#13 —
13.11.2018 18:17
(đã sửa)
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.11.2018 10:23:17 bởi Ct.Ly>
ĐI TIÊU RA MÁU
HỎI:
Tôi gần đây bị chứng đi tiêu ra máu. Khi đi cầu xong thấy máu tươi theo ra. Ngoài ra vẫn khỏe mạnh bình thường. Tôi năm nay 50 tuổi. Xin bác sĩ cho biết đi ra máu tươi như vậy là tại sao? Có nguy hiểm gì không? Cũng xin bác sĩ cho biết vấn đề chữa trị như thế nào?
Huỳnh H. V.
ĐÁP:
Đi cầu ra máu là một chứng thường thấy, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng ở người lớn tuổi, đây là một triệu chứng quan trọng và cần được khám nghiệm kỹ lưỡng. Trước hết phải phân biệt đi tiêu ra máu đen hay máu tươi.
Tiêu ra máu đen là do chảy máu từ đường ruột ở phía trên, như từ thực quản, bao tử, ruột non. Phân ra đen tuyền, có thể kéo dài vài ngày. Thường mất chừng 60 cc máu ở phía trên sẽ làm đi cầu ra máu đen, nếu mất máu nhiều hơn, sẽ ra máu đen 2, 3 ngày. Sở dĩ máu trở thành đen tuyền vì máu đó từ đường tiêu hóa phía trên sẽ bị tác dụng của acid làm thành chất hematin màu đen.
Nguyên nhân làm đi tiêu ra máu đen thường nhất là do loét bao tử, loét đầu ruột non, viêm bao tử do uống rượu, hay cũng rất thường là do uống aspirin, hay uống những thuốc chóng viêm, chóng đau, phong thấp ... Một nguyên nhân quan trọng khác là ung thư bao tử, tuy chảy máu do ung thư bao tử thường chảy ít, từ từ, không ra nhiều như chảy máu do loét bao từ hay do uống aspirin.
Câu hỏi của ông về việc đi tiêu ra máu tươi. Thường ra máu tươi là do chảy máu từ ruột già, tuy nhiên cũng có ít trường hợp, chảy máu từ phía trên bao tử hay ruột non quá nhiều, quá nhanh, máu chảy ra không có thời giờ nằm lâu trong ruột trên 8 tiếng, khi đi ra ngoài vẫn thấy máu tươi. Tuy nhiên đi tiêu ra máu đỏ, thông thường nhất vẫn là do các bệnh làm chảy máu của hậu môn và ruột già. Sau đây ta hãy xem về những nguyên nhân làm đi cầu ra máu tươi này.
Nguyên nhân hay xảy ra nhất và trong số lớn các trường hợp của đi cầu ra máu đỏ, thấy lẫn trong phân hay chùi có dính máu là bệnh trĩ.
Trĩ là những mạch máu loại tĩnh mạch của hậu môn bị trương phồng lên, dễ bị bể làm thành trĩ và hay làm chảy máu.
Có hai loại trĩ: trĩ nội và trĩ ngoại.
Trĩ nội do hệ thống tĩnh mạch phía bên trong của hậu môn và nằm dưới màng nhày trương phồng lèn. Đôi khi lớn quá lòi ra ngoài, hoặc có thể làm biến chứng như cục máu bị đọng lại, nhiễm trùng và làm chảy máu rất nhiều. Trĩ nội nếu không bị biến chứng thường không làm đau nhiều.
Trĩ ngoại, trái lại là những mạch máu tĩnh mạch ở dưới da bị trương phồng lên làm đau nhiều. Thường trĩ ngoại là cục lớn màu xanh do máu đọng bên trong năm ở ngoài hậu môn và hay đi kèm với co thắt của cơ vòng hậu môn.
Lý do bị trĩ thường do bị bón, đi cầu phải rặn nhiều, áp suất trong hệ thống tĩnh mạch cửa tăng cao làm phình những tĩnh mạch của hậu môn này. Những nguyên nhân khác là do có bầu, đè vào tĩnh mạch nhiều, nguyên nhân khác nữa là những người uống rượu hay bị viêm gan và làm cứng gan, cũng làm tăng áp suất của hệ thống tĩnh mạch.
Chữa bệnh trĩ nếu nhẹ có thể dùng thuốc nhét như Anusol-HC, uống thuốc làm mềm phân như Colace, hay thuốc như Metamucil để tiêu hoá điều hòa, phân có nhiều chất sợi hơn v.v... Thường nếu bị trĩ lớn, trĩ nội lòi ra ngoài, có cục máu bên trong, hay làm chảy máu nhiều sẽ cần phải giải phẫu để mổ trĩ.
Ngoài bệnh trĩ, các bệnh loét ở hậu môn cũng có thể gây đi cầu ra máu tươi. Có thể bị nhẹ như bị vết nứt nhỏ trên màng nhày gọi là anal fissures, đôi khi có thể bị loét nhiều hơn gọi là anal ulcers. Quan trọng hơn là những trường hợp nhiễm trùng kinh niên làm đường thông mủ chạy ra ngoài da gọi là fistulas. Bị lở, loét nhẹ có thể chữa thuốc, nhưng bị nặng hay làm đường chảy mủ có thể phải giải phẫu.
Một nguyên nhân khác hay làm đi tiêu ra máu là bệnh ruột già bị phình gọi là diverticulosis. Đây là những túi phình ra nằm ở phần ruột già sát với hậu môn. Nguyên nhân do ruột già co thắt nhiều và mạnh khi phân quá nhỏ, có ít, thiếu chất sợi làm phải co bóp nhiều và lâu ngày thành ruột già bị yếu và phình ra như những túi nhỏ. Người Việt Nam tương đối ít bị bệnh này không như người Mỹ thường bị, khoảng 20 đến 50% bị bệnh này nếu trên 50 tuổi. Lý do vì dân Âu Mỹ ăn ít đồ ăn có chất sợi như ngũ cóc, rau cỏ. . . Người Việt ăn cơm gạo, rau nhiều ít bị, tuy sống ở Mỹ lâu sẽ bị bệnh này nhiều hơn.
Bị chảy máu tươi do bệnh ruột già bị trương phình diverticulosis có thế làm đi cầu ra máu tươi rất nhiều. Thường người già trên 60 tuổi hay bị, tuy không làm đau đớn nhưng v'i làm chảy máu nhiều thường phải nàm bệnh viện để cầm máu và truyền thèm máu nếu bị mất quá nhiều.
Ngoài vấn đề làm chảy máu, những túi bị trương phình của ruột già này có thể làm nhiễm trùng, nóng sốt, đau bụng gọi là diverticulitis. Một ít trường hợp bị lủng ruột già sẽ phải mổ.
Những bệnh loét ruột già cũng có thể làm đi tiêu ra máu tươi. Người Việt nếu bị thường hay do bị loét ruột già vì nhiễm trùng như bị kiết lỵ do vi trùng Shigella, vi trùng amib. Người Mỹ hay bị những loại loét không có nguyên nhân rõ rệt gọi là ulcerative colitis hay loại Crohn’s disease. Người Việt rất hiếm thấy bị các loại này.
Quan trọng nhất trong việc tìm nguyên nhân của lý do đi tiêu ra máu là có thể có bướu hay ung thư ruột già gây ra hay không? Bệnh ung thư ruột già là một trong những ung thư thường nhất và cần phải định bệnh càng sớm càng tốt để điều trị cho có hiệu quả, vì thế điều cần thiết khi bị đi cầu ra máu là phải loại trừ bệnh nguy hiểm này. Bệnh ung thu ruột già và các loại bướu gọi là polyps sẽ được giải thích cặn kẽ hơn trong một bài khác.
Như vậy khi bị đi cầu ra máu tươi, cần phải đi khám nghiệm để xác định nguyên nhân ra máu và loại trừ những bệnh nguy hiểm. Thường khám hậu môn sẽ cho biết có trĩ hay không? Tuy nhiên vì trĩ là một bệnh thông thường, có thể vẫn phải làm những thử nghiệm khác để xem có những bệnh khác đi cùng hay không? Một người đi cầu ra máu có trĩ nhưng cũng có thể bị ra máu là do ung thư ruột già nằm ở phía trên, nên ở những người lớn tuổi, thường phải làm thêm thử nghiệm.
Một cách thử nghiệm hữu ích và cho biết được chảy máu từ đâu là cách soi ruột già phần gần hậu môn gọi là sigmoidoscopy hay soi tất cả ruột già bên trái cũng như bên phải gọi là colonoscopy. Nếu soi tất cả ruột già thường phải làm trong bệnh viện. Soi sigmoidoscopy có thể làm tại phòng mạch. Phương pháp soi sẽ giúp ích cho biết có bướu polyps hay ung thư hay không. Hoặc những trường hợp bị loét ruột già, soi cũng giúp cho định bệnh chính xác.
Một phương pháp giản tiện tuy không hiệu quả nhiều như soi cũng giúp ích nhiều để định bệnh là chụp quang tuyến X-ray ruột già gọi là barium enema. Chụp kiểu này phải bơm thuốc barium qua hậu môn để chụp ruột già, có thể định bệnh ung thư, ruột già trương phình diverticulosis hay có bướu polyps. . .
