Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Bao Dai

10 trả lời, 67 lượt xem — Trang 1 / 1

Phụ đính II

HIỆP ƯỚC SƠ BỘ PHÁP-VIỆT NAM
Ký Ngày 6 Tháng 3 Năm 1946
Giữa các nhân vật cao cấp phía dưới: Về Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc một bên, do, ông Sainteny, đại diện của Thượng sứ Pháp, Đô đốc D’Argenlieu, đặc sứ toàn quyền của Cộng hòa Pháp quốc, và một bên Chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện của Hội đồng Bộ trưởng Vũ Hồng Khanh, hai bên đã thỏa thuận như sau:
1. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân sự, và nền tài chính riêng biệt, nằm trong Liên bang Đông Dương và ở trong Liên hiệp Pháp.
Về việc thống nhất ba kỳ, Chính phủ Pháp công nhận sẽ chấp thuận quyết định của toàn dân, sau khi được trưng cầu dân ý.
2. Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp, theo đúng tinh thần quốc tế, khi quần đội này kéo vào tiếp quản quân Tàu.
Một phụ ước sẽ được đính kèm vào bản hiệp định sơ bộ này, sẽ đặt ra các thể thức khi họ bắt đầu vào tiếp quản.
3. Những thể thức rõ ràng nói trên sẽ được tức khắc thi hành. Sau khi hai bên trao đổi chữ ký, phần bên nào dùng biện pháp cần thiết làm tạo hoàn cảnh thích hợp để mở những cuộc đàm phán thân hữu và thẳng thắn.
Nhưng sự đàm phán đó sẽ đề cập đến vấn đề ngoại giao của nước Việt Nam với bên ngoài, qui chế tương lai của Đông Dương và quyền lợi văn hóa và kinh tế của Pháp ở Việt Nam.
Hà Nội, Sài Gòn, hay Paris sẽ có thể được chọn để làm chỗ đàm phán.
 
PHỤ ƯỚC VỀ HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA PHÁP VÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
 
Giữa hai bên đã ký hiệp định sơ bộ, nay thỏa thuận như sau:
1. Lực lượng được thay thế sẽ gồm có:
a) 10.000 binh sĩ người Việt với số sĩ quan chỉ huy Việt Nam sẽ thuộc quyền quân đội Việt Nam.
b) 15.000 binh sĩ người Pháp bao gồm cả số binh lính Pháp đang đồn trú tại Việt Nam về phía Bắc vĩ tuyến thứ 16. Những binh sĩ ấy chỉ được gồm các binh lính gốc chính quốc, ngoại trừ số binh sĩ chịu trách nhiệm canh giữ tù binh Nhật. Tất cả các lực lượng quân sự đó sẽ do bộ Tự lệnh tối cao Pháp sử dụng, có đại diện của nhà chức trách Việt Nam chứng kiến. Sự phát triển, đồn trú, và sử dụng các lực lượng đó, sẽ được ấn định do một qui ước của bộ chỉ huy, do đại diện của quân lực Pháp và Việt Nam, sẽ họp bàn ngay sau khi quân Pháp kéo vào miền Bắc.
Các Uỷ ban hỗn hợp sẽ được đặt ra, theo từng cấp tương đồng, trong một tinh thần thân hữu, giữa hai bên quân đội Pháp và Việt.
2. Các đơn vị Pháp cùa lực lượng thay thế sẽ được chia làm ba loại:
a) Những đơn vị chịu trách nhiệm coi giữ tù binh quân sự Nhật Bản. Những đơn vị đó sẽ được hồi hương ngay sau khi nhiệm vụ của họ được hoàn tất, trong vòng tối đa 10 tháng.
b) Các đơn vị phụ trách hợp tác với quân lực Việt Nam, để giữ an ninh công cộng, trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Những đơn vị này sẽ lần lượt được rút hết, và thay thế bằng quân lực Việt Nam, theo tỉ lệ 1/5 hàng năm. Như vậy, số quân đội Pháp sẽ rút đi hết trong vòng thời gian là năm năm.
c) Những đơn vị chịu trách nhiệm phòng thủ các đồn bót Việt Nam, vẫn đang trấn đóng; những địa phần đồn trú đã được chỉ định rõ ràng.
3. Chính phủ Pháp cam kết sẽ không dùng tù binh Nhật cho mục tiêu quân sự của mình.
Làm tại Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 1946.
Ký tên: Sai
nteny, Salan, Võ Nguyên Giáp.




Đăng nhập để trả lời
0
 

Phụ đính III

 
TUYÊN BỐ CHUNG
 
 
Ngày mùng 5 tháng 6 năm 1948 tại Vịnh Hạ Long
Giữa ông Emile Bollaert, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, trước mặt Hoàng đế Bảo Đại,
Trước mặt Hoàng đế Bảo Đại,
Ông Emile Bollaert, Cố vấn Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, Cao ủy Pháp ở Đông Dương, nhân danh Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc một bên,
Và,
Ông Nguyễn Văn Xuân, Thủ tướng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, có sự dự kiến của quí ông Nghiêm Xuân Thiện và Đặng Hữu Chí, Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn và Đinh Xuân Quảng, Trần Văn Hữu và Lê Văn Hoạch, đại diện lần lượt cho miền Bắc Việt Nam, miền Trung Việt Nam và miền Nam Việt Nam, một bên.
Đã lập bản tuyên bố chung như sau:
  1. Nước Pháp long trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam được tự do thực hiện nền thống nhất của mình. Về phía Việt Nam, nước Việt Nam tuyên bố sẽ chấp nhận vào Liên hiệp Pháp dưới danh nghĩa một quốc gia liên kết với nước Pháp. Nền độc lập của Việt Nam không có một giới hạn nào khác, ngoài giới hạn mà Liên hiệp Pháp dành cho mình.
  2.  
2. Nước Việt Nam cam kết tôn trọng mọi quyền hạn và quyền lợi của các tư nhân Pháp, cam kết bảo đảm các căn bản dân chủ, và dành quyền ưu tiên sử dụng các nhà chuyên môn cố vấn Pháp trong mọi nhu cầu tổ chức nội bộ, và khuếch trương kinh tế của mình.
 
3. Sau khi thành lập chính phủ lâm thời, các đại diện của Việt Nam sẽ thỏa thuận với các đại diện của Cộng hòa Pháp quốc, những thỏa thuận hợp lý về các vấn đề ngoại giao, kinh tế tài chánh và chuyên môn.
Làm thành hai bản chính ở vịnh Hạ Long,
Ngày 5 tháng 6 năm 1948
Ký tên:
Bollaert
Nguyễn Văn Xuân
Nghiêm Xuân Thiện - Đặng Hữu Chí Phan Văn Giáo - Nguyễn Khoa Toàn - Đinh Xuân Quảng - Trần Văn Hữu - Lê Văn Hoạch
 
 

 

 

Phụ đính IV

 
Paris, ngày 8 tháng 6 năm 1949
Tổng Thống Cộng hòa Pháp
Tổng Thống Cộng hòa Pháp quốc Chủ tịch Liên hiệp Pháp
Kính gởi Hoàng đế Bảo Đại
Thưa Hoàng thượng,
Hoàng thượng đã có ý muốn cụ thể hóa nền thống nhất và độc lập của Việt Nam, theo nguyên tắc dựa trên bản Tuyên bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1949 tậi vịnh Hạ Long, ký kết giữa ông Emile Bollaert, Thượng sứ Pháp ở Đông Dương và Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Chủ tịch Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam có sự chứng kiến của Hòàng thượng.
Ý muốn đó rất trùng hợp với ý kiến của Chính phủ Pháp, sau khi Hội đồng Bộ trưởng đã họp bàn, đã yêu cầu tôi, nhân danh Chủ tịch Liên hiệp Pháp, được trao đổi văn thư với Hoàng thượng, để đi đến một thỏa ước hầu cụ thể hóa những điều khoản của bản tuyên bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1949.
Nay thuộc phạm vi chính phủ của Hoàng thượng, một mặt để kết thúc với ông Cao ủy Pháp ở Đông Dương những thỏa ước riêng biệt hoặc tạm thời, không ra ngoài lý lẽ của sự trao đổi văn thư này và hoàn cảnh hiện tại mà trật tự và an ninh được vãn hồi giữa Liên hiệp Pháp và Việt Nam, mặt khác, sửa soạn cùng với đại diện của nước Pháp, có sự tham gia của đại diện các Chính phủ Hoàng gia Ai Lao và Cam Bốt, để giải quyết những dị biệt cần thiết đang diễn ra hiện nay.
Trên căn bản ấy, và trong hoàn cảnh ấy, tôi nhân danh Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, xác nhận sự chấp thuận của tôi, theo những định ước dưới đây:
I. Thống Nhất Việt Nam: Không còn dựa vào các hiệp ước từ trước, mà nước Pháp còn có giá trị, nước Pháp long trọng xác nhận quyết định, không phản đối sự trở về của đất Nam kỳ vào lãnh thổ Việt Nam, được kê rõ: bao gồm các đất đai của Bắc kỳ (Bắc Việt Nam) của Trung kỳ (Trung Việt Nam) và Nam kỳ (Nam Việt Nam).
Nhưng sự tái sát nhập đất Nam kỳ vào nước Việt Nam, chỉ được coi như chính thức, sau cuộc trưng cầu dân ý của toàn dân, được tự do lựa chọn hay đại diện của họ lựa chọn. Toàn thể các điều khoản trong thỏa ước này chỉ có giá trị, khi sự sát nhập đầy đủ hiệu năng và chính thức của Nam kỳ vào toàn cõi nước Việt Nam.
Trong hoàn cảnh ấy, Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc cam kết thi hành các thể thức đã được ấn định trong Hiến pháp.
Khi các cách thức trên được hoàn tất, Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc sẽ công bố dứt khoát sự thống nhất của Việt Nam như đã được định nghĩa trên.
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc từ chối về qui chế đặc biệt do các sắc dụ, đã nói về ba nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Tourane.
Sự cai trị các sắc dân không phải người Việt Nam, mà vị trí địa dư vốn nằm trong lãnh thổ của nước Việt Nam, như vừa định nghĩa trên, và từ xưa vẫn thuộc quyền Hoàng đế An Nam, sẽ được cứu xét bằng qui chế riêng, do Hoàng đế định đoạt. Các qui chế này phải được sự thỏa thuận của Đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, vốn có những trách nhiệm đối với họ. Qui chế này vừa phải bảo đảm cho những quyền hạn chính đáng của Việt Nam, vừa phải bảo đảm sự tiến triển của dân tộc ấy, với sự tôn trọng phong tục tập quán của họ.
 
