📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

TRUYỆN GIẢI BUỒN - HUỲNH TỊNH CỦA (tập đầu) 🔒

5 trả lời, 10 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.09.2018 19:10:18 bởi Ct.Ly>
Đánh máy: Nguyễn Bửu San
 
CHUYỆN GIẢI BUỒN
PAULUS CỦA
1- CHÍ KHÍ CAO
Thuở xưa vua Nghiêu muốn truyền ngôi cho Hứa Do (1) bèn đòi Hứa Do tới mà dạy rằng: trẩm nghe ngươi có đức lớn, trẩm muốn truyền ngôi cho ngươi, ngươi phải nối ngôi cho trẩm mà làm vua thiên hạ. Hứa Do nghe nói, tức cười, vội vàng đi xuống suối mà rửa tai. Cũng một khi ấy có người Sào Phủ là người giữ trâu đem trâu xuống suôi mà cho uống nước, thấy Hứa Do đương lum khum rửa tai, hỏi Hứa Do làm sao mà rửa tai? Hứa Do lắc đầu nói: ông Nghiêu đòi tôi, biểu tôi thì làm vua. Sào phủ nghe nói, liền đem trâu lên trên dòng nước mà cho uống. Hứa Do hỏi làm sao anh lại đem trâu lên trên ấy mà cho uống? sào Phủ rằng: anh rửa tai anh xuống đó, tôi sợ trâu tôi uống nhằm. Sào Phủ lại rằng: anh đi đâu cho người ta biết anh mà muốn nhường ngôi vua cho anh, ấy là tại bụng anh hãy còn danh lợi.
Nghe mà rửa chi bằng giữ vẹn đừng nghe.
 
Chú thích:
(1) Sách Trang tử nói: Hứa Do là người hiền đức, thuở ấy thưa lại rằng: Tiêu liêu sào lâm bất quá nhứt chi, yển thử ẩm hà bất quá mãn phúc, nghĩa là chim tiêu liêu làm ổ, bất quá trong một nhánh cây; trâu đầm uống nước chẳng qua đầy bụng, nhường hết thiên hạ cho tôi, cũng chẳng làm gì.
 
---
 
2- CẨU TIẾNG CHƯỞI CHO RỤNG LỒNG VỊT
Có một ông già nhơn đức hiền lành, cả đời không hề biêt chưởi ai. Lối xóm có đứa gian thấy ông ấy nuôi vịt, lén tới bắt trộm một con, đem về làm thịt mà ăn. Đứa gian ấy ăn con vịt rồi, không biết làm sao lông vịt mọc ra đầy mình, lấy làm sợ hãi; phần thì xốn xang khó chịu, phần thì xấu hổ, không dám ra khỏi nhà, vợ con nó chạy thuốc thang gì uống vào lông vịt cũng không rụng, nó lại càng kinh hãi hơn nữa; nó cầu khẩn hết sức, xin cho khỏi tật gì quái gỡ như vậy! Đêm kia nó nằm chiêm bao thấy thần nhơn mách bảo rằng: phải lạy ông già nhơn đức ấy, xin ông ấy chưởi cho một tiếng, thì rụng hết lông vịt, chẳng phải cầu thầy chạy thuốc làm chi. Trời vừa rựng sáng, thằng ăn trộm vịt, lật đật qua nhà ông già, ban đầu kiếm đều nói dối, mà rằng: tôi nghe ông mất một con vịt, tôi thấy thằng ở một bên tôi ăn cắp, nó sợ chưởi lắm, nếu ông chịu chưởi một tiếng, nó phải trả lại cho ông bây giờ. Ông già nói: Ối thôi ! Mất còn, còn mất cũng chẳng làm gì, ai có hơi đâu mà chưởi nó cho mệt. Thằng ăn cắp thấy ông già không chịu chưởi, tức mình phải lạy mà thú thiệt rằng: tôi ăn cắp vịt ông mà bởi tôi ăn thịt nó rồi thì mình mẩy tôi mọc đầy những lông vịt, uống thuốc gì cũng không rụng; nay có thần nhơn mách bảo, dạy tôi phải thú thiệt cùng ông, xin ông chưởi một tiếng thì lông vịt sẽ rụng hết; vậy xin ông làm phước, chưởi giùm cho tôi một tiếng, kẻo tôi đau đớn khó chịu lắm. Nó và nói và khóc, ông già thấy vậy động lòng, mới chưởi một tiếng, tức thì lông vịt trong mình thằng ăn cắp rụng sạch, trơn tru lại như cũ.
Kẻ bày chuyện bàn rằng: ấy tội ăn trộm đáng sợ hãi là dường nào, vì một lần ăn trộm mà lông vịt mọc ra đầy mình; vã sự chưởi bới cũng nên xa lánh là thế nào, vì một tiếng chưởi trừ hết tội ăn trộm.
 
3- ĐỊA NGỤC Ở MIỀN DƯƠNG GIAN
Có một người chết tức, phải đi theo quỉ xuống âm phủ, vua Minh Vương tra bộ không có tên, nói quỉ bắt lầm, dạy quỉ phải đem trả lại dương gian. Người bị quỉ bắt lầm có ý tọc mạch, muốn coi chỗ âm ti ra làm sao, mới nói nhỏ với quỉ, xin đem đi coi cho biết. Quỉ nghe lời, dẫn nguời ấy đi coi khắp chín cửa ngục, tới một chỗ thấy có một thầy sải bị cột ngang bắp vế mà treo ngược lên, kêu van rên siếc khốn nạn. Người ấy bước gần, coi tạn mặt, thì là anh ruột mình, liền thất kinh hỏi quỉ làm sao mà anh mình phải treo lên khốn khổ như vậy. Quỉ nói tại nó quyên tiền người ta, tưởng để mà làm phước, chẳng dè quyên đặng bao nhiêu, nó đánh bạc hết bấy nhiêu, cho nên phải phạt tội nó như vậy. Người ấy lại hỏi quỉ: có lẽ gì mà cứu anh mình chăng? Quỉ nói phải ăn năn sám hối thì khỏi.
Đến khi người quỉ bắt lầm sống lại, nhớ việc mình thấy dưới âm phủ, bèn tưởng tới người anh ruột đương tu bên chùa Tập Phước, mới đi qua đó mà thăm anh. Tới nơi thấy anh nằm xó vách, đau một cái ung lớn ở duới bắp vế, phải treo chơn lên, in như chuyện thấy dưới âm phủ, thì lấy làm sợ hãi, hỏi anh làm sao mà phải treo chơn lên? Người anh nói: tao đau cái ung độc dữ quá, nêu không treo chơn lên, thì nó đau thấu ruột gan. Người em học lại mọi việc mình đã thấy dưới âm phủ cùng các lời quỉ nói, thì người anh thất kinh ăn năn thống hối, qua ít ngày chỗ ung độc lành; từ ấy mới trở nên một ông thầy sải tốt.
Kẻ bày chuyện bàn rằng: đứa tiểu nhơn thường nói chừng nào xuống địa ngục sẽ hay; mà chẳng biết những sự họa hại ở đời này, thì rõ ràng là hình phạt dưới địa ngục.   
 
3- ĂN MÀY XIN VÀNG NÉN
Có một người giàu có lớn, mà hà tiện cũng lớn, cứ bo bo giữ của không chịu làm phước cho ai. Có một tên ăn mày tới xin quyết một nén vàng, người nhà giàu phát giận, nói giá ăn mày dám xin tới vàng nén, biểu đày tớ đuổi đi. Tên ăn mày la lết không chịu đi, cứ việc ở trước nhà mà xin mãi. Trong nhà không ai thèm nói tới, tên ăn mày sớm đi xin ăn chỗ khác, trưa lại lộn về ở tại nhà giàu mà nài hoài cho đặng nén vàng. Nó làm như vậy đã đặng ba năm, người nhà giàu thấy nó có công gắng vó, cũng mỏi lòng mà chịu cho. Tên ăn mày được nén vàng, thì làm bộ nhảy nhót mầng rỡ bội phần, liền cổi áo gói lại mà đi. Khi tên ăn mày đi ra một đỗi, thì người nhà giàu sai một đứa đầy tớ theo rình coi lão ăn mày đem nén vàng đi đâu, cùng làm chuyện gì với nén vàng. Tên đây tớ đi theo xa xa, thấy lão ăn mày đi thẳng ra ngoài đồng, tới chỗ bóng mát ngồi xuống mở áo lấy nén vàng, dồi lên dồi xuống mà giởn chơi, coi ra ý mầng rỡ lắm. Cách một hồi lão ấy buồn ngủ, nằm chèo queo, nén vàng thì để trần một bên chỗ ngủ. Đứa đầy tớ nom đặng, chờ lão ăn mày ngủ mòm, lén lại lấy nén vàng đem về cho chủ, chủ mầng còn nén vàng, liền đem đi cất. Lão ăn mày thức dậy thấy mất nén vàng, không thèm tìm kiếm, xăm xăm trở lại nhà giàu mà xin nén khác. Ông nhà gìau nói: mới cho một nén làm gì hết đi, mà còn xin nữa? Lão ăn mày nói: tôi vừa nhắm mắt, nó liền mất đi, nên phải xin ông nén khác. Ông nhà giàu nghe nói, dường như ai soi sáng tấm lòng, liền hiểu sự đời: hể con người ta nhắm mắt rồi thì chẳng còn của cải sự nghiệp gì nữa; mới khẫn nguyền xin táng của cải mà làm phước với thiên hạ; sau nghĩ lại, mới biết người ăn mày ấy là tiên.
 
 
5- ĐẦU THAI BA KIẾP
Họ lưu hay nhớ việc kiếp trước, nói có một kiếp mình sanh làm chức quan, mà tánh hạnh xấu xa; đến khi được 62 tuổi thì chết, xuống chầu vua Minh Vương, nhờ ơn tiếp đãi cũng như quan. Đến lúc tra bộ, vua Minh Vương thấy y có nhiều vít tích, bèn nổi giận dạy quỉ kéo y xuống, bắt đi đầu thai làm ngựa. Quỉ vâng lời bắt y trói lại, dẫn đi tới một cái nhà ngạch cửa cao, y vừa xắm rắm bước qua, quỉ đánh thét đau lắm, y té quị xuống, ngó lại thì thấy mình ở chuồng ngựa, nghe tiếng người ta văng vẳng rằng: con ngựa cái đẻ được một con ngựa đực ngộ nghỉnh. Trong trí y hiểu rõ ràng, ngặt nói ra không được. Khi ấy đói lắm, cực chẳng đã, y phải bú con ngựa cái. Đến khi được bốn năm tuổi, thì cao lớn mà nhát roi, chủ cởi có yên nệm, cho đi chậm chậm, thì dễ chịu; mắc sắp đầy tớ cởi trần, hai mắt cá nó thúc vào hông thì đau thấu tim phổi, tức mình y bỏ ăn ba ngày mà chết. Vua Minh Vương tra bộ, nói y chưa mãn phạt, quỡ sao có ý tránh trút, dạy quỉ lột da, bắt đi làm chó. Y lấy làm xấu hổ, quỉ đánh xối, đau đòn, y có ý nhào xuống dưới chơn tường cho chết; té ra mình nằm dưới chỗ chó đẻ, con chó cái lại mà cho bú,thì mới biết mình sinh ra một lần nữa. Lớn lên thấy phẩn cũng biết dơ, mà ngửi thì nghe thơm; song y thề lòng không chịu ăn. Thân làm chó mấy năm, lấy làm tức tối, muốn chết mà sợ vua Minh Vương nói mình cố ý qui tị, còn ông chủ nhà lại nuôi dưỡng tử tế không chịu giết. Ngày kia, y cố ý cắn ông chủ nhà rách thịt ra. Ông chủ nhà giận mới đập y một gậy, y chết xuống hầu vua Minh Vương, vua Minh Vương giận y sao làm chó dại, đánh ít trăm, bắt đi làm rắn, bỏ y vào khám tối. Y leo vách, đục nhà mà chun ra, ngó lại thì mình đã hóa rắn thiệt, nằm dưới cỏ. Khi ấy y mới làm lời nguyện không hại loài sống, cứ nuốt trái cây mà chịu. Làm rắn dày năm, nghĩ muốn tự vận mà sợ phép, hại người ta mà chết cũng không khá, y mới lập tâm kiếm một phép chết cho êm. Vậy ngày kia, y đương nằm trong bụi, nghe tiếng xe đi ngang, y mới bò ra nằm giữa đàng, xe liền cán y đứt làm hai đoạn. Vua Minh Vương thấy y lại mau mau trở xuống, cũng lấy làm lạ, nhưng vậy thấy y khiêm nhượng xưng thiệt mọi đều, cũng nghĩ về sự y vô tội mà bị hại, bèn cho phép y đầu thai làm người là ông Lưu công. Lưu công sanh ra liền biết nói, văn chươg kinh sử coi qua liền thuộc, năm tân dậu cử bậc hiếu liêm, thường khuyên người ta rằng cỡi ngựa phải lót lá phủ, còn sự cỡi trần mà thúc mắt cá, thì đau ngựa hơn là đánh roi.
Sách dị sử nói rằng: giữa loài lông sừng mà có bậc vương công cùng quan lớn lộn vào, ấy là tại giữa bậc vương công cùng quan lớn, chưa chắc là không có loài lông sừng chen vào vậy. Con người ở đời phải làm lành: kè hèn làm lành cũng như là trồng cây mà hái hoa; kẻ quí làm lành cũng như đã có hoa mà bồi lấy cây. Hễ trồng cây thì cây lớn; bồi cây thì cây bền. Nếu chẳng vậy, thì có khi phải kéo xe, phải người ta dàm khớp mà làm ngựa; hoặc phải ăn dơ, bị người ta ăn thịt mà làm chó; hoặc phải trườn bò có vãy có vi, phải bà cắt, thầy bòi ăn mà làm rắn.
 
6- KIỆN MẤT NÀNG DÂU
Đời nhà Minh có một người cưới vợ, vừa rước về tới nhà, dở màn ra thì thấy kiệu không. Hai họ lấy làm chuyện dối nhau, bèn đi thưa tới quan huyện sở tại. Quan huyện hỏi, mai dong cùng đầu tộc đầu quả quyết rằng: nàng dâu có lên xe. Quan huyện chưa biết xử làm sao. Nhằm lúc có việc gấp, quan huyện phải đi khám điền, tới chỗ giáp giái, thấy có một cây cao lớn dị thường, tàn nó che hết hai mươi mấy mẫu ruộng, không ai cày cấy đặng. Ý quan huyện muốn đốn đi mà các người già cả cùng các kẻ theo hầu can gián, nói là chỗ thần nương dựa, nếu dân sự có đều không cung kính thì phải đau phải bịnh mà chết. Quan huyện không nghe, bắt dân tráng vài mươi người, cầm binh trượng, nổi chiêng trống kéo tới gần gốc cây, xảy thấy ba người mặc áo mão đón đàng, đứng bên phía tả mà phân rằng: chúng tôi là thần cây nầy, ở đây đã nhiều năm, xin quan huyện lấy lòng nhơn mà tha thứ. Quan huyện nạt lên một tiếng, ba người ấy biến mất, liền dạy trai vác rìu xốc vào, vừa chém xuống thì thấy chảy máu ra, ai này đều sợ hãi mà dang ra. Quan huyện tức giận giựt rìu đốn một mình, ai nấy sợ phải trở vào mà đốn. Cốt hơn hai trăm lưỡi rìu cây ấy mới đứt, thấy trên ngọn cây có một ổ lớn, có ba người đờn bà trong ổ rớt xuống gần chết, người ta đổ thuốc cách một hồi mới sống lại. Hỏi làm sao mà ở trên cây, ba người đờn bà nói: năm trước chúng tôi bị bão đưa lên trên ấy, ở đó cũng như ở trên lầu cao có ba người vui vầy, ăn uống đồ mỹ vị, thường ngó xuống dưới lầu, thì thấy thành thị ở trước mặt, có một đều không thang mà xuống, không dè là ở trên ngọn cây. Quan huyện hỏi kỉ quê quán, đều cho đưa chúng nó về, tra ra có một đứa chánh là con dâu ngồi kiệu mà mất đi, thì vụ kiện mất nàng dâu mới yên. Quan huyện lấy cây lớn ấy phá ra mà làm nhà khách, từ ấy mới hết yêu quỉ, đất xung quanh trở nên ruộng tốt.
Ấy ma có không là tại nơi người, hễ tin thì có, mà mạnh mẽ không tin như quan huyện ấy thì là không có.
 
7-  PHẬT ĐỔ MỒ HÔI
Có tiếng đồn tượng phật ở chùa Biện Châu đổ mồ hôi, ai nấy đua nhau đi coi, kẻ cúng món này, người dâng món khác, lễ vật đầy đàng; nhứt là đờn bà thì có nhiều người đem hàng giẻ chặm mồ hôi để may áo cho con, lấy làm linh thính: con bận đặng áo ấy thì sức mạnh bình yên.
Quan phủ sở tại cũng lật đật đem vàng bạc tới cúng; bà phù lại làm chay. Bỡi đó các quan văn võ, làng xóm cùng các người buôn bán, rùng rùng đem tiền bạc tới cúng, dật dều đàng sá, giành nhau sợ mình cúng sau. Quan phủ cho người đi coi, ai cúng bao nhiêu đều biên vào sổ. Cách mươi bữa người dạy đóng cửa chùa, nói rằng phật hết đổ mồ hôi, không can chi phải cúng nữa. Tính trong ngày người ta cúng dư muôn, quan phủ dạy đem hết vào kho, để mà phát cho quân lính.
Ấy quan phủ thấy người ta có thói đua nhau đem tiền bạc mà làm chuyện vô ích, thì người dùng chước thâu trữ, để mà làm việc có ích.
 
8-  MƠ TƯỞNG VIỆC KHÔNG CÓ
Xưa có một người tới số phải đi đầu thai, nài vua Luân hồi phải у như lời xin thì mới chịu đi. Vua Luân hồi hỏi xin làm sao, người ấy tâu xin cho: cha làm Thượng thơ, con Trạng nguyên; quanh nhà ngàn khoảnh nhứt hạng điền; ao sâu vưòn rộng loài loài sẵn; vợ tốt hầu xinh thảy thảy hiền; đầy nhà vàng ngọc cùng gạo lúa; đầy tủ giẻ hàng với bạc tiền; mình ngồi phẩm nhứt trong thiên hạ; an hưởng vinh hoa thọ bách niên. Vua Luân hồi nói quả có kiểng vui dường ấy, thì chẳng hết cho trẩm đi, có đâu cho tới nhà ngươi.
Có mấy người anh em bạn ngồi nói chơi, hỏi ý nhau muốn làm sao? Có người nói ý mình muốn vàng bạc cho nhiều; có người nói ý mình muốn làm quan Thứ sử Quảng Lăng; có người nói ý mình muốn cỡi hạc mà lên cõi tiên. Người thứ tư nghe các người ấy nói như vậy, thì cười mà rằng: ý tôi muốn cột tiền lưng mười vạn, cỡi hạc mà lên cõi Dương Châu.   
Người bày chuyện bàn rằng: con người sanh ra ở đời chẳng có sự chi bền chắc; nếu mình có ý vọng tưởng, thì chi bằng câu cỡi hạc mà lên cõi tiên.
Chuyện khiển sầu.
 
9- NÓI MỊ
Có một người hay nói thù phụng, đi viếng một ông huyện, vừa vào tới dinh thì khen rằng: quan huyện nhơn đức, thứ dữ cũng phải cảm mà tránh đi phương xa; bữa qua tôi vào tới địa hạt, tôi thấy cọp kéo nhau cả bầy mà đi sang phía bắc. Quan huyện nghe tiếng nói mị thì không ưa, nhưng vậy cũng gượng gạo làm vui mà tiếp khách. Cách một hồi làng tới báo rằng đêm bữa qua cọp ăn hết ba mạng, xin quan huyện truyền quân ví bắt cho kíp, kẻo nó ăn hết thiên hạ. Ông huyện hỏi nhơn sao làng nói một thể, thầy nói một thể? Người bạn hữu cười mà nói gượng rằng: trong thể các ngài bắt người ta theo dọc đàng đó.
 
10-  CHUYÊN MÌNH THÌ QUÁNG
Vợ ngươi Hứa Doãn có đức hạnh mà kém bề nhan sắc, Hứa Doãn hỏi: Nghe nói đờn bà có bốn đức (l), mà cô có mấy? Người vợ trả lời rằng: tôi kém có một bề nhan sắc mà thôi chớ, tôi nghe con nhà học trò có trăm hạnh, vậy cậu có bao nhiêu hạnh? Hứa Doãn nói: hạnh nào tôi cũng đủ. Vợ rằng: người ta có một bịnh là không biết mình, cậu ham nhan sắc hơn đức hạnh, sao cậu dám nói rằng đủ? Hứa Doãn nghe nói liền hổ thẹn, từ ấy mới thật lòng kính thương vợ cho đến trọn đời.
 
Chú thích:
(1) Bốn đức là công, dung, ngôn, hạnh.
 






0
11- ANH EM RUỘT GIÀNH GIA TÀI
Hai anh em thằng Mít chia gia tài giành lộn với nhau, đi mời xã trưởng phân xử. Chú xã cũng biết một hai câu chữ, tới tại nhà hỏi hai anh em bất bình với nhau làm sao? Người anh nói em tham, chia nhiều mà còn chê ít; người em nói anh muốn giành lấy một mình. Chú xã nói cả hai anh em không biết đều, trong sách có nói: chẳng lẽ coi tiền của hơn anh em, sao không biết xét mà đi giành xé với nhau cho mất sự thuận hòa trong gia đạo, lại làm cho mất thói lịch sự trong xóm làng; vã lại lời tục có nói rằng: đống trấu nhà chẳng để cho gà người bươi. Hai anh em phải tính cho êm với nhau thì là hơn. Hai anh em nghe nói bèn an lòng chia chác với nhau xong xuôi.
Cách ít ngày tới việc chú xã, người em chú xã cũng lấy sự chú xã tham muốn giành phần nhiều, mà đi kiện tới tổng. Hai anh em chú xã lại so đo hơn thiệt ngầy ngà với nhau quá hơn hai anh em thằng Mít. Hai anh em thằng Mít hay đặng mới đi hỏi chú xã: chớ sao ngày trước nhằm việc vuối tôi, thì cậu trưng sách vở mà giải hòa, nay tới việc cậu, coi ý cậu so đo ngầy ngà quá vuối tôi, vậy thì tình cốt nhục cùng phép lịch sự cậu ở đâu? Tên xã nói: ngày trước là việc các chú, gia tài cũng là của các chú, các chú hơn thua với nhau chẳng động gì đến tôi, cho nên tôi nói phải; chớ việc bây giờ là việc anh em tôi, gia tài cũng của anh em tôi, tôi không nói thì đau lòng, tức mình tôi phải nói; huống chi xử việc có kinh có quyền, ngày trrớc việc các chú là chánh kinh, ngày nay việc vuối tôi là tùng quyền, có khi dùng sách có khi bỏ sách.
 
12- VẼ HÌNH VAY BẠC
Tên Giáp túng xài tới nhà anh em bạn mà hỏi tiền. Người anh em bạn chịu cho, mà nài phải làm giấy. Tên Giáp lật đật về làm giấy đem qua, mà đứng giấy có một mình. Anh em bạn hỏi sao chị không đứng vào cho vui? Lại rằng: anh em mình vuối nhau, khi anh túng khi tôi túng, đặt ra làm giấy cho có chừng, đề phòng khi tôi túng, anh nhớ mà trả, chẳng phải tôi bắt nhặt anh trong đều ấy. Tên Giáp mau mau về nói vợ điềm chỉ vào giấy, đem qua cho anh em bạn. Người anh em bạn coi giấy, ngẫm nghĩ một hồi lâu rồi lại nói rằng: giấy nầy, anh làm có ngày có tháng, vốn lời, giao ước chắc chắn, mà ngặt chưa nhằm ý tôi. Tên Giáp hỏi ý anh muốn làm sao? Người anh em bạn nói ý tôi muốn cho anh mua một tờ giấy kinh huyện cho lớn, rồi rước một tên thợ vẽ cho khéo. Tên Giáp hỏi mua giấy lớn, rước thợ vẽ cho khéo mà làm gì? Anh em bạn nói tôi thấy thuở nay ai nấy vay hỏi, thì cũng làm giấy như anh, song đến khi trả thì thường có điều khó lòng, không phải thế; cho nên ý tôi muốn cho anh mua giấy lớn, rước thợ vẽ khéo mà vẽ một tấm tượng cho y như chuyện hôm nay: là vẽ anh tới hỏi tiền tôi thì vui vẻ; và tôi cho anh cũng vui vẻ; vẽ đến khi đủ ngày tháng tôi đòi, anh trả cũng vui vẻ, đừng có cái mặt bò hung.
 
