Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

SA-ĐÉC "XƯA và NAY" -

0 trả lời, 8 lượt xem — Trang 1 / 1
 
CÂY DA BẾN NGỰ
            Tương truyền: Khoảng năm Đinh-Vị 1787, chúa Nguyễn-Phúc-Ánh đồn binh tại Nước-Xoáy (Hồi-Oa-thủy), ẩn náu tại xã Tân-Long (nay là xã Long-Hưng) thuộc vùng Lấp-Vò. Hai chữ "Long-Hưng" chính là do Nguyễn-Vương sau đó đặt tên lại.  
            Trong khi đình trú tại đây, toan mưu phục nghiệp, Nguyễn-Vương thường đến dưới cội Da, cạnh mé rạch Long-Hưng để câu cá. Nhân đó, dân chúng tôn kính gọi nơi ấy là "Cây Da Bến Ngự".  
            Nay cội Da đã bị đốn mất, nhưng gốc da to lớn khoảng gần đây, vẫn còn ngã nằm bên mé rạch Long-Hưng.  
            Đốc Phủ-Sứ Nguyễn-Đăng-Khoa khi làm quận-trưởng quận Sa-Đéc (khoảng năm 1926) cảm đề hai bài vịnh lúc Nguyễn-Vương ngự nơi Long-Hưng:
                        Anh hùng nguồn Nguyễn ứng Long-Hưng,  
                        Đế nghiệp trời Nam đã định chừng.  
                        Đất trổ cây Da làm bến ngự,  
                        Người hô tung nhạc hạ trời xuân.  
                        Gió thanh ngút tỏa mùi hương khí,  
                        Đất Việt lâm chầu vị quí nhân.  
                        Tiên chỉ hoành sơn là đế vượng,  
                        Triệu tường con cháu trổ long lân.
                        Tiên-Vương bến Ngự hãy còn đây,  
                        Cảm nổi cây da chạnh nổi ngài.  
                        Trương tán đứng chờ trong gió bụi,  
                        Phơi râu hầu đón giữa trời mây.
                        Tiếng nhơn thấp thoảng trên nhành đó,  
                        Dấu đức còn âu dưới cội này.  
                        Nắng lửa ai phòng binh bổ với,  
                        Căm hờn nắng lửa thói tà tây.
            Khoảng năm 1958, khi Sa-Đéc hãy còn là một quận của Vĩnh-Long, vào ngày 8 tháng giêng, trong dịp đi kinh-lý, cố Tỉnh-Trưởng Khưu-Văn-Ba được các bô lão và dân chúng xã Long-Hưng mang đến tặng một cái lư cổ bằng đá ong, di tích của vua Gia-Long. Nhân đó, cố Tỉnh-trưởng Khưu-Văn-Ba cho xây cất tại "Cây-Da Bến-Ngự" một ngôi miếu lấy tên là "Cao-Hoàng Thái-Miếu".  
            Muốn đến Cây-Da Bến-Ngự phải đi đường thủy, từ tỉnh lỵ Sa-Đéc theo rạch Sa-Đéc đến Vàm Nước-Xoáy, đến xã Long-Hưng độ 13 cây số ngàn.  
oOo
LĂNG ÔNG BỎ HẬU
            Ông Nguyễn-Văn-Mậu tự là Hậu, khi xưa từng cưu mang giúp đỡ Nguyễn-Vương (Phúc-Ánh), lúc thất cơ, ẩn náu tại làng Long-Hưng nên được Nguyễn-Vương tâng trọng xem như ông Bỏ (Cha nuôi).  
            Lăng ông Bỏ Hậu được phái đoàn do vua Gia-Long sai vào, xây cất trong năm Gia-Long thứ 8 (Kỷ-Tị 1809) tại xã Long-Hưng, cách "Cây-Da Bến-Ngự" độ hai ngàn thước. Lối kiến trúc không có chi huê mỹ, tuy nhiên cũng đánh dấu được giai đoạn ông Bỏ Hậu góp phần vào công nghiệp lập quốc của Nguyễn-Vương.  
            Bà Đốc-Phủ Phải ở Chợ-Lớn mấy mươi năm trước đây, vốn là chắc gái của ông Bỏ Hậu, và đồng đội ông Bỏ Hậu hãy còn trong làng Long-Hưng.  
            Đốc Phủ-Sứ Nguyễn-Đăng-Khoa có thơ vịnh lăng:
                        Vào lăng ông Bỏ, cảm tình ông,  
                        Thấy cảnh ai không động tấm lòng.  
                        Đất nghĩa tuyết dầm meo móc đượm,  
                        Nền nhơn sương đắp cánh hoa vun.  
                        Vừng Mây làm giúp cây tàn lọng,  
                        Ngọn gió đưa dùm tiếng đức phong.  
                        Thức nguyệt ánh đèn soi tỏ rạng,  
                        Cho lòng trời biết chút mồ trung.  
            Về tiểu sử ông Bỏ Hậu, xin quý bạn đọc xem thêm ở chương "Giai thoại":  "Chuyện ông Bỏ và đức Gia-Long".
oOo
 
 
LĂNG QUAN LỚN SEN
TỨC KINH-MÔN QUẬN-CÔNG NGUYỄN-VĂN-NHƠN
            Tại xã Tân-Đông, thuộc tổng An-Thạnh-Hạ, quận Châu-Thành Sa-Đéc, có lăng quan lớn Sen, tức Kinh-Môn Quận-Công Nguyễn-Văn-Nhơn. Tiểu sử cụ, chúng tôi có trình bày ở phần danh-nhân và về sự tích gọi cụ là "Quan Lớn Sen" xin xem thêm ở phần "Giai Thoại".  
            Lăng Quận-Công Nguyễn-Văn-Nhơn khi xưa ở gần bực sông hữu ngạn Cửu-Long-Giang thường bị sóng đánh nước xói mà đất lở gần đến lăng, nên trong họ và Hội đồng hương chính đem dời vào nơi xa, ở về chỗ Cái-Bè cạn.
            Lăng xây cất lại và làm lễ khánh táng vào ngày 17 tháng ba năm Canh-Thân 1920.  
            Nay muốn viếng lăng, phải đến ấp Khánh-Thuận, làng Tân-Đông (trước là Tân-Khánh), tổng An-Thạnh-Hạ, cách tỉnh lỵ Sa-Đéc hơn 8 cây số ngàn.  
            Giữa miếng đất rộng có rào bao phủ, hai ngôi mộ của vợ chồng cụ Quận-Công nằm song song nhau. Trên tấm bình phong phía sau, có khắc bài thơ của vua Thiệu-Trị ngự chế trong năm Bính-Ngọ 1846.  
            Trước cửa của lăng có đôi liểng:  
                        "Tứ thế nhân luân thiên lũng ốc,  
                        Quốc gia trung hiếu lưỡng âm phong."
 
Đền thờ Kinh-Môn Quận-Công Nguyễn-Văn-Nhơn
(tục gọi là Quan Lớn Sen)
oOo
SA-ĐÉC "XƯA và NAY" -
 
HUỲNH-MINH
Sưu tầm khảo cứu qua các tỉnh Miền Nam Việt-Nam
 
 
&&
 
 
 
NỘI DUNG GỒM:  
            * SỬ-LƯỢC, ĐỊA-LÝ, TỔNG-QUÁT
            * SA-ĐÉC, TRẢI QUA CÁC THỜI-ĐẠI
            * DANH-NHÂN, LICH-SỬ, NHÂN-VẬT CẬN-ĐẠI
            * DI-TÍCH, LĂNG-MỘ, DANH-NHÂN
            * ĐẠO GIÁO, ĐÌNH, CHÙA CỔ KÍNH
            * HUYỀN-SỬ, GIAI-THOẠI
            * CÁC BỘ MÔN VĂN-HÓA, NGHỆ-THUẬT
            * SINH-HOẠT KINH-TẾ MỌI NGÀNH
            * SA-ĐÉC NƠI SẢN-XUẤT HOA KIỂNG TOÀN QUỐC.
 
Xuất bản "Cảnh-Bằng"
DO TÁC-GIÁ XUẤT-BẢN
1971
(Từ kho sách xưa của Quán Ven Đường)
Các sách báo tham khảo
____________
HÁN VÀ VIỆT-NAM:  
            - Đại-Việt Sử-Ký của Ngô-Sĩ-Liên
            - Nam-Kỳ Phong-Tục Nhơn-Vật diển ca của Nguyễn-Liên-Phong
            - Đại-Nam Nhất-Thống-Chí (thượng hạ) của Tu Trai Nguyễn-Tạo dịch 
            - Việt-Sử Tân-Biên của Phạm-Văn-Sơn 
            - Đại-Nam Thực-Lục chánh-biên
            - Việt-Nam Sử-Lược của Trần-Trọng-Kim 
            - Liệt-Truyện 
            - Lịch-Trình Hành-Chánh của Đào-văn-Hội
            - Sa-Đéc Nhân Vật Chì của Nguyễn-văn-Dần 
            - Địa-Phương Chí Sa-Đéc 
            - Sấm-Giảng Bửu-Sơn Kỳ-Hương
            - Chí-Sỉ Nguyễn-Quang-Diêu của Giáo-sư Nguyễn-văn-Hầu. (Xuyên qua nhiều tài liệu do các bô-lão thân-hào nhân-sĩ địa-phương kể lại.  
PHÁP-VĂN:
            - Histoire et description de la Basse Cochinchine par Cne G. AUBERT (1863) "Gia-Định Thống Chí" cua Trịnh-Hoài-Đức
            - Géographie de Sadec.
            - Histoire des missionnaires en Cochinchine par A. LAUNAY.
            - Histoire de la Cochinchine par P. CULTRU.
            - Nouvelles recherches sur les Chams par Antoine Cabaton, Paris (1901).
            - Bulletin de la Société des Études Indochinoises (4è 1959).
            - Histoire des Pays montagnards du sud indochinois.
            - Journal d'Extrême-Orient Saigon 1959.
Lời giới-thiệu 
                                                                       của Giáo-sư: TRẦN-VĂN-QUẾ
            Nền văn-hóa của một dân-tộc là thước ngọc, khuông vàng, do giá-trị của dân-tộc ấy. Nó cũng sanh tiến với dân-tộc liên-hệ trải qua ba thời-kỳ là quá-khứ, hiện-tại và vị lai. Giữa ba thời kỳ ấy có một mối liên-quan mật-thiết được coi là bất-di, bất-dịch. Nói một cách khác, quá-khứ chuẩn-bị cho hiện-tại và vị-lai, đến phiên mình phải làm công-việc ấy đối với tương-lai. Thế thường nói: Không (xưa) làm sao có (nay)? Những công-việc làm của các thế-hệ trước, hay hoặc dở, đều là những bài học quí giá cho thế-hệ đi sau.
            Hiểu rõ căn-bản ấy, nhà Sưu-Khảo HUỲNH-MINH trong nhiều năm qua, đơn thương độc mã, đã âm-thầm làm sống lại "dỉ-vảng" nước nhà bằng cách lần-lượt trình bày dưới nhiều khía-cạnh, lich-sử các tỉnh miền Nam: "Kiến-Hòa xưa và nay", "Bạc-Liêu xưa và nay", "Cần-Thơ xưa và nay", "Vĩnh-Long xua và nay", Gò-Công, Định-Tường, Vũng-Tàu, v.v. Gần đây ông Huỳnh-Minh sắp cho ra đời thêm một đứa con tinh-thần nữa là quyển "Sa-Đéc xưa và nay". Thật là một công-trình hy-hữu đáng khích-lệ, và chắc-chắn sau này sẽ được Tổ Quốc ghi công.
            Suốt thời-gian trên 80 năm Pháp thuộc và hơn phần tư thế-kỷ bị nội-chiến, cốt-nhục tương-tàn, hồn nước phiêu-bật theo mây gió, cảnh núi xương sông máu diễn ra khắp nơi trên lãnh thổ. Ngày hôm nay ông Huỳnh-Minh nghiễm-nhiên gợi lại dỉ-vảng của dân-tộc nghìn xưa, gián tiếp làm sống lại trong tâm-hồn người Việt, nhứt là giới thanh-niên, tình thương quê cha mến đất tổ để nhớ lại những gì mà chúng ta phải làm, hầu khôi-phục nghĩa trọng tình xưa!  
            Năm 1428, sau khi đã bình được giặc Ngô, thống nhứt sơn-hà, đem lại thanh-bình cho dân-tộc, Vua Lê-Thái-Tổ trong vai tựa quyển "Lam-Sơn thực-lực" phải chăng đã nói: "Trẫm duy: vật bản hồ thiền, nhân bản hồ tổ. Thúy như mộc, thủy tất hữu căn. Cái kỳ bản thịnh tắc diệp mậu; nguyên thâm tắc lưu-trường. Phi tiên thế chi, nhân ân chi sở bồi giả hậu, khánh trạch chi sở chung giả hồng, an năng nhược thị tai?".  
            "Trẫm nghĩ: Vật gốc từ Trời, người gốc từ Tổ, ví như cây và nước tất cả có góc nguồn.  
            (...) Vì rằng: gốc thịnh thì lá tốt, nguồn sâu thì dòng dài. Nếu không phải nhờ ở nhân ân bồi-đắp được giày-dặn, phúc đức, chung đức được lớn lao của các đời trước thì đâu có được như thế?"
            Nay đến lượt trình bày lịch-sử "Sa-đéc xưa và nay", nhà sưu-khảo Huỳnh-Minh đã mỹ-ý dành cái hân-hạnh cho tôi viết bài giới thiệu. Nhân dịp thông-cảm này, chúng tôi cũng xin mạo-muội góp sức trong muôn một, bằng cách nêu lên những cảm-tượng của tôi đối với tỉnh Sa-đéc ngày xưa cũng như ngày nay, để chứng-minh tính-cách chính-xác của các mục đã được nêu lên trong quyển sách này.
            Trước kia, dưới thời Pháp thuộc, tỉnh Sa-đéc được tặng cho danh hiệu là: Khu vườn của xứ Nam-Kỳ (Le jardin de la Cochinchine) danh hiệu ấy để nói lên tánh-cách phì-nhiêu của điền-địa, màu sắc sum-thịnh của các loài thảo mộc (nhứt là các loại cây trái của toàn hạt).  
            Hơn thế nữa, nhờ sông Cửu-Long bồi-đấp, gọi là sông Tiền và sông Hậu, chạy quá rộng lớn, hai bên vườn ruộng xanh tươi, có một cảnh vừa đẹp vừa thiêng-liêng, huyền bí, bao trùm không sao tả được.
            Địa-linh ấy tất phải sinh-xuất ra nhiều nhân-kiệt anh-tài lẩn văn vỏ, về cựu học cũng như tân học, về phương diện đạo pháp thì tỉnh Sa-đéc lại cũng là nơi xuất hiện của những bậc chân tu, thánh triết, đem đạo từ-bi tế-độ quần sanh trong đời mạt pháp.
            Các khía cạnh ấy sẽ được trình-bày đầy-đủ chi-tiết trong quyển "Sa-đéc xưa và nay" mà chúng tôi được vinh hạnh giới-thiệu cùng chư-tôn độc-giả.  
            Giờ đây xin tóm-tắc cảm-tưởng của chúng tôi, trân-trọng trình lên mấy dòng thơ như sau:
 
                        " Thủy-trường" đặc-sắc đất Long-Giang,    
                        Định, Vĩnh, Kiến, Sa hiệp một đàng.  
                        Tú khí anh-linh đều hội đủ,  
                        Miên tràng cảnh vật cỏi Nam bang.  
                                                                      TRẦN-VĂN-QUẾ
                                                                                  Giáo-sư
 
____________________________________________________________________
LỜI TÁC-GIẢ: Giáo-sư Trần-văn-Quế người miền Nam, một giáo-sư kỳ-cựu nay đã 70 tuổi, cựu giảng-sư Đại-học Văn-khoa Sài-Gòn và Vạn-Hạnh.  
Nguyên Bộ-Trưởng Nghiên-cứu Cải-cách 1951-52. Hiện ông làm Hiệu-trưởng Trường Trung Học Kiến Thiết Sài-Gòn.  
Giáo-sư Trần-văn-Quế cũng là một chức-sắc Thiên-phong của Đại-Đạo Tam-Kỳ.
 
HINH
 
 
Lời nói đầu
__________
 
            Vốn sinh trưởng nơi mảnh đất Miền Nam yêu mến, hoài bảo đến công nghiệp của tiền nhân.  
            Cưu mang mối duyên tình với non nước nhà, dù trăm ngàn khổ nhọc trên đường sưu khảo, dù muôn vàn tủi cực khi tìm phương tiện cho đứa con tinh thần được chào đời, chúng tôi vẫn dấn thân tiến mãi trên đường đã vạch.  
            Kiểm điểm đoạn đường đã trải qua, suốt thời gian trên 15 năm âm thầm tích cực phục vụ Văn-hóa Dân-Tộc. Chúng tôi đã cố gắng ấn hành xong các tác phẩm đầu tiên. Loại sách học làm người:
            - Danh-nhân Tư-Tưởng, Luyện-Chí, Sống Tranh-Đấu, Sống Vui, Sống Khổ, và các loại sách sưu khảo từng Tỉnh của Miền Nam: KIẾN-HÒA xưa và nay, BẠC-LIÊU xưa và nay, CẦN-THƠ xưa và nay, VĨNH-LONG xưa và nay, GÒ-CÔNG xưa và nay, ĐỊNH-TƯỜNG xưa và nay, VŨNG-TÀU xưa và nay.  
            Và hôm nay đến lượt SA-ĐÉC xưa và nay ra mắt bạn đọc.
            * Sa-Đéc, nơi vua Gia-Long trong cơn tẫu quốc đã dừng gói mông trần, lập đại-bản-dinh, xây đắp đồn lũy để tranh hùng với Tây-Sơn. Đến nay hãy còn biết bao di-tích lịch sử.  
            * Sa-Đéc, nơi làng Tòng-Sơn là chốn phát tích của Đức Phật-Thầy Tây-An, khai sáng giáo phái Bữu-Sơn Kỳ-Hương, nơi Đức Tông Sư Minh-Trí tuyên dương giáo lý, nơi Đức Huỳnh Giáo-Chủ từng giảng đạo dìu dắt tín đồ, là nơi Đạo Giáo được sinh khí phát huy tốt đẹp hơn đâu cả.  
            * Sa-Đéc, đất hoạt động của các nhà Chí-sỉ, các nhà Cách-mạng, các Anh-hùng kháng Pháp. Chí-sỉ như các Cụ Nguyễn-Quang-Diêu sinh trưởng tại đây. Chí-sỉ như Cụ Võ-Hoành đã bị đưa an trí chốn này.
            * Sa-Đéc, nhân tài Sa-Đéc, nhân tài thịnh phát: nào Bác-Vật Lưu-văn-Lang, Danh-sỉ Đặng-Thúc-Liêng, Phòng Biểu v.v...  
            Lại là nơi đầu tiên phát huy bộ môn kịch nghệ sân khấu, Sa-Đéc qui tụ cũng nhiều ngôi sao sáng kịch trường, nghệ thuật cầm ca. Và trên mọi lãnh vực đáng kể của Sa-Đéc. Chúng tôi đề cập có thể nói nếu không đầy đủ hoàn toàn, quyết cũng không để thiếu sót nhiều.  
            Lòng đầy nhiệt huyết hăng say phục vụ Văn-hóa, ý nguyện dần dần thực hiện những hoài bão của chúng tôi về sự hình thành được những bộ sách sưu khảo qua các Tỉnh Miền Nam, chúng tôi luôn luôn tận tâm, cố gắng vượt mọi nổi khó khăn, chua xót. Nghị lực có thừa, nhưng phương tiện hằng thiếu thốn.  
            Ai bạn tri âm? Mỗi khi tiếp đón một tác phẩm của chúng tôi chào đời, xin cảm thông cho những điều đau khổ mà chúng tôi đã cưu mang.  
            Tuy nhiên, đã tự nguyện phục vụ, thì hy sinh vẫn là lẽ sống của chúng tôi. Với quyển "SA-ĐÉC Xưa và Nay" đây, rất mong được sự ủng hộ nồng nhiệt của quí vị bạn đọc trị-kỷ bốn phương. Hầu cho chúng tôi những khích-lệ quí báu, để càng tiến xa hơn nữa. Luôn luôn nguyện không phụ lòng quí bạn nâng đỡ.  
            Tằm nặng nợ dâu. Thọ ân đất nước, đồng bào, chúng tôi hằng rút ruột nhả tơ đáp tạ ơn lòng trong muôn một.  
            Hân hoan và chân thành trao bạn đọc một đoạn tơ lòng nữa của chúng tôi:
            SA-ĐÉC Xưa và Nay.  
                                                                                              HUỲNH MINH
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHẦN THỨ NHỨT:  
 
SỬ-LƯỢC trải qua các thời-đại
ĐỊA-LÝ tổng-quát
 
 
SỬ-LƯỢC
 
SA-ĐÉC DƯỚI THỜI CHÚA NGUYỄN VÕ-VƯƠNG
NGUYỄN-PHÚC-KHOÁT
(VÙNG ĐẤT TẦM-PHONG-LONG VÀ ĐÔNG-KHẨU-ĐẠO)
            Sa-Đéc nói riêng, lãnh thổ miền Nam Việt-Nam nói chung, vốn do công trình của Tiền-Nhân ta dưới thời các Chúa Nguyễn đã dày công khai thác. Từ thời chúa Hiền tức Hiền-Vương. Nguyễn Phúc-Tần, sau truy dâng miếu hiệu là Thai-Tông Hiếu-Triết (1648-1687), cuộc nam tiến hình thành, lãnh thổ Việt dần dần mở rộng. Đầu tiên thâu phục đất Mô-Xoài (vùng Bà-Rịa, Biên-Hòa ngày nay) vào năm 1658. Rồi lần lượt đến bình định Sài-Gòn (vùng Sài-Gòn, Gia-Định) trong năm 1698, Định-Tường (Mỹ-Tho) và Long-Hồ (Vĩnh-Long) khoảng năm 1731.
            Miền Hậu-Giang, Mạc-Cửu dâng đất Hà-Tiên và Hòn Phú-Quốc cho chúa Nguyễn-Phúc-Chu từ năm 1714, rồi it lâu sau, con là Mạc-Tứ tức Mạc-Thiên-Tích mở mang thêm bốn huyện: Long-Xuyên (miền Cà-Mau), Kiên-Giang (Rạch-Giá), Trấn-Giang (miền Cần-Thơ) và Trấn-Di (miền bắc Bạc-Liêu) từ năm 1739.  
            Cho đến năm 1759, vùng đất Châu-Đốc và Sa-Đéc khi ấy còn mang tên là đất (Tầm-phong-long) mới thật sự nằm trong bản dư-đồ lãnh thổ Viet-Nam ta.  
            Bây giờ, toàn lãnh thổ ta chia làm 12 dinh. Vùng đất Sa-Đéc vốn thuộc dinh Long-Hồ. Vị tướng soái nắm quyền điều khiển toàn quân toàn dân Long-Hồ dinh là Nguyễn-Cư-Trinh, có Trương-Phúc-Du phụ-tá.
            Đa mưu túc trí, kinh luân thao lược toàn tài, Nguyễn-Cư-Trinh dốc lòng lo cuộc mở mang bờ cỏi Miền Nam nước Việt. Đặt kế hoạch phòng thủ lâu dài, ông đệ sớ về triều bày tỏ sách lược, rồi rời dinh Long-Hồ lên xứ Tầm-bào (Tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh-Long, thuộc thôn Long-Hồ). Đồng thời ông đôn đốc quân dân xây cất đồn lũy ở những nơi hiểm yếu, để ngăn ngừa cuộc đánh phá của người Chân-Lạp và Xiêm-La.  
            Đường bộ, ông dùng người Chàm trấn đóng các đồn ở Tây-Ninh, và một phần trấn thủ ở Hồng-Ngự. Các đồn Tây-Ninh, Hồng-Ngự (xưa thuộc Châu-Đốc nay thuộc Kiến-Phong) liên lạc nhau do đường tắt vùng biên giới băng ngang Đồng-Tháp-Mười, Soài-Riêng.
            Đường thủy thì lập đồn ở hai bên sông Cửu-Long gần biên giới gồm có:  
            1)- Tân-Châu-đạo (Cù-lao-giêng) ở Tiền-giang
            2)- Châu-Đốc-đạo ở Hậu-giang
            3)- Đông-Khẩu-đạo ở vùng Sa-Đéc 
            4)- Kiên-Giang-đạo ở vùng Rạch-Giá 
            5)- Long-Xuyên-đạo ở vùng Cà-Mau    
            Thế là vùng Sa-Đéc khi xưa đã nghiễm nhiên là một vị trí chiến lược quan trọng ở miền Hậu-giang. Được đặt làm Đông-Khẩu-đạo, Sa-Đéc trở nên là một trong 5 đạo làm hậu thuẩn cho Long-Hồ dinh, là tiền đồn trấn giữ tỉnh lỵ Vĩnh-Long xưa.  
            Bởi lẽ ấy, một khi đã nhắc đến Long-Hồ dinh, nói đến tỉnh Vĩnh-Long xưa và nay, chúng ta không thể không nhắc đến Sa-Đéc đã có một thời quá khứ đầy chứng tích lịch sử, đáng được nhắc nhở.
 