II - Vấn đề Ngoại Giao: Nền chính trị đối ngoại của Liên hiệp Pháp, trong đó có đại biểu của Việt Nam trong Hội đồng Tối cao, do chính sách đối ngoại sẽ được định dưới, phải được cứu xét phù hợp, dưới quyền chủ tọa của Đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, hội đồng mà Chính phủ nước Việt Nam được quyền lựa chọn do chính người của mình.
Để thực thi các định kiến của mình, về chính sách đối ngoại, Hoàng đế Việt Nam sẽ phối hợp hoạt động với đường lối chung của Liên hiệp Pháp.
Các trưởng phái đoàn ngoại giao sẽ được đề cử đến Việt Nam do Chủ tịch Liên hiệp Pháp và Hoàng đế Việt Nam chấp nhận.
Các quốc gia được Việt Nam cử phái đoàn ngoại giao, phải được định rõ, có sự tương đồng của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc.
Sự thống nhất của nền chính trị ngoại giao của Liên hiệp Pháp trong những quốc gia ấy, sẽ được đảm trách bằng đường lối chung, Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc sẽ chuyển đạt cho chính phủ Việt Nam, kể cả việc tiếp xúc trực tiếp giữa các nhà ngoại giao Pháp và Việt. Đối với những quốc gia khác, nước Việt Nam sẽ được đại diện bởi các phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, tức phái biểu là đã có đại diện của Chính phủ Việt Nam trong đó.
Nước Việt Nam có quyền điều đình và ký kết những thỏa ước riêng, liên hệ đến quyền lợi của mình, với điều kiện đặc khẩn là trước khi điều đình, phải đưa trình dự án của mình cho Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, để đưa lên hội đồng tối cao nghiên cứu và những thỏa ước này đã được cứu xét bởi các phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc. Sự chấp nhận của hội đồng tối cao là cần thiết thì các thỏa ước này mới được coi là nhất định.
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc sẵn sàng, thể theo lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam, để mở những lãnh sự quán Việt Nam trong những nước mà Việt Nam nhận thấy liên hệ đến quyền lợi của mình. Các lãnh sự Việt Nam sẽ thực thi quyền hạn ở những nước này mà Việt Nam thấy có liên hệ đến mình. Các lãnh sự Việt Nam sẽ thực thi quyền hạn ở những nước mà Việt Nam có phái đoàn ngoại giao, dưới quyền điều khiển và kiểm soát của trưởng phái đoàn, vốn có liên lạc với trưởng phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc; trong các quốc gia khác, dưới quyền điều khiển và kiểm soát của phái đoàn ngoại giao của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc.
Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, cam kết, thể theo lời yêu cầu của Việt Nam, đưa đơn của Việt Nam vào Liên hiệp quốc, khi Việt Nam đã hội đủ các điều khoản của Liên hiệp quốc.
III - Vấn đề Quân Sự: Nước Việt Nam có quân đội riêng, để giữ trật tự và an ninh công cộng, đồng thời để bảo vệ lãnh thổ của quốc gia. Về trường hợp sau cùng, quân đội này sẽ được sự hỗ trợ của quân lực Liên hiệp Pháp. Quân đội Việt Nam cũng tham dự vào sự phòng thủ biên giới của Liên hiệp Pháp đối với bất cứ kẻ thù nào từ bên ngoài.
Quân số của quâh đội Việt Nam và quân số của quân đội Liên hiệp Pháp đóng tại Việt Nam sẽ do một thỏa ước riêng biệt ấn định, để toàn thể có đủ khả năng hữu hiệu, bảo vệ lãnh thổ Việt Nam và lãnh thổ Liên hiệp Pháp, trong trường hợp có chiến tranh.
Quân đội Việt Nam sẽ bao gồm các phần tử quốc gia Việt Nam, do các sĩ quan Việt Nam chỉ huy; các huấn luyện viên và cố vấn kỹ thuật Pháp sẽ đặt dưới quyền sử dụng của quân đội Việt Nam.
Những sĩ quan Việt Nam sẽ do các trường quân sự Việt Nam đào tạo, và tùy trường hợp sẽ do các trường quân sự Pháp đào tạo, không phân biệt một cách rộng rãi. Để dễ dàng hợp tác trong thời kỳ có chiến tranh, tổ chức nội bộ của quân đội Việt Nam sẽ cố gắng sắp xếp giống tổ chức nội bộ của quân đội Pháp.
Chính phủ Việt Nam chịu trách nhiệm đài thọ ngân sách cho quân đội này.
Mọi yêu sách về quân nhu, sẽ do Chính phủ Việt Nam đề cập với chính phủ Pháp.
Để góp phần bảo vệ hữu hiệu Liên hiệp Pháp, quân đội Liên hiệp Pháp đồn trú tại lãnh thổ Việt Nam, ở những đồn bót, mà danh sách, phạm vi và qui chế sẽ do một thỏa ước riêng ấn định. Bất kể lý do nào, qui chế này sẽ bảo đảm cho quân đội ấy hoàn tất nhiệm vụ, trong khi về nguyên tắc, vẫn giữ được chủ quyền quốc gia Việt Nam. Quân đội ấy có thể tự do đi lại từ những đồn bót của họ, theo phạm vi của thỏa ước. Theo nguyên tắc của sự hợp tác, trong phạm vi của Liên hiệp Pháp, quận đội này sẽ bao gồm cả những phần tử Việt Nam, mà sự tuyển mộ đã được ấn định theo như thỏa ước.
Để có một đường lối duy nhất hữu hiệu, trong thời kỳ có chiến tranh, một Uỷ ban quân sự vĩnh viễn sẽ được thành lập, Uỷ ban này gồm nhiều sĩ quan tham mưu của quân đội hai nước được thành lập sẵn ngay trong thời bình, để sửa soạn sự phòng thủ chung, và hợp tác quân sự chung giữa quân đội Quốc gia và quân đội của Liên hiệp Pháp. Uỷ ban này, trong thời bình, có thể đảm nhiệm sự liên lạc giữa hai quân đội. Cách thức cấu tạo và hoạt động trong thời bình, sẽ được ấn định theo thỏa ước riêng biệt, phụ đính vào hiệp ước Pháp Việt này.
Trong thời kỳ có chiến tranh, phần lớn phương pháp chống cự do quân đội Việt Nam điều động, còn quân đội Liên hiệp Pháp sẽ phối hợp và viên chỉ huy trưởng người Pháp lãnh đạo Uỷ ban hỗn hợp, và chịu trách nhiệm về môi trường chiến cuộc ở Việt Nam phần lớn, vị chỉ huy khác của Uỷ ban phải là người Việt Nam.
IV - Chủ Quyền Nội Bộ: Chính phủ Việt Nam thi hành đầy đủ quyền nội bộ nước mình. Chính phủ ấy, sẽ thỏa thuận với viên Cao ủy Pháp ở Đông Dương, lập những thỏa ước riêng biệt hay tạm thời, tùy từng trường hợp, để trao lại cho Việt Nam những thẩm quyền trước đã nhượng cho người Phap.
Chính phủ Việt Nam, khi cần đến chuyên viên, hay cố vấn kỹ thuật, phải dành ưu tiên chọ các thuộc dân của Liên hiệp Pháp, nhất là trong các xí nghiệp hay cơ quan liên hệ đến sự phòng thủ của Liên hiệp Pháp.
Ưu tiên dành cho thuộc dân Liên hiệp Pháp này chỉ bị tước bỏ khi Chính phủ Pháp không thể nào thỏa mãn được sự đòi hỏi của Chính phủ Việt Nam. Cách thức sử dụng về vấn đề này sẽ được ấn định rõ ràng bằng một thỏa ước sau.
Không một công dân Pháp nào, hay một thuộc dân Liên hiệp Pháp được quyền tham dự vào nền nội trị của Việt Nam, nếu không được sự thỏa thuận của Liên hiệp Pháp và ngược lại, không một người Việt Nam nào được quyền can thiệp vào việc nội trị của nước Pháp, nếu không được sự thỏa thuận của nước mình.
V. Vấn đề Tư Pháp: Nước Việt Nam được toàn quyền xét xử mọi việc về dân sự, thương mại hay hình sự trên khắp lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, việc thụ lý về dân sự hay thương mại, đối với thuộc dân Liên hiệp Pháp, không phải người Việt Nam, hay với các thuộc dân các quốc gia, mà Pháp đã ký các thỏa ước dành ưu quyền về tư pháp, và sự truy tố đối với họ do phạm lỗi, đối với nước Pháp, sẽ do một tòa án hỗn hợp, trong đó các định lệ sẽ được đặt ra, bằng một thỏa ước phụ đính với bản Hiệp ước này.
Định lệ ấy sẽ phải tôn trọng các nguyên tắc sau này:
1. Các bản án được xét xử sẽ mang tiêu đề như sau:
“Nhân danh Liên hiệp Pháp và quốc gia Việt Nam,
Hoàng đế Việt Nam ban lệnh và quyết nghị”.
Việc thi hành bản án ấy, ở ngoài lãnh thổ nước Việt Nam sẽ do những thỏa ước sau, dự trù việc ủy quyền thi hành.
2. Luật sử dụng, sẽ là luật của nước Pháp, đối với bất cứ công dân Pháp khi phạm pháp.
3. Luật sử dụng, sẽ là luật của Việt Nam, mỗi khi người Pháp nào không phải vướng mắc luật ấy sẽ được thi hành tùy theo trường hợp của sự tranh chấp.
Thiếu sót điều ấy, thì sẽ là luật của Pháp.
Tóm lại, theo như định lệ quốc tế, những sự kiện vốn nằm trong qui chế riêng của quốc gia của họ.
Những việc tranh tụng về hành chánh cũng sẽ được áp dụng những căn bản tương tự, và quyền đối kháng tương đồng.
Thỏa ước tư pháp riêng biệt sẽ được giải quyết như các việc nêu trên phụ đính này.
VI - Vấn đề Văn Hóa: Trong bậc sơ học và trung học, nước Pháp tự do có thể mở các trường công hay tư, ngoại trừ phải theo các luật lệ về địa phương của vấn đề.