13- CHUYỆN VƯƠNG THẬP
Tên Vương Thập là dân ở đất Cao Uyễn, đi vác muối lậu ban đêm gặp hai người đi đàng, ngỡ là quân canh ở hãng muối, lật đật quăng bao muối mà chạy; chẳng dè cóng chơn muốn chạy mà chạy không đặng, liền bị hai người ấy bắt, năn nĩ xin tha. Hai người ấy nói: ta chẳng phải là người ở hãng muối, vốn ta là quỉ. Thập sợ nói: có bắt thì cho tôi về nhà từ giã vợ con. Quỉ không cho, nói bắt mầy đây chẳng phải là bắt chết, chẳng qua là bắt đi làm xâu đở ít ngày mà thôi. Thập hỏi đi xâu việc gì? Quỉ nói dưới đền Diêm La, sông Nại Hà ứ lại, mười tám hầm phẩn tràn trề, cho nên phải bắt ba thứ người vét; còn bắt mấy đứa ăn cắp vặt, mấy đứa đánh xỏ lá, cùng những đứa bán muối lậu để mà rửa nhà xí. Tên Thập đi theo quỉ vào thành, tới một cái đền thấy vua Diêm La ngồi trên ngai mà tra bộ. Quỉ vào gỡi nói có bắt đặng một đứa buôn muối lậu tên là Vương Thập. Vua Diêm La ngó Thập giận mà nói rằng: Hễ bán muối lậu thì trên trốn thuế vua, dưới sâu mọt dân, mới gọi là bán muối lậu; chớ như những đứa các quan tham lam, hãng buôn gian gião chỉ là đứa buôn lậu, cả thảy là dân lương thiện nghèo nàn, liều một hai đồng vốn kiếm một hai đồng lời, thì chằng lẽ gọi là đứa buôn lậu. Khi ấy vua Diêm La quở hai thằng quỉ, bắt phải mua bốn đấu muối, lại lấy bao muối tên Thập quăng dọc đàng đem để tại nhà tên Thập; còn tên Thập thì cầm ở lại, giao cho nó một cây hèo, dạy nó phải theo quỉ mà đốc việc vét sông. Quỉ dắt Thập tới bên sông Nại Hà, thấy người ta lúc nhúc dưới sông như giòi, còn nước thì thâm đen mà đục ngầu, lại gần thúi tha chịu không nổi. Những người vét sông thì trần truồng, cầm ki cầm mai, hụp lên hụp xuống dưới sông, hốt những thây ma xương mục, đầy ki trạc liền khiêng đội mà lên, chỗ sâu lút đầu cũng phải lặn; có ai làm biếng thì Thập phải lấy hèo mà đánh. Các người đồng coi việc, đều ngậm một hoàn thuốc thơm, để mà chịu với mùi thúi. Xảy thấy có ông hãng muối ở Cao Uyên cũng loi ngoi dưới sông, Thập cứ làm dữ với ông ấy, xuống sông thì đập lưng, lên bờ thì khẻ chơn; ông ấy sợ cứ hụp nước chừa có hai lổ mũi, Thập mới thôi đánh. Cách ba đêm ngày dân phu chết hết phân nữa, công việc vét sông cũng hoàn thành. Hai thằng quỉ trước mới đưa Thập về nhà, bèn hồi tỉnh mà sống lại.
Duyên ngày trước tên Thập đi vác muối chưa về, sáng ngày vợ mở cửa, thì thấy có hai bao muối để tại nhà. Vợ đợi Thập lâu không thấy về, cho người đi kiếm, thì gặp Thập chết giữa đàng; khiêng đem về nhà, Thập hãy còn một chút hơi thở, ai nấy đều lấy làm lạ không hiểu làm sao, đến khi Thập sống lại mới học các chuyện. Còn tên hãng muối chết trong ba ngày trước, đên khi ấy cũng sống lại, mấy chỗ Thập đánh đều hóa ra ung độc lỡ lói thúi tha, không ai dám lại gần. Thập cố ý tới thăm, tên hãng muối ấy ngó thấy Thập, cũng còn hơi sợ, thụt đầu vào mền, in như hồi còn ở dưới sông Nại Hà. Tên hãng ấy đau một năm mới lành, không dám lảnh việc buôn muối nữa.
Sách Dị sử nói rằng: xét một vụ muối thuế, Triều đình gọi rằng lậu, chính là những người chẳng cứ nơi công; còn quan tham ô cùng kẻ buôn xảo trá gọi rằng lậu, thì là những người chẳng cứ nơi tư.
 
14- TÍCH CỌP LẠY
Đất Lư Khê có người siêng năng ham học, thông kinh sử, ở với cha mẹ rất hiếu thảo. Đời Hồng Võ năm đầu, học trò ấy đi học phương xa, qua tới mùa đông thường hay về thăm cha mẹ. Một lần y đi về vừa tới một cái khe, gặp cọp nhảy ra đón đàng, y sợ không biêt tránh đâu cho khỏi. Cọp làm bộ cúi đầu như lạy, rồi sẽ lén lại cắn áo y mà kéo. Y đi theo tới rừng rậm, cọp nhả áo mà ngồi, y tỉnh lại cũng ngồi ngang với cọp mà nói rằng: mi là cọp, lẽ nào mi không ăn tao, tao chết vì mi, tao chẳng tiếc, ngặt cha mẹ tao già hơn bảy mươi tuổi, mi dung tao thì tao mới báo hiếu cho cha mẹ tao đặng; như số tao phải cọp ăn, thì sau tao cũng không khỏi miệng mi. Cọp nghe nói liền đứng dậy, kéo vạc áo y mà đem lại chỗ cũ, rồi bỏ đó mà đi. Chỗ ấy người ta kêu thành danh là chỗ cọp lạy.
 
15- CHUYỆN CẢNH THẬP BÁT
Đất Tân Thành có tên Cảnh Thập Bát đau nặng biết mình không lẽ sống, bèn nói với vợ rằng: chầy kíp đây phải lìa nhau, tao chết rồi, lấy chồng hay là ở vậy mặc ý mầy; nhưng vậy mầy phải nói cho tao biết ý mầy muốn làm sao. Vợ làm thinh không chịu nói, tên Cảnh cứ hỏi hoài, lại nói: ở vậy là hay mà lấy chồng cũng là sự thường, muốn làm sao thì nói, chẳng hề chi mà sợ; tao lìa mầy, mầy giữ tiết thì bằng lòng tao, mầy có lấy chồng khác thì tao hết đều tưởng nhớ. Vợ buồn bực mà nói rằng: nhà nghèo sạch trơn như chùi, anh sống hãy còn bữa đói bữa no, biểu tôi giữ tiết làm sao cho đặng! Tên Cảnh nghe nói liền nắm cánh tay vợ mà hét lên rằng: đành đoạn chưa! Vừa dứt tiếng liền tắt hơi, nắm cứng cánh tay vợ không buông. Vợ la lên, người nhà chạy vô, trì gở hết sức mới buông.  
Cảnh không dè mình chết, chạy ra ngoài cửa thấy hơn mười cổ xe, mỗi cổ là mười người, liền lấy một miếng giấy viết tên dán trên xe, nguòi dẫy xe thấy Cảnh, hối Cảnh lên xe cho mau. Cảnh coi trong xe đã có chín người, đếm cả Cảnh là mười, lại thấy tên mình dán sau rốt, xe đi rầm rầm, cũng chẳng biết là đi đâu. Cách một hồi đi tới một chỗ nghe người ta nói là đất tư hương, Cảnh sanh nghi, vã nghe mấy người dẫy xe nói nhỏ với nhau rằng: hôm nay sẽ chém ba người, Cảnh lại sợ lắm; nghe kĩ thì là tiếng quỉ nói, Cảnh mới biết mình đã thành quỉ rồi; nghĩ lại việc nhà còn có một mẹ già, sợ mai sau vợ mình cải giá, ắt là không ai phụng dưỡng, nước mắt chảy ra ròng ròng. Cách một chặp ngó thấy một cái đài cao vọi vọi, thấy người ta mang trăng xiềng kêu khóc, lên xuống từ đoàn, nghe nói là đài Vọng hương. Ai nấy tới đó đều rùng rùng xuống xe, mấy người dẫy xe đánh đón làm hung dữ, tới Cảnh thì lại hối lên mà thôi. Cảnh lên đặng ba bốn mươi bậc, tới chỗ chót vót, ngó mông ra, thì nhà cửa người ta ở trước mắt, ngó nhà mình thì mù mù, lấy làm thương nhớ quá chừng.
Khi ấy có người bận áo cụt đứng một bên Cảnh, hỏi tên họ Cảnh, Cảnh bày tên họ. Người ấy nói mình là thợ mộc ở Đông hải, thấy Cảnh chảy nước mắt, hỏi có chuyện chi không an trong lòng, Cảnh bèn nói thiệt. Tên thợ mộc rủ Cảnh nhảy xuống mà trốn, Cảnh sợ quỉ theo bắt, tên thợ nói không hề gì; Cảnh lại sợ đài cao nhảy không thấu, tên thợ biểu cứ việc nhảy theo. Vậy tên thợ nhảy trước, Cảnh nhảy theo sau, tới đất không có làm sao cả hai. Cảnh sực nhớ tên mình còn dán trên xe, liền trở lại thấm nước miếng bôi tên, rồi lại chạy miết dài không dám dừng chơn; cách một hòi tới xóm vào nhà thấy thây chưa liệm, bèn nhập vào mà sống lại. Cảnh la khát nước, cả nhà đều kinh hãi, đổ thang thuốc cách ít ngày mà mạnh. Từ ấy Cảnh dứt tình không thèm ăn ở với vợ nữa.
 
16- CỌP CÓ NGHĨA
Đất Triệu thành có bà già hơn bảy mươi tuổi, mà có một đứa con trai mà thôi. Ngày kia con vào rừng bị cọp ăn, bà già kêu van thương tiếc, tức tối không biết làm sao, bèn đi kiện với ông huyện. Ông huyện tức cười mà nói rằng: phép quan xử kiện người ta, không xử kiện cọp. Bà già lại kêu khóc hơn nữa, ông huyện quở cúng không sợ. Ông huyện thấy bà ấy già cả không nỡ làm oai, bèn chịu đòi cọp mà xử. Bà già cứ việc cúi đầu la lết đợi cho có trát mới chịu về. Quan huyện tức mình hỏi trong nha lệ có tên nào dám đi đòi cọp, xảy có tên Lý đương say xoàng xoàng ra giữa nha vổ bụng chịu đi. Quan huyện liền dạy viết trát; bà già thấy vậy mới chịu dậy mà về. Tên lệ tỉnh rượu hoảng kinh, mà hãy còn tưởng ông huyện làm chuyện gạt bà già, bèn đem trát vào mà tгả. Quan huyện nổi giận quở rằng: mày xứng tài hay, sao mày còn trả trát? Tên lệ túng thế bẩm xin trát bắt quân ví cọp, ông huyện cho, tên lệ đặng trát về qui những người làm nghề ví cọp, đêm ngày núp dọc rừng núi, trông bắt cho đặng một con kẻo quan huyện quở. Cách hơn một tháng bắt không đặng cọp, tên lệ phải đòn dư trăm, lấy làm oan khúc chịu không đặng, bèn đi tới miễu ở triền núi mà vái, kêu khóc lạt giọng. Giây lâu có một con cọp ở đâu đi xốc vào, tên lệ thất kinh sợ không khỏi. Cọp lầm lủi đi tới giữa cửa miễu ngồi thịch xuống, con mắt không dáo giát. Tên lệ thấy vậy bèn nói rằng: Như phải mi hại con bà già, thì phải cúi đầu chịu tao trói. Vái rồi liền lấy dây cột cổ cọp, cọp trập tai chịu cột một bề. Tên lệ mới dắt cọp về nhà, ông huyện hỏi có phài mi ăn con bà già chăng? Cọp gật đầu. Ông huyện lại rằng: xưa nay có luật hễ ai giết người thì phải chết, vã bà già ấy có một con, mà mi giết đi, thì còn ai nuôi bà ấy, nếu mi thế công việc nuôi dưỡng bà ấy như con bà ấy vậy, thì tao tha mi. Cọp gật đầu, ông huyện bèn dạy mở tгói, biểu cọp đi. Bà già đương giận ông huyện không giết cọp, mà thường mạng cho con, sáng ngày mở cửa thấy một con hưu bỏ trước nhà, bèn kêu hàng xóm, bán thịt bán da lấy tiền mua cơm gạo. Từ ấy cọp cứ đem thịt tới hoài, có khi nó tha vàng bạc, giẻ lụa tới mà bỏ giữa nhà, làm cho bà già no đủ. Việc nuôi dưỡng lại hơn con ruột, bà già mới đem lòng thương cọp. Mỗi khi cọp tới thì nằm dưới thềm cả ngày, chẳng động tới người tới vật, ai nay bình yên chằng còn nghi sợ. Cách ít năm bà già chết, cọp tới kêu hộc giữa nhà, nhờ có của bà già dành để, trong họ lo việc tống táng phủ phê. Cất đặt vừa rồi, cọp chạy tới, ai nấy thất kinh vỡ chạy; cọp tới trước mồ gầm kêu động địa, hồi lâu mới đi. Người xứ ấy có lập một cái miễu nghĩa hổ, cho tới bây giờ hãy còn.     
 
17-  ĐUỔ1 YÊU QUÁI
Tên Từ Viễn là học trò ở ấp Trường Sơn, nhơn lúc loạn đổi dòng vua, bỏ nhu học qua nghề thầy pháp, xa gần đều nghe tiếng. Trong ấp có một ông nhà giàu, sắm lễ vật, viết thơ cho ngựa đi trước, Từ Viễn hỏi rước việc gì, tên đầy tớ nói không biết, chủ tôi biểu làm sao cũng mời thầy cho đặng. Từ Viễn tới nơi thì thấy bày yến tiệc, thết đãi trọng hậu, mà chủ nhà cũng chẳng nói vì cớ gì mà rước. Từ Viễn không yên hỏi hoài, chủ nhà nói không có chuyện chi, cứ mời rượu, đàm đạo nghiêm trang, nói chuyện dông dài. Chẳng dè tгời vừa tối, chủ nhà xin dời tiệc vào trong vườn. Vườn ấy trồng cây cối kiểng vật xinh tốt, đẹp đẽ; giữa vườn cất một cái nhà cũng đẹp, mà trên ván bửng bụi đóng, lưới nhện giăng, coi ra cũng buồn. Uống vài chập, chủ nhà dạy thắp đèn, Từ Viễn xin kiếu không dám uống nữa. Chủ nhà dạy bãi rượu pha trà, tôi tớ lật đật cất dọn bát chén, đem để bên ghế trà. Uống nước chưa được nửa chừng, chủ nhà nói có việc xin kiếu, bèn bỏ thầy ấy ở đó mà đi. Tên đầy tớ nán lại giây lâu rồi bưng đèn đem thầy đi ngủ bên mái tả, để đèn trên bàn rồi cũng sấp lưng ra đi, coi ý lếu láo. Chú thầy tưởng có khi nó đi lấy mền tới mà ngủ chung cho có bạn. Té ra đợi mỏi mê không thấy thằng đầy tớ, mà nhà thì vắng vẻ quạnh hiu; chú thầy mới dậy đi đóng cửa. Ngoài song trăng sáng giọi vào giường, nghe dằng dõi những tiếng trùng tiếng dế, trên cây thì nghe những tiếng chim cú chim mèo, chú thầy rởn ốc lạnh mình, bồi hồi ngủ không yên giấc. Còn trên ván bững thì nghe tiếng đi đạp rầm rầm, một hồi thấy thòng xuống một cái thang, lần lần đem dựa một bên cửa mạch, chú thầy sợ, mau mau lấy mền trùm đầu nằm không cục cựa. Xảy nghe tiếng mở cửa, chú thầy hé mền dòm ra, thấy cửa mở hoát, có một con gì không biết, đáu thú mà mình người, cao như ngựa, lông lá xồm xàm, đen thui, nanh vút chẻm chẻm, con mắt có ngời, đi ngay vào chỗ để bát dĩa ăn hồi chiều tối, cúi xuống mà liếm đồ ăn dư, nó liếm một cái hết mấy cái bát dĩa. Liếm sạch bát dĩa rồi nó chạy bên giường chú thầy nằm, nó ngửi mền chú thầy. Chú thầy hoảng kinh tốc mền chụp đầu con quái ấy, ôm đó mà la. Con quái bị chụp mền thình lình, cũng hoảng kinh giựt đầu ra mà chạy mất. Chú thầy sảng sốt mang áo chạy đi trốn, té ra cứa vườn đóng chặt, ra không đặng, bèn leo vách tường mà ra nhằm chỗ tàu ngựa. Thằng giữ ngụa thấy chú thầy bơ vơ, nó cũng nghi; chú thầy mới nói các việc, rồi lại xin ngủ nhờ.
Trời gần sáng chủ nhà cho người đi thăm, không có chú thầy, chủ nhà phát nghi kiếm táo tác, gặp chú thầy ở trong nhà ngụa. Chú thầy giận lằm bằm nói rằng: tôi, phép gì cũng làm đặng, ngặt có một chuyện trừ yêu quái, tôi chưa quen cho mấy, ông mời tôi, ông không nói trước, ông hiểm như vậy nghĩa là ông giết tôi đó; phải tôi hay trước, tôi đem đồ nghề tôi theo, tôi có sợ nó ở đâu. Chủ nhà chịu chẳng phải mà rằng: tôi chỉ sợ nói tbiệt, thầy không chịu làm, cũng không dè trong túi thầy không có đồ nghề, thiệt tôi có lỗi với thầy nhiều quá. Chú thầy không bằng lòng quày quả mượn ngựa mà về. Từ ấy yêu quái trong vười cũng tuyệt. Mỗi khi chủ nhà dọn đãi khách trong vườn, đều cười mà nói với khách rằng: mình chẳng hề quên công ơn thầy Từ Viễn.
Sácb dị sử bàn rằng: như lão thầy ấy làm hoảng ôm mền chụp đầu con thú, miệng la bải hãi rổi liền giấu phứt đi, đừng có nói tới chuyện sợ sệt, một nói lớn lối rằng: mình đã đánh đuổi nó được, thì thiên hạ cũng tin chắc là thầy cao tay ấn không ai bì.
18-  RỦ NHAU CHẾT MỘT LƯỢT
Đất Tế Dương có một ông già sáu mươi tuổi đau bịnh mà chết. Con cháu lo việc tống táng, xảy nghe ông già kêu la lớn tiếng, ai nấy chạy vào thấy ông ấy sống lại, đều mầng rỡ hỏi thăm. Ông già cứ nói với vợ rằng: tôi tính đi luôn không trở lại, chẳng dè đi đặng ít dặm, xảy sực nhớ bà, nếu bỏ bà ở lại một mình, ấm lạnh không chỗ nương nhờ, sống như vậy cũng không ra cái gì, chi bằng đi theo tôi luôn thể, bởi đó tôi trở về, có ý đem bà đi theo. Ai nấy lấy làm lời nói sảng sốt, không đem vào tai. Ông già lại nói nbư vậy nữa. Bà già nói: được như vậy cũng hay, ngặt tôi đương sống mà ông biểu chết, thì chết làm sao đặng? Ông già khoát tay nói rằng không khó gì, thôi bà hãy sắp đặt việc nhà cho mau. Bà già cười cứ việc đứng một bên, ông già hối lắm, bà già phải ra ngoài, cách hồi lâu bèn trở vào mà nói dối rằng sắp đặt đã yên. Ông già biểu đi thay quần áo, bà già không đi; ông già hối mãi, bà già sợ mất lòng, mới đi thay rồi lại trở vào. Con cháu thấy vậy đều che miệng mà cười. Ông già day đầu xít gối vổ bà già biểu nằm. Bà già nói con cháu ở trước mặt, vợ chồng nằm kề vai với nhau coi làm sao đặng? Ông già đấm giường mà rằng: nằm mà chết với nhau, chuyện chi mà khó coi! Con cháu thấy ý ông già nóng nảy, đều khuyên bà già nằm chung gối, tôi tớ trong nhà đều tức cười. Giây phút thấy bà già hết cười, rồi lại nhắm mắt; cách một hồi lặng lẻ như ngủ, lại gần rờ da lạnh như đồng, mũi không còn hơi thở; ông già cũng chết, ai nấy đều hãi hùng.
 
19-  BỐN MƯƠI NGÀN
Đất Tân Thành có một ông giàu có, nằm chiêm bao thấy một người chạy vào nhà mà nói rằng: ông thiếu bốn mươi ngàn, nay phải trả lại. Ông ấy lật đật hỏi, thì người ấy thoát vào nhà trong mà đi mất. Đến khi ông nhà giàu thức dậy, thì vợ chuyển bụng đẻ đặng một đứa con trai. Ông ấy biêt nó là oan nghiệt, bèn lấy bốn muôn đồng tiền để riêng ra một chỗ: nhứt thiết sắm sanh đồ ăn, áo mặc, hay là chạy thuốc thang cho con trẻ ấy thì cứ lấy tiền ấy mà tiêu. Khi con nít ấy đặng ba bốn tuổi thì số tiền còn có 700. Tình cờ bà vú bồng con nhỏ ấy lại gần giỡn chơi, ông nhà giàu bèn kêu con mà nói chơi rằng: bốn mươi ngàn gần hết rồi, mày phải đi đi. Ông ấy nói vừa rồi, con nít ấy liền biến sắc dàu dàu, nghẽo cỏ trợn mắt; lại ôm nó thì nó đã tắt hơi, bèn lấy tiền dư 700 ấy mà lo việc cấp táng cho nó. Ấy cũng nên gương cho những người mắc nợ mà không chịu trả.    
Xưa có một người già mà không con, hỏi một ông Hòa thượng vì cớ gì mà mình không con. Ông Hòa thưrợgg trả lời rằng: nhà ngươi không thiếu người ta, người ta không thiếu nhà ngươi thì làm sao cho có con. Bỡi vì sanh con lành, thì để mà trả duyên ta, sanh con dữ thì để mà đòi nợ ta; có con chớ mầng, con chết chớ rầu.
 
20- BỢM BẢ1
Người nhà ông Ngự sử buồn ra ngoài chợ đứng chơi, xảy có một người áo mão tử tế lại gần mà nói chuyện, lần lần hỏi tới tên họ chủ nhà, hỏi làm quan chức gì, người nhà nói lại mọi đều. Người tử tế ấy cũng bày tên họ, nói mình là họ Vương là tay trong nhà cao sang. Hai đàng nói chuyện với nhau vui vẻ; họ Vương mới nói qua chuyện làm quan hiễm nghèo; nói các quan lớn cũng đều lập thế dựa theo hàng quí thích, mà không biết quan ngự sử dựa thế ai. Người nhà cười nói chủ mình không lấy thế ai cả. Họ Vương nói ấy gọi là sợ tốn nhỏ mà quên hại to. Người nhà hỏi vậy phải gởi mình vào đâu? Họ Vương nói bà công chúa tôi ăn ở lễ nghĩa, lại hay cứu giúp người ta, có một ông Thị lang cũng nhờ tôi mà làm quen với bà tôi; như quan ngự sử có lòng rộng rãi đừng tiếc một đôi ngàn vàng, tôi chịu đem người ra mắt bà tôi. Người nhà ông ngự sử nghe vậy, mầng hỏi thăm nhà, họ Vương liền chỉ một cái nhà lớn, lại nói: ở với nhau một nẽo không biết nhau sao? Người nhà về thưa lại, ông ngự sử mầng rỡ dọn yến tiệc, sai người nhà ấy đi mời, họ Vương hớn hở qua nhà ăn uống, khen ngợi đức tánh bà công chúa, nói kĩ cang các việc trong phủ; lại nói như không phải là người ở một đàng một nẽo, dẫu cho vàng trăm, cũng không chịu giúp cho ai. Ông ngự sử càng đem lòng cảm mến. Tiệc rồi họ Vương từ giã ra về, biểu ông ngự sử sắm sanh lễ vật, để y thừa cơ y nói, tối sớm cũng có tin lành. Cách ít bữa, họ Vương cởi ngựa nghiêm trang tới nhà ông ngự sử, hối ông ấy sắm sửa đi cho kíp; lại nói bà công chúa nhiều việc, người ta tới ra mắt chật cửa, từ sớm mai cho đến chiều không có khi hỡ, nay lịnh bà rảnh, phải đi cho mau, bằng chậm thì không lẽ hầu đặng. Ông ngự sử lật đật lấy vàng ròng cùng nhiều hàng giẽ đem theo; đi quanh quẹo hơn mười dặm đàng mới tới phủ bà công chúa. Tới nơi, một mình họ Vuơmg đem lễ vật vào, ông ngự sử chực ngoài, hồi lâu họ Vương ra truyền nói lịnh bà cho đòi quan ngự sử vào. Liền có một ít người cũng ra truyền hô tiêp rước, ông ngự sử khóm róm đi vào, ngước mặt thấy một bà ngồi trên cao lịch sự như tiên, áo mão rực rỡ, còn các gái hầu thì đều mặc áo gấm đứng hai bên. Ông ngự sử sấp mình quì lạy đủ lễ, rồi nghe truyền cho ngồi bên nhà bông; dạy pha trà thì thấy những chén trà bằng vàng. Bà chúa phủ hủy một đổi tiếng, ông ngự sử cúc cung lui ra, nghe ở trong truyền cho giày thêu, mão hoa. Ông ngự sử về nhà nghĩ công ơn họ Vương trọng lắm, bèn làm thơ qua tạ, thì cửa đóng chặc không người, tưởng là họ Vương   đi chầu bà chúa chưa về; ba ngày ba lần tới cũng không thấy ai, cho người đi hỏi thăm bên cửa bà chúa, thì cửa đóng then gài, hỏi người ở đó đều rằng: không có bà chúa nào, trước đây có một ít người tới mướn nhà mà ở, mà đã dọn đi cách ba bữa rồi. Người nhà về thưa lại, thầy trò đều tức mình ách ách.




0
21- MẮC LỪA
Có một ông phó tướng quân về kinh, đem tiền bạc theo nhiều lắm, có ý kiếm chỗ thuyên nhậm, mà ngặt không có ai đở đầu. Ngày kia có một người mặt áo cầu cởi ngựa tới thăm, ông phó tướng mời đải trà rượu tử tế. Người ấy vùng nói có anh ruột hầu gần hoàng đế, lại nói rằng: có một chỗ khuyết tướng quân, như quan phó tướng hào hiệp không tiếc vàng bạc, tôi xin trao lời với anh tôi táng tụng một hai tiếng trước bệ rồng, làm sao cũng giúp cho ông đặng, dẫu ai thế thần cũng không giành nổi. Ông phó tướng nghi là lời nói khoét, không muốn tin. Người ấy lại nói: ông đừng ngại, thiệt tôi có ý kiếm chắc chút đỉnh nơi anh tôi, của ông một đồng tôi không ham, ông tính chịu bao nhiêu, ông biên cho tôi ba chữ làm tin, để đợi Thiên tử người đòi ra mắt rồi tôi mới lấy bạc, như việc không xuôi thì bạc ông còn đó, ai dám tới mà giựt của ông. Ông phó tướng nghe được, mầng làm giấy lá xong xuôi. Qua ngày sau người áo cầu ấy trở lại đem ông phó tướng tới nhà người anh là họ Điền; nhà cửa sang trọng như nhà công hầu, ông phó tướng cũng nghinh ngang không giữ lễ phép. Khi ấy người áo cầu vào nhà trong rồi cầm giày ra nói với ông phó tướng rằng: tôi có tính với anh tôi, mà anh tôi nói phải một muôn mới xuôi, ông dồc lòng lo thì ông ký thêm đàng sau giấy. Ông phó tuớng chịu. Họ Điền nói không biết bụng người ta làm sao, sợ việc rồi trở trái làm mặt. Người áo cầu cười mà rằng: anh khéo lo, mình cho đặng, mình lấy lại không đặng sao? Vã trong trào các quan văn võ muốn gần anh, còn không đặng thay, tôi tính ông phó tướng đàng đi hãy còn dài, hãy còn phải nhờ anh nhiều ngày, chẳng lẽ có bụng gì xấu. Ông phó tướng cũng thề thốt không dám bội ước. Người áo cầu đưa ông phó tướng về, nói: ba bữa nữa tôi sẽ báo tin cho ông. Cách hai ngày trời gần tối, có một ít người chạy lật đật vào chỗ ông phó tướng ở mà truyền rằng: đức Hoàng đế đương ngự bên tiện điện có ý đợi ông đó. Ông phó tưóng thất kinh vội vả chạy vào chàu, thấy đức hoàng đế ngồi trên ngai, hai bên lỗ bộ sáng giới. Quan phó tướng múa lạy rồi, Hoàng đế dạy cho ngồi, hỏi han tiêm tất, lại ngó hai bên tả hữu mà phán rằng: trẫm có nghe danh quan phó tướng, nay thấy đây thiệt là một vị tài tướng; rồi lại phán rằng: có một chỗ phải có người anh tài trấn phủ mới yên, trẫm phải phú thác cho nhà ngươi, nhà ngươi phải làm cho xứng ý trẫm. Quan phó tưóng lạy tạ lui ra, liền có người mặc áo cầu theo mà đưa về cho tới nhà quán, ông phó tướng phải y theo giấy mà giao bạc đủ số.
Ông phó tướng chắc ý mầng rỡ ktoe khoang với chúng bạn, sắm sửa chờ ngày phó nhậm. Té ra ít bữa nghe chỗ khuyết ấy đã có người trám rồi, giận lắm vào dinh quan thượng binh mà sân si rằng: Hoàng thượng đã dành chỗ ấy cho tôi, sao bộ lại trao cho người khác. Ông Tư mã lấy làm lạ, hỏi quan phó tướng đầu đuôi, thid ra như chuyện chiêm bao. Ông Tư mã nổi giận bắt ông phó tướng giao cho quan Đình úy. Quan phó tướng khai tên họ người dẫn kiến, tra ra tthì trong triều không có tên họ ấy. Té ra quan phó tướng đã mất tiền muôn mà lại mất chức mà về, ấy là bị ăn cưóp không gươm dao.
 
