Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Một Quãng Xuân Thì - Ấu Tím - Như Hoa

16 trả lời, 71 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.03.2021 10:35:47 bởi Ct.Ly>

Mục Lục
1.Tựa – Song Nhị 09
2.Nửa Nhánh Mimosa 15 3
Một Quãng Xuân Thì 29
4.Nỗi Lòng 43
5.Tạ Tình 57
6.Đoạn Cuối Tình Yêu 75
7.Tình CờĐất Khách 91
8.Hệ Lụy 95
9.Yêu Người Ngoại Đạo 105
10.Nó Và Tôi 113
11.Sang Hè 121
12.Bướm Vàng Đậu Ngọn Mù 129
13.Chẳng Thà Xe Cát Mà Vui 141
14.Kiêu Hãnh Yêu Người 149
15.Hải Ơi 159
16.Phải Mà Tỉ Dụ Ta Yêu Nhau 167
17.Nhớ Ngày Xưa 175
18.Mái Tóc 189
19.Mảnh Tình Vắt Vai 199
20.Xuân và Tình Yêu 207
21.Nước Cờ 217
22.Mẹ 225
23.Bốc Mộ 231
24.Diệu Tần Giới Thiệu 243
25.Bạt – Bích Huyền 247
26.Bạn a.Ngọc Dung 253
b.Trần Quang Thiệu 255
Một Quãng Xuân Thì ™259
 
* * *
Ngỏ
Nói và kể
Thích và viết
 Là tôi.
Tôi hay nói như khướu
Tôi hay viết như tập:
 - O tròn như quả trứng gà
- Ô thời đội mũ
- Ơ thời thêm râu
Mỗi ngày tôi tập viết
 Mỗi ngày tôi tập kể
Chuyện chung quanh,
 dưới đất trên trời
Lắng nghe tôi có gió
 Hiểu chuyện tôi có mây
 Êm đềm chiều thinh lặng
Vần vũ đêm bão giông
 Chuyện tôi như cuộc đời đã thế
Buồn – Vui – Sướng – Khổ
Trên tất cả là hơi thở vẫn còn
 Để còn kể cho nhau nghe
 Để còn viết cho nhau đọc
Mong bạn đang nghe tôi kể
Mong bạn đang đọc tôi viết
 Cười – Khóc cùng tôi.

Như-Hoa Ấu Tím
 
 
***
TỰA
 
1.Nguời xưa lấy ba tiêu chỉ Chân Thiện Mỹ làm cốt cách cho đời sống của con người. Học giả Nguyễn Hiến Lê cho rằng “cái gì  làm  cho  đời  người  phong  phú  lên  là  cái  ấy đẹp.”    Theo  ông,  “cái đẹp  bao  trùm  lên  cả  cái  Chân  và  cái  Thiện,  mà  mục đích của đời người là đi tìm tòi thực hiện rồi hưởng cái đẹp” (*).
  Tôi  muốn  nói  thêm,  có  những  cái  đẹp  nhìn  thấy được  như dung  nhan  người  thiếu  nữ  xuân  thì,  như  nét  hàm  tiếu  của  bông  hoa, như sắc màu, như cảnh vật thiên nhiên, sông hồ mây nước... đó  là  cái  đẹp  trực  giác.
 Lại  có  những  cái  đẹp  chỉ  nhận  ra  được bằng  cảm  thụ nội  hàm.  Đó  là  cái  đẹp  toát  ra  từ  những  nghĩa  cử nhân  từ,  những  hành  vi  bác  ái...  Cái  đẹp  này  thấm  cảm  lâu  bền hơn cái đẹp trực giác.  Văn  chương, tự  thân  đã  có  nghĩa  là  đẹp,  do  đó  cái  đẹp  của văn  chương  có  tính  vĩnh  cửu,  phục  vụ cứu  cánh  chân  thiện  mỹ của cuộc sống nhân sinh.  Chúng  ta  sẽ  nói  về  cái  đẹp  trong  “Một  Quãng  Xuân  Thì”  của Ấu Tím.
Bạn đọc sẽ thấy trong Một Quãng Xuân Thì, cái đẹp trải dài khắp  cả  thế  gian.  Ngoài  cái  đẹp  của  thiên  nhiên vạn vật, hoa lá cỏ cây, cái đẹp từ tấm lòng, từ nghĩa cử luôn luôn theo sát những mảnh đời, những nghịch cảnh trái ngang, những những giai đoạn thời thế, những kiếp sống lạc loài, những cảnh tình bất hạnh... để an ủi, để đẩy lùi, để hóa giải mọi hoạn nạn, tai ách, khổ đau.      
 Từ truyện đầu quyển sách, Nửa Nhánh Mimosa, cái đẹp muôn  thuở của  tình  yêu,  tình  yêu  đầu đời  như một  biển  trời  kỷ niệm, để  nhân vật Như cứ  mãi đắm chìm vào dĩ vãng mà  kể chuyện huyên thuyên về cuộc tình thơ mộng với chàng sinh viên sĩ  quan Võ Bị.  Nụ hôn “ác  nghiệt” đầu đời, cành Mimosa trao tặng, nỗi xao xuyến bâng khuâng... và cả một quá khứ trở thành ngọn sóng ký ức cuộn trào lên, khi Thủy bạn của Thụy Như từ Mỹ trở về thăm gợi lại.
 “Cho đến khi  anh  đến, nhẹ  nhàng như cơn  mộng,  gõ  cửa hồn tôi, mời tôi nhập vào giòng sông tình ngây dại và dẫn tôi đi trên con dốc này bao bận, dấu chân hai đứa đã  góp phần mài  mòn thêm con dốc. Dốc ơi, có biết ngậm ngùi cho đôi chân còn nhung nhớ đôi chân”. (Nửa Nhánh Mimosa).
Đến câu chuyện “Bốc Mộ” cuối sách, phần nào như một truyện ký, một tự sự, nói lên cái đẹp từ tấm lòng qua nghĩa cử  của những con người chân quê mộc mạc như chú Sáu, một thương phế binh, bác Hai và Cu Tửng – đứa trẻ chăn bò, hay bác thợ chụp ảnh ở phố Biên Hòa. Tấm lòng nhân hậu và việc làm của những con người này đã đẩy lùi cái tâm độc địa, thù hằn của đám chức quyền địa phương tham ô, hách dịch để đứa con gái làm tròn hiếu đạo với người cha khuất bóng.
Phần nhiều tình tiết trong tập truyện tác giả đưa ra những điển hình nữ, từ những cô nữ sinh duyên dáng, e ấp mà tinh nghịch đến những cô gái quê mùa - cái đẹp của mùa hoa cà-phê nở trắng bạt ngàn, của đồi chè bát ngát, của vườn dâu, nương tằm cùng với cái đẹp của tâm hồn bao dung, vòng tay rộng mở  và cái đẹp của một ý niệm sống chọn lựa, chấp nhận của chị
Ngàn trong “Một Quãng Xuân Thì”.
Trong nhiều truyện, những quan niệm thiển cận, những tập tục lỗi thời, từ gia đình ra ngoài xã hội đến phép tắc đạo giáo hầu như khi nào cũng đè lên thân phận làm con, làm vợ, làm dâu của người đàn bà Việt Nam:
“Nước mắt tôi tuôn ướt đầm mặt gối hồng thêu hình loan phượng, chỉ mình tôi gánh nỗi buồn hận này, tam tòng tứ đức, sự gì Thiên Chúa kết hợp loài người không được phân chia, miệng lưỡi thế gian, làm sao tôi dám phá bỏ, chỗ nào cho tôi nương thân khi trốn chạy. ....Loan trong Đoạn Tuyệt của Nhất Linh còn may mắn hơn tôi, không có đạo.”  (Nỗi Lòng).
Nỗi lòng và nỗi đau của người đàn bà Việt Nam đã triền miên từ thời đại này đến thời thế khác. Trước 75 bị câu thúc, gò ép trong khuôn phép, lễ giáo gia đình, xã hội; sau 75 người phụ nữ Việt Nam trở thành những mảnh đời rách nát tả tơi khi lớp đàn ông bị gom hết vào trại tù cải tạo. Đọc Nỗi Lòng còn để thấy cả một sự thật lịch sử oái oăm:
Tôi hiểu sau hai mươi mốt năm trốn chạy khỏi miền Bắc, trốn chạy khỏi chủ nghĩa cộng sản, đến giờ phút ấy tôi phải đối diện lại với nó. Ngẫm nghĩ hay chồng tôi chính là người chịu trách nhiệm cho sự đổi dời này, anh mải ăn chơi phè phỡn, mải đàn đúm, vây cánh, hưởng thụ cho sướng thân, không xả thân giữ phần đất nước đẹp đẽ đã được trao sau hiệp ước Genève.”  
Đó là lời than vãn của người vợ về một H.O. tiêu biểu của hạng người sa đọa tự bản chất, dù là ít ỏi.
Trong truyện Đoạn Cuối Tình Yêu, mọi ngõ ngách của cuộc sống, tình yêu, gia đình, xã hội... nổi bật lên trong một bức tranh xã hội buổi giao thời. Con người giành nhau để sống, chen chúc, chụp giựt, trấn lột, tù tội, trốn chạy, chia lìa...
Cũng trong xã hội giao thời đó, cuộc tình thơ mộng hồn nhiên giữa Hiếu và Cún đơm hoa kết trái từ biển, cũng lại kết thúc âm thầm nơi biển khi Hiếu vượt biên và Cún thả trôi giọt máu kết tụ từ ái ân đầu đời với Hiếu, rồi bị hải tặc dày vò. Cún sống sót trong nỗi kinh hoàng điên dại, cho đến khi nhờ vòng tay nhân hậu bảo bọc của một người khác chủng tộc, khác màu da, Cún đã sống lại với cảm giác “như đang nằm trong vòng tay mẹ”:
“ ...chỉ khi vòng tay Marion ôm lấy tôi ghì chặt, cơn hãi sợ
của tôi mới chấm dứt. Bờ ngực êm của người nữ y tá cho tôi cảm giác ấm áp, như đang nằm trong vòng tay mẹ”...
Marion tìm đến với tôi, đôi bàn tay giơ ra nâng đỡ, cầu nối cảm thông giữa hai con người không chung ngôn ngữ, chỉ bằng ánh mắt và tiếng thở dài. Tôi con bệnh cần bờ vai, lồng ngực hơn cần những viên thuốc an thần. Marion, người y tá có đôi mắt xanh màu biển đã thấy những rạn vỡ tan hoang nhỏ máu mỗi ngày, trong nhà thương trại tị nạn năm xưa. Marion đã vụn vỡ cùng tôi, cùng trăm ngàn nỗi đau đớn khác, những tiếng thét kinh hoàng, những co rút trong góc tối, cả một dãy nhà tiền chế dựng khuất trong góc dành cho những người con gái, bị hải tặc hãm hiếp trên biển, muốn trốn tránh ánh mắt người đi chung thuyền nhìn ngó”.  (Chẳng Thà Xe Cát Mà Vui).
 
2. Là một nhà văn nữ, người “có thẩm quyền” thay mặt cho nữ giới, cho vị trí và thân phận của người đàn bà Việt Nam, tác giả đã gióng lên tiếng nói như một giải bày, một phản kháng trước những quan niệm, những thói tục lỗi thời, cùng lúc vẽ lên một bức tranh xã hội trong đó người phụ nữ đòi hỏi được giải phóng trước 75; và người phụ nữ sợ hãi giải phóng, trốn chạy giải phóng sau năm 1975.
.
3 . Tác phẩm Văn chương nghệ thuật là sản phẩm của trí tuệ, là tài sản của nhân loại. Có nhiều con số thư viện không đếm hết trên khắp thế giới, là nơi lưu giữ các sản phẩm văn chương nghệ thuật. Đội ngũ nhà văn nữ trước 75 có Nguyễn thị Thụy Vũ, Nhã Ca, Trùng Dương, Lệ Hằng; Sau 75, tại hải ngoại, Ấu Tím sánh vai cùng các nhà văn nữ như Lê Thị Nhị, Miêng, Phan Thị Trọng Tuyến, Võ Thị Điềm Đạm..., và trong nước như Nguyễn Ngọc Tư, tác giả cuốn “Cánh Đồng Bất Tận”; Đỗ Hoàng Diệu, tác giả cuốn “Bóng Đè” góp vào gia tài văn học những truyện ngắn. Tôi tin rằng các tác giả này rồi sẽ có những tác phẩm “bất tử ” như Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng, hay The Last Leaf và The Gift of the Magi của O. Henry từng làm say mê giới trẻ Sài Gòn thập niên 60-70.
.
4 . Ấu Tím là một cây viết tài hoa với nhiều năng khiếu. Tôi “gặp người này” lần đầu nhiều năm trước trên diễn đàn Đặc Trưng. Một lần khác, gặp Ấu Tím trong một buổi văn nghệ bỏ túi, dịp có nhóm thân hữu từ Paris qua dự buổi kỷ niệm một năm Nguồn.
Tôi đọc văn Ấu Tím nhiều hơn sau lần gặp gỡ đó. Tôi đã mời Ấu Tím cộng tác với tạp chí Nguồn. Nhiều truyện ngắn và thơ của tác giả đã có mặt trên Nguồn từ số 15 (tháng 6-2005).
Về bút hiệu Ấu Tím, nhiều người (trong đó có tôi) có ý tò mò về bút hiệu này. Đọc nhà văn Diệu Tần trên E-boooks tôi mới biết bút danh này do chính tác giả thổ lộ như sau: “Tôi tròn đầy trong đối xử với mọi người, chín bỏ làm mười. Còn màu tím? Tôi rất ưa màu tím, tím hoa sim, hoa cà và tím của hoa ấu, củ ấu có hai mũi nhọn. Nhưng “khi yêu trái ấu cũng tròn, nên khi thương yêu, tha thứ cho nhau hai chiếc gai nhọn đó biến đi.”  
Khi biết “sự tích”, tôi bỗng cảm thấy cái bút danh này đẹp. Cái đẹp toát ra từ ý nghĩa và sự lựa chọn của ...Ấu Tím.
Bài viết này chỉ là cái Tựa cho tập truyện mà nội dung 22 truyện ngắn còn trăm ngàn ngõ ngách ý nghĩa ẩn tàng, tôi chỉ nhìn ra một góc cạnh mà trình bày ra đây, không chủ ý khen chê.
Việc phân tích mổ xẻ tìm tòi cái hay cái dở là công việc của các nhà phê bình văn học.
Tôi xin ân cần giới thiệu với bạn đọc tập truyện có nội dung phong phú với lối văn rất lôi cuốn trong Một Quãng Xuân Thì của Ấu Tím.
SONG NHỊ
San Jose, 8-2007
 Chú thích:
(*) Nguyễn Hiến Lê.
Hương Sắc trong Vườn Văn,
NXB Tổng Hợp Đồng Tháp 1993




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.03.2021 23:30:14 bởi Ct.Ly>
5. Tạ Tình

 
Anh!  Ngồi xuống đây bên em, em sẽ nói cho anh nghe bao nhiêu là chuyện đã và sẽ xảy ra.  Café đây anh, em chỉ cho một muỗng đường như anh dặn, bánh này em mua ở tiệm Brodard anh thích, gì nữa nhỉ, cỏ tương tư của anh, anh xem em mua bằng được Pall Mall đỏ.  Em chỉ cần anh ngồi im lặng nghe em nói.  Anh đốt thuốc lên đi, mùi khói nồng nàn gợi nhớ những kỷ niệm xưa.  Kỷ niệm xưa, một phần đời của em, phần đời đầy hoa mộng
Ngày ấy anh gọi em là “bé”, lúc đầu em không chịu nhưng sau đó em quen đi, và thích thú khi được anh kêu “Bé ơi!  Bé.” Anh nhớ tại sao mình yêu nhau không? 
Lúc ấy em ngây ngô xấu ỉn như cô thiên nga con, khi chưa thay lông mới, anh thì tới nhà vì anh Đạt.  Các anh có ba người nối khố cùng nhau, anh Đạt, anh Côn và anh, em chỉ để các anh sai vặt cà-phê thuốc lá.  Xong trung học, các anh cùng vào trường quân sự, dù các anh đủ mọi điều kiện để được ở nhà không cần đi lính, các anh mải mê thế sự quên mất em vụt lớn, tuổi mười sáu biến em từ cô vịt thành cô thiên nga nhí nhảnh, mắt long lanh mắt, môi mọng mị môi, thêm mái tóc xõa dài óng ả.   Các anh giật mình khi nghe em tâm sự:
– Bé muốn có bồ.
Anh Đạt gầm gừ: 
– Nứt mắt bày đặt, học không lo bồ với bịch, lần sau anh về mà xuống hạng anh đét đít.
Em có làm gì sai đâu, bạn em đứa nào cũng có bồ, tụi nó kể em nghe rôm rả, nào là anh ấy học Chu Văn An, nào là anh ấy trưởng khối thể thao Võ Trường Toản, đến con nhỏ xấu òm hơn bé là nhỏ Lan mà còn kể có bồ học trường bách khoa Thủ Đức thì tại sao em lại không được có bồ.  Anh ơi!  Lúc ấy làm sao em đủ khôn ngoan để xét đoán tụi bạn em chỉ ba xạo, cho ra vẻ ta đây đã lớn.
Vậy mà anh đã đến bất ngờ không cho em biết.  Hôm ấy cả lũ đang bu quanh hàng bò bía, trước cổng trường.  Anh dừng xe, em nhận ra ngay bộ quân phục nhưng vờ vĩnh như không thấy, đến khi anh hiên ngang đến tìm, mặt em cứng lại, bừng lên, tay chân thừa thãi, ngay đến chiếc cặp để dưới chân cũng lăn kềnh ra đất, miếng bò bía vừa cắn không sao nuốt xuôi xuống cổ.  Anh ơi!  Tình huống anh gây ra ngày ấy đến chết em không thể nào quên, lũ bạn của em cũng không hơn gì, mắt tụi nó tròn xoe, miệng đứa nào cũng đầy bò bía, nhưng tụi nó tỉnh nhanh hơn, nhất là con Lan, nó nuốt ực một cái, và lí lắc hỏi:
– Chú tìm ai chú?
Anh trả lời:
– Chú đón em chú.
Nhỏ Quỳnh không vừa:
– Mà em của chú em là ai?
Lúc đó biết phải làm gì, em vội cứu nguy:
– Là tao.
Bao nhiêu ánh mắt của đám bán trời không mời thiên lôi cùng quay nhìn em, miệng tụi nó há ra, đồng thanh:
 – Hả?
Lấy lại bình tĩnh, mặt em vênh lên, dù vẫn đỏ như ông mặt trời buổi sáng.
– Chứ sao.
Vừa cúi xuống lấy cặp, vừa nói vội với bà bán hàng:
– Mai con trả tiền nghe dì.
Rồi quầy qủa cùng đi với anh.  Tiếng máy xe ròn rã, em điệu bộ vén vạt áo dài, để cặp lên yên sau tạo ranh giới giữa hai đứa, rồi mới ngồi lên vịn yên xe, để cùng anh chầm chậm nhập vào giòng phố.   Em biết sau lưng, những ánh mắt dò hỏi, những câu chuyện bàn thảo đang nổ như bắp rang về chúng mình.
Sáng hôm sau, các bạn vây quanh em như thể em mọc tai lừa, hay mũi em dài ra trăm thước, tụi nó hỏi hỏi và hỏi, em tha hồ líu lo như khướu về anh.  Thế là bồ của em chiếm hạng nhất vì là lính.
Từ hôm ấy, em được anh đến trường đón mỗi khi anh về phép, cũng không biết từ bao giờ chiếc cặp không làm ranh giới chia đôi bờ lưng vững chãi cùng bờ vai gầy guộc nhỏ, mà ngoan ngoãn nằm trên chiếc giỏ xe phía trước, tay em không nắm yên xe mà nhẹ nhàng vịn nhẹ lưng anh, cũng không biết tự bao giờ, anh có phép của Mẹ chở em đi chơi phố sau bữa ăn chiều.  Nếu có anh Đạt ở nhà thế nào anh Đạt cũng bảo:
– Mày chiều nó, mai mốt đừng mách tao nó gấu.
 Anh đâu biết em có biệt danh là gấu, vì có lần tức mình em cắn anh Đạt suýt tí rách da.  Mà ai bảo khi có bồ là học dốt nhỉ, lần nào về anh cũng lo việc học hành của em, những bài lý hóa, những đạo hàm hóc búa làm em điên đầu ngày trước, tự dưng có anh tụi nó trở nên nhu mì, để em tha hồ đùa giỡn cos sin tang. Thầy lý hóa, cô dạy toán ngạc nhiên, không hiểu tại sao em đột nhiên học giỏi, nếu thầy cô biết lý do, chắc hẳn thầy cô sẽ khuyến khích lũ học trò có bồ như em hết.
Phần thưởng anh cho em, ngoài những viên ô mai Tân-Định còn có cafe Hầm Gío, nhạc quán Văn, em gia nhập vào thế giới của anh cùng những giòng nhạc tình tiền chiến, có những khắc khoải lo âu và hào hùng trai trẻ, những điều ấy khiến em nể phục anh nhất trên đời, dĩ nhiên anh phải đứng sau bố của em.
Tâm hồn của em ngày càng tràn lấp bởi anh, từ những quyển sách anh bảo phải đọc, như “Cậu Hoàng Bé” của nhà văn Pháp Saint Exupéry, “Tâm Tình Hiến Dâng” thơ của Tagore, “Câu Chuyện Dòng Sông” của Hermann Hesse, đến Nam Hoa Kinh của Trang Tử.  Trước đó bé chỉ biết Tự Lực Văn đoàn, tuổi hoa tím, hơn một chút là những chuyện tình lãng mạn nhẹ nhàng, “Kiều Giang”, “Đỉnh Gió Hú”, “Trà Hoa Nữ” là hết.  Anh dạy em nhiều, nhiều lắm, anh dạy em nhiều hơn sách vở, anh cho em bao nhiêu là kiến thức, sách của anh ngày càng sang nhà em ở đông hơn, cũng như anh ở nhà em nhiều hơn ở nhà mình, không phải vì anh Đạt nữa, mà là vì em.
Bạn em bấy giờ chấp nhận cõi riêng của em, không còn níu kéo chờ mong em cùng nhập bọn phá phách, mà để mặc em ngơ ngẩn nhớ anh, yên lặng một mình viết thơ cho anh, mỗi khi anh không về được.
Rồi đến ngày anh mãn khóa, nhận đơn vị, anh thật sự đối diện với chiến tranh, hành quân miệt mài, không còn những lần về phép, để em tung tăng phố phường có anh bên cạnh, em theo dõi tin chiến sự nơi nào có đơn vị anh đến, khi nào đơn vị anh dời đi. 
Em nhớ anh quay quắt nhớ, không có anh em lại càng chăm học.  Với em, đó là chút quà dành cho anh những ngày anh về phép.  Anh Đạt theo binh chủng Nhảy Dù, anh Côn và anh vào binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, ngày ngày em thêm vào thời khóa biểu của mình việc đợi thơ anh.  
Lá thứ nhất em đánh dấu một sao, lá thứ hai hai sao, mỗi lần nhận thơ là một lần em khóc, nhớ anh. 
Em tìm mọi cách để lấp khoảng trống ấy, cuối tuần sau khi đi lễ sáng, em gia nhập Nghĩa Sinh Việt Nam công tác xã hội khắp nơi, từ viện dưỡng lão, viện mồ côi, đến trung tâm Chánh Hưng là nơi cải huấn trẻ em hư hỏng, bụi đời và những cô gái lỡ lầm bán thân nuôi miêng. 
Những nơi này đã cho em tầm nhìn rộng hơn về cuộc đời trước mặt, bao nhiêu mảnh đời đau khổ, bao nhiêu nạn nhân chiến tranh.  Ai là người không thèm một cuộc đời tốt đẹp, có cô gái nào không thèm một mái ấm gia đình, có chú bé nào không thèm một ấp ủ yêu thương. 
Tại sao phải có nhà cải huấn?
Thơ viết cho anh ngoài tâm sự riêng tư, còn là bản tường trình, cho anh biết những gì em học được bên ngoài trường lớp, trong khi cạnh em bạn bè vẫn bon chen, đòi hỏi, đỏm đáng, đùa giỡn an vui, em lặng lẽ trưởng thành vì có người yêu lính chiến.
Đôi khi cũng có vài anh chàng thư sinh đẹp trai theo đuổi, em tự hỏi họ có biết ơn những người lính như anh.  Còn bao nhiêu thắc mắc, tại sao có chia ly, tại sao có chiến tranh, tại sao có chết chóc, tại sao thiên hạ loài người không chỉ yêu thương nhau?   Tại sao… tại sao?   Những câu hỏi ấy luôn có trong đầu để khi anh về em kể cho anh nghe quên cả thở. 
Anh chỉ ngồi im lặng thả những vòng khói thuốc, tan nhẹ như mây, khiến em cáu kỉnh:
– Sao anh không nói gì hết.
Anh bảo:
– Anh đang thâu những lời bé nói, khi nào buồn anh lấy ra nghe.   Đừng hoài nghi nhiều quá không tốt bé ạ, hãy tin cuộc đời này, người tốt nhiều hơn kẻ xấu.
Anh biết từ lúc nào em yêu anh không?  Từ khi em luôn cầu xin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho em được làm vợ anh.  Tâm sự với mẹ, mẹ bảo:
– Lấy chồng lính khổ lắm con ạ, nay đây mai đó sống chết không biết đâu mà lần.
Em đã cãi:
 – Sao bố cũng là lính.
Anh ơi trong đầu em lúc nào cũng ước ao rằng, mình có một cái đám cưới thật đẹp, mình sẽ có hai đứa con trai, hai đứa con gái, không như mẹ chỉ có mỗi anh Đạt và em.  Gia đình mình êm ấm, anh là chồng em là vợ, bà trung úy vừa là cô giáo, dạy con mình dạy cả con người ta, mà anh đã nói gì với em đâu, anh chỉ đóng vai “anh bồ” để hù cho lũ bạn em sợ thôi mà.
Nhớ lần anh Côn bị thương nằm ở quân y viện đường Nguyễn Tri Phương hai đứa đến thăm, anh Côn chọc:
 – Sao!   Còn muốn có bồ nữa không cô?
 Em đỏ mặt, anh Côn điềm đạm:
– Bé lớn thật đó nghe, mai mốt lấy chồng phải mời tụi anh ngồi bàn danh dự.
Em định nói sẽ mời anh Côn làm rể phụ cho anh, nhưng mắc cỡ lại thôi, phải để anh tỏ tình với em, chẳng lẽ em nói em muốn lấy anh làm chồng.
Sau đó em nhớ mình đi uống sinh tố Ngã Sáu, hai đứa vừa kêu nước uống xong, cả lũ bạn em từ đâu xuất hiện, thì ra em quên mất ngày trực tuần, tụi nó ồn ào chọc phá mà anh tỉnh bơ vui vẻ đãi tụi nó. 
Bạn của em, đứa nào cũng thích anh vì anh người lớn, không như những anh chàng vớ vẩn thành phố, càng ra vẻ người lớn càng lộ ra mùi sữa của mình.  Chiều ấy vì nhận hối lộ qúa nhiều mà bạn em ký phép cho em đi chơi với anh khỏi bị trực trong trường.  Hai đứa xem phim Doctor Jhivago, bé khóc mùi mẫn vì hai nhân vật chính yêu nhau mà không được bên nhau, anh đùa:
– Phim có đạo diễn bé ạ.
Tối ấy trên sân thượng nhà, nhìn sao đầy trời em hỏi:
– Sao nào của anh?
Anh chỉ:
– Ngôi sao sáng nhất.
– Còn sao bé đâu?
Anh nói:
– Anh cất trong túi anh rồi.
Nhìn anh chỉ vào túi áo bên tay trái, nơi có trái tim, em thấy hồn mình xao đi một nhịp, anh nói tiếp:
– Anh mong ngày nào không còn chiến tranh, anh có nhiều thời giờ hơn với bé, bạn bè anh cũng thế, tất cả đều mong một ngày hòa bình để có vợ có con, tạo một mái ấm cho chính mình.  Bé xem bây giờ đến yêu mà anh không dám nghĩ đến nữa là.
Em hỏi:
– Tại sao?
Anh bảo:
– Lỡ chẳng may nằm xuống…
Em vội lấy tay bịt miệng anh la hoảng:
– Anh không được nói bậy, bé thương anh, anh không được nói bậy.
Anh kéo em vào lòng, vòng ôm của anh bảo bọc chở che, em ngước mặt nhìn anh, nụ hôn đầu anh cho em làm những vì sao hoảng hồn, và cô trăng lưỡi liềm cũng chui vào mây để trốn.
Anh ơi!  Đốt thuốc thêm đi, mùi khói thuốc nồng nàn gợi cho em bao nhiêu kỷ niệm anh đã cho em thời mộng mơ thiếu nữ, anh cho em hành trang vào đời, anh cho em hiểu YÊU là gì, không phải chết trong lòng một ít, không phải chỉ là lòng bâng khuâng, mà là nhiều nhiều lắm.
Anh ơi!  Bao nhiêu đổi thay, bao nhiêu đớn đau oan trái, vì yêu anh mà em vượt qua tất cả, chỉ một nụ hôn của anh làm tín vật mà em của anh, bé của anh sống qua bao nhiêu bôn ba bão táp.  Anh Đạt em trong trận đánh chiếm cổ thành Quảng Trị bị thương liệt nửa người, chị Ngọc người yêu của anh, vẫn tới lui săn sóc như vợ hiền, dù em biết gia đình chị nhiều lần muốn gả chị cho những người giàu có theo đuổi chị.  Mẹ em có lần khóc mà nói với chị:
– Đạt đã có bác lo rồi, con phải lo cho đời con nữa chứ, lẽ nào cứ thế.
Chị chẳng nói gì.  Sau khi gia đình chị đi Pháp, chị đến ở hẳn nhà em.   Anh Đạt em nhiều lần hờ hững đuổi xua, chị chỉ khóc.  Một lần em nghe chị nói với anh ấy:
– Em chỉ biết mỗi anh, em chỉ yêu mình anh, dù anh mạnh khoẻ lành lặn, hay anh cùi cụt đui mù, em chỉ yêu mình anh,đừng nghi ngờ tình em, nếu mình không thể có con với nhau, còn bao nhiêu em bé mồ côi, em chấp nhận anh, hãy chấp nhận em.
Em hiểu anh Đạt em yêu chị biết bao, muốn chị hạnh phúc, không muốn chị khổ thân bên anh chồng bại liệt, chỉ còn mỗi cái đầu, nhưng bây giờ anh em khá hơn rồi, với mối chân tình của chị, em thấy anh tìm lại nụ cười, nhiều khi chị ôm anh ấy vào lòng làm em hối hận, tại sao ngày ấy em không ghì anh một lần thật chặt.   Bố em mất trong tù.   Em bỏ học, giấc mộng thành cô giáo, có anh làm chồng, có bốn đứa con với anh thành chuyện cổ tích, anh đã hỏi cưới em đâu, ngoài một nụ hôn sẽ theo em suốt kiếp.   Em vào đời với những mảnh kính vỡ màu hồng em từng đeo trên mắt, những mảnh vỡ nhỏ nhoi ấy lâu lâu lại làm đau thốn tim em.
Anh ơi!  Em xin anh lần này là lần cuối, em đến gặp anh, ngồi bên anh như con sóc nhỏ gậm nhấm nỗi buồn riêng cùng anh.   Anh ơi em sẽ lấy chồng, lấy người em định mời làm rể phụ cho đám cưới tụi mình, đã mười tám năm rồi anh ạ, ngày anh cùng em đi thăm anh Côn. 
Anh ơi!  Thời gian không làm em thay đổi, mọi việc em làm, em đều tính toán so đo với anh, anh đồng ý phải không?
  Em và anh Côn đã làm giấy hôn thú ở phường ở quận, giấy tờ đi tị nạn ở Mỹ đã hoàn tất hết rồi, chỉ còn hai tuần nữa thôi em sẽ xa Việt-Nam đi hút về phương Tây mịt mù lăng lắc, chúc phúc cho em anh yêu nhé, có ai như em yêu say đắm một người rồi làm vợ người khác.
Em tin anh Côn hiểu em mà không chấp, vả lại anh ấy vẫn là bạn tốt của anh mà phải không anh?
 À!  Anh xem bao nhiêu thơ anh viết cho em, những mười hai tờ thơ, mười hai ngôi sao em đánh dấu, trả lại anh đây, cả tập nhật ký này nữa, anh giữ hết cho em anh nhé.  Em không muốn anh Côn buồn, vả lại đây là chuyện chỉ riêng hai đứa mình, em không muốn ai xen vào.  Cũng như nụ hôn nhiệm màu của anh cũng chỉ mình em biết, nhớ lại một lần thầy em vào lớp trễ, nhỏ Quỳnh bạn em lên bảng giảng giải về nụ hôn, em nghe mà cười thầm vì em biết nó đang tưởng tượng, anh nhớ nhỏ Lan không?   Nó gìn giữ cho em những lá thơ này đó, không có nhỏ Lan có lẽ anh chẳng được nhìn thấy những kỷ niệm cũ kỹ này, như những quyển sách hai đứa mình trân trọng gìn giữ, người ta lấy xe ba gác đến chở đi mất biệt, chả bao giờ em còn thấy lại.
Uống hết café đi anh, nguội thật rồi, còn điếu thuốc cuối cùng anh đốt lên nốt đi anh, em phải về đây kẻo mẹ mong, giờ này chuyến xe cuối cùng sắp đến, em phải về thôi. 
Hôn em đi anh!  Lần cuối cùng này.

* * *––——
Dáng nhỏ nhoi của cô bé khuất rồi, ngoài tầm mắt của tôi. Tôi biết cô đã lâu lắm.  Ngày đó tôi còn trẻ chưa hiểu chuyện gì, tại sao quanh tôi im ắng lạnh lùng, nếu có nhiều người đến, thế nào cũng chỉ là những than khóc não lòng, cho đến một ngày, tôi biết nơi tôi ở là Nghiã Trang Quân Đội, chốn an nghỉ cuối cùng, của những người trai đã đền xong nợ nước. 
Tôi hãnh diện được ở đây, tôi âm thầm chia xẻ những buồn đau mất mát của mọi người.  Tôi thấy nhiều lắm, những linh hồn vương vấn trần gian không siêu thoát, những linh hồn than thở dưới đêm trăng, những linh hồn nhập vào pho tượng lính, lang thang đi vào nhà dân xin nước uống hay đón xe quá giang về Sài-Gòn.
Năm 1972 mùa hè đỏ lửa, tang tóc, đớn đau, nhà vĩnh biệt không còn chỗ trống, những người lính ban chung sự gầm mặt làm nhiệm vụ, tôi khóc cùng họ, bao nhiêu người lính trẻ nằm xuống, bao nhiêu máu xương đã đổ thấm ướt mảnh đất nhỏ bé Việt-Nam, khăn trắng như mây, nước mắt như mưa, đổ thêm cho tràn nỗi thống khổ loài người.
Tôi khóc cùng người vợ trẻ đang đợi ngày làm mẹ, tôi khóc cùng bà mẹ già tóc trắng phau ngất lịm trước ảnh con mờ khói và tôi đã khóc với cô bé học trò áo trắng.
Cô và bạn cô (tôi nghĩ thế) đã đến nơi này cùng một người lính Thủy Quân Lục Chiến, cả hai như lạc loài trong thế giới người lớn, không biết làm gì cho phải với cảnh tượng tôi tin lần đầu tiên các cô chứng kiến.  Khuôn mặt cô tái xanh tìm kiếm, rồi gần như bay cô đến bên khung ảnh  trung úy Hoàng Quốc Hiệp, cô phục xuống, vai rung nức nở tôi nghe giọng cô nghẹn ngào kêu: “Anh ơi” rồi hết, không kể lể chỉ lịm đi.
Sau làn khói nhang nghi ngút, khuôn mặt người quá cố với nụ cười buồn như linh động, như sống lại, ánh mắt cũng chừng rưng rưng.   Bạn cô dìu cô đứng dạy, cô lết đến bên chiếc hòm gỗ được lá Quốc Kỳ phủ kín, rồi ôm choàng, ve vuốt vỗ về, cô áp má, cô áp môi lên nó, chừng như muốn mở nắp áo quan, chừng như muốn nhìn anh lần nữa, cô muốn tin thân xác anh được liệm sau lần gỗ vô tri, cô muốn gào, muốn hét, nhưng chỉ những giòng lệ tuôn dài câm nín, vài sợi tóc bết thêm vào làm khuôn mặt hằn niềm thống khổ. 
Không gian quanh tôi lúc ấy ngừng hẳn lại, tôi chỉ chú ý đến cô, nghe tiếng vỡ trong lồng ngực bé bỏng và điếng ngất cùng cô.  Bạn cô cố xốc cô lên, hai tay cô ghì chặt áo quan, bạn cô thảng thốt: “Thương ơi tỉnh lại đi, anh Hiệp ơi!  Để Thương về, anh Hiệp ơi!”.
Tự dưng cô như tỉnh hẳn, không vướng víu, cùng bạn đi ra khỏi nhà vĩnh biệt, không cần ai dìu bước, cô đi vững vàng, thanh thản, không ai thấy trung úy Hiệp dìu cô, chỉ mình tôi thấy được.
Từ đó cô đến thăm mộ rất thường, vài lần với người lính đã đưa cô đến lần đầu, nay tôi biết anh tên Côn.  Mỗi khi đến cô thường ngồi trò chuyên rất lâu, khi về trung úy Hiệp luôn theo cô đến cổng mới quay vào, ông không siêu thoát có lẽ vì tình cô dành cho ông quá nặng.
Sau tháng 4-1975, bẵng đi một thời gian dài không thấy cô, tôi cứ nghĩ cô như một số người đã thoát đi, nhưng rồi bất ngờ cô trở lại, mái tóc không xõa dài mà búi cao trên ót, không còn tà áo thướt tha, mà là chiếc áo bà ba màu tối, da cô xạm đen, nét dáng kiêu sa thay bằng dáng tất bật gánh gồng.
Thời gian ấy nghĩa trang bị đào bới lung tung, một số mộ bia bị gỡ mang đi, tôi nghe nói họ dùng đá này để lót nền nhà. Cô vẫn tìm đến ngồi nói chuyện với người đã khuất, nhiều lần cô bật khóc, người lính trẻ không nói được nhưng anh vỗ về cô trìu mến. Tôi thương họ biết bao, ước gì tôi có thể cho anh sức sống của tôi.
Pho tượng Tiếc Thương ngoài cổng cũng bị kéo đi, những oan hồn tử sĩ thường mượn bức tượng này, làm xác nhập vào đi lang thang đây đó những đêm trăng, nay chẳng còn nơi dựa đỡ, tiếng rền rĩ nhiều hơn, những ngôi mộ bị bỏ phế nhiều hơn, những oan hồn không siêu thoát nhiều hơn, và tôi cũng tàn tạ theo nỗi buồn của họ.
Hôm nay cô lại đến, cô mặc áo tơ vàng óng ả, tóc cô xõa dài, cô ngồi rất lâu, châm từng điếu thuốc, đổ từng giọt café, và đốt bao nhiêu là giấy, cô không khóc, khuôn mặt cô an nhiên, người lính ngồi nghe cô nói, tôi thấy anh không bồn chồn khổ sở như bao lần trước, anh nhẹ nhàng thanh thản. 
Khi cô về rồi anh tan thành làn khói mỏng bay thẳng lên cao, tôi biết, sẽ không bao giờ tôi còn thấy anh nữa.  Anh thật sự đi sang thế giới khác.
Tôi, cây liễu được trồng trong nghĩa trang Quân Đội đã chứng kiến mối tình này.
* * *
––——
Thế là xong, Thương xa tôi rồi.  Dáng áo tím nhỏ nhoi khuất hẳn vào lòng chiếc máy bay ồn ào phun khói.  Tôi đứng trên “sân từ biệt” sân bay Tân Sơn Nhất hơn hai tiếng đồng hồ, dưới ánh nắng mặt trời nóng gắt, để chỉ nhìn thấy tà áo Thương phất bay như vẫy chào từ biệt.  Người ta như nêm đông nghẹt trong khoảng sân thượng nhỏ xíu, phải chen lấn cật lực tôi mới được đứng sát cạnh lan can, may ra Thương nhận thấy tôi còn lẩn quẩn bên Thương đến phút cuối cùng, trước giờ xa cách, đứa vẫn đàng Đông, đứa hút đàng Tây.
Tôi với Thương cùng chia với nhau bao kỷ niệm, những ngày vui như chim, những năm buồn như đá.  Ngày còn đi học, trong trường ít ai biết hai đứa là bạn nhau, giờ chơi Thương đứng nhìn tôi nghịch, chỉ khi về nhà Thương mới đến tìm tôi.
Thương dịu dàng nhỏ nhẹ, tôi trái lại ồn ào phá phách, vậy mà không hiểu điều gì ràng buộc Thương gởi gấm tôi tất cả nỗi niềm, từ tình yêu đối với anh Hiệp, đến chuyện quyết định làm vợ anh Côn.  Tôi đã cho Thương ngoại lệ là không rêu rao, chọc phá chuyện tình của nó, điều này với tôi ngày còn đi học là một ưu đãi, tôi không thể tưởng tượng ra được tại sao con gái phải cần có bồ, có người yêu.
Ngày anh Hiệp tử trận, là ngày nhỏ bạn tôi thành người lớn thật sự, thay vì u buồn ủ rũ nó lại cứng chắc như đồng, tôi thấy mình con nít hẳn đi dưới mắt nó, tôi chưa hề có mảnh tình nào vắt vai, thì Thương đã đau đớn vì người yêu bỗng nhiên hoá thành thiên cổ.
Mối tình đang thắm thiết bỗng hóa thiên thu. Hình ảnh nó rũ ra trước tin anh Hiệp mất, khuôn mặt nó đanh lại khi ra khỏi nhà quàn, khiến tôi và anh Côn cùng ái ngại.  Đang ở trường, anh Côn tới, hai đứa thót lên xe jeep khi anh bảo anh Hiệp đang ở trong nhà thương, rồi chỗ đến là nghĩa trang quân đội, rồi nhà vĩnh biệt, tôi không tưởng tượng nổi tôi sẽ thế nào trong tình huống như thế.
Biến cố 30 tháng Tư 1975, cô học trò của trường lớp ngày xưa trở thành con nai ngơ ngác trường đời, Thương buôn bán, xốc vác cùng mẹ chăm sóc anh Đạt bị liệt nửa người vì đạn hủy hoại dây thần kinh cột sống.  Biết anh ngày xưa đẹp trai, hoạt bát yêu đời, đến khi nhìn anh bó tay lệ thuộc vào mẹ và em mới thấy sự tàn nhẫn, phi lý của chiến tranh.
Thương còn phụ mẹ bới xách thăm nuôi ba của Thương bị tù không án trong trại học tập cải tạo, cho đến ngày nghe tin bác mất, bỏ thây ngoài Bắc.  Thương, bạn tôi càng lúc càng cứng cỏi hơn, nhưng cũng có những hôm Thương ngồi cạnh tôi nước mắt lăn dài, hỏi mãi mới kể lể, chỉ trong tơ tóc là tiêu đời con gái vì thằng đàn ông đáng tuổi cha chú, bao lâu gia đình Thương tin tưởng.   Tôi nghe và xót xa, chỉ biết siết tay bạn thật chặt chia xẻ, bạn tôi đẹp qúa dưới mắt tôi.
Xã hội Việt Nam sau tháng Tư 1975 trở thành bát nháo, con người như sống trong cái hộp nhỏ nhoi, phải tự thay đổi chính mình để thích hợp với chế độ mới, tôi và Thương bị sống trong xã hội “cắc kè” này, xanh xanh đỏ đỏ, mạnh ai nấy tìm cách sống còn dưới quyền cai trị điều khiển của một thể chế kỳ lạ.  Nếu dùng chữ ngu dốt thì cũng tội, mà không dùng những từ này tôi chẳng biết dùng chữ gì để diễn tả.  Có một cô bạn cùng lớp, đi dạy học, một hôm sấn sổ đến nhà, kéo tôi lên gác, đóng cửa lại và bảo:
– Mày để tao chửi thề cho đỡ tức.
Và đôi môi xinh xinh của nó chửi thật, nó dùng chữ “Đ-M” hẳn hoi, không phải những câu thông thường hoa mỹ mà người có văn hoá thường nói xa gần, như thế đủ biết cô nàng điên đến mức độ nào. 
Thì ra anh chàng hiệu trưởng chưa học xong tiểu học, ép uổng, ra lệnh, xuống chỉ thị cho cô giáo đã trải qua bao đoạn trường khổ ải sử kinh để lấy được mảnh bằng đi dạy học, phải dạy học sinh theo đường lối, giáo án của chàng.  Như thế văn hóa xã hội có suy tàn cũng không là điều ngạc nhiên.
Khi mọi người phải sắp hàng đi mua từng kilogram gạo, từng phân vải tám, tính theo tỉ lệ đầu người, con người bỗng lệ thuộc vào miếng ăn, manh áo đến nỗi quên mất ngoài những nhu cầu thường nhật nuôi sống xác thân, người ta còn cần một nhu cầu khác nữa là tinh thần, không có đời sống tinh thần, loài người khác chi loài thú, nên nhà nhà tìm đường vượt biên, người người tìm đường vượt biển bằng mọi giá, ngay đến cái giá trinh tiết ngàn vàng cũng rẻ mạt khi ấy. Ai cũng muốn thoát, không hiểu rõ muốn thoát cái gì, thoát nghèo đói, hay thoát dốt nát, thoát cộng sản hay thoát định mệnh, có lẽ vì quá ngột ngạt, con người Việt Nam trong thời điểm ấy muốn ngoi lên, hớp không khí như đàn cá mắc cạn và người ta đi. 
Lường gạt nhau để đi, giành giật nhau để đi, những gia đình ngày xưa có tiền, có vàng giao con gái cưng cho những tên đàn ông không quen biết dẫn đi, hỏi đi đâu?  Đi vượt biên, thoát thì ít, bị dở dang nhục nhã thì nhiều.
Tôi cũng vài lần đi, tiền bạc mất, lơ ngơ lớ ngớ như lạc vào bát quái trận đồ, tự dưng bỏ nhà bỏ cửa, bỏ cha mẹ bạn bè theo một người lạ hoắc lạ huơ, nó bảo mua vé xe đò xuống Sóc Trăng, thì đi Sóc Trăng, bảo đi Rạch Giá, thì đi Rạch Giá, không biết nó đưa đi đâu đến đâu, rồi như dân ăn lường ăn giật, mặt lúc nào cũng cúi gầm, sợ sệt, lén lén lút lút, lẻn vào nhà này, chui vào nhà nọ trốn chui nhủi để đợi đến ngày lên tàu đi biệt xứ. Cũng may tôi chưa từng bị bắt vô tù, vì nhanh tay, đút cho mấy tên yêu tinh du kích xã vùng Rạch Gía vài trăm, để chúng làm lơ cho tôi lủi trốn. 
Có lần nằm trong đám cỏ cao gần “bãi” (nơi cho người xuống tàu tam bản hay còn gọi là taxi để ra tàu lớn) tôi chứng kiến cảnh cô gái dễ thương thành phố Sài-Gòn đi vượt biên, bị lũ trâu ngựa đưa đường, thay nhau hãm hiếp mà không sao làm gì được, nó mà biết có tôi, chắc gì nó tha, không ai binh vực chúng tôi vì đàn ông đã bị chia thành từng nhóm nhỏ đưa đến địa điểm khác.
Đời nào buồn hơn đời Thương, đời tôi và các bạn tôi vào thời điểm ấy, chúng tôi, những chứng nhân đau thương sau tháng tư năm 1975, bao thiếu nữ mơn mởn đào tơ, mộng đẹp tương lai đầy trước mắt, bỗng mất phương hướng sống trong đám sương mù dầy đặc.  Đứa bị lấy chồng cho xong đời con gái, đứa có con mà không biết của thằng nào trong đám dày vò xác thân mình sau lần vượt biên thất bại.  Đứa về kinh tế mới, đào đất bị đạn đứt hẳn một chân, chống nạng đi bán vé số.  Đứa lang thang không nơi nương tựa vì mái ấm đã bị “nhà nước chủ nghĩa” tịch thu.  Đứa đi vượt biên mất tích.  Đứa cùng đường bán thân nuôi gia đình.  Có đứa bị bắt khi đang đi ăn cướp!  Trời ơi là Trời!  Trăm lần tôi kêu thảm thiết, hình như Trời cũng trốn đâu mất, không đáp lại tiếng tôi.
May mắn sao Thương của tôi lướt qua nhẹ nhàng, tôi vẫn tin vong hồn anh Hiệp luôn bên cạnh phù hộ cho Thương.  Ngày anh Côn được thả về, Thương mừng như chính người thân quen trở lại, khuôn mặt khắc khổ sau bao năm tháng đọa đầy, làm anh khác hẳn, không còn nụ cười rạng rỡ, chỉ những cau mày lo lắng, anh bị theo dõi bởi công an khu vực, nên khó lòng mà bỏ nhà vượt biên, anh bỗng trở thành ông đạp xích lô, và cô khách thường nhật là Thương.  Có anh Côn, Thương đỡ khổ nhiều về tinh thần, anh Đạt của Thương cũng vui hẳn lên, khi chiều đến anh Côn bồng anh Đạt lên xe chở vòng vòng hóng mát.  Hình ảnh này không hiểu sao cứ làm tôi rưng rưng khi nghĩ đến.
Ngày Thương hỏi tôi nghĩ gì khi anh Côn xin bảo bọc đời Thương?  
Tôi nhìn vào mắt nó và hiểu sâu trong đáy tim nó vẫn còn hình dáng người xưa.  Con nhỏ khó nghĩ cũng đúng nhưng tôi khuyên nó rằng:  “Khi một người chết đi, thì người kia vẫn còn phải sống cuộc đời của họ,” dĩ nhiên nếu được như chim Loan Phượng thì tuyệt đẹp, con trống chết con mái bay đập đầu vào núi chết theo, nhưng mình là người không phải là chim, còn Mẹ, còn anh, còn bạn bè còn xã hội. 
Tình yêu nếu có, sự thương yêu nếu còn dành cho người đã khuất, phải thể hiện bằng đời sống của mình.  Chuyện ở vậy suốt đời để tang cho người tình đã chết vì chiến tranh, theo thơ văn thì có vẻ đẹp, lãng mạn, tình tứ, nhưng với đời thường thì không hợp lý chút nào, nhất là trường hợp của Thương, đã là vợ chồng chi đâu ngoài nụ hôn đối với Thương là lời đính ước.  Vả lại để tang cho người yêu, hơn mười năm với tôi đã là quá đủ. 
Tôi thành nhà hùng biện, dùng hết mọi lý lẽ tôi biết để thuyết phục bạn tôi, nghĩ cũng ấm ức, nó thì anh Hiệp, anh Côn, tôi thì chả có ai để mà khó nghĩ, nhiều lúc Mẹ tôi cũng buồn vì chưa ai đem rượu đến nhà xin tôi đi để bà đỡ ngại ngùng, khi bạn bè có hỏi bao giờ gả con gái. 
Tôi chợt nhớ những lá thơ anh Hiệp gởi Thương, tôi còn giữ, cả quyển nhật ký Thương ép đầy hoa khô xương lá, suýt tí Thương đốt hồi anh Hiệp tử trận.  Tôi không cho Thương đốt đi, tôi bọc lại cất kỹ, để dành cho nó.  Rủ Thương ra bến sông Bạch Đằng nhìn nước cuốn hoa trôi, tưởng tượng hoa cho đỡ buồn chứ thật ra toàn là rác, đưa lại cho nó.  Thôi thì nước mắt vắn dài, tôi biết trước như thế nên cứ im lặng để nàng trút cạn mạch sầu.
Lại có sự lạ lùng, tôi không thể tin mà có thật, lá thư dở dang cuối cùng anh Hiệp viết cho Thương có đoạn:  “Nếu chẳng may anh có mệnh hệ nào, anh Côn sẽ thay anh săn sóc cho em.”
Thương khóc ngất, lá thơ này Thương chưa đọc. Đây là kỷ vật cuối cùng của anh Hiệp, anh Côn đã đưa khi đón Thương và tôi từ trường học đến nghĩa trang quân đội, buồn qúa Thương ép vào nhật ký và không dám mở ra nữa.
Tôi không ngờ kiến thức tâm lý phổ thông của tôi lại có kết qủa lạ lùng như thế, tôi được làm phù dâu trong lễ cưới đơn giản của nó.
Có một điều tôi trách Thương mà chưa thèm nói, là Thương không cho tôi hay nó sẽ đi Mỹ với anh Côn, chương trình H.O. sau khi cưới.  Tôi chỉ biết hai tuần trước khi nó đi, mà trách Thương làm gì, tôi luôn cầu cho nó hạnh phúc, thì điều này làm tôi mừng hơn mới phải.
Trước ngày Thương xuất ngoại, hai đứa đạp xe rong ruổi bên nhau khắp nơi như ngày còn đi học.  Thả dốc Tự Do hai hàng cây xoài cổ thụ, vài trái vàng tươi còn lúc lắc, ít người biết điều này ngoài hai đứa tôi, rẽ trái ngang qua Hải Quân công xưởng, đạp miết đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, gò lưng lên dốc, quẹo sang Phan Đình Phùng đến ngã tư Đinh Tiên Hoàng ghé ăn gỏi khô bò, đi tiếp quẹo trái Duy Tân uống ly dừa tươi Hồ Con Rùa, thả dài Trần Qúy Cáp hai hàng me “lá xanh gần với nhau” quẹo phải sang đường Trương Minh Giảng, đến Tú xương dắt xe đi bộ ngắm lại từng gốc ngọc lan, những ngày mưa cánh hoa phủ đầy mặt đất.  Tóc Thương dài, nó hay cột hoa ngọc lan trong tóc, đây là lý do tại sao, hương hoa thoảng nhẹ khi đứng gần nó.  
Dây hoa cát đằng lá to bằng trái tim thật, có những bông tím e ấp, gốc ỷ-lan hương thơm nhẹ như phấn phải tinh mắt lắm mới thấy vài đoá ẩn kín trong lá, ngang Nguyễn Thông ghé chùa Xá Lợi, ngồi lại bực thềm ngày xưa ngồi học thi mờ mắt, phóng mắt nhìn sang trường Gia Long mà ngậm ngùi. 
Tôi len lén nhìn Thương, ráng đọc trong mắt nó xem nó nghĩ gì, nhưng hình như nó đã ở thế giới khác rồi, chẳng còn là Thương của tôi ngày xưa.
Tôi hiểu chúng tôi đã thật sự lớn, những sợi giây ràng buộc chỉ còn là tình bạn.  Dù Sài-gòn thay đổi thật nhiều sau năm 1975, nhưng với tôi và Thương, tất cả kỷ niệm xưa vẫn đầy trong tâm tưởng.  Hai đứa chỉ im lặng bên nhau, tôi nghĩ chẳng cần phải nói gì hết, còn bên nhau đã là một hạnh phúc không cùng.  Tôi hát khe khẽ:

  [1]Ngày còn có nhau, giúp nhau cho thật nhiều
Ngày nào mất nhau, sớt chia chẳng được đâu.
 
Chấm đen trên nền trời nhỏ dần mất hút, những đám mây vẫn lặng lẽ trôi, tôi đạp xe ra Công-Lý, qua Hiền-Vương, đến Tú-Xương đi lại con đường có nhà nguyện Mân-Côi, có lẽ tôi nên ghé vào nhà nguyện cầu xin cho bạn tôi luôn được bình an trong đời sống mới.
Cuối Xuân 2001
  1] [Người Yêu Tôi Bệnh – Nguyễn Đức Quang
 
 
 
 
 
 
 
6. Đoạn Cuối Tình Yêu!

Chèn ơi! cuối cùng rồi ông cũng đòi cưới tui. Tui không biết tui mê hay tỉnh, tui đợi chờ ngày này gần như khô héo đời tui. Mười mấy năm rồi ông biết không. Tui tưởng ông phải hỏi cưới tui hồi tui mười tám tuổi.
Cành hồng đỏ tía hồi nãy ông đưa tui, còn tươi rói trong ly nước lạnh tui để ngay đầu nằm, cái nhẫn hột xoàn năm hột bự đùng đang chiếu lấp lánh trên ngón tay đeo nhẫn của tui, sự thiệt đây mà, ông đòi cưới tui, tui đâu có mơ.

