Diễn Đàn » Thú Tiêu Khiển

Tác dụng các loài hoa

9 trả lời, 2.262 lượt xem — Trang 1 / 1

Tác dụng của hoa quỳnh


Hoa Quỳnh tên khoa học: Epiphyllum Oxypetalum (DC) Haw, thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc từ Trung Mỹ. Hoa Quỳnh, một loại hoa đẹp, hoa chỉ nở vào ban đêm khi được chiếu sáng đầy đủ. Thời gian mục đích để xem hoa quỳnh nở khoảng 20h – 21h.

Các loài quỳnh thường được trồng để làm cảnh và hoa nở về đêm nên được mệnh danh là nữ hoàng của bóng đêm. Thân và lá một số loài quỳnh cũng được thêm vào trong một số dạng của loại đồ uống gây ảo giác ở khu vực rừng mưa Amazon là ayahuasca.​
 

 
Cây Quỳnh, thân nhỏ, hình trụ, loại cây hoa cuống, có vỏ bọc màu nâu. Cành phân nhánh nhiều, có dạng dẹp màu lục non như lá, có một đường sống rõ mỏng dẫn về phía mép, mép lượn sóng, khía trơn. Hoa Quỳnh to màu trắng ngà, mọc đơn độc, cong lên ở kẽ những vết khác của thân cây, là bắc nhiều hình vảy. Mùa hoa có vào tháng 3-6.

Cây Quỳnh được trồng vùng đất nhiệt đới, ở nước ta quỳnh là cây có từ lâu đời ở hầu khắp nơi. Hoa Quỳnh được nhân dân trồng làm cây cảnh, vừa làm thuốc chữa bệnh. Với cây Quỳnh được xem như là một cây quý, hiếm, Quỳnh chưa được trồng đại trà… Loại cây ưa ánh sáng, chịu khô ẩm tốt, do đó phần thân và lá mọng nước. Quỳnh muốn tốt phải cho cây hướng về phía tây nam.Đây cũng là tính đặc trưng của quỳnh. Hoa Quỳnh được xem là thuốc đặc trị các bệnh về hô hấp, các bệnh lý về phổi.

Quỳnh còn có khả năng tái sinh dinh dưỡng rất tốt. Vì mỗi bộ phận của cây như một lần lá hay thân, cắt lá già làm đôi, còn nguyên tươi cắm xuống đất sau thời gian 15-20 ngày đã thấy có nảy sinh mầm.

Hoa Quỳnh có thể dùng chữa bệnh cả hoa và thân hoa thu hái khi nở còn tươi, cũng có thể phơi khô, có nơi ngâm rượu gạo.

Hoa Quỳnh có vị ngọt, tính bình, rất tốt trong tiêu viêm (sưng đỏ đau), trong cầm máu. Thân cây Quỳnh có một vị chua chua mặn mặn, tính mát. Toàn cây quỳnh có tác dụng thanh phế, loãng đờm (giống như tác dụng của Anphatrymotrysin “CHOA”).​
 

 
Để chiêm ngưỡng trọn vẹn hoa Quỳnh sau nở vẫn giữ nguyên hoa nhiều gia đình ở Thị trấn Phú Phong (Tây Sơn) cắt hoa Quỳnh cho vào bình thủy tinh trắng trong, cho rượu gạo ngâm. Khi có đau bụng do ăn uống, hoặc khi vô ý té ngã có chỗ viêm, tấy, bầm máu có lúc do viêm họng, rát họng… ngậm hoặc uống 2ml rượu hoa Quỳnh. Với hoa Quỳnh có tác dụng như một loại thuốc vitamin K…. sẽ cầm máu vết thương, điều trị ho ra máu, bệnh lao phổi (xơ nhiễm phổi….) tử cung ra máu. Kinh nghiệm trong dân gian còn dùng hoa Quỳnh khô chưng cách thủy lấy nước uống để chữa đau tim tuổi già.

Liều lượng 3 - 5 hoa dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài da chỗ xây xước, lấy thân cây giã nhỏ đắp lên chỗ đau, khi có mụn đinh viêm tấy đỏ, đau (nhọt), ngã đau có vết bầm tím (ứ máu cục bộ trên da).

Tác dụng quý, tốt của hoa Quỳnh như vậy nhưng thực tế để tìm có 5- 10 hoa Quỳnh vô cùng khó. Khi đã có hoa Quỳnh, chúng ta nên phơi khô hoặc ngâm rượu. Đó là cách thu, hái hoa Quỳnh, bảo quản tốt nhất, trong chữa bệnh.

Theo “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” thì bộ phận dùng của cây quỳnh là hoa và thân. Hoa thu hái khi nở, đem phơi khô hoặc dùng tươi. Thân thu hái quanh năm, dùng tươi. Về tính năng: hoa có vị ngọt, tính bình, có tác dụng tiêu viêm, cầm máu; thân có vị chua và mặn, tính mát, có tác dụng tiêu viêm. Toàn cây có tác dụng thanh phế, trừ ho, hóa đàm.​
 

 
Hoa quỳnh chỉ nở về đêm. Có người cả đời không hề thấy quỳnh ra hoa. Quỳnh không chỉ để ngắm mà còn dùng làm dược liệu và cả để... ăn.

Quỳnh chỉ cần một, hai hoa là có thể chế biến được món, đơn giản nhất là nấu canh thịt nạc hay tôm tươi. Hoa quỳnh tối nở sáng tàn nên nấu ngay cho buổi trưa hôm sau, độ tươi, ngon gần như nguyên vẹn. Rửa sạch bụi phấn hoa, bỏ cuống và nhuỵ, xắt ra nấu với thịt nạc được một tô canh nhỏ. Có người “tiếc của trời cho” nấu nguyên phần cuống. Tô canh hơi nhơn nhớt nhưng lại ngon ngọt, dễ ăn.

Quỳnh trồng trong chậu chỉ ra hai, ba hoa/lần, khi trồng ngoài đất, cây phát triển tươi tốt, vào mùa ra hoa đến cả chục cái. Lúc này tha hồ xào thịt bò, làm gỏi. Cánh hoa quỳnh mảnh nên chín nhanh, chỉ cần đảo sơ qua với thịt bò là dùng được.

Nếu làm gỏi thì nguyên liệu trộn thông thường như tôm, thịt nạc, cà rốt, hành tây... nhưng để gỏi ngon, thì còn phụ thuộc vào tài nêm nếm gia vị chanh, đường, mắm, ớt... Vì ít hoa nên đúng nghĩa là ăn lấy hương lấy hoa!​
 

 
Theo các tài liệu về dược thảo của dược sĩ Phan Đức Thảo nghiên cứu dịch nhầy chiết từ hoa quỳnh tươi và kinh nghiệm dân gian, hoa quỳnh có tác dụng chữa trị các bệnh về đường tiết niệu, sỏi thận, ho, viêm họng, hen suyễn, đái tháo đường...​
 
Hoa quỳnh vừa nở xong, còn tươi thái nhỏ chưng với đường phèn hoặc mật ong hoặc với trứng gà. Ăn nóng, có tác dụng chữa các chứng ho, hen suyễn. Canh hoa quỳnh nấu với thịt nạc ăn có tác dụng bổ phổi.

Hoa quỳnh ngâm rượu chữa bệnh đau bụng. Hoa quỳnh phơi khô hoặc để tươi, tẩm mật, sao vàng, hãm với nước sôi như pha trà có tác dụng chữa sỏi thận, niệu quản, bàng quang... Dân gian còn cho rằng thân cây quỳnh hay chất nhớt lấy từ cuống hoa có tác dụng chữa bệnh đái tháo đường…

Quỳnh dễ trồng trong sân, vườn nhà hay trong bồn. Loài cây họ xương rồng này cho hoa tuyệt đẹp. Chỉ cần một chiếc lá quỳnh già, thậm chí nửa lá cũng được, vùi xuống đất mềm trong chậu hoặc ngoài đất, vài tháng sau lá tua rễ, đâm cành, nảy lộc thành một bụi quỳnh tươi tốt.​
 

 
Dân gian cho rằng, hoa quỳnh nở là điềm may mắn và hạnh phúc. Điều đó đúng, sai chưa thiết nghĩ, nhưng quả rằng hương thơm lẫn sắc đẹp của hoa thật lạ lùng. Trông từng cánh hoa trắng muốt nhấc ra từ từ cho đến khi cả đoá hoa mãn khai. Dù sao, được một lần thưởng lãm hoa quỳnh nở trong đêm và thưởng thức các món ăn từ hoa quỳnh đã thích thú chừng nào.​

Hoa quỳnh xào trứng trị viêm phổi

Viêm phổi xảy ra ở tất cả các lứa tuổi, nếu không điều trị triệt để có thể gây biến chứng áp xe phổi, xẹp thùy phổi, tràn dịch màng phổi... Hiện nay, y khoa có rất nhiều phương pháp trị liệu như uống thuốc Đông Tây y, châm cứu, cấy chỉ... Xin giới thiệu liệu pháp ẩm thực trị liệu để độc giả tham khảo.

Nguyên liệu: Từ 2 - 3 hoa quỳnh mới nở, trứng gà ta 1 - 2 quả, gia vị đủ dùng.

Chế biến: Hoa quỳnh đem rửa sạch, thái nhỏ đem xào qua sau đó đập trứng gà vào xào tiếp tới chín, nêm gia vị đủ dùng, bắc ra ăn nóng. Có thể ăn ngày 2 lần, trẻ em ngày 1 - 2 hoa/lần, người lớn 4 - 5 hoa/ngày, có ăn liên tục tới khi khỏi. Bài thuốc có tác dụng bổ khí huyết, thanh nhiệt giáng hỏa, kháng viêm, trừ mủ, long đờm thích dụng cho người viêm phổi, viêm phế quản, lao phổi, ho kéo dài, hen phế quản, viêm họng... Ngoài ra, còn dùng để trị sỏi thận, sỏi bàng quang, viêm thận...​
 

 
Theo Đông y, hoa quỳnh có vị ngọt, tính bình, có tác thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, kháng viêm, tiêu thũng, giảm ho, trừ đờm dùng trị ho, viêm họng, lao phổi, ho ra máu, hen suyễn, cao huyết áp, sỏi thận, sỏi bàng quang... Trứng gà còn được gọi là kê hoàng có vị ngọt, tính bình, vào kinh tỳ, thận có tác dụng tư âm, dưỡng tâm thận, an thần, nhuận khí và sinh tân dưỡng huyết mạnh chức năng hô hấp.

Ngoài cách chế biến trên có thể dùng hoa quỳnh 15 - 30g thái nhỏ xào hoặc nấu canh với thịt nạc lợn ăn hằng ngày chữa viêm phế quản, lao hạch, lao phổi. Hoặc đem hấp với mật ong hay đương phèn ăn hằng ngày. Theo kinh nghiệm của nhân dân Ấn Độ - Trung Quốc, toàn cây quỳnh được dùng trị đòn, ngã tổn thương, đau tâm vỵ, thổ huyết, phổi kết hạch; Đọt non của hoa quỳnh được dùng để thay thế một phần digitalis làm thuốc trợ tim.​

Hoa quỳnh chữa ho

Nếu sốt ruột khi con cái hay bản thân bị ho, bạn hãy nhớ đến hoa quỳnh. Loài hoa này có thể chữa được nhiều chứng ho khác nhau.​
 

 
Ho do lao phổi, lao hạch, viêm phế quản lâu ngày: Lấy 15 - 30 gr hoa quỳnh, nấu với thịt nạc lợn ăn rất tốt.

Lao phổi, ho thường xuyên, suy khí ở phổi: Lấy 3 - 5 bông hoa quỳnh, 50 gr đường phèn, nấu lấy nước uống trong ngày.

Hen, ho có đờm, ho lao: Lấy hoa quỳnh mới nở thái nhỏ, hấp với mật ong hoặc chưng với trứng gà ăn nóng trong ngày. Trẻ em dùng 1 - 2 hoa, người lớn dùng 2 - 3 hoa.

Ngoài ra, hoa quỳnh cũng được dùng làm thuốc trong các trường hợp sau:

Xuất huyết tử cung, kinh nguyệt ra nhiều không dứt: Lấy 2 - 3 bông hoa quỳnh ninh với 400 gr thịt lợn nạc để ăn.

Vai, lưng, đau nhức, tức ngực khó thở, người mệt: Lấy 2 - 3 bông hoa quỳnh ninh với 400 gr phổi lợn ăn nóng.

Đau bụng, ứ máu làm bầm tím lâu tan: Lấy hoa quỳnh mới nở, ngâm vào rượu để 10 - 15 ngày là dùng được. Ngày uống hai lần, mỗi lần 1 - 2 ml.

Suy nhược cơ thể, mệt mỏi kéo dài, buồn phiền u uất: Lấy 30 gr hoa quỳnh, 30 gr hoa kim tước, 30 gr hà thủ ô, 50 gr đỗ trọng sao. Nấu kỹ lấy nước uống.

