm đi họp cán bộ về, đến ngay tổ tam tam của An, nói oang oang:
- Lần này trung đội mình được thưởng phép bảy người. Riêng tổ ba người các cậu, được thưởng phép tất cả. Nhưng tiếc quá, ngày nghỉ chỉ có hai, thành thử chỉ những ai ở gần, tiện tầu xe, mới được đi. Khi đi lại phải viết cam đoan, trả phép đúng ngày giờ.
Cường cười:
- Từ đây về Hà Nội hai trăm năm mươi cây số. Chỉ riêng đi và về, nếu may mắn gặp ôtô, cũng phải mất đứt hai ngày. Chẳng lẽ về nhà nhìn mặt bố mẹ một lát rồi lại sấp ngửa đi ngay sao. Chẳng bõ. Chỉ thêm mệt vào thân. Tôi không đi.
Trắm gật đầu.
- Cũng phải. Tớ đấu tranh cho tổ các cậu, chủ yếu là thông cảm hoàn cảnh cậu Tiến. Mới cưới vợ một tháng. Chưa kịp quen hơi bén tiếng. Nhà lại chỉ cách đây ba mươi cây số. Còn cậu An thì sao, làng chúng mình cách đây hơn trăm cây số. Tầu xe lại khó khăn. Bắt xe dọc đường ư? Phập phù lắm. Mấy lại ba tháng trước về phép, tớ đã gặp sư cụ, gặp chị Nguyệt, gặp sư bác. Họ cũng đều bình thường và bảo cậu cứ yên tâm. Nhưng mà...
Nghe Trắm nói chữ nhưng, An chợt ngẩng đầu lên. Quả nhiên Trắm đã nói tới một điều mà An không dám nói ra. Trắm nghiêm trang nhưng môi vẫn nở nụ cười:
- Nhưng mà... tháng trước cậu mới nhận được thư của cô Huệ phải không?... Cô ấy bảo trường y tế cách đây ba nhăm cây số chứ gì?
-  Báo cáo trung đội trưởng... Thế... cô Huệ... tôi cũng được...
- Được đi thăm chứ sao... Bố cô Huệ và sư cụ là sư đệ sư huynh. Vậy, cậu với cô Huệ là con bác con chú...
Thằng Tiến lẻo mồm:
 
- Sư huynh sư đệ. Được quá chứ lại. Thôi! Chú tiểu mau mau đến thăm cô em út đi.
Hai tháng trước, An nhận được một lá thư. Lần đầu tiên trong đời. An được nhận thư. Lá thư không đề người gửi. Ai thế nhỉ? Chẳng lẽ là thầy? Hay chị Nguyệt? Hay sư bác? Những người tu hành giàu tình cảm nhưng rất ít bộc lộ tình cảm cá nhân. Do đó họ ít biên thư, trừ những trường hợp cần thiết. Hay là đã xảy ra chuyện gì ở chùa. Chắc không phải. Bởi vì Trắm mới đi phép về tháng trước, nói dạo này sư cụ rất mạnh khỏe, mọi người vẫn bình an. Bóc ra mới biết là thư của Huệ. Thế là lòng An bỗng xốn xang. Lại nghĩ đến ngày giỗ sư tổ, cũng là ngày anh nhận được tin mình trong danh sách lên đường nhập ngũ. Cái ngày thật lạ. Hai đứa xa nhau, hơn mười năm lại gặp nhau. Lại được sống lại ngày ấu thơ, cầm tay nhau đi giữa cánh đồng thơm ngát. Hôm ấy hai đứa cứ đinh ninh rằng sẽ luôn viết thư cho nhau. Nhưng rồi ngày tháng trôi đi và An vẫn không viết. Chẳng vì An vô tình, chỉ có điều, viết thư đối với An chưa là một thói quen. Anh chưa hề viết thư bao giờ. Chỉ có một lần, đó là khi Trắm về phép, An mới nguệch ngoạc được mấy chữ vụng về.
 
Thưa Thầy!
Con đi bộ đội, đêm nào lòng dạ cũng nhớ tới chùa. Nhớ tiếng chuông thu không mà hàng ngày con vẫn đánh trên gác tam quan. Nhớ hương trầm thơm ngát. Nhớ cái giếng sau chùa. Nhớ chị Nguyệt, nhớ sư bác, nhớ cả con chó già tội nghiệp...
Thầy ơi! Lúc nào con cũng nhớ lời thầy dặn. Hãy cư trần lạc đạo, tùy duyên mà hành đạo. Tuy vậy, lòng con khi nào cũng thấy buồn.
Muôn vàn lạy thầy. Con chúc thầy mạnh khỏe. Con mong vài năm nữa thầy trò lại được gặp mặt nhau... 
 
Khi gửi Trắm mang đi, An cứ nghĩ, đã một năm trời ra ngoài đời, không hiểu mình đã bị thế tục hóa đến nhường nào. Chắc đã có sự ấy, bởi vì một người nhà chùa chắc sẽ viết khác hẳn. Thư của họ là những việc nhà Phật, những tư tưởng nhà Phật, những cố gắng tinh thần trên con đường đến giải thoát. Đằng này chỉ toàn những tình cảm, lại là những tình cảm buồn buồn. Có lẽ vì vậy nên khi An định đặt bút viết lá thư thứ hai, lá thư cho Huệ, An cứ thấy ngại ngần không viết nổi. Đùng một cái, chính Huệ lại viết cho An. Thư rằng:
 
“Anh An ơi!
Năm ngoái khi tiễn chân anh đi. Anh hẹn rằng thể nào cũng viết thư cho Huệ ngay. Em đợi mãi mà không thấy. Hôm nọ về chùa làng mới biết địa chỉ của anh. Tiếc thay, lại chỉ là số hòm thư, chứ không phải là địa chỉ đóng quân. Thành thử muốn đến thăm mà không được. Anh An nhỉ, đời người lính như cánh chùn trời nay đây mai đó. Biết nơi đâu mà tìm. Sao em ngơ ngẩn thế không biết được. Cứ nghĩ đến anh lại thấy lo lo. Em biết mà. Anh vốn hiền lành, lại hay tư lự. Chẳng biết sống ở đơn vị anh có xoay xở được không. Hay lại cứ ngơ ngơ mãi thì khổ.
Riêng phần em, khóa học đang đi vào giai đoạn cuối. Em chuyên về phẫu thuật. Cấp trên bảo thầy em là cán bộ luôn ra bắc vào nam. Anh Căn thì đi B dài rồi. Tuy vậy em vẫn cứ xin đi B. Em nghĩ chắc anh rồi cũng vào trong đó. Không chừng rồi chúng mình sẽ gặp nhau trong đó cũng nên.
Anh An ạ. Không hiểu sao lần gặp anh vào ngày giỗ sư tổ năm ngoái, bỗng nhiên bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu, lúc học với thầy giáo Hải, chợt sống lại trong em. Chúng trở về ào ạt, cứ như thể chúng đang ngủ lịm bỗng giật mình thức cả dậy. Từ cái ngày em và mẹ nhảy xuống sông Hồng, rồi mẹ em chết đuối, thế là bao nhiêu hình ảnh cũ bỗng nhiên tan biến. Em chằng còn nhớ nhiều nhặn gì quá khứ. Hay là nhớ nhớ quên quên. Quên nhưng mà vẫn biết mình có một quá khứ. Cái quá khứ ấu thơ bị xóa đi vì nỗi đau, nhưng hình như nó vẫn nằm đó, nó ngủ lịm nhưng vẫn tồn tại và chỉ chờ dịp là thức dậy. Và khi gặp anh là lập tức chúng ào ào tỉnh dậy, xồ đến ngay. Thế có tài không chứ. Thế là cái Rêu, chị Hiếu, anh Trắm, thầy giáo Hải, cả anh nữa và bao nhiêu người khác đều trở về trong tâm trí em. Anh có nhớ lúc đi trên cảnh đồng làng, em nắm tay anh. Tung tăng như thuở còn đi học. Lúc ấy, anh có biết em nghĩ gì về anh không? Em thấy anh An chẳng khác xưa tẹo nào. Tức là anh vẫn ngu ngu ngơ ngơ. Ngu ngơ ư? Đừng nghĩ là Huệ nói xấu anh đâu. Huệ cũng ngu ngơ chứ. Hơn mười năm qua Huệ sống trong nỗi ngu ngơ, nhớ nhớ quên quên. Huệ chẳng ghét cái nỗi ngu ngơ ấy đâu. Lại thấy yêu nó là đằng khác. Bởi vì người ngu ngơ là người trong sáng, là người chân thật.
Không hiểu Huệ viết thư lan man thế cho anh có vớ vẩn không? Anh An ạ. Đối với anh, Huệ cảm thấy viết thế cũng chẳng hề gì. Có phải không anh?
Địa chỉ xóm Cây Đa, xã X, huyện Y, Trường Trung cấp Y tế. Nhận được thư này, nếu còn ở miền Bắc hãy viết thư trả lời cho em ngay. Hay là, nếu thuận tiện, hãy đến thăm em ngay.
Huệ.” 
 
An lên đường đến xóm Cây Đa ngay sáng hôm sau. Vụng về lắm, An hỏi Cường:
-  Không biết đi thăm có phải mang gì không nhỉ?
Cường rên lên.
- Trời ơi là trời! Đi thăm bạn gái mà lại tay không à? Cậu có biết lũ con gái thích gì không? Chút gì ngòn ngọt mà lại chua chua. Cậu hiểu chưa.
An đỏ mặt lên. Còn Cường phóng ngay ra đầu xóm mang về một bọc mận đỏ đưa cho An:
- Quà đây. Lên đường ngay tắp lự. Thời gian mỗi khắc ngàn vàng.
An đi nhờ ôtô quân sự. Chiếc xe nghiêng ngả, nhảy chồm chồm trên con đường đồi đá đỏ, tưởng chừng như ruột gan tim phổi đều bị long ra. Giống như một cỗ máy bị tháo tung, những bộ phận đổ lẫn lộn rồi xóc lên xóc xuống trong lồng ngực và ổ bụng. Đến một gốc cây đề lá rậm rịt, xe dừng lại. Người bộ đội tài xế nhảy xuống đường cạnh An lấy thuốc lá ra hút. Anh chỉ tay lên trời hỏi:
-  Có nghe thấy gì không?
- Máy bay Mỹ. Mặc kệ chúng nó chứ. Nó cứ bay và xe mình cứ chạy.
Anh lái xe lắc đầu:
- Không đơn giản thế đâu. Dạo này bọn chúng quần thảo vùng này liên tục. Hôm kia nó bắn bến đò Mơ. Chỉ có hai chiếc thuyền mà chúng bắn đến mười phát tên lửa. Bắn cho chìm hai chiếc thuyền mới thôi. May mà chẳng có ai việc gì. Chúng đánh hơi thấy quân ta tập kết ở quanh vùng. Chính vì thế tớ mới phải phi trên đường đồi ghồ ghề. Phi đường này an toàn vì ở đây toàn đồi thông... Này, hút thuốc lá đi... không hả... Hay là bắn vài phát thuốc lào... Trên xe, tớ có điếu cày... Cũng không hả... Này, vào lính lâu chưa?... Mới một niên hả... Rồi cậu xem... Chỉ ít lâu nữa là thành tinh ngay thôi... Tớ chưa thấy thằng lính nào chê thuốc lào... Cả những thằng con các ông kễnh ở Hà Nội... Bạch diện thư sinh hẳn hoi... Gia đình có bìa Tôn Đản, Nhà Thờ hẳn hoi. Thế mà cũng biết rít thuốc lào sòng sọc... Cậu trông cũng thư sinh lắm... Hay là... Cậu cũng vào loại con ông kễnh.
- Không... tôi không. - An chối đây đẩy. - Tôi chỉ... chỉ đi phép... tranh thủ...
- Tranh thủ nghỉ phép hả... Thế thì tớ biết rồi. Cậu sắp đi B... nay tranh thủ về thăm mẹ đĩ... Tranh thủ kẻo phí cái “mùi đời” chứ gì?
-  Không phải. Tôi chưa có vợ.
- Chưa phải là vợ... tức thì là bạn gái... có đúng không nào? Sao mặt lại đỏ tưng bừng lên thế kia?...
- Không... Không phải... - An cố cãi lại anh lính lái xe vui tính và hóm hỉnh. Còn anh tài xế thì cười ha hả.
- Đời lính thời chiến chúng ta, biết sống chết thế nào. Tranh thủ cho biết “mùi đời” đi cũng là phải lẽ. Mà cậu đừng coi thường nhé. Chiếc điếu cày cũng là một thứ “mùi đời” tuyệt vời đấy. Dính vào nó là khó quên.
Anh lái xe nói xong, leo lên cabin, lấy xuống chiếc điếu cày làm bằng một ống tre đã lên nước bóng loáng. Anh cố bắt An hút một điếu thuốc lào. An chợt thấy quý anh lái xe vui tính, nên hút thử và ho sặc sụa. Đến lúc ấy, họ mới hỏi tên nhau.
-  Tôi là An.
- Còn tớ là Mật. Bố tớ ở vùng Phùng chuyên ép mía nấu mật, nên mới đặt tên con thơm ngon như vậy. Thôi nhé! Nếu sau này có gặp nhau ở chiến trường thì đừng có quên cái tên ngọt ngào ấy. Còn bây giờ, cậu chỉ cần đi bộ khoảng bảy cây số nữa là tới xóm Cây Đa. Trường Y tế chứ gì? Ở đấy toàn các cô nàng xinh đẹp. Chúc may mắn.
Quá nửa buổi chiều, An mới tìm đến được Trường Y tế xóm Cây Đa. Trường nằm ở cuối làng, dưới một rặng thông. Vùng này toàn là đồi thông. Những đồi thông xanh mượt nhô lên, ngụp xuống, như những khúc lưng rồng chen lấn nhau chạy vào vùng núi cao. Thầy bảo cuộc đời giống như cuộc hành hương quanh co. Chẳng bao giờ đi thẳng mà tới đích. Mình mới hơn hai mươi ba tuổi mà đã gặp bao khúc quanh co. Mà chính lúc này, An cũng đang gặp một khúc quanh. Hay thật! Đang là một ông sư ngày đêm tụng kinh gõ mõ. Thoắt một cái đã biến thành một anh bộ đội. Chuyện xảy ra tưởng như trong một giấc mộng lạ lùng, chẳng ai tưởng tượng nổi. An thở dài, dừng suy nghĩ, khi mấy chiếc lán hiện ra trước mặt. Đó là những hội trường lớp học. Học viên học ở ba cái lán hội trường, còn ăn ở thì phân tán ở nhờ trong dân.
Đợi tại lán hành chính đến nửa tiếng, lớp học Y3 mới tan. Phần lớn học viên là con gái. Những cô gái đuôi sam ngoe ngoẩy bên vai, nhìn anh bộ đội trẻ bằng những con mắt xoi mói. Nhìn thoáng thôi rồi quay đi ngay.
 
 




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.02.2018 15:02:21 bởi Ct.Ly>
Trang 684
 
Cuối cùng, Huệ xuất hiện. Huệ mặc quần đen, áo sơmi xanh lơ, tóc cũng tết đuôi sam nhưng chỉ một dải. Cái đuôi sam dài đến quá lưng. Cái đuôi sam rất óng, rất đen. Các cô gái thường cắt tóc ngang lưng rồi tết thành hai đuôi sam. Tóc Huệ rất mượt, rất dài. Mớ tóc óng ánh sức sống, ai cũng khen. Lúc về chùa ăn giỗ, hình như Huệ búi tóc. Búi tóc tròn to như quả bưởi con treo sau gáy, để lộ ra cái cổ cao trắng ngần. Màu tóc đen nhánh, càng làm cái cổ, cái gáy thêm nõn nà. Huệ tiếc mớ tóc đẹp nên không nỡ cắt ngang lưng.
An nhìn thấy mớ tóc ấy, khi Huệ xây lưng lại phía anh. An nhìn thấy cái gáy nõn nà và nhận ngay ra bạn. Anh gọi:
-  Huệ.
Nghe âm thanh, Huệ cũng nhận ngay ra người gọi. Cô quay lại, mắt sáng lên, nhìn anh bộ đội trẻ và kêu lên:
-  Anh An.
Tiếng kêu khe khẽ thôi, nhưng âm sắc vui mừng của nó thì không giấu được. Những người bạn gái phát hiện ngay ra cái khác lạ trong tiếng kêu ấy. Họ đổ dồn những con mắt lên chàng bộ đội cao cao gầy gầy, mắt rất sáng và môi rất đỏ. Anh chàng lính đẹp trai đấy chứ. Họ nhìn An rồi lại nhìn Huệ như để đánh giá so sánh. Có chút vui vui nhưng cũng có một thoáng ghen tị thì phải. Họ thì thầm vào tai nhau:
- Con Huệ tẩm ngẩm thật. Nói với ai cũng bảo em chưa có người yêu. Thế rồi đánh đùng một cái, lại xuất hiện chàng bộ đội này.
An và Huệ sánh đôi đi giữa rừng thông dưới những con mắt tò mò, đôi lúc trầm trồ.
- Đẹp đôi quá đi thôi. Chàng bộ đội rõ xinh mà cái Huệ cũng quá xinh. Con ranh nó giấu người yêu kỹ thế.
Họ đã ra khỏi tầm nhìn của mọi người. Chung quanh họ bây giờ chỉ là rừng thông yên tĩnh. Chiều đang xuống dần. Tiếng một đôi chích choè gọi nhau thiết tha. Từ sườn đồi nhìn xuống thung lũng thấp bên cạnh, một đàn chim bay chập chờn thành những đường cầu vồng loang loáng trong nắng nhạt. Từ lúc gặp nhau, Huệ thỉnh thoảng lại nhìn An và mủm mỉm. Họ cứ im lặng mãi. Huệ là người đầu tiên phá sự im lặng ấy:
-  Trông anh An lạ hẳn đi.
-Lạ?
-  Đến cả em, lúc đầu cũng ngớ ra. Trông vừa quen, vừa lạ.
-  Thế nghĩa là làm sao?
- Cái đầu lạ chứ sao. Lúc mới gặp, anh lật chiếc mũ tai bèo ra sau lưng. Mớ tóc bị gió thổi hất ngược ra sau gáy...
- Thì ra là mớ tóc. - An bùi ngùi nói - Thực ra chẳng bao giờ tôi soi gương. Cũng chẳng hiểu trông nó ra sao nữa.
-  Nó đẹp An ạ... Em mừng đấy.
-  Sao lại mừng?
- Anh có nhớ hôm ở chùa, em nói em sợ cho anh. Em sợ khi ra môi trường mới, anh không hòa được với mọi người.
 
Huệ vừa nói vừa tìm lời. Cô sợ những chữ có thể làm cho An suy nghĩ. Còn An, từ khi gặp lại Huệ, không hiểu vì sao anh bỗng thấy yên tâm và tin cậy. Y như hồi hai đứa còn đi học. An có cảm giác sự tin cậy ấy bị gián đoạn mất mười năm, song nó vẫn toàn vẹn, không hề suy suyển. Ý nghĩ ấy có thể là ngô nghê, song trực giác mách bảo anh như vậy. Và có lẽ Huệ cũng cảm nghĩ như An. Anh tin như thế. Người ta bảo đó là tình bạn thuần túy hay một thứ tình cảm gì khác nữa... An không cần biết. Chỉ có điều là tình cảm ấy cho phép anh có thể bộc lộ hết những điều anh giấu kín trong lòng. Bởi vì anh là người tư lự, người cô đơn. Mà giống người này thì rất thèm, rất ao ước có một người tri kỷ. Và thế là anh nói:
- Huệ ạ, cô có biết tại sao người tu hành, khi vào chùa lại cắt bỏ mớ tóc đi không. Các cụ theo đạo Nho bảo rằng mớ tóc ấy là phần thân thể của cha mẹ để lại cho ta. Nếu ta có hiếu thì phải biết trân trọng giữ gìn nó, không được hủy hoại nó. Nhưng đi tu tức là xuất thế gian. Lúc này tâm hồn thể xác ta đều thuộc về Đạo. Ta đành giã từ gia đình, để lại phần thế tục ấy sau lưng. Bộ tóc còn là phần trang điểm cho người nam, người nữ. Ta cũng đành phải từ bỏ cái phần đẹp đẽ diễm lệ ấy. Nó còn là một biểu tượng, luôn nhắc nhở ta hàng ngày hàng giờ, nhắc ta những giới luật, nhắc ta phải vững bước luôn đặt chân trên con đường chánh đạo...
An dừng nói một lát, như để sắp xếp lại ý nghĩ rồi mới tiếp:
- Tôi đã hứa với thầy tôi rồi. Nhưng cuối cùng mình cũng phải để tóc lại.
- Cũng phải thôi - Huệ nhẹ nhàng bảo - sống thế tục ta phải hòa cùng thế tục. Sao An cứ phải nghĩ đến chuyện đó nhiều như vậy.
- Huệ có biết không, mấy tháng đầu ở bộ đội, tôi cũng nghĩ đơn giản. Nhưng sau mới biết, cái đầu trọc của mình như một sự đánh dấu. Đánh dấu rằng mình là một kẻ khác, một kẻ ngoại lai. Lẽ dĩ nhiên, một kẻ khác nhập vào bầy sẽ bị xua đuổi. Sao thế nhỉ? Một người tử tế là phải chấp nhận được những kẻ khác mình. Thế nhưng hầu như chẳng bao giờ những kẻ khác được yên dưới con mắt mọi người. Họ chẳng làm gì nên tội nhưng lại bị coi như một tội nhân. Người ta chế giễu cái đầu trọc của mình. Người ta gán cho mình những biệt danh nào sư hổ mang ư, sư phá giới ư. Rồi những trò tinh nghịch quậy phá cho đến lúc mình phải để tóc mới thôi.
-   Bởi vậy, khi xưa em mói nói là lo cho anh. Anh sợ phải không?
-   Đúng là sợ. Tôi chẳng ngờ, ra thế tục lại phiền nhiễu thế.
-   Có oán hận không?
-   Được cái là không oán hận.
-  Thế thì mừng rồi. Đỡ lo cho anh rồi... Mấy lại anh thử soi gương mà xem. Cũng được đây chứ... Em nói là anh để tóc rất đẹp... Rất hiền hòa...
 
Lúc ấy hai người ngồi dưới một gốc thông. Huệ nói, và chỉ với giọng nói thôi, nó đã an ủi An rất nhiều. Giọng nói của Huệ rất đặc biệt. Thứ giọng nói trong cổ họng. Nó không to. Nó mềm mại. Như nhung vậy. Nói một câu rồi lại khúc khích. Khúc khích và thủ thỉ. Thứ giọng nói không dùng nhiều chữ. Thứ giọng nói an ủi bằng cách kiệm lời, có thể nói vô ngôn.
Đến chiều, Huệ đưa An về nhà bà cụ mà cô ở trọ. Huệ nói:
-  Hôm nay em cắt cơm tập thể. Em sẽ nấu cơm cho anh ăn. Đây là nhà mẹ nuôi của em. Gia đình liệt sĩ. Cụ ở một mình Chủ nhật em vẫn ăn với cụ. Chả phiền phức gì đâu. Em đãi anh những món ăn ngày xưa mà mẹ em vẫn cho chúng mình ăn.
-   Món gì?
-   Trạch và búp khoai sọ kho tương. Có thích không?
-   Thích. Gì nữa?
-  Cà bát muối xổi chấm tiêu ớt. Thích không?
- Thích... Nhưng hình như còn thiếu... một món tôi thích nhất.
Huệ ớ người ra, nhưng rồi à một tiếng:
- Gớm! Nhưng mà làm nũng quá đấy. Được rồi! Có cả món ấy.
 
Huệ nói xong chợt cảm thấy như mình quá lời. Cô đỏ bừng mặt lên. Thực ra, cái món mà An khẩn khoản yêu cầu có là cao lương mỹ vị gì đâu. Chỉ là món cơm nắm. Ngày xưa An vẫn thích ngồi xem Huệ nắm cơm. Một vuông vải phin trắng tinh. Một chậu thau đồng nước mưa. Đôi bàn tay búp măng xinh xinh hồng hào. Cơm vừa chín tới xới ra. Huệ nắm cơm trên chiếc mâm đồng ngoài hè. Nắm cơm được nhào nắm, lăn tròn rồi mở ra đặt trên hai chiếc đũa ngáng trên chiếc bát lớn. Để đến khi nguội mới cắt ra thành những lát mỏng hình bầu dục. Những lát cơm mịn màng rất nhuyễn ấy chấm với muối vừng thật tuyệt.
Những lát cơm nắm ấy ngon, hay những ngón tay hồng hào búp măng kia tạo ra cái ngon, hay những kỷ niệm xa lắc xa lơ ấy cũng ngon, nào ai biết được!
Trong bữa cơm, Huệ nhìn An ăn cơm nắm tóp tép ngon lành, cô cứ mủm mỉm cười và bảo:
- Em còn nắm thêm một nắm để dành cho mai anh mang đi. À, mà sáng mai em không tiễn anh được đâu.
-  Sao thế?
- Vì sáng mai có buổi học về kỹ thuật phẩu thuật bụng. Em không thể bỏ được.
Câu chuyện cắt ngang bỗng làm cho bữa cơm vui chợt chùng xuống. Bà cụ chủ nhà cười móm mém nói một câu bâng quơ.
- Ôi chao! Con gái tôi nắm cơm khéo quá. Ai mà sau này lấy được con gái tôi, chắc là đứa phải tu đến chín kiếp.
Buổi tối, bà cụ chủ nhà trải chiếu ra hè ngồi nói chuyện với An, Huệ. Khoảng chín giờ thì bà cụ cáo từ vào buồng nằm.
Hai người bạn ngồi yên trong đêm tĩnh lặng. Cái tĩnh lặng sâu hun hút. Trời lặng gió nên không cả tiếng lá thông reo.
Im lặng rợn người, hầu như tuyệt đối. Sao lại có những phút trời đất lạ kỳ đến vậy. An nghe rõ cả tiếng thở của Huệ. Hình như trời đất muốn thố lộ một điều gì đó mà không nói ra lời. Lúc ấy trời đất còn chìm trong bóng tối nhờ nhờ...
Rồi bỗng nhiên có một tiếng dế cất lên ở gần đấy. Ở quả đồi bên cạnh lại có một tiếng dế thứ hai đáp lại. Tiếp theo đó ran ran tiếng dế. Có thể có hàng vạn, hàng triệu triệu ức ức con dế ở khắp núi đồi chung quanh cất lên. Theo sau đó là tiếng ve ở những ngọn thông. Dế và ve hợp ca thành một bản hòa tấu ngút trời.
 
Huệ và An im lặng ngồi nghe khúc nhạc bí ẩn của trời đất trong bóng đêm nhập nhoạng. Trời sáng dần lên. Họ quay sang nhìn nhau. Đã rõ những nét mặt. Huệ cười. Hàm răng bắt ánh trăng sáng lóa. Thì ra trăng đã mọc tự lúc nào không hay. Cái cảnh họ vừa trải qua là siêu không gian, thời gian. Có lẽ một cảnh từ thời hồng hoang.
Một tiếng động chợt vang lên kéo họ trở về hiện tại. Tiếng phản lực ì ì lẫn khuất trên bầu trời đầy mây mù mầu sữa. Một tốp phản lực Mỹ bay qua bầu trời họ ở, bay tới vùng xa xa, có lẽ là vùng Hà Nội.
Tiếng phản lực dứt, nhưng núi đồi thì vẫn mơ màng. Còn hai người thì đã hoàn toàn bừng tỉnh. Nhất là khi phía bên hàng xóm có tiếng trẻ con khóc. Người mẹ ru hời nhưng thằng bé không nín. Nó cứ ra rả như tiếng một con mèo. Bà cụ trong buồng đập chiếc quạt mo. - Khốn khổ! Thằng bé khóc dạ đề đấy mà. Bảo cúng giải vía cho nó mà chị ấy chẳng làm. Để thằng bé khóc rạc cả hơi.
Ở ngoài hiên, Huệ và An lại thầm thì chuyển sang câu chuyện khóc dạ đề. Huệ giải thích:
- Dạ là đêm. Đề là kêu khóc. Khóc dạ đề là bệnh khóc của trẻ nhỏ sơ sinh. Nó ra khỏi bụng mẹ. Chưa phân biệt nổi giữa đêm và ngày. Nó chưa thích ứng kịp với hoàn cảnh mới, nên nó khóc.
-  Có thuốc gì chữa khỏi không?
- Không. Ngày xửa ngày xưa, chúa Trịnh Cương cũng khóc dạ đề. Làm thế nào cũng không khỏi. Ai bế cũng khóc. Chỉ có bà dì ruột làm vú nuôi bế, nhà chúa mới chịu nín.
- Câu chuyện nghe hay nhỉ - An nói, rồi bùi ngùi - Này, Huệ có biết không, ngày xưa, lúc mới sinh, mình cũng khóc dạ đề. Mẹ thì ốm liệt giường không sữa. Bố thì vụng về, lóng ngóng. Chỉ có mình chị Nguyệt ôm mình. Một giờ đêm bắt đầu khóc. Rồi khóc ròng cho đến sáng. Chị Nguyệt ôm mình đi vòng tròn quanh sân. Rồi cả chị, cả em đều mệt quá. Có sáng bố mình tìm thấy hai chị em ngủ gục ở chân đống rơm. Tiết thu lạnh. Chị mình kéo rơm làm chăn, phủ lên hai chị em chỉ thò ra đôi bàn chân.
-  Thế khóc mấy tháng?
- Ba tháng ròng rã mới khỏi. Lạ một điều, càng khóc càng lớn...
-  Mình ngẫm nghĩ mãi chuyện ấy cũng thấy thật lạ. Trẻ con nào chào đời chả cất tiếng khóc. Song chỉ khóc một lúc thì thôi. Đằng này khóc luôn cho ba tháng.
- Chả trách.
- Chả trách là sao?
- Anh An đúng là đứa trẻ khóc dạ đề. Thế này nhé... Người ta bảo đứa trẻ khóc dạ đề sau này lớn lên dễ trở thành người nóng nảy cáu bẳn... Đấy là trường hợp người nuôi nó không chịu đựng được liền dằn dỗi quát mắng nó, bỏ mặc nó, hay có khi ngược đãi nó. Đừng tưởng trẻ sơ sinh không biết gì đâu. Nó cũng tủi thân cũng giận hờn. Chỉ có điều nó nén trong lòng để về sau lớn lên mới bật ra.
-  Còn trường hợp người nuôi nấng nâng niu nó, âu yếm, khóc lóc mà dỗ dành nó thì sao?
-  Trường hợp chị Nguyệt đã nuôi anh chứ gì. Trường hợp ấy khi trẻ lớn lên, nó không hung bạo, và sẽ hiền lành, nhạy cảm, dễ xúc động và...
- Và gì?
Huệ bỗng đột ngột đứng lên. Trăng chiếu vào mắt cô long lanh. Cô bảo “Thôi em về đây” rồi lặng lẽ ra ngõ. An chạy theo:
- Và gì nữa?
Huệ đứng lại cười :
- Và chắc chắn đứa trẻ ấy hay làm nũng. Có đúng không nào?
An đã đuổi kịp. Anh nắm lấy hai tay Huệ. Một cử chỉ mạnh bạo chưa từng xảy ra với An. Anh chợt thấy tay mình run lên. Còn Huệ thì dịu dàng bảo:
- Anh vào ngủ đi mai còn đi sớm. Nhớ mang cơm nắm em đã để ở rá. Có lẽ em chả tiễn được anh. Sáng mai, chúng em cũng phải đi thật sớm đến thực tập ở bệnh viện A. Nhớ những điều em dặn. Mai rồi sẽ gặp nhau.
An chẳng biết Huệ đã dặn mình những điều gì, nhưng anh cũng gật đầu. An còn run lên hơn nữa khi Huệ kiễng chân lên rồi hôn nhẹ vào má anh. Tối hôm ấy, An không ngủ một phút nào. Anh nằm thao thức nghe đứa trẻ nhà bên khóc dạ đề.
* * *
 
Hành trình về phép của Tiến hoàn toàn ngược hướng với An. An đi về vùng yên tĩnh trung du, nơi người ta sơ tán. Còn Tiến, anh đi vào vùng máy bay Mỹ thường xuyên bắn phá. Hơn năm mươi cây số đường đấy. Thời gian nghỉ phép hai ngày rưỡi. Nếu tích cực cuốc bộ và thông đồng bén giọt thì ít nhất đi phải một ngày mà về cũng phải mất một ngày cật lực. May mắn thay, nhà ông chính trị viên đại đội ở gần đấy, ông cảm thông và thương tình Tiến, liền cho mượn chiếc xe đạp.
Tiến mừng rơn sửa soạn hành lý lên đường ngay. Xe của chính trị viên là xe phượng hoàng nam, luôn được chủ nhân nó lau chùi chăm sóc dầu mỡ nên đi rất bon. Mặc dù ngược gió, nhưng Tiến rạp mình cắm cổ đạp nên tốc độ vẫn khá nhanh. Đoạn đường rất yên ắng không có tiếng máy bay Mỹ, trời lại mát mẻ nên Tiến phải cố sức tranh thủ đạp. Anh tính, với tốc độ này chỉ xế trưa là đã về đến nhà. Khoảng mười giờ, mặt trời đã lên cao, Tiến sắp ra đến đường số Một. Đến đây tình hình đã hoàn toàn khác hẳn. Đã nghe thấy tiếng bom nổ ình ình xa xa. Đã nghe tiếng phản lực ù ù bay trên đầu. Đã trông thấy những chiếc Thần Sấm, Con Ma bắt nắng trắng xóa trên bầu trời. Tốp máy bay Mỹ đang bay ngay phía trước mặt, dọc theo bờ biển. Tiến nhìn lũ máy bay thầm nghĩ: chúng nó vừa bay qua trên đầu làng mình đấy.
Quê Tiến ở làng An Hải, một làng ven biển. Dân sống nửa bằng nghề biển, nửa bằng nghề nông và một phần nhỏ bằng nghề buôn bán vặt. Gia đình nhà nội xưa kia chỉ có hơn hai mươi mẫu ruộng đã được xếp vào loại cự phú. Sau cải cách ruộng đất, tuy thành phần địa chủ, bà Tư và Tiến cũng đươc chia bảy sào ruộng. Ruộng vùng này pha cát không màu mỡ, nhưng nhờ bà Tư chăm chỉ bới đất nhặt cỏ nên hai mẹ con cũng đủ bát ăn. Năm Tiến học lớp 10, bà Tư bảo:
- Mẹ phải lo vợ cho mày thôi Tiến ạ. Mẹ già rồi. Nhà chỉ có hai mẹ con, vắng tiếng trẻ con, mẹ buồn lắm.
- Mẹ chỉ lẩm cẩm. Con mới mười chín lại đang đi học, lấy vợ sao được.
- Mẹ nghĩ thế này. Mình thành phần địa chủ, con có học xong lớp 10, mà có học giỏi chăng nữa, thì phần vào đại học cũng chẳng bao giờ đến lượt mình. Chi bằng con lấy vợ là hơn. An phận làm ruộng, có vợ có chồng, biết bảo ban nhau chí thú làm ăn thì cũng có thể may ra mở mày mở mặt được con ạ.
-   Con sẽ đi bộ đội. - Tiến đáp.
-   Chắc gì người ta nhận con cái địa chủ.
Nhưng xã bảo rằng con thành phần không rõ ràng chứ có phải địa chủ đâu.
- Ôi dào! Sao mà con hão huyền! Người ta nói thế là để an ủi mình thôi. Chứ thành phần không rõ ràng và địa chủ có khác gì nhau. Cũng là thứ thành phần cải tạo cả thôi. Đấy con thử nghĩ mà xem, con học lớp 10 hẳn hoi, mặt mũi lại sáng sủa hẳn hoi, thế mà có đứa con gái nào ở làng này đến chơi nhà ta đâu. Họ ngại dây với địa chủ đấy con ạ. Lại thử nhìn thằng Huy con ông phó chủ tịch thì rõ. Nó thua con đứt đuôi. Học thì dốt. Người thì bé loắt choắt như cái kẹo. Nó bằng tuổi con đấy. Thế mà tháng mười này nó cưới cái Cúc đấy. Cái Cúc xinh nhất làng.
 
