📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Giải đáp Y Học - BS Nguyễn Đình Phùng 🔒

18 trả lời, 122 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.11.2018 16:50:39 bởi Ct.Ly>
MỤC LỤC

1 – Áp huyết cao
2 – Tiểu đường
3 - Cholesterol cao     
4 - Khám tổng quát
5 - Nghẹt động mạch tim (Heart attack)    
6 - Vitamin E và ngừa bệnh tim   
7 - Bệnh đứt mạch máu    đầu (Stroke)      
8 - Loét bao tử     
9 - Ung thư bao tử     
10 - Đau cuống bao tử     
11 - Viêm gan     
12 - Ung thư gan      
13 - Đi tiêu ra máu      
14 - Ung thư ruột già     
15 - Tiêu chảy     
16 - Ói mửa     
17 - Đau bụng     
18 - Da vàng     
19 - Không hấp thụ đồ ăn     
20 - Ho    
21 - Sưng phổi      
22 - Bệnh suyễn      
23 - Ung thư phổi     
24 - Lao phổi      
25 - Thở quá nhanh     
26 - Khó thở     
27 – Hồi hộp     
28 - Phù chân     
29 - Đau ngực     
30 - Nghẹt van tim     
31 - Chóng mặt     
32 – Ngất xỉu     
33 – Thiếu máu     
34 – Dị ứng mũi    
35 - Nhiễm trùng khoang mũi      
36 - Bệnh ngứa mề đay     
37- Bệnh cảm     
38 - Bệnh cúm    
39 - Nhiễm trùng cổ họng   
40 - Trái rạ ..   
41 – Sốt rét    
42 - Bệnh nhiễm trùng sinh dục   
43 - Bệnh AIDS   
44 - Nhiễm trùng đường tiểu      
45 – Tiểu ra máu    
46 – Tiểu khó      
47 - Sạn thận      
48 - Bướu cổ     
50 - Sụt cân     
51 - Ốm quá muốn mập    
52 – Bệnh mòn xương      
53 – Đau nhức khớp xương     
54 – Nhức đầu kinh niên     
56 - Méo miệng      
57 - Lang ben      
58 – Nổi hạch      
59 - Những ngộ nhận thông thường của người Việt về sức khoẻ và bệnh tật
 
Lời Nói Đầu
Tìm hiểu về đời sống, cơ thể của chính chúng ta, về sức khỏe và bệnh tật là điều cần yếu khi sinh sống trong một xã hội văn minh và tân tiến. Quyển sách này được viết đễ giải đáp những thắc mắc về y khoa thông thường, những bệnh hay xảy đến với người Việt nói chung và người Việt tỵ nạn tại hải ngoại nói riêng.
Những nguyên nhân và cơ chế của bệnh tật được nhấn mạnh và giải thích trong cuốn sách này cũng như các phương thức định bệnh, cách chữa trị và việc bảo trì sức khỏe và phòng ngừa bệnh. Tuy đã cố gắng để đưa các điều hiểu biết mới nhất về y khoa đến người đọc nhưng với sự tiến bộ không ngừng của y hoc, những thiếu sót vẫn có thể xảy ra. Người viết hy vọng cuốn sách này đáp ứng phần nào nhu cầu tìm hiểu về y khoa của độc giả cũng như đem lại những lợi ích thiết thực cho việc giữ gìn sức khỏe cho mỗi người trong chúng ta.


BS Nguyễn Đình Phùng
 
 
 
 
 
&&&
 
ÁP HUYẾT CAO 
 
HỎI:
Tôi năm nay 55 tuổi, mới đươc sang Hoa Kỳ, gần đây tôi hay bị nhức đầu, choáng váng. Tôi có vào tiệm thuốc tây gần nhà và đo áp huyết thấy chi số 182/106. Xin bác sĩ cho biết như vậy có phải là cao áp huyết không? Nguy hiểm vè bệnh này như thế nào? Chữa trị ra sao?
Trương V. H.
 
ĐÁP:
Áp huyết cao là bệnh thông thường xảy đến với nhiều người, xuất hiện thường nhất ở tuổi trung niên, tuy người trẻ ở tuổi 20, 30 cũng có thể bị. Bệnh này không gây ra triệu chứng gì lúc đầu hoặc nếu có thường rất ít như triệu chứng ông vừa kể: nhức đầu, choáng váng v.v. . ., nên nếu không đi khám thường nhiều khi bị hàng năm, mười năm mới biết. Đối với các nước tân tiến như Hoa Kỳ, Âu Châu khoảng hai mươi năm qua, nhờ phong trào giáo dục quần chúng về hiểm họa của áp huyết cao, bệnh nhân thường được định bệnh sớm và được điều trị sớm nên mức độ chết vì biến  chứng của ấp huyết cao này đã giảm đi nhiều.
Ở Việt Nam mức hiểu biết về bệnh này còn ít nên số người bị ấp huyết cao không được chữa trị rất nhiều, nhiều người tỵ nạn sang Hoa Kỳ mới được định bệnh và chữa trị đúng cách. Ấp huyết gồm có hai con số : số đầu là áp suất của máu khi tim co bóp đẫy máu đi khắp cơ thể, gọi là Systolle pressure. Bình thường ở mức 140m/m thủy ngân hay thấp hơn. Con số thứ hai là áp suất của máu khi tim dãn nở để tĩnh mạch dồn máu về tim, gọi là Diastolic pressure. Bình thường ở mức 90m/m thủy ngân hay thấp hơn
 
Ấp huyết cao được định nghĩa dựa chính trên áp suất lúc tim dãn nở, diastolic pressure. Nếu ở mức dưới 90 là bình thường. Từ 90 đến 104 là áp huyết cao mức nhẹ. Từ 105 đến 114 là áp huyết cao mức nặng vừa. Trên 115 là loại nặng. Thông thường ở người bị áp huyết cao, mức áp suất lúc tim co bóp, systolic pressure, cũng tăng cao hơn 140m/m Hg khi mức diastolic pressure lên cao tuy không bắt buộc. Một số ít người, thường là người già, có mức systolic pressure cao nhiều trong khi diastolic pressure ở mức bình thường dưới 90m/m Hg. Trường hợp này gọi là systolic hypertension, nếu cao nhiều quá cũng cần phải chữa trị.
Trường hợp của ông ở mức áp huyết 182/106 với diastolic pressure 106 là áp huyết cao mức nặng vừa. Systolic pressure 182 như vậy cũng khá cao. Như đã nói ở trên, khi mới bắt đầu thường áp huyết cao không gây ra triệu chứng; ở mức cao như trường hợp của ông có thể gây ra những triệu chứng như nhức đầu, tuy nhiên quan trọng nhất là những biến chứng do áp huyết cao gây ra trên tim, trên não bộ, trên mắt và trên thận.
Áp huyết cao nếu không chữa sớm ảnh hưởng nặng nề trên tim. Tim phải làm việc nhiều hơn để bơm máu ra nên tim lớn và lâu ngày sẽ suy tim. Người bệnh bị khó thở, phù chân và có thể chết vì sau cùng bị suy tim hoàn toàn. Người bị áp huyết cao cũng thường bị cứng thành mạch máu đi kèm (atherosclerosis) nên cũng dễ bị nghẽn động mạch tim và có thể chết vì lý do này (heart attack). Áp huyết cao cũng thường gây biến chứng ở những mạch máu của võng mô trong mắt, gây ra mờ mắt, chảy máu trong mắt và có thể gây ra mù.
Trên não bộ, áp huyết cao gây ra biến chứng nguy hiểm nhất là chảy máu trong não bộ (stroke). Người bệnh có thể bị chết ngay vì bị quá nặng hay nếu bị nhẹ hơn gày ra liệt nửa người, á khẩu không nói được hay nói khó khăn, ngọng nghịu. Nhiều trường hợp áp huyết lên cao quá, người bệnh có thể bị mê man và làm kinh giật vì bị phù não bộ. Những trường hợp này xảy ra khi diastolic pressure cao cỡ 130-140 m/m hay hơn nữa, với systolic pressure cao cỡ 200m/m Hg trở lên.
Ảnh hưởng của áp huyết cao trên thận cũng gây ra nhiều tai hại: mạch máu trong thận bị cứng, cơ chế lọc máu tại thận bị xáo trộn gây ra chứng có đản bạch trong nước tiều, máu trong nước tiêu. Sau cùng bị suy thận hoàn toàn và có thể gây ra chết vì suy thận.
Nguyên nhân nào gây ra bệnh áp huyết cao? Mặc dù cơ chế gây ra áp huyết cao đã được tìm hiểu sâu rộng nguyên nhân đích xác gây ra bệnh này vẫn chưa được biết rõ. Một số trường hợp nhỏ (5 – 10%) áp huyết cao do một bệnh khác gây ra như một số bệnh về nội tiết bước ở tuyến thượng thận, bướu ở tuyến phó giáp trạng (parathyroid), hoặc một số ít người dùng thuốc ngừa thai bị biến chứng v..v..
Một số bệnh ở thận cũng gây ra áp huyết cao như bị nghẹt động mạch thận xáo trộn hệ thống reninangiotensin điều khiến sự hấp thụ muối, chất potasium, lượng nước cơ thể v…v..
Ngoài ra số nguyên nhân có thể tìm ra được , hơn 90% trường hợp nguyên nhân không được biết gọi là essential hypertention tuy nhiên một số yếu tố có tầm quan trọng trong việc xác định một người dễ bị chứng áp huyết cao hay không. Di truyền là một trong những yếu tố này tuy không được rõ rệt lắm. Môi trường sinh sống cùng quan trọng. Một số lớn người bị áp huyết cao vì ăn uống có nhiều muối quá và cơ thể thiếu khả năng điều hòa chất muối sodium. Dân Việt nam hay ăn mặn, dùng muối, nước mắm nhiều nên cũng có thể dễ bị áp huyết cao theo cơ thế này. Chất vo-i calcium  cũng quan trọng. Nếu ăn uống ít chất vôi quán áp huyết cũng dễ tăng cao. Potassium trong rau, trái cây v.v... cũng quan trọng. Ít chất này dễ bị áp huyết cao.
Một số người Việt Nam khi mới sang Hoa Kỳ vì thay đổi môi trường sinh sống, ăn uống nhiều thịt mỡ hơn, lên cân nhiều, cũng dễ bị áp huyết cao. Mập phì là một trong những yếu tố quan trọng gây ra áp huyết cao. Một số người này chỉ cần xuống ký có thể giữ mức áp huyết trong vòng bình thường và không cần phải uống thuốc.
Vì những biến chứng nguy hiểm của bệnh áp huyết cao, bệnh này cần phải được chữa trị khi khám phá ra. Thường nên đo hai lần trước khi bắt đầu chữa vì áp huyết có thể thay đổi, lúc lên lúc xuống. Trong mọi trường họp, người bị áp huyết cao thường nên tránh những lo âu, gây ra dồn ép về tinh thần (stress), ăn uống nên kiêng ăn quá mặn, bớt muối, nước mắm. Ăn rau, trái cây nhiều đễ thêm chất potassium, uống sữa hay ăn đồ có nhiều chất vôi calcium. Ăn giảm thịt mỡ có nhiều chất béo, cholesterol, xuống ký nếu mập quá. Tập thể dục đễ vừa xuống ký được, vừa giảm áp huyết. Thí dụ làm giảm áp huyết như đi bộ, bơi lội chứ không phải tập tạ, khuân nặng có thể làm tăng thay vì giảm áp huyết.
Các loại thuốc chữa về áp huyết cao hiện giờ có rất nhiều loại, tuỳ trường hợp từng người bệnh có thể dùng một loại khác nhau. Các loại chính gồm những thuốc lợi tiểu như Hydrocholoro thiazide, Dyazide v.v. . ., loại tác dụng lên não bộ như Methyldopa (Aldomet), Clonidine v.v. . . Loại làm dãn nở thành mạch máu như Hydralazine, Prazosin v.v. . . Loại thông dụng hiện giờ là các loại thuốc beta-blocker tác dụng trên tim như Propanolol (Inderal), Lopressor, Tenormin v.v. . ., loại ít gây tác dụng khó chịu (side effects) và thông dụng gồm có thuốc calcium blockers như Procardia, Verapamil v..v... hay thuốc ngăn chận chất angiotensin của thận như Capoten, Vasotec v..v…
Sự lựa chọn thuốc nào sẽ tuỳ thuộc vào người bệnh có thêm những bệnh khác đi kèm với áp huyết cao hay không, hoặc dùng thuốc bị phản ứng hay không hợp có thể đổi sang loại khác. Uống thuốc về áp huyết thường phải dùng cả đời. Một trong những sai lầm thường thấy của người bệnh là khi dùng một thời gian thấy áp huyết trở lại bình thường bèn ngưng thuốc và nếu không uống đều để giữ mức áp huyết bình thường, các biến chứng nguy hiểm vẫn có thể xảy ra như suy tim, nghẹn động mạch tim, đứt mạch máu, chảy máu não bộ v..v..
Tóm lại, áp huyết cao là một bệnh không chữa là một bệnh nguy hiểm, tuy nhiên chữa trị tương đối dễ dàng với thuốc men hiện tại vì sẽ giảm thiểu được rất nhiều những biến chứng tai hại cố thể xảy ra trong tương lai.




0
TIỂU ĐƯỜNG
HỎI:
Tôi năm nay 52 tuổi, gần đây thấy đi tiểu rất nhiều lần trong ngày, lúc nào cũng thấy khát nước, đồng thời sụt ký mất khoảng hơn l0 lbs, mặc dù ăn nhiều. Tôi nghe người bạn kể bị bệnh tiểu đường cũng bị giống hệt như vậy. Xin cho biết những triệu chứng đó có phải tiểu đường không? Chữa trị ra sao?
Huỳnh Văn B.
ĐÁP:
Ba triệu chứng ông kể: tiểu nhiều, lúc nào cũng khát phải uống nước nhiều và ăn nhiều mà vẫn sụt ký là hợp chứng để định bệnh tiểu đường. Muốn biết đích xác phải thử nghiệm; thử nghiệm giản dị có thể tự làm lấy là thử nước tiểu. Các tiệm thuốc tây đều bán những que giấy thử tiểu đường có thể mua không cần toa, que giấy nếu đổi màu khi nhúng vào nước tiểu có nghĩa là lượng đường trong nước tiểu quá cao và bị bệnh tiểu đường. Tuy nhiên muốn biết chính xác phải thử máu. Vì nếu bị nhẹ đôi khi thử nước tiểu không thấy đổi màu.
Thử máu về tiểu đường phải nhịn đói bưổi sáng, nếu lượng đường trong máu tròn 140 mg trong 100 cc máu và thử lại cùng trên mức đó là mắc bệnh tiểu đường. Bình thường lượng đường trong máu phải ở mức 80 đến 120 mg%.
Nguyên nhân mắc bệnh tiểu đường là do thiếu kích thích tố insulin trong cơ thể. Insulin là kích thích tố do tuyến tuy tạng (pancreas) tiết ra. Tụy tạng nằm sâu trong bụng, phần đầu dính với phần thập nhị chỉ tràng của ruột non. Tụy tạng tiết ra các phần hoá tố giúp cho sự tiêu hoá và tiết ra insulin giữ nhiệm vụ điều hoà lượng đường trong cơ thể. Sau khi ta ăn, lượng đường trong máu tăng cao sẽ kích thích tụy tạng tiết ra insulin nhiều hơn. Insulin tác dụng trên cơ cấu tiếp nhận của màng tế bào (receptor) đưa đường glucose từ máu vào tế bào. Nếu cơ thể thiếu insulin, lượng đường trong máu sẽ tăng lên và đường glucose không vào được tế bào. Kết quả dinh dưởng thiếu thốn, người bệnh bị sụt ký tuy vẫn đói ăn, ăn nhiều nhưng chất đường cần thiết cho sự hoạt động của tế bào vì thiếu insulin không từ máu đi vào tế bào được.
Lượng đường trong máu khi quá cao sẽ gây hiện tượng thẩm thấu (osmosis) tại thận làm nước trong máu khi được lọc tại thận sẽ thoát ra nhiều hơn trong nước tiểu. Kết quả người bệnh đi tiểu nhiều, cứ nửa tiếng hay một tiếng lại phải đi và làm cơ thể mất nước. Khi cơ thể mất nước, mức áp suất thẩm thấu trong máu hạ thấp tác dụng lên vùng hypothalamus của não bộ kích thích trung tâm điều khiển sự khát. Kết quả nguời bệnh lúc nào cũng thấy khát cần phải uống luôn miệng. Nếu uống nước lạnh thì không sao nhưng tại Hoa Kỳ, phần lớn những người mắc bệnh tiểu đường nhưng chưa biết, khi khát đều uống nước ngọt như Coke, Sprite v.v. . . Bệnh tiểu đường càng nặng thêm vì uống nước ngọt quá nhiều, đôi khi cả chục lon coca mỗi ngày.
Lý do gây ra sự thiếu thốn insulin của cơ thể và gây ra tiểu đường tuỳ thuộc vào hai trường hợp. Ở những người trẻ, thường là vì lý do bẩm sinh và cơ thể do nhiễm một loại cực vi trùng tấn công tuyến tụy tạng và gây ra phản ứng miên nhiễm phá hủy các đảo tế bào Langerhans là nơi tiết ra insulin của tụy tạng. Người Việt Nam chúng ta tương đối ít bị tiểu đường lúc trẻ theo cách này. Trường hợp thứ nhì xảy ra những người cỡ tuỗi 50 trở lên tuy có thể sớm hơn; ở những người này các đảo Langerhans của tụy tạng không bị phá hủy nhưng làm việc không điều hoà, đồng thời các cơ cấu tiếp nhận insulin trên tế bào (insulin receptor) của những người này bị bất thường và không làm cho chất đường glucose từ trong máu vào tế bào dễ dàng được. Nguyên nhân nào hiện chưa rõ, tuy nhiên di truyền là yếu tố quan trọng. Một yếu tố khác nữa là khi mập quá, lên cân quá nhiều sẽ gây ra hiện tượng insulin tuy có đủ nhưng không tác dụng trên tế bào một cách hữu hiệu và kết quả vẫn gây ra bệnh tiểu đường tuy cơ thể không thiếu insulin.
Bệnh tiểu đường nếu không chữa sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm. Người bị tiểu đường dễ bị cứng thành mạch máu gây ra bệnh tim hay đứt mạch máu đầu. Tiểu đường có thể gây bệnh mắt trên màng võng mô gây ra mù. Tiểu đường cũng ảnh hưởng trên thận có thể làm hư thận. Nhiều người bị tiểu đường lâu có thể bị ảnh hưởng trên dây thần kinh làm tê tay tê chân, đôi khi làm đau nhức dữ dội. Để lâu không chữa, tiểu đường cũng làm lở lói chân, dễ nhiễm trùng v…v..
Chữa trị bệnh tiểu dường điều quan trọng nhất là ăn uống phải kiêng khem. Đồ ngọt phải tránh ăn, uống nước ngọt phải dùng loại Diet Coke, Diet Pepsi v..v... Có thể dùng loại đường nhân tạo để thế đường khi pha nước, trà, cà phê v.v.. . Loại đường này là aspartame bán ở chợ dưới nhãn hiệu Equal, mùi vị gần như đường thường tuy không dùng để chưng nấu được vì nhiệt độ sẽ làm mất vị ngọt. Đồ bột khi hấp thụ vào cơ thể sẽ biến thành đường nên ăn cơm, bánh mi quà nhiều cũng sẽ làm khó khăn trong việc trị liệu. Đồ bột nên giữ khoảng 50% tổng số lượng calories mỗi ngày. Ăn rau cỏ nhiều hơn. Đồ ăn nhiều chất béo quá cũng nên tránh. Nếu mập phải xuống ký bớt và ăn giảm calories. Nhiều người vì mập quá bị tiểu đường, khi xuống ký và ăn kiêng được lượng đường trong máu trở lại bình thường và không cần phải uống thuốc.
Phần lớn các trường hợp ở tuổi trung niên mới bị hay bị tiểu đường vì do mập, sau khi dùng cách ăn kiêng lượng đường vẫn cao, có thể uống thuốc đề chữa trị. Thuốc loại này là loại Sulfonylureas có tác dụng kích thích tụy tạng tiết ra nhiều insulin hơn và cũng có tác dụng trên các cơ cấu tiếp nhận insulin của màng tế bào. Các thuốc thường dùng hiện nay như Micronase, Diabeta hay Glucotrol là loại mới. Các loại thuốc như Diabinese hay Orinase xưa hơn và it dùng.
Điều quan trọng là tuy dùng thuốc vẫn phải ăn kiêng mới có thể giữ cho mức đường bình thường được. Thuốc phải uống liên tục và thường phải dùng suốt đời.
Nếu ăn kiêng và uống thuốc đến mức tối đa vẫn còn lượng đường quá cao sẽ phải dùng insulin để chích. Trường hợp những người bị tiểu đường lúc còn trẻ do tụy tạng bị phá hủy cũng phải dùng insulin vì thuốc uống không công hiệu. Chích insulin phải theo dõi cẩn thận và phải học cách thử máu lấy, bằng thử máu ở đầu ngón tay để theo dõi lượng đường. Nếu chích insulin quá độ, lượng đường xuống quá thấp sẽ gây ra nguy hiểm, có thể mê man và chết nếu quá liều.
Cách chích insulin là dưới da, một lần trong ngày, đôi khi phải hai lần. Độ lượng phải được điều chỉnh và theo dõi cẩn thận. Chữa trị bằng insulin cũng phải dùng suốt đời.
Tóm lại, bệnh tiểu đường là một bệnh biến dưỡng tuy xảy đến từ từ nhưng nếu không chữa sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên nếu chữa trị và theo dõi đúng cách, bệnh này tương đối cũng dễ chữa và có thể giữ đời sống như bình thường tuy phải tiếp tục chữa trị suốt đời.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.11.2018 16:38:54 bởi Ct.Ly>
(tiêp theo)
Chóng mặt

HỎI
Tôi hay bị chóng mặt. Mỗi khi đi máy bay hay đi xe hơi lâu, tôi bị chóng mặt như say sóng, đôi khi ói mửa. nhiều khi cảm lạnh hay ăn đồ gì không hợp, tôi cũng bị chóng mặt, ói. Xin bác sỉ cho biết tại sao hay bị bệnh này và cách chữa ra sao.
 

Đáp:
Chóng mặt là chứng thường thấy, tuy nhiên triệu chứng chóng mặt (dizziness) thường dùng để diễn tả nhiều trạng thái khác nhau . Chóng mặt như say sóng bà tả ở trên là chóng mặt với cảm giác như cơ thể quay vòng vòng hoặc như cảnh vật chung quanh quay cuồng (vertigo). Nhiếu người diễn tả chóng mặt như mắt hoa đầu váng, sắp sửa như ngất đi (faintness), đây là loại chóng mặt do áp huyết quá thấp khi ngồi xuống đứng lên quá nhanh, áp huyết thay đổi đột ngột và hạ quá thấp. Một số người diễn tả chóng mặt như đi dứng không vững, lảo đão muốn ngã, như trong các trường hợp người già bị bệnh mất cảm giác của dây thần kinh do bệnh tiểu đường gây ra, hoặc bệnh Parkinson làm cử động khó khăn v.v….
Trở lại với chứng chóng mặt kiểu say sóng (vertigo) như đã hỏi trên, nguyên nhân của chứng này là sự xáo trộn của vùng tai trong điều khiển sụ thăng bằng của cơ thể gọi là vestibular system. Tai được chia ra ba phần: tai ngoài, sau màng nhỉ là tai giữa và sau cùng là tai trong. Bên trong cùng của tai gần vùng xương là ba ống nhỏ hình bán nguyệt chứa nước chạy lên xuống và hai cục xương tai nhỏ gọi là utricle và saccule thu nhận nhưng thay đổi về vị trí và sự cử động của cơ thể. Những biến đổi này được tiếp nhận và truyền qua dây thần kinh số 8 chạy đến vùng thần kinh của cuống não bộ, nơi đây sẽ liên lạc với các dây thần kinh điều khiển sự cử động của mắt như dây số 3, 4, 6. Điều này giải thích tại sao khi chóng mặt, mắt ta đảo liên hồi. Ngoài hệ thống tai trong điều khiển sự cân bằng, cơ thể cũng nhờ đến hệ thống thị giác và cảm giác từ ngoài da, từ khớp xuơng và bắp thịt để nhận biết về vị trí của cơ thể và giữ cho cơ thể được thăng bằng.
Khi những xáo trộn về những cảm giác này đến quá nhanh và quá nhiều, cơ thể không có thì giờ để đáp ứng và điều chỉnh, như khi đi máy bay nhồi lên nhồi xuống hay đi tàu bị sóng, hệ thống tai trong điều khiển sự thăng bằng bị rối loạn sẽ gây ra hiện tượng chóng mặt. Những thay đổi về mắt quá nhanh như khi xem TV, xi nê với các màn xe rượt chạy vùn vụt làm hai hệ thống thị giác và hệ thống tai trong không kịp điều chỉnh với nhau đôi khi gây ra choáng mặt vì lý do đó.
Chóng mặt như kể trên thực sự là những hiện tượng bình thường cơ thể, người nào cùng có thể bị chóng mặt vì say sóng hoặc những thay đổi do mắt hoặc do trèo quá cao v.v…gây ra. Có người dễ bị chóng mặt, người khác bị ít hơn. Điều này có lẽ tùy thuộc vào bản tính di truyền. Thường đu dây, làm xiếc v.v…thường cả gia dình cùng theo một nghề, ít bị chóng mặt hơn các giống dân khác. Điều này giải thích tại sao dân Mỹ thích đi roller-coaster trong khi phụ nữ Á châu ít khi dám chơi trò này!
Nếu không phải vì những hiện tượng bình thường như đi máy bay, tàu, xe hơi hoặc thay đổi về mắt v.v…tự nhiên bị chóng mặt thường do bệnh về tai trong gây ra. Những nguyên nhân gây ra rối loạn về tai trong gồm có nhiễm trùng, hoặc vi trùng, hoặc thường hơn cực vi trùng như bị cảm lạnh, cúm v.v… chấn thương đầu ảnh hưởng đến tai cũng có thể gây ra chóng mặt vì rối loạn của vùng tai trong. Ngoài ra một số thuốc men cũng có thể gây ra tác dụng này, rượu cũng như trúng độc v.v…cũng gây ra bệnh về tai trong. Một bệnh của tai trong gọi là Mèniere`s disease gây ra chóng mặt thường đi kèm với điếc tai và tiếng dế kêu trong tai (tinnitus).
Bệnh nguy hiểm hơn gây chóng mặt là một loại bướu trong não. Không định bệnh được sớm để giải phẩu có thể nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra một số trường hợp mạch máu trong não vùng phía sau bị nghẹt cũng có thể gây ra chóng mặt nhưng thường đi kèm với những triệu chứng thần kinh khác.
Chóng mặt như vậy là một triệu chứng có thế xảy ra với nhiều bệnh khác nhau. Điều quan trọng là loại trừ những bệnh nguy hiểm như đã nói ở trên. Nếu chóng mặt do chứng bệnh về tai trong, thường chỉ cần nghỉ ngơi và dùng thuốc để chống chóng mặt loại antihistaminics như thuốc Meclizine (tên thương mại Antivert) hoặc thuốc vừa chữa chóng mặt vừa chữa ói như Phenergan. Đôi khi phải dùng thuốc mạnh hơn như loài Scopolamine hay thuốc an thần loại Diazepam (valium).
Để ngừa chóng mặt trước khi đi máy bay, đi biển, đi xe v.v… có thể dùng thuốc loại anti-motion sickness như Dramamine bán không cần toa, uống một viên nửa giờ hay một giờ trước khi đi. Một loại thuốc mới hơn là loại thuốc dán sau tai Transderm-Scop, dùng trong trường hợp đi lâu bằng đường biển, hay đi máy bay ra ngoại quốc quá xa. Thường phải dán một miếng sau tai bốn tiếng trước khi đi du lịch. Hiệu quả có thể kéo dài trong ba ngày để ngăn chận chóng mặt, ói mửa. Thuốc này là loại scopolamine khá mạnh, cần phải có toa; một số người có thể không dùng được vì bị phản ứng. Những người bị chóng mặt quá nặng khi di chuyển bằng máy bay, tàu thủy, kèm theo ói mửa nhiều, dùng các loại thuốc trên không hiệu quả, thường phải dùng Phenergan uống nửa tiếng hay một tiếng trước khi đi và tiếp tục sau đó mỗi tám tiếng. Thuốc này tuy khá xưa nhưng có lẽ công hiệu hơn cả cho nhũng trường hợp chóng mặt nặng tuy thường hay gây ra buồn ngủ.
 
 
 
&&&&
 
 
    Ngất xỉu

Ngất xỉu là một triệu chứng khá thường thấy, tuy có thể xảy ra ở người bình thường nhưng cũng có thể là dấu hiệu của nhưng bệnh quan trọng. Trước hết ngất xỉu là gì?
Ngất xỉu là trạng thái mất ý thức đi kèm với tình trạng yếu của bắp thịt, làm không đứng vững được. Thường nói ngất xỉu là mê hẳn trong một thời gian ngắn không biết gì, tuy nhiều trường hợp, người bệnh vẫn có ý thức phần nào chung quanh mình, diễn tả như  "muốn xỉu" hơn là ngất hẳn.
Cảm giác muốn xỉu thường đi trước, thấy mọi sự quay cuồng như nền nhà lao đao, di chuyển. Sau đó có thể mắt mờ, tai nghe kêu o o, đi kèm với cảm giác muốn buồn nôn. Mặt thường lúc đó nhợt nhạt, mồ hôi toát ra như tắm. Ngất đi hẳn sau cùng xảy ra.
Trong những trường hợp thông thường. nhẹ, khi bị xỉu ngã hay nằm xuống đất, máu không bị trọng lực ngăn trở nên có thể dồn về óc và người bệnh tỉnh dậy và trở lại trạng thái bình thường.
Lý do của ngất xỉu như vậy là vì máu không dồn đủ về óc khi ở tư thế đứng. Bình thường ¾ máu trong cơ thể nằm ở trong hệ thống tỉnh mạch, ở vị thế đứng, máu chạy lên trên óc được vì tim bơm máu và  các động mạch co thắt giữ huyết áp đầy đủ: ngoài ra vận động di chuyển sẽ làm máu chạy về tim thay vì nằm đọng lại trong tỉnh mạch dưới chân. Các bệnh về phản xạ mạch máu co thắt, bệnh tim … làm ngăn trở các cơ chế trên như vậy đều có thể gây ra ngất xỉu.

Bệnh nào gây ra ngất xỉu?
-      Ngất xỉu do phản xạ về co thắt mạch máu,
gọi là vasovagal syncope. Ngất xỉu kiểu này có thể xảy đi xảy lại, liên quan tâm lý nhiều như sợ hãi quá độ, đau đớn quá ... Khi ngất xỉu, áp huyết hạ thấp xuống đột ngột, tim đập chậm lại làm máu càng thiếu để dồn lên óc vá kết quả gây ra xỉu. Thường loại xỉu này không phải chữa trị gì. Chỉ cần cho nằm với chân giơ cao lên và loại bỏ nguyên nhân gây ra xúc động tâm lý mạnh sẽ hết.
-      Ngất xỉu do áp huyết thấp.
Một số người bệnh có chứng áp huyết thấp kinh niên, khi ở vị thế nằm hay ngồi, đứng lên nhanh quá áp huyết xuống quá thấp sẽ bị xỉu. Thường xảy ra ở ngươi già, nằm nhiều, ít hoạt động, đi lại. Nhưng người bị bệnh tiểu đường, nghiện rượu kinh niên, thiếu sinh tố B1 … hay bị chứng áp huyết thấp lúc đứng lên đột ngột này. Những người uống thuốc trị áp huyết cao uống qúa liều, uống thuốc lợi tiểu nhiều, ra mồ hôi nhiều mà uống nước ít hay dễ bị ngất xỉu .
Một trường hợp đặc biệt cũng hay xảy ra ở người già là bị ngất xỉu sau khi đi tiểu. Lý do là bọng đái đang căng phồng do nhịn lâu, khi tiểu ra làm phản xạ hạ áp huyết, kèm thêm với đang đứng làm áp huyết quá thấp gây xỉu.

-      Ngất xỉu do bệnh tim.
Một trong nhưng nguyên nhân quan trọng nhất của ngất xỉu là những bệnh về tim, đặc biệt là những bệnh rối loạn về nhịp tim. Nhịp tim quá chậm dưới 35-40 nhịp một phút hay quá nhanh trên 180 nhịp một phút đều có thể làm té xỉu. Bệnh làm tim đập chậm thường do những luồng điện làm bắp thịt tim co bóp bị ngăn chận gọi là atrioventricular block, thấy ở người già, đôi khi ở người trẻ nhưng hiếm hơn.
Ngất xỉu xảy ra khi nhịp tim chỉ còn 30-35 nhịp một phút, hay tim đứng lại luôn không đập trong một vài giây, người bệnh ngã xỉu bất thình lình, sau đó tim đập lại mau hơn và tỉnh lại. Chứng này gọi là Stokes-Adams attacks, có thể lâu lâu xảy ra hay có thể xảy ra vài lần trong một ngày. Các bệnh làm tim đập chậm khác là bệnh của trung tâm điều khiển nhịp tim gọi là sinus node, đôi khi làm tim đập rất chậm, có lúc lại làm tim đập quá nhanh gọi là bradycardia-tachycardia syndrome. Các bệnh tim đập chậm làm ngất xỉu này nguy hiểm vì có thể làm tim ngừng luôn và chết.
Bị loại này phải chữa bằng cách mổ để gắn máy điều khiển nhịp tim gọi là pacemaker trong người thường các pacemaker này chạy bằng battery, được đặt dưới da trước ngực, với dây điện luồng theo mạch vào tim để điều khiển nhịp tim cho đều.
Tim đập nhanh cũng làm xỉu. Các bệnh này thường hay do bẫm sinh, thấy ở người trẻ tuổi, làm tim đập nhanh hằng hai trăm nhịp một phút làm xỉu vì đập nhanh quá không kịp đổ về tim, mức bóp đẩy máu kên óc còn quá ít, làm xỉu. các bệnh này có nhiều loại, thường nhất là các bệnh gọi là supraventricular arythmias, nguy hiểm hơn lá các chứng tim đập quá nhanh do bị nghẹt động mạch tim gọi là ventricular arythmias, có thể làm chết bất thình lình.
Các bệnh về van tim như nghẹt van tim đại động mạch gọi là idiopathic hypertrophic subaortic stenosis có thể làm ngất xỉu khi hoạt động nhiều, chơi thể thao mạnh. Những trường hợp các lực sĩ chơi football, basketball đang chơi bị ngất xỉu hay bị nặng nhiều khi chết luôn có thể do những loại nghẹt van tim này gây ra, hoặc đi kèm thêm vơi rối loạn nhịp tim khi bị các loại bệnh van tim bẩm sinh này.

-      Những bệnh khác gây ra ngất xỉu.
Một số ngươi, nhất là người lớn tuổi có cơ quan ảnh hưởng đến nhịp tim gọi là carotid sinus nằm ở động mạch cổ rất nhạy cảm. Khi xoa bóp hay đè mạnh ở chỗ cổ dưới càm nơi có cơ quan carotid sinus này sẽ làm tim đập chậm lại, hoặc áp huyết hạ xuống. Những người bị bệnh cơ quan này quá nhạy cảm nhiều khi mặc cở áo quá chật, đè lâu vào cổ, hoặc bất thình lình ngoái cổ thật nhanh và mạnh làm kich thích cơ quan carotid sinus gây tim đập rất chậm và làm xỉu.
Trường hợp hiếm khác nửa là đôi khi ho quá nhiều, quá lâu và ho mạnh gây ra xỉu, gọi là tussive syncope. Lý do là khi ho mạnh, áp suất trong lồng ngực tăng cao làm máu chảy về tim ít hơn và bơm ra không đủ lên óc gây ra xỉu. chứng này thấy nơi những người già bị viêm cuốn phổi kinh niên ho liên hồi, nhưng cũng ít xảy ra.

Những bệnh gây ra muốn xỉu nhưng không ngất hẳn.
Nhiều bệnh khác gây ra cảm giác muốn xỉu nhưng không đến nỗi ngất đi hẳn, vẫn còn ý thức được chung quanh. Thường nhất là chứng thở quá nhanh do lo âu quá độ gọi là hyperventilation. Thở nhanh quá làm mất chất thán khí trong máu làm tê tay tê chân và cảm giác muốn xỉu, hay thấy ở nhưng người đàn bà bị tâm lý xáo trộn.
Một bệnh thường khác cũng gây cảm giác muốn xỉu là lượng đường trong máu quá thấp gọi là hypoglycemia. Khi mức đường trong máu chỉ còn 30-40mg% thường làm mệt, mồ hôi toát ra, tim đập nhanh và cảm giác như muốn xỉu. Hay xảy ra hai ba tiếng sau khi ăn. Một số người trước khi bị tiểu đường bị chứng này trước khi phát hiện bệnh tiểu đường hẳn. Hiếm hơn là những bệnh của tuyến tụy tạng Pancryas, hay bệnh thượng thận, bệnh não thùy, bệnh gan nặng. Đôi khi nhưng người bị tiểu đường chích insulin quá liều cũng bị chứng này gây ra xỉu.
Một bệnh quan trọng gây ra cảm giác muốn xỉu là những trường hợp bị nghẹt mạch máu đầu, gây ra muốn xỉu, liệt một bên tay, một bên chân, nhìn chập đôi trong một chốc lát gọi là TIA+s hay transient ischemic attacks. Bị muốn xỉu có kèm triệu chứng như trên phải coi chừng sắp bị đứt mạch máu đầu (stroke) và phải chữa trị ngay.
 
Ngất xỉu do kinh giật
Những chứng ngất xỉu trên thường không cóa kinh giật đi kèm, tuy có thể đôi khi thấy một ít bắp thịt nhỏ trên mặt giật nhẹ. Chứng kinh giật gọi là seizures hay epilepsy khác vì làm giật tay, chân mạnh và làm mất ý thức chung quanh. Phân biệt giữa kinh giật và ngất xỉu thường cũng dễ dàng tuy đôi khi phải làm thử nghiệm để chắc chắn hẳn.
Tóm lại, chứng ngất xỉu xảy ra khá thông thường và có thể do những nguyên nhân nhẹ, tuy nhiên một số trường hợp có thể do những bệnh nguy hiểm gây ra. Khi bị ngất xỉu thường phải đi khám nghiệm để biết rõ nguyên nhân và loại trừ những trường hợp bệnh nặng. Quan trọng nhất là đo tim để biết về nhịp tim hoặc làm những thử nghiệm khác để biết rõ hơn về tình trạng của tim. Một ít trường hợp không phân biệt được với bệnh kinh giật sẽ phải đo điện não kế gọi là electroencephalogram để định bệnh.
 
 
&&&
 
 
THIẾU MÁU

 
HỎI

Tôi hay bị xây sẳm, đứng lên ngòi xuống nhanh quá dễ bị chóng mặt. Tôi nghe người bạn nói bị như vậy là do thiếu máu. Xin cho biết làm sao biết được bị thiếu máu hay không? Nguyên nhân và chữa trị ra sao?
Nguyễn thị H.L
 
ĐÁP
Thiếu máu là bệnh thông thường, hay thấy ở những người Việt Nam. Những triệu chứng kể trên của bà có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như bệnh về tim, bệnh về áp huyết, bệnh do sự xáo trộn về cơ quan điều khiển sự thăng bằng  của cơ thể như tai trong, bệnh của hệ thần kinh giao cảm v.v… Tuy nhiên những triệu chứng trên thường thấy nhất ở người bị thiếu máu. Những triệu chứng khác là hay bị mệt, thấy đuối sức khi làm gì nặng, kèm theo khó thở và hồi hộp, đôi khi dễ bị xỉu. Đặc biệt hay thấy ớn lạnh. Đôi khi bị thêm những triệu chứng về tiêu hóa như ăn không ngon, khó tiêu, buồn nôn v.v… Thường bị khó ngủ, dễ quạu quọ. Tóm lại là những triệu chứng không rõ rệt, tuy nhiên dấu hiệu rõ ràng nhất để định bệnh là xanh xao. Mặt và tay chân, nhất là bàn tay và bàn chân xanh hẳn ra và nếu kéo mí mắt dưới xuống thường thấy màng nhày mí mắt lợt lạt không được đỏ hồng như người bình thường.
Muốn biết chắc chân có thiếu máu không, nặng nhẹ ra sao và thiếu máu do nguyên nhân nào phải thử máu để đo lượng hồng huyết cầu. Hồng huyết cầu là tế bào máu có nhiệm vụ mang dưỡng khí đi khắp cơ thể, trung bình khoảng từ 4 triệu đến 5 trieuj rưởi hồng huyết cầu trong một phân khối máu. Đàn bà có ít máu hơn đàn ông, ít hơn khoảng 10%. Ngoài ra cũng cần đo lượng hemoglobin trong máu. Hemogglobin là sắc tố có chất sắt trong hồng huyết cầu, giũ vai trò kết hợp với dưỡng khí oxygen và chất than khí CO2 để trao đổi trong sự hô hấp của tế bào. Trung bình lượng hemoglobin ở đàn bà là từ 12 đến 16 grams trong 100cc máu, đán ông từ 14 đến 18 grams trong một 100cc máu.   Những thí nghiệm khác là đo lượng phần trăm Hematorite của lượn hồng huyết cầu lớn nhỏ ra sao gọi là MCV, đo phần trăm sắc tố trong mỗi hồng huyết cầu đậm lạt ra sao gọi là MCH.
Dựa trên kết quả thử máu này ta có thể biết thiếu máu nặng hay nhẹ và loại gì. Nếu thể tích của hồng huyết cầu nhỏ hơn bình thường và lượng sắc tố quá nhạt, thường bệnh thiếu máu là do thiếu chất sắt trong cơ thể. Thiếu máu vì thiếu chất sắt là nguyên nhân thông thường nhất, nhất là tại những vùng nhiệt đới và chậm tiến như tại Việt Nam, ăn uống không đầy đủ, ít có thịt để ăn. Thịt là nguồn cung cấp chất sắt nhiều nhất trong đồ ăn. Ngoài ra bị giun sán nhiều, nhất là loại sán lãi sẽ làm cho cơ thể mất chất sắt. Trẻ con và thiếu niên đang lớn cũng dễ bị thiếu máu do thiếu chất sắt vì cơ thể tăng trưởng đòi hỏi nhiều, nếu không ăn uống đầy đủ sẽ bị thiếu máu dễ dàng. Đàn bà mang thai hay bị thiếu máu vì thiếu sắt cũng do nguyên nhân này. Đàn bà thường bị thiếu máu do thiếu nhiều chất sắt hơn đàn ông vì vấn đề mất máu do kinh nguyệt. Chất sắt được dùng để cấu tạo sắc tố hemoglobin của hồng huyết cầu nên bị mất máu kinh niên do có kinh nguyệt nhiều quá hoặc bị bệnh bao tử, ruột làm chảy máu kinh niên, lâu ngày số lượng dự trữ chất sắt trong cơ thể không đủ để cung ứng cho số lượng chất sắt trong cơ thể không đủ để cung ứng cho số lượng chất sắt bị mất đi do chảy máu kinh niên sẽ gây ra bệnh thiếu máu vì thiếu chất sắt. Một số người uống aspirin hoạc những thuốc chống viêm, phong thấp hay bị phản ứng làm chảy máu bao tử, nếu không biết cứ tiếp tục uống sẽ làm mất máu kinh niên và sau cùng gây ra bệnh thiếu máu. Một số trường hợp ung thư bao tử hay ung thư ruột làm chảy máu từ từ và gây ra bệnh thiếu máu do chất sắt. Vì lý do này, khi định ra bệnh thiếu máu thường phải tìm ra nguyên nhân để có thể trị những bệnh nặng như kể trên một cách kịp thời.
Chữa trị bệnh thiếu máu do chất sắt phải trị nguyên nhân như phải trị sán lãi, trị các bệnh gây ra mất máu kinh niên như loét bao tư, viêm ruột, ung thư v.v… Nếu uống aspirin, thuốc chống viêm phải ngưng ngay. Phụ nử có kinh quá nhiếu vì để vòng xoắn phải lấy ra và đổi cách ngừa thai. Trị liệu thiếu chất sắt giãn dị hơn, chỉ cần uống thêm thuốc bổ có chất sắt mỗi ngày. Thông thường phải uongs chất sắt loại ferrous sulfate 300mg, ngày ba lần, có thể phải uống kéo dài vài tháng. Trị liệu rất có hiệu quả, chừng 1,2 tuần lượng máu sẽ tăng cao dần và những triệu chứng bớt rất nhanh.
Một số trường hợp ở người Việt Nam chúng ta cũng thấy là bệnh thiếu máu với thể tích hồng huyết cầu nhỏ và sắc tố hemoglobin lợt lạt, không phải do thiếu chất sắt nhưng do một chứng bệnh bẩm sinh của hemoglobin không bình thường gọi là bệnh Thalassemia. Bệnh thiếu máu này do cấu tạo bất thường của sắc tố hemoglobin và không chữa được.
Ít thấy hơn ở người Việt Nam là loại thiếu máu với thể tích hồng huyết cầu lớn, thường do thiếu sinh tố B12 hay thiếu sinh tố folic acid. Loại thiếu máu vì thiếu sinh tố B12 hay xãy ra ở những người bị bệnh teo màng nhày bao tử, không hấp thụ được sinh tố B12. Thiếu máu vì thiếu sinh tố folic acid hay xãy ra nơi những người nghiện rượu. Chữa trị các bệnh thiếu máu loại này tương đối cũng dễ dàng, chỉ cần chích vitamin B12 hay uống thuốc sinh tố folic acid mỗi ngày.
Tóm lại những triệu chứng kể ra trong câu hỏi của bà tuy không rõ ràng cần phải đi khám nghiệm và thử máu và chữa trị tùy thuộc vào thiếu máu loại nào và nguyên nhân nào như đã kể trên.
 
 
 

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.11.2018 17:13:39 bởi Ct.Ly>

.......
Nhiễm trùng khoan mũi
 
Hỏi:
Tôi gần đây bị chứng nhức đầu kèm theo với nghẹt mũi nặng. Đôi khi bị thấy nóng lạnh. Nước mũi chảy ra màu vàng có mùi hôi. Tôi uống những thuốc cảm thường bán ngoài chợ không thấy bớt. Xin cho biết bệnh như vậy có nặng không và cần phải chữa trị ra sao?
Nguyễn thị L.
 

Đáp:
Những triệu chứng bệnh kể trên của bà là do nhiễm trùng khoang mũi gây ra. Bệnh này thường xảy ra khi bị cảm cúm do cực vi trùng hoặc do dị ứng làm sưng màng nhầy của mũi chảy xuống mũi. Hệ thống khoang mũi ở trên mặt gồm hai khoang của xương gò má (maxillary sinus), hai khoang cánh mũi ở phần giữa mắt và mũi (ethmoid sinus), hai khoang trán ở ngay giữa trán (frontal sinus), hai khoang ở gần tai (sphenoid sinus). Các khoang này tiết ra chất nhờn và ăn thông chảy xuống hốc mũi. Khi bị ngăn trở đường lưu thông vì những lý do kể trên, vi trùng dễ xâm nhập vào khoang mũi và làm nhiễm trùng.
Các loại vi trùng thường gây ra bệnh là Streptococcus Pneumoniae, Streptococcus  Pyogenes và Hemophilus influence. Các vi trùng này xâm nhập vào khoang mũi gây ra nóng sốt, đau nhức ở vùng khoang mũi, nhức đầu dữ dội, uống thuốc chống đau thường không bớt. Thường làm mủ trong khoang mũi nên nước mũi chảy ra có màu vàng, xanh và hôi. Để lâu không chữa, nhiễm trùng khoang mũi có thể gây nhiều biến chứng như nhiễm trùng xương trán (osteomyelitis) vá sưng màng óc (meningitis) rất nguy hiểm.
Một số trường hợp nhiễm trùng khoang mũi không chữa hoặc chữa trị không đúng cách sẽ trở thành kinh niên. Phần lớn các người bị nhiễm trùng khoang mũi kinh niên thường có bệnh dị ứng và hay bị nghẹt mũi kinh niên.
Chữa trị nhiễm trùng khoang mũi phải dùng trụ sinh. Các vi trùng loại Streptococcus thường dễ chữa và có thể dùng trụ sinh thường như Ampicillin, tuy nhiên vi trùng loại Hemophilus thường hay kháng thuốc và phải dùng những loại trụ sinh mạnh hơn như Ceclor, Augmentin, Ceftin v.v… Các loại thuốc làm co mạch máu như Sudafed, Entex v.v… cũng giúp ích cho việc làm bớt sưng và các chất nhờn trong khoang mũi được bài tiết xuống mũi dễ dàng hơn. Một số trường hợp bị nặng có thể phải giải phẫu để hút bớt mủ và để thông khoang mũi mới khỏi hẳn được.
 
 
&&&
 
 
Bệnh ngứa mề đai
Hỏi:
Tôi bị ngứa như mề đay khắp người đã hai tháng nay. Ngày nào cũng bị nổi mề đay và đã trị nhiều thứ thuốc nhưng không thấy bớt. Xin bác sĩ cho biết tại sao bị nổi ngứa mề đay và cách chữa trị ra sao?
 
Đáp:
Bệnh nổi ngứa mề đay là một bệnh khá thông thường. Phần lớn bị nổi mề đay giới hạn và trong thời gian ngắn, tuy nhiên một số người bị mề đay kéo dài lâu thành kinh niên. Bệnh nổi ngứa mề đay nếu kéo dài trên 6 tuần sẽ trở thành kinh niên và trị liệu tương đối sẽ khó khăn nhiều.
Ngứa mề đay thường xảy ra trên lớp biểu bì của da, tức là phần trên của lớp da, là những vết nổi đỏ, có bờ không đều, đôi khi ngoằn ngoèo, vớii trung tâm ở giữa trắng nhạt không đỏ như phía ngoài. Ngứa mề đay có thể nhỏ như hạt đậu hay lớn như đồng tiền hay `mề đay`đôi khi bị nhiếu quá có thể tụ lại đỏ đều cả một phần thân thể. Mề đay có thể đi riêng rẽ hoặc đi chung với sưng môi, sưng miệng, sưng chung quanh mắt. Những phản ứng sưng gọi là angioedema cũng cùng có một nguyên nhân và cơ chế như mề đay và có thể xảy ra riêng rẽ, không đi kèm với mề đay.
Mề đay có thể xảy ra ở mọi lớp tuổi từ trẻ mới sinh đến người già 80-90 tuổi nhưng hay bị nhất là ở tuổi 30-40. Số người bị mề đay có thể lên đến 20% dân số, phần lớn lâu lâu mới bị và giới hạn, tuy một số có thể bị nặng và trở thành kinh niên.
Phần lớn nguyên nhân gây ra mề đay là dị ứng. Dị ứng là do cơ chế kháng thể đặc biệt gọi là IgE tức Immunoglobin E tác dụng trên một tế bào gọi là mast cell, trong trường hợp mề đay nằm ở dưới da. Tế bào mast cell này khi bị bể sẽ tiết ra các chất hóa học như histamine làm nổi đỏ, làm ngứa, làm sưng… Ngoài mề đay nổi đỏ trên da, cơ chế này làm sưng gọi là angioedema như đã nói ở trên. Đặc biệt sự sưng phù này nếu xảy ra trong miệng, cuống họng sẽ hết sức nguy hiểm vì làm nghẹt đường thở, có thể gây ra chết vì tắc khí quản. Một số ít khác cũng theo cơ chế này bị sưng ở trong đường tiêu hóa làm đau bụng, ói mửa.
Các phản ứng này sẽ tự biến đi trong vòng 24 đến 48 tiếng, tuy nhiên nếu dị ứng vẫn còn sẽ thấy nổi mề đay chỗ khác. Ngoài lý do dị ứng ra, còn có các cơ chế hiếm hơn như do thiếu một chất hóa học trong máu gọi là complement, xảy ra trong một số trường hợp hiếm có do di truyền vì thiếu một chất ngăn cản gọi là C1 inhibitor. Một vài trường hợp bị ung thư cũng gây ra thiếu chất complement và làm mề đay. Một số người bị bệnh thấp khớp do bệnh về miễn nhiễm gây ra cũng có thể thấy nổi mề đay theo cơ chế này.
Những nguyên nhân của nổi mề đay do dị ứng gây ra thông thường nhất là dị ứng về đồ ăn. Các dị ứng về đồ ăn này rất nhiều và có thể thay đổi, lúc bị với thứ này, lúc khác bị với thứ khác.
Ngoài ra còn tùy theo mức độ, có người bị dị ứng nặng với một thứ đồ ăn, chỉ cần ăn một chút đã bị nổi mề đay rất nhiều. Người khác có thể ăn một thứ bị dị ứng, nếu ăn ít không sao, ăn nhiều mới bị. Có thể nói tùy theo mỗi người, loại đồ ăn nào cũng có thể gây ra dị ứng với người dễ bị bệnh này. Tuy nhiên thường hay thấy nhất là đồ biển như tôm cua, sò, nghêu, cá, mực v.v…các loại trái cây như cam, dâu, các loại rau như đậu, cà chua, spinach; các loại hạt như đậu phộng, chocolate v.v…; các loại thịt tương đối ít hơn nhưng nhiều người bị với thịt bò, thịt gà v.v…
Một điều đặc biệt với người Việt Nam là mắm. Nhiều người bị mề đay do dị ứng với đồ biển, tuy ăn kiêng đồ biển nhưng vẫn thấy bị nhiều, chỉ giãn dị là do không để ý đến nước mắm. Đồ ăn Việt Nam hầu như món gì cũng có nước mắm nên khi bị mề đay do đồ biển, thường cũng phải kiêng cả nước mắm mới đở được!
Một số người bị mề đay tưởng là do đồ ăn nhưng thực ra không phải. Như trướng hợp bị dị ứng với sữa bò. Một số người bị dị ứng đích thực với sữa, tuy nhiên một số ít hơn bị dị ứng mề đay là do bị dị ứng với penicillin. Lý do là một số trang trại nuôi bò lấy sữa ở Mỹ thường xuyên cho bò ăn trụ sinh để ngừa bệnh, trong đó có penicillin. Tỷ lệ trụ sinh penicillin trong sữa rất ít, nhưng nhiều người bị dị ứng với penicillin nhạy cảm đến nỗi chỉ cần một số lượng penicillin nhỏ tưởng như không đáng kể cũng đủ gây ra dị ứng và làm nổi mề đay mỗi khi uống sữa!
Dị ứng với đồ ăn thật ra không thể kể hết vì có quá nhiều thứ có thể gây dị ứng. Trừ những trường hợp chỉ bị với một hai thứ và đã có kinh nghiệm bị mề đay nặng mỗi khi ăn món đó và biết sự liên quan của mớn ăn và bệnh mề đay, phần lớn trường hợp người bệnh bị với nhiều thứ khác nhau và không ngờ đến vì là những thứ trước giờ vẫn hay ăn. Những trường hợp này phải làm thử nghiệm để biết đích xác hơn về dị ứng đò ăn.
Ngoài đồ ăn, nguyên nhân thường hay thấy khác là thuốc uống. Phản ứng do thuốc rất nhiều nhưng mề đay là một trong những triệu chứng thường thấy nhất. Có thể nói thứ thuốc nào cũng có thể gây phản ứng tùy người nên khi bị mề đay, vấn đề đầu tiên là hỏi xem đang uống thuốc chữa bệnh gì? Những loại thuốc hay gây ra mề đay có thể kể các loại trụ sinh; penicillin quan trọng nhất và nguy hiểm nhất vì có thể gây kích xúc chết, Ampicillin hay Amoxicillin cũng cùng tính chất. Cá loại trụ sinh mới tương đối ít hơn nhưng vẫn có thể gây dị ứng.
Đặc biệt một vài thuốc gây ra mề đay nhưng cơ chế không phải dị ứng. Điển hình là Aspirin và nhưng thuốc chống đau, chống viêm khác. Các thuốc này làm ngăn chặn phải ứng của phân hóa tố cyclooxygenase trên chất arachidonic acid của cơ thể làm sinh ra nhiều hóa chất loại leukotrienes có tác dụng làm sưng, nổi đỏ, ngứa … như hóa chất histamine và làm nổi mề đay. Vì thế khi bị bệnh nổi mề đay, phải tránh uống thuốc aspirin hay các thuốc có tác dụng giống chất này.
Một số hóa chất cũng có tác dụng tương tự như cơ chế trên. Đặc biệt như trường hợp các hóa chất dùng để giữ đồ ăn không hư thối như sulfite, metabisulfite, dùng trong salad ở các tiệm ăn. Chất hóa học này cũng có trong rượu vang và nhiều đồ ăn khác. Một số hóa chất khác như benzoate cũng có trong đồ ăn hộp, một số chất phẩm như hóa chất tartrazine dùng làm phẩm trong nước uống như Tang, Kool-aid v.v… các loại này cũng có thể gây ra mề đay theo như cơ chế đã nói tren. Vì thế khi bị mề đay kinh niên khó trị thường phải tránh các thứ đồ ăn có nhiều chất hóa học thêm vào như các loại trên.
Những nguyên nhân khác của mề đay còn có các nguyên nhân vật lý như bị nổi mề đay do ánh sáng mặt trời, đi nắng nhiều bị nổi mề đay! Mề đay do lạnh, khi bị lạnh đột ngột như đang chỗ nóng vào chỗ lạnh như các người làm việc ở `cooler`, tắm nước quá lạnh… Những trường hợp này tuy hiếm nhưng cũng xảy ra ở một số nguời. Có người bơi rất giỏi nhưng bơi trong hồ lạnh bị chết vì loại mề đay này gây ra làm nổi mề đay khắp người và sưng phù đường khí quản làm nghẹt thở. Một ít người bị mề đay khi nào vận động nhiều, tập thể dục nhiều. Thường thấy hơn là loại mề đay do kích thích trên da gây ra, như quẹt vào da trên tay sẽ thấy nổi hằn mề đay theo đường quẹt. Loại này gọi là dermatographism vì có thể viết hay vẻ trên da, vài phút sau thấy nổi đỏ mề đay theo đường viết hay vẽ!
Nguyên nhân gây ra mề đay còn có rất nhiếu như những trường hợp bị mề đay kinh niên vì bị nhiễm trùng kinh niên như bị nấm kinh niên , nhiễm trùng khoang mũi kinh niên v.v… Một số lớn trường hợp không kiếm ra được nguyên nhân và được xếp loại không biết gọi là idiopathic. Thực ra vì kiếm cho hết nguyên nhân của nổi mề đay sẽ rất khó khăn.
Việc chữa trị mề đay can bản vẫn là tìm cho ra nguyên nhân như đã kể. Nếu biết được nguyên nhân như bị dị ứng với đồ ăn, phấn hoa, bụi, nấm, long thú, thuốc uống, chất hóa học … việc tránh các thứ đó nếu có thể được là điều quan trọng. Nếu không tránh được hay để chữa ngắn hạn, các loại thuốc antihistamines có thể dùng. Những trường hợp bị mề đay kinh niên có thể phải dùng tổng hợp nhiều thứ thuốc để chữa. Những thuốc thoa thường không có hiệu quả trong trường hợp bị mề đay. Ngoài ra những loại thử thuốc mạnh loại sterioid chích hay uống thường không nên dùng vì có thể gây hại nhiều hơn lợi. Chỉ trừ một số ít trường hợp đặc biệt mới có thể dùng trong thời gian ngắn.
Bệnh ngứa mề đay nếu bị ít, giới hạn thường chỉ cần trị liệu theo triệu chứng, tuy nhiên các trường hợp mề đay kéo dài trên 6 tuần tức đã trở thành kinh niên thường trị liệu khó khăn hơn nhiều và cần phải làm thử nghiệm khác nếu cần để tìm nguyên nhân và trị liệu hiệu quả hơn.
 

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
CHOLESTEROL CAO


HỎI:
Mới đây tôi có thử máu trong sở làm và được cho biết cholesterol của tôi ở mức 270. Mặc dù không có triệu chứng gì và trước giờ vẫn khỏe mạnh, tôi hơi lo ngại vì cách đây mấy năm người anh lớn của tôi bị chết vì bệnh tim Xin cho biết mức cholesterol của tôi có nguy hiểm gì không và chữa trị ra sao? Cholesterol cao có phải do di truyền không hay chỉ do về ăn uống? Tôi năm nay 38 tuổi, từ trước đến nay chưa hề bị bệnh gì?
Lê Văn H.
 