 
HÌNH
Con rạch Cái-Sơn vùng Đông-Khẩu-đạo ngày xưa,
rạch này xuyên qua Nàng Hai và Tân Dương.
 
 
 
SA-ĐÉC TRONG THỜI CHÚA NGUYỄN-PHÚC-ÁNH
BÔN BA TẨU QUỐC
            Công lao khai thác miền Nam Việt-Nam, hoàn toàn do thống suất của Nguyễn-Cư-Trinh và Trương-Phúc-Du đã an định vào thời chúa Võ-Vương Nguyễn-Phúc-Khoát. Khởi đầu chính sách tầm thực(1), thâu phục đất đai Mô-Xoài (vùng Bà-Rịa, Biên-Hòa) từ năm 1658 thời Hiền-Vương Nguyễn-Phúc-Tần, dần dần cho đến năm 1759 hoàn thành cuộc Nam-tiến, đăng đẳng tròn một thế kỷ. Suốt một thế kỷ gian lao khai hoang, xây dựng đất nước, từng phen đương đầu chống với Chân-Lạp, Xiêm-La, biết bao xương máu tiền nhân đã đắp bồi.
(1) Xin xem quyển Định-Tường xưa và nay.
            Nhưng dựng nước đành là khổ nhọc, đến nhưng cùng nòi giống chiến tranh với nhau, cuộc đổ máu như thế ấy là bi đát, Miền Nam đẫm máu giữa người cùng nòi giống với nhau, bắt đầu từ lúc chúa Định-Vương Nguyễn-Phúc-Thuần chạy vào Gia-Định, lôi cuốn theo cơn lốc Tây-Sơn, gây nên trường bão tố xót xa cho nòi Việt.  
            Ba phen Gia-Định thất thủ, biết bao phen miền Tiền-giang và Hậu-giang bị khói lửa lan tràn. Long-Hồ dinh rợp trời binh đao. Cố nhiên vùng chiến lược Đông-Khẩu-đạo (Sa-Đéc) không làm sao thoát khỏi sự tàn phá dữ dội, gây thê thảm cho giống nòi lâm cảnh nội chiến!
            Chúa Nguyễn-Phúc-Thuần sa cơ tại Long-Xuyên-đạo (Cà-Mau thì từ ấy binh quyền về tay Nguyễn-Phúc-Ánh. Có thể nói gót chân lưu vong của Chúa Nguyễn-Phúc-Ánh đã dẫm khắp đất đai miền Tây. Nơi đâu có mặt Chúa Nguyễn, thì binh đội Tây-Sơn cũng tràn lan tới, và cuộc tranh hùng đẫm máu liên miên tiếp diễn.
            Những hào-kiệt miền tây Nam-Việt theo phò tá Chúa Nguyễn có cơ hội xuất đầu lộ diện. Riêng vùng Vĩnh-Long (Long- Hồ), Sa-Đéc (Đông-Khẩu-đạo) nổi bật Tống-Phúc-Hiệp, Tống-Phúc-Hòa, Nguyễn-Văn-Nhơn, Châu-Văn-Tiếp. Nhất là hai anh em họ Tống đều tận trung tử nghĩa vì Chúa Nguyễn.
            Từ năm Giáp-Thìn 1784, Sa-Đéc rực trời binh lửa, đằng đằng sát khí; vì Nguyễn-Vương từ Xiêm đem binh về có binh tướng Xiêm gồm 20.000 người và 300 chiến thuyền theo giúp. Hai tướng Xiêm là Chiêu-Tăng và Chiêu-Sương chỉ huy đoàn thủy quân lục chiến ấy. Vị tướng lãnh chỉ huy quân của Nguyễn-Vương là Bình-Tây đại Đô-Đốc Châu-Văn-Tiếp. Binh viện trợ đường ấy kể cũng là một lực lượng hùng hậu đáng ngại! Nhưng, lòng trời chưa tựa Nguyễn-Vương. Sông Man-Thít (Sa-Đéc) sóng gào hận đồng chủng tương tàn; Đô-Đốc Châu-Văn-Tiếp kiêu binh tử trận. Rồi đến một trận Rạch Gầm(1), chúa tướng Tây-Sơn Nguyễn-Huệ phá vỡ quân Xiêm.
            Binh tan tướng mất, Nguyễn-Vương lại lìa miền tây, lê gót lưu vong, ý đồ phục hận vẫn không nguôi. Hết binh Nguyễn-Vương, lại đến binh Tây-Sơn trấn đóng, Vĩnh-Long, Sa-Đéc nói riêng, toàn vùng chiến thuật miền tây nói chung, dân gian vẫn phải thấp thỏm lo âu khói lửa binh đao, tê tái than dài ách nạn nồi da xáo thịt!
            Cho đến năm Đinh-Vị 1787, binh Nguyễn-Vương lại vùng lên. Lần này, Nguyễn-Vương thiết lập đại-bản-đinh tại Hồi-Oa (Nước-Xoáy), thuộc làng Tân-Long (sau đổi là Hưng-Long). Đồn lũy giăng giăng, Sa-Đéc lúc bấy giờ trở thành một nơi hành cung, bậc vua chúa tạm ngự, đóng đô ở đấy. Vì thế, ngày nay Sa-Đéc hãy còn đầy dẫy di tích thời Chúa Nguyễn-Phúc-Ánh lưu vong, mưu đồ phục quốc.
 
HÌNH
qua các hình ảnh quê-hương
Cầu đúc ngang sông Sa-Đéc qua xã Tân-Hưng
 
 
Đã có duyên nợ đậm đà với vùng Long-Hồ, Sa-Đéc, cho nên đến khi thống nhất non sông, lên ngôi Đế, tức Vua Gia-Long, nhà vua đầu tiên dòng Nguyễn-Phúc vẫn hằng tỏ lòng lưu luyến những kỷ niệm xưa ấy, mà có lần đã ngự du Long-Hồ trong dịp đầu xuân năm 1805. Mùa xuân thanh bình trở lại trên đất nước. Sa-Đéc thuở ấy hẳn tràn ngập niềm hoan lạc trong lòng dân chúng đã quá đau khổ triền miên vì cuộc nội loạn, nay mừng ra nước mắt đón thanh bình.
 
SA-ĐÉC QUA CÁC TRIỀU ĐẠI NHÀ NGUYỄN-PHÚC
            Bởi có duyên nợ đậm đà với vùng đất Sa-Đéc, nên khi trú đóng tại đây, chúa Nguyễn-Phúc-Ánh đã đặt tên làng tại Nước-Xoáy (Hồi-Oa) là làng Long-Hưng, và nhiều làng quanh vùng mang tên là Long-Ẩn, Long-Thắng, Long-Hậu.
            Khi xưa, Sa-Đéc gồm có hai Tổng: An-Xuyên và Vĩnh-An, thuộc châu Định-Viễn. Đến năm Gia-Long thứ bảy (1808), đổi châu Định-Viễn làm Phủ-Định-Viễn. Hai Tổng An-Xuyên và Vĩnh-An đổi thành huyện An-Xuyên và huyện Vĩnh-An.
            Phủ trị Định-Viễn châu vị 56 trượng, rào tre đặt tại địa phận hai thôn Hiệp-An và Tân-Mỹ-Đông, thiết lập từ năm Gia-Long thứ 12 (1813). Đến năm Minh-Mạng thứ 14 (1833) mới đổi qua địa phận thôn Trường-Xuân, huyện Vĩnh-Bình.
            Theo "Đại-Nam Nhất Thống-Chí"(1) vùng Sa-Đéc ngày xưa bao gồm hai huyện Vĩnh-An và An-Xuyên như sau:
(1) Bản dịch của Tu-Trai Nguyễn-Tạo, Nha Văn Hóa Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản.
            "Huyện Vĩnh-An, đông đến tây cách nhau 38 dặm, nam đến bắc cách nhau 22 dặm. Phía đông đến huyện giới An-Xuyên 2 dặm: phía tây đến huyện giới Phong-Phú ở phủ Tuy-Biên 36 dặm; phía nam đến huyện giới Đông-Xuyên 12 dặm; phía bắc đến huyện giới Kiến-Phong tỉnh Định-Tường 10 dặm.  
            "Nguyên trước là Tổng Vĩnh-An. Năm Gia-Long thứ 7 (1808) thăng làm Huyện, thuộc phủ Định-Viễn, tỉnh Vĩnh-Long. Năm Minh-Mạng thứ 13 (1832) trích thuộc về phủ Tân-Thành.
            Có bốn Tổng, 36 xã thôn Bang phố."  
HÌNH THỂ NGÀY XƯA
            "Huyện An-Xuyên, ở đông nam phủ (Tân-Thành) 24 dặm. Đông đến tây cách nhau 48 dặm, nam đến bắc cách nhau 46 dặm. Phía đông đến sông tỉnh Vĩnh-Long 8 dặm; phía tây đến giới hạn huyện Phong-Phú ở phủ Tuy-Biên 40 dặm; phía nam đến huyện giới Vĩnh-Định thuộc phủ Ba-Xuyên 30 dặm; phía bắc đến sông tỉnh Định-Tường 16 dặm.  
            "Nguyên trước là địa hạt huyện Vĩnh-An. Năm Minh-Mạng thứ 20 (1839) chia đặt huyện này thuộc phủ Tân-Thành thống hạt. Năm Tự-Đức (1853) qui về phủ Tân-Thành kiêm nhiếp. Có 3 tổng, 25 xã thôn."
            Như thế, rõ là đất Sa-Đéc xưa gồm có huyện Vĩnh-An và An-Xuyên, trước thuộc phủ Định-Viễn, sau thuộc phủ Tân-Thành, chia làm 7 tổng, 61 xã thôn. Điều cần biết rõ hơn, trên kia chúng tôi đã ghi lại về phủ trị Định-Viễn, tưởng nên ghi thêm về huyện trị Vĩnh-An và huyện trị An-Xuyên của Sa-Đéc xưa.
            Huyện trị Vĩnh-An, đến năm Minh-Mạng thứ 13 (1832) đổi làm phủ trị Tân-Thành, châu vi hơn 50 trượng, rào tre ở thôn Vĩnh-Phước.  
            Còn huyện trị An-Xuyên, châu vi 50 trượng, rào tre, ở địa phận thôn Tân-Hộ, thiết lập vào năm Minh-Mạng thứ 20 (1839).  
            Từ đời Minh-Mạng, nhà vua đặc biệt lưu tâm đến việc giáo dục. Ngay tại Sa-Đéc thuở ấy, có đến hai trường học lớn:  
            Trường phủ Tân-Thành, ở phía đông phủ trị Tân-Thành, địa phận thôn Vĩnh-Phước, xây cất vào năm Minh-Mạng thứ 13 (1832).  
            Trường huyện An-Xuyên, ở phía đông huyện trị An-Xuyên, địa phận thôn Tân-Hộ, xây cất năm Minh-Mạng thứ 20 (1839).  
 
Thuở ấy đất đai Sa-Đéc phì nhiêu, dân cư trù mật. Căn cứ theo những điều đã ghi ở "Đại-Nam Nhất Thống-Chí", chúng ta nhận thấy về đường thủy, các sông ngòi ở Sa-Đéc xa xưa đã được khai thông khá nhiều, đem lại sự tiện lợi cho dân chúng biết bao.  
            Sông Sa-Đéc - Ở phía bắc huyện Vĩnh-An 8 dặm, là bờ phía nam Tiền-giang, rộng 21 trượng, sâu 28 thước. Sông trong nước ngọt, hai bên vườn ruộng mở mang đất tốt, nhân dân giàu có. Đạo Đông-Khẩu khi trước đồn trú ở phía nam, chợ phố liên tiếp ở phía bắc, ghe thuyền tấp nập, phía tả có bến Tiên, phía hữu có bãi Phụng-Nga, hình như La-Thành hộ vệ, cảnh trí rất tốt đẹp.
            Rạch Nước-Xoáy (Hồi-Oa thủy) - Ở phía bắc huyện Vĩnh-An 15 dặm, do nước sông Sa-Đéc đưa đến. Nước chảy xoáy quanh vùng, rồi hội hiệp về Tiền-giang và Hậu-giang. Lúc đầu trung hưng vào năm Đinh-Vị 1787. Thế-Tổ Cao-Hoàng-Đế có đồn trú nơi đây để hiệu lịnh các đạo quân, và nhờ địa thế hiểm yếu thu được nhiều chiến công. Đây là một nơi chiến thắng, đến nay nhân dân còn ca tụng.  
            Các sông Nha-Mân, An-Thuận, Tân-Đông, Long-Phụng, Hội-An, Mỹ-An, v.v... hầu hết đều giữ được khí đất sinh vượng. Hai bên ruộng vườn đều thạnh mậu.
            Tuy nhiên, tình trạng an ninh ở Sa-Đéc lúc bấy giờ vẫn thường bị Chân-Lạp và Xiêm-La đe dọa. Trong năm Quý-Tị (1833), tại Gia-Định, Lê-Văn-Khôi dấy binh phản đối triều đình về vụ án Lê-Văn-Duyệt. Cuộc nội biến ấy xảy ra vào khoảng tháng năm. Nhân dân hai miền Tiền-giang và Hậu-giang chịu ảnh hưởng của thời cuộc, xôn xao không ít. Dần dần thảm họa nổi loạn lan xuống đến vùng Vĩnh-Long, Sa-Đéc. Dân chúng lầm thân não nùng.
            Đã khổ về nội chiến, lại thêm vướng nạn ngoại xâm. Cũng trong năm Quý-Tị ấy, khoảng cuối năm, binh Xiêm chia làm 5 đạo thủy bộ tràn sang đánh phá các vùng Hà-Tiên, Châu-Đốc, Vĩnh-Long. Một khi khói lửa chiến tranh bùng dậy trên đất Vĩnh, cố nhiên Sa-Đéc phải đặt trong tình trạng khẩn trương. Nạn binh đao gieo tang tóc, làm khổ đồng bào Sa-Đéc không ít.
            Đối phó với giặc trong là nhóm Lê-Văn-Khôi, giặc ngoài là binh Xiêm. Triều đình cử Trương-Minh-Giảng và Nguyễn-Xuân đi đánh dẹp. Vốn có đại tài, trí mưu thao lược của hai vị tướng lãnh Trương-Minh-Giảng và Nguyễn-Xuân thừa sức chống dịch. Một trận oanh liệt kết thúc cuộc chiến chống ngoại xâm, xảy ra trên sông Cỏ-Cắng (Vĩnh-Long). Tại đây, các vị tướng lãnh của ta đã hào hùng điều khiển binh sĩ phá tan thủy quân Xiêm. Thừa thắng, chỉ trong vòng một tháng, quân ta đuổi binh Xiêm ra khỏi Vĩnh-Long, tiến đánh lấy lại Hà-Tiên và Châu-Đốc. Từ ấy, dân chúng quanh vùng Vĩnh-Trà-Sa (Vĩnh-Long, Trà-Vinh, Sa-Đéc) được yên ổn làm ăn.
            Cho đến triều Tự-Đức, khi tiếng súng ngoại xâm bùng nổ trên đất ta, vào khoảng năm 1862, vùng Vĩnh-Long, Sa-Đéc bị quân đội Pháp chiếm đóng lần đầu tiên, bấy giờ là ngày 28 tháng ba 1862. Rồi do hòa ước 5 tháng 6 1862, chúng mới chịu giao trả Vĩnh-Long lại(1). Nhưng chúng vẫn làm áp lực khống chế quân dân ta mãi, cốt ý xúc tiến việc thôn tính đất nước ta mới thỏa ý đồ xâm lược của họ.  
(1) Xin xem "Vĩnh-Long xưa và nay" đã xuất bản.
            Tự nhiên là dân miền Tây khi ấy vẫn đã sẵn sàng đề cao tinh thần kháng chiến, há để bó tay ngồi nhìn vận nước nguy nan. Dân chúng vùng Sa-Đéc cũng phải chịu chung nổi thống khổ điêu linh vì khói lửa chiến tranh, và cố nhiên cũng đã phải đóng góp xương máu rất nhiều trong cuộc bảo vệ đất nước thoát ách ngoại xâm của nước Pháp.  
            Kẻ đi xâm lược, một khi đã có đất đứng để làm bàn đạp vọt tới đánh khắp nơi thì có bao giờ họ chịu dừng tay. Quân đội Pháp đã có mặt ở Sài-Gòn, đã chiếm lấy 3 tỉnh miền Đông, tất nhiên cái cớ gồm nuốt trọn lãnh thổ miền Nam chỉ còn chờ thời gian thuận tiện là dấy động.  
QUÂN PHÁP CHIẾM BA TỈNH MIỀN TÂY
LẬP NÊN HÀNH CHÁNH:
            Năm 1867, trong khi cuộc thương nghị (bắt đầu từ năm 1864) giữa Tổng-Đốc PHAN-THANH-GIẢN, TRẦN-TIẾN-THÀNH và PHAN-HUY-VỊNH với toàn quyền AUBARET nhằm chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam phần chưa ngã ngũ ra sao, tướng Pháp LAGRANDIÈRE kéo 1400 quân từ Định-Tường qua đánh lấy ba tỉnh miền Tây một lần nữa. Cụ PHAN-THANH-GIẢN trấn thủ Vĩnh-Long không giữ nỗi trước sức tấn công vũ bão và võ khí hùng hậu, nên đành giao nộp thành trì cho quân Pháp, để tránh cho binh sĩ và nhân dân khỏi thương vong do sự chống đối tuyệt vọng, rồi uống thuốc độc tự vận, dặn con cháu sau này không được nhận chức tước của chánh phủ Pháp.
            Thế là từ đó, Vĩnh-Long, Sa-Đéc cùng các tỉnh miền Tây thuộc quyền cai trị của Pháp.  
            Lúc bấy giờ, Pháp đã chiếm xong 3 tỉnh miền Tây rồi, 6 tỉnh miền Nam đã hoàn toàn dưới quyền cai trị của Pháp.  
            Chính phủ Pháp tổ chức thuộc địa, phân chia ranh giới để cai trị, mỗi tỉnh đều đặt một quan Tham-biện, Quận, Tổng, Làng để kiểm soát dân chúng và đặt luật lệ thuế khóa trồng ách nô lệ trên đầu, trên cổ dân Việt-Nam trên 80 năm đô hộ.
            Vùng Sa-Đéc bấy giờ nằm về tỉnh Châu-Đốc gồm 3 vị Tham-biện Pháp.  
            Tỉnh Châu-Đốc: 3 vị Tham-biện:
                        1. Châu-Đốc: Châu-Thành Châu-Đốc
                        2. Sa-Đéc:  Châu-Thành Sóc-Trăng
                        3. Ba-Xuyên:  Châu-Thành Sóc-Trăng
 
 
HÌNH
Những hình ảnh xưa của thời Pháp thuộc.
Đây là Tòa Bố Sa-Déc ở phía đồi cồn Tân-Qui-Đông.
 
 
Vùng Sa-Đéc bấy giờ nằm về tỉnh Châu-Đốc gồm 3 vị Tham-biện Pháp.  
            Tỉnh Châu-Đốc: 3 vị Tham-biện
                        1. Châu-Đốc: Châu-Thành Châu-Đốc
                        2. Sa-Đéc:     Châu-Thành Sóc-Trăng
                        3. Ba-Xuyên:            Châu-Thành Sóc-Trăng
            Đến khi Sa-Đéc được tách riêng lập thành tỉnh, vị trí như sau:  
            Đông giáp tỉnh Mỹ-Tho, cách 60 cây số về tỉnh Vĩnh-Long, cách 24 km 500.  
            Tây giáp tỉnh Long-Xuyên, cách tỉnh này 48 km 500.  
            Nam giáp tỉnh Cần-Thơ, cách tỉnh này 50 km.  
            Bắc giáp tỉnh Tân-An, cách tỉnh này 84 km.
            Tỉnh Sa-Đéc khi ấy, chia làm 3 quận, 10 tổng, 67 làng như sau:  
            I. Quận Châu-Thành Sa-Đéc gồm có 5 tổng, 34 làng:  
            1) Tổng An-Hội có 5 làng: An-Tịch, Tân-Hưng, Tân-Xuân, Thượng-Văn và Phụng-Xuân.
            2) Tổng An-Mỹ gồm 14 làng: An-Hòa-Đông, An-Thuận, Hòa-Hưng, Khánh-An-Đông, Phú-Hòa, Phú-Hựu, Phú-Nhơn, Phú-Nhuận, Tân-An-Đông, Tân-Hựu, Tân-Hựu-Đông, Tân-Hựu-Trung, Tân-Long, Tân-Nhơn.  
            3) Tổng An-Thạnh-Thượng có 4 làng: An-Hội, Hội-An-Đông, Mỹ-An-Hưng, Tân-Mỹ.  
            4) Tổng An-Thạnh-Hạ có 5 làng: Tân-An-Trung, Tân-Đông, Tân-Khánh, Tân-Khánh-Tây, Tân-Qui-Đông.  
            5) Tổng An-Trung có 6 làng: Bình-Tiên, Hòa-Khánh, Tân-Qui-Tây, Tân-Phú-Trung, Tân-Phú-Đông, Vĩnh-Phước.  
            II. Quận Cao-Lãnh gồm có 3 Tổng, 20 làng:
            1) Tổng An-Tịnh có 5 làng: Hòa-An, Tịnh-Thới, Tân-Tịch, Tân-Thuận-Đông, Tân-Thuận-Tây.  
            2) Tổng Phong-Nẫm có 9 làng: Bình-Hàng-Tây, Bình-Hàng-Trung, Bình-Thạnh, Mỹ-Hội, Mỹ-Hiệp, Mỹ-Long, Mỹ-Tho, Mỹ-Thành, Mỹ-Xương.  
            3) Tổng Phong-Thạnh có 6 làng: An-Bình, Mỹ-Ngãi, Mỹ-Trà, Nhị-Mỹ, Phong-Mỹ, Tân-An.  
            III. Quận Lai-Vung gồm có 2 Tổng, 13 làng:
            1) Tổng An-Phong có 6 làng: Hậu-Thành, Long-Hưng, Tân-Bình-Hòa, Tân-Dương, Vĩnh-Thanh.  
            2) Tổng An-Thới có 8 làng: Hòa-Long, Long-Hậu, Long-Thắng, Phú-Thành, Tân-Hòa, Tân-Phước, Tân-Lộc, Vĩnh-Thới.  
            Như thế, tỉnh Sa-Déc trong thời Pháp thuộc đã bao gồm cả vùng Cao-Lãnh tức vùng tỉnh lỵ Kiến-Phong bây giờ. Mà một khi đã nói đến hai chữ Cao-Lãnh, là người Việt tất ai cũng biết đó là chốn đã có lắm chí sĩ anh hùng hào kiệt ẩn thân.  
ANH HÙNG HÀO KIỆT PHẤT CỜ CHỐNG PHÁP
            Khi quân đội Pháp chiếm miền Tây, biết bao hào kiệt vùng Định-Tường, Vĩnh-Long, Sa-Đéc, Cao-Lãnh đã phát động các cuộc kháng chiến hào hùng. Tuy thất bại, không thành công, nhưng các vị anh hùng chống xăm lăng ấy, các chí sĩ ngậm hận ấy, đều được muôn đời nhắc nhở, ngưỡng mộ sùng kính. Những nhân vật kháng Pháp cứu quốc như Thiên-Hộ-Dương, Thủ-Khoa-Huân, Thống-Linh (Nguyễn-Văn-Linh), Phòng-Biểu (Nguyễn-Văn-Biểu) đã làm rạng danh Sa-Đéc ngày xưa. Những chí sĩ khét tiếng vùng Sa-Đéc, Cao-Lãnh như các cụ Nguyễn-Quang-Diêu v.v... đã nêu gương muôn thuở cho người Sa-Đéc.
            Và khoảng cận đại có các chí sĩ như Võ-Hoành, Dương-Bá-Trạc, Nguyễn-Quyền, từng bị chính quyền đưa đi an trí tại Sa-Đéc. Cụ Phan-Bội-Châu khi vào Nam, thân đến vùng Sa-Đéc tiếp xúc với những nhân vật có lòng yêu nước. Ông Đặng-Thúc-Liêng cư ngụ ở Sa-Đéc là người tài năng khí tiết đã làm cho Sa-Đéc thêm phần văn học hào hùng.
            Cho nên, dù chiếm đất nước ta, nhưng người Pháp chưa dễ tiêu diệt được sĩ khí của dân tộc ta. Đặc biệt là sĩ khí vùng Sa-Đéc, Cao-Lãnh chói rạng hơn đâu hết. Lịch sử đã chứng minh điều ấy, và đến nay mọi người cũng đều đã biết rõ như thế. Chính tinh thần bất khuất của giống nòi ta đã cứu thoát dân tộc sớm cổi ách nô lệ của ngoại bang. Và trong công cuộc dành độc lập, tự do cho dân tộc, miền Tây Nam-Việt đáng được tự hào với tỉnh Sa-Đéc xưa kia có nhiều sĩ phu đầy tinh thần khí phách, làm rạng rỡ giống nòi dân Việt.  
NỀN ĐỆ NHỨT CỘNG-HÒA
SA-ĐÉC TRỞ THÀNH QUẬN, TỈNH VĨNH-LONG
            Từ năm 1957, do Nghị-Đinh số 308-BNV/NC/ND ngày 8-10-57, tỉnh Sa-Đéc trở thành một quận thuộc tỉnh Vĩnh-Long, gồm có 20 xã. Rồi 5 năm sau, do Nghị-Định số 719-NV ngày 11-07-62, lại cắt phần đất trong vùng Sa-Đéc là Đức-Tôn và Đức-Thành lập thành 2 quận riêng biệt nữa của tỉnh Vĩnh-Long như sau:  
            Tỉnh Vĩnh-Long có 9 quận, 24 tổng, 81 xã (bao gồm vùng Sa-Đéc)
            1) Quận Châu-Thành gồm có 4 tổng, 14 xã
            2) Chợ Lách - gồm có 3 tổng, 9 xã
            3) Tam-Bình - gồm có 3 tổng, 8 xã
            4) Bình-Minh - gồm có 2 tổng, 6 xã
            5) Minh-Đức - gồm có 2 tổng, 8 xã
            6) Sa-Đéc - gồm có 3 tổng, 13 xã            ) Vùng
            7) Lấp-Vò - gồm có 2 tổng, 8 xã               ) Sa-Đéc 
            8) Đức-Tôn - gồm có 2 tổng, 7 xã                        ) sáp
            9) Đức-Thành - gồm có 3 tổng, 8 xã       ) nhập
SA-ĐÉC TÁCH RỜI VĨNH-LONG TRỞ LẠI TỈNH
            Thời cuộc đổi thay, các tỉnh miền Nam dưới thời chánh phủ Ngô-Đình-Diệm, trở thành quận như: Gò-Công, Vũng-Tàu, Bạc-Liêu, Châu-Đốc, Sa-Đéc v.v... Gần đây các tỉnh cũ bị sáp nhập làm quận, lần lượt được phục hồi lại địa vị cũ.  
            Sa-Đéc được tái chính thức thành lập trở lại từ ngày 24-9-1966 do Sắc Lệnh của Phủ Chủ Tịch Hành Pháp Trung Ương. Tỉnh tái lập này gồm có 4 quận, 10 tổng đến ngày nay, 1970. Cải tổ đã bầu Hội đồng nhân dân Xã và lập Ủy ban Hành chánh Xã không còn tổng nữa.  
 