Sỏi bàng quang, sỏi niệu quản, sỏi thận: Lấy 30 gr hoa quỳnh, 20 gr rau diếp cá, 20 gr kim tiền thảo, 10 gr rễ cỏ tranh. Tất cả thái nhỏ, sắc kỹ, lấy nước đặc chia làm ba lần, uống trong ngày rất hiệu nghiệm. Nên uống liên tục 2 - 3 tuần cho một đợt điều trị.​
 

 
Làm bổ phổi: Lấy 30 gr hoa quỳnh, 30 gr hoa bách hợp, nấu nước uống.​

Hoa quỳnh chữa sỏi thận

Ngoài việc chữa trị hiệu quả chứng sỏi ở đường tiết niệu, loài hoa đẹp này còn giúp điều trị ho, viêm họng, vết bầm tím...

Cách chữa sỏi thận, niệu quản, bàng quang theo kinh nghiệm dân gian: Hoa quỳnh thu hái lúc mới nở, để tươi hoặc phơi, thái nhỏ, tẩm mật, sao vàng. Hãm với nước sôi như pha trà hoặc sắc với 200 ml nước còn 50 ml, uống 1 lần trong ngày. Liều dùng hằng ngày: 20-30 g, dùng liền trong vài tuần.

Có thể phối hợp với các vị thuốc khác theo công thức sau: Hoa quỳnh 30 g, kim tiền thảo 20 g, diếp cá 20 g, rễ cỏ tranh 10 g, thái nhỏ, sắc lấy nước đặc chia 3 lần uống trong ngày.​
 

 
Từ năm 1966 đến 1974, dược sĩ Phan Đức Bình đã nghiên cứu và khẳng định, dịch nhầy chiết từ hoa quỳnh tươi không những làm tan sỏi mà còn trị được chứng đái tháo đường. Cách dùng và liều lượng như trên.​

Các công dụng khác:

Thuốc bổ mát, chữa ho có đờm, ho do lao và hen: Hoa quỳnh mới nở để tươi, thái nhỏ, hấp với mật ong hoặc nấu với trứng gà ăn nóng trong ngày. Người lớn 2 - 3 hoa, trẻ em 1- 2 hoa.

Chữa ho, viêm họng: Hoa quỳnh 30 g, lá xương sông 10 g rửa sạch, thái nhỏ, cho vào bát sạch cùng với mật ong 10 ml, đun cách thủy trong 15-30 phút. Để nguội, trộn đều, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa đau bụng, vết bầm tím sưng đau: Hoa quỳnh mới nở, cắt ngâm ngay vào rượu cho ngập trong 10-15 ngày, càng lâu càng tốt. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1-2 ml.​
 

 
Theo tài liệu nước ngoài, có thể lấy hoa quỳnh 15-30 g thái nhỏ, nấu với thịt lợn nạc làm món ăn - vị thuốc chữa viêm phế quản, lao hạch, lao phổi.​


Chia sẽ thêm điều bí mật của cây quỳnh

Cây Quỳnh có tên khoa học là Epiphyllum oxypetalum thuộc họ Xương rồng (Cactaceae), cây có nguồn gốc từ Mêxico ( hoặc Monduras, Guatemala và Cuba), là một trong những loài làm cảnh đẹp nhất của họ Xương rồng. Cây Quỳnh mọc vươn dài hay sống tựa. Hoa màu trắng gồm nhiều lá bắc hình vẩy ở gốc, nở về đêm. Hãy xem loài hoa có hương thơm, nở về đêm nhưng chóng tàn này có những bí mật gì nhé.​
 


1.Tại sao cây Quỳnh chỉ nở một lần vào ban đêm?

Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Lý, Viện Di truyền Nông nghiệp cho biết: Hoa cây Quỳnh nở vào cuối hè và đầu thu, thời gian thường vào khoảng 8 – 9h tối. Khi hoa nở, cánh hoa trắng như tuyết và có mùi thơm tao nhã, hương thơm lan tỏa rộng.

Tuy nhiên, hoa chỉ tồn tại 3 – 4 tiếng là héo ngay. Điều này do hoa cây Quỳnh có nguồn gốc từ Mexico, là loài hoa chịu khô hạn tốt nhưng lá của nó đã bị thoái hóa. Thân cây dẹt, vỏ cây tiến hành quá trình quang hợp và chế tạo chất dinh dưỡng thay cho lá cây. Ở lớp vỏ ngoài của thân cây có một lớp sáp giúp giảm bớt sự bốc hơi nước.

Hoa quỳnh nở vào buổi tối là để tránh ánh nắng gay gắt của mặt trời. Thời gian tồn tại ngắn ngủi do cần giảm sự bốc hơi nước. Vì vậy, chúng ta thường thấy hoa nở rồi lại tàn ngay, đó cũng là đặc tính thích nghi với điều kiện sống của chúng.​
 


2. Vì sao cây Quỳnh thường hay trồng cạnh cây cành Giao

Cây Quỳnh cành Giao được trồng cạnh nhau là lời chúc tốt đẹp cho đôi lứa yêu nhau

Ngày xưa trên trời có một đôi tiên yêu nhau. Nhưng phép trời thì không cho yêu nhau nên họ trốn xuống trần gian. Ngọc Hoàng sai người đi tìm và bắt được họ. Để trừng phạt họ, Ngọc Hoàng bắt họ biến thành 2 loại cây. Cô tiên nữ tên Quỳnh nên cây đó đặt tên là cây Quỳnh. Còn anh chàng tiên kia tên Giao.

Người trần gian thấy thương cho tình yêu của họ nên khi trồng cây Quỳnh thường đặt cạnh cây cành giao. Ý nói dù trong hoàn cảnh nào cũng không chia cắt được họ. Nếu trồng cây Quỳnh mà không có cây cành giao thì coi như… thiếu!​
 

 
Cả hai cây này đều thuộc họ xương rồng. Cây quỳnh thì thân cũng là lá, nên không có cành. Cây giao không có lá, chỉ có cành (thực ra lá của nó giống như cành vậy), nên nếu trồng xen với nhau tạo nên một sự bổ sung hoàn hảo, đủ cành đủ lá…​

3. Hoa cây Quỳnh mang vị thuốc

Theo Đông y, hoa cây Quỳnh có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, kháng viêm, tiêu thũng, giảm ho, trừ đờm dùng trị ho, viêm họng, lao phổi, ho ra máu, hen suyễn, cao huyết áp, sỏi thận, sỏi bàng quang.Có thể dùng hoa cây Quỳnh 15 – 30g thái nhỏ xào hoặc nấu canh với thịt nạc lợn ăn hằng ngày chữa viêm phế quản, lao hạch, lao phổi. Hoặc đem hấp với mật ong hay đương phèn ăn hằng ngày. Theo kinh nghiệm của nhân dân Ấn Độ – Trung Quốc, toàn cây quỳnh được dùng trị đòn, ngã tổn thương, đau tâm vỵ, thổ huyết, phổi kết hạch; Đọt non của cây Quỳnh được dùng để thay thế một phần digitalis làm thuốc trợ tim.​






Đăng nhập để trả lời
0

Tác dụng của hoa thiên lý

Hoa thiên lý là loại hoa khá quen thuộc với người dân Việt Nam, không chỉ là một loại thực phẩm mà còn là một loại dược thảo dân gian như chữa mất ngủ, căng thẳng đầu óc, với chị em phụ nữ, hoa thiên lý còn có tác dụng giảm cân nữa đấy.

Thiên lý là loại cây được trồng và ra hoa vào mùa hè, không những tỏa hương thơm làm mát dịu cả không gian quanh nhà, mà còn là loại thực phẩm bổ dưỡng.



Ảnh hoa thiên lý

Là loại cây có nguồn gốc từ các nước thuộc Đông Nam Á. Ngày nay đã lan rộng, không những tại Hoa Kỳ mà còn nhiều nước khác nữa trên thế giới cũng trồng thiên lý. Thiên lý là loài cây dây leo, vào loại nhỡ, phân chia làm nhiều nhánh, non có lông và nhựa nước. Cây thiên lý có lá đơn nguyên, mọc đối, gốc hình tim, có màu xanh lục bóng. Hoa mọc thành xim dạng tán ở nách lá, có nhiều hoa màu vàng lục nhạt, cánh hoa hợp thành ống dài, trên chia thùy hẹp dài, quả hạt dài. Hoa thơm về đêm nên mới có tên gọi là “dạ lý hương”. Mùa hoa nở chủ yếu vào hè.

Thiên lý có tên khoa học Telosma cordata (Burm. F) Merr, là dây leo quấn, thường trồng leo lên giàn, cành non có lông mịn, mủ trắng, lá có phiến hình tim, hoa ăn được, thuộc họ thiên lý (Asclepiadaceae). Trong khi đó cây dạ lý hương, có tên khoa học Cestrum nocturnum L., là cây bụi, thân nhỏ (tiểu mộc), hoá gỗ, thuộc họ cà (Solanaceae), hoa thơm nồng lúc chiều tối, không ăn được. Sự nhầm lẫn trong tên gọi hai loại hoa này có lẽ do tên địa phương, vì miền Bắc có nơi gọi thiên lý là dạ lý hương, dạ lài hương...

Theo bảng “Thành phần hoá học thức ăn Việt Nam” của Bộ Y tế, trong 100g hoa thiên lý chứa 2,9g chất đạm; 2,8g bột đường; 3g chất xơ; 52mg canxi; 53mg phốtpho; 1,2mg sắt; 1,17mg caroten (tiền sinh tố A); 0,19mg vitamin B1; 0,13mg B; 1,1mg PP và 45mg vitamin C.



Ngoài ra, một số nghiên cứu còn ghi nhận hoa thiên lý chứa rất nhiều vitamin E, đặc biệt là kẽm và một số khoáng vi lượng khác, là chất thiết yếu cho hoạt động của cơ quan sinh dục của cây cũng như của con người. Riêng về chất alkaloid, chỉ ghi nhận có một ít trong thân dây, lá già (ngắt cuống lá sẽ thấy có một chất keo trong, lấy ngón tay bôi vào, thấy chất nhựa hơi dính tay), chưa đủ để gây ngộ độc trên động vật thí nghiệm, và hầu như hiện diện không đáng kể trong hoa. Cũng cần nói thêm, khi nhắc đến alkaloid, chúng ta thường nghĩ ngay đến hợp chất gây độc. Nhưng không hoàn toàn như thế, alkaloid là những hợp chất hữu cơ thường gặp trong nhiều loài thực vật (khoai tây, tắc, cà chua, vông nem, dừa cạn…) Alkaloid có hoạt tính sinh lý rất cao đối với cơ thể con người và động vật, nhất là đối với hệ thần kinh.

Với một lượng nhỏ alkaloid có thể là chất độc gây chết người, nhưng có khi với một liều lượng hợp lý nó là dược phẩm trị bệnh đặc hiệu (như dùng bào chế morphine có tác dụng giảm đau rất tốt hay thuốc codein giảm ho).

Vì giàu dưỡng chất, hoa thiên lý ngoài tác dụng làm rau ăn, còn được dùng chữa một số bệnh cho kết quả khá tốt, có tác dụng giải nhiệt, bổ dưỡng, giúp trẻ chóng lớn, giúp người già giảm chứng phì đại tuyến tiền liệt, tăng cường sức đề kháng cho người sử dụng. Đặc biệt, sự có mặt của chất kẽm còn có thể đẩy chì ra khỏi tinh dịch, hỗ trợ tích cực trong cải thiện tình trạng vô sinh ở nam giới bị nhiễm chì.

Ông bà xưa có câu:

“Thương chồng nấu cháo le le

Nấu canh hoa lý, nấu chè hạt sen”

cho thấy kinh nghiệm dân gian dùng hoa thiên lý làm thuốc trợ dương cho nam giới là có cơ sở khoa học.



Không xào hoa thiên lý quá chín. Tốt nhất là kết hợp với thịt lợn, thịt bò, tôm… để nấu canh vì với cách chế biến này, các chất dinh dưỡng ít bị phân hủy. Ngoài ra, bác sĩ Anh Thư khuyên không nên nấu hay ăn cùng những thực phẩm giàu sắt như tiết, gan, rau muống… vì chất sắt sẽ loại trừ kẽm khỏi cơ thể.