Các định lệ và qui chế ấy không mang ẩn ý, trực tiếp hay gián tiếp giữa người Pháp và người Việt Nam.
Những văn bằng chuyên nghiệp, hay tinh thần đòi hỏi để được dạy ở những trường học này, cũng như các điều kiện được hành nghề ờ Pháp.
Tất cả những văn bằng ấy, được áp dụng chung có các trường chuyên nghiệp và kỹ thuật.
Các trường học Pháp sẽ theo một chương trình đang thực thi tại Pháp; một chương trình về sử ký và văn minh Việt Nam bắt buộc phải dạy, không thể thiếu sót.
Những học sinh Việt Nam được tự do theo học ở các trường Pháp, mở tại Việt Nam. Các trường này sẽ mở một lớp học bằng tiếng Việt Nam, để dạy học sinh Việt Nam.
Sinh ngữ giữa tiếng Việt và tiếng ngoại quốc, sẽ được dành cho tiếng Pháp, vốn là sinh ngữ của nền ngoại giao của nước Việt Nam.
Nước Việt Nam chấp nhận sinh ngữ Pháp dạy ở ban trung học, đủ để theo ban cao đẳng vào cuối niên học, sẽ giữ số trường Pháp ở bậc trung học ngày càng nhiều.
Giá trị văn bằng Việt Nam và văn bằng Pháp sẽ được ấn định do một thỏa ước sau, khi hai chương trình Việt và Pháp được đem ra so sánh.
Nước Việt Nam có quyền dự trù theo đuổi ngành cao học Pháp, đồng thời công nhận nước Pháp tiếp tục phát triển ngành cao học ở Việt Nam, ngang hàng với chương trình của Liên hiệp Pháp.
Tuy nhiên vì hoàn cảnh khó khăn hiện tại, nhất là để huấn lụyện một số nhân viên Việt Nam thích ứng, một trường Đại học chung được mở ra, theo những điều lệ địa phương. Qui chế của trường Đại học đó, sẽ là đề tài của thỏa ước đặc biệt giữa Pháp và Việt Nam. Các quốc gia khác thuộc Liên hiệp Pháp, nếu họ muốn, có thể tham gia vào tổ chức này, và phải cam kết những sự cần thiết với nước Pháp và nước Việt Nam.
Qui chế của trường Đại học này phải theo các nguyên tắc dưới đây:
Trường Đại học chung này, sẽ là một tổ chức tự trị, của các trường Đại học áp dụng trong hầu khắp các nước tiền tiến trên thế giới.
Trường Đại học sẽ do một viên khoa trưởng điều khiển, vị này sẽ được bổ nhiệm bởi chính phủ, sau khi Uỷ ban tư vấn của nhà trường đề cử ba người, để lựa chọn, Vị khoa trưởng này sẽ được các trưởng ban phân khoa giúp đỡ, để điều khiển nhà trường. Và hội đồng đại học sẽ gồm các phân khoa trưởng, các đại diện giáo sư, đại diện sinh viên, và nhiều nhân vật chú trọng đến nền giáo dục, cũng như các trưởng nhiệm sở các cơ quan khoa học, và một vị đại diện cho chính phủ liên hệ.
Chương trình giảng dạy, sẽ bằng sinh ngữ của người sáng lập ra nhà trường, đối với những trường chuyên nghiệp.
Trong chương trình học vấn tổng hợp:
a) Sẽ giảng bằng tiếng Pháp, nói về kỷ luật.
b) Sẽ giảng bằng tiếng Việt Nam, tùy theo cách thức, do hội đồng nhà trường ấn định. Bằng cấp do nhà trường cấp, được coi như chính thức công nhận bởi hai quốc gia, tuy nhiên, các bằng cấp được cấp phát tạm thời vì hoàn cảnh, riêng đối với Việt Nam, không được tự do chấp nhận vào theo chương trình Pháp, và được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương, trong Liên hiệp Pháp
Để được dễ dàng, nhập vào ngành cao học, các văn bằng được nới rộng rất thấp do những chính phủ liên hệ, gia giảm.
Trường đại học chung, sẽ dành số nhập học cần thiết cho các sinh viên được học bổng của các quốc gia liên hệ.
Số phận các trường khoa học đã có hiện nay ở Việt Nam, đã được các thỏa ước Pháp và Việt Nam giải quyết, hoặc do quốc gia Việt Nam giải quyết với ban Giám đốc nhà trường. Tuy nhiên, một vài nguyên tắc căn bản cần phải chú trọng chặt chẽ:
Sự hoạt động của trường Bác Cơ Viễn Đông, sẽ là di sản chung của ba nước Việt, Cam Bốt và Ai Lao, và nước Pháp. Nó không thể đem nhường lại cho ai được. Hội đồng quản trị sẽ bao gồm các đại diện của ba quốc gia Việt, Cam Bốt và Lào, cùng đại diện của Chính phủ Pháp. Viên quản đốc sẽ được bổ nhiệm, do quyết định chung của bốn chính phủ sau khi viện Khoa học Pháp đưa ra ba đề nghị để lựa chọn.
Hoàn cảnh viện Pasteur nằm trên lãnh thổ Việt Nam cũng sẽ được giải quyết giữa cơ quan của viện ấy với Chính phủ Việt Nam.
Thỏa ước về viện Pasteur phải tôn trọng các điều khoản dưới đây:
Những cơ sở đã có sẵn là di sản của ba nước Việt, Cam Bốt và Ai Lao, cùng nước Pháp, đối với các bất động sản tại Sài Gòn, Đà Lạt và Nha Trang.
Nước Việt Nam là chủ nhân ông các bất động sản và cơ sở thuộc viện Pasteur ở Hà Nội. Nước Việt Nam cam kết chấp nhận một qui chế tương tự đối với các cơ sở khác.
Viện Pasteur nhận giữ các sản phẩm và bất động sản, mà viện đã nhận được, bằng sự tặng dữ, hay đó di nhượng.
Viện Pasteur là sở hữu chủ các dụng cụ khoa học.
Việc áp dụng thỏa ước này sẽ được thi hành cho đến hết nhiệm kỳ, vào cuối tháng chạp năm 1949.
Thư Viện: Mọi chính phủ là sở hữu chủ của quốc khố đồ thư của nước mình. Người quản thủ thư viện và sự bảo tồn quốc khố đồ thư, phải được thực hiện theo những định lệ rõ rệt.
Vấn đề quản thủ thư viện, cơ sở Nông nghiệp, cơ sở Thiên văn, Hải dương học, và Bảo tàng viện sẽ được ấn định do những thỏa ước riêng biệt.
VII - Vấn đề Kinh Tế Và Tài Chánh: Các công dân Việt Nam ở Pháp hay ở trong các nước thuộc Liên hiệp Pháp, cũng như công dân Pháp hay công dân Liên hiệp Pháp đều có quyền tự do lập nghiệp y như người bản xứ trong khuôn khổ các định luật và qui chế địa phương. Họ được hưởng quyền di chuyển tự do, quyền thương mại, và nói chung tất cả các quyền dân chủ trong lãnh vực ấy.
Những động sản và xí nghiệp thuộc về công dân của Liên hiệp Pháp trên lãnh thổ Việt Nam, được hưởng cùng qui chế với người công dân Việt Nam, nhất là về phạm vi thuế khóa và luật lao động. Sự bình đẳng đó sẽ được coi như tương đồng, đối với người Việt Nam trong lãnh thổ của Liên hiệp Pháp.
Luật lệ tài phán giữa các xí nghiệp thuộc về công dân Liên hiệp Pháp trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được ấn định theo một thỏa ước chung giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Việt Nam.
Sẽ được trả lại quyền lợi và quyền tư hữu của công dân Liên hiệp Pháp, theo như hiện trạng, vốn bị mất đi do hoàn cảnh thực tại của Việt Nam kể từ tháng 3 năm 1945.
Một Uỷ ban hỗn hợp sẽ được đề cử để ấn định cách thức hoàn trái đó.
Vốn của người Pháp được đầu tư tự do ở Việt Nam, theo những hạn chế sau này:
a) Chính phủ Việt Nam, nếu xét thấy cần thiết, sẽ dự vào các vụ đầu tư đó được sắp xếp vào mục quyền lợi quốc gia.
b) Mở những xí nghiệp, trong mục gọi là về quốc phòng, và phụ thuộc vào sự chấp thuận của chính phủ Việt Nam.
c) Chính phủ Việt Nam có quyền trưng mua lại các xí nghiệp, không hoạt động nữa.
Một Uỷ ban hỗn hợp Pháp Việt sẽ ẩn định rõ rệt địa bàn của các lãnh vực ấy cũng như khả năng hoạt động của các xí nghiệp được đặt tại đó.
Những hạn chế nói trên không áp dụng cho vốn đầu tư xí nghiệp hiện tại trên lãnh thổ Việt Nam, cũng không áp dụng cho sự phát triển dự trù của hoạt động của họ.
Chính phủ Việt Nam được toàn quyền sử dụng nền tài chính của mình. Chính phủ ấy sẽ lập và quản lý ngân sách của mình. Chính phủ Việt Nam sẽ được thừa hưởng tất cả mọi ngân khoản về thuế khóa trên lãnh thổ Việt Nam, ngoại trừ những khoản thu, liên hệ đến công ích chung giữa các nước liên kết, thì phải được Chính phủ Pháp và chính phủ các nước liên kết, chấp thuận.
Chính phủ Việt Nam có thể tăng thuế hay đặt ra các sắc thuế mới. Nếu sự gia tăng này có dính dấp gì đến các nước liên kết, thì sẽ có những sự thảo luận chung giữa các quốc gia liên kết, hầu có sự tương đồng về thuế khóa ở Việt Nam và các nước Đông Dương, để mọi hoạt động kinh tế khỏi bị chênh lệch.
Nước Việt Nam sẽ có sự tương đồng về tiền tệ với ba nước Đông Dương. Tiền đang thông dụng ở ba nước ấy hiện nay là đồng bạc, do cơ quan Đông Dương phát hành.
Cơ quan phát hành có thể đặt ra các dấu hiệu riêng biệt cho Việt Nam, Cam Bốt và Ai Lao.
Đồng bạc Đông Dương nằm trong khuôn khổ ảnh hưởng của đồng quan Pháp. Sự tương đương giữa đồng bạc Đông Dương và đồng quan Pháp không phải là nhất định, mà có thể thay đổi, theo hoàn cảnh kinh tế. Tuy nhiên sự thay đổi này chỉ được ấn định, do các nước liên kết Đông Dương thảo luận.
Vấn đề thay đổi sẽ do cơ quan hối đoái Đông Dương thực hiện.