SA-ĐÉC HIỆN-ĐẠI
NĂM 1971 GỒM CÁC QUẬN XÃ NHƯ SAU:
            I. QUẬN CHÂU-THÀNH:   1 - Xã An-Tịch
                                                           2 - Xã Tân- Hiệp 
                                                           3 - Xã Bình-Tiên
                                                           4 - Xã Tân-Phú-Trung
                                                           5 - Xã Tân-Xuân 
                                                           6 - Xã Tân-An-Trung
                                                           7 - Xã Tân-Đông
                                                           8 - Xã Tân-Mỹ
                                                           9 - Xã Tân-Khánh
                                                           10 - Xã Tân-Khánh-Tây
                                                           11 - Xã Tân-Vĩnh-Hòa
                                                           12 - Xã Hòa-Thành
                                                           13 - Xã Tân-Dương
            II. QUẬN ĐỨC-THÀNH:     1 - Xã Tân-Thành
                                                           2 - Xã Long- Hậu
                                                           3 - Xã Vĩnh-Thới 
                                                           4 - Xã Tân-Hòa-Bình
                                                           5 - Xã Hòa-Long 
                                                           6 - Xã Tân-Phước 
                                                           7 - Xã Long-Thắng 
                                                           8 - Xã Phong-Hòa
            III. QUẬN ĐỨC-TÔN:         1 -  Xã Phú-Hựu
                                                           2 - Xã An-Nhơn
                                                           3 - Xã Tân-Nhuận-Đông
                                                           4 - Xã An-Phú-Nhuận
                                                           5 - Xã An-Khánh
                                                           6 - Xã Hòa-Tân
                                                           7 - Xã Phú-Long
            IV. QUẬN LẤP-VÒ:             1 - Xã Bình-Thạnh-Đông
                                                           2 - Xã Bình-Thạnh-Tây
                                                           3 - Xã Bình-Thạnh-Trung
                                                           4 - Xã Hội-An-Đông
                                                           5 - Xã Mỹ-An-Hưng
                                                           6 - Xã Định-Yên
                                                           7 - Xã Vĩnh-Thạnh
                                                           8 - Xã Long-Hưng
            Tổng cộng 4 quận, 36 xã.  
            Theo một tài liệu chúng tôi sưu tầm về nhân số chung toàn tỉnh gồm cả nam phụ lão ấu và số người di cư từ năm 1966-67, cộng trên 250.000 người và nhân số hiện tại năm 1971 gần 300.000 người, kể cả binh-đội của Sư-đoàn 9 Bộ-binh.  
            Lịch sử tỉnh Sa-Đéc tóm lược như trên, kể ra cũng là nơi rất xứng đáng lưu truyền sự tích. Ngày nay Sa-Đéc cũng như bao tỉnh khác đang trên đà phát triển mọi ngành sinh hoạt, trong tương lai hẳn còn xứng đáng hơn lên.
 
 
HINH
Buổi bình-minh trên vàm sông Sa-Đéc
Sa-giang cảnh vật nên thơ,
Quyện lòng du khách gợi tình nước non!
 
 
 
ĐỊA-LÝ
            Từ thủ đô Sài-Gòn theo quốc-lộ 4 xuống Sa-Đéc qua Bắc Mỹ-Thuận, rẽ về phía tay mặt tiến theo lộ số 8 tới Sa-Đéc là 136 cây-số.  
I.  - Vị-trí, giới-hạn, diện-tích:  
            a) Vị-trí: Tỉnh Sa-Đéc nằm giữa Tiền-giang và Hậu-giang, Đông-Tây ước độ 36 cây số ngàn, Bắc-Nam chừng 22 cây số ngàn, ở những quãng tối đa.  
            b) Giới-hạn:   Phía bắc, tỉnh Sa-Đéc giáp hai tỉnh Kiến-Phong và Định-Tường.  
                                   Phía nam, giáp An-Giang, Phong-Dinh và Vĩnh-Long.  
                                   Phía đông, giáp An-Giang.  
            c) Diện tích: 776 km2, 288.  
II.  - Địa-chất:
            Không có đồi núi, đất tỉnh Sa-Đéc là phù sa phì nhiêu, hợp với việc trồng lúa, các loại cây và cây kỹ nghệ. Mặt đất phần lớn là ruộng và vườn.  
III.  - Núi đồi, đồng bằng, cù lao:  
            Như trên đã nói, tỉnh Sa-Đéc là một vùng đồng bằng, do phù sa bồi đắp nên cũng có nhiều chỗ thấp. Mùa nước lớn có nhiều nơi bị lụt ngập, nhất là vào khoảng giữa tháng 10 cho đến giữa tháng 12 dương lịch.  
IV.  - Khí hậu, mưa gió:  
            a) Khí hậu: nhiệt độ trung bình.  
                        - Buổi sáng 25 độ, trưa chiều 28 độ trong mùa mưa.  
                        - Buổi sáng 27 độ, trưa chiều 31 độ trong mùa nắng.  
            b) Mưa: Mưa bắt đầu vào tháng tư chỉ vào khoảng tháng 6, 7, 8 và 9 thì mưa rất thường. Có nhiều đám mưa to lắm, khi kéo dài đến đôi ba ngày. Mưa trở lại ít, từ đầu tháng 10 và chấm dứt vào cuối tháng 11 âm lịch.  
            c) Gió: Có hai ngọn gió chánh: Gió tây nam thổi trong mùa và gió chướng thổi từ hướng đông trong mùa nắng.  
V.  - Thảo mộc, cầm thú:  
            a) Thảo mộc: Cây cối tốt tươi nhất là về mùa mưa vì có nước đầy đủ. Ruộng lúa phì nhiêu, vườn cây xanh biết. Cũng có nhiều vùng đất còn hoang vu, thì toàn là tranh và lác dày bịch. Rải rác trong các vườn cây ăn trái, hoặc nơi các đồng ruộng có một số ít cây danh mộc như: Dầu, Sao, Bằng-lăng, và các cây cổ thụ như cây đa, cây bồ-đề thường có tại các chùa, đình, miếu v.v...  
            b) Cầm thú: Ngoài số gia súc đủ dùng như: trâu, bò, heo, chó, gà, vịt, ngỗng v.v... tại các đồng ruộng còn có chồn, trăn, rắn, rùa. Về các loài chim thì kể: cò, quạ, dều, le-le, gà nước, óc cao, vò vẻ, chàng nghịch v.v...  
SA-ĐÉC - ĐƯỜNG GIAO THÔNG, THỦY BỘ
            a) Đường thủy: Ngoài hai sông Tiền-giang và Hậu-giang chạy dài bên phía nam và phía bắc để làm ranh giới trong tỉnh lại còn có nhiều sông, kinh, rạch nhỏ giúp cho việc lưu thông bằng đường thủy từ vùng này qua vùng khác như:
            - Rạch Chợ-Cồn:  
            Con rạch này tuy ngắn nhưng quan trọng, vì các tàu bè, ghe đò buôn bán trên sông Tiền-giang muốn ghé Châu-Thành Sa-Đéc thì bắt buộc phải vào con rạch độc nhất này.  
            - Sông Sa-Đéc:
            Thông thường từ tỉnh lỵ qua các xã Tân-Dương, Long-Hưng, Vĩnh-Thạnh, Bình-Thạnh-Đông, Bình-Thạnh-Tây trở ra sông Hậu-Giang và Vàm-Cống, và từ tỉnh lỵ qua các xã Tân-Vĩnh-Hòa, Tân-Xuân, Tân-Nhuận-Đông, An-Nhơn, Phú-Hựu trổ ra sông Tiền-Giang gần Bắc Mỹ-Thuận.  
            - Rạch Sa-Nhiên:  
            Thông thương đến các xã Tân-Khánh, Tân-Khánh-Tây thuộc tổng An-Thạnh.  
            - Rạch Cần-Thơ:  
            Thông thương từ Sa-Đéc đến tỉnh Phong-Dinh.  
            - Rạch Nha-Mân:  
            Thông thương giữa các xã Tân-Nhuận-Đông, Phú-Long, Hòa-Tân, Phong-Hòa qua đến quận Đức-Thành.  
            - Kinh Thầy-Lâm:  
            Nối liền hai xã Long-Hưng và Mỹ-An-Hưng thông ra sông Tiền-Giang.  
            - Rạch Cái-Tàu-Hạ:
            Thông thường qua xã Sông-Phú quận Tam-Bình và xã Tân-Hòa-Bình (quận Đức-Thành).  
            - Rạch Cái-Tôm-Ngang:  
            Thông thường từ xã An-Tịch qua xã Tân-Hiệp và trở ra sông Tiền-Giang.  
            Còn nhiều kinh rạch như:  
                        - Kinh Đốc-Phủ-Hiền
                        - Kinh Rau-Cần
                        - Kinh Ông-Huyện
                        - Kình Đội-Thơ
                        - Kinh Cái-Da-Nhỏ
                        - Kinh Mù-U 
                        - Kinh Cái-Sép
                        - Kinh Cây-Sanh
                        - Kinh Khê-Rang v.v...  
            b) Đường bộ:  
            - Đường Liên-Tỉnh số 8 từ địa đầu quận Đức-Tôn đến dò Vàm-Cống: 52 cs 883:
            Con đường độc nhất cho việc đi lại giữa tỉnh lỵ đến các quận lân cận như Đức-Tôn, Đức-Thành, Lấp-Vò. Con đường này tráng nhựa được chánh phủ chú ý chăm nom gìn giữ, vì nó nối liền với các con đường địa phương khác rất tiện lợi cho việc đi lại và tiếp tế thực phẩm, cùng chuyên chở hành khách giữa đô thành với các tỉnh, các quận miền Tây như An-Giang, Châu-Đốc, Kiên-Giang.  
            - Đường tỉnh hạt 23 từ quận Châu-Thành đến Cái-Tàu-Thượng dài 31cs 870:
            Đường này nối liền tỉnh Sa-Đéc với quận Chợ-Mới (tỉnh An-Giang) và tỉnh Kiến-Phong qua chiếc phà Cao-Lãnh, con đường này đã bị tàn phá lúc biến cố năm 1945, nay được sửa chữa và được cán đá lại.  
            - Đường Tỉnh-lộ 29: Đi từ Hòa-Long đến Lai-Vung dài 8 cs 450.  
            - Đường Tỉnh-lộ 37: Đi từ Lai-Vung đến quận Bình-Minh (Vĩnh-Long) dài 10 cs 440.  
 
 
HINH
Cầu sắc bắc ngang qua Tân-Qui-Đông
 
 
 
Ngoài ra còn có các hương-lộ nối liền từ tỉnh lỵ hoac quận lỵ đến các xã như:  
            - Hương-lộ 13: Từ Sa-Đéc đến các xã Long-Hưng (Lấp-Vò).
            - Hương-lộ 4: Dọc theo kinh Đốc-Phủ-Hiền từ Sa-Đéc đến xã Tân-Phú-Trung.  
            - Hương-lộ 2: Dọc theo kinh rạch Nha-Mân từ cầu Nha-Mân đến xã Xẻo-Mát.  
            - Hương-lộ An-Tịch: Nối liền từ Sa-Đéc đến 2 xã An-Tịch và Tân-Hiệp.  
            - Hương-lộ 5: Từ tỉnh lỵ đến xã Tân-Phú-Trung dài 20 cs 270.  
            - Hương-lộ 8: Đến xã Định-Yên.  
            - Hương-lộ 19: Đến xã Mỹ-An-Hưng.
            - Đường lộ đi Mủi Cần-Gió (Basse Nord) bắt đầu từ sắt Sa-Đéc, Mủi Cần-Gió dài 2 cs 500 là Vàm-Rạch Sa-Đéc, khi xưa là nơi bến tàu Lục-tỉnh và Nam-Vang ghé rước đưa hành khách và cất chở hàng. Nơi đây, khi trước cũng có dựng lên cái chợ gọi là chợ Cồn, nay nơi này bị lở vô sâu mấy chục công đất, nên bến tàu đã bỏ từ lâu.  
            - Doi-Cồn: Mé bên sông thuộc Tân-Qui-Đông sát bờ sông Sa-Đéc vì nước chảy siết nên đã bị lở. Chánh quyền đang đóng cừ hàn lại, nhưng lâu ngày không thể chịu nỗi với lạch nước xoáy.  
            Trong tương lai, về địa lý ở đây sẽ còn nhiều sự thay đổi có chỗ sụp mất, có nơi bồi thành cồn, vì thế trong họa đồ sẽ có sự thêm bớt, đó là về mặt địa lý tổng quát.
 
oOo
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHẦN THỨ NHÌ:    
 
DANH NHÂN LỊCH-SỬ
NHÂN-VẬT CẬN-ĐẠI
 
 
 
DANH-NHÂN LỊCH-SỬ
_________
CHƯỞNG-THỦY-DINH QUẬN-CÔNG
TỐNG-PHƯỚC-HÒA
SA CƠ BỊ TÂY SƠN BẮT TAI BA-VÁT, TỰ-VẬN
ĐỂ BẢO TOÀN DANH TIẾT
            Anh em đều vinh hiển, ngàn thu hương hỏa sùng phụng, nơi đền đài miếu mạo Vĩnh-Long, Sa-Đéc, thật chẳng ai bằng gia đình Tống-Quốc-Công. Dân chúng Vĩnh-Long không ai là chẳng biết miếu thờ Tống-Quốc-Công (Phước-Hiệp), còn tại Sa-Đéc, thì ngôi đình thờ Tống-Quận-Cộng (Phước-Hòa) cũng nguy nga tráng lệ không kém.  (Trước kia có đền thờ riêng, sau này Chánh phủ Pháp dỡ đi để cất bót cảnh sát ở đó, nên nay Tống-Quận-Công thờ chung với đình Thần làng Vĩnh Phước).
            Tống-Phước-Hòa là em ruột Hữu-Phủ Quốc-Công Tống-Phước-Hiệp(1), đã từng vào sanh ra tử theo phò Chúa Định-Vương Nguyễn-Phúc-Thuần lúc chống Tây-Sơn. Xuất thân là Cai-cơ trong quân ngũ của anh tại Long-Hồ-dinh, nhưng ông tuyệt nhiên không cậy oai thế của anh mình mà tự kiêu tự mãn. Lúc nào ông cũng nhún nhường, tháo vát mọi trọng trách một cách mẫn cán, liêm-chính. Trong quân cũng như ngoài dân chúng, người người đều mến chuộng tài đức của ông.  
(1) Tiểu-sử cụ Tống-Phước-Hiệp, xin xem quyển "Vĩnh-Long Xưa và Nay".
            Mùa xuân năm Bính-Thân (1776), Tây-Sơn kéo vào hạ thành Gia-Định. Ông vâng lịnh anh đi cứu viện, một lòng quyết tử, làm trọn nhiệm vụ, đánh Tây-Sơn khôi phục đất đai đã mất. Do công lao ấy, ông được thăng Chưởng-Thủy-Dinh, tước Quận-Công. Rồi cùng anh đóng quân tại Long-Hồ.  
            Năm sau, Đinh-Dậu (1777), Tây-Sơn lại kéo vào đánh chiếm Gia-Định. Bấy giờ ông đang cùng Tống-Phước-Thiêm trấn giữ Long-Hồ, lập tức điều động binh-sĩ ứng chiến.  
            Tây-Sơn dũng mãnh tiến chiếm nhiều nơi trọng yếu. Chúa Nguyễn và các quan hầu cận liệu thế không xong, lui về Ba-Vát (Bến-Tre) cố thủ. Ông hay tin, lòng càng hăm-hở quyết tử chiến, một mình đem binh chống cự. Dũng-cảm chiến đấu, binh-sĩ dưới sự chỉ huy của ông thảy đều hăng hái tranh phong cùng địch, thắng luôn nhiều trận.
            Tây-Sơn bèn dùng mưu, một mặt cầm cự ngăn ông tại Ba-Vát, một mặt đổ binh đánh tập hậu, bắt sống được Tân-Chánh-Vương (tức Đông-Cung Nguyễn-Phúc-Dương) giải về Gia-Định hành quyết. Ông căm hờn than dài: Chúa nhục thì kẻ làm tôi nên liều chết! Ông càng thúc quân đánh mạnh hơn lên. Nhưng dầu anh dũng đến thế nào, sức côi thế yếu, ông cũng đành ngậm hận mà thôi. Liệu bề khó thắng nổi trong tình thế nguy nan, ông liền đánh một trận cuối cùng cực kỳ dữ-dội, rồi trở gươm tự sát nơi chiến trường Ba-Vát.
            Chẳng những các chiến hữu của ông đều cảm phục thương tiếc, mà tất cả tướng sĩ Tây-Sơn cũng nhiệt lòng khen ngợi ý chí trung liệt của ông.  
            Về sau, gồm thu non sông về một mối, vua Gia-Long nhớ công ơn, truy phong ông chức Chưởng-Dinh-Quận-Công. Năm Canh-Ngọ 1810, nhà vua lại cho thờ ông tại Miếu-Trung-Tiết Công Thần ở Huế.  
            Nay tại làng Vĩnh-Phước trong Châu-Thành Sa-Đéc, hãy còn ngôi đình thờ ông, xây cất cực kỳ tráng lệ. Tục gọi "Miếu Quan Thượng-Đẳng", cũng là Đình Thần làng Vĩnh-Phước như kể trên.  
            Ông Nguyễn-Đăng-Khoa có thơ vịnh:
                        Quốc-Công trọng tước dấy lòng trung,  
                        Tay đỡ thành Nam chống thế công.  
                        Đất trổ anh tài trong nước lửa,
                        Trời theo gương Tống chói non sông.  
                        Oai danh thơm nực ngoài ba cõi,  
                        Oanh liệt còn vang thấu cửu trùng.  
                        Công đức đã đầy trong võ-trụ,  
                        Hiền thần chẳng nhọc, Đế-vương phong.  
 
KINH-MÔN QUẬN-CÔNG
NGUYỄN-VĂN-NHƠN
(1753 - 1822)
            Nguyễn-Văn-Nhơn, người huyện Vĩnh-An (vùng Sa-Đéc), thuộc tỉnh An-Giang xưa. Ông là con của Trần-Quốc tướng quân Minh-Đức Hầu Nguyễn-Quang và Thị-Áo.  
            Xuất thân, ông ứng nghĩa đầu quân, theo Tống-Phước-Hiệp và Nguyễn-Khoa-Thuyên, làm chức Đội-Trưởng, khi ấy mới 22 tuổi. Sau đó, theo Tống-Phước-Hòa đi đóng giữ ở nhiều nơi, được thăng Cai-Đội.  
            Đinh-Dậu 1777, mùa đông, Chúa Nguyễn-Phúc-Ánh khởi binh tại huyện Long-Xuyên (Cà-Mau), ông theo Dương-Công-Trừng đóng giữ ở Sa-Đéc. Rồi được thăng Cai-Cơ trong năm Mậu-Tuất 1778.  
            Nhâm-Dần 1872, ông bị Tây-Sơn bắt tại Thủ-Thiêm. Mãi đến 3 năm sau ông mới trốn được, lại tìm sang Xiêm theo Nguyễn-Vương đang nấu mình nơi đó. Dọc đường, gặp Nguyễn-Trần-Thái từ Xiêm trở về, ông cùng Nguyễn-Trần-Thái khởi binh chiếm giữ huyện Long-Xuyên (Cà-Mau) rồi thẳng qua Vọng-Các yết kiến Nguyễn-Vương lấy lại được Gia-Định, công lao rất dày.
            Năm Ất-Mão 1795, làm Lưu-Thủ Trấn-Biên (Biên-Hòa). Lúc nhỏ gặp buổi loạn lạc nên ông không được học hành. Bấy giờ tuổi trên 40, ông mới gia công đọc sách.  
            Năm Đinh-Tị 1797, về giữ Gia-Định, lãnh việc vận lương và kiêm việc Hộ-bộ.  
            Năm Nhâm-Tuất 1802, Nguyễn-Vương vừa lên ngôi tức vua Gia-Long, phong ông làm Chưởng-Chấn Võ-Quân tước Nhơn-Quận-Công. Cuối năm ấy, bình xong Bắc-Hà, ông dâng sớ điều trần 14 khoản:
            1 - Định lại các thứ thuế
            2 - Cầu người hiền
            3 - Lập hương học 
            4 - Cử người hiếu liêm 
            5 - Cải cách phong tục 
            6 - Định phép khoa cử
            7 - Sửa đổi hình phạt 
            8 - Định sắc phục kẻ trên người dưới 
            9 - Đặc phép cho nghiêm việc quan lại
            10 - Phát chẩn cho dân nghèo 
            11 - Tiêu biểu người trinh-tiết 
            12 - Thẩm định phép tắc 
            13 - Lập đồn trại ở các nơi 
            14 - Bỏ những thuế tạp
            Lại xin đặt thêm một đạo quân Trấp-võ và Tứ-dinh để tăng cường quân-lực. Và điều trần việc học ở Gia-Định, xin định nội qui học đường, mỗi xã lựa một người làm trưởng giáo. Lời sớ trần tình:  
            "Trị nước cốt chinh phục được lòng dân: hành chính không gì bằng giáo dục. Trước kia vận Trời biết loạn, đất Gia-Định phải bỏ việc học hành. Nay non sông mới xây dựng lại, bờ cõi thanh bình thì chính lúc phải nên dạy cho dân học.
            "Vậy xin đặt ra phép dạy, mỗi làng phải chọn lấy một người có đức hạnh, văn học, tha hẳn cho quân dịch "để cho dạy dỗ con em trong làng".    
            "Cấm hẳn không cho rượu chè, cờ bạc, hát xướng, hễ phạm các điều ấy, các quan sở tại phải trừng trị. Như vậy thì rồi tất sẽ gây nên được nhiều nhân tài ra giúp nước và cũng không phụ lòng giáo hóa của Thánh-Thượng."  
            Vua Gia-Long khen phải, tỏ lòng ưu ái ông hơn, mọi việc trong Nam tin cậy nơi ông mà ủy thác cho.  
            Đến năm Mậu-Thìn 1808, ông nghiễm-nhiên là Tổng-Trấn Gia-Định, kiêm lãnh hai trấn Bình-Thuận và Hà-Tiên, uy thế lẫy lừng. Ông chính là vị Tổng-Trấn đầu tiên ở miền Nam này.
            Sang đời Minh-Mạng, năm Tân-Tị 1821, ông về kinh, sung chức Tổng-Tài ở Quốc-Sử Quán. Năm sau, Nhâm-Ngọ 1822, mùa xuân, ông mất, thọ 70 tuổi. Được truy tặng Dục-Vận-Đồng-Đức Công-Thần, đặt tiến Trụ-Quốc Thượng Tướng-Quân, Thượng-Trụ-Quốc, Thái-Bảo Quận-Công.  
            Khi ông qua đời, vua Minh-Mạng truyền chỉ bải chầu 3 ngày sai các quan ra làm lễ điếu. Nhà vua cũng bổn thân ngự ra dinh ông ban rượu tế, trước khi đưa linh cửu về Gia-Định. Lại ban cho ông một đôi liểng điếu.  
            "Vọng-Các hiệu tùng long, trực bá đau tầm huyền nhật nguyệt.  
            Xuân thành bi khử hạc, do lưu Chính khí tác sơn-hà."  
Nghĩa:
            "Theo vua nơi Vọng-Các, lòng son treo rạng cùng trời đất,    
            Bỏ mình chốn Phú-Xuân, khí chính còn lưu với núi sông."  
            Nhà vua lại cấp 100 mẫu ruộng ở xã Thanh-Thủy, Phú-Vinh tại Huế, cho con cháu làm tự điền.  
            Năm Giáp-Thân 1824, được vua cho thờ vào Thế-Miếu và Miếu Trung-Hưng Công-Thần.  
            Tân-Mão 1831, truy tặng là Tráng-Võ Tướng-Quân, Hửu-Quân Đô-Thống-Phủ, tước Kinh-Môn Quận-Công, thụy là Mục-Hiến.
            Đốc Phủ-Sứ Nguyễn-Đăng-Khoa đề vịnh:  
                        Cần-Vương giữ vẹn tiết trung thần,  
                        Lửa đỏ đành đem gởi chút thân.  
                        Gia-Định cao thăng ngôi Tổng-Trấn,  
                        Nam-kỳ thống lãnh chức trung quân.  
                        Kỳ nam đáng đứng trong trời đất,  
                        Liệt sĩ hầu lên nẻo thánh thần.  
                        Nuốt đạn vùa tên không kể mạng,  
                        Non sông âu cũng nhứt công ân.
            Kinh-Môn Quận-Công Nguyễn-Văn-Nhơn có ba người con trai là: Nguyễn-Văn-Đức, Nguyễn-Văn-Thiện và Nguyễn-Văn-Giai và sáu người con gái: Nguyễn-Thị-Nghi, Nguyễn-Thị-Huê, Nguyễn-Thị-Nhâm, Nguyễn-Thị-Thức, Nguyễn-Thị-Đáng và Nguyễn-Thị-Đơn.  
            Nội tổ của ông là Nguyễn-Văn-Trân, cũng được nhà vua truy tặng tước là Cương-Nghị-Hầu, thân-phụ ông là Nguyễn-Văn-Quang, truy tặng tước là Minh-Đức-Hầu.  
 