Một số món canh hoa thiên lý:

Canh tôm

Tôm to chần chín qua nước sôi, bóc vỏ, bỏ đầu và càng, ướp gia vị và hạt tiêu, xào nhẹ trên lửa. Lấy nước chần đun nóng, cho tôm, hoa thiên lý vào đun sôi.​

Canh giò sống

Xương cục hầm nhừ, chắt lấy nước, đun sôi, cho giò sống vào, khi nổi lên là chín, cho tiếp hoa thiên lý rồi nêm gia vị, hạt tiêu.​

Canh cua

Cách làm cũng giống các loại canh cua khác, chỉ thay rau bằng hoa thiên lý. Đun canh cua sôi, thả hoa vào, đun sôi lại, cho gia vị đủ dùng. Canh ăn ngọt, có mùi thơm đặc trưng, thích hợp với mùa hè.​
 

Trong đông y, hoa thiên lý ghi nhận có vị ngọt, tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là vị thuốc an thần, giúp ngủ ngon giấc, khắc phục tình trạng lao lực, tư bổ tâm, thận, bớt đi tiểu đêm, đỡ mệt mỏi đau lưng, chống viêm, chóng lên da non, được sử dụng trị liệu trong các chứng như viêm kết mạc cấp và mạn, viêm giác mạc và mờ đục màng mắt, viêm kết mạc do sởi, trị giun kim…

Liều dùng hoa thiên lý trong các bài thuốc phổ biến từ 30g – 50g. Khi chế biến các món ăn với hoa thiên lý, lưu ý không xào nấu hoa quá chín, sẽ làm giảm đi các dưỡng chất và nát cánh hoa, mất ngon.

Tác dụng giảm cân của hoa thiên lý

Chứa một lượng lớn chất xơ và chất diệp lục của cây, thiên lý giúp cơ thể dễ dàng trao đổi chất hơn, từ đó làm việc hấp thụ chất béo của cơ thể từ lượng thức ăn hàng ngày, đồng thời gây cảm giác mau no, bạn sẽ dừng bữa ăn của mình hơn mọi ngày.



Thanh nhiệt cơ thể, giải rừ độc tố ra khỏi cơ thể, thiên lý cung cấp một ít năng lượng cho cơ thể. Là thực phẩm ít calo nên thiên lý có thể xuất hiện trong thực dơn giảm cân một cách thường xuyên để cung cấp vitamin cho cơ thể mà không sợ bị béo phì.

Hiện trong dân gian có nhiều cách chế biến hoa thiên lý, có thể xào, luộc, nấu canh hay ăn với lẩu đều làm cho món ăn có vị ngọt thanh thanh và thơm mùi hoa thiên lý.

Trong chế biến hoa thiên lý chú ý không nên nấu quá chín sẽ làm mất đi lượng lớn vitamin dưỡng chất cần thiết.




Đăng nhập để trả lời
0

Tác dụng của hoa hòe

 
Hòe là cây thân gỗ, cao có thể lên đến 15 mét, thân thẳng, chỏm lá tròn, cành cong queo, lá kép, cụm hoa hình chùy ở đầu cành, tràng hoa hình bướm màu trắng ngà. Ðài hoa hình chuông, màu vàng xám. Quả hòe loại đậu, không mở, dày và thắt nhỏ lại ở giữa các hạt. Nụ hoa hình trứng, có cuống nhỏ, ngắn, một đầu hơi nhọn, dài 3 - 6mm, rộng 1 - 2mm màu vàng xám. Hoa chưa nở dài từ 4 - 10mm, đường kính 2 - 4 mm.

Cánh hoa chưa nở màu vàng, mùi thơm, vị hơi đắng. Hòe trồng cây lấy nụ hoa và quả làm thuốc chữa được nhiều bệnh, song chủ yếu dược liệu dùng nụ hoa. Nụ hoa hoè tính hơi lạnh, có nhiều công dụng như hạ mỡ máu, chống viêm, chống co thắt và chống loét, chống tiêu chảy, cao huyết áp, đau mắt; tác dụng tốt với hệ tim mạch, chữa các chứng chảy máu như chảy máu cam, ho ra huyết, băng huyết, đại tiểu tiện ra máu...




Cây hòe phân bố ở các tỉnh phía Bắc, trong đó có nhiều ở làng quê Thái Bình, tập trung nhiều nhất ở các huyện Thái Thụy, Vũ Thư. Tuy nhiên, do ưu điểm dễ trồng, hiếm khi nhiễm sâu bệnh và mất mùa nên có nhiều người quê Thái Bình đi kinh tế mới ở các tỉnh Tây Nguyên, đem hòe vào trồng làm bóng mát cho cây cà phê cũng phát triển rất tốt, cho thu nhập cao.
Cây hòe là cây dạng thân gỗ, được trồng để lấy nụ hoa. Theo đông y, hoa hòe được gọi là hòe mễ (mễ là hạt gạo), ý nói vị thuốc từ hoa hòe, có kích thước bằng hạt gạo. Người ta thường thu hái hoa hòe ngay từ khi còn là nụ để làm thuốc.

Công năng của hoa hòe: Lương huyết chỉ huyết, thanh can tả hoả.

- Tác dụng cầm máu: Hoa hòe có tác dụng rút ngắn thời gian chảy máu, sao thành than tác dụng càng tăng.

- Tác dụng với mao mạch: giảm bớt tính thẩm thấu của mao mạch và làm tăng độ bền của thành mao mạch.

- Tác dụng của thuốc đối với hệ tim mạch: chích tĩnh mạch chó được gây mê dịch Hoa hòe, huyết áp hạ rõ rệt. Thuốc có tác dụng hưng phấn nhẹ đối với tim cô lập ếch và làm trở ngại hệ thống truyền đạo. Glucosid vỏ hòe có tác dụng làm tăng lực co bóp của tim cô lập và tim tại thể của ếch. Hòe bì tố có tác dụng làm giãn động mạch vành.​
 

 
- Tác dụng hạ mỡ trong máu: Hòe bì tố có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu của gan và ở cửa động mạch. Đối với xơ mỡ động mạch thực nghiệm, thuốc có tác dụng phòng trị.

- Tác dụng chống viêm: đối với viêm khớp thực nghiệm của chuột lớn và chuột nhắt, thuốc có tác dụng kháng viêm.

- Tác dụng chống co thắt và chống loét: Hòe bì tố có tác dụng giảm trương lực cơ trơn của đại tràng và phế quản. Tác dụng chống co thắt của Hòe bì tố gấp 5 lần của Rutin. Rutin có tác dụng làm giảm vận động bao tử của chuột lớn, làm giảm bớt rõ rệt só ổ lóet của bao tử do thắt môn vị của chuột.

- Tác dụng chống phóng xạ: Rutin làm giảm bớt tỷ lệ tử vong của chuột nhắt do chất phóng xạ với liều chí tử.

- Rutin có tác dụng phòng ngừa tổn thương do đông lạnh thực nghiệm: đối với tổn thương độ 3 càng rõ, đối với độ 1 và 2 cũng có tác dụng.​
 
- Tác dụng chống tiêu chảy: nước Hoa hòe bơm vào ruột của thỏ kích thích niêm mạc ruột sinh chất tiết dịch có tác dụng làm giảm tiêu chảy.​

Thành phần hoá học:

Flavonoid, Nụ hoa Hoè chứa rutin, có thể đạt tới 34%. Còn có bertulin, sophoradiol, sophorin A, sophorin B và sophorin C. Vỏ quả chứa 10,5% flavonoid toàn phần và một số dẫn xuất như genistein, sophoricosid, sophorabiosid, kaempferol, glucosid C, rutin 4,3%. Hạt Hoè chứa 1,75% flavonoid trong đó có rutin 0,5%, một số alcaloid, cytisin, N-methyl cytisin, sophocarmin, matrin. Ngoài ra còn có 8-24% chất béo và galactomanan.​

Công dụng:

+ Nụ hoa hoè sao đen : Các chứng chảy máu, chảy máu cam, ho ra máu, băng huyết, đại tiểu tiện ra máu, đau đầu, chóng mặt, mắt đỏ, dễ cáu gắt.​
 

 
+ Nụ hoa sống chữa cao huyết áp, đau mắt. Ngày dùng 8 – 16g dạng thuốc hãm hoặc sắc.

+ Chiết xuất rutin, bào chế theo y học hiện đại. (Viên rutin C).

+ Quả hoè có công dụng gần như hoa nhưng có thể gây ra thai.​

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-10g, dạng thuốc hãm hoặc sắc, hoặc dùng 0,5-3g dạng bột hoặc viên. Quả sao tồn tính chữa đại tiện ra máu.

Bài thuốc:

1. Chữa các loại xuất huyết, đi lỵ ra máu, bệnh trĩ, đi ngoài ra máu: dùng hoa Hoè (sao qua) 10-15g, hoặc dùng quả Hoè 8-12g sắc uống hoặc dùng hoa hoè sao đen 20g, Địa du sao đen 10g, Diếp cá 12g, nước 300ml, sắc còn 200ml.

2. Chữa người có huyết áp cao, đầu choáng váng, ngón tay hơi tê, đầu óc căng thẳng, thần kinh suy nhược, mắt đau sợ chói, khó ngủ: Hoè hoa sao, hạt Muỗng sao, hai loại bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 5g, ngày dùng 10-20g; hoặc dùng riêng mỗi vị 10g hãm uống thay chè.



3. Chữa sốt xuất huyết khi sốt đã lui mà còn xuất huyết nhẹ, chảy máu dưới da, hay trẻ em thường đổ máu mũi, chảy máu chân răng; trằn trọc khó ngủ: Cũng dùng Hoè hoa sao và hạt Muồng sao, tán bột, ngày dùng 10-20g; hoặc sắc 10g quả Hoè uống.

4. Chữa trĩ bị sưng đau: Quả Hoè phối hợp với Khổ sâm, lượng bằng nhau, nghiền thành bột hoà với nước bôi ngoài.​

Theo nam dược, hoa hoè vị đắng, tính hơi lạnh, có công dụng thanh nhiệt, lương huyết và chỉ huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như đại tiện ra máu, trĩ chảy máu, tiểu tiện ra máu, băng huyết, rong kinh, chảy máu mũi… Dưới đây là các cách dùng hoa hòe trị trĩ.

Uống: Hoa hòe 12g, trắc bá than 12g, kinh giới 8g, chỉ xác 12g tán bột mịn uống với nước sôi nguội hoặc làm thang uống. Hoặc hoa hoè 50g, hoa kinh giới 50g, hai thứ đem sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5g với nước cơm hoặc nước cháo. Công dụng: Thanh nhiệt tán phong, lương huyết chỉ huyết, dùng để chữa trĩ viêm loét chảy máu, sa niêm mạc trực tràng xuất huyết.



Canh: Hoa hoè tươi 250g, thịt gà 150g, cà chua 25g, tỏi 25g, lòng trắng trứng gà 1 quả, bột mỳ, rau mùi, giấm, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Hoa hoè rửa sạch, chần qua nước sôi, để ráo nước; Thịt gà loại bỏ gân thái chỉ rồi đem ướp với gia vị, lòng trắng trứng và bột mỳ; Rau thơm thái nhỏ, cà chua thái chỉ. Đổ dầu thực vật vào chảo, đun nóng già rồi cho thịt gà hoa hoè vào đảo đều, khi gần chín cho cà chua vào đun thêm một lát là được, đổ ra đĩa, rải rau mùi lên trên, ăn nóng. Công dụng: Tư âm ích khí, lương huyết giáng áp, dùng để chữa trĩ xuất huyết, đau mắt đỏ, cao huyết áp.

Chiên: Hoa hoè tươi 250g, trứng gà 3 quả, thịt hun khói 20g, hạt đậu Hà Lan luộc chín một ít, hành củ, mỡ lợn và gia vị vừa đủ. Hoa hoè rửa sạch, chần qua nước sôi, để ráo nước; Thịt hun khói thái vụn; Trứng gà đập ra bát, cho gia vị, thịt hun khói và hoa hoè vào quấy đều. Đặt chảo lên bếp, bỏ mỡ lợn vào đun nóng và phi hành cho thơm rồi cho trứng gà và hoa hoè vào tráng chín, ăn nóng. Công dụng: Tư âm nhuận táo, lương huyết chỉ huyết, dùng để chữa trĩ xuất huyết.

Hầm: Hoa hoè tươi 50g, thịt lợn nạc 120g, gia vị vừa đủ. Thịt lợn rửa sạch, thái miếng, ướp gia vị rồi đem hầm với hoa hoè, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Tư âm nhuận táo, lương huyết chỉ huyết, dùng để chữa trĩ xuất huyết do nhiệt thịnh.



Ngâm: Hoa hoè 60g sắc kỹ lấy nước, chia 2/3 uống và 1/3 dùng để ngâm rửa hậu môn, mỗi ngày 1 thang. Công dụng: Thanh nhiệt tả hoả, lương huyết chỉ huyết, dùng để chữa trĩ sa ra ngoài, sưng đau.​

Sau đây là một số cách khác dùng hoa hòe đơn giản.

Tăng huyết áp:

- Hoa hòe, tang ký sinh mỗi thứ 25g, hạ khô thảo, cúc hoa, thảo quyết minh mỗi thứ 20g; xuyên khung, địa long mỗi thứ 15g, sắc uống. Nếu mất ngủ, thêm toan táo nhân sao 15g, dạ giao đằng 25g. Đau ngực thêm đan sâm 20g, qua lâu nhân 25g. Có cơn đau thắt ngực thêm huyền hồ sách 12g, phật thủ 20g, bột tam thất 7,5g. Di chứng tai biến mạch não thêm ngưu bàng tử 25 g, câu đằng 30g. Xơ vữa động mạch thêm trạch tả 20g.

