📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Bên Cạnh Rong Rêu - Tạ Mỹ Dương 🔒

26 trả lời, 71 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.09.2021 23:18:57 bởi Ct.Ly>
Muc Lục:

Những tiếng gõ nhẹ vào ký ức
 Cái giếng nước   
Phố cũ miên man   
Những gánh hàng rong   
Ngày nào thì cũng   
Quả đấm cửa   
Nơi sinh và chứng vật đời người   
Cây sấu Hà Nội   
Bên cạnh rong rêu   
Thời bao cấp   
Di sản   
Đời cau, phận chuối   
Kiếp rạ rơm   
Phận xe đạp   
Xa lạ trước hoàng hôn   
Khát   
Hộp bí mật   
Nhuộm tóc về quê   
Quê   
Ngồi   
Gừng cay, tuyết trắng   
Quyền được không phải là mình   
 Phố nhỏ, lãng đãng bước chân…   
Người của con đường   
Lụa Hà Đông   
 Quản gia, quản lý, làm vườn - thời và người   
Thợ giày hè đường   
Thuốc hôi nách hiệu con Ba Ba   
 Đường Lâm, làng và (một vài) người   
 Biển mùa đông   
Rờn rợn   
Người đàn bà bên bức tường gạch cũ   
Từ ao làng đến đài phun nước   
Giai phố cổ   
 Phở Nội Bài   
Căn phòng nhỏ của một nhà văn hóa lớn   
Cụ Cẩn   
Cao bồi già hay nhà hiền triết trẻ   
Tứ bình nude   
Họa sĩ với sex và nude   
 Khách Hà Nội   
Bích Được   
Đêm phiền muộn   
Đi khách   
Một ngày buồn   
 
Bên Cạnh Rong Rêu
Tạ Mỹ Dương
 
Tản Văn (Tập truyện ngắn)
Nhà xuất bản TRẺ
 
 
Xin chân thành cảm ơn kiến trúc sư, nhà báo Vương Thừa Bình, nhà thơ Đỗ Trung Quân, họa sĩ Lê Thiên Hương.
 
 Lời mở đầu
“Tinh thần và linh hồn nơi chốn được tạo ra từ những mối liên hệ bản chất, có tính gắn bó như máu thịt giữa người và vật. Cái phần đời đã sống, đã diễn ra ở đó tạo nên một thần khí bao phủ khắp nơi ăn chốn ở, bám chặt vào những chỗ ngóc ngách nhất, nó sẽ chả bao giờ mất đi đâu dù ta có xoay chuyển đồ vật hoặc chả làm gì cả, dù đi đi về về thế nào thì ở đấy vẫn cứ là cái không gian muôn thuở. Thế nhưng cũng vẫn là những chứng vật kia, lối sống cũ kỹ, niềm hoài cảm lúc nào cũng rưng rưng trong lòng ấy, nếu dịch chuyển đến một nơi chốn khác thì không bao giờ còn là chúng nữa.”
 
 
“Những cuộc di chuyển”
 TẠ MỸ DƯƠNG
 *
“Những bài viết, chỉ gọi là tản văn chắc không đúng, thôi thì cứ gọi thế, tập hợp trong khoảng 15 năm trở lại đây, chúng là những câu chuyện khác nhau về thành phố, không phải một mà nhiều thành phố trên thế giới. Với một kiến văn đáng nể, mỗi thành phố có một câu chuyện, mỗi vỉa hè có một câu chuyện. Nhưng thích nhất là nghe ông kể về lịch sử một ngôi nhà, ngôi nhà của ông nhưng cũng sẽ là ngôi nhà của nhiều gia đình như thế trong Hà Nội. Một cuốn biên niên sử gia đình được viết hay tuyệt. Những câu chuyện chỉ là ngăn ngắn, ‘‘Lụa Hà Đông”, về những phụ nữ trong gia đình ông, mang dáng dấp một cuốn tiểu thuyết, nếu cứ kéo đủ dài chữ cho từng số phận. Đọc xong Bên cạnh rong rêu, thấy lịch sử cả thành phố, với bao đời người từ xưa đến nay với bao lận đận”.
 
HÀ PHẠM
Nhà báo
 
Thay lời tựa
NHỮNG TIẾNG GÕ NHẸ VÀO KÝ ỨC
 
 
 
Để dành vỏ quýt, vỏ cam phơi khô thỉnh thoảng có vỏ Hồng bì xách ra ông lang Thủ Tạ “cho cháu đổi…” “Cháu muốn Cam Thảo hay Táo Tàu?” ông lang Tạ cân gói vỏ khô trên cái cân tay cân thuốc Bắc “5 quả Táo Tàu, Cam Thảo thì nửa lạng”.
 
