Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Diệu Của Colombo - Paolo Emilio Taviani 🔒

40 trả lời, 274 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.08.2021 23:13:42 bởi Ct.Ly>
31. HIỆP ƯỚC TORDESILLAS, FERRER,
VESPUCCI VÀ VIỆC CHUẨN BỊ CHO
CHUYẾN ĐI THỨ BA.
 
 
Colombo thực hiện cuộc hành trình vượt biển lần thứ ba xa hơn nhiều về phía Nam. Tiếp theo những phát kiến trong cuộc hành trình thứ nhất của Colombo và dự kiến những cuộc phát kiến tương lai, ngày 17 tháng 6 năm 1494 Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã ký hiệp nghị Tordesillas, thiết lập đường sở hữu giữa hai nước tại Đông và Tây Đại Tây Dương. Những đường phần chia trước đây luôn luôn vẽ từ Bắc xuống Nam.
Colombo đề nghị đường phần giới cách quần đảo Azzorre một trăm hải lý về phía Tây. Trong đấu triện Inter Caelem (3-5-1493) Đức Giáo hoàng đã chấp nhận hoàn toàn những đề nghị của Colombo thay mặt cho Tây Ban Nha đưa ra. Nhưng Bồ Đào Nha phản đối. Colombo đang ở những vùng đất mới nên không khuyến nghị được gì; Hoàng hậu Isabella, kiên quyết và bướng bỉnh như mọi khi, không muốn để lỡ cơ hội hòa giải với nước láng giềng của Tây Ban Nha trên bán đảo Iberia. Và như vậy Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thỏa thuận chuyển đường phần chia ranh giới thêm 270 hải lý về phía Tây, làm cho đường ranh giới đó cách đảo Cape Verde 370 hải lý về phía Tây. Tất cả những đảo ở phía Đông kinh tuyến đó, dù do những tàu của Tây Ban Nha phát hiện đều thuộc Bồ Đào Nha; tất cả những đảo ở phía Tây kinh tuyến đó, dù do những tàu Bồ Đào Nha phát hiện, đều thuộc Tây Ban Nha.
Hậu quả của Hiệp nghị có thể là chủ đề của cả một cuốn sách. Tôi sẽ chỉ nêu rằng, một mặt hiệp nghị đó không giải quyết được cuộc tranh chấp về những vùng đất mới được phát hiện, chẳng bao lâu cuộc tranh chấp này trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết; mặt khác, việc đơn thuần chuyển đường phần chia sang phía Tây từ 100. đến 370 hải lý đã buộc Tây Ban Nha thừa nhận quyền của Bồ Đào Nha đối với Brazil. Tôi muốn nhấn mạnh rằng kết quả tức thời của hiệp ước Tordesillas là chuyến đi thứ ba của Colombo có thể bắt đầu trong một không khí mới, bầu không khí hòa bình. Những nỗi bận tâm làm ông lo lắng trong hai chuyến đi đầu không còn nữa. Hồi đó những tàu biển Tây Ban Nha không thể vào cảng tại Madera, Porto Santo, hoặc đảo Cape Verde. Đối với chuyến đi thứ ba, hiệp nghị đã làm cho những đảo đó trở thành những trạm nghỉ ngơi và tiếp liệu.
Tuy nhiên hiệp ước của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha chỉ thuần túy tạo điều kiện cho Colombo chọn một tuyến mới; chứ không xác định tuyến đường đó. Một điều khác nữa đã ảnh hưởng đến Colombo; những học giả nghiên cứu Colombo hầu hết đã không biết điều đó. Tôi muốn nói đến những lý thuyết của nhà vũ trụ học người Catalano, Jaime Ferrer và đến những thư từ của ông với Colombo. Ảnh hưởng của Ferrer đối với những cuộc phát kiến của Colombo không thể so với ảnh hưởng của Toscanelli, nhưng nó cũng quan trọng để đáng được nói nhiều hơn mà không phải chỉ là một gợi ý hay một tham khảo mơ hồ. Jaime Ferrer sinh vào khoảng 1445 tại Vidreras không xa Blanes, trong tỉnh Catalan thuộc Gerona. Khi còn rất trẻ, ông được đưa đến Napoli, tại đây có một người tên là Juan Ferrer phụ trách ngân khố của hoàng gia và Ippolito Ferrer, thợ kim hoàn của nhà vua. Có thể, nhưng không chắc chắn lắm, họ đều là họ hàng của chàng Jaime trẻ tuổi. Jaime Ferre không phải là người tự học. Được ban tước "thợ mài ngọc" đòi hỏi phải học. Học vấn của Ferrer còn thể hiện trong ngành vũ trụ học, ngành này lại phụ thuộc vào kiến thức toán học và thiên văn học; điều đó sẽ khó giải thích nếu không tương đương với trình độ đại học hiện nay.
Những tài liệu còn tồn tại cho biết rõ Jaime
Ferrer ở trong cung điện hoàng gia Napoli từ năm 1466. Năm 1469 ông phụ trách tài chính trên những chiếc tàu biển được cử đến Catalogna để giúp vua Aragon; trong sổ ghi của hoàng gia về việc đề cử, tên ông đã xuất hiện dưới hình thức một tên Ý, Giacomo. Chẳng bao lâu ông lại theo nghề làm đồ trang sức kim hoàn và đá; ông đến Cairo, Damasco, Rodi, Giaffa, Beirut, Venezia và Roma để mua đá quý. Ông được vua Ferdinando I của Napoli tin cẩn, cho tham gia vào việc vận chuyển súng ống đến Abruzzo, mua rượu và thuốc súng cho đội thuyền. Năm 1488 ông làm việc cho Hoàng hậu Giovanna. Trong thời gian này, ông có một tài sản và ở địa vị cao hơn một người làm đồ trang súc; ông là một cố vấn được giao những sứ mệnh tế nhị. Cùng năm 1488, ông rời Napoli với Đại sứ Giovanni Galiano. Tại Genova ông đã thấy di tích về Bồn Địa Thiêng tại miếu thờ của ngôi nhà thờ lớn nguy nga tráng lệ vừa mới xây, nhờ sự quan tâm mới khôi phục đối với những cuộc Thập tự chinh. Ông đã đến Tây Ban Nha và chắc đã định cư ở đó, sống ở Blanes, một thành phố duyên dáng ở bờ biển phía đông Catalogna, cách Barcellona khoảng bốn mươi dặm. Tại Barcellona, nơi ông thăm viếng thường xuyên, có lẽ ông đã chứng kiến lần trở về thắng lợi của Colombo tháng 4-1493.
Chúng ta chắc chắn rằng Ferrer là một nhà vũ trụ học được triều đình biết đến và đánh giá cao, chứng cứ rõ ràng là từ một bức thư gửi cho ông đề ngày 23 tháng 8 - 1493 của Hồng y giáo chủ Mendoza, tổng giám mục Tây Ban Nha:
"Gửi Jaime Ferrer, người bạn đặc biệt của chúng tôi. Chúng tôi muốn nói với ông về một số đường lối hoạt động; do đó khi ông nhận được thư này chúng tôi yêu cầu ông đến Barcellona, mang theo quả cầu và những dụng cụ khác mà ông có thể có, liên quan đến vũ trụ học".
Qua bức thư này, ta có thể suy nghĩ rằng Ferrer có tiếp xúc từ trước với Hồng y giáo chủ Mendoza. Bức thư cũng cho biết một sự quan tâm rất sâu sắc của "ông vua thứ hai" đến các vấn đề về vũ trụ học, một sự quan tâm chắc chắn do những phát kiến của Colombo ở Đại Tây Dương.
Sự quan tâm đó cũng tăng lên tại triều đình với hiệp định Tordesillas. Một số người coi hiệp nghị đó là một thắng lợi ngoại giao, một số người khác coi đó là một sự đầu hàng đối với Bồ Đào Nha. Vua và Hoàng hậu gặp rắc rối. Họ mời Ferrer đến triều đình để cho ý kiến làm sáng tỏ một vấn đề bắt đầu làm cho họ lo iắng: Những kết quả thực sự của hiệp nghị Tordesillas. Ferrer chỉ ra hai phương pháp, lý thuyết và thực hành, để xác định đường ranh giới đã được thảo luận nhiều và biểu thị sự đánh giá thành thật về Colombo và những thành tựu của ông. Sau khi nghe nhận xét của Ferrer, Isabella gợi ý rằng ông viết thư trực tiếp cho Colombo. Bức thư của Ferrer, đề ngày 5 tháng 8-1495, đáng được thảo luận một cách cặn kã.
Ferrer đã viết: "Nữ hoàng đã ra lệnh cho tôi viết thư cho ông, nói rõ những đề nghị và ý kiến của tôi. "Ông đồng ý với Colombo rằng những vùng đất đã được phát kiến là châu Á; thánh Thomas, môt trong mười hai môn đồ của Giêxu đã chôn tại đó. Ý kiến này khẳng định rằng sai lầm của Colombo được khoa học đương thời chứng thực là có giá trị, dù được kinh nghiệm chứng minh là không đúng, như đã được nói tới ở trên. Không chỉ Toscanelli mà toàn bộ khoa học vũ trụ của thời đó chịu trách nhiệm. Ferrer tiếp tục như sau:
"Tôi cho rằng bên kia đường xích đạo có những thứ tốt nhất và có giá trị, như đá quý, vàng, hương liệu, và thuốc. Tôi nói như vậy qua kinh nghiệm phong phú của tôi ở miền Đông Địa Trung Hải, từ Cairo đến Damasco. Một niềm tin tôi phát triển từ nhiều người Anh- diêng, người Á-rập, người E-ti-ô-pi (L'Éthiopie)) là những thứ quý giá đều bắt nguồn từ những vùng nóng nhất, ở đó dân chúng có da đen, hoặc nâu sẫm. Do đó theo ý tôi, Ngài chỉ thấy nhiều của cải khi nào Ngài thấy những người như thế. Tôi biết rất rõ ràng Ngài biết tất cả điều đó vì kiến thức của Ngài sâu rộng hơn kiến thức của tôi. Tuy vậy. Ngài hãy hết sức thận trọng để phục vụ Chúa và làm thỏa lòng Vua và Hoàng hậu của chúng ta".
Bức thư đề gửi đến AI Muy magnifico y spetable Senor Almirante de las Indias. En la gran Isla de Cibau. Chúng ta không biết bức thư tới Colombo trên đảo Hispaniola, hay khi ông trở về Tây Ban Nha. Vì Hoàng hậu là người trung gian trong giao dịch thư từ, chúng ta có thể chắc chắn không những bức thư đã tới nơi mà Ferrer và Colombo đã gặp và hiểu nhau. Họ gặp và hiểu nhau vì họ cũng có chung một khái niệm Cơ Đốc giáo và thần bí chính xác về thế giới, lý thuyết vũ trụ học đặt châu Á ở bên kia Đại Tây Dương, một sự say mê về địa lý và một mối quan tâm mạnh mẽ đến đá qúy. Cuối cùng những năm dài Perrer sống tại Ý đã cho ông và Colombo một cái gì đó giống nhau, giảm bớt những cách trở phân chia các dân tộc và các nền văn hóa, mặc dù có nguồn gốc chung là Thiên chúa giáo.
Như vậy hai người đã gặp nhau, hiểu nhau và ảnh hưởng lẫn nhau. Colombo đã tin một cách danh thép rằng Cuba, Hispaniola và Giamaica là châu Á; Ferrer đã củng cố thêm lòng tin đó.
Colombo luôn luôn muốn tìm vàng và đá quý ở châu Á: Ferrer, một người thợ làm đồ trang sức, như ông nhấn mạnh trong những bức thư, đã giúp nuôi dưỡng lòng mong muốn đó. Colombo đã luôn luôn ôm ấp ý nghĩ cho rằng những của cải lớn nhất ở phương Đông là tại Ấn Độ, tức là ở phía Nam Cuba và Hispaniola. Ferrer khẳng định điều đó bằng cách nêu những lời tường trình của những người Ấn Độ, Á-rập và Ethiopie, ông đã gặp tại Cairô và Damasco hai của ngõ lớn đi tới phương Đông ở phía đông đảo Chios. Còn một con đường đến phương Đông khác nữa là con đường đã kích thích những giấc mộng đầu tiên ở người thanh niên Colombo.
Sự khẳng định của Ferrer có tính chất quyết định. Khi trình dự án của ông cho vua John, Colombo chẳng đã nghĩ đến ra đi từ những đảo Cape Verde hay sao? Ông đã ra đi từ quần đảo Canarie trong cuộc vượt biển thứ nhất và thứ hai để tránh rắc rối với người Bồ Đào Nha. Bây giờ hiệp định Tordesillas đã loại bỏ mối e ngại này của ông, tạo điều kiện cho ông có thể ghé vào những đảo Cape Verde và từ đó đi về Tây nam như Las Casas nói: "Về phía Nam của đường quân phân. Colombo nói rằng dưới vĩ tuyến đó, người ta thấy nhiều vàng và đồ quý giá hơn". Jaime Ferrer, nhà vũ trụ học và người thợ làm đồ trang sức gốc ở Catalan đã làm ngơ quá lâu điều này trong việc sử dụng Colombo, đã có cùng một ý kiến như thế bằng những lời lẽ gần như nhau.
Không nghi ngờ gì là Jaime Ferref có ảnh hưởng lớn đối với việc đặt kế hoạch cho chuyến đi thứ ba. Chúng ta không biết chắc về ảnh hưởng của Amerigo Vespucci. Tuy nhiên nói về Amerigo Vespucci cũng tốt vì ông đã cùng tham gia việc chuẩn bị cuộc khảo sát và vì Vespucci là một nhân vật hàng đầu khác trong những sự kiện làm thay đổi- tiến trình lịch sử; xác minh sự thật về quan hệ giữa hai nhà hàng hải là điều nên làm.
Thứ nhất, ít người, ngoài những học giả nghiên cứu Colombo, biết rằng Colombo và Vespucci không những chỉ biết nhau mà còn là bạn với nhau. Từ năm 1492, nếu không phải trước đó, Vespucci là cánh tay phải của Gianotti Berardi. Chúng ta biết quan hệ tài chính, không kể tình thân hữu, đã gắn bó Berardi với Colombo, như vậy rõ ràng Vespucci cũng liên hệ tới chừng mực nào đó với Colombo vì người thuê ông làm việc, Berardi và những chủ tàu khác, có lẽ gồm có Ibarra, đang tổ chức hạm đội cho chuyến đi thứ hai.
Năm 1495 Berardi chết, cử Vespucci làm người thực hiện di chúc của ông và đứng đầu công ty của ông. Chúng ta thấy Colombo và Vespucci ở bên nhau trong khi chuẩn bị cho chuyến đi thứ ba của cuộc phát kiến vĩ đại. Chúng ta thấy họ cùng nhau chia sẻ lợi ích tài chính (những lợi ích thiết lập giữa Colombo và Berardi), bị thúc đẩy bởi cùng một sự say mê (như cầu phát kiến, một tính tò mò khao khát những cái mới) và ràng buộc với nhau vì tôn trọng nhau và tình thân hữu. Một bức thư đề ngày 5 tháng 2-1505 của Colombo gửi cho Diego, con trai ông là chứng cớ không thể bàn cãi về tình thân hữu và sự tôn trọng lẫn nhau này:
"Amerigo Vespucci luôn đối xử một cách đúng đắn đối với cha; ông ta là một người rất trung thực. Giờ đây ông ta đang thay mặt cho cha đến triều đình với lòng mong muốn vĩ dại giúp đỡ cha, quyết tâm làm mọi việc có thể làm được cho cha... Con phải thấy rằng làm việc với ông ta con sẽ có lợi, vì ông ta sẽ biến lời nói thành việc làm và làm mọi việc, thậm chí hoạt động bí mật để không khơi lên sự nghi ngờ. Cha đã nói cho ông ta biết mọi điều có thể là hữu ích trong sự nghiệp của cha và đã thông báo cho ông ta sự đối xử cha đã nhận được và vẫn nhận được".
Colombo buồn rầu và nghi ngờ đối với triều đình - như thường lệ và có lý do - nhưng tin cậy và biết ơn đối với Vespucci. Những tình cảm của ông đã làm thất bại mọi cố gắng gây sự đối đầu và thù địch gữa hai nhà hàng hải vĩ đại.
Viên Đô đốc biển đại dương và người quản lý công ty Firenze, cả hai người đều cảm thấy bị thúc đẩy phải thực hiện những cuộc phát kiến. Khó biết có phải Vespucci đã bắt gặp sự say mê hoạt động hàng hải và phát kiến từ Colombo, hay lòng say mê đó tự nó phát triển trong tinh thần nhiệt tình của ông được nuôi dưỡng bởi một bầu không khí sôi sục sau Lễ Phục sinh năm 1493 tại Siviglia: cửa ngõ Tây Ban Nha đi vào Đại Tây Dương và điểm xuất phát từ châu Âu đi tới những vùng Đất Mới bên kia Đại dương. Địa vị của Vespucci, chỉ huy việc cung cấp, trang bị những tàu biển, cung cấp bản đồ và công cụ cho những chuyến đi Đại Tây Dương và những tin tức liên tục về những điều kỳ diệu của những vùng Đất Mới, có thể cả hai yếu tố này đã kích thích lòng mong muốn của ông rằng nghề đi biển sẽ rất xán lạn.
Vespucci thực hiện hai cuộc khảo sát có ảnh hưởng quyết định đối với việc phát kiến những lục địa, được đặt tên theo tên ông. Có những ý kiến xung đột nhau về cuộc khảo sát thứ nhất đi đến Guyana năm 1499, do Hojeda chỉ huy. Theo một số người, Hojeda và Juan de la Cosa mang hai tàu đi về phương Bắc, trong khi Vespucci mang hai chiếc khác đi về hướng Nam và tới của sông Amazon. Đó chỉ là sự ước đoán. Không có nghi ngờ gì về cuộc khảo sát thứ hai, năm 1501. Vespucci đã đến bờ biển Brazi! tại xích đạo và đi theo bờ biển đó vượt quá 32° Nam, có lẽ xa tới 50° Nam.
Mười hai năm trôi qua trước khi Balboa vượt eo đất Panama và những người châu Âu nhận thấy rằng một đại dương khác nữa nằm giữa những vùng Đất Mới và châu Á. Tuy nhiên Vespucci đã đi theo bờ biển một lục địa tới một vĩ độ xa hơn về phía Nam mà từ trước chưa ai đi tới - xa hơn về phía nam Mũi Hảo Vọng mà Bartolomeo Diaz đã đi vòng qua - ông cũng không thấy dấu hiệu nào chứng tỏ đó là châu Á. Như vậy, chuyến đi của ông đã bắt đầu việc nhận ra rằng những vùng Đất Mới là một khối lục địa hoàn toàn độc lập với châu Á. Colombo cũng hiểu như thế nhưng không phát biểu ý nghĩ  nảy ra và như vậy và cũng là công bằng (1) Vespucci đã nhận vinh dự và cũng là công bằng(2)
Ở đây chúng ta quan tâm đến sự chuẩn bị cho chuyến đi thứ ba của Colombo. Sự biết ơn mà Colombo bày tỏ trong bức thư của ông năm 1505 bảo đảm cho chúng ta rằng Vespucci đã hoàn thành nghĩa vụ của ông về tài chính và tổ chức. Những gợi ý rằng Vespucci đã làm một điều gì hơn nữa thì cũng là phù hợp với thực tế; tức là ông đã đóng góp vào sự lựa chọn của Colombo về tuyến đường mới theo hướng phía Nam. Không có những tài liệu về điều này nhưng những xem xét trước đây của chúng tôi hỗ trộ giả thuyết cho rằng trước khi giáp mặt với Đại Tây Dương, Vespucci đã biết những điều Jaime Ferrer viết cho Colombo: "Vượt quá đường xích đạo sẽ có những thứ tốt nhất và có giá trị, như đá quý, vàng, hương liệu và thuốc... hầu hết những thứ đặc biệt có giá trị bắt nguồn từ những vùng nóng nhất". Chúng ta có thể giả thiết rằng từ năm 1496, khi quản lý công ty buôn thức ăn và đồ tiếp tế tàu biển, Vespucci đã suy nghĩ một phương hướng hành động mà ông sẽ theo đuổi và không đi chệch hướng trong những cuộc đi biển của ông. Ông có thể cùng có chung ý nghĩ với người bạn của ông là Colombo, giúp chỉ cho Colombo con đường mới mà Ferrer đã gợi ý và hiệp nghị Tordesillas nay đã cho phép.
 
Chú thích :
(1). A-mê-ri-gô Vét-xpúc-si (Amerigo Vespucci )(1454-1512) đã đạt vinh dự lớn: Tên của ông đã được dùng để đặt cho châu Mỹ (America).




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.08.2021 21:06:18 bởi Ct.Ly>
32. ‘‘MỘT THẾ GIỚI KHÁC’’
 