22- CHỒN ĐẤT THƠ THỦY
Ấp Thơ, họ Lý có một cái nhà vườn, xảy có một ông già tới mướn, chịu một năm là năm chục đồng bạc; họ Lý chịu cho mướn, nhưng bỡi lâu ngày không thấy ông già tới ở, bèn biểu đầy tớ cho người khác mướn. Qua ngày mai ông già tới nói: nhà mướn có giá, sao ông còn cho người khác mướn? Họ Lý nói tại ông để lâu, tôi nghi ông không mướn. Ông già nói tôi tính mướn lâu, cho nên để mà coi ngày, nói rồi liền đem năm chục đồng bạc mà giao trước, lại nói: dầu tôi có bỏ không cả năm, ông chớ nói tới. Họ Lý đưa ông già ra về, hỏi chừng nào dọn, ông già nói chừng chừng, cách hơn mười ngày cũng vắng vẻ. Đến khi họ Lý đi thăm nhà, thì cửa đóng chặt, thấy khói nấu ăn, nghe tiếng người ta chào rào mới lấy làm lạ; bèn viết thiếp đi mầng, ông già vội vã rước vào, trò truyện vui vẻ. Họ Lý trở về bèn sai người đem đồ cho, ông già cũng thết đãi cùng cho lại nhiều. Cách ít ngày họ Lý dọn ăn mời ông già, lần lần hỏi tới quê quán, thì ông già nói mình ở bên đất Tần. Họ Lý lấy làm xa xác. Ông già nói đất Tần sẽ mắc nạn to, không khá ở lâu dài, bây giờ coi thì thới bình mà ngày sau chưa biết ra làm sao, có một chỗ này là phước địa. Qua ngày sau ông già làm giấy tạ chỗ ở, dọn yến tiệc mời lại họ Lý. Họ Lý thấy màn trướng dọn dẹp sang trọng, thì lấy làm kỳ dị, tưởng là một vì quan lớn. Hai đàng ở với nhau một ngày một thân thiết, ông già mới nói thiệt mình là chồn; họ Lý sửng sốt, gặp ai nói nấy, các kẻ hào mục trong ấp nghe sự lạ, cũng đều tới cửa ông già, xin làm quen. Ai tới, ông già cũng lụm cụm đi tiếp rước, các quan tỉnh cũng thường tới lui. Có một ông huyện sở tại xin tới, ông già cứ kiếm điều từ chối; ông huyện cậy chủ nhà nói giùm, ông già cũng không chịu. Họ Lý hỏi cớ sự làm sao, ông già bèn xít lại gần mà nói nhỏ rằng: ông không biết kiếp trước y là lừa, coi đàng hoàng ở trên đầu trên cổ dân, song quả y uống nuớc hồ, y cũng say, tôi không phải loài người, tôi cũng không thèm làm quen với y. Họ Lý phải kiếm đều nói tránh rằng: ông già ấy sợ ông thần minh, cho nên không dám ra mặt với ông. Quan huyện tin, không đòi đến nữa; ấy là việc đời Khương Hy năm thứ 11. Chẳng khỏi bao lâu đất Tần mắc việc binh lửa, té ra có một mình con chồn già biết trước.
Sách Dị sử bàn rằng: con lừa hình dạng cao lớn, hễ có giận thì đá đạp, hầm hí, con mắt lộ bằng cái chén, hơi thở như bò, tiếng khó nghe, hình cũng khó coi, nêu lấy một bó cỏ mà dỗ, thì nó liền cúi đầu xủ tai, mặc ý người cột trói; người như vậy mà ở trên đầu dân, uống nuớc hồ cũng say là phải lắm. Kẻ trị dân lấy gương con lừa mà răn mình, lại cầu cho được tiếng khen con chồn, thì sẽ nên người đức hạnh.     
 
23- CHUYỆN ÔNG TẤN SĨ LƯNG MỌC LÔNG DÊ
Đất Hiệp Hữu có một ông Tấn sĩ hay nhớ việc kiếp trước. Ông ấy nói kiếp trước mình làm học trò, được nửa đời người mà chết, xuống âm phủ thấy vua Thập điện đương có tra án, bày những lò vạc gớm ghiết, y như chuyện người ta nói trên đời; bên góc đền về phía đông, thấy những giá treo da dê, da chó, da trâu, da ngựa cùng các thứ da; thấy người coi bộ kêu tên từ người, hoặc bắt đi làm ngựa, hoặc bắt đi làm heo, quỉ đều lột trần truồng, lấy da trên giá mặc cho. Giây phút kêu tới tên ông Tấn sĩ. Ông ấy nghe vua Thập điện dạy đi làm dê, liền thấy quỉ lấy một cái da dê, bắt ông ấy lột trần, tròng vào khít rịt. Xảy có một tên thơ lại tâu nói ông ấy có cứu một người khỏi chết. Vua Thập điện tra lại quả có như lời, bèn trở giận làm vui mà rằng: tội ác nó thiệt quá lắm, song một việc lành ấy cũng cứu nó được. Vua Thập điện nói rồi bèn dạy quỉ lấy da dê lại. Chẳng dè da dê đã dính vào trong thịt, cởi không ra, hai thằng quỉ phải nắm cánh tay ông Tấn sĩ, đứa trì đứa lột, đau ông ấy quá chừng, da dê rách từ miếng, lột không sạch, bên vai ông Tấn sĩ hãy còn dính một miếng lớn bằng bàn tay. Đến khi ông ấy sống lại, sau lưng có lông dê mọc vấy vá, cạo đi nó mọc lại không tuyệt.
 
24- LẬP TỰ CHO CHÁU
Có một người bá hộ lớn tuổi mà không con; người em lại có hai đứa trai. Bá hộ thường nói với em, biểu cho một đứa mà lập tự. Vợ bá hộ nghe nói, không dám cải ý chồng, nhưng mà không bằng lòng, cứ đi chùa chiền cúng cấp, vái Phật bà, họa may cho mình có con, kẻo ức tấm lòng. Người em nghe anh nói thì mầng, chíp lấy trong bụng. Chẳng khỏi bao lâu người bá hộ thọ bịnh nặng, cầu thầy chạy thuốc, sám hối tụng kinh, vái trời vái phật, ếm quỉ trừ ma cũng chẳng ích gì. Bá hộ chết xuống, người vợ làm theo phép phật, tống táng đủ lễ. Giáp năm làm tiểu tường, người vợ rước một ông hòa thượng lớn làm chay, cầu cho chồng trực vãn Tây phương phật. Lệ làm chay: hễ nhà giàu rước thầy, phải có ba lễ, một lễ cúng tổ, một lễ trưong tượng Thành, một lễ mầng thầy. Vợ bá hộ không thuộc ba lễ ấy, mà thầy cũng không đòi, hóa ra bỏ đi không làm. Đến khi làm đám gần rồi mà phần mả, ông hòa thượng làm hiểm, vái trẹo cho vong hồn trực vãn Đông phương, không cho trực vãn Tây phương. Vợ bá hộ lộng kính bắt hồn chồng mà hỏi, thì hồn chồng quả ở Đông phương, lấy làm tức tối quá.
Qua đại tường người em bá bộ xin làm tuần thế, vợ bá bộ cũng đành để cho người em chồng làm, họa may có đòi cho chồng mình về Tây phương chăng, cứ rưóc ông hòa thượng cũ. Thầy tới, người em bá bộ làm đủ ba lễ, mỗi lễ chịu một đồng bạc, thầy lấy làm bằng lòng, đến khi phần mả, thầy vái ngay cho vong hồn trực vãn Tây phương. Người em lộng kính bắt hồn mà hỏi, thì hồn bá hộ được về Tây phương rồi. Người em đắc ý nói với chị dâu rằng: nghĩ lại khi anh tôi còn sanh tiền, thường nói có chị nghe, là để sự ngbiệp cho con tôi nó giữ, thì là đáng lắm, bỡi vì anh tôi biêt cha con tôi giỏi, cho nên mới đành lòng phú thác. Vợ bá bộ tức mình nói: tuần chay trước tôi làm dở, tuần chay nầy chú làm lại hay gì? Chú nhờ có ba lễ ba đồng, cho nên chồng tôi được về Tây phương, còn tôi làm trơn cho nên chồng tôi phải qua Đông phương. Khác nhau có một sự có bạc cùng không bạc; có bạc lên trời cũng đặng, chẳng lựa là qua Tây phương; may chồng tôi giàu, phải mà nghèo, cũng chẳng lẽ về Tây phương được, có khi cũng không có em có cháu nữa.  
 
25- NỢ KHÔNG TRÔNG TRẢ
Ông Lý Trước Minh, khẳng khái hay làm việc bố thí. Trong làng có một người tới ở mướn, mà tánh làm biếng, không biết việe làm ruộng đất, nghèo khô nghèo khiểng mà cũng có tài khéo léo; hễ có làm việc gì, ông Lý Trước Minh đều ưng bụng, trả nhiều tiền bạc, lỡ làng không gạo nấu, năn nỉ xin ông ấy liền cho. Có một bữa tên ở mướn ấy thưa với ông ấy rằng: kẻ tiểu nhơn chịu ơn ông hậu lắm, nhà ba bốn miệng ăn khỏi chết đói cũng nhờ ông; nhưng mà không lẽ nhờ đời, xin ông cho tôi vay một tạ đậu xanh để làm vốn. Họ Lý chịu cho, tên ấy lật đật gánh đậu đi, hơn một năm không thấy trả chi cả; hỏi ra thì vốn đậu đã sạch, họ Lý thấy vậy đem lòng thương không đòi. Cách ba năm họ Lý qua chùa đọc sách, nằm chiêm bao thấy tên ấy tới mà thưa rằng: tôi mắc tiền đậu ông, nay tôi tới mà trả lại cho ông. Họ Lý rằng: bằng tra nợ cũ, bắt chú phải trả, thì chú thiếu biết là ngần nào! Tên ấy buồn mà nói rằng: thiệt quả như lời ông nói; con người ta có công việc làm mà chịu tiền ngàn cũng không phải trả, bằng chịu thinh không, dẫu một bát cơm cũng chẵng nên quên, huống chi là chịu ơn vô toán. Tên ấy nói rồi liền đi mất. Họ Lý cũng sanh nghi trong lòng, thoát chúc người nhà tới thưa đêm ấy con lừa cái đẻ một con lừa đực mà sổ sữa xinh tốt. Họ Lý nhớ mạy nói: có khi con lừa con nầy thì là đứa thiếu nợ mình chăng. Cách ít ngày, họ Lý trở về nhà thấy con lừa con, bèn hô tên người thiếu nợ mà kêu chơi, con lừa con liền chạy lại dường như có đều hiểu biết. Từ ấy họ Lý mới lấy tên người thiếu nợ mà đặt cho con lừa. Đến khi con lừa lớn, ông ấy cởi đi chơi xa, nhiều người giàu có muốn mua, trả nhiều bạc; kế lấy ông ấy có việc nhà phải trở về không kịp làm giá. Qua năm sau lừa ngựa nuôi chung một chuồng, lừa bị ngựa cắn gảy ống chơn, làm thuốc không lành. Xảy có một ông thầy thuốc trâu tới nhà họ Lý, thấy con lừa bèn xin lảnh về cho thuốc, họa may có mạnh, bán được giá bao nhiêu sẽ chia đôi. Họ Lý chịu, thầy thuốc trâu lảnh lừa về nuôi ít tháng lành đả rồi, bán được một ngàn tám trăm, chia phân nữa cho họ Lý, họ Lý nhớ sực lại thì đúng giá tiền đậu xanh. Ấy rõ ràng nợ dương gian, mờ mờ âm phủ trả, cũng đủ mà giục lòng người.
 
26-  CHUỘT CÓ NGHĨA
Hai con chuột đi ăn, rủi thì một con bị rắn bắt, con kia làm bộ giận dữ, lòi hai con mắt như hột tiêu; song cũng ở xa xa mà ngó, không dám lại gần. Con rắn nuốt con chuột nọ vô bụng rồi, lểnh nghểng bò xuống hang, vừa quá nửa mình, con chuột bạn chạy xốc lại cắn riết đuôi con rắn; con rắn giận tháo đầu trở ra, chuột lẹ nhảy trái, rắn rượt không kịp, trở lộn lại, xăm xăm chun xuống hang; con chuột cứ việc chạy lại cắn đuôi như trước: hễ rắn xuống hang, nó trở lại, rắn thụt ra, nó chạy đi. Nó làm như vậy một hồi lâu, con rắn tức mình phải trở ra, mửa con chuột nuốt ra trên đất, rồi mới trở xuống hang. Con chuột sống thấy xác con chuột chết, chạy lại hít ngửi dường như thương tiếc rồi tha mà đi mất. Có người ngó thấy chuyện ấy rõ ràng, bèn đem làm chuyện nghĩa thử để đời.
 
27- CHUYỆN NGƯỜI ĐINH TIỀN KHÊ.
Họ Đinh hiệu Tiền Khê là người giàu có, ăn ở rộng rãi, hay làm điều nhơn nghĩa, nuôi lầm đứa bất lương, quan địa phương hay đặng cho quân bắt. Họ Đinh trốn đi tới đất An Khâu, mắc mưa vào quán mà đụt. Té ra mưa trót ngày không tạnh, trong quán có một đứa nhỏ ra dọn đãi ăn uống bỉ bàn, rồi thì kế tôi, họ Đinh phải ngủ đêm tại quán. Thấy thằng nhỏ có bụng tử tế, cắt tranh cỏ cho ngựa ăn, họ Đinh mới hỏi tên họ chủ quán. Thằng nhỏ nói chủ quán là họ Dương, nó là cháu ruột, bác nó hay kết bạn chơi bời đi vắng, có một mình bác gái nó ở nhà, nghèo lắm không có tiền mà đãi khách. Họ Đinh hỏi chủ quán làm nghề gì? Thằng nhỏ ấy nói có một nghề chứa bài, kiếm một hai đồng xâu mà ăn. Qua ngày sau trời còn mưa, mà trong quán cũng cứ việc dọn ăn. Đến tối thấy cỏ tranh cắt để vày vò dầm ướt, họ Đinh lấy làm lạ mà hỏi, thằng nhỏ thưa rằng: chúng tôi không dám giấu ông, nhà chúng tôi nghèo không có chi mà cho ngựa ăn, bác tôi phải giựt tranh mái nhà mà cho nó ăn. Họ Đinh càng lấy làm kỳ, trong ý tưởng chủ quán làm hết lòng như vậy mà đòi cho nhiều tiền. Sáng ngày họ Đinh trả nhiều tiền, chủ quán không lấy, họ Đinh ép thằng nhỏ biểu cầm vào, tức thì nó đem ra mà trả và nói rằng: bác tôi không phải làm nghề đãi khách mà kiếm ăn, bác trai tôi đi chơi đâu mấy ngày cũng không hề đem một đồng tiền, nay ông tới nhà có lẽ đâu cho chúng tôi lấy tiền. Họ Đinh nghe nói lấy làm khen ngợi, từ giã mà đi, lại dặn: khi chủ nhà về phải nói mình là người ở Chư Thành, họ Đinh, chủ nhà có rảnh xin qua chơi.
Cách mấy năm không có tin tức gì, nhằm năm mất mùa, họ Dương khốn túng lắm, chẳng biết làm chi mà ăn, người vợ nhắc chừng biểu chồng qua viếng họ Đinh. Họ Dương tới đất Chư Thành, nói tên họ cho người giữ cửa, họ Đinh quên lửng, hỏi đi hỏi lại mới nhớ, liền xỏ giày ra rước, thấy họ Dương lang thang rách rưới, đem vào nhà dọn yến tiệc đãi đằng, làm ra cách thương yêu quá chừng, sáng ngày may áo quần, trong ngoài đều no ấm. Họ Dương lấy làm cám ơn, mà nghĩ phận nhà lại thêm buồn; vì đàng xa tới anh em cũng có bụng trông chút đỉnh, té ra ở mấy bữa nghe vắng vẻ, không thấy nói tới chuyện cho chác chi cả. Họ Dương tức mình phải nói thiệt với họ Đinh rằng: tôi không dám nói giấu anh, khi tôi qua đây thì gạo trong nhà còn có mấy nồi, nay nhờ anh lấy lòng rộng rãi, rách cho mặc đói cho ăn, tôi lấy làm có phước, mà ngặt vợ con ở nhà không biết liệu làm sao. Họ Đinh rằng: anh đừng lo, tôi đã tính cho anh rồi, anh ở nán ít ngày tôi phải giúp vốn cho anh. Rồi đó họ Đinh cho người đi kêu tay đánh bạc, biểu họ Dương ngồi coi lấy xâu; đánh một đêm xâu hơn một trăm quan, mới đưa họ Dương về. Họ Dương về tới nhà thấy vợ con giày dép áo quần nhỗn nha lành lẻ, lại có tớ gái hầu hạ, lấy làm sự lạ lùng, hởi vợ nhơn sao mà được tử tế như vậy? Vợ nói từ anh đi rồi, qua ngày sau liền có xe chở vải lụa, gạo thóc tới chất để đầy nhà, hỏi ra thì người dẫy xe nói là của họ Đinh buổi trước có ở đổ tại nhà, dạy đem tới mà cho, lại có cấp cho một đứa đầy tớ gái để giúp đỡ cho tôi nữa. Họ Dương cảm mến chẳng khi đừng, từ ấy trong nhà mới khá, bỏ nghề cũ khòng làm nữa.
 
28- CHUYỆN THÂY MA LÀM DỮ
Ấp Thái có một ông già cất quán xa thành để tiếp bộ hành ngủ đêm, có bốn tên dẫy xe thường ngủ đậu. Một bữa trời vừa tối, bốn tên ấy tới thì khách đã chật nhà, khòng biết đi đâu, xin quyết chủ quán cho ngủ đổ. Ông già ngẫm nghĩ hồi lâu, nói có một chỗ mà e không xứng đáng. Bốn người nói cho có chỗ nằm thì thôi, hè chái chi cũng nên. Nhằm lúc dâu ông già mới chết còn để thây giữa nhà, con trai ông ấy thì đi mua hòm chưa về, ông già mới dắt bốn người vào phía đàng sau, gần chỗ thây nằm, đèn chong leo lét, có bốn cái giường để liền nhau, bốn người mệt nhọc nằm xuống, liền nghe tiếng ngáy khò khò. Một người còn lim dim mơ màng, xảy nghe tiếng động bên giường thây nằm, nhướng mắt coi thì đèn chưa tắt, thấy thây tốc mền chờ dậy trèo xuồng giường, lần lần lại chỗ bốn người ấy nằm, mặt mũi xanh dờn, lụa trắng choàng ngang qua trán, cúi xuống thổi mặt ba người. Người ấy thất kinh sợ nó thổi luôn tới mình, sẽ lén kéo mền trùm đầu nín hơi để coi nó làm thế gì. Giây phút con gái chết ấy cũng men lại mà thổi trên mình người ấy như ba người kia; rồi nó thoát ra khỏi phòng, liền nghe khua bên giường nó, người ấy hé mền dòm thì thấy thây nằm ngữa như cũ. Người ấy sợ lắm không dám đánh tiếng, lén đạp ba người kia trơ trơ không cục cựa. Người ấy nghĩ phải mặc áo mà chạy, mới ngồi dậy giủ áo, lại nghe động nữa, sợ nằm lộn xuống, quấn mền lại. Con gái ấy liền qua mà thổi nữa, thổi đi thổi lại đôi ba lần rồi mới đi. Người ấy nghe động bên kia, chắc ý nó trở về rồi, lén thò tay mò áo bận vào bỏ giày chạy khan. Chằng dè thây con gái cũng chờn vờn chờ dậy làm như bộ rượt, nó vừa ra khỏi màn, người ấy đã mở cửa thoát ra ngoài. Thây ma vụt chạy theo, người ấy và chạy và la, trong làng không có ai canh, muốn đứng lại mà kêu cửa nhà gần, nhưng sợ thây ma theo kịp, bèn cứ đàng lộ chạy miết dài tới bên phía đông, thấy một cái chùa, thầy chùa đương gở mỏ tụng kinh, liền chạy sấn vào, thầy chùa thấy kì dị không cho vô. Thoát chúc thây ma theo kịp, cách chừng một thước, người ấy túng thế, thấy ngoài cửa chùa có một cây dương lớn gốc đôi ba vầng, mới tráo xây quanh gốc dương: hễ thây ma chạy bên này, người ấy chạy bên kia, thây ma giận lắm, mà hai đàng cũng đã mõi mệt, thây ma vùng đứng lại, người ấy tháo mồ hôi hột thở không ra hơi, cứ núp theo cội cây. Thây ma làm dữ giang hai tay xoát ngang qua gốc cây vói bốc, người ấy hết hồn té ngửa ra, thây ma bắt hụt, ôm riết lấy gốc cây mà đứng sững.
Thầy chùa rình nghe một hồi không có tiếng tăm gì, mới ra coi thì tên bộ hành nằm ngay, soi đèn thì đã chết rồi, song rờ ngực hãy còn hoi hoi hóp như sợi tơ, khiêng vào chùa, sáng đêm mới sống lại, đổ hồ cháo hỏi cớ sự làm sao. Tên bộ hành nói đủ đầu đuôi. Khi ấy chuông đã đánh sáng, trời mờ mờ thầy chùa coi gốc cây dương, thấy một đứa con gái ôm đó mà chết. Báo huyện, quan huyện đi khám nghiệm, dạy người ta gở tay con gái mắc cứng trong gốc cây, giựt không ra, coi kĩ thì tay tả hữu bốn ngón đều bấu trong cây lút mất móng, nhiều người giựt ra mới được, coi dấu ngón móc vào trong cây có lỗ tút hút. Ông huyện khiến người hỏi bên ông già quán, thì trong quán nhộn nhàng về sự thây mất, mấy người bộ hành chết. Người sai học chuyện, ông già qua lảnh thây về. Tên bị thây rượt khóc bẫm với quan huyện rằng mình đi bốn người, nay về một mình, biết nói làm sao với làng xóm? Quan huyện dạy làm vi bằng cho nó đem về mà trình.
 
