Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Bóng Tre Xanh

11 trả lời, 31 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.03.2020 22:08:26 bởi Thanh Vân>
 Bóng Tre Xanh
 
Đỗ Thúc Vịnh
 
Giải thưởng văn chương Gia Long 1942 - 1943
 
- I -
 
Trời tháng năm nắng như đốt.Thỉnh thoảng một ngọn gió trản thổi qua như quạt lửa vào mặt.Ngồi không, còn oi bức khó chịu, huống hồ Mơ lại ngồi đun bếp thì khó chịu đến đâu. Rơm nỏ quá, cháy ngùn ngụt; những lưỡi lửa nhấp nhô, leo lên cả miệng nồi, lên vung, và như muốn liếm cả vào tay vào mặt người ngồi đun. Mặt đỏ bừng tựa say rượu; mồ hôi chảy từng vệt dài trên trán, trên má, rồi nhỏ giọt xuống áo, xuống yếm làm ướt đầm như người ra mưa; tóc rối bù vướng cả rơm rác, tay chân lấm tấm những gio bụi; trông Mơ tiều tụy lạ.
Một mình trong gian nhà bếp chật hẹp, Mơ vừa thổi cơm, vừa luộc rau, vừa nấu một xanh mười canh cua, tay cầm que đời luôn luôn gạt gio, Mơ vội lắm. Trưa rồi! Ngoài sân bóng chum tương đã tròn xoe; ấy là lúc phải sắp cơm gánh ra đồng cho thợ gặt ăn, mà nào có ít! Những hai mươi người thợ, hai mươi xuất cơm ấy, trong vòng hai tiếng đồng hồ Mơ phải sắp cho đủ; nếu chậm bà Chánh chẳng chịu để yên.
Nghĩ đến bà Chánh, một bà mẹ chồng cay nghiệt, luôn mồm chửi con dâu, Mơ lại nơm nớp lo, vì đã trưa rồi; cho nên dù nóng bức đến cực điểm Mơ cũng không dám ngừng tay để quạt, chỉ mải miết chất lửa. Nồi cơm đã sôi sùng sục, Mơ lấy đôi đũa cả ghế xong, lấy lá chuối đậy kín miệng nồi, úp vung, đoạn bắc xuống gio, rồi quấn rơm đốt.
Vừa lúc ấy, một cậu bé trạc mười tuổi, đầu húi trọc, quần áo lấm be bét những đất, cát, mắt nhử quèn, mũi thò lò, chạy xuống bếp, mồm mếu máo :
-     Đói rồi, đo...o...ói rồi! không cho tôi ăn à?
Mơ ngảnh lại, chau mày :
-     Cậu chờ một tý nữa nào; bây giờ cơm mới đốt.
Thằng bé chạy đi khỏi; Mơ thở dài, tần ngần nhìn ra sân; ánh nắng chói lòa rọi xuống đống lúa chín mới gặt về làm vàng rực cả góc sân gạch; mấy con chuồn chuồn ngò bay lượn đi lượn lại, rồi đậu lên tầu cau như muốn phơi cho mình đét thêm ít nữa. Không một tiếng lá rơi; trưa hè ở thôn quê im lim như ngủ.
Mơ trông đống thóc mà nghĩ đến công việc của mình; vần vật suốt ngày, đem mồ hôi nước mắt, khó nhọc, vun thu để làm giàu cho kẻ khác; công lênh ấy họ trả ơn bằng những gì?
-    Những nhiếc móc, những khinh miệt. Thà rằng đi ở còn được đồng tiền công, chứ đằng này đi làm dâu, thứ nhất là ở chỗ quê mùa, con gái nhà nghèo đem gả bán vào nơi giầu có quyền thế, chỉ là một kiếp nô lệ. Bảo rằng chịu thương chịu khó thu vén công việc nhà chồng ấy là thu vén công việc cho mình; rồi về sau của cải ấy mình hưởng chứ đi đâu mà thiệt. Nhưng cái kiếp vợ lớn, chồng bé, vợ nghèo, chồng giầu, nó có được bền bỉ đến ‘‘về sau’’ mà yên hưởng những của cải mình vun thu tự bây giờ hay không? - Về sau là mờ mịt; mỉa mai thay!
Mơ nghĩ mà chán chường...
Bỗng tiếng ông Chánh ở nhà trên đưa xuống :
-     Cả ơi! chưa mang cơm cho thợ gặt người ta ăn à?
- Dạ, con mang đây ạ.
Mơ vừa nói vừa đứng dậy xếp bát đĩa, thức ăn vào gánh; đoạn rót đầy nước chè tươi vào một cái ấm tay bằng sành.
Một lúc sau, Mơ đã kẽo kẹt gánh cơm ra đồng mặc cho trời nắng gắt đương hun con đường đất gồ ghề, khiến người dẫm lên phải thấy bỏng rát cả chân.
Đã nửa tháng trời rồi, ngày nào Mơ cũng bận tíu tít hết việc nhà đến việc đồng, cho mãi đến hôm nay nhà ông Chánh mới gặt xong. Bọn thợ sau khi đập giúp hết đống lúa gặt về chất đầy một góc sân, tính đủ công sá và đã ra đi.Còn lại một mình
Mơ, chỉ một mình Mơ với bao nhiêu là việc, nào phơi thóc, nào gẩy rơm, để rồi còn đâm xay, sàng sẩy cho thành hạt gạo trắng tinh mà bao giờ cũng vậy, bà Chánh vẫn chề bỉu hết chê đớn, lại non nắng, với giã nhiều hạt gẫy ăn không ngon cơm, còn nhiều và còn nhiều nữa... nhưng biết làm thế nào ! Làm vừa ý bà Chánh để khỏi chê bai là một việc Mơ thấy khó như bắt một vì sao trên trời đem bỏ túi.
Hôm nay nhìn bọn thợ gặt ra đi, Mơ buồn thiu. Nửa tháng trời tuy bận, nhưng Mơ còn vui việc. Ngày gánh cơm cho thợ ăn, tối về quét thóc mà bọn họ đập bắn ra xa, Mơ thấy bà Chánh ít nói đến mình, vả lại bọn thợ vừa làm vừa hát, vừa pha trò, làm cho Mơ lắm lúc phải cười như nắc nẻ.
Bây giờ phơi phóng, Mơ chỉ có một mình, chiều đến được anh Bân là người theo trâu của ông Chánh làm giúp được phần nào thì được. Sáng phải bỏ thóc ra phơi, tối lại xúc vào; lai còn cơm nước cho người, lại còn rau cám cho lợn, mà lúc nào tiếng bà Chánh cũng the thé.
- Cả! mày không quay thóc thì bao giờ cho khô, hử?
- Cả! chim ăn hết thóc rồi, lấy gì mà đổ vào miệng? kìa!
- Cả! bây giờ mà mày chưa cho lợn ăn à! chỉ biết ăn cho béo hú lấy mình, còn lợn của người ta thì để chết đói ư?
Ấy, bà Chánh cứ luôn mồm nhiếc mắng như thế, và Mơ chỉ vâng dạ, rồi cắm cổ làm.
Mơ làm khỏe lắm, vần vật suốt ngày không mấy lúc nghỉ. Một cót ba thóc, đầy có ngọn mà chỉ độ hai tiếng đồng hồ, một mình Mơ đã xúc đổ ra sân phơi được hết. Mơ đổ từng thúng một giải ra khắp mặt sân, xong rồi lấy bàn trang đàn cho mỏng. Phơi hết thóc ăn, đến thóc giống. Mơ đổ ra từng nong, hết nong ấy đến nong khác, để từng hàng. Trời nắng không gợn một bóng mây. Mơ chỉ đội một chiếc nón tùm hụp che không kín người, phơi mình ngoài nắng, lần quay từng nong thóc. Quay hết mấy chục nong, mồ hôi đã đầm mình. Mơ ngồi ở hè bếp cởi phanh vạt áo ngực ra, cầm quạt nan quạt lấy, quạt để. Bỗng tiếng chó sủa rộn; một bà già vào quãng năm mươi, mắt toét nhem, mặt răn reo, người gầy sọm, quần áo vá nhằng vá nhịt, trông lôi thôi, lếch thếch, từ ngoài cổng rón rén đi vào. Mơ ngẩng đầu, sẽ hỏi:
- U lên làm gì thế?
- U gặt xong rồi, lên xem bà Chánh có bận thì làm giúp...
Bà lão chửa nói hết câu, tiếng bà Chánh ở nhà trên đã quát vọng xuống:
- Cả ơi! ra xem ai vào kia. Cứ ỳ ra đấy thôi.
Bà khách vội quăng nón vào một só bếp, rảo bước lên dẫy nhà năm gian lợp ngói làm bắt vần với nhặ bếp.
Bà Chánh đang ngồi trên phản, mồm bỏm bẻm nhai trầu, tay đếm cau bỏ vào lọ. Trông thấy, bà khách vội chắp tay chào:
- Lạy bà ạ.
Bà Chánh khẽ ngẩng đầu nhìn, rồi lại cúi xuống đếm cau:
- Không dám, bà Hai lên chơi đấy à?
Bà Hai vén áo ngồi xệp xuống bực cửa, bên xó cột:
- Bẩm bà, năm nay nhờ trời, nhà ta gặt có được khá không ạ?
- Cũng khá, còn bà?
- Bẩm, nhờ giời, nhà cháu cũng được chục thúng.
- Được vài chục thúng thôi à? chân ruộng tôi để cho bà làm là chân ruộng tốt đấy chứ.
- Bẩm chân ruộng tốt, nhưng vì nhà cháu kém phân gio.
- Ừ, có thế chứ, tại bà không chăm bón chứ gì? chứ mọi năm chân ruộng ấy bao giờ nhà tôi cũng gặt được nhiều thóc nhất đấy.
- Dạ
- Mà nếu không có phân gio thì sao không lên đây mà lấy?
- Bẩm, đã được bà cho làm rẽ ruộng là quí rồi, lại còn lấy cả phân gio nữa thì...
- Làm quái gì cái vặt ấy mà câu nệ. Thế đã gặt xong rồi chứ?
- Bẩm vâng. Mùa màng nhà cháu có nhiều nhõi gì mà chả xong. Hôm nay nhà cháu lên xem bà có bận thì để nhà cháu làm.
Bà Chánh cầm ống nhổ, nhổ cốt trầu, rồi cười nhạt:
- Khéo vẽ! Gặt, tôi đã mượn khoán. Còn phơi phóng thì con Cả, nhớn sù như thế lại chẳng làm được sao?
Nghĩ một lát, bà Chánh lại cong môi nói :
- Bây giờ nó cũng gớm lắm; cứ ỳ ra cả ngày, có giục làm mới làm.
- Bẩm cháu nó còn dại, còn mong bà dậy dỗ nhiều mới biết ăn, biết làm.
- Rát cả cổ mới được thế đấy; chứ như dạo đầu năm, nếu không phải là dâu con thì tôi đã tống khứ rồi.
- Dạ.
- Bà cũng phải bảo nó; chứ tôi chắc nó oán tôi lắm.
Bà Hai xuýt xoa:
- Dạ cháu nó đâu dám thế, thôi thì yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi, nó hư, bà cứ đánh cho nó nhừ đòn, thế là phúc cho nhà cháu.
Lúc ấy Mơ ngồi ở bếp lắng tai nghe mẹ chồng chê bai mình cùng mẹ đẻ mà tủi thân muốn khóc. Mơ không hiểu sao mẹ nàng lại không bênh vực nàng lấy nửa điều, trái lại, còn như xui mẹ chồng nàng cay nghiệt thêm nữa. Nàng rón rén nhòm lên nhà trên thấy bà Hai vẫn ngồi ở bực cửa, còn bà Chánh đang lục hộp trầu, lấy cho bà Hai một miếng. Cái cảnh hai bà thông gia mà phân biệt sang hèn một cách không ngượng nghịu như thế làm cho Mơ cảm thấy mình bị rẻ rúng liệt vào hàng tôi tớ trong nhà.
Mơ chép miệng toan quay đi, thì cậu cả ở đâu chạy đến gục đầu vào lòng bà Chánh nũng nịu:
- Đẻ ơi! đẻ cho con một xu.
Bà Chánh khẽ tát yêu vào má con:
-     Hư nào ! con giai gì mà có vợ rồi còn làm nũng mẹ. Hãy đứng lên chào bà Hai ngồi kia đi đã.
- Không con chả chào; bà ấy toét mắt bẩn bẩn là.
- Không được hỗn. Con nhà vô phúc ở đâu, thấy mẹ vợ lại không chào.
Bà Hai mỉm cười, nói nịnh:
- Cậu Cả sang quá; cậu cho tôi cái áo cũ nào.
Cậu Cả bĩu môi:
- Ứ ừ, chả cho.
Mơ không cầm nổi lòng được nữa; nước mắt trào ra, nàng quay đi thì vừa gặp anh Bân ở ngoài cổng chạy vào.
Bân trông thấy Mơ sẽ hỏi:
- Kìa, mợ cả làm sao mà khóc thế?
Mơ gạt nước mắt nói dối:
- Có làm sao đâu bụi vào mắt đấy.
Rồi hỏi lảng sang chuyện khác:
- Anh về làm gì? trâu đâu?
- Tôi quên không mang thừng đi bó cỏ nên về lấy -Trâu tôi đã buộc vào cọc, lại gửi ông Xã Dương, không ngại gì.
Nói vậy, nhưng Bân vẫn đứng nhìn Mơ đăm đăm chứ có đi tìm thừng đâu. Mơ thấy ngượng, khẽ gắt:
- Anh không đi lấy thừng, rồi còn ra trông trâu chứ đứng làm gì đấy?
Bân quay đi, nhưng không bớt tò mò:
- Ai như bà Hai ở trên nhà ấy, mợ cả ạ.
Mơ không trả lời, đợi lúc Bân mang thừng đi khỏi, nàng ngồi phệt xuống thành cối giã gạo gục đầu vào gối mà khóc.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.03.2020 23:17:42 bởi Thanh Vân>
 
- II -
 

Hồi Mơ còn bé, nhà cũng khá giả lắm, có những ngót chục mẫu ruộng cày chứ nào nghèo hèn gì. Mơ cũng như những trẻ khác nhà có bát ăn, bát để trong làng, được cắp sách đi học trường hàng tổng là một trường kiêm bị có ông giáo ở ‘‘tỉnh’’đổi về dạy, và được quan phủ về dự lễ khánh thành và hiểu dụ cho dân biết sự học là rất cần. Vì quan phụ mẫu đã dạy như thế, nên dân làng đua nhau cho con em đi học.
Thày, U Mơ, hiếm hoi chỉ được một mình Mơ là gái nên chiều chuộng lắm, vả lại nhà cũng chẳng túng bấn gì, vì vậy Mơ cũng được ngày ngày hai buổi cắp sách đến trường.
Được bốn năm lảng khuyết chân phó lý, thày Mơ cũng như trăm nghìn trai làng khác, hằng khát khao ngôi thứ ở chốn đình trung, bèn đầu đơn ứng cử. Sau một hồi vất vả, nay lên phủ, mai lên tỉnh, nhờ người này, cậy người khác ngót chục mẫu ruộng đã đem bán hết để thù phụng hết thày nho đến ông thừa, rút cục phó lý không được lại đeo thêm món nợ ngót hai trăm bạc của ông Chánh Hựu là ông chánh tổng đương thứ người làng.
Nhà đã sa sút, Mơ không được theo học nữa, phải ở nhà đỡ mẹ những công việc hằng ngày. Thày Mơ bất đắc trí sinh ra rượu chè,gắt gỏng, thường thường lại đến nhà ông Chánh Hựu là chỗ quan thầy đua đòi thuốc xái là đằng khác.
Ông Chánh là bực giầu có nhất vùng ấy, suốt tổng Thụy ai cũng biết tiếng, ổng lại giao du với các ông thừa, ông đề, và đã một lần mời cả quan Phủ về chơi xơi rượu mừng cho ông được thăng hàm Chánh cửu phẩm bá hộ, nên hống hách lắm. Dân làng đua nhau đến xu phụ; thày Mơ cũng ở trong số ấy, nhưng được ông Chánh biệt đãi hơn, tin cẩn hơn; vì thế ông Chánh thấy làng khuyết chân phó lý, mới giúp đỡ cho thày Mơ ra tranh. Việc tuy hỏng nhưng không vì thế mà ông Chánh bớt lòng tin dùng thày Mơ là một tay chân đắc lực của ông từ trước đến giờ. Hơn thế, như muốn an ủi kẻ thất bại, ông lại còn ngỏ lời hỏi Mơ cho con trai ông là một cậu quý tử con một, tuy tuổi hai người có chênh nhau đến mười năm. Thế là Mơ bị đem đánh giá trừ với món nợ ngót hai trăm là một số tiền ông Chánh thừa biết nhà Mơ khó lòng trang trải cho xong được. Ông Chánh còn tỏ cho hàng tổng biết là mình quảng đại và hào phóng, nên sửa soạn tiệc cưới rất linh đình, mời cả hàng tổng đến uống rượu, và một lần nhà ông lại được quan phụ mẫu thân về tận nhà mừng cho ông, khiến dân làng đâu cũng xì xào:  ‘‘đám cưới sang quá nhỉ, Mơ tốt số vào bực nhất đấy !’’
Bạn gái có ý ghen tỵ với số phận Mơ; trái lại bạn trai như chê trách, nên khối bài vè nhảm nhí truyền đến tai Mơ. Có anh lại tinh nghịch chép mấy câu phong dao gửi cho nàng, làm nàng tủi thân phát khóc:
" Tham giàu em lấy thằng bé tỉ tì ti,
 Làng trên xã dưới thiếu gì trai to.
 Em đem thân cho thằng bé nó giày vò,
 Mùa đông tháng giá nó nằm co trong lòng.
Cũng đa mang là gái đã có chồng,
 Chín đêm trực tiết nằm không cả mười.
 Nói ra sợ chị em cười,
 Má hồng bỏ quá thiệt đời xuân xanh !
 Em cũng liều mình với thằng bé trẻ ranh,
 Đêm nằm sờ mó quẩn quanh cho đỡ buồn.
 Buồn tình em lại bế thằng bé nó lên.
 Nó còn bé dại đã nên cơm cháo gì.
 Nó ngủ nó ngáy khì khì,
  Một giấc đến sáng còn gì là xuân:
 Chị em ơi hoa nở mấy lần?’’

Đọc những câu thơ ấy, Mơ giẫy nẩy, không chịu lấy Thành là con trai ông Chánh, tuy Thành con một, lại nhà giầu.
Mơ không thuận mặc lòng, thày Mơ đã dùng những ngọn roi xé thịt, những câu chửi rủa thâm tệ; U Mơ đã dùng những lời ngon ngọt dụ dỗ, những mồi vinh hoa phú quý, ngần ấy thứ đua nhau dày vò Mơ hết ngày này sang ngày khác đến tận hôm cưới mới thôi. Thế là Mơ chẳng bằng lòng cũng chẳng được. Dù sao bây giờ Mơ đã là con dâu nhà ông Chánh rồi.
Mơ ngoan lắm, việc nhà, việc đồng một tay nàng đảm đang hết thẩy. Bà Chánh được nàng dâu ấy như nhẹ hẳn người, không còn phải thức khuya dậy sớm như trước, cả đến vú già con sen bà cũng cho về hết, chỉ nuôi có mỗi mình anh Bân để theo trâu là việc không đừng được. Một mình Mơ đã quán xuyến hết thẩy; việc bếp núc của vú già, việc giặt giũ của con sen, việc đâm say của thằng nhỏ. Mơ vừa làm dâu vừa làm người ở, thì bà Chánh đã chẳng thường nói với các bà Lý, bà Phó đến chơi:
- Ấy nhà neo người, tôi phải cưới vợ sớm cho cháu để đỡ việc trong nhà chứ!
Các bà ấy phỉnh thêm vào:
-     Vâng nhà ta phúc đức lắm, nên bà chỉ ngang tuổi chúng tôi đã đủ cả dâu con đề huề, mấy lại mợ ấy cũng ngoan lắm đấy chứ, thưa bà.
- Úi chà! hết hơi, hết nghỉ mới được thế đấy.
Không bao giờ bà Chánh khen Mơ lấy nửa điều. Nàng cực thân lắm, mỗi lần thấy mẹ đẻ nàng, là sụt sùi trách móc, và bà Hai chỉ biết dỗ cho xuôi chuyện.
- Thế là con sướng chán! nhà ông Chánh danh giá nhất tổng, lại được mỗi cậu Thanh là con một, sau này thế nào bao nhiêu ruộng nương của cải chả về tay con; việc gì mà buồn.
Bà Hai nói vậy thì nói, chứ ngày nghe mẹ chồng nhiếc mắng; chiều đến lại phải dắt chồng đi rửa chân tay, mặt mũi, và thay quần áo mà suốt từ sáng đến tối anh chàng đã nghịch ngợm đất cát, đánh đáo đánh khăng hoặc bày đình chùa cùng trẻ con hàng xóm đến nỗi bẩn thỉu nhem nhuốc, mà lại còn phải dỗ mỏi mồm, chồng mới chịu rửa cho, thì Mợ nghĩ không còn gì đáng chán hơn nữa.
Thành là con nuông, mà trường hàng tổng lại ở xa, nên ông Chánh không cho đi học, để ở nhà tự mình dạy lấy con. Ông vừa dạy quốc ngữ, vừa dạy chữ nho: ngày học ngày nghỉ thất thường. Nằm bên bàn đèn, ông vừa tiêm thuốc vừa nhắc con:
- Địa là đất.
Thành, hai dòng mũi thò lò, ngồi xếp tròn trên xập, vừa sịt mũi vừa nhai nhải:
- Thiên giời, a...địa đất, vân mây a...vũ mưa, phong gió, trú ngày, dạ đêm.
Hết chữ nho đến chữ quốc ngữ, Thành như con vẹt:
   ‘‘Công cha như núi Thải-son.
  Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra’’.
Cứ thế, ngày lại ngày, hết ê a, lại bập bõm đánh vần, Mơ nghe mà buồn rượi cả lòng.
Chiều hôm nay sao nóng thế! chẳng có một ngọn gió; tầu cau, tầu chuối im phăng phắc. Nắng ráng nhuộm vàng từng góc mái tranh, mái lá. Mơ ngồi thẫn thờ đếm từng con chim sẻ đậu trên cây đào. Bỗng bà Hai đi hấp tấp từ ngõ vào; thấy Mơ, bà khẽ hỏi:
-    Bà Chánh có nhà không? Cả!
- Có đấy. Việc gì thế hứ U?
- Thầy mày phải cảm nặng lắm.
Mơ giật nẩy mình, vội đứng lên theo gót bà Hai, lên nhà trên. Lúc ấy, ông Chánh đang nằm hút thuốc phiện, còn bà Chánh thì ngồi xõa tóc cho Thành nhổ tóc sâu.
Bà Hai chừng muốn gợi lòng trắc ẩn hai ông bà thông gia, nên vừa bước lên hè, vừa sụt sịt:
- Lạy ông bà ạ.
Ông Chánh đặt dọc tẩu xuống, chậm rãi hỏi:
-    Không dám, bà lên chơi! Làm sao mà nước mắt nước mũi thế kia?
Bà Chánh như quen với cảnh khóc mếu của bà Hai, nói nửa đùa nửa thật:
-     Thôi bà chị tôi lại khóc đói rồi.
Bà Hai ngồi sệp bên cửa kể lể:
- Hôm qua, thày cháu sang uống rượu bên ông Hương Khải về phải cảm, tôi cứ tưởng cảm xoàng như mọi bận, lấy gừng với tóc rồi đánh gió qua quýt thì khỏi, chẳng ngờ có thế mà dai dẳng đến hôm nay, bây giờ thì thầy cháu sốt ly bì, lưỡi đen cả lại, răng tóc khô như ngói. Nhà bấn quá chả chạy được hớp thuốc, hớp men nào. Tôi định lên đây xin phép ông bà cho chị Cả về thăm thầy nó, với lại... Nhờ ông bà làm phúc cho giật mấy đồng mua thuốc; nhờ trời, nhờ phật, thầy cháu qua khỏi sẽ xin lên làm hầu ông bà mấy công.
Bà Chánh vừa nguýt dài bà Hai vừa nói:
- Công với xá gì; ông Hai mệt thì chúng tôi đỡ cho mấy đồng để cân thuốc, còn khéo vẽ giật với vay.
Ông Chánh vắt tay lên trán, lim dim mắt:
- Bây giờ độc giời quá nhỉ! chắc ông ấy uống rượu say gặp gió độc chứ gì. Chả ngại, lên kể bệnh với ông thày khách trên phố cân độ hai thang thì khỏi biến.
Bà Chánh đứng dậy mở tủ chè lấy hai đồng bạc giấy đưa cho bà Hai, căn dặn:
- Tôi cho cái Cả về thăm ông Hai, đến sớm mai bà phải cho nó về sớm nhé! tôi còn đi sang bên kia sông có tí việc, thể nào bà cũng cho nó về trông nhà cho tôi đấy.
Bà Hai vâng dạ, cầm lấy hai đồng bạc, đoạn cúi rạp đầu xuống chào ông bà Chánh, rồi cùng Mơ, hai mẹ con lủi thủi ra cổng.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Ill
 
Trong căn nhà lá lụp sụp tối như bưng lấy mắt, ông Hai nằm dán mình trên chiếc giường tre, thỉnh thoảng cất tiếng rên nghe rợn người. Mơ ngồi sệp dưới đất gục đầu vào thành giường sụt sịt cắn răng cố giữ cho khỏi bật oà lên khóc. Nàng biết chắc rằng cha mình khó lòng sống hết được đêm nay, lúc nãy tiếng chim lợn đã chẳng kêu gióng một trên đầu nhà là gì, lại hôm qua nàng ngồi sắc thuổc, rõ ràng ấm còn lưng nước, thế mà chỉ đứng lên quệt tí vôi ăn trầu, trở lại ấm đã nổ vỡ tan tành rồi. Toàn những điềm gở! Ông Hai hy vọng gì qua khỏi.
Mơ về nhà đã được năm ngày rồi, năm ngày Mơ sống trong lo sợ, hãi hùng, những lúc ông Hai lên cơn suyễn co quắp cả chân tay, những lúc hàng xóm đến thăm ra về thì thào với nhau mà lắc đầu, những lúc ông thầy khách bắt mạch ngồi thừ người suy nghĩ cả đến những tiếng gà gáy gở, tiếng cú rúc cầm canh ngoài vườn, hết thẩy đều khiến Mơ tưởng tượng đến chiếc khăn ngang sắp phải quấn trên đầu.
Bỗng cánh cửa kẹt mở, Mơ giật mình, quay lại: Bà Hai bước vào tay cầm thang thuốc chép miệng:
- Đây lại bốn hào thang này nữa, thế là vừa hết hai đồng. Cả! Mang sắc cho thày mày uống ngay đi.
Mơ đứng lên, ông Hai lại lên cơn suyễn, hai mắt trợn trừng nàng sợ quá không dám nhìn, vội cầm thang thuốc bước ra, để mặc bà Hai vừa vuốt ngực cho chồng vừa càu nhàu:
- Con ranh! Không biết nó ngồi làm nấm ở đây hay sao mà tối như thế này cũng chả buồn châm đèn lên nữa.
Mơ xuống đến bếp chưa kịp đổ thuốc vào siêu, bà Hai đã gọi giật giọng:
- Cả ơi! Châm cho tao cái đèn, mau lên mày!
Mơ tất tả lấy cái đóm nứa châm lửa mang lên: ông Hai đã nằm cứng đờ, đôi mắt lâng láo hết nhìn vợ lại nhìn quanh khắp nhà như tìm Mơ, khiến nàng vừa trông thấy đã sợ phát run lên, đến nỗi gạt mãi bấc, châm đèn mãi mới xong. Bà Hai nước mắt tràn trề, gọi con lại:
- Lại gần đây, thầy mày sắp đi rồi, Mơ!
Nàng lại bên giường, dưới ánh đèn leo lét, mặt ông Hai đã hốc hác nhìn càng thêm sợ, mắt lờ đờ nhìn vạ, nhìn con, đôi môi mấp máy như muốn căn dặn điều gì mà không sao thốt ra lời được, hai bàn tay xương xương ngượng nghịu giơ trước mặt ‘‘bắt chuồn chuồn’’, còn hy vọng gì nữa! Mơ oà lên khóc, bà Hai cũng khóc theo. Hàng xóm nghe tiếng đổ sang, họ thắp thêm ngọn đèn nữa cho sáng rực cả nhà, rồi người đỡ bà Hai thay quần áo cho người hấp hối, đủ bộ: khăn lượt, áo lương, quần chùng, ông Hai nằm cứng trên giường chỉnh tề như thể để bước sang thế giới khác. Người thì đỡ Mơ têm trầu, bổ cau, người thì đun nước pha trà, tíu tít, vừa làm vừa phàn nàn thương tiếc:
- Ban chiều tôi sang thăm, ông Hai còn tỉnh lắm cơ mà. Sao đi chóng thế?
- Tội nghiệp! Chỉ phải cảm xoàng thế mà thiệt người.
 