 
Tháng 8-1498 là một thời điểm mấu chốt khác nữa trong cuộc phát kiến vĩ đại: Colombo tới một lục địa lớn về phía Nam đối diện với châu Phi nhưng không phải châu Phi, châu Á, hay châu Âu. Tất nhiên lục địa ấy không phải là đất khô cằn không có người ở, đất này dể chịu, đẹp, phì nhiêu, xanh tốt, đông dân cư và có nhiều nước. Nước của con sông lớn chảy ra từ phía Nam, không nghi ngờ gì nữa, chứng tỏ đây thực sự là một lục địa. Vậy đó là một lục địa thứ tư; Thế giới Cũ và thời Trung cổ, thế giới Công giáo, Hồi giáo, Ấn Độ và Trung Hoa đã không biết sự tồn tại của lục địa đó. Một lục địa thứ tư, tuyệt đối không ai biết, dân cư của lục địa đó cũng không biết gì về sự tồn tại của ba lục địa kia.
Vậy tháng 8-1498 đã xảy ra sự biến động sâu sắc nhất trong khoa học vũ trụ. Cuộc cách mạng vĩ đại nhất về địa lý cũng chỉ vừa xuất hiện và giống như năm 1492, đã diễn ra cuộc gặp gỡ quan trọng nhất trong lịch sử giữa các dân tộc. Colombo cũng chỉ mới thừa nhận và hé tấm màn bí mật một phần.
Tương phản một cách rõ rệt với thái độ tại San Salvador, Colombo rụt rè và thấy không thoải mái khi đến vùng biển Venezuela. Hình như ông phản ứng tiêu cực với tin tức mới lạ này, như muốn phủ nhận cuộc phát kiến rõ ràng và không thể chối cải ngay trước mắt ông. Những điều ông quan sát và tham khảo chồng chéo lên nhau, lộn xộn, thường mâu thuẫn nhau. Sự lẫn lộn, không chắc chắn và phân vân này có hai nguyên nhân liên quan đến nhau. Nguyên nhân thứ nhất gắn với cá tính của Colombo. Tôi đã nói rằng Colombo thuộc về cả thời Hiện đại lẫn thời Trung cổ. Ông là Trung cổ khi ông chuyển, hoặc cố chuyển, từ kinh nghiệm đến giáo điều, khi từ những thực tế kinh nghiệm ông cố rút ra những quy luật và nguyên tắc chung, khi từ những cái riêng ông tìm cách vươn tới cái chung. Mặc dù tự học, Colombo là một chuyên gia về địa lý, đặc biệt về khoa học đi biển. Ngay cả với những hạn chế của thời đại và những công cụ sẵn có thời đó, ông nắm được những phương pháp hiện đại một cách đáng kinh ngạc. Nhưng khi ông chuyên từ những cái riêng của địa phương sang khoa học địa lý đại cương lập tức ông để lộ mình bị những định kiến thời Trung cổ cản trở, tự tỏ ra hoàn toàn Trung cổ khi mạo hiểm đi vào vũ trụ học, triết học và thần học.
Nguyên nhân thứ hai của một số lẫn lộn và mâu thuẫn vào thời gian mấu chốt này của cuộc phát kiến vĩ đại là điều kiện thể chất của Colombo. Khi rời Siviglia, ông không được khỏe. Bệnh thấp khớp bắt đầu tác động đến ông; bệnh này làm ông khổ sở một cách kinh khủng trong chuyến đi thứ tư. Thêm vào đó khí hậu nóng như thiêu như đốt ở vùng đảo Cape Verde và tám ngày yên tĩnh ở giữa Đại Tây Đương gần đường xích đạo đã gây cho ông bệnh viêm mắt nghiêm trọng. Ông chịu trách nhiệm về đường đi và thường không tin cậy bất cứ một người nào khác, luôn luôn dựa vào chính mắt mình, sự quan sát của ông đặc biệt nhạy cảm và chính xác. Như vậy ông đã làm hư hại thị giác vì phải luôn luôn nhìn qua mũi tàu về phía chân trời vào buổi sáng, mặt trời lên cao hơn vai nhưng ánh sáng gay gắt và nóng bóng; buổi chiều, khi đi về hướng Tây, ông phải nhìn thẳng vào mặt trời; và ngay cả trong những đêm không có trăng, khi chỉ có ánh sáng của sao rọi chiếu, vào những đợt sóng màu xẩm bị sống tàu cắt ra.
Mắt Colombo sưng lên, chảy nước và đỏ. Khi tới đất liền ông không thể không thấy tất cả những thứ đáng lẽ ông phải biết. Ông không trông thấy những chi tiết đáng lẽ giúp ông hiểu kỷ hơn nơi đó, ông không thể quan sát như trong hai cuộc đi lần trước, ông cũng không thể đích thân xác minh và điều tra. Thậm chí ông không viết Nhật ký nhưng chắc ông đọc cho người khác ghi, hoặc có lẽ Nhật ký đã được ghi lại qua những gì ông nói.
Nhiều điều được ghi lại không bắt nguồn từ kinh nghiệm riêng của ông mà từ kinh nghiệm của những người khác.
Nơi diễn ra cuộc phát kiến vĩ đại tháng 8-1498 là Vịnh Paria. Tôi đã đi qua vịnh này bằng thuyền, máy bay và máy bay lên thẳng, dừng lại tại nhiều điểm trên bờ biển và ngược lên một đoạn của kênh chính và những kênh nhỏ quan trọng nhất. Chỉ với những biểu đồ địa hình của Viện địa lý quân sự Venezuela và những gợi ý của những chuyên gia địa phương - những thị trưởng, những viên quản lý neo buồm và những ngư dân - tôi mới có thể hình thành bức tranh rõ ràng về địa lý khu vực. Kết quả là tôi có thể đánh giá khó khăn lớn lao của những thủy thủ Tây Ban Nha và viên Đô đốc trong việc xác định xem họ đã thực sự tới đại lục hay chưa. Tôi cũng có thể đánh giá tình hình đó có thể làm cho Colombo lúng túng như thế nào, dẫn đến nhiều giả thuyết và nhận xét trong Nhật ký, một số giả thuyết đúng, một số giả thuyết không thực tế, nhiều giả thuyết mâu thuẫn.
Đây là những giai đoạn và ngày tháng của quá trình Colombo sau khi tiếp xúc lần đầu tiên với đại lục Nam Mỹ, nhận biết ông đã thực sự phát hiện ra một lục địa.
Thứ tư, mồng 1-8-1498 lần đầu tiên thủy thủ trên ba chiếc tàu đã trông thấy Nam Mỹ. Không một người nào tuởng tượng đó là một lục địa. Colombo gọi đó là Isla Santa (Đảo Thánh).
Thứ Bảy, 4 tháng 8: Ba chiếc tàu thả neo ở ven bán đảo Paria, trên bờ biển đại lục, nhưng không một ai hiểu điều đó; mọi người đều tin rằng bán đảo là một hòn đảo. Colombo đặt tên cho bán đảo đó là Isla de Gracia ("Đảo khoan dung") để tỏ lòng kính trọng mẹ của Đức Cha Geraldini, một người kiên cường ủng hộ Colombo tại triều đình Tây Ban Nha     .
Thứ hai, 6 tháng 8- Người Tây Ban Nha chiếm lĩnh Guiria, nhưng không ai nghĩ rằng mình đang ở trên đại lục, càng không nghĩ rằng đang ở trên một lục địa mới. Thậm chí viên Đô đốc không rời khỏi tàu. Thuyền trưởng Pedro de Terreros tin rằng ông ta đang chiếm dụng một hòn đảo.
Thứ tư, 8 tháng 8: Những chiếc tàu thả neo trước một làng của người Anh - diêng gần Irapa. Có nhiều cuộc gặp gỡ giữa Colombo và những người Anh-diêng. Văn hóa của họ cao hơn văn hóa của người Taino trên đảo Hispaniola, Cuba, và Giamaica, nhưng viên Đô đốc hình như không nhận thấy điều đó. Nước có bùn và là nước lợ. Colombo tiếp tục tin rằng Paria là một hòn đảo.
Thứ bảy, 11 tháng 8: Một chiếc tàu được cử đi trước để thăm dò những con đường trở về. Thủy thủ tin rằng nước ngọt chảy từ một con sông khổng lồ và do đó "những vùng đất trông có vẻ là những hòn đảo nhưng tất cả là một khối lục địa. Colombo không thể tin điều đó vì" ông chưa bao giờ nghe nói về một khối nước ngọt như thế chảy trong những con sông lớn nhất trên trái đất, sông Nile, sông Euphrate và sông Gange. Dù sao chăng nữa ông không thể tiếp tục đi vì có những chỗ nông, cho nên ông quay trở lại.
Chủ nhật, 12-8: Sau khi đi dọc bờ biển phía Nam của bán đảo Paria mà ông vẫn còn coi là một hòn đảo. Colombo thả neo tại mũi Đông bắc của Venezuela.
Thứ hai, 13 tháng 8: Những chiếc tàu bắt đầu đi dọc bờ biển phía Bắc của Paria, từ Đông sang Tây. Colombo hy vọng tới đầu phía Tây của Paria mà ông vẫn tin là một hòn đảo. Như Las Casas bình luận: "Lý do thúc đẩy ông ta đi tiếp là chưa trông thấy những vùng đất đông đủ rộng để tạo nên những con sông to như thế, viên Đô đốc nói: "Trừ phi đây là đất liền đại lục: Đó là những lời của ông ta" (Tôi nhấn mạnh thêm). Chỉ vào ngày 13 tháng 8 mối nghi ngờ đó là một lục địa cuối cùng bắt đầu bầt rể trong tâm trí của Colombo.
Thứ ba, 14 tháng 8: Ngày hôm qua và ngày hôm nay viên Đô đốc đã đi ba mươi, hay bốn mươi hải lý. Ông đã xác minh bờ biển phía Bắc kéo dài xa hơn về phía Tây so với bờ biển phía Nam, như vậy vịnh ở phía Nam Paria không có đường ra phía Bắc. Ông đã nhận thấy một vùng đất rộng như vậy không phải là một hòn đảo mà là một lục địa. (La Casas). Cuối cùng kinh nghiệm đã chiếm ưu thế hơn khoa học không chính xác. Khoa học đã sai về tầm cỡ của những con sông lớn khác mà Colombo chưa được trông thấy nên không thể biết được lưu lượng nước ở cửa sông. Một khối lượng khó hiểu đối với một người châu Âu. Ngày 13 và 14 tháng 8, ba chiếc tàu của ông đã đi hai lần trên bờ biển phía Bắc, cũng đi xa như đã đi trong vịnh phía Nam bán đảo, và không thấy có một dấu hiệu gì về một con kênh dẫn từ Bắc xuống Nam.
Ước tính của Colombo là đúng. Vịnh ăn sâu vào phía Nam bán đảo Paria hơn 55 dặm; khi Colombo quyết định- bỏ bờ biển và đi về hướng Bắc vào ngày 15 tháng 8, ông đã đi 110 dặm dọc theo bờ biển phía Bắc Venezuela và ông có thể trông thấy 55 dặm nữa về phía Tây. Không thể còn nghi ngờ gì nữa rằng Paria là đất đại lục. Như các thủy thủ nói, nước ngọt ở trong vịnh từ một con sông khổng lồ từ phía Tây nam tới. Nhưng con sông lớn nào ở châu Á có thể chảy về phía Bắc và đổ ra biển gần đường xích đạo? Không có. Do đó, đất này không thể là châu Á.
Vậy đó có phải lục địa thứ tư không? Colombo không dám nói thế. Ông không dám tự đặt mình đối lập với vũ trụ học thời Trung cổ và kiến thức địa lý của thời đại. Tuy nhiên bây giờ ông đã chắc chắn. Với sự đảo ngược thái độ một cách nhanh chóng, điển hình của những thiên tài, ông đã đi từ không tin tới nghi ngờ rồi tới chắc chắn. Chiều tối 14 tháng 8 và sáng 15 tháng 8, tàu của ông chạy nhanh trên biển lặng, trong buồng lái ông viết, hay đọc cho người khác viết, như thể ông đang đứng trước Vua và Hoàng hậu, tường thuật lần đầu tiên về tin vĩ đại: "Tôi tin rằng đây là một đại lục rộng lớn cho đến nay chưa ai biết tới. Tôi tin tưởng như vậy vì con sông rất rộng và vì có nước ngọt ờ ngoài biển. "Colombo suy nghĩ về tin quan trọng này trong những đêm và ngày tiếp theo.
17 tháng 8 năm 1498- Chiều tối những con tàu đã chạy ba mươi bảy hải lý. Colombo suy nghĩ, và ông mường tượng ra một giả thuyết: Vùng đất rộng phía Nam đường xích đạo mà ông đã trông thấy có thể là nguồn của khối nước chăng? Có thể thiên đường của trái đất mà học thuyết Trung cổ đặt ở phương Đông nằm ở Nam bán đảo chăng? Đây là đoạn trích của La Casas: "Ông ta nói vùng đất ông đến là một lục địa lớn, hoặc là nơi của thiên đường trái đất, vì theo ông, mọi người nói rằng thiên đường đó ở cuối phương Đông, và đây là thiên đường ấy". Tác giả gạch dưới và hai chỗ "ông nói” là của La Casas để nhấn mạnh giả thuyết là chính do Colombo đề xướng.
Đó là một giả thuyết, không phải là một sự khẳng định tuyệt đối. Không được lẫn lộn hay gắn giả thuyết của Colombo với giả thuyết của Dante; Dante đặt Tĩnh ngục ở Nam bán cầu, trên một ngọn núi nổi lện từ "Biển đen tối", trong khi trí tưởng tượng thơ mộng của Dante đặt sự thần bí bao trùm của thế giới bên kia vào thực tế của Đại Dương trên trái đất, Colombo không đề cập đến Thiên đường của thế giới khác mà đề cập đến Thiên đường trên trái đất: từ thời cổ đại người ta đã thừa nhận sự tồn tại của Thiên đường đó. Nhưng tại sao Colombo không xem xét giải thích đơn giản nhất và trực tiếp nhất, nói rằng đây phải là lục địa thứ tư, thay vì viện ra những giả thuyết do nền văn hóa Trung cổ cung cấp? Vì khái niệm địa lý chiếm ưu thế trong nửa sau thế kỷ thứ XV loại bỏ sự tồn tại của lục địa thứ tư.
Ý muốn sâu sắc của Colombo là không vượt quá xa khỏi lý thuyết vũ trụ học truyền thống đã nói trong bức thư của ông gửi Ferdinando và Isabella ngày 7 tháng 7 năm 1503; trong bức thư này Colombo nói về "địa điểm của Thiên đường trái đất mà Nhà thờ chấp nhận".’ Mệnh đề cuối cùng giải thích nguyên nhân khó khăn và do dự ông đã biểu thị trước thực tế của một lục địa thứ tư. Thiên đường trên trái đất đã được sự ủng hộ nhất định trong lý thuyết của Nhà thờ, nhưng trong khoa vũ trụ học được chấp nhận thời Trung cổ, không có chỗ cho một lục địa thứ tư. Mối liên hệ giữa vũ trụ học và thần học rất chặt chẽ, và như vậy Colombo bảo đảm rằng ông sẽ không bị buộc tội là chống lại giáo lý của nhà thờ.
Việc ông không chắc chắn, việc ông nghi ngờ đã rõ ràng qua lời nói của ông: "Nếu nước này không bắt nguồn từ Thiên đường trên trái đất thì nó phải bắt nguồn từ một vùng đất rộng ở Nam bán cầu mà cho đến nay chúng ta không biết đến". Đề cập vấn đề này trong bức thư năm 1503 gửi cho Vua và Hoàng hậu Công giáo, Colombo viết như sau: "Ở đây Bệ hạ có một thế giới khác nữa". "Thế giới" khác nữa là gì, nếu không là lục địa thứ tư?




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.08.2021 11:56:44 bởi Ct.Ly>
33. MỘT TRỰC GIÁC HUYỀN BÍ
 
 
Đêm 16 tháng 8, Colombo đi từ Venezuela - chính xác là đảo Margarita, tới Hispaniola. Mặc dù trong hải phận mới đối với ông, với giác quan thứ sáu về những điều trên biển, Colombo đã tính chính xác con đường đúng đi đến miền Tây Bắc. Đêm đó những kim la bàn chệch đi một độ rưỡi về phía Tây một cách bất thình lình, một số kim chệch đi hai độ. La Casas viết, Colombo cũng nhận thấy rằng ở vĩ độ này, sao Bắc đẩu ở 14° trên chân trời, khi chòm sao Guards qua đầu 2 giờ rưỡi (1). Chòm sao tới điểm đó lúc 6 giờ 30 phút tối, hơi quá sớm để có thể quan sát, nhất là bởi một người đang mắc bệnh viêm mắt. Nếu chúng ta chấp nhận sự quan sát đó thì Colombo đã phải ở vĩ độ -15° Bắc. Đêm 16 tháng 8, đội tàu đã ở gần 13° Bắc. Do đó sai số của Colombo là nhỏ nhất, không qua hai độ, có lẽ ít hơn.
Tại sao cho đến lúc đó những kim la bàn không chệch sang hướng Tây Bắc? Colombo so sánh sự quan sát này với sự quan sát khi ông thấy kim lệch năm độ so với sao Bắc đẩu. Trong những chuyến đi trước, ở những vĩ độ xa hơn về phía Bắc, Colombo đã thấy kim lệch đi hai độ rưỡi. Kết quả của suy luận này là Colombo cho rằng quả đất không phải là một khối tròn hoàn hảo. Như ông đã viết cho Vua và Hoàng hậu:
"Tôi luôn luôn đọc thấy rằng thế giới, đất và nước là một khối tròn; kiến thức đặc biệt và kinh nghiệm của Tolemeo và tất cả những người khác chứng minh điều đó. Tuy nhiên bây giờ tôi đã thấy trái đất rất méo, tôi đã phát hiện ra rằng quả đất không tròn, như người ta đã viết, mà nó có hình giống một quả lê, rất tròn trừ đầu cuống hơi nhô lên, hoặc giống như một quả bóng, có một điểm giống như vú người phụ nữ. Đầu cuống đó cao nhất và gần bầu trời nhất và người ta thường thấy điểm đó ở dưới đường quân phân ở đại dương này ở giới hạn của phương Đông.
Khi vượt đường Bắc-Nam cách quần đảo Azzorre một trăm hải lý về phía Tây, những tàu biển được nâng lên một chút về phía bầu trời, và vì vậy khí hậu ôn hòa hơn. Kim la bàn chệch đi một điểm, do sự ôn hòa của khí hậu và càng đi xa hơn về phía Tây bắc, tàu biển càng được nâng lên. Càng đi gần tới đường quân phân người ta càng lên cao hơn và độ chênh lệch giữa sao Bắc đẩu và những sao Guards trong vòng tròn qũy đạo càng lớn".
Trong một thời gian dài những ý kiến này có vẻ kỳ quặc, kết quả của trí tưởng tượng thơ ngây, truyện viễn tưởng khoa học thời xa xưa. Chỉ trong thế kỷ thứ XX những công trình nghiên cứu về hình thể và bề mặt trái đất và chứng cớ từ những vệ tinh nhân tạo đã ủng hộ một cách bất ngờ ý kiến của Colombo.
Ngày 29 tháng 12 năm 1958, J. A. O’Keefe và A. Eckels, những nhà thiên văn tại Đài quan sát trường cao đẳng Harvard, đã tiết lộ rằng dưới ánh sáng thông tin nhận được từ vệ tinh nhân tạo Vanguard ở Trung tâm không gian Godard, khái niệm cổ truyền về hình thể trái đất phải được xem xét và sửa đổi lại: trái đất có hình như một quả lê, với những điểm cao ở đường xích đạo. Tin này được hoàn hảo khẳng định ngày 19 tháng 6 năm 1959 (2).
Làm sao Colombo nhận ra điều đó năm 1498 là một điều huyền bí làm cho người ta say mê. Trong thời Colombo còn có nhiều người tin quả đất đẹt, trong khi đó các nhà khoa học và những học giả tất cả đều cho rằng quả đất hoàn toàn tròn.
 
Không một người nào - có học thức, có văn hóa, hay mù chữ - nghi ngờ mặt trời xoay quanh trái đất. Có phải trực giác không? Sự tiên đoán? Tưởng tượng may mắn trùng hợp với thực tế, một thực tế chỉ được khoa học khẳng định nhiều thế kỷ về sau? Nói một cách chặt chẽ, chắc chắn rằng không thể gán cho Colombo một phát kiến khoa học. Chỉ có những đo đạc chính xác từ thời của ông mới cho ta chứng cứ là quả đất không hoàn toàn tròn và đường xích đạo không phải là một hình tròn mà là một hình bầu dục.
Độ đẹt ở cực rất ít (1/289/(3) mắt thường và thậm chí những dụng cụ đo thời Colombo không thể thấy được. Hai chi tiết khác thường về bề mặt của trái đất, cũng nhỏ và không thể xác định được cả bằng mắt lẫn dụng cụ do thời Colombo, hình quả lê của trái đất, hình bầu dục của đường xích đạo, làm sao Colombo đi tới sự hiểu biết sâu sắc này gần như không thể dò tìm được. Tương tự như vậy, Colombo là người đầu tiên nhận thấy rằng những dòng nước ở đại dương, chảy từ Đông sang Tây, làm mòn bờ biển phía Tây của đại dương, giải thích tại sao có nhiều đảo ở đó.
 
Colombo đã nhận thấy sức mạnh của những dòng nước và kết luận rằng một dòng nước mạnh từ Đông sang Tây đã cắt đảo Trinidad khỏi đại lục và hình thành nhiều đảo nhỏ mà thời xa xưa chỉ có những con lạch, hoặc chỉ là đã trồi ra ngoài cửa đại lục.
 
Colombo đã đi đến kết luận này khi thấy có nhiều đảo từ Vịnh Paria vào biển Ca-ri-bê. Ông đã viết: "Tôi chắc chắn rằng khối nước của biển đi từ Đông sang Tây, theo bầu trời, và trong vùng này, khi những khối nước đó đi qua, chúng có tốc độ lớn hơn." Colombo đã miêu tả hiện tượng một cách chính xác theo cách cổ sơ. Theo Tolemeo, Colombo đã cho rằng quán tính đã tạo ra hướng chảy và sức mạnh của dòng nước đó và quán tính do chuyển động biểu kiến của bầu trời mà có; ngày nay chúng ta cùng giải thích theo cách đó, thay bầu trời bằng chuyển động xoay quanh trục của trái đất.
 
Chú thích :
(1)  Xem Samuel Eliot Morison, Đô đốc của đại dương, Boston 1942; tr 169 – 70 (T.G)
(2) Xem J. A. O’ Keefe A, Eckels và R. K. Squires, Trong trường của Trái đất, Tạp chí Thiên văn 64-1959, t 245-53 (TG)
(3). S = (a-b) a, trong đó a là nửa trục xích đạo và b là nửa trục cực của khối bầu dục (nửa trục cực ngắn hơn -TG).




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.09.2021 12:37:25 bởi Ct.Ly>
34. CUỘC ĐẢO CHÍNH TẠI SANTO DOMINGO.
 
 
Ngày 31 tháng 8 năm 1498, ba chiếc tàu cập bến Santo Domingo, trung tâm mới của thuộc địa trên đảo Hispaniola. Những người Tây Ban Nha đã chia thành hai phái, và tình hình căng thẳng có tính chất bùng nổ. Vì mục đích thực tiễn, đảo có hai tổng trấn. Những người ở cả hai phe đều được những người Anh-diêng dưới sự khống chế của họ nuôi. Nhóm của Bartolomeo cai trị miền Trung và miền Nam đảo Hispaniola, và những người nổi loạn do Francisco Roldán cầm đầu chiếm miền Tây, bao gồm Yaragua, miền của Behechio.
Colombo đã được Vua và Hoàng hậu tại triều đình khẳng định lại sự tin cậy. Ông không thể để cho tình hình xấu thêm nữa, vì như vậy ông sẽ không thực hiện được kế hoạch đầy tham vọng là biến đảo Hispaniola thành thuộc địa, một kế hoạch do ông cùng Vua và Hoàng hậu đã đề ra. Mặt khác, dập tắt cuộc nổi loạn thì khó nếu không nói là không thể làm được, không thể đánh nhau với những người nổi loạn. Viên chỉ huy pháo đài Bonao, hay Conception, ở sâu trên đảo, Miguel de Ballester, người vẫn trung thành với anh em Colombo, hiểu rõ thực tế đáng buồn đó. Miguel de Ballester thúc đẩy một thỏa hiệp với Roldán cho những ai mong muốn đều được phép trở về Castiglia.
Nhưng Roldán đòi hỏi nhiều hơn. Sau những cuộc thương lượng kéo dài giữa Ballester và những thủ lĩnh nổi loạn họ đã thỏa thuận được một số điều kiện. Thời gian có hạn và lợi ích của nhà vua bị tổn hại, vì vậy Colombo không có cách lựa chọn nào khác ngoài việc cho phép Ballester giải quyết những sự bất đồng "bằng bất cứ cách nào" có thể thực hiện được; điều đó có nghĩa là chấp nhận toàn bộ yêu sách. Ông khẳng định cho Roldán chức alcalde mayor (1) trên đảo Hispaniola và trả lại tiền lương cho những người nổi loạn đã không chịu làm việc. Những người không muốn ở lại đảo được phép ra đi ngay khi có cơ hội. Đó là cuối năm 1498.
Mặt quan trọng nhất của thỏa hiệp giữa Colombo và Roldán là nó cho phép hình thành cơ sở chính sách thực dân của Tây Ban Nha tại châu Mỹ. Quả là một nền hòa bình sặc mùi đồng lõa. Colombo đã đến Hispaniola với một giấy phép của Vua và Hoàng hậu, đề ngày 22 tháng 7 năm 1497, cho phép ông chia đất trong số những người đi khai phá, chia đất chứ không phải chia những người Anh diêng. Vậy mà bây giờ ông đi phân phối lao động Anh diêng nhiều hơn đất đai những người định cư đã chiếm hữu, dù có hay không có quyền sở hữu chính thức. Bây giờ những người Anh-diêng bị hạ xuống địa vị nông nô ở châu Âu thời Trung cổ. Loại nô lệ đó không được nhà vua chấp nhận; nhà vua muốn coi những người Anh diêng là những chư hầu tự do. Nhưng chế độ bắt đầu lúc này vẫn tiếp tục. Năm 1501 Don Nicolas de Ovando nhậm chức Tổng trấn Hispaniola; và đến năm 1503 thì được thừa nhận về mặt pháp lý. Chế độ encomienda ("ủy quyền") đã mở rộng ra khắp quần đảo Antilles và đất liền Ca-ri-bê. Cortes đã đưa chế độ ấy vào Tây Ban Nha Mới (Mê-hi-cô), tại đây những làng Anh-diêng được giữ đất của họ, ít nhất về nguyên tác, nhưng phải nộp một khoản cống nạp lớn bằng tiền của sản vật cho Encomendero ("người định cư", hay "ông chủ"). Thể chế encomienda rõ ràng bắt nguồn từ thời Trung cổ trong việc thi hành những mệnh lệnh quân sự của nước Tây Ban Nha trung cổ.
 
Những diễn biến này cần được bình luận. Một người mang cá tính chất thời Trung cổ và thời Phục hưng, nhưng ý nghĩ kinh tế thì hướng về thời Trung cổ nhiều hơn. Tại Genova, Bồ Đào Nha, Valencia và Catalogna, một thể chế thương mại, hay chủ nghĩa tư bản mới chớm nở đã hưng thịnh. Colombo là một nhà kinh doanh tiêu biểu giao dịch bằng những tỷ lệ phần trăm, những cổ phần, lãi và lợi nhuận với Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha và những bộ trưởng của họ, với những đồng bào Genova của ông, với những người Firenze (Fiorenza xứ Ý), những ngươi Do Thái đã cải đạo. Năm 1499-1500 tại Santo Domingo, khi Colombo phải chọn một chế độ kinh tế chính trị cho những vùng Đất Mới, ông đã bị kẹt trong những cuộc tranh chấp nội bộ với những người định cư và những người Castiglia đầu tiên đi chinh phục châu Mỹ. Thiếu sự khôn khéo chính trị ngang với những tài năng về đi biển, Colombo cảm thấy bị thúc ép thành lập chế độ "ủy quyền" quen thuộc mà nhà sử học Mê-hi-cô Weckmann Munoz gọi là "sự thừa kế Trung cổ". Trong nhiều thế kỷ, những người định cư Tây Ban Nha tại đế quốc của Tây Ban Nha ở châu Mỹ có những quyền đối với người lao động Anh-diêng giống như quyền của Chúa phong kiến đối với nông nô. Những người Anh-diêng không phải là những nô lệ có thể bán đi - những người nô lệ tại các thuộc địa Bồ Đào Nha, Anh và Hà Lan đã mang tính chất tư sản, hoặc kinh doanh buôn bán - mà là những nông nô bị cột chặt vào đất đai. Thể chế này về mặt đạo đức còn tồi tệ hơn cả chế độ nô lệ. Đó là quay trở lại quá khứ, không phải là một bước tiến lên thời hiện đại, khi thể chế nô lệ xấu xa đang bị bãi bỏ.
Quan điểm của những người bất mãn đến được tai Nhà Vua, họ miêu tả Colombo là một tên bạo chúa. Pietro Martire cho biết rằng ba anh em Colombo, nhất là Bartolomeo, bị tố cáo là "những con người bất chính, những kẻ thù độc ác, những kẻ làm đổ máu Tây Ban Nha", luôn luôn sẵn sàng "tra tấn, treo cổ và chặt đầu".
Don Fernando đã hồi tưởng lại một cách cay đắng tinh hình mùa hè 1500 hơn năm mươi người định cư đã trở về Tây Ban Nha, đến triều đình tại Alhambra, hô lớn rằng Nhà Vua và Colombo đã không trả công họ:
"Sự bất kính của họ Iớn đến nỗi, nếu Nhà Vua đi ra, tất cả sẽ vây quanh và hô lớn đòi trả công... Và nếu bất ngờ anh tôi và tôi đi qua họ, họ kêu trời và quấy rối chúng tôi; tôi và anh tôi là hầu cận của Hoàng hậu. Họ nói "Kia là những đứa con của viên Đô đốc độc ác, . chúng đã tìm được những vùng đất để mà huênh hoang và lừa bịp và trở thành nỗi buồn và mồ chôn của những quý tộc Castiglia". Họ còn thêm những điều độc ác khác và chúng tôi thận trọng tránh đi gần họ".
Vua và Hoàng hậu ở cách xa những thuộc địa mới hàng ngàn dặm nên không dễ đạt tới một quyết định. Colombo vừa là người phân xử, vừa là người bị cáo, không thể quyết định ai phải, ai trái. Cần một viên điều tra chính, và họ đã chọn Francesco de Bobadilla, hiệp sĩ cấp Calatrava. Vua và Hoàng hậu ra lệnh cho Bobadilla trừng phạt những thủ phạm trong cuộc nổi loạn và nắm quyền chỉ huy đảo thay Colombo.
Động cơ của Vua và Hoàng hậu chính xác cũng như đơn giản: Colombo đã trở thành một trở ngại cho sự bành trướng của Tây Ban Nha ở vùng Đất Mới, một trở ngại tạo ra bởi những đặc quyền không hạn chế mà họ đã ban cho ông tại Santa Fe, và tính ích kỷ không hạn chế của ông là nền tảng của trở ngại đó. Giả thiết nếu như những điều kiện đầu hàng vẫn còn hiệu lực thì nhà vua sẽ không thể cho phép thay mặt Hoàng gia mở những cuộc thăm dò mới tại những vùng càng ngày càng đang mở rộng để đầu tư kiếm lợi. Năm 1499 những chủ ngân hàng và nhà buôn ở Siviglia xem xét những dự án liên doanh với Hoàng gia nếu họ được hưởng một phần lợi nhuận của những cuộc viễn chinh tương lai và những cuộc phát kiến do những cuộc viễn chinh đó đem lại. Người ta chuẩn bị bốn cuộc viễn chinh tới lục địa và quần đảo Antilles. Trong thực tế không thể thực hiện những chuyến đi mà không dừng tại Hispaniola, cả lúc về cũng như lúc đi. Trong kế hoạch Nhà Vua đã hoạch định với Colombo, Hispaniola đang trở thành trung tâm tiếp tế và trạm dừng chân, nơi trang bị cho mọi cuộc thăm dò và chinh phục. Santo Domingo là hải cảng duy nhất có thể hỗ trợ về hậu cần cho tất cả những công việc tiến hành tại những đảo giữa Bắc và Nam Mỹ. Nếu Colombo vẫn chỉ huy Hispaniola, phó vương chuyên chế "của tất cả những vùng đất đã được phát kiến và sẽ được phát kiến" thì không một nhiệm vụ nào trong những nhiệm vụ đó có thể được thi hành nếu không có sự đồng ý của ông. Và xét cá tính của ông thì không phải ông thường xuyên đồng ý.
Một số nhượng bộ đã thỏa thuận với Hojeda và Pero Alonso Nino và với Vicente Yanez Pinzon và Juan de la Cosa đã vi phạm hợp đồng ban đầu giữa Colombo và Nhà Vua. Những tài liệu cho phép này gửi cùng với thư ủy nhiệm của Bobadilla đã để lộ những ý đồ của Vua và Hoàng hậu. Tôi sẽ thảo luận những nhượng bộ này và những nhượng bộ trong những cuộc viễn chinh sau đó, chúng ta sẽ thấy những nhượng bộ đó có vai trò chủ chốt như thế nào để hiểu sự kết thúc của biến cố Santo Domingo: Colombo bị bắt về Tây Ban Nha trong gông xiềng.
Sự kiện đầy kịch tính này có tiếng vang to lớn. Con người chủ chốt, người anh hùng của hàng loạt phát kiến vĩ đại bị gông xiềng! Con người đã cho nước Tây Ban Nha thống trị gần nửa thế giới bị bỏ tù! Lập tức người ta cảm thấy công phẫn, phê phán và lên án Francesco de Bobadilla, tên côn đồ trong vở kịch có những cảnh ảm đạm và đau buồn. Giải thích như thế thì quá đơn giản. Những nhà sử học nghiêng về phía bào chữa cho những hành động của Bobadilla nhấn mạnh những hành động độc ác dưới sự cai trị của ba anh em Colombo. "Tại nhiều điểm khác nhau trong thành phố những giá treo cổ dựng lên, thường xuyên có những chùm người bị treo cổ... Bobadilla thấy Santo Domingo lần đầu tiên ngay sau khi hai người bị treo cổ. Năm người nữa đợi bị treo cổ ngày hôm sau. Mọi người tố cáo Colombo và anh em của ông là phản bội. Barnaldez nói: "Colombo muốn tặng đảo Hispaniola cho Genova".
Nhiều năm sau những giáo sĩ dòng tu Geronimi viết rằng những điều tồi tệ ở Hispaniola bắt nguồn từ thời Colombo; ông đã phát kiến ra hòn đảo này để hoàn thành những thỏa thuận với người Genova.
Thực tế Colombo là một người nước ngoài có nguồn gốc khiêm nhường là một điều có ý nghĩa. Nên đặt nhẹ hơn tội tàn bạo, vì Ovando, người kế vị Bobadilla, đã hành động khắc nghiệt hơn Colombo đối với cả người Anh-diêng lẫn người định cư. Oviedo viết rằng bất cứ ai cai trị đảo Hispaniola lúc đó thì phải "thiên thần và siêu nhân" mới làm được việc tốt. Las Casas bảo vệ Colombo và bác bỏ hầu hết những lời buộc tội; thậm chí ông cố bào chữa cho người Tây Ban Nha. Las Casas nhận xét rằng, anh em Colombo không biểu lộ sự khiêm tốn và thận trọng mà họ cần có à cương vị người nước ngoài, họ sai lầm khi không phân phối đồ tiếp tế từ Tây Ban Nha gửi sang một cách bình đẳng, họ dùng những đồ tiếp tế đó để thưởng cho bạn bè và trừng phạt kẻ thù. Giải thích sự khắc nghiệt của Bobadilla Las Casas đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc Diego từ chối nộp pháo đài. Diego đã xúc phạm đại sứ của Vua và Hoàng hậu bằng cách nói một cách thô bạo rằng: quyền lục và sự được phép của anh ông thì  ‘‘tốt hơn và được bảo đảm hơn".
 