29- CHUYỆN HỌ THÂN
Bên sông Hà có họ Thân là con nhà học hành, nhà nghèo, bữa đói bữa no, bếp núc vắng lạnh, vợ chồng nhìn nhau không biết làm chi cho có mà ăn. Vợ nói với chồng rằng: Nghèo nàn thế này, anh phải đi ăn trộm mới nuôi nhau đặng. Họ Thân rằng: mình là con nhà lễ nghĩa, không lẽ làm nhục tông môn, thà thác theo ông Bá-gi, chẳng thà sống làm Đạo chích (1). Vợ giận mà rằng: muốn sống mà còn sợ xấu nổi gì? Ở đời chẳng cày mà đặng ăn cũng có hai cách, anh chẳng muốn làm ăn trộm thì thà để tôi đi làm đĩ. Họ Thân bất bình nói nhiều tiếng xúc phạm, vợ hờn bỏ đi ngủ. Họ Thân nghĩ mình là trai, có hai bữa ăn mà lo không đặng, đến đỗi vợ đòi đi làm đĩ, thì sống cũng chẳng làm gì, lén ra sau vườn làm vòng thắt cổ. Họ Thân mới đút cổ vào vòng, xảy thấy cha chạy tới dứt vòng, quỡ con sao cả gan làm chuyện dại, lại biểu rằng: chuyện ăn trộm cũng nên làm đở, là đi coi chỗ nào lúa lên cao dày phải núp đó, như đi phen nầy có lẽ làm giàu, thì phải chừa cải không nên làm nữa. Vợ nghe té một cái đụi, giật mình chờ dậy kêu chồng không lên tiếng, thắp đèn đi kiếm, thấy vòng trên cây đứt, chồng nằm dưới gốc cây mà chết, thất kinh ôm chồng vuốt ve một hồi, chồng mới sống lại, dịnh vào để nằm trên giường. Vợ thấy vậy không dám giận hờn nữa, sáng ngày mượn cớ chồng đau, đi xin lối xóm đặng một chén cháo đem về cho chồng húp đở. Họ Thân húp miếng cháo rồi, vùng chờ dậy ra đi, tới xế qua mới vác về một bao gạo. Vợ hỏi gạo ở đâu, họ Thân nói anh em bạn với cha tao đều giàu sang, bấy lâu tao lấy sự ngoắt đuôi làm hổ, cho nên tao không chịu đi xin. Người đời xưa có nói rằng: túng thì phải biến, nay tao tính đi ăn trộm thì còn luận gì xấu hổ. Mầy phải nấu cơm cho mau, tao tính nghe lời mầy, tao đi ăn cướp. Vợ tường là chồng nói lẩy, lật đật đi vo cơm. Họ Thân ăn no rồi, bèn đi kiếm cây chắc, chặt làm đoản côn, hăm hở vác ra đi. Vợ coi ý chồng thiệt đi ăn cướp, bèn kéo lại không cho đi. Họ Thân rằng: mày biểu tao, mai sau có mang họa, thì đừng trách; nói rồi bèn giựt vạc áo mà đi một bề. Mặt trời vừa chen lặn, họ Thân ngó thấy xóm, bèn núp xa xa cách chừng một dặm; thình lình mưa lớn mình mẫy ướt dầm, mù mù ngó thấy một lùm cây, muốn đi cho tới đó mà nghỉ chơn, không dè trời chớp thấy mình đã hầu kề một bên tường có lúa mọc dày, bèn chạy sấn vào đó, ngồi chồm hổm mà núp. Cách một chặp có một tên trai tráng vặm vỡ cũng vào trong đám lúa. Họ Thân sợ không dám máy động; may tên trai tráng ấy đi tránh, dòm theo thấy nó leo qua tường, chắc ý nó là quân tử ngồi rường (2), để nó đem đồ ra, sao vậy mình cũng có phần, mà nghĩ bộ tịch nó thì mạnh bạo hung ác, nếu mình lấy ngang ắt là có đánh lộn, làm sao mình đánh cũng khòng lại, chẳng bằng lừa thế mà đánh nó trước. Họ Thân lập tâm rồi cứ việc núp đó mà chực. Gà gần gáy sáng, thằng ấy xơn xao leo tường nhảy ra, chơn chưa tới đất, họ Thân nhảy tới đánh một côn trúng ngang lưng nó nhào xuống, thì là một con rùa lớn hả miệng ra bằng trang cái miệng chậu, họ Thân thất kinh đánh bồi nó mới chết.
Số là trong tường ấy có ông nhà giàu, có một đứa con gái xinh tốt trong đời, cha mẹ yêu thương như vàng như ngọc. Đêm kia có một người cao lớn vào nhà làm bức, con gái ấy kêu la không ra tiếng; con gái ấy xấu hổ không dám nói ra, bắt đầy tớ gái nằm một bên, đóng cửa chắc, thằng dữ ấy cũng cứ việc tới như cũ. Ông nhà giàu giận, dạy tôi tớ canh khắp trong ngoài, cũng không bắt nó được. Lâu ngày con gái ấy ốm o gầy mòn, ông nhà giàu tức mình đặt cuộc: ai trừ đặng yêu quái ấy thì thưởng 300 lượng bạc. Họ Thân bình nhựt cũng có hay chuyện ấy, đêm nọ giết đặng con rùa, ngỡ là nó làm hại con ông nhà giàu, bèn kêu cửa xin lảnh thưởng. Ông nhà giàu mầng rước vào, cho người đi khiêng con rùa vào trước nhà, dạy chặt ra từ khúc, rồi cầm họ Thân lại, quả không có yêu quái nữa, mới đem bạc ra thưởng đủ số. Vợ ở nhà thao thức đợi trông, thấy chồng vác bạc về để tại giường, sợ hỏi chồng đi ăn trộm thiệt sao? Họ Thân nói mầy biểu tao, mầy còn nói gì. Vợ khóc mà nói rằng: trước tôi có ý nói chơi, nay quả anh phạm tội chết chém, không lẽ tôi chịu tội chung với ăn cướp, tôi phải liều mình tôi trước, chẳng để cho người ta động tới tôi. Vợ nói rồi liền chạy đi, họ Thân kéo lại, cười mà nói thiệt, vợ đổi giận làm mầng, từ ấy vợ chồng có vốn làm ăn một ngày một thạnh lợi.
Sách Dị sử bàn rằng: con người ta chẳng phải lo nghèo, một lo không có đức hạnh; người ở có hạnh dầu đói cũng không chết, nếu người ta không thương, cũng còn có quỉ thần phù hộ. Nhửng người nghèo ở đời hay dục lợi chẳng vì nghĩa, tham ăn không biết hổ, một đồng tiền người ta cũng không muốn giùm, phương chi là quỉ thần có thương xót làm sao đặng.
 
Chú thích:
(1) Châu võ vương phạt Trụ, Bá Gi, Thúc Tề, hỗ vì vua, không chịu ăn thóc nhà Châu mà chết.
Đạo Chích sanh đời nhà Châu, hung hoang, trộm cướp, vô sở bất vi.    
(2) Đời Hậu Hán, ngươi Trần Thật bỉnh tánh ôn hòa, một bữa có ăn trộm ẩn bóng vào nhà, trèo ngồi trên thượng lương, chờ trong nhà ngủ xuống mà lấy đồ. Trần Thật ngó thấy tên ăn trộm, làm thinh không nói, lật đật kêu các con dậy mà nói rằng: con ngiười ta làm dữ, không phải là bổn tánh dữ, là tại tập dữ tánh thành. Các con chớ bắt chước người quân tử ngồi trên rường làm chi. Tên ăn trộm nghe nói liền tuột xuống mà lạy, Trần Thật khuyên rằng: con người cơ hàn, đại để là tại không lo làm ăn, coi tướng nhà ngươi không phải là dữ, nhà ngươi hãy giải nghiệp, phải làm nên người liêm sĩ; nói rồi liền đuổi nó đi.




0
30- CHUYỆN ÔNG XA KÍNH
Ông Xa Kính là người đời Minh làm quan tới bậc Thị lang. Thuở ông ấy còn nhỏ đi học, tối về mắc mưa lạc đàng, thấy đèn xa xa ở dựa chơn núi, đi tới nơi, tháy một cái chùa, bèn kêu cửa. Có một đứa tiểu đồng chạy ra mà nói rằng: thầy dạy tôi chực ông nảy giờ. Xa Kính ngó thấy một tấm biển treo giữa cửa đề hai chữ Thế huyền, bước vào chùa thấy một ông già chong đèn mà ngồi. Ông già thấy Xa Kính vào, vội vã đứng dậy chào mầng. Ông Xa Kính xin một cày đuốc để kiếm đàng mà về. Ông già cười nói có đuốc ở đâu giữa nầy mà phòng xin; có lá khô nhỏ nhỏ, nhà ngươi đốt mà sưởi áo quần cho khô đã. Xa Kính hỏi nhỏ, tên tiểu đồng nói tên ông già kêu là ông Tiêu Diêu, tên nó là Thiểu Cô, nghĩ là một vì quân tử ở ẩn, mới hỏi thiệt. Ông già nói: xưa thầy Thể Huyền đi tu trong hang Tiêu Diêu, ta cả đời chuyên nghề làm thuốc, ta thường tới lui trong núi. Sau ta nghe có nhà ông Đàо Hoằng ở tại đó, ta nhơn đi lấy thuốc, qua đó cất am đã lâu năm, bây giờ ý ta cũng muốn trở về. Xa Kính hơ áo rồi, bèn xin về. Ông già dạy Thiểu Cô dắt ra một con bò, biểu Xa Kính cỡi mà về; lại dạy một đứa tiểu đồng đem ra một cái cọ, ông già dở ra, lấy một cái mảo thầy chùa mà cho. Xa Kính không chịu mà rằng: chí tôi dốc lo việc nước nhà, có đâu ông cho tôi đồ như vậy. Ông già nói: thuở trước ta cũng có chí giúp đời, sau bỡi các người làm tướng bất tài không dùng kế ta, nước nhà phải hoạn họa; may ta nhờ một cái giỏ ấy mới khỏi nạn, bằng chẳng thì chẳng còn tử tế tới ngày nay; nhà ngươi nghe lời ta lảnh mảo ấy, ngày sau sẽ biết. Xa Kính chối dài không lảnh, ông già thấy không lẽ ép nài, một than thở mà thôi. Xa Kính đứng xa xa thấy trong giỏ sắp những đồ gỗ cùng đồ thầy chùa, không có đồ chi cho lạ, bèn lên lưng bò từ giã mà về. Vừa ra khỏi rừng, bò chạy như dông, giây phút tới nhà, Xa Kính kêu người nhà thắp đèn ra mà dắt bò, con bò liền rống lên, hóa ra cọp mà đi mất.
Sáng ngày, Xa Kính đi tìm am ông Thể Huyền, thì chẳng thấy am tự nào. Cách ít ngày ông ấy đi ngang qua phía tây cách bốn mươi dặm, thì thấy bên nền cũ ông Đạo Hoằng có một cái miểu cũ, mỉa mai chỗ đụt mưa ngày trước, trên vách có đề hai câu thơ rằng: Dạ lương nghi hữu vỏ; viện tịnh nhược vô tăng. Dấu mực còn ràng ràng, y như câu thơ ông Tô Dông Bа ngó thấy.
 
31- CHUYỆN ÔNG LƯU BÁ ÔN
Người ta đồn núi Thanh Diền có chuyện kì, nhằm lúc ông Lưu Bá Ôn còn ở ẩn, mỗi bữa ông ấy có ý rình coi. Thình lình cửa hang đá mở ra, ông Lưu chun vào, thấy trên vách đá có chữ đề rằng: vì ông Lưu cửa núi mở. Ông Lưu lấy đá gỏ cửa trong lại mở ra, vào một tầng nữa, liền thấy có một thầy đạo sĩ gối sách mà nằm. Thầy đạo sĩ nói vuối ông Lưu rằng: ấy là sách Binh thơ, rạng ngày mai nhà ngươi đọc thuộc, ta cho nhà ngươi. Ông Lưu chịu, lảnh sách về nội trong một đêm đọc thuộc. Thầy đạo sĩ phải giao sách Binh thơ y như lời nói. Vã lại thuở ông Lưu cơ còn nhỏ đi học trong chùa, có một người ở phòng riêng hay xuất thần đi chơi, khóa cửa lại hoặc một tháng, hoặc nửa tháng mới về. Xảy có sứ bắc qua ghé tại chùa, tối không có chỗ nghỉ, thấy phòng khóa bỏ không, bèn phá cửa phòng, thấy có một người nằm ngay đơ, nói rằng chết rồi, dạy phải thiêu mà chôn đi, để phòng cho sứ ơe. Chẳng dè hồn người ấy về, mà xác thì tiêu tan không biết nhập vào đâu, đêm đêm thường kêu khóc hỏi ta ở đâu bây giờ. Ông Lưu cơ nghe hỏi nhu vậy liền mở cửa sổ, nói ta ở đây. Hồn ấy liền nhập vào, cho nên ông Lưu cơ lại càng thông minh hơn trước bội phần: phép thiên văn, phép binh, ông ấy coi qua liền hiểu thấu.
 
32- CÓ PHƯỚC LÀM QUAN
Năm Thiên Thuận, Vi Sĩ Ngô vâng chỉ về kinh, thuở ấy vua Anh Tông ngự đền Văn Hoa, đòi các quan tâu đối. Có một mình Vi Sĩ Ngô làm thinh, hồi lâu mới tâu rằng: kẻ khách thần dâng sớ. Ai nấy đều kinh sợ, vua Anh Tông buồn ý bèn ngự giá trở lui. Vi Sĩ Ngô ra tới cửa Tả thuận lấy mảo xuống coi, có một con bò cạp cắn đầu sưng đỏ lòm, ai nấy mới hiểu Vi Sĩ Ngô tâu đối không đặng là vì bò cạp. Tới đời Tống hiệu Thuần Hy, có quan Ngự sử vào đền tâu đối, nhắc tới việc vua Cao Tông, ông Ngự sử vùng sa nước mắt. Vua phán hỏi, ông Ngự sử tâu rằng nhớ công nghiệp tiên đế lao khổ. Vua Hiếu Tông cũng sa nước mắt, sáng ngày phê cho ông Ngự sử làm chức Thị Lang, mà chẳng hay ông Ngự sử bị rít cắn. Ấy kẻ bị bò cạp cắn, người bị rít cắn, cũng đồng bị trùng độc cắn mà may rủi xa nhau.
Sách khiển sầu. 
 
33 - CHUYỆN NHẬM TÚ
Nhậm Kiến là người ở đất Ngư Đài, làm nghề bán da trâu, một chuyến mua da hết vốn, quyết qua Hiệp Tây mà bán. Đi dọc đàng, xảy gặp một người ăn chơi xưng là họ Thân, ăn nói phải thế, Nhậm Kiên kết làm anh em, rủ đi qua Hiệp Tây. Tới nơi Nhậm Kiến xán bịnh đau nặng, họ Thân, nuôi dưỡng tử tế. Cách hơn mười bữá bịnh trở nặng, Nhậm Kiên biết mình không xong, bèn nói với họ Thân rằng: nhà tôi nghèo khổ, cả thảy tám miệng ăn đều nhờ có một mình tôi, nay chẳng may tôi có bỏ thây đất nước người, đàng ngàn dặm chẳng biết nhờ ai, một nhờ anh là chơn tay tôi vậy. Trong túi tôi có hai trăm đồng tiền, anh lấy nửa mua hòm mà chôn tôi, dư thì anh tiêu dùng; còn một nửa anh gởi về cho vợ con tôi, biểu nó qua mà đem quan cữu tôi về; nhược bằng anh có lòng đem hài cốt tôi về xứ sở, tôi không suy tính với anh món chi cả. Nhậm Kiến nói rồi liền làm thơ trao cho họ Thân, qua tới tối thì chết. Họ Thân lấy năm sáu đồng mua một cái hòm xấu xấu, liệm Nhậm Kiến rồi, chủ nhà hối dời đi nơi khác, họ Thân mượn đều nói đi chùa, bèn đi mất không trở về. Qua một năm vợ con Nhậm Kiến mới đặng tin, thuở ấy con Nhậm Kiến là Nhậm Tú mới đặng 17 tuổi, nghe cha chết liền bỏ học, quyết đi tìm quan cữu cha, người mẹ thấy con còn nhỏ không nỡ cho đi. Nhậm Tú khóc lóc bỏ ăn, mẹ phải thế đồ lấy tiền cho con đi, lại cho một đứa đầy tớ đi theo. Nhậm Tú đi nữa năm mới đem quan tài cha về, chôn cất xong xuôi, thì trong nhà sạch bách. May Nhậm Tú thông minh, làm mãn khó rồi, bèn vào nhà học sanh; mà tánh hay chơi bời, mẹ răn khuyên không đặng, mẹ giận khóc bỏ ăn, Nhậm Tú sợ thề với mẹ không dám chơi bời, đóng cửa hơn một năm, bèn ăn đặng bổng học trò giỏi. Mẹ khuyẻn con dạy học trò, mà làng xóm thấy Nhậm Tú không có hạnh, không ai thèm cho con đi học.
Thuở ấy có một người chú họ họ Trương, buôn bán tại đất Kinh Sư, biểu Nhậm Tú đi theo, chịu giúp vốn cho mà buôn bán. Nhậm Tú mầng đi theo chú họ, tới đất Lâm Thanh đậu ghe ngoài vàm, nhằm lúc ghe thuyền đông, nghe những tiếng chèo tiếng cười ỏi tai, ngủ không đặng; chừng canh khuya nghe tiếng đổ hột lối trrớc mũi ghe, ngứa nghề cũ bức tức nằm không yên, thăm chừng thấy ai nấy ngủ mòm, lén xách túi tiền đồng, sắm sửa ra đi, sực nhớ lời mẹ dạy, lại để túi xuống tính đi ngủ, té ra bồi hồi ngủ không đặng, lấy túi ra bỏ túi vô, chờ dậy nằm xuống đôi ba bận. Sau hết y nhịn thèm không đặng, liền xách túi đi chuyền qua ghe gần, thấy hai người đương gầy ăn thua, bỏ tiền ra xin cho chơi. Hai người mầng cho vào sòng, Nhậm Tú ăn, một người thua sạch, lấy vàng nén cầm cho chủ chứa, lần lần đánh lớn đặt một cái tới một hai trăm. Ba ngươi đương đánh lớn, xảy có một ngưrời cũng qua ghe chăm chỉ coi chơi hồi lâu, rồi lấy vàng thế cho chủ chứa ngồi vô mà đổ.
Họ Trương nữa đêm thức dậy, thấy không có Nhậm Tú, mà nghe bên ghe gần có tiếng đổ hột, biết chắc cháu qua đó, liền bỏ ghe đi qua, có ý phá đám không cho cháu chơi, té ra tới nơi thấy cháu ăn tiền chất đống, làm thinh lấy đôi ba ngàn trở về, kêu bạn bè dậy qua ghe đổ hột vác tiền về ghe, hãy còn hơn một muôn đồng.
Cách một hồi ba ngươi kia thua hết, tiền dưới ghe chứa không còn một đồng. Ba ngươi kia đòi ăn thua vàng, mà Nhậm Tú no rồi, có ý làm khó, không chịu chơi vàng. Họ Trương lại hối hấp biểu về, ba người kia nóng nảy, chủ chứa muốn nhờ tiền xâu, liền chạy hỏi ghe khác được hơn mười vạn đồng. Gầy sòng lại một hồi, bao nhiêu tiền đều về tay Nhậm Tú. Trời sáng Nhậm Tú đem tiền về ghe, ai nấy tảng lạc. Chủ chứa coi lại mấy trăm đồng tiền xâu đều hoá ra giấy tiền, thất kinh tìm qua ghe Nhậm Tú mà phân bua, có ý bắt Nhậm Tú thường. Đến khi hỏi tên họ làng quán thì là con Nhậm Kiến, chủ chứa rút cổ tháo mồ hôi mà trở về. Nhậm Tú hòi thăm ghe xung quanh, mới biết là họ Thân làm anh em với cha mình thuở trước. Nhậm Tú tới đất Hiệp Tây cũng có nghe tiếng họ Thân, thấy quỉ đã báo y, cho nên không hỏi chuyện cũ. Nhậm Tú hiệp vốn buôn chung với chú họ,mãn năm được lợi nhiều, lần lần làm nên một ông nhà giàu lớn.
 
34 - TRƯƠNG THÀNH
Người Dự Châu họ Trương ấy vốn sinh đẻ tại nước Tề, cơn bát loạn vợ bị giặc bắt, qua ngụ Dự Châu lập nghiệp chắp nối, mới sinh ra một đứa con tên là Nột; chẳng khỏi bao lâu vợ ấy chết, chắp nối một lần nữa lại sinh ra Trương Thành. Vợ sau họ Ngưu dữ, ghen ghét tên Nột, cầm như tôi mọi, cho ăn dơ, bắt đi hái củi mỗi ngày là một gánh, không có thì đánh chưởi khổ sở; bao nhiêu đồ ngon cất giấu cho Thành, cho Thành đi học. Thành lớn lên hay thương anh, thấy anh cực, can gián mẹ không thèm nghe lời. Một bữa, tên Nột vào núi đốn củi chưa đầy gánh, mắc mưa dông lớn ngồi đụt dưới kẹt đá, đến khi tạnh mưa thì trời đã tối, bụng đói lắm, gánh củi ra về, mẹ ghẻ coi không đầy gánh, không cho ăn. Nột đói quá vào nhà trong nằm dài. Thành đi học về thấy anh hoi hóp, hỏi anh đau sao? Anh nói đói lắm. Thành buồn bỏ đi ra, cách một hồi lộn lưng bánh đem vào cho anh ăn. Anh hỏi bánh ở đâu? Thành nói tôi ăn cắp bột mượn đờn ba lối xóm làm, anh cứ việc ăn, chớ nói ra. Nột ăn rồi dặn em đừng làm như vậy nữa, kẻo việc lậu ra mà lụy tới em; vã lại ăn được một ngày một bữa, có đói cũng không đến đỗi chết. Thành nói: anh yếu đuối lắm hái củi nhiều làm sao cho đặng? Qua ngày sau Thành ăn cơm rồi lén vào núi tìm tới chỗ anh làm củi. Anh thấy, thất kinh, hỏi em đi làm gì? Thành trả lời rằng: đi hái cùi giùm. Anh hỏi ai biểu? Em nói: tôi lén đi vô đây. Anh nói: không nói em làm được không, dầu em làm được cũng không nên làm, em phải về cho mau. Thành không nghe, chạy đi bẻ củi giùm cho anh, lại nói: mai tôi sẽ đem búa theo. Anh chạy lại không cho em bẻ, mà tay em đã trầy ra, giày dép lại rách. Anh nói: em không nghe lời mà về, anh phải hại mình anh cho chết đi cho rồi. Thành nghe anh dức lắm phải bỏ ra mà về. Nột phải đưa em ra nửa đàng mới trở lại. Đến khi Nột gánh củi về, lại qua trường học dặn thầy rằng: em tôi nhỏ dại, xin thầy cầm nó, đừng cho vào núi, cọp hùm dữ lắm. Thầy nói hồi sớm mai nầy không biết nó đi đâu, không thấy tựu trường, ta có đánh nó. Nột trở về nói với em rằng: tại em không nghe lời, nên mới phải đòn như vậy. Thành cười nói không có; sáng ngày mai lại lót tót cắp búa vào rừng. Anh sợ nói: anh đã biểu em đừng đi, sao hãy còn vào đây. Thành không nói rằng chi hết, cứ việc đốn hối hả, tháo mồ hôi, chừng đặng một bó, liền bỏ đó mà đi không nói với anh. Thầy thấy tới trưa cứ việc đánh, Thành mới thưa thiệt. Thầy khen Thành có lòng với anh, từ ấy không cầm nữa; anh sợ biểu đừng, Thành cũng không nghe. Một bữa có người ta đi lấy củi đông, thình lình cọp nhảy ra, ai nấy thất kinh ngã lăn, cọp tha Thành đi, Nột vác búa chay theo, búa nhằm đùi cọp, cọp đau chạy hoảng theo không kịp. Nột kêu khóc trở lại, ai nấy can gián, Nột lại khóc hơn nữa mà rằng: em tôi không phải như em ai, nó chết đây cũng vì tôi, tôi còn sống mà làm gì! Nột nói rồi liền lấy búa cắt cổ mà chết, ai nấy chạy lại giựt búa, thì đã phạm vào một tấc, máu chảy như xối, nằm không cục cựa. Mấy người hái củi sảng sốt xé áo ra mà ràng rịt chỗ phạm ấy, xúm nhau lại dịnh Nột về, mẹ ghẻ khóc mắng rằng: mày giết con tao, mày làm bộ cắt cổ cho khỏi tiếng nói đó. Nột rên mà rằng: mẹ đừng lo buồn, em tôi chết, tôi chẳng có lẽ sống. Đem Nột lên giuờrng đau đớn nằm không đặng, những ngồi dựa vách mà khóc. Cha sợ Nột cũng chết luôn, mỗi bữa thường lại giường đút cơm cho ăn, Mẹ ghẻ thấy vậy lại càng chưởi mắng. Nột thấy vậy bỏ ăn ba bữa mà chết.
Thuở ấy trong làng có một người thầy pháp hay đi âm phủ, Nột gặp dọc đàng khóc lóc hỏi thăm em ở đâu! Thảy pháp nói không nghe ở đâu, bèn trở lại đem Nột đi tới một chỗ đô hội, thấy một người bận áo đen ở trong thành bước ra, thầy pháp đón hỏi giùm. Người áo đen kéo đãy ra, soạn giấy dư trăm mà không có họ Trương; thầy pháp nghi còn có giấy khác. Người áo đen nói, đuờng nầy về phần ta coi, có giấy nào lọt được. Nột không tin, nài thầy pháp vào thành, thấy quỉ mới quỉ cũ lăng xăng rộn ràng, cũng có người quen, hỏi thăm không ai biết cả. Thoát chúc nghe tiếng reo lên, nói có Phật Bồ tác ngự, ngữa mặt lên ngó thấy trên không có một người lớn, hào quang sáng suốt, thầy pháp mầng rằng: anh hai có phuớc là dường nào! Phật Bồ tác mấy ngàn năm mới ngự vào chốn âm ti mà cứu người khổ nảo, nay gặp thì là may lắm. Thầy pháp nói bắt Nột quì, còn các quỉ thì xăng văng nhảy nhót chúc tụng bốn chữ từ bi cứu khổ. Tiếng tung hò dậy đất. Khi ấy Phật Bồ tác lấy một nhành dương rưới nước cam lồ xuống mù mù nhu sương, giây phút tan sương Phật Bồ tác biến mất. Nột rờ cổ nghe uớt ướt, chỗ dấu búa không còn đau nữa. Tên thầy pháp bèn đem Nột trở về ngó thấy làng, mới từ biệt mà đi. Nột chết hai ngày thình lình sống lại, thuật hết mọi đều gặp gỡ, nói rằng Thành không chết; mẹ ghẻ nói Nột kiếm đều nói láo, lại càng chưởi mắng hơn nữa. Nột không biết lấy đều gì chữa chối, song rờ chỗ phạm búa thì lành, rán chờ dậy lạy cha, quyết lòng lặn lội tìm em, như tìm không đặng, xin cha chớ trông con trở về, một liều con như đã chết rồi. Cha không dám cầm, đem con ra nơi vắng vẻ than khóc một hồi. Nột cất mình ra đi, tới đâu cũng hỏi tin em, ăn mày ăn xin trót năm mới tới Kim Lăng, áo quần rách rưới, lẫng thẫng dọc đường, xảy thấy một đoàn cỡi ngựa hơn mười con. Nột chạy tránh bên mép đàng, có một vị quan trưởng, trạc bốn mươi tuổi sấp xuống, quân hầu tiền hô hậu ủng, lại có một vị thiếu niên cởi ngựa nhỏ, liếc mắt ngó Nột. Nột sợ là một vì công tử, không dám ngước mặt, chẳng dè vì thiếu niên ấy gò cương xuống ngựa, lật đật hô lên: không phải là anh tôi sao! Nột ngóc đầu nhìn thì là Thành, liền nắm tay em mà khóc oà; Thành cũng khóc hỏi anh làm sao ra thân lạc loài dường ấy. Nột tỏ sự tình, Thành lại thảm thương hơn nữa. Mấy người hầu cũng rùng rùng xuống ngựa, hỏi căn do bẩm lại với quan trưởng. Vì quan trưởng liền dạy để một con ngựa cho Nột cỡi đi luôn về nhà, hỏi hết nguồn cơn.
Số là ngày cọp tha Thành đi, không biết làm sao lại bỏ Thanh bên đường. Thành nằm đó hơn một đêm, xảy có ông Trương Thiên Hộ ở trong kinh đô mà về, đi ngang thấy Thành đẹp đẽ, thương mà ôm lấy, hỏi quê quán thì Thành nói ở xa xác, mới chở Thành về nhà, cho thuốc men dặt mấy chỗ dấu cọp. Cách ít ngày Thành lành đã, ông Thiên Hộ không con bèn nuôi làm con. Khi ấy Thành thuật lại đầu đuôi, Nột lạy tạ ông Thiên Hộ, Thành lật đật vào nhà trong lấy áo quần tơ lụa cho anh mặc rồi dọn yến tiệc đãi anh. Ông Thiên Hộ hỏi cha mẹ ở tại Dự Châu có mấy anh em? Nột thưa rằng không có, nói cha khi còn nhỏ thì ở nước Tề, sau mới lưu lạc ở đất Dự Châu. Thiên Hộ nói mình cũng là người Tề, lại hỏi cha mẹ Nột ở làng nào? Nột thưa rằng: ngbe cha nói ở ấp Đồng Xương. Thiên Hộ lấy làm lạ, nói mình cũng là đồng ấp, hỏi làm sao mà dời qua đất Dự? Nột thưa rằng: mẹ chính bị quân binh bắt, cha mắc giặc hết sự nghiệp, đi buôn bên đất Dự Châu cho nên mới ở đó. Thiên Hộ mới hỏi tên cha; Nột thưa lại, Thiên Hộ nhìn Nột trân trân, vội vã chạy vào nhà trong. Bỗng chúc mẹ ông Thiên Hộ ra hỏi Nột rằng: có phải mày là cháu nội ông Trương Bính Chi chăng? Nột thưa phải. Mẹ ông Thiên Hộ vùng khóc lớn nói với ông Thiên Hộ rằng: ấy là em mày đó. Anh em tên Nột sửng sốt không hiểu chi cả. Mẹ Thiên Hộ mới nói mình làm bạn với cha Nột được ba năm, gặp cơn giặc giả lạc loài qua đất Bắc, lam bạn với ông Chỉ Huy nửa năm sanh Thiên Hộ; qua sáu tháng ông Chỉ Huy mất lộc, Thiên Hộ nhờ phụ ấm làm quan, bây giờ cũng thôi. Lại rằng: mẹ nguồi nguồi nhớ kiểng nhớ quê, có cho người qua Tề hỏi thăm mà không nghe tin tức gì, ai ngờ cha bay chạy qua phía tây mà ở; lại nói với Thiên Hộ rằng: mày nhận em làm con thì mất phước. Thiên Hộ thưa rằng: có hỏi Thành mà Thành không hề nói là người Tề, tại nó còn nhỏ lắm cho nên không nhớ.
Vậy lấy theo tuổi thì Thiên Hộ đã 41 tuổi làm anh cả. Thành 16 tuổi làm em út, Nột 20 làm anh ba. Thiên Hộ đặng hai em, lấy làm vui mầng, tính trở về quê quán, bà mẹ dùng dằng sợ về không chỗ gởi mình. Thiên Hộ nói thế ở chung được thì ở chung, bằng chẳng thì ở riêng, trong thiên hạ có nước nào là không có cha. Khi ấy mới bán hết nhà đất quyết chí ra đi. Tới nơi Nột với Thành chạy về báo trước cho cha hay. Té ra từ Nột đi, mẹ ghẻ cũng chết, còn một mình cha già, bỗng chúc thấy Nột vào và mầng và sợ, thấy Thành lại mầng quá nói không được, nước mắt chan oà. Nột, Thành lại nói có mẹ con Thiên Hộ tới, ông già vùng lau nước mắt, không biết làm sao mà mầng, không biết làm sao mà buồn, đứng sững sốt. Thiên Hộ vào chào hỏi rồi, mẹ Thiên Hộ ôm ông già mà khóc, ông già thấy tôi tớ trai gái hầu hạ đầy nhà, ngồi đứng không yên. Thành không thấy mẹ, hỏi ra thì mẹ đã chết rồi, van khóc om sòm. Thiên Hộ xuất tiền cất nhà cửa, rước thầy dạy hai em; ngoài tàu ngựa giậm, trong nhà tôi tớ dầy dầy, hóa ra một nhà sang giàu dưới thế.
 