Bà Tư nói đến Cúc làm Tiến thấy nhoi nhói trong lòng. Tiến để ý đến Cúc và Cúc cũng có chút cảm tình với Tiến. Thế mà Cúc lại sắp lấy Huy. Tiến ngẫm nghĩ mấy hôm, dần dần thấy mẹ Tư nói cũng có lý. Đúng là các cô gái trong làng có ý lảng tránh anh thật. Sao thế nhỉ? Mà nghĩ cho cùng, cũng phải thôi. Người ta phải tìm đến những chốn đỏ như miếng vông, đông như miếng tiết, chứ dại gì lại tìm đến những người thất thế như mình. Làm sao trách được người ta. Lúc ấy, bà Tư lại thủ thỉ với con:
- Đừng có lo. Mẹ tính cả rồi. Làm tài trai phải tìm cách đổi đời mình đi là đúng. Con vào bộ đội cũng là con đường tìm cách đổi đời. Thì con cứ đi, mẹ đâu có ngăn cản. Song, lấy vợ cũng là một cách đổi đời. Có người đàn bà bầu bạn, đàn ông mới thành ra đàn ông, con ạ. Mẹ đã quyết: Con lấy vợ trước, rồi đi bộ đội sau. Mẹ cam đoan, vợ con đẹp hơn cái Cúc.
Tết năm ấy, bà Tư dẫn con trai về quê mình tận Nam Định. Cuộc về ăn Tết quê ngoại ấy cũng là cuộc đi hỏi vợ cho Tiến. Bà Tư có người em con ông chú. Ông này là người lanh lợi, làm ăn rất táo bạo. Ông lăn lộn làm nghề buôn bè chẳng may bị thua lỗ sạt nghiệp. Lúc ấy vào thời Tầy cai trị. Bà Tư dành dụm được ít tiền, liền dốc cả ra cho ông em vay. Ông này xoay ra buôn muối, rồi có lúc làm nghề mở lò ấp trứng vịt. Nhờ thế, ông xây dựng lại được cơ đồ. Hồi cải cách ruộng đất, vì ông không tậu ruộng nên lúc đầu không bị quy địa chủ. Ở quê, ông nhiều nhà, nhiều tiền nên người ta phải tìm hết cách để nâng thành phần ông lên. Người ta phát hiện ra có lúc ông đem tiền cho vay. Người ta bèn quy định ông vào thành phần bóc lột khác, về sau, lại phát hiện thêm ông mua cho người em hai mẫu ruộng, liền quy cho ông việc phân tán tài sản, nên cuối cùng ông là địa chủ cho vay nặng lãi. Mục đích cuối cùng là tịch thu toàn bộ tài sản.
Cho nên hai ông bà bị bao vây suýt chết đói. Người con gái lớn là người con hiếu thảo. May cho cô, gia đình nhà chồng cô là gia đình một ông giáo, không bị dính líu cải cách ruộng đất. Cô chưa có con. Cô liền lạy sống bố mẹ chồng.
- Xin thầy mẹ thương gia đình con chẳng may gặp đại nạn. Con về làm dâu con thầy mẹ từ xưa đến nay chẳng có điều tiếng gì. Với chồng, con cũng một lòng kính yêu. Nhưng vạn bất đắc dĩ, con phải cúi lạy, xin thầy mẹ cho con được ly dị với chồng, để về nhà báo hiếu. Thầy mẹ chẳng cho thì thầy u con, các em con sẽ đành chết đói. Thật là vạn bất đắc dĩ nhưng con chẳng làm sao khác được... Ra đi thế này, con đứt từng khúc ruột. Con thương chồng con lắm chứ, song chẳng lẽ để cha mẹ con chết đói. Dù sao, chồng con cũng vẫn còn trẻ. Con mong anh ấy lấy được người đàn bà khác tốt hơn con để phụng dưỡng thầy mẹ và con đàn cháu lũ.
Ông bà giáo cũng phải rớt nước mắt thương và tiếc người con dâu hiếu nghĩa có một không hai trên đời, và đành lòng thuận tình cho chị dứt áo về nhà cha mẹ đẻ.
Người chị cả ấy tên là Hường, ba đứa em là Lan, Tâm và Mai. Nhờ có cô Hường mang thúng gạo về nhà nên cha mẹ không chết đói. Sau đó, tình hình yên ả trở lại, Hường cũng không quay về nhà chồng nữa. Bởi vì tài sản thì hết, hai ông bà sau đận ấy lại ốm đau hết sức lao động. Hường đành tự hy sinh hạnh phúc riêng, lăn lóc đầu hôm sớm mai chợ búa, tần tảo nuôi cha mẹ và đàn em để chờ thời gây dựng lại cho gia đình. Lan lớn lên xinh đẹp, Hường mối lái gả em cho một người ở Hà Nội. Cậu Tầm học hết lớp 10, Hường cũng cho ra Hà Nội học nghề, theo con đường vào xưởng máy. Còn cô út Mai xinh đẹp nhất nhà, lại rất tháo vát. Học xong lớp 7, Mai nhất định không đi học nữa, xin theo chị làm nghề buôn bán. Mai lanh lợi quá làm Hường thấy sợ. Cô chị rất lo cho tương lai cô út. Đúng lúc ấy, thì bà Tư về quê, đến nhà xin cái Mai cho thằng Tiến. Hường lưỡng lự hỏi bố mẹ:
- Thầy u ạ. Nhà mình địa chủ. Nhà bác ấy cũng địa chủ. Không biết về sau có ảnh hưởng gì đến em con không?
Ông cụ chưa kịp trả lời, Mai đã bảo:
- Nhà mình cành vàng lá ngọc gì mà chị nói thế. Con địa chủ lấy con địa chủ, thế chẳng môn đăng hộ đối sao. - Nói xong Mai cười.
Ông cụ xem chừng con gái ưng thuận bèn nói thêm vào:
- Thằng Tiến trông hiền lành, lại sáng sủa. Nó hơn con Mai một tuổi, học hơn con Mai ba lớp. Thầy xem thế là tốt. Vả lại nhà mình chịu ơn nhà bác Tư rất lớn. Cũng nhân dịp này, bố mong trả lại cái ơn xưa. Mà xem chừng cái Mai cũng bằng lòng rồi. Mai nhà ta làm mâm cơm cúng các cụ, thầy sẽ kính cáo gia tiên cho chúng nó thành vợ thành chồng. Thế là xong. Nhà ta là địa chủ cũng chẳng nên bày vẽ làm gì cho phiền...
Đám cưới thật quá đơn giản, về đến nhà, bà Tư cũng làm một mâm cơm kính cáo tổ tiên bên nội. Hôm ấy, mâm cỗ tuy gọi là cỗ cưới nhưng đạm bạc thôi. Một bát canh bí, một cái chân giò luộc thái mỏng, một đĩa trứng tráng.
Tiến còn đang mơ màng về đám cưới của mình, thì bỗng có tiếng người quát ầm ầm:
- Này, cái anh bộ đội kia! Hồn vía để đâu rồi? Điếc hả? Không nghe thấy tiếng máy bay nó lượn trên đầu hay sao?
Một tiếng nói khác ra lệnh, chỉ dẫn:
- Xuống xe mau! Vứt xe đấy! Chạy thật nhanh xa khỏi vệ đường. Coi chừng: Bà già nó sắp bắn đấy.
Tiến mải nghĩ như đang mơ ngủ, chợt bừng tỉnh. Thì ra anh đang đi trên con đường thiên lý. Lúc này anh mới nhận ra trên đầu mình một chiếc cánh bằng đang bay dọc theo con đường quốc lộ. Tiến vội vã nhảy xuống, quẳng chiếc xe nằm trên mặt đường rồi cắm cổ chạy ra xa xuống ruộng. Chạy xa chừng hai trăm mét, anh nằm xuống, nấp sau một bờ ruộng cao. Ở đấy đã có người trú ẩn. Một người đàn ông theo dõi đường bay của chiếc phi cơ. Ông ta bảo:
- Ở đây khác ngoài Bắc. Ở ngoài ấy có đủ loại súng canh giữ bầu trời, nhất là ở thành phố và quanh thành phố. Tầm thấp đã có súng trường, tầm cao hơn có súng máy, cao hơn nữa là cao xạ pháo, ở tít trên mây thì có tên lửa. Tầng tầng lớp lớp như vậy thành thử máy bay Mỹ phải rất dè dặt... Còn ở đây ư? Súng phải tập trung ở các khu vực trọng điểm. Còn ở các vùng bình thường, ta phải đánh chúng theo kiểu du kích. Biết vậy, nên ở đây chúng rất ngang nhiên. Chúng dùng cả những chiếc cánh bằng chậm chạp để tấn công ta... Kìa kìa! Chiếc bà già đang lượn đấy. Vòng này thì chúng sẽ bắn. Chúng dùng súng máy bắn vãi đạn xuống hai bên vệ đường. Chả là chúng biết ta hay đào hố cá nhân ở hai bên đường...
Người đàn ông hay chuyện vừa nói dứt thì tiếng súng từ chiếc máy bay vang lên. Đúng như lời ông ta nói, khẩu liên thanh vãi đạn xuống bên lề con đường nhựa. Hai người rạp đầu xuống khi chiếc máy bay lướt qua. Chẳng biết trên máy bay họ có nhìn thấy Tiến và ông bạn đường không, chứ Tiến thì nhìn thấy rõ cả tên phi công cầm lái. Có lẽ chúng có thể nhìn thấy khi tới gần, nhưng chưa kịp chuyển hướng bắn nên hai người chẳng hề gì. Khi chiếc phi cơ vừa bay khỏi, Tiến và ông bạn đường nhỏm cả dậy và di chuyển tiếp, tránh xa khỏi con đường. Hai người tranh thủ chạy khi chiếc máy bay lượn vòng. Nhất định nó sẽ bắn phá lần thứ hai. Quả nhiên như vậy. Lần thứ hai, chiếc cánh bằng dùng súng máy bắn hơi xa con đường một chút. Nhưng họ đâu còn ở chỗ cũ nữa.
Khi chiếc máy bay mất hút ra phía biển, Tiến lại lên đường. Anh đã đi được già nửa đường. Người đàn ông hay chuyện cũng đi xe đạp cùng đường với anh. Ông ta tỏ ra thông thuộc vùng này. Đoạn đường có cây ven đường. Bóng cây vừa che nắng vừa ngụy trang cho khách bộ hành, thành thử hai người đạp xe rất ung dung. Đến cuối đoạn đường có bóng mát, người bạn đường vui tính bảo Tiến dừng lại nghỉ và giải thích:
- Ta phải dừng chân ở đây, chờ đến chiều. Trước mặt chúng ta là đoạn đường nguy hiểm. Giờ này máy bay Mỹ hoạt động mạnh. Tuy nhiên, đến chiều chúng sẽ ngừng nghỉ. Có lẽ phi công Mỹ ở ngoài hạm đội làm việc theo giờ hành chính.
Tiến ngồi dưới bóng một cây xà cừ rậm rạp, ăn cơm nắm và đưa mắt nhìn ra quãng đường phía trước. Quãng đường trơ trụi không một bóng cây. Gọi là một con đê, hay một con đập thì đúng hơn. Con đê vắt ngang một thung lủng khá rộng. Xưa kia chắc nơi đây mọc đầy lau lách nay đã biến thành ruộng trũng. Khoảng giữa thân đê người ta xây hai cái cống để giữ và thoát nước, cống khá to và dài nên dân vẫn gọi là cầu xi măng. Quãng đường này nguy hiểm vì không có cây che. Đường thì rộng, đủ tiêu chuẩn, nhưng hai bền lề đường lại hẹp. Ra khỏi lề đường là triền đường và ruộng sâu cách mặt đường đến hai mét. Đoạn đường ấy lại dài hơn một cây số. Vậy giả thử khi đi tới nửa đường ta gặp máy bay thì sao? Nhảy xuống vệ đường thì rơi xuống ruộng sâu. Đi thẳng theo đường thì làm mục tiêu cho súng đạn. Quân Mỹ nắm được địa hình nên vẫn cho máy bay cánh bằng khống chế đoạn đường này. Rồi, những máy bay phản lực đi ném bom những mục tiêu nằm sâu trong đất liền, khi trở về hạm đội, qua đây, thừa bom liền trút xuống cái cống xi măng. Vì mục tiêu không đáng kể, lại có rặng núi che khuất tầm ngắm, nên phi công Mỹ không chúc xuống mà cứ thả bom từ tầm cao cho nên bom không trúng mục tiêu mà phần lớn rơi xuống cánh đồng trũng, được nhân dân đặt tên là cánh đồng túi bom. Thực ra, để tránh đoạn đường nguy hiểm này, xe tải của ta vẫn đi theo một con đường vòng khác, chỗ rẽ ở cách đây rất xa. Tuy có con đường vòng, nhưng về thực chất, đêm đêm vẫn có xe của ta đi về phía Nam qua con đường này. Việc ấy không lọt được qua mắt bọn Mỹ. Người Mỹ đã tính toán và quân ta cũng tính toán.
Bề ngoài quân Mỹ vẫn tỏ ra bình thường. Nghĩa là họ vẫn hoạt động theo phong cách hành chính. Sáng thì cho một chiếc cánh bằng lượn lờ, có lúc chiếc cánh bằng là sát ngọn tre để mấy chú chó sợ hết hồn, chạy bán sống bán chết vừa chạy vừa kêu ăng ẳng. Có lúc cánh bằng lại lia vu vơ mấy loạt đạn xuống vệ đường khiến cho quãng đường trở nên vắng tanh vắng ngắt, khiến cho dân trong vùng phải ra đồng ban đêm và khiến cho những khách đi đường phải nôn nao đợi chờ trong tức giận. Rồi, cuộc đụng đầu mà mọi người biết chắc chắn sẽ xảy ra, đã xảy ra. Bằng một nguồn tin quân sự nào đó, quân ta biết ý đồ của địch, nên đã cho một đại đội cao xạ pháo về bí mật lập trận địa ở một đầu đoạn đường.
Mười giờ sáng ngày 25 tháng trước, trên bầu trời bỗng đột ngột xuất hiện những máy bay Thần Sấm, Con Ma của Mỹ. Lần này chúng không thả bom từ trên cao mà bổ nhào rồi mới trút bom. Quân Mỹ tưởng nắm được yếu tố bất ngờ sẽ không bị hao tổn gì... Nào ngờ, ở dưới đất một lưới lửa đủ các tầng dày đặc đan lên trời. Hết tốp phản lực này đến tốp khác lao tới. Bom đạn vang lên. Đất rung chuyển. Khói lửa từ những căn nhà cháy cuộn lên trời ngùn ngụt. Chim chóc muông thú bạt hồn kinh vía. Nhân dân không hề gì vì được lệnh đã đi sơ tán hết. Kết quả cái cống xi măng bị sạt một nửa. Con đê bị ba hố bom. Bên Mỹ bị hạ hai máy bay. Một cái rơi tại chỗ. Một chiếc rơi xuống biển. Bên ta hai tử sĩ, ba thương binh. Hôm sau máy bay Mỹ lại tới, mục tiêu của họ lần này là tiêu diệt trận địa pháo. Tuy nhiên, quân ta đã di chuyển. Máy bay Mỹ chỉ bắn được những trận địa giả, trận địa nghi binh.
Cuối cùng quân Mỹ cũng phá được chiếc cống. Bây giờ xe tải không qua đây được nữa. Còn người đi bộ và xe đạp qua đấy thì phải leo lên leo xuống và giẫm lên những tảng xi măng, những tấm ván bấp bênh. Còn chiếc máy bay cánh băng thì vẫn không quên nhiệm vụ tuần tra. Có hôm một lần, có hôm hai, ba lần, chiếc cánh bằng vẫn cần mẫn bay lượn hàng ngày.
Chẳng lẽ nó bay như vậy chỉ để dọa khách bộ hành thôi ư? Chẳng lẽ nhiệm vụ quân sự của nó chỉ đơn giản là vậy. Tiến trải ni lông nằm dưới gốc xà cừ, chờ đợi và tức giận. Thời gian sao mà chậm. Mà ai có thể hiểu, đối với Tiến thời gian quý biết chừng nào. Tiến cởi áo sơ mi trùm lên đầu cố tranh thủ ngủ. Anh thầm tính toán: ‘Chắc đêm nay mình không ngủ được. Tình hình này, chắc ngày mai lại phải đạp suốt ngày để trở về. Thôi, Tiến ơi! Hãy cố. tranh thủ mà ngủ để lấy sức”. Tiến tự nhủ, tự dỗ dành mình như vậy.
Chiếc máy bay bà già không ngó ngàng gì tới đoạn đường có cây che phủ. Lúc này nó chỉ bay lượn ngó nghiêng tới quãng đường trống trải, vắng tanh của chiếc cầu. Nó cũng chẳng bắn nữa. Bởi vì làm gì có sinh vật nào xuất hiện ở đây mà bắn. Lúc nãy Tiến có trông thấy một con bò vàng trên một quả đồi tít xa. Lúc này con bò cũng biến đâu mất rồi. Có lẽ tiếng súng khi nãy đã báo động cho chú mục đồng dắt bò tránh đi rồi chăng? Nhìn ra con đường vắng ngắt trước mặt bây giờ, Tiến chỉ còn thấy nắng đổ lửa xuống mặt đường. Không khí bị nung biến thành một tấm kính trong suốt, dày đặc. Tấm kính ấy hình như nhòa nhòa, hình như chuyển động. Nó rung rinh, chập chờn. Chiếc máy bay cánh bằng đột nhiên biến đâu mất. Bây giờ lại thêm cái im lặng. Im lặng cộng thêm cái nóng nung người làm Tiến cảm thấy ngột ngạt vì bức. Tiến bảo người đồng hành:
-  Yên thế này! Hay ta lên đường.
-  Đừng tưởng yên. Coi chừng đấy.
Tiến nhìn lên bầu trời cao vút không một đám mây. Chợt có tiếng ì ì ở xa. Người bạn cười và nói: “Thấy chưa”. Tiến nhìn về phía tiếng động. Trên bầu trời đã thấy xuất hiện một tốp phản lực. Chúng bay về phía hai người. Rồi tiếng máy bay ầm ầm. Tiếp theo đó Tiến nhìn thấy chúng cắt bom. Một hai... bốn năm. Trông thấy rõ năm quả bom lao xuống. Người đồng hành vui tính chăm chú rồi nói:
-  Trượt! Trượt ráo! Chúng rơi cả xuống cánh đồng túi bom.
Tốp phản lực nhanh chóng xuất hiện, rồi lại nhanh chóng biến đi về phía biển khơi. Lập tức, Tiến hiểu ngay rằng không thể nôn nóng, anh lặng lẽ trải chiếc ni lông ra đất rồi nằm xuống, đậy chiếc mũ lên mặt.
Tiến nằm nghĩ vơ vẩn. Hình ảnh Mai, người vợ trẻ lập tức hiện về trong tâm tưởng ... Mai là một cô gái rất hồn nhiên và rất ý chí. Hôm đầu tiên ngủ ở nhà chồng, cô bảo Tiến:
- Anh đừng mơ tưởng hão về chuyện thành phần. Đừng có tự ru ngủ rằng mình một ngày nào đó sẽ được đổi thành phần. Phải xác định thành phần không rõ ràng của anh tức là thành phần địa chủ.
-  Thì anh cũng có hy vọng gì đâu?
- Sự thực anh vẫn hão huyền. Cứ cho là mình ở hoàn cảnh xấu thậm tệ đi. Có như thế mói tiến lên được. Em nghĩ con địa chủ lấy con địa chủ, điều ấy quá tốt. Cả anh và em đều cao ráo sáng sủa, lại có chút học vấn. Chẳng hề đui què mẻ sứt, chẳng hề tí chút đần độn. Vậy thì cớ gì vợ chồng mình chẳng khấm khá lên. Hà cớ gì vợ chồng mình không được hạnh phúc. - Cô vợ trẻ của Tiến càng nói càng có lý. Trước kia, Tiến âm thầm chịu đựng một mình, âm thầm cố gắng một mình, bên cạnh một bà mẹ chẳng mấy khi nói, quanh năm suốt tháng, chỉ biết nai lưng ra trên mảnh ruộng. Còn bây giờ, Tiến có Mai, cô ấy ngoài vai trò người vợ, còn là người bạn. Chẳng biết học được từ ai, cô gái sôi nổi ấy biết nâng người chồng của mình lên. Tiến bảo Mai:
- U anh nói: Làm tài trai phải có chí đổi đời. Anh không muốn bị người ta khinh rẻ như bây giờ. U cũng bảo: Thằng con trai lấy vợ cũng là một cách để đổi đời. Nghe em nói, anh mới biết U anh đúng. Xem ra, gặp em, anh sắp đổi đời thật rồi.
- Chứ sao! - Mai vênh cái mặt vừa xinh vừa đáo để của mình lên - Em tính thế này anh thử nghe xem sao. Em không làm ruộng. Em sẽ đi buôn. Bây giờ cả xã hội đều khinh đi buôn. Ai buôn thì gọi là thành phần không cơ bản. Buôn to thì gọi là tư bản. Buôn nhỏ thì gọi là con phe. Thành phần địa chủ là xấu nhất thời nay, thì vợ chồng mình đang đeo trên cổ như một cái huân chương. Vậy nếu ta có đeo thêm một cái tiếng con phe cũng chẳng xấu thêm tẹo nào. Không xấu mà còn có lợi. Bởi vì ai cũng xô vào việc tiến thân bằng con đường chính thức của xã hội, nên đi buôn dễ dàng hơn.
-  Buôn gì?
- Buôn nhì nhằng thôi. Em đã ra chợ xem rồi. Ở đây có thể buôn sợi ni lông đan lưới. Buôn dép lốp. Dây cao su, đá lửa, kim chỉ... Em biết nguồn hàng, em đã theo chị em ra Hà Nội. Ở đấy cái gì cũng có. Vào đúng lò thì rẻ hơn đây nhiều.
Nói xong, làm liền. Từ khi có Mai gánh hàng ra chợ, đời sống gia đình Tiến khá lên trông thấy. Mai lại là người biết đằng ăn ở, đối xử nên gia đình có thể nói là hạnh phúc. Tuy nhiên, nhiều đêm Mai cứ thấy Tiến thở dài. Hỏi tại sao, lúc ấy Tiến mới bảo:
- U cũng bảo anh rằng đi bộ đội cũng là cách đổi đời tiến thân. Câu nói ấy làm Mai nghĩ mất mấy hôm. Rồi, một đêm Mai nói với chồng:
-  Em nghĩ kỹ rồi. Không cần anh phải đi bộ đội.
-  Vì sao?
-  Vì mình là địa chủ.
-  Song, anh là người đàn ông.
Tiến giữ chặt hai tay Mai, nhìn sâu vào mắt vợ và nói như vậy. Mai cụp mắt xuống, cố tránh tia nhìn của chồng, cô như hiểu đôi mắt Tiến định nói gì. Và cô yếu ớt hỏi:
-  Đàn ông ư? Đàn ông thì làm sao?
Tiến cũng chợt quay đi. Đến lượt anh không muốn nhìn vào đôi mắt vợ. Đôi mắt như cầu khẩn những điều cô chẳng muốn nói ra. Đôi mắt mà những người chồng nhìn vào dễ bị xiêu lòng. Cả hai đều không muốn nói ra những điều mình nghĩ. Cuối cùng Tiến chỉ nói nhẹ nhàng. Cái nhẹ nhàng quyết liệt:
- Em hiểu đấy... Người đàn ông nào cũng có hai việc phải làm. Thứ nhất là bổn phận đối với người đàn bà mà mình yêu. Thứ hai là bổn phận đối với đất Mẹ... Anh chả cần nói nhiều chắc em cũng hiểu.
Vừa nói Tiến vừa ôm lấy tấm thân tròn lẳn của Mai. Cô gái rất nhiều lý sự lúc này chẳng thốt một lời. Cô úp mặt vào ngực Tiến. Cô thở mạnh. Có lẽ cô hít hà - Cái mùi ngầy ngậy, hăng hắc của người đàn ông làm cô như ngây ngất. Lúc bấy giờ cô mới ngẩng mặt lên nói nhỏ:
- Em bảo này... Anh nói là phải có bổn phận đối với em... phải không?... Anh công nhận chứ... được rồi... Vậy, bao giờ anh làm xong bổn phận đối với em... lúc đó tha hồ cho anh đi.
-  Thế là làm sao?
-  Thế là... cố lên - Cô cười khúc khích...
-  Cố lên thế nào?
- Ngốc ạ!... Lại còn giả vờ... Nghĩa là bao giờ trong bụng em có đứa con, em sẽ cho anh đi...
Thế là từ hôm ấy, Tiến cố sức chiều vợ. Tối nào, anh cũng phải ngủ ở nhà. cố sức quá đến nỗi mặt mũi anh trở nên hốc hác. Sự cố sức ấy cuối cùng cũng được đền đáp. Hơn một tháng sau, Mai tuyên bố Tiến đã làm tròn bổn phận. Cũng lúc ấy Tiến trích tay lấy máu, ký vào lá đơn tình nguyện lên đường đánh giặc.
Tiến nhập ngũ được ba tháng thì nhận được thư vợ. Lá thư báo tin Mai bị ngã, đã sẩy thai. Mấy tháng sau, nhận được lá thư thứ hai. Mai viết:
 
“Anh Tiến ơi.
Em nhớ cái đêm xưa, hai vợ chồng mình thủ thỉ với nhau. Anh bảo rằng người đàn ông nào cũng phải có hai bổn phận. Nay, anh đang làm bổn phận với Bà Mẹ vĩ đại. Còn em, người đàn bà nhỏ bé mà anh yêu quý, người đàn bà mà anh thề thốt rằng mình phải có bổn phận, thì hình như đã bị quên rồi. Liệu có phải thế không anh? Tiến ơi! Ngày thì chẳng sao. Chứ ban đêm thì đêm nào cũng vậy, em nhớ anh vô cùng. Nhớ đến thắt cả ruột gan...”.
 
Cũng chính khi nhận được thư ấy, lại xảy ra vụ diễn kịch. Nhưng Tiến là người rất trách nhiệm. Cho nên, anh đã nhận được kỳ phép đặc biệt này. Chả trách, trong giấc ngủ chập chờn dưới gốc cây, Tiến toàn nhớ đến chuyện xưa. Tiến toàn mơ thấy hình bóng của Mai. Mơ thấy Mai, anh cứ tủm tỉm hoài. Ông bạn đường lúc ấy bỗng vỗ lưng Tiến.
-  Này! Tủm tỉm cái gì? Dậy đi! Dậy đi! Nó đi rồi.
Tiến vươn vai nhỏm dậy:
-  Bác bảo ai đi đâu?
- Thằng “bà già” chứ ai. Nó chuồn rồi. Nhân dân vùng này đã tìm ra quy luật: Thằng “bà già” chỉ xuất hiện ba lần lúc quá trưa. Chắc giờ này bọn phi công đã ngồi vào bàn ăn ngoài hạm đội. Nào, anh em ta tranh thủ vượt đường...
Tám giờ tối Tiến mới về đến nhà. Bà Tư ra đón, mừng con về đến chảy nước mắt. Tiến nhìn quanh chưa thấy Mai đâu. Chưa hỏi thì bà cụ đã nói:
- Vợ con lên xóm Thượng cất hàng. Chắc còn lâu hắn mới viền. Thế kỳ này con đi phép được mấy ngày?
-  Chỉ được đến sáng mai thôi U ạ.
-  Chi mà gấp rứa. Vội vội, vàng vàng. Rõ khổ!
- Có thành tích đặc biệt mới được tranh thủ hai ngày. Thương U và cũng thương nhà con quá nên con cố về nhà. Phải đi ngay sáng sớm mai, bởi vì muộn là không đi qua nổi quãng cống xi măng. Đường thì hẹp, ruộng thì sâu. Mà chiếc cánh bằng ngày nào cũng trấn thủ chỗ ấy ngăn cản qua lại.
Bà Tư thở dài:
- Mẹ nói thế thôi. Cũng đành vậy chứ sao. Để mẹ đi nấu cơm cho con. Cơm tẻ hãy còn nhưng nguội. Mẹ sẽ thổi nồi cơm nếp. Nhân tiện, gói cho con một nửa mai đi ăn đường.
Có tiếng gà quéc quéc. Bà cụ thịt cả gà đãi con. Chỉ một tiếng sau mâm cơm tươm tất đã được dọn lên. Hai mẹ con ngồi bên mâm nói chuyện. Tiến chọn những miếng thịt ngon nhất, nạc nhất gắp cho mẹ, nhưng rồi bà cụ lại trút tất cả vào bát con. Bà Tư kể chuyện cho con nghe với vẻ tiếc nuối:
- Cái hôm nó vấp ngã ngoài ngõ, rồi sảy thai, con vợ mày nó như đứa rồ làm mẹ vừa thương lại vừa sợ. Cái thai ba tháng chỉ như cục thịt đỏ hỏn. Vợ mày lấy chiếc nồi đất đặt vào, đậy vung lại, đem ra chôn ngoài vườn. Lại đắp cái nấm xinh xinh. Xong rồi nó khóc. Khóc tỉ tê thảm thiết. Nó bỏ ăn hai ngày, nằm dài tấm tức trong buồng. Dỗ thế nào nó cũng không ra ăn. Sáng hôm thứ ba nó mới dậy. Nó lại bình tĩnh như chẳng có chuyện gì xảy ra. Thật là lạ. Hỏi thì nó trả lời: “Đêm qua thằng bé nó về báo mộng cho con U ạ”. - “Nó báo mộng gì?”. - “Nó bảo U cứ yên tâm, đừng nhịn ăn nữa kẻo ốm. Nó bảo con thương U lắm. Thằng bé rất xinh trai U ạ”, U thấy vợ mày khác lạ cứ tưởng nó nghĩ quá hóa dại rồi. Nhưng may mà sau đấy nó vẫn bình thường, chẳng hề gì. Thế là U mừng.
Nghe mẹ nói, Tiến lại càng thương vợ. Mãi gần 12 giờ đêm, Mai mới đi cất hàng trở về. Cô vào ngay trong buồng, ôm lấy chồng, rúc vào nách Tiến như một đứa trẻ. Mai cuồng nhiệt quá làm Tiến ngài ngại.
-  Hãy yên nào. Lát nữa hãy hay. Nói to thế U nghe thấy đấy.
-  Kệ! U chứ ai mà sợ. Chúng mình càng lục đục thế này U càng mừng. Này anh tắm rồi à.
-  Rồi! Sạch sẽ rồi.
-  Tiếc nhỉ.
-  Sao tiếc?
-  Thì em... em... thích cái mùi mồ hôi của anh.
-  Điên không đấy?
-  Thật mà. Nó chua chua, hăng hắc, ngai ngái, ngầy ngậy... Nhớ nó lắm. Nhớ suốt đời...
Đêm ấy họ ân ái với nhau rất đằm thắm. Người đàn bà cuồng si kể với chồng:
-  Chắc U nói với anh cái chuyện con chúng mình về báo mộng cho em rồi chứ gì?
-  Rồi. Nhưng thằng bé ba tháng đã thành hình người đâu mà báo mộng.
- Thành hình người rồi. Thằng bé rất kháu. Em giơ tay ra nó sà vào tay em ngay. Còn một chuyện này, em giấu kín không nói với U. Tại sao em chịu ăn cơm, rồi bình thường trở lại anh có biết không?... Lúc ấy, em đã chán lắm rồi... Chắc nếu thằng bé không nói một câu, thì còn lâu em mới hồi lại.
-  Nó nói gì?
- Nó bảo: “U cứ yên trí. Rồi một ngày gần đây thầy con sẽ về nhà. Và con sẽ đầu thai, lại trở lại làm con thầy U. Thật đấy. Con chỉ thích làm con thầy U thôi”.
Thật hoang đường! Nhưng nghe Mai nói, Tiến càng thấy thương vợ hơn. Đúng là Mai đang điên rồ vì thèm khát một đứa con. Một hạnh phúc quá bình thường, nhưng là một người lính, anh rất khó đem lại cho cô được. Mà Mai có rồ đâu. Thực ra cô ấy rất tỉnh táo. Mai nói:
- Em sạch kinh được bảy ngày rồi. Không hiểu sao em cứ tin rằng đêm nay vợ chồng mình chắc chắn sẽ có con.
Người đàn bà yên tâm. Người đàn bà no nê. Người đàn bà sung sướng gối đầu lên tay anh, rồi rúc vào nách anh để hít hà cái mùi chua chua, hăng hắc, ngầy ngậy từ nách anh tỏa ra, cái mùi mà cô cho là rất đặc biệt, sẽ làm cho cô nhớ suốt đời.
Mai ngủ rất say, nhưng cũng rất thích. Khoảng ba giờ sáng, khi gà vừa mới gáy, cô đã choàng dậy ngay. Tiến chào từ biệt mẹ. Trước khi đi, Mai kéo anh ra vườn, chỉ cái nấm nhỏ nơi cô chôn chiếc nồi đất đựng cái thai mới thành hình:
- Anh thắp cho con một nén hương. Hãy khấn rằng bố rất yêu con và cũng mong con sẽ là con bố. Em nhất quyết rồi, và cũng tin chắc rồi. Nhất định hôm nay, con chúng mình lại về lại với chúng mình.
Người đàn bà cứ đinh ninh như vậy. Người đàn bà cứ khát khao như vậy. Cái rồ dại mong muốn của chị làm người chồng thương vô cùng mà cũng yêu chị vô cùng. Chị khoác chiếc ba lô của chồng tiễn anh một quãng đường rất xa. Bảo thế nào cũng không chịu quay về:
- Cho em tiễn mình thêm quãng nữa. Đến lùm phi lao kia thì em mới về.
- Đằng nào rồi cũng phải chia tay. Chẳng lẽ cứ bịn rịn mãi cho đến sáng à. Còn quãng đường thót cổ chai, anh phải vượt trước bảy giờ.
- Anh yên tâm. Mới ba giờ sáng. Bảo đảm kịp. Em hứa mà. Đến rặng phi lao em sẽ quay về ngay.
Sóng biển xô bờ oàm oạp. Họ đi trên bãi cát. Một bên là biển, một bên là rừng phi lao. Tiếng rì rầm của biển, tiếng rì rào của phi lao hòa vào nhau. Đêm đen kịt. Họ đi theo màu trắng của bãi cát. Gió từ biển thổi vào mát rượi. Chẳng có con mắt nào nhìn thấy họ cả. Cái vắng lặng của bờ biển đêm làm Mai bạo dạn hẳn lên. Cô đi bên chồng, rồi khoác tay chồng, nép sát vào người chồng, như thể cố níu giữ cái hơi hướng của người đàn ông mà chỉ lát nữa thôi, sẽ xa rời cô, chẳng biết khi nào mới gặp lại.
Có những tiếng bung bung đều đặn ở trên trời, phía trước mặt. Cứ mỗi tiếng bung lại kèm một chớp lóe sáng. Và làm nền cho những chớp nổ ấy là tiếng máy bay ầm ĩ. Tiến hỏi:
-  Không biết bọn Mỹ làm trò gì vậy?
- Chúng nó chụp ảnh bờ biển, để theo dõi tình hình biến động của bên ta.
Hai người vội chạy dạt về phía rặng phi lao. Ngẩng đầu lên chỉ thấy kín mít tán lá. Tiến hỏi:
-  Có phải đây là lùm phi lao rậm mà em bảo anh khi nãy?
- Phải. Chỉ lát nữa thôi, vợ chồng mình chia tay... Anh dựng xe đạp vào cây đi... Vào đây, mình vào đây cho kín.
-  Sợ gì. Chúng làm sao trông thấy chúng mình được.
-  Thì cứ vào đây nào... Chúng sắp thả... pháo sáng đấy.
Ở rừng phi lao lúc mới ra khỏi làng, cây thưa thớt. Còn ở đây cây rậm rịt. Những cây phi lao non tơ đâm nhánh tua tủa. Um tùm và kín như bưng. Cả lá phi lao già rụng xuống ở đây cũng nhiều hơn. Trẻ chăn trâu gom lá trải thành cái nệm khô dày dặn ấm áp. Người vợ kéo người chồng xuống cái nệm thơm ngát ấy. Cô ôm lấy anh. Và đôi môi nóng hổi của cô, bàn tay nóng hổi của cô, chợt làm Tiến hiểu ra tại sao Mai lại nói rằng đến cái lùm cây này cô mới chịu chia tay. Cô thì thầm:
- Chúng mình yêu nhau lần nữa đi. Cần phải thật chắc chắn. Nhất định em phải có con với mình đêm nay. Lúc nãy, em lại nằm mơ thấy con... Lúc nãy anh cũng đã thắp hương cho con... Chúng nó thả pháo sáng ư? - Thây kệ chúng nó.
Vợ chồng Tiến Mai đã yêu nhau như thế đó. Yêu nhau trong rừng phi lao, dưới đèn pháo sáng. Mới đầu chỉ một hai quả ở xa, ánh sáng từ biển hắt vào yếu ớt nhưng cũng đủ để Tiến chiêm ngưỡng tấm thân mỹ miều của vợ. Một niềm kiêu hãnh thầm kín mà anh sẽ chẳng bao giờ nói ra. Đợt pháo sáng đầu tiên tắt lịm. Cái thân hình diễm ảo của nàng biến vào đêm đen. Rồi đợt pháo sáng thứ hai lóe lên, rộ lên. Lần này pháo sáng nhiều hơn, và nằm ngang trên đỉnh đầu. Ánh sáng không lọt qua vòm cây nhưng từ ngoài hắt vào cũng đủ để Tiến nhìn thấy cả cái núm vú hồng hồng của vợ, nhìn thấy cả cặp nhũ hoa của nàng. Ôi! Cái màu trắng ngọc ngà! Chúng là thứ màu ngà voi tinh khiết nõn nà. Giặc bắn tên lửa ầm ầm rất gần. Song hai vợ chồng quên hết. Họ không thấy một chút sợ hãi.
Trước khi người chồng chia tay lên đường, người vợ bảo rằng:
- Thật hoàn toàn khác hẳn. Kỳ này em thấy trong lòng rung động. Như là sét đánh vậy. Em như bay lên chín tầng mây. Cám ơn mình. Em chắc chắn rồi. Lần này nhất định chúng mình sẽ có con.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.02.2018 09:38:09 bởi Ct.Ly>
Chương 4
 
Nhà sư bộ đội


 
Tôi cứ ngẫm nghĩ mãi về số phận của tôi. Thật đáng ngạc nhiên. Tôi đang là nhà sư, bỗng nhiên trở thành người lính. Ngạc nhiên ở chỗ người tu hành lấy đức từ bi làm cơ bản, thậm chí thương xót đến cả sinh mạng của con sâu cái kiến; còn người lính lấy sự tiêu diệt kẻ thù làm cơ bản, ai đứng trước mũi súng chống lại ta đều bị giết, bất kể kẻ đó thế nào. Sư thúc Vô Trần của tôi thì sao? Ông ấy là nhà sư đã trở thành chính ủy. Có khác chứ, tôi là người tự nguyện mãi mãi là sư, còn sư thúc là người tự nguyện từ nhà sư trở thành người lính.
Cả một năm trời được huấn luyện trước khi vào Nam thì không sao. Không có vấn đề gì vì mới chỉ là tập luyện. Còn bây giờ khi đã ở B rồi, không còn là chuyện quân xanh, quân đỏ, nằm bắn quỳ bắn, rồi mục tiêu cố định mục tiêu di động nữa, mà trước mũi súng là những con người bằng xương bằng thịt đang xả đạn vào ta.
Đã nhiều đêm tôi vắt tay lên trán, mắt chong ra nhìn vào đêm đen để suy nghĩ. Đạo Phật dạy có ngàn vạn pháp môn để đi đến giải thoát. Có người chỉ ngày đêm tụng kinh niệm Phật cũng tìm thấy đích. Có người kiên trì hành thiền lòng như tro lạnh, thân như cây khô, chỉ nghe suối reo chim hót, thế mà hốt nhiên bỗng ngộ được đạo. Có người đọc thiên kinh vạn quyển, thuyết pháp làu làu; cũng có kẻ thõng tay vào chợ, hòa đồng cùng bụi bặm cuộc đời; rồi còn có những bậc thiện tri thức, ăn ở chẳng khác người thường, chỉ chăm chăm làm lợi lạc cho quần sinh, nguyện là kẻ sau cùng được giải thoát... Tu Phật ư? Ở thời nào cũng có thể tu, ở bất cứ cảnh nào, vùng nào cũng có thể thấm nhuần ánh sáng của Từ bi. Tôi nghĩ như vậy để làm yên lòng? Hay là tôi đang tìm lý lẽ để biện minh cho hoàn cảnh của tôi?
Trong những ngày sống ở chiến trường miền Nam gian khổ, có lúc cận kề cái chết, không hiểu sao tôi cứ nhớ tới câu chuyện về cuộc hành hương của thầy tôi lên đất Phật. Đó là câu chuyện khi thầy tôi còn là một du tăng, hành hương lên Yên Tử. Câu chuyện ấy thầy tôi kể lúc người từ nhà tù “Đơ Bê” trở về. Cụ sư Điếc già nua ở chùa Rồng dạy thầy tôi: “Người đi đường ngắn, đường dễ ít khi tới đích. Muốn đi tới đỉnh, thường phải đi đường vòng”. Câu chuyện ấy để lại trong tôi một ấn tượng rất mạnh. Cái khác giữa hai cuộc đi của thầy tôi và của tôi ở chỗ, ngày xưa thầy tôi lên Yên Tử, đó là cuộc hành hương đến chốn linh địa. Còn bây giờ, cuộc đi của tôi là cuộc hành hương vào cuộc đời. Không phải cuộc đời bình thường mà là cuộc đời ở dạng trần trụi nhất, khốc liệt nhất, nơi hàng ngày hàng giờ cái chết ở sát bên ta. Nơi ấy cuộc sống như chiếc cối xay, và ta chỉ là hạt thóc. Ta sẽ bị tróc vỏ, trầy cám. Ở đó, ta
sẽ trắng tinh, hoặc bị nghiền thành bột. Nghĩa là qua nó, ta sẽ nhìn ra cái cốt lõi của mình.
Thầy tôi vẫn bảo sống ở cuộc đời chính là đang làm một cuộc hành hương. Hành hương không chỉ là tìm đến một nơi chốn, mà là qua cuộc du hành ấy tìm thấy được cái sức mạnh linh thiêng ngay chính trong tâm hồn mình. Rốt cuộc, đó là cuộc đi truy tìm cái bản lai diện mục của ta. Ý nghĩa các cuộc hành hương tốt đẹp ở chỗ nó làm biến đổi hẳn sự thức nhận tầm thường của thế gian, chuyển sự thức nhận ấy lên một tầm cao. Ở đó con người trở nên cao thượng hơn, sâu sắc hơn, khoáng đạt hơn, từ bi hơn. Cũng có những kẻ sau cuộc du hành lại trở nên thâm hiểm hơn, cuồng bạo hơn. Đó là vì khi tróc vỏ, khi lột xác, anh ta quá ngã mạn để cho cái mầm quỷ trong người thức dậy.
Đó là những suy ngẫm của tôi. Đó cũng là những lời dạy của thầy, khi tôi ở chùa. Thực ra, thầy chẳng bao giờ nói cụ thể như tôi nghĩ. Tuy nhiên, tôi chắc chắn thầy đã dạy tôi như thế. Những lời dạy của thầy tôi, chúng bàng bạc ẩn chứa trong mọi hành xử hàng ngày từ sáng đến tối. Chúng nằm trong việc tụng kinh, niệm Phật, trong đánh chuông gõ mõ, cho đến cả lúc ăn uống, đi lại, nói năng, thậm chí khi đọc sách, suy nghĩ...
Trong cuộc hành hương, hay là một cuộc hành trình ngoài chiến trường miền Nam đầy gian truân ấy, may mắn là tôi vẫn được biên chế trong đơn vị của trung đội trưởng Trắm, lại vẫn được ở cùng tiểu đội với những người bạn tốt bụng, vui vẻ của tôi từ ngoài Bắc. Chúng tôi đã tham dự vài trận chiến đấu nhỏ tao ngộ chiến, chống càn, tuy nhiên trận đánh chưa thật ác liệt. Hình như vào đến đây, chúng tôi vẫn được cấp trên tiếp tục cho huấn luyện. Đưa chúng tôi vào những trận đánh đầu tiên ấy, phải chăng cấp trên muốn cho chúng tôi được cọ xát dần dần với thực tiễn để cho dày dạn kinh nghiệm. Làm như thế khi gặp những thực tế khốc liệt hơn, chúng tôi sẽ không bỡ ngỡ sẽ đương đầu dễ dàng hơn. Trắm bảo đó là cách sử dụng quân của chính ủy Trần.
-  Chính ủy Trần nào? - Tôi hỏi Trắm.
- Chính ủy Vô Trần chứ còn ai. Sư thúc của cậu chứ còn ai. Thế cái Huệ nó không nói cho cậu biết à.
-  Không.
-  Ừ. Lạ thật đấy! Ông Trần là bố cái Huệ, là người cùng làng. Thế mà tớ chưa bao giờ gặp ông ấy. Dân làng Sọ hay nhắc đến ông Trần, nhưng ông ta chỉ như cái bóng, rất ít khi xuất hiện. Người ta đồn bao nhiêu chuyện về thời ông hoạt động bí mật trước tổng khởi nghĩa. Rồi thời đánh Pháp là một vị chỉ huy xuất quỷ nhập thần. Quân Pháp treo giải thưởng cho cái đầu của ông hàng vạn tiền Đông Dương. Thế mà ông không chết. Hòa bình lập lại, thì lại được tin ông làm việc gì rất bí mật cho quân đội, chẳng bao giờ về thăm vợ con. Đến nỗi khi cải cách ruộng đất, vợ suýt bị đem đi bắn. Rồi vợ con trốn chạy, lại phải nhảy xuống sông Hồng... Bà vợ chết... Nghe đâu, cái Huệ, cô con gái cũng đã đi B rồi. Vậy là cả ba cha con đều có mặt trong này.
-  Anh Trắm này, thế có nghe tin gì của Căn không?
- Thằng Căn hiện nay là đại đội trưởng. Dũng sĩ diệt Mỹ, lại có lý lịch tốt nên được đề bạt nhanh. Ở cùng một trung đoàn mà mình cũng không biết ông Trần là chính ủy của mình. Chính thằng Căn viết thư nên tớ mới biết mọi chuyện và kể với cậu.
- Ừ, gia đình này làm gì cũng nguyên tắc, cũng bí mật thật. Cô Huệ thân với mình đến thế, mà cái hôm chia tay vào B, cô ấy cũng chẳng nói cho mình biết tí gì.
- Thì họ là cộng sản nòi mà. Nòi nghĩa là ông Trần là cộng sản trước khi cướp chính quyền.
- Nếu nói thế, ông ta còn là Phật giáo nòi trước khi làm cộng sản.
Thằng Cường trong tổ tam tam ngồi hóng chuyện cũng góp ý kiến:
- Các ông để ý mà xem. Những người làm nghề tôn giáo chuyển sang làm chính trị, đều trở thành những nhà chính trị cứng rắn, thậm chí có thể nói là cực đoan.
Trắm có vẻ không hài lòng, nhíu mày hỏi:
-  Cậu thử cho một ví dụ.
- À... à... Như... như ông Cao ủy Pháp chẳng hạn. Ông D'Argenlieu trước kia là thầy tu. Năm 1946 sang Đông Dương làm Cao ủy. Các tướng tá quân sự Pháp có người còn muốn đàm phán hòa bình. Riêng D'Argenlieu thì không. Vì vậy mới nổ ra chiến tranh Pháp - Việt.
-  Thôi đi ông tướng. Rõ là gái góa lo việc triều đình...
Cường còn định gân cổ lên cãi, Trắm liền hỏi một câu:
- Nói như cậu, thì trường hợp thằng An này cũng thế à? Đi bộ đội cũng là làm chính trị. Trước khi vào lính, nó là nhà sư. Vậy khi thành bộ đội, nó sẽ thành một con người cứng rắn, thậm chí thành một con người bạo hành hay sao?
Câu chuyện đến đấy thì sững lại. Trong đơn vị, Cường là một người lý luận sắc bén. Có bận tôi nói với Cường quan niệm của tôi rằng cuộc ra đi của chúng tôi là một cuộc hành hương mà cái đích không là đi đến một nơi chốn mà là tìm đến sự thức nhận một điều sâu xa cùng tột.
- Thì cậu cứ nói thẳng ra. Nói cho cùng, các nhà sư các cậu, ngay trong lò lửa cũng muốn tìm thấy một Niết bàn. Song, An ạ, Niết bàn và địa ngục cũng gần nhau lắm. Giống như lòng bàn tay và mu bàn tay... Này... Sao các cậu nhìn tôi thế... mà cho dù là hỏa ngục thì củng phải xông vào... Con người là phải như thế. Mọi người đang đứng trong bão lửa... Chẳng có lẽ riêng ta, ta đứng bên ngoài sao?
 
Quay trở lại cuộc nói chuyện trên, khi Cường đưa ra ý tưởng rằng một nhà tu hành khi chuyển thành một người thế tục thì anh ta sẽ vô cùng quyết liệt, có khi còn quyết liệt gấp bội người thường. Và đảo lại khi một người thế tục, một nhà chính trị chuyển thành nhà tu hành, anh ta cũng là một nhà tu hành cuồng tín. Câu chuyện đến đấy thì chững lại. Mọi người nhìn tôi, rồi mắt lảng ra chỗ khác. Chuyện này có nguyên nhân. Đó là câu chuyện xảy ra với tôi.
 