Suốt đêm ấy Mơ không được chớp mắt. Sáng hôm sau nàng phải ở nhà phục dịch đón tiếp những người đến thăm âu là sinh con một bề, gái cũng như trai, nàng phải đảm nhận việc ấy, để cho mẹ nàng còn mang văn tự nhà, đất, đi giạm bán lấy tiền lo việc tống chung chứ. Mà giạm bán ở đâu? Chỉ ở bên ông Chánh, Mơ đoán chắc như thế, vì từ hồi thày Mơ còn sống, nhất nhất việc gì khó khăn cũng nhờ ông Chánh giải quyết, có thế mới xong, có thế Mơ mới phải hy sinh một đời son trẻ để trả ơn người ta.
Mãi đến sẩm tối bà Hai mới về. Bà gọi Mơ vào buồng, thì thào:
- Bà Chánh keo quá, cả nhà cả đất mà chỉ giá có hai trăm bạc, mình cần tiêu quá phải bán, chứ lúc khác ít ra cũng được ba trăm.
Bà tặc lưỡi:
- Mà bà chánh có mua rẻ thì về sau cũng về phần vợ chồng mày chả đi đâu mà thiệt.
Bà giao cho Mơ năm chục, căn dặn:
- Mày đi với bác bếp sang bên bà Hương mua lợn, còn thì mua cau, mua dầu. Tao đã mua cho thầy mày cỗ ván rồi đấy, hết có bẩy đồng, chốc nữa người ta khiêng đến, thôi nhà nghèo, cái gì cũng tiềm tiệm chứ. À, mày nhớ mời ông Thống Linh lại ngay nhé!
Rồi bà tíu tít về công việc, không kịp khóc chồng nữa. Người ta xì xào, bàn tán:
- Nhà neo người rõ khổ, người chết nằm lạnh lẽo một mình chả ai khóc cho một tiếng.
Còn ai kịp khóc! Cái gì cũng thiếu, từ miếng cau mời khách đến vuông vải để bó chồng, bà Hai cuống quít vì lo, rồi lại còn xôi, còn lợn, trời! Lo khâm liệm cho người chết, lo rượu thịt cho người sống, ngần ấy thứ lo đổ lên đầu nhà đám, mà nhà đám còn có ai? Một người đàn bà góa với một cô gái đã về nhà chồng, cả hai cùng nghèo, và cùng rất vụng về công việc ma chay.
Nhưng rồi cũng đến xong, đã có hai trăm bạc tiền bán nhà, thì người chết cũng có được bát cơm, quả trứng, và người sống cũng được mâm to, cỗ đầy. Suốt đêm ấy, người ta đâm lợn, thổi xôi, người ta làm lễ nhập quan, chỉ một đêm, đâu vào đấy sẵn sàng.
Rồi mới bốn giờ sáng, mọi người đã cơm rượu no say, ai vào việc nấy, kèn đã cất giọng ai oán để tiễn đưa, pháo đã nổ ran để tống trùng, và ông Hai cũng được người ta khiêng ra đồng an nghỉ.
Công việc chu tất, miếng dầu tạ họ đã lo đủ, Mơ lại phải về nhà chồng, nàng nghĩ mà chán chường. Thế là hết! Thày nàng chết đi không còn một tấc đất để lại, đến ngôi nhà lá này cũng về tay người nốt, từ giờ, mẹ nàng có ở đấy cũng là ở nhờ, và nàng càng nhận rõ rằng: thân nàng mỗi ngày một bị ràng buộc vào gia đình bà Chánh vì ân nghĩa.
Nàng cầm nón rưng rưng nước mắt chào mẹ, rồi quay ra.
Bà Hai dặn với:
- Cả nhớ thưa với bà Chánh rằng mấy hôm nữa u sang nhé! ‘‘Mấy hôm nữa u sang’’,
Câu ấy còn bao hàm ý nghĩa lụy người.
Còn gì nữa, u nàng có sang thăm bà Chánh cũng không ngoài mục đích cảm ơn nhà thông gia, và xin ở nhờ ngôi nhà mà mấy hôm trước còn là vật sở hữu của mình. Người chết mang ơn, người sống mang ơn, và nàng sẽ phải trả ơn thay cho cả ngươi sống lẫn người chết, trách nhiệm nặng nề thay! Mơ thở dài...
Bỗng thấy sáo réo rắt tự xa đưa lại, lúc trầm, lúc bổng, buồn man mác.
Mơ lẩm bẩm:
- Lại anh Bân.
Và đáng lẽ đi lên lối xóm Đình, nàng lại rẽ quanh ra ngoài đê, mặc dầu đi vòng thúng như thế xa gấp đôi đường, vì nàng biết chắc đi qua xóm Đình thể nào cũng gặp anh Bân chăn trâu ở đấy.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.03.2020 12:13:02 bởi Thanh Vân>
IV
 
Trời vẫn nắng, song sức nóng đã dịu, không gay gắt vì đã tới trung tuần tháng tám. Nền trời trong vắt, ngày thì xanh không gợn một bóng mây, tối đến gió hiu hiu thổi, nhẹ đưa những khóm cây, chùm lá, nghe rào rào, một thứ tiếng riêng ở thôn quê mới có khi hạ đã tàn, nó đem lại một nỗi buồn nhè nhẹ, làm lay động lòng người. Tháng tám công việc của nhà nông đã tạm ngừng, để đợi đến tháng mười lúa chín là gặt. Có lẽ vì công việc đồng áng ít, cùng với khí hậu và cảnh vật dịu dàng, nên họ mới có thì giờ cảm thấy nỗi buồn man mác hạp với thể chất vô tư lự của người nơi thôn dã. Âu cũng là một lẽ để hợp với kỳ giăng sáng tỏ, mà tạo nên các cuộc hát êm đềm tình tứ, những cuộc hát đúm đã kéo bao trai thanh, gái lịch đến quây lấy, hết vòng trong đến vòng ngoài, để nghe những câu tình tứ  ‘‘xuất khẩu thành thi’’ mộc mạc nhưng đằm thắm, chất phác nhưng tha thiết, đã thấm đến tận đáy lòng:
 
‘‘...Lạ lùng tôi mới tới đây,
Lạ thung, lạ thổ tôi nay lạ người...’’
Mơ đã từng cùng chị em bạn đứng tựa vai nhau nghe những câu hát ấy, nhưng nay thì không thế được nữa rồi, vì Mơ đã có chồng, vì Mơ lại có tang.
‘‘… Đầu làng có con chim tiên,
Nó kêu ríu rít cho chim bồi hồi.
Làng em chả thiếu chi người,
Muốn rằng đất khách là nơi quê chàng..’’
 
Những câu lanh lảnh ấy, gió đã đưa đến tai Mơ.
Trên nhà, Ông, Bà Chánh và Thành đã ngủ say. Mơ nằm đưa võng một mình ngoài hè đã khuya lắm mà không sao chợp mắt được.
Vầng giăng trong vắt in lên nền sân gạch bóng cây đào, cây mận mà mỗi lần gió lùa qua kẽ lá rào rào làm rung động, thì con cũi đang nằm dài trên thềm bể lại ngóc đầu, sủa gióng một.
Tiếng trống giây vẫn bật: thình thùng thình tiếng hát vẫn véo von mỗi lúc một đằm thắm yêu đương.
‘‘...Đường xa thì thật là xa.
Mượn người làm mối cho ta một người,
Một người đôi tám, đôi mươi,
Một người vừa đẹp vừa tươi như mình...’’
 
Mơ thấy rạo rực cả người, gió thổi mát rượi, mà Mơ thấy nóng bức lạ lùng. Chưa lúc nào nàng cảm thấy lòng trống trải như lúc này, nhìn bóng mây trắng lặng lẽ trôi qua vầng trăng làm mờ cả ánh sáng, Mơ bồi hồi nhớ những ngày thơ ấu, nàng dắt tay chúng bạn “giung giăng giung giẻ” chạy trên đường đê. Tuổi ấy nay đã qua rồi, nhưng vẫn là con gái. Tâm tình chất phác của người quê mùa khiến Mơ khó hiểu rằng: lòng mình đang tha thiết những gì. Nàng chỉ cảm thấy buồn, một nỗi buồn không căn cứ, càng nặng trĩu khi canh càng khuya, càng man mác khi đêm càng lặng. Tiếng hát đúm tự xa đưa lại lúc ấy mơ thấy xa lắc, xa như những ngày thơ ấu, nàng tưởng như tiếng ở trong mộng, là vì tiếng lòng rồn rập quá đã làm át cả ngoại vật đi rồi.
Áng mây kia bay mãi, tan tác mãi, nhưng rồi cũng có một lúc tụ lại thành mưa, rồi dù chảy đi đâu chăng nữa cũng sẽ bốc lên, trở lại thành mây, chứ đời người ta có thể hóa sinh, sinh hóa như vậy được chăng? Một ngày qua, sắc đẹp một tàn, ngao ngán biết bao! Mơ không thể nghĩ sâu xa được đến thế, nhưng nàng cũng cảm thấy rằng tuổi nàng mỗi ngày một chất nặng trên đầu, mà Thành còn trẻ quá!
Nàng nhớ lại tối hôm rằm, đình làng có hát chèo, dân vào mời ông Chánh ra nghe hát vì ông ăn Thủ chỉ. Thành cũng đòi đi xem, nàng phải sắm sửa cho chồng. Nghĩ mà chán.
Thành còn bé dại, nàng phải múc nước rửa mặt cho chổng, thay quần áo cho chồng, buộc cả từ đồng xu vào giải rút cho chồng để có tiền ăn quà. Đã hết cho đâu! Thành còn mếu máo phụng phịu đòi anh Bân bế đi xem cho khỏi lạc.
Ấy thế mà Thành đã có vợ những mười chín tuổi đầu,
Trởi thật khéo trớ trêu.
Mơ phẫn trí, tự nhủ thầm:
 ‘‘Hay là ta đi!’’
Nhưng nàng giật mình kinh ngạc vì ý nghĩ quá táo bạo: đi! Tai tiếng biết thế nào mà kể, vả lại dù đi có thoát lấy mình, nhưng còn mẹ già, người ta ắt chẳng để cho yên. Mà đi với ai? ...
Có tiếng gọi cổng se sẽ:
 ‘‘Mợ cả ơi! Mở cổng cho tôi với!’’
Mơ bàng hoàng từ từ đứng dậy, anh Bân đi xem hát đúm đã về.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.03.2020 14:35:38 bởi Thanh Vân>
V 
 
 
Mơ đang rửa bát ở cầu ao, bỗng nghe có tiếng hỏi: ‘‘chị Mơ rửa bát sắp xong chưa?" Mơ ngẩng đầu nhìn, mím cười:
- Chị Trà đấy à! Có việc gì đấy?
Trà là người bạn gái thân nhất của Mơ từ hồi còn nhỏ. Trà là con gái út bà đồ Tư ở ngay cạnh nhà bà Hai, và lại trạc tuổi Mơ, nên hai người thân nhau như chị em. Từ khi Mơ đi lấy chồng, Trà không hay đi lại chơi với Mơ nữa vì sợ bà Chánh, nhưng vẫn thương Mơ là người hiền lành mà phải về làm dâu một nhà cay nghiệt, lại thường bị chế riễu về nỗi vợ lớn chồng bé, tình thương bạn ấy lắm lúc thốt ra miệng, hoặc lộ ra ở những việc đỡ bạn giặt rũ quần áo ở ao, hay hái dâu, vớt bèo. Trà không hề chế Mơ bao giờ, Mơ biết thế, nên những lúc đi hái dâu để bán, hay ra thăm đồng lúc mà được gặp Trà, thì Mơ sán lấy kể lể hết chuyện lớn, chuyện nhỏ trong nhà, không dấu tí gì, có thế mới trút được hết nỗi buồn bực tấm tức trong lòng. Trà đều kiếm lời an ủi Mơ, dù biết rằng những lời ấy chỉ thoảng qua chốc lát, một khi xa Trà, về nhà chồng, Mơ lại sẽ buồn, sẽ khổ, sẽ quên hết những lời của bạn. Trà tuy ít tuổi hơn nhưng làm việc gì cũng còn nghĩ chứ không nóng nảy hấp tấp như Mơ, lắm lúc Trà đã nói thẳng:
- Chị dại lắm, chả may số mình đã khổ sở thế, thì chịu vậy, chứ gặp ai cũng tạ thán, nhỡ đến tai bà Chánh, lại khổ thân.
Mơ cũng nhận ra như thế là phải, nhưng chỉ được vài hôm, rồi đâu lại vào đấy, không giữ nổi những sự phiền muộn, uất ức trong lòng, gặp bạn là Mơ lại kể lể, than thân trách phận.
Lần này cũng vậy, thấy Trà, Mơ đã nói luôn:
- Chị ạ, em bực lắm, chả làm gì nên tội, mà cứ phải mắng phải chửi suốt ngày, ai lại...
Trà ngắt lời:
- Thôi đừng kể lể con cà con kê nữa, rửa bát mau đi, em có câu chuyện dài muốn nói với chị đây. Nhưng đứng lâu đây, có lẽ về chị lại phải bị mắng mất.
Mơ lo lắng:
- Chị chờ em một tí em về, rồi em đi hái dâu bây giờ, như thế không lo nữa, nhưng chị có bận gì không?
- Thế thì may quá, Còn em ấy à? Cần gì, em đi với chị, U em có biết cũng chả mắng đâu.
Mơ rửa bát xong, tất tả vừa đi về, vừa nói:
- Chị cứ chờ em ở đây nhé!
Một lúc sau, mơ đã cầm rổ ra, hớn hở như con chim sổ lồng, kéo tay bạn:
- Nào đi! Chị.
Trà đã rõ tính bạn, buồn ngay đấy, mà cũng vui ngay đấy được.
Ra khỏi nhà được đi hái dâu với Trà, Mơ sung sướng quên cả những nỗi lo lắng vừa rồi, cả đến câu chuyện Mơ sốt sắng cần biết, Mơ cũng chẳng cần hỏi đến, nhưng Trà đã nhắc ngay:
- Chị Mơ ạ! Chị có biết em tìm chị để cốt nói chuyện gì không?
Mơ đang ba hoa cười cười, nói nói hỏi Trà hết câu này sang câu khác, bỗng im bặt, rồi nắm lấy tay Trà sẽ hỏi:
- Chút nữa em quên mất! Chuyện gì thế chị?
Trà khẽ lắc đầu:
- Chị nhớn người mà tính còn trẻ con quá! Đến ruộng dâu em sẽ nói, chứ đi đuờng nói không tiện.
Mơ không hỏi nữa, cắm đầu rảo bước theo bạn. Một lát sau, hai người đã ở trong ruộng dâu: nhìn bạn một tay vin cành, một tay bứt lá, nét mặt đầy vẻ lo ngại. Trà rụt rè định nói lại thôi, mà cũng chẳng biết nên bắt đầu câu chuyện thế nào cho phải.
Về phần Mơ tuy muốn biết nhưng không hiểu sao không dám hỏi bạn, có lẽ Mơ không muốn rằng: giờ khắc vui sướng này trở nên nghiêm trọng, cả hai cùng lưỡng lự, mặc dầu phút ấy không thể kéo dài mãi được. Trà quả quyết lên tiếng:
- Mơ ạ! Chỗ chị em thân, Trà mới nói, Mơ đừng giận nhé!
Rồi như không cần đợi câu trả lời, Trà nói tiếp, mặt cúi gầm xuống cành dâu ở tay:
- Mơ có biết rằng, ở làng người ta đang đồn Mơ chê chồng? Và tính Mơ lẳng lơ nên...
Mơ đang nóng nghe, thấy Trà ngừng lại, vội bước đến gần, nắm chặt lấy cánh tay Trà, hỏi dồn:
- Nên làm sao hở Trà?... Trà cứ nói đi.
Mơ cũng thừa đoán biết nên làm sao rồi, nhưng Mơ hãy còn cố hy vọng rắng ước đoán của mình sai, lo ngại đã lộ ra nét mặt, Trà nhận thấy, ái ngại vừa nói vừa ngập ngừng:
- Nên... nên người ta nói rằng: Mơ có tình ý với người theo trâu của bà Chánh.
Mặt Mơ đang đỏ bừng bỗng tái mét, rồi như không chịu nổi được cái tin ghê gớm ấy, Mơ gục đầu vào vai Trà khóc nức nở. Mơ không hiểu tại sao mà khóc, song nước mắt cứ tràn ra, và Mơ thấy rằng: nỗi buồn theo đó cũng nhẹ bớt đi nhiều. Trà nín lặng, phân vân chẳng biết nên nói nữa hay thôi. Một lúc sau, Trà mới khẽ nâng đầu bạn:
- Thôi, Mơ đừng khóc nữa. Họ đồn vậy nhưng Trà có tin như thế đâu. Trà bảo để Mơ biết mà liệu giữ mình kẻo mang tiếng đấy thôi.
Mơ nấc lên:
- Em khổ quá! Chị ạ.
Mơ muốn nói thật hết nỗi lòng cho bạn nghe mà không lám, mặc dầu Trà là bạn chí thiết của Mơ, nàng thở dài:
- Trà cũng biết cho Mơ đấy! Cái kiếp Mơ khổ sở là thế, nhưng cứ như vậy mãi thì biết đâu là chừng... Trà biết anh Bân chứ gì? Cái anh trẻ trẻ, hay thổi sáo ấy mà: anh ấy theo trâu cho nhà em đấy.
Trà thương hại, lấy tay vén mấy sợi tóc của Mơ rủ xuống trán, mà bảo:
- Mơ nên cẩn thận, vì nhỡ ra tai tiếng thì làm thế nào? Bây giờ còn ít người nói mà không liệu, một mai họ đồn ầm ỹ lên, đến tai bà Chánh còn ra sao nữa. Lúc ấy, nếu bà Chánh quá tin lời người ngoài đồn đại, thì phỏng Mơ có thể còn ở nhà được không? Lại bà Hai nữa, nếu bà được tin này hẳn bà chả còn dám ra đến ngoài nữa, Mơ thử nghĩ kỹ mà xem.
- Thế Trà bảo Mơ nên xử trí ra sao bây giờ?
- Trà chắc rằng tại Mơ quên như hồi còn ở nhà với bà Hai, lúc nào cũng trẻ con, cười đùa tự nhiên, hẳn là những lúc sai bảo anh Bân, Mơ cũng quen tính trẻ con như thế nên người ngoài họ sinh nghi chứ sao. Bây giờ Mơ phải đứng đắn, chả gì cũng đã có chồng rồi, người lớn rồi. Vả lại mình là dâu con trong nhà, là chủ, chứ anh Bân chẳng qua là người theo trâu thì có khác gì phận tôi tớ không?
Mơ lặng thinh không đáp, nhưng nàng rất phật ý về nỗi Trà đã dám coi khinh anh Bân, anh ấy chỉ có một tội nghèo, mà nghèo có phải là tội đâu? Thực ra Mơ thấy anh Bân còn tốt hơn tất cả họ nhà chồng, anh còn biết làm đỡ Mơ những lúc bận, khuyên giải Mơ những lúc Mơ tủi thân vì phải mẹ chồng mắng nhiếc, và có một lần giời mưa Mơ bưng rổ bát đi ở sân trơn quá trượt chân ngã vỡ hết cả, anh Bân sợ Mơ phải chửi, đã dám tự nhận là mình làm vỡ khi bà Chánh hỏi đến, để đến nỗi phải trừ mất đồng bạc công, ấy anh ta tử tế là thế, Mơ có thể coi anh là đầy tớ được không? Chính Mơ, chỉ có tiếng là dâu con nhưng thực ra khác gì con đòi, con ở.
 
Trà nhìn vẻ mặt suy nghĩ của Mơ, ngạc nhiên hết sức. Hay là Mơ phải lòng anh Bân thực? Không có lẽ như thế được. Trà tin rằng: bạn mình không bao giờ lại chịu ‘‘đâm đầu giở xuống’’ đi mê anh theo trâu nhà mình bao giờ. Nhưng, biết đâu đấy! Trà bực mình hết sức, nàng nắm chặt lấy hai cánh tay Mơ, lay mạnh:
- Thế nào? Mơ nghĩ gì nữa? Trà nói thế không phải ư?
- Chị nói phải lắm. Em nghĩ là vì làm sao mà có thể cấm họ đồn bậy được, bịt được miệng chum miệng lọ, chứ xưa nay ai bịt được miệng người. Thực ra Mơ đã làm gì nên tội đâu, thế mà hình như ai cũng ghét Mơ, hết chế diễu lại còn bày đặt chuyện này, chuyện nọ, Mơ biết làm thế nào? Thôi mặc, muốn ra sao thì ra!
Trà cũng nhận thấy chỗ vô lý đó, nàng im lặng vít cành dâu, bứt lá. Dâu mọc cao che kín cả hai người, ai đi ở bờ ruộng nếu vô ý tất không nhìn thấy. Gió thổi từ ngoài sông đưa tới, mỗi cơn là ngàn dâu reo rào rào, cành dâu mềm nghiêng ngả vướng xõa cả mái tóc Mơ. Nàng lãng đãng bứt từng lá hồi tưởng những ngày còn nhỏ theo mẹ ra ruộng dâu và cũng bứt từng lá, từng lá... rồi ca hát véo von. Thời ấy đã qua rồi, nhưng quên làm sao được! Mơ bỗng như không biết có Trà bên cạnh, nàng cất tiếng hát:
‘‘Mênh mông góc biển bên trời
Những người thiên hạ nào người tri âm?
Buồn riêng thôi lại tủi thầm,
Một duyên hai nợ ba lầm lấy nhau.’’
 
Giọng Mơ uyển chuyển, trên bãi dâu vắng vẻ gió đưa tiếng ngân ra tận xa xa. Bỗng nàng im bặt, ngơ ngác lắng tai nghe như sợ có người biết là mình đang hát, cử chỉ ấy Trà đã hiểu thấu, nàng đem lòng thương bạn, hoàn cảnh đã bắt Mơ bỏ cả tính hồn nhiên ngày trước. Ngày nay bị trói buộc trong vòng dư luận, đến nỗi không dám lộ hết bản năng, Mơ đã sống trong dối trá, dối người, dối cả mình.
Dâu hái đã xếp chật rổ, Mơ bảo bạn:
- Thôi chị ạ! Được nhiều rồi, em phải về nếu không có đẻ lại mắng là đi lâu.
Hai người giũ quần áo cho khỏi bụi, Mơ sửa lại vàng khăn căn dặn Trà:
- Chị đừng nói cho u em biết nhé!
Trà gật đầu:
- Mà chị cũng phải nghe em kia! Đừng trẻ con nữa. Chị có thương bà Hai, thương em thì nên giữ gìn ý tứ, người ta càng đồn hão chị càng phải cẩn thận.
Mơ cười:
- Chị khéo lo xa quá.
Rồi cắp rổ dâu vào nách, giắt bạn, cùng ra khỏi ruộng dâu. Trà vẫn chưa yên tâm:
- Chị cứ thế chả trách được. Nếu chị không nghe lời em thì em thề không dám bạn bè với chị nữa đâu.
Mơ càng cười to:
- Thì sao em lại chả nghe.
Nàng nói lảng:
- À, chị Trà ơi! Có phải chị sắp đi lấy chồng phải không? Lấy ai thế? Bao nhiêu người nói, mà chị cứ giấu chẳng cho em biết.
- Họ đồn nhảm đấy. Em nghèo, ai lấy. Còn như bắt lấy những cậu bé như anh cả thì em chịu thôi.
Câu ấy làm cho Mơ đang tươi, phải buồn thiu. Trà hối hận, vỗ vai bạn:
- Nói đùa đấy, đừng giận em tội nghiệp.
- Không, em có giận chị đâu. Nói chứ! Nếu chị đi lấy chồng thì chúng mình chắc chả còn được đi hái dâu với nhau như bây giờ nữa nhì!
- Đừng sợ, Trà không lấy ai đâu.
Rứt lời, nàng nắm lấy cánh tay Mơ, đi sát vào bên cạnh:
- Lấy chồng làm quái gì! Như thế này chả hơn ư, muốn ăn thì ăn, muốn chơi thì chơi, chứ có chồng rồi có khác gì đeo gông vào cổ.
Đến chỗ rẽ, Trà buông tay:
- Thôi, chị về nhé! Chị nhớ những lời em dặn đấy.
Mơ gật đầu, lặng lẽ bước đi. Trà đứng lại ngây người nhìn Mơ mãi đến lúc khuất sau mấy rặng tre, mới thong thả trở về.
 
 
 
 
 
 
 
VI
 
Mơ múc nước vẩy vào rổ dâu, lấy lá chuối đậy kín, rồi để vào xó nhà. Xong đâu đấy, Mơ vội vàng sắp sửa nhặt rau, vo gạo, để làm cơm trưa. Không thấy tiếng bà Chánh, Mơ ngó lên nhà trên, thấy vắng ngắt, nàng ngạc nhiên, ra sau bếp, cậu Cả đang ngồi xệp dưới đất lấy gạch bầy đình chùa, thấy Mơ về, đứng dậy vừa lấy tay áo quệt mũi, vừa hỏi:
- Đã có cơm ăn chưa?
- Cơm bây giờ mới thổi. Thày, đẻ đi đâu cả, mà cậu nghịch bẩn thế này?
- Thày ra đình, đẻ sang thăm con bà Lý ốm.
- Thế cậu không coi nhà ư? Ngồi nghịch xó xỉnh ở đây, có gì nó lấy cắp hết thì làm thế nào?
- Đã mất gì chưa? Nhặng mãi lên!
- Được rồi, đẻ về, tôi mách đẻ cho mà xem.
- Cho mách, ông không cần.
Dứt lời, cậu lại ngồi lúi húi xếp đình chùa.
Mơ bực mình, quay ra, vừa gặp bà Chánh về. Thấy mẹ chồng tươi cười hớn hở, nàng bớt lo, vì từ lúc Trà bảo cho biết ở ngoài đang đồn đại không hay cho mình. Mơ luôn luôn sợ hãi, tưởng chừng như những lời đồn ấy đã lọt đến tai bà Chánh tự bao giờ.
Nhưng hôm nay bà Chánh vui vẻ lắm, vì vừa được bà Lý nắc nỏm khen mình kén được dâu đảm, nào ‘‘Chị cả bên nhà” vừa đẹp người, vừa đẹp nết, nào ăn nói mềm mỏng, nào chăm lo, chăm làm, khen chán rồi bà Lý lại than thở cho mình đã ngoài bốn mươi tuổi đầu vẫn phải cặm cụi làm, chưa được người nào làm dâu để đỡ đàn, đến nỗi bây già ốm đau, thuốc men cũng trông cậy ở đầy tớ.
Bà Chánh nhớ lại những lời than thở ấy, rồi cân nhắc cảnh mình với bạn, bà thấy mình tốt phúc hơn bà Lý nhiều mà hởi cả lòng cả dạ: cho nên trái hẳn mọi bận, về đến nhà thấy con dâu là tra soát hết việc này đến việc nọ, lần này, khi Mơ chào:  ‘‘đẻ đã về’’, bà đã tươi cười trả lời nhẹ nhàng:
- Ừ... tưởng ốm đau thế nào, chứ cảm xoàng thế thì chả cần phải thuốc, giá thử mình, chỉ nắm tóc rồi đánh gió là khỏi.
Mơ thấy mẹ chồng vui vẻ, cũng hỏi chuyện:
- Ai hở đẻ?
- Bà Lý chứ còn ai nữa.
- Con tưởng phải cảm mà chả đáng sợ à, thầy con đấy, chả cảm là gì? Thế mà cũng thiệt người như bỡn.
Mặc dầu đang thích chí vì dâu đảm, bà thấy Mơ dám lý sự với bà là bà phật ý. Bà lại dở tính cũ, hỏi việc:
- Từ sáng đến giờ, chị ở nhà làm những gì?
- Con đi hái dâu, chứ để chậm lỡ mất lứa.
Mơ chỉ rổ dâu để xó nhà, nói tiếp:
- Con đi khi muộn nên chả hái được mấy.
Bà Chánh nhìn thấy một rổ lớn, dâu xếp chặt thì bằng lòng lắm, bà gật đầu:
- Được cứ hái dần, đi đâu mà vội!
Rồi bà bỏ lên nhà, cởi áo nằm nghỉ. Mơ thấy mẹ chồng hôm nay ngọt ngào với mình ngạc nhiên. Nàng nghĩ rằng  ‘‘tin đồn ấy’’ đã lọt tai bà Chánh, nhưng bà khôn khéo vờ ngọt ngào với nàng để dò la ý tứ. Mơ vừa làm cơm, vừa lúng túng với những ý nghĩ nghi hoặc ấy ở trong óc, đến nỗi ngồi đun bếp, để nước sôi sùng sục cũng chưa buồn tra gạo vào nồi.
Bỗng có tiếng người sau lưng:
- Kìa mợ để sôi cạn cả nước.
Mơ giật mình ngoảnh lại: anh Bân vác cuốc, đứng sững giữa bếp. Anh ta vừa đi vạc bờ về, quần sắn trên đầu gối, áo để phanh vạt hở cả ngực vì nóng bức trông anh rắn rỏi lạ, những bắp tay, bắp chân ấy giá … nhắc Thành thì bỗng nổi cả người, ấy thế mà Thành đã có vợ rồi, còn Bân...?
- Nào còn đun nấu những gì nữa? Mợ để tôi làm đỡ cho.
Anh Bân vừa dựng cuốc vào xó tường vừa hỏi, nhưng Bân bị bẽ ngay, vì Mơ cau mặt, trả lời bằng một giọng gần như gắt:
- Chẳng có việc gì hết!
Lần đầu tiên Mơ nói xẵng với Bân: thái độ ấy làm anh ngạc nhiên hết sức. Anh không nói gì, bỏ ra sau bếp. Thấy Thành còn hí hoay xếp đình chùa, bèn hỏi:
- Cậu Cả làm gì đấy? Có học thổi sáo không nào?
Thành thích quá, bỏ cả đình chùa, vội reo lên:
- Có chứ! À, anh đang dậy tôi bài gì nhỉ? Bài Lưu Thủy phải không? Gớm, khó quá, anh dậy tôi bài gì khác dễ cơ!
- Lưu Thủy là dễ nhất rồi, chứ còn gì nữa.
Nhưng Bân chưa kịp đi tìm sáo, Mơ đã nói gắt ra:
- Sáo với chả sáo mãi! Anh Bân đi buộc cho tôi mấy cái cạp rổ đi! Còn cậu cả nữa, không rửa mặt mũi, chân tay rồi còn ăn cơm chứ! Để bẩn thiu thế à, tôi lại mách đẻ cho bây giờ.
Thấy Mơ không để cho Bân dậy mình thổi sáo, Thành bực tức phân trần:
- Lúc nẫy về nhặng lên mãi với người ta bây giờ lại thù không cho người ta học sáo, được rồi!
Nói xong, cậu phụng phịu bỏ chạy lên nhà trên định làm nũng mẹ. Bà Chánh xuống, khác với mọi bận, không mắng Mơ, mà chỉ gắt với anh Bân:
- Hết việc rồi! Bà lại chẻ sáo đi bây giờ.
Bân không trả lời, lẳng lặng mang mấy cái rổ rá ra cạp lại, phân vân không rõ vì đâu cả Mơ lẫn bà Chánh đều thay đổi tính nết chóng thế: Mơ không mềm mỏng nữa, động nói là gắt với anh, còn bà Chánh mọi khi rất ngọt với anh, và xẵng với Mơ. Thật quái lạ! Bân hậm hực ngồi riết các néo lạt. Còn Mơ, một lúc sau Mơ lại hối hận ngay, và tự hỏi: Không biết hôm nay tại sao mình lại có thể sử xãng với anh Bân như thế được. Nhưng sự đã rồi, biết làm thế nào? Chẳng lẽ lại chạy ra bảo:  ‘‘không, tôi không giận anh đâu, anh đừng để tâm nhé!’’
Mơ thở dài lẩm bẩm: ‘‘Nếu cứ được như thế này mãi’’.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
VII
 