Tóm lại, đi tiêu ra máu là một triệu chứng thường thấy nhưng quan trọng là vì có thể là dấu hiệu của những bệnh nặng và nguy hiểm. Khi bị đi tiêu ra máu, điều cần là đi khám nghiệm cẩn thận và làm thử nghiệm nếu cần thiết để xác định chính xác nguyên nhân nào đã gây ra đi cầu ra máu. Việc chữa trị sẽ tùy thuộc vào bệnh gì đã gây ra. Phần lớn do bệnh nhẹ như trĩ, bị lở màng nhầy bên trong nhưng cũng có thể do bệnh nặng, nguy hiểm như ung thư ruột già. Vấn đề chính là tìm và định bệnh sớm để điều trị cho có hiệu quả và ngăn ngừa những tai hại hay biến chứng có thể xảy ra.
&&&&
UNG THƯ RUỘT GIÀ
HỎI:
Ba tôi mới khám bệnh và được cho biết bị ung thư ruột già. Xin bác sĩ cho biết ung thư ruột già có di truyền không? Tôi có thể bị bệnh này trong tương lai không? Cũng xin bác sĩ cho biết làm thế nào để ngừa bệnh này và nếu bị ung thư ruột già, có cách nào trị khỏi bệnh không?
Trần V. H.
ĐÁP:
Ung thư ruột già là một loại ung thư rất thường thấy, chỉ sau ung thư phổi về mức độ xảy ra. Thông thường, ung thư ruột già hay xảy ra ở người lớn tuổi, khoảng 50 trở lên, tuy người trẻ hơn vẫn có thể bị. Bệnh ung thư này liên quan nhiều đến mức độ tân tiến của một quốc gia, những nước văn minh có khuynh hướng bị loại ung thư này nhiều hơn các nước chậm tiến. Người Việt tỵ nạn sang Hoa Kỳ cũng đã thấy bắt đầu bị bệnh ung thư này nhiều hơn trước. Lý do chắc chắn hẳn không được rõ ràng, tuy nhiên một số khảo cứu cho thấy vấn để ăn uống giữ vai trò quan trọng về việc gây ra ung thu này. Ăn nhiều chất béo, ăn thịt nhiều làm tăng mức độ bị ung thu ruột già. Những người bị bệnh tim do cholesterol cao, ăn thịt mỡ nhiều, cũng hay thấy bị ung thư ruột già nhiều hơn nguời khác. Ngoài ra ăn thiếu chất sợi fibers nhu đồ ăn của người Mỹ, cũng làm tăng mức độ bị ung thu ruột già, tuy điều này chưa đuợc chứng minh rõ ràng cho lắm.
Một giả thuyết khác nữa là đồ ăn thiếu chất vôi calcium cũng dễ gây ra ung thư ruột già hơn. Ngược lại, những nguời ăn đồ có nhiều chất calcium hay uống thêm calcium có thể làm giảm mức độ bị ung thư ruột già.
Câu hỏi của ông về vấn đề di truyền của bệnh này rất quan trọng. Khoảng 25% trường hợp có tính cách di truyền tuy không đuợc rõ rệt lắm. Một số nhỏ tính di truyền của ung thư ruột già này là do một bệnh về ruột gọi là polyposis coli. Những nguời bị bệnh ruột này có các cục buớu gọi là polyps đầy trong ruột, thường ruột già, đôi khi cả ruột non. Còn nhỏ không thấy, nhưng từ tuổi 25 trở đi, những nguời bị chứng này bắt đầu bị ung thu ruột già. Bệnh này hiếm thấy, nhưng khi biết có bệnh polyposis coli, thường phải giải phẫu cắt bỏ hết ruột già để ngừa ung thư xảy ra. Tính di truyền của bệnh này quan trọng ở chỗ nếu bố hoặc mẹ bị, 50% số con sẽ bị bệnh, vì thế phải theo dõi thường xuyên để giải phẫu sớm nếu phát hiện ra bệnh.
Phần lớn trường hợp di truyền của bệnh ung thư ruột già không đuợc xác định rõ, một số gia đình tuy không bị chứng polyposis coli nhưng cũng thấy bệnh ung thư ruột già xảy ra trong gia đình. Vì thế, khi một nguời trong gia đình bị ung thư ruột già, điều cẩn thận là đi khám nghiệm và theo dõi để ngừa trước. Một nguyên nhân khác nữa gây ra ung thư ruột già là những người bị bệnh viêm ruột kinh niên gọi là inflammatory bowel disease, gồm hai loại chính là bệnh Crohn’s disease và bệnh loét ruột già gọi là ulcerative colitis. Tương đối người Việt Nam ít bị hai loại bệnh này nên nguyên nhân gây ra ung thư ruột già do viêm ruột này ở người Việt ít quan trọng.
Triệu chứng của bệnh ung thư ruột già tùy thuộc vào vị trí của ung thư nằm chỗ nào trong ruột, bên phải, bên trái hay gần hậu môn. Có thể hoàn toàn không có triệu chứng gì ngoài thấy mệt mỏi vì bị mất máu từ từ do ung thư làm lở và chảy máu. Vì thế người già bị thiếu máu, nhất là loại thiếu máu do mất chất sắt, phải đi tìm xem có bị ung thư ruột già gây ra thiếu máu hay không? Ung thư ruột già nếu ở phía bên trái hay gây ra làm nghẹt, thấy bị bón, đau bụng. Nếu nằm gần hậu môn, phần trực tràng có thể làm đi cầu ra máu tươi. Vì thế dù đi cầu ra máu tươi phần lớn do bệnh trĩ, vẫn phải để ý và loại trừ bệnh ung thư ruột già khi đi cầu bị ra máu tươi.
Khi bị những triệu chứng kể trên, hoặc có những triệu chứng do ung thư đã lâu và lớn như có cục trong bụng, bị sút ký nhiều..v..v..., phải đi khám nghiệm ngay để tìm bệnh. Trong phần khám, điều quan trọng nhất là khám hậu môn. Một số lớn ung thư ruột già nằm ờ phần trực tràng gần với hậu môn nên khám hậu môn và trực tràng bằng ngón tay có thể sờ thấy ung thư. Sau đó phải thử để xem trong phân có máu hay không bằng thử nghiệm gọi là hemoccult. Nếu có máu lẫn trong phân, tuy nhìn ngoài không thấy gì, khi thử bằng cách nhỏ thuốc vào phân thấy đổi màu xanh là có máu trong phân.
Những thử nghiệm khác sẽ cần làm là chụp hình ruột già gọi là barium enema, hoặc soi ruột già. Soi ruột già có thể dùng ống soi ngắn, bẻ cong được gọi là flexible sigmoidoscopy soi lên được khoảng tới 40-60 cm phía trên. Loại soi ống cứng chỉ lên được 25 cm hiện nay ít dùng hơn. Muốn chắc chắn hơn nữa có thể phải soi toàn thể ruột già gọi là colonoscopy để thấy có chỗ nào nghi ngờ có thể cắt một miếng nhỏ gọi là biopsy để xem dưới kính hiển vi.
Ung thư ruột già hầu hết bắt nguồn từ một bướu nhỏ trong ruột gọi là adenomatous polyps, thường mọc cũng khá chậm trước khi thành ung thư hẳn, trung bình cỡ 5 năm. Vì thế nếu soi có thấy loại bướu này tuy không có ung thư cũng phải cắt bỏ và thường xuyên theo dõi để ngừa những bướu khác mọc thêm và biến thành ung thư. Những trường hợp này phải soi toàn thể ruột già và sau này cứ 3 năm làm lại một lần cho chắc chắn.
Ung thư ruột già nếu tìm ra sớm, chưa chạy đi đâu, chỉ ở lớp màng nhầy phần ngoài, khi giải phẫu cắt bỏ có thể coi như khỏi tuy vẫn phải theo dõi thường xuyên vì khoảng 3 - 5% có thể bị ung thư ruột ở chỗ khác. Ung thư ruột già nếu lúc định bệnh và mổ đã xâm lấn qua lớp màng nhầy, mức tử vong sẽ cao hơn. Nếu ra ngoài bắp thịt của ruột, mức sống sót sau năm năm chỉ còn từ 70 - 85%, nếu chạy tới các hạch chỉ khoảng 50% sống sót sau 5 năm. Ung thư ruột đã chạy khắp nơi, dù chữa trị cũng chỉ 5% trường hợp có hy vọng sống sót sau 5 năm. Như vậy đủ thấy việc tìm ra bệnh sớm là điều quan trọng nhất, vì giải phẫu sớm lúc ung thư còn giới hạn mới hy vọng sống sót lâu được.
Việc chữa trị như trên đã nói, là giải phẫu cắt bỏ. Những trường hợp ung thư ở trực tràng gần hậu môn, thường phải nối ruột cho phân chạy ra một lỗ ở ngoài da trên bụng sau khi mổ. Ung thư ở cao hơn thường vẫn giữ được hậu môn và chỉ cần nối ruột. Những cách trị khác là chạy điện phóng xạ radiation therapy. Ung thư ở hậu môn sau khi mổ xong phải dùng thêm phương pháp chạy điện này để ngừa ung thư trở lại. Cách trị bằng hoá học trị liệu với chất 5-FU hiệu quả tương đối ít, dùng khi ung thư chạy khắp nơi hay trở lại. Một loại thuốc trị sán thường được dùng cho súc vật như loài cừu gọi là Levamisole gần đây được khám phá thấy rằng khi dùng chung với thuốc 5-FU và chạy điện có thể giúp ích nhiều hơn.