Ông lang áo trắng như ông tiên mở hộc thuốc Bắc có dán giấy Hồng điều ghi tên thảo dược, mấy trái táo tàu gói trong giấy bản “Của cháu đây!”. Thằng bé đút túi quần đi học. Sướng mê.
 
Đấy là chuyện của nửa thế kỷ trước, khi thằng bé lên 8, lên 10. Sống khu chợ ông Tạ, cái chợ người Bắc di cư thứ gì cũng có: sấu, cốm xanh, bồ quân, hồng bì vv… Lớn lên mới một hôm tự hỏi “Ủa ! sao đất nước còn chia cắt mà thứ gì của Hà Nội cũng có ở cái chợ này là sao nhỉ?” Hỏi rồi tìm câu trả lời, hóa ra những sản vật ấy đi vòng vèo đến Nam Vang - Campuchia, rồi từ Nam Vang vào Việt Nam đến những chợ người miền Bắc di cư. Rõ rồi, không thắc mắc nữa.
Mùi Hồng bì hàng chục năm nằm yên trong ký ức - Nó ngủ một giấc dài cho đến khi có người đánh thức: Tạ Mỹ Dương.
Mùi Hồng bì có lẽ là thứ khó mô tả hạng nhất trong các mùi, nó lướt qua khứu giác rất nhanh chỉ vài giây, nó không giống bất cứ mùi nào có tinh dầu trong những thứ vỏ có tinh dầu Bưởi, Quýt, Cam, Chanh… Nó bí ẩn như mùi hương của một phụ nữ bí ẩn. Đẹp mơ hồ, khiêu gợi mơ hồ, mùi da thịt cũng thơm nhanh đến tưởng như không có thật.
Ông kiến trúc sư họ Tạ này mô tả nó tinh tế bất ngờ mà cũng sexy bất ngờ cứ như nó không phải một loại quả mà là một phụ nữ tắm đêm, ẩn hiện trên bờ giếng quê một đêm trăng sáng xa xưa nào đó.
Viết về Hà Nội thì nhiều rồi, nhưng viết về Hà Nội tới nỗi ngửi được mùi khai của cái đường rãnh thời Tây, một Hà Nội vỉa hè dinh dính cả váng dầu mỡ hàng quán, một Hà Nội nhếch nhác bởi bao cấp, chiến tranh nhưng nhờ thế bỗng u hoài trong tranh, trong hội họa. Nhờ thế mà trong cái xô bồ, lộn xộn thanh lịch kề cận du côn, thanh nhã kề bên bỗ bã, bặm trợn. Một Hà Nội đỏm dáng lẫn nhà quê mà nếu không như thế một người cất Hà Nội trong tiềm thức như tôi bỗng một hôm giật thót mình…
Mùi Hồng bì vừa thoảng nhanh qua khứu giác.
Và một hồi chuông thỉnh sớm lúc 6 giờ sáng mang theo cả mùi hương trầm trên bàn thờ Phật - Gia tiên…
Thời gian như lùi về đâu đó, rất xưa… Của tôi - 60 năm trước ở Sài Gòn.
 
ĐỖ TRUNG QUÂN
Nhà thơ




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.09.2021 22:54:13 bởi Ct.Ly>
Cái giếng nước
 
 
Chả hiểu sao trong khuôn viên ngôi biệt thự ở giữa lòng Hà Nội được xây từ thời thuộc địa lại hiện hữu một cái giếng thơi! Không phải là giếng giả mang tính trang trí như ta vẫn thấy đâu đó trong những biệt thự mới bây giờ, mà là một cái giếng thật sự. Nó được đào từ bao giờ, không ai biết. Sau này khi lớn lên tôi thường tự hỏi: Phải chăng đây là dấu tích của một thời xa lắm, khi mảnh đất này còn là một xóm, một làng của Hà Nội cũ chưa xuất hiện các ông Tây thực dân đến và xây cất lên cái khu phố toàn biệt thự này? Và vị kiến trúc sư lãng mạn nào đó đã “có lòng” với nó, muốn lưu giữ nó lại như một di vật lịch sử khi thiết kế ngôi biệt thự. Như trường hợp cái cột ống khói vẫn hiên ngang trước khách sạn 5 sao Horison hiện nay, là dấu tích nhà máy gạch Đại La từ thời Pháp.
 