 
Mơ nắn lại vành khăn, vuốt lại mái tóc, ngắm nghía, sửa sang mãi, hôm nay nàng được thảnh thơi đôi chút, và chốc nữa nàng sẽ được ra chùa lễ. Mơ sung sướng vì đã lâu lắm bây giờ mới được làm dáng, và nhất là sẽ được cùng Trà tha hồ trò chuyện.
Năm nào cũng vậy, hễ đến tháng Giêng là chùa làng Thụy lại làm lễ Thượng Nguyên. Là một ngôi chùa sầm uất nhất vùng, và con gái Thụy cũng có tiếng đẹp nhất vùng, cho nên không cứ hội hè đình đám, chỉ một lễ cúng hằng năm cũng đủ tấp nập những người đến xem, thôi thì trên từ làng Bi, làng Chày đổ xuống, dưới từ làng Vĩnh làng Điền kéo lên, thiện nam, tín nữ đủ mặt, họ đến từ chiều, mặc dầu chưa lên đàn cúng, họ đã đứng chật cả chùa, chỗ này mấy cậu trêu cô hàng nước, chỗ kia mấy cô vịn vai nhau cười khúc khích xem bọn đàn ông cuộc nhau chém mía, kia một bàn xúc xắc, kia một chiếu thò lò, chỉ có thế, người chen người...
Những cảnh tưng bừng ấy rồi lát nữa Mơ sẽ được xem. Từ chiều nàng đã vội vã thu xếp đâu vào đấy, lợn đã cho ăn no, gà đã gọi đủ, và bây giờ trang điểm cũng đã xong, nàng chỉ còn đợi mẹ chồng bảo, là sẽ được theo ra chùa.
Mơ làn túi lấy trầu ăn, cốt trầu thắm giàn ra, làm cho đôi môi Mơ đỏ chót, má Mơ cũng ửng hồng vì say. Nàng vê ít thuốc lào xát lên hai hàm răng cửa đen nháy, đoạn nhổ cốt trầu vào gốc cau, nói một mình:  ‘‘Gớm, miếng trầu hôm nay ăn say quá!’’
Nàng đứng tựa lưng vào thân cây cau, ngửa mặt, lim dim nhìn trời nặng những đám mây trắng đục, gió lạnh sẽ lướt qua từng ngọn, và dần dần đâu đó đều mờ những hơi sương. Văng vẳng, tiếng trống cúng đã bắt đầu rung, bà Chánh bấy giờ mới lên tiếng gọi:
- Cả đâu, vàng hương đã xếp đủ chưa?
Mơ "dạ", rồi chạy vội lên nhà trên. Bà Chánh ngồi xếp bằng tròn trên xập điểm lại quả trầu, bà sắm sửa vừa xong, nào quần lĩnh tía, nào áo đoạn kép, nào khăn nhiễu tam giang, lại mấy vòng hạt vàng quấn cổ, lại đôi hoa mặt dàn lấp lánh ở hai tai, trông bà như trẻ ra được mươi tuổi. Bà vui vẻ lắm, tối thế nào bà chả được ngồi hầu bóng trước nhất, vợ ông Chánh tổng đương thứ lại ăn thủ chỉ làng kia mà! Bà mỉm cười hỏi cậu "cả" cứ quanh quẩn ở đấy hết ôm cột này lại dựa cột kia để nhìn bà:
- Thế nào? Cậu trông đẻ sang hay vợ cậu sang?
Thành cười:
- Đẻ sang chứ lị! Nó làm gì có hột vàng, nó làm gì có áo đoạn.
Ông Chánh nằm xem sách ở ghế tràng kỷ, thấy vợ dềnh dáng mãi phát gắt:
- Sang với chả sang! Ăn mặc những gì mà từ chiều đến giờ vẫn chửa xong? Ngắm vuốt mãi! Già còn chửa trót đời!
Bà Chánh quay lại nguýt chồng:
- Bận gì đến ông đấy! Chỉ biết nói người, hôm nào ra đình họp việc làng thì cũng khệnh khạng bằng bốn...
Không để cho vợ nói hết câu, ông đã ngồi nhổm dậy, vặn to ngọn đèn lên, rồi xua:
- Thôi đi đi! Không có họ lại vào mời lần nữa bây giờ, từ chiều đến giờ ba bận mời rồi còn gì. Con cả bưng quả lễ cho đẻ mày đi!
Bà Chánh lẳng lặng đứng dậy. Hôm nay bà chịu nhún để còn đi hầu bóng, chứ cãi giả miếng một như mọi ngày thì ông cáu lên lại sinh lôi thôi. Bà quay lại bảo Mơ.
- Nào đi!
Mơ kiểm lại đồ lễ một lần nữa, chỉ sợ quên một thứ gì tất phải mắng, đoạn nhắc quả lễ để lên đầu, chào ông Chánh, rồi mới theo gót mẹ chồng. Thành chạy theo níu áo mẹ, bà Chánh giúi đồng hào vào tay con, khẽ bảo:
- Con ở nhà học bài chứ, Trời tối mà lạnh lắm, đẻ ngồi hầu bóng suốt đêm, con không thức được đâu, ở nhà, không có thầy đánh chết.
Thành phụng phịu trở vào. Mơ nhìn chồng khẽ thở dài.
Bóng tối đã phủ kín cả mọi vật. Gió đu những thân tre kêu cót két, nền trời toàn một sắc trắng lờ lờ, không một vì sao. Trên con đường đất gồ ghề người ta kéo nhau đi lễ, nói cười ầm ĩ, lẫn với tiếng chó sủa ran, chạy theo hàng rào cắn bóng, tiếng trống mõ, tiếng tiêu cảnh đánh rộn rập như thúc giục hai mẹ con bà Chánh rảo bước.
Dù trời tối, nhưng vì thuộc đường lắm nên chả mấy lúc bà Chánh và Mơ đã tới cổng chùa. Qua tam quan đã bày ra một cảnh tưng bừng nhộn nhịp, đèn lốm đốm như sao sa, người đi lại tấp nập, nhất là trong chùa, họ đứng sát cánh nhau xem cúng. Khi bà Chánh đi tới thì họ nhao nhao lên mà chào, và đứng dãn lối cho hai mẹ con bà đi. Tới nhà tổ, sư cụ đon đả ra đón:
- Gớm! Bận gì mà muộn thế? Các bà đây đang chờ bà để hầu thánh đấy.
Vừa nói sư cụ vừa chỉ bà Lý, bà Tổng, bà Phó cùng mấy bà Hương, Nhiêu, đang ngồi uống nuớc, ăn trầu trên mấy chiếu. Các bà này thấy bà Chánh đến đều đứng dậy chào hỏi:
- Bà chị ra chậm thế?
- Chắc ông Chánh còn giữ chứ gì! Chúng em chờ mãi.
Bà Chánh tươi cười đáp lại:
- A di đà phật! Bạch cụ! Chào các bà. Tôi bận quá. Vội vàng sắp sửa ra ngay đấy, chứ có dám dềnh dang đâu.
Mơ đặt quả lễ trên chiếc kỷ, đoạn chắp tay chào mọi người. Sư cụ nhìn Mơ, rồi phân trần với bà Chánh:
- Mợ Cả cũng ra đấy à? Tiếng rằng mợ ấy đem lễ ra chùa luôn, mà tối hôm nay tôi mới được tường mặt đấy.
Bà Lý đáp:
- Bạch cụ, bà Chánh tôi kén mãi đấy ạ, phúc đức quá, thật là con hiền dâu thảo.
Bà Hương cũng nói xen vào:
- Bạch cụ, thế cụ đã biết cậu cả chưa, thật là con giòng cháu giống, vợ nào chồng ấy tốt đôi đẹp lứa quá.
Những lời khen ấy không làm cho Mơ vui thích, trái lại Mơ vừa tủi, vừa thẹn. Nàng đứng tựa vào cột, mặt cúi gầm, lấy ngón chân cái di đi, di lại trên mặt đất. Mãi đến lúc Sư cụ bảo chú tiểu Tuyết đem tiến cúng quả lễ của bà Chánh và giục hai mẹ con bà lên chùa lễ phật, bấy giờ Mơ mới thấy nhẹ hẳn người. Lên chùa vừa gặp bà Đồ và Trà vừa lễ xong đi trở xuống. Mơ cúi chào bà Đồ, rồi ghé vào tai Trà nói nhỏ:
- Trà đợi Mơ ở điện nhé!
Trà gật đầu, và trong lúc bà Chánh đứng nói chuyện với bà Đồ, Trà kéo áo Mơ ra bên cột:
- Con Ninh nó cũng ra đấy.
Mơ gạn hỏi:
- Nó ra thì làm sao?
- Thế chị chưa biết chuyện à? Con Ninh nó phải lòng anh Bân theo trâu nhà chị ấy mà. Con ấy nó dám nói ngoa rằng chị đã có mang với anh Bân ba tháng rồi đấy.
Mơ giật mình, lạnh toát cả người, toan hỏi cho rõ chuyện, thì bà Chánh đã gọi vào lễ. Lễ phật xong, lại đến hai ban đức Chúa, rồi mới xuống điện. Trong lúc bà Chánh ngồi đồng, Mơ và Trà dắt nhau ra ngoài hiên, câu chuyện đầu tiên là Mơ căn vặn Trà:
- Chị biết đích con Ninh nó nói thế à? Nó nói với ai? Thế này thì em tức chết mất!
Trà ôn tồn bảo:
- Hôm qua em đi chợ gặp bác nhiêu Tình, bác hỏi em rằng chơi thân với chị thì có biết rõ chuyện ấy thực hay giả không? Em có hỏi lại là ai nói xưng xưng ra thế, thì bác ấy bảo là con Ninh, Em giận quá toan tìm con Ninh cho nó một trận nhưng không thấy nó đâu.
Mơ mỉm cười.
- Chị cũng khéo tức hão, nó nói xấu em mà chị định đánh nó thì đánh làm sao?
Trà ngạc nhiên:
- Chuyện như thế mà chị còn cười được à?
- Thì chị bảo làm gì được nó bây giờ?
- Hai chị em mình ra đánh tuốt xương nó ra cho nó chừa nói nhảm đi chứ.
- Không thể được chị ạ! Bây giờ nó chối bay chối biến, mình sinh sự với nó lại càng như vạch áo cho người xem lưng, thứ nhất lại đông người thế này, mà cả đẻ em cũng ở đây nữa.
- Chị bảo đành chịu cho nó tha hồ nói xấu mình hay sao?
- Úi chà! Nó chả có sức mà nói, cây ngay có bao giờ sợ chết đứng.
Trà không nói nữa, tần ngần nhìn Mơ mà ái ngại cho bạn, nhẫn nại quen rồi đến nỗi chịu để người vu họa, không một lời giải tỏ minh bạch, Mơ đã chịu vào khuôn phép của bà Chánh, không còn tính ương bướng thuở bé nữa.
Trà còn lạ gì, xưa kia đừng nói ai đổ tiếng xấu cho Mơ, cứ trêu vào Trà, hay một bạn gái nào thân của Mơ là Mơ đã chẳng chịu để cho yên. Mơ đanh đá đến nỗi lắm lúc Trà phải phát ghét, thế mà nay thì khác hẳn. Mơ đã quá nhũn nhặn đến nhẫn nhục, quá nhu mì đến hèn nhát.
Khuya lắm rồi, bà Chánh đã ngồi được đến ba giá đồng. Trên chùa cúng xong từ lâu, người đi xem đã về vãn hẳn, chỉ còn một ít con hương đệ tử đứng, ngồi xúm xụm trọng điện đợi ngồi hầu bóng. Sương xuống mỗi lúc một thêm giá. Trà ngồi ngoài hiên thấy lạnh buốt, lần túi, rồi hỏi Mơ:
- Trà quên không đem trầu đi. Chị có, cho em xin một miếng ăn cho đỡ rét.
Mơ lục trong túi, cũng không mang nốt, Trà cười:
- Rõ khéo bảo nhau! Có thế mà cũng quên, giá lạnh thế này, được khẩu trầu ăn thì ấm lắm nhỉ.
- Được, để em xuống xin chú Tuyết.
Dứt lời, Mơ đứng dậy xuống nhà bếp tìm chú Tuyết xin được mấy khẩu trầu, Mơ còn đứng lại nói dăm ba câu chuyện và ăn một miếng cho đỡ rét. Lúc trở lên điện, Mơ rẽ ra sau tường hoa, chỗ đầu vườn đề nhổ cốt trầu. Sân chùa lúc ấy vắng tanh, Mơ chạy qua, tới đầu vườn, vừa nhổ xong, nghe có tiếng gọi se sẽ:
- Cô Mơ!
Mơ giật mình, ngơ ngác nhìn, vườn giồng nhiều cây ăn quả to lớn, lá tốt um tùm mặc dầu về mùa đông đã rụng hết nhiều, nên tối om. Nàng quay lại toan trở về điện, thì gần đấy, sau bụi chuối, có tiếng gọi khẽ, giọng hơi run vì cảm động:
- Cô Mơ ra đây cho tôi hỏi câu chuyện.
Mơ rất đỗi kinh ngạc, vì lần này thì rõ ràng là tiếng anh Bân. Nàng ngập ngừng, trống ngực đập thình thình, muốn ra vườn lại rụt rè, định bụng chạy về với Trà mà hai chân vẫn không cất nổi bước. Mơ quay nhìn phía sau: sân chùa chẳng còn một ai...
‘‘Thôi kệ!’’ Mơ tự nhủ như vậy, và lưỡng lự quay đi, nhưng một bàn tay đã đưa ra nắm chặt lấy tay mMơ mà kéo đi. Mơ hoang mang, không kháng cự, lẳng lặng bước theo.
Trà đang thèm ăn trầu, đợi mãi không thấy Mơ lên, sốt ruột đứng dậy xuống bếp tìm, vừa đi vừa lẩm bẩm:
 ‘‘Con ranh! Đi lâu thế!’’
Xuống đến bếp chẳng thấy Mơ đâu, Trà hỏi chú Tuyết:
- Mợ cả Thành có đây không chú?
Chú Tuyết lắc đầu:
- Mợ ấy lên điện từ lâu rồi.
Trà giật mình, vội quay ra, một ý tưởng nghi hoặc thoáng qua trong trí. Nàng không lên điện, rẽ qua sân chùa, tới đầu tường hoa, nàng bỗng đứng sững lại: tiếng người rì rầm tự trong khu vườn tối om đưa ra. Trà sốt ruột vịn vào tường hoa sẽ gọi:
- Mơ ơi! Mơ!
Tiếng rì rầm im bặt. Trà gọi thêm mấy tiếng nữa, không thấy trả lời. Nàng nghi hoặc, đứng lắng tai nghe một lát, quay đi được vài bước, rồi không hiểu nghĩ sao, nàng cúi nhặt một viên gạch vồ ở gốc cau cầm lăm lăm trong tay mà bước thẳng vào vườn.
Chưa qua được bức tường hoa, Trà đã giật nẩy mình đánh rơi cả gạch: Mơ tự trong vườn bước sấn tới ôm lấy Trà, khẽ van lơn:
- Lạy chị!
Thấy Mơ, Trà giận quá tưởng phát khóc được xong Trà nín lặng, nắm cổ tay bạn kéo đi về phía điện. Bà Chánh đang lên giá cô Chín, nói õng ẹo:
- Tiểu, tiểu.., tiểu lại đây.... rồi ban tài, ban lộc cho.
Mấy bà ngồi hai bên luôn mồm xuýt xoa, tấu cô. Cung văn càng cao giọng hát, tiếng đàn khi khoan, khi nhặt.
Mơ và Trà đều không buồn ngó tới. Mỗi người bận theo đuổi một ý nghĩ.
Trước nhà tổ, có trồng một cây ngọc lan to, hai người đến ngồi dưới gốc cây. Trà lên tiếng trước:
- Trầu đâu, hở Mơ?
Mơ thẫn thờ móc túi đưa cả mấy miếng trầu chú Tuyết cho lúc nẫy. Trà nắm lấy tay bạn. gạn hỏi:
- Mơ có giận Trà không?
- Ô hay! Có việc gì mà giận?
- Mơ làm sao như người mất hồn thế?... Lúc nãy Mơ nói chuyện với ai ở ngoài vườn thế?
Mơ lặng yên, cúi đầu không đáp. Trà cố gặng hai ba lượt. Mơ thở dài, nói khẽ như thầm, "Anh Bân".
Trà lặng người. Sao lại có thể như thế được? Trà đã đoán già từ trước là Mơ nói chuyện với Bân, mà lúc ấy cũng không thể chịu được nổi câu trả lời cộc lốc của bạn. Giá Mơ cứ nói dối quanh, có lẽ Trà cũng yên: Trà cốt không muốn biết sự thực ấy, sự thực trắng trợn đã làm cho Trà thất vọng: một người như Mơ lại có thể hạ mình xuống chuyện trò cùng người theo trâu nhà mình như vậy được. Trà tức bực, nói đầy vẻ hờn giận:
- Mơ tệ quá thật!
Ánh đèn dầu ở nhà tổ chiếu tới chỗ hai người ngồi, làm Mơ trông rõ nét mặt nghiêm nghị của Trà, Mơ sợ hãi gục đầu vào vai bạn nức nở.
- Trà đừng nghi oan nhu thế, tội nghiệp! Mơ khổ quá.
Trà mủi lòng dịu giọng:
- Sao chị dại dột thế? Em nóng ruột đi tìm ngay, chứ không nhỡ có ai qua lại người ta biết thì còn ra làm sao nữa?
Mơ vẫn khóc. Trà đẩy đầu bạn ra:
- Chị đừng khóc thế, có ai biết, đến tai bà Chánh lại lôi thôi. Chị bảo em đừng nghi oan cho chị, thì lúc nẫy chị ra vườn làm gì?
- Tại em ra đấy nhổ cốt trầu nên mới gặp anh Bân.
Trà đỏ mặt, nói dỗi:
- Em chỉ nghĩ tình bè bạn thân thiết tử bé, với lại em thương bà Hai cũng như thương U em ở nhà, nên em mới nói, chứ còn thì tùy chị đấy, em lo phận em còn chả xong nữa là.
Mơ thấy bạn dỗi, thì vừa thẹn vừa tức:
- Anh ấy hỏi thì ra chứ sợ gì! Trà phải biết nếu Mơ không thương u Mơ, thì Mơ cũng chẳng cần. Trà tưởng Mơ sung sướng lắm đấy... vả lại Mơ đã làm gì nên tội? Anh ấy rủ Mơ bỏ nhà trốn đi, Mơ có nghe đâu. Ấy chính lúc anh ấy cố nài thì Trà đến...
Nói đến đấy, Mơ nín lặng, rùng mình nghĩ lại phút đê mê ban nẫy, nếu Trà không đến, Mơ sẽ xử trí ra sao trước cám dỗ của dục tình? Hai tay ôm lấy đầu, Mơ thở dài não nuột:
- Cứ thế này mãi hay sao? Vất vả khó nhọc để làm gì? Thà rằng đi ở con sen, con đòi, lại được đồng tiền công!
Từ nãy, Trà vẫn ngồi đăm đăm nhìn bạn, nửa thương, nửa giận. Gió thổi lạnh, Trà rùng mình nép vào bên Mơ cho ấm, mà Mơ cũng thản nhiên như không biết. Tiếng đàn hát trên điện, Mơ nghe cũng thấy như xa dần. Mơ bâng khuâng tưởng như có thể bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ cái làng nhỏ dưới bóng tre xanh này mà đi, đi mãi...
Bỗng có tiếng trẻ con khóc thét làm Mơ giật mình, sau nhà tổ, bên hàng xóm, có tiếng hát ru em:
- “Trèo lên câv bưởi hái hoa.
“Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân,
“Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc,
“Em có chồng anh tiếc lắm thay!
- "Vì gì một mớ trầu cau,
“Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
“Bây giờ em đã có chồng,
“Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
“Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ?
“Chim vào lồng biết thuở nào ra?..."
Mơ chán nản, ngơ ngác nhìn. Sân chùa vắng ngắt. Bên Mơ, Trà ngồi bó gối, ủ rũ. Mơ kéo tay Trà đứng dậy:
- Chúng ta vào trong điện đi! Ở đây rét lắm!
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.03.2020 17:39:47 bởi Thanh Vân>
VIII
 
 


Cái tin mà Trà và Mơ lo sợ từ bao lâu rằng sẽ đến tai bà Chánh, thì nay đã đến thật. Lạ gì, ở thôn quê bao giờ rỗi rãi, mùa màng xong xuôi, vô công rỗi nghề, là họ tụm năm, túm ba chuyện trò bàn tán, dù chỉ là một tin đồn vô căn cứ, họ cũng đem ra nói cho hết. Bà này mở túi trầu, bà kia làm quà một câu chuyện, một đồn năm, năm đồn mười, chuyện bé xé ra to, thôi thì tha hồ bia đặt.
Bà Chánh, một hai lần đầu nghe có người đồn con dâu của mình phải lòng anh theo trâu trong nhà, cũng lấy làm khó chịu, nhưng còn cho là họ ghét Mơ, hay ghen với cái cảnh giầu sang của bà đặt điều nói xấu. Bà bỏ qua cho đến một lần kia, bà bắt phân vân, nửa tin, nửa nghi. Là vì cái tin "sét đánh" cứ mỗi ngày một to mãi ra như vết dầu loang trên mặt giấy, và đi đâu bà cũng thấy người ta xì xào to nhỏ, dù chuyện gì chăng nữa, bà cứ tin là người ta đang bình phẩm vợ chồng bà, con trai, con dâu bà, bà đâm ngờ rằng nhà mình đến hồi vô phúc. Thoạt đầu bà giận lắm, toan đánh cho Mơ một trận nhừ đòn, rồi cho gọi bà Hai đến giao trả con, song bà lại tiếc Mơ đảm đang, nội việc nhà, việc đồng, một tay con dâu bà quán xuyến, vả lại đã lấy gì làm thực, biết đâu Mơ chẳng bị mắc tiếng oan, người ngay có bao giờ trời nỡ hại, đến Quan Âm Thị Kính oan khiên là thế mà cũng còn có lúc được dải tỏ nữa là, bà mộ đạo lắm, nên bà cứ hy vọng rằng: nhà bà ở hiền không lẽ lại gặp ác.
Bà loanh quanh không quyết nên xử trí ra sao.
Một hôm cả nhà, mỗi ngươi bận đi vắng một việc, chỉ còn có hai vợ chồng bà, bà mới rụt rè bàn tán:
- Ông ạ!
- Cái gì?
- Con Cả nhà ta ấy mà, người ta đang đồn ầm lên là nó phải lòng thằng Bân.
Ông Chánh trợn mắt, sửng sốt:
- Thằng Bân nào?
- Thằng Bân theo trâu nhà chứ còn thằng Bân nào nữa.
- Láo, có đích thực thế không?
- Nào tôi biết đâu là thực hay giả. Tôi thấy họ nói mấy lần đến tai tôi rồi. Tôi đã bảo ông mà, lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống, ông thì cái gì cũng hấp tấp, vơ quào, vơ cấu, dâu với con thế thì có chán không?
- Thôi đi, bà đừng đổ lỗi tại tôi nữa. Hồi ấy, bà chả khen mãi con ấy đảm là gì, mấy lại đã lấy chi là chắc, chúng nó đồn láo bên ngoài kệ xác chúng nó chứ.
- Kệ thế nào được, mình là nhà làm lúa, làm việc, thế chúng nó khinh đi. Thật là ông giết con giai ông đấy nhé, rước voi về giầy mồ!
Ông Chánh vân vê bộ ria mép suy nghĩ. Bà đăm đăm nhìn, đoạn nói nhỏ:
- Hay là thế này...
- Thế nào?
- Gọi bà Hai lên bảo mang con về mà dậy.
- Hừ! Thế không được, đã chắc con Mơ nó phải lòng thằng Bân thật đấy à? Hay là thằng này có ý bờm xờm với nó, nó sợ không dám mách, hay là có thằng mê nó không được rồi bịa chuyện ra nói xấu. Úi chà! Nhà mình thế này mà lại! Đem chém không hết những thằng ghen sặc máu.
- Ấy tôi cũng nghĩ thế, nên chưa nhất quyết.
- Chẳng biết hư thực ra sao, cứ đuổi cổ thằng Bân đi, rồi không cho con này ra đến ngoài nửa bước là êm chuyện.
Bà Chánh ngần ngừ, đuổi Bân đi bà cũng tiếc. Bà ưa Bân hiền lành, hay làm lại ít nói. Tìm được người theo trâu như hắn không phải là dễ gì. Bà là người tham công tiếc việc lắm, nên cân nhắc mãi. Sau bà đành nói nước đôi:
- Tùy ông đấy, trong nhà này chỉ có ông là nhất, ông liệu sao cho êm cửa, êm nhà thì liệu.
Cuộc bàn luận của hai ông bà đến đây thì dứt đoạn, vì Mơ đi vớt bèo đã về, nhưng dứt đoạn cũng đến lúc ngã ngũ rồi. Ngay hôm ấy Bân được bà Chánh gọi lên tính công xá sòng phẳng và cho ra, mà ngẩn ngơ không rõ duyên cớ vì đâu.
Từ lúc Bân cắp gói quần áo chào ông, bà Chánh và Mơ, rồi ra khỏi nhà, thì Mơ buồn rười rượi. Nàng thấy mình cô độc giữa một đám người hằn học lúc nào cũng chỉ muốn tìm cách hại nàng, từ bố mẹ chồng, chồng, cho đến hàng xóm láng giếng, không một ai nhìn nàng bằng đôi mắt thân yêu, trái lại toàn là thù ghét.
Trước, anh Bân còn ở nhà này, Mơ lúc nào cũng băn khoăn, lo cho mình không giữ nổi lòng để rồi mang tai, mang tiếng, có khi nàng còn mong cho bà Chánh đuổi Bân ra ngay là đằng khác, giờ Bân ra rồi, Mơ lại tiếc. Nàng tự nhủ thầm:  ‘‘Thà mình cứ nghe anh Bân lại xong. Có thế, cho nói càng khỏi tức, chứ người mà ở với nhau như kẻ thù thế này thì chịu sao được’’.
Không chịu được, cũng phải chịu. Hơn thế Mơ lại còn như bị giam lỏng, suốt ngày không được bước ra khỏi ngõ. Công việc chợ búa, hái dâu, vớt bèo đã có con Nuôi là đứa đầy tớ gái độ 15 tuổi bà Chánh mới mướn, còn theo trâu bà chỉ mượn một thằng nhỏ cũng trạc ngần ấy tuổi, như thế, theo ý bà, hẳn là êm chuyện.
Ngày tháng lạnh lùng trôi, Mơ sống như người mất hồn, chịu chửi mắng, tha hồ, lắm lúc nàng toan tự vẫn, nhưng nghĩ đến mẹ, lại thôi, lắm lúc nàng tính bài liều toan cãi giả bố mẹ chồng, nhưng tưởng đến roi vọt, những hình phạt sẽ gia cho nàng, tưởng đến lúc người ta gọi mẹ nàng đến để giếc móc, lại không dám, lắm lúc nàng định bỏ trốn, nhưng lại lo mẹ già không chịu được những tiếng chê bai của trong họ, ngoài làng. Rút cục, nàng chẳng tự vẫn, chẳng bướng bỉnh, mà cũng chẳng trốn đi, nàng chỉ còn biết nhẫn nại.
Như vậy được hơn một tháng.
Ngày kia, em họ ông Chánh làm thông phán ở phủ Thống Sứ Hà nội về quê thăm anh. Lúc ấy Mơ đang đứng cho lợn ăn ở phía sau nhà, bỗng thấy con Nuôi chạy ra gọi giật giọng:
‘‘Mợ ơi! Bà đang gọi trên nhà kia kìa! Có ông khách nào ở tỉnh về ấy”.
Mơ bảo con Nuôi đứng đó trông lợn thay cho mình, rồi rửa tay xong, lên nhà trên, đã thấy một người bận quần áo tây đang ngồi nói chuyện với ông Chánh ở trên sập. Bà Chánh ngồi trên ghế ngựa kê ở gian bên, vừa têm trầu, vừa nói chõ sang. Mơ khép nép cúi đầu chào, có lẽ vì mải vui chuyên, vả lại Mơ chào khẽ quá, nên ông khách không nghe tiếng. Bà Chánh nhắc:
- Kìa, chú Phán! Cháu nó chào chú đấy.
Ông Phán quay lại đáp:
- Không dám.
Bà Chánh không đợi cho ông Phán kịp hỏi là ai, đã nói rõ:
- Đấy cháu dâu của chú đấy.
Ông Phán ngớ ngẩn, không hiểu:
- Cháu dâu nào nhỉ?
Bà Chánh cười:
- Ơ kìa! Rõ chán! Chú với cháu mà cũng không biết nhau. Vợ thằng cháu Thành chứ còn ai nữa?
Ông Phán phá lên cười:
- Thế à! Vợ thằng Thành đấy à! Ra dạo nọ hai bác viết giấy bảo tôi về ăn cưới cháu, là cưới cô này cho nó đấy phải không? Hồi ấy tôi ốm, phải nằm nhà thương không về được, có cho nhà tôi về, khi lên nó cũng có nói là hai bác kén vợ cho cháu nhớn quá, nhưng tôi không ngờ lại nhớn đến thế này.
Bà Chánh phân trần:
- Chú tính ở nhà quê thì phải thế chứ, không có nhà neo người, lấy ai là người làm. Những hạng hỉ mũi chưa sạch ấy, cưới về để mẹ chồng phải hầu lại nàng dâu ấy à.
- Bác nghĩ vậy là lầm. Thiếu người, làm sao bác không mướn?
- Mướn người ngoài, còn tin cẩn làm sao được. Đằng này dâu con trong nhà lại chả hơn ư?
- À ra chỉ vì bác nghĩ thế nên mới cưới vợ sớm cho cháu!
Nói đoạn, ông Phán lại phá lên cười, làm cho Mơ ngượng quá đứng cúi gầm mặt xuống đất.
Từ nẫy ông Chánh vẫn ngồi im, đến lúc ấy vì thấy ông Phán vốn theo tây học, trong câu chuyện cười nói quá tự do, còn bà Chánh thì tuy phật ý nhưng vì nể, chẳng gì em mình cũng là ông Phán tại tỉnh thơm lây cho cả họ, nên cười gượng, ông mới đánh bài hoà giải:
- Chú Phán ạ! Ở tỉnh khác, nhà quê khác chứ, chú cứ bì thế thì vừa... À này, bà mày không bảo con Cả nó đi làm cơm chú xơi chứ.
Bà Chánh sực nhớ ra, vội đứng dậy đưa mắt ra hiệu cho Mơ, rồi hai mẹ con xuống bếp, để mặc anh em ông Chánh tha hồ chuyện trò.
Bà bảo Mơ bắt gà, rồi bà cầm chân cho Mơ cắt tiết. Bà dặn đi dặn lại con dâu làm những món này, món nọ, cẩn thận hơn, bà bảo:
- Làm cho khéo vào! Chú Phán ở tỉnh không ăn uống như quê mình đâu.
Dặn xong bà lại bỏ lên nhà trên nói chuyện. Còn một mình Mơ ở dưới bếp. Nàng vửa đun nấu, vừa nghĩ đến những câu ông Phán nói lúc nẫy mà cơ hò muốn khóc. ‘‘Thiếu người sao không mướn?’’ Ông Phán nói rất đúng. Có lý nào chỉ vì thiếu người làm, mà người ta đã cố ép thành vợ chồng, một đôi trai gái chênh lệch nhau hàng chục tuổi, có lý nào chỉ vì thiếu người làm, mà một thắng bé hỉ mũi chưa sạch đã có một cô vợ tối đến phải ẵm chồng đi ngủ?
Đợi đến lúc Thành lớn như người ta ‘‘thì Mơ đã già’’, và đến cái lúc Mơ già ấy, chắc gì Thành còn để ý đến Mơ!
Những ý nghĩ ấy quay đi, lộn lại trong óc Mơ, bắt nàng nghĩ đến Bân, một người lanh trai, rắn rỏi, xinh đẹp. Mắt nàng hoa lên, tai nàng ù đi, và nghe tiếng lửa reo, nàng tưởng tiếng sáo nhịp nhàng mà Bân hằng thổi. Mơ gục đầu trên gối, để mặc cho nước mắt chan hoà.
 