Tóm lại ung thư ruột già là một loại ung thư hay thường thấy. Người Việt tỵ nạn sang Hoa Kỳ có thể dễ bị chứng bệnh ung thư này hơn hồi còn ở Việt Nam. Ăn giảm thịt mỡ, giảm cholesterol, ăn nhiều rau, trái cây, ngũ cốc để tăng thêm chất sợi, thêm chất vôi calcium có thể giúp ích để ngừa phần nào. Vì 25% trường hợp có thể có tính cách di truyền nên nếu có người trong gia đình bị, nên đi khám nghiệm để ngừa trước. Những người trên 40 tuổi nên mỗi năm đi khám và làm thử nghiệm khám hậu môn và tìm máu trong phân để tìm ra bệnh sớm để ngừa. Nếu có triệu chứng, cần phải chụp hình hay soi ruột để tìm bệnh. Ung thư ruột già nếu tìm ra muộn hay không chữa sẽ gây ra chết nên vấn đề chính yếu vẫn là tìm bệnh sớm sủa để chữa cho có hiệu quả.
&&&
TIÊU CHẢY
HỎI:
Tôi vừa đi du lịch xa về; ngày cuối ở nước ngoài tôi bị tiêu chảy nặng, hiện giờ đã đỡ nhưng hai tuần nay vẫn tiếp tục bị tiêu chảy ngày 4-5 lần. Mỗi khi uống sữa hay ăn đồ mỡ lại bị nặng hơn. Xin bác sĩ cho biết những nguyên nhân nào gây bệnh tiêu chảy cách chữa trị và phòng ngừa ra sao?
Vũ Đ. K.
ĐÁP:
Tiêu chảy là một trong những bệnh quan trọng tại các xứ chậm tiến như Việt Nam hiện tại, nhiều xứ Á châu khác hay như tại Mexico và các xứ Mỹ châu La tinh. Đi du lịch tại các vùng này dễ bị mắc bệnh tiêu chảy do vấn đề vệ sinh không cẩn thận, thường bệnh nhẹ và ngắn hạn, tuy nhiên một số trường hợp có thể bị nặng và kéo dài khá lâu.
Những nguyên nhân nào gây ra tiêu chảy? Mỗi ngày trung bình một người hấp thụ khoảng hai lít nước trong đồ ăn và thức uống, các cơ quan tiêu hoá như tuyến nước bọt, bao tử, mật, tụy tạng, ruột non tiết ra khoảng bảy lít các dịch tiêu hoá giúp cho việc biến dưỡng thực phảm. Chín lít nước này sẽ được hấp thụ lại gần hết trong ruột non và chỉ còn một lít nước đi qua ruột già. 80 – 90% số nước này sẽ được màng nhầy ruột già hấp thụ lại và chỉ còn khoảng dưới 100 - 200 cc nước được bài tiết với phân ra ngoài. Tiêu chảy xảy ra khi số lượng nước và phân mỗi ngày nhiều hơn 200 grams nếu không ăn nhiều đồ rau cỏ và xảy ra trên 4, 5 lần một ngày. Nguyên nhân như vậy là vì nước không được hấp thụ lại do ruột già bị viêm, hoặc do trong ruột già có những chất gây ra tác dụng thấm thấu (osmotic) như trường hợp người uống sữa không tiêu hoá được, sữa chạy xuống ruột già trở thành dung dịch thấm thấu làm nước không được hấp thụ lại trong ruột già. Ruột già khi bị viêm có thể sẽ bài tiết ra thêm nước và các chất điện giải, tế bào màng nhầy bị chết v.v... Ngoài ra một số người bị những bệnh làm cho ruột già co thắt bất thường làm ngăn trở sự hấp thụ nước nên cũng hay gây ra tiêu chảy.
Người khoẻ mạnh bình thường bỗng dưng bị tiêu chảy, nhất là trong khi đi du lịch hay vừa về từ các xứ chậm tiến, nguyên nhân thường nhất là do ruột già bị viêm vì nhiễm trùng. Ngoài tiêu chảy những triệu chứng đi kèm gồm có sốt, nhức đầu, đau nhức trong người, mệt mỏi, buồn nôn v.v..., tuy nhiên đây chỉ là những triệu chứng thường thấy khi bị nhiễm trùng. Lý do nhiễm trùng vì vệ sinh không cẩn thận, ăn uống đồ ăn không được sát trùng kỹ lưỡng. Nếu bị tiêu chảy trong vòng 12 tiếng sau khi ăn đồ hư, thường là độc chất của vi trùng Staphylococcus tiết ra. Nếu bị tiêu chảy muộn hơn trong vòng 2, 3 ngày sau khi trúng thực, vi trùng loại Salmonella thường là nguyên nhân. Vi trùng này nếu thuộc loại Salmonella typhi có thể gây ra bệnh thường hàn làm sốt nặng, có thể lủng ruột và có thể bị tử vong. Vi trùng Shigella Aexneri gây ra tiêu chảy loại kiết (Shigellosis) làm tiêu chảy có máu, đi cầu bị đau. Các loại vi trùng kể trên thường xâm nhập màng nhầy ruột già, làm lở loét và chảy máu nên đi cầu thường có đàm và máu.
Một loại vi trùng quan trọng khác gây ra tiêu chảy là vi trùng Vibrio cholarae gây ra bệnh dịch tả (cholera). Loại này đặc biệt chỉ bám vào lớp ngoài của màng nhầy, không xâm nhập tế bào, tuy nhiên tiết ra độc chất làm ruột non bài tiết ra nước và điện giải (electrolytes) rất nhiều. Tuy thế cơ cấu của tế bào và màng nhầy hoàn toàn bình thường. Người bệnh bị tiêu chảy liên miên và chết vì mất quá nhiều nước và chất điện giải. Lý do này giải thích tại sao chữa trị bệnh này chính yếu là phải cho nước đầy đủ hoặc truyền nước biển, hoặc cho uống dung dịch có đường, muối và chất potassium để thay thế số lượng nước bị mất vì tiêu chảy. Người bị dịch tả có thể mất một lít nước trong vòng một giờ trong ngày đầu bị bệnh nên nếu không cho nước đủ, người bệnh có thể chết vì bị kích xúc do mất nước gây ra.
Một loại vi trùng khác làm tiêu chảy do độc tố (enterotoxin) là vi trùng Escherichia coli. Vi trùng này thường người nào cũng có ở trong ruột không gây ra bệnh, tuy nhiên có một ít nhóm vi trùng có khả năng tiết độc tố làm tiêu chảy. Những người đi du lịch từ Hoa Kỳ sang chơi Mexico hay bị tiêu chảy do độc tố của loại vi trùng này gây ra làm tiêu chảy nhẹ, ngắn hạn trong vài ngày gọi là bệnh tiêu chảy Montezuma’s revenge. Montezuma là ông vua cuối cùng của giống dân Aztec ở Mexico bị người chinh phục Tây Ban Nha giết chết nên khách du lịch từ Hoa Kỳ sang chơi đi về bị tiêu chảy đặt tên cho bệnh này là bệnh do Montezuma trả thù!
Ngoài vi trùng ra, một trong những nguyên nhân thường nhất của tiêu chảy là cực vi trùng. Tiêu chảy loại này thường nhẹ, kéo dài từ 1 đến 3 ngày, phần nhiều do ruột non bị xâm nhập, màng nhầy của ruột già vẫn bình thường nên chỉ có tiêu chảy nước, không có máu. Cực vi trùng loại Norwalk và loại rotavirus hay gây ra bệnh tiêu chảy nhẹ này, không trị liệu cũng tự khỏi.
Tại Việt Nam, tiêu chảy do ký sinh trùng Amib, tên khoa học gọi là Entamoeba histolytica, gây ra bệnh kiết lỵ vẫn còn là nguyên nhân quan trọng. Trùng Amib thường ít gây ra triệu chứng mặc dù tồn tại trong ruột già của số lớn dân chúng tại các xứ chậm tiến. Con số này có thể lên đến 50% dân số, tuy nhiên chỉ có một số rất ít có triệu chứng kiết lỵ. Phân thường có đàm và máu. Đôi khi bị nóng sốt, đau bụng và đi cầu đau, ra máu tươi. Bệnh có thể tự bớt rồi bị đi bị lại, kéo dài năm này qua năm khác. Một Ít trường hợp hiếm có, trùng amib chạy vào gan làm gan sưng lớn, cứng, dễ gây ra nhầm với ung thư gan. Tại Việt Nam trước đây, với thử nghiệm định bệnh khó khăn, các người bệnh này đều được chữa với thuốc trị trùng amib là Flagyl. Nhiều người tưởng là bị ung thư gan, chữa với thuốc Flagyl thấy công hiệu, thực sự là do trùng amib làm abcès trong gan. Dĩ nhiên, ở Hoa Kỳ hiện tại, việc định bệnh và phân biệt hai loại bệnh này dễ dàng hơn nhiều.
Vấn đề chữa trị bệnh tiêu chảy tùy thuộc vào định bệnh loại nhiễm trùng nào. Nếu do cực vi trùng, không cần phải chữa trị, sau vài ngày sẽ khỏi. Nếu do nhiễm trùng sau khi ăn đồ ăn hư hỏng, thường cũng chỉ bị nhẹ không cần phải uống trụ sinh. Tiêu chảy do các loại độc tố của vi trùng Escherichia coli nếu bị nhẹ chỉ cần uống Pepto-Bismol bán không cần toa như trường hợp du lịch tại Mexico chẳng hạn. Có thể dùng thêm Immodium AD bán không cần toa nếu chưa hết nhanh. Tiêu chảy do vi trùng Salmonella thường cũng bị nhẹ không cần trụ sinh. Dĩ nhiên nếu bị loại Salmonella typhi là vi trùng thương hàn là bệnh nặng cần phải nhập viện để chữa trị.