Nằm khiêm tốn ở một góc sân, bên bức tường rào đầy rêu phủ, cái giếng cách với nhà bếp bằng một sân nước nhỏ, nơi luôn đưa ra mùi thoang thoảng, chua chua từ thùng nước gạo - thứ mà nhờ nó, các gia đình ở đây thường nhận được những cái chổi lúa thơm phức mùi rơm do các chị nông dân ngoại thành mang tới đổi. Cái giếng nước, mảnh sân, nhà bếp như ba thành phần của một cơ thể không tách rời nhau được, tạo nên một “tổng thể” nhỏ mang đầy tính xã hội và con người. Bên thành giếng, một cây nhãn già xum xuê tỏa bóng giữa trưa nắng. Đây là nơi giao tiếp của cả người lớn và trẻ con. Nơi mỗi sớm sớm chiều chiều các gia đình cùng ngồi giặt giũ, vo gạo, nhặt rau, mổ cá, làm gà, rửa bát… và họ chia sẻ cùng nhau những câu chuyện tâm tình hay nói về giá gạo, giá rau ngoài chợ. Những tiếng cười rúc rích, tiếng gọi ơi ới và cả những lời thì thầm bí mật của mấy cô cậu lên mười. Bên thành giếng đó, “một chiều cuối năm khi thành phố lên đèn, anh thẹn thùng vội vã nắm tay em” (thơ NTĐ), có một lần tôi đã ghi như thế trong cuốn sổ nhỏ thời niên thiếu của mình.
 
Vào những ngày hè oi ả, cái giếng là cứu tinh cho cả khu tập thể khi những giọt nước máy chầm chậm nhỏ ra như giọt cà phê.
Lòng giếng thật sâu, nước giếng thật trong và vô cùng mát. Người lớn thường thả xuống những bình bia hơi ngâm dưới giếng những ngày nóng nực. Có một cái bơm tay rất cũ, được sản xuất từ đầu thế kỷ 20, vẫn còn nguyên hàng chữ Pháp. Trông nó sù sì, gân guốc theo kiểu dáng của những vật dụng cơ khí cổ thời mới được phát minh. Trẻ con dăm bảy đứa, đen đủi, gầy gò, thay nhau đánh đu lên cánh tay đòn, đứa bơm, đứa tắm.
Trong sự tĩnh lặng với hình khối vuông vức của tòa nhà và các bức tường, cái giếng tròn như một giọt nước lung linh rơi xuống phá tan đi không khí nóng nực của trưa hè oi ả.
Năm tháng trôi qua, cuộc sống nhiều thay đổi. Lớn lên sống ở xa, mỗi lần về lại ngôi nhà cũ là một lần tôi nghe lòng se lại. Lũ trẻ con xưa đã thành người lớn, các cụ già người còn người mất. Kẻ ra đi, người ở lại, những đứa bé được sinh ra, sân vườn xưa đã hẹp đi nhiều. Thay vào đó là những căn hộ bê tông mới, khép kín và lạnh lùng với những lối đi chật hẹp lúc nào cũng lênh láng nước. Chẳng còn đâu không khí cởi mở ấm áp tình người của thời có cái sân nước chua chua mùi nước gạo năm nào. Niềm an ủi duy nhất còn sót lại của tôi - cái giếng nước - vẫn còn kia, nhưng trông buồn và cô đơn lắm. Nó đầy vẻ tư lự như một cụ già ngồi trầm ngâm lặng lẽ nhìn vật đổi sao dời. Bây giờ mỗi gia đình đã có một “giếng nước” nhỏ nhoi của riêng mình, là những cái hố vuông mỗi cạnh chừng ba tấc, được đào ngay trước đồng hồ nước để người ta trữ nước máy rỉ ra từ đường ống rồi bơm lên vật chứa trên nóc nhà. Chẳng hiểu sao, nước giếng bây giờ vẫn trong nhưng không còn như xưa nữa. Những chiếc lá rơi đầy lòng giếng, thoáng tanh tanh mùi bùn.
Mỗi lần trở về, tôi lặng lẽ đến bên thành giếng, gục đầu vào nó, lòng nặng trĩu một nỗi buồn. Từ trong sâu thẳm của lòng giếng, tôi nghe như có tiếng thì thầm. Những lúc này, tôi tin rằng các vật thể tưởng chừng vô tri vô giác song chúng còn có một cái hồn mà con người có khả năng cảm nhận được. Nó là sự gợi nhớ, là cảm xúc được tạo ra từ mỗi vật thể, dù thật bình thường nhưng chứa dựng biết bao nỗi niềm trong đó.