Đăng nhập để trả lời
0
Nước Việt Nam có chung nền thương chính với các nước Đông Dương liên kết khác. Giữa họ với nhau, không có một hàng rào quan thuế nào. Ở biên giới ba nước ấy, không phải chịu thuế thương chính, cũng như vấn đề xuất nhập trên toàn lãnh thổ của Liên hiệp Pháp.
 
Hoàng thượng nhận thấy trên địa hạt kinh tế và tài chánh, nước Việt Nam được hưởng cùng nguồn lợi như các quốc vương Cam Bốt và Ai Lao, cũng như với Liên hiệp Pháp, các nguồn lợi này sẽ được phân phối công bình và nhịp nhàng thì sự mở hàng cơ quan hỗn hợp để điều hành là cần thiết.
Do thế sẽ được mở ra ở Sài Gòn, do sự triệu tập của các viên Cao ủy Pháp ở Đông Dương, một hội nghị, để mời các đại diện của Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, đại diện của Chính phủ Việt Nam, đại diện của Vương quốc Cam Bốt và Ai Lao, để ấn định về thành phần, và quyền hạn của các cơ quan hỗn hợp này. Tại Hội nghị Đông Dương này, sẽ bàn đến:
- Vấn đề viễn thông,
- Kiểm soát di trú,
- Ngoại thương và thương chính,
- Ngân khố,
- Đồ trang bị.
Cũng phải nói rõ, về vấn đề này, Hội nghị Đông Dương cần chú trọng nhất về đồ trang bị hiện đang được nghiên cứu.
Hội nghị này, khi mở mang, phải đặt ra cách thức và cho kết quả dự trù.
Hội đồng tối cao Liên hiệp Pháp có thể cho ý kiến hay điều giải, nếu cần.
Các văn kiện sẽ được trao đổi tại Sài Gòn, giữa Hoàng thượng và ông Cao ủy Pháp ở Đông Dương, và hiệp ước sẽ bắt đầu có hiệu lực kể từ lúc ấy.
Lời tuyên bố chung ngày 5 tháng 6 năm 1948 và các bản chính thức của Việt Nam sẽ kết hợp vào điều 61 của bản Hiến pháp của Cộng hòa Pháp quốc. Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, và cá nhân tôi sẵn sàng chấp nhận sự thực thi của Hoàng thượng và của vị đại diện nước Pháp, trong tín cẩn hoàn toàn, trong thiện chí, các điều khoản nói trên sẽ tạo điều kiện văn hồi hòa bình ở Việt Nam, liên kết trong bình đẳng, và thân ái với nước Pháp.
Xin Hoàng thượng, nhận nơi đây, lòng tôn kính của tôi.
Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc
Chủ tịch Liên hiệp Pháp: Vincent Auriol
Được ủy nhiệm bởi Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc
Chủ tịch Liên hiệp Pháp
Thủ tướng Hội đồng Bộ trưởng: H. Queuille
 
 
____________________________
 

BÀN CHẤP HÀNH LƯỠNG VIỆN LẬP PHÁP CALIFORNIA

Do đề nghị của tám vị Nghị viên (Ghi rõ từng tên một)
Xét rằng Hoàng đế Bảo Đại Cựu Quốc vương Việt Nam sẽ thăm viếng Sacramento (thủ phủ của tiểu bang California) từ ngày thứ tư 10 tháng 2 đến ngày thứ sáu 12 tháng 2 năm 1982, và do đó các vị Nghị viên muốn tỏ lòng hoan nghênh nồng nhiệt nhất đối với ông.
Xét rằng, là vì Vua cuối cùng đã tri vì một nước Việt Nam thống nhất, Hoàng đế Bảo Đại hiện được tôn kính bởi một số người Việt Nam ngày càng đông đảo ở đây và được coi như vị lãnh tụ của họ.
Xét rằng, trong thời gian trị vì, ông đã tạo dựng nền độc lập của một nước Việt Nam thống nhất, bằng cách đem ba xứ Nam kỳ, Trung kỳ, và Bắc kỳ hợp lại thành một quốc gia thống nhất.
 
Xét rằng, ông đã có công phát triển nên ngoại giao với các ngoại cường, về công cuộc canh tân hiện đại hóa, công nông nghiệp.
Xét rằng, tóm lại ông đã có những cố gắng vượt mức để bình định bằng cách tập hợp mọi thành phần quốc gia…
Nay Liên Uỷ ban Chấp hành của Thượng viện và Hạ viện quyết định: Hãy hân hoan chào mừng Hoàng đế Bảo Đại của Việt Nam đến California và ngỏ lời chúc tốt đẹp nhất cho sự thành công cho mọi công việc chứ tương lai của ông, và quyết nghị một bản sao thích đáng của Quyết nghị này phải đạt tới Hoàng đế Bảo Đại của Việt Nam. Bản quyết nghị số 78 này được Liên Uỷ ban Chấp hành Lưỡng viện Lập pháp California chấp thuận.
Úy ban Chấp hành Thượng viện:
Ký tên, Chủ tịch David Roberti,
Chủ tịch Thượng viện, Mike Curtb, Phó Thống đốc, Uỷ ban Chấp hành Hạ viện, Chủ tịch Louis J. Papan,
Chủ tịch Hạ viện: While L. Brown Jr.




Đăng nhập để trả lời
0

BẢN CHẤP HÀNH LƯỠNG VIỆN LẬP PHÁP CALIFORNIA

Do đề nghị của tám vị Nghị viên (Ghi rõ từng tên một)
Xét rằng Hoàng đế Bảo Đại Cựu Quốc vương Việt Nam sẽ thăm viếng Sacramento (thủ phủ của tiểu bang California) từ ngày thứ tư 10 tháng 2 đến ngày thứ sáu 12 tháng 2 năm 1982, và do đó các vị Nghị viên muốn tỏ lòng hoan nghênh nồng nhiệt nhất đối với ông.
Xét rằng, là vì Vua cuối cùng đã tri vì một nước Việt Nam thống nhất, Hoàng đế Bảo Đại hiện được tôn kính bởi một số người Việt Nam ngày càng đông đảo ở đây và được coi như vị lãnh tụ của họ.
Xét rằng, trong thời gian trị vì, ông đã tạo dựng nền độc lập của một nước Việt Nam thống nhất, bằng cách đem ba xứ Nam kỳ, Trung kỳ, và Bắc kỳ hợp lại thành một quốc gia thống nhất.
 
Xét rằng, ông đã có công phát triển nên ngoại giao với các ngoại cường, về công cuộc canh tân hiện đại hóa, công nông nghiệp.
Xét rằng, tóm lại ông đã có những cố gắng vượt mức để bình định bằng cách tập hợp mọi thành phần quốc gia…
Nay Liên Uỷ ban Chấp hành của Thượng viện và Hạ viện quyết định: Hãy hân hoan chào mừng Hoàng đế Bảo Đại của Việt Nam đến California và ngỏ lời chúc tốt đẹp nhất cho sự thành công cho mọi công việc chứ tương lai của ông, và quyết nghị một bản sao thích đáng của Quyết nghị này phải đạt tới Hoàng đế Bảo Đại của Việt Nam. Bản quyết nghị số 78 này được Liên Uỷ ban Chấp hành Lưỡng viện Lập pháp California chấp thuận.
Úy ban Chấp hành Thượng viện:
Ký tên, Chủ tịch David Roberti,
Chủ tịch Thượng viện, Mike Curtb, Phó Thống đốc, Uỷ ban Chấp hành Hạ viện, Chủ tịch Louis J. Papan,
Chủ tịch Hạ viện: While L. Brown Jr.




