51- LIỄU SANH
Châu Sanh ở Тhuận Thiên vốn là dòng dõi con quan, làm anh em bạn thiết với Liễu Sanh. Liễu Sanh học đặng phép coi tướng, thường nói với Châu Sanh rằng: anh không có số làm quan, song về sự làm giàu, dùng sức người lo cũng đặng, ngặt vì chị ở nhà xấu tướng, không lẽ giúp anh làm nên nghiệp lớn. Chẳng khỏi bao lâu người vợ chết, sự nghiệp hết. Châu Sanh nghèo lắm mới tới Liễu Sanh xin bói một chỗ khá khá mà chắp nối. Châu Sanh vào nhà ngồi lâu lắc, Liễu Sanh không ra mặt, kêu hai ba lần mới ra mà nói rằng: tôi có ý lừa lọc kiếm một chỗ tử tế cho anh, hôm nay mới được, tôi mắc vái bà nguyệt xe chỉ đỏ, cho nên mới chậm ra. Châu Sanh mầng hỏi. Liễu sanh rằng: khi nảy có một người xách túi đi ngang qua anh có thấy không? Châu Sanh nói rằng: có, mà coi ra con người rách rưới như ăn mày. Liễu Sanh nói ấy là ông gia anh đó, không nên khinh dễ. Châu Sanh nói: đặt ra đã làm anh làm em với nhau, diễu cợt nhau làm chi, tuy tôi nghèo, anh cũng biết dòng dõi tôi thế nào, lẽ đâu phải đày đọa như vậy. Liễu Sanh nói: cha mẹ cú đẻ con tiên. Châu Sanh hỏi: mà anh có thấy con lão không? Liễu Sanh nói: chưa thấy, chưa biết, đầu lạ, lâu cũng quen. Châu Sanh cưòi nói chưa biết cha mà biết con làm sao đặng? Liễu Sanh nói: tôi cứ số tôi nói, người ấy hung dữ xấu xa, mà đứa con gái lại có phước đức lớn; nếu làm ngang mà cưới bây giờ sau phải nạn to, để cho tôi giải cứu đã.
Châu Sanh về nhà không tin lời anh em bạn, đi coi vợ khắp xứ mà không gặp một người. Một bữa Liễu Sanh tới thình lình mà nói rằng: tôi có mời một người tới, anh phải sắm sửa dọn đồ chi mà uống rượu. Châu Snh không biết là ai, tới việc gì, cũng lật đật đi sắm đồ ăn. Hồi lâu có một người tới, hỏi ra là họ Phó, là một tên lính ở trại. Сhâu Sanh bằm bột gượng gạo chào mầng, mà Liễu Sanh thì có ý cung kính khiêm nhường. Trà nước rồi liền dọn đồ uống rượu, mà lại xen đồ rau cỏ khó coi. Liễu Sanh lật đật đứng dậy thưa rằng: anh tôi nghe tiếng cậu, hoài vọng cậu lâu ngày, có cậy tôi hỏi thăm, lại nghe cậu nay mai đi trẩy, vội vả mời nhau, cho nên dọn dẹp cũng có sơ sài không được kĩ càng. Đương lúc ăn uống, họ Phó nói sợ ngựa bịnh cỡi không đặng, Liễu Sanh ghé đầu lại nói nhỏ chịu lo giùm. Đến khi khách về, Liễu Sanh trách Châu Sanh rằng: ngàn vàng mua không đặng một người bạn hữu như vậy, anh đãi đằng chi lếu láo! Liễu Sanh nói rồi liền cỡi ngựa theo họ Phó, mượn đều nói Châu Sanh biểu đem ngựa qua cho. Châu Sanh hay đặng lấy làm bất bình.
Qua năm sau Châu Sanh tính sang Giang Tây vào ở nhà lơ bên án, bèn tới nhà Liễu sanh cậy bói một quẻ, Liễu Sanh nói quẻ tốt lắm. Châu Sanh cười, nói tôi cũng còn một ít chục quan tiền, tôi đi đây là có ý kiếm vợ tử tế, họa may lời anh nói trước có mất linh đi chăng. Liễu Sanh nói: mặc ý anh. Đến khi Châu Sanh đi tới Giang Tây, gặp giặc lớn, ba năm không về đặng. Sau giặc vừa yên, Châu Sanh cất gánh ra về giữa đàng bị giặc bắt. Có bảy tám người cũng bị bắt một lượt, quân giặc lấy hết đồ thả đi, bắt có một mình Châu sanh đem tới chỗ ở. Chủ trại hỏi gia thế Châu Sanh rồi mới nói: min có một con gái, min muốn gả cho, nhà ngươi chớ từ. Châu Sanh làm thinh. Chủ trại giận dạy đem chém bêu đầu. Châu Sanh sợ nghĩ trong mình thà chịu đở, lục thục rồi sẽ bỏ, bèn thưa với chủ trại rằng: kẻ thơ sanh giùn dằng là vì con nhà học trò yếu đuối không sức theo việc chinh chiến, lại làm cực cho ông; nbư ông cho chúng con làm vợ chồng lại đặng phép đem nhau đi, thì ơn ông trọng lắm. Chủ trại nói rằng: min đương lo thứ con gái hay làm bận, như tình nguyện đem nhau đi, sao min không cho. Chủ trại nói rồi liền đem Châu Sanh vào nhà trong, biểu con gái ăn mặc tử tế ra chào, trạc được mười bảy mười tám tuổi xinh tốt đẹp đẽ. Đêm ấy làm lễ hiệp cẩn, Châu Sanh lần hỏi tên họ, mới biết cha con gái ấy là người mang túi năm trước, nhắc tới chuyện Liễu Sanh nói, đều lấy làm khen ngợi. Cách ba bốn bữa chủ trại đương sắm sửa đưa con ra đi, chẳng dè quan binh ùn ùn kéo tới, cả nhà đều bị trói. Có ba ông quan võ giám sát đem vợ chồng chủ trại chém lần. Tới Châu Sanh hồn vía mất hết, may có một ông chăm chỉ ngó Châu Sanb mà hỏi rằng: có phải là Châu Sanh đó không? Té ra ông quan ấy là tên lính Liễu Sanh mời ăn năm trước, đánh giặc có công làm tới bậc phó tướng quân. Ông ấy nói với các quan rằng: nầy là người ở một làng với tôi, cũng là con cháu nhà quan, chẳng lẽ nó đi làm giặc. Ông ấy nói rồi liền dạy mở trói, hỏi duơn do làm sao mà đi đến đó, Châu Sanh thưa khéo rằng: tôi qua Giang Tây cưới vợ về dọc đàng rủi bị giặc bắt cầm, may nhờ ơn cứu chữa, tôi cám đội bằng ơn tái tạo; nhưng vậy vợ tôi chưa biết đi đâu, nhờ lượng quan trên cho chúng tôi hiệp mặt. Quan phó tướng quân dạy dẫn những người bị bắt đứng sắp hàng, biểu Châu Sanh nhìn lấy vợ, rồi đó ông ấy cho ăn uống cấp tiền bạc mà nói rằng: trước nhờ ơn để ngựa, ngày đêm tôi chẳng dám quên, nay trong lúc giặc giả chẳng biết lấy chi làm tình: ngựa hai con, vàng ròng năm mươi lượng đưa cậu về đường. Ông phó tướng lại cho hai tên mã kị hộ tống đàng khác. Châu Sanh lập thế lấy cốt cha mẹ vợ chôn cất xong xuôi, về tới nhà thì sự nghiệp tang hoang, hỏi thăm thì Liễu Sanh đã đi đâu mất. Vợ giỏi lo việc cửa nhà, buôn bán ít năm làm giàu có lớn.