 
 
 
 
 
 
IX


 
 
- Cả đâu! xong cơm chưa?
- Dạ, thưa xong rồi ạ.
Mơ vừa đáp, vừa vội vàng lau thêm cái thìa để vào mâm, đoạn nàng đưa mắt điểm qua các bát, đĩa đầy món ăn xem còn thiếu thức gì, rồi bưng lên. Tới ngưỡng cửa, Mơ nghe thấy ông Phán nói:
- Hai bác giữ nó ở nhà làm gì? Hai bác không lo gì hết, mọi sự đã có tôi, tốn kém gì đâu mà ngại.
Đồng hò treo trên vách vừa buông năm tiếng. Ông Chánh bảo em:
- Thôi, hãy để chuyện ấy lại, rồi sẽ bàn. Ta đi ăn cơm đã.
Mơ đặt mâm cơm trên bàn, rồi tất tả đi châm đèn. Bà Chánh đứng dậy trước, nhìn mâm cơm đầy món ăn, nào thịt gà luộc, rán, nấu, nào đĩa cổ cánh rang cháy cạnh, bà bằng lòng lắm, so đũa, rót rượu, rồi mời ông em:
- Chú ra xơi rượu đi, ở nhà quê không gặp ngày phiên chợ, chả biết làm thức gì ăn.
Ông Chánh cũng nói:
- Cơm hơi sớm nhỉ! Ở trên tỉnh mãi tối mịt chú mới ăn. Hôm tôi lên chơi, chả tới bảy giờ tối mới đến bữa là gì, làm mình phải một mẻ đói.
Ông Phán, vừa đứng lên ra bàn ăn, vừa gọi:
- Thành đâu? Ra ăn cơm với chú nào.
Thành từ lúc ông Phán về cho một hào, vội bỏ đi đánh đáo với lũ trẻ hàng xóm. Mơ phải chạy đi gọi mới về. Quần áo lấm be bét, mặt mũi nhem nhuốc, Thành vừa sịt mũi, vừa chạy vào, nhảy ngồi tót lên chiếc ghế mây, hai tay vịn bào thành bàn, mắt nhìn khắp mâm một lượt. Ông Chánh thấy thế quát:
- Hư nào! Bẩn thỉu như kia mà dám ngồi với chú à? Liệu không có chú đánh chết.
Bà Chánh quay lại gọi Mơ:
- Chị Cả đâu? Múc nước rửa mặt mũi, chân tay, rồi thay quần áo cho cậu ấy đi.
Mơ "dạ", chạy đến dắt Thành ra sân, mà ngượng đỏ cả mặt.
Rửa mặt, rửa chân tay cho Thành xong, Mơ lại lấy quần áo sạch thay cho chồng, và trong lúc Thành xúng xính trong bộ quần áo trắng ngồi ăn cơm cạnh ông Chánh, thì Mơ bỏ xuống bếp ngồi, nàng đang nghĩ vơ vẩn đến những câu chuyện giữa bố mẹ chồng và chú chồng, đến những lúc dắt Thành ra rửa mặt, rửa chân tay, và thay quần áo, chắc ông Phán phải lấy làm nghịch mắt, thì bà Chánh ở nhà trên đi xuống. Bà thấy Mơ ngồi một mình trên thành cối dận gạo, cũng ghé ngồi bên cạnh. Mơ toan đứng lên, nhưng bà đã giơ tay ngăn lại:
- Đượe, chị cứ ngồi. Tôi nói câu chuyện.
Mơ sợ hãi khép nép ngồi xệp xuống đất:
- Thưa đẻ, có việc gì ạ?
- Này chị! Chú Phán vừa nói với thầy, đẻ, muốn đem cậu Cả lên Hà Nội cho nó học hành đấy. Chị nghĩ thế nào?
Mơ như trút được gánh nặng, vì từ nẫy cứ yên trí là bà Chánh sẽ lục chuyện anh Bân ra. Nàng băn khoăn chưa biết nên nói gì, bà Chánh đã tiếp:
- Thầy bảo nó còn bé, song chú Phán cứ nhất định xin cho bằng được. Chú ấy nói ở tỉnh trẻ con lên sáu lên bảy đã ra trường học là thường.
- Thế thầy đẻ có ưng không?
- Chưa nhất định. Để chú với thầy mày ăn cơm xong, tao sẽ bàn. Việc gì cũng phải nghĩ cho kỹ mới được.
Mơ lặng ngắt, vì biết rằng mình có bàn vào cũng là thừa. Nào Mơ có quyền hành gì ở nhà này. Bà Chánh có hỏi ý kiến nàng chẳng qua cũng chẳng còn gì đáng kể nữa, bà lại lên nhà trên.
Lúc ấy hai anh em ông Chánh đều đã ngà ngà say, mâm rượu đã gần tàn, mà chuyện đang nở. Giờ không phải là việc Thành ra tỉnh học nữa, ông Chánh nói chuyện việc dân làng, ông khoe những lúc ông được vẻ vang ở các nơi đình trung, miếu sở, ông Phán thì đem những chuyện ngoài tỉnh ra kể, những lề lối ở nơi văn minh đô hội, khác hẳn với những phong tục cổ hủ ở thôn quê. Đành rằng câu chuyện của hai người đều phạm đến lòng tự ái của nhau, nhưng được cái ông Chánh vốn sẵn lòng phục em là tài cao học rộng nên dù có một đôi câu nghe không đẹp ý, ông cũng chỉ gật gù mà cười xoà chứ không phản đối.
Mãi đến hơn bẩy giờ tối mới xong bữa. Vui chén, hai anh em đều quá say, nên bà Chánh đành buộc lòng xếp câu chuyện cho Thành ra tỉnh học mà trong trí bà lúc nào cũng băn khoăn tới và muốn đem ra bàn luận với chồng, với em chồng cho kỹ. Bà bảo Mơ dọn giường cho hai anh em ông Chánh đi nghỉ, còn bà cứ đem chuyện ấy ra bàn tán với con dâu mãi tới gần nửa đêm mới đi ngủ, mặc dầu Mơ chỉ vâng dạ cho xuôi chuyện.
Sáng hôm sau ông Phán dậy, cho là việc của Thành đã quyết định rồi, nên giục Mơ sửa soạn va ly, quần áo cho Thành để ra tỉnh vào chuyến tầu 10 giờ. Thấy vẻ cả quyết của em, ông Chánh không trái ý, bà Chánh tưởng là chồng đã ưng thuận từ lúc ngồi ăn cơm tối hôm trước, nên cũng không bàn ra nói vào nữa. Thế là xong bữa cơm sáng, Mơ đã sai con Nuôi đi gọi xe. Các thứ quần áo nhật dụng của chồng, nàng đã xếp đủ trong một chiếc va ly. Thành phải xa cha mẹ thì rưng rưng muốn khóc, nhưng phần vì sợ chú, phần được mặc quần áo đẹp, được đội mũ, đi giầy như ngày Tết thì cậu cũng đỡ buồn.
Chừng chín giờ, xe đã gọi về. Ông Phán dắt Thành chào hai vợ chồng ông Chánh rồi đi ra. Mơ xách va ly theo sau, ra đến đường, nàng để va ly lên chân xe, rồi lẳng lặng lùi lại đứng sau lưng bà Chánh.
Sau mấy câu chào hỏi quyến luyến, ông Phán dắt Thành bước lên xe, ông Chánh còn dặn vói:
- Chú để tâm trông nom cháu cho tôi nhé. Bảo không được cứ đánh chứ đừng có nuông đấy.
Bà Chánh thương con hơn, căn dặn Thành:
- Con cố học ngoan ngoãn, đến Tết thầy đẻ lên sẽ xin chú thím cho về nhà ăn Tết, cố học đi, hay chữ thì muốn thứ gì cũng có, tha hồ mà sang trọng.
Mơ chào ông Phán, và nhìn nét mặt buồn thiu gần khóc của chồng mà trong lòng thản nhiên như không. Giá Thành là em Mơ, có lẽ đi học xa như thế, nàng còn buồn, còn nhớ, khốn nỗi Thành lại là chồng, Thành lại là người mà nàng không ưa nhưng vẫn cứ phải hầu hạ chiều chuộng, Thành là cái gai trước mắt lúc nào nàng cũng muốn nhổ mà không dám, thế thì Thành đi, có lẽ Mơ lại còn mừng là đằng khác. Nàng so sánh cái phút biệt ly này với lúc anh Bân bị đuổi, chào nàng, tay xách gói quần áo ra cổng, mà thấy khác nhau như một vực, một trời.
Lúc này, xe quay bánh, Mơ cũng quay về không ngoái cổ, chứ lúc Bân đi, mới nghe dứt tiếng chào, lòng nàng đã se lại.
Cũng là biệt ly mà sao một vui, một buồn, có khác!...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN THỨ NHÌ
 
I
 
 
Mơ rùng mình, kéo chiếu lên trùm kín đầu, mồm lẩm bẩm: “Gớm, sao mà rét thế!"
Gió lùa qua khe cửa rít lên từng cơn, thổi đến tận chỗ Mơ nằm. Đắp hai chiếc chiếu dầy, lại nằm trên nệm gianh mà Mơ vẫn thấy lạnh. Nếp nhà ngang năm gian ông Chánh mới làm năm ngoái, rộng thênh thang, chỉ có một mình Mơ nằm nên nàng thấy vắng vẻ lắm.
Ở nhà trên, vợ chồng ông Chánh chừng đã ngon giấc nên không thấy tiếng chụyện trò, dưới bếp con Nuôi cũng đã ngáy đều từ bao giờ, chỉ còn một mình Mơ là trần trọc mãi. Mơ bực mình quá, chân hết co lại duỗi, mà đôi mắt không tài nào chợp đi được. Nàng thấy trong lòng rạo rực, các thớ thịt đều như rung động làm cho người bức dứt, khó chịu. Nàng co chân lên, ôm đầu gối vào ngực, răng cắn lấy môi, một lúc lâu, nàng lại tung chiếu ra cho lạnh thấu vào người. Bốn bề đều tối đen như mực, và óc nàng cũng nhiễm đầy ý tưởng tối đen.
Nàng như ao ước, như thèm muốn một thứ gì...thứ gì? Nào biết được! Nằm chán, Mơ lại ngồi dậy, cởi phanh cả hai vạt áo ngực, cởi cả yếm, rồi lại như thẹn với bóng tối, nàng ngồi thu hình ôm gối, hai tay bó chặt lấy nhau. Ngồi chán, lại nằm vật xuống, Mơ cau có, gắt thầm với mình: ‘‘Làm sao thế này nữa! Tận bây giờ còn chưa ngủ được. Mai đã hai mươi sáu tết rồi, dậy trưa lại khổ, mà có lẽ cậu Cả về cũng nên”.
Nghĩ đến chồng, Mơ càng thêm chán ngắt. Đã mấy năm nay rồi, ‘‘chín đêm trực tiết nằm không cả mười”.
Năm nào cũng vậy, chỉ Tết và nghỉ hè Thành mới về nhà, còn quanh năm ở Hà Nội học. Mấy năm đầu, cậu còn ham chơi, đến ngày đi thi thì lần lữa chỉ muốn ở lại. Cậu vẫn vui vẻ, ham chơi, hỏi gì Mơ hay bảo gì cũng chỉ nói trống không, tuy thế Mơ còn thấy dễ chịu, mỗi lần Thành về, nhà lại vui thêm một ít, vì Thành nghịch ngợm cười nói luôn mồm. Bà Chánh thấy con trai thế chỉ mắng qua loa: ‘‘Học trò gì mà nghịch ngợm như quỷ đấy!’’ Hay:  ‘‘có cố học đi còn thi đỗ làm quan cho vợ nó nhờ, chứ nghịch đến tận bao giờ’’
Thành chỉ cười, hoặc có thẹn, lại lảng đi chỗ khác!
Cứ thế mãi, hết năm này sang năm khác, bà Chánh đã có tuổi, công việc trong nhà đều trong tay Mơ cả. Bà vẫn còn nói, còn mắng, song họ hàng coi chừng đã nể Mơ, và chẳng ai còn nghĩ đến chuyện giễu cợt nữa, cả những lời đồn không hay cho Mơ với Bân ngày trước cũng không một người nhắc đến. Trà đã có chồng, nàng đã ở riêng tận làng trên, gần cuối tổng, nên Mơ không còn ai là bạn thân để chuyện trò to nhỏ nữa.
Nhưng sáu bảy năm sau, từ ngày Thành thi đỗ bằng Tiểu Học Pháp Việt, thì Mơ thấy chồng mình đứng đắn tệ. Vợ, chồng ông Chánh thấy con trai không nghịch ngợm như trước, lấy làm mừng lắm, thường bảo: “Bây giờ trông nó ra dáng người lớn rồi”.
Mỗi lần Thành về quê, thường chỉ đi chơi loanh quanh thăm họ hàng, hay nằm ở nhà trên xem sách. Thành ít nói, ít cười, và chỉ tìm cách tránh mặt Mơ, cả ngày ngoài hai bữa cơm, ít khi hai người giáp mặt nhau.
Mơ chẳng hiểu tại sao mà thế, có điều nàng nhận rõ rằng: Thành như khó chịu vì có mình, nhất là mấy năm gần đây, Mơ thấy nói Thành học ở trường Bưởi, cái trường to bằng nửa làng, thì Thành càng lãnh đạm, và trở nên cau có với mình. Mơ chán nản vô cùng, thường tự hỏi: “Không biết mình có làm điều gì phật ý chồng?’’
Có lần, về dịp nghỉ hè, một hôm Mơ ở nhà dưới lên tìm bà Chánh xuống cho người ta mua lợn, Mơ bắt gặp hai mẹ con Thành đang nói chuyện về Mơ, Mơ đứng nép bên cửa, ngoài hiên nên nghe rõ lời bà Chánh:
- Anh muốn nghĩ sao thì nghĩ. Anh phải biết tôi cưới nó về cho anh từ năm mười chín tuổi đầu, tới nay nó đã ba mươi rồi, nó cũng có khó, có nhọc ở nhà này. Anh về anh cứ dửng dưng với nó như thế thì còn ra sao nữa?
Mấy lời ấy đủ cho Mơ thấy rõ phận mình. Mặc dầu Thành càng khó chịu, thì bà Chánh càng ít điều, Mơ cũng chẳng thấy được an ủi hơn. Đã một lần, Trà đến chơi, Mơ phải than thở:
- Chị ạ, lúc mới về làm dâu thì khổ vì mẹ chồng, bây giờ đến lúc mẹ chồng nghĩ lại, thì khổ vì chồng. Sao cái số kiếp em nó khốn nạn quá thế!
Hơn nữa, Mơ còn trách bạn:
- Giá hồi ấy chị cứ để mặc em đi theo anh Bân, có lẽ lại hơn.
Trà bật cười:
- Thế bây giờ đi đi vậy.
Bây giờ đi! Ba mươi tuổi đầu rồi, đi đâu? Ví thử có một anh Bân thứ hai đến rủ Mơ, Mơ cũng không dám, là vì bao nhiêu liều lĩnh thuở trước của Mơ, Bân đi đã mang theo hết, giờ nàng chỉ còn là một người nhẫn nại nhất trong những người nhẫn nại, nhút nhát nhất trong những người nhút nhát. Còn can đảm đâu nữa!
Mơ nhớ lại câu Trà an ủi:
- Việc gì mà buồn, anh ấy tệ bạc đã có giời. Ông bà Chánh thương chị thế là đủ rồi.
Đủ rồi! Mơ rùng mình. Những đêm như đêm nay, lòng thương của bố mẹ chồng có thể đủ được chăng? Một ngày kia bố mẹ chồng mất đi, Mơ sẽ ra sao? Nàng thở dài, chép miệng lo cho cuộc đời cô độc của mình.
Nàng kéo chiếu đắp kín đầu, nhắm mắt cố ngủ cho quên, song cả một quãng đời đã qua tuy ngắn ngủi mà nàng thấy dài dằng dặc, cứ phảng phất trước mắt nàng. Đã khuya lắm. Gió vẫn rần rật thổi, giờ lại điểm mưa, nước đọng trên lá chuối nhỏ từng giọt từ tàu này xuống tàu khác nghe lộp độp. Bên hàng xóm, tiếng ru con của một bà mẹ chừng đã luống tuổi, nghe đã mất cả giọng kim, buồn, ảo não:
 
“Mỗi năm một tuổi như đuổi xuân đi,
Cái già sồng sộc nó thì theo sau.
Vì sương cho núi bạc đầu,
Vì chưng mưa nắng cho rầu rĩ hoa”.
 
 
 
 
 
 
 
II
 
Mơ đứng chờ con Nuôi rửa bát đĩa, xong cái nào là xếp ngay vào chạn. Nàng nhìn nó cầm cái bát kiểu, tay run run, thì vội bảo:
- Phải cẩn thận đấy đĩa bát này đắt lắm. Hôm nay mồng một đầu năm đừng đánh vỡ gì mới được.
Những bát đĩa kiểu ấy, chỉ ngày Tết hay ngày giỗ dọn vào những mâm cơm thết khách sang trọng thì mới đem ra dùng. Mơ nhìn chậu nước rửa bát váng những mỡ, cười bảo con Nuôi:
- Ngày Tết cái gì cũng mỡ, trông chậu nước rửa bát cũng đủ ngấy.
Nuôi ngẩng đầu nhìn:
- Thế là mợ cháu ta mỗi người lại được thêm một tuổi nữa rồi mợ nhỉ!
- Cứ gì mợ cháu mình khắp bàn dân thiên hạ, hôm nay ai là người chẳng già thêm một ít.
Nói đến già Mơ bỗng giật mình nhớ tới câu:
 
“Giai ba mươi tuổi đang xoan.
Gái ba mươi tuổi đã toan về già”.
 
Nàng thở dài đánh phào. Nuôi thấy thế gạn hỏi:
- Mợ nghĩ gì mà buồn thế? Đầu năm đã thở dài, giông chết!
- Khéo vẽ kiêng. À, thế ai đã mở hàng cho em chưa?
- Thưa mợ chưa. Từ sáng con bận dọn cơm cúng với mợ, đã lên nhà trên đâu.
- Ừ để tao mở hàng cho lấy may vậy.
Dứt lời Mơ lấy một hào mới nguyên bỏ vào túi Nuôi:
- Tao mở hàng thì quanh năm lúc nào cũng có tiền đầy túi.
- Vâng con chỉ nhờ cái lộc của mợ. Cuối năm thế nào mợ chả đẻ con giai.
Mơ nguýt dài đứa ở:
- Chửa với đẻ gì!...
Chưa dứt câu đã thấy tiếng bà Chánh gọi:
‘‘Chị Cả đâu rồi?’’
Mơ vội ‘‘dạ’’, chạy lên thấy ông Chánh đang chít khăn để sắp sửa ra đình, Còn bà Chánh ngồi nhai trầu bỏm bẻm mà ngắm chồng.
Thấy Mơ lên, bà bảo:
- Chị để cho nó dọn dẹp. Đi sắm sửa rồi còn đi lễ với tôi chứ!
Mơ  ‘‘vâng’’ rồi về buồng mình, mặc thêm cái áo the nâu đính khuy hổ phách, mới lấy ở hòm ra còn nguyên nếp gấp. Nàng bỏ đôi guốc cũ xỏ chân vào đôi mới sơn đỏ bóng lộn vừa mua ở chợ phiên hai mươi chín tết. Đoạn nàng nắn lại vành khăn, vuốt lại mái tóc, rồi không biết nghĩ thế nào, mở hộp lược lấy chiếc gương ra soi:
Khuôn mặt trái xoan bầu bĩnh vẫn còn, nhưng mấy nếp răn đã lờ mờ trên trán, cặp mắt vẫn trong sáng nhưng đuôi mí đã hơi nheo, làn môi tươi thắm đã đổi ra cắn chỉ, gò má trước ửng hồng nay cũng thành rám nắng, thời gian trôi đi, tàn tạ dần đến.
Mơ rầu rầu đặt gương xuống:
- Còn gì nữa! Lấy chồng đã mười mấy năm rồi.
Mười mấy năm rồi, không tu nhưng cũng chẳng khác gì tu, không goá cũng gần như gái góa!
Tiếng bà Chánh đã the thé giục:
- Xong chưa? Chị Cả!
- Thưa đẻ, xong rồi ạ!
Mơ vừa đáp, vừa vội vàng thu xếp hộp lược, bỏ ít xu vào túi để lát nữa mở hàng cho trẻ, rồi tất tả chạy lên.
Bà Chánh bảo chồng:
- Ông ra đình nhé, tôi đi lễ đây.
Rồi quay lại phía con dâu:
- Thôi ta đi, không có trưa rồi.
Ra đến sân, bà lại lớn tiếng gọi Thành:
- Cả ơi! Ở nhà đừng đi đâu đấy, các cô chú sắp đến lễ cả bây giờ đấy.
Năm nào cũng vậy, sáng mùng một, cơm nước xong xuôi bà Chánh ra chùa, miếu, đình, lễ rồi mới đến các nơi họ hàng quyến thuộc.
Xưa kia bà đi một mình, nhưng mấy năm gần đây bà đều cho Mơ đi theo.
Trên con đường đê rải đá, người đi lại tấp nập, quần áo mới sột soạt, giầy, guốc kéo lê, gặp nhau quen là cười nói chúc mừng ríu rít.
Quanh năm chân lấm tay bùn, chỉ có mấy ngày Tết là dân quê mới dở đến bộ cánh xếp nếp trong hòm ra mặc. Người nào cũng hớn hở, nhất là các cô con gái đi từng bọn năm, ba, khăn vuông mỏ quạ tùm hụp, mồm nhai trầu bỏm bẻm, áo tứ thân, má ba, mớ bẩy, tay bưng quả lễ, trông tưng bừng rõ ra cảnh Tết. Đầu năm nào cảnh ấy cũng diễn lại, hồi còn nhỏ Mơ thấy vui thích, hồi con gái Mơ thấy ước ao, hồi mới lấy chồng Mơ thấy sượng sùng, còn hồi này, với Mơ là cả một chán chường, đau đớn.
Còn đâu nữa những lúc được tiền mở hàng cho đầy túi để mua quà, mua pháo dàn? Còn đâu nữa những khi đàn đúm chị em đi lễ, vừa cười vừa thẹn trước những câu chúc tết bông lơn của bọn trai làng? Còn đâu nữa những lúc ngượng đến phải giấu mặt khi nghe bà con mừng cho cuối năm được đẻ con giai? Còn đâu nữa? Tất cả đã mất rồi. Họ đã chúc mừng hão huyền, Mơ cũng mong ước hão huyền, Mơ đã là con gái, Mơ chắc mình sẽ là con gái mãi, mặc dầu đã mười mấy năm giời mang tiếng là:  ‘‘đàn bà như thế còn hy vọng gì một đứa con để an ủi mình sớm tối”.
Năm nay cũng vậy.Mơ đều gượng cười chúc mừng lại. Nàng thầm nghĩ: “Ừ, giá mình có một đứa con thì mọi điều cũng thường cả không đến nỗi khổ cực cho lắm!’’
Nhưng có được một đứa con với Thành, Mơ ao ước đã từ lâu, mà chắc chắn là không sao có. Hồi xưa Thành còn bé chẳng nói làm gì, bây giờ Thành đã ngoài hai mươi rồi, trong họ ngoài làng còn thì thào: “Gớm! Vợ chồng cậu ấy cũng biết chê nhau thì lạ thật”. Nói rằng chê nhau, sự thực chỉ có Thành chê, chứ còn Mơ thì đâu dám. Đối với óc bình dị của mọi người trong làng, Thành, Mơ không có lý gì lại lãnh đạm với nhau được, một đằng vẫn nổi tiếng là ngoan, là đẹp nhất tổng, một đằng giàu có, sang trọng lại học giỏi, lại trẻ trai.
Nhưng sự thực vẫn đấy, và năm nào Tết đến người ta cũng chúc Mơ cuối năm đẻ con giai, còn Mơ, con gái vẫn hoàn con gái.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ill
 