Ông ơi! sao ngoài trời long lanh như mở hội, chắc tụi nó mừng cho tui sắp đạt thành ước nguyện, Phật trời thương tui kiên trì cầu khẩn, ăn chay mỗi tuần trăng mà khiến ông mở miệng cầu hôn tui.
Không lẽ giờ này tui mở đèn sáng trưng rồi ca lên : Yêu cho biết sao đêm dài……Má tui bả lại tưởng tui mắc đằng bố bả lo. Nên thôi tui dạo chơi hạnh phúc trong căn phòng tối thui thùi lùi này với cái bông hồng và cái nhẫn của ông.
Ông biết ông làm khổ tui tới mức nào không? Mấy bà chị nhọn mồm nói tui mát dây yêu ông, để đời tui tàn lụi héo khô, mai mốt già chết xuống âm phủ làm ma không chồng lạnh lẽo. Mấy con em tui rỉa rói, yêu gì mà kỳ, không thấy lấy nhau, chỉ yêu nhau lạt nhách. Trời thần đất quỉ ơi, tụi nó mà biết ông chưa hề nói yêu tui tụi nó còn rủa xả đến đâu nữa trời.
Mà nghen, nhiều khi tui cũng thấy tui ngu thiệt, tự dưng cái mang dạ yêu ông, cái thằng cha mặt mày lầm lì thấy ghét, cặp kiếng cận đè lên sống mũi, ngó khó đăm đăm như ông giáo già rình cho tụi học trò con ốc tọt, thêm tật rày đây mai đó, hễ về tới Sàigòn là dọt xe như ma đuổi, tại dzậy mà ông húc té xe tui, cho tui nằm dài thoòng đo coi con đường Hồng-Thập-Tự dài mấy mét, cho cái áo dài trắng tơ, nổi vân hoa cúc má tui mới may, tui mặc lần đầu bị tét nguyên một tà thê thảm. Cái cằm tròn trịa của tui, má tui hay khen có hậu bị thâm đen sưng tấy ,cho bạn tui gọi tui là bà râu cả tháng trời ròng rã. Đó ông coi ông gieo tai họa cho tui mà. Phải chi ông cà chớn dọt luôn cho đời tui không rắc rối, đàng này ông dừng lại bỏ tui lên xích lô cùng chiếc xe đạp cong niềng, rồi hộ tống tui tới nhà, đàng hoàng ra mắt ba má tui xin lỗi .
Cái giọng Bắc kỳ cục của ông làm tui bắt ghét, tụi bạn tui dạy tui: đàn ông con trai Bắc kỳ là chúa đểu phải tránh xa, đừng dính líu, dzậy mờ ông thênh thang bước vô tim tui thông qua tai nạn xe cộ cái rụp hà.
Ông tới nhà tui hằng bữa coi tui có đau đớn gì không, ông xăn tay áo sửa xe cho tui để chị tui, em tui đì ông sói trán, bà thì đòi dzô dzầu mỡ, bà thì đòi thay cái bọt-ba-ga, hai con em tui cũng ỏng ẹo nói ông sơn xe màu hoa cà cho tụi nó. Tức thiệt, có mình tui là nạn nhân của ông là nín thinh không đòi gì hết ráo.
Mà ngộ, ông bà già tui khó tính thấu trời, có năm đứa con gái ổng bả canh còn hơn canh tù, ra khỏi nhà là phải tường trình đi đâu với ai mấy giờ dzìa, chị Hai tui có mấy thằng bạn học tới mượn bài mượn sách, ông già tui dzòm tụi nó từ đầu tới chưng cỡ hai ba lần, tụi nó hết vía biến sạch, chị Ba tui xí xọn có hai ba thằng cùng xóm ngấm nghé, đứng chờ bả ra khỏi nhà đi theo tới trường, bị ông già chưởi một tăng, tụi nó xanh mặt lặn mất. Dzậy mà ông tới nhà , ông già tui tiếp đàng hoàng, nói chiện thôi là nói, toàn ba cái chiện tui không hiểu, chừng ông dzià, ổng khen ông thôi là khen:
– Thằng này Bắc kỳ mà thiệt tình, tướng khá à bay, mặt mày đàn ông như dzậy trung tín, cái sơn đình rộng quan tước chứ hỗng chơi, sóng mũi cao sự nghiệp vững vàng, nhân trung sâu chung thủy, con nào làm vợ thẳng sướng đa.
Chắc ba tui nói dzậy mà chị Hai tui có hồi tưởng ông mê bả, nên bả bẹo mình bẹo mẩy thấy ghê (nói ông biết rồi bỏ nghen, tui lén coi nhựt ký của bả), ai dè xí hụt quê xệ , bả lên xe bông với thằng cha luật sư học cùng trường với bả.
Còn chị Ba tui, bả biểu tui đừng thèm ông, má chồng Bắc kỳ dữ như chằng tinh, hành con dâu tới xảy thai, rồi còn kiếm vợ hai, vợ ba cho con trai mấy bả, trời thần, tui sợ thôi là sợ. Tui hỏi ông, ông cười ha hả như đang coi kịch Phi Thoòng-Khả Năng, làm chị Ba tui biết, bả nói tui thày lay, lẻo mép, ngu như trâu, có gì cũng tâu cho ông nghe. Chắc tại vậy mà ông đưa tui tới nhà coi mắt má ông. Bữa đó ông biểu chở tui đi ăn chè, tui mặc cái áo đầm vàng có bông đỏ tổ chảng điểm thêm vài cái lá xanh lè, màu sắc nghe như muốn quýnh lộn với nhau, nhưng tui thích vậy đó cái gì cũng phải đối chọi mới vui, con nhỏ Hường nói tui phải chọn màu tông-suỵc-tông mới sang, tui giữ cái gì tui thích hà, ừa! cái ông chở tui tới nhà ông mà tui không hay. Nhà ông nho nhỏ ở khu Hai-Bà-Trưng, quẹo vô hai ba con hẻm mới tới, phía trước hàng ba có dàn bông giấy, hai bụi Ngâu thiệt bự, một khoảng vườn xanh ngắt chung quanh, làm tui trầm trồ, thấy sao giống như tới nơi nào đó không phải ở thành phố, nhà tui gần chợ nên ồn ào thấy sợ, ông nói tui vô chơi, một chút đi liền. Thiệt tình, ông toàn gieo cho tui những oan trái làm tui không biết phải đối phó làm sao, tai tui lùng bùng khi ông nói:
-Mẹ anh đó, chào đi .
Tui đứng như trời trồng, không chết tươi như Từ Hải, nhưng người tui tê cứng tới độ ông phải đẩy tui vô nhà, giọng má ông ngọt ngào vang lên làm tui tỉnh hồn:
-Vào chơi đi con, Mỹ Duyên phải không?
Sao má ông biết tên cúng cơm của tui ? tui ú ớ
– Dạ! dạ!
Má ông sao đẹp quá trời luôn, nội cái chuỗi ngọc trên cổ đủ làm tui lóa mắt, tới cái vòng ở cổ tay, trời ơi thiệt đúng như má tui nói :
-Mấy bà Bắc, bà nào bà nấy sao mà đẹp ghê nghen bây, đi chợ cũng sửa soạn, không như tao, đi đâu là sỏ áo đi hà.
Má tui mà thấy má ông như tui đang thấy, chắc bả phải đổi là:
-tới ở nhà cũng sửa soạn…… có gì nhiều đâu, chút xíu má hồng, chút xíu son môi, mà má ông đẹp hơn mấy cô đào cải lương Thanh Nga Bạch Tuyết. Má tui cũng không thua nhưng cách khÿc, ông nói Má tui đẹp giống hình cô Ba, in trên bao cục xà bông thơm.
Chị Ba thua nữa rồi, bà ác phụ chị Ba bỏ lởn vởn trong đầu tui mấy bữa rày, biến thành bà tiên hiền dịu, bà tiên này không cho tui áo đẹp như cho cô Tấm, mà cho tui ăn phủ phê mỗi khi tui theo ông dìa nhà, nào là bún thang, bún mộc, bún riêu, bún ốc, bún bung, những món này tui tả thiệt kỹ mà má tui không làm sao nấu được, rồi tới chả giò cua, bánh tôm Cổ Ngư má ông cho, í! không phải! má ông biếu má tui, cả nhà tui khen ngon nức nở.
Trả lễ, má tui biểu ông đem về, mắm chưng, mắm kho, mắm lóc kho tộ, có bữa tui phải phụ ông xách nguyên nồi mắm và rau về nhà ông, từ chuyện đụng xe tiến đến chuyện Nam Bắc đề huề vui ghê, ông há. Khi tui học thêm những tiếng mới từ má ông, về áp dụng với má tui, bả la tui quá trời, còn gọi tui là con Bắc kỳ lai. Như lần tui gọi cái muỗng là cái THÌA, má tui hỏi mày nói gì đó Tư? lần tui phụ má tui nấu bếp tui kêu cái giá (vá), thành cái MÔI má tui cười muốn sặc, đến hồi phụ ba tui đổ dầu hôi vô mấy cái đèn trên bàn thờ, tui kiếm cái PHỄU thay vì cái quặn là cả nhà tui biết tui thiệt sự lậm cái máu Bắc Kỳ của ông vô tim gan phèo phổi . Mà rồi cũng không thấy ông biểu Má ông đem trầu cau tới nhà tui, phải chi khó khăn, tui thấy ngoài chợ người ta bầy bán từng thúng từng quầy, mặc sức cho má ông mua, đem qua nhà tui đánh tiếng.
Hay là tại tui học trường Sương Nguyệt Anh nên bị ám, giống như thầy sử địa của tui có lần nói:
– Mấy trò học trường bà Sương coi chừng giống bả thành sương phụ.
Thiệt ra sương phụ hay góa phụ là gì đám học trò gái đâu biết rõ, tới giờ tui còn lẫn lộn góa với sương . Mà má ông cưng tui nhiều khi còn hơn má tui cưng tui, ông là con út, anh chị ông có gia đình ở xa, ba ông chết hồi ông hai ba tuổi, nên khi ông đi lấy tin cho báo ngoài tiền tuyến xa xôi, tui thế ông nhận hết tình thương của bả. Cũng không phải tại tui người Nam không khéo ăn khéo nói, lúc đầu nghe tui gọi ba má tui là ỗng bả, má ông cũng thấy kỳ kỳ, nhưng khi biết nguyên giòng họ nhà tui, má ông cũng thấy thích thú những từ ngữ thân tình mộc mạc như vậy Ông coi bên nội, bên ngoại tui toàn ở Mỹ-Tho, Cần-Thơ, ruộng vườn cò bay thẳng cánh, ba tui lên thành đi học, cũng là ông lục sự như ai, gặp má tui nữ sinh áo tím, thành gia thất sinh ra tụi tui, mỗi lần giỗ chạp ở nhà tui ông biết rồi đó, chú thím dì dượng đầy nhà, ai cũng gọi ông bà ngoại, ông bà nội tui cái đại danh từ Ổng Bả, mà đâu phải là thất kính. Nghe bác Hai tui gọi ba tui:
-Thằng Mười lóng rầy bụng bự bộn à, mày đừng uống bia con cọp nữa nghen mậy
Hay Dì Bảy nói má tui
-Ê Tám, mày nhớ con Tư Thêu con bà Năm trong vườn chuối hôn, vậy chớ con trai sắp thành bác sĩ rồi đó nghen.
Gia đình tui đông như nấm mọc mùa mưa, hỗng vậy sao hồi đám cưới bà chị Ba tui cái nhà hàng Soái Kình Lâm không đủ chỗ.
Tại ông chần chờ cho tui khổ thêm mà, sau 30-tháng 4,1975 , Má tui khóc sưng mắt khi gia đình chị Hai tui theo tàu Hải Quân ở kho Năm đi mất không biết ra sao, nhứt là bả lo cho hai con cháu ngoại mỹ miều của bả. Còn tui ruột đứt đoạn không biết ông ở đâu, ba má tui đã buồn, lo lẫn lộn, thêm cái mặt chết rồi của tui, ba má tui càng quýnh quáng. Tội ba tui, ổng chở tui tới nhà má ông thăm thú tình hình, thấy mắt má ông sưng húp, tóc bả thả dài không vấn tròn trịa trên đầu như mọi lần, ổng cũng cảm thương rươm rướm nước mắt an ủi:
-Chị đừng lo quá hại người, tui coi tướng thằng Thành thọ lắm, có gì tụi tui phụ chị, chỗ bà con với nhau, để con Tư tới lui thăm chị đỡ buồn.
Má ông òa khóc nức nở, tui cũng thút thít khóc theo. Nhà tui có mình gia đình chị Hai bỏ đi má tui đã biết mà còn rầu thúi ruột. Nhà ông, má ông một mình, anh ông ở Ban-Mê-Thuộc, Chị ông theo chồng ở miết Nha-Trang, ông thì mất biệt không thấy trở về. Tui thương má ông thôi là thương, quên luôn chuyện oán hờn ông không hỏi cưới tui .
Chừng chị Ba tui theo bên chồng đóng tiền đi bán chính thức dưới Vũng Tàu, cũng là lúc má ông biết ông bị bắt cầm tù tuốt ngoài Trung. Má ông than thở:
-Anh Thành con lì lợm như bác trai, lẽ ra anh con có phải lính tráng gì đâu, học văn khoa đang yên lành, thi vào Chiến tranh chính trị , rồi cứ người ta đánh nhau chỗ nào y như là anh con mang máy, mang bút tới đấy, để bác thui thủi ở nhà một mình với cây với cối .
Má ông chuẩn bị đi thăm nuôi, má tui làm mắm kho quẹt, muối xả, tui đan khăn, áo. viết thơ. Má ông giao tui chăm sóc đám cây trong vườn nhà, từ cây Thiên lý, hoa sói, hoa Ngâu, đến Tiên đồng – Ngọc nữ, má ông đặc biệt chỉ tôi cách chăm sóc cây Quỳnh hương và cây Giao, má ông nói:
– cây này anh Thành con cưng lắm, lần nào có bông anh con thức cả đêm để ngắm.
Thời gian trôi, má tui, má ông thêm thân thiết, hai bà đi chùa chung, chơi hụi chung, buôn bán chung, tui như có hai nhà, cần yên tĩnh qua nhà ông, muốn cãi cọ với hai con em dữ dằn thì về nhà. Tui đi học Sư phạm trong khi lũ bạn tui phần lớn bỏ học vì tội có nợ máu với nhân dân, chuyện chồng con không còn làm tui bận óc, mà chỉ còn lo lắng nhớ nhung ông. Có hồi tui trách ba tui, coi tướng không hay, nói ông quan cao chức lớn đâu không thấy, thấy ông trong tù, ba tui giảng giải:
-Sông có khúc, người có lúc, năm sung tháng hạn thì chịu, có phước mọi chuyện qua hết. Bây là gái, học chữ chung như vậy là tốt, đừng thấy người ta hoạn nạn mà lơ, thất đức nghen con.
Ba tui thì hiểu cho tui, còn họ hàng nội ngoại người ta đâu biết, mối mai cho tui đủ mọi thành phần, có luôn cả công an phường, bộ đội chính quy, tui lạnh như giá băng, lắc đầu quầy quậy
Rồi con Năm cũng được ông thầy giáo trung cấp tự nguyện đưa lương , nhu yếu phẩm mỗi tháng cho nó quản lý, đưa luôn chìa khóa nhà cho nó trông coi . Đám cưới không rộn ràng như ngày xưa, nhưng cũng ra đám cưới, họ hàng từ dưới quê mang lên đủ hết, từ gạo tám thơm, tới nếp ngỗng, gà, vịt thịt thà để nấu cỗ bàn cho nó. Gia đình tui có phước nên thời buổi đảo điên vẫn còn tạm đầy đủ.
Tới chừng con Sáu được bà Tư Thôi mang trầu cau lễ vật tới xin nó về cho thằng bác sĩ, con quí tử của bả, là ngày trời sầu đất thảm cùng tui. Ông mà thấy ánh mắt của mấy bà thím dòm tui là ông biết tui ốt dột đến cỡ nào, có bà nói thẳng vô mặt tui:
-Con Tư này coi đặng quá chứ, sao hổng lấy chồng, bây tính làm gái già sao bây ?
Tui lên lầu, leo qua cửa sổ, chui ra nóc nhà ngồi khóc, thiệt nghen, tui thề trong dạ tui hễ ông không hỏi cưới tui, tui ở vậy luôn, hầu tía má tới hồi ỗng bả trăm tuổi, rồi hễ chị em tui cần coi cháu, coi chắt tui coi tiếp, hễ hỗng cần, tui vô chùa tui tu, (thiệt ra tui đâu muốn đi tu, với trái tim không còn nguyên vẹn, nhưng chuyện Lan đi tu khi không thành vợ Điệp làm tui muốn đi tu cho chết như Lan)
Sau đám cưới, khách khứa về hết, bác Hai, cậu Tám cùng ba tui bàn chuyện vượt biên, bác Hai nói :
-dưới Cần Thơ đi dễ ợt, ngay bến Ninh kiều xuất phát, ra ghe lớn thẳng tắp tới cửa Đại, hễ trục trặc thì tắp vô cồn Chuối ở đỡ trong am Cậu, khi nào êm đi tiếp. (Ông cậu em của bà ngoại tui lập cái am tu luyện mình ên ở trỏng). Cậu Tám thêm:
-dân ở tỉnh thành xuống khó chớ, gia đình ông bà chú bác mình ba bốn đời ở dưới ai hỗng biết, hễ có gì trở ngại là dân che cho hết.
Tui hồi hộp, nếu ba tui tính như vậy có cơ tui bỏ nước ra đi không một lời cho ông biết. Hên sao ba tui bấm tử vi nói năm đó không hạp tuổi ổng nên thôi, ỗng để vợ chồng con Năm đi trước, đâu chừng hơn tháng có điện tín dìa nói tụi nó ở Thái-Lan. Má tui bả kể tại bả cúng chùa, thả chim, ăn chay, niệm Phật. Ba tui thì dành tại ổng bấm số hay, tui cũng vui cho con em tui tới bến bình an, miệng tui thì thầm khấn Quan Thế Âm Bồ Tát.
Chiều bữa sau, trời chạng vạng sau cơn mưa, ba má tui ngồi trước hiên hóng mát, tui đang rửa chén sau nhà, nghe chộn rộn, linh tính gì làm tui bật đứng dậy chạy u ra nhà ngoài, để thấy ông bằng xương bằng thịt. Tui nhận ra ông liền, ông ốm nhom, ốm nhách, tướng hiên ngang ngày xưa đâu mất, chỉ còn dáng hình dẹp lép, y chang con gián, miệng tui há ra mừng tủi, có ba má tui ngay đó chớ không thôi tui phóng tới ôm ông lúc đó rồi. Ông chào hỏi mượn tiền đặng trả cho ông tài xế xe ôm mà mắt ông không rời khỏi mắt tui. Ôi cặp mắt cận không kiếng của ông dòm tui sao mà tha thiết, cần gì phải nói nhớ thương tui mới hiểu, phải không ông? Ba điều bốn chuyện một hồi, ba tui biểu tui đi rước má ông. Trên đường tui đạp như ma đuổi, trời ơi! buồn vui gì cũng làm tui muốn chết hết á.
Thấy khuôn mặt tiều tụy, khô cằn của người tui thương nhớ ngày đêm, làm sao không vui, tui niệm tiếp đức Quan Thế Âm Bồ Tát cho tới khi gặp má ông tui thở như cá mắc cạn. Má ông kêu xích lô đi liền. Trên đường về nhà, tui không hiểu tại sao ba tui không để ông dìa mà giữ lại nhà tui ?
Bữa cơm sum họp đêm đó có ai ăn uống được gì đâu. Tui chống cầm ngắm ông thỏa thương thỏa nhớ, má ông chắc giống y tụi Ba tui lo hỏi ông chuyện tù đày, chuyện trong trại học tập ra sao ? RỒi ba tui bàn, ông nên ở nhà tui, ba tui là tổ trưởng khỏi cần trình báo, công an khu vực là thằng quen trong xóm, ba tui lo được, chứ về bên má ông không có lợi, ông sẽ bị công an khu vực kiểm soát ngặt nghèo khó tính chuyện tương lai . Má ông nhìn ông khóc ròng, nói cùng ba má tui:
-Thân tôi đàn bà, nghĩ không tới, anh chị Mười tính cho như vậy tôi biết lấy gì trả ơn. Thật thà tôi có để dành ít vàng vòng tế nhuyễn, làm của xin dâu cho cháu Thành, mà nay sự thể thế này, trăm sự nhờ anh chị lo giúp cho cháu, bao nhiêu tôi xin lo hết, chỉ cần cháu nó thoát.
Vừa gặp ông, hai đứa chưa mừng, chữ chia ly đã ngay trước mắt . Má ông nhìn tui, ánh mắt bả như chừng muốn nói:
-Bác đứt ruột đẻ nó, xa nó bác đau đớn lắm chứ con, chút tình bé bỏng gái trai không lẽ làm hư đời nó.
Tụi mình có một thời gian ngắn bên nhau, ông được ba tui giữ kín trong nhà chờ giấy tờ hợp lệ, ông sẽ dùng tên của thằng Năm em rể tui, để di chuyển xuống Cần Thơ, sau đó bác Hai tui lo cho ông tiếp.
Má tui nấu toàn món ngon cho ông tẩm bổ. Má ông mang bao nhiêu thứ ông thương quý lên cho ông nhìn ngắm, cây súng lục hồi nhỏ ông chơi, hình ba ông, mắt kiếng cho ông đeo tạm, bằng cấp của ông, má ông vững lòng cho ông đi vượt biên vì anh chị của ông đã ở Mỹ, và chắc chắn bảo lãnh ông ngay, khi ông thoát được sang Thái hay Mã lai. Phải công nhận má ông là người đàn bà vững chãi, ba tui khen như vậy, như má tui chắc còn lâu bả mới để thằng con vừa trở về từ cõi chết tiếp tục bước vô cõi tử khác, bằng chứng là bả giữ riệt tui.
Có lần hai đứa leo lên nóc nhà ngắm trời, ông dạy tui nhìn từng chòm sao, Đại Hùng tinh, Tiểu Hùng Tinh, Tướng Quân, Lưỡi cày, Bắc Đẩu, tui có chú ý gì đâu chỉ ngắm ông tha thiết, biết án chia ly lơ lửng trên đầu, tui quý từng phút giây tui có ông. Lạ lùng, trong cải lương đào kép người ta nói anh yêu em, em yêu anh ngọt sớt, tui với ông bao nhiêu dịp riêng tư không ai nói ra được ba chữ then chốt chủ yếu đó. Ông không nói, lẽ nào tui trơ tráo nói, đêm đó ông cũng chỉ cầm tay tui, vuốt tóc tui, choàng tay qua vai tui, cho tui tựa đầu lên vai ông rồi hết, ông đâu biết tui khấn Phật Bà cho ông hun tui, tui sẽ ăn chay một tháng, Phật Bà không chứng cho tui đêm đó, nên bờ môi tui còn nguyên vẹn băng trinh.
Cuối cùng giấy tờ đầy đủ cho ông, nhìn hình ông trong thẻ chứng minh nhân dân, y chang con khỉ, tui cười bắt sặc, ba tui ra phán quyết:
-Ngày mơi phải đi cho sớm, cỡ 3 giờ chú Ba xích lô chở ra bến xe Lục tỉnh, đừng lình chình trễ bắc mắc công lắm.
Nụ cười tắt ngủm trên môi tui, tui xin đi theo. Ỗng biểu:
Đàn bà con gái đi theo tụi nó dễ nghi, để thẳng đi một mình, bịn rịn không nên Tư à!
Chừng thấy mắt tui đong đầy nước mắt, ỗng cho tui đưa ông ra tới bến xe .
Chắc tại tui tuổi Thân nên khóc thầm là nghiệp, cái can Bính bù thêm đời tù túng cô đơn. Tui không dám khóc sợ ông nhục chí, má tui biểu bày đặc khóc lóc xui lắm, bả còn dặn ông hễ bước ra khỏi nhà là không được dòm lại, chắc theo tích Kinh Kha . Tui choàng lên cổ ông, lá Bùa thầy trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm cho, đặng trừ tà. Cảm giác bên ông trên chuyến xích lô ra bến xe lúc nào cũng ôm ấp lấy tui cho tới giờ tui vẫn nhớ in như cũ, không dùng chữ nghĩa nào diễn tả đủ ông ơi! Ngoài bến xe, tui nắm tay ông cứng ngắt, sợ buông ra không biết đâu đặng tìm, mà rồi cũng đến lúc phải buông, cho ông lên xe. Ông lì lợm không quay dòm lại, tui đứng hoài trông theo tới chừng tan hết khói, mất tiêu bóng xe mới lững thững ra dìa. Tới nhà tui khóc như chưa từng được khóc, câu thơ :
Người đi một nửa hồn tui mất
Một nửa hồn kia bỗng dại khờ
Tui không nhớ của ai nhưng đối với tui không đúng, tui thấy tui mất hết trơn, hết trọi, không như chị Hai chị Ba tui dạy, hễ yêu ai bây yêu chừng nửa trái tim thôi có chuyện gì không thành, còn tim để yêu nữa . Tui yêu hết tim tui, từ máu đen tới máu đỏ, tủy, xương có nhiêu tui yêu ông hết, nên ông đi rồi tui tan, tui nát ông ơi, ba tui thấy tui khóc, lắc đầu đi chỗ khác, má tui nghe tui thổn thức bả bỏ lên thắp nhang khấn Phật.
Mỗi ngày tui đi chùa khấn khứa, còn ai cho tui khẩn cầu tui tới hết, nghe người ta đồn đền Đức Mẹ dòng Chúa Cứu thế linh thiêng tui cũng đi luôn. Má ông thấy tui buồn bả rủ tui đi hành hương tui đi theo tuốt, con Sáu thấy tui thê thảm mang thằng con nó về, cho tui hú hí đỡ buồn, nhìn thằng cháu mũm mĩm tui thèm có con quá mà tin ông thì biệt chim, tăm cá.
Bác hai tui lên nói, ông ra ghe lớn êm ru, cả tuần sau , không tàu nào bị công an kéo là êm rồi, bác biểu chỉ cần điện tín là chắc nùi nụi ông tới bến bình an. Nghe thì nghe vậy mà lòng tui sao như lửa thiêu, muối xát. Chị em tui cũng vượt biên mà tui đâu có lo buồn giữ dậy. Hết chuyện này tới chuyện khác, Má ông nhận giấy tờ bảo lãnh từ anh của ông, bả mừng phát khóc. Chừng tuần sau tới phiên nhà tui cũng có theo, ai cũng vui mà tui không sao tỉnh nổi . Ba tui lo nộp đơn từ xong hết, vẫn chưa được tin ông, ba tháng trôi qua mà tui thấy dài như ba năm, Má tui nấu sâm bắt tui uống, má ông không cho tui trường chay, bắt tui ngả mặn, ba tui mang sách tử vi chỉ cho tui coi, để tự tui luận đoán. Tới hồi con Sáu nói tui ốm nhom như cây sậy, mơi mốt ông gặp, ông nhìn không ra, lấy con mẹ khác đừng nói sao xui, tui hết hồn đi cắt thuốc tể ở nhà thuốc Vãn Sanh Đường, mong lấy lại hình hài son xẻ. Tui ráng ăn cho ông, tui ráng sống để chờ ông. Rồi không biết tại Đức Mẹ La-Vang hay Phật bà Thủ Đức, mà có điện tín chị Hai tui báo, ông ở Mã Lai, tui lên được một ký, má tui nói lâu ghê mới thấy lại tui cười, chừng đâu tháng sau nữa có thơ ông, tui cho ông phát thơ 3.000 đồng bạc, tiền một tô phở chừng 500, tui muốn ông biết đó là món tiền hậu hĩ cỡ nào.
Ông còn sống, trên chuyến tàu đó người ta chết hơn một nửa. Ba ngày đầu êm đềm. Ngày thứ tư gặp cướp, tụi cước bắt 4 cô gái nhỏ cỡ 10 đến 16 tuổi, vét lột hết nữ trang vàng bạc, có hai người đàn ông chống cự bị chém vứt xuống biển, sau đó phá máy tàu, và bỏ đi.
Ngày thứ sáu, gặp tàu khác cứu, cho thức ăn, nước uống, kéo vô đảo hoang, mọi người mừng rỡ, không ngờ khuya tới, chúng trở lại lùa đàn bà con gái lên tàu đem đi, tảng sáng trả về, cho cá, gạo, mọi người tính kế. Tuần sau chúng trở lại, đàn bà con gái biến mất hết, nói dối chết hết, chúng bỏ đi, không cho thức ăn, không trở lại. Đói, lấy thịt người chết nuôi con nít, người kiệt sức, tìm quần áo màu trắng treo trên ngọn cây cao cầu cứu, đốt khói, cầu nguyện. Máy bay Liên Hiệp Quốc cứu người vượt biển nhìn thấy, thả thức ăn, hai tuần sau có tàu kéo vào Mã Lai .
Ông gần chết, vào bệnh viện, tỉnh dậy người ta mời làm chứng nhân cho nạn cướp kinh khủng biển Đông.
Đọc hết thơ tui mất đi hai ký. Nhắm mắt lại thấy toàn chuyện kinh hoàng. Tại sao người lại giết người .
Gia đình tui và má ông nhờ có hy vọng ra đi, mà ai cũng như sống lại được chút nào, ba tui thôi không nghĩ đến chuyện vượt biển, ai có bàn, ổng chỉ nói ra, kinh khủng quá, nếu không có bùa tui đeo cho ông, chắc gì ông còn để mà nghĩ chuyện lấy tui.
Tui sống bằng thư ông gởi, học anh ngữ chuẩn bị sang xứ tự do. Sáu năm trôi như mây, như gió, tuổi Xuân tui bay đi mất hút, vết nhăn trên khóe mắt tui sâu hơn, tui gặp lại ông. Sân bay San Francisco, ông ôm chầm lấy tui, tui dụi đầu vào ngực ông ấm áp. Không sợ gì ba má tui thấy nữa .
Ông ơi! Khuya qua ông nói:
-Hồi đó anh muốn em giữ tuổi thần tiên càng lâu càng tốt, em ngây thơ quá, anh không muốn em lo nghĩ chuyện tình cảm, lơ là học hành, đi tù về tương lai u tối anh câm luôn, vì anh muốn đời em phải được hạnh phúc, nếu anh tỏ tình anh trong tình cảnh ấy, biết đâu cản trở đời em. Bây giờ anh vững vàng rồi bé ạ. Mẹ đang chờ em về với anh, để mẹ có cháu bồng. Em biết không anh mua nhà có cây cổ thụ phía trước, có bốn phòng ngủ, một cho tụi mình, hai cho con mình, phòng còn lại khi nào ba má thích sẽ tới ở luôn. Em sẽ không còn buồn, không còn lo lắng gì nữa hết, anh không cho em khóc nữa, ngay cả khóc thầm nghe chưa. Sau nhà mình có khu vườn nhỏ bé ạ, mẹ đã trồng rất nhiều thứ hoa em thích, có đủ thứ rau nữa, của bé hết, em đẻ cho anh 5 cô công chúa, để tụi nó chọc ghẹo nhau, còn hoàng tử tùy em muốn bao nhiêu, cứ sanh cho anh, ba má với mẹ anh tha hồ mà trông cháu.
Ông nói thôi là nói. Nước mắt tui lăn dài, ông hết hồn:
-Sao vậy, em chịu làm vợ anh không?
Tui vội vàng gật lia lịa, sợ ông hiểu lầm đổi ý. Ông nâng cầm tui lên, nhìn vào mắt tui, vừa lau nước mắt cho tui, vừa cho tui nụ hôn đầu đời con gái. Tụi mình lại quên nói yêu nhau rồi ngày mơi lúc gặp ông, câu đầu tiên tui sẽ nói:
– Em yêu anh vô cùng, vô tận, em sẽ là người vợ tốt, là người mẹ hiền, không bao giờ em cãi anh, không bao giờ em xa anh một phút một giây anh ơi em yêu anh.
Ông ơi, tui hạnh phúc quá ông ơi, tui sẽ kêu báo hết cho mọi người, tui đi lấy chồng, chồng của tui là ông ..
Í sao ngực tui đau nhói, sao tui xây xẩm. Anh, EM YÊU ANH.
Buổi sáng tiếng chim hót báo ngày mới, ánh nắng rọi vào phòng cô gái, cô gục đầu trên gối, đóa hồng thẫm cô cầm trên tay, chiếc nhẫn long lanh trên ngón tay áp út, khuôn mặt cô an nhiên, nụ cười hạnh phúc phớt trên môi. Giòng chữ Em Yêu Anh đỏ thẫm viết trên nền vải trắng trải giường. Tinh ý sẽ thấy, gai hồng đâm vào ngón tay cô, vết máu còn đọng. Đôi khi, hạnh phúc làm tim người ta ngưng đập .

Như Hoa Ấu Tím -2001
 
 
 
 
 
 
 
7. Tình Cờ Đất Khách
 
Tiếng muỗng đĩa lanh canh, giọng người huyên náo, kẻ đứng lên người ngồi xuống. Anh bồi bàn lăng xăng lau dọn, cố gắng lèo lái đẩy thùng chứa nước phở dư, tô chén bẩn không đụng vào lưng thực khách. Trong góc tiệm nhìn ra, dòng xe cộ chuyển động không ngưng nghỉ, mùi phở thơm nức mũi cùng mùi rau quế ngò gai. Đôi mắt xoáy vào đôi mắt. Đôi mắt rất quen.
Phút giây rất ngắn ngủi đôi mắt gặp nhau. Dọc theo sống lưng, làn hơi lạnh buốt xuyên thấu lên óc, tưởng máu có thể đông chết ngất. Đôi mắt người đàn ông nâu to ngơ ngác, dưới vòm mi cong, mày rậm, đàn ông mắt nâu đa tình nhưng không nhiều bản lãnh. Đúng đôi mắt ấy, đã hơn lần thật thấp hỗn loạn đắm đuối tia nhìn, môi tìm môi nồng nàn say đắm. Tia nhìn đã khắc vào trí nhớ như vết xâm quái ác không thể bôi xóa tan nhòa.
- Cạch!
Tiếng tô phở được đặt trước mặt, ngước tia nhìn trách móc:
- Sao đánh thức tôi!
Ánh trách móc bị tấm lưng người bồi bàn lạnh lùng dội lại.
Đôi đũa đã lau, xếp ngay ngắn trên tấm khăn giấy cùng chiếc muỗng, ỡm ờ chờ đợi kêu gào: “Múc lấy nước húp đi, thử xem ngọt mặn thế nào,” với lấy ve nước mắm, rưới lên lớp thịt nâu hồng, mùi nước mắm xộc vào mũi, nước mắt tràn qua hố mắt đổ dài xuống má.
Gắp bánh phở trắng cúi đầu dấu mặt, đôi hàm răng cắn mạnh phập vào lưỡi. Mảnh ớt cay đụng vào vết cắn, tái tê.
Năm 1976 – mưa rả rích – đường Pasteur lá cây dầu nhèm nhẹp dính vào gót đôi dép da mòn vẹt. Chiếc bàn gỗ thông xộc xệch vuông vức, vừa đủ để hai tô phở lõng bõng bánh thịt, thêm hai phin café bốc mùi bắp rang khen khét, chen cùng đĩa rau giá phớt chút màu xanh. Cúi xuống ăn, hai mái đầu gần đụng vào nhau. Hai mái tóc cùng đen, một dài ngang lưng cột túm ra sau, một đụng vào cổ áo sơ mi sờn rách. Vừa ăn vừa nói chuyện tương lai:
- Em nghĩ sao nếu có người cho anh ký giấy hôn thú đi Pháp?
Ngước lên dò hỏi:
- Điều kiện?
Khuấy cốc cà phê, mồi điếu thuốc lá:
- Không gì hết.
Khép mi mắt:
- Anh định sao?
Vòng khói tròn thoát khỏi đôi môi chúm.
- Anh muốn thoát, cùng đường rồi Cầm ạ. Chả còn nơi chốn nào dung thân, ăn tô phở cũng em trả tiền, hút điếu thuốc cũng tiền em trả, anh chẳng còn mặt mũi nào mà ngó vào gương.
Hàng chân mày nhướng lên:
- Sao anh nói thế, tình em yêu anh không đủ ư? Càng khổ sở mình càng yêu nhau hơn mới đúng chứ.
Sợi khói tan dần:
- Yêu nhau là mưu cầu hạnh phúc cho nhau, anh chỉ bám vào em như rêu bám vào đá, anh chỉ trả lại cho em những ước mơ không thật, tìm đường vượt biển, sang được nước ngoài làm đám cưới, sống hạnh phúc đến già. Em tin anh làm được những điều ấy với hai bàn tay trắng bệch hở Cầm.
Đôi mắt mờ vì khói, nuốt ực ngụm cà phê chưa cho đường:
- Anh định đi Pháp? Hy vọng xong không?
Vòng khói lại phun ra:
- Hôm qua anh gặp thằng bạn thân quốc tịch Pháp, hắn còn vài cô em gái. Cuối tháng này hắn lên máy bay.
Đôi mắt giao nhau, tháo sợi thun cột tóc mân mê:
- Còn em?
Vòng khói méo dần:
- Người ta giúp anh vượt thoát, sang ngoại quốc ly dị không khó, anh sẽ lo cho em sang sau. Dính chùm thế này anh cảm thấy bế tắc nhục nhã quá Cầm ạ.
 * * *
Năm 2004, tiệm phở Pasteur do chính chủ nhân từ Sài-Gòn đứng nấu, theo lời quảng cáo trên đài phát thanh thành phố Westminster, California. Miếng thịt nhai không đứt trệu trạo, nhả ra. Đôi mắt nâu xoi tới lần nữa, xuyên qua vài khuôn mặt thực khách đang thưởng thức vị phở quê hương.
-       Nhục nhã quá Cầm ạ.
Tiếng vọng ngân dài theo ngày tháng, từ lúc đôi mắt nâu to đi mất. Đi đành đoạn, đi bỏ lại mái tóc dài ngang lưng nhung nhớ ơ thờ. Cửa lòng khép hẳn.
- Sao anh nỡ phụ lòng em, cho em vạn sầu đắng cay tình đầu, chỉ là bội ước, xóa lời hẹn thề mà lòng nát tan.  [1]
Nỗi phụ phàng không thốt nổi lời trách cứ, chỉ tha thiết kề bên, chỉ đớn đau vun quén cho thỏa trí người tình. Nỗi nghiệt ngã tình cảm thời quáng gà sau chiến tranh, xảy ra cho ai người ấy phải gánh, xảy ra cho em, em phải cung cúc cưu mang.
Định mệnh, hai chữ người ta dùng siết thòng lọng tròng vào chuyện tình không đoạn kết, dùng vào trường hợp em anh chẳng cần siết dây chi, đã tắt hơi quên cả khóc òa.
Anh ký giấy hôn thú, anh lập gia đình, khoảng thời gian trước ngày lên đường đi Pháp, là chuỗi ngày trăng mật hấp hối chuyện tình. Bán tống tháo tất cả những gì có thể, đi may sắm từ manh quần tấm áo, thăm từ bến bãi tây đông, bản hôn thú hờ làm giấy mướn phòng khách sạn, mang danh vợ chồng mà ân ái đếm từng đêm.
Anh đi, sân phi trường bụi phủ, mái tóc ngang lưng gió phần phật đánh rối bời. Năm đầu trôi qua, những lá thơ tả đền đài cổ mộ, nhớ nhung ray rứt. Năm thứ hai than thở vật lộn kiếp tha hương, mong ngày khôi phục cơ đồ quê mẹ. Năm thứ ba vướng bận con thơ, đành lo toan cùng vợ dại, chuyện tình xưa xin tháo gỡ cho nhau. Năm thứ tư thơ thưa dần biến hẳn, bỏ lại sau lưng cát bụi phủ mù.
Hai mươi tám năm sau tình cờ quán phở gặp nhau [2].
Mái tóc ngang lưng bới cao thôi xõa, ánh mắt nâu to, ngơ ngác nếp nhăn hằn. Khoảng cách vài chiếc bàn vững chãi, những chiếc ghế bọc da.
Bên cạnh đôi mắt đàn ông nâu to, là khuôn mặt người đàn bà trang điểm kỹ càng, hơi đẫy đà diêm dúa, ba thiếu niên tràn nhựa sống vui vẻ nói cười.
Bên cạnh mái tóc bới cao, khoảng trống chủ nhật ồn ào. Để lại một đồng trên bàn, tiền trả cho tiếng “cạch” đã lôi ngược nàng ra khỏi ánh mắt quá khứ. Cầm đi thẳng ra cửa, không vương vấn.
 Những mùa xuân đã mất hút chẳng níu lại làm gì.
 
 Xuân 2005   
 Chú thích:
[1] Tình phụ Đỗ Lễ
[2] Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau – Phan Khôi  




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2021 18:32:03 bởi Ct.Ly>
16. Nhớ Ngày Xưa
 
Khi lá thu rơi trơ lại thân buồn khúc khuỷu là những khi tôi nhớ nhung nhiều lắm. Nhớ nhà xưa quê cũ, nhớ thuở bé bỏng ngây thơ. Tóc theo ngày tháng phai màu, nỗi nhớ niềm thương ngày mỗi lắng. Phải ghi lại kẻo không quên mất. Ngày nơi đây, nơi xứ lạ quê người, qua nhanh, nhanh quá, bánh xe đời vội cuốn tới không lùi.
Không hiểu sao tôi nhung nhớ nhiều thế, những bụi cây nhánh cỏ đã từng cạnh tôi thời ấu thơ xa tít tắp.
Cây Ngô Đồng người ta bảo “không trồng mà mọc” còn gọi là cây Bã Đậu, tôi gặp ngày gia đình ở trong khuôn viên trại Nguyễn Tri Phương – trung tâm 3 nhập ngũ, những hàng cây Bã Đậu buồn hiu thẳng tắp chạy dài hai bên đường, buổi chiều nắng rọi soi bóng hắt hiu, lúc ấy tôi hay thơ thẩn nhặt những mảnh trái khô dấu đầy túi dù chẳng biết để làm gì ? Có lần thấy chú lính ngồi dưới gốc cây, dùng cái dũa móng tay khắc hình lên mảnh vỏ khô ấy thành con cá xinh xinh tôi thích quá xin ngay, biết đâu rằng trong lúc tỉ mỉ vẽ hoa văn là lúc chú nhớ nhà ghê gớm.
Còn những giàn hoa Bìm Bìm (ngày còn bé tôi cứ gọi nó là hoa bìm bịp – lớn lên mới biết bìm bịp để gọi một giống chim) màu tim tím nhàn nhạt như hoa rau muống, phủ đầy lên vòng kẽm gai, phủ đầy lên hàng rào của trại, loài hoa được tôi hái không tiếc tay vì nhiều quá để chơi đồ hàng.
Hoa móng tay lá mỏng như lá hẹ, hoa hồng tươi có năm cánh, tôi hái rất ít vì nó thơm và dễ thương quá, chỉ khi nào làm công chúa hay cô dâu tôi mới hái hai hoa, đủ để dán lên mười ngón tay làm đẹp.
Hoa dâm bụt tôi hay hái gài lên tóc, có khi quên mất nó héo xèo xụi lơ như rác trên đầu, mấy thằng con trai thì hái đọt lá gắn dưới cằm làm râu.
Còn giàn dưa tây có hoa màu xanh thiên lý (màu xanh lá cây có pha nhiều màu vàng) hay bị ong bầu đến hút nhụy cũng là kỷ niệm của tôi. Tôi biết hoa nào hoa cái, hoa nào hoa đực, để bắt chước người lớn bắc ghế hái hoa đực chấm vào nhụy cho hoa cái đơm trái. Trái dưa tây khi chín thơm kỳ lạ, cho đường vào ăn ngon không tả được.
Tôi cũng không quên vị chan chát, ngòn ngọt và màu tím của trái Trâm. Trái trâm thuôn thuôn nho nhỏ như đầu ngón trỏ của tôi, cây hay mọc từng bụi, sau khi ăn màu tím dính trên lưỡi lâu lắm mới hết. Có lần ba tôi sợ hết hồn khi thấy lưỡi tôi tím lịm như thế, may tôi còn vài trái trong túi áo đưa ông xem. Cái áo đó màu tím loang một khoảnh nhỏ ngay góc túi không sao giặt sạch đi được.
Rồi cây Điệp Tây trái đen, đến mùa nào tôi không nhớ, có rất nhiều con sâu đo màu xanh lè nhỏ xíu hay thòng sợi tơ tòng teng rơi xuống khi cơn gió thổi mạnh. Lúc ấy tôi tin rằng con sâu đo trên người mình bao nhiêu cái là chỉ sống có bấy nhiêu tuổi thôi, nên hơi sờ sợ. Mà khổ nỗi cây điệp này hoa xinh lắm, tròn xoe tơ là tơ màu hồng nhạt tim tím, cành lại rất cứng, tàng to, không cao lắm, tôi tha hồ leo lên chạc ba nằm ngửng cổ ngắm mây, đủ lấn đi nỗi sợ sâu đo. Trái điệp mỏng, dài hơn gang tay, bề ngang khoảng mười cm, khi chín cong queo, mở bên trong có chất nhựa màu nâu, ngọt nhưng lại hơi cay cay mùi rượu, hột màu đen có vân màu vàng nhỏ như trứng gián, nhưng rang lên ăn ngon ơi là ngon, chỉ cần kê ba cục gạch, cái lon sữa bò, lá khô, hai cành khô làm đũa là tuổi thơ của tôi đã rang xong mớ hột điệp để nhấm nháp, vị hột điệp này bùi ngon lạ lắm, ngon hơn hạt dưa ngày Tết nhiều.
Vườn Chuối, khu Vườn Chuối tôi không biết trước đây có thật người ta trồng chuối không? Nhưng hồi gia đình tôi dọn đến ở, thuở tôi vừa đủ lớn để thu gom vào ký ức thì không còn thấy cây chuối nào nữa cả, chỉ thấy những chiếc xe tải từ đâu chở đến không biết cơ man nào là chuối. Khu vườn chuối vuông vức lắm, bốn cạnh là những con đường Lê Văn Duyệt, Phan Đình Phùng, Phan Thanh Giản, và Vườn Chuối. Trong hình vuông này, những khu xóm liên lạc với nhau bằng bao nhiêu con hẻm nhỏ, trong hẻm, những căn nhà liền lạc chung vách với nhau. Nhà lầu có lan can, hàng xóm có thể leo sang nhà nhau nếu muốn, những ngày trời nóng, nhà lầu có thể leo lên mái nhà trệt bên cạnh nằm ngắm trăng, không ai phiền hà gì cả. Phía trước nhà luôn là một hàng ba, nếu không xây bằng xi-măng thì cũng có hàng rào sắt, cái hàng ba này không lớn lắm, chỉ khoảng ba hay bốn mét, từ cửa chính nhà đo ra ngoài hẻm, nhưng cũng đủ chỗ để dựng tạm xe đạp, xe gắn máy khi có khách, hay là chỗ cho lũ con nít tụ họp chơi đồ hàng, đánh đũa, giải gianh (ô quan).
Khu xóm của tôi con hẻm được tráng nhựa, nên mùa mưa không lầy lội như những hẻm khác. Đặc biệt của khu này, con hẻm nào cũng đi vào chợ Vườn chuối. Con đường rầy xe lửa nằm dọc sau lưng chợ, cũng có bao nhiêu chuyện để kể. Có lần một bà giận chồng đánh bạc thua hết tiền nằm vắt ngang trên đường ray làm mọi người hoảng sợ xúm xít lôi bà ta ra, tôi cũng ráng chen vào xem cho bằng được, những chuyện đặc biệt như vậy là niềm vui cho lũ con nít từ mười đến một tuổi (bị anh hay chị na theo) nhiều lắm. Con nít thời ấy không có tivi, không có video game nên niềm vui thật đơn sơ êm ả, một đứa hô lên là cả bọn xúm xít đi theo, nhiều khi đi chả biết đi đâu mỏi chân mò về lục cơm nguội. Những lúc đi vô định như vậy là lúc tìm được trò chơi – nhà đó có cái hồ cá, nhà nọ có cây mận – để hẹn hò nhau ngày mai mang lon sữa bò, mang ná thung đi theo.
Tôi nhớ mãi cái nhà có hồ cá đối diện ngã ba đường Vườn Chuôi, nằm trên đường Phan Thanh Giản kế bên trường Văn Học, nhà này có cổng sắt hẳn hoi, vào bên trong được là do cái lỗ chó chui từ trường Văn Học sang. Trong hồ họ thả cá Hoàng Kim, con đực có cái đuôi dài phất phới, con mái đuôi tròn. Để chuẩn bị vớt cá, chỉ cần một miếng vải mùng cũ khâu dính vào dây kẽm (dùng để giăng phơi quần áo), được xoắn thành hình tròn làm vợt. Chuyện làm vợt bắt cá cũng đủ điều xảy ra, đứa về tháo sợi dây phơi quần áo ở nhà, đứa lục ở đâu ra không biết một phần cái mùng tuyn, rồi con trai hì hục xoắn, con gái lấy kim chỉ khâu. Ngày hôm sau mỗi đứa một cái vợt đường kính bằng cái tô ăn cháo và cái lon sữa bò, tung tăng chui vào nhà người ta hớt cá. Dĩ nhiên từng đứa chui qua lỗ chó, xong, chui ra cho đứa khác vào. Tôi còn nhớ mình vớt được hai con trống màu cam đậm đẹp lắm, về nhà cho tụi nó vào cái bình thuỷ tinh, nuôi như cô Tấm nuôi cá bống trong chuyện tấm Cám, mỗi ngày mỗi cho ăn cơm, không thay nước. Chỉ ít lâu, buổi sáng ngủ dậy. cả hai phơi bụng chết. Khóc thôi là khóc. Chuyện đi vớt cá này kết quả có hai đứa bị đòn quắn đít, tụi tôi hùn nhau mua cho mỗi đứa một cây cà rem đậu đỏ.
Người ở khu xóm Vườn Chuối, chắc không quên nhà ông bầu đại nhạc hội Duy Ngọc, căn nhà đúc hai tầng quết vôi hồng, nhờ việc này mà cả xóm của tôi tha hồ gặp những đại văn nghệ sĩ, như Kim Cương Thẩm Thuý Hằng, Thành Được, Phượng Liên. Phi Thoàn, Khả Năng đến chơi với xóm tôi hình như hằng bữa, cứ thấy đoàn con nít rồng rắn đi theo sau một bà hay một ông chắc chắn người ấy phải là nghệ sĩ.
Nhà của Tuý Hồng và Lam Phương đâu xa lạ gì, ngay sâu trong hẻm bên cạnh, chà lâu lâu nghe mấy đứa xóm bên ấy méc nhà họ có cãi nhạu Cãi nhau ngày xưa bên VN, nghĩa là có xích mích giữa những người trong nhà với nhau, chỉ cần nóng tính giọng hơi cao hơn một chút là cả xóm cùng hay, chạy ngay sang can gián, một người can không xuể kéo thêm người khác, có bà còn cẩn thận bế giùm con nhỏ của gia đình có vấn đề này đi nơi khác cho người trong cuộc giải quyết cho xong chuyện rắc rối với nhau, nhiều khi tôi còn thấy họ khóc bù lu bù loa chung với bà hàng xóm vừa bị ông chồng tát cho một cái nên thân, lúc ấy tôi thắc mắc : bà bị đánh khóc thì đúng rồi, bà kia mắc chi khóc thẻo ø tôi chỉ giữ trong lòng thế thôi không dám hỏi người lớn sợ bị la là con nít nhiều chuyện. Tình hàng xóm VN ngày xưa sao khăng khít đến lạ lùng.
Rồi ngày cúng rằm tháng Bảy, xá tội vong nhân, xóm tôi lập đàn giải oan cho cô hồn các đẳng, bao nhiêu là lượt cúng, hết nhà cô Mỹ tiệm vàng, đến nhà ông Tàu thuốc Bắc, rồi bà Tư thớt heo, tiền cắc được ném tám phương, bốn hướng. Tôi không được ra khỏi nhà trong những ngày này, vì sợ oan hồn nhập, không được như những đứa ở xóm khác tới lượm tiền và giật bánh cúng, chỉ được ngồi trên lan can nhìn xuống ấm ức.
Rằm tháng Tám tết Trung Thu, tuyệt vời. Khu chợ Vườn Chuối sáng rực rỡ đèn chong. Đoạn từ đường rày đến tiệm vàng Vạn Xuân giăng những tấm quảng cáo bánh nướng, bánh dẻo thật to trước tiệm, những tấm quảng cáo này to lắm nguyên một khổ vải ngang 8 tấc dài đến 2 thước là ít, được vẽ rồng phượng, cô tiên, hàng chữ tên bánh màu đỏ như Đông Hưng Viên, Bảo Hiên, Phú Yên, Đồng Khánh v.v.. theo gió Thu lập lờ thật đẹp, chung với bao nhiêu là đèn xếp đèn giấy kiếng.
Đặc biệt hơn nữa có tiệm bày bàn làm bánh dẻo ngay trước tiệm, trẻ con xúm xít đứng chung quanh xem, đứa nào may mắn được ông thợ bánh dích cho một cục bột dư hí hửng cười toẹ Trước Tết Trung Thu cả hai tuần con nít đã bắt đầu hưởng Tết, mỗi ngày sau khi cơm chiều xong là tụm năm tụm ba lo xếp lồng đèn, những cái lồng đèn đơn sơ làm bằng báo, đứa nào có anh chị lớn được anh chị lấy những tờ giấy láng có hình ảnh đẹp xếp đèn cho, có đứa còn được cái lồng đèn lon sữa bò mới bảnh. Lon sữa bò được đục lỗ, cắt dọc vòng vòng ép xuống một nửa thành giống như trái bí đo, mấy cọng kẽm làm quai, cây đũa bếp làm cán, đẹp phải biết. Cầu kỳ sáng tạo hơn, dùng lõi chỉ gỗ làm bánh xe, đóng lon sữa bò lên trên, dùng cây dài làm đòn đẩy đi kêu lắc cắc. Dân thành phố thiếu cái thú ngâm tre, chẻ nan, phơi giấy dán đèn nhưng bù lại tụi nhỏ tự xoay sở lấy trò chơi, có sự giúp đỡ của người lớn.
Mùa Trung Thu hay có trò chơi rồng rắn, cần một người làm Thầy, những đứa khác xếp hàng một ôm eo nhau đi vòng vòng, hát: “Rồng rắn lên mây có cây xúc xích (lúc lắc) có ông Thầy về chưa” hễ ông thầy trả lời: “rồi” thì hỏi tiếp “xin cái gì?” nếu ông Thầy bảo xin khúc đầu, khúc đuôi, hay khúc giữa là lũ nhỏ ở khúc đó lo mà ôm nhau cho chặt, ông sẽ rình đứa nào sơ hở để kéo ra ngoài, không được rồng rắn nữa. Lúc bị ông Thầy đuổi để giựt ra khỏi hàng là lúc vui nhất, la hét om cả lên. Thêm nữa là trò nghịch nến, đốt để coi chơi, để ngửi cái mùi thơm thơm, để làm bánh bèo bằng nến, dễ lắm, một lon nước, nghiêng cây nến đang cháy, nhỏ (nhiễu) lệ nến vào, đứa nào khéo cái bánh bèo tròn có lúm một lỗ ở giữa, đứa nào vụng bánh bèo méo xẹo, những cây nến này là nến ăn cắp trên bàn thờ Phật, bàn thờ thần tài không phải nến đặc biệt dùng cho đốt đèn Trung Thu. Ngay hôm rằm, người lớn bầy bàn trước hàng ba cúng Trăng, nhà nào không cúng cũng bắc ghế đẩu ra hè ngồi chơi ngắm trăng, hàng xóm cùng quây quần cỗ bánh, con nít tha hồ nghịch nến, tha hồ rước đèn. Những cây nến (đèn cầy) ốm tong teo sao dễ thương lạ kỳ, ngày ấy nến chỉ có một màu đỏ đậm, được mẹ phát năm cây nến là vui như đi hội thử giầy. Trời thẫm tối, túm nhau thắp nến vào lồng đèn, theo nhau đi từ đầu xóm xuống cuối xóm, vừa đi vừa hát: “Ánh trăng trắng ngà có cây đa cao, có thằng cuội già xin một bó mơ.”
có một câu thôi hát tới hát lui không chán. Có lần cả xóm tôi rước đèn thật rầm rộ, vì bác trưởng xóm (tôi không biết kêu như vậy đúng không, nhưng bác là người đi thu tiền phúng điếu nếu có ai trong xóm qua đời) có cái đèn con cá chép bự cỡ một thước ngang chứ không ít dẫn đi đầu. Con các chép này đi đến đâu những chiếc đèn nhỏ nhỏ đi theo đến đó, càng đi cái đuôi đèn càng dài, tất cả tụi nhỏ xóm tôi (dĩ nhiên có tôi), cả những đứa ở bên xóm khác vui nhiều lắm, dù khi về đến nhà chân tóc đẫm ướt mồ hôi. Đêm đó trăng rực rỡ vô cùng. Nhà người Hoa họ cúng Trung Thu lớn lắm, có mấy cái bánh chiên tròn bằng quả cam chung quanh toàn là mè, bánh in bọc trong giấy kiếng vàng đỏ, bánh dẻo bánh nướng, trà, trái cây. Người Việt mình chỉ có bánh trung thu là xong, nhà nghèo không mua được bánh thì cúng trà, bánh in và vài loại trái cây mộc mạc cũng xong. Tàn hương (nhang) hàng xóm thân thiết cắt bánh mời nhau, con nít thường được phát bánh in, hiếm khi được ăn bánh nướng, bánh dẻo. Đứa nào được mẹ cho bánh nướng hay bánh dẻo đêm ấy thế nào cũng rộng rãi với đứa bạn thân cho cắn một miếng, với câu dặn “cắn ít thôi”. Tuổi thơ dễ yêu làm sao, miếng bánh tuổi thơ ngọt ngào làm sao? Đến lúc này là lúc cãi nhau xem chị Hằng ở đâu trên cái ông trăng tròn vo ấy, rõ ràng chỉ thấy cây đa thật to và chú Cuội ngồi xệp ngay dưới gốc, chị Hằng đâu mà chị Hằng? Mẹ bảo chị Hằng phải giữa đêm mới đến, con nít nào ngoan mới thấy. Có lần tôi định thức đến giữa đêm xem thử mình ngoan hay không, nhưng chưa bao giờ tôi thức nổi.
Mùa Thu là mùa mưa, những cơn mưa xầm xập không báo trước, mây kéo vù tới, chùng thấp rồi mưa. Dòng nước mưa cuộn chảy xuống cống, đối với con nít là giòng sông đẹp nhất. Mưa vừa tạnh những con thuyền xếp bằng giấy được nhẹ nhàng thả xuống, đứa nào dùng giấy láng, thuyền không bị thấm nước, theo dòng trôi thật đẹp. Đứa nào dùng giấy bản nước thấm nhanh thuyền chìm, hậm hực muốn khóc. Mùa mưa có những trò chơi mùa mưa. Con trai thích tắm mưa dưới máng xối, đá banh ngoài mưa, nhiều đứa sợ Mẹ biết cởi hết áo quần dấu trong mái hiên, nhờ lũ con gái giữ hộ. Con gái phần đông chơi đồ hàng trong sân vì Mẹ cấm không cho nghịch mưa sợ ốm, vài đứa phá lệ cứ ra mưa cho ướt hết cả người. Tôi không dám, có lẽ đó là lý do tại sao khi lên trung học tôi mê dầm mưa đến thế.
Đồ hàng là những cái nồi cái chén, cái chảo đủ mọi đồ lề cho người nội trợ thật trong tương lai, những tiếng xưng hô mày tao chi tớ cũng được đổi như người lớn “bà với tui, chị với tui”. Những chiếc lá, những đoá hoa hái vội trong chậu kiểng thành rau, thành cơm, con búp bế được truyền nhau nâng niu, con con má má. Những loại cây kiểng hồi ấy thường là cây ngâu, cây mai chiếu thuỷ, cây bông giấy, cây bông nhài (lài). Tôi còn nhớ cây ngâu với những chùm hoa li ti màu vàng thơm dìu dịu, trái nhỏ bằng đầu ngón tay út, khi chín có màu cam đỏ rất đẹp, ăn ngòn ngọt. Cây mai chiếu thuỷ từng chùm hoa màu trắng cúi gục đầu xuống, không sao ngửng lên được, mùi thơm thật nhẹ, tôi cứ dí mũi sát vào hít lấy hít để, không như hoa nhài chỉ vừa đến gần đã thơm thật thơm. Cây bông giấy không thơm nhưng tha hồ hái lá làm rau, nhặt hoa làm bánh, ngâm nước cho ra màu sơn móng tay, không hề bị người lớn la như khi đụng vào những cây kia.
Khi mưa vừa tạnh, lũ con trai vừa thay áo quần xong lại rủ nhau đi, đi vòng vòng sang xóm khác tìm xem những nhà có trồng cây mận, cây ổi, cây táo, cây khế, cây tầm ruột có trái nào vì mưa rụng xuống hay không? Con nít sống ở thành phố buồn hơn con nít dưới quê, không có vườn cây, nên không được leo trèo, thấy được một cây ăn quả mừng rỡ như bắt được vàng, cây ổi ruột đỏ trước tiệm giặt ủi Hồng Nhạn ngay con hẻm số ba mươi, sau tiệm phở gì tôi quên mất tên, cây ổi này hình như chưa bao giờ có trái chín vì chị Nhạn hiền quá chẳng la ai bao giờ.
Trên đường Phan Đình Phùng, từ ngã tư Lê Văn Duyệt đổ xuống là hai hàng cây điệp vàng (còn có tên văn hoa hơn là : cườm thảo vàng), sau cơn mưa hoa đầy gốc, mùi mưa quyện với mùi hoa làm tuổi thơ của tôi ướp đầy mật ngọt. Cầu vồng bảy sắc sau mưa luôn làm tụi nhỏ chúng tôi mộng mơ, huyễn hoặc, đứa thì bảo đó là cầu bắc cho tiên đi, đứa thì khẳng định Chúa đang đứng ngay giữa cầu, đứa thì bảo ông Bụt đang cười với nó, còn tôi khẳng định sẽ tìm được nơi bắt đầu của cầu vồng, sẽ có cầu thang đi lên càng lúc càng cao. Cả lũ tin, theo tôi lang thang đi đến dinh Độc Lập không hay, lần ấy không tìm ra nơi xuất xứ của cầu vồng, tụi tôi khám phá ra bên trong hàng rào cao ngất ấy là những cây nhãn lồng ngọt lịm, vì mưa một nhánh cây gãy, vượt ra khỏi rào làm quà cho lũ con nít đi tìm cầu vồng sau mưa.
Giáng Sinh, đối với gia đình có đạo là một ngày lễ lớn lắm, trong xóm tôi ở chỉ có khoảng năm gia đình thôi, nhà nào trước cửa cũng treo một ông sao thật lớn. Con nít tụi tôi không chia rẽ tôn giáo, hễ có rằm có ngày Đản Sinh đức Phật thế tôn người lớn làm lễ cúng tụi tôi cũng cúng, đến Giáng Sinh người lớn làm ngôi sao, hang đá tụi tôi cũng làm ngôi sao hang đá. Một lần tụi tôi may mắn lấy được một cục đất sét khi người ta đào giếng gần mùa Giáng Sinh, thế là tha hồ nắn tượng, theo tôi những nhà điêu khắc tí hon luôn có những ý tưởng thật độc đáo, từng hình người đơn giản được dựng lên, có đầu mình tay chân hẳn hoi, mấy hình giống con vật có bốn chân cho đúng với chuyện tôi được nghe từ các dì phước dậy giáo lý, những đứa ngoại đạo cứ há hốc mồm nghe tôi kể và tin tôi răm rắp. Có đứa còn khóc vì thương em bé Giesu bị lạnh nữa, tôi kể về những con cừu phà hơi cho em bé Giêsu ấm, tụi nó hỏi con cừu (trừu) giống con gì, tôi trả lời giống con chó, nghĩ lại buồn cười quá.
Cái hang đá được hình thành với bao công trình tim óc, rơm lấy từ bà bán trứng ngoài chợ, vỏ bao xi măng rình mò mãi mới lấy được một cái ở trường Bàn Cờ đang xây thêm phòng học, chỉ có thế mà những bức tượng sau khi phơi nắng có chỗ trưng bầy.
Đi lễ tối Giáng Sinh mới thích làm sao, được mặc áo đẹp mới may, đi giầy có gót, mấy đứa bạn tôi xin đi theo, nhưng Ba tôi sợ lạc không dám dắt theo. Giáng Sinh chỉ có ý nghĩa đúng một đêm thôi, nhưng thời gian sửa soạn đợi chờ là tuyệt vời nhất.
Lớn hơn tí nữa khoảng năm học lớp nhất (lớp năm sau này) trò chơi phức tạp hơn nhiều, bắt đầu có phe nhóm, con gái biết ganh tị giận hờn, con trai biết chọn lựa chơi hay không chơi với con nhỏ nào. Thường thì mấy con nhỏ hay mít ướt tụi con trai không thích, nhỏ nào ngỗ ngược lì lợm đi đâu tụi con trai cũng rủ đi theo. Đi theo lũ con trai có nhiều khi chó rượt, có nhiều khi rách quần rách áo, có khi lạc đường cảnh sát phải dẫn về nhà. Bị đòn sau đó là đương nhiên.
Ngày đó roi mây được bán trong tiệm tạp hoá từng bó, những cây mây màu vàng bóng khoảng chừng ngón tay trỏ dài chưa tới một thước. Có nhà cây roi mây tét te tua vì cậu nhỏ nghịch quá, nhà tôi có một kho roi mây, cái kho ấy là là cái khe hở giữa bộ ván và bức tường đủ để tôi len lén dấu cây roi mây vào đó. Mất roi tôi được khất “roi” cho đến khi me tôi mua cây roi mây mới, dĩ nhiên cây mới lại bị biến mất. Chỉ đến cuối năm khi dọn dẹp trong ngoài ba tôi mới thấy cái kho này.
Nhắc đến bộ ván bà ngoại cho Me tôi ngày đi lấy chồng, tôi nhớ hình vân gỗ nổi bóng lưỡng mát rười rượi khi ngả lưng giữa trưa, Me tôi nằm giữa các con chung quanh, con nít không sao ngủ trưa được, chỉ nằm loay hoay mở sách truyện bằng hình đọc. Giữa trưa có lần tôi đọc Ma Cà Rồng sợ quá hét lên, Me tôi giật mình, Ba tôi biết thế là đổ bể chuyện đọc sách cấm. Hồi đó buổi trưa Ba tôi được về nhà ngủ trưa, tôi nhớ ba tôi hẹn lấy sẵn roi mây ra buổi chiều khi ba về kể tội.
Lạ kỳ sao, với con nít điều gì bị cấm là điều tuyệt diệu cần tìm kiếm. Những sách được mua cho đọc không thích bằng những sách bị cấm không cho đọc. Sách Ba tôi mua rất đẹp, bìa dầy giấy bóng, hình ảnh tô màu rõ ràng, chữ in dễ đọc. Sách bị cấm được bán trước cổng trường, người bán trải tấm nylong trên mặt đất và xếp những quyển truyện tranh in bằng giấy bản nhem nhuốc, có hình đen trắng, nội dung thường là ma quỷ, dễ sợ, tôi nhớ có Thiên Linh Cái là truyện tụi tôi truyền tay nhau đọc, truyện này nhiều tập lắm, đặc biệt khổ của quyển truyện vừa đúng với quyển vở học nên bỏ vào cặp táp Ba tôi không biết.
Buổi chiều khi ba tôi về, cơm nước xong, tôi nem nép hiền lành chờ đợi bị đòn.
“Bị đòn” là một nghi lễ trong gia đình tôi. Kẻ có lỗi phải nằm xấp, má úp vào hai bàn tay khoanh lại, Ba tôi cầm roi mây nhịp nhịp lên mông, vừa nhịp ông vừa kể tội, kể xong ông hỏi: “đa’ng bị mấy roi?” Nửa roi chắc chắn không có nên câu trả lời luôn là một roi. Bộ ván ấy tôi từng nằm sấp chịu đòn khi cao chưa bằng chiều ngang của bộ ván, đến lần cuối cùng còn bị đòn, chân tôi thò ra ngoài hai tấc. Nước mắt của tôi làm bộ ván đã bóng, lại càng bóng hơn.
Mỗi năm chiều 30 Tết tất cả chị em tôi “được” bị đòn. Tấm phản vừa xinh cho tất cả chúng tôi nằm một dọc 5 đứa, từng đứa được Ba tôi luận tội đâu ra đấy, kết luận sang năm mới phải sửa đổi như thế nào, và quất cho một roi tượng trưng xả xui để sang năm mới không bị đòn nữa.
Năm lên chín tôi đã biết háo hức đợi chờ Tết, xé lịch một lúc hơn chục tờ cho mau đến Tết. Ngày 23 tháng chạp lịch của nhà tôi đã đến ngày mồng một Tết Âm Lịch. Ba tôi phì cười không cho ăn đòn vì biết con mong Tết.. (Chuyện xé lịch xảy ra hoài hoài vì khi tôi không làm, em kế tôi sẽ làm, và cứ thế cho đến khi không còn lịch để bóc nữa).
Khoảng thời gian này vui lắm, chợ họp suốt đêm tràn ra ngoài hẻm ngay trước cửa nhà tội Những chiếc xe ngựa chở cơ man nào là hoa vạn thọ, hoa đồng tiền lên bán, hương hoa thơm lừng. Tụi tôi có cả rổ hoa rụng để chơi đồ hàng, hay xé hoa ra làm confetti ném nhau cho vụi Buổi tối mấy bà hàng đốt đèn măng xông, đèn dầu, làm đống quít càng thêm vàng rực. Núi dưa hấu cao nghệu trái nào trái nấy bóng lưỡng đen xanh, có trái màu xanh ngọc sọc trắng nhưng chắc giống lạ nên có ít lắm. Tôi chỉ thương đám gà thật dễ thương bị cột chân lại đặt nằm xếp lớp dưới đất, người mua xách cái chân nó lên, bóp bóp ngay cái lườn, lật qua lật lại bỏ xuống cái ịch, tôi ngồi xem mà thương con gà quá sức. Nhìn bao nhiêu cái mỏ há ra để thở hào hển, cái mồng quẹo qua một bên mà đứt cả ruột, tôi mang thau nước ra cho tụi nó uống, bà bán hàng cho tôi một nắm hột dưa ngồi cắn cho vụi Mỗi năm bà mang gà, hoa, trái cây từ dưới quê lên bán Tết, năm nào bà cũng đến ngay trước hàng hiên nhà tôi bày hàng. Trưa 30 dọn dẹp xong bà biếu Me tôi cặp gà ăn tết trước khi về, Me tôi nhận, nhưng luôn cho lại bà trà, kẹo, mứt.
Ở thành phố không có chỗ để gói bánh chưng, Me tôi làm mứt, mùi đường thơm ngan ngát những ngày áp Tết, rồi Me gói giò thủ, những cây giò gói bằng lá chuối được nẹp trong hai cái đũa cả, dựng trong cái tô hứng mỡ, bánh chưng cô chú đem đến biếu, những hộp mứt giấy xanh giấy đỏ tuyệt đẹp để trên tủ kính. Me tôi dặn bà bán hàng mang lên những con gà mái dầu chân lùn vẩy vàng, đôi mắt tròn xoe như hạt đậu đen, nhốt trong cái bội (lồng to bằng nan) để Tết đãi khách. Rồi dưa hấu nữa vừa đem biếu vừa để ăn cũng phải hơn hai chục trái, Me dậy tôi lựa thế nào cho ngon, ngọt, mua thế nào để mồng một bổ ra trái dưa đỏ tươi, đầy đặn không bị bọng bên trong. Vui nhất là theo Ba tôi đi biếu Tết. Bác Cả thế nào cũng có con gà trống thiến, cặp dưa, hộp mức, cân trà. Mấy con gà được treo hai bên hông xe trên đường đi thò đầu ra khỏi giỏ kêu quang quác vui lắm. rồi khách đến nhà biếu Tết nữa ngày nào cũng như hội, tôi phải lo bưng trà, rót nước không ngơi tay mà chả bao giờ phàn nàn với Mẹ, cứ nghĩ đến áo đầm mới, đôi giày mới treo trên lầu làm sao mà cằn nhằn than thở được. Thức đợi năm mới với Ba, Me đã thành thói quen mỗi năm, các em tôi lớn dần cũng thức theo
Tết trước năm 1968 chợ không họp đúng ba ngày, trong ba ngày này những sập hàng để trống, chỉ có bầu cua cá cọp, hay những hàng bán đồ chơi dụ tiền lì xì của nít là nhiều. Sau 1975 hình như không còn điều này nữa.
Bây giờ sau bao nhiêu năm, nhất là sống xa quê nửa vòng trái đất, giao thừa tôi không biết đợi chờ thế nào? Giờ nào đúng giao thừa? Đông Tây có gặp gỡ được nhau ngay điểm giao thừa đó không? Đành một mình thắp vài nén hương trầm nhung nhớ, chung quanh thiên hạ có ai nhớ Tết như tôi?
Nỗi nhớ của tôi còn nhiều lắm, nhiều lắm. Nhớ nhung có người cho là đau khổ, với tôi là một hạnh phúc. Tôi có thể vui cả ngày khi gặp lại bụi hoa dâm bụt ngày cũ, tôi có thể vui cả tháng khi gặp lại được nhánh tơ hồng, tôi như con nít khi tìm ra nhánh cây cườm thảo nhỏ nhoi trong vườn bách thảo. Tôi biết tôi hạnh phúc khi bên tôi có người ngồi nghe tôi kể : Nỗi nhớ ngày xưa.
Em sẽ kể nữa cho anh nghe…
 