ĐÁP:
Cholesterol cao là chứng bệnh nhiều người Việt Nam tại Hoa Kỳ mắc phải. Một phần vì trước đây tại Việt Nam không ai để ý đến và ít khi đo lượng cholesterol trong máu.
Tại Hoa Kỳ, sự giáo dục quần chúng về nguy hiểm của cholesterol quá cao cũng chỉ phát triển trong khoảng 10-15 năm nay. Phần khác, vì vấn đề ăn uống dinh dưỡng tại Hoa Kỳ quá đầy đủ so với Việt Nam, người Việt sau một thời gian sinh sống tại đây cũng bắt đầu bị những bệnh về biến dưỡng giống như người Hoa Kỳ: tiểu đường, cholesterol cao, cứng thành mạch máu, áp huyết cao, đau tim v.v. . .
Chứng cholesterol cao thường được biết khi đi thử máu tổng quát hàng năm hoặc khi bị một trong những bệnh do cứng thành mạch máu (atherosclerosis) gây ra như bị nghẽn động mạch tim, đứt mạch máu đầu v..v.., thử máu và được biết bị cholesterol cao. Nhiều người cũng khám phá ra mình bị cholesterol cao khi có người nhà bị những bệnh nặng như kể trên và gia đình được khuyến cáo nên đo lượng cholesterol. Lý do vì trong một số trường hợp, chứng cholesterol cao xảy ra trong gia đình theo tính cách di truyền.
Trước hết, chúng ta nên biết cholesterol là gì và vai trò của cholesterol ra sao. Cholesterol thực sự là chất cần thiết cho cơ thể với nhiều vai trò quan trọng: là thành phần cốt yếu cho màng của tế bào, được dùng để tổng hợp các kích thích tố loại steroid, được gần dùng để làm chất mật cần thiết cho sự hấp thụ đồ ăn v.v. . . Cholesterol có được do hai cách: do đồ ăn chúng ta ăn mỗi ngày và do sự tổng hợp của chính cơ thể. Để hiểu rõ hơn về vai trò của cholesterol, ta nên biết về cách thức vận chuyển của cholesterol và những cơ chế sinh lý học của chất này.
Cholesterol thực ra chỉ là một thành phần của chất béo. Khi ta ăn đồ béo, ngoài cholesterol ra còn có chất mỡ triglycerides, hai chất này được hấp thụ qua màng
ruột. Ở trong tế bào của ruột non, hai chất béo này được hợp nhất với các chất đạm apoproteins tạo thành hợp chất đạm - béo gọi là lipoprotein. Khi hấp thụ từ ruột non chạy vào máu, lipoprotein này được gọi là chylomicrons được dùng để cung cấp năng lượng cho các tế bào của bắp thịt bằng cách đốt chất mỡ triglycerides có trong hợp chất chylomicrons. Nếu ta ăn nhiều chất béo quá, không dùng hết, các chất mỡ này được dự trữ trong các tế bào mỡ để khi cần dùng đến. Dĩ nhiên nếu không bao giờ bị đói phải đốt các chất mỡ này, cơ thể sẽ càng ngày càng tích tụ chất mỡ, các tế bào mỡ trương phình ra và gây bệnh béo mập. Đây là lý do tại sao khi muốn xuống ký, ngoài chuyện kiêng ăn còn phải vận động nhiều, tập thể dục để cơ thể đốt bớt chất mỡ tích tụ trong các tế bào mỡ này mới sụt ký được.
Chylomicrons sau khi cung cấp chất mỡ triglycerides cho các tế bào bắp thịt hay tế bào mỡ sẽ được vận chuyển đến gan, tại đây các tế bào gan sẽ tiêu hoá các phần còn lại của chylomicrons và sẽ bài tiết ra cholesterol. Một phần cholesterol được dùng để làm mật chảy xuống túi mật, phần cholesterol còn lại được tế bào gan dùng để tổng hợp một hợp chất đạm-béo lipoprotein khác gọi là VLDL.
VLDL là tiếng viết tắt của chữ very low density lipoprotein. Khi ta ăn nhiều chất đường hay bột quá không dùng hết, gan sẽ biến đổi các chất đường bột (carbohydrates) này sang chất mỡ triglycerides và hợp nhất với cholesterol và các chất đạm apoproteins để tạo thành hợp chất VLDL. VLDL theo giòng máu lại chạy đến các tế bào mỡ và phân phối chất mở triglycerides tại đây. Phần còn lại chỉ còn cholesterol và chất đạm được gọi là LDL (low density cholesterol). LDL sẽ chạy đến các tế bào của tuyến thượng thận, tế bào thận, tế bào bắp thịt, tiểu bạch cầu của tế bào máu v..v.. Ở đây hợp chất LDL sẽ bị các tế bào kể trên thu hút bằng một cơ cấu tiếp nhận trên màng tế bào gọi là LDL receptor đưa hợp chất LDL vào bên trong tế bào. Tại đây LDL sẽ được phân chất ra thành cholesterol và được dùng để biến dưỡng trong việc thành lập màng tế bào hay để tổng hợp các kích thích tố steroid như đã nói ở phần trên.
Cholesterol được cơ thể dùng tối đa trong các nhiệm vụ trọng yếu trong việc cấu tạo tế bào. Khi tế bào chết, cholesterol trong các màng tế bào chết này được thu nhận ngay trong giống máu bằng một hợp chất lipoprotein đặc biệt gọi là HDL (high density lipoprotein). Hợp chất HDL thu nhận các cholesterol thải hồi này và trao lại cholesterol cho hợp chất VLDL rồi LDL trở lại theo chu kỳ như đã mô tả ở trên.
HDL rất quan trọng vì tuy chứa cholesterol, hợp chất này có tính chất tốt ngược lại với LDL và VLDL dễ gây ra bệnh cứng thành mạch máu và bệnh tim. HDL nếu có nhiều lại bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh trên. Lý do tại sao không biết rõ nhưng phần nhiều những người sống lâu 80, 90 tuổi trở lên đều có lượng HDL cao hơn người bình thường.
Hợp chất LDL vì chứa toàn cholesterol nên khi lượng LDL trong máu cao hơn bình thường dễ gây ra bệnh. Cơ chế gây bệnh là khi màng của mạch máu bị thương tổn, cholesterol xâm nhập vào làm màng mạch của máu dày lên, các tiểu cầu trong máu giữ nhiệm vụ làm đông máu đóng lại tại chỗ bị thương tổn, lâu ngày làm nghẹt dần mạch máu gây ra bệnh nghẹt động mạch tim (heart attack) hay tại não bộ gây ra nghẹt hay đứt mạch máu đầu (stroke).
Mức độ cholesterol trong máu bình thường hiện nay được xác định là 200mg% hay thấp hơn. Khi đo cholesterol thường phải nhịn đói 12 tiếng đồng hồ rồi mới thử. Thường nên thử hai hay ba lần và lấy mức trung bình để chính xác hơn. Khi thử máu, muốn biết rõ ràng hơn phải đo cả lượng chất mỡ triglycerides trong máu để phân loại bệnh về chất béo. Nhiều người chỉ bị cholesterol cao trong khi triglycerides bình thường, một số bị cao cả hai loại cholesterol và triglycerides. Trường hợp hiếm hơn, một số ít chỉ cao chất mỡ triglycerides trong khi cholesterol bình thường. Tùy theo mức độ cao của hai chất béo này, bệnh về chất béo được phân ra 5 loại khác nhau với cách chữa trị khác nhau tùy từng loại. Thông thường nhất là loại 2 a với cholesterol cao do hợp chất lipoprotein LDL cao và loại 2b với cả hai hợp chất LDL và VLDL đều cao.
Một số trường hợp cholesterol cao do di truyền. Nguyên nhân là vì cơ cấu LDL receptor trên màng tế bào để tiếp nhận LDL như đã nói ở phần đầu bị thiếu, LDL chứa cholesterol bị ngăn trở không từ máu vào tế bào được nên bị dồn ứ trong máu làm tăng lượng này hơn bình thường. Đặc tính này di truyền từ người cha hoặc người mẹ xuống cho con và trong gia đình một nửa số người con sẽ bị bệnh, số còn lại bình thường. Tỷ lệ bệnh này là 1/500, nghĩa là cứ 500 người bình thường sẽ có một người có đặc tính di truyền về bệnh này. Những người này dù gầy ốm, ăn ít thịt mỡ vẫn bị cholesterol cao như thường, dĩ nhiên nếu ăn mỡ nhiều lại càng bị nặng hơn. Phần lớn các trường hợp sự di truyền về cholesterol cao không được rõ ràng và ảnh hưởng về sự ăn uống quan trọng nhiều hơn. Tuy nhiên nếu trong gia đình có người bị cholesterol cao và bị các bệnh về tim, stroke, thường các người còn lại nên đo cholesterol và chất mỡ để xác định tình trạng của mình.
Khi đo chất béo trong máu, ngoài cholesterol và triglycerides, để biết rõ hơn nên đo cả hợp chất HDL trong máu. Lý do là vì đôi khi lượng total cholesterol cao hơn bình thường như 230mg% chẳng hạn, lượng HDL là “good” cholesterol như giải thích ở trên rất cao trong khi lượng LDL là “bad” cholesterol bình thường hay thấp. Những người này không những ít bị những bệnh về tim, mạch máu lại còn được “bảo vệ” là đằng khác.
Nguy hiểm về bệnh tim, mạch máu, stroke v.v. . . tương quan mật thiết nhất với lượng LDL. Lượng này có thể tính theo công thức:
LDL s Cholesterol - HDL - Triglycerides / 5
Vậy đo cả ba chất cholesterol, triglycerides và HDL ta tính ra được lượng LDL. Bình thường phải ở mức 130mg% hay thấp hơn. Nếu ở mức 130 tới 160 là nguy hiểm vừa phải, trên 160mg% là khá nguy hiểm. Nếu 190 hay hơn cần phải chữa trị sớm.
Cách chữa trị về cholesterol cao, điều đầu tiên là ăn kiêng các chất béo. Ăn kiêng đồ mỡ, thịt. Thịt bò nhiều cholesterol hơn thịt heo và thịt gà theo thứ tự. Tránh hẳn đồ mỡ trong thịt bò, heo. Thịt gà tránh ăn da có nhiều mỡ ở dưới. Trứng gà cũng có nhiều cholesterol cần kiêng. Đồ biển ít cholesterol hơn tuy tôm, shellfish có nhiều cholesterol hơn. Sữa uống nên dùng loại low fat milk, kiêng bơ, cheese v.v. . . Ăn uống nên đổi sang rau cỏ, trái cây nhiều hơn. Các loại dầu mỡ để chiên xào nếu dùng nên đỗi sang loại unsaturated fats như dầu bắp (corn oil). Cá biển có nhiều loại mỡ unsaturated fat là loại mỡ tốt và giúp bệnh tim có thể dùng nhiều hơn.
Phần lớn các trường hợp bị cao cholesterol vừa phải như từ 200 - 240mg% với LDL ở mức 130 - 160 nếu ăn kiêng thật kỹ có thể xuống trở lại bình thường sau 4 đến 6 tháng. Nếu đo lại vẫn còn cao hoặc LDL ở mức 160mg% hay cao hơn và có thêm những yếu tố nguy hiểm khác như bị áp huyết cao, hút thuốc lá, tiểu đường, gia đình có người bị bệnh tim, thường phải dùng thêm thuốc. Các loại thuốc trước kia hay dùng là loại cholestyramine và nicotinic acid có thể làm giảm cholesterol nhưng hay gây ra khó chịu về tiêu hoá. Gần đây hơn là loại thuốc mới Lovastatin bán dưới tên Mevacor làm ngăn sự tổng hợp cholesterol trong gan rất hiệu quả và tương đối it gây phản ứng khó chịu. Một loại thuốc khác có thể dùng trong trường hợp chất mỡ triglycerides cũng cao đi kèm với cholesterol cao là thuốc Lopid cũng khá hiệu quả.
Một điểm quan trọng là ngoài việc làm giảm lượng cholesterol và LDL, làm thế nào để tăng lượng HDL “good” cholesterol’’ và tăng tính cách bảo vệ tim. Hút thuốc làm giảm HDL nên bỏ thuốc lá là điều quan hệ. Tập thể dục sẽ làm tăng HDL nên thể dục sẽ giúp ích nhiều. Rượu bia nếu uống ít, một lon bia hay chút rượu khai vị có lẽ cũng giúp ích. Dĩ nhiên nếu uống quá nhiều, hại do gan và làm tăng VLDL với chất mỡ triglycerides lại làm hại nhiều hơn. Đàn bà có kích thích tố sinh dục estrogens làm tăng HDL nên ít bị bệnh tim hơn đàn ông có lẽ là do nguyên nhân này.
Tóm lại, cholesterol cao có thế gây ra những bệnh nguy hiểm do cứng thành mạch máu gây ra như bệnh tim (heart attack) hay bệnh đứt mạch máu đầu (stroke) v.. v... Bệnh do vấn đề dinh dưỡng quá độ gây ra tuy yếu tố di truyền cũng là điều quan trọng. Nên đo cholesterol và biết bệnh sớm để theo dõi và điều trị nếu quá cao. Ăn kiêng là điều chÍnh yếu kèm thêm thể dục, bỏ hút thuốc  v..v... Trị liệu hiện nay có nhiều loại thuốc mới tương đối khá hữu hiệu và có thể ngăn ngừa được những biến chứng nguy hiểm trong tương lai.




0
KHÁM TỔNG QUÁT
 
HỎI:
Tôi năm nay 45 tuổi, không có bệnh hoạn gì nhưng tôi lo ngại vì trong gia đình thấy nhiều người bị bệnh: cha tôi mất vì bị stroke, mẹ tôi bị tiểu đường. Gần đây tôi được tin ông anh cả bị ung thư phổi vì hút thuốc quá nhiều. Tôi muốn đi khám tổng quát nhưng xin bác sĩ cho biết khám tổng quát cần phải làm những gì và có cần thiết hay không?
Trương Văn H.
 
ĐÁP:
Câu hỏi của ông rất xác đáng về vấn đề sức khỏe và bệnh tật. Sức khỏe của mỗi cá nhân là một trạng thái cân bằng của tất cả cơ chế sinh học và sự hoạt động điều hòa của các cơ quan với những liên hệ mật thiết và hỗ tương. Bất kỳ một trạng thái mất cân bằng nào cũng đều có thể gây ra bệnh tật với những hậu quả nặng, nhẹ hoặc nguy hiểm khác nhau. Điều quan trọng phải để ý là những xáo trộn và mất cân bằng của cơ thể thường xảy ra trước với một thời gian tiềm ẩn lâu dài trước khi có triệu chứng của bệnh phát hiện. Vấn đề giữ gìn sức khoẻ là nhận biết các xáo trộn và trạng thái mất cân bằng này trước khi thành bệnh để thay đổi hay chữa trị một cách có hiệu quả.
Thí dụ giản dị và quan trọng là vấn đề áp huyết cao. Áp huyết có thể cao hằng hai ba chục năm với hòan toàn không có triệu chứng gì và người bệnh không hề để ý cho đến khi bị biến chứng nguy hiểm xảy ra như đứt mạch máu đầu, chảy máu trong óc gây chết hoạc bán thân bất toại  v..v. . . Hoặc một thí dụ khác như ung thư cổ tử cung ở người phụ nữ. Những tế bào cổ tử cung thay đổi thành ung thư rất chậm, kéo dài hàng chục năm. Nếu đi làm Pap Smear để tìm những thay đổi của tế bào này sớm  và giải phẫu ngay sẽ chữa khỏi và ngừa hẳn về ung thư tử cung. Nếu không biết, để ung thư thành hình và chạy khắp cơ thể, thường sẽ không chữa được và bệnh nhân chết.
Vấn đề phòng bệnh như vậy hiệu quả và lợi ích hơn nhiều so với việc chữa bệnh. Khám tổng quát là một phương pháp để tìm ra bệnh sớm khi chưa có triệu chứng gì và nếu có bệnh sẻ giúp cho việc chữa trị thành dễ dàng nhất.
Để trả lời câu hỏi của ông, việc có nên đi khám tổng quát hay không sẽ tùy thuộc vào tuổi và có ở trong tình trạng dễ bị các bệnh nguy hiểm hay không (high risk). Thông thường với những người không có triệu chứng gì, từ tuổi 40 đến 64 nên đi khám tổng quát từ 1 đến 3 năm một lần. Từ 65 tuổi trở lên nên đi khám tổng quát một năm một lần. Dĩ nhiên nếu có triệu chứng sẽ tùy theo bệnh và cần khám thường hơn.
Khám tổng quát trước hết là phần hỏi và kê khai bệnh lý. Rất nhiều người thực sự đã có triệu chứng bệnh nhưng không để ý đến và khi được hỏi cặn kẽ mới chú ý và kể ra triệu chứng bệnh. Phần này là phần quan trọng hơn cả vì phần lớn việc định bệnh chính xác là nhờ vào hỏi bệnh lý cặn kẽ. Thí dụ như mặc dù ăn nhiều, ngon miệng nhưng vẫn bị sụt ký, có thể người bệnh không để ý đến nhưng đây có thể là hiện tượng đầu của những người bị bệnh bướu cổ hay tiểu đường. Thí dụ khác như người đi khám tổng quát khai không có triệu chứng gì, chỉ thấy hơi nặng bụng. Khám và làm thử nghiệm mới thấy đã có bướu lớn ở trong bụng. Như thế khi đi khám tổng quát, bất kỳ điều gì thấy khác thường, mặc dù nhỏ nhặt đến đâu cũng nên kễ ra để việc định bệnh của người bác sĩ được dễ dàng và chính xác hơn.
Kế tiếp là phần khám. Đầu tiên là việc đo áp huyết và các dấu hiệu khác như đo mạch, nhiệt độ v.v. . . Khám nghiệm (physical examination) sẽ theo từng cơ quan. Ở phần đầu và cổ, khám mắt, tai, mũi, họng có thể cho biết nhiều bệnh quan trọng. Thí dụ như nhìn vào đáy mắt để xem các mạch máu trong mắt có thể cho biết về tình trạng nặng nhẹ của bệnh áp huyết, tiểu đường hoặc có bướu trong óc. Khám họng có thể cho biết về ung thư miệng, nhiễm trùng họng v.v. . . Ở người Việt gốc Tàu như dân Quảng Đông, nhiều người hay bị ung thư phần họng trong gọi là nasopharynx, đôi khi phải hỏi gốc gác giống dân nào để định bệnh dễ dàng hơn.
Phần khám cổ, quan trọng nhất là khám về hạch cổ và khám về bướu cổ. Hạch cổ có thể do nhiễm trùng thường nhưng cũng có thể do lao hạch hay ung thư hạch. Bướu cổ thường chạy lên chạy xuống khi người bệnh nuốt nước miếng, có thể do bệnh về kích thích tố giáp trạng tiết ra quá nhiều gọi là Graves’ disease, đôi khi có thể do bướu nước (cyst) hay ung thư.
Kế tiếp là khám về tim và mạch. Khám tim sẽ cho biết nhịp tim có bình thường hay không, có bệnh gì về các van tim hay bệnh tim bẩm sinh hay không? Khám tim thường cần làm thử nghiệm đo tim gọi là điện tâm kế (EKG) để biết rõ hơn và tùy trường hợp các thử nghiệm khác đặc biệt hơn nếu có triệu chứng nhiều về tim như siêu âm, đo tim lúc chạy trên thang cuốn Treadmill, chụp tim với chất phóng xạ Thallium v.v..
Khám về phổi sẽ cho biết có thể bị suyễn hay không, hoặc nếu bị lao phổi, sưng phổi hoặc phổi bị teo sợi (fibrosis), sẽ có thể nghe thấy được bằng ống nghe. Phần lớn nếu nghi bệnh phổi cần phải chụp quang tuyến mới định bệnh chính xác được như ung thư phổi, lao phổi ..v.v. . . Trường hợp bị suyễn hoặc hút thuốc quá nhiều gây đường hô hấp bị nghẹt, có thể cần phải đo hô hấp gọi là Spirometry. Ở người phụ nữ, khám ngực tìm ung thư vú là điều quan trọng. Thường để định bệnh sớm cần phải chụp hình vú gọi là Mammogram. Sau tuổi 50, nên chụp mammogram một hoặc hai năm một lần.
Khám đường tiêu hoá cần phải xem gan có lớn hay không, thường nếu bị bệnh gan nặng có thể đi chung với mật bị vàng, bụng trướng. Nếu ấn vào phần bụng phía trên bên phải, dưới gan, gây ra đau có thể phải tìm về bệnh sạn túi mật. Thông thường khám về đường tiêu hoá như bao tử, ruột non, ruột già, có thể phải làm những thử nghiệm như chụp quang tuyến hoặc soi bao tử, soi ruột gọi là Endoscopy. Ở người trên 50 tuổi, khám hậu môn là điều quan trọng vì phần lớn ung thư ruột già và ung thư tuyến đường tiêu prostate có thể tìm ra được nhờ khám hậu môn. Thử phân để xem có máu lẫn trong phân hay không và soi phần ruột già trực tràng gọi là Sigmoidoscopy có thể cần thiết để tìm ung thư ruột già chính xác hơn.
Ở người đàn ông trẻ, khám dịch hoàn quan trọng vì phần lớn ung thư dịch hoàn xảy ra ở người trẻ. Ở người phụ nữ, làm Pap Smear để tìm ung thư cổ tử cung là điều quan trọng như đã nói ở phần đầu. Thường nên làm mỗi năm một lần Pap smear. Nếu làm hai lần đầu tốt, có thể làm ít hơn, từ một đến ba năm một lần vì ung thư này mọc rất chậm.
Về việc làm thử nghiệm, ngoài các thử nghiệm như đã nói ở trên như đo tim EKG, chụp quang tuyến phổi, thử máu tổng quát và thử nước tiểu cũng giúp ích nhiều. Thử máu thường gồm đo lượng máu gọi là CBC (complete blood count) cho biết lượng hồng huyết cầu, bạch cầu, tiểu cầu. Thử CBC sẽ cho biết có thiếu máu hay không, hoặc hiếm hơn, dư máu hay ung thư máu. Hoặc bệnh hay chảy máu, hay bị bầm dưới da do thiếu tiểu cầu (platelets).
Thử hoá học máu gọi là Blood chemistry sẽ cho biết rất nhiều thứ: lượng đường trong máu cho biết về bệnh tiểu đường, lượng Cholesterol, chất béo triglycerides và phân loại cholesterol ra loại tốt HDL hay loại xấu LDL và đo tỷ lệ để biết nguy hiểm về bệnh tim. Cũng trong phần thử hoá học máu sẽ biết về bệnh gan nhờ đo các phân hoá tố của gan gọi là SGOT, SGPT, GGT và chất Bilirubin để biết ống mật có bị nghẹt hay hồng huyết cầu bị bể làm chất này cao ..v..v... Bệnh về thận cũng sẽ được biết nhờ đo chất Urea và chất Creatinine trong máu, nếu cao là bị suy thận. Ngoài ra, thử nghiệm hoá học máu còn đo chất Calcium, Phosphorus trong máu để tìm bệnh về tuyến phó giáp trạng (parathyroid), đo lượng Uric acid trong máu để tìm bệnh sưng khớp xương loại gout, đo lượng chất đạm Protein, Albumin trong máu, đo các chất điện giải Sodium, Potassium, Chloride v.v... Thường các thử nghiệm hoá học máu gồm 23 hay 24 thử nghiệm khác nhau thử chung một lần và cho biết rất nhiều dữ kiện để tìm bệnh. Một số phòng thí nghiệm còn thử thêm về bệnh bướu cổ gọi là Thyroid test và thử về bệnh giang mai (syphilis) đi chung với các thử nghiệm hoá học trên rất tiện lợi.
Thử nước tiểu thường đi chung với thử máu tổng quát khi đi khám tổng quát, tương đối không quan trọng bằng nhưng cũng cho biết thêm về bệnh thận như có chất đạm, có máu trong nước tiểu. Thử nước tiểu cũng cho biết có bạch cầu hay chất Nitrite trong nước tiểu giúp cho định bệnh về nhiểm trùng đường tiểu. Muốn kỹ lưỡng hơn, đôi khi phải cáy nước tiểu để xem loại vi trùng nào.
* * *
Tóm lại, khám tổng quát và làm một số thử nghiệm như thử máu tổng quát, nước tiểu, chụp hình quang tuyến phổi, đo tim ..v.v... có thể giúp ích cho việc định bệnh sớm và ngừa được những bệnh quan trọng trở thành khó trị hay không thể chữa được. Khi đi khám tổng quát, sự cộng tác của người bệnh nhân trong việc kê khai triệu chứng là điều hết sức quan trọng. Tìm ra bệnh sớm sủa và điều trị hiệu quả, nhanh chóng và kịp thời là mục đích chính yếu cho việc bảo trì sức khoẻ và trong chiều hướng đó, khám tổng quát và định kỳ đóng góp một phần quan trọng.
 
 
 
 
 
&&&
 
 
NGHẸT ĐỘNG MẠCH TIM (HEART ATTACK)
 
HỎI:
Tôi năm nay 50 tuổi, khỏe mạnh bình thường nhưng gần đầy tôi được tin anh ruột tôi mới bị chết vì heart attack. Xin bác sĩ cho biết những triệu chứng của bệnh này như thế nào? Muốn phòng ngừa cần phải làm gì?
Triệu Văn H.
 
ĐÁP:
Bệnh nghẹt động mạch tim, tiếng Mỹ thông thường hay gọi là heart attack, là nguyên nhân gây ra chết thông thường nhất tại các nước tân tiến. Tại nước Mỹ, mỗi năm có khoảng một triệu rưỡi trường hợp bị bệnh này, trong số đó 25% bệnh nhân sẽ chết do nghẹt động mạch tim. Hơn một nửa số người bị chết trước khi đến kịp nhà thương để chữa trị, vì thế việc nhận biết các triệu chứng báo trước hết sức quan trọng.
Hiện nay y khoa càng ngày càng tiến hơn trong việc chữa trị heart attack và một khi bệnh nhân đến kịp nhà thương để chữa, mức tử vong đã giảm khá nhiều so với trước kia. Tuy nhiên sống sót sau khi bị heart attack cũng dễ bị lại, trung bình khoảng 5 đến 10% số người bị heart attack cũng sẽ bị thêm và chết trong năm đầu tiên, nên một khi bị chứng này sẽ phải điều trị cẩn thận và theo dõi thường xuyên cho đến hết đời.
Người Việt tỵ nạn trước kia ở Việt Nam ít thấy bệnh nghẹt động mạch tim vì lý do ăn uống khác, ít thịt mỡ, cholesterol; ít người bị bệnh tiểu đường hơn, ít người mập phì hơn, đỡ bị dồn ép tâm lý stress hơn ..v.v. Sau một thời gian sống tại Hoa Kỳ, các yếu tố gây nguy hiểm về bệnh nghẹt động mạch tim đã tăng lên nhiều nên người Việt tỵ nạn hiện nay bị heart attack cũng đã khá nhiều, nhất là những người sang lâu từ 75.
Nghẹt động mạch tim xảy ra khi bất thần có một cục máu làm tắc một động mạch nuôi sống bắp thịt tim. Hầu hết các trường hợp này động mạch tim cũng đã bị bệnh vì cholesterol đóng ở thành động mạch làm cứng và làm ngăn trở sự lưu thông của máu gọi là atherosclerosis.
Động mạch tim bị nghẹt khoảng 70% đường kính trở lên là nguy hiểm và bắt đầu gây ra những triệu chứng đau ngực khi làm việc nặng gọi là angina. Động mạch tim bị bệnh có thể xảy ra ở một, hai hay ba động mạch tim, dĩ nhiên càng nhiều động mạch bị nghẹt càng nguy hiểm hơn. Trường hợp bị nghẹt tại gốc động mạch chính gọi là left main artery lại càng nguy hiểm nhiều hơn nữa.
Heart attack xảy đến khi một cục máu đông làm nghẹt hoàn toàn và máu không chảy được để nuôi bắp thịt tim. Thiếu máu lưu thông, thiếu dưỡng khí, vùng bắp thịt tim do động mạch này cung cấp sẽ chết gọi là myocardial infarction. Nếu vùng bắp thịt tim bị chết này tương đối nhỏ, tim vẫn còn hoạt động được tuy yếu đi nhiều. Nếu vùng bắp thịt tim quá lớn, tim không co bóp được nữa hoặc bị rối loạn về nhịp tim, người bệnh sẽ chết ngay. Hơn nửa trường hợp chết trước khi đến được bệnh viện để cứu cấp là vì lý do này.
Triệu chứng quan trọng nhất của heart attack là đau ngực. Đau ngực này nhiều và kéo dài lâu hơn trường hợp đau ngực khi làm việc gì nặng của chứng đau ngực angina. Phần lớn những người bệnh sống sót sau khi bị heart attack diễn tả đau ngực này như chưa bao giờ có cơn đau ngực ghê gớm như vậy. Thường đau ở vùng ngay giữa ngực hay có thể thấp hơn xuống dưới chán thủy một chút làm dễ nhầm với đau bao tử, đầy hơi. Đau ngực này sâu, không phải chỉ ở phiến diện trên lồng ngực, đau như bị bóp, đè nặng, nghiến sâu. Trong khoảng 30% trường hợp cơn đau như chạy theo cánh tay trái, tuy nhiên có thể thấy cơn đau chạy lên cằm, lên cổ, ra sau lưng. . .
Ngoài cơn đau dữ dội còn có những triệu chứng như khó thở, xuất hạn ra ướt đẳm mồ hôi, mặt nhợt nhạt, xanh lè, đôi khi bị ói mửa. Đau ngực do heart attack thường kéo dài lâu, không như loại đau ngực do làm nặng, nghỉ ngơi sẽ hết. Khi bị heart attack, có thể không làm gì cũng thấy bị đau và các triệu chứng kể trên.
Khoảng một nửa số người bệnh trước khi bị heart attack hẳn, bị đau ngực từng cơn trước, không làm gì cũng đau, bị đi bị lại nhiều lần và càng lúc càng thấy cơn đau nhiều hơn và lâu hơn. Những trường hợp này gọi là unstable angina tức trạng thái không quân bình của chứng đau ngực, báo trước cho biết heart attack làm bắp thịt tim bị chết sắp xảy đến. Khi thấy những triệu chứng báo trước này, cần phải đi khám và nằm bệnh viện ngay để chữa trị kịp thời và ngăn ngừa trường hợp heart attack xảy ra.
Khi heart attack xảy đến rồi, nếu không bị quá nặng chết ngay tức khắc, thường người bệnh trông rất hoảng hốt, lo âu, cử động luôn để có làm giảm cơn đau, tay chân thường lạnh. Một số trường hợp tim sẽ đập rất nhanh và áp huyết lên cao, một số khác nhiều hơn lại bị tim đập chậm và áp huyết xuống rất thấp. Người bệnh lúc này thường thấy mệt lả đi và ở vào tình trạng rất nguy hiểm. Việc quan trọng là khi bị đau ngực dữ dội và các triệu chứng đi kèm như kế trên, cần phải gọi xe cấp cứu để đưa vào nhà thương ngay.
Thời gian là yếu tố quyết định trong việc chữa trị hiệu quả heart attack, mỗi phút mất đi là một phút nguy hiểm tăng lên. Điều quan trọng cần nhớ là khi đau ngực nặng nghi là bị heart attack phải gọi ambulance đưa vào phòng cấp cứu của nhà thương để chửa, không nên tới phòng mạch bác sĩ tư ở ngoài để khám. Người Việt tỵ nạn vì ít biết về tầm mức quan trọng và nguy hiểm của bệnh nghẹt động mạch tim, không biết triệu chứng của bệnh nên đôi khi có trường hợp bị heart attack, người nhà bệnh nhân đưa đến phòng mạch tư của bác sĩ để xin chữa và làm chậm trễ trong việc chữa khẩn cấp vì bệnh này cần nhập viện ngay, phải đến thẳng nhà thương.
Lý do phải tranh thủ thời gian vì khi bị nghẹt hẳn động mạch tim, nếu để lâu hơn vài tiếng đồng hồ, bắp thịt tim sẽ chết hẳn và càng để lâu, vùng bắp thịt tim chết không vãn hồi lại được càng ngày càng lan rộng. Trước kia, việc chữa trị không hiệu quả nhiều vì y khoa chưa hiểu rõ cơ chế của cục máu đông làm nghẹt
Khoảng mười năm trở lại đây, cách chữa heart attack tiến bộ hơn trước nhiều và cứu được nhiều bệnh nhân hơn nhờ cách dùng thuốc làm tan cục máu đông trong động mạch tim. Nếu dùng thuốc làm tan cục máu này sớm, trong vòng một tiếng đồng hồ sau khi bị đau ngực, mức tử vong có thể giảm được đến 50%, ngoài ra sẽ làm hạn chế vùng bắp thịt tim bị chết, nhờ đó tim hồi phục nhanh hơn và ít để lại biến chứng hơn. Bệnh nhân bị heart attack đưa vào nhà thương và dùng thuốc tan máu trong khoảng từ 1 đến 3 tiếng cũng vẫn có hiệu quả nhiều. Nếu đưa vào chậm hơn, trong khoảng từ 3 đến 6 tiếng, mức độ tử vong không giảm được nhiều nhưng dùng thuốc tan máu vẫn được và cũng còn lợi ích. Sau 6 tiếng mới chữa, thường hiệu quả không được nhiều. Như thế đủ thấy khi nghi bị heart attack, phải đưa vào nhà thương càng sớm càng tốt, nhanh được phút nào hay phút đó! Một điều khác nữa là phải vào nhà thương lớn, quen thuộc với cách chửa trị mới và có đầy đủ chuyên môn hơn.
Thuốc làm tan cục máu đông có hai loại là Strepto-kinase và TPA, viết tắt của tissue plasminogen activator, điều chế bằng phương pháp tổng hợp DNA. Thuốc TPA tương đối công hiệu hơn và được dùng thường hơn, tuy rất mắc tiền, vài ngàn đô la một dose! Thuốc này có thể dùng bơm thẳng vào động mạch tim sau khi dùng ống luồn theo động mạch từ tay hay đùi đi thẳng vào tim gọi là cardiac catheterization tuy nhiên làm phương pháp này trong trường hợp túc trực sẵn sàng rất ít các nhà thương có khả năng đó. Vì vậy hiện nay hầu hết các nơi đều dùng thuốc tPA tan cục máu đông trong động mạch tim bằng cách truyền vào tỉnh mạch từ từ 100mg thuốc trong khoảng 3 tiếng đồng hồ. Thuốc này có khả năng làm tan cục máu làm nghẹt động mạch tim, tuy nhiên khi truyền thuốc này phải cho dùng thêm thuốc Heparin và cho uống Aspirin mỗi ngày để giữ cho máu loãng không bị đông trở lại.
Thường sau khi dùng thuốc tan cục máu đông như đã kể trên, người bệnh bị heart attack cần phải được thông tim và chụp hình hệ thống động mạch tim để biết động mạch nào bị nghẹt và mức độ bao nhiêu. Một số trường hợp có thể dùng phương pháp làm nở động mạch tim bị nghẹt bằng cách dùng balloon nhỏ ở đầu ống thông bơm căng lên để thông cho nghẹt gọi la angioplasty. Một số trường hợp có thể phải mổ để nối động mạch tim gọi là bypass surgery, mổ lấy tĩnh mạch ở đùi hay lấy mạch máu vú để thay động mạch tim bị nghẹt.
Những phương pháp chữa chính và mới nhất là cách chữa như kể trên, tuy nhiên những người bệnh bị heart attack thường bị rất nhiều biến chứng nguy hiểm có thể gây ra chết bất cứ lúc nào nên phải nằm trong khu trông coi đặc biệt ngày đêm 24 tiếng túc trực để cấp cứu gọi là coronary unit. Nhịp tim, áp huyết, máy thở, đo áp suất trong tỉnh mạch phổi. .. được theo dõi kỹ lưỡng ngày đêm và thuốc men trị liệu, máy giật điện tử để hồi sinh gọi là fibrillator lúc nào cũng sẵn sàng để cứu chữa.
Câu hỏi về phòng ngừa là câu hỏi quan trọng vì heart attack nguy hiểm, làm chết nhanh chóng. Việc ngừa bệnh này cần thiết là làm giảm thiểu các nguyên nhân gây bệnh. Những nguyên nhân chính là những yếu tố tạo nên bệnh cứng thành mạch máu atherosclerosis. Cholesterol và chất mỡ trong máu cao là chính, nên cần đi thử về cholesterol, chất mỡ triglycerides, đo lượng HDL, LDL. . . Đặc biệt vì có thể di truyền, nếu gia đình có người bị bệnh heart attack, càng cần phải đi thử kỹ lưỡng hơn và chữa trị nếu bị cao.
Áp huyết cao là yếu tố quan trọng khác. Phải chữa bệnh áp huyết nếu bị cao, và chữa bệnh này là chữa cả đời, không phải chỉ uống thuốc một thời gian thấy hạ rồi ngưng thuốc! Thuốc lá là nguyên nhân chính yếu khác. Nếu muốn ngừa bệnh tim, cần phải bỏ hút thuốc ngay. Bệnh tiểu đường, mập phì là những yếu tố khác cần phải chửa trị tiểu đường, xuống ký. . . Ngoài ra những yếu tố khác như thể dục, tránh bị stress... cũng giúp ích.
Người Việt tỵ nạn chưa quen nhiều với việc đi khám tổng quát hàng năm, tuy nhiên những người tuổi 45, 50 trở lên hoặc có những yếu tố gây bệnh như kể trên nên đi khám và thử nghiệm tổng quát để ngừa bệnh. Nếu có những triệu chứng như đau ngực khi làm việc nặng... càng cần phải đi khám và thử nghiệm sớm hơn để tìm bệnh động mạch tim và chữa trị truớc khi bị một cơn heart attack xảy đến.
Phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn chữa bệnh. Đối với bệnh nghẹt động mạch tim gây ra heart attack, điều này lại càng đúng hơn cả để tránh những trường hợp chết bất đắc kỳ tử do bệnh này gây ra.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.11.2018 22:00:58 bởi Ct.Ly>
Tưởng em có thời gian, nhg ..
thôi giao chi gỏ hết đi nha
thứ hai em dìa, em tính sau hihihi
 
 
&&&&
 
 
 
DỊ ỨNG MŨI
 
HỎI: 
Hằng năm cứ vào mùa thu tôi bị chứng hắt hơi sỗ mũi liên hồi. Tối ngủ bị nghẹt mũi thở không nổi. Ngoài ra còn bị ngứa mắt, ngứa cuống họng. Tôi nghe nói bị vầy là do dị ứng. Xin bác sĩ cho biết có phải là bệnh dị ứng không?
Ở Việt Nam tôi không bị vậy bao giờ, sang đây hơn ba năm tôi mới bị. Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân tại sao?
H. A.
 
 
ĐÁP: 
Những triệu chứng ông kể trên là do bệnh dị ứng mũi (allergic rhinitis). Bệnh dị ứng mũi là bệnh thông thường, do phản ứng của cơ thể với những bông phấn của cây, cỏ, nấm, bụi bặm và loại mọt sống trong bụi gọi là mites (tên khoa học Dermatophagoides). Những người bị dị ứng với bông phấn của cây (tree pollens) thường hay bị triệu chứng về mùa xuân, với các loại cỏ (grass pollens) thường bị vào mùa hè. Riêng về mùa thu là mùa dị ứng với các loại cỏ dại (weeds).
Thông thường nhất là các loại ragweed, tuy nhiên vùng Texas có khoảng 12 loại cỏ dại khác cũng gây ra dị ứng nhiều như các loại cỏ Cocklebur, Dock Sorrel, Kochia, Sagebrush v.v. . . Những thứ bông phấn này vào mùa thu bay đầy trong không khí, theo gió tản mát khắp nơi gây ra dị ứng mũi với những người dễ mắc bệnh này. Thường phải đến cuối thu sang đông khi các loại cỏ dại này chết dần, triệu chứng mới đỡ.
Nhiều người bị dị ứng với các loại nấm, thường hay bị vào mùa đông. Riêng về dị ứng mũi do bụi bặm và loại mọt mite, hầu như triệu chứng sẽ có quanh năm. Một số ít người bị dị ứng nặng có thể bị với rất nhiều thứ, mùa nào thứ ấy, mùa xuân với cây, mùa hè với cỏ, mùa thu bị với cỏ dại, mùa đông bị với nấm, triệu chứng sẽ có quanh năm gọi là perennial allergic rhinitis. Những triệu chứng về dị ứng mũi gồm có ngứa mũi, hắt hơi, sổ mũi và nghẹt mũi vì màng nhầy mũi bị sưng. Mắt cũng hay bị dị ứng làm ngứa, chảy nước mắt sống gọi là allergic conjunctivitis.
Khoảng 20 - 25 % người bị dị ứng có thể bị suyễn do phản ứng trong cuống phổi làm co thắt và tạo chất nhờn làm nghẹt.
Nhiều người thường hay nhầm triệu chứng do dị ứng mũi và các bệnh cảm cúm do cực vi trùng vì cả hai loại bệnh đều gây sổ mũi, nghẹt mũi. Triệu chứng phân biệt là triệu chứng ngứa mũi, ngứa cuống họng, ngứa mắt, hắt hơi nhiều khi bị dị ứng. Ngoài ra dị ứng không gây ra sốt, nóng lạnh trừ khi bị thêm nhiễm trùng khoang mũi.
Nguyên nhân của bệnh dị ứng là do cơ thể tạo ra quá nhiều kháng thể (antibody) chống cự với các loại bông phấn, nấm hay bụi bặm như đã kể trên. Loại kháng thể đặc biệt này gọi là IgE. Kháng thể IgE được tạo ra phù hợp với một loại kháng nguyên (allergen) riêng biệt. Thí dụ như bông phấn của cỏ dại ragvv eed là kháng nguyên sẽ làm cho cơ thể tạo ra loại kháng thể IgE riêng để chống với ragweed (anti-ragweed IgE). Các kháng thể IgE này dính trên màng tế bào của một loại tế bào đặc biệt nằm trong màng nhầy của mũi gọi là mast cell. Tế bào này chứa một hoá chất gọi là histamine cũng như có thể tiết ra các chất hoá học gọi là leukotrienes. Khi ta hít thở không khí có bông phấn của cỏ dại như ragweed chẳng hạn, bông phấn này sẽ dính vào các kháng thể IgE có sẵn trên màng tế bào mast cell của màng nhầy mũi và làm tế bào này tiết ra histamine và các hợp chất như prostaglandins và leukotrienes. Histamine là hoá chất gây ra ngứa ngáy, làm tiết ra nước mũi cũng như có thể làm co thắt các bắp thịt của khí quản. Các hoá chất leukotrienes cũng như chất prostaglandins có thể làm co thắt khí quản rất mạnh gây ra suyễn cũng như tiết ra chất nhờn rất nhiều. Hiện nay hầu hết các loại thuốc uống để trị triệu chứng của bệnh dị ứng là các thuốc chống lại histamine (antihistaminics), chỉ bớt được một số triệu chứng như ngứa ngáy, hắt hơi, chảy nước mũi. Thuốc để chống lại các hợp chất loại leukotrienes hiện chưa có.
Câu hỏi tại sao người Việt Nam tỵ nạn tại Hoa Kỳ khi còn ở Việt Nam không bị dị ứng, sang bên này mới bị, có thể cắt nghĩa dựa trên những hiểu biết về kháng thể IgE. Hệ thống kháng thể là một trong hệ thống chính yếu của cơ thể để chống cự với vi trùng, cực vi trùng..v..v... luôn luôn tìm cách để xâm chiếm. Hai loại quan trọng nhất là loại IgG và IgM. Loại IgA có trong nước bọt, dịch tiêu hoá, giúp chống đỡ các loại vi trùng, cực vi trùng theo đồ ăn xâm nhập. Loại IgD ít quan trọng có trên màng tế bào. Loại kháng thể IgE là loại đặc biệt cơ thể dùng để chống đối với ký sinh trùng. Khi sinh sống tại Việt Nam, cơ thể ta luôn luôn phải chống đỡ với ký sinh trùng tìm cách xâm nhập nên hệ thống miễn nhiễm của cơ thể điều hòa sự chế tạo kháng thể IgE được kích thích tối đa. Khi sang đến Hoa Kỳ, các bệnh về ký sinh trùng hiếm có, cơ thể không cần phải chống cự với ký sinh trùng nhưng hệ thống IgE vẫn được sản xuất mạnh. Ngoài ra hệ thống điều hòa ngăn chặn sự sản xuất này gọi là suppressor activity bị suy giảm không ngăn cản được sự sản xuất IgE giờ đây quay sang tấn công các kháng nguyên trước giờ vô hại như bông phấn cây cỏ, bụi bặm..v..v... Các đặc tính về sản xuất IgE này cũng có tính cách di truyền, cha mẹ truyền cho con cái. Vì lý do chọn lựa tự nhiên (natural selection), các đặc tính di truyền tạo ra IgE mạnh để chống với ký sinh trùng được bảo vệ và tồn tại qua nhiều thế hệ, mặc dù giờ đây IgE không cần thiết cho sự sinh tồn và gây ra bệnh về dị ứng, tỷ số người có hệ thống IgE mạnh và bị dị ứng khá cao trong dân chúng. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ dân chúng bị dị ứng lên đến 1/4 dân số. Người Việt Nam không có thống kê nhưng chắc chắn cao hơn con số này.
Người Việt tỵ nạn bắt đầu bị di ứng tại Hoa Kỳ thường xảy ra trong vòng 2, 3 năm sau khi định cư.
Tuy nhiên nhiều người chỉ cần 6 tháng sau đã bắt đầu bị dị ứng. Một số người hằng 10 hay 15 năm sau mới bắt đầu bị. Điều này có lẽ tùy thuộc vào bản chất và yếu tố di truyền của từng người. Về vấn đề định bệnh dị ứng, với những triệu chứng như đã nói ở phần đầu và khám nghiệm thấy màng nhày bị sưng có thể chẩn đoán nghi là dị ứng. Muốn biết chắc chắn phải làm thử nghiệm thông thường, tiện lợi và chính xác nhất là thử nghiệm trên da (allergy skin testing). Với cách này có thể thử mỗi lần vài chục loại kháng nguyên khác nhau và tùy theo mức độ phản ứng, định bệnh được loại dị ứng do thứ nào gây ra và nặng nhẹ ra sao. Một cách thử khác là thử máu gọi là RAST test, cách này phải gửi đi phòng thí nghiệm mất nhiều thì giờ, tốn kém và không được chính xác vì khó liên quan kết quả thử nghiệm với triệu chứng bệnh lý được. Hiện nay RAST test chỉ được dùng khi người bệnh bị bệnh ngoài da nhiều, không thể thử trên da được.
Cách điều trị bệnh dị ứng ngoài việc tránh bụi bặm, giữ vệ sinh nhà cửa, tránh cắt cỏ nếu bị dị ứng với cỏ, tránh nuôi chó mèo nếu bị dị ứng với lông thú vật ..v..v.. ., cách trị tạm thời và trị triệu chứng là dùng thuốc các loại antihistaminics. Các thuốc này có thể giúp bớt ngứa, hắt hơi, sổ mũi tuy nhiên hay làm buồn ngủ. Hai thứ thuốc mới ít gây buồn ngủ là Seldane và Hismanal tương đối công hiệu và ít gây phản ứng tuy nhiên người đau gan, đau tim, bị rối loạn nhịp tim nên tránh. Một loại thuốc mới khác không gây buồn ngủ là Claritin cũng khá công hiệu. Để bớt triệu chứng nghẹt, các loại thuốc decongestants có thể dùng. Thường hai loại antihistaminics và decongestants được gộp chung và bán dưới một tên thuốc. Thi dụ như Ornade, Trinalin, Deconamine, Tavist-D .. v.v. . .
Một loại thuốc khác để dùng là các loại thuốc xịt để trị những phản ứng về viêm trong mũi như các loại thuốc Vancenase, Beconase, Nasalide.. v.v…Loại thuốc Nasalcrom là một loại thuốc xịt khác dùng để giữ cho các tế bào mast cell không tiết ra histamine cũng có hiệu quả tuy không nhiều. Người bị bệnh dị ứng bị nghẹt mũi nặng thường có khuynh hướng mua các thuốc nghẹt mũi ở chợ như Afrin có thể bớt nghẹt trong vòng một vài tiếng nhưng thường sẽ bị nghẹt lại ngay. Thuốc này chỉ nên dùng tạm, nếu dùng quá lâu trên vài ngày có thể có hại cho màng nhầy mũi. Nhiều người lạm dụng bị chứng teo màng mũi gọi là rhinitis medicamentosa. Một cách chữa triệu chứng khác là chích thuốc loại steroid có thể gây hậu quả không tốt và không nên dùng. Các loại thuốc trên thực sự chỉ chữa tạm thời cho các triệu chứng. Phương cách chữa tận căn nguyên gọi là immunotherapy dùng cách chích mỗi tuần (allergy injection). Phương pháp này dựa trên kết quả thử nghiệm allergy skin testing và chích dần dần từ lượng nhỏ đến lượng lớn các thứ người bệnh bị dị ứng. Thường phải chích một thời gian khá lâu, một năm hay lâu hơn nữa để có kết quả lâu bền. Cách chữa này đòi hỏi đi đều đặn, mới đầu mỗi tuần một hay hai lần, sau đó giảm dần 2 hay 3 tuần một lần thời gian sau. Khi dùng cách chữa allergy injections, cơ thể sẽ tạo ra các kháng thể loại IgG để chống cự lại với kháng thể IgE như đã nói ở trên gọi là blocking antibodies IgG, ngăn chận các phản ứng tai hại của IgE. Ngoài ra, hệ thống miễn nhiễm của cơ thể gọi là suppressor T cells cũng được tăng lên để chống lại với sự sản xuất IgE và ngăn cản được bệnh dị ứng.
Tóm lại, bệnh dị ứng mũi là bệnh thông thường nhiều người mắc phải. Bệnh có thể theo mùa hay quanh năm tùy loại dị ứng và mức độ của bệnh. Một biến chứng quan trọng của dị ứng là bệnh suyễn đôi khi có thể gây nguy hiểm. Cách chữa gồm các loại thuốc trị về triệu chứng như thuốc uống và thuốc xịt mũi. Cách chữa căn nguyên immunotherapy bằng cách chích allergy đòi hỏi một thời gian lâu dài nhưng hiệu quả nhiều và lâu bền hơn.
 
 
 
 
 
 
 
 




0
VITAMINE VÀ NGỪA BỆNH TIM
 
HỎI:
Tôi mới nghe một người bạn nói uống Vitamin E có thể ngừa được bệnh tim Xin bác sĩ cho biết có đúng như vậy không? Có nên dùng Vitamin E hay không? Tôi hiện khỏe mạnh, không có triệu chứng gì nhưng được biết Cholesterol hơi cao nên lo ngại sau này sẽ bị bệnh tim
Vũ A. K.
 
ĐÁP:
Người Việt Nam chúng ta sang đây sau hơn 18 năm đã thấy bị càng ngày càng nhiều các thứ bệnh của một nền văn minh tân tiến như áp huyết cao, tiểu đường, đứt mạch máu đầu v.v. . . và đặc biệt là bệnh nghẽn động mạch tim. Bệnh này có thể gây ra chết bất thình lình khi bị nghẹt quá nặng, thường gọi là heart attack, và là mối lo ngại của nhiều người để ý đến vấn đề sức khoẻ của mình. Ở Việt Nam bệnh này ít thấy tuy có lẽ vì không được định bệnh chính xác hơn là không thấy. Nhiều trường hợp chết ở Việt Nam trước đây  gọi là “bất đắc kỳ tử”, “trúng gió độc” v.v... có thể do nghẽn động mạch tim gây ra.
Hiện nay, số người Việt Nam tỵ nạn bị bệnh này tuy không có thống kê, có lẽ càng ngày càng nhiều hơn. Một phần vì cách dinh dưỡng thay đổi, ăn nhiều thức ăn có chất béo, cholesterol nhiều hơn trước, và đời sống bị dồn ép tâm lý (stress) nhiều hơn. Bệnh này không phải chỉ xảy ra ở người già, nhiều người trẻ trên dưới 40 cũng có thể bị bệnh nghẽn động mạch tim, nhất là nếu có thêm những yếu tố gây nguy hiểm như: hút thuốc lá, quá mập, bị tiểu đường, bị áp huyết cao, có lượng cholesterol trong máu quá cao v.v... Yếu tố di truyền cũng quan trọng, nếu bố mẹ, anh em bị bệnh tim, đây cũng là một yếu tố nguy hiểm cần phải để ý.
Bệnh nghẽn động mạch tim là một bệnh nguy hiểm, vì thế vấn đề phòng ngừa hết sức quan trọng như kể trên: nếu hút thuốc phải bỏ thuốc lá, xuống ký không để mập quá, tập thể dục, chữa bệnh áp huyết cao hay tiểu đường nếu có và ăn uống kiêng khem các thứ có nhiều cholesterol: thịt mỡ, trứng v.v. . .  những phương cách khác để phòng ngừa bệnh tim cũng được các nhà khảo cứu chú ý đặc biệt.
Aspirin ngoài đặc tính trị đau nhức cũng còn có tính cách phòng ngừa bệnh nghẽn động mạch tim. Lý do là aspirin ngăn chận một phân hoá tố gọi là Cyclooxygenase làm giảm chất Thromboxane, chất này làm các tiêu cầu dính chùm lại gây ra cục máu làm nghẹt động mạch tim. Uống aspirin một viên mỗi ngày hoặc hai ngày uống một lần sẽ giúp ích cho việc ngừa bệnh tim vì làm máu loãng không bị nghẹt. Tuy nhiên vì làm máu loãng ra nên người nào hay bị chảy máu cam, hay bầm da, nên tránh dùng. Aspirin cũng không dùng được nếu bị đau bao tử vì có thể làm chảy máu bao từ. Một số người bị suyễn có thể bị phản ứng với aspirin làm suyễn nặng hơn, vì thế nếu bị suyễn nên tránh dùng.
Một cách ngừa khác là dầu gan cá thu. Các nhà khảo cứu nhận xết thấy dân Eskimo rất hiếm bị bệnh tim vì ăn dầu cá nhiều. Lý do là dầu cá có nhiều chất acid béo loại Eicosanoic acid có tính cách ngăn chận loại acid béo Arachidonic acid của cơ thể làm giảm các hoá chất có tính cách làm nghẹt máu.
Gần đây nhất là cách dùng Vitamin E như ông hỏi trong thư. Một vài khảo cứu mới được công bố gần đây cho thấy Vitamin E có tác dụng có thể ngừa bệnh tim.
Vitamin E hay Alpha-tocophérol là loại vitamin trước giờ ít được hiểu rõ nhất. Đặc tính của vitamin E là ngăn chận các phản ứng oxid-hoá trong tế bào. Nếu thiếu vitamin E sẽ bị ảnh hưởng về thần kinh nhiều nhất: làm tê bại, đi đứng không vững, run rẩy ..v.v. . . Vai trò của vitamin E về bệnh tim chỉ mới được hiểu rõ hơn gần đây. Lý do là vitamin E làm ngăn chận sự oxid-hoá của một loại cholesterol gọi là LDL cholesterol.
Như đã giải thích trước đây về cholesterol, đo lượng cholesterol không cũng chưa đủ để biết về sự nguy hiểm gây bệnh nghẽn động mạch tim. Cần phải phân chất cholesterol ra các loại HDL, LDL và VLDL. Hai loại quan trọng nhất HDL và LDL có đặc tính ngược nhau. HDL là loại ‘good’ cholesterol, nếu cao là tốt, ngừa bệnh tim. Ngược lại LDL là loại ‘bad’ cholesterol, nếu cao hơn 130 mg% là không tốt, càng cao càng dễ bị bệnh tim. Tuy nhiên, LDL cholesterol khi bị oxid-hoá càng tệ hại hơn, làm tổn thương thành động mạch, làm cứng động mạch gọi là Atherosclerosis và dễ làm nghẽn động mạch hơn.
Vitamin E vì ngăn chận oxid-hoá nên làm giảm thiếu tác dụng này trên chất LDL cholesterol. Khảo cứu trên loài vật cho thấy vitamin E có thể chặn được từ 30 đến 80% mức nghẽn động mạch tim mặc dù các con vật thí nghiệm này có mức cholesterol trong máu cao tối đa. Khảo cứu trên loài người dĩ nhiên là khó chứng minh hơn, tuy nhiên hai cuộc khảo cứu mới được công bố tháng 5/ 93 vừa qua trên tờ báo y khoa uy tín New England Journal of Medicine cho thấy sự hữu hiệu của vitamin E.
Khảo cứu đầu tiên được thực hiện bằng cách theo dõi 87.245 người đàn bà là y tá (registered nurses) trong vòng tám năm. Cách thức ăn uống, dùng vitamins loại nào, mức lượng bao nhiêu được theo dõi và ghi cho từng người. Trong tám năm, số người bị bệnh tim phải vào bệnh viện, phải mổ tim để nối động mạch tim hoặc chết vì bệnh tim đều được ghi nhận đầy đủ. Kết quả cho thấy số người uống thêm vitamin E ít bị bệnh tim hơn nhiều so với người không dùng vitamin E. Tỷ lệ là 40% giảm thiểu đỡ bị bệnh tim nếu uống vitamin E mỗi ngày ít nhất là 100 đơn vị và phải trên hai năm mới có được hiệu quả này.
Cuộc khảo cứu thứ hai được thực hiện bàng cách theo dõi 39.910 người đàn ông trong ngành y tế như nha sĩ, dược sĩ, bác sĩ v.v... trong vòng bốn năm. Cách thức cũng giống như cuộc khảo cứu trên. Kết quả cho thấy mức giảm thiểu bị bệnh tim là 30 đến 40% nếu dùng vitamin E trên hai năm với cân lượng là 100 đến 250 đơn vị mỗi ngày. Dùng nhiều hơn mức này cũng không tăng được lợi ích hơn.
Trong hai cuộc khảo cứu này, mức lượng vitamin E do đồ ăn đem lại như ăn nhiều rau, hạt, đậu phụng V. V... chỉ ở trong khoảng 5 đến 10 đơn vị, không có tác dụng gì trong tính chất ngừa bệnh tim. Ngay cả uống multivitamins, mỗi viên có khoảng 30 đơn vị vitamin E, cũng không có tác dụng giúp ngừa bệnh tim. Chỉ những người uống thêm vitamin E supplement với lượng từ 100 đơn vị mỗi ngày trở lên mới có được lợi ích.
Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh trong hai cuộc khảo cứu rộng lớn trên là tuy có sự giảm thiểu về bệnh tim lên đến mức độ rất khả quan là 40%, điều này cũng chưa thể coi là chắc chắn hẳn. Muốn có giá trị hơn nữa trong các cuộc khảo cứu y khoa thực nghiệm, cần phải theo dõi hai nhóm người cùng lúc với nhau, một nhóm cho uống vitamin E với mức lượng như kể trên, nhóm còn lại cho uống Placebo tức là viên thuốc bọc bột giống hệt như thuốc vitamin E tuy không có vitamin E ở trong. Cả hai nhóm đều không biết mình uống loại gì và những nhà khảo cứu theo dõi bệnh cũng không biết người bệnh thuộc nhóm nào (chỉ có người giữ giấy tờ không có nhiệm vụ theo dõi bệnh mới biết). Hình thức này gọi là double-blind study. Các người bệnh khi ưng thuận tham gia vào cuộc khảo cứu sẽ được computer chỉ định vào một trong hai nhóm theo may rủi, gọi là randomized study. Khảo cứu như vậy trong một thời gian dài vài năm, mới đập bể ám hiệu để biết người bệnh thuộc nhóm uống vitamin E hay placebo và so sánh kết quả. Hình thức khảo cứu như vậy gọi là double-blind, randomized, prospective study mới được coi là chính xác và kết quả lúc đó mới có thể tin cậy hẳn được.
Hiện nay một cuộc khảo cứu như trên đang được thực hiện và còn phải ít nhất 4, 5 năm nữa mới có kết quả. Trong thời gian này, trên nguyên tắc, y khoa chưa thể khuyến cáo một cách chắc chắn việc dùng vitamin E để ngừa bệnh tim, tuy nhiên vì vitamin E uống nhiều cũng không hại gì và tương đối rẻ tiền, một số người, kể cả một số bác sĩ điều khiển những cuộc khảo cứu trên, đã bắt đầu dùng vitamin E cho chính bản thân mình!
Ngoài vitamin E, hai loại vitamins khác cũng có tính chất chóng oxid-hoá là vitamin C và Beta- carotene cũng được khảo cứu về việc ngừa bệnh tim. Vitamin C không có ảnh hưởng gì tuy nhiên Beta- carotene có tác dụng ngừa bệnh tim trên một số người hút thuốc lá. Beta-carotene là loại vitamin tiền thân của vitamin A có rất nhiều trong cà rốt, một vài khảo cứu chưa được kiểm chứng cho thấy có thể ngừa ung thư phần nào, tuy nhiên vẫn còn trong vòng bàn cãi.
* * *
Tóm lại, mặc dù chưa được chắc chắn hẳn, hai cuộc khảo cứu rộng lớn gần đây cho thấy vitamin E có thể ngừa được bệnh tim với mức độ lên đến 40% nếu dùng trên hai năm và mức lượng ít nhất trên 100 đơn vị mỗi ngày. Tuy nhiên điều cần nhớ là để ngừa bệnh tim cho hiệu quả, các cách thức như đã trình bày trong bài như bỏ thuốc lá, xuống ký, ăn kiêng, chữa áp huyết, chữa tiểu đường, tập thể dục.. v.v... cần phải được tuân theo. Nếu cholesterol quá cao, ăn kiêng cũng không giảm, cần uống thuốc để hạ cholesterol. Các cách thức khác như uống aspirin, dầu cá thu và gần đây nhất vitamin E, beta-carotene có thể giúp ích. Tuy nhiên riêng đối với vitamin E, việc khuyến cáo có nên dùng một cách tổng quát cho mọi người để ngừa bệnh tim trên nguyên tác còn cần một thời gian nữa để có câu trả lời chính xác hẳn. Trong khi chờ đợi, trường hợp cho mỗi cá nhân có nên dùng vitamin E hay không sẽ tuỳ thuộc vào người bác sĩ trị liệu cho cá nhân đó.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.11.2018 11:52:37 bởi Ct.Ly>
BỆNH ĐỨT MẠCH MÁU ĐẦU (STROKE)
 
HỎI:
Tôi có người nhà bị bệnh đứt mạch máu đầu, gần đây phải đưa vào nhà thương để chữa trị. Hiện đã đỡ nhiều nhưng hiện bị liệt nửa người và nói năng rất khó khăn, xin bác sĩ cho biết nguyên nhân nào bị bệnh đứt mạch máu đầu và hy vọng hồi phục được khoảng bao nhiêu? có cách nào để ngừa được bệnh này không? Cũng xin bác sĩ cho biết có triệu chứng nào báo trước là sắp bị đứt mạch máu đầu không? Và phải làm những gì khi nghi là có thể bị bệnh này?
Nguyễn Văn H.
 