35- SỰ TÍCH CON BÀN BÀO
Trong sách Sưu Thần kí có nói rằng: đời vua Cao Tân, có tên Phòng Vương làm loạn, quan binh đi đánh nhiều trận thất lợi. Vua Cao Tân mới chiêu mộ trong thiên hạ ai lấy đặng đầu Phòng Vương, thì sẽ phong cho làm thiên hộ hầu, lại gã con cho nữa. Thuở ấy vua Cao Tân có nuôi một con chó hay theo vua ra vào, lông năm sắc đặt tên là Bàn Bào. Một bữa con chó ấy đi đâu mất không ai kiếm tìm được. Chẳng dè nó thoát qua bên Phòng Vương, Phòng Vương biết là chó vua nuôi liền dọn yến tiệc nổi ca nhạc vui mầng với con chó. Phòng Vương uống rượu say nằm ngủ mê, con chó lén vào cắn cổ, rút lấy đầu Phòng Vương tha chạy về bỏ trước đền. Vua Cao Tân thấy quả là đầu Phòng Vươug, mầng lắm, dạy cho nó ăn cơm thịt cùng đồ mỹ vị, con chó không ăn nằm dài tới đôi ba bữa. Vua Cao Tân coi ý con chó nằm vạ, phong cho con chó làm Cối Kê Hầu, gã năm gái tốt, cho ăn lộc một ngàn nóc gia. Con chó thấy vua không thất ước, mầng chờ dậy ăn uống như thường. Đến sau nó đẻ ra ba trai sáu gái, tuy giống người ta mà dưới đít có đuôi, nối sanh ra một nước gọi là Mọi Khuyển Nhung.
 
36- CHUYỆN MỘT VÌ TƯỚNG QUÂN
Ông Tra Y Huỳnh là người Tích Giang, tiết thanh minh đi dạo chơi ngoài đồng, vào một cái chùa, thấy trước tiền đeờng có để một cái chuông xưa lớn hơn ghè mái, trên dưới có dấu đất dấu tay mới ràng ràng. Họ Tra nghi dòm phía dưới, thì thấy có một cái thúng lớn, không biết đựng giống gì, biểu nhiều người nắm quai chuông mà dở lên, thì không nhúc nhích. Họ Tra lấy làm lạ ngồi rót ruọu uống, đợi coi có ai về mà dở chuông ấy ra. Một hồi có một người ăn mày vào, ôm những đồ đi ăn xin, để một bên chuông, rồi một tay dở chuông một tay bỏ đồ ăn vào trong thúng; dở lên để xuống hai ba bận, dồn hết đồ ăn vào thúng, rồi bỏ đi ra. Giây lâu lại trở về dở hé lấy đồ ăn, nhẹ nhàn cũng như mở tủ. Ai nấy lấy làm kì, họ Tra hỏi: chú mạnh mẽ dường ấy, sao còn đi xin ăn? Tên ăn mày nói mình ăn nhỉều quá cho nên không ai dám mướn. Họ Tra khuyên biểu đi ở lính, tên ăn mày nói sợ không ai dùng. Họ Tra đem tên ăn mày về nhà, cho ăn uống thì sức ăn bằng năm sáu người, cho quần áo lại với năm mươi đồng tiền mà đưa đi.
Cách hơn mười năm, cháu họ Tra ngồi tri huyện tại đất Mân, xảy có một vì tướng quân tới viếng. Hai đàng đàm đạo, vì tướng quân hỏi ông huyện có biết ông Y Huỳnh chăng? Ông huyện nói là chú họ; lại hỏi nhơn sao tướng quân biết ông Y Huỳnh. Vì tướng quàn nói ông ấy là thầy, xa nhau hơn mười năm, lòng hằng tưởng nhớ, xin gởi lời cùng thầy qua chơi một chuyến. Ông huyện nghĩ chú mình là người văn thơ, sao lại có học trò võ, cũng ừ gọi là. Sau có ông Y Huỳnh tới, ông huyện học lại, Ông Y Huỳnh quên lững không biết là ai, mà bỡi vì tướng quân trao lời cặn kẻ, liền dạy bắt ngựa đi tới cửa ông tướng quân. Ông tướng quân thấy giấy thiếp đưa vào, vội vã chạy ra hầu rước ngoài cửa ngõ. Ông Y Huỳnh nhìn coi lạ đặc, ngờ là ông tướng quân lầm, mà ông tướng quân lại càng khiêm nhượng, rước khách vào ba bốn vọng canh. Ông Y Huỳnh thấy các con hầu lăng xăng, biết là nhà trong, dừng chơn không dám bước, ông tướng quân lại cúc cung xin vào, đứa cuốn rèm, người dọn ghế đều là con hầu. Ông Y Huỳnh ngồi xuống xăm rắm hỏi thăm, liền thấy có đứa đem đồ triều phục cho tướng quân bận vào, xóc sửa ngay thẳng, lại dạy ít đứa hầu sửa soạn cho ông Y Huỳnh ngồi lên ghế trên chính đính , rồi ông tướng quân mới xuống múa lạy như thể chầu vua. Y Huỳnh sửng sốt không biết chuyện gì. Ông tướng quân bái lễ tất, thay áo thường ngồi đãi, cười mà nói rằng: thầy không nhớ tên ăn mày dở chuông sao ? Họ Tra mới nhớ sực chuyện hơn mười năm. Ông tướng quân dọn yến tiệc thết đãi ân cần, lo cho tới giấc ngủ. Họ Tra thấy tướng quân trọng hậu, ăn ngồi không yên, xin trở về, tướng quân không cho, cứ việc kiểm điểm gia tài, của cải, tôi mọi, lừa ngựa, dạy biên ra cả thảy. Một bữa ông tướng quân nói với họ Tra rằng: tôi làm nên thiệt nhờ thầy, nay gia tài của cải thảy thảy mọi món, tôi chia ra làm hai, một nửa để dành cho thầy, ấy là của thầy tôi không dám hưởng dùng một mình. Họ Tra không chịu, ông tướng quân không nghe, dạy tớ trai mọi gái phân nhau sắp dọn bắt ngựa lừa chuyên chở của cải rần rần một lủ đưa họ Tra về. Sau họ Tra can án về việc tu sử mất chức cũng nhờ sức quan tướng quân mà đặng khỏi.
 
37.  BÀN CHIÊM BAO
Có một người nằm chiêm bao thấy mình hóa ra con chó cỏ, không biết lành dữ thề nào, tới thầy bói, xin bàn giùm. Thầy bói bàn nói: điềm chiêm bao ấy khá lắm, ấy là điềm lộc thực, đến mai sẽ có người mời ăn. Tên đi bàn chiêm bao về, qua ngày mai quả có người mời ăn, mầng khoe khoang nói thầy bàn giỏi. Tên anh em bạn nghe được, trong ý cũng muốn kiếm ăn, toan nhận diện, chạy tới thầy bói nói bất tử mình cũng thay mình hóa ra con chó cò, họa may thầy có bàn cho là điềm lộc thực. Chàng dè thầy bói bàn cho là điềm dữ, nói rằng: chú phải giữ mình, kẻo chúng xô chú xuống sông. Tên ấy bỏ ra về, ngẩm nghĩ trong mình rằng: mình nói láo, mà lão thầy cũng bàn bậy, thôi để mai đây khòng có chuyện gì, mình sẽ qua mắng lão thầy chơi; và đi và nói, không dè mình đã qua cầu, mà cầu thì chật hẹp có hai ba cái xe qua lại; chàng và ngó thấy xe đi khít một bên, lật đật tránh, sớn sác bước hụt lọt chủm xuống sông. Sáng ngày tên ấy tới hỏi ông thầy bói: anh kia thấy mình hóa ra chó cỏ, thầy đoán là điềm lộc thực cũng nhằm, còn tôi cũng ngó thấy như vậy, thầy lại đoán phải té xuống sông, mà cũng không sai, sao cũng thì chiêm bao, mà có người may người rủi thể ấy? Thầy bói nói rằng: người ta chiêm bao thiệt, người ta được điềm lành, chú mắc chiêm bao giả, cho nên cũng khiến cho thầy bàn không sai. Trong sách có nói rằng: thổ long sô cẩu linh ư vị đảo chi tiền, mà bất linh ư kí đảo chi hầu, nghĩa là rồng đất chó cỏ có linh là hồi chưa đảo vỏ, chớ đến khi đảo vỏ rồi thì chẳng còn linh gì nữa. Vậy hễ cầu đảo việc rồi thì bao nhiêu chó cỏ người ta đều quăng xuống sông. Bỡi đó con chó cỏ người ta thấy trước, còn đương linh, còn có đồ cúng cấp, chí như con chó chú đặt đều nói thấy sau, không ai còn dùng, cho nên chú phải xuống sông.
 
38- TRỒNG LÊ
Một người nhà quê chở lê ra chợ mà bán, giống lê thơm ngọt bán đuợc tiền, xảy có một thầy đạo sĩ áo quần lang thang tới trước xe mà ăn xin, người nhà quê đuổi không đi, giận chưởi mắng nhiều tiếng. Thầy đạo sĩ rằng: lê cả xe, già xin có một trái giá đáng bao nhiêu mà chú làm bộ giận dữ thế ấy! Ai nấy biểu người bán lê coi trái nào xấu xấu cho lão già một trái, cho lão đi đi, tên bán lê không chịu cho. Tên trùm chợ thấy ngầy ngà, bèn lấy tiền mua một trái cho thấy đạo sĩ, thầy đạo sĩ lạy tạ, lại nói với ai nấy rằng: ta tu trì, ta chẳng biết tiếc của là cái gì, thôi ta cũng có lê quí, ta xin đem ra mà cho mọi người ăn. Có kẻ nói: như thầy có lê, thầy còn xin làm chi. Thầy đạo sĩ nói: ta có ý kiếm hột mà trồng bây giờ. Nói rồi liền cắn trái lê mà ăn, còn hột thì nắm trong tay, lấy ra một con dao đào lỗ sâu hai ba tấc, bỏ hột lê xuống dập đất lại, biểu hàng phố đem nuớc nóng mà tưới. Có người cắc cớ xin nước sôi đem ra, thầy đạo sĩ lấy đổ ngay xuống lổ trồng lê. Ai nấy chăm chỉ coi, thấy lê đội đất mọc lên, giây phút thành một cây lớn nhánh nhóc sum sê, nở hoa sinh trái lớn đại thơm ngát, hoằng hoại một cây. Thầy đạo sĩ cứ từ chót vót hái xuống, hái đặng bao nhiêu liền phân chia cho mấy người coi ăn. Hái hết trái rồi liền lấy dao đốn cây lê, nghe tiếng dao chạc chạc một hồi cây ngã, thầy đạo sĩ bèn kéo cả cây thủng thỉnh mà đi. Té ra hồi thầy đạo sĩ trồng lê, người bán lê cũng chen vào coi với thiên hạ, quên phứt xe lê. Thầy đạo sĩ đi rồi, anh ta mới ngó lại, thì lê mất hết không còn một trái, mới biết thầy đạo sĩ lấy lê mình phân phát cho thiên hạ ăn. Coi trên xe đứt mất hết một cái nài xe, dấu chặt còn ràng ràng; anh bán lê nổi xung chạy theo, ra tới góc tường thấy nài xe bỏ đó, mới biết thầy đạo sĩ đốn lê là chặt cái nài ấy. Thầy đạo sĩ đi đâu không biết, tên bán lê ngơ ngẩn, cả chợ đều cười.
 
39- ĐẠO BẠCH LIÊN (1)
Người đạo Bạch Liên, nguyên ở Sơn Tây, không ai nhớ tên họ, vốn là người hay dùng tà thuật dị đoan, có nhiều người ái mộ theo làm học trò. Một bữa người ấy sắm sửa đi xa, lấy ra một cái chậu để giữa nhà, trên có chậu úp, dặn học trò đừng dở ra mà coi. Người ấy đi rồi, học trò tọc mạch dở chậu ra, thì thấy đựng nước lả, trên mặt nước có một chiếc ghe đươn bằng cỏ, bườm chèo sẵn sàng. Học trò cắc cớ khoát nrớc, chiếc ghe nhảy lên nhảy xuống hòng nghiêng úp, học trò sợ vịn chiếc ghe rồi đậy lại như cũ. Giây lâu thầy về làm mặt giận quở học trò sao không vâng lời. Học trò đều thưa không có chuyện chi không vâng lời. Thầy nói khi nảy tao ở ngoài biển ghe gần chìm, nói dối tao làm sao. Lần khác ban đêm thầy đi chơi, để một cái đèn lớn giữa nhà, dặn học trò giữ, đừng để gió tắt. Qua canh hai thầy không về, học trò buồn ngủ nằm vật dọc ghế, lúc dậy thì đèn tắt, lật đật đi thắp. Kế thầy về quở. Học trò nói: chúng tôi có ngủ ở đâu mà bỏ đèn tắt. Тhầy nói: bay để tao đi thầm hơn mười dặm, mà hãy còn chối. Học trò thất kinh; người ấy làm nhiều chước lạ như vậy kể chẳng xiết. Sau vợ bé thầy tư tôi với học trò, thầy hay mà không nói. Một bữa thầy biểu tên học trò đi cho heo ăn, tên học trò chun vào chuồng liền hóa ra con heo, thầy kêu hàng heo bắt làm thịt bán ngoài chợ, mà không ai biết. Cách ít ngày cha tên học trò không thấy con về, qua hỏi, thì thầy nói nó không tới. Cha tên học trò hỏi thăm khắp chỗ, không có tin tức gì. Xảy có một tên học trò bạn hay được chuyện ấy nói đi nói lại, cha tên học trò bị giết mới phát đơn đi kiện tại huyện. Ông huyện sợ lão thầy có phép độn (2) không dám bắt, chạy tờ bẩm xin quan trên cho quân lính cho đông mà vây nhà lão thầy, bắt cả vợ con bỏ vào củi giải qua tỉnh thành, đi ngang qua núi Thái Hành Sơn. Chẳng dè trong núi có một người cao lớn dị thường, sầm sầm đầu ngang ngọn cây, con mắt bằng cái bát cô tô, miệng bằng trang cái ảng, nanh dài một thước, đứng trước đầu đường, quân lính kinh sợ không dám đi. Lão thầy nói nó là yêu, vợ tôi trừ nó mới được. Quân lính nghe lời mở trói, vợ lão thầy vác giáo ra, người kì dị ấy nổi giận táp một miếng mất xác. Ai nấy cũng kinh hãi, lão thầy nói nó đã hại vợ tôi, thì phải cho con tôi ra, quân lính thả con lão thầy ra, con cũng bị nuốt như mẹ vậy. Ai nấy thất sắc, không biết làm sao, lão thầy giận khóc nói nó đã hại vợ tôi rồi lại hại con tôi, chẳng lẽ nhịn đặng, phải có tôi ra cho tôi giết nó. Quân lính thả lão thầy, trao đao mác hối đi. Người giềnh giàng ấy hằm hằm xốc lại, đánh với nhau một lát, lão thầy liền bị nó nắm đặng bò vào miệng, trương cổ nuốt ngay vô bụng rồi cứ việc đi khoan thai.
(1) Đạo Bạch Liên ấy nhiều người nói gốc bởi Từ Hồng Nhu đốt hương thơm dụ người ta theo làm riêng một đạo, chuyên thờ thần quỉ, tin những việc dị đoan.
(2) Độn là phép coi chỉ tay, coi giờ nào về hung thần, kiết thần mà biết việc quá khứ vị lai.      
 
40- THẦY ĐẠO SĨ Ở NÚI LAO SƠN
Xưa ấy có tên Vương Sanh cũng là con nhà thế gia, từ nhỏ mộ đạo, nghe núi Lao Sơn có tiên nhiều, bèn đội níp qua đó. Trèo lên chót núi thấy có am tự vắng vẻ, ở trong có một thầy đạo sĩ ngồi chiếu lát, diện mạo đẹp đẽ; hỏi chuyện thì thầy đạo sĩ nói nhiều lẽ cao xa, Vương Sanh bèn xin làm học trò. Thầy đạo sĩ nói e nhà ngươi chịu khó không đặng. Vương Sanh quả quyết nói chuyện chi khó nhọc cũng làm đặng. Đến chiều tối học trò về đông, Vương Sanh thấy đều xá mỗi một trò, rồi ở lại đó. Trời vừa rựng sáng thầy đạo sĩ kêu Vương Sanh trao cho một cái búa, biểu đi theo học trò mà đốn củi. Vương Sanh vâng lảnh búa đi hái củi hơn một tháng, tay chơn sưng trầy khốn cực chịu không đặng, trong ý muốn trở về. Đêm kia đi lấy củi vể, thấy có hai người tới uống rượu cùng thầy, trời tối trong nhà chưa thắp đèn, thầy lấy một tấm giấy cắt làm mặt kính dán vào trong vách, giây phút mặt trăng mọc lên sáng sốt chiếu cả nhà, các học trò nhảy nhót hầu hạ xung quanh. Một người khách nói: trăng thanh đêm toại, chẳng lẽ vui một mình, liền vói lên trên ghế lấy một bầu rượu, biểu học trò chia nhau mà uống cho say. Vương Sanh nói trong mình cái hồ nhỏ mà phân chia sao cho đủ. Khi ấy mỗi trò đều kiếm chén, lật đật giành nhau mà rót, sợ hết rượu đi, té ra rót hoài cũng có hoài, đều lấy làm lạ với nhau. Rồi đó người khách thứ hai nói nhờ ơn cho mặt trăng soi sáng, lẽ phải đòi nàng Hằng Nga (1) xuống mới vui. Nói rồi liền lấy một chiếc đủa quăng vào trong mặt trăng, xảy thấy một gái xinh tốt ở trong mặt trăng đi ra, hồi mới ra không đầy một thước, xuống vừa tới đất thì cao bằng người ta, lưng eo, cổ nhỏ, múa hát dịu dàng, rồi nhảy lên trên ghế, ai nấy lấy làm lạ, bổng chúc huờn lại chiếc đủa, ba ông đều cả cười. Một ông lại rằng: đêm nay vui vẻ cũng nên vào cung trăng mà yến ẩm cùng nhau. Nói rồi ba ông đều vào trong mặt trăng, học trò đều thấy ba ông ngồi uống rượu như hình trong kiếng. Cách một hồi mặt trăng lờ, học trò thắp đèn đem ra, thì còn có một mình thầy đạo sĩ, hai người kia đi đâu mất, thấy trên ghế còn đồ ăn, trên vách thì có một miếng giấy tròn như hình mặt kính mà thôi. Ông đạo sĩ hỏi học trò uống có vừa không? Học trò đều thưa uống no đủ. Ông đạo sĩ nói: uống no đủ thì phải đi ngủ cho sớm, đến mai còn phải đi hái củi. Các học trò lui ra, Vương Sanh mầng thầm không còn nghĩ tới sự về. Ngày kia Vương Sanh thấy công việc một ngày một khổ, mà thầy cũng chẳng truyền nghề gì cho, tính đợi chờ cũng mỏi, mới từ giã mà rằng: kẻ môn đệ ở xa xuôi, tìm tới thấy mà học phép tiên, dầu chẳng đặng phép trường sanh, miễn là học đặng nghề chi nhỏ mọn cũng thỏa tấm lòng; nay theo thấy đã hơn ba tháng, chẳng qua là học một nghề làm củi, sớm đi tối về, thiệt ở nhà tôi cả đời chưa tầng chịu cực như vậy. Thầy đạo sĩ cười mà rằng: ấy ta nói nhà ngươi chịu cực không đặng, quả có như vậv, thôi đợi sáng ngày ta cho nhà ngươi về. Vương Sanh rằng: tôi lên làm việc vàn cũng đã lâu ngày, xin thầy nghĩ lại mà cho tôi một chút phép chi cho khỏi sự luống công vô ích. Thầy đạo sĩ hỏi nhà ngươi muốn phép gì? Vương Sanh thưa rằng: tôi thấy thầy muốn đi đâu thì đi, phên vách cũng không ngăn trở đuợc, như cho tôi được phép ấy thì cũng đã đủ. Thầy đạo sĩ cười, chịu chỏ, bèn truyền mấy câu chú, biểu Vương Sanh đọc lấy một mình. Thầy hô vào, Vương Sanh trở mặt vào vách mà không dám vào. Thầy hô: vào thử coi. Vương Sanh bước chậm rãi đi vào tới vách dội lại. Thầy hô cúi đầu chạy xông vào đừng giục dặc. Vương Sanh lui ra ít bước chạy sấn vào tới vách, sướt qua như không có vách, ngó lại quả thấy mình ở bên kia vách, mầng lắm vào tạ thầy mà về. Thấy dạy về phải giữ mình thanh tịnh, bằng không thì không hiệu đó; rồi đó thầy đem tiền gạo cấp cho Vưng Sanh về đường. Vương Sanh về tới nhà khoe khoang với vợ, nói: tao học đặng phép tiên hay quá, dầu là vách đá, tao cũng đi xuyên qua thong thả. Vợ không tin, Vương Sanh làm thử cho vợ coi, bèn lui ra ít bước, chạy đâm sầm vào vách; té ra đụng vách té ngửa ra, bất tỉnh nhơn sự, vợ đở dậy thì trán u lên một cục bằng cái trứng vịt. Vợ cười nói là phép mọc sừng, Vương Sanh mắc cỡ chửi lão đạo sĩ dạy bậy.
 
Chú thích:
(1) Truyện ngoài nói: Ngươi Hậu Nghệ xin Tây Vương Mẫu được một hoàn thuốc trường sanh, người vợ ăn cắp nuốt đi, chạy lên cung trăng hóa ra nàng tiên gọi là Hằng Nga. Có bài thơ rằng: Hằng Nga thuyết dược xuất nhơn gian, tàng tại nguyên cung bất phóng hoàn, Hậu Nghệ biến tầm chung phất hoặch, thùy tri thiên thượng diệc dung gian.