1999




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.03.2021 23:34:06 bởi Ct.Ly>
8.Hệ Lụy
 
 
Thôi à nha, nói nhiêu đó đủ chưa" Mấy bà đừng lên mặt dậy dỗ bạn bè chớ, sao thì cũng đồng tuổi đồng niên hơn gì nhau mà dậy với bảo, mấy bà ham vui sớm con lớn, mấy bà mắt nhắm mắt mở xỏ áo cưới về làm vợ người ta không hề đắn đo hơn thiệt, có gì hay mà khoe với khoang" Có bà bị bắt lấy chồng khóc chảy cả máu mắt bây giờ cũng lên mặt dậy tôi" Ừ tôi khó tính, ừ tôi làm tàng, ừ tôi “già kén kẹn hom” ừ các bà nói cái gì cũng đúng hết. Thật đúng hết...
Bàn tay ngón thuôn dài sơn đỏ, môi chúm chím làm duyên, ngón áp úp bà đeo cái nhẫn lấp lánh, nói chuyện rổn rảng tay chỉ tứ tung, ông chồng ngoan ngoãn nghe bà một phép. Con gái có bằng MS con trai làm công ty lớn, chúng sắp có vợ có chồng, bà và ông tha hồ về hưu du lịch. Nghe chuyện bây giờ ai biết ngày xưa có thời bà cùng tôi đi buôn chè, café miền Đông, buôn gạo, thịt miền Tây kia chứ. Ngày ấy bà lanh hơn tôi mánh lới hơn tôi. Đang mơn mởn phơi phới sinh viên thành hai cô nàng buôn hàng chuyến, kể hết ra cũng đã ly kỳ tiểu thuyết. Nhà bà ngay bến xe Pétrus Ký nằm trên con đường Pétrus Ký ngã bảy, một sớm một chiều treo bảng LHP.
Cái bến xe này sao mà nhộn nhịp bán buôn. Bà cụ mẹ của bà chỉ có cái tủ thuốc lá nhỏ nhưng là nơi mua bán lớn che mắt bọn kinh tế thị trường. Khách hàng của cụ là những ông bà đi từ Bắc vào Nam thăm họ hàng, những ông “vẹm” đóng bộ đồng phục nhăn nheo màu cứt ngựa, nồng nặc mùi mồ hôi trộn lẫn bụi đường khăm khắm, sau mấy ngày chen chúc trong chiếc xe đò mang tên Thống Nhất. Họ đem thuốc lá Sông Cầu, Tam Đảo vào Nam bán cho cụ sau khi xuống khỏi xe, và dặn cụ mua cho họ mì chính (bột ngọt), phụ tùng xe đạp, vải vóc. Bà và tôi ngồi xem bà cụ buôn bán, thương trường lầm thầm, giấu giếm, kẻ mở túi xách tay nải giao hàng, người dúi vội nắm tiền vào tay kẻ bán, cả hai chẳng ngó mặt nhau. Tôi có cái tủ bán trà đá, mía ghim bên cạnh bà cụ. Kinh tế cộng sản dậy cho dân Sài Gòn như tôi biết mua bó mía vài đồng từ chợ Cầu Ông Lãnh mang về róc vỏ cắt khúc, sai cô em xếp hàng gần hai tiếng đồng hồ để mua đá cục ở Công Ty Rượu Bia về ướp mía cho lạnh, bán cho dân chúng chầu chực mua vé ở bến xe.
Mua vé xe đi đó đây năm 1976 vui không chịu được, xăng dầu chính phủ quản lý, lâu lâu có một chuyến xe được chạy, người dân tha hồ đợi phòng bán vé ra ơn mưa móc, lâu lâu hé cửa bán vài vé cho có gọi là, phần còn lại dành riêng cho người nhà, chợ đen chợ đỏ. Nhờ sự tân tiến vượt bực này mà có thêm một nghề nói ra tưởng bỡn “nghề bán chỗ”. Nghề này không đòi hỏi gì trình độ học vấn hay kinh nghiệm, không xét lý lịch bản thân mà chỉ cần chút kiên nhẫn, lì lợm, dám cãi vã hay đánh lộn, gia đình càng đông càng tốt trong việc xếp hàng sẵn, giữ chỗ chờ phòng vé mở cửa, bán lại chỗ mình đứng, cho những người cần mua vé xe để đi. Giá chỗ đôi khi bằng nửa giá vé" Xếp hàng đây là mang chiếu ra ngủ ngay tại quầy vé, ngày đêm người này ra, người nọ vào thay thế. Có những gia đình vợ chồng con cái nheo nhóc sống hẳn tại bến xe, vừa là không cần thuê chỗ ở (dân quê chạy lên SG) vừa khỏi cần có hộ khẩu phiền phức. Tôi biết có gia đình bỏ đi vượt biên không thành, trở về, nhà đã mất ra bến xe sống bằng nghề này cũng đủ kiếm tiền mua gạo nuôi nhau.
Từ bến xe này tôi và bà theo nhau đi buôn. Café, trà mộc, đem từ Bảo-Lộc về được đến bến xe này (bến xe LHP ) là sống vui cả tháng. Nghe thì dễ thế đấy nhưng bước chân vào mới biết kiếm được một vốn bốn lời cũng phải đổ máu mắt sôi mồ hôi.
Bà kết ngay với anh chàng con bà chủ xe, anh chàng nhờ phước nhà giầu trốn lính, không dính "nợ máu nhân dân" mà thảnh thơi theo xe thu tiền, giấu hàng buôn lậu. Bà liếc mắt, bà đẩy bà đưa, bà chanh bà cốm, một bà nhờ, hai bà nhờ cứ anh anh em em ngọt hơn đường cát, mát hơn đường phèn nên anh chàng nhét hàng café vào giữa bao than giấu cho bà, anh chàng cho trà vào thùng đựng nước hai đáy giấu cho bà, đến trạm anh chàng thuê người tại điạ phương vác hàng của bà vòng vèo vượt trạm.
Tình của bà là mối tình buôn lậu, bán chui thế mà cũng thành đôi thành cặp, khăng khít keo sơn. Làm sao bà biết song song với mối tình của bà là mối chân tình tôi dành cho anh chàng xe đạp thồ đen đúa, được mướn thồ hàng vượt trạm. Nếu không có anh chắc gì toàn bộ hàng buôn lậu của tôi với bà đến bến bình an, bà đâu để ý, chỉ biết quăng mớ giấy bạc bảo tôi đưa cho anh ấy. Anh có ánh mắt sáng quắc hào quang dù khuôn mặt gầy gò, đen đúa. Chiếc nón rơm che gần hết khuôn mặt mà tôi vẫn thấy chiếc mụn ruồi ngay góc cằm mạnh mẽ.
Tôi thì còn nhớ, (nhưng chắc bà chẳng hề nhớ gì), đến cái trạm khét tiếng kinh hoàng đối với dân buôn hàng chuyến miền Đông. Trạm Phương Lâm- Định Quán. Nếu chủ xe không biết quà cáp tí đỉnh như cây thuốc 3 con 5 hay Pallmall, hay chai rượu tây bán theo tiêu chuẩn ngoại giao từ khách sạn Palace Đà-lạt, hay cả xấp tiền gần 4 lần lương chính thức do nhà nước trả, thì toàn xe bị xổ thốc tháo, từng chiếc nệm ghế hành khách bị tháo tung, gói lớn gói bé bị xâm rách toạc, nào đậu nào mè tuôn thốc tháo vô tội vạ, chưa kể xe bị giữ lại qua đêm, để ủy ban nhân dân làm việc.
Vì một lần bị giữ lại ấy tôi biết anh chàng xe thồ là ai. Anh là chiến sĩ Cộng Hoà không chịu trình diện kẻ thù, lén lút sống chui nhủi, ngày vào sâu trong rừng đốt than cho bà chị dâu có sạp hàng ngay chợ xép Phương Lâm, kiếm thêm tiền bằng cách chuyển hàng lậu băng đường đất, vòng qua lưng trạm gác của bọn kiểm soát kinh tế thị trường huyện, ngồi đợi xe được phép qua trạm giao trả lại. Tiền kiếm được anh giúp nhóm bạn cùng chí hướng. Tôi chỉ biết thế là đủ cho lòng tôi không sao mở rộng khi bà làm mai ông tài kia thằng lơ nọ cho tôi. Bà mắng tôi dại, ừ thì tôi dại, tâm tình tôi dành cho người không tiền không thế nhưng bà biết đâu tôi nể tôi kính vì họ còn hun đúc lý tưởng ngày xưa.
Khuôn mặt bà vẫn đẹp như sáp, đường nét thật rõ ràng, gặp lại bà tôi nhớ biết bao điều. Bà cũng trách cứ tôi sao không chịu lấy chồng" Năm 75 xong, hai đứa mình loanh quanh như hai con kiến bò vòng vòng miệng chén. Những buổi chiều lang thang Tự Do Nguyễn Huệ nhìn đổi thay, nhìn nhốn nháo mà buồn. Ngày bà lấy chồng vội vã, vì gia đình bà sợ con gái phải lấy “thương binh Bắc quân”, cả đám bạn trong đó có tôi ra đứng xếp hàng mua bánh tại quầy café khách sạn Continental một đứa được mua 5 cái bánh sữa... 10 đứa được 50 cái, nâng niu sợ cái hoa tigon tí ti trên ngọn bánh bị hư khi về đến nhà.
Ngày cưới bà, tôi vẫn còn đơm nốt hạt khuy lên chiếc áo màu hồng kim tuyến và nhìn bà khóc. Tôi biết bà chưa biết yêu, chẳng một lần hò hẹn, trái tim bà trong suốt thuỷ tinh. Bà khóc! Có lẽ bà tiếc cuộc chơi đang còn dang dở hay lo sợ ngày trước mặt bỗng ràng buộc với một người mà tôi biết bà chẳng chút tơ vương. Nếu không bất ngờ đến thăm. tôi vẫn nghĩ bà hạnh phúc. Hình ảnh hai mẹ con ôm nhau khóc, đứa bé dễ thương 5 tháng tuổi, chuyện gì" Thế là tôi biết chuyện, anh công tử chồng bà vướng vất ma túy, biết ra thì chuyện đã rồi, hỡi ơi.
Tôi theo bà từng bước đoạn trường, những giọt nước mắt tủi thân không biết trách móc ai, nghẹn ngào không tìm nơi khơi chảy ngọn nguồn. Trường phục hồi nhân phẩm Bình Triệu kề bên nhà thờ ngày xưa hai đứa hay đến cầu xin, khi ấy rủ bà vào, bà báng bổ không còn tin gì nữa cả. Đôi mắt to ươn ướt vận vào đời bà đó sao" Rồi gia đình anh ấy cho anh ấy vượt biển, bà ở lại cùng con, đời bà bôn ba biển sóng, có chồng rồi lại như chưa, thà chẳng có chồng cho xong bà nhỉ. Thời gian ấy anh chàng anh họ của bà theo tôi như đỉa, anh chàng từ Hà Nội vào, bà biết nhưng giữ khẩu như bình không tán ra tán vào gì cả, hai đứa mình nhờ anh ta mà được làm thư ký, thủ kho. Không đục khoét thì giám đốc công ty đuổi cổ, đục khoét theo ý họ thì chẳng biết khi nào lưỡi dao tế thần buông xuống. Cũng đành nhắm mắt đưa chân. Từng xe ba bánh chở sắt được tôi giao cho con buôn, bà ký giấy xuất kho, tiền ăn cắp chia tam chia tứ đủ cho bà nuôi con, tôi phụ đỡ gia đình.






Tôi nhớ mãi một lần hai đứa xanh mặt vì đám kinh tế thị trường bắt được xe thép không về công ty liên hệ mà vào căn nhà lụp xụp trong khu xóm Thiết, cơ sở sản xuất hàng gia dụng. May là cấp trên sợ động rừng can thiệp kịp thời. Hai đứa xin chuyển sang khâu khác, không muốn bị đi tù lãng nhách lãng nhơ.
Bây giờ con bà đã lớn, bà vẫn xinh, người chồng thứ hai yêu bà tha thiết, bà quên nỗi nhục nhằn chồng con nheo nhóc quay lại trách cứ tôi không chịu lấy chồng. Bà trách tôi không chịu đại ông anh con chú con bác của bà ngày xưa. Bà mà hay, tôi cũng đã có lần ráng bảo con tim ngu ngốc của mình yêu đại ông ấy cho xong mà nó nhất định không yêu là không yêu. Đi uống cafe anh chàng hút thuốc như ống khói phà, xúc miệng bằng nước trà xùng xục, đi ăn tối anh chàng xỉa răng xoèn xoẹt, dĩa thức ăn chàng vét cho đến giọt nước cuối cùng, tưởng tượng mỗi ngày vào ra đụng nhau như thế tôi thà chết già không chồng hơn là có ông chồng như thế.
Bà vẫn ồn ào như bao giờ, ồn ào chê bai, ồn ào khen nức nở ngay cả khi than phiền về ông chồng người Việt gốc Hoa của bà. Tôi cứ ngóng xem khi nào bà kể về niềm hạnh phúc được chồng che chở, thương yêu lo toan sau trước. Bà không nhớ những đoạn đường khốn khổ ngày xưa tìm cách vượt biên sao" Có giấy tờ chứng minh người Việt gốc Hoa được đóng tiền đi bán chính thức. Anh chàng nhà có tiệm thuốc bắc, bà và tôi đến mua trần bì, xí muội từ ngày nảo ngày nào, ai ngờ anh chàng âm thầm mang bóng hình bà để vào tim thờ phượng.
Đám cưới của bà tưng bừng tại Soái Kình Lâm cho kịp chuyến tàu thứ 4 vàng đã đóng đủ 16 cây. Bà hí hửng nôn nao sắp được sang thế giới tự do quên mất giọng nói lơ lớ, quên mất anh ấy không thơ văn thi phú lãng mạn, quên luôn anh không cùng sở thích với bà. Bà mê nhạc Phạm Duy, giọng ca Duy Trác, anh lại mê Lam Phương, Chế Linh, Duy Khánh. Bà khoái đọc thơ đọc truyện, anh chẳng biết câu lục câu thất thế nào. Bà muốn nghe lời tình tứ, anh nói ra dùi đục mắm nêm. Tôi biết rõ ràng ông Tơ bà Nguyệt se duyên lộm cộm cho bà, nhưng bà ơi trên đời có điều gì toàn vẹn, qúi nhau chăng là ở cái tình. Tôi người ngoài mà thương chồng bà qúa đỗi, một đời dành cho bà như nô lệ, bà sung sướng không hay, mãi lo chì chiết hối tiếc sao chồng bà không là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, mở miệng ra tuôn thơ tuôn nhạc nhẹ nhàng ru hồn thiên hạ" Sao chồng bà không là ông sĩ quan ngày xưa để bà có chút tiếng tăm nghe người ta xưng tụng" Sao chồng bà không chải chuốt mượt mà để bà hân hoan mang đi khoe cùng thiên hạ. Đi với chồng bà né tránh âu yếm, bà bỏ anh ấy một mình đi tìm người cùng sở thích để đấu hót tưng bừng, thế mà bà vẫn bảo tôi sao không nhận lời làm vợ ông anh đã goá vợ của chồng của bà để một bước biến thành bà đại phú gia"
Cứ mỗi lần tụ họp trong căn phòng nhỏ nhà tôi, các bà lại lôi tôi ra làm đề tài khuyên nhủ sau khi đã kể lể đủ điều về chồng về con. Mười điều tôi nghe thì chín điều là không hài lòng không hợp ý. Tôi tự hỏi: "Thế thì người ta lấy nhau làm gì" Đời sống hôn nhân có để làm gì"”
Các bà muốn tôi chấm dứt cuộc đời độc thân, chí ít, tôi phải thấy điều vui vẻ hạnh phúc đủ lôi cuốn tôi ra khỏi chiếc vỏ sò bao bọc tôi bấy lâu nay chứ. Các bà lọt vào 72 phần trăm phụ nữ may mắn có chồng hẳn hoi sau biến cố lịch sử Việt Nam năm 1975 mà không hay, đáng lẽ các bà phải ăn mừng mỗi năm vào ngày lên xe hoa cho dù không thật sự hài lòng hợp ý. Các bà tính đi, sau biến cố ấy, các anh chiến sĩ VNCH đẹp trai oai hùng lẫm liệt, lớp chết, lớp đi tù, lớp vượt thoát, ngay cả các anh bàn giấy nho nhã thư sinh cũng đi tù đi vượt, thì còn ai cho tôi lựa, còn ai cho tôi gởi tấm lụa đào. Càng ngày tôi càng tìm ra bao nhiêu người lâm vào tình cảnh cô độc như tôi, dở dang như tôi. Hơn bốn mươi tuổi đầu, nét thanh xuân còn đâu mà nhí nhảnh đong đưa, chưa kể tâm hồn khô cạn bao nhiêu lãng mạn tình tứ thuở nào biến thành lãng nhách thảm thương. Các anh bằng tuổi ngang tầm thê tử hẳn hoi, anh nào còn độc thân cũng như tôi gàn dở, một mình bấy lâu quen rồi có người xía vào đời mình liệu chịu nổi hay không" Các anh goá vợ hay giữa đường đứt gánh, liệu tôi đủ bản lãnh không ghen tương, không cho vài khúc xương vào khuôn bánh đúc" Càng nghĩ càng bế tắc chưa kể già rồi, vác thêm ông già về mà hầu à, nhất là ông già VN, trong máu vẫn luân lưu con vi trùng gia trưởng.
Có nhiều đêm dật dờ cùng cơn lạnh một mình, tôi cũng mơ vòng tay tri âm tri kỷ, vùi đầu vào sách đọc cho mê mẩn vẫn chẳng dỗ được cơn buồn.
Ngày đi ngày qua, vòng bánh xe đời đưa tôi dần về mức đến, tôi mơ màng thèm chiếc áo cưới, thèm chiếc voan che mặt, thèm nụ hôn, thèm lời an ủi vỗ về ngay cả thèm cơn giận để to tiếng cãi vã nhau, thèm nghe tiếng con nít khóc, thèm nghe tiếng nói bi bô, nỗi thèm muốn phụ nữ, nếu không có nỗi niềm này tôi đã chẳng thuận tình cho các bà dùng nhà tôi làm nơi hội họp, nơi tuôn ra hết những uẩn ức tâm hồn cho cân bằng nỗi cô độc của tôi. Khi các bà ai về nhà nấy, chén đĩa ngổn ngang, hơi nước hoa còn thoang thoảng là khi tôi thắp cho tôi điếu thuốc. Tôi không nghiền hút thuốc mà thèm hơi hướm của người đàn ông trong căn nhà quạnh quẽ. Các bà thì đang cấm cửa các ông không được hút thuốc trong nhà.
Tôi nhớ những mảnh tình con trong đời, những mảnh tình chưa đủ lớn để thành chồng vợ, những mảnh tình chết non vì thế sự đổi dời, những mảnh tình nuôi tâm hồn tôi trong đơn lạnh. Trên góc bàn thờ xinh xinh tôi thờ người tình chết trẻ ngày cuối cuộc chiến, những tờ thơ từ KBC thay hình người đã khuất, tôi ky cóp giữ gìn dù bao lần thân tôi suýt mất khi đi vượt biên đường bộ sang ngã Cam Bốt, bị bắt bỏ tù rồi bị trả lại Việt Nam. Tôi cũng thờ viên đá cuội cho người tình cùng trên đường vượt biên bằng đường thủy, bị công an rượt theo bắn chết ngay trước mắt tôi. Hai người được tôi tôn lên hàng người tình cho đậm đà đời sống chả dại gì tôi kể cho các bà nghe, tôi lại được thêm tính sát “người tình”. Còn thêm vài anh chàng ngày xưa theo đuổi tôi thời còn đi học, tôi cũng cứ cho là vài mảnh tình cũ, vô tình gặp lại qủa thật hỡi ôi, họ gặp lại tôi chắc cũng giấu đi tiếng tắc lưỡi tội nghiệp cho thời gian tàn phá. Người đã có vợ, kẻ đang chăm sóc con vì cô vợ ngoại quốc không hiểu hết được tính chồng, có người tôi vờ chối đây đẩy là chưa từng quen biết cho đỡ tủi thân nhau.
Cứ tìm cách vượt biên, dám nào cho thuyền cập bến, đất đảo trời nghiêng dám nào nghĩ chuyện nợ duyên, thà ngây thơ hẳn cho mẹ cha định đoạt, thà khờ khạo hẳn để chẳng tính thiệt hơn, đàng này tôi sợ tôi lo, tôi không đủ can đảm “lấy đại” cho xong. Ngay bây giờ đã đạt được điều mình tìm kiếm, đã đến được thế giới tự do nhìn ngang nhìn dọc bến nào tương đối ngang ngửa với mình thì đã có thuyền chiếm chỗ, bến ấm a ấm ớ nhiều vô kể, lại không đủ dại đậu vào. Có nhiều bến, thuyền đã bỏ đi, tôi vẫn không đủ can đảm tấp vào sợ trong sợ đục. Lấy chồng ngoại quốc" Cũng có lúc loáng thoáng trong đầu, nhưng, lại nhưng với nhị, khi cãi nhau làm sao họ hiểu câu chì câu chiết láng lẫy của tôi"
Tôi vẫn nhận những lá thơ từ các bạn khác còn đang ở VN, những người bạn đã đợi chờ hơn 11 năm để được đoàn tụ cùng gia đình, do anh chị em đang bảo lãnh. Những người bạn như tôi lủi thủi một mình một bóng, sợ vương vấn ái tình không nỡ kẻ ở người đi. Cứ đợi cứ chờ mỏi mòn sầu héo, ai tính cho tôi con tính đơn giản, 20 tuổi năm 1975... Trời ơi sang được đến đây đã gần nửa đời, còn gì hương, còn gì ngọc"
Tôi muốn nói cho các bà nghe hết những điều tôi giấu giếm tận đáy tâm tư, chỉ mong các bà hiểu các bà đang sung sướng mà không hay, đứng núi này còn trông núi nọ, cỏ nhà hàng xóm lúc nào lại chẳng mướt xanh. Sợ chạm tự ái làm các bà buồn, không thèm đến mắng nhiếc tôi nữa. Bao lần tôi nằm mơ, nghe các bà kể cho tôi nghe, chuyện đầu gối tay ấp, chuyện ngọt ngào yêu thương, chuyện êm đềm chia xẻ. Gặp được nhau rồi, toàn nghe ác mộng giữa ban ngày.
Hai mươi bẩy năm qua rồi ai cũng nhớ, cũng bàn luận về sự được thua, nhưng tôi chưa nghe ai nhắc đến thân phận phụ nữ lỡ thời, những người phụ nữ lỡ thời như tôi, những hệ lụy sau chiến tranh bao giờ mới hết, chả lẽ các ông giơ vai ra gánh thêm nửa bà nữa làm phúc" Liệu các bà có đồng ý không" Hay khi ấy chợt thấy cây củi tầm thường biến thành cây quế, cây trầm"
Đông 2001  

 
 
 
 
 
 
 
9. Yêu Người Ngoại Đạo


Cứ một rằng yêu, hai rằng yêu, ba rằng yêu mà cứ giận lên giận xuống , cứ trách cứ móc chuyện chẳng đâu vào đâu . Xem lại đi có phải tình yêu còn nguyên si trọn vẹn như hồi xưa không ? Cái hồi tóc còn dài cho hát bài Suối Tóc của nhạc sĩ Văn Phụng mải mê, cái hồi áo còn thướt tha cho ngâm nga thơ Nguyên Sa thơ Du Tử Lê không chán , cái hồi theo mòn cả con dốc đến trường .

Đó, không yêu đủ, làm sao vượt bao nhiêu núi, bao nhiêu đèo để đến cùng nhau chứ . Tính coi, từ ngày mẹ bảo cấm không cho giao du mật thiết với người không có đạo đến nay bao nhiêu năm rồi ? Còn nhớ mà tính ra không ?
Nghe mãi một bài hát :
-“Con quỳ lạy Chúa trên trời sao cho con lấy được người con yêu . . .”
mà rồi không biết Chúa nghe lời cầu xin , hay người trần nghe mãi mà thương, mà thành “nối giáo cho giặc” mà thành cãi mẹ, dối cha cho thành gia thành thất , để giờ này làm mặt hờn mặt giận với người ta .
Muốn không, kể hết cho nghe đọan đường gian truân khổ ải đã qua. Đừng bảo các bà các cô hay kể lể , hay thù vặt hay nhớ dai , hay lôi chuyện từ ngày còn mặc quần thủng đít , hay đay nghiến những chuyện đâu đâu, hay để lòng để dạ lỗi phải của chồng mà không thèm nghe, không thèm để mắt , kể cho nghe nè .

Hồi đó người ta đi lễ sáng, lẽo đẽo đi theo , chẳng nói chẳng rằng cứ lầm lầm lũi lũi . Buổi sáng đẹp lắm, những giải mây mỏng giăng khắp trời, không che hết những tia nắng mặt trời vừa mọc . Con đường thênh thang im ắng , thanh thản hiền hòa, tiếng chuông nhà thờ ngân nga nhè nhẹ . Nhà thờ mỗi sáng không đông người lắm, ánh sáng ban mai rọi vào ô kính, cùng ánh nến trên bàn thánh lung linh huyền ảo . Giọng kinh trầm nhẹ len khe khẽ vào lòng cô chiên ngoan đạo, bị ánh mắt theo dõi từ hàng ghế bên kia làm chia trí chia lòng . Cứ thế từ nhà thờ đến trường học, không biết lúc nào vào được cả trong nhà . Trong nhà có ông bà cụ, có anh Hòan , có chị Hảo , có em Mai . Anh Hòan cũng thích đi lễ , nhưng đi lễ buổi chiều . Dáng anh nghệ sĩ, lưng hơi khòm vì cao, hai tay đút túi quần tóc để dài chấm ót . Tối anh hay hát :

“Nhớ tới đêm đầy ánh sáng
Hương trong gió tràn mênh mang
Giây phút như ngừng thôi rơi
Tiếng kinh muôn lời
Dáng xinh xinh bao tiên kiều
quỳ ngân Thánh kinh ban chiều
Trong giáo đường đêm Noel ấy
ngàn đời tôi mến yêu
Thánh giá xa vời lắm với chuông chiều ngân
Hồn thánh thót mưa dầm buồn tới âm thầm
Nơi giáo đường im bóng tôi thầm mong ngóng
Đắm đuối trên làn sóng mắt nàng huyền mơ”

Chị Hảo cũng đi lễ nhưng đi với bà cụ , nghĩa là đi sớm lắm để lần đủ chuỗi hạt mân côi , ngắm đàng thánh giá . Chị hiền dịu như dì phước, giọng nhỏ nhẹ ôn tồn . Bé Mai đi với ông cụ, nghĩa là đến nhà thờ trước khi cha ra làm lễ khỏang vài phút .

Không khí lễ buổi sáng êm đềm, trong văn vắt . Không biết đến khi nào đi xưng tội đã xưng :
-“Thưa cha con chia lòng chia trí trong thánh lễ . . . lần”
tội ấy cứ càng ngày càng tăng, mỗi lần vào tòa giải tội .

Ngày tháng thong thả qua .Anh Hòan đang đi học đại học bỗng một ngày đùng đùng đăng vào lính . Trước ngày lên đường anh cứ hát :

-“Người ta đã bỏ con rồi Chúa ơi”
-“Tiếng thánh ca buồn vang trong đếm tối
Nhớ qúa đi thôi giọng hát ai buồn . .”

Chị Hảo kín đáo nói nhỏ :
-“Thất tình rồi, con bé mắt nai lấy chồng tháng trước”

Tội anh qúa , cô bé mắt nai của anh đi học ngang nhà mỗi ngày , đi lễ chiều cùng anh bao nhiêu ngày , (cùng đây là cô vừa đi ngang nhà khỏang vài bước, là anh từ hàng ba đi ra theo) mà chẳng biết . Chúa phạt anh cái tội đi lễ không dâng hết lòng lên với Chúa hay sao ấy nhỉ ? Vì nếu anh thật tâm cầu khấn chắc chắn phải có điều gì đó ứng nghiệm , nếu không các nhà viết nhạc đã không viết những bài hát than thở cùng Chúa nhiều đến thế .

Đến ngày chị Hảo hân hoan đi vào dòng Mến Thánh Giá để được phụng vụ Chúa , ba mẹ mừng phải biết , bữa cơm tiễn chị đi , mẹ cuốn chả giò cua, nấu măng, nấu mọc, những bốn bàn khách, ngồi cả ra ngòai sân sau . Ba Mẹ luôn muốn có một đứa trong gia đình đi tu , anh Hòan đã từng được cha sở giới thiệu vào dòng Chúa Cứu Thế , nhưng cuối cùng anh xin ra vì anh bảo –“Chúa chê anh , anh nằm mơ thấy Chúa đuổi cổ vì tội đi lễ đi liếc”.

Còn lại hai cô con gái , ông bà cụ canh chừng nghiêm ngặt, đến một ngày bà cụ biết con bé có “bồ” , bồ của nó là : “cái thằng không có đạo, vì không bao giờ thấy nó lên rước lễ, gia đình nó lại là gia đình Phật giáo thế có chết không ?” . Nghe bà chì chiết với ông cụ , con bé chỉ biết lặng lẽ dùng cửa sau , đến nhà thờ, vào hang đá Đức Mẹ cầu xin . Vẫn biết cầu xin Mẹ về chuyện tình duyên trắc trở, yêu ai không yêu, lại yêu người ngọai đạo là điều không đúng , nhưng ngòai Mẹ ra biết cậy vào ai, biết than thở cùng ai .
Viết thơ cho chị Hảo không được, chị đang trong thời kỳ thử thách, lại mang chuyện tình nhân gian phiền phức ra bắt chị suy nghĩ, xao lãng kinh kệ không nên tị nào cả . Méc anh Hòan cũng không xong , anh ấy lại cho những lời khuyên phản đạo lý , nào là sống chết vì tình, nào là theo tình tình phớt , phớt tình tình theo , anh ấy cay cú chuyện tình vỡ tan trong trứng , nên cứ tỉ dụ đang dậy dỗ cô người yêu hụt , để phần thắng lợi về anh ấy . Cầu xin với Mẹ dễ dàng làm sao :
- “Mẹ ơi thương cho con, anh ấy không có đạo, xin Mẹ biến cải tâm hồn anh, để anh chịu theo đạo , để tụi con được lấy nhau . Không có anh ấy con không lấy ai hết con sẽ đi tu như chị Hảo ”
-“Mẹ ơi thương con giúp cho me con thay đổi thành kiến, chấp nhận người con yêu, không lấy được anh ấy , con sẽ chết dần chết mòn, đạo nào cũng là đạo mà Mẹ ơi ” .

trong khi chạy đến cùng Mẹ Hằng Cứu giúp than thở như thế , bà cụ dùng mọi chiêu thức để ngăn cản con gái không được yêu người ngọai đạo. Mẹ cấm cửa thằng “ngọai đạo” tới nhà .Ngày anh Hòan còn ở nhà mẹ đâu thèm để ý, chuyện đạo hay đời, cứ cười tít mắt, mỗi khi thằng ngọai đạo khen lấy khen để tô canh cua đồng, rau đay mướp mẹ nấu .
Thay vì đi lễ với chị Hảo ngày xưa, bây giờ bà cụ theo cô gái rượu còn lại . Bà cụ chiều lòng đi trễ , không lần hạt trong nhà thờ , bà cụ lần hạt trên đường đi . Mẹ trên trời được nghe lời than thở, nhưng mẹ thật thì không . Bà cụ khó khăn đòi hỏi con gái phải để ý đến các anh trong ca đòan, các anh giúp lễ . Bà cụ cứ tỉ tê : “ Con xem anh giúp lễ đứng sau lưng cha ấy, người đâu mà thánh thiện thế, mặt cứ như thiên thần” . (Anh thiên thần này, về sau lấy người gần xóm, khiếp ông ấy say sưa đánh vợ cái nào xứng cái ấy, hồn chị ấy mấy lần gần lìa khỏi xác, mà vì : “Sự gì Thiên Chúa kết hợp, lòai người không được phân ly” nên mấy đứa con nheo nhóc cứ phải chạy sang nhà kêu ông bà cụ đến can ngăn , không để bố mẹ đánh nhau) .

Bà cụ cẩn thận thuê cả xe xích lô cho con gái đi học, sợ “thằng ấy” đi theo . Làm sao bà cụ biết , khi con gái biết yêu, núi cũng trèo sông cũng lội, đèo cũng qua sợ gì ông xích lô mà không hò hẹn, giờ đi học làm sao mẹ biết để kiểm sóat, chưa kể những cô bạn thân tín, thương hại số phận chim nhốt trong lồng , chiều thứ bảy ghé nhà rủ đi học nhóm .

Bà cụ lại còn vào nhờ cha sở khuyên dạy con dại , Chúa thương tình anh chàng hay đứng gần thánh cả Giuse hay sao, mà cha sở lại là người đứng về phe tội đồ khuyên nhủ mẹ . Cha khuyên thế nào không biết , nhưng bà cụ vẫn bình chân như vại , canh con gái như canh tù, không cần biết trái tim có thể bay qua những kẽ hở thật hẹp .

Ngày anh lì lợm , đến nhà ông bà cụ biếu Tết sớm và chào để lên đường nhập ngũ, bà cụ không nhìn mặt nhưng rõ ràng có thở phào nhẹ nhõm, chỉ ông cụ ngồi tiếp chuyện anh thật thân tình . Dù sao ông cụ cũng theo Pháp học, ông cụ hiểu tuổi trẻ, hiểu tình cảm chân thành không phân biệt trẻ già, tôn giáo .

Biết anh sắp đi, buổi lễ đêm giao thừa có người lẻn ra khỏi lễ , đến tận nhà chào từ biệt . Bài thơ của Nguyễn Đình Tòan chẳng biết thật hay giả, người yêu của ông có đến thăm ông đêm ba mươi Tết hay không; không biết . Nhưng từ bài thơ này thiên hạ đến thăm nhau đêm ba mươi nhiều lắm . Nếu có dịp hỏi han , hay đọc truyện ngắn, dài thế nào cũng có bao nhiêu người nhớ về đêm ba mươi, anh hay em đã đến thăm, đã mang hoa lan, hoa hồng thay chiếc lá . Chuyện tháng ngày có trôi qua , tình có phôi pha hay không lại tùy trường hợp, nhưng cứ đến đêm ba mươi bao nhiêu người tìm cho ra một người để đến thăm nhau . Nhiều chuyện tình được kết hợp sau đêm đáng nhớ ấy . Chưa thấy ai tôn vinh nhà thơ Nguyễn Đình Tòan về bài thơ “Em đến thăm anh đêm ba mươi” qủa là điều thiếu xót . Và dĩ nhiên đêm ấy “Tay em lạnh để cho tình mình ấm, môi em mềm cho giấc ngủ anh thơm” .

Thế là: “Người đi một nửa hồn tôi mất , một nửa hồn kia bỗng dại khờ” đợi chờ cùng với sự chống chỏi với ao ước của mẹ là gả được con gái . Còn hai cô con gái trong nhà , mẹ bảo như hai hũ mắm , các bà bạn đến chơi hụi với mẹ mỗi tháng tha hồ mai mối . Mẹ tha hồ chọn , điều quan trọng là phải có đạo, phải là người công giáo . Mẹ chấm một chàng đang học y khoa , tương lai ra bác sĩ . Tối nằm trên võng mẹ hay thủ thỉ :

“Lấy chồng học thức cho ấm tấm thân con ạ, trong nhà có ông bác sĩ , ba mẹ có già cũng đỡ phải lo”

Con gái ngồi học thi, bên bàn cạnh đấy , thơ vừa nhận được qua nhỏ bạn , dấu trong sách học, bao nhớ bao thương , mẹ thì cứ : “Lấy chồng đi con , một bước lên bà , thằng “ngọai đạo” nó đi lính rồi, sống chết bao nả mà chờ , ngữ ấy chẳng cơm cháo gì được !”

Lại rơm rớm nước mắt, lại chui vào mùng lần hạt đọc kinh ngắm đàng thánh giá xin bình an cho người ngoại đạo, xin cho mẹ già để hai đứa lấy nhau .

Một ngày chiếc xe jeep nhà binh ngừng ngay cổng , người ngọai đạo với làn da rám nắng trong bộ quân phục rằn ri, chiếc nón xanh lá cây bạc màu , ghé thăm anh Hòan, đang điều trị tai nhà sau khi bị thương ngòai chiến trường Xuân Lộc . Rồi ông này bà nọ đến nhà, rồi khóc lóc van xin, rồi hứa hẹn thề nguyền : “Con xin theo mọi điều bác muốn” . Ba đồng ý , anh Hòan đồng ý, em Mai đồng ý , mẹ cũng đành đồng ý , dù ông bác sĩ vẫn là người mẹ chấm điểm cao nhất . Đám hỏi vội vàng, người “ngọai đạo” chỉ có ba ngày phép .
Hẹn cuối năm về cưới . Cha xứ nói cha sẽ làm phép giao , thay cho lễ cưới . Me đỡ buồn vì sợ, con gái không vào nhà thờ, không có voan trắng dài tha thướt .
Chưa cưới người ngọai đạo đã vào tù, những tháng ngày tiếp theo lại dài theo nhớ nhung mòn mỏi. Những lần đến thăm, mặt nhìn mặt cách nhau chiếc bàn dài biên giới, ánh mắt tên giữ tù như cú vọ, chăm chăm nhìn cô giáo thăm chồng chưa cưới, hai đứa chẳng nói lời nào, chỉ nhìn nhau thế thôi .

Mẹ bắt đầu thông cảm cho con gái. Từ ngày chị Hảo bị về nhà tu tại gia, làm việc tông đồ lén lút . Những kẻ vô thần chiếm dòng tu của chị, bắt chị từ bỏ nếp sống tu hành, vì theo chúng đi tu là trốn tránh lao động sản xuất . Chị Hảo nâng đỡ tinh thần từng người trong gia đình, nhất là cô em gái đang đau khổ vì người yêu xa vắng . Sáng tinh mơ hai chị em đạp xe đi nhà thờ cầu xin, chiều thứ sáu đi chầu mình thánh, tất cả chỉ còn biết cầu nguyện . Niềm tin là phương thuốc tuyệt vời cho con người trần thế trong đau khổ .

Ngày người ngọai đạo về xác xơ , tơi tả, là ngày mẹ hối hả mong đợi phép giao tại nhà thờ hơn ai hết . Thà cho con lấy người ngọai đạo mà nhân nghĩa thủy chung, còn hơn lấy mấy thằng theo mẹ là lường lọc vô nhân, chức quyền cao trọng, không là ông giám đốc công ty cũng trưởng công an khu vực, ngay cả ông hiệu trưởng trường con gái đang “công tác” cứ lượn lờ ngấm nghé ba cô con gái trong nhà .

Lấy nhau rồi rau cháo có nhau, họan nạn chia nhau, giọt mồ hôi ướt lưng ngày nắng cháy, tháng sáu mưa dầm dề môi tím lạnh vẫn phải ngược xuôi . Tôn giáo không làm tình hai đứa phai nhạt . Chủ nhật người ngọai đạo theo vợ đi nhà thờ, ngày giỗ chạp vẫn thắp nhang lạy bàn thờ tổ tiên giòng họ . Vợ yêu chồng, ngày rằm đưa mẹ chồng đi cúng Phật , cũng mua đủ hoa đèn . Hỏi cha linh hướng , cha bảo : “những hình thức bề ngòai ấy Chúa , Phật nào bắt lỗi người trần , có chăng trong tâm hồn con có xứng đáng là nơi cho các ngài ngự đến .”

Nghe kể nữa thôi mà trán cau cau thấy ghét . Hôm đi ăn cưới bé Ngọc, con của anh Hòan , gặp lại ông bác sĩ súyt tí bị lấy làm chồng , chào hỏi sơ xịa qua loa thế mà có người cũng hơi giận , nếu ý tình gì người ta đã chẳng đợi chẳng chờ . Kể chị Hảo nghe chị bảo : “chú nó bây giờ đứng tuổi hay hờn” , kể em Mai nghe em bảo : “khiếp hai ông bà còn tình tứ nhỉ, em cứ bù đầu với con với cái chả còn giờ mà giận với hờn” .

Nhớ cha khuyên gì không ?
 “Hạnh phúc gia đình như chén nước mắm, thành phần có mặn ngọt, chua , cay nhưng hòa vào nhau ngon lạ ngon lùng” .

Lại nữa

 “Khi hai người nữ nam đã kết hợp, giao ước với nhau rồi, có điều gì không vừa lòng phải giao đàm cùng nhau, đừng giấu kín không thố lộ mà nặng trĩu cả lòng mà thành đá tảng trong tim . Giao hòa cùng nhau , các con sẽ cùng nắm tay thanh thản vác thánh giá trên đường đời đầy chông gai thử thách”
Nghe giảng hòai mỗi tuần, chúc nhau bình an hòai mỗi lễ, mà rồi thực hành được nhiều không? .

Mẹ lại vừa nhắc :"Bảo nó rửa tội chưa?"