Đăng nhập để trả lời
0
ANNEXE I
TRAITE DE PROTECTORAT
6 juin 1884
Le Gouvemement de la République française: et celui de Sa Majesté le Roi d’Annam voulanl empêcher à jamais le renouvellement des difficultés qui se sont produites récemment, et désireux de resserrer leurs relations d’amitie et de bon voisinage, ont résolu de conclure une Convention à cet effet, et ont nommé pour leurs plénipotentiaries, savoir :
Le président de la République Française, M. Jules Patenôtre, envoyé extraordinaire et ministre pléniportentiaire de la République française à Pékin, officier de la Légion d’honneur, Grand-Croix de l’Etoile Polaire, etc., etc., etc, et Sa Majesté le Roi d’Annam,
Nguyen Van Tuong, 1 er Régent, ministre de l’Intérieur,
Pham Than Duat, ministre des Finances,
et Ton That Phan, chargé des relations extérieures, ministre des Travaux publics par intérim.
Lesquels, après s'être communiqué leurs pleins pouvoirs respectifs, trouvés en bonne et due forme, sont couvenus des articles suivants :
 
Article I
 
L’Annam reconnaît et accepte le Protectorat de la France.
La France représentera l’Anmam dans toutes ses relations extérieures.
Les Annamites à l’étranger seront placés sous la protection de la France.
 
Article II
Une force militaire française occupera Thuan-An d’une façon permanente. Tous les forts et ouvrages militaires de la rivière de Hué seront rasés.
 
Article III
Les fonctionnaires annamites depuis la frontière de la Cochinchine jusqu’à la frontière de la province de Ninh-Binh, continueront à administrer les provinces comprises dans ces limites, sauf en ce qui concerne les douanes, les travaux publics et, en général, les services qui exigent une direction unique ou l’emploi d’ingénieurs ou d’agents européens.
 
Article IV
Dans les limites ci-dessus indiquées, le Gouvemement annamite déclarers ouverts au commerce de toutes les nations, outre le port de Quin-Nhon, ceux de Tourane et de Xuan-Day. D’autres ports pourron être ultérieurement ouverts apris une entente préalable. Le Gouvernement français y entretiendra des agents placés sous les ordres de son Résident à Hué.
 
trang 594
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.09.2019 21:29:12 bởi Thanh Vân>
Article V
Un Résident Général, Représentant du Gouvemement Français, présidera aux relations extérieures de l’Annam et assurera l’exercice régulier du Protectorat, sans s’immiscer dans l’administration locale des provinces comprises dans les limites fixées par l’article III. II résidera dans la citadelle de Hué avec une escorte militaire
  Le Résident Général aura droit d’audience privée et personnelle auprès de Sa Majesté le Roi d’Annam.
 
Article VI
Au Tonkin, des Résidents ou Résidents-Adjoints seront placés par le Gouvernement de la République dans les chefs-lieux où leur présence sera jugéc utile. Ils seront sous les ordres du Résident Général.
Ils habiteront dans la citadelle, en tout cas, dans l’enceinte même réservéc au mandarin; il Ieur sera donné, s’il y a lieu, une escorte française ou indigène.
 
Article VII
Les Réidents éviteront de s’occuper des détails de l’administration intérieure des provinces. Les fonctionnaires indigènes de tout ordre continueront à gouverner et à administre sous leur contrôle; mais ils devront être révoqués sur la demande des Autorités françaises.
 
Article VIII
Les fonctionnaires et employes français de toute catégorie ne communiqueront avec les Autorités annamites que par l’intermédiaire des Résidents.
 
Article IX
Une ligne télégraphique sera établie de Saigon à Hanoi et exploitée par des employés français.         
Une partie des taxes sera attribuée au Gouvemement Annamite qui concédera en retour, le terrain nécessaire aux stations.
 
Article X
En Annam et au Tonkin les Etrangers de toute nationalité seront placés sous la juridiction françaice
L’Autorité française statuera sur les contestations, de quelque nature qu’elles soient, qui s’élèveront entre Annamites et Etrangers, de même qu’entre Etrangers.
 
Article XI
Dans l’Annam propremnt dit, les Quan-bô percevront l’impôt ancien sans le contrôle des fonctionnaires français et pour le compte de la Cour de Hué.
Au Tonkin, les Résident centraliseront, avec le concours des Quan-bô, le service du même impôt dont ils surveilleront la perception et l’emploi. Une Commission composée de fonctionnaires français et annamites déterminera les sommes qui devront être affectées aux diverses branches de l’administration et aux services publics. Le reliquat sera versé dans les caisses de la Cour de Hué.
 
Article XII
Dans tout le Royaume, les douanes réorganisées seront entièrement confiées à des admimstrateurs français. Il n’y aura que des douanes maritimes et de frontières placées partout où le besoin s’en fera sentir. Aucune reclamation ne sera admise en matière de douanes au sujet des mesures prises jusqu’a ce jour, par les autorités militaires.
Les lois et règlements concenant les contributions indirectes, le régime et le tarif des douanes et le régime sanitaire de la Cochinchine seront applicables aux territoires de l’Annam et du Tonkin.
 
Article XIII
Les citoyens ou protégés français pourront, dans toute l’étendue du Tonkin et dans les ports ouverts de l’Annam, circuler librement, faire le commerce, acquérir des biens meubles et immeubles et en disposer, S. M. le Roi d’Annam confirme expressément les garanties stipulées par le traité du 15 Mars 1874 en faveur des missionnaires et des chrétiens.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.11.2019 16:43:13 bởi Ct.Ly>
Article XIV
Les personnes qui voudront voyager dans l’intérieur de I’Annam ne pourront en obtenir l'autorisation que par l’intermédiare du Résident Général à Hué ou du Gouvemeur de la Cochinchine.__            
Ces autorités leur délivreront des passeports qui seront présentés au Visa du Gouvemement Annamite.
 
Article XV
La France s’engage à garantir désonnais l’intégrité des Etats de Sa Majestc le Roi d’Annam, à défendre ce souverain contre les agressions du dintégrit contre les rébellions du dedans.                                
A cet effet, l’autorité française pourra faire occuper militairement sur le temtoire de l’Annam et du Tonkin, les points qu’elle jugera nécessaires pour assurer l’exercice du Protectorat.
 
Article XVI
S. M le Roi d’Annam continuera, comme par le passé, à dinger l’administration intérieure de ses Etats, sauf les restrictions qui résultent de la présente Convention.
 
Article XVII
Les dettes actuelles de l’Annam vis-à-vis de la France seront acquittées au moyen de paiements dont le mode sera ultérieurement déterminé. S. M. le Roi d’Annam s’interdit de contracter aucun emprune à l’étranger sans l’autorisation du Gouvernement Français.
 
 
ARTICLE XVIII
Des conférences ultérieures régleront les limites de port ouverts et des concessions françaises dans chacun de ces ports, l’établissement des pharcs sur les côtes de l’Annam du Tonkin, le régime et l’exploitation des mines, le régime monétaire, la quotité à attribuer au Gouvemcnent Annamite sur le produit des douanes, des régies, des taxes télégraphiques et autres revenus non visés dans I’article XI du présent Traité.
La présente Convention sera soumise à l’approbation du Gouvernement de la République Française et de S. M. le Roi d’Annam et les ratifications en seront échangées aussitôt que possible.
 
 
ARTICLE  XIX
Le présent Traité remplacera les conventions des 15 mars, 31 aout et 23 novembre 1874.
En cas de contestation le texte français fera seul foi.
En foi de quoi, les pléniporentiaires respectifs ont signé le présent Traité et y ont apposé leur cachet.
Fait à Hué, en double expédition le 6 juin 1884.
Patenôtre
  hINH SIGNEbd
 
S. M. le Roi d’Annam
1884

sIGNE BD1 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.11.2019 10:06:36 bởi Thanh Vân>
ANNEXE II
CONVENTION PRELIMINAIRE FRANCO-VIETNAMIENNE
 DU 6 MARS 1946
 
Entre les hautes parties contractantes ci-après désignées : le Gouvernement de la République française, représenté par M. Sainteny, délégué du Haut- Commissaire de France régulièrement mandate par l’amiral d'Argenlieu, haut- commissairc de France, dépositaire des pouvoirs de la République française, d’une part, et le Gouvernement du Vietnam représenté par son président, M. Ho Chi Minh, et le délégue spécial du Conseil des Ministres, M. Vu Hong Khanh, d’autre part, il est convenu ce qui suit:
1*) Le Gouvemement française reconnait la République du Vietnam comme un État libre ayant son gouvernement, son parlement, son armée et ses finances, faisant partie de la Fédération Indochinoise et de l’Union Française.
En ce qui concrne la réunion des trois Ky, le gouvernement français s’engage à entériner les décisions prises par la population consultée par référendum.
2*) Le Gouvemement du Vietnam se déclare prêt à accueillir amicalement l’armée française lorsque, conformément aux accords internationaux, elle relèvera les troupes chinoises.
Un accord annexe, joint à la présente convention préliminaire fixera les modalités seron lesquelles s’effectueront les opérations de relève.
3*) Les stipulations ci-dessus formulées entreront immédiatetnent en vigueur. Aussitôt après l'échange des signatures, chacune des hautes parties contractantes prendra toutes mesures nécessaires pour faire cesser sur-le-champ les hostilités, maintenir les troupes sur leurs positions respecrives et créer le climat favorable nécessaire à l’ouverture immédiate de négociations amicales et franches.
Ces négociations porteront notamment sur les relations diplomatiques du Vietnam avec les Etats étrangers, le statut futur de l’Indochine, les intérêts économiques et culturels français au Vietnam.
Hanoi, Saigon ou Paris pourront être choisis comme siège de la conférence.
 