Chúng tôi đi lấy gạo vào một ngày mùa xuân. Đó là một ngày tương đối yên tĩnh. Không nghe thấy tiếng máy bay. Bom nổ nhưng ở rất xa. Chim rừng ở vùng này đã bạt đi đâu hết nhưng sáng hôm ấy, tôi nghe thấy tiếng chim. Đúng hơn là tiếng gà rừng. Tiếng gà rừng trên nương nghe thật thanh bình. Sương trắng choàng trên đỉnh núi. Trông ngọn núi như người khổng lồ đương trùm chăn nhìn xuống chúng tôi. Núi xanh biếc lỗ đỗ những mảnh trắng của những bông hoa chân ngựa. Chúng tôi lội qua một con suối nông. Hai bên bờ ê hề các loài hoa mà tôi chẳng biết tên. Có những bông hoa hình mõm chó đỏ tươi. Hoa cúc dại tím biếc từng đám. Nhiều nhất là hoa mai. Sao ở đây lắm mai đến thế. Mai vàng ươm theo dọc bờ suối. Người lính dẫn đường bảo:
- Theo con suối mà đi. Khi nào gặp rừng lau, rẽ phải. Đi chừng năm cây số nữa thì tới.
Người dẫn đường nói thế thôi. Chẳng phải năm cây số mà dài hơn nhiều. Khoảng mười giờ sáng chúng tôi mới lấy xong gạo.
Trên đường về, chúng tôi đi theo từng đơn vị tiểu đội để dễ cơ động. Chúng tôi đi xuôi theo dọc con suối. Hiếm có ngày im ắng thế này, nên anh em thoải mái, vừa đi vừa cười đùa tếu táo cùng nhau. Ra đến chỗ rẽ, tức là bãi cỏ đầy hoa ven suối, chúng tôi ngồi nghỉ. Tôi khoan khoái nằm dài trên cỏ, ngửa mặt nhìn bầu trời xanh thăm thẳm, nhìn tán lá rừng bên trên. Ô hay! Cái gì kia? Không phải dưới đất đầy hoa mà trên trời cũng đầy hoa. Ở cái trạc ba một cây cổ thụ, rủ xuống một búi hoa phong lan. Búi phong lan khổng lồ tỏa ra hàng trăm nhành. Từ những nhành hoa cong cong như những ngón tay búp măng của Phật, mọc ra hàng ngàn bông hoa trăng trắng. Hình như không phải trắng tinh, màu của hoa là trắng pha chút tím thì phải. Tôi lim dim con mắt để nhìn. Qua hàng mi của tôi, ánh sáng xuyên búi hoa, lọt xuống, không hiểu sao trở nên tím hơn. Có lẽ hàng mi của tôi là một bộ lọc ánh sáng chỉ cho phép màu tím đi qua. Tôi cứ nghĩ vớ vẩn như vậy. Rồi tôi nhắm tịt mắt lại. Lạ chưa? Lúc này, tôi lại ngửi thấy mùi thơm. Búi lan phớt tím này lại có cả hương. Tôi nghe người ta nói phong lan chỉ phun hương vào ban đêm để gọi loài bướm ma, loài ong đen đến giao duyên. Hay là hoa đặc biệt yêu quý tôi, nên phun hương, tặng riêng cho tôi một ân sủng chỉ mình tôi có. Mà lạ chưa! Đúng là mùi hương mà ngày xưa tôi quen biết. À, hiểu rồi, mùi thơm ở cái giếng chùa, cái giếng tỏa hương ở đấy cô bạn học của tôi thời thơ ấu đã trầm mình. Ký ức xưa thật là đẹp nhưng cũng thật là buồn. Tôi bỗng giật mình vì đột ngột xuất hiện một mùi lạ. Nó thơm thơm nhưng hăng hắc. Mùi hương dịu dàng của tôi đang bị xâm lấn. Tôi khịt mũi và chợt hiểu ngay. Đó là thứ hương nhân tạo của thứ nước gội đầu thời hiện đại. Bộ đội chúng tôi không dùng thứ ấy. Chắc chắn là của Mỹ. Tôi ngẩng đầu tìm ngược theo hướng gió và tôi tìm thấy ngay. Sau một búi cây dại loáng thoáng một bóng người. Đúng rồi. Quần áo rằn ri. Chúng tôi đang bị phục kích.
Thế là tôi vội vàng vớ lấy cây súng. Và đáng lẽ tôi nhằm bắn vào cái bụi ấy, thì tôi lại bắn lên trời. Bắn thế càng tốt. Tôi đã báo động cho toàn đơn vị. Anh em đang chơi đùa bỗng im bặt. Cả những người đang tắm dưới suối cũng vớ ngay lấy súng. Họ tản ngay vào khoảng rừng có bụi hoa lan phớt tím. Đang ở thế bị động, chúng tôi chuyển sang thế chủ động. Súng từ khắp phía ran lên. Tuy nhiên chúng tôi đã rõ địch đang ở hướng này.
Địch khoảng hai tiểu đội. Bên tôi chỉ có một. Cuộc tao ngộ chiến có vẻ không cân sức, khoảng năm phút bỗng có tiếng hét lên:
-  Thằng Cường bị thương.
Tôi vội bò lại chỗ Cường. Cậu ta bị đạn vào chân. Máu chảy đầm đìa. Tôi làm garô, băng bó vết thương cho cậu ta. Tiến nói:
-  Đưa hai khẩu súng của chúng mày cho chúng tao.
-  Chặn hậu à?
- Có vẻ chúng đông hơn ta. Nhưng chúng mình chặn được. Chỉ vài phút nữa, bọn đi sau sẽ lên kịp tiếp ứng.
Tôi lần chần thì Tiến nói:
- Mày bắn dở ẹc... Xem chừng vết thương thằng Cường, máu chảy rất nhiều. Mày cõng nó về quân y ngay.
Tôi vội cõng Cường lên lưng. Nhân lúc đạn ngớt, tôi vùng đứng lên chạy nhanh vào rừng. Đạn đuổi theo tôi chiu chít. Tôi cúi rạp mình chạy hết sức. Đạn cắm vào cây phía sau lưng; Đạn cắm xuống đất ngay bên cạnh vết chân tôi. Tôi định hướng. Hóa ra địch còn ở phía bên phải. Định hướng rồi tôi lại cắm cúi chạy tiếp. Tôi thở hồng hộc. Mồ hôi vã ra như tắm. Tôi chạy cho đến lúc tiếng súng xa dần phía sau. Lúc này, hầu như Cường đã ngất xỉu trên lưng. Và cũng lúc này tôi mới phát hiện ra cánh tay trái của tôi bị ướt đẫm. Cứ tưởng mồ hôi, hóa ra là máu. Tôi đã bị thương ở vai phải. Vào phần mềm thôi nhưng lúc này tôi mới thấy đau và mệt. Chắc vết thương chảy máu nhiều. Và Cường trên lưng tôi tự nhiên bỗng nặng hẳn lên. Mặc kệ! Tôi vẫn cố sức lảo đảo cõng bạn đi về chỗ đóng quân. Còn cách đơn vị khoảng vài trăm mét, tôi hoàn toàn kiệt sức. Tôi ngã gục xuống. Nhưng tôi vẫn còn đủ sức để kêu lên khi trông thấy bóng người.
Nhờ kịp thời nên Cường không hề gì. vết thương của Cường không nặng, nhưng chạm vào một mạch máu. Nếu để chậm Cường sẽ không chết vì vết thương mà chết vì mất máu.
Trong cuộc họp đại đội, tôi được chính trị viên biểu dương:
-  Đồng chí An là người thương yêu đồng đội. Chứng tỏ là đồng chí có tinh thần giai cấp cao. Ban chỉ huy biểu dương tinh thần ấy. Và đề nghị toàn thể đại đội học tập tinh thần xả thân vì đồng đội. Người cách mạng có thể hy sinh, nhưng không bao giờ bỏ rơi đồng đội của mình...
Nghe những lời khen ngợi ấy, tôi chợt thấy mặt mình nóng lên. Tiếng nói của chính trị viên sang sảng, càng lúc càng hùng hồn:
-  Chính đồng chí An đã bắn phát súng đầu tiên vào bọn phục kích, báo động cho toàn thể đơn vị. Nếu không tất cả sẽ rơi vào ổ phục kích. Chắc ta sẽ bị thiệt hại lớn hơn... Rồi cõng đồng đội ra khỏi vòng vây... Bị thương nhưng đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ.
Toàn là những câu chữ to tát... Tôi cảm thấy cái nóng bắt đầu từ gò má, từ đôi tai dần dần lan rộng ra... Tôi thấy mình không thể ngồi yên được... Và thế là tôi đứng lên.
-   Báo cáo thủ trưởng, cho em được nói một lời.
Chính trị viên tươi cười.
-   Đồng chí có ý kiến ư? Chúng tôi hoan nghênh. Nào, xin mời.
Mọi người hơi rì rầm: Cậu này rách việc thật. Thủ trưởng khen thế là hết lời rồi. Còn định kể lể gì nữa đây.
-   Thưa, báo cáo anh em, tôi không dám nhận đâu ạ.
-   Cái gì? Anh em lại xì xào.
-   Thưa, báo cáo... Tôi không xứng đáng đâu ạ.
Đến lúc ấy, mọi người có vẻ ngạc nhiên. Thế ra không phải kể lể thêm à. Lại xì xào, nhưng rồi bặt lặng ngay khi tôi nói rất thành thật.
-  Đúng là em có cứu thoát đồng chí Cường thật... nhưng là do động cơ cá nhân thôi ạ.
-   Cá nhân ư?
-  Vâng, chả là anh Cường, anh Tiến và em cùng tổ tam tam. Thân nhau nên em cứu Cường. Chỉ có thế thôi ạ.
-  Nhưng chính cậu là người bắn phát súng đầu tiên vào bọn biệt kích.
-   Đúng là em bắn phát súng đầu tiên... nhưng...
-   Nhưng làm sao?
-  Nhưng không phải là bắn vào quân địch. Em chỉ bắn lên trời.
-   Tức là bắn chỉ thiên.
-   Vâng, bắn chỉ thiên ạ.
-   Cậu trông thấy thằng mặc áo rằn ri sau bụi sim?
-   Đúng thế ạ.
-   Vậy, tại sao không bắn vào bụi sim, mà lại bắn lên trời?
-   Em cũng... không hiểu tại sao ạ.
-   Em xin ý kiến - Có tiếng một ai đó ngập ngừng.
-   Phát biểu đi.
-  Em cũng thắc mắc từ lâu rồi. Thắc mắc nhưng không muốn nói ra... Chả là không nói vì sợ nói oan cho đồng chí. Nhưng hôm nay đồng chí An tự thành khẩn nói ra khuyết điểm của mình thì em mới dám nói... Chả là... chả là...
-   Chả là gì... Cứ ấp úng mãi... Rõ sốt ruột.
- Chả là khi đánh địch xã Hòa Bình... em cũng thấy đồng chí An... nhắm mắt lại và bắn... lên trời.
- Lại bắn chỉ thiên à... Có đúng thế không?... Chuyện này là chuyện tư tưởng... không phải chơi đâu... Có thì nói là có. Không thì nói là không... cậu phát ngôn phải có trách nhiệm... với sinh mạng chính trị của người ta.
-   Không tin thì cứ chất vấn cậu An khắc rõ.
Lúc này, chính trị viên mới lên lời:
- Đồng chí An phát biểu đi. Cứ thành khẩn mà nói. Anh em không được truy ép, đổ oan cho đồng chí. Nhưng nếu đúng là sự thật thì phải nói rõ sự thật. Không một sự thật nào ở trên đời này có thể giấu giếm mãi. Biết sự thật mới tìm được ra bệnh và mới tìm ra phương thuốc chữa. Phê bình và tự phê bình của chúng ta là thế. Chẳng qua là chữa bệnh cứu người.
Tôi lặng người khi nghe chính trị viên. Thế ra tôi là một bệnh nhân. Nhiệm vụ của người lính là nhằm vào quân thù trước mũi súng mà bóp cò. Thế mà tôi lại nhắm mắt lại và bắn vọt lên trời. Có bận, thầy tôi nói với tôi rằng: “Đạo Phật ở Việt Nam từ xưa tới nay, luôn luôn đồng hành với dân tộc. Nước thịnh thì đạo Phật thịnh. Nước suy, đạo cũng suy theo”. Phải nói, cũng vì vậy nên tôi mới vào bộ đội. Khi nhận lệnh, tôi đã lên đường chẳng đắn đo. Lúc đầu, tôi nghĩ rất giản đơn. Nhưng bây giờ mới hiểu chẳng giản đơn chút nào. Những điều dạy của Phật và thực tiễn đời sống làm tôi thật phân vân khó nghĩ. Thật ra tôi rất thành thực, tôi không hề giấu giếm việc mình làm. Cường và Tiến đều biết rõ hành xử của tôi. Cường bảo:
- Cậu rắc rối quá. Cậu là người lính. Nhiệm vụ là bắn kẻ ở chiến tuyến bên kia. Cậu bắn lên trời tức là cậu để cho đối phương tự do bắn vào cậu, bắn vào bạn cậu. Cậu đang ở thế kỷ hai mươi cậu có nhớ không. Ở thế kỷ này, nhà sư cũng phải biết bắn súng, biết giết người.
-  Nhưng mình chịu, không làm được.
Cường nổi giận đùng đùng.
- Thằng dở hơi. Bất bạo động hả. Định học tập thánh Găngđi (Gandhi) hả. Nhưng ông ấy là thánh. Còn cậu chỉ là một ông sư quèn, một anh lính quèn. Ông thánh có thể làm những việc khác đời. Mày dỏng tai lên mà nghe đây này. Sùng bái bạo lực, cuồng tín giết người, hành hạ con người là có tội. Nhưng ngược lại, bất bạo lực cũng là cuồng tín. Khoanh tay để cho đồ tể lên ngôi, tự do giết người cũng là tội lỗi.
Tôi cúi đầu, nhận lỗi.
-  Mình hiểu cậu nói, nhưng mình vẫn không bắn được.
-  Thằng này hết thuốc chữa.
Quay trở lại cuộc họp đại đội hôm ấy. Phải nói hôm ấy, khi mọi người hỏi tôi có bắn lên trời không, tôi không nói gì nhưng cúi đầu nhận tội, thì không khí bỗng trở nên căng thẳng và lúng túng. Căng thẳng vì đó là một chuyện hệ trọng. Còn lúng túng bởi vì từ trước tới nay chưa bao giờ xảy ra trường hợp tương tự. Chính trị viên còn phân vân, trung đội trưởng Trắm thương tôi, gỡ bí cho mọi người bằng cách vừa đưa ra câu hỏi, vừa gợi ý trả lời.
- Tôi biết đồng chí An có mối thù sâu nặng với đế quốc. Cha mẹ đồng chí đều bị Tầy giết. Nhưng từ thuở bé, đồng chí An vẫn chỉ sống trong chùa. Không khí nhà Phật thì hiền hòa. Sớm tối chỉ tụng kinh gõ mõ. Phải hiểu hoàn cảnh riêng ấy, ta mới thông cảm... Tôi nghĩ có thể đồng chí An sợ. Tôi nghĩ mới ra trận, người ta sợ là bình thường, về sau này qua vài ba trận ta quen ngay thôi mà. Anh em chẳng ai thành kiến với chuyện đó đâu. Tôi nghĩ nên để cho đồng chí An nhận khuyết điểm và hứa lần sau sẽ sửa chữa. Thế là ổn thôi mà.
Thường thường người có tội nhận lỗi và hứa sẽ thay đổi. Đó là kịch bản sẵn có. Nhưng bận ấy, tôi lại nói trước đại đội. Tôi nhận tội.
- Đúng là tôi đã không nhắm quân thù, mà đã chĩa súng lên trời để bắn. Nhưng tôi cũng không thể nói dối các đồng chí được bằng cách hứa suông. Tôi đi tu từ bé. Tôi đã hứa trước đức Thế Tôn là không sát sinh. Tôi đã quen mất nết đi rồi.
Có lẽ cách trả lời của tôi quá vụng về. Một số anh em bực tức vặn hỏi tôi.
- Anh bảo anh quen nết. Vậy tại sao khi huấn luyện ở miền Bắc anh lại đạt loại xạ thủ giỏi. Tại sao kỳ thi bắn nào anh cũng được tuyên dương.
-  Vì lúc đó tôi chỉ bắn bia.
-  Còn bây giờ?
- Bây giờ tôi phải bắn người... Tôi van các đồng chí. Tôi không làm được.
- Ôi chao! Ngài cao cả quá! Ngài nhân đạo quá nhỉ. Phải vạch trần ra cho anh biết. Tại sao mẹ anh, cha anh bị giặc giết? Tại anh đấy. Những kẻ như anh sợ giặc, tức là tiếp tay cho giặc. Chính anh trước tiên mang tội với cha mẹ anh...
- Tôi xin các đồng chí. Không phải thế đâu. Đừng kết tội tôi như vậy.
Cuộc họp đại đội bỗng nhiên sôi động. Có người còn lấy gương cụ Trần Nhân Tông đệ nhất tổ Trúc Lâm ra để nhắc nhở tôi. Phật hoàng vị tổ lừng danh đất nước, mà còn giết giặc nữa là tôi. Tôi là cái thá gì? Một anh sư quèn, vô danh ở cái xó chùa quê mà dám ngang nhiên bất bạo động, dám đi ngược lại mọi người hay sao?
Chính trị viên thấy tinh thần chiến sĩ như vậy rất hài lòng. Anh không cắt ngang, dội gáo nước lạnh làm mất khí thế của anh em, nhưng cũng không để anh em đi quá đà biến thành cuộc đấu tố. Cuối cùng anh bảo tôi phát biểu. Tôi nhũn người nói:
- Tôi không dám dối trá. Tôi xin tiếp thu ý kiến của tất cả mọi người. Bây giờ đại đội kỷ luật tôi thế nào, tôi cũng chấp nhận. Tôi xin thề trước anh em rằng tôi không hề sợ chết. Tôi xin chấp hành nhiệm vụ, dù nguy hiểm thế nào cũng không dám từ nan. Nhưng mong trên thông cảm cho khuyết điểm của tôi hay nhược điểm của tôi là bắn đạn không trúng. Nói như thế để trên dễ phân công cho tôi.
Anh em cười ồ:
- Thằng này nói hay thật. Xạ thủ loại giỏi mà lại “bắn đạn không trúng”.
Chính trị viên cũng cười theo.
- Chúng tôi sẽ báo cáo lên trên trường hợp của đồng chí An. Cách mạng không thiếu gì việc. Bắn đạn không trúng ư? Hiện nay đơn vị vận tải thủy đương yêu cầu chúng ta cử hai chiến sĩ về đó. Trước đây, tôi đã dự kiến một người là An nhưng qua cuộc họp này tôi thấy không được. Tôi rất tiếc. Ở miền Nam này, chúng ta đang dồn hết tâm lực tài lực vào, cho nên cuộc chiến này khốc liệt lắm. Địch chống trả kịch liệt lắm. Nơi nơi chốn chốn, chỗ nào chả máu với lửa. Thế mà đồng chí An lại muốn đem lòng từ bi vào chiến trận. Là điên rồ, hay ngớ ngẩn, hay khiếp sợ? Ta tha cho chúng, liệu chúng có từ bi với ta không. Có thể nói ở đây, không có chỗ nào là không tiếp xúc với súng đạn. Giả sử đồng chí đi vận tải trên sông đi. Chúng ta chở những bao tải hàng trong túi nilông. Chở bằng những con thuyền gỗ trên con sông toàn ghềnh thác, nước chảy băng băng. Tôi ví dụ trong khi ấy một chiếc “bà già” hai thân đuổi theo thuyền. Chúng bắn súng máy, bắn rốc két. Khi ấy, một người còn phải chèo lái, còn đồng chí đứng trên thuyền cầm súng. Đồng chí không bắn hay sao? Đồng chí đành lòng cho giặc bắn thuyền, bắn hai đồng chí hay sao? Tan thuyền mất hàng nhà nước. Đồng chí hy sinh thì đã đành, nhưng còn sinh mạng người đồng chí chèo thuyền thì sao. Hành động của đồng chí sẽ làm hại cả người khác. Vậy tôi xin nói thẳng từ bi ở đây là tự sát, là tội lỗi. Tỉnh lại đi. Tỉnh ngộ lại đi. Dung túng cho cái ác giết chúng ta, không những đồng chí có tội với nhân dân mà tôi nghĩ còn có tội với cả đức Phật.
Anh chính trị viên nói dài, rất hùng hồn, rất có tình có lý. Tôi nghe, đôi hàng nước mắt ròng ròng chảy. Tôi thầm nhủ với lòng: “Đúng là ta tội lỗi”. Tôi chưa có đủ lý lẽ sắc bén để cãi lại chính trị viên, tôi chưa đủ lập luận để biện hộ cho hành vi của mình. Tuy nhiên, không hiểu sao, ở đáy sâu tâm hồn tôi vẫn cứng cỏi một niềm tin, tôi không thể bắn vào những người trước mũi súng của tôi.
Chiều hôm ấy trung đội trưởng Trắm gặp tổ chúng tôi. Trắm bảo:
- May mắn cho thằng An mới gặp được chính trị viên Thiện của chúng ta. Chỗ khác, chắc mày phải ra tòa án quân sự. Ông ấy bảo: “Đồng chí An chưa là người giác ngộ cách mạng, nhưng là người lương thiện. An nói: Tôi không thể bắn, nhưng chắc chắn là tôi không sợ nguy hiểm. Tôi có thể hy sinh vì đồng đội... Điều ấy tôi tin”.
-  Ông ấy tin mình ư? - Tôi nói - Thế thì tốt rồi.
- Nhưng từ nay cậu thay đổi công tác. Cậu được biên chế vào tổ anh nuôi.
-  Việc này tôi làm được.
- Này, đừng tưởng bở nhé. Nguy hiểm chẳng kém gì xung kích đâu. Lúc cần còn làm tải thương và các việc linh tinh khác. Thế là xong việc cậu An... Tiếp đến là việc cậu Cường. Đáng lẽ cậu An phải đi bổ sung cho đội vận tải thủy. Nhưng như chính trị viên nói, An không đủ tiêu chuẩn. Trên đã chọn Cường thay cậu An. vết thương ở chân lành rồi chứ... Thế nhé... Cậu Cường chuẩn bị, sáng mai lên đường.
Tiến thở dài:
- Chán ghê! Chúng mày chuyển đi hết. Tổ tam tam của chúng mình chỉ còn lại mình tao... Nhưng mà ở lại cũng tốt. Tôi xin đề nghị trung đội điều này nhé.
-  Điều gì?
- Xin đừng chuyển tôi đi đơn vị khác. Tôi xin mãi mãi chung thủy với đơn vị mình.
-  Tưởng cái gì, chứ cái đó thì được... Tớ cũng thích vậy... À, này cậu được đề bạt tiểu đội phó rồi đấy.
-   Oách thật! Mình đã lên cán bộ...
-  Nhưng tại sao cậu cứ thích đóng đô một chỗ... không muốn di chuyển, là cớ làm sao?
Cường cười:
-  Anh Trắm không biết sao? - Nó không muốn chuyển vì muốn chờ để nhận thư vợ... Chuyển sang đơn vị khác, thì lại phải đi vòng vèo. Nhỡ thất lạc thì gay...
-   Gớm! Thư quan trọng thế sao?
-   Thế anh không biết à?
-   Biết gì?
-  Biết chuyện mấy tháng trước, lúc ở ngoài Thanh Hóa nó đi về phép ấy.
-   Này thằng Cường. Có im mồm đi không.
-   Có chuyện gì vậy? - Trung đội trưởng Trắm hỏi.
-  Không được nói! - Tiến hét to - Mày đã hứa rồi mà. Thề không phản bội, không lộ chuyện của tao rồi mà.
-   Thôi! Mai tao đi rồi. Cho tao phản bội mày chỉ lần này thôi.
-  Có phải cái chuyên vợ cậu Tiến đi tiễn chồng đến rừng phi lao rậm, rồi bắt cậu ấy phải yêu thêm một lần nữa, cố đúc ra một đứa con cho cô ấy không?
-   Báo cáo thủ trưởng! Đúng!
-  Tưởng gì. Chuyện ấy thì cả đại đội đều biết hết rồi. Từ lâu rồi.
-  Thế có chết tôi không. Hóa ra thằng Cường phản bội tôi từ lâu rồi.
Chúng tôi cười rũ ra.
Thực ra, câu chuyện của tôi cũng không đơn giản như Trắm nói. Chính trị viên đại đội làm sao dám quyết định một mình. Đến chính ủy Trần cũng cho rằng vấn đề tế nhị và ông báo cáo lên sư đoàn. Các cán bộ bảo vệ của sư đoàn phải nghiên cứu. Cuối cùng họ đưa ra kết luận:
Thứ nhất - về gia đình. Đúng bố mẹ Nguyễn Văn An là bần nông, lại bị Tầy sát hại.
Thứ hai - về bản thân. Từ năm mười tuổi, An đã là chú tiểu. Ngôi chùa Sọ trong thời đánh Pháp đã nhiều lần giúp đỡ cách mạng. Khi đi bộ đội anh là người chấp hành kỷ luật tốt, học tập tốt. Lại có tinh thần thương yêu đồng đội, không ngại hy sinh, cứu đồng đội trong chiến đấu.
Kết luận - Xét trường hợp đồng chí Nguyễn Văn An, không có quan hệ gì với phong kiến, đế quốc, trái lại, có mối căm thù với đế quốc. Vậy trường hợp này không phải là phản ứng giai cấp, hay phản động, chỉ là lạc hậu về tư tưởng. Nguyễn Văn An từ nhỏ đã ở chùa, đã bị tiêm nhiễm nặng nề tư tưởng xuất thế, tư tưởng từ bi nhân đạo phi giai cấp.
Vậy, không cần thi hành kỷ luật, mà chỉ cần bố trí công tác cho thích hợp.
Câu chuyện tôi trở thành cấp dưỡng là như vậy đó. Tôi nói với Trắm:
- Thực ra, tôi làm y tá là tốt nhất. Giá mà anh đề nghị cấp trên cho tôi đi học một lớp quân y sơ cấp.
Trắm cười:
- Cậu lại được tin cô Huệ đã về trạm y tế X nên muốn đi học y tá chứ gì.
-  Đúng là Huệ đã vào đây rồi hả anh?
- Thì nghe tin thế. Chứ có ai đã gặp cô ấy đâu. Cậu muốn biết rõ hơn thì lên gặp thủ trưởng Trần.
 
Tôi im lặng và nghĩ đến Huệ nhiều. Nghĩ tới hôm giỗ tổ ở chùa, lúc tôi nhận lệnh nhập ngũ. Hôm ấy Huệ bảo lo lắng cho tôi nhiều. Huệ sợ tôi không thích ứng nổi với cuộc đời bộ đội. Hôm ấy, tôi nghe Huệ nói nhưng chỉ như một làn gió thoảng qua. Ôi! Cô bạn gái thơ ấu của tôi thật là nhạy cảm. Hóa ra, cô ấy hiểu tôi còn hơn cả bản thân tôi. Có lẽ tôi là kẻ hồn nhiên ngây ngô. Chỉ biết tin vào những cái gì tích cực của thế gian. Còn những khuất lấp, những khúc quanh co thì chẳng nhìn thấy.
Lại nhớ tới lần đến thăm Huệ ở Trường Trung cấp Y tế. Lúc ngồi ở hiên nhà bà mẹ nuôi của Huệ để nghe tiếng một đứa trẻ khóc dạ đề ra rả trong đêm. Khi ấy Huệ nói gì nhỉ? Phải rồi, cô ấy bảo những đứa trẻ khóc dạ đề lúc mới lọt lòng, khi lớn lên sẽ là con người hay làm nũng. Tôi ngẫm nghĩ rồi tự cười thầm. Ở thế gian vô thường này, đã là con người, ai mà chẳng thèm làm nũng. Thèm làm nũng tức là muốn quay lại thời hồn nhiên tuổi ấu thơ, ở đấy là Niết bàn, là trong trắng vô tư... Ở đấy, mẹ cho ta nụ hôn, chị cho ta tấm bánh. Tôi bỗng dưng nhớ tới chị Nguyệt của tôi. Quên đi thì thôi, chứ nhớ tới là nhớ nhung da diết. Từ nhớ chị lại nhớ đến thầy. Đáng trách thật. Đã lâu lắm rồi tôi chằng viết thư về chùa...
 
 “Thầy ơi!
Con thật cố lỗi, thật là kẻ vô tình bạc bẽo, vì chẳng biên thư về vấn an thầy. Thật ra con không viết thư, nhưng chẳng hề có phút nào quên lời thầy dạy. Gặp hoàn cảnh nào con vẫn nghĩ tới chánh đạo. Con nghĩ thực hành lời đức Thế Tôn, chắc sẽ làm cho thầy vui hơn là chỉ nói những lời đầu môi chót lưỡi.
Chiến trận có muôn vàn hiểm nguy nhưng con đều tai qua nạn khỏi cả. Hiện nay, con làm cấp dưỡng. Đơn vị con phải giữ một cao điểm trên một ngọn đồi. Bom đạn vãi xuống như mưa rào. Anh em ăn mãi lương khô không thể bảo đảm sức khỏe. Chúng con nắm cơm, nấu canh tiếp tế cho anh em ăn được mát ruột. Con đeo hai cái ba lô thức ăn leo lên đồi. Con leo lên trong mưa bom bão đạn. Đạn chiu chít vây quanh người. Lạy Phật! Thế mà con vẫn chẳng hề gì. Thưa thầy, con nghĩ chắc đức Thế Tôn đã phù hộ độ trì cho con.
Đã lâu lắm rồi, con chẳng nhận được tin tức gì. Sư bác Khoan Độ ra sao? Chị Nguyệt con ra sao? Con đều mù tịt. Chị Nguyệt với con chẳng khác nào người mẹ của con...”. 
 
Viết đến đây, tôi muốn khóc. Không hiểu sao thế. Dòng nước mắt không chảy ra, nhưng tôi biết chúng đang trong tim tôi. Một cảm giác bồn chồn lo lắng bỗng dâng lên trong tôi. Cứ như thể có chuyện gì đã xảy ra với chị. Nghĩ nhiều quá về người thân nên cảm giác khắc khoải đã đến với tôi chăng? Hay là tại những hồi ức? Cái buổi tối ở trường Y tế tôi đã kể cho Huệ nghe về chị tôi. Cả về tôi nữa. Về một thằng bé khóc dạ đề. Rồi người chị ôm đứa em đi quanh sân. Cả chị và em cùng khóc. Đứa em rên rỉ như một con mèo. Còn người chị thì khóc thầm, nhưng nước mắt tuôn ra lã chã. Để rồi mệt quá, chui trong đống rơm... Chị Nguyệt ơi! Khi xưa, lúc ấy em còn quá nhỏ, làm sao có thể lưu lại được trong ký ức những kỷ niệm quá xa xôi như vậy. Nhưng về sau khi được nghe kể lại, thì những kỷ niệm ấy lại xuất hiện ra rõ mồn một. Có lẽ những đứa trẻ sơ sinh cũng đã có ký ức. Những xúc động mạnh như yêu thương và đau khổ chắc cũng đã có vết hằn trong não bộ. Chỉ có điều là chúng mong manh nằm trong cõi mịt mùng. Nhưng nếu khéo biết gợi mở thì chúng sẽ trở về, mà có thể trở về ào ạt...
 





Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.02.2018 22:22:35 bởi Ct.Ly>
Chương 5
 
Duyên nhà phật
 
 
Chỉ ít lâu sau cải cách, làng Sọ lại rộn ràng lên một phong trào cách mạng mới: hợp tác hóa nông nghiệp. Người dân hỏi nhau:
-  Lại cách mạng nữa à? Hợp tác xã là gì? Mới chia ruộng chưa được hai năm mà. Liệu lần này có đấu tố như lần trước hay không?
-  Giai cấp bóc lột bị tiêu diệt rồi. Còn địa chủ đâu mà đấu. Lần này là ruộng nương, trâu bò. Tập trung tất cả lại. Làm chung. Ăn chung. Kiểu như nông trường bên Liên Xô. Làm theo năng lực, hưởng theo lao động. Ông không nghe trẻ con chúng nó hát hay sao:
Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa.
Kỳ này, tha hồ mà sướng.
-  Rõ chán mớ đời! Vừa mới chia cho mấy sào ruộng xong. Rồi nay lại thu lại. Chả biết đường nào mà lần.
-   Này, này... Có mồm thì cắp có nắp thì đậy. Kẻo rồi vạ miệng.
 
Cán bộ xã được cử đi tập huấn, học tập chính sách và các bước tiến hành. Bà Thêu cũng được cử đi học. Bà Thêu từ khi tái giá với anh đội Khoát đã tiến bộ hẳn lên. Bà đã len chân vào hàng ngũ cán bộ xã. Làm phụ nữ xã rồi được đi bồi dưỡng để trở thành nòng cốt của phong trào hợp tác hóa. Là một cán bộ nữ xinh đẹp, điều này cả làng cả xã ai chả biết. Vốn là bà sáu của ông chánh cơ mà. Ngoài cái đẹp người ra, bà còn là người có tài ăn nói. Nói đâu ra đấy. Có bài có bản hẳn hoi. Bởi vì bà là người lanh lợi, thông minh. Lại ham học tập, đọc sách. Người ta kể rằng, cái hồi làm vợ ông chánh, tối nào ông cũng bắt bà đọc một đoạn trong cuốn sách Tàu Đông Chu liệt quốc. Nghe xong, hai vợ chồng còn bàn luận với nhau khi nằm ở trên giường. Nhờ thế mà bà Thêu trở thành một người đàn bà thông thái hiếm có so với những người đàn bà cùng lứa với bà.
 
Khi đi học hợp tác hóa về, trong cuộc họp xóm, bà giải thích cho dân làng:
- Đã qua cải cách ruộng đất rồi. Các ông các bà có còn ai thích làm địa chủ nữa không? Có còn ai thích bóc lột đồng bào nữa không? Hoặc giả có vị nào còn thích làm cố nông mảnh đất cắm dùi không có nữa không? Có vị nào còn thích chế độ bóc lột tàn tệ, kẻ ăn không hết người lần chẳng ra nữa không? Hẳn là không chứ gì? Nhưng nếu cứ để tự nhiên như thế này, thì mười năm nữa, hay hai mươi năm nữa, lại có người giàu lên, lại có kẻ nghèo đi. Làng ta lại mọc lên những địa chủ mới, những cố nông mới. Chẳng lẽ đến lúc ấy, chúng ta lại tiến hành cải cách ruộng đất lần thứ hai, rồi lần thứ ba... nữa hay sao. Người ta gọi tình trạng đó là phân hóa giai cấp. Đảng ta tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp, tức là muốn xóa bỏ sự phân hóa giai cấp. Mọi người góp ruộng đất, trâu bò, cày bừa lại làm của chung. Cùng làm ăn tập thể. Cùng làm ăn có kế hoạch. Như thế gọi là hợp tác xã.
Giai đoạn đầu: Ai làm nhiều, hưởng nhiều. Ai làm ít, hưởng ít. Thế gọi là làm theo năng lực, hưởng theo năng lực.
Giai đoạn sau: Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Đó là giai đoạn chúng ta đã tới Chủ nghĩa Cộng sản.
Lẽ dĩ nhiên, bà Thêu được bầu làm chủ nhiệm hợp tác xã. Toàn bộ dân làng Sọ nghe bà giải thích đều đồng lòng vào hợp tác nông nghiệp hết. Không một ai chần chừ. Tổng kết đợt công tác hợp tác hóa, làng Sọ được bầu là thôn tiến bộ nhất huyện, bà Thêu được bằng khen.
Ông Khoát, chồng bà Thêu, sau cải cách ruộng đất được điều lên tỉnh làm Phó ty nông nghiệp. Trong hợp tác hóa, ông nghỉ phép ở nhà một tuần, lăn lộn từng xứ đồng với các cụ lão nông rồi lên một kế hoạch sản xuất rất khoa học. Toàn bộ hợp tác xã có bao nhiêu ruộng nhất đẳng điền, bao nhiêu ruộng loại B, loại C, cho năng suất tổng cộng bao nhiêu tấn thóc đều rõ ràng rành mạch. Lại thống kê cả xóm có bao nhiêu lao động chính, phụ. Cũng rất chi tiết. Rồi lại tỉ mỉ cộng lại số công lao động của từng thửa ruộng, số ruộng đất đã rõ. Số lao động dự trữ đã có. Số công lao động phải dùng đã có. Người ta chỉ dùng bốn phép tính cộng trừ nhân chia đơn giản cũng tính ra giá trị của mỗi ngày công.
Kết quả của kế hoạch trên giấy thật mỹ mãn, mỗi công lao động sẽ được chia năm kilôgam thóc.
Trong cuộc hợp tác hóa ấy, lẽ dĩ nhiên tất cả ruộng đất nhà chùa đều phải vào hợp tác. Sư cụ Vô úy quá tuổi lao động nên không phải ra đồng làm việc. Đến vụ ăn chia hợp tác xã điều luơng thực cho. Nghĩa là, cụ đuợc hợp tác xã bán cho luơng thực đủ sống. Còn sư Khoan Độ và vãi Nguyệt vẫn còn trong tuổi lao động, lại là những lao động chính nên được hợp tác điều đi làm việc hàng ngày. Cô Nguyệt thì chẳng làm sao. Cô có thể làm cho hợp tác bất cứ lúc nào. Riêng sư Khoan Độ thì có chút khó khăn. Bởi vì sư cụ đã quá già. Mọi việc nhà chùa, sư bác phải một mình cáng đáng. Ngoài việc nhang khói tụng niệm hàng ngày, lại còn những Phật sự như tang lễ, cầu siêu cho các gia đình. Thấy có sự khó khăn cho sư trong việc lao động hợp tác, cho nên có bận sư cụ gặp bà Thêu chủ nhiệm. Cụ bảo:
- Thưa bà chủ nhiệm, đối với người tu hành Phật giáo, việc lao động là một việc tốt. Nhà chùa vốn có luật lệ “bất tác, bất thực”. Nghĩa là không lao động thì không ăn. Ngày xưa, có một vị tổ của chúng tôi chấp hành luật lệ này quá nghiêm khắc. Đến nỗi, lúc tổ ngoài tám mươi tuổi rồi, vẫn ngày ngày vác cuốc đi trồng sắn trồng khoai. Các đệ tử thấy vậy rất xót xa. Họ liền bảo nhau giấu cuốc đi, không cho tổ lao động nữa, sợ rằng hại sức khỏe của thầy. Tổ không được lao động, liền bỏ bữa không ăn cơm nữa. Và tổ cứ thi hành cung cách ấy rất nghiêm túc. Nghĩa là tất cả những ngày không lao động, người đều nhịn ăn. Học trò thấy việc ngăn không cho thầy lao động, hóa ra lại làm hại thầy. Cho nên sau đó để mặc cho thầy lao động hàng ngày. Tổ nhờ lao động, đã sống ngoài chín mươi tuổi mới thị tịch.
Đối với nhà chùa chúng tôi, chúng tôi coi trọng việc lao động là thế. Cho nên nhà nước ta bảo lao động là vinh quang chúng tôi rất tán thưởng. Cả việc lập hợp tác để tránh việc phân hóa giàu nghèo chúng tôi cũng xin chấp hành nghiêm chỉnh.
Chỉ có điều, đi làm phải theo kẻng, theo giờ giấc hợp tác, thì có điều bất tiện cho chúng tôi khi làm Phật sự. Vì vậy chúng tôi xin bà chủ nhiệm xem xét tình hình riêng của chúng tôi, mà linh động cho phép nhà chùa được lĩnh riêng ra hai sào ruộng, để chúng tôi có thể tùy nghi lúc lao động ngày, lúc ban đêm, tùy theo giờ giấc lúc bận lúc rỗi. Dạ thưa bà chủ nhiệm, lẽ dĩ nhiên bao nhiêu hoa lợi, nhà chùa sẽ giao nộp toàn bộ lại cho hợp tác. Rồi đến vụ thu hoạch nhà chùa sẽ chỉ ăn chia tùy theo sự bình chấm công của hợp tác... Vâng ạ... Chắc chắn sẽ không bao giờ có chuyện man trá.
- Không man trá. Điều ấy, tôi có thể tin sư cụ. Tuy nhiên, vấn đề không phải ở đấy. vấn đề là nhà chùa lấy ra hai sào làm riêng. Hóa ra nhà chùa muốn làm ăn riêng lẻ. Khi thành lập hợp tác, chính sư cụ là người đã tự nguyện, đã ký vào đơn xin gia nhập, tự nguyện đưa toàn bộ ruộng nhà chùa vào làm ăn tập thể. Không bao giờ có chuyện chia nhỏ ruộng đất giao cho từng hộ. Việc đó là phá hợp tác, là quay trở lại con đường tư hữu. Bất cứ kẻ nào quay trở lại con đường tư hữu, đều là những phần tử phản cách mạng, chống lại đường lối của Đảng. Không thể có chuyện hai sào ruộng ấy đâu. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch.
Như đã nói, bà Thêu là người đàn bà đẹp của làng Sọ mà ông chánh đã phát hiện. Nhưng, ngoài cái đẹp, bà Thêu còn là người đàn bà thông minh sắc sảo. Điều này mãi về sau ông chánh mới biết. Người đàn bà đẹp lại thông minh, thì cái thông minh lại làm cái đẹp tăng lên bội phần. Không biết có phải vì những đêm đọc truyện Đông Chu và luôn được tiếp xúc với các bậc hào lý bạn ông chánh mà cái sắc sảo của bà được phát lộ ra không. Hay là bởi vì bà là người nhạy cảm, mà thời thế thì biến động thay đổi đã liên tục xô đẩy nên cái trí thông minh nhạy cảm của bà đã bị va đập mà trở thành sắc bén. Cũng có thể vì bà là người phụ nữ. Mà phụ nữ, thì từ bao đời kiếp nay ở chốn thôn quê, chỉ là cái túi để dồn chứa đầy ắp những tủi nhục xót xa của kiếp người. Hơn nữa, những tủi nhục ấy, chính mẹ bà và bản thân bà đều đã trải qua. Mà cách mạng thì sao? Đúng là cách mạng đã cởi xiềng xích cho bà.
Vì thế cho nên, lúc Cách mạng tháng Tám sắp nổ ra, bà Thêu đã khuyên ông chánh nên đứng về phía cách mạng. Khi xảy ra vụ đói năm 1945, cán bộ Việt Minh đến nhà vận động giúp dân. Ông tiếc của có vẻ chần chừ, bà nói:
- Ông đọc sách mà chẳng sáng láng tẹo nào. Thủy Hử đấy. Lương Sơn Bạc đấy. Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo đấy. Vua ngày xưa còn chẳng làm gì nổi, huống chi ông chỉ là một phú ông ở chốn quê mùa. Thà ông mở kho thóc chia cho dân còn được tiếng thơm là kẻ nhân từ, biết thời thế. Ông mà chần chừ, người ta sẽ vào cái nhà này cướp sạch, phá sạch.
Ông chánh nghe lời, vét kho được năm trăm thùng thóc đem chia cho dân nghèo. Thấy ông là người giác ngộ, nên cướp chính quyền xong, ông được dân bầu làm phó chủ tịch hành chính xã. Nghĩa là, sau cách mạng, ông vẫn được cưỡi con ngựa hồng, nay lên tỉnh, mai lên huyện họp. Đâu vẫn hoàn đấy. Trước ông là chánh, còn bây giờ là phó chủ tịch. Chỉ khác cái tên gọi đi thôi.
Còn chuyện ông chánh ghen với bà, nghi ngờ cái Rêu không phải con mình, chuyện ấy bà không thanh minh và chẳng nói với ai. Nhưng thực ra, đó chẳng qua là bà muốn bảo vệ cho chính quyền lợi của mẹ con bà thôi.
Hồi ấy, có một ông cán bộ Việt Minh thường hay lui tới nhà bà thật. Bà đã giúp đỡ và che chở cho con người ấy thật. Như ta đã biết, bà là người nhìn xa. Bà nhìn thấy thời thế, biết là Việt Minh đang lên. Trước sau, chính quyền sẽ về tay họ. Cho nên bà muốn tìm chỗ cậy dựa cho mẹ con bà lúc về sau này, tưởng cũng là chuyện bình thường.
Chuyện đám tuần phiên, đang đêm thấy một bóng đen từ cái trổ che nhà bà chui ra, rồi lặn xuống sông Đào mất hút, là chuyện có thật. Nhưng bảo rằng cái Rêu là đứa con trăng gió của bà thì sai. Bà không muốn thanh minh vì càng thanh minh thì người ta càng không tin. Ở thôn quê vẫn thế. Vả lại, nếu người ta nghi nó là con một ông Việt Minh, thì điều ấy chưa chắc đã là bất lợi.
Đến thời tạm chiếm, khi Tầy quay trở về, lý Phượng lên làm lý trưởng, quản Mật đi lính cho Tây, bà Thêu nói với ông chánh:
-  Các con ông chẳng khôn ngoan chút nào?
-  Ý bà là thế nào?
-  Họ quá thân thiết với người Pháp.
-  Bà nói rõ hơn xem sao.
- Họ không tính bước lùi. Sợ rằng lúc chết không có đất mà chôn.
 
Cả sư cụ cũng khuyên ông chánh nên răn dạy con nên bớt hung hăng với bà con và đừng quá gắn bó với người Pháp. Chánh Long nghe theo vợ và sư cụ khuyên nhủ, nhưng lý Phượng và quản Mật nào có nghe. Họ đã bị bão tố và danh lợi cuốn đi. Điều bi thảm được bà Thêu tiên đoán “Chết không có đất chôn” đã xảy ra. Nhưng buồn thay, người gánh chịu không phải hai người con, mà lại là ông chánh.
Lúc ông chánh bị treo trên cành ngang cây muỗm, và bà ngồi trên cao chót vót làm người xử án, quả thực bà thấy thương ông, bà biết ông bị chết oan, nhưng biết làm thế nào được. Bà có quyền gì trong việc này. Ông bị chết là do một người nào đó ký. Và lại chính người ký ấy cũng đâu có quyền gì. Hình như nó do một nguyên tắc tối cao nào đó quyết định. Vả lại, lúc đó bà hoàn toàn cảm thấy mình là một người cách mạng. Và cách mạng thì giống như một guồng máy. Khi đã ở trong guồng, thì máy luôn quay, và phải tuân thủ đúng những nguyên tắc của guồng. Nếu không chính bản thân ta cũng sẽ bị nghiền nát.
Bà đau đớn xót thương cho cái Rêu. Con gái bà ít trải nghiệm. Nó quá thơ ngây. Cái chết của nó làm bà khóc tức tưởi hàng đêm suốt một tháng trời. Có lẽ con bé đã nghĩ vì bà nên ông chánh mới chết. Nó có biết đâu mẹ nó đã đau khổ thế nào khi bị ông chánh ép buộc. Nó có biết đâu thân phận người đàn bà xưa là thế nào. Nó có biết đâu những khát khao của người đàn bà. Mẹ nó là đàn bà. Tức thị mẹ nó cũng cần sống chứ. Con bé chưa đủ từng trải chưa đủ độ lượng để nghĩ cho thân phận bọt bèo của mẹ nó. Cho nên nó không chịu tha thứ. Cái chết của nó là sự phản kháng là sự kết tội người mẹ. Nhất là khi bà Thêu lại lấy anh đội Khoát.
 
Bà Thêu cảm thấy như vậy nên có những bứt rứt trong lòng. Và để giải tỏa những bứt rứt ấy, bà liền biến chuyển những tình cảm của mình thành những mối thiện cảm với lũ bè bạn của Rêu. Bạn của Rêu có thằng An, thằng Trắm, cái Huệ, cái Hiếu. Tất cả đã rời khỏi làng. Chỉ còn lại cái Hiếu. Cho nên bà coi Hiếu như con. Thực ra, đứng về thế thứ gia tộc nhà ông chánh thì bà Thêu là dì ghẻ lý Phượng. Cái Hiếu là con lý Phượng, nó phải gọi bà là bà trẻ. Rêu, Hiếu là hai cô cháu nhưng cũng là bạn thân với nhau. Không hiểu sao cái tình bè bạn của lũ trẻ làng Sọ hình như lại quá thắm thiết, đến nỗi lắm khi cái tình họ hàng như bị mờ đi. Vì vậy nên bà Thêu coi cái Hiếu như con gái mình là điều người ta hiểu được. Tuy nhiên, mặc dù thế, cái Hiếu vẫn gọi bà là bà trẻ. Hiếu làm công tác đoàn xã, khá lanh lợi. Như vậy ở Hiếu hội đủ khá nhiều điều kiện để bà Thêu giúp đỡ gây dựng. Cô gái đã học xong lớp bảy. Đã kinh qua công tác lãnh đạo. Ông Phệ, anh bà Bệu, bác ruột đằng ngoại của Hiếu lại là trưởng ty nông nghiệp trên tỉnh. Cho nên, khi bà Thêu được đề bạt lên phó chủ tịch xã, bà liền tìm hết cách để vận động đưa Hiếu lên làm chủ nhiệm hợp tác xã thôn, kiêm bí thư chi bộ. Bà Thêu lên xã làm phó chủ tịch, được bầu vào Đảng ủy xã. Bà được phân công theo dõi và kiểm tra, đôn đốc, giúp đỡ hợp tác xã thôn Sọ. Cho nên bà Thêu và Hiếu gắn bó với nhau lắm.
Sáng hôm ấy Hiếu đến nhà bà trẻ Thêu. Nhà bà là một căn nhà khá xinh xắn trong làng. Mỗi người vợ của ông chánh đều có nhà riêng. Lẽ dĩ nhiên, bà thứ sáu, bà Thêu phải có ngôi nhà đẹp nhất. Một căn nhà gỗ ba gian giữa một khu vuờn ba sào. Và có lẽ thích nhất trong ngôi nhà ấy là khu vườn. Ở thôn quê, hiếm có một khu vườn như vậy. Ba phía đằng sau và bên cạnh có lũy tre bao bọc. Riêng dãy hàng rào phía trước hướng nam trồng dâm bụt. Thứ nhất, rào dâm bụt thấp tạo khoảng trống cho gió nồm ùa tới vào mùa nóng nực. Thứ nhì, hoa dâm bụt rực rỡ chói lọi, tạo thành một lũy hoa đỏ ối trước mặt tiền, khiến căn nhà có một vẻ riêng độc đáo, nó như luôn tươi cười đón khách. Đó là thị hiếu riêng của ông chánh khi cưới bà Sáu. Ông chánh là một tài tử. Tài tử rước một mỹ nhân về thì chiếc lồng son phải làm sao cho xứng với vưu vật đó chứ. Ngoài hàng rào dâm bụt đặc biệt, ông còn cho trồng một cây ngọc lan ở trước sân nhà. Người ta bảo hoa lan thơm ngát, nên ma quỷ hay về trú ngụ. Ông nói:
- Người xưa bảo người đẹp còn dễ thành tinh hơn cả hoa thơm. Thế mà tôi còn chẳng sợ nữa là.
Ông sai mua một cây lan tơ mập mạp, cao quá đầu người, rồi sai mấy tay lực điền đào nấm thật to, rồi chằng buộc kỹ càng đem về trồng. Cây to khỏe, lại được chăm sóc cẩn thận, nên chỉ ba năm sau, nó đã trĩu trịt những hoa.
 
Hiếu mới bước đến đầu ngõ đã thấy sực nức mùi ngọc lan. Cả một vùng trời như được ướp hương lan. Chạm vào cành dâm bụt, những giọt sương đêm rơi lộp độp. Có giọt rơi vào má Hiếu. Tưởng như sương ấy cũng đượm hương ngọc lan.
Cây hoa có một cành chĩa vào sân gạch. Hoa nở rụng trắng một góc sân. Hiếu vào đúng lúc có người đang lúi húi nhặt hoa rụng. Hiếu ngỡ ngàng dụi mắt. Một lát sau mới à lên một tiếng. Người nhặt hoa ngẩng đầu lên. Hóa ra là bà Thêu.
Hai bà cháu vào ngồi ở thềm nhà. Hiếu ríu rít:
-  Bà trẻ ơi! Cháu nói câu này bà trẻ đừng buồn nhé.
-  Sao?
- Lúc nãy nhìn bà nhặt hoa. Cháu cứ ngỡ bà là cô Rêu. Chao ôi! Bà và cô Rêu giống nhau như đúc.
Người mẹ buồn buồn:
- Chả cứ gì cháu. Nhiều người trong làng nhìn ta đằng sau lưng, cũng nói giống như cháu.
Đó là câu chuyện người ta thường tránh nói vì không muốn động tới nỗi buồn ngày xưa. Nhưng rồi người ta vẫn nói, bởi vì thực sự hai mẹ con bà Thêu giống nhau như hai giọt nước. Vả lại cũng còn bởi vì bà Thêu tuy thế song hình như vẫn thích gợi lại những kỷ niệm về con gái. Cuộc cải cách ruộng đất đi qua đã lâu. Những vết thương tâm hồn làng xóm đã lành trở lại. Riêng bà Thêu, vết thương vẫn chưa lành. Bà vẫn bị giày vò. Như một mặc cảm tội lỗi vậy. Có lẽ bà quá nhạy cảm và lương thiện. Sự thực thì chẳng phải lỗi của bà. Rêu là một thiên thần. Thiên thần quá trong trắng nên làm sao chịu đựng được những cảnh độc ác, ô trọc của cõi nhân gian này. Vì thế nên thiên thần mới vỗ cánh bay đi, để lại tiếc thương cho những người trần tục. Vả lại, còn biết nhớ tới, biết tiếc thương cái mảnh pha lê trong văn vắt ấy cũng là điều đáng quý rồi. Tiếc thương cái đẹp làm cho con người tốt hơn lên. Hơn nữa, việc nhắc lại ký ức còn là tác dụng giải tỏa cho bà Thêu những ấm ức. Nhớ lại rồi nói ra thì lòng cũng được vơi nhẹ. Cái Hiếu bảo:
-  Bà trẻ còn nhớ bà cụ Thầm, bà vãi chùa làng không?
-  Ai mà quên được.
Cô gái kể một chuyện như hoang đường:
- Bà ngoại của chồng cháu có cái tài nói chuyện được với người âm. Thuở nhỏ, lũ chúng cháu hay ra căn nhà lá mà dân làng hay gọi là am ni ở cạnh ao chùa. Chúng cháu ngồi nghe kể chuyện cõi âm. Sợ run người mà vẫn thích. Bà vãi Thầm thường chỉ những con đom đóm bay trên ao bèo mà nói: “Con đom đóm to nhất và xanh lét kia là bà Thắm. Hồi trẻ hai bà thân với nhau lắm. Bà Thắm yêu một ông thợ cày nhưng cha mẹ chê nghèo không gả. Các cụ cứ bắt bà Thắm lấy một ông già nhà giàu bên làng Thượng. Bà Thắm phẫn chí lấy thắt lưng treo cổ lên cây đa tự vẫn. - Bà cụ Thầm giải thích: “Khi người ta chết, trong thời gian còn chờ đợi để đi đầu thai. Hồn người ta thường nhập vào loài đom đóm. Chùa ở ngay cạnh nghĩa địa làng nên ở đây lắm đom đóm”. Nghe vậy, bọn trẻ thắc mắc: “Bà Thắm vào trạc tuổi bà. Như vậy đã chết lâu lắm rồi. Sao bà Thắm ở kiếp đom đóm lâu thế? Mãi chưa được sang kiếp người”. Bà cụ Thầm giải thích: “Đạo Phật cấm sát sinh. Giết người là tội to nhất. Không những giết kẻ khác, mà tự giết chính mình cũng không được phép”. Nghe thế, chúng cháu rất hoang mang - Bởi vì cái Rêu đã nhảy xuống giếng. Như vậy, tức là nó cũng tự sát. Nó tự sát nên chậm được đi đầu thai chăng? Cho đến một buổi sáng, khi cháu đến căn nhà lá cạnh chùa thì thấy bà cụ Thầm đang đứng ngẩn người dưới giàn mướp. Thấy mặt cháu, bà cụ vẫy gọi rối rít:
-  Hiếu ơi, lại đây mà nghe.
-  Nghe gì ạ?
-  Tai mày điếc à? Thấy chưa? Thấy chưa?
-  Thấy gì ạ?
- Tiếng chim hót chứ còn gì? Khẽ thôi nhé. Chả động nó bay mất.
Đến lúc ấy, cháu mới thực sự nghe thấy tiếng chim. Một con chim nhỏ bé hót trên cây táo, cạnh cây sung. Cháu căng mắt nhìn xuyên qua giàn lá mướp. Tìm mãi tìm mãi qua kẽ lá mới trông thấy một con chim nhỏ xíu. Lông màu vàng chanh óng ả. Con chim như một nghệ sĩ hót mê đắm, đến nỗi hai bà cháu đứng ngay phía dưới mà cũng không biết. Cháu có cảm giác nếu không có giàn mướp, thì chỉ cần giơ tay khỏi đầu là chạm tới cành táo nơi con chim đậu. Nói tóm lại, con chim chỉ cách đầu hai bà cháu một với tay. Đúng là thứ chim nghệ sĩ. Một con chim vành khuyên nghệ sĩ. Bà cụ Thầm thì thào vào tai cháu:
-  Nó. Nó đấy.
-  Nó là cái gì hở bà?
- Nó là nó chứ còn là gì. À... à... - Lúc bấy giờ, bà Thầm mới giảng giải rõ hơn. - Chả là đêm qua bà nằm mơ thấy cái Rêu. Nó bảo sáng nào nó cũng về chào bà hẳn hoi mà bà chẳng biết. Bà hỏi: Thế mày chào bà thế nào thì phải nói ra. Bây giờ âm dương cách trở rồi mà. Lúc đó nó mới nói sáng nào nó cũng nhập vào con chim vành khuyên líu lo nói chuyện với bà. Nó bảo nếu bà không tin, sáng mai nó sẽ về hót trên giàn mướp.
Hiếu kết luận:
-           Hóa ra con vành khuyên sáng hôm ấy là cái Rêu hiện về. Cháu cố nhìn kỹ. Con vành khuyên thật xinh đẹp. Mà hót thì hay vô chừng, bà trẻ ạ. Nhưng tiếc quá, cháu và cụ Thầm nói quá to nên nó bay đi mất.
 