Người ta có thể dò hỏi Iâu dài những nguyên nhân và sai trái của sự kiện phức tạp và đầy kịch tính này, nhưng con đường đó hình như không phải là con đường dùng để đi đến sự đánh giá không thiên vị. Francesco de Bobadilla không có vẻ là một bạo chúa thối nát, thâm độc. Oviedo nói rằng ông ta là "một hiệp sĩ cũ, một con người rất có lương tâm và ngoan đạo". Bobadilla đã dùng bạo lực để loại trừ Colombo và anh em của ông ra khỏi chính quyền trên đảo, vì ông không có cách lựa chọn nào khác. Trước sự bướng bỉnh của anh em
Colombo, bỏ tù họ là một bước cần thiết để cuộc phát kiến vĩ đại đem lại những kết quả cụ thể vì lợi ích của Tây Ban Nha. Lợi ích của Tây Ban Nha là điều mấu chốt duy nhất của toàn bộ sự kiện. Như đã nêu, cần phải hủy bỏ những điều kiện đầu hàng ở Santa Fe, theo đó chính quyền và thu nhập của những vùng Đất Mới được chia trong sự hợp tác làm ăn hạn chế giữa Vua và Hoàng hậu và gia đình Colombo. Cần phải thay thế sự hợp tác làm ăn kỳ lạ này bằng nhà nước do một mình Nhà Vua đại diện.
Bobadilla đã bỏ tù Colombo và đưa ông về Tây Ban Nha trong xiềng xích, vì cùng một lý do là ông đã kế vị Colombo trong chính quyền Hispaniola, đảo then chốt của vùng Đất Mới: ông là đại diện của quốc gia, một viên chức của Vua và Hoàng hậu. Và đó thực sự là một cuộc đảo chính và những cuộc đảo chính luôn luôn giống nhau, dù ở thế kỷ XV hay thế kỷ XX đều được tiến hành bằng bạo lực. Francesco de Bobadilla là một viên chức của nhà nước, theo cung cách của ông ta. Dù sao chăng nữa, người ta nên đặt câu hỏi, có phải nhà nước không còn cách nào khác để mang lại một chế độ mới tại những vùng đất mới phát kiến và không thể làm việc với Colombo hay sao mặc dù nhà nước phải chịu ơn những công lao xuất sắc mà ông đã làm. Nhưng lịch sử không được hình thành bằng những giả thiết nếu, và lịch sử đã ghi lại rằng Colombo đã chống lại một cách tuyệt vọng. Trên đảo Hispaniola, Colombo không được sự ủng hộ của quần chúng; và những kẻ thù chung của ông ủng hộ Bobadilla, hy vọng được Bobadilla giúp đỡ, cất nhắc. Đầu tháng 10-1500, Colombo rời Santo Domingo trong xiềng xích. Ông chỉ trở lại trong cái chết. Đó là một cuộc đảo chính, nhưng sự kiện sau đây cho thấy người Tây Ban Nha không độc ác và tàn bạo đối với Colombo như một số người tin như vậy. Chẳng bao lâu sau khi chiếc tàu La Gorda chở Colombo rời bến, viên thuyền trưởng, rõ ràng theo lệnh trực tiếp của Bobadilla, đã tỏ ý muốn cởi xiềng cho Colombo. Colombo từ chối; ông đã bị xiềng với danh nghĩa của Vua và Hoàng hậu, vì vậy ông muốn vẫn bị xiềng cho đến khi Isabela và Ferdinando đích thân ra lệnh tháo bỏ. Cuộc vượt biển nhanh và không có sự kiện gì. Vào khoảng từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 11 - 1500, La Gorđa đã đi vào bến Cadice. Trên đường về Tây Ban Nha, nói Colombo bị chế nhạo và ngược đãi chỉ là một câu chuyện truyền thuyết. Alonso de Vallejo, cũng như Andrea Martin, chủ chiếc tàu la Gorda, cũng như những người khác trên tàu, không ai tỏ thái độ bất kính đối với Colombo. Ngược lại họ rất kính trọng ông và cả hai người anh em của ông, cũng là tù nhân.
Khi họ lên cảng Cadice, Colombo vẫn còn tự nguyện bị xiềng, đã viết một lá thư dài cho Bà Juana de Torres, vú nuôi trước đấy của người con vua Don Juan, một người thân tín của Hoàng hậu Isabella và chị của Antonio de Torres, phó chỉ huy trong chuyến đi biển thứ hai. Bà Juana là một người bạn và người bảo vệ Colombo từ khi ông đến triều đình tìm kiếm sự chấp nhận kế hoạch lớn của ông. Bức thư chứa đầy một nổi buồn sâu sắc, lẫn lộn, một mớ tình cảm hổn độn sự công phẫn, sự nhẫn nhục, lòng tự trọng bị tổn thương và sự khiêm nhường Thanh giáo. Tuy nhiên giọng điệu của bức thư là thành thật. Đó là tiếng kêu của người biết rõ mình đã có cống hiến cho nước Tây Ban Nha và Công giáo mà không được đền đáp đầy đủ, là tiếng than của một tâm hồn phẩn nộ vì sự bất công nhưng vẫn còn khả năng tin hoàn toàn vào chúa Thánh Thần; sự giúp đỡ của Chúa đối với người vô tội bị kẻ ác áp bức phải đến đúng lúc.
Người bạn cũ và trung thành này có ảnh hưởng đối với Hoàng hậu, Nhà Vua và Hoàng hậu ra lệnh thả tự do tức khắc cho anh em Colombo. Đồng thời Hoàng hậu đã gửi một bức thư cho Colombo, có cả Nhà Vua cùng ký, ân hận vì những tổn thương mà thân thế và danh dự của ông đã phải chịu đựng. Hoàng hậu nói tiếp rằng ý đồ của mệnh lệnh của Hoàng gia đã không được giải thích đúng. Colombo được mời đến Granada càng sớm càng tốt, cùng với anh em của ông, tại đây anh em Colombo được đón tiếp tại một cuộc yết kiến với nghi thức công khai. Anh em Colombo được nhận hai nghìn đồng vàng ducat để họ có thể mua quần áo thích hợp.
Ngày 17 tháng 12-1500 Colombo, Bartolomeo và Diego đã trình diện triều đinh ở Alhambra tại Granada. Hoàng hậu đã cho họ một cuộc yến kiến đặc biệt. Theo truyền thuyết Hoàng hậu là người bảo vệ kiên cường và trung thực Colombo trong khi Vua Ferdinando là một kẻ giả danh bảo vệ ông, chủ yếu là kẻ thù của ông. Sự miêu tả đó có chút ít sự thật trong đó. Trong cuộc yết kiến riêng, Colombo rõ ràng đã qùy gối và òa lên khóc, nước mắt giàn giụa, Isabella cũng khóc. Trong dịp này, ít nhất sự hãnh diện bị tổn thương của Colombo có hai niềm an ủi, quan trọng nhất là thấy rất nhiều bản án chống lại ông bị phá trước  mắt ông, như vậy người ta sẽ không nói gì về việc đó nữa. Niềm an ủi thứ hai là ý định rõ ràng của Hoàng gia bãi bỏ quyền Tổng trấn của Bobadilla và triệu hồi ông ta về Tay Ban Nha.
Tuy nhiên Vua và Hoàng hậu sẽ không phục chức cho Colombo, và cử một Tổng trấn lâm thời thay vào đó. Một điều tốt là sau những xúc cảm lớn mà ông phải chịu, Colombo có thể nghỉ và cố lấy lại sức khỏe. Và với thời gian qua đi, sự bất mãn trong những người định cư tại thuộc địa đã tan biến dần. Như vậy Bobadilla bị gọi về Tây Ban Nha, nhưng quyền lực, các đặc quyền và những chức vụ của Colombo không được khôi phục tại những vùng đất ông đã phát kiến. Mọi việc không giống trước năm 1500. Một cuộc đảo chính đã xẩy ra trên đảo Hispaniola, nhưng nó thúc đẩy lợi ích của quốc gia Tây Ban Nha nên Vua và Hoàng hậu phải chấp nhận nó. Dù sự trân trọng, tình thân thiết và thậm chí lòng biết ơn của Hoàng hậu đối với nhà phát kiến nước ngoài lớn như thế nào chăng nữa, nghĩa vụ đầu tiên của Isabella là thi hành trách nhiệm của mình với cương vị là Hoàng hậu, và lợi ích của quốc gia không cho phép trở lại quyền sở hữu chung kỳ quặc được xác lập trong những điều kiện nhượng bộ tại Santa Fe.
Trong khi đó, Vua và Hoàng hậu bị thu hút vào những vấn đề cấp bách hơn nhiều: chiến tranh với người Thổ Nhĩ Kỳ trong đó Venezia cũng có dính líu và những cuộc tranh chấp với người Pháp về vương Quốc Napoli. Thời gian trôi đi, mang lại những chậm trễ mới và làm cho người ta bực đọc. Con đường Colombo mà Vua và Hoàng hậu đã cam kết giữ bí mật đế bảo đảm độc quyền của Hoàng gia và Colombo và những người thừa kế của ông, đã trở thành công khai và ai cũng biết. Tôi đã nói 
rằng một số người đã đi cùng với Colombo trong nhiều chuyến đi biển - Vicente Yanez Pinzon, Pero Alonso Nino, Juan de la Cosa, và Alonso de Hojeda- đã yêu cầu và được Hoàng gia cho phép thực hiện những chuyến đi bằng những tiền riêng của họ sang những vùng đất bên kia Đại tây Dương. Một trong những hậu quả lớn của cuộc đảo chính tháng 10-1500 tại Santo Domingo là xóa bỏ những khoản nợ mà những người này phải trả cho Colombo về những cuộc đi của họ. Luận điểm này đã ủng hộ lời giải thích của tôi vì việc bắt Colombo. Đây không phải là một cuộc mạo hiểm hay sự kiện, mà là một cuộc đảo chính thực sự, trong đó lợi ích của quốc gia Tây Ban Nha chiếm ưu thế đối với những đòi hỏi bồi thường của Colombo và gia đình ông.
Những cuộc vượt biển mở rộng và hoàn chỉnh cuộc phát kiến vĩ đại không phải là những cuộc đi chơi tầm thường. Mỗi mùa những cuộc đi đó đều chứng minh cuộc phát kiến là quan trọng và có ý nghĩa hơn, chứa đầy những hậu quả đối với Tây ban Nha, được biết khi xét những hoạt động mạnh mẽ của người Bồ Đào Nha và ngay cả những sáng kiến mới của người Anh. Những đòi hỏi quyền lợi của Colombo trở nên càng ngày càng lỗi thời. Cuộc đảo chính năm 1500 đã phủ nhận những đòi hỏi đó một cách thẳng thừng, nhưng có thể hiểu được về mặt chính trị. Phải có cuộc đảo chính đó để làm mất hiệu lực mọi quyền lợi còn sót lại.
 
Khi chuẩn bị những điều kiện nhượng bộ tại Santa Fe,Vua và Hoàng hậu đã nghĩ về Trung Quốc, Nhật Bản và nhất là Ấn Độ, những lãnh thổ rộng lớn nhưng được tổ chức thành những quốc gia độc lập có vua, có cơ cấu chính trị và những tổ chức thương mại riêng của họ. Tổ chức kinh doanh trong những niềm hy vọng như vậy khiến việc nhận cho người lãnh đạo cuộc đi biển và những cuộc phát kiến được hưởng 10 phần trăm là điều rất dễ hiểu. Nhưng khi chuẩn bị những điều kiện nhượng bộ, không một ai, kể cả Colombo, biết trước rằng những vùng đất mới hoàn toàn không có tổ chức kinh tế và cơ cấu chính trị có hiệu quả sẽ được phát hiện. Kết quả không phải là kinh doanh đơn thuần mà là thôn tính hoàn toàn. Những chức vụ Đô đốc, Phó vương và Tổng trấn suốt đời đã hứa hẹn, cũng không có hiệu lực; việc ban những chức vụ này đương nhiên giả định trước khả năng thực thi những chức vụ đó, điều mà Colombo đã không làm được ngay cả trên hòn đảo Hispaniola đơn độc này.
Colombo giữ lại những chức danh của ông nhưng không còn quyền lực. Ngày 3 tháng 9 năm 1501, Vua và Hoàng hậu cử Nicolas de Ovando làm Tổng trấn và quan tòa tối cao những đảo và đại lục giữa Bắc và Nam Mỹ, trừ những phần đất liền nhất định đặt dưới quyền Vicente Yanez Pinzon và Alonso de Hojeda. Ovando không được ban những chức vị Phó vương và Đô đốc nhưng việc đề bạt ông có ý nghĩa là quyền lực và những đặc quyền của Colombo đã đổ vỡ dứt khoát. Nhượng bộ duy nhất mà Colombo đạt được là một lệnh cho Bobadilla cung cấp một bản kiểm kê tài sản của ông và quyền được cử một người ông tin cậy đến Hispaniola, trong đoàn tàu của Ovando, để thu lượm phần lợi nhuận buôn bán và khai mỏ vàng của ông. Colombo đã chỉ định người thuyền trưởng trung thành, Alonso Sánchez de Carvajal và ông này đã hoàn thành sứ mệnh một cách khéo léo, chu đáo và có hiệu quả.
Ovando rời Cadice ngày 13 tháng 2-1502. Vào lúc này Colombo sẽ khôn ngoan hơn nếu ông bằng lòng với những hàng hóa ông đã có được và từ bỏ các quyền của mình để đổi lấy một địa vị chắc chắn, đàng hoàng, có lẽ một khoản lương hưu lớn và một lâu đài mà Vua và Hoàng hậu sẽ cho ông tại Vương quốc Granada mới được chinh phục. Nhưng Colombo không phải là con người làm như vậy; giả thiết nếu bản chất của ông là như thế thì ông đã không phát kiến ra châu Mỹ.
Chú thích:
(1). Chức vụ đứng đầu cơ quan hành pháp, hoặc tư pháp một địa phương.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.09.2021 19:17:04 bởi Ct.Ly>
35. CHUYẾN ĐI THỨ TƯ: "ĐỂ HOÀN THÀNH
VIỆC CHƯA HOÀN THÀNH"
 
 
Colombo không về nghỉ ở một lâu đài và hưởng của cải ông đã kiếm được. Trong tâm trí ông, không có chỗ cho bất cứ nơi nào, ngoài thế giới mà ông đã phát kiến. Ông bị ám ảnh bởi ý nghĩ ông đã không thực hiện đầy đủ giấc mộng của mình, kế hoạch ban đầu của mình. Hiện giờ ông bận tâm làm sao hoàn thành được công việc chưa hoàn thành là cuối cùng phải tới được Ấn Độ. Ý nghĩ này luôn theo đuổi ông Và như vậy Colombo nghĩ đến thực hiện cuộc phát kiến cuối cùng, một cuộc thăm dò mới về biển cả, lúc này không còn gì là mới nữa, bao quanh những đảo và đất liền bên kia Đại Tây Dương. Ông đã trông thấy ở bên kia Đại Tây Dương về phía Nam đường xích đạo, một lục địa khổng lồ, đẹp. Và cũng có đất ở bên kia Đại Tây Dương, phía Bắc đường xích đạo; những người Taino ở Hispaniola, Giamaica và Cuba đã nói về vùng đất ấy, và họ không nói dối. Bây giờ tin tức đã tới Tây Ban Nha nói rằng một người Liguria, vào quốc tịch Anh, tên là John Cabot, đã phát hiện ra đất liền trên vĩ độ nước Pháp. Nếu tất cả những vùng đất này thực sự nằm trên rìa phía đông châu Á - như người ta vẫn tưởng - thì phải có một lối đi sang Ấn Độ Dương ở một nơi nào đó.
Người châu Âu một thời đã tin là có một eo biển ở rìa cực Đông-Nam của châu Á. Đó là eo biển Cattigara (ngày nay là Eo biển Malacca) giữa bán đảo Mã Lai và Sumatra, con đường biển ngắn nhất, thực tế là con đường duy nhất, cho tàu bè qua lại từ biển nam Trung Hoa (ngày nay chúng ta biết là một phần của Thái Bình Dương) tới vịnh Bengal và Ấn Độ Dương. Eo biển dẫn đến Ấn Độ phải ở một nơi nào đó Điều đó vẫn là một vấn đề bí ẩn, một vấn đề làm lao tâm khổ trí hơn bao giờ hết. Cuộc đi biển lần thứ tư sẽ được thực hiện không phải để tìm ra những vùng đất mới. Cuộc đi đó phải có một mục tiêu duy nhất: phát hiện ra eo biển giữa biển Trung Hoa với Ấn Độ Dương và tới Ấn Độ.
Một sự phát triển mới quan trọng đã làm dự án được chú ý nhiều về mặt chính trị: Người Bồ Đào Nha đã tới Ấn Độ bằng cách đi tàu biển về phương Đông. Đầu tháng 9-1499 đầu tàu nhỏ của Vasco da Gama ra đi hai năm trước, lại vào Tago và đến Calicut của Ấn Độ, thị trường hương liệu nổi tiếng. Mặc dù dài, con đường này đã mở rộng và đầy hứa hẹn. Kết quả việc làm của Colombo không được hâm mộ vì việc tìm ra con đường ngắn dễ dàng, đi về phương Tây và tới Ấn Độ trước người Bồ Đào Nha không có gì lôi cuốn. Tuy nhiên Colombo không bỏ ý định. Ông đã viết thư cho Đức Giáo hoàng yêu cầu có những thầy tu để dạy Kinh Phúc Âm cho người Anh-diêng, hy vọng Đức Giáo hoàng có thể thuyết phục những nhà vua Công giáo cung cấp tàu biển cho ông. Nhưng Alexander VI đang có những vấn đề khác để toan tính. Rồi Colombo viết một luận án ngắn về nghệ thuật đi biển, dưới hình thức một bức thư gửi cho Vua và Hoàng hậu. Mục đích của ông là thuyết phục Vua và Hoàng hậu tin cậy ông và cho ông những tàu biển.
Colombo đã không thành công bằng những phương pháp gián tiếp này. Ông chỉ thành công khi ông quyết định thảo ra một kế hoạch chi tiết về một chuyến đi mới. Ông đã làm như vậy trong một giác thư đề ngày 26 tháng 2-1502, không may hiện nay đã thất lạc. Tuy nhiên để tưởng tượng bức giác thư đó chứa đựng những gì: một đề nghị tìm eo biển đi từ biển Trung Hoa đến Ấn Độ Dương; Colombo đã vẫn coi biển Ca-ri-bê là biển Trung Hoa. Vua và Hoàng hậu trả lời tán thành ngay tức khắc. Một mặt Vua và Hoàng hậu muốn thoát khỏi con người bây giờ đã trở thành một gánh nặng đối với họ; mặt khác họ nghĩ rằng có lẽ chỉ một người thông minh như Colombo mới có thể giúp họ đến được vùng Ấn Độ mà người Bồ Đào Nha đã tới. Thế là ngày 14 tháng 3-1502, Vua và Hoàng hậu đã đồng ý rõ ràng đối với chuyến đi thứ tư của Colombo. Trong một bức thư lịch sự và tâng bốc, Vua và Hoàng hậu nói rằng việc bỏ tù Colombo làm cho họ đau buồn; họ muốn và cần ông luôn luôn được đối xử trong vinh dự, không ai được đụng đến những đặc quyền của ông và, nếu cần thiết, phải được khẳng định để ông và những người thừa kế của ông có thể hưởng thụ một cách tự do. Tuy nhiên, trước mắt Colombo đã không thể thực hiện những chức năng đáng lẽ có thể thực hiện do những đặc quyền của ông - điều này không được nói rõ nhưng có hàm ý một cách rõ ràng.
Trong bức thư Vua và Hoàng hậu không nêu mục đích cơ bản của chuyến đi là tìm con đường đi đến Ấn Độ. Nhưng một bức thư gửi cho Vasco da Gama "thuyền trưởng của Vua Portugal hết sức trong sáng, con của chúng tôi" được trao cho Colombo, nói một cách rõ ràng rằng Đô đốc "Cristóbal Colón" (tức Cristoforo Colombo) cùng đi tới cùng một nước, bằng cách đi về phía Tây, "và có khả năng ông sẽ gặp Gama trên đường đi". Như vậy chắc chắn Vua và Hoàng hậu đã đồng ý dự án tìm ra một eo biển và trở về Tây Ban Nha bằng con đường của Gama.
Để tránh những cuộc xung đột mới và có thể tiên đoán được, Colombo bị cấm đổ bộ tại Hispaniola trên chặng đi ra của cuộc vượt biển này. Chỉ trong trường hợp cuộc đi tỏ ra không thành công và Colombo phải quay trở về bằng con đường mà ông ta đã đến, ông mới được phép dừng lại tại Hispaniola, và chỉ "khi có vẻ cần làm như vậy", Từ điều kiện này, có thể hiểu là nếu kế hoạch không thất bại và nếu Colombo không buộc phải trở về bằng con đường Hispaniola, thì kế hoạch đó không chỉ tìm ra con đường đi sang Ấn Độ mà còn đi vòng trái đất nữa (những nhà sử học đã không chú ý đầy đủ đến điểm này). Đúng như thế!
Việc chuẩn bị cho chuyến đi thứ tư đã tiến hành với tốc độ khác thường và ngày 9 tháng 5 năm 1502, một hạm đội nhỏ gồm bốn tàu đã đi từ Cadice. Có 150 người, trong đó có người con trai của Colombo, Fernando, mười ba tuổi và Bartolomeo. Diego đã chán ngấy những sự kiện trên đảo Hispaniola nên đã chọn cuộc sống tôn giáo và ở lại Tây Ban Nha. Cuộc vượt biển này là cuộc đi nhanh nhất trong tám lần Colombo đã thực hiện. Chỉ sau mười sáu ngày, ngày 15 tháng 6 ông đã đến St. Lucia tại quần đảo Tiểu Antilles. Từ đó ông đã tới Martinino (Martinique); tại đây thủy thủ được lên bờ để giặt quần áo, nghi ngơi và bổ sung nước, gỗ và thức ăn. Ba ngày sau, bốn tàu đã đi.
Đi dọc theo bờ biển vòng cung quần đảo Tiểu Antilles, ngày 24 tháng 6 họ đã tới ngoài khơi bờ biển phía nam Puerto Rico. Ngày 29 tháng 6, họ ở ngoài khơi Santo Domingo. Colombo biết việc Vua và Hoàng hậu cấm đổ bộ lên Hispaniola, nhưng ông lấy lý do ông phải đổi một chiếc tàu tỏ ra chậm và cột buồm không tốt. Đây là trường hợp tiêu biểu về hoàn cảnh ép buộc, điều mà thủy thủ gọi là bị ép buộc dừng lại. Tại Santo Domingo có sẵn một số tàu. Nếu Colombo không thể đổi chiếc tàu, ông sẽ mua, hoặc thuê một chiếc khác bằng tiền riêng của ông.
Từ trước đến giờ tôi đã theo việc kể lại cuộc đi do Don Fernando và Las Casas cung cấp. Tuy nhiên, ta không khỏi nghi ngờ rằng Colombo nói quá sự thật để có thể đặt chân lên thủ đô của những vùng Đất Mới, những vùng đất mà "do ý chí của Chúa và bằng lao động cực nhọc, ông đã chinh phục cho đất nước Tây Ban Nha". Có một lý do khác nữa khiến ông muốn dừng lại tại Santo Domingo: Ông đã cảm thấy một cơn bão sắp đến. Về cơn bão này tôi sẽ đề cập đến ở chương cuối,  nói về tài đi biển của Colombo. Bây giờ chúng ta quan tâm đến ngày 29 tháng 6. Vào ngày đó, Colombo đã ra lệnh dừng, không thả neo, tại một hải lý ở bên ngoài cảng Santo Domingo. Colombo cử Pedro de Terreros trung thành lên bờ; trong chuyến đi thứ ba, cũng Pedro de Terreros đã được cử lên bờ, ở Paria trên đất liền để chiếm lĩnh cho các vua Công giáo, khi Colombo bị ốm vì bệnh thấp khớp và viêm mắt.
Terreros trở về với một câu trả lời thô bạo. Lệnh của nhà vua là không được đổ bộ lên Hispaniola và Ovando không có ý định vi phạm điều đó. Colombo tức điên người. Tuy nhiên qua Terreros ông biết rằng hầu hết ba mươi hai chiếc tàu đến với Ovando đang ở trong cảng, sẵn sàng đi về Tây Ban Nha, chở nhiều vàng, Colombo đã gửi một bức điện, nói rằng việc xuất phát của họ cần hoãn lại ít nhất tám ngày vì một trận bão lớn sắp xẩy ra. Không thể vào cửa sông Ozama để tránh bão, nay là hải cảng Santo Domingo; Colombo lo lắng tìm nơi trú ẩn khác cho bốn chiếc tàu của ông cách đó một vài dặm về phía Tây, dọc theo bờ biển, tại một nơi được bảo vệ từ phía Bắc và phía Tây.
Tất cả bốn chiếc tàu của ông đều qua khỏi trận bão và Colombo lại khởi hành ra biển. Ông định đi vào vùng chưa được khảo sát của vùng Biển Ca-ri-bê, đinh ninh rằng đi về phía Tây ông sẽ tìm thấy lục địa, và đi dọc bờ biển lục địa đó cuối cùng ông sẽ tìm thấy eo biển đi đến Ấn Độ Dương và những vùng India. Ông không còn quan tâm tới Cuba, Giamaica cũng thế. Tuy vậy ngày 17 tháng 7, trong cảnh yên tĩnh phẳng lặng, dòng nước biển đã đưa những con tàu đi về phía Nam Đông Nam tới rìa phía đông đảo Giamaica, những Núi Xanh (Blue Mountains) lộng lẫy hiện ra trong phạm vi tầm nhìn. Từ đó gió Đông-nam và dòng nước xích đạo đã đẩy những con tàu về phía Tây-bắc. Nhưng ngày 27 tháng 7 gió bắt đầu thổi từ Đông-bắc, và những con tàu đã đi 360 dặm trong 3 ngày, khi một thủy thủ trông thấy một ngọn núi xanh đẹp. Đó là đảo Guanaja, trong vịnh Honduras. Những tên cướp biển người Anh định cư trên đảo từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đã xây dựng thủ đô của họ trên những cọc trong phá nước mặn để phòng thủ khi bị tấn công. Tại đó, ngày nay vẫn còn dân cư.
Thành phố Guanaja hiện nay trông giống như một Venizia thu nhỏ, những nhà gỗ, theo một kiểu kiến trúc đặc sắc lai Anh. Trên đảo không có nhà ở, chỉ có nghĩa địa, bạn bè và gia đình đưa người chết đến đó trong một đám rước trên thuyền. Ngày nay như thế và thời của những tên cướp biển cũng như thế. Khi người Tây Ban Nha bắt đầu những cuộc lùng sục trừng phạt, những tên cướp biển đưa phụ nữ, trẻ em, những đồ châu báu và thức ăn của họ lên những chiếc thuyền, đi theo eo biển tới bờ biển phía Bắc, Playa de los Soldados. Trên cạnh phía Tây của đảo có một cái dốc rất phù hợp cho sự phòng ngự lâu dài, cao hơn một nghìn ba trăm thước Anh, có rừng, hang động, vịnh nhỏ, những con suối và cây ăn quả.
Bartlomeo đã đổ bộ lên đây ngày 31 tháng 7 năm 1502. Colombo bị bệnh thấp khớp nên ở lại trên tàu. Cùng ngày đó một chiếc thuyền độc mộc lớn đục từ một cây gỗ có kích thước khổng lồ đã đến vịnh, nơi các tàu Tây Ban Nha thã neo. Chiếc thuyền này dài bằng một chiếc thuyền buôn và rộng tám thước Anh, có nơi trú ẩn cho phụ nữ, trẻ em và cả hàng hóa khỏi bị nước biển và mưa. Hơn bốn mươi người trên thuyền, hai mươi nhăm người đàn ông, cộng với phụ nữ và trẻ em như Don Fernando nói trong cuốn Lịch sử. Hàng hóa của chiếc thuyền gồm có những chiếc áo khoác bằng lông và những sơ mi lớn không có tay, mẫu mã kỳ kạ, màu sắc sặc sỡ, những chiếc khố có màu sắc lòe loẹt, giống những chiếc khố ở Granada; những thanh kiếm bằng gỗ cả hai lưỡi đều có chạm đá lửa, hoặc đá núi lửa sắc như thép; những chiếc rìu và những cái chuông, những lưỡi dao cạo và dao thái bằng đồng; những cán bễ và lò để làm đồng; và những rìu nhỏ bằng đá, màu vàng sáng loáng có chuôi bằng gỗ. Những sản phẩm này rõ ràng là của một nền văn hóa tiền tiến hơn mọi thứ mà Colombo đã phát hiện trong những chuyến đi biển trước. Thức ăn trên thuyền cũng giống thức ăn ở Arawak – ngô, khoai lang, củ từ - nhưng một cái mới là đồ uống ủ men có mùi bia của Anh. Và nhất là có nhiều lạc "hạnh nhân ca-cao" mà những người trên thuyền lớn dùng làm tiền để buôn bán với những người Anh-diêng ở trong làng.
Kích thuốc và cách trang trí nổi bật của chiếc thuyền, số lượng sản phẩm, sợi dệt, kỹ xảo về đồng, đá và gỗ, việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi - tất cả những điều này cho ta thấy đại thể một nền văn hóa rất khác những nền văn hóa đã gặp trước. Cuối cùng Nhà Phát kiến đã thấy những dấu hiệu của một nền văn hóa lớn. Đàn ông, đàn bà và trẻ em trong chiếc thuyền lớn là những người Maya, chính xác là những người Chontal Maya. Họ sống ở góc Đông-Nam của Vịnh Campeche; vịnh này tách Yucatán khỏi phần còn lại của Mê-hi-cô. Quen với việc tìm một cách dể dàng đường đi trong cái mê hồn trận đường thủy và những bãi lầy, những người Chontal Maya sử dụng thuyền rất thành thạo. Vì thế những người Aztecs gọi đất của những người Maya là "Xứ sở của thuyền độc mộc".
Họ hoạt động ở vùng biển bán đảo Yucatán. Hàng hóa của họ vận chuyển trên đất liền từ những cao nguyên của Mê-hi-cô tới những cảng của Tabasco, một trong những bang của Mê-hi-cô (Mexico) hiện nay vẫn có những người Maya sinh sống. Tại đó họ chở đầy những thuyền Iớn rồi đi dọc theo bờ biển Yucatán, đi từ Nam đến Bắc trên bờ biển phía Tây và từ Bắc xuống Nam trên bờ biển phía Đông cho đến khi họ đến bờ biển Mopan (ngày nay là miền Nam Belize), Guatemala và Honduras. Ở đây người Chontal Maya có những cơ sở buôn bán, một trong những cơ sở đó là làng Playa de los Soldados trên đảo Guanaja. Những người Chontal Maya mang hàng của họ đến đây và trước hết đổi lấy ca cao từ đất liền Honduras.
Những mặt hàng bằng đồng trong chiếc thuyền lớn có lẽ từ miền trung Mê-hi-cô đến, sợi là những sản phẩm của Yucatán, có được thông qua việc đổi hàng lấy hàng trên dọc đường. Nhưng như Colombo đã nhận thấy nếu tất cả những hàng hóa này chỉ rõ "của cải, nền văn minh và công nghiệp" cho tới lúc đó chưa biết, ca-cao (nói đúng hơn là hạnh nhân ca-cao) đáng được bàn riêng. Colombo nhận ra tầm quan trọng của việc tìm ra ca-cao hay không? Rõ ràng không. Người ta có thể nói Colombo đã tìm ra ngô, hạt tiêu, khoai lang, sắn, dứa và nhiều cây khác nhưng không nói đến ca-cao, vì ông đã không nhận thấy tầm quan trọng của cây đó. Colombo cũng như những người cùng đi với ông trong chuyến đi thứ tư đều không mang về tin tức gì về loại cây đó cho thế giới Công giáo. Tin đó chỉ đến với cuộc chinh phục Mê-hi-cô của Tây Ban Nha mấy năm sau.
Colombo rất muốn thay đổi một phần những kế hoạch của ông và theo những người trong thuyền độc mộc. Nếu ông làm như vậy thì ông đã tới được Yucatán, và ông đã được thấy những đài kỷ niệm và phát hiện ra nền văn minh Mê-hi-cô, cùng với nền văn minh Peru, có sức hấp dẫn lớn đối với nước Châu Mỹ ít nhất trong ba thế kỷ. Ông đã không làm điều mà những nhà sử học cho rằng ông nên làm. Ông nghĩ sau này ông có thể dễ dàng đến thăm đất nước mà những người trên ca-nô đến đây đã lợi dụng gió xích đạo thổi từ Cu Ba đến nước đó. Bây giờ ông có ý định tìm con đường sang Ấn Độ Dương, việc này ông chỉ có thể thực hiện bằng cách đi xa hơn về phương Nam. Trong thời tiết tốt, người ta có thể trông thấy bờ lục địa từ đảo Guanaja. Colombo phải đi theo dọc bờ biển đó nếu ông muốn tìm đường sang Ấn Độ, điều ông đã từng mong ước thiết tha. Vì vậy ông chỉ mua được hàng hóa của những người Maya có trên thuyền, bán những chiếc chuông nhỏ thông thường, những gương soi nhỏ và những đồ vật không có giá trị khác. Colombo ngạc nhiên vì sự khiêm tốn của những người phụ nữ, họ không giống những người đã gặp trước đây, họ ăn mặc kín đáo, thậm chí che mặt như những tín đồ Hồi giáo ở đảo Granada,
Colombo ra lệnh cho người của ông phải tôn trọng họ. Ông cưỡng bức giữ người chỉ huy chiếc thuyền lại, một ông già tên là Giumbe, sau đặt tên lại là Juan Pérez. Ông ta thông minh nhanh nhẹn nên trở thành một phiên dịch viên rất hữu ích.
Trong tuần lễ thứ hai của tháng 8-1502, sau khi đi qua nhiều đảo lớn và nhỏ, cuối cùng Colombo đã tới lục đja Bắc Mỹ. Những người dân à đây mặc những chiếc áo nhuộm màu không có tay và "những chiếc khố nhỏ ở những phần kín của cơ thể họ". Nhưng chi tiết có ý nghĩa nhất là những chiếc áo chẽn mặc sát người, hoặc áo vét-tông có nhồi bông dày, Don Fernando gọi đó là những "áo giáp bằng bông". Những áo chẽn này - không trông thấy trong ba cuộc đi biển lầnn trước , ở trên những đảo Ca-ri-bê (Caraïbes) cũng như ở Venerucla . cũng giống những chiếc áo do những người đàn ông trên chiếc ca-nô tại Guanaja mặc và bán. Những áo đó là dấu hiệu của một nền văn minh tiên tiến, nền văn minh Maya, trải rộng trên một diện tích đáng kể trên lãnh thổ nước Cộng hòa Honduras ngày nay - Copán là một trong những địa điểm khai quật khảo cổ lớn về người Maya - nửa đường tới bờ biển Đại Tây Dương của Honduras. Theo Don Fernando, đường biên giới giữa nền văn hóa Maya và những người man rợ là vùng Punta Caxinas, ngày nay là Caô (Caos) Honduras và Trujillo (Thành phố thứ ba của xứ Perou).
Ngày Chủ nhật, 14 tháng 8 năm 1502, những tàu biển đã thả neo tại cửa một con sông lớn. Colombo bị ốm. Bartolomeo đi lên bờ "với những lá cờ, những thuyền trưởng và nhiều thủy thủ để dự lễ Misa". Ngày thứ tư tiếp theo, 17 tháng 8, người Tây Ban Nha chính thức chiếm quyền sở hữu dưới danh nghĩa Vua và Hoàng hậu Công giáo. Lần này Colombo biết đó không phải là một hòn đảo mà là một lục địa. Như vậy chính ở Honduras nước Tây Ban Nha đã nhận quyền cơ bản đối với toàn bộ Trung Mỹ nhờ có Colombo và Bartoloneo. Sau khi chiếm quyền sở hữu, người Tây Ban Nha ra đi, quay mũi thuyền về hướng Đông. Đáng lẽ họ phải đi dọc theo bờ biển tới một mũi đất, tại đó bờ biển quay về hướng Nam - như Giumbe đã nói và những người Anh - diêng khác khẳng định. Làm như vậy không khó, nhưng lần thứ hai, Colombo đã phải đương đầuu với một chuyến đi dọc theo bờ biển chật vật nhất trong lịch sử hàng hải. Lần thứ hai nhưng trong những bối cảnh hoàn toàn khác. Tháng 12 năm 1493 họ phải đậu tại chỗ ở phía Bắc đảo Haïti, còn chuyến đi dọc bờ biển Honduras vào tháng 8 và tháng 9 năm 1502 thì quanh co vì lý do ngược lại: bão liên tiếp không dứt. Đi 170 dặm hết 26 hay 28 ngày.
Chỉ đến ngày 12 tháng 9, những chiếc tàu mới tới một nơi bờ biển hạ thấp xuống phía Nam hàng trăm dặm. Chỗ này bây giờ vẫn còn gọi là Capo Gracias a Dios ("Mũi đội ơn Chúa"), một cái tên chỉ có kinh nghiệm của Colombo mới biện hộ được. Colombo cảm ơn Chúa vì những cơn bão và gió ngược chiều cuối cùng đã hết và bờ biển quay về phương Nam. Ông đã có ý định đi về hướng Nam nên ông quyết định không đi theo chiếc ca-nô của người Maya khi nó quay trở về. Mục tiêu thèm khát của ông là tìm thấy eo biển ở phương Nam.
Đi vòng mũi Gracias a Dios, những tàu đi dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Nicaragua ngày nay. Chúng theo bờ biển, vượt qua biên giới giữa Nicaragua và Costa Rica ngày nay. Ngày 25 tháng 9, tới bờ biển Đại Tây Dương thuộc Costa Rica nhiều núi non, một vùng mà người Anh-diêng gọi là Cariai. Tại đây, họ dừng lại, được che chở bởi một hòn đảo đầy ánh nắng có những cây chiêu liêu(1) và cây cọ bao phủ. Colombo đặt tên đảo là Huerta ("Vườn cây ăn quả") và quyết định ở lại một thời gian để chữa tàu và cho những người trên tàu nghỉ ngơi. Hải cảng Limon là cửa ngõ của Costa Rica và nơi buôn bán ở Đại Tây Dương. Hòn đảo Colombo đặt tên là La Huerta nằm trong vùng vịnh Limon. Đảo đó gọi là Uva ("Nho") hay Uvita trong nhiều thế kỷ, đến năm 1985 tên do Colombo đặt lại được phục hồi.
 