ACCORD ANNEXE
A LA CONVENTION PRELIMINAIRE INTERVENUE ENTRE
LE GOUVERNEMENT DE LA REPUBUQUE FRANCAISE ET LE GOUVERNEMENT DU VIETNAM
 
Entre les hautes parties contractantes désignées à la Convention préliminaire, il est convenu ce qui suit:
1*) Les forces de relève se composeront:
a) de 10.000 Vietnamiens avec leurs cadres vietnamiens relevant des autorités militaires du Vietnam;
b) de 15.000 Français y compris les forces françaises résidant actuellement dans le territoire du Vietnam, au nord du 16e parallèle. Ledits éléments devront être composés uniquement de Français d’origine métropolitaine à l’exception des troupes chargées de la garde des prisonniers japonais.
L’ensemble de ces forces sera place sous le commandement supérieur français, assisté de délégués vietnamiens. La progression, l’implantation et l’utilisation de ces forces seront définies au court d’une conférence d’état major entre les représentants des commandants français et vietnamiens, laquelle se tiendra dès le débarquement des unités françaises.
Des commissions mixtes seront crées, à tous Ies échelons, pour assurer dans un esprit d’amicale collaboration la liaison entre les troupes françaises et les troupe vietnamiennes.
2*) Les élements français des forces de relève seront répartis en trois catégories :
a)        Les unités charges d’assurer la garde des prisonniers de guerre japonais Ces unités seront rapatriées dès que leur mission sera devenue sans objet par suite de l’évacuation de prisonniers japonais, en tout cas dans le délai maximum de dix mois.
 
b)      les unités chargées d’assurer, en collaboration avec l’armée vietnamienne, le maintien de l’ordre public et la sécurité du territoire vietnamien. Ces unités seront relevées chaque année par cinquième par l’armée vietnamienne, cette relève étant donc effectivemeat réalisée dans un délai de cinq ans.
c)      les unités  chargées de la défense des bases vietnamiennes tiendront garnison; des zones de cantonnement, nettement délimitées, leurs seront assignées.
3*)    le gouvernement français s’engage à ne pas utiliser les prisonniers japonais à des fins militaire.
Fait à Hanoi, le 6 mars 1946.
Signé : Sainteny, Salan, Vo Nguyen Giap.
 
 
$$$
 
 
 
ANNEXE III

DECLARATION COMMUNE
 FAITE LE 5 JUIN 1948 EN BAIE D’ALONG
par M. Emile Bollaert, Haut Commissaire de France pour l’Indochine et M. le général Nguyen Van Xuan, Président du Gouvemement Central Provisoire du Vietnam, en présence de S. M. Bao-Dai.

En présence de S. M. Bao-Dal,
M. Emile Bollaert, Haut-Commissaire de France pour l’Indochine, agissant au nom de la République française,
M. Nguyen Van Xuan, Président du Gouvernement Provisoire du Vietnam assisté de MM. Nghiem Xuan Thien et Dang Huu Chi, Phan Van Giao, Nguyen Khoa Toan et Dinh Xuan Quang, Tran Van Huu et Le Van Hoach, réprésentant respectivement le Nord-Vietnam, le Centre-Vietnam et le Sud Vietnam.
On fait la déclaration suivante:
1)    La France reconnait solennellement l’indépendance du Vietnam auquel il appartient de réaliser librement son unité. De son côté le Vietnam proclame son adhésion à l’Union française  en qualité d’Etat  associé à la France. L’indépendance du Vietnam n'a d’autres limites que celle que  lui impose son  appartenance à l’Union française.
2)       Le Vietnam s’engage à respecter les droits et les intérêts des nationaux français, à assurer inconditionnellement le respect des principes démocratiques et à faire appel par priorité, aux conseillers et techniciens français pour les besoins de son organisation intérieure et de son économie.
3)       Dès la constitution d’un gouvernement provisoire, les représentants du Vietnam passeront avec les représentants de la République française, les divers  arrangements particuliers convenables, d’ordre culturel, diplomatique, militaire, économique, financier et technique.
Fait en double original, en baie d’Along, le cinq juin mil neuf cent quarante huit.
 
Emile Bollaert
Bao-Dar
Nguyen Van Xuan
Nghiem Xuan Thien, Dang Huu Chi,
Phan Van Giao, Nguyen Khoa Toan, Dinh Xuan Quang
 Tran Van Huu, Le Van Hoach. 

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.11.2019 22:45:23 bởi Ct.Ly>
ANNEXE IV
............................  ..  ......................  Paris, le 8 mars 1949
 
LE PRÉSIDENT
DE LA
RÉPUBLIQUE
 
LE PRESIDENT DE LA REPUBUQUE FRANCAISE PRESIDENT DE  L’UNION  FRANCAISE
A
SA MAJESTE BAO-DAI
 
Sire,
Vous avez bien voulu exprimer le désir de voir confirmer et préciser, en ce qui concerne l’unité et l’indépendance du Vietnam, les principes posés par la délaration commune faite le 5 juin 1948 en baie d’Along par  M. Emile Bollaert, Haut-Commissaire de France en Indochine et le Général Nguyen Van Xuan, Président du Gouvernement Central Provisoire du Vietnam, en prénsence de Votre Majesté.
Ce désir rencontre celui du gouvernenment français qui, après en avoir délibéré en Conseil des ministres, m’a prié, en ma qualité de président de I’Union française, de procéder, par échange de lettres avec Votre Majesté, à la condusion d'un accord en vue de préciser, pour application, les principes de la déclaration du 5 juin.
II appartiendra au gouvernement de Votre Majesté, d’une part, de conclure avec le Haut Commissaire de France en Indochine les conventions particulières ou provisoires qui régiront, compte tenu des règles posées par le présent échange de lettres et de l’état de fait existant; jusqu’au rétablissement de l'ordre et de la paix, les rapports de l’Union française et du Vietnam; d’autre part, de préparer, avec le représentant de la France, et en liaison avec les gouvernements royaux du Laos et du Cambodge, les règlements nécessaires tels qu’ils découlent des présentes.
Sur ces bases et dans ces conditions, je confirme au nom du gouvernement de la République française mon accord aux dispositions énoncées ci-dessous.
 
I. UNITÉ DU VIETNAM. - Nonobstant les traités antérieurs dont elle pourrait se prévaloir, la France réaffirme soIennllement sa décision de n’opposer aucun obstacle de droit ou de fait à l’entrée de la Cochinchine dans le sein du Viemam, défini comme constitué par la réunion des territoires du Tonkin (Nord-Vietnam), de l'Annam (Centre Vietnam) et de la Cochinchine (Sud- Vietnam).
Mais le rattachement de la Cochinchine au reste du Viemam ne pourra être considéré comme légalement acquis qu’après libre consultation des populations intéressées ou de leus représentants.
L'ensemble des dispositions du présent accord ne sera valable qu’en cas de rattachement effectif et légal de la Cochinchine au reste du Vietnam.
A cet effet, le gouvernement de la République française s’engage à mettre en oeuvre les procédures prévues par la Constitution.
Dès achèvement de la procédure prévue ci-dessus, le gouvernement  français reconnaîtra définitivement l’Union du Vietnam, tel qu’il vient d’être défini.
Le gouvernent français renonce à se prévaloir du statut particulier conféré par ordonnances royales aux trois villes de Hanoi, Haiphong et Tourane.

L’administration des populations non vietnamiennes dont l’habitat historique cst situé sur le territoire du Vietnam tel qu’il vient d’être défni et qui ont toujours relevé traditionnellement de la couronne d'Annam, fera l’objet de statuts particuliers, consentis aux représantan de ces populations par S. M. l’Empereur. Ces statuts seront déterminés en accord avec le gouvernement de la République française qui a, sur ce point, des obligations particulières vis- à-vis de ces populations. Ils devront garantir à la fois, les droits éminents du Vietnam et la libre évolution de ces populations dans le respect de leurs traditions et de leurs coutumes. 
 
 
II. QUESTION DIPLOMATIQUE. - La politique extérieure de l’Uinion française dans le cadre de laquelle le Vietnam exerce ses droits par ses délégués au haut conseil et par sa diplomatic ci-dessous définie, sera examinée et coordonnée sous la direction et la responsabilité du gouvernement de la République française, en haut conseil de l’Union où le gouvernement du Vietnam sera représenté par des délégués librement choisis par lui.
Pour l’exécution des directives générales ci-dessus, en matière de politique extérieure, S. M. L’Empereur du Vietnam associera l'activité de sa diplomatic celle de l’Union française.
Les chefs des missions diplomatiques etrangères au Vietnam seront accrédités auprès du président de l’Union française et de S. M. L’Empereur du Vietnam.
Les pays auprès desquels le Vietnam sera représenté par une mission diplomatique seront déterminés après accord avec le gouvernment français.
L’unité de la politique internationale de l’Union française dans ces Etats sera assurée à la fois, par les directive générale arrêtée, le haut conseil  de l'Union française entendu, et transmises par le gouvernemement de la République au gouvernememeut du Vietnam, ainsi que par les contacts directs que les diplomates français et vietnamiens assureront entre eux. Dans les autre Etats, le Vietnam sera représente par les missions diplomatiques du gouvernement de la République française qui pourront comprendre dans Ieur sein des représentants du Vietnam.
Le Vietnam est habilite à négocier et à signer des accords relatifs à ses intérêts particuliers,à la condition expresse qu’avant toute négociation, il soumette ses projets au gouvernement de la République pour examen en haul conseil et que ces négociations soient menée en lisison avec les missions diplomatiques de la République. L’avis favorable du haul conseil sera nécessaire pour que les accords ainsi conclus deviennent définitifs.
Le gouvernement de la République française est disposé sur la demande du gouvernement du Vietnam à s’entremettre pour l’ouverture des consulats vietnamiens dans les pays étrangers où Ie Vietnam estimera avoir des intérêts particuliers. Les consuls vietnamiens exerceront leur activité : dans les Etats où le Vietnam a une mission diplomatique, sous la direction et le contrôle du chef de cette mission, en liaison avec le chef de poste diplomtique du gouverement de la République française ;
Le gouvernement de la République française s’engage à présenter et à soutenir la candidature du Vietnam lorsqu’il remplira les conditions générales prévues par la Charte des Nations unies pour l’admission au sein de cet organisms.
 