52- CHUYỆN HƯỚNG KlỀU
Hướng Kiều là nguời Thái Nguyên, ở với anh rất thảo thuận. Người anh tên là Thịnh trò chuyện với một con đỉ tên là Ba Tư, cắt tóc thề nguyền sống thác không bỏ nhau, mà bởi mẹ Ba Tư đòi tiền nhiều, hóa ra việc không rồi. Chẳng dè mẹ Ba Tư toan cải nghiệp, cho con về trước. Xảy có một vì Công tử họ Trang có tình với Ba tư, xin chuộc nó về làm hầu thiếp. Ba Tư thưa với mẹ rằng: nay mẹ con ta muốn xa chốn nước lửa, ấy là muốn thoát địa ngục mà lên thiên đàng; như phải làm hầu thiếp, thì có khác chi nghề bán dạng mua vui; dầu mẹ không nghe lời, con xin kết tóc với Hướng Thịnh mà thôi chớ. Mẹ chịu, nói cho Hướng Thịnh hay. Thuở ấy Hướng Thịnh chích đôi chưa có nơi chắp nối, nghe nói lấy làm mầng rỡ, xuất hết gia tài cưới Ba Tư đem về. Công tử Trang hay đặng, oán Thịnh sao có giành chỗ mìh yêu, tình cờ gặp Thịnh giữa đàng bèn chưởi mắng. Thịnh nói đi nói lại, Công tử xúi quân tùy tùng đánh chết Thịnh, bỏ thây mà đi. Kiều hay đặng chạy tới thì anh đã chết rồi, và thương và giận liền tới tỉnh mà kiện. Công tử Trang lo lót khắp chỗ, Kiều kiện không nổi, tức mình không biết làm sao, toan kiếm chỗ éo le rình mà giết Công tử Trang cho lại gan. Mỗi bữa Kiều cứ cắp gươm núp trong bờ bụi, chờ Công tử đi qua mà thích khách. Lâu ngày Công tử hay đặng, mỗi khi đi chơi thường đem khí giái dự phòng, lại nghe bên đất Phần Châu có tên Tiêu Đồng mạnh bạo mà lại bắn hay, liền đem nhiều tiền bạc rước Tiêu Đồng làm chơn tay. Kiều làm chi không đặng, song cũng cứ việc rình mò. Một bữa Kiều đương núp trong cỏ, xảy mưa lớn mình mẫy ướt hết, lạnh lẽo quá chừng, rủi thì nổi gió lớn trời lại sa mưa đá đổ xuống mình rát rao đau đớn chịu không nổi, sực nhớ trên núi có một cái miễu, lật đật chạy lên, vào miễu thì thấy có thầy đạo sĩ quen. (Số là thầy đạo sĩ thường đi xin ăn trong làng, Kiều có cho ăn, cho nên mới biết nhau). Thầy đạo sĩ thấy Kiều mình mẫy ướt dầm, bèn lấy áo vải rộng trao cho Kiều mặc mà nói rằng: nhà ngươi lấy áo này mà thay đở. Kiều thay áo ngồi xo ro như chó, ngó trong mình thì thấy lông lá mọc ra, hóa ra một con cọp, mà thầy đạo sĩ thì đi đâu mất không thấy đó nữa. Kiều và sợ và tức, nghĩ lại trong mình như đuợc kẻ thù mà ăn gan thì cũng là một chước hay; vội vàng chạy xuống chỗ núp, thì thấy thây mình nằm trong cỏ, mới biết thân trước đã chết rồi, sợ quạ quạ, kên kên ăn, cứ giữ chung quanh. Qua ngày sau công tử Trang đi ngang qua đó, cọp vùng nhảy ra chụp Công tử tại trên ngựa, kéo xuống cắn nát đầu, tên Tiêu Dồng giương cung bắn trúng bụng cọp ngã ra cũng chết. Trong lúc hoảng hốt, Kiều sực tỉnh lại như chiêm bao, cách một đêm mới đi được, gắng gượng về nhà. Người nhà thấy Kiều đi cả đêm ngày không về, lấy làm lo sợ, đến khi thấy mặt Kiều thì mầng rỡ hỏi han, Kiều cứ việc nằm dài nói không ra tiếng. Một hồi nghe tin Công tử bị cọp bẻ cổ, ai nấy đều tới mầng cho Kiều. Kiều mới nói cọp ấy là mình, nhơn học lại các chuyện lạ lùng. Con Công từ đau lòng vì cha chết, nghe chuyện Kiều, giận lắm, liền đi thưa, quan sở tại nói là việc đặt để quái gỡ không có bằng cớ, không chịu tra xử.