- Hoa hòe, sung úy tử mỗi thứ 15g, cát căn 30g, sắc uống. Nếu đau tức ngực thêm đan sâm, hà thủ ô mỗi thứ 30g. Hồi hộp, trống ngực và mất ngủ thì thêm toan táo nhân 15g. Tê tay chân thêm sơn tra 30g, địa long 10g. Tiểu đêm nhiều lần thêm sơn thù 10g, nhục dung 15g.​

Đại tiện ra máu:

- Hoa hòe, trắc bá diệp, kinh giới tuệ và chỉ xác lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 6 g với nước cơm.

- Hoa hòe sống và sao mỗi thứ 15g, chi tử 30g tán bột, uống mỗi lần 6g.



- Hoa hòe 60g, địa du, thương truật mỗi thứ 45g, cam thảo 30g, sao thơm sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 6g.

- Hoa hòe, quả hòe, hoạt thạch mỗi thứ 15g, sinh địa, kim ngân hoa, đương quy mỗi thứ 12g, hoàng cầm, hoàng liên, hoàng bá mỗi thứ 10g, thăng ma, sài hồ, chỉ xác mỗi thứ 6g, cam thảo 3g, sắc uống. Nếu chảy máu nhiều, thêm kinh giới 10g, địa du , trắc bá diệp sao đen mỗi thứ 15g. Thể trạng hư yếu thêm đẳng sâm, hoàng kỳ, hoài sơn mỗi thứ 15g. Thiếu máu nhiều thêm hoàng kỳ 15g, thục địa 12g.​

Tiểu tiện ra máu:

Hoa hòe sao, uất kim mỗi thứ 30g, tán bột, uống mỗi lần 6g.​

Rong kinh, băng huyết, khí hư:

Hoa hòe lâu năm 30g, bách thảo sương 15 g, tán bột, uống mỗi lần 9-12g với rượu ấm để chữa băng huyết, rong kinh. Hoa hòe sao, mẫu lệ nung lượng bằng nhau, tán bột, uống mỗi lần 9g với rượu ấm để chữa bạch đới (khí hư màu trắng).​

Chảy máu mũi:


 
Hoa hòe và ô tặc cốt lượng bằng nhau, nửa sống nửa sao, tán bột, mỗi lần lấy một ít thổi vào lỗ mũi.​

Viêm loét:

- Hoa hòe, kim ngân hoa mỗi thứ 15g, sắc với 2 bát rượu uống cho ra mồ hôi. Với tổn thương viêm loét về mùa hạ, có thể dùng hoa hòe 60g sắc đặc rồi dùng bông thấm dịch thuốc bôi lên nơi bị bệnh nhiều lần trong ngày.

- Hoa hòe tính hơi lạnh nên những người tỳ vị hư hàn (hay đau bụng do lạnh, thích chườm nóng, ăn kém, chậm tiêu, đại tiện thường xuyên lỏng nát) không được dùng vị thuốc này, nếu cần dùng thì phải phối hợp với các dược liệu có tính ấm nóng…​




Đăng nhập để trả lời
0

Tác dụng của hoa tầm xuân

 
Tầm xuân, danh pháp khoa học Rosa canina L., là một loài hoa hồng leo có nguồn gốc châu Âu, Tây Bắc Phi và Tây Á.

Tầm xuân là loài cây bụi sớm rụng lá có chiều cao từ 1–5 m, mặc dù đôi khi chúng cũng có thể leo cao hơn tới ngọn của các loài cây khác. Thân tầm xuân có nhiều gai sắc, nhọn, có móc giúp chúng leo dễ dàng. Lá kép lông chim, với 5-7 lá chét. Hoa thường có màu hồng nhạt, biến đổi từ hồng đậm tới trắng, với đường kính 4–6 cm và có nhiều cánh, lúc chính thành quả màu cam đỏ cỡ 1.5–2 cm.




Tầm xuân có hoa đẹp nên được trồng ở nhiều nơi để làm cảnh.

Không biết vì sao loại hoa này lại mang tên “tầm xuân”, phải chăng là vì hoa cứ tìm (tầm) mùa xuân mà khai bông khoe sắc. Trong dân gian, tầm xuân còn có nhiều tên khác như thích hoa, bạch tàn hoa, thích mi, ngưu cức, tường mi, thập tỉ muội, thất tỉ muội, dã tường vi, hòa thượng đầu..., tên khoa học là Rosa multiflora Thunb, thuộc họ hoa hồng Rosaceae. Tầm xuân mọc thành bụi, lá kép lông chim, thân nhiều gai, hoa 5 cánh nhỏ bé nhưng khá đẹp với nhiều màu sắc khác nhau như hồng, đỏ, trắng, vàng...

Tầm xuân có một số hoạt chất chống ôxi hóa. Quả tầm xuân có lượng vitamin C cao và dùng để làm xi rô, trà...

Trong Ðông y, tầm xuân là một vị thuốc. Người ta thường thu hái hoa, quả, cành và rễ để làm thuốc. Theo quan niệm của Đông y, tầm xuân có công dụng thanh nhiệt, lợi thấp, trừ phong, hoạt huyết, chỉ huyết, giải độc, giảm đau, thường dùng để chữa các bệnh như hoàng đản, thủy thũng, lỵ, tiêu khát, ỉa chảy, đái dầm ở trẻ em...




Theo quan niệm của y học cổ truyền, tầm xuân có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, trừ phong, hoạt huyết chỉ huyết, giải độc giảm đau, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như hoàng đản, thủy thũng, lỵ tật, tiêu khát, bĩ tích, đái dầm ở trẻ em... Tùy theo từng bộ phận của tầm xuân mà tác dụng chữa bệnh cũng có những đặc điểm khác nhau.

Hoa

Thường được thu hái vào mùa xuân và mùa hạ, dùng để chữa các chứng bệnh như:

- Cảm nắng, cảm nóng vào mùa hạ có các triệu chứng tức ngực, buồn nôn và nôn, có thể có nôn ra máu, môi khô miệng khát, chán ăn, mệt mỏi dùng hoa tầm xuân 3-9g sắc uống hoặc hoa tầm xuân 5g, thiên hoa phấn 10g, sinh thạch cao 30g, mạch môn 15g, sắc uống hoặc hoa tầm xuân 10g và hoa đậu ván trắng 10g, hãm với nước sôi, chế thêm một chút đường phèn, uống thay trà

- Nôn ra máu và chảy máu cam dùng hoa tầm xuân 6g, bạch cập 15g và rễ cỏ tranh 30g, sắc uống.



- Ngược tật (sốt rét) dùng hoa tầm xuân sắc uống thay trà.

- Bướu tuyến giáp dùng hoa tầm xuân 5g, hoa hậu phác 5g, hoa chỉ xác 5g và hoa hồng 5g, sắc uống.

- Đái tháo đường và viêm loét niêm mạc miệng mạn tính dùng sương đọng trên hoa tầm xuân vào buổi sớm 30ml pha chút nước ấm uống hằng ngày.​



Được thu hái quanh năm, có tác dụng sinh cơ và làm liền nhanh vết thương, dùng để chữa các chứng bệnh:

- Ung nhọt làm mủ chưa loét dùng lá tầm xuân sấy khô tán bột, trộn với mật ong và giấm đắp lên tổn thương.

- Viêm loét chi dưới dùng lá tầm xuân không kể liều lượng nấu nước rửa vết thương.

- Nhọt độc sưng nề nhiều dùng lá và cành non tầm xuân rửa sạch, giã nát với một chút muối ăn rồi đắp lên tổn thương.

Quả

Vị chua, tính ấm, thu hái vào lúc chín, sấy hoặc phơi khô làm thuốc, có công dụng lợi tiểu thanh nhiệt, hoạt huyết giải độc. Được dùng để chữa các chứng bệnh như:



- Phù do viêm thận dùng quả tầm xuân 3 - 6g, hồng táo 3 quả sắc uống hoặc quả tầm xuân 20g, đại hoàng 3g, sắc chia uống 3 lần trong ngày.

- Tiểu tiện khó khăn dùng quả tầm xuân 10g, mã đề 30g và biển súc 30g, sắc uống.

- Đau bụng khi hành kinh dùng quả tầm xuân 120g sắc lấy nước hòa thêm một chút đường và rượu vang uống ấm.

- Táo bón dùng quả tầm xuân 10g, đại hoàng 3g, sắc uống.​

Rễ

Vị đắng hơi sáp, tính bình, có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, trừ phong, hoạt huyết và giải độc, được dùng để chữa nhiều chứng bệnh như:



- Liệt mặt và di chứng liệt nửa người do tăng huyết áp dùng rễ tầm xuân 15-30g sắc uống.

- Chảy máu cam mạn tính dùng vỏ rễ tầm xuân 60g hầm với thịt vịt già ăn.

- Ghẻ về mùa hè dùng rễ tầm xuân tươi sắc uống thay trà.

- Đau răng và viêm loét miệng dùng rễ tầm xuân sắc uống hoặc ngậm.

- Viêm khớp, liệt bại nửa người, kinh nguyệt không đều, khí hư và tiểu tiện không tự chủ dùng rễ tầm xuân 15-30g sắc uống.

- Hoàng đản (vàng da do nhiều nguyên nhân) dùng rễ tầm xuân 15-24g hầm với 60g thịt lợn nạc, chế thêm một chút rượu vang, chia ăn vài lần trong ngày.

- Đái dầm trẻ em, người già đi tiểu đêm nhiều lần dùng rễ tầm xuân 30g sắc uống hoặc hầm với thịt lợn ăn.



- Phế ung (áp xe phổi) dùng rễ tầm xuân 15g, hạt bí đao 30g, ý dĩ 30g, sắc uống.

- Thương tổn do trật đả và trĩ xuất huyết dùng rễ tầm xuân tươi 30g rửa sạch, giã vắt nước cốt uống.

- Vết thương chảy máu dùng rễ tầm xuân lượng vừa đủ, sấy khô tán bột rắc vào tổn thương, cũng có thể trộn với dầu vừng để đắp.

- Rong huyết dùng rễ tầm xuân 30g, ngải cứu già đốt tồn tính 10g, cỏ nhọ nồi 30g, tiên hạc thảo 30g, sắc uống hằng ngày.

- Bỏng dùng rễ tầm xuân tươi nấu nước rửa hằng ngày hoặc bột rễ tầm xuân trộn với dầu vừng đắp.

Theo kết quả nghiên cứu dược lý học hiện đại, thành phần chủ yếu của rễ tầm xuân có – sitosterol, dyhydroxy ursolic acid, triterpenic acid, cachoa extract... Dịch chiết có tác dụng chống đông máu, bảo vệ cơ tim, làm giảm cholesterol, triglycerid và lipoprotein huyết thanh.​
 


Ca dao Việt Nam nói về tầm xuân:

Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em có chồng anh tiếc lắm thay!

Ba đồng một mớ trầu cay

Sao anh không hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng

Như chim vào lồng, như cá cắn câu.

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,

Chim vào lồng biết thuở nào ra.​




Đăng nhập để trả lời
0

Tác dụng của hoa anh thảo

 
oa Anh Thảo thường được mệnh danh là hoa vương giả, quý phái. Đây là một giống hoa vùng cao, đẹp cả hoa lẫn lá, thanh lịch sang trọng, là loại hoa cao cấp sử dụng cho mục địch chưng chậu.

Hoa Anh Thảo (tên khoa học là Cylamen), Cyclamen thuộc họ thực vật hoa báo xuân, có nguồn gốc: Địa Trung Hải, miền Nam Châu Âu, và có thể cả xứ Iran - Trung Á hay xứ Somalia - Phi Châu nữa.



Thân cây thẳng đứng và khỏe, cao 30 - 36 cm khi trưởng thành. Lá thường hình tim, màu như cẩm thạch, có ánh bạc, lá hình trái tim nhưng có rất nhiều hoa, lá xanh thẫm.


Hoa với nhiều màu sắc: hồng, đỏ, hồng cam, tím, trắng. Cánh hoa trơn láng, hoa mọc trên những cuống dài màu hồng nhạt, cánh hoa gần như bẻ gập xuống sát với cuống hoa. Mùa ra hoa: thu, đông, đầu xuân, hoa lâu tàn (4-6 tuần).





Hoa Anh Thảo – một loài hoa dài ngày, thích hợp ở xứ lạnh và đất có độ pH 6,2 – 6,5. Đây là loại hoa cao cấp sử dụng cho mục đích chưng chậu. Thân cây thẳng đứng và khỏe, cao 30 – 36cm khi trưởng thành. Trồng hoa Anh thảo bằng củ hoặc gieo hạt. Thời gian trung bình của vụ là 28 – 32 tuần nếu trồng từ hạt. Hạt giống rất mạnh, nảy mầm đều. Thời gian nảy mầm là 21 – 25 ngày. Mâm gieo hạt lý tưởng là loại 288 lỗ. Anh thảo cần được gieo và trồng trong nhà kính, trong điều kiện hoàn toàn kiểm soát được ánh sáng nhiệt độ và ẩm.