Loại vi trùng Shigella gây ra tiêu chảy loại kiết thường phải dùng thuốc loại Bactrim để trị. Cũng như một ít trường hợp tiêu chảy do vi trùng Escherichia coli, nếu bị nặng sẽ kéo dài lâu cũng phải cần thuốc trụ sinh loại này. Người Việt Nam dễ bị phản ứng với thuốc Bactrim nên khi dùng phải cẩn thận, nếu bị phản ứng không tốt (side effects) như ngứa ngáy, nổi mề đay, sưng khớp xương, sốt v.v. .. phải ngưng ngay và đổi sang trụ sinh khác.
Bệnh dịch tả là bệnh nặng, nếu bị cần phải nhập viện để chữa trị và truyền nước như đã nói ở trên. Vi trùng này thường trị bằng Tetracyline. Bệnh kiết lỵ do trùng Amib có thể trị bằng thuốc Flagyl kèm với thuốc Iodoquinol hay Tetracycline, loại Emetine nếu bị nặng.
Tóm lại, tiêu chảy có thể do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Trên đây là những trường hợp tiêu chảy cấp tính do nhiễm trùng. Tiêu chảy kinh niên thường do nhiều nguyên nhân khác về đường tiêu hoá phải khám nghiệm và làm nhiều thử nghiệm mới có thể định bệnh đuợc.
Phòng ngừa bệnh tiêu chảy khi đi du lịch xa và tại các xứ chậm tiến, tốt nhất là giữ vệ sinh cẩn thận, tránh các thứ đồ ăn không được sạch sẽ. Nếu bị nhẹ, Pepto Bismol và Imodium là các thứ thuốc có thể tự dùng, tuy nhiên nếu bị nặng và có nhiều triệu chứng khác, cần phải đi khám nghiệm ngay, về chích ngừa, hiện nay có thuốc chích ngừa cho dịch tả (cholera), và thuốc chích ngừa thương hàn (typhoid fever), thường phải chích làm hai lần cách nhau một vài tuần. Công hiệu được khoảng 40 đến 60%, và chỉ ngừa được khoảng 4 đến 6 tháng trong trường hợp bệnh dịch tả, vì thế vấn đề giữ vệ sinh vẫn là cách ngừa quan trọng nhất.
&&&
ÓI MỬA
Ói mửa là một triệu chứng thông thường thấy ở nhiều thứ bệnh khác nhau. Nhiều người hay bị chứng này khi cơ thể bị bệnh, hoặc ói mửa có thể là dấu hiệu của những bệnh quan trọng và nguy hiểm cần phải được khám nghiệm và điều trị ngay. Trước hết, ta hãy xem về cách thức gây ra ói mửa và cơ chế của chứng này. Ói mửa thường có triệu chứng buồn ói đi trước. Buồn ói xảy ra khi bao tử hoạt động yếu như không co bóp được đầy đủ, bao tử quá dãn hoặc tiết ra chất chua không đủ. Ngược lại ruột non lại hoạt động quá nhiều và co thắt mạnh hay bóp ngược trở lại thay vì bóp xuôi. Điều này sẽ gây ra cảm giác buồn ói, ngoài ra hệ thần kinh giao cảm bị kích thích làm mặt xanh, toát mồ hôi, nước miếng tiết ra nhiều. Triệu chứng buồn ói xảy ra trước và sau đó đến cơn ói.
Khi ói, những bắp thịt bụng co thật mạnh, cơ vòng giữa bao tử và thực quản mở ra, đẩy đồ ăn trong bao tử lên trên thực quản. Áp suất trong lồng ngực cũng tăng lên làm đồ ăn trong thực quản bị tống ra ngoài. Trung tâm điều khiển các hoạt động về ói này nằm trong một vùng của não bộ gọi là reticular formation. Trung tâm này nhận các kích thích đến từ bộ phận tiêu hoá, cũng như từ vùng tai trong và từ một vùng tiếp nhận các kích thích do các chất hoá học gây ra gọi là chemoreceptor trigger zone. Trung tâm trong não bộ khi bị kích thích sẽ ra lệnh cho các bắp thịt bụng co thắt, các cơ vòng mở đóng của bao tử, thực quản, thanh quản, cổ họng.. và gây ra hiện tượng ói như diễn tả trên.
Ói mửa gây ra mệt nhiều vì các bắp thịt bụng phải co thắt quá mạnh, làm mất nước nhiều, mất chất nước chua acid trong bao tử, mất chất điện giải như potassium. Các sự thay đổi này làm cơ thể bị mất quân bình, nếu bị nặng có thể gây ra tình trạng nguy hiểm. Ngoài ra có những người bị chứng ói nặng, đồ ăn trong bao tử bị đẩy mạnh quá đôi khi làm rách ống thực quản, hay bị tét màng nhầy gây chảy máu và ói ra máu. Một ít trường hợp cũng nguy hiểm là ói làm đồ ăn chạy tọt vào trong đường hô hấp làm tắt thở hay bị sưng phổi vì chất acid từ bao tử tác dụng lên phổi.
Những bệnh nào gây ra ói mửa?
Ói mửa tự nó cũng có thể gây nhiều nguy hiểm nếu bị nặng và kéo dài lâu, tuy nhiên quan trọng hơn cả là ói mửa thường là dấu hiệu của những bệnh có thể là bệnh nặng. Trước khi xem đến các bệnh nặng ta hãy xem các nguyên nhân gây ra ói mửa là các bệnh thường và nhẹ trước.
Thường nhất là các bệnh nhiễm trùng của đường tiêu hoá, phần lớn là cực vi trùng. Rất nhiều loại cực vi trùng gây bệnh với cùng loại triệu chứng như nhau: buồn nôn, ói mửa, nóng sốt, đau nhức bắp thịt, có thể đi kèm hay không đi kèm với các triệu chứng hô hấp. Thường gọi là intestinal flu, triệu chứng ói mửa do cực vi trùng gây ra thường tự giới hạn và tự khỏi sau vài ngày. Một loại cực vi trùng quan trọng cũng thường hay gây ói mửa nặng là cực vi trùng viêm gan. Trong thời gian đầu, trước khi mắt và da bị vàng, triệu chứng ói mửa là triệu chứng thường thấy nhất và là nguyên nhân đi khám bệnh của đa số bệnh nhân bị bệnh này. Vì thế nếu bị ói mửa nặng cần phải thử máu để xem có thể bị viêm gan hay không?
Các loại nhiễm trùng đường tiêu hoá do vi trùng gây ra cũng hay gây ói mủa như vi trùng Salmonella, Shigella... của các bệnh thương hàn, kiết lỵ, các bệnh nhiễm trùng khác. Các bệnh nhiễm trùng nặng không phải của đường tiêu hoá cũng có thể gây ra ói mửa vì độc tố do vi trùng tiết ra kích thích trung tâm điều khiển ói như đã nói ở trên.
Nguyên nhân thông thường khác hay gây ra ói mửa là bệnh viêm tai trong. Tai trong có cơ cấu điều khiển sự thăng bằng của cơ thể nên khi bị viêm, hay gây ra chóng mặt và ói mửa. Đôi khi bị ói rất nặng vì lý do này. Nguyên nhân của viêm tai trong thường là do cực vi trùng gây ra. Cũng trong cùng cơ chế ói do kích thích của bộ phận xoắn óc của tai trong là những trường hợp bị ói mửa do đi máy bay, đi xe lắc lư, gọi chung là motion sickness. Kích thích của não bộ gây ra ói mửa cũng hay thấy là chứng nhức đầu migraine, trong cơn nhức thường là nửa đầu, bệnh nhân bị ói mửa nhiều.
Các bệnh của bao tử như loét bao tử có thể gây ra ói mửa. Bệnh bao tử yếu không co bóp như trong trường hợp các người ít hoạt động hoặc bị bệnh tiểu đường làm ảnh hưởng đến sự co thắt của bao tử đều hay gây ra chứng dễ ói mửa.
Những bệnh nặng gây ra ói mửa.
Bệnh nặng và nguy hiểm gây ra ói mửa đầu tiên phải kể đến các bệnh giải phẫu bụng cấp cứu như bị nghẹt ruột, bị nhiễm trùng màng ruột do đau ruột dư bị lủng, làm mủ..., bị lủng bao tử vì loét nặng, bệnh sưng túi mật v.v. . . Những bệnh của óc như có bướu trong óc, viêm não bộ, sưng màng óc, giang mai chạy vào óc v.v. . . đều gây ra ói mửa nhiều.
Bệnh nghẹt động mạch tim (heart attack), bệnh suy tim nặng cũng có thể gây ói mửa. Các bệnh ung thư đã chạy đi khắp nơi, thời kỳ chót cũng hay gây ra ói mửa nhiều. Các bệnh tuyến nội tiết như bướu cổ không chữa để bị nặng, suy thận làm chất urea trong máu lên quá cao v.v. . . đều gây ra ói mửa.
Sau hết, phải kể đến các trường hợp trúng độc, uống thuốc quá lượng. . . đều gây ra ói mửa. Nhiều người bị phản ứng thuốc, đầu tiên là bị ói mửa, thí dụ như phản ứng với codeine chẳng hạn.