ÔNG NGUYỄN-VĂN-MẬU
GIÚP CHÚA NGUYỄN-PHÚC-ÁNH
            Trên bước đường gian nan tẩu quốc khi thất thế về nương náu tại làng Tân-Long (Nước-Xoáy Hồi-Oa), Chúa Nguyễn-Phúc-Ánh đã gặp một vị ân-nhân tận tình phụng dưỡng Chúa, khiến cảm khích đến tôn xưng người ấy là ông Bỏ của mình, tức coi như là cha ruột.  
            Ông Bỏ của Chúa Nguyễn, chính tên là Nguyễn-Văn-Mậu kêu là Hậu, quê quán làng Tân-Long (nay là Long-Hưng) làm tri-thâu (thâu các sắc thuế) trong làng và làm đến chức Trùm-Cả.
            Khoảng năm Đinh-Vị 1787, Chúa Tây-Sơn là Nguyễn-Lữ đã chiếm Gia-Định và tóm thâu nhiều nơi trong Nam. Chúa Nguyễn-Phúc-Ánh từ nước Xiêm trở về, dung thân tạm nơi một góc trời Nước-Xoáy.  
            Ông Nguyễn-Văn-Mậu vốn là nhà hào-phú trong làng, tuổi cao đức cả tính hiền lành, hay giúp kẻ hoạn nạn, trợ kẻ khó nghèo. Trong làng, người người thảy đều mến lòng bạc-ái của ông.  
            Ngày kia, có người đến to nhỏ cùng ông một chuyện quan trọng: Thưa ông Trùm-Cả, ông có hay chuyện quan trọng mới xảy ra trong làng ta chăng?  
            Ông Trùm-Mậu ngạc nhiên:  
            - Chuyện chi quan trọng vậy chú em?
            - Thưa ông, có một vị quý nhơn dẫn lính đến ngụ nơi làng ta. Ông liệu sao? Không khéo làng ta sẽ mắc họa binh đao chớ chẳng không.  
            - Chà, có chuyện như thế sao? Vị quý nhơn hiện giờ ngụ ở nhà nào? Để ta coi thử diện mạo người rồi sẽ liệu. Ông Trùm-Mậu bèn theo gót người làng, đến tận nơi trú ngụ của Chúa Nguyễn-Phúc-Ánh mà xem xét vị quý nhơn ấy ra sao. Thoạt trông thấy vị thiếu niên mặc y phục theo trong hoàng-phái, dáng nho nhã, nét cương nghị trầm hùng biểu lộ trên gương mặt rắn rỏi, quả cảm. Ông Mậu khen thầm: "Đây là một vị chơn chúa đang lúc phong trần, mai sau thành vân đắc lộ quyết chẳng ai hơn nổi đâu".  
            Bèn ra mắt, bái kiến Chúa Nguyễn, Nguyễn-Vương kính ông tuổi tác, vội vàng nghiêng mình đáp lễ, ân cần hỏi:  
            - Lão trượng là ai?
            Ông Mậu tỏ thật tên họ và chức nghiệp. Nguyễn-Vương cảm khái:  
            - Chúng tôi truân chuyên lưu lạc đến đây, chắc đòng bào cảm thông mà giúp đỡ cho tôi chớ?  
            Ông Mậu khẳng khái:  
            - Vâng. Chúa đang bước long đong, phận tôi con đâu dám chẳng hết lòng.  
            Từ hôm ấy, ông Mậu xuất tài sản châu cấp cho binh sĩ của Nguyễn-Vương, và vận động người trong làng sốt sắng ủng hộ cho.  
            Mỗi ngày, tại nhà ông, nấu sẵn cơm cháo, cho ghe chở nườm nượp ra đến Vàm Nước-Xoáy, cách nhà ông độ 3 cây số tiếp tế quân đội Nguyễn-Vương. Ròng rã ba tháng, ông tận tình giúp đỡ đủ mọi mặt, nhờ đó binh sĩ Nguyễn-Vương thắng nổi Tây-Sơn.  
            Nguyễn-Vương niệm ơn ông, lại xét ông là bậc trưởng thượng, trung can nghĩa khí, lòng dạ đáng thương, bèn cung kính tôn ông làm Bỏ của Ngài, tức là coi ông như cha nuôi. Ông Mậu thấy thế cả kinh: "Xin Chúa thượng chớ quá hạ mình. Kẻ hạ dân không dám vọng tưởng đến như thế".  
            Nguyễn-Vương cảm động: "Bỏ chớ ngại, xét ra xứng đáng cho tôi kính là Bỏ, xin đừng từ chối mà phụ lòng tôi mến chuộng, cảm đức của Bỏ".
            Ông nghe câu nói đầy ân hậu, lòng càng cảm thương; càng dốc lòng lo cho Nguyễn-Vương.  
            Trong quận, ai nấy cũng đều tôn xưng kính trọng ông. Ông chẳng biết lấy chi đáp lại cho cân, nên nguyện xin dâng người con gái út của ông cho Nguyễn-Vương dùng làm Tấn-Nhân hầu hạ Chúa. Nhưng nàng phản đối ý cha, giả điên cho đến chết (Xin xem chuyện con gái ông Bỏ Hậu).
             Về sau, Nguyễn-Vương thống nhất sơn hà, lên ngôi Hoàng-Đế, tức vua Gia-Long. Nhà vua vẫn niệm ơn ông Bỏ Hậu. Sắc phong tước Đức-Hầu. Khi vua Gia-Long mới lên ngôi, có người trong Nam nghe được tin ấy, chạy bay đến nhà ông Mậu mà to chuyện:  
            - Mừng cho ông sắp vinh hiển to rồi.  
            Ông nghiêm trang:  
            - Chuyện chi đáng mừng?  
            - Ông chưa hay gì sao? Đương kiêm Hoàng-Đế chính là người đã tâng trọng ông làm Bỏ khi trước đó.  
            - Thật chăng?  
            - Ông cứ cho người dọ hỏi thì biết.
            Ông nghe tin ấy, lòng cũng mừng cho Nguyễn-Vương đã đắc vận. Riêng ông, ông không tin tưởng lắm rằng vua Gia-Long sẽ chẳng quên ơn ông. Đến khi có sắc chỉ của Triều-đình đưa vào tặng phong ông tước Đức-Hầu, bấy giờ ông mới biết công mình nuôi giúp chẳng uổng, mắt xanh nhận xét chẳng lầm người.
            Người trong làng hết thảy đều khen phục ông tinh tường, biết chơn chúa trong cơn lưu-lạc phong trần.
            Năm Gia-Long thứ 8 (1809), ông mãn phần. Vua Gia-Long thương tiếc, có chỉ truyền sai một phái đoàn trong Công-Bộ vào xây Lăng cho ông và cho người con gái của ông rất trọng hậu. Làng ấy nay hãy còn, nhưng các chữ ở mộ bia đã phai mờ.
            Bà Đốc-Phủ Phải ở Chợ-Lớn mấy mươi năm trước đây, chính là chắc gái của ông Bỏ của vua Gia-Long vậy.  
            Nơi làng Long-Hưng, dòng dõi ông cũng còn nhiều.  
            Ông Hòa-Trai Nguyễn-Văn-Dần có thơ cảm đề:
                        Tuấn kiệt nghiêng vai đỡ lấy trời,  
                        Anh hùng trưởng lão phải là chơi.  
                        Đất Nam thượng phụ không hai mặt,  
                        Cõi Việt họ hầu biết mấy mươi.  
                        Khương Tử ngồi câu trong mỏi mắt,  
                        Vỏ-Hầu xếp quạt cũng hao hơi.  
                        Cần-Vương tầm nhựt người trên trước,  
                        Âu phải liều thân giúp với đời.
 
CÁC VÕ TƯỚNG QUÊ Ở SA-ĐÉC
PHỤ TÁ NHÀ NGUYỄN-PHÚC
            Bên cạnh hai nhân vật ưu tú của Sa-Đéc ngày xưa là cụ Tống-Phước-Hòa và Nguyễn-Văn-Nhơn, mà chúng tôi đã trình bày, hãy còn khá nhiều võ tướng khác, tên tuổi ghi chép ở bộ "Đại-Nam Nhất Thống-Chí", phần tỉnh An-Giang, khu vực 2 huyện Vĩnh-An và An-Xuyên tức vùng Sa-Đéc khi xưa. Đáng kể gồm có:
oOo
NGUYỄN-VĂN- BẾ
            Người huyện Vĩnh-An. Ông Nguyễn-Văn-Bế thường theo Chúa Nguyễn-Phúc-Ánh sống cuộc đời lưu vong ở Vọng-Các (Xiêm), được phong chức Tổng Nhung Cai-Cơ.  
            Những khi Nguyễn-Vương kéo binh trở về, giao chiến với Tây-Sơn, ông đảm nhận sứ mạng giao liên giữa Nguyễn-Vương với vua quan Xiêm. Ngoài ra ông còn có công đi cầu viện và khéo tổ chức dân quân ủng hộ Nguyễn-Vương.  
            Khi ông mất, Nguyễn-Vương truy tặng ông chức Chưởng-Cơ, liệt thờ vào hai miếu Hiển-Trung và Trung-Hưng.  
oOo
HOÀNG-PHƯỚC-BỬU
            Người huyện An-Xuyên, ông tận tụy với Chúa Nguyễn-Phúc-Ánh, gian lao nguy hiểm chẳng quản gì thân. Ông được Nguyễn-Vương tín nhiệm. Lúc Nguyễn-Vương lưu vong nơi Vọng-Các, ông vẫn theo bảo giá, làm đến chức Trung-Đồn Uy-Vũ Vệ-Úy.  
            Trung thành với Nguyễn-Vương, ông xông pha ngoài tiền tuyến dự trăm trận, đối đầu với Tây-Sơn ở nhiều nơi. Đến năm Tân-Dậu (1801), ông tùng chinh ở Qui-Nhơn, tử trận nơi Thạch-Cốc, được truy tặng chức Chưởng-Cơ.  
            Năm Gia-Long thứ ba (1804), nhà vua cho liệt thờ ông vào các miếu Chiến-Trung, Hiển-Trung và Bảo-Trung.    
            Năm Gia-Long thứ chín (1810), lại được liệt thờ vào miếu Trung-Hưng công-thần.
oOo
NGUYỄN-VĂN-TRỌNG
            Người huyện An-Xuyên. Ông nổi tiếng hào hùng, tinh thông võ-nghệ. Gặp thời loạn, ông dốc lòng theo đường binh-nghiệp, cứu loạn, an dân, bèn quyết định phụ tá Chúa Nguyễn-Phúc-Ánh.  
            Khi mới đầu quân, ông đã được trọng dụng, phong chức Khâm-Sai Cai-Cơ, theo Tổng-Nhung Nguyên-Thuyên và tiên phong Nguyễn-Văn-Thành điều khiển quân sĩ, giao phong cùng Tây-Sơn trên khắp mặt chiến trường. Dần dần làm đến chức Tiên-phong đinh Lượng Vỏ-vệ Chính-vệ.  
            Năm Canh-Thân 1800, ông tùng-chinh ở Qui-Nhơn, tử trận tại Tự-Sơn.  
            Đến năm Gia-Long thứ hai 1803, được truy tặng Chưởng-Cơ, liệt thờ vào miếu Bảo-Trung. Năm thứ 9 (1810), liệt thờ vào miếu Trung-Hưng Công-Thần.
oOo
NGUYỄN-VĂN-ĐỊNH
            Người huyện An-Xuyên. Làm đến Cai-Cơ. Từng theo Nguyễn-Vương sống cuộc đời lưu vong ở Vọng-Các. Từ năm Đinh-Vị 1787, ông bảo giá Nguyễn-Vương từ Xiêm trở về, rồi xông pha trận mạc chẳng quản gì thân. Đến khi tùng chinh ở Quảng-Nam tử trận tại đây. Được truy tặng Chưởng-Cơ, liệt thờ nơi miếu Hiển-Trung và miếu Trung-Hưng.  
oOo
NGUYỄN-VĂN-TUYÊN
            Người huyện Vĩnh-An, đầu quân dưới cờ Chúa Nguyễn-Phúc-Ánh, ông chống nhau với Tây-Sơn quyết liệt, có nhiều chiến-công, làm đến Vệ-Úy trong đoàn quân Chấn-Vỏ.  
            Đến khi Nguyễn-Vương khôi phuc xong Gia-Định, thẳng ra Phú-Xuân, ông từng cùng với ông Lê-Văn-Duyệt đánh dẹp ở nhiều nơi, trổ tài cứu loạn an dân. Nhất là khi đánh dẹp ở Quảng-Ngãi, ông đem lại an ninh cho dân chúng, khiến nhân dân xưng phục cảm mộ ân uy. Ông mất trong trận công phá Qui-Nhơn, được truy tặng Chưởng-Cơ.  
oOo
NGUYỄN-VĂN-YẾN
            Người huyện An-Xuyên, làm đến Vệ-Úy Lượng-Vỏ. Ông tính cương trực khảng khái, xông trận rất dũng cảm. Các thuộc hạ của ông thảy đều kính mến ông, sẵn sàng tuân theo lịnh ông điều khiển, trên dưới một lòng.  
            Năm Canh-Thân 1800, tùng chinh ở Qui-Nhơn, ông tử-trận tại Thị-Dả, được liệt thờ vào miếu Hiển-Trung và miếu Trung-Hưng.  
 
 
NGUYỄN-THỊ-DUNG
NGƯỜI ĐÀN-BÀ HÁO NGHĨA NHẤT Ở SA-ĐÉC
TRONG ĐỜI VUA THIỆU-TRỊ
            Sa-Đéc xưa kia, có một "ông Bỏ" của vua Gia-Long(1) đáng ngợi về mặt háo nghĩa bao nhiêu, thì đến đời Thiệu-Trị, còn có một bà Nguyễn-Thị-Dung cũng nổi tiếng là người đàn bà háo nghĩa vào bậc nhất. Sách "Đại-Nam Nhất-Thống-Chí" vẫn nêu tên bà để biểu dương cùng hậu thế.  
(1) Xin xem ở phần giai-thoại, chúng tôi đã ghi rõ.  
            Bà Nguyễn-Thị-Dung, người huyện An-Xuyên, vốn nhà giàu có. Vào cuối đời Minh-Mạng, nhận thấy đất nước có nhiều biến loạn, dân gian khổ sở vì lo âu, chiến cuộc lan tràn khắp nơi, bà tỉnh ngộ về cuộc đời phù hoa, giả tạm, vạn vật vô thường, nên bà sinh lòng mộ đạo Phật, phát Bồ-đề-tâm, trì hạnh bố-thí, sẵn lòng lạc quyên, chẩn tế bất cứ ở nơi nào cần đến sự hổ trợ của bà. Do công đức ấy, bà được nhân dân mến phục.
            Đầu năm Thiệu-Trị (1841), có việc động binh ở vùng An-Giang, Châu-Đốc, dân chúng quanh vùng lâm vào cảnh khốn khó. Bà ra tay cứu tế, hết lòng giúp đỡ kẻ nghèo khổ qua cơn tai trời ách nước.  
            Quân-đội của triều đình lúc bấy giờ đang cần quân nhu, lương thực, bà biết tin, sẵn sàng xuất lúa quyên trợ. Nhờ sự tán trợ của bà, chẳng những dân chúng đội ơn cứu nạn, mà triều-đình cũng cảm kích nghĩa cử của bà, nhất là rất khen ngợi nhiệt tâm của bà đối với quân đội.  
            Để tưởng thưởng lòng từ bi của bà đối với đồng bào, khích lệ lòng yêu nước của bà đối với quân đội bằng cách nhiệt liệt tiếp tế mọi thứ nhu yếu phẩm, quan lại địa phương và thượng cấp trong quân đội dâng sớ về triều tâu rõ nghĩa cử của bà. Tiếp được tờ trình, triều thần họp nhau bàn định và đưa ý kiến lên vua, xin phong tặng cho bà. Vua Thiệu-Trị chấp thuận, sắc tặng cho bà một tấm biểng chạm bốn chữ vàng "Lạc quyên nghĩa phụ".
            Được đề cao sự háo nghĩa như thế, chẳng những đẹp riêng thân danh bà, mà lại còn làm đẹp mắt giới nữ lưu. Hơn nữa, danh thơm chung muôn thuở cho xứ sở Sa-Đéc mến yêu của bà và của thế hệ sau và mãi mãi.
 
V
HỒ-TRỌNG-ĐÍNH
            Ngày nay, du khách viếng Sa-Đéc, ắt chẳng khỏi bồi hồi khi nhìn sang vùng Cao-Lãnh. Đất Cao-Lãnh trước vẫn là một quận thuộc tỉnh Sa-Đéc, một vùng thuộc Long-Hồ-Dinh. Và nơi ấy có miếu Văn-Thánh là di tích đáng ca tụng. Một khi du khách quan chiêm Văn-Thánh miếu ở làng Mỹ-Trà (Cao-Lãnh), tự nhiên chẳng khỏi bàng hoàng đặt câu hỏi: Ai đã xướng xuất việc xây cất Văn-Thánh miếu? Ngược dòng thời gian, tra cứu sử liệu, chúng ta sẽ không quên cảm niệm vị Tri-Phủ Tân-Thành, dưới thời Tự-Đức, tên là Hồ-Trọng-Đính. Chính là người đã đề xướng việc xây cất miếu Văn-Thánh, làm đẹp mắt Sa-Đéc thuở nào.
            Hồ-Trọng-Đính quê ở làng Quỳnh-Đôi, tỉnh Nghệ-An. Ông thi đổ Cử-nhân, nổi tiếng văn học.  
            Khoảng năm Đinh-Tỵ 1857, ông được triều đình bổ vào Nam làm Tri-phủ Tân-Thành. Trấn nhậm một nơi văn hiến, ông tỏ lòng sốt sắng lo việc chính trị, giáo dục. Rãnh việc vua quan, ông thường nhóm sĩ phu trong vùng đàm đạo văn chương, thảo luận việc mở mang trong xứ.  
            Nhờ công đôn đốc của ông, đến khoa Mậu Ngọ (1858), người trong phủ Tân-Thành (Sa-Đéc) đổ được một Cử-nhân, hai Tú-tài. Ông hân hoan bàn tính với các thân hào nhân sĩ về việc đề cao đạo học, khích lệ sĩ phu chung lo việc xây dựng nền văn hóa trong xứ, hầu cho nho phong sĩ khí càng ngày càng cao rạng. Bấy giờ, có vị giáo thọ là Nguyễn-Thục-Trinh tán đồng ý kiến ấy, cùng nhau chung lo việc xây cất Văn-Thánh miếu.
            Đầu tiên, miếu Văn-Thánh Sa-Đéc tọa lạc trên một số ruộng ở phía đông Phủ- Thành, thuộc làng Mỹ-Trà, tổng Phong-Thạnh, cách chợ Cao-Lãnh chừng 1200 thước, xưa thuộc về huyện Vĩnh-An, phủ Tân-Thành.  
            Tri-phủ Hồ-Trọng-Đính lại xướng lập nên hội Tư-văn, cữ chức Hội-trưởng, câu đương v.v... Khởi công xây cất Văn-Thánh miếu vào ngày mồng 4 tháng 6 đến ngày 28 tháng 10 thì hoàn thành.  
            Từ ấy lễ nhạc có tôn chủ, chiêm ngưỡng có cung tường, xứ Sa-Đéc được một thời nổi danh Văn-hiến. Do công đức ấy, dân chúng Sa-Đéc đều tỏ lòng cảm phục Tri-Phủ Hồ-Trọng.  
            Đến sau, Tri-phủ Hồ-Trọng-Đính có sắc chỉ thăng chức Giám-Sát Ngự-Sử và phải hồi kinh. Dân chúng càng nồng nàn tỏ lòng luyến tiếc bậc minh quan ấy.
            Di tích Văn-Thánh miếu Sa-Đéc nay hãy còn. Chúng tôi đã ghi rõ chi tiết ở phần Di Tích, kể từ Tri-phủ Hồ-Trọng-Đính chủ trương lập miếu đến nay đã trên một trăm năm.
            Điều nên nói thêm: Khoảng năm Tự-Đức thứ 31 (Mậu-Dân 1878), vì Văn-Thánh miếu trải cơn binh lửa, bị tàn phá. Bấy giờ, trong làng Mỹ-Trà, có ông Ban-Biện suất đội chủ trương là Phạm-Văn-Khanh, tình nguyện xuất của riêng mua cây gỗ sửa sang lại Văn miếu, để cung tiếng một tòa; còn ngói gạch vật liệu thì do người trong hội đóng góp chung lo. Ban biện Khanh bèn dời Văn miếu về cận Trường-Giang Cao-Lãnh.
            Đến gần đây, sửa sang Văn miếu lại lần nữa, chính do công lao các ông: Nguyễn-Quang-Diêu, Huỳnh-Kinh-Ngưu, Nguyễn-Khắc-Niệm v.v...  
            Bao giờ người đời còn nhắc nhở đến Văn-Thánh miếu Sa-Đéc, hẳn là tên tuổi của vị Tri-Phủ Tân-Thành Hồ-Trọng-Đính cũng đã gắn liền vào việc chấn hưng văn hóa ấy.
 