Tinh dầu hoa anh thảo thường được nhắc đến với các tác dụng duy trì và điều hòa nội tiết tố nữ, giúp làn da mái tóc luôn trẻ đẹp, giảm nguy cơ mắc phải các chứng bệnh tim mạch, chứa nhiều loại vitamin và nguyên tố vi lượng thiết yếu, đặc biệt vitamin E – đảo ngược quá trình lão hóa tế bào.


Dầu anh thảo hỗ trợ khả năng sinh sản bằng cách cải thiện chất lượng của các lớp lót chất nhầy cổ tử cung. Các axit béo gamma linolenic, axit thiết yếu chứa trong dầu anh thảo được chuyển đổi thành một chất tương tự như hormone, gọi là prostaglandin. Prostaglandin là một chất có tính kháng viêm. Sự gia tăng axit gamma linolenic có thể đẩy mạnh quá trình tạo ra chất này, nhằm hỗ trợ khả năng sinh sản và các vấn đề khác. Các đặc tính kháng viêm tạo ra bởi các axit gamma linolenic cũng có thể giúp giảm cơn đau có liên quan với chứng chuột rút mà không cần dùng thuốc với tác dụng phụ có hại.



Như đã đề cập, chất nhầy lót đóng vai trò quan trọng trong thai kỳ bằng cách chuẩn bị đường cho thai nhi. Các tác động của vitamin E và gamma linolenic trong dầu anh thảo có nhiệm vụ tích cực cho quá trình này. Sử dụng dầu anh thảo giúp sinh ra chất nhầy cổ tử cung nhiều hơn. Do đó, hỗ trợ các tinh trùng trên hành trình tiếp xúc với trứng, làm tăng tỷ lệ sống của tinh trùng và tăng khả năng thụ thai thành công.




Đăng nhập để trả lời
0

Tác dụng của hoa ngọc lan

 
Ngọc lan còn được gọi là Mộc lan, Sứ, là tên gọi chung cho một số loài trong chi Ngọc lan – Michelia, họ Ngọc lan – Magnoliaceae. Chi Ngọc lan bao gồm 50 loài với dạng sống từ cây bụi đến cây gỗ lớn, thường xanh, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Nam và Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc.

Lá, hoa và hình dáng của chi Michelia là tương tự như chi Magnolia (mộc lan), nhưng hoa của chi Michelia nói chung mọc thành cụm giữa các nách lá, hơn là mọc đơn ở đầu cành như của chi Magnolia.




Ở Việt Nam, có khoảng 20 loài thuộc chi Ngọc lan, trong số đó có khoảng 5 loài được trồng phổ biến khắp nước vì hoa thơm.

Tại Bangkok , Thái Lan hoa Ngọc Lan được xâu thành vòng và rất dể dàng nhận thấy các em nhỏ người Thái chào bán khi xe dừng tại các ngã tư.

Người Thái gọi hoa Ngọc lan là hoa Champa, đồng âm nhưng khác với hoa champa tại Lào , hoa sứ hay hoa đại cách gọi của Việt Nam.

Hoa ngọc lan, một loài thực vật thuộc họ mộc lan. Hoa ngọc lan tính ôn vị, hơi cay, có công năng tiêu đờm, ích phế, hòa khí.

Dùng hoa ngọc lan 5g tẩm mật ong trong 3 ngày rồi sắc uống như trà, có thể dưỡng phế nhuận yết hầu, điều lý trường vị, chữa trị ho do không khí không tốt, ngực và cách mạc đầy trướng và đau, đầu vựng mắt hoa…



Hoa ngọc lan nở vào tháng hai, kết quả vào tháng 6 – 7. Vào mùa xuân, khi nụ hoa chưa nở, thu hoạch, cắt bỏ cành, phơi khô là dùng được. Nụ hoa ngọc lan có tác dụng giáng áp, hưng phấn tử cung, gây tê cục bộ và kháng bệnh độc. Hoa ngọc lan có khả năng khư phong, thông khiếu, chữa trị đau đầu, ty uyên, mũi tắc không thông, đau răng…người âm hư hỏa vượng cấm dùng.

Nhiều bộ phận của cây ngọc lan có tác dụng làm thuốc:

- Hoa: Thu hái khi mới chớm nở, dùng tươi hoặc phơi sấy nhẹ cho khô. Dược liệu có vị đắng, cay, tính ấm dùng chữa ho, viêm mũi, xoang, hoa ngọc lan dùng làm thuốc phải là loại mới chớm nở, dùng tươi hoặc sấy nhẹ cho khô.

- Lá: Dùng chữa viêm phế quản mãn tính ở người già. Ngoài ra, lá ngọc lan (bánh tẻ) rửa sạch, giã nát, đắp chữa mụn nhọt sưng tấy.



- Vỏ thân cây: Lấy vỏ thân cây cạo lớp vỏ mỏng bên ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, dùng sống hoặc tẩm giấm sao vàng. Lấy 30g sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày để chữa sốt, kinh nguyệt không đều, đại tiện khó.

Một số bài thuốc hay từ hoa ngọc lan:

Giúp da thêm trắng:hoa ngọc lan 10g, trà xanh 8g.Bóc từng cành hoa ngọc lan, rửa sạch hoa bằng nước muối, để ráo nước, cho vào trong chén. Rót nước đang sôi vào chén, sau đó cho trà xanh vào, đợi có mùi hương bay ra là có thể uống. Có tác dụng tăng cường chuyển hóa cơ bản, giúp da thêm trắng.

- Chữa vô sinh: 10g hoa ngọc lan chưa nở sắc uống thay trà, vào buổi sớm. Cứ 30 ngày một liệu trình, có thể cải thiện thống kinh và vô sinh nữ.



- Trị ho trừ đờm, lợi tiểu tiện: Hải triết 2 mảnh, dưa hồng 1 quả, cà rốt 1 củ, tỏi 5 củ, hoa ngọc lan 15g. Gia vị gồm dấm trắng 1 thìa to, dầu thơm 1 thìa nhỏ, xì dầu 1 thìa, đường 1 thìa. Hải triết bì dùng nước ngâm nhiều lần rồi rửa sạch, khử mùi tanh. Dưa hồng rửa sạch, bỏ đầu, cuống và tua, thái nhỏ như tơ. Cà rốt cạo vỏ ngoài, thái nhỏ. Hoa ngọc lan rửa sạch, bóc cánh rồi thái nhỏ.

Cho tất cả các nguyên liệu trên trộn đều với nhau, thêm gia vị sau đó rắc hoa ngọc lan lên trên là được. Bài thuốc này có tác dụng trị ho đờm, lợi tiểu tiện.

- Trắng da, tiêu hóa tốt: Hoa ngọc lan 6g, trà xanh 1 thìa. Bóc từng cánh hoa ngọc lan, rửa sạch hoa bằng nước muối, để ráo nước, cho vào trong chén. Rót nước đang sôi vào chén, sau đó cho trà xanh, đợi có mùi hương bay ra, có thể uống thay trà.

- Chữa sốt, kinh nguyệt không đều, tiểu tiện khó: Lấy vỏ thân cây ngọc lan, cạo sạch lớp vỏ ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô. Lấy 30g vỏ sắc với 400ml nước cho đến khi còn 100ml uống 2 lần trong ngày.



- Chữa sưng tấy: Lấy lá ngọc lan loại non và bánh tẻ rửa sạch, giã nát, đắp vào chỗ sưng tấy.

- Chữa viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi: Lá ngọc lan 30g, lá cây gừa 30g, giun đất đã chế biến 5g thái nhỏ, phơi khô sắc uống.

- Chữa ho: Hoa ngọc lan 30g, mật ong 40g, cho hai thứ vào hấp cách thủy trong 20 – 30 phút để ăn.

- Chữa đau bụng kinh ở phụ nữ: Ngọc lan 20g, ý dĩ nhân 30g, hạt đậu ván trắng 30g, hạt mã đề 5g sắc uống trong ngày.

- Chữa bạch đới, khí hư: Hoa ngọc lan 20g, hạt ý dĩ 30g, đậu ván trắng 30g, hạt mã đề 5g sắc uống trong ngày.

- Chữa viêm xoang: Lấy hoa ngọc lan lúc còn xanh, sấy khô giòn, tán và rây thành bột mịn đựng vào lọ kín. Khi bị chảy nước mũi, mở lọ ngửi và hít mạnh để bột thuốc bay vào mũi, ngày làm 2 – 3 lần.

Ngọc lan hoa trắng chữa đau đầu

Ngọc lan hoa trắng là loại hoa mọc nhiều ở các vùng miền nước ta, được trồng làm cảnh vì hoa đẹp và có mùi thơm quyến rũ.

Mùa hoa và quả vào tháng 4 - 9 hằng năm, người ta thu hái hoa và lá, rễ ngọc lan đem phơi khô hoặc để tươi dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh.

Theo đông y, ngọc lan hoa trắng có vị đắng cay, tính hơi ấm, tác dụng lợi tiểu, long đờm, chữa ho, ho gà, đau đầu, chóng mặt, viêm phế quản, đau ngực, viêm tuyến tiền liệt, bạch đới. Liều trung bình cho mỗi thang thuốc sắc là 6 g - 12 g. Lá dùng chữa viêm phế quản mãn tính, bệnh đường tiết niệu...



Dưới đây là vài phương thuốc trị bệnh từ ngọc lan hoa trắng.

-Chữa đau đầu: Ngọc lan hoa trắng 8 cái, hoa nhài 10 cái, lá hoa sen 20 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Dùng trong 5 ngày liền.

- Chữa viêm phế quản: Ngọc lan hoa trắng 7 hoa, hoa hồng bạch 5 hoa, mật ong 15 ml. Tất cả cho vào bát hấp cách thủy, chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 3 - 5 ngày.

- Chữa đái dắt: Rễ ngọc lan hoa trắng 15 g, râu ngô 20 g, rau dấp cá 10 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Dùng 5 - 7 ngày.



- Chữa ho gà: Ngọc lan hoa trắng 8 hoa, lá chanh 10 g, gừng 3 g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Uống 5 ngày liền.




Đăng nhập để trả lời
0

Tác dụng của hoa hồng

 
Hoa hồng là loài hoa tượng trưng cho sắc đẹp trường tồn, cho tình yêu vĩnh cửu. Loài hoa ấy với màu sắc đa dạng, mùi hương đặc trưng đã gắn với biết bao câu chuyện lãng mạn, truyền thuyết từ xưa đến nay.

Thời xưa, người ta thường sử dụng nước chiết xuất từ hoa hồng để điều trị rối loạn dây thần kinh, xông hương cho những bệnh nhân mắc bệnh ung thư phổi, điều trị bệnh tim và thận...




Mặc dù phải dùng rất nhiều cánh hoa hồng mới tạo ra được nước hoa hồng nhưng không thể phủ nhận một điều rằng loại nước này rất giàu chất flavonoid và vitamin, bao gồm A, C, D, E và B3. Vì vậy, chúng có tác dụng kháng khuẩn, sát trùng, làm dịu và chữa lành vết thương. Nước hoa hồng còn có thể giúp làm giảm nguy cơ nhiễm trùng bàng quang và bệnh tim, giảm bớt các vấn đề tiêu hóa và căng thẳng thần kinh, giảm sự kích ứng mắt và đau răng...

Tinh dầu hoa hồng được chiết xuất bằng cách chưng cất hơi nước từ cánh hoa hồng. Tinh dầu hoa hồng có mùi hương mạnh mẽ, sang trọng, nồng nàn và quyến rũ. Tinh dầu hoa hồng bao gồm hàng trăm thành phần như: Citronellol, Citral, Carvone, Citronellyl Acetate, Eugenol , Ethanol, Farnesol, Stearpoten, Methyl Eugenol, Nerol, Nonanol, nonanal, Phenyl Acetaldehyd, Phenylmenthyl Acetate và Geraniol Phenyl...

Dưới đây là một số lợi ích của nước hoa hồng mà bạn nên biết:

1. Chống các bệnh về da

Nước hoa hồng được sử dụng rộng rãi cho việc chăm sóc da vì nó là an toàn và không gây kích ứng với mọi loại da. Nước hoa hồng rất tốt cho da khô, da bị lão hóa, da nhờn và da dễ bị mụn trứng cá. Nhờ các chất dinh dưỡng bên trong cánh hoa hồng mà nước hoa hồng có thể giúp làm nở các mao mạch, se khít lỗ chân lông, giảm sưng tấy và nhiễm trùng, viêm trên da.