Cách chữa ói mửa.
Chữa trị ói mửa quan trọng nhất là tìm ra nguyên nhân nào đã gây ra? Có phải là bệnh nặng, nguy hiểm cần cấp cứu, nằm bệnh viện không? Nếu bệnh nhẹ, có thể chữa ở phòng mạch tuy nhiên phải tìm ra bệnh chính gây ra ói mửa và chữa bệnh đó.
Nếu ói ửa do bệnh về tai trong gây ra, thường các thuốc loại antihistamines có thể dùng. Tuy nhiên ói mửa do nhiễm cực vi trùng đường ruột hoặc các loại bệnh thường gây ói mửa khác, các thuốc mạnh hơn như Compazine, Tigan giúp ích hơn vì tác dụng thẳng vào trung khu não bộ kiểm soát ói mửa. Thuốc có thể uống, hay nếu bị nặng có thể dùng thuốc nhét hậu môn hoặc đôi khi phải chích. Một loại thuốc mạnh hơn nữa là thuốc Metoclopramide bán dưới tên Reglan có tác dụng mạnh trên não bộ ngăn chặn ói mửa. Thuốc này cũng còn dùng để chữa chứng Reflux, ợ chua đầy hơi do cơ vòng bao tử yếu.
Những trường hợp ói mửa bị mất nước nhiều phải uống nước nhiều để bồi bổ lại. Đôi khi bị nặng phải nằm bệnh viện để truyền nước thẳng vào máu. Phần lớn, chữa ở nhà có thể uống các nước có chất điện giải nhiều. Trẻ con nên dùng nước Pedialyte để bồi bổ. Người lớn uống nước nhiều hay nước ngọt như Gatorade có nhiều chất điện giải cũng giúp ích
Tóm lại, ói mửa là một triệu chứng thông thường tuy nhiên có thể là dấu hiệu của bệnh nặng, nguy hiểm. Cần phải khám nghiệm để loại trừ các trường hơp bệnh quan trọng. Nếu bệnh nhẹ có thể chữa ở nhà, tuy nhiên phải trị căn nguyên bệnh. Chữa trị ói mửa có thể dùng thuốc để ngăn chận tuy nhiên cũng phải chữa những biến chứng đi kèm như mất nước, mất chất điện giải v.v. . .
&&&
ĐAU BỤNG
HỎI:
Tôi bị chứng đau bụng kinh niên cả năm nay. Thường tôi hay đau bụng phía dưới bên trái, hay ngâm ngấm đau nhưng cũng có khi đau nhiều, nhất là những lúc có chuyện gì buồn phiền. Vấn đề tiêu hoá của tôi cũng không điều hòa, lúc bị bón lúc bị tiêu chảy. Xin bác sĩ cho biết bệnh đau bụng này do nguyên nhân tại sao? Có gì nguy hiểm không và cần chữa trị ra sao?
Nguyễn T. L.
ĐÁP:
Triệu chứng đau bụng có thể nói là triệu chứng phức tạp nhất trong việc chấn đoán bệnh. Có rất nhiều bệnh khác nhau gây ra triệu chứng đau bụng nên muốn định bệnh cần phải hỏi bệnh kỹ lưỡng và khám nghiệm cẩn thận với thử nghiệm nếu cần thiết. Thường cần phân biệt chứng đau bụng cấp tính và kinh niên. Đau bụng cấp tính là triệu chứng của những bệnh quan trọng có thể nguy hiểm đến tính mạng nên cần phải được khám nghiệm và chữa trị tại nhà thương. Bệnh nhân bị đau bụng cấp tính nên đến thẳng phòng cấp cứu (emergency room) thay vì đến phòng mạch bác sĩ tư để tránh việc chậm trễ trong việc định bệnh và trị liệu.
Những bệnh gây ra đau bụng cấp tính rất nhiều và một số lớn là các bệnh cần phải giải phẫu. Đau bụng cấp tính có thể xảy đếnn nhanh chóng, đột ngột hoặc trong vòng một vài ngày, càng lúc càng đau nhiều và có thể kèm thêm các triệu chứng khác. Nguyên nhân có thể do nhiều thứ bệnh khác nhau hoặc do bệnh của nhiều cơ quan khác nhau. Một trong những cơ chế làm đau bụng cấp tính là viêm màng bụng. Màng bụng bọc các cơ quan này nên khi bị viêm sẽ gây ra đau bụng dữ dội. Thí dụ như đau ruột dư (appendicitis), lủng ruột dư, bao tử bị loét và làm lủng bao tử, tuyến tụy tạng bị viêm (pancreatitis) v.v. . .
Một nguyên nhân khác cũng làm đau bụng cấp tính là bị nghẹt các đường tiêu hoá hoặc nghẹt ống dẫn tiểu. Ruột non, ruột già bị nghẹt hoặc bị xoân lại, ống dẫn mật chảy từ túi mật xuống ruột non bị sạn mật làm nghẹt, ống dẫn tiểu (ureter) bị sạn thận làm nghẹt..v..v.. các bệnh này đều gây đau bụng cấp tính và cần giải phẫu.
Những nguyên nhân về mạch máu cũng có thể làm đau bụng dữ dội như nghẹt mạch máu nuôi ruột non, hoặc đại động mạch bụng (abdominal aorta) bị phồng to và bị bể, xảy ra ở người già... Những nguyên nhân do bệnh biến dưỡng cũng có thể gây ra đau bụng cấp tính như tiểu đường, suy thận kinh niên làm chất urea trong máu quá cao v.v. . .
Đau bụng kinh niên khác với đau bụng cấp tính tuy cũng có thể do rất nhiều các thứ bệnh gây ra. Thông thường việc định bệnh sẽ tuỳ vào bệnh trạng: tính cách đau như thế nào, thường xuyên hay không thường xuyên, có những triệu chứng đi kèm nào khác, vị trí của điểm đau ở chỗ nào. Thí dụ như đau ở phía giữa ngay chỗ xương chấn thủy, đau một hai tiếng sau khi ăn, có thể là do bệnh về bao tử như loét bao tử. Đau ở vùng bụng trên phía bên phải, dưới xương sườn, đau nhiều hơn khi ăn đồ mỡ, và đau chạy lên trên vai có thể do bệnh về túi mật gây ra. Đau ở hai bên bụng dưới, bị nóng sốt, có thể là bệnh viêm bụng dưới (pelvic inflammatory disease) ở người đàn bà. Đau bụng dưới cũng có thể do bệnh về buồng trứng như bị cyst, ung thư buồng trứng, bệnh tử cung ..v.v. . . Đau bụng địa điểm không rõ rệt, sờ thấy có cục trong bụng có thể do bướu trong bụng, hoặc bướu lành hoặc ung thư. Định bệnh về bướu trong bụng cũng rất phức tạp, cần phải có những thử nghiệm đặc biệt như làm siêu âm (ultra sound) hay quang tuyến đặc biệt gọi là CAT scan.
Để trả lời câu hỏi của bà trong thư, chứng đau bụng dưới kinh niên của bà kèm với những triệu chứng về tiêu hoá cần phải được khám nghiệm cẩn thận để loại trừ những bệnh quan trọng và nguy hiểm như viêm ruột, ung thư ruột già .. v.v. . . Những thử nghiệm cần phải có là chụp quang tuyến ruột già (barium enema) hay soi ruột gọi là Sigmoidoscopy hoặc soi toàn thể ruột già gọi là Colonoscopy. Người Việt Nam nếu mới sang có thể sẽ cần thử phân để loại trừ những bệnh về ký sinh trùng. Ngoài ra ở phụ nữ có thể cần phải làm siêu âm để loại trừ bệnh về buồng trứng như ung thư buồng trứng.
Nếu tất cả thử nghiệm đều tốt, không có những bệnh quan trọng như kể trên, những triệu chứng như đau bụng dưới phía bên trái, tiêu hoá không điều hòa, lúc bón lúc tiêu chảy hoặc đi cầu phân có nhiều đàm, phân nhỏ như cọng đũa, rời rạc v.v... có thể là do một chứng bệnh làm co thắt ruột già do kích thích quá độ gọi là bệnh irritable bowel syndrome hay còn gọi là spastic colitis. Bệnh này thường xảy ra ở phụ nữ nhiều hơn đàn ông khoảng gấp hai lần, trung bình ở vào tuổi 30 - 50. Nguyên nhân của bệnh là do sự co thắt, vận chuyển của ruột già không được bình thường. Nếu ruột già co thắt quá độ sẽ làm đau và tuỳ từng lúc có thể sẽ có lúc bị bón hoặc ngược lại bị tiêu chảy.
Lý do gây ra sự kích thich quá độ này là do phản ứng bất thường của ruột già của những người bị bệnh với một kích thích tố gọi là Cholecystokinin. Một yếu tố khác nữa cũng gây ảnh hưởng trên sự co thắt không bình thường của ruột già là yếu tố tâm lý. Buồn phiền, lo âu, ám ảnh, đè nén tâm lý nhiều đều có tác dụng làm cho bệnh co thắt ruột già bị nặng hơn.