Cũng như ở Guanaja, Colombo đã tới ngưỡng cửa của một xã hội tân tiến. Trên những cao nguyên một nền văn minh đặc sắc đã nảy nở, một trong những nền văn hóa Trung Mỹ trong thế kỷ XV đã đạt đến trình độ phức tạp về công nghệ và cũng có những cơ cấu xã hội phát triển cùng sự tiến bộ về trí tuệ - ngày nay là trung tâm của một trong những quốc gia tiến bộ nhất tại Tân Thế Giới, ở đây lần đầu tiên trên đất Mỹ người ta thấy một ngôi nhà hàng gỗ lớn và những ngôi mộ xây dựng với kỹ xảo tinh vi. Lời bình luận của ông có ý nghĩa: "Những người Anh - diêng này thông minh hơn bất cứ những người nào khác tại những vùng đất đó".
Tất cả những điều này quan trọng đối với lịch sử cuộc phát kiến vĩ đại nhưng không quan trọng đối với tiểu sử Colombo. Ông đã viết thư cho Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha: "Trên đồi, tôi đã trông thấy một ngôi mộ to như một ngôi nhà, tất cả đều chạm trổ, tôi còn nghe nói đến những tác phẩm nghệ thuật ưu việt khác". Chỉ hai dòng, tuy nhiên ông đã để mười dòng để diễn đạt một cuộc đấu giữa một con lợn (thực tế là con lợn lòi) và một con khỉ đột. Việc phát hiện những dấu hiệu về nền văn hóa tiền tiến nhất tại những vùng Đất Mới không làm cho Colombo xúc động, vì ông khăng khăng trong niềm tin rằng ông vẫn ở châu Á và tìm ra những dấu hiệu về nền văn minh châu Á thì không có gì lạ. Marco Polo đã tìm thấy nhiều nền văn minh hơn và những nền văn minh đó tốt đẹp hơn nhiều; ông sẽ tìm thấy như vậy. Nếu những phát kiến mới dẫn đến một cái gì thì đó là trái với điều mà những nhà sử học hiện đại mong chờ. Colombo giải thích những dấu hiệu này để khẳng định thêm rằng ông đang ở châu Á, vì vậy chúng tăng cường thêm quyết định của ông tiếp tục đi dọc theo bờ biển để cuối cùng tới eo biển dẫn đến vịnh Bengal và Ấn Độ.
Chú thích :
(l). Bản tiếng Anh ghi: Myrobalans,
- Bản tiếng ý: Mirabolani.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.09.2021 22:14:04 bởi Ct.Ly>
36. CHIRIQUÍ: GIẤC MỘNG TAN VỠ
 
 
Khi tới Laguna di Chiriquí, Colombo cảm thấy cuối cùng ông ta đã tìm ra eo biển. Vịnh Cerabora chưa phải là biển cả dẫn đến một phần khác của đại lục và cũng chưa phải là vịnh Bengal. Nhưng có những dấu hiệu rõ ràng là có eo biển xuất phát từ đó; và người Anh-diêng đã nói rõ và ra hiệu qua hai người phiên dịch, rằng ở phía Tây có biển. Colombo cảm thấy vui hơn là hy vọng, ông có thể nếm được thắng lợi của mình sau tất cả sự lường trước đầy lo lắng.
Sự phát triển trên đảo Cerabora (ngày nay là Isla de Colón) có vàng, vàng nguyên chất, mười tám ka-ra hay cao hơn, đã làm cho những ngày mệt nhọc đó thêm vui mừng và thắng lợi. Không phải họ chỉ tìm thấy vàng. Don Fernando và Las Casas nói rằng: "Trong kênh họ bắt được rất nhiều cá, và trên bờ rất nhiều động vật", cũng như thu lượm một số lớn "những thứ ăn được", trong đó có những con kỳ nhông, ngô và hoa quả.
Những con tàu của Colombo ra đi ngày 8 tháng 10 để tìm eo biển dẫn đến dại dương khác. Họ đã tìm thấy eo biển đó, có lẽ nhờ những chỉ dẫn của người bản xứ. Thực ra họ đã tìm thấy hai eo biển.
Sunwood và Split Hill. Eo biển thứ nhất dài, hẹp và sâu nhưng bị tắc nghẽn vì những cây đước - hay ít nhất ngày nay mới như thế; Split Hill rộng và thoáng đãng hơn. Don Pernando nói rằng: "Tàu đi giữa những đảo nhỏ, tựa như chúng đang đi dọc các phố. Eo biển hẹp đến nỗi lá cây quệt vào thừng chằng cột buồm và buồm của tàu. "Những tên Anh là do người da đen ở Giamaica, hoặc những tên cướp biển thế kỷ thứ XVII đặt cho. Hiện nay Vịnh Cerabora gọi là Bahía de Almirante với những đảo nằm chằng chịt dày đặc và trở thành nơi ẩn náu lý tưởng cho những tên cướp biển.
Theo ngư dân địa phương, eo biển Split Hill sâu từ mười đến bốn mươi thước Anh. Từ Bahía de Almirante eo biển này chạy theo hướng Bắc-tây-nam, có một số bờ cát không nguy hiểm vì người ta có thể trông thấy chúng ở bên phải, hoặc trên đất liền. Eo biển sâu, tàu có thể qua được ở bên trái, hoặc chạy sát đảo. Bờ bên này cao và dốc hơn, có cây cao dày đặc bao phủ. Việc nghiên cứu nhiều tài liệu đã cho tôi có những cảm giác mà cách đây năm thế kỷ chắc Colombo thể nào cùng phải có, vì nó chỉ thay đổi chút ít. Một số lùm cây đước có lẽ đổi khác đi, nước có lẽ sâu hơn hay nông hơn ở nhiều chỗ. Theo hoa tiêu của tôi, cách đây mấy năm, eo biển Split Hill không rộng như bây giờ ở đầu Tây-nam. Nơi ngày nay là một bờ cát thì trước đây là một mũi đất có những cây đước bao phù. Vùng xung quanh cũng như thế. Thời gian và nền văn minh đã không làm thay đổi hai phá nước mặn và những vùng xung quanh đẹp đẽ này. Những thứ mới duy nhất là những cây dừa và những cây muỗm, nhưng chúng bị che khuất trong đám cây dày đặc, chằng chịt, tất cả vẩy gọi như với ma thuật của vùng biến Ca-ri-bê .
Tàu đi giữa những đảo nhỏ và những cây đước dọc theo rìa phía Nam của Bahía de Almirante và cuối cùng đi vào eo Split Hill. Ta có ấn tượng như đã rời biển cả và đi vào một vùng chưa bao giờ biết. Nhưng bỗng nhiên ở bên kia, ngọn đồi như tách ra, ở phía ngoài những cây cao và những cây đước thấp, xuất hiện một phá nước mặn rộng lớn khác. Ngày nay phá đó gọi là Laguna de Chiriquí. Nó rộng khoảng mười lăm dặm và dài khoảng ba mươi dặm; nước màu xanh da trời, hơi xanh lá cây và mặn như nước đại dương. Những ngọn núi màu xanh lá cây thẫm bao quanh phá nước, màu xanh lá cây thẫm của những đỉnh rừng nhiệt đới. Những ngọn núi thuộc dẫy Cordiglera Central, đỉnh cao nhất 11.400 thước Anh. Người ta rất khó trông thấy những đỉnh núi vì mây dày đặc. Tháng 10, Colombo đang ở đó, thời tiết thường tốt hơn những tháng khác trong năm. Lượng mưa trung bình hàng năm trong thời kỳ 1920-1980 là 100 inh. Lượng mưa đó đã có lúc cao tới 146 inh (năm 1950) và 155 inh (năm 1970). Tháng ẩm ướt nhất là tháng 12 (trung bình 13 inh), tháng khô nhất là tháng 9 (trung bình 4 inh), nếu người ta có thể gọi đó là tháng khô nhất vì độ ẩm luôn luôn rất cao.
Ta có thể nói rằng Colombo đã may mắn đến đó trong thời tiết tốt. Nhưng ngay cả trong khi trời hoàn toàn trong Colombo vẫn không nhận thấy rằng đó chỉ là một phá nước mặn. Ngày nay chúng ta biết đó là phá nước mặn, mở về phía Đông và đóng kín về phía Tây, nhưng Colombo không thể không bị lừa bởi vì trong khi nước Bahía de Almirante yên tỉnh, thì nước ở Laguna de Chiriquí sóng động và mặn như đại dương. Khi thủy triều xuống, những đợt sóng chuyển động từ Tây sang Đông, làm ta có ấn tượng là phá quan hệ với biển cả không những về phía Đông mà cả về phía Tây. Trong một vài ngày - hay một vài giờ - Colombo hy vọng rằng ông ta đã tìm thấy đường sang Ấn Độ. Đó là ngày 8 tháng 10 năm 1502. Gần tới ngày mười năm về trước Colombo đã trông thấy những dấu hiệu chắc chắn đầu tiên về đất liền ở bên kia Đại Tây Dương.
Colombo để ít nhất hai ngày, có lẽ ba ngày, để khảo sát những bờ cát của phá nước mặn bằng thuyền, đi tìm một eo biển giữa những ngọn núi trông thấy về phía Tây và phía Nam. Colombo, một thủy thủ lão luyện đáng lẽ phải nhận thấy ngay rằng phá nước mặn không phải là Ấn Độ Dương. Nhưng không có một con đường thông giữa những ngọn núi đó với Ấn Độ Dương hay sao? Colombo đã có kinh nghiệm với những con đường khác gần như không thể qua được: tại Địa Trung Hải, eo biển Messina, những eo biển giữa các đảo của biển Egeo, và eo biển giữa Chio và đất liền; trong vùng biển Caribê, những eo biển giữa các đảo Vergini, hai bờ rất gần nhau, vùng nước dễ làm người đi biển mắc lừa giữa Trinidad và Venezuela, eo biển Boca vừa vượt qua cách đây hai ngày và eo biển Split Hill mà ông mới đi qua. Chưa đầy hai mươi năm sau, Magellan đã tới qua một lối đi vào rộng, mà ngày nay gọi là vịnh Punta Arenas ("Điểm Cát"); ông đã tìm thấy eo biển nổi tiếng nhất thế giới giữa hai vách núi.
Năm cửa sông đổ vào phá nước mặn - Uyama, Róbalo, Guarumo, Guariviara và Cricamola - đã được khảo sát từng cửa một. Chỉ một hoặc hai ngày sau, vào ngày 10 hay 11 tháng 10, niềm hy vọng đã bị dập tắt. Không có cách lựa chọn nào khác ngoài việc quay trở lại biển cả, băng qua phá nước mặn lớn có hai lối ra phẳng lặng. Sự thất vọng là, sâu sắc, chua cay và hoàn toàn. Colombo đã bỏ mục tiêu chính của chuyến đi biển thứ tư.
Đây là một thời kỳ quyết định, thời kỳ thay đổi đột ngột trong kế hoạch chiến lược của ông. Thời kỳ này kéo dài mười ngày, từ 6 đến 16 tháng 10 - 1502. Trước đây không một học giả nào về Colombo có thể xác định một cách chính xác thời gian của bước ngoặt quan trọng này trong suy nghĩ của Colombo, đơn giản vì việc đó không thể thực hiện được, nếu không đích thân khảo sát những nơi xẩy ra những sự kiện này. Chỉ bằng nghiên cứu trực tiếp tới mới có thể hiểu những gì đã xẩy ra từ 5 đến 16 tháng 10 - 1502, và những gì đã tiếp diễn trong những ngày quyết định này trong tâm trí của Colombo và những hoa tiêu của bốn chiếc tàu.
Eo biển mà Colombo có thể đi qua để vào vịnh Bengal và từ đó tới Ấn Độ, không ở đó, hoặc ít nhất ông đã không thể tìm thấy eo biển ấy. Do đó, mục tiêu chính của cuộc đi biển đã biến mất. Từ 16 tháng 10 đến 6 tháng 1 - 1503 họ đã để nhiều ngày, nhiều tuần lễ và nhiều tháng đi lại mệt nhọc dọc theo bờ biển Đại Tây Dương thuộc Panama. Vì lúc này Colombo chỉ nghĩ đến vàng; ông muốn thành lập một thuộc địa tại phần giàu nhất của những vùng Đất Mới, càng gần những mỏ vàng bao nhiêu càng tốt. Từ 20 đến 25 tháng 10 ông đã tìm thấy rất nhiều vàng ở gần Veragua. Từ đó ông sẽ trở về. Tại sao ông đã không dùng ở đó vào cuối tháng 10?




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 15.09.2021 15:29:12 bởi Ct.Ly>
37. VERAGUA: VÀNG VÀ CÔCA.
 