 
 
NHÂN-VẬT CẬN-ĐẠI
II
NGUYỄN-VĂN-BIỂU
_________
(TỤC GỌI ÔNG PHÒNG-BIỂU, ĐƯỢC NHÂN-DÂN
SA-ĐÉC CAO-LÃNH XƯNG PHỤC TÀI LẠ)
            Ông Nguyễn-Văn-Biểu làm chức phòng vệ trong bộ đội kháng Pháp của Thiên-Hộ Vỏ-Duy-Dương nên có tên tục danh là Phòng-Biểu. Đứng trong hàng ngũ nghĩa quân tại Đồng-Tháp, tên tuổi ông vang lừng nơi vùng Cao-Lãnh (tỉnh lỵ Kiến-Phong hiện nay).  
            Vóc vác ông cao lớn mạnh dạn, nên được chủ tướng chọn làm cận vệ. Suốt thời gian kháng chiến, luôn luôn ông có mặt bên cạnh chủ tướng, được trọng dụng và tin yêu trọn vẹn. Vì ông rất trung thành, dũng cảm, trải bao cơn chiến trận đẫm máu, lúc nào ông cũng tỏ ra là một viên tướng hào hùng dốc lòng hy sinh vì đại nghĩa.  
            Theo tài liệu của ông Thân Việt (tức ông cử Phan-Văn-Thiết), ông Phòng-Biểu có hai cái tài đặc biệt, trong vùng Cao-Lãnh lắm người được biết:
            "Tài thứ nhất của ông là tài ăn... mỗi lần ăn cho đến một sải chè đậu. Chè đậu là thức ăn dễ ngán lắm, ai có giỏi ăn thì cũng vài ba chén là nhiều, thế mà ông ăn cho cả sải. Lấy chén múc chè vào cho đầy rồi sắp hàng dài trên bộ ván (phản) được một sải (có gần ba thước), nghĩa là có đến ba chục chén chè...  
            "Tra cứu thì dường như ông Phòng-Biểu có cái dạ dày giống như... con lạc đà. Khi theo dưới cờ nghĩa quân của cụ Thiên-Hộ Vỏ-Duy-Dương, nhiều lúc đi công tác đôi ba ngày, ông cũng không hề đem thức ăn theo. Trước khi ra đi ông ăn một nồi cơm to (sức bốn hay năm người ăn mới hết) rồi khi về (tối hay qua ngày sau) mới ăn nữa. Chẳng khác Tiết-Nhân-Quí đời Đường bên Tàu.  
            "Tài đặc biệt thứ nhì của ông là: đánh gảy tiện một bó mía lau ba chục cây.
            "Về chuyện đánh gảy bó mía như sau: Ông bảo đem mía ra bỏ ngoài sân, rồi ông lựa ba chục cây chắc chắn, ngay ngắn, ông góp lại, lấy dây luột bó ba chục cây chắc cứng như một khúc cây nguyên. Dù cho quăng lên cao rớt xuống đất bao nhiêu lần cũng không khi nào sút ra được. Xong rồi, ông kiếm chỗ dựng bó mía ấy cho vững chãi. Đoạn, ông lấy ra cây thước sắt là võ khí trước kia ông dùng đi đánh giặc. Cây thước ấy dài độ một thước rưởi, bề ngang độ bốn phân, bề dày non một phân. Ông cầm cây thước sắt trên tay, lấy bộ đàng hoàng rồi hươi cây thước sắt trên tay, đánh một cái. Cạnh bén của cây thước chặt đứt tiện ngang bó mía, chẳng khác gì con dao bén chặt xuống một sợi roi mây vậy. Không hề khi nào có sót một cây mía nào không đứt tiện cả.  
            Biểu diễn tài chặt mía ấy cho mọi người xem xong, ông nói:  
            - Bà con thử nghĩ: Cây thước sắt lợi hại không kém cây thiết bảng của Tề-Thiên-Đại-Thánh, làm sao bọn săn đá Tây chịu nổi. Hễ một cây đánh xuống là chết một tên rồi, chỉ cần là ráng tránh, đừng ở trước mũi súng trường của chúng nó mà thôi. Nhờ Trời Phật độ, trong bọn thời kỳ tôi theo hầu Ngài Thiên-Hộ, không có khi nào ở trong tình trạng ấy.
            Với sức mạnh phi thường, lòng dũng cảm tột bậc, thêm ý chí can trường quyết tâm kháng chiến cứu quốc, ông Phòng-Vệ Nguyễn-Văn-Biểu nghiễm nhiên là viên võ tướng lừng danh. Trong các trận đương đầu với quân Pháp, ông luôn luôn xông pha rất gan dạ. Ngọn thước sắt của ông vung đến đâu, quân Pháp vỡ tan đến đó, khiến chúng phải khiếp danh ông.  
            Mỗi khi nghe đến tên ông Phòng-Biểu, quân lính Pháp đều có ý kiêng dè. Riêng ông, ông cũng khéo léo rất mực trong cơn xung xát kháng địch. Biết người, biết mình, đủ can trường có thừa, mà tự biết võ khí thô sơ, cần phải dè dặt trước súng đạn tối tân, nên với tài thao lược và sự nhanh nhẹn của con nhà tướng, ông vẫn oai hùng chiến thắng.  
            Nhưng sức người có hạng, việc trời đất không cùng. Ông đã tận tụy với tổ quốc cho đến lúc thời thế đã hết phương xoay chuyển, mới đành ngậm ngùi lui ẩn trong một vùng quê tại Cao-Lãnh.  
            Ông sống cho đến ngoài 80 tuổi qua đời, chỉ nằm ngủ rồi tắt hơi luôn chớ không có đau ốm gì.
 
 
 
 
LỄ BỘ THƯỢNG-THƯ
NGUYỄN-ĐĂNG-TAM
_________
NHÂN-VẬT SA-ĐÉC CHIẾM ĐƯỢC
ĐỊA VỊ CAO TRỌNG NƠI TRIỀU-ĐÌNH
            Người quê quán tỉnh Sa-Đéc trước kia, ra làm quan tại triều-đình thiết tưởng nên kể đến vị thượng-thư bộ Lễ Nguyễn-Đăng-Tam.
 
 
HINH
Lễ Bộ Thượng-Thư Nguyễn-Đăng-Tam
            Theo tài liệu của hai ông Nguyễn-Văn-Cứng và Nguyễn-Văn-Dần trong quyển "Sa-Đéc nhân-vật chí", Nguyễn-Đăng-Tâm sinh ngày mùng 8 tháng giêng năm Mậu-Thìn (1er février 1867), sinh tại làng Tân-Phú-Đông, tổng An-Trung, tỉnh Sa-Đéc. Về sau, ông ra miền Trung, nhập tịch làng Mỹ-Đức, tổng Thạch-Bàn, huyện Phong-Phú, phủ Quảng-Ninh, tỉnh Quảng-Bình.  
Ông nổi tiếng văn học, thông thạo Hán và Pháp-văn. Khi đã tốt nghiệp ra trường, ông được bổ làm giáo-sư dạy tại trường Mỹ-Tho. It lâu, ông xin rời ty giáo-huấn, chuyển qua tùng sự ở Sở Thương-chính. Rồi lại xin chuyển ngạch, làm thông-ngôn ở Tòa-Sứ Trung-Kỳ.
            Đến năm 1895, ông lại được Nam triều ban cho hàm Hàn-Lâm-Viện Biên-Tu, Chánh Thất-Phẩm. Cho đến 1911 thì thăng Thái-Thường Tự-Khanh, Chánh Tam-phẩm. Từ đây, trên đường hoạn, cả hai bên Pháp-Việt đều trọng dụng ông. Lớp thì Chính-phủ Pháp ban huy-chương đủ hạng, Nam-triều thì ban Kim-Khánh và Đại-Nam Tứ-Đẳng Long-Bội-Tinh.  
            Năm 1926, ngày 13 tháng 3, ông nghiễm nhiên là một vị đại-thần, sung chức Thượng-Thư Bộ-Lễ, kiêm Cơ-Mật-Viện Tham-Tá.  
            Điểm đặc biệt ở ông và đáng khen là chẳng bao giờ ông quên Vĩnh-Long. Sa-Đéc từng là nơi chôn nhau cắt rún. Càng được vinh hiển, ông càng tưởng nhớ nhiều đến Sa-Đéc, mà hằng quay về đây, lưu ý săn sóc đồng bào tỉnh nhà.
            Chính ông là ân-nhân của Hội Vĩnh-Long Tương-Tế, giúp cho Hội này làm được nhiều việc công ích, tô điểm cho quyển "Vĩnh-Long nhân-vật chí". Lại giúp cho hai ông Nguyễn-Văn-Cứng và Nguyễn-Văn-Dần soạn thành quyển "Sa-Đéc nhân-vật chí" rất đáng thưởng lắm. Điều nên ghi thêm, về các thứ huy chương mà ông được thưởng, chẳng những của Chính-phủ Pháp, của Nam-triều, mà cả đến Cam-Bốt và Ai-Lao cũng có trao tặng tưởng-lệ ông như sau:  
            1. Ngày 19 tháng giêng năm...: được Nam-triều thưởng Kim-Khánh hạng nhì.  
            2. Ngày 7.03.1906: được thưởng Ngân-Bội-Tinh hạng nhì.
            3. Ngày 10.12.1907: được thưởng Bội-Tinh của Pháp-Văn Đồng-Minh Hội (Médaille de l'Alliance française).  
            4. Ngày 10.04.1911: Ngân-Bội-Tinh hạng nhất.
            5. Ngày 28.11.1916: Bội-Tinh Vàng hạng nhì.
            6. Ngày 31.03.1920: Ngũ-Đẳng Bội-Tinh (Cam-Bốt)  
            7. Ngày 02.01.1922: Huân-Chương Hàn-Lâm-Viện Pháp
            8. Ngày 25.05.1922: Bội-Tinh của nước Lào 
            9. Ngày 06.02.1923: Đại-Nam Tứ-Đẳng Long-Bội-Tinh 
            10. Ngày 11.03.1924: Ngũ-Đẳng Bắc-Đẩu Bửu-Tinh 
            11. Ngày 25.12.1925: Bửu-Tinh của Pháp 
            12. Ngày 22.01.1926: Kim-Khánh của Pháp 
 
 
HINH
 
 
NGUYỄN-ĐĂNG-KHOA
_________
VỊ ĐỐC-PHỦ VĂN-CHƯƠNG VÀ CÓ ĐẠO-ĐỨC
            Trong quyển "Sa-Đéc Xưa và Nay" này, ở nhiều chương chúng tôi có trình bày ít nhiều bài thơ của vị Đốc-Phủ-Sứ Nguyễn-Đăng-Khoa. Ấy là nhân-vật lừng-lẩy tiếng tăm trong giới quan-trường, và là người đã làm rạng danh tỉnh Sa-Đéc phần nào.  
            Ông Nguyễn-Đăng-Khoa sinh năm 1864 tại làng Tân-Qui-Đông, tổng An-Thạnh-Hạ, tỉnh Sa-Đéc. Cuộc đời ông suốt 37 năm lăn lóc trong chính trường, tăm tiếng chẳng những vang dội vùng Vĩnh-Long, Sa-Đéc, mà ngoài Trung, Bắc cũng từng biết danh ông.
 
 
HINH  
Cụ Nguyễn-Đăng-Khoa
            Vốn dòng dõi thư hương, ông nối được nghiệp nhà, hoc hành uyên bác, có tài thao-lược, có tâm cơ, tánh tình lại hiền hậu. Xuất thân làm giáo viên, rồi làm Thông-ngôn. Lại được bổ tùng sự tại Tòa Thông-Sứ Bắc-Kỳ Hà-Nội. Trong nhiệm vụ nào, ông cũng tỏ ra thừa khả năng phụng sự.  
 
Đến năm 1903, được thăng Tri-Huyện. Năm 1908, thăng Tri-Phủ. Năm 1916, thăng Đốc-Phủ-Sứ. Từ khi thăng Tri-Phủ và Đốc-Phủ-Sứ, ông đã từng làm Quận-Trưởng, trấn nhậm các nơi:  
            - Năm 1908, làm Quận-Trưởng Thủ-Đức (Gia-Định)
            - Năm 1909, làm Quận-Trưởng Hốc-Môn (Gia-Định)
            - Năm 1913, làm Quận-Trưởng Cái-Nhum (Vĩnh-Long)  
            - Năm 1914, làm Quận-Trưởng Chợ-Lách (Vĩnh-Long)  
            - Năm 1916, làm Quận-Trưởng Ô-Môn (Cần-Thơ)  
            - Năm 1920, làm Quận-Trưởng Lai-Vung (Sa-Đéc)  
            Trấn nhậm quận nào cũng lưu để thành tích tốt, khiến lúc ra đi nhiều người còn thương mến, luyến tiếc. Điều làm vinh diệu cho ông: Triều-đình ban tặng Kim-Khánh, Kim-Tiền; Chính-phủ Pháp, Cam-Bốt cũng tặng đủ thứ huy-chương cho ông.
            Ông lại có tâm hồn khoáng đại, thích thú thi họa cầm kỳ. Những lúc rãnh việc quan, ông thường ngâm vịnh làm vui, thi ca được truyền tụng khá nhiều. Ấy cũng là điểm đặc biệt của ông, trong hàng quan lại mà dào dạt nghệ sĩ tính, phong lưu tao nhã, khó có ai hơn ông buổi ấy.  
            Ông còn giữ được tâm hồn cao quý hơn nữa bằng cách biết trì niệm câu "Công thành danh toại thân nhi thối". Khi làm quan, ông cẩn thận dè lòng, sao không cho hổ tiếng thanh cần liêm chính. Lúc công danh đang phát đạt, thế mà ông biết rút lui, không quá đám mê vì bã lợi danh như bao nhà quyền quý khác. Đã thế ông lại còn hồi đầu hướng thiện, phát tâm tu niệm rất sốt sắng, thật là phẩm hạnh thanh cao.
            Khi ông qui y đầu Phật, rữa sạch trần tâm, ông cũng rất mực tín thành, trì chí chay lòng, chán ngán những khi bôn ba vòng tục lụy.  
            Ông có bài thơ tỏ chí khí, phát bồ-đề tâm mến cảnh thiền:
                        Thế sự thôi thôi nghĩ ngán ngầm, 
                        Đã đành tụng lấy kệ Quan-Âm. 
                        Then trời máy tạo đang nhen nhúm, 
                        Lữa bá lòng vương bỏ nính hâm. 
                        Ngày cởi xe mây dầu khiển hứng, 
                        Tối nhoi đèn nguyệt mặc ca ngâm. 
                        Công danh rày đã toan lòng bẽ,
                        Bước thử Bồng-lai thử mấy tầm.
 
NGUYỄN-ĐĂNG-TRƯỜNG
__________
            Trong hàng mô phạm lão thành có tiếng tăm nhất ở Vĩnh-Long, Sa-Đéc ngày trước đáng kể nhất có cụ Nguyễn-Đăng-Trường. Ông sinh năm 1862, tại làng Tân-Qui-Đông, tổng An-Thạnh-Hạ, tỉnh Sa-Đéc.
 
 
HINH
Cụ Nguyễn-Đăng-Trường
 
Sớm biết theo trào lưu mới, ông bắt đầu họp Pháp-văn nơi trường tỉnh Vĩnh-Long từ năm 1877. Sau 5 năm, ông thi đậu ra trường, được bổ chức giáo tập, dạy tại trường tỉnh Gia-Định vào năm 1882. Rồi lần lượt đổi về dạy tại trường Vĩnh-Long, Sa-Đéc.  
             Siêng năng mẫn tiệp, tận tụy với chức vụ đào luyện đám hậu tiến, ông lần thăng Đốc-Học, rồi làm Thanh-Tra các trường trong tỉnh Sa-Đéc.  
            Suốt 20 năm phục vụ trong ngành giáo-huấn, đến năm 1922 ông về hưu dưỡng lão.  
            Trong năm 1919, ông đã được hưởng thọ hàm Tri-huyện, nên tục gọi là ông Đốc-Học Trường, hoặc ông Huyện Trường. Thân danh ông vang dội xa gần. Kể về huy-chương ông được trao tặng, có hai huy-chương giá trị:
            1 - Ngày 1-5-1908, được thưởng Giáo-Dục Ngân-Bội-Tinh.  
            2 - Ngày 10-8-1924, được thưởng Khuê-Bài Hàn-Lâm-Viện Pháp.  
            Ông là nhà mô phạm lão thành, danh giá thế phiệt. Chẳng những tiếng tăm ông làm đẹp cho tỉnh nhà Vĩnh-Long và Sa-Đéc mà nhiều nơi cũng đều nghe biết. Hàn môn sanh do ông đào luyện, được thành đạt kể có hàng trăm nhà tai mắt thượng lưu trong xã hội về sau. Như quý ông Bác-vật Lưu-Văn-Lang, Bác-vật Lương-Văn-Mỹ, Bác-sĩ Lê-Quang-Trinh, Tiến-sĩ Nguyễn-Thành-Giung, hai ông Chánh-án Nguyễn-Xuân-Quan và Nguyễn-Xuân-Giác, các vị Tri-phủ Nguyễn-Xuân-Hiển, Lê-Bá-Trang, Trương-Minh-Giảng, Lê-Quang-Tường, Ninh-Quang-Hiến v.v... Khắp trong chính-trường, giáo-giới, làng văn, làng báo, đâu đâu cũng có môn sanh ưu tú của ông góp mặt.
            Ngày ông về hưu, các môn sanh của ông từ khắp bốn phương kéo nhau về Sa-Đéc thiết tiệc long trọng, tỏ lòng nhớ ơn ông đã tác thành nhiều lớp, rày đã nên danh phận với đời.  
            Ông Hòa-Trai Nguyễn-Văn-Dần, tác giả "Sa-Đéc nhân-vật chí" vốn cũng là một môn sanh ưu tú của ông, khi ấy có thơ cảm niệm:
                        Công ân giáo dục thuở nào khuây,  
                        Nhờ có tôn sư khéo chỉ bày.  
                        Luân-lý đường xưa chăm dắt diếm,  
                        Văn tay cận đại sức mình gầy.  
                        Quân sư đôi chữ ngàn thu để,  
                        Tước lộc như ai cũng bởi tay.  
                        Cái nợ ba sinh toan bào bổ,  
                        Kính dâng trường thọ chúc mừng thầy.
 
 
ĐẶNG-THÚC-LIÊN
BẬC DANH-SĨ, BẬC Y-SƯ KHÉT TIẾNG TẠI SA-ĐÉC
            Vào khoảng năm 1910, đồng bào Sa-Đéc khi ấy đều biết tiếng cụ Đặng-Thúc-Liên với tiệm thuốc bắc "Phước-Hưng-Đông" do cụ sáng lập, tại đường mé sông thân trên đầu cầu sắt làng Vĩnh-Phước, thành-phố Sa-Đéc.  
            Thật ra, cụ Đặng-Thúc-Liên không phải là người sinh quán ở Sa-Đéc chính là quê vợ của cụ. Cụ sinh năm 1867, tại làng Tân-Phú (tục gọi là thôn vườn trầu), quận Hốc-Môn, tỉnh Gia-Định. Thân-phụ của cụ là một vị đại-thần triều Minh-Mạng, làm đến chức Án-Sát-Sứ tỉnh Bình-Thuận (Trung-Việt). Cụ hiệu là Mộng-Liên, nổi tiếng danh-sĩ. Hán-học uyên thâm, tinh thông y-dược, cụ được vua Đồng-Khánh trọng dụng. Nhưng được ít lâu, cụ cáo quan, trở về Gia-Định.  
            Bấy giờ, vì cụ từng giao-du khắn-khít với các cụ Phan-Châu-Trinh, Phan-Bội-Châu, Huỳnh-Thúc-Kháng, khi cụ còn ở ngoài Bắc, do đó nhà đương cuộc Pháp tình nghi cụ hoạt động cách mạng nên bắt giam một lúc. Một viên-chức cao cấp người Pháp tên MAST, tùng sự tại Soái phủ Nam-kỳ, mộ Hán-văn, thấy cụ là bậc túc nho, liền vận động phóng thích cụ để cụ dạy ông học Tứ-Thơ, Ngũ-Kinh.
            Sau đó ông Mast lại tiến cử cụ với Soái phủ Pháp. Cụ được bổ làm Kinh lịch tỉnh Sóc-Trăng, chẳng bao lâu đổi về Sa-Đéc. Tại đây, cụ kết hôn với bà là nguoi quê quán ở làng Tân-Qui-Đông.
            Năm 1907, cụ trở lên Sài-Gòn, hợp tác với cụ Gilbert Trần-Chánh-Chiếu làm báo "Nam-Kỳ". Giai đoạn này, cụ và Trần-Chánh-Chiếu thật sự hoạt động cách mạng, và chủ trương mở mang kinh tế về vận dụng tài chánh vào những công cuộc ích quốc lợi dân. Đầu tiên, cụ và Trần-Chánh-Chiếu lập một khách sạn để hiệu là "Nam-Trung" (ở cuối đường De La Somme, nay là đường Hàm-Nghi) tại Sài-Gòn. Rồi lập riêng một tiệm thuốc Bắc hiệu "Nam-Thọ-Xuân" ở số 95 đường Charner (nay là đường Nguyễn-Huệ). Đồng thời có cụ Nguyễn-An-Khương (thân-sinh ông Nguyễn-An-Ninh) cũng lập ra khách sạn "Chiêu Nam-Lầu". Ấy là những cơ sở kinh tài, và là nơi tụ họp mật của các nhà ái-quốc.
            It lâu, cụ và Gilbert Chiếu lại lập một công-ty kinh doanh khác gọi là "Minh-Tân Công-Nghệ", đặt trụ sở tại một căn phố ở đường Charner (Nguyễn-Huệ, ngang hãng xe Renault cũ). Cố nhiên, dần dần tai mắt của người Pháp dòm ngó tình nghi. Mọi công cuộc phải đình trệ nửa chừng. Để giữ mình, cụ Đặng-Thúc-Liên lui về quê vợ ở làng Tân-Qui-Đông, Sa-Đéc, rồi quay theo nghề y-dược, mở tiêm thuốc bắc, hiệu tiệm là "Phước-Hưng-Đông", tại thành phố Sa-Đéc như đã nói trên.
            Một thời gian sau, cụ phó thác tiệm thuốc ấy và gia sản gồm vài mươi mẩu ruộng đất, với 5 đứa con thơ cho vợ gìn giữ nuôi nấng. Rồi cụ xách va-li đi chơi và làm thuốc, khi thì dạo khắp lục-tỉnh, khi thì thăm viếng cố-đô Huế và Hà-Nội. Đến khi mỏi gối chồn chân trên bước giang-hồ, lịch lãm nhân-tình thế-sự, cụ trở lại Sài-Gòn viết báo. Tên tuổi cụ phô bày trên các báo: Nông-Cổ Mín-Đàm, Lục-Tỉnh Tân-Văn, Công-Luận báo, Đại-Việt tạp chí, Đồng-Tháp thời báo và Trung-Lập báo.  
            Cụ dí dỏm tự trào:
                        Họ đồn Đặng-Thúc-Liên chơi quá lố,  
                        Có hay không? Giã ngộ đó mà thôi!  
                        Gẫm bao lâu sống sót trên đời?  
                        Nhịn hóa dại, chơi đi, kẻo uổng!  
                        Nhưng trách nhiệm chớ nên bỏ luống,  
                        Đức tài rèn đem cống hiến nhân dân.  
                        Làm sao cũng giữ tinh thần,  
                        Có giải trí, ăn, mần mới giỏi...
            Phong-lưu tài tuấn, cụ lại rủ các bạn tri-âm lập ra rạp hát nhỏ ở làng Vĩnh-Phước, tỉnh Sa-Đéc, chấn-chỉnh hát bội, rồi đưa sáng kiến áp dụng nghệ thuật đờn ca Trung-Nam bày ra diễn kịch, sau này gọi là cải lương. Chính do cụ đề xướng trước. Bắt nguồn từ đó, được manh nha sâu rộng trong các tỉnh miền Nam lần lượt lập gánh. Lúc bấy giờ ở Mỹ-Tho, tại làng Vĩnh-Kim có bà Trần-Ngọc-Diện (tục gọi là cô Ba-Diện), người phụ nữ đầu tiên đứng ra lập gánh hát lấy tên là "Đồng-Nữ-Ban", diển viên toàn là phụ nữ con nhà gia giáo trong làng. Mục đích của bà lập gánh để tuyên truyền cho tư tưởng dân-tộc và cách-mạng. Đoàn nổi tiếng với hai vỡ tuồng "Võ Đông Sơ" và "Giọt Lệ Chung Tình". Đoàn hát "Đồng-Nữ-Ban" lưu diển hai năm để lấy tiền giúp vào việc nghĩa rồi giải tán.
            Ở Sa-Đéc, sau do ông André Thận cũng lập gánh, gọi là gánh Thầy Tư Thận tại thành-phố Sa-Đéc. Rồi đó, nối đuôi là gánh hát của Thầy Năm-Tú, gánh Văn-Hi-Ban-Huỳnh-Kỳ ở Mỹ-Tho. Thời kỳ này, cụ Đặng-Thúc-Liên được chánh-phủ Pháp chú ý đến việc làm của cụ rất nhiều.
            Năm 1918, cụ được Toàn-quyền Albert Sarraut mời cụ viết tuồng hát cổ-động quốc-trái. Cụ hiệp tác với cụ Nguyễn-Viên-Kiều đặt vở tuồng "Pháp-Việt nhứt gia", tích đức Gia-Long mông trần ở Phú-Quốc, nhờ Bá-Đa-Lộc về Pháp cầu viện v.v... Cụ làm thầy tuồng, hiệp cùng các nhà viết báo ở Sài-Gòn đóng tuồng đó tại nhà hát Tây (trụ-sở Hạ-Viên bây giờ) trong ngày 11-11-1918, ngày này là gánh hát trở về Sài-Gòn hát lúc đình chiến và đi khắp lục-tỉnh, gọi là gánh Bầu-Rô (do tên Toàn-quyền SARRAUT gọi tắt là RÔ).
            Đến năm 1931, cụ Đặng-Thúc-Liên xin được phép xuất bản tờ "Việt-Dân-Báo".  
            Năm 1934, nhằm mục-đích bảo-vệ Đông-Y-Sĩ đã nhiều phen điêu-đứng, cụ đã dày công sáng lập hội Việt-Nam Y-Dược.  
            Lúc quân Nhật chiếm đóng Đông-Dương, để tránh nạn bom tàn khóc ném xuống Sài-Gòn-Chợ-Lớn mỗi ngày, cụ đưa gia-đình trở về quê vợ ở làng Tân-Qui-Đông, châu-thành Sa-Đéc.
            Năm 1945, đêm 10 tháng 7, cụ cảm mạo rất nặng, dây dưa nằm liệt hơn một tháng, đến đúng ngọ ngày 16 tháng 8, cụ từ-trần tại Sa-Đéc và chôn cất tại làng Tân-Qui-Đông, hưởng thọ 85 tuổi.  
            Cụ Mộng-Liên Đặng-Thúc-Liên là nhà đạo-đức văn-chương triết-học cao thâm. Nho-Y gồm đủ. Cụ cũng là một nhà ái-quốc tiền-phong, một ký-giả tiền-bối đáng kính mến.  
            Cụ để lại cho nhiều tác-phẩm giá trị:
            1. Quốc-văn hồn 
            2. Cao-Hoàng-Đế diển ca, tức Gia-Long phục quốc
            3. Trương-Vỉnh-Ký hành trạng 
            4. Hán-văn thi tập
            5. Việt-âm thi tập 
            6. Tri-y tiện dụng
            Bình sanh cụ thích giao tiếp với thanh-niên, theo câu:
                        Tối hảo lão thanh-niên
                        Thả thông tân cựu học
                        Phong lưu danh lợi không
                        Vô ngã tiện thị túc
            Nghĩa: Rất tốt già như trẻ
                        Văn chương cũ mới thông
                        Phong lưu danh lợi đủ
                        Ta có cũng như không.
 