Bà Thêu nghe Hiếu kể đến lúc ấy mới dám nói:
- Hiếu ạ. Thế thì bà chỉ cho cháu xem cái này hay lắm. - Bà Thêu và Hiếu ra gốc cây lan, ngửa cổ nhìn lên vòm lá xanh biếc màu ngọc. Cây lan rụng đã vợi hoa, bắt đầu đơm lá non. Ánh nắng qua tán lá tỏa xuống đất biến thành mầu xanh cốm. Nửa vàng nửa xanh. Cây lan non tơ nên vòm lá rậm rịt. Lá mơn mởn khá to. Bà Thêu giơ tay chỉ:
- Kia kìa! Ở giữa cành chĩa ra vườn ấy. Cháu đã nhận ra chưa? Cái tổ chim vành khuyên.
-  Cháu thấy rồi. Nó được khâu bằng ba cái lá.
- Đúng thế. Tuần trước bà thấy một đôi chim tha rác về. Nó hót rất hay. Hóa ra đôi vành khuyên.
Hiếu đã thấy nhiều tổ chim sâu, vành khuyên. Thường thường chúng hay làm ở những bụi lá ngải gần bờ ao. Những con chim nhỏ xíu rất khéo léo. Chúng lợi dụng hai chiếc lá ngải kề nhau, rồi dùng mỏ làm kim dùng bông làm chỉ khâu ngọn hai chiếc lá lại. Sau đó, tha rác vào trong xếp đặt ràng buộc lại với nhau rất khéo léo tinh vi, tạo thành một cái tổ êm ấm. Phải chọn lá thế nào để khi trứng nở, hai chiếc lá chưa kịp già úa. Phải bố trí thế nào để dù mưa to gió lớn, nước mưa vẫn không thể lọt vào trong. Bà Thêu nói:
- Từ hôm thấy đôi vành khuyên, bà cứ thấy trong lòng hồi hộp xốn xang. Hôm nay được nghe cháu kể chuyện bà Thầm và con vành khuyên trên giàn mướp, bà càng thêm hồi hộp. Không biết có phải...
- Cháu hiểu ý bà trẻ rồi. Chắc bà trẻ ngờ một con chim vành khuyên làm tổ kia là hồn cô Rêu nhập về phải không?
-  Ừ, bà nghĩ như vậy.
- Cũng dễ thôi. Để kiểm tra thôi bà trẻ ạ. Bà cho cháu xin ba nén nhang. Bà thắp lên và cắm dưới gốc lan. Sau rồi bà khấn. Khấn rằng nếu phải đúng là con trở về thăm mẹ thì con hãy hiển hiện về làm một điều gì đó cho mẹ chứng kiến và được yên lòng.
Bà Thêu nghe lời Hiếu lầm rầm khấn vái vẻ mặt rất thành kính.
Và kỳ lạ thay! Một điều khác thường đã xảy ra. Trời không một sợi gió. Cây cối trong vườn đứng im phăng phắc. Thế mà bỗng dưng ngọn cây lan đột nhiên lay động rồi múa lên, rung lên bần bật. Khi những chiếc lá thôi múa, thì đôi chim vành khuyên ở đâu cũng chợt bay về tán ngọc lan và ríu rít hót.
Bà trẻ Thêu và Hiếu nhìn nhau. Hiếu nói thêm.
- Cụ Thầm nói với cháu rằng những người thường thì chết đi hồn nhập vào lũ đom đóm ngoài nghĩa địa. Riêng những người đặc biệt như cô Rêu và những người cả đời chỉ làm việc từ bi thì khi chết đi được nhập thân vào những bông hoa đẹp hoặc những con chim có giọng hót hay, như con chim họa mi, con chim sáo. Nhập vào nhưng không vĩnh viễn. Họ chỉ chờ dịp đầu thai trở lại cõi trần, hoặc đầu thai vào cõi trời làm các cô tiên nữ rắc hoa.
Cuộc nói chuyện về con chim vành khuyên tưởng như tầm phào, nhưng thực ra đã làm cho Hiếu và bà Thêu gần nhau rất nhiều. Cho đến khi họ ngồi vào chiếc chiếu ở thềm nhà để nói chuyện công việc, thì công việc trở nên dễ dàng vô cùng. Bây giờ không phải là cô chủ nhiệm hợp tác xã nói chuyện với bà phó chủ tịch xã kiêm Đảng ủy nữa, mà là câu chuyện trong gia đình giữa cháu và bà. Cô Rêu, một nguời đã chết, đã làm chiếc cầu nối cho những nguời sống. Bà Thêu, như ta biết, khi làm chủ nhiệm hợp tác xã đã rất nguyên tắc. Sư cụ Vô úy xin hai sào ruộng cho nhà chùa làm riêng bà kiên quyết phản đối. Cô Hiếu, khi lên nắm hợp tác xã, thì tìm cách làm cho nhà chùa đỡ khổ. Hiếu chẳng lạ gì hoàn cảnh nhà chùa. Hơn nữa, bà cụ Thầm và cả bà Thì mẹ chồng cô,lại chịu ơn nhà chùa rất nhiều. Vậy cô không thể nào đành tâm để cho họ gặp khó.
Bà Thêu hỏi:
- Tôi nghe báo cáo, cô họp ban quản trị đề nghị cắt ra một sào đất cho hội bà vãi và hai sào đất cho nhà chùa...
- Báo cáo bà trẻ. Họ báo cáo thế là chưa đầy đủ. Thực ra, con đã bớt ra một ít sào, phân cho tất cả các đoàn thể. Con thiết nghĩ hợp tác xã giống như một con rết, có rất nhiều chân. Con rết muốn chạy được nhanh, thì tất cả các chân đều phải khỏe. Những chân đó là các đoàn thể. Mà các đoàn thể muốn khỏe thì ta phải có cơ sở vật chất cho họ. Tức là phải gây quỹ cho họ. Có gạo có tiền thì việc mới chạy. Vậy nên, hợp tác xã đã đồng ý cho các cụ phụ lão bốn sào. Bốn sào để làm vườn thuốc đông y.
- Tôi nghe các cụ chỉ trồng hơn một sào thuốc. Còn ba sào kia họ trồng đậu.
- Thì cũng phải linh động chứ ạ. Ngoài làm thuốc ra, các cụ còn phụ trách hội khuyến học, rồi tổ thơ. Cháu nghĩ các cụ già rồi. Mỗi lần họp cũng cần có ấm trà, điếu thuốc. Không có ruộng thì các cụ lấy tiền ở đâu ra. Đoàn thanh niên cũng vậy. Họ muốn hoạt động cho rôm rả cũng cần có tiền. Đội văn nghệ này. Đội bóng đá này. Mua trống cho thiếu nhi này v.v... Còn các bà vãi, cháu chỉ cắt cho một sào thôi, cắt chân ruộng tốt, gần làng. Để các cụ trồng lúa nếp. Bà trẻ tính. Trẻ vui nhà, già vui chùa mà. Để cho các vãi ngày rằm mồng một còn có cái mà thổi xôi đóng oản lễ Phật.Nhà sư cũng vậy. Nhà chùa dạy người ta làm việc thiện. Tức là các nhà sư làm nghề tôn giáo. Trước cháu được ra Hà Nội đoàn thanh niên mời các giáo sư đại học đến giảng. Thưa bà, nhà chùa không phải là mê tín dị đoan đâu. Người ta nói nghĩa lý hay lắm nhưng cháu không nhớ được. Cháu chỉ nhớ lời dặn cuối cùng của ông giáo sư già: “Chùa chiền là của quý của văn hóa dân tộc. Đó là điều rất tinh tế, rất sâu sắc. Chưa hiểu hết thì hãy lặng lẽ quan sát, dè dặt và trân trọng. Đừng đối xử thô bạo với nó. Kẻo mà rồi hối không kịp”.
Bà phó chủ tịch trầm ngâm một lúc rồi mới nói:
- Cháu đáo để thật. Nhưng mà, bà tán thành việc cháu làm. Từ ít lâu nay, bà suy nghĩ nhiều về cái lẽ cứng mềm. Mà vừa qua, có lẽ bà hơi cứng thì phải. Mới rồi, bà có gặp ông chủ tịch tỉnh. Ông ấy cùng có ý thích như bà: đọc các chuyện cổ bên Tàu. Thấy bà là nữ mà ham đọc sách ông ấy quý lắm. Cứ nhắc đi nhắc lại câu tục ngữ xưa của dân quê mình: “Lạt mềm buộc chặt”. Ông ấy bảo đó là lời dạy làm nghề chính trị sâu sắc nhất. Ông ấy nói: Làm lãnh đạo tức là phải thực hiện ý kiến của trên nhưng cũng đồng thời phải thỏa mãn được nguyện vọng của dưới. Nếu chỉ làm được vế trên, thiếu vế dưới, thì cũng thất bại. Nay, cháu ví hợp tác xã như con rết, và chú ý đến các chân rết, biết thỏa mãn nguyện vọng của các cụ phụ lão làm thơ, rồi nguyện vọng của đám thanh niên yêu văn nghệ, ngay cả các bà vãi già đi chùa cũng không quên. Tức là cháu đang làm cái vế thứ hai trong câu nói. Vì thế nên bà ủng hộ công việc của cháu. Tốt quá! Bà nghĩ rằng cháu còn tiến xa hơn.
Bà Thêu là người thông minh sắc sảo. Bà lại là phụ nữ nên mềm dẻo, không ưa cực đoan. Nay bà gặp Hiếu cô gái trẻ này cũng giống bà, Hiếu lại là bạn Rêu. Gây dựng được cho Hiếu, bà cũng có cảm giác bù đắp được cho Rêu. Người đàn bà sắc sảo ấy hình như cũng giải tỏa được phần nào cái mặc cảm tội lỗi với người con gái đã khuất của mình.
Việc Hiếu lên làm chủ nhiệm cũng là điều thật may mắn cho những con người ở ngôi chùa làng Sọ.
* * *
Ở mỗi làng quê đều có những nhân vật đặc biệt của riêng mình. Đời sống của họ tạo nên những giai thoại, thậm chí những huyền thoại, làm cho mỗi làng lại có những màu sắc riêng; ví dụ những anh hùng đánh giặc giỏi, những thần đồng trong bụng chứa hàng bồ chữ, những cô gái đẹp nghiêng nước nghiêng thành, lấy vua chúa. Đó là cái tài cái đẹp làm ai cũng tự hào và nhớ mãi. Nhưng không phải người ta chỉ nhớ tới những điều tốt đẹp mà thôi. Cả những con người kỳ dị xấu xí cũng làm người ta nhớ mãi. Có thể nói mỗi làng đều có những quái nhân của nó. Những quái nhân ấy cũng đóng góp cho màu sắc riêng của làng. Và những câu chuyện về họ, người làng cũng khó có thể quên. Có thể nói ông cụ Khố, chồng bà cụ Thầm là một quái nhân. Chồng thì đêm ngày bì bõm ngoài đồng như con rái cá. Đêm thì nằm quay lơ trên những chiếc mả cao mà ngáy khò khò. Đã thế, bà vợ lại cũng điên khùng chả kém. Đêm ngày chỉ trò chuyện với người cõi âm.
Song, ngoài cụ Khố ra, làng Sọ còn có một gia đình quái nhân thứ hai. Đó là ông cụ Xuân. Những quái nhân làng xã thường là những chàng khổng lồ. Ông Xuân cao chừng một mét tám, chân tay vạm vỡ. Quái nhân thông thường nghèo khổ. Chắc chắn từ lúc chào đời đã đói khát. Vì vậy, họ phải có một thể chất đặc biệt, một sức sống dẻo dai thế nào mới sống sót nổi trên cõi đời này. Ông Xuân quê quán nơi nào, xuất xứ ra sao, vì sao phải lưu lạc đến vùng này, người ta không biết. Chỉ biết ông lực lưỡng, làm việc đồng áng giỏi, lại hiền lành nên người ta thuê ông làm việc. Ông Xuân để ý đến các cô gái trong làng, nhưng người ta đều sợ. Các cô bảo nhau:
- Hắn cao lớn thế kia. Người ta bảo cái “của ấy” của hắn to bằng cái chày giã cua. Hắn mà đè xuống, rồi tống vào thì chỉ có nước rách ra mà chết.
Tán tỉnh mãi mà chẳng có cô nào đi theo làm vợ, ông Xuân chán nản bỏ lên mạn ngược mấy năm. Người ta đồn ông Xuân may mắn gặp được một cô gái người đẫy đà như cái bồ. Cô gái đẫy đà quá nên ế chồng. Nay gặp được Xuân vừa đôi phải lứa nên quấn lấy nhau. Cô gái người Mường to béo là thế mà khi gặp Xuân, bị hắn quần cho, cũng trở nên xanh lướt như tàu lá. Hắn dâm dê và quá khỏe nên người đàn bà sinh bệnh ốm lơ ốm lửng. Người ta bảo Xuân cuồng dâm, lúc nào trông thấy vợ cũng muốn đè ra ngủ. Lẽ dĩ nhiên người chồng quái nhân như thế thì vợ hắn phải chết thôi. Cũng may, trước khi lìa đời, chị sinh cho hắn một đứa con trai. Ông Xuân ôm đứa con đỏ hỏn trở về làng Sọ. Đứa bé mồ côi mẹ, không có sữa bú, nhưng sức sống của nó thì vô địch. Thằng bé đói sữa khóc, ông Xuân nhá ngô sống, nhá gạo sống. Nhá thật nhuyễn ra thành sữa rồi mớm cho nó. Thằng bé tên là Hạ - Ăn sống ăn sít thế mà Hạ chẳng hề gì. Chẳng những không ốm, Hạ còn lớn nhanh như thổi. Hạ cũng giống ông Xuân bố hắn. Loại người to lớn ngoại khổ. Cứ tiếc cho họ sinh bất cập thời. Giá mà họ sinh vào thời xưa. Những con người khổng lồ hiếm hoi như vậy chắc chắn được ưa chuộng, chắc chắn được giới nữ săn tìm.
 
Người giàu và người nghèo vốn là một cặp song trùng. Có người giàu ở đâu là có người nghèo xô ngay tới đó. Như có một sức hút giữa hai đối cực ấy. Cả hai đều cần đến nhau. Do đó oán cừu được sinh ra từ đấy. Mà ân nghĩa cũng sinh từ đấy. Người giàu ở đây là ông trưởng bạ Hiệp. Và người nghèo là bố con ông Xuân. Khi ông Xuân ẵm đứa con đỏ từ trên Mường trở về, ông trưởng bạ liền giơ tay ra cứu giúp. Ông nhà giàu nào cũng muốn có những đày tớ tâm phúc, tuyệt đối trung thành với mình. Và nếu kẻ tâm phúc ấy lại là một người cơ bắp, dũng mãnh thì càng tốt. Bởi vì người giàu thường là kẻ cơ mưu có thừa. Cái họ thiếu là lũ tay sai thừa hành. Để tìm kẻ tâm phúc trung thành cũng cần phải có cơ duyên. Cơ duyên ấy là khi người nghèo rơi vào hoàn cảnh bước đường cùng, một sống một chết, lúc ấy người giàu phải lập tức sẵn sàng ra tay tế độ. Tế độ một cách thành thật. Điều này rất quan trọng. Bởi vì người nghèo không hề ngờ nghệch. Thậm chí họ còn nhạy cảm hơn những người bình thường, sống ở đáy thẳm cuộc đời, nên cảm xúc của họ được mài giũa vô cùng bén nhọn. Ai tử tế thực bụng, ai đâu môi chót lưỡi. Chỉ ngửi qua, họ đã biết ngay mùi vị.
Về chuyện này, gia đình ông trưởng bạ hiểu khá rõ. Bố mẹ ông Hiệp xưa kia nghèo khổ, được một người làm hương nhận làm con nuôi rồi truyền nghề cho. Nhờ nghề se hương gia đình khá giả dần lên. Gia đình có nhiều ruộng, ông trưởng bạ được học hành là nhờ thế. Ông Xuân và thằng Hạ không chết đói nhờ vào lòng nhân đức của bà cụ mẹ ông Hiệp và vợ chồng ông Hiệp.
Thằng Hạ đi chăn trâu cho nhà ông trưởng bạ. Mười lăm tuổi mà to lớn như đứa mười tám. Nó cũng như ông Xuân bố nó, dậy thì rất sớm. Lúc nào nó cũng cảm thấy trong người thừa mứa sức sống. Một bận đi trâu cùng cái Xim, một đứa đày tớ khác của nhà trưởng bạ. Nhân lúc ở trên đồi vắng, nó đè ngửa cái Xim ra trên bãi cỏ. Nó giao cấu với Xim giữa mênh mông gió đồi và những tiếng sơn ca véo von trên tầng trời cao. Cái Xim nếm mùi vị kỳ diệu của thằng Hạ đâm nghiện, ngày nào cũng rủ Hạ đi chăn trâu ở đồi hoang xa, ở đó chỉ có hoa mua tím và tiếng sơn ca lảnh lót. Đó là quãng đời thần tiên, sung sướng nhất của Hạ và Xim.
Bốn tháng sau. Bụng cái Xim đã lùm lùm. Ông Xuân sợ hãi, lúng túng, không biết giải quyết ra sao. Ông trưởng bạ lên tiếng:
- Sợ các cụ trong làng phạt vạ ư? Không lo. Đã có tôi. Tôi nhận chúng là con nuôi. Cưới cho chúng nó là được chứ gì.
Cả bà trưởng bạ, vốn là người lắm mồm. Chửi kẻ ăn người ở như hát hay. Ác khẩu thế thôi chứ bụng dạ chẳng có gì. Xim đẻ được đứa con gái, bà đặt tên cho nó là Mua. Mẹ Xim, con Mua. Toàn thứ cây cỏ dại ngoài đồi hoang mà bà bứng đem về để mong sau này chúng thành hoa thơm quả ngọt. Cái ý này là của bà cụ Hiệp, mẹ ông trưởng bạ. Bà cụ bảo:
- Nhà ta làm hương. Hương hoa là đồ cúng Phật. Nhà ta có khá lên là nhờ hương cúng Phật. Nếu ta gây dựng được cho vợ chồng Hạ Xim, tức là ta đã trồng được phúc. Hồi giặc Pháp chiếm đóng lập tề, ruộng nhà ông trưởng bạ đều ở quanh đình. Tây lập bốt, bắt dân bỏ hoang ruộng gần bốt để không cho Việt Minh xâm nhập. Việc đồng áng chẳng còn nhiều. Ông trưởng bạ liền cho nhà ông Xuân ra phố huyện. Ở đấy ông trưởng bạ có mảnh đất hoang. Ông lại sắm cho họ chiếc xe bò để cha con ông Xuân chở hàng. Bốt PC. ở gần ngay đấy. Nhà giam huyện thỉnh thoảng có người chết, Tầy liền thuê cha con họ chở xác người đem chôn.
Cái hôm sư cụ Vô úy được thả từ nhà giam “Đơ Bê” ra, chính ông Xuân đã cùng chú tiểu An kéo xe bò đưa sư cụ về chùa. Ông Xuân nhớ mãi buổi hôm ấy. Ông không định lấy tiền công, nhưng sư cụ bắt ông phải lấy. Rồi lại nắm lấy tay ông mà lắc lắc:
- Xin cám ơn ông. Ông rất có duyên với nhà chùa. - Ông sư già nói xong rồi nhắm mắt lại. Ông Xuân không hiểu ý tứ câu nói ấy, liền về hỏi ông trưởng bạ. Ông trưởng bạ nghĩ cũng không ra, liền bảo rằng:
- Bà cụ nhà tôi hay đi chùa. Không ngày sóc vọng nào vắng mặt ở chùa. Tôi sở dĩ giúp ông cũng do bà cụ thích làm việc phúc đức. Có lẽ sư cụ muốn nói đến sự ấy chăng. Ý nghĩa khác nữa thì tôi xin chịu.
Bà cụ Hiệp, mẹ ông trưởng bạ, chăm làm việc thiện như thế mà đến khi cải cách ruộng đất lại là người lâm nạn trước tiên.
Hôm trước khi đội về, thằng Trắm nói với bà trưởng bạ xin nghỉ việc. Chuyện ấy bà cụ hàng hương đã bàn với con dâu từ trước. Bà cụ bảo: “Mẹ nghe ở các nơi khi đội về, kẻ ăn người ở trong nhà sẽ xin nghỉ hết. Họ bảo phải dứt khoát cắt đứt với địa chủ bóc lột. Ở nhà ta thì phải khác mọi nhà. Ai xin về, con cứ biếu họ thêm thúng thóc, ngoài công xá ra”. Khi Trắm vào chào bà cụ, nó nói:
-  Bà ơi! Thế là từ nay bà cháu mình chẳng được nói chuyện với nhau nữa. Bà ạ. Cháu rất thích khi nói chuyện với bà.
-  Có ai cấm đâu hở cháu?
-  Không ai cấm, nhưng người ta bảo địa chủ là kẻ thù của nông dân. Mà cháu đọc chính sách rồi. Theo tiêu chuẩn, bà là địa chủ. Còn nhà cháu là cố nông.
Bà cụ làm hương cười.
-  Kẻ thù ư? Bà mà là kẻ thù của cháu ư?
Thằng Hạ cũng từ phố huyện trở về. Bà cụ cứ tưởng nó về để cắt đứt với gia đình ông trưởng bạ. Đó là chuyện mọi đứa con nuôi nhà địa chủ vẫn làm. Khi nó vào chào, bà cụ mới hỏi:
-  Này, Hạ ơi! Cháu thù bà lắm phải không?
-  Gì cơ ạ? Bà nói thù bà ư? Sao bà lại bảo thế?
-  Thì người ta bảo địa chủ là kẻ thù của bần cố nông mà.
-  Con xin bà đừng nghe lời người ta. Con thù bà ư? Nếu con nghĩ thế, liệu con có đáng là con người nữa không?
-  Mày nghĩ thế thật hở con?
Bà cụ hàng hương đang rầu rí, nghe Hạ nói, bỗng tươi tỉnh hẳn lên, Bà cụ cười:
- Con nói thế là bà mãn nguyện rồi. Con đã thành người. Thế là bõ công bà.
Tối hôm ấy, bà cụ nấu xôi vò chè đường cúng Phật. Cụ mặc quần áo đẹp ngày Tết. Cụ giục con cháu ăn, cười cười nói nói rất vui. Cả nhà thấy cụ như vậy đều lấy làm lạ.
Khoảng canh hai đêm ấy, có tiếng mèo gào đêm làm mọi người sởn hết tóc gáy. Cùng với tiếng mèo, còn có mùi hương ngạt ngào khắp nhà. Tiếng mèo tru tréo như tiếng đứa trẻ con bị ai bóp cổ hay đâm dao vào ngực. Tiếng kêu lúc thì khò khè ằng ặc, lúc thì rên rỉ lạy van, lúc lại như khóc thét lên ai oán. Tiếng kêu ấy lúc ở trên nóc nhà, có lúc lại như từ căn buồng đầu hồi, nơi bà cụ ngủ phát ra. Tiếng mèo thật bất thường. Cứ như thể một điềm báo, cứ tưởng như có một hồn ma lang thang vơ vẩn quanh nhà.
Ông trưởng bạ không chịu đựng nổi tiếng mèo, phải bật dậy. Ông ra sân quan sát. Nghe ngóng mãi, cuối cùng ông nhận định tiếng mèo từ căn buồng bà cụ phát ra. Từ khe cửa vẫn lọt ra ánh đèn dầu. Và lạ chưa! Cả mùi hương ngào ngạt khắp nơi cũng từ đó tỏa ra. Bà cụ còn thức hay sao? Ông vội đến gõ cửa, nhưng chẳng thấy trả lời. Biết là có chuyện, ông vội hô hoán và phá cửa.
Cửa buồng vừa hé mở, một con mèo đen mắt xanh lè, không biết từ xó xỉnh nào phi ra như trận cuồng phong, biến vào đêm tối. Cùng đi theo nó là khói. Không biết khói bị nhốt từ khi nào, nay được thả ra đặc kịt. Khói của những cây hương thơm quá hóa thành hắc, xộc vào óc làm ông choáng váng. Ông chưa thấy gì mà đã bủn rủn tay chân. Chiếc đèn hoa kỳ leo lét nhưng cũng đủ để ông nhìn quang cảnh bên trong. Căn buồng được cắm hương la liệt khắp nơi. Những đốm hương lấp lánh như sao. Và ở trên cao, giữa căn buồng là xác bà cụ đung đưa. Bà mẹ ông đã tự vẫn bằng chiếc hầu bao màu xanh hoa lý. Mẹ ông đã tự vẫn trong bộ quần áo đẹp nhất. Xác bà được tẩm mùi hương nhà chùa. Bà đã chết đẹp đẽ và thơm tho. Bà cụ hàng hương đã quyết không chịu cho người đời đấu tố. Cụ nghĩ thật giản dị. Cụ mặc áo mớ ba, váy lĩnh để đi vào cõi vĩnh hằng. Đến trước Phật thì phải ăn mặc chỉn chu, đàng hoàng. Ngày Tết còn phải ăn mặc thế huống hồ ngày cuối cùng làm người ra mắt Phật. Bà đã theo lời Phật dạy suốt đời. Thế nhân, đã hiểu biết gì về bà mà có quyền phán xét bà. “Suốt cả đời hành thiện. Chắc là Phật cũng phải vui vì ta. Thế mà các người định lôi ta ra làm nhục hay sao. Suốt cả đời ta chỉ ân hận vì một lỗi lầm. Đó là chuyện tự tử quyên sinh. Đức Phật thương xót mọi sinh linh, không cho phép người ta tự vẫn. Thương xót mọi sinh linh, điều đó bao gồm cả sự sống của bản thân mình. Ta đã vi phạm lời Phật dạy. Ta thực có lỗi. Nhưng các người cũng phải dè chừng. Hãy tỉnh lại đi”.
Anh đội Khoát quyết định đưa vợ chồng ông trưởng bạ ra đấu ở xóm. Hôm ấy, người ta bắt cả nhà ông Xuân phải trở về làng để làm nhân chứng và tham gia đấu tố. Cả buổi tối, ông Xuân không hé miệng nói nửa lời. Anh Hạ thì khăng khăng chỉ nói: “Ông trưởng bạ không bóc lột chúng tôi”. Chỉ riêng cô Xim, cô tố đủ điều. Hạ lầm bầm chửi Xim:
-  Con đĩ vợ! Con đĩ vợ! Mày không là người. Là đồ con chó.
Hạ thật bướng bỉnh, thật ngông cuồng. Nhất đội, nhì trời.
Ai ai cũng sợ, mà anh dám coi trời bằng vung. Đến nỗi, anh đội Khoát phải kết tội Hạ là phần tử phản bội giai cấp bần cố.
Mấy hôm sau, Hạ còn có hành động điên rồ hơn. Anh có một căn lều ở phố huyện. Giữa thanh thiên bạch nhật, giữa trăm con mắt của mọi người, Hạ công khai đuổi vợ con ra khỏi căn lều.
- Đây là căn nhà ông bà trưởng bạ cho bố con tao. Mày đã đấu tố, đã chửi ông bà, thì mày không có quyền ở đây.
Lôi mẹ con Xim ra khỏi nhà xong, Hạ châm lửa đốt nhà. Căn lều xiêu vẹo cháy đùng đùng. Còn cháy lan sang cả nhà hàng xóm.
Như vậy, tức là Hạ đã chuyển hẳn thành một phần tử phản động công khai chống đối cách mạng rồi. Họ lập tức cùm anh lại đưa vào trại cải tạo.
Tội phạm đã bị bắt ngay tại trận. Hơn nữa, tất cả bàn dân thiên hạ đều chứng kiến. Cho nên tội trạng của Hạ vừa mang tính chất chính trị, vừa có tính chất hình sự. Chẳng có cách nào bào chữa.
Trong sửa sai, người ta xét thấy Hạ không bị oan sai. Bắt anh là đúng. Anh là kẻ bệnh hoạn rồ dại, một con người nguy hiểm cho xã hội. Có nhà chuyên môn còn nói:
- Hạ là týp người mang tính tội phạm từ trong gien. Thứ người cao to hung hãn, thứ người siêu đực, cực dương tính. Nếu anh ta không là kẻ giết người thì cũng là kẻ cuồng dâm. Thứ người rồ dại luôn có khuynh hướng bạo hành.
Hạ bị bắt giam khá lâu. Hơn mười năm tù ngục. Anh ta được thả khi Mỹ ném bom.
Khi Hạ đi tù, cô Xim ở nhà được nhiều người đàn ông săn đón. Trong số đó có anh Tư Đờn người miền Nam tập kết. Xim và Tư Đờn sống với nhau không có giấy tờ gì cả. Xim cũng chưa làm đơn ly dị với Hạ. Tư Đờn sống phóng khoáng. Anh làm việc ở xưởng nông cụ huyện. Chủ nhật nào cũng tụ tập bè bạn đầy nhà. Uống rượu rồi đờn ca vọng cổ. Tư Đờn ham chơi vậy nhưng thương Xim và Mua lắm. Xim đã vào tuổi ba mươi. Nước da bánh mật, thân hình nung núc những thịt. Người đàn bà vào độ chín, làm những gã đàn ông phóng túng như Tư Đờn bị hớp hồn, bị ngất ngây suốt đêm ngày. Chả thế mà Tư Đờn hùng hục lao động. Gã làm thợ đúc lưỡi cày. Thợ đúc được xếp vào loại lao động nặng nhọc nên lương thưởng của Tư Đờn cũng khá. Tư Đờn đưa hết cho Xim không giữ lại một hào một cắc. Tư Đờn coi cái Mua như con. Lúc Mua còn nhỏ, tối nào anh Tư cũng công kênh con nhỏ trên vai, đem con nhỏ ra tận cuối phố mua kẹo vừng cho nó. Con bé gọi Tư bằng ba Đờn ngọt xớt. Tư Đờn nóng tính, lại có võ nữa. Nghe nói, hồi ở bộ đội anh ở đặc công, có những đêm không đánh đờn ca hát, người ta thấy anh Tư cùng mấy ông miền Nam biểu diễn võ huỳnh huỵch ngoài sân. Nói chung Xim và Tư Đờn là một gia đình không có điều tiếng, được dân phố quý mến.
Buổi chiều hôm ấy, dân phố thấy Hạ xuất hiện ngoài chợ Huyện. Ở đây, chẳng ai lạ gì Hạ. Nhiều người còn được mục kích cái hôm anh châm lửa đốt cái lều của mình và đuổi vợ con đi. Hạ đeo cái túi dết mầu xanh, mặc bộ quần áo màu cứt ngựa, ngồi ở quán nuớc. Bà bán nuớc mau miệng:
-  Anh Hạ phải không? Đúng là anh Hạ rồi. Lần thế nào được đôi lông mày sâu róm kia. Thế nào? Anh được về hẳn rồi chứ. Rõ khổ. Ngồi xuống cái đã. Trà tôi mới pha. Vừa chín tới rồi. Uống một ngụm rồi hẵng hay.
Rồi bà bỗ bã:
-   Này hỏi thật. Anh biết chuyện rồi chứ.
-   Chuyện gì cơ ạ?
-  Thì... cái chuyện ấy... Chuyện chị Xim nhà anh ấy. Anh đã biết chưa?
-   Thì sao?
-  Cô ấy đã lấy chồng. Một anh cán bộ miền Nam... Anh ấy tốt lắm.
-   Thế a?
Bà bán nước cố tìm sự biến đổi trên gương mặt của anh, nhưng chẳng thấy gì. Chỉ thấy im lìm như đá. Trong khi ấy, ở đầu kia, tức trước cửa ngôi lều nhà chị Xim, lũ trẻ con phố huyện cũng làm công việc thông báo:
-   Chú Tư Đờn ơi! Đã biết chuyện gì chưa?
-   Chuyện gì?
-   Anh ấy về rồi đấy.
-   Anh ấy là ai?
-   Là chú Hạ.
-  Chú Hạ nào? - Anh Tư Đờn nhướn mày lên như thể đang kiểm kê những người quen trong óc. Rồi đôi mày đã dãn ra. Hình như óc anh đã thoáng thấy một điều gì. Lũ trẻ trả lời:
-  Chú Hạ là chồng củ của cô Xim.
-  Thế a?
Ở hai đầu, hai con người đều nói cùng một câu “Thế a”. Người ta chờ đợi nhiều hơn thế. Điều mà mọi người rất muốn biết là thái độ của hai người chồng sẽ ra sao khi đối mặt với sự thật này. Nhưng lạ thật, cả hai đều kín mít. Nhưng là dù kín mít thì cuối cùng họ cũng phải gặp nhau. Lúc họ gặp nhau sẽ thế nào? Đó mới là vấn đề mọi người nóng lòng chờ đợi. Anh Hạ thì khỏi bàn. Một người mà trong cải cách cũng chẳng sợ gì. Rồi còn dám châm đuốc đốt nhà mình trước mắt bàn dân thiên hạ, trong lúc đồng quê đang sôi lên như một chảo dầu sôi. Còn anh Tư Đờn thì sao? Một anh hai Nam Bộ nóng như lửa. Một lính đặc công vào sinh ra tử, võ nghệ đầy mình. Những đêm trăng, Tư Đờn múa võ, tay vờn vờn trông dáng dấp tựa cọp beo. Hai người cùng lấy một người đàn bà, lại cũng là hai tay sừng sỏ. Cuộc chạm trán của họ chắc lắm cái hay. Vì thế nên đám thanh thiếu niên phố huyện cứ đứng chờ ở quán nước. Họ chờ anh Hạ đứng lên. Dù sao anh ta cũng phải gặp mặt bà Xim và con Mua.
Quả nhiên, Hạ không thể ngồi lì ở quán nước mãi. Anh đâu phải thằng hèn. Đúng tám giờ thì Hạ đứng lên, rời quán nước đi về phía căn lều xưa. Người đi theo rần rần.
Căn nhà của chị Xim mới dựng lại sau khi lấy Tư Đờn, là căn nhà tre trát nhứng, lợp rạ. Trông giản dị nhưng gọn gàng xinh xắn. Đằng trước là cái sân đất nện. Phía trên là dàn mướp quả lúc lỉu. Ngăn cách với đường là hàng rào cúc tần ngang tầm mắt.
Khi đoàn người hộ tống anh Hạ từ hàng nước đến, đã thấy anh Tư Đờn dáng người lùn và đậm đứng chờ sẵn ở cái cổng tre. Anh Hạ cao to lừng lững bước tới. Mọi người bỗng tản rộng thành một vòng tròn. Họ chờ đợi phút giây này đây.
Hai con người đối địch đã gần nhau. Hình như mọi người đều cảm thấy hai con người đều hầm hầm, họ cố nén sự tức giận vào trong, sắp rồi đây. Người ta nín thở. Kìa! Anh Tư Đờn đã giơ tay ra trước. Họ lắp bắp gì đó với nhau. Cánh tay anh Tư ngắn nhưng là một thỏi sắt. Người ta đã thường thấy anh quai cái búa tạ choang choang trên đe ngoài xưởng nông cụ.
Còn anh Hạ thì sao. Anh cũng giơ một cánh tay ra. Anh Hạ cao to, lưng gù gù như một con gấu. Cánh tay anh dài hơn nhiều và gân guốc cũng chẳng kém.
Hàng phố đang hy vọng cái cánh tay gấu ấy đấm thẳng vào mặt Tư Đờn. Nhưng ô kìa? Không phải họ giơ tay để đánh nhau mà là để bắt tay nhau.
-  Chào anh!
-  Chào anh!
Dân phố càng chưng hửng hơn, khi sau cái bắt tay, họ còn khoác tay nhau đi vào trong nhà. Trước khi quay lưng, Tư Đờn nói với dân phố.
- Xin cám ơn bà con đã dẫn đường cho anh Hạ tới đây. Chẳng có chuyện gì đâu. Xin bà con giải tán cho.
Dân phố chờ cho tới khi họ chui qua giàn mướp, vào nhà, khép cửa sau lưng mới chịu ra về. Mọi người về nhưng mấy chú nhóc nghịch ngợm thì không. Chúng còn nán lại để nhìn trộm, nghe trộm qua khe cửa hoặc qua những lỗ hổng ở vách.
Tư Đờn, vẫn như mọi khi, tiếp khách trên chiếc chiếu trải xuống đất, giữa căn nhà. Chỉ có khác là lần này, anh bắt Xim trải chiếc chiếu hoa mới mua. Chị Xim đưa ấm chén ra. Tư Đờn vẩy tay:
- Chắc hẳn anh Hạ uống được rượu. Thôi, bà dẹp cái vụ này đi. Lấy cho chúng tôi cái hũ rượu đế mà thằng Sáu nó cho tuần trước.
Hình như Hạ định nói gì nhưng Tư lại gạt đi:
- Chuyện đâu có đó. Anh em mình uống cái đã. Trên đời này, có chuyện gì mà chẳng giải quyết được. Nào, xin mời anh, ta “vô” cái đã.
Hai người uống rượu suông chén đầu tiên. Tư lại bảo Xim:
- Bà kiếm cho chúng tôi chút mồi. Phải rồi! Ra đầu phố mua cân lòng lợn. Lấy nhiều dạ dày nhé. Đừng có quên miếng gan cho con gái.
Con bé Mua, không biết từ lúc nào, đã ngồi chễm chệ trong lòng Tư Đờn. Anh Tư âu yếm vuốt tóc con nhỏ rồi bảo nó:
- Ba Tư là ba của con. Nhưng ba giới thiệu nhé. Ông đây cũng là ba của con.
-  Vậy là con có hai ba. Ông ấy là ba gì hở ba?
-  Ba ruột của con.
Vừa nói Tư vừa bế đứa bé đặt lên lòng Hạ. Con người khổng lồ đưa bàn tay thô nháp dày chai vuốt tóc con bé. Tình cha con mà hơn chục năm nay hầu như đã quên mất làm anh run run. Anh vụng về vuốt tóc đứa trẻ máu thịt của anh. Con bé cầm lấy bàn tay ấy xem xét, lật đi lật lại, rồi nói:
-  Tay ba ruột nhiều sẹo hơn tay ba Đờn.
Rồi nó nói thêm:
-  Chú Sáu bảo tay ba Đờn có sẹo, nhưng ba Đờn đánh đờn nên ngón tay nó mềm ra. - Rồi con bé lại nói - Ba ruột cũng đánh đờn đi ngón tay nó mới mềm ra.
-  Bố không biết đánh đờn.
Nhân tiện, anh Hạ liền chỉnh lại cách gọi cho con gái:
- Từ rày con gọi ba Đờn bằng ba, còn ta, con gọi bằng bố. Anh lúng túng giải nghĩa cho con bé:
- Bố là người đẻ ra con. Ba là người nuôi con lớn lên.
Cái định nghĩa khập khiễng ấy hình như chẳng làm con bé vừa lòng. Nó liền hỏi thêm:
- Thế ba hơn bố, hay bố hơn ba?
Chị Xim lúng túng từ khi Hạ vào nhà, đến lúc này càng thêm lúng túng. Chị đưa cho con bé cái bát có mấy miếng gan rồi quát:
- Con đừng hỏi vớ vẩn nữa. Ăn cho xong, rồi đi ngủ. Mau lên.
 Khi con bé vào giường rồi. Chỉ còn ba người lớn đối diện với nhau, đối diện với vấn đề nhức nhối mà con bé con vừa mới lướt nhẹ qua. Cũng hay là con bé đã nói trước. Chứ hình như cả ba người đều ngại phải nói đầu tiên. Tuy nhiên, dù sao cũng vẫn phải có một người lên tiếng để phá vỡ sự lúng túng. Anh Tư Đờn, con người trực tính bảo:
-  Trong ba người chúng ta Xim là quan trọng nhất. Ý kiến của bà là quyết định nhất. Bà thử nói xem chúng ta xử sự thế nào là phải.
Chị Xim ngần ngừ mãi mới nói:
- Ông Hạ ạ, tôi thực có lỗi với ông. Đáng lẽ ra tôi phải nói với ông trước khi tôi đi bước nữa. Nhưng xin ông hiểu cho. Khi ông đi cải tạo, tôi phải bỏ làng Sọ ra đây dựng ba cái tranh dăm cái cọc, lấy chỗ trú thân. Tôi không ở trong làng được nữa. Người ta bảo vì tôi nên ông bị đi tù. Người ta bảo tôi tố với đội rằng ông là phản động nên ông mới bị bắt. Khổ thân tôi. Tôi thề trước ngọn đèn với ông rằng tôi có thể có lỗi với người khác, chứ với ông thì tuyệt nhiên không. Tôi thề là không tố ông một lời, dù anh Khoát gợi ý cho tôi mấy lần. Tôi mà nói sai ngọn đèn tắt thì tôi cũng tắt. Tôi có lỗi với ông là đi bước nữa nhưng ông cũng phải thể tình cho tôi. Tôi ra phố huyện phải gồng gánh trên vai buôn cái rau cái cỏ nuôi con Mua. Chỗ này thì tôi phải nói thật. Tôi chịu ơn ông Tư. Nói thực nhé, nếu không có ông Tư thì mẹ con tôi đã chết rồi cũng nên. Cái hôm mưa gió ấy, túi không còn một xu, gạo không còn một hạt, con cái Mua sốt nóng như hòn than. Anh Tư ở bên xưởng nông cụ may mắn sang kịp, cho gạo để tôi nấu cháo, cho tiền để tôi mua thuốc. Bác sĩ bảo con bé bị mắc bệnh gì nhỉ... À bệnh bạch hầu... Ông ấy bảo chậm tí nữa thì con bé không chữa được. Tôi nhận lời ông ấy là vì mẹ con tôi đội ơn ông ấy...
Chị Xim vừa nói vừa khóc. Chị kể lể. Chị sụt sịt. Dài dòng lắm song có tình có lý. Cuối cùng chị kết luận:
- Nếu ông còn thương đến con, còn nghĩ đến tôi, thì ông bảo thế nào, tôi cũng xin theo lời ông. Và nếu cả hai ông cho lời tôi là phải. Thì một ngày là ngãi là tình. Nếu thế, trước khi trở về với chồng cũ, tôi xin cho phép được lạy sống anh Tư ba lạy. Nói thật, ơn của anh tôi xin ngậm vành kết cỏ.
Tư Đờn vội giơ tay rồi cười cười, nói bông phèng.
- Chết cha! Tôi ở với bà gần chục năm. Giờ tôi mới biết bà này nói hay quá ta. Kết cỏ ngậm vành. Bà lại nói cả chữ trong Truyện Kiều. Nhưng xin khoan đã. Để cho tôi nói mấy câu.
- Anh Hạ ạ. Riêng chuyện này tôi phục anh đấy. Bình tĩnh. Chẳng nói một lời. Nếu ở địa vị anh, chắc tôi đã choảng nhau rồi. Nhưng mà tôi đã bảo rồi. Chuyện đâu khắc có đó. Tức là từ bây giờ tôi xin trả lại vợ cho anh. Sáng mai, tôi sẽ ra đi. Còn bây giờ. Vò rượu còn đấy. Tôi với anh, ta nhậu cho đến sáng.
Câu chuyện tưởng đã ngã ngũ. Bây giờ, đến lượt Hạ, người thứ ba phát biểu. Anh nói:
- Chưa xong đâu. Chúng ta còn người thứ tư trong chuyện này. Sao ta không hỏi ý kiến bé Mua xem sao nhỉ. Nhân vật tí hon này cũng chẳng kém phần quan trọng.
Thế là bé Mua đã bắt đầu ngủ cũng được đánh thức để hỏi ý kiến. Anh Hạ nói:
- Lúc nãy con hỏi chúng ta: “Bố hơn ba hay ba hơn bố?” Bây giờ ta cho con chọn. Nếu phải theo một trong hai người thì con theo ba hay con theo bố.
Cô bé Mua nhìn hai người đàn ông, lúc đầu như có chút lưỡng lự, nhưng rồi nó đi thẳng đến chỗ Tư Đờn và giơ tay ra. Tư Đờn vội cúi xuống. Con bé ôm lấy cổ ba của nó. Lúc bấy giờ Hạ mới nói:
- Ý kiến của cái Mua là khôn ngoan nhất. Thực ra, khi suy xét cho kỹ, nếu tôi trở về, thì cái nhà này có được ổn định không? Chắc chắn là không. Tôi là kẻ tù trở về. Không nghề nghiệp. Làm sao nuôi vợ con nổi. Còn nếu anh Tư ở lại. Tình hình vẫn tốt như xưa. Anh lại yêu con bé. Và con bé cũng yêu anh. Như vậy là tôi thỏa mãn. Tôi cám ơn anh đã chăm nom con bé như là con của mình. Tôi đã sai lầm. Đáng lẽ ra tôi không nên quay về đây thì hơn. Tuy nhiên, không sao! Tôi sẽ không làm phiền mọi người đâu.
Lại nói tới cái hồi Hạ còn đi tù, và lúc ấy ông Xuân còn sống. Một bận, ông Xuân đến nhà tù tiếp tế cho Hạ. Ông bảo con trai:
- Lạ lắm con ạ. Mày có nhớ cái bận ta kéo xe bò đưa sư cụ Vô Úy từ nhà giam “Đơ Bê” về chùa không? Tao đã kể với con rồi đấy. Không hiểu sao sư cụ lại nói: “Ông có nhiều duyên với nhà chùa lắm”. Tao cứ ngẫm nghĩ mãi. Rồi chiêm nghiệm cũng thấy đúng. Bà mẹ ông trưởng bạ chẳng phải người nhà Phật sao. Không có bà cụ thì bố con ta đã chết rồi. Trong cải cách, mày không tố ông trưởng bạ, lại còn trung thành với ông bà ấy. Chẳng phải duyên với nhà Phật sao? Nhưng sư cụ bảo còn nhiều duyên với Phật. Khi ấy chắc bố chết rồi. Có chuyện gì, thì con nhớ cũng phải cư xử cho phải đạo.
Khi người ta chết, thường dặn dò con cháu những lời di chúc. Vì không được ở bên cạnh ông Xuân khi ông chết, nên Hạ coi những lời nói của ông khi lên trại cải tạo thăm mình lần cuối cùng cũng là những lời di chúc.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.02.2018 13:12:32 bởi Ct.Ly>
Chương 6
Tiếng chuông chùa
 
 
Tôi là người gõ chuông chùa Sọ. Mới đầu, tôi cứ tưởng đánh chuông đơn giản, sau mới biết không phải. Lúc mới đến chùa, tôi còn nhỏ, tôi cứ tưởng cái chuông be bé. Nhưng lần đầu leo lên gác tam quan, tôi bị choáng ngợp ngay. Chuông làng Sọ là đại hồng chung. To hơn cái chum, cao quá đầu người. Vồ là cây gỗ dài hình cái chầy treo ngang tầm cái núm. Muốn đánh, tôi phải dùng sức đẩy cái chày lui xa, rồi buông tay thả cho cái chày rơi tự do. Một tiếng boong sẽ vang to như tiếng sấm làm toàn thân tôi cũng rung lên. Sư phụ Vô úy dạy tôi đánh chuông phải theo tôi lên tam quan chỉ cho cách đánh. Thầy bảo:
- Ngày xưa, ở mỗi thành quách, phủ, huyện, mỗi chiều đều đánh trống hay chiêng thu không. Lính canh đánh trống tức là báo đã khám xét trong thành xong và không có chuyện gì xảy ra. Ở nước ta làng nào cũng có chùa, có chuông, nên có lệ chiều chiều đánh chuông thu không. Việc đó không chỉ đơn giản báo hết ngày. Mà ý nghĩa là tiếng chuông nhắc cho mọi người biết nơi đây chính là đất Phật. Tiếng chuông báo điều lành, đuổi điều dữ. Báo cho bọn ngạ quỷ không đuợc quấy nhiễu, rồi nhắc nhở cho dân làng nhớ tới lòng từ bi hỉ xả của đức Thế Tôn.
Chuông chùa làng ta thật trầm và thật rền. Vào ngày đẹp trời, đứng cách xa chục cây số vẫn nghe thấy.
Vì là chuông của Phật, nên trước khi đánh, con phải niệm Phật:
 
Nam mô đại từ đại bi Thích ca mâu ni Phật
Nam mô Quán thế âm bồ tát ma ha tát
 Nam mô Vân thù bồ tát ma ha tát
Nam mô Phổ hiền bồ tát ma ha tát
 Nam mô Đại thế chí bồ tát ma ha tát
 
Nghĩa là con phải niệm hồng danh chư Phật, chư bồ tát đến hộ niệm, mang điều tốt lành về cho dân làng. Tiếng chuông như những làn sóng đưa những điều lành bay thật xa đến tận hang cùng ngõ hẻm. Khi đánh chuông lòng con phải thật thanh tịnh, lời tụng niệm của con phải thật thành kính. Mỗi tiếng chuông đều phải đi kèm lời niệm đủ hồng danh chư Phật. Làm như thế còn để cho tiếng chuông đủ ngân nga chậm rãi. Tiếng chuông chùa hàng ngày rót vào lòng người, tức là chân lý của đức Phật luôn luôn ở bên cạnh chúng sinh, cả khi buồn, cả lúc vui. Thầy tôi bảo:
- Trong tiếng chuông chùa có đủ mọi cung bậc từ, bi, hỉ, xả. Cho nên chùa làng Sọ có tục lệ dóng chuông khi làng xóm có vui hay buồn. Tiếng chuông chùa đầy xót thương, thông cảm khi con người quay trở về với cát bụi. Cả trong hôn lễ, tiếng chuông chùa cũng biết chia vui. Sư cụ Vô úy dạy:
- Con chớ coi thường việc đánh chuông. Cả những bậc danh tăng, tổ sư ở chùa này cũng phải trải qua thời kỳ đánh chuông. Chính thầy và sư thúc Vô Trần của con cũng đều đã đánh chuông nhiều năm.
Tam quan chùa làng khá đồ sộ. Tầng dưới ba gian to như chiếc cổng thành. Ba cửa ra vào. Hai đầu hồi đắp nổi hai pho thiên tướng hộ pháp. Hai ông tướng vác thanh long đao đứng giữ cổng chùa. Tầng gác chuông, một gian cao ngất. Sàn lát gỗ lim lâu đời đã nứt, nẻ. Chính trên sàn gỗ ấy, thầy tôi đã dạy tôi những bước tu đầu tiên:
- Người tu Phật phải hiểu rằng muốn tìm được con đường Phật đạo, ta không được dựa vào bất cứ ai. Ta phải dựa vào chính bản thân mình. Cho nên phải cần đến sự cô độc. Thường độc hành, thường độc bộ. Muốn thấy Niết bàn phải biết đi một mình. Ngày xưa, thiền sư Huyền Giác đã nói thế. Hàng ngày, con phải có những phút ở riêng một mình để nhìn sâu vào nội tâm mình, làm sao cho tâm mình thật tĩnh lặng.
Nói rồi, sư phụ tôi cho phép, mỗi chiều, khi đánh chuông xong, tôi ở lại một mình trên chiếc sàn lim. Lúc đó, tôi nằm soài, ngửa mặt nhìn chiếc chuông cổ khổng lồ mầu xam xám thoáng một chút đen, nhìn cái biểu tượng từ bi ấy để đối chiếu vối mình. Có lúc nào ta độc ác, ta sân hận, ta tham lam, ta chỉ nghĩ đến ta? Ta đã biết cảm thông xót thương trước nỗi đau của đời chưa? Trước niềm vui của kẻ khác ta có ghen tị hay không? Phải nói rằng những phút cô độc tự đối diện với mình ấy, tôi nghĩ đến người, tự tra vấn mình, đã giúp tôi rất nhiều. Tôi thấy hiểu mình hơn, tự tin hơn và điều quan trọng là tôi thấy bớt sợ hãi. Một đứa trẻ bỗng dưng thấy mình bị quăng vào cõi đời mênh mông. Sợ hãi lắm chứ. Thầy tôi đã dạy tôi cách tự mình bơi, tự mình quẫy lộn trong đại dương mênh mông. Ngừng tay chân là chìm nghỉm ngay. Phải tự dựa vào mình thôi. Và vùng vẫy mãi cũng hiểu ra rằng mình cũng có nhiều sức lực hơn là mình tưởng.
Và tôi dần dần hiểu ra lối sống Phật giáo là dạy cho con người một mình đứng vững, độc hành được trong cái thế gian đầy thống khổ này.
Hồi tôi đi học với thầy Hải, trong làng có người chết, sư cụ sai tôi lên gác tam quan đánh chuông. Cái Huệ cứ năn nỉ xin theo tôi lên. Tôi nhớ mỗi tiếng chuông vang lên, Huệ lại lấy ngón tay bịt chặt hai lỗ tai. Nó bảo:
- Tiếng chuông rung khắp người em. Chân rung, tay rung, gan ruột rung, mà cả đầu óc cũng run bần bật.
Tôi nói theo lời sư phụ:
- Dĩ nhiên phải thế. Tiếng chuông là tiếng Phật. Nó đánh thức tâm từ bi trong con người ta thức dậy. Tầm từ bi nằm sâu trong đáy lòng. Gọi nó dậy. Dĩ nhiên phải rung động thẳm sâu con người.
Sau hồi chuông, tôi và Huệ nằm trên sàn lim. Cái Huệ cứ lắng nghe, lắng nghe rất lâu rồi bảo:
- Cậu có nghe thấy gì không? Chuông làng ta biết khóc. Nghe tiếng kèn tiễn người ra đồng nó khóc đấy.
Nghe lời Huệ nói tôi lặng im lắng nghe. Thì ra có tiếng hu hu thật. Đó là gió thổi mạnh vào chuông, đã phát ra một tiếng kêu man mác mà cô bạn học nhạy cảm của tôi đã nghe ra tiếng khóc.
 