Veragua là một trong những sự kiện quan trọng nhất - và ít được biết đến nhất - trong sự nghiệp vĩ đại của Colombo. Veragua là một vùng của Panama nhìn ra vịnh Mosquitos ("Vịnh Muỗi"). Nhiều sông lớn đổ vào vịnh này từ dãy Cordiglera hoang vu và không thể thâm nhập được (ngọn Cerro Santiago cao 9.272 thước Anh). Nước Cộng hòa Panama đã thay đổi khu vực hành chính của họ: Veragua không chỉ ở bờ biển Đại Tây Dương như trong thời Colombo, mà đã vượt quá dãy núi Cordiglera tới Thái Bình Dương. Khi tôi nói về Veragua, tôi chỉ đề cập đến vùng Colombo đã biết bằng cái tên đó. Năm 1536, Bà Maria de Colón y Toledo, thay mặt con trai ià Luis Calón, cháu trai của Colombo, đã từ bỏ những chức tước và đặc quyền mà Colombo luôn luôn tự hào đã có tại "những đảo giữa Bắc và Nam Mỹ của Tây Ban Nha". Để đáp lại Hoàng đế Charles V đã ban cho Don Luis chức quận công Veragua và cho ông lãnh thổ.
Veragua quan trọng vì một lý do duy nhất và không thể chối cãi: Có nhiều vàng. Trong mười ngày cuối tháng 10 - 1502, những người Tây Ban Nha đã tìm thấy nhiều vàng ở đó hơn ở Cibao tại Hispaniola: mười chín "khoảnh" tại Guaiga và mười chín "khoảnh" nữa tại Cateva (gần Santa Catalina ngày nay). Ngoài ra năm làng xung quanh Cobrava, gần cửa sông Rio Veraguas, tất cả đều buôn bán vàng. Lúc đầu những người Tây Ban Nha tìm thấy nhiều vàng ở khắp mọi nơi, rồi sau không còn gì nữa. Không có ở Puerto Gordo ("Cảng béo"), ở Portobelo ("Cảng đẹp"), Puerto de los Escribanos ("Cảng của những Công chứng viên") cũng vậy. Thông tin của một phiên dịch viên người Anh- diêng bắt tại Cariai là chính xác: vùng đất có vàng nằm trong khoảng từ Vịnh Chiriquí đến Rio Belén, Colombo đặt tên như vậy vì ông đã tới vùng này vào ngày 6 tháng 1, ngày Lễ Hiện xuống, sau những cuộc đi lang thang và khó khăn dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Panama: Betlém, (tức Betlemmme), sau này được tỉnh lược thành Belén, và đến nay vẫn được gọi như vậy. Cách Belén khoảng bốn dặm phía Tây, sông Rio Veraguas đổ vào biển. Vàng - nhiều vàng - giải thích tại sao Colombo đã chọn Belén làm nơi lập thuộc địa, một thuộc địa mới để vượt thuộc địa trên đảo Hispaniola mà ông đã bị tước mất. Sự lựa chọn này bị các nhà sử học đánh giá một cách thương hại. Morison gọi đó là "một nơi không thuận lợi". Bradford đồng ý: "Không bao giờ có một nơi định cư thành công cho người Âu ở vùng này... Colombo là một người hoang tưởng. "Thật vậy Colombo không còn là con người trong cuộc đi biển lần thứ nhất. Ông ốm yếu và mệt mỏi, nói năng không mạch lạc và mâu thuẫn. Tuy nhiên ông không điên, và chắc chắn không điên trong việc chọn Veragua. Trước hết, có vàng, nhiều vàng. Ông viết: Một điều tôi dám nói và tôi có nhiều nhân chứng; Tôi đã nhìn thấy nhiều chứng cớ về vàng trong hai ngày đầu tiên ở Veragua hơn là ở Hispaniola trong bốn năm". Và Belén cũng không khó chịu như những nhà sử học chưa từng ở đó mô tả; khi thời tiết tốt Belén là một nơi đáng yêu của vùng biển Ca-ri-bê. Những làn sóng từ Đại Tây Dương gầm thét liên tục trên vỉa đá san hô chỉ để lại một khoảng trống trước  bãi cát. Đây là gờ đá chắn sông, cũng có tên là Benlén, cách cửa sông khoảng hai trăm yard (đơn vị đo chiều dài gần bằng một mét - ND), một phá nước mặn, kín gió và được che cả hai phía bằng những quả đồi có thể bảo vệ dễ dàng.
Tại trung tâm phá có độ sâu khoảng ba mươi thước Anh, hơn hai mươi tàu biển bằng cỡ những chiếc tàu của Colombo có thể bỏ neo dễ dàng ở đó. Cá mập từ ngoài biển cũng có vào và gây nguy hiểm, nhưng thịt cá đó ngon. Tôm hùm cũng ở trong phá nước mặn. Từ phá nước mặn tôi đã đi ngược sông bảy dặm rưỡi, với vô số những chổ gấp khúc, rừng nhiệt đới xanh tốt, nhờ nụ hôn nóng bỏng hầu như hàng ngày, của mặt trời và nhờ mưa lớn. Có ít chim nhưng nhiều hoa và nhiều loại cây - cao, trung bình và nhỏ - với rất nhiều loại quả mùi thơm. Ta có thể đi xa hơn bảy dặm rưỡi trong chiếc thuyền độc mộc, tới những ghềnh thác trong dãy núi Cordiglera.
Mật độ dân số trong thời Colombo chứng tỏ rằng đất lúc đó không phải là khó chịu, cũng như bây giờ nó không khó chịu. Dân số hầu như biến đi, trước hết vì cạnh Tây Bắc của nước Panama bị tách biệt với những luồng buôn bán lớn, cách xa những điểm tiếp xúc giữa những vùng khai mỏ và những vùng nông nghiệp của Thế Giới Mới và Thế Giới Cũ. Vùng này không có những dân tộc từ xa đến để hấp thụ nền văn minh của họ. Vùng đó vẫn bị tách rời ngay cả sau khi độc lập, vì đó là vùng ở ngoài nhất và khó tới nhất của nước Cộng hòa Colombia, sau này là nước Cộng hòa Panama.
Mưa to và liên tục đã bảo vệ Belén và Veragua khỏi sự xâm lăng của người da trắng; thậm chí họ cũng không di dân những người da đen ra đó nữa. Ngược lại, họ bắt nhiều người Anh-diêng quen nghề trồng trọt đất đai và chuyển họ đi nơi khác. Vào giữa thế kỷ này, làng Belén giảm xuống còn 50 người dân, thung lũng chính và những thung lũng của những chi lưu không còn người ở. Với việc sử dụng máy bay và việc hoàn thành những Dự án đặc biệt Đại Tây Dương do Tổng thống Torrijos của Panama đề xương, ngày nay làng Belén đã có 120 cư dân. Từ làng này ngược lên đồi một chút là làng Ciudad de Romero, với khoảng 400 người tị nạn Xan-va-đo. Những học giả về Colombo đánh giá tiêu cực về Belén không phải vì mưa mà vì họ chưa trông thấy làng đó.
Ngày 7 tháng 1, Colombo đã cử Diego Méndez đi xuồng đến cửa sông Rio Veraguas, cách Belén khoảng 6-7 cây số. Méndez đã đo chiều sâu của nước và thấy không đủ nước cho các tàu. Méndez đã chèo xuồng vào bên trong, buôn bán với những người Anh-diêng và mang về cho Colombo hai mươi gương vàng. Tiếng tăm về của cải vô tận của những mỏ ở Veragua là điều có thực. Vì người ta đã đo chiều sâu của con sông Rio Belén, hai tàu đã đi vào sông này ngày 9 tháng 1. Ngày hôm sau hai chiếc tàu khác đi vào lúc thủy triều lên cao và thả neo ở trong phá nước rộng lớn. Người cai trị vùng có mỏ vàng này là một tù trưởng có thế lực, Quibian. Colombo quyết định thỏa hiệp với ông ta và đã cử anh ông là Bartolomeo, đến thăm Quibian. Khi tiếp Bartolomeo, Quibian đội một chiếc vương miện, đeo một tấm thẻ lớn trên cổ, và những vòng ở chân tay, tất cả đều bằng vàng đặc.
Cuộc tiếp đón rất tốt và việc mua bán có lợi. Ngày tiếp theo Quibian "đến những tàu biển đế thăm Colombo và họ nói chuyện hơn một giờ. Colombo cho Quibian một ít quà biếu và những thủy thủ đổi một vài cái chuông để lấy rất nhiều vàng. Không còn nghi lể gì nữa, Quibian trở về bằng con đường mà ông ta đã đến". Don Fernando cho biết như vậy, nhưng Diego Méndez nói rằng có lúc trong cuộc đàm thoại, người tù trưởng chau mày, nhìn xung quanh một cách nghi ngờ, xin lỗi và trở về làng ông; những tàu lạ và vũ khí đã làm ông mất tự tin và e ngại.
Trong khi đó biển lại trở nên xấu hơn. Colombo nghĩ rằng ông ta an toàn ở bên trong gò đá chắn. Ngày 24 tháng 1, một trận bão đổ một trận mưa lớn vào dãy núi Cordigliera với hàng nghìn con suối đưa nước vào sông. Trước khi các thủy thủ nhận ra điều gì đang xẩy ra, Belén đã bị lụt, làm tuột một chiếc tàu ra khỏi neo và đập vào một chiếc tàu khác. Chiếc tàu thứ nhất bị hư hỏng nặng, và một cột buồm bị gãy. Những chiếc tàu khác bị kéo đi dữ dội, đập vào hết bờ này đến bờ kia, có nguy cơ bị vỡ tan. Bằng những cố gắng, thủy thủ đã bảo đảm được an toàn cho tàu và neo chúng lại. Trong mấy ngày tiếp theo, nước rút đi, nhưng cát do sông và sóng biển mang đến, tạo thành cồn cát chặn cửa sông, làm đội tàu bị mắc kẹt bên trong.
Khi thời tiết tốt trở lại Colombo đã cử Bartolomeo đi xuồng với khoảng bảy mươi người khảo sát bên trong và thấy nhiều mỏ vàng. Quibian bị làm rầy rà và đã dùng thủ đoạn. Ông cho một số người hướng dẫn Bartolomeo nhưng bí mật bảo họ đưa vào lãnh thổ của tù trưởng Urira, kẻ thù của ông. Những người hướng dẫn làm theo lệnh, đưa những người Tây Ban Nha đi chặng đường quanh co, trong đó họ đã lội đi lội lại tới bốn mươi lần cùng một con sông. Cuối cùng họ tới một nơi những mạch vàng xuất hiện trên đất, trong đá và rêu. Những người Tây Ban Nha, vui mừng không thể kiềm chế được, họ đã thu lượm vàng theo hết khả năng.
Hình như trong dịp này Bartolomeo đã tới một đỉnh cao hay một đèo thuộc dãy núi Cordiglera. Đỉnh núi cao này có thể là ngọn Cerro Negro (1.518 m), trên sườn phía Đông là những con suối của dòng sông Rio Veraguas. Dù sao chăng nữa những cuộc khảo sát mà tôi đã thực hiện ở đó cho thấy không có một đèo, hay đỉnh núi cao nào ở phần này của eo đất, để từ đó người ta có thể trông thấy cả hai đại dương, ngay cả trong ngày quang mây. Như vậy không phải những mưu kế của những người dân thường đã cản trở không cho người anh của Colombo làm người châu Âu đầu tiên trông thấy Thái Bình Dương từ đất Mỹ. Marco Polo và những người khảo sát khác đã nhìn thấy Thái Bình Dương từ châu Á. Những người dẫn đường đã chỉ cho Bartolomeo không phải đi về phía Nam mà về phía Tây. Ở đó, sau chuyến đi hai mươi ngày, vượt quá chân trời phía Tây, Bartolomeo đã tìm thấy nhiều mỏ vàng. Bartolomeo rất thích thú với việc này, cộng với số vàng chính mắt ông đã trông thấy và do những người của ông thu lượm. Tuy nhiên Bartolomeo biết rằng những người dẫn đường đã dùng mưu kế đưa ông đi xa khỏi lãnh thổ của tù trưởng của họ; vì thế ông muốn sục sạo lãnh thổ của Quibian trước khi trở về các tàu biển. Ông đã thấy nhiều vàng hơn. Không một nơi nào giàu hơn vùng Veragua.
Bartolomeo đã khảo sát từ ngày thứ hai, 6 tháng 2 đến ngày thứ bảy, 11 tháng 2, hay ngày chủ nhật, 12 tháng 2. Vào ngày thứ năm, 16 tháng 2 ông chỉ huy một đoàn khảo sát mới. Theo Dori Fernando:
"Bartolomeo đi vào vùng quê với năm mươi chín người; một thuyền đi biển chở thêm mười bốn người nữa. Sáng 17 tháng 2 họ đến Rio Urira, cách Belén bảy hải lý nữa, người tù trưởng với hai mươi người tùy tùng đã tiếp ông. Người tù trưởng cho nhiều thức ăn và họ bán một số gương vàng. Người tù trưởng và những quan chức của ông liên tục đưa một cây có khô vào miệng và nhai; đôi khi họ bôi bên người một ít bột mà họ mang cùng với cỏ. Có vẻ một thứ  rất ghê tởm... Khi ăn họ luôn luôn nhai một thứ cỏ, chúng tôi nghĩ lý do vì họ bị sâu răng và ruỗng nát.
Cỏ này là cô-ca. Các học giả đồng ý cô-ca có nguồn gốc ở Nam Mỹ; họ chỉ không nhất trí về nguồn gốc chính xác của nó. Một số người cho rằng nguồn gốc của cô-ca là những vùng giáp ranh biển Ca-ri-bê, một số khác cho rằng cô-ca xuất phát từ Amazon và được đưa vào dãy núi Andes dọc theo các dòng sông. Cô-ca có nghĩa là "cây" trong tiếng Aymara. Một điều kỳ lạ là cỏ dược gọi là cây, cỏ ưu việt. Ngày nay người Aymara sống ở rặng núi Andes thuộc Bolivia và Peru, như họ đã sống trong thời đại Colombo. Việc nhai cô-ca và đồ đựng với cô-ca được miêu tả trong nghệ thuật đặc sắc và phổ biến trước thời Colombo. Tuy nhiên người ta chỉ tìm thấy những đồ tạo tác này ở miền Trung Colombo, Ecuador, Peru và Bolivia; còn ở eo đất Panama thì không có. Nhưng vùng tiếp xúc giữa Trung Mỹ và Nam Mỹ có rất nhiều. Hơn nữa khảo cổ học Trung Mỹ đã đưa ra ánh sáng một số đồ dụng nhỏ mà nhà khảo cổ Đan Mạch Olaf Holm muốn xác minh là cái "eliptas", một từ Quechua để chỉ những bình vôi cô-ca.
Vậy thì cô-ca, hay một loại thuốc rất gần gũi với cô-ca, là thứ cỏ mà người Anh-diêng ở Veragua nhai trong miệng; Bartolomeo đã gặp họ ngày 17 tháng 2 năm 1503. Chàng thanh niên Don Fernando cảm thấy cô-ca là một "thứ rất ghê tởm". Hình như đó là một linh cảm, những lá và bột đó sẽ trở thành tai họa cho nhân loại. Không giống người cháu trai của ông, Bartolomeo không bận tâm với cây cỏ mà những người bản xứ nhai với bột. Theo Las Casas, ngày thứ năm, 24 tháng 2, Bartolomeo trở về cửa sông ở Belén trên thuyền chở đầy vàng. Las Casas nói rằng đất đai phì nhiêu, hoa quả phong phú, có những cánh đồng ngô rộng mênh mông và đi tới đâu cũng thấy vàng, người Anh-diêng đeo rất nhiều vòng tay và vòng cổ.
Không có lý do gì để do dự, Colombo quyết định thành lập một thuộc địa mới, Santa María de Belén và giao cho Bartolomeo cai trị. Don Fernando nói rằng thuộc địa đó "ở trên bờ sông, cách cửa sông một quả đồi, ở phía bên kia một cái hào nằm về bên phải khi người ta đi từ sông vào". Ngày nay nơi này có thể xác minh được một cách rõ ràng vì không có gì thay đổi. Quả đồi có rừng rậm bao phủ nằm ở bên trái, phía Tây cửa sông. Giữa quả đồi và gò đất vốn là một phần của rặng núi trong đất liền, một thung lũng hẹp vẫn còn đi vào bờ phía Tây con sông, ở cuối phá nuớc mặn. Hẻm núi mang một dòng suối nước ngọt trong suốt. Dọc theo hẻm núi là một con đường bộ, thỉnh thoảng lại có những bậc cắt vào trong đá; những thủy thủ của Colombo có thể đã cát những bậc ấy bằng những cuốc chim của họ.
Trên dốc ở bên trên hẻm núi, những người Tây Ban Nha xây dựng tám ngôi nhà gỗ lợp bằng lá gồi. Trong mỗi ngôi nhà có mười người ở. Một ngôi nhà khác to hơn chứa đồ tiếp tế của người Âu: dầu, rau, pho mát, dấm, tỏi v.v... Vì có nhiều cá ở biển, thuộc địa sẽ được nuôi dưỡng tốt. Colombo để lại một chiếc tàu cho người anh và chuẩn bị ra đi bằng ba chiếc tàu khác, ông đợi mưa để có thể vượt qua bờ cát. Colombo hy vọng tới Tây Ban Nha nhanh chóng và gửi cho thuộc địa thêm người và đồ tiếp tế.
Lúc này Quibian nhận thấy rằng những người nước ngoài có ý định chiếm đóng vĩnh viễn lãnh thổ của ông nên quyết tâm giết họ và đốt những ngôi nhà và tàu của họ. Nhưng biết lực lượng của Tây Ban Nha mạnh hơn, ông tiếp tục giả vờ tình hữu nghị, chấp nhận những quà biếu của Colombo với sự hài lòng rõ rệt. Trong khi đó lấy cớ chiến tranh với một tù trưởng gần đấy đã làm ông bị thương ở cánh tay, ông tập hợp lực lượng. Hơn một nghìn quân nhân dựng lán trại với ông gần thuộc địa. Đó là chiến tranh, cuộc chiến tranh thứ hai tại châu Mỹ giữa người Tây Ban Nha và người Anh- diêng đầu thời đại Colombo. Cuộc chiến tranh thứ nhất đã xẩy ra trên đảo Haïti.
Colombo lập tức chăm lo việc vũ trang các tàu và tăng cường phòng thủ thuộc địa. Nhưng Diego Méndez và Bartolomeo thuyết phục ông, không để cho kẻ thù có thời gian, làm cho chúng bất ngờ bằng một động tác mạnh dạn, bắt cóc Quibian. Bartolomeo và Méndez, với tám mươi người trang bị đầy đủ, đi xuồng tới Veragua. Họ bắt Quibian cùng với khoảng 50 người thân quyến và đầy tớ, xiềng họ lại và đưa họ lên các xuồng. Trong khi dòng nước đưa thuyền xuôi dòng, Quibian bắt đầu rên la. Người gác ông ta xúc động trước lời than vãn của người tù trưởng, nới lỏng dây trói, nhưng vẫn giữ một đầu dây. Khi người Tây Ban Nha nhìn đi nơi khác, Quibian nhảy xuống nước và biến đi. Người gác không dám giữ dây thừng vì sợ bị kéo theo nên phải bỏ tay ra.
Mọi ngươi nghĩ Quibian bị chết, nhưng mặc dù tay và chân bị trói, ông đã bơi tới bờ. Quibian về tới làng và đợi ngày trả thù. Cơ hội đã đến khi nước sông dâng lên và Colombo quyết định ra đi với ba tàu, để lại tám mươi người, một tàu với Bartolomeo và Méndez như dự kiến. Ba tàu vượt qua bờ cát và đợi gió thuận chiều ở bên kia vỉa san hô. Colombo cử Diego Tristano chỉ huy mười một người, lấy thuyền của tàu Bermuda lên bờ đi kiếm nước ngọt. Đồng thời sáu mươi người từ pháo đài nhỏ rời thuộc địa trên những chiếc xuồng để từ biệt bạn bè. Chỉ còn hai mươi người với Bartolomeo và Méndez ở lại gác những ngôi nhà. Ngày 6 tháng 4 năm 1503, Quibian và bốn trăm người trang bị bằng tên, giáo và gậy ra khỏi rừng rậm và bất ngờ bao vây làng Tây Ban Nha.
Trận đánh này và những trận tiếp theo là những trận đẫm máu nhất trong suốt thời kỳ những cuộc đi của Colombo. Với loạt tên đầu tiên bảy người Tây Ban Nha bị thương, một người bị thương nặng rồi chết. Ném cung sang một bên, những người Anh-diêng tấn công bằng gậy và giáo; những người Tây Ban Nha mặc áo giáp và mang kiếm, đợi họ. Mười chín người Anh-diêng ngã xuống, bị thương vì kiếm và lao; số còn lại rút lui vào rừng, tại đây họ bắn ra hàng loạt tên. Bartolomeo bị thương bởi lao ở ngực và được một nhóm người cùng đi hỗ trợ, đã chiến đấu lại bằng nỏ. Cuộc giao chiến thứ nhất kéo dài ba giờ. Rồi chiếc thuyền của tàu Bermuda do Colombo cử đi tìm nước ngọt đã về. Từ trên bờ, Diego Méndez ra hiệu cho Tristano quay trở lại, nhưng Tristano làm ngơ lời cảnh cáo, vượt qua phá nước mặn, ngược sông, tới một con suối trong chảy vào sông. Ở hai bên bờ, người Anh-diêng núp trong rừng rậm và đi theo. Đến suối, họ bao vây chiếc xuồng và ập vào những người Tây Ban Nha. Bị thương và chảy máu, Tristano cố rút lui khi một chiếc lao lao trúng mắt phải ông, và ông ngã chết trong đáy thuyền. Tất cả những người khác đều bị giết, trừ một người thoát chết vì ngã xuống sông khi bị thương. Bơi dưới nước, người này tới được trại của người Tây Ban Nha và nói với họ về thảm họa.
Chiều tối hôm đó, sáu mươi người đã đi từ biệt đội tàu, trở lại làng. Họ thấy kết quả thê thảm của trận đánh và trông thấy xác chết của đồng đội bị chặt chân tay một cách kinh khủng, trôi trên sông, quạ và chim ưng ăn thịt họ. Vì ít người và một số bị thương, những người Tây Ban Nha đã quyết định lên những chiếc thuyền Colombo để lại và cùng đi với đoàn tàu, nhưng bờ cát lại một lần nữa bịt kín cửa sông; không một chiếc xuồng nào có thể vượt tới biển cả.
Thời tiết xấu kéo dài mười ngày, và khi Tristano không trở lại, Colombo lo ngại về ông ta. Colombo hy vọng người Anh-diêng không tấn công thuộc địa vì có năm mươi con tin ông đang giữ trên tàu. Mỗi buổi chiều tối ông cho nhốt họ dưới hầm tàu và đặt một xích lớn trên của hầm; một số thủy thủ ngủ ngay trên đó. Một đêm người Tây Ban Nha quên xích và đã trải nệm rơm lên trên cửa hầm như thường. Những tù nhân xếp một đống đá dàn lên, rồi đứng lên vai nhau, nâng cửa hầm tàu, lật những người ngủ. Một số tù nhân nhảy xuống biển. Số khác bị bắt lại và khóa lại xuống hầm bằng xích. Trong đêm những tù nhân còn lại, trong đó có những phụ nữ, đã thu lượm những dây thừng trong hầm và treo cổ từ những đầm boong tàu. Họ phải gập đầu gối lại để treo cổ vì không có đủ chỗ để treo cổ tự do.
Những xác chết đã làm cho Colombo hoảng. Trong mười ngày thời tiết xấu, ông không biết tin gì về thuộc địa, ông hy vọng những người trên bờ được an toàn vì ông đã giữ những con tin; hy vọng tan vỡ, vì bây giờ ông không còn một con tin nào. Colombo bắt đầu không biết việc gì đã xẩy ra. Pedro de Ledesma tình nguyện bơi lên bờ, một chiếc thuyền chở ông tới được vách san hô. Ông cởi quần áo, nhảy xuống và bơi, tránh những san hô và tới những đồn nhỏ Bartolomeo đã xây trên bãi biển. Ông được chào mừng bằng những tiếng hô lớn, hoan hô cũng như phản đối: những người đàn ông sẵn sàng đương đầu với biến động trên chiếc tàu tả tơi đã được để lại cho họ, còn hơn là ở lại vùng đất Veragua không thuận lợi này. Như thế, cố gắng thành lập một thuộc địa ở đây đã thất bại một cách thảm hại. Tuy nhiên, nhà sử học không thể quên sự kiện ở Veragua, đáng nhớ vì nó tiêu biểu một trong những thời kỳ có ý nghĩa nhất của cuộc phát kiến vĩ đại.
Từ đảo Guanaja đến Honduras, Nicaragua, Costa Rica và cuối cùng tới Panama: đổi hướng liên tục từ Tây sang Đông và từ Đông sang Tây, Colombo đã phát hiện ra tất cả Trung Mỹ trong chuyến đi thứ tư của ông. Bỏ qua, hoặc đơn thuần đánh giá thấp tầm quan trọng của chyến đi này sẽ là một sai lầm nghiêm trọng về viết sử. Veragua không những chỉ tượng trưng cho vàng và cô-ca mà còn tiêu biểu cho eo đất giữa Bắc và Nam Mỹ. Chín năm sau khi Balboa vượt qua eo đất này và nói với Thế Giới Công Giáo về một đại dương mới, ông chỉ đơn thuần gặt hái kết quả của sự kiên cường và quyết tâm của Colombo trong sự kiện quan trọng cuối cùng của một phát kiến vĩ đại. Thường bị những nhà sử học lãng quên, cái tên Veragua vẫn khắc thành những chữ không thể phai mờ qua nhiều thế kỷ: những con cháu trực tiếp của Colombo vẫn mang danh tước quận công Veragua.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2021 15:41:35 bởi Ct.Ly>
38. SANTA GLORIA
 
 
 