53- CHỊU ÁN OAN
Châu Sanh là người ở đất Dương Cốc, nhỏ trai lanh lợi hay diễu cợt, vợ mất sớm toan bề chắp nối, cậy một bà già đem mối. Xảy thấy lối xóm có một đứa con gái lịch sự mà có chồng, bèn nói chơi với mụ mai rằng: tôi thấy lối xóm bà ở có một đứa đẹp lắm, bà có đem mối, phải được như chỗ ấy thì tôi mới ưng. Mụ mai cũng nói chơi rằng: cậu muốn, thì cậu phải giết chồng nó trước rồi tôi sẽ tính cho, Châu Sanh cũng ừ bướn chơi. Cách đâu hơn một tháng, chồng con gái lịch sự ấy đi đòi nợ, rủi thì bị chúng giết bỏ thây ngoài đồng. Quan huyện bắt làng bàng cận tấn khảo hết cách cũng không ra mối. Chẳng dè mụ mai thèo lẻo học đi học lại những tiếng nói chơi. Ai nấy đều nghi cho Châu Sanh, quan huyện bắt Châu Sanh tra hết sức không ra sự chi, lại nghi cho con lịch sự ấy tư thông với Châu Sanh, liền cho bắt tới tấn khảo gần chết, con lịch sự ấy túng phải chịu có tư thông. Tấn Châu Sanh, Châu Sanh la lên nói: đờn bà sức lực bao nhiêu, hễ đau chơn thì há miệng, như để cho người ta chết oan lại mang tiếng xấu, dầu quỉ thần không hay, lòng tôi đầu nỡ; thôi để tôi xưng ngay, thiệt giết người mà lấy vợ người, thì là việc tôi làm, con ấy không hay biết chi sốt. Quan huyện hỏi lấy chi làm bằng? Châu Sanh nói áo tôi còn vấy máu. Quan huyện sai quân đi soát nội nhà không thấy chi, lại tấn Châu-Sanh chết đi sống lại đôi ba hiệp. Châu Sanh kiếm đều nói rằng: tại mẹ tôi sợ tôi chết cho nên không chịu đưa áo ra, xin dẫn tôi về tồi lấy. Châu Sanh về tới nhà nói với mẹ rằng: mẹ đưa áo tôi tôi cũng chết, không đưa thì tôi cũng chết, đưa ra mà chết cho mau, chẳng thà để mà cầm cơ. Người mẹ khóc vào nhà một hồi đem áo ra đưa cho con. Quan huyện xét dấu máu rõ ràng, bèn làm án chém Châu Sanh. Án đưa lên quan trên bác hoài, thẩm hoài, Châu Sanh cũng chịu một bề. Cách hơn một năm mới định ngày xử. Quan huyện đương nghi sợ trong lòng, xảy có một người đi thẳng vào công đường, trợn con mắt lên mắng quan huyện rằng: thấp trí như vậy mà trị dân làm sao đặng. Hai ba mươi lệ xốc vào bắt, người ấy vừa giang tay ra, bao nhiêu quân lệ đều ngã lăn. Quan huyện sợ hòng chạy trốn, người ấy nói lớn tiếng mà rằng: ta là Châu Thương làm chức tướng quân hầu gần ông Quan Đế; quan huyện muốn chạy thì ta giết ngay. Quan huyện run sợ thất sắc, nghe người ấy nói: đứa giết người là thằng Cung Tiêu, tên Châu này có tội gì. Người ấy nói rồi liền ngã ra, chết giả một hồi lâu mới sống lại, mặt mày không còn sắc người; đến khi hỏi tên nó thì nó xưng là Cung Tiêu. Quan huyện bắt đánh nó chịu xưng ngay.
Số là tên Cung Tiêu ấy, bình nhựt hay đi ăn cướp, ngày kia hay người chồng con gái đi đòi nợ về, trong ý tưởng trong lưng người ấy làm sao cũng có bạc, té ra giết rồi lục lưng người ấy không có một đồng. Sau nghe tên Châu chịu tội, thì cũng lấy làm mầng; còn ngày ấy mình vào chốn công môn cũng không biết là ai khiến vào.
Quan huyện hỏi Châu Sanh áo vấy máu ở đâu mà ra, Châu Sanh cũng không biết. Quan huyện cho đòi bà mẹ, thì bà mẹ nói máu ấy là máu cánh tay bà ấy thoa vào. Nghiệm bên cánh tay tả bà ấy thì lằn dao cắt chưa lành, quan huyện sửng sốt, sau vì án ấy bị cách chức, thục tội chưa xong mà chết. Cách hơn một năm mẹ chồng con gái ấy cho dâu cải giá; con dâu cám vì Châu Sanh có nghĩa, bà mẹ bèn gả cho Châu Sanh.
54- CHUYỆN CON THẢO
Đất Thanh Châu có tên Châu Thuận Đình, ở với mẹ rất hiếu thảo. Cổ vế mẹ phát một cái ung độc, đau đớn quá chừng, ngày đêm rên xiết. Châu Thuận xăng văng lo chạy thuốc thang, đến đổi quên ăn quên ngủ; mấy tháng cũng không lành, lấy làm phiền muộn không biết làm sao mà cứu mẹ. Một bữa y mơ màng thấy cha về mà bảo rằng: mẹ con đau thiệt nhờ con, song chỗ ghẻ ấy phải có mỡ người ta xức mới lành, bằng chẳng thì nhọc thân con lo lắng mà chớ. Châu Thuận thức giấc lây làm kì, vội vàng đi lấy dao cắt thịt sườn mình rớt xuống mà không biết đau cho lắm, lật đật lấy vải ràng rịt chỗ dao cắt mà máu cũng không chảy. Rồi đó y đi rán mỡ xức cho mẹ, mẹ hết đau, mầng hỏi thuốc gì mà linh nghiệm dường ấy. Châu Thuận kiếm đều nói dối, mà chỗ ung độc lần lần nhóm mệng lành trơn. Châu Thuận cứ lấy vải ràng buộc chỗ cắt, dẫu vợ con cũng không hay; khi chỗ ấy lành thì thấy dấu cắt bằng bàn tay, vợ hỏi lắm mới nói thiệt.
Sách Dị sử bàn rằng: cắt thịt mình là hại mạng mình, người quân tử chẳng lấy làm hay, song kẻ ngu nào biết sự hại mình là bất hiếu, cũng là làm cho hết lòng mà thôi.
55- CHUYỆN NGƯỜI BÁN VẢI
Có một người bán vải tới đất Thanh Châu thấy một cái chùa hoang, vào coi thì chùa rách vách nát, lấy làm thảm thiết. Có tên thầy sãi đứng gần nghe tiếng than thở, bèn nói rằng: phải chi bổn đạo có lòng sùng tu chùa lại, thì Phật, ngài cũng được ấm cúng rỡ ràng. Tên bán vải đam lòng mạnh mẽ xin chịu tu bổ, tên thầy sãi mầng mời vào phương trượng đãi trà nước bỉ bàn, rồi lại chỉ cả nhà trong ngoài xin phải tu bổ cho cùng. Tên bán vải nói sức một mình làm không nổi, tên thầy sãi nổi hung, nói xẳng tiếng biểu tên bán vải làm sao cũng phải rán. Tên bán vải sợ xin chịu, liền mở gói, nội mình có bao nhiêu tiền bạc đều giao cho thầy sãi mà đi. Tên thầy sãi cản lại mà rằng: thế nhà ngươi bất bình, có bao nhiêu bỏ lẩy lại cho ta, chi bằng ta ra tay trước. Nói rồi liền xách gươm ra, tên bán vải khóc lạy xin tha, thầy sãi không nghe; túng lắm tên bán vải xin thắt cổ cho toàn thân, tên thầy sãi cho, biểu vào trong phòng tối, hối thắt cổ cho mau. Chẳng dè có một ông quan tướng đi ngang qua chùa, thấy có một đứa con gái bận quần đỏ, chun theo lổ vách tường mà vào chùa, phát nghi dừng ngựa lại, cho quân vào soát trong chùa không thấy chi cả, tới một cái phòng thấy cửa khóa bịt bùng, biểu thầy sãi mở; thầy sãi nói trong ấy yêu quái nhiều không chịu mở. Quan tướng thạnh nộ dạy quân phá cửa, thì thấy một người chết treo tòn ten trong phòng, đem xuống cứu một hồi tỉnh lại, hỏi sự cớ làm sao, người ấy thưa hết đầu đuôi. Quan tướng đánh hỏi thầy sãi con gái ấy là ai ở đâu, thì thiệt không có; té ra là Thần, Phật hiện mà cứu người ngay. Quan tướng chém đầu tên thầy sãi, còn tiền bạc bao nhiêu đều trả lại cho tên bán vải, tên bán vải cám vì Thần Phật linh thiêng, lo quyên góp sửa chùa ấy lại tử tế.