Từ hôm Tết nghe người ta chúc cuối năm đẻ con giai, Mơ thấy đời mình tẻ ngắt, nhất là khi nghĩ tới Trà, dù lấy chồng sau Mơ bao nhiêu lâu, cũng đã ba con. Mỗi khi gặp Trà tay bồng tay giắt, Mơ lại tủi thân. Trà lấy chồng nghèo, nhưng giàu như Mơ quyết nhiên là chẳng được sướng hơn. Một hôm đi chợ gặp Trà, Mơ bỗng nảy ra ý nghĩ bảo bạn:
- Chị Trà ạ! Chị có những ba cháu, giá cho em một đứa thì hay.
Trà mìm cười, thương hại:
- Đấy, chỉ sợ chị chả muốn nuôi thôi. Em biếu chị thằng thứ hai đấy.
Mơ mừng lộ ra nét mặt:
- Thật không? Còn anh ấy thì sao?
- Nhà em bằng lòng ngay, nhưng,..
Thấy Trà đang nói bỗng im bặt, Mơ gạn hỏi:
- Nhưng làm sao? Hay là chị không muốn cho.
- Chả phải đâu. Mấy lại ai lại cho thế, ông bà Chánh giận chết.
Mơ lặng ngắt, song cũng nhận thấy lời Trà nói đúng. Vợ chồng ông Chánh quyết nhiên là không ưng cho Mơ làm như vậy, lại còn Thành nữa.
Nuôi con nuôi có lẽ chỉ làm trẻ nó khổ. Mơ thở dài:
- Chị nói phải. Nhưng trông thằng cháu Minh nó kháu lắm, em yêu nó quá, hay là chị cứ nhận lời cho em, bao giờ thầy đẻ em trăm tuổi em sẽ đem nó về.
Trà bật cười:
- Chị này mới lẩn thẩn chứ. Thôi đừng nghĩ quẩn nữa, rồi chả có lúc anh Cả anh ấy nghĩ lại, thì cho cứ đẻ năm một ấy à, chê nhau mãi thế nào được.
Mơ thở dài não nuột:
- Em không mong thế đâu, chị ạ, dù cho con người ấy biết nghĩ lại, em cũng chả thiết nữa.
Thấy Mơ đầy một giọng chán nản, Trà không muốn kéo dài câu chuyện ấy nữa, nói vẩn vơ mấy câu, rồi chào Mơ mà đi thẳng.
Mơ biết lắm, bao giờ cũng vậy nói chuyện với Trà đến chỗ thương tâm sắp rớt nước mắt, là Trà tìm cách lảng đi chỗ khác. Mơ hiểu bạn lắm. Trà tự lượng không giúp Mơ được việc gì, hay hơn hết là đừng gợi Mơ nhớ tới cảnh đáng chán của mình, cho nên không bao giờ Trà muốn cho Mơ phải thở dài truớc mặt Trà, khốn nỗi với bạn khác không nói làm gì, chứ với Trà thì gặp đâu là Mơ đã níu ngay lại, rồi kể hết nông nổi, buồn khổ của mình, có lẽ làm như thế Mơ trút bớt được những sầu thảm, chán chường chất nặng trên đầu chăng?
Trà đi khỏi, Mơ tức quá vì chưa nói được hết chuyện, mà nói làm sao hết được? Hàng giờ, hàng ngày, hàng tháng, hàng năm...Nỗi niềm tâm sự của Mơ dài lắm, dài bằng cả một đời người, Mơ tưởng thế! Tức giận bạn một khắc như thế cũng đủ khiến Mơ quên hẳn cảnh huống của mình trong chốc lát.
Nàng về nhà, mới đến sân đã nghe thấy ông bà Chánh đang to tiếng với Thành:
- Bà còn nói nó làm gì nữa, hoài mồm. Cái đồ bất hiếu, bất mục ấy kể cũng bằng thừa.
- Thành ơi! Con phải thương lấy thầy đẻ chứ, thầy đẻ già rồi.
- Thế việc gì thầy đẻ lại cưới vợ cho con từ lúc hãy còn bé. Thầy đẻ không biết rằng như thế là hại cả hạnh phúc một đời của con sao?
- Hạnh phúc của mày ấy à? Cho vào sọt rác! Mày thử vấn tâm xem mày cư xử như thế thì mày có nghĩ đến hạnh phúc của người khác không đã. Úi chà, tao tưởng cho mày ra tỉnh học lấy cái hay, chứ có biết đâu mày học toàn cái dở.
- Thầy cứ nói thế, chứ con đã làm hại đến ai đâu.
- Thế nó lấy mày để làm phỗng à? Làm bù nhìn à?... Mày không thèm hỏi gì đến nó, chả gì nó cũng mang tiếng là vợ mày rồi, ừ, ví thử mày chết rấp, chết rúi ở ngoài tỉnh kia, để cho nó goá bụa còn đi một lẽ, chứ mày còn sờ sờ ra đấy...
- Con chết, nó đi bước nữa được, thì con sống, con cho nó ra đi bước nữa không được hay sao?
- Được gì! Được cái đồ mất dạy, đồ vô phúc, đồ ăn mày!!!
Ông Chánh vừa quát vừa đập bàn làm cho hai mẹ con Thành phải giắt nhau lủi xuống nhà ngang. Còn Mơ, từ nãy nàng vẫn sợ hãi đứng thập thò ngoài cổng, tay cắp rổ đầy thức ăn vừa mua ở chợ về. Một lúc lâu, trong nhà im hẳn tiếng nàng mới dám vào, chạy ngay xuống bếp sửa soạn làm cơm, vì đã tới trưa. Nàng gọi con Nuôi đến sai nó rửa thịt, rửa đậu, còn mình thì ngồi nhặt rau. Ngồi, tay ngắt từng ngọn rau muống, mà trong lòng rất phân vân vì những ý nghĩ rời rạc chẳng ăn nhịp với nhau. Mơ đã liệu trước rằng mình sẽ bị chồng ruồng bỏ, nhưng nàng chỉ có thể tưởng tượng được một sự bỏ lửng không nhìn nhận, chứ chưa hề nghĩ đến lúc phải đuổi ra khỏi nhà, cái "lúc" ấy, già đã đến. Đã đành rằng Mơ cũng chẳng quyến luyến gì nhà này, nhưng nghe những lời Thành vừa nói, Mơ căm giận hết sức, nàng tự bảo:
- Đi ở con sen, con đòi cũng không đến nỗi thế.
Mơ đang hằn học với ý nghĩ ấy, bỗng có tiếng người ở nhà trên đi xuống, nàng làm bộ chăm chú nhặt rau không để ý. Mãi tới lúc thấy hỏi:
- Chị Cả đã về chợ đấy à?
Mơ ngẩng đầu lên: bà Chánh đứng trước mặt, đôi mắt đỏ hoe như vừa mới khóc, thì, không biết nghĩ sao, nàng như muốn trêu tức mẹ chồng, một việc mười mấy năm giời nay nàng chưa hề dám tưởng đến, nàng làm ra vẻ ngạc nhiên:
- Vâng, con vừa mới về. Ô kìa đẻ đau mắt hay làm sao thế?
Hỏi được một câu "thú vị" quá như vậy, nàng hả dạ lắm, nhưng từ chỗ làm ra vẻ ngạc nhiên, nàng phải ngạc nhiên thật: bà Chánh ngồi xuống, lấy vạt áo chấm mắt, nói với con dâu đầy một giọng thân mật:
- Chị tính: ai lại cậu cả, cho đi ăn học, về cậu ấy cứ cãi giả thầy đẻ nhem nhẻm.
Bà hỉ mũi xuống đất rồi nói tiếp:
- Tôi bảo rằng: thấy đẻ đã già, sao chẳng có lấy được một chút cháu ẵm, cho vui cửa vui nhà, việc gì anh chị cứ chê bai nhau mới được chứ? Dễ thường chê nhau đến già ư?
Bà ngừng lại, như muốn dò ý con dâu. Mơ khẽ rũ mấy ngọn rau cỏ dính bèo, lẳng lặng ngồi nghe, không nói. Bà Chánh lại tiếp:
- Anh ấy bảo hãy còn ít tuổi, muốn có trẻ thì nuôi lấy một đứa. Từ trước đến giờ, tôi chả nuôi thì thôi, chứ bộ anh chị mới có thể thì nuôi nấng gì?
Mơ thừa biết rằng: câu ấy là câu nói dối, nàng cười thầm: “đến mình, người ta còn muốn tống đi, nữa là con nuôi mình”. Nhưng nàng vẫn lặng ngắt, vì biết rằng có nói cũng chẳng đâu vào đâu. Hai mẹ con nhìn nhau với ý tưởng nặng nề. Nhặt rau xong. Mơ đứng dậy đem đi rửa. Bà Chánh nhìn con dâu, khẽ lắc đầu, thở dài: "Nghĩ cũng thương cho con bé tệ!"
Bữa cơm trưa hôm ấy, Mơ nhận ngay thấy sự khó chịu giữa bốn người. Mọi lần Thành được nghỉ, về là vợ chồng ông Chánh vui vẻ lắm. Bữa nay, ông cứ ngồi lỳ uống rượu, chẳng nói một câu, bà thì nhấm từng miếng, thỉnh thoảng lại nhìn trộm chồng hay con, còn Thành nét mặt lầm lầm, cắm cổ ăn vội vàng, như không để ý đến ai, xong bữa là đứng ngay dậy.
 
Chiều hôm đó Mơ thấy Thành thỉnh thoảng lại xuống bếp như muốn nói gì với Mơ, song lại thôi. Mơ cũng mặc kệ, nàng băn khoăn tự hỏi: “Hết gây chuyện với mẹ, lại định gây chuyện với mình chắc!”. Tuy vậy, đến tận lúc đi ngủ, không xảy ra chuyện gì khác.
Sáng hôm sau Thành lại ngược sớm. Lúc Thành sắp đi, Mơ đứng ở hè bếp, nghe có tiếng bà Chánh dặn con:
- Năm nay con thi ra phải không? Con cứ cố học đi, đừng nghĩ ngợi gì sốt, để rồi đẻ liệu thu xếp cho.
Mơ cười nhạt, quay vào sợ Thành nom thấy, nàng lẩm bẩm:
- Còn liệu thu xếp gì nữa! Đến cho ta về là cùng chứ gì. Nhưng sực nghĩ ra rằng mẹ mình mất đã được bốn năm nay, Mơ cũng nghẹn ngào:
- Về đâu? U ta chả còn nữa mà lo nay đe giao giả, mai đe giao giả. Cả đến nếp nhà lá người ta cũng đòi nốt, thế là hết, còn gì?...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.03.2020 19:28:53 bởi Thanh Vân>
IV
 
Ông Chánh, tay chỉ trỏ, mồm hét:
- Lùi sang bên này một tị. Tí nữa! Thôi lại quá mất rồi.
Quần sắn móng lợn, chân dẫm đất, mồm luôn quát tháo, ông cố thúc người nhà làm cho chóng xong rạp để ăn khao. Con ông vừa đậu bằng thành chung, ông quyết định ăn một tiệc rõ to, chứ không chịu như ông Phán, em ông, cũng đỗ bằng nọ, bằng kia mà chẳng khao vọng gì để cho dân làng cứ nói mãi. Ai hỏi chuyện ông cũng khoe rối khoe rít:
- Ấy cháu nó vừa thi ra, nó đỗ những bằng đíp lôm, mà đỗ cao lắm! Túng thì túng, chứ thế nào tôi cũng kiếm cơi trầu ra trước là lễ Thánh, sau là trình dân.
Ổng bàn luận với bà Chánh mấy ngày, rồi hôm nay, chọn được ngày ông mới cho làm rạp.
Bà Chánh với Mơ suốt ngày mua các thức để làm cỗ và sửa soạn những bát đĩa. Bà con, họ hàng đến làm giúp cũng đông.
Chị em, thấy Mơ đâu cũng chế, làm Mơ lắm lúc ngoài mặt tươi cười, mà trong bụng muốn rủa thầm cho một ít.
Ngoài sân bọn đàn ông cất rạp, đầu bếp, mấy cô đứng giã gạo, sân sau mấy cô ngồi rửa bát, tiếng cười nói rộn rịp tưng bừng.
Mơ xếp nốt chồng bát ở rổ ra, rồi ngẩng lên nói với mẹ chồng:
- Tất cả là hai trăm cái, vừa bát vừa đĩa con mượn bên bà Lý.
- Ừ, liệu mà mượn cho đủ. Nhưng chị phải nhớ mà biên, kẻo đến lúc giả lại nhầm lẫn lôi thôi.
Tuy ở nhà cũng có nhiều bát đĩa, song bà Chánh cũng phải cho đi mượn thêm, vì ăn khao, mỗi lần tính xoàng ra cũng tới ba chục mâm. Từ sớm Mơ đi mượn những chỗ quen thuộc trong làng, cố xếp cho đủ. Thấy ở đầu bếp tiếng cười nói ầm ỹ, Mơ gọi với xuống:
- Có ai, bớt ra lên đây rửa hộ tôi chỗ bát đĩa này không?
- Dạ, tôi lên đây ạ!
Dứt lời, một chuỗi cười dài vang đưa lên, như giễu cợt, rồi cô Huệ chạy đến nhăn nhở:
- Thưa chị, chị gì nhỉ, chả nhẽ bây giờ anh ấy đỗ rỗi, sắp sửa khao vọng, lại cứ gọi là chị Cả, em rửa, chị phải tính thế nào chứ?
Mơ cũng cười:
- Cô cứ chịu khó rửa đi, bao giờ lấy chồng, tôi lại rửa trả nợ.
Huệ nguýt thật dài:
- Phải gió cái chị này! Em chả rửa nữa.
Nói vậy, chứ Huệ vẫn ngồi xuống cho bát đĩa vào chậu phù lãng đầy nước. Mơ nhìn nét mặt tươi cười, không lo lắng của Huệ, cất lời khen:
- Trông cô Huệ có duyên tệ!
Huệ cướp lời:
- Thôi đi, đừng mỉa người ta nữa! Ai chả biết ‘‘vô duyên chưa nói đã cười, có duyên hỏi chín mười lời không thưa”
- Ai mỉa, thấy cô lúc nào cũng vui vẻ, nhanh nhẩu thì đừng bảo thế ư! Ước gì cho cô tốt số bằng mười tôi, lấy được người chồng cũng như cô ấy.
Huệ bĩu môi nói:
- Em chả dám. Ai chả biết hai anh chị chê nhau. Nói thật cho mà biết: vẽ vời vừa chứ, chê nhau mà rồi cứ đẻ năm một thì người ta lại cười cho đấy.
- Chả thèm nói chuyện với cô nữa.
Dứt lời, Mơ cất quang thúng vào buồng, rồi đem nồi, xanh ra để cạnh Huệ mà bảo:
- Nhân thể, cô rửa cả đi cho sạch.
Huệ cười:
- À, ra thù đấy! Được rồi, có gì nữa bỏ cả ra đây, tôi rửa tất, chả sợ!
Mơ cũng cười. Vừa lúc ấy, ở đầu nhà bếp có tiếng gọi:
- Chị Cả! À chị Phán ơi, xuống xem gạo hộ chúng tôi mấy.
Mơ vội chạy lại. Một loạt bốn cô đứng dựa vào tay vịn bên cối, cười nhí nhảnh:
- Bẩm bà Phán! Bà xem gạo như thế có phải giã thêm nữa không ạ?
Mơ cau mày lườm:
- Phải gió lắm nữa! Đừng gọi thế đẻ tôi lại mắng cho đấy.
Mơ quá lo xa vậy thôi, chứ bà Chánh cũng nghe thấy họ gọi con dâu mình là bà Phán rồi. Bà không những chẳng mắng lại mừng thầm là đằng khác. Bà nghĩ rằng: con trai mình đỗ đạt như thế cũng làm được như chú Phán chứ kém gì, gọi dần đi thì vừa.
Bà Chánh nghĩ thế, nhưng Mơ lại nghĩ khác, mấy năm trước Thành còn đi học đã rẻ rúng Mơ rồi, huống hồ bây giờ Thành lại đỗ bằng nọ bằng kia thì Mơ sẽ bị chồng coi khinh đến đâu. Vì thế thấy chị em bỡn cợt Mơ rất lấy làm phật ý.
Thấy Mơ cau có, mấy cô giã gạo càng trêu:
- Thế nào? Bà Phán! Bây giờ một bước lên bà có khác, quên cả xem gạo rồi. Liệu có phải giã nữa hay thôi?
- Khỉ lắm, đùa mãi. Thôi gạo già nắng giã thế này vừa.
Rồi Mơ nhẩm tính:
- Mỗi cối cứ cho là mười đấu gạo, mười cối là đi một trăm đấu. Như thế liệu có đủ không? Các cô nhỉ!
Mấy cô cùng nhao nhao lên:
- Ai biết được! Liệu đấy chứ. Sao chả bảo anh ấy tính hộ cho có chóng không?
Mơ phát bẳn:
- Người gì mà dai như đỉa ấy, đùa đến già chắc.
Một cô chẳng biết nghĩ sao, thủ thỉ bảo ba cô kia:
- Nói thế chứ, kể lấy được người chồng học hành đỗ đạt cũng sướng.
Một cô cong cớn:
- Chuyện lại chả sướng, chỉ sợ lại chưa có phúc đấy thôi.
Một cô khác phản đối ngay:
- Lại phải có phúc mới lấy được học trò cơ à? Rõ ngu như lợn!
Cô kia càng cong cớn thêm:
- Đấy chị thử đi lấy học trò đi xem nào. Có giỏi sao lại cứ phải đứng nhìn người ta mà chết thèm. Rõ khéo.
 
Đi đâu chẳng lấy học trò?
Thấy người ta đỗ thập thò mà nom.
 
 
Thế rồi họ phá lên cười, làm cho Mơ không thể nhịn cười được cũng bật cười theo. Nhưng còn nhiều việc đang đợi Mơ, nàng không thể đứng đấy nghe họ bông đùa được. Qua bếp, Mơ thoáng nghe thấy một cô nói chuyện với cô khác:
- Bây giờ vẫn chê nhau đấy. Chả biết công việc xong xuôi rồi còn chê nhau nữa hay thôi.
Mơ nhếch mép cười chua chát, phảng phất nhớ tới nét mặt khinh khỉnh của Thành.
Sửa soạn tới tấp cả ngày hôm ấy, đến hôm sau bắt đầu làm cỗ. Cả ông Phán và Thành cùng về. Nhìn vẻ mặt kiêu hãnh của Thành, Mơ bực mình quá, chỉ muốn tìm một chỗ vắng vẻ ngồi nghỉ để đỡ phải nghe thấy những câu khen phỉnh của mọi người đến mừng. Thứ nhất là từ trưa hôm ấy trở đi, người ta đến mừng càng đông, thì những câu chúc tụng những lời khen lao càng ầm ỹ. Trên nhà, ngoài rạp, đầy người ăn uống, tiếng cười nói, tiếng đũa bát, tiếng cốc chén, xen vào những tiếng pháo nổ dài hàng mươi phút làm vang cả xóm. Dưới bếp, nào đùi bò, đùi lợn còn đỏ má treo lủng lẳng ở xa nhà, hơi người, hơi thức ăn làm cho Mơ đến phát ngấy. Bà Chánh ngồi ở nhà ngang tiếp khách đàn bà, lúc nào cũng cười nheo cả mắt. Bà hể hả lắm:
 
- Lạy trời, lạy phật, thế này là tôi mãn nguyện lắm. Ngày trước ông Chánh nhà tôi đã được lo việc vui mừng thế này rồi, bây giờ lại đến thằng cháu gọi là có mâm rượu đề lễ thánh rồi trình dân.
Các bà khách được một dịp tâng bốc:
- Thật con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh. Thế là nhất tổng rồi đấy.
Người ta còn đòi gặp mặt Mơ nữa để khen cho đủ, nhưng Mơ cố ý lảng tránh. Nàng chỉ ở dưới bếp: vả lại cũng nhiều việc lắm, nàng phải trông nom từng ly từng tý kẻo họ ăn cắp hay chuyên đi hết.
Đến tối, khách ra về đã vãn, không còn mấy bàn tiệc nữa, nhưng phải dọn dẹp để hôm sau còn khách hàng tổng. Nhà trên mấy bàn, nào tổ tôm, thuốc phiện, cô đầu ầm ỹ suốt đêm, dù muốn ngủ cũng khó mà chợp mắt.
Ở nhà dưới, những người làm, dọn xong đều được đi ngủ sớm để hôm sau còn phải dậy làm cỗ từ bốn giờ sáng. Mơ cùng mấy chị em họ thì ngủ ở nhà ngang. Mấy cô kia vì làm mệt, nên vừa đặt mình được một lát là đã ngáy rồi. Còn một mình Mơ cứ thao thức mãi dù vần vật suốt mấy ngày. Mùi mỡ, mùi thịt làm cho Mơ chưa hết lợm giọng, tiếng cười, câu phỉnh làm cho Mơ chưa quên dứt được ngay, lại còn tiếng trống phách, tiếng đàn hát, tiếng cười đùa ở nhà trên càng khiến Mơ khó ngủ.
Nàng tự hỏi thầm:  ‘‘Ta vất vả thế này để làm gì?”
Và nhớ tới câu chuyện giữa bà Chánh với bà Thủ quỹ ban chiều ở nhà ngang:
- Cậu Phán nhà ta đỗ rồi chắc đi làm ở tỉnh chứ? Thưa bà!
- Vâng, cháu nó cũng bảo nó sẽ xin nhà nước bổ cho làm ở tỉnh như chú Phán cháu, chứ nó không muốn làm ở các phủ huyện buồn rứt đi ấy.
- Tôi hỏi khí dở, như cậu Phán nhà ta làm ở phủ huyện thì gọi là chức gì nhỉ?
- Ấy cũng làm thông Phán chứ.
- À ra làm thông Phán chứ không phải làm ông Thừa.
- Làm thông Phán hơn ông Thừa chứ, làm thông Phán rồi có thể bổ tri huyện, tri phủ được kia mà.
- Thế thì tôi tưởng giá cậu Phán nhà ta xin bổ làm ở ngay phủ nhà này có hơn không?
- Ấy, tôi cũng bảo cháu thế, nhưng tính cháu khái lắm, cháu nó bảo làm việc tây dễ chịu hơn, mới lại cũng có quyền hơn nữa.
- Cậu Phán nhà ta làm ở tỉnh chắc ông bà cũng cho mợ ấy đi theo để hầu hạ cậu ấy chứ. Như thế việc ở nhà ruộng nương, ai trông nom cho được?
- Điều ấy, tôi còn băn khoăn chưa biết tính ra như thế nào cho tiện, cho mợ nó đi thì phải hơn, nhưng mợ nó nhà quê, nhà mùa, ra chỗ thành thị, các quan người ta cười cho, mới lại tôi tiếng thế cũng là có tuổi rồi, tôi chả hơi sức đâu mà trông nom đồng áng như ngày xưa được nữa.
- Úi cha! Bà chả phải lo. Thế nào rồi cậu ấy chả lấy thêm cô nữa ở tỉnh. Tài giai lấy năm lấy bẩy là thường. Cậu kiếm ra tiền, đến mười vợ cũng được.
Mơ tặc lưỡi, lời bà Thủ quỹ còn như phảng phất bên tai. Nàng lẩm bẩm, tức tối:
-  ‘‘Lấy ai nữa thì lấy, cần gì!’’
Mơ với Thành tiếng là vợ chồng, nhưng chẳng khác hai người xa lạ, dù Thành có lấy năm lấy bảy thêm nữa, Mơ cũng không quan tâm. Nói vậy là nhầm. Mơ về làm dâu nhà ông Chánh đã mười mấy năm giời, tự mình cũng xét thấy bao nhiêu công lao hàn gắn, dù không phải là vợ chồng đầu gối tay ấp với Thành, nhưng cũng là một người vợ có cheo, có cưới, Nay Thành không thèm hỏi đến Mơ, tự ý lấy thêm vợ lẽ, liệu Mơ có chịu nhịn được chăng? Nàng thấy lòng tự ái bị thương, mặc dầu nàng cố chữa: “Hay là ta ghen? Sao lại ghen, khỉ thế? Ghen với người đáng ghen kia chứ, bộ Thành thì hơi đâu?”
‘‘Hơi đâu!”, thế mà Mơ vẫn trằn trọc mãi. Chuông đồng hồ buông mười hai tiếng. Trên nhà tiếng "phỗng”, tiếng xướng quân bài, tiếng trống, tiếng hát, vẫn đều đều, làm cho Mơ thêm hằn học:
- ‘‘Gớm chết! Còn thức đến bao giờ?’’
Mấy chị em ngủ trên phản thi nhau ngáy, Mơ thấy họ ngủ say như chết mà mình cứ thức mãi, phát khùng:
- Ngủ gì mà ngáy khoẻ thế?
Và toan đến tảng cho mỗi cô một cái vào trán, nhưng Mơ nhận thấy ngay mình vô lý, nàng nói chữa:
- ‘‘Họ sướng thật! Thôi, cho họ ngủ, bốn giờ đã phải dậy làm còn gì nữa!’’
Đoạn, nàng nằm sát vào cạnh Huệ, khẽ tát vào má mà mắng yêu:
- Còn con ranh này nữa! Khỏe đùa, vô phúc vớ phải thằng chồng đần mới sướng!
Huệ vẫn ngáy đều, chẳng biết một tý gì.
 
 
 
 
 
 
 
 
V
 
Sau hai hôm ăn uống linh đình, giờ phải dọn dẹp. Ổng Phán và Thành đã lên tỉnh, người làm giúp còn ít, ông Chánh vì mấy hôm tiếp khách vất vả, chỉ nằm ngủ, nếu không hút thuốc phiện, mọi việc phó mặc vợ với con dâu, lắm lúc bà Chánh phải phát tức, mà kêu ca:
- Rõ khổ, ăn với chả uống! Ăn thì không mấy chốc, mà làm thì đến mấy ngày.
Song có ai đến chơi, bà đã tươi cười mặc cho Mơ thu xếp, ngồi tiếp chuyện hàng giờ, lấy làm sung sướng vì công việc đã chu tất:
- May quá! Đâu đấy êm thấm cả. Chúng tôi cũng cố lo cho cháu được mả mày mở mặt với làng nước một chút, thế không e ngại gì ai nói ra nói vào nữa.
Tới khi cái bát đi mượn đã trả hết, con dao chọc tiết lợn đã bôi dầu, cất vào tủ, gia đình ông Chánh lại trở lại những ngày buồn tẻ. Tốn hết mấy trăm bạc để mọi người nhận rằng con mình đã chiếm được mảnh bằng, ông Chánh chỉ mong có thế, cũng như trước ông đã chẳng quản phí tổn khao cả hàng tổng khi lĩnh được sắc cửu phẩm bá hộ, để cho mọi người gọi mình là ông Chánh Bá. Tiền, ông đã sẵn có, danh bây giờ ông cũng có, cả con ông cũng có, thế là mãn nguyện, ở thôn quê như vậy cũng đủ cho khối người ao ước rồi.
Ngoài hai bữa cơm, ngày ngày ông Chánh nằm dài hút thuốc phiện, hoặc tỉa mấy rò lan, đôi ba khi ông ra đình họp việc làng, hoặc lên phủ đi việc quan, thật là ung dung nhàn nhã. Ông ít khi nói chuyện với vợ con, mà còn có chuyện gì? Chưa nói đến việc làm ăn, ông đã lảng:
- Mặc mẹ con bà, muốn tính sao cho xong thì tính, chứ người ta còn bận việc vua, việc quan, ai rỗi!
Trái lại, lúc nào ông vui chuyện giở đến việc trong xóm, ngoài làng, bà đã xua đây đẩy:
- Úi chà! Đàn bà chúng tôi còn biết cái quái gì nữa mà nói!
Thành ra, ai biết phận nấy, hết vắng người này lại vắng người kia, ví dù cả ba người có nhà, thì mỗi người ngồi một chốn.
Đôi khi có đả động đến chuyện Thành, cũng chỉ qua loa, chốc lát, vì e lại xảy ra điều gì xích mích. Còn Mơ, vẫn quán xuyến hết mọi việc đâu ra đấy, vợ chồng ông Chánh thêm nể và có ý thương.
Nhưng những khi rỗi việc, Mơ ngồi lẩn thẩn lại muốn cho mẹ chồng cứ lắm điều như trước lại hơn, không hiểu tại sao nàng lại có cái ý nghĩ lạ lùng ấy. Hình như nàng sợ rằng: mẹ chồng càng ngọt ngào với mình thì chồng lại càng lãnh đạm, cho nên nàng thường than thở với Trà những khi Trà đến chơi:
- Chị ạ! Cái số em nó khốn khổ hay sao ấy! Trước kia chồng còn nhỏ dại, thì mẹ chồng cay nghiệt, bây giờ mẹ chồng nghĩ lại, thì chồng chỉ muốn ruồng bỏ. Nếu có phải kiếp trước em nợ nhà này, em chỉ xin làm con sen, con đòi để trả nợ đẻ em, chứ đừng bắt em phải trả nợ cả chồng em nữa, em cầu có thế mà trời cũng chả cho.
Trà nghe nói, cũng ái ngại thay, nên nhắc bạn:
- Hay là chị nói với ông bà đem thằng cháu Minh về mà nuôi, chứ thui thủi một mình thế cũng buồn thật.
Mơ thở dài:
- Em yêu cháu Minh lắm: em cũng muốn thế, nhưng chỉ sợ thầy đẻ em giận thôi. Chị để thư thả xem đã.
Mơ nói vậy, rồi lần lữa mãi, mấy lần chực nói với bố mẹ chồng mà không dám. Ngày lại ngày, nàng cam chịu kéo dài mãi cuộc đời buồn tẻ, vô hy vọng ấy. Nhất tới mùa đông, mùa màng xong cả, chiều đến con Nuôi cho lợn, gà ăn, đóng cổng ngõ đâu đấy, Mơ chán nản ngồi bó gối ở nhà ngang. Gặp những khi mưa dầm, vừa xẩm tối, bà Chánh đã trùm chăn đi ngủ, ông cũng nằm dài bên bàn đèn, ngọn dầu lạc leo lét cháy, hai người ở cả nhà trên, con Nuôi hết việc cũng mang chiếu xuống nằm ổ rơm ở nhà bếp, còn Mơ, một mình âm thầm trong ba gian nhà ngang trống trải, đèn chẳng buồn thắp! Nàng ngồi đếm từng tiếng chuông chùa rền rĩ đổ hồi, hết lại đến tiếng mõ các sư lên khoá tụng, đều đều, bay bổng qua ngọn cây, mái lá lọt đến gian nhà tối tăm ấy từng tiếng, từng tiếng... Bên ngoài giọt gianh nhỏ xuống sân tí tách, gió lùa qua kẽ lá rào rào. Mơ còn thao thức, lắm đêm đồng hò điểm mười hai tiếng rồi mà vẫn chưa buồn nằm.
Vắng vẻ quá! Lạnh lùng quá!
Một đôi khi, Mơ thắp đèn ngồi kể một mình những chuyện Chinh Phụ ngâm, hay Tần Cung oán mà nàng mua ở chợ, nhưng lần lần từng trang giấy ấy, Mơ càng thấy như ruột dần thắt lại, và những câu:
 
“Sinh ly đôi rất thời Ngâu,
“Một năm còn thấy một nhau một lần.
“Huống chi cũng lạm phần son phấn,
“Luống năm năm chực phận phòng không!"…
 đã nghẹn ngào kể bằng một giọng đầy nước mắt.
Đến lúc ấy, nàng phải gập sách lại, cũng đến lúc ấy nàng mới chịu tắt đèn, trùm chiếu nằm khóc thầm, sợ có người để ý.
Sợ vậy thôi, chứ trong nhà ấy, còn có ai tưởng tới Mơ phải khóc vì duyên? Người ta yên trí rằng: một cô con gái nhà nghèo được làm dâu một nhà phú hộ là đã đầy âm đức lắm, huống chi lại còn lấy được chồng đỗ đạt, còn gì vinh hạnh hơn?
Ấy thế mà Mơ đọc tới câu:
 
“Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ!...’’
 
 vẫn lấy làm thấm thía. Thấm thía hơn là khi nghe thấy chị em nhiều người nhỏ to ao ước cái địa vị của mình.
 