Có thể nói, chuông chùa làng tôi cứ như thể một sinh vật biết xúc cảm vậy. Chả cứ gió thổi, chỉ cần lấy tay vuốt mạnh vào miệng chuông là tiếng hu hu nổi lên. Các cụ bảo sở dĩ thế vì lúc đúc chuông, người làng đã cúng dường vứt vào lò nấu chục lạng vàng. Sư phụ tôi nói:
- Vào thời nhà Lê, lúc đúc chuông này, sư tổ trụ trì là một vị cao tăng đức hạnh. Người đã cắt ngón tay lấy máu đổ vào lò nấu.
Người ta bảo đã có máu người là mọi vật đều thiêng. Tôi không nghĩ vậy, song tôi là người đánh chuông, đã tiếp xúc nhiều với nó, thì tôi phải công nhận cái chuông này thực là thiêng.
Nhớ lại hôm cái Rêu tự vẫn ở giếng vườn chùa. Trước đêm hôm ấy, buổi chiều tôi đánh chuông thu không xong, cái chuông cứ rên rỉ hoài, tiếng ngân vang mãi không chịu dứt.
Rồi, khi nó dứt, thì một trận gió to đùng đùng dấy lên. Và cái chuông hu lên thật to. Không phải tiếng hu hu man mác như hôm cái Huệ nghe thấy đâu. Đằng này, tiếng hu giống hệt như tiếng người khóc. Lúc ấy tôi chẳng nghĩ ra, mấy hôm sau nhớ lại, mới biết cái tiếng ấy là một điềm báo. Chuông thiêng báo với tôi rằng tôi sắp mất một người bạn, một con người trong trắng nhất trần gian.
 
* * *
Hoàng hôn Tây Nguyên.
Sương mù tràn xuống che kín khu rừng. Nó tạo thành tấm chăn mỏng trắng đục trùm lên những tán cây. Nó đọng lại thành giọt thỉnh thoảng lại rơi lộp bộp trên mái hầm. Đến trưa thì có gió. Gió đuổi mây mù xuống thung lũng, trôi sang dãy núi trước mặt rồi biến mất.
Xế chiều thì nắng hửng. Nắng vàng mật ong làm khu rừng đẹp đến kinh ngạc. Gặp nắng, cây tha hồ khoe sắc. Có những lùm màu vàng chanh. Có những cây không biết tên, ngùn ngụt những lá non màu nâu hồng. Có những loài cây xuân đến vẫn không chịu trút lá. Chúng vẫn biêng biếc màu xanh thẫm. Những làn sương mù đã rời xa nhưng vẫn còn lưu dấu vết bằng cách tráng nước lên những tán lá. Những chiếc lá già như những chiếc gương con óng ánh trong nắng chiều.
Mặt trời đã lặn xuống dãy núi trước mặt. Chiều xuống rất nhanh, vầng dương trước khi chìm hẳn xuống rặng núi xa còn thoát ra một luồng ánh sáng rực rỡ mầu vàng nhuộm khắp nửa bầu trời. Nó gợi lên một quang cảnh nguyên thủy mà không biết tôi đã trải qua từ một đời kiếp quá khứ nào đó. Từ vàng chói đến màu vàng ệch. Đầu dãy núi là một diềm vàng rực rỡ sắc nét nhấp nhô. Mầu vàng hắt sang cả khu rừng tôi trú ngụ khiến cho những cây lá già bóng nhoáng bỗng như được rắc lên một lớp nhũ kim loại lóng lánh.
Cũng là những buổi chiều vàng, song ở miền rừng, sao mà nó hoang sơ dữ dội. Còn ở làng tôi, ở cái chùa Sọ nhỏ bé, sao mà nó êm dịu, hiền hòa. Từ cái gác chuông nhìn ra, cánh đồng lúa mênh mông được nhuộm ráng chiều biến thành một biển vàng cốm thơm phưng phức. Tôi nằm trên sàn gỗ lim nghe những hàng tre rì rào. Tiếng lúa reo hay tiếng những cô gái gội đầu ở giếng làng đang rì rầm khúc khích cùng nhau. Rất chậm rãi, tôi thả tiếng chuông chùa ngân nga hòa vào khúc nhạc đồng quê.
Tôi nằm đấy cũng là thiền chứ sao.
Tan vào khúc nhạc kỳ diệu, chẳng còn thấy mình đâu cả, cuộc sống đã chẳng là thiền đến từng giây từng phút hay sao. Tôi cảm ơn thầy tôi đã dạy: “Đánh chuông chùa hay biết nghe tiếng chuông chùa cũng là sự tu hành và cũng dẫn đến sự tỉnh thức”. Tôi là kẻ đánh chuông chùa nên tôi có thể hiểu được ý nghĩ đó.
Ở bộ đội, tôi không còn làm việc đánh chuông, nhưng chiều chiều tiếng chuông chùa vẫn vang vọng trong tâm hồn tôi. Những buổi chiều, tôi hay lang thang trong rừng một mình. Anh em đơn vị bảo:
- Lạ thật! Chiều về, thằng An nó cứ ngơ ngơ ngáo ngáo như một thằng rồ.
Anh em có biết đâu, lúc ấy là lúc tôi đang hoài niệm về sự cô độc.
Chiều nay, tôi đang ở trung đoàn bộ. Hôm qua, trung đội trưởng Trắm báo cho biết tôi phải lên gặp chính ủy. Đó là việc tôi rất ngại. Gặp gỡ bố của Huệ, đồng thời lại là sư thúc của tôi, tôi sẽ ăn nói ra sao đây; và ông ấy sẽ nói gì với tôi. Chắc lại là chuyện tôi bắn súng lên trời. Từ khi câu chuyện đó xảy ra, anh em trong đại đội nhìn tôi rất lạ. Cứ như thể tôi là một con vật kỳ quái. Họ bảo: “Thằng An lên gặp trung đoàn lần này, chắc là nó hết hơi đây”. Tôi không nghĩ như vậy. Sư phụ tôi thường bảo: “Sư thúc Vô Trần là một người điềm đạm, suy nghĩ thấu đáo. Ông rất kiên quyết nhưng lại hiền từ. Nghĩa là dù hoàn cảnh khác thế nào, nền tảng của ông vẫn là sự từ bi”. Vì vậy tôi tin sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra, nhưng chắc chắn tôi sẽ được chỉnh đốn một trận nên thân. Không hiểu sao, lúc bấy giờ tôi bỗng nhớ tới những lời cuối cùng của đức Phật, trước khi người nhập diệt. Đức Phật nói với Ananđà, người đệ tử luôn ở bên người, cả trong những phút cuối cùng của người.
- Này Ananđà. Hãy là ngọn đèn của chính mình. Hãy nương tựa vào bản thân. Đừng khi nào tìm cách nương tựa vào người khác.
Tôi luồn rừng đi gần nửa buổi mới tới được nơi ở của chính ủy. Nhưng ông lại bận họp trên sư đoàn. Người cần vụ bảo tôi:
-  Chính ủy dặn cậu cứ ở lại. Đến tối ông ấy sẽ về.
Ở gần đấy có một con suối. Tôi ở chùa được sư phụ dạy, có thói quen không lúc nào ngơi chân ngơi tay. Cho nên, tôi ra ngay suối mò ốc. Lại vào rừng lấy lá về nấu canh chua.
Chiều tối, chính ủy mới đi họp về. Leo dốc nhiều ông vã mồ hôi như tắm. Nhìn mâm cơm thấy bát canh chua nấu ốc, ông liền bưng húp một hơi hết sạch. Rồi cứ nức nở khen ngon. Biết tôi là người sáng kiến nấu canh, ông cứ cám ơn tôi mãi. Tôi rất thân với Huệ, con gái ông, nhưng đây là lần đầu tôi mới đối diện nói chuyện cùng ông. Đó là con người cao lỏng khỏng, xương xương, lưng hơi cong ra phía sau. Đôi mắt có lòng đen lòng trắng phân minh, thứ con mắt có ánh sáng dịu. Có lẽ nó dịu vì có hàng mi rậm che bớt, nhưng khi đôi mắt ấy mở to thì chúng long lanh sắc sảo. Ông Trần vừa ăn vừa nói chuyện cùng tôi. Trước khi gặp, tôi cứ phân vân, tăn tiu, lo lắng. Cứ nghĩ rằng sẽ được ông cho một bài học nhớ đời. Tuy nhiên, cả bữa cơm, tôi không thấy ông đả động một câu nào tới chuyện tội lỗi của tôi. Ngay cả khi ra bàn uống nước, cuộc đối thoại tiếp diễn, thì chủ đề câu chuyện cũng không thay đổi. vẫn chỉ là những chuyện vặt vãnh chung quanh sư phụ tôi. Lúc thì tôi kể, lúc thì ông nói. Sư thúc Vô Trần có vẻ rất kính trọng sư phụ. Ông hỏi:
- Cháu có biết chuyện sư phụ cháu và con hổ đằng sau núi Yên Tử không? Thật là một câu chuyện như huyền thoại của thời hiện đại. Ông cụ lại nhận con hổ đó là đệ tử của mình nữa chứ. Thú thật, lúc nghe kể chú cũng chẳng tin. Nhưng cái bận được sư tổ sai lên đó đón sư phụ con về, chính ta đã tận mắt nhìn thấy cái hang cạnh am nơi con hổ trú ngụ. Ở đó, có hòn đá nhẵn bóng, sư phụ cháu bảo đó là nơi con hổ thường nằm. Gần đấy, còn có những vết xước trên vách đá, sư phụ cháu bảo đó là nơi con hổ mài móng vuốt.
Còn tôi thì lại kể cho sư thúc tôi nghe chuyện hai thầy trò tôi bị giam ở trại cải tạo cải cách ruộng đất. Rồi đi ngược thời gian, tôi kể cho sư thúc nghe giai đoạn sư phụ tôi bị giam ở nhà giam “Đơ Bê” phố huyện. Kể cả cái hôm ông già Xuân và tôi dùng chiếc xe bò chở xác, đưa sư phụ tôi từ phố huyện về chùa. Lúc kể chuyện lại hiện ra trước mắt tôi cái xe bò lộc cộc nhảy tưng tưng trên con đường tỉnh lộ bị đào bới trong tiêu thổ kháng chiến thời chống Pháp. Sư thúc Vô Trần gật gù:
- Mấy tháng trước, ta nghe tin có một nhà sư đi bộ đội ta lấy làm ngạc nhiên, về sau mới biết thêm nhà sư ấy tu hành ở chùa Sọ, lúc ấy ta không ngạc nhiên nữa. Bởi vì ta hiểu sư huynh ta là người như thế nào. Trong chống Pháp, ông ấy giúp đỡ kháng chiến rất nhiều không lo đến sinh mạng của mình. Do vậy, ông ấy cho cháu đi bộ đội, ta không lấy làm lạ. Và cũng vì thế, ta rất tin ở cháu.
Dần dần, trong cuộc tiếp xúc, tôi quên đi sự e ngại đối với ông Trần lúc nào không biết. Thậm chí tôi còn dám hỏi:
- Thưa chính ủy, con nghe người ta nói về việc chính ủy tham gia cách mạng có lắm điều lạ kỳ. Xin chính ủy kể lại cho con nghe một đôi điều.
Ông Trần hiền từ mỉm cười:
- Ta hiểu ý con rồi. Điều lạ kỳ con nói chắc là chuyện ta là một nhà tu hành đã biến thành một chính ủy chứ gì? Ta là một chàng trai Hà Nội, ở phố Hàng Chiếu, gần chợ Đồng Xuân. Ta đang học trung học thì một chuyện xảy đến làm thay đổi hoàn toàn đời ta. Nguyên do là ta hay đi lễ chùa cùng với mẹ ta. Cụ là một phật tử thuần thành. Là học sinh trường Bưởi, ta lại chăm đọc đủ loại sách, cho nên đầu óc ta luôn có những ý nghĩ ám ảnh. Có lúc ta mơ mình sẽ là một nhà khoa học giỏi. Nhưng chỉ một tháng sau đó, ta lại nghĩ mình sẽ là một nhà cách mạng. Ta rất dễ xúc động, dễ đam mê mà đã mê cái gì thì mê đến cuồng dại. Vì thế cho nên khi được mẹ đưa đến chùa Ổi ở phía Nam Hà Nội, được ngửi mùi hương giải thoát của nhà Thiền, ta đâm mê mẩn ngay. Điều ấy không có gì là lạ. Sư phụ ta, sư cụ Vô Chấp là người uyên bác. Thầy ta rất lo cho ta vì ta vừa thông minh lại vừa nhiệt tình, thứ nhiệt tình quá mức lúc nào cũng như lửa cháy. Cụ Vô Chấp bảo: “Con là người đam mê và nhạy cảm. Điều đó sẽ cản trở trên con đường giải thoát, thậm chí sẽ đẩy con vào những bước gập ghềnh. Ngay cả dạo đầu, lúc con trốn nhà đi tu, ta cũng cảm thấy lo lắng”. Chính vì quá lo lắng cho ta nên sư phụ mới giao ta cho sư huynh Vô úy. Bởi vì sư huynh là người uyên thâm đạo Pháp, trình độ đủ cao siêu để dạy ta, chế ngự ta. Thực ra chính sư huynh là thầy của ta. Những hiểu biết của ta đều do sư huynh truyền bảo. Cả sự trui rèn tính cách cho ta cũng vậy. Khi ta quyết định lấy vợ, ta tưởng ông sẽ thất vọng và đùng đùng nổi giận. Song ông chỉ nhẹ nhàng nói với ta: “Tức là sư đệ còn nhiều nghiệp phải trả. Đã là nghiệp thì trốn cũng không nổi. Phải trả cho bằng xong. Sư đệ hoàn tục không phải là điều xấu. Chỉ xin đệ luôn nhớ tới sự dạy dỗ của sư phụ. Nhất là nhớ tới bốn chữ trên bức hoành phi: Tùy duyên, lạc đạo. Ta tùy duyên sống theo hoàn cảnh, nhưng đừng quên hai chữ “lạc đạo”. Còn tại sao ta lại đi theo cách mạng ư? Lúc còn trẻ, sở dĩ ta theo đạo Phật bởi vì đạo Phật nói đến nỗi khổ của kiếp người, và tìm cách giải quyết nỗi khổ. Đó là con đường bát chánh đạo và lòng từ bi vô bờ bến. Đạo Thiên chúa cũng muốn giải quyết nỗi đau khổ bằng tình yêu thương. Đó là tính nhân bản vĩ đại của các tôn giáo lớn. Đó cũng là sự hấp dẫn của các tôn giáo. Trong thời hiện đại, cách mạng cũng muốn giải quyết nỗi đau khổ của con người. Và chính nó cũng tạo ra sự hấp dẫn của cách mạng. Vì thế nhiều người nói, trong thời hiện đại, cách mạng gần giống như một tôn giáo. Nói chung, cả Phật giáo, Thiên chúa giáo và Cách mạng đều cố công xây dựng Thiên Đường. Nhưng Thiên Đường của Thiên chúa thì sau khi chết mới biết. Cõi Tây phương cực lạc của Tịnh độ tông
thì trong tương lai mới xuất hiện. Còn cõi Niết bàn của Thiền Tông thì quá ư phức tạp, chỉ những bậc đại trí thức may ra mới hiểu nó ra sao và ở đâu. Riêng Thiên đàng của Cách mạng thì cụ thể hơn. Điều cơ bản khác nhau giữa hai nhóm xây dựng thiên đàng ấy là nguyên lý xây dựng. Những người tôn giáo dựa trên tình yêu thương, lòng từ bi. Những nhà cách mạng dựa trên đấu tranh bạo lực. Người ta bảo Phật giáo xóa bỏ hận thù dùng lòng từ bi đã hai nhăm thế kỷ, còn chúa Jêsu rao giảng tình yêu thương đã hai mươi thế kỷ, thế mà con người vẫn sống trong đau khổ không có chút thay đổi. Vậy thì phải đảo ngược lại. Phải dừng bạo lực để xây đời mới. Ta đã là một nhà sư nên ta biết lòng từ bi của đức Phật thật vĩ đại. Nó làm con người trở nên có văn hóa, trở thành con người đích thực. Tuy nhiên, hình như nó chỉ áp dụng được ở bình diện cá nhân con người. Còn ở bình diện một cộng đồng, một quốc gia thì sao? Chế độ thống trị thực dân là một vết nhơ của loài người. Thánh Gandhi đấu tranh bằng bất bạo động mà thực dân Anh có lay chuyển đâu. Chưa thấy một nước thực dân nào thương xót dân thuộc địa mà tự nguyện từ bỏ quyền lợi thuộc địa của mình. Này, cháu đã bao giờ nghe chuyện đức Phật và ông Ananđà cùng những chiếc lá chưa nhỉ? Chưa phải không? Thế này nhé. Ananđà là thị giả, đệ tử thân tín của đức Phật. Đêm, ngày, ông luôn ở sát bên đức Thế Tôn. Một hôm, hai người đi dạo trong rừng. Đức Phật cúi xuống, nhặt mấy chiếc lá khô cầm lên tay. Đức Phật hỏi:
- Này Ananđà, ngoài những chiếc lá ta cầm trên tay, còn có những chiếc lá nào không?
Ananđà trả lời:
- Mùa thu đã về, lá rơi rụng khắp nơi. Người ta không thể nào đếm xuể.
Đức Phật liền bảo:
- Thế đấy! Ta đã cho con một nắm chân lý. Nhưng ngoài chúng ra, vẫn còn muôn vàn chân lý khác không tài nào đếm xuể.
Nghe qua câu chuyện cứ tưởng như sư thúc chẳng đả động gì đến vấn đề của tôi. Nhưng thực sự ra không phải. Ông đã nói tới những chuyện cốt lõi nhất. Ông muốn thuyết phục tôi bằng cả những lời của đức Phật. Tôi chưa đủ trí tuệ và kiến thức để tranh luận với sư thúc, nhưng tôi cũng đủ hoài nghi để đưa ra những câu hỏi, bắt sư thúc tôi phải vắt óc biện luận và làm cho đầu óc tôi được rộng ra. Tôi hỏi:
- Con được nghe nói rằng bạo lực rất có hiệu quả trong việc phá hủy, nhưng nó không biết xây dựng.
Sư thúc Vô Trần nhíu mày lại nhìn tôi.
-  Đúng là lịch sử được viết nên nhiều khi bằng những con sông đỏ máu và những cánh đồng mênh mông phơi xác người chết. Nhưng ngoài chuyện giết chóc ra con người vẫn trồng bông dệt vải, trồng lúa tỉa ngô. Và con người vẫn yêu nhau, vẫn ca hát, làm thơ. Cái ấy người ta gọi là văn hóa. Một dân tộc có thể phát triển nhưng cũng có thể bị tàn lụi. Có nhiều nguyên nhân tàn lụi. Có thể do thiên tai, dịch bệnh. Có thể do đạo lý suy đồi, đời sống trác táng. Một dân tộc có thể do cần kiệm khắc khổ mà hưng thịnh nhưng rồi sau đó sinh ra kiêu ngạo, xa hoa hưởng lạc, rồi tàn bạo bất công mà bị tiêu diệt.
Còn dân Việt ta, chúng ta luôn ở bên bờ vực, mấp mé bị tiêu diệt do nạn ngoại xâm. Nạn ấy xảy ra hết đời này qua đời khác. Để chống lại bạo lực xâm lược hủy diệt ấy, chẳng có cách nào khác là phải dùng phản bạo lực tự vệ. Cháu hiểu rồi chứ. Ngay cả đức Trần Nhân Tông, Phật hoàng cũng đã phải hai lần chống quân Nguyên, đã hai lần nhúng tay vào máu quân thù. Nhưng sau khi giặc tan... Có sao đâu... hai bàn tay nhúng máu lại sạch tinh, người lại là đệ nhất tổ thiền phái Trúc Lâm. Cháu ơi! Người ta gọi đó là sự sát sinh cần thiết... Nào, bây giờ cháu đã hiểu ta chưa?
Trong cuộc nói chuyện ấy, câu hỏi cuối của tôi lại mang tính chất một câu phỏng vấn:
- Hiện nay sư thúc là chính ủy. Xưa kia chú là nhà sư. Vậy hiện đời sống cũ ở nhà chùa có còn ảnh hưởng gì đến chú hay không?
Chính ủy của tôi bỗng cười ha ha và trả lời tôi bằng một câu nói mà tôi cho là khá thú vị:
- Câu hỏi của cháu rất hay. Đầu tiên chú phải nói với cháu một cách chung chung đã. Không phải người Việt nào cũng hay lên chùa. Nhưng dù có đi chùa hay không, bất cứ người Việt nào cũng có chút Phật giáo trong huyết quản. Tại sao chú lại dám nói như vậy. Bởi vì bất cứ làng nào ở quê ta cũng đều có cả đình và chùa. Đấy là chùa làng. Thậm chí còn có chùa thôn, chùa xóm. Đàn ông thì tụ họp với nhau ở đình. Còn chùa là nơi sinh hoạt của các bà các chị. Có thể nói hầu hết các bà mẹ đều được thấm nhuần văn hóa Phật giáo. Người mẹ nào cũng dạy con “tu nhân tích đức” rồi “ác giả ác báo”, rồi “ở hiền thì lại gặp lành, ở ác gặp dữ tan tành như tro”. Thế đấy. Rõ ràng đứa bé chẳng đi chùa. Nhưng văn hóa Phật giáo đã thấm đẫm vào nó từ thuở ấu thơ. Người mẹ là người lưu truyền những chủng tử của Phật vào tất cả người con đất Việt.
Còn tư tưởng của chú bây giờ ra sao ư? Có còn chút dấu tích chùa chiền nào mà thời gian chú đi tu còn sót lại không ư? Đó cũng là câu hỏi của một đại tá, bạn chú, hôm qua đã hỏi chú... Lạ thật! Thỉnh thoảng lại có người nhắc đến chuyện xưa ở chùa của chú. Cứ như thể nó là một dấu vết mà người ta không muốn nó phôi phai đi. Cháu sẽ cũng như chú. Nếu sau này cháu trở thành một người cách mạng chuyên nghiệp, thì cháu sẽ hiểu thế nào là một dấu vết của quá khứ. Có thể ảnh hưởng của dấu vết ấy là tốt đẹp nhưng người ta sẽ chẳng bao giờ đếm xỉa đến điều tốt lành ấy. Cái ông bạn đại tá đã đưa ra một câu hỏi na ná như của cháu. Cháu có biết chú trả lời thế nào không. Chú nói: “Tôi chưa hề bao giờ giấu giếm mình đã là một nhà sư. Cũng như dân tộc mình chưa hề bao giờ chối bỏ rằng thời Lý - Trần, chúng ta đã từng là một dân tộc Phật giáo. Có thể nói những giá trị Phật giáo đã đóng góp rất lớn vào việc hình thành tính cách Việt. Con người văn hóa là con người hướng tới sự cao thượng. Mà từ, bi, hỉ, xả là bốn đức hạnh cao thượng của Phật giáo. Phật bảo bốn điều cao cả ấy lúc nào cũng có sẵn và còn ngủ trong từng con người. Chỉ cần đánh thức chúng dậy thôi. Tôi đi theo cách mạng mấy chục năm nay. Tôi thấy cách mạng cũng cần bốn đức hạnh ấy, vì cách mạng nói mình đại diện cho văn hóa dân tộc. Bản thân tôi lúc nào cũng vun trồng bốn điều cao cả ấy. Đó là ảnh hưởng của quá khứ nhà chùa mà tôi sẽ còn gìn giữ mãi”.
 
Tôi cũng không ngờ sư thúc của tôi, đã là một chính ủy mà vẫn còn những tâm sự như vậy. Huống chi tôi. Tôi càng hiểu hơn lẽ vô thường mà Phật đã dạy. Luật vô thường chẳng trừ một ai. Kể cả lúc ta ở ngôi cao chức trọng. Cuộc đối thoại đã chuyển thành cuộc tâm sự. Mà tâm sự thì kéo gần con người lại với nhau hơn. Phải chăng vì thế nên sư thúc tôi nói:
- Có thể cháu mới chuyển sang đời sống thế tục, còn chưa thích ứng kịp. Cháu có cần chú giúp đỡ không? Ví dụ chuyển cháu sang một công tác khác chẳng hạn. À, chú rất thích món canh ốc nấu chua của cháu. Cháu có thể về đây làm công việc trực điện thoại, làm cần vụ cho chú.
Tôi vội vàng cám ơn và từ chối khéo lời đề nghị của sư thúc. Không phải tôi kênh kiệu gì mà chi vì tôi nhớ lời sư phụ tôi dạy khi hai thầy trò tôi bị bắt giam.
- Khi ta bị rơi vào một hoàn cảnh trớ trêu nào đó. Hãy gắng chịu đựng. Đó là cái nghiệp mà ta phải trả. Không ai trốn chạy được nó. Không trả không xong. Thậm chí ta còn phải cám ơn sự khổ cực mà ta phải trải qua. Bởi vì qua đó ta hiểu được nỗi đau khổ của thế gian này sâu sắc hơn. Hiểu được ý nghĩa cuộc sinh tử trong trần gian là một việc lớn. Và ở đời không một việc lớn nào mà lại dễ dàng cả. Con hồ ly của sư Bách Trượng phải trải qua năm trăm kiếp làm loài chồn hoang mới hiểu được lẽ sinh tử.
Tôi để ý nét mặt của sư thúc biến đổi trong cuộc đối thoại. Ông là người không giấu được cảm xúc, nhất là những tình cảm hưng phấn, nhiệt tình. Ông có giọng nói ấm cúng, thuyết phục và hùng biện. Sự thay đổi trên gương mặt làm ông trông rất sinh động, và lôi kéo người nghe nhập cuộc, cùng hòa mình vào tham dự cùng với tư tưởng của ông. Khi tôi từ chối lời đề nghị, tôi thấy nét mặt ông thoáng hiện vẻ hài lòng. Điều ấy làm tôi suy nghĩ. Có phải ông không chân thật, ứng xử một cách xã giao? Tôi ngẫm nghĩ thấy không phải vậy. Ở điểm này, ông rất giống sư phụ tôi. sống dựa vào người khác là một điều thầy tôi rất ghét. Thầy tôi thường bảo:
- Đừng đi tìm ở đâu xa. Hãy dựa vào mình. Hãy tìm trong bản thân mình. Ở đấy có đủ hết. Những điều cao đẹp ư? Hùng tâm tráng khí ư? Sở dĩ đạo Phật hấp dẫn người ta đến hôm nay, một phần cũng nhờ vào điều đó. Hãy tự trải nghiệm. Hãy tự tìm đức Phật trong bản thân ta.
Ý nghĩ trên chắc sư tổ Vô Chấp đã dạy. Và sư phụ tôi, sư thúc tôi vẫn giữ. Không biết đến bây giờ nó còn ảnh hưởng đến chính ủy Vô Trần không? Trong cuộc nói chuyện hôm nay, có một câu của sư thúc làm tôi rất suy nghĩ:
- Trong chiến tranh, để chiến thắng, đừng tưởng người chiến sĩ chỉ cần dũng cảm. Nó còn đòi hỏi sự thông minh. Một dân tộc muốn giành tự do, rất biết cái giá bằng máu mà nó phải trả. Khi đã tự do rồi, chắc chắn nó sẽ đủ thông minh và biết dùng sự thông minh để xây dựng và bảo vệ đất nước mà mất bao xương máu mới có được.
Trong khung cảnh một khu rừng, dưới một căn hầm, xa xa vẫn vẳng nghe thấy tiếng đạn pháo và tiếng bom, ông Trần mắt sáng quắc nói với tôi sang sảng như nói trước hàng quân. Tôi thấy ông có một niềm tin tự cường của một người phật tử. Cộng vào đó là niềm tin của một người cách mạng. Phải nói hình ảnh của ông lúc đó làm tôi xúc động.
Đôi mắt sáng của ông một lúc sau mới dịu đi được khỏi cơn phấn khích. Rồi, đột nhiên ông chuyển đề tài. Có lẽ đó là đề tài mà tôi thích nghe hơn cả.
-  Cái Huệ nó đã vào đây. Chắc cháu biết rồi chứ.
Dạ...
-  Trong thư gửi chú, nó hỏi thăm cháu. Chỉ mới cách đây nửa tháng, đơn vị dưới báo cáo về tình hình của cháu, chú mới để ý và biết cháu là người chùa Sọ. Chú liền báo tin cho cái Huệ biết. Thế nó đã gửi thư cho cháu chưa?
-  Dạ chưa.
-  Các cháu là bạn thân cùng đi học thầy Hải từ ngày xưa?
-  Dạ, vâng.
-  Thế thì chú đặc cách cho cháu đến thăm nó đấy. Cái Huệ đang ốm. Mà chú thì không thể đi được. Việc đơn vị ngập đầu ngập cổ. À, người ta còn báo cáo, trong bận đi lấy gạo bị phục kích, cháu bị một mảnh đại bác vào vai vẫn chưa lấy ra được. Thôi, nhân tiện kỳ này cháu đến Trạm Quân y 7, nơi Huệ làm việc, rồi lấy ra luôn.
Sáng hôm sau, sương mù dày đặc. Bình minh Trường Sơn muộn quá. Chính ủy xem đồng hồ tay. Rồi kêu lên:
-  Ôi chao! Đã chín giờ rồi!
Mặt trời lúc này mới chịu nhô lên khỏi dãy núi, lấp ló sau màn sương đục. Ánh sáng và sương trắng đùa giỡn nhau, tạo ra một bầu trời và quang cảnh núi non cực kỳ mỹ lệ. Thiên nhiên như một họa sĩ vẽ rồi lại xóa. Gió thổi, sương tan. Một đám mây xa xa được ánh mặt trời núp ở phía sau biến thành một đám mây ngũ sắc. Dãy núi màu xanh sẫm bỗng nhiên đổi màu. Cả một vạt rừng bao la bỗng long lanh, cánh rừng như được nhìn qua một chiếc kính vạn hoa.
Núi chuyển màu, mây đổi sắc. Thoắt hiện thoắt biến kỳ ảo.
Chính ủy giơ cánh tay:
-  Cậu có nhìn thấy cây chò trên ngọn núi trước mặt không?
Cây chò ấy vươn lên khỏi khu rừng. Ở vùng ấy nó là cây cao nhất. Người ta bảo cây chò hơn trăm tuổi. Trạm quân y của Huệ ở chính quả núi ấy. Cứ nhắm cây trò ấy mà đi là tới. Trông gần thế thôi, nhưng cũng phải ba bốn chục cây số.
Cái ba lô sau lưng tôi nặng trĩu. Chính ủy bỏ vào đấy hộp thịt, hộp sữa chiến lợi phẩm làm quà cho con gái. Tôi leo đèo lội suối, hỏi thăm đường đến xế chiều thì tới nơi.
Trạm quân y nằm dưới muôn vàn tán lá. Những vòm lá rậm rịt giấu kín những tán lá. Giả dụ máy bay trực thăng địch bay ngay trên đầu dùng cánh quạt quạt thốc lên cho những tán lá ngả nghiêng xiên vẹo cũng chịu không thể phát hiện được những gì xảy ra dưới đất, bởi vì không phải một tầng mà là hai ba tầng lá che chồng lên nhau. Đại úy trạm trưởng bảo tôi:
- Chị Huệ y sĩ của chúng tôi bị sốt rét ác tính nằm ở lán số 6 cuối dãy. Bị đã mười ngày rồi.
Tôi đến lán số 6. Thấy tôi Huệ tíu tít:
- Anh An thiêng thật. Đêm qua em vừa mới mơ thấy anh thì hôm nay anh đến.
Nói xong, Huệ rơm rớm nước mắt.
-  Sao Huệ lại khóc?
- Chiều hôm qua, chúng em chôn chị Thủy. Chị cũng bị sốt rét ác tính như em. sốt cao quá đến nỗi phát rồ phát dại. Nhiệt độ liên miên 40 độ, 41 độ. Lúc tỉnh lúc mê. Suốt đêm ngày đòi đi xây dựng đài vinh quang. Mắt lúc nào cũng sáng quắc như có điện. Tiêm bao nhiêu ký ninh vào người đến nỗi hai tai điếc đặc. Lúc sắp chết lên cơn co giật. Ba người lực lưỡng đè xuống mà vẫn giật lên đùng đùng. Khổ thân chị ấy. Chồng là đại úy đặc công hoạt động ở vùng đồng bằng Nam Bộ. Có lúc tỉnh, chị ấy bảo em: “Chắc tao chết mất. Lúc cưới nhau, anh ấy tặng tao chiếc nhẫn. Mày giữ hộ tao rồi trao cho anh ấy và nói hộ tao rằng tao giải lời nguyền cho anh ấy. Bao giờ lấy vợ mới trao cái nhẫn này cho cô ta. Ở dưới cõi âm tao sẽ phù hộ cho”. Lúc đưa ma chị Thủy, em khóc như mưa như gió. Và không hiểu sao, thế là ban đêm em lại chỉ mơ thấy gặp anh. Mơ tới hai lần gặp anh. Kỳ lạ thế! Tỉnh dậy em khóc, vì cứ nghĩ là anh đã làm sao. Bởi vì anh có làm sao thì hồn mới hiện về đến hai lần để gặp em như thế.
 
Huệ thổ lộ về giấc mơ với tôi xong, hai tai và gò má ửng hồng. Tôi cũng không thể ngờ là Huệ lại nghĩ đến tôi nhiều thế. Chú Trần là người thân thiết nhất của Huệ đáng lẽ Huệ phải nằm mơ thấy chú, chứ sao lại là tôi. về sau này nghĩ lại tôi cứ mắng mình: “Có thế mà cũng không hiểu. Rõ đồ ngốc”.
Tôi mở ba lô, lấy ra mấy hộp thịt, hộp sữa chiến lợi phẩm của chú Trần:
- Những thứ này chú Trần gửi cho em. sắp vào trận đánh ông già không đến được. Em cất đi. Hết sốt đem ra bồi dưỡng. Còn mấy ngày tới, em không lo. Anh đã nhìn thấy những thứ bồi dưỡng cho người ốm rồi.
 
Chẳng là trên đường vào đây, tôi đã thấy một con suối. Đúng ra là một thác nước chảy từ trên núi xuống. Nó tạo nên một cái ao nhỏ chừng hơn mười mét vuông nước trong văn vắt. Tôi đã xuống đó ngâm mình dưới làn nước lạnh. Quanh vũng nước và bên suối toàn là đá. Nhưng cách suối chừng mười mét là đất thịt, cỏ mọc xanh rì. Nhìn đám cỏ, tôi chợt phát hiện có một vùng bị giẫm nát. Lúc lên bờ, tôi tò mò đến nơi quan sát. Toàn là vết chân của một loài móng guốc. Tôi không thạo rừng nên không biết đó là vết chân của hươu nai, hay là hoẵng, là bò rừng. Nhưng điều chắc chắn mà tôi nhận biết: đó là thú rừng thường đến đây uống nước.
Ở lán số 6 ra, tôi đến gặp đồng chí trạm trưởng quân y. Sau khi nghe tôi trình bày, chị đại úy nói:
- Anh định đi săn đêm à? Tốt thôi. Mấy tháng trước có đồng chí thương binh cũng hay săn đêm. Nhờ đó, thương bệnh binh ở đây được cải thiện tốt. Nhưng anh ấy đã phục hồi sức khỏe, quay trở về đơn vị chiến đấu. Trạm sẽ cho đồng chí mượn một khẩu AK. Có cả đèn ló nữa.
Đêm hôm ấy, tôi một mình ra bờ suối. Tôi tìm một chỗ nấp kín đáo sau một tảng đá, nhìn xuống vũng nước. Đó là quãng rừng thưa ở chân núi. Tôi im lặng nằm chờ nghe tiếng rừng đêm. Nền âm thanh là nước chảy rì rào, lá rừng xào xạc. Trên dòng suối, lũ nhái rừng được sự lặng im cổ vũ, cất tiếng khoe giọng gọi tình râm ran cả một góc rừng. Thỉnh thoảng một con chim đêm vỗ cánh, một con tắc kè lên tiếng như thể cũng muốn tham gia vào dàn đồng ca bất tận. Một con chim lợn, có lẽ tổ ở hang vách núi, từ trên cao bay xuống cất tiếng kêu đều đều, nghe rờn rợn. Hóa ra ở rừng cũng có loài chim mà người ta nguyền rủa ấy. Nó làm tôi lại nhớ tới ngôi chùa Sọ. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi đi săn. Cũng là lần đầu tiên tôi có ý định sát hại sinh vật. Đã có ai là người tu hành mà đi săn nhỉ. Có lẽ là lục tổ Huệ Năng. Lục tổ sau khi được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn trao truyền y bát, đã phải trốn chạy xuống phương Nam, vì bọn xấu đuổi theo định cướp y bát. Lục tổ Huệ Năng phải đi theo những người thợ săn suốt mười lăm năm ròng. Đến bữa, người thả nắm rau vào nồi luộc thịt, và chỉ ăn nắm rau ấy thôi.
Còn cái hồi hai thầy trò tôi bị giam ở trại cải tạo, thầy tôi đã mắc bệnh lỵ rất nặng, ỉa ra toàn máu. Về sau, bệnh quá nguy cấp, không đi ngoài, máu cũng tự động chảy ra từ hậu môn. Chính Trắm đã cứu sư cụ. Nó cho thầy tôi uống nước luộc thịt. Nước thật đặc rất nhiều chất đạm.
Đúng! Quả là hiệu nghiệm. Bệnh lỵ của thầy tôi, sau lần ấy tự nhiên khỏi hẳn. Như là uống thuốc tiên vậy.
Cho nên, khi gặp lại Huệ, thấy Huệ gầy gò chỉ còn da bọc xương, môi thâm xịt, da tái ngoét, tôi chợt nghĩ tới bệnh lỵ của thầy tôi ngày xưa. Chính vì thế, tôi mới quyết định đi săn. Tôi nghĩ có thể tôi đã sai. Nhưng nếu vì việc làm sai này mà Huệ khỏi bệnh thì tôi cũng cam lòng.
Tôi đang mải nghe tiếng rừng đêm và lan man lạc vào những suy nghĩ hồi ức, thì bỗng rùng mình. Cảm giác như có ai đang lén nhìn vào khối óc mình. Tôi nhìn xuống vũng nước và bỗng giật mình. Lúc trước nó đen sì, bây giờ nó trắng xóa. Như có ai vứt bạc xuống nước làm cho nó trở nên lóng lánh. Ô, hóa ra trăng đã lên từ lúc nào chẳng hay. vầng trăng đang rung rinh dưới nước. Nhưng mà chẳng phải chỉ có trăng lên là điều ngạc nhiên. Còn có điều gì đó mà tôi cảm thấy trong không gian. Bởi vì... bởi vì không gian đang run rẩy bỗng dưng bặt lặng. Những con nhái đang say sưa ộp oạp đã bặt tiếng tự lúc nào không biết. Rồi nghe thấy những tiếng lủm tũm của chúng từ những búi cỏ nhảy xuống nước. Một mùi gì khác lạ lẫn trong gió. Còn mơ hồ dấy lên những tiếng động lạ. Tiếng động lạ mỗi lúc một rõ. Tiếng phì phì của hơi thở. Tiếng lắc đầu của một con vật làm cái tai đập vào da thịt. Tôi vội nín thở, căng mắt ra, hồi hộp chĩa súng vào vũng nước. Mắt tôi đã nhìn thấy một con vật to lù lù đang đứng trên phiến đá phẳng. Con vật ngước đầu lên. Mặt nó phản chiếu ánh trăng. Không biết hươu hay là nai. Tôi nhắm giữa ức nó rồi nín thở bóp cò. Tiếng nổ vang lên chát chúa. Con vật hộc lên mấy tiếng chạy sang phía phải. Nhưng chỉ chạy được vài bước, nó ngã lăn trên bãi cỏ non.
Tôi từ chỗ nấp chạy xuống. Chiến lợi phẩm của tôi là một con nai to gần bằng con bò ba tuổi. Tôi vội bắn lên trời ba phát súng như quy ước với chị đại úy. Đó là tục lệ của người đi săn. Tất cả bản sẽ có mặt ở đây trong chốc lát để chia phần. Ở đây không phải là dân bản mà là trạm quân y. Tất cả bác sĩ, y tá, hộ lý, thương binh sau mười lăm phút đều tìm đến nơi nổ súng. Giống như đám mổ trâu, người ta nhanh chóng lột da con vật, trải rộng tấm da làm chiếu. Rồi pha thịt, chặt xương ngay trên tấm da ấy.
Sáng hôm sau, Huệ được bồi dưỡng một bát cháo tim gan đặc biệt. Cháo ngọt chưa từng thấy. Nóng bỏng lưỡi và thơm phưng phức. Huệ kêu đắng miệng mấy hôm không chịu ăn, mà sáng hôm ấy cũng húp gần hết bát cháo to. Phần thịt săn được chia của Huệ, vì có khách là tôi, nên được chia một tảng thịt nạc ngon chừng ba kilôgam. Tôi hì hục làm ruốc để dành cho Huệ ăn dần. Rồi còn cả một niêu thịt rim. Bữa sáng hôm ấy tôi làm món thịt nạc nấu canh chua. Huệ ăn cứ khen nức nở.
- Hồi bé, em thích nhất món này. Mẹ nấu, em cứ khen còn ngon hơn ăn cỗ. Anh nấu ăn cũng khéo thật đấy. Món này mẹ nấu em cho điểm 9. Còn anh, em cho điểm 10.
Tôi cười.
- Điểm 10 em cho anh chỉ dám nhận 5. Còn 5 phần là nhờ thịt nai tươi. Thịt thú rừng bao giờ cũng thơm và ngon ngọt hơn thú nuôi trong nhà.
Huệ cũng bẻo lẻo không kém:
-  Sở dĩ em cho anh hơn mẹ 1 điểm. Đó là điểm tình cảm.
Tôi ngớ ra.
-  Tình cảm nghĩa là thế nào. À... à...
Vì có cái đuôi đằng sau. À... à... nên Huệ đoán ngay ra ý nghĩ trong đầu tôi. Cô rất nhanh trí, chữa luôn.
- Đừng tưởng bở nhé. Tình cảm nghĩa là: bát canh của anh làm cho em nhớ tới mẹ. Khen là chỉ khen cái điểm ấy thôi.
Nói xong, Huệ ngồi thần người ra một lát. Rồi cô bùi ngùi:
- Em cảm ơn anh. Đúng là em nghĩ tới mẹ. Mẹ chết oan uổng quá. Và kể từ khi mẹ chết, em chẳng được ai chăm sóc như... như là hôm nay.
Không hiểu sao lời nói của Huệ làm tôi trở thành ngượng nghịu. Huệ còn nói:
- Lạ thật anh An ạ. Thông thường người ta hay ghi nhớ những kỷ niệm. Với mọi người, kỷ niệm là những chuyện quan trọng, đặc biệt, thậm chí vĩ đại. Riêng em, em chỉ hay nhớ tới những bữa ăn. Mọi việc vui buồn em thường quên hết, hay là không muốn nghĩ tới. Riêng kỷ niệm về những bữa ăn đặc biệt thì em nhớ như in. Ví dụ cái bận em đi chăn trâu với anh Trắm, cái Rêu. Hồi ấy đang mùa cà cuống đẻ. Chúng em đi bên bờ ruộng nhìn những gốc lúa. Gốc nào có trứng cà cuống đẻ ở mấp mé nước, thì ngồi xuống, lấy ngón tay búng khẽ tùm tũm trên mặt nước. Lập tức những con cà cuống nằm ở dưới bùn tưởng có con gì ăn trứng liền ngoi lên mặt nước bám vào ngón tay. Ta chỉ còn việc tóm ngay lấy. Hôm ấy bắt được hơn chục con. Đốt lửa lên rồi nướng. Ôi chao! Thơm và ngọt. Cái Rêu lần đầu ăn cà cuống nướng cứ khen nức nở. Tro than đen nhẻm mồm miệng. Trông nó như con quỷ con. Đó là bữa ăn đáng nhớ.
-  Còn bữa thứ hai đáng nhớ?
- Là cái bữa anh lên trường y sĩ thăm em. Đố anh hôm ấy chúng mình ăn gì nào?
-  Làm sao mà anh quên được. Cơm nắm muối vừng.
- Phải nói vừng đen mới chính xác. Bữa ấy muối vừng bám quanh môi. Trông anh cũng như con quỷ chẳng khác gì cái Rêu.
-  Thế còn bữa thứ ba.
- Là bữa thịt nai hôm nay. Anh không thấy nó đặc biệt hay sao? Em đố nó đặc biệt thế nào? Anh phải tìm ra những đặc điểm của nó, mới có thể nhớ lâu.
-  Anh chịu.
- Ngốc ơi là ngốc. Nó gồm những đặc điểm như sau: Thứ nhất: Con nai do anh đi săn, mà lại săn đêm. Thứ hai: Anh nấu canh thịt. Nấu chua. Mà lại là lần đầu tiên anh tập nấu. Thứ ba: Em khen cho anh điểm 10. Thế nào. Đã nhớ được chưa?
 