Ấu Tím, 2003
 
 
 
 
 
 
 
 
10.Nó Và Tôi
 
 

Nó! Cái thằng!!! Ừ cái thằng bạn tôi từ thời để chỏm . Thật ra đầu tiên nó là bạn của thằng anh họ tôi; tất cả chúng tôi đều ở cùng xóm , gần sát bên chợ Vườn Chuối . Tên nó là thiện , vì da nó ngâm đen nên nó bị chết với cái tên Thiện Đen . Cái thằng thiệt lạ , trời sinh ra nó để mà phò tôi, khổ vì tôi . Cả nhóm tụi tôi gồm có: tôi, con ông đại úy ; thằng Hoàng, con ông thiếu tá; con Mai , nhà ông Tư cảnh sát ; con Lan, tiệm tạp hóa; thằng Đức, tiệm vàng; thằng Thành, tiệm may và nó thằng Thiện, tiệm giặt ủi . Sở dĩ tôi phải kể hết nguồn gốc từng đứa vì đó là cách để bà con chòm xóm nhận diện tụi tôi . Không hiểu tại sao tũ thằng anh tôi đến hết thảy tụi nó đều nghe theo lời tôi và nhất là thằng Thiện đen , chắc có lẽ tại tôi nhỏ con hơn tụi nó, lùn nhất, ốm nhất . Hồi đó cả lũ tụi tôi học trường tiểu học Bàn Cờ, cứ mỗi lần xếp hàng đi uống sữa bột viện trợ là có màn rình đem đổ . Tôi ra lệnh cho thằng Thiện làm sao phải thanh toán ly của nó trước sau đổi lấy ly không của nó cho tôi , có nhiều lần nó không đổ đượcù phải bịt mũi nhắm mắt uống một hơi trước mặt cô giáo, nhờ vậy mà sau này khi nhổ giò nó cao hơn tôi cả hai cái đầu
Con gái tụi tôi thích chơi nhảy dây, lũ con trai cũng nhảy hay khỏi biết, đánh chuyền tụi nó chuyền tới năm thoải mái, cò cò gì tụi nó cũng theo láng, cò xủn , cò đôi, cò ba . . . ngược lại tôi, con Mai , con Lan cũng chẳng vừa , hễ tụi con trai chơi cái gì tụi tôi theo nấy u mọi cũng chơi , đánh khăng đánh đáo không ngán , tạt lon, tạt nắp phén, tạt bao thuốc không gì trở ngại; chỉ khi bị thua phải cõng mấy thằng ôn đó là tôi ngán , tôi nghe người lớn nói con trai xương nặng hơn con gái . Thằng Thiện khi nào cũng xí tôi cõng nó, nó rất quân tử Tàu, lúc nào cũng thò hai chân chạm đất để tôi đỡ bị sức nặng của nó thế mà không biết ơn thì chớ tôi lại đâm ra bực bội khi tới đích là quăng nó cái bịch . Chuyện phá phách của tụi tôi mà kể ra thì dài hơn Tam Quốc Chí , chỉ biết tôi nghịch đến nỗi bà ngoại tôi phán:”con Mi này bị bà mụ nắn lộn, nó phải là con trai mới đúng”, còn bà nội tôi cũng chẳng ngọt ngào gì hơn mỗi khi tới nhà:”cái con nặc nô đâu rồi?” .
Điều tôi muốn nhắc về nó , thằng Thiện đen là từ hồi tụi tôi bắt đầu lên trung học . Cả đám phá phách xóm tôi được cái là học giỏi hết biết , hè năm nào cũng theo nhau đi học thêm lại được thầy tới kèm tận nhà nên thi nhau vác phần thưởng cuối năm về làm le. Kỳ học kèm thi vào đệ thất trường công lập , không biết tại sao con Lan và con Mai làm biếng không học, chỉ còn mình tôi và lũ con trai, thầy Tá chiều tôi ra mặt nên tôi tha hồ lân lướtù . Lần đó học ở nhà thằng Đức tiệm vàng và cũng là lần sau cùng tụi tôi còn khắng khít keo sơn không tính gái trai . Học đâu chừng hơn một tháng, một hôm giờ nghỉ giải lao tôi vừa đứng lên thằng khỉ Thành hét tướng:”Máu, con Mi bị dính máu!” tôi không biết ất giáp gì cả hết hồn hỏi :”đâu mẩy ?” thằng Thiện có chị lớn nên nó khôn hơn kéo cả lũ con trai chuồn xuống bếp, má thằng Đức nói cho tôi biết là tôi có kinh . Trời ạ! xấu hổ qúa tôi oà khóc hu hu , chuyện lạ trên thế giói, tôi nữ chúa xóm Bàn Cờ mà khóc . Qua làn nước mắt tôi thấy lũ con trai dòm lén tôi qua cửa sổ, rồi Mẹ tôi sang đón tôi về . Từ dạo đó tôi không chơi với tụi nó nữa, dĩ nhiên không đi học kèm ở nhà thằng Đức luôn . Thằng Hoàng nói với tôi :”Mày không đi học lớp buồn hiu hà”
Con trai ngu thiệt! Nó không biết tôi không còn là con Mi nữ chúa nữa từ ngày tôi khám phá ra giữa tôi và tụi nó hoàn toàn khác xa không chút gì dính liú . Con Mai với con Lan bấy giờ mới bật mí là tụi nó có kinh trước tôi; thì ra đó là lý do tụi nó không thèm học chung mùa Hè năm đó . Tôi bị rớt kỳ thi tuyển vào Gia Long , không phải vì dốt mà vì bệnh lớn, tôi đứng lên không được đầu nhức như búa bổ ba tôi phải cõng đi ngủ, mẹ tôi phải đút cho ăn . Cứ mỗi sáng thức dậy là người tôi như đổi khác, bác sĩ nói cơ thể tôi phát triển nhanh qúa . Mà tôi lớn nhanh thật, sau hai tuần bệnh hoạn bao nhiêu quần áo cũ không sao tôi xỏ vào . Thời gian đó Nó ngày nào cũng sang vấn an tôi , mẹ tôi nhờ nó đi mua phở cho tôi , tôi hành Nó đọc truyện tuổi hoa cho tôi nghe Chiếc mai cua đốm của bà Minh Quân , thôi thì đủ thứ để hành Nó! Rồi tôi cũng hết bệnh chuẩn bị đi học đệ thất trường Nguyễn Bá Tòng . Nó, thằng Hoàng cũng đòi theo tôi dù tụi nó đã đậu vào trường Chu Văn An; tụi nó viện cớ trường xa không ai đưa đón . Ba mẹ Nó và bác tôi la trời vì một bên là trường công còn một bên là trường tư của nhà thờ phải đóng học phí . Tụi nó ỉ ôi năn nỉ vả lại trường tư khai giảng sớm hơn ba tháng nên để tụi nó khỏi phá làng phá xóm bác tôi và ba má Nó siêu lòng cho hai đứa no ùphò tôi đi học tiếp . Trời xui đất khiến năm đó bộ giáo dục mở thêm một trường trung học mới bao gồm cả trai lẫn gái nhưng riêng lớp , (trước đó trung học công lập không cho trai gái học chung)
Tụi tôi ba đứa dư sức đủ điều kiện vào trường vì đứng đầu lớp Nhất tiểu học, thế là tôi được mặc áo dài đi học . Trường có tên Tân-Định nằm trên đường Huỳnh Tịnh Của quận Ba gần chợ Tân Định, tôi nghe bác tôi nói với mẹ tôi :”đấy cô xem thằng Hoàng nó bảo trường CVA xa không thèm học bây giờ lại đi học mãi tận đẩu tận đâu ?” Mẹ tôi trả lời:”tại tụi nó theo bè theo lũ với nhau” . Tụi tôi rất sướng đi học có chú Ngọc là tài xế của ba tôi đón đưa mỗi ngày bằng xe jeep nhiều hôm đi công tác ba tôi phải đi sớm thế nào tụi tôi cũng được đi ăn phở gà Hiền Vương . Lúc về trên xe có khi chật nêm chín đứa, những đứa nào nhà gần khu Vườn Chuối là được cho đi ké hết . Tôi chễm chệ ngồi đằng trước gàn chú Ngọc, lúc ấy tôi đã biết điệu, nhừng tính du côn vẫn còn . Học chung với con trai tụi nó gán ghép tên tôi với tên một đứa khác , tôi méc Nó và nói cho Nó hay tôi đã hẹn đánh cho mấy thằng hỗn hào đó một trận . Nói là làm, ngày hôm sau tôi mang cây thước sắt của ba tôi vào tận lớp có thằng vô phúc bị gán tên chung với tôi mà hạch tội . Thằng nhỏ mặt mũi xanh lè lắp bắp:”tao đâu có biết gì đâu ?” thầy cô biết chuyện gọi tôi hỏi sự tình tôi cứ thế mà kể . Lớp tụi nó bị phạt vì tội dám chọc con gái, nhưng từ khi ấy tôi có một lũ kẻ thù, Nó và thằng anh họ tôi trở thành người đứng mũi chịu sào che chở cho tôi sau giờ tan học còn phải ở lại trường chờ chú Ngọc đến đón . Thằng anh tôi luôn ta thán:”tại mày dữ mà thành chuyện” Nó binh tôi:” Mi làm đúng có gì sai đâu ?” . Đến khi xe quân đội không còn được dùng vào việc nhà nữa chúng tôi được đi xe đạp . Nó luôn đạp xe bên tay trái của tôi , anh tôi thì theo đàng sau . Có lần tôi bị lũ con trai kèm sát hai bên trái phải, rình cho tụi nó đạp song song với tôi, tôi bỏ hai chân ra khỏi bàn đạp , đạp mạnh sang hai bên, tụi nó té rạp tôi cười khoái trá; và đó là nguyên nhân cho ngày bãi trường trên chiếc xe đạp mini của tôi có khoảng hai mươi cái khoá- bánh trước, bánh sau lủng lẳng đủ mọi loại từ khoá số đến loại có chìa . Bạn bè của tôi về gần hết mà tôi vẫn loay hoay trong nhà để xe , lại bù lu bù loa khóc Nó là người đi tìm tôi trong khi thằng anh tôi tỉnh bơ đớp bò bía . Biết cớ sự Nó tìm thầy giám thị, thầy đi một vòng bắt hét những tên còn lởn vởn gần trường vào văn phòng xét cặp . Không biết cơ man nào là chìa khoá lại còn mã số nữa chứ, lúc ấy tôi hiểu lũ con trai trường Tân Định ghét tôi tới mức độ nào ngoại trừ Nó .
Đến năm lên lớp tám Nó năn nỉ tôi đừng chuyển trường nhưng lần này tôi bắt buộc phải đi vì ba má tôi dự định dọn về nhà mới ở đường Hùng Vương gần trường Sương Nguyệt Anh-ngôi trường con gái tổng hợp đầu tiên được mở ngay trung tâm Sài Gòn . Lần đầu tiên đến thăm trường tôi đã hài lòng ngay, vả lại tôi gây thù chuốc oán với lũ con trai qúa nhiều cũng chán không muốn nhức đầu vi` tụi nó nữa còn Nó thì buồn rũ rượi . Sau đó cả hai năm trời Nó không bao giờ quên báo Tuổi Ngọc cho tôi mỗi tuần, Nó vẫn đến nhà tôi chơi và tôi vẫn mày tao mi tớ với Nó không gì khác lạ . Rồi một lần Nó mua cho tôi quyển “Hình như là tình yêu” của nhà văn Hoàng Anh Tuấn tôi quạt cho Nó một trận , cấm cửa không cho tới nhà thế mà khi đi trình diễn văn nghệ ở đâu cũng thấy lởn vởn bóng Nó .
Năm 1975 tất cả mọi sự thay đổi, tôi hoà với Nó khi Nó đến nhà tôi ngay sau khi tiếng súng im bặt . Rồi tôi cho phép Nó đến treo đèn kết hoa ngày tôi bỏ cuộc chơi đi lấy chồng, nói chung Nó làm tất tần tật những gì tôi nhờ vả Nó . Tôi thấy đó là chuyện bình thường nhưng anh tôi phán:”Mày tàn nhẫn thiệt đó Mi ơi, Thiện nó thương mày đứt ruột “ tôi diễu:”Mày không phải Nó sao mày biết ?”- anh tôi trả lời:”thì Nó tâm sự với tao! Nó yêu mày lâu rồi “ tôi giả tảng hát:”Ai biểu ngày xưa yêu em mà không thèm nói” (bài này cô Mai Lệ Huyền hay hát)
Gia đình tôi hạnh phúc nên chẳng khi nào tôi nhớ tới Nó, rồi con cái đủ mọi thứ lo toan chiếm hết đầu óc có khi nào tôi nhớ đến thời thơ âu đâu ? Một lần đi lại chợ Vườn Chuối gặp lại Nó, mắt Nó sáng rỡ khi thấy tôi, tôi cũng mừng vì lâu ngày không gặp mày tao ỏm tỏi . Nó nhắc:”Mi y chang ngày xưa không chiụ lớn” tôi biết Nó bị đi nghĩa vụ trốn về để tìm đường vượt biên . Tôi chúc nó may mán; Nó cay đắng đời Nó cái gì cũng mất ! tôi bảo Nó thí dụ, Nó nhìn tôi cười buồn , tôi đánh trống lãng nạt ngang :”Ê đừng nói mày mất tao nghen” Nó trả lời:”Chứ tao không mất mày là gì ?”Tôi không gặp Nó từ đó .
Vừa rồi gặp lại anh họ tôi, tôi biết Nó có vợ rồi, vợ Nó là em út của con Mai . Nó có một đứa con gái tên Hoài Mi , vừa nghe thế tôi hét toáng Nó gian ác đặt tên tôi cho con Nó để dễ bề chưởi rủa . Anh tôi nói:
”Sao Mi không nghĩ Nó muốn vậy để gọi Mi ơi Mi hỡi cho dễ ngay cả nói Mi ơi Thiện yêu Mi ?”
Tôi cắc cớ:
”Muốn nói ai có cấm”
Anh tôi trả lời :
”Dữ như chằng nó muốn nói Mi đâu có cho !”
Con gái tôi đã gần hai mươi hai tuổi mà con Nó mới lên ba, trời ạ cái thằng ngu thấy sợ, cầu cho Nó hạnh phúc . Tôi tin Nó sẽ hạnh phúc vì Nó rất tốt với tôi không lẽ trời hành Nó . Tôi nghĩ mai mốt thế nào tôi cũng sẽ về thăm Nó, thăm lại khu xóm ngày xưa và nói lời xin lỗi (dù tôi không có chút lỗi nào cả) . Tôi và Nó chỉ là một thời thơ ấu của nhau; Nó luôn ở đâu đó trong trí não không thể nào tôi quên , nhưng tôi phải lớn phải sống theo con tim của tôi mà trong tim tôi thì không bao giờ có hình bóng Nó .
Thiện à, mày cứ việc lôi tên tao ra mà rủa xả, cứ việc nhiếc móc tao đã vào vì tao đáng để mày trách cứ như thế, tao hành mày nhiều qúa phải không ? mày từng bị đòn vì tao, bị chó cắn vì tao, bị phạt vạ vì tao mà tao chỉ trả lại cho mày những lời xỉ vả:”Ai biểu ngu chi ráng chịu ?” Tao xin mày nghe Thiện đừng thì thầm Thiện yêu Mi như anh tao nói, hãy nói Ba yêu Mi và sống hết mình cho đời màyThiện nhé . Đời tao đã có người khác lo giùm mày rồi; họ lo rất chu đáo và tao rất hạnh phúc . Mày muốn tao được như thế mà phải không ?
Ấu Tím
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

11.Sang Hè

Buổi sáng mùa hè của tôi không gian đẹp như dát phấn. Mới hơn năm giờ trời đã sáng tinh khôi. Những đóa hoa rung rung cợt bướm, bày se sẻ ríu rít bay vèo. Chú chim nhỏ với đôi cánh đập liên tục không mỏi, chúi mỏ vào nhụy hoa. Thảm cỏ nằm thật im, vài cánh hồng rắc lơ thơ trên mặt. Thảm cỏ vẫn còn vài chỗ loang lỗ vàng úa, vì lần sửa nhà vừa rồi, những người thợ không nương cỏ, cứ thế ném vứt mọi thứ lên chúng. Nhìn thảm cỏ lại nhớ hình ảnh hai vợ chồng ngày vừa dọn vào căn nhà.

Chân ướt chân ráo sang định cư xứ lạ, năm đầu đã định chuyện mua nhà. Họ hàng em út lắc đầu nguầy nguậy: “Ông bà điên à !” Anh bảo chim có tổ mình phải có nhà. Hăng hái vào thư viện, nghiên cứu xem mua nhà nghĩa là thế nào, trên đất nước chỉ được nghe nhắc trên báo, trên sách, trước khi sang định cư. À! mua nhà là phải có một số tiền đặt cọc, mượn nhà băng trả giúp, sau đó mỗi tháng trả góp cho nhà băng. Dư sức!
Hai vợ chồng lên dự án chọn một căn nhà tương đối rẻ, có vườn sau sân trước. Trong nhà tương đối tươm tất để vợ chồng con cái có nơi chui ra chui vào là đủ. Ai bàn ra tán vào xem như không có.
Sau vài tháng, tìm được căn nhà xinh xinh, trong khu vực được xem là cũ nhất của vùng thung lũng phía Bắc tiểu bang California, được mệnh danh là thung lũng điện tử. Quyết định ký giấy nợ mua nhà. Căn nhà khi vừa mở cổng bước vào sân, đã cảm thấy ấm cúng bình an.
Nếu đã sống trong căn nhà gạch minh mông, chuyển sang căn nhà đúc hai, ba tầng, rồi xuống cái chòi đất mái tranh, tiện nghi ngoài đồng trống, thì căn nhà vợ chồng chúng tôi chọn là tuyệt đẹp, giá cả phải chăng, thay vì đi mướn nhà, giá cũng bằng như thế.
Ngày dọn vào nhà mới, gọi là mới, nhưng căn nhà đã qua hai đời chủ, với số tuổi đời hơn ba mươi năm, vợ một cái xe hơi chất đầy quần áo, chồng một cái xe hơi khác chất đầy mùng mền. Cũng xong.
Hai chiếc xe hơi tình nghĩa, được hai cô em gái cho, khi anh chị sang định cư trên nước Mỹ. Xe của tôi màu trắng, hiệu Toyata. Cô em thứ ba đang lái, biết chị sang, đã bàn với chồng mua xe khác. Nếu ai bảo, người ta mua xe mới, cho xe cũ qúi báu gì, thì kẻ ấy lầm to. Chiếc xe em tôi cho tôi còn tốt lắm, em ít lái, giữ gìn kỹ lưỡng xe nhìn rất đẹp.
Em đến Mỹ trước tôi vài năm, lấy chồng có một cháu trai. Em tôi sống bình an, không se sua quần áo, không kênh kiệu lạ người. Ngày tôi còn ở VN, em cùng hai em nữa của tôi, chắt chiu từng đồng, từng xu gởi về giúp các chị.
Gia đình tôi có sáu chị em, nửa đi nửa ở, đáng lẽ chúng tôi đã rời VN trước ngày ba mươi tháng tư năm 1975, nhưng số phần hay định mệnh gì đó mà chị em tôi được học nóng-lạnh, đau thương-hạnh phúc, nên yêu thương nhau vô cùng, nhất là cha mẹ chúng tôi không may mất sớm.
Các em tôi sống ở miền Nam tiểu bang CA, tôi theo chồng nên sống trên miền Bắc, chị em cách nhau gần bảy tiếng lái xe. Cậu em út lái chiếc xe lên cho chị. Dù khi ấy tôi chỉ đến Mỹ được vài ngày. Chiếc xe được đậu trước sân nhà phơi nắng, chờ bà chủ học thi lấy bằng lái xe.
Chiếc xe chồng tôi lái, của cô em chồng thứ tư cho, màu xám hiệu Honda. Anh nhanh lắm, vừa sang Mỹ đã lấy bằng lái và vào hãng điện tử đi làm ngay.
Cô em chồng tôi nói: “Anh chị mới lái xe chưa có kinh nghiệm nhiều, nên đi xe cũ, lỡ có va chạm không tiếc, nhất là không phải trả tiền bảo hiểm cao. Khi nào ổn định rồi anh chị mua xe khác đẹp hơn."
Cô nói đến xe đẹp hay không đẹp, nhưng với tôi tấm lòng cô đẹp qúa. Ngay cả chiếc xe cô cho chồng tôi, tôi nhìn cũng đẹp qúa, sao cô phải ngại ngần như thế.
Có cái nhà, vừa vui vừa lo, vui vì nhà của mình không phải chung đụng với ai, muốn làm gì thì làm, hai vợ chồng ra tay dọn dẹp. Chủ cũ nuôi chó, nuôi mèo, nuôi rắn nuôi cá trong nhà. Nhà có bốn phòng, họ ở hai phòng, một phòng cho rắn và kỳ nhông, một phòng khác nuôi cá. Hôm xem nhà, mẹ chồng tôi hốt hoảng bước dội ngược, khi nhìn con trăn to thật to, thân mình cỡ bắp chân người lớn chứ không ít, nằm bên trong cái bồn kính chiều ngang bằng căn phòng gần 4 thước, chiều dọc cũng khoảng một thước.
Tối trấn an: “Mình mua nhà xong, người ta dọn hết đi mà mẹ."
Vì họ thích thú vật nên vườn tược không được chăm sóc, vườn sau cỏ cao hơn đầu gối. Sân trước đẹp hơn, có cổng rào, dàn hoa diên vĩ viền chung quanh.
Đi làm về, vợ một cái cuốc, chồng một cái cuốc hì hục đào hết đám cỏ tranh, cỏ gà xuống tận rễ, mọc đầy ở sân sau. Rồi bứng cỏ từ sân trước trồng vào. Loại cỏ này thật lạ, nó chỉ mọc ngang, mạnh và xanh mơn mởn, không cần uống nước nhiều. Chồng trồng cỏ, vợ trồng rau và hoa.
Hạt giống tôi được các bác tôi cho. Bác tôi sống ở thủ đô tị nạn Little Saigon, khí hậu tương đối giống như khí hậu Đà Lạt, bác trồng đủ mọi thứ, từ tần ô đến ổi, mía xoài. Dàn bí, bầu, dưa gang, dưa bở đủ cả lăn lóc trên mặt đất. Đến thăm bác tôi cứ mê man với rau với trái.
Thế là khu vườn của tôi có đủ thứ, tôi đếm tất cả đến gần ba mươi loại rau trái Việt Nam. Luống cà pháo, cà tím, cà đĩa, cà xanh ra hoa tím cả góc vườn. Mồng tơi, lá mơ leo lên giàn bên hàng dậu, chưa kể dây su-su mọc sang cả nhà hàng xóm. Rau đay, rau cải xanh, cải làn, cải trắng, rau húng quế, húng lủi, húng cây, hành hẹ ngay cả rau má tôi cũng trồng và sau đó hối hận nhưng hiểu ra câu “dây mơ rễ má.” Hai loại rau đó sống dai kinh khủng, dây mơ cắt chặt sao nó vẫn vươn lên kiêu hãnh, rễ má cuốc cào thế nào nó vẫn anh dũng ngoi lên.
Bầu bí mỗi ngày mỗi lớn như thổi, cô con gái út trồng trái bí đỏ, nó cho ngay một trái to bằng cái thúng đựng gạo. Tôi có một cây rau dền đỏ vô tình hạt bay, mọc trước nhà, nó mọc vùn vụt cao hơn mái nhà của vợ chồng tôi. Hàng xóm cứ cười và nói đùa là nhà tôi có cây đậu của anh chàng Jack và dặn dò tôi đừng leo lên, kẻo mà biến mất.
Cây chuối tôi cũng trồng, sau mới biết nó ăn đất kinh lắm, chưa kể mùa đông lá bị lạnh hư hết, nhìn buồn thảm não nề, tôi phải mất gần hai tuần để chặt và cuốc hết bụi chuối, rồi đám tre nữa, tôi nhốt nó trong cái thùng nhựa thật to, vì biết rễ tre mạnh, nó có thể chuồi vào xi măng tìm khe chui lên mọc tiếp. Tôi mang hết nỗi lòng nhớ quê nhà vào mảnh vườn nhà tôi.

Hàng xóm của tôi là những người địa phương, phần đông đã về hưu. Khu nhà tôi ở được xây cho công nhân làm ở hãng xe Ford. Các ông bà ở nhà một mình, không con cháu chung quanh, nên thích nói chuyện với cô hàng xóm vừa đến ở, hay lam hay làm. Sáng nào khi tôi ra sân trước trồng tỉa thế nào cũng có người ghé sang đứng nói chuyện cùng, có khi giúp tôi nữa. Ai cũng nói tôi có ngón tay trỏ màu xanh - green thumb - nên đụng cây nào nó cũng lên hoa kết trái, khi tôi gom một đống rễ hoa hồng từ nhà thím tôi về trồng.
Thím tôi có một khu vườn trồng đầy hoa hồng. Thím mua các cây hoa từ nhà trồng tỉa chuyên nghiệp J&P, thím giận cây không ra hoa đều, nên mướn người đến cuốc hết lên để trồng một loạt hoa mới. Tôi nhìn chúng tội nghiệp qúa, chỉ vì không ra hoa nữa mà bị ruồng bỏ nên mang về trồng lại. Khi ấy tiết trời vào đông, lạnh lắm đối với tôi, nhưng vì thương chúng qúa, tôi hì hục đào đất để chôn rễ xuống. Ai ngờ khi xuân sang, nắng về chúng bung nụ, nở hoa thưởng công tôi.
Bà hàng xóm theo dõi từ khi tôi mang những cây hồng gần chết về đến khi hoa nở, cùng vui với tôi.
Mấy cây hồng này cũng khổ, chết đi sống lại mấy lần vì tôi không biết chúng màu gì khi trồng xuống, nên khi ra hoa mới có thêm chuyện phải bàn. Tôi muốn màu sắc hài hoà, nên đợi khi đông đến đào lên trồng lại, chưa kể tôi còn chia gốc ra làm hai, trồng hai nơi khác nhau. Chồng tôi sốt ruột cho cây, nên hát chòng tôi: “Hồng chết hai lần ruột gan nát tan."
Nhưng khi xuân đến hoa nở, cây vẫn mạnh khoẻ anh cười gọi tôi là bác sĩ giải phẫu hoa hồng. Tôi nghinh mũi lên nói: “Em chứ bộ."
Hồng trồng ở đây dễ lắm, chỉ cần đủ nước, phân bón, cắt tỉa là hoa nở tưng bừng như trẩy hôi. Không như ngày còn ở Việt-Nam muốn có một đóa hồng là cả một công trình. Tôi nhớ thuở đôi tám, có anh chàng hàng xóm, đi Đà Lạt về tặng tôi một chậu hoa hồng nhung đỏ. Chậu màu xanh biếc, cây hồng được nâng niu chăm bón có đúng một nụ hoa. Anh chàng mang chậu hoa sang nhà, len lén để trước hiên xong biến mất. Thấy có hoa thích qúa, mang lên lan can, để dưới giàn hoa thiên lý, bên cạnh chậu tí ngọ và chỉ sau hai nắng hoa cháy chết tươi chưa kịp nở. Lúc ấy tôi chỉ biết câu:
“Trồng hường phải khéo che hường
Nắng che mưa đậy hường thời tốt tươi.”
Mà mải chơi, hơi đâu che đậy hường dưới nắng gay gắt Sài Gòn, tội đóa hồng đầu tiên ấy vào tay tôi, cũng như tội anh chàng hàng xóm ngây người nghe tôi trả lời cây hoa hồng chết ngắt, khi đón tôi ngoài ngõ.
Trong vườn tôi có đủ mọi thứ, cây gì hoa gì tôi cũng trồng. Trồng vì người ta cho, trồng vì nhớ nhà, trồng vì thấy hoa gần chết, trồng vì yêu hết mọi loại hoa, hoa nào cũng yêu, nhất là nhà nhiều đất qúa. Ở Việt Nam có vài cái chậu be bé tôi cũng đã có một công viên nho nhỏ trên lầu, huống gì bây giờ, đất vườn trước, đất sân sau.
Nhà tôi còn có hai cây “trời trồng” nữa. Hai cây này chồng tôi chăm sóc. Anh cũng không biết nó là cây gì, chỉ thấy nó mọc lên và anh tưới nước, ai ngờ một cây là cây hoa anh đào hồng, mùa Đông lá rụng sạch, sang Xuân hoa phủ đầy cây, rụng đầy mặt đất. Mỗi lần hoa nở, anh lại nheo mũi nói: “Em xem, cây anh trồng chả tốn gì, mà đẹp chưa ?”
Khi hoa tàn, cho trái giống trái mận Đà Lạt, khi trái chín, tôi hái cho vào lọ làm rượu uống vui vui.
Một cây nữa mọc ngay hàng rào, theo tôi cây ấy là cây dại đáng ghét, mọc không đúng chỗ, lỡ rễ nó ăn hư mất cột hàng rào, nên cứ len lén nhổ, ai ngờ nó lại lì lợm ngoi lên, anh gắt: “nó chòng ghẹo gì em mà em ghét nó thế, để đấy cho anh.” Tôi “để đấy” mà thành cây xanh ngắt, lá nho nhỏ màu ngọc già, có hoa li ti màu trắng, rợp cả góc sân. Nhất là nó không cần uống nước. Anh lại có dịp nheo mũi: “Em thấy chưa ?”
Nhà tôi cũng có một cây mận ngon lắm, ngon đến nỗi Mẹ chồng tôi mỗi năm đều nhắc: “Không được cho ai, để dành hết cho mẹ,” dù cây cho cả mười thùng trái mỗi năm. Trái hình trái tim, chín có màu đen, vỏ bọc một lớp phấn mỏng. Loại mận đen này bán đầy chợ, là loại trái mùa hè. Nhưng trái nhà tôi ngọt và thơm lắm. Một lần đi lên vườn trái cây hái trái, tôi để dành hột và gieo, ai ngờ cây mọc nhanh và cho tôi trái ngon ngon là. Chưa kể mùa Xuân hoa trắng xanh nở rộ một góc vườn.
Cảm giác nhẹ nhàng dễ chịu khi trong gío thoáng mùi hoa, mùi cỏ, mùi hăng hăng của hẹ, mùi ngai ngái của cúc, mùi dạ lý, dành dành. Vườn tôi còn thiếu giàn hoa thiên lý, tôi nghĩ không lâu đâu tôi phải tìm cho ra. Nhà tôi khi nghe tôi gọi to: “Anh ơi” ở ngoài vườn, là anh đã trả lời: “Đẹp qúa, đẹp quá!” Vì rất nhiều lần, khi anh chạy vội ra, được tôi chỉ cho xem một nụ hoa vừa nhú.
Rồi hai chúng tôi quyết định, không trồng rau nhiều nữa, chỉ tổ nuôi ốc sên và tốn tiền nước tưới mà ăn chẳng được bao nhiêu. Phải mà ở Việt Nam, tôi tha hồ bó rau đem ra chợ bán nhỉ. Bầu bí nhiều qúa đem cho lại tốn thêm tiền xăng, có lần đem lên Me tôi, thấy trong nhà vẫn còn mấy trái tôi đã đem lên tuần trước.
Tôi chỉ giữ lại rau thơm, rau húng, rau ngổ, rau ngò. Mỗi mùa trồng vài cây cà, vài cây dưa là đủ. Hạt giống của rau dền bay theo gió, mọc lang thang mọi nơi, dước gốc hồng, lồng vào bụi diên vĩ, len trong bụi sao nhái lily, cũng đủ nấu canh tôm Hai cây ớt làm duyên, thế mà đủ để ăn hết cả mùa đông, chưa kể khi bạn đến nhà, được ra hái mang vào ăn cơm cho vui miệng.

Khu vườn của tôi, niềm vui của tôi, hạnh phúc của tôi. Có lẽ tôi diễn tả, kể lể về nó nhiều qúa, mang hết yêu thương của tôi vào nó nhiều qúa nên ai cũng tưởng tượng, vườn tôi phải rực rỡ lắm, đặc biệt lắm, to lớn lắm. Không đâu, vườn tôi rất đơn sơ, chỉ đất cùng cây. Cây tôi không sang trọng, hoa tôi không kiêu căng chúng bình dị như đời sống tôi mỗi ngày. Vươn lên cùng nắng, uống giọt sương đêm, và đợi chờ được chở che những ngày mưa giông, những đêm giá lạnh.
Vườn tôi cửa không khoá, bạn vào thăm, hoa cỏ đón mời.

Ấu Tím










Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2021 18:29:40 bởi Ct.Ly>
2. Một Quãng  Xuân Thì
 
 
 
 
Mùa xuân năm ấy hoa xác pháo rụng đầy sân. Năm ấy trời bỗng trở rét hơn mọi năm, buốt vào xương thấm vào tận tủy. Tôi lên Bảo Lộc vì gia đình bị bắt hồi hương lập nghiệp, không đi cũng chẳng xong. Thì đi. Sẵn có mảnh đất trồng trà, café, chúng tôi hân hoan về vườn cuốc đất.
Đang ở Sài Gòn, nóng thì hừng hực, mưa thì chĩnh đổ, được lên miền đất đỏ cao nguyên sống thì còn gì bằng.
Trời lúc nào cũng hây hây gió mát, ngay cả giữa trưa, cây cỏ xanh ngăn ngắt, đến cả hoa dại cũng đẹp. Con gái ai cũng xinh, làn da trắng mịn màng, má đỏ, môi hồng đôi mắt đen nhanh nhánh. Thêm các cô gái Thượng lạ lùng  “xấu đem dấu, đẹp mang khoe,” nghĩa là các cô còn trẻ chưa có chồng không cần mặc áo, các cô đã có chồng phải mặc áo vào.
Mấy tháng đầu còn vui đời sống mới, đi lang thang thăm nhà nọ nhà kia, nhìn những ánh mắt thán phục “người Sài Gòn lên chơi” của các cô hàng xóm, vài tháng sau biết rõ buồn vui. Khí hậu có mát mẻ thật nhưng buồn không tưởng nổi, nhà này cách nhà kia cả mấy phút đi bộ, không nghe tiếng gì ngoài tiếng lá xào xạc, tiếng chó sủa khi có ai đi ngang. Đã thế trời lại mau tối, đèn đóm khi có khi không. Điện được phát từ máy phát điện của nhà thờ chính. Khi có dầu máy chạy, mua dầu không được máy đi ngủ ngon lành. Máy thì ngủ, người còn thao thức với đèn dầu, đèn khí đá.
Con người có chân chất, củ mỉ cù mì thật, nhưng xoi mói phải biết. Người trẻ soi mói kiểu người trẻ: “Thằng đó khoái con nhỏ đó,” - “Con nhà bà Xuân đã có người bỏ chè,”
-“Con ông Yên trả của không thèm lấy chồng, ế cho mà biết,”
 - “Anh Phát bị bồ đá, phải bỏ Đà Lạt về nhà ôm hận.”
Người già soi mói kiểu người già:
- “Khiếp, chẳng biết thân rơm rạ cứ hão sự chòi cao, cái nhà bà Bổn bưng trầu xin con dâu bị chúng hắt ra cửa, chiều con cho lắm vào.”
– “Ông Tuần vừa cho con vào học Sài Gòn đấy, nay mai là cậy được rồi.” v.v.
Tất cả chỉ quanh quẩn chuyện lấy vợ gả chồng cho con. Nhà có con gái quá mười tám tuổi, chưa có ai sang dạm ngõ là khổ sở lắm. Những gia đình có con trai, thì chạy vạy sao cho con, không vào Sài Gòn cũng lên Đà Lạt đi học, lại thêm chiến chinh, người vào lính kẻ vương vất công danh, nên chuyện trai thiếu gái thừa trên vùng cao nguyên đất đỏ rất khủng hoảng.
Sau hiệp định Genève người Bắc di cư vào Nam, một số cha xứ mang con chiên lên vùng cao nguyên lập nghiệp.
Mỗi giáo xứ có một ngôi thánh đường riêng, Tân Hà, Tân Bùi, Thánh Tâm. Tiếng chuông nhà thờ mỗi sáng, mỗi trưa, mỗi chiều mỗi tối điểm xuyết thêm vào nỗi buồn của miền cao nguyên đất đỏ, mưa mù.
Ở Sài Gòn nhà cửa san sát, chòm xóm người Nam có sao nói vậy, không khách sáo như người miền Bắc, nhất là trong xứ đạo, ngoài tình họ hàng ruột thịt, còn thêm tình người làng. Tôi mất gần hai tháng để nhớ phải gọi ai là ông, ai là bác, ai là chị ai là cô. Có người râu dài thật dài, đi đứng run rẩy nhưng chỉ là vai anh của tôi, có người trẻ cỡ tuổi mình lại phải gọi ông xưng cháu. Tôi chỉ gần gũi với gia đình bác Thọ, anh con cô con cậu với ba tôi. Xa Sài Gòn mới biết, đời sống vùng cao nguyên khác hẳn. Muốn đi chợ, nhà thương, bưu điện, hay mua vé xe đi đâu, đều phải ra huyện Bảo Lộc.
Huyện cách khoảng hai đến ba cây số, người dân thường dùng phương tiện “đi bộ,” sang hơn chút nữa dùng xe lambretta. Cần thiết lắm người ta mới ra ngoài ấy, còn thì quẩn quanh với mấy cái chợ xép trong làng.
Buổi sáng sau hồi chuông nhất, khí trời lành lạnh, mây xam xám buồn buồn, đi bộ ra chợ Tân Bùi cùng chị Ngàn con của bác họ tôi là thú vị nhất, vừa đi vừa nói chuyện cười đùa. Lâu lâu người Thượng đi ngược chiều, hai chị em phải ngừng lại cho họ đi qua. Người Thượng không bao giờ đi sánh đôi, cứ người này tiếp bước người kia. Họ địu con đằng sau lưng, đầu con bé, thằng bé lắc lư theo nhịp bước. Màu da họ sậm hơn người Kinh tiếng nói líu lo như chim hót, tôi cứ thắc mắc, trời lạnh sao các cô gái không mặc áo. Chị Ngàn nói cho tôi nghe: “Sanh em bé xong, họ nhúng xuống nước suối nên lớn lên sức chịu đựng của người Thượng dẻo dai hơn mình.”
Đi với chị tôi học được nhiều điều mới lạ, chị dạy cho tôi tên hoa, tên cỏ, nhìn mây thế nào để biết mưa giông đang đến, ngửi mùi gió thế nào biết trời sẽ lạnh hay không.
Dọc hai bên đường đi, những bụi hoa quì vàng rực rỡ, thoang thoảng hương ngai ngái, cùng những bụi phù dung cao hơn người, xếp hàng chào đón.
Hoa quì giống hoa hướng dương, tôi đã thấy ở Sài Gòn, nên không để ý nhiều bằng hoa phù dung, có người còn gọi là hoa bại hoại, cái tên nghe cứ sờ sợ là. Hoa phù dung lá xanh không ngăn ngắt, mà như vương bụi trắng, lại gần, trên mặt lá có lớp lông tơ mịn, điểm vài lá úa vàng khô gần gốc, tăng thêm vẻ cô độc lạ lùng. Nụ tròn to bằng trái cà pháo, he hé màu ngà pha hồng phơn phớt. Buổi trưa trên đường từ chợ về nhà, hoa đã nở to lắm rồi, nhiều lớp cánh mong mỏng đu đưa đùa gió. Quá trưa những đoá hoa đậm dần, đậm dần, sắc trắng ngà làn da con gái buổi sáng, thành màu hồng xỉn héo tàn, càng về chiều những đóa hoa càng nhợt nhạt và cụp hẳn xuống dưới bóng chiều tím âm u. Lúc ấy nếu ngắm bụi hoa sẽ thấy lòng chùng xuống, buồn hơn mưa bụi bay.
Phù dung đẹp mong manh vậy đó. Trong nhà có con gái, không ai dám trồng trong vườn hay làm hàng rào, vì sợ không may mắn cho con.
Thế mà chị Ngàn của tôi, len lén chăm sóc một cây trong góc vườn, khuất sau dậu trà tiên. Chị học xong trung học, ở nhà giúp bác tôi làm chè, nuôi tằm, hái cà phê. Cuộc đời chị loanh quanh trong xứ Thánh Tâm, từ ngày bác Thọ của tôi bỏ Sài Gòn về làm cho Ty Canh Nông tỉnh Lâm Đồng. Tôi thân với chị lắm, những lần họa hoằn về Sài Gòn cùng bác, hai chị em có vài tối thủ thỉ chuyện trò. Tôi hiểu chị có trái tim mẫn cảm, dấu diếm chút tự ti con gái “nhà quê.”
Chị không đẹp, nhưng duyên dáng dịu hiền, gần chị tôi hít lấy hít để mùi hương lạ toát ra từ chị. Về Bảo Lộc tôi mới biết hương cỏ, hương chè, hương hoa cà phê đã tẩm vào thân thể chị mùi hương thiên nhiên huyền hoặc đó.
Những tờ thư chị viết, tôi giữ kỹ lắm:
 
Bảo Lộc ngày..., tháng... năm...
Em ơi,
Đọc thư em viết cho chị xong, lòng chị mướt như vườn trà sau cơn mưa phùn buổi sáng. Những sườn đồi xanh biêng biếc, buổi sáng rực rỡ ánh dương hồng, buổi chiều ngậm ngùi chân mây tím. Trời đất thật gần. Chị thấy những đám mây mang mưa đến dần từ ngọn đồi bên cạnh.
Nhìn những người hái chè vội vàng chạy trú mưa, chị thản nhiên cho mưa vương tóc, gội đầu đã có cỏ ngải hương.
Trên đồi chè, luôn có vài cái chòi để người ta vào trốn mưa trốn nắng, vào đó để mở gói cơm, gói xôi ra ăn bữa trưa. Em ở Sài Gòn khó tưởng tượng ra miền Đông đất đỏ
phải không? Khí hậu lạ lắm em ạ, trời có nắng thì nóng ơi là nóng, chỉ cần cơn gió nhẹ em đã cảm ra ngay cái rét cóng vào xương.
Vì khí hậu như thế nên ai cũng biết đan. Mua được len mới để đan rất khó, người ta dùng áo len cũ tháo ra, giặt, phơi rồi đan thành áo kiểu mới. Hình ảnh những sợi len cũ hong ngoài sân nắng cứ lâng lâng thế nào, cũ gột rửa thay đổi thành mới, những mắc sợi len đan vào nhau từ hai que đan, được gọt bằng cật tre, đan lâu ngày mồ hôi tay thấm vào lên nước bóng loáng.
Khác hẳn với hình ảnh hong tơ. Tơ chị nhắc đây là tơ tằm em ạ, bên cạnh những đồi chè là những ruộng dâu được trồng để nuôi tằm. Con tằm mới lần đầu nhìn thấy ghê lắm, kinh lắm y như con sâu, nhưng khi biết nó rồi em sẽ rất thích, giữ nó trong tay man mát là. Từ khi mua trứng về, phải để đèn ấp cho tằm nở, trứng tằm bé lắm chỉ bằng đầu tăm, khi nở ra chỉ thấy hằng hà những cái đầu tăm nhúc nhích, lúc ấy lá dâu hái về chỉ được dùng lá non, đã phơi khô nước, thái thật nhuyễn cho vào cái đĩa trẹt, chỉ cần một đêm thôi, cái đầu tăm phồng lên gấp ba, “Eo ơi con sâu !” Chị đã la lên như thế lần đầu khi trông thấy chúng.
Nuôi tằm vất vả lắm, không khéo giữ gìn là tụi nó lăn ra chết. Khéo có nghĩa là phải giữ nhiệt độ vừa đủ ấm, trời Bảo Lộc lành lạnh, nên phải để đèn trong phòng nuôi tằm, phải có màn cửa vừa vặn thế nào, cho ánh sáng mặt trời không suồng sã rọi vào phòng, tằm chỉ cần ánh sáng dịu nhẹ xuyên qua kẽ lá. Chỉ cần hai tuần đầu lau, thái lá dâu, đến khi tằm lớn vừa đủ chỉ việc cho lá vào nong tằm, chị quên kể thêm là từ cái dĩa trẹt sâu lúc nhúc, sau khoảngg hai tuần đã thay bằng cái nong đường kính rộng gần một thước, khoảng một tháng sau, cần đến những ba cái , cho đến khi tằm ăn rỗi đã thành hơn mười nong.
Tằm ăn rỗi là khi tằm ăn nhiều thật nhiều, vào phòng nuôi tằm em nghe tiếng rào rào như mưa, tụi nó ăn nhanh lắm, ăn đến nỗi cả thân mình dài khoảng ngón tay đeo nhẫn của chị căng tròn lên, da mỏng dính trong suốt, chú nào màu vàng cho tơ vàng, chàng nào màu trắng cho tơ trắng. Lúc này khổ lắm vì phải tìm đủ dâu cho các anh chàng ấy ăn, ăn không đủ no là tơ không đủ đẹp.
Khi tằm đủ chín, là khi những cái né được mang ra.
Né là cái giàn được kết bằng cành khô cao khoảng hơn một thước, làm thành từng bậc cách nhau cỡ một gang tay. Tằm được rải đều đặn lên né và chúng tự tìm chỗ chui vào nhả tơ. Khi kén vàng, kén trắng kết hình xinh xinh như qủa trứng chim, là khi mình phải mang tất cả những giàn kén ra phơi nắng. Nắng càng to tơ càng óng mượt. Mùa phơi kén, đi dọc theo đường làng đẹp lắm, không khí mát lành lạnh, màu nắng vàng rực rỡ, nhảy múa trên đám dây tơ hồng, mọc quấn quýt trên dậu trà tiên, ẩn hiện những né kén tằm tạo nên bức tranh góc cạnh đẹp lạ lùng.
Mùa kén chín là khi mình phải ươm tơ ngày đêm, không lấy tơ ra ngay, chú tằm cắn kén chui ra, hóa bướm bay đi mất em ạ. Tằm bay đi, có nghĩa là người nuôi tằm lấy tơ, mất trắng cả vốn lẫn lời.
Ươm tơ tại nhà rất thô sơ. Chỉ cần một cái motor để
kéo guồng tơ đóng bằng gỗ dạng hình tròn, nằm bắc ngang trên một thau nước nóng sôi, em hãy hình dung cái ròng rọc kéo nước từ giếng lên là thấy ra cái chậu nước ươm tơ. Nước nóng sôi đủ làm chết con nhộng trong kén, ngay khi thả vào.
Sợi tơ từ miệng tằm đã chết nằm trong kén bung ra, được những con suốt hình dạng giống như lõi chỉ bằng gỗ, xếp thẳng đứng, giàn hàng ngang xoay tít, nuốt vào bụng kéo lên guồng tơ. Ngày xưa chắc chắn người ta phải dùng chân đạp cho guồng và suốt chuyển động còn khó hơn biết bao em nhỉ?
Ươm tơ không dễ dàng như vũ khúc chị đã xem và có thể em cũng đã được xem. Hình ảnh các cô gái mặc áo tứ thân, hai tay cầm hai đôi đũa, gõ vào nhau tạo nên thanh âm lóc cóc, theo tiếng nhạc: “Ươm tơ tằm ta kéo tơ dệt áo...” Nhà neo người có lúc không dám bỏ đi ăn, chỉ một tích tắc thôi là những ngày hái dâu nuôi tằm đổ sông đổ biển.
Chị có đọc trong sách viết về tơ tằm, người ta bảo tơ phụ thuộc vào dâu. Lá dâu cho tằm ăn dày dặn tươi tắn thế nào, thì tơ dệt lụa chắc bền mềm mại thế ấy. Ngồi ươm tơ nhớ câu “Kiếp tằm phải nhả tơ - Kiếp tằm phải vương tơ” mà thương. Có ai khoác lên người vuông lụa mà nhớ đến thân tằm?
Chị Ngàn”.
 
Đọc thư của chị nhẹ nhàng thanh thản, nhưng khi có mặt bên guồng xa, nhìn chị ươm tơ, nhìn giọt mồ hôi đổ xuống từ chân tóc, tôi cảm thấy lồng ngực mình nặng trĩu.
Đúng như chị viết, ươm tơ thật, hoàn toàn không giống như trên sân khấu, diễn viên múa tươi cười chúm chím. Trước mắt tôi, trước thau nước bốc hơi nóng nghi ngút, hai tay của chị bị hơi nóng làm cho ửng đỏ, phải thoăn thoắt gắp tơ, hướng tơ vào suốt chỉ ngay khi vừa thấy mối đầu, nếu không làm thế, tơ sẽ bị rối bán không được giá cao.
Ngoài trời dù có lạnh, nhưng những giọt mồ hôi cứ tuôn dài xuống mặt chị, mái tóc nghiêng nghiêng vài sợi miết vào da. Đêm thinh lặng, tiếng guồng xa đều đều róc rách, có lần trái sầu riêng rụng trên nóc nhà, làm hai chị em giật mình, nhìn nhau cười chia xẻ. Chị hay thủ thỉ kể lể mọi chuyện cho tôi nghe nhưng không bao giờ kể gì về bạn trai hay những điều tâm tình bạn gái. Có lần đánh bạo tôi hỏi: “Chị có bồ chưa?” Hai má chị đã đỏ, lại đỏ au thêm, rồi trả lời: “Chị nhà quê ma nó thèm.”
Nhìn hai bàn tay của chị tôi thương quá đỗi, màu vàng của nhựa chè thấm vào những vết da nứt không sao xóa hết, dù đã dùng chanh để rửa. Tôi hay cầm tay chị, thoa nhẹ lên chỗ da ram ráp, ước gì nó biến mất đi, để chị không bị đau khi lạnh. Nhiều lần chị xuýt xoa:
 “Tay em mềm quá.”
Tôi xấu hổ khi chị nói thế, tôi cảm thấy có tội khi chị nói thế.
 
Chị hay dành làm giúp tôi những việc tôi chưa quen làm khi đi ra rẫy cùng nhau.
Bác trai tôi lang bạt kỳ hồ, vài tháng ở nhà, vài tháng biến mất không biết bác đi đâu. Có lẽ từ điều này khiến bác gái tôi giận chồng, không muốn chị tôi có bạn trai, không muốn chị tôi lấy chồng, ngay cả cấm chị không được làm dáng hay trau chuốt cho mái tóc làn da. Bác cứ bảo:
“Ở vậy mà sướng con ạ, đi tu đi cho có phước. Lập gia đình chỉ vướng nợ vào thân.”
Tôi biết chị tôi không thể nào đi tu được, tôi biết tâm hồn chị luôn mong chờ ấp ủ một tình cảm êm đềm, làm sao một người như chị có thể đi tu, đọc lại lá thư:
 
“Bảo Lộc ngày... tháng... năm...
Những đồi dâu đồi chè đầy ấp mộng tưởng thiếu nữ mộng mơ của chị, lá chè nõn xanh, hương cỏ ngải hương dìu dịu màu mây trời thanh thanh, ướp mật hoa café thơm ngát. Chung quanh nhà chị ở, toàn là cây cà phê, hương hoa cà phê nồng đến nỗi sau một đêm quên đóng cửa sổ, buổi sáng chị bị say không thức dậy được, ai nào biết trong hương hoa cũng có chất làm mình say em nhỉ.
Những cây cà phê lá xanh ngăn ngắt, lá xanh hơn chuỗi ngọc bích xưa bà ngoại chị đeo trên cổ. Bà là người Hà Nội, giọng bà nhỏ nhẹ ngọt ngào, bà thích mặc áo dài lụa, quấn khăn nhung. Chuỗi ngọc bà đeo chị rất thích, trước khi mất, bà tháo ngọc rời ra từng hạt, cho các con, các cháu giữ làm kỷ niệm. Hạt ngọc ấy là chiếc nhẫn chị đeo trên ngón tay áp út. Hạt ngọc có lúc lẫn vào với trái cà phê chưa chín. Lẫn vào những cành cà phê nặng trĩu hạt trong vườn.
Hoa cà phê trắng, trắng ngọc trắng ngà, trắng lung linh nắng, trắng xóa ngút ngàn, trắng thẹn thùng e ấp, trắng như trăng vời vợi đêm trong. Chị thích ngắm vườn cà phê mùa hoa nở, mỗi ngọn gió thổi ngang làm hoa xôn xao chao đảo, làm hoa cuống quít tỏa hương. Hương ngọt như chén thạch ngày hè, hương làm đớ lưỡi không thốt nên lời ca ngợi. Đó là tất cả cảm giác của chị khi đứng một mình giăng tay, nhắm mắt hít hương hoa trong khu vườn cà phê bát ngát.
Cây cà phê to thật to như cây mít cũng có, cây lùn vừa vừa như cây trứng cá cũng có, tụi nó giống nhau ở chỗ những tàng lá vươn dài, những nhành mong manh nhưng sức chịu đựng dẻo dai. Không dẻo dai làm sao cưu mang nổi bao nhiêu là hoa là trái. Đến mùa cây cà phê đơm hoa, trên cành chi chít nụ là nụ, những nụ nhỏ dài thanh thanh như nụ hoa dạ lý, đơm từng chùm dọc theo kẽ lá, những con bướm bay lượn tung tăng đua cùng ong hút mật. Khi hoa kết hạt, cánh hoa héo dần tàn tạ, hạt nhô ra đẹp nõn nường, và kiến bắt đầu gầy tổ. Chị ghét những con kiến đi từng bầy rồng rắn, có khi nó rớt lên tóc, bò xuống gáy cắn đau lắm cơ, kiến vàng vườn cà phê nổi tiếng là dữ.
Có vườn cà phê, sợ nhất là mấy con chồn, tụi nó làm hang dưới đất cắn nát rễ cây, làm cây yếu dần rồi chết.
Mỗi lần đi dọn cỏ trong vườn nếu thấy cái hang tròn tròn, là phải hun khói đuổi chồn cho bằng được mới thôi, những lần ấy vui lắm, cả một góc vườn xôn xao.
Chồn có loại chồn hương có loại chồn hôi, gặp con chồn đèn là tim chị nhảy thót, nó cứ thấy đèn là mò tới, có đêm mang đèn dầu đi sang nhà hàng xóm về, gặp chồn đèn chị ném cả đèn mà chạy. Con chồn có đôi mắt ma quái thấy ghê lắm, cái màu đỏ đỏ vàng vàng kỳ cục. Thế mà nhiều người lại thích cà phê cứt chồn, họ trả giá cao hơn gấp ba lần cà phê thường. Người ta bảo hạt cà phê lấy được từ phân chồn ngon hơn cà phê hái trên cây. Theo chị thì mấy con chồn ma mãnh, đợi ban đêm leo lên cây, lựa tìm những trái chín ngon lành ăn thỏa thích. Sau khi đã tiêu hóa hết phần ngọt ngào của trái, chúng thải ra hạt. Dĩ nhiên hạt từ trái ngon, phải ngon là đúng rồi. Cái lợi từ những hạt cà phê cứt chồn không bù lại được cái hại từ sự phá phách của chúng.
 
Hái cà phê có cái thú của leo trèo. Ai cũng có thể hái cà phê, thấp thì hái nhánh thấp, cao thì với nhánh cao, đàn ông con trai leo lên thang, đàn bà con gái tìm nhánh vừa tay mà hái. Cái túi vải bên hông, lựa cành nào trái đỏ thật nhiều vin xuống thấp tha hồ lẩy trái. Cả nhóm người, vừa là gia đình vừa là họ hàng đến giúp công, nói cười rôm rả.
Dĩ nhiên lâu lâu phải một mẻ nhảy choi choi vì đụng tổ
kiến vàng.
Có trái cà phê rồi, mang phơi thật khô, sàng, sấy, sẩy vỏ đi chỉ còn lại hạt, những hạt cà phê có màu vàng thật nhạt pha chút nâu đất xỉn, mùi ngai ngái chua chua. Lúc trái còn tươi màu đỏ, nhấm nháp phần thịt mỏng tanh của trái, có vị ngòn ngọt pha chút chan chát ở đầu lưỡi, phần hạt cà phê chả có vị gì, chỉ nhàn nhạt chán ngắt. Thế mà rang xong, xay nhuyễn, dùng nước nóng lấy những tinh túy trong tâm cà phê ra, nó lại cho vị đắng lạ lùng. Đắng quyến rũ, đắng nghiện ngập, ai đã uống cà phê mà không nhung nhớ, ai đã không từng một lần bước vào quán cà phê.
Vị cà phê trong sách vở, khi các bộ lạc châu Phi tìm ra đã được xem là linh dược, với chị nó là vị tưởng nhớ, vị
nhớ nhung. Pha cà phê có đôi lúc là một nghi thức: Nước phải thật sôi tráng cái tách.
Cho cafe vào phin, cho tí nước sôi vào, vừa đủ thấm cà phê. Đậy phin lại, đếm thật chậm đến hai mươi, hay nghêu ngao hát:
Người đâu gặp gỡ làm chi.
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Mở nắp phin, cho nước sôi vào, đặt phin lên cái tách vẫn còn ấm. Đặt cái tách vào cái chén đựng nước sôi để giữ độ nóng. Chị ngắm từng giọt cafe rơi nhẹ.
Tình yêu không tí tách
Tình hổ phách long lanh.
Nhẹ nhàng nhấc phin ra khi chưa rời giọt cuối.
Đong ngọt ngào óng ánh
Vào vị đắng cuộc đời.
Nâng tách lên môi để biết:
Còn đậm đà tình cũ
Dù tháng ngày tàn phai.
Chừng như chút gió rét
Rừng thông xưa lùa về
Chừng như tiếng giày gõ
Ngoài cổng cũ rêu khô.
Chị tưởng tượng có một mối tình để ấp ủ nhớ nhung khi ngồi uống café một mình thú vị ghê em nhỉ.
Chị Ngàn”
 
Và mùa Xuân năm ấy, mùa Xuân hoa xác pháo rụng đầy sân, mùa Xuân chấm dứt quãng xuân thì đời chị.
Sáng hai mươi tám Tết, tôi hí hửng sang nhà bác chuẩn bị gói bánh chưng, xộc vào bếp, bác gái đang dang tay tát chị, bác rít lên: “Con khốn nạn, mày làm nhục tao, làm nhục tổ tiên ông bà, ai, thằng nào hả con mất nết?”
Chị ngồi xệp dưới đất, bên cái bồ sấy chè, hai tay che trước mặt, tóc xổ tung. Biết tôi vào, chị ngước lên nhìn, nước mắt nhòe nhoẹt, thẫn thờ lắp bắp: “Con xin mẹ.”
Bác gái tôi tiếp tục tru tréo, dù tôi đã chạy đến bên chị:
“Mày đi ngay với tao lên cha, tao đuổi mày ra khỏi cửa, nhà tao bao đời nay có ai đốn mạt như mày, có ai bôi tro trát trấu lên mặt như mày, có ai không chồng mà chửa như mày, đồ…”
Tôi không nghe thêm gì hơn, ôm chị vào lòng hứng đỡ
dùm chị cơn phẫn nộ từ bác đổ xuống. Bác như nổi điên lên, quấn tóc chị vào tay, ghì đầu chị vào cột, đánh, đấm, phang, làm bất kỳ động tác nào bác có thể làm được, để trút hết cơn giận dữ vì sợ tai tiếng thị phi, vì sợ miệng đời mai mỉa, sợ... gì gì nữa tôi không biết hết, nhưng rõ ràng những nỗi sợ hãi ấy che hẳn tình mẹ con của bác. Nhìn mặt bác, tôi sợ bác giết chị mất. Tôi kéo chị đứng lên, lôi chị ra khỏi nhà, dùng lối sau chạy lên đồi chè, vào trong chòi ngồi khóc. Mặc chị khóc nức nở, tôi vuốt tóc chị, dòng tóc mây dài chưa cột được chân ai, đã siết vòng oan trái.
Nhìn đồi chè vắng lặng, xanh biêng biếc một màu, lung linh hình ảnh chị. Chị đội nón lá, chiếc gùi đeo sau lưng, tay thoăn thoắt hái, chùm lá chè trong tay chị hất ra sau, xoáy thành đóa hoa êm ái rớt vào gùi vừa tuần trước, nay chị thảm, chị sầu rũ rượi. Trong gió, vừa hôm trước, thoáng tiếng chị cười rộn rã pha lê, giọng chị nói róc rách suối reo, hôm nay tiếng nức nở nghẹn ngào. Chị yêu thiên nhiên, trân trọng mầm sống ngọn cỏ, nhành hoa, nay chị đang đau đớn vì mầm sống nẩy sinh ngay trong lòng chị, thật là phi lý. Tôi nghĩ chị có quyền chọn lựa một điều gì đó cho riêng chị, chỉ riêng mình chị biết.
Tôi không nói gì, chị đã thôi khóc:
- Em không khinh chị sao?
Tôi lắc đầu. Chị nắm tay tôi nhìn vào mắt tôi nhẹ  giọng:
- Chị muốn có con.
Tôi gật.
Tôi theo chị đi cùng bác đến nhà xứ, bác tôi bắt chị
xưng tội với cha. Nét mặt chị trắng bệch bạch lạp trả lời:
“Thưa cha con không biết.”
Khi cha hỏi người ấy là ai.
Bác tôi đỏ mặt sấn đến định đánh chị. Cha ngăn lại, bảo bác và tôi ra ngoài hiên đợi. Tôi đợi lâu lắm khi cha cho gọi bác vào, biết chị cần có tôi, tôi lặng lẽ vào theo.
Cha khuyên nhủ bác thương lấy chị, cha sẽ gởi chị đến ở với các sơ đang làm công tác truyền giáo cho đồng bào Thượng. Nơi ấy chị sẽ được chăm sóc khi đến ngày khai hoa nở nhụy.
Tinh mơ hai mươi chín Tết, tôi đưa chị đi, bác tôi không nói một lời, không thèm nhìn mặt chị. Những đóa phù dung chưa nở. Tôi thầm nghĩ hoa không nở, sẽ không tàn.
Mùa xuân năm ấy hoa xác pháo rụng đầy sân. Năm ấy trời bỗng trở rét hơn mọi năm, buốt vào xương thấm vào tận tủy. Năm ấy cách nay đã hơn hai mươi sáu năm, tờ thư chị viết cho tôi cách nửa địa cầu vừa nhận được:
 
Bảo Lộc ngày... tháng... năm
Em khỏe không, lại sắp đến Tết, chị gởi em gói chè hoa sói vườn nhà, gói cà phê chị hái từ cái cây già nhất trong góc vườn, gần cái hang con chồn có lần chị cùng em hun khói, và nhất là tấm lụa tơ tằm cho em may áo dài mặc Tết.
Em đừng cười chị viết lan man như ngày nào từ cây dâu nuôi tằm sang cây cà phê rồi sang đồi chè em nhé. B'Lao vẫn như thế, vẫn chè, cà phê và tằm.
Đồi chè vẫn là nơi chị tìm đến, vào căn chòi nhỏ ngày xưa nơi hai chị em khóc cười tâm sự, nhớ em. Chị thôi không ươm tơ nữa, bán thẳng kén cho người ta em ạ, lớn tuổi rồi không còn nhanh nhẹn như xưa. Cây sầu riêng chị cũng bảo cháu Tuấn chặt đi rồi, “sầu riêng chi mà nặng đến thủng cả nóc nhà,” chị vẫn nhớ câu em nói đó thấy chưa.
Em có nhớ những đêm làm trà, nhớ những củ khoai mật, những trái bắp vừa bẻ trong vườn vùi tro, ngon không thể nào tả được không em? Xa quê hương thế nào em chẳng nhớ em nhỉ.
 Quanh nhà chị, bây giờ trồng hoa sói, hoa ngâu.
Những chùm hoa màu vàng, hạt nhỏ li ti, hương không nồng nhưng khi ướp vào trà, trà tỏa hương ngào ngạt.
Cháu Tuấn của chị bây giờ làm hết mọi chuyện chè cháo thay chị. Em còn nhớ, cái nồi luộc chè ngày xưa hai chị em cứ bảo to như cái lò luyện tội, Tuấn nó nhấc lên nhẹ nhàng, anh chàng ra vẻ xốc vác lắm, thương mẹ lắm, cứ bảo:
 “Mẹ đừng làm gì cho mệt, con chỉ đụng một cái là xong.”
Ngay cả khi dần chè, chị có leo vào dẫm cháu cũng bảo: “Mẹ nhúng vào làm gì, con cuộn chè lại đập vài cái còn hơn mẹ dẫm cả giờ.”
Cháu nó thế đấy em ạ, niềm hạnh phúc vô biên của chị. Chị cứ áy náy nợ em cái ngày em đưa chị ra khỏi làng đi trốn, em khốn khổ vì chị, em đau lòng vì chị, mà chị chẳng biết nói sao cho em hiểu, chị không đau khổ gì cả, không sợ hãi gì cả, chị chấp nhận cái điều chị chọn lựa cho cuộc đời của chị. Không may mắn có chồng, ít ra chị có quyền được làm mẹ phải không em? Chị nhớ ơn em đã không khinh rẻ chị dại dột một giờ, chị tạ ơn em đã giúp góc đời thiếu phụ của chị nhẹ nhàng hơn. Chị phải kể em nghe nguồn hạnh phúc chị có bây giờ, em vui với chị em nhé.
Em còn nhớ bài Nhã Ca Thứ Nhất của Nhã Ca không? Bài thơ từ thời con gái chị thuộc lòng, đến bây giờ vẫn trong lòng chị.
Tôi làm con gái, buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại, xanh xao tháng ngày
 Một lần qua đây, rồi không trở lại
Ôi mùa xuân này, tôi làm con gái
Đời như heo may, tình bằng cỏ dại
Giận hờn không khuây, tôi làm con gái
Một lần yêu người, một lần mãi mãi
Bao giờ cho nguôi, bao nhiêu tuổi đời Bấy lần thơ dại, buồn không ai hay!
Vẫn bấy lần thơ dại, vẫn ngậm ngùi không hay. Và chị vẫn bần thần lắng nghe âm điệu giao hưởng của từng mùa, mỗi tiết. Nếu được trở lại, chị vẫn lập lại y như thế.
Chị Ngàn”
 
Chị của tôi vẫn thế, vẫn mẫn cảm nhẹ nhàng, vẫn yêu thương mê đắm trời đất chung quanh. Tôi bây giờ đã biết thưởng thức hương vị chè như chị, ngậm vào đắng chát đầu lưỡi, nuốt vào ngọt lịm tâm hồn. Tôi sẽ viết thư hỏi chị còn trồng hoa phù dung nữa không, bên đây muốn trồng loại hoa này, phải đặt mua với giá rất đắt.
 