 
 
 
 
 
 
VI
 
Cái tin Thành đỗ thư ký toà sứ đưa về nhà ông Chánh hôm trước, thì hôm sau khắp vùng Thụy ai cũng biết. Người ta ao ước, rồi người ta kéo đến mừng ông Chánh và để tâng bốc nhân thể:
- Thật là phúc đức quá, cậu ấy hãy còn trẻ thế mà đã đỗ "ông Phán”.
- Nhà ta ở hiền gặp lành có khác, vừa mới đỗ ở trường ra mấy tháng trước, giờ đã "xuất chính" rồi.
Họ nghe lỏm được những tiếng gì, là đem ra dùng ngay để nịnh hót, và mặc dầu nghe những tiếng không lọn nghĩa, ông Chánh cũng không thấy trái tai.
Mừng rỡ tới tấp mấy ngày rồi cũng nhạt. Ông Bà Chánh không thể cứ phô mãi tin con đỗ "ông Phán" và cứ nghe người ta đến khen láo mãi, ông bà còn phải tính đến việc thu xếp nơi ăn, chốn ở cho Thành, một khi Thành được bổ đi làm.
Tối hôm ấy, ông gọi vợ với con dâu lên nhà nói chuyện.
Ông bảo:
- Dù "anh ấy" có được bổ ở Hà nội hay phải bổ đi tỉnh khác cũng phải liệu thu xếp thuê nhà cho "anh ấy" ở.
Bà Chánh biểu đồng tình:
- Cái đó là dĩ nhiên rồi.
- Đến mai bà lên tỉnh lo liệu cho anh ấy, với lại thăm chú Phán nhân thể.
- Chịu thôi, việc ấy ông phải đi, chứ tôi đàn bà dốt nát biết gì?
- Bà này nói mới hay chứ! Việc nhà cửa là việc của bà, chứ tôi biết sắm sửa xanh nồi cho "anh ấy" à?
- Được, ông cứ lên bàn với chú Phán xem, còn như sắm sửa đồ ăn thức dùng để ở nhà tôi sắp sửa sẵn sàng, lúc nào thuê được nhà, tôi cho gánh lên không được à?
- Hừ! Đã là người làm việc nhà nước thì nhà cửa phải cho nó ra nhà cửa chứ. Dễ thường bà tưởng cứ mang mấy cái bàn ghế khổ này với ít bát đĩa "ngô" lên là xong đấy hẳn.
- Vâng thì sắm những thứ ấy ở tỉnh, nhưng cũng phải thuê nhà cho yên chỗ đã, chứ sắm rồi để vào đâu?
- Gàn lắm, thế người ta bảo mình phải lên thu xếp nhà cửa cho anh ấy xong xuôi, rồi sắm những vật dụng luôn thể, chứ tôi lên rồi tôi lại phải về đón bà lên thu xếp cho con bà nữa ấy à? Sao mà diệu vợi thế.
- Nào phải con riêng của mình tôi? Ông chỉ được cái trốn việc.
- Tôi lại phải trốn việc! Bây giờ thì ỳ ra đấy, ít nữa anh ấy đi làm yên sở rồi, đừng có một tháng bà ra mấy lần thôi?
- Úi chà, chả biết ai?
Từ nẫy Mơ chỉ đứng nghe, đến lúc thấy câu chuyện sắp xoay ra xẵng, nàng vội tính bài hoà.
- Hay là thấy đẻ cùng lên càng tiện. Có thế nào nhất định ngay, khỏi lôi thôi. Ví như đẻ con có đi một mình, tất có điều không nhất quyết lại thêm phiền ra không, vả lại dạo này ở nhà công việc cũng chẳng có gì, mình con trông nhà cũng được.
Vợ chồng ông Chánh nghe xuôi tai, đều ưng ý. Thế là ngay sớm hôm sau, Mơ vội sắm sửa để mua quà biếu ông Phán. Nàng vừa xếp vừa đầy một gánh, ấy là không kể quần áo cùng đồ dùng lặt vặt đựng ở tay nải. Ông Chánh thấy vậy sốt ruột, hỏi:
- Những gì mà kềnh càng lắm thứ thế này? Ai mang được?
Bà Chánh vội cướp lời:
- Có khó gì? Để con Nuôi nó gánh. Chẳng lẽ con mình ở đấy quanh năm, lên chơi lại đi tay không à?
- Ô kìa! Lại cả con Nuôi cũng đi nữa ư? Kéo cả nhà lên ăn hại chú Phán đấy chắc.
- Làm thế nào? Cũng phải cho nó lên, ví như có dọn nhà cho "anh ấy" đã có nó khiêng vác chứ.
Thấy nói thế, ông Chánh đành chịu.
Lúc ra xe, bà Chánh còn dặn dò con dâu việc cửa, việc nhà, dù rằng bà có nhà cũng vậy thôi, chẳng hơn gì, nhưng lẽ thường vẫn thế, người trên bao giờ cũng muốn tỏ ra rằng mình hơn kẻ dưới.
Bố mẹ chồng đi khỏi, Mơ quay vào thấy nhà đã vắng, lại càng thêm vắng. Nàng tưởng đến ngày ông bà Chánh "trăm tuổi", Thành đi làm xa, Mơ, một thân một mình ở mấy gian nhà rộng thênh thang này thì buồn nản biết mấy. Người ta đi lấy chồng, lấy con làm lãi, đằng này tiếng là gái có chồng mà "chín đêm trực tiết nằm không cả mười".
Mơ thở dài, đóng cổng lại, ra sau nhà quấy cám cho lợn ăn. Xong nàng lại đem gạo ra giần, chán nàng đi thu dọn đồ đạc lau bàn ghế, nàng cố bới công việc ra làm cho chóng hết ngày, mà sao ngày ấy dài thế? Tối đến, quang cảnh càng lạnh lẽo tệ! Mơ chong đèn ngồi khâu, khâu chán lại đọc truyện. Nhà trống, người neo, Mơ thấy rờn rợn, và đêm ấy nàng phải để đèn suốt sáng.
Hôm sau nàng rủ Trà đến ở cho vui. Trà đến, Mơ thích quá, cười nói luôn mồm, không biết rằng vui thế chẳng qua chỉ được vài hôm. Lúc nào Mơ cũng quấn lấy bạn, nàng còn giục Trà về đem cả thằng Minh xuống. Đêm ấy hai mẹ con Trà cùng ngủ một giường với Mơ, và nói chuyện với nhau thâu đêm. Thế mà sáng hôm sau họ cũng không biết gì là mệt. Trà thấy bạn vui quá, dù vui ấy chẳng lâu lai được mấy, thì thương hại, nàng gợi chuyện:
- Chị ạ! Anh ấy đi làm, ông bà lên thu xếp cho ở riêng, thì ai lên ở với anh ấy? Chắc phải có người trông nom cơm nước chứ.
Trà biết rằng: Người được lên ở với “anh ấy” không phải là Mơ, nhưng nàng cũng cứ hỏi xem ý nghĩ của bạn ra sao, nhưng Trà phải sửng sốt khi thấy Mơ thản nhiên trả lời:
 - Úi chà! Ai lên ở cũng mặc, em chả thiết.
- Ông bà không thể ở trên ấy được rồi. Chắc là chị phải lên trông nom cơm nước cho anh ấy, lúc bấy giờ đã ra phết bà Phán đấy nhỉ.
- Em xin chị đừng nói thế đi! Chị còn lạ gì em nữa mà phải mỉa nhau.
- Không, em đâu dám mỉa chị. Em chỉ cầu giời khấn phật cho vợ chồng chị được sum họp vui vẻ với nhau thôi. Chị có lên ở với anh ấy, gằn nhau luôn, họa may anh ấy mới nghĩ lại, chứ chị mà ở nhà thì em cho địa vị của chị về sau này lắm.
- Khổ quá, chị cứ nhắc mãi chuyện ấy nữa. Em, cố nhiên là không thể lên tỉnh ở được rồi, dù cho thấy đẻ em có cho phép, nhà em cũng tống về kia mà.
- Nếu thế, anh ấy phải lấy vợ lẽ chứ còn gì nữa.
- Chả có sức! Hay là cho em về, rồi lấy một cô vợ cả khác cũng được.
Thấy bạn nói đến câu phẫn trí ấy, Trà không dám nói nữa. Còn Mơ, dứt lời, nàng ngồi ủ rũ gục đầu trên gối. Nàng tưởng đến lúc câu nàng nói ấy thành sự thực, thân nàng sẽ ra sao? Bố mẹ chết đã xanh ngọn cỏ, nhà đất bán hết cả rồi, con không có, vốn liếng cũng không. Nàng nghĩ đến anh Bân. Nhưng Bân bây giờ ở đâu? Nghe những lời anh ta nói đêm hôm ở vườn chùa sao mà ngọt ngào thế, chung tình thế! Lại những bài sáo anh ta thổi sao mà nghe não nùng thế! Có lẽ, thất tình, anh ta lên tận rừng xanh nước độc cho quên hết cảnh đồng ruộng. Có lẽ, chán đời, anh đã đi tu hay tự tử. Biết đâu! Anh ta đi chốc đã mười mấy năm trời, biệt vô âm tín”. Biết thế đi với anh Bân từ hồi ấy cho xong", nhưng đi bấy giờ có lẽ sớm quá, vừa mới về làm dâu, chân ướt, chân ráo ai lại thế, huống hồ mẹ già còn sống không lẽ báo hiếu bằng cách để cho mẹ chịu tai tiếng, buồn rầu hay sao? Bây giờ thì phải lúc, nhưng con người ấy biền biệt thấy đâu, mà tiếng sáo não nùng cũng xa xăm lắm lắm.
Mơ thở dài:
- Thôi thì trời cho sống ngày nào hay ngày ấy.
Trà khẽ nhủ:
- Chị cả ạ! em nói thực chứ không có tính bòn rút chi đâu. Bây giờ ông bà giao phó mọi việc cho chị, thì chị cũng nên chịu khó bớt ra ít nhiều. Sau này có xảy ra chuyện gì, cũng chẳng phải lo ăn nhờ ở vả ai. Em có cho chị thằng Minh thì em cho, chứ tiền bạc, thì cảnh nhà em chị biết đấy, liệu có đỡ được chị tí nào không?
- Chị bảo liệu mà bớt, nhưng làm sao? Tiền nong thầy em cho vào tủ khoá trong, khoá ngoài rồi, còn thóc gạo, chả lẽ mình xúc trộm đem bán, mà chết đói thì thôi, chứ em chả có tính ấy.
Trà lắc đầu ái ngại:
- Như cảnh chị thế mà khó xử thật.
- Thì em đã bảo trời cho sống ngày nào hay ngày ấy mà lại.
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
VI
 
 
 
Ông bà Chánh lên tỉnh năm hôm mới về. Mọi lần đi về như thế là ầm ỹ, vui vẻ lắm. Trái lại, chuyến này, cả hai ông bà như có điều gì bận ý. Mơ chỉ lẳng lặng thu dọn các thức ông bà đem ở tỉnh về, chứ không dám hỏi chuyện gì. Họ hàng kéo đến hỏi thăm, ông bà tiếp chuyện qua loa có vẻ miễn cưỡng lắm.
Luôn mấy ngày sau, Mơ đều nhận thấy có một làn không khí nặng chĩu, khó thở, bao bọc lấy cả ba người, bố mẹ chồng và nàng dâu. Mơ lặng ngắt, yên lòng chờ một việc gì sắp xảy ra mà nàng biết chắc rằng sẽ không hay cho mình.
Chuyện gì cũng vậy có đầu tất phải có cuối, chứ không thì kéo dài mãi được. Ông bà Chánh dù không muốn cho Mơ biết những việc đã xảy ra ở ngoài tỉnh, mà rồi có lúc Mơ cũng biết, vì việc là việc có quan hệ mật thiết đến Mơ. Lúc ấy đã đến.
Một chiều, Mơ ngồi ở hè bếp néo lại mấy nuộc lạt ở cạp rổ đã đứt, nàng đang chăm chú làm, bỗng tiếng chó sủa khiến nàng phải ngửng đầu lên nhìn ra ngoài ngõ. Thành xách va ly đi vào. Nàng lại cắm đầu xuống buộc rổ, cũng như mọi bận, Thành về chẳng nhìn vợ lấy một đuôi con mắt.
Tối hôm ấy, Mơ đóng cổng ngõ xong, bà Chánh gọi lên nhà trên, khiến nàng phải ngập ngừng lo nghĩ: “Hẳn có chuyện gì lôi thôi đây!”
Nàng nghĩ vậy mà vẫn phải lên. Ông Chánh ngồi tỳ cầm vào đầu gối đang nạo xái bà Chánh ngồi một góc sập tay ôm quả trầu, còn Thành ngồi bắt chéo chân trên một chiếc ghế mây, ba người đều im lặng như chờ Mơ đến. Bà Chánh thấy con dâu lưỡng lự một phút, khi thấy chồng và con trai đều không cất tiếng, mới vói chiếc ống nhổ, nhả miếng trầu đương ăn rồi bảo Mơ:
- Chị ngồi xuống đây. Có câu chuyện thầy đẻ muốn hỏi.
Mơ: "vâng”, xong không biết ngồi vào chỗ nào, nàng khoanh tay đứng dựa cột. Bà Chánh liếc chồng vẫn thấy không nhúc nhích, thì bảo:
- Đấy, đông đủ cả nhà, ông nói cho anh chị ấy biết không có lại kêu ca là không bảo gì.
Ông Chánh không ngửng đầu, nói ra giọng gắt:
- Úi chà, việc gì phải lôi thôi rườm lời, bà cứ nói thẳng cho chúng nó rõ.
Bà Chánh ôn tồn bảo Mơ:
- Này chị Cả! Không phải là chị có điều tiếng gì, mà "dâu hiền nên gái, rể hiền nên giai”, con nào thầy đẻ cũng thương, nhưng anh ấy đi làm ở tỉnh phải có người trông nom cơm nước, thầy còn bận việc vừa việc quan, tôi còn việc lễ bái chùa, đền, vả già cả rồi, thầy đẻ cũng không muốn ở ngoài tỉnh làm gì, còn chị thì việc nhà cửa ruộng nương bề bộn, nhất đán giao cho kẻ thuê, người mướn, họ ăn cắp hết, mà chắc chị cũng chẳng muốn ra tỉnh nào, cho nên tôi có nói với thầy lấy cho anh ấy một con vợ lẽ ở tỉnh để cho nó đỡ chị những công việc ở ngoài ấy, còn chị khi đi, khi về, chị có ưng không? Cứ nói thật để thầy đẻ biết.
Mơ biết rằng: Bà Chánh hỏi thế chẳng qua là hỏi lấy lệ, chứ Mơ không bằng lòng cũng không được. Nàng lạnh lùng trả lời:
- Thầy đẻ đã định con cũng xin vâng.
Bây giờ ông Chánh mới ngửng đầu lên nhìn Thành:
- Đấy anh nghe chưa, vợ anh nó cũng bằng lòng thế đấy.
Mơ không dám nhìn Thành, nhưng nghe giọng nói, nàng cũng biết chồng mình giận dỗi:
- Thưa thầy đẻ, đời nào người ta chịu lấy lẽ! Vả lại chú, thím ngoài ấy cũng đã trả lời bố mẹ người ta rằng: con chưa có vợ kia mà.
Ông Chánh trừng mắt:
- Chú thím nào nói thế? Đừng có đổ tiếng bậy cho chú thím, chỉ láo!
Bà Chánh thấy chồng đã phát gắt, vội xen vào:
- Dù chú thím có nói thế cũng kệ chú thím chứ; “vợ cái con cột", ai lại thế phải tội. Mới lại chị Cả ở nhà với thầy đẻ, anh với chị hai ở ngoài ấy, ai người ta biết đâu chuyện nhà quê chứ!
Thành cười nhạt:
- Đẻ làm như nó là cái kim giấu đâu cũng dễ kín đấy, mà chẳng lẽ vợ con cứ ở Hà Nội suốt đời, giỗ Tết không về nhà nữa ư?
Bà Chánh đáp gọn thon lỏn:
- Về thì về, lúc ấy có biết nữa, còn làm gì?
Thành vội xua tay:
- Không được! Đẻ nói vậy chứ sẽ lôi thôi ra, người ta lại không kiện cho mình phải bồi thường è cổ ra ấy à.
Mơ lặng yên nghe Thành nói, trong lòng tức bực vô cùng. Tại sao Thành chỉ lo phiền đến vợ sắp cưới mà không nghĩ gì đến Mơ? Ít ra Thành phải biết rằng Mơ có làm lụng trông nom thế, Thành mới ăn học được. Mơ giật mình thấy ông Chánh gắt:
- Anh hay lôi thôi lắm! Dễ không ai dám lấy hai vợ đấy!
- Nhưng mà phiền cho con, bây giờ thời buổi mới, lấy nhiều vợ người ta cười cho, vả lại cô ấy ở nhà, con đi học, nào đã có tiếng tăm gì, thầy đẻ cho cô ấy về cũng không sao...
Mơ chau mày, lẩm bẩm: “Sao chả gọi là nó hay con ấy, còn vẽ vời cô ấy với cô nọ!”
Nhưng Thành chưa kịp nói hết, ông Chánh vừa châm được cái đóm, dụi ngay vào bát điếu, gắt om lên:
- Mày nói thế mà nghe được à? Con Cả nó về nhà này đã mười mấy năm rồi, việc lớn việc nhỏ nó cũng có, khổ nhọc nó cũng có, mày nghĩ như thế là bất nhân, bất nghĩa, nghe chưa! Thế nào gọi là: “tào khang chi thê, bất khả hạ đường?” Đồ xỏ lá! Thế mà cũng đòi cắp sách đi học!
Thành cũng cáu:
- Nhưng lấy từ hồi con còn bé, con biết đâu? Bây giờ để làm chị à? Thầy đẻ cho cô ấy về, mỗi tháng con tư cấp cho ít tiền chứ sao!
Ông Chánh không thể chịu được nữa, quẳng chiếc xe điếu vào mặt Thành, mắng:
- Đồ bất nhân ấy là con tao đấy! Ối giời ai, con!
Bà Chánh vội giảng giải:
- Việc gì ông phải nóng thế? Để rồi tôi bảo, nó phải nghe chứ! Thành ơi! Anh nói thế là nhầm, anh bảo cho vợ anh về, thì lấy ai là người trông nom nhà này, hử?
- Đẻ cứ lo ruộng cho cấy thuê, nhà cửa có đầy tớ dọn dẹp, nào khó gì?
Bà Chánh chưa kịp đáp, ông đã gắt:
- Bà hơi đâu mà lý sự với nó. Tôi không bằng lòng nó muốn làm thế nào thì làm, thây xác nó!
Mơ chán ngắt, mặc ba người gắt với nhau, lẻn xuống nhà ngang. Cái câu Mơ nói chuyện với Trà bữa nọ không ngờ lại thành sự thực, Thành không muốn cho Mơ ở, vì cần giữ tiếng với vợ mới. Mơ nói một mình: “về thì về!" Mơ biết thừa rằng dù ông Chánh có bênh mình, nhưng rồi sao Thành cũng được như ý. Cậu là con một, muốn gì bà Chánh chả nghe.
Đành rằng về thì về, nhung Mơ phân vân không biết về đâu, và rồi thân thế mình sẽ xoay xở ra sao. Mơ thao thức cho tới lúc trên nhà hết to tiếng, mà thực Mơ cũng chẳng nghe rõ những tiếng gì, đến lúc ấy nàng biết rằng khuya lắm mà không tài nào chợp mắt được. Mơ bực mình, cau có nghĩ tới lời Thành ban nãy. Giá Thành lấy lời tử tế, Mơ cũng ưng ngay, nàng sẽ vui lòng ra đi, vì ở lại như thế này, chẳng khác gì người ở không công. Đuổi nàng một cách như thế thật là vô lý, Mơ thấy chồng nàng kiêu hãnh quá, nàng mỉa mai: “Ai chả biết bây giờ là ông Phán, mình con mụ nhà quê mà lại!” Nhớ tới lời mẹ khi xưa: “Ông Chánh có một mình chồng con, thế nào về sau, bao nhiêu ruộng nương, nhà cửa, chẳng về con cả chứ!”. Mơ thở dài, nói như ân hận cùng mẹ: “Giá U không tham thế, có lẽ con chả phải khổ nhục thế này’’.
Nhưng rồi nàng cũng chấm câu: “Úi chà! Người ta có số hết!”
 
 
 
 
 
 
 
VIII
 
Ngày hôm sau, Thành bỏ đi Hà Nội, ông Chánh giận lắm, và như giận lây đến cả bà Chánh. Ngày hai bữa ăn xong, chẳng nói năng gì, hút thuốc phiện chán lại lấy sách nho ra xem, Bà Chánh như sợ Mơ phật ý về câu chuyện hôm trước mà bỏ liều công việc cửa nhà, nên thường hỏi việc này, việc nọ, làm ra dáng chăm chút con dâu lắm. Còn Mơ dù biết địa vị mình đã lung lay lắm, cũng chăm công, chăm việc như mọi ngày, không lộ một vẻ gì là thất trực. Con Nuôi thì có ý thương mợ nó lắm. Nó đỡ việc Mơ hết lòng, và có lúc nó thủ thì:
- Mợ ạ! Con xem ý cậu con không ưa mợ lắm.
Mơ lừ mắt:
- Mày biết chuyện gì mà nói.
- Con biết mợ thương con, cả nhà này chỉ có mình mợ là thương con thôi, cho nên con thấy cậu con cư xử với mợ như thế con cũng tức thay.
- Ô kìa! Con này sao rườm chuyện thế, bà nghe tiếng thì mày chết đòn.
Nuôi không nói nữa, nhưng nó hậm hực vì mợ nó không thực chuyện với nó, mà chính ra thì chuyện nhớn, chuyện nhỏ nhà này làm gì nó chả biết.
Mấy ngày sau, người phu trạm mang thư đến, Mơ xem biết là của Thành, nàng giữ ý đem lên nhà đưa cho bà Chánh, không dám bóc ra như mọi khi. Bà Chánh cầm đưa cho chồng:
- Này ông xem.
Ông Chánh không cầm, bảo Mơ cứ đọc cho hai ông bà nghe. Mơ cảm động vì biết rằng thư này có thể định đoạt xong trường hợp khó chịu của mình.
Mơ bóc ra đọc:
 
Hà Nội, ngày... tháng... năm..
Thưa Thầy đẻ.
Hôm nọ con chưa thưa xong câu chuyện, vì thầy giận. Con buộc lòng phải viết thư này về nói để thầy đẻ rõ cho con.
Như hồi xưa, thầy đẻ lấy vợ sớm cho con, và nếu để cho con ở nhà quê, thì có lẽ lớn lên mọi việc sẽ êm thấm.
Khốn nỗi, thầy đẻ lại cho con đi học: ngày nay đã thành người có chức phận, sống ở nơi thành thị, bạn bè quen biết nhiều, không lẽ con đem người vợ ở nhà quê lớn hơn con ngoài mười tuổi đầu ra được.
Ví bằng con lấy vợ lẽ ở tỉnh, cố nhiên những nơi danh giá, con có thể nhờ cậy được, người ta khi nào thừa con cho đi làm lẽ. Bảo giấu giếm cũng không xong, vì lấy về ít lâu, sự thực như cái kim trong bọc, ngày sẽ một lộ dần ra, như thế sẽ phiền lụy cho con biết bao! Mà về sau này, chắc cô vợ ở thôn quê có chịu yên phận không, hay lại làm tai tiếng cho con?
Nói vậy, chứ thầy đẻ xét cho, gọi là vợ cũng quá, cô ấy chỉ như là con nuôi của thầy đẻ thôi. Bây giờ thầy đẻ có cho về cũng không sao. Dù cô ta có muốn ở lại, chẳng qua cũng là tham cái cơ nghiệp của thầy đẻ, cùng cái tiếng của con, chứ chắc gì vì tình nghĩa, mà nói đến tình nghĩa làm sao được, sự thực có phải là vợ chồng đâu!
Con nói thế hết lời. Thầy đẻ đã có lòng thương con, gây dựng cho con nên người, thì sao lại không thương cho chót, cứ cố tình ngăn trở sự nghiệp của con? Thầy đẻ tính: Liệu cô vợ quá tuổi chị con ấy, quê mùa, dốt nát, có thể giúp cho con bay nhảy được không, hay là chỉ làm bận chân con thôi?
Thầy đẻ nên nghĩ lại cho kỹ: cố ép uổng con lắm cũng là vô ích, mà chỉ thêm buồn về nỗi không có cháu ẵm mà thôi. Con mong rằng thầy đẻ nên sớm nghe lời con phân trần là phải, đừng để con phẫn chí phải xin bổ đi những nơi xa lạ, tận thâm sơn cùng cốc, vừa làm phiền lòng thầy đẻ, vừa làm khổ thân con.
Kính chúc thầy đẻ mạnh giỏi luôn luôn.
Kính thư: Thành
 
Đọc xong, Mơ để lá thư trên bàn, nét mặt thản nhiên không lộ vẻ giận dỗi. Trước kia Mơ ghét Thành, nay lại khinh nữa. Lấy một người chồng đã dám miệt thị mình là chỉ tham tiền, tham danh không tình nghĩa, Mơ còn thiết gì xum họp.
Ông Chánh nghe xong, không nói một câu, cầm sách đọc nốt trang bị ngắt quãng. Bà Chánh khẽ bảo Mơ:
- Chị đừng lo, rồi đẻ sẽ thu xếp đâu có đấy.
Mơ lạnh lùng bỏ xuống nhà dưới, không trả lời lấy một câu.
 