Đấy! Câu chuyện giữa tôi với Huệ là thế đấy. Toàn những chuyện vớ vẩn không đâu vào đâu.
Mai tôi sẽ trở về đơn vị, cho nên hôm nay tôi ngồi với Huệ suốt ngày, lúc thì giã ruốc, lúc thì chuyện gẫu. Nhớ lại bao nhiêu chuyện hồi đi học lớp thầy Hải ở trường làng. Ngày xưa ấy, ngày nào hai đứa chả gặp nhau. Huệ là đứa con gái nhu mì, hiền hậu. Tôi cứ nghĩ cô bạn gái thời thơ ấu của tôi mềm yếu như một cây sậy. Tôi không thể tưởng tượng người bạn gái ấy có thể chịu đựng nổi những quằng quật bão tố của cuộc đời. Tôi không thể nghĩ rằng đã có lúc hai mẹ con cô đã nhảy xuống dòng sông Hồng hung dữ. Mẹ cô đã bị dòng nước dìm chết. Còn Huệ thì lang bạt mấy tháng trời, có lúc phải đi ăn mày ở thủ đô để tìm cha. Mười năm hai đứa không gặp nhau. Đến lúc biết tin nhau, lần gặp gỡ này là lần thứ ba, tôi thấy Huệ vẫn chẳng khác trí tưởng tượng của tôi mấy tí. Vẫn là cô gái nhu mì hiền hậu ngày xưa. Nhưng có lẽ Huệ có hai gương mặt. Đằng sau cái gương mặt nhu thuận ấy, còn ẩn tàng một gương mặt cứng rắn quyết liệt. Có lẽ gương mặt thứ hai ấy vốn tồn tại từ lúc thơ ấu mà tôi không biết đấy thôi. Chỉ đến lúc hoàn cảnh sinh tử xảy ra thì nó mới xuất hiện. Huệ bảo tôi:
- Cách lán số 6 này chừng năm mươi mét là cây chò hai trăm năm tuổi. Đứng cách xa vài chục cây số còn trông thấy. Ở gần gốc cây, em đào một cái hầm dài. Em bảo với các chị ở đây: “Đấy là hầm trú ẩn của em. Nhưng nếu chẳng may, lỡ ra em có hy sinh thì các chị cứ chôn em trong hầm ấy. Nếu chết, em chọn cây chò cao ngất này làm bia mộ”. Lát nữa, anh cũng ra mà xem để mà nhớ lấy phần mộ của em khi em hy sinh.
Tôi gắt lên với Huệ:
- Sao em nghĩ vớ vẩn thế. Anh không thích cái ý tưởng ấy của Huệ đâu.
- Nếu không thích cây chò làm bia mộ, thì hãy coi nó là cái cột đánh dấu chỗ ở của em. Em rất thích phong cảnh chỗ này. Dưới chân núi là suối là thung lũng. Trên núi thì toàn cây to. Đất ở đây lại tốt. Mình chỉ thích sau này hết chiến tranh làm cái nhà ở đây mà ở.
Tôi nói với Huệ.
- Ở Trung đoàn bộ nhìn rất rõ cây chò này. Đại đội anh cách E hơn mười kilômét chắc cũng nhìn thấy. Vậy bao giờ nghĩ tới em, anh cứ ra nhìn thấy ngọn cây chò, cũng coi như đã gặp em rồi. Còn bao giờ viết thư, anh sẽ đề địa chỉ là Trần Thị Huệ, Trạm Quân y Cây chò trăm tuổi. Không biết viết thế em có nhận được không nhỉ.
- Chắc chắn là được. Vì ở vùng này có ai không biết cây chò này.
Đang nói chuyện Huệ bỗng cảm thấy ngây ngấy, cơn sốt rét cách nhật đã đến hành hạ cô bạn tôi. Cái nóng đùng đùng ập đến. Trán Huệ như hòn than rừng rực.
Tôi vội vàng lấy mấy viên kí ninh thường xuyên giắt trong người bắt Huệ uống. Đến chiều tối cơn sốt vẫn không lui. Huệ định bỏ bữa chiều nhung tôi không cho. Tôi phải dỗ dành ép buộc cô ăn bát cháo. Phải bón cho Huệ từng thìa. Huệ kêu đắng nhưng rồi ép mãi cũng hết. Ăn xong, mồ hôi trên nguời Huệ vã ra nhu tắm. Chị đại úy trạm truởng khen tôi:
- Anh An dỗ cô Huệ khéo thật. Mọi khi lên cơn sốt, Huệ dứt khoát bỏ bữa không ăn. Chúng tôi dỗ thế nào cô ấy cũng chẳng nghe. Vì thế nên sốt nửa tháng, nguời mới gầy nhom. Da mới bủng beo ra.
Nghe chị đại úy nói, tôi xót xa trong lòng. Năm ngoái gặp Huệ ở Truờng Y sĩ, cô xinh đẹp biết nhường nào. Tóc muợt và đen láy, đôi má lúc nào cũng ửng hồng. Còn bây giờ, mớ tóc thì xỉn, nuớc da thì tái màu chì. Chỉ còn đôi mắt. Đôi mắt hình như to hơn xưa, nhưng chúng vẫn đen láy và sáng long lanh. Đôi mắt ấy nhìn tôi. Chúng gặp đôi mắt của tôi. Hình như chúng nhận ra sự xót thuơng từ đáy linh hồn của tôi. Chắc tia mắt của tôi vẫn giống hệt những tia mắt thời thơ ấu. Tôi không tự nhìn đuợc vào mắt mình nhưng tôi biết chắc chắn chúng là như vậy. Thuở ấu thơ, khi nhìn mắt Huệ tôi thuờng bắt gặp ở đấy sự tin cậy, tôi bảo đảm bây giờ, Huệ hoàn toàn có thể tìm lại đuợc tình cảm ấy. Thậm chí tình cảm ấy có thể còn sâu đậm hơn. Bây giờ chúng tôi đã lớn, sự thông cảm cộng thêm sự xót thương do hoàn cảnh đem lại chắc chắn là sẽ đậm đà, bởi vì chúng tôi đã là những con người có ý thức.
Hết cơn nóng, đến cơn rét. Tôi đắp chăn cho Huệ. Rồi lấy thêm tất cả những chăn thừa trong phòng đắp hết lên người cô. Thế mà Huệ vẫn run cầm cập. Tôi phải đốt thêm một đống củi ở cạnh giường nằm.
 
Sau những cơn mưa mấy ngày hôm trước, nhiệt độ trong rừng già Trường Sơn xuống dưới 20 độ. Đêm ấy có trăng. Đứng trong lán nhìn ra, sương mù ban đêm bắt ánh trăng trông như một tấm màn sữa mênh mông giăng khắp chốn. Mù mịt, nhìn không rõ cảnh vật chung quanh. Hình như có tiếng Huệ gọi. Tôi lập cập chạy vào:
-  Huệ bảo gì cơ. - Tôi hỏi.
Phải nghe mãi mới hiểu được yêu cầu của cô. Huệ muốn tôi dìu cô ngồi xuống gần bên đống lửa. Tôi xốc nách nhưng cô bước không vững. Tôi phải bế Huệ, như bế một em bé đặt cô gần đống củi.
Lửa rát cả mặt mà Huệ không thấy nóng. Tôi giở chiếc chăn trùm lên vai cô. Tôi hiểu ngoài cái nóng của đống lửa, Huệ còn muốn nương nhờ thêm vào cái nóng tỏa ra từ cơ thể tôi. Thú thực, Huệ muốn gì mà tôi chẳng phải chiều. Chỉ riêng ngày hôm ấy, tôi đã phạm hai giới luật của người tu hành. Thứ nhất là tội sát sinh: đã giết một con nai - một sinh linh đẹp đẽ của núi rừng. Thứ nhì là tội ôm một người khác giới trong đêm lạnh Trường Sơn.
Đêm hôm ấy, thú thật, hai chúng tôi hoàn toàn trong sáng, mặc dù hai đứa choàng chung một chiếc chăn và tôi ôm lấy nàng. Một lát sau tôi hỏi Huệ.
-  Em đã hết rét chưa?
-  Em vẫn còn rét.
-  Phải làm sao bây giờ?
-  Hãy ôm chặt em thêm chút nữa.
Trong vòng tay tôi, quả thực tôi cảm thấy Huệ vẫn còn run. Rồi cơn run rẩy dần dần dịu đi. Đầu Huệ ngả vào vai tôi lúc nào chẳng hay. Tôi bảo:
-   Huệ ngủ đấy ư?
-   Không. Em vẫn thức. Trong lòng hết run rồi An ạ.
-   Sao đầu em cứ dụi dụi, y như một con mèo.
-   Ứ. Em không là mèo.
Tôi chợt nhớ cuộc gặp Huệ ở Trường Y tế. Hôm ấy Huệ bảo tôi hay làm nũng. Tôi cười khẽ. Hôm nay tôi hỏi lại Huệ:
-   Chắc thuở sơ sinh em cũng khóc dạ đề như anh?
Huệ ừ ừ rồi nói:
-  Cứ gì phải khóc dạ đề mới biết làm nũng. Em còn biết có người thích được người khác làm nũng. Mà lại làm nũng suốt đời cơ.
Phật giáo có một sức hút tinh thần ghê gớm. Song đến lúc này tôi mới biết người đàn bà cũng có một sức hút gớm ghê chẳng kém. Và tôi chợt hiểu ra tại sao thời xưa, đức Phật lại dạy ông Ananđà rằng phải tránh xa người nữ.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.02.2018 23:39:40 bởi Ct.Ly>
Chương 7
Hai đối thủ
 
Một tháng sau khi anh Hạ từ trại cải tạo về, anh Tư Đờn làm một mâm cỗ mời Hạ đến nhà. Tư Đờn bảo:
-  Hôm qua cô Xim nhắc tôi mới biết hôm nay là ngày giỗ của cụ Xuân. Tôi ý định lúc nào thưa chuyện với anh nhưng chưa có dịp. Nay nhân ngày giỗ của cụ, vả lại mảnh đất này chính cụ Xuân là chủ sở hữu. Vậy nên, nói chuyện ấy nhân ngày giỗ cụ, lại trên mảnh đất của cụ, là điều phải quá đi mất.
Hạ ngơ ngác:
-  Anh định nói chuyện gì cơ.
-  Thì ta cứ hạ cỗ đã. Ngồi vào mâm, nâng chén rượu, rồi đàm đạo với nhau, nó dễ dàng hơn.
Sau khi đã nâng chén mấy lần, lúc ấy Tư Đờn mới nghiêm trang có ý kiến:
-  Câu chuyện chính là về mảnh đất này. Như tôi đã nói lúc đầu: Nó là của cụ Xuân. Anh là con ruột của cụ Xuân. Lẽ dĩ nhiên anh được thừa kế. Hôm nay là ngày giỗ của cụ, có vong linh của cụ Xuân trở về chứng giám. Tôi xin chính thức trao trả nó lại cho anh.
- Kìa! Sao lại thế. Con tôi anh nuôi. Vợ tôi anh nuôi. Anh ở trên mảnh đất này là phải chứ sao. Tôi một thân một mình, ở đâu mà chẳng xong. Còn anh nhà những ba người.
- Không được đâu - Tư Đờn giơ bàn tay rắn chắc chém vào không khí. - Anh đã nhường vợ con cho tôi. Thế là cho nhiều quá rồi. Chẳng lẽ cái lều của anh tôi cũng chiếm nốt. Vả lại tôi đã nghĩ kỹ rồi. Và anh em trong xí nghiệp cũng đã lo cho tôi rồi. Xí nghiệp nông cụ còn khối đất. Ban giám đốc đã đồng ý cho tôi một mảnh. Chủ nhật tới công đoàn sẽ dựng cho tôi một căn nhà tre. Vậy, ngày mai vợ chồng tôi dọn đi, ở tạm tại khu tập thể, chờ dựng xong nhà, sẽ dọn về nhà mới. - Tư Đờn còn tính toán giúp Hạ công việc. - Ngày mai, anh cũng phải dọn về, tiếp quản chỗ này. Anh chưa có công ăn việc làm. Tôi tính anh nên mở cửa hàng sửa chữa xe đạp. Phố ta chưa có hiệu xe đạp. Anh mở ra chắc sống được. Nhưng mà không hiểu anh có biết sửa chữa xe không?
-  Việc ấy tôi làm được.
 
Thế là từ đấy, phố huyện có cửa hàng sửa xe đạp của anh Hạ. Cửa hàng khá đông khách. Thời cải cách, đến đội trưởng Khoát, khắp vùng ai nghe đến tên cũng run cầm cập, thế mà Hạ cũng chẳng sợ hãi, dám cả gan ban ngày ban mặt tự tay đốt nhà rồi thản nhiên đi tù.
Đánh giá về con người mãn hạn tù trở về ấy, có hai luồng ý kiến. Người thì bảo đó là con người nguy hiểm, một kẻ không thể lường được. Nhưng cũng có người bảo Hạ là con người trọng nghĩa khinh tài. Xem như việc anh đối xử với ông bà trưởng bạ thì biết. Đang lúc cả xã hội không ai dám dây với gia đình địa chủ, thì riêng mình anh, Hạ lại bênh vực vợ chồng ông trưởng bạ. Thậm chí khi chị Xim vợ anh a dua với thiên hạ, thì anh tự tay đốt cái lều của mình không cho kẻ vô ơn trú ngụ.
Vào trại cải tạo, anh ở cùng với ông Phúc, một ông thầy tướng số, tự xem mình là “Thượng tướng chi sĩ” tức là ông thầy tướng số loại thượng đẳng. Một hôm Hạ hỏi ông Phúc:
- Tôi đã nghe nhiều người xem tướng cho tôi. Người coi tướng tay thì nói: Bàn tay tôi quăn queo sần sùi, màu sắc đỏ như máu. Đường trái tim không có. Nó hợp với đường trí não thành một đường. Người ta bảo đó là bàn tay chữ nhất. Họ bảo tôi có bàn tay của kẻ cướp hoặc của kẻ giết người. Thậm chí có ông tiến sĩ hiện đại còn nói: Tôi là kẻ siêu đực, trường hợp giết người bẩm sinh.
Nghe thế, ông thầy “Thượng tướng chi sĩ” giãy nảy lên:
- Láo toét! Rặt một lũ láo toét. Tướng số gì chúng nó. Trước hồi cải cách, tao chẳng phải đi đâu mà nhà tao lúc nào cũng nườm nượp người. Họ đến để xem tướng số. Xem tiền vận, hậu vận. Xem liệu cơ nghiệp sẽ ra sao. Xem liệu có mắc vòng tù ngục, liệu có phải ra cửa quan hay không?
Những người đến xem toàn những người giàu có chốn thôn quê cả ấy mà. Vì thế tao mới bị bắt. Họ bảo tao là mê tín dị đoan, mượn nghề bói toán để tuyên truyền chống phá cách mạng. Tao bị cấm hành nghề nhưng hôm nay, trường hợp của mày tao phải nói. Mình không thích, có thể nói là, phản đối cách xem tướng của họ. Họ chỉ nhìn vào bên ngoài, dựa vào những điều đã ghi trong sách rồi kết luận. Họ không biết câu: “Thượng tướng chi sĩ, bất tướng thân diện”. Nghĩa là bậc xem tướng thượng thừa, không xem tướng bằng thân hình, diện mạo, tức là xem tướng bề ngoài. Người xem tướng bậc thượng thừa phải xem cái thần, cái khí, cái khí phách con người. Đúng là bàn tay cậu đỏ như thoa son. Đúng là cậu có cái lưng gấu, đôi cánh tay dài như tay vượn. Đó là điều người ta gọi là người siêu đực. Nhưng xem tướng không được phép xét đoán một cách định mệnh như thế.
Người ta bảo cậu tam lộ: lộ nhãn (mắt lồi), lộ xỉ (răng hô), lộ hầu, có ba cái lộ ấy cậu cũng chẳng sợ bởi vì trong ánh mắt sáng quắc của cậu vẫn có những tia ấm áp, bởi vì tuy lộ hầu, nhưng giọng nói của cậu vẫn vang lên như chuông. Tuy nhiên tướng hiện ra những nét không thanh còn nhiều cái trọc, tức là căn nghiệp còn nặng. Bởi vậy vẫn phải đề phòng, đề phòng bản thân là chính. Nhưng nét tướng ô trọc chứng tỏ bản năng quá mạnh. Có lúc bản năng như một cơn lũ. Nó cuốn phăng ta đi không tài nào cưỡng lại được. Nhớ phải rất đề phòng đừng để ngựa quen đường cũ.
 
Điều tiên đoán từ xửa xưa ấy có lúc đã thành sự thực. Chuyện xảy ra sau khi Hạ mở cửa hàng sửa chữa xe đạp ít lâu. Bữa ấy vắng khách lắm. Nhân lúc rỗi rãi, Hạ mang mấy cái xích cũ ra lộn lại. Khoảng trưa thì Xim đến chơi, Hạ lau tay rót nước mời khách. Xim bả lả:
- Hôm nay, anh Tư bận việc xí nghiệp làm việc thông tầm. Em nấu cơm sẵn cho con Mua. Nó đi học ca trưa anh ạ. À, con chúng mình học hành cũng được. Con bé ngoan. Tổng kết học kỳ một, con bé đạt học sinh giỏi. Hôm nào, em cho nó ra đây một buổi nhé. Con bé vẫn chưa quen... rằng mình lại có hai bố.
Căn nhà Hạ gồm hai gian. Gian ngoài để hành nghề. Gian trong làm nơi sinh hoạt. Anh tiếp Xim ở gian trong. Nói chuyện đến con, Hạ cứ rầu rầu bùi ngùi. Người vợ cũ cảm thương, nắm lấy tay anh an ủi.
Không hiểu thế nào, cô lại bảo:
-   Em đến thăm để trả nghĩa anh đây.
-   Trả nghĩa?
-  Nghĩa là em nợ anh nhiều quá. Chẳng biết làm sao trả cho hết.
-  Nếu có băn khoăn trong dạ, thì cứ nuôi con cho tốt là được rồi. Còn thì cô chẳng nợ nần tôi gì cả.
-  Có nợ chứ. Này nhé: Thứ nhất chỉ vì em nên anh mới đốt nhà, mới đi tù. Thứ nhì, anh mắc nạn thế mà em lại lấy chồng. Rồi anh trở về lại bằng lòng cho em ở với chồng mới. Chả nợ thì gọi là gì?
Nhìn người đàn bà phây phây rực rỡ ấy, anh dường như đã hiểu cô ta, anh nghĩ: Mụ này táo tợn thật. Tuy nhiên anh cũng hỏi:
-   Thế cô định trả nợ tôi như thế nào?
-   Thì em đền trả anh chứ làm sao?
Xim còn nói tiếp rất rành rẽ, dứt khoát:
-   Nhưng em chỉ cho phép anh một lần hôm nay thôi. Xong rồi là xong phắt, không dầy dưa. Bởi vì em đã có chồng mới. Không thể xảy ra phiền phức... Thôi nào lại đây... Em hiểu anh quá rồi mà. Năm mười lăm tuổi anh ngủ với em lần đầu trên đồi sim ấy. Năm mười bảy tuổi em sinh con Mua với anh, mười năm đi tù, anh chết thèm chết nhạt... Em còn lạ gì anh nữa... Anh nhường em cho Tư Đờn. Nhưng mắt anh nhìn em vẫn còn hau háu như muốn ăn tươi nuốt sống... Thôi nào, còn chần chừ gì nữa... Anh giỏi thật đấy, người háu gái như anh mà nhịn được mười năm... Lần đầu tiên ở đồi sim, anh ghê gớm đến như thế nào. Lần thứ nhất xong, anh xách cái váy của em mà chạy. Em đuổi kịp, anh lại vật em xuống lần thứ hai. Lần thứ hai xong anh lại xách váy em chạy. Rồi lần thứ ba, thứ tư. Anh bảo phải yêu em cho đến lúc trời long đất lở. Anh khủng khiếp thật. Nhưng chỉ đến lần thứ tư ấy thì anh quỵ hẳn. Nếu em không lủi về nhà, bắt trộm gà nấu cháo cho anh ăn, chắc là anh đã tiêu mất rồi.
- Tiêu là tiêu thế nào. Họ bảo tớ là thằng siêu đực cơ mà. Ừ tớ nhớ rồi đồi si... đồi sim... đồi sim.
Hạ đã mê man đi rồi. Quả đúng như là thầy tướng nói. Hắn sẽ bị cơn lũ bản năng ào ào xô tới quật ngã và cuốn phăng đi. Người đàn bà kia đã ghê gớm. Nhưng hắn còn ghê gớm gấp mười lần. Hai cái cơ thể đồ sộ trần truồng đã cuốn lấy nhau, quằn quại, giãy giụa ngay trên mặt đất mát rượi. Hắn như đóng đinh vào người đàn bà. Có lúc người đàn bà như nghẹt thở trong cơn hạnh phúc. Mụ như thể bị bóp cổ rên ằng ặc vì sung sướng. Mụ quẫy đạp đùng đùng đến nỗi một cái gì đó vỡ choang mụ cũng chẳng hay.
Họ làm tình ồn ĩ và dữ dội đến nỗi con chó xù của hắn nuôi đi hoang ở đâu về nó phải sán lại để chứng kiến. Nó tưởng đôi người là hai con quái vật. Nó gừ gừ rồi sán tới. Mụ Xim rú lên. Còn Hạ thì quát ầm ĩ. Nghe thấy tiếng chủ, con chó vội lảng ra đường mất.
Xong cuộc vật lộn tình ái, Xim vừa mặc quần áo vừa nói.
-  Thế là tôi trả nợ ông xong rồi nhé. Dứt khoát đấy. Chỉ một lần này thôi. Mà ông hùng hục quá đấy. Cứ như thế này mà ông không kiếm được một đứa đàn bà nào cho nó hầu hạ ông thì chết dở đấy. Rắc rối to đấy. Còn tôi, đã giao kèo rồi nhé. Tôi chỉ cho ông một lần này mà thôi. Ông có nghe thấy tôi nói không? Nhớ lấy nhé.
-   Tôi nhớ, tôi nhớ. - Hắn lầm bầm.
Vừa lầm bầm hắn vừa lê trên mặt đất nhặt những mảnh vỡ của cái chum vại nào đó mà trong lúc say mê hoan lạc mụ đã đạp vỡ. Mụ hỏi:
-   Cái gì vỡ đấy?
-   Cái vại.
-   Vại gì?
-   Vại cổ thời Trần.
-   Vại cổ thời Trần có quý không?
-Quý!
-   Quý thế nào?
-   Bán nó mua được cái xe Phavôrít.
-   Có tiếc không?
-   Tiếc nhưng mà không sao?
- Không sao là thế nào?
- Là xứng đáng.
- Xứng đáng thế còn tiếc nữa không?
- Không.
- Thế mới đúng là Hạ rồ chứ!
* * *
Chị Xim đã nói là làm. Một hôm, chị đến cửa hàng của Hạ. Chị hớn hở bảo người chồng cũ:
- Tìm được rồi! Tìm được rồi.
Hạ ngạc nhiên không hiểu Xim định nói gì. Cái lần trả nợ ân nghĩa của Xim tuy ngọt ngào nhưng làm Hạ bứt rứt mãi. Thế là chưa sòng phẳng. Cái gì đã cho là cho hẳn. Cớ sao còn tiếc nuối. Cớ sao còn dây dưa. Thế là kém nghĩa khí, không trượng phu. Những năm trong tù dạy anh rất nhiều. Cứ nhớ ông “Thượng tướng chi sĩ” không xem tướng diện mạo bề ngoài mà xem cái thần khí bên trong. Ông ta bảo người như anh có thể là kẻ giết người, nhưng cũng có thể thành kẻ trượng phu. Cái chính là đề phòng bản thân mình. Đừng để cho bản năng như cơn lũ cuốn mình đi. Câu nói ấy khích lệ Hạ rất nhiều. Câu nói ấy làm Hạ lại nhớ đến người cha, ông già Xuân cả đời lam lũ nhưng mà rất lương thiện. - Mà chính vì chất lương thiện ấy, anh mới dám làm những điều người khác không dám làm, và vì nó mà anh vào tù. Cho nên, lúc này, Hạ nói với Xim:
-  Cô tha lỗi cho tôi nhé.
- Lỗi gì mà lỗi. Tội gì mà tội. Tội lội xuống sông. Chẳng qua là em thấy không phải với anh, em muốn đền bù. Mà thôi xí xóa hết chuyện cũ. Nhưng dù sao anh cũng phải có một người đàn bà để nó bầu bạn với anh, phòng khi trái nắng trở giời. Không thế em chả an tâm đâu.
Ôi! Người đàn bà chất phác! Cuồng si cũng hết mức. Và nghĩa tình cũng hết mức. Xim bảo:
- Em đã nhắm hết đàn bà trong làng. Đối với anh, các cô trẻ quá cũng không được, già quá cũng không xong. Điểm đi điểm lại, mới thấy bây giờ chỉ còn một đám. Đã quá lứa lỡ thì. Tuổi ngót ba mươi. Nhưng mà xong được đám này thì anh có mà phúc to bằng cái đình. Người đẹp nõn nà. Hay lam hay làm. Hiền thục hết mức, nhưng mà khó quá, khó quá. Em đã nghĩ nát nước ra rồi mà chẳng biết nhờ ai đánh tiếng.
Xim nói luôn một hồi chẳng để cho Hạ xen vào, nhưng thực quả làm anh phải chú ý. Hạ hỏi:
-  Ai mà cô ca tụng đến thế?
- Cô Nguyệt. Con gái nuôi của cụ sư chùa làng. Cái cô mà ngày trước thầy giáo Hải đã ăn hỏi ấy.
- Tưởng ai. Chẳng được đâu. Có trèo cao quá không? Tôi là thằng đi tù về. Cô ấy là vợ chưa cưới của một anh hùng liệt sĩ. Lại là một người đức hạnh. Sư cụ là một người đức cao vọng trọng. Thôi! Xin cô. Tôi chẳng dám đâu.
-  Sao lại chẳng dám. Thì cũng phải thử xem sao đã chứ.
-  Tôi xin cô. Thôi! Đừng rách việc.
Chuyện ấy Hạ quên đi, nhưng sau đó lại xảy ra một chuyện.
Lúc ở trong tù, Hạ có quen một thanh niên Hà Nội. Anh ta bị bắt vì tụ tập ăn chơi trác táng. Không phải gia đình tư sản nhưng gia đình anh ta rất giàu. Anh ta tên là Hùng. Công tử chính hiệu. Mặt trắng, môi đỏ như son. Vào tù mà vẫn sang. Hút thuốc lá ngoại. Gia đình đi thăm nuôi thường xuyên. Hùng yếu ớt, lao động kém, nhưng được cái sống rộng rãi phóng khoáng, và nhũn nhặn đối với mọi người, sẵn có sức khỏe nên nhiều khi Hạ giúp đỡ Hùng trong việc lao động. Có lúc tâm sự, Hùng nói thật với Hạ:
- Bố tao, đứng về tiền nong, thực sự là tư sản, nhưng nhà nước lại chỉ quy ông thuộc thành phần tiểu tư sản thôi. Bởi vì thực ra, ông không có nhiều nhà, chỉ có một căn nhà để ở. Lại không có xí nghiệp, không có cửa hàng, cửa hiệu. Nói cho đúng, ông nội tao ngày xưa khá giàu có. Nhà phố Hàng Đào, buôn bán tơ lụa. Nhờ thế mà bố tao sướng từ trong trứng sướng ra. Lớn lên, không làm ăn gì cả. Chỉ chơi bời phất phơ. Rồi đi học vẽ nhưng chẳng đến đầu đến đũa. Ông già sĩ diện, tự gọi mình là họa sĩ. Tuy nhiên chẳng vẽ được bức tranh nào ra hồn. Trong những ngày ăn chơi ấy, ông già cũng nhờ biết ăn chơi mà học được cái nghề khá độc đáo: Đó là nghề đồ cổ. Đúng như người ta nói, ông già giàu, rất giàu, tiền nhiều như quân Nguyên, nhưng Chủ nghĩa xã hội không thể quy ông là nhà tư sản được. Đúng vậy, bởi vì ông có bóc lột ai bao giờ. Không bóc lột công nhân. Không cho vay nặng lãi, không nhiều nhà cửa, đất đai. Đúng là không trông thấy có tiền. Nhưng nhà thì đầy chén, bát, đĩa, lọ độc bình, đồ đồng và các tranh nữa chứ. Ông vẽ tranh chẳng ra gì. Nhưng tranh của các danh họa thì ông sưu tầm được nhiều. Nhìn vào nhà, ai cũng bảo ông là một loại nghệ sĩ dở hơi. Song chớ có coi thường cái sự dở hơi ấy. Bởi vì chỉ cần bán một cái lọ Khang Hy đời nhà Thanh đi, cũng đủ cho cả nhà ăn chơi nhảy múa vài năm. Sở dĩ tao bị đi tù cũng chỉ vì nhà nhiều tiền, nên rửng mỡ, đua ăn đua chơi, suốt đêm ngày chỉ uống rượu, hát nhạc vàng và cởi truồng nhảy múa với mấy cô em xinh đẹp. Nhưng sau này đi tù về tao sẽ tu tỉnh, sẽ theo nghề bố. Mày cứ yên trí đi. Ra tù, có dịp, tao sẽ giúp đỡ.
Câu chuyện hứa hẹn trong trại giam, lâu ngày Hạ đã quên tịt.
Rồi đến một hôm, Hạ đang lúi húi sửa xe, thì chợt nghe thấy tiếng người đứng sau lưng nói:
-  Chào chiến hữu.
Quay lại, nhận ngay ra thằng Hùng. Nó đi xe đạp Pơgiô (Peugeot)  mới, mặc quần áo sang trọng, mắt đeo kính Mỹ. Hai thằng tay bắt mặt mừng. Thằng Hùng chỉ hát nhạc vàng và sa đọa với các em xinh, nhưng đã bóc lịch gần mười năm. Chắc ngày xưa nó càn quấy lắm. Còn lúc này, Hạ thấy áo quần, đầu tóc nó rất nghiêm chỉnh. Cuộc sống nhà tù đã dạy khôn cho Hùng. Nó đã biết dùng cái vẻ khiêm nhường bề ngoài để che giấu cái ồn ào sặc sỡ bên trong. Hạ mời Hùng ở lại ăn cơm. Cơm thường thôi. Những món sang nhất là đĩa đậu phụ sống và đĩa lòng lợn chấm mắm tôm chanh ớt. Hùng bảo:
- Mày có cà lấy cho tao ăn. Thấy thèm mày ạ. Ngẫm nghĩ thấy đi trại cũng có cái hay. Chí ít cũng học được cách sống giản dị.
-   Tưởng thứ gì, chứ cà nhà tao có sẵn.
Hạ đi đến cái vại để ở góc nhà. Hùng bây giờ mới nhìn thấy cái đồ gia dụng nhem nhuốc để ở góc nhà, Hùng bỗng reo lên:
-   Cái gì thế này? Để yên. Để yên tao xem.
Hùng cúi xuống ngắm nghía cái vại. Hắn lấy tờ báo lau sạch những vết cáu bẩn bên ngoài, rồi kêu toáng lên:
-  Chết! Chết! Của quý thế này mà bố dùng để muối cà là sao?
-   Cái gì quý?
-  Cái vại này chứ còn cái gì? Rẻ ra cũng hai trăm đồng đấy bố ạ.
-   Tức là... Tức là mua được hơn hai cái xe Phượng Hoàng?
-   Chứ sao. Cậu kiếm cái này ở đâu thế?
-  Tao đào hầm tránh máy bay Mỹ, thấy nó dưới mặt đất. Một đôi. Còn cái nữa đựng muối dưới bếp.
Cầm trên tay chiếc thứ hai, Hùng giải thích:
-  Đây là cái âu cổ, gốm hoa nâu thời Lý - Trần. Nó có men màu trắng ngà, hình vẽ màu nâu. Ở chiếc này có hình vẽ dây hoa cúc. Gốm Lý - Trần là sản phẩm đặc sắc riêng của Việt Nam. Chiếc âu này lành lặn, lại đủ cả nắp đậy. Nó phải đáng giá tới hai trăm.
-  Trời ơi! Những hai trăm cơ à? Cả một đống tiền! Mày có nói dối tao không đấy?
-  Trong người tao chỉ còn có một trăm bạc. Tao đưa trước cho mày. Còn trăm nữa sau tao sẽ trả.
Hạ cầm trăm bạc trong tay, run lên. Hùng bảo:
- Có lần tớ hứa khi ra tù tớ sẽ giúp cậu. Trăm bạc này đã ăn thua gì. Sau này, anh em còn làm ăn với nhau lâu dài. Tớ tính, cậu hãy bỏ quách cái quán chữa xe đạp này đi, dành thời gian mà cộng tác với tớ. Mấy lại, nguời võ nghệ đầy mình như cậu, nhiều khi cũng đắc dụng lắm đấy.
-  Cộng tác ư? Tôi có biết gì về nghề đồ cổ đâu.
- Cứ làm, khắc biết. Đầu tiên, cậu đến nhà tôi. Tớ sẽ hướng dẫn cho cậu thế nào là men ngọc, thế nào là men hoa lam. Rồi thế nào là đồ Minh Thanh của Tàu, thế nào là đồ sứ Việt Nam. Cậu vốn là thổ công ở đây. Hãy lân la đến nhà các gia đình khá giả ngày xưa. Hãy hỏi những lọ lộc bình cũ, rồi ấm chén, bát đĩa, nậm rượu, thậm chí cả những bình vôi cũ mà cha ông họ để lại. Tớ sẽ cho cậu biết giá cả của từng loại. Lãi suất của đồ cổ cao lắm. Một lãi mười, có khi gấp trăm. Kiếm được đồ quý thì vô giá. Cậu cứ vào nghề thì khắc thấy. Thú vị vô cùng.
Hạ khá nổi tiếng trong giới giang hồ vùng đó. Anh có nhiều đệ tử. Hạ tập hợp các đệ tử thân tín lại và bảo:
- Anh em nên tìm con đường lương thiện mà đi. Như thế mới có tương lai. Nay tôi có cơ hội gặp nghề đồ cổ. Có thể có triển vọng. Ai thích theo tôi thì theo.
Nhờ có mạng lưới chân tay, trong một thời gian Hạ và lũ đàn em khấm khá hẳn lên. Tuy nhiên, đồ cổ đâu có phải là nguồn hàng vô tận, nên chỉ một năm sau hàng hóa hiếm hẳn đi. Hùng từ Hà Nội về gặp Hạ:
- Tớ mách cho cậu một nguồn hàng mới. Nguồn này không mất tiền mua. Giá cả lại cao ngất.
Hạ ngờ vực:
- Làm gì có thứ hàng ngon ăn thế. Dân ở đây họ cũng khôn lên rồi. Giá đồ cổ đã vọt lên gấp ba gấp bốn. Họ chẳng ngờ nghệch như mấy năm trước. Vậy lấy đâu ra thứ ngon ăn như cậu nói. Nếu đúng thế, họa chăng chỉ còn cách đi ăn trộm. Gần mười năm trong tù cậu chưa tỉnh ngộ à? Tao không đi trộm cắp, tao không muốn vào tù.
- Không nguy hiểm tù tội như cậu nghĩ đâu. Đúng là đi ăn trộm, nhưng ăn trộm ở những nơi không ai quản lý. Thậm chí, người ta gọi là lạc hậu muốn xóa bỏ đi.
-  Lại có những nơi thế sao? Cậu thử nói xem nào.
Lúc bấy giờ Hùng mới hạ giọng xuống, nói ra vẻ bí mật:
- Nơi ấy là các nhà chùa. Mỗi ngôi chùa là một kho đồ cổ. Ở đấy có tượng đồng, tượng gỗ, có bát nhang cổ, có đèn, nến cổ. Có nhiều nơi đặt hàng giá cao. Thậm chí hoành phi câu đối thời xưa có được người ta cũng mua. Miễn là nó cổ. Càng cổ giá càng cao.
-  Cậu xui chúng tớ đi ăn trộm nhà chùa à?
- Ừ thì ăn trộm nhà chùa. Có sao đâu. Lại an toàn. Bởi vì đó là mê tín dị đoan. Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân lao động. Công an họ không để mắt tới nhà chùa đâu.
Hạ nói như đinh đóng cột:
- Gì thì gì, chứ ăn cắp của chùa, tao không làm đâu. Hùng rất ngạc nhiên vì thái độ quyết liệt của Hạ. Gã đồ cổ còn hỏi gặng:
-  Mày không làm thật à?
-  Tao nhất quyết không làm.
-  Mày sợ à?
-  Ừ, tao sợ.
Hạ tỏ thái độ thế mà Hùng vẫn không thôi. Hắn nói khích:
- Cậu là tay hảo hán: Trời không sợ, đất không sợ thế mà sợ ăn trộm của chùa hay sao?
-  Ừ, tao sợ thế đấy - Hạ lầm lì trả lời.
Nguyên do sự cố nài nỉ ấy của Hùng là thế này. Có một người biết ngôi chùa Sọ có tượng thờ một bà chúa nhà Mạc có công với Phật giáo. Tượng bà chúa Mạc rất đẹp, nhưng to quá, không phải là đối tượng của bọn săn đồ cổ. Tuy nhiên kèm hai bên bà chúa còn có hai pho tượng nhỏ: Đó là Tiên đồng và Ngọc nữ đứng hầu. Mỗi pho tượng chỉ cao khoảng năm mười phân tạc bằng gỗ mít. Cô Ngọc nữ là cô gái tóc bỏ đuôi gà, tay xách một lẵng hoa. Cậu Tiên đồng thì tư thế quỳ dâng lên một mâm đào tiên. Hai pho tượng được đục chạm rất tinh vi, sinh động. Lại là tác phẩm từ thời nhà Mạc nên bọn săn đồ cổ rất quan tâm nhòm ngó. Họ đặt hàng cho Hùng đồ cổ mười lăm ngàn đôla. Hùng biết việc này phi tay Hạ, không ai khác có thể làm được. Hùng định ăn dày, chỉ muốn nhả ra cho Hạ một chút tiền còm. Thấy thuyết phục bằng lời không được, Hùng quay sang dụ dỗ bằng tiền:
- Việc lấy hai pho tượng nhỏ ấy, tôi tin cậu có thể làm dễ như trở bàn tay. Còn tiền công thì cũng khá to đấy. Làm xong chuyện này, cậu có thể nghỉ chơi vài năm hoặc có đủ tiền tậu nhà lấy vợ. Bảy ngàn đôla. Cậu nghĩ thế nào?
-  Không à? Thì tám ngàn.
Thật là món tiền khổng lồ đối với Hạ, nhưng anh vẫn một mực chối từ. Đến nỗi, Hùng phải chửi thề:
- Mẹ kiếp! Thằng này điên rồi. Cả một đống tiền mà nó cũng chê.
Không dụ dỗ được Hạ, Hùng quay sang dụ dỗ bọn đàn em của Hạ. Hạ đe dọa bọn tay chân:
- Chúng mày làm gì thì làm. Cấm động chạm tới nhà chùa. Chúng mày không biết câu: Của Bụt mất một đền mười hay sao. Làm gì thì làm, cũng phải để chút ân đức cho con cháu chứ. Như lão Phó Chủ tịch xã Đào đấy. Dám phá chùa, vứt tượng ra sân. Dân xin thế nào cũng không tha. Bây giờ phải cảm, mồm méo xệch, liệt nửa người, đi thập thà thập thễnh. Đã thế còn bị dân làng chửi cho ủng mả. Đấy đứa nào không nghe tao thì cứ làm. Về phần tao, tao cũng không tha đâu. Giời mà chưa phạt thì tao khắc phạt. Động đến nhà chùa là ông đánh què cẳng.
Sở dĩ Hạ có cảm tình với nhà chùa cũng có nguyên do sâu xa. Nghe ông cụ Xuân, bố Hạ kể lại. Ngày xưa, khi ông Xuân mới phiêu bạt đến làng Sọ. Cậy có sức khỏe và táo tợn, ông Xuân chuyên bắt gà trộm chó. Bị tuần đinh bắt được đánh cho một trận thừa sống thiếu chết. Lúc bấy giờ sư cụ Vô Chấp làm trụ trì. Cụ thương tình đem về chùa phục thuốc cho khỏe, lại cho ăn cho uống. Khi Xuân lành lặn, sư cụ lại đứng ra bảo đảm, rồi nói với ông trưởng bạ con cụ hàng hương thu nạp làm người giúp việc. Có thế ông Xuân mới thành người lương thiện đàng hoàng. Rồi khi sư Vô úy bị bắt vào nhà tù “Đơ Bê”, ông Xuân kéo xe bò đưa cụ về chùa. Sư cụ Vô úy bảo rằng, ông Xuân có duyên với nhà Phật. Chưa hiểu ý nghĩa câu nói ấy ra sao, nhưng đến lúc chết, ông Xuân lại truyền lại câu nói ấy cho Hạ.
 