Bệnh co thắt ruột già tương đối xảy ra khá nhiều. Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ về bệnh này theo một thống kê lên đến 17% dân chúng, tuy số người đi khám bệnh và thử nghiệm ở mức thấp hơn. Dân Việt Nam không có thống kê về tỷ lệ bệnh này nhưng với những đè nén về tâm lý đối với người tỵ nạn, số người bị chứng co thắt ruột già cũng không phải là ít. Điều quan trọng đối với người Việt Nam là phần lớn người Việt khi đến tuổi trưởng thành không hấp thụ được sữa do thiếu chất phân hoá tố Lactase (khoảng 70 - 80% người Việt) và rất nhiều người cũng sẽ có những triệu chứng gần giống như bệnh co thắt ruột già, vì thế những người bị bệnh này phải kiêng sữa hoặc dùng thuốc Lact-Aid là chất phân hoá tố lactase uống thêm vào mỗi khi muốn uống sữa.
Việc chữa trị bệnh co thắt ruột già tương đối không được khả quan cho lắm vì không chữa dứt hẳn được tuy bệnh có lúc bị nhiều, bị ít hoặc hoàn toàn không có triệu chứng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tâm lý. Thuốc chữa có thể dùng là những loại thuốc anti-cholinergic để chóng co thắt như Bentyl, Levsin... Ăn nhiều các đồ ăn có chất sợi (fibers) như ăn rau, cereals, trái cây v.v. . . cũng giúp ích. Hoặc uống thuốc để phân được chất và nhiều như Metamucil, Citrucel, Per Diem. . . cũng giúp cho việc tiêu hoá. Trường hợp bị xung đột tâm lý nhiều có thể phải dùng thuốc an thần đế tránh cho bệnh co thắt ruột già bị nặng hơn.
Tóm lại, triệu chứng đau bụng cần phải được khám nghiệm cẩn thận, đặc biệt nếu bị đau bụng cấp tính, vì có thể có những bệnh cần giải phẫu. Trường hợp đau bụng kinh niên, thường phải làm nhiều thử nghiệm để định bệnh chính xác. Điều quan trọng là tìm ra bệnh và trị liệu sớm những bệnh quan trọng. Bệnh co thắt ruột già tương đối khá thông thường nhưng cần phải loại trừ những bệnh nguy hiểm như ung thư, viêm ruột v.v. . . trước khi xác định và chữa trị bệnh này.
&&&
DA VÀNG
HỎI:
Nhiều người nói da tôi mấy tháng nay thấy hơi vàng. Tôi có đi khám bệnh và thử máu mấy lần và được cho biết tôi không có bệnh gì về gan. Tôi thấy người cũng khỏe mạnh, thường chỉ ngoài việc da vàng hơn trước kia. Tôi giữ sức khỏe điều độ, ăn trái cây, uống nước cà rốt mỗi ngày đễ cho mát mẻ, không hiểu sao lại bị như vậy?
Nguyễn T. V.
ĐÁP:
Nguyên nhân chứng vàng da thường nhất là do bệnh gan như viêm gan, cứng gan. Bệnh về túi mật, nghẹt ống dẫn mật cũng thường làm vàng da. Một số ít trường hợp do dùng thuốc làm ảnh hưởng đến gan và vàng da (thuốc ngừa thai là một thí dụ). Một số trường hợp khác do chứng tiêu huỷ hồng huyết cầu làm lượng bilirubin cao cũng làm vàng da. Những bệnh này là những bệnh nặng, khi đi khám và thử máu sẽ tìm ra dễ dàng.
Trường hợp của bà đã đi khám và thử máu nhiều lần được cho biết không có bệnh gì quan trọng, thực sự việc định bệnh rất rõ ràng và dễ hiểu nếu bà khai bệnh từ đầu có nhắc đến việc uống nước cà rốt mỗi ngày.
Khi ăn hay uống quá nhiều cà rốt, chất carotene là chất sinh tố có rất nhiều trong cà rốt sẽ tăng rất cao trong máu. Chất carotene được cơ thể dùng để biến đổi sang vitamin A, nhưng khi ăn quá nhiều carotene, phản ứng biến đổi này bị ngăn cản và lượng carotene trong máu sẽ tăng cao gọi là chứng carotenemia. Chứng này thật ra không gây gì nguy hại cho sức khoẻ cả, chỉ làm khó coi vì da sẽ trở thành vàng hơn, đặc biệt ở lòng bàn tay và lòng bàn chân. Một đặc điểm để phân biệt với các bệnh vàng da do gan hay các bệnh nặng khác là lòng trắng mắt không đổi sang vàng trong khi bệnh gan làm vừa vàng da vừa vàng mắt.
Trị liệu không phải làm gì, chỉ việc ngưng ăn hay uống nước cốt cà rốt sau vài tuần da sẽ hết vàng và trở lại bình thường. Điều nên nhớ là ngoài cà rốt, một số trái cây, rau có nhiều màu (cà chua, nước rau V- 8 .. v.v...) cũng có nhiều carotene, không nên dùng quá nhiều để tránh vàng da trở lại.
&&
KHÔNG HẤP THỤ ĐỒ ĂN
HỎI:
Tôi bị chứng tiêu hoá không tốt, ăn không thấy tiêu, bụng hay sình, nhất là khi uống sữa. Đi cầu hay bị lỏng, thường thấy có váng như mỡ. Qua Mỹ đã lâu không thấy mập lên mà còn xuống cân. Gần đây tôi có đi thử máu và được cho biết là bị thiếu máu. Xin bác sĩ cho biết bệnh này thuộc loại gì và cách chữa trị ra sao?
Vũ V. T.
ĐÁP:
Bệnh tiêu hoá với những triệu chứng như ông kể thuộc về loại bệnh không hấp thụ đồ ăn (malabsorption). Đây là một trong những chứng bệnh với sự định bệnh khó khăn và tìm nguyên nhân để chữa trị phức tạp nhất.
Thực phẩm ta ăn vào được tiêu hoá và hấp thụ dưới các hình thức chính: chất bột chất đạm, chất béo, vitamins và các khoáng chất cần thiết cho cơ thể và sau cùng nước và các chất điện giải.
Đồ ăn trước tiên được tiêu hoá trong bao tử dưới tác dụng của acid và pepsin do bao tử tiết ra, sau đó sẽ được các phân hoá tố (enzymes) trong phần đầu của ruột non tiếp tục tiêu hoá tiếp thành những phần tử nhỏ hơn và được hấp thụ qua màng nhầy của ruột non.
Chất bột (carbohydrates) như gạo, bánh mì, sữa, đường, trái cây được một phân hoá tố có trong nước bọt và dịch tụy tạng gọi là amylase tiêu hoá. Chất bột như gạo, bánh mì sẽ bị cắt thành những phần tử nhỏ gọi là maltose. Maltose sẽ bị một phân hoá tố trong ruột gọi là maltase cắt thành hai phân tử glucose và hấp thụ. Sữa (lactose) không hấp thụ trực tiếp được, phải cần phân hoá tố lactase cắt ra làm hai phân từ glucose và galactose mới được màng nhầy ruột non hấp thụ. Tương tự, chất đường (sucrose) cũng phải có phân hoá tố sucrase phân ra làm hai là glucose và fructose mới vào ruột non được.
Trong vấn đề hấp thụ chất carbohydrates như trên, một bệnh thường thấy nhất làm không hấp thụ đồ ăn được là bệnh thiếu phân hoá tố lactase để hấp thụ sữa. Đặc biệt ở người Việt Nam và các dân Đông Nam Á khác, khoảng 80% dân số thiếu phân hoá tố lactase này nên không hấp thụ được sữa. Thường khi bắt đầu trưởng thành mới có triệu chứng này, uống sữa không tiêu bị đau bụng, sình bụng và tiêu chảy. Một số lớn dân Việt Nam bị thiếu phân hoá tố lactase một phần xảy ra sau khi bị nhiễm trùng ruột, làm tổn hại đến màng nhầy ruột, cộng thêm với đặc tính di truyền làm mất dần phân hoá tố lactase và sau cùng thiếu hoàn toàn, dù chỉ uống một chút sữa (100-200 cc) cũng sẽ gây ra triệu chứng.
Chất béo ta ăn vào phần lớn ở dưới dạng mỡ triglycerides. Khi vào đến phần đầu của ruột non, sự hiện diện của chất mỡ sẽ làm tụy tạng (pancreas) tiết ra phân hoá tố gọi là lipase và làm túi mật bài tiết ra mật chảy xuống ruột non. Phân hoá tố lipase và mật sẽ giúp cho sự tiêu hoá chất mỡ triglycerides thành các phần từ nhỏ gọi là acid béo (fatty acids) và monoglyce- rides, sau đó được hấp thụ vào ruột non.
Như vậy sự hấp thụ chất béo cần sự làm việc của tụy tạng, túi mật và gan (mật được làm từ gan và chảy xuống túi mật). Những người bị bệnh gan như viêm gan, cứng gan do rượu v. v... hoặc bị bệnh có sạn trong túi mật, nghẹt ống dẫn mật... sẽ gây ra sự trở ngại trong việc bài tiết mật xuống ruột non để tiêu hoá chất béo và làm không hấp thụ được chất béo.
Bệnh về tụy tạng như viêm tụy tạng do uống rượu quá nhiều, ung thư tụy tạng ..v.v... sẽ làm ngăn trở việc tiết ra phân hoá tố lipase để tiêu hoá chất béo cũng sẽ gây ra sự không hấp thụ được chất béo.
Những người bệnh này vì không hấp thụ được chất béo sẽ đi cầu ra phân có váng mở gọi là steatorrhea, người bệnh có thể tự thấy váng mỡ khi đi tiêu chảy. Muốn biết chính xác hơn phải thử nghiệm phân, nhuộm phân gọi là Sudan stain để xem dưới kính hiển vi và sẽ thấy các giọt mỡ, hoặc đo lượng chất béo trong phần trong 24 tiếng đồng hồ.