 
 
 
 
 
IX


 
Nhận được bức thư của Thành, vợ chồng ông Chánh bàn luận xì xào với nhau đến mấy ngày. Rút cục hai ông bà một phen nữa cùng đi Hà Nội.
Mơ ở nhà ngán quá, sai con Nuôi đi gọi Trà đến chơi. Nàng kể hết tình đầu cho nàng nghe. Trà lo lắng hỏi:
- Chị nghĩ thế nào? Em chắc dù anh ấy có tệ bạc chăng nữa, ông bà cũng không nỡ cho chị về đâu, không có chị thì công việc nhà đến xếp xó hết.
Mơ thở dài:
- Chị tưởng người ta thiết đến em lắm đấy phỏng. Ruộng, người ta cho cấy thuê này, nhà, người ta mướn người ở này...
- Nhưng ông bà không sợ làng mạc người ta cười cho hay sao?
- Cười quái gì, mà ai dám cười nữa? Người ta quyền thế nhất tổng, con người ta lại đỗ ông Phán.
- Thế chị đã định xử trí ra sao chưa?
- Lại còn phải định gì nữa, ra thì ra, cần quái gì!
- Chị chỉ được cái liều hão, hôm nọ em đã bảo chị cũng nên xếp lấy cái vốn nho nhỏ phòng khi bất trắc như thế này, chị lại cứ ương bướng không nghe, có phải bây giờ hối không kịp không?
- Em chả hối đâu, chị ạ! Người ta đừng có trời bắt phải mù, phải què thì mới chịu đi ăn xin, chứ mắt em sáng, lại mạnh chân khỏe tay thế này, em đi làm thuê, làm mướn em ăn, cần gì.
- Chị có tính đến chuyện đi bước nữa không?
- Em chả còn lòng nào nữa, chị ạ! Chị cho em thằng cháu Minh, bây giờ em đi làm nuôi nó, sau này em già, nó lại nuôi em.
Trà thấy Mơ rất thản nhiên trước một việc xảy ra đối với Trà thật tầy đình ấy, thì không bằng lòng. Nàng lấy làm lạ rằng, con người ngày trước hơi một tỵ là lo, là sợ, là than thở, khóc mếu, bây giờ lại có thể gan lỳ tướng quân đến như thế.
Mơ thì khác hẳn, nàng cho như thế là đã thoát khỏi vòng ‘‘tù tội’’ nàng sẵn sàng đón một cuộc đời mới, không cần phải suy tính hơn thiệt gì.
Hai người ngồi nhìn nhau im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Trời về chiều, một chiều đông giá lạnh. Mây thấp bay là là, sương mù đã toả khắp bốn phía, cảnh vật mờ ảo, từ bụi cây, từ mái lá đều phảng phất như in sau một tờ giấy bóng.
Con Nuôi cho lợn ăn đã xong, gà đã lên chuồng, cổng ngõ đã đóng. Nó thấy Mơ với Trà vẫn ngồi im lìm trong bóng tối, thì vội đi thắp đèn. Ánh sáng chiếu khắp mấy gian nhà, Mơ để ý nhận, từ chiếc kỷ đến bức hoành phi, hết thẩy mọi vật mà chỉ nay mai nàng sẽ không bao giờ còn được trông thấy nữa, nàng không quyến luyến gì chốn này, nhưng nghĩ đến hồi trước, mẹ mình, cả mình nữa đều có hy vọng rằng mình sẽ làm chủ những căn nhà này, có quyền sở hữu những đồ vật này, thì không khỏi bẽ bàng cho được. Mơ thở dài rất não ruột, làm cho Trà phải chú ý, mà hỏi:
- Chị nghĩ gì vậy, chị?
Mơ thẫn thờ đáp:
- Em nghĩ rằng: Nếu trước kia em không nghe lời chị, cứ liều đi theo anh Bân thì đâu đến nông nỗi này.
Trà không bằng lòng:
- Chị oán em đấy à? Chị nghĩ như thế lầm lắm, thà để cho người phụ mình còn hơn là để mình phụ người, chị ạ! Mấy lại, trước kia chị đi như thế tai tiếng đến bà nhà, đến họ nhà, liệu chị có yên lòng ăn ở với anh Bân mãi được không?
Mơ nắm lấy hai tay Trà:
- Không, chả bao giờ em oán chị cả. Em nghĩ thế thì nghĩ, chứ nào em đã làm điều gì tai tiếng đâu.
Nói vậy, nhưng Mơ lại nghĩ khác: “thà rằng tai tiếng còn hơn”. Tiếng lòng dù sao vẫn còn âm thanh mãi mãi. Mơ tưởng giá lúc này Bân trở lại!
Nhưng than ôi! Bóng người ấy đã xa rồi, xa lắm! Một tối ở vườn chùa đã qua, không bao giờ còn một tối ở vườn chùa nữa tới. Có còn chăng, chỉ là những thương tiếc não nùng.
Bên ngoài, tối đen như mực, Mơ nghĩ đến cuộc đời của nàng rồi từ đây cũng tối đen như thế. Sống không tình ái, không hy vọng, sống để làm gì? Nàng nghĩ đến thắt cổ, đến trầm hà. Một ngọn gió lạnh lùa đến, với ý nghĩ ấy, làm Mơ lạnh toát cả người. Nàng không dám tự tử, nàng không có gan ấy. Nàng giơ tay xua xua, như không biết có Trà ngồi bên cạnh:
- Không! Không thể được.
Trà ngạc nhiên hỏi:
- Gì thế chị?
- Em nghĩ đến tự tử mà rùng mình.
Trà vội vàng ôm chầm lấy bạn:
- Chết chửa. Đừng thế nhé! Chị nhé! Em lạy chị đấy, đừng có tự tử đấy.
Trà vừa nói vừa khóc, khiến Mơ phải thương hại, nàng bật cười:
- Nói đùa đấy. Em định đi tu, nhưng tự nghĩ không thể được, nên thốt ra miệng thế đấy.
- Thôi đừng chị ạ! Đi tu cũng dở, chị ở với thằng cháu Minh há lại chẳng hơn ư?
- Ừ nhỉ! Tí nữa em quên mất đấy. Chị cho em cháu Minh thật nhé! Thế thì em sướng lắm. Em chả mong gì hơn nữa đâu.
- Đã đành rằng thế rồi, nhưng còn chỗ ăn, chỗ ở, thì làm thế nào?
- Chị cho em ở nhờ, em đi làm thuê, làm mướn kiếm ăn, lo gì.
- Có cho chị ra, chắc ông bà Chánh cũng phải cấp ít vốn cho chị, mới lại còn ngôi nhà của chị ngày trước bán cho ông Chánh thì bây giờ họ cũng giả, chứ ai lại lấy, chị nhỉ?
- Không, em chả thiết, nhà đã bán rồi là của người ta, còn tiền thì một xu nhỏ em cũng không lấy.
- Chị cứ khái tính hão.
Đến đây, hai người lại ngồi im lìm trong bóng tối, hình như đều không muốn kéo dài mãi câu chuyện não lòng ấy nữa. Ngồi bó gối, không chuyện trò như thế mãi tới khuya, đèn chẳng buồn khêu, Trà cũng như Mơ đều cảm thấy một chán nản nặng nề đè chĩu bên lòng.
Đêm đông ở thôn quê vắng lặng như tờ, ví thử mưa reo, gió thổi, lắng tai nghe còn có tiếng mưa gió, chứ sương rơi, dù nặng chĩu trên cành, không tài nào phá tan nổi cảnh tĩnh mịch của đêm đông ở nơi thôn dã. Im lìm với bóng tối tạo nên một cảnh vừa buồn vừa đáng sợ. Đáng sợ hơn nữa là giữa lúc lặng tờ bỗng nổi bật lên mấy tiếng tù và rời rạc rục chó sủa vang. Không phải động dụng gì đâu, chỉ tại mấy anh tuần ngại rét, nằm đắp chiếu ở sở canh, chợt tỉnh giấc, ngóc đầu vớ ốc mà thổi, cho gọi là có hiệu canh. Mấy tiếng ấy không biết có đủ cho trộm phải giật mình, nhưng nó cũng được việc báo cho những ai còn thức biết là đã khuya lắm rồi.
Khuya thật! Song cả Trà lẫn Mơ đều không buồn ngủ, mặc dầu, Mơ cũng rủ Trà đi nằm cho đỡ mệt. Lúc ấy hai người mới thấy đỡ khó chịu, vì cứ ngồi nhìn nhau trong tranh tối, tranh sáng, không nói nửa lời, còn nghĩa lý gì. Âu cũng là một cách để giải quyết những câu chuyện khó nói, vì có thế mới chấm hết được quãng giờ nặng nề ấy.
 
 
 
 
 
 
 
 
X


 
 
Đi được ba ngày, vợ chồng ông Chánh về, coi ý có vẻ đều đã quyết định mọi việc xong xuôi cả. Việc đầu tiên là bà Chánh gọi Mơ lên bảo bằng một giọng nghiêm nghị:
- Mọi việc chúng tôi đã thu xếp xong xuôi cả. Anh ấy làm việc quan ở chỗ tỉnh thành, bạn bè, quan khách lịch sự tất là nhiều, mà chị, tiếng thế, từ bé không bước chân ra khỏi làng, có cho ra ở ngoài ấy cũng không thể được. Còn như để chị ở nhà quê này, không phải là chúng tôi ngại tốn áo hao cơm gì, chẳng qua là vợ chồng đã chê nhau, cho dù có cùng ở một nhà với nhau đến già đời cũng là vô ích, anh ấy đã đành là yên phận rồi, nhưng chị bây giờ, tiếng thế cũng hãy còn trẻ, chứ để muộn ra dăm năm nữa chưa già cũng lấy làm già, bấy giờ mới khó nghĩ. Thôi thì trăm đường tránh chẳng khỏi số, tôi cho chị ngôi nhà bà Hai bán cho chúng tôi dạo nọ ấy, chị thu dọn ra đấy mà ở, đồ đạc muốn lấy gì tôi cũng cho, tôi lại cấp thêm cho chị một trăm bạc nữa để làm vốn, chị nên nghe tôi cho thỏa thuận mọi việc là hơn.
Mơ đã biết việc tất phải xoay ra thế, nàng lãnh đạm trả lời:
- Thưa thầy đẻ, thầy đẻ không muốn nhận con làm con cái trong nhà nữa, con cũng xin vâng, còn như ngôi nhà U con đã bán cho thầy, đẻ, là của thầy đẻ rồi, mai sau này thầy đẻ trăm tuổi thì để lại cho nhà con, chứ thật tình, nhà, con không dám nhận, đồ đạc con không dám xin, mà cả trăm bạc làm vốn con cũng không dám tham đâu, thưa đẻ!
Bà Chánh nghe con dâu nói, cảm thấy một ý hỗn xược ngụ ở trong, nhưng bà không giận, ung dung đón lời:
- Con nói vậy là lầm. Bây giờ con oán thầy đẻ, con khái tính thế, chứ về sau này, có lúc con nghĩ lại, tất con cũng phải cho những lời đẻ vừa nói là phải. Chẳng qua là đẻ thương con, về làm dâu nhà này chốc đã mười mấy năm trời, công to việc lớn có, không lẽ, trời đã bắt con phải cái số chồng chê như thế, bây giờ đẻ lại cho con ra với hai bàn tay trắng, chẳng hóa ra đẻ tham công, tham của lắm sao. Thôi thì, nghe đẻ, con ạ, con bằng lòng đi, đẻ cho con thêm một trăm nữa là hai.
Mơ cười nhạt:
- Thưa đẻ, của trời cho ai chả muốn tham, nhưng con, thì con không dám tham của thầy đẻ một li, một tý nào đâu.
Bà Chánh không thể nhịn được hơn nữa, bà cũng cười gằn:
- Chị nói thế là chị hỗn biết chưa! Chẳng qua là tôi ngơ đi cho, chứ như cái hồi chị mới về làm dâu nhà này, đã tằng tịu với thằng Bân là thằng theo trâu nhà tôi, thì tôi đã tha tống khứ đi cho là phúc.
Mơ tức quá, nàng không biết nể nữa:
- Giá hồi ấy ông bà cứ cho con ra thì con đã yên phận rồi, cả cậu Phán nhà ta cũng đỡ bận lòng về chuyện vợ con, cả ông bà cũng đỡ phải đi về lôi thôi như thế này, có đỡ hơn không?
Bà Chánh gầm lên:
- À ra cái con này mày chửi giả tao có phải không?
Mơ không kém nàng cũng to tiếng:
- Nào con có dám nói gì, mà bà vu cho con như thế.
Ông Chánh từ nãy vẫn nín thinh, bấy giờ thấy hai người đều nói to cả, sợ xóm giềng nghe tiếng, ông phải dàn hoà:
- Thôi, con Cả không được nói gì nữa, cả bà cũng thôi đi, để đấy rồi tôi sẽ liệu.
Bà Chánh giận đến cực điểm, đứng lên xỉa vào mặt Mơ:
- Mày một vừa hai phải thì bà còn thí cho ít nhiều: chứ giở mặt với bà ấy à, bà đánh cho tuốt xương rồi tống cổ, cho mày muốn đi đến cửa nào mà kêu thì đi.
Mơ toan trả lời, ông Chánh đã bước tới, gạt bà Chánh ra, quát tháo:
- Vợ với con gì mà bảo không nghe ấy! Có im đi không? Con Cả xuống dưới nhà!
Mơ biết rằng có nói bướng nữa cũng không ích gì, nàng nghe theo, xuống bếp ngồi một mình trên thành cối giã gạo. Trên nhà bà Chánh còn nói lảm nhảm mãi mới thôi.
Lần này là lần đầu tiên Mơ dám to tiếng với mẹ chồng. Nàng ngồi nghĩ lại lúc mình quá giận, cãi giả bà Chánh vừa rồi mà sợ.
Đã đành rằng đằng nào rồi cũng không thể ở mãi nhà này được, nhưng vì mười mấy năm giời đã vào khuôn phép của bà Chánh, Mơ không thể mỗi lúc vượt ra ngoài khuôn phép ấy mà không sợ hãi. Tuy vậy nàng cũng chưa nguôi cơn tức:
“Bây giờ lại lôi cái chuyện từ mười mấy năm về trước ra để kiếm cớ đuổi mình, ghê thật!”
Mơ lẩm bẩm một mình như thế, tay cầm cái que vạch be bét xuống đất như không biết làm việc gì khác. Nàng toan gói quần ảo xin ra ngay nhưng lại không dám. Cái tính liều của nàng chỉ là liều nửa chửng, bây giờ nàng sợ lắm. Từ trước nàng vẫn tin rằng: bà Chánh có thể làm tội nàng đủ cách, hay chiều quý nàng hết sức, bà có thể định đoạt cả số mệnh nàng, là vì dưới vòng áp chế của mẹ chồng đã quen. Mơ chỉ biết có mỗi mẹ chồng là đáng sợ.
Nàng ngồi nghĩ lẩn thẩn đã định xử liều không làm lụng gì hết, nhưng rồi đến bữa, không hiểu sao nàng lại đứng dậy đi làm cơm.
Xếp mâm bát thức ăn đâu đấy, nàng bưng lên nhà rồi không dám lên ngồi ăn, sau vì ông Chánh gọi, nàng mới dám lên. Suốt bữa ăn ấy, ba người: vợ chồng ông Chánh với Mơ, không nói với nhau nửa tiếng. Xong, Mơ lại rửa dọn, lại quét tước nhà cửa, lại chỉ bảo con Nuôi cho lợn, cho gà ăn như mọi ngày, tưởng chừng không xảy ra chuyện gì hết.
Mấy ngày sau cũng vậy, bà Chánh không nhắc gì đến chuyện cho Mơ ra nữa, còn ông Chánh, ông bảo để rồi ông sẽ liệu mà cũng chưa thấy ông liệu ra sao. Mơ vẫn chăm chỉ làm lụng, trông nom như trước, lắm khi nàng tự nhủ:
- Tội gì mình cứ làm đầy tớ không công như thế này mãi, người ta không biết lại cho mình cố lấy lòng để được ở lại.
Nghĩ thế rồi mà Mơ vẫn cứ làm, cứ trông nom, có lẽ không thế thì không biết làm gì khác nữa. Mơ chăm chỉ quen rồi, vả lại Mơ cần phải luôn công, luôn việc để sao nhãng đôi chút những chuyện mà nàng cho là rất vô lý, rất bất công đã dồn dập đến đời nàng.
Mơ được yên thân như vậy trong vòng nửa tháng, xong nàng vẫn nơm nớp lo, nàng tin rằng: nửa tháng yên như thế là tạm yên mà thôi, chắc sao ông bà Chánh cũng bàn mưu tính kế đuổi nàng ra một cách êm thấm, trong họ ngoài làng không ai chê trách được. Những như bà, thì Mơ đã phải ra ngay từ hôm nàng nói hỗn rồi, nhưng ông, từ xưa ông vẫn cố gìn giữ từ cách cư xử đến lời ăn tiếng nói không để một ai chê cười được, huống hồ việc dâu con trong gia đình là một việc, đối với ông, có quan hệ đến gia thanh lắm lắm, cho nên ông cần phải suy tính, ông chờ một cơ hội nào bất lợi cho Mơ và tiện việc cho ông, là lúc ấy ông không cần kể đến lòng nhân hậu mà ông đã viện ra từ bao lâu để răn con trai ông đừng dẫy vợ mà không được, ông sẽ cho Mơ ra, để vợ con ông khỏi quấy rầy ông, không muốn bận đến người. Cơ hội ấy Mơ vô tình không biết rằng đã đến...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
XI
 
Năm nào cũng vậy, cứ đến hai mươi tháng một là các ông quan viên làng Thụy làm lễ tế thần. Làng có mấy mẫu ruộng công để riêng cho các quan viên lần lượt chia nhau cấy, và năm nào đến lượt những ai cấy thì người đó phải sửa lễ trước để tế thần, sau để chia phần cho khắp từ hàng nhiêu, xã trở lên. Hôm hai mươi suốt ngày tế lễ linh đình, tối đến lại chèo hát.
Gà mới lên chuồng, tiếng trống mõ, tiếng thanh la đã rung hồi gọi đàn bà, trai tráng, trẻ con đủ hạng, từ đầu cổng đến cuối làng kéo đến xem đông như nước chảy. Ông Chánh từ chiều đã được dân vào mời ra nghe hát, lúc ấy cũng đã khăn áo chỉnh tề thủng thình chống chiếc "can" bịt bạc của ông Phán mua biếu từ hồi đầu năm, ra đình. Ông định cầm chầu mấy khổ, gọi là chiếu lệ, cho dân làng khỏi nói. Ông mới đến nơi, các hàng chức dịch đã đứng lên tíu tít mời nghe hát. Ông cũng từ chối chiếu lệ hai ba lần, rồi mới kéo ghế ngồi. Ông giơ dùi trống điểm ba tiếng, ngồi rung đùi đắc chí.
Bữa ấy, phường chèo diễn tích Hạng Vũ biệt Ngu Cơ. Phường, theo lời mấy ông quan viên là một phường hát hay có tiếng, phải sang tận Lan đình mới đón được, mà hay thật, đào hát cũng hay, kép hát cũng hay, hay cả từ tiếng trống cung đàn, hay nhất là tiếng sáo của một anh kép chèo ngồi tận cuối dẫy thổi réo rắt, khiến ông Chánh phải chú ý nhìn. Ông sửng sốt biết bao, khi ông nhận ra anh kép chèo ấy là anh Bân, người theo trâu ngày trước của ông, chứ nào phải ai xa lạ.
Chỉ một phút, ông nhớ ngay tới câu chuyện của Mơ với Bân ngày trước. Hồi ấy bao nhiêu tiếng đồn lọt đến tai ông, ông đều tảng lờ như không nghe thấy, ông cố tránh tiếng có một nàng dâu hư trong nhà, bây giờ trái lại, ông muốn những lời đồn dạo ấy, bùng lên một lần nữa để ông có cớ đuổi Mơ đi, khỏi mang tiếng là người bạc ác, có việc chuộng người, hết việc là chán.
Lòng người thường có những thay đổi vô lý như thế, hôm trước trọng đấy, hôm sau lại khinh ngay đấy, biết đâu là chừng. Có những thay đổi ấy mới phân biệt được giá trị từng người.
Đừng thấy nhiều kẻ xu phụ, tâng bốc một người mà đã vội khen ngay người ấy. Ông Chánh Bá Hựu rất được lòng dân hàng tổng, rất được tiếng khen của hàng nha lại, rất được vì nể đối với các quan hàng phủ, hàng huyện, ai cũng khen ông, nào là túc nho cho nên tính cương trực khẳng khái, nào là danh giá quyền thế mà không khinh người, trọng của, thế mà lòng ông cũng có một thay đổi cực kỳ vô lý. Không biết có phải vì ông không muốn bận đến mình nên tính cho xong chuyện, chính ông cũng không ngờ rằng lúc điểm chầu khen điệu sáo đón giọng hát của Bân lại có thể sực nhớ đến Mơ, đến câu chuyện đang rắc rối khó bài phân xử trong nhà mình. Bây giờ thì xong rồi.
“Tiếng địch trên Ô Giang của Trương Tử Phòng ngày trước đã giúp Bái Công nên nghiệp đế, thì tiếng sáo của một anh kép chèo ngày nay cũng có thể giúp con mình được toại ý về nhân duyên”.
Ông so sánh lăng nhăng như vậy rồi bật cười. Một tay ông vân vê bộ râu mép, một tay điểm trống, mà óc nghĩ những đâu đâu.
Khuya dần, trò đóng mỗi lúc thêm hay, ba gian đình mỗi lúc thêm chật ních những người.
Chừng vào quãng chín giờ, ông Chánh đứng dậy nhường chầu cho ông Lý, rồi từ biệt ra về. Ông dụng ý để quên chiếc can bịt bạc dựng bên cột cạnh chỗ ông ngồi, là một chỗ từ phường hát đến người đi xem đều phải để ý. Ông gọi hai người tuần giong đuốc đưa ông về.
Đến nhà, ông cởi áo đâu đấy, ung dung leo lên sập nằm cạnh bàn đèn, tiêm thuốc hút được hai điếu, rồi mới sực nhớ ra sự gì, ông gọi giật giọng nàng dâu:
- Chị Cả ơi! Chị Cả đâu rồi.
Lúc ấy Mơ đã đi nằm. Nàng nghe tiếng trống chèo, lòng hồi hộp tưởng lại khi xưa cùng chị em chúng bạn đàn đúm nhau đi xem, vui vẻ biết là chừng nào. Bây giờ chốc đã mười mấy năm trời, nàng đã biến cải hết, từ người, từ nết.
Nàng nghĩ đến phường hát nay đây mai đó, mà lo cho số phận của mình, ít nữa, chỉ ít lâu nữa thôi, sẽ bị đuổi ra khỏi nhà này, nàng liệu có khỏi như phường hát nay đó mai đây. Băn khoăn như thế, nàng không sao chợp ngủ được, thì tiếng ông Chánh đã gọi giật giọng ở nhà trên.
Mơ vội thưa, rồi tung chiếu, chạy lên. Ông Chánh với chiếc đèn bấm ở tủ chè đưa cho nàng, bảo:
- Lúc nẫy ra nghe hát, thấy vội về bỏ quên chiếc can ở đình, chị chịu khó cầm đèn này chạy ra cầm về cho thầy, kẻo mất nó phí đi, chẳng ít tiền đâu.
Mơ vâng, đoạn chạy xuống khoác thêm chiếc áo cánh bông, rồi gọi con Nuôi dậy đóng cổng cho nàng ra đi. Ra đến sân, ông Chánh còn dặn với:
- Thầy dựng bên cột cạnh chỗ cầm chầu ấy, chị hỏi ông Lý, ông ấy đang cầm chầu đấy, đừng hỏi ai sốt cả, không họ phong thanh, họ lại giấu biến đi mất thì xong.
Mơ vừa đi vừa đáp:
- Không mất được đâu, thầy ạ! Ai dám lấy, mà cho có lấy nếu không mang đi ngay thì con cũng tìm bằng phải thấy.
- Ừ, nếu không thấy ở bên cột, thì cứ lẳng lặng kiếm quanh đình xem ai cầm biết ngay, đừng có hỏi vội, nó chuồn mất.
Mơ ra khỏi, còn dặn con Nuôi đóng kỹ cổng. Nàng định bụng nhân tiện sẽ đứng xem hát một lúc.
“Úi chà! Ngày trước thì sợ, chứ bây giờ sợ cóc gì! Đằng nào rồi cũng đến phải cút!”
Nàng tự nhủ thế, rồi rảo cẳng theo tiếng trống hát mà tiến.
 
 
 
 
 
 
 