Nước hoa hồng giúp duy trì cân bằng độ pH tự nhiên của da để họ có thể chống lại các bệnh da khác nhau, đặc biệt là bệnh chàm. Nước hoa hồng có có thể cân bằng việc sản xuất bã nhờn nên có thể tránh được nguy cơ da bị khô hoặc nhiều dầu. Nếu da bị khô, khả năng viêm da sẽ cao hơn bình thường. Nếu da bị quá nhiều dầu, vi khuẩn có nhiều cơ hội để trú ngụ và gây ra mụn trứng cá. Vì vậy, cân bằng làn da là hết sức cần thiết.

Các nhà nghiên cứu cho biết, vi khuẩn sẽ chết trong vòng 5 phút sau khi tiếp xúc với cánh hoa hồng tươi. Ngoài ra, cánh hoa hồng tươi còn hạn chế mưng mủ vết thương và vết bỏng. Chúng cũng có thể làm dịu những vết ngứa do dị ứng gây ra. Hoa hồng còn được dùng làm thuốc chữa trị mụn nhọt, làm tan máu tụ và làm tiêu sưng.
Cách sử dụng cực kì đơn giản nhé bạn chỉ cần dùng cánh hoa hồng giã và đắp lên da là được. Các sản phẩm chăm sóc da có chứa chiết xuất hoa hồng giúp nuôi dưỡng, tăng độ đàn hồi của da, làm mờ các vết thâm​

2. Giảm căng thẳng thần kinh

Cánh hoa hồng chứa rất nhiều vitamin, bao gồm vitamin A, B3, C, D, và E. Ngoài ra, falvonoid (chất chống oxy hóa), tannin, và kẽm cũng thường được tìm thấy trong nước hoa hồng. Đây chính là lý do vì sao khi chiết xuất cánh hoa hồng, nước hoa hồng lại có tác dụng cải thiện kết cấu da, tăng cường sức khỏe tổng thể, làm dịu tâm thần, điều trị căng thẳng.
Cho một chút nước hoa hồng vào bồn tắm nước nóng sẽ giúp bạn thư giãn rất tốt. Nhờ giải tỏa tâm lý, loại bỏ căng thẳng mà bạn cũng đẩy lùi được nguy cơ bị các bệnh như viêm loét dạ dày tá tràng và bệnh tim.
Khi các bạn cảm thấy căng thẳng hay mệt mỏi có thể rắc cánh hoa hồng vào bát nước nóng, đặt ở trong phòng. Cách này sẽ giúp bạn cảm thấy bớt cẳng thẳng, ngoài ra cũng tốt với những bạn bị lạnh đỉnh đầu hoặc cảm cúm.



Nếu có thời gian để ngâm mình trong bồn nước nóng thư giãn cơ thể thì teens hãy đổ nước nóng và nửa cốc đựng cánh hoa hồng, che kín lại. Đổ vào bồn trước khi tắm.

Hoa hồng rất tốt cho hệ thần kinh, giúp cơ thể thư giãn. Các bạn cũng có thể dùng cánh hoa hồng để ngâm chân buổi tối trước khi đi ngủ.

Ngoài ra, các bạn còn có thể đốt, xông bằng tinh dầu hoa hồng. Vì tinh dầu hoa hồng kích thích và điều hòa hệ kháng thể cũng như hệ thần kinh của con người, làm tăng hoạt động của các tuyến nội tiết.​

3. Xông hơi với tinh dầu hoa hồng:

Xông hơi hay cho vào nước tắm : Bằng cách này, tinh dầu hoa hồng sẽ kích thích hệ thống thần kinh, giúp tinh thành tỉnh táo, tăng cường trí nhớ. Hệ thống thần kinh sẽ tác động tới hoạt động của các tuyến nội tiết giúp bài trừ các chất độc ra khỏi cơ thể.




4. Massage

Tinh dầu hoa hồng còn dùng được để massage, bạn sẽ có một làn da mềm mại, loại bỏ những vùng da bị chai sần, nhất là đôi bàn tay.​

5. Tăng lưu lượng máu đến da đầu

Sở dĩ nước hoa hồng được sử dụng nhiều trong các sản phẩm chăm sóc tóc là bởi vì nó có tác dụng làm tăng lưu lượng máu đến da đầu để nuôi dưỡng và tăng cường các nang tóc, ngăn ngừa rụng tóc. Chính vì vậy, rất nhiều chị em muốn có mái tóc đẹp thường lựa chọn sản phẩm chăm sóc tóc có chứa tinh chất hoa hồng.​

6. Chống lão hóa

Trong nước hoa hồng có chứa một lượng lớn vitamin A và C cùng các chất chống lão hóa giúp ngăn ngừa, giảm thiểu các nếp nhăn, làm sạch da tự nhiên, ngăn ngừa mụn, giúp da khỏe hơn...



Bên cạnh đó, các tinh chất trong nước hoa hồng còn có tác dụng sát trùng và kháng khuẩn rất tốt cho da và các bộ phận khác trong cơ thể. Nhờ vậy mà cơ thể bạn được khỏe mạnh từ trong ra ngoài, giảm hẳn được nguy cơ lão hóa theo tuổi tác.

Không chỉ đẹp mà hoa hồng còn có những tác dụng hết sức tuyệt vời với sức khỏe con người đấy. Cùng khám phá thử xem nhé!​

7. Trị khai huyết và tăng cường sức khỏe cho tuyến nội tiết

Cánh của hoa hồng có chứa vtamin C, carotene, các loại vitamin nhóm B và vitamin K - chất cần thiết để điều trị bệnh ho ra máu (bệnh khai huyết).

Hầu hết các chất khoáng trong Bảng Hệ thống tuần hoàn Men-đê-lê-ép đều có trong cánh hoa hồng. Chúng có chứa canxi nên giúp cơ thể trao đổi chất tốt và giúp tiêu hoá các loại thức ăn. Kali trong hoa hồng cũng có vai trò quan trọng cho hoạt động của tim, chất đồng thì giúp chống lại bệnh ho ra máu và cải thiện các tuyến nội tiết.

Chất Iodine tốt cho tuyến giáp cũng được phát hiện có trong cánh hoa hồng. Những tác dụng vô kể của hoa hồng đã đưa nó trở thành một loại dược phẩm đầu tiên của đất trời.



Người ta cho rằng, bứt những cánh hoa hồng nở rộ vào buổi sớm tinh mơ khi không khí còn trong lành và ẩm, đặc biệt là những sáng có mưa nhiều và sương mù, có khả năng chữa bệnh rất tốt.

Sau khi ngắt những cánh hoa này, mang đi sao hoặc sấy khô hay sử dụng để điều trị bệnh luôn chứ không được rửa vì khi rửa bằng nước, nó sẽ làm mất hết những thành phần chữa bệnh của cánh hoa. Cánh hoa hồng cũng có thể sắc lấy nước hoặc lấy tinh dầu để trị bệnh.​

8. Tăng cường hệ miễn dịch, chống vi khuẩn và bảo vệ đường tiêu hoá

Tinh dầu của hoa hồng là thành phần cơ bản của dược phẩm tự nhiên kỳ diệu, có tác dụng kích thích và can bằng hệ miễn dịch cũng như hệ thần kinh con người.

Tinh dầu hoa hồng giúp cải thiện hoạt động của các tuyến nội tiết, loại bỏ rối loạn và của các cơ quan và phục hồi các tế bào.

Ngoài ra nó cũng rất tốt cho đường tiêu hoá nhờ khả năng làm lành các màng nhầy bị tổn thương, chống lại các vi khuẩn và giúp lên men số men thiếu hụt ở trong ruột và dạ dày.



Hoa hồng cũng được coi là một loại thảo mộc, có thể pha thành trà để uống. Trà thảo mộc từ hoa hồng có tác dụng điều trị chứng khó chịu ở bụng, đầy bụng... Nhờ có chứa chất chống oxy hóa mà trà thảo mộc hoa hồng cũng được coi là có tác dụng chống viêm hiệu quả, đặc biệt, nó còn giúp phòng ngừa nhiễm trùng bàng quang.​

9. Trà hoa hồng chống viêm phế quản, viêm họng, viêm loét dạ dày

Trà chế biến từ cánh hoa hồng (khoảng một muỗng cánh hoa hồng phơi khô cho mỗi cốc nước) có khả năng chống cảm lạnh, viêm họng, viêm phế quản và chứng loạn thần kinh chức năng.

Đây cũng là loại nước uống nhiều vitamin. Mứt làm từ cánh hoa hồng là đơn thuốc tự nhiên tuyệt vời, đặc biệt là vào thời tiết lạnh.​

10. Chống cảm cúm, sốt, rối loạn thần kinh, viêm lợi và đau tim

Bột của cánh hoa hồng phơi khô trộn với mật ong là một phương thuốc hiệu nghiệm để chống lại bệnh viêm miệng, viêm lợi. Đau đầu, ốm yếu và suy nhược cơ thể có thể điều trị bằng xông hương và tinh dầu của hoa hồng.



Cách này cũng có tác dụng với những người có hệ miễn dịch yếu, dễ bị loạn dây thần kinh chức năng và thể lực kém. Tinh dầu hoa hồng cũng có thể làm khoẻ mạnh các cơ tim và đó là điều lý giải vì sao các bác sĩ thường sử dụng liệu pháp xông hương hoa hồng để điều trị bệnh.

Tắm bằng nước hoa hồng là một liệu pháp hoàn hảo chống lại các bệnh ở thần kinh, làm sạch da, làm dịu những lo lắng và mang lại sự thư thái, sảng khoái cho con người.​

11. Chữa ho

Khi còn bé mỗi khi chúng mình bị ho thường được mẹ hấp cánh hoa hồng cùng đường phèn để uống. Đây thậm chí còn là một món “khoái khẩu” của nhiều bạn vì mùi thơm rất dễ chịu của nó.



Để chữa ho bằng hoa hồng teens lưu ý là phải chọn cánh hoa hồng bạch nhé. Các bạn sử dụng 4 g cánh hoa hồng bạch, trộn với đường phèn 4 g, cho vào chén, hấp trên nồi cơm. Sau đó chưng ra nước và uống dần.​

12. Tăng cường sức khỏe

Trong cánh hoa hồng có chứa rất nhiều các loại chất như vtamin C, carotene, các loại vitamin nhóm B, vitamin K, canxi, kali…

Các chất này rất tốt cho các cơ quan trong cơ thể như tim, hệ tiêu hóa, miễn dịch…

Cánh hoa hồng có chứa canxi tác động đến quá trình trao đổi chất và tiêu hóa thức ăn. Tinh dầu hoa hồng rất tốt cho bộ máy tiêu hóa nhờ khả năng hàn gắn các lớp màng, khử khuẩn và bù đắp lượng men thiếu hụt trong dạ dày và ruột.



Kali thành phần vô cùng quan trọng đối với hoạt động của tim, cải thiện tình hình hoạt động của tuyến nội tiết. Tinh dầu hoa hồng làm dịu cơ tim vì thế những người bị hẹp van tim thường được kê đơn xông bột hoa hồng.

Trà cánh hoa hồng vừa là bài thuốc chữa cảm lạnh, viêm họng, viêm phổi và các chứng loạn thần kinh chức năng, đồng thời cũng là một thứ đồ uống giàu vitamin.​




Đăng nhập để trả lời
0

Tác dụng của hoa bưởi

 
ưởi - Citrus grandis (L.) Osbeek (C. maxima (Burm.) Merr., C. decumana Merr.), thuộc họ Cam - Rutaceae. Mô tả: Cây to cao 5-10m; chồi non có lông mềm; cành có gai nhỏ dài đến 7cm. Lá rộng hình trái xoan, tròn ở gốc, mép nguyên, có khớp trên cuống lá; cuống lá có cánh rộng. Cụm hoa chùm ở nách lá, gồm 7-10 hoa to, màu trắng, rất thơm. Quả to, hình cầu và cầu phẳng, đường kính 15-30cm, màu vàng hay hồng tuỳ thứ.




Bưởi tiếng Anh gọi là Pomelo, tuy nhiên nhiều từ điển ở Việt Nam dịch bưởi ra thành grapefruit, thực ra grapefruit là tên gọi bằng tiếng Anh của bưởi chùm (Citrus paradisi) - loại cây lai giữa bưởi và cam, có quả nhỏ hơn, vỏ giống cam, mùi bưởi, ruột màu hồng, vị chua hơi đắng. Sai lầm dẫn này đến lỗi tiếng Anh của nhiều người khác.

Hoa bưởi không chỉ thơm và đẹp mà nó còn có tác dụng giảm cảm, giải rượu, chữa đau dạ dày, đau đầu do mệt mỏi, giúp thư thái tinh thần…



Lá, hoa, vỏ quả bưởi đều chứa tinh dầu nên nó thường được dùng để xông giải cảm. Bưởi đào và bưởi trắng đều chứa tiền vitamin A và nhiều chất khác giúp cơ thể chống lại hiện tượng oxy hoá. Bưởi có thể điều trị bệnh cúm. Ngoài ra bưởi còn dùng làm giải khát và có công dụng hạ sốt.