Cuối Thu 2002




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.03.2021 19:01:32 bởi Ct.Ly>
 1. Nửa Nhánh Mimosa
 
Gởi đi rồi, vứt bỏ đi rồi sao vẫn còn chút gì nghèn nghẹn. Chuyện đã qua, hơn hai mươi năm thời gian dâu bể, dấu vết xưa chắc gì tìm lại được, người ngày xưa chắc gì còn tơ vương.
Buổi sáng trời mây mù, những giọt mưa phùn từ đêm vẫn dầm dề không tạnh, chiếc áo len chừng như không đủ
ấm mà lòng cứ bảo đi đi. Khoác thêm chiếc manteau, quàng thêm chiếc khăn quanh cổ và đi, chỉ cần đến đấy, chỉ  cần nhìn lại thế thôi! Hơn hai mươi năm sao chẳng mờ đi, sao chẳng nhạt nhoà, chỉ cần chút thôi nhắc nhở lại nhớ  cuồng điên.





Đăng nhập để trả lời
0
4. Nỗi Lòng  

 
 
Chưa bao giờ tôi được khóc sung sướng như thế này, được khóc thỏa thuê như thế này. Nước mắt như giòng suối cạn bỗng mưa rào liên tục cứ thế cuồn cuộn tuôn.
Mùi nhang thơm thoang thoảng, tiếng động chung quanh không lớn lắm, vài lúc có tiếng lào xào, bóng người bước ra bước vào, tôi cần gì biết nữa, được khóc thế này là điều tôi ấp ủ bao lâu, khóc hồn nhiên, không xấu hổ, không sợ ai thấy, khóc ngay ban ngày không cần đợi bóng đêm đồng lõa mới thổn thức một mình, khóc mà không bị ai dỗ dành hay chì chiết, khóc mà không phải kể lể cãi lẫy, chỉ đúng nghĩa là khóc. Bao lâu rồi tôi không được khóc? Bao lâu rồi giòng suối nước mắt cạn khô, bao lâu rồi trên khuôn mặt tôi lúc nào cũng là nụ cười thật nhẹ vô hồn, bao lâu rồi mọi người tưởng tôi chẳng còn phiền não.
Tôi đã khóc như thế ngày nhóm họ, ngày chuẩn bị lên xe hoa về làm dâu nhà họ Nguyễn cho trọn đạo làm con, cho thơm lây họ Mạc, cho thỏa dạ Mẹ già. Mẹ tôi gả tôi chẳng phải nỗi gán nợ cho xong, chẳng phải sợ con ế chồng mà chỉ vì chút hão danh vương vất “thông gia với ông bà Huyện."
Chữ quan Huyện đã mất từ ngày nảo ngày nào, trước khi di cư vào Nam vẫn còn giá trị trong lòng Mẹ tôi. Thêm vào đó bà tin những người đi lễ mỗi ngày là người hoàn toàn đạo đức thánh thiện, xứng đáng cho bà gởi trao con gái.
Tôi chưa biết rõ về người ấy, vài lần thoáng gặp trong nhà thờ khi dự lễ, vài lần chạm mặt chào lấy lệ vài câu.
Dáng dấp cao ráo oai vệ, nụ cười phớt kiêu căng, không đủ để tôi mừng rỡ khi nghe Mẹ tôi bảo nhà người ta sang xin kết thông gia. Nhưng Mẹ tôi mừng rỡ ra mặt khi biết thêm anh ta là quan hai oai quyền có tài xế, có xe riêng.
Bà mẹ nào không vui khi con gái một bước lên quan.
Vừa nhẹ nhàng vừa cương quyết vừa dùng tình cảm, bà thuyết phục tôi phải khứng chịu nghe lời. Tôi không sống hẳn trong thời phong kiến cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, con gái chỉ quẩn quanh xó bếp để đợi ngày người ta cheo cưới mang đi, tôi sống trong thời đệ nhất Cộng Hòa, tôi có bằng tú tài Pháp, tôi đi làm sở thuế Sài-Gòn, tôi không tàn tật xấu xí, tôi biết tôi đẹp, cái đẹp của cô gái Hà Nội ba mươi sáu phố phường, thế mà tôi cúi đầu nghe lời Mẹ đi lấy chồng, cúi đầu nghe lời Mẹ xé nát chiếc áo cưới tôi đã may cho mối tình đầu tưởng ổn thoả bỗng vỡ tan vào phút cuối, khi Mẹ tôi biết đàng trai không cùng tôn giáo.
Ngay sau khi đàng gái ra về để cô dâu một mình ngơ ngác bên nhà chồng mới, tôi ngỡ ngàng khi nghe có người bảo:
 “Sao chưa đưa con ra chào mẹ."
Con là con nào? Mẹ là mẹ nào? Thằng bé khoảng sáu tuổi tròn xoe đôi mắt nhìn tôi! Áo trắng cô dâu chưa kịp thay, khăn voan đội đầu chưa kịp tháo, bao nhiêu chiếc kẹp làm đẹp mái tóc dài bỗng nặng chịch đè chiếc cổ tôi thụt hẳn vào thân mình, chẳng biết bỏ chạy đi đâu. Chung quanh tôi toàn những khuôn mặt lạ, tôi nhận ra khuôn mặt bà mẹ chồng, người đã nắm tay tôi lôi xồng xộc từ nhà lên xe hoa để đến nhà thờ cho kịp giờ lễ cưới.
Tôi chạy đi đâu đây? Căn nhà lạ cửa vẫn còn mở toang bóng xe thấp thoáng qua lại, xác pháo đón dâu còn đỏ đầy mặt đất, những chiếc bàn tròn mướn để đãi tiệc, trơ trẽn phơi ra màu gỗ đen đủi, mốc cời dầu mỡ, sau khi chiếc khăn màu đỏ điều che trên mặt bị tháo bỏ đi. Làm sao chạy, chạy đi đâu? Mắt tôi hoa lên uất nghẹn.
Tỉnh dậy trong căn phòng lạ, chỉ chiếc vali trong góc là quen thuộc tôi lại khóc, khóc hết lòng hết sức, đổ lỗi cho ai? Mẹ tôi ư? Mẹ tôi cũng đâu biết chuyện này? Chuyện gả con gái cho người đàn ông đã có một đời vợ! Nước mắt tôi tuôn ướt đầm mặt gối hồng thêu hình loan phượng, chỉ mình tôi gánh nỗi buồn hận này, tam tòng tứ đức, sự gì Thiên Chúa kết hợp loài người không được phân chia, miệng lưỡi thế gian, làm sao tôi dám phá bỏ, chỗ nào cho tôi nương thân khi trốn chạy.
Ngày đầu làm dâu bằng câu chì tiếng bấc:
- Mợ Cả có học, ngủ trương không dậy sớm nấu nước pha trà.
Ai biết cho tôi cả đêm động phòng chỉ là ngậm đắng nuốt cay nghe lời nhẹ nhàng khuyên nhủ thương lấy con chồng, chỉ là tính toán nói thế nào cho mẹ nghe, xử thế nào cho ra con người có giáo dục, sống thế nào cho ra người ngoan đạo và chỉ là “nghiến răng nhắm mắt cau mày cực chưa. ”[1]
Ngày đứa con đầu tượng hình sau ba tháng làm dâu làm vợ đã trở thành lý do mẹ chồng bắt nàng dâu bỏ việc làm ở nhà hầu hạ. Ôi! Cô Loan trong Đoạn Tuyệt của Nhất Linh may mắn hơn tôi không có đạo, may mắn hơn tôi không có con chồng để phải hãm mình chịu lụy, để phải lôi hết đạo lý con người ra đè nén nỗi ghen tương âm ỉ, nỗi tự ái bị dối lừa! Cứ thế ngày tháng trôi, cứ thế tôi làm dâu làm vợ.
Nhân, con riêng của chồng tôi, được tôi giới thiệu với những người hay soi mói chuyện thiên hạ là cháu mồ côi được tôi nhận làm con, hận thì có nhưng hận ai thì tôi không thể đặt để riêng ai, đành hận số kiếp vô duyên, nhất là tôi không thế nào hận đứa bé chẳng làm gì nên tội. Tôi xây dựng đời sống gia đình trên giòng nước mắt nên nụ cười tôi gượng gạo, lâu ngày thành nụ héo nụ sầu chẳng ai hay.
Tôi cũng có một thời gian hạnh phúc ít ỏi sau ngày cưới, được chồng chiều chuộng đền bù sự chịu đựng của tôi. Ngược lại tôi dạy dỗ tim tôi phải yêu chồng để sống bình thường như trăm ngàn người đàn bà khác, quá khứ chẳng có gì để tôi vương vấn, con tôi thành điểm tựa vững chắc cho tôi lau khô giọt lệ tủi thân mỗi khi nghĩ đến sự thờ ơ hắt hủi của mẹ ruột khi tôi cho bà biết sự thật về cháu Nhân.
Tôi biết bà ân hận, nhưng sự cao ngạo của bà làm bà câm nín, bà tự định ra rằng những việc gì bà làm và quyết định đều phải đúng tuyệt đối. Không có sự cảm thông của Mẹ, bạn bè tôi cũng chẳng còn ai, có gặp vội ngoài chợ cũng đôi lời chào hỏi vội vàng, có gì vui mà kể nhau nghe.
Con ra đời năm một, chỉ quẩn quanh với con mọn, bụng mang dạ chửa đời tôi như bị lãng quên, chồng tôi làm gì đi đâu tôi không hề biết. Mỗi tháng đưa tiền lo chợ búa cơm nước, nhu cầu riêng của tôi nhiều khi anh chẳng thiết đến. Lần sanh đứa thứ ba, ăn cơm nhà thương bốn ngày phát chán, nằm một mình bóng chiều lạnh tanh vàng vọt nghĩ đến con dại ở nhà với chị người làm, chẳng nỡ ở thêm hai ngày cuối gọi xe về nhà.
Hỡi ơi! Trời long đất lở, ai thay chỗ mình ngay trong nhà mình, mối ghen tương thường tình tôi đủ bản lãnh đè nén, tình yêu không đủ để máu sản hậu dâng lên kết liễu mạng tôi, nhưng những giòng nước mắt lại tuôn. Tôi biết lý do tại sao chồng tôi yêu cầu bác sĩ cho tôi ở nhà thương lâu hơn người khác, chẳng phải vì anh lo cho sức khỏe của tôi. Tôi biết lý do anh không vào thăm, chẳng phải vì đi công tác. Tôi khóc vì bị lừa như con nít, tôi khóc vì thấy mình chỉ được xem như thứ đồ chơi không hơn không kém, khóc vì không có nơi trốn chạy sự phụ phàng có thật.
Lặng lẽ khóc nơi xó bếp đến khi chị người làm về mới biết được cậu cho tiền dẫn các em đi xem chớp bóng. Tôi không khóc được nữa từ sau hôm ấy, các con bình thản nhởn nhơ biết gì nỗi nát tan lòng mẹ. Thằng Nhân lại là người quẩn quanh an ủi tôi với những câu nói, cử chỉ đơn sơ bày tỏ tình yêu thương quyến luyến. Nhưng chồng tôi sau buổi ấy trở nên lạ lùng. Tôi không ghen, không hằn học tra hỏi, chỉ âm thầm chịu đựng lo cho con thì anh lại cộc cằn thô lỗ.
Con vừa ba tháng tuổi đã bị nạt nộ quát tháo mỗi lần khóc, bình thủy bị ném vào tường vỡ tan nát, cơm chưa hết bữa chén đã tan tành. Mẹ tôi có lần vừa đến cổng nghe tiếng các cháu khóc, thằng Nhân chạy vội ra cổng đón bà cùng lúc chồng tôi hùng hổ bỏ đi không chào mẹ vợ, trong nhà cảnh đổ vỡ tang thương không che dấu. Thế mà tôi vẫn đon đả chào mời như chẳng có gì khác lạ, Mẹ tôi cũng lạnh như tiền giúp tôi thu dọn, khi con người chai lì vì đau khổ thì có lạ gì đâu một vết xướt nhỏ nhoi.
Mỗi đêm khi màn đêm xuống, các con đã ngủ, nghe tiếng cửa mở là tim tôi thót lại, có sự gì xảy ra cho tôi không? Trận cuồng phong xác thịt không thể chống đỡ, hay lời hoạnh họe ghen tuông vô lý:
 “Còn nhớ nhung gì ai mà thịt da lạnh ngắt đồng đen, mơ tưởng gì ai mặt trơ tượng ngọc.”
Dù cách nào cũng là tra tấn, không thể xác cũng tinh thần. Tôi sợ chồng, ghê sợ chồng. Ai đậm đà chi ân ái, thịt da nào quấn quýt nhớ mãn kiếp mòn đời, riêng phần tôi tởm lợm ghê răng. Rồi tát tai, rồi dây da quất xuống, tôi vẫn không khóc được, sự trơ lì của tôi càng làm anh điên tiết.
Một lần anh đi gom từ tất cả các tiệm sách đến nhà xuất bản trong thành phố, đem một quyển tiểu thuyết mà anh tin nhân vật nữ chính trong đó là tôi, về chất đầy phòng khách, anh có trò chơi mới, mỗi đêm bắt tôi đọc cho anh nghe một đoạn, câu văn nào tình tứ, ý tưởng nào mơ màng là tôi bị đánh, anh đánh tôi cho hả cơn giận gì tôi không hiểu? Giận vì tôi lặng lẽ, giận vì tôi không khóc, giận vì tôi không ghen, không đòi hỏi, không cằn nhằn cau có, chỉ nhẹ nhàng chịu đựng? Có mang đứa thứ tư anh được gởi đi Mỹ tu nghiệp, sự nghiệp của chồng, tôi không được xẻ chia, chỉ biết anh là sĩ quan, những bộ quân phục được tiệm giặt ủi thẳng thớm thơm lừng mùi hồ. Chồng được thăng cấp tôi cũng chẳng hiểu vì sao, anh không đi đánh giặc chỉ quẩn quanh thành phố, tối đi nhảy đầm ở vũ trường nghe cô Cẩm Nhung bị vợ bạn tạt axide hư khuôn mặt liêu trai, anh buồn một thời gian, lúc ấy chắc anh mừng vì có vợ như tôi, không biết ghen!
Gần một năm rưỡi ở ngoại quốc về, anh mang cho tôi món nợ, phải bán hết nữ trang ngày cưới để trả. Biết thân mình chẳng được nhờ chồng, một nách năm con nhỏ tôi bắt đầu nghĩ đến buôn bán, hụi hè. Số vốn tôi giành dụm ngày còn đi làm Mẹ tôi giữ cho nay có chỗ dụng. Lo cho con trở thành niềm vui, sự an ủi lớn lao. Mọi người chung quanh ai cũng khen tôi có phước, chồng đẹp trai, con ngoan ngoãn, thậm chí có người còn ghen tị với tôi ra mặt. Chỉ mình tôi và chị người làm là biết trong chăn có rận, chỉ chị người làm là biết lòng tôi trong héo ngoài tươi. Cháu thứ năm ra đời, tôi mở cửa hàng bán hoa cườm phúng điếu đám ma, cả ngày quanh quẩn với những vòng hoa vừa tươi vừa giả đủ ve vuốt nỗi cô đơn không lối thoát của mình. Gặp những khách hàng không đau đớn vì mất người thân, cũng xốn xang vì lo toan một lần nghĩa tận, để tôi được mở lời an ủi, những lời an ủi tôi thèm được người khác cho tôi.
Rồi chồng tôi bị dính líu đến tòa án quân sự với tội danh buôn lậu, quyền chức anh bị lung lay, bao thế lực chở che cho anh đều không làm gì được, sau cùng anh thoát cảnh giam cầm vì người ta không tìm ra chứng cớ anh lấy tiền về cho vợ nhà chưng diện, mua vila, sắm kim cương vàng bạc, người ta chỉ thấy cảnh sáu đứa con nheo nhóc, năm đứa tôi sanh và cháu Nhân là sáu, đủ để không bắt anh đi.
Một lần như thế tính anh điềm đạm hơn, để ý đến mẹ con tôi hơn một chút, nhưng tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa, không bị ở tù này, anh bị ở tù kia.
Tháng sáu năm 1975 anh bị đưa đi tù “cải tạo,” tháng tám tôi đi sanh đứa thứ sáu. Dầu đã đi biển mồ côi một mình nhiều lần nhưng lần này hoàn toàn khác hẳn, nhà thương Nguyễn Văn Học bị chuyển giao cho quân quản, toàn bộ nhân viên kẻ ở người đi, bác sĩ làm việc mặt mày thất thần, các cô y tá mặt mũi đăm chiêu, vài khuôn mặt thâm xì chai bủng lâu lâu nhắc nhở những mệnh lệnh lạ tai, không khí ngột ngạt bao trùm. Me tôi vào thăm phải đợi ngoài cổng gần hai tiếng đồng hồ, thấy cơm cho bà đẻ có tép nhỏ bằng đầu đũa rang muối, chén canh bí đỏ chỏng chơ vài miếng, Me tôi bảo: “Cho người ta ăn thế này để chết à?"
Nhìn quanh phòng gần mười sản phụ, em bé nằm ngay bên cạnh, thật là một trời một vực với ngày xưa, thế
mà cô hộ lý miền Bắc còn nhiếc móc:
 “Tư bản thối nát, đồi trụy làm hư hết phụ nữ miền nam, ngoài bắc tớ ấy à đẻ cứ nằm dài mà sổ, mai lại công tác như thường, đâu cần nhà thương nhà thí.”
Tôi hiểu sau hai mươi mốt năm trốn chạy khỏi miền Bắc, trốn chạy khỏi chủ nghĩa cộng sản, đến giờ phút ấy tôi phải đối diện lại với nó. Ngẫm nghĩ hay chồng tôi chính là người chịu trách nhiệm cho sự đổi dời này, anh mải ăn chơi phè phỡn, mải đàn đúm vây cánh hưởng thụ cho sướng thân, không xả thân giữ phần đất nước đẹp đẽ đã được trao sau hiệp ước Genève. Tôi thở dài, mắt ráo hoảnh ngắm con xinh đẹp bên cạnh và mọi sự chung quanh, chợt nghĩ sẽ đặt con tên Hòai Vọng. Tội nghiệp Vọng ra đời trong hoàn cảnh tối đen như thế và cháu cũng chẳng ở lại chia khổ với tôi lâu.
Đến tháng thứ mười tám, sau cơn sốt đột ngột cháu ra đi vội vã không thể nào ngờ. Lại khung cảnh nhà thương, buổi sáng bế thốc con vào bệnh viện Nhi Đồng, bệnh viện tối tân đầy đủ nhất nhì Đông Nam Á, chỉ hơn một năm vào tay kẻ dốt, thành một khu chợ chồm hổm, từ ngay cổng vào phải lạy van anh chàng gác cổng, lấy được cái đơn để nộp thì con lả trên tay, sang khu cấp cứu được biết bệnh nhân còn mở được mắt, không chảy máu là không có chế độ cấp cứu. Cứ đi từ bàn này sang bàn khác, cháu Nhân phải ra ngoài cổng mua đá đắp cho em, trong bệnh viện không có bất kỳ sự trợ giúp tối thiểu nào cho những thành phần được chế độ ca tụng ra rả hàng ngày trên những máy phóng thanh đặt đầu xóm:
“Mầm non của quốc gia, tương lai của dân tộc.”
Đến khi có giấy nhập viện thì đã gần bốn giờ chiều.
Vào được đến khu chữa trị, lòng tôi tan chảy hẳn ra khi phải cẩn thận bước để không dẵm chân lên những em bé được đặt nằm trên chiếu, chen chúc dọc hành lang. Mẹ con tôi tìm được một góc nhỏ gần nhà vệ sinh, mùi tanh làm tôi lợm giọng. Hơn hai tiếng đồng hồ chờ đợi, ông bác sĩ răng ám màu khói thuốc, bảo y tá truyền nước biển cho con tôi sau khi đặt ống nghe qua loa trên ngực cháu. Không lẽ chen lấn vào đến nơi lại bỏ về, đâu còn phòng mạch bác sĩ tư như ngày xưa mà hòng bám víu, con thì nóng như lửa đốt chẳng rõ nguyên nhân.
Đọc nhãn hiệu trên chai nước biển tôi mừng rỡ vì được sản xuất tại Pháp, hiệu lực vẫn còn, hy vọng con được cứu, tôi mệt mỏi tựa lưng vào hành lang ôm con trên tay, nhìn từng giọt nước nhỏ vào ống truyền mà đọc kinh cầu nguyện cho đêm mau qua ngày nhanh đến.
Khoảng một phần ba chai nước truyền thấy con mát dần tôi mừng thầm lay con, cháu hé mắt nhìn mẹ, nhoẻn cười. Nửa tiếng sau thấy cháu lạnh, lay con, con chỉ hơi hé mắt, tôi la gọi y tá xem lại giùm có gì bất thường không?
Cô lạnh lùng nhìn sơ bảo không sao.
Bà bên cạnh có con sốt cao như con tôi an ủi đừng lo quá, hôm qua con bà cũng có lúc bị lạnh sau khi truyền nước biển. Tôi kiên nhẫn đợi thêm nửa tiếng nữa, cháu càng lúc càng lạnh hơn, lại la gọi, lại được trả lời không sao. Lần thứ ba tôi thét lên khi gọi con không mở mắt nữa, bác sĩ y tá bâu lại, tôi nghe loáng thoáng:
“Sao cô cho chảy nhanh thế!”
Là lúc cháu thật sự bỏ tôi mà đi. Mười giờ đêm thẫn thờ làm thủ tục đưa con vào nhà xác, mắt tôi ráo hoảnh.
Nhà xác bệnh viện Nhi Đồng quay lưng ra đường Trần Quốc Toản ngày xưa, lúc ấy bị đổi tên thành đường 3 tháng 2. Nếu con không chết, tôi đã không biết đó là nhà xác.
Bên hông có một cái cổng gỗ khoảng hơn dang tay người lớn, đủ cho chiếc xích lô lọt vào.
Đêm ấy ở lại với con, dù biết chẳng làm gì được. Làm sao nỡ để con lại một mình. Ngồi trên chiếc ghế đá, đối diện với nhà xác, ánh điện leo lét hắt qua khe cửa, sững người nghe tiếng những bà mẹ khác khóc con, có tiếng rên i ỉ, có tiếng kể lể than trách, lâu lâu im bặt hẳn rồi lại bật lên. Tim tôi thắt lại khi giữa đêm tiếng rú điên dại từ phòng chữa trị trên lầu hai vẳng xuống, tiếng rú như dao đâm giữa ngực, như giáo nhọn xuyên hết thân mình. Người mẹ rú đau đớn khi con chết trên tay. Rồi tiếng chân rầm rập đến gần tôi, người ta mang xác mới vào chỗ con tôi đang nằm, người mẹ trẻ không cho đóng cửa nhà xác. Chị ngồi bên con gào khóc, đứa con đầu lòng cũng là đứa duy nhất vì chồng chị đã hy sinh ngày cuối cuộc chiến 30 tháng 4 -1975 đứa con kỷ vật, đứa con tình yêu, đứa con hạnh phúc, nghe chị kể lể gọi tên chồng kêu tên con, nhìn chị lăn lộn kêu gào cho đến khi kiệt sức, tôi vẫn sững như tượng, những bà mẹ mất con khác hòa tiếng khóc cùng chị tạo thành âm thanh tôi chưa bao giờ nghe thấy.
Chúa ơi! Đời sao khổ thế này, có lẽ đau đớn hơn dấu đinh quân dữ đóng trên tay ngài, có lẽ cũng ngang bằng vết đinh chúng đóng trên gan bàn chân ngài. Tôi không sao khóc được, mừng cho con thoát kiếp trầm luân. Nhưng nỗi đau đớn vì mất giọt máu mình đứt dạ đẻ ra! Vậy mà sao tôi không thể nào khóc? Còn nhớ trong những cơn đau khai hoa nở nhụy tôi thầm thĩ nói với các con lời mời mọc xẻ chia khổ đau trần thế, lần này đất nước đảo điên, khi trở dạ tôi ngậm tăm nhìn con đau đớn, rồi lại ngậm tăm nhìn con bỏ mình ra đi.
Ngày trôi, tháng trôi, nhận tin chồng từ ngoài Bắc, tờ
giấy gọi là thơ thăm hỏi kê những thứ anh cần tôi gởi ra tiếp tế. Anh đòi đủ mọi thứ từ thịt khô, cá khô, đến lạp xưởng, chân giò. Tôi không biết anh có hay mẹ con tôi gạo độn bo-bo, khoai củ, chữ “thịt” không dám nghĩ đến.
Những hôm hợp tác xã rao đầu làng cuối xóm có thịt, mọi người cầm sổ xếp hàng để mua, thảm thê sao miếng thịt, thảm thê sao con người, có thật sự cần không miếng thịt nhục nhằn tủi hổ. Tôi nghe những người cũng có chồng bị giam ngoài Bắc nói chuyện, chồng họ khuyên vợ lo cho con vượt biên, khuyên vợ cố làm sao trốn thoát lũ vô thần, đừng đi thăm nuôi xa xôi hiểm trở, không biết thế nào? Tôi chả dám hở răng khoe chồng mình thèm miếng ăn quên cả con cả vợ. Cuộc trần ai biết nói sao cho người hiểu, có những loại người chỉ nghĩ đến thân mình không biết phải trái, không nghĩ đến chung quanh và tôi “may mắn” sao được liên kết đời mình vào đấy! Thì thôi:
 Phải rằng phận gái như mưa sa giữa đời
Có may gặp được biển khơi
Vừa trong vừa mát lại nơi an nhàn
Chẳng may số phận long đong
Lầm than cũng chịu há phàn nàn cùng ai?  
Đến Mỹ năm 1990, dưới những ánh flash chớp chớp lóa mắt của phóng viên báo chí, chuyến bay đầu tiên chở cựu tù cộng sản đến sân bay Los Angles diện H.O1. Anh trả lời vài câu phỏng vấn rất lưu loát, đời sống mới bắt đầu sau bao năm sống dưới chế độ độc tài đảng trị.
Nếu không có các con, tôi đã chấp nhận ở lại chịu đựng chế độ ngục tù ngột ngạt như bao nhiêu người dân Việt Nam không được may mắn tháo bỏ gông cùm cộng sản khác, còn hơn! Còn hơn tiếp nối đời tôi với người được văn chương thi phú gọi là Bạn Đời!
Bạn đời gì Anh? Người bạn đời của tôi! Người bạn đời vội vã quên ngay những dốc, những đèo cao khúc khuỷu? Những đò dọc đò ngang? Những toa tầu chật nêm người từ Nam ra Bắc. Người bạn đời của tôi cũng quên ngay những bao bố nêm chặt ân tình: đường, muối, khô, trà, thuốc, lạp xưởng. Tay kéo tay mang, không màng chướng khí núi rừng Việt Bắc, không sợ thú dữ, côn đồ rình rập, tôi cùng bao người vợ lính khác đi thăm nuôi chồng bị giam tù ngoài Bắc.
Sau một năm được thả, khi không còn run sợ vì những tên công an khu vực, không còn lạ lùng với trình diện họp tổ, lao động đường phố, xin giấy phép đi đường, tạm trú, tạm vắng, anh bắt đầu vứt bỏ bộ đồ nghề sắm vội làm dép cao su, để bay nhảy tìm bạn cũ. Bạn anh, cô vũ nữ ngày xưa từng một thời làm anh điên đảo, lúc ấy vẫn làm anh đảo điên. Quán café của cô là nơi anh đến hàng ngày, chỉ tối khuya không cách gì khác anh phải trở lại nhà. Cô hơn tôi vì biết lên giọng cãi lẫy, biết cười thành tiếng khanh khách, biết cau có nhăn mày, cô biết những tiếng chửi thề giòn tan quyến rũ anh mê mệt. Tôi chịu thua không cách gì học được những điều ấy! Thôi thì môi tôi không đủ ngọt ngào! Thôi thì tay tôi chẳng còn gìn giữ được anh. Đành lại như chiếc bóng theo anh.
Các con hòa nhập rất nhanh trong xã hội mới. Sau bao năm bị che mắt, bịt tai sự khao khát trí thức là sức mạnh giúp các con ra trường, nhận bằng cấp, có việc làm tốt, mua nhà, sắm xe trở thành công dân Mỹ một cách nhẹ nhàng.
Chỉ có anh, mải mơ màng về những điều không tưởng từ phút đầu đến Mỹ là còn khư khư như cũ. Anh phàn nàn nước chủ nhà không tự nhiên phát lương cho anh mỗi tháng, anh mắng nhiếc họ không giữ lời hứa trả cho anh một số tiền to vì anh ở tù Cộng Sản tám năm! Anh hăm he mắng chửi các con, đòi đi thưa cảnh sát cho chúng bị gởi trả về Việt Nam khi không nghe theo lời anh bảo phải làm điều này điều nọ. Anh dè bỉu con trai sợ vợ khi con nâng niu chiều chuộng đưa vợ đi sanh, chăm sóc đỡ nâng giúp vợ bồng con thay tã. Anh làm các con sợ hãi, xa lánh anh ngày một xa. Chỉ còn tôi lặng lẽ bên anh nghe lời anh than vãn. Âm thầm biết trong lòng anh còn tôn thờ nhung nhớ kẻ lạ người xa, những lá thơ từ Việt Nam, những ky cóp anh chắt chiu gởi về. Kể cũng lạ! Anh không cách gì lấy được một câu chì tiếng bấc nơi tôi.
Tôi cũng tự phục tôi khi nhìn nụ cười phơn phớt trên môi nhẹ nhàng thanh thản, trong lúc anh dấu diếm vòng quanh lẩn quẩn.
Còn nhớ hôm vợ Hậu, con dâu thứ hai của mình chuyển dạ con so, Hậu cuống cuồng gọi điện cho mẹ. Nhẹ nhàng nhờ anh chở vào nhà thương với con, anh bực bội khó khăn: “việc chi đến bà."
Anh có biết đâu, ngoài tình liên hệ gia đình, ngoài sự nối kết yêu thương là nguồn cảm thông giữa đàn bà với nhau, giờ phút đớn đau khai nhụy. Đón xe buýt vào bên con để thấy, để so sánh, để thương cảm cho những người phụ nữ Việt Nam, để xót xa cho bao trẻ thơ Việt Nam còn bị đoạ đầy dưới chế độ Cộng Sản. Bước qua ngưỡng cửa bệnh viện, cảm giác an toàn, tin cậy phủ lấp nỗi sợ hãi lo toan, những khuôn mặt y tá, bác sĩ ân cần nhẹ nhàng, xoá bỏ ngôn ngữ bất đồng dị biệt.
Phòng chờ sanh trang nhã như phòng ngủ tại nhà, chồng bên cạnh vợ chở che an ủi, cô y tá lâu lâu lại ghé thăm chừng dặn dò nhã nhặn. Chợt nhớ ngày xưa, khi chờ sanh chỉ một thân một mình lặng lẽ. Từng cơn đau quặn càng lúc càng nhanh của người sản phụ, khiến con trai cũng xuất hạn, cau mày. Tôi biết con trai mình cũng đang đau, cùng đau, với cơn đau của vợ, lâu lâu bắt gặp ánh mắt con nhìn chia xẻ:
“Mẹ cũng từng đau như vậy Mẹ hở?”
Cô y tá gọi bác sĩ, giờ đã điểm. Tiếng kêu thét “Hậu ơi!” Cùng lúc chiếc hoa bung nở, mắt tôi chăm chú ngắm cái đầu tròn trĩnh của đứa cháu thứ nhất vừa nhú ra từ lòng mẹ, tôi không khóc được, nhưng châu thân rần rật cảm giác lạ kỳ khi nhìn tận mắt kỳ công của Thượng Đế, kết hợp hai thân xác, tạo dựng nên thân xác mới. Con trai tôi mắt long lanh, vuốt những sợi tóc ướt mồ hôi trên trán vợ, đặt nụ hôn trịnh trọng thương yêu, nhận chiếc kéo từ cô y tá cắt cuốn rốn cho con. Tôi lặng người đi chiêm ngưỡng từng động tác con làm, như khi tôi thành khẩn nhìn Cha dâng thánh lễ Misa. Đến bao giờ Chúa ơi những người đàn bà Việt Nam quên đi câu ca dao:
Đàn ông đi biển có đôi
Đàn bà đi biển mồ côi một mình!
Câu ca dao nói lên sự cô đơn, đau đớn một mình khi sanh con lặng lẽ. Không biết từ đâu người đàn ông Á-Châu lại xem sự sinh nở là cái gì dơ bẩn, xui xẻo phải tránh xa?
Từ đâu tư tưởng trọng nam khinh nữ ăn sâu vào đầu óc họ?
Và từ đâu người đàn bà Việt-Nam cứ đắm mãi trong nỗi cô đơn? Hay chỉ có mình tôi trong trường hợp này.
Và hôm nay tôi khóc để nước mắt tôi rửa cho hết nỗi lòng tôi đau đớn bấy lâu, rửa cho sạch bao giận hờn chất chồng ngày đời tôi kết với đời anh trong cung thánh năm nào. Ngày mai tôi được sống lại với chính tôi không còn anh, bóng ma ích kỷ ám ảnh. Không còn anh tạo cho tôi cảm giác thế giới hoàn toàn lệch hẳn về một bên, thế giới đời tôi luôn phập phồng nghiêng ngửa.
Mà anh vội vã làm gì? Trước hay sau cũng gặp, “Họ” đã đến được Mỹ là có ngày anh được gặp. Anh ghen tức làm gì “Người ta” không lấy Việt-Kiều làm sao sang được bờ bến tự do. Anh quên mất tuổi đời chồng chất, không lanh lẹ như ngày còn trẻ, anh quên mất tuổi đời giới hạn tầm mắt anh nhìn, “dục tốc” làm gì cho “bất đạt” dở dang?
Có đến sân bay đúng giờ anh thay đổi được gì mà bất chấp gió mưa giông bão? Vận tốc bao nhiêu mà chiếc xe chẳng còn hình còn dạng, “người ta” đáng giá nào mà anh trả bằng tính mạng của anh?
 
Thế là anh mang cả mấy lá gan sang bên kia thế giới, lá cùng vợ, lá cùng người! Khi đưa anh ra huyệt, tôi sẽ trút khối trầm uất nặng nề nhờ anh mang đi giúp. Sao thì cũng cám ơn anh, tôi đã tìm lại được tiếng khóc, tiếng khóc nức nở vui mừng.
Người ta lại đang khen ngợi: “Bà ấy yêu chồng quá cứ
khóc lịm đi thế kia".
Thu 2001




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2021 19:03:39 bởi Ct.Ly>
12.Bướm Vàng Đậu Ngọn Mù 
 
 
Anh Tư đó ha anh Tư . Lâu dữ dậy hông , mấy chục năm rồi chớ ít sao ? Anh khoẻ ha , tóc bạc ráo rồi . Tui cũng thường . Anh dìa thấy sao , chòm xóm thay đổi hết rồi há . Năm Thung hư gan chết bỏ vợ con lại thương hết sức . Anh nhớ vợ của Năm Thung hông ? Con Ba Ngọc á . Mà anh vợ con gì chưa ? Chưa là sao ? Anh nói anh không quên được tui ? giả ngộ ha anh. Chuyện xưa lắc mà anh nói dậy thành tui mắc nợ anh sao chớ ?


 
 
 
 
 
 
18.Mảnh Tình Vắt Vai
 * Những chữ nghiêng tác giả cố ý dùng âm điệu miền Nam
 

Tui thề tui hổng yêu ai, dì nguời ta cứ phụ tui gòai
Giọng chị Hai hát nghe rầu thúi ruột. Cái âm giọng miền Nam rặt thấy thuơng làm sao.
- Chị Hai à! Chị hát chi một bản nhạc hoài hủy dị chị ?”
- Thì tui bị phụ phàng, tui hát dị chớ sao.”
- Bị phụ phàng là sao chớ ?”
- Chèn đét, phụ phàng là mình thích nó, nó thích mình hai đứa thích nhao, cái gồi nó bỏ mình cái đùng, đi lấy con nhỏ khác chớ sao ?”
- Chị kể tui nghe đuợc hôn ?”
Tui tên Lụa, ông già tía tui muốn đời tui suông sẻ, dịu nhiểu như sa Tân Châu, như lụa xứ Xiêm mà cho tui cái tên như dị. Tên cúng cơm tui điệu đàng mà đế ai biết đặng gọi , ngừi ta gọi tui là con Hai Đẹt. Hồi đó sanh con ra , phải kiêu nó bằng cái tên xấu xí, ra xóm ban điêm phải quẹt lọ nghẹ lên trán để xí gạt quỉ thần, hỗng thôi mấy ổng bắt mất. Rồi tui bị dính cứng ngắt dí cái tên Đẹt đó. Gọi tui tên Đẹt mà tui hỗng đẹt chút nào, ông bà nói con gái muời bảy bẻ gẫy sừng trâu , tui chấp ông bà hai năm, mới mười lăm tuổi tui đà trổ mã con gái.
Tui biết luyến lưu, biết thuơng nhớ âm thầm mà hỗng rõ rệt thuơng ai mới khổ chớ, tui tuởng thằng Năm, thằng Ba , thằng Bảy để ý đến tui ráo nạo. Tui bắt đầu biết liếc con mắt dòm mấy thẳng khi tui đi ngang qua tụi nó, biết đi sao cho ra tuớng xà tuớng điểu, mà trí não tui con nít trân thấy mẹ. Bà ngọai tui bả la tui ào ào:
- Đẹt , mày ăn cơm đơm ra dĩa dậy là theo trai không cần cao trầu cứi gả nghen con, tao đập mày chết cha ngheo, dô lấy chén ăn hôn.
không thì
- Tổ cha mày con Đẹt, mày ga hàng ba ngồi xọc chơn xọc cẳng dị là mày chù mày ẻo gia phong rối rắm, mày khiến chai nó dòm ngó dô mày, có ngày xách giỏ ga đi không lời từ giã ông bà cha má , làng xóm chửi thúi đầu tao không biết dậy con dậy cháu.”
Con gái nhà quê như tui, đuợc cầm cây viết là chiện hỗng có, ba cái cù nghéo, cái cuốc, cái leng là tui rành sáu câu. Mùa lúa nắng chang ra đồng phơi nắng tui hậm hực chong lòng biết nhiêu mà nói ,
“ Trắng da là bởi phấn dồi
đen da là bởi em ngồi chợ trưa”

Ai nói sao nói, tui thấy mấy con nhỏ nhà giào bán chạp phô, da nó in như trứng gà bóc. Da tui chừng một nắng , nó đen thủi đen thui. Tui chùm tui chụp biết nhiêu, nắng nó ăn dô là khó nhả. Tui nghe mấy bà ngòai chợ chỉ dạy, đào củ huệ, trét lên da mặt , qua một điêm, da tui nó sần đỏ như mắc bịnh cùi, tui trốn hết mấy ngày trong nhà không dám ló mặt ra ngòai hóng mát. Mà rồi tui cũng dậy thì, cái thì con gái y như cái búp bông huờng, hé mở. Tui hết dám ra ruộng tắm mưa như hồi bộ ngực tui còn lép xẹp. Má tui bả đâu hay, tui có kỳ có nguyệt. Tui dấu bả còn hơn con mèo cào đất đem chôn đồ phế thải. Tui kiếm khăn khố tui che tui đậy, tui mang ba cái khăn rằn quấn xiết không cho bộ ngực nhú mầm, khúc này tui lo rầu dữ lắm lận , tui hỗng biết tui có mắc bịnh nan y chi hôn, có gần chết âm thầm bỏ tía má tui, dí bà ngoại tui hôn. Cho tới bữa má tui khiều tui dô nói nhỏ :
- Chèn ơi Đẹt, bay có kinh rồi ha, sao không nói dí má chớ , con gái có cái dụ này là phải lo mà tránh xa đám đờn ông con trai nghe hôn, nó đụng tay mày là cái bụng mày chuơng phình lên y như thằng chỏng duới muơng, bay đừng ngu mà ngồi xệp xuống cái đòn mấy thẳng mới đứng dậy nghen , cái hơi nóng đờn ông mà xâm nhập dô máu huyết mày là mày mất hồn mất xác, tan tác đời hoa, lạc lòai đời phuợng , hỗng có phuơng đặng kiếm tấm chồng. Hễ có kỳ nhớ đừng tới lui nơi miễu thờ, đừng ghé ngang khu cúng quảy, đừng láng xáng dô chỗ thầy bà, chiều tà u chạy dô nhà, đừng lóng ngóng ngòai hàng ba , binh tuớng nó đi ngang bắt vía. Má nói dị bay nhớ hết hôn. Đờn bà con gái, có nhiêu đó đặng thủ thân , lo mà kình chống dí hà bá thiên binh nghen con.
Sau bài học làm thân con gái của má tui, tui sợ con trai thấy ông bà ông vải. Tui thấy nó từ xa tui lo đi qua phía khác, mà ngộ nghen, hễ mình sợ nó , nó theo mình. Đám ruộng nào có tui đến mần hầu như đám con trai trong xóm nó cũng mần theo. Nhà nào mà hỗng có ruộng. Hôm nay tui giúp anh, ngày mơi anh giúp tui , mần xoay công dị đỡ mệt lắm chứ chơi ha. Bà ngọai tui đánh mùi mấy thằng ôn theo con cháu gái hây hây của bả, bả theo tui khích rịt , tui đi chợ, bả rảo theo sau, tui xà dô gánh bánh bèo bì, bả ghé dô hàng bánh đúc, tui bang qua khu hàng khô, bả xề qua khu trầu lá. Tui qua nhà con Tám, bả ghé nhà bà Năm. Hai bà cháu tui hình bóng sóng đôi như hai cây dừa bên cái ao đầu xóm. Bả bắt đầu ngấm nghé dòm chom lỏm mấy thằng trong xóm, coi thằng nào tuớng tá ngon ngon , để bả nhận làm nghĩa tế. Y cha kể mà cho hết ngọn ngành tình ái, nó dài thăm thẳm chiều trôi, hồi má tui tới tuổi cặp kê, bà ngoại tui cũng đã từng chọn rể ; chọn đuợc nguời ưng bụng bả khiều tới nhà cho ăn bánh xèo, bánh đúc. Bả nấu canh khoai mỡ, khìa dĩa tép rang, chưng thố mắm lóc, chiên đám rô mề, ê hề bánh trái. Mùa nào bánh nấy, đuợc ăn , đuợc ngắm má tui, đuợc bà ngoại tui bỏ nhỏ ngọt ngào, ổng già tía tui , ừa ổng là ông già tía tui á ;vuớng luới má tui cái một, tuơng tư má tui cái một. Mới đầu ổng ghé nhà, tại bà ngoại tui kiêu, ghé riếc quen đuờng, hỗng ghé thấy nhớ. Mới đầu ổng tuởng tại bà ngoại tui cho ăn ngon nhớ lâu, ai dè, tại cái miệng má tui cuời, tại mồ hôi bệt đám tóc mai , dính dô mặt làm tăng vẻ mỹ miều xuân sắc của bả,. Rồi hai ông bà sáp dô, sóng đôi đến giờ. Lâu lâu ba tui bỏ nhỏ :
- Con Đẹt lo học nấu nuớng, mơi mốt chồng mày nó nhờ giống tao.
Ổng nói mà mắt ổng còn liếc má tui tình tứ.
“Đuờng tình yêu nhiều nỗi gian nan, ai không qua không phải là ngừi” , bà ngoại tui tính coi mòi chắc mẩm như bắp đã trổ hoa, mà rồi thành non èo non uột , bị dì tui không đẹp như má tui , nên mấy thẳng ghé ăn thủng nồi cơm, mòn ba cái đòn mà hỗng thấy thằng nào quen mùi, quen vị. Tui thì sợ ba điều má tui truyền dạy, sợ cái bụng nổi trống chầu, nên thấy mấy thẳng đâu là tui trốn kín mít sau bụi tre tàu. Hễ mở miệng là tui lầu bầu, hễ tui phải dô phụ ngoại tui, là tui đá cái thúng, đạp cái nia, chưa kể hễ ngoại tui biểu tui mần khéo tui cố tình làm cho nó hư nó xấu. Dí lợi chiêu thức của ngọai hết còn hạp thời, hạp tiết , nó cổ lậu cũ mèm, mà tui biết vì ngoại thuơng tui mà lo mà tính.
Tui muốn tự ên tui, lựa một nguời quân tử cho tui, đặng tui phò, đặng tui thuơng tui nhớ. Tui hỗng ưa mấy thằng xum xoe bu ngoại tui đặng đuợc ăn chùa ăn miễu, mà hễ ngoại tui cần nó phụ chút chiện như xay lúa, gánh rạ là nó trốn tuốt bỏ thí đó, cũng con Hai Đẹt này mần.
Tui chấm thằng Phuớc con nhà xay lúa. Thẳng có mái tóc thiệt ngộ, ra tới lộ gặp gió là nó bay bay. Thẳng không để tóc muỗng dùa như mấy thằng ngoại tui chấm, chưa kể bộ dó bảnh bao, thuông thả. Tui chấm nó mà nó không hay, nên một bữa nó ra đi mịt mù không quay trở lại.
Tui qua tới tuổi đôi tám trăng rằm, mà chưa có gì chuyển biến, ngoại tui bàn dí tía má tui cho tui lên thành ở đặng học may. Tui ở nhà cô Ba tui, bả mần thợ may, chu mẹc ơi nguời ta nói thợ rèn ăn sắt, thợ may ăn vải , tui lên ở dí bả mới chưa đầy tháng, bả may cho tui chục bộ bà ba, mặc hỗng hết , bả nói tui ăn bận quê chờ quê chật, ma nào nó thèm tui. Chắc mẩm bà ngoại tui có nói gì dí bả, nên bả mới lo cho tui như dị.
Rồi chiện tình đầu của tui xuất hiện, đó là anh học sanh trọ học ở xế nhà cô Ba tui. Điêm tui ra ngõ gánh nước, ảnh ngồi trên lan can dòm xuống , đốm lửa thuốc lá đỏ như mắt ma làm tui sợ , buớc hụt nhịp té nhào, đó là hồi ảnh biết tui. Niềm vui của tui là từ ngày lên thành tui không bị kiêu là đẹt này đẹt nọ, cô Ba tui kêu tui Lụa à, Lụa ơi hay như con chèo bẻo kêu chiều , dịu nhiểu. Con Bảy nói tui hay, ảnh tên Tuấn. Từ ngày có ảnh tui siêng gánh nuớc biết nhiêu mà nói, con Bảy gặp tui là mang lời ảnh nói tui nghe , cho đến một bữa ảnh xuất hiện ngay bên phông tên nuớc, giả ngộ đi lấy nuớc thay con Bảy. Tui run như con chó mực bị lọt xuống muơng, như con cá lóc quảy hà rầm trong rổ, khi ảnh đứng gần tui. Ảnh nói :
- Trăng hôm nay thiệt ngộ hen cô ?
Tui quýnh qúang
- Dà, ngộ.
- Cô duới Long An lên ha?
- Dà, Long An .
Chèn ơi tay tui xiết cái chéo áo muốn rách , ảnh cứ hỏi, tui cứ “dà” nhịp , đến hồi thùng nuớc đầy, tui phải gánh dìa, ảnh phụ tui tới ngay nhà rồi đuờng ai nấy buớc.
Có lẽ vì má tui hù tui dữ qúa, mà hễ ảnh sáp tới tui thụt cà lui, ảnh tính nắm tay tui , tui tính la làng tháo chạy mà ảnh buông tui cái bịch. Một sáng sau cơn mưa nguyên đêm não nuột, tui hết thấy ảnh xuất hiện trên lan can nhà con Bảy. Tui u qua nhà nó, nó nói tui nghe ảnh đi quân dịch mất mẹ nó rồi. Tui buồn hiu hắt suơng thu, tui chèo queo chèo quẻo, chưa tới nỗi bịnh tuơng tư như con công chúa trong tuồng tích yêu thằng cha Truơng Chi có tiếng sáo ngọt lịm đuờng phèn. Mà lòng tui bổi hổi bồi hồi nhớ cái giọng ảnh hỏi tui, nhớ cái tình tiết ảnh tính cầm tay tui, mà má tui rần rần nóng hổi.
Rồi tới mối tình thứ hai, mối tình này tui đặt nó tên mối tình anh bán gạo, thay cho chuyện tình đầu phông tên nuớc của tui. Cô Ba tui thiệt khó, ăn gạo đòi phải gạo thơm thứ thiệt, hột gạo thon thẻ thơm nức đều rắp y nhau, bị dị mà cổ kêu mấy bà ngòai chợ hễ có phải mang tới tận nhà cho cổ. Nghe tiếng xe bịch bịch truớc nhà là cô tui kiêu :
- Lụa à, ra phụ ảnh mang gạo dô con.
Chèn đét, ảnh cao hơn tui hai cái đầu, tuớng bự sư mà cần tui phụ ha , hỗng lẽ tui cãi, mà chắc cô Ba tui kỹ tính, sợ ảnh mang gạo dô nhà, dòm ngó tới tư gia của cổ . Ảnh xách bao gạo một tay chớ mấy, còn tui phải kéo lê nó trên sàn gạch ạch đụi mang ra sau bếp.
Cứ dị hòai, mà hai đứa tui có nháy mắt dí nhao. Ảnh dòm tui lom lom, tui đã qua mối tình phông tên nuớc, nên dòm lợi thiệt kỹ càng, bị dì hồi anh Tuấn ra đi, nhớ ảnh mà tui đế tuởng tuợng ra nổi cái bản mặt ảnh ra sao mới tức cành hông chớ. Anh này tên Thắm, tui kể cô Ba tui nghe , cô cuời ha há :
- Chèn ơi, con trai tên Thắm thiệt kỳ hen bay, chắc ông già tía nó đặt tên theo vần, con chị tên Tình, thằng em tên Thắm, con nhỏ em trúng ngay cái tên Thiết, thiệt ngặt mà.
May mà em kế tui là con trai nên nó mang tên Là cũng đỡ khổ.
Anh Thắm thiệt thắm nghen, ảnh nói chiện nhỏ híu, muốn nghe tui phải đến thiệt gần, gần đây là cũng cách cỡ ba viên gạch bông, chớ tui hỗng dám ghé gần hơn, sợ cái hơi nóng hừng hừng của ảnh dính dô tui. Một lần ảnh đưa tui lá thơ , chong thơ ảnh nói ảnh muốn làm thân dí tui, ảnh còn cho tui tấm hình, sau tấm hình anh ghi như dì nè ,“Tặng em Lụa tấm hình làm kỷ niệm” . Tui đánh va6`n trật bảng họng mới ra hết câu ảnh viết.Tui dấu cô Ba tui kỹ lắm, lỡ bả biết méc dí ngoại tui là có màn tui bị chuởi thúi đầu.
Chữ nghĩa tui có nhiêu đâu, nên tui hỗng viết đuợc câu nào trả lời ảnh. Chuyện tình tui tồn tại đâu chừng chục lần giao gạo , đến một ngày ảnh hỗng ghé nữa mà là con Thiết, em của ảnh tới, nó tà lẹt khoe dí cô Ba tui, anh Thắm của nó mới lấy vợ , con vợ của ảnh là con của tiệm vàng Mỹ Huê đầu chợ. Chiều đó , lúc nấu cơm , tui quăng tấm hình ảnh tặng thẳng dô ông lò cho nó cháy tiêu đi chiện tình anh bán gạo .
- Chị Hai à, chị hát là chị thề hỗng yêu ai mà , yêu là dữ dội lắm lận kìa, là có mắm tay hen, có hẹn hò hen, có hung nữa đó, chiện của chị chưa tới hồi gây cấn, chưa thấy chị bị nguời ta hung, chưa thấy chị ngả đầu vô vai nguời ta, chưa thấy chị lén đi chơi dí nguời ta mà chị đã thề không yêu ai nữa là sao ? Phải mà chị dám dị là anh Tuấn dí anh Thắm đâu bỏ chị đi. Lần sau ai viết thơ cho chị, nhớ mang lại tui viết trả lời nguời ta cho nghen.
- Thôi đi Tám , mày xúi tao dị, lỡ cái bụng tao chuơng xình lên có nuớc bà ngọai mang tao đi câu xấu, má tao mang tao xẻ ba bốn dồn mắm, chết dị hôi rình.
 2005




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2021 14:19:57 bởi Ct.Ly>
12. Chẳng Thà
Xe Cát Mà Vui
 
 
 