 
 
NGUYỄN-QUANG-DIÊU
_________
CHÍ-SĨ LÀM VINH-DIỆU VÙNG TÒNG-SƠN SA-ĐÉC
            Cụ Nguyễn-Quang-Diêu hiệu Tử-Ngọc, biệt danh Trần-Cảnh-Sơn, Nam-Xương bí danh Trần-Văn-Vẹn, sanh tại Cao-Lãnh (tỉnh Sa-Đéc, sau này Cao-Lãnh đổi thành tỉnh-lỵ Kiến-Phong) năm Canh-Thìn 1880. Mất tại Vĩnh-Hòa, Tân-Châu, năm Bính-Tý (1936). Cuộc đời tuy không dài lắm của cụ, nhưng cụ đã lưu lại nhiều thành tích đáng kể trong lịch-sử cách-mạng và lịch-sử văn-học Việt-Nam.
 
 
HINH
Chí-sĩ Nguyễn-Quang-Diêu
Họa-sĩ Hà-Khê vẽ theo tường thuật của tiên-sinh Nguyễn-Chánh-Giáo

            Ngày nơi sanh và nơi mất của cụ, làng Tòng-Sơn (thuộc quận Lấp-Vò, tỉnh Sa-Đéc ngày nay) còn là nơi quê vợ cụ có lắm lúc dính liền với Tòng-Sơn, và ngày nay, hài cốt cụ đã được bốc lên từ Vĩnh-Hòa để mang về cải táng tại Tòng-Sơn (Sa-Đéc). Cho nên viết về Sa-Đéc mà thiếu đề cập nhân-vật Nguyễn-Quang-Diêu, sẽ bị xem là khuyết-điểm to.  
            Thuở còn trẻ, Nguyễn-Quang-Diêu đã nổi tiếng là người gan dạ và thẳng thắng. Nhà vốn dư ăn, thân-phụ lại là người có học, có địa vị xã hội quan trọng trong vùng, nên cụ sớm được theo đường nghiên bút.
            Năm 18 tuổi, rời quê nhà, cụ đến thụ-giáo với cụ Tú-Tài Trần-Hữu-Thường ở Phú-Nhuận (Châu-Đốc). Tú Thường là bạn đồng học với Thủ-Khoa-Huân, không đánh giặc như cụ Thủ-Khoa, nhưng cụ Tú rất ghét Tây và quyết giữ khí tiết của một nhà cao ẩn. Học trò của cụ Tú Thường đông đến hàng ngàn, khắp từ các tỉnh miền Tây về nghe sách nơi cụ. Nguyễn-Quang-Diêu tỏ ra xuất sắc: giàu lý luận, sành thi ca, thông suốt điệu nghĩa Nho-giáo. Nhưng cụ không lấy vậy làm thích, mà hằng cho cái trò điêu trùng khắc triện không bằng cái chí xẻ núi lấp sông của các bậc anh hùng. Nên tuy theo học ở trường, cụ vẫn theo dõi tình hình chính trị.
 
Năm 1910, cụ đúng 30 tuổi, bỏ học, chính thức đứng ra xướng xuất phong trào bài Tây phục quốc. Cụ cổ vỏ cho phong trào Đông-du của cụ Phan-Bội-Châu. Nhiều người theo cụ, đứng ra vận động và làm thành một nhóm có thế lực quần chúng, khiến Pháp giật mình. Họ lùng kiếm cụ và từ đó cụ phải ẩn tránh luôn.
            Tháng 5 năm 1913, Nguyễn-Quang-Diêu được các đồng chí vận động tiền bạc đưa cụ xuất dương. Cụ liên lạc với cụ Cường-Để tại một địa-điểm bí mật ở Long-Xuyên trước khi lên đường. Mục đích của lần xuất dương này là để lãnh "Chỉ-tệ tín phiếu" mua vũ khí, đưa thêm một số du học sinh và tìm gặp cụ Nguyễn-Thần-Hiến đang hoạt động tại Trung-Hoa. Phái đoàn gồm 12 người do cụ Nguyễn-Quang-Diêu hướng dẫn. Cụ Nguyễn-Quang-Diêu đã tiếp xúc với cụ Nguyễn-Thần-Hiến, Huỳnh-Hưng tại Hồng-Kong và dự định một chương trình hoạt động nội ngoại hô ứng. Nhưng sinh hoạt của phái đoàn đã lộ tiếng. Cảnh sát Anh tại Hồng-Kong đến khám nhà Huỳnh-Hưng, bên kia đảo Cửu-Long, bắt được 13 quả tạc đạn, một số tuyên truyền phẩm nên tịch thu tang vật và bắt luôn cả bọn. Hôm ấy là ngày 16 tháng 6 năm 1913.
            Trong lao, Nguyễn-Quang-Diêu lại gặp Kiều-Ngoại-Hầu, Cường-Để, vốn cũng từ Tam-Kỳ trở sang Hồng-Kong và bị bắt. Nhưng cụ Cường-Để được Nguyễn-Hào-Vỉnh và Lâm-Cần mướn luật sư lãnh tại ngoại rồi trốn luôn. Riêng trong nhóm Nguyễn-Thần-Hiến, Nguyễn-Quang-Diêu, Đinh-Hữu-Thuật... đều bị giải về cho Tây tại Hà-Nội.  
            Trong bài Hà-Thành lâm nạn, cụ Nguyễn-Quang-Diêu viết:  
                        Luật áp giải dã man đã quá,  
                        Ỷ cường quyền xiềng cả chân tay.  
                        Hỏa thuyền chạy suốt ba ngày,  
                        Hải-Phòng đổ bến, giải ngay Hà-Thành.
            Tại đây, Nguyễn-Quang-Diêu bi kêu án 10 năm khổ sai. Cụ bị đưa sang Pháp rồi sau đó, đày ra Guyane (một thuộc-địa của Pháp ở Nam-Mỹ).   
            Ở đây, người ta bắt các nhà cách mạng Việt-Nam lên rừng đốn cây cưa củi... làm những việc nặng nhọc của hạng tù đồ. Tuy nhiên, các cụ không vì vậy mà thối chí, trái lại vẫn coi thường khổ cực và vẫn quyết tâm hy vọng một ngày quốc vận vinh quang.  
            Năm 1917, sau khi bí mật liên lạc với một thương nhân Trung-Hoa, cụ được họ giúp đỡ vượt ngục trốn sang TRINIDAD.  Đó là một hải đảo thuộc Anh mà người Pháp gọi TRINITÉ và người Tàu gọi Trì-Lí-Ni-Ních-đảo. Họ giúp Nguyễn-Quang-Diêu có cơ sở làm ăn tại một chi điểm thương hội.  
            Từ đó, ngày làm việc thương mại, đêm học tiếng Anh, cụ Nguyễn-Quang-Diêu vẫn đăm đăm hướng về Tổ-quốc theo dõi tình hình chính trị. Cuối năm 1920, Nguyễn-Quang-Diêu rời Trinidad để sang Tàu. Cụ liên lạc được với cụ Nguyễn-Hải-Thần và một số các đồng chí cách mạng khác. Nhưng vẫn chưa làm được gì. Cụ buồn bực, lui về Tứ-Xuyên làm tài phú cho một hiệu thuốc Bắc lớn để sinh nhai tạm bợ. Ta hãy nghe tâm sư cụ hồi qua bài Trung Thu Ngoạn Nguyệt mà chính cụ đã viết:  
                        Bao độ tròn trăng hội Á - Âu,  
                        Mà người cay đắng mấy mươi thâu...!
            Năm 1926, cụ trở về nước và hoạt động khá mạnh ở các tỉnh Sa-Đéc, Châu-Đốc, Long-Xuyên. Cụ đã sáng tác nhiều tuyên truyền phẩm kháng Pháp và cụ đã bị lính kín Pháp truy nã quá gắt. Vài năm sau đó, cụ đành phải giả dạng một thầy đồ về ngồi dạy học chữ nho tại làng Vĩnh-Hòa thuộc biên-thùy Việt-Miên.  
            Cụ viết sách làm thơ, dịch sách rất nhiều. Nhưng đã bị thất lạc một số lớn vì sự khủng bố của thực dân. Học giả Nguyễn-Văn-Hầu trong tác phẩm viết về cuộc đời cụ, đem công phu nhiều năm sưu tập lại, còn được 98 bài thơ, phú, câu đối của cụ Nguyễn-Quang-Diêu mà trước kia cụ đã sáng tác tại nhiều nơi trên thế giới.
            Năm 1936, cụ lâm bệnh rồi mất tại một miền đèo heo hút gió, nơi biên thùy xa xôi, giáp với Việt-Miên. Môn sinh họp nhau đứng ra chôn cất và xây mộ cho cụ rất khang-trang, mặc dù tình thế lúc bấy giờ hết sức khó khăn. Rất nhiều bài thơ ai-điếu cụ, nhiều câu đối khóc cụ, làm sao kể xiết. Chỉ xin rút một đôi câu đối, hàm sức cả cuộc sinh hoạt cách mạng của cụ:  
                        Ngót hai chục năm dư, hồ hải từng quen Âu, Á, Mỹ,  
                        Vừa năm mươi tuổi lẽ, dạ dài còn tạc hiếu, trung, cang.  
            Và xin chép lại một bài thơ của một đồng chí cụ đã khóc cụ:
                        Tìm đâu mà thấy cố nhân ta?  
                        Tử-Ngọc cỏi trần đã lánh xa!  
                        Nhớ trước Canh-Thìn năm xuất thế,  
                        Tính nay Bính-Tí tuổi qui hà.  
                        Quốc dân không khóc, ta thương khóc,  
                        Thời thế tiêu ma, bác hóa ma.  
                        Tâm sự đầu đuôi bao xiết kể,  
                        Thương cho đất khách gởi xương già.  
            (Rút gọn theo tác phẩm "Chí-Sĩ Nguyễn-Quang-Diêu" của học-giả Nguyễn-Văn-Hầu, giải thưởng văn chương toàn quốc 1966 - Nhà xuất bản Xây Dựng.)  
 
 
TIỂU SỬ CỤ VÕ-HOÀNH(1)
(1873 - 1946)
NHÀ CÁCH MẠNH BỊ AN-TRÍ TẠI SA-ĐÉC
            (1) Viết theo tài liệu của tác giả Nguyễn-Bá-Thế đăng trên nhật báo Đuốc Nhà Nam số ra ngày 3-2-71 đến số ra ngày 7-2-71.
            Cụ VÕ-HOÀNH, hiệu Ngọc Tiễn, người làng Quang, huyện Thanh-Trì, tỉnh Hà-Đông, sinh năm Quí-Dậu (1873), con cụ Tú VÕ-HOÀNG-DIỆU.  
            Sinh trưởng trong một gia đình nho học nên cụ sớm đổ Cử-nhân và thành thân với cụ Bà NGÔ-THỊ-NGUYÊN, con quan Ngự-Sử NGÔ-TÔN-ĐỨC, hạ sinh được năm ái-nữ.   
            Mặc dầu xuất thân khoa cử, nhưng gặp thời buổi ngoại thuộc, cụ không màng danh lợi chốn quan trường, nuôi chí giúp dân cứu nước thoát dòng ngoại xâm. Năm 1907, cụ tham gia phong trào Duy-Tân, cùng cụ NGUYỄN-QUYỀN(2) và một số đồng chí đứng ra sáng lập trường "Đông-Kinh Nghĩa-Thục".
            (2) Cụ NGUYỄN-QUYỀN (1869-1941), lãnh tụ chính của phong trào "Đông-Kinh Nghĩa-Thục", bị nhà cầm quyền Pháp an-trí tại Bến-Tre. Mộ cụ hiện táng tại xã Tân-Xuân, quận Châu-Thành, tỉnh Sa-Đéc. (Xem "Đông-Kinh Nghĩa-Thục" của tác giả Đào-Trinh-Nhất hoặc "Đông-Kinh Nghĩa-Thục" của tác giả Nguyễn-Hiến-Lê.)
            Cụ VÕ-HOÀNH phụ trách việc quyên tiền và cổ võ các thân hào nhân-sĩ tham gia lúc phòng trào đang lên: Phong trào Đông-Du cầu học và Phong trào cầu viện Duy-Tân tự cường để cứu quốc.
            Trong khúc ca "Nam Thiên Phong Vân" có đoạn mô tả cụ VÕ-HOÀNH như sau:  
                        "Người nghĩa hiệp có xa đâu đó,  
                        Đất làng Quang Họ VÕ tên HOÀNH.  
                        Tráng thay! Cái khí sinh bình,  
                        Hai tay hồ thỉ tung hoành bốn phương.
                        Say đở chén ngang trời dọc đất,  
                        Ngâm rồi câu quỉ khóc thần kinh.  
                        Trông ra thấy nước non mình,  
                        Quyết đem gan óc mà ganh lại trời.  
                        Bịnh nước thấy lâu ngày suy nhược,  
                        Túi Mạnh thường giở thuốc kinh luân.
                        Người kiếm hiệp, khách quan thân,  
                        Bắc Nam đủ mặt, xa gần khắp nơi.  
                        Hòn máu nóng đúc người chí sĩ,  
                        Tấm lòng vàng kết nghĩa tự giao.  
                        Những là cát biển bùn ao,  
                        Tiện tay tiêu dụng biết bao cho cùng.  
                        Ngồi vận động tính trong sự thế,  
                        Bốn phương trời góc bể xôn xao.  
                        Lưỡi như sóng mắt như sao,  
                        Giang hồ tỏ mặt anh hào nước ta."
            Năm 1908, Trường Đông-Kinh-Nghĩa-Thục bị đóng cửa, rồi chẳng bao lâu, nhà cầm quyền Pháp ghép tội, bắt giam cụ cùng cụ NGUYỀN-QUYỀN đưa ra Côn-Đảo vào năm 1909.  
            Sau đó, cụ bị đưa vào Nam an-trí tại Sa-Đéc. Qua một thời gian lắng dịu, cụ lại âm thầm hoạt động cách mạng như khi còn ở Bắc. Cụ đã ám trợ cho các đồng chí như NGUYỄN-THẦN-HIẾN, NGUYỄN-QUANG-DIÊU.  
            Năm 1935, cụ kết thông gia với đồng chí trong phong trào "Đông-Kinh-Nghĩa-Thục" là cụ Nguyễn-Quyền.
            Đến ngoài 70 tuổi, cụ vẫn còn quắc thước hào hùng. Đôi khi xót xa vì việc đời, cụ đã bộc lộ tâm sự trong nhiều bài thơ như bài sau đây:  
                        "Ngao ngán lòng tôi tối lại mai,  
                        Lòng tôi, tôi biết giải cùng ai.  
                        Ngàn năm cố quốc hồn chưa tỉnh,  
                        Hai chữ đồng tâm nét cũng sai.  
                        Mai lệ chép thơ phơi trước mắt,  
                        Coi tiền như mạng bỏ ngoài tai.  
                        Thôi thôi biết nói chi cho hết,  
                        Càng nói càng thêm nổi thở dài."
            Năm 1945, mặc dù đã ngoài bảy mươi, cụ VÕ-HOÀNH vẫn còn tráng chí, bỏ nhà tham gia phong trào chống thực dân Pháp.  
            Cụ mất ngày mùng 5 tháng 11 năm Bính Tuất (1946) hưởng thọ 73 tuổi. Mộ cụ hiện an táng tại xã Mỹ-Hội, quận Cao-Lãnh, Kiến-Phong.
 
 
LƯU-VĂN-LANG
VỊ BÁC-VẬT(1) ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT-NAM
            (1) Danh từ Bác-Vật khi xưa trong Nam thường gọi những vị Kỹ sư từ Pháp về, do đó chúng tôi xin dùng danh từ cũ để tưởng niệm tiền bối cao học.  
            Hoài niệm danh nhân cận đại của Sa-Đéc, quyết là không ai đáng kính mến bằng ông Lưu-Văn-Lang. Học lực uyên thâm, khí tiết cao trọng. Ông nêu gương sáng cho đoàn hậu tấn và để danh thơm muôn thuở.
 
 
HINH
Bức di ảnh sau cùng của Ông Lưu-Văn-Lang

            Ông Lưu-Văn-Lang chào đời tại làng Tân-Phú-Đông, Sa-Đéc ngày 5 tháng sáu 1880. Thân phụ ông là Lưu-Văn-Cứng. Thuở trẻ, ông học chữ nho. Đến 10 tuổi, ông mới bắt đầu học chữ Pháp và quốc-ngữ. Thông minh vốn sẵn tính trời lại thêm có lòng hiếu thảo với cha mẹ, ông cố gắng học các bạn tác cùng trang lứa. Chăm chỉ học tập chuyên cần. Chẳng mấy năm, ông vào học ở trường Trung-hoc Chasseloup-Laubat tại Sài-Gòn.  
 
Năm 17 tuổi, tài học của ông áp đảo bạn đồng môn. Được cấp học bổng của Chính-phủ Pháp, qua Paris học trường Cao-đẳng ở trung-tâm Thủ-đô Pháp-quốc.
            Năm 1904, thi ra trường, ông đậu hạng 8 trong số 250 thí sinh. Ông nghiễm-nhiên là vị Bác-vật (Kỹ-sư) Ingénieur des Arts et Manufactures de l'École Centrale de Paris, có người dịch là Trường Kỹ-nghệ Trung-ương hay là Trường Quốc-gia Bách-công Trung-ương.
            Ông về nước, ba chữ "Bác-vật Lang" truyền tụng khắp trong xứ.  
            Đầu tiên Chánh-phủ Pháp bổ nhiệm ông lên Vân-Nam lo thiết lập đường xe hỏa. Rồi đến năm 1909, ông về giúp việc trong sở Công-Chánh Sài-Gòn đến năm 1940.  
            Trong năm 1933, ông đảm nhận chức vụ "Hội-viên Hội-đồng Danh-dự và Cố-vấn" cho đến năm 1942.  
            Sau cuộc đảo chánh của quân đội Nhật ngày 9 tháng ba 1945, trao trả chủ- quyền cho Hoàng-đế Bảo-Đại, nội các đầu tiên do cụ Trần-Trọng-Kim thành-lập, có vời ông và ông Hồ-Tá-Khanh ra Huế đảm nhận chức vụ Tổng-trưởng. Rồi cuộc biến cố xảy ra trên đất nước, ông giữ khí tiết, không hợp tác gì với người Pháp.  
            Tài năng của ông từng khiến các vị kỹ-sư người Pháp đều phải thán phục(1). Đức độ và tâm chí của ông được hầu hết các nhân-sĩ trọng vọng khâm-phục.
            (1) Xin xem thêm ở phần giai thoại, để rõ hơn về tài năng của ông Bác-vật Lưu-Văn-Lang.
            Con người có tài có đức, hẳn là trời đất ưu ái, dành cho đầy đủ Phước-Lộc-Thọ. Vợ chồng ông sinh ra rất đông con cái, đều khỏe mạnh, thông minh. Trong năm 1930, bộ Lao-Động và Vệ-Sinh bên Pháp ban thưởng huy chương bạc cho phu nhân của ông về sự sinh dưỡng 9 người con đều dồi dào sức khỏe. Tuần báo "Phụ-nữ Tân-văn" trong năm 1930 ấy, số 49, có đăng lời ca ngợi và hình chụp vợ chồng con cái ông.  
            Cũng trong năm 1930, tuần báo "Phụ-nữ Tân-văn" có mở một cuộc thi kỷ niệm đệ nhất châu niên của tờ báo. Đầu đề thứ ba của cuộc thi là một câu hỏi như sau: "Nếu có cuộc tuyển cử 10 vị Việt-Nam nhân dân đại biểu (như Dân-biểu, Nghị-sĩ ngày nay mà những vị kể tên dưới đây (tờ báo nêu tên 10 vị nhân-sĩ lúc ấy) ra ứng cử thì độc giả sẽ cử những vị nào?". 
            Kết quả cho thấy là ông được bầu hạng năm sau Phan-Văn-Trường, Huỳnh-Thúc-Kháng, Nguyễn-Phan-Long, Diệp-Văn-Kỳ và trên Bùi-Quang-Chiêu, Trần-Trọng-Kim, Dương-Văn-Giao, Trần-Trinh-Trạch và Phạm-Quỳnh. Ngoài ra ông cũng là một trong số ba vị sáng lập viên Việt-Nam Ngân-Hàng đầu tiên. Ba vị ấy gồm các vị Huỳnh-Đình-Khiêm, Trần-Trinh-Trạch và Lưu-Văn-Lang.
            Xem như thế, đủ rõ uy tín của ông trong nhân dân là ngần nào. Năm 1954, vì nhiệt thành yêu nước, ông tham gia phong trào Hòa bình với địa vị chủ tịch danh dự, thuộc Ủy-ban Hòa-bình Sài-Gòn, ông bị chánh quyền Ngô-Đình-Diệm bắt giữ trong đợt thứ nhất vào tháng 11 năm ấy, cùng với ông Michel Nguyễn-Văn-Vỉ là bạn đàn em chí thân của ông. Theo G. Chaffard trong quyển "Les deux guerres du Việt-Nam", ông từ trần ngày 3-8-1969, thọ 90 tuổi.
            Tài cao, đức trọng, danh thơm, gia đình phước lộc, thọ mạng lâu dài, đời Bác-vật Lang quả là hi hữu.  
            Ông mất đi, các báo đều đăng tin và tỏ niềm trọng vọng thương tiếc vô hạn.  
            Báo "Đuốc Nhà Nam" ngày 8-8-1969, chủ nhiệm là ông Trần-Tấn-Quốc viết một bài đăng ở trang nhất, nơi danh dự với nhan đề: "Kính điếu cụ Lưu-Văn-Lang, một sĩ-khí miền Nam", lời lẽ vô cũng cảm xúc và chân thành rất mực. Chúng tôi xin sao lục ra đây để tưởng niệm một bậc thiên tài, một hạng người có khí tiết:  
            "Kính điếu cụ Lưu-Văn-Lang 
            "Một sĩ-khí miền Nam      
            "Chúng tôi băn khoăn mãi trước cái chết của cụ Lưu-Văn-Lang. Kéo nhau đến lạy trước linh cữu cụ, chưa nói hết được lòng kính trọng của mình đối với cụ. Đăng tin chia buồn trên báo, dù trình bày trang trọng cách nào, cũng có vẻ thường tình quá.  
            "Thôi thì, vốn con nhà báo, sẵn giấy mực trong tay, xin kính điếu cụ Lưu-Văn-Lang bằng một bài báo.  
            "Khi người Pháp trở lại, muốn tái-chiếm Việt-Nam, trước hết họ nghĩ ngay tới những người thượng lưu trí thức do họ đào tạo, trong số đó cụ Lưu-Văn-Lang là người số một, được họ lưu ý tới.  
            "Cụ xuất thân nhà nghèo, thi đổ được vào học bổng ở một trong những trường danh tiếng nhất, đậu kỹ-sư Arts et Manufactures làm việc tại sở Trường-tiền, đã tỏ ra thanh-liêm, mẫn cán, tài năng suốt một đời công chức của cụ. Cụ về hưu-trí sau khi đã đóng góp rất nhiều trong việc kiến thiết xứ sở.  
            "Người Pháp cho rằng họ đã đào tạo được một nhân tài bản xứ và họ có quyền đòi hỏi ở nhân tài đó một sự cộng tác cần thiết hơn: một công tác chính trị.
            "Nhưng cụ Lưu-Văn-Lang đã khẳng khái từ chối. Cụ nói: "Tôi già rồi, không làm đầy tớ cho ai được nữa".    
            "Cụ nói thế, là vì cụ nghĩ rằng cụ không mắc nợ gì với người Pháp. Họ muốn đào tạo một người giúp việc cho họ về chuyên môn và kỹ-thuật, nhưng do thiên tư của cụ mà cụ đã thành đạt trên ý muốn của họ. Đồng lương mà người ta trả cho cụ không xứng đáng với những công việc cụ đã làm. Vả lại cụ phục vụ xứ sở hơn là làm việc cho Tây. Cụ không mắc nợ ai cả, không ai có quyền lợi dụng cụ, để mưu toan trở lại đô hộ đất nước của ông cha.
            "Cụ không phải là một nhà cách mạng. Cụ không bằng lòng người ta gọi là một nhà chí-sĩ. Cụ không thích làm chánh trị. Nhưng cụ thực tâm yêu nước và rất có cảm tình với những ai đã dám hy sinh cho nước. Do đó mà suốt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cụ tuyệt đối không hợp tác với kẻ xâm lăng, không nhận lãnh một chức vị gì trong những Chánh phủ bù nhìn do thực dân tạo dựng. Mỗi lần họ mời cụ là cụ từ chối với những câu trả lời lên trên. Chẳng những thế, cụ còn ký tên vào những bản kiến nghị đòi Pháp trả độc lập cho Việt-Nam, và phải chấm dứt cuộc chiến tranh nhơ bẩn do thực dân Pháp gây nên. Thực dân Pháp giận cụ nhưng vẫn nể cụ. Những người Pháp dân chủ kính trọng cụ và một mực thương yêu cụ. Giáo-sư PRÉTON, Hội-Trưởng Hội Nhân-quyền là một người bạn thân của cụ, coi cụ là một điển-hình của lòng yêu nước, một tinh-hoa của dân-tộc Việt-Nam, đặc biệt là của miền Nam nước Việt.
            "Thật vậy, Sĩ-khí của Miền Nam có thể tượng trưng ở cụ, ở những người như cụ.  
            "Mấy năm về trước, cụ thường mặc quần ống cụt, chống gậy đi bộ trên những đường phố lớn Thủ-đô, còn hiên ngang mạnh khỏe.  
            "Gần đây, cụ mặc quần ống dài, vẫn chống gậy đi bộ, nhưng lưng đã hơi khòm và có vẻ mệt nhọc. Chỉ thiếu mười năm, cụ đã sống một thế kỷ, một thế kỷ vọng quốc và phục quốc.  
            "Có những người đã đổi tiết tháo chạy theo những biến chuyển của thời cuộc. Có nhiều người lợi dụng thời cuộc để vinh thân phì gia. Họ buôn dân bán nước mà họ vẫn cho là thức thời.  
            "Trái lại, cũng có những anh hùng liệt-sĩ làm vẽ vang cho dân tộc.  
            "Nhưng ở thời loạn, làm anh hùng dễ hơn làm quân tử. Do đó mà chúng tôi kính trọng cụ Lưu-Văn-Lang, vẫn thường lấy cụ làm gương trong đạo tu thân xử thế.
            " Cụ từ trần ở tuổi 90, không có gì phải ân hận, chỉ tiếc rằng sau khi cụ ra đi, khó kiếm được người quân-tử như cụ.  
            "Tên cụ đáng ghi vào lịch-sử và đáng được thay thế cho nhiều tên đường phố ở Thủ-đô.  
            "Chúng tôi cầu chúc anh-linh cụ sớm tiêu diêu nơi cực lạc và xin thành thật chia buồn cũng tang gia, xin chia sớt những ai đã âm thầm tiếc thương người tượng trưng sĩ-khí miền Nam đã ra đi...  
                                                                       Đuốc Nhà Nam, ngày 8-8-1969"
 