Hoa bưởi thường được hái vào lúc ban mai, khi có những tia nắng đầu tiên trong ngày len qua kẽ lá đánh thức những nụ hoa còn đượm sương đêm từ từ hé nở. Đây là lúc mùi hương hội tụ, thơm nhất. Người ta không bao giờ hái hoa vào sáng sớm bởi lúc đó hoa chưa nở, cũng không hái vào tầm trưa khi hoa nở bung, mùi hương đã bay đi ít nhiều. Hoa được hái cũng phải là bưởi rừng, bởi dù "cam Canh, bưởi Diễn" nổi tiếng ngon ngọt nhưng không mấy khi người ta hái hoa đi bán, phần vì để đậu quả, phần vì hoa bưởi thơm nhất, trắng nhất là những bông hoa trên rừng, nơi có không khí trong sạch.



Chơi hoa bưởi, người tinh túy thường chơi vào giữa mùa. Bởi đó là khi mưa phùn đã ngớt, tiết trời khô ráo. Hoa sẽ để được lâu, không sợ ủng, mùi thơm mới thật nồng nàn. Chỉ cần một vài nhánh hoa bưởi đặt trong nhà thì dù đi ở bất cứ nơi nào bạn cũng thấy cái mùi dịu ngọt đó phẳng phất trong không gian.


 

 
Hương hoa bưởi có tác dụng giảm stress.

Ngoài để thanh lọc không khí, hoa bưởi còn được người Hà Nội làm nên những món ăn tinh tế như mía ướp hoa bưởi, sắn dây ướp hoa bưởi, cũng có người dùng vài cánh hoa để ướp trà.

Trên các con phố Hàng Than, Hàng Điếu đang vào mùa làm bột sắn dây. Người Hà Nội với khiếu ăn chơi tinh tế có món bột sắn dây ướp hoa bưởi như muốn lưu giữ cả hương thơm của thiên nhiên đất trời trong những hạt bột sắn dây trắng mịn.



Sắn dây sau khi lọc thành bột sẽ được phơi trong nắng giòn để bột mịn màng, trắng tinh. Lúc bột chuẩn bị đóng gói cũng là khi người ta cho những bông hoa bưởi vào. Người bán hàng cho biết, họ chỉ lấy những cánh hoa bưởi ướp vào chứ không cho cả bông vì sợ nhị hoa bưởi sẽ lẫn màu vàng vào bột và làm bột bị đắng. một cốc nước sắn dây có tác dụng giải nhiệt rất tốt. Bột sắn lại thêm một chút hương bưởi sẽ còn mang đến cảm giác mát lạnh, sảng khoái, đánh tan mọi mệt mỏi.

Mía ướp hoa bưởi cũng là món quà vặt thi vị trong mùa này. Người ta mua mía về, chọn đoạn giữa vừa mềm, vừa ngọt, tiện thành những đốt nhỏ, cho vào túi bóng, đặt vài bông bưởi vào trong rồi buộc kín lại. Có thể cho tủ lạnh hoặc đơn giản hơn là cho vào thau nước mát. Chỉ một lúc thôi, hương bưởi đã thấm vào mía. Người ăn sẽ cảm nhận được cái vị ngọt của mía cùng hương thơm của hoa bưởi. Ăn vào mà thấy sảng khoái nhờ tinh dầu hoa bưởi lay động đến từng giác quan


 
Mía ướp hoa bưởi ngọt dịu, thanh mát.

Theo lương y Vũ Quốc Trung cây bưởi có rất nhiều tác dụng, trong đó, hoa bưởi được rất nhiều người ưa dùng không đơn giản vì nó thơm, nó đẹp. Mùi hương bưởi giúp giải cảm, thư giãn, giảm stress, giải rượu, giúp tỉnh táo, minh mẫn, kích thích mọc tóc, tóc óng mượt...

Nhờ vậy từ xa xưa người dân đã biết dùng hoa bưởi ướp hương cho trà và bánh kẹo, ướp mía, bột sắn dây... Hoa bưởi còn là một vị thuốc tốt có tác dụng chữa ho đờm, đau dạ dày, đau đầu do mệt mỏi... Vào mùa này có thể chưng cất hoa bưởi làm nước hoa hay dùng nó để gội đầu, tắm rửa, xông hơi đều rất tốt.



Để hoa bưởi phát huy hết tác dụng của nó bạn cần chế biến như sau:

Nguyên liệu:

1kg hoa bưởi

1kg đường trắng​

Cách làm:

Lấy những bông hoa bưởi trắng tinh, rửa sạch bụi vớt ra để ráo nước. Sử dụng một lọ thủy tinh để cất giữ nước hoa bưởi, bắt đầu xếp hoa bưởi vào lọ cho đường trắng phía trên cho tới khi hết hoa bưởi đã hái rồi đậy nắp cho thật kín.​
 

 
Sau khoảng 10 ngày trở lên là có thể dùng được. Trong khoảng thời gian này hoa bưởi và đường sẽ tan ra thành nước. Cần bảo quản nơi khô ráo ở nhiệt độ bình thường rồi cho vào ngăn mát tủ lạnh dùng dần.

Nước hoa bưởi có tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả, hương thơm dịu nhẹ của hoa bưởi giúp tinh thần thư thái, giảm những cơn đau đầu, mệt mỏi nhanh chóng.​

Một số bài thuốc từ hoa bưởi:


 
Hoa bưởi 12g, chưng với trà uống tiêu được túc thực (thức ăn ứ đọng) nấc, khí trệ, hay rên rỉ và ngáp vặt, bưởi và bạch cấp môi thứ 10g chưng với trà uống có thể làm đẹp. Hoa bưởi và hoa sen mỗi thứ 10g chưng với trà uống có thể khai tâm tỉnh tỳ.

Hoa bưởi 4g, hoa đậu mọt bát, nước gừng nửa thìa, đường phèn một thìa. Hoa bưởi rửa sạch cho vào nồi đung khoảng 10 phút sau đó bỏ bã lấy nước. Cho tiếp nước gừng, đường, hoa đậu vào rồi đun tiếp sau đó lấy ra ăn. Có tác dụng tiêu đờm, thông đại tiện.​
 

 
Hoa bưởi 5g, đường phèn một thìa nhỏ. Đun trong 200ml nước, sau khi sôi 5 phút cho đường vào rồi đun tiếp. Đem uống có tác dụng tuần hoàn khí huyết, chữa đau dạ dày.

Ngoài ra, hoa bưởi, lá bưởi, cùi bưởi cũng có nhiều tác dụng chữa bệnh: Lá bưởi một nắm (50 -100g), lá sả một nắm (50 -100g), lá duối một nắm (50 -100g), lá cúc tần một nắm (50 -100g) cho vào nồi nước đun thật sôi dùng để xông trừ cảm mạo, cho ra mồ hôi và viêm đường hô hấp trên.​
 

 
Trị ho ở người già: Dùng 300g cùi bưởi (bỏ lớp vỏ bên ngoài) và 50g phèn chua đun chín với 500ml nước mỗi ngày uống từ 100ml.

Bên cạnh đó, dân gian thường dùng hoa bưởi để chưng cất thành tinh dầu làm đẹp, gội đầu, tắm rửa hoặc xông hơi… Nước hoa bưởi còn có tác dụng để dành dùng dần quanh năm cho các món chè, món bánh, món cháo… Ngoài ra, đến mùa hoa bưởi, những người sành ẩm thực không thể bỏ qua món mía ướp hương bưởi hay bột sắn dây ướp hoa bưởi... những món ăn dân dã nhưng rất tinh tế của người Hà Nội​
 


Cách làm nước hoa bưởi

Ngắt từng bông hoa ra rồi thả vào chậu nước lạnh rửa nhẹ nhàng cho sạch bụi rồi vớt để ráo nước. Lọ dùng ướp hoa bưởi phải rửa sạch, tráng qua nước sôi rồi úp ngược để thật khô. Khi lọ đã khô ta nên tiến hành rải một lớp hoa bưởi phía dưới cùng rồi rải tiếp một lớp đường trắng phía trên, cứ như vậy cho tới khi nào hết hoa thì thôi.

Tỷ lệ giữa đường và hoa bưởi là: 1kg đường/1kg hoa bưởi. Sauk hi đã xếp lượt hoa thì ta nắp lọ lại cho thật kín, sau khoảng 10 ngày trở lên là có thể dùng được. Lâu dần hoa bưởi và đường sẽ tan ra tạo thành nước hoa bưởi. Lọ nước đặc biệt này nên bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tốt nhất là sau 10 ngày để ở nhiệt độ bình thường rồi mới cho vào ngăn mát tủ lạnh.​
 


Hoa bưởi trong thơ ca

"Mỗi mùa xuân thơm lừng hoa bưởi

Rắc trắng vườn nhà những cánh hoa vương

Em lại nhớ ngày xưa anh ra trận

Cũng giữa mùa hoa bưởi ngát hương

...

Chân anh đi khắp rừng khắp núi

Mỗi nẻo đường, mỗi xóm làng xa

Hẳn đâu cũng thơm mùi hoa bưởi

Hương vị non sông, hương vị quê nhà"

(Trích Mùa Hoa Bưởi của Tô Hùng)
 



"Khung cửa sổ hai nhà cuối phố

Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ

Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp

Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa


Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay

Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm

Bên ấy có người ngày mai ra trận

Bên ấy có người ngày mai đi xa..."

(Trích Hương Thầm của Phan Thị Thanh Nhàn)






Đăng nhập để trả lời
0

Tác dụng của hoa mào gà

 
ào gà đỏ có tên khoa học là Celosia cristata L. Dân gian gọi bằng nhiều tên như Kê quan hoa, Kê công hoa, Kê cốt tử hoa, Mồng gà, Lão lai thiểu…, là một loại cỏ sống lâu năm, cao từ 30 – 90cm hoặc hơn.

Thân màu đỏ, mọc đứng, có cành nhẵn. Lá mọc so le, có cuống, phiến lá nguyên, hình trứng, đầu nhọn, phía gốc to rộng hơn, màu xanh nhạt, gân lá đỏ, mép nguyên. Gọi là hoa Mào gà đỏ nhưng thực ra còn có loại mang màu hồng nhạt, vàng hoặc trắng, cuống hoa rất ngắn, cụm hoa xoè ra thành hình quạt hoặc hình vại, mép loe, nhăn nheo. Quả hộp, hình trứng hay hình cầu, hạt nhỏ đen bóng.




Theo Y học cổ truyền, hoa Mào gà đỏ vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt trừ thấp, lương huyết, chỉ huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như xích bạch lỵ (bệnh lỵ trực khuẩn hoặc amip), trĩ lậu hạ huyết (trĩ xuất huyết), thổ huyết (nôn ra máu), khạc huyết (ho ra máu), tỵ nục (chảy máu mũi), huyết lâm (đái buốt và ra máu), băng lậu (rong huyết, rong kinh, băng huyết), đới hạ (khí hư), di tinh, đái dưỡng trấp… Cách dùng như sau:

Cao huyết áp:

Kê quan hoa 3 – 4 cái, Hồng táo 10 quả, sắc uống hàng ngày.​

Thổ huyết:

Kê quan hoa sao giấm tán vụn, uống mỗi lần 6g, mỗi ngày 2 lần với nước ấm hoặc Kê quan hoa (dùng cả cây) lượng vừa đủ, sắc uống, hoặc Hoa mào gà trắng sao giấm tán vụn, uống mỗi lần 6g với một chút rượu, hoặc Hoa mào gà trắng tươi 15 – 24g (loại khô dùng 6 – 15g) hầm với phổi lợn lượng vừa đủ trong 1 giờ rồi chia ăn vài ba lần trong ngày.​

Khạc huyết:

Hoa mào gà trắng 30g, Trắc bá diệp 30g, Cỏ nhọ nồi 30g, sắc uống, hoặc Hoa mào gà tươi 24g, rễ Cỏ tranh tươi 30g, sắc uống, hoặc Hoa mào gà trắng tươi 15 – 24g (loại khô dùng 6 – 15g) hầm với phổi lợn ăn.​

Xích bạch lỵ:


 
Dùng Hoa mào gà sắc với rượu uống. Xích lỵ (phân có máu) dùng hoa màu đỏ. Bạch lỵ (phân chỉ có nhày) dùng hoa màu trắng.