Người ta không cần tìm về kỷ niệm, kỷ niệm tự nó đi tìm người đã có. Kỷ niệm đôi khi đi cùng oan trái.
Như tôi, không bao giờ thèm nhớ hay nghĩ đến nó, tự dưng nó lù lù xuất hiện, ngay ban ngày ban mặt, ngay phố chợ đông người, nó xồng xộc đứng sừng sững trước mặt và cười với tôi. Nụ cười trắng xóa sóng biển. Phải mất vài giây sửng sốt đôi môi mấp máy của tôi mới bật lên thành tiếng: “Hiếu hả?” Vòng tay đã ôm chầm lấy tôi ghì chặt. Tôi cựa mình thoát ra, đôi mắt tha thiết, giọng trầm, kêu tên tôi như tiếng vọng từ đáy âm ti: “Cún ơi!”.
Cả người tôi gai lạnh, cái tên Cún tôi đã vùi chôn như chôn mối tình đầu vào lòng huyệt biển.
Mười sáu tuổi má hồng nắng biển, tóc xõa rong vàng, dập dềnh nước xanh biêng biếc nhập một cùng chân trời cũng ngăn ngắt xanh. Mây trắng lượn lờ sóng ru nhè nhẹ, nhắm mắt nằm dài trên chiếc phao, trôi trôi không định.
Bừng tỉnh thấy bờ xa tít tắp, tôi sợ hãi rú lên. Dưng không cái phao được đẩy vào, nhìn lại có người đang bơi một tay, một tay đẩy phao. Lấy lại hồn vía, lăn ra khỏi phao, cùng bơi vào bờ. Từ đó Hiếu và tôi như đôi sam.
Ngày ấy tôi không còn được đi học nữa vì lý lịch mù mờ, Hiếu hơn tôi một tuổi học trên tôi một lớp. Cha tôi mất tin sau tháng tư 1975, mẹ con tôi về sống với bà ngoại, sáng sớm ra cầu đá chờ thuyền về mua mão cá, đem ra chợ bán lẻ, kiếm lời rau cháo nuôi nhau.
Biển của tôi khi ấy hiền hòa, mặt trời mọc như tranh vẽ, những hàng thùy dương rũ bóng dịu dàng. Sau buổi chợ, tôi thường lấy mấy quyển sách, bỏ vào giỏ xe, đạp ra bãi Dâu nằm đọc. Khi chán tôi vòng về bãi trước bơi lội thỏa thích, chờ quần áo khô, đến cổng trường, đón những đứa bạn còn may mắn được đi học, mượn vở về chép bài học một mình. Hiếu thường đến nhà kèm tôi học toán, dạy tôi đánh đàn.
Nhà ngoại có giàn hoa thiên lý thơm ngào ngạt, buổi tối ngồi dưới giàn hoa thích lắm. Ngày gia đình dì tôi về ở chung, tôi có thêm hai cô em họ để bận rộn. Dượng tôi khi ấy là đầu mối cho những người muốn vuợt biển. Dì tôi dùng sân trước làm nơi bán cà phê, vừa kiếm thêm tiền chi dụng, vừa là điểm hẹn cho những người từ Sài-Gòn xuống xem bến bãi, dễ bề che mắt công an.
Từ đó tôi có việc làm bưng cà phê, tính tiền giúp dì tôi.
Chung quanh hàng xóm của tôi, nhiều nhà bỏ trống sau khi chủ nhà đã nhanh chân chạy thoát cùng các chiến hạm của quân đội, hay nhà nào có ghe đã tìm cách ra đi. Những căn nhà vắng chủ, được các cán bộ nằm vùng chiếm đóng, làm công sở, ủy ban nhân dân, hợp tác xã, quầy gạo, quầy thịt đủ cả. Tôi nhởn nhơ như chim, như bướm, chẳng biết lo lắng là gì, ai bảo sao làm vậy, cứ có giờ là chạy ra biển chơi, thế nào cũng gặp Hiếu ở đấy.
Mới lớn, sự quyến luyến giữa nam nữ đã tuởng như là mãi mãi. Tôi khi ấy, vui ghê lắm quấn quít theo Hiếu từ mỏm đá này đến hòn đá nọ, lục tìm trong khe kẽ những vỏ hàu, vỏ ốc, bơi thật xa để lặn tìm những giống ốc mượn hồn. Nước mơn man da thịt, những hạt cát bám vào tóc vướng víu, khi khô tóc cứng quíu như rễ tre.
Ngoài biển chúng tôi còn leo lên những ngọn núi chung quanh tìm đủ loại trái hoang như chùm bao, chùm nụm mà ăn và cười thích thú, có những thứ trái dại nhìn mọng đẹp, thấy có chim ăn, tôi hái ăn theo, Hiếu hay nói:
“Ham ăn bậy có ngày cứu không kịp.”
 Tôi cũng sợ, nên sau khi ăn, đứng ngay gốc cây đợi chừng mươi mười lăm phút xem có sao không, nếu không bị gì hết, tôi hái cả bụm trái ăn tiếp.
Có lần hai đứa lọt vào vườn mãng cầu chi chít trái, chủ  vườn dùng những lon sữa bò cột vào dây thừng giăng chung quanh, để đuổi khỉ, sóc, chim. Tôi nhẹ nhàng chui qua hàng dây, tìm trái vừa chín tới để hái, Hiếu la:
- Công người ta trồng, Cún hái như vậy tội chết.
Tôi trả lời:
- Sợ thì đi chỗ khác, Cún ăn xong rồi chạy ra.
Anh chàng vò tóc đứng ì một chỗ chờ tôi. Hôm ấy bác chủ vườn vô tình ra xem rẫy, Hiếu nhận tội trong khi tôi vẫn còn đang loay hoay tìm trái chín. Bác không la còn cho tôi thêm vài trái mang về. Bác nói:
 “Đất này của trường Thiếu Sinh Quân, nay mai bác cũng chẳng còn gì, chỉ tiếc công vun trồng phân bón.”
Chúng tôi chui qua dây kẽm gai, xuống sân vận động trường Thiếu Sinh Quân, băng ngang ra ngoài đường lộ.
Những con đường thân quen, bấy giờ buồn hiu hắt. Những lá cờ lạ bay phất phới, hoang mang, nhất là những chiếc nón cối, đôi dép da. Tôi không sợ gì cả, nhưng Hiếu thì biết sợ. Có lần Hiếu kể tôi nghe về chuyện giết người ngoài bãi ban đêm vì tội tư sản. Hiếu nói đến chuyện phải tìm đường trốn đi, tuổi của Hiếu có thể không yên, vì phường khóm đã bắt đầu điểm danh kêu đi làm công tác.
Mẹ tôi hay nhỏ nhẹ bảo:
- Cún lớn rồi đi chơi với con trai hoài không tốt.
Tôi cãi mẹ:
- Đâu có sao đâu?
Nhưng rồi đã “có sao” khi Hiếu âu yếm hôn tôi, hôn thật sự trên môi.
Mẹ tôi ít nói chuyện cho tôi nghe về sự dậy thì xác thịt.
Nên những điều thắc mắc thầm kín, khi thấy đôi nam nữ quấn quít dưới rặng dương liễu, trên chiếc ghế bố để dọc bờ biển, tôi đã giữ kín trong tôi một khoảng thời gian dài tò mò bứt rứt. Nhờ Hiếu tôi hiểu ra và tự tìm biết chính tôi.
Từ nụ hôn vụng dại, tôi đi tiếp miệt mài vượt qua lằn ranh con gái và một chiều nắng xế về tây, tôi đã thả mảnh trinh nguyên theo gió.
Chiếc thuyền sắt mắc cạn, trong vũng đước Bà Rịa bị bỏ lại, hen rỉ, dập dềnh theo con sóng nhiệt cuồng, tình yêu đầu tôi và Hiếu cho nhau, trong lo lắng đảo điên, đi đi ở ở.
Mẹ tôi hay nói: “Khôn ba năm dại một giờ,” tôi chẳng có đủ ba năm để khôn lớn trong yêu thương, nhưng “dại một giờ” tôi không xác định đuợc, khi đang yêu, khi đang mê đắm, lúc ấy, thời gian không còn phút giây để đếm.
Rồi Hiếu đi, tôi ở. Buổi sáng ghé nhà không thấy Hiếu của tôi đâu. Thẫn thờ tôi ra biển, lùng sục mọi ngóc ngách tôi và Hiếu từng chơi trốn tìm, tôi hy vọng đôi bàn tay bịt mắt tôi từ phía sau, tôi mong mỏi vòng tay nhấc tôi lên khỏi mặt đất quay vòng, quay vòng rồi cùng ngã lăn vào biển.
Không gì xảy ra cả, Hiếu đã thật sự đi mất rồi. Vũng Tàu của con Cún ngây thơ, thay đổi như cuộc đời nó, sau bước xoạc, rách toang mảnh hồn mây biếc.
Ngóng ra bãi biển mù chong
Thấy người thiên hạ nhưng không thấy chàng.
Tôi bước xuống nước, sóng nhẹ nhàng ve vuốt bàn chân, tôi đồng thiếp mơ màng đôi tay Hiếu. Nước dần dâng cao lên bụng bập bềnh, tôi kìm đôi chân, ghì xuống cát, không cho sóng đẩy tôi lên, tôi muốn chìm vào biển, cùng lúc lại muốn thi gan, tôi và biển ai hơn ai?
Biển đã thắng tôi, mang tình tôi đi, biển lấy mất hạnh phúc tôi đang có, biển ơi, chiếc bọt nào của Hiếu, chiếc bọt nào của tôi, mà thi nhau bọt vỡ, mà thi nhau tan tành.
Dòng nước linh hồn tôi tràn qua khóe mắt, vị mặn của biển không đánh tan đi vị mặn hồn tôi. Rồi cơn đau quặn xé, núm ruột co quắt, đứt lìa, xây xẩm mày mặt, đường chân trời đỏ cam rực máu, rọi tím đen mênh mông mặt biển chiều tà, biển hút giọt máu của tôi và Hiếu, biển cướp đi tất cả của tôi.
Tôi không để ai gọi tôi tên “Cún” nữa, từ mẹ đến dì đến bạn. Tôi lủi thủi như chiếc bóng một mình. Có những đêm, tiếng sóng làm bạn thở than, tôi lại đi chậm ra biển, để nước dâng cao lên bụng, khoảng bụng trống, như lồng ngực trống hoắc huơ. Trái tim tôi đã đi theo Hiếu, lòng dạ tôi đã không mang được đầy đặn khối tình đầu.
Bãi biển cát vàng lốm đốm rác rưởi, những đoạn biển oan trái xác người, mùi mặn nồng quyến rũ tan đâu mà mũi tôi chỉ ngửi được mùi tanh tưởi lờm lợm, máu huyết hư  hoại nguyệt kỳ.
Biển quyến rũ tôi. Một đêm tôi lẻn lên tàu theo đoàn người vượt thóat, bỏ mẹ, bỏ em, bỏ Vũng Tàu, nơi tôi đã lớn, để đi, đi tìm tình đầu tôi đã mất vào biển, đi tìm một tự do tôi nghe thoang thoáng không hiểu hết ngọn ngành, đi tìm cha tôi người chưa được khai tử, và điều tôi mong muốn nhất là tìm lại chính tôi.
Đến giữa dòng mới hay trên trời, dưới nước, đen nghịt một màu. “Tháng ba bà già đi biển,” biển không sóng to, không cuồng nộ, nhưng hun hút mịt mù. Trong khoang tối, tôi nhìn ra từng đốm sáng con mắt, những đôi con mắt hân hoan sáng rỡ khi đã xa khỏi hải phận Việt Nam. Rồi sau vài ngày, trở nên đục dần như ngọn đèn lụn bấc.
Những con mắt chong mòn mỏi ngóng một bến bãi mơ hồ, chập chờn cơn đói. Chợt xôn xao líu lo tiếng lạ, bàn tay lôi kéo tìm kiếm, nắm mái tóc dài, áp lực tóc ngắn, ngay giữa khoang tàu, sức nặng hải tặc trên thân, không xác định đuợc hơn hay kém người tình. Thêm một lần tan hoang rách nát, mảnh trinh tiết tôi, đau đớn tội tình.
Những tháng ngày vật vờ vất vưởng trên đảo, trong lều, những con người mong cầu tự do quên đi mạng sống, những tội tình trên vai bé thơ, những oan trái trong lòng thiếu phụ, những mất mát đoạn lìa cha con, chồng vợ, thảm họa biển trời, thảm họa con người gây ra cho nhau, chữ tự do ngộp nước.
Trong khoang bụng tôi, khối tình biển hút, hình bóng Hiếu nhòa nhạt, trong khối đớn đau nhân loại chung quanh, giấc mơ nào những khuôn mặt hải tặc chập chùng nhập vào khuôn mặt Hiếu, để tôi khóc thét điên cuồng trong phòng bệnh viện, để tôi hãi sợ hình dạng đàn ông. Ngay cả ông bác sĩ đến gần tôi cũng hét, chỉ khi vòng tay Marion ôm lấy tôi ghì chặt, cơn hãi sợ của tôi mới chấm dứt. Bờ ngực êm của người nữ y tá cho tôi cảm giác ấm áp, như đang nằm trong vòng tay mẹ.
Đến Mỹ, một thân thui thủi, tôi rúc vào sách vở làm con mọt gậm nhấm nỗi tàn tạ phút giây, không tôn giáo nào an ủi được tôi, ngoài những con còng gió mong manh xe hạt cát vàng nhỏ bé. Chiều xuống gió bờ tây lạnh lẽo, mênh mông biển lạnh, những ngọn sóng tạt lên mỏm đá, tôi thấy khuôn mặt, mái tóc, những bàn tay chới với bọt trắng.
Càng sợ hãi tôi càng kiếm tìm màu xanh lờ lợ ấy.
Đời sống dư dật từ tinh thần đến vật chất trong xã hội tây phương đã không cho tôi một góc nhỏ ủi an, sự lạnh lẽo vây bủa mọi nơi, ai biết ai tin có những người bỏ trốn quê hương ra đi, trên những con thuyền mong manh, như tờ giấy giữa biển rộng chập chùng?
Ai có thể trả lời tại sao có những người mẹ dúi con nhỏ vào tay người lạ, trên bến nước tối đen? Tại sao đứa trẻ lên bảy lên tám lẫn lộn trong nhóm người chen chúc trên khoang tầu chật chội, cha mẹ em đâu? Những đứa trẻ ấy có tìm về nguồn cội, có tìm về tay mẹ, hay các em mang vết thương đau đớn đọa đầy, mẹ ruồng rẫy hất hủi, ném em vào phong ba bão táp, mặc em xoay trở một mình trên đảo, sống nhờ tình thương hại của người dưng. Lớn lên hội chứng nào sẽ tồn tại, hệ lụy nào sẽ ươm mầm, trong đầu óc trắng tinh bị khắc hằn những vết dao sâu hoắm.
Căn phòng vuông vức, ánh vàng ngọn nến như ánh chiều quá khứ luôn hiện diện không rời. Những chiếc phong bì mỏng tanh màu ố, có dấu ấn Việt Nam, xếp thành hình vòng cánh quạt trang trí trên mặt bàn kính, không dám mở, sợ đọc chữ mẹ hỏi thăm.
Chỉ còn niềm vui trong những ngày đi mua từng viên chocolate ngọt ngào, từng khúc vải màu sắc hoa văn mẹ thích, gởi về cho mẹ. Tôi khao khát nghe tiếng ngọt ngào mẹ gọi tên tôi, khao khát nhớ mùi tóc quyện hương thiên lý mơn man, đêm hạ nồng bên mẹ, nền gạch hoa mát lạnh dưới lưng.
Marion tìm đến với tôi, đôi bàn tay giơ ra nâng đỡ, cầu nối cảm thông giữa hai con người không chung ngôn ngữ, chỉ bằng ánh mắt và tiếng thở dài. Tôi con bệnh cần bờ vai, lồng ngực hơn cần những viên thuốc an thần. Marion người y tá có đôi mắt xanh màu biển đã thấy những rạn vỡ tan hoang nhỏ máu mỗi ngày, trong nhà thương trại tị nạn năm xưa. Marion đã vụn nát cùng tôi, cùng trăm ngàn nỗi đau đớn khác, những tiếng thét kinh hoàng, những co rút trong góc tối, cả một dãy nhà tiền chế dựng khuất trong góc dành cho những người con gái, bị hải tặc hãm hiếp trên biển, muốn trốn tránh ánh mắt người đi chung thuyền nhìn ngó.
Những giọt máu rơi có giọt tượng hình thành một con người, có giọt bị bức tử thành đốm sinh linh vật vờ bay lượn, đom đóm đêm đen. Ánh mắt xanh màu biển đỏ au.
Hiếu ơi! Tình yêu cho con người hy vọng. Hy vọng của Cún tắt ngúm chìm sâu trong đại dương, chiếm hơn ba phần quả địa cầu, mảnh lạc bờ tây, mảnh tấp bờ đông. Hạt kết tình yêu đầu đời Hiếu cho Cún, đã hòa vào biển, con cá nào ngậm lấy, hải vật nào uống lấy, hay đã hóa rong rêu.
Hiếu ơi! Những con còng gió, những con dã tràng se tròn hạt cát, hạt nào là tình yêu, hạt nào là hy vọng, hạt nào là tiết trinh của Cún, hạt nào là máu mủ của Hiếu. Để Cún chạy theo những con còng gió, những con dã tràng đòi hạt tiết trinh, đòi mầm hy vọng, để chỉ tìm gặp niềm tuyệt vọng mỗi chiều, cùng biển khóc òa òa.
Hiếu ơi! Đừng kêu “Cún ơi” nữa nha Hiếu. Con Cún chết dần từ ngày Hiếu ra đi, giọt máu tình yêu trong tim đã vỡ tan. Phần còn lại của Cún, biển cũng đã hút sạch lòng, rút cạn dạ Cún rồi.
Hiếu ơi! Cún chết thật rồi, chỉ còn lại phần hình hài vật chất, tóc tai mặt mũi, dáng vẻ con người thế thôi. Ngay cả hình hài vật chất, dáng vẻ con người này, cũng đâu còn là của Cún, nó đã đuợc hợp thức hóa cùng Marion tại tòa thị chính San Francisco mất rồi.
Thôi thì xe cát mà vui.
 
Mùa Hạ - 2005




Đăng nhập để trả lời
0
13. Kiêu Hãnh Yêu Người  

 
Người đàn ông nằm thiêm thiếp, lồng ngực phập phồng hơi thở yếu, khuôn mặt xanh tái môi hơi hé mở, mắt nhấp nháy không đóng hẳn. Căn phòng sáng mờ, những ngọn đèn tuýp tỏa ánh trắng xanh buồn bã. Tiếng máy đo nhịp tim bíp bíp đều đặn như tiếng tích tắc đồng hồ, đếm thời gian mòn mỏi, lâu lâu tiếng xì dài đơn điệu từ chiếc máy bơm dưỡng khí, bén ngót cắt khối tĩnh lặng trong phòng.
Người thiếu phụ ngồi thu mình trên ghế, khuôn mặt trông không rõ. Nhập nhòe. Đầu cúi, quyển sổ có đóng gáy lò xo trên tay.
 
“Ngày, tháng, năm 1969
Em yêu, bây giờ đêm đã thật khuya, tất cả mọi người đã ngủ, anh lại nhớ em. Tám tuần sơ khởi đã qua, anh biết em đã đợi nhưng không cách gì anh viết được. Những đêm mệt nhoài ngủ vùi như chết. Bạn anh có thằng ngủ với lon sữa hộp đang tu dở, từ khóe miệng sữa chảy dài xuống gối, sáng dạy phải làm vệ sinh khổ sở.
Sài gòn vẫn vui? Những nhánh lá me Trần Qúy Cáp vẫn đan nhau? Đường Duy Tân bóng lá vẫn đổ dài? Và em vẫn thênh thênh trên đường về học? Chỉ anh là vắng, phải không em?
Khí lạnh cao nguyên se se, hơi sương ngọt, trời trong rộng hơn, thấp hơn những đêm canh gác, mắt trũng sâu vì chưa quen ngủ đất. Đêm mưa cao nguyên lại càng thê thảm hơn. Giày nhèm nhẹp đất đỏ, muốn thắp điếu thuốc có khi mất nửa hộp diêm.
Anh nhớ Sài Gòn, nhớ cái nóng hừng hực trên lưng, giọt mồ hôi lăn trên má, tóc em sợi mỏng, vài sợi quấn vào cánh tay anh, khi anh gò lưng đạp lên con dốc Tự Do.
Tại sao anh sống nơi đây? Tại sao anh chọn đời binh nghiệp? Đến bây giờ anh chưa trả lời cho chính anh được.
Còn quá sớm để trả lời, nhất là sau ngày hành xác nhập trường, ói mửa ra mật xanh mật vàng, bò lê bò càn trên bãi bùn sền sệt, ngước mắt nhìn lên, chỉ thấy đôi giày ống đen kinh hoàng chực đá. Những ngày chạy từ phòng ăn đến cột cờ vô ý thức, chỉ hoàn tòan theo lệnh của các niên trưởng đàn anh, đã qua.
Anh thấm thía hiểu rằng, đời sống binh nghiệp là phải tuân theo điều luật, tuân theo mệnh lệnh một cách máy móc, khác với thời học sinh chỉ có vài điều kỷ luật đơn giản: “Không hút thuốc trong trường lớp, phải bỏ áo vào quần, tóc không được dài quá ót.”
Anh không hối hận khi bỏ Sài Gòn ra đi, anh không tiếc nuối cơ hội được miễn quân dịch, mảnh bằng tú tài hai ưu hạng đủ để anh đứng ngoài cuộc chiến, nhưng anh đi dù nhớ Sài Gòn và Sài Gòn có em.”
 
“Ngày, tháng, năm 1969
Đêm hôm qua cả đại đội lên đồi Bắc, chu kỳ hai tháng qua rất nhanh. Hơn một trăm người rải đều canh gác cho các anh lính Thượng về nhà đi phép. Ngọn đồi ngan ngát thông xanh ban ngày, đêm xuống thành mảng dày đen kịt chập chùng. Hương đêm Đà Lạt nức mũi, khói Bastos xanh phủ trong tấm áo poncho để che đốm lửa, xông thẳng vào mũi, vẫn không át được mùi nhựa thông gắt cay, trộn lẫn mùi đất ẩm lá mục kỳ bí.
Đêm huyền hoặc hơn với những bóng đen lầm lũi, yên ắng nhịp tim rừng, đều đặn tiếng bước chân của người bên cạnh, đôi khi hoảng hốt tiếng gãy của cành khô. Những  câu thơ Quang Dũng: “ Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
– giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến, ” lúc ấy thấm ngầy ngật như vừa uống xong ly rượu đế nồng độ cao.
Anh tự hỏi mệnh số nào, khiến cho đất nước Việt Nam, con người Việt Nam gánh chịu cảnh chia ly nhiều như thế:
“ Xa quá rồi em người mỗi ngã, bên này đất nước nhớ thương nhau  –  Thoáng hiện em về trong đáy cốc, nói cười như chuyện một đêm nao .” Anh có ý làm thơ, anh có ý viết ra những điều dằn vặt nhớ nhung, muốn thổ lộ đôi điều từ con người nhỏ bé của anh, giữa thiên nhiên ngùn ngụt, trong đêm dài canh sáng, mà anh tắt tị, chẳng chữ nghĩa nào hiện đến, ngoài những vần thơ Quang Dũng. Khoảng cách giữa nhà thơ và anh tít tắp, cả không gian lẫn thời gian, nhưng ông đã viết thay anh.”
 
“Ngày, tháng, năm 1970
Nếu có những dự định cho đời mình, ngay khoảnh khắc này anh chỉ muốn ra trường ngay, về đơn vị ngay và chiến đấu, nhất quyết sống chết với chúng nó. Chúng nó mặt vuông tròn, anh không cần biết, lý tưởng có hay không anh không cần biết. Anh chỉ biết đêm qua bạn anh đã chết, cái chết tức tưởi ngột ngạt, chết như mơ, chết tình cờ không định trước. Lựu đạn tấn công lén lút, những tên đặc công ma mãnh, chui rúc như chuột, đợi đêm tối chui ra. Anh nhớ ra tại sao anh lìa thành đô hoa lệ, treo mảnh bằng theo nghiệp kiếm cung.
Mùa xuân Mậu Thân buồn tang tóc, anh tức quá, thằng thanh niên trong anh đau đớn quá. Dãy nhà bị phóng hỏa thí, để mơn man cho cơn cuồng điên khát vọng thống trị chủ quyền, người chết phơi thây ngay trong thành phố. Em bé da thịt cháy đen. Huế điêu tàn đổ nát, bao nhiêu mạng người bị đem chôn sống trong những hố tập thể, chủ thuyết nào, cá nhân nào đã gây ra bao cảnh kinh hoàng như vậy?
Thằng bạn đã hóa thiên cổ, mảnh đạn thù mang nó đi khi nó chưa kịp thù hận như anh. Mắt nó còn mở trừng nhìn anh, khi anh đến nhìn nó lần cuối. Chưa ra trận, đã chết vì đạn thù. Anh đang thù hận, anh mang lòng thù hận.
Nỗi thù hận đã có lý do.
 
“Ngày, tháng, năm 1971
Thời gian đi nhanh quá, anh đã ở đây gần ba năm.
Em lại lên nghỉ hè mỗi năm. Nhớ phố chợ đông vui, mỗi lần anh cùng em sóng bước. Nắng tô vàng vạn vật, mắt em sáng ánh hồ trong, tóc em mây tràn đỉnh núi, tà áo em vờn quấn bước chân anh. Anh nghĩ đến làn da thanh xuân, mịn màng tay vuốt, anh muốn ôm ghì em cho hả nhớ nhung dồn nén, mà anh phải giữ anh lại, chỉ dám nhẹ nhàng dìu em, khi lên con dốc dài đại học, chỉ dám khẽ khàng sửa vài hàng tóc rối, gió nghịch phủ lên mắt môi em.
Anh muốn hôn em ngấu nghiến, anh muốn nhiều hơn điều anh có thể muốn. Em Eva của anh Adam ngày khai thiên lập địa, tại sao anh phải đợi chờ, tại sao có chiến tranh, tại sao hai ta không thong dong trong vườn cây đầy táo đỏ.
Đêm nay anh ngủ với hình bóng em đầy tay ôm, hương em đầy trí tưởng, ngày mai em sẽ lên.
Sinh nhật lần này, anh sẽ hôn em, nụ hôn đầy hơn nhung nhớ, nụ hôn ngọt hơn táo thơm. Món quà sinh nhật của em chỉ hai chúng ta biết được, anh sẽ hỏi em có đủ yêu anh để làm vợ anh không, có yêu anh đủ để là mẹ của con anh không, những đứa con trai con gái đẹp xinh. Uyên ơi.
 
“Ngày, tháng, năm 1971
Em đã chết, chiếc xe nhà binh mười hai bánh đổ dốc, khúc quanh bờ hồ. Chiếc khăn quàng cổ màu rượu chát.
Anh trong trường chưa ra kịp. Ngày sinh nhật cũng là ngày em ra đi. Định mệnh nào em ơi. Uyên ơi.
 
“Ngày, tháng, năm 1971
Anh thôi không viết nữa, quyển sổ này sẽ theo em.
Mang tình yêu của anh dành cho em theo em với nhé.
Vĩnh biệt người anh yêu đầu đời và mãi mãi. Hoàng Ngọc Thúy Uyên của anh.”  
 
 
Cửa phòng mở, người con gái bước nhẹ vào phòng. Cô nhỏ nhắn, mái tóc demi garçon dài hơn ót, khuôn mặt bơ phờ:
- Chào cô, cám ơn cô đã đến, cháu không ra đón cô được, xin lỗi cô.
Người thiếu phụ ngước mặt, khuôn mặt buồn, đôi mắt ướt, giọng nhỏ nhẹ:
- Cô phải cám ơn cháu mới đúng, nếu cháu không cho phép làm sao cô tìm đến được nơi đây. Cháu là con duy nhất của anh Nghi?
- Dạ không, cháu còn một người chị cùng cha khác mẹ.
Im lặng, người con gái đến gần giường bệnh, sửa lại mép chăn, vuốt lại sợi tóc cho bệnh nhân.
- Chị Hoài cháu bất cần đời, tự tử một lần không chết, bây giờ cháu cũng chẳng biết chị ấy ở đâu?
- Cô rất tiếc, rất buồn khi biết tình trạng này, may mà các anh cùng khóa với ba cháu cho cô số điện thoại.
Nguyên nè gia đình sang đây hồi nào? Cháu sống ra sao?
Nói chuyện trên điện thoại ngắn ngủi quá cô không hiểu hết.
- Dạ, gia đình cháu sang đây theo diện tị nạn chính trị, H.O 4. Ba cháu có một đời vợ trước, bà đi vượt biên năm 1979, bỏ chị Hoài lại cho nội nuôi. Ba bị đi tù hồi đó. Khi về, bà nội nói lấy má cháu, tại má cháu lo cho nội với chị Hoài lâu lắm lận. Nội cháu chết sau khi ba cháu về được bốn năm. Ba cháu buồn dữ lắm. Tại nội chết chứ không, chắc ba cháu còn ở Việt Nam đó cô.
- Còn tại sao má Nguyên bị tai nạn?
Nguyên hơi cúi đầu hạ giọng:
- Dạ ba cháu lái xe ra freeway, bị xe tải húc đằng sau, má cháu văng ra ngoài. Ba với cháu ngồi phía trước, không sao hết. Hôm đó má đòi đi thăm chị Hoài trong nhà thương, sau khi chị cắt gân máu.
- Trời ơi sao khổ vậy con?
Người thiếu phụ nắm tay Nguyên sụt sùi
- Hồi mới sang tới đây, chị Hoài đòi đi tìm má ruột, để ở với má ruột, ba cháu cho chị ấy đi. Chừng hơn năm chị ấy trở về lại và buồn lắm. Chị ấy nói cho cháu nghe là má ruột không thương chỉ, bà vẫn hận ba cháu lắm.
“Hận ba cháu lắm!” Cô cũng hận ba cháu lắm. Lòng hận của người phụ nữ, biết người mình yêu, vẫn còn giữ mãi trong tim bóng hình người khác, dù hình bóng ấy là chị ruột của chính mình.
Sau ngày chị Uyên chết đi, anh đã khổ sở ray rứt.
Quyển nhật ký anh đưa nhờ liệm chung cùng chị, em đã cố tình giữ lại vì tò mò. Mỗi mùa hè theo chị lên Đà Lạt, vài lần được đi theo uống cà phê Tùng, có lần được đi ban ( ball) trong hội quán. Hai chị em cách nhau một tuổi giống nhau như tạc. Chị mất em thay chị viết thơ an ủi, thay chị đến cùng anh, và yêu anh mê đắm. Và hận anh tê tái, hận anh vì anh đáp lại tình yêu em chỉ bằng chính mối tình anh đã dành riêng cho chị.
Giọng cô gái cất lên phá không gian tĩnh mịch.
- Ba cháu có biết cô đến chưa?
- Từ lúc cô vào đến giờ ba không tỉnh, cháu biết bệnh trạng của ba thế nào không?
- Má cháu mất, ba cháu tiều tụy dần, phần vì chị Hoài bỏ đi nữa. Ba đi phụ người ta xây cất cực lắm. Cháu đi học, về nhà nấu ăn, chắc ba không vừa miệng, ăn ít, rồi ba đang làm việc ngất xỉu, mang vô nhà thương, bây giờ người ta nói hư phổi rồi.
- Cháu còn đi học không?
- Dạ, cháu mới nghỉ mùa này. Bây giờ cháu đi làm rồi ạ.
- Chưa, nhưng cô không đói.
- Tối cô về đâu? Nếu cô không ngại về nhà với cháu, cháu có một mình sợ lắm. Có ở lại đây người ta cũng bắt ra ngoài phòng khách cô ạ.
Cô y tá bước vào, đo mạch, lấy máu. Phiên trực đêm đã bắt đầu. Hai cô cháu ra về. Hành lang bệnh viện yên ắng sâu hun hút, đèn sáng choang ngột ngạt. Tiếng bước chân vọng lại buồn tênh.
Ra khỏi nhà thương, đèn đường hiu hắt nặng nề, phố
xá xa lạ. Những con đường tít tắp, vài bóng xe vụt ngang như quá khứ bất chợt hiện hình thảng thốt. Đèn đỏ, đèn vàng, đèn xanh là thực tại với người yêu, người bạn xưa đang nằm chờ chết. Phận mình long đong trôi nổi, có chồng, có con rồi không chồng cũng chẳng con. Một mình lại một mình.
- Cô ơi tới nhà rồi.
Căn nhà chung cư nhỏ, phòng khách trang trí vén khéo. Đập vào mắt là tấm hình người phụ nữ trên chiếc bàn thờ nhỏ, bên góc trái. Ngọn đèn nến màu đỏ bằng điện, soi đôi mắt người trong hình long lanh, như còn sống.
- Hình má cháu đó cô, hồi mới có bốn mươi ba tuổi thôi. Không có hình mới, nên ba cháu rửa đỡ hình cũ này đó.
Nguyên thắp một nén nhang, mùi hương thỏang nhẹ.
- Mẹ Nguyên dịu hiền quá.
- Cô nghỉ trong phòng cháu nha.
- Mặc cô cháu ạ. Cháu đi nghỉ đi, cô tự lo cho cô được mà.
 
Còn một mình trong khung cảnh lạ, quen chăng là tấm ảnh bán diện treo cạnh phù hiệu “Tự Thắng Để Huy,” chiếc mũ casket che bớt vầng trán cao, sống mũi thẳng, bờ môi tương xứng chiếc cầm vuông cương nghị. Ánh mắt xa xăm thăm thẳm, dõi vào cõi mộng mơ hồ. Khuôn mặt đã từng cúi thật gần mê đắm, làn hơi quyện làn hơi, một lần thảng thốt gọi tên, tên người con gái đã chết.
Anh ơi! Em không thể, không thể chấp nhận sự lẫn lộn giữa sống và chết, giữa quá khứ và hiện tại, em không thể chấp nhận tình yêu thay thế. Không thể là thân xác cho một hồn ma tồn tại.
Tình yêu không thể giải bầy vì thế này, hay thế khác.
Anh đã không thả hồn ma vào quá khứ. Anh đã không nhận ra em là hiện tại sờ mó được. Nên em chuồi khỏi vòng tay anh mà trốn chạy. Trốn chạy định mệnh, tình yêu anh dành cho chị Uyên thừa mứa đổ xuống em.
Ngỡ ngàng tê tái, thốn đau tận óc sau bao năm đợi chờ hò hẹn, bao quấn quýt mê say. Ngày em lên thăm anh trên đơn vị, trong chiếc lều chỉ huy, mùi mồ hôi quyện hăng hắc bộ trây-di vương mùi thuốc súng. Cuồng điên nào để anh gọi tên Uyên! Tại sao không là tên em, không là tên của em.
Từ ngày ấy, đời em sóng dữ nổi trôi. Những đêm trốn nhà đi nhẩy thâu đêm, suốt sáng, những người tình giống anh, người giống mái tóc, kẻ giống miệng cười, cả cách châm điếu thuốc, cách phả khói vòng cũng làm em điên đảo.
Trách anh không buông bóng hình quá vãng, em lại cột thắt yêu thương hờn oán. Oán chồng chất oán. Em oán anh, chồng em oán em. Đời sống ngộp ngụa pha trộn giữa trách nhiệm bổn phận, con người, xã hội. Những ràng buộc như sợi giây thừng thít chặt đớn đau, hơn là sợi tơ thịt hòa vào thịt, nhớ nhau suốt đời.
Đàn bà nổi trôi như chiếc lá dập dềnh, không mục rữa cũng tả tơi. Còn lại là mảnh chấp vá tình yêu đầu đời khờ dại, mảnh vá vụng về không che được cõi lòng trống hoắc như tượng con búp bê bằng sứ.
Nhìn Nguyên, cô bé thản nhiên chấp nhận đau khổ đang xẩy ra cho gia đình. Ánh mắt trĩu ưu tư khó giấu, cách nói chuyện ngắn gọn, đầy đủ. Giống anh. Giống anh khéo che giấu những tình cảm trong lòng, không tỏ lộ ra cho người khác biết. Giống anh kiêu hãnh hiên ngang, ngẩng đầu ưỡn ngực như tượng đồng trơ trơ triền dốc, có biết đâu theo thời gian rỉ sét cũng làm thay đổi đồng thau.
Em cũng đã kiêu hãnh. Kiêu hãnh đã đưa em đến chỗ ngu dại một lần, đủ chuyển vần con tạo, đủ hành hạ đời mình, đủ biến yêu thương thành oán ghét, đủ thay đổi cuộc vuông tròn thành méo mó dị hình. Em kiêu hãnh, em muốn thay đổi anh, thay đổi cách suy nghĩ của anh về tình yêu.
Kiêu hãnh biến em thành ngoa ngoắt, ghen tị. Ghen với người đã khuất là tự mình chịu thua, tự mình hạ thấp chính mình. Em không biết điều này đến bây giờ, đến gần trạm cuối cuộc đời, va chạm rạn vỡ gần hết lòng kiêu hãnh mới hay ra mình ngốc nghếch thảm thương.
Hai khối kiêu hãnh em - anh đã đụng nhau mãnh liệt, lửa tình yêu không đủ hàn gắn, hay vì chiến tranh, anh một nơi em một nẻo, chúng mình không có thời gian, san bằng gò mối quá khứ đùn cao trong huyệt mộ chị Uyên.
Em khốn khổ tìm câu trả lời, không tìm ra, đành an ủi mình: “Đôi khi ông tơ bà nguyệt già nua, se nhầm mối tơ hồng khúc khủy, sợi tơ cũ mục, bở đứt dễ dàng để em và anh một đời lận đận, vào ra vòng tròn tình cảm mơ hồ ri rỉ máu tim khô, đau đớn.” Đau đớn cho chính mình đã xong, lại lan sang cả những người không may mắn, bị dính líu vào đời mình.
Không gian này anh đã sống, bây giờ em ngồi đây nghĩ về em, về anh về những luyến lưu không phai nhạt. Những luyến lưu với em là vết sẹo khắc sâu trong tâm khảm, đủ để em không ngần ngại làm cuộc hành trình đối diện quá khứ.
Quá khứ của người đàn bà càng ít càng hạnh phúc, quá khứ của em không ít, nên hạnh phúc của em lưa thưa.
Bây giờ em phải làm gì đây để chụp lại quá khứ, biến nó thành thực tại. Bạn bè anh giúp anh một phần vật chất, con gái anh còn đời của cháu, không thể thay thế người bạn đồng hành cuối đời. Em đang lững lờ, ưng hay không ưngbước thêm bước nữa. Hai bước hụt hẫng đã xong, ngậm ngùi nhưng không chua xót. Liệu bước thêm nữa không, lời cầu hôn mỡ màng vật chất và hình bóng anh, như vết xâm đậm đen không sao tẩy xóa ra khỏi tim em, trái tim dâng cho anh mối tình đầu mãi ngập ứ máu bầm.
Anh ơi! Hai bàn tay em mong được nâng giấc anh hôm sớm, bây giờ là lúc anh cần. Anh ơi! Tấm lòng em nhớ nhung anh gần hết kiếp, bây giờ là lúc em được cận kề.
Em sẽ ngồi bên giường đọc cho anh nghe từng trang nhật ký, bón cho anh từng muỗng cháo miếng cơm, dìu anh đi khi anh còn khập khễnh và hai đứa mình cùng nhau nghiệm lẽ sống cuộc đời: Sinh ra để khổ rồi chết.
Với tình yêu em còn dành cho anh, với sự kiêu hãnh của em, em sẽ nghĩ ra cách làm sao giật lại mạng sống của anh, từ bàn tay thần chết.
 
Mùa Thu 2003  




Đăng nhập để trả lời
0
14. Hải ơi!
 
 
Cuối tháng ba rồi đó Hải. Bao nhiêu năm đã trôi, tau không ngờ và không thể tưởng hơn ba mươi năm đã qua.
Tau nhớ mi! Trong lòng tau bao lần nhớ mi, nhớ nụ cười thật hiền, khuôn mặt trắng, tròn viền mái tóc búp bê.
Mi với bài “Nắng Thủy Tinh”, mi với nốt nhạc đầu đời trên phím đàn guitar, dạy cho tau cách đánh.
Hải ơi! Tau có nhiều bạn đến nỗi mi la hoảng tại sao ta có thể có nhiều bạn đến thế. Còn mi chỉ chơi được với ta, Thanh-Loan và vài nhỏ bạn cũ trường Hùng-Vương ngày xưa.
Có lẽ giờ này, mi đã thành bụi bay tung trong trời đất rộng, chỉ mình tau ngồi đây tha thiết mường tượng nhớ mi và những tháng ngày, một đời người không dễ nguôi quên.
Tháng 3 năm 1975, những cây phượng trong sân trường xanh ngăn ngắt, giờ chơi nắng chói chang, đàn bướm trắng thiếu mi.
Hải ạ! Tau buồn lắm vừa vì thiếu mi, vừa vì tình hình hoang mang chao đảo của đời sống, thầy cô giảng bài không còn nụ cười thanh thản, đôi mắt thoáng âu lo, đám học trò con gái gần ngày thi tú tài, cũng chẳng chú tâm vào bài vào vở. Trên trang nhất những tờ nhật báo, bao hình ảnh, bao hàng tin tức in đậm từng trận đánh, tình hình chiến sự, Pleiku, Komtum, Ban Mê Thuộc. Phần đông trong lớp mình, ai không có cha cũng có anh trong quân ngũ, tau nhớ vài đứa hốc hác xanh xao, không vì gạo bài thi, mà vì lo cho người yêu ngoài chiến tuyến. Khi ấy mi đang chống chọi với căn bệnh quái ác, bệnh ung thư xương.
Hải! Đến bây giờ tau mới biết ung thư đau đớn thế nào. Khi ấy, tau chỉ biết ngớ ngẩn đến thăm mang vài viên ô mai làm quà, ngồi tán gẫu với mi từ chuyện con kiến con ong đến chuyện hoa tí ngọ, hoa mười giờ. Tau càng vô duyên hơn, khi khoe cho mi biết tau chơi được gam la thứ, gam sol thăng, ngăn phím thứ ba trên cần đàn, trong khi cánh tay trái của mi sưng to gấp ba lần cánh tay của tau.
Mi đau lắm không, mà tau vẫn nhớ nụ cười thật nhẹ, mi dành cho tau khi tau hát bài hát, hai đứa cùng nhau phổ nhạc, bài hát rất ngắn
Qua con mắt đỏ hao gầy
Dáng buồn như thuở tóc dài lên ngôi
 Em về từ lá thu phai
Hắt hiu gió nhẹ cho vừa nhớ nhung
 Có còn mơ chuyện trầu cau
Những chiều xưa lá me vần vũ bay
Gió nào trở lạnh không hay
Mà trên sông nước đổ dài buồn tênh
Có gì đó thật không công bằng với mi. Mi chưa hề dữ dằn đanh đá, chưa từng bao giờ cau mặt giận hờn, những gì tau biết về mi là những dịu dàng, thẹn thùng e ấp. Lần cuối trong sân chơi dù mi đã sang học ban văn chương, tau ban vạn vật, mi vẫn đứng xem tau cột vạt áo dài, túm ống quần rộng, đánh vũ cầu với nhỏ Thanh ban toán. Ngay khi ấy nhỏ Phượng đang chơi rượt bắt, đụng vào mi hai đứa ngã lăn cù ra đất, nhỏ Phượng đứng lên, mi thì không. Tụi tau xúm lại mang mi vào phòng y tế, mi ngất lịm, xe hiệu đoàn đưa mi vào nhà thương, tưởng mi bị gãy tay thường thôi, vài ngày sau sẽ vào học lại. Nhưng không phải vậy, cánh tay không lành, mỗi ngày một sưng to lên, mi thôi không đi học.
Tau đến mi mỗi ngày, mang bài cho mi chép, vài tuần đầu mi còn chép rồi buông xuôi, sau đó là nhà thương và thuốc. Nhỏ Phượng đau khổ dằn vặt vì nghĩ tại nó mà mi đau. Nhưng bác sĩ bảo không phải vậy, mầm bệnh đã có từ lâu. Bác sĩ đòi cưa xương cánh tay nơi khối ung thư đang hoành hành, mạ mi không muốn đòi chờ một thời gian tìm thầy thuốc khác, thầy Tàu, thầy Ta, thuốc lá, thuốc sắc ai chỉ gì bác đều theo.
Tau nhớ tau nếm thử nước cỏ gà mạ giã bắt mi uống, rồi nước rau đắng, rau dấp cá, cuối cùng Hải ơi cánh tay bị cắt bỏ cao hơn cùi chỏ, rồi cao hơn bả vai, chiếc áo mi mặc từ cánh tay nới rộng đến khi không còn gì trong cánh áo.
Tau buồn chẳng biết an ủi mi, căn nhà gần hãng thuốc lá Bastos, góc Nguyễn Hoàng – Trần Nhân Tôn, căn nhà sơn màu xanh dương, căn gác nhỏ có khoảng lan can rộng, giàn hoa tóc tiên quấn quít quanh chiếc vòm kết bằng tre, che rợp những đóa sao nháy vàng rung rinh theo gió, hoa tí ngọ đỏ au đúng ngọ, cả đám hoa tim tím forget-me-not hai đứa chia nhau sau lần lên thăm trường Võ Bị Đà-Lạt, bỗng dưng như cảnh chùa vắng vẻ, cô chủ dễ yêu không ra ngồi dưới vòm hoa, đàn những bài độc tấu buồn ray rứt nữa, cô chỉ ngồi trong song cửa, hướng tầm mắt vời vợi lên vòm trời hạn hẹp, dõi theo bóng máy bay tít tắp mờ dần.
Buổi sáng tháng tư năm 1975, giờ học thứ ba, dinh Độc Lập bị bỏ bom, đám khói đen bốc cao, nhà trường cho học trò về nhà. Tau ghé nhà mi, nghe tin mi vào bệnh viện.
Về đến nhà ba tau đang lo lắng không biết tau đi đâu, sau khi ông cụ ghé đến trường. Tau kể mi đã vào bệnh viện trở lại, ông cụ lắc đầu thở dài. Sau đó ông dặn tất cả các con phải ở nhà, ngoài giờ đến trường. Tình hình rất bất an, ông muốn biết rõ các con ở đâu để có việc gì ông có thể đến đón.
Cuối tháng 4 năm 1975, nhiều tin tức biến động, các bác tau từ Nha Trang – Đà Nẵng chạy vào ở nhà tau kể bao điều kinh khủng. Nhỏ Thanh Loan ghé vội báo tin mi đi, đi mãi, đi bỏ thế sự, bỏ bạn bè, cha mẹ anh em, tau chẳng gặp lại mi nữa, chẳng biết khóc hay cười, tau đứng ngây người nhỏ Loan vội chạy về nhà, vì hắn cũng đang bị giam lỏng trong nhà như tau.
Một buổi tối ba tau bảo:
- Các con chuẩn bị vali hành lý đi, gia đình ta có thể ra đi bất kỳ khi nào.
Tau thảng thốt:
- Đi đâu thưa ba.
Ông bảo:
-Ba phải đi theo nhiệm sở.
Tau hỏi tại sao, ông chỉ lắc đầu.  
Một buổi chiều trời bỗng dưng chùng thấp, nắng biến mất, không gian ngột ngạt nín thở, ba tau về nhà chiếc xe buýt trong sở của ông đi theo. Ông vào nhà bảo các con thay quần áo, mang hành lý ra xe, nhà gởi lại cho các bác.
Tụi tau riu ríu đi theo, chẳng biết đi đâu, đến đâu.
Tau nhớ con đường Hồng-Thập-Tự hôm ấy hàng cây dầu nín lặng, lá quên không khóc, rồi đường Trần-Quý-Cáp vòm me xanh ủ rũ cúi đầu. Trong xe ba tau nhìn thẳng phía trước môi hơi mím, các em ngồi im không nhúc nhích, ngay cả út Ch. gần năm tuổi, ngày thường hay nô đùa cùng các chị ngày đó cũng ngoan ngoãn ngồi im. Tự dưng Hải ạ, tau khóc òa, qua màn nước mắt những chiếc xe đạp vội vã, những chiếc xe honda vụt qua, hình như người nào cũng sao ấy, cảm giác mình đang đi đâu đó không bao giờ về nữa làm tau điếng chết toàn thân. Các em quay nhìn, lau vội nước mắt nuốt nghẹn vào trong tau nói lảng: “Chị nhớ chị Hải”.
Chiếc xe tiến vào căn biệt thự trên đường Công-Lý, tiếng sỏi lạo xạo khi chiếc xe từ từ vào sân. Từ đây xe đưa cả nhà tau vào sân bay Tân-Sơn-Nhất cùng với ông Merchant, người ba tau làm việc dưới quyền. Ngày hôm ấy là ngày 23 tháng 4 năm 1975. Những người lính gác cổng phi trường khuôn mặt như tượng, vũ trang đầy đủ. Tau nghĩ mãi đến mi, quên mất bao điều đang xảy ra quanh mình, tau nhớ mi, cứ lâng lâng nhớ mi. Ngày đám ma, trốn ba, đạp xe đến nhà mi, chậm mất rồi cổng nhà đã khóa, tất cả đã hoàn tất, mọi người đã đưa mi ra huyệt. Trở lại lần nữa, ba mạ mi vừa về, anh Minh nhìn tau, mạ mi ôm tau cùng khóc. Thắp nén hương cho mi, mắt mi long lanh, nụ cười mãn nguyện.
Buổi ăn tối cùng ông Merchant, nghe loáng thoáng ông nói:
- Không nơi nào đẹp bằng quê hương xứ sở của chính mình.
Gia đình tau ở tạm trong một phòng của lính ngay trong sân bay, ngày hôm sau có thêm nhiều gia đình khác đến nữa, ai cũng mang khuôn mặt thật lo âu. Tau hỏi ba:
-Mình sẽ đi đâu?
Ba tau trả lời:
-Có thể sang Thái Lan hay Phi Luật Tân, có thể sang Mỹ.
Tau lo âu hỏi thêm:
-Tại sao hả Ba.
Ba trả lời:
-Chuyện chính trị con biết làm gì, để ba xem tình hình thế nào?
Tau buồn ghê gớm Hải ạ, sống xa nhà một đêm dường như cả thế kỷ, bầu trời vằng vặc, tiếng máy bay lên xuống, tiếng xe cam nhông, những vầng bụi sau xe nhất là ánh nắng, ánh nắng khi rọi xuống phi đạo hình như bốc lửa.
Rồi trời đổ mưa, mùi đất bốc lên nồng nặc, vài bóng người thoáng qua tất cả đều là lính, có vài nhân viên không mặc quân phục đi qua. Ba tau hỏi:
- Các con muốn về hay đi?
Tau trả lời:
-Về nhà đi ba.
Ba trầm ngâm
- Chắc tình thế không đến nỗi nào, quân lực ta hùng mạnh, làm sao VC có thể tràn vào Sài Gòn, ba lo sợ cho các con, chế độ cộng sản không thể nào chấp nhận được.
Ra ngoại quốc không có mạ ba cũng không an tâm.
Sáng ngày 25 ba hỏi lần nữa:
- Mình về hay đi? Chuyến bay sẽ đến lúc 10:30?
Tau khẳng định:
- Con muốn về.
Các em hùa theo:
- Về nhà đi ba.
 