ĐÁP:
Đứt mạch máu đầu là một trong những nguyên nhân chính gây ra chết hoặc bị liệt ở người lớn tuổi tuy một số người tuổi còn trẻ cũng có thể bị bệnh này. Đây là một bệnh nguy hiểm, nên hiểu biết về bệnh này, đặc biệt là biết những dấu hiệu báo trước việc đứt mạch máu đầu sắp sửa xảy ra là điều cần thiết cho những người lớn tuổi để có thể ngăn chận kịp thời và làm giảm thiểu những hậu quả tai hại của nó. Thực sự dùng chữ đứt mạch máu đầu không đúng hẳn, phải nói là bệnh tổn thương mạch máu não vì đứt mạch máu chỉ là một trong những cơ chế của bệnh tổn thương mạch máu não, ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác nữa.
Bệnh này gây ra chết chỉ đứng hàng thứ ba sau bệnh tim và bệnh ung thư. Cứ 100,000 người sẽ có 794 người bị bệnh mạch máu não. Mỗi năm có khoảng 400,000 người phải vào bệnh viện vì bệnh này, tính ra 5% người già trên 65 tuổi sẽ bị bệnh mạch máu não. Vì thế bệnh này là một bệnh rất quan trọng, đặc biệt cho người lớn tuổi, và vấn đề phòng ngừa là điều chính.
Sau đây chúng ta sẽ xem về các loại của bệnh mạch máu não, các triệu chứng và cách ngừa bệnh này.
Các bệnh của mạch máu não có thể chia làm bốn loại chính:
1.  - Nghẹt mạch máu não do cứng thành động mạch gây nên.
2.  - Cục máu chạy làm tắc mạch máu não, cục máu có thể từ một động mạch não bị lở loét và làm đông máu hoặc có thể chạy từ tim lên.
3.   - Xuất huyết trong não do áp huyết cao gây ra.
4.  - Mạch máu não bị phình và bị bể làm chảy máu dưới màng não gọi là màng nhện.
Các tổn thương của mạch máu não có thể xảy đến một cách từ từ với triệu chứng báo trước hoặc có thể xảy ra một cách đột ngột, bất ngờ và không có gì báo trước cả. Điều này tùy thuộc vào loại nào trong các loại kể trên; như nếu bị nghẹt mạch máu não, các triệu chứng có thể báo trước đôi khi nhiều ngày hoặc cả một thời gian thật lâu trước khi bị stroke hẳn; trường hợp bị cục máu chạy làm tắc mạch máu não hay bị xuất huyết trong não do áp huyết cao hay do mạch máu bị phình và bể, stroke xảy ra đột ngột, bất ngờ.
Trước hết, điều nên biết là có thể có những triệu chứng nào báo trước. Những triệu chứng này thường xảy ra ngắn, trong vòng vài phút đến một giờ, và thường biến đi không để lại dấu vết nào rồi trở lại sau đó, nhiều khi vài ngày hay cả tháng sau hoặc có thể nhiều như năm hoặc mười lần trong một ngày. Những triệu chứng thường thấy là tự nhiên thấy yếu hẳn đi một bàn tay hay một cánh tay trong vài phút rồi trả lại bình thường, hoặc thấy liệt đi một nửa bên người trong chốc lát rồi lại cử động được.
Nhiều người có triệu chứng nói không được hay nói năng rất khó khăn trong vài phút đồng hồ. Một triệu chứng cũng thường hay xảy ra là tự nhiên mắt không còn thấy gì hoặc bị mất hẳn thị giác một nửa bên hoặc ở giữa thấy đen ngòm, trong vòng vài phút đồng hồ rồi lại thấy được như thường. Một số các triệu chứng khác có thể xảy ra là thấy chóng mặt, quay cuồng, đi đứng không vững, mắt nhìn một thành hai, nói năng ngọng nghịu chỉ trong chóc lát rồi trở lại bình thường.
Những triệu chứng này ngắn hạn, gọi là transient ischemic attacks, không để lại dấu vét gì, nhiều người có những triệu chứng này một thời gian khá lâu nhưng thường đây là những dẫn dắt đưa đến đứt mạch máu đầu trong tương lai, vì thế nhận biết những triệu chứng này và tầm quan trọng của nó để đi khám nghiệm ngay có thể tránh được những hậu quả tai hại của bệnh đứt mạch máu đầu hay stroke gây ra.
 
Những người nào dễ bị bệnh đứt mạch máu đầu? 
Như đã nói trên, bệnh này hay xảy ra ở người lớn tuổi nhưng không nhất thiết phải như vậy. Bệnh cứng thành mạch máu (atherosclerosis) là nguyên nhân chính gây ra đứt mạch máu đầu cũng như bệnh nghẹt động mạch tim, và liên quan đến bệnh cholesterol cao. Bệnh áp huyết cao cũng là một nguyên nhân chính gây ra đứt mạch máu đầu hay xuất huyết trong não, vì thế đi khám nghiệm để biết áp huyết mình có cao hay không và nếu cao phải chữa trị cẩn thận là điều chính yếu. Hiện tại ở Hoa Kỳ, mức độ người bị stroke tương đối đã giảm khá nhiều cũng nhờ người dân đã biết nhiều hơn về sự nguy hiểm của bệnh áp huyết cao và đi chữa trị cẩn thận. Người Việt Nam tỵ nạn hiện còn ơ hờ nhiều về bệnh áp huyết cao nên số người bị đứt mạch máu đầu vì không chữa trị áp huyết cao xảy ra khá nhiều và nhiều người còn trẻ cũng đã bị biến chứng tai hại này.
Ngoài hai bệnh chính kể trên, các bệnh về nhịp tim đập không đều, bệnh nghẹt van tim hay nghẹt động mạch tim hay nhiễm trùng tim cũng dễ làm đọng thành cục máu ở trong tim và làm chạy lên não bộ gây ra tổn thương mạch máu não bộ và gây ra stroke. Hút thuốc lá nhiều gây ra nhiều chứng bệnh khác nhau và là một trong những yếu tố để đưa đến stroke. Vì thế muốn tránh bệnh này phải giảm thiểu tối đa các yếu tố nguy hiểm và ngưng hút thuốc là điều cần thiết.
Đứt mạch máu đầu hay stroke có thể xảy ra theo nhiều cách. Nếu bị nặng như xuất huyết nhiều trong não bộ hay bị hư hỏng vùng não bộ quan trọng và cần thiết cho sự sống còn như trung tâm điều khiển sự hô hấp, người bệnh có thể chết ngay trong vòng vài phút hay nửa tiếng đồng hồ. Phần lớn các trường hợp diễn biến xảy ra từ từ hơn và nặng hay nhẹ sẽ tùy thuộc vào mạch máu não nào bị ảnh hưởng.
Trong não có ba mạch máu chính: mạch máu não giữa, mạch máu não trước và mạch máu não sau. Nếu bị nghẹt hay bị cục máu tắc ở mạch máu não giữa, sẽ bị liệt và tê mất cảm giác nửa người ở phia bên đối diện của bên mạch máu bị nghẹt. Có nghĩa là bị nghẹt mạch máu bên trái sẽ bị liệt nửa người bên phải và ngược lại. Đồng thời trung tâm điều khiển nói hay phát âm bị thương tổn sẽ làm cho nói không được hay nói ngọng nghịu khó khăn. Tùy theo vùng nào của trung tâm điều khiến tiếng nói bị ảnh hưởng, có rất nhiều triệu chứng khác nhau như nghe hiểu mà muốn nói nói không được, nghe cũng không hiểu mà nói cũng không được, nhìn sách hiểu nhưng đọc ra không được, hoặc đọc không hiểu gì cả, hoặc viết ra không được hay làm tình không được. . .
Mỗi người có nửa bán cầu não mạnh hơn bên kia, thường người thuận tay phải có bán cầu não bên trái mạnh hơn, người thuận tay trái có bán cầu não phải mạnh hơn; nếu bị nghẹt mạch máu não giữa của bán cầu não chính yếu sẽ bị liệt nửa người của phía bên kia nặng hơn nhiều và trung tâm điều khiển nói năng ở phia bán cầu não chính nên cũng sẽ bị nói không được. Ngược lại, nghẹt mạch máu não giữa của bán cầu não phụ sẽ bị nhẹ hơn và thường vẫn nói được.
Nghẹt mạch máu não trước tương đói bị ít hơn làm đi đứng khó khăn tuy không đến nỗi bị liệt hẳn, làm đi tiều không kiêm soát được, ảnh hưởng đến trỉ thông minh v…v... Nghẹt mạch máu não sau cũng gây bị liệt, ngoài ra trên mặt cũng bị làm mắt sụp, nuốt không được, nửa mặt mất cảm giác, bị chóng mặt, ói mửa v.v..
Như vậy khi người bệnh bị những triệu chứng kể trên có thể định bệnh là bị bệnh của mạch máu đầu hay stroke và cần phải đưa vào bệnh viện để điều trị. Việc định bệnh chính xác và phân loại ra bị xuất huyết trong não hay bị nghẹt và làm chết phần nào của não bộ phải dựa vào cách chụp hình CAT scan hay phương pháp mới hơn gọi là MRI (magnetic resonance imaging). Nếu nghi bị bể mạch máu bị phình gọi là aneurysm làm xuất huyết dưới màng não gọi là màng nhện, có thể phải lấy nước tủy xương sống sau khi đã chụp hình CAT scan xong.
Việc chữa trị stroke cũng tùy thuộc vào loại nào. Nếu bị nghẹt mạch máu não, có thể dùng những thuốc làm chống đông máu như Heparin và để phòng ngừa có thể bị stroke trở lại, một số bệnh nhân có thể phải uống thuốc làm loãng máu như Coumadin, phần lớn thường dùng Aspirin cũng có tác dụng loãng máu và ít bị biến chứng làm chảy máu hơn. Một số bệnh nhân bị nghẹt quá nhiều ở mạch máu có làm thành những cục máu chạy lên làm tắc mạch máu não có thể phải mỗ để thông mạch máu ở cổ gọi là carotid endarterectomy. Thường phải chụp hình hệ thống mạch máu não gọi là cerebral angiography để biết đích xác chỗ nào bị nghẹt và nghẹt nhiều bao nhiêu truớc khi mổ. Chụp hình bằng phương pháp này cũng có nhiều nguy hiểm và mổ để thông động mạch cổ cũng có thể gây mức độ tử vong thay đổi từ 1 đến 20% tùy bác sĩ và nhà thương có kinh nghiệm nhiều hay không. Điều này cho thấy sự quan trọng trong việc nên đến một trung tâm y khoa lớn, kinh nghiệm nhiều về việc chữa bệnh đứt mạch máu đầu hay stroke để có thế có nhiều hy vọng nhất trong việc chữa trị.
Điều thiết yếu nhất trong việc chữa trị và phòng ngừa là nhận biết các triệu chứng báo trước transient ischemic attacks như đã nói ở phần trên. Khi bị các triệu chứng liệt một phần tay chân rồi trở lại bình thường ngay hay nói ngọng nghịu một vài phút ngắn v.v. . . phải đi khám bệnh càng sớm càng tốt. Các thử nghiệm đầu tiên thường được làm là thử nghiệm siêu âm ở mạch máu cổ và đo độ nghẹt bằng phương pháp gọi là Doppler, nếu bị nghẹt nhiều có thể cần chụp hình angiography như đã nói ở trên và mổ endarterectomy nếu cần. Trong trường hợp không mổ được, thường sẽ phải uống Aspirin để ngừa bị stroke.
Tóm lại, đứt mạch máu đầu là một bệnh nguy hiểm, rất nhiều trường hợp có triệu chứng báo trước, nên nhận biết các triệu chứng này là điều rất quan trọng đề phòng ngừa và chữa trị kịp thời. Một khi stroke đã xảy ra, việc chữa trị khó khăn hơn nhiều và thường chỉ giữ để cho không bị nặng hơn nữa hay có thể chết ngay. Những điều có thể làm được để ngừa bệnh nguy hiểm này là chữa trị áp huyết cao nếu có bệnh này, hạ Cholesterol, bỏ thuốc lá. Aspirin với lượng nhỏ cũng có thể dùng để ngừa nếu không bị phản ứng với Aspirin. Vitamin E có thể có hiệu quả phòng ngừa với bệnh tim nhưng chưa được chứng minh với trường hợp bệnh đứt mạch máu đầu. Các phương pháp khác không có hiệu quả gì và ngoài các cách ngăn ngừa như đã nói ở trên, điều cốt yếu vẫn là sự nhận biết các triệu chứng báo trước của bệnh này.
 
 
 
 
 
&&&
 
 
LOÉT BAO TỬ
 
HỎI: 
Tôi năm nay 32 tuổi, khoảng vài tháng nay tôi hay bị đau phía bụng trên. Đói thấy đau, ăn vào thì bớt. Cứ bị đi bị lại hoài, xin hỏi có phải đó là triệu chứng của loét bao tử không? Có cách nào chữa dứt không?
Trần Văn B.
 
ĐÁP: 
Những triệu chứng ông vừa kể: đau vùng bụng trên ở giữa rốn và phía dưới chấn thủy với đặc điểm khi đói thấy đau và cơn đau giảm đi sau khi ăn là triệu chứng của bệnh loét bao tử do chất acid tiết ra quá nhiều. Ta thường gọi chung là loét bao tử nhưng thực ra phần lớn các trường hợp là loét ở phần đầu của ruột non thập nhị chỉ tràng (duodenum), chỗ gần sát với bao tử. Loét tại chính bao tử xảy ra ít hơn, triệu chứng không rõ rệt và ở người lớn tuổi hơn. Tuy nhiên lý do gây loét cũng giống nhau là do chất acid trong bao tử tiết ra nhiều quá, trong khi mức đề kháng của màng nhầy bị yếu, mất quân bằng làm những tế bào ngoài cùng của màng nhầy bị hư hoại và sau cùng bị lở loét.
 
Loét bao tử là một bệnh kinh niên và hay trở đi trở lại. Số người bị bệnh này rất nhiều, tuy nặng nhẹ khác nhau, trung bình 10 người có thể 1 hay 2 người bị bệnh này. Yếu tố di truyền cũng khá quan trọng, trong khoảng 50% trường hợp loét bao tử người bệnh có chất pepsinogen trong máu cao hơn bình thường, chất này cũng là một trong những nguyên nhân dễ gây ra loét bao tử, và đặc tính cao pepsinogen này là một đặc tính di truyền.
Hút thuốc lá nhiều cũng dễ bị loét bao tử. Thực sự thuốc lá không làm cho chất acid tiết ra nhiều hơn, tuy nhiên chất nicotine của thuốc lá có tác dụng làm giảm đi chất bicarbonate của tùy tạng tiết ra để trung hoà acid, vì thế làm mất cân bằng giữa tác dụng của acid và mức đề kháng, gây ra loét. Người hút thuốc lá nhiều không những dễ bị loét, còn làm cho trị liệu khó khăn hơn nhiều. Người bình thường uống thuốc vào bớt ngay, người hút thuốc nhiều thuốc chữa ít có tác dụng và những biến chứng của loét bao tử dễ xảy ra và nặng hơn.
Yếu tố tâm lý cũng quan trọng. Người bị dồn ép tâm lý (stress) nhiều dễ bị bệnh loét bao tử. Lo âu kinh niên cũng thế, dễ gây ra bệnh này.
Định bệnh loét bao tử tương đối dễ dàng nếu triệu chứng xảy ra như kể trên: đau khi đói, ăn vào bớt đau hay uống thuốc chống acid như Maalox, Mylanta..v..v. thấy bớt đau. Tuy nhiên nhiều người có triệu chứng này không hẳn đã bị loét thực sự, vì thế muốn biết đích xác có loét hay không phải chụp hình bao tử bằng cách uống thuốc Barium vào bao tử và chụp quang tuyến X. Chụp hình bao tử cũng chỉ định được khoảng 80% trường hợp. Xác định rõ ràng hơn nữa phải soi bao tử gọi là endoscopy. Dùng một ống soi dài quan sát bằng kỹ thuật fiber optic có thể bẻ cong được luồn từ miệng xuống thực quản và bao tử xuống đến ruột non thập nhị chỉ tràng và quan sát trực tiếp hoặc chụp hình. Định bệnh bằng cách soi này có thể kiếm được 100% trường hợp bị loét bao tử. Ngoài ra còn có thể cắt một miếng nhỏ màng nhầy gọi là biopsy để xem dưới kính hiền vì tìm trường hợp ung thư bao tử. Một số bệnh nhân có triệu chứng như loét bao tử nhưng thực sự do ung thư gây ra. Chỉ có phương pháp soi và làm biopsy mới có thể định bệnh sớm và giải phẫu chữa trị kịp thời được. Phần lớn các trường hợp ung thư bao tử khi tìm ra thường quá muộn và không chữa được.
Chữa trị bệnh loét bao tử hiện nay rất có hiệu quả. Trước hết là những loại thuốc kháng acid như Maalox, Mylanta, Digel  v..v... có thể mua không cần toa, uống hai muỗng canh ngày 4 lần có thể làm bớt đau và làm loét chóng lành hơn. Một loại thuốc bảo vệ màng nhầy bao tử gọi là Carafate cũng hữu hiệu. Tuy nhiên hiện nay có những thuốc hiệu quả hơn nhiều gọi là H-2 antagonists như Tagamet, Zantac, Pepcid, Axid. Một loại thuốc mới nữa là Prilosec cũng rất hiệu nghiệm. Những loại thuốc mới này làm giảm đau nhanh hơn và vết loét bao tử chóng lành hơn sau khi uống thuốc khoảng 4 đến 6 tuần lễ.
Điều trở ngại là tuy hiệu quả ngay, các thuốc này không trị tuyệt được vì ngưng thuốc, bệnh loét bao tử sẽ trở lại. Thông thường sau khi chữa lành rồi, trong vòng một năm sẽ có 60% số bệnh nhân bị loét bao tử lại và sau hai năm con số tăng lên đến 80-90%. Phần lớn các trường hợp có thể dùng thuốc như Tagamet, Zantac..v...v .. trị lại từ 4 đến 6 tuần lễ liên tục hoặc để ngừa có thể uống mỗi tối một viên để chặn. Nhiều người phải dùng thuốc từ năm này sang năm khác. Các thuốc này tương đối ít gây biến chứng tuy ở người lớn ttuổi có thể xảy ra.
Một số khảo cứu gần đây cho thấy lý do loét bao tử trở đi trở lại có thể do một loại vi trùng sống trong màng nước nhầy của bao tử gây ra. Vi trùng này tên là Helicobacter pylori (trước kia gọi là Campylobacter). 95% trường hợp loét bao tử đều có loại vi trùng này tuy vi trùng này cũng thấy có trong người bình thường không có triệu chứng hay bị loét gi cả. Vấn đề loại vi trùng này có thực sự gây ra loét bao tử vẫn còn đang bàn cãi nhưng một số trung tâm đại học y khoa đã bắt đầu chữa các bệnh nhân bị loét bao tử kinh niên trở đi trở lại bằng thuốc diệt vi trùng này là Bismuth đi kèm với một hay hai trụ sinh khác. Kết quả rất khả quan. Với cách trị mới này số người bị loét trở lại trong vòng một năm đã giảm xuống từ 60% còn từ 5 đến 20%. Điều quan trọng là cũng phải uống thuốc cả tháng mới diệt hẳn hoàn toàn được vi trùng này. Một số người sau khi đã trị tuyệt vi trùng Helicobacter pylori không hề bị loét trở lại.
Tuy nhiên cách trị này vẫn chưa được chấp nhận hoàn toàn và hiện nay phần lớn bệnh nhân bị loét bao tử trở đi trở lại đều phải dựa vào các thuốc loại H-2 antagonists như Tagamet, Zantac v.v. . . để kềm giữ.
Tóm lại, bệnh loét bao tử là một bệnh thông thường và chữa trị tương đối có hiệu quả. Điều cần là phải tránh những yếu tố làm bệnh dễ xảy ra và nặng hơn như thuốc lá, rượu, dồn ép tâm lý v.v... Chữa trị phải đúng cách và đều đặn để tránh những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra như chảy máu bao tử, loét sâu quá làm lủng bao tử v.v. . . có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không chửa kịp thời.
 
 
&&&
 
 
ƯNG THƯ BAO T
 
HỎI: 
Tôi có người nhà mới bị bệnh ung thư bao tử. Tôi lo ngại vì lâu lâu cũng hay thấy đau trong bụng. Xin bác sĩ cho biết ung thư bao tử có thể lây không? Nếu người trong nhà bị bệnh này, tôi có thể cũng bị không? Làm sao để biết rằng bị bệnh này? Làm thế nào để ngừa và có cách nào trị bệnh này không?
Nguyễn V. B.
 
ĐÁP: 
Ung thư bao tử là loại ung thư thường hay thấy ở người Việt Nam. Tại Hoa Kỳ, ung thư bao tử đã hiếm thấy dần trong vòng 60 năm nay. Theo một thống kê, trước kia cứ 100,000 người có khoảng 30 người bị ung thư bao tử. Hiện tại chỉ vào khoảng 8 người. Đàn bà ít bị hơn đàn ông. Người Á châu nói chung và Việt Nam nói riêng bị ung thư bao tử nhiều hơn. Tuy nhiên tại các nước với mức sống cao hơn như tại Nhật, mức độ bị ung thư bao tử cũng bắt đầu giảm đi nhiều.
Điều này cho thấy ung thư bao tử có liên hệ đến tình trạng sống của lớp dân. Tầng lớp nghèo dễ bị ung thư bao tử hơn. Những ảnh hưởng tai hại gây ra chứng ung thư này thường được xác định từ nhỏ. Thí dụ như người Việt tỵ nạn. Người lớn sinh trưởng và lớn lên ở Việt Nam sẽ dễ bị ung thư bao tử cùng một mức độ như người ở lại Việt Nam. Tuy nhiên trẻ con Việt sinh ra tại đây sẽ bị ít hơn, theo cùng mức độ như người Mỹ bản xứ ở đây.
Như vậy nguyên nhân gây ra ung thư bao tử một phần tùy thuộc vào cách thức ăn uống của những từng lớp dân chúng. Đồ ăn khô, đồ ăn nướng khói nhiều, đồ ăn cháy, thức ăn có quá nhiều muối dễ gây ra ung thư bao tử hơn. Lý do là những loại thức ăn này có nhiều chất nitrates. Chất nitrates nếu bị vi khuẩn có trong thức ăn để lâu, hư biến thành nitrites. Nitrites đã được chứng tỏ là chất gây ra ung thư. Như vậy ta có thể thấy ngay là cách thức ăn uống của người Việt, nhất là dân nghèo không giữ được thức ăn tươi có khuynh hướng đem lại nhiều chất nitrites dễ gây ra ung thư bao tử. Lý do người dân các nước tân tiến bị bệnh này càng ngày càng ít đi nhờ có tủ lạnh giữ đồ ăn không hư, hoặc ăn đồ hộp, biến chế, khử trùng, diệt các loại vi trùng sinh ra chất nitrites. Một số người bị những bệnh làm teo màng nhầy của bao tử, hoặc tiết ra quá ít chất acid chua trong bao tử cũng dễ bị ung thư bao tử hơn người thường. Những người bị loét hay chảy máu bao tử phải mổ để cắt một phần bao tử, sau 15-20 năm cũng dễ bị ung thư bao tử hơn. Đặc biệt người máu thuộc loại A hay bị ung thư bao tử hơn người máu loại O. Lý do không biết rõ, có thể do sự khác nhau về cách thức tiết ra chất nhờn của màng nhầy bao tử giữa các người có các loại máu khác nhau và do đó ảnh hưởng của các chất gây ra ung thư hấp thụ vào cơ thể cũng khác nhau.
Như vậy để trả lời cho phần đầu câu hỏi của ông, bệnh ung thư bao tử không lây, không có đặc tính di truyền. Tuy nhiên trong gia đình, cách thức ăn uống giống nhau có thể sẽ làm tăng xác xuất bị bệnh lên đôi chút, nhưng không có gì rõ ràng.
Những triệu chứng nào có thể làm nghi là bị ung thư bao tử? Thực sự ung thư bao tử một khi đã gây ra triệu chứng thường đã lớn và chạy đi nhiều chỗ. Mới bắt đầu bị ung thư không có triệu chứng gì báo trước. Khi ung thư đã lớn, mới có triệu chứng đau bụng. Thường đau ở phần giữa, dưới chấn thủy. Đau có thể ngâm ngầm hay đau nhiều, kéo dài. Thường ăn không ngon, đi kèm với hay buồn ói. Triệu chứng quan trọng nhất là sụt ký, tuy nhiên chỉ xảy ra khi ung thư đã lớn, chạy đi khắp nơi. Sờ thấy có cục nổi trong bụng là ung thư đã lớn nhiều, cũng như nổi hạch ở cổ, chỗ trên xương bả vai là dấu hiệu ung thư đã lan rộng.
Một số người khi bị ung thư bao tử sẽ làm chảy máu. Thường không nhiều, chỉ làm phân đen, hoặc đi khám nghiệm mới thấy bị thiếu máu. Những người bị mất máu, hồng huyết cầu xuống thấp phải đi làm thử nghiệm vì có thể là do ung thư bao tử gây ra.
Trong việc đi tìm bệnh ung thư bao tử, cách giản dị nhất là chụp hình bao tử. Khi bị những triệu chứng như đau bụng phía trên, sụt ký, buồn nôn … chụp quang tuyến bao tử sau khi uống nước có chất barium sẽ cho biết có thể có ung thư bao tử hay không. Những trường hợp loét bao tử cũng có thể định bệnh bằng chụp hình bao tử. Tuy nhiên nhiều khi ung thư bao tử có thể dưới dạng loét nên cách chắc chắn nhất là soi bao tử (endoscopy). Ống soi được luồn từ miệng xuống thực quản, rồi xuống bao tử và phần đầu ruột non. Nếu có bướu hay bị loét đều có thể thấy được ngay. Quan trọng nhất là nếu thấy gì nghi ngờ, có thể cắt một miếng nhỏ qua ống soi và xem dưới kính hiển vi. Đây là cách hiệu quả nhất để tìm ung thư bao tử lúc còn sớm mới ở phần trên của màng nhầy và nếu định bệnh được lúc mới bắt đầu bị mới có hy vọng cắt bỏ và chữa được.
Như vậy điều quan trọng nhất là tìm ra bệnh ung thư bao tử lúc còn sớm sủa. Những người bệnh nhân may mắn tìm ra được bệnh lúc ung thư mới chớm này và giải phẫu ngay, cắt bỏ bao tử và các hạch chung quanh sẽ có hy vọng khỏi. Tuy nhiên, điều này khá hiếm vì như trên đã nói, ung thư lúc mới chớm thường không có triệu chứng. Chỉ khoảng 1/3 số bệnh nhân khi tìm ra bệnh có thể giải phẫu cắt bỏ hết. Dù vậy cũng chỉ khoảng 25% số bệnh nhân này không có triệu chứng tái phát của ung thư sau 5 năm. Phần lớn sẽ bị ung thư trở lại. Có người sau 8 năm tưởng đã khỏi hẳn ung thư vẫn có thể bị lại. Ngoài cách giải phẫu vấn để chữa trị ung thư bao tử bằng các phương cách khác không được khả quan cho lắm. Chạy điện (radiation therapy) không giúp ích gì được nhiều. Trị liệu hoá học (chernotherapy) như với các thuốc fluorouracil, doxorubicin, mitomycin, cisplatin, semustine cũng chỉ làm ung thư nhỏ đi một chút, không hữu hiệu nhiều. Như vậy, vấn đề chính vẫn là tìm ra ung thư sớm, lúc chưa chạy đi đâu và giải phẫu cắt bỏ.
Tóm lại, ung thư bao tử vẫn là một bệnh nan y, thường khi tìm ra bệnh ung thư đã lớn, hiếm khi giải phẫu hết hẳn được. Người Việt Nam tỵ nạn sang sinh sống ở Hoa Kỳ vẫn có mức độ dễ bị bệnh này dù đời sống đã cao hơn trước. Vấn đề cần là khi có những triệu chứng về tiêu hoá nên đi khám nghiệm sớm. Phương pháp giản dị nhất là chụp hình bao tử để tìm bệnh, nhưng để chắc chắn nhất, soi bao tử và làm thử nghiệm cắt một miếng nhỏ và xem dưới kính hiển vi (biopsy) là phương pháp chính xác hơn cả.
 
 
&&&
 
 
ĐAU CUỐNG BAO T
 
HỎI:
Mỗi khi ăn thức ăn gì không hợp, tôi thường hay bị ợ chua liên hồi, bụng đầy và đôi khi ngâm ngẩm đau. Gần đây thấy ợ chua càng ngày càng nhiều. Xin cho biết có thế mắc bệnh gì và cách chữa trị ra sao?
Trần Văn T.
 
ĐÁP:
Những triệu chứng kể trên của ông là đau cuống bao tử vì chất acid của bao tử chạy ngược lên ống thực quản (gastro-oesophageal reflux). Chỗ cuống giữa bao tử và thực quản có một cơ vòng co thắt để ngăn chận chất chua acid của bao tử không cho chạy ngược lên, khi cơ vòng này bị yếu, acid do bao tử tiết ra có cơ hội làm tổn thương màng nhầy của thực quản gây ra viêm làm đau và ợ chua. Nếu bịnh trạng để lâu không chữa biến thành kinh niên có thể gây nhiều biến chứng như nghẹt ống thực quản, chảy máu v.v. . . Đôi khi màng nhầy bị viêm lâu ngày quá cộng thêm với những ảnh hưởng tai hại khác (thí dụ như hút thuốc lá) có thể biến thành ung thư.
Nếu bị nhẹ và mới bị có thể theo một vài phương pháp giản dị để tự chữa: kiêng ăn đồ chua, đồ cay, đồ mỡ nhiều quá, kiêng uống rượu bia, nước ngọt có hơi nhiều như Coca, Pepsi v.v... Bỏ hẳn thuốc lá. Xuống ký bớt nếu mập quá. Quần áo không được mặc đồ bó quá chặt. Ăn xong phải đợi ít nhất hai tiếng đồng hồ sau mới đi ngủ. Khi ngủ phải kê giường nằm để nằm đầu cao chân thấp cho chất acid ban đêm khó chạy ngược lên. Có thể uống những thuốc làm giảm chất acid như Maalox, Mylanta v.v. . . (không cần toa).
Nếu bị nặng hơn cần đi khám nghiệm và định bệnh cẩn thận. Trị liệu thường sẽ phải cần những thuốc mạnh hơn (cần có toa): thuốc ngăn chặn bao tử không tiết ra acid như Tagamet, Zantac, Prilosec, thuốc ảnh hưởng đến cơ vòng thực quản phía dưới như Metoclo- pramide (Reglan). Một vài trường hợp có thể cần phải giải phẫu nếu quá nặng hay có biến chứng.
 
 
&&
 
 
VIÊM GAN
 
HỎI:
Gần đây tôi có cho máu nhân dp phong trào hiến máu tại sở làm. Vài ngày sau tôi nhận được thư báo của Ngân Hàng Máu cho biết máu của tôi không dùng được vì có cực vi trùng viêm gan loai B. Tôi trước giờ không bệnh hoạn gì vẫn thấy khỏe mạnh như thường, không hiểu tại sao trong máu có loại cực vi trùng nay. Xin cho biết lý do? Có gì nguy hiểm không? Chữa trị ra sao? Tôi cũng sắp lấy vợ. Xin cho biết phải làm gì để phòng ngừa lây cho gia đình.
Phạm Đ. H.
 
ĐÁP:
Bệnh viêm gan (hepatitis) do cực vi trùng là bệnh thông thường, xảy ra rất nhiều tại các xứ có trình độ y tế thấp như Việt Nam. Có bốn loại cực vi trùng gây ra viêm gan. Loại A và loại B được xác định rõ ràng từ nhiều năm trước. Loại C (trước kia gọi là non A -non B virus) mới được xác định và có thí nghiệm rõ ràng trong vòng một năm nay. Loại D (còn gọi là delta agent) ít quan trọng hơn, phải đi kèm với cực vi trùng loại B mới sinh bệnh được.
Loại A truyền bệnh bằng đường tiêu hoá là loại nhẹ hơn cả, ít khi làm nguy hiểm đến tính mạng và tự khỏi không để lại biến chứng. Loại B quan trọng hơn, thường truyền nhiễm do máu tuy cực vi trùng này có thể truyền qua các tiết dịch của cơ thể như nước bọt, nước mắt, sữa mẹ, nước tiểu, tinh dịch v.. v... Điều này rất quan trọng vì ngoài việc lây bệnh viêm gan do cực vi trùng loại B vì truyền máu hoặc dùng kim chích bẩn của những dân ghiền chích choác, hai cách thức làm cho lây bệnh thường nhất là do gần gũi sinh lý và truyền bệnh từ mẹ sang con khi mới sinh. Ở những xứ chậm tiến như Việt Nam hiện tại, mức độ mắc bệnh viêm gan loại B với cực vi trùng tồn tại trong máu vô hạn định có thể nhiều đến độ từ 5 đến 20% toàn thể dân chúng có cực vi trùng B trong máu. Do đó truyền bệnh từ mẹ sang con khi mới sinh như tại Việt Nam ta là điều rất thường thấy và giải thích tại sao bệnh này có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và rất nhiều người có cực vi trùng B từ lúc mới sinh cho đến hết đời.
Trường hợp của ông trước giờ không bệnh hoạn gì mà thử máu có cực vi trùng viêm gan loại B có thể là do mắc bệnh lúc mới sinh từ người mẹ truyền sang. Cực vi trùng này tiếp tục tồn tại tuy không gây ra triệu chứng gì và người bệnh không hề biết cho đến khi vì một sự tình cờ thử máu mới khám phá ra (như khi đi cho máu tại Ngân Hàng Máu). Hoặc có thể là do lây bệnh từ một người khác lúc đã trưởng thành tuy nhiên triệu chứng quá ít và không biết hay không đuợc định bệnh là viêm gan.
Những triệu chứng của bệnh viêm gan có thể thay đổi và nặng nhẹ tùy từng trường hợp. Thường khi mới lây bệnh, người bệnh thấy mệt mỏi, biếng ăn, hay buồn nôn, ói mửa, có thể bị sốt nhẹ, ít khi sốt quá cao. Sau một đến hai tuần thấy đi tiêu vàng đậm như trà đặc và bắt đầu thấy vàng mắt. Trong thời gian này gan sưng to lên và thường thấy đau ở dưới cạnh sườn phía bên phải. Tình trạng này kéo dài hai, ba tuần sau đó vàng mắt bớt dần và người bệnh dần dần bình phục. Cực vi trùng loại A nhẹ hơn cả, sau một đến hai tháng thì khỏi hẳn và hầu như rất hiếm khi để lại biến chứng. Loại B và loại C nặng hơn có thể phải đến ba, bốn tháng mới khỏi hẳn bệnh. Hai loại này cũng gây nhiều biến chứng. Một số ít bệnh nhân bị nặng quá, gan bị viêm với tế bào gan bị huỷ diệt quá nhiều không hồi phục được, người bệnh sẽ mê man và có thế chết (tỷ lệ thường dưới 1 %). Những biến chứng khác thường xảy ra khi cơ thể không chống cự và tiêu diệt được cực vi trùng này tiếp tục tồn tại trong cơ thể và gây ra viêm gan kinh niên. Viêm gan kinh niên có thể chỉ bị nhẹ, triệu chứng ít tuy nhiên nhiều trường hợp có thể bị nặng và gây ra bệnh cứng gan (cirrhosis) gan bị chai, bụng trướng, phù thũng và sau cùng suy gan rồi chết. Một biến chứng quan trọng khác về sau này là ung thư gan, đặc biệt đối với cực vi trùng loại B. Hầu hết các bệnh ung thư gan (hepatoma) của người Việt Nam (cũng như các xứ chậm tiến khác) là do cực vi trùng loại B gây ra. Tuy nhiên mức độ xảy ra tương đối cũng ít.
Vấn đề chữa trị bệnh viêm gan do cực vi trùng thực sự cũng giống như các bệnh do cực vi trùng khác, vẫn chưa có thuốc trị đến nơi đến chốn. Khi bị viêm gan cấp tính, nếu bị nhẹ chỉ cần nghỉ ngơi để cơ thể tự hồi phục. Chữa trị là khi bị nặng cần nhập viện để ngăn ngừa biến chứng, giữ cho cơ thể đủ nước, giữ cho huyết áp, hô hấp bằng nhân tạo nếu cần, ngừa chảy máu, ngừa mê man v.v. .. Nguyên tắc là giúp cho cơ thể đủ năng lực để hồi phục lại. Bệnh viêm gan kinh niên cũng thế, chưa có thuốc để trị cực vi trùng hữu hiệu, tuy nhiên gần đây một số khảo cứu cho thấy chất Interferon có thể giúp ích khá nhiều để diệt cực vi trùng loại C. Đối với cực vi trùng loại B, interferon giúp ích ít hơn tuy nhiên có thể có công hiệu khoảng 30%. Thuốc này trị liệu công phu, dài hạn, tốn tiền và gần đây đã được bán trên thị trường để trị liệu bệnh viêm gan kinh niên loại C và loại B.
Vì vấn đề chữa trị bệnh viêm gan do cực vi trùng loại B và C khó khăn, vấn đề phòng ngừa quan trọng hơn cả. Riêng cực vi trùng loại B đã có thuốc chích ngừa rất hữu hiệu. Trường hợp một người trong máu đã có cực vi trùng loại B tất nhiên chích ngừa vô ích, tuy nhiên như trường hợp của ông sắp cưới vợ, việc ngừa bệnh viêm gan do cực vi trùng loại B là điều cần thiết. Vì trường hợp dân Việt Nam tỷ lệ dân chúng đã có cực vi trùng B trong máu rồi khá cao so với dân Hoa Kỳ chẳng hạn nên trước khi chích ngừa, người vợ sắp cưới của ông nên thử máu để biết bệnh trạng của mình:
- Nếu trong máu đã có cực vi trùng loại B (thử nghiệm này gọi là HBs Ag, chữ viết tắt của Hepatitis B surface antigen): Chích ngừa vô ích.
-  Nếu trong máu không có cực vi trùng loại B (negative HBsAg) nhưng đã có kháng thể chống lại cực vi trùng B (HBs Ab: Hepatitis B surface antibody) có nghĩa là cơ thể trước kia đã bị bệnh viêm gan nhưng chống cự hữu hiệu, diệt hết được cực vi trùng và đã có đặc tính miễn nhiễm, tạo ra những kháng thể diệt cực vi trùng. Trường hợp này không cần phải chích ngừa.
-  Nếu trong máu không có cực vi trùng B (negative HBsAg) nhưng cũng không có kháng thể (negative HBsAb): nên chích ngừa. Thuốc ngừa phải chích làm ba lần: lần đầu, lần thứ nhì sau một tháng, và lần thứ ba sau sáu tháng. Thuốc chích ngừa rất có hiệu quả, ngừa được khoảng 90% trường hợp, tuy thuốc khá mắc tiền.
Trường hợp những người đàn bà có cực vi trùng loại B trong máu khi mang bầu và sắp sinh phải chích ngừa cho em bé sơ sinh ngay để tránh việc truyền nhiễm bệnh này. Khi vừa sinh ra phải chích ngay huyết thanh có kháng thể chống cực vi trùng (hepatitis B immune globulin) sau đó trong vòng 7 ngày phải chích thuốc ngừa như đã nói ở trên và chích tiếp một tháng rồi sáu tháng sau.
Vấn đề chích ngừa lúc mới sanh này đối với những xã hội như Việt Nam chúng ta sẽ là điều cần phải làm để tránh được tình trạng mẹ truyền cho con và cứ thế tiếp tục gây ra tỷ lệ bệnh viêm gan càng ngày càng nhiều với những biến chứng vì ảnh hưởng tai hại cho dân chúng và cho cả xã hội. Tuy nhiên chỉ trừ một vài nước như Đại Hàn điều chế thuốc ngừa lấy rẻ tiền, có thể áp dụng trên phương diện rộng lớn, các quốc gia chậm tiến khác chưa thể áp dụng sâu rộng để ngăn chận việc truyền nhiễm bệnh viêm gan loại B này vì thuốc ngừa quá mắc tiền.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.11.2018 00:51:46 bởi Huyền Băng>
Bệnh cảm
 
Bệnh Cảm là một chứng bệnh thông thường nhất, hầu như người nào chúng ta cũng có thể bị cảm. Tuy nhiên một số ít người rất ít khi bị hoặc có bị cũng rất nhẹ trong khi những người khác hay bị thường xuyên, bị nặng hay kéo dài lâu, điều này tùy thuộc vào nhiều yếu tố chúng ta sẽ xem sau; trước hết chúng ta hãy định nghĩa bệnh cảm là gì và do nguyên nhân nào gây nên.  
Bệnh cảm, tiếng Mỹ gọi là common cold, là bệnh của đường hô hấp phía trên do cực vi trùng gây nên. Triệu chứng của bệnh cảm là chảy nước mũi, hắt hơi nghẹt mũi và đau cổ họng. Nhức đầu và ngươi cảm thấy mệt mỏi thường ít hơn. Ít khi bị sốt. Cảm thường thấy mệt mỏi thường. Ít khi bị sốt. Cảm thường tự khỏi sau vài ngày trừ khi có biến chứng đi kèm.
Nguyên nhân gây ra bệnh cảm gồm rất nhiều loại vi trùng khác nhau. Quan trọng nhất là cực vi trùng Rhinovirus, gây ra cảm trong khoảng 40% trường hợp. Cực vi trùng nhỏ xíu, phải dùng kính hiển vi điện tử mới có thể thấy được, kích thước là 15 đến nanometer, tức một phần tỷ của một mét hay một phần triệu của milimest. Cực vi trùng này cơ cấu chỉ gồm có một dãy RNA tưc ribodeoxynucleic acid, khi bị lây, cực vi trùng này sẽ bám vào tế bào của màng nhày ở mũi. Ngoài màng của các tế bào này có những cơ cấu tiếp nhận đặc biệt cho cực vi trùng này và rhinovirus chỉ làm việc bám chặt vào đó, sau đó xâm nhập vào nhân tế bào và ra lệnh cho nhân tế bào sản xuất hàng hà sa số những RNA khác của cực vi trùng, rồi bung ra đi xâm nhập các tế bào khác.
Dĩ nhiên cơ thể chúng ta không để yên cho cực vi trùng này hoành hành. Cơ thể sẽ huy động tất cả các phương pháp chống đỡ và sau đó các cực vi trùng này bị tiêu diệt, thường trong khoảng một tuần lễ và chúng ta hết cảm.
Ngoài rhinovirus, các cực vi trùng khác cũng gây ra bệnh cảm tương tự là loại Coronavirus khoảng 20% các trường hợp cảm, Parainfluenza virus cũng khoảng 20% , andenovirus khoảng 5%, respiratory syncytial virus quan trọng và gây ra cảm nhiều ở trẻ con. Cách thức gây bệnh của các loại cục vi trùng này cũng giống như đã tả ở trên.  
Như trên đã nói, bệnh cảm chỉ kéo dài vài ngày đến một tuần nhưng ở một số người, cảm sẽ gây ra biến chứng và kéo dài lâu hơn. Có ngươi sẽ bị viêm thanh quản túc dây nói, nói không được. Có người sẽ bị nhiễm trùng thêm ở cổ họng làm đau cổ nhiều hơn và nuốt nước miếng khó khăn. Có người sẽ bị viêm cuống phổi làm ho, đàm. Nặng hơn là sưng phổi, nóng sốt, ho nhiều hơn, khạc ra đàm xanh đàm vàng hay có máu. Điều này tùy thuộc vào cơ thể của mỗi ngươi, sức chống cự với cực vi trùng có bị yếu kém hay không, có bệnh gì nữa hay không như suyễn, bệnh tim hay hút thuốc lá làm suy phổi v.v... Phân biệt bệnh cảm với cúm và bệnh dị ứng.
Từ ngữ cảm là một từ ngữ thông thường, nhất là người Việt chúng ta hầu như bị bất cứ gì cũng đều gọi là bị cảm. Thường hay nhầm lẫn nhất với bệnh cảm là bệnh cúm và bệnh dị ứng.
Bệnh cúm do cực vi trùng Influenza virus cũng gây ra các triệu chứng như cảm nhưng nặng hơn nhiều, ngoài ra còn bị thêm sốt cao, người đau nhức hết châu thân và mệt mỏi rất nhiều. Thường cúm kéo dài lâu hơn và dễ gây ra biến chứng hơn, nhất là với người gì. Điểm phân biệt khác là cúm thường hay xảy ra vào mùa đông khoảng từ tháng 12 đến tháng 2 trong khi bệnh cảm do cực vi trùng Rhinovirus có thể xảy ra quanh năm. Bệnh cúm quan trọng hơn bệnh cảm thường nhiều, vì thế những người dễ bị cúm mỗi năm nên chích ngừa cúm để phòng bệnh này.
Bệnh dị ứng cũng gây ra sổ mũi, hắt hơi, nghẹt mũi nhưng khác với cảm và cúm, bệnh dị ứng làm ngứa mũi, ngứa mặt, ngứa cuống họng trong khi hai bệnh kia không bị ngứa. Ngoài ra dị ứng kéo dài lâu, không phải chỉ vài ngày rồi hết như cảm. Dị ứng cũng bị theo mùa, tuy nhiều người bị quanh năm. Phần lớn bệnh nhân bị dị ứng hay nghĩ mình bị cảm, cho đến khi thấy bị quá lâu và đi khám nghiệm mới biết là dị ứng.
Tại sao nhiều người hay bị cảm trong khi người khác ít bị?
Phần lớn chúng ta mỗi năm bị cảm trung bình từ ba đến bốn lần. Trẻ con bị nhiều hơn, dưới 1 tuổi trẻ con hay bị cảm từ 6 đên 8 lần một năm. Tuy nhiên đây là con số trung bình. Nhiều người bị cảm cả chục lần một năm hay có nhũng người khoe cả đời chưa bao giờ bị cảm, hay một vài năm mới bị một lần. Tại sao có những sự khác biệt này?
Có hai lý do chính. Trước hết là vấn đề lây bệnh. Cực vi trùng bệnh cảm truyền từ người này sang người khác bằng nước mũi do hắt xì hơi, hay do ho bắn đàm. Tuy nhiên cách truyền hiệu quả nhất là do tay. Khảo cứu cho thấy cực vi trùng thường truyền từ tay người này sang người kia rồi dơ tay dụi mắt, sờ mũi, ngoáy mũi sẽ làm cực vi trùng xâm nhập vào màng nhày và sinh bệnh cảm.
Cực vi trùng rhinovirus cũng có thể sống bên ngoài như trên mặt ly chén, bát đĩa, đồ plastic từ 1 đến 3 tiếng đồng hồ. Đụng chạm vào đồ dơ do một người bị cảm dùng trước cũng có thể bị lây là vì vậy. Vì thế gia đình càng đông con càng dễ hay bị cảm.
Điều này cho thấy một lý do hay bị cảm là gia đình đông người hoặc làm việc phải tiếp xúc với nhiều người. Năng rửa tay, tránh dụi mắt, dụi mũi sẽ làm giảm cơ hội truyền bệnh của cực vi trùng và sẽ đỡ bị cảm hơn.
Lý do thứ nhì là bản chất của cơ thể. Sức đề kháng của cơ thể với cực vi trùng gồm rất nhiều giai đoạn. Nếu do bẩm sinh hay do bị các thứ bệnh khác làm ảnh hưởn đến các cơ chế chống đỡ này, sự kháng cự với cục vi trùng sẽ suy yếu và dễ bị lây bệnh hơn. Trước hết, cực vi trùng muốn xâm nhập sẽ phải bám vào cơ cấu tiếp nhận gọi là receptor trên màng tế bào của màng nhày. Sự khác biệt về cơ cấu này đối với mỗi người giải thích một phần nào tại sao người dễ bị lây, người khác ít bị.
Kế đến là các sự chống cự của cơ thể. Trong nước của màng nhày tiết ra có nhưng phân hóa tố gọi là lysozymes, có thể làm tan cực vi trùng. Trong nước tiết ra này cũng có nhưng kháng thể loại A gọi là secretory immunoglobins A có thể tiêu hủy cực vi trùng. Nhiều người bị yếu kém về cơ chế này sẽ dễ bị cực vi trùng xâm nhập hơn. Nhưng người bị bệnh bẩm sinh thiếu kháng thể loại A tương đối cũng khá nhiều. Cứ 600 người thì có một người bị thiếu sự đề kháng loại này. Người Á châu tương đối ít bị hơn người da trắng. Những người có bệnh dị ứng còn hay bị thiếu loại kháng thể A này còn nhiều hơn người bình thường nữa, khoảng gấp 20 tới 30 lần, vì thế bị dị ứng cũng hay kèm thêm là hay bị cảm, nhiễm trùng là vậy.
Khi cực vi trùng đã xâm nhập, cơ thể sẽ huy động các tế bào trong máu để tấn công, như các đại thực bào gọi là macrophages, các sát thủ bào gọi là natural killer cells, sau đó đến các tiểu bạch cầu lymphocytes loai T rồi tiểu bạch cầu loại B. Các tiểu bạch cầu lymphocytes loại T rồi tiểu bạch cầu loại B. Các tiểu bạch cầu loại B sẽ bào chế các kháng thể để tiêu diệt cục vi trùng. Các tiểu bạch cầu cũng tiết ra các chất hóa học làm tiêu cực vi trùng như chất interferon v.v… Như vậy cơ thể sẽ huy động tối đa các lực lượng phòng thủ để tấn công cực vi trùng ngay, không cho sinh sôi nảy nở thêm. Và các cơ chế này có rất nhiều nên sự yếu kém do bất cứ một cách phòng thủ nào kể trên của cơ thể đều có thể làm suy yếu và cực vi trùng dễ xâm nhập gây ra bệnh.
Nhưng yếu tố về sự đề kháng của cơ thể của mỗi người thường được xác định do di truyền nên có những người may mắn, thừa hưởng sức đề kháng tốt của bố mẹ truyền lại sẽ ít bị bệnh. Người khác di truyền xấu sẽ hay bị bệnh hơn. Các cơ chế kể một cách khái quát như trên thực sự áp dụng cho tất cả các sự tấn công vào cơ thể của các vi sinh vật, không phải chỉ riêng cho cực vi trùng bệnh cảm. Tuy nhiên, cực vi trùng rhinovirus gây cảm loại nhẹ, hiền, cơ thể nào cũng sau cùng sẽ tiêu diệt được, chỉ khác nhau là lâu hay mau và dễ bị nhiễm trùng hay không.
Chữa trị bệnh cảm
Bệnh cảm nếu bị nhẹ, không có biến chứng hay không có bệnh nào khác đi kèm, thực sự không cần chữa. Bệnh tự khỏi sau vài ngày. Nếu khó chịu nhiều vì nghẹt mũi có thể dùng các loại làm bớt nghẹt decongestants như Sudafed chẳnh hạn. Đau nhức có thể dùng thuốc làm giảm đau như Tylenlol. Điều cần nhớ là nên uống nước nhiều để đỡ bị mất nước và tránh biến chứng làm nặng vì cơ thể thiếu nước.
Nếu cảm kéo dài lâu phải đi khám nghiệm để xác định có phải chỉ là cảm thường không hay bị bệnh khác như dị ứng. Nếu bị sốt, hay bị ho nhiều, ra đàm có màu, hay bị nhức đầu, nước mũi ra màu vàng, xanh, có mùi hôi v.v.. . phải đi khám để chữa nhưng biến chứng như sưng cuống phổi, sưng phổi, nhiễm trùng khoang mũi v.v. . .
Về phòng ngừa, như đã nói ở trên, rửa tay thường xuyên là điều quan trọng. Tránh dụi mắt, dụi mũi, ngoáy mũi để tránh cực vi trùng truyền bệnh. Một thứ thuốc đã được thử dung để ngừa là thuốc xịt Interferon vào mũi, tuy nhiên thuốc này cũng dễ làm khó chịu nên ích lợi không nhiều. Hiện không có thuốc chích ngừa về bệnh cảm, chỉ có thuốc chích ngừa bệnh cúm. Lý do là có quá nhiều loại cực vi trùng có thể gây ra cảm, không thể ngừa hết được và bệnh cảm tương đối nhẹ, không nặng và có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như bệnh cúm.
 
 
 
 

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.11.2018 21:36:26 bởi Ct.Ly>
xong hết rồi há
Vậy ngày mai em đem vào thư viện nha, giờ còn ở xa nhà chị ơi hihih




0
UNG THƯ GAN
 
HỎI:
Tôi có người anh gần đây mất vì ung thư gan. Một vài người quen tôi biết cũng chết vì bệnh này. Xin bác sĩ cho biết ung thư gan có xảy ra thường lắm không? Nguyên nhân tại sao? Có cách gì chữa trị được không?
Trần H.
 
ĐÁP:
Ung thư gan (hepatoma) là loại ung thư ít thấy ở Hoa Kỳ nhưng đối với người Việt Nam bệnh ung thư này xảy ra khá thường. Có thể nói ung thư gan chiếm tỷ lệ khoảng từ 20 đến 30% tổng số các loại ung thư người Việt Nam nói riêng và dân Á châu nói chung mắc phải. Thông thường đàn ông bị bệnh này nhiều hơn đàn bà, gấp khoảng ba bốn lần. Sự khác biệt này có thể do đặc tính của kích thích tố nam của đàn ông, làm dễ phát triển ung thư của các tế bào gan. Một số lực sĩ muốn to con, bắp thịt nở nang hay lạm dụng chích thường xuyên các loại kích thích tố sinh dục nam, hoặc một số người bị bất lực hay chích kích thích tố sinh dục để chữa bất lực có thể dễ bị ung thư gan hơn người thường cũng vì lý do kể trên.
Nguyên nhân chính gây ra ung thư gan với những hiểu biết mới hiện nay có thể giải thích bằng sự hiện diện của cực vi trùng viêm gan loại B (hepatitis B virus). Cực vi trùng này gây viêm gan làm vàng da, vàng mắt và rất hay lây, truyền bệnh bằng đường máu như sang máu, kim bẩn, hoặc bằng đường giao tiếp tình dục. Một cách truyền bệnh quan trọng nữa là từ người mẹ sang con lúc sinh đẻ vì thế có nhiều có cực vi trùng viêm gan loại B này từ lúc sơ sinh và suốt cả đời. Sự truyền nhiễm từ mẹ sang con này giải thích tại sao có thể đến 20% dân chúng tại các xứ chậm tiến như Việt Nam mang trong người cực vi trùng viêm gan loại B. Phần lớn những người có cực vi trùng viêm gan B trong máu cả đời này không có triệu chứng gì. Một số người có thể sẽ bị viêm gan kinh niên và có thể tiến đến tình trạng cứng gan (cirrhosis). Một số ít khi lớn tuổi trong khoảng 50 - 60, tuy có thể xảy ra sớm hơn hoặc muộn hơn, sẽ bị ung thư gan do cực vi trùng này gây ra. Một số khảo cứu cho thấy cực vi trùng này xâm nhập tế bào gan với chất DNA (deoxyribonucleic acid) của cực vi trùng sáp nhập với chất di truyền DNA trong nhân tế bào gan và gây ra biến đổi dẫn dắt đến sự phát triển ung thư của tế bào gan.
Ngoài cực vi trùng viêm gan loại B, một loại cực vi trùng mới được xác định gần đây là cực vi trùng viêm gan loại C (hepatitis C virus) cũng có thể liên quan đến việc gây bệnh ung thư gan.
Một yếu tố khác nữa cũng ảnh hưởng đến sự phát triển thành ung thư gan là bệnh cứng gan do uống rượu gây ra. Uống rượu nhiều quá độ có thể làm viêm gan và lâu ngày gây ra cứng gan (cirrhosis). Nếu những người này có sẵn cực vi trùng loại B trong máu, xác xuất bị ung thư gan tại những người này sẽ tăng lên hơn nhiều.
Một nguyên nhân khác nữa của ung thư gan là độc chất của nấm độc (mycotoxins). Một vài loại độc chất này đã được chứng minh là có thể gây ra ung thư gan như loại aflatoxins. Tại các xứ chậm tiến của Á châu và Phi châu, đồ ăn không được vệ sinh có thể nhiễm độc chất của nấm độc ảnh hưởng trên gan, cộng thêm với tác dụng của cực vi trùng cũng là những yếu tố đưa đến ung thư gan phát triển.
Ung thư gan thường phát triển với triệu chứng gan lớn làm đau vừa phải dưới cạnh sườn bên phải. Đôi khi người bệnh có thể tự rờ thấy cục bướu dưới cạnh sườn bên phải, đi khám và tìm ra bệnh ung thư gan. Một số trường hợp làm bụng trướng, hút nước ra thấy có máu. Định bệnh về ung thư gan thường phải chụp hình bằng CAT scan hay bằng siêu âm Ultrasound và dựa trên kết quả chụp hình làm biopsy để định bệnh chính xác. Biopsy là dùng một kim dài xuyên qua cạnh sườn vào gan để hút ra một miếng nhỏ và xem dưới kính hiển vi. Một số trường hợp không định được bệnh chính xác phải mổ để làm biopsy gan trong khi đang mổ mới định được bệnh rõ ràng.
Một thử nghiệm máu để định bệnh ung thư gan là đo mức độ của chất alpha  - fetoprotein trong máu. Chất này là một loại chất đạm bình thường có trong bào thai và không còn sau khi sinh ra, tuy nhiên tế bào gan khi bị ung thư sản xuất chất đạm này với số lưọng rất cao. Đo lượng alpha - fetoprotein trong máu có thể giúp để định bệnh một trường hợp nghi ngờ bị ung thư gan, tuy nhiên, để quyết đoán 100%, vẫn phải dùng phương pháp thử nghiệm biopsy để định bệnh.
Bệnh ung thư gan là bệnh thường không chữa được, bệnh nhân sau khi định bệnh chỉ kéo dài được chừng 3 đến 6 tháng và chết vì chảy máu trong ruột, hoặc suy gan làm mê man. Trường hợp hiếm có là khi bệnh nhân còn trẻ, tương đối khoẻ mạnh chưa bị suy nhược quá độ và bướu ung thư ở một phần trên gan, còn nhỏ chưa chạy đi chỗ khác; trường hợp này có thể giải phẫu cắt bỏ phần gan bị ung thư. Tuy thế, thường bệnh sẽ tái phát trở lại và ít người nào có thể sống quá 5 năm sau khi mổ. Một vài trường hợp gần đây ung thư gan được trị liệu bằng cách cắt bỏ hẳn gan và thay bằng gan của người chết vì tai nạn (transplantation), tuy nhiên kết quả cũng không được khả quan lắm.
Tóm lại, bệnh ung thư gan tương đối xảy ra nhiều với người Việt Nam hơn người Hoa Kỳ lý do chính là tỷ lệ người Việt có cực vi trùng viêm gan loại B trong máu rất cao. Hiện nay y khoa không xác định được khi nào và người nào có cực vi trùng này có thể sẽ phát bệnh ung thư gan trong tương lai. Tuy nhiên điều quan trọng là nếu đã có cực vi trùng này trong máu, phải tránh những yếu tố phụ thêm có thể dẫn dắt đến việc tổn hại gan và làm cứng gan như uống rượu, dùng chất kích thích tố sinh dục nam v.v. . .
Về phương diện y tế công cộng, phòng ngừa để tránh nhiễm phải cực vi trùng viêm gan loại B là điều cần thiết. Ngoài vấn đề vệ sinh, truyền máu .. v…v..  phong ngừa bằng cách chích ngừa bệnh viêm gan loại B cho các trẻ em sơ sinh khi biết người mẹ có cực vi trùng này sẽ làm giảm thiểu đi nhiều tỷ lệ dân chúng có cực vi trùng B trong máu và tránh được các hậu quả nguy hiểm như ung thư gan.
Đối với những người đã có trong máu cực vi trùng viêm gan loại B này, hiện nay thuốc chích Interferon- A bán dưới tên thương mại Intron-A có thể có tác dụng để trị cực vi trùng này tuy hiệu quả không được nhiều cho lắm. Thuốc Interferon hiện chính thức được dùng để chửa viêm gan loại C, tuy nhiên trong tương lai có thể sẽ có thuốc hữu hiệu hơn để trị cực vi trùng viêm gan loại B và nhờ đó phòng ngừa được sự xuất hiện của bệnh ung thư gan.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.11.2018 10:23:17 bởi Ct.Ly>
ĐI TIÊU RA MÁU
 
HỎI:
Tôi gần đây bị chứng đi tiêu ra máu. Khi đi cầu xong thấy máu tươi theo ra. Ngoài ra vẫn khỏe mạnh bình thường. Tôi năm nay 50 tuổi. Xin bác sĩ cho biết đi ra máu tươi như vậy là tại sao? Có nguy hiểm gì không? Cũng xin bác sĩ cho biết vấn đề chữa trị như thế nào?
Huỳnh H. V.
 