Hà Nội, tháng 1-2001




0
Phố cũ miên man
 
 
Đã gọi là phố, thường phải có vỉa hè có trồng cây, nếu không thì ra là hẻm, là ngõ. Vậy mà trong lòng Hà Nội lại có một con phố, rất nhỏ thôi, không vỉa hè không cây cối, dài chừng trăm mét với độ mươi nóc nhà, mái ngói cũ kỹ, lô xô…
Nằm lọt tỏm, nối liền hai con đường lớn là Trần Hưng Đạo và Hàm Long, phố rất ít người biết đến nếu chỉ nhắc đến cái tên Nguyễn Chế Nghĩa của nó. Thường cứ phải lấy tên một trong hai con phố lớn ở hai đầu làm mốc chỉ. Và ôm trọn trong lòng nó là cả một di sản kiến trúc biệt thự cũ, mang đậm dấu ấn những thập niên đầu thế kỷ 20.
Vào những năm nào đó rất xa, ở đây chỉ là những ngôi nhà kín cổng cao tường, là “phố Tây”, nơi chỉ có những ông chủ Tây và một vài gia đình thuộc giới thượng lưu bản xứ. Bây giờ, qua bao biến đổi của thời cuộc, thời gian và sự lấn lướt của con người, tất cả đã quá đủ để tạo cho nó không chỉ một khuôn mặt đầy vẻ xộc xệch, già nua và khắc khổ mà còn cả một cuộc mổ xẻ, chia cắt từ bên trong. Nhưng đôi lúc có lẽ cũng không nên chỉ cảm nhận cái vẻ đẹp trong sự nguyên dạng của nó, để rồi tâm trạng bị rơi vào hụt hẫng, nuối tiếc cho một báu vật ngà ngọc đang hằng ngày biến dạng. Cũng chả nên coi nó như một thứ “di sản đang chết dần”, mà nên nhìn và cảm nhận nó như một vật thể có số phận, có đời sống, có “quá trình lịch sử” đầy diễn tiến.
Bên dưới những mái ngói sẫm màu rêu phủ kia là những mảng tường vôi bong vỡ, là cái cổng sắt chỉ còn một cánh hoen gỉ, uể oải tựa vào cái trụ gạch cũ kỹ, già nua. Trên mấy ban công nhà, hũ, chậu, lằng nhằng những giàn cây, tạm bợ, cẩu thả nhưng đầy ngẫu hứng. Nhưng ở đó cứ lấp lánh một cái thần, một nét duyên, cái mà ta chỉ có thể cảm nhận bằng tấm lòng chứ không phải theo các tiêu chỉ chuẩn mực của mỹ học.
Kiến trúc ở đây khiến ta liên tưởng đến giai điệu mượt mà, êm ả của những bản nhạc trữ tình vào thập niên 1930, với sự hòa âm tuyệt hảo của tỷ lệ, đường nét, hình khối. Rồi nhìn những gì còn lại có cái gì đó man mác... khiến ta không khỏi chạnh lòng. Cho dù đã có một quán nước chè, hay một hàng bún mọc trổ cửa chui ra từ một bức tường rào nhưng cũng chưa tức mắt cho bằng, đã len vào giữa các khoảng không chuẩn mực là một vài khuôn mặt nhà cửa mới như những nốt nhạc bị phô, lạc điệu. Nó lừng lững, nó sạch sẽ, nó tinh tươm đến nỗi trông bơ vơ, vô cảm thế nào…
Trong long mỗi ngôi biệt thự, sự sinh sôi, lớn lên, phình ra, sự quá tải của từng gia đình đã phá vỡ nhiều cấu trúc vốn có. Giống như một nắm sỏi được rắc xuống tự nhiên, “xóm nhà gạch” ra đời. Mạch giao thông công cộng không còn dừng ở cổng nữa mà chạy tiếp, ngoằn ngoèo, len lỏi vào mãi tận bên trong từng căn hộ. Những “xóm phố trong nhà” được hình thành với đầy đủ đường đi, hang rào, cổng ngõ… chung và riêng. Mỗi sớm, mỗi trưa bà đội thúng bánh mì, chị gánh hàng hoa, anh lông gà, lông vịt… tự do len lỏi vào tận bên trong cái xóm nhà gạch ấy để rao mời, thanh thản như thể  đang đi trên con đường làng quê mình vậy. Cái cánh cổng xiêu vẹo kia như chỉ còn là ước lệ, là dấu vết một thời. Càng đi sâu vào “lòng phố”, không gian càng biến hóa. Nó cứ bị chia nhỏ, nhỏ dần cho tới lúc cánh cửa sổ hai nhà đối diện có thể chạm  vào nhau được. Những người hàng xóm có thể thì thầm với nhau qua từng ô cửa mà chẳng cần qua lại. Sống ở đây luôn có cảm giác như trong một không gian cô đọng, một tiếng động nhỏ dù ở xa nhưng nghe lại rất gần. Ta có thể phân biệt được từng tiếng mở khóa lách cách của mỗi người, hay nghe thấy tiếng một chiếc thìa rơi xuống sàn bên nhà hàng xóm. Mỗi sớm thức dậy cứ muốn nấn ná mãi trên giường để nghe tiếng thùng nước va nhau, tiếng lào xào nói chuyện vọng lên từ cái máy nước công cộng.