III. QUESTIONS SOLITAIRES. — Le Vietnam a son armée nationale chargée du maintien de l’ordre, de la sécurité interne et de la défense de l’Empire. Dans ce dernier cas, elle est éventuellement appuyée par les forces de l’Union Française. L’armée vietnamienne participe également à la défense des frontières de l’ Union française contre tous lesennemis extérieurs.
Les effectifs de l’armée nationale vietnamienne et ceux de l'armée de l’Union française stationnant au Vietnam seront fixés par un accord particulier, de telle manière que l’ensemble de moyens disponible puisse assurer efficacement, en temps de guerre, la défense du territoire du Vietnam et de l’Union  Française.
L’armée vietnamienne est composée de nationaux vietnamiens encadrés par des officiers vietnamiens; des instructeurs et des conseillers technique français seront mis à la disposition du Vietnam.
La cadres vietnamiens seront formes dans la l’écola militaire vietnamienne et, éventuellement, dans les école françaises où ils seront admis sans aucune discrimination. Pour faciliter la coopération en temp de guerre, la composition interne de l’armée vietnamienne sera ausi proche que possible de celle de l'armée de l’Union française.
L’armée vietnamienne sera à la charge des budgets du gouvernement du Vietnam. La commandes de matériel seront faites par le gouvernement du Vietnam au gouvernement français.
En vue de contribuer efficacement à la défense de l’Union française, l'armée de l’Union française stationne sur territoir du Vietnam en des bases et garnisons dont la nomenclature, les limites, et le statue feront l’objet d’une convention particulière. En tout état de cause, ce satut sera tel qu’il permette à ces forces de remplir pleinement leur mission tout en respectant le principe de la souveraineté nationale vietnamienne.  Elles pourront circuler  Iibrement entre la bases et garnisons qui leur sont assignées suivant les modalités qui seront précisées dans la convention militaire précitée. Seron le principe de coopération totale au sein de l’Union Française, elles comprendront des éléments vietnamiens dont les règles de recrutement seront également déterminées par ladite convention.
Pour assurer une action commune immédiatement efficace en temps de guerre, un comité militaire permanent, composé d'officiers d’état major des deux armées, sera constitué des le temps de paix pour préparer un plan de défense commune et de coopération militaire entre l’armée nationale et  l’armée de l’Union française; il pourra éventuellement servir, dans le temps de paix, d’organe de liaison permanent entre ces deux armées. Les modalités de composition et de fonctionnement en temps de paix de ce comité militaire figureront à la convention spéciale annexée au traité franco-vietnamien.

En temps de guerre, la totalité des moyens de défense constitués notamment par l’armée vietnamienne et l’année de l’Union française sera mise en commun, et le comité militaire constituera le noyau d’un état-major mixte dont la direction et le commandement seront assuré par un officier général français chargé du théâtre d’opérations intéressant principalement le Vietnam et dont l’un des chefs d’état-major sera vietnamien.
 
IV. SOUVERAINETE INTERNE. - Le gouvernement du Vietnam exercera dans leur plénitude les attributions et prérogatives qui découlent de sa souveraineté interne. II passera avec le haut commissaire de France en Indochine les conventions particulières ou provisoires, qui, compte tenu des circonstances, deter mineront les modalités de transfert au Vietnam des compétences précédemment exercées par l’autorité française.

Le gouvernement du Vietnam fera appel, par priorité, aux ressortissants de l’Union française, chaque foii qu’il aura besoin de conseillers, de techniciens ou d’experts dans les services, étitablissements publics ou dans les entreprises à caractère intéressant la défense de l’Union française.

La priorité accordée aux ressorrissants de l’Union française ne cessera de jouer qu’au cas d’impossibilité du gouvernement français de fournir le personnel demandé. Les modalités d’application de cette disposition seront précisées par un texte ultérieur.

Aucun citoyen français, aucun ressortissant de l’Union française ne pourra faire partie d’une administration vietnamienne sans avoir obtenu au préalable I’autorisation ou l’agrément du réprésentant  de l’Union française et réciproquement aucun Viemamien ne pourra appartenir à une administration française ou de l’Union française sans avoir obtenu au préalable l'autorisation ou l’agrément de son gouvernement.

V.  QUESTIONS JUDICIAIRES. - Le Vietnam reçoit pleine et entière juridiction pour toutes les instances civiles, commerciales et pénales sur tout le territoire du royaume.
Toutefois, les instances civile et commerciales opposant entre eux ou à des Vietnamiens des ressoitissants de l’Union française autres que Vietnamiens ou des ressortissants des Etats avec lesquels la France a conclu des conventions impliquant un privilège juridictionnel et les poursuites pénales exercées à raison des infractions dans lesquelles seront impliquées ou lésées les même  catégories de personnes ou qui arront été commises au  préjudice de l’Etat français seront soumises à des juridictions mixte  dont la composition et le fonctionnement feront l’objet d’une convention judiciaire annexée au traité franco - vietnamien.
Cette convention respecters cependant le principes ci - après :
1*) Les jugements rendus comporteront la formule exécutoire suivante : « Au nom de l’Union française et de la Nation vietnamienne, S. M. l’Empereur du Vietnam fera l’objet d’accords ultérieus prévoyant une procédure simplifiée d’ exequatur.
2*) La loi applicable sera la loi française toute les fois qu’un Français sera en cause. 
3*) La loi applicable sera la loi vietnamienne toutes les fois qu’un Français n’étant pas en cause, il apparitra que cette loi est applicable à la solution du conflit.
A défaut la loi française sera applicable.
Enfin, il est précisé que confornément aux règles du droit international privé, les matières relevant du statut personnel demeureront régies par la loi national les parties.
 Le contentieux administratif sera réglé suivant les mêmes principes et sur une base de réciprocité totale.
La convention judiciaire particulière réglera également toutes autres questions relatives au présent chapitre.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.11.2019 14:20:06 bởi Thanh Vân>
VI. QUESTIONS CULTURELLE. -  Dans la cycle primaires et secondaires, la France peut ouvrir librement au Vietnam des établissements d’enseignement publics et privés sous la seule réserve de I’observation des lois et règlements territoriaux en cette matière.
Ces lois et règlements ne devront faire aucune discrimination, directe ou indirecte, entre Français et Vietnamiens.
 
Les qualifications professionnelles et morales requises pour enseigner dans ces établissements sont les mêmes que celles en vigueur en France.
Toutes ces dispositions s’appliquent également à  l’Enseignement technique et professionnel.
Les établissements français appliquent la programmes en vigueur en France; un cours d’histoire et de civilisations vietnamiens  y sera cependant obligatoirement professé.
Les élèves vietnamiens ont libre accès aux établissements français installés au Vietnam. Ces établisement ouvriront un cours de langue vietnamienne obligatoire pour les élèves vietnamiens.
Une place privilégiée, intermédiaire entre la langue nationale et les langues étrangères, sera réservée à la langue française, langue diplomatique au Vietnam, dans les établissements vietnamiens.
Le Vietnam accepte que la langue française ait dans son enseignement secondaire une place suffisante pour permettre éventuellement de suivre les cours supérieurs en cette langue à la fin de ce cycle : il I’efforcera d'en assurer l’enseignement dans le plus grand nombre possible d'écoles primaires.
Un système d'équivalence entre les diplômes Vietnamiens et les diplômes officiels français sera établi par l’accord conclu à cet effet, dès que les programmes français et vietnamiens auront pu être confrontés.
Le Vietnam a le droit de pourvoir librement à son enseignement supérieur; de même il reconnaît à la France le droit de continuer, au Vietnam, son enseignement supérieur au titre de l’Union française.
 
  Toutefois, en raison des difficultés pratiques actuelles et notamment pour permettre la formation d’un personnel vietnamien adéquat, une Université commune est crée, dans le respect des lois et règlements territoriaux. Le statut de cette université fera l’objet d’un accord spéccial entre la France et le Vietnam. Les autres Etats associés d’Indochine pourront, s’ils le désirent participer à cet organisme et engager à cette fin les négociations nécessaires avec la France et le Vietnam.
Le statut de cette université devra respecter la principes ci-après:
L’Université commune devra constituer un organisme répondant aussi complétement que possible aux principes d’autonomie de l’enseignement supérieur appliqués dans la plupart des grands Etats modermes.
Elle sera dirigée par un recteur, nommé par décision conjointe des gouvernements intéressés et de la France, après présentation de trois candidats par le comité consultatif de l’Université. Le recteur sera assité de doyens, pour la direction de chaque établissement supérieur, et, pour la direction de l’Université, d’un conseil d’Université comprenant, sous la présidence du recteur, les doyens, les représentants des professeurs, les représentants des étudiants et les personnalités s’intéressant aux questions d’éducation ainsi que les directeurs des grands établissements scientifiques et un représentant de chacun des gouvernements intéressés.
L’enseignement se fera dans la langue choisie par les fondateurs pour les fondations et instituts spéciaux.
Dans l’enseignement classique :
a) toutes les disciplines seront enseignées en français,
b) l’enseignement vietnamien se fera suivant des modalités à déterminer par le conseil de l’ Université.
Les diplômes détivrés par l’Université commune seront considéres comme officiels par les deux Etats; toutefois, les diplômes délivrés dans un éventuel cycle purement vietnamien ne donnerons pas automatiquement accès aux postes d’enseignement français et aux emploirs, donnés sur titre, de l’Union française.
En vue de faciliter au maximum l’expansion de l'enseignement supérieur, les droits universitaires seront maintenus aussi bas que possible et devront recevoir l'accord des gouvernements intéressés.
L’Université commune réservera le nombre de places nécessaire aux boursiers des gouvernements intéressés.
Le sort des établissements scientificnes existant actuellement au Vietnam sera réglé par des conventions particulières à passer soit entre l’Etat français et l’Etat vietnamien, soit entre l’Etat vietnamien et la direction de l’établissement intéressé. Néanmoins, les quelqnes principes ci-après seront obligatoirement respectés.
L’actif de l'ensemble du patrimoine de l’Ecole française d’Extrême - Orient sera la copropriété des trois Etats indochinois et de la France ; il sera frappé d’inaliénabilité. Le conseil d’administration comprendra des représentants des trois Etats indochinois et de la France. Le directeur sera nommé par décision conjointe des quatre gouvernements après présentation de trois candidatures par Ies sections compétentes de l'institut de france.
La situation des instituts Pasteur installés sur le territoire du Vietnam sera réglée par contrats passés entre ces organismes et le gouvernement vietnamien.
Les contrats à passer respecteront cependant les principes ci-après :
Les établissements existants sont le copropriété des trois Etats indochinois et de la France pour les immeubles et terrains attenants de Saigon, Dalat, Nhatrang.
Le Vietnam est propriétaire des immeubles et terrains attenants de I’institut Pasteur de Hanoi; il s'engage, cependant, à passer, pour Hanoi, un contrat identique à celui adopté pour les autre établissements.
L’institut Pasteur garde la propriété des exploitations et terrains qu’il a reçus par dons ou legs.
L’institut Pasteur est propriétaừe do xnatérieỉ sdenttfique.
L’applicatlon du contrat actuel se poursuivra jusqu’a expiration normale, fin décembre 1949.