56- CÙ DỤC
Có một người nuôi chim bát ca dạy đủ tiếng nói, đi đâu cũng không rời con chim. Một bữa qua đất Phong Châu, đem chim theo, lở đàng thiếu tiền ăn, người ấy lấy làm lo buồn, con chim vùng nói rằng: sao không bán tôi đi, bán tôi được thì chẳng lo chi tiền ăn. Người nuôi chim nói rằng: tao không nỡ bán mầy. Con chim nói không can chi, chủ lấy tiền rồi phải đi cho chóng, qua bên phía tây khỏi thành hai mươi dặm, tới chỗ cây cao thì đợi tôi. Người nuôi chim nghe đặng đem chim vào thành và đi và nói chuyện, ai nấy đều theo mà coi. Xảy có người trong nội thấy sự lạ chạy về tâu vua, vua liền cho đòi chủ chim hỏi mà mua, chủ chim thưa rằng: kẻ tiểu nhơn nuôi chim mến tay mến chơn, đi ở không lìa nhau, dầu túng cũng không đành bán. Vua hỏi chim muốn ở lại hay là muốn đi theo chủ? Con chim thưa rằng: muốn ở lại. Vua mầng; con chim lại nói trả chừng mười đồng mà thôi, chớ trả chi cho nhiều. Vua lại càng mầng hơn, hối cấp đủ mười đồng; chủ chim làm bộ giận dữ, lấy tiền quày quả ra đi. Vua nói chuyện chơi, con chim trình thưa bặt thiệp, vua dạy đem thịt cho nó ăn. Chim ăn rồi liền đòi đi tắm. Vua dạy lấy chậu vàng múc nước, mở cửa lồng cho nó ra tắm. Chim tắm rồi bay lên mái nhà đứng rỉa lông, nói chuyện với vua dẳng dỏi. Ráo lông rồi nó xoè cánh ra nhảy nhót, nói tôi đi nhé. Chưa kịp ngó, nó đà bay mất, vua cùng nội thị ngữa mặt than tiếc, hối đi kiếm chủ chim thì cũng không thấy. Sau có người qua Tần, thấy người ấy bồng con chim dạo chơi tại đất Tây An.
37- DIÊM LA
Đât Lai Vu có một ông tú tài tên là Lý Trung Chi, bổn tánh ngay thẳng không chịu dua nịnh, cách năm bảy bữa thì chết một lần, nằm trơ như khúc gỗ, ba bốn ngày mới sống lại, người ta gọi là
tẩu vô thường. Có kẻ hỏi chết xuống như vậy có thấy giông gì, thì ông ấy giấu không chịu nói. Thuở ấy trong làng có tên Trương Sanh cũng hay đi âm phủ, ít ngàỵ đi một lần, về nói ông Lý Trung Chi làm vua Diêm La, y xuống đó cũng làm việc một tào, đền đài liển đối làm sao y nói được hết. Người ta hỏi: vậy chớ ông Lý Trung Chi bữa nọ xuống âm phủ làm gì? Trương Sanh nói: không lẽ học cho hết chuyện, ông ấy xuống đó thì thấy đem Tào Tháo ra tấn hai ba chục roi.
Sách Dị sử bàn rằng: án Tào A Man tưởng đã qua tay mấy chục ông Diêm La rồi, mà mấy ngàn năm còn chưa nhứt định thì là làm sao, có phái là tù tử chém mau thì lấy làm khoái, cố ý để cho người cầu chết, mà chết không đặng chăng.
58- CHUYỆN THƯƠNG TAM QUAN
Thành Gia Cát có tên Thương Sĩ Võ, vốn là con nhà học trò, bỡi say sưa xúc phạm ông Phú trưởng giả xúi đầy tớ đánh chết. Tên Võ có hai đứa con trai, là tên Thần, tên Lễ, lại một đứa con gái nhỏ tên là Tam Quan tuổi vừa 16 đã có nơi đi hỏi, mà bởi cha chết cho nên việc trở ra. Hai anh đi kiện lâu lắc không thấy xử, bên trai cho mai dong qua xin cho phép cưới, người mẹ chịu cho, con Tam Quan không nghe mà rằng: cha tôi chết chưa chôn, mà đi làm lễ cuới, thì bên ấy không có cha mẹ hay sao? Bên trai nghe đặng không dám dở chuyện ra nữa. Mãn năm, hai anh kiện thua trở lộn về, cả nhà đều tức tối, tính quàng thây cha lại để mà kiện nữa. Con Tam Quan nói rằng: cha mình bị giết rõ ràng, mà kiện không đặng, thì chã còn nói chi việc đời, cũng chẳng lẽ ông trời lại sinh riêng một ông Bao Công cho anh em mình đâu! Để quan cữu cha bộc lộ thì sao cho an lòng. Hai anh nghe đặng bèn chôn cha, việc rồi đêm ấy con Tam Quan trốn đi mất. Mẹ sợ bên trai hay đặng, không dám nói cho trong họ hay, một biểu hai con hỏi dò tin tức, quá nửa năm không ngbe tin chi cả. Thuở ấy ông Phú trưởng giả ăn ngày sanh, đòi nhà trò tới hát. Bầu gánh nhà trò tên là Tôn Thuần đem hai đứa qua chơi, đứa thứ nhứt tên là Vương Thành nhan sắc tầm thường, mà tiếng ca thanh bai, ai cũng khen; đứa thứ hai tên là Lý Ngọc hình dung yểu điệu như con gái, biểu ra giữa mà ca, thì tiếng ca sông sít, ép nó lắm thì nó hát như giọng con nít đưa em. Cả tòa đều cười, tên Tôn Thuần xấu hổ thưa với chủ rằng: thằng ấy mới học chưa giỏi, nó biết có một việc dâng rượu mà thôi, xin các ông chớ trách. Khi ấy mới biểu Lý Ngọc dâng rượu, Lý Ngọc lanh coi theo ý chủ, hầu rót nhặm lẹ, chủ ưng bụng, tiệc rồi cầm nó ở lại. Lý Ngọc lo lắng dọn giường, cổi giày, làm việc hết lòng; chủ say có nói giởn chơi, Lý Ngọc chúm chím cười, chủ lại càng mê hơn nữa, đuổi tôi tớ đi hết, để một mình Lý Ngọc hầu hạ trong phòng. Ngọc đợi mấy đứa tôi tớ đi rồi, liền đóng cửa khóa chặt. Hồi lâu nghe tiếng động trong nhà khách, có một đứa đầy tớ lén lại dòm, thấy tối đen như mực, mà cũng không nghe động dạng. Nó vừa xây lưng, xảy nghe giống gì rớt xuống một cái nặng, nó liền lên tiếng hỏi, cũng không ai thưa; nó mới hô lên, mấy đứa tôi tớ đều chạy lại phá cửa vào, thì