0
41- PHÉP MA
Vu Công thuở còn trai nhặm lẹ hay đánh quờn, sức lực mạnh bạo, đời vua Sùng Trinh, đi ứng thí kinh đô, tên đầy tớ xuống dịch nặng, lấy làm lo sợ. Xảy nghe trong chợ có người bói giỏi, hay đoán sống chết, Vu Công bèn đi bói thở coi tên đầy tớ chết sống thế nào. Vu Công vừa tới nơi chưa kịp nói, tên thầy bói nói thinh không rằng: có phải đầy tớ nhà ngươi đau, nhà ngươi đi bói thế chăng? Vu Công sửng sốt, tên thầy bói rước lấy mà nói rằng: người bịnh ở nhà không hề gì, một lo sợ cho nhà ngươi mà thôi. Vu Công xin bói chuyện mình, thầy bói đứng dậy làm bộ sợ hãi mà nói rằng: nhà ngươi ba bữa nữa chết. Vu Công thất kinh, thầy bói nói nhưng vậy ta cũng có phép, thôi chịu 10 đồng bạc đây ta cứu cho. Vu Công nghĩ đi nghĩ lại rằng chết sống đã có số, dầu cho thầy bói có phép cũng không cải đặng. Vu Công nói rồi liền sắp lưng ra về. Thầy bói nói: một chút một đỉnh mà tiếc, sau chớ ăn năn. Có một hai người thương Vu Công, sợ, nói nhỏ biểu liều đi, Vu Công không nghe. Thoát chúc tới bữa thứ ba, Vu Công cứ việc ngồi lẳng lặng để mà coi có chuyện gì. Té ra cả ngày không thấy đau đớn gì. Tối lại, Vu Công đóng cửa khêu đèn, cắp một thanh gươm ngồi chồm hổm đã hơn một canh, cũng không thấy phép chết ra làm sao. Buồn ý mới đi ngủ, vùng nghe ngoài cửa có tiếng róc rách, Vu Công lật đật dòm, thấy một đứa con nít vác giáo đi vô, tới đất thì cao bằng người lớn. Vu Công nắm gươm chờ dậy, mau tay chém một cái hụt đi, tên ấy hóa nguyên hình nhỏ lại, chun phóc theo lổ song mà trốn; Vu Công lẹ tay chém theo một gươm, nó nhào xuống, rọi đèn thì là hình nhơn giấy, đứt ngang lưng. Vu Công không dám nằm cứ việc ngồi chực, một hồi có một con gì chun lổ song mà vào, nanh vút như quỉ, nó vừa tới đất, Vu Công chém sả ra làm hai đoạn. Coi nó còn cục cựa, Vu Công sợ nó sống tại chém bồi, lưỡi nào cũng trúng, nghe không êm tiếng gươm, coi lại thì là đồ gốm, bể nát ra từ miếng. Khi ấy, Vu Công nhắc ghế ngồi ngay cửa sổ, con mắt chăm chỉ mấy lổ hở, giây lâu nghe ngoài song có tiếng thở như bò, có một con chi giựt song xô cửa rúng động. Vu Công sợ sập nhà, tính ra ngoài mà đánh lộn, vội vàng xô cửa chạy ra, thấy một con quỉ đứng cao đầu đụng mái nhà, trăng mờ mờ thấy mặt nó đen như lọ nồi, con mắt có ngời, không áo không giầy, tay cầm cung, lưng đai gươm. Vu Công sợ hãi, thằng quỉ giương cung bắn, Vu Công lấy gươm đánh vẹt tên rớt xuống, chờn vờn chém, nó bắn nữa, Vu Công nhảy tránh, mũi tên bay vụt vụt xuyên qua vách tường. Thằng quỉ làm dữ rút gươm huơi huơi chém tới, Vu Công né khỏi, lưởi gươm xuống đá cũng đứt lìa. Vu Công lòn vào dưới háng chém trúng mắt cá, thằng quỉ giận lắm hét lên chém xuống, Vu Công nép mình, lưỡi gươm nó xuống sả đứt chơn quần. Vu công nhảy lên nhắm ngang sườn nó, chém một gươm mạnh, thằng quỉ té ngữa ra. Vu Công chém bậy chém bạ, nghe như tiếng mỏ, rọi đèn coi thì là hình gỗ cao lớn bằng con người, cung tên nó hãy còn ràng trong lưng, diện mạo hung ác, mấy dấu chém đều có máu. Vu Công chong đèn mà chờ sáng, mới biết những quỉ yêu ấy, gốc bỡi thầy bói sai, để giết người ta, làm cho người ta tin nó có phép thần thông. Qua ngày sau Vu Công nói chuyện cho anh em hay, rồi đem nhau tới chỗ thầy bói, tên thầy bói ngó thoáng thấy Vu Công, bèn ẩn mình không ai thấy. Có người nói là phép tàng hình, dùng máu chó thì phá phép. Vu Công nghe lời sắm sửa sẵn sàng qua tới nơi, tên thầy bói cũng tàng hình như trước. Vu Công lấy máu chó rảy lối chỗ lão thầy bói đứng, liền thấy mặt mày nó vấy những máu chó, con mắt nó lườm lườm như qủi, bèn bắt trói lại đem nộp cho quan hành hình.
 
42-  SỰ TÍCH CŨ
Ông Mẩn Công đi tuần phủ Hà Nam, gặp ăn cướp qua lục ghe, đáo soát nội ghe không có một vật gì quí, nó lục lưng ông ấy, thấy có mộl cái đai vàng của vua ban, nó chê ông tuần phủ nghèo không nỡ lấy.
Ông Trần Văn Khanh về hưu trí, một bữa ăn cướp tới nhà phá rương mở tủ, kiếm không có một món gì, ông Trần Văn Khanh năn nĩ nói với chúng nó rằng: anh em đêm hôm lặn lội tới đây, không có vật chi xứng đáng mà lấy cũng ngặt, thôi già còn năm ba cuốn sách rách, xin anh em chịu khó lấy đở đem về dạy con cháu. Ăn cướp nghe nói, kéo nhau ra đi.
 
43- HUỲNH SANH
Huỳnh Sanh là con nhà sang trọng, học hành giỏi có chí khí lớn, hay giao du với một ông thầy chùa ở ngoài 1àng, tình ý hiệp nhau. Chẳng khỏi bao lâu thầy chùa đi vắng, cách hơn mười năm mới trở về, thấy họ Huỳnh bèn than rằng: tưởng nhà ngươi đã đắc lộ, hay đâu hãy còn im trệ, trong thế phước mạng nhà ngươi bạc lắm, thôi để ta lo với âm phủ cho, chẳng biết nhà ngươi có chạy đặng mười ngàn chăng? Huỳnh Sanh nói chạy không đặng. Thầy chùa biểu chịu lấy nửa, còn nửa để thầy giúp, hẹn ba ngày phải cho có. Huỳnh Sanh chịu, về cầm đồ đạc, chạy hết sức mới được phân nửa ấy. Cách ba bữa thầy chùa đem đủ năm ngàn giao cho Hùynh Sanh. Thuở ấy, bên nhà Huỳnh Sanh có một cái giếng sâu múc hoài nước không cạn, người ta nói giếng ấy thông với sông biển vân vân. Thầy chùa biểu Huỳnh Sanh bỏ tiền để một bên giếng, dặn rằng: chừng nào thầy ra chùa, hãy xô xuống giếng, đợi chừng sôi nồi cơm, thấy có một đồng tỉền nổi lên, thì phải lấy đồng tiền rồi sẽ đi. Huỳnh Sanh không hiểu là chước gì, nghĩ lại nghiệm không cũng chưa chắc, mà mười ngàn trước mắt bỏ đi cũng uổng, mới lấy có một ngàn mà bỏ xuống giếng, còn chín ngàn thì giấu đi. Giây phút nước nổi bọt lên to, rả ra nghe như tiếng đồng, liền có đồng tiền nổi lên trên mặt nước, lớn bằng cái bánh xe. Huỳnh Sanh thất kinh lật đật lạy, rồi lại lấy bốn ngàn nữa mà bỏ xuống, nghe tiếng rổn rảng; té ra mắc đồng tiền lớn nằm cản ngang, tiền nọ không xuống nước. Trời gần tối thầy chùa tới quở, trách sao không bỏ hết. Huỳnh Sanh dối rằng đã bỏ sạch. Thầy chùa nói rằng: sứ âm phủ đem có một ngàn đi, còn nói dối làm sao. Huỳnh Sanh tức mình phải thú thiệt, thầy chùa than rằng: đại để những người bỏn sẻn thì chẳng có chí khí lớn, ấy là mạng số nhà ngươi, làm tới bậc Minh kinh mà hết, bằng không thì đã hiển vang rồi.  Huỳnh Sanh tiếc lắm, này nĩ thầy chùa làm phép một lần nữa. Thầy chùa không chịu hẵn mà đi. Huỳnh Sanh coi dưới giếng thấy tiền còn nổi, lập thế dòng dây vớt lên, đồng tiền lớn bèn chìm đi mất. Năm ấy Huỳnh Sanh đậu phó bảng rồi thì kế chết, y như lời thầy chùa nói.
 
44-  ĐÔNG PHƯƠNG SÓC
Vua Hán võ đãi yến quần thần, nhơn vui nói qua sách tướng rằng: nhơn trung ai dài một tấc, thì hưởng thọ được trăm năm. Ông Đông Phương Sóc chầu một bên vùng cười rè, quan hữu tư tâu rằng ông ấy không cung kính. Ông Đông Phương Sóc cất mão chịu tội mà rằng: kẻ hạ thần không dám cười bệ hạ, thật tình cười ông bành Tổ mặt dài. Vua phán hỏi, ông Đông Phương Sóc tâu rằng: trong sách nói ông Bành Tổ sống tới tám trăm tuổi, kính vưng lời bệ hạ dạy, thì môi trên ông Bành Tổ phải thòng thòng tám tấc, suy ra thì mặt ông ấy phải dài hơn một trượng. Ông Võ đế nghe nói cũng tức cười.
 
45- CÔNG GIÃ TRƯỜNG.
Công Giã Trường là người nước Lổ cũng là học trò đức Khổng Tử, hiểu biết tiếng chim, nhà nghèo ở không nhưng, không có mà ăn cho đủ. Một bữa chim bay tới nhà ông ấy mà kêu rằng: Công Giã Trường, Công Giã trường, cọp bắt dê núi Nam San, người ăn thịt ta ăn gan, chóng theo bổi chớ dùng dằng. Công Giã Trườg đi tới núi quả bắt đặng con dê đem về làm thịt ăn. Chẳng dè chủ mất dê đi đánh dấu được sừng dê tại nhà Công Giã Trường, bèn đi cáo với ông Lổ Công, vu cho Công Giã Trường rằng ăn trộm. Công Giã Trường thưa thiệt, Lổ Công không tin tiếng chim, bắt Công Giã trường bỏ vô khám. Đức Khổng tử biết Công Giã Trường là người ngay thiệt, đi minh oan, mà Lổ Công cũng không tha. Đức Khổng Tử than rằng: ở chốn ly tiếc lẽ đâu không có người ngay mà mắc nạn. Chẳng khỏi bao lâu con chim ấy lại bay tới cửa khám mà kêu rằng: Công Giã Trường, Công Giã Trường, người nước Tề đem binh sang, sông Nghi thủy ở đầu đàng, kíp ngăn ngừa chớ nghi nan. Công Giã Trường nói lại với quan đề lao chạy tờ cho ông Lổ Công sai người thám, quả có binh nước Tề qua lấn bờ cõi. Lổ Công mới tha  Công Giã Trường; cấp nhiều tiền bạc, lại muốn phong cho làm bậc Đại Phu, Công Giã Trường hổ vì nhờ tiếng chim, không dám chịu.  
 
46- THI THÀNH HOÀNG
Ông Tông Đạo thuở ở học sanh, đau nằm thấy một người nhà tơ cầm trát, dắt một con ngựa bướm trán tới mà mời đi thi. Tông Đạo nói rằng: chưa có kiểu vở gì ra mà đi thi làm sao đặng. Tên thơ lại làm thinh cứ giục đi hoài. Tông Đạo phải gắng gượng lên ngựa mà đi theo. Đàng đi lạ lùng tới một chỗ đô hội như đất kinh kì, lần vào thấy dinh dãy lầu đài quí trọng, có hơn mười ông quan lớn ngồi khách, lạ đặc không biết là ông nào; ngó lên trên biển có chữ đề là Quan trang mục, Tông Đạo nhận được bấy nhiêu mà thôi. Ngoài hiên có dọn hai cái đôn, đã có một vị Tú Tài ngồi trước, ông Tông Đạo tới sau lại ngồi kề một bên, trên có ghế bàn bút giấy để sẵn. Giây phút có giấy đề đưa xuống, thấy viết: nhứt nhơn nhị nhơn, hữu tâm vô tâm, tám chữ. Hai ông cứ đề làm theo, vở rồi đưa lên trên đền. Trong vở ông Tống Đạo có câu rằng: hữu tâm vi thiện, tuy thiện bất thưởng; vô tâm vi ác, tuy ác bất phạt. Các thần coi vở chuyền tay khen ngợi chẳng khi đừng, bèn đòi ông ấy lên mà dụ rằng: nay đất Hà Nam khuyết Thành Hoàng, một mình nhà ngươi xứng chức ấy. Ông Tông Đạo nhớ sực lại, cúi đầu khóc lạy mà rằng: kẻ học trò nhờ ơn sai khiến, đâu dám từ nan, ngặt vì mẹ già bảy mươi tuổi, không người phụng dưỡng, xin cho tôi nuôi mẹ tôi trăm tuổi rồi, tôi chẳng dám từ. Trên có một vị giống hình đế vương dạy tra bộ coi bà mẹ sống bao lâu. Xảy có quan lại râu dài lấy bộ coi qua, bẩm rằng số bà già còn sống chín năm nữa. Coi ý ông nào cũng dùng dằng, có một mình ông Quan Đế dạy rằng: không can chi, thôi bắt Trương Sanh quyền nhíp chín năm rồi hãy đổi; lại rằng: lẽ phải bắt ép nhà ngươi, nhưng bởi nhà ngươi có lòng hiếu thảo, huỡn cho chín năm, đến kì sẽ đòi nhà ngươi. Ông Quan Đế cũng phù hủy ông Tú Tài một hai tiếng, rồi đó hai ông lui ra. Ông Tú Tài nắm tay ông Tông Đạo đưa ra cho tới ngoài nội, nhơn nói mình là người ở Тrường Sơn họ Trương, làm thơ đưa có câu rằng: hữu hoa hữu tửu xuân thường tại, vô nguyệt vô đăng dạ tự minh. Ông Tống Đạo lên ngựa từ biệt, về tới nhà dường như chiêm bao. Khi ấy ông Tông Đạo chết đã ba ngày, bà mẹ nghe tiếng rên văng vẵng trong hòm, lật đật dở hòm đem ông ấy ra nửa ngày mới nói được. Hỏi ra bên núi Тrường Sơn quả có Trương Sanh chết nội ngày ấy. Đến năm thứ chín, mẹ ông Tông Đạo thiệt chết, tống táng xong rồi, ông ấy tắm rửa vào nhà nằm thíp thíp. Ngày ấy cha mẹ vợ ông Tông Đạo ở xa, thấу ông ấy cỡi ngựa bao tiền bao hậu, kiều khấu rực rỡ, có xa giá hầu hạ đông, vào lạy tạ mà đi, ai nấy lấy làm lạ, chạy đi hỏi thì ông ấy đã mất rồi.
 
47- HAI ANH EM HỌ THƯƠNG
Anh em họ Thương, một người giàu một người nghèo, nhà ở khít vách. Đời vua Khương Hy, năm mất mùa, người em thút mút, lo đuợc bữa trưa không bữa tối. Có một bữa mặt trời đã xế qua, mà chưa có gạo nấu, người em đói bụng xăng văng không biết làm sao. Người vợ biểu qua bên anh mà xin gạo, người chồng nói: xin uổng công, phải anh tao thấy tao nghèo mà biết thương, thì có đâu đến nỗi này. Người vợ không nghe biểu một hai đi, người chồng cực chẳng đã sai con qua một hồi lâu trở về tay không. Người vợ hỏi con qua bên ấy bác nói làm sao? Đứa con nói: bác trai giùng dằng ngó mặt bác gái, bác gái nói anh em ở tư riêng, ai có nồi nấy, không ai có sức mà lo bao đồng. Vợ chồng người em làm thinh, góp nhóp tấm manh vành sắt bán lần, đổi lấy từ hột tấm mà ăn. Trong làng có quân hoang thấy người anh giàu có, nửa đêm leo vách tường vào nhà, vợ chồng người anh sợ hãi la làng, xóm giềng đều ghét không ai thèm tiếp cứu; túng lắm phải kêu em, người em nghe tiếng chị dâu kêu muốn chạy qua, mà người vợ cản lại la lớn lên mà rằng: anh em đều có tư riêng, phải ai tai nấy, ai lại biết ai. Giây phút ăn cướp phá cửa, bắt hai vợ chồng người anh trói lại, khêu đèn chai mà hỏi của. Hai vợ chồng kêu khóc khốn nạn, người em nóng ruột nói rằng: dầu anh mình ở vô tình, cũng chẳng lẽ cho mình làm thinh mà không cứu. Nói rồi liền đem con nhảy qua tường la lớn tiếng, ăn cướp biết tiếng người em có nghề võ giỏi, lại sợ làng xóm tới tiếp, liền kéo nhau đi mất. Coi lại cổ vế chị dâu đều cháy nám, người em lật đật kêu tôi tớ đở lên giường rồi mới ra về; người anh cũng bị thương tích, mà của cải không mất món gì, mới nói với vợ mà rằng: nay của mình còn lại, là nhờ thằng em, ấy là của nó cho mình, phải chia ra mà cho nó. Người vợ nói: phải có anh em tử tế, đã không đến nỗi phải chịu đau đớn như vầy. Người em hết gạo nấu, có ý trông anh trả ơn, té ra đợi càng lâu càng vắng, người vợ chịu không được, biểu con xách mũng theo; bác cho đặng có một nồi, người vợ chê ít muốn trả lại, người chồng can không cho trả. Cách vài tháng đói thét chịu không nỗi, người em nói với vợ rằng: nay mình hết kế, còn có một căn nhà, thôi ta bán đứt đi cho anh hai, có lẽ anh hai sợ ta đi đi, không chịu mua mà cho ta giống chi chăng; ví dầu anh hai có mua, thì ta cũng có tiền mà nuôi mạng sống; người vợ cũng lấy làm phải, bèn sai con cầm giấy qua nhà người anh. Người anh bàn với vợ rằng: dầu em mình có bụng bất nhơn, sao cũng là tay chơn mình, nó đi đi thì mình quạnh quẻ, chi bằng trả giấy mà châu cấp cho nó. Người vợ rằng: nó giợm đi là có ý rúng mình, như mình chịu châu cấp thì là mắc mưu nó; trong thiên hạ những người không anh không em đều phải chết hết đi sao? Ta cơi vách tường lên cho cao, sửa nhà lại chắc chắn thì cũng vững bền, thôi chịu mua cho nó mà nới nhà ra cho rộng, để nó đi đâu mặc nó. Hai vợ chồng bàn luận xong rồi, liền kêu người em so danh điểm chỉ, giao tiền bạc đủ số. Người em bán nhà rồi, bèn dời qua làng khác mà ở, quân hoang nghe người em đi, lại rủ nhau tới đánh bắt người anh làm khổ sở, bao nhiêu vàng bạc phải đem ra mà chuộc mạng. Đến khi ăn cướp kéo đi, lại khai cửa vựa, kêu nhà nghèo lối xóm tới mặc ý xúc, trong giây phút lúa sạch còn vựa không. Qua ngày sau người em hay đặng chạy qua, thì người anh đã bất tỉnh nói không ra tiếng, mở mắt thấy em lấy tay cào chiếu mà thôi, một hồi liền tắt hơi. Người em giận lắm đi kiện tại huyện, mà ăn cướp thì đã trốn xa không bắt chi được. Còn những người xúc lúa kể hơn một trăm, thì là những dân nghèo khổ trong làng, quan huyện cũng không biết xử làm sao.
Người anh chết để lại một đứa con mới được năm tuổi, nhà nghèo rồi, nó cứ qua bên chú mà ở, năm bảy ngày cũng không về, đưa nó về thì nó khóc, thiếm nó cũng không ngó tới. Người chồng nói cha mẹ nó bất nghĩa, nó có tội gì, bèn mua bánh mà đưa nó về. Cách ít bữa người em lại lén vợ con, đội lúa qua cho chị dâu, dặn phải nuôi cháu, cứ việc làm như vậy một hai năm, cho đến khi chị dâu bán được nhà có tiền ăn, mới thôi qua lại. Sau mất mùa nữa, thiên hạ chết đói đầy đàng, nhà người em thêm miệng ăn càng thêm bẩn chật. Khi ấy con người anh được 15 tuổi yếu đuối không làm gì đặng, người em biểu đi theo con mà bán bánh. Một đêm người em nằm chiêm bao thấy anh tới, mặt mũi thảm sầu mà nói rằng: anh nghe lời đờn bà, hóa ra mất nghĩa anh em, em đừng tưởng tới chuyện cũ mà thêm điều hổ thẹn cho anh; nay chỗ nhà cũ bán đi mà hãy còn bỏ không, em phải mướn mà ở, đàng sau chỗ cỏ mọc rậm có chôn tiền, em đào lên mà làm vốn, đem con anh về mà nuôi, còn mẹ nó thì bỏ đi đừng ngó tới. Người em thức dậy lấy làm kì, chịu nhiều tiền cho chủ, mướn được nhà cũ anh, kiếm phía sau đào được năm trăm quan tiền. Từ ấy mới bỏ nghề cũ, biểu con cháu hai đứa lập tiệm buôn bán. cháu thông minh tính toán giỏi mà lại thiệt thà, một đồng tiền cũng không dám khuất lấp. Một bữa tên cháu xin lúa cho mẹ, thiếm nó không muốn cho, chú nó thấy cháu hiếu thảo đem lòng thương, liền cho nó tiền tháng để châu cấp mẹ nó.  Trong năm bảy năm, chú nó làm nên giàu có. Sau mẹ nó chết, chú già cả bèn chia đôi gia tài mà cho cháu.
 
48-  LỘC ĐỜI
Có một người sang giàu hay làm nhiều điều thất đức, người vợ thường lấy điều quả báo mà ngăn can, cũng không thèm nghe. Ngày kia có thầy tướng tới nhà, ngồi chăm chỉ ngó người sang giàu mà rằng: tôi coi tướng ông còn ăn lương hai chục hộc, bột hai chục hộc mà hết lộc trời. Người sang giàu không tin, nói với vợ rằng: kể một người ăn trót năm hết hai hộc bột, tính ra lộc trời cũng còn dư hai mươi năm thì cũng khá, vã lại làm lành cũng chết, làm dữ cũng chết. Người ấy không biết kiêng sợ, cứ việc làm điều ác đức như cũ, chẳng dè qua năm sau mắc bịnh tiêu khát ăn chừng nào đói chừng nấy; một ngày ăn hơn mười bữa mà cũng còn đói, mãn năm ăn đủ số phải bỏ mình.
 
 
49- NHÍP CHÁNH
Ông Lộ Vương làm vua đất Hoài Khánh nết buông lung, thường ngự đi chơi thấy gái tốt thì bắt ngang. Ngày kia vua thấy vợ Vương Sanh lịch sự, giục xe ngựa theo tuốt vào nhà Vương Sanh. Vợ Vương Sanh kêu khóc vua cũng không nghe, làm dữ bắt bỏ lên xe mà đi. Vương Sanh thấy vậy ngã lòng chạy đi núp một bên mồ Nhíp Chánh, có ý chờ vợ đi ngang qua mà trối một hai lời. Hồi lâu vợ đi tới, ngó thấy chồng vùng nhào xuống xe mà khóc; Vương Sanh tức tối nói không ra tiếng, quân hầu biết là Vương Sanh liền bắt đánh khổ sở. Thoát chúc trong mồ nhảy ra một người cao lớn, tay cầm gươm bạc, oai khí lẩy lừng hét lên mà rằng: ta là Nhíp Chánh đây, con nhà lương thiện lẽ đâu ai được cướp giành, ta nghĩ chúng bay như muông săn, người ta đuổi đâu đi đó, ta không nỡ giết, gởi lời về cho vua bây, nếu vua bây không cải dữ về lành, thì ta sẽ lấy đầu. Quân hầu đều kinh sợ bỏ xe mà chạy, người cao lớn nhập vào mồ không thấy nữa. Vợ chồng Vương Sanh lạy mồ đem nhau về, mà cũng còn sợ vua bắt lại nữa, cách hơn mười bữa không có tin tức gì, trong lòng mới yên. Còn ông Lộ Vương từ ấy cũng tởn mà bớt thói dâm.
Nhíp Chánh  là người nước Tề, thuở sống có tài thích khách.
 
50- NGƯU THÀNH CHƯƠNG
Ngưu Thành Chương là người buôn vải ở đất Giang Tây, cưới con họ Trịnh sanh ra một trai một gái. Thành Chương được 33 tuổi, đau nặng mà chết, thì đứa con trai tên là Trung mới được 12 tuổi, đứa con gái được 9 tuổi. Trịnh thị ở góa không đặng, bán hết sự sản, đi lấy chồng khác, bỏ con bơ vơ không chỗ dựa. May, Thành Chương có người chị dâu bà con họ, tuổi đã sáu mươi, nghèo nàn góa bụa không người làm tay chơn. Hai đứa con Thành Chương mới nương theo bác gái; ở vùa được ít năm, chẳng dè bác gái mất, lại càng khốn khổ hơn nữa. Tên Trung lớn lên lo nối nghiệp cha mà ngặt không vốn; đứa em gái lấy chồng giàu, năn nỉ mượn chồng được ít chục đồng, giao cho anh đi buôn bán. Trung được bạc liền qua Kim Lăng, đi dọc đàng lại rủi bị ăn cướp đánh lấy sạch, trôi nổi không về đặng. Ngày kia tên Trung đi ra chợ, thấy một người ngồi bán hàng giống cha như hệt, lén hỏi tên họ thì cũng in tên cha. Trung ngẩn ngơ không hiểu làm sao, mỗi bữa cứ ra chợ, léo hánh một bên, coi tình ý, mà người bán hàng cũng không ngó ngàng. Cách ba bữa Trung dọ đặng sự tình, coi cách đi đứng, nói cười quả là cha đẻ, nhưng vậy cũng không dám nhìn, nói nhỏ với mấy đứa ở, xưng mình là người đồng quán, xin ở mướn mà thôi. Làm khế rồi, người bán hàng coi thấy tên họ cùng xứ sở Trung, hình như biến sắc, hỏi Trung ở đâu mà đến? Trung khóc nói tên cha, người chủ phố sửng sốt một hồi rồi hỏi Trung rằng: mẹ mầy mạnh giỏi thế nào? Trung không dám nói cha chết, thưa khéo rằng: cha tôi đi buôn đã sáu năm không về, mẹ tôi đi lấy chồng khác, may có bác dâu nuôi dưỡng, bằng không thì đã chết rồi. Chủ phố buồn thảm xưng mình thiệt là cha. Cha con bèn nắm tay nhau van khóc một hồi, lại đem nhau vào nhà trong cho biết mẹ ghẻ. Bà kế mẫu đã hơn 30 tuổi mà không con, được Trung thì mầng rỡ bội phần. Thành Chương thở ra thở vào, muốn về quê quán một khi, mà vợ ngăn cản không cho về, cực chẳng đã ở lại dạy con buôn bán. được ba tháng bèn giao sổ sách, sắm sửa về Giang Tây. Thành Chương đi rồi, tên con nói với mẹ ghẻ rằng cha chết thiệt. Mẹ ghẻ thất kinh nói: cha mi qua buôn bán ở đây, làm bạn với tao đã sáu năm nay mà nói chết làm sao. Trung học chuyện đầu đuôi, mẹ con lấy làm kì dị. Cách một ngày đêm Thành Chương đã trở về, dắt theo một người đờn bà đầu bỏ tóc xỏa, Trung lại gần coi thì là mẹ ruột. Thành Chương xách tai người đờn bà, mắng chưởi sao có bỏ con, người đờn bà không dám cục cựa, Thành Chương cắn ngang cổ người đờn bà, người đờn bà kêu con cứu, Trung thấy vậy chen mình cản ngang không cho cắn. Thành Chương giận lắm, chẳng dè người đờn bà biến đi đâu mất, ai nấy la lên nói là quỉ; giây phút thấy Thành Chương biến sắc thảm sầu quăng áo xuống đất, hóa ra một đạo hắc khí, rồi cũng biến mất. Mẹ con kinh sợ lấy áo mão liệm vào hòm mà chôn tử tế. Tên Trung noi theo nghiệp cha làm giàu có lớn, sau về nhà hỏi thì mẹ đẻ cải giá chết trong một ngày, cả nhà đều thấy Ngưu Thành Chương.       