Chất đạm có trong thịt, cá … được tiêu hoá một phần trong bao tử bằng phân hoá tố pepsin, tuy nhiên phần lớn sẽ được tiêu hoá ở ruột non bằng các phân hoá tố của tụy tạng như chất trypsin, chymotrypsin. Chất đạm protein sẽ được phân ra thành các amino- acids hay các phần tử nhỏ gọi là dipeptides và được hấp thụ qua màng nhầy của ruột non.
Một số bệnh hiếm có làm sự hấp thụ các chất amino-acids bị ngăn trở vì không hấp thụ được, tuy nhiên phần lớn các trường hợp bệnh tiêu hoá làm mất chất đạm vì màng nhầy ruột non bị lở loét và mất chất đạm từ trong máu ra. Bệnh về sự hấp thụ chất đạm tương đối ít hơn.
Các sinh tố (vitamins) được hấp thụ trong ruột tùy theo loại: Các sinh tố A, quan trọng về mật; sinh tố D quan trọng cho xương; sinh tố K về đông máu và sinh tố E về sinh dục vì tan trong chất béo nên được hấp thụ đi theo với các chất béo như đã nói ở trên. Các người bệnh không hấp thụ được chất béo, đi phân váng mỡ, thường sẽ thiếu các loại vitamins này. Đối với các loại sinh tố tan trong nước như BI2, folic acid quan trọng cho sự tạo máu, sự hấp thụ xảy ra ở phần cuối của ruột non (ileum) nên những bệnh ở phần ruột này sẽ dễ gây ra thiếu máu vì thiếu sinh tố BI 2 và folic acid.
Một số khoáng chất quan trọng cũng được hấp thụ theo đồ ăn trong ruột non như chất sắt, chất vôi calcium. Bệnh tiêu hoá làm không hấp thụ đồ ăn sẽ gây ra thiếu máu vì thiếu chất sắt hoặc thiếu calcium trong máu làm co rút bắp thịt, tay chân ..v.v. .
Tìm nguyên nhân về chứng không hấp thụ đồ ăn như vậy tương đối khá phức tạp vì có khoảng vài chục thứ bệnh khác nhau đều có thể gây ra chứng này. Một
số bệnh đối với người Hoa Kỳ thông thường nhưng ở người Việt Nam rất hiếm thấy hay hầu như không có, thí dụ như bệnh viêm ruột loại Crohn’s disease. Ngược lại, người Việt Nam phần lớn hay bị bệnh thiếu phân hoá tố lactase để hấp thụ sữa trong khi dân da trắng chỉ bị khoảng 10%. Tựu trung đối với người Việt Nam, các bệnh gây ra chứng không hấp thụ đồ ăn thường do bệnh về gan và mật như đã nói ở phần trên. Ngoài ra, những người uống rượu nhiều có thể bị bệnh về viêm tụy tạng (pancratitis) làm thiếu các phân hoá tố để tiêu hoá. Những người bị mỗ vì loét bao tử phải cắt một phần bao tử, hoặc bị nghẹt ruột phải cắt một phần ruột cũng dễ bị chứng không hấp thụ đồ ăn. Những người hay bị nhiễm trùng ruột làm tiêu chảy như các vi trùng Salmonella, Shigella, ký sinh trùng amib thấy ở những người Việt mới sang hoặc đi du lịch Việt Nam về cũng hay bị chứng không hấp thụ đồ ăn xảy ra một thời gian sau khi nhiễm trùng.
Đặc biệt một loại bệnh về ruột làm không hấp thụ đồ ăn dễ xảy ra với người Việt Nam là bệnh viêm ruột vùng nhiệt đới (tropical sprue). Nguyên nhân không rõ rệt, có thể do vi trùng hay do độc tố của vi trùng nhưng bệnh này có thể xảy ra nhiều tháng hay đôi khi cả năm sau khi đi du lịch ở vùng nhiệt đới trở về. Bệnh làm sụt ký, ăn không được, tiêu chảy, thiếu máu, thiếu sinh tố như BI2, folic acid v.v... Định bệnh tương đối khó khăn, phải loại trừ các bệnh nguy hiểm khác như ung thư, bệnh về miễn nhiễm v.v... Đôi khi phải dùng ống luồn xuống ruột để soi gọi là endoscopy và cắt một miếng nhỏ để xem dưới kính hiển vi gọi là biopsy để định bệnh. Chữa trị bệnh này phải chích sinh tố BI2, uống sinh tố folic acid để trị thiếu máu và uống trụ sinh như Tetracycline, Bactrim vài tuần lễ để trị mới dứt hẳn được.
Vấn đề chữa trị chứng không hấp thụ đồ ăn như vậy phải tìm nguyên nhân và trị liệu theo tùy từng căn bệnh. Đối với người Việt Nam hay bị thiếu phân hoá tố lactase, hoặc tránh uống sữa, hoặc có thể dùng thuốc tên Lact- Aid (là lactase dưới hình thức viên hay nước) bán không cần toa để uống chung với sữa hay cheese.. v.v. . . và tránh được triệu chứng do sự không hấp thụ sữa gây ra. Các bệnh về gan, túi mật thực sự không có thuốc chữa trừ trường hợp sạn mật có thể dùng thuốc Actigall để làm tan sạn, tuy nhiên hiệu quả cũng chỉ vừa phải. Các bệnh về tụy tạng như viêm tụy tạng cũng không có thuốc trị ngoại trừ việc ngưng uống rượu. Những người bệnh bị các bệnh này và thiếu phân hoá tố có thể dùng thuốc uống thay thế như Kuzyme, Viokase, Festal v.v... để giúp cho việc tiêu hoá và hấp thụ đồ ăn. Ngoài ra, nếu thiếu các khoáng chất như chất sắt, calcium, vitamins, cũng phải uống thuốc bổ có các chất này để bồi bổ lại.
Tóm lại, chứng không hấp thụ đồ ăn tương đối xảy ra cũng khá thường với người Việt Nam, việc định bệnh không phải dễ dàng, tuy nhiên tìm ra nguyên nhân là điều quan trọng, đòi hỏi việc khám nghiệm và thử nghiệm một cách chính xác để chữa trị có hiệu quả.
&&&
HO
Ho là chứng thông thường nhất của vấn đề hô hấp và là một trong những lý do đi khám bệnh thường nhất. Ho thực sự là một phương cách của cơ thể để tống khứ những vật lạ ra khỏi đường hô hấp, cũng như là một cách “rửa” của cơ thể để đẩy đàm, chất nhớt ra khỏi khí quản.
Như vậy ho là một cơ chế bình thường, chỉ khi nào ho kéo dài quá lâu, hoặc đi kèm với những triệu chứng khác, lúc đó mới là bệnh tật. Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về động tác ho.
Ho có thể do ý muốn hoặc do phản xạ tức bị bắt buộc phải ho, không ho không được. Ho bắt nguồn từ những kích thích trên những vùng tiếp nhận kích thích gọi là receptors trên màng nhày của khí quản.
Những kích thích này theo các giây thần kinh số 5, số 7, số 10 hoặc giây thần kinh thanh quản trên chạy về trung khu não bộ. Phản xạ ho được thực hiện bằng giây thần kinh thanh quản chạy ngược gọi là recurrent laryngeal nerve ra lệnh cho phần lưỡi gà của cổ họng đóng kín đường hô hấp. Giây thần kinh tuỷ sống sau đó ra lệnh cho các bắp thịt ngực và bụng co thắt.
Vì phần lưỡi gà ở cổ bị đóng nên khi các bắp thịt này co thật mạnh, ấp suất trong ngực và khí quản tăng lên đột ngột. Khí quản cũng bị ép nhỏ lại, nên khi lưỡi gà mở ra, ấp suất tống hơi từ buồng phổi ra ngoài đi qua khí quản bị thắt hẹp sẽ làm cho vận tốc của làn hơi nhanh bằng với vận tốc của âm thanh. Nói cách khác dễ hiểu hơn tức là làn hơi bị tống xuất thật nhanh tạo ra tiếng ho.
Lực bắn này cũng rất mạnh sẽ làm đàm, chất nhớt theo đó bị tống ra ngoài. Vậy ho có thể hiểu là một phản ứng tự vệ của cơ thể và phản xạ ho chính là để giúp chúng ta không bị nghẹt thở khi đàm hay chất nhờn tiết ra quá nhiều, hay có vật gì rơi vào trong đường hô hấp làm nghẹt.
* Các loại ho.
Ho có nhiều loại. Thường phân biệt chính là ho khan, không có đàm và ho ra đàm. Đàm đi kèm với ho là triệu chứng quan trọng để định bệnh. Thường phải biết đàm nhiều hay ít, màu gì, trắng hay đàm đặc, có màu vàng hay xanh. Đàm có máu hay không? Vì thế khi đi khám bệnh nếu có đàm nhiều ở nhà, đôi khi phải mang đến phòng mạch để bác sĩ xem. Những trường hợp cần thử đàm, cáy vi trùng, thường phải lấy đàm lúc sáng mới ngủ dậy để thử nghiệm.
Tiếng ho cũng quan trọng. Tiếng ho gắt, rít rít trong cổ có thể do bệnh ở phần trên của cổ họng gọi là epiglottis như trường hợp ho gà do vi trùng Hemophilus pertussis gây ra ở trẻ con. Bệnh này ở Mỹ hiện giờ hiếm thấy nhưng ở Việt Nam bị nhiều. Trẻ con bị nặng nhiều khi phải mổ yết hầu gọi là tracheostomy mới thở được.