thấy chủ nhà đầu mình đứt hai nơi. Lý Ngọc thì thắt cổ đứt dây té xuống đất, coi trên rượng, trong cổ hãy còn mối dây. Chúng nó thất kinh báo vào nhà trong, ai nấy tựu tới không hiểu cớ sự làm sao, khiêng thây Lý Ngọc ra ngoài sân, mới hay giày vớ nó lỏng lẻo như không có chơn, mở ra thì là guốc móc quả là con gái. Liền cho kêu Tôn Thuần mà hỏi, Tôn Thuần sửng sốt nghẹn ngào, nói rằng: tháng trước tên Ngọc tới xin làm học trò, vốn thiệt không biết nó là người ở đâu. Coi trong mình nó còn bận đồ tang, thì nghi nó là thích khách bên họ Thương, mới phát đơn đi kiện. Quan phủ đòi tên Thần, tên Lễ tới hỏi, thì hai người khai rằng: có một đứa em gái mà nó đi mất đã nửa năm, không hay không biết chi tới việc ấy. Quan phủ dạy hai người đi nhìn thì quả là Tam Quan. Quan phủ lấy làm lạ, dạy hai người anh lảnh thây em đem về mà chôn, lại dạy bên nhà giàu chẳng nên thù oán.
59- CHUYỆN ÔNG TẾ VÕ KHI CÒN NHỎ
Ấp Hương Đàng có quan Thái sử tên là Tế Võ, thuở còn nhỏ đi theo một người bà con vào chùa mà chơi. Ông Thái sử tuy còn con nít mà mạnh mẽ gan dạ, thấy tượng quỉ trong chùa nanh vút, con mắt sáng như lưu ly mà to, ông ấy lén thò tay móc tròng lộn lưng đem về. Khi về tới nhà thì người bà con phát bịnh nặng, một hồi chờ dậy la lên mà rằng: làm sao mà khoét con mắt tao! Người ấy kêu la hoảng bốt, ai nấy không biết đàng rờ. Ông Thái sử nói ra, ngirời nhà xúm lại vái, nói rằng: con nít dại dột khuấy chơi, chúng tôi xin hoàn lại. Người ấy nghe được nói lớn tiếng mà rằng: ừ, có trả lại thì ta mới đi, nói rồi liền ngã giụi xuống, giây lâu mới tỉnh. Hỏi ra thì người ấy không biết không hay chi cả. Người nhà phải đem con mắt ấy tới chùa nhận lại như cũ.
Sách Dị sử bàn rằng: Vẫn là nộm đất, mà biết đi đòi con mắt, thì cũng là linh ; nhưng vậy móc tròng là ông Thái sử, nhơn sao lại giận lây tới người đi chơi chung, có phải ông kia sang trọng mà lại vững vàng, thần hãy còn kiêng, phương chi là quỉ.
60- CHUYỆN NGƯỜI CAO LỚN
Ông Hiếu Liêm ở đất Trường Sơn, tên là Lý Chất qua đất Thanh Châu, đi dọc đàng gặp sáu bảy người nói tiếng giống người nước Yên. Coi bên má thì mỗi người đều có vít lớn bằng đồng tiền. Ông ấy lấy làm lạ mà hỏi, mấy người khách học lại: năm trước đi Vân Nam, trời tối lạc đàng đi vào trong núi, nhằm vực sâu đá chập chồng không có đàng ra; giữa vực có một cây lớn có dây dài thòng thòng xuống đất, nhành lá sum sê hơn một mẫu đất. Mấy người cùng đường mới cột ngựa, mở gói dựa theo gốc cây mà nghỉ. Canh khuya nghe những tiếng hùm beo, chim chóc dậy rừng, mấy người đều ngồi xúm xít không dám ngủ. Xảy thấy một người cao lớn non non một trượng, mấy người nằm nép không dám thở. Người cao lớn tới bắt ngựa mà ăn, sáu bảy con ngựa ăn ráo một hồi, rồi thì giựt dây thòng thòng nắm đầu mấy người xỏ ngang qua mép như xỏ cá, xách đi lểng kểng một dọc. Đi ít bước dây rắc rắc muốn đứt, người cao lớn sợ đứt rớt, mới xấp co hai mối dây lại, lấy một cục đá lớn dằn lên bỏ đó mà đi. Mấy người coi vọi nó đi xa, mới lấy dao giắt cắt dây rút ra mà chạy. Chạy mới đặng ít bước, thấy nó lại dắt một người nữa tới, mấy người sợ nằm núp trong bụi; nhìn người mới ấy lại dị thường hơn nữa, đi tới gốc cây rảo qua rảo lại dường như tìm kiếm giống chi mà không được, rồi thì kêu hú như tiếng chim, coi ý giận người kia gạt, giơ tay vả mặt người kia cũng chịu không dám nói gì, rồi thì đem nhau đi. Mấy người sảng sốt trốn qua chỗ rậm, ngó thấy thắp thoảng trên núi có lồng đèn, vùng chạy lên. Đến nơi thì thấy một người trai ở trong nhà đá, mấy người vào lạy, học các chuyện gian khổ. Người trai ấy đỡ dậy, dạy ngồi và nói rằng: tôi cũng tức mình không sức kềm chế vật quái ấy, đợi em gái tôi về sẽ hay. Hồi lâu có một nàng con gái gánh hai đầu hai con cọp, hểu hểu trở về, hỏi mấy người sao mà lên đặng. Mấy người chạy lại xá, thưa hết nguyên do. Nàng ấy nói tôi nghe đã lâu, mà không dè nó hung tợn tới chừng ấy, tôi phải trừ nó bây giờ không lẽ dung. Nói rồi nàng ấy vào nhà lấy một cây roi đồng nặng ba bốn trăm cân, vụt ra đi mất. Người trai làm thịt cọp cho mấy người ăn, thịt chưa chín nàng ấy đã trở về mà nói rằng: nó thấy tôi nó muốn trốn, tôi theo vài mươi dặm đường, đánh nó rụng hết một ngón tay. Liền quăng ngón tay xuống đất, lớn bằng bắp chơn, mấy người thất kinh hỏi tên họ, nàng ấy không chịu nói. Một chặp thịt chín, khách đều đau mép không ăn, nàng ấy lấy thuốc bột rắc cho mỗi người đều hết đau. Rồi đó nàng ấy đưa khách tới chỗ gốc cây thì những đồ hành lý hãy còn. Mỗi người lảnh gói ra đi hơn mười dặm, qua nhằm chỗ đánh lộn ban đêm, nàng ấy chỉ cho mấy người coi, thì thấy máu đọng vũng trong vực đá, độ chừng một chậu; ra khỏi núi nàng ấy mới từ biệt mà trở lại.