 
 
TÓM LƯỢC PHẦN DANH-NHÂN
VÀ NHÂN-VẬT SA-ĐÉC
            Đã trình bày từng nhân vật xưa và này đã khá nhiều, kiểm điểm lại, chúng tôi vẫn thấy còn chưa đủ. Thiết tưởng trong thời Pháp thuộc và trong thời gần đây, Sa-Đéc đất linh còn có rất nhiều bậc anh tài đáng kể, làm rạng danh tỉnh nhà không ít.  
            Hiện nay, trong số các nhân vật ưu tú gần đây mà chúng tôi xin nêu ra thêm - kẻ đã mất, người đang còn - phần đông đều có địa vị khả quan trong xã hội, danh dự với đời và chẳng những đóng góp ít nhiều cho quê hương xứ sở.  
oOo
            Nguyễn-Văn-Bình. - Huyện Hàm. Quê ở làng Tân-Lâm (nay là Tân-Hưng), tổng An-Hội, sanh năm 1848. Ông từng làm Phó Tổng, Chánh Tổng rồi thăng Huyện-Hàm. Chính ông đã xin cải tên thôn Tân-Lâm lại là Tân-Hưng trong năm 1896 và chính ông đã trùng tu ngôi Đình thần Tân-Hưng, rất được lòng dân chúng.
oOo
            Lê-Văn-Vĩ. - Đốc Phủ-Sứ-Hàm. Sinh năm 1855, tại làng Phú-Nhơn, tổng An-Mỹ (Nha-Mân). Xuất thân làm giáo viên năm 1888, Hội "Pháp-Văn-Đồng-Minh-Hội" có mở hội thi 396 vị giáo-viên toàn-quốc, chọn lấy 3 người trúng tuyển. Năm 1902, ông đắc cử Hội-Đồng-Quản-Hạt. Năm 1905, vinh thăng Hàm Tri-phủ. Đến năm 1925, thăng Hàm Đốc Phủ-Sứ.
oOo
            Lê-Văn-Phát. - Sinh năm 1872 tại Cù-Lao Tiên-Châu, thuộc làng Tân-Qui-Đông, cháu của Ngự-Sử Lê-Lương là người không tán đồng chánh sách của Vua Tự-Đức và đã khuyên vua nên cầu hòa với nước Pháp để tránh cuộc đổ máu.  
            Ông thông minh, lỗi lạc, ra trường với điểm hạng ưu, đến nỗi Hội-đồng yêu cầu cho ông được gởi sang học tại một trường Trung-học ở Pháp. Nhưng ông không được đi vì lý do ngoài ý muốn. Tuy nhiên, dù không từng xuất-dương du-học như các bạn đồng thời, ông vẫn có học-lực uyên-bác chẳng kém gì ai.  
            Năm 1906, ông được chỉ định làm đại-diện tỉnh Chợ-Lớn đi dự cuộc đấu xảo Marseille. Tại Pháp, ông diễn thuyết nhiều lần về thổ-tục-học và phong-tục tín-ngưỡng của người Việt-Nam.  
            Trở về nước, ông đổ đầu Tri-Huyện và được ban chấm thi khen tặng.
            Ông có những tác phẩm viết bằng Pháp-văn, chứng tỏ học lực của ông khá lỗi lạc:  
            1 - Contes et légendes du pays d'Annam - do nhà in Schneider ở Sài-Gòn xuất bản năm 1913.  
            2 - La vie intime d'un Annamite, ses croyances vulgaires - một quyển sách rất có giá trị, thường được các học-giả nghiên-cứu phong-tuc miền Nam tham khảo, đã đăng trong "Bulletin de la Société des Études Indochinoises" số 52, năm 1906.
            3 - Introduction des Caractères Chinois dans le Programme Indigène en Indochine.
oOo
            Kỹ-sư Lương-Văn-Mỹ. - Bạn đồng nghiệp cùng cụ Lưu-Văn-Lang, có tài học bác uyên thâm nhiều đức độ, được mọi người kính mến, ông đã làm vẽ vang cho xử sở với nghề nghiệp chuyên môn. Người Pháp rất kính trọng cho ông là bậc nhân tài của tỉnh Sa-Đéc, ngày nay ông đã mất nhưng tên tuổi vẫn còn lắm người nhắc đến.
oOo
            Cụ-Kinh-Hối. - Về bên nho học, thâm thông nghĩa lý uyên bác kinh-văn, Sa-Đéc ngày xưa có cụ Kinh-Hối nức danh là bậc túc học, lão thành nổi tiếng văn học. Cụ giỏi thơ văn, lại cũng thông y lý, xem mạch bốc thuốc đầu thang cứu giúp dân lành nghèo khổ.  
            Các cụ thâm nho ở lục tỉnh thường đến thăm cụ, trao đổi tâm tình bên chén chè chung rượu, đàm đạo văn chương, tỏ tất lòng ưu thời mẫn thế.  
            Viếng cụ, sau cùng nhau âm thầm bàn tính quốc sự.
oOo
            Huỳnh-Ngọc-Bỉnh. - Nhân-sĩ, Đốc-Phủ-Sứ, sanh ngày 6 tháng giêng 1872, tại làng Hội-An, tổng An-Thạnh-Thượng (Cái-Tàu-Thượng). Ngồi Chủ-Quận Vĩnh-Châu (Bạc-Liêu) trong năm 1908, Chủ-Quận Vĩnh-Liêm (Vĩnh-Long) năm 1917, Chủ-Quận Châu-Thành (Trà-Vinh) năm 1918. Hội-Viên Hội-Đồng thuộc-địa. Phó-Hội-Trưởng phòng Canh-Nông. Hội-Trưởng Hội-Tương-Tế Sa-Đéc. Được ân-thưởng nhiều huy-chương và Bạc-Đẩu Bội-Tinh năm 1941.
            Ông thông thạo Pháp-văn, Hán-văn, thạo ngôn-ngữ Triều-Châu, Phúc-Kiến và biết tiếng Cao-Miên. Nội tướng của ông là bà họ Đặng, quê ở làng Tân-Hưng, Sa-Đéc. Con ông là Huỳnh-Ngọc-Nhuận cũng có danh tiếng.
oOo
            Nguyễn-Xuân-Hiển. - Tri-Phủ. Sanh ngày 30-4-1789, tại làng Tân-Qui-Đông, tổng An-Thạnh-Hạ. Ông từng ngồi Chủ-Quận nhiều nơi. Nổi tiếng là thanh liêm đi tới đâu được Làng, Tổng mến phục qua đức độ. Ông là một vị quan hết lòng lo cho dân, cho nước. Trấn nhậm nơi nào thi ông lo việc kiến thiết mở mang làm cho xóm làng trở nên thạnh vượng, đời sống dân chúng được ấm no. Thân phụ ông là cụ Huyện Hàm Nguyễn-Xuân-Phong. Hai người em của ông là Nguyễn-Xuân-QuanNguyễn-Xuân-Giác đều đổ Luật-khoa Cử-nhân, Luật-khoa Tấn-Sĩ. Ông Quan từng làm Biện-Lý và ngồi Chánh-Án Tòa Sóc-Trăng và nhiều nơi khác. Còn ông Nguyễn-Xuân-Giác cũng làm quan Tòa được nhiều tiếng tốt. Thật ra gia-đình họ Nguyễn đều là phước lộc song toàn, ít có gia đình nào hữu phước như vậy.
oOo
            Nguyễn-Duy-Dương. - Bậc túc nho. Lúc tỉnh Sa-Đéc mở trường Tiểu-học, ông đảm nhận dạy về môn luân-lý, rèn luyện đức trí theo lễ giáo nhà Nho. Ông đã tạo nhiều môn sanh tỉnh nhà, hấp thụ nền văn hóa cổ truyền. Ông lại có viết sách, dịch truyện, thơ văn còn lưu lại Sa-Đéc ít nhiều về Hán-văn. Ông cũng là người sáng chế thơ theo nhạc Tây-âu bằng lời văn Việt-Nam, với thanh âm của nhạc Tây vì ông cũng là nhạc sĩ cổ truyền rất thạo về nhạc Lễ và đờn ca cổ điển.
oOo
            Cụ Cử-Khỏe. - Cụ Cử-Khỏe nhà cách mạng, bị Pháp bắt an-trí tại đây. Đến khi chết, gởi nắm xương tàn nơi mảnh đất Sa-Đéc. Cụ rất sành về Hán-văn, thi-văn lưu-loát, nổi tiếng văn-chương một thời. Gần xa, sĩ-phú nghe tiếng lấy làm trọng vọng. Thơ văn của cụ, nhất là những bài văn-tế chiến sĩ rất hay, ngày trước được truyền tụng trong dân gian mà nay đã thất lạc đi hầu hết, thật là đáng tiếc.
oOo
            Đốc-Phủ Lê-Văn-Chiếu. - Ông là con thứ 10 của ông Lê-Văn-Hiển. Người quận Lai-Vung (Long-Hậu), từng ngồi Chủ-Quận nhiều nơi. Sau về ngồi quận Thốt-Nốt. Nổi tiếng thanh-liêm chánh-trực. Đến khi ông mất, hương chức và thân-hào nhân-sĩ trong quận cảm mến đức độ ông, khắc bài vị thờ ông tại Đình-thần Trung-An Thốt-Nốt, tỏ lòng mến tiếc một vị quan thanh-liêm.
oOo
            Nguyễn-Tấn-Được. - Sinh năm 1884 tại Vĩnh-Phước. Năm 1919, sáng lập nghiệp-đoàn canh-nông, với Quỷ tương-trợ, mà ông là Chủ tịch, đến năm 1913. Được bầu làm Nghị-viên năm 1922 và giữ chức vụ này trong suốt 17 năm, đến năm 1939.
oOo
            Nguyễn-Ngọc-Diệm. - Sanh tại Hòa-An năm 1891. Học trường Trung-học Chasseloup-Laubat, nổi tiếng tài giỏi. Năm 1914, làm thư-ký Phủ Thủ-Hiến Nam-Kỳ. Năm 1920, đậu vào Trường Cao-Đẳng Luật-học và Hành-chánh tại Hà-Nội. Ra làm việc, thăng lên Tri-huyện, Tri-phủ rồi thăng Đốc-Phủ-sứ ngoại hạng trong năm 1940. Năm 1942, được thưởng Bắc-Đẩu Bội-Tinh.
oOo
            Michel Nguyễn-Văn-Vĩ. - Sinh năm 1892, Cử-nhân luật, đậu bằng Cao-Đẳng thương-mại (Hautes Études Commerciales) và là người Việt-Nam đầu tiên tại trường Cao-Đẳng thương-mai. Từng làm giám đốc Pháp-Hoa Ngân-Hàng và là bạn chí thân của cựu Thống-Đốc Nam-Kỳ Hoeffel.  
            Sau một thời gian ngắn tập sự tại Kỷ-Thương Pháp-Hoa Ngân-Hàng ở Paris, ông được bổ vào năm 1927 về chi nhánh ở Sài-Gòn. Năm 1929, ông được bổ làm Ủy-Quyền (Fondé de pouvoir) và năm 1935 là Thanh-Tra Ngân-Hàng ấy.  
oOo
MỘT ÍT NHÂN-VẬT HIỆN-ĐẠI
            Nguyễn-Thành-Giung. - Sinh năm 1894 tại Tân-Hưng. Sang Pháp du học vào Phân-khoa Khoa-học ở Marseille. Đậu Tấn-sĩ Vạn-vật học, hạng ưu.  
            Trở về nước, làm giáo-sư dạy khoa vạn-vật học ở Trường Sư-phạm, Chasseloup-Laubat và Lycée Pétrus-Ký Trương-Vĩnh-Ký, hiệu trưởng Trung-học Mỹ-Tho. Từng là Tổng-trưởng giáo dục trong Chánh-phủ Nguyễn-Văn-Thinh, Chánh-phủ Trần-Văn-Hửu, Nguyễn-Văn-Tâm. Hiện nay, ông còn khỏe mạnh.
oOo
            Trần-Quang-Đệ. - Sanh năm 1905 tại Mỹ-Long, đổ Bác-sĩ y-khoa. Ông là một trong những vị bác-sĩ có biệt tài giải phẫu danh tiếng. Tác giả quyển "Tumeurs à Myélophaxe des Synoviales Articulaires. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng:  
            - Bác-sĩ giải phẫu bệnh-viện Lalung-Bonnaire
            - Cựu nội-trú các bệnh-viện Paris (1932-1936)
            - Thạc-sĩ y-khoa
            - Hội-viên Hội-đồng Đô-thành
            - Hội-viên Hội-đồng Quản-trị vùng Sài-Gòn-Chợ-Lớn
            - Giám-đốc Bệnh-viện Bình-dân 1960-1961 và từ năm 1964 cho đến nay là Viện-trưởng Đại-học Sài-Gòn.
oOo
            Trần-Lữ-Y. - Sinh năm 1926, bác-sĩ y-khoa Đại-học Sài-Gòn năm 1952. Cấp bằng chuyên-môn về Huyết-học, Đại-học Y-khoa Paris, bác-sĩ thường trú bệnh-viện Pháp. Ông từng tham gia chánh-phủ, nghiễm-nhiên là Tổng-trưởng Bộ Y-tế trong chánh phủ Nguyễn-Cao-Kỳ 1966-1967.  
            Tổng-trưởng Y-tế trong chánh phủ Nguyễn-Văn-Lộc 11-67 và chánh-phủ Trần-Văn-Hương cho đến lúc chánh-phủ này đổ.
oOo
            Đề cập đến một trong những vị bác-sĩ hiện đại của Sa-Đéc, chúng tôi cần phải nhắc đến cố Bác-sĩ Nguyễn-Văn-Ngởi. Ông đã gây được nhiều cảm tình cũng đồng bào mọi giới ở thủ đô qua những việc làm và hành-động. Ông tận tụy giúp đỡ cho bệnh-nhân với một tinh-thần bất vụ lợi. Nay ông đã mất nhưng tên tuổi vẫn còn lắm người ca tụng.
oOo
            Hơn nữa, còn có những nhân-tài Sa-Đéc hiện đang ở ngoại-quốc, như ông Trịnh-Văn-Chấn, người Sa-Đéc. Nhà ở tại bến đò xã Tân-Hưng, du học ở Hương-Cảng năm 1946. Hiện ông về Mỹ-quốc dạy Việt-ngữ cho nhân-viên cao-cấp Tòa Đại-Sứ Mỹ.
oOo
            Bà Huỳnh-Thị-Thủy-Tiên là vợ của Tấn-Sĩ Kỹ-Sư (Doctor in Engineering M.I.T.) Nguyễn-Văn-Lễ, là người phụ-nữ đầu tiên đổ bằng Dược-sư tại Đại-học đường Paris và bằng Doctor of Pharmacy tại Mỹ-quốc. Hiện đang cai quản các phòng bào chế dược-phẩm tại một bệnh-viện ở Los Angeles (Mỹ) và bệnh-viện Nhi-đồng ở tại Mỹ-quốc. Bà cũng là người Sa-Đéc.
            Tóm lại, người dân Sa-Đéc đa số là bậc tài hoa, ra phục vụ mọi ngành khắp trên đất nước và hải ngoại. Một số nhân vật ở nội địa hiện nay, kẻ mất người còn, thảy đều đáng ca ngợi về tài năng. Một số đông đang bôn ba hải ngoại để phục vụ tranh đấu cho quê hương cũng là đáng mến.  
            Chúng tôi không hề đề cao, tán dương công nghiệp của một cá nhân nào, điều ấy để quyền lịch sử phê phán. Chúng tôi chỉ nêu một số trí thức có chức phận trong ngành chuyên môn của Sa-Đéc đó thôi, trên tinh thần vô tư. Mong bạn đọc hiểu cho. Thiết nghĩ cũng còn nhiều nhân vật Sa-Đéc tên tuổi trong quá khứ cũng như hiện tại có nhiều thành tích vẽ vang, làm những điều ích nước lợi dân. Nhưng tiếc rằng công việc sưu tầm khó mà đầy đủ hết. Xin bạn đọc thông cảm thứ lỗi cho vì còn nhiều sơ sót.
            (1) Vùng Cao-Lãnh ngày xưa, vẫn là một quận của tỉnh Sa-Đéc còn biết bao nhân vật ưu tú khác nữa. Nhưng ngày nay Cao-Lãnh đã tách ra làm tỉnh Kiến-Phong cho nên chúng tôi chưa ghi nhận với những nhân vật ưu tú ấy vào quyển Sa-Đéc này. Trong tương lai gần đây, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày quyển "Cao-Lãnh Xưa và Nay", cố nhiên chẳng quên đề cập những nhân-tài của Cao-Lãnh ngày nay, tức phần đất của Sa-Đéc xưa.
 

PHẦN THỨ BA:    
 
DI-TÍCH LỊCH-SỬ
HUYỀN-SỬ
TRÊN ĐƯỜNG VIẾNG DI-TÍCH LỊCH-SỬ
­­­­­___________
 
BẢO-TIỀN - BẢO-HẬU
            Vạch bóng thời gian, tìm lại những gì của khí thiêng non nước, để tán dương công nghiệp người xưa làm rạng rỡ quê hương qua những trang sử vàng son của giống dòng Lạc-Việt: ấy là chí nguyện bình sinh của chúng tôi. Ôm ấp chí nguyện ấy từ bao lâu, nay mới bắt tay vào việc soạn những bộ địa phương chí và đã cố gắng hết sức mình để ấn hành: Kiến-Hòa, Bạc-Liêu, Vĩnh-Long, Định-Tường, Cần-Thơ, Vũng-Tàu, Gò-Công. Chúng tôi đã lê gót dấn thân trên khắp nẻo đường đất nước, cống-hiến bạn đọc những di-tích lịch-sử nước non nhà, gợi lại hình ảnh từng mảnh đất quê hương yêu mến.
            Giờ đây, đến lúc trình bày bộ mặt "Sa-Đéc xưa và nay" nào nệ tốn hao công của. Con đường đã vạch, góp công tô điểm quê hương, phát huy nền văn-hóa dân-tộc, chúng tôi nổ lực tiến hành. Đến Sa-Đéc, hữu duyên hạnh ngộ quý vị có tinh thần tồn cổ. Ông Lê-Minh-Triết, giám đốc hãng bánh phòng tôm Sa-Giang, ông Phan-Đình-Minh, hãng nước đá Kim-Sa, ông Huỳnh-Văn-Bờ, Sĩ-quan, ông Tô-Văn-Bốn, nhiếp-ảnh-gia, ông Nguyễn-Văn-Nam, người địa-phương xã Hòa-Long, quận Đức-Thành, hướng-dẫn chúng tôi đi viếng di-tích Bảo-Tiền, Bảo-Hậu.
            Thuê một chiếc ghe máy nhỏ tại chợ Hòa-Long, xuôi theo dòng rạch Cái-Bàn, xuyên qua các xã Hòa-Long, Long-Thắng vào lúc 8 g sáng ngày 3-9-70. Trên đường hành trình, ai nấy đều tỏ vẻ hân-hoan.
            Từ xã Hòa-Long vô đến Bảo-Tiền mất đến ba tiếng đồng-hồ. Khi xưa, Sa-Đéc vẫn là nơi còn lưu nhiều vết tích của đức Cao-Hoàng nhà Nguyễn. Chính lúc từ Xiêm trở về nội địa, Ngài đã đóng đại bản-dinh tại Long-Hưng Nước-Xoáy. Quan sát địa hình địa vật, chính Nguyễn-Vương đã truyền lịnh cho quân dân Sa-Đéc chở đá từ vùng núi Sập (Long-Xuyên, Châu-Đốc) đem về hàn con đường thủy đạo Cái-Bàng (thuộc ấp Long-Định, xã Hòa-Long ngày nay) làm hai chặn, xây dựng đồn Bảo để ngừa quân Tây-Sơn đổ bộ. Một đồn Bảo án ngữ mặt trước nằm ở xã Long-Thắng ấy là Bảo-Tiền. Một đồn Bảo án ngữ mặt sau, thiết lập tại xã Phong-Hòa, ấy là Bảo-Hậu, và con sông Long-Hậu quận Lai-Vung ngày nay cũng có những đập đá hàn.  
 
oOo
 
SỰ TÍCH ĐÁ HÀN
            Khúc đá hàn từ bờ rạch bên này qua giáp bên kia bờ, bề ngang độ 40 thước.  Cách bờ rạch vô chừng 200 thước ở phái tây trái, có một cái nền khá rộng độ chừng hai công đất, đó là đồn thứ nhứt phòng thủ tại đây để giữ luôn con đập đá hàn. Ghe máy đưa chúng tôi đến tận nơi. Dưới mé sông và trên bờ rạch này hãy còn nhiều tảng đá xanh to, rêu phong cỏ mọc, lồi mặt nửa trên nửa trời. Đứng trên các tảng đá ấy chụp bức hình lưu niệm, chúng tôi chi xiết bồi hồi cảm động. Đoạn quay lại, nhờ một chiếc ghe tam bản nhỏ đậu gần đó chống vô con rạch để viếng tiền đồn, mà nay chỉ còn lưu lại một lũy tre xanh trên nền cao, giữa có một trũng sâu đầy nước, không còn thành quách gì cả.
 
HINH
 
Nhà Sưu-khảo Huỳnh-Minh trên đường đi tìm Di-tích lịch-sử
đứng trên tảng Đá Hàn, xã Hòa-Long, ngày 3-9-70.