ĐÁP:
Đi cầu ra máu là một chứng thường thấy, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng ở người lớn tuổi, đây là một triệu chứng quan trọng và cần được khám nghiệm kỹ lưỡng. Trước hết phải phân biệt đi tiêu ra máu đen hay máu tươi.
Tiêu ra máu đen là do chảy máu từ đường ruột ở phía trên, như từ thực quản, bao tử, ruột non. Phân ra đen tuyền, có thể kéo dài vài ngày. Thường mất chừng 60 cc máu ở phía trên sẽ làm đi cầu ra máu đen, nếu mất máu nhiều hơn, sẽ ra máu đen 2, 3 ngày. Sở dĩ máu trở thành đen tuyền vì máu đó từ đường tiêu hóa phía trên sẽ bị tác dụng của acid làm thành chất hematin màu đen.
Nguyên nhân làm đi tiêu ra máu đen thường nhất là do loét bao tử, loét đầu ruột non, viêm bao tử do uống rượu, hay cũng rất thường là do uống aspirin, hay uống những thuốc chóng viêm, chóng đau, phong thấp ... Một nguyên nhân quan trọng khác là ung thư bao tử, tuy chảy máu do ung thư bao tử thường chảy ít, từ từ, không ra nhiều như chảy máu do loét bao từ hay do uống aspirin.
Câu hỏi của ông về việc đi tiêu ra máu tươi. Thường ra máu tươi là do chảy máu từ ruột già, tuy nhiên cũng có ít trường hợp, chảy máu từ phía trên bao tử hay ruột non quá nhiều, quá nhanh, máu chảy ra không có thời giờ nằm lâu trong ruột trên 8 tiếng, khi đi ra ngoài vẫn thấy máu tươi. Tuy nhiên đi tiêu ra máu đỏ, thông thường nhất vẫn là do các bệnh làm chảy máu của hậu môn và ruột già. Sau đây ta hãy xem về những nguyên nhân làm đi cầu ra máu tươi này.
Nguyên nhân hay xảy ra nhất và trong số lớn các trường hợp của đi cầu ra máu đỏ, thấy lẫn trong phân hay chùi có dính máu là bệnh trĩ.
Trĩ là những mạch máu loại tĩnh mạch của hậu môn bị trương phồng lên, dễ bị bể làm thành trĩ và hay làm chảy máu.
 Có hai loại trĩ: trĩ nội và trĩ ngoại.
 Trĩ nội do hệ thống tĩnh mạch phía bên trong của hậu môn và nằm dưới màng nhày trương phồng lèn. Đôi khi lớn quá lòi ra ngoài, hoặc có thể làm biến chứng như cục máu bị đọng lại, nhiễm trùng và làm chảy máu rất nhiều. Trĩ nội nếu không bị biến chứng thường không làm đau nhiều.
Trĩ ngoại, trái lại là những mạch máu tĩnh mạch ở dưới da bị trương phồng lên làm đau nhiều. Thường trĩ ngoại là cục lớn màu xanh do máu đọng bên trong năm ở ngoài hậu môn và hay đi kèm với co thắt của cơ vòng hậu môn.
Lý do bị trĩ thường do bị bón, đi cầu phải rặn nhiều, áp suất trong hệ thống tĩnh mạch cửa tăng cao làm phình những tĩnh mạch của hậu môn này. Những nguyên nhân khác là do có bầu, đè vào tĩnh mạch nhiều, nguyên nhân khác nữa là những người uống rượu hay bị viêm gan và làm cứng gan, cũng làm tăng áp suất của hệ thống tĩnh mạch.
Chữa bệnh trĩ nếu nhẹ có thể dùng thuốc nhét như Anusol-HC, uống thuốc làm mềm phân như Colace, hay thuốc như Metamucil để tiêu hoá điều hòa, phân có nhiều chất sợi hơn v.v... Thường nếu bị trĩ lớn, trĩ nội lòi ra ngoài, có cục máu bên trong, hay làm chảy máu nhiều sẽ cần phải giải phẫu để mổ trĩ.
Ngoài bệnh trĩ, các bệnh loét ở hậu môn cũng có thể gây đi cầu ra máu tươi. Có thể bị nhẹ như bị vết nứt nhỏ trên màng nhày gọi là anal fissures, đôi khi có thể bị loét nhiều hơn gọi là anal ulcers. Quan trọng hơn là những trường hợp nhiễm trùng kinh niên làm đường thông mủ chạy ra ngoài da gọi là fistulas. Bị lở, loét nhẹ có thể chữa thuốc, nhưng bị nặng hay làm đường chảy mủ có thể phải giải phẫu.
Một nguyên nhân khác hay làm đi tiêu ra máu là bệnh ruột già bị phình gọi là diverticulosis. Đây là những túi phình ra nằm ở phần ruột già sát với hậu môn. Nguyên nhân do ruột già co thắt nhiều và mạnh khi phân quá nhỏ, có ít, thiếu chất sợi làm phải co bóp nhiều và lâu ngày thành ruột già bị yếu và phình ra như những túi nhỏ. Người Việt Nam tương đối ít bị bệnh này không như người Mỹ thường bị, khoảng 20 đến 50% bị bệnh này nếu trên 50 tuổi. Lý do vì dân Âu Mỹ ăn ít đồ ăn có chất sợi như ngũ cóc, rau cỏ. . . Người Việt ăn cơm gạo, rau nhiều ít bị, tuy sống ở Mỹ lâu sẽ bị bệnh này nhiều hơn.
Bị chảy máu tươi do bệnh ruột già bị trương phình diverticulosis có thế làm đi cầu ra máu tươi rất nhiều. Thường người già trên 60 tuổi hay bị, tuy không làm đau đớn nhưng v'i làm chảy máu nhiều thường phải nàm bệnh viện để cầm máu và truyền thèm máu nếu bị mất quá nhiều.
Ngoài vấn đề làm chảy máu, những túi bị trương phình của ruột già này có thể làm nhiễm trùng, nóng sốt, đau bụng gọi là diverticulitis. Một ít trường hợp bị lủng ruột già sẽ phải mổ.
Những bệnh loét ruột già cũng có thể làm đi tiêu ra máu tươi. Người Việt nếu bị thường hay do bị loét ruột già vì nhiễm trùng như bị kiết lỵ do vi trùng Shigella, vi trùng amib. Người Mỹ hay bị những loại loét không có nguyên nhân rõ rệt gọi là ulcerative colitis hay loại Crohn’s disease. Người Việt rất hiếm thấy bị các loại này.
Quan trọng nhất trong việc tìm nguyên nhân của lý do đi tiêu ra máu là có thể có bướu hay ung thư ruột già gây ra hay không? Bệnh ung thư ruột già là một trong những ung thư thường nhất và cần phải định bệnh càng sớm càng tốt để điều trị cho có hiệu quả, vì thế điều cần thiết khi bị đi cầu ra máu là phải loại trừ bệnh nguy hiểm này. Bệnh ung thu ruột già và các loại bướu gọi là polyps sẽ được giải thích cặn kẽ hơn trong một bài khác.
Như vậy khi bị đi cầu ra máu tươi, cần phải đi khám nghiệm để xác định nguyên nhân ra máu và loại trừ những bệnh nguy hiểm. Thường khám hậu môn sẽ cho biết có trĩ hay không? Tuy nhiên vì trĩ là một bệnh thông thường, có thể vẫn phải làm những thử nghiệm khác để xem có những bệnh khác đi cùng hay không? Một người đi cầu ra máu có trĩ nhưng cũng có thể bị ra máu là do ung thư ruột già nằm ở phía trên, nên ở những người lớn tuổi, thường phải làm thêm thử nghiệm.
Một cách thử nghiệm hữu ích và cho biết được chảy máu từ đâu là cách soi ruột già phần gần hậu môn gọi là sigmoidoscopy hay soi tất cả ruột già bên trái cũng như bên phải gọi là colonoscopy. Nếu soi tất cả ruột già thường phải làm trong bệnh viện. Soi sigmoidoscopy có thể làm tại phòng mạch. Phương pháp soi sẽ giúp ích cho biết có bướu polyps hay ung thư hay không. Hoặc những trường hợp bị loét ruột già, soi cũng giúp cho định bệnh chính xác.
Một phương pháp giản tiện tuy không hiệu quả nhiều như soi cũng giúp ích nhiều để định bệnh là chụp quang tuyến X-ray ruột già gọi là barium enema. Chụp kiểu này phải bơm thuốc barium qua hậu môn để chụp ruột già, có thể định bệnh ung thư, ruột già trương phình diverticulosis hay có bướu polyps. . .
Tóm lại, đi tiêu ra máu là một triệu chứng thường thấy nhưng quan trọng là vì có thể là dấu hiệu của những bệnh nặng và nguy hiểm. Khi bị đi tiêu ra máu, điều cần là đi khám nghiệm cẩn thận và làm thử nghiệm nếu cần thiết để xác định chính xác nguyên nhân nào đã gây ra đi cầu ra máu. Việc chữa trị sẽ tùy thuộc vào bệnh gì đã gây ra. Phần lớn do bệnh nhẹ như trĩ, bị lở màng nhầy bên trong nhưng cũng có thể do bệnh nặng, nguy hiểm như ung thư ruột già. Vấn đề chính là tìm và định bệnh sớm để điều trị cho có hiệu quả và ngăn ngừa những tai hại hay biến chứng có thể xảy ra.
 
 
 
 
&&&&
 
 
UNG THƯ RUỘT GIÀ 
 
HỎI:
Ba tôi mới khám bệnh và được cho biết bị ung thư ruột già. Xin bác sĩ cho biết ung thư ruột già có di truyền không? Tôi có thể bị bệnh này trong tương lai không? Cũng xin bác sĩ cho biết làm thế nào để ngừa bệnh này và nếu bị ung thư ruột già, có cách nào trị khỏi bệnh không?
Trần V. H.
 
 
ĐÁP: 
Ung thư ruột già là một loại ung thư rất thường thấy, chỉ sau ung thư phổi về mức độ xảy ra. Thông thường, ung thư ruột già hay xảy ra người lớn tuổi, khoảng 50 trở lên, tuy người trẻ hơn vẫn có thể bị. Bệnh ung thư này liên quan nhiều đến mức độ tân tiến của một quốc gia, những nước văn minh có khuynh hướng bị loại ung thư này nhiều hơn các nước chậm tiến. Người Việt tỵ nạn sang Hoa Kỳ cũng đã thấy bắt đầu bị bệnh ung thư này nhiều hơn trước. Lý do chắc chắn hẳn không được rõ ràng, tuy nhiên một số khảo cứu cho thấy vấn để ăn uống giữ vai trò quan trọng về việc gây ra ung thu này. Ăn nhiều chất béo, ăn thịt nhiều làm tăng mức độ bị ung thu ruột già. Những người bị bệnh tim do cholesterol cao, ăn thịt mỡ nhiều, cũng hay thấy bị ung thư ruột già nhiều hơn nguời khác. Ngoài ra ăn thiếu chất sợi fibers nhu đồ ăn của người Mỹ, cũng làm tăng mức độ bị ung thu ruột già, tuy điều này chưa đuợc chứng minh rõ ràng cho lắm.
Một giả thuyết khác nữa là đồ ăn thiếu chất vôi calcium cũng dễ gây ra ung thư ruột già hơn. Ngược lại, những nguời ăn đồ có nhiều chất calcium hay uống thêm calcium có thể làm giảm mức độ bị ung thư ruột già.
 Câu hỏi của ông về vấn đề di truyền của bệnh này rất quan trọng. Khoảng 25% trường hợp có tính cách di truyền tuy không đuợc rõ rệt lắm. Một số nhỏ tính di truyền của ung thư ruột già này là do một bệnh về ruột gọi là polyposis coli. Những nguời bị bệnh ruột này có các cục buớu gọi là polyps đầy trong ruột, thường ruột già, đôi khi cả ruột non. Còn nhỏ không thấy, nhưng từ tuổi 25 trở đi, những nguời bị chứng này bắt đầu bị ung thu ruột già. Bệnh này hiếm thấy, nhưng khi biết có bệnh polyposis coli, thường phải giải phẫu cắt bỏ hết ruột già để ngừa ung thư xảy ra. Tính di truyền của bệnh này quan trọng ở chỗ nếu bố hoặc mẹ bị, 50% số con sẽ bị bệnh, vì thế phải theo dõi thường xuyên để giải phẫu sớm nếu phát hiện ra bệnh.
Phần lớn trường hợp di truyền của bệnh ung thư ruột già không đuợc xác định rõ, một số gia đình tuy không bị chứng polyposis coli nhưng cũng thấy bệnh ung thư ruột già xảy ra trong gia đình. Vì thế, khi một nguời trong gia đình bị ung thư ruột già, điều cẩn thận là đi khám nghiệm và theo dõi để ngừa trước. Một nguyên nhân khác nữa gây ra ung thư ruột già là những người bị bệnh viêm ruột kinh niên gọi là inflammatory bowel disease, gồm hai loại chính là bệnh Crohn’s disease và bệnh loét ruột già gọi là ulcerative colitis. Tương đối người Việt Nam ít bị hai loại bệnh này nên nguyên nhân gây ra ung thư ruột già do viêm ruột này ở người Việt ít quan trọng.
Triệu chứng của bệnh ung thư ruột già tùy thuộc vào vị trí của ung thư nằm chỗ nào trong ruột, bên phải, bên trái hay gần hậu môn. Có thể hoàn toàn không có triệu chứng gì ngoài thấy mệt mỏi vì bị mất máu từ từ do ung thư làm lở và chảy máu. Vì thế người già bị thiếu máu, nhất là loại thiếu máu do mất chất sắt, phải đi tìm xem có bị ung thư ruột già gây ra thiếu máu hay không? Ung thư ruột già nếu ở phía bên trái hay gây ra làm nghẹt, thấy bị bón, đau bụng. Nếu nằm gần hậu môn, phần trực tràng có thể làm đi cầu ra máu tươi. Vì thế dù đi cầu ra máu tươi phần lớn do bệnh trĩ, vẫn phải để ý và loại trừ bệnh ung thư ruột già khi đi cầu bị ra máu tươi.
Khi bị những triệu chứng kể trên, hoặc có những triệu chứng do ung thư đã lâu và lớn như có cục trong bụng, bị sút ký nhiều..v..v..., phải đi khám nghiệm ngay để tìm bệnh. Trong phần khám, điều quan trọng nhất là khám hậu môn. Một số lớn ung thư ruột già nằm ờ phần trực tràng gần với hậu môn nên khám hậu môn và trực tràng bằng ngón tay có thể sờ thấy ung thư. Sau đó phải thử để xem trong phân có máu hay không bằng thử nghiệm gọi là hemoccult. Nếu có máu lẫn trong phân, tuy nhìn ngoài không thấy gì, khi thử bằng cách nhỏ thuốc vào phân thấy đổi màu xanh là có máu trong phân.
Những thử nghiệm khác sẽ cần làm là chụp hình ruột già gọi là barium enema, hoặc soi ruột già. Soi ruột già có thể dùng ống soi ngắn, bẻ cong được gọi là flexible sigmoidoscopy soi lên được khoảng tới 40-60 cm phía trên. Loại soi ống cứng chỉ lên được 25 cm hiện nay ít dùng hơn. Muốn chắc chắn hơn nữa có thể phải soi toàn thể ruột già gọi là colonoscopy để thấy có chỗ nào nghi ngờ có thể cắt một miếng nhỏ gọi là biopsy để xem dưới kính hiển vi.
Ung thư ruột già hầu hết bắt nguồn từ một bướu nhỏ trong ruột gọi là adenomatous polyps, thường mọc cũng khá chậm trước khi thành ung thư hẳn, trung bình cỡ 5 năm. Vì thế nếu soi có thấy loại bướu này tuy không có ung thư cũng phải cắt bỏ và thường xuyên theo dõi để ngừa những bướu khác mọc thêm và biến thành ung thư. Những trường hợp này phải soi toàn thể ruột già và sau này cứ 3 năm làm lại một lần cho chắc chắn.
Ung thư ruột già nếu tìm ra sớm, chưa chạy đi đâu, chỉ ở lớp màng nhầy phần ngoài, khi giải phẫu cắt bỏ có thể coi như khỏi tuy vẫn phải theo dõi thường xuyên vì khoảng 3 - 5% có thể bị ung thư ruột ở chỗ khác. Ung thư ruột già nếu lúc định bệnh và mổ đã xâm lấn qua lớp màng nhầy, mức tử vong sẽ cao hơn. Nếu ra ngoài bắp thịt của ruột, mức sống sót sau năm năm chỉ còn từ 70 - 85%, nếu chạy tới các hạch chỉ khoảng 50% sống sót sau 5 năm. Ung thư ruột đã chạy khắp nơi, dù chữa trị cũng chỉ 5% trường hợp có hy vọng sống sót sau 5 năm. Như vậy đủ thấy việc tìm ra bệnh sớm là điều quan trọng nhất, vì giải phẫu sớm lúc ung thư còn giới hạn mới hy vọng sống sót lâu được.
Việc chữa trị như trên đã nói, là giải phẫu cắt bỏ. Những trường hợp ung thư ở trực tràng gần hậu môn, thường phải nối ruột cho phân chạy ra một lỗ ở ngoài da trên bụng sau khi mổ. Ung thư ở cao hơn thường vẫn giữ được hậu môn và chỉ cần nối ruột. Những cách trị khác là chạy điện phóng xạ radiation therapy. Ung thư ở hậu môn sau khi mổ xong phải dùng thêm phương pháp chạy điện này để ngừa ung thư trở lại. Cách trị bằng hoá học trị liệu với chất 5-FU hiệu quả tương đối ít, dùng khi ung thư chạy khắp nơi hay trở lại. Một loại thuốc trị sán thường được dùng cho súc vật như loài cừu gọi là Levamisole gần đây được khám phá thấy rằng khi dùng chung với thuốc 5-FU và chạy điện có thể giúp ích nhiều hơn.
Tóm lại ung thư ruột già là một loại ung thư hay thường thấy. Người Việt tỵ nạn sang Hoa Kỳ có thể dễ bị chứng bệnh ung thư này hơn hồi còn ở Việt Nam. Ăn giảm thịt mỡ, giảm cholesterol, ăn nhiều rau, trái cây, ngũ cốc để tăng thêm chất sợi, thêm chất vôi calcium có thể giúp ích để ngừa phần nào. Vì 25% trường hợp có thể có tính cách di truyền nên nếu có người trong gia đình bị, nên đi khám nghiệm để ngừa trước. Những người trên 40 tuổi nên mỗi năm đi khám và làm thử nghiệm khám hậu môn và tìm máu trong phân để tìm ra bệnh sớm để ngừa. Nếu có triệu chứng, cần phải chụp hình hay soi ruột để tìm bệnh. Ung thư ruột già nếu tìm ra muộn hay không chữa sẽ gây ra chết nên vấn đề chính yếu vẫn là tìm bệnh sớm sủa để chữa cho có hiệu quả.
 
 
 
 
&&&
 
TIÊU CHẢY 
 
HỎI: 
Tôi vừa đi du lịch xa về; ngày cuối ở nước ngoài tôi bị tiêu chảy nặng, hiện giờ đã đỡ nhưng hai tuần nay vẫn tiếp tục bị tiêu chảy ngày 4-5 lần. Mỗi khi uống sữa hay ăn đồ mỡ lại bị nặng hơn. Xin bác sĩ cho biết những nguyên nhân nào gây bệnh tiêu chảy cách chữa trị và phòng ngừa ra sao?
Vũ Đ. K.
 
 
ĐÁP: 
Tiêu chảy là một trong những bệnh quan trọng tại các xứ chậm tiến như Việt Nam hiện tại, nhiều xứ Á châu khác hay như tại Mexico và các xứ Mỹ châu La tinh. Đi du lịch tại các vùng này dễ bị mắc bệnh tiêu chảy do vấn đề vệ sinh không cẩn thận, thường bệnh nhẹ và ngắn hạn, tuy nhiên một số trường hợp có thể bị nặng và kéo dài khá lâu.
Những nguyên nhân nào gây ra tiêu chảy? Mỗi ngày trung bình một người hấp thụ khoảng hai lít nước trong đồ ăn và thức uống, các cơ quan tiêu hoá như tuyến nước bọt, bao tử, mật, tụy tạng, ruột non tiết ra khoảng bảy lít các dịch tiêu hoá giúp cho việc biến dưỡng thực phảm. Chín lít nước này sẽ được hấp thụ lại gần hết trong ruột non và chỉ còn một lít nước đi qua ruột già. 80 – 90% số nước này sẽ được màng nhầy ruột già hấp thụ lại và chỉ còn khoảng dưới 100 - 200 cc nước được bài tiết với phân ra ngoài. Tiêu chảy xảy ra khi số lượng nước và phân mỗi ngày nhiều hơn 200 grams nếu không ăn nhiều đồ rau cỏ và xảy ra trên 4, 5 lần một ngày. Nguyên nhân như vậy là vì nước không được hấp thụ lại do ruột già bị viêm, hoặc do trong ruột già có những chất gây ra tác dụng thấm thấu (osmotic) như trường hợp người uống sữa không tiêu hoá được, sữa chạy xuống ruột già trở thành dung dịch thấm thấu làm nước không được hấp thụ lại trong ruột già. Ruột già khi bị viêm có thể sẽ bài tiết ra thêm nước và các chất điện giải, tế bào màng nhầy bị chết v.v... Ngoài ra một số người bị những bệnh làm cho ruột già co thắt bất thường làm ngăn trở sự hấp thụ nước nên cũng hay gây ra tiêu chảy.
Người khoẻ mạnh bình thường bỗng dưng bị tiêu chảy, nhất là trong khi đi du lịch hay vừa về từ các xứ chậm tiến, nguyên nhân thường nhất là do ruột già bị viêm vì nhiễm trùng. Ngoài tiêu chảy những triệu chứng đi kèm gồm có sốt, nhức đầu, đau nhức trong người, mệt mỏi, buồn nôn v.v..., tuy nhiên đây chỉ là những triệu chứng thường thấy khi bị nhiễm trùng. Lý do nhiễm trùng vì vệ sinh không cẩn thận, ăn uống đồ ăn không được sát trùng kỹ lưỡng. Nếu bị tiêu chảy trong vòng 12 tiếng sau khi ăn đồ hư, thường là độc chất của vi trùng Staphylococcus tiết ra. Nếu bị tiêu chảy muộn hơn trong vòng 2, 3 ngày sau khi trúng thực, vi trùng loại Salmonella thường là nguyên nhân. Vi trùng này nếu thuộc loại Salmonella typhi có thể gây ra bệnh thường hàn làm sốt nặng, có thể lủng ruột và có thể bị tử vong. Vi trùng Shigella Aexneri gây ra tiêu chảy loại kiết (Shigellosis) làm tiêu chảy có máu, đi cầu bị đau. Các loại vi trùng kể trên thường xâm nhập màng nhầy ruột già, làm lở loét và chảy máu nên đi cầu thường có đàm và máu.
Một loại vi trùng quan trọng khác gây ra tiêu chảy là vi trùng Vibrio cholarae gây ra bệnh dịch tả (cholera). Loại này đặc biệt chỉ bám vào lớp ngoài của màng nhầy, không xâm nhập tế bào, tuy nhiên tiết ra độc chất làm ruột non bài tiết ra nước và điện giải (electrolytes) rất nhiều. Tuy thế cơ cấu của tế bào và màng nhầy hoàn toàn bình thường. Người bệnh bị tiêu chảy liên miên và chết vì mất quá nhiều nước và chất điện giải. Lý do này giải thích tại sao chữa trị bệnh này chính yếu là phải cho nước đầy đủ hoặc truyền nước biển, hoặc cho uống dung dịch có đường, muối và chất potassium để thay thế số lượng nước bị mất vì tiêu chảy. Người bị dịch tả có thể mất một lít nước trong vòng một giờ trong ngày đầu bị bệnh nên nếu không cho nước đủ, người bệnh có thể chết vì bị kích xúc do mất nước gây ra.
Một loại vi trùng khác làm tiêu chảy do độc tố (enterotoxin) là vi trùng Escherichia coli. Vi trùng này thường người nào cũng có ở trong ruột không gây ra bệnh, tuy nhiên có một ít nhóm vi trùng có khả năng tiết độc tố làm tiêu chảy. Những người đi du lịch từ Hoa Kỳ sang chơi Mexico hay bị tiêu chảy do độc tố của loại vi trùng này gây ra làm tiêu chảy nhẹ, ngắn hạn trong vài ngày gọi là bệnh tiêu chảy Montezuma’s revenge. Montezuma là ông vua cuối cùng của giống dân Aztec ở Mexico bị người chinh phục Tây Ban Nha giết chết nên khách du lịch từ Hoa Kỳ sang chơi đi về bị tiêu chảy đặt tên cho bệnh này là bệnh do Montezuma trả thù!
Ngoài vi trùng ra, một trong những nguyên nhân thường nhất của tiêu chảy là cực vi trùng. Tiêu chảy loại này thường nhẹ, kéo dài từ 1 đến 3 ngày, phần nhiều do ruột non bị xâm nhập, màng nhầy của ruột già vẫn bình thường nên chỉ có tiêu chảy nước, không có máu. Cực vi trùng loại Norwalk và loại rotavirus hay gây ra bệnh tiêu chảy nhẹ này, không trị liệu cũng tự khỏi.
Tại Việt Nam, tiêu chảy do ký sinh trùng Amib, tên khoa học gọi là Entamoeba histolytica, gây ra bệnh kiết lỵ vẫn còn là nguyên nhân quan trọng. Trùng Amib thường ít gây ra triệu chứng mặc dù tồn tại trong ruột già của số lớn dân chúng tại các xứ chậm tiến. Con số này có thể lên đến 50% dân số, tuy nhiên chỉ có một số rất ít có triệu chứng kiết lỵ. Phân thường có đàm và máu. Đôi khi bị nóng sốt, đau bụng và đi cầu đau, ra máu tươi. Bệnh có thể tự bớt rồi bị đi bị lại, kéo dài năm này qua năm khác. Một Ít trường hợp hiếm có, trùng amib chạy vào gan làm gan sưng lớn, cứng, dễ gây ra nhầm với ung thư gan. Tại Việt Nam trước đây, với thử nghiệm định bệnh khó khăn, các người bệnh này đều được chữa với thuốc trị trùng amib là Flagyl. Nhiều người tưởng là bị ung thư gan, chữa với thuốc Flagyl thấy công hiệu, thực sự là do trùng amib làm abcès trong gan. Dĩ nhiên, ở Hoa Kỳ hiện tại, việc định bệnh và phân biệt hai loại bệnh này dễ dàng hơn nhiều.
Vấn đề chữa trị bệnh tiêu chảy tùy thuộc vào định bệnh loại nhiễm trùng nào. Nếu do cực vi trùng, không cần phải chữa trị, sau vài ngày sẽ khỏi. Nếu do nhiễm trùng sau khi ăn đồ ăn hư hỏng, thường cũng chỉ bị nhẹ không cần phải uống trụ sinh. Tiêu chảy do các loại độc tố của vi trùng Escherichia coli nếu bị nhẹ chỉ cần uống Pepto-Bismol bán không cần toa như trường hợp du lịch tại Mexico chẳng hạn. Có thể dùng thêm Immodium AD bán không cần toa nếu chưa hết nhanh. Tiêu chảy do vi trùng Salmonella thường cũng bị nhẹ không cần trụ sinh. Dĩ nhiên nếu bị loại Salmonella typhi là vi trùng thương hàn là bệnh nặng cần phải nhập viện để chữa trị.
Loại vi trùng Shigella gây ra tiêu chảy loại kiết thường phải dùng thuốc loại Bactrim để trị. Cũng như một ít trường hợp tiêu chảy do vi trùng Escherichia coli, nếu bị nặng sẽ kéo dài lâu cũng phải cần thuốc trụ sinh loại này. Người Việt Nam dễ bị phản ứng với thuốc Bactrim nên khi dùng phải cẩn thận, nếu bị phản ứng không tốt (side effects) như ngứa ngáy, nổi mề đay, sưng khớp xương, sốt v.v. .. phải ngưng ngay và đổi sang trụ sinh khác.
Bệnh dịch tả là bệnh nặng, nếu bị cần phải nhập viện để chữa trị và truyền nước như đã nói ở trên. Vi trùng này thường trị bằng Tetracyline. Bệnh kiết lỵ do trùng Amib có thể trị bằng thuốc Flagyl kèm với thuốc Iodoquinol hay Tetracycline, loại Emetine nếu bị nặng.
Tóm lại, tiêu chảy có thể do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Trên đây là những trường hợp tiêu chảy cấp tính do nhiễm trùng. Tiêu chảy kinh niên thường do nhiều nguyên nhân khác về đường tiêu hoá phải khám nghiệm và làm nhiều thử nghiệm mới có thể định bệnh đuợc.
Phòng ngừa bệnh tiêu chảy khi đi du lịch xa và tại các xứ chậm tiến, tốt nhất là giữ vệ sinh cẩn thận, tránh các thứ đồ ăn không được sạch sẽ. Nếu bị nhẹ, Pepto Bismol và Imodium là các thứ thuốc có thể tự dùng, tuy nhiên nếu bị nặng và có nhiều triệu chứng khác, cần phải đi khám nghiệm ngay, về chích ngừa, hiện nay có thuốc chích ngừa cho dịch tả (cholera), và thuốc chích ngừa thương hàn (typhoid fever), thường phải chích làm hai lần cách nhau một vài tuần. Công hiệu được khoảng 40 đến 60%, và chỉ ngừa được khoảng 4 đến 6 tháng trong trường hợp bệnh dịch tả, vì thế vấn đề giữ vệ sinh vẫn là cách ngừa quan trọng nhất.
 
 
 
&&&
 
ÓI MỬA 
 
Ói mửa là một triệu chứng thông thường thấy ở nhiều thứ bệnh khác nhau. Nhiều người hay bị chứng này khi cơ thể bị bệnh, hoặc ói mửa có thể là dấu hiệu của những bệnh quan trọng và nguy hiểm cần phải được khám nghiệm và điều trị ngay. Trước hết, ta hãy xem về cách thức gây ra ói mửa và cơ chế của chứng này. Ói mửa thường có triệu chứng buồn ói đi trước. Buồn ói xảy ra khi bao tử hoạt động yếu như không co bóp được đầy đủ, bao tử quá dãn hoặc tiết ra chất chua không đủ. Ngược lại ruột non lại hoạt động quá nhiều và co thắt mạnh hay bóp ngược trở lại thay vì bóp xuôi. Điều này sẽ gây ra cảm giác buồn ói, ngoài ra hệ thần kinh giao cảm bị kích thích làm mặt xanh, toát mồ hôi, nước miếng tiết ra nhiều. Triệu chứng buồn ói xảy ra trước và sau đó đến cơn ói.
Khi ói, những bắp thịt bụng co thật mạnh, cơ vòng giữa bao tử và thực quản mở ra, đẩy đồ ăn trong bao tử lên trên thực quản. Áp suất trong lồng ngực cũng tăng lên làm đồ ăn trong thực quản bị tống ra ngoài. Trung tâm điều khiển các hoạt động về ói này nằm trong một vùng của não bộ gọi là reticular formation. Trung tâm này nhận các kích thích đến từ bộ phận tiêu hoá, cũng như từ vùng tai trong và từ một vùng tiếp nhận các kích thích do các chất hoá học gây ra gọi là chemoreceptor trigger zone. Trung tâm trong não bộ khi bị kích thích sẽ ra lệnh cho các bắp thịt bụng co thắt, các cơ vòng mở đóng của bao tử, thực quản, thanh quản, cổ họng.. và gây ra hiện tượng ói như diễn tả trên.
Ói mửa gây ra mệt nhiều vì các bắp thịt bụng phải co thắt quá mạnh, làm mất nước nhiều, mất chất nước chua acid trong bao tử, mất chất điện giải như potassium. Các sự thay đổi này làm cơ thể bị mất quân bình, nếu bị nặng có thể gây ra tình trạng nguy hiểm. Ngoài ra có những người bị chứng ói nặng, đồ ăn trong bao tử bị đẩy mạnh quá đôi khi làm rách ống thực quản, hay bị tét màng nhầy gây chảy máu và ói ra máu. Một ít trường hợp cũng nguy hiểm là ói làm đồ ăn chạy tọt vào trong đường hô hấp làm tắt thở hay bị sưng phổi vì chất acid từ bao tử tác dụng lên phổi.
 
Những bệnh nào gây ra ói mửa? 
Ói mửa tự nó cũng có thể gây nhiều nguy hiểm nếu bị nặng và kéo dài lâu, tuy nhiên quan trọng hơn cả là ói mửa thường là dấu hiệu của những bệnh có thể là bệnh nặng. Trước khi xem đến các bệnh nặng ta hãy xem các nguyên nhân gây ra ói mửa là các bệnh thường và nhẹ trước.
Thường nhất là các bệnh nhiễm trùng của đường tiêu hoá, phần lớn là cực vi trùng. Rất nhiều loại cực vi trùng gây bệnh với cùng loại triệu chứng như nhau: buồn nôn, ói mửa, nóng sốt, đau nhức bắp thịt, có thể đi kèm hay không đi kèm với các triệu chứng hô hấp. Thường gọi là intestinal flu, triệu chứng ói mửa do cực vi trùng gây ra thường tự giới hạn và tự khỏi sau vài ngày. Một loại cực vi trùng quan trọng cũng thường hay gây ói mửa nặng là cực vi trùng viêm gan. Trong thời gian đầu, trước khi mắt và da bị vàng, triệu chứng ói mửa là triệu chứng thường thấy nhất và là nguyên nhân đi khám bệnh của đa số bệnh nhân bị bệnh này. Vì thế nếu bị ói mửa nặng cần phải thử máu để xem có thể bị viêm gan hay không?
Các loại nhiễm trùng đường tiêu hoá do vi trùng gây ra cũng hay gây ói mủa như vi trùng Salmonella, Shigella... của các bệnh thương hàn, kiết lỵ, các bệnh nhiễm trùng khác. Các bệnh nhiễm trùng nặng không phải của đường tiêu hoá cũng có thể gây ra ói mửa vì độc tố do vi trùng tiết ra kích thích trung tâm điều khiển ói như đã nói ở trên.
Nguyên nhân thông thường khác hay gây ra ói mửa là bệnh viêm tai trong. Tai trong có cơ cấu điều khiển sự thăng bằng của cơ thể nên khi bị viêm, hay gây ra chóng mặt và ói mửa. Đôi khi bị ói rất nặng vì lý do này. Nguyên nhân của viêm tai trong thường là do cực vi trùng gây ra. Cũng trong cùng cơ chế ói do kích thích của bộ phận xoắn óc của tai trong là những trường hợp bị ói mửa do đi máy bay, đi xe lắc lư, gọi chung là motion sickness. Kích thích của não bộ gây ra ói mửa cũng hay thấy là chứng nhức đầu migraine, trong cơn nhức thường là nửa đầu, bệnh nhân bị ói mửa nhiều.
Các bệnh của bao tử như loét bao tử có thể gây ra ói mửa. Bệnh bao tử yếu không co bóp như trong trường hợp các người ít hoạt động hoặc bị bệnh tiểu đường làm ảnh hưởng đến sự co thắt của bao tử đều hay gây ra chứng dễ ói mửa.
 
Những bệnh nặng gây ra ói mửa. 
Bệnh nặng và nguy hiểm gây ra ói mửa đầu tiên phải kể đến các bệnh giải phẫu bụng cấp cứu như bị nghẹt ruột, bị nhiễm trùng màng ruột do đau ruột dư bị lủng, làm mủ..., bị lủng bao tử vì loét nặng, bệnh sưng túi mật v.v. . . Những bệnh của óc như có bướu trong óc, viêm não bộ, sưng màng óc, giang mai chạy vào óc v.v. . . đều gây ra ói mửa nhiều.
Bệnh nghẹt động mạch tim (heart attack), bệnh suy tim nặng cũng có thể gây ói mửa. Các bệnh ung thư đã chạy đi khắp nơi, thời kỳ chót cũng hay gây ra ói mửa nhiều. Các bệnh tuyến nội tiết như bướu cổ không chữa để bị nặng, suy thận làm chất urea trong máu lên quá cao v.v. . . đều gây ra ói mửa.
Sau hết, phải kể đến các trường hợp trúng độc, uống thuốc quá lượng. . . đều gây ra ói mửa. Nhiều người bị phản ứng thuốc, đầu tiên là bị ói mửa, thí dụ như phản ứng với codeine chẳng hạn.
 
Cách chữa ói mửa. 
Chữa trị ói mửa quan trọng nhất là tìm ra nguyên nhân nào đã gây ra? Có phải là bệnh nặng, nguy hiểm cần cấp cứu, nằm bệnh viện không? Nếu bệnh nhẹ, có thể chữa ở phòng mạch tuy nhiên phải tìm ra bệnh chính gây ra ói mửa và chữa bệnh đó.
Nếu ói ửa do bệnh về tai trong gây ra, thường các thuốc loại antihistamines có thể dùng. Tuy nhiên ói mửa do nhiễm cực vi trùng đường ruột hoặc các loại bệnh thường gây ói mửa khác, các thuốc mạnh hơn như Compazine, Tigan giúp ích hơn vì tác dụng thẳng vào trung khu não bộ kiểm soát ói mửa. Thuốc có thể uống, hay nếu bị nặng có thể dùng thuốc nhét hậu môn hoặc đôi khi phải chích. Một loại thuốc mạnh hơn nữa là thuốc Metoclopramide bán dưới tên Reglan có tác dụng mạnh trên não bộ ngăn chặn ói mửa. Thuốc này cũng còn dùng để chữa chứng Reflux, ợ chua đầy hơi do cơ vòng bao tử yếu.
Những trường hợp ói mửa bị mất nước nhiều phải uống nước nhiều để bồi bổ lại. Đôi khi bị nặng phải nằm bệnh viện để truyền nước thẳng vào máu. Phần lớn, chữa ở nhà có thể uống các nước có chất điện giải nhiều. Trẻ con nên dùng nước Pedialyte để bồi bổ. Người lớn uống nước nhiều hay nước ngọt như Gatorade có nhiều chất điện giải cũng giúp ích
Tóm lại, ói mửa là một triệu chứng thông thường tuy nhiên có thể là dấu hiệu của bệnh nặng, nguy hiểm. Cần phải khám nghiệm để loại trừ các trường hơp bệnh quan trọng. Nếu bệnh nhẹ có thể chữa ở nhà, tuy nhiên phải trị căn nguyên bệnh. Chữa trị ói mửa có thể dùng thuốc để ngăn chận tuy nhiên cũng phải chữa những biến chứng đi kèm như mất nước, mất chất điện giải v.v. . .
 
 
&&&
 
 
ĐAU BỤNG 
 
HỎI:
Tôi bị chứng đau bụng kinh niên cả năm nay. Thường tôi hay đau bụng phía dưới bên trái, hay ngâm ngấm đau nhưng cũng có khi đau nhiều, nhất là những lúc có chuyện gì buồn phiền. Vấn đề tiêu hoá của tôi cũng không điều hòa, lúc bị bón lúc bị tiêu chảy. Xin bác sĩ cho biết bệnh đau bụng này do nguyên nhân tại sao? Có gì nguy hiểm không và cần chữa trị ra sao?
Nguyễn T. L.
 
ĐÁP:
Triệu chứng đau bụng có thể nói là triệu chứng phức tạp nhất trong việc chấn đoán bệnh. Có rất nhiều bệnh khác nhau gây ra triệu chứng đau bụng nên muốn định bệnh cần phải hỏi bệnh kỹ lưỡng và khám nghiệm cẩn thận với thử nghiệm nếu cần thiết. Thường cần phân biệt chứng đau bụng cấp tính và kinh niên. Đau bụng cấp tính là triệu chứng của những bệnh quan trọng có thể nguy hiểm đến tính mạng nên cần phải được khám nghiệm và chữa trị tại nhà thương. Bệnh nhân bị đau bụng cấp tính nên đến thẳng phòng cấp cứu (emergency room) thay vì đến phòng mạch bác sĩ tư để tránh việc chậm trễ trong việc định bệnh và trị liệu.
Những bệnh gây ra đau bụng cấp tính rất nhiều và một số lớn là các bệnh cần phải giải phẫu. Đau bụng cấp tính có thể xảy đếnn nhanh chóng, đột ngột hoặc trong vòng một vài ngày, càng lúc càng đau nhiều và có thể kèm thêm các triệu chứng khác. Nguyên nhân có thể do nhiều thứ bệnh khác nhau hoặc do bệnh của nhiều cơ quan khác nhau. Một trong những cơ chế làm đau bụng cấp tính là viêm màng bụng. Màng bụng bọc các cơ quan này nên khi bị viêm sẽ gây ra đau bụng dữ dội. Thí dụ như đau ruột dư (appendicitis), lủng ruột dư, bao tử bị loét và làm lủng bao tử, tuyến tụy tạng bị viêm (pancreatitis) v.v. . .
Một nguyên nhân khác cũng làm đau bụng cấp tính là bị nghẹt các đường tiêu hoá hoặc nghẹt ống dẫn tiểu. Ruột non, ruột già bị nghẹt hoặc bị xoân lại, ống dẫn mật chảy từ túi mật xuống ruột non bị sạn mật làm nghẹt, ống dẫn tiểu (ureter) bị sạn thận làm nghẹt..v..v.. các bệnh này đều gây đau bụng cấp tính và cần giải phẫu.
Những nguyên nhân về mạch máu cũng có thể làm đau bụng dữ dội như nghẹt mạch máu nuôi ruột non, hoặc đại động mạch bụng (abdominal aorta) bị phồng to và bị bể, xảy ra ở người già... Những nguyên nhân do bệnh biến dưỡng cũng có thể gây ra đau bụng cấp tính như tiểu đường, suy thận kinh niên làm chất urea trong máu quá cao v.v. . .
Đau bụng kinh niên khác với đau bụng cấp tính tuy cũng có thể do rất nhiều các thứ bệnh gây ra. Thông thường việc định bệnh sẽ tuỳ vào bệnh trạng: tính cách đau như thế nào, thường xuyên hay không thường xuyên, có những triệu chứng đi kèm nào khác, vị trí của điểm đau ở chỗ nào. Thí dụ như đau ở phía giữa ngay chỗ xương chấn thủy, đau một hai tiếng sau khi ăn, có thể là do bệnh về bao tử như loét bao tử. Đau ở vùng bụng trên phía bên phải, dưới xương sườn, đau nhiều hơn khi ăn đồ mỡ, và đau chạy lên trên vai có thể do bệnh về túi mật gây ra. Đau ở hai bên bụng dưới, bị nóng sốt, có thể là bệnh viêm bụng dưới (pelvic inflammatory disease) ở người đàn bà. Đau bụng dưới cũng có thể do bệnh về buồng trứng như bị cyst, ung thư buồng trứng, bệnh tử cung ..v.v. . . Đau bụng địa điểm không rõ rệt, sờ thấy có cục trong bụng có thể do bướu trong bụng, hoặc bướu lành hoặc ung thư. Định bệnh về bướu trong bụng cũng rất phức tạp, cần phải có những thử nghiệm đặc biệt như làm siêu âm (ultra sound) hay quang tuyến đặc biệt gọi là CAT scan.
Để trả lời câu hỏi của bà trong thư, chứng đau bụng dưới kinh niên của bà kèm với những triệu chứng về tiêu hoá cần phải được khám nghiệm cẩn thận để loại trừ những bệnh quan trọng và nguy hiểm như viêm ruột, ung thư ruột già .. v.v. . . Những thử nghiệm cần phải có là chụp quang tuyến ruột già (barium enema) hay soi ruột gọi là Sigmoidoscopy hoặc soi toàn thể ruột già gọi là Colonoscopy. Người Việt Nam nếu mới sang có thể sẽ cần thử phân để loại trừ những bệnh về ký sinh trùng. Ngoài ra ở phụ nữ có thể cần phải làm siêu âm để loại trừ bệnh về buồng trứng như ung thư buồng trứng.
Nếu tất cả thử nghiệm đều tốt, không có những bệnh quan trọng như kể trên, những triệu chứng như đau bụng dưới phía bên trái, tiêu hoá không điều hòa, lúc bón lúc tiêu chảy hoặc đi cầu phân có nhiều đàm, phân nhỏ như cọng đũa, rời rạc v.v... có thể là do một chứng bệnh làm co thắt ruột già do kích thích quá độ gọi là bệnh irritable bowel syndrome hay còn gọi là spastic colitis. Bệnh này thường xảy ra ở phụ nữ nhiều hơn đàn ông khoảng gấp hai lần, trung bình ở vào tuổi 30 - 50. Nguyên nhân của bệnh là do sự co thắt, vận chuyển của ruột già không được bình thường. Nếu ruột già co thắt quá độ sẽ làm đau và tuỳ từng lúc có thể sẽ có lúc bị bón hoặc ngược lại bị tiêu chảy.
Lý do gây ra sự kích thich quá độ này là do phản ứng bất thường của ruột già của những người bị bệnh với một kích thích tố gọi là Cholecystokinin. Một yếu tố khác nữa cũng gây ảnh hưởng trên sự co thắt không bình thường của ruột già là yếu tố tâm lý. Buồn phiền, lo âu, ám ảnh, đè nén tâm lý nhiều đều có tác dụng làm cho bệnh co thắt ruột già bị nặng hơn.
Bệnh co thắt ruột già tương đối xảy ra khá nhiều. Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ về bệnh này theo một thống kê lên đến 17% dân chúng, tuy số người đi khám bệnh và thử nghiệm ở mức thấp hơn. Dân Việt Nam không có thống kê về tỷ lệ bệnh này nhưng với những đè nén về tâm lý đối với người tỵ nạn, số người bị chứng co thắt ruột già cũng không phải là ít. Điều quan trọng đối với người Việt Nam là phần lớn người Việt khi đến tuổi trưởng thành không hấp thụ được sữa do thiếu chất phân hoá tố Lactase (khoảng 70 - 80% người Việt) và rất nhiều người cũng sẽ có những triệu chứng gần giống như bệnh co thắt ruột già, vì thế những người bị bệnh này phải kiêng sữa hoặc dùng thuốc Lact-Aid là chất phân hoá tố lactase uống thêm vào mỗi khi muốn uống sữa.
Việc chữa trị bệnh co thắt ruột già tương đối không được khả quan cho lắm vì không chữa dứt hẳn được tuy bệnh có lúc bị nhiều, bị ít hoặc hoàn toàn không có triệu chứng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tâm lý. Thuốc chữa có thể dùng là những loại thuốc anti-cholinergic để chóng co thắt như Bentyl, Levsin... Ăn nhiều các đồ ăn có chất sợi (fibers) như ăn rau, cereals, trái cây v.v. . . cũng giúp ích. Hoặc uống thuốc để phân được chất và nhiều như Metamucil, Citrucel, Per Diem. . . cũng giúp cho việc tiêu hoá. Trường hợp bị xung đột tâm lý nhiều có thể phải dùng thuốc an thần đế tránh cho bệnh co thắt ruột già bị nặng hơn.
Tóm lại, triệu chứng đau bụng cần phải được khám nghiệm cẩn thận, đặc biệt nếu bị đau bụng cấp tính, vì có thể có những bệnh cần giải phẫu. Trường hợp đau bụng kinh niên, thường phải làm nhiều thử nghiệm để định bệnh chính xác. Điều quan trọng là tìm ra bệnh và trị liệu sớm những bệnh quan trọng. Bệnh co thắt ruột già tương đối khá thông thường nhưng cần phải loại trừ những bệnh nguy hiểm như ung thư, viêm ruột v.v. . . trước khi xác định và chữa trị bệnh này.
 
 
 
&&&
 
DA VÀNG 
 
HỎI: 
Nhiều người nói da tôi mấy tháng nay thấy hơi vàng. Tôi có đi khám bệnh và thử máu mấy lần và được cho biết tôi không có bệnh gì về gan. Tôi thấy người cũng khỏe mạnh, thường chỉ ngoài việc da vàng hơn trước kia. Tôi giữ sức khỏe điều độ, ăn trái cây, uống nước cà rốt mỗi ngày đễ cho mát mẻ, không hiểu sao lại bị như vậy?
Nguyễn T. V.
 
 
ĐÁP: 
Nguyên nhân chứng vàng da thường nhất là do bệnh gan như viêm gan, cứng gan. Bệnh về túi mật, nghẹt ống dẫn mật cũng thường làm vàng da. Một số ít trường hợp do dùng thuốc làm ảnh hưởng đến gan và vàng da (thuốc ngừa thai là một thí dụ). Một số trường hợp khác do chứng tiêu huỷ hồng huyết cầu làm lượng bilirubin cao cũng làm vàng da. Những bệnh này là những bệnh nặng, khi đi khám và thử máu sẽ tìm ra dễ dàng.
Trường hợp của bà đã đi khám và thử máu nhiều lần được cho biết không có bệnh gì quan trọng, thực sự việc định bệnh rất rõ ràng và dễ hiểu nếu bà khai bệnh từ đầu có nhắc đến việc uống nước cà rốt mỗi ngày.
Khi ăn hay uống quá nhiều cà rốt, chất carotene là chất sinh tố có rất nhiều trong cà rốt sẽ tăng rất cao trong máu. Chất carotene được cơ thể dùng để biến đổi sang vitamin A, nhưng khi ăn quá nhiều carotene, phản ứng biến đổi này bị ngăn cản và lượng carotene trong máu sẽ tăng cao gọi là chứng carotenemia. Chứng này thật ra không gây gì nguy hại cho sức khoẻ cả, chỉ làm khó coi vì da sẽ trở thành vàng hơn, đặc biệt ở lòng bàn tay và lòng bàn chân. Một đặc điểm để phân biệt với các bệnh vàng da do gan hay các bệnh nặng khác là lòng trắng mắt không đổi sang vàng trong khi bệnh gan làm vừa vàng da vừa vàng mắt.
Trị liệu không phải làm gì, chỉ việc ngưng ăn hay uống nước cốt cà rốt sau vài tuần da sẽ hết vàng và trở lại bình thường. Điều nên nhớ là ngoài cà rốt, một số trái cây, rau có nhiều màu (cà chua, nước rau V- 8 .. v.v...) cũng có nhiều carotene, không nên dùng quá nhiều để tránh vàng da trở lại.
 
 
&&
 
KHÔNG HẤP THỤ ĐỒ ĂN
 
HỎI:
Tôi bị chứng tiêu hoá không tốt, ăn không thấy tiêu, bụng hay sình, nhất là khi uống sữa. Đi cầu hay bị lỏng, thường thấy có váng như mỡ. Qua Mỹ đã lâu không thấy mập lên mà còn xuống cân. Gần đây tôi có đi thử máu và được cho biết là bị thiếu máu. Xin bác sĩ cho biết bệnh này thuộc loại gì và cách chữa trị ra sao?
Vũ V. T.
 
ĐÁP:
Bệnh tiêu hoá với những triệu chứng như ông kể thuộc về loại bệnh không hấp thụ đồ ăn (malabsorption). Đây là một trong những chứng bệnh với sự định bệnh khó khăn và tìm nguyên nhân để chữa trị phức tạp nhất.
Thực phẩm ta ăn vào được tiêu hoá và hấp thụ dưới các hình thức chính: chất bột chất đạm, chất béo, vitamins và các khoáng chất cần thiết cho cơ thể và sau cùng nước và các chất điện giải.
Đồ ăn trước tiên được tiêu hoá trong bao tử dưới tác dụng của acid và pepsin do bao tử tiết ra, sau đó sẽ được các phân hoá tố (enzymes) trong phần đầu của ruột non tiếp tục tiêu hoá tiếp thành những phần tử nhỏ hơn và được hấp thụ qua màng nhầy của ruột non.
Chất bột (carbohydrates) như gạo, bánh mì, sữa, đường, trái cây được một phân hoá tố có trong nước bọt và dịch tụy tạng gọi là amylase tiêu hoá. Chất bột như gạo, bánh mì sẽ bị cắt thành những phần tử nhỏ gọi là maltose. Maltose sẽ bị một phân hoá tố trong ruột gọi là maltase cắt thành hai phân tử glucose và hấp thụ. Sữa (lactose) không hấp thụ trực tiếp được, phải cần phân hoá tố lactase cắt ra làm hai phân từ glucose và galactose mới được màng nhầy ruột non hấp thụ. Tương tự, chất đường (sucrose) cũng phải có phân hoá tố sucrase phân ra làm hai là glucose và fructose mới vào ruột non được.
Trong vấn đề hấp thụ chất carbohydrates như trên, một bệnh thường thấy nhất làm không hấp thụ đồ ăn được là bệnh thiếu phân hoá tố lactase để hấp thụ sữa. Đặc biệt ở người Việt Nam và các dân Đông Nam Á khác, khoảng 80% dân số thiếu phân hoá tố lactase này nên không hấp thụ được sữa. Thường khi bắt đầu trưởng thành mới có triệu chứng này, uống sữa không tiêu bị đau bụng, sình bụng và tiêu chảy. Một số lớn dân Việt Nam bị thiếu phân hoá tố lactase một phần xảy ra sau khi bị nhiễm trùng ruột, làm tổn hại đến màng nhầy ruột, cộng thêm với đặc tính di truyền làm mất dần phân hoá tố lactase và sau cùng thiếu hoàn toàn, dù chỉ uống một chút sữa (100-200 cc) cũng sẽ gây ra triệu chứng.
Chất béo ta ăn vào phần lớn ở dưới dạng mỡ triglycerides. Khi vào đến phần đầu của ruột non, sự hiện diện của chất mỡ sẽ làm tụy tạng (pancreas) tiết ra phân hoá tố gọi là lipase và làm túi mật bài tiết ra mật chảy xuống ruột non. Phân hoá tố lipase và mật sẽ giúp cho sự tiêu hoá chất mỡ triglycerides thành các phần từ nhỏ gọi là acid béo (fatty acids) và monoglyce- rides, sau đó được hấp thụ vào ruột non.
Như vậy sự hấp thụ chất béo cần sự làm việc của tụy tạng, túi mật và gan (mật được làm từ gan và chảy xuống túi mật). Những người bị bệnh gan như viêm gan, cứng gan do rượu v. v... hoặc bị bệnh có sạn trong túi mật, nghẹt ống dẫn mật... sẽ gây ra sự trở ngại trong việc bài tiết mật xuống ruột non để tiêu hoá chất béo và làm không hấp thụ được chất béo.
Bệnh về tụy tạng như viêm tụy tạng do uống rượu quá nhiều, ung thư tụy tạng ..v.v... sẽ làm ngăn trở việc tiết ra phân hoá tố lipase để tiêu hoá chất béo cũng sẽ gây ra sự không hấp thụ được chất béo.
Những người bệnh này vì không hấp thụ được chất béo sẽ đi cầu ra phân có váng mở gọi là steatorrhea, người bệnh có thể tự thấy váng mỡ khi đi tiêu chảy. Muốn biết chính xác hơn phải thử nghiệm phân, nhuộm phân gọi là Sudan stain để xem dưới kính hiển vi và sẽ thấy các giọt mỡ, hoặc đo lượng chất béo trong phần trong 24 tiếng đồng hồ.
Chất đạm có trong thịt, cá … được tiêu hoá một phần trong bao tử bằng phân hoá tố pepsin, tuy nhiên phần lớn sẽ được tiêu hoá ở ruột non bằng các phân hoá tố của tụy tạng như chất trypsin, chymotrypsin. Chất đạm protein sẽ được phân ra thành các amino- acids hay các phần tử nhỏ gọi là dipeptides và được hấp thụ qua màng nhầy của ruột non.
Một số bệnh hiếm có làm sự hấp thụ các chất amino-acids bị ngăn trở vì không hấp thụ được, tuy nhiên phần lớn các trường hợp bệnh tiêu hoá làm mất chất đạm vì màng nhầy ruột non bị lở loét và mất chất đạm từ trong máu ra. Bệnh về sự hấp thụ chất đạm tương đối ít hơn.
Các sinh tố (vitamins) được hấp thụ trong ruột tùy theo loại: Các sinh tố A, quan trọng về mật; sinh tố D quan trọng cho xương; sinh tố K về đông máu và sinh tố E về sinh dục vì tan trong chất béo nên được hấp thụ đi theo với các chất béo như đã nói ở trên. Các người bệnh không hấp thụ được chất béo, đi phân váng mỡ, thường sẽ thiếu các loại vitamins này. Đối với các loại sinh tố tan trong nước như BI2, folic acid quan trọng cho sự tạo máu, sự hấp thụ xảy ra ở phần cuối của ruột non (ileum) nên những bệnh ở phần ruột này sẽ dễ gây ra thiếu máu vì thiếu sinh tố BI 2 và folic acid.
Một số khoáng chất quan trọng cũng được hấp thụ theo đồ ăn trong ruột non như chất sắt, chất vôi calcium. Bệnh tiêu hoá làm không hấp thụ đồ ăn sẽ gây ra thiếu máu vì thiếu chất sắt hoặc thiếu calcium trong máu làm co rút bắp thịt, tay chân ..v.v. .
Tìm nguyên nhân về chứng không hấp thụ đồ ăn như vậy tương đối khá phức tạp vì có khoảng vài chục thứ bệnh khác nhau đều có thể gây ra chứng này. Một
số bệnh đối với người Hoa Kỳ thông thường nhưng ở người Việt Nam rất hiếm thấy hay hầu như không có, thí dụ như bệnh viêm ruột loại Crohn’s disease. Ngược lại, người Việt Nam phần lớn hay bị bệnh thiếu phân hoá tố lactase để hấp thụ sữa trong khi dân da trắng chỉ bị khoảng 10%. Tựu trung đối với người Việt Nam, các bệnh gây ra chứng không hấp thụ đồ ăn thường do bệnh về gan và mật như đã nói ở phần trên. Ngoài ra, những người uống rượu nhiều có thể bị bệnh về viêm tụy tạng (pancratitis) làm thiếu các phân hoá tố để tiêu hoá. Những người bị mỗ vì loét bao tử phải cắt một phần bao tử, hoặc bị nghẹt ruột phải cắt một phần ruột cũng dễ bị chứng không hấp thụ đồ ăn. Những người hay bị nhiễm trùng ruột làm tiêu chảy như các vi trùng Salmonella, Shigella, ký sinh trùng amib thấy ở những người Việt mới sang hoặc đi du lịch Việt Nam về cũng hay bị chứng không hấp thụ đồ ăn xảy ra một thời gian sau khi nhiễm trùng.
Đặc biệt một loại bệnh về ruột làm không hấp thụ đồ ăn dễ xảy ra với người Việt Nam là bệnh viêm ruột vùng nhiệt đới (tropical sprue). Nguyên nhân không rõ rệt, có thể do vi trùng hay do độc tố của vi trùng nhưng bệnh này có thể xảy ra nhiều tháng hay đôi khi cả năm sau khi đi du lịch ở vùng nhiệt đới trở về. Bệnh làm sụt ký, ăn không được, tiêu chảy, thiếu máu, thiếu sinh tố như BI2, folic acid v.v... Định bệnh tương đối khó khăn, phải loại trừ các bệnh nguy hiểm khác như ung thư, bệnh về miễn nhiễm v.v... Đôi khi phải dùng ống luồn xuống ruột để soi gọi là endoscopy và cắt một miếng nhỏ để xem dưới kính hiển vi gọi là biopsy để định bệnh. Chữa trị bệnh này phải chích sinh tố BI2, uống sinh tố folic acid để trị thiếu máu và uống trụ sinh như Tetracycline, Bactrim vài tuần lễ để trị mới dứt hẳn được.
Vấn đề chữa trị chứng không hấp thụ đồ ăn như vậy phải tìm nguyên nhân và trị liệu theo tùy từng căn bệnh. Đối với người Việt Nam hay bị thiếu phân hoá tố lactase, hoặc tránh uống sữa, hoặc có thể dùng thuốc tên Lact- Aid (là lactase dưới hình thức viên hay nước) bán không cần toa để uống chung với sữa hay cheese.. v.v. . . và tránh được triệu chứng do sự không hấp thụ sữa gây ra. Các bệnh về gan, túi mật thực sự không có thuốc chữa trừ trường hợp sạn mật có thể dùng thuốc Actigall để làm tan sạn, tuy nhiên hiệu quả cũng chỉ vừa phải. Các bệnh về tụy tạng như viêm tụy tạng cũng không có thuốc trị ngoại trừ việc ngưng uống rượu. Những người bệnh bị các bệnh này và thiếu phân hoá tố có thể dùng thuốc uống thay thế như Kuzyme, Viokase, Festal v.v... để giúp cho việc tiêu hoá và hấp thụ đồ ăn. Ngoài ra, nếu thiếu các khoáng chất như chất sắt, calcium, vitamins, cũng phải uống thuốc bổ có các chất này để bồi bổ lại.
Tóm lại, chứng không hấp thụ đồ ăn tương đối xảy ra cũng khá thường với người Việt Nam, việc định bệnh không phải dễ dàng, tuy nhiên tìm ra nguyên nhân là điều quan trọng, đòi hỏi việc khám nghiệm và thử nghiệm một cách chính xác để chữa trị có hiệu quả.
 