Lễ Phục sinh rơi vào ngày 16 tháng 4 năm 1503. Đêm đó Colombo rời Belén bằng ba chiếc tàu, tất cả đều bị sâu mọt đục lỗ, lỗ chỗ như những cái sàng thực sự. Méndez kể lại trong di chúc của ông: "Thủy thủ bơm và dùng xô, cũng như những đồ đựng khác, nhưng họ lấy nước ra không kịp với nước vào qua những lỗ do những con hà đục ra". Cả mấy tàu chỉ có một chiếc thuyền. Ký ức về những sự kiện bi kịch trên bờ, về những người đồng đội đã chết về những thất bại, cộng thêm sự khổ đau, vất vả và sợ sệt của chuyến đi. Tất cả những điều này đã gây nên sự bất bình.
Tại Portobelo, Colombo phải bỏ thêm một chiếc tàu nữa "vì lượng nước vào quá nhiều"; thân tàu hoàn toàn bị những con hà làm thủng. Hai tàu còn lại tốt hơn một chút, nhưng chia người từ chiếc tàu bị bỏ sang hai tàu còn lại cũng cung cấp thêm những cánh tay để bơm và tất nước ra khỏi tàu; nhiệm vụ này rất mệt nhọc và phải làm suốt ngày đêm. Từ Portobelo, Colombo chuyển hướng tàu dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Panama. Rồi ngày mồng 1 tháng 5 năm 1503, gần mũi Tiburon, hai chiếc tàu rời đại lục, đi về hướng Bắc, và đáng lẽ chúng phải tới bờ biển miền Nam Giamaica (Jamaïque), nhưng chắc gió xích đạo liên tục thổi từ Đông bắc đã đưa đi chệch đường. Hai chiếc tàu đã ọp ẹp, nhưng ngay dù chúng còn tốt đi nữa, chúng vẫn không thể tránh khỏi việc đi chệch đường, vì gió và hải lưu kết hợp làm cho tàu không thể đổi hướng. Hai tàu đi chệch theo hướng gió về phía Tây, và ngày 10 tháng 5 thấy đảo Cayman, chính xác hơn là đảo Little Cayman, và đảo Cayman Brac thay vì đảo Giamaica. Don Fernando nói những đảo đó có đầy những con ba ba, và xung quanh biển cũng đầy ba ba trông giống những "khối đá nhỏ". Colombo đặt tên những đảo đó là Las Tortugas ("Những con ba ba"). Những đảo ấy là những nơi cuối cùng Colombo phát hiện và đặt tên.
Giamaica cách đó hơn một trăm dặm về phía Đông nam. Họ không dừng lại và chiều tối 12 tháng 5, họ tới vùng đảo Jardines de la Reina ("Những vườn của Hoàng hậu"), được khảo sát trong chuyến đi thứ hai. Ở đây, cách Cuba mười hải lý (Colombo vẫn gọi Cuba là "tỉnh Mangi, một phần của Trung Quốc"), họ thả neo giữa hai vỉa san hô. Đêm đó một trận bão mới nổi lên. Khi đi sát bờ biển Cuba và định hướng đi đến Hispaniola, họ đi ngược chiều gió; nước trong những tàu tiếp tục dâng. Đêm 22 -23 tháng 6 nước dâng lên rất cao "đến nỗi họ không thể làm gì để hạ mức nước, và nước gần tới boong tàu". Ngày 24 tháng 6 hai tàu gặp may mắn lớn, tới được một cảng của Giamaica mà năm 1494 Colombo đã đặt tên là Puerto Bueno. Ngày nay cảng đó gọi là Dry Harbour (Cảng khô), vì nó không có nước ngọt.
Ngày hôm sau họ đi. Gió mạnh từ đất liền đã đưa những chiếc tàu tới một cảng ở gần đó được bảo vệ bởi một vỉa san hô: năm 1494 Colombo đã đặt tên cảng này là Puerto Santa Gloria. Don Fernando miêu tả việc đi vào cảng:
"Đi vào bên trong và không thế giữ cho những chiếc tàu nổi nữa, chúng tôi cố cho tàu chạy đến hết sức gần bờ biển. Đặt hai tàu sóng đôi với nhau, chúng tôi cột chặt chúng lại với nhau để cố định. Nước lên gần tới boong tàu. Sân lái và phần trước của tàu dưới boong biến thành những vị trí phòng thủ chóng lại người Anh-diêng. Vào thời đó đảo Giamaica không có những người Công giáo”
Bản anh hùng ca về cuộc phát kiến vĩ đại đã kết thúc tại Santa Gloria (ngày nay là St.Ann’s Bay) mặc dù cuộc đời của nhân vật chính trong bản anh hùng ca đó chưa kết thúc; cuộc đời đó chứa đầy những thử thách và những sự kiện gây xúc động, thậm chí còn hơn cả tại Santa Gloria. Colombo đã ở trên bờ biển đó một năm, từ 25 tháng 6 năm 1503 đến 28 tháng 6 năm 1504. Đó là một năm đầy những vấn đề khó khăn, khổ sở, những hy vọng và những sợ hãi, những ảo tưởng và thất vọng, những biểu thị về lòng dũng cảm tuyệt vời cũng như sự hèn nhát đê tiện. Quan hệ với người Anh-diêng, lúc đầu hòa bình, trái ngược với quan hệ trong số những người Tây Ban Nha với nhau, xấu đi từ phê phán và thầm thì trở thành nổi loạn và chiến tranh công khai. Một năm trên bờ biển Santa Gloria! Một chuỗi những buổi bình minh, những ngày, những buổi hoàng hôn, và những đêm hy vọng, đau khổ và tuyệt vọng, có vẻ như không bao giờ kết thúc.
Khi Colombo và những người của ông đưa hai chiếc tàu còn lại lên bờ biển tại Santa Gloria ngày 25 và 26 thángg 6, họ không tưởng tượng được là họ sẽ phải ở lại đây cả năm. Tuy nhiên họ không thể có ảo tưởng; ở nhiều tháng là điều chắc chắn. Bị cách biệt khỏi thế giới, họ cần lập lại mối quan hệ với Hispaniola, nơi duy nhất ở những vùng Đất Mới người ta có thể tìm thấy những người theo Công giáo.
Vấn đề đầu tiên là bảo đảm thực phẩm. Trong số 140 người đàn ông và con trai trong chuyến đi biển thứ tư, 6 người đã chết hoặc bỏ ngũ trước khi tới Veragua, 12 người bị giết ở đó, 6 người chết sau này, hoặc do vết thương, hoặc do bệnh tật. Để lại 116 miệng phải nuôi. Thả lỏng cho thủy thủ về vùng nông thôn để kiếm đồ tiếp tế sẽ nguy hiểm, việc đó sẽ làm phát sinh những cuộc lùng sục và chiến tranh mới với người Anh-diêng. Do đó quyết định của Colombo không được lòng quần chúng nhưng chính đáng, cấm mọi người đi lang thang ra khỏi bờ biển. Nhiệm vụ lùng sục trong vùng để tổ chức nguồn cung cấp thực phẩm liên tục được giao cho Diego Méndez; ông này đã thỏa thuận được những hợp đồng với những tù trưởng láng giềng. Hàng ngày những ca-nô đến chở đầy cá, huttia (một loại thỏ), vật săn bắn, bánh sắn và trở về mang theo ghim, dao díp, lược, kéo, gương, chuông hình diều hâu, hạt cườm thủy tinh và những đồ trang sức nhỏ khác không có ý nghĩa gì đối với người cho nhưng làm cho người nhận rất thích thú. Méndez còn được một cái khác nữa rất quan trọng. Ở đầu phía Đông của đảo, Méndez làm bạn với tù trưởng và đổi một chậu đồng thau lấy một ca-nô có sáu người chèo và những đồ tiếp tế.
Chiếc ca-nô là cần thiết để giải quyết những vấn đề cơ bản khác, thiết lập tiếp xúc với Hispaniola. Không có hy vọng là một tàu sẽ được cử đi để tìm những người đã mất. Ovando, Tổng trấn Santo Domingo, hy vọng rằng người thành Genova gây bối rối sẽ biến đi vĩnh viễn. Cũng không có hy vọng gì là một chiếc tàu khảo sát nào đó sẽ đến Giamaica. Lý do của việc thiếu quan tâm thì rõ: những đảo này, như Colombo đã nhận thấy, không ,có vàng.
Hy vọng cứu vẫn duy nhất là cử một sứ giả đến Hispaniola để thuê một chiếc tàu. Nhưng chiếc thuyền duy nhất để dành được tại Bélen đã mất trong cơn bão. Do đó chiếc ca-nô của Méndez đáp ứng kịp thời. Colombo quyết định Mendez, dũng cảm và có khả năng, nên làm sứ giả. Đó là vào đầu tháng 7-1503. Ngày 7 tháng 7 Colombo ngồi trong một túp lều đóng kín xây trên cầu và viết một bức thư dài gửi cho Vua và Hoàng hậu; người ta gọi bức thư đó là Lettera Rarissima (Thư hiếm!) vì mãi về sau này, cuối thế kỷ XVIII, bức thư đó mới được phát hiện. Bức thư này tôi đã nêu vắn tắt, được đánh giá khác nhau. Bức thư chứa đầy những nhận định và chỉ dẫn về địa lý, lịch sử, vũ trụ học, triết học và thần học. Ở nhiều chỗ, bức thư không mạch lạc nhưng ta không thể bác bỏ nó như một số người đã làm và cho là lời nói huyên thuyên của một người điên. Ngược lại bức thư chứa đựng một số nhận thức độc đáo, chính xác và sáng ngời đáng được chú ý sát sao. Để lựa chọn ra điều quan trọng nhất, trong bức thư này, Colombo gọi "đại lục chưa được đo lường" được phát hiện tại Venezuela năm 1498 là "một thế giới khác". Chính cụm từ đó đã mở đường cho việc thừa nhận trong cuộc gặp gỡ giữa Thế Giới Cũ và Thế Giới Mới, như tôi sẽ thảo luận trong chương cuối cùng. Colombo giao bức thư này cho Méndez cùng với một bức điện ngắn gửi cho người bạn của ông, Tu sĩ hành khất Gaspare Gorricio tại tu viện Las Cuevas ở Seviglia.
Diego Méndez đặt một sống thuyền giả lên chiếc ca-nô lớn, bôi hắc ín và mỡ lên đáy, dựng những chắn sóng ở mũi và đuôi thuyền để giữ cho sóng khỏi tràn ngập thuyền và làm một cột buồm và cánh buồm. Ông ta khởi hành với một thủy thủ và sáu người Anh-diêng. Khi tới mũi đất phía Đông, ông ta dừng lại để đợi thời tiết tốt, và những người Anh-diêng tấn công ông. May mắn thay họ đùn đẩy nhau để quyết định ai sẽ giết ông và ai sẽ chiếm chiến lợi phẩm, và Diego tìm cách trốn được. Trở về bãi biển, Diego Méndez thấy chiếc ca-nô, giương buồm đúng lúc gió xích đạo đang thổi, ông trở lại những chiếc tàu đã được đưa lên bãi biển.
Diego Méndez cố gắng một lần nữa, nhưng lần này ông bố trí bảo vệ cho đến khi ông xuất phát ra khơi. Thuyền trưởng Bartolomeo Fieschi, một người Genova đã tình nguyện đi cùng Diego tới Hispaniola trong một chiếc ca-nô lớn khác và trở về để làm yên lòng những người bị mắc cạn tại Santa Gloria. Thêm vào đó, Bartolomeo tình nguyện bảo vệ họ bằng cách đi theo trên đất với bảy mươi người tới Mũi Giamaica. Hai chiếc ca-nô, mỗi chiếc có sáu người Tây Ban Nha với kiếm, khiên, thức ăn và mười người Anh-diêng chèo thuyền. Những người Tây Ban Nha tiến tới đầu phía Đông của đảo, Fieschi và Méndez đi đường biển và Bartolomeo đi đường bộ. Tại đó họ đợi bốn ngày để cho biển lặng sóng, rồi Méndez và Fieschi bắt đầu vượt biển tới Hispaniola.
Biển lặng một cách khác thường và lần này họ thành công. Tháng 8-1503 Méndez tới Tổng trấn Ovando ở sâu trên đảo Hispaniola, nơi ông ta đang chiến đấu chống lại người Anh-diêng, nhưng mãi đến cuối tháng 5-1504 Méndez trung thành mới được phép mua một tàu biển và đồ tiếp tế và gửi đến cho Colombo. Chín tháng chờ đợi. Điều gì có thể giải thích sự chậm trễ này? Chắc chắn Ovando không buồn khi biết tin Colombo bị hỏng tàu trên đảo Giamaica. Việc Colombo đến với những tin tức về những phát kiến mới có thể làm cho Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha khôi phục lại cho ông những quyền lực Phó vương, tước đi chức Tổng trấn của Ovando. Ovando giam hãm Méndez với lý do thoái thác rằng ông bận dẹp tắt cuộc nổi dậy của người Anh-diêng. Ovando dẹp cuộc nổi dậy này bằng cách treo cổ và thiêu sống tám mươi tù trưởng và những thủ lĩnh khác.
Trong chín tháng chờ đợi ở Santa Gloria, mỗi buổi sáng Colombo và những người của ông nhìn ra biển một cách lo lắng, trông ngóng buồn bả nhưng vô ích. Thủy thủ bắt đầu sợ rằng Méndez và Fieschi đã chết, hay họ đã tới mục tiêu nhưng viên Tổng trấn đã từ chối không giúp. Thời tiết nóng, ẩm, thiếu thịt, và thiếu rượu đã làm cho nhiều thủy thủ kiệt sức và bị ốm. Bản thân Colombo cũng không chịu được. Luyện tập về đi biển không thực hiện được, vì tàu đã đưa lên bờ, đi bộ trên bờ và đi lang thang khắp trong đảo là tuyệt đối cấm, không đủ chỗ để thực tập theo chỉ tiêu, đánh bạc thì tuyệt đối cấm. Nghĩa vụ duy nhất là thay đổi nhau làm nhiệm vụ của hai người gác.
Francisco de Porras và người anh em của ông ta, Diego, đã kích động mọi người chống lại Colombo. Họ nuôi dưỡng một thái độ thù địch chống lại ông. Họ biết ông ít quan tâm đến họ. Họ nhắc lại những chuyện phiếm cũ, nói rằng ông đã bị đày khỏi Tây Ban Nha vì lỗi lầm, còn Méndez và Fieschi đã được cử đi đến Ovando không phải để yêu cầu tàu biển và viện trợ mà là đến Vua và Hoàng hậu để xin được phục hồi; họ dẫn chứng là Fieschi không trở về. Anh em Porras gợi ý làm công việc mà Méndez đã làm, nói rằng Colombo không thể chống lại kế hoạch; nếu vì bệnh thấp khớp mà Colombo không đi được thì ông có thể ở lại và đợi thời cơ. Bị quyến rũ bởi những lập luận này, một số người quyết định chiếm lấy mười ca-nô Colombo đã mua để ngăn cản những người Anh-diêng tấn công các tàu trong trường hợp có chiến tranh.
Ngày 2 tháng 1 năm 1504 những người nổi loạn bắt đầu hành động. Fracisco de Porras vào trong túp lều nhỏ nói với Colombo, "Thưa ngài, tại sao ngài không muốn đi Castiglia? Tại sao ngài chịu để cho tất cả chúng tôi chết ở đây?" Colombo trả lời rằng nếu những người đã đi Hispaniola chưa gửi về một tàu biển thì ông không biết cách nào để họ có thể ra đi và ông muốn trở về Tây Ban Nha hơn ai hết, vì lợi ích của bản thân và của mọi người khác. Colombo hỏi Porras có cách nào khác để thoát ra khỏi đó mà vẫn còn sống không. Người thủ lĩnh nổi loạn trả lời một cách xấc láo và quay lưng đi, kêu lên: "Tôi sẽ trở về Castiglia! Ai muốn tự cứu mình có thể theo tôi!" Từ mọi phía, những kẻ đồng lõa vũ trang đến, chiếm những tháp trên boong tàu và những bục xung quanh đầu cột buồm dưới, cướp những nhà kho và kho vũ khí.
Colombo cố đi ra khỏi giường và tới chỗ lộn xộn nhưng ngã sấp mặt. Ông cố trở dậy và lại ngả. Bốn nhân viên và con trai ông Fernando nhấc ông lên giường. Trong khi đó Bartolomeo cầm một cái kích chạy đến. Ông muốn tấn công những kẻ phản bội, nhưng những nhân viên trung thành khác giật lấy vũ khí từ tay ông và lôi ông vào túp lều của ông, van xin thuyền trưởng Porras bình tĩnh và đi ra vì ông đã có những gì ông muốn có. Bốn mươi tám người nổi loạn chiếm giữ những chiếc ca-nô và đi.
Những người ốm nghe tin những người khác ra đi, cảm thấy bị bỏ rơi. Colombo được anh em nâng đỡ đã đến nơi những người ốm nằm trên tàu, và an ủi họ bằng sự có mặt của ông. Từ đó trở đi hàng ngày ông đến thăm những người ốm, làm thức tỉnh lại ở họ lòng tin mãnh liệt vào Chúa, hết sức tỏ rõ là ông biết cách chữa bệnh cho từng người, và một đôi khi chăm sóc họ bằng những bàn tay bị thấp khớp của ông. Họ cần sự an ủi như thế vì rơm ẩm trên đó họ nằm và những đàn bọ chét và muỗi làm cho sự đau khổ của họ không thể chịu đựng được.
Những người nổi loạn đi theo đường của Méndez dọc theo bờ biển, tấn công những người Anh-diêng và ăn cắp mọi thứ họ có thể ăn cắp. Khi những người Anh-diêng phản đối, những người Tây Ban Nha nói với họ đến Colombo để đòi bồi thường những vật đã bị lấy đi, giết ông ta nếu ông ta không trả vì họ làm theo mệnh lệnh của ông ta. Những người Tây Ban Nha nổi loạn nói thêm rằng họ căm ghét Colombo vì ông độc đoán và là kẻ thù không thể dung hòa của người Anh-diêng, Colombo sẽ tước đi quyền tự do của họ, gây ra hàng nghìn sự bất hạnh trên đảo; loại trừ ông ta khỏi thế giới này sẽ có lợi cho mọi người.
Bốn mươi tám người Tây Ban Nha nổi loạn tới cuối đảo và cùng với những người Anh-diêng chèo thuyền, khởi hành đi Hispaniola. Họ chỉ mới đi được bốn hải lý thì biển nổi sóng và họ quay trở lại vì sợ hãi. Nước tràn vào thuyền và đe dọa làm chìm tất cả, do đó họ ném hàng hóa và quần áo của họ xuống biển. Thời tiết tiếp tục xấu hơn, và không muốn mất vũ khí và đồ ăn, họ quyết định làm nhẹ thuyền bằng cách giết những người Anh-diêng và vứt họ xuống biển. Trước khi cuộc tàn sát có thể bắt đầu những người Anh-diêng lặn xuống biển và cố theo kịp những ca-nô ở một khoảng cách. Nhưng đường trở về đất liền rất dài, những người Anh-diêng kêu gào và van xin, cố níu lấy những chiếc thuyền trong khi lấy hơi thở. Rõ ràng một số người Tây Ban Nha đã chặt những bàn tay của người Anh-diêng bằng kiếm (chắc chắn ít nhất mười tám người Anh-diêng đã bị giết).
Trở lại Giamaica, Porras và những người nổi loạn của ông đợi thời tiết tốt trong một tháng, nhưng những thời kỳ thời tiết thuận lợi rất ngắn và những trận bão mới đã đẩy họ trở lại hai lần. Tuyệt vọng họ bỏ những ca-nô và trở lại Santa Gloria, lại cướp bóc những làng mạc trên đường về. Người Anh-diêng cho những người nổi loạn là cùng một bọn với Colombo nên đã từ chối không mang đồ tiếp tế đến những tàu biển nữa. Trên bờ biển Santa Gloria, gió xích đạo nhẹ nhàng tiếp tục thổi không ngừng, nhưng không còn là làn gió cứu trợ và hy vọng mà là làn gió tuyệt vọng.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2021 13:41:22 bởi Ct.Ly>
40. CON NGƯỜI COLOMBO: NHÂN VẬT CHÍNH
TRONG SỰ KIỆN VĨ ĐẠI.
 
 
Không có những bức chân dung thực về Colombo. Tuy nhiên có hơn tám mươi bức tượng, hoặc bức vẽ, bức này hoàn toàn khác với bức kia, vì các nghệ sĩ được khích thích bằng trí tưởng tượng riêng của mình về hình dáng, thể chất của Colombo do những người biết ông kể lại cho chúng ta. Có bốn miêu tả về Colombo:
Miêu tả thứ nhất để lại cho chúng ta là của Don Fernando, con trai ông, sinh khi Colombo ba mươi bảy hay ba mươi tám tuổi. Trong Historie della e dei  fatti di Cristoforo Colombo, Don Fernando viết như sau:
"Viên Đô đốc có hình dáng cân đối, cao hơn trung bình, có mặt dài và gò má cao, ông không béo và cũng không gầy. Ông có mũi khoằm, mắt sáng, nước da sáng và sắc thái khỏe mạnh. Thời trai trẻ ông có tóc hoe, nhưng khi đến ba mươi tuổi tóc đổi sang màu trắng”.
Miêu tả thứ hai là của Las Casas. Las Casas đích thân gặp Colombo tại Santo Domingo năm 1500, khi Colombo khoảng năm mươi tuổi. Las Casas viết như sau trong cuốn Historia de las Indias chương 2 :
 ‘‘Về con người và về bề ngoài, ông cao trên trung bình, mặt dài và cương quyết, mũi khoằm, mắt xanh, diện mạo sáng sủa, có xu hướng hồng hào. Râu và tóc ông màu hoe khi ông còn trẻ và chuyển sang màu trắng hầu như trong một sớm một chiều, do sự vất vả nặng nhọc của ông".
Miêu tả thứ ba của Oviedo. Oviedo gặp Colombo khi Colombo khoảng bốn mươi tuổi. Đoạn sau đây trích từ Historia general y natural de las Indias:
"Một con người có tầm vóc cân đối và vẻ bề ngoài đẹp, cao hơn trung bình và khỏe. Mắt ông sáng còn những nét khác thì rất cân đối. Tóc ông rất đỏ, mặt hơi đỏ và có tàn nhang".
Miêu tả cuối cùng là miêu tả của người Venezia Angelo Trevisan, nhân viên cao cấp và thư ký riêng của đại sứ Venezia tại Tây Ban Nha. Có lẽ Trevisan gặp nhà đi biến Genova khi ông năm mươi tuổi:
"Cristopher Colombo. một người thành Genova cao, có dáng vóc cao quý (1) , da hơi đỏ, rất
thông minh, khuôn mặt dài". Ở đây chữ được dịch là "cao quý" trong tiếng Ý thế kỷ thứ XV có nghĩa là "cao", những chữ đó cũng có thể dùng theo nghĩa La-tinh là "quý phái".
Mặt dài, má khá cao và không béo (Don Fernando); mặt dài (Las Casas); mặt dài (Trevisan). Do có trán cao, rộng nên ông được coi là có vẻ quyền quý và theo Lạs Casas là cố vé đầy quyền lực. Mũi ông khoằm như Don Fernando và Las Casas chứng thực. Mắt ông sáng (Don Fernando), xanh (Las Casas), hay linh hoạt (Oviedo), biểu thị trí thông minh lớn (Oviedo và Trevisan), tài hùng biện và tự hào (Las Casas và De Barros)
Còn lại vấn đề màu sắc của ông. Chúng ta có thể chắc chắn về một số yếu tố. Tóc ông bạc trắng sau khi ông ba mươi tuổi. Don Fernando, Las Casas, Oviedo và Trevisan - bốn người đích thân trông thấy Colombo - biết Colombo khi tóc ông đã đổi thành trắng. Điều này giải thích tại sao họ nói khác nhau về màu sắc tóc của Colombo khi ông còn thanh niên. Theo Don Fernando và Las Casas tóc Colombo màu hoe theo nghĩa của tiếng Castiglia; người ta ngạc nhiên không biết tại sao một số nguời nói tiếng Anh đã dịch từ đó là "đỏ". Có lẽ họ bị ảnh hưởng của Oviedo, ông này nói
"Tóc rất đỏ" và chịu ảnh hưởng của màu mặt của Colombo mà tất cả đều nói là hồng hào. Dario Guglielmo Martini đúng khi ông nói rằng Colombo có gò má đỏ. Trong thực tế Don Fernando, trong cuốn Historie, nói "da trắng, nổi lên một màu rực rỡ"; Las Casas, "diện mạo sáng sủa, có xu hướng hồng hào"; Oviedo, "mặt hơi đỏ và có tàn nhang"; Trevisan, "đỏ". Tôi thiên về ý cho rằng tóc của Colombo lúc trẻ, đỏ nhiều hơn hoe, như Don Fernando và Las Casas nói, có lẽ bị lôi cuốn nhiều hơn với màu hoe.
Dù sao khả năng giác quan của Colombo quan trọng hơn ngoại hình của ông. Ông có khứu giác đặc biệt; đó là một thực tế không thể chối cãi được về đặc tính thể chất của ông. Tất cả những bài viết của Colombo chỉ rõ điều đó. Nhiều người biết Colombo đã ca ngợi khả năng khứu giác khác thường của ông và để lại những bản tường trình về sự nhạy bén sắc sảo của ông đối với những mùi. Một số người coi đó là giả vờ nhưng đó chỉ đơn thuần là một giác quan phát triển cao, một thành phần cơ bản và quyết định của giác quan thứ sáu của ông, giác quan của ông về biển.
Thị giác và thính giác của ông cũng khác thường không kém. Ông đã phá hủy thị giác của minh trong suốt cuộc vượt biển thứ ba (1498) khi ông đứng suốt hai mươi bảy buổi chiều tháng 7 trên boong tàu, trố mắt nhìn vào mặt trời để tìm hướng đi từ Đông sang Tây. Ông mắc bệnh viêm mắt, nhưng ông vẫn giữ được những khả năng đi biển xuất sắc và không thể tưởng tượng được mà ông đã có trong thời thành niên tại hải phận Liguria và Địa Trung Hải và đã hoàn thiện ở Đại Tây Dương.
Ngoại hình thể chất và những khả năng của ông đã được nói đến rất nhiều. Cuộc thảo luận sẽ phải dài hơn và phức tạp hơn nhiều, khi xem xét tinh chất, tâm lý và những đặc tính tinh thần của ông. Về những vấn đề này, hàng trăm và có lẽ hàng nghìn luận văn và bài báo đã viết trong năm thế kỷ qua. Đã có nhiều tiểu thuyết, kịch và thậm chí cả nhạc kịch trữ tình. Những tác phẩm văn học, không bị ràng buộc bởi sự thực lịch sử mà chỉ tùy theo cảm hứng, thi ca. Hai tác phẩm đã nổi bật: Le Livre de Christophe Colombo của Paul Claudel và El parpa y la Sombra của Alejo Carpentier. Hai tác giả này hoàn toàn xuyên tạc thực tế, lúc thì thay đổi lịch sử, có khi lại tôn trọng lịch sử một cách thận trọng tỉ mỉ. Cả hai cuốn sách đều là những tác phẩm nghệ thuật có một không hai, đủ để bảo đảm địa vị của chúng trong văn học thế giới. Tác giả đã thực hiện một sự tương phản hoàn toàn: Colombo của Claudel được thấy tiếng nói thần bí như thánh Giovanna d’Arco, trong khi Colombo của Carpentier lại là một tên lừa đảo, một kẻ nói dối, một tên kẻ cắp và một tên chơi gái. Hai giải thích nghệ thuật, chúng ta phải đọc chúng mà không quan tâm đến Colombo thực sự, không quan tâm tới bất cứ huyền thoại nào về sự vinh quang, hoặc những cố gắng làm mất thanh danh của Colombo. Ở mức độ tính chân xác tỉ mỉ và chặt chẽ của lịch sử, Colombo không phải là một vị thánh mà cũng không phải là một nhà chính trị sành sỏi. Những rủi ro của ông không thể giải thích đơn thuần bằng sự không may, cho nên sự hiềm khích của kẻ thù và lòng ghen ghét của những kẻ không chịu nổi một người nước ngoài có nguồn gốc khiêm nhường lại được cấp những đặc quyền và danh vọng cao như thế. Colombo không phải là vớ vẩn, hay không có khả năng, nhưng ông thiếu hai đức tính cốt yếu nhất của một nhà chính trị: Khả năng có những quyết định vững chắc về lâu dài và một kiến thức sắc bén về bản chất con người, không thể thiếu để đặt những người dưới quyền vào đúng vị trí của họ.
Một số người đã gọi Colombo là một con người thời Trung cổ, một số khác lại nói ông là con người thời Phục hưng, tâm hồn ông cao hơn thế kỷ ông sống. Trong thực tế, ông ở giữa hai thời đại: sự tiếp cận lý thuyết của ông đối với triết học, thần học và thậm chí khoa học thì có tinh chất Trung cổ, trong khi nhiệt tình của ông đối với điều tra khoa học, mối quan tâm sắc bén về thiên nhiên và khả năng chấp nhận những hiện tượng từ trước chưa được quan sát và giải thích, lại tiêu biểu cho thời Phục hưng. Như tôi đã giải thích một cách đầy đủ, lý thuyết kinh tế của ông cũng thuộc thời Phục hưng, điển hình là tính chất trọng thương và tư bản chủ nghĩa, ít nhất cho đến khi xảy ra lộn xộn trong cuộc đi biển lần thứ ba tại Santo Domingo.
Về tâm lý ông là một con người Hiện đại. Ông cụ thể và thực dụng tới mức quá tỉ mỉ, ông chỉ đề ra những dự án của mình sau khi có kinh nghiệm trực tiếp, và từ đó nảy ra khái niệm về kế hoạch lớn của ông. Nói tóm lại, Colombo có tâm lý hiện đại nhưng nguồn gốc Trung cổ.
Người ta cũng có thể nói như vậy về tinh thần của ông. Colombo là một tín đồ Công giáo ở ý nghĩa hiện đại, nhưng bị ảnh hưởng bởi những giáo huấn Trung cổ. Lòng tin của ông mạnh mẽ, thành thật, và không thể cạn kiệt, luôn luôn trong sáng và không bị ảnh hưởng bởi mê tín và đạo đức giả, ngay trong những hoàn cảnh khẩn thiết nhất. Nhiều lúc ông là một người cuồng tín, hay như chúng ta nói ngày nay, một tín đồ thực sự. Nhưng sự cuồng tín của ông không bao giờ vi phạm những nguyên tắc vĩnh cửu của thế giới quan Công giáo và Gia tô. Colombo không bao giờ đặc biệt thích các giáo chức. Để bảo vệ Công giáo chân chính, Colombo đã tranh luận với cha cố, với những thầy tu khổ hạnh và những giám mục, nhưng cũng với tinh thần như thế, một số ít thầy tu khổ hạnh và giám mục đã dành cho ông tình thân hữu suốt đời, trong số những người này có Cha Antonio Marchena thuộc dòng Francesco.
Cha Marchena cũng là một nhân vật hàng đầu trong cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất trong lịch sử phát kiến
Gặp phải sự thần bí không thể nào tin được về một lục địa thứ tư, Colombo đã không đặt cái vượt ra ngoài vũ trụ (Tĩnh ngục) ở trong cái vốn chỉ tồn tại trong vũ trụ (Nam bán cầu), như Dante đã làm. Thay váo đó Colombo đã đi đến một ý nghĩ về Thiên đường trên trái đất mà ngay cả một người hoài nghi như Amerigo Vespucci cũng phải chấp nhận. "Nếu có bao giờ nó tồn tại thì nó chỉ có thể tồn tại ở những nơi này".
Khi phải đối phó với nguy hiểm chết người trong những trận bão, ông đã quay sang Đức Mẹ Đồng Trinh và các Thánh như những người theo đạo Gia-tô vẫn làm suốt trong thời Trung cổ, thời Phục hưng và thời Hiện đại. Khi ông bị thương tổn vì sự ghen ghét, sự hèn hạ, lòng tham và sự độc ác của con người, nhất là khi ông bị hiểu lầm, hoặc phải chịu những điều ông coi là bất công từ phía Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha, Colombo luôn luôn phản ứng với sự khiêm nhường Công giáo và sự nhẫn nhục của một tín đồ nhìn quá dưới hạn của cuộc sống trần tục.
Colombo đặc biệt dốc lòng thờ Đức Mẹ Đồng Trinh và Thánh Francesco. Ông thuộc đến mức hoàn hảo Kinh Tân ước và nhiều đoạn của Kinh Cựu ước. Khi gặp phải cơn hiểm nguy kinh khủng nhất mà ông chưa từng thấy trong kinh nghiệm hàng ngày về tình yêu và chiến tranh với biển, và khi nhận thấy không còn hy vọng ở trật tự tự nhiên, Colombo trực tiếp kêu gọi đấng Tạo hóa, đọc lại những vần thơ đầu tiên trong Kinh Phúc Âm của thánh Giovanni. Đồng Trinh và Thánh Francesco không phải là kết quả của sự mê tín mà là bộ phận của bản chất tôn giáo có hệ thống và chặt chẽ.
Cuối cùng, cần phải nhắc lại rằng việc Colombo liên tục bận tâm tìm vàng và của cải luôn luôn nhàm một mục tiêu rất xác định: một cuộc Thập tự chính để chinh phục lại Mộ Thánh. Tinh thần Thập tự chinh này không có tính chất Trung cổ. Mục tiêu đó mới, được làm sống lại bởi sự xúc động tâm lý về sự sụp đổ của Constantinople, thủ đô của Công giáo - cùng với Roma. Tinh thần Thập tự chinh mới không những muốn chinh phục lại Đất Thánh mà còn muốn nhiều hơn nữa, muốn nối lại Đất Thánh đã bị phân chia, mang thế giới trở về sự thống nhất đã có dưới thời con chim ưng La Mã và được tiếp tục bằng việc truyền đạo Công giáo. Tất cả những người man rợ - những người Đức, những người Slavơ, những tên cướp biển người bán đảo Scandinave thế kỷ thứ VIII và IX và những người Tartar ở Trung Á - đã tìm thấy một chỗ cho Công giáo, nhưng Hồi giáo đã làm tan vỡ thế giới, đã phân chia Công giáo. Việc đưa những kế hoạch của ông vào lý tưởng tôn giáo của một cuộc Thập tự chinh mới cũng có những nguồn gốc ở Genova, tại đây đã nhen nhóm lòng mong muốn một cuộc Thập tự chinh vào đầu nửa sau của thế kỷ XV; lòng mong muốn đó được tăng cường khi ông đến bán đảo Iberia, tại đây ông đã gặp những người Công giáo trốn khỏi sự áp bức của đạo Hồi.
Khái niệm Công giáo và Gia-tô giáo về thế giới đã hình thành cột trụ chủ yếu và cơ bản của nhân cách Colombo. Không có mâu thuẫn giữa sự khẳng định này với sự khẳng định cũng tuyệt đối cho rằng Colombo không phải là Thánh. Đối với địa vị đó, lòng tin của ông chưa đủ, mặc dù không thể lay chuyển được; sự khiêm nhường của ông, sự nhịn nhục của ông và lòng hào phóng một đôi khi của ông, cũng chưa đủ vì ông cũng biểu hiện sự kiêu hãnh, lòng tham lam, sự nghi ngờ, sự ích kỷ, sự thiên vị với bạn bè và người thân, sự thờ ơ và tham gia trực tiếp vào việc thành lập chế độ nô lệ đáng kinh tởm. Trước hết ông là con người tự hào; trong những năm cuối của cuộc đời mình, khái niệm thần bí về bản thân mình và sứ mệnh của mình đã đưa ông đến niềm tin cho rằng ông là con người sẽ mở cửa vào thời đại thứ ba, thời đại của Thánh thần mà Gioacchino da Fiore đã tiên đoán. Lòng tin của ông mạnh mẽ bao nhiêu thì lòng từ thiện của ông yếu và không liên tục bấy nhiều; ông không phải là vị thánh lớn, thậm chí một vị thánh nhỏ cũng không phải; Colombo là người bảo vệ giáo lý kiên quyết, có đức tin sâu sắc và thường xuyên - và đó không phải là một thành tựu nhỏ.
Coi CoỊombo chỉ thuần túy là một "nhà mạo hiểm" là sai. Chắc chắn trong đời ông có phiêu lưu. Ông không bao giờ từ chối phiêu lưu mà liên tiếp tìm kiếm phiêu lưu ông coi thường sự hiểm nguy, táo bạo và dũng cảm, tin vào những sức mạnh riêng của mình và sự giúp đỡ chắc chắn của Chúa. Cuộc vượt biển Đại Tây Dương lần đầu tiên hiển nhiên là một cuộc phiêu lưu thần kỳ, nhưng ở một ý nghĩa nhất định, những cuộc đi đầu tiên của ông đến Chio, Băng đảo và Ghi-nê cũng thần kỳ. Cuộc đi thứ ba cũng là một cuộc phiêu lưu, tự nguyện theo đuổi trong sự dày vò, khổ sở của vùng nhiệt đới. Nhưng hành động dũng cảm nhất của ông - hay một loạt những hành động dũng cảm - là cuộc đi biển thứ tư, thực hiện khi ông gặp rủi ro, với ý định đi vòng quả đất. Ông kết thúc cuộc đi với hai chiếc tàu bị hà ăn thủng phải đưa lên bờ cả một năm trời tại Santa Gloria, Giamaica trên một bờ biển mở như ta có thể thấy ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
Tất cả những cuộc phiêu lưu của Colombo cũng không phải chỉ trên biển cả. Việc ông rời Bồ Đào Nha sang Tây Ban Nha và kiên trì trong bảy năm - không bao giờ nhận thất bại - trong cố gắng giành sự ủng hộ cho kế hoạch lớn của ông không phải là một cuộc phiêu lưu hay sao? Cuộc khảo sát của ông tại Vega Real và việc thành lập San Tomaso ở trung tâm của một vùng đất chưa hề biết như Đại dương là một hành động dũng cảm mạnh dạn khác nữa. Cả cuộc đời ông là một cuộc phiêu lưu kỳ diệu, mặc dù đó là một sự pha trộn vui mừng, khổ đau và quằn quại. Những người gọi ông là một "kẻ mạo hiểm" chỉ nhàm giảm công lao của ông, cố tình giải thích thành công của ông chỉ thuần túy do may mắn và thời cơ. Ở ý nghĩa này, Colombo dứt khoát không phải là một người mạo hiểm. Quả thật công lao của ông gắn liền với thành công của ông, nhưng những công lao đó là nguyên nhân, không phải là kết quả.
Lịch sử sẽ bị bóp méo nếu chúng ta làm ngơ trước một mặt đặc biệt về tính chất của Colombo: Một nhà hàng hải có tài năng đặc biệt. Nhiều lần tôi đã đề cập lâu dài đến những thực tế, những sự kiện và xét đoán, điều đó đủ chứng minh lời khẳng định của tôi. Colombo không những đã phát kiến châu Mỹ, ông còn phát kiến ra những đường đi giữa châu Âu và Vịnh Mê-hi-cô. Trong thời còn dùng buồm, những tàu biển rời nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, hoặc Ý đi Mêhicô, cửa sông Mississippi, bất cứ đảo nào ở biển Caribê, hay Colombia, Venezuela đều theo con đường Colombo đã đi trong chuyến đi biển đầu tiên. Khi trở về, những tàu đó đi lên phía Bắc biển Sargasso trên vĩ tuyến thuộc quần đảo Azzorre. Thậm chí ngày nay, bất cứ ai muốn vượt Đại Tây Dương bằng tàu buồm đều chọn con đường trong chuyến đi thứ hai của Colombo, từ quần đảo Canarie đến đảo Guadeloupe.
Việc phát kiến ra những tuyến đường gắn liền với việc tìm ra gió xích đạo. Tôi đã nói dài về gió xích đạo, cũng như tôi đã chỉ rõ ràng Colombo là người đầu tiên phải đương đầu với biển Sargasso mà không sợ hãi, ông đã có khái niệm ban đầu về dòng Gulf Stream và phát hiện ra việc lệch kim la bàn sang phía Tây. Nhưng trước hết trong kỷ nguyên cận đại, Colombo là người bắt đầu đi biển ở ngoài khơi: Người đầu tiên và quyết tâm, ông dám đi ra khỏi tầm mắt của đất liền trong những thời gian dài.
Tôi đã nói rằng Colombo có những tài năng thể chất tới mức độ đặc biệt của người đi biển. Michele da Cuneo viết như sau: "Chỉ trông thấy một đám mây, hay một ngôi sao ban đêm, ông ta có thể nói điều gì sẽ xẩy ra và thời tiết có xấu hay không. Ông chỉ huy và đứng ở khoang bánh lái và khi bão tan, ông tự mình giương buồm lên trong khi những người khác đang còn ngủ.
Có một chứng cớ đặc biệt lôi cuốn sự chú ý về những khả năng đi biển khác thường, gần như ảo thuật này của Colombo. Trong chuyến đi biển thứ tu, ông đang ở ngoài khơi Santo Domingo. Ông được biết ba mươi tàu Tây Ban Nha sắp đi châu Âu chở đầy vàng. Ông lập tức gửi lời đến nói rằng họ nên đợi vì một trận bão sắp xẩy ra. Tuy nhiên, hình như không có dấu hiệu rõ ràng nào hỗ trợ cho sự tiên đoán của ông. Biển cả và bầu trời không tỏ ra đe dọa, và gió thổi thuận lợi để đi về phương Đông. Những người Tây Ban Nha cười việc lo lắng của ông, và hùng hậu ra đi. Nhưng trước khi đoàn tàu đến đầu phía Đông đảo Hispaniola bầu trời trở nên mờ, biển cả phẳng lặng và xám và không khí ngột ngạt. Như vậy cơn bảo đã tự báo, nhưng sự phẳng lặng không trở lại. Trận cuồng phong đã làm lay động những cột buồm, thân tàu và phá vỡ mọi thứ trên tàu. Một phần lớn đội tàu bị mất với tất cả thủy thủ và một số lượng vàng khổng lồ. Chỉ có bốn chiếc lao đao về với Santo Domingo. Những chiếc tàu khác bị đập tơi tả, trú trong những vịnh và vũng tàu thuộc bờ biển Đông-nam.
Một chiếc tàu duy nhất, chiếc tàu nhỏ nhất và tồi tệ nhất trong số những tàu biển đó, chiếc Guecha, không bị hư hỏng. Chiếc tàu đó tiếp tục đi về Tây Ban Nha, không đoái hoài đến số phận của những tàu khác. Trên tàu này là người thay mặt cho Colombo, Alonso Sánchez de Carvajal; ông này mang khoảng bốn nghìn đồng pơ-xô do Bobadilla giao nộp cho Colombo theo lệnh của Vua và Hoàng hậu. Đó là số vàng duy nhất trong số lượng lớn chuyên chở bằng tàu biển trong dịp đó từ Santo Domingo về tới Tây Ban Nha và tại đây số vàng đó được trao cho Don Diego, con trai của Colombo. Ngoài thực tế đáng ngạc nhiên là chỉ có vàng của Colombo được cứu khỏi trận bão, có một thực tế khác nữa, cũng đáng ngạc nhiên không kém. Tất cả bốn chiếc tàu của nhà phát kiến, ngay cả chiếc Santiago de Polos mà ông đã muốn bán đi, đều đã thoát nạn.
Thế là Người nước ngoài kiêu căng này cũng là một nhà tiên tri, một phù thủy có thể làm xuất hiện một cơn bão và làm cho cơn bão đó đánh chìm những tàu biển của kẻ địch, trong khi không đụng đến tàu của ông. Tất nhiên Colombo không phải là một phù thủy, và cũng chỉ do ngẫu nhiên chiếc tàu duy nhất được thoát nạn và về tới Tây Ban Nha là chiếc tàu chở vàng của ông. Nhưng có đúng không việc này chưa thực rõ ràng Colombo đã cảm thấy một trận bão đang tới gần; một hiện tượng hoàn toàn không được biết tới trong thế giới cũ. Colombo chỉ có kinh nghiệm về hiện tượng này bảy năm trước đó. Như vậy ông đã biểu thị sự nghiên cứu vô địch của ông về biển cả.
Trong số những học giả vĩ đại nhất về Colombo, Thacher, Harrisse, Caddeo, De Lollis, Revelli, Morison, Ballesteros Beretta, Madariaga và Nunn hoàn toàn khẳng định lời nhận xét của Las Casas: "Christopher Colombo vượt tất cả những người đương thời về nghệ thuật đi biển". Chỉ có một số ít người bất đồng với sự đánh giá đó. Người phê phán mạnh mẽ nhất kỹ năng đi biển của Colombo là Vignaud; kinh nghiệm về đi biến của ông hình như bị hạn chế ở những cuộc đi ra ngoài trời trên những tàu chờ khách du lịch trên sông Seine. Nhà khảo sát người Pháp vĩ đại Charcot gọi Colombo là "một thủy thủ có giác quan về biển", khả năng huyền bí và bẩm sinh đó cho phép ta chọn con đường đứng giữa đại dương Người ta đã bình luận nhiều và còn tiếp tục bình luận, nhưng những chiếc tàu đã đi vào lịch sử. Thành tựu của Christopher Colombo vĩ đại đến nỗi nó làm người ta phải say mê". Đó là lời nhận xét của một thủy thủ vĩ đại về một thủy thủ khác, về một người mà trừ Cook, không một ai có thể sánh kịp, trong số thủy thủ thuộc tất cả các thời đại.
Colombo cũng là một nhà địa lý, hầu hết là tự học. Việc Colombo sinh tại Genova không làm cho ta ngạc nhiên và là một việc quan trọng - không như một số người nói hoàn toàn không suy nghĩ. Trong thời thơ ấu của Colombo ở Genova, ông đã học những yếu tố đầu tiên về đi biển, và ở Genova và Sanova, ông đã làm quen với những vấn đề của biển cả và đi biển, vốn là bản chất thứ hai trong những truyền thống của nước Cộng hòa. Genova là một xứ sở đi đầu về hàng hải, không những tại Địa Trung Hải mà trong toàn thế giới Công giáo. Rồi với những chuyến đi đầu tiên của ông và nhất là những kinh nghiệm kéo dài ở Đại Tây Dương, Colombo đã phát triển một giác quan sắc bén về địa lý và vén bức màn bí mật trước nhiều vấn đề địa lý. Trong những bài viết của ông, Colombo đã biểu thị mình có xu hướng như thế nào đối với địa lý và ông thường giải quyết những vấn đề liên quan đến địa lý một cách khéo léo như thế nào.