Chuyến xe chở gia đình tau ra khỏi sân bay, xe quân cảnh phải mở đường vì bên ngoài cổng nhiều người quá, họ đứng tràn sang bãi đất trống trước Tổng-Tham-Mưu đen nghịt người là người, tau chỉ biết lòng mình vui lắm, sắp trở lại được nhà xưa, căn gác nhỏ, trở lại được với ngày thường. Con đường Công-Lý bỗng như mở hội, mấy nhỏ em tau cũng vui ra mặt. Nhưng Hải ơi khúc ngoặc này là cả chuỗi dài tang thương cho gia đình tau và cả miền Nam Việt Nam. Khi trở về, không điều gì còn như xưa nữa.
Ngày 26 tháng 4 năm 1975, sau khi trở về nhà, tất cả mọi người chung quanh đều hốt hoảng, ba tau nín lặng, các chú các cô ghé nhà tau nườm nượp, chợ búa sôi động, ai cũng mua đồ khô dự trữ, từ thuở còn bé đến lúc ấy tụi mình có đứa nào biết đến chiến tranh thế nào đâu, chiến tranh chỉ trên phim ảnh, trên truyền hình. Lúc ấy tau bỗng hiểu mơ hồ chiến tranh đang có, đang đến thật. Tổng thống đọc diễn văn kêu gọi toàn dân tử thủ, sát cánh cùng quân đội, rồi tổng thống từ chức, người khác lên thay. Vùng I, vùng II, vùng III tướng này lên tướng kia xuống, hải, lục, không quân di chuyển từng giờ. Hạ viện thượng viện họp liên tục.
Mỗi giờ trong ngày đều có điều gì đó rất kinh khủng xảy ra.
Vùng ngoại thành Hóc-Môn, Củ-Chi giặc đến gần, tiếng súng ầm ì kinh hoảng, rồi sân bay bị thả bom, rồi từng đàn máy bay trực thăng trên bầu trời, như bầy chuồn chuồn chạy bão, rồi tiếng súng đì đùng suốt đêm ngay trong thành phố. Ba tau ngồi lặng cùng tụi tau chung quanh, vài viên đạn xuyên thủng nóc nhà, có viên sướt vào tay cô em thứ ba còn nóng bỏng, nó sợ khóc thành tiếng, ba tau ôm các con vào lòng, ông nói:
- Can đảm lên các con.
Cả nhà thức trắng đêm, buổi sáng 29 nghe tin VC về đến Phú-Lâm, mi nhớ cái hồ bơi tụi mình thường đạp xe xuống đó không? Rồi trại lính tan hàng rồi cướp bóc hôi của, rồi sáng 30 tháng Tư trên radio lời đầu hàng của tổng thống ba tau khóc, cửa nhà tau khóa chặt. Rồi dân chúng chạy đôn đáo tìm đường trốn Việt Cộng. Anh Thắng đang học quân sự trên trường bộ binh Thủ Đức, gõ cửa vào nhà, áo quần xốc xếch anh bảo:
- Chú ơi trường cháu tan rồi, xác lính đầy đường, quần áo quân phục đầy đường, tại sao chú còn đây?
Ánh mắt anh hoảng loạn, anh khoe ba tau khẩu súng lục anh còn giữ không chịu vứt đi, chính khẩu súng này đã kết liễu sinh mạng anh, ngày những tên Việt-Cộng 30 tháng Tư đến nhà đòi bắt anh đi học tập cải tạo.
Hải ơi! Sau ngày đó nhiều Việt-Cộng 30 tháng tư lắm, tên kế bên nhà tau là tên chỉ điểm lấy công với thành phần “cách mạng”, để chúng đến bắt Ba tau đi mất, chúng muốn lấy căn nhà gia đình tau đang ở. Trong trường mình học cũng có ba bốn đứa là Việt-Cộng, làm sao mi tưởng ra nỗi ngỡ ngàng tau gặp phải khi nhỏ Minh đội nón tai bèo trở lại trường lên giọng chưởi bạn bè ngày cũ.
Ngay góc đường nhà mi chiếc máy bay trực thăng rớt máng trên cột điện, một chiếc khác ngay góc đường Lý Thái Tổ - Ngã Bảy, nước mắt tau cứ lăn dài khi nhìn cơ man nào là xác chết trên đường Lê Văn Duyệt – ngã tư Bảy Hiền, dấu đạn đầy trên những tường nhà, mi nhớ trại Hoàng Hoa Thám gần đó không, tụi mình đến trình diễn văn nghệ giúp vui, các anh lính mũ đỏ oai hùng thân thiện, ai còn ai mất, khi tau theo ba tau lên bác Cả.
Tới nhà bác cửa mở toang, bên trong đồ đạc ngổn ngang, vài người lạ mặt vẫn còn đang lựa chọn thứ nào khiêng ra được. Gần cư xá sĩ quan Bắc Hải, người ta vào quân tiếp vụ, khiêng gạo thịt, đồ hộp trên lưng đi ra từng hàng dài như đàn kiến.
Tau không sợ, chỉ mở to mắt nhìn, ba tau bắt đầu kể về VC, chủ nghĩa cộng sản những phi nhân phi lý, không tưởng. Ông cụ đã từng trong quân ngũ, ông cụ đã từng nếm mùi cộng sản, nhưng ông không được trông thấy sự tàn phá về giáo dục văn hóa của chủ thuyết cộng sản, vì chúng đã bắt ông ngay cuối tháng năm –1975.
Không nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, không trung không hiếu, không trên không dưới, không thiên đàng không địa ngục, tất cả chỉ có bác và đảng, tất cả chỉ trên vài kilogram gạo mỗi tháng tiêu chuẩn, một miếng thịt đủ để giết mạng người. Hải ơi còn nỗi sợ hãi nào hơn, những giận ghét căm thù chúng bơm vào trí óc non nớt con trẻ, những mầm non của tương lai.
Hơn ba mươi năm, tau ngồi nhớ về một khoảng thời gian rất ngắn, tau không thể quên. Từ khoảng thời gian này, bao con người lớn lên, hay tự hủy đi vì bao điều thay đổi. Khoảng thời gian phủ đầy mất mát, có những người đánh mất đi chính họ, riêng tau sự mất còn không đủ để diễn tả hết những điều tau học được, không trải qua bão giông làm sao biết vui mừng trong ngày nắng ấm. Một góc trong khoảng thời gian này luôn là ánh mắt của mi dõi theo tau Hải ạ.
Theo thời gian, nỗi đau đớn tâm linh cũng se thành vết sẹo, nhưng ai có thể quên nguyên nhân gây ra vết sẹo phải không?
 
nhớ một ngày tháng 4 -1975




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2021 18:57:40 bởi Ct.Ly>
15. Phải Mà
“Tỉ Dụ Ta Yêu Nhau”
 
 
Cách khoảng thời gian ba mươi năm, biết tin bạn cũ có những điều xảy ra như thế này. Dĩ nhiên nếu bạn cũ cùng phái thì líu lo chuyện “chồng mày chồng tao, con mày con tao,” nhưng bạn cũ này khác phái. Ba mươi năm không hề nghe tin tức, tưởng chết trên đường vượt biển, bỗng nhiên vì những trang viết trên nét, vì những câu chuyện kể lể trong truyện, nghi nghi “đúng là nó,” liên lạc. Đúng là nó thật.
Biết nhau từ “năm một ngàn chín trăm hồi đó,”  gom góp lại khoảng hơn ba mươi năm. Chuyện anh con trai lớn hơn cô con gái vài tuổi, vừa lên đại học, ngùn ngụt lý tưởng lấp biển vá trời, thay đổi bộ mặt nhân loại bằng cách mang kiến thức của mình, san xẻ cho thế hệ tiếp nối, bằng cách đi dậy kèm tư gia. Cô nàng đến học cùng các cô bạn khác, thành học trò của anh chàng. Có nghịch ngợm có phá phách, dĩ nhiên cũng có chút đong đưa trái tim hồng tuổi trẻ, nhưng không ai nói ra điều cấm kị ấy. Đó là chuyện hồi xưa.
Chuyện bây giờ là không ai còn trẻ cả, cộng con số ba mươi vào con số hồi đó, nó sẽ có số thành gần chẵn nửa đời người, giác một chút cho anh chàng, non một chút cho cô nàng, nếu đời người tròn trịa đúng trăm năm.
Ai nói mắt không nheo một tị, tim không đập nhanh một chút là nói dối-nói láo-nói xạo. Nói không đúng sự thật. Mà mắt có nheo một tí, tim có hơi hoảng loạn một tí cũng có sao đâu? Đường đời đôi ngã đã phân minh, anh đường anh tôi đường tôi, tình nghĩa chỉ còn vài ba hình ảnh cũ mèm, lôi ra xem lại, màu thì xỉn đằng màu, giấy thì tơi bời đằng giấy. Sống trong thời gian chinh chiến, đổi thay, ai tài thánh gì mà bo bo giữ gìn kỷ niệm. Mất mát gia đình cha mẹ, anh em, huống gì vài ba quyển hình, quyển nhật ký.
May mà biết bạn còn sống, thì bạn chứ còn gì nữa, bây giờ hết còn dạy dỗ nhau, “bán tự vi sư” ngày xưa, bây giờ quên sạch “sư hết là sư” có khi ngược lại là khác. Học trường đời nhiều bài học già dặn hơn nhiều, cô học trò xưa thành “sư mẫu” thì có.
Lại lôi những bài nhạc “Mười năm tình cũ”, “Hai mươi năm tình cũ”, của tác giả Trần Quảng Nam ra làm thí dụ là thấy ngay ê chề. Khoảng mốc mười năm còn mang mang:

Mười năm không gặp tưởng tình đã cũ
Mây bay bao năm tưởng mình đã quên
Nhưng em yêu ơi ! Một vùng ký ức
Vẫn còn trong ta cả một trời yêu
Cả một trời yêu bao giờ trở lại…..
Tình bất phân ly - tình vẫn như mơ!
Sang đến 20 năm, nó thế này:
Bao nhiêu năm gặp lại
Nụ cười héo trên môi …
Cơn mê thêm rã rời
Tim đau không ngừng nhịp.
Dĩ nhiên nhạc sĩ cho tí lãng mạn vào để cuộc tình có giá trị một tí, và ngưng ở hai mươi năm gặp lại, anh không dám viết ba mươi năm tình cũ, vì nếu viết bảo đảm anh sẽ chẳng biết mở đầu thế nào. Mắt đầy dấu chân chim, tóc khô màu ánh đỏ, ánh vàng vì nhuộm, không khô rốc thì cũng đẫy đà, răng cỏ cái còn cái mất, nếu khéo giữ thì cũng chẳng thế nào tìm lại nụ cười xưa, đồng điếu khoé cười xệ  đi đâu mất, lúm đồng tiền đã thành má lõm trỏm trơ.
À đưa thí dụ bằng thơ nhạc, để khẳng định ít ra trong cõi đời này rõ ràng có một người hiển nhiên gặp trường hợp giống mình, không phải cá biệt gì cả. Nhưng lan man đến đây để kể lể thêm gì đây? Hai bài nhạc trên tác giả rõ ràng đưa ra tình trạng có YÊU trong đó, chữ này viết hoa để nêu rõ là hai đối tượng có mối giây liên hệ hơi bền vững trước đó, còn tình trạng “anh đi dạy kèm-em cô học trò nhỏ” kể ở trên chưa có YÊU, thế mới lắm chuyện.
Anh chàng đã có vợ, cô nàng đã có chồng. Tình trạng nếu cả hai cùng có con đến tuổi cặp kê, hai đứa nó vô tình quen nhau, mang về nhà ra mắt cha mẹ. Mừng hết biết, bạn xưa thành sui gia. Tuyệt đẹp.
Anh chàng có vợ, cô nàng chưa chồng. Nếu nàng còn ở Việt Nam, chàng đã ổn định công danh và tài lộc ở ngoại quốc, trở về muốn tìm người xưa. Cô nàng khôn ngoan đừng cho gặp mặt, vì chẳng được gì lại nhận được ngỡ ngàng, vì bao nhiêu hình ảnh đẹp biến mất, chàng có thể chép miệng: “Giá mà đừng gặp." Thật đó gặp lại em xấu hơn xưa, mất tiêu bóng hình người xưa huyền hoặc.
Anh chàng chưa vợ, cô nàng đã có chồng. Đừng gặp cho xong. Đàn ông lớn tuổi thế vẫn chưa gặp ai có thể gàn, có thể ấm ớ. Gặp lại người xưa, muốn tìm nơi an ủi, là thành họa lớn cho gia đình cô nàng. Gặp người chồng hiểu biết không kể làm gì, gặp ông khó tính là... coi chừng chuyện tai ương chẳng đâu vào đâu, mà đi đến tan nhà nát cửa.
Anh và nàng đều còn độc thân sau những năm dài như thế, kết hợp để an ủi tuổi già? Coi chừng cũng không nên, thà cứ dang dở cho xong. Trẻ khác già khác, chịu không thấu đâu. Ngày xưa ngọt như mía lùi, bùi như hạt dẻ, bây giờ chua hơn me dốt, đốp chát như dùi đục chấm mắm nêm. Lọt vào vòng chồng vợ, chưa được vui bao nhiêu đã ò e đưa nhau vào cõi tận. Tận có thể là mất hết tình xưa nghĩa cũ, cũng có thể là đưa nhau vào nghĩa trang buồn, không lãng mạn “ánh đèn vàng hiu hắt khói trầm cay đôi mắt, em nằm đó sao thôi cười thôi nói” mà là “thoát nợ nói dai”.
Thế nên, thà cứ “liếc đưa nhau đi rồi con mắt có đuôi” lại hay.
Nhớ đến chuyện cô bạn, “Mày nhớ thầy Tuấn không?
Hồi đó ảnh học kỹ sư hoá chất, đại học Phú Thọ, đến nhà Ánh Hồng dạy kèm toán tụi mình đó, nhớ không?”
Nhớ chứ sao không nhớ! Hồi đó cả đám đã nghi nghi, mà cô bạn thì lại im như thóc, không kể lể như các cô khác, khi tập tễnh lò dò bước lên thảm cỏ “tình yêu.” Nói đến thảm cỏ tình yêu là phải nhớ đến Từ Kế Tường – Đinh Tiến Luyện. Không có hai nhà văn này các cô nữ sinh ngu ngơ không thể tưởng tượng ra đường vào tình yêu thế nào?
Nhờ có hai ông, các cô tha hồ lơ mơ, “Hình như là tình yêu,” “Tỉ dụ ta yêu nhau,” “Đường Phượng Bay,” rõ nhé, chỉ hình như và tỉ dụ, chưa là sự thật, nên dấu được phút nào hay phút ấy, có sao đâu?
Thời ấy, con gái mà dám đi chung với con trai là hãi lắm, sợ lắm. Hãi sợ người khác gặp, mang về nhà mách gia đình, thành thử cái sợ cái thích hòa vào nhau, thành chất men làm các cô say say má đỏ. Tại sao lại không thích nhỉ? Bao nhiêu là con gái, sao “người ấy chọn mình” nói xa xôi làm gì, trong nhóm học kèm có năm đứa, “người ấy” không đón đưa ai, chỉ đón đưa ta. Câu chuyện bắt đầu bằng vô tình nhà nàng ở khoảng (đường) nhà anh, nên trên con đường chính phủ xây cất cho dân chúng đi lại, anh đi và nàng đi, chúng ta cùng đi. Chỉ có câu chuyện chúng mình nói với nhau mới có thể khẳng định hai kẻ song hành này biết nhau. Nếu không thì chỉ là kẻ lạ, thiếu gì người cùng đi trên đường. Con đường ấy hàng cây sao cao to lắm, nó chẳng nghe gì, tiếng xe gắn máy cũng át đi tiếng hai đứa nói với nhau, nhưng hai người trong cuộc, bảo đảm nghe nhau rõ lắm. Rõ đến nỗi bây giờ nàng vẫn nhắc “Mày nhớ thầy Tuấn không?”
Lúc ấy, các cô bạn đều cùng lứa tuổi, lứa tuổi chua ngọt ô mai. Cô nào lòng dạ cứng như đá, không thèm nghĩ đến chuyện bồ bịch, một mực sin cos tang, đạo hàm, công thức, cũng biết để ý xem ông thầy nhìn ai nhiều nhất, ông thầy cho điểm đứa nào cao nhất. Cô nào mắt ướt, lãng mạn thả hồn theo gió, đi học vì mẹ bắt thì ngắm thầy tha thiết, không để nghe bài thầy giảng mà để tưởng tượng, xây dựng một thần tượng trong lòng. Nói chung ông thầy gan phải to lắm mới dám dậy kèm một đám học trò con gái. Và cô bạn là một trong đám xuân xanh ấy, đã được đón đưa, đã dấu nhẹm được chuyện kỳ bí ấy trong vòng mấy mươi năm.
Thì ra, cô nàng đã đánh lừa được cả bọn lắm chuyện bằng cách giả nai. Con nai vàng ngơ ngác, đạp thẳng vào trái tim thầy, không nghe tiếng xào xạc réo rắt chi cả. Thầy giả ngơ cũng hay, ít khi để ý đến cô nàng trong lớp, thành thử trong năm đứa, hết đứa này đến đứa nọ đổ hô “tình” cho nhau “Thầy để ý nhỏ Ngọc vì ổng cho nó điểm cao nhất” – “Không phải đâu, nhỏ Tâm á, tao thấy ông ấy hay nhìn nó khi giảng bài” – “Tụi bay sai rồi, Kim á. Tuần trước rõ ràng tao thấy hai người đạp xe ra về cùng lúc” – “Không phải mà, nhỏ Ánh Hồng mới đúng, nó hay pha nước chanh cho thầy uống, mỗi lần cầm ly uống là thầy lại nhìn nó”, cô nàng đổ tình cho người khác nhiều nhất, những lời phán quyết chắc như đinh đóng cột. Làm các cô khác mải phân bua quên mất đi còn một cô nữa là chính nàng.
Bây giờ biết rồi nha, hồi đó thầy cứ về trước, nhưng thật ra đón nàng ở mãi ngã tư xa lắm, sau khi nàng tha hồ nhai cóc ổi sau giờ học kèm, tán dóc thêm một chút cũng không sao. Thuở chờ đợi thời gian chừng dát bạc, nên chờ mươi hai mươi phút có thấm gì.
Tò mò hỏi tới:
- Có hẹn hò gì không? Bắt đầu từ đâu?
Thì:
- Từ quyển truyện “Tỉ dụ ta yêu nhau” đó. Khi không cái theo chung đường về, cái rồi đưa sách toán cho đọc, cái rồi kèm thơ tình, cái rồi tặng tui quyển truyện đó.
- Rồi có yêu không?
- Không.
- Sao uổng vậy chớ, sao không yêu thử xem thế nào, tui như bà tui thử á.
- Hồi đó nhỏ mà.
- Mười sáu tuổi rưỡi mà nhỏ sao, thôi thì không yêu, thế có mi chưa?
- Chưa.
Chưa mà nhẹ hìu như vậy chắc đang tiếc lắm phải không? Nụ hôn con gái là nụ hôn ngọt nhất trên đời, ngọt hơn những gì có thể ngọt. Nụ hôn dưới giàn hoa giấy, nụ hôn lén lút, nụ hôn vụng về, trong vườn bách thảo, bên gốc me già, bên hồ sen ngát hương, hay ngay trước cổng nhà, dưới hiên mưa tầm tã.
Nói đến nụ hôn đầu, nhà thơ Trần Dạ Từ đã viết:
Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang
Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng
Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông.
 
Nhà thơ là phái nam, nên anh còn nhìn được cành phượng trổ hoa, còn nghe được ve hoảng hồn kêu vang – nếu là phái nữ, lần đầu được ghé môi hôn, thì chắc một điều là không nghe không thấy gì hết. Hỏi bạn mà cũng tự hỏi lòng mình có tiếc lắm hay không.
Rồi thầy đón đưa, rồi thay đổi cách gọi – từ tên sang chủ từ ngôi thứ hai âu yếm. Nơi hò hẹn là những nơi không ai ghé, sâu mãi trong khu Chợ Lớn, không là Nguyễn Huệ, Lê Lai, Hồ Con Rùa, hay sở thú, làm sao bị bắt gặp. Làm gì trong giờ hò hẹn? Chỉ ngồi nhìn nhau, nói chuyện bâng quơ. Thành đôi bạn từ khi đi picnic với các bạn của thầy. Rồi thì cây kim trong gối, lâu ngày cũng phải lòi ra. Một lần thầy âu yếm gọi tên trò giải toán thế là các cô bạn bừng tỉnh. Nhìn con nai ngơ ngác thành con nhỏ bạn khôn thấy mồ, khi không lượm được tim thầy. Thế là rình rập và bắt tại trận hai người song đôi đường về thênh thênh. Biết thế nhưng bây giờ
Thì ngọn ngành cũng chỉ bấy nhiêu, hò hẹn đón đưa một thời mới lớn, để rồi sau đó mất nhau
 - Ủa sao lạ vậy?
- Hồi đó khi mấy bà biết rồi, tui lo cho ổng biết bao, nào là giúp đỡ tiền bạc khi gia đình ông ấy từ Trung vào tị nạn, nào là an ủi khi ông ấy lo lắng một mình, cứ tưởng với sự chăm sóc ân cần, mối tình sẽ thành bền vững. Lúc chuẩn bị thi tú tài, ổng lo cho tui từng li từng chút, ngày có kết qủa tui đậu cao lắm, ổng là người đầu tiên tới nhà cho hay. Hồi Sài Gòn lu bu chuyện bỏ bom dinh Độc Lập, lu bu chuyện di tản mất nước mất non, cũng ông ấy lù lù đến nhà lo lắng cho tui sống chết. Một thời gian ngắn sau đó, không thấy bóng dáng ông ấy, tui lo tui sợ tui buồn, tui tương tư...
- Tương tư?
- Ừ không thấy ông ấy đến nhà nữa, tui bịnh một trận tưởng chết. Rồi Ngọc nó méc tui ổng đi lấy vợ, tui uất ức sinh bịnh, máu nó dồn lên não, ổng lấy con bà chủ nhà, nơi ổng ở trọ. Ổng gởi thơ phân trần, vì mang nợ người ta nhiều, bà nghĩ coi, còn nợ tui, ổng để đâu chớ. May tui nghĩ lại, mắc gì phải bịnh vì một gã bạc tình, tui lôi quyển “Ví dụ ta yêu nhau” ổng tặng hồi sinh nhật tui mười bảy, đem ra xé tan xé nát, lúc đó tui nghĩ tui băm vằm ổng, tui xé to xé nhỏ tình tui, xé tới hồi tui hết bịnh không hay. Rồi tui đi sang Úc, rồi tui nghe Ngọc nó kể, nó gặp ổng, ổng gởi lời xin lỗi tui, lời ổng hối hận bỏ tui, chớ không ổng được sang Úc với gia đình tui rồi.
- Trời đất, kể vậy mà giọng còn nhão nhẹt vậy sao chớ, tình đó là tình ngờ, tình lợi đó bà ơi, đừng thèm nhớ, đừng thèm nghĩ đến nữa mà mang họa.
- Bởi vậy tui mới kể ra cho bạn bè biết, chớ phải mà ví dụ tui yêu ổng, ngu sao tui kể cho bà nghe.
Thế là tình xưa giờ đã phôi phai. Cô bạn vừa kể ra được hết nỗi niềm, đã nhẹ đi bao phần ấm ức. Và thêm điều nữa, tôi và các cô bạn cũ sẽ không bao giờ còn hỏi cô:
- Mày với ông Tuấn hồi đó có gì với nhau không?
 
2004
Thân tặng các bạn cũ SNA - và các bạn có mối tình học trò sương khói.




Đăng nhập để trả lời
0
17. Mái Tóc
 
Có nhiều quyết định tưởng dễ nhưng khó vô cùng. Cắt hay không cắt tóc.
Mái tóc tôi có từ ngày còn con gái, đến mãi bây giờ.
Người ta thi vị hóa mái tóc trong nhạc, trong thơ, với tôi tóc là bạn, là một phần thân thể cha mẹ cho tôi và tôi quý nó.
Tôi còn giữ tấm hình thẻ học sinh năm học lớp nhất.
Tóc tôi dài hơn vai một chút, đường ngôi chẻ giữa. Tấm hình năm học xong trung học, đi thi tú tài, mái tóc dài hơn thắt lưng vẫn đường ngôi chẻ giữa.
Nhớ ngày còn học tiểu học, một lần tôi bị lây chấy (chí), cảm giác ngứa ngáy sau khi chơi nhảy dây, chân tóc ướt mồ hôi bị chấy cắn, đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ và ghê ghê sống lưng. Lần ấy khi me tôi biết tóc tôi bị chấy, bà dùng lược dầy, bắt tôi cúi đầu xuống tờ giấy trắng, để bà chải cho tôi. Mấy con chấy đực màu đen, mập máu, bị bà dùng móng tay cái, dí xẹp giết chết trên tờ giấy, con chấy cái nhỏ hơn màu xám, có mấy con chí mén mới nở nhỏ như đầu tăm màu trắng, me tôi bảo: “Nó nhỏ nhưng cắn đau phải biết."
Vừa chải đầu bằng lược dầy, vừa phải tước những cái trứng “chắt" chưa nở, bám trên tóc mỗi ngày cho tôi chưa đủ, bà còn phải nướng trái bồ kết, nấu nước và gội đầu cho tôi nữa. Me tôi vắt vào thau nước sau cùng vài giọt chanh, bà bảo:
 “Chanh làm cho mướt tóc."
 Kể từ ngày ấy, mái tóc tôi được gội bằng bồ kết và chanh. Đến năm mười hai tuổi, tôi đã tự nấu bồ kết, và
Trái bồ kết, có người gọi là chùm kết, hình dạng như trái điệp tây, dài khoảng gang tay. Khi trái khô trở thành màu đen, đem nướng vừa đủ để tươm nhựa bóng, lấy hột ra bẻ nhỏ, thả vào nước đem nấu. Sau khi sôi khoảng mươi phút, màu nước trong chuyển thành mầu nâu sóng sánh.
Mùi thơm của bồ kết sau khi nướng, quyện bốc theo hơi nước thanh thanh. Lọc nước sang chậu, pha thêm nước lạnh để nước ấm lại, là gội tóc được. Có lần bận học quên gội đầu, tôi để nước bồ kết qua một đêm, bị me tôi mắng:
“Để nước thiu mới gội đầu còn gì là hương bồ kết hả con!"
Tôi nhớ cái thau đồng dùng riêng để gội đầu, vành chậu có chạm hình kỷ hà, mỗi khi cúi xuống cho mái tóc chảy dài vào chậu, tôi thấy lấp lánh chính khuôn mặt tôi.
Mua bồ kết dễ lắm, trong tiệm chạp phô nào cũng có bán. Ngày còn dùng than nấu cơm, thường thì sau khi làm cơm trưa xong, tôi đặt nồi bồ kết lên cái bếp còn than dư, cứ để đấy. Than vừa tàn, là bồ kết đủ cho hết tinh túy của nó hòa vào nước.
Cơm nước dọn dẹp xong, cả nhà đi nghỉ là giờ tôi gội đầu. Giờ ấy nắng rất hanh, gió rất vừa, để hong khô mái tóc dầy của tôi. Tôi không biết vì gội đầu bằng bồ kết mà tóc tôi dày, hay vì tôi giống bên nội. Bà nội, bác, bố, chú, cô tôi, ai cũng có mái tóc dầy, nhất là bác gái của tôi, tóc đã dầy còn chảy dài xuống tận gót chân. Gội đầu xong, bác phải đứng lên cái ghế đẩu cao để chải tóc.
Bố tôi hay xin tóc rối của bác để đánh gió. Tôi nhớ có lần tôi than đau đầu, bố tôi lấy gừng giã nhỏ trong cái chén sành, vắt vào ít chanh, đổ vào tị rượu trắng, xong xuôi ông lấy nùi tóc rối vo tròn khoảng quả chanh, nhúng vào dung dịch ấy, day vào hai bên thái dương và xoa dọc hai bên sống lưng cho tôi.
Bác thích nghịch tóc của tôi lắm. Mỗi khi bác đến chơi, thế nào tôi cũng tìm dịp mon men lại gần bác, để bác vừa nói chuyện với mẹ, vừa chải đầu kết bính tóc cho tôi.
Bác kết được bính năm, thay vì bính ba như tôi thường kết lấy một mình.
Bác vấn tóc trần khéo khéo là, mỗi khi bác vấn tóc, tôi chống cầm ngắm bác mải mê. Bác nghiêng đầu sang phải, dùng lược chải hết tóc sang một bên vai. Bác có một đoạn dây vải màu đen dùng để cột bó tóc lại trên vành tai, sau đó bác xoắn đều tóc và vấn tròn lên đầu. Vòng thứ nhất tròn trĩnh quanh đầu, vòng thứ hai mỏng hơn nằm bên trong được gài khéo léo bằng vài cái kim gút, đoạn đuôi tóc dư bác khéo léo nhấc vòng tóc lên để nó thò ra khỏi vành, như cái đuôi gà.
Bà tôi không vấn tóc trần, mà vấn bằng khăn nhung.
Cùng một điệu bộ như thế, nhưng sau khi bó tóc bằng dây vải, bà dùng một miếng nhung đen ngang bằng một gang tay, dài non một thước, bọc tóc lại, dùng kim gút gài mối khăn vào tóc, sau đó gói hết tóc vào khăn, bà cần khoảng bốn cái kim để gài đều tóc vào khăn, sau đó quấn tròn lên đầu. Bà ngoại tôi tóc ít, nên bà phải dùng thêm một cái độn tóc, may bằng vải đường kính khoảng ba cm, dồn vải vụn vào, sau đó dùng dây vải quấn tóc chung quanh cái độn, và sau cùng vấn khăn.
Bác tôi hay bảo:
“Cháu nuôi tóc cho dài, rồi bác bảo cho mà vấn tóc. Tóc cháu dầy vấn đẹp lắm, mày có những hai cái đuôi rùa con ạ.”
 Đuôi rùa bác bảo là những ngọn tóc măng mọc ngay đằng sau ót. Người ta hay nhìn tóc con nít có đuôi rùa sau ót hay không, mà đoán nó có thêm nhiều anh chị hay không.
Nghe bác nói tôi có hai cái đuôi rùa, tôi hỏi:
“Ở đâu cái nữa hả bác?"
Bác chỉ ngay giữa trán của tôi, nếu vuốt hết tóc ra sau sẽ thấy chân tóc vẽ thành cái góc của hình trái tim. Tôi thích lắm, vì các cô đào cải lương, hay vẽ thêm thật đậm cái đuôi rùa ấy.
Nỗi ham muốn được vấn tóc, khiến tôi chiều chuộng mái tóc của tôi hết mực. Ai chỉ cách gì để tóc dài nhanh tôi đều làm theo cả. Thí dụ như mỗi đêm phải chải tóc nhẹ nhàng, mỗi tháng phải dùng kéo nhấp đầu ngọn tóc.
Đến mùa Hè nóng nực, nghe mẹ bảo phải cắt bớt tóc là tôi sợ lắm, luôn đi trốn.
Mẹ tôi bảo:
- Không cắt phải buộc tóc cho cao.
Hứa với mẹ, nhưng mẹ vừa xoay đi là tôi lại tháo sợi thun vứt đi, vì tôi thích cảm giác tóc vướng vào mặt khi chơi nhảy dây, nhảy lò cò.
Đi học lớp hè với cô giáo Trinh người Nam, dưới căn nhà mái tôn, cả thầy lẫn trò đều thấy nóng, cô bảo tôi cột tóc lên cao, tôi nghe lời cô giáo nhưng không vui. Đằng sau lưng tôi có mấy tên con trai, tụi nó hay lén bứt tóc tôi để đá dế, tụi nó rình cô giáo đang giảng bài bứt đại, tôi giật mình la lên, thế là cô giáo bắt tên giựt tóc tôi, quỳ trên vỏ mít. Nó giận tôi, không cho tôi xem toán đố nữa. Sau này khi nó xin, là tôi tự bứt một sợi tóc cho nó ngay.
Tôi ghét con trai chơi ác, nhất là ghét trò đá dế mà tôi phải cho nó tóc của tôi vì tôi nghĩ đến những bài toán khó.
Tôi tội nghiệp con dế lửa có cái cánh màu vàng, bị cột vào sợi tóc, xoay vù vù cho chóng mặt, trước khi thả vào đấu trường “đá lộn.”
Đấu trường là cái hộp nhỏ bằng giấy bồi, hay sang hơn là cái hộp thiết dùng đựng bánh quy hay bánh trung thu, có một lớp cát mỏng, vài nhánh cỏ. Hai con dế cụng đầu vào nhau, con nào chạy vòng vòng sát thành hộp, không cụng đầu vào con kia nữa là thua. Thằng có con dế thua, nắm râu con dế lên thổi phù phù, hay dùng tóc của tôi đụng vào râu của con dế, để con dế chịu nhào vào đá lại. Chỉ có thế mà có khi mấy đứa con trai đánh nhau inh ỏi.
Lớn lên tí nữa, khi được mặc áo dài đi học, nhiều hôm nóng quá mồ hôi đẫm ướt cả lưng áo, tôi vẫn lì không chịu cột tóc cao lên.
Khi biết điệu, tôi hái hoa ngọc lan cột vào trong tóc.
Đường Tú Xương có nhiều hoa ngọc lan, đi học về ngang, tôi không ngại cột hai tà áo, leo lên rào hái hoa, có lần chó sủa, chủ nhà chạy ra, tôi thong thả ôm cặp đi, mấy tên con trai về chung đường với tôi, lãnh đủ lời mắng vốn. Có ai nghĩ con bé tóc dài nhỏ nhắn ấy dám leo rào hái hoa kia chứ?
Về sau tôi có nguồn cung cấp hoa ngọc lan, mấy năm dài ròng rã, mỗi lần cả bụm hoa hàm tiếu từ một người bạn học chung trường, biết tôi thích hoa ngọc lan, nhà người ấy lại có một gốc ngọc lan cổ thụ. Tên của anh chàng ấy mà ghép vào với tên tôi, sẽ thành tên của một quốc gia hùng tráng nhất thế giới.
Các bạn học hay chơi ghép tên đứa này vào đứa khác để chọc ghẹo, tôi không thích như thế, nói thẳng và đi mách với thầy giám thị. Từ chuyện này tôi và anh chàng thành bạn. Có lần tôi xúi anh ta leo lên cành phượng hái cả chùm thật to, để tôi cùng các bạn dùng nhụy của hoa chơi đá gà, cánh hoa thì ép thành hình con bươm bướm.
Anh ta đang ở tít trên cành cao, thầy hiệu trưởng đi đến. Thầy kêu anh ấy xuống và bắt quỳ ngay dưới gốc cây.
Tôi tự động đến quỳ xuống bên cạnh, thầy hỏi tại sao?
Tôi trả lời vì chính tôi là người có lỗi, tôi muốn hái hoa, không phải anh ấy. Thầy hiệu trưởng cười xòa tha cho cả hai, chỉ dặn không được leo nữa kẻo ngã.
Từ ngày có nhiều hoa, tôi ngậm hoa vào miệng, cột hai ba đóa vào trong tóc, đi đến đâu mùi thơm vương theo đến đấy, bố mẹ tôi mắng yêu:
- Khiếp! Con gái điệu rơi điệu rụng.
Và tôi cũng hay ngâm nga bài hát:
"Ngọc lan dòng suối tơ vương, mắt thu hồ dịu ánh vàng ..."  của Dương Thiệu Tước .
Khoảng thời gian ấy, các cô tóc dài có cái kẹp ba lá để kẹp tóc. Kẹp ba lá làm bằng nhôm mỏng, có đúng ba miếng, dễ bị tuột, không đẹp, tôi dùng khăn voan mỏng của mẹ cột tóc. Khăn voan có thể thắt lại thành hình hoa và phần dư ra của khăn bay theo tóc, đẹp lắm.
Và tôi được vấn khăn một lần. Vấn để bà tôi và bác tôi được dịp kể lại thời con gái của bà và bác. Tôi nhìn ngắm bà và bác tôi vấn khăn mãi, nên đến khi tôi vấn tóc mình dễ dàng như tôi từng làm mỗi sáng. Mái tóc thành vòng, như vương miện đội đầu, bà tôi bảo bác:
- Nó đẹp y như chị ngày xưa.
Bác tôi thì:
- Nó giống y như hình của me hồi trẻ.
Bà tôi có một bức chân dung xinh lắm chụp ở Hà Nội, tôi giống bố, nên giống bà, giống luôn cả bác. Tiếc ghê, không ai chụp cho tôi tấm hình với mái tóc vấn xinh xăn ấy.
Tôi nhớ có lần tôi đánh rối, chải đường ngôi tóc sang một bên làm điệu. Thầy giáo dậy văn vừa vào lớp đã nói ngay với tôi:
- Con gái phải giữ đường ngôi tóc giữa, thờ mẹ kính cha, trung trinh chung thủy, sao em lại chải tóc ngôi bên.
Từ đó tôi không dám thay đổi đường ngôi tóc nữa.
Các bạn cùng lớp với tôi sau này kể lại:
- Thầy mê mái tóc của mày, lấy ngay bà vợ tóc như rễ tre, chả thấy đường ngôi ở đâu.
Tôi biết có vài sợi tóc tôi vãi vương đâu đó thời:
 
 Trời mưa không lớn lắm
Cũng đủ ướt đôi đầu
Tình yêu không đáng lắm
Cũng đủ làm tiêu nhau
Đường đời đau có chặng
Em tính còn ham chơi
Lưng ngoan dòng tóc xõa
Môi trinh thơm thích cười. .. [1]
 
Những tiếng chân gõ nhịp sau lưng trên đường về học và những câu thơ học trò có lời đề tặng ân cần trên báo thật vu vơ:
Chiêm bao người tóc thả
Ngậm trên môi tình đầu. . .
(Tặng người tóc thả, đoạn đường cùng về học, trên đường Vĩnh Viễn)
Mà đâu chỉ riêng tôi có mái tóc nhỉ, bao người thiếu nữ thời tôi, có mái tóc như thế. Để thơ văn mang bao sợi tơ giăng.
Anh họ tôi còn kể tôi nghe, một lần những sợi tóc ai đó đi bên cạnh, theo gió quấn vào cánh tay trần của anh, khiến anh chết điếng cả người, như bị điện giật.
Anh bảo tôi phải coi chừng, đừng để tóc bay lung tung mà có người chết không kịp ngáp. Anh đùa thế mà tôi tin, chưa kể anh còn dọa:
- Đứa nào nhặt được tóc của mi, đem về bỏ vào túi áo nằm ngủ đúng trăm ngày là mi mê nó như điếu đổ.
Tôi sợ lắm giữ tóc như vật bất ly thân, sợi nào rụng cũng nhặt lại cất kỹ.
Thế mà có người đã giữ được sợi tóc tôi làm bằng chứng là họ có nghĩ đến tôi.
Người ấy là con trai của bác chủ sạp báo ở góc đường Minh Mạng - Hòa Hảo. Mỗi tuần tôi đều ghé để mua báo Tuổi Ngọc. Tôi hay nói chuyện với bác. Bác chỉ có mỗi sạp báo mà nuôi bốn anh con trai ăn học, bác không có con gái nên bác thích hỏi han tôi lắm. Bác người Bắc, răng nhánh đen, nhưng bác bới tóc không vấn khăn như bà và bác gái của tôi. Bác cho tôi đọc thêm báo khác không cần mua, tôi cứ đứng tựa lưng vào sạp đọc thỏa thích, nào văn, nào thơ, có hôm bác còn cho tôi hình bìa của báo Pháp để trang trí vở học.
Tôi nhớ hoài những quyển vở bao bằng tờ ny-lông trong suốt, ép bằng bàn ủi than. Tìm được những tấm hình lạ, lồng vào bên trong đẹp đẹp là. Anh con út của bác, trạc tuổi tôi, lâu lâu ra bán hàng phụ mẹ. Lần ấy tôi đến không gặp bác chỉ có anh, tờ báo Tuổi Ngọc tôi mua, khi về nhà mở trang đầu có kèm tờ giấy caro viết vài hàng nắn nót bằng nét bút parke nắn nót:
 
Giữ sợi tóc của người
Treo tình ta vào đấy
Gió lay tình đong đưa
Lạy trời người ngó thấy.  
 
Tôi đọc mà run, chỉ sợ anh ấy biết cái bùa của ông anh họ tôi nói:
 "Đứa nào nhặt được tóc của mi, đem về bỏ vào túi áo nằm ngủ đúng trăm ngày là mi mê nó như điếu đổ."
Từ đó tôi mắc cở không dám vào mua báo khi chỉ có anh.
Tôi vừa lớn là me tôi vừa mất. Trước khi mất, me tôi cắt tóc. Mái tóc còn lại của me tôi dài hơn nửa thước, tôi gói và cất vào một chiếc hộp gỗ. Lần bác gái tôi đến làm trăm ngày cho mẹ, tôi đưa bác xem, bác bảo: “Điềm gở, con thấy không, đang tự dưng sao lại cắt tóc đi.”
Bác còn bảo cho tôi biết, tóc của người đã khuất không làm tóc mượn được, vì nó sẽ rối, không mượt mà. Miền Nam các bà búi tó, nên có rất nhiều người mua tóc để làm tóc mượn, tức là dùng tóc người khác độn chung vào mái tóc thưa của mình, để khi búi tó đẹp hơn.
Me tôi mất, tôi xõa tóc và cột khăn tang như cái băng đô đội đầu. Sau ba tuần bố tôi bảo:
- Thôi các con đừng chít khăn ngang đầu nữa, trông buồn lắm. Mẹ biết các con yêu mẹ, cần gì mảnh khăn trắng ấy.
Rồi ngày cưới của tôi đất nước bão bùng, chị thợ làm tóc cứ mân mê mái tóc tôi, bới tỉa trầm trồ: “Tóc em đẹp quá," chị bới hết tóc tôi lên cao, chiếc khăn vành dây xinh xắn bọc mái tóc, nhìn vào gương đằng sau lưng, những lọn tóc quấn quít cùng nhau. Đây cũng là lần đầu tôi uốn tóc, vì chị nói tóc không uốn, chị không chải bới gì được.
Sanh cháu đầu lòng, me chồng tôi bảo phải cữ không được gội tóc một tháng, sợ dễ bị nhức đầu và rụng tóc về sau. Nghe lời bà, tôi tết bính mái tóc, chịu đựng được một tuần, sau đó tôi phải nấu nước xả lén gội đầu, vì không sao chịu được cảm giác tóc nhơm nhớp dính vào nhau.
Có lần, tôi dự định bỏ nước ra đi. Lần ấy tóc tôi búi đầy một búi như các bà ở miền Tây, mặc áo bà ba lụa màu đà, chỉ khác là không bôi dầu dừa lên tóc. Các chị, các bà ở miền Tây, dùng dầu dừa bôi lên tóc, giữ cho tóc mượt, và khi búi không bị tóc con chỉa ra ngoài. Lần ấy nhóm tôi bị du kích xã bắt, vì chia vàng bến bãi không đều. Ngồi trong gian nhà tranh, ủy ban xã, tóc tôi xổ tung. Chú du kích xã được thể ra oai, lớn tiếng kêu:
- Chị kia đến đây.
Hắn chỉ vào tôi, sau đó là một tràng dài lời dậy dỗ, đại khái nước nhà giàu đẹp, sao lại trốn đi theo ngụy tặc vân vân. Tiện tay có con dao, hay vật gì đó tôi không rõ, hắn nắm một mớ tóc của tôi mà cứa. Ông chủ tàu kịp chạy chọt cho chúng tôi được thả ra, về lại Sai Gòn ngay sau đó. Dĩ nhiên tôi có mái tóc kiểu con trai, ngắn hơn vành tai. Con tôi lúc ấy còn bé, không thấy thay đổi của mẹ, nhưng chồng tôi, và các bạn khi gặp tôi với mái tóc lạ, ai cũng tủm tỉm cười.
Sau chuyện này chúng tôi không dám nghĩ đến chuyện vượt biên nữa, chồng tôi bảo:
- Thôi kệ em ạ, cột đèn ở lại, mình cũng ở lại.
Đến khi sửa soạn ra đi chính thức, điều chồng tôi hay lo lắng thứ nhất là cây ngọc lan không ai chăm sóc, thứ hai là:
 “Sang đó chừng hai ba năm tóc em xoăn tít như cọng mì khô.”
Bây giờ đã hơn mười hai năm “sang đó," mái tóc tôi vẫn thế, không xoăn, không uốn dĩ nhiên màu thì có nhạt như nắng chiều gần tắt, vài sợi nhạt hẳn thành sương muối.
Các con mua thuốc nhuộm cho mẹ, màu hạt dẻ, màu lá thu.
Tôi vẫn ngại ngần chưa muốn thay đổi.
Không biết có phải vì gội đầu sớm sau khi sanh con so không, mà tóc tôi rụng nhiều ghê, tóc ngắn rụng chắc không thấy nhiều bằng tóc dài. Thế mà me chồng tôi vẫn bảo: “Tóc con tốt thật, đến giờ vẫn dầy và mượt.”
Nghe mẹ chồng khen, tôi lại tự hỏi: “Có phải tóc tôi còn dầy vì tôi đã gội tóc bằng bồ kết hay không?
Bây giờ tôi gội tóc bằng đủ mọi loại dầu, đủ mọi mùi hương, tôi vẫn nhơ nhớ hương bồ kết. Cứ nhắc cứ ước ao, đến nỗi cô bạn học, một lần về thăm nhà, mang sang cho hẳn một bao, với lời nhắn nhủ:
- Tại mày mà tao phải nói xạo với hải quan, nó hỏi cái gì, tao bảo thuốc bắc. Chứ nói thiệt để nấu nước gội đầu, nó giục vô thùng rác là cái chắc.
Cô bạn của tôi người Nam rặc, nó cũng thắc mắc, tại sao tôi thích hương bồ kết đến thế.
Hỏi ông nhà tôi:
- Tóc em có dính líu gì vào tình sử của hai đứa không?"
Anh trả lời:
- Nó cột anh cứng ngắt."
 
Xuân 2001




Đăng nhập để trả lời
0
19. Xuân Và Tình Yêu
 
 
- Ê ông kia theo tụi mình kìa Thủy.
Vừa dựng chiếc xe PC Song vừa ra dấu cho Thủy thấy một anh chàng vừa quẹo xe vào cổng chùa.
- Sao mày biết?
Song trả lời:
- Theo từ đường Hồng Thập Tự tới giờ đó bà, ngồi đàng sau chả hay gì hết.
Thủy mỉm cười:
- Ðể Thủy phá nghen.
Hai đứa kéo nhau sang nhà khách, anh chàng “đi theo” cũng tò tò sang nhà khách. Tướng tá kha khá có hơi lầm lì một chút, môi mim mím ra vẻ nghiêm trang. Thủy lên tiếng:
- Anh anh, anh gì đó ơi anh có tiền lẻ không?
Anh chàng hơi sững người:
- Cô gọi tôi?
- Dạ, tụi này định mua nhang mà quên ví ở nhà rồi.
Anh chàng lúng túng:
- Tiền lẻ tôi không có nhưng có tiền chẵn.
- Tiền chẵn cũng được, nhà chùa có tiền thối mà.
Anh đưa tờ giấy năm trăm đồng có hình con cọp, Thủy nhận ngay cẩn thận dặn dò:
- Anh đứng đây đợi nha, chút Thủy đem tiền ra thối lại há.
Anh hiền lành:
- Ừ!
Năm Trăm đồng mua được quá chừng chừng nhang, hai đứa ôm hai ôm nhang ra, nhìn anh chàng liến láu:
- Anh biết sao không Thủy tính rồi, sư cô cần có tiền mua hoa cúng Phật nên Thủy cúng dường hết tiền luôn rồi, anh cho Thủy địa chỉ mai Thủy đến trả – Mà sao anh theo tụi Thủy làm chi vậy? Đi theo làm quen thì khỏi cần làm quen, đi theo tán tỉnh thì không được vì Thủy và Song có người yêu rồi, còn đi theo để ăn cắp thì hai đứa không có tiền.
Song tiếp lời:
- Tui thấy ông theo tụi tui từ lâu lắm rồi à nha, từ Hồng Thập Tự đến tận đây đâu phải sự trùng hợp ngẫu nhiên chứ, chùa này đâu phải ai cũng biết. Tui báo cho ông biết nghen, con Thủy đi đâu cũng có tui, chuyện đến nhà ông trả tiền còn lâu tui mới đi, cho người lạ mượn tiền bị mất ráng chịu.
Anh chàng nhỏ nhẹ:
- Hai cô có lòng bác ái như vậy rất tốt, chuyện mất tiền tôi không sợ mất đâu, lì xì cho hai cô đó.
Thủy cong cớn:
- Thủy không thèm lì xì Thủy lớn rồi, còn ba ngày nữa mới Tết , Thủy không thèm lì xì, mà ông tên gì vậy?
- Tên Thủy.
- Ông ăn gian, ăn gian, Thủy là tên của Thủy mà.
Song quay sang Thủy:
- Cho chừa cái tật xưng tên không bỏ, vô lạy Phật đã.
Song kéo Thủy vào chánh điện. Những ngày trước Tết chùa không đầy người, chỉ có những người đến mua nhang, làm công quả hay thăm viếng người thân. Năm nào Thủy và Song cũng đến mua nhang thơm về cho mẹ.
Chùa cũ xưa lắm, tọa lạc trên đường Lạc Long Quân.
Những cột gỗ mun, những mảnh sành vỡ từ bát chén kiểu được cẩn chung quanh trên tường, trên mái vòm để trang trí, ngoài sân chùa một nghĩa trang cổ đến hơn trăm năm trước, kết bằng đá tổ ong. Thủy thích ngắm nghía tấm bia cao khắc tên người đã khuất, mòn dần theo năm tháng, để mường tượng đến tình yêu đôi lứa, dù Thủy chưa yêu ai.
Thủy thường tự hỏi tình yêu có bị phai tàn theo tháng ngày chăng?
Những cội mai ngày Tết nở bung vàng ối rực rỡ hai bên lối vào chùa, làm Thủy có cảm giác mình là công chúa bước chân đi trên những cánh mai tươi. Thủy mơ mộng, ngày làm cô dâu sẽ được bước chân trên lối đi như thế, rồi cùng chú rể quỳ dưới chân Tượng Phật đúc bằng đồng đen bóng loáng ngay chánh điện, xin Ngài chúc phúc. Chỉ cần nhìn khuôn mặt Ngài thôi lòng đã đủ thanh thản an bình.
Hương trầm ngan ngát nâng tâm hồn Thủy vút cao.
Bỗng ánh mắt anh “đi theo” hiện ra trong trí, làm Thủy giật mình nhớ ra chuyện nghịch ngợm của mình, kéo tay áo của Song ra hiệu lạy Phật để đi ra.
Thủy có ý tìm anh ngoài hành lang, nhưng không còn thấy anh đâu nữa.
Than thở cho Song nghe, Song mắng:
- Mày đòi phá, tao cho phá, bây giờ than là sao?
- Thủy nghĩ mình sai rồi, đâu phải người ta theo mình đâu? Nếu theo sao không đợi chứ?
- Người ta không đợi là cho mình tiền rồi, thắc mắc làm gì?
- Không được mang nợ người lạ, kiếp sau phải trả đắt lắm. Mẹ Thủy nói đó.
- Xời ơi, nợ có năm trăm làm như là nợ tình Trương Chi Mị Nương không bằng, sợ thì đưa năm trăm đây, tao xí cái nợ ấy cho.
Thủy cúi đầu buồn buồn bước theo Song xuống nhà ăn, bỗng Thủy giật mình thấy anh đứng trước mặt mỉm cười. Thủy òa nói:
- Ơ! Thủy tưởng ông đi mất tiêu rồi chứ. Ông trốn đâu vậy?
Anh nhìn vào mắt Thủy:
- Tôi không trốn, chỉ đứng sau gốc mai!
Thủy lấy lại tính lí lắc:
- Ủa mà ông đứng đó làm gì? Sợ Thủy đi mất hả, sợ mất tiền hả?
Anh chậm rãi trả lời:
- Không, tôi nghĩ đã đưa đến phải theo về nữa, phải không hai cô?
Song chen vào:
- Thôi đi ông, xạo vừa chứ. Ông theo tụi tui về, bồ tôi thấy anh ấy gây à!
Anh tủm tỉm cười:
- Không sao. Tôi sẽ đính chính là tôi theo cô Thủy chứ
không theo cái ‘cô gì đó’.
- Thủy cũng có người yêu rồi. Ông theo làm gì?
Anh trả đũa nhẹ nhàng:
- Thì tôi theo xem anh chàng đó có … dễ thương bằng tôi không!
Song vừa buồn cười vừa tức, chưa kịp trả lời anh thì Thủy đã kéo tay Song:
- Đừng cãi nhau với ‘người ta’ nữa – Thủy trả tiền anh nè, hồi nãy tụi Thủy phá anh chút cho vui. Anh đừng giận nhé. Chào anh tụi Thủy về.
Anh lắc đầu, không chịu:
- Đã lì xì rồi, ai mà lấy lại.
- Đã nói là chưa tới Tết mà. Thủy không dám nợ anh đâu.
- Vậy thì thế này nhé. Thủy và ‘cô gì ấy’ đi ăn kem brodard với tôi. Mình tiêu hết cái giấy năm trăm, là xem như Thủy không nợ gì tôi nữa. Chịu không?
Thủy nhoẻn miệng cười:
- Cái ‘cô gì ấy’ tên là Song, anh coi nó đang cau có kìa. Thủy đi không được đâu.
- Thế các cô không muốn biết tại sao tôi theo các cô à?
Song bĩu môi:
- Theo người ta để làm quen chứ còn lý do gì nữa.
- Nhỡ tôi theo các cô vì nghi các cô là ‘biệt động thành’ thì sao?
Thủy hốt hoảng:
- Cái gì? Anh nghi tụi này là Việt-Cộng hả? Bộ anh là cảnh sát chìm sao?
Anh làm mặt nghiêm:
- Cái này thì không nói được ở đây. Tới Brodard rồi tôi sẽ cho các cô biết. Nếu không …
Anh bỏ lửng câu nói làm Thủy hoang mang:
- Anh nói thiệt chớ. Đừng có hù tụi Thủy.
- Nếu không có gì thì tại sao lại sợ không dám theo tôi.
Này nhé, trời xanh mây trắng, nắng vàng tươi, phố xá đông người, các cô lại có tới hai người, bộ sợ một mình tôi sao?
Song tức bực:
- Sức mấy mà sợ. Được rồi tụi này tới Brodard với anh xem anh xạo tới bực nào. Thủy cất tiền đi. Để ăn kem cho sướng, coi người còn ra ‘chiêu’ nào nữa không.
Khi cả ba người đã gọi xong món kem ưa thích, anh vẫn lầm lì không chịu nói gì thêm. Song nóng ruột:
- Rồi bây giờ anh nói cho tụi tôi biết là tại sao anh theo tụi tui đi.
Bất ngờ anh như có nét buồn:
- Mới nhìn tôi tưởng Thủy là người yêu xưa của tôi.
Tôi biết là không phải nhưng không biết sao cứ lẽo đẽo theo đến tận chùa!
Thủy cười vang:
- Xời. vậy mà anh làm Thủy lo hết sức, tưởng anh là mật vụ hay cảnh sát chìm. Anh không nghĩ ra được cách nào hay hơn là ‘giống người yêu xưa’ để làm quen hay sao?
Và Thủy cười khúc khích:
- Quê ơi là quê!
Mặt anh vẫn nghiêm như quan toà. Anh rút từ trong ví ra một tấm hình đưa cho Thủy coi:
- Thủy thấy chưa. Tôi không nói láo đâu.
Cả Song và Thủy châu đầu nhìn. Cố gái trong tấm hình quả có hơi phảng phất giống Thủy.
Thủy rụt rè:
- Người yêu anh đây hả.
Anh nhếch miệng cười:
- Người yêu cũ thôi. Tôi và Ánh đã chia tay khi Ánh lấy chồng đại úy, tôi lên Đà Lạt vào Võ Bị. Thành thật xin lỗi hai cô, nhất là cô Thủy. Tôi không cố ý trêu chọc các cô.
Nhìn nét mặt thoáng buồn của anh Thủy cảm thấy mềm lòng:
- Anh thật là! Anh có biết Thủy ghét cảnh sát lắm không?
- Xin lỗi Thủy lần nữa.
Nét buồn thoảng qua đã biến mất. Anh cười thật tươi, tiếp lời:
- Tên tôi là Chung nhưng cứ gọi tôi là Thủy suốt đời cũng được.
Thủy lườm anh:
- Thủy không cho anh đổi tên với Thủy đâu đừng hòng!
Người bồi bàn mang những ly kem đặt trước mặt mọi người. Anh đưa tay mời Thủy và Song:
- Mời các cô. Có lẽ là duyên nợ. Tôi với Ánh có duyên nhưng không có nợ. Cũng như tôi và hai cô, hôm nay gặp gỡ có chút duyên, nhưng rồi biết ra sao ngày sau.
Mai mốt đi chơi với người yêu các cô đâu còn nhớ đến tôi là ai.
Song cũng thấy mềm lòng:
- Lúc nẫy Thủy nó phá anh đấy. Xấu như tụi này làm gì có bồ. Chỉ có người đi theo thấy vỡ mộng bỏ chạy thôi. Mà này, tên người ta là Song, biết rồi đừng có ‘cái cô gì đó’ nữa nhé.
Anh gật đầu:
- Cám ơn Song.
- Anh là sĩ quan thật hả? Sao trông anh trắng bóc vậy?
Thủy khúc khích cười:
- Lính nhà kính hở anh!
Anh lắc đầu:
- Tôi bị thương mới ra khỏi bệnh viện ít lâu. Hiện còn đang nghỉ phép dưỡng bệnh.
- Ồ, Thủy xin lỗi anh.
- Không có gì. Vết thương nhẹ thôi. Tôi sắp về đơn vị rồi. Sẽ lại hành quân liên miên.
- Anh đóng quân ở đâu.
- Xa lắm!
- Anh thường hay về thành phố không? Mà anh theo binh chủng nào?
- Tôi có nói Thủy cũng đâu biết binh chủng nào vào với binh chủng nào phải không? Thủy biết câu: “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” không?
Thủy hốt hoảng:
- Anh đừng nói gở! Anh phải về để còn cho Thủy mượn tiền nữa chứ.
Song chen vào:
- Ở trường tụi này có chương trình viết thơ cho lính, nhưng tụi này không tham gia. Cải lương sao á.
- Song và Thủy học trường nào?
- Sương Nguyệt Anh.
- Ngày xưa tôi học Chu Văn An, sau đó là Đại học Khoa Học.
Thủy trêu anh:
- A! anh Chết Vì Ăn.
Anh bật cười:
- Tiếc là các cô không học ‘Trứng Vịt’. Tôi không biết Sương Nguyệt Anh được ‘âu yếm’ gọi như thế nào!
Thủy trả lời:
- Sống Nhờ Ăn anh ạ?
Anh nhìn Thủy cười:
- Vậy là tôi và Thủy có duyên rồi, người chết vì người sống nhờ, đúng không nào!
Thủy lẩn tránh, đưa trả lại anh tấm hình:
- Anh cất kỹ. Để mà nhớ thương đời đời.
Anh lắc đầu:
- Đã phôi pha. Có gặp nhau cũng lạ nét môi cười.
Thủy ăn kem đi rồi tôi sẽ đưa Thủy về.
Thủy luống cuống:
- Không cần đâu anh Chung ạ.
Anh nhìn Thủy đăm đăm:
- Thủy đã biết vì sao tôi theo Thủy rồi. Thôi thì …
Anh không nói tiếp, đứng lên tiến về phía cô thâu ngân.
Song híc tay Thủy thì thào:
- Anh ấy ra trả tiền kem kìa. Mày trả lại cho anh ấy đi.
Thủy chưa kịp đứng lên thì Chung đã trở về bàn. Thủy đưa tờ giấy năm trăm cho anh:
- Thủy gởi tiền lại cho anh nè.
Anh thản nhiên cầm tờ giấy bạc, rút bút viết mấy hàng và đưa trả lại cho Thủy:
- Giấy bạc này không dùng được nữa. Coi như là Thủy đã trả nợ cho tôi.
Thủy nhìn tờ giấy bạc. Hai hàng chữ sắc sảo đập vào mắt Thủy “Tr/Úy Trần Khắc Chung – KBC 4123. Cám ơn Thủy đã cho tôi một ngày đẹp.”
Thủy nhìn anh:
- Thủy phải cám ơn anh mới đúng. Thủy sẽ không bao giờ quên hôm nay. Nếu anh không bận, chiều ba mươi Tết mời anh ghé nhà ăn cơm tất niên để Thủy trổ tài nấu nướng được không anh?
Anh nhìn Thủy như có chút ngạc nhiên:
- Không sợ bố mẹ mắng hay sao?
- Không. Thủy sẽ kể cho Me nghe, vả lại ba của Thủy cũng vừa về phép từ An Lộc, có thêm anh ông cụ có người nói chuyện, thêm vui. Anh đến nhé. Có cả Song nữa.
Anh gật đầu, đưa cây viết cho Thủy và xòe bàn tay trái:
- Thủy viết địa chỉ vào đây. Tôi … hết tiền làm giấy nháp rồi.
Thủy bật cười:
- Đau không được la nhé!
Song đùa:
- Khỏi rửa tay muôn đời ha anh?
Anh trả lời ngay:
- Tôi hứa sẽ rửa tay sạch truớc khi ghé nhà thăm hai bác và Thủy – À tôi nghĩ Sương Nguyệt Anh nên được gọi là “Sống Nhớ Anh” hay hơn Thủy ạ.
Thủy đỏ mặt nguợng ngùng – không biết có nên cầm tay anh để viết địa chỉ vào hay không nữa.
Có một điều Song và anh không biết, Thủy đã khấn Phật nhiều lần, nếu là duyên số xin Ngài cho Thủy gặp
“người ấy” dưới điện thờ của ngài. Ngài đã nhận lời khẩn cầu của Thủy hay chăng, mà tên của anh ghép vào với tên của Thủy sẽ là mãi mãi thủy chung.
Nắng Xuân vàng rực rỡ khiến đôi má Thủy ửng hồng hay chính nụ tình vừa chớm nở đóa mai hoa.
Nhâm Ngọ-Đặc Trưng 2002
(Cám ơn anh Ngụy Xưa đã cho AT những ý tưởng vui thật vui để hoàn thành câu chuyện dễ thương này)