 
 
 
&&&
 
 
 
HO
 
Ho là chứng thông thường nhất của vấn đề hô hấp và là một trong những lý do đi khám bệnh thường nhất. Ho thực sự là một phương cách của cơ thể để tống khứ những vật lạ ra khỏi đường hô hấp, cũng như là một cách “rửa” của cơ thể để đẩy đàm, chất nhớt ra khỏi khí quản.
Như vậy ho là một cơ chế bình thường, chỉ khi nào ho kéo dài quá lâu, hoặc đi kèm với những triệu chứng khác, lúc đó mới là bệnh tật. Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về động tác ho.
Ho có thể do ý muốn hoặc do phản xạ tức bị bắt buộc phải ho, không ho không được. Ho bắt nguồn từ những kích thích trên những vùng tiếp nhận kích thích gọi là receptors trên màng nhày của khí quản.
Những kích thích này theo các giây thần kinh số 5, số 7, số 10 hoặc giây thần kinh thanh quản trên chạy về trung khu não bộ. Phản xạ ho được thực hiện bằng giây thần kinh thanh quản chạy ngược gọi là recurrent laryngeal nerve ra lệnh cho phần lưỡi gà của cổ họng đóng kín đường hô hấp. Giây thần kinh tuỷ sống sau đó ra lệnh cho các bắp thịt ngực và bụng co thắt.
Vì phần lưỡi gà ở cổ bị đóng nên khi các bắp thịt này co thật mạnh, ấp suất trong ngực và khí quản tăng lên đột ngột. Khí quản cũng bị ép nhỏ lại, nên khi lưỡi gà mở ra, ấp suất tống hơi từ buồng phổi ra ngoài đi qua khí quản bị thắt hẹp sẽ làm cho vận tốc của làn hơi nhanh bằng với vận tốc của âm thanh. Nói cách khác dễ hiểu hơn tức là làn hơi bị tống xuất thật nhanh tạo ra tiếng ho.
Lực bắn này cũng rất mạnh sẽ làm đàm, chất nhớt theo đó bị tống ra ngoài. Vậy ho có thể hiểu là một phản ứng tự vệ của cơ thể và phản xạ ho chính là để giúp chúng ta không bị nghẹt thở khi đàm hay chất nhờn tiết ra quá nhiều, hay có vật gì rơi vào trong đường hô hấp làm nghẹt.
 
* Các loại ho.
Ho có nhiều loại. Thường phân biệt chính là ho khan, không có đàm và ho ra đàm. Đàm đi kèm với ho là triệu chứng quan trọng để định bệnh. Thường phải biết đàm nhiều hay ít, màu gì, trắng hay đàm đặc, có màu vàng hay xanh. Đàm có máu hay không? Vì thế khi đi khám bệnh nếu có đàm nhiều ở nhà, đôi khi phải mang đến phòng mạch để bác sĩ xem. Những trường hợp cần thử đàm, cáy vi trùng, thường phải lấy đàm lúc sáng mới ngủ dậy để thử nghiệm.
Tiếng ho cũng quan trọng. Tiếng ho gắt, rít rít trong cổ có thể do bệnh ở phần trên của cổ họng gọi là epiglottis như trường hợp ho gà do vi trùng Hemophilus pertussis gây ra ở trẻ con. Bệnh này ở Mỹ hiện giờ hiếm thấy nhưng ở Việt Nam bị nhiều. Trẻ con bị nặng nhiều khi phải mổ yết hầu gọi là tracheostomy mới thở được.
Ho khò khè thường xảy ra khi đi chung với bệnh suyễn. Thực sự rất nhiều trường họp bệnh suyễn khởi đầu bằng ho. Ho nhiều ban đêm, ho “kéo đàm lên cổ” thành tiếng khò khè là dấu hiệu của suyễn. Một số người bị bệnh suyễn nhưng chỉ có ho không mà hoàn toàn không khò khè. Những trường hợp này phải đi khám nghiệm và làm thử nghiệm mới biết là do suyễn được.
Ho có thể cấp tính tức chi bị một vài ngày rồi hết hoặc có thề là kinh niên. Nhiều người ho dai dằng, kéo dài từ tháng này qua tháng khác, hay kéo cả năm. Một số ít bị ho kinh niên cả đời, lúc nào cũng có thể bắt ho được.
Một dấu hiệu quan trọng khác nữa là nhiệt độ. Ho không nóng sốt thường nhẹ hơn trường hợp ho đi kèm với sốt, vì sốt thường báo hiệu bị nhiễm trùng và cần phải chữa trị ngay.
 
Ho kéo dài lâu có thể do bệnh gì gây ra?
Chứng ho thường nhất là do bệnh cảm, bệnh cúm gây ra. Các bệnh này do cực vi trùng nên chỉ kéo dài trong vài ngày hoặc một tuần rồi tự khỏi.
Tuy nhiên sau khi bị cảm, cúm nếu sau cả tuần vẫn tiếp tục ho, bắt đầu có nhiều đàm, hay đàm trở thành đặc hơn, nhiều hơn, đổi màu ra vàng, xanh, đây là dấu hiệu bị biến chứng. Thường là do sưng cuống phổi hay sưng phổi. Các vi trùng quan trọng gây bệnh là Pneumococcus hay Hemophilus cần phải có trụ sinh để trị bệnh. Đặc biệt người già dễ bị những bbiến chứng sưng phổi này nên phải đặc biệt cẩn thận và đi khám nghiệm ngay nếu ho kéo dài lâu như đã nói trên.
Ho kéo dài quá lâu nếu kèm khò khè có thể do suyễn. Nếu ho kéo dài cả một vài tháng và theo mùa như vào đầu xuân hay lúc trời sang thu, có thể bị suyễn do dị ứng gây ra và làm ho kinh niên, kéo dài. Một số người trước khi thành suyễn hẳn và bị nặng sẽ có chứng ho kinh niên theo mùa. Thường phải khám chuyên môn mới định ra bệnh vì những dấu hiệu của suyễn lúc đầu chưa rõ ràng.
Ho bị lâu cũng có thể do bệnh sưng cuống phổi kinh niên gây ra (chronic bronchitis). Những người bị ho kéo dài trên ba tháng với khạc đàm, nếu bị mỗi năm như vậy trong hai năm liền là bị bệnh sưng cuống phổi kinh niên.
Nguyên nhân thông thường nhất là hút thuốc lá. Ho nhiều, mỗi sáng thức dậy đều phải khạc đàm là dấu hiệu của những người hút thuốc bị sưng cuống phổi kinh niên. Một số người bị chứng này vì hít thở không khí bị ô nhiễm. Tại Houston, không khí ô nhiễm là do các nhà máy dầu thả khói gây ra. Ngoài ra các người làm nghề phải thở hít các chất hoá học nhiều, hay bụi bậm nhiều như các nghề tiện, làm nails.. v.v... cũng dễ bị ho kinh niên do chứng sưng cuống phổi kinh niên gây ra.
Ho lâu nếu bị sút ký, sốt về chiều, ho ra máu … phải coi chừng bệnh lao. Người Việt bị lao phổi nhiều nên phải rất cẩn thận về bệnh này. Thường phải chụp hình phổi để định bệnh và sau đó thử đàm. Bệnh lao phổi cần phải định bệnh sớm và điều trị đúng mức, lâu dài trong cả năm tuy nhiên với thuốc men đầy đủ và có thể chữa và lấy thuốc miễn phí tại các chân y viện lao của chính phủ nên không có gì đáng ngại. Điều quan trọng là nếu ho kéo dài, cần phải đi khám và chụp hình phổi để tìm bệnh.
Ho kéo dài lâu cũng có thể do ung thư phỗi gây ra. Những người hút thuốc lá đặc biệt phải chú trọng đến bệnh này. Hút thuốc nhiều năm, hút nhiều mỗi ngày, bị ho lâu, bị mất ký, đau ngực, ho ra máu. . . phải coi chừng bị ung thư phổi. Chụp hình phổi là thử nghiệm đầu tiên phải làm. Nếu nghi ngờ sẽ phải soi bằng ống soi luồn xuống phổi để cắt một miếng nhỏ và coi dưới kính hiển vi.
Một số người bị bệnh tim nếu bị suy tim, có nước trong phổi cũng bị ho, đôi khi ho ra đàm như sủi bọt pha với máu hồng. Những người bị nhọt mủ, abcès trong phổi bị ho, khạc ra mủ. Nhiều người bị chứng bao tử phòi ra trên ngực gọi là hiatal hernia ăn xong hay bị đồ ăn chạy ngược rơi vào khí quản cũng hay bị làm ho kinh niên. Còn rất nhiều bệnh khác cũng gây ra ho kinh niên tuy hiếm hơn.
Ho kéo dài lâu như vậy có thể do nhiều bệnh quan trọng và nguy hiểm gây ra nên thường phải đi khám nếu bị ho lâu. Hỏi bệnh và khám phổi thường có thể xác định được chứng ho có phải do bệnh nào quan trọng không. Tuy nhiên muốn đích xác thường phải làm thêm thử nghiệm.
Quan trọng nhất là chụp hình phổi chest X-ray sẽ cho biết có bị sưng phổi hay không, có lao phổi hay không hoặc ung thư phổi hay không? Ngoài ra có thể biết có nước trong màng phổi hay không, hay phổi bị xẹp do không khí thoát ra trong lồng ngực ép phổi lại gọi là pneumothorax. Nhiều người hút thuốc lá nhiều cũng có thể thấy phổi bị yều trương phình lên gọi là emphysema. Ngoài ra chụp hình quang tuyến phổi cũng thấy được kích thước của tim, tim có bị lớn làm suy tim hay không?
Thử nghiệm khác là thử đàm. Thường thử khi nghi sưng phổi để biết loại vi trùng nào. Đàm có thể nhuộm để xem dưới kính hiển vi gọi là Gram stain để biết loại nào và cáy vi trùng để biết đích xác hơn. Thử đàm cũng cần khi nghi lao phổi. Chỉ thử đàm và cáy mới có thể định bệnh chắc chắn, tuy nhiên thường quyết định chửa trị dựa nhiều hơn vào hình phổi vì thử đàm lao có thể không thấy.
Một thử nghiệm khác nữa là đo hô hấp hay spirometry. Đo hô hấp sẽ giúp định bệnh suyễn hay phổi yếu, suy phổi do hút thuốc lá quá nhiều. Thường đo mức thổi trong một giây gọi là FEV-1 và đo dung tích của phổi gọi là FVC. Ngoài ra còn một số các đo lường khác về mức làm việc của phổi.
Thử nghiệm soi phổi gọi là bronchoscopy như đã nói ở trên được dùng khi nào nghi ngờ có ung thư phổi để định bệnh chắc chắn.
Tóm lại, ho là một triệu chứng quan trọng của bệnh phổi. Nếu ho lâu, có thể do những bệnh quan trọng gây ra và cần đi khám để định bệnh. Chữa trị về ho việc chính là chữa các bệnh gây ra ho. Chữa triệu chứng ho chỉ dùng khi ho do cảm cúm thường gây ra. Trường hợp này các thứ thuốc ho bán ngoài không cần toa có thể dùng. Phần lớn dùng thuốc có chất Dextromethorphan viết tắt dưới tên DM như trong Robitussin- DM, Triaminic-DM ..v.v... Chỉ trừ khi không có hiệu quả hay ho quá mức làm đau ngực, đau khớp xương sườn..v..v.. mới nên dùng thuốc ho có chất codeine phải có toa. Thuốc codeine không nên dùng lâu vì có thể gây ra ghiền. Một số người cũng dễ bị phản ứng do codeine gây ra.
Một điều nên nhớ là ho chính là phản ứng tự vệ của cơ thể để tống khứ các thứ có hại cho cơ thể nên nếu bị sưng cuống phổi, bị sưng phổi, nên tránh dùng thuốc ho mạnh vì cơ thể cần đấy đàm ra ngoài. Uống trụ sinh để trị vi trùng và uống nước nhiều hay thuốc làm lỏng đàm tốt hơn. Thuốc ho như thế chỉ nên dùng nếu không bị bệnh gì quan trọng và chỉ là cảm cúm nhẹ, không có biến chứng.
Ho là chứng thường bị tuy nhiên cũng có thể là dấu hiệu báo cho biết cơ thể có những bệnh khác nguy hiểm. Điều cần là để ý xem có những dấu hiệu nào khác đi kèm hay không và nếu kéo dài cần phải khám và thử nghiệm cẩn thận để có thể chữa trị sớm các bệnh quan trọng đã gây ra chứng ho.
 
 
 
 
&&& 




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.11.2018 16:02:59 bởi Ct.Ly>
SƯNG PHỔI
 
HỎI: 
Tôi gần đây bị ho nhiều, nhiều lúc thấy lên cơn nóng lạnh và khạc ra đàm rất nhiều, thấy có màu vàng và xanh, Tôi có đi chụp hình phổi và được cho biết bị sưng phổi. Hiện nay tôi đã thấy đỡ nhiều sau mấy ngày uống trụ sinh nhưng xin hỏi bác sĩ sưng phổi có nguy hiểm lắm không? Lý do tại sao bị sưng phổi và làm cách nào để ngừa bệnh sưng phổi.
Huỳnh V. B.
 
ĐÁP: 
Sưng phổi (pneumonia) là bệnh nhiểm trùng phổi thường xảy ra nơi người già, trẻ con, những người ốm yếu, cơ thể suy nhược và bị những bệnh kinh niên như tiểu đường, bệnh suyễn, bệnh tim, ung thư..v..v... Sưng phổi ở những người bệnh này có thể trở thành nặng rất nhanh và gây nhiều biến chứng nguy hiểm. Những người trẻ tuổi, khoẻ mạnh cũng có thể bị sưng phổi, tuy nhiên thường bị nhẹ và dễ chữa hơn; phần lớn các trường hợp xảy ra sau khi bị lây cúm hay cảm do cực vi trùng và sau đó bị vi trùng xâm nhập gây ra sưng phổi.
Nguyên nhân gây ra bệnh sưng phổi là do vi trùng xâm nhập. Bình thường trong bộ phận hô hấp từ thanh quản với dây nói trong cổ họng chạy xuống hai lá phổi không có vi trùng. Phần miệng và phía trên thanh quản có những vi trùng vô hại trú ngụ không gây ra bệnh (normal flora). Tuy nhiên, khi cơ thể suy yếu hoặc có những bệnh kinh niên khác, các vi trùng nằm trong miệng và cổ họng này có thể chạy xuống phần dưới của đường hô hấp và gây ra nhiễm trùng. Thường là do bị sặc hoặc khi nằm ngủ, miếng lưỡi gà (glottis) che đường hô hấp trong cổ bị hở để cho nước bọt hoặc dịch vị bao tử chạy ngược chảy vào đường hô hấp mang theo vi trùng và sinh bệnh.
Vi trùng cũng có thể xâm nhập bằng cách do hít thở thẳng từ không khí truyền từ người này sang người khác; tuy nhiên ở người bình thường, cơ thể có sự kháng cự tự nhiên để chóng với vi trùng.
Đầu tiên là phản xạ của miếng lưỡi gà glottis như nói ở trên sẽ đóng chặt đường hô hấp nếu khi nuốt bị sặc, kế đó là phản xạ ho, vật gì lạ hít vào đường hô hấp đều gây ra kích thích với phản xạ ho để bắn ra ngoài. Nếu không ra được, các chất nhờn của các tế bào phủ ngoài mặt đường hô hấp sẽ bao lấy vật lạ và đẩy lần từ dưới lên trên, sau đó sẽ được khạc nhổ ra ngoài hay nuốt đi.
Vi trùng khi tiến được vào đường hô hấp cũng không phải được để yên tự do hoành hành. Đầu tiên là những kháng thể loại A (immunoglobulin A gọi tắt là IGA) trong nước bọt chống cự trước, làm vi trùng không dính được vào bề mặt của lớp màng nhầy đường hô hấp. Kế đó là kháng thể loại G gọi là IgG ở sâu hơn trong khí quản sẽ bám lấy vi trùng để các bạch cầu của cơ thể tiêu hủy vi trùng. Những tế bào đặc biệt của đường hô hấp gọi là đại bào phế quản (alveolar macrophages) có nhiệm vụ đi tìm và tiêu diệt vi trùng trực tiếp bằng cách ăn vi trùng, đưa qua màng tế bào và hủy diệt bằng những phản ứng oxid hoá. Ngoài ra, khi vi trùng xâm nhập nhiều quá, các bạch cầu đa nhân (polymorphonuclear neutrophils) trong mạch máu sẽ được kêu gọi bằng những chất hoá học tiết ra từ địa điểm bị xâm nhập, cũng như các tiểu bạch cầu (lymphocytes) khác của hệ thống miễn nhiễm cũng sẽ chạy lại để bao vây và tiêu hủy vi trùng.
Hệ thống chống cự của cơ thể như trên giữ cho một người khỏe mạnh chiến đấu với vi trùng thường xuyên tìm cách xâm nhập cơ thể và nhất là ở đường hô hấp. Tuy nhiên, với cơ thể suy yếu do tuổi già hoặc các bệnh kinh niên khác, các cơ chế chống cự trên bị kém đi và khi cán cân quân bình lệch đi về phía vi trùng, vi trùng có cơ hội sinh sôi nảy nở và xâm nhập thêm sẽ gây ra bệnh sưng phổi. Ngoài những bệnh kinh niên như đã nêu ở phần đầu, hút thuốc lá sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến sự chống cự của cơ thể như làm suy yếu đại bào phế quản và làm cơ chế chuyên chở của màng nhầy để tống khứ vi trùng và vật lạ ra khỏi đường hô hấp bị ngăn trở nên người hút thuốc nhiều sẽ dễ bị sưng phổi hơn người thường do những lý do trên.
 
Loại vi trùng nào thường hay gây ra sưng phổi nhất?  
Tùy thuộc vào bệnh ở người già hay trẻ, có bệnh kinh niên hay không, hoặc bệnh sưng phổi xảy ra nơi người đang nằm bệnh viện vì một lý do nào khác hay bệnh sưng phổi xảy ra với bệnh nhân ở nhà. Thường nhất là do vi trùng có sẵn trong miệng và cuống họng gây ra xâm nhập xuống đường hô hấp dưới và gây sưng phổi. Các loại vi trùng này là Streptococcus pneumoniae, kế đó là Hemophilus influenzae và Staphylococcus aureus. Ở người trẻ hơn và xâm nhập do hít thở, truyền trong gia đình hay các người lân cận là loại vi trùng Mycoplasma pneumoniae gây ra sưng phổi tương đối nhẹ hơn. Những người ghiền rượu hoặc những người hay bị sặc, bị bệnh stroke nuốt khó khăn, hoặc những người bị bệnh răng miệng nhiều, dễ bị sưng phổi do các loại vi trùng anaerobic hay làm mủ trong phổi. Nguy hiểm nhất là những người bị các bệnh khác phải vào nhà thương bị sưng phổi do các vi trùng kháng đủ mọi loại thứ thuốc có sẵn trong nhà thương xâm nhập và làm sưng phổi nặng. Các loại vi trùng này gọi là loại Gram-negative như vi trùng Pseudononas, klebsiella v.v. . . rất khó chữa.
Triệu chứng của bệnh sưng phổi thường dễ nhận biết với bắt đầu bằng ho, càng ngày càng nhiều và khạc đàm vàng, xanh như có mủ, đôi khi có thể có máu. Có thể sốt nhẹ hoặc sốt nặng lên 101 độ, 102 độ F. Hít thở mạnh có thể làm đau nhối lồng ngực do viêm màng bọc phổi. Nếu bị sưng phổi nặng, người bệnh đôi khi bị mê sảng vì lượng dưỡng khí trong máu xuống quá thấp. Định bệnh sưng phổi tương đối dễ dàng với các triệu chứng kể trên và khi nghe phổi có những tiếng kêu rít rít (rales) khi bệnh nhân thở mạnh hoặc sau khi ho. Tuy nhiên, để định bệnh chính xác cần phải chụp hình quang tuyến X. Sưng phổi sẽ làm trắng một phần của lá phổi, thường là phần dưới, đôi khi có thể thấy nước trong màng phổi. Cần thiết để định bệnh loại vi trùng gì thường phải khám đàm, nhuộm và xem dưới kính hiển vi gọi là Gram staining và sau đó cấy vi trùng và xem vi trùng chịu những loại trụ sinh nào và kháng trụ sinh nào để lựa chọn thuốc chữa cho thích họp.
Đối với những trường họp sưng phổi nặng và đối với người già hoặc bị những bệnh kinh niên khác, khi bị sưng phổi thường phải cho nhập viện và làm những thử nghiệm như đã kể trên để định bệnh và tìm loại vi trùng cho chính xác. Chữa bệnh phải dùng trụ sinh thích hợp truyền vào mạch máu, truyền nước biển vào, cho thở thêm dưỡng khí hoặc đôi khi quá nặng phải cho thở bằng máy trong vài ngày đầu.
Phần lớn những trường hợp sưng phổi nhẹ ở những người trẻ, không có bệnh kinh niên hay bị biến chứng đều có thể chữa ở phòng mạch không cần phải nhập viện nếu hình chụp quang tuyến cũng cho thấy không bị nhiều lắm. Tùy thuộc vào nghi bệnh sưng phổi do loại vi trùng nào, loại trụ sinh thích hợp sẽ được dùng. Thường dùng nhất là các trụ sinh như Erythromycin 500mg ngày 4 lần, chữa được các vi trùng thường như Streptococcus và Mycoplasma, loại vi trùng Hemophilus hiện nay kháng thuốc nhiều, phải dùng các loại mạnh như Ceclor, Augmentin, Cipro, Floxin v.v. . .
Vấn đề ngừa sưng phổi quan trọng nhất là giữ cho cơ thể mạnh khoẻ để hệ thống miễn nhiễm chống cự lại vi trùng đủ khả năng tiêu diệt vi trùng. Nên chích ngừa cúm nếu hay bị cúm mỗi năm vì bệnh sưng phổi thường dễ dàng đi theo sau bệnh cúm. Nếu bị những bệnh kinh niên như tiểu đường, bệnh tim, suyễn, phải chữa trị cẩn thận và uống thuốc đều đặn để tránh bệnh trở nặng. Sưng phổi dễ xảy ra hơn khi các bệnh trên không được kiểm soát chặt chẽ. Uống rượu quá nhiều hay hút thuốc lá là điều phải tránh để ngừa sưng phổi vì lý do làm suy giảm sự chóng cự lại vi trùng như đã nêu ở phần đầu.
Vấn đề quan trọng thứ nhì là một khi đã có những triệu chứng có thể do sưng phổi gây ra như nóng sốt, ho nhiều hơn, đàm đang trong trở thành đổi màu vàng, xanh.. v.v... phải đi khám và chữa trị ngay. Thường nếu chữa sớm và đúng cách, ít khi nào bệnh sưng phổi trở thành quá nặng phải nhập viện và sinh nhiều biến chứng khác.
Về vấn đề chích ngừa bệnh sưng phổi, hiện nay chỉ có một loại thuốc chích ngừa chóng lại vi trùng Pneumococcus (còn gọi là Streptococcus pneumoniae) là loại thông thường nhất. Thuốc chích ngừa này chỉ cần chích một lần trong đời, thường dùng cho các người già yếu hay bị các bệnh kinh niên như đã nói ở trên. Tương đối có hiệu quả tuy nhiên chỉ ngừa được một loại vi trùng pneumococcus và nếu bị nhiễm thứ vi trùng khác vẫn có thể bị sưng phổi do loại vi trùng đó.
Tóm lại, bệnh sưng phổi thường xảy ra ở người già yếu, tuy nhiên người trẻ, bình thường, vẫn có thể mắc phải. Bệnh nếu chữa trị sớm và đúng cách thường không nguy hiểm và với trụ sinh công hiệu sẽ khỏi sau một, hai tuần lễ. Tuy nhiên với những trường hợp nặng cần phải nhập viện và chữa trị cẩn thận để tránh những biến chứng do vi trùng xâm nhập vào máu, trong óc, gây ra hay làm kích xúc hôn mê .. v.v. . . có thể nguy hiểm đến mạng sống.
 
 
&&&
 
 
 
BỆNH SUYỂN
Cách đây ít lâu, đài BBC Luân Đôn trong mục tạp chí khoa học phát thanh về Việt Nam đã phỏng vấn Bác sĩ Nguyễn Đình Phùng tại Houston, Texas về cách trị và phòng ngừa bệnh suyễn. Cuộc phỏng vấn được thực hiện bằng điện thoại từ Luân Đôn và đã được phát thanh về Việt Nam mấy tháng trước. Sau đây là bài ghi lại cuộc phỏng vấn Bác sĩ Nguyễn Đình Phùng trả lời các câu hỏi về bệnh suyễn của một số thính giả ở Việt Nam do đài BBC thực hiện
BBC: Tạp chí Khoa học xin kính chào quý vị
Thưa quí vị, kỳ này chúng tôi xin dành thời giờ để trả lời thư của nhiều thính giả hỏi về một chứng bệnh thông thường tại Việt Nam là bệnh suyễn, đồng thời trả lời các câu hỏi của ông Hồng Lĩnh ở Quảng Nam Chúng tôi đã liên lạc với bác sĩ Nguyễn Đình Phùng ở Houston, Hoa Kỳ để xin giải đáp các câu hỏi trên. Bác sĩ Nguyễn Đình Phùng chuyên trị về nội khoa và dị ứng. Khi được hỏi bệnh suyễn có phải là một bệnh truyền nhiễm không và có vi trùng không, Bác sĩ Phùng trả lời bệnh suyễn không phải là bệnh truyền nhiễm và không có vi trùng. Bệnh gây ra do sự kích thích, thí dụ như thay đổi thời tiết, thay đổi đẩm của không khí ..v…v.. làm cho khí quản co thắt lại và gây khó thở. Người bệnh suyễn hít không khí vào phổi dễ dàng nhưng thở ra khó khăn. Chúng tôi đặt câu hỏi tiếp như sau :
Thưa Bác sĩ, các thính giả của chúng tôi hỏi khi thời tiết thay đổi hay ăn thức ăn có mùi tanh thì cơn hen suyễn lại xuất hiện. Thưa có phải như vậy không?
BS Phùng: Bệnh suyễn có nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân là sự thay đổi thời tiết, thực sự liên quan nhiều đến sự thay đổi độ ẩm của không khí, điều khác nữa là sự ô nhiễm của không khí. Các mùi vị, hơi xăng, chất hoá học, ngay cả đến nước hoa cũng có thể gây ra sự kích thích trong ống khí quản và làm co thắt, khí quản bị kích thích sẽ tiết ra chất nhờn nhiều làm nghẹt và gây triệu chứng suyễn.
BBC: Người bị bệnh suyễn khi làm việc nặng hoặc như khi dạy học quá sức có ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào? Vấn đề chữa trị như thế nào?
BS Phùng: Người bị bệnh suyễn khi họat động nhiều quá như chạy, khuân vác nặng.. v.v... có thể gây ra phản ứng co thắt khí quản trong phổi và gây ra triệu chứng của suyễn. Nhiều người dạy học phải nói quá nhiều, một số người đôi khi chỉ cười lớn cũng có thể gây ra cơn ho, làm co thắt khí quản va gây ra suyễn. Điều này có thể xảy ra.
Về việc chữa trị suyễn, thuốc chính để làm dãn nở khí quản là Theophylline. Theophylline là thuốc khá thông dụng bán trên thị trường dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau như Theodur, Slobid.. v.v. . . Theophylline làm dãn nở ống khí quản và làm cơn suyễn hạ bớt tuy nhiên có thể gây ra một vài phản ứng như về tiêu hoá, buồn nôn, làm tim đập nhanh, hồi hộp… v.v. . . Một thuốc chính khác nữa để làm dãn nở khí quản và trị suyễn là loại thuốc làm tăng tính chất hệ thống giao cảm trong cơ thể, tên khoa học gọi là các loại thuốc beta-agonists, để trợ hệ thống thần kinh giao cảm và làm dãn nở khí quản. Một thứ thuốc thường dùng ở Hoa Kỳ bán không cần toa là Primatene tuy nhiên không được tốt lắm. Thuốc tốt hơn là các thứ thuốc Alupent, Proventil, Ventolin thuộc loại beta-agonists như nói trên, có thể dùng dưới hình thức thuốc xịt làm dãn nở khí quản dùng trong trường hợp cấp thời. Hít những thuốc này vào buồng phổi sẽ làm dãn nở khí quản được ngay và làm hạ cơn suyễn. Các thứ thuốc trên cũng có dưới hình thức viên để uống để tác dụng được lâu và điều trị được lâu hơn.
Hai thứ thuốc chính để trị suyễn như vậy gồm có Theophylline và thuốc beta-agonists.
Các thứ thuốc khác để trị suyễn về loại thuốc xịt còn có thuốc Cromolyn, Beclamethasone và Atrovent Thuốc uống để trị bệnh suyễn nặng gồm có thuốc Prednisone, tên khoa học gọi chung là các loại thuốc steroid. Ở Việt Nam được biết nhiều dưới tên là Cortisone. Thuốc này chỉ dùng để trị suyễn khi nặng. Đặc tính của thuốc là để trị đặc tính viêm trong khí quản làm khí quản đỡ bị viêm không tiết ra chất nhờn và làm nghẹt khí quản lại. Dùng thuốc này quá lâu có thể gây ra nhiều biến chứng có hại cho cơ thể. Tuy nhiên nếu dùng trong một thời gian ngắn, hậu quả tai hại cũng không có nhiều lắm và thuốc này có thể làm giảm cơn suyễn nặng đi nhiều. Thuờng dùng khi người bệnh đã dùng hai loại Theophylline và beta-agonists không có hiệu quả nhiều lắm, không cầm được cơn suyễn, khi đó sẽ phải dùng đến thuốc Prednisone để trị về suyễn nặng.
BBC: Thưa bác sĩ, về cách phòng ngừa bệnh ra sao, nhất là đối với những người đang sống ở Việt Nam.
BS Phùng: Cách phòng ngừa về suyễn thứ nhất là tránh những kích thích gây ra suyễn. Đối với những người bị suyễn do dị ứng gây ra, điều quan trọng nhất là bụi bặm. Bụi bặm trong không khí có thể gây ra suyễn do dị ứng của cơ thể với một loại mọt sống trong bụi bặm, mắt thường không thấy được. Tên khoa học của loại mọt này là Dermatophagoides. Mọt Dermato- phagoides chỗ nào cũng có, ở khắp mọi nơi trên thế giới, sống trong bụi bặm, thường nhiều nhất ở giường, nệm thảm… v.v... Loại mọt này gây ra dị ứng và có thể là một nguyên nhân chính gây ra suyễn. Vì thế cách phòng ngừa quan trọng là sự tránh bụi bặm, đỡ hít thở không khi có bụi bặm chừng nào tốt chừng đó. Giường ngủ có thể dùng plastic bọc lại, lau chùi cẩn thận, tránh những đồ bắt bụi như báo chí cũ, đồ chơi v.v...
Điều thứ hai quan trọng về phòng ngừa là kiểm soát môi trường sinh sống. Tránh những thứ có thể gây kích thích như mùi xăng, chất hoá học … v.v. . . Quan trọng nhất là thuốc lá. Phải tuyệt đối tránh khói thuốc lá. Người bị bệnh suyễn không được hút thuốc và ngay cả những người sống trong nhà cũng không được hút thuốc vì thở hít khói thuốc sẽ làm cơn suyễn lên nặng hơn nhiều và khó chữa trị rất nhiều. Một điều khác nữa là không đuợc nuôi thú vật trong nhà vì lông chó, lòng mèo đều có thể gây ra dị ứng và gây ra suyễn. Tóm lại, về phòng ngừa vấn đề kiểm soát môi trường sinh sống là điều quan trọng nhất.
 
 
 
&&&&
 
 
UNG THƯ PHỔI 
 
HỎI: 
Tôi có người anh mới mất vì ung thư phỗi. Xin bác sĩ cho biết tại sao bị ung thư phổi và có cách gì chữa trị hay không? Bệnh này có di truyền hay không và làm sao để ngừa?
Vũ H. p.
 
ĐÁP: 
Có lẽ không có loại bệnh ung thư nào có nguyên nhân và liên quan rõ rệt với việc hút thuốc lá nhiều hơn bệnh ung thư phổi. Mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 100 ngàn người đàn ông và 50 ngàn người đàn bà bị ung thư phổi, phần lớn sau khi định bệnh chỉ sống được trong vòng một năm rồi chết mặc dù có trị liệu. Hầu hết là do hút thuốc lá (90%). Hiện nay phong trào cai thuốc lá ở Mỹ tương đối khá hơn trước nên số người chết vì ung thư phổi không tăng lên nhanh như trước nữa mặc dù vẫn là loại ung thư gây tử vong nhiều nhất. Số người Việt Nam hút thuốc lá nhiều không thua gì người Mỹ, có lẽ có phần hơn, tuy gần như chỉ ở đàn ông, trái với Hoa Kỳ, đàn bà hiện nay càng ngày càng hút thuốc không thua gì đàn ông. Một người hút hai gói một ngày trong 20 năm sẽ dễ bị ung thư phổi 60 đến 70 lần nhiều hơn một người không hút. Nếu ngưng hút thuốc, xác xuất này sẽ giảm đi khá nhiều.
Lý do thuốc lá gây ra ung thư phổi vì khói thuốc gây ra biến đổi trên nhiễm thể của các tế bào phổi. Nhiễm thể là phần trong nhân tế bào chứa chất DNA kiểm soát sự sinh trưởng của tế bào. Trong trường hợp ung thư phổi, các vùng nhiễm thể 3p và 17p bị thương tổn dễ gây ra ung thư; ngoài ra một số các genes gây ra ung thư gọi là oncogenes bị kích thích làm tế bào tăng trưởng vô trật tự và biến thành ung thư. Đặc tính di truyền về ung thư có thể cũng có một phần mặc dù không rõ ràng lắm. Tuy nhiên nếu trong gia đình có người bị ung thư phổi, xác xuất để anh em có thể cũng bị tăng lên gấp hai, ba lần.
Ung thư phổi thường xảy ra ở người lớn tuổi 55 tới 65 tuổi, tuy nhiên nếu hút thuốc lá nhiều từ lúc còn nhỏ tuổi có thể bị ung thư sớm hơn cỡ tuổi trên. Càng hút lâu càng dễ bị. Nếu theo dõi 1000 người trên 45 tuổi, hút hai bao một ngày, mặc dù hoàn toàn khoẻ mạnh không có triệu chứng gì, nếu chụp hình và thử đàm tìm ung thư sẽ kiếm được từ 4 đến 8 người bắt đầu bị ung thư phổi. Mỗi năm nếu 1000 người theo dõi này tiếp tục hút thuốc, sẽ có thêm 4 người nữa bị ung thư phổi và cứ thế tiếp tục.
Triệu chứng của bệnh ung thư phổi thường tùy vị trí của ung thư nằm ở chỗ nào trong phổi. Một số bệnh nhân khoảng 5 đến 15% không có triệu chứng gì khám
phá ra bị ung thư phổi khi đi khám tổng quát hoặc bị một bệnh gì khác và đi chụp hình phổi. Phần lớn những người khác có những triệu chứng như: ho kéo dài quá lâu, ho ra máu, khó thở, hoặc triệu chứng nhiễm trùng vì ung thư phổi làm nghẹt khí quản và gây nhiễm trùng: nóng sốt, khạc đàm. Nếu ung thư phổi ăn ra màng phổi hay lồng ngực có thể làm đau ngực, hít vào thấy đau. Nếu ung thư lớn quá đè vào ống thực quản sẽ làm nuốt khó khăn, hoặc ăn vào dây thần kinh ở thanh quản sẽ làm nói khó khăn, giọng khàn thay đổi. Trường hợp ung thư phổi nằm trên chóp đỉnh của phổi, có thể ăn ra xương sườn và đi vào dây thần kinh ở vai, cổ, gây ra đau vai chạy xuống cánh tay. Một số trường hợp ung thư đè lên tình mạch lớn chạy về tim sẽ làm cho phù mặt, phù ngực, nhiều trường hợp ăn vào màng tim làm bọc tim chướng nước đè vào tim không co bóp được.
Ung thư phổi khi định bệnh được phần lớn đã chạy tứ tung khắp cơ thể, chỗ nào cũng có, chạy lên óc làm bướu óc, vào gan, vào tuỷ xương hay xương sống lưng làm liệt ..v..v ..Hầu hết các trường hợp này bệnh nhân ăn uống không được, sụt ký nhiều, đôi khi hay bị sốt và dễ bị nhiễm trùng.
Định bệnh ung thư phổi chính là do chụp quang tuyến, tuy nhiên để định bệnh rõ ràng và phân loại cần phải dùng một ống soi luồn xuống khí quản vào trong phổi để xem và cắt một miếng nhỏ để định bệnh dưới kính hiển vi. Phương pháp soi này gọi là F iberoptic bronchoscopy và nhờ cách này mới có thể phân loại ung thư phổi để trị liệu cho đúng cách được.
Bằng cách xem dưới kính hiển vi, ung thư phổi được chia làm nhiều loại: loại những tế bào ung thư có vảy (squamous cell), loại tế bào ung thư hình tuyến (adenocarcinoma), loại tế bào ung thư lớn (large cell) và loại tế bào ung thư nhỏ (small cell). Trong bốn loại này, loại có tế bào ung thư nhỏ là độc nhất, khi định bệnh hầu hết đã chạy khắp cơ thể và bệnh nhân chỉ sống thêm được vài tháng.
Cách chữa trị tùy thuộc vào phần loại như kể trên và tùy thuộc vào ung thư lớn nhỏ ra sao, có chạy ra các hạch chưa hay có chạy đi khắp cơ thể chưa. Trường hợp ung thư nhỏ, còn ở một chổ chưa chạy đi đâu và không phải là loại có tế bào ung thư nhỏ, giải phẫu để cắt một phần lá phổi hay nguyên một lá phổi có thể thực hiện được. Nếu cắt hết được, chừng 30% bệnh nhân có thể sống trên 4 năm sau khi giải phẫu. Các trường hợp ung thư quá lớn hay đã chạy đi lung tung, phải dùng cách chữa chạy điện gọi là radiotherapy. Cách chữa này làm giảm đau đớn hay làm giảm các biến chứng nhưng cũng không kéo dài được bao lâu, thường chỉ được trong vòng một năm. Tuy nhiên một số ít khoảng 6% có thể sống được tới 5 năm bằng cách chữa trị này.
Trường hợp ung thư phổi loại tế bào ung thư nhỏ (small cell), cách trị chính là dùng hóa học trị liệu (chemotherapy) với các thứ thuốc như cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine, cisplatin ..v.v. . . Cách trị này có thể kéo dài đời sống được khoảng 1 đến 2 năm.
Như vậy hiện nay cách trị liệu ung thư phổi tuy đã có nhiều tiến triển và kéo dài đời sống bệnh nhân hơn vẫn chưa được thỏa đáng. Vấn đè phòng ngừa ung thư phổi vẫn là chính yếu. Thuốc lá là thủ phạm chính yếu nên cách phòng ngừa ung thư phổi quan trọng nhất là nếu chưa hút thuốc lá không bao giờ nên tập và nếu đã hút thuốc phải bỏ ngay. Một điều những người hút thuốc không biết là khói thuốc lá khi phần chất chứa 4000 chất hóa học khác nhau và trong đó có ít nhất 14 chất biết được là gây ra ung thư. Các chất chính là các loại aromatic hydrocarbons, aromatic amines và nitrosamines đều gây ra ung thư. Chất hoá học gây ra các phản ứng về tim và làm ghiền là nicotine. Khó bỏ thuốc lá phần lớn vì do phản ứng ghiền khi thiếu chất nicotine. Gần đây một loại thuốc khá công hiệu giúp cho bớt ghiền và dễ bỏ thuốc lá hơn là thuốc Nicoderm hoặc Habitrol. Thuốc này gồm một miếng dán trên da chứa chất nicotine để hấp thụ qua da vào máu giúp đỡ ghiền và để người bệnh có thể cai được. Có ba loại 7mg, 14mg, và 21mg tùy người hút thuốc ghiền nặng hay nhẹ. Dùng thuốc dán này tương đối có hiệu quả và giúp nhiều người cai được thuốc lá. Tuy nhiên, sự hiểu biết về tai hại của thuốc lá và ý chí để tự cai thuốc vẫn là điều quan trọng hơn cả.
Tóm lại, ung thư phổi hiện nay mặc dù cách định bệnh và chữa trị đã có nhiều tiến bộ, vẫn là một bệnh gây tử vong rất cao. 90% trường hợp ung thư phổi do thuốc lá gây ra nên tránh hút thuốc là điều căn bản để phòng ngừa và nếu đã hút phải bỏ ngay để giảm thiểu xác xuất có thể bị ung thư phổi trong tương lai.
 
 
&&&
 
 
 
 
LAO PHỔI 
 
HỎI:
Tôi lấy bằng để đi làm nghề móng tay và được biết phải đi thử về bệnh lao phổi Thử nghiệm da về lao trên tay của tôi nổi đỏ nhưng chụp hình phổi thì tốt. Xin bác sĩ giải thích cho như vậy có phải là bị lao phổi hay không bị, có cần phải uống thuốc gì không? Tôi năm nay 40 tuổi và trước giờ khoẻ mạnh không bệnh tật gì.
Nguyên Thi L. V.
 
 
ĐÁP:
Lao phổi là một bệnh thường thấy ở người Việt Nam. Ở Mỹ bệnh lao phổi ít thấy nhưng hiện nay số người bị lao phổi cũng nhiều hơn trước. Việt Nam là một nước chậm tiến nên bị tình trạng chung của các nước nghèo khổ khác trên thế giới là rất nhiều người bị nhiễm trùng lao phổi. Theo một ước tính có thể nói một nửa số dân chúng của tòan cầu đều có tiếp xúc với vi trùng lao, 30 triệu người mang bệnh lao phát triển, mỗi năm sẽ có thêm khoảng 10 triệu người mắc bệnh lao mới và mỗi năm sẽ có 3 triệu người bị chết vì bệnh lao.
Bệnh lao như vậy là một tai họa cho một nước như Việt Nam của chúng ta. Trừ những trẻ em sinh trưởng ở bên Mỹ này, phần lớn người Việt tỵ nạn sang đây đều đã tiếp xúc với vi trùng lao khi còn ở Việt Nam nên khi thử nghiệm về lao như thử nghiệm da ở cánh tay như câu hỏi trong thư, đa số sẽ thấy nổi đỏ tức kết quả dương. Lý do tại sao và ý nghĩa của thử nghiệm này sẽ được nói rõ hơn ở đoạn sau. Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về vi trùng bệnh lao và cách thức gây bệnh.
Vi trùng gây ra bệnh lao phổi là vi trùng Mycobacterium tuberculosis. Vi trùng này truyền từ người này sang người kia bằng đường hô hấp, do ho, nhảy mũi, nói bắn nước miếng. Vi trùng lao thực sự ở trong đàm, nước nhờn của người bị bệnh lao truyền ra ngoài cũng không nhiều lắm, bị lây thường là do tiếp xúc với người bị lao thường xuyên như sống chung trong nhà, và cũng phải một vài tháng mới bắt đầu bị truyền nhiễm. Thường nếu đã bắt đầu chữa trị và uống thuốc đầy đủ và đúng cách, vi trùng lao sẽ không còn truyền nhiễm sau hai tuần người bệnh uống thuốc, vấn đề truyền nhiễm cũng tùy thuộc vào vấn đề chỗ ở. Vi trùng lao bị tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời giết nên nhà cừa tối tăm, chật hẹp, không được thoáng khí sẽ gây ra truyền nhiễm lao dễ dàng hơn.
Khi vào cơ thể, vi trùng lao Mycobacterium tuberculosis sẽ bị một tế bào phòng thủ gọi là đại thực bào macrophages ăn và giam trong tế bào này. Sau đó vi trùng lao được đưa đến các hạch gọi là lymph nodes và bị giữ ở đó. Một số trường hợp cơ thể quá yếu hay ở trẻ con nhỏ, vi trùng lao thoát ra khỏi các hạch này và chạy vào máu đi khắp cơ thể gây ra bệnh lao nặng và ở nhiều nơi, không phải chỉ ở phổi không.
Vi trùng lao bị giam giữ trong đại thực bào nhưng không bị tiêu diệt hẳn, trái lại, vi trùng lao vẫn có thể sinh sôi nảy nở bên trong các đại thực bào này. Cơ thể chống cự lại bằng cách huy động các tế bào chống cự gọi là tiểu bạch cầu lymphocytes. Các tiểu bạch cầu này sẽ tiết ra nhiều chất hoá học gọi là lymphokines để gọi thêm các hệ thống phòng thủ khác của cơ thể đến tăng viện kềm giữ vi trùng lao. Các tế bào trong máu gọi là monocytes sẽ kéo đến và biến đổi thành các đại thực bào rồi các tế bào đặc biệt gọi là histiocytes và bao lấy vi trùng lao thành các cục gọi là granulomas. Thực sự các vi trùng lao không bị tiêu diệt và chỉ bị giam cầm trong các cục mô này không cho chạy ra ngoài. Lâu dần nhiều năm, các cục mô granulomas này sẽ đóng chất vôi có thể nhìn thấy được trên hình quang tuyến phổi.
Như vậy ta có thể thấy được một khi vi trùng lao xâm nhập vào cơ thể, vi trùng này vẫn còn sống trong các nhà tù cơ thể đã tạo ra bằngg cách như đã nói trên để kềm giữ. Phần lớn trường hợp mặc dù bị vi trùng xâm nhập, thường không thấy có triệu chứng gì và không biết đã nhiễm vi trùng lao và cũng không có bệnh gì xảy ra. Khoảng 95% trường hợp sẽ không bị bệnh vì vi trùng lao trong giai đoạn đầu đã bị kèm giữ như trên. Khoảng 5% trường hợp, vì yếu sức, vì sức chống đỡ yếu, thiếu ăn, có thai… v.v. . . sẽ bị bệnh lao sau giai đoạn đầu. Một số bị lao sau vài tuần lễ, phần nhiều bị lao hằng nhiều năm sau khi vi trùng lao trong các cục mô granulomas thoát ra ngoài và sinh sôi nảy nở thêm.
Bệnh lao như vậy hầu hết các trường hợp là do vi trùng lao đã có sẵn trong cơ thể không bị kèm giữ nữa và bắt đầu gây ra bệnh, hình thức này gọi là reactivation. Thường nhất phát hiện bệnh ở phổi, gây ra ho, đàm, nóng sốt vào buổi chiều, sụt ký... Bị nặng sẽ làm lủng phổi, gây ra các lỗ hổng trong phổi gọi là cavity, giai đoạn này thường làm ho ra máu. Không chữa, 60% trường hợp người bệnh sẽ chết trong vòng khoảng hai năm rưỡi.
Ngoài lao phổi, vi trùng lao còn có thể gây ra lao ở màng phổi, gây ra có nước trong màng phổi, lao ở màng tim làm có nước trong màng tim, đôi khi làm tim không dãn nở được gây ra chết, hay đóng vôi ở màng tim làm suy tim. Lao cũng có thể xảy ra ở màng bụng, làm bụng trướng có nước. Một hình thức lao thường hay thấy ở Việt Nam là lao xương, vi trùng lao ăn vào xương sống thường giữa ngực, gây ra gù, đôi khi ăn vào tủy sống làm bị liệt. Ở Mỹ ít thấy lao xương, nhưng trẻ em ở Việt Nam bị bệnh này gọi là Mal De Pott khá nhiều.
Một hình thức lao cũng hay xảy ra, đặc biệt đối với người Việt tỵ nạn ở Mỹ là hình thức lao hạch. Lao hạch hay xảy ra ở vùng cổ, thường không đi kèm với lao phổi, chụp hình phổi vẫn thấy bình thường. Muốn định bệnh phải cắt hạch gọi là biopsy để phân biệt với ung thư hạch. Lao hạch thấy cũng khá thường nơi người Việt tỵ nạn. Những hình thức lao hiếm hơn là lao ruột, hay ở vùng cuối ruột non và đầu ruột già, ở Việt Nam có thấy nhưng bên Mỹ hầu như không có.
Lao tuyến thượng thận, lao da ít thấy. Lao loại hạt cám miliary tuberculosis là lao chạy theo máu đi khắp mọi nơi cũng ít xảy ra nhưng rất nguy hiểm, gây ra chết rất nhanh.
Định bệnh lao cần phải làm thử nghiệm. Các thử nghiệm chính là thử da, chụp hình phổi và thử đàm kiếm vi trùng lao và cấy vi trùng lao.
Thử nghiệm da có hai cách là Tine test và PPD. Cách thử Tine test chấm trên da không chính xác và không nên dùng. Cách chính xác là thử PPD bằng cách chích trên lớp biêu bì O. 1 cc thuốc thử gọi là purified protein derivative. Kết quả đọc sau 48 tiếng. Nếu nói đỏ và dầy lên trên 10 mm, kết quả này là dương. Đây là cách thử để biết về tình trạng miễn nhiễm của cơ thể đối với vi trùng lao. Kết quả dương có nghĩa là cơ thể đã có tiếp xúc với vi trùng lao trong quá khứ và cơ thể đã có những phản ứng chống cự với vi trùng này. Kết quả dương không cho biết là cơ thể có đang bị bệnh lao hay không, chỉ có nghĩa là đã có sự tiếp xúc với vi trùng lao.
Như vậy ta có thể thấy ngay người Việt Nam tỵ nạn sinh ra và lớn lên ở Việt Nam hầu hết người nào cũng đã tiếp xúc với vi trùng lao tuy không có bệnh, đều sẽ có kết quả thử lao trên da PPD là dương, có nổi đỏ. Thực vậy, tuy không có thống kê chính xác, người Việt thử da về lao bằng cách thử PPD 10 người sẽ có đến 8 là nổi đỏ. Trường hợp ngược lại nếu thử da PPD không nổi đỏ, kết quả âm, negative, có nghĩa là chưa tiếp xúc với vi trùng lao và không có bệnh lao. Người Việt thử da về lao PPD negative rất ít, thường ở những người trẻ sinh ở Mỹ, hoặc người trẻ sang Mỹ lúc còn
nhỏ xíu, chưa có cơ hội tiếp xúc với vi trùng lao. Một số rất ít trường hợp hiếm thấy là có lao nhưng thử da PPD negative là người quá già, bị ung thư, bị AIDS mất tính miễn nhiễm của cơ thể... Những trường hợp này hiếm nên có thể nói nếu thử kỹ, đúng mà negative có nghĩa là không có lao.
Khi thử lao trên da mà positive có nổi đỏ, thường không bao giờ nên làm lại vì tính chất này sẽ giữ cả đời, thử lại bao giờ cũng dương. Như đã nói, ở người Việt, thử nghiệm này không giúp ích nhiều vì không định được là có bị lao hay không. Muốn định bệnh phải chụp hình phổi. Có dấu vết lao trong phổi, hoặc thấy lủng lỗ cavity có thể nghi là có lao phổi và phải thử đàm bằng cách nhuộm để xem vi trùng, sau đó cấy vi trùng và xem có kháng thuốc gì hay không. Thường cấy mất cả tháng nên định bệnh phải dựa vào hình phổi và nhuộm đàm để xem vi trùng.
Cách chữa bệnh lao nếu bị lao phổi phải chữa một thời gian lâu và dùng nhiều thứ thuốc. Người Việt khi bị lao phổi hay do vi trùng có sẵn trong cơ thể nhiễm từ Việt Nam là loại vi trùng hay kháng thuốc nên thường phải dùng ba thứ: INH, Rifampin, Ethambutol trong 12 tháng đến 18 tháng. Cách chữa ngắn hơn có thể dùng thêm thuốc Pyrazinamide. Nếu cấy đàm có vi trùng và biết vi trùng không kháng thuốc có thể chỉ dùng hai thứ INH và Rifampin. Quan trọng nhất trong việc chữa lao là phải uống đều mỗi ngày, không được ngưng. Uống không đều sẽ làm vi trùng kháng thuốc và chữa trị rất khó khăn.
Những người không bị lao nhưng thử da nổi đỏ và còn trẻ, nhất là trước kia thử negative mấy tháng hay một hai năm trước và thử lại thấy positive, thường có thể uống thuốc để ngừa bằng cách uống thuốc INH trong một năm. Một số nhỏ uống thuốc này bị phản ứng làm viêm gan, nhất là nếu lớn tuổi, nên thường dưới 35 tuổi mới nên uống ngừa.
Tóm lại, bệnh lao phổi là bệnh thường hay thấy ở người Việt Nam. Định bệnh bằng cách thử da trên người Việt thường không giúp ích nhiều vì phần lớn người Việt khi thử da về lao thường nổi đỏ. Định bệnh chính xác cần phải chụp hình phổi và thử đàm để tìm vi trùng lao. Cách chữa trị khi bị lao phổi là uống nhiều thứ thuốc như đã nói trên đều đặn trong thời gian lâu dài. Thuốc ngừa có thể dùng khi còn trẻ hay thử da mới đổi từ negative sang positive. Người lớn tuổi hơn có thể cần theo dõi bằng cách chụp hình phổi hay khi nghi ngờ có triệu chứng. Bệnh lao là một bệnh truyền nhiểm và công cộng nên thử lao và chữa bệnh lao có thể đến các phòng khám bệnh miễn phí của sở y tế thành phố để được thử nghiệm và điều trị.
 
 
 
&&&
 
 
THỞ QUÁ NHANH
 
HỎI:
Tôi lâu lâu có chuyện gì tức giận hay lo buồn thấy bị khó thở như mắc nghẹn, không lấy hơi vào được. Nếu kéo dài lâu, có lúc thấy tay chân như bị tê cứng không cử động được phải thoa dầu lâu lắm mới hồi phục lại được. Xin cho biết tại sao lại hay bị chứng bệnh như vậy. Có cách gì chữa trị không?
Hoàng Thị A. H.
 
 
ĐÁP:
Bệnh của bà là do thở quá nhanh gây ra (hyperventilation). Thường do những tình trạng tâm lý căng thẳng như lo âu, sợ hãi, buồn phiền quá độ tác dụng lên trung tâm hô hấp làm thở quá nhanh, quá nhiều. Khi thở quá nhanh như vậy, lượng thán khí C02 trong máu sẽ giảm xuống. Mức độ acid gọi là pH trong máu cũng bị giảm xuống đưa đến tình trạng mất thăng bằng giữa chất acid và chất kiềm của máu. Khi máu có nhiều đặc tính kiềm (alkalosis) quá, các bắp thịt dễ bị thần kinh kích thích gây ra co rút, cứng tay cứng chân. Trường hợp này cũng giống như khi trong máu bị thiếu chất vôi calcium cũng làm co rút như tương tự.
Nếu kéo dài quá lâu, máu càng ngày càng có nhiều kiềm tính sẽ làm cho chóng mặt, muốn xỉu. Mê sảng có thể xảy ra được tuy hiếm thấy. Thông thường sau một thời gian khi đỡ những kích thích như lo âu hay tức giận quá đáng và mức thở trở lại bình thường, các triệu chứng trên sẽ dần dần chấm dứt
Nguyên nhân căn bản như vậy thường là do tâm lý. Điều đặc biệt là những người bị bệnh này thường ít khi ý thức được là mình đang thở quá nhanh. Nếu hay bị chứng thở nhanh như kể trên và để ý được những triệu chứng, cố gắng tự kiềm chế thở chậm lại sẽ ngăn được chứng co cứng tay chân. Nếu không tự kiềm được, có thể dùng một túi giấy hay túi plastic chụp kín vào mũi và mồm và thở trong túi chừng vài phút. Khi hít vào thở ra trong một túi kín, lượng thán khí C02 sẽ tăng lên làm giảm đặc tính kiềm của máu và trở lại bình thường.
Nếu bị thường quá và tình trạng tâm lý bị xáo trộn quá nhiều, có thể phải chữa về tâm thần mới hết hẳn chứng thở nhanh trở đi trở lại được.
 
 
&&&
 
 
KHÓ THỞ
 
Hô hấp là công việc tự nhiên của cơ thể do đó trong việc thở hít bình thường, chúng ta không có ý thức, hay nói cách khác không để ý đến. Khi làm việc nặng, dùng sức, chúng ta có thể thấy thở nhanh và nhiều hơn, tuy nhiên người khoẻ mạnh bình thường sẽ không thấy khó chịu. Khó thở xảy ra khi nào làm việc gì quá nặng, quá sức hoặc bị bệnh dù không làm việc gì hay làm việc nhẹ cũng luôn cảm thấy ý thức sự khó khăn trong việc thở hít
Như vậy khó thở là một triệu chứng chủ quan và thay đổi tùy từng người. Nhiều người bị bệnh nặng nhưng không than phiền về khó thở mấy. Trái lại, nhiều người bệnh ít không đáng kể nhưng cảm thấy khó thở làm khó chịu rất nhiều. Thường triệu chứng khó thở hay được mô tả như không đủ không khí, hít vào không đủ, cảm thấy nghẹt, ngực nặng thở không vô, mệt ngực …v..v..Cách diễn tả rất nhiều và trình độ cũng khác nhau.
Khó thở có thể xảy ra thường trực, lúc nào cũng có cảm giác khó thở hoặc khó thở xảy ra đột ngột. Ngoại trừ vì tâm lý, khó thở xảy ra bất thường, đột ngột hay do những bệnh nặng, nguy hiểm gây ra, đôi khi phải cấp cứu. Khó thở ở nhiều người có thể hay xảy ra về ban đêm, đang ngủ làm thức giấc và cảm thấy khó thở. Đây là một trong những triệu chứng của bệnh tim. Ngoài ra nhiều người bị khó thở khi nằm, phải ngồi dậy để thở. Hiếm hơn là trường hợp một số ít người chỉ bị khó thở khi nằm nghiêng bên phải hay bên trái, cũng hay do bệnh về tim gây ra.
 
Tại sao bị khó thở?
Khó thở xảy ra khi các bắp thịt hô hấp phải làm việc nhiều hơn thường lệ để có được mức hô hấp cần thiết cho cơ thể. Ý thức được sự khó thở xảy ra khi não bộ nhận biết những tín hiệu về sự kích thích quá đáng hay bất thường của trung tâm điều khiển sự hô hấp nằm trong khu vực hành tủy. Các sự kích thích gây ra triệu chứng khó thở thường bắt nguồn từ những vùng cảm nhận gọi là receptors ở trong phổi qua giây thần kinh số 10, hoặc các giây thần kinh cảm giác từ các bắp thịt sườn, hoành cách mô là những bắp thịt hô hấp.
 
 
Những bệnh nào gây ra khó thở?
Khó thở là triệu chứng của các bệnh về phổi, các bệnh về tim và sau cùng là bệnh về tâm lý. Như vậy có thể rất nhiều thứ bệnh khác nhau của các cơ quan trên gây ra khó thở. Việc tìm hiểu đích xác do bệnh nào phải cần khám nghiệm và thử nghiệm để định bệnh.
 
1- Khó thở do các bệnh phổi gầy ra.
Bệnh phổi thường nhất gây ra khó thở là suyễn. Suyễn làm khó thở lúc thở ra vì đường khí quản bị co thắt, nghe phổi sẽ có tiếng khò khè ở giai đoạn thở ra.
Sưng cuống phổi kinh niên cũng gây ra khó thở, bệnh nở cuống phổi gọi là bronchiectasis gây ra khó thở và khạc đàm nhiều. Những người hút thuốc lá quá nhiều bị chứng trương phình phổi gọi là emphysema cũng bị khó thở vì suy nhược hô hấp.
Khó thở cũng có thể do bị nghẹt đường hô hấp phía trên. Quan trọng và nguy hiểm là những trường hợp bị sặc, đồ ăn chạy vào khí quản làm nghẽn, gây ra không thở được, phải cấp cứu. Hoặc có những trường hợp bị sưng và phù lưỡi gà do dị ứng gây ra, làm nghẹt đường thở, cũng phải cấp cứu.
Ngoài ra các bệnh phổi do nhiễm trùng như sưng phổi, lao …v..v.. hoặc ung thư phổi cũng gây ra khó thở. Những bệnh nặng và nguy hiểm khác còn có những trường hợp cục máu chạy lên mạch máu phổi làm nghẹt động mạch phổi, gây khó thở và nhiều biến chứng tai hại khác.
 