Trong con người Hạ có cái nghĩa hiệp anh hùng hảo hán của một tay giang hồ ngang dọc, đồng thời cả cái lương thiện của người cha do ảnh hưởng của sự từ bi và sự biết ơn để lại. Do đó, Hạ cứ nhớ mãi câu nói của sư Vô úy với cha mình: “Con rất có duyên với nhà Phật”. Hay có thể nói: Đất Việt vốn là xứ sở Phật giáo qua nhiều đời. Một con người, do một hạnh ngộ từ một kiếp nào đó, nên đã có sẵn những chủng tử tốt lành, nên bây giờ, dù mang một thân xác không hoàn thiện, chủng tử tốt lành đó cũng phát huy, để cho con người có thể tốt lành mà ta không thể ngờ được.
Vì không hiểu được tại sao Hạ lại từ chối đề nghị của mình, Hùng thốt lên: “Mẹ kiếp! Thằng này điên rồ rồi. Cả một đống tiền mà hắn dám chê”.
Dụ dỗ Hạ không được, dụ dỗ lũ tay chân của Hạ cũng không xong, Hùng đâm cáu kỉnh vì một vụ làm ăn đổ bể do một thằng du côn phố huyện. Hùng đã thử một kế hoạch khác, đưa đàn em từ Hà Nội về đột nhập chùa Sọ nhưng kế hoạch cũng thất bại nốt. Nhà chùa nghe phong thanh bọn trộm để ý đến chùa làng nên đã giấu kỹ những thứ quý giá có thể bị mất, trong đó có hai pho tượng Kim đồng, Ngọc nữ. Chẳng những thế, hai thằng kẻ trộm còn bị sư thầy Khoan Độ đánh cho mấy chưởng. May mà hai đứa thoát thân vì sư thầy không có ý định bắt sống.
Tức quá hóa không còn sáng suốt, Hùng quy hết tội cho Hạ. Hùng cho rằng Hạ đã báo cho nhà chùa, đã phản bội mình. Thực ra Hạ chỉ phản đối chuyện ăn trộm nhà chùa chứ không hề tố cáo bọn Hùng, nhưng Hùng nghĩ khác, hắn cho rằng phải diệt được Hạ thì mới có thể làm ăn được ở vùng này.
Một hôm, có mấy thanh niên vào cửa hàng sửa xe đạp. Trông thấy mấy thanh niên ăn mặc càn quấy, cử chỉ ngông nghênh bước vào, Hạ vẫn tỏ vẻ hòa nhã:
-  Các anh chữa xe thế nào.
Thằng cầm đầu to con, húi cua, áo sơ mi hở ngực để lộ ra những hình xăm, nói năng gây gổ luôn:
-  Tao muốn tìm một thằng đầu gấu phố huyện.
-  Ở chỗ tôi, không có ai tên là đầu gấu phố huyện cả.
-  À, tên nó là Hạ.
-  Tên tôi là Hạ, nhưng không phải đầu gấu.
-  Tên là Hạ à? Lại chữa xe đạp. Đúng là mày rồi.
Hạ đã lờ mờ hiểu chuyện. Thằng cầm đầu nói luôn:
-  Chúng tao đến hỏi tội mày đây.
-  Chúng tôi không biết các anh là ai. Làm sao có thể mắc tội với các anh.
-  Mày mắc tội với người khác cơ. Nhưng nghe xong là tao lộn tiết lên rồi. Mày biết trong giới giang hồ, kẻ nào phản bội thì trời không dung đất không tha. Người ta làm ơn cho mày, mày chịu ơn người ta. Thế mà mày quay lại cắn ân nhân. Mày thử nghĩ xem, như thế liệu mày còn đáng sống nữa không? - Thằng cầm đầu nói một mạch về đạo nghĩa giang hồ rồi tuyên bố - Nếu mày biết tội thì tao cho con đường sống. Nếu mày quỳ xuống nhận tội và hứa xin lập công chuộc tội thì tao tha. Bằng không thì... Mày biết rồi đấy.
Hạ cũng tuyên bố:
- Tao chẳng có tội gì hết. Tao cũng biết chúng mày là ai rồi. Chúng mày tưởng dễ bắt nạt tao lắm hả. Chúng mày năm đứa chứ gì? Tao bóp chết.
Nói xong Hạ vớ lấy cái bơm rồi nhảy ra sân.
Một đứa kêu to:
-  Coi chừng, thằng này có nghệ đấy.
-  Nghệ với chả gừng. Hội đồng đi anh em ơi.
Năm thằng to con đã chuẩn bị sẵn những khúc tre xông tất cả lại đánh Hạ tới tấp. Hạ cũng vung cái bơm đánh lại. Hạ đã đá được hai thằng ngã sóng soài. Nhưng một con hổ làm sao địch nổi một đàn chó sói. Một lát sau Hạ bị dính đòn. Một cây gậy phang vào tay Hạ làm anh đau điếng, cái bơm bị tuột khỏi tay. Anh kịp định thần thì một cây gậy khác lia trúng ống chân. Hạ ngã xuống. Và lũ côn đồ xông tới đánh anh túi bụi. Hạ vội ôm gáy nằm co tròn lại. Nếu không có hàng phố ùa tới, chắc anh bị đánh đến chết.
Biết tiếng sư chùa Sọ trị thương giỏi, bọn đàn em liền khiêng Hạ đến nhà chùa. Sư Khoan Độ thuốc thang cứu chữa. Ông bảo:
- Tôi nghe nói vì cậu không vào hùa với bọn xấu làm hại nhà chùa nên bị chúng hành hung. Cậu tin tôi đi. Với tuổi trẻ và thể lực của cậu, cộng với thuốc thang của tôi, chỉ một tháng nữa, cậu sẽ hoàn toàn bình phục.
Rồi sư thầy nói thêm:
- Tôi phát nguyện cả đời mình bảo vệ nhà chùa. Tưởng chỉ có mình làm thế. Bây giờ lại thấy cậu đứng ra bảo vệ nhà chùa. Riêng mình đi một nhẽ, bởi vì mình đi tu. Tôi hỏi thật cậu nhé: Tại sao cậu bảo vệ nhà chùa?
Hạ im lặng hồi lâu, như để tìm hiểu bản thân mình, tìm hiểu vấn đề mà anh chưa hề bao giờ nghĩ tới. Cuối cùng mới nói:
- Thưa sư thầy, cũng không biết tại sao nữa. Nhưng con chắc là tại thầy con. Cha con lúc sống, cụ rất quý nhà chùa. Lúc con ở tù, ông cụ lên thăm còn dặn con rằng: “Đến lúc con ra tù thì chắc tao chẳng còn sống nữa. Nhưng nhớ lời tao dặn dù mày ngỗ nghịch thế nào, cũng không bao giờ được động đến nhà chùa”. Chắc là vì thế...
Sư Khoan Độ ngạc nhiên:
-  Chứ không phải vì...
-  Vì sao ạ?
-  Người ta nói cậu làm thế là vì cô Nguyệt ở vườn chùa.
Hạ ngượng ngùng và chối đây đẩy.
- Dạ con đâu dám thế. Cô Nguyệt là con nuôi sư cụ. Con nghĩ cô ấy con công con phượng. Còn con thì... chẳng qua là kẻ tù tội trở về. Con chẳng dám đâu...
-  Thế... Thế...
- Sự việc là như thế này... Có một hôm, cô Xim, vợ cũ của con đến cửa hàng xe đạp. Cô ấy thấy con thui thủi một mình, nghĩ thấy thương, muốn làm mối cho một đám... Con đã gạt phắt đi rồi... Tưởng câu chuyện đàn bà tầm phào ấy đã xong, đã dứt... nào ngờ lại đến tai nhà chùa... Thưa thầy, con mong nhà chùa xá lỗi cho con...
- Té ra là thế. Cái cô Xim vợ cũ của anh nghĩ ra cũng là người có tình có nghĩa đấy chứ. Mình yên phận rồi, lại muốn cho chồng cũ được như mình. Thế là cái tâm cô ấy lành hiền. Đừng tưởng cô ấy ngờ nghệch đâu. Anh không biết đấy thôi... Cô Xim đã giấu anh, đi vận động các bà vãi già đến chùa nói với sư cụ. Ngày xưa anh đi ở cho nhà bà trưởng bạ phải không nhỉ? Bây giờ bà ấy làm tổ trưởng tổ vãi già. Mà phải rồi... Anh đi tù vì bảo vệ gia đình ấy. Chả thế mà bà ấy khen anh: “Cậu ta có vẻ thô lỗ, nhưng thực ra người có tâm Bồ tát”. Nghe bà trưởng bạ xong, anh có biết sư cụ ta nói gì không?
-  Dạ, làm sao con biết được.
- Nghe xong, sư cụ sai ta đi tìm hiểu về anh. Chính lúc ấy, anh bị bọn xấu hành hung. Ta bèn về kể lại sự tình đầu đuôi đúng như sự thật... Nào việc anh không chịu tố điêu cho ông trưởng bạ... Nào anh tức giận đốt nhà để chịu đi tù... Rồi cả chuyện anh không chịu tiếp tay cho bọn săn tìm đồ cổ... Nghe xong, sư cụ ta gật đầu mà rằng: “Thế đấy! Ta không nên bao giờ nhìn bề ngoài con người mà hấp tấp xét đoán. Nhà Phật có phép xem tướng gọi là tâm tướng. Không xem tướng bề ngoài mà xem tâm con người. Tâm thế nào thì hành động của con người như thế ấy. Cái tâm tà, thì dù che giấu thế nào, cuối cùng hành động cũng làm lộ ra cái tâm thật. Trong lúc người đời a dua với cái ác, trở nên bất nhân bất nghĩa thì anh ta lấy sự nhân nghĩa đối đãi với ông trưởng bạ. Trong lúc mọi người tê liệt, sợ sệt trước bạo tàn, thì anh ta ngẩng cao đầu, sừng sững mà đứng giữa trời. Trong lúc kẻ xấu dùng một đống tiền để dụ dỗ làm việc phi nghĩa, thì trước tiền bạc anh ta vẫn không lung lay. Như thế gọi là người có khí phách. Người như thế dù xấu xí, dù tướng mạo dữ dằn cũng không thể là người xấu. Nếu như cái Nguyệt nó bằng lòng thì ta cũng không ngăn cản... Anh chàng Hạ này là người có tâm”.
Hạ nghe xong lời kết luận của sư cụ Vô úy tưởng như mình nằm mơ. Lời nhận xét của hòa thượng làm anh vô cùng sung sướng. Dù không lấy được cô Nguyệt thì chỉ với lời nhận xét ấy, cũng đã cho anh sống suốt đời một cách an tâm. Người đời dè bỉu anh là kẻ tù tội trở về. Có người muốn dìm anh xuống bùn đen, thì câu nói của sư cụ đã như những cánh tay nâng anh dậy. Có người muốn anh đắm chìm trong bùn lầy, thì sư cụ khẳng định anh là một con người lương thiện. Những ngày ấy là những ngày tái sinh của Hạ. Tái sinh cả xác lẫn hồn.
Công cuộc tái sinh ấy càng trọn vẹn, khi Nguyệt nghe lời cụ Vô Úy, bằng lòng lấy Hạ.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 12.02.2018 19:37:32 bởi Ct.Ly>
Chương 8 
Gặp gỡ 
 
Nghĩ lại thời gian ở chiến trường, thật là kỳ lạ. Tôi cảm giác như có một lực lượng siêu nhiên nào đó bảo vệ che chở cho tôi. Khi tôi bắn súng lên trời bị phát hiện, tôi không còn ở tổ chiến đấu nữa. Trên điều động tôi làm những công việc khác như cáng thương, anh nuôi, liên lạc. Không phải làm những việc ấy là bớt nguy hiểm đâu. Tôi nhớ có bận phải gánh cơm qua một cánh rừng để tiếp tế cho hai tiểu đội đang chốt quân ngoài bìa rừng, tôi đã rơi vào một ổ phục kích của đối phương. Quân địch muốn vào rừng để xua đuổi chúng tôi nhưng không vượt qua nổi tuyến bìa rừng của chúng tôi. Chúng liền phái một tổ biệt kích đột nhập. Gặp tôi, chúng liền nổ súng. Giặc bắn như vãi đạn quanh tôi, đáng lẽ tôi phải nằm xuống rồi bắn trả lại, nhưng tôi có mang theo súng bao giờ. Tôi chỉ biết chạy và chạy thục mạng. Ấy thế mà lạ chưa! Tôi chẳng hề gì.
Lại một lần khác, tôi nhận nhiệm vụ đưa báo cáo của đại đội lên trung đoàn. Tôi đang đi trong một khu rừng thưa thì bị một chiếc máy bay trực thăng Mỹ phát hiện. Tôi chúi vào những bụi cây ẩn nấp. Súng bắn từ trên cao xuống các lùm cây. Đạn rơi xuống gần chỗ tôi trú ẩn. Lợi dụng lúc máy bay lướt qua chưa vòng lại, tôi nhổm dậy chạy thục mạng. Vừa chạy vừa nghĩ: “Lần này khó thoát thân. Nếu nhận ra mình đi một mình và không có súng, bọn chúng có thể hạ máy bay và vây bắt sống mình”. Nghĩ vậy nên khi thấy trước mặt là một hẻm núi. Tôi nghĩ đằng nào cũng chết, nên nhảy bừa xuống hẻm. Tôi nhắm mắt lại nhảy, mặc kệ muốn ra sao thì ra. Những cành lá rậm rịt đã cản lại, làm tốc độ rơi của tôi giảm hẳn. Nhờ thế tay tôi chợt nắm được một cành cây. Tôi nhìn xuống, cứ tưởng phía dưới chân tôi là một vực sâu thăm thẳm. Hóa ra không phải. Gần ngay chân tôi là một mỏm núi nhô ra. Tôi ước lượng, tính toán rồi buông tay. May mắn thay, tôi đã rơi xuống một nệm lá khô dầy. Mỏm núi đó cũng là một cửa hang nhỏ. Tôi chui vào hang. Chiếc máy bay trực thăng còn lượn mấy vòng, bắn vài băng đạn vu vơ rồi mới bay đi mất dạng.
 
Tôi nhận được thư của sư thầy Khoan Độ từ chùa Sọ. Đã mấy năm trời mới nhận được lá thư, cho nên tay tôi cầm lá thư mà lòng run lên với bao nỗi niềm. Lá thư nhàu nát ấy đến được tay tôi cũng thật lạ kỳ. Sư thầy không gửi nó đi theo con đường bưu điện chính thức, mà gửi đi một cách hú họa. Nghĩa là thầy đã gửi trao tay cho một người lính đi B. Người lính ấy vào Nam, gặp bất cứ người lính nào cũng hỏi:
- Đơn vị cậu có một ông sư nào nhập ngũ không? Tớ có một lá thư từ một ngôi chùa gửi cho cậu lính sư ấy.
Cuối cùng anh ta bị thương, được đưa đến trạm quân y của Huệ. Anh ta lại đưa lá thư ra và đặt câu hỏi y như mọi lần. Huệ cầm lá thư mà phong bì đã rách, mà nét chữ bên ngoài đã mòn, đã mờ rất khó đọc. Tuy nhiên Huệ còn nhận ra dòng chữ: Người gửi: Sư thầy chùa Sọ. Chữ sư thầy thì đã mòn hẳn đọc không được. Nhưng chữ chùa Sọ thì còn rõ rành rành. Thành thử cô y sĩ chỉ căn cứ vào hai chữ ấy có thể đoán ra toàn bộ. Đó là lá thư của sư thầy Khoan Độ gửi cho người sư đệ là chú tiểu An. Lá thư không dài. Chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một kỳ công của sư thầy Khoan Độ vì thầy có được học hành mấy đâu. Sư thầy thấy chuyện này quan trọng nên muốn tự tay mình viết cho sư đệ.
Nội dung để báo cho tôi biết chị Nguyệt tôi đã lấy anh Hạ, một người có vẻ bề ngoài hung dữ nhưng thực chất lại là người tốt bụng, chất phác. Được tin ấy, tôi vui mừng vô hạn, nhất là ở cuối thư, lại được biết thêm chị Nguyệt đã sinh được một cháu gái mà sư cụ đặt tên cho là Tâm Như.
Số phận chị Nguyệt là điều tôi rất lo lắng. Nhưng nay, chị tôi đã yên bề gia thất. Cha mẹ tôi ở thế giới bên kia, biết được tin này chắc cũng hoan hỉ như tôi...
* * *
Chính vào thời gian tôi nhận được lá thư; một sự kiện đã xảy ra mà suốt đời tôi không thể quên được. Đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ phải nhổ được cái chốt trên cao điểm 303. Đó là một ngọn đồi cao khoảng hai trăm mét. Nó nằm tựa lưng gần một khu rừng. Trước mặt nó là một thung lũng khá rộng có con đường nhựa chạy qua. Nó sừng sững nằm đấy khống chế toàn bộ khu vực, ngăn không cho quân ta từ phía bắc thâm nhập vùng phía nam thung lũng, nơi dân cư tập trung.
Vì là một điểm quân sự quan trọng, nên quân ta cố gắng chiếm và quân địch cố gắng giữ. Cuộc giành giật liên tục xảy ra suốt ngày đêm. Bom đạn đổ xuống quả đồi nhỏ bé. Đại đội của tôi vừa đẩy lùi xong một đợt tấn công của địch. Tranh thủ lúc tiếng súng thưa thớt, tổ tải thương chúng tôi leo lên đỉnh đồi 303.
Trung đội trưởng Trắm bị thương ở bụng. Mảnh đạn pháo cắt rách da bụng. Ruột anh phòi ra trắng hếu. Anh cố lấy cái áo ấn vào. Trắm trông thấy tôi, vẫy tay:
-  An. Lại đây.
Tôi vội lấy băng, băng chặt lại cho anh. Trong lúc tôi làm, anh phều phào nói:
- Mày thấy chưa. Chúng nó có thương mình đâu. Chắc phen này tao chết mất An ạ.
- Anh đừng bi quan. Ruột không việc gì. Đưa về trạm quân y, cái Huệ nó chỉ khâu một loáng là anh khỏi ngay.
- Tao hỏi câu này mày đừng giận. Tao hỏi: Mày có là người không?
-  Em là người chứ. Sao anh hỏi thế.
- Đã là người thì phải biết căm thù. Sao mày cứ bắn lên trời. Trả thù cho tao nhé. Tao biết. Tao bị thương nặng lắm. Đây súng của tao đây. Bắn hộ tao. Bắn bỏ mẹ chúng nó đi cho tao nhé.
Tôi cầm lấy khẩu AK của Trắm, khoác lên vai. Chúng tôi khiêng Trắm vào đến rừng, máu ra nhiều quá Trắm đã mê man bất tỉnh. Chúng tôi bàn giao Trắm cho những người khác đưa anh đến trạm quân y. Còn chúng tôi lại tiếp tục lên đỉnh đồi.
Lúc này, trên cao điểm còn khoảng mười người dưới sự chỉ huy của Tiến. Tiến đã được đề bạt làm tiểu đội trưởng. Cái đận anh về phép lúc sắp đi B, vợ anh đã có mang. Đẻ được thằng con trai đã gần ba năm. Câu nói nổi tiếng trong đại đội của Tiến là:
- Bây giờ tớ đã có đứa chống gậy. Đánh nhau lúc này là vô tư đi, thằng Mỹ nào mà gặp tớ lúc này là chỉ có toi thôi.
Mà cũng lạ thật. Kể từ lúc biết tin vợ đẻ con trai, Tiến đánh giặc hăng hẳn lên. Khét tiếng toàn trung đoàn. Đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.
Chiến hào trên đồi 303 nằm song song với con đường trong thung lũng. Đối phương tấn công chúng tôi từ ba phía. Hướng chính là từ con đường đánh lên. Phía này sườn núi thoai thoải. Hai đầu phải, trái là hướng phụ, vì sườn núi ở hai phía đều dốc đứng. Tiến chia tiểu đội thành bốn nhóm. Hai nhóm ở hai đầu và hai nhóm ở hướng chính. Tiến đeo lủng lẳng quanh thắt lưng mười quả lựu đạn mỏ vịt của Mỹ, tay cầm khẩu AK. Anh bảo tôi:
- Thằng An hôm nay hãy thôi làm sư đi. Mày phải giúp tao. Bảo rằng thằng địch tấn công ta theo ba phía là không đúng, thực chất, nó tấn công theo bốn phía. Phía thứ tư không phải sau lưng, vì nó mò ra sau lưng là chết với quân ta luôn vì hướng đó là rừng. Hướng thứ bốn là ở trên trời bắn xuống. An! Mày phải giúp tao chặn phía trên trời. Hiểu chưa. Chỉ một lát nữa thôi chúng nó sẽ cho trực thăng bay sát trên đầu chúng ta rồi xả đại liên và bắn rốc két - Nói đến đây Tiến cười mỉm. Giọng nó nghiêm trang nhưng không giấu được vẻ giễu cợt châm biếm tôi - An ạ. Lần này tao không bắt mày giết hại sinh linh. Mày chỉ phải nhắm vào chiếc máy bay mà xả súng. Máy bay không phải là người. Mày hiểu tao nói rồi chứ. Tao lạy mày đấy. Tao van mày đấy. Chắc mày không muốn tao chết chứ. Ở trên máy bay trực thăng bắn xuống dễ trúng lắm. Đây khẩu trung liên này, tao giao cho mày. Nếu mày cứ nhắm vào nó mà bắn liên tục, thì dù thằng giặc lái có giỏi đến đâu cũng phải sờn lòng để tay lái chệch đi hoặc bắn súng chệch đi. An ơi. Tao không muốn bị chết vì mấy thằng phi công Mỹ hợm hĩnh đó. Nếu tao sống tức là trận địa còn đứng vững. Mày hiểu rồi chứ. Bằng lòng giúp tao rồi chứ. Mày đừng sợ. Cứ nhắm thẳng máy bay mà bắn. Có thể mày vừa bắn vừa kêu lên. Cái máy bay không phải thằng người. Thế nào. Mày hiểu ý tao chưa. Mày nên biết nhiệm vụ của mày rất quan trọng. Tao sống hay chết là nhờ ở mày.
 
Khi những chiếc trực thăng xuất hiện ở giữa thung lũng, thì tôi hoàn toàn hiểu sự nghiêm trọng trong những lời nói của Tiến. Lúc ấy tôi không phải hiểu biết bằng lý trí mà bằng bản năng. Bản năng sống. Muốn sống. Từ xa chiếc máy bay đã phóng một quả tên lửa. Không trúng. Đất đá văng tung toé. Tiếng nổ làm tôi bừng hiểu không phải chỉ riêng đe dọa sự sống của Tiến, mà đe dọa đến sự sống của tất cả trong đó có cả tôi.
Không phải là tôi suy nghĩ trật tự và gãy gọn như thế. Có thể là tôi mới chỉ thoáng nghĩ thì chiếc trực thăng đã ầm ầm xô tới. Tôi nhắm vào cái thân xác khổng lồ quái vật của nó, rồi bóp cò. Chiếc máy bay cũng vãi đạn xuống quả đồi. Nhưng đúng như lời Tiến nói, những viên đạn của tôi đã buộc chiếc máy bay phải bay chệch đi. Những đầu đạn trút cả xuống sườn đồi trước mặt, làm cho bụi đất tung lên mù mịt. Chiếc máy bay thứ nhất vừa mất tăm thì chiếc máy bay thứ hai xuất hiện. Lần này tôi bắn nó từ cự ly xa hơn. Tôi trông thấy cả người lính Mỹ mặt đỏ gay trong buồng lái. Lần này, không chỉ riêng tôi bắn mà các tổ khác cũng bắn. Phối hợp với hai chiếc máy bay, bộ binh địch từ hướng chính cũng ào ạt xông lên. Tiến vung tay ném lưu đạn. Tổ bên cạnh bắn một phát tên lửa chống tăng. Khắp nơi ồn ã tiếng nổ. Cùng lúc ấy, chiếc máy bay chẳng biết bị dính đạn của tổ nào đang cháy bùng bùng trên trời. Có lẽ đạn bắn vào thùng xăng. Con quạ lửa bay xuống thung lũng rồi phát một tiếng nổ rất to, dựng lên một cột khói đen kịt khổng lồ giữa thung lũng. Quang cảnh ấy có lẽ làm nản lòng đại đội lính địch đang tiến công. Ở trên đồi nhìn xuống hướng chính, thấy quân địch đã bắt đầu tổ chức rút lui.
Cuộc giành giật cao điểm 303 đã diễn ra suốt một ngày, một đêm. Và chúng tôi vừa mới đẩy lùi được một đợt tiến công của địch. Anh em chúng tôi đứng trong chiến hào ôm lấy nhau mừng chiến thắng. Lúc ấy quả đồi 303 im lặng một cách kỳ lạ. Không một tiếng súng của địch cũng như của ta. Có lẽ cả những con chim cũng phải ngạc nhiên về sự im lặng ấy. Súng đạn đã đuổi hết chim muông trốn vào rừng sâu. Hình như chỉ có giống quạ là dạn dày với tiếng nổ nhất. Có một đôi quạ vẫn lởn vởn ở vùng này. Mặc cho con người bắn giết nhau, chúng vẫn lủi thủi ở những ruộng ngô, nương sắn quanh vùng. Cứ làm như cuộc chiến này không can hệ đến chúng. Thậm chí cuộc chiến có khi còn làm lợi cho chúng. Bởi vì súng đuổi hết chim muông, thì chúng sẽ không có đối thủ cạnh tranh. Sâu bọ thức ăn sẽ nhiều hơn. Miễn là chúng phải tránh xa cái ngọn đồi rồ dại, nơi con người chém giết nhau, tranh giành nhau từng tấc đất. Hai con quạ lợi dụng sự im lặng, mon men tới gần quả đồi. Bom đạn cày xới quả đồi đã làm lộ ra một số thức ăn mà với những cái móng nhọn của hai bàn chân nhỏ xíu, chúng không thể bao giờ tìm được. Đó là sự thăm dò hòa bình đầu tiên. Đó là cái mầm sống đầu tiên trở lại.
 
Tôi, chú tiểu An, anh lính An nhìn hai cái mầm sống đen ngòm tha thủi ấy đi trên miệng hố bom lở loét ở lưng đồi. Tôi nhìn chúng bằng đôi con mắt nâng niu. Trận chiến cuồng nhiệt đi qua. Sự cuồng nhiệt ấy cuốn tôi vào, lôi tôi đi, nó làm cho nhiệt độ tâm hồn tôi cũng tăng lên vùn vụt. Nay, sự im lặng của trận địa bỗng làm cho cái nhiệt độ tâm hồn đột ngột lắng xuống, giảm đi, để lại trong tôi một khoảng trống, hay nói cách chính xác, đó là một nỗi ưu tư, một cái buồn man mác.
 
Tôi nhìn chăm chăm vào đôi chim xấu xí ấy, trong lòng bao nhiêu nỗi niềm. Ô kìa! Hai con chim làm sao thế kia. Bỗng nhiên thấy chúng khựng lại thôi tìm kiếm. Hai cái đầu nghếch lên, nghe ngóng. Loài chim rất nhạy bén với âm thanh lạ. Không hiểu chúng đã nghe thấy gì? Kìa! Chúng đang nhấp nhổm, ngơ ngáo. Rồi, đột nhiên chúng vỗ cánh bay vút lên trời. Chúng xoải cánh bay thật xa, nhằm hướng một cây cổ thụ chơ vơ ở giữa thung lũng. Vừa bay vừa kêu quạ quạ ồn ĩ, như thể muốn đánh động, muốn nói lên một điều gì đó bằng thứ ngôn ngữ riêng của chúng.
 
Nhìn thấy hành động khác lạ của đôi chim, tôi cũng phải định thần, lắng nghe. Thì ra có tiếng máy bay phản lực rất xa. Tiếng máy bay mỗi lúc một rõ. Ôi! Linh tính của loài vật thật phi thường. Trên bầu trời xanh không trông thấy máy bay. Chỉ nghe thấy tiếng ì ì nặng nề. Rồi chợt trông thấy những quả bom nối đuôi nhau rơi xuống. Chúng tôi hiểu rồi. Bom B.52. Những quả bom rơi từng chùm lơ lửng trên đầu. Ôi chao! Không thể ngờ được. Hóa ra chúng thả bom xuống quả đồi của chúng tôi. Tiến hô anh em nằm sát xuống đáy giao thông hào. Quả đồi 303 rùng mình lắc lư như đưa võng. Sau bom là pháo. Mưa pháo. Tiếng nổ khắp mọi nơi. Mù mịt khói bụi. Nhiều đoạn giao thông hào sụt xuống. Tôi nghĩ: Những điều dự đoán của Trung đoàn trưởng Trần đã thành sự thật. Quân Mỹ không trụ được ở cao điểm, thì chúng cũng không cho ta chốt quân ở đấy. Trận oanh tạc này là hủy diệt. Sau trận này đồi 303 sẽ bị xóa sổ. Sẽ xóa sổ cả những khu vực lân cận. Bom nổ liên tục. Đất lắc lư không ngừng. Mưa đất đá trút xuống. Có cả những tảng đất khổng lồ che trên đầu. Thân hình tôi nẩy lên, rơi xuống. Trời đất tối sầm. Chắc ngày tận thế cũng chỉ đến thế này là cùng. Đất đá chắc sẽ chôn sống chúng tôi nếu như không có sự may mắn. Sự may mắn là một quả bom lớn đã rơi vào khu rừng phía sau núi. Nó bứng luôn cả một cây cổ thụ tung lên trời. Cây rơi xuống đỉnh đồi chèn ngang giao thông hào ngay phía trên đầu tôi. Lại thêm cành lá của nó nữa, nên đất không chôn sống chúng tôi. Tự nhiên, tôi thấy trời đất tối sầm lại. Sau đó tôi ngất đi không biết gì nữa.
* * *
Lúc tôi tỉnh lại, thì thấy mình đang nằm trong khu rừng sau núi. Rõ ràng, khi tôi chưa ngất đi, tôi còn nhớ mình nằm ở đáy chiến hào, tôi còn cầm tay cậu Tiến lay gọi, bởi vì Tiến bị một mảnh bom. Cậu ta xỉu đi, nói không ra tiếng nữa. Rõ ràng là cậu ta định nói một điều gì đó, nhưng ý nghĩ không bật thành âm thanh, tôi chỉ thấy đôi môi mấp máy. Còn lúc này, cậu ta ở đâu nhỉ. Bên cạnh tôi chẳng thấy ai. Mà không phải đáy chiến hào. Mắt tôi đang thấy mấy lùm cây. Cả một khoảng trời xanh. Tôi cố chắp nối những điều cảm nhận và dần dần chợt hiểu ra. Tức là, tôi đã bị vùi dưới đáy hào. Một ngẫu nhiên nào đó đã xui khiến một quả bom khác rơi trên đỉnh đồi bên cạnh hào. Nghĩa là một quả bom vùi lấp, còn một quả khác lại moi tôi lên và vứt xác tôi ra khu rừng.
Tôi cố hết sức chống tay đứng dậy, hơi lảo đảo rồi đứng thẳng được. Tôi tự kiểm tra, không thấy đau đớn ở chỗ nào. Tức là tôi trúng số độc đắc. Vô cùng may mắn. Nằm giữa tâm điểm vùng B.52, thế mà lại sống sót, hoàn toàn lành lặn, không một vết xước trên người.
Tôi ngó nhìn chung quanh. Hoang tàn kinh người. Những hố bom như những cái ao. Những cây cổ thụ bật gốc. Những thân cây cụt đầu. Những búi lau được bứng từ dưới đất bay lên cao, ngồi chồm hỗm trên những chạc cầy. Còn quả đồi, nơi tranh chấp, thì biến dạng, lở loét. Nó đã bị xóa sổ hoàn toàn. Trước mặt tôi, một cây súng AK treo trên một cành cây, còn nguyên vẹn một cách đáng kinh ngạc. Gió thổi cành cây lắc lư, cây súng cũng lắc lư. Nó như một biểu tượng, nhắc nhở đến hoàn cảnh hiện tại của tôi. Cây súng ngang tầm với. Hình như có sự bí ẩn nào mách bảo rằng cây súng ấy dành cho tôi và hãy cầm lấy nó. Tôi giơ tay cầm lấy cây súng, kiểm tra và thấy nó hoàn toàn có thể sử dụng được. Một băng đạn còn nguyên nằm trong ổ. Tôi lại chợt nghĩ: Không biết có ai cũng may mắn giống như tôi không. Chẳng biết đồng đội có còn ai sống sót? Tôi lấy tay làm loa bắt đầu gọi:
- Tiến ơi! Lâm ơi! Tường ơi!
Nhưng chẳng thấy có tiếng trả lời. Tôi chua xót nghĩ: Chắc họ đã tan hòa vào đống đất đá quanh tôi rồi. Nhưng tôi vẫn cứ gọi: “Tiến ơi! Lâm ơi!” bởi vì tôi tin rằng nếu họ đã chết thì vong hồn họ vẫn còn quanh quẩn nơi đây. Ít nhất, vong hồn họ nghe thấy tiếng tôi gọi thì cũng đỡ tủi, bởi vì họ biết vẫn còn người bạn là tôi, vẫn luôn còn nhớ tới họ. Tôi vừa gọi vừa khấn thầm trong dạ: “Tiến ơi! Lâm ơi! Nếu chúng mày có linh thiêng thì hãy theo tao về nơi đơn vị đóng quân. Thằng Tiến cho tao cái khăn vải dù. Thằng Lâm cho tao quyển sổ tay. Vật của chúng mày tao vẫn còn giữ. Tao sẽ đem di vật của chúng mày lên đỉnh núi cao, đặt chúng lên mỏm đá thiêng để cúng vái cho linh hồn chúng mày siêu thoát. Tao sẽ chôn di vật của chúng mày xuống đất. Mỗi đứa một nấm mồ. Hồn hỡi hồn ơi! Hồn có linh thiêng thì hãy theo ta. Hồn đã ra ma xin đừng tủi hận. Theo ra mặt trận phù hộ bạn bè. Ba hồn bẩy vía có nghe. Thì xin linh hiển nhắn nhe một lời”.
 
Tôi là người lính nông dân. Tôi cũng là người lính ra đi từ một ngôi chùa quê. Cho nên tôi mê tín thế đấy, ngây thơ như thế đấy. Tôi rất tin rằng con người có một linh hồn. Và dù linh hồn ấy đã sang một kiếp khác, nó rất là tình cảm, nghĩa là vẫn biết vui buồn, vẫn còn bị xúc động, cần đến sự trìu mến của những người đang sống. Cho nên tôi đã ngẫu hứng thầm khấn vái vong linh của những người đồng đội. Và tôi đinh ninh rằng nhất định những vong linh ấy hiểu tôi, nghe được lời khấn vái, và sẽ đáp ứng lại tôi. Tôi tin vào sự lạ.
Tồi lầm bầm khấn thầm trong bụng: “Tiến ơi! Lâm ơi! Tao tin là chúng mày vẫn ở quanh đây. Hồn có linh thiêng thì phù hộ cho tao thoát ra khỏi chốn này. Chúng mày có linh thiêng thì hiện ra đi. Tiến ơi! Lâm ơi! Tao nhớ chúng mày”. Tôi vừa khấn dứt thì bỗng nhiên một trận cuồng phong đùng đùng nổi dậy làm những ngọn cây còn sót quanh đấy nghiêng ngả như múa. Rồi đột nhiên, một đôi chích chòe không hiểu từ đâu bỗng xuất hiện ở một bụi lau trắng phơ phất. Hai sinh vật bé nhỏ đột hiện trên một bãi hủy diệt tưởng chừng như không có gì có thể sống nổi ấy, bỗng làm cho lòng tôi chợt ấm áp. Tôi thầm nhủ: “Đúng là thằng Lâm, thằng Tiến đã nghe thấy lời tôi cầu khẩn”. Đôi chim đuổi nhau, bay chập chờn thành những đường cầu vồng. Vừa bay vừa tha thiết gọi nhau. Chích... chòe. Các bạn có tin hay không. Tùy ý. Riêng tôi, tôi tin rằng các đồng đội của tôi đã về và gửi tín hiệu đến cho tôi. Tôi đuổi theo con chích chòe và kêu to: Tiến ơi! Lâm ơi! Một tràng tiểu liên bỗng vang lên. Cũng lúc ấy, chân tôi vướng vào một dây leo. Tôi ngã xoài ra đất. Lập tức phản xạ nhanh như chớp, tôi cầm khẩu AK trong tay, bắn về hướng phát ra tiếng nổ. Hóa ra phản xạ còn nhanh hơn ý chí. Lúc trước ở trên đồi, tôi bắn vào chiếc máy bay trực thăng tức là bắn vào một vật. Còn bây giờ tôi bắn về phía tiếng nổ, tức là bắn về phía người. Tôi chợt hiểu: mình cũng thèm sống như mọi người và có khả năng ác như mọi người. Bản năng mạnh hơn ý chí. Bản năng thật khôn ngoan. Nó mách bảo tôi tháo chiếc mũ tai bèo ra, rồi đội vào đầu một khúc cây để ngụy trang làm nên một con người giả trang nằm ở chỗ tôi ngã xuống. Còn bản thân tôi, tôi lủi sau một thân cây đổ, khẽ khàng di chuyển về phía sau kẻ địch.
 
Đối phương của tôi chắc là một thám báo, đã luồn vào khu rừng sau đồi 303 trước trận ném bom hủy diệt. Hắn đã vô tình rơi vào mê hồn trận B.52, và cũng như tôi may mắn sống sót.
Tôi đi hết thân cây đổ khá dài, kẻ địch vẫn không hay biết gì hết. Hắn vẫn bắn xối xả vào chỗ khúc cây đội mũ tai bèo.
Biết rằng trước sau đối phương cũng sẽ nhận ra mình bị đánh lừa, cho nên tôi cần phải hành động thật nhanh. Kẻ địch bất ngờ đã hiện ra rõ mồn một trước mắt tôi. Hắn đang đứng sau một mô đất cao để bắn. Tôi liền kê súng lên rễ của cái cây bật gốc. Cái bóng hình mặc quần áo rằn ri bỗng lọt vào khe ngắm. Đầu ruồi đã đậu vào chính giữa ngực hắn. Tôi chỉ khẽ kéo cò là hồn phách tên địch lập tức bay lên trời.
Chính lúc ấy chích chòe bỗng ở đâu bay tới. Nó đậu ở cái cây trên đầu thằng địch. Thằng địch này là một thằng Sài Gòn, hắn đeo kính trắng. Thấy con chim hắn ngẩng đầu lên nhìn. Cái thằng vớ vẩn thật. Trên trận địa mà ngẩng đầu nghe tiếng chim. Nh ưng vừa nghĩ thế, thì lòng tôi cũng chùng xuống. Như tôi đã nói, tôi tin con chim ấy là vong linh thằng Tiến nhập vào. Cái thằng bạn trong tổ tam tam của tôi này lắm khi thâm thúy ra phết. Có lúc nó bảo tôi:
- Mày không sát sinh ư? Đó là trò vớ vẩn. Kẻ thù kề dao vào cổ mà mày không chống cự lại? Chắc mày là một ông thánh. Cái chỗ ấy, tao cho là không đúng. Hay nói cho đúng hơn, tao chỉ theo được lời Phật dạy có một nửa thôi.
-  Nghĩa là thế nào?
Tiến gật gà nói:
- Nghĩa là có thể giết người. Nhưng nếu không cần thiết, thì không được giết. Thế thôi. Thật giản đơn.
Lời nói của Tiến lúc sống cứ văng vẳng bên tai. Đầu ruồi khẩu súng của tôi đã hạ xuống thấp hơn nhiều. Đúng là không cần giết hắn làm gì. Tôi đã bóp cò bắn vào chân thằng lính đeo kính. Tôi là một xạ thủ giỏi có khả năng bắn đâu trúng đấy.
Khi thằng địch buông súng ra, ôm lấy đùi. Thì tôi hét lên xung phong. Và băng qua những mô đất nhấp nhô, tôi đã bắt sống đối phương.
* * *
Chúng tôi theo con đường mòn đi vào trong rừng, cách xa dần khu bị bom B.52. Khu rừng nguyên thủy đầy bụi rậm và dây leo. Tầng trên cành là những tán cây rậm rịt. Ở lối đi, ánh nắng chiều không thể lọt qua, nên đã cảm thấy cái lạnh man mác của mùa thu mặc dù chiều chưa muộn. Biết còn sớm, bởi vì ánh nắng xiên khoai còn tỏa vàng xuống quả núi ở phía tay phải. Ngọn núi lom khom như hình một ông già ngồi trầm tư. Không biết từ một khoảnh đất phì nhiêu nào đó đã mọc lên những ngọn dây leo. Biết là đất gốc nó phì nhiêu, vì dây leo rất dầy phủ kín hết quả núi, tạo thành một tấm áo khoác lên quả núi trầm tư. Có lẽ dây leo là bìm bìm cũng nên, hoa nó màu tím. Người tù binh của tôi thật hồn nhiên. Có lẽ cả đời anh ta chưa vào rừng rậm bao giờ. Trông thấy cái thác nước anh ta cũng reo lên trầm trồ. Trông thấy quả núi hình ông già khoác áo choàng xanh điểm hoa tím, anh ta thốt lên:
- Trông cái đám dây leo thõng xuống kìa, thật giống bộ râu đung đưa trước gió. Mà đám dây leo ấy lại dày đặc hoa tím. Một bộ râu màu tím! Hay thật!
 
Anh ta nói câu ấy nửa như nói bâng quơ một mình, nửa như muốn nói chuyện, chia sẻ cùng tôi. Anh ta dám nói thì tôi cũng dám nói chứ sao. Tôi nhận xét:
-  Cậu hồn nhiên thật nhỉ?
Anh ta trả lời tôi:
- Không phải là tôi không biết thân phận người tù của tôi. Nhưng anh Việt cộng ơi! Anh nhìn mà xem! Hoàng hôn ở rừng như thế kia cơ mà. Nắng chiều rọi vào quả núi như là dát vàng. Nắng vàng và màu xanh của rừng làm thành vàng cốm...
Rồi như chợt nhận ra câu nói của mình không hợp cảnh chút nào, anh ta chợt đột ngột lặng im. Những người hay nói thường có những phút như vậy. Đang cao hứng nói năng bỗng thấy như mình lố bịch, như mình có lỗi, ít nhất là thấy mình đã tranh mất phần của người nghe và thế là im bặt.
Còn tôi, thực ra tôi không thấy khó chịu với người tù binh. Cho đến lúc, thấy anh ta vụng về lúng túng, như có lỗi, thì những phản cảm với anh ta từ lúc đầu bỗng bay biến mất. Sự tự ngượng ngùng của anh ta chợt gây cho tôi chút thiện cảm. Tôi nhẹ nhàng tự giới thiệu và hỏi anh ta:
-  Tên tôi là An.
-  Tên tôi là Đức.
-  Anh làm nghề gì?
-  Tôi học triết học. Trường Đại học Vạn Hạnh.
Chúng tôi chỉ mới nói sơ sài mấy câu thế thôi. Sau đó im lặng. Mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Người tù binh tên là Đức ấy không biết đang nghĩ gì? Có thể anh ta nghĩ tới những câu anh ta đã nói với tôi. Không biết mình nói thế có điều gì sơ suất không, có điều gì có thể chống lại, hoặc làm phương hại đến anh ta không. Những người gặp hoàn cảnh như anh ta có thể nghĩ như thế lắm chứ. Trán anh ta nhíu lại thế kia. Hay là anh ta đang nghĩ cách đối phó. Có thể là một âm mưu trốn chạy chẳng hạn. Còn tôi? Tôi đang nghĩ thế này: Tức thị anh ta là người thành thị. Chẳng biết đến nhà quê là gì. Tôi thích người tù binh của tôi là người nông thôn hơn. Giá như anh ta là người nhà quê. Như thế tôi sẽ đối xử dễ hơn. Có thể ăn nói bỗ bã chẳng hạn... Có thể cục cằn hơn chẳng hạn. Đằng này, anh ta đến từ một thế giới khác. Ăn nói khác. Suy nghĩ khác. Anh ta không ở trong thế giới của tôi. Tôi không ghét những người thành thị. Nhưng thực quả tôi không hiểu gì họ. Tôi biết rằng những người nông dân, đến một lúc nào đó, phải trải qua hoặc phải biến thành những người thành thị. Ý nghĩ ấy làm tôi vừa buồn lại vừa vui. Nó vừa hấp dẫn, lại vừa làm tôi chán ghét. Nói thực lòng: Những người thành thị, tôi vừa ghét lại vừa yêu.
Chúng tôi cắm cúi đi, mỗi người theo đuổi những ý nghĩ riêng của mình như thế một lúc lâu. Hoàng hôn vùng rừng núi xuống nhanh lắm. Nắng dát vàng lên quả núi hình ông già mặc áo choàng bên tay phải, đã tắt ngấm từ lúc nào chẳng hay. Cái áo dây leo màu xanh cốm đã chuyển thành màu xanh đặc. Màu xanh toàn khu vực đã sẫm lại. Màu xanh nhạt ướp nắng còn chia sẻ cho ta chút ấm áp, còn màu xanh thẫm lại tỏa ra khí lạnh.
Trời tối nhanh lắm nên chúng tôi dừng chân bên một nương sắn ở quãng rừng thưa. Tôi bảo:
- Đêm nay đốt lửa ngủ ở đây thôi. Quãng đường tới toàn rừng rậm.
Tôi chọn một khoảng trống thích hợp tìm củi khô nhóm bếp, rồi gọi Đức lại, lấy dây dù trói chân trói tay hắn. Tôi nói:
- Cậu chịu khó ngồi yên đây một lát nhé. Tôi xuống suối lấy nước. Phải đun nước vừa để uống, vừa để rửa vết thương cho cậu.
Đức chìa chân tay cho tôi trói. Rồi cười mà bảo rằng:
- Anh cẩn thận thế. Đùi tôi bị thương thế này. Chạy thế nào được. Vả lại tôi cũng không muốn chạy. Tôi chán đánh nhau lắm rồi. Tôi chỉ là thông dịch viên. Tôi có làm tù binh thì chỉ ít lâu các anh lại thả ra thôi.
-  Sao cậu lại biết rành rẽ thế?
- Tôi có anh bạn cùng làm nghề thông dịch. Anh ta cũng bị bắt như anh bắt tôi. Sau đó ít lâu lại được thả về.
Tôi chỉ cười và nói để cảnh cáo anh ta:
- Cậu đừng tưởng bở. Có thể như cậu nói. Nhưng cũng có thể khác đi và tội cậu sẽ rất nặng nếu có hành động trốn chạy.
- Tôi biết chứ. Dại gì mà trốn chạy. Tôi biết các anh rất ghét bọn ác ôn và bọn làm việc với CIA. Vậy nếu tôi chạy, các anh sẽ hỏi: Tại sao lại chạy? Là ác ôn ư? Là CIA ư? Tội gì tôi lại để các anh nghi ngờ trong khi tôi chỉ là một người phiên dịch.
Đức ăn nói khôn ngoan quá. Tuy nhiên, dù sao tôi cũng không được phép mất cảnh giác. Tôi vội vàng xuống suối, rồi lại vội vàng trèo lên thật nhanh. Chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Lúc tôi cởi trói cho Đức anh ta chỉ tay nói:
- Tôi vừa trông thấy một con chồn chạy vào cái bụi rậm trước mặt kia. Chắc chỗ ấy có cái hang chồn. Anh còn lựu đạn không. Nếu thấy miệng hang chỉ cần thả vào đấy một quả là chắc chắn ta sẽ có thịt ăn.
Tôi gắt lên.
- Tôi không có lựu đạn. Mà dù có cũng không ném vào đấy. Thịt, thịt, lúc nào cũng thịt. Một ngày không thịt thì có sao đâu.
-   Ô hay! Tôi có làm gì sai đâu mà anh cán bộ phải cáu kỉnh.
Tôi bình tĩnh giải thích:
-  Tối nay không đói đâu mà sợ. Tôi sẽ nhổ một bụi củ sắn của đồng bào. Đun nước xong chúng ta nướng lên ăn.
-  Nhưng tôi tiếc anh cán bộ ạ. Đúng là một con chồn béo. Bắt nó dễ thôi mà.
Tôi hết sức bình tĩnh nói một cách ôn tồn.
-   Vả lại, tôi là người không thích ăn thịt.
-  Anh bộ đội không thích ăn thịt ư? Lạ nhỉ! Theo tôi được biết: Chỉ có những ông thầy chùa hoặc những người mắc bệnh phải ăn chay mới kiêng thịt.
-   Tôi không có bệnh gì cả.
-   Vậy anh bộ đội là...
-   Đúng! Trước khi đi lính, tôi đã ở chùa.
-   Thế ư? Lạ thật! Đúng là chuyện lạ.
Lúc đi đường hỏi chuyện, tôi đã cố ý ngừng câu chuyện giữa chừng. Tôi không muốn anh ta biết chuyện đời tôi. Bởi vì tôi là người chiến thắng. Và anh ta, kẻ bị thua. Người thắng có quyền biết người thua. Còn người thua sao lại có thể xoi mói đến chuyện riêng tư cửa người thắng. Đó là cái tâm lý của những kẻ thắng thua. Đối với người tu hành tâm lý thắng thua ấy không nên có hoặc không được có, bởi vì ta phải vượt qua thị phi, thiện ác. Nhưng thú thật, tâm lý của tôi lúc bấy giờ là như thế. Thế mà, không hiểu sao ngẫu nhiên, tôi lại nói cho anh ta biết tôi đã đi tu.
Người tù binh của tôi nghe vậy mắt sáng lên:
- Thật là duyên kỳ ngộ mới gặp nhau thế này. Tôi cũng là một cư sĩ. Thưa... đạo hữu là tỳ kheo hay người tu tại gia.
-  Tôi là nhà sư ở chùa.
-  Hạnh ngộ! Hạnh ngộ! - Người tù binh mừng tíu tít.
Còn tôi, tôi rất ngạc nhiên. Ngạc nhiên vì giữa chốn khói lửa này cái gì đã run rủi cho hai người cùng một tôn giáo lại gặp nhau ở hai phía chiến hào, trong một tình thế trớ trêu. Người đạo hữu tù binh gặp sự may mắn bất ngờ, vội nắm lấy cơ hội, kể lể:
- Tôi học triết học, nhưng chuyên về triết phương Đông, cụ thể là triết học Phật giáo. Thầy hướng dẫn của tôi là một thượng tọa ở chùa Vĩnh Nghiêm. Ngài đã tu nghiệp tiến sĩ bên Nhật. Ngài là luận sư về kinh Pháp Hoa.
Tôi cũng dần dần cởi mở hơn:
- Sư tổ của tôi lúc trẻ cũng tu tập từ chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang, về sau, người mới về trụ trì chùa Sọ.
- Như vậy, cả hai chúng ta đều là đệ tử của Vĩnh Nghiêm. Một nam, một bắc nhưng gốc là một.
Người đạo hữu của tôi nắm chặt lấy hai bàn tay tôi và lắc mạnh, cứ như thể anh ta sợ để tuột mất tôi khỏi bàn tay của anh.
Tối hôm ấy, bên đống củi rừng chúng tôi cùng nhau ăn sắn, hai người chúng tôi trở thành bè bạn lúc nào chẳng hay. Tôi kể cho Đức nghe những ngày tôi tu ở chùa Sọ. Còn Đức thì bộc lộ cho tôi về những mơ ước của anh sau này. Rồi chiến tranh sẽ hết. Lúc đó, Đức sẽ sang Nhật tu nghiệp thi tiến sĩ Phật học. Anh rất tin tưởng vào tương lai Phật giáo với xã hội loài người hiện đại. Đức nói rất hay:
 
- Trong tất cả các tôn giáo cổ của loài người, có lẽ phù hợp với con người hiện đại nhất là thiền học. Đó là con đường tâm linh mà người hiện đại dễ tiếp nhận bởi vì nó không mê tín. Nó dựa vào sức mạnh tâm hồn của mỗi cá nhân con người. Ai cũng có thể thành Phật. Con người tự cứu độ cho mình, tự giải thoát cho mình, chứ không phải nhờ vào một thế lực thần linh bên ngoài.  Ấy là chưa kể đến những thực hành thiền định, đó là kỹ năng làm chậm lại lối sống gấp hối hả tai hại, làm tiêu tan đi nỗi âu lo khắc khoải của thời đại mới. Đức nói:
- Mới gặp anh, tôi đã cảm nhận thấy có điều gì khác lạ. Thông thường đầu tóc người lính Bắc kỳ bao giờ cũng nghiêm túc. Các anh sợ những mái tóc dài để đến ngang vai. Đồng thời cũng sợ những chiếc đầu trọc lốc. Có một anh Việt cộng nói với tôi: “Đầu tóc biểu lộ tâm hồn con người. Tóc tai quái gở là những kẻ có tâm hồn quái gở”. Thế mà khi chiếc mũ của anh lật xuống sau lưng, tôi thấy đầu anh trọc lốc, nhẵn bóng. Có lẽ anh dùng dao cạo để cạo tóc. Cái đầu không tóc, ngoài đời, trông rất ghê. Người càng gầy trông càng đáng sợ. Như cái sọ đầu lâu vậy. Như thế anh là ai. Chỉ có hai loại người cạo trọc: anh là kẻ quái gở, hay là một nhà sư. Tôi ngờ anh là một thầy chùa từ lúc ấy. Và chuyện gợi ý ném quả lựu đạn vào cái hang chồn chỉ là một phép thử của tôi mà thôi.
Lại nói về chuyện cái đầu cái tóc. Khi xưa, lúc mới đi bộ đội, đầu tôi trọc, anh em không chấp nhận, chế giễu. Tôi phải để tóc dài để giống mọi người, hòa nhập với mọi người.
Sau này, khi ở chiến trường vài năm, tôi bị một trận ốm nặng, tóc rụng hết. Khi khỏi, tóc mọc lơ thơ, trông rất buồn cười. Anh em bảo cạo trọc đi cho vệ sinh. Thế là tôi cạo trọc lốc. Điều lạ là lần này trọc đầu, anh em không chế giễu gì hết, coi như bình thường. Vậy thì hai lần khác nhau ở chỗ nào. Có lẽ lần thứ nhất, ngoài cái đầu trọc, còn vẻ mặt và phong thái của tôi đều mang nặng chất thầy chùa không giấu đi được. Cho nên cái đầu trọc làm người ta dễ nhận ra sự khác biệt hơn. Con chim lạc đàn, lại có ngoại hình bị đánh dấu, rõ ràng sẽ dễ bị bầy đàn cũ nhận dạng ra ngay và xua đuổi. Còn lần thứ hai trọc đầu này, tôi đã ở chiến trường mấy năm, thì ngoài cái đầu ra, tôi còn có những tác phong, ngôn ngữ và cách sinh hoạt đặc lính, nên dù cái đầu tôi trọc, cũng không sao cả. Dù có thế nào, thì tôi cũng vẫn giống mọi người. Và thế là tôi được chấp nhận vào bầy đàn.
Nhưng với tôi, có một vấn đề đặt ra. Vậy liệu cái chất thầy chùa trong tôi có phôi pha đi không? Phải chăng đời sống trần gian đã thế tục hóa tôi đi tự lúc nào mà tôi không hay. Nhưng vậy thì tại sao người tù binh vẫn nhận ngay ra chất thầy chùa ở tôi, khi mới chỉ gặp tôi một thoáng.
Những câu chuyện như vậy càng lúc càng kéo gần chúng tôi lại với nhau. Thậm chí, có lúc tôi đã tưởng mình có thể hoàn toàn bỗ bã với con người này.
Nói đi nói lại, cuối cùng lại nói về trận chiến mà hai đứa chúng tôi cùng đang tham dự. Đức bảo:
- Chúng ta đang nói tới một vấn đề gay cấn và tế nhị đây. Lẽ dĩ nhiên, tôi ở phía bên kia, tôi mong cho bên tôi thắng. Hay ít nhất cũng là hòa thì hơn. Hòa nghĩa là cân bằng cho mọi yếu tố. Ở phía bên tôi, có yếu tố hiện đại, và sau chiến tranh, để xây dựng dân tộc, yếu tố hiện đại ngày nay vô cùng cần thiết. Mà để có được yếu tố này, cái giá phải trả là rất lớn.
Tôi nói:
- Đấy là cậu nói theo ước vọng. Tôi lại muốn nói theo hiện thực. Nghĩa là nói đến cái gì nhất thiết sẽ xảy ra. Tôi sẽ không phân tích theo quan điểm chính trị. Cậu có muốn tôi nói ra một cách bỗ bã, một cách trắng phớ ra không? Tôi sẽ phân tích theo cách nhìn xã hội. Đây không phải ý muốn riêng của ai mà là một tất yếu lịch sử. Phía bên cậu nhất định sẽ thua. Thua không tài nào gỡ được.
Tôi để ý thấy mặt Đức bỗng trắng nhợt. Tuy nhiên người tù binh của tôi vẫn giữ được bình tĩnh.
-  Tôi nghe đây. Anh thử phân tích có lý lẽ xem nào.
- Thực chất vấn đề Việt Nam là vấn đề nông dân. Nông dân theo bên nào, bên ấy sẽ thắng. Ở Việt Nam chỉ có hai lực lượng hiểu nông dân: Đó là những người Cộng sản và những thầy tu Thiên chúa giáo. Người Mỹ biết điều ấy nên những người lãnh đạo bên cậu đều là những người Thiên chúa giáo. Tuy nhiên, phải nói rằng những người Cộng sản hiểu và nắm chắc nông dân hơn. Cũng có thể nói rằng, toàn bộ đội quân đánh Mỹ hiện nay đều là những người nông dân. Còn bên phía các anh đó là đội quân của những cậu ấm đi làm chiến tranh. Nếu không phải cậu ấm thì cũng là người mang tư tưởng cậu ấm đi chiến đấu. Cậu ấm thì chống sao nổi những người nông dân. Bởi vì người nông dân (nhất là nông dân Việt Nam) là những người chiến đấu giỏi, và có thể chịu đựng những gian khổ ghê gớm nhất trần gian. Mà cuộc chiến tranh Việt Nam lại mang nhiều tính chất du kích nhất. Tham dự cuộc chiến này tức là phải chịu đựng những điều khốc liệt nhất, man rợ nhất. Có khi ta phải quay trở lại những điều kiện chiến đấu thời trung cổ, thậm chí thời tiền sử.
Tôi càng nói càng hùng hồn, tôi càng nói, sắc mặt Đức càng tái nhợt đi. Phải nói trong sự hùng hồn ấy chứa đựng cả cái táo tợn tàn nhẫn của sự thật thô nháp. Nó làm Đức nhoi nhói trong tim mỗi khi tôi nhắc đến chữ cậu ấm. Cậu ấm ư! Chữ ấy nhắc đến cái lỗi thời èo uột. Chủ nghĩa Cộng sản làm thức dậy trong người nông dân lòng yêu nước. Còn người nông dân đã tiêm truyền trở lại cho dân tộc một sức mạnh mới, một sức mạnh đã bị ngủ quên. Các cậu ấm ra trận với câu hát trên môi như:
 
Sương chiều buông kín núi đồi  
Mây mù giăng khắp nơi nơi  
Rừng hoang nấm mồ viễn xứ
Tiếng đàn tôi khóc đời tôi...
 