 
Chú thích :
(1). Nguyên văn tiếng Ý là:
Homo di alta et procera statura




0
Alessandro Humboldt vạch rõ rằng Colombo nắm được một cách nhanh chóng những hiện tượng tự nhiên. Một lần ở Thế Giới Mới và dưới một bầu trời mới, ông đã nghiên cứu sát sao đất đai và cây cỏ, những thói quen của động vật, những thay đổi của nhiệt độ và từ tính của trái đất. Những điều ghi trong Nhật ký của ông gần như đề cập đến tất cả những vấn đề mà người ta quan tâm đến khoa học cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI. Mặc dù thiếu một sự chuẩn bị vững chắc về lịch sử tự nhiên, bản năng quan sát của Colombo phát triển theo nhiều cách, từ sự tiếp xúc của ông với những hiện tượng vật chất đặc biệt. Từ một người tự học, không được giáo dục chính thức, ông đã trở thành một nhà địa lý vĩ đại.
Colombo là một thiên tài với đầy đủ ý nghĩa của từ này. Không những ông có ý thức về biển cả và tính sắc bén về địa lý học mà còn có lòng tin không thể lay chuyển và lòng mong muốn không giới hạn về sự vinh quang, một ý chí mạnh mẽ và kiên cường, gần tới mức liều lĩnh. Colombo dũng cảm, kiên trì, giàu tưởng tượng, và có một trí nhớ ưu việt. Trong những cuộc khủng hoảng, ông thường sử dụng trực giác của mình và nhiều khả năng để hành động một cách có hiệu quả như chỉ có những thiên tài mới có thể làm được.
Tất cả những điều này giải thích tại sao ông có thể quan niệm một kế hoạch lớn "tới phương Đông bằng cách đi về hướng Tây. Điều này giải thích tại sao ông có thể bỏ gia đình, lợi nhuận cho thành phần chính của giấc mơ của mình, biển cả, trong những năm tốt nhất của đời ông, từ tuổi ba mươi đến bốn mươi hai. Điều này giải thích tại sao ông có thể thực hiện bốn cuộc đi lớn ở Đại Tây Dương: hướng dẫn, chỉ huy, phản đối và có những quyết định kịp thời khi gặp phải sự nổi giận của những hiện tượng tự nhiên và những cuộc nổi loạn của thuộc hạ.
Vững chắc và không thể lay chuyển trong niềm tin và nhận xét của mình, Colombo quan hệ với Vua Bồ Đào Nha, Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha, những người Genova, Firenze và những chủ ngân hàng Do Thái ở tư thế gần như bình đẳng. Ông không tự cao tự đại nhưng biết rõ những công lao của mình, sức mạnh của ý chí mình. Giả thiết nếu Colombo tự cao tự đại, ông đã không giành được tình thân hữu của Cha Antonio de Marchena và Cha Juan Pérez. Nếu ông tự cao tự đại ông đã không có được nhiều bạn bè, những người bảo vệ và những người ca ngợi ông tại triều đình Tây Ban Nha; ông đã không giành được cảm tình và sự tin cậy của Hoàng hậu Isabella, một người phụ nữ thông minh đặc biệt và có đạo đức hiếm có. Nếu ông tự cao tự đại, ông đã không thuyết phục được Martin Alonso Pinzon, viên thuyền trưởng Palenan khôn ngoan, sắc sảo và thành thạo đó, cùng có chung niềm tin và sự vinh quang đối với thành công của chuyến đi biển thứ nhất; thông qua Martin Alonso Pinzon, Colombo đã tuyển hầu hết nhân viên cho chuyến đi biển thứ nhất. Nếu ông tự cao tự đại ông không bao giờ tôn trọng những thủy thủ ngay cả trong những tình hình phiền toái nhất; hầu hết những thủy thủ ấy đều tuân theo ông, ngay cả trong những điều kiện thử thách của tấn bi kịch tại Santa Gloria.
Thành công của Colombo không phải là một sản phẩm của sự may rủi. Ông không phải là nhà đi biển ra đi dể tìm những vùng đất mới mà không biết chính xác những vùng đó ở đâu, như người ta thường hay lặp đi lặp lại. Quả thật, ông đã tìm thấy châu Mỹ trên đường đi, nhưng cũng đúng ông đã phát kiến và nêu ra một ý nghĩ mới, hay một quan điểm mới mà cho tới lúc đó Thế Giới Cũ và những nền văn minh của nó - Hy Lạp - La Mã - Công giáo, Arập - Hồi giáo, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản, đều chưa hề biết.
Phát kiến của Colombo to hơn bất cứ phát kiến hay phát minh nào khác trong lịch sử nhân loại. Trong thế kỷ thứ XVI, người châu Âu đã nhận ra điều đó. Trong những thế kỷ tiếp theo tầm quan trọng của phát kiến của Colombo tiếp tục tăng lên, vì sự phát triển lớn lao của Thế Giới Mới và vì nhiều phát kiến khác bắt nguồn từ đó. Chính sau những chuyến đi của Colombo mà nhiệm vụ hòa nhập những lục địa châu Mỹ vào nền văn hóa Hy Lạp - La Mã - Công Giáo - châu Áu - đã được thực hiện. Dù có những sai lầm, tính ích kỷ và tàn bạo chưa từng thấy, cuộc phát kiến là yếu tố chủ yếu và quyết định nhất về nhiều phương diện trong việc mở ra thời đại mới. Trước  hết là những người Tây Ban Nha, rồi người Bồ Đào Nha, người Pháp, người Anh, người Ý, người Ai-rơ-len (Ireland) - và trong chừng mục nhất định, tất cả những dân tộc ở châu Âu đã mang lại yếu tố đó. Nhưng sự thừa nhận này không thể làm giảm giá trị của sự bắt đầu nhiệm vụ đó, cuộc phát kiến của Colombo.
Tuy nhiên, gần như hàng năm cuộc tranh luận về giá trị sự nghiệp của Colombo và về vị trí ưu đẳng của ông lại nổ ra trên báo chí châu Âu và Mỹ. Ai đã đến châu Mỹ trước nhất? Không có một người nào có thể tìm ra tuyến đường Đại Tây Dương trước  Colombo hay sao? Những người Bắc Âu đã không tới Greenland và Canada hay sao? Đó là một cuộc tranh luận hoàn toàn không được chứng minh là đúng theo quan điểm khoa học. Vấn đề không phải là cuộc thi đấu thể thao mà là sự xem xét lịch sử. Vấn đề không phải ai là người châu Âu đầu tiên đặt chân lên một bờ biển nào đó trên đại lục châu Mỹ, mà ai là người đưa lục địa mới một cách bất ngờ và ồ ạt vào sự phát triển của nền văn minh, tạo ra bước ngoặt trong lịch sử nhân loại .
Những con người đầu tiên có lẽ đã tới đất Mỹ qua eo đất Bering vào đầu kỷ nguyên đồ đá cũ, cách ngày nay khoảng hai mươi đến hai mươi nhăm nghìn năm. Khi Cristoforo Colombo đổ bộ lên đảo San Salvador trong quần đảo Bahamas, mấy triệu người đã sống tại những lục địa châu Mỹ, từ miền cực Bắc đến miền cực Nam. Dân cư đó đã xác lập vững chắc, vì những nền văn minh lớn đã phát triển trong nhiều thế kỷ trên những lãnh thổ rộng lớn, trong khi những nền văn minh khác cùng một tầm vóc đã suy sụp hay đang tan rã.
Như thế, những cuộc thảo luận ai là người đầu tiên đến châu Mỹ là hời hợt và khó lòng có tính chất khoa học. Không phải là một người mà hàng triệu, hàng triệu người đã đến, hay hơn thế đã có dòng dõi từ nhiều cặp vợ chồng đã đến trong thiên niên kỷ trước năm 1492. Vấn đề duy nhất nghiêm túc là có nhà hàng hải nào từ nền văn minh Hy-Lạp - Công giáo, hoặc từ những nền văn hóa Trung Đông đã đến đây trước  Colombo hay không. Nhưng những cuộc tiếp xúc bất ngờ giữa những người châu Âu, những người châu Phi, hay những người châu Á đơn lẻ với Thế Giới Mới không thể ảnh hưởng và chắc chắn không làm giảm giá trị phát kiến của Colombo. Những công cuộc chắc chắn gây ấn tượng và dẫn tới cuộc phát kiến đã bị lãng quên của người Bắc Âu cũng không ảnh hưởng đến giá trị ấy. Ở đây chúng ta gặp phải những thực tế lịch sử không thể nghi ngờ. Nhưng ngay cả những thực tế lịch sử này cũng bảo đảm cho chúng ta rằng không có một người Bắc Âu nào đã đi tới những vùng đất lạnh giá ở Labrador, hay tới Nuova Scozia và Massachusets thừa nhận rằng ông mình đã tìm thấy một thế giới mới, hay làm cho châu Âu - và cùng với châu Âu, phần còn lại của Thế Giới Cũ - biết về Thế Giới Mới đó. Tương tụ như vậy, không một ai ở Thế Giới Cũ đối diện với Thái Bình Dương hoặc Ấn Độ Dương, không một người nào trong những nền văn minh phương Đông của Trung Quốc và Ấn Độ, biết gì về sự tồn tại của Thế Giới Mới.
Những công cuộc đáng nhớ nhất của người Bắc Âu ở miền Tây-Bắc Đại Tây Dương không có tác động lâu dài đối với lịch sử của nhân loại. Đại lục châu Mỹ vẫn còn gói ghém trong sự huyền bí. Bức màn bí mật này chỉ bị xé tan nhờ thiên tài, sự kiên cường và lòng tin của Cristoforo Colombo. Và như vậy Colombo, và chỉ một mình Colombo, thực sự là "người mở rộng thế giới" như Claudel đã nói. Colombo đã phát minh ra ý nghĩ và đưa ý nghĩ đó đến kết quả.
Colombo đã tiết lộ cho Thế Giới Cũ hai điều lớn. Điều tiết lộ thứ nhất đã được một số học giả thấy trước và một số thủy thủ chờ đợi, nhưng không một ai có can đảm xác minh điều đó: Bên kia Đại Dương không phải là vực thẳm mà là một lục địa nữa. Colombo đã đổ bộ lên đó ngày 12 tháng 10 năm 1492, bắt đầu một Kỷ nguyên mới. Sự tiết lộ khác, hoang đường và thần kỳ cho đến lúc bấy giờ, khi Colombo đến cửa một con sông rộng mênh mông, sông Orinoco. Chiều tối hôm đó, 15 tháng 8 năm 1498, ông đã viết trong Nhật : "Tôi nghĩ rằng đây là một đại lục rộng lớn, từ trước đến nay không ai biết". Mấy năm sau ông viết: "Bệ hạ là chủ của những vùng đất rộng lớn này, những vùng đó là một thế giới khác nữa". "Một thế giới khác, một thế giới mới": Chỉ với công cuộc của Colombo, châu Âu, đạo Hồi, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản mới được biết sự tồn tại của một Thế Giới Mới. Và điều đó đã làm thay đổi tiến trình của lịch sử nhân loại một cách sâu sắc.
Lịch sử nhân loại sẽ như thế nào nếu không có cuộc phát kiến vĩ đại năm đó? Câu hỏi này vô bổ, vì không một lịch sử có giá trị nào dựa trên những giả thuyết nếu. Điều đó cũng ngu xuẩn vì không nghi ngờ gì nữa là nếu Colombo không thực hiện kế hoạch kỳ lạ của mình năm 1492 thì một nhà hàng hải nào khác từ thế giới Công giáo bị cuốn hút vào con sốt đi biển và khảo sát của những thập kỷ cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI, sẽ tiết lộ cho Thế Giới Cũ sự tồn tại của Thế Giới Mới.
Vậy còn lại ba thực tế vững chắc:
1.   Chính do thiên tài của mình Cristoforo Colombo đã hình thành trong tâm trí mình kế hoạch vượt "Biển Đen Tối", mở đường cho việc mở rộng thế giới.
2.   Chính là do một sự trùng hợp mà Genova - Genova của Vivaldi, của Lanzarotto Maroncello, Antoniotto da Noli, và Nicoloso da Recco, Genova của hàng nghìn nhà vẽ bản đồ của các đội thuyền thắng lợi tại những biển Tirreno, Adriatico, Crociate, Egeo và Hắc Hải - đã sinh ra con người mà thế giới thừa nhận là nhà đi biển ưu tú, một trong hai thủy thủ vĩ đại nhất của tất cả các thời đại (người kia là Cook).
3.   Colombo không phải là thiên tài đơn dộc ở nước Ý thế kỷ XV. Thật vậy, lúc này nước Ý chưa phải là một quốc gia; nước Ý chưa đạt được sự thống nhất về chính trị. Nước Ý cũng chưa đạt được sự thống nhất về ngôn ngữ. Chúng ta đã biết khi Colombo rời Liguria, ông biết tiếng Genova và một số yếu tố về tiếng La-tinh của thời này. Ông học tiếng Ý, tức là tiếng Toscana tại Tây Ban Nha trong khi thảo luận những kế hoạch của ông với Đức ông Geraldini người Umbria, và tổ chức những cuộc đi biển của ông với Berardi, Vespucci và những người Firenze khác. Nước Ý chưa có một tiếng nói thống nhất, nhưng nước này đã có một ngôn ngữ văn học thống nhất, từ Veneto tới Sicilia, từ Puglia tới Liguria, từ Calabria tới Ticino, ngày nay là một quận của Thụy Sĩ.
Đã có một nền văn hóa Ý. Và Colombo không phải là một sản phẩm cô lập của nền văn hóa Ý thế kỷ thứ XV mà Genova là một bộ phận chủ chốt. Cristoforo Colombo thuộc Genova là người hành động vĩ đại nhất và điệu kỳ nhất của đầu thời cận đại. Bên cạnh ông, mở rộng những biên giới của địa lý, triết học, chính trị, khoa học, nghệ thuật và âm nhạc là cả một đội ngũ thiên tài nước Ý, những người đương thời với ông. Colombo sinh khoảng năm 1451: Botticelli sinh trước đó sáu năm; Lozenro de Medici và Ghirlandaio sinh trước đó hai năm; Leonardo da Vinci và Savonarola sinh sau đó một năm; Giuliano de Medici sinh sau đó hai năm; Amerigo Vespucci, Pinturicchio và Poliziano sinh sau đó ba năm. Trong khi Colombo đang thu hoạch những kinh nghiệm đầu tiên về đi biển tại những biển Liguria và Tirreno thì đã lần lượt ra đời: Pico della MỊrandola (1463), Machiavelli (1469). Trong khi Colombo đang hình thành trong tâm trí ông ý nghĩ đi tới phương Đông băng đường phương Tây thì đã lần lượt ra đời: Ariosto (1474), Michelangelo (1475), Tiziano (1477) và Rattaello (1483). Khi Colombo đang đến San Salvador (1492) thì Pier della Francesca chết. Khi Colombo đang tìm eo biển để đi vòng trái đất thì Benvenuto Cellini ra đời (1500). Năm Colombo chết, Mantegna cũng chết. Một vài năm sau Pier Luigi da Palestrina ra đời, ông này đã mở những biên giới đi vào những không gian mới của âm nhạc.
Nếu những danh nhân này bị gạt ra khỏi lịch sử thì thời kỳ Phục hưng ở nước ý sẽ biến đi. Không có thời kỳ Phục hưng ở nước Ý sẽ không có thời Hiện đại. Cristoforo Colombo tượng trưng cho thiên tài sáng tạo của nước Ý đã hình thành nên buổi đầu của thời Hiện đại.
 
 
 
 
GHI CHÚ VỀ VIỆC DỊCH.