2.- Khó thở do bệnh tim gây ra.
Các bệnh tim gây ra khó thở vì lý do suy tim sẽ làm cho ấp suất trong các vi quản của mạch máu phổi tăng lên và làm nước dồn từ máu vào chỗ giữa các mô tế bào phổi làm phù. Những bệnh về van tim như nghẹt van tim, hở van tim, bệnh tim bẩm sinh, bệnh nghẹt động mạch tim. . . đều có thể gây ra suy tim và gây triệu chứng khó thở.
Khó thở do bệnh tim thường xảy đến từ từ. Đi bộ nhiều bắt đầu cảm thấy khó thở, leo cầu thang một hai lầu là khó thở. Tình trạng nặng hơn, không làm gì cũng cảm thấy khó thở, nhiều khi phải ngồi mới thở được, hoặc khi đi ngủ phải nằm hai ba gối mới dễ thở và ngủ được. Triệu chứng nặng hơn nữa là khi đang ngủ bị khó thở rất nặng phải ngồi dậy thở, thường có khi bị phù phổi, có nước làm thở không được và nguy hiểm đến tính mạng.
Phân biệt khó thở do bệnh phổi hay bệnh tim thường dễ dàng với các triệu chứng khác đi kèm, tuy nhiên đôi khi ở giai đoạn đầu, có thể khó phân biệt. Những trường hợp này phải làm thử nghiệm như đo hô hấp phổi gọi là pulmonary function study hay làm những thử nghiệm về tim như đo siêu âm tim, dùng chất phóng xạ chụp hình và đo mức làm việc của tim gọi là radionuclide ventriculography để phân biệt bệnh tim hay phổi và định bệnh chính xác là bệnh gì.
 
3,- Khó thở do tầm lý.
Khó thở do tâm lý rất thường thấy. Thường do lo âu quá đáng (anxiety neurosis) hay buồn phiền quá độ. Chứng thở nhanh do tâm lý bị xúc động gọi là hyperventilation hay gây ra cảm giác khó thở nặng, làm sợ hãi hơn nữa và càng thở nhanh hơn. Thường khó thở do thở nhanh này hay làm tê tay tê chân. Lý do là thở nhanh quá, trong máu bị thiếu chất thán khí C02 và gây tính kiềm trong máu làm tê tay, chân hay cứng tay cứng chân.
Khó thở do tâm lý thường làm phải hít những hơi thật dài, tuy nhiên ngoài ra không có triệu chứng gì khác và khám nghiệm hay làm thử nghiệm định bệnh cũng không thấy có bệnh gì. Khó thở do tâm lý thấy nhiều ở người đàn bà hơn đàn ông và có thể đi kèm với những dấu hiệu của rối loạn tâm lý khác.
 
 
Khi bị khó thở phải làm gì?
Những trường hợp nặng bị khó thở đột ngột, cấp tính, thường là những bệnh nguy hiểm cần phải đưa vào nhà thường cấp cứu ngay. Thí dụ như bị phù nước trong phổi, suyễn nặng cấp tính, bị nghẹt đường khí quản do vật lạ rơi vào hoặc sưng phù lưỡi gà gọi là glottis edema chặn đường thở v.v. . .
Khó thở từ từ, càng ngày càng bị nhiều, có thể do bệnh tim, bệnh phổi cần phải đi khám nghiệm và làm thử nghiệm để định bệnh và chữa trị tùy theo đó. Chỉ khi nào khám kỹ lưỡng không thấy các bệnh như đã nếu ở phần trên mới có thể cho là khó thở do tâm lý.
Tóm lại, khó thở là một triệu chứng quan trọng báo hiệu một bệnh thường là về bệnh tim hay bệnh phổi cần phải được lưu ý. Sự chữa trị tùy thuộc vào tìm nguyên nhân đích xác để trị liệu cho đúng mức và hiệu quả.
 
 
&&
 
 
 
 
 
 
HỒI HỘP
 
HỎI:
Tôi năm nay 32 tuổi, thường hay bị chứng hồi hộp. Mỗi khi có chuyện gì xúc động hay bị yếu mệt, thấy tim đập rất nhanh và không đều, đôi khi kéo dài cả tiếng. Có lúc như muốn xỉu. Xin cho biết tại sao bị chứng này? Có cách gì chữa trị không?
Trần T. X.
 
 
ĐÁP:
Hồi hộp thường là triệu chứng của những bệnh về nhịp tim. Tim đập trung bình khoảng 70-80 nhịp một phút. Nhiều người tim đập chậm, nhất là các lực sĩ tim đập trong khoảng 60 nhịp một phút. Nhiều người tim đập nhanh nhưng bình thường cũng không thể quá 120 nhịp. Trên 120 hay dưới 60 là có bệnh. Tim là máy bơm máu điều hòa cho cơ thể nên cũng phải đập nhịp đều đặn. Bình thường ta không ý thức chuyện tim đập bóp nhưng khi tim đập không đều hoặc quá nhanh, sự ý thức về họat động bất thường này của nhịp tim gây ra cảm giác hồi hộp.
Nhịp tim trong cơ thể được điều chỉnh bằng hai hệ thống thần kinh giao cảm và đổi giao cảm. Khi tức giận, sợ hãi, xúc động nhiều, hệ giao cảm làm tiết ra chất adrenaline (còn gọi là epinephrine) tác dụng trực tiếp lên tim làm đập nhanh, vì thế những người cảm xúc nhiều, lượng adrenaline trong máu cao làm tim bị kích thích đập nhanh, gây ra cảm giác hồi hộp. Một số các chất hoá học như caffeine trong cà phê hoặc một số thuốc như Theophylline (thuốc trị suyễn) cũng làm tim đập nhanh. Rượu, một số đồ ăn có chất tyramine, bột ngọt (monosodium glutamate) trong các tiệm ăn Tàu.. v..v…cũng có tác dụng làm tim đập nhanh gây hồi hộp trên một số người.
Cảm giác hồi hộp cũng xảy ra khi tim đập không đều. Sự đều đặn của nhịp tim bình thường sở dĩ có được là do chu kỳ phân cực (depolarization) của cơ cấu điều khiển nằm ở một vùng trên tâm nhĩ phải gọi là sino-atrial node, vùng này gồm những tế bào cơ tim đặc biệt phát ra những luồng điện phân cực.
Luồng điện này phân cực tâm nhĩ làm tâm nhĩ co bóp, sau đó chạy xuống phân cực một cơ cấu điều khiển khác nằm giữa tâm nhĩ và tâm thất gọi là atrioventricular node, cơ cấu này làm co bóp hai tâm thất khi luồng điện phân cực chạy tỏa ra theo các nhánh gọi là His bundle và làm các bắp thịt ở tâm thất co bóp đẫy máu đi khắp cơ thể.
Khi luồng điện phân cực ở tim không theo đúng chu kỳ và thể thức như nói trên, tim sẽ đập sai nhịp. Thông thường nhất là khi cơ cấu điều khiển từ tâm nhĩ phát luồng điện phân cực quá sớm làm tâm nhĩ co bóp sớm hơn thường lệ. Chứng này gọi là Premature atrial contractions làm tim co thắt sớm hơn một nhịp, nghỉ một chút rồi lại trở lại nhịp đều đặn cũ. Người bệnh thấy tim đập hụt một nhịp và cảm thấy hồi hộp nếu các co thắt tâm nhĩ quá sớm này trở đi trở lại.
Một đôi khi luồng điện phân cực không bắt đầu từ cơ cấu điều khiển căn bản từ tâm nhĩ. Một tế bào cơ tim khác ở tâm nhĩ hoặc ở tâm thất có thể vì lý do này hay lý do khác phát ra luồng điện phân cực sớm hơn cạnh tranh với luồng điện từ cơ cấu căn bản. Nếu từ một vùng khác của tâm thất, sự co bóp quá sớm này gọi là Premature ventricular contractions cũng gây ra cảm giác hồi hộp như trường hợp trên.
Loại này nguy hiểm hơn, hay xảy ra khi bị nghẹt động mạch tim, nếu xảy ra nhiều quá và hệ thống căn bản không nắm lại được chu kỳ tim, các co bóp quá sớm từ tâm thất quá nhiều và quá nhanh sẽ làm tim rung lên liên hồi gọi là ventricular fibrillation, không co bóp đầy máu đi hiệu quả được nữa gây ra chết. Nhiều trường hợp bất đắc kỳ tử xảy ra là do bệnh sai nhịp nguy hiểm này, thí dụ như báo chí có đăng một số lực S1 đang chơi football hay basketball tự dưng ngã lăn xỉu rồi chết ngay có thể là vì những bệnh lý về nhịp tim nói trên.
Hầu hết chứng hồi hộp vì tim sai nhịp của người bình thường không bệnh hoạn kinh niên gì là do tâm nhĩ co bóp quá sớm. Ai cũng có thể lâu lâu có một vài nhịp quá sớm này, khi bị xúc động hay do rượu, cà phê, trà, thuốc lá v.v. . . Nếu chỉ bị thoáng qua và lâu lâu mới bị, chỉ cần tránh những kích thích trên là đủ. Tuy nhiên một số người vì lý do bẩm sinh, ngoài cơ cấu dẫn luồng điện phân cực bình thường như đã nói ở trên còn có một đường dẫn điện phân cực phụ khác chạy bên ngoài gọi là bypass tract. Những người này dễ bị trường hợp luồng điện phân cực chạy vòng vòng từ đường chính sang đường phụ và ngược lại, kết quả tim co bóp liên hồi, có thể đến hàng 200 nhịp một phút. Khi tim đập quá nhanh như vậy, lượng máu tuần hoàn chưa vào tim đủ đã bóp ra ngay, kết quả sự lưu thông máu bị ngưng trệ, số lượng máu bom lên óc không đủ và gây ra xỉu.
Trường hợp của bà bị hồi hộp thường xuyên và có những lúc tim đập quá nhanh và muốn xỉu như vậy cần phải được định bệnh chính xác. Cách định bệnh thông thường là đo tim bằng điện tâm kế (EKG). Nếu đo EKG ngay lúc tim đập rất nhanh như vậy có thể thấy được nhịp tim quá nhanh và định bệnh được gọi là bệnh paroxysmal atrial tachycardia. Tuy nhiên nếu đo EKG lúc không có triệu chứng gì có thể thấy bình thường. Trường hợp này phải đeo máy đo nhịp tim trong 24 tiếng gọi là Holter monitoring để hy vọng bắt được lúc tim đập sai nhịp và định bệnh được.
Cách chữa trị ngoài việc tránh những xúc động và kích thích, cà phê, trà ..v.v. . ., có thể dùng thuốc để chặn. Nhiều loại thuốc có tác dụng để làm tim đập chậm lại hoặc ngăn chặn tâm nhĩ co bóp sớm như Digoxin, Beta-blockers, Quinidine, Calcium-blockers, tuy nhiên dùng những loại thuốc này phải theo dõi cẩn thận. Gần đây một số đại học y khoa đã dùng cách chữa trị chứng tim đập quá nhanh do đường dẫn điện phân cực phụ bẩm sinh như đã nói ở trên bằng cách thông tim và tìm những đường dẫn điện này bằng phương pháp điện sinh lý học và đốt bỏ với kết quả khỏi hẳn bệnh. Tuy nhiên phương pháp này còn quá mới và chỉ có một số ít trung tâm thực hiện được.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2018 23:28:51 bởi Ct.Ly>
BỆNH CÚM
 
HỎI:
Tôi là người khỏe mạnh, mọi sự đều bình thường nhưng không hiểu tại sao năm nào vào mùa đông cũng bị cúm kéo dài cả tuần lễ. Tôi có người bạn trông ốm yếu nhưng không hề thấy bị cảm cúm bao giờ. Xin cho biết lý do tại sao hay bị cúm? Có phải tại người không? Có nên chích ngừa cúm mỗi năm không?
Hoàng V. T.
 
 
ĐÁP:
Bệnh cúm là một bệnh truyền nhiễm do cực vi trùng cúm gây ra (influenza virus). Bệnh cúm hay xảy ra vào mùa đông mỗi năm và có thể gây ra dịch cúm nặng lan tràn cả hoàn cầu.
Trung bình với những trận dịch nhẹ mỗi năm, cứ 10 người có thể có một hay hai người bị cúm, tuy nhiên nếu có dịch nặng, tỷ lệ có thể lên đến 50% trong dân chúng.
  Bệnh cúm khác với cảm thường (common cold) ở chỗ thường những triệu chứng nặng hơn, gây ra sốt cao, nhức đầu, đau nhức bắp thịt, người thấy mỏi, yếu đi. Thường triệu chứng bắt đầu đột ngột, đang khoẻ mạnh tự nhiên thấy nóng lạnh, đau nhức toàn thân, rồi đau cổ, ho nhiều. Trung bình cúm kéo dài 5 - 7 ngày, tuy nhiên có thể lâu hơn và mệt mỏi kéo dài cả 2 - 3 tuần lễ.
Hầu hết các trường hợp bệnh cúm không chữa trị cũng sẽ tự khỏi, tuy nhiên một số người sẽ bị biến chứng như sưng phổi nặng do chính cực vi trùng cúm gây ra hoặc nhiễm trùng phổi vì cơ thể yếu, kém sức đề kháng với một số vi trùng khác như Streptococcus, Staphylococcus, Hemophilus có dịp hoành hành làm nhiễm trùng nặng. Một số trẻ con bị cúm có thể bị biến chứng làm ói mửa, mê man và có thể chết được gọi là Reye’s syndrome. Đặc biệt là những trẻ em này khi bị cúm uống thuốc aspirin để hạ nóng. Trường hợp này cũng dễ xảy ra khi trẻ em bị trái rạ (chicken pox) uống thuốc có chất aspirin. Vì thế khi bị cúm hay trái rạ nên tránh dùng thuốc aspirin. Nếu nóng nhiều nên dùng Tylenol để trị nóng thay vì aspirin.
Những biến chứng nguy hiểm về sưng phổi hoặc về tim hay não bộ có thể gây ra chết được thường xảy ra nơi những người có bệnh kinh niên như bệnh tim, bệnh suyễn, bệnh tiểu đường, bệnh hư thận, bệnh thiếu máu, ung thư ..v..v…Ngoài ra những người lớn tuổi trên 65 cũng dễ bị biến chứng khi bị cúm mặc dù không có bệnh kinh niên nào. Mỗi năm tại Hoa Kỳ ước lượng số người chết vì biến chứng do cúm gây ra lên đến khoảng 10 ngàn người. Nếu có dịch cúm nặng, con số này còn lên cao hơn nữa.
Cực vi trùng cúm có ba loại: A, B, và C. Loại C ít gây ra bệnh. Cúm do loại B xảy ra nhiều hơn nhưng thường là cúm nhẹ. Loại A quan trọng nhất vì gây ra cúm nặng hơn cả. Phần lớn các dịch cúm nặng lan tràn cả hoàn cầu là do cực vi trùng cúm loại A gây ra, đặc biệt cứ khoảng 10 đến 15 năm lại có một trận dịch như vậy. Trận dịch cúm nặng nhất xảy ra năm 1918 -1919 chết cả triệu người. Từ đó đến nay có thêm 5 trận dịch cúm nặng nữa, trận cuối cùng là năm 1977- 1978. Chu kỳ 10 năm đến 15 năm này cho thấy nhiều phần chúng ta sẽ có một trận dịch nặng toàn cầu (pandemics) trong vòng vài năm sắp đến. Lý do của những trận dịch cúm này là do sự thay đổi về cơ cấu của cực vi trùng cúm xảy ra thường xuyên làm cho hệ thống miễn nhiễm của cơ thể con người có nhiệm vụ chóng lại cực vi trùng không phản ứng kịp để gây ra tính miễn nhiễm.
Miễn nhiễm là đặc tính của cơ thể để chống cự lại cực vi trùng. Thí dụ như hồi nhỏ ta đã bị bệnh quai bị hay lên sởi, hệ thống miễn nhiễm của cơ thể để chống cự với các cực vi trùng gây ra các bệnh này tạo ra các kháng thể (antibodies) để diệt cực vi trùng. Các tế bào máu sản xuất ra các kháng thể này gọi là tiểu bạch cầu loại B luân lưu trong huyết quản mãi mãi và có khả năng nhận biết các cực vi trùng đã có lần tiếp xúc trong quá khứ này, lập tức sẽ tạo ra các kháng thể chống cự ngay khi gặp lại cực vi trùng bệnh sởi chẳng hạn, không để cho có cơ hội gây ra bệnh. Vì thế đã lên sởi hay quai bị hồi nhỏ, ta sẽ không bao giờ bị lại. Đây là đặc tính miễn nhiễm của cơ thể. Đối với cực vi trùng  cúm, các cơ cấu làm cho hệ thống miễn nhiễm nhận biết và chống cự lại gọi là kháng nguyên (antigenes) H và N thay hình đổi dạng luôn luôn nên sự đề kháng không có hiệu quả. Điều này giải thích tại sao mỗi năm ta đều có thể bị cúm đi cúm lại. Vì cơ thể tạo ra kháng thể chóng với một loại, sang năm cực vi trùng cúm thay đổi trở thành một loại khác, kháng thể trở thành vô hiệu nghiệm và không ngăn được loại mới này.
 
  Câu hỏi tại sao người này thường hay bị cúm mỗi năm trong khi người khác không hề bao giờ bị cúm thực sự rất khó trả lời vì rất phức tạp. Tuy nhiên sức chóng cự của mỗi người với bệnh tật nói chung và với các bệnh nhiễm trùng nói riêng tùy thuộc một phần lớn vào các đặc tính bẩm sinh và có tính cách di truyền của người đó. Lấy thí dụ như cực vi trùng cúm, khi xâm nhập cơ thể cực vi trùng cúm sẽ bị một lớp tế bào trong máu của hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể gọi là đại thực bào (macrophages) ngăn chặn. Các đại thực bào này “nuốt chửng” một số cực vi trùng và “trình diện” các cực vi trùng này với một loại tế bào máu khác gọi là tiểu bạch cầu trợ giúp (T-helper lymphocytes). Các tiểu bạch cầu trợ giúp này sẽ lôi kéo và giúp các tiểu bạch cầu B chế tạo các kháng thể để tiêu diệt cực vi trùng cúm. Để cho cơ chế này có thể thực hiện được, sự “trình diện” cực vi trùng cúm như nói trên phải có sự kết hợp của cực vi trùng cúm với một cơ cấu trên màng tế bào gọi là cơ cấu MHC (major histocompatibility complex). Cơ cấu này có tính cách di truyền và không người nào giống người nào, hiện nay nhiều khảo cứu cho thấy cơ cấu này liên hệ mật thiết với các đặc tính di truyền xác định khả năng chống cự bệnh tật của mỗi người. Như vậy mức độ đổi kháng với cực vi trùng cúm, thực sự tùy thuộc phần lớn vào tính bẩm sinh của mỗi người và có liên hệ đến di truyền.
Nếu ta không có đủ sự chóng cự tự nhiên với cực vi trùng cúm giống như phần lớn mọi người đều thiếu khả năng này, một cách hữu hiệu để phòng ngừa là chích ngừa cúm. Thuốc chích ngừa dùng cực vi trùng cúm đã bị giết chết chích vào cơ thể để kích thích hệ thống miễn nhiễm sản xuất ra kháng thể sẵn sàng chống cự với cực vi trùng cúm tìm cách xâm nhập. Thường phải chích mỗi năm vào mùa thu để sửa soạn ngừa cho cúm vào mùa đông. Những người bị bệnh kinh niên như đã nói ở phần đầu, các người già trên 65 tuổi nên chích ngừa cúm để tránh các biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra khi bị cúm nặng. Bất kỳ người nào hay bị cúm mỗi năm cũng có thể chích ngừa cúm để có thể ngăn chặn được hoặc nếu bị sẽ bị nhẹ hơn. Mức độ hiệu quả của thuốc chích ngừa vào khoảng 50 đến 80% tùy thuộc vào cực vi trùng cúm năm đó có thay đổi nhiều quá hay không.
Thuốc chữa cúm một khi đã bị rồi hiện nay chỉ có một loại thuốc là thuốc Amantadine bán dưới tên Symmetrel. Thuốc này chỉ có hiệu quả nếu dùng ngay trong vòng 48 tiếng khi vừa bị cúm và phải uống trong vòng 3 đến 5 ngày. Nếu dùng sớm có thể làm cho triệu chứng nhẹ bớt đi và chóng khỏi hơn tuy thuốc có thể gây ra một vài phản ứng như mất ngủ, khó tập trung tư tưởng…v..v... Tuy nhiên những phản ứng này cũng nhẹ và chỉ một số ít bị. Một loại thuốc khác là Rimantadine có hiệu quả nhiều hơn và ít gây phản ứng hơn, hiện nay bán trên thị trường dưới tên Flumadine.
Tóm lại, bệnh cúm là bệnh xảy ra mỗi năm, phần lớn người nào cũng có thể bị. Hầu hết bệnh sẽ tự khỏi sau vài ngày tùy một số người có bệnh kinh niên và lớn tuổi dễ sinh ra biến chứng. Cách ngừa thông dụng nhất hiện nay là chích ngừa cúm mỗi năm vào mùa thu cho các người lớn tuổi, bị bệnh kinh niên hay những người dù khoẻ mạnh vẫn hay mắc cúm thường xuyên.
 
 
 
 
&&&&
 
 
 
NHIỄM TRÙNG CỔ HỌNG 
 
HỎI: 
Con trai tôi 9 tuổi, gần đày bị nóng sốt, kêu đau cổ, không ăn được. Sờ cổ thấy nỗi hạch. Năm ngoái cháu cũng bị một lần như vậy, cho uống trụ sinh thì hết. Xin cho biết tại sao cháu bị đi bị lai như vậy.
Hoàng T. A.
 
 
ĐÁP:
Bệnh của cháu là do nhiễm trùng cổ họng. Bệnh này do loại vi trùng Streptococcus gây ra (người Mỹ hay gọi là Strep throat là do tên của vi trùng này). Vi trùng Streptococcus truyền từ người này sang người khác, trẻ con trong tuổi 5 đến 15 tuổi dễ bị hơn cả tuy người lớn vẫn thường thấy. Vi trùng xâm nhập tế bào của màng nhày trong có họng, có thể gây ra mủ ở chỗ thịt dư (tonsils). Thường gây sốt, nóng lạnh và nổi hạch ở cổ, nếu không chữa để lâu có thể gây nhiều biến chứng: làm nhọt (abcess), chạy sang các cơ quan khác. Đặc biệt một số trẻ em bị phản ứng miễn nhiễm gây ra phong thấp cấp tính (acute rheumatic fever) làm sưng đầu gối, nguy hiểm hơn cả là chạy vào tim gây ra bệnh tim kinh niên. Ở Việt Nam thường thấy các bệnh này tuy nhiên ở Hoa Kỳ rất hiếm. Một biến chứng về miễn nhiễm cũng có thể xảy ra sau khi nhiễm trùng cổ họng là suy thận cấp tính, thận bị phản ứng làm đi tiêu ra máu, hư thận.
Điều quan trọng để ngừa biến chứng là khi bị nhiễm trùng cổ họng phải chữa trị ngay. Thông thường là dùng Penicillin chích hay uống, nếu uống phải đủ 10 ngày để diệt hết vi trùng dù chỉ cần uống 2, 3 ngày đã thấy đỡ nhiều.
Trường hợp cháu bị đi bị lại là do lây lại từ một trẻ em khác hoặc có thể vi trùng Streptococcus vì không uống đủ thuốc không bị diệt hẳn vẫn còn tồn tại trong màng nhày cổ họng tuy không gây ra bệnh hẳn. Một số trẻ em bị nhiễm trùng cổ họng nhiều lần quá trong một năm (5, 6 lần) và có thịt dư cổ họng quá lớn làm nghẹt có thể phải cắt thịt dư, tuy nhiên nếu bị ít hơn hay không quá lớn thì không cần thiết. Thực sự thịt dư là tiếng thông dụng nhưng dùng không đúng. Cơ thể con người không có cơ quan nào dư thừa! Thịt dư cũng như ruột dư là cơ quan của hệ thống miễn nhiễm có nhiệm vụ sản xuất ra các tế bào đề kháng của cơ thể chống cự lại sự xâm nhập của vi trùng, cực vi trùng ..v…v. . ., tuy không phải là trọng yếu nhưng cũng không phải là không có tầm quan trọng nào cả!
&&&&
 
 
TRÁI RẠ
 
HỎI:
Tôi năm nay 62 tuổi, cách đây ít bữa tôi thấy nỗi lên những mụt nước ngoài da bên cạnh sườn, nhức nhói vô cùng. Điều kỳ là những mụt nước này chạy từ giữa ngực ra ngay sau lưng thành một giải dọc ba sườn và chỉ ở phía bên trái không mà thôi.Tôi uống Tylenol không thấy bớt gì cả. Xin bác sĩ cho biết bị bệnh gì và chữa trị ra sao ?
Huỳnh Văn B.
 
ĐÁP:
Bệnh của ông là bệnh trái rạ của người lớn (herpes zoster). Bệnh này gây ra do cùng một thứ cực vi trùng gây bệnh trái rạ của trẻ con (varicella hay thông thường gọi là chicken pox). Cực vi trùng trái rạ là một loại cực vi trùng rất hay lây ở trẻ con, thuộc gia đình Herpes virus, hiện nay chưa có thuốc chích ngừa nên không sớm thì muộn trẻ con phần lớn đều sẽ bị mắc bệnh trái rạ. Thông thường trẻ từ 5 đến 9 tuổi dễ bị bệnh này nhất và trong gia đình có một trẻ bị, các trẻ em còn lại nếu chưa bị cũng sẽ bị lây, tỷ lệ lên đến 90%.
Bệnh trái rạ ở trẻ con thường là bệnh nhẹ, trẻ bị sốt, mọc mụt nước khắp người trong vòng hai đến bốn ngày rồi bớt dần. Trái rạ thường không để lại sẹo trừ phi bị quá nặng và các mụt nước bị nhiễm trùng thêm làm mủ. Biến chứng của trái rạ ở trẻ con bình thường ít khi xảy ra, tuy có thể làm sưng phổi, chạy vào óc. Một số trẻ con bị trái rạ nếu uống thuốc aspirin để hạ nóng có thể gây biến chứng gọi là Reye’s syndrome làm ói mửa, mê man, sưng gan nên phải tránh dùng aspirin cho trẻ con khi bị trái rạ.
Bệnh trái rạ thường không cần chữa ở trẻ con bình thường vì sau vài ngày sẽ tự hết, chỉ trừ khi bị biến chứng nặng hiếm thấy hoặc ở trẻ em đang mắc những bệnh nặng làm giảm sức đề kháng của cơ thể như ung thư máu ..v.v. . . Trong các trường hợp này phải nhập viện để chữa trị.
Cực vi trùng trái rạ thường sau khi bệnh đã khỏi ở trẻ con không phải sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn nhưng vẫn còn tồn tại ở trong các hạch của dây thần kinh gần tủy sống tuy không gây ra bệnh. Ở người già 60, 70 tuổi trở lên, cực vi trùng nằm yên này đôi khi hoạt động trở lại và gây ra bệnh trái rạ người lớn gọi là herpes zoster. Nguyên nhân nào làm những cực vi trùng này phát động trở lại không được rõ lắm tuy một số người bị ung thư hoặc co thể suy nhược hoặc bị stress nhiều dễ mắc phải hơn. Phần lớn thường không có nguyên cớ rõ rệt
Cực vi trùng trái rạ năm trong những hạch của dây thần kinh (dorsal root ganglia) khi tái phát động sẽ gây ra triệu chứng trên da của vùng dây thần kinh đó kiểm soát. Thường nhất là các dây thần kinh của vùng ngực và vùng bụng, vì thế triệu chứng thường xảy ra trên vùng da của ngực hoặc bụng, chạy thành một giải ngang từ giữa ngực sang đến giữa lưng và chỉ bị về một phía. Các mụt nước nói lên cũng như mụt nước trái rạ của trẻ con, tuy nhiên khác một điểm là kèm thêm với triệu chứng đau nhức dữ dội của vùng da đó. Lý do là dây thần kinh của vùng da bị cực vi trùng trái rạ làm viêm, sưng và gây ra đau.
Một số trường họp bệnh trái rạ người lớn xảy ra ở dây thần kinh trên mặt như các dây thần kinh số 5 hay số 7, ngoài triệu chứng về da trên mặt có thể ảnh hưởng trên mắt, trong tai hay trong miệng nguy hiểm và nhiều biến chứng hơn.
Thường các triệu chứng về da như mụt nước của bệnh trái rạ người lớn sẽ tự hết sau 7 đến 10 ngày, tuy nhiên triệu chứng đau nhức kéo dài lâu hơn - khoảng 50% những người già bị Herpes zoster sẽ tiếp tục đau nhức ở vùng da bị bệnh trái rạ kéo dài đến vài tháng hay đôi khi cả năm.
Chữa trị về bệnh trái rạ người lớn herpes zoster về ngoài da không cần phải trị liệu và sẽ tự hết, tuy nhiên chứng đau nhức dữ dội đi kèm cần phải dùng những thuốc chống đau loại mạnh. Các thuốc chống đau thường như Tylenol ít có hiệu nghiệm. Phần nhiều phải dùng các loại thuốc chống đau có kèm theo các chất codeine, hydrocodone ..v..v... mới giảm đau được.
Gần đây loại thuốc để trị cực vi trùng loại herpes là thuốc Acyclovir bán dưới tên Zovirax đã được cho phép để dùng trị liệu bệnh trái rạ người lớn. Thuốc này khi dùng liều lớn (800 mg uống ngày 5 lần trong 7 đến 10 ngày) có hiệu quả làm bệnh trái rạ người lớn khỏi nhanh và làm ngưng chứng đau nhức đi kèm theo. Tuy nhiên dùng thuốc này cũng phải theo dõi cẩn thận vì có thể gây ra một vài tác dụng như buồn nôn, ói mửa, nhức đầu v.v. . .
 
 
 
&&&
 
 
 
SỐT RÉT
 
HỎI:
Tôi mới về ViệtNam thăm gia đình, ở lại nhà hơn một tháng. Trở lại Hoa Kỳ được khoảng hai tuần, tôi bắt đầu bị lên cơn nóng lạnh, mồ hôi ra như tắm, kéo dài mấy tiếng đồng hồ rồi hết. Từ đó đến nay bị cũng đã ba lần. Xin bác sĩ cho biết có phải bị sốt rét không? Chữa trị và ngừa bệnh ra sao?
Vũ H. L.
 
 
ĐÁP:
Những triệu chứng ông kể trên xảy ra sau khi từ Việt Nam trở lại Hoa Kỳ, có thể nghi là bệnh sốt rét gây ra. Cần phải đi khám nghiệm và điều trị ngay.
Bệnh sốt rét (malaria) là bệnh do ký sinh trùng Plasmodium gây ra. Bệnh truyền nhiễm do loài muỗi Anopheles và ở tại Việt Nam cũng như các xứ chậm tiến khác của Á châu, Phi châu và Nam Mỹ, vẫn còn là một tai họa về y tế công cộng với cả triệu người chết mỗi năm vì bệnh này. Có bốn loại ký sinh trùng Plasmodium gây bệnh: Falciparum, vivax, malariae và ovale. Tại Việt Nam hai loại quan trọng hơn cả là Plasmodium falciparum và vivax, riêng loại đầu gây sốt rét nặng, phần lớn chết do sốt rét là vì ký sinh trùng falciparum.
Khi bị muỗi Anopheles cắn, ký sinh trùng sốt rét nằm trong tuyến nước bọt của loại muỗi này sẽ truyền vào máu và chạy vào gan. Ở đây, ký sinh trùng sốt rét sinh sôi nảy nở trong khoảng từ một đến sáu tuần lễ. Sau đó ký sinh trùng sốt rét sẽ xâm nhập hệ thống tuần hoàn trở lại và chui vào trong hồng huyết cầu. Sau 48 tiếng trong hồng huyết cầu, mỗi ký sinh trùng sẽ sinh thành 6 đến 24 con rồi phá vỡ hồng huyết cầu đó và mỗi con sẽ xâm nhậm một hồng huyết cầu mới. Mỗi lần chu kỳ này tái diễn, người bệnh lên cơn sốt rét. Triệu chứng đầu tiên là rét lạnh run kéo dài từ 20 phút đến 60 phút. Sau đó bắt đầu sốt nhiệt độ lên đến 104 độ tới 107 độ F. Sốt kéo dài từ 3 đến 8 tiếng và chấm dứt bằng giai đoạn chảy mồ hôi đầm đĩa, làm mệt mỏi nhiều.
Các chu kỳ này trở đi trở lại và chỉ hết khi nào không còn ký sinh trùng trong máu. Hai loại Plasmodium falciparum và malariae không trở thành kinh niên vì ký sinh trùng không trở lại vào gan, tuy nhiên loại vivax ký sinh trùng có thể tồn tại trong gan nếu không chữa trị cẩn thận và có thể gây sốt rét trở lại nhiều tháng hay nhiều năm sau.
Sốt rét do Plasmodium falciparum nguy hiểm nhất, nếu không chữa trị sớm, ký sinh trùng sốt rét loại này sinh sôi nảy nở trong máu rất nhanh, trong thời gian ngắn có thể sẽ có đến 100,000 ký sinh trùng trong 1 cc máu. Lên đến mức này, người bệnh có thể mê man vì ký sinh trùng đầy nghẹt trong mạch máu của óc, thường thêm các triệu chứng của các cơ quan khác như suy thận, đi tiểu ra đen vì sắc tố hồng huyết cầu bị bể thoát ra đường tiểu gọi là black water fever. Bị nặng như vậy dù chữa trị đúng cách có thể vẫn không cứu được và chết trong vòng 3 ngày.
Ngoài ra còn có thể bị suy phổi cấp tính vì ký sinh trùng đầy mạch máu phổi hay lá lách bị bể, gây ra những biến chứng nguy hiểm.
Loại Plasmodium vivax ít gây ra chết người như loại falciparum nhưng hay trở thành kinh niên, trở đi trở lại vì lý do trú ẩn trong gan như đã nói ở trên. Trị cho dứt hẳn loại này tương đối cũng khó hơn loại falciparum.
Định bệnh sốt rét cần phải thử máu để tìm ký sinh trùng sốt rét trong máu. Nhìn dưới kính hiển vì sau khi nhuộm đặc biệt gọi là Wright’s stain hay Giemsa’s stain sẽ thấy ký sinh trùng sốt rét trong hồng huyết cầu và phân loại tùy theo hình dáng. Định bệnh thực sự dễ dàng với triệu chứng và nhuộm máu như kể trên, tuy nhiên tại Hoa Kỳ, bệnh sốt rét hiếm thấy, chỉ gặp được khi có người bệnh đi du lịch từ các xứ chậm tiến bị mắc bệnh sốt rét trở về. Vì không quen với bệnh này và chỉ biết qua sách vở, nhiều trường hợp sốt rét chữa trị tại Hoa Kỳ bị trở ngại vì không nhận biết và định bệnh được sớm. Điều quan trọng cho những người đi du lịch từ các xứ chậm tiến còn bệnh sốt rét nhiều, điển hình như Việt Nam, là khi bị sốt rét lúc trở lại Hoa Kỳ phải
khai bệnh kể rõ trường hợp đi du lịch của mình và phải thử máu để loại trừ bệnh này.
Chữa trị về sốt rét nếu bệnh nhân không bị mê man có thể dùng thuốc uống. Chloroquine là thuốc thường dùng tuy nhiên tại Việt Nam, ký sinh trùng sốt rét loại Falciparum kháng thuốc này, thường phải dùng quinine cộng thêm với thuốc Fansidar(gồm hai thứ là Pyrimethamine và Sulfadoxine). Bệnh nhân nếu mê man phải dùng thuốc quinine truyền vào mạch máu. Tại Hoa Kỳ vì ít có sốt rét nên thuốc quinine dưới dạng dung dịch để truyền vào máu rất khó kiếm, chỉ có ở Trung tâm Bài trừ Bệnh Truyền Nhiễm (Center for Disease Control) Ở Atlanta. Bệnh khẩn cấp không có thuốc ngay phải dùng tạm thuốc quinidine là một loại thuốc về tim có tác dụng gần giống quinine để trị tạm, tương đối cũng khá công hiệu.
Hiện nay một loại thuốc mới là Mefloquine khá công hiệu và ít gây phản ứng cũng đã được bán trên thị trường khoảng vài tháng nay dưới tên Lariam để tri bệnh sốt rét Chỉ cần uống một liều 5 viên thuốc này loại 250 mg có thể trị sốt rét cả hai loại Plasmodium falciparum và vivax. Thuốc phải uống lúc bụng no và phải uống nhiều nước, ít nhất 8 oz nước đi kèm. Riêng ký sinh trùng sốt rét loại vivax vì dễ trở thành kinh niên phải uống thêm loại thuốc Primaquine 15 mg một ngày trong hai tuần lễ để trị ký sinh trùng loại này ẩn nấp trong gan.
Vấn đề ngừa bệnh sốt rét cho những người đi du lịch tại các nước còn nhiều bệnh sốt rét như Việt Nam, điều quan trọng là ngừa muỗi đốt. Ngoài ra, nên uống thuốc để ngừa. Uống thuốc ngừa sốt rét có thể dùng Chloroquine 500 mg uống chung với thuốc Fansidar một viên, uống một tuần một lần. Nên uống khoảng một hay hai tuần trước khi đi du lịch. Trong suốt thời gian du lịch phải uống đều mỗi tuần một lần và từ 4 đến 6 tuần sau khi đã trở lại Hoa Kỳ.
Thuốc Chloroquine và nhất là Fansidar uống dễ gây phản ứng nên phải cẩn thận. Có thai không dùng được. Uống nếu bị phản ứng ngoài da phải ngưng ngay. Uống lâu đôi khi có thể ảnh hưởng làm thiếu máu.
Với thuốc Mefloquine (Lariam) như đã nói trên, phản ứng tương đối ít hơn nên hiện nay có thể dùng để ngừa bệnh sốt rét khi đi du lịch tại xứ có nhiều bệnh sốt rét như Việt Nam. Cách uống là một viên 250 mg một tuần một lần trong bốn tuần rồi sau đó cứ hai tuần một lần. Khi trở lại Hoa Kỳ phải tiếp tục thêm bốn tuần lễ nữa để chắc chắn hẳn.
Tóm lại, bệnh sốt rét là bệnh những người Việt Nam mới sang định cư tại Hoa Kỳ hoặc những người đi du lịch về Việt Nam có thể mắc phải dễ dàng. Vấn đề chính là nhận biết và định bệnh chính xác và chữa trị sớm để tránh những biến chứng nguy hiểm. Ngừa bệnh này là điều quan trọng với tránh muỗi cận ở các vùng có nhiều muỗi và có thể dùng thuốc ngừa đúng cách để ngăn chặn bệnh này.
 
 
 
&&&&
 
BỆNH NHIỄM TRÙNG SINH DỤC
 
HỎI:
Tôi mới đi về Việt Nam thăm gia đình. Trở về Hoa Kỳ tôi thấy bị đi tiểu buốt và bị lở ở chỗ kín. Xin bác sĩ cho biết có thể bị những bệnh gì? thể bị AIDS không?
Trần V. T.
 
 
ĐÁP:
Những bệnh về nhiễm trùng sinh dục gồm nhiều loại do sự truyền nhiễm gây ra bởi giao tiếp sinh dục. Trước kia, y khoa chỉ để ý đến những loại bệnh chính như giang mai, lậu, nổi hạch háng..., nhưng hiện nay những loại bệnh nhiễm trùng về sinh dục được biết ngày một nhiều hơn. Quan trọng nhất là bệnh AIDS, ngoài ra còn nhiều loại nhiễm trùng do cực vi trùng khác gây ra. Trái với các bệnh nhiễm trùng thường do vi trùng gây ra, các loại nhiễm trùng sinh dục do cực vi trùng không chữa hết được, hoặc có thể gây chết như trường hợp cực vi trùng HIV gây ra AIDS.
Những bệnh nhiễm trùng sinh dục như thế càng ngày càng quan trọng hơn và hiểu biết về những bệnh này cũng sẽ giúp ích nhiều trong việc phòng ngừa và chữa trị.
Trước hết, để trả lời câu hỏi của ông, các triệu chứng ông kể trong thư hỏi là triệu chứng của nhiễm trùng sinh dục, có thể không phải một loại mà do cũng bị nhiều loại nhiễm trùng một lúc. Khám nghiệm, thử máu và chữa trị là điều phải làm ngay.
Ở người đàn ông, tiểu buốt sau khi giao tiếp sinh dục thường do hai loại vi trùng chính gây ra là vi trùng lậu Neisseria gonorrheae và vi trùng Chlamydia trachomatis. Có thể bị một trong hai thứ vi trùng này hay có thể bị cả hai thứ một lúc. Hiếm hơn là một vài loại vi trùng khác như Ureaplasma hay Mycoplasma. Triệu chứng thường thấy nhất của bệnh do vi trùng lậu Neisseria là đi tiểu có mủ. Nhiều trường hợp chỉ thấy tiểu buốt mà thôi. Vi trùng Chlamydia thường ít gây mủ, chỉ có chất nhờn hay tiểu buốt
Không chữa các vi trùng này có thể làm biến chứng, ở đàn ông làm sưng dịch hoàn, sưng tuyến đường tiểu. . .; ở người đàn bà làm sưng cổ tử cung, làm nhiễm trùng bụng dưới gọi là pelvic inflammatory disease rất nguy hiểm, có thể làm vi trùng chạy vào máu. . . Ngoài ra có thể làm sưng khớp xương do vi trùng lậu, vi trùng chạy đi khắp nơi... Biến chứng xa là làm không có con vì đường dẫn tinh bị hỏng hoặc ở người đàn bà, làm nghẹt ống dẫn trứng gây ra có thai ngoài tử cung, làm không thể có con được v.v. . .
Cách chữa tương đối giản dị, tuy nhiên phải dùng đúng thuốc vì hiện nay vi trùng lậu kháng thuốc nhiều. Bệnh lậu do mắc phải từ Việt Nam có thể nói kháng thuốc hoàn toàn với Penicillin nên phải trị bằng những loại thuốc mới. Thực sự tại Hoa Kỳ, phần lớn cũng kháng Penicillin. Thường khi chữa phải chữa cả hai thứ vi trùng Neisseria và Chlamydia đi kèm. Cách chữa hiện nay là chích thuốc Ceftriaxone 250mg chích mông để chữa vi trùng lậu, sau đó uống thuốc Tetracycline hay Doxycycline trong 7 ngày để chữa vi trùng Chlamydia. Một vài thứ thuốc mới như Floxin, Cipro, có thể dùng để chữa cả hai loại vi trùng và chỉ cần uống, không chích. Một thứ thuốc khác nữa để chữa vi trùng Chlamydia là Zithromax chỉ cần uống một lần 4 viên, tuy nhiên thuốc này chỉ dùng để trị loại Chlamydia không thôi.
Ở người đàn bà, ngoài triệu chứng tiểu buốt, tiểu có mủ, những bệnh nhiễm trùng sinh dục do vi trùng lậu Neisseria và vi trùng Chlamydia gây ra còn gồm có sưng cổ tử cung có mủ và nhiễm trùng bụng dưới. Cách chữa cũng như trên, chỉ khác là nếu có thai sẽ không được dùng Tetracycline hay Doxycycline và phải thể bằng thuốc Erythromycin.
Ngoài ra nơi người đàn bà còn có thể bị nhiễm trùng âm đạo, gây ra huyết trắng. Bệnh này cũng do truyền nhiễm do giao tiếp sinh dục gây ra.
Nhiễm trùng âm đạo được chia làm ba loại: thường nhất là nhiễm trùng do vi trùng gọi là bacterial vaginosis gây ra huyết trắng do các vi trùng tên gọi là Gardnerella, Mycoplasma hominis, Ureaplasma, Bacteroides, Peptostreptococcus gây ra. Nhiễm trùng âm đạo còn có thể do nấm gây ra, loại nấm này gọi là Candida albicans và hay gây ra huyết trắng đi kèm với chứng ngứa. Loại sau cùng là nhiễm trùng âm đạo do một loại ký sinh trùng gọi là Trichomonas gây ra, thường hay gây ra màu vàng như có mủ.
Chữa trị các bệnh nhiễm trùng âm đạo này phải tùy thuộc vào bị loại nào. Loại do nấm gây ra phải dùng thuốc trị nấm như Miconazole hay Clotrimazole hay Nystatin. Hai loại kia hiện nay được chữa trị bằng thuốc Metronidazole bán dưới tên Flagyl.
* *
Trong phần câu hỏi đặt ra, ông có hỏi về bị lở ở chỗ kín. Bệnh lở ở bộ phận sinh dục rất thường thấy ở các nước Á châu, nên nếu đi du lịch ở Việt Nam về, bị lở sinh dục là do nhiễm trùng gây ra. Quan trọng nhất là bệnh giang mai, sau đó đến nhiễm trùng do cực vi trùng herpes gây ra và sau chót là lở do vi trùng Hemophilus ducreyi gây ra vừa lở vừa nói hạch ở háng (Việt Nam thường gọi là hột xoài!)
Lở do giang mai gây ra thường không làm đau, tuy nhiên giang mai có thể ở dưới nhiều dạng khác nhau nên phải thử máu để tim bệnh giang mai. Giang mai do vi trùng Treponema pallidum gây ra và là một bệnh nguy hiểm. Không chữa, giang mai có thể ăn vào tim, vào trong óc làm tê liệt, điên khùng… Định bệnh tương đối giản dị, dùng cách thử máu gọi là RPR hay VDRL. Để chính xác hơn nữa, thường phải làm thêm các thử nghiệm đặc biệt gọi là MHA-TP hay FTA- ABS…nếu thử nghiệm tìm bệnh đầu RPR positive.
Chữa trị bệnh giang mai phải dùng Penicillin chích mông hay truyền vào mạch máu tùy theo thòi kỳ. Thời kỳ đầu vừa bị chỉ cần chích một lần là 2 triệu 4 đơn vị. Thời kỳ sau nếu chưa chạy vào óc phải chích mỗi tuần trong ba tuần, nếu giang mai vào óc phải nằm bệnh viện để truyền Penicillin vào máu trong hai tuần.
Bị lở ở bộ phận sinh dục nếu đau thường do cực vi trùng loại herpes gây ra. Herpes một khi đã bị thường không chữa dứt hẳn được và sẽ bị đi bị lại cả đời. Tuy nhiên điều này cũng tùy người. Có người bị cả chục lần một năm, người khác ít hơn hay có người chỉ bị một lần rồi không thấy trở lại. Tuy nhiên cực vi trùng vẫn còn đó và bất cứ lúc nào sau này cũng có thể bị lại. Thông thường herpes làm xót, lở kéo dài năm, bảy ngày rồi sẽ tự khỏi. Những lúc sắp bị lở là lúc dễ truyền bệnh nhất. Một số người dù không lở cùng có thể truyền bệnh cho người khác. Đặc biệt nếu người đàn bà bị bệnh lở herpes và mang thai, bệnh này có thể truyền cho đứa bé sơ sinh nên nếu gần ngày sinh và bị lở herpes thường phải mổ ceasarean để lấy đứa bé ra.
Chữa trị Herpes hiện nay có thuốc Acyclovir bán dưới tên Zovirax. Thuốc ở dưới dạng thoa hay uống. Thuốc thoa chỉ dùng nếu bị nhẹ và là lần đầu tiên. Thường bị nặng hay bị đi bị lại sẽ phải dùng thuốc uống để chữa. Tuy nhiên thuốc này chỉ làm rút ngắn thời gian bị lở hay uống để ngừa không bị lại. Thuốc này vẫn không trị tuyệt loại cực vi trùng này được.
Bị lở làm đau và đi kèm với nổi hạch thường do vi trùng Hemophilus ducreyi gây ra. Hạch ở háng thường nổi lớn và làm đau nhiều. Không chữa có thể sẽ làm hạch chảy mủ. Bệnh này thường thấy ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác. Ở Hoa Kỳ hiếm hơn tuy nhiên gần đây đã thấy bị nhiều hơn trước, đặc biệt ở các thành phố lớn như New York và Dallas. Chữa trị bệnh này tương đối dễ dàng, dùng thuốc Bactrim hay Erythromycin uống trong một tuần. Hoặc có thể uống thuốc loại mới hơn như Cipro. Thuốc chích Ceftriaxone chữa bệnh lậu cũng trị dứt được bệnh này.
* *
Bệnh nhiễm trùng sinh dục làm cho mọi người lo ngại nhất là bệnh AIDS do cực vi trùng HIV gây ra. Bệnh này sẽ được giải đáp đầy đủ và tường tận hơn trong một bài khác, tuy nhiên một vài điểm chính liên quan đến câu hỏi kỳ này là như sau:
-  Bệnh AIDS thường truyền nhiễm do đồng tình luyến ái, ghiền chích thuốc ma túy, truyền máu không được thanh lọc kỹ lưỡng bị nhiễm cực vi trùng HIV gây ra.
-   AIDS do giao hợp giữa đàn ông và đàn bà truyền cho nhau cũng xảy ra nhưng ít hơn các cách truyền bệnh trên. Đàn bà dễ bị hơn đàn ông vi cực vi trùng HIV có thể truyền theo tinh dịch. Đàn ông bị AIDS do đàn bà truyền sang tương đối ít hơn nhưng cũng xảy ra, nhất là khi có những vết lở, trầy... sẽ làm cho cực vi trùng HIV truyền dễ dàng hơn.
-  Bệnh AIDS hiện đang lan tràn ở vùng Đông Nam Á và sẽ bành trướng nhiều ở vùng này. Một thống kê cho biết gái điếm Thái Lan khoảng 70 - 80% tại một vài nơi có cực vi trùng HIV trong máu. Tại Việt Nam, bệnh AIDS cũng bắt đầu gia tăng.
- Sau khi bị nhiễm cực vi trùng HIV, có thể phải vài tháng sau thử máu mới thấy.
* *
Tóm lại nếu bị những triệu chứng của nhiễm trùng sinh dục, cần phải đi khám bệnh và thử nghiệm ngay. Việc chữa trị sẽ tùy thuộc bị những bệnh nào. Điều nên nhớ là có thể bị nhiều thứ bệnh nhiễm trùng cùng một lúc và phải trị liệu đầy đủ.
Đối với việc phòng ngừa bệnh nhiễm trùng sinh dục, điều quan trọng nhất là dùng bọc cao su condom để ngừa sự truyền nhiễm. Tuy có thể không ngừa hết được 100% nhưng cũng sẽ làm giảm thiểu rất nhiều sự truyền nhiễm. Một điều khác nữa về vấn đề y tế cổng cộng là trị liệu những người có giao tiếp sinh dục với người bị bệnh. Các sở y tế của chính phủ thường chữa miễn phí các bệnh nhiễm trùng sinh dục và sẽ tìm và chữa luôn những người đã giao tiếp sinh dục khác.
Để kết luận, những bệnh nhiễm trùng sinh dục hiện nay bắt đầu gia tăng nhiều ở Hoa Kỳ. Tại Việt Nam, tình trạng này còn tệ hại hơn nữa, và với vệ sinh thiếu thốn, thuốc men và chữa trị không đầy đủ, những bệnh này sẽ còn hoành hành nhiều, đặc biệt là sự bành trướng của bệnh AIDS. Những người Việt ở Hoa Kỳ về thăm nhà cần phải chú trọng về vấn đề này và nếu bị bệnh cần phải khám nghiệm sớm và chữa trị ngay.
 
 
&&&

 




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.11.2018 17:10:28 bởi Ct.Ly>
BỆNH AIDS 
 
HỎI: 
Tôi sắp lập gia đình nhưng nghe nói nhiều về bệnh AIDS nên cũng hơi sợ. Xin bác sĩ giải thích cho biết về bệnh này. Tôi cũng hay lâu lâu đi chơi bậy bạ, xin bác sĩ cho biết có thể dễ bị lây hay không?
Trương N. T.
 
ĐÁP: 
Bệnh AIDS là viết tắt của chữ Acquired Immuno- Deficiency Syndrome tức hợp chứng suy nhược miễn nhiễm thụ hưởng, giải nghĩa một cách dễ hiểu là bệnh do cực vi trùng tên gọi HIV làm sức đề kháng, chống cự của cơ thể với các thứ nhiễm trùng, ngừa ung thư... bị yếu kém, suy nhược, do đó dễ bị những bệnh nhiễm trùng nặng hay bị nhiều loại ung thư và gây ra chết.
Bệnh AIDS được phát hiện lần đầu tiên tại thành phố Los Angeles vào mùa hè năm 1981 do đại học y khoa UCLA, khu miễn nhiễm dị ứng học nhận biết ra bệnh này nơi các người đồng tình luyến ái bị một chứng sưng phổi nặng, đặc biệt và hiếm có là loại sưng phổi do ký sinh trùng Pneumocystis carinii gây ra. Hiện tượng có 5 người bệnh bị chứng này cùng một lúc được cấp tốc phi báo cho Trung Tâm Kiểm soát Nhiễm trùng tại Atlanta, nơi đây sau đó cũng nhận được các báo cáo tương tự tại New York.
Sau khi được đăng trên tờ báo y khoa New England Journal of Medicine năm đó, các thành phố khác của nước Mỹ cũng bắt đầu báo cáo sự xuất hiện của bệnh này khắp nơi. Bệnh AIDS trở thành bệnh dịch, truyền nhiễm một ngày một nhiều.
Đầu tiên, bệnh này hầu hết chỉ thấy xảy ra nơi các người đồng tinh luyến ái, nhưng sau đó thấy nơi các người ghiền chích choác dùng kim bân, các người bị mát máu phải truyền máu, các người bị chứng loãng máu hemophiliacs phải chích thuốc làm bằng plasma do các người cho máu hay bán máu. . . Gần đây hơn, bệnh này bắt đầu truyền sang tập thể của quần chúng không thuộc các nhóm người trên do sự truyền nhiễm cực vi trùng bệnh AIDS tức HIV bằng sự giao hợp tình dục với các người bị bệnh tuy số người bị lây này ít hơn.
Số người bị bệnh AIDS càng ngày càng nhiều. Trong năm 1990 có 120,000 người bị bệnh, năm 1992 con số này lên tới khoảng gần 300,000 người. Đây là con số những người đã có triệu chứng thành bệnh hẳn hòi. Con số người đã có cực vi trùng bệnh AIDS trong người chỉ chờ ngày phát tác nhiều hơn nhiều, ước lượng nước Mỹ có khoảng từ 1 triệu đến 1 triệu rưỡi người bị!
Trong số những người bị bệnh AIDS đã phát hiện ra bệnh, 60% là đàn ông đồng tình luyến ái hay nửa này nửa nọ (bisexual), 20% là những người ghiền chích choác, 7% là những người vừa đồng tình luyến ái vừa ghiền, 1% là các người bị bệnh hemophiliacs, 2% là những người bị truyền máu bẩn, nhiễm cực vi trùng, 5% là những người không thuộc các nhóm trên nhưng có giao hợp với người bị bệnh hay các người thuộc thành phần nguy hiểm kể trên, 5% là linh tinh khác như trường hợp các em bé mới đẻ đã bị bệnh AIDS do bà mẹ ghiền bị AIDS truyền cho con lúc mang bầu.
Đối với đa số dân chúng, thống kê trên quan trọng ở chỗ nếu không phải thuộc thành phần nguy hiểm dễ bị bệnh, vấn đề truyền bệnh do giao hạp với người bị AIDS tuy ít, chỉ 5% số người bị AIDS hiện nay, nhưng không phải không xảy ra. Và trong tương lai con số này có thể sẽ tăng nhiều hơn nữa.
Bệnh AIDS do cực vi trùng HIV là chữ tắt của Human Immunodeficiency Virus, đây là một loại cực vi trùng mới được tìm ra trong năm 1984, do bác sĩ Montaignier của Viện Pasteur của Pháp xác định. Cực vi trùng này đã xuất hiện từ nhiều năm trước tại Phi Châu nhưng tại sao bây giờ mới gây bệnh nặng và truyền nhiễm khắp nơi trên thế giới gây ra dịch hiện nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.
Cực vi trùng HIV gây ra bệnh bằng cách khi xâm nhập cơ thể, dính vào một loại tế bào đặc biệt của cơ thể là tiểu bạch cầu T4. Tiểu bạch cầu này có nhiệm vụ giúp các tế bào khác của hệ thống miễn nhiễm nên gọi là “helper T cells”. Loại tiểu bạch cầu này trên màng tế bào có một phân tử gọi là CD4 molecule, cực vi trùng HIV sẽ dính vào phân tử này và chui vào. Cực vi trùng HIV sau đó điều khiển nhân tế bào sản xuất ra các cực vi trùng khác và sau cùng phá tung tiểu bạch cầu T4 và đi xâm lấn các tiểu bạch cầu T4 khác.
Tiểu bạch cầu T4 giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong việc giúp cơ thể chống cự với sự xâm lăng của các thứ vi trùng, cực vi trùng khác, ký sinh trùng, tế bào biến thành ung thư v.v. . . nên khi số lượng tiểu bạch cầu T4 bị chết do cực vi trùng HIV, cơ thể suy yếu và bắt đầu bị các bệnh nặng nhiễm trùng.
 
Thường khi đo số lượng tiểu bạch cầu T4 trong máu, nếu thấy thấp hơn 200 tế bào trong một microliter máu là tình trạng nguy ngập, dễ bị những bệnh nguy hiểm như sưng phổi do ký sinh trùng Pneumocystis carinii gây ra chết dễ dàng.
Những bệnh nguy hiểm khác là bệnh do cực vi trùng Cytomegalovirus gây ra viêm óc, viêm ruột, sưng phổi, bệnh do nấm Candida albicans, bệnh do vi trùng lao Mycobacterium tuberculosis, hay nguy hiểm hơn là vi trùng lao loại khó trị Mycobacterum avium-intracellulare, loại nấm Cryptococcus gây ra sưng màng óc, loại ký sinh trùng Toxoplasma gây ra bướu trong óc, viêm óc, cực vi trùng Herpes chạy khắp cơ thể, loại nấm Cryptosporidium, Isospora gây bệnh ruột, vi trùng Salmonella. ..
Đây toàn là những bệnh lạ, hiếm thấy trước kia, nay chỉ vì có bệnh dịch AIDS mới thấy những bệnh này. Một số các loại vi sinh vật gây bệnh này thực sự vô hại, không gây ra bệnh được cho người khoẻ mạnh bình thường, tuy nhiên người bị AIDS sức đề kháng hầu như không còn nữa nên bị đủ các chứng bệnh lạ, do những thứ trước giờ rất ít hay hầu như không gây bệnh!
Người mới bắt đầu bị nhiễm cực vi trùng HIV thường không có triệu chứng gì, trừ một số ít bị triệu chứng cấp tính như nóng sốt, đau nhức, tiêu chảy, nổi mần đỏ, đau bụng. . . 3 đến 6 tuần lễ sau khi nhiễm trùng. Trong thời gian này, thử máu vẫn chưa biết được, phải đợi đến 8 tới 12 tuần lễ sau, thử máu mới có kết quả dương.
Từ khi bắt đầu bị nhiễm cực vi trùng HIV đến khi thành bệnh hẳn thường kéo dài rất lâu tùy người. Trung bình từ 8 đến 10 năm. Người bệnh tuy mang cực vi trùng trong người nhưng không có triệu chứng gì. Tuy nhiên trong khoảng 3 năm sau khi nhiễm cực vi trùng, thử máu theo dõi về hệ thống miễn nhiễm khoảng 80- 90% số người bệnh sẽ bắt đầu thấy có sự suy giảm. Bắt đầu có triệu chứng nhẹ chừng 7, 8 năm sau sẽ bị vào khoảng 75% số người bệnh.
Một số người tuy không có triệu chứng gì nhiều nhưng có thể thấy hạch nổi lên ở cổ, ở nách, háng. Vì thế nếu bị nổi hạch kéo dài trên ba tháng không thấy bớt phải thử máu về AIDS. Thường khi số lượng tiểu bạch cầu T4 giảm dưới 200 trong một microliter, người bệnh sẽ bắt đầu có những triệu chứng như mỏi mệt, sốt, sụt ký, da nổi mần đỏ, lở miệng, lở bộ phận sinh dục... hoặc cơ thể sa sút, ốm o gây mòn nhiều gọi là hypercatabolic wasting syndrome. Có nhiều triệu chứng như kể trên nhưng chưa bị nhiễm trùng nặng lắm gọi là AIDS- related complex hay ARC.
Khi bắt đầu bị những bệnh nhiễm trùng nặng như bị các bệnh kể ở phần đầu là bị AIDS hẳn, ngoài ra người bệnh tới giai đoạn này thường khoảng 60% cũng sẽ bị các bệnh về thần kinh như điên khùng hoặc bị sưng màng óc, bướu trong óc, viêm óc.. v.v…
Các bệnh về ung thư cũng xảy ra nhiều, thường nhất là một loại ung thư da đặc biệt gọi là Kaposi’s sarcoma, gần như chỉ thấy nơi người bị AIDS. Các ung thư khác cũng hay bị là ung thư hạch, ung thư óc.
Bệnh AIDS như vậy thường xảy ra chậm nhưng một khi đã bắt đầu xảy ra, tình trạng chỉ một ngày một xuống dần và sau cùng sẽ chết. Người bệnh có mang trong cơ thể cực vi trùng HIV như vậy không sớm thì muộn cũng sẽ tiến triển đến tình trạng bị AIDS hẳn và sau cùng chết, tuy thời gian khác nhau tùy người, vấn đề chữa trị như vậy ngoài việc chữa các bệnh nhiễm trùng nặng khi xảy ra với thuốc và cách chữa riêng cho từng bệnh, còn phải nhắm thẳng vào cực vi trùng HIV.
Hiện nay chưa có thuốc nào chữa cực vi trùng này hiệu quả nhiều, tuy loại thuốc zidovudine hay còn gọi là AZT có thể làm chậm lại sự phát hiện bệnh AIDS cho những người có mang trong mình cực vi trùng HIV. Thường phải uống 200mg cứ 4 tiếng một lần. Một thứ thuốc khác là dideoxynosine viết tắt là ddl cũng đang được dùng để thử. Tuy nhiên chưa có loại thuốc nào hiệu quả đủ để trừ bệnh này và một khi phát tác thành AIDS, chỉ có thể chữa những bệnh nhiễm trùng hay ung thư đế kéo dài đời sống mà thôi.
Vấn đề thử nghiệm tìm bệnh AIDS hiện nay đã dễ dàng và nhanh chống nhiều. Phương pháp thử máu gọi là ELISA test thử rất nhanh và khá chính xác tuy nhiên nếu dương thường cần phải thử lại và kiểm chứng bằng một thử nghiệm khác gọi là Western blot test. Thử về AIDS có thể xin thử tại các city clinics hoặc các phòng thử nghiệm thương mại.
Bệnh AIDS như vậy là một bệnh nguy hiểm, tuy phần lớn vẫn ở trong số những người có yếu tố về đời sống nguy hiểm dễ mắc bệnh như đồng tính luyến ái, ghiền. . . nhưng sự truyền nhiễm sang quần chúng do giao tiếp tình dục đã bắt đầu gia tăng.
Vấn đề ngừa bệnh hết sức quan trọng vì lý do chưa có thuốc hữu hiệu để chữa. Dùng bao cao su condom giúp ích nhiều cho việc ngừa bệnh AIDS cũng như nhiều thứ bệnh truyền nhiễm sinh dục khác.
Cách thức ngừa tốt nhất trong tương lai đối với cực vi trùng HIV là thuốc chích ngừa vaccine, tuy một số đang được thử cũng phải còn lâu nữa mới có thể tìm được loại thuốc ngừa nào có hiệu quả và an toàn được.
 