Đăng nhập để trả lời
0
20. Nước Cờ
 
 
Tiếng chân huỳnh huỵnh chạy từ trên gác xép xuống, căn gác ba mét chiều rộng, bốn mét chiều ngang, được dành riêng cho vợ chồng cậu ấm Phúc. Căn nhà nhỏ trong giáo xứ quận tám, cạnh bến Phạm Thế Hiển, mùa nắng mùi bùn từ sông bốc lên, mùa mưa mùi tanh của nước từ đất úng ngập phả xuống, là chuyện thường, tường nhà nào cũng có cái vạch nước ngập lưng lửng, cao hơn cái chân quỳ đi-văng, mùa khô là chỗ ăn cơm, mùa ướt là nơi chạy lụt, bao nhiêu thứ cứ chất đống cả lên đấy.
Cậu Phúc mang người vợ Tàu, từ Đà-Lạt về xóm là điều thật lạ, cô ta đẹp trắng, dáng dấp con nhà giàu. Ngày chiếc xe xích lô máy bình bịch chở vợ chồng Phúc đến cửa nhà, con nít bu đầy, để ngắm nghía chiếc va li da to, vài cái hộp dán giấy hoa thật đẹp, nhất là cái nón có kết đầy đăng ten của cô dâu mới, con nít nhà nghèo cả đời có bao giờ được thấy.
Xóm đạo nhỏ này, chỉ có nhà ông trùm Phúc là có bàn thờ trải khăn trắng thêu, viền tua màu kim nhũ. Những pho tượng thánh, to bằng nửa người thật, chiếm gần hết một phần ba diện tích căn nhà, tối nào các bà mẹ công giáo cũng đến nhà ông bà trùm đọc kinh, họ ngồi lan cả ra ngoài ngõ. Nghe nói cậu Phúc con trai thứ của ông bà đi lính không quân, đôi lần về nhà trong bộ quần áo dính liền nhau, cả xóm ai cũng trầm trồ nhà ông bà trùm có phước, nhưng sau năm 1975 thì cái phước ấy thay đổi khi cậu Phúc rúc về nhà, ăn bám gia đình.
Người có cấp bậc, bị bắt đi học tập cải tạo, cậu Phúc thì không, nên người ta biết cậu ta chỉ là tên lính quèn, chắc chắn là thế. Cậu có cái mã đẹp trai, thêm giọng nói ấm nhẹ, các cô con gái trong xóm, ai cũng mong được cậu hỏi han, nhưng cậu chẳng bao giờ để mắt đến. Người tinh ý có thể đếm, đến hơn chục cô gái đẹp, quần áo tân thời son phấn mượt mà, thay nhau ghé thăm nhà ông bà trùm, họ đến từng thời kỳ khác nhau, mang quà trong chiếc giỏ xe gắn máy, có khi trong chiếc xe tắc-xi màu xanh dương, cho đến ngày anh chàng mang cô vợ Tàu từ Đà Lạt về.
Vợ của Phúc không có đạo, lại là người Tàu chính gốc, tiếng Việt biết nói vừa đủ để giao tế, nên làm dâu thế
nào được, với gia đình ông bà trùm người Bắc di cư, “giấy rách phải giữ lấy lề.” Ai trong xóm mà không biết gia đình ông Trùm, trước khi di cư vào nam là dân “con nhà,” ruộng cò bay thẳng cánh! Bà trùm cũng là con của ông tiên chỉ trong làng, sa cơ chạy Việt Minh vào Nam bằng tàu há mồm. Người ta cũng chạy loạn cùng thời, không có cái tiếng “con nhà” cứ xông xáo tay làm hàm nhai đã tạo dựng cơ ngơi bề thế, ông bà trùm bị quá khứ bó chân, dấm dẳng dở ông dở thằng nên cái nghèo nó dính vào lưng, chỉ hòng nhờ vào con cái. Không nghèo sao được khi bà không muốn hư bàn tay ngọc, khi ông không muốn “Tôi thế này mà đi làm mướn cho chúng nó à!”
Ngày đám cưới Phúc, cha mẹ cậu ta phải bán hai chỉ vàng dành dụm, để mua vé xe lên Đà-Lạt rước dâu, theo lời năn nỉ của cậu con: “Gia đình người ta giàu có nứt đố đổ vách, mai mốt tha hồ mà lấy lại vốn’’ Bà sắm chiếc áo dài nhung, thêm chuỗi ngọc trai bóng loáng, chuỗi ngọc này bà mua rẻ của mẹ Lễ, túng tiền đong gạo bán cho bà. Chỉ có hai ông bà lên Đà Lạt đón dâu thôi, mà cũng tốn bộn tiền.
Để giữ sĩ diện, ông mua chai rượu tây, hộp bánh bích-qui, cho dù cậu Phúc bảo, bên họ nhà gái chẳng cần gì lễ vật.
Bà trùm thì bán tín bán nghi, bà đã đứng xem đám cưới của con gái ông Xếng, chủ tiệm thuốc bắc, đám rước dâu có bao nhiêu lễ bộ. Từ lúc nhà trai bưng rượu vào xin dâu, đến khi rước được cô dâu A Lìn ra khỏi nhà, mất cả hai tiếng đồng hồ. Khi đám xe hơi giăng hoa đến ngõ hẻm, pháo bắt đầu nổ đì đùng. Một phong pháo từ nhà trai, báo cho họ nhà gái biết, họ đã đến và đang đứng đợi. Rồi nhà gái đốt phong pháo trả lời, họ đã sẵn sàng để đón tiếp nhà trai. Khi ấy bà mai, cùng đại diện nhà trai, mang khay rượu và những vật lỉnh kỉnh chi nữa, bà không thấy rõ vào nhà.
Sau đó họ quay ra, mang phái đoàn có con heo quay đi đầu, tiếp theo là hơn chục cái khay- mâm, phủ vải đỏ kín mít, sau cùng mới đến chú rể xúng xính trong bộ đồ vét-tông, cầm bó hoa chầm chậm đi vào.
Đến cửa nhà bị em gái em trai của cô dâu, chăng dây đóng chặt, kẻ bên trong người bên ngoài cánh cửa có treo bảng đỏ “Vu Quy”, xí xa xí xô, rầm rộ cả khu chợ xép, thì ra đây là lúc vui nhất trong đám rước dâu. Các cô cậu chưa có gia đình “làm khó” chú rể trước khi gả chị gái, em gái về nhà chồng. Họ ra giá bắt chú rể phải trả, họ mới chịu mở cửa, họ còn gạt chú rể lấy mất bó hoa, chú rể phải van xin mãi mới xong. Người Hoa tin có giờ tốt giờ xấu, nên để rước dâu đúng vào giờ hoàng đạo, họ đã chuẩn bị cả xấp bao thơ đỏ cho việc “làm khó" chú rể này.
Lên Đà Lạt, hai ông bà mới biết rằng, đàng gái khinh thường đàng trai quá lẽ, họ không thèm tiếp, chỉ có bà vú em, người nuôi dưỡng cô dâu từ tấm bé ra mời trà.
Vừa bẽ bàng vừa tủi hổ, khi Hùng Có anh trai của cô dâu, tiễn em gái ra khỏi ngôi biệt thự to bằng cái đình, trong giọng nghẹn ngào, thông báo chính xác điều giòng tộc họ Lý quyết định: “Con gái họ Lý lấy chồng Việt Nam là ra khỏi họ Lý, không có của hồi môn, không được chia gia tài điền sản. Chỉ được giữ những tư trang đã có từ trước."
Thì ra ngày rước dâu, cũng là ngày cô dâu bị gia đình từ bỏ, vì cô mang thai trước ngày cưới, với người không cùng chủng tộc. Mặt của ông trùm đanh lại, ông không nói được tiếng nào, trong tiếng khóc thút thít của cô dâu, khuôn mặt đẹp hay xấu ông không thể thấy, vì nó cúi gầm xuống sát ngực. Bà vú khóc nấc, khi người anh ruột của cô lập lại lần nữa lời của cha cô, nói cho cô biết, cô không có của hồi môn, không được chia tài sản, không còn được dính dáng gì với giòng tộc họ Lý và nhất là bà vú không được đi theo cô. Khuôn mặt của cậu Phúc chuyển màu chàm, tiệp vào bộ đồ lớn màu lông chuột, cậu đã mượn hai ngày trước của thằng bạn, con ông thẩm phán.
Thế là lý do cậu Phúc đưa ra, để cha mẹ bán vàng đi cưới vợ cho cậu đổ sông đổ biển, chỉ một điều còn lại là cái bào thai trong bụng của cô dâu.
Đã ra đến bến xe, chờ mua vé về lại Sài Gòn, bà vú tìm đến, mời cả gia đình ông bà Trùm vào khách sạn Ngọc Lan, Hùng Có đã mướn sẵn phòng cho họ. Anh ta không dám ngỏ lời tại nhà, vì ông bố đứng ở phòng bên cạnh, nhìn qua màn cửa xem mặt nhà trai.
Hùng Có thương em gái lắm, bà mẹ của cô cũng ngất lên ngất xuống, vì quyết định của họ Lý, nhưng bà phải phục tùng như một thói quen, kể từ ngày về làm dâu làm vợ. Mỗi tháng bà có riêng một khoảng tiền để chi dụng cho quần áo, du lịch, đánh mạc chược, chăm sóc con, và các gia nhân phục dịch. Cô con gái bà nâng như trứng, hứng như hoa, nay bị đuổi ra khỏi họ, bà không đau đớn sao được.
Lệnh của chồng, bà không được cãi, vì ông là tộc trưởng phải theo đúng nghiêm luật của dòng họ.
Tài sản truyền từ thời ông tổ đến con cháu, ông không được phép để thất thoát vào tay người ngoại tộc. Con trai ông, lấy vợ người Việt không sao, vì con dâu sẽ đẻ con cháu cho họ Lý nhà ông, con gái lấy chồng Việt là sanh con cháu cho họ nhà người, nó không có quyền nhận tài sản từ dòng tộc. Vả lại người nó chọn đã không được ông chấp nhận, ngày đầu ông bắt gặp Phúc đưa con gái của ông vào tiệm cà phê Thanh Thủy bên bờ hồ, ông đã thấy nét ma mãnh của nó.
Ông đã nói chuyện với Mạc Lan về việc: “Lấy chồng không cùng chủng tộc sẽ mất quyền lợi là con gái họ Lý” hòng răn đe con gái. Nhưng cái thai nó đang mang, đã thắng ông rồi, lòng ông cũng đứt đoạn khi từ con, nhưng luật là luật.
Khách sạn Ngọc Lan chỉ là khách sạn đứng hàng thứ hai thứ ba ở Đà Lạt, mà gia đình ông bà Trùm thấy như được ở trong dinh quan, ông trầm trồ mãi với bà và quên đi nỗi nhục nhã bị họ Lý khinh thường. Tự nhiên được mời ở khách sạn một tuần, có cả một phong bao dầy đầy tiền, tương đương năm chỉ vàng do bà vú của cô dâu trao, lại thêm một bữa tiệc cưới linh đình, tại nhà hàng nằm trong khách sạn Đà Lạt, phòng tiệc nhìn thẳng lên núi Lang-Biang. Buổi tiệc cưới có quay phim hẳn hoi, nhìn quanh quan khách toàn là người trẻ, bạn của Hùng Có, bạn của cô dâu, không ai là ông già bà cả, ngoài bà vú lúc nào cũng đứng ngồi, bên cạnh Mạc Lan.
Qua buổi tiệc, ông bà trùm mới hay, anh cô dâu là bạn của cậu Phúc, bạn ăn chơi là chính. Cậu Phúc lựa toàn những bạn nhà giàu. Cậu có tài ăn nói, đọc được tiếng Pháp nên tha hồ cậu lòe thiên hạ. Ai cũng nghĩ cậu là con cưng trong một gia đình quyền quý, cái gì cậu cũng biết rành rẽ, từ rượu tây đến trà tàu, bàn sang chuyện văn chương, cậu làu làu Dumas cha Dumas con, sang đến chính trị, cậu râm ran Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Tưởng Giới Thạch, Tống Mỹ Linh, dòng họ Kenedy cậu tường tận từ thời ông cố ông sơ, chưa kể cậu biết cả gia phả của Hoàng Gia Anh Quốc.
Nói chuyện với cậu, đám bạn người Hoa giàu có tiền bạc, nghèo khó kiến thức, cứ há hốc cả mồm mà nghe.
Phải bao bọc cậu ta ngày này sang tháng nọ có là bao, so với thu nhập bạc triệu mỗi tháng, trong khi lương công chức ba cọc ba đồng, vài ngàn cũng đủ nuôi vợ nuôi con.
Hùng Có không đoán ra ngày cô em gái bị người bạn dẻo mồm, nhìn thành con mồi thơm để hắn giăng lưới. Cô Mạc Lan, là trứng là hoa là viên ngọc quý của cha mẹ Hùng Có, cô dịu dàng, ngọt ngào như chiếc kẹo chocolate. Bà vú nuôi cô, dậy dỗ cô mọi điều hay lẽ phải, ngay từ khi cô vừa lớn, ngoài việc dậy cô cách làm ăn sinh sống, vì bà nghĩ cô là con cưng của họ Lý, gia tài điền sản có ngồi ăn rỗi cả đời cũng không hết.
Công việc xuất nhập cảng của ông Lý khắp mọi nơi, đi đâu ông cũng dắt con gái cưng đi theo, từ Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan, sang đến Pháp, Ý, Hoa Kỳ.
Những tấm hình của Mạc Lan, được ông Lý sai người phóng lớn, đóng khung trang trọng treo trên tường, trong phòng khách thay cho những bức tranh. Nào là hình cô đội nón lông trắng đứng trước Khải Hoàn Môn ở Pháp, đến hình cô mỉm cười thật tươi trước chùa mái vàng bên Thái, rồi hình tóc cô bay theo gió, trên dòng nước thành Venice, anh chàng chèo thuyền đội nón rộng vành, đứng sau lưng cô mắt ngơ ngẩn đăm đăm, đắm đuối.
Chính những bức tranh ấy, đã là đầu mối cho ván cờ của cậu Phúc, chính những tấm hình ấy là cái chĩnh gạo để cậu ta lập ra bao nhiêu mưu mô, như con chuột nhắt tìm cách chui vào. Cậu ta bỏ hết mọi việc khi nghe Hùng Có nói đi đón cô em từ Bang-Cốc về, vào tháng 2 năm 1975, sau một chuyến du lịch ngắn hạn. Trên chiếc xe hơi Peugeot 404, cậu chỉ chào hỏi cô Mạc Lan cho có lệ, rồi để mắt nhìn dòng xe qua lại bên ngoài. Lăn lộn với cuộc đời lâu ngày cậu biết rằng, lần đầu gặp con gái đẹp và giàu có, càng không để ý đến, họ càng tò mò muốn biết về mình.
Cậu đã tính đúng nước cờ đầu, Mạc Lan được chú ý ở khắp nơi cô xuất hiện, con trai của các ông trọc phú, bạn của thân phụ nàng, xum xoe liếng láu mong được nàng ghé mắt. Các bạn người Hoa cùng làm ăn với Hùng Có, khi dự tiệc ở nhà nàng cũng không khác, kẻ tặng hoa người tặng khăn, những chiếc khăn từ Ấn Độ, từ Miến Điện lóng lánh sợi nhũ trắng nhũ vàng.
Mạc Lan chú ý đến anh chàng Việt Nam có ánh mắt sâu, sóng mũi thẳng, giọng nói trầm, ngay lần đầu gặp ấy, vì anh ta đã không thèm ghé mắt nhìn đến nàng. Nàng là con nai tơ ngơ ngác, không biết chống tượng, chẳng biết thủ sĩ. Những con chốt thí từ đối phương, gởi cho nàng là vài đóa hoa cúc hái bên đường, thắt nơ hồng xinh xinh bằng dây ny lông. Vài tờ giấy hoa tiên vẽ nguệch ngoạc, hình cô gái có đôi mắt bồ câu, nhất là thêm vài câu phát âm tiếng Phổ Thông ngọng nghịu, đại ý khen cô đẹp, đã làm trái tim cô mềm hơn mây, đời cô vui hẳn lên, tất cả mọi thứ ấy, hoàn toàn mới lạ đối với cô, làm sao cô biết rằng ngựa xe của cậu Phúc đang ráo riết bủa vây.
Cậu bầy quân từ lúc đi chơi với cả nhóm Hùng Có, có mặt Mạc Lan, đến khi chỉ còn riêng hai người đi lẻ không ai biết. Cậu bán đủ thứ cậu có, để cung phụng cho Mạc Lan được biết đến những nơi thật bình dân, đĩa cơm sườn, ly sữa đậu nành nóng bên đường, cái bánh khói ngoài chợ chiều, cho đến ngày cậu pháo thẳng vào tướng.
Mạc Lan báo tin đã cấn thai tháng 11 năm 1975.
Sau ngày cưới ít ai thấy Mạc Lan, nàng không quen, cũng chẳng ai buồn dậy nàng cách sống nhà nghèo.
Đứa con gái cháu nội của ông bà Trùm, có khuôn mặt buồn rười rượi, mái tóc bum-bê không che hết cái trán vồ, người ta thường nói là cái tướng khổ, phải hứng chịu nhiều oan trái. Cậu Phúc đã có vợ con, nhưng ít khi ở nhà, họa hoằn lắm người ta mới thấy cậu, áo quần bảnh bao trên chiếc xe đạp đòn dông trở về xóm, đôi ba lần cậu đèo con bé năm tuổi đi đâu cả ngày, khi về nó có áo mới.
Phần mẹ nó trốn chui nhủi trên cái gác xép ba thước-bốn thước. Lâu lâu mẹ nó gặp bà vú, để lấy tiền, do bà ngoại nó lén lút chồng gởi cho mẹ của nó. Rồi gia đình bên ngoại của nó vượt biên, bà vú không đi theo vì thương mẹ nó. Hùng Có biết nhà nội nó nghèo kiết xác, gởi lại một số vàng, nhờ bà vú giữ đưa cho mẹ nó từ từ để nuôi nấng nó.
Mỗi lần có tiền, số tiền ấy giữ chân cha nó ở nhà với mẹ và nó được vài ngày, ngọt ngào với mẹ nó vài tiếng, để dụ lấy tiền làm vốn buôn bán kiếm lời. Lấy được tiền, cha nó lại đi mất, để hai mẹ con nó côi cút một mình, dưới cái nóng hầm hập từ mái tôn phả xuống. Nhiều lần như thế, cho đến khi bà vú báo cho biết số vàng đã cạn, cha nó vắng nhà lâu hơn. Mẹ con nó không có cơm mà ăn.
Ông bà nội nó chẳng thích có nó trong nhà chút nào cả, nó có lại gần chỉ bị ngón trỏ dí vào trán cùng lời nhiếc:
“Ông ngoại giàu bỏ cháu bỏ con. Về Tàu mà ở cho sướng, nhà bà không có cái thứ nằm ườn.”
Tiếng chân huỳnh huỵch cùng tiếng hét của cậu Phúc, to đến nỗi hai nhà bên cạnh cùng nghe, họ đổ xô sang nhà ông bà trùm. Bà trùm cuống cuồng chạy ra ngõ, kéo vội ông xích lô đang chụp nón lên mặt nằm nghỉ chờ khách, cậu Phúc bồng vợ từ trên gác xép đi xuống, hai tay của Mạc Lan thõng xuống, mái tóc dài đong đưa theo bước chân chồng, nó dài đến độ gần chấm đất. Bà hàng xóm tò mò thấy rõ dòng nước mắt đen, chẩy dài xuống tận mang tai, bà sấn đến sát bên nhìn cho rõ, thì ra là dòng kiến. Bà thét lên: “Chúa ôi!”
Bà vú biết tin đến nhà thương Chợ-Rẫy, còn gặp cậu Phúc nhơn nhơn cùng một người đàn bà son phấn ra dáng có tiền, đang nói nói cười cười. Cậu giả lả giới thiệu với bà, cô ấy là bác sĩ đang điều trị cho Mạc Lan.
Sau một tuần nằm trong khu điều trị đặc biệt, cô Mạc Lan thoát khỏi ván cờ mà cô không chơi đã thua cuộc.
Giấy tờ nhà thương xác định trong ruột cô đầy vật lạ làm nghẽn hô hấp, họ không cách gì cứu được. Vật lạ chính là cuộn băng thu hình ngày cưới.
Bà vú vừa khóc vừa kể bằng tiếng Quan Thoại, chiếc hòm gỗ không chịu nằm xuống cái huyệt úng nước trong nghĩa trang họ đạo quận Tám, nó cứ bập bênh, ông phu đòn phải đứng lên trên dìm nó xuống.
Không biết nỗi buồn bị bỏ rơi đã khiến cô kết thúc đời mình như thế, hay tại số vàng đã hết.
Nhìn khuôn mặt trơ trẽn của cậu Phúc người ta hiểu ra câu: “Phường giá áo túi cơm.”
 
 Ấu Tím-2007




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2021 20:39:11 bởi Ct.Ly>
21. Mẹ

 
 
Nhận được bó hoa con gái và con rể gởi chúc Mẹ vui bình an, đọc câu: "Chúng con yêu mẹ" tự dưng mắt tôi nhòa đi vì hạnh phúc, nhưng sau niềm hạnh phúc đó lại vấn vương nhớ Mẹ. Ngày còn mẹ có bao giờ mình làm gì cho mắt Mẹ nhòa đi vì hạnh phúc chưa? Có bao giờ mình nói cho Mẹ nghe ‘‘con yêu Mẹ’’ chưa?
Mẹ dịu hiền, đôn hậu, thương con tùng phục chồng, chưa bao giờ một lần nghe mẹ lớn tiếng, chưa bao giờ thấy bố mẹ cãi nhau, nhớ đến Mẹ chỉ là nụ cười hay giọt nước mắt thầm che dấu.
Mẹ không đẹp như bác, như cô, Mẹ không học trong trường Tây, trường Trưng Vương, Mẹ chỉ học đủ để viết thơ, tính toán nhưng Mẹ thuộc nhiều ca dao lắm, Mẹ thêu đẹp lắm, Mẹ nấu ăn ngon lắm. Mẹ yêu các con lắm.
Ngày Mẹ mất bất ngờ như không thật. Ngày đầu niên học, được về sớm, Mẹ và Bố đi công việc, sợ khi vào niên học, các con bận Mẹ không đi được nữa. Và Mẹ đi luôn, đi mãi mãi không về vì tai nạn xe trên quốc lộ 1.
Thế là hết, mười sáu năm có Mẹ không biết là mười sáu năm hạnh phúc nhất đời người. Nhìn áo mẹ mặc còn treo đầy trong tủ, nhìn những vật dụng mẹ dùng, mùi hương của mẹ còn phảng phất, cả lọn tóc mẹ vừa cắt còn gói kỹ càng cất trong hộp gỗ.
Mẹ có mái tóc dài, mẹ muốn thay đổi kiểu tóc, để đi dự buổi tiệc họp mặt, cùng những người bạn rất thân của bố mẹ mỗi năm, vào ngày cuối tuần. Bố nói đùa với Mẹ: "Cô mà cắt tóc, anh đem trả về Me."
Nói thế, nhưng bố vẫn đưa mẹ đi cắt tóc ngắn và uốn hơi gợn sóng. Cuối tuần chưa đến, mẹ đã đi thật xa, để lại bao ngỡ ngàng tiếc nuối. Con gái lớn của mẹ vừa tròn trăng, con gái út của mẹ vừa lên bảy, mẹ có những năm cô con gái, cậu út mẹ yêu biết bao vừa biết đi, biết nói bi bô.
Thế mà mẹ đi mất.
Mẹ ơi cảm giác lạnh người khi con chui từ cốp xe của bác ra, thấy cổng nhà xác bệnh viện Chợ Rẫy. Hơn một ngày không có mẹ, hỏi ai cũng bảo mẹ bị thương nặng, bác sĩ không cho vào thăm. Nhất là buổi chiều, khi bác đến bảo con lấy cho mẹ chiếc áo dài trắng. Bác đùa: "Mẹ mày điệu rơi điệu rụng, nằm nhà thương còn đòi mặc áo đẹp." Con hỏi bác: "Sao lại áo dài trắng?" Bác bảo: "Mẹ con bướng thế đấy, thôi chiều mẹ đi con."
Buổi tối bố về, đưa cho con sợi dây chuyền có thánh giá mẹ đeo, chiếc áo của bố vương máu, con hỏi:
 "Sao bố không ở trong nhà thương với mẹ?"
Bố nói:
"Trong phòng lạnh người ta không cho người nhà vào."
Khi bác đến, chở bố đi, con lẻn chui vào xe, không kịp thay quần áo, vẫn bộ quần áo mặc trong nhà, con cắt may lấy một mình mẹ khen đẹp và bảo:
 "Mai mốt con may quần áo cho các em thay mẹ."
Mẹ ơi! con đã ngất đi vì biết con mất mẹ thật rồi, trước đó, con vẫn tin mẹ sẽ về nhà sau khi bị xe đụng, mẹ chỉ bị gẫy chân thôi mà. Tỉnh dậy, trong vòng tay bố, chung quanh có các bác và các anh các chị con của bác. Bố nghẹn ngào nói:
"Con lớn nhất, giúp bố chăm sóc các em, khoan cho các em biết ."
Chị Hương vừa khóc vừa nói:
"Em muốn thăm mẹ không?"
 Vào thăm mẹ, đầu mẹ quấn băng trắng, khuôn mặt mẹ bình an thanh thản, hai tay khoanh trước ngực, ngủ vùi.
Các em khóc không còn nước mắt, tay quíu hẳn lại khi biết mẹ đã chết. Sáng sớm ngày thứ ba, trời còn tối, vừng đông chưa mọc, bà nội gào từ ngoài cửa:
"Con ơi là con, đi bỏ con bỏ chồng cho ai con ơi!"
 Bà thuê xe đi suốt đêm từ Vũng Tàu về, khi nghe tin mẹ mất. Họ hàng thân thuộc không ai tin, gởi điện tín, gởi thơ tay qua xe đò, không ai chịu về. Có người đánh điện tín hỏi lại đúng hay sai? Làm sao lại có thể như thế?
Từ Bảo Lộc cả xe đò chở vừa người vừa chè về đưa mẹ. Đám ma của mẹ đầy tiếng than thở:
 "Đi sao đành hả em?"
Hình của mẹ đẹp lắm, trẻ lắm, bà ngoại cứ ngất đi tỉnh lại mấy lần, bà khóc không nên tiếng, cứ lịm đi. Con trai của mẹ, đạp chiếc xe con nít đụng vào hòm gỗ cười vang, chiếc mũ rơm em đội tang cho mẹ cứ bị ném xuống đất, bác Thịnh lại nhặt lấy, đội lên đầu cho em, chép miệng bảo:
" Bằng cái kẹo đã mất mẹ con ơi!"
Chú đang đi lính ở xa, bất ngờ lấy phép về nhà, gặp ngày động quan, mẹ rất thương chú. Thắt tang chị lên đầu xong, chú ghé vai khiêng mẹ ra xe. Hôm ấy các bạn học cùng lớp đến đưa mẹ đi, hai hàng áo dài trắng, trắng lạnh người, mang từng vòng hoa tím, dẫn xe tang rời dần nhà đến nghĩa trang.
Ngày nhập quan, giao cho anh con của bác chụp hình, những tấm hình rửa ra trắng xóa, mẹ không muốn ai lưu giữ hình ảnh ngày mẹ vĩnh biệt cõi tạm ra đi. Chỉ còn những thước phim quay lại hình ảnh ngày đưa tiễn, con thấy bố và các con trong ấy, không còn khóc nữa chỉ những khuôn mặt vô hồn.
Mẹ đi rồi mới biết vì sao băng đêm chờ ngóng mẹ, chính là linh hồn mẹ, chào vĩnh biệt con gái, mới biết tự dưng tại sao mọi vật trong nhà mất đi một chiếc, con bướm bà màu cam to hơn mặt người cứ lưu luyến bay vòng vòng trong nhà những ngày có đám của mẹ. Đưa mẹ đi cũng con bướm ấy bay trước xe, đến tận huyệt.
Linh hồn có thật, mẹ có thật, dù đi xa lúc nào mẹ cũng quanh quẩn bên các con, mãi đến bây giờ con đã lớn tuổi hơn mẹ ngày xưa, mẹ vẫn quẩn quanh che chở.
Mẹ ơi ! Ước gì... con quay vòng lại mặt trời, con chuyển ngược mặt trăng, để con được bên mẹ. Con được ôm mẹ thật chặt, nói thầm cho mẹ nghe:
 “Mẹ ơi con yêu mẹ.”
Con được chở mẹ trên chiếc cady, hai mẹ con sẽ đi chợ Saigon mua vải may áo dài, như điều mẹ nói với con trước khi mẹ bỏ con đi mãi.
Mẹ ơi!
Đêm qua nằm mơ, khuôn mặt một người tôi yêu quý.
Mẹ tôi.
Cứ mỗi khi nhớ Mẹ là tôi lại nhớ đến khóe mẹ cười, âm thanh mẹ nói, dáng mẹ đi.
Nhớ hoài không quên được tà áo mẹ xoắn vào chân, ngày hai mẹ con đi thăm bố nằm ở bệnh viện Cộng Hòa về.
Tôi lên chín mặc chiếc áo đầm phùng, có hình hoa be bé mẹ may. Mẹ may đẹp lắm, nhìn những mẫu áo trong sách mẹ may theo. Áo dài mẹ cũng may, may tay, không thèm dùng máy. Chiếc máy may Singer bà ngoại cho để một góc. Mẹ hay bảo may máy nhanh quá, mẹ hết việc làm buồn lắm. Khi tôi lên chín đã biết nghịch đến chiếc máy may. Một lần may áo cho búp bê, không biết tại sao cây kim máy may xuyên được qua mép tay trỏ bàn tay trái, tôi lì lợm không kêu ngay. Đến khi máu loang đỏ mảnh vải mới kêu: “Mẹ ơi!” Mẹ chạy vội đến, xoay cho kim lên cao, rồi băng tay cho tôi.
Sau ngày ấy, tôi biết xử dụng máy may nhuần nhuyễn và tha hồ nghịch với những mảnh vải dư còn lại.
Mẹ vừa khâu vừa trông chừng chị em chúng tôi.
Tôi nhớ cô em thứ ba, khi ấy chừng bốn tuổi, đang chơi chạy lại ôm mẹ và cắn mẹ vào má, dấu răng của em in lên má mẹ. Mẹ đau hất em ra, em khóc, mẹ ôm em vào lòng, em vừa khóc vừa kêu: “Con thương mẹ mà con thương mẹ mà.”
Mẹ bảo: “Chó con thương mẹ mà cắn mẹ đau quá.”
Mẹ lấy chồng qua mai mối. Thời của mẹ không có chuyện “đến khi lấy chồng chỉ còn mối tình mang theo.”
Mẹ hiền dịu duyên dáng, mẹ không sắc sảo mặn mà, nhưng nhìn mẹ, ngắm mẹ không chán mắt.
Mỗi lần các con bị đòn vì nghịch, mẹ thường ngồi trong ghế mãi đằng xa, giả vờ khâu, để bố ra oai. Các con mẹ sinh đứa đầu cách đứa thứ hai, hai năm rưỡi, hai năm sau có đứa thứ ba, rồi ba năm hai đứa, cả năm đều là con gái. Mỗi lần bị đòn là năm đứa nằm sấp, mặt úp lên tay, trên chiếc phản gỗ lên nước bóng lưỡng. Bố như ông tướng ra trận, nhịp chổi lông gà kể tội từng đứa. Tôi lén nhìn thấy mẹ mỉm miệng cười. Tôi hết sợ. Mẹ chờ có tiếng khóc sụt sịt là mẹ đứng lên xem con nào của mẹ khóc, không cô thứ ba cũng là cô út. Mẹ lấy sẵn ly nước, mà bố đã đánh roi nào đâu. Thường bố đánh tôi trước, chỉ một roi thị oai, là bốn cô kia đã òa ra khóc, bố nhịp lên mông mỗi đứa một nhịp, rồi được đứng lên xin lỗi. Mẹ bế ngay cô út vào lòng.
Thường sau khi bị đòn, cả lũ được bố chở đi ăn cà rem. Bị đòn từ lúc lên tám tuổi, tấm phản gỗ lúc đầu chỉ có ba đứa, tăng dần lên đủ cả năm đứa.
Sáu năm sau mẹ có một cậu út. Tôi nhớ hoài câu mẹ nựng nịu con trai giọng đớt đớt nhẹ nhàng:
 “Sương (thương) sương í à mẹ sương, mẹ sương con trai của mẹ,”
Cô em gái út của tôi đã lên sáu đi học rồi, nghe thế vẫn ghen với em, mẹ thấy mắt cô ấy long lanh, vội kéo cả vào lòng và dỗ dành:
“Sương sương mẹ sương cả con gái của mẹ.”
Em trai út của tôi đến bây giờ vẫn cà nanh với các chị là không được bị đòn.
Mẹ ra đi khi em chưa tròn hai tuổi. Khi ấy tôi đã may cho mình được những bộ đồ mặc trong nhà, mẹ ngắm nghía khen khéo, và bảo bây giờ con may cho các em mặc thay mẹ được rồi, và mẹ đi. Đi không ai ngờ. Mẹ ra đi khi chưa đến tuổi bốn mươi.
Đến ngày giỗ mẹ lại nhắc, nghĩ đến mẹ. Nhớ mẹ không nguôi. Chỉ được gần mẹ mười sáu năm, thời gian không đủ cho một người con thỏa lòng trong biển yêu thương của mẹ. Tôi lúc nào cũng thèm thuồng có mẹ.
Có mẹ chồng, tôi yêu quý chăm sóc như mẹ mình. Ai khoảng độ tuổi mẹ là tôi yêu tôi quý, từ bác hàng xóm, đến
bà bán gạo. Thèm thuồng đến độ ước ao: “Phải mà mẹ còn sống hai mẹ con sẽ...”
Khi vui tôi cũng ước ao có mẹ, khi buồn tôi cũng ao ước cùng mẹ. Nhiều lúc cáu kỉnh với chồng, nhớ đến mẹ dịu dàng lại thôi cơn giận dỗi. Đôi lúc quát mắng con, lại nghĩ đến mẹ, chưa bao giờ to tiếng với mình, lại nghẹn ngang chừng câu mắng.
Mẹ mất rồi, bố hay nhìn tôi và bảo:
 “Con giữ của mẹ ánh mắt dịu dàng cương quyết.”
Tờ thơ cuối bố viết trong trại học tập gởi ra:
“Bố tin con đủ cương nghị thay bố lo lắng cho các em, vì trong mắt con bố đọc được ánh nhìn của mẹ.”
Từ mắt tôi đang tuôn ra những hạt nước. Tôi không biết mình đã làm đủ những điều hai đấng sinh thành gởi gấm cho tôi chưa.
 
Dâng Mẹ




Đăng nhập để trả lời
0
22. Bốc Mộ
 
 Kính dâng hương hồn bố Chu Vũ Văn
 
Năm 1982, tiếng cuốc nhịp nhàng bổ xuống nấm đất, âm thanh đục, ngắn. Đất ở Biên-Hòa, loại đất có màu nâu đỏ, chả thế mà từ Sài-Gòn đi Biên-Hoà khi trở về quần áo mặt mũi đều như được nhuộm bằng cái mầu đất xỉn đỏ ấy.
Tiếng mấy tên bộ đội tò mò đi theo léo xéo:
- Không hiểu đã rữa hẳn chưa?
Vừa dùng cái xẻng cá nhân xúc đất sang một phía, tôi vừa phóng tia nhìn sắc lạnh, cho người vừa thốt lên câu nói ngớ ngẩn không đúng lúc ấy. Thì ra là chú bộ đội mặt búng ra sữa, sáng nay đã hạch xách tôi đủ mọi điều, nào là giấy đi dường, giấy chứng minh nhân dân, giấy chứng minh hộ khẩu, giấy giới thiệu từ phường khóm, nơi cư trú có mộc đỏ của quận huyện, giấy phép bốc mộ, giấy phép được chôn cất.
Những tờ giấy mỏng tanh vàng ố, viết tay có, đánh máy có đầy lỗi chính tả. Đè lên cái dấu mộc lem nhem hồng hồng đỏ đỏ, là chữ ký ngoằn ngèo, không thật to như bánh xe thì lại bé tí như chữ O tròn, hay đơn giản hơn là chữ thập.
Xấp giấy này tôi cẩn thận bỏ vào cái bao ny-lông và kẹp vào quyển Chủ Nghiã Mác-Lê (loại sách này dày và được phát không cho sinh viên học tập) để không bị bở rách. Giấy tờ rõ ràng rành mạch xin được bốc mộ cho Bố tôi, về gần nơi sinh quán, mà mấy chú lính cụ Hồ đều không chịu hiểu, người này ra kêu kẻ khác vào, đòi xem giấy tờ, rồi cùng hỏi tôi, những câu hỏi đại loại:
- Là gì của người chết?
- Tại sao phải bốc mộ?
Mãi đến khi tôi nhớ những gói thuốc lá Samit của Thái, được buôn lậu vào Việt Nam qua ngã Campuchia, để trong chiếc giỏ cói dưới chân, thì cuộc hạch sách chấm dứt.
Tôi được đưa từ dãy nhà, trước đó là nơi để kiểm soát quà cáp, từ những người đi thăm nuôi tù học tập, đến nơi gọi là văn phòng hành chánh. Nhìn cấu trúc của các căn phòng ấy, tôi biết đã bao nhiêu người bị cầm tù tại trại Suối Máu Biên-Hoà đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt bằng máu để dựng nên nó, trong đó có Bác, Chú, Dượng và Bố tôi.
Một số bị đầy ải đến chết như Bố tôi, một số bị bắn chết như Dượng tôi, còn lại bao nhiêu đều bị đưa dần ra Bắc vào những năm 1978-1979.
Nền đất nện dày, lỗ chỗ những dấu nước mưa dột qua mái lá, ánh sáng xuyên qua những lỗ dột ấy rọi vào, soi cho tôi thấy chung quanh phòng. Những cái tủ gỗ bằng ván mộc, ván ép được đóng một cách thô sơ, cửa phải gài lại với nhau bằng giây thừng, khi mở ra, tiếng rít của bản lề làm tôi nổi gai ốc.
Tôi thấy cơ man nào là giấy, những bó giấy được cột thành từng chồng sộc sệch cao khoảng năm tấc, có lẽ là những bản kiểm điểm, những bản tự khai của tù học tập chăng? Vừa lục lọi trong đống giấy ngập ngụa, chú lính Việt Cộng vừa ta thán: “Chẳng biết đâu mà mò, giấy đâu mà lắm thế!”
Vào những năm 1976-1977, nhà nước tuyên bố vì lượng khoan hồng của Bác và Đảng nên cho người nhà được đi thăm nuôi tù cải tạo. Gia đình nào được nhận giấy để đi thăm nuôi đều mừng như người thân đã chết được sống lại.
Tôi thì không, thu+ của Bố, tôi cũng không còn nhận được. Cô Oanh vợ chú Long thiếu tá làm ở Bộ Tham Mưu đã bật khóc nói: “Con ơi cô biết đưa quà cho ai bây giờ, Bố con chết rồi!" Khi tôi, vì không có giấy đi thăm nuôi lần thứ hai như cô, đã mang thuốc, thức ăn khô nhờ cô đem giúp lên cho Bố.
Ngày cô đi thăm nuôi chú, cô Oanh cho tôi cùng đi theo lên trại, tôi muốn gặp những người ở đó, để hỏi cho ra lẽ về Bố tôi, chẳng thể nào ông chết mà gia đình không được hay biết, nghĩa tử là nghĩa tận cơ mà.
Ở trạm gác, chú lính xúng xính trong bộ đồ màu da bò, khăng khăng không cho tôi vào trại, không cho tôi gặp người có thẩm quyền, khi tôi trình bày hoàn cảnh của mình.
Thừa khi chú ta mải xét giấy tờ những người khác, tôi liều chen vào đại. Chú ta đánh kẻng báo động, hai ba người công an khác xông đến giữ lấy tôi. Tôi hét to, các cô bác đi thăm nuôi chạy xúm lại chung quanh, một tên công an từ trong láng trại chạy vội ra, mặt mũi nghiêm trọng quát hỏi:
- Chị muốn chống phá cách mạng à?
Tôi khóc bảo:
- Tôi đi tìm Bố tôi, Bố tôi đâu? Tại sao tôi không nhận được giấy đi thăm nuôi như người khác? Bố tôi chết rồi phải không?
Hắn nhìn quanh, lẽo lự bảo:
- Nhà nước cách mạng rất nhân đạo, làm gì có việc tù nhân bị chết? Chị cứ yên trí về nhà học tập tốt, lao động tốt thế nào cũng có giấy đi thăm nuôi như người khác, còn các chị kia giải tán đi.
Tôi đưa giấy xác nhận tôi có đi lao động tại địa phương, giấy chứng nhận là giáo viên bình dân học vụ, còn gì hơn nữa, thì hắn ta đổi giọng rít lên:
- Vậy là thằng ấy có nhiều nợ máu với nhân dân, cần cải tạo tư tưởng thêm, mới được hưởng chế độ thăm nuôi.
Bố tôi người hiền từ, nụ cười luôn nở trên môi, giọng nói ông trầm ấm chậm trãi. Hai mươi mốt tuổi đã là Thiếu-úy tốt nghiệp trường Võ-Bị Đà-Lạt, sau ba năm chiến trường trận mạc, hai mươi bốn tuổi lên Trung-úy, rồi lấy vợ, có tôi, năm 1960-1969 làm huấn luyện viên cho trung tâm Huấn Luyện Quân Sự Nguyễn-Tri-Phương Hóc-Môn Gia Định. Lên sáu tuổi tôi biết Bố tôi là Đại-úy, vị sĩ quan trẻ nhất trong doanh trại. Tôi nghe các chú lính gọi ông là Đại úy “Thánh" vì ông chăm sóc và thương yêu tất cả lính thuộc quyền. Ông hay dẫn tôi sang trại gia binh chơi, những đứa bạn thời thơ ấu của tôi là con chú thượng sĩ
Khanh, con chú trung sĩ Hoạt. Khi ông bị giải ngũ năm 1969 vì lý do sức khoẻ, để chuyển sang đi làm cho Cơ
Quan Viện Trợ Quốc Tế Hoa-Kỳ Usaid, gia đình tôi chuyển về khu Bàn-Cờ Vườn Chuối, các chú lính ngày xưa, vẫn liên lạc và đến chơi với gia đình tôi như họ hàng thân thuộc.
Hàng xóm láng giềng ai cũng yêu quý ông, không khi nào ông từ chối lời nhờ vả của ai, nếu ông có thể giúp được, bao giờ ông cũng xung phong làm những việc công ích, hết đời ông chưa hề cãi cọ hay hiếp đáp ai, tại sao lại có nợ máu với nhân dân? Tôi phải dùng cả chuyện Bố tôi đã hiện về báo mộng, để đánh động lương tâm con người của những cậu lính trẻ, nhưng chỉ nhận lại những tiếng quát nạt, lên cò súng, đuổi tôi ra khỏi cổng trại.
Cô Oanh sợ tôi lộ ra việc, chồng cô đã báo tin cho biết Bố tôi đã chết, bị liên lụy nên kéo xộc tôi đi, cô dỗ tôi:
- Con bình tĩnh để cô tìm cách khác, chúng nó như quỷ dữ, con có mệnh hệ nào ai lo cho các em.
Lếch thếch lội bộ ra khỏi nơi địa ngục trần gian, trong cơn đau đớn giận dữ, sôi sục nông cạn tuổi hai mươi, tôi nghĩ trong đầu, ước gì tôi có con dao găm, tôi sẽ lụi vào bụng bất kỳ một tên Việt cộng nào, và ngoáy ngoáy nhiều lần cho chúng biết, lòng tôi đớn đau còn hơn như thế!
Nghe tin Bố chết, không biết thật hư, không một lần thấy mặt, không biết tại sao?
Tiếng sột soạt của giấy làm tôi quay lại, hắn lôi cuộn giấy từ đáy tủ ra, vừa phủi bụi vừa cố vuốt cho thẳng trải lên bàn, bảo tôi:
- Ông ấy tên gì?
Tôi trả lời:
- Chu Vũ Văn.
Vẫy tôi lại gần, nhìn vào tờ giấy sơ đồ mộ chí, chắc chắn được vẽ bởi một người biết vẽ họa đồ. Tôi xem kỹ từng chữ viết nắn nót cẩn thận tên họ, ngày tháng năm mất, trong từng ô chữ nhật, có đánh số thứ tự, biểu tượng cho một nấm mộ, hàng ngang, hàng dọc rõ ràng rành rọt.
Đến ô thứ 29, mắt tôi nhòa đi khi đọc thấy tên Bố tôi.
Dù năm 1980, sau khi không mòn mỏi đi kêu nài, mọi nơi mọi chỗ, tôi biết Bố tôi đã mất. Ông mất sau mười bẩy tháng bị bắt vào trại cải tạo, tức là vào tháng 10 năm 1976, sau ngày Mẹ tôi mất đúng bốn năm, ba ngày. Người cán bộ làm việc trong bộ nội vụ Việt-Nam Cộng Hòa Xã-Hội Chủ Nghĩa đã ngọt ngào chia buồn, giải thích:
- Vì đất nước còn nhiều khó khăn, nên chính phủ không cho người đến tận nhà báo tin, phân ưu.
Và ông ta đã đưa cho tôi những tờ giấy chứng nhận cho biết lý do tại sao bố tôi chết, giấy kiểm kê tài sản còn xót lại, có chữ ký xác nhận của ba tù nhân cùng phòng.
Ông ta còn cẩn thận đưa tôi thêm tờ giấy trả quyền công dân cho người đã chết.
Nước mắt tôi nhỏ giọt lên tờ sơ đồ. Ngôi mộ số 29, ngôi mộ tôi đã khuỵu chân ngay bên cạnh sau khi khấn cuối năm 1976, ngày lên thăm mộ:
- Bố ơi! Có linh thiêng chỉ cho con biết Bố ở đâu nghe Bố.
Tôi phải giả dạng dân địa phương, đi chăn bò để len lỏi qua vòng đai trại học tập, đến bên những nấm mộ đắp sơ sài cho tù học tập bị chết. Gia đình bác Hai sống ở đó đã giúp tôi, khi nghe tôi kể chuyện đi tìm mộ đấng sinh thành.
Đất đai vườn tược của bác bị chiếm dụng, có vài con bò cũng phải vào hợp tác xã, bác có nhiệm vụ phải chăm sóc không được để bò gầy yếu. Tôi theo cu Tửng con của bác đưa bò đi ăn. Vì là bò của hợp tác xã, nên được phép vào ăn cỏ bên trong vòng đai trại. Mảnh đất để chôn những người tù cải tạo, chỉ là thẻo đất bên đường, cỏ hoang mọc cao đến gối. Tửng cho tôi biết, họ thường đem chôn xác tù ban đêm, không muốn cho dân chúng biết. Lúc ấy sợ bị lộ, tôi không dám thắp nhang, nên một năm hai hay ba lần lên thăm mộ, tôi chỉ biết thì thầm khấn nguyện trong lòng.
Tôi thương yêu chăm sóc ngôi mộ số 29, với lòng tin mãnh liệt, chính là Bố tôi nằm trong ấy, bao nhiêu khốn khó chịu đựng, bao nhiêu đau đớn lo toan, tôi thì thầm tâm sự với nấm đất, như ngày xưa tôi tâm sự cùng Bố tôi.
Trong những năm này, tôi được thấy bao nhiêu tù cải tạo, gầy gò yếu đuối, quần áo rách nát xác xơ trên đường đi lao động. Tôi vùi dấu những gói xôi, những củ khoai trên đường tù đi làm, và nhặt lấy những mẩu giấy vo tròn, có vài câu nhắn tin ghi vội, về Sài Gòn tôi tìm cách chuyển giúp.
Năm 1979-80, sau khi tù nhân bị đưa ra Bắc hết, vòng kẽm gai thu nhỏ lại, bộ đội thay công an về trại Suối Máu, những ngôi mộ được tự do, không còn bị nhốt trong vòng kẽm gai kinh hoàng đó nữa. Mỗi lần lên thăm Bố, tôi thắp nhang gần hết cho những ngôi mộ tôi thấy. Nhiều nấm đất chừng như bị san bằng vì mưa gió, có nấm bị sụp hẳn xuống một bên, có lẽ gia đình đã di tản, hay vì lẽ gì đó không tìm ra, để thành hoang phế.
- Cô lên đi, tới ván rồi, tôi làm một mình được.
Tiếng chú Sáu làm tôi bừng tỉnh. Chú khoảng hơn năm mươi tuổi, thương phế binh, binh chủng nào tôi không rõ. Sau ngày giải ngũ về, gia đình chú sống cạnh bên đất Thánh họ Huyện Sĩ, chuyên việc ma chay tống táng. Chú là người Bố tôi cậy nhờ chăm sóc mộ cho Mẹ tôi, đã bao nhiêu năm. Vào dịp lễ tết, khi Bố con chúng tôi đi thăm mộ của Mẹ, thế nào cũng ghé nhà chú quà cáp thăm viếng.
Nghe tôi ngỏ ý nhờ chú đi theo rước Bố tôi về, chú đồng ý ngay, không lưỡng lự, hỏi đến tiền công, chú chẳng trả lời chỉ hỏi ngày nào đi?
Tôi nói cho chú biết, những khó khăn có thể xảy ra, ngay cả bị bắt bớ, khó dễ. Vào thời đó chẳng có luật lệ rõ rệt gì, quận nói đằng quận, huyện nói đàng huyện, xã muốn làm gì thì làm, chẳng ai theo ai.
Chú bảo:
- Cứ đi, đến khi nào được thì thôi, xin không cho thì mình làm lén.
Trong tình trạng bất an như vậy, một mình tôi và chú dùng chiếc vespa cũ kỹ tôi mượn được từ cô bạn học, len lỏi đi từ Saì Gòn đến Biên Hòa để bốc mộ cho Bố tôi.
Những người trong gia đình phải đợi ở đất thánh Huyện-Sĩ, chỉ với cách vận chuyển như thế, mới có thể lẩn tránh được những trạm kiểm soát đầy đường. Đàn bà, con gái còn được châm chế, phần đàn ông, bất kể tuổi tác nào, đi ra khỏi Saì Gòn là khổ sở với những ông lính trạm, lúc nào cũng có lửa để hét, họ có toàn quyền bắt nhốt người ta không cần lý do, chỉ để thị oai và nhận hối lộ. Thế mới biết chú Sáu quý Bố tôi đến mực nào?
Chú cẩn thận chỉ tôi phải chuẩn bị những gì, rượu đế nguyên chất, rượu ngũ vị hương, giấy bản, giấy bạc, cuốc, xẻng, xà-beng, chậu thau. Tất cả mọi thứ tôi xếp gọn ghẽ, vừa xinh vào trong chiếc giỏ cói loại lớn.
Bám thành đất leo lên, lưng áo ướt đẫm mồ hôi, mải nghĩ ngợi tôi không hay mình đứng ngay trong huyệt của Bố, mấy chú bộ đội trẻ măng vẫn thản nhiên đứng xem, tôi không muốn lấy dao đâm vào bụng chúng như ngày trước nữa, sau bao năm sống dưới ách Xã Hội Chủ Nghĩa, tôi xót thương cho những con người bị biến thành công cụ, để bọn lãnh tụ phi nhân, say mê chủ thuyết cộng sản sai khiến, bằng cách nhồi vào sọ họ những điều không tưởng, dùng miệng lưỡi giảo quyệt hứa hẹn những điều không có, dùng chút cơm gạo như mồi câu những chiếc bao tử tội nghiệp, không bao giờ biết đến một bữa cơm ngon.
Tôi không giận họ nữa, nhưng tôi thù ghét chế độ, oán đến tận tủy xương những con người có bộ mặt trơ trơ, chế độ bắt dân chúng phải lộng kính thờ kính trên bàn thờ, thay vì kính thờ ông bà cha mẹ mình, những con quái vật trong lốt con người: Lê-Nin, Các-Mác, Hồ chủ tịch.
Chú Sáu bảo tôi đổ rượu ra thau, trải giấy bạc lên chiếc giỏ cói, thắp bó nhang cắm quanh mộ chuẩn bị để rửa cốt.
Với lấy chiếc xà-beng chú cúi xuống nạy nắp áo quan, chỉ cần khảy nhẹ, nắp ván bật lên ngay. Tôi không rời mắt khỏi chiếc huyệt vô tri, đã ôm ấp xác thân Bố tôi gần sáu năm dài ròng rã.
Trời giữa trưa mà không nắng gắt, tảng mây trắng ở đâu bay đến ngay huyệt mộ, thành chiếc lọng khổng lồ che râm một khoảng lớn. Trong áo quan, chiếc chiếu cói bọc hình hài người sinh thành ra tôi sao bé bỏng chỏng chơ, chiều dài của áo quan gấp rưỡi chiều cao của Bố tôi, dù Chú Long đã kể, hòm của Bố tôi được đóng vội bằng ván mộc, không có cưa để làm cho vừa kích thước, tôi cũng thấy lòng như muối xát, nước mắt cứ lặng lẽ tuôn, tôi không bật lên khóc được nữa, nỗi thống khổ vì bất lực cứ cuồn cuộn như sóng ở ngay giữa ngực, tôi thì thầm: “Bố ơi! con rước Bố về với mẹ, cho con can đảm để vượt qua lúc này nha Bố!”
Chú Sáu mở chiếc chiếu sang một bên. Trời ơi! Bố tôi nằm đó, tóc bạc phơ, hôm bị bắt đi, tóc ông còn đen nhánh, chiếc áo sơ mi màu trắng, trong túi còn cây bút bic, bàn chải đánh răng, chiếc lược chải tóc, chiếc quần tây đen, chân trần, hai tay Bố buông xuôi, mắt nhắm nghiền. Tất cả chỉ còn thế.
Có tiếng lao xao: “Chạy thôi, chạy thôi!” Bóng mấy tên đứng xem nãy giờ đang chạy ra hướng lộ, không hiểu tại sao chúng lại chạy, chúng sợ hãi chăng? Hay Bố tôi chỉ muốn có mình tôi lúc này với Ông.
Nhìn xuống huyệt, hình hài lúc đầu đang chuyển dạng, miệng Bố tôi như giãn ra để cười rồi từ từ chảy tan, chú Sáu đứng hẳn vào áo quan, bắt đầu từ chân, lấy lên đưa cho tôi từng lóng xương một, chú hướng dẫn tôi lau sạch bằng giấy bản, rửa kỹ trong chậu rượu trắng, rồi đến rượu ngũ vị hương, xếp lên giấy bạc theo đúng thứ tự, bên trái bên phải, chú im lặng tỉ mỉ mò tìm, đếm cho đủ. Chú đã dặn tôi trên đường đi, không được để nước mắt rơi vào cốt, tôi cố nuốt nước mắt vào cổ, hay dùng đầu gối để lau, tôi không sợ, chỉ buồn và xót xa đã không làm được gì hơn cho Bố để trả hiếu cho người.
Không người cha nào có thể so sánh với Bố tôi, Ông đã trang bị cho chị em chúng tôi hành trang vào đời vô cùng quý giá: sự chân thật, hồn nhiên, tự tin, yêu thương, tha thứ và bao nhiêu thứ khác nữa. Ông đã dạy chúng tôi yêu thiên nhiên, cây cỏ, làm sao tôi có thể quên, những ngày nắng đẹp, mấy bố con lang thang trên bờ ruộng, nếm vị ngọt lúa trổ đòng đòng, những đêm trăng sáng đi dạo, để xem ông Trăng có theo về nhà không?
Ông dạy chúng tôi ủ trồng những cây đậu xanh, đậu đen cho đến khi có quả, cùng reo vui khi nụ Hồng nở hé trước sân. Bố tôi là đầu tầu cho năm cô công chúa phá phách nghịch ngợm chung quanh, đóng, cưa, bào đục, sơn, hồ việc gì chúng tôi cũng được làm thử. Đã hết đâu, Ông còn là nhạc trưởng dạy chúng tôi hợp ca từ bài - Kìa con bướm vàng - đến bài - Hòn vọng Phu - Ông tập cho các con giàn trải tâm tình lên giấy khi vừa biết viết, cho con đến trường học nữ công gia chánh khi vừa xong tiểu học, hãnh diện để con gái làm hoa, làm bánh biếu Tết Nguyên Đán, Tết Trung-Thu, có nhìn thấy mấy Bố con mặt mũi như mèo vì bột bánh dẻo mới biết gia đình tôi vui đến thế nào?
Ngày có cậu con trai út, ông mở champagne mời hết hàng xóm, láng giềng rồi từ đó cứ chiều đến Ông bế cậu út đi bách bộ như bóng với hình, cho đến ngày Ông bị bắt cậu út mới lên sáu tuổi đầu. Có ông Bố nào mười giờ đêm từ Sài Gòn lên Thủ Đức, đến nơi con cắm trại, để xem con ăn ngủ thế nào, dù con đã là Trưởng Hướng Đạo, mang áo lạnh vào tận trường vì con lì lợm sáng không chịu mang theo, mà giờ đây trong tay tôi chỉ còn thế này sao!
Tôi trân trọng nâng niu, nhẹ nhàng lau rửa từng miếng xương màu nâu, phần vật chất còn sót lại của Bố tôi trên cõi đời tạm bợ này, để học bài học cuối cùng Ông nhắn gởi: tiền tài, danh vọng chỉ một thoáng Nam Kha.
Chú Sáu đưa tôi khúc xương cánh tay bị gãy, tôi tự thấy tay mình đau nhói, chắc rằng trước khi mất ông đã đau đớn lắm, từ tinh thần lo lắng cho những đứa con ông yêu quý, không biết có sống nổi trong xã hội đảo điên không, đến thể xác, vết thương nhức nhối thế này, không thuốc men, không người săn sóc.
Bố tôi hiền lành nên thoát vòng tù ngục sớm, nếu sống Ông còn khổ đến đâu? Nhận chiếc xương sọ, phần cuối cùng của bộ hài cốt, tất cả những nén nhang chung quanh phực cháy có ngọn, chú Sáu nói: “Ông mừng lắm đó cô!"
Tôi tin, linh hồn Bố tôi luôn quanh quẩn, bảo bọc chị em chúng tôi qua những cơn sóng dữ, chỉ có chết đi ông mới thoát được để về gần các con.
Tôi bọc bộ hài cốt gọn gàng, để vào giỏ, ôm vào lòng, như ngày xưa Bố từng ôm chúng tôi, để chú Sáu chở về lại Saì Gòn. Bố ơi! con sẽ bọc Bố bằng nhiễu đỏ, đặt Bố vào kim tĩnh và để Bố bên cạnh Mẹ, các em đang ở đó chờ, có cả cô chú họ hàng. Con hát cho Bố nghe bài hát Bố con mình hay hát nghe:
Đừng để những nỗi buồn chua cay đến luyến lưu tâm hồn mình
Đừng để những nỗi sầu chua cay đến vấn vương tâm hồn ta
Đường đời trôi nổi gặp phong ba ta vẫn ca vẫn cười Đường đời trôi nổi nhiều phong ba ta vẫn cười chứ vẫn ca
Anh em ơi ghi nhớ lời này đừng quên nha, chớ bao giờ thối lui
Anh em ơi ghi nhớ lời này đừng quên nha, môi luôn nở nụ cười.  
 
Xin chia xẻ với tất cả các gia đình đã mất người thân sau ngày 30-4-75, trong các trại tập trung cải tạo.
Cám ơn bác thợ chụp hình, trên phố Biên Hòa đã theo tôi đến nơi bốc mộ để chụp vài tấm hình đen trắng làm kỷ vật cho chị em tôi, con cháu tôi được biết về sự tàn nhẫn cha ông đã phải chịu, cùng với bao người tù nhân chính trị, trong trại học tập cải tạo sau năm 1975. Lúc ấy phim – giấy và thuốc rửa hình rất hiếm, chỉ cần nghe chữ “trại cải tạo” mọi người dân miền Nam giúp đỡ nhau ngay.
Cám ơn các Bác, các chú đã vì Bố tôi phải chịu trọng cấm một tuần khi đòi chôn cất Bố tôi tử tế.
 
Chu Thị Như Hoa
Ấu Tím 2000




Đăng nhập để trả lời
0