            Nhìn cảnh cũ, nhớ người xưa, lòng chùng tôi luống những ngậm ngùi, thoáng đôi phút suy tư. Quay gót trở ra bước lên ghe, chúng tôi trực chỉ vô xã Long-Thắng đến viếng Bảo-Tiền.  
oOo
QUANG CẢNH DỌC ĐƯỜNG VỀ BẢO-TIỀN
            Dọc theo con rạch khúc đá hàn xã Hòa-Long, vô tới Long-Thắng độ 5 cây số, hai bên nhà cửa thưa thớt, hầu hết đồng bào nơi đây là tín đồ Phật-giáo Hòa-Hảo. Xa xa chừng một hai cây số có một "Độc giảng đường" của Phật-giáo Hòa-Hảo dựng lên. Tầng trên để thờ đức Thầy Huỳnh giáo-chủ, tầng dưới để đọc giảng cho bá tánh nghe. Giảng đường này nằm trên bờ rạch nép mình dưới những vườn cây rợp bóng. Phía sau là đồng ruộng bao la. Dưới mé nước sát bờ rạch có mọc nhiều cây tạp như: gáo, trâm bầu, cà na có trái rất sai. Đồng bào ở đây cho là nguồn thiên nhiên, hái bán cũng khá tiền. Sản phẩm này nuôi sống cho một số đồng bào thôn quê quanh vùng.
            Chiếc ghe máy lướt theo lòng rạch quanh co. Cảnh vật tứ bề vắng vẽ. Đôi mái nhà tranh, nhà gạch thấp thoáng, nhà nào phía trước cũng có bàn thông thiên. Dân chúng ở đây hiền hòa chất phát, sống về nghề nông.  
            Nước rạch xã Long-Thắng êm đềm trôi. Đôi chiếc xuồng lững lờ trên rạch, một vài cô thôn nữ buông mồi giựt cá. Cảnh hồn nhiên thi vị. Trước vẻ đẹp thiên nhiên, chúng tôi quên tất cả sự mệt nhọc, quên cả bụng đói vì đã trải hơn nửa ngày vất vả trong cuộc hành trình.
            Đi một đổi nữa là tới trụ sở xã Long-Thắng. Dựa trên bờ rạch phía hữu, có một đồn thứ nhì án ngữ tại đây, nay còn trơ lại một gò đất, mà dân chúng quen gọi là gò Thổ-Sơn. Rẻ về phía bên trái vô kinh ông Chủ Nhì, ngang qua Hộ Cái-Cao, ghe lướt trên một cánh đồng xanh ngắt bao la, gió vàng hiu hắt vọng lại từng cơn, trước mắt giăng giăng những hàng tràm de tàn ngã ngọn soi mình đáy nước. Đẹp thì có đẹp thật, nhưng mấy hàng tràm cản trở lối đi cũng khá nhiều. Làm cho chúng tôi sốt ruột mong sớm nhìn thấy Di-tích Bảo-Tiền, ông Nguyễn-Văn-Năm, người hướng dẫn, lên tiếng phá tan bầu không khí lặng lẽ:  
            - Sắp đến nơi rồi đấy, các anh em.  
            - Còn bao xa nữa?
            - Không bao xa, độ non cây số ngàn nữa thôi. Rồi thì chúng ta tha hồ nhìn ngắm cho mãn nhản Bảo-Tiền của đức Cao-Hoàng nhà Nguyễn đã đắp xây trong cơn tẩu quốc.  
            Ghe máy lách mình theo con rạch nhỏ hẹp, gặp nhiều chướng ngại, lục bình rau mác mọc đầy. Anh tài công và ông Năm ra sức vẹt đường, gần cả tiếng đồng hồ mới đến nơi. Cho ghe cặp bến, chúng tôi đều đã mỏi mệt, cùng chụp chung bức ảnh lưu niệm.  
            Đến Bảo-Tiền đúng 12 g trưa. Dù mỏi mệt, chúng tôi vẫn sung sướng khi đặt chân lần đầu tiên viếng cảnh cũ người xưa.
            Dân quân ta thời ấy đóng góp rất nhiều, đắp cái nền này ít lắm cũng phải đôi ba ngàn người mới làm nổi. Xung quanh Bảo, đào hào sâu, ngập nước. Thành nằm giữa một nền cao độ năm mẫu đất. Cảnh này nay đã điêu tàn sụp đổ chỉ còn trơ lại cái nền. Nay người ta trồng toàn là cây tràm. Hàng tràm rợp bóng sừng sựng giữa trời mây, trơ gan cùng tuế nguyệt chứng kiến bao cuộc thăng trầm của non nước. Đứng xa trông vào giống như một hòn núi nhỏ, chỗ lồi chỗ lõm, cây lá một màu vươn mình giữa cánh đồng không mông quạnh, không nhà cửa ai hết.  
 
 
HINH
Đây là quang cảnh Bảo-Tiền xã Long-Thắng. Khi ghe vừa đến nơi, phái đoàn từ trái qua mặt:
người mặc áo đen, anh tài công Vỏ-Văn-Thành, ông Lê-Minh-Triết, ông Huỳnh-Văn-Bờ,
nhà sưu-khảo Huỳnh-Minh, ông Nguyễn-Văn-Năm người hướng dẫn.

            May mắn, chúng tôi đến nơi gặp ông Nguyễn-Văn-Tý, vóc người ốm yếu nhưng còn mạnh khỏe. Ông nay trên 70 tuổi, là chủ cuộc đất này. Ông thường xuyên lui tới coi sóc, gìn giữ hương khói.  
 
oOo
BẢO-TIỀN VỚI NGÔI MIẾU THỜ CÁC QUAN
ĐẠI-THẦN NHÀ NGUYỄN
 
Chúng tôi còn thấy bên cạnh nền Bảo-Tiền có ngôi miếu nhỏ bằng cây lá, thượng lầu hạ hiên, giữa thờ một bài vị lớn khắc chữ Nho sơn son thép vàng, lâu ngày rất cũ kỷ. Trước có đặt bộ lư đồng và cặp chưn đèn. Hai bên vách có hai bàn thờ nhỏ, thờ tả ban và hữu ban, do ông Nguyễn-Văn-Tý dựng lên để tưởng niệm người xưa đi lại trên mãnh đất lịch sử này.  
            Chúng tôi đến trước linh vị công thần, đốt hương chiêm ngưỡng sùng mộ bậc tiền nhân. Quay gót trở ra, rảo bước vòng quanh theo nền Bảo xem tỉ mỉ, còn thấy những tảng đá chôn vùi sâu dưới lòng đất, bị nước mưa xói lòi lên một màu đen xám. Theo sự suy đoán của chúng tôi, ngày xưa vua Gia-Long xây đắp Bảo-Tiền, Bảo-Hậu, các cửa vô đều làm bằng đá xanh và hồ ô-dước rất kiên-cố. Thời gian trôi qua, vật đổi sao dời, cảnh hư hoại, sụp đổ dưới lòng đất mẹ, biết đâu dưới lòng đất còn rất nhiều vật cổ của ngày xưa không ai tìm kiếm.  
oOo
 
NHỮNG VIỆC LINH-THIÊNG XẢY RA TẠI BẢO-TIỀN
            Theo lời ông Nguyễn-Văn-Tý kể lại, đồng bào quanh vùng xã Long-Thắng trong những năm gần đây, đã chứng kiến những việc kỳ dị ở Bảo-Tiền như sau: Lúc nửa đêm nghe tiếng nổ từ dưới đất tung lên liên hồi như súng đại bác bắn. Nghe tiếng muôn binh rộn rịp. Đồng bào giăng câu, đặt lọp ngoài ruộng đều ngơ ngác. Sự lạ xảy ra chừng một tiếng đồng hồ rồi trở lại bình thường. Có lúc trời trong quang đảng, cây cối chung quanh lay chuyển như con trót đi, rồi một lúc sau yên lặng.  
            Qua các hiện tượng lạ lùng ấy, mọi người đều bàn tán cho rằng các đạo âm binh còn phưởng phất đâu đây, nên mới xuất hiện cho nhân gian biết rằng, âm dương đồng nhứt lý, hồn tử sĩ còn uất hận, khí thiêng non nước vẫn tồn tại trên đồi cây ngọn cỏ.
            Nghe ông Nguyễn-Văn-Tý kể chuyện linh thiêng nơi Bảo-Tiền, chúng tôi xúc cảm bồi hồi, âm thầm mật niệm với tất lòng thành. Thổn thức trước cảnh cũ người xưa giây lâu, chúng tôi kiếu từ ra đi. Rẽ qua con rạch nhỏ, trực chỉ đến xã Phong-Hòa cách Bảo-Tiền 7 cây số, nơi đây là di-tích nền đồn thứ nhì tức là Bảo-Hậu. Bảo này nhỏ hơn Bảo-Tiền. Nhưng cảnh cũng giống như nhau nằm giữa cánh đồng xanh, cây lá phủ che rậm rạp, chim cò thường qui tụ về đây làm tổ, ít người lui tới.  
 
 
HINH
Đây là ngôi thờ linh vị các công thần triều nhà Nguyễn tại Bảo-Tiền.
Cạnh bên có treo bức chân dung vị anh hùng Nguyễn-Trung-Trực.
 

            Sở dĩ có danh từ Bảo-Tiền và Bảo-Hậu, là vì xưa kia vua Gia-Long thiết lập để bảo vệ phòng thủ cuộc tấn công của địch ở mặt tiền và mặt hậu nên gọi là Bảo-Tiền,
Bảo-Hậu. Vị trí chiến thuật và chiến lược của người xưa áp dụng theo lối cổ điển, thành trì vững chắc, quân binh đều tập trung vào thành. Khi giặc đến, đem cả toàn lực ra chống ngăn và tử thủ tại thành.  
            Bảo-Tiền nay còn tại xã Long-Thắng. Bảo-Hậu còn tại xã Phong-Hòa. Từ Sa-Đéc đến đây gần 20 cây số là nơi di-tích lịch sử của đức Cao-Hoàng lưu dấu.
            Thiết tưởng người hữu trách bảo vệ cổ tích nước nhà cần quan tâm đến các nơi này để dựng lên tấm bia, hoặc cất một ngôi đền thờ nhỏ bằng gạch ngói để thờ phụng các bậc công thần có công khai quốc, vào sanh ra tử, hy sinh cả một cuộc đời mở mang bờ cõi tranh đấu thống nhất đất nước, đem nguồn an vui hạnh phúc cho toàn dân, chuyển tiếp qua bao giai đoạn đến ngày nay. Chúng ta nên nhớ, vô cổ bất thành kim, ở đời ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ người đào giếng. Là người dân Việt, chúng ta có bổn phận nên bảo vẻ cảnh này cho được tồn mãi với non sông, hầu lưu lại cho thế hệ ngày sau tưởng nhớ, dấu vết công trình của tiền nhân ta đã dầy công xây dựng. Như thế, chúng ta không tủi hổ với các ngài, và hãnh diện xứng đáng là con Hồng cháu Lạc với tinh thần tồn cổ.
oOo
DI-TÍCH LỊCH-SỬ ĐỨC CAO-HOÀNG
            Khi chúa Nguyễn-Phúc-Ánh bị Tây-Sơn truy nã, ngài và quan quân bôn tẩu vào Nam, đã từng lê gót đó đây thâu phục nhân tài cứu khổn phò nguy trong cơn quốc nạn.
            Đất Sa-Đéc ngày xua là nơi ẩn náu của nhà vua, vì nơi đây địa thế hiểm trở, sông rạch chằn-chịch, ruộng vườn giăng giăng, tài nguyên dồi dào, có phương tiện cung cấp cho quân binh ở đây lâu được, để chờ cơ hội quật khởi thế cờ, chống lại Tây-Sơn. Chúa Nguyễn đã quan sát địa hình địa vật, lấy làm đẹp dạ, thảo luận cùng các tướng lãnh đồng ý, truyền cho quân lính và dân địa phương đắp hai dãy pháo đài để ngăn phòng quân địch tiến xăm. Một dãy ở làng Long-Thắng, rạch Cái-Bàn đi vô, vị trí giữa một cánh đồng bao la chừng năm mẫu đất, chung quanh có đào hào thành kiên cố, đó là Bảo-Tiền. Một Bảo thứ nhì ở làng Phong-Hòa, tức là Bảo-Hậu. Đắp xong Bảo-Tiền và Bảo-Hậu, chúa Nguyễn truyền quân vận đá xanh xây cản trên mấy con kinh dẫn vào yếu điểm phòng thủ, để trấn áp quân Tây-Sơn tấn công theo giòng nước. Dấu tích những cản nay còn tại vàm Cái-Tắc, xã Long-Hậu và tại rạch Cái-Bàng, thuộc xã Long-Thắng.
            Ngoài ra, tại xã Hòa-Long, vàm rạch Ba-Đình vẫn còn dấu tích nền của ba pháo đài với những tảng đá xanh chôn vùi dưới đất. Những di tích kể trên, mặc dầu không còn nguyên vẹn, nhưng vẫn được các vị bô lão ghi nhớ, truyền tụng trong dân gian.  
            Chúng tôi đã có đến viếng cảnh này trước khi bắt tay sưu khảo quyển "Sa-Đéc" ghi lại những gì đã thấy tận mắt, tường thuật phần đầu.  
oOo
NỀN ĐỨC CAO-HOÀNG
TẠI HỒI-OA NƯỚC XOÁY, HUYỆN VĨNH-AN
            Theo tài liệu của ông Nguyễn-Văn-Dần, trong quyển "Sa-Đéc nhân vật chí", nền đồn của đức Cao-Hoàng giá ngự, vuông vức độ sáu công đức, thuở ấy nền đắp rất cao, đến nay vì lâu đời quá nên cái nền đã lỳ xuống, nhưng cũng còn cao hơn mặt đất đôi chút, nước không ngập được, thành đắp bằng đất là nơi chúa Nguyễn đình trú trong vòng đồn, vị trí tại Hồi-Oa (Nước-Xoáy), thuộc về địa phận làng Tân-Long. Sau chúa Nguyễn đổi tên là Long-Hưng, xây đắp vào năm Đinh-Tỵ 1787, thuộc huyện Vĩnh-An ngày xưa.
            Hướng tây, cận cái xẻo nhỏ, xuồng ghe chống vô ra được.  
            Hướng đông và hướng bắc đến cận ruộng tư điền. Hướng nam có Cây-Da bến Ngự và rạch Nước-Xoáy. Đến đời vua Tự-Đức, năm thứ hai 1849, vị đại thần Doãn-Mẩn có dựng bia chỗ nền đồn cũ ấy để ghi thắng tích. Nền đồn xưa này về sau nằm trong phần đất của nghiệp chủ Trương-Văn-Quãng. Ông hết lòng sùng kính để tự nhiên, không trồng trọt hoặc xây cất nhà cửa hay cho ai mướn đất ấy mà làm việc gì, có lòng bảo tồn cổ tích của người xưa lưu dấu trên mảnh đất của tiền nhân thật là cảm khái.
            Đời sau, quan Tổng-Đốc An-Hà là ông Cao-Hửu-Dực, sung Kinh-lược, đi qua làng Long-Hưng, thấy di tích nền đồn, thành củ của đức Cao-Hoàng giá lâm, ông động lòng cảm khái làm bài văn trí tế: dưới đây là bản dịch của ông Hòa-Trai Nguyễn-Văn-Dần:
                        Những từ có giặc Tây-Sơn,    
                        Triều Nam chúa Nguyễn gặp cơn dấy loàn.    
                        Đời vua Thế-Tổ Cao-Hoàng,  
                        Giá vào Sa-Đéc tại làng Long-Hưng.
                        Đến nơi trú tất nghỉ chưn,  
                        Xây thành lập trận, canh tuần nghiêm trang.  
                        Tuy là một cuộc đạn hoàng,  
                        Một thành, một lũy trừ an, giặc tà.
                        Đem về một mối sơn-hà,  
                        Cho nên chốn ấy hiệu là Long-Hưng.  
                        Trong khi nghĩa sĩ trung thần,  
                        Anh hùng hào kiệt bội phần thiếu chi.  
                        Dấu xưa sự tích để ghi,  
                        Sáu mươi năm lẻ nay thì còn đây.  
                        Tưởng cơn gặp hội Rồng mây,
                        Xông pha tên đạn bấy chầy ruổi dung.  
                        Ngày ngày chánh khí anh phong,  
                        Tinh linh như chói hai vừng dể phai.  
                        Ta nay (Cao-Hửu-Dực), là kẻ hậu lai,  
                        Lòng riêng luống những cảm hoài lắm thay!  
                        Nhơn khi công sự đến ngày,  
                        Lưu đi kinh lược sang ngay chốn này,  
                        Đơn thiêng một tấm đặt bày phỉ nghi.  
                        Lễ dâng trí tế các vì,  
                        Cúi xin cảm cách phò trì an ninh.  
                        Cầu cho "Nhơn kiệt Địa linh",  
                        Dân khương vật phục thái bình như xưa.
            Đây là bài văn trí tế của Tổng-Đốc Cao-Hửu-Dực lưu niệm nơi mảnh đất di tích lịch sử này, ngày nay các vị bô lão thường nhắc đến. Chúng tôi cố sưu tầm để nói lên lời nói của người xưa còn phưởng phất đâu đây, để tăng thêm phần điểm tô non sông đất nước với những trang sử oai hùng của dân tộc.  
 
oOo
 
LĂNG THỐNG CHẾ NGUYỄN-CÔNG-LIÊU
            Tại Châu-Thành Sa-Đéc ngày nay có một đền thờ và Lăng của Thống-Chế Nguyễn-Công-Liêu dưới triều Gia-Long, Minh-Mang. Ông là vị võ quan có công khuông phò nhà vua, từng lập được nhiều chiến công hiển hách. Khi ông quá vãng, linh cửu đem về an táng tại xã Tân-Vĩnh-Hòa (thuộc ấp Tân-Bình), tọa lạc trên cuốc đất của ông bà Huỳnh-Thủy-Lê. Chúng tôi đến viếng lăng ngài, thấy có một đền thờ nhỏ xây bằng gạch ngói, bên trong để một phủ thờ và linh vị người quá cố, phía trước Lăng xây bằng gạch, trên núm có khắc những hàng chữ từ trên tới dưới như sau:
 
HINH
Đền thờ và Lăng Thống Chế Nguyễn-Công-Liêu.
 
 
Hoàng Triều Trung-Liệt công thần  
                        Hoài viên tướng quân  
                        Thần Sách quân Tã Dinh  
                        Vũ Vệ Khâm-Sai Cai-Cơ Hầu-Tước  
                        Sanh năm Canh-Thìn tháng 9 ngày mồng một  
                        từ trần năm Giáp-Tuất 1874 tháng Chạp  
                        Ngày 29 giờ Mùi.
            Ngôi mộ này trước kia bằng đất quanh năm không cỏ mộc. Ngài ứng mộng cho bà Hồ-Thị-Huẩn một vị chân tu ngụ tại cuộc đất này, bảo xây lại và cất đền thờ cho khang trang, để bá tánh đến chiêm ngưỡng, và ngài còn cho biết trước nơi cuộc đất thiêng này trong tương lai sẽ có nhiều đoàn thể Tôn giáo qui tụ về đây, bà Hồ-Thị- Huẩn hết lòng tin tưởng đến oai linh của Ngài, bỏ tiền ra làm mộ và xây cất đền thờ và hoàng thành vào năm 1938, nay bà Huẩn đã quá vãng.
            Hằng năm vào ngày 29 tháng chạp là ngày giỗ ông, các bô lão trong làng đến tham dự đông đảo để tưởng niệm vị công thần oai linh hiển hách.  
            Chúng tôi đến đây được nghe người cháu của bà Hồ-Thị-Huẩn thuật lại mọi sự việc như trên, đều ứng hiện theo sự mách bảo trước của vị Công-Thần Nguyễn-Công-Liêu.  
            Ngày nay đã có mặt các cơ sở đạo giáo qui tụ về cuộc đất này. Trụ sở giáo hội Phật-giáo Hòa-Hảo, Tịnh xá Du Tăng Khất Sĩ, nhà giảng Tin-Lành, Đình-Thần, Chùa Sư-nữ Hải-Huệ v.v... Một cuộc đất nhỏ này mà quy tụ được một số đạo giáo tín đồ về đây lo việc tu hành thật là hiếm có.
oOo
TIỀN ĐỒN ĐÔNG-KHẨU-ĐẠO
            Như chúng tôi đã trình bày ở phần lịch sử Sa-Đéc, xưa kia vùng đất Sa-Đéc sáp nhập vào lãnh thổ nước ta từ thời chúa Võ-Vương Nguyễn-Phúc-Khoát. Do sách lược phòng thủ của Nguyễn-Cư-Trinh đề ra, bấy giờ Sa-Đéc được đặt làm Đông-Khẩu-Đạo, để ngăn ngừa người Chân-Lạp và Xiêm-La đánh phá.  
            Từ năm Đinh-Sửu 1757, tiền đồn Đông-Khẩu-Đạo thiết lập ở bờ phía Nam sông Sa-Đéc, thuộc huyện Vĩnh-An. Đến thời Gia-Long, tiền đồn Đông-Khẩu-Đạo này bãi bỏ.
oOo
GÁC BẢO ĐẤT XƯA
            Trong việc phòng thủ vùng Sa-Đéc, ngoài các đồn, thành lớn lao, còn có các bảo đất được đắp lên ở nhiều nơi. Nhất là từ đời Thiệu-Trị, miền Hậu-Giang thường bị người Chân-Lạp và Xiêm-La quấy rối, nên sự thiết lập đồn, bảo, đã là một công tác đặt lên hàng đầu của chánh quyền thời ấy.  
            Những Bảo đất có tiếng, còn ghi trong sử sách:  
            1.- Bảo-đất Giang-Nông: Châu vi 43 trượng, cao 5 thước ở huyện Vĩnh-An: đắp năm Thiệu-Trị thứ hai (1842).
            2.- Bảo-đất Vĩnh-Thành: Châu vi 38 trượng, cao 4 thước ở huyện Vĩnh-An: đắp năm Thiệu-Trị thứ hai (1842).
            3, - Bảo-đất Vĩnh-Thành: Châu vi 23 trượng, cao 4 thước ở huyện hạt Vĩnh-An: đắp năm Thiệu-Trị thứ hai (1842).
oOo
CÁC CHỢ XƯA CÓ TIẾNG
            Trong "Đại-Nam Nhất thống chí", đặc biệt ghi về các chợ xưa ở Sa-Đéc rất đáng được nhắc nhở, đã có từ thời Gia-Long:  
            1.- Chợ VĨNH-PHƯỚC, tục dành Chợ Sa-Đéc, ở phía đông huyện-lỵ Vĩnh-An. Chợ quán dọc theo bờ sông, liên tiếp nối dài 5 dặm, ở dưới sông có những bè bằng tre kết, đậu khít nhau giăng hàng (tức nhà bè) hoặc bán tơ lụa và đồ khí dụng hoặc bán dầu rái, than củi, mây, tre, muối, mắm. Còn trên bờ, phố xá cũng có bán đủ các hàng hóa tốt đẹp, ấy là một thắng địa phồn hoa vậy.
            2. CHỢ TÂN-PHÚ-ĐÔNG             )
            3. CHỢ HÒA-AN                            )
            4. CHỢ TÂN-THUẬN                     )           đều ở huyện Vĩnh-An
            5. CHỢ MỸ-AN                               )
            6. CHỢ LONG-HẬU cũng ở huyện Vĩnh-An, vốn là sở tại thủ Sở Cường-Oai cũ. Nơi đây thì phố xá hơi đông.  
            7. CHỢ NHA-MÂN, ở huyện An-Xuyên.
            Xem qua các chợ xưa trên đây, chúng ta hẳn có ý niệm về sự phồn thạnh của Sa-Đéc xa xưa, càng tăng thêm lòng cảm cựu. Và thời gần đây, trong quyển "Sa-Đéc nhân-vật chí" ghi về các chợ hệ trọng trong tỉnh Sa-Đéc như sau:  
            TỔNG AN-TRUNG                          ) - Chợ Sa-Đéc, làng Tân-Phú-Đông
                                                                       ) - Chợ Vĩnh-Phước, làng Vĩnh-Phước
            TỔNG AN-THẠNH-HẠ                   ) - Chợ Tân-Qui, làng Tân-Qui-Đông
                                                                       ) - Chợ Cồn
            TỔNG PHONG-THẠNH                 ) - Chợ Mới, làng Mỹ-Ngãi
                                                                       ) - Chợ Cao-Lãnh, làng Mỹ-Trà
            TỔNG AN-THẠNH-THƯỢNG      ) - Chợ Cái-Tàu-Thượng, làng Hội-An
                                                                       ) - Chợ Đất-Sét, làng Mỹ-An-Hưng 
            TỔNG AN-TỊNH                              ) - Chợ Tân-Thuận, làng Tân-Thuận
            TỔNG AN-THỚI                              ) - Chợ Lai-Vung, làng Tân-Lộc 
                                                                       ) - Chợ Long-Hậu, làng Long-Hậu
            TỔNG AN-MỸ                                  ) - Chợ Cái-Tàu-Hạ, làng Phú-Hựu
                                                                       ) - Chợ Nha-Mân, làng Phú-Nhuận
                                                                       ) - Chợ Dinh, làng Tân-Hựu
            TỔNG PHONG- NẨM                     ) - Chợ Mỹ-Tho, làng Mỹ-Tho
                                                                       ) - Chợ Mỹ-Xương, làng Mỹ-Xương
                                                                       ) - Chợ Cái-Sao, làng Mỹ-Lòng
 
 
 
 
 
 
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0