 
NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIỂU 
 
HỎI: 
Tôi năm nay 26 tuổi, có chồng, hai con, mỗi năm tôi thường mắc chứng đi tiểu bị rát, phải đi nhiều lần cứ nửa tiếng, một tiếng lại bắt đi. Nước tiểu mỗi lần như vậy thường đục, đôi khi có máu. Bụng dưới hay bị đau, có lần bị nóng lạnh. Xin cho biết đau bệnh gì, tại sao và cách chữa trị
Nguyễn Thị L.
 
ĐÁP: 
Bệnh của bà là bệnh nhiễm trùng đường tiểu. Bệnh này thường xảy ra ở người đàn bà đã lập gia đình với hệ thống đường tiểu dễ bị nhiễm trùng. Vi trùng hay gây ra bệnh này là loại Escherichia coli là loại vi trùng sống trong bộ tiêu hoá, có trong phân. Vi trùng này dễ xâm nhập và gây bệnh khi đường tiểu bị trầy trụa sau khi giao hợp hoặc khi bàng quang (bọng đái) không bình thường, có tật bẩm sinh..v..v ..Thông thường chỉ làm nhiễm trùng ở đường tiểu dưới, bọng đái, nhưng đôi khi có thể chạy lên ống dẫn tiểu phía trên, làm nhiễm trùng thận. Trường hợp nặng vi trùng có thể chạy vào máu làm nhiễm trùng máu cấp tính (septicemia) gây ra kích xúc có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Chữa trị về nhiễm trùng đường tiểu phải dùng trụ sinh sau khi thử nước tiểu biết chắc chắn có nhiễm trùng. Nếu hay bị nhiều lần, có thể phải cấy vi trùng để xem hợp loại trụ sinh nào vì có thể bị kháng thuốc. Các trụ sinh thường dùng: Amoxil, Bactrim, Noroxin V. V.. thường phải uống từ 7-10 ngày.
Ngừa chứng nhiễm trùng đường tiểu quan trọng nhất là phải uống thật nhiều nước. Không khát cũng phải tập thói quen uống nhiều nước. Lý do để vi trùng không có dịp nằm trong bọng đái quá lâu có thế xâm nhập và gây nhiễm trùng. Điều quan trọng khác là cơ thể có đủ nước ít bị các biến chứng về nhiễm trùng máu và kích xúc.
Nếu bị đi bị lại thường quá (mỗi năm cả chục lần) có thể phải uống trụ sinh thường xuyên để ngừa. Thuốc ngừa thường dùng là Macrodantin hay Bactrim. Đôi khi phải chụp hình đường tiểu hay soi đường tiểu để tìm các nguyên nhân bẩm sinh hoặc xem có sạn thận, bệnh của bọng đái hay không. Các trường hợp này có thể phải giải phẫu.
& & &
 
 
 
 
TIỂU RA MÁU 
 
HỎI: 
Tôi gần đầy đi tiểu thấy ra máu tuy không tthấy đau đớn gì. Xin bác sĩ cho biết như vậy có phải là bệnh về thận không? Tai sao đi tiểu có máu tươi? Cũng xin bác sĩ cho biết cách chữa trị ra sao?
Nguyễn H. T.
 
 
ĐÁP: 
Trong nước tiểu bình thường không có hồng huyết cầu hay có máu. Thận có nhiệm vụ lọc máu cho cơ thể và tạo ra nước tiểu nên khi thận làm việc bình thường, chỉ có nước, các chất điện giải, chất cặn bã như urea bị thận lọc ra. Máu với hồng huyết cầu, bạch huyết cầu, chất đạm, các tế bào, chất đường … đều bị giữ lại và không có sự hiện diện trong nước tiểu. Khi thận bị bệnh, các cơ chế lọc máu, giữ chất đường, hấp thụ lại nước ..v.v. . . bị rối loạn và trong nước tiểu có thể thấy có các chất kể trên.
Ngoài thận ra, các cơ quan khác của bộ phận tiết niệu như đường dẫn tiểu từ thận xuống bọng đái gọi là ureter, bàng quang hay bọng đái, đường dẫn tiểu từ bọng đái ra ngoài gọi là urethra, và ở người đàn ông tuyến đường tiểu gọi là prostate khi bị bệnh đều có thể gây ra làm chảy máu và gây ra đi tiểu có máu.
Để trả lời câu hỏi của ông, cần phải phân biệt các loại đi tiểu ra máu và tìm chỗ nào gây ra chảy máu trong cơ quan tiết niệu.
Tiểu ra máu có thể thấy máu tươi hay chỉ có hồng huyết cầu trong nước tiểu phải thử nghiệm mới thấy. Nếu đi tiểu ra máu tươi phải chú ý xem từ lúc bắt đầu đi tiểu đến lúc tiểu xong đều thấy máu hay chỉ thấy lúc đầu khi đi tiểu hoặc chỉ thấy máu lúc sắp tiểu xong.
Những người đi tiểu ra máu tươi suốt từ lúc đầu đến lúc cuối thường bị bệnh về thận vì máu từ trên thận chảy xuống đã được hòa với nước tiểu có sẵn trong bọng đái và tạo ra màu máu đỏ hồng suốt trong lúc đi tiểu. Bệnh thường nhất là bệnh sạn thận. Ở người đàn ông, sạn thận là một trong những nguyên nhân hay thấy khi đi tiểu ra máu. Thường kèm với đau quặn thắt lưng, đau chạy xuống dưới dịch hòan. Đau vì sạn thận là một loại đau dữ dội, thường phải ôm bụng, ôm lưng và đau thành cơn. Đi tiểu có thể thấy máu tươi suốt thời gian đi tiểu. Tuy nhiên có thể không thấy máu đỏ, phải thử nước tiểu mới thấy có hồng huyết cầu.
Bệnh khác quan trọng là ung thư thận. Ung thư thận là loại ung thư nguy hiểm vì khi định được bệnh, phần lớn đã chạy đi khắp nơi và không chữa được. Đi tiểu ra máu là một trong những triệu chứng của ung thư thận. Ngoài ra là sờ thấy bướu trong bụng hay ở vùng cạnh sườn, và đau cạnh sườn. Đi tiểu ra máu thường phải làm thử nghiệm để loại trừ nguyên nhân ung thư thận.
Nguyên nhân khác nữa của đi tiểu ra máu tươi là chấn thương thận. Bị đánh vào vùng lưng hay té ngã.. có thể thấy đi tiểu ra máu. Những bệnh khác ít hơn là lao thận. Ở bên Mỹ ít thấy nhưng Việt Nam cũng còn thấy nhiều chứng lao thận, làm đi tiểu ra máu.
Một bệnh đặc biệt làm đi tiểu ra máu là bệnh Berger’s disease hay còn gọi là IgA nephropathy tuy hiếm nhưng người Việt Nam cũng có một số hay bị. Bệnh này làm lâu lâu đi tiểu ra máu tươi chừng vài ngày rồi hết. Đôi khi thấy sau khi bị cảm cúm đi trước. Tìm nguyên nhân phải dùng kim xuyên vào sau lưng tới thận để lấy một miếng nhỏ xem dưới kính hiển vi điện tử mới định được bệnh. Bệnh Berger’s làm đi tiểu ra máu tươi này thường cũng không nguy hại gì lắm, nhưng sau 15, 25 năm... có thể gây ra suy thận. Bệnh loại này cũng không có thuốc chữa trị, chỉ theo dõi, nếu sau này bị suy thận hẳn sẽ phải dùng thận nhân tạo lọc máu.
Đi tiểu chỉ thấy máu tươi lúc bắt đầu đi hoặc lúc sắp xong thường do bệnh của tuyến đường tiểu prostate hay của ống dẫn tiểu ra ngoài urethra. Người đàn ông bị viêm tuyến đường tiểu do nhiễm trùng có thể thấy máu tươi lúc đi tiểu, vì thế khám nghiệm tuyến này bằng cách khám hậu môn bằng ngón tay để sờ tuyến này nơi người đàn ông là điều quan trọng để định bệnh.
Nơi người đàn bà, đi tiểu ra máu tươi thường hay thấy nhất là do nhiễm trùng đường tiểu. Khi bị nhiễm trùng đường tiểu, bọng đái bị viêm, nhiễm trùng làm đi tiểu rát, buốt, tiểu gắt, tiểu khó. Nước tiểu ra có thể thấy đục, đôi khi ra máu tươi hay máu đen bầm. Nếu không chửa sớm hay bị nặng có thể làm nóng sốt, đau bụng dưới hay đau lưng. Đi tiểu ra máu tươi nơi người đàn bà như vậy phải tìm nguyên nhân có bị nhiễm trùng đường tiểu hay không và thử nước tiểu hay nếu cần, cáy vi trùng để định bệnh và trị liệu cho có hiệu quả.
Một nguyên nhân khác nữa của đi tiểu ra máu là các bệnh làm loãng máu, máu không đông. Thường đi kèm thêm với những triệu chứng khác như chảy máu răng, chảy máu mũi, chảy máu bầm dưới da... Những trường hợp này phải thử máu để định bệnh. Một số bệnh quan trọng là bệnh thiếu tiểu cầu, thiếu vitamin K, ung thư máu ..v.v. . .
Trái ngược với đi tiểu thấy máu tươi, những trường hợp thấy có hồng huyết cầu trong nước tiểu phải thử nghiệm mới thấy, người bệnh có thể không để ý gì vì đi tiểu thấy màu nước tiểu vẫn bình thường. Thường những bệnh này là bệnh của thận kinh niên, ngoài hồng huyết cầu trong nước tiểu còn thấy có chất đạm, tế bào thận gọi là casts. Các bệnh này thường do viêm thận kinh niên gọi là glomerulonephritis, chữa trị rất khó khăn và phần lớn trường hợp sau nhiều năm sẽ bị suy thận và sau cùng phải dùng thận nhân tạo để lọc máu.
Tóm lại, khi đi tiểu ra máu, phải đi khám nghiệm để tìm nguyên nhân kỹ lưỡng và định bệnh chính xác.
Khám đường tiểu và tuyến đường tiểu nơi người đàn ông để xem có những bệnh loại này hay không?
Nơi người đàn bà, sẽ cần phải thử nước tiểu hay cáy vi trùng để tìm nhiễm trùng đường tiểu. Thử nước tiểu là điều quan trọng trong mọi trường hợp để xem mức độ có máu trong nước tiểu hay có đi kèm chất đạm trong nước tiểu hay tế bào thận trong nước tiểu hay không?
Nếu những bệnh thông thường không thấy có, thường phải chụp hình thận gọi là IVP hay intravenous pyelography, chích thuốc vào tĩnh mạch để chụp hình khi thận lọc máu. Làm quang tuyến IVP sẽ giúp tìm xem có sạn thận hay không, có bướu hay không. Siêu âm thận đôi khi cũng cần để định bệnh. Trường hợp nghi ung thư thận sẽ phải làm CAT scan là loại chụp hình đặc biệt, hoặc chích thuốc vào động mạch để chụp gọi là renal arteriography.
Chụp hình không tìm ra nguyên nhân làm đi tiểu ra máu sẽ cần phải làm thử nghiệm soi gọi là cystocopy, dùng ống soi từ đường tiểu vào bọng đái để nhìn thẳng hoặc bơm thuốc theo ống soi để chụp hình. Sau cùng nếu vẫn chưa tìm ra nguyên nhân có thể sẽ cần làm biopsy cắt một miếng thận nhỏ như đã nói ở trên để xem dưới kính hiển vi điện tử.
Đi tiểu ra máu như vậy là một triệu chứng quan trọng và có thể do những bệnh nguy hiểm gây ra. Vấn đề chính là đi khám nghiệm sớm và làm thử nghiệm cần thiết để định bệnh chính xác và theo đó để chữa trị cho đúng mức và hiệu quả.
 
 
 
 
  &&&
 
TIỂU KHÓ 
 
HỎI: 
Tôi năm nay 66 tuổi, gần đây tôi bị chứng đi tiểu khó khăn, thường cảm thấy như đi tiểu không hết, đôi lúc như muốn tiểu thường xuyên. Xin bác sĩ cho biết đây là loại bệnh gì và cần chữa trị ra sao?
Trần Văn B.
 
 
ĐÁP: 
Chứng tiểu khó ở người đàn ông lớn tuổi thường do các bệnh thuộc về bọng đái (bladder), bệnh thuộc về tuyến đường tiểu (prostate gland) gây ra. Trong số các bệnh này, bệnh lớn tuyến đường tiểu là bệnh thông thường nhất. Tuyến đường tiểu là một hạch tuyến ở người đàn ông nằm dưới bọng đái, bọc chung quanh đường tiểu. Nhiệm vụ của tuyến này là tạo ra tinh dịch để nuôi dưỡng tinh trùng được cấu tạo từ dịch hòan, trung bình tuyến lớn khoảng 20 grams sau tuổi dậy thì và không thay đổi kích thước trong khoảng 20- 30 năm. Bắt đầu vào tuổi 45- 50 trở đi, tuyến đường tiểu
thường có khuynh hướng phát triển lớn hơn với đa số người đàn ông. Nếu tuyến này trở thành quá lớn gọi là prostate gland hyperplasia, có thể sẽ để trên đường tiểu tuyến này vây bọc chung quanh và gây ra chứng tiểu khó.
 
 
Nguyên nhân tạo ra tuyến đường tiểu lớn quá độ là do tác dụng của kích thích tố sinh dục nam dihydrotes- tosterone làm tăng trưởng các tế bào của tuyến này. Ở người già, một loại kích thích tố khác gọi là estradiol phụ giúp tác dụng này và càng lớn tuổi, chất estradiol càng có nhiều hơn nên càng làm cho tuyến này phát triển hơn. Thông thường đến tuổi 80 trở lên, có thể nói hầu hết người đàn ông nào cũng bị tuyến prostate phát triển quá lớn, tuy có thể có người bị triệu chứng tiểu khó, người không bị. Đặc biệt người Á Đông thường bị ít hơn người da trắng hay da đen, tuy nhiên số người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng bị chứng lớn tuyến đường tiểu cũng không phải là ít.
Các triệu chứng của bệnh này gồm đi tiểu khó khăn, nước tiểu chảy yếu, đôi khi nhỏ giọt và thường cảm thấy như nước tiểu còn lại trong bọng đái, chưa tiểu ra hết. Một số người bị bệnh lớn tuyến đường tiểu có thể bị thêm các bệnh khác như nhiễm trùng hoặc có thể có ung thư tuyến sẽ có thêm các triệu chứng khác như đi tiểu bị buốt, đau, đi ra máu, thấy lúc nào cũng bắt đi tiểu v.v. . . Trong số các bệnh cũng làm đi tiểu khó và kèm thêm một số triệu chứng như kể trên, dĩ nhiên bệnh ung thư tuyến đường tiểu (prostate carcinoma hay cancer) là bệnh đáng ngại hơn hết. Ung thư tuyến đường tiểu thường xảy ra ở người già và chỉ xếp hạng sau ung thư phổi và ung thư ruột già về mức độ tử vong. Người Á Đông tương đối bị ít hơn người da trắng và da đen cũng giống như trường hợp lớn tuyến, tuy nhiên nếu sống ở Hoa Kỳ nhiều năm, mức độ có thể bị ung thư về tuyến đường tiểu sẽ tăng lên. Điều này cho thấy việc tạo ra ung thư tuyến đường tiểu có thể một phần do môi trường ngoại giới.
Ung thư tuyến đường tiểu cũng giống như các ung thư khác, điều quan trọng là định bệnh sớm, nếu ung thư còn ở trong bọc tuyến chưa chạy ra ngoài, giải phẫu cắt bỏ có thể chữa khỏi, tuy nhiên phần lớn trường hợp khi định bệnh được, ung thư tuyến đường tiểu đã lan rộng và chữa trị rất khó khăn. Vấn đề định bệnh sớm như vậy rất quan trọng. Khi đi khám bệnh tuyến đường tiểu có thể khám trực tiếp bằng cách khám hậu môn (rectal examination). Tuyến prostate khi khám bằng cách này có thể ước lượng được mức độ lớn bao nhiêu, có trơn tru, nhẵn hay không. Nếu có ung thư, thường có thể sờ thấy những cục lớn như hạt đậu hay gồ ghề trên mặt của tuyến. Muốn rõ hơn nữa, phải dùng thử nghiệm siêu âm để chụp hình, hoặc dùng cách chụp quang tuyến CAT scan để xác định mức độ ung thư đã chạy ra ngoài chưa. Ngoài ra muốn định bệnh chắc chắn phải dùng cách biopsy tức là cắt một miếng nhỏ để xem dưới kính hiển vi.
Gần đây một phương pháp thử máu để tìm bệnh ung thư tuyến đường tiểu có thể giúp ích cho việc định bệnh này sớm hơn. Cách thử máu này gọi là PSA tức là đo lượng prostate specific antigens trong máu. Nếu lượng này khá cao và khám tuyến đường tiểu qua hậu môn có sự nghi ngờ, thường phải làm biopsy để tìm ung thư. Cách thử máu này chưa được thông dụng lắm vì một số trường hợp đo lượng PSA lên cao trong khi không có ung thư (gọi là false positive) và cách thức sử dụng phương pháp thử máu này để tìm bệnh ung thư tuyến đường tiểu trong số đông dân chúng vẫn còn trong vòng bàn cãi. Tuy nhiên đây là một cách thử máu tiện lợi để tìm ung thư tuyến đường tiểu sớm sủa và có thể giúp ích nhiều.
Trở lại câu hỏi của ông viết trong thư, chứng đi tiểu khó của ông, muốn định bệnh cần phải biết thêm nhiều chi tiết khác về bệnh lý, cần phải khám nghiệm về tuyến đường tiểu prostate nếu cần phải làm thử nghiệm. Một điều đáng chú ý là một số loại thuốc uống thông thường có thể có những tác dụng trên đường tiểu và làm đi tiểu khó khăn. Những loại thuốc có thể ảnh hưởng trên hệ thống giao cảm - đối giao cảm là hệ thống thần kinh điều khiển các bắp thịt mở đóng của bọng đái đều có thể gây ra tác dụng làm đi tiểu khó. Các loại thuốc có đặc tính này gọi là anticholinergic như các thuốc chống đau bụng (Donnatal, Bentyl… v.v...) một số thuốc chữa suy nhược thần kinh loại anti depressant và ngay cả một số thuốc chữa cảm có chất antihistamine thông thường đôi khi có thể gây ra tác dụng trên đường tiểu tuy hiếm hơn.
Như vậy, điều trước tiên là phải để ỷ xem có đang uống thuốc gì có thể gây ra tác dụng trên đường tiểu hay không? Nếu không, có thể là bệnh của bọng đái hay bệnh của tuyến đường tiểu prostate. Trường hợp bệnh của tuyến đường tiểu prostate, điều quan trọng là phải xác định đây là chứng lớn tuyến thông thường gọi là benign prostate hypertrophy hay có thể là ung thư prostate. Nếu nghi là ung thư sẽ phải làm nhiều thử nghiệm hơn. Nếu chỉ là lớn tuyến thông thường, chỉ cần làm quang tuyến đường tiểu gọi là IVP (intravenous pyelogram) để xem mức độ nghẹt đường tiểu và bọng đái.
Về cách chữa trị, nếu có triệu chứng nhiều do bệnh lớn tuyến prostate, có thể cần phải giải phẫu để cắt bỏ tuyến này. Hiện nay có một loại thuốc mới tên gọi là Proscar có thể làm nhỏ tuyến đường tiểu và không cần mổ, tuy nhiên phải dùng một thời gian lâu dài vài tháng trở lên mới bắt đầu có hiệu quả và phải dùng liên tục.
Trường hợp nếu khám nghiệm và làm thử nghiệm có ung thư tuyến đường tiêu prostate, phương cách trị liệu là giải phẫu cắt bỏ nếu ung thư còn giới hạn. Trường hợp đã lan rộng, thường sẽ phải dùng cách chạy điện phóng xạ (radiation therapy) để trị liệu. Những cách trị liệu khác cho ung thư prostate đã đi khắp cơ thể là cách dùng thuốc để chống kích thích tố nam androgens hay cắt bỏ dịch hòan, hay dùng hoá học trị liệu chỉ có tính cách làm giảm thiểu tạm thời và cũng không kéo dài được lâu.
* * *
 
Tóm lại, tiểu khó là một triệu chứng nơi người lớn tuổi cần phải khám nghiệm cẩn thận để định bệnh, đặc biệt là tuyến đường tiểu nơi người đàn ông. Bệnh lớn tuyến thông thường hiện nay có thể trị liệu tương đối hiệu quả bằng thuốc, trong trường hợp nặng vẫn cần phải giải phẫu. Điều quan trọng khác là việc tìm bệnh ung thư sớm sủa để có thể trị liệu kịp thời và hiệu quả.
 
 
 
&&&
 
 
 
 
 
 
 
SẠN THẬN 
 
HỎI: 
Tôi năm nay 36 tuổi, gần đây có lần bị đau quặn ngang lưng, đi tiểu thấy ra máu và ra một cục sạn nhỏ. Xin cho biết có phải là sạn thận không? Có gì nguy hiểm không? Xin cho biết cách chữa trị.
Tôn V. P.
 
 
ĐÁP: 
Bệnh của ông với triệu chứng rõ ràng và đi tiểu ra sạn như kể trên là bệnh sạn thận. Bệnh này cũng hay thấy ở người Việt Nam. Thông thường đàn ông bị sạn thận nhiều hơn đàn bà, gấp hai hoặc ba lần. Tuổi thường bị sạn thận là cỡ 30 - 40 tuổi và khi đã bị sạn thận một lần như trường hợp của ông, thường hay bị đi bị lại, trung bình khoảng 2, 3 năm một lần.
Lý do tại sao gây ra sạn thận thường không được biết đích xác nhưng di truyền trong gia đình là một yếu tố quan trọng. Phần lớn các trường hợp sạn thận do chất vôi calcium được tiết ra quá nhiều trong nước tiểu gọi là chứng idiopathic hypercalciuria (có nghĩa tiểu ra nhiều vôi, idiopathic là không hiểu tại sao). Nước tiểu bình thường là một dung dịch bão hòa với các ions calcium, oxalates và phosphates, vì thể chỉ cần tăng nồng độ các ions lên một chút vì lý do này hay lý do khác là các ions này kết hợp với nhau, trầm hiện và biến sang thể rắn, trở thành sạn thận. Thường phải cần một nhân nhỏ thành hình trước rồi sạn mọc to dần. Nhân này có thể do nhiễm trùng, hoặc do một vài tinh thể khác như tinh thể của chất uric acid, hydroxyapatite ..v..v... Nhiều khi chỉ vì uống nước ít quá, nước tiểu quá đặc, các ions calcium và oxalates tụ thành tinh thể rồi cứ thế bám vào dần gây ra sạn càng ngày càng lớn.
Một số các trường hợp sạn thận không phải do chất vôi calcium nhưng do chất uric acid trong trường hợp những người bị bệnh viêm khớp xương do bệnh gout, hoặc do chất Struvite gồm magnesium, ammonium và phosphates ở những người hay bị nhiễm trùng đường tiểu do vi trùng Proteus. Các trường hợp này ít hơn trường hợp sạn do chất vôi calcium.
Sạn thành hình thường nằm ở trong những khoang thận (papilae), nếu không chạy xuống ống dẫn tiểu thường không gây ra triệu chứng. Đôi khi chỉ thấy có máu trong nước tiểu. Tuy nhiên nếu sạn chạy xuống ống dẫn tiểu hay kẹt ở chỗ tiếp nối ống dẫn tiểu và bọng đái, thường gây ra triệu chứng đau lưng. Đau lưng do thận gây ra khác với những trường hợp đau lưng do bắp thịt hay xương gây ra, đau này thường là đau dữ dội, quặn người lại và truyền xuống bụng dưới. Nếu cục sạn nhỏ và ống dẫn tiểu co thắt đầy thoát ra được, cơn đau sẽ giảm dần, tuy có thể đi tiểu ra máu trong một vài ngày. Nếu sạn nằm kẹt và cơn đau không giảm hoặc bị nhiễm trùng thường phải nhập viện để điều trị.
Chữa trị về sạn thận trước kia thường phải mổ nhưng hiện nay đã có nhiều phương pháp mới làm tan sạn thận và không cần mổ. Tối tân nhất hiện nay là cách làm tan sạn thận bằng luồng sóng kích xúc (shock waves). Người bệnh được cho dìm mình trong một bồn nước thật lớn và các luồng sóng kích xúc do một dòng điện cao thể tạo ra được truyền trong nước và hội tụ lại trên vùng thận có sạn. Các luồng sóng kích xúc này truyền qua da thịt không gây ra tai hại hay phản ứng gì cả nhưng làm bể viên sạn trong thận ra những mảnh nhỏ như cám, có thể theo nước tiểu thoát ra ngoài dễ dàng. Người bệnh không phải mổ, không phải nằm lại bệnh viện hơn 1 hay 2 ngày và chỉ bị đi tiểu có máu chừng một vài ngày là khỏi.
Phương pháp chữa này gọi là ESWL, viết tắt của extracorporeal shock waves lithotripsy hiện thông dụng khắp nơi và giảm thiểu rất nhiều trường hợp phải mổ. Những phương pháp khác cũng không phải mổ là dùng ống soi đi ngược đường tiêu và dùng siêu âm đánh tan viên sạn, hoặc dùng ống soi xuyên từ ngoài da đi thẳng vào trong thận. Tuy nhiên phương pháp dùng luồng sóng kích xúc vẫn là cách ít nguy hiểm và ít gây phản ứng hơn cả.
Khi bị sạn thận, mặc dù đã đi tiểu thoát ra ngoài như trường hợp hỏi bệnh hoặc có sạn đã được đánh cho tan bằng phương pháp luồng sóng kích xúc kể trên thường vẫn phải tìm hiểu sạn thận thuộc loại gì và tìm căn nguyên gây ra sạn. Nếu đi tiểu ra được sạn, nên cố gắng giữ được viên sạn để thí nghiệm phân chất thuộc loại gì: calcium oxalate hay calcium hydroxyapatite, hoặc là sạn uric acid, struvite hay do chất cystine. Điều này quan trọng vì phải chữa những bệnh gây ra sạn hay nếu không biết rõ, dùng nhưng phương pháp phòng ngừa để không bị sạn thận trở đi trở lại.
Thường khám nghiệm sẽ cần đo lưọng calcium trong máu, đo các chất creatinine, urea nitrogen trong máu để biết về sự hoạt động của thận, đo lượng calcium, uric acid trong nước tiểu. Chụp hình sẽ cần chụp thận và ống dẫn tiểu gọi là IVP (intravenous pyelogram), chích thuốc iodine vào máu để chụp hình lúc thận lọc thành nước tiểu. Nếu định được bệnh gây ra sạn thận như bệnh bướu ở tuyến phó giáp trạng (hyperparathyroidism) làm tăng chất calcium trong máu và gây ra sạn, có thể trị bệnh này bằng giải phẫu hoặc bệnh viêm khớp gout gây ra sạn thận uric acid có thể trị bằng cách uống thuốc Allopurinol v.v. . . Như đã nói ở trên, phần lớn các trường hợp không tìm được nguyên nhân gọi là chứng idiopathic hypercalciuria, nước tiểu có quá nhiều chất vôi, chứng này có thể ngăn ngừa bằng cách uống nước thật nhiều, it nhất 6 đến 8 ly nước mỗi ngày. Kiêng ăn các thức ăn có nhiều chất vôi, thí dụ như uống sữa ..v.v. . . Một loại thuốc có thể dùng để hạ chất vôi trong nước tiểu là loại thuốc lợi tiểu Thiazide, cũng dùng để trị áp huyết cao. Uống thuốc này sẽ ngăn ngừa chất vôi tăng lên quá cao trong nước tiểu và ngăn ngừa được sạn thận không trở đi trở lại.
Tóm lại, sạn thận là một bệnh có thể gây ra nhiều nguy hiểm, gây ra chứng đau lưng dữ dội nếu sạn bị nghẹt trong ống dẫn tiểu. Để lâu không chữa có thể gây ra suy và hư thận, nhiễm trùng thận ..v.v. . . Tuy nhiên hiện nay sạn thận tương đối chữa trị dễ dàng và ít nguy hiểm hơn trước và tìm hiểu bệnh trạng để phòng ngừa sẽ giúp cho những tai hại do sạn thận gây ra giảm đi rất nhiều.
 
 
&&&&
 
 
BƯỚU CỔ
 
HỎI:
Tôi năm nay 46 tuổi, mới từ Việt Nam sang được gần một năm. Khi còn tại nước nhà tôi có bị bướu cổ, mắt lồi, có uống thuốc một thời gian thấy bớt nên ngưng thuốc. Khi sang đây được mấy tháng, tôi thấy bướu cổ lớn hơn trước và sụt ký nhiều. Xin cho biết tại sao bị bướu cổ? Chữa trị ra sao? Có cách nào chữa dứt không?
Nguyễn Thị V.
 
 
ĐÁP:
Bướu cổ là bệnh của tuyến giáp trạng (thyroid gland). Tuyến giáp trạng là cơ quan nội tiết trọng yếu của cơ thể, tiết ra kích thích tố giáp trạng. Kích thích tố này cần thiết cho sự hoạt động của mô tế bào, cho sự trưởng thành, cho việc tiêu dùng năng lượng của cơ thể …v..v. .., tóm lại rất nhiều chức vụ quan trọng, vì thế khi kích thích tố giáp trạng tiết ra không được điều hòa, quá nhiều hay quá ít đều sanh bệnh.
Bệnh của bà với bướu cổ, mắt lồi và sụt ký là bệnh do tuyến giáp trạng hoạt động quá mạnh, tiết ra nhiều kích thích tố hơn bình thường gọi là hyperthyroidism, (còn gọi là Graves’ disease). Ngoài những triệu chứng kể trên còn có những triệu chứng khác đi kèm như tay run, ra mồ hôi nhiều, người lúc nào cũng thấy nóng bức mặc dù người khác thấy nhiệt độ bình thường, mất ngủ, tiêu chảy, tính tình thay đổi hay bứt rứt, khó chịu v.v. . . Người lớn tuổi dễ bị khó thở, hồi hộp, suy tim. Nhiều người bị bắp thịt tay chân đau nhức hay yếu đi, bại xuội. Nếu để lâu không chữa trị, bệnh này có thể làm chết người, thường là do tim đập quá nhanh, suy tim nặng hoặc khi kích thích tố tiết ra quá độ có thể làm kích xúc, mê sảng.
Nguyên nhân gây ra bệnh này là vì cơ thể người bệnh tạo ra một kháng thể chống lại một cơ cấu trên màng tế bào của tuyến giáp trạng. Cơ cấu này là chỗ tiếp nhận sự tác dụng của một kích thích tố khác từ não thùy gọi là TSH. Khi kháng thể này dính với cơ cấu tiếp nhận TSH, tế bào của tuyến giáp trạng bị kích thích mạnh, tăng trưởng và tiết ra nhiều kích thích tố giáp trạng hơn bình thường và kết quả gây ra bệnh.
Lý do tại sao tự dưng những người bệnh này lại tiết ra những kháng thể đó hiện giờ vẫn chưa rõ. Một phần có thể vì di truyền, một phần có thể vì tác dụng của một loại cực vi trùng nào đó chưa ai khám phá ra. Một yếu tố khác có thể ảnh hưởng là những dồn ép về tâm lý (stress). Nhiều người Việt Nam tỵ nạn sang Hoa Kỳ bị khủng hỏang về tâm lý dễ xảy ra bệnh bướu cổ do kích thích tố giáp trạng quá nhiều này. Trường hợp Tổng thống George Bush gần đây bị bệnh này có thể liên quan một phần đến stress do trách nhiệm lãnh đạo và cuộc chiến với Iraq vừa qua.
Vấn đề định bệnh tương đối dễ dàng nếu có những triệu chứng rõ ràng như bướu cổ lớn, sờ thấy được, mắt lồi, sụt ký như trường hợp của bà. Tuy nhiên rất nhiều người có ít triệu chứng, bướu cổ không lớn lắm, không để ý không biết đến, mắt không có triệu chứng lồi, chỉ thấy hay nóng nảy, khó ngủ, tay hơi run và sụt ký chút đỉnh… v.v.. Những trường hợp này khó định bệnh hơn và phải dựa vào thử nghiệm để định bệnh chính xác nếu có nghi ngờ.
Thử nghiệm chính là thử máu để đo lượng kích thích tố giáp trạng trong máu. Nếu lượng kích thích tố này cao hơn bình thường phải đi chụp hình tuyến giáp trạng bằng chất phóng xạ gọi là Thyroid scan đồng thời đo mức độ hấp thụ chất phóng xạ Iodine của tuyến giáp trạng gọi là radioactive iodine uptake. Hai thử nghiệm này cho định bệnh được bệnh bướu cổ Graves’s disease một cách chính xác.
Chữa trị bệnh này có ba phương pháp chính: đầu tiên là dùng thuốc uống loại Propylthiouracil hoặc Methimazole để ngăn chặn sự tổng hợp kích thích tố giáp trạng. Các loại thuốc uống này phải dùng trong một thời gian lâu, có thể kéo dài từ một đến hai năm. Thuốc phải uống đều, nhiều lần trong ngày. Thuốc có thể gây nhiều phản ứng, một trong những phản ứng nguy hiểm là giảm lượng bạch huyết cầu nên phải theo dõi cẩn thận. Cách trị này có công hiệu khoảng 50%, có nghĩa là sau khi thấy bớt nhiều và ngưng thuốc, một nửa số bệnh nhân sẽ bị trở lại. Trường hợp của bà ở
Việt Nam đã chửa trị là dùng một trong hai loại thuốc này, tuy nhiên sau khi ngưng thuốc bệnh vẫn còn và triệu chứng trở lại sau một thời gian.
Cách chữa trị thứ nhì là giải phẫu, cắt bỏ một phần lớn tuyến giáp trạng, chỉ để lại một phần vừa đủ để giữ lượng kích thích tố giáp trạng bình thường. Tuy nhiên sau khi giải phẫu thường sẽ bị thiếu và phải uống thuốc kích thích tố để bồi bổ lại. Ngoài ra giải phẫu có thể có những biến chứng như chảy máu, liệt giây nói ở cổ ..v..v.. nên cần phải có y sĩ giải phẫu chuyên môn.
Cách thông dụng nhất, đặc biệt cho người lớn tuổi là uống thuốc phóng xạ Iodine. Cách chữa này giản dị nhất vì chỉ cần uống một lần, thuốc phóng xạ được tích tụ lại trong tuyến giáp trạng sẽ làm tiêu hủy các tế bào của tuyến này, kết quả cũng tương tự như giải phẫu tuy không cần đến dao. Điều khó khăn là tính cân lượng cho vừa đủ dựa trên kết quả chụp hình phóng xạ và thử nghiệm hấp thụ phóng xạ như đã nói ở trên. Thông thường uống thuốc phóng xạ Iodine để chữa sẽ giảm dần triệu chứng trong vòng một tháng và có thể coi như khỏi hẳn sau một thời gian. Tuy nhiên người bệnh chữa trị theo kiểu này phải thử máu theo dõi mỗi 6 tháng hay một năm để đo lưọng kích thích tố giáp trạng có thiếu hay không.
Trung bình khoảng 50% bệnh nhân sẽ bị thiếu kích thích tố giáp trạng (hypothyroidism) trong vòng 10 năm sau khi chữa trị bằng chất phóng xạ. Những người này sẽ phải uống thuốc kích thích tố cả đời để bồi bổ lại.
Tóm lại trường hợp của bà bị bệnh bướu cổ Graves’ disease cần phải thử nghiệm để định bệnh chính xác và cần phải chữa trị. Cách chữa trị có thể dùng một trong ba phương pháp đã nêu trên, sự lựa chọn sẽ tuỳ thuộc vào trường hợp của từng người bệnh sau khi bệnh nhân đã được giải thích cặn kẽ và cân nhắc lợi hại của từng cách trị liệu.
 
 
 
&&&
 
 
 
 
MỒ HÔI
 
HỎI:
Tôi năm nay 20 tuổi, thường hay ra mồ hôi tay ướt đẫm mỗi khi có gì xúc động hay lo âu sợ hãi. Xin cho biết tại sao bị như vậy, có gì nguy hiểm không và chữa trị ra sao?
Trần T. H.
 
 
ĐÁP:
Chứng mồ hôi tay thông thường là do hệ thống giao cảm, đối giao cảm điều khiển các tuyến mồ hôi bị mất thăng bằng gây ra. Rất nhiều người bị chứng này mỗi khi có gì xúc động nhiều tuy nặng nhẹ khác nhau. Nếu chỉ bị như thế và không có triệu chứng gì khác cũng không có gì đáng ngại. Một loại bệnh cần quan tâm cũng gây ra chảy mồ hôi nhiều là bệnh tuyến giáp trạng (thyroid) tuy nhiên có thêm những triệu chứng khác: bướu cổ, mắt lồi, tay run, sụt ký … v.v. . .
Nếu muốn cẩn thận, có thể nên thử về tuyến giáp trạng nếu nghi ngờ. Cách chữa trị về chứng mồ hôi tay là dùng thuốc thoa có chất ammonium chloride để làm khô. Trường hợp quá nặng có thể phải dùng thuốc uống loại chống lại hệ thống đổi giao cảm (anticholinergic) để ngăn chặn tuyến mồ hôi không cho tiết ra quá nhiều.
 
&&&
 
 
SỤT CÂN
 
HỎI:
Tôi năm nay 45 tuổi, gần đây thấy bị sụt cân nhiều. Trong vòng 3, 4 tháng thấy mất cả 15, 20 pounds. Điều đặc biệt là tôi thấy thèm ăn luôn miệng, ăn nhiều đồ bổ béo mà vẫn sụt cân. Xin cho biết tại sao.
Trần H. V.
 
 
ĐÁP:
Sụt cân không phải là chuyện thường. Trừ khi cố tình ăn kiêng khem để xuống ký vì quá mập. Sụt cân nhiều và nhanh như trường hợp của ông thường là triệu chứng của một bệnh quan trọng cần phải được định bệnh và chữa trị cẩn thận. Câu hỏi của ông không kể ra những triệu chứng khác nhưng thông thường sụt cân như thế phải có những dấu hiệu khác đi kèm. Thí dụ như có nóng sốt hay không, đường tiêu hoá có gì trục trặc hay không (ói mửa, đi ra máu, đau bụng..v..v...), đường hô hấp có gì thay đổi (ho, đàm, đau ngực. . .), hoặc các bộ phận khác của cơ thể. Nếu biết thêm những triệu chứng khác, việc định bệnh sẽ dễ dàng hơn để nhầm vào một cơ quan hay hệ thống nào đó của cơ thể gây ra bệnh.
Điều đáng ngại và quan trọng hơn cả trong việc tìm nguyên nhân của sự sụt cân đáng kể như trên là phải tìm xem có thể bị ung thư gì hay không. Nhiều trường hợp dấu hiệu đầu tiên của ung thư là sụt ký nên cần phải khám nghiệm kỹ lưỡng để xác định và truy tầm có thể có ung thư của cơ quan nào không.
Những bệnh nhiễm trùng kinh niên cũng thường hay gây ra sụt cân. Đối với dân Việt Nam, bệnh lao vẫn còn là bệnh thường thấy nên phải chú ý xem về các bệnh lao: lao phổi, lao hạch v.v. . . Tuy hiếm thấy ở người Việt tuy nhiên bệnh AIDS cũng có thể khởi đầu bằng dấu hiệu sụt cân mà thôi.
Rối loạn về hệ thống tiêu hoá cũng thường gây ra sụt cân nhưng đi kèm với những triệu chứng khác tương đối dễ định bệnh hơn: loét bao tử, viêm ruột, đau gan v.v. . .
Rối loạn về các tuyến nội tiết cũng thường gây ra triệu chứng sụt cân như tuyến giáp trạng (thyroid) tiết ra kích thích tố quá nhiều trong trường hợp bướu cổ, hoặc bệnh tiểu đường khi bị nặng cũng làm sụt cân nhiều. Đặc biệt hai bệnh này người bệnh bị sụt cân nhưng ăn uống vẫn ngon miệng, không như các trường hợp ung thư, lao, bệnh tiêu hoá.. v.v..làm cho người bệnh không thấy thèm ăn. Nếu ông bị một trong hai bệnh về nội tiết này, tuy vẫn là bệnh nặng nhưng tương đối dể định bệnh và dể chữa hơn. Điều quan trọng vẫn là khám nghiệm kỹ lưỡng và thử nghiệm tìm bệnh chính xác để chữa trị kịp thời.
 
 
 
&&&




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.11.2018 21:20:45 bởi Ct.Ly>
ỐM QUÁ MUỐN MẬP 
 
HỎI: 
Tôi không bệnh hoạn gì nhưng trong gia đình ai cũng kêu là ốm quá. Xin hỏi có cách nào cho mập lên được. Có thuốc gì uống để mập lên.
V. Nguyễn
 
ĐÁP: 
Mập ốm là chuyện quan trọng tại xứ Hoa Kỳ này, phần nhiều là mập quá làm sao cho ốm bớt. Điều này là một vấn đề nan giải và là căn bản cho cả một kỹ nghệ hàng tỷ đô la mỗi năm ở Hoa Kỳ. Ốm quá muốn mập tương đối dễ dàng hơn và tựu chung vẫn là vấn đề năng lượng về ăn uống nếu quả thực không có bệnh hoạn gì.
Cơ thể con người mỗi ngày cần tiêu thụ khoảng 1800 - 2000 calories một ngày nếu không làm việc gì. Nếu lao động nhiều sẽ cần nhiều năng lượng hơn, 2400 - 2600 calories hay hơn nữa. Số calories không dùng đến sẽ được tích trữ lại dưới dạng mỡ. Như vậy điều giản dị là muốn mập hơn cần phải ăn uống với số calories nhiều hơn số tiêu thụ. Vấn đề là những người ốm muốn mập này thường không thấy đói, không muốn ăn. Trung tâm điều khiển sự ăn uống, no đói của con người nằm tại một trung khu trong não bộ thuộc vùng hypothalamus. Khi lượng đường trong máu xuống thấp, trung khu này bị kích thích gây ra cảm giác đói. Khi ăn vào lượng đường trong máu lên cao lại và bao tử đầy căng gây phản xạ thần kinh truyền lên trung khu gây cảm giác no. Trung khu này bị ảnh hưởng bởi nhiều thứ như tâm lý chẳng hạn. Một số người bị bệnh tâm thần không ăn uống được vì không cảm thấy đói gọi là anorexia nervosa, đôi khi phải nhập viện để truyền đồ ăn bằng ống xuống bao tử vì hòan toàn không muốn ăn. Một số hoá chất cũng có ảnh hưởng trực tiếp lên trung khu này như nicotine của thuốc lá. Điều này giải thích tại sao những người ghiền thuốc lá khi cai thường lên ký vì thèm ăn hơn trước. Chất serotonin cũng có ảnh hưởng lên trung khu no đói, vì thế ở một số người thuốc có tính cách chống lại chất serotonin cũng làm cho ăn ngon hơn.
Ở trường hợp của anh, nếu không bị bệnh hoạn gì như bệnh về tiêu hoá, nội tiết.. v.v. . ., ốm quá muốn mập điều giản dị là ăn uống nhiều hơn. Muốn thế phải hoạt động nhiều để dễ đói ăn hơn, tâm lý phải điều hòa, cân bằng để không ảnh hưởng tới trung khu não bộ điều khiển no đói. Nếu hút thuốc lá phải bỏ ngay. Vấn đề dùng thuốc phải cẩn thận. Một số người dùng những loại thuốc thuộc loại steroid (như một số lực sĩ gian manh dùng anabolic steroid để lên cân và bắp thịt nở nang trong các cuộc tranh tài) điều này rất tai hại và nguy hiểm vì làm cơ thể giữ nước lại, phù lên, hại gan, ảnh hưởng tâm lý ..v.v... Trước kia ở Việt Nam có phong trào dùng thuốc Durabolin là một loại anabolic steroid để lên cân gây ra nhiều nguy hiểm cho nhiều người.
Một loại thuốc đôi khi có thể hữu ích cho việc ăn uống ngon miệng là thuốc có tính chất anti-serotonin. Cyproheptadine là thuốc trị về dị ứng và ngứa nhưng cũng kèm tính chất anti-serotonin có thể dùng để làm ăn ngon miệng hơn tuy nhiên hiệu quả cũng giới hạn.
 
 
 
&&&
 
 
 
 
BỆNH MÒN XƯƠNG 
 
HỎI: 
Tôi nghe nói sau khi tất kinh nên uống thêm calcium để tránh bị mòn xương và gẫy xương lúc về già. Xin bác sĩ cho biết điều đó có đúng không? Tại sao phụ nữ lớn tuổi hay bị bệnh này? Ngoài calcium có cần thêm thuốc gì khác không? Cũng xin bác sĩ cho biết nếu uống nhiều có gì nguy hại không?
Nguyễn Thi L. N.
 
 
ĐÁP: 
Bệnh mòn xương hay osteoporosis là bệnh khá thông thường ở người lớn tuổi, đặc biệt ở người đàn bà sau khi hết kinh. Bệnh này ở người Việt Nam ít được để ý đến, một phần vì những biến chứng của bệnh này như hay bị gẫy xương ít xảy ra hơn so với trường hợp người Âu Mỹ, phần khác vì vấn đề định bệnh ít được quan tâm đến. Bệnh thường ở người lớn tuổi tuy một số ít trường hợp hiếm có, người trẻ cũng có thể bị. Trước hết ta hãy xem bệnh mòn xương là gì và những nguyên nhân nào gây ra bệnh này.
Mòn xương có thể định nghĩa là khối lượng của xương bị giảm đi so với thể tích của xương. Bề dày của vỏ xương bị mỏng đi, các lớp xương cấu tạo bị mất và thưa thớt hơn. Xương thực sự không phải là một cơ quan bất động như ta thường nghi, ngay cả khi xương đã ngưng tăng trưởng khi đến tuổi trưởng thành, lúc nào cũng có sự hấp thụ xương và cấu tạo xương mới diễn ra không ngừng. Vì thế một khi sự hấp thụ xương vì một lý do nào đó xảy ra nhiều hơn sự cấu tạo xương mới, khối lượng xương bị mất dần đi và gây ra bệnh mòn xương.
Người bình thường khi đến tuổi 40 - 50 thường bắt đầu cũng mất dần xương, tuy rất ít, khoảng 0.3 đến 0.5% khối lượng xương một năm. Đàn bà đến tuổi tắt kinh sẽ mất xương nhanh và nhiều hơn người đàn ông cùng lứa tuổi.
Tính ra đến tuổi già 80 - 90, người đàn ông sẽ mất khoảng 20 - 30% trong khi người đàn bà mất nhiều hơn 40 - 50% khối lượng xương.
Xương thường mất nhiều ở cột xương sống lưng và ở xương háng. Đặc biệt người đàn bà bị mòn xương hay bị thêm ở xương cánh tay ngoài radius nên dễ bị gẫy xương tay. Phần lớn hay bị nhiều ở xương sống, xương bị mòn hay làm sụm đốt của xương sống, thường ở phần giữa và phần dưới của cột xương sống lưng và phần đầu của xương sống bụng. Những người lớn tuổi bị sụm xương sống này thường thấy đau lưng rất nhiều, xảy ra nhiều khi chỉ vì làm những cử động rất thường như cúi mình xuống, khuân đồ v.v. . . Đôi khi không có nguyên cớ gì rõ rệt, chỉ thấy bị đau lưng nhiều và chụp hình mới biết bị sụm xương sống lưng do mòn xương gây ra.
Một số trường hợp không có triệu chứng đau lưng hay đau gì khác chỉ thấy lưng còng xuống, lùn đi vì xương sống lưng bị sụm nhiều chỗ, ngoài ra xương lưng cũng vẹo đi, không thẳng như trước. Những triệu chứng khác do mòn xương gây ra là gẫy xương ở háng, chỗ cổ của xương đùi, gẫy xương chậu. Ở người già, gẫy những xương này thường khó lành và phải thay bằng háng nhân tạo mới có thể đi lại được.
Nguyên nhân gây ra bệnh mòn xương quan trọng nhất ở người đàn bà là thiếu kích thích tố sinh dục estrogens. Người đàn bà lớn tuổi khi tắt kinh sẽ bị thiếu kích thích tố này, cũng như trường hợp những người trẻ hơn nhưng vì giải phẫu cắt buồng trứng cũng sẽ thiếu kích tố estrogens.
Lý do estrogens quan trọng cho xương vì kích thích tố này tác dụng trực tiếp lên tế bào cấu tạo xương gọi là osteoblasts, làm những tế bào này tiết ra chất hoá học gọi là somatomedin- C làm xương mọc thêm. Khi tắt kinh, người đàn bà thiếu hẳn kích thích tố này và bắt đầu mất dần khối lượng xương. Khi cho uống thêm kích thích tố estrogens, calcium sẽ được giữ lại nhiều hơn và mức độ bị mòn xương bớt đi nhiều.
Nguyên nhân khác có thể gây ra bệnh mòn xương là có quá nhiều chất glucocorticoid hay steroid. Một số người dùng những loại thuốc có chất steroid này sẽ dễ bị chứng mòn xương, vì thế phải rất cẩn thận nếu bị những bệnh phải dùng loại thuốc steroid. Một loại bệnh hiếm là bệnh Cushing làm cơ thể có quá nhiều chất glucocorticoid thường hay gây ra mòn xương.
Một nguyên nhân khác nữa là bệnh bướu cổ. Những người bị bệnh bướu cổ làm mất chất calcium trong nước tiểu nên cũng dễ bị chứng mòn xương. Những người bị bệnh tiểu đường cũng có khuynh hướng hay bị bệnh mòn xương hơn người thường.
Xương được cấu tạo bằng chất vôi calcium nên nếu cơ thể vì một lý do nào đó không hấp thụ được calcium, những người này cũng dễ bị mòn xương. Thường nhất là chứng không hấp thụ được đồ ăn malabsorption, đi cầu ra mỡ. Người Việt Nam một số lớn không hấp thụ được sữa do thiếu chất phân hoá tố lactase cũng làm cho sự hấp thụ calcium khó khăn hơn.
Rất nhiều bệnh khác cũng hay đi kèm thèm với chứng mòn xương như bệnh thấp khớp rheumatoid arthritis, bệnh kinh giật epilepsy, bệnh suy phổi do nghẹt hô hấp, bệnh nghiện rượu kinh niên …
Một số trường hợp không biết được nguyên nhân gây ra chứng mòn xương gọi là idiopathic osteoporosis xảy ra ở người đàn bà trẻ, nhất là khi có bầu. Những người bị chứng mòn xương này có thể bị thiếu chất biến dưỡng của sinh tố D gọi là 1,25 dihydroxy- vitamin D, nên không bảo vệ được xương khi có bầu và làm mất khối lượng xương mỗi khi sinh. Những người này phải tránh cho con bú vì sẽ bị mất calcium nhiều hơn nữa theo sữa mẹ.
Bệnh mòn xương xảy ra nhiều nhất ở người đàn bà nên việc ngừa bệnh này rất quan trọng khi vừa tắt kinh. Uống thêm kích thích tố sinh dục estrogens sẽ ngừa được mức suy giảm của khối lượng xương và khi về già ngừa được các trường hợp gẫy xương do bệnh mòn xương gây ra. Thuốc thường dùng nhất là Premarin, trung bình uống 0.625 mg một ngày.
Ngoài ra uống thêm calcium cũng giúp ích vì mỗi ngày cơ thể cần khoảng 1000 mg calcium để giữ thăng bằng. Người đàn bà tắt kinh hay bị giải phẫu buồng trứng phải cần nhiều chất calcium hơn nữa, khoảng 1500 mg một ngày. Uống thêm vitamin D cũng giúp ích vì phần lớn những người bị mòn xương này hấp thụ không đủ vitamin D. Thuốc thường dùng có cả hai chất calcium và vitamin D là Oscal 500 D, có thể mua không cần toa. Uống hai viên mỗi ngày sẽ thêm cho cơ thể 1000 mg calcium và có được thêm 250 đơn vị vitamin D.
Điều quan trọng khi dùng calcium và vitamin D là phải coi chừng về sạn thận. Những người bị bệnh sạn thận không được dùng, và nếu có những bệnh về thận, đường tiểu, hoặc những bệnh về biến dưỡng dễ gây sạn thận cũng không nên dùng.
Một chất khác cũng có thể dùng để chữa bệnh mòn xương là fluoride. Chất này dưới dạng anions được xương thu nhận và tạo thành màng tinh thể xương. Sodium fluoride làm kích thích tế bào tạo xương gọi là osteoblasts và tạo thêm xương mới. Tuy nhiên dùng chất này cũng dễ bị biến chứng nên hiện nay cũng chưa được dùng nhiều.
Tóm lại, bệnh mòn xương là một bệnh cũng khá thông thường tuy ít người để ý đến. Để ngừa bệnh này, đặc biệt ở người đàn bà sau khi tắt kinh, nên chú ý đến việc dùng thêm kích thích tố Premarin và thêm calcium và vitamin D. Tuy bệnh này ở người Việt Nam tương đối ít hơn người da trắng, những người lớn tuổi thường cũng dễ bị bệnh này và dễ bị những biến chứng như gẫy xương hay sụm xương sống. Ăn uống đầy đủ, tập thể dục, kiêng rượu … cũng giúp ích cho việc ngừa; ở người đàn bà dùng thêm những thuốc bồi bổ như nói trên cũng có thể có hiệu quả hơn.
 