XII
 
Sở Bá Vương đang bị khốn trong trùng vi ở Cai Hạ. Ba quân tàn ác, còn Vương lúng túng mãi chưa muốn dứt tình rời bỏ Ngu Cơ. Bỗng tiếng tiêu của Trương Lương từ xa vẳng lại, lúc trầm lục bổng réo rắt não nùng, không những làm cho quân Sở chạnh lòng nhớ quê hương, cha mẹ, vợ con, mà chán cảnh đầu giáo mũi tên ở chốn sa trường, ngay đến Vương cũng thấy nao nao trong dạ.
Lúc ấy tiếng trống, đàn, thanh la đều im tiếng để nhường cho điệu sáo dìu dặt cất lên, xen với giọng ai oán của Ngu Cơ, với những câu ca hùng tráng nhưng nghẹn ngào nước mắt của Hạng Vương, tất cả đều một nhịp buồn thê thảm. Mọi người đều lặng nghe, mê ly vì bản hát, chầu luôn luôn điểm thưởng, toàn ban đào kép càng nỗ lực trổ tài, cả anh Bân, một kép hát chả biết nhập phường tự bao giờ, cũng như say sưa vì tán thưởng của khán giả, đem hết tài hoa vào tiếng sáo.
Bỗng anh chú ý nhìn: một người đàn bà đang len vào chỗ trống chầu, và nếu anh không lầm, người ấy hẳn là Mơ. Có điều khác là Mơ bây giờ già, xấu hơn Mơ ngày trước nhiều, nhưng khuôn mặt có gầy đi, còn đôi môi ấy, đôi mắt ấy, lẫn sao cho được.
Anh chăm chăm không để sót một cử chỉ nào của Mơ, khi thấy nàng cầm chiếc can bịt bạc bên xó cột, len ra, anh quẵng chiếc sáo xuống đất và đứng phắt ngay dậy.
Tiếng ca của đào, kép, đang cao giọng theo điệu sáo đưa, bỗng sáo im bặt, làm câu ca cũng bị buông lửng , mọi người ngơ ngác không hiểu ra sao, một anh kép đàn vội vơ lấy chiếc sáo thổi tiếp, trong lúc Bân vừa len đám đông bước ra, vừa quay cổ lại bảo:
- Tôi đau bụng quá, anh thổi nốt giúp, tôi đi đằng này một lát rồi về ngay.
Dứt lời, Bân cố lách mọi người, qua mấy vòng vừa ngồi vừa đứng, mới ra được đến ngoài, đã chẳng thấy Mơ đâu. Anh nhớn nhác nhìn, mãi mới thấy Mơ đang xen vai đứng cạnh mấy bà đứng tuổi nghển cổ xem hát. Anh xán lại gần, đứng ngay sau lưng mà Mơ vẫn không biết. Anh lặng ngắm từ vành tóc lẩn dưới nếp khăn vuông, đến tấm áo bông xù xụ khoác trên cái lưng thon thon của Mơ, từ thân hình tuy đã hơi gầy, nhưng vẫn là tầm thước, từ đôi vai tròn, từ cánh tay lẳn muột, từ đôi gót chân xinh xinh, hết thẩy đều gợi Bân nhớ lại những ngày đầy mơ ước, mà là mơ ước hão, than ôi!
Bân ngượng ngùng quay đi, song đi không dứt, anh lại quay lại, ngần ngừ hai ba phút, rồi quả quyết khẽ nắm lấy tay Mơ.
Lúc đó Mơ đang ngây người xem cảnh Hạng Vương ca tống biệt Ngu Cơ, nàng lắng tai cố thu hết những giọng não nùng ấy, nó như hợp tình hợp cảnh. Bỗng nàng thấy một bàn tay nóng hổi nắm lấy tay mình, nàng quay đầu nhìn. Còn bút nào lột hết được tinh thần của nét mặt Mơ trong phút đó, cả một bỡ ngỡ lạ lùng, cả một ngày vui lồ lộ mà còn cố giữ kín, cả một e thẹn, cả một đắm say, biết nói thế nào? Tâm tình của Mơ lúc ấy là một tâm tình không thể tả ra lời, ra chữ.
Chỉ một đuôi mắt Mơ đã nhận ra người nắm tay mình là Bân. Còn gì lạ nữa! Bao nhiêu lần nàng nằm mê thấy khuôn mặt ấy, bao nhiêu lần nàng ngồi ngây người đăm chiêu vào khoảng không, cố mường tượng lại vóc thước ấy, quên sao được? Một khổ người vạm vỡ mà không thô, một nét mặt rắn rỏi mà không dữ tợn, đôi mắt sắc mà không gian, đôi môi mỏng tươi mà kín cười. Trời đã trớ trêu đem một hình hài, khuôn mẫu ấy đặt bên một cậu bé nũng nịu như con gái, nhỏ đã ươn hèn, lớn lại hợm hĩnh mà hơn mười năm trời nay Mơ vẫn phải nhận là chồng, thế còn quên làm sao cho được?
Nàng ngây người nhìn Bân, và khi Bân bước đi, nàng theo gót liền như sợ mình lầm mộng với thực, cố dõi bóng người mình đang mong ngóng kẻo sợ lẩn đi đâu mất.
Hai người theo chân nhau đi, và đi mãi.
Ra khỏi đình, qua sân đình, dọc xuống cầu ao đình, men vệ ao đình.
Đêm đông, một đêm không trăng, không sao, mây trắng đục lờ từng dải, sương nhè nhẹ bay, gió vi vút hót. Ngảnh trông lại phía đình, đèn lốm đốm vàng hoe ánh lửa, hai cây đình liệu làm bằng hai bó cây nứa tép lớn tới nửa vầng tay ngùn ngụt cháy đã gần tới gốc, tiếng trống hát đã lùi lại xa, lớp đông người đã lẫn trong tối, Mơ nhìn lại tưởng như mình đang theo người yêu rời bỏ cả làng, cả chị em, chúng bạn, cả cái xã hội đầy áp chế, đố ky, nhỏ nhen, nham hiểm này mà lần tới một nơi nếu không phải là cực lạc thế giới thi cũng là đầy hạnh phúc.
Ao đình vào khoảng cuối tháng năm ít mưa rào thường gần cạn hết nước, phơi ra một vòng vệ thoai thoải dốc, trên bờ rặng đa nghiêng mình nhủ rễ xuống như những bóng người khổng lồ ngồi xoã tóc để gội vào ao, ban ngày trông đã âm thầm, tối đến lại càng bí hiểm.
Bân đưa Mơ xuống vệ ao ấy, dưới những bóng đa ấy, còn mắt nào nhìn thấu được.
Hai người lấy tay lần tìm được một chỗ rễ cây nổi vòng cung, liền ngồi xuống. Bân khẽ lên tiếng trước:
- Dạo này mợ Cả vẫn được mạnh khỏe đấy chứ.
Câu mở đầu ấy chàng thấy cũng thừa như lớp giáo đầu mà phường chàng bao giờ cũng diễn trước khi một vở nào, nhưng còn biết nói gì hơn câu ấy?
Mơ trả lời, nhỏ như trong hơi thở, một là vì tai vách mạch rừng, hai là vì thầm cảm thấy mình quá táo bạo làm một việc trái với lễ giáo, mà nửa thẹn, nửa lo:
- Cảm ơn anh, tôi vẫn được mạnh khỏe như thường.
Cũng một tiếng: anh, trước kia Bân nghe Mơ nói thấy thông thường, bây giờ trái lại, chàng nhận ra nó đầy những đầm ấm, tin yêu. Chàng thấy rằng: mình dùng câu "mợ Cả" lúc này vô lối, nên đổi giọng:
- Mơ nói vậy, tôi cũng biết vậy, nhưng tôi xem ra bây giờ Mơ gầy đi nhiều. Nếu không phải vì lo nghĩ quá độ thì làm sao mà hao xút chóng quá thế được?
- Anh nói đúng đấy. Từ ngày anh đi, tôi bị đầy ải cực khổ, nhưng thôi, chuyện của tôi chưa cần nói vội, bây giờ anh hãy kể cho tôi biết từ ngày ấy, anh đi những đâu, làm sao lại thành ra phường hát?
- Tôi xin thú thực với Mơ rằng: ngày ấy tôi thấy Mơ lâm vào cảnh buồn khổ mà ái ngại. Trước tôi vẫn giữ lễ, yên phận làm kẻ ăn người ở trong nhà, đối với Mơ có chênh lệch hơn kém, nhưng sau không hiểu vì đâu, dần dần tôi thấy say Mơ, đến cái lúc tôi say đến cực điểm là lúc tôi đánh liều theo chân Mơ ra chùa hôm Thượng nguyên năm nọ, và đợi đến đêm khuya nhân lúc Mơ qua sân, tôi kéo Mơ vào trong vườn chùa ngỏ hết tâm sự để Mơ rõ. Tuy khi ấy Mơ chưa kịp nói với tôi một lời đã bị cô Trà gọi, phải bỏ đi, nhưng tôi cũng hiểu rõ lòng Mơ không đến nỗi thờ ơ với tôi quá lắm, thế rồi chẳng biết vì ai dệt chuyện, tiếng tăm đồn đặt xa gần rằng: Mơ phải lòng tôi, làm cho tôi hối hận quá, tôi chỉ lo ông bà Chánh làm khổ Mơ, nên khi thấy ông bà bảo cho tôi ra, là tôi tinh ý ngay. Tôi biết tôi đi khuất, câu chuyện đặt điều ấy cũng nhạt dần, và có thế Mơ mới có thể yên thân ở nhà ấy được. Tôi lầm lỗi, tôi chịu tội, chứ Mơ, Mơ đã làm gì trái đạo đâu? Đành rằng xa Mơ, tôi buồn, tôi khổ, tôi thất tình đến đau, đến ốm, đến chết, tôi cũng cam tâm, chứ gần Mơ mà nhìn thấy Mơ hằng ngày khổ nhục vì tôi, tôi không nỡ. Thế là tôi nhất quyết đi thật xa. Tôi lần mò lên tận Sơn Tây xin làm phu vỡ đồn điền, được ít lâu tôi lại xuống Kiến An làm phu đắp đường, tôi đi Hải Phòng, Đồ Sơn, Hải Dương, Quảng Yên, khi làm thợ gặt, khi làm phu vác, khi chở đò thuê, lần hồi kiếm ăn như thế, mãi đến cách đây độ ba năm, một tối tôi xem chèo ở làng Lệ Xá, ở gần Sặt, hồi tôi làm phu đấu ở đấy, tôi thấy phường hát hay quá, nhất là có cô đào em ông chủ phường...
Nói đến đây Bân im bặt, nhưng sực nhớ ra mình đã quá thật thà với Mơ: “nào ai có khảo mà mình lại xưng!”
Mơ đang mải nghe, bỗng thấy Bân ngưng lại, vội hỏi dồn:
- Cô đào em ông chủ phường làm sao? Nói nốt đi anh!
Bân ngần ngại một giây, rồi tiếp:
- Cô Mai, em ông chủ phường là đào nhất của gánh hát này, hát rất hay, lại có duyên nữa, ba tối hát ớ Lệ Xá, cô đã làm cho lắm cậu phải chết mê, chết mệt. Tôi vốn tính thích hát chèo, hồi ấy vì buồn cũng có, vì anh em rủ cũng có, tôi cùng một bọn bốn người suốt ba đêm hát lúc nào cũng đi xem, chúng tôi mê đến nỗi làng dã đám, phường hát đi, chúng tôi cũng bỏ việc theo đi, chúng tôi đánh bạo xin nhập bọn, ông chủ phường sau khi thử thách chán chỉ nhận có mỗi mình tôi, vì tôi tuy hát không ra gì, nhưng được cái thổi sáo nghe được, nên ông ưng cho tôi theo phường. Ổng bắt tôi phải làm lễ, rồi ông dạy tôi học hát. Tôi theo phường đi khắp đây đó, tôi đã được ra trò, mỗi lần hát hay hoặc bộ khéo được chầu gõ thưởng, hay được người xem khen lao, nghĩ cũng thích. Được hơn một năm tôi nghiễm nhiên thành một kép hát quan trọng trong phường, được anh em vị nể, cả ông chủ phường cũng mến, ông đứng chủ hôn gả cô Mai, em gái ông cho tôi. Vợ chồng tôi năm ngoái, nhờ giời cũng sinh được một cháu giai, nhưng được hơn ba tháng lại bỏ. Thế rồi gánh hát tôi cứ quanh quẩn nay đây mai đó, hết làng này sang làng khác, hôm kia hát ở Lan Đình, thì ông Phó Lý ở đây sang đón. Thật tôi cũng không ngờ rằng còn được gặp Mơ. Thế còn Mơ, dạo này bà Chánh cũng đỡ cay nghiệt rồi chứ? Cậu Thành hẳn đã nhớn rồi còn gì. À quên, nói ba hoa mãi, Mơ được mấy cháu rồi nhỉ?
Từ nẫy Mơ thẫn thờ ngồi nghe, cảm thấy một chán chường vô biên, khi nghe Bân hỏi, nàng thở dài:
- Nào đã được cháu nào!
- Sao muộn thế?
- Cái số thế, chứ làm sao nữa.
Dứt lời, Mơ uể oải đứng dậy:
- Khuya lắm rồi đấy, anh nhỉ! Tôi đi về đây, không có lại sinh lắm chuyện.
Bân luống cuống, nắm vội lấy tay Mơ:
- Về làm gì vội! Mơ!
Mơ đứng lặng thinh, cũng không giựt tay ra, một lúc lâu, nàng mới khẽ nói, giọng nghẹn ngào nước mắt:
- Muộn quá rồi, anh Bân ạ! Bây giờ anh đã có vợ, mà tôi cũng đã có chồng, chúng ta đứng nói chuyện với nhau vụng trộm như thế này cũng là quá liều rồi, đứng lâu nữa e có người biết thì phiền lụy cả cho anh lẫn tôi. Anh để tôi về là hơn. Anh biết bụng tôi, tôi cũng hiểu rõ lòng anh lắm rồi, thế là đủ. Cái số kiếp chúng ta phải vậy, ta phải chịu, cưỡng với số mệnh thì cưỡng làm sao.
Bân cũng đứng dậy, vịn vào vai Mơ, thì thầm vào tận tai:
- Mơ ơi! Hay là ta cùng đi trốn...
Sương sa lác đác, gió reo lùa trong lá!
Đêm càng khuya, càng lạnh.
Ngu Cơ đã tử tiết: Hạng Vương đã lên ngựa phá trùng vi, quân reo, trống nổi. Tiếng vang rộn rã đưa đến tai Mơ. Nàng sực tỉnh:
“Bân đã có vợ!” Ngu Cơ đã chết, đào Mai hẳn đang ngóng chờ chồng. Mơ quả quyết đẩy Bân ra:
- Muộn quá rồi, anh ạ! Thôi ta đành để đến kiếp sau vậy. Từ đây mỗi người mỗi ngả.
Dứt lời, nàng thoăn thoắt bước lên, Bân với tay nắm không kịp, đành theo gót. Lên đến trên bờ ao, Mơ bỗng giật nẩy mình: bên gốc đa hai người đã đứng rình đó tự bao giờ, đồng thời ánh đèn bấm bật sáng loà, bà Chánh với con Nuôi, mỗi người tay cầm một chiếc gậy. Mơ hốt hoảng quay lại, nhưng không kịp, bà Chánh đã sấn lại túm được áo nàng, và trong lúc vội vàng ấy, bà đã buông tay để rơi tắt mất đèn, trong tối Mơ nhận thấy Bân đã nhân dịp ấy lẩn được xa rồi, nàng buông một tiếng thở dài như trút được gánh nặng.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
XIII
 
 
Bà Chánh với Nuôi áp giải Mơ về đến nhà đã quá nửa đêm. Ông Chánh vẫn còn nằm hút thuốc phiện chưa ngủ. Thấy ba người về, ông thong thả đặt dọc tẩu xuống cạnh khay đèn, ngồi dậy, bằng một giọng đĩnh đạc hỏi:
- Thế nào? Có tìm thấy chiếc "can" không? Sao mà đi lâu thế?
Bà Chánh không để Mơ đáp, vội cướp lời:
- Úi chà! Tìm với tội gì, đi nói chuyện với giai ở vệ ao đình ấy, thảo nào mà có ba bước đường cũng đi mất mấy tiếng đồng hồ.
Ông Chánh làm bộ sửng sốt:
- Thế à! Thật thế à? Giỏi thật! Cả! Mày nói chuyện với ai ở ao vệ đình?
Mơ đứng khoanh tay, cúi đầu nhìn xuống đất, không nói.
Ông Chánh lại tiếp:
- Đốn mạt đời thật! Mày không biết rằng nhà này có phải là nhà bách tính đâu, mà vội động đĩ như thế để cho người ta phỉ nhổ vào mặt tao à! Đồ voi giầy! Mày đứng nói chuyện với ai? Muốn sống, muốn tốt thì thú thực đi, kẻo ông lại cho mấy gậy nát xương bây giờ.
Mơ vẫn đứng im không nói.
Bà Chánh không thể nén giận được nữa, bà xỉa xói vào mặt Mơ:
- Đồ đĩ rạc, đĩ rấy! Đồ mèo đường, chó điếm...
Rồi khi thấy Mơ ngửng phắt đầu lên nhìn thẳng vào mặt bà bằng đôi mắt căm hờn, thì bà túm lấy tóc nàng dâu giúi xuống, tát lấy tát để, tát chán, bà lại vớ chiếc gậy dựng ở xó cửa vụt không tiếc tay.
Mơ đau lắm, đau như xé thịt nhưng nàng cố cắn chặt lấy môi, không kêu, không khóc.
Một lúc lâu, bà Chánh chừng đã mỏi tay mới thôi vụt, bà quẳng gậy, ngồi vừa thở, vừa nói:
- Thật là vô phúc! Dâu với con gì ngữ ấy! Có đường có nẻo liệu mà cút. Thừa cơm đổ cho chó ăn còn hơn là nuôi những hạng này. Chó nó ăn của chủ còn biết có nghĩa với chủ, chứ ngữ này, nó ăn cho béo chương béo nứt, rồi nó trát gio, trát trấu vào mặt người ta ấy à.
Bà nói mặc bà, Mơ vẫn nằm quằn quại dưới đất, máu ở mồm, ở mũi trào ra, trước bà Chánh còn không để ý, sau thấy Mơ nằm lịm đi, bà mới hoảng sợ, vội sai con Nuôi vực Mơ xuống nhà ngang. Mơ lúc ấy đã mê đi, còn biết gì nữa, nên con Nuôi không sao vực nổi, bà phải giúp nó, xốc nách Mơ, còn nó khiêng chân, đưa xuống đặt nằm trên chiếc giường giát tre ở một gian nhà ngang.
Ông Chánh cũng hơi lo, ông mở tủ lấy ít mật gấu gọi bà mang xuống cậy mồm bỏ vào cho Mơ nuốt, và bóp vào những vệt đòn cho Mơ, lủng củng suốt đêm ấy, cả nhà không ai chợp mắt.
Chuyện là một chuyên tầy đình như thế, mà ông không cho ai được hé răng, từ bà Chánh đến con Nuôi, ông không muốn để hàng xóm được biết.
Còn Mơ, từ đêm ấy, nàng lên cơn sốt kịch liệt, cơm chẳng muốn ăn, lúc nào cũng đòi uống nước. Sau một đêm ly bì, Mơ mới hơi tỉnh, nàng nghĩ lại trận đòn mà hãy còn bắt rùng mình. Nàng cũng không hiểu tại sao lúc đó nàng lại có thể gan lỳ không kêu, không khóc lấy nửa tiếng.
Giá chết vì trận đòn ấy có lẽ lại hay, chứ còn sống dai dẳng ngày nào, Mơ càng cảm thấy một chán chường không bờ bến.
Thế là hết, không còn một tia hy vọng nào ở trong óc Mơ nữa. Trước, nàng còn tưởng rời bỏ nhà này ra đi, quyết lặn lội tìm cho được Bân để thoả lòng ao ước bấy lâu nay, bây gìờ sự thực đã rõ, Bân đã có vợ, Mơ không thể nhìn cảnh gia đình Bân tan tác vì nàng được. Nếu nàng nhẫn tâm, nàng có thể tìm được Bân trong ít ngày nữa, nàng chỉ bảo Bân một tiếng là Bân sẽ bỏ phường hát, bỏ Mai, để cùng nàng lập gia đình ngay, nhưng dù chết thì thôi, chứ Mơ không hề nghĩ đến một hành vi mà nàng cho là tàn ác, vô nhân đạo đến thế được. Nhớ lại hôm đọc lá thư của Thành gửi về cho ông Chánh, Mơ chỉ những muốn bỏ nhà này ra đi ngay tức khắc, nên khi ấy, nên Mơ đã chẳng rụt rè nói xược cùng mẹ chồng, bây giờ trái lại, nàng nơm nớp lo sẽ bị đuổi đi, thật là mâu thuẫn! Thật là kỳ quặc! Mơ không thể hiểu được vì sao mà thế nữa. Nàng chỉ tưởng tượng rằng nếu "người ta" không nuôi Mơ nữa, Mơ sẽ bị bơ vơ. Thầy, U Mơ chết cả rồi, nhà cửa, đất cát bán hết rồi, còn có gì? Hay là mười mấy năm trời đi làm dâu một nhà giầu có, tăm tiếng nhất tổng, lúc đuổi ra vì bị bắt quả tang nói chuyện với trai, chỉ còn có hai chữ "trinh bạch", mặc dầu mang tiếng là gái có chồng. Nhưng trinh bạch ấy, chỉ có một mình mình biết, thế đủ đền bù lại sự thất vọng to lớn này sao?
Mơ nằm một mình trên giường, nghĩ quanh, nghĩ quẩn, cả một thời con gái, cả một thời làm dâu, lần lượt diễn qua trong óc, nàng thấy đời mình vô vị lạ.
Đã năm hôm rồi, năm hôm Mơ nằm liệt trên giường, ngày ngày có con Nuôi thăm hỏi, hoặc nấu cháo cho ăn, hoặc rót nước cho uống. Xem ý con bé cũng thương hại Mơ lắm. Nó nói cho Mơ hay rằng: tối hôm ấy, khi ông Chánh sai Mơ đi khỏi, ông gọi ngay bà lên, nói những gì không biết, chỉ thấy độ mười phút sau, bà gọi nó lên đưa cho cái gậy, rồi cả hai, một chủ một tớ, cầm đèn bấm chạy vội ra đình, và khi thấy Mơ đi qua sân đình, Bân theo sau lưng, thì bà Chánh nắm ngay lấy tay nó, cũng dõi theo gót hai người.
Nghe con Nuôi nói, Mơ chắc ngay rằng bà Chánh đã rõ hết những lúc Bân tình tự với mình, và bà đã dụng công bắt mình như thế, có lẽ có mưu kế ở trong. Thôi, người ta đã cố tình bêu xấu mình, để đuổi mình đi, thì trước sau, sao cũng một lần, ở làm gì trong nhà này nữa!
Thế rồi, một đêm đã gần tàn canh, mưa lấm tấm bay, gió hiu hắt thổi, Mơ chong đèn, ngồi viết một bức thư:
 
Thưa Ông, Bà,
“Con về làm dâu ông, bà, chốc đã hơn mười năm giời, xét thật chưa dám có điếu gì trái đạo. Con cũng mong hầu hạ ông bà đến khi ông bà trăm tuổi, và giữ tròn bổn phận con đến khi mãn chiều xế bóng. Con đã trông nom, coi sóc công việc nhà ta như của thầy u con, và mừng rằng nhà ta cũng mỗi ngày một thịnh vượng.
“Nhưng có lẽ quả kiếp con nặng nề, kiếp trước con nặng nợ ông bà và cậu Phán nên kiếp này phải trả. Nay đến lúc nợ đã hết, nên giời xui khiến chồng con phụ bạc, và tiền oan nghiệp chướng gây nên cho con những tai vạ tầy đình.
“Bây giờ sự đã rồi, oan con thật là oan bà Thị Kính. Vì ông bà biết cho con, con xin cảm ơn, bằng như là ông bà không cho con là nói ngay, con cũng cam chịu. Gian ngay con nguyện có Trời, Phật chứng cho.
“Bây giờ kiếp trâu ngựa của con đã hết, nhà ta cũng không cần tới con nữa, con xin gọi là có mấy hàng lạy ông bà ở lại.
Mơ.
 
 
 
 
 
ĐOẠN KẾT
 
Trời khá nhem tối. Người đi lại ở ngõ xóm khuất khúc giữa hai hàng rào tre rung động trước gió, chỉ còn là những bóng đen.
Tiếng trẻ dồn trâu bò về chuồng, tiếng chó sủa theo người đi, làm náo động cả xóm. Suốt ngày hầu hết mọi người đều ra đồng làm mầu, nên làng vắng ngắt, bấy giờ ai nấy đã trở về, phá tan vẻ tịch mịch, đem lại sự náo nhiệt trong giây lát, trước khi im lìm hẳn trong đêm tối.
Trong hàng giậu bằng tre hóp với dâm bụt, trên khoảng đất bắt góc với hai nền nhà lá, một ngôi ba gian làm nhà ở với một chiếc hai gian làm bếp và nhà thóc, bên một đống rạ, một đứa trẻ trạc độ mười tuổi, tay cầm bu gà, đứng rình lăm le chực úp lấy con gà mái đang ủ bầy gà con trong chiếc ổ làm bằng rơm để trong một cái thúng rách. Khi thấy những gà con đã chui cả xuống dưới hai cánh gà mẹ, thôi không kêu chiêm chiếp nữa, nó nhẩy xổ ra, úp chụp lấy. Con gà mái đang nằm, đứng ngay dậy, xù lông ra, kêu quang quác, gà con chạy tung toé ra ngoài, song mẹ đã bị nhốt. Đứa bé cười sung sướng:
-Gớm, rình mãi mới nhốt được cu cậu!
Dứt lời, nó lấy gạch đè lên miệng bu, đứng nhìn gà con kêu nhớn nhác, tìm lối chui qua mắt bu vào với mẹ.
Đoạn nó quay ra dồn nốt mấy con gà lọt dậu đang thập thò ở cửa chuồng vì sợ hai con gà sống nằm phía trong cứ thò mỏ ra, động thấy con nào lên là mổ túi bụi. Khi gà đã lên chuồng hết, nó cắt chiếc cầu bắc cho gà lên, rồi đóng cửa lại, chặn kỹ lưỡng, đâu đấy xong xuôi nó mới vào chạn lấy bát cơm nguội với mấy quả cà, đem ra trước cửa, đứng tựa vào dại mà ăn. Thấy thế, con chó vá từ trong bếp ve vẩy đuôi chạy lại, đứng nghếch mõm lên nhìn thằng bé và cơm vào mồm một cách ngon lành lắm.
Trời dần tối mịt, người đi lại đã thưa hẳn. Tiếng tù và gọi tuần ở điếm đã rúc lên. Trên nền trời nặng những mây xám xịt đã lấp lánh điểm những vì sao. Thỉnh thoảng, một vài con chim ăn đêm thẳng cánh bay qua, in hình đen lên nền trời, và cất tiếng kêu rời rạc. Đứa trẻ vừa lúng búng nhai cơm, vừa khẽ hát bài mới học ở nhà trường, tay cầm đũa gõ nhịp vào thành dại:
 
“Con cò mày đi ăn đêm.
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao..."
 
Nó ngoẹo đầu, nhìn lên trời đếm sao, lẩm bẩm:
- Quái! Con vịt đâu mà mình tìm mãi chả thấy, thế mà U cứ bảo nó có hai cái mắt nhấp nhánh.
Nó và miếng cơm, cắn miếng cà, rồi lại nghếch mắt tìm, không biết rằng có một người đàn bà, vai vác cuốc vừa qua cổng, vào sân. Con chó thấy người vào, vội bỏ thằng bé đứng một mình chạy xổ ra vẫy đuôi, đánh hơi ngửi vào gót, vào quần người đàn bà, ra dáng mừng tíu tít.
Thằng bé giật mình khi nghe thấy hỏi:
- Minh ơi! Đứng làm gì đấy?
Nó vội chạy ra vừa cười, vừa nổi:
- A! U đã về!
Người đàn bà ấy là Trà, là U nó. Trà đi làm đồng về thấy có mỗi một mình thằng Minh ở nhà, lấy làm lạ hỏi:
- Thầy đâu, Minh?
- Thầy đi ăn giỗ bác Cả Sửu chưa về.
- Bây giờ mà còn chưa về! Thế con Sinh đâu?
- Chị Sinh đi đòi cám bên bà Nhiêu Tình.
- Còn thằng Hải, thằng Tính?
- Chúng nó đi ăn cỗ với thầy từ trưa kia mà.
Rồi nó khoe:
- À, U này! Ban chiều dì Mơ đến chơi!
Minh vẫn quen gọi Mơ thế.
- Thế ư, dì Mơ đâu?
- Dì đợi mãi, không thấy U về, dì đi rồi. Dì bảo con: gửi lời chào Thầy, U, dì đi không biết bao giờ mới lại về đây nữa.
- Thật à? Dì bảo Minh thế đấy à?
- Thật mà. Dì cắp cả gói quần áo nữa mà. Dì cho con một hào đây này.
Minh giơ đồng hào ra khoe.
Trà ngẫm nghĩ, nói một mình:
-Thế là cái quái gì!
Minh vừa ăn cơm, vừa nói chuyện:
- Ban chiều, dì Mơ ngồi chơi với con mãi. Dì dắt con ra ngõ xem đám cưới nữa kia.
Trà gạn hỏi:
- Đám cưới nào?
Minh làm ra bộ thông thạo:
- U quên à! Đám cưới con trai ông Lý lấy con gái ông Chưởng Bạ ấy mà.
Trà vẫn thẫn thờ nghĩ mãi đến Mơ:
- Ừ nhỉ, hôm nay đám ấy đón dâu đấy nhỉ!
Minh ba hoa.
- U chả được xem, đám cưới to lắm! Chú rể, cô dâu mặc sang quá, chỉ phải cái tội chú rể thì bé mà cô dâu lại nhớn quá. Ờ, mà buồn cười lắm, U ạ! Chú rể thẹn quá vừa đi, vừa khóc.
Trà bật cười:
- Chỉ bậy!
Minh giơ tay phân trần:
- Thật đấy mà! Mai Minh chỉ cho U xem chú rể. Thằng Táo đấy mà, U không biết ư? Nó đi học ở trường vẫn đánh bi với Minh, thua, Minh bắt cu cậu phải cõng è cổ ra ấy mà lại!
Trà vẫn nghĩ đến Mơ:
- Cả dì Mơ cũng xem ư? Minh!
- Vâng cả dì Mơ cũng đứng xem, khi thấy Minh chỉ cho biết chú rể, với cô dâu, dì chẳng nói gì cả chỉ thở dài, nhưng Minh thì Minh buồn cười lắm, ai lại chú rể chỉ bằng Minh thôi, còn cô dâu nhớn gần bằng dì Mơ ấy, lúc chú rể đi qua, Minh vỗ tay chế: A! Thằng Táo cưới vợ! Làm cho nó thẹn quá phát khóc... mà này! U này! Lạ quá, dì Mơ lúc ấy cũng khóc, rõ ràng Minh thấy dì lấy vạt áo lau nước mắt rồi kéo Minh vào, khép cổng lại.
Trà chép miệng:
- Lại một cô Mơ nữa!
Rồi uể oải mang cuốc vào dựng xó vách, đoạn đi ra đóng cổng, trong lúc Minh vừa bưng bát cơm đi theo mẹ, vừa hát:
 
“Chồng thấp mà lấy vợ cao,
Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa”.
 
HẾT
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.03.2020 23:29:45 bởi Thanh Vân>
Tác giả sinh năm 1920 tại tỉnh Hà Đông, Bắc Việt Nam. Mất ngày 17-6-1996 tại California.
Ông không sinh sống bằng nghề viết văn, song hoạt động rất nhiều trong lãnh vực văn hóa.
Năm 1942 khi còn là sinh viên trường Cao Đẳng Canh Nông, Đại Học Hà Nội, ông đã được giải thưởng văn chương Gia Long năm đầu tiên 1942-43 với cuốn truyện đầu tay Bóng Tre Xanh. Trong những năm cao trào kháng chiến chống Pháp, ông dành trọn thời giờ hoạt động trong lãnh vực tuyên huấn và báo chí, nhất là ở vùng Tiền Giang Nam Việt Nam. Trong khoảng thời gian 1952-1956 ông cộng tác với nhà xuất bản Thăng Long viết sách giáo khoa (Luận đề văn chương) và với một số tuần báo, nguyệt san về văn hóa, chánh trị, dưới nhiều bút hiệu, quen thuộc nhất là Mai Xuyên.
Năm 1956, xuất bản cuốn Lê Kim Hà Ích, phỏng dịch tiểu thuyết Dr. Jekyll and Mr. Hyde của Robert Louis Stevenson.
Đầu năm 1957 ông cùng một số bạn, trong đó có nhà báo Như Phong, nhà văn Nguyễn Hoạt, Phạm Việt Tuyền, nhà thơ Hà Thượng Nhân, họa sĩ Phạm Tăng..., chủ trương tục bản nhật báo Tự Do. Trong thời gian bảy năm này, vừa viết bài hàng ngày cho nhật báo Tự Do, ông còn sáng tác để Cơ sở Báo Chí và Xuất Bản Tự Do ấn hành hai cuốn tiểu thuyết Dì Mơ (1959) và Mùa Ảo Ảnh (1962).
 Sau khi nhật báo Tự Do bị chính phủ đương thời đóng cửa và một số trong nhóm người chủ trương bị bắt giam, ông còn tự xuất bản cuốn Những Người Đang Tới (1964). Ba cuốn chỉ là ba phần của tập truyện dài ghi lại nhiều khía cạnh sống của giai đoạn lịch sử Việt Nam 1945-1964 mà ông là nhân chứng.
Từ năm 1965 trở về sau ông hầu như dành trọn thời giờ đề phục vụ xứ sở trong lãnh vực thuần túy chuyên môn của mình là ngành canh nông, nên thỉnh thoảng mới có một vài bài tạp bút dưới bút hiệu Mai Xuyên, do lời yêu cầu của bạn bè chủ trương một số tập san văn nghệ.
Năm 1975 ông cùng gia đình di trú sang Hoa Kỳ. Được biết mặc dầu sống trong hoàn cảnh không mấy thoải mái, ông vẫn không muốn rời bỏ cây bút.
Bóng Tre Xanh là sáng tác đầu tay của ông khi còn là một sinh viên được giải thưởng văn chương Gia Long 1942-1943, Alexandre de Rhodes Thư xã xuất bản lần đầu, Hà Nội 1944. Nhà Xuất bản Nguyễn Đỗ tái bản năm 1957, tác giả có sửa chữa chút ít và thêm Lời Nói Đầu nói rõ dụng ý của mình, nhận xét về ảnh hưởng của nền đô hộ Pháp thuộc, hậu quả là giai tầng trí thức đã tách rời, lìa xa quảng đại quần chúng, nhất là quần chúng nông thôn Việt Nam
 
 
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0