1.   Cuốn sách này dịch theo bản tiếng Anh "Columbus, The Great Adventure" của Nhà xuất bản Orion Books, New York, 1991, do Luciano F.Farina và Marc A.Beckvvith dịch từ nguyên bản tiếng Ý "La meravigliosa avventura di Cristoforo Colombo" của Paolo Emilio Taviani, do Istituto Geografido de Agostini in tại Novara (Italia) năm 1989.
. Giữa hai bản  có sự sai khác chút ít. Gặp trường hợp có chỗ khó hiểu, chúng tôi đối chiếu và dựa theo bản tiếng Ý.
2.   Các tên người, tên đất trong cuốn sách nàỵ, nếu thuộc về đất nước Italia, thì viết theo tiếng Ý, mà không theo biến thể của từ đó trong tiếng Anh.
Chẳng hạn:
Viết Genova, chứ không viết Genoa.
Viết Venezia, chứ không viết Venice.
Viết Firenz chứ không viết Florence.
Viết Napoli, chứ không viết Naples.
3.   Các tên riêng trong tập sách này (trừ ở bìa sách) được giữ nguyên dạng tiếng nước ngoài, và có phiên âm kèm bên khi từ đó xuất hiện lần đầu tiên. Chúng tôi nghĩ rằng sử lý như vậy sẽ tiện lợi hơn cho các bạn đọc trong việc đối chiếu với các tài liệu khác.
4.   Các chú thích của tác giả được ghi chú (T.G), các chú thích không có ghi chú là của người dịch.
Dù đã hết sức có gắng nhưng bản dịch chắc chắn còn nhiều thiếu sót, chúng tôi mong được sự chỉ giáo của bạn đọc. Xin trân trọng cám ơn trước.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.09.2021 11:05:05 bởi Ct.Ly>
39. CHUYẾN TRỞ VỀ CUỐI CÙNG
 VÀ CÁI CHẾT
 
 
Tháng 2- 1504, không thấy có một giải pháp nào cho những đau khổ độc ác mà Colombo và những người trung thành với ông phải chịu. Mọi người đều tuyệt vọng. Rồi bỏ nơi đồn trú để đi kiếm đồ tiếp tế có nghĩa là phơi mình trước nguy cơ liên tục, những cuộc phục kích và những trận đánh với những tên phản loạn của Porras hay với người Anh- diêng, hiện đang quyết tâm đối địch. Còn trốn tránh trong tàu thì có nghĩa là chết, không phải vì khát – vì nước mưa lâu lâu lại có – mà vì đói.
Một lần nữa bản năng của nhà lãnh đạo lại biểu lộ. Trong số ít sách vở trên tàu, có một bản sao cuốn Ephemerides của Regiomonta no, in tại Nurembreg trước khi sang thế kỷ mới, cuốn sách tiên đoán nguyệt thực và nhật thực trong ba mươi năm tới, trong đó có một nguyệt thực toàn phần vào đêm 29 tháng 2 năm 1504. Trước ngày đó ba ngày, Colombo đã triệu tập một số tù trưởng và nhiều quý tộc đến, như Don Fernando kể lại.
‘‘Giải thích cho họ hiểu qua một người thông dịch rằng : Thượng đế sống ở trên trời, và họ là bề tôi của Thượng đế. Thượng đế bảo vệ cho người tốt và trừng phạt những kẻ ác. Thấy những người Thiên chúa giáo nổi loạn, Thượng đế đã không cho phép họ đến Hispaniola, trong khi đó Méndez và Fieschi đã được phép. Còn những người Anh diêng, thấy họ ít quan tâm mang thức ăn đến cho những người Tây ban Nha, Thượng đế tức giận nên đã quyết định đưa nạn đói và nạn dịch đến cho những người đó. Thượng đế ban một dấu hiệu rõ ràng từ trên trời để người Anh -diêng biết chắc chắn rằng Thượng đế sẽ trừng phạt. Do đó ba đêm nữa người Anh – diêng nên chú ý một cách cẩn thận khi mặt trăng đang mọc ; họ sẽ thấy mặt trăng tức giận và nổi nóng, báo hiệu sự rủi ro Thượng đế sẽ mang đến cho họ’’
Nguyệt thực đã xảy ra như tiên đoán.
Người Anh -diêng sợ hãi và khủng khiếp. Họ kêu gào than vãn, chạy từ mọi phía tới những tàu biển, mọi cách can thiệp với Thượng đế cứu họ. Colombo nói rằng ông muốn nói chuyện một thời gian ngắn với Thượng đế và lui về căn lều của ông trong khi nguyệt thực tăng lên. Khi Colombo trông thấy mặt trăng bắt đầu sáng dần lên, ông đi ra, nói rằng ông đã van xin Thượng đế từ nay trở đi, người Anh – diêng nên đối xử tốt với những người Công giáo, mang thức ăn cùng nhu yếu phẩm khác đến cho họ.
Colombo đã đo thời gian nguyệt thực bằng đồng hồ cát và như vậy ông có thể tính độ kinh của Giamaica. Những tính toán của ông ghi lại trong cuốn Sách Tiên tri.
‘‘Ngày thứ năm, 29 tháng 2 – 1504, khi tôi ở vùng đảo Indie trên đảo Giamaica trong cảng Santa Gloria, có một nguyệt thực. Vì nguyệt thực bắt đầu trước lúc mặt trời lặn tôi chỉ có thể quan sát lúc nguyệt thực kết thúc, khi mặt trăng vừa lấy lại được ánh sáng toàn bộ, và điều đó xảy ra hai giờ rưỡi sau khi màn đêm buông xuống’’.
Lấy thời gian chính xác của nguyệt thực ở Cadice trong cuốn niên lịch Colombo đã tính rằng ‘‘Sự chênh lệch giữa trung tâm đảo Giamaica trên đảo Indie và Cadice ở Tây Ban Nha là bảy giờ mười lăm phút; tức là, tại Cadice mặt trời lặn bảy giờ mười lăm phút trước khi lặn tại Giamaica.’’
Đây là một mưu kế thông thường. Colombo phải chỉ rõ rằng những vùng đất mới nằm ở bên kia đường thỏa thuận theo Hiệp Nghị Tordesillas, do đó thuộc về châu Á và như vậy thuộc về Tây Ban Nha, vì vậy ông đã viết bảy giờ một phần tư thay vì bốn giờ ba phần tư như trong thực tế. Hiển nhiên đó là một mưu mô, nếu xem xét việc ông tính đường kinh tuyến. Khác với tình hình trong chuyến đi thứ nhất, ông không bận tâm bởi những cuộc tranh cãi về kinh tuyến với nhười Bồ Đào Nha vì đường ranh giới giữa lãnh thổ của hai quốc gia trên bán đảo Iberia hiện là Bắc nam thay vì Đông tây. Tính toán của ông về kinh tuyến gần như hoàn hảo: ‘‘Tại cảng Santa Gloria, Giamaica, độ cao của ngôi sao Bắc đẩu là 18°. Kinh độ chính xác của vịnh Santa Gloria là 18° , 26°, 45°, như vậy Colombo sai dưới nửa độ. Quả thực Colombo được lợi ở chỗ có một cái bục ổn định và có cả năm để làm lại những quan sát và đạy được con số trung bình. Tuy nhiên, đây là môt tính toán chính xác nhất về kinh độ mà chúng ta biết từ đầu thế kỷ XVI.
Sự kiện nguyệt thực đáng xem xét. Trong điều kiện khổ cực, Colombo không những một lần nữa là một nhà lãnh đạo mà còn là một nhà địa lý giỏi, một người khảo sát sắc bén những hiện tượng tự nhiên, và một nhà vũ trụ học tài năng. Chứng cớ về điều đó là ông tính toán kinh độ gần chính xác, chứng cớ đó cũng chứng tỏ rằng khi ông cho vĩ độ của Cu Ba là 42°, ông không mắc sai lầm mà, như tôi đã nói, nói dối một cách có mục đích, để không cho người Bồ Đào Nha có cơ hội, hoặc giúp đỡ bằng cách nào đó cho các đối thủ có thể đi theo. Ở đây trên bờ biển Santa Gloria ông không cần nói dối về đường kinh tuyến nữa, và những con số của ông là chính xác.
Mặc dù Colombo làm chủ tình hình nhưng hoàn toàn cảnh vẫn còn bi đát. Sự khổ cực, nỗi lo sợ và những thì thầm bàn tán tang lên với thời gian, và sự phiền nhiễu bắt đầu. Bernal, chuyên viên, một nhà bào chế và thầy thuốc của đoàn tàu, bị tình nghi đầu độc một số người ốm để trả thù. Bernal quyết tâm ám sát Colombo để Colombo không đưa ra những lời buộc tội ông ta tại tòa án Tây Ban Nha. Bernal đã lôi kéo bốn thủy thủ tham gia kế hoạch và đã âm mưu cướp những ca nô mới mua của người Anh – diêng để vượt biển tới Hispaniola. Đúng đêm Bernal chọn để thi hành kế hoạch thì một chiếc buồm xuất hiện. Niềm vui của thủy thủ cũng tràn ngập đến cả những kẻ đồng lõa; họ chạy đến xem một chiếc tàu có hai buồm nhỏ thả neo gần bờ biển. Một chiếc thuyền đến tàu Bermuda; những người chèo thuyền yêu cầu một dây thừng. Họ gửi lên một thùng rượu, một phần tư lợn muối và một bức điện. Rồi người thuyền trưởng lớn tiếng yêu cầu nói chuyện với Colombo.
Người thuyền trưởng là Escobar, một đồng lõa với Rolda1n, bị kết án tử hình vì tham gia vào cuộc nỗi loạn, nhưng sau được thưởng vì đã phản bội long tin của Roldán. Mặc dù bị xuac1 phạm bởi sự lựa chọn người sứ giả, Colombo đi ra khỏi buồng của ông. Escobar nói to lên rằng trong thời gian trước mắt, Tổng trấn của ông ta không có đủ tàu biển để đến đây đưa Colombo và những người của ông về, nhưng sẽ đến chở họ ngay khi có thể thực hiện được. Nếu Colombo muốn viết thư cho Ovando ông nên làm như vậy ngay tức khắc, vì chiếc tàu hai buồm phải trở về không chậm trễ.
Nhận được bức thư gửi cho Ovando, Escobar trở về tàu của ông ta, trong thư Colombo kể lại chi tiết cuộc nổi loạn của Porras và nhiệt liệt khen ngợi Méndez và Fieschi. Nhổ neo và giương buồm chiếc tàu hai buồm biến vào trong đêm.
Cuộc khảo sát thứ nhất do Tổng trấn Ovando cử đi có vẻ hơi lạ. Ông ta gửi một thùng rượu và một phần tư con lợn muối đến cho rất nhiều người đói và ốm. Ông đã cử Diego de Escobar, một đại úy trước đây trong số những người nỗi loạn dưới quyền Roldán làm chỉ huy tàu và do đó Ovando đã chọn một cách có chủ định, vì viên Tổng trấn biết rõ rằng Diego de Escobar là một kẻ thù của Colombo ‘‘vì những việc đã qua’’. Như Las Casas nhận xét, Escobar được lệnh không lên những tàu đã được đưa vào bờ biển, không lên bờ và không nói chuyện với bất cứ người nào của Colombo.
Sự thất vọng trong số những người bị hỏng tàu là lớn, nhưng một lần nữa Colombo tỏ ra làm chủ được mình. Ông nói rằng vì chiếc tàu hai buồm quá nhỏ để chở mọi người, ông đã quyết định ở lại cho đến khi Méndez có thể gửi một tàu đủ lớn. Rồi ông cố giảng hòa với những người nổi loạn của Porras. Hai người được cử đến trại của những người nổi loạn mang theo một phần lớn thịt lợn muối do Ovando gửi đến để làm bằng chứng là tàu đã đến và đưa ra sự tha thứ chung. Porras đã đưa ra nhiều điều kiện và yêu cầu - nhiều thức ăn và quần áo và nhiều chỗ trên tàu - đến nỗi những sứ giả bị xúc phạm và ngừng một cách bất ngờ những cuộc thương lượng. Rồi những người nổi loạn tiến về Santa Gloria, tin rằng họ có thể dễ dàng chiếm những chiếc tàu biển đã đưa lên bờ. Colombo giao nhiệm vụ phòng thủ cho Bartolomeo. Bartolomeo tập hợp năm mươi người mặc áo giáp và dẫn họ lên đồi đàng sau bãi biển để nghênh chiến với những người nổi loạn ngay lập tức.
Porras, dựa vào những người khỏe mạnh nhất trong số những người theo ông ta, ông ta cười khi thấy những binh lính đi ra từ khoang dành cho người ốm trên tàu để chiến đấu, và ông ta tin vào thắng lợi. Nhưng Porras sợ Bartolomeo đến nổi ông ra lệnh cho sáu người giỏi nhất tấn công Bartolomeo và giết ông ta. Nhiều người Anh-diêng ở cạnh cuộc xung đột được ngắm nhìn trận đánh giữa những bộ mặt xanh bùng. Đó là ngày chủ nhật, 19 tháng 5-1504. Khi hai bên giáp nhau, Francisco de Porras dẫn đầu cuộc tấn công, kêu lên "Giết! Giết!". Người khỏe nhất tiến đến Bartolomeo và vây lấy ông, nhưng chỉ một cú ông đã giết hoa tiêu Juan Sánchez và bằng sự nhanh nhẹn không thể tưởng tượng được, ông đã đánh ngã năm người khác đã thề giết ông. Rồi Porras đến và chém Bartolomeo một cú mạnh bằng thanh kiếm của ông ta, đập vỡ khiên của Bartolomeo và làm ông bị thương ở tay. Lưỡi kiếm của Porras đâm ngập khiên và không rút ra được nữa. Bartolomeo đã có thể giết Porras, nhưng Bartolomeo để cho ông ta sống. Porras vùng tháo chạy nhưng bị Bartolomeo quật ngã, tước vũ khí và giao cho những người của ông như một tù nhân. Rồi Bartolomeo dẫn đầu cuộc phản công và giết Juan Barba, người đầu tiên rút kiếm chống lại Colombo. Những người phản loạn còn lại bỏ chạy. Về phía Colombo chỉ có một người chết, một người bồi của Colornbo bị một vết thương nhẹ ở bên sườn và mọi người cho rằng có thể qua khỏi được. Ngược lại, Pedro de Ledesma, một trong những người phản loạn, sống sót mặc dù bị thương nặng khác thường; câu chuyện của ông này đáng kể lại. Ông ta bị một vết thương nặng ở đầu có thể trông thấy cả óc ông ta; một cánh tay bị chém, lủng lẳng vô dụng ở vai, như một con gà gô đang rơi; một cẳng chân cũng bị chém ở một bên đùi, cũng lủng lẳng như một chiếc giày không buộc; gan bàn chân của ông bị cắt như đế một chiếc dép đi trong nhà bị gẫy. Những sự so sánh này là từ Don Fernando và Las Casas. Las Casas tiếp tục:
"Khi Pedro de Ledesma nằm trên mặt đất, những người Anh-diêng đến xem và sờ những vết thương lớn mà kiếm Tây Ban Nha có thể gây ra. Nhưng khi họ quấy rầy ông, Pedro kêu lên, "Coi chừng! Tao có thể trở dậy!". Những người Anh-diêng chạy trốn vì cơ thể bị thương của ông ta vẫn còn rất khỏe và giọng nói của ông ta còn rất mạnh. Pedro de Ledesma nằm trên mặt đất ngày diễn ra cuộc chiến và cả ngày hôm sau, khi những bạn đồng đội tìm thấy ông. Một bác sĩ chữa những vết thương của ông bằng dầu thay vì bằng nhựa thông trong tám ngày, và mỗi ngày ông ta lại thấy những vết thương mới. Cuối cùng Pedro hồi phục. Tôi đã trông thấy ông ta, khỏe như không có điều gì xẩy ra, nhưng một ít ngày sau tôi được, biết Pedro đã bị giết trong một cuộc ấu đả".
Những người bại trận tìm cách xin lỗi, Colombo nhận lời xin lỗi với hai điều kiện: Francisco de Porras vẫn bị xiềng, còn những người khác không được ở lại trên tàu, vì không có đủ thức ăn. Họ phải sống ở một nơi khác cho đến khi chiếc tàu từng mong đợi đến.
Don Fernando và Las Casas nhất trí rằng những người nổi loạn đã đầu hàng ngày 20 tháng 5 năm 1504. Cuối cùng cũng trong tháng 5, Méndez đã trang bị được một chuyến tàu cứu trợ. Ovando không cho phép ông sử dụng một chiếc tàu ở Santo Domingo, và ông đã phải đợi những tàu từ Tây Ban Nha đến. Sau một thời gian chờ đợi lâu dài, cuối cùng ba tàu đã đến. Trong số đó, có một tàu nhỏ do Méndez thuê, được cung cấp thức ăn và gửi đến Giamaica dưới quyền chỉ huy của Diego de Salcedo. Theo lệnh của Colombo, Méndez trở về Tâỵ Ban Nha trên một trong những chiếc tàu khác, mang theo những bức thư gửi cho Vua và Hoàng hậu và Cha Gorricio. Chiếc tàu nhỏ tới Santa Gloria cuối tháng 6 năm 1504. Don Fernando viết: "Trên chiếc tàu đó chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình, những người bạn và những kẻ thù". Họ đi ngày 28 tháng 6 và đã ở Santa Gloria một năm bốn ngày. Với một cột buồm chính tồi tệ và xảm không tốt, chiếc tàu nhỏ chỉ nổi thôi. Mất một tháng rưởi tàu mới đến Santo Domingo.
Ngày 13 tháng 8 năm 1504, Ovando đã tiếp Colombo khá lịch thiệp, nhưng ông chỉ đơn thuần theo nghi lễ. Một trong những hành động đầu tiên của ông là trả tự do cho anh em Porras, viện lý rõ ràng rằng Colombo không có quyền trên vùng đảo Indie, nên không thể trừng phạt được. Mặc dù đấu tranh đòi những quyền lợi và quyền lực đến cùng, Colombo vẫn chịu khuất phục. Như vậy một thái độ nhẫn nhục đáng buồn, kết thúc cuộc phiêu lưu phát kiến vĩ đại.
Những ghi chú ngắn gọn sau đây, bỏ qua những cuộc phát kiến thêm, do những nhà hàng hải Tây Ban Nha táo bạo khác thực hiện, tiếp theo bốn chuyến đi vĩ đại của Colombo. Những lời ghi này chỉ liên quan đến hai năm cuối cùng của cuộc đời Colombo, những năm ông gặp khó khăn vì ốm yếu và vì thất bại trong những cố gắng kiên cường đau đớn đòi khôi phục lại những quyền lợi và đặc quyền mà ông vẫn tin là của ông.
12 tháng 9 năm 1504; Colombo lên tàu biển tại Santo Domingo để về Tây Ban Nha. Cùng đi với ông là con trai ông, Don Fernando, anh ông, Bartolomeo, và hai mươi hai người khác. Một số người sống sót từ Santa Gloria lên chiếc tàu nhỏ đã cứu họ từ Giamaica, còn thì hầu hết ở lại Santo Domingo. Một sổ sẽ là những người định cư đầu tiên ở Puerto Rico.
7 tháng 11 năm 1504: Hoàng hậu Isabella chết tại Medina del Campo. Bà ta đã lắng nghe một người thủy thủ chưa rõ tên kể chuyên, cảm nhận tài năng của ông, bảo vệ sự nghiệp của ông, tôn trọng kỳ tích của ông.
Tháng 5 năm 1505: Colombo và Bartolomeo đến triều đình, ở Segovia, và được vua Ferdinando tiếp kiến tôn nghiêm nhưng lạnh lùng. Theo đòi hỏi của Colombo, nhà vua cho phép ông chỉ định một người làm trung gian cho những lợi ích của ông. Colombo chọn Cha Deza, Tổng giám mục Siviglia, người Dominic đã ủng hộ Colombo từ thời gian họ gặp nhau tại Salamanca cho đến khi kết thúc những cuộc thương lượng mệt nhọc với nhà vua về chuyến đi phát kiến đầu tiên.
Suốt một năm, Colombo sống với những hy vọng, những ảo tưởng, những nỗi thất vọng và đau buồn. Ông đã theo triều đình tới Valladolid, tại đây ông cố gắng yêu cầu được tiếp kiến những vị vua mới của Castiglia: Infanta Juana và chồng bà là Philip người nước Áo. Ông không nghèo, như truyền thuyết thường nói; ông có tiền và được gia đình, bè bạn, có đầy tớ xum vầy và giúp đỡ. Nhưng ông bị triều đình bỏ rơi và công chúng lãng quên.
20 tháng 5 năm 1506: Nhà thủy thủ vĩ đại nhất của tất cả các thời đại, nhân vật chính sáng ngời của cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất trong lịch sử, chết tại Valladolid, đêm trước  của ngày lễ Lên trời. Lời cuối cùng của ông khi được làm lễ xức dầu lớn nhất là "Ôi Chúa, con giao linh hồn con vào cánh tay Người".
Biên niên sử chép tay ở địa phương đã ghi câu này: "Đô đốc Colombo, người đã phát kiến ra vùng đảo Indie và nhiều vùng đất khác, chết ở thành phố này ngày thứ tư, đêm trước lễ Lên trời, 20 tháng 5 năm 1506”. Nước Tây Ban Nha, châu Âu và phần còn lại của thế giới không nhận được tin tức về cái chết của ông.
Nơi Colombo sống những tuần lễ cuối cùng chắc chắn là trung tâm Valladolid. Một viên đá trên những bức tường còn lại của một ngôi nhà cũ ghi "Colombo chết ở đây”. Nghi lễ an táng được cử hành tại nhà thờ Santa Maria de la Antigua. Thi hài ông được chôn tạm trong tu viện San Francesco (nhà thờ nhỏ Luis de la Cerda) cho đến ngày 11 tháng 4 năm 1509, rồi được chuyển đến tu viện Las Cuevas di Siviglia, một trong những tu viện lớn nhất trong thành phố. Cha Gorricio, người gần gũi, bạn tâm tình của Colombo ở đó. Thi hài Colombo ở đó trong mấy thập kỷ, cho đến khi có quyết định rằng nơi an nghỉ cuối cùng của Colombo nên ở những vùng đất Colombo đã phát kiến, nhất là ở Hispaniola, nơi trụ cột của việc Hispaniola hóa châu Mỹ trong thế kỷ thứ XVI. Chuyển thi hài năm nào thì không biết chắc; có thể là trong khoảng từ năm 1537 đến năm 1559. Rồi trong một thời gian, tại thành phố Santo Domingo - thành phố duy nhất trong những thành phố do Colombo, hoặc anh em ông thành lập, tên của ông gợi nhớ tới địa vị cao nhất của Nhà phát kiến - là nơi chôn cất hài cốt của Colombo và của Diego, con trai ông; Bartolomeo, anh của ông; Don Luis, viên Đô đốc thứ ba; Don Cristóbal, con trai của viên Đô đốc thứ ba. Năm 1795, với hiệp nghị Basel, Tây Ban Nha nhường cho Pháp phần của mình về đảo Hispaniola, và Quận công xứ Veragua quyết định mang thi hài của Colombo tới Havana. Hài cốt được đặt một cách trang trọng trong chiếc tàu hai buồm Descubridor và chuyển đến Cuba. Tại Havana, những hài cốt được đặt gần bàn thờ sách Phúc âm trong nhà thờ lớn, dưới một phiến đá khắc dòng chữ như sau:
Hài cốt và chân dung của Colombo vĩ đại,
Trong một nghìn thế kỷ ông sẽ tiếp tục tồn tại trong bình đựng di cốt
Và trong trí nhớ của dân tộc chúng tôi.
Nhưng ngay cả tại Havana di cốt của Colombo, hay hài cốt mà người ta cho là của Colombo, cũng không được yên. Mỹ chiếm Cuba năm 1898, chính phủ Tây Ban Nha mang hài cốt của Colombo về châu Âu, tại đây, sau khi vượt Đại Tây Dương, cuối cùng hài cốt được đặt vào mộ đài, do nhà điêu khắc Arturo Mélida xây tại Nhà thờ lớn Siviglia, đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ bốn trăm ngày phát kiến ra châu Mỹ.
Tôi nói ‘‘hài cốt của Colombo, hay hài cốt mà người ta cho là của Colombo" vì năm 1877 toàn bộ vấn đề nhận dạng hài cốt của nhà Phát kiến vĩ đại đã bị lật ngược bởi một giải thích giật gân nhưng chi tiết của Đức ông F.Rocco Cocchia, Giám mục ở Oropa và đại diện Tòa thánh tại Santo Domingo (1); Giám mục Rocco Cocchia nói rằng ông đã thấy mộ của Don Luis Colón tại chính điện nhà thờ lớn và mộ của Colombo ở gần đó (lời khẳng định của ông được sự hỗ trợ của những người Genova khác sống tại Santo Domingo). Nhớ lại tác phẩm nổi tiếng Thư gửi Cesare Cantù về việc phát hiện hài cốt của Critoforo Colombo, xuất bản năm 1877 trong Tạp chí khảo cổ lịch sử và mỹ thuật(2),  Cocchia cho rằng hài cốt của Colombo không bao giờ rời khỏi nhà thờ lớn Santo Domingo. Những hài cốt chuyển đến Havana là hài cốt của Don Diego, hoặc do nhầm lẫn, hoặc do mưu đồ những người Đô-mi-nic quản lý nhà thờ lớn năm 1795 muốn giữ những hài cốt quý giá nhất này. Một số chuyên gia ngày nay cũng đồng ý như vậy. Một số người vẫn cho rằng tro hài cốt của Colombo vẫn ở Santo Domingo. Năm 1878, do sáng kiến của viên công sứ Vương quốc Ý Luigi Cambiaso, một người thành phố Genova, đã lấy một phần nhỏ tro hài cốt đó (cũng như Venezuela và Trường Đại học Pavia đã lấy (3).
 Tuy nhiên tại Tây Ban Nha, nhiều người tin rằng di cốt của Colombo quả thật đã đưa đến Havana năm 1795 và "những phát hiện" của Cocchia không đáng xem xét. Một số người tin rằng Colombo vẫn được chôn tại đất bao quanh tu viện Las Cuevas, trong khi một số khác tưởng tượng rằng di cốt của Colombo để tại Valladolid, Puerto Rico, hoặc ở một nơi nào khác. Cũng như sự sinh trưởng của ông, sự chết của Colombo là chủ đề của huyền thoại; những người không đi sâu vào khoa học đã làm tăng thêm những lý thuyết tưởng tượng và tạo ra những chuyện hoang đường viễn vông. Tôi cho rằng những gì còn lại về nhà hàng hải vĩ đại là ở ngôi mộ cổ tại Santo Domingo, mặc dù chúng ta không thể chắc chắn về điều này như chúng ta chắc chắn về nguồn gốc Genova của ông, bây giờ được chứng minh bằng cả tài liệu lẫn chứng cớ về văn hóa.
 
Chú thích :
 (1) Nói một cách chính xác là: Đức ông D.Fr.Roque Cocchia, thuộc dòng tu Hành khất, Giám mục Oropa, Đại diện Tòa thánh tại nước Cộng hòa Santo Domingo, Haïti và Venezuela và Khâm mạng Tòa thánh địa hạt Santo Domingo (T.G).
2. Nguyên văn tiếng ý:
Leltera a Cesare Cantù sulla scoperta delle ossa di Cristoforo Colombo; Giornale lingnistico de archeologia, storia e belle arti.
(3) Venezuela lấy một số tro vì trên bờ biển của nước này Colombo đã phát hiện ra đại lục Nam Mỹ năm 1498; trường Đại học Pavia lấy một ít tro vì năm 1878 người ta vẫn còn tin vào câu chuyện tưởng tượng của Don Fernando: Trong cuốn Historia, để tôn vinh trí nhớ của cha và phủ nhận nguồn gốc khiêm nhường của mình, ông đã nói rằng cha ông đã nghiên cứu tại trường Đại học đó. Ngày nay, người ta không còn hổ thẹn về nguồn gốc khiêm nhường như thời xưa (T.G).




0
«« « 1 2 » »»