 
&&&
 
 
ĐAU NHỨC KHỚP XƯƠNG 
 
HỎI:
Thưa bác sĩ tôi bị chứng bệnh sưng các khớp xương: đầu gối, mắt cá chân, cùi chỏ, các đốt xương của mấy ngón tay, xương hàm ngay chỗ màng tang cạnh bên tai Có khi sưng đỏ đau nhức kéo dài đến vài tháng. Tôi đi bác sĩ họ thử máu bảo là không có bệnh gì cả, mà hình như có một chút triệu chứng tê thấp. Ông cho tôi thuốc tê thấp nhẹ, tôi chỉ uống có hai ngày 8 viên theo lời dặn bác sĩ thì báo hại cho tôi thêm một chứng lở bao tử vì thuốc quá mạnh. Tôi đành uống Tylenol khi cảm thấy đau, cũng thấy đỡ chứ không khỏi hẳn. Chán quá tôi không biết làm sao hơn. Chứng bệnh này có phải gia truyền không? Lý do sao mình bị đau nhức và các chữa trị thế nào? Ăn uống hàng ngày có ảnh hưởng gì đến đau nhức như trường hợp của tôi không? Hai chân tôi lúc nào cũng thấy mỏi mệt, tối đến thì đau nhức buốt trong xương, sáng ra không duỗi chân ra được vì căng cứng và đau. Hai ngón tay cái của tôi đôi lúc sưng to lên. Thưa bác sĩ làm ơn chỉ bảo cho. Cám ơn bác sĩ nhiều. Bệnh tôi kéo dài đã 10 năm rồi.
Ái Vân (New Jersey)
 
 
ĐÁP:
Các chứng đau nhức khớp xương, bắp thịt là một trong những bệnh thông thường nhất và việc chữa trị ít được thoả đáng nhất trong y khoa. Người Việt Nam chúng ta thường gọi chung là đau nhức phong thấp nhưng đúng ra phải phân biệt nhiều loại khác nhau: đau nhức do bệnh của khớp xương, đau do bệnh của phần chung quanh khớp như màng bọc khớp, dây gân và đau ở phần ngoài khớp như thớ sợi (fibrositis), bắp thịt v.v. . .
Thường thấy nhất là bệnh sưng khớp xương hay viêm khớp (arthritis). Viêm khớp có thể do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như nhiễm trùng, hoặc vi trùng hoặc cực vi trùng, bệnh rối loạn về miễn nhiễm, bệnh về biến dưỡng, bệnh nội thương có triệu chứng về khớp xương như ung thư, bệnh tuyến giáp trạng.. v.v. . . đôi khi do thương tích như té, ngã làm viêm khớp kinh niên. Nguyên nhân quan trọng và thường nhất là viêm khớp xương do mòn khớp (osteoarthritis hay còn gọi là degenerative joint disease).
Viêm khớp do nhiễm trùng thường dễ định bệnh, chỉ bị một hay hai khớp, đi kèm với nóng sốt, có thể làm mủ trong khớp. Cần phải hút nước trong khớp ra để xem dưới kính hiển vi và cáy vi trùng. Quan trọng nhất là loại nhiễm trùng khớp do vi trùng lậu (gonorrhea), tuy nhiên các loại vi trùng khác như Staphylo- coccus, Streptococcus cũng có thể có tuy ít hơn. Ở Việt Nam những bệnh thương hàn, lao có nhiều nên viêm khớp do vi trùng thương hàn Salmonella, vi trùng lao có thể thấy. Ở Mỹ hầu như không có. Một số người nhiễm cực vi trùng cũng làm sưng khớp xương như cực vi trùng sưng gan loại B, cực vi trùng ban đỏ rubella, cực vi trùng của bệnh mononucleosis …v.v. . .
Bệnh về biến dưỡng gây ra viêm khớp quan trọng nhất là bệnh gout do chất uric acid trong máu quá cao gây ra. Bệnh này thường ở đàn ông nhiều hơn đàn bà, đặc biệt hay bị ở khớp gần ngón chân cái. Một số người bị bệnh viêm khớp do tinh thể calcium pyrophosphate đóng trong khớp gây ra sưng đau, gọi là bệnh pseudogout
Viêm khớp do các bệnh rối loạn về miễn nhiễm (immune disorders) gây ra thường là những loại viêm khớp nặng. Quan trọng nhất là bệnh viêm khớp rheumatoid arthritis làm các khớp xương sưng nặng và tàn phá các mô sụn, gây ra lạc khớp và dễ đưa đến tàn phế. Một bệnh khác hiếm hơn là bệnh lupus erythematosus, ngoài viêm khớp còn gây bệnh trên thận, não bộ, tim, mạch máu, ngoài da, làm rụng tóc.. v.v... Hai bệnh này do hệ thống miễn nhiễm của cơ thể bị rối loạn, thay vì giữ nhiệm vụ chống cự vi trùng, chống cự các tế bào biến đổi thành ung thư ..v..v., hệ thống miễn nhiễm của các người bệnh này tạo ra những kháng thể chống lại chính những cơ cấu khỏe mạnh của cơ thể. Trường hợp bệnh viêm khớp rheumatoid arthritis, kháng thể này gọi là rheumatic factor, trường hợp bệnh lupus erythematosus, kháng thể chóng lại nhân tế bào gọi là antinuclear antibodies. Định bệnh hai loại bệnh viêm khớp này cần phải thử máu để đo hai loại kháng thể đó.
Bệnh viêm khớp thường nhất như đã nói ở trên là bệnh viêm khớp xương do mòn khớp (osteoarthritis).
Bệnh này xảy ra ở cỡ tuổi 45- 50 trở đi, đàn ông lẫn đàn bà đều bị nhiều như nhau. Càng lớn tuổi càng dễ bị bệnh; trên 75 tuổi, có thể nói ai cũng có dấu hiệu của bệnh viêm do mòn khớp này, không nhiều thì ít. Lý do là các sụn của khớp xương bị mòn dần, nhất là tại các khớp phải làm việc nhiều như các khớp ở bàn tay hay chịu sức nặng của cơ thể nhiều như khớp xương đầu gối, khớp háng. Các tế bào sụn của khớp đóng vai trò quan trọng trong việc gây thành bệnh viêm mòn khớp. Bình thường các tế bào này tiết ra các chất collagen, proteoglycans có đặc tính đàn hồi giúp cho khớp cử động được và chịu được sức nặng đè lên. Ngoài ra các tế bào này cũng tiết ra các phân hoá tố làm tiêu mòn xương. Bình thường các nhiệm vụ này cân bằng nhau, tuy nhiên vì một lý do nào đó chưa được biết rõ, sự quân bình này bị xáo trộn và sự tiêu hủy nhiều hơn gây ra mòn khớp xương, đồng thời cơ chế bồi đắp xương bị lệch lạc, tạo ra sự mọc xương không đúng chỗ làm khớp xương sưng lên, lệch lạc.
Viêm mòn khớp xảy ra thường ở một số ít khớp nhưng cũng có thể tại nhiều khớp khác nhau, khớp xương ngón tay dễ bị nhất . Đặc biệt ở khớp đầu ngoài cùng của ngón tay hay sưng dày lên thành cục gọi là Heberden’s node.
Các bệnh viêm khớp khác ít xảy ra ở đốt ngoài cùng nên đây là điểm phân biệt để định bệnh. Các đốt trong của ngón tay cũng như đốt ngón cái, khớp xương đầu gối, khớp xương háng cũng thường hay bj. Một điểm đặc biệt khác để định bệnh là buổi sáng khi ngủ dậy các khớp này thường bị cứng, phải một lúc mới cử động được, thường kéo dài khoảng 10 - 15 phút.
Một số người bị viêm mòn khớp xảy ra nhiều ở xương sống. Nhiều khi trở thành nguy hiểm vì có những xương nhánh con mọc ra ở khớp xương sống đè vào dây thần kinh hoặc đĩa xương sống bị thòi ra đằng sau đè lên tủy sống gây ra tê liệt. Đôi khi cần phải giải phẫu mới tránh được tình trạng này.
Vấn đề định bệnh chứng viêm mòn khớp (osteoarthritis) tương đối dễ dàng nếu bị ở nhiều khớp và thể thức các khớp bị viêm trên bàn tay. Nếu bị đã lâu, chụp hình quang tuyến sẽ cho thấy các nhánh xương con mọc bên cạnh khớp giúp cho việc định bệnh viêm mòn khớp. Một số trường hợp cần phải phân biệt với các bệnh viêm khớp loại nặng, phá hủy khớp như bệnh viêm khớp rheumatoic arthritis hay loại lupus erythematosus. Điều này thực hiện bằng cách thử máu để xem có kháng thể rheumatoid factor hay Ana (antinuclear antibodies) hay không? Bệnh viêm mòn khớp không có các kháng thể này. Ngoài ra đôi khi cũng cần phải đo lượng uric acid trong máu hay xem nước hút từ khớp xương dưới kính hiển vi để phân biệt với bệnh viêm khớp loại gout. Trong bệnh này xem kính hiển vi có thể thấy các tinh thể uric acid hiện diện trong nước của khớp xương.
Việc chữa trị bệnh viêm mòn khớp thực sự phải nói là khó khăn vì tất cả các cách trị đều chỉ là tạm thời hoặc chỉ để giảm triệu chứng. Đầu tiên là tránh dùng một khớp nào quá đáng, nhất là khi khớp đó đang sưng, đau. Nếu bị nhiều ở khớp đầu gối, khớp háng hay xương sống lưng và mập quá, phải xuống ký để bớt trọng lượng đè lên các khớp xương này. Tập thể dục để bắp thịt chung quanh khớp xương được mạnh hơn cũng giữ cho khớp đỡ bị thương tổn hơn và không bị lệch lạc.
Thuốc uống chính chỉ có aspirin và các loại thuốc chống viêm. Tylenol thực sự không phải là thuốc chống viêm, chỉ làm giảm đau, nếu bị nhẹ chỉ đau sơ và không bị sưng, viêm khớp nhiều, có thể dùng Tylenol để giảm đau. Hầu hết các trường hợp đều sẽ cần dùng đến các loại thuốc chống viêm. Có nhiều loại khác nhau, loại tương đối ít gây phản ứng là Ibuprofen có bán không cần toa dưới tên Advil, Nuprin, Motrin IB. Tương đối mạnh hơn là các thuốc như Naprosyn, Clinoril, Tolectin, Indocin v.v. . . Các thuốc này thường hay gây phản ứng về bao tử, đôi khi làm chảy máu bao tử, vì thế phải uống sau khi ăn. Có thể phải kèm thêm với thuốc bao tử như Maalox, Mylanta.. v.. v... Hiện nay có một loại thuốc mới để ngừa loét bao tử khi dùng các loại thuốc chống viêm như kể trên là thuốc Misoprostol bán dưới tên Cytotec. Những người không dùng được thuốc chống viêm vì dễ loét bao tử có thể dùng thuốc Cytotec uống chung với thuốc chống viêm để chữa bệnh viêm khớp và đồng thời ngăn ngừa chứng loét bao tử do thuốc gây ra.
Hiệu quả các loại thuốc chống viêm thực sự cũng chỉ có giới hạn. Nếu viêm khớp nhiều, sưng lớn, đôi khi cần phải chích thuốc loại steroid thẳng vào khớp xương. Dùng cách chữa này tương đối có hiệu quả nhiều, giảm sưng và đau được lâu hơn, tuy nhiên cũng có những nguy hiểm đi kèm như dễ bị nhiễm trùng, làm mòn xương nhiều hơn. Thường không được chích quá 2 - 3 lần trong một năm.
Một số bệnh nhân bị viêm mòn khớp quá nặng ở các khớp đầu gối hay khớp háng không đi lại được đôi khi phải cần giải phẫu thay thế bằng khớp nhân tạo. Hiệu quả về việc thay hòan toàn khớp háng rất cao, nhiều người trước kia nằm liệt giường nay có thể đi lại được nhờ phương pháp giải phẫu mới này. Thay khớp đầu gối cũng giúp ích cho một số tuy hiệu quả không cao bằng. Tuy nhiên đây là những phương pháp sau cùng và chỉ dành cho những bệnh nhân bị viêm mòn khớp quá nặng và ảnh hưởng tới sự đi lại quá nhiều.
 
&&&
 
 
 
 
NHỨC ĐẦU KINH NIÊN
 
HỎI:
Tôi bị bệnh nhức đầu đã lâu năm, có đi khám bệnh thì được biết áp huyết không cao. Không còn cách nào khác là uống thuốc sau khi thấy nhức. Uống một ly rượu sáng ngủ dậy cũng bị nhức, ngủ không ngon giấc hay bị đánh thức giấc cũng bị nhức và gần như tuần nào cũng phải uống thuốc Anacin. Tình trạng dùng thuốc lâu năm có ảnh hưởng tai hại gì đến thận và bao tử không? Và phải làm sao?
Nguyên Bá T.
 
 
ĐÁP:
Nhức đầu kinh niên là một bệnh thường xảy ra và tương đối là một trong những vấn đề khó khăn nhất của y khoa. Nhức đầu là một triệu chứng thông thường và có thể đi kèm với rất nhiều thứ bệnh khác nhau. Phần lớn là những bệnh nhẹ, tuy nhiên một số ít bệnh khác là bệnh quan trọng và nguy hiểm cần được định bệnh và điều trị ngay. Nhức đầu xảy ra khi những cơ cấu có thần kinh cảm giác nhận biết sự đau của vùng đầu bị kích thích. Các cơ cấu này gồm có da đầu, bắp thịt, động mạch và màng bọc xương sọ, các mô của mắt, tai, mũi và khoang mũi. Bên trong óc chỉ có các xoang tỉnh mạch và các giây thần kinh số 5, số 9, số 10 và giây thần kinh có có cảm giác đau. Ngay chính phần mềm của não bộ không có cảm giác đau khi bị đụng chạm hay kích thích. Xương sọ cũng thế, không có cảm giác đau.
Như thế nhức đầu có thể xảy ra theo nhiều cơ chế: hoặc do các động mạch đầu dãn nở, làm căng và kích thích gây đau, đây là nguyên nhân thường thấy nhất của chứng nhức đầu kinh niên migraine; hoặc do bắp thịt đầu hay cổ co rút hay viêm gây ra đau. Các cơ chế khác ít hơn như các xoang tỉnh mạch đầu bị đè, đẩy sai chỗ như khi có bướu trong não bộ sẽ gây ra nhức đầu. Hoặc màng óc bị viêm, nhiễm trùng như trong bịnh sưng màng óc cũng sẽ gây ra nhức đầu.
Điều quan trọng trong việc định bệnh và chữa trị chứng nhức đầu là xác định xem có bệnh nào nặng và nguy hiểm gây ra nhức đầu hay không? Quan trọng nhất là những bệnh cần trị ngay như sưng màng óc, thường bị sốt, cổ cứng đi kèm với nhức đầu. Một bệnh khác là chảy máu trong nước tủy xương sống (subarachnoid hemorrhage) cũng làm nhức đầu, cổ cứng tuy không bị sốt. Nhiều người bị té, dập đầu làm đọng cục máu dưới màng cứng cũng gây ra nhức đầu (subdural hematoma) phải mổ ngay mới chữa được.
Những bệnh nặng khác gây ra nhức đầu cũng cần phải định bệnh ngay là bệnh tăng áp suất trong mắt (glaucoma) không chữa sớm có thể gây ra mù, bệnh nhiễm trùng khoang mũi (sinusitis) cũng gây ra nhức đầu dữ dội, thường đi kèm với nóng sốt và nghẹt mũi, hay chảy nước mũi có mùi hôi. Một bệnh nữa ở người già là bệnh viêm mạch máu thái dương (temporal arteritis) gây ra nhức đầu và nếu không chữa ngay có thể gây mù mắt.
Những bệnh nặng trên gây ra nhức đầu thường là cấp tính, xảy ra trong vài ngày. Nếu nhức đầu kéo dài hơn, xảy ra trong vòng vài tuần hay tháng và càng ngày càng nặng hơn, cần phải định bệnh xem có bướu trong não bộ gây ra nhức đầu hay không? Hiện tại cách chính xác nhất là chụp hình não bộ bằng CAT scan hay bằng phương pháp MRI (magnetic resonance imaging). Áp huyết cao cũng gây ra nhức đầu tuy nhiên chữa trị và định bệnh dễ dàng.
Nhức đầu kinh niên kéo dài từ năm này sang năm khác thường không phải do những bệnh nặng, nguy hiểm trên gây ra. Hai loại bệnh thường nhất gây ra nhức đầu kinh niên là chứng nhức nửa đầu migraine và nhức đầu do căng thằng, tension headache.
Chứng nhức nửa đầu migraine rất thường thấy, ở đàn bà nhiều hơn đàn ông, bắt đầu khi mới lớn và kéo dài cho đến khi lớn tuổi sẽ đỡ lần đi. Thường nhức nửa bên đầu, mỗi khi nhức như giật lên từng hồi, không làm việc được, kèm theo với ói mửa đôi lúc. Một số người có thể có triệu chứng về thần kinh hay tê liệt. Mỗi cơn nhức kéo dài một hai ngày rồi hết, có thể trở lại khi sắp có kinh nơi người đàn bà, hoặc khi bị căng thẳng quá mức. Có người dùng thuốc ngừa thai cũng hay bị loại nhức đầu migraine này. Một số người bị lên cơn nhức đầu sau khi ăn uống những chất để lâu lên men có chất tyramine, có người uống rượu nhất là rượu vang đỏ cũng hay bị. Cà phê, trà, chocolate cũng thế.
Chứng nhức đầu migraine thường di truyền trong gia đình, nguyên nhân không được rõ lắm, có thể do sự mất thăng bằng trong việc điều hòa sự co thắt, dãn nở của mạch máu đầu, hoặc do sự xáo trộn về biến dưỡng của chất Serotonin trong não bộ.
Loại nhức đầu kinh niên thứ hai hay thường thấy là nhức đầu do căng thẳng, tension headache. Loại này thường gây nhức cả đầu, đến từ từ chứ không đến nhanh chống từng cơn như loại migraine và kéo dài lâu hơn, có thể nhức đầu triền miên cả vài tuần hay vài tháng. Ngủ thì không sao nhưng thức giấc là thấy nhức đầu ngay. Loại này khác với migraine ở chỗ thường bắt đầu ở tuổi trung niên và có thể kéo dài nhiều năm. Nguyên nhân của nhức đầu tension headache cũng không được rõ lắm, một số người cho là do các bắp thịt đầu và cổ căng thẳng, co rút gây ra nhưng có lẽ cũng phần lớn do sự dãn nở bất thường của các mạch máu đầu gây ra.
Thực sự một số lớn bệnh nhân bị nhức đầu kinh niên có cả hai đặc tính của nhức đầu migraine lẫn với nhức đầu căng thẳng và cách chữa phải dùng thuốc cho cả hai loại.
Loại nhức đầu tension headache có nhiều yếu tố về tâm lý tuy không bắt buộc. Lo âu quá mức, chán nản, thất vọng cũng thường thấy nơi những người nhức đầu kinh niên loại này, khoảng 60%. Chữa trị tâm lý thường cũng trở thành cần thiết cho loại này.
Chữa trị chứng nhức đầu thông thường hàng ngày do mỏi mắt, mệt, cảm thường.. v.v…chỉ cần Tylenol hay Aspirin là đủ, tuy nhiên chữa trị chứng nhức đầu kinh niên khó khăn hơn nhiều. Phần lớn các người bị bệnh này uống các thuốc nhức đầu như Tylenol, Anacin ..v..v..thường xuyên tuy không hiệu quả nhiều lắm. Dùng quá nhiều các loại có aspirin có thể làm loét bao tử, chảy máu bao tử ở một số người. Tylenol hay Ibuprofen (Advil, Nuprin) lạm dụng có thể ảnh hưởng trên thận.
Nếu bị nhức đầu nặng loại migraine thường các thuốc nhẹ loại trên ít có tác dụng. Thường phải dùng thuốc có thêm thuốc ngủ, caffeine như Fiorinal, Esgic. Nặng hơn nữa phải dùng thuốc có chất ergot như Cafergot. Một loại thuốc mới để chích dưới da và trị nhức đầu migraine rất hiệu nghiệm là thuốc Imitrex có tác dụng làm co mạch máu đầu nhờ ảnh hưởng cơ cấu serotonin receptor của mạch máu trong đầu. Thuốc này làm hết ngay cơn nhức đầu migraine trong vòng 10 phút khi chích dưới da 6mg thuốc Imitrex. Bệnh nhân có thể xin toa bác si để mua thuốc này tự chích lấy để chữa các cơn nhức đầu migraine. Tuy nhiên phải được khám nghiệm và chỉ dẫn cẩn thận về cách dùng và những phản ứng có thể xảy ra. Muốn ngăn ngừa các cơn nhức đầu migraine phải dùng thuốc Propanolol hay nặng hơn nữa dùng loại thuốc Methysergide. Một số lớn trường hợp phải dùng thuốc an thần, anti-depressant để chữa trị về tâm thần, đặc biệt cho các người bị nhức đầu kinh niên do căng thẳng, tension headache. Thực sự chữa trị về nhức đầu kinh niên hiện nay chưa được thoả đáng, thường phải tùy từng trường hợp nặng, nhẹ, nhiều hay ít để dùng từng loại thuốc khác nhau. Tuy nhiên đối với bệnh nhức đầu kinh niên, tác dụng của thuốc cũng chỉ có giới hạn. Điều quan trọng vẫn ở bệnh nhân ăn, uống cẩn thận, điều độ, tránh những thứ dễ kích thích như rượu, thuốc lá.. v..v…nghỉ ngơi đầy đủ, thể dục đúng mức và nhất là nhận thức được những gì gây ra lo âu, phiền não cho mình hằng ngày và tìm cách để đối phó, thích hợp cho đời sống thoải mái hơn.
 
 
&&&
 
 
LỞ MÔI
 
HỎI:
Tôi hay bị lở môi thường xuyên. Mỗi năm có thể bị một vài lần. Xin cho biết tại sao bị chứng này, có cách gì chữa trị không?
Chương V. L.
 
 
ĐÁP:
Chứng lở môi hay trở đi trở lại như ông nói là do một loại cực vi trùng tên Herpes simplex. Loại cực vi trùng này có hai loại: loại 1 và loại 2 (HSV-1 và HSV- 2). Thông thường loại 1 gây lở môi hay màng nhầy trong miệng và loại 2 hay gây lở ở bộ phận sinh dục, tuy nhiên có thể xảy ra ngược lại tuy ít hơn. Loại cực vi trùng này truyền từ người này sang người khác. Cực vi trùng Herpes xâm nhập màng nhầy ở môi hay miệng hay trên da bị trày trụa và sinh sôi nảy nở theo đường dây thần kinh cảm giác và hạch thần kinh. Lần đầu tiên mới nhiễm cực vi trùng này có thể bị nặng, lở nhiều ở môi và trong miệng, có thể gây sốt, nổi hạch, tuy nhiên sau vài ngày đến hai tuần, vết lở bớt dần và cơ thể tạo ra những kháng thể chống cự lại với cực vi trùng này. Điều phiền là cực vi trùng này không bị diệt hết hẳn, vẫn tồn tại trong các hạch thần kinh và lâu lâu xuất hiện trở lại gây lở môi hay miệng.
Nguyên nhân nào làm kích thích cục vi trùng Herpes tái xuất hiện, hiện chưa được biết rõ, tuy tia sáng tử ngoại, thương tích hay trường hợp khi cơ thể suy yếu về hệ thống miễn nhiễm có thể làm cực vi trùng này hòanh hành trở lại.
Thực sự chứng lở môi do Herpes trong những lần sau tái phát chỉ gây khó chịu chút ít, bị lở nhẹ và kéo dài vài ngày rồi hết. Nếu bị ít không cần chữa trị. Thuốc trị về cực vi trùng Herpes hiện nay có loại thuốc Acyclovir duới hình thức bôi hay uống, tuy nhiên thuốc này hiện nay phần nhiều chỉ dùng để trị bệnh lở Herpes của bộ phận sinh dục.
Một biến chứng nguy hiểm của cực vi trùng Herpes là nhiễm trùng não bộ (encephalitis). Tuy rất hiếm xảy ra, biến chứng này có thể nguy hiểm đến tính mạng và cần được chữa trị bằng thuốc Acyclovir truyền vào mạch máu.
 
 
&&&
 
 
 
BỆNH MÉO MIỆNG
 
HỎI:
Tôi có người em khoẻ mạnh bình thường, một hôm ngủ dậy tự nhiên thấy méo miệng. Từ đó đến nay cũng vài tuần không thấy bớt .Xin hỏi tại sao lại bị chứng đó. Có cách gì chữa trị không?
Trần T. H.
 
 
ĐÁP:
Bệnh méo miệng xảy ra một cách đột ngột như vậy nơi một người trước giờ vẫn khoẻ mạnh bình thường như người em của bà thường là bệnh liệt dây thần kinh số 7 trên mặt, còn gọi là bệnh Bell’s palsy. Dây thần kinh số 7 điều khiển sự hoạt động của các bắp thịt trên mặt, phân chia ra bên phải và bên trái. Khi dây thần kinh số 7 bên phải bị liệt chẳng hạn, các bắp thịt bên mặt bị xuôi xuống trong khi các bắp thịt bên trái hoạt động như thường sẽ kéo về phía bên đó, gây nên méo miệng. Thường những bắp thịt trên trán và mắt cũng bị ảnh hưởng nên khi nhắm mắt, bên bị liệt không khép kín lại được.
Muốn thấy rõ ràng bên nào bị liệt, có thể nhìn trán người bệnh khi nhăn trán. Bên bị liệt sẽ phẳng lì không nhăn lại được. Hoặc có thể hỏi người bệnh phồng miệng, bên dây thần kinh lành lặn sẽ phồng má trong khi bên bị liệt lõm vào.
Nguyên nhân nào ở một người khỏe mạnh tự dưng bị liệt dây thần kinh số 7 không được hiểu rõ. Đôi khi người bệnh có thể bị cảm, nhiễm một loại cực vi trùng làm viêm dây thần kinh số 7 và làm sưng sợi dây thần kinh này. Dây thần kinh số 7 chạy thẳng từ não bộ ra, đi ngang một hóc xương rất nhỏ và chật nơi mang tai nên khi bị viêm sưng to lên, xương đè vào làm nghẽn các mạch máu nhỏ li ti nuôi dây thần kinh này. Thiếu dưỡng khí và sự nuôi dưỡng do mạch máu đem lại, dây thần kinh sẽ bị chết gây ra liệt.
Nếu trong giai đoạn đầu lúc dây thần kinh vừa bị viêm sưng lên, chưa bị chết hẳn, dùng thuốc uống chống viêm hoặc giải phẫu để mổ ở xương mang tai kéo dây thần kinh ra có thể cứu vãn được. Nếu để quá lâu dây thần kinh đã chết thường không hồi phục được. Hiện nay phương pháp hữu hiệu nhất là ngay sau khi vừa bị méo miệng hoặc trong vòng một hai ngày sau đó, cho bệnh nhân uống thuốc chống viêm loại Steroid với độ lượng cao trong vòng hai tuần rồi giảm dần. Nếu được chữa sớm có thể hồi phục được 80 - 90%. Có người có thể khỏi hẳn. Điều quan trọng là chữa càng sớm càng tốt và theo dõi mỗi ngày xem tiến triển để thay đổi lượng thuốc nếu cần. Phương pháp giải phẫu hiện nay ít dùng vì nguy hiểm nhiều hơn và hiệu quả không bằng cách chữa trị trên.
 
&&&
 
 
LANG BEN
 
HỎI:
Tôi bị lang ben gần cả người đã lâu, chữa thuốc nhiều lần cũng không khỏi. Xin cho biết tại sao bị lang ben, có cách chữa trị nào hiệu quả không?
Nguyễn Văn
 
 
ĐÁP:
Lang ben là chứng bệnh ngoài da thông thường do một loại nấm gây ra. Loại nấm này tên khoa học gọi là Pityrosporon. Chính ra loại nấm này trên da bình thường người nào cũng có thể có tuy nhiên chỉ một số người loại nấm này mới gây ra bệnh lang ben. Có thể vì lý do di truyền, hoặc những người da nhờn nhiều quá, hay bị nóng và ra mồ hôi nhiều quá, loại nấm Pityrosporon này xâm nhập lớp tế bào da ở ngoài cùng gây ra loang lở có thể lan cả người. Bệnh nấm này không có gì quan trọng tuy trông khó coi nhất là đang tuổi trưởng thành dễ bị bệnh này hơn cả.
Nếu bị ít và mới bị, dùng những loại kem trị nấm thông thường có thể trị được như Micatin (bán không cần toa), hay Lotrimin v.v. . . Nếu bị nặng, đã lâu và lan cả người, dùng những loại nhẹ như trên khó trị hết được. Thuốc mới bây giờ công hiệu nhiều hơn như loại thuốc Ketoconazole hay thuốc Diflucan cần phải dùng cẩn thận vì có thể sinh biến chứng.
 
 
 
&&&&
 
 
NỔI HẠCH
 
HỎI:
Tôi năm nay 48 tuổi, khoảng 3 tuần nay tôi bỗng dưng thấy nổi hạch ở cổ. Hạch càng ngày càng lớn, chỉ làm hơi khó chịu chứ không đau nhiều, ngoài ra không thấy bị gì khác. Xin bác sĩ cho biết tại sao bị hạch và có nguy hiểm gì không?
Trần Văn K.
 
 
ĐÁP:
Nổi hạch là một triệu chứng quan trọng và có thể do nhiều loại bệnh nặng, nguy hiểm gây ra. Cần phải đi khám nghiệm sớm để định bệnh và điều trị.
Hạch (lymph node) là cơ quan chính yếu của hệ thống miễn nhiễm của cơ thể. Hệ thống miễn nhiễm có nhiệm vụ chống cự lại sự xâm nhập thường xuyên của vi trùng, cực vi trùng, ký sinh trùng ..v..v.. cũng như có nhiệm vụ kiểm soát các mô, tế bào của cơ thể phát triển không bình thường, trở thành tế bào ung thư: hệ thống miễn nhiễm sẽ thanh lọc ngay không cho có cơ hội nảy nở thêm. Hệ thống miễn nhiễm gồm các thành phần chính là các tiểu bạch cầu (lymphocytes) chia làm hai loại B và loại T, các đại thực bào (macrophages), bạch cầu đa nhân (neutrophils), sát thủ bạch cầu (natural killer cells) v.v... đều có nhiệm vụ canh giữ và chống cự lại các sự xâm nhập kể trên. Các hạch ở cổ, ở nách và ở háng là chỗ chứa các tế bào của hệ thống miễn nhiễm, quan trọng nhất là các tiểu bạch cầu B, tiết ra các kháng thể và tiểu bạch cầu T, có nhiệm vụ trợ giúp hoặc tiêu diệt các vi trùng, cực vi trùng xâm nhập đều được đưa về các hạch này như các tiền đồn trấn giữ để hệ thống miễn nhiễm khác ở khắp cơ thể cò thể kéo về để tiêu diệt các kẻ thù xâm phạm này.
Thí dụ điển hình như khi ta bị vết thương ngoài da ở tay hay chân và bị nhiễm độc, vi trùng xâm nhập sẽ được các tiểu bạch cầu tiếp đón và nhận biết. Các tiểu bạch cầu này sẽ tiết ra các tín hiệu hoá học gọi là lymphokines kêu gọi các bạch cầu đa nhân đến để ăn vi trùng, kêu gọi các tiểu bạch cầu B và T khác đến ..v..v.. Hạch ở nách hay háng (tuỳ thuộc vào vết thương ở tay hay chân) sẽ được máu đó dồn về đưa các tiểu bạch cầu đến, sinh sôi nảy nở để chống cự với vi trùng và như thế có thể lớn hơn từ 10 đến 25 lần kích thước bình thường. Khi lớn nhiều, ta có thể sờ thấy hạch ở háng hay nách mỗi khi bị vết thương nhiễm độc ở chân hay tay.
Hạch nổi lớn như vậy có thể là một phản ứng bình thường của cơ thể khi bị nhiễm trùng. Phần nhiều là hạch nhỏ dưới 1 cm, có nhiều hạch đi cùng, sờ thấy hơi đau. Nhiễm trùng ở tay hay chân gây nổi hạch ở nách hay háng như nói ở trên. Hạch ở cổ có thể do nhiễm trùng ngoài da ở cổ, mặt, nhưng thường nhất là nhiễm trùng cổ họng do vi trùng Streptococcus (strep throat). Các loại vi trùng hiếm thấy hơn gây nổi hạch là vi trùng thương hàn Salmonella, vi trùng Brucella, Listeria, vi trùng dịch hạch Pasteurella. Các người nuôi mèo đôi khi bị nhiễm một loại vi trùng do mèo quào làm nổi hạch gọi là cat-scratch disease. Đặc biệt nếu đi chơi bời bị nổi hạch ở háng có thể do vi trùng giang mai Syphilis hoặc do vi trùng Hemophilus ducreyi làm nổi hạch lớn như hột xoài, đau nhức nhiều.
Những bệnh do cực vi trùng xâm nhập cũng thường hay gây nổi hạch. Bệnh hay thấy nhất là bệnh mononucleosis còn gọi là kissing disease, hay xảy ra ở giới trẻ học trung học, đại học, truyền cho nhau do hôn miệng, do cực vi trùng Epstein- Bara virus, làm nổi hạch ở cổ, nách, háng và sưng tỵ tạng (spleen) thường làm sốt, đau cổ và mệt mỏi nhiều. Các bệnh do cực vi trùng ban sởi Rubella hay thủy đậu Varicella cũng có thể nổi hạch. Đáng ngại nhất hiện nay là nổi hạch có thể là triệu chứng do cực vi trùng HIV gây bệnh AIDS. Những người đồng tính luyến ái, chích choác nếu nổi hạch nhiều ở cổ, nách hay háng phải nghi là có thể bị AIDS và cần thử máu để định bệnh.
Một bệnh quan trọng thường thấy ở người Việt Nam là nổi hạch ở cổ do vi trùng lao Mycobacterium. Hạch có thể khá lớn 2- 3 cm dọc theo cổ hay ở phía trên xương bả vai, lớn dần trong vài tuần lễ, không đau đớn nhiều. Những người này thường không có triệu chứng lao phổi, chụp hình phổi không có dấu vết nấm phổi do bệnh lao. Thử nghiệm lao ở cánh tay (PPD skin test) sẽ nổi đỏ, tuy nhiên không giúp ích nhiều vì người Việt Nam, trừ các em nhỏ sinh đẻ ở Hoa Kỳ hay từ Việt Nam sang lúc còn quá nhỏ, phần lớn người Việt thử nghiệm lao ở tay đều nổi đỏ (70 - 80%). Muốn định bệnh chắc chắn phải mổ lấy hạch ra gọi là biopsy và xem dưới kính hiển vi. Nếu có những cục nhỏ chứa những chất bầy nhầy gọi là caseating granulomas có thể gần chắc chắn là hạch do bệnh lao. Muốn đích xác 100%, phải nhuộm tìm vi trùng lao và cáy để vi trùng lao mọc và biết loại vi trùng lao nào.
Điều quan trọng và nguy hiểm hơn cả trong việc định bệnh gây ra nổi hạch là ung thư. Nổi hạch có thể là triệu chứng đầu tiên của ung thư. Đầu tiên là ung thư hạch (lymphoma) hay ung thư hạch loại Hodgkin. Nổi hạch thường ở cổ, có thể khá lớn, thường không đau. Ung thư máu (leukemia) cũng gây ra nổi hạch. Các loại ung thư này hiện nay nếu chửa trị sớm tương đối khá hiệu quả, một số trường hợp có thể trị liệu coi như khỏi hẳn được, tuy vẫn phải theo dõi suốt đời.
Đáng ngại hơn cả là nổi hạch do ung thư ở các cơ quan khác chạy đến như ung thư bao tử, ung thư phổi, ung thư vú, ung thư thận, ung thư prostate ..v..v..Hạch do các loại ung thư chạy đến này (metastasis) thường khá lớn, cứng, không đau và dính chặt, lúc lắc không di chuyển. Định bệnh về nổi hạch do ung thư hạch, ung thư các cơ quan khác chạy đến này cần phải làm biopsy, cắt hạch để xem kính hiển vi và tùy theo đó chữa trị. Thông thường các bệnh ung thư ở các cơ quan khác chạy đến hạch cũng thường lan tràn khắp cơ thể và chữa trị ít hiệu quả.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.11.2018 22:36:32 bởi Ct.Ly>
NHỮNG NGỘ NHẬN THÔNG THƯỜNG CỦA NGƯỜI VIỆT VỀ SỨC KHOẺ VÀ BỆNH TẬT

 

HỎI:

Ở Việt Nam mỗi khi bị cảm tôi thường tự chữa bằng cách uống trụ sinh. Sang đây, muốn mua trư sinh phải có toa. Tại sao chính phủ không cho bán trụ sinh tự do để có thể tự chữa lấy?

Trần V. H.

 

 

ĐÁP:

Trụ sinh chỉ dùng để chữa những bệnh nhiễm trùng do vi trùng gây ra. Thí dụ như sưng phổi, nhiễm trùng khoang mũi, nhiễm trùng đường tiểu v.v... Bệnh cảm do cực vi trùng gây ra dùng trụ sinh không ảnh hưởng gì đến cực vi trùng và không cần thiết. Chỉ khi nào bị cảm do cực vi trùng rồi sau đó bị biến chứng nhiễm trùng thêm do vi trùng, thí dụ như sưng cuống phổi, nóng sốt, ho khạc đàm vàng, đàm xanh …lúc đó mới nên dùng trụ sinh để chữa bệnh.
Dùng trụ sinh không đúng cách và không cần thiết sẽ có nhiều tai hại như có thể bị phản ứng với thuốc, bị tác dụng xấu của thuốc gây ra những triệu chứng như tiêu chảy, bị nấm…Nguy hiểm nhất là dễ bị kháng thuốc. Người Việt khi còn ở quê nhà hơi một chút cũng dùng Ampicillin để tự chữa nên khi bị những bệnh nhiễm trùng cần trụ sinh thường phải dùng thuốc mạnh hơn để chữa trị vì phần lớn đều bị kháng với thuốc này.
Ở Hoa Kỳ, thuốc trụ sinh phải có toa mới mua được để tránh những trường hợp lạm dụng thuốc, dùng không đúng cách. Một điều người Việt tỵ nạn mới sang chưa quen với đời sống bên này nên tránh là xin thuốc trụ sinh để dành và tự chữa mỗi khi bị cảm như khi còn ở Việt Nam. Một điều khác nữa nên tránh là dùng thuốc của người khác khi thấy mình có triệu chứng bệnh giống như người kia. Rất nhiều trường hợp bị phản ứng thuốc, bị biến chứng và nhiều trường hợp nguy hiểm đã xảy ra vì vấn đề tự chữa và dùng thuốc của người khác. Vấn đề này cần được lưu ý đặc biệt với những người mới sang chưa quen nếp sống tại Hoa Kỳ.
 
HỎI:
Tôi ở Việt Nam hay dùng thuốc bổ gan. Sang đây tôi nghe nói không có thuốc bổ gan và đi khám bệnh không thấy ai cho thuốc này. Xin bác sĩ cho biết có thuốc nào mát gan có thể dùng được.
Nguyễn Thị L.
 
 
ĐÁP:
Người Việt chúng ta hay đổ mọi sự cho “bệnh gan”. Thông thường nhất là những triệu chứng ngoài da, ngứa ngáy, nổi mề đay, dị ứng, đều được đổ cho “bệnh gan” và người bệnh thường xin thuốc “bổ gan” để uống. Những triệu chứng như vừa kể trên không phải do bệnh gan gây ra và thực sự không có thuốc nào để làm “bổ gan” cả. Bệnh về gan ở người Việt Nam thường thấy nhất là bệnh viêm gan do cực vi trùng viêm gan hepatitis virus loại A, B, C gây ra. Bàn về bệnh viêm gan đã được giải đáp trong chương khác nên không nhắc lại chi tiết. Thường chỉ khi bị nặng hay cấp tính mới có những triệu chứng như vàng mắt, vàng da. Phần lớn các trường hợp phải thử máu mới biết có bị bệnh gan hay không. Cũng nên nói thêm, phần lớn các trường hợp bị bệnh viêm gan không có thuốc chữa, trừ một số trường hợp đặc biệt mới dùng loại thuốc mới Interferon. Bên Mỹ cũng không có thuốc nào để giúp bổ gan. Những loại thuốc Pháp ở Việt Nam hay dùng như Sorbitol không có giá trị gì và không được dùng ở đây.
 
 
HỎI:
Khi đau lưng có phải là đau thận không? Và xin bác sĩ cho biết vấn đề yếu sinh lý có phải do đau thận gây ra hay không?
Lê H. L.

ĐÁP:
Một ngộ nhận thường nhất và một trong những câu hỏi hay được đặt ra nhất trong phòng mạch là vấn đề đau lưng có phải là đau thận và liên quan đến vấn đề sinh lý hay không? Đau lưng là một chứng rất thông thường và sẽ được giải đáp kỹ lưỡng trong những chương khác, tuy nhiên có thể nói hầu hết chứng đau lưng không phải do thận gây ra. Hai thứ bệnh có thể gây ra chứng đau lưng là sạn thận và nhiễm trùng thận, tuy triệu chứng đặc biệt hơn và khác với chứng đau lưng kinh niên thông thường.
Thận lại càng không liên quan gì đến vấn đề sinh lý. Thận chỉ là một cơ quan có nhiệm vụ lọc nước tiểu và thải các chất cặn bã trong máu và không giữ vai trò gì về sinh lý. Thận không có ảnh hưởng gì trong việc tiết ra các kích thích tố sinh dục tuy một cơ quan nằm phía trên thận gọi là nang thượng thận giữ vai trò phụ đối với kích thích tố sinh dục. Vấn đề sinh lý như phần lớn các câu hỏi được đặt ra và ngộ nhận với “bệnh thận” phần lớn do những nguyên nhân về tâm lý hoặc do những thứ bệnh khác ảnh hưởng như tiểu đường, bệnh cứng mạch máu. . .
Thận cũng như gan có lẽ là hai cơ quan của cơ thể bị “đổ tội” nhiều nhất cho những triệu chứng không có liên quan gì đến sự làm việc của hai cơ quan này!
 
 
HỎI:
Tôi ở Việt Nam thường khi mệt hay đi truyền nước biển. Xin bác sĩ cho biết nước biển chữa bệnh như thế nào? Có nên dùng hay không?
Trương Thị M.
 
 
ĐÁP:
Nước biển truyền vào mạch máu như bà hỏi là những dung dịch gồm chất đường gọi là dextrose. Người Việt thường ngộ nhận cho là bị “mệt” di truyền nước biến để chữa chứng này. Thực sự nước biển hay dung dịch dextrose 5% chỉ dùng khi nào người bệnh mất nước nhiều trong cơ thể như bị ói mửa quá nhiều, đi tiêu chảy quá nhiều, hay dùng trong bệnh viện khi cấp cứu, khi muốn truyền thuốc thẳng vào mạch máu.
 Ở Hoa Kỳ, hầu như rất hiếm khi phải dùng phương pháp truyền nước biển tại phòng mạch vì khi cần phải dùng, có nghĩa bệnh nặng hay khẩn cấp phải đưa vào nhà thương để chữa trị.
Khi bị mệt phải tìm hiểu nguyên nhân bệnh nào gây ra và chữa trị theo căn nguyên. Truyền nước biển khi không có sự cần thiết thực sự không giúp ích nhiều vì cơ thể sẽ thải ra bằng cách đi tiểu ra khi lượng nước và chất đường là dextrose truyền vào không cần đến. Những trường hợp này truyền một chai nước biển cũng chỉ có giá trị bằng uống một ly nước đường lớn!
Tóm lại đây là một ngộ nhận về chữa trị do sự đòi hỏi của người bệnh nhân Việt còn quen với cách thức ở quê nhà và không hiểu về cách dùng các dung dịch này tại Hoa Kỳ.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.11.2018 07:23:54 bởi Huyền Băng>
để đây nha cô nương!
tr. 150
 
Phù chân
 
Hỏi:
Chân tôi hay bị phù, ấn vào da đôi khi thấy lỏm xuống, tôi đi chữa bệnh thấy đở được ít lâu rồi bị lại. Xin bác sĩ cho biết tại sao bị phù chân và có cách nào chữa dứt được không?
Trần thị H.L
Đáp:
Chứng bệnh phù thũng (adema) là do lượng nước của phần nắm giữa các mô tế bào tăng lên qúa nhiều gây ra phù. Bình thướng có sự cân bằng giữa các mô tế bào ; vì một lý do nào đó làm thay đổi sự cân bằng này, nước tích tụ quá nhiều ở bên ngoài mạch máu nếu lên đến trên vài lít sẽ gây ra triệu chứng phù. Phù thũng có thể xảy ra khắp người, từ mặt đến chân, hoặc chỉ xảy ra ở mọt phần như trong bụng làm bụng trướng như người bị bệnh gan chẳng hạn, hoăc chỉ xảy ra ở chân. Dấu hiệu dễ dàng để biết bị phù là khi dùng tay ấn mạnh xuống da ở phía trên xương chân, nếu thấy để dấu lõm vào lúc thả ngón tay ra là có triệu chứng phù.
Nguyên nhân căn bản của phù là vì cơ thể giữ lại quá nhiều chất muối và nước. Bình thường thận là cơ quan lọc máu và bài tiết chất muối và nước nên người bị bệnh thận như viêm thận làm hoạt động của thận về việc thải muối bị suy giãm sẽ làm phù. Ngoài ra, những người bị bệnh thận có thể mất rất nhiều chất đạm trong nước tiểu nếu lên đến vài grams chất đạm trong máu xuống thấp. Khi mức độ này quá thấp, áp suất do chất đạm tạo ra gọi là oncotic pressure xuống thấp làm nước sẽ  chạy từ trong máu ra phần giữa các mô tế bào (intertitium) và gây ra phù. Những người bị bệnh thận bị gây ra phù này có thể định bệnh dễ dàng bằng cách thử nước tiểu xem có nhiều chất đạm không? Thử nghiệm thường dùng là nhúng một que giấy tẳm chất hóa học vào nước tiểu (urine dipstick) nếu có chất đạm sẽ đổi màu xanh đậm và định bệnh được ngay. Các bệnh thận gây ra chứng này thường là những bệnh nặng và chữa trị tương đối khó khăn, để phân loại bệnh chính xác đôi khi phải dùng kim xuyên vào thận để lấy ra một miếng nhỏ gọi là biopsy và xem dưới kính hiển vi mới xác định loại nào được.
Ngoài bệnh thận, một nguyên nhân quan trọng khác của phù là bệnh suy tim. Khi tim bị suy vì một bệnh tim nào đó như nghẹt van tim quá nặng, bị heart attack v.v… bắp thịt tim co bóp đẩy máu không đủ làm giãm lượng máu đẩy từ trong tim ra. Khi lượng máu này quá thấp, hệ thống chất hóa  học  được tiết ra trong thận gọi là renen-angiotensin sẽ làm cho thận giữ lại nhiều muối và nước hơn nên cũng gây phù. Ngoài ra có những cơ chế khác như một chất kích thích tố gọi là antindiuretic hormone cũng được tiết ra để giữ nước lại, mạch máu của thận bị co thắt làm giảm sự lọc máu v.v…tựu trung đều làm cho cơ thể giữ chất muối và nước và gây ra phù. Người bị bệnh suy tim thường có thêm những triệu chứng khác như khó thở vì khám nghiệm định bệnh sẽ có những dấu hiệu của bệnh tim để phân biệt. Muốn biết đích xác thường phải đo tim bằng EKG, chụp hình quang tuyến, đo tim bằng siêu âm hoặc chụp hình tim bàng chất phóng xạ.
Phù còn có thể do bệnh cứng gan gây ra. Những người nghiện rượu lâu ngày bị cứng gan do rượu (cirrhosis) hay bị viêm gan kinh niên trở nặng thành cứng gan sẽ làm cho sự lưu thông máu qua gan bị ngăn trở và làm chất đạm trong máu xuống quá thấp sẽ gây ra phù. Thường bị bụng trướng có nước gọi là asites, phù chân, đi kèm với vàng mắt vàng da định bệnh được dễ dàng. Bệnh cứng gan đến giai đoạn phù này chữa trị chỉ bớt tạm phù rối sẽ bị lại và đi dần đến hôn mê và chết.
Ngoài những bệnh nặng kể trên, phù còn có thể do một số những bệnh khác tương đối dễ chữa hơn. Thiếu ăn làm lượng chất đạm quá thấp trong máu sẽ gây phù. Tại Việt Nam, những trường hợp thiiếu sinh tố B1 gọi là bệnh beri-beri đi kèm với trường hợp đói, thiếu ăn cũng sẽ gây phù vì làm suy tim, đi kèm với liệt dây thần kinh. Một số người bị bệnh tiêu hóa không hấp thụ đồ ăn được cũng có thể bị phù vì thiếu chất đạm. ngoài ra còn có những trường hợp hiếm hơn như bệnh thiếu kích thích tố giáp trạng (hypothyroidism).
 
Đau ngực
Hỏi:
Tôi năm nay 51 tuổi, trong khoảng ba tháng nay tôi hay bị đau ngực mỗi khi làm việc nặng. Nghỉ một lúc thì hết đau. Gần đây thấy đi bộ nhiều cũng bị đau ngực; lại kèm thêm khó thở. Xin cho biết có phải bệnh về tim không. Làm sao biết đích xác chữa trị ra sao?
Nguyễn V.L
Đáp:
Chứng đau ngực có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là do nghẻn động mạch tim gây ra. Bệnh này ở Việt Nam ít thấy, một phần vì phương tiện định bệnh, một phần vì ăn uống ở Việt Nam ít thịt mở, chất béo, đời sống không bị dồn nén quá nhiều như ở Hoa Kỳ. Thực sự một số trường hợp ở nước ta bệnh nhân chết một cách đột ngột, thường qui cho là `phong, trúng gió.
Có lẽ do nghẽn động mạch tim gây ra, tuy không được định bệnh hẳn hòi. Trong khoảng vài năm trở lại đây, số người Việt Nam tỵ nạn tại Hoa Kỳ bị bệnh nghẻn động mạch tim xảy ra ngày càng nhiều tuy không có thống kê chính xác. Điều này cũng dễ hiểu. Với ăn uống nhiều thịt mở, cholesterol nhiều, đời sống bị tress, dồn nén, lo âu nhiều, tỷ lệ vì bệnh nghẻn động mạch tim càng gia tăng.
Triệu chứng thường thấy nhất là đau ngực, phần lớn do làm nặng, hoạt động nhiều như chạy, leo cầu thang v.v…gây nên. Cơn đau thường kéo dài vài phút đến khoảng nửa tiếng, nghỉ ngơi sẽ bớt dần. Cơn đau thường được mô tả như có gì đè nặng vào ngực hay đau nhói, ở chính giữa ngực hay bên trái, đôi khi truyền xuống cánh tay trái hay ra sau lưng, lên cổ v.v…Mỗi lần đau thường kèm theo khó thở, xuất hạn ra mồ hôi. Lý do làm đau là vì động mạch tim bị chất mở đóng lại bên thành làm nghen, máu không chạy điều hòa. Khi làm gì nặng, tim phải co bóp hoạt động nhiều, nếu không đủ máu mang dưỡng khí tới cung cấp cho bắp thịt tim sẽ gây ra phản ứng đau. Nếu bị nghẹt gần hết hoặc có cục máu đông làm chặn đứng dòng máu chảy trong các động mạch trên bắp thịt tim sẽ bị chết một phần gây tổn thương nặng nề cho tim. Đây là trường hợp heart attach, nếu nặng có thể làm chết ngay.
Những triệu chứng của ông kể trong câu hỏi có thể nghi là do đau ngực vì nghẻn động mạch tim (anguna oectirus), cần được định bệnh chính xác. Thử nghiệm về bệnh bày cần phải đo tim bằng điện tâm kế (EKG). Phần lớn trong các trường hợp đo tim lúc đang hoạt động như chạy trên một thang cuốn (treadmill) hay đạp xe đạp mới thấy những thay đổi trên tâm động đồ để định bệnh được. Thử nghiệm này gọi là treadmill stress test (hay exercise tolerance test) là thử nghiệm căn bản. Đôi khi muốn rõ hơn phải chích thuốc có chất phóng xạ Thallium để xem hoạt động của tim và chụp hình tim bằng chất phóng xạ. Chính xác hơn cả là giai đoạn định bệnh kế tiếp bằng cách thông tim (cardiac catheterization): dùng ống nhỏ luồn vào mạch máu ở đùi hay tay thông lên tới tim và bơm thuốc vào để chụp toàn thể hệ thống động mạch tim. Nhờ thế có thể biết động mạch tim nào bị nghẹt, nghẹt nhiều hay ít, bao nhiêu động mạch bị nghẹt.
Vấn đề chữa trị có nhiều cách: Nếu chụp hình động mạch tim như trên thấy bị nghẹt nặng quá, nhiều quá, hay động mạch chính bị nghẻn gần hết có thể nguy hiểm có thể phải mổ để nối lại động mạch tim. Thường là dùng một tỉnh mạch lấy ở dưới chân hay dùng động mạch vú để nối lại chỗ động mạch tim bị nghẻn (coronary bypass graft). Gần đây có những phương pháp thông tim không phải mổ (angioplasty) dùng ống thông có đầu là quả bóng nhỏ bơm phồng lên xẹp xuống để thông các động mạch bị nghẹt.
Phần lớn các trường hợp bị nghẹt ít có thể dùng thuốc để chữa. Thuốc căn bản đầu tiên là thuốc làm dãn nở động mạch tim gọi là nitrates. Thuốc này dùng dưới nhiều hình thức. hoặc ngậm dưới lưỡi cho tan mỗi khi có cơn đau ngực. hoặc uống thành viên có tác dụng lâu hơn, hay là thuốc dán trên da tác dụng nguyên ngày. Một loại thuốc khác là loại beta-blockers làm tim đạp chậm lại, áp huyết hạ thấp và tim không phải dùng quá nhiều dưỡng khí. Loại thuốc nữa là calcium-blokers ngăn không cho chất vôi calcium vào trong tế bào tim cũng giúp ích nhiều. Thông thường phải dùng tổng hợp cả hai hoặc ba loại thuốc trên để chữa, thành phần, cân lượng thay đổi tùy nặng nhẹ, tùy người, tùy biến chứng.v.v..
Nếu bị nhẹ vừa phài, thường dùng thuốc có thể đủ để chặn cơn đau, làm việc được dễ dàng hơn, hoạt động trở lại bình thường. Tuy nhiên điều căn bản là phải ngừa để cho các động mạch tim không bị càng ngày càng nghẹt hơn hay ngừa để tránh cục máu đông bất thần làm nghẹt cứng gây ra heart attack. Để ngừa máu đông có thể dùng aspirin mỗi ngày một viên để ngừa heart attack, tuy nhiên ngừa để cho thành động mạch không bị đóng mỡ cứng lại là vấn đề nan giải hơn cả.
Vấn đề phòng ngừa thực sự quan trọng nhất. Nhiếu yếu tố có thể làm tăng phần xác suất và nguy hiểm gây ra bệnh nghẻn động mạch tim. Trước hết là nếu lượng cholesterol trong máu qúa cao sẽ dễ gây bệnh này. Đo cholesterol và ăn uống cẩn thận để hạ cholesterol xuống thấp là điều cần. Áp huyết cao cũng là một yếu tố nguy hiểm, nếu huyết áp cao phải trị liệu để giữ xuống bình thường. Mập quá độ là điều phải tránh nếu muốn ngừa bệnh tim. Người bị bệnh tiểu đường cũng dễ bị nghẻn động mạch tim, nên phải ăn kiêng uống thuốc v.v… để giữ mức đường bình thường. Hút thuốc lá làm tăng nguy hiểm về tim nên phải bỏ thuốc lá. Người nào trong gia đình có bố mẹ, anh chị em bị bệnh tim cũng dễ bị hơn nếu có giòng bệnh trong gia đình phải đặc biệt để ý các điều phòng ngừa trên và nếu có triệu chứng phải đi khám nghiệm cẩn thận ngay.
Tóm lại triệu chứng đau ngực trong câu hỏi của ông đặt ra cần được định bệnh chính xác để chữa trị sớm.
Những biện pháp phòng ngừa cần phải thực hiện ngay. Bệnh nghẻn động mạch tim là một bệnh nặng có thể gây nhiều nguy hiểm nhưng hiện tại càng ngày càng được chữa trị hiệu quả hơn tại Hoa Kỳ.
 
 
Nghẹt van tim
Hỏi;
Tôi mới từ Việt Nam sang Hoa Kỳ được hơn hai tháng với chồng con theo diện HO. Ở Việt Nam tôi có đi khám bệnh vì hay bị khó thở, mệt nhất là khi đi bộ nhiều hoặc lên cầu thang, bác sĩ ở việt Nam nói tôi bị bệnh nghẹt van tim và phải sang Mỹ mới chữa được. Xin bác sĩ cho biết bệnh này ra sao? có cần phải mổ không? Nếu mổ có nguy hiểm không?
 
Đáp:
Bệnh của bà ở Việt Nam được chẩn đoán là bệnh nghẹt van tim, tuy nhiên cần phải khám nghiệm và làm thử nghiệm đầy đủ hơn để biết dích xác nghẹt van tim loại nào và mức độ nặng nhẹ ra sao. Vấn đề có nên mổ hay không sẽ tùy thuộc vào các yếu tố trên.
Trước hết, để hiểu về bệnh này, cần phải biết cơ cấu của tim và các loại van tim. Tim được chia ra làm bốn ngăn: hai buồng bên trái là tâm nhỉ trái và tâm thất trái. Máu từ phổi chạy về tâm nhỉ trái rồi xuống tâm thất trái và được tâm thất trái co bóp đẩy máu đi khắp cơ thể. Giữa tâm nhỉ trái và tâm thất trái là một van tim hình chóp (mitral vale). Giữa tâm thất trái và đại động mạch (ourta) là van tim đại động mạch (aortic vale)
Bệnh nghẹt tim thường xảy ra ở hai van tim quan trọng này. Phần bên phải quả tim gồm tâm nhỉ phải và tâm thất phải tương đối ít quan trọng hơn. Hai van tim phía bên phải gọi là tricuspid vave va pulmonary valve cũng có thể bị nghẹt hay hở gây ra bệnh nhưng tương đối hiếm hơn.
Bệnh của hai van tim quan trọng là van hình chóp và van đại động mạch có thể là bệnh ngẹt van tim hay hở van tim, và cả hai loại đều nguy hiểm. Nhiều trường hợp bệnh nhân bị bệnh của nhiều van khác nhau bị cả nghẹt lẫn hở van. Phần lớn bệnh về nghẹt van tim nơi người đàn bà là bệnh nghẹt van tim hình chóp (mitraltenosis) trong khi đàn ông bị nghẹt van tim hay bị nghẹt van đại động mạch (aortic stenosis), nên để trả lời câu hỏi của bà bài này sẽ nói về bệnh nghẹt van tim hình chóp.
Bệnh này hiện nay tương đối rất ít thấy ở Hoa Kỳ, tuy nhiên người Việt Nam bị bệnh này là khá nhiều. Lý do vì nghẹt van tim hình chóp (mitral stenosis) là hậu qủa của bệnh sốt thấp khớp (rheumatic fever) và bệnh thấp khớp hầu như không còn thấy tại xứ này.
Bệnh sốt thấp khớp thương thấy ở các xứ chậm tiến như Việt Nam hay xảy ra ở trẻ con trong khoảng tuổi từ 5 đén 15 tuổi, bệnh này gây sưng khớp ở nhiều khớp của chân tay, thường là đầu gối, háng, khuỷu tay v.v…kèm với sốt, nổi cục dưới da, nổi ban đôi khi làm giật chân giật tay (chorea) v.v… Tuy nhiên quan trọng nhất là bệnh sốt thấp khớp có thể chạy vào tim làm sưng van tim, có nước trong màn tim v.v… Bệnh sốt thấp khớp rheumatic fever là một phản ứng miễn nhiểm của cơ thể với vi trùng streptococcus loại A sau khi vi trùng này làm nhiễm trùng họng và bệnh nhân không được chữa trị bằng trụ sinh để tiêu diệt vi trùng này. Sau khi bị nhiễm trùng họng (pharyngitics) và không được chữa cẩn thận như phần lớn trẻ em ở Việt Nam hiện tại, một số trẻ em bị biến chứng là bệnh sốt thấp khớp nhưng vì làm viêm trong tim. Các van tim có thể bị viêm và lâu ngày van tim sẽ bị cứng lại, đóng vôi hay bị các mô sợi làm van tim không đóng mở được dễ dàng nữa gây ra nghẹt van tim hoặc hở van tim. Khoảng cách thời gian từ khi bị sưng van tim do sốt thấp khớp đến khi có triệu chứng nghẹt van tim có thể kéo dài từ 10 năm đến 20, 30 năm.
Như vậy người bị nghẹt van tim hình chóp mitral stenosis phần lớn có thể truy nguyên từ khi bị bệnh nhiểm trung cổ họng do vi trùng streptococcus lúc còn nhỏ, lúc 10 – 15 tuổi, sau đó bị bệnh sốt thấp khớp rheumatic fever và dễ bị biến chứng lâu dài là nghẹt van tim mitral stenosis này trong khi ngươi Mỹ hầu như không thấy vì tại Việt Nam bệnh nhiễm trùng cổ họng không được chữa trị cẩn thận hay không có thuốc trụ sinh để uống!
Bệnh nghẹt van tim hình chóp như vậy xảy ra từ từ, lúc đầu thường không có triệu chứng gì nếu còn nghẹt ít. Bình thường lổ hỏng của van tim hình chóp có diện tích từ 4 đén 6 cm vuông. Nếu van tim bị cứng hay đóng vôi làm nghẹt giảm diên tích xuống còn 1cm vuông. Áp suất trong tâm nhỉ trái sẽ tang lên dồn máu về phổi và gây ra triệu chứng khó thở. Đi bộ xa, leo cầu thang hoặc làm việc nặng sẽ thấy mệt, thở khó. Nhiều người khám phá ra nghẹt van tim hình chóp khi có bầu, hoặc bị nóng sốt hoặc bị thiếu máu, cơ thể đòi hỏi tim làm việc nhiều hơn và bi nghẹt van tim, máu dồn lại về phổi gây khó thở. Trường hợp nặng hơn, khi nằm cùng bị triệu chứng thở khó khăn, phải ngồi hoặc nằm ngủ phải để gối cao mới thở được. Nặng hơn nữa, có thể ho ra máu hoăc nước dồn lại trong phổi gây ra bệnh phù nước trong phổi có thể gây ra chết.
Những triệu chứng khác thường thấy là tim đập sai nhịp do tâm nhỉ trái co bóp không diều hòa gọi là atrial fibrillation. Đôi khi bị đông máu trong mạch máu phổi làm tiêu huỷ một góc của phổi gọi là pulmonary embolus. Các biến chứng khác có thể xảy ra là nhiễm trùng phổi, nhiễm trùng tim v.v…
Bệnh nghẹt van tim là một bệnh nguy hiểm vì các triệu chứng kể trên. Thường nếu không được chữa trị, từ khi có triệu chứng khó thở đến khi bị suy tim hoàn toàn và chết chỉ trong vòng từ 2 đến 5 năm.
Định bệnh nghẹt van tim hình chóp mitral stenosis tương đối khó khăn nếu không có các thử nghiệm đầy đủ như trong tình trạng của Việt Nam. Tuy nhiên tại Hoa Kỳ với các phương pháp tân tiến, việc định bệnh này trở thành dễ dàng và rất chính xác. Trước hết, việc định bệnh đầu tiên dựa vào nghe tim. Người bình thường không bệnh gì khi nghe tim chỉ nghe hai tiếng đóng van tim gọi là S1 và S2. Khi van tim hình chóp mitral valve đóng lại với nhau sẽ nghe được tiếng khép của van gọi là S1 (sound 1) sau đó máu trong tâm thất trái được đẩy đi trong một khoảng thời gian gọi là systole. Kết tiếp, van đại động mạch (aorticvalve) đóng lại tạo ra tiếng khép của van gọi lá S2 (sound 2) và sau đó tim mở ra, máu chảy từ phổi xuống tâm nhỉ trái và tâm thất trái, quảng thời gian này gọi là diastole.
Muốn chính xác hơn phải làm thử nghiệm siêu âm tim gọi là Echocardiogram và phương pháp đo lượng máu chảy qua van gọi là Doppler. Với các thử nghiệm này có thể định bệnh dduocj bệnh nghẹt van tim và uocs lượng diện tích lổ hổng cuea van. Chính xac hơn nữa và dung trước khi mổ tim là thue nghiệm thông tim để chụp hình và đo gọi là cardiac cathererization, phải làm trong nhà thương. Quyêt định có mổ tim hay không sẽ tùy thuộc vào kết quả của các thử nghiệm trên. Nếu diện tích của lỗ hổng van chỉ còn 1,2cm vuông và bệnh nhân có triệu chứng khó thở, mổ tim để nong van tim cho rộng ra hoặc thay hẳn van tim bằng van nhân tạo là phương pháp trị liệu bằng giải phẫu và là cách thứ duy nhất để trị bệnh này. Nguy hiểm về giải phẫu tim tuy thuộc vào cách thức mổ. Nếu chỉ cắt rộng van tim ra gọi là valvulotomy, mức tử vong chỉ ở khoảng từ 0 đến 2%. Nếu phải thay hẳn van băng van nhân tạo, mức tử vong có thể lên đến 5 đến 8%. Tuy nhiên nếu không chữa và nghẹt tim nặng, bệnh sẽ đưa đến suy tim hoàn toàn và chết nhanh, nên nếu đủ yếu tố dựa trên các thử nghiệm, giải phẫu tim vẫn là cách tốt nhất.
Tóm lại, bệnh nghẹt van tim hình chóp là một bệnh nguy hiểm, cần phải được định bệnh chính xác với các thử nghiệm về tim. Phương pháp trị liệu là giải phẫu để mở rộng van tim hoặc thay bằng van nhân tạo nếu mức độ nghẹt của van tim quá nhiều và bệnh nhân bắt đầu có các triệu chứng do bệnh nghẹt van tim gây ra.
 
 
 
 

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0