Archives:
Chaque gouvernement conserve la propriété de ses archives. La conservation et la gestion de ces archive se feront suivant des modalités à déterminer.
Les questions de bibliothèques, de l’Office du riz, du Service météorologique, de l’Institut océanographique et des Musée feront l’objet d’accords particuliers.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.11.2019 21:23:48 bởi Ct.Ly>
VII. – Questions économiques et financières -   Les ressortissants vietnamiens en France et dans le autre partie de l’Union française, le ressortissants de L’Union au Vietnam jouiront de la même liberté d’établissement que les nationaux dans le cadre des lois et règlements territoriaux. Ils jouissent des libertés de circulation, de commerce et plus généralement de toutes les liberté démocratiques dans ce domaine.
Le biens et entreprise appartenant à de ressortissants de l’Union française sur le territoire du Vietnam bénéficient du même régime que celui réservé aux biens et entreprises de ressortissants vietnamiens, notamment en ce  qui concerne la fiscalité et la législation du travail. Cette égalité de statut sera reconnue à titre de réciprocité aux biens et entreprise des ressortissant vietnamiens dans le territoire de l’Union française.
Le régime juridique des entreprises et biens appartenant à des ressrtissantssants de l’Union française sur le territoire du Vietnam ne pouna être modifié que d’un commun accord entre le gourvernement de la République française et le gouvernement du Vietnam.
Seront rétablis dans leurs droits et dans leurs biens, dans leur étar actuel, le ressortissants de l’Union française qui en ont été privés par suite des circonstances de fait ayant intéressé le Vietnam depuis le mois de man 1945. Un comité mixte sera désigné pour fixer les modalités de cette restitution.
Le capitaux français pourront s’investir librement au Vietnam, sous le réserve ci-après :
a)  le gouvernement du Vietnam participera, s’il l’estime utile, au capital des entreprises classée dans un secteur dit d’intérêt national,
b)  l'ouverture de entreprise classées dans un secteur dit de défense nationale et subordonnée à l'autorisation du gouvernement du Vietnam,
c)  le gouvernement du Vietnam pourra exercer un droit de préemption sur I’actif des entreprises qui viendraient  à cesser leurs activités.
Une commission mixte franco - vietnamienne définira préalablement l’étendue exacte de ce secteurs ainsi que la portée précise des limitations au principe de libre établissement qui y sont introduite.
Le réserve qui précèdent ne s’appliquent ni aux biens et entreprises actuellement existant au Vietnam ni aux développements devant résulter de leur activité nonnale.
Le gouvernement du Vietnam administrera souverainement se finances. II établira et gérera son budget. Il disposera de toute les recettes perçues sur le territoire du Vietnam, à l’exception de celles affectées, d’accord avec le gouvernment français et le gouvernements des autres Etats associés, au financement des institutions communes ou à tout autre emploi à déterminer. Il pourra augmenter les impôts et taxes et en créer de nouveaux. Quand ceux- ci auront une incidence particulière sur le ressortissants de l’Union française, ils feront l’objet d’une consultation préalable de leurs représentants aux fins de maintenir une certaine harmonie fiscale entre le Vietnam et les autres Etats indochinois ainsi que l’exercice normal des activités économiques.
Le Vietnam sera en union monétaire avec les autres Etats indochinois. La seule monnaie ayant cours sur le territoire de cette union monétaire sera la piastre émise par l’institut d’émission de l’Indochine.
L’Insritut d’émission pourra émettre des vignettes différentes pour le Vietnam, le Cambodge et le Laos.
La piastre indochinoise fera partie de la zone franc. La parité entre la piastre et le franc ne sera pas cependant immuable, et pourra varier suivant les circonstances économiques. Toutefois, cette parité ne pourra être modifée qu’après consultation des Etats associés d’Indochine.
Le mécanisme des changes sera réglé par l’Office indochinois des changes.
Le Vietnam formera une union douanière avec les autre Etats indochinois. Il n’existera entre eux aucune barrière dounière. Aucune taxe ne sera perçue à leurs frotières communes, les mêmes tarif seront appliqués à l’entrée et à la sortie du territoire de cette l’Union.
S. M. l’Empereur du Vietnam, considérant que, dans le domaine économique et financier, il a des intérêts communs avec les souverains du Cambodge et du Laos, d’une part, avec l’Union française, d'autre part, et qu’il serait avantageux pour la Nation vietnamienne que ces intérêts soient harmonisés dans un but de prospérité générale, reconnait l’opportunité de la création d’organismes mixtes qui assurreront l’étude, l’harmonisation et la mise en oeuvre desdits intérêts.   
A cet effet, une conférence réunie en Cochinchine à la diligence du haut commissaire, où seront représentés à côté du gouvernement de la République française et du gouvernement de Sa Majesté, les souverains du Cambodge et du Laos, déterminera la composition et l’étendue des pouvoirs de ces organismes mixtes. Il a paru bon de réserver, dans ce but, à la compétence de la Conférence les points suivants :
1)    le service des transmissions,
2)    le contrôle des transmissions,
3)    le commerce extérieur et les douanes,
4)    le Trésor,
5)    le plan d’iquipement.
II est à préciser à ce propos, que la Conférence indochinoise, ci-dessus définie, sera appelée à donner son avis sur le plan d’équipement actuellement à l’étude.
Cette conférence établira elle - même, à l’ouverture de ses travaux, son réglement et sa procédure.
Le haut conseil de l’Union française pourra éventuellement être saisi pour avis et conciliation, s’il y a lieu.

* * *
Les instruments seront échangés à Saigon entre Votre Majesté et le haut - commissaire de France en Indochine et I'accord entrera en vigueur à la date de cet échange.
La déclaration commune du 5 juin 1948 et les présentes, ainsi que les conventions complémentaires qu’elles comportent, seront soumises à l’approbation du Parlement français et des instances vietnamiennes qualifiées pour constituer l’acte prévu à l’article 61 de la Constitution de la République française.
Le gouvernement de la République et moi-même sommes convaincus que la mise en oeuvre rapide par Votre Majesté et le représentant de la France, dans un esprit de mutuelle confiance et de bonne volonté réciproque, des dispositions qui précèdent contribuera efficacement au rétablissement de la paix au Vietnam, librement uni dans l’égalité et l’amitié à la France.
 Je prie Votte Majesté de bien vouloir agréer les assurances de la très haut considération
Le Président de la République,
Président de l’Union française
VINCENT AURIOL
Par le Président de la République,
Président de l’Union française
Le Président du Conseil des ministres
HENRI QUEUILLE


***



Cảm nghĩ của người ngoại quốc về Hoàng Đế Bảo Đại

Sống trong một tủ cấm thành rất cô đơn biệt lập, vị Hoàng đế tương lai này đã trải qua chín năm đầu của cuộc đời mình, bằng một nền học vấn sơ khai, lấy tam cương ngũ thường của Khổng Phu tử, để hun đúc ông trở thành vị Hoàng đế ở Á Đông. Chín năm sau, ông lại được trau dồi bằng giáo lý của phương Tây chúng ta, nghiền ngẫm từ văn chương, chính trị (Đại học đường PO), triết lý, khoa học... từ văn đến võ (Đánh gươm, cưỡi ngựa, lái máy bay, ô tô...), để có thể dung hòa được cả Đông và Tây...
Chưa tới hai mươi tuổi, ông trở về nước mình mà làm Hoàng đế, một thứ con trời, cha mẹ thần dân, để trị vì. Mà thần dân của Đức Vua, là thứ dân ý nhị, tinh anh, khôn ngoan và cần cù chăm chỉ. Họ biết tập hợp lại với nhau chặt chẽ, theo đạo hiếu trung, lấy quân thần, phụ tử làm chính. Đức Vua lấy hiệu là Bảo Đại, có nghĩa là vĩ đại, và huy hoàng... Đức Vua đang cố gắng, để thực hiện cái nghĩa ấy.
Ở vào thế kỷ hai mươi này, cả thế giới đang băn khoăn, để hòa hợp giữa Đông và Tây, hầu tìm lấy một kỷ nguyên mới, thì chính Đức Vua Bảo Đại đã cống hiến cho chúng ta bài học đắt giá đó qua cuộc đời lầm than, đau xót của con dân nước ông, mà Đức Vua vẫn thương yêu như một cha hiền, do cái lầm than, cơ cực của họ cũng chính là nỗi sầu tủi của chính cuộc đời lưu đày của mình. Cuộc thảm sầu này, có thể là cuộc thảm sầu chung, mà chúng ta cần phải biết...
Sau hai mươi lăm năm im lặng và suy gẫm, nay chính là lúc Đức Vua buộc phải nói lên cho cả nhân loại cùng biết...
* * *
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0