61- LIỄU TÚ TÀI
Rốt đời Minh tại đất Thanh Châu, Diễn Châu, cào cào sanh ra nhiều lắm, lần lần qua Đất Nghi. Quan huyện sở lại lấy làm lo sợ, nằm ngoài nhà khách mơ màng thấy Liễu Tú Tài đội mão cao, mặc áo xanh, hình thù phốp pháp tới viếng, xưng mình có phép trừ cào cào. Ông huyện hỏi phép gì? Liễu Tú Tài nói sáng ngày bên đàng tây nam có người đờn bà cỡi con lừa cái lớn bụng, thì là thần cào cào, ông phải xin đờn bà ấy cứu thì khỏi. Quan huyện lấy làm lạ, sáng ngày sắm lễ vật ra phía nam chực một hồi, quả có một người đờn bà bới tóc cao, mặc áo vải rộng cỡi lừa xăm xăm qua bên bắc. Quan huyện thắp nhan rót rượu đón lạy bên đàng, nắm lừa không cho đi. Người đờn bà hỏi muốn làm gì? Quan huyện năn nỉ nói huyện hạt tôi chẳng bao lớn, xin bà làm phước cứu cho khỏi miệng cào cào. Người đờn bà nói: tệ dữ chưa! Liễu Tú tài nhạy miệng, lậu cơ quan rồi, để ta bắt hắn chịu, không hại tới lúa má thì thôi. Đờn bà ấy uống hết ba chén rượu rồi biến mất. Sau cào cào qua huyện bay tối trời, song có ý tránh ruộng lúa, cứ đậu theo mấy cây liễu; qua đâu liễu sạch lá còn cây không, mới biết Tú Tài là thần cây liễu. Có kẻ bàn nói là tại ông huyện có lòng lo cho dân, mơ tưởng ra như vậy.
62- CHUYỆN LƯU HỔ
Người Lưu Hổ tánh hung ngang, ai nấy đều chạy mặt, thêm duyên cho là cọp đội mão. Người ấy có ruộng giáp ruộng Họ Miêu. Miêu siêng không bỏ đất dư, dọc ranh trồng đào nhiều. Đào vừa già con họ Miêu qua hái, họ Lưu làm hung đuổi đi, nói là của mình. Con họ Miêu khóc chạy về mét với cha, cha sửng sốt, xảy thấy họ Lưu đã tới chưởi mắng trước cửa lại hăm đi kiện. Họ Miêu cười nói ngon ngọt, họ Lưu cũng không an lòng, còn làm mặt giận dữ bỏ ra về. Thuở ấy có người đồng ấp tên là Lý Túy Thạch làm tài phú buôn bán bên đất Nghi, họ Lưu làm đơn đem vào thành xảy gặp nhau; họ Lý ỷ quen biết hỏi đi chuyện gì? họ Lưu học lại, họ Lý cười nói: danh vọng anh, ai ai đều biết, tôi biết chắc tánh lão Miêu ít oi thiệt thà, không lẽ dám làm điều ngang ngữa, có khi là tại anh muốn trở trái làm mặt. Họ Lý nói rồi bèn xé đơn, kéo họ Lưu vào phố mà đãi rượu. Họ Lưu căm căm không hết giận, ăn cắp viết trong phố, lại tả đơn khác, giấu trong lưng, sao vậy đi kiện cho đuợc. Hồi lâu họ Miêu cũng tới nói hết tự sự, năn nỉ xin họ Lý bài giải; nói mình làm ruộng quê mùa hơn nửa đời người không thấy mặt quan, xin nói làm sao cho họ Lưu đừng kiện, một hai cây đào y không tiếc.
Họ Lý kêu họ Lưu nói họ Miêu chịu nhưỡng đào, họ Lưu cũng còn chỉ trời vạch đất chưởi mắng hết tiếng. Họ Miêu hòa hoãn ăn nói nhỏ nhoi, không dám cải một lời. Việc an rồi cách bốn năm bữa, nghe nguơi trong làng đồn họ Leu chết, họ Lý thất kinh. Sáng ngày sau, họ Lý có việc đi đàng, ngó thấy một người chống gậy mà đi tới in ai họ Lưu. Đến khi giáp mặt chào hỏi ân cần, họ Lý nói bữa trước nghe tin dữ, sao có huyễn hoặc dường ấy. Họ Lưu không nói đi nói lại, cứ nắm tay họ Lý đem về nhà mời trà rượu rồi, mới nói tiếng đồn ngày trước là thiệt. Số là ngày trước y thấy hai người tới bắt y đi tới quan; y hỏi chuyện chi? Hai người nói không biết. Y nghĩ mình ra vào cửa quan mấy mươi năm, quan quyền chi mình cũng tầng thấy, chẳng sợ lện chi, bèn đi theo tới một cái nhà thính, thấy một ngươi ngồi trở mặt hướng nam, mặt giận phừng phừng hỏi rằng: có phải họ Lưu là thằng nầy, tội ác nó dẫy đầy mà chẳng biết chừa cải, lại chiếm đoạt của người ta, tánh khí ngang tàng dường ấy, phải bỏ nó vào trong vạc. Chẳng dè có một người tra bộ nói rằng: tên ấy có một việc lành, chưa đáng tội chết. Ông ngồi trên coi bộ lại gật đầu bớt giận, dạy đưa y về đã. Các người hầu hạ đều nạt nộ đuổi y đi. Y hỏi chuyện gì mà bắt y tới, chuyện gì mà đuổi y về, xin nói cho y biết. Có một ông thơ lại ôm bộ xuống chỉ một khoản ghi rằng: đời Sùng Trinh năm thứ 13, họ Lưu có xuất tiền ba trăm cứu hai vợ chồng người kia khỏi chết đói mà được hòa hiệp. Ông thơ lại lại nói nếu không có việc lành ấy, thì ngày nay đã phải chết, lại bào thai làm súc sanh. Y sợ quá, lật đật đi theo hai người mà ra. Hai người đòi ăn lót, y nổi hành hung, nói các anh không biết Lưu nầy vào ra cửa quan đã hai mươi năm, ăn của người ta biết mấy, các anh khéo nhè cọp già mà đòi thịt. Hai người làm thinh đưa y về tới làng, rồi đứng vòng tay nói trong vụ nầy chúng tôi không uống đặng một chén rượu lạt. Hai người đi rồi, y vào nhà mà sống lại, thì chết đã hai ngày rồi.