Rồi:
 
Cuộc đời là những sầu bi
Cuộc đời là những chia ly.
 Nước mắt dài theo thế kỷ
Ngập ngừng tôi bước chân đi...
 
Phải nói người nhạc sĩ là một nhà du ca tuyệt vời nói lên tâm trạng của cả một thế hệ cậu ấm bất đắc dĩ cầm súng ra trận. Tiếng hát là một lời ca thê thảm. Tiêu biểu cho một thế hệ thì được. Cho cả dân tộc chắc không ổn. Trong khi những thanh niên ấy than vãn thì những người nông dân có những nhạc sĩ của họ. Những người nhạc sĩ nông dân ấy có sức sống hơn. Họ yêu cuộc sống hơn. Lời ca của họ mạnh mẽ và trong lành. Chỉ nghe riêng những giai điệu ca hát, cũng có thể thấy rõ nhất định các cậu sẽ thua.
Đức nắm lấy hai vai tôi và hỏi:
-   Anh là nhà sư hay là người Cộng sản?
-  Tôi không hề là người Cộng sản. Nhưng những lời nói của tôi là một sự thật không thể chối cãi.
-   Anh đã nói dối. Anh là người Cộng sản.
-   Tôi chỉ là một nhà sư.
Đôi mắt Đức long lanh. Chỉ trông thấy toàn màu trắng.
-   Anh thờ ai?
-   Tôi thờ đức Thế Tôn. Và cũng thờ dân tộc.
-   Nói dối! Nói dối!
Tôi vẫn như lên đồng, lao vào cuộc chiến ngôn ngữ:
-  Nói dối ư? Cứ điểm qua các bài hát mà xem. Tiếng hát của các anh là những lời than vãn, toàn những lời buồn thảm và cái chết. Còn giọng hát của người nông dân thì sang sảng, vạm vỡ. Đây là cuộc vận lộn cơ bắp. Nhất định các cậu ấm sẽ thua.
Đức bỗng như điên như dại. Anh đã biến thành con người khác hẳn. Anh thét to. Cũng lúc ấy, đôi tay anh từ vai tôi chuyển lên cổ họng. Tôi hoàn toàn bị bất ngờ nhưng cũng còn đủ tỉnh táo để nắm lấy hạ bộ của anh ta. Thật là bỉ ổi khi phải dùng tới hạ sách, tuy nhiên chẳng còn cách nào khác để đối lại miếng hiểm của anh ta. Từ hai đạo hữu, trong nháy mắt, chúng tôi trở thành kình địch. Tôi sặc sụa. May thay, anh ta đã lỏng tay rồi buông hẳn ra. Tôi cũng buông tay mình.
Tôi ngạc nhiên vì sự thay đổi nhanh chóng của Đức. Chỉ một phút trước đây, con người ấy căm thù tới mức muốn giết tôi. Tôi đọc được điều ấy trong đôi mắt trắng dã điên dại của anh ta. Thế mà lúc này đôi mắt ấy đã hoàn toàn khác hẳn. Màu đen của con ngươi đã trở về để trung hòa cái màu trắng dã khủng khiếp. Trong lúc tôi còn xoa cổ và ho thì Đức nói rằng:
- Tôi sai mất rồi. Chúng ta hóa rồ dại mất rồi. Ngôn ngữ đã làm chúng ta thành những kẻ cực đoan. Hay là tại những mảnh đất mà mỗi người chúng ta đang sống. Chúng ta đã tuyệt đối hóa cả địa lý. Đứng ở mảnh đất bên này, rồi đứng ở mảnh đất bên kia. Chỉ riêng chuyện ấy, chúng ta đã thù hận nhau rồi.
Tôi nhìn cặp mắt hiền hòa của Đức lúc này, lại nhớ tới cặp mắt dữ tợn của Đức lúc nãy. Tôi đặt câu hỏi:
- Anh đang căm thù tôi như vậy, cớ sao bỗng dưng lại buông tay ra?
- Chúng ta cùng là người một nước, lại cùng một tôn giáo. Tôi thấy nó vô lý quá.
-  Thế sao bỗng dưng anh lại nổi điên như thế?
- Tại vì anh nhận xét về cậu ấm và về người nhạc sĩ. Anh ta là thần tượng của tôi. Thiên tài ấy không ai được phép động chạm tới. Động chạm tới anh là động tới cái gì sâu thẳm trong tôi.
Tôi gật gù khen ngợi :
- Tôi thành thật khâm phục anh. Đang cuồng nộ tức giận thế mà thoắt một cái, đã lấy lại ngay được sự bình tĩnh.
 
-  Con người là một sinh vật tâm lý, rất dễ bị kích động. Kiềm chế sự sân hận là điều rất khó. Đức Phật đã dạy: Đánh thắng một vạn quân cũng không khó khăn bằng tự chiến thắng được chính bản thân mình. Sư phụ tôi dạy rằng: Cứ mỗi khi cảm thấy mất bình tĩnh thì ta hãy niệm hồng danh đức Phật. Cứ niệm liên tục để tự nhắc nhở mình là cơ thể ổn định trở lại. Khi ấy, khi anh nhắc đến cậu ấm và người nhạc sĩ ấy, đầu óc tôi đã nóng bỏng lên, tôi đã có ý định giết chết anh. Đạo hữu nên nhớ tôi là người học yoga từ thuở nhỏ. Bàn tay tôi đã luyện được tới mức chộp tay vào cổ kẻ địch là có thể làm thủng ngay động mạch cổ của đối phương. Nếu chúng ta không phải là người đồng đạo thì...
Người tù binh của tôi chỉ nói được đến thế đã bị cơn buồn ngủ lôi kéo, anh ta nằm lăn ngay ra đất, cạnh đống lửa. Chỉ mấy phút sau Đức đã chìm vào giấc ngủ.
Còn tôi, tôi cầm khẩu AK đi đi lại lại. Từ lúc xảy ra xung đột, tôi không tin người tù binh của tôi nữa. Nghi nghi, hoặc hoặc. Anh ta thật hay là giả. Anh ta nhiều lý lẽ quá. Một kẻ đa ngôn. Mà người phật tử thì thông thường ít lý lẽ hơn. Vừa phủ định anh ta xong, trong đầu óc tôi bỗng hiện ra những ý nghĩ ngược lại: Không có nhẽ. Một kẻ giả trá không thể nào hiểu đạo Phật như anh ta được. Vả lại, anh ta có cơ hội trước để giết chết ta vì Đức đã nắm lấy cổ ta trước. Giả sử anh ta không biết yoga, thì chỉ riêng việc nắm được cổ tôi trước là anh ta đã có điều kiện chiến thắng rồi. Vậy, tại sao Đức không lợi dụng cơ hội ấy. Tôi đã ngồi trên một đống lá rừng và nghĩ miên man... Tất cả những điều ấy đã kéo tôi vào giấc ngủ lúc nào không hay.
Lúc tôi tỉnh dậy, thì trời đã sáng tỏ. Đống lửa đã tắt. Và điều quan trọng nhất đập vào mắt tôi, là người tù binh nằm bên kia đống lửa đã biến mất.
Tôi lao đi tìm song chẳng thấy tăm hơi.
Cứ như một giấc mơ vậy. Giấc mơ lạ lùng mà chưa bao giờ tôi kể với ai.
 





Đăng nhập để trả lời
0
Chương 9
 
Về cõi nhân gian
 
Hai năm sau ngày thống nhất đất nước, tôi được giải ngũ. Lúc ấy, tôi đã chuyển sang một đơn vị khác. Đồng chí chính ủy mới lại gọi tôi lên. Tôi chỉ là một anh lính tầm thường. Chuyện lính phục viên là việc rất bình thường. Hà cớ gì thủ trưởng lại phải quan tâm đến thế. Chắc trường hợp tôi, trước lúc ra đi, là một nhà sư, trường hợp đặc biệt nên cần chăm sóc chu đáo. Tôi cứ tiếc, giá như tôi còn ở đơn vị cũ, chính ủy Trần là sư thúc của tôi, thì nguyện vọng của tôi chắc được giải quyết dễ dàng hơn nhiều, đằng này...
Tôi vừa suy nghĩ vừa liếc nhìn ông thủ trưởng mới của tôi. Nghe nói ông này thẳng băng, tính nóng. Chính ủy mới mặt tròn bóng mỡ, đôi mắt to, râu cằm tua tủa. Ông cất tiếng nói oang oang, âm thanh rền như chuông:
- Đồng chí là An phải không? Tớ đã nghe nói nhiều về cậu. Làm việc có trách nhiệm. Được đồng đội mến. Chỉ phải cái hơi gàn một tí. Tuy nhiên không sao, không sao. Cơ bản là hoàn thành nhiệm vụ. Không uổng phí sự giáo dục của quân đội trong những năm qua. Nào, ý kiến của cậu muốn đề đạt là thế nào? Cậu cứ nói trực tiếp. Tớ xin nghe.
Tôi nhìn bộ râu cằm tua tủa mà ông thủ trưởng của tôi luôn đưa tay lên sờ. Lúc mới vào nhìn bộ râu ấy tôi cứ nghĩ: Hòa bình rồi, đâu có thiếu thời gian mà ông này không chịu cạo râu. Để râu lởm chởm như vậy, trông ông già đi thêm chục tuổi. Lúc này, nhìn ông sờ râu với vẻ thích chí, tôi nghĩ hóa ra sờ râu cũng có thể gây ra khoái cảm. Và ông này mắc bệnh “thích sờ râu”.
Còn ý nguyện đề đạt của tôi thì có gì đâu. Tôi chỉ có nguyện vọng nếu được ra quân, thì chỉ xin được quay lại về chùa, tiếp tục đi tu. Chỉ có thế thôi, chứ đâu phải chuyện to tát. Thế mà phải đích thân chính ủy ra tay đả thông tư tưởng. Tôi tiếp tục lan man suy nghĩ... Hay là tại tóc mình hơi lâu chưa cạo; cái đầu ông sư của tôi tóc cũng mọc lởm chởm tua tủa như bộ râu của ông... Và thế là ông muốn “sờ gáy” tôi. Ý nghĩ ngộ nghĩnh hài hước ấy làm tôi lúng búng, chậm trả lời. Nhưng tôi chưa kịp nói, thì thủ trưởng của tôi đã tức thời giải thích hộ tôi luôn:
- Cậu là thằng gàn. Cả cái ý kiến muốn quay về chùa tiếp tục đi tu cũng là gàn dở. Cuối thế kỷ hai mươi rồi. Ở phương Tây là nơi sùng đạo Thiên chúa, bây giờ thanh niên cũng ít đi nhà thờ và không muốn làm thầy tu. Cậu hiểu chưa. Khoa học tiến như vũ bão. Điều đó làm con người khó tin được vào đấng siêu nhiên. Cậu còn rất trẻ. Mà hòa bình rồi, tức là bao nhiêu cơ hội đang mở ra cho thanh niên. Phật Thích Ca ước ao xây dựng Niết bàn. Thì chúng ta bây giờ cũng đang cố gắng xây dựng Niết bàn. Tuy nhiên không phải trong tưong lai, mà là ngày hôm nay và ngay trên mảnh đất này. Vậy thì hà có gì cậu phải quay lại chùa? Quân đội có thể cho cậu chuyển ngành vào một nông trường. Hoặc nếu cậu thích công nghiệp, thì sẽ cho cậu chuyển ngành vào một nhà máy.
Thủ trưởng của tôi nói rất cao hứng. Ông xoa cằm lia lịa, và giọng nói của ông càng hùng biện. Ông ngừng một lát, để cho những ý nghĩ vụt ra kịp cùng lời nói, sau đó mới tiếp tục:
- Vả lại, trông đồng chí đẹp trai đấy chứ. Mắt sáng, môi son, mũi dọc dừa. Khá là khôi ngô, tuấn tú. Cậu An à, tôi cam đoan với cậu, nếu cậu để cho tóc dài ra, các cô gái sẽ vây quanh cậu. Người con trai như thế kia mà lại đi tu ư? Vào chùa ư? Xin chớ có thế! Nó phí hoài đi em ạ - Ông chính ủy ngừng một lát rồi hỏi tôi - Mình nói thế, cậu thấy ra sao? Trả lời đi. Thế nào, cậu đã thông chưa?
Tôi rất bình tĩnh. Tôi biết rằng câu trả lời của tôi sẽ làm thủ trưởng chẳng hài lòng, nhưng tôi đành phải nói:
- Thưa thủ trưởng. Trước hôm lên đường, em đã thắp hương xin chư Phật hộ trì cho em, và hứa khi đánh giặc xong, nhất quyết em sẽ quay trở về chùa làng để ngày đêm nương bóng từ bi.
Ông chính ủy lần này ngước cằm lên gãi râu rồi mới nói:
- Quả nhiên không sai với lời nói của chính ủy Trần. À tớ phải tự giới thiệu: Tôi là bạn thân của ông Trần, sư thúc của cậu. Nhân tiện, cũng phải báo cho cậu biết một tin... buồn. Sư thúc của cậu đã qua đời rồi.
-  Sao ạ? Chú Trần của em đã mất tự lúc nào? - Tôi rụng rời hỏi.
-  Đã năm tháng.
-  Thưa thủ trưởng - Chú em mất vì bệnh gì?
- Trung tá Trần, người bạn dũng cảm của tôi đã trải qua hai cuộc kháng chiến, trải qua trăm trận chiến đấu lớn, nhỏ. Bị thương ba lần vẫn không hề hấn gì. Thế mà hòa bình được một năm, ông lại bị thổ ra máu. Người ta phát hiện ông có một khối u to bằng quả trứng gà trong lồng ngực, Bệnh viện nói khối u đã di căn khắp nơi. Chỉ ba tháng nữa thì chết. Con gái ông đón ông vào Tây Nguyên tìm cách chữa bệnh cho ông bằng lá rừng. Cũng kéo dài được một năm thì ông chết.
Ông chính ủy già lại dừng lại lần nữa để sờ râu rồi mới nói:
- Khi tôi đến thăm, ông bạn tôi đã yếu lắm rồi, song ông vẫn cố gắng nói, cứ tha thiết nhờ tôi thuyết phục cậu trở về đời sống trần tục một cách hoàn toàn. Mà lạ thật! Ông ta lại có thể đoán biết rất đúng phản ứng của cậu ra sao khi tôi nói chuyện với cậu.
Khi thủ trưởng nói, tôi cúi đầu lặng lẽ, với bao suy nghĩ. Và đến lúc bấy giờ tôi mới hỏi:
- Như vậy là thủ trưởng đã gặp cô Huệ, con gái của chính ủy Trần.
Một lần nữa, ông già lại ngẩng lên gãi râu, lần này hình như ông tủm tỉm cười:
- Có. Tôi đã gặp cô Huệ y sĩ. Này, tôi có nghe chuyện này nhưng không biết có đúng không. Nghe nói rằng, cậu đã ba lần gửi thư cho cô Huệ, nhưng thư bị thất lạc.
Tôi khe khẽ gật đầu. Đúng là, tôi đã gửi cho Huệ ba lá thư. Chúng tôi đã hẹn với nhau rồi. Nội dung thư chỉ hỏi thăm bình thường. Nhưng ngoài phong bì phải đề:
 
‘‘Thư gửi Nguyễn Thị Huệ ở Trạm Quân y Cây Chò hai trăm tuổi.’’
Ba lần gửi song chẳng hề có hồi âm. Tôi nóng ruột vô cùng mà không có cách nào biết được tin tức, bởi vì đơn vị mới của tôi ngày càng đi xa khỏi nơi ở của Huệ. Đến lúc ấy, thủ trưởng mới đưa cho tôi một lá thư và bảo:
- Những lá thư không hề bị thất lạc, bởi vì Cây Chò hai trăm tuổi ấy vẫn đứng vững. Nhưng đã có một sự việc xảy ra. Cũng vì sự việc ấy, cô Huệ ngại ngần không muốn viết thư cho cậu. Cô ấy đã bị thương, cụt mất một chân. Bây giờ thì cậu nghĩ thế nào. Có nên quay về chùa nữa không. Trước khi chết, trung tá Trần cứ băn khoăn mãi về chuyện của con gái. Đại úy Căn con trai ông đã hy sinh ở Xuân Lộc khi tiến vào Sài Gòn. Bây giờ cô Huệ chơ vơ một mình ở đời. Mẹ chết, bố chết, anh trai cũng chết. Ông Trần bảo lúc này chỉ còn cậu là người gần gũi với Huệ nhất.
Lẽ dĩ nhiên, trước khi có quyết định ra quân như thế nào, tôi được nghỉ phép đi thăm Huệ. Điều ngạc nhiên là địa chỉ mới của Huệ lại ở ngay Hà Nội. Cô ở tại một xóm ngoài bãi ven sông Hồng.
Tôi đến xóm Bãi vào một buổi sớm. Cái xóm nghèo nhà tranh vách đất. Nghèo nhưng gọn ghẽ khang trang. Ngõ hình con rết. Một ngõ to nằm giữa xóm. Từ ngõ to tỏa đi những ngách nhỏ. Ngăn giữa các nhà và với mặt ngõ là các hàng rào cúc tần hoặc dâm bụt. Những cành dâm bụt nở hoa đỏ chói, rung rinh như những chiếc cần câu. Hoa đỏ rập rờn trước mặt. Tôi hỏi thăm. Người ta bảo:
- Nhà ông bà Thơm, có cô con nuôi thương binh ở số 5 tổ 6. Cứ tìm cái nhà nào nhiều hoa dâm bụt nhất. Lại có cây nhãn ở sân là đúng.
Chẳng khó khăn gì, tôi tìm được ngay. Huệ đang chống nạng phơi quần áo ở sân, vừa nhìn thấy tôi ở cổng đã sững người ra, đánh rơi cả chiếc áo xuống đất.
Ông bà Thơm đã ngoài bảy mươi, làm nghề trồng rau. Huệ dắt tôi ra sau nhà, chỉ cái bãi trồng rau rộng bao la nói với tôi.
- Cả xóm Bãi sống bằng những ruộng rau đó. Trừ mùa nước lũ, còn quanh năm ở đây xanh mướt những rau cải, củ cải, su hào, cải bắp.
Rồi cô giới thiệu kỹ hơn:
- Ông bà Thơm là bố mẹ của em. Anh có nhớ cái bận em nhảy xuống sông Hồng không. Thuở ấy nước to. May mắn em bám được vào khúc gỗ. Và khúc gỗ đã trôi phăng phăng trên sông dẫn em đến xóm này. Hôm ấy ông bà Thơm bơi thuyền vớt củi rều, nhặt được em trên sông, liền đem về nhà nuôi. Nửa năm trước, khi thầy em mắc ung thư chết, em biên thư về cho ông bà. Nhận được thư em, ông bà viết thư bảo: “Con về ngay ở với bố mẹ. Trước đây bố mẹ nhận con là con của bố mẹ, thì bây giờ và sau này, mãi mãi con vẫn là con của bố mẹ”.
 
Huệ nói vậy, nhưng đôi mắt vẫn rơm rớm. Tôi nhìn hai mái đầu đã bạc phơ của ông bà Thơm, rồi lại nhìn cái chân cụt quá đầu gối của Huệ. Cái ống quần lụa đen ở bên chân cụt đã được vén lên cài kim băng cho khỏi phơ phất, nay kim băng tuột ra. Cái ống quần được thả lỏng, gặp gió sông bỗng bay phần phật. Gió vô tình trở thành ác độc, như thể là kẻ cố tình gây chú ý vào chỗ khiếm khuyết của con người. Tôi hiểu nỗi niềm của Huệ. Còn Huệ thì đỏ mặt lên, giơ tay giữ chặt cái ống quần lại.
Tôi chẳng biết nói gì với Huệ. Tôi chỉ cầm lấy tay cô và bảo rằng:
- Em cứ tin ở anh.
Hôm sau, tôi từ biệt Huệ, nhân tiện đường quay về làng Sọ. Chùa làng vẫn như xưa. Chẳng có gì khác. Cái khác là sự thay đổi của những con người. Sau khi chị Nguyệt tôi đi lấy chồng. Cái am ni làm bằng tre nứa bên bờ ao, không có hơi người ở bị mối mọt, rệu rã. Một trận gió đã làm nó sụp xuống. Tôi đi ra chiếc giếng thơm bên cạnh cây nhãn cổ thụ. Cái giếng là Rêu đấy. Rêu từ giã cõi đời chẳng để lại một bức hình. Thời gian đã xóa hết dấu vết của cô. Nhưng cái giếng thì vẫn còn đấy. Không hiểu sao tôi lại cúi đầu xuống nhìn mặt nước. Mấy khóm dương xi từ vách giếng trồi ra. Những chiếc lá hình tam giác răng cưa cũng soi gương trong nước. Ô kìa, trên gương nước, ngoài cái bóng của tôi còn phảng phất một chiếc bóng thứ hai trăng trắng, nhàn nhạt. Một cơn gió hiu hiu, tôi thấy lạnh ớn sống lưng, và chợt cảm thấy một mùi thơm man mác. Lại cảm giác như có ai đấy đang nhìn vào gáy mình. Rêu chăng? Hay là hồn Rêu cũng đang soi gương xuống giếng. Tôi quay đầu ngẩng nhìn trời. Có thấy gì đâu. Chỉ thấy một đám mây trắng trên nền trời xanh đang loãng ra. Tôi buồn buồn thầm nghĩ: Quá khứ chỉ còn sót lại từng ấy thôi ư?
Sau khi chị Nguyệt tôi đi lấy chồng, thiền sư Vô úy sư phụ tôi cũng viên tịch. Ngày nay, sư huynh của tôi, sư Khoan Độ, thay thầy tôi làm trụ trì. Sư huynh dẫn tôi ra vườn tháp. Tình trạng kinh tế của nhà chùa trong thời gian hợp tác xã rất là eo hẹp. Các tín đồ trong vùng, các bà vãi trong làng phải góp từng viên gạch, nhà chùa phải tích cóp từng đồng xu của khách thập phương cúng dường mãi mới đủ lực xây cho thầy tôi một ngôi tháp ba tầng. Tôi ra tháp quỳ trước thầy bái lạy. Rồi ngậm ngùi:
- Thầy chúng ta cả cuộc đời gian truân. Cứ tưởng ở chùa là cuộc đời tĩnh lặng, sẽ chẳng gặp sóng gió. Thế mà, nào tù tội, nào đói khát, nào bị tra tấn... bao nhiêu chuyện đã xảy tới. Chắc ngày xưa, sư tổ đã nhìn thấy những điều đó nên đã đặt pháp danh cho thầy là Vô úy.
Tôi vái xong, cứ trầm ngâm suy nghĩ mãi, cuối cùng tôi hỏi sư Khoan Độ về những ngày cuối cùng của sư phụ:
-  Thầy chúng ta mắc bệnh gì?
- Thầy chẳng có bệnh gì cả. Hơn chín mươi tuổi rồi. Chắc vì già quá thôi.
-  Người có đau đớn gì không?
- Không, trước khi ra đi, thầy rất tỉnh táo. Dặn dò tỉ mỉ cho từng người, từng việc.
-  Thầy có nhắc tới đệ không?
- Có chứ. Nhiều lần là khác. Thầy chỉ tiếc hãy còn chiến tranh, không được gặp sư đệ lần cuối.
-  Thầy có dặn gì sư đệ không?
- Có chứ. Thầy có viết lên mảnh giấy hai chữ nho mà huynh không đọc được.
Tôi run run nhận tờ giấy, trên đó thầy tôi viết hai chữ rất đẹp: Tùy duyên.
Phải chăng đó là hai chữ trong bài phú Cư Trần lạc đạo của đức Trần Nhân Tông:
 
"Cư trần lạc đạo thả tùy duyên...
 
Thầy tôi đã biết trước tất cả rồi sao. Tùy duyên! Tôi có thể bỏ mặc Huệ, người con gái tàn tật tội nghiệp ấy, một mình bơ vơ giữa cõi đời này hay sao? Hiện nay Huệ chỉ có một mình tôi là người thân. Trong khi đó cô ấy cần đến tôi. Tôi nhìn thấy sự tin cậy và cần thiết ấy trong đôi mắt Huệ, hôm ở xóm Bãi. Chắc sư thúc cũng muốn nói điều ấy với tôi nên mới nhờ ông thủ trưởng của tôi gọi tôi lên nói chuyện. Cả sư phụ tôi cũng vậy. Ông viết hai chữ tùy duyên là đã cho phép tôi, và trao cho tôi quyền tự quyết định. Tôi nghĩ lan man suốt đêm. Tôi nghĩ tới ngài Tuệ Trung thượng sĩ, người đã dẫn dắt đức vua Trần Nhân Tông vào con đường thiền. Thầy của vị tổ thứ nhất thiền phái Trúc Lâm lừng danh lại là một cư sĩ. Thầy tôi, sư cụ Vô úy là một Bồ tát. Thầy tôi thường dạy - Phật giáo là một lối sống. Ta có thể tu ở mọi nơi và ở mọi lúc. Tôi đã mục kích thầy tôi tu trong lúc biến, tức là tu cả trong các nhà tù. Bậc Bồ tát có thể hành đạo ở mọi công việc trên khắp thế gian.
Nghĩ vậy, sáng hôm sau tôi rời chùa, quay trở lại xóm Bãi ven sông Hồng để đón Huệ.
* * *
Chúng tôi gặp lại ông thủ trưởng, bạn của sư thúc Vô Trần. Thấy cả Huệ đi cùng với tôi, ông rất vui. Ông bảo:
- Huệ ạ, bác rất vui vì đã không thất hứa với bố cháu. Còn An, bác biết cháu phải đấu tranh tu tuởng nhiều. Tuy nhiên, như thế này là hợp nhẽ. Còn bây giờ, các cháu định thế nào? Cứ mạnh dạn đề đạt.
- Chúng cháu định lên rừng, làm ruộng - An trả lời - Chỉ ngặt một nỗi, cả hai đứa chẳng có một mảnh đất cắm dùi.
- Cái gì chứ việc ấy, bác giúp được. Bác có người bạn làm phó chủ tịch tỉnh. Xin giao cho các cháu một, hai quả đồi trọc không phải là khó. Chỉ có điều ở đấy rừng núi bạt ngàn, cách xa thành thị. vết thương của cháu Huệ ra sao? Liệu có cần phải ở gần bệnh viện không?
- Thưa bác, vết thương của cháu đã ổn định. Nếu được bác giúp cho như vậy thì tốt quá. Cả hai chúng cháu đều thích ở miền rừng núi.
Thật là cầu được ước thấy. Chúng tôi được giao mấy quả đồi trọc ở vùng núi Tam Đảo, gần một con suối gọi là suối Đá Đen. Đất đai rộng rãi. Chúng tôi khai thác được dăm sào ruộng nước. Dưới chân đồi làm ruộng ngô, nương sắn. Gia đình anh Hạ, chị Nguyệt cũng lên làm ăn với chúng tôi. Có đủ lao động, chúng tôi trồng một đồi chè, một đồi trám, một đồi dẻ. Trên đỉnh một quả đồi, chúng tôi làm am thờ Phật. Nhà làm ở lưng đồi, ba gian hai chái. Cuộc sống có thể nói là ổn định, yên tĩnh. Khi ấy tôi mới bảo Huệ:
- Em vốn là y sĩ, còn anh nhờ theo sư phụ và sư huynh Khoan Độ nên cũng biết về thuốc nam. Gần chỗ ta ở là những khu rừng lắm cây thuốc quý. Có lẽ ta nên chữa bệnh giúp mọi người.
Huệ tán thành ngay. Tôi lại đem ý đó ra bàn cùng trạm y tế xã cũng được họ nhiệt liệt ủng hộ. Chúng tôi dựng một chiếc lán cạnh nhà làm nơi chữa bệnh không lấy tiền. Trạm y tế gửi những bệnh nhân nghèo đến chỗ chúng tôi.
Đầu tiên chúng tôi chữa những bệnh thông thường bằng những cây cỏ dân gian, về sau, một số người mắc bệnh nan y cũng tìm đến, họ đã bị bệnh viện trả về chờ chết. Huệ là người ham hiểu biết. Ngoài những hiểu biết về tây y, cô còn sưu tầm được những bài thuốc dân gian bí truyền, những bài thuốc mà trong lúc ở chiến trường, rồi lúc đi đây đi đó cô đã học được. Cô ấy đã chữa được vài ca ung thư, xơ gan cổ chướng. Cô ấy bảo bệnh nhân loại này rằng:
- Những bệnh này thực ra nhiều lúc y học bó tay vì có nhiều nguyên nhân, nhiều thời kỳ tiến triển và cơ địa từng người bệnh rất khác nhau. Tuy vậy, còn nước còn tát. Nếu loại bệnh rồi người bệnh phù hợp với loại thuốc cỏ cây nào đó thì cũng có người khỏi. Dù thế nào, tôi cũng xin hết sức cố gắng giúp đỡ.
 
Huệ hiểu khả năng của mình chỉ mới tới đó, nhưng người khỏi nói cho người khác. Và qua những lời đồn, người ta cứ kéo đến. Đến nỗi, anh Hạ phải dựng thêm một cái lán để bệnh nhân ở xa đến có chỗ ngủ tạm và nấu nướng, sinh hoạt.
Từ khi được làm việc và giúp đỡ người bệnh, Huệ vui hẳn lên và khỏe hẳn ra. Sáng sáng, cô chống nạng đến thăm bệnh nhân với nụ cười trên gương mặt rạng rỡ. Nhìn thấy Huệ như thế, riêng tôi cũng thấy mãn nguyện. Bởi vì có như vậy, việc tôi rời chùa mới có ý nghĩa.
Sự nổi tiếng chữa bệnh của Huệ đã khiến cho tôi có một cuộc gặp gỡ đặc biệt.
Một hôm, có một người ăn mặc sang trọng tìm đến ngôi nhà hẻo lánh của chúng tôi. Ông ta hỏi:
-   Thưa, đây có phải gia đình ông An bà Huệ.
-   Vâng. Ông đến chữa bệnh hay có việc gì khác.
-   Thực ra tôi muốn tìm gặp ông An, một người quen cũ.
Tôi ngẩn người nhìn ông khách lạ, nhất là khi ông ta tự giới thiệu từ bên Mỹ trở về nước. Ông ta đã về nước mấy lần, lần nào cũng tìm tôi nhưng không được. Tôi ngắm ông khách từ đầu đến chân, và hoàn toàn mù mịt không thể nhớ ra đã gặp người khách sang trọng này ở đâu. Ông ta xưng tên:
-   Tên tôi là Đức, Đức đây mà.
-  Đức nào nhỉ? - Thú thực tôi vẫn ngớ ra. Ký ức vẫn chưa chịu về với tôi.
Lúc bấy giờ Đức mới giải thích rõ.
-  Anh đã quên trận bom B.52 ngày xưa lúc ấy chỉ có anh và tôi sống sót. Và tôi là người tù binh của anh.
-   À... à... - Tôi nhớ ra rồi.
Đức kể:
-  Cuộc gặp gỡ của hai chúng ta ngày ấy là một hạnh ngộ hy hữu. Ít lâu sau, tôi sang Mỹ đi học tiếp. Ngày nay, tôi dạy khoa Đông phương học ở một trường đại học Hoa Kỳ.
-   Ông vẫn theo đạo Phật?
-  Ngày ấy tôi là đạo hữu của ông. Ngày nay, cũng vậy. Chính vì theo đạo Phật, nên tôi mới cố tìm gặp ông. Tôi đến cả giáo hội Phật giáo miền Bắc hỏi tin tức về một ông sư tên là An đã nhập ngũ đi B, nhưng cũng không ai biết. May mắn lần này, tôi đọc một tờ báo nói về bà Huệ, chữa bệnh cho người nghèo, chồng tên là An có một thời đã đi tu. Chưa biết đích xác, nhưng tôi cứ đánh liều đến đây. May mắn thay, vừa gặp mặt ông là tôi đã nhận ra ngay - Nói một hồi dài, cuối cùng ông Đức mới thổ lộ mục đích - Sở dĩ phải gặp ông, bởi vì ông là đạo hữu. Tôi có lỗi với ông. Tôi đến xin với ông một lời tha lỗi.
- Ông có lỗi gì nhỉ? Trong cuộc chiến, tôi bắt ông, rồi ông tìm cách trốn thoát. Tưởng rằng đó là chuyện thường tình.
- Nào chỉ có thế. Ông có nhớ, đêm ấy ông luận bàn với tôi lẽ được thua. Trong khi nói, ông có nhắc tới một nhạc sĩ tài năng, anh ta vốn là thần tượng của tôi. Thế là tôi nổi xung lên, bóp cổ ông. Sau đó, tôi tự chế ngự được bản thân, tôi đã kìm nén được cơn giận. Nhưng không phải thế đâu. Cơn giận trong tôi càng nén lại càng bùng lên dữ dội. Thú thật, càng lúc tôi càng căm ghét, hận thù ông. Cuối cùng tôi tự nhủ: “Mình sẽ giết hắn rồi trốn đi”. Ông thì vô tình không biết, còn tôi thì giả vờ ngủ, nghĩ mưu tính kế. Rồi dịp may đã tới. Vừa mệt nhọc, vừa được ấm áp bên đống lửa, ông đã ngủ thiếp đi. Tôi nhân cơ hội, len lén đứng dậy. Tôi rút một thanh củi to lửa cháy đùng đùng. Tôi định dùng thanh củi cháy ấy để dúi vào mặt ông. Tôi nghĩ, nếu ông không chết thì cũng phải mù mắt. Dù ông có thức dậy, thì tôi cũng dễ dàng tẩu thoát. Tôi đã đưa thanh lửa ấy vào gần mặt ông nhưng tôi lại chần chừ nghĩ ngợi. Chính lúc ấy, tôi nghe thấy một tiếng động đánh xoạt một cái phía sau lưng. Tôi quay phắt đầu lại, nhìn thấy sau bụi rậm có hai con mắt đỏ lừ. Chẳng biết hươu nai hay hổ báo. Chỉ biết rằng hai con mắt đỏ ấy đã làm cho đầu óc tôi bừng tỉnh. Ông vẫn còn ngủ, còn tôi lầm lũi bỏ đi.
Tôi nghe chuyện liền hỏi Đức:
-  Đã là ác thú, tại sao nó không tấn công tôi khi ông bỏ đi.
- Tôi cũng chẳng biết nữa... Có lúc tôi cũng nghĩ như ông. Nhiều đêm tôi vẫn mơ trông thấy đôi mắt đỏ ấy. Rồi tôi lại nghĩ có thể đôi mắt đỏ ấy là lương tâm của tôi, có khi là hóa thân của Phật hiện ra để ngăn tôi không làm điều ác.
- Và thực tế ông đã không làm điều ác. Tôi may mắn đã không bị mù, hay không bị chết, tôi cũng phải cám ơn ông mới phải. Ông không có lỗi.
- Vẫn có lỗi chứ. Dù sao thì tôi đã có ý tưởng giết ông, ý tưởng ấy đã dấy lên trong tâm tôi. Một tà niệm trong khi ông không có ý định giết tôi. Tôi càng tu tập, càng suy nghĩ càng thấy tôi còn cách xa con đường chánh đạo.
Cả ngày hôm ấy, chúng tôi nói chuyện với nhau thật là tâm đắc. Đức hỏi tôi về ngôi chùa xuất xứ của tôi. Tôi nói:
- Sư phụ Vô úy của tôi đã qua đời - Tôi kể sơ qua về hành trạng của người. Đức nói - Ngài là bậc Bồ tát. Anh có phúc lớn mới được sống cạnh ngài.
Tôi ngậm ngùi.
- Sư phụ tôi sống rất bình thường, bình thản giữa cuộc đời. Lúc sống cạnh người tôi chưa hiểu ra. Nhưng bây giờ tôi mới hiểu sống như vậy thật khó, và hiểu sống như vậy mới gần được đạo. Tôi biết ơn được sống dưới sự che chở của người.
Tôi lại hỏi Đức:
- Ông có duyên, được học nhiều, được đi nhiều trên thế giới, chắc được gặp nhiều các bậc thiện trí thức. Tôi xin được nghe những ý kiến của ông. Bởi vì tôi là một người nhà quê, chỉ sống ở một ngôi chùa quê.
-  Thực ra, riêng ông đó là diễm phúc. Tôi may mắn được đi nhiều nơi, được gặp nhiều người, cứ băn khoăn suy nghĩ, rồi mạo muội có những ý nghĩ. Tôi thấy thế gian có nhiều lối sống. Tôi theo đạo Phật nên lẽ dĩ nhiên theo lối sống Phật giáo và tôn trọng các lối sống khác. Đại để thì chia làm hai: một lối sống âm tính và một lối sống dương tính. Lối âm tính suy ngẫm khoan hòa, âm thầm, nhưng cũng tàng chứa một năng lượng không phải nhỏ. Lối dương tính thì hoạt bát, năng động tức thì, đáp ứng ngay cho con người vô cùng hấp dẫn. Chẳng cái nào kém, cái nào hơn. Chúng bổ sung cho nhau thì đúng hơn. Tổ tiên chúng ta ngày xưa đã hiểu được cái lý ấy. Ví dụ như thời Lý - Trần. Thời ấy Phật giáo là âm, Nho giáo là dương. Nhà Lý sinh ra từ đạo Phật. Nhưng nếu cực đoan Phật giáo thì đất nước sẽ yếu ớt không chống được kẻ thù hùng mạnh. Do thế, Lý Thánh Tông và bà Ỷ Lan mới lập Văn Miếu mở khoa thi Nho giáo, ngõ hầu đem cái cương cường, cái trật tự mạnh mẽ của Nho giáo làm cân bằng cái uyển chuyển mềm mại đạo lý của Phật giáo. Đó là lần điều chỉnh thứ nhất. Đến thời Trần, sau khi ba lần thắng quân Nguyên - Mông, chiến tranh liên miên, mà khi đánh nhau thì con người phải bạo tàn. Chắc thời ấy, sự đói khát, sự hung bạo đã làm đạo lý suy vi. Dương tính quá dâng cao cho nên đức vua Trần Nhân Tông mới đi tu, chấn hưng phật giáo. Đó là lần điều chỉnh thứ hai. Tôi nghĩ thời hiện đại là thời
dương khí bốc lên ngùn ngụt, ta cũng nên tham khảo kinh nghiệm của hiền nhân.
* * *
Chẳng mấy chốc sẽ đến rằm tháng Tám. Huệ bảo tôi:
- Năm nay cháu Tâm Như lên sáu. Chúng ta lại có ba cháu bệnh nhân nhỏ tuổi. Em nghĩ, chúng mình nên tổ chức Tết Trung thu cho các cháu thật vui.
Tôi tán thành ngay ý kiến của Huệ. Chị Nguyệt và Huệ chuẩn bị hoa quả, bánh trái. Huệ lại có dịp trổ tài làm thứ bánh rán độc đáo của làng Sọ, to vừa bằng cái mâm, lại ròn tan. Thứ bánh cúng Phật làm bằng bột, nước lá duối, mật mía và dầu lạc mà bà Nấm đã dạy cô. Còn tôi, tôi chuẩn bị làm những chiếc đèn xếp. Tôi nhuộm giấy xanh đỏ, vẽ hoa lên giấy, rồi khéo léo xếp, biến những tờ giấy thành những chiếc đèn sặc sỡ xinh xinh.
 
Đêm Trung thu. Trăng vàng tròn vành vạnh treo trên bầu trời không mây.
 
Trẻ con và cả người lớn chúng tôi đều tụ tập tất cả trên đỉnh đồi, ở cái sân rộng trước am thờ Phật. Chung quanh sân là những cây vải tán lá rậm rịt. Chỉ có ở đấy trăng không xuyên tới mới có bóng tối. Chúng tôi treo những chiếc đèn xếp dưới những tán lá. Không có nến, theo sáng kiến của Huệ, tôi thả vào mỗi chiếc đèn nhỏ xinh ấy dăm con đom đóm. Huệ còn thả đom đóm vào những chiếc vỏ trứng rỗng để có thêm những chiếc đèn tròn xoe.
Đám trẻ con múa hát. Sau tuần nhang, bọn trẻ phá cỗ trông trăng. Thụ lộc Phật xong, chúng buộc những chiếc đèn xếp vào đầu những que tre rồi rồng rắn rước đèn.
Những chiếc đèn đom đóm nhòa đi trong ánh trăng. Khi lũ trẻ đi dưới những lùm cây. Và một đám mây chiều lòng con trẻ đã xuất hiện trên cao. Trăng chui vào đám mây. Dưới bóng cây, những chiếc đèn đom đóm lúc này bỗng tỏa sáng lập lòe.
Huệ bảo chị Nguyệt:
- Nhìn lũ trẻ, chị có nhớ tới hồi chị em mình ở quả đồi Đom đóm hồi chống Pháp?
- Nhớ chứ. Chị nhớ cô Nấm mẹ em, rồi chú Vô Trần, cả sư cụ Vô Úy nữa.
-  Nhớ cả cái Rêu, anh Căn, anh Trắm nữa.
-  Đã bao nhiêu năm rồi chị nhỉ?
- Lâu lắm rồi. Nhưng mà cũng chóng quá. Cứ tưởng như những chuyện chỉ mới hôm qua.
Còn tôi, nghe họ nói tôi lại nghĩ về kiếp nhân sinh. Kiếp người chẳng qua như những con đom đóm. Vầng trăng kia là ánh sáng của Phật, tỏa chiếu khắp nhân gian. Kiếp nhân sinh là con đom đóm. Chẳng ai thắp mà đom đóm vẫn sáng. Nghĩa là con người vốn có ánh sáng trong mình. Trong đêm đen, con đom đóm cố hết sức để tự phát sáng. Ánh sáng ấy nhỏ nhoi lắm, yếu ớt lắm. Nhưng dù sao cũng là ánh sáng.
 
Khởi thảo: Hà Nội 2007.
Hoàn thành: Đại Lái 2010.




Đăng nhập để trả lời
0