Thoát giang hạ huyết (lòi dom chảy máu):

Kê quan hoa và Phòng phong lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, vê thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống 70 viên với nước cơm khi bụng đói, hoặc Hoa mào gà trắng sao 30g, Tông lư thán 30g, Khương hoạt 30g, tán thành bột, uống mỗi lần 6g với nước cơm.​

Tỵ nục:

Hoa mào gà trắng tươi 30g, Trắc bá diệp 30g, Cỏ nhọ nồi 30g, sắc uống, hoặc Hoa mào gà dùng cả cây 30g, sắc uống, hoặc Hoa mào gà 30g, Hải đới 60g sắc uống, hoặc Hoa mào gà 9g, thịt lợn nạc 250g, hai thứ hầm nhừ chia ăn vài lần.​

Thanh quang nhãn (glaucoma):

Hoa mào gà 15g, rễ Ngải cứu 15g, Mẫu kinh căn (Vitex negundo L.) 15g, sắc uống.​

Huyết lâm:

Hoa mào gà trắng đốt tồn tính, mỗi ngày uống 15 – 20g với nước cơm hoặc dùng Hoa mào gà 15g sắc uống.​

Di tinh:


 
Hoa mào gà trắng 30g, Kim ti thảo (Melica scabrosa Trin) 15g, Kim anh tử 15g, sắc uống.​

Lỵ tật:

Hoa mào gà tươi 30 – 60g, sắc uống, hoặc Hoa mào gà tươi 30 – 60g (loại khô dùng 15g), Phượng vĩ thảo tươi 30 – 60g (loại khô dùng 15g), sắc uống, hoặc Hoa mào gà trắng 15g, Tần căn bì 15g, sắc uống.​

Đại tiện ra máu:

Hoa mào gà sao cháy tán bột, uống mỗi lần 6 – 9g, mỗi ngày uống 2 – 3 lần, hoặc Hoa mào gà trắng 15g, Phòng phong 6g, Tông lư thán 10g, sắc uống, hoặc Hoa mào gà 30g, Ngải diệp 30g sao đen, sắc uống.​

Nhọt độc vùng gáy (cảnh thư):

Hoa mào gà tươi, Nhất điểm hồng tươi (Begonia wilsonii Gagn) và Liên tử thảo tươi lượng bằng nhau, rửa sạch giã nát, chế thêm một chút đường đỏ rồi đắp vào tổn thương.​

Trĩ lở loét:

Hoa mào gà 3g, Ngũ bội tử 3g, một chút Băng phiến, tất cả tán bột, trộn với mật lợn rồi bôi lên vùng loét.​

Bế kinh:

Hoa mào gà tươi 24g hầm với 60g thịt lợn nạc, chia vài lần ăn trong ngày.​

Kinh nguyệt quá nhiều (đa kinh):


 
Hoa mào gà lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, uống mỗi lần 6g khi bụng đói với một chút rượu, hoặc Hoa mào gà sao cháy tán bột uống mỗi lần 6 – 9 g với nước ấm, hoặc Hoa mào gà trắng sấy khô tán bột, uống mỗi ngày 2 lần mỗi lần 6g với một chút rượu vang hoặc nước ấm.​

Kinh nguyệt không đều:

Hoa mào gà đỏ và trắng mỗi loại 9g sắc uống, hoặc Hoa mào gà trắng 15g, Long nhãn hoa 12g, ích mẫu thảo 9g, thịt lợn nạc vừa đủ, hầm ăn, nếu có kèm theo khí hư thì gia thêm vỏ trắng rễ Tần bì 9g.​

Khí hư:

Bài 1: Bạch đới (khí hư màu trắng) dùng Hoa mào gà trắng, xích đới (khí hư có màu đỏ) dùng Hoa mào gà đỏ, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 9g vào sáng sớm khi bụng đói.

Bài 2: Hoa mào gà trắng 15g, Bạch truật 9g, Bạch linh 9g, Bông mã đề tươi 30g, Trứng gà 2 quả, sắc uống.

Bài 3: Hoa mào gà trắng 15g, Hải phiêu tiêu 9g, sắc uống.

Bài 4: Hoa mào gà tươi (bách đới dùng loại trắng, xích đới dùng loại đỏ) 60g, Sơn hồng căn 60g, sắc uống.

Bài 5: Kê quan hoa, Lệ chi, Long nhãn, Biển súc, Hồng táo lượng vừa đủ hầm với thịt lợn nạc ăn.

Bài 6: Kê quan hoa sao đen, tán bột, uống mỗi lần 6 – 9g, ngày 2 lần.



Bài 7: Hoa mào gà trắng 30g, Gà ác 1 con. Làm thịt gà bỏ phủ tạng, cho Hoa mào gà vào túi vải đặt trong bụng gà rồi đem hầm chín ăn.

Bài 8: Hoa mào gà trắng 21g, Kim anh tử nhục 15g, Bạch quả bỏ hạt 10 quả, sắc uống, hoặc Hoa mào gà trắng 9g, Long nha thảo 9g, Đại kế căn 9g, sắc uống.

Bài 9: Hoa mào gà 18g, Bạch truật 30g sắc uống, hoặc Hoa mào gà trắng 30g, Rau sam 30g sắc uống.

Bài 10: Hoa mào gà trắng 60g, Lộc giác sương 30g, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 6g với một chút rượu, hoặc Kê quan hoa 15g, Bồ hoàng sao 6g, sắc uống.​

Thai lậu: (có thai không đau bụng mà thỉnh thoảng ra máu):

Hoa mào gà trắng sao cháy, Long nhãn 10g, sắc nửa rượu nửa nước uống.​

Băng lậu:

Bài 1: Hoa mào gà khô 24g sắc uống.

Bài 2: Hoa mào gà trắng 15g, Phòng phong 6g, Tông lư thán 10g, sắc uống.

Bài 3: Kê quan hoa 15g, Hải phiêu tiêu 12g, Bạch biển đậu hoa 6g, sắc uống.

Bài 4: Kê quan hoa sao 30g, đường đỏ 30g, hãm uống thay trà hàng ngày.

Bài 5: Kê quan hoa sao cháy tồn tính mỗi ngày uống 9 – 12g với nước sôi để nguội hoặc rượu vang.

Bài 6: Kê quan hoa sao giấm 12g, Ngải cứu thán 4,5g, sắc đặc, pha thêm một chút đường đỏ uống.



Bài 7: Kê quan hoa và Trắc bá diệp lượng bằng nhau, sao cháy tồn tính, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g.​

Đau bụng sau đẻ:

Hoa mào gà trắng 30g sắc với rượu vàng uống.​

Mề đay:

Kê quan hoa dùng cả cây sắc uống và ngâm rửa, nếu nốt sẩn màu đỏ thì dùng hoa màu đỏ, nếu sắc trắng thì dùng hoa màu trắng, hoặc Kê quan hoa cả cây và Thương nhĩ thảo lượng vừa đủ, sắc lấy nước ngâm rửa.

Kết quả nghiên cứu dược lý thực nghiệm cho thấy, dịch sắc Kê quan hoa có tác dụng tiêu diệt trùng roi âm đạo (chỉ sau 5 – 10 phút tiếp xúc với dịch thuốc). Kê quan hoa còn có khả năng nâng cao sức chịu đựng của tế bào cơ tim trong điều kiện thiếu ôxy, làm hạ huyết áp, giảm nhịp tim, từ đó làm giảm lượng ôxy tiêu hao của cơ tim.​




Đăng nhập để trả lời
0

Tác dụng của hoa cức lợn

 
oa cức lợn còn có tên là cây hoa ngũ sắc, cây hoa ngũ vị, cỏ hôi.
Tên khoa học Ageratum conyzoides L.
Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae).

A. Mô tả cây



 
Cây hoa cứt lợn là một cây nhỏ, mọc hàng năm, thân có nhiều lông nhỏ mềm, cao chừng 25-50cm, mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Lá mọc đối hình trứng hay 3 cạnh, dài 2-6cm, rộng 1-3cm, mép có răng cưa tròn, hai mặt đều có lông, mặt dưới của lá nhạt hơn. Hoa nhỏ, màu tím, xanh. Quả bế màu đen, có 5 sống dọc​

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cứt lợn mọc hoang dại ở khắp. Người ta hái toàn cây cắt bỏ rễ, dùng tươi hay khô. Thường hay dùng cây hơn.​

C. Thành phần hóa học

Thành phần hoạt chất chưa rõ.

Chỉ mới biết trong cây có khoảng 0,16% tinh dầu đặc (cây khô kiệt) tỷ trọng 1,109, D=1020, chỉ số axit 0,9, chỉ số este 11,2. Người ta nghi trong tinh dầu có cumarin.

Trong hoa có 0,2% tinh dầu, có mùi gây nôn, tỷ trọng 0,9357, D=9027. Trong tinh dầu hoa lá đều có cadinen, caryophyllen, garatocromen, demetoxygeratocromen và một số thành phần khác (1973 Sood V.K. Flavour Industry 2 : 77).

Theo Nguyễn Văn Đàn và Phạm Trương Thị Thọ (1973 thông báo dược liệu) thì lượng tinh dầu từ 0,7 đến 2% tinh dầu hơi sánh đặc, màu vàng nhạt đến màu vàng nghệ, mùi thơm dễ chịu. Chỉ số axit 4,5, chỉ số este 252 đến 254, D từ -308 đến -503.

Có tác giả lại tìm thấy ancaloit và saponin.



Theo Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự (J.Ess. Oil Res. L 135-136 May-June, 1989) thành phần chủ yếu của tinh dầu gồm preconcen II (agenratochromen) và caryophyllen. Ba thành phần này chiếm 77% tinh dầu.​

D. Tác dụng dược lý

Năm 1965, y sĩ Điều Ngọc Thực ở Phú Thọ đã phát hiện thấy trong nhân dân dùng cây cứt lợn chữa viêm xoang mũi dị ứng, đã áp dụng trên bản thân v à một số người khác thấy có kết quả tốt.

Trân cơ sở thực tế kết quả trên lâm sàng, Đoàn Thị Nhu và cộng sự (1975, Dược học 4 và 5) đã xác định độc tính cấp LD-50 bằng đường uống là 82g/kg. Với liều độ bán mãn dùng trong 30 ngày không thấy gây những biến đổi bất thường đối với các hằng số sinh hóa trong một số xét nghiệm về cơ năng và thận.

Trên sút vật thí nghiệm thấy có tác dụng chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng phù hợp với những kết quả thu được trên thực tế lâm sàng điều trị viêm mũi cấp và mãn.​

E. Công dụng và liều dùng

1. Nhân dân thường dùng cây cứt lợn làm thuốc chữa bệnh phụ nữ bị rong huyết sau khi sinh nở: Hái chừng 30-50g cây tươi, đem về rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước và uống trong ngày. Uống trong 3-4 ngày.​
 

 
2. Tác dụng chữa viêm xoang mũi dị ứng mới phát hiện: Hái cây tươi về rửa sạch, giã nát , vắt lấy nước tẩm vào bông. Dùng bông này nhét vào lỗ mũi bên đau. Hiện nay đã có một số nơi chế thành thuốc sắc sẵn.

3. Phối hợp với nước bồ kết nấu nước gội đầu vừa thơm vừa sạch gầu trơn tóc.​

F. Cách dùng cây hoa cứt lợn chữa viêm xoang:

Đầu tiên, các bạn hái một ít cỏ hôi tươi, rửa sạch và để ráo nước, giã nát, vắt lấy nước tẩm vào bông. Dùng bông này nhét vào lỗ mũi bên đau khoảng 15-20 phút. Rút bông ra để dịch mủ từ trong xoang và mũi giải phóng ra ngoài rồi xì nhẹ nhàng. Tránh xì mũi mạnh vì lúc đó, mủ từ trong mũi xoang có thể đi qua đường nối thông giữa mũi và tai (gọi là vòi nhĩ) gây viêm tai giữa cấp.

Bên cạnh tác dụng chống viêm, hoa ngũ sắc còn có tác dụng kích thích niêm mạc mũi tăng xuất tiết nên khi dùng, người bệnh thấy rát bỏng toàn bộ niêm mạc mũi. Nhờ vậy, những dịch mủ xanh, vàng còn tồn đọng trong lòng xoang và hốc mũi được thải loại ra ngoài.

Bệnh nhân viêm xoang cũng nên kết hợp phương pháp chữa bệnh: “trong uống, ngoài xoa” để điều trị dứt điểm căn nguyên của bệnh. Điển hình là bài thuốc trong sách Cổ Y Văn - có sử dụng hai vị thuốc quý là Tân di và Thương nhĩ tử tán kết hợp với các thảo dược khác Bạch Chỉ, Cảo Bản, Phòng Phong, Tế Tân... để hỗ trợ điều trị viêm xoang hiệu quả.​
 

 
Song song với việc sử dụng thuốc, người bệnh cần lưu ý phòng và hỗ trợ điều trị bệnh bằng cách vệ sinh mũi thường xuyên, đeo khẩu trang khi ra đường, tránh tiếp xúc với khói bụi, hóa chất, hạn chế ăn đồ cay, đồ lạnh….​

Chú thích:

Đùng nhầm cây cứt lợn nói đây với cây bông ổi (ngũ sắc) và cây hy thêm nhiều nơi cũng gọi là cây cứt lợn (xem các vị thuốc này).

Một số người thấy cây cứt lợn này có tác dụng tốt, nhưng tên lại xấu xí cho nên đã gọi cây này là cây ngũ sắc, ngũ vị hay còn gọi là cây bông ổi. Vậy chú ý tránh nhầm lẫn, dùng sẽ không có tác dụng mong muốn.​




Đăng nhập để trả lời
0