63- CON RƯỢU
Đất Trường Sơn, họ Lưu mập chắc mà có tật rượu, một lần uống hết cả ghè, nhờ có 300 mẫu ruộng giàu có, cho nên uống mấy cũng không hại gì. Có một tên thầy sãi ngó thấy ông ấy, liền nói ông ấy có bịnh kì. Họ Lưu nói mình không bịnh, thầy sãi hỏi ông uống làm vậy có say hay là không? Họ Lưu nói nhiều khi không say. Thầy sãi nói ấy là sâu rượu. Họ Lưu sợ xin thầy sãi cho thuốc. Thầy sãi nói không phải thuốc thang chi. Vậy trời đương tròn bóng, thầy sãi biểu họ Lưu phải cột tay cột hơ lại nằm sấp xuống, biểu lấy một cái bát cô tô đựng rượu ngon để trước đầu nằm cách chừng năm tấc. Hồi lâu họ Lưu thèm rượu khao khát, hơi rượu bay vào lổ mũi nực nồng, muốn uống hết sức mà uống không đặng, xảy nghe ngứa cổ quá chừng, liền có vật bò ra rớt ngay vào trong tô rượu. Việc rồi mở trói cho họ Lưu coi thì thấy có một cục thịt hồng hồng dài chừng ba tấc, cựa quậy như cá lội, có miệng có con mắt đủ. Họ Lưu thất kinh đem tiền tạ ơn, thầy sãi không chịu lấy, xin con trùng ấy mà thôi. Họ Lưu hỏi xin làm gì? Thầy sãi nói là cốt tử rượu, đựng nước vào ghè bỏ nó vô mà đánh thì hóa ra rượu ngon. Họ Lưu biểu làm thử, có quả như lời. Từ ấy họ Lưu thấy rượu thì ghét như kẻ thù, nhưng vậy càng ngày càng ốm, nhà lần lần cũng suy vi, đến đỗi nghèo khổ không có đủ mà ăn.
Sách Dị sử bàn rằng: ngày uống một hộc mà nhà không bớt giàu, đến khi không uống một đấu nhà lại mang nghèo, có phải một ăn một uống đều có định số rồi chăng?
64- CHÓ KHÔN
Đất Lộ An có một người mắc hàm oan ở tù gần chết, người con gop nhóp tiền bạc trong nhà được một trăm đồng, toan đi tới tỉnh mà lo cho cha. Ở nhà có nuôi một con chó mực, người con cỡi lừa mà đi, con chó lăng căng chạy theo, cố đuổi thì nó tháo lui, lừa chạy nó lại tuốt theo, đánh nó cũng không chịu trở về. Nó theo được vài mươi dặm, chủ nó xuống đi tiểu một bên đàng, vác đá quăng nó chạy trở lại. Сhủ lên lưng lừa mà đi, nó lại lóc thóc theo sau, cắn đuôi cắn cẳng lừa; chủ giận đánh, nó la nó sủa mãi, chạy vọt tới nhảy cắn đầu lừa, ra ý như không cho chủ đi. Chủ lấy làm điềm không khá, lại càng giận lắm; trở đầu lừa rượt nó chạy xa rồi mới day cương thúc lừa nhảy.
Tới tỉnh thì trời đã tối, người chủ rờ lưng thì túi bạc mất hết nữa, tháo mồ hôi, ngẩn ngơ, trằn trọc cả đêm ngủ không đặng. Sực nhớ lại lời người ta nói chó đâu có sủa lổ không, trời vừa rựng sáng, người chủ thoát ra khỏi thành, tìm kiếm dọc đàng đi, lại nghĩ đàng quan lộ người ta đi như kiến cỏ, nếu có rơi rớt tiền bạc thì chẳng lẽ còn. Đi lần lần tới chỗ xuống lừa, bèn thấy con chó nằm chết trong cỏ, mồ hôi ra lông lá ướt dầm, người chủ nắm tai con chó giở lên mà coi, thì có gói bạc dưới mình nó.
Người chủ cám vì con chó có nghĩa, bèn mua hòm mà chôn, người ta gọi là mả chó khôn.
65- THẦN NÚI
Quan Đồng tri phủ Dương Châu nằm chiêm bao, thấy Thần núi đòi; Thần núi làm mặt giận, song ngước mặt lên thấy một người hầu bên Thần lại có ý hiền lành. Ông ấy thức dậy lấy làm sợ hãi, sáng ngày đi tới miễu Thần núi, thầm thỉ vái van cho khỏi Thần giận. Đến khi ông ấy ra về, xảy thấy một người bán thuốc bắc giống hệt người ông ấy thấy hồi Thần đòi, hỏi ra thì là thầy thuốc. Ông Đồng tri về tới nhà phát bịnh nặng, liền cho đi rước thầy thuốc ấy tới nhà soạn thuốc đầu thang. Chẳng dè ông Đồng tri uống thuốc hồi đầu hôm, qua tới nửa đêm thì chết. Người ta nói vua Diêm La cùng Thần Đông Nhạc mỗi ngày sai sứ cả trai cả gái là mười vạn tám ngàn người, phân nhau đi khắp thiên hạ mà làm thuốc, gọi là sứ
Câu hồn, cho nên có uống thuốc thì phải cẩn thận.