0
51- LIỄU SANH
Châu Sanh ở Тhuận Thiên vốn là dòng dõi con quan, làm anh em bạn thiết với Liễu Sanh. Liễu Sanh học đặng phép coi tướng, thường nói với Châu Sanh rằng: anh không có số làm quan, song về sự làm giàu, dùng sức người lo cũng đặng, ngặt vì chị ở nhà xấu tướng, không lẽ giúp anh làm nên nghiệp lớn. Chẳng khỏi bao lâu người vợ chết, sự nghiệp hết. Châu Sanh nghèo lắm mới tới Liễu Sanh xin bói một chỗ khá khá mà chắp nối. Châu Sanh vào nhà ngồi lâu lắc, Liễu Sanh không ra mặt, kêu hai ba lần mới ra mà nói rằng: tôi có ý lừa lọc kiếm một chỗ tử tế cho anh, hôm nay mới được, tôi mắc vái bà nguyệt xe chỉ đỏ, cho nên mới chậm ra. Châu Sanh mầng hỏi. Liễu sanh rằng: khi nảy có một người xách túi đi ngang qua anh có thấy không? Châu Sanh nói rằng: có, mà coi ra con người rách rưới như ăn mày. Liễu Sanh nói ấy là ông gia anh đó, không nên khinh dễ. Châu Sanh nói: đặt ra đã làm anh làm em với nhau, diễu cợt nhau làm chi, tuy tôi nghèo, anh cũng biết dòng dõi tôi thế nào, lẽ đâu phải đày đọa như vậy. Liễu Sanh nói: cha mẹ cú đẻ con tiên. Châu Sanh hỏi: mà anh có thấy con lão không? Liễu Sanh nói: chưa thấy, chưa biết, đầu lạ, lâu cũng quen. Châu Sanh cưòi nói chưa biết cha mà biết con làm sao đặng? Liễu Sanh nói: tôi cứ số tôi nói, người ấy hung dữ xấu xa, mà đứa con gái lại có phước đức lớn; nếu làm ngang mà cưới bây giờ sau phải nạn to, để cho tôi giải cứu đã.
Châu Sanh về nhà không tin lời anh em bạn, đi coi vợ khắp xứ mà không gặp một người. Một bữa Liễu Sanh tới thình lình mà nói rằng: tôi có mời một người tới, anh phải sắm sửa dọn đồ chi mà uống rượu. Châu Snh không biết là ai, tới việc gì, cũng lật đật đi sắm đồ ăn. Hồi lâu có một người tới, hỏi ra là họ Phó, là một tên lính ở trại. Сhâu Sanh bằm bột gượng gạo chào mầng, mà Liễu Sanh thì có ý cung kính khiêm nhường. Trà nước rồi liền dọn đồ uống rượu, mà lại xen đồ rau cỏ khó coi. Liễu Sanh lật đật đứng dậy thưa rằng: anh tôi nghe tiếng cậu, hoài vọng cậu lâu ngày, có cậy tôi hỏi thăm, lại nghe cậu nay mai đi trẩy, vội vả mời nhau, cho nên dọn dẹp cũng có sơ sài không được kĩ càng. Đương lúc ăn uống, họ Phó nói sợ ngựa bịnh cỡi không đặng, Liễu Sanh ghé đầu lại nói nhỏ chịu lo giùm. Đến khi khách về, Liễu Sanh trách Châu Sanh rằng: ngàn vàng mua không đặng một người bạn hữu như vậy, anh đãi đằng chi lếu láo! Liễu Sanh nói rồi liền cỡi ngựa theo họ Phó, mượn đều nói Châu Sanh biểu đem ngựa qua cho. Châu Sanh hay đặng lấy làm bất bình.
Qua năm sau Châu Sanh tính sang Giang Tây vào ở nhà lơ bên án, bèn tới nhà Liễu sanh cậy bói một quẻ, Liễu Sanh nói quẻ tốt lắm. Châu Sanh cười, nói tôi cũng còn một ít chục quan tiền, tôi đi đây là có ý kiếm vợ tử tế, họa may lời anh nói trước có mất linh đi chăng. Liễu Sanh nói: mặc ý anh. Đến khi Châu Sanh đi tới Giang Tây, gặp giặc lớn, ba năm không về đặng. Sau giặc vừa yên, Châu Sanh cất gánh ra về giữa đàng bị giặc bắt. Có bảy tám người cũng bị bắt một lượt, quân giặc lấy hết đồ thả đi, bắt có một mình Châu sanh đem tới chỗ ở. Chủ trại hỏi gia thế Châu Sanh rồi mới nói: min có một con gái, min muốn gả cho, nhà ngươi chớ từ. Châu Sanh làm thinh. Chủ trại giận dạy đem chém bêu đầu. Châu Sanh sợ nghĩ trong mình thà chịu đở, lục thục rồi sẽ bỏ, bèn thưa với chủ trại rằng: kẻ thơ sanh giùn dằng là vì con nhà học trò yếu đuối không sức theo việc chinh chiến, lại làm cực cho ông; nbư ông cho chúng con làm vợ chồng lại đặng phép đem nhau đi, thì ơn ông trọng lắm. Chủ trại nói rằng: min đương lo thứ con gái hay làm bận, như tình nguyện đem nhau đi, sao min không cho. Chủ trại nói rồi liền đem Châu Sanh vào nhà trong, biểu con gái ăn mặc tử tế ra chào, trạc được mười bảy mười tám tuổi xinh tốt đẹp đẽ. Đêm ấy làm lễ hiệp cẩn, Châu Sanh lần hỏi tên họ, mới biết cha con gái ấy là người mang túi năm trước, nhắc tới chuyện Liễu Sanh nói, đều lấy làm khen ngợi. Cách ba bốn bữa chủ trại đương sắm sửa đưa con ra đi, chẳng dè quan binh ùn ùn kéo tới, cả nhà đều bị trói. Có ba ông quan võ giám sát đem vợ chồng chủ trại chém lần. Tới Châu Sanh hồn vía mất hết, may có một ông chăm chỉ ngó Châu Sanb mà hỏi rằng: có phải là Châu Sanh đó không? Té ra ông quan ấy là tên lính Liễu Sanh mời ăn năm trước, đánh giặc có công làm tới bậc phó tướng quân. Ông ấy nói với các quan rằng: nầy là người ở một làng với tôi, cũng là con cháu nhà quan, chẳng lẽ nó đi làm giặc. Ông ấy nói rồi liền dạy mở trói, hỏi duơn do làm sao mà đi đến đó, Châu Sanh thưa khéo rằng: tôi qua Giang Tây cưới vợ về dọc đàng rủi bị giặc bắt cầm, may nhờ ơn cứu chữa, tôi cám đội bằng ơn tái tạo; nhưng vậy vợ tôi chưa biết đi đâu, nhờ lượng quan trên cho chúng tôi hiệp mặt. Quan phó tướng quân dạy dẫn những người bị bắt đứng sắp hàng, biểu Châu Sanh nhìn lấy vợ, rồi đó ông ấy cho ăn uống cấp tiền bạc mà nói rằng: trước nhờ ơn để ngựa, ngày đêm tôi chẳng dám quên, nay trong lúc giặc giả chẳng biết lấy chi làm tình: ngựa hai con, vàng ròng năm mươi lượng đưa cậu về đường. Ông phó tướng lại cho hai tên mã kị hộ tống đàng khác. Châu Sanh lập thế lấy cốt cha mẹ vợ chôn cất xong xuôi, về tới nhà thì sự nghiệp tang hoang, hỏi thăm thì Liễu Sanh đã đi đâu mất. Vợ giỏi lo việc cửa nhà, buôn bán ít năm làm giàu có lớn.
 
52- CHUYỆN HƯỚNG KlỀU
Hướng Kiều là nguời Thái Nguyên, ở với anh rất thảo thuận. Người anh tên là Thịnh trò chuyện với một con đỉ tên là Ba Tư, cắt tóc thề nguyền sống thác không bỏ nhau, mà bởi mẹ Ba Tư đòi tiền nhiều, hóa ra việc không rồi. Chẳng dè mẹ Ba Tư toan cải nghiệp, cho con về trước. Xảy có một vì Công tử họ Trang có tình với Ba tư, xin chuộc nó về làm hầu thiếp. Ba Tư thưa với mẹ rằng: nay mẹ con ta muốn xa chốn nước lửa, ấy là muốn thoát địa ngục mà lên thiên đàng; như phải làm hầu thiếp, thì có khác chi nghề bán dạng mua vui; dầu mẹ không nghe lời, con xin kết tóc với Hướng Thịnh mà thôi chớ. Mẹ chịu, nói cho Hướng Thịnh hay. Thuở ấy Hướng Thịnh chích đôi chưa có nơi chắp nối, nghe nói lấy làm mầng rỡ, xuất hết gia tài cưới Ba Tư đem về. Công tử Trang hay đặng, oán Thịnh sao có giành chỗ mìh yêu, tình cờ gặp Thịnh giữa đàng bèn chưởi mắng. Thịnh nói đi nói lại, Công tử xúi quân tùy tùng đánh chết Thịnh, bỏ thây mà đi. Kiều hay đặng chạy tới thì anh đã chết rồi, và thương và giận liền tới tỉnh mà kiện. Công tử Trang lo lót khắp chỗ, Kiều kiện không nổi, tức mình không biết làm sao, toan kiếm chỗ éo le rình mà giết Công tử Trang cho lại gan. Mỗi bữa Kiều cứ cắp gươm núp trong bờ bụi, chờ Công tử đi qua mà thích khách. Lâu ngày Công tử hay đặng, mỗi khi đi chơi thường đem khí giái dự phòng, lại nghe bên đất Phần Châu có tên Tiêu Đồng mạnh bạo mà lại bắn hay, liền đem nhiều tiền bạc rước Tiêu Đồng làm chơn tay. Kiều làm chi không đặng, song cũng cứ việc rình mò. Một bữa Kiều đương núp trong cỏ, xảy mưa lớn mình mẫy ướt hết, lạnh lẽo quá chừng, rủi thì nổi gió lớn trời lại sa mưa đá đổ xuống mình rát rao đau đớn chịu không nổi, sực nhớ trên núi có một cái miễu, lật đật chạy lên, vào miễu thì thấy có thầy đạo sĩ quen. (Số là thầy đạo sĩ thường đi xin ăn trong làng, Kiều có cho ăn, cho nên mới biết nhau). Thầy đạo sĩ thấy Kiều mình mẫy ướt dầm, bèn lấy áo vải rộng trao cho Kiều mặc mà nói rằng: nhà ngươi lấy áo này mà thay đở. Kiều thay áo ngồi xo ro như chó, ngó trong mình thì thấy lông lá mọc ra, hóa ra một con cọp, mà thầy đạo sĩ thì đi đâu mất không thấy đó nữa. Kiều và sợ và tức, nghĩ lại trong mình như đuợc kẻ thù mà ăn gan thì cũng là một chước hay; vội vàng chạy xuống chỗ núp, thì thấy thây mình nằm trong cỏ, mới biết thân trước đã chết rồi, sợ quạ quạ, kên kên ăn, cứ giữ chung quanh. Qua ngày sau công tử Trang đi ngang qua đó, cọp vùng nhảy ra chụp Công tử tại trên ngựa, kéo xuống cắn nát đầu, tên Tiêu Dồng giương cung bắn trúng bụng cọp ngã ra cũng chết. Trong lúc hoảng hốt, Kiều sực tỉnh lại như chiêm bao, cách một đêm mới đi được, gắng gượng về nhà. Người nhà thấy Kiều đi cả đêm ngày không về, lấy làm lo sợ, đến khi thấy mặt Kiều thì mầng rỡ hỏi han, Kiều cứ việc nằm dài nói không ra tiếng. Một hồi nghe tin Công tử bị cọp bẻ cổ, ai nấy đều tới mầng cho Kiều. Kiều mới nói cọp ấy là mình, nhơn học lại các chuyện lạ lùng. Con Công từ đau lòng vì cha chết, nghe chuyện Kiều, giận lắm, liền đi thưa, quan sở tại nói là việc đặt để quái gỡ không có bằng cớ, không chịu tra xử.
 
 
53- CHỊU ÁN OAN
Châu Sanh là người ở đất Dương Cốc, nhỏ trai lanh lợi hay diễu cợt, vợ mất sớm toan bề chắp nối, cậy một bà già đem mối. Xảy thấy lối xóm có một đứa con gái lịch sự mà có chồng, bèn nói chơi với mụ mai rằng: tôi thấy lối xóm bà ở có một đứa đẹp lắm, bà có đem mối, phải được như chỗ ấy thì tôi mới ưng. Mụ mai cũng nói chơi rằng: cậu muốn, thì cậu phải giết chồng nó trước rồi tôi sẽ tính cho, Châu Sanh cũng ừ bướn chơi. Cách đâu hơn một tháng, chồng con gái lịch sự ấy đi đòi nợ, rủi thì bị chúng giết bỏ thây ngoài đồng. Quan huyện bắt làng bàng cận tấn khảo hết cách cũng không ra mối. Chẳng dè mụ mai thèo lẻo học đi học lại những tiếng nói chơi. Ai nấy đều nghi cho Châu Sanh, quan huyện bắt Châu Sanh tra hết sức không ra sự chi, lại nghi cho con lịch sự ấy tư thông với Châu Sanh, liền cho bắt tới tấn khảo gần chết, con lịch sự ấy túng phải chịu có tư thông. Tấn Châu Sanh, Châu Sanh la lên nói: đờn bà sức lực bao nhiêu, hễ đau chơn thì há miệng, như để cho người ta chết oan lại mang tiếng xấu, dầu quỉ thần không hay, lòng tôi đầu nỡ; thôi để tôi xưng ngay, thiệt giết người mà lấy vợ người, thì là việc tôi làm, con ấy không hay biết chi sốt. Quan huyện hỏi lấy chi làm bằng? Châu Sanh nói áo tôi còn vấy máu. Quan huyện sai quân đi soát nội nhà không thấy chi, lại tấn Châu-Sanh chết đi sống lại đôi ba hiệp. Châu Sanh kiếm đều nói rằng: tại mẹ tôi sợ tôi chết cho nên không chịu đưa áo ra, xin dẫn tôi về tồi lấy. Châu Sanh về tới nhà nói với mẹ rằng: mẹ đưa áo tôi tôi cũng chết, không đưa thì tôi cũng chết, đưa ra mà chết cho mau, chẳng thà để mà cầm cơ. Người mẹ khóc vào nhà một hồi đem áo ra đưa cho con. Quan huyện xét dấu máu rõ ràng, bèn làm án chém Châu Sanh. Án đưa lên quan trên bác hoài, thẩm hoài,  Châu Sanh cũng chịu một bề. Cách hơn một năm mới định ngày xử. Quan huyện đương nghi sợ trong lòng, xảy có một người đi thẳng vào công đường, trợn con mắt lên mắng quan huyện rằng: thấp trí như vậy mà trị dân làm sao đặng. Hai ba mươi lệ xốc vào bắt, người ấy vừa giang tay ra, bao nhiêu quân lệ đều ngã lăn. Quan huyện sợ hòng chạy trốn, người ấy nói lớn tiếng mà rằng: ta là Châu Thương làm chức tướng quân hầu gần ông Quan Đế; quan huyện muốn chạy thì ta giết ngay. Quan huyện run sợ thất sắc, nghe người ấy nói: đứa giết người là thằng Cung Tiêu, tên Châu này có tội gì. Người ấy nói rồi liền ngã ra, chết giả một hồi lâu mới sống lại, mặt mày không còn sắc người; đến khi hỏi tên nó thì nó xưng là Cung Tiêu. Quan huyện bắt đánh nó chịu xưng ngay.
Số là tên Cung Tiêu ấy, bình nhựt hay đi ăn cướp, ngày kia hay người chồng con gái đi đòi nợ về, trong ý tưởng trong lưng người ấy làm sao cũng có bạc, té ra giết rồi lục lưng người ấy không có một đồng. Sau nghe tên Châu chịu tội, thì cũng lấy làm mầng; còn ngày ấy mình vào chốn công môn cũng không biết là ai khiến vào.
Quan huyện hỏi Châu Sanh áo vấy máu ở đâu mà ra, Châu Sanh cũng không biết. Quan huyện cho đòi bà mẹ, thì bà mẹ nói máu ấy là máu cánh tay bà ấy thoa vào. Nghiệm bên cánh tay tả bà ấy thì lằn dao cắt chưa lành, quan huyện sửng sốt, sau vì án ấy bị cách chức, thục tội chưa xong mà chết. Cách hơn một năm mẹ chồng con gái ấy cho dâu cải giá; con dâu cám vì Châu Sanh có nghĩa, bà mẹ bèn gả cho Châu Sanh.
 
54-  CHUYỆN CON THẢO
Đất Thanh Châu có tên Châu Thuận Đình, ở với mẹ rất hiếu thảo. Cổ vế mẹ phát một cái ung độc, đau đớn quá chừng, ngày đêm rên xiết. Châu Thuận xăng văng lo chạy thuốc thang, đến đổi quên ăn quên ngủ; mấy tháng cũng không lành, lấy làm phiền muộn không biết làm sao mà cứu mẹ. Một bữa y mơ màng thấy cha về mà bảo rằng: mẹ con đau thiệt nhờ con, song chỗ ghẻ ấy phải có mỡ người ta xức mới lành, bằng chẳng thì nhọc thân con lo lắng mà chớ. Châu Thuận thức giấc lây làm kì, vội vàng đi lấy dao cắt thịt sườn mình rớt xuống mà không biết đau cho lắm, lật đật lấy vải ràng rịt chỗ dao cắt mà máu cũng không chảy. Rồi đó y đi rán mỡ xức cho mẹ, mẹ hết đau, mầng hỏi thuốc gì mà linh nghiệm dường ấy. Châu  Thuận kiếm đều nói dối, mà chỗ ung độc lần lần nhóm mệng lành trơn. Châu Thuận cứ lấy vải ràng buộc chỗ cắt, dẫu vợ con cũng không hay; khi chỗ ấy lành thì thấy dấu cắt bằng bàn tay, vợ hỏi lắm mới nói thiệt.
Sách Dị sử bàn rằng: cắt thịt mình là hại mạng mình, người quân tử chẳng lấy làm hay, song kẻ ngu nào biết sự hại mình là bất hiếu, cũng là làm cho hết lòng mà thôi.
 
55- CHUYỆN NGƯỜI BÁN VẢI
Có một người bán vải tới đất Thanh Châu thấy một cái chùa hoang, vào coi thì chùa rách vách nát, lấy làm thảm thiết. Có tên thầy sãi đứng gần nghe tiếng than thở, bèn nói rằng: phải chi bổn đạo có lòng sùng tu chùa lại, thì Phật, ngài cũng được ấm cúng rỡ ràng. Tên bán vải đam lòng mạnh mẽ xin chịu tu bổ, tên thầy sãi mầng mời vào phương trượng đãi trà nước bỉ bàn, rồi lại chỉ cả nhà trong ngoài xin phải tu bổ cho cùng. Tên bán vải nói sức một mình làm không nổi, tên thầy sãi nổi hung, nói xẳng tiếng biểu tên bán vải làm sao cũng phải rán. Tên bán vải sợ xin chịu, liền mở gói, nội mình có bao nhiêu tiền bạc đều giao cho thầy sãi mà đi. Tên thầy sãi cản lại mà rằng: thế nhà ngươi bất bình, có bao nhiêu bỏ lẩy lại cho ta, chi bằng ta ra tay trước. Nói rồi liền xách gươm ra, tên bán vải khóc lạy xin tha, thầy sãi không nghe; túng lắm tên bán vải xin thắt cổ cho toàn thân, tên thầy sãi cho, biểu vào trong phòng tối, hối thắt cổ cho mau. Chẳng dè có một ông quan tướng đi ngang qua chùa, thấy có một đứa con gái bận quần đỏ, chun theo lổ vách tường mà vào chùa, phát nghi dừng ngựa lại, cho quân vào soát trong chùa không thấy chi cả, tới một cái phòng thấy cửa khóa bịt bùng, biểu thầy sãi mở; thầy sãi nói trong ấy yêu quái nhiều không chịu mở. Quan tướng thạnh nộ dạy quân phá cửa, thì thấy một người chết treo tòn ten trong phòng, đem xuống cứu một hồi tỉnh lại, hỏi sự cớ làm sao, người ấy thưa hết đầu đuôi. Quan tướng đánh hỏi thầy sãi con gái ấy là ai ở đâu, thì thiệt không có; té ra là Thần, Phật hiện mà cứu người ngay. Quan tướng chém đầu tên thầy sãi, còn tiền bạc bao nhiêu đều trả lại cho tên bán vải, tên bán vải cám vì Thần Phật linh thiêng, lo quyên góp sửa chùa ấy lại tử tế.
 
56-  CÙ DỤC
Có một người nuôi chim bát ca dạy đủ tiếng nói, đi đâu cũng không rời con chim. Một bữa qua đất Phong Châu, đem chim theo, lở đàng thiếu tiền ăn, người ấy lấy làm lo buồn, con chim vùng nói rằng: sao không bán tôi đi, bán tôi được thì chẳng lo chi tiền ăn. Người nuôi chim nói rằng: tao không nỡ bán mầy. Con chim nói không can chi, chủ lấy tiền rồi phải đi cho chóng, qua bên phía tây khỏi thành hai mươi dặm, tới chỗ cây cao thì đợi tôi. Người nuôi chim nghe đặng đem chim vào thành và đi và nói chuyện, ai nấy đều theo mà coi. Xảy có người trong nội thấy sự lạ chạy về tâu vua, vua liền cho đòi chủ chim hỏi mà mua, chủ chim thưa rằng: kẻ tiểu nhơn nuôi chim mến tay mến chơn, đi ở không lìa nhau, dầu túng cũng không đành bán. Vua hỏi chim muốn ở lại hay là muốn đi theo chủ? Con chim thưa rằng: muốn ở lại. Vua mầng; con chim lại nói trả chừng mười đồng mà thôi, chớ trả chi cho nhiều. Vua lại càng mầng hơn, hối cấp đủ mười đồng; chủ chim làm bộ giận dữ, lấy tiền quày quả ra đi. Vua nói chuyện chơi, con chim trình thưa bặt thiệp, vua dạy đem thịt cho nó ăn. Chim ăn rồi liền đòi đi tắm. Vua dạy lấy chậu vàng múc nước, mở cửa lồng cho nó ra tắm. Chim tắm rồi bay lên mái nhà đứng rỉa lông, nói chuyện với vua dẳng dỏi. Ráo lông rồi nó xoè cánh ra nhảy nhót, nói tôi đi nhé. Chưa kịp ngó, nó đà bay mất, vua cùng nội thị ngữa mặt than tiếc, hối đi kiếm chủ chim thì cũng không thấy. Sau có người qua Tần, thấy người ấy bồng con chim dạo chơi tại đất Tây An.
37- DIÊM LA
Đât Lai Vu có một ông tú tài tên là Lý Trung Chi, bổn tánh ngay thẳng không chịu dua nịnh, cách năm bảy bữa thì chết một lần, nằm trơ như khúc gỗ, ba bốn ngày mới sống lại, người ta gọi là tẩu vô thường. Có kẻ hỏi chết xuống như vậy có thấy giông gì, thì ông ấy giấu không chịu nói. Thuở ấy trong làng có tên Trương Sanh cũng hay đi âm phủ, ít ngàỵ đi một lần, về nói ông Lý Trung Chi làm vua Diêm La, y xuống đó cũng làm việc một tào, đền đài liển đối làm sao y nói được hết. Người ta hỏi: vậy chớ ông Lý Trung Chi bữa nọ xuống âm phủ làm gì? Trương Sanh nói: không lẽ học cho hết chuyện, ông ấy xuống đó thì thấy đem Tào Tháo ra tấn hai ba chục roi.
Sách Dị sử bàn rằng: án Tào A Man tưởng đã qua tay mấy chục ông Diêm La rồi, mà mấy ngàn năm còn chưa nhứt định thì là làm sao, có phái là tù tử chém mau thì lấy làm khoái, cố ý để cho người cầu chết, mà chết không đặng chăng.
 