Ho khò khè thường xảy ra khi đi chung với bệnh suyễn. Thực sự rất nhiều trường họp bệnh suyễn khởi đầu bằng ho. Ho nhiều ban đêm, ho “kéo đàm lên cổ” thành tiếng khò khè là dấu hiệu của suyễn. Một số người bị bệnh suyễn nhưng chỉ có ho không mà hoàn toàn không khò khè. Những trường hợp này phải đi khám nghiệm và làm thử nghiệm mới biết là do suyễn được.
Ho có thể cấp tính tức chi bị một vài ngày rồi hết hoặc có thề là kinh niên. Nhiều người ho dai dằng, kéo dài từ tháng này qua tháng khác, hay kéo cả năm. Một số ít bị ho kinh niên cả đời, lúc nào cũng có thể bắt ho được.
Một dấu hiệu quan trọng khác nữa là nhiệt độ. Ho không nóng sốt thường nhẹ hơn trường hợp ho đi kèm với sốt, vì sốt thường báo hiệu bị nhiễm trùng và cần phải chữa trị ngay.
Ho kéo dài lâu có thể do bệnh gì gây ra?
Chứng ho thường nhất là do bệnh cảm, bệnh cúm gây ra. Các bệnh này do cực vi trùng nên chỉ kéo dài trong vài ngày hoặc một tuần rồi tự khỏi.
Tuy nhiên sau khi bị cảm, cúm nếu sau cả tuần vẫn tiếp tục ho, bắt đầu có nhiều đàm, hay đàm trở thành đặc hơn, nhiều hơn, đổi màu ra vàng, xanh, đây là dấu hiệu bị biến chứng. Thường là do sưng cuống phổi hay sưng phổi. Các vi trùng quan trọng gây bệnh là Pneumococcus hay Hemophilus cần phải có trụ sinh để trị bệnh. Đặc biệt người già dễ bị những bbiến chứng sưng phổi này nên phải đặc biệt cẩn thận và đi khám nghiệm ngay nếu ho kéo dài lâu như đã nói trên.
Ho kéo dài quá lâu nếu kèm khò khè có thể do suyễn. Nếu ho kéo dài cả một vài tháng và theo mùa như vào đầu xuân hay lúc trời sang thu, có thể bị suyễn do dị ứng gây ra và làm ho kinh niên, kéo dài. Một số người trước khi thành suyễn hẳn và bị nặng sẽ có chứng ho kinh niên theo mùa. Thường phải khám chuyên môn mới định ra bệnh vì những dấu hiệu của suyễn lúc đầu chưa rõ ràng.
Ho bị lâu cũng có thể do bệnh sưng cuống phổi kinh niên gây ra (chronic bronchitis). Những người bị ho kéo dài trên ba tháng với khạc đàm, nếu bị mỗi năm như vậy trong hai năm liền là bị bệnh sưng cuống phổi kinh niên.
Nguyên nhân thông thường nhất là hút thuốc lá. Ho nhiều, mỗi sáng thức dậy đều phải khạc đàm là dấu hiệu của những người hút thuốc bị sưng cuống phổi kinh niên. Một số người bị chứng này vì hít thở không khí bị ô nhiễm. Tại Houston, không khí ô nhiễm là do các nhà máy dầu thả khói gây ra. Ngoài ra các người làm nghề phải thở hít các chất hoá học nhiều, hay bụi bậm nhiều như các nghề tiện, làm nails.. v.v... cũng dễ bị ho kinh niên do chứng sưng cuống phổi kinh niên gây ra.
Ho lâu nếu bị sút ký, sốt về chiều, ho ra máu … phải coi chừng bệnh lao. Người Việt bị lao phổi nhiều nên phải rất cẩn thận về bệnh này. Thường phải chụp hình phổi để định bệnh và sau đó thử đàm. Bệnh lao phổi cần phải định bệnh sớm và điều trị đúng mức, lâu dài trong cả năm tuy nhiên với thuốc men đầy đủ và có thể chữa và lấy thuốc miễn phí tại các chân y viện lao của chính phủ nên không có gì đáng ngại. Điều quan trọng là nếu ho kéo dài, cần phải đi khám và chụp hình phổi để tìm bệnh.
Ho kéo dài lâu cũng có thể do ung thư phỗi gây ra. Những người hút thuốc lá đặc biệt phải chú trọng đến bệnh này. Hút thuốc nhiều năm, hút nhiều mỗi ngày, bị ho lâu, bị mất ký, đau ngực, ho ra máu. . . phải coi chừng bị ung thư phổi. Chụp hình phổi là thử nghiệm đầu tiên phải làm. Nếu nghi ngờ sẽ phải soi bằng ống soi luồn xuống phổi để cắt một miếng nhỏ và coi dưới kính hiển vi.
Một số người bị bệnh tim nếu bị suy tim, có nước trong phổi cũng bị ho, đôi khi ho ra đàm như sủi bọt pha với máu hồng. Những người bị nhọt mủ, abcès trong phổi bị ho, khạc ra mủ. Nhiều người bị chứng bao tử phòi ra trên ngực gọi là hiatal hernia ăn xong hay bị đồ ăn chạy ngược rơi vào khí quản cũng hay bị làm ho kinh niên. Còn rất nhiều bệnh khác cũng gây ra ho kinh niên tuy hiếm hơn.
Ho kéo dài lâu như vậy có thể do nhiều bệnh quan trọng và nguy hiểm gây ra nên thường phải đi khám nếu bị ho lâu. Hỏi bệnh và khám phổi thường có thể xác định được chứng ho có phải do bệnh nào quan trọng không. Tuy nhiên muốn đích xác thường phải làm thêm thử nghiệm.
Quan trọng nhất là chụp hình phổi chest X-ray sẽ cho biết có bị sưng phổi hay không, có lao phổi hay không hoặc ung thư phổi hay không? Ngoài ra có thể biết có nước trong màng phổi hay không, hay phổi bị xẹp do không khí thoát ra trong lồng ngực ép phổi lại gọi là pneumothorax. Nhiều người hút thuốc lá nhiều cũng có thể thấy phổi bị yều trương phình lên gọi là emphysema. Ngoài ra chụp hình quang tuyến phổi cũng thấy được kích thước của tim, tim có bị lớn làm suy tim hay không?
Thử nghiệm khác là thử đàm. Thường thử khi nghi sưng phổi để biết loại vi trùng nào. Đàm có thể nhuộm để xem dưới kính hiển vi gọi là Gram stain để biết loại nào và cáy vi trùng để biết đích xác hơn. Thử đàm cũng cần khi nghi lao phổi. Chỉ thử đàm và cáy mới có thể định bệnh chắc chắn, tuy nhiên thường quyết định chửa trị dựa nhiều hơn vào hình phổi vì thử đàm lao có thể không thấy.
Một thử nghiệm khác nữa là đo hô hấp hay spirometry. Đo hô hấp sẽ giúp định bệnh suyễn hay phổi yếu, suy phổi do hút thuốc lá quá nhiều. Thường đo mức thổi trong một giây gọi là FEV-1 và đo dung tích của phổi gọi là FVC. Ngoài ra còn một số các đo lường khác về mức làm việc của phổi.
Thử nghiệm soi phổi gọi là bronchoscopy như đã nói ở trên được dùng khi nào nghi ngờ có ung thư phổi để định bệnh chắc chắn.
Tóm lại, ho là một triệu chứng quan trọng của bệnh phổi. Nếu ho lâu, có thể do những bệnh quan trọng gây ra và cần đi khám để định bệnh. Chữa trị về ho việc chính là chữa các bệnh gây ra ho. Chữa triệu chứng ho chỉ dùng khi ho do cảm cúm thường gây ra. Trường hợp này các thứ thuốc ho bán ngoài không cần toa có thể dùng. Phần lớn dùng thuốc có chất Dextromethorphan viết tắt dưới tên DM như trong Robitussin- DM, Triaminic-DM ..v.v... Chỉ trừ khi không có hiệu quả hay ho quá mức làm đau ngực, đau khớp xương sườn..v..v.. mới nên dùng thuốc ho có chất codeine phải có toa. Thuốc codeine không nên dùng lâu vì có thể gây ra ghiền. Một số người cũng dễ bị phản ứng do codeine gây ra.
Một điều nên nhớ là ho chính là phản ứng tự vệ của cơ thể để tống khứ các thứ có hại cho cơ thể nên nếu bị sưng cuống phổi, bị sưng phổi, nên tránh dùng thuốc ho mạnh vì cơ thể cần đấy đàm ra ngoài. Uống trụ sinh để trị vi trùng và uống nước nhiều hay thuốc làm lỏng đàm tốt hơn. Thuốc ho như thế chỉ nên dùng nếu không bị bệnh gì quan trọng và chỉ là cảm cúm nhẹ, không có biến chứng.
Ho là chứng thường bị tuy nhiên cũng có thể là dấu hiệu báo cho biết cơ thể có những bệnh khác nguy hiểm. Điều cần là để ý xem có những dấu hiệu nào khác đi kèm hay không và nếu kéo dài cần phải khám và thử nghiệm cẩn thận để có thể chữa trị sớm các bệnh quan trọng đã gây ra chứng ho.
&&&
★
★
★
★
★
0