66- CHUYỆN THẦY THUỐC
Họ Trương vẫn là dân nghèo ở đất Nghi, đi đàng gặp một ông Đạo sĩ biết coi tài tướng đoán rằng: nhà ngươi sau sẽ nhờ một nghề mà làm giàu. Họ Trương hỏi nghề gì? Thầy Đạo sĩ nói là nghề làm thuốc. Họ Trương nói mình làm tbuốc làm sao đặng. Đạo sĩ cuời nói nhiều thầy làm thuốc có danh có phải là tại hay chữ đâu. Họ Trương về nhà túng lắm mới đi lượm đồ ngoài bãi biển đem về dọn bán giữa chợ, chung ra những là xương cá, sò hến, ổ vò vò, trau chuốc lời nói cho được kiếm cơm mà đắp đổi, mà cũng chưa lấy làm đắt. May đâu có quan Thái thú đất Thành Châu mắc bịnh ho, sức ra cho các huyện đòi thầy thuốc. Đất Nghi ở dọc núi không có mấy thầy giỏi; mà quan huyện sở tại thì sợ quan Thái thú nói không hết lòng, mới sức ra cho các làng dạy ai biết làm thuốc phải tới mà khai. Khi ấy ai nấy đều báo tên họ Trương làm thuốc giỏi, quan huyện bèn cho đòi. Họ Trương mang lấy bịnh đàm suyễn, chữa bịnh mình cũng không xong, nghe trát đòi sợ hãi không chịu đi, quan huyện không nghe, bắt trạm đưa đi. Họ Trương đi qua truông ải, khát nước chừng nào càng nổi ho nổi suyễn lên chừng ấy, ghé vào xóm xin nước mà uống; chẳng dè giữa truông khô khan nước quí giá, xin ai cũng không cho. Xảy thấy một người đờn bà rửa rau, rau nhiều nước ít, trong chậu nước đục ngàu ngàu, họ Trương khát khao chịu không đặng, bèn xin nước dơ ấy mà uống, uống vào đả khát, ho suyễn cũng hết, nghĩ trong bụng ấy là một phương hay.
Đến khi tới quận, thì thấy các thầy thuốc danh tiếng ở các huyện tới đó bày tủ hốt những thuốc tốt, mà bịnh ông Thái thú không giảm chút nào. Họ Trương vào xin một chỗ khuất tịch giả đò chế thuốc, lại truyền cho đâu đó cho người đi ra nhà quê tìm các thứ rau cỏ đem về. Anh ta lấy nước dội rửa làm như con mẹ rửa rau, rồi lấy nuớc rửa ấy đem cho ông Thái thú uống vào một chén bịnh liền đã. Ông Thái thú mầng lắm thưởng vàng bạc nhiều lại cho một tấm biển để treo trước nhà. Bỡi đó họ Trương nổi danh, người ta tới hốt thuốc chật nhà, làm đâu chịu đó không bịnb nào không lành. Thuở ấy có người đau bịnh thương hàn, cho người tới hốt thuốc, họ Trương say hốt lầm nhằm thang thuốc hạ, tỉnh rượu biết mình lầm mà không dám nói, ai ngờ cách ba bữa có người đem lễ vật tới nhà mà tạ; hỏi ra thì là người đau bịnh thương hàn, nói uống thuốc vào, trên mửa dưới tả mà khá. Cũng còn có nhiều chuyện mặc may như vậy. Từ ấy họ Trương giàu có làm thinh giá, có rước bằng kiệu, đem nhiều tiền mới chịu đi cho.
67- TỐNG QUỐC ANH
Tống Quốc Anh là người Đông Bình, làm tri huyện Lộ Thành tham bạo bất nhơn, thâu thuế lại càng làm dữ, đánh chết người ta nằm ghỉnh trước dinh. Xảy có Từ Bạch Sơn đi tới nba, thấy sự hung ác, trách quan huyện mà rằng: ông làm cha mẹ dân, mà làm hung dữ tới chừng ấy sao. Chẳng dè quan huyện lấy chuyện mình làm làm hay, có ý khoe khoang nói tuy mình làm quan nhỏ, đáo nhậm chưa được một trăm ngày, mà giết được năm mươi tám mạng. Cách nửa năm rồi, một bữa quan huyện đương ngồi khách, vùng trợn mắt đứng dậy, xang tay xang chơn dường như ai đánh mà đỡ, la lên nói tội tôi phải chết, tội tôi phải chết. Dịnh ông ấy vào nhà trong, cách một hồi thì chết.
Hỡi ôi! May có tào âm phủ gồm hay việc dương gian, bằng chẳng thì thâu góp càng nhiẻu, càng được vinh hiền, hại thiên hạ nói sao cho cùng.
68- CHÓ BIẾT CỨU CHỦ
Có một người đi buôn bán bên đất Vu Hồ, được tiền bạc nhiều mướn ghe mà về xứ sở. Xảy thấy phường làm thịt chó khiêng một con chó đi trên đàng, người ấy chịu nhiều tiền chuộc đem xuống ghe nuôi dưỡng tử tế. Chẳng dè ghe mướn ấy là ghe ăn cướp, thấy bộ hành chở tiền bạc nhiều, chèo ngay vào chỗ hóc hiểm, vác gươm ra toan làm dữ. Người ấy lạy khóc xin cho toàn thây, quân ăn cướp bèn lấy mền nỉ gói anh ta lại, cột chặt bỏ xuống sông. Con chó thấy vậy kêu la nhảy theo cắn lấy gói, hụp lên hụp xuống dưới nước, linh đinh trôi theo dòng nước một đỗi xa xa, may tới chỗ cạn cản ngang lại đó. Con chó lội lên bờ kiếm chỗ có nhà người ta, chay tới chạy lui kêu sủa tiếng buồn bực. Có kẻ lấy làm sự lạ chạy theo nó tới chỗ cạn, con chó vùng lội xuống nuớc, người chạy theo ngó ra, thì thấy một gói sùm sùm nằm trên mặt nước, liền lội ra vớt lên bờ, mở dây ra thì người bộ hành hãy còn sống, tỉnh lại nói hết sự tình, thuê ghe trở lại đất Vu Hồ cho đặng thám ghe ăn cướp. Người ấy bước chơn xuống ghe liền mất con chó, lấy làm thương tiếc quá chừng. Tới cửa Vu Hồ ba bốn ngày, thuyền đậu chật sông mà không thấy chiếc ghe ăn cướp. Tình cờ con chó ở đâu chạy tới, ngó thấy chủ liền la lên dường như kêu chủ đi, chủ theo nó chạy tới trước. Con chó nhảy lên ghe lạ, cắn cứng ống chơn người dưới ghe, đánh không nhả, chủ nó lại gần la lên; té ra người nó cắn là đứa ăn cướp bữa trước, nó thay quần đổi lốt đi qua ghe khác cho nên khó nhìn. Bắt ép tên ấy trói lại, xét trong mình nó, thì vàng bạc nó ăn cướp hãy còn.
Ấy là chó mà còn biết trả ơn, những người đen bạc không biết liêm sĩ cũng phải hổ cùng nó dường nào!