58- CHUYỆN THƯƠNG TAM QUAN
Thành Gia Cát có tên Thương Sĩ Võ, vốn là con nhà học trò, bỡi say sưa xúc phạm ông Phú trưởng giả xúi đầy tớ đánh chết. Tên Võ có hai đứa con trai, là tên Thần, tên Lễ, lại một đứa con gái nhỏ tên là Tam Quan tuổi vừa 16 đã có nơi đi hỏi, mà bởi cha chết cho nên việc trở ra. Hai anh đi kiện lâu lắc không thấy xử, bên trai cho mai dong qua xin cho phép cưới, người mẹ chịu cho, con Tam Quan không nghe mà rằng: cha tôi chết chưa chôn, mà đi làm lễ cuới, thì bên ấy không có cha mẹ hay sao? Bên trai nghe đặng không dám dở chuyện ra nữa. Mãn năm, hai anh kiện thua trở lộn về, cả nhà đều tức tối, tính quàng thây cha lại để mà kiện nữa. Con Tam Quan nói rằng: cha mình bị giết rõ ràng, mà kiện không đặng, thì chã còn nói chi việc đời, cũng chẳng lẽ ông trời lại sinh riêng một ông Bao Công cho anh em mình đâu! Để quan cữu cha bộc lộ thì sao cho an lòng. Hai anh nghe đặng bèn chôn cha, việc rồi đêm ấy con Tam Quan trốn đi mất. Mẹ sợ bên trai hay đặng, không dám nói cho trong họ hay, một biểu hai con hỏi dò tin tức, quá nửa năm không ngbe tin chi cả. Thuở ấy ông Phú trưởng giả ăn ngày sanh, đòi nhà trò tới hát. Bầu gánh nhà trò tên là Tôn Thuần đem hai đứa qua chơi, đứa thứ nhứt tên là Vương Thành nhan sắc tầm thường, mà tiếng ca thanh bai, ai cũng khen; đứa thứ hai tên là Lý Ngọc hình dung yểu điệu như con gái, biểu ra giữa mà ca, thì tiếng ca sông sít, ép nó lắm thì nó hát như giọng con nít đưa em. Cả tòa đều cười, tên Tôn Thuần xấu hổ thưa với chủ rằng: thằng ấy mới học chưa giỏi, nó biết có một việc dâng rượu mà thôi, xin các ông chớ trách. Khi ấy mới biểu Lý Ngọc dâng rượu, Lý Ngọc lanh coi theo ý chủ, hầu rót nhặm lẹ, chủ ưng bụng, tiệc rồi cầm nó ở lại. Lý Ngọc lo lắng dọn giường, cổi giày, làm việc hết lòng; chủ say có nói giởn chơi, Lý Ngọc chúm chím cười, chủ lại càng mê hơn nữa, đuổi tôi tớ đi hết, để một mình Lý Ngọc hầu hạ trong phòng. Ngọc đợi mấy đứa tôi tớ đi rồi, liền đóng cửa khóa chặt. Hồi lâu nghe tiếng động trong nhà khách, có một đứa đầy tớ lén lại dòm, thấy tối đen như mực, mà cũng không nghe động dạng. Nó vừa xây lưng, xảy nghe giống gì rớt xuống một cái nặng, nó liền lên tiếng hỏi, cũng không ai thưa; nó mới hô lên, mấy đứa tôi tớ đều chạy lại phá cửa vào, thì thấy chủ nhà đầu mình đứt hai nơi. Lý Ngọc thì thắt cổ đứt dây té xuống đất, coi trên rượng, trong cổ hãy còn mối dây. Chúng nó thất kinh báo vào nhà trong, ai nấy tựu tới không hiểu cớ sự làm sao, khiêng thây Lý Ngọc ra ngoài sân, mới hay giày vớ nó lỏng lẻo như không có chơn, mở ra thì là guốc móc quả là con gái. Liền cho kêu Tôn Thuần mà hỏi, Tôn Thuần sửng sốt nghẹn ngào, nói rằng: tháng trước tên Ngọc tới xin làm học trò, vốn thiệt không biết nó là người ở đâu. Coi trong mình nó còn bận đồ tang, thì nghi nó là thích khách bên họ Thương, mới phát đơn đi kiện. Quan phủ đòi tên Thần, tên Lễ tới hỏi, thì hai người khai rằng: có một đứa em gái mà nó đi mất đã nửa năm, không hay không biết chi tới việc ấy. Quan phủ dạy hai người đi nhìn thì quả là Tam Quan. Quan phủ lấy làm lạ, dạy hai người anh lảnh thây em đem về mà chôn, lại dạy bên nhà giàu chẳng nên thù oán.
 
59-  CHUYỆN ÔNG TẾ VÕ KHI CÒN NHỎ
Ấp Hương Đàng có quan Thái sử tên là Tế Võ, thuở còn nhỏ đi theo một người bà con vào chùa mà chơi. Ông Thái sử tuy còn con nít mà mạnh mẽ gan dạ, thấy tượng quỉ trong chùa nanh vút, con mắt sáng như lưu ly mà to, ông ấy lén thò tay móc tròng lộn lưng đem về. Khi về tới nhà thì người bà con phát bịnh nặng, một hồi chờ dậy la lên mà rằng: làm sao mà khoét con mắt tao! Người ấy kêu la hoảng bốt, ai nấy không biết đàng rờ. Ông Thái sử nói ra, ngirời nhà xúm lại vái, nói rằng: con nít dại dột khuấy chơi, chúng tôi xin hoàn lại. Người ấy nghe được nói lớn tiếng mà rằng: ừ, có trả lại thì ta mới đi, nói rồi liền ngã giụi xuống, giây lâu mới tỉnh. Hỏi ra thì người ấy không biết không hay chi cả. Người nhà phải đem con mắt ấy tới chùa nhận lại như cũ.
Sách Dị sử bàn rằng: Vẫn là nộm đất, mà biết đi đòi con mắt, thì cũng là linh ; nhưng vậy móc tròng là ông Thái sử, nhơn sao lại giận lây tới người đi chơi chung, có phải ông kia sang trọng mà lại vững vàng, thần hãy còn kiêng, phương chi là quỉ.      
 
60-  CHUYỆN NGƯỜI CAO LỚN
Ông Hiếu Liêm ở đất Trường Sơn, tên là Lý Chất qua đất Thanh Châu, đi dọc đàng gặp sáu bảy người nói tiếng giống người nước Yên. Coi bên má thì mỗi người đều có vít lớn bằng đồng tiền. Ông ấy lấy làm lạ mà hỏi, mấy người khách học lại: năm trước đi Vân Nam, trời tối lạc đàng đi vào trong núi, nhằm vực sâu đá chập chồng không có đàng ra; giữa vực có một cây lớn có dây dài thòng thòng xuống đất, nhành lá sum sê hơn một mẫu đất. Mấy người cùng đường mới cột ngựa, mở gói dựa theo gốc cây mà nghỉ. Canh khuya nghe những tiếng hùm beo, chim chóc dậy rừng, mấy người đều ngồi xúm xít không dám ngủ. Xảy thấy một người cao lớn non non một trượng, mấy người nằm nép không dám thở. Người cao lớn tới bắt ngựa mà ăn, sáu bảy con ngựa ăn ráo một hồi, rồi thì giựt dây thòng thòng nắm đầu mấy người xỏ ngang qua mép như xỏ cá, xách đi lểng kểng một dọc. Đi ít bước dây rắc rắc muốn đứt, người cao lớn sợ đứt rớt, mới xấp co hai mối dây lại, lấy một cục đá lớn dằn lên bỏ đó mà đi. Mấy người coi vọi nó đi xa, mới lấy dao giắt cắt dây rút ra mà chạy. Chạy mới đặng ít bước, thấy nó lại dắt một người nữa tới, mấy người sợ nằm núp trong bụi; nhìn người mới ấy lại dị thường hơn nữa, đi tới gốc cây rảo qua rảo lại dường như tìm kiếm giống chi mà không được, rồi thì kêu hú như tiếng chim, coi ý giận người kia gạt, giơ tay vả mặt người kia cũng chịu không dám nói gì, rồi thì đem nhau đi. Mấy người sảng sốt trốn qua chỗ rậm, ngó thấy thắp thoảng trên núi có lồng đèn, vùng chạy lên. Đến nơi thì thấy một người trai ở trong nhà đá, mấy người vào lạy, học các chuyện gian khổ. Người trai ấy đỡ dậy, dạy ngồi và nói rằng: tôi cũng tức mình không sức kềm chế vật quái ấy, đợi em gái tôi về sẽ hay. Hồi lâu có một nàng con gái gánh hai đầu hai con cọp, hểu hểu trở về, hỏi mấy người sao mà lên đặng. Mấy người chạy lại xá, thưa hết nguyên do. Nàng ấy nói tôi nghe đã lâu, mà không dè nó hung tợn tới chừng ấy, tôi phải trừ nó bây giờ không lẽ dung. Nói rồi nàng ấy vào nhà lấy một cây roi đồng nặng ba bốn trăm cân, vụt ra đi mất. Người trai làm thịt cọp cho mấy người ăn, thịt chưa chín nàng ấy đã trở về mà nói rằng: nó thấy tôi nó muốn trốn, tôi theo vài mươi dặm đường, đánh nó rụng hết một ngón tay. Liền quăng ngón tay xuống đất, lớn bằng bắp chơn, mấy người thất kinh hỏi tên họ, nàng ấy không chịu nói. Một chặp thịt chín, khách đều đau mép không ăn, nàng ấy lấy thuốc bột rắc cho mỗi người đều hết đau. Rồi đó nàng ấy đưa khách tới chỗ gốc cây thì những đồ hành lý hãy còn. Mỗi người lảnh gói ra đi hơn mười dặm, qua nhằm chỗ đánh lộn ban đêm, nàng ấy chỉ cho mấy người coi, thì thấy máu đọng vũng trong vực đá, độ chừng một chậu; ra khỏi núi nàng ấy mới từ biệt mà trở lại.
 
61- LIỄU TÚ TÀI
Rốt đời Minh tại đất Thanh Châu, Diễn Châu, cào cào sanh ra nhiều lắm, lần lần qua Đất Nghi. Quan huyện sở lại lấy làm lo sợ, nằm ngoài nhà khách mơ màng thấy Liễu Tú Tài đội mão cao, mặc áo xanh, hình thù phốp pháp tới viếng, xưng mình có phép trừ cào cào. Ông huyện hỏi phép gì? Liễu Tú Tài nói sáng ngày bên đàng tây nam có người đờn bà cỡi con lừa cái lớn bụng, thì là thần cào cào, ông phải xin đờn bà ấy cứu thì khỏi. Quan huyện lấy làm lạ, sáng ngày sắm lễ vật ra phía nam chực một hồi, quả có một người đờn bà bới tóc cao, mặc áo vải rộng cỡi lừa xăm xăm qua bên bắc. Quan huyện thắp nhan rót rượu đón lạy bên đàng, nắm lừa không cho đi. Người đờn bà hỏi muốn làm gì? Quan huyện năn nỉ nói huyện hạt tôi chẳng bao lớn, xin bà làm phước cứu cho khỏi miệng cào cào. Người đờn bà nói: tệ dữ chưa! Liễu Tú tài nhạy miệng, lậu cơ quan rồi, để ta bắt hắn chịu, không hại tới lúa má thì thôi. Đờn bà ấy uống hết ba chén rượu rồi biến mất. Sau cào cào qua huyện bay tối trời, song có ý tránh ruộng lúa, cứ đậu theo mấy cây liễu; qua đâu liễu sạch lá còn cây không, mới biết Tú Tài là thần cây liễu. Có kẻ bàn nói là tại ông huyện có lòng lo cho dân, mơ tưởng ra như vậy.
 
62- CHUYỆN LƯU HỔ
Người Lưu Hổ tánh hung ngang, ai nấy đều chạy mặt, thêm duyên cho là cọp đội mão. Người ấy có ruộng giáp ruộng Họ Miêu. Miêu siêng không bỏ đất dư, dọc ranh trồng đào nhiều. Đào vừa già con họ Miêu qua hái, họ Lưu làm hung đuổi đi, nói là của mình. Con họ Miêu khóc chạy về mét với cha, cha sửng sốt, xảy thấy họ Lưu đã tới chưởi mắng trước cửa lại hăm đi kiện. Họ Miêu cười nói ngon ngọt, họ Lưu cũng không an lòng, còn làm mặt giận dữ bỏ ra về. Thuở ấy có người đồng ấp tên là Lý Túy Thạch làm tài phú buôn bán bên đất Nghi, họ Lưu làm đơn đem vào thành xảy gặp nhau; họ Lý ỷ quen biết hỏi đi chuyện gì? họ Lưu học lại, họ Lý cười nói: danh vọng anh, ai ai đều biết, tôi biết chắc tánh lão Miêu ít oi thiệt thà, không lẽ dám làm điều ngang ngữa, có khi là tại anh muốn trở trái làm mặt. Họ Lý nói rồi bèn xé đơn, kéo họ Lưu vào phố mà đãi rượu. Họ Lưu căm căm không hết giận, ăn cắp viết trong phố, lại tả đơn khác, giấu trong lưng, sao vậy đi kiện cho đuợc. Hồi lâu họ Miêu cũng tới nói hết tự sự, năn nỉ xin họ Lý bài giải; nói mình làm ruộng quê mùa hơn nửa đời người không thấy mặt quan, xin nói làm sao cho họ Lưu đừng kiện, một hai cây đào y không tiếc.
Họ Lý kêu họ Lưu nói họ Miêu chịu nhưỡng đào, họ Lưu cũng còn chỉ trời vạch đất chưởi mắng hết tiếng. Họ Miêu hòa hoãn ăn nói nhỏ nhoi, không dám cải một lời. Việc an rồi cách bốn năm bữa, nghe nguơi trong làng đồn họ Leu chết, họ Lý thất kinh. Sáng ngày sau, họ Lý có việc đi đàng, ngó thấy một người chống gậy mà đi tới in ai họ Lưu. Đến khi giáp mặt chào hỏi ân cần, họ Lý nói bữa trước nghe tin dữ, sao có huyễn hoặc dường ấy. Họ Lưu không nói đi nói lại, cứ nắm tay họ Lý đem về nhà mời trà rượu rồi, mới nói tiếng đồn ngày trước là thiệt. Số là ngày trước y thấy hai người tới bắt y đi tới quan; y hỏi chuyện chi? Hai người nói không biết. Y nghĩ mình ra vào cửa quan mấy mươi năm, quan quyền chi mình cũng tầng thấy, chẳng sợ lện chi, bèn đi theo tới một cái nhà thính, thấy một ngươi ngồi trở mặt hướng nam, mặt giận phừng phừng hỏi rằng: có phải họ Lưu là thằng nầy, tội ác nó dẫy đầy mà chẳng biết chừa cải, lại chiếm đoạt của người ta, tánh khí ngang tàng dường ấy, phải bỏ nó vào trong vạc. Chẳng dè có một người tra bộ nói rằng: tên ấy có một việc lành, chưa đáng tội chết. Ông ngồi trên coi bộ lại gật đầu bớt giận, dạy đưa y về đã. Các người hầu hạ đều nạt nộ đuổi y đi. Y hỏi chuyện gì mà bắt y tới, chuyện gì mà đuổi y về, xin nói cho y biết. Có một ông thơ lại ôm bộ xuống chỉ một khoản ghi rằng: đời Sùng Trinh năm thứ 13, họ Lưu có xuất tiền ba trăm cứu hai vợ chồng người kia khỏi chết đói mà được hòa hiệp. Ông thơ lại lại nói nếu không có việc lành ấy, thì ngày nay đã phải chết, lại bào thai làm súc sanh. Y sợ quá, lật đật đi theo hai người mà ra. Hai người đòi ăn lót, y nổi hành hung, nói các anh không biết Lưu nầy vào ra cửa quan đã hai mươi năm, ăn của người ta biết mấy, các anh khéo nhè cọp già mà đòi thịt. Hai người làm thinh đưa y về tới làng, rồi đứng vòng tay nói trong vụ nầy chúng tôi không uống đặng một chén rượu lạt. Hai người đi rồi, y vào nhà mà sống lại, thì chết đã hai ngày rồi.
 
63-  CON RƯỢU
Đất Trường Sơn, họ Lưu mập chắc mà có tật rượu, một lần uống hết cả ghè, nhờ có 300 mẫu ruộng giàu có, cho nên uống mấy cũng không hại gì. Có một tên thầy sãi ngó thấy ông ấy, liền nói ông ấy có bịnh kì. Họ Lưu nói mình không bịnh, thầy sãi hỏi ông uống làm vậy có say hay là không? Họ Lưu nói nhiều khi không say. Thầy sãi nói ấy là sâu rượu. Họ Lưu sợ xin thầy sãi cho thuốc. Thầy sãi nói không phải thuốc thang chi. Vậy trời đương tròn bóng, thầy sãi biểu họ Lưu phải cột tay cột hơ lại nằm sấp xuống, biểu lấy một cái bát cô tô đựng rượu ngon để trước đầu nằm cách chừng năm tấc. Hồi lâu họ Lưu thèm rượu khao khát, hơi rượu bay vào lổ mũi nực nồng, muốn uống hết sức mà uống không đặng, xảy nghe ngứa cổ quá chừng, liền có vật bò ra rớt ngay vào trong tô rượu. Việc rồi mở trói cho họ Lưu coi thì thấy có một cục thịt hồng hồng dài chừng ba tấc, cựa quậy như cá lội, có miệng có con mắt đủ. Họ Lưu thất kinh đem tiền tạ ơn, thầy sãi không chịu lấy, xin con trùng ấy mà thôi. Họ Lưu hỏi xin làm gì? Thầy sãi nói là cốt tử rượu, đựng nước vào ghè bỏ nó vô mà đánh thì hóa ra rượu ngon. Họ Lưu biểu làm thử, có quả như lời. Từ ấy họ Lưu thấy rượu thì ghét như kẻ thù, nhưng vậy càng ngày càng ốm, nhà lần lần cũng suy vi, đến đỗi nghèo khổ không có đủ mà ăn.
Sách Dị sử bàn rằng: ngày uống một hộc mà nhà không bớt giàu, đến khi không uống một đấu nhà lại mang nghèo, có phải một ăn một uống đều có định số rồi chăng?
 
64- CHÓ KHÔN
Đất Lộ An có một người mắc hàm oan ở tù gần chết, người con gop nhóp tiền bạc trong nhà được một trăm đồng, toan đi tới tỉnh mà lo cho cha. Ở nhà có nuôi một con chó mực, người con cỡi lừa mà đi, con chó lăng căng chạy theo, cố đuổi thì nó tháo lui, lừa chạy nó lại tuốt theo, đánh nó cũng không chịu trở về. Nó theo được vài mươi dặm, chủ nó xuống đi tiểu một bên đàng, vác đá quăng nó chạy trở lại. Сhủ lên lưng lừa mà đi, nó lại lóc thóc theo sau, cắn đuôi cắn cẳng lừa; chủ giận đánh, nó la nó sủa mãi, chạy vọt tới nhảy cắn đầu lừa, ra ý như không cho chủ đi. Chủ lấy làm điềm không khá, lại càng giận lắm; trở đầu lừa rượt nó chạy xa rồi mới day cương thúc lừa nhảy.
Tới tỉnh thì trời đã tối, người chủ rờ lưng thì túi bạc mất hết nữa, tháo mồ hôi, ngẩn ngơ, trằn trọc cả đêm ngủ không đặng. Sực nhớ lại lời người ta nói chó đâu có sủa lổ không, trời vừa rựng sáng, người chủ thoát ra khỏi thành, tìm kiếm dọc đàng đi, lại nghĩ đàng quan lộ người ta đi như kiến cỏ, nếu có rơi rớt tiền bạc thì chẳng lẽ còn. Đi lần lần tới chỗ xuống lừa, bèn thấy con chó nằm chết trong cỏ, mồ hôi ra lông lá ướt dầm, người chủ nắm tai con chó giở lên mà coi, thì có gói bạc dưới mình nó.       
Người chủ cám vì con chó có nghĩa, bèn mua hòm mà chôn, người ta gọi là mả chó khôn.
 
65- THẦN NÚI
Quan Đồng tri phủ Dương Châu nằm chiêm bao, thấy Thần núi đòi; Thần núi làm mặt giận, song ngước mặt lên thấy một người hầu bên Thần lại có ý hiền lành. Ông ấy thức dậy lấy làm sợ hãi, sáng ngày đi tới miễu Thần núi, thầm thỉ vái van cho khỏi Thần giận. Đến khi ông ấy ra về, xảy thấy một người bán thuốc bắc giống hệt người ông ấy thấy hồi Thần đòi, hỏi ra thì là thầy thuốc. Ông Đồng tri về tới nhà phát bịnh nặng, liền cho đi rước thầy thuốc ấy tới nhà soạn thuốc đầu thang. Chẳng dè ông Đồng tri uống thuốc hồi đầu hôm, qua tới nửa đêm thì chết.         Người ta nói vua Diêm La cùng Thần Đông Nhạc mỗi ngày sai sứ cả trai cả gái là mười vạn tám ngàn người, phân nhau đi khắp thiên hạ mà làm thuốc, gọi là sứ Câu hồn, cho nên có uống thuốc thì phải cẩn thận.
 
66- CHUYỆN THẦY THUỐC
Họ Trương vẫn là dân nghèo ở đất Nghi, đi đàng gặp một ông Đạo sĩ biết coi tài tướng đoán rằng: nhà ngươi sau sẽ nhờ một nghề mà làm giàu. Họ Trương hỏi nghề gì? Thầy Đạo sĩ nói là nghề làm thuốc. Họ Trương nói mình làm tbuốc làm sao đặng. Đạo sĩ cuời nói nhiều thầy làm thuốc có danh có phải là tại hay chữ đâu. Họ Trương về nhà túng lắm mới đi lượm đồ ngoài bãi biển đem về dọn bán giữa chợ, chung ra những là xương cá, sò hến, ổ vò vò, trau chuốc lời nói cho được kiếm cơm mà đắp đổi, mà cũng chưa lấy làm đắt. May đâu có quan Thái thú đất Thành Châu mắc bịnh ho, sức ra cho các huyện đòi thầy thuốc. Đất Nghi ở dọc núi không có mấy thầy giỏi; mà quan huyện sở tại thì sợ quan Thái thú nói không hết lòng, mới sức ra cho các làng dạy ai biết làm thuốc phải tới mà khai. Khi ấy ai nấy đều báo tên họ Trương làm thuốc giỏi, quan huyện bèn cho đòi. Họ Trương mang lấy bịnh đàm suyễn, chữa bịnh mình cũng không xong, nghe trát đòi sợ hãi không chịu đi, quan huyện không nghe, bắt trạm đưa đi. Họ Trương đi qua truông ải, khát nước chừng nào càng nổi ho nổi suyễn lên chừng ấy, ghé vào xóm xin nước mà uống; chẳng dè giữa truông khô khan nước quí giá, xin ai cũng không cho. Xảy thấy một người đờn bà rửa rau, rau nhiều nước ít, trong chậu nước đục ngàu ngàu, họ Trương khát khao chịu không đặng, bèn xin nước dơ ấy mà uống, uống vào đả khát, ho suyễn cũng hết, nghĩ trong bụng ấy là một phương hay.
Đến khi tới quận, thì thấy các thầy thuốc danh tiếng ở các huyện tới đó bày tủ hốt những thuốc tốt, mà bịnh ông Thái thú không giảm chút nào. Họ Trương vào xin một chỗ khuất tịch giả đò chế thuốc, lại truyền cho đâu đó cho người đi ra nhà quê tìm các thứ rau cỏ đem về. Anh ta lấy nước dội rửa làm như con mẹ rửa rau, rồi lấy nuớc rửa ấy đem cho ông Thái thú uống vào một chén bịnh liền đã. Ông Thái thú mầng lắm thưởng vàng bạc nhiều lại cho một tấm biển để treo trước nhà. Bỡi đó họ Trương nổi danh, người ta tới hốt thuốc chật nhà, làm đâu chịu đó không bịnb nào không lành. Thuở ấy có người đau bịnh thương hàn, cho người tới hốt thuốc, họ Trương say hốt lầm nhằm thang thuốc hạ, tỉnh rượu biết mình lầm mà không dám nói, ai ngờ cách ba bữa có người đem lễ vật tới nhà mà tạ; hỏi ra thì là người đau bịnh thương hàn, nói uống thuốc vào, trên mửa dưới tả mà khá. Cũng còn có nhiều chuyện mặc may như vậy. Từ ấy họ Trương giàu có làm thinh giá, có rước bằng kiệu, đem nhiều tiền mới chịu đi cho.
 
67- TỐNG QUỐC ANH
Tống Quốc Anh là người Đông Bình, làm tri huyện Lộ Thành tham bạo bất nhơn, thâu thuế lại càng làm dữ, đánh chết người ta nằm ghỉnh trước dinh. Xảy có Từ Bạch Sơn đi tới nba, thấy sự hung ác, trách quan huyện mà rằng: ông làm cha mẹ dân, mà làm hung dữ tới chừng ấy sao. Chẳng dè quan huyện lấy chuyện mình làm làm hay, có ý khoe khoang nói tuy mình làm quan nhỏ, đáo nhậm chưa được một trăm ngày, mà giết được năm mươi tám mạng. Cách nửa năm rồi, một bữa quan huyện đương ngồi khách, vùng trợn mắt đứng dậy, xang tay xang chơn dường như ai đánh mà đỡ, la lên nói tội tôi phải chết, tội tôi phải chết. Dịnh ông ấy vào nhà trong, cách một hồi thì chết.
Hỡi ôi! May có tào âm phủ gồm hay việc dương gian, bằng chẳng thì thâu góp càng nhiẻu, càng được vinh hiền, hại thiên hạ nói sao cho cùng.
 
68- CHÓ BIẾT CỨU CHỦ
Có một người đi buôn bán bên đất Vu Hồ, được tiền bạc nhiều mướn ghe mà về xứ sở. Xảy thấy phường làm thịt chó khiêng một con chó đi trên đàng, người ấy chịu nhiều tiền chuộc đem xuống ghe nuôi dưỡng tử tế. Chẳng dè ghe mướn ấy là ghe ăn cướp, thấy bộ hành chở tiền bạc nhiều, chèo ngay vào chỗ hóc hiểm, vác gươm ra toan làm dữ. Người ấy lạy khóc xin cho toàn thây, quân ăn cướp bèn lấy mền nỉ gói anh ta lại, cột chặt bỏ xuống sông. Con chó thấy vậy kêu la nhảy theo cắn lấy gói, hụp lên hụp xuống dưới nước, linh đinh trôi theo dòng nước một đỗi xa xa, may tới chỗ cạn cản ngang lại đó. Con chó lội lên bờ kiếm chỗ có nhà người ta, chay tới chạy lui kêu sủa tiếng buồn bực. Có kẻ lấy làm sự lạ chạy theo nó tới chỗ cạn, con chó vùng lội xuống nuớc, người chạy theo ngó ra, thì thấy một gói sùm sùm nằm trên mặt nước, liền lội ra vớt lên bờ, mở dây ra thì người bộ hành hãy còn sống, tỉnh lại nói hết sự tình, thuê ghe trở lại đất Vu Hồ cho đặng thám ghe ăn cướp. Người ấy bước chơn xuống ghe liền mất con chó, lấy làm thương tiếc quá chừng. Tới cửa Vu Hồ ba bốn ngày, thuyền đậu chật sông mà không thấy chiếc ghe ăn cướp. Tình cờ con chó ở đâu chạy tới, ngó thấy chủ liền la lên dường như kêu chủ đi, chủ theo nó chạy tới trước. Con chó nhảy lên ghe lạ, cắn cứng ống chơn người dưới ghe, đánh không nhả, chủ nó lại gần la lên; té ra người nó cắn là đứa ăn cướp bữa trước, nó thay quần đổi lốt đi qua ghe khác cho nên khó nhìn. Bắt ép tên ấy trói lại, xét trong mình nó, thì vàng bạc nó ăn cướp hãy còn.
Ấy là chó mà còn biết trả ơn, những người đen bạc không biết liêm sĩ cũng phải hổ cùng nó dường nào!




0