Lại nhớ lúc chiến tranh bom đạn năm nào, cả khu phố rung lên, những cánh cửa kính rơi loảng xoảng. Phố như không người, chỉ thấy đó đây trên những sân thượng lố nhố mấy cái đầu mũ sắt và những nòng súng tóe lửa. Thời đó, chỉ lác đác vài gia đình trụ lại, phố cũng đã mở lòng đón thêm những gia đình từ các khu trọng điểm bị đánh phá sơ tán đến. Mọi người trong phố đều biết tên
nhau, biết nghề nghiệp, tính cách của nhau, gọi nhau ơi ới, vay mì, vay gạo. Con phố như cô tiểu thư đài các năm nào nay đang phải gồng lên, phải  đối mặt với cuộc đời có phần pha tạp, lam lũ. Trong từng xóm nhỏ đã hình thành một “nếp sống đô thị” riêng, dân tứ phương đổ về, mang theo các sắc màu đa văn hóa, có lúc thật ấm áp, chân tình, nhưng nhiều khi rất lạnh lùng, đầy ác cảm. Có gì đó thật hiền lành, mà cũng hung dữ. Những vẻ “thuần khiết” xưa kia, chất tiểu tư sản hay dân nghèo thành thị không còn nữa. Thay vào đó là những cách ứng xử vừa trí thức vừa dân dã, nửa tỉnh, nửa quê… trong quan hệ với nhau và trong thái độ cư xử đối với chính cái ‘’ di sản ‘’ mà họ đang cư ngụ. Nó phản ánh rõ cá tính, nếp nghĩ
và nền tảng văn hóa của mỗi cư dân.     
Tuy có những lúc người ta than phiền về một điều gì đó đang tan vỡ, nhưng xem ra, cái tiếng rao ời ơi, cái ngạt ngào hương cốm từ những gánh hang phảng phất trong lòng  ngõ xóm ấy lại như một sự cứu vãn, một niềm an ủi còn lại. Chưa hẳn là mọi cảm xúc tươi sáng đã bị bóp chết, trước sự bực mình khi đá phải một thau nước giữa lối đi, sự chật chội, tranh giành chiếm lấn từng tấc đất, từng mét hàng rào, hoặc vì sự dèm pha, dòm ngó lẫn nhau.
Cũ mới lẫn lộn, chả muốn thách thức ai, nhưng nó cứ nhởn nhơ, tùy hứng, bỏ ngoài tai những lời than phiền, lo ngại của các bậc trí giả. Như một bức tranh đầy màu sắc, cái “cấu trúc xóm nhà gạch” ấy cứ tồn tại, cứ sống hiển nhiên, với một không khí “rộn rã làng quê ”, xóm trên nhà dưới đầy sinh động. Nói như kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính: “Nó không thể khiến ta thờ ơ, nó gợi, nó cuốn ta vào cuộc nói chuyện tay đôi”.
 
Hà Nội, hè năm Nhâm Ngọ 2002




0
Những gánh hàng rong
và ngôi biệt thự cũ


 
Mới bảnh mắt ra, đã nghe nheo nhéo ngoài sân: “Mở hàng cho con đi cụ, con để rẻ… Con này cân điêu quá. Tươi rồi u ơi, lạng rưỡi chổng ngược mông sấn của con đây này. Mua cho em chục hồng này đi chị…”. Tiếng eo xèo mua bán, như giữa chốn chợ đông người, nhưng mà không phải, đang là ở một nơi tưởng như rất riêng tư, rất cách biệt với nhịp sống ồn ào, lam lũ của đời thường - trong lòng một ngôi biệt thự cũ.
Gần năm mươi năm trước, biệt thự ấy nguyên là của một bác sĩ giàu có ở Hà Nội, đã được “giải phóng” cùng với số tài sản đồ sộ gồm dăm bảy ngôi biệt thự khác nữa của ông. Và một sự đổi đời, lột xác đã từ từ biến cải, nhào nặn nó, “y như số phận con người, nó chịu mọi tác động của thời cuộc”, như một nhà văn đã nói. Vào lúc những chủ nhân mới dọn đến “tiếp quản”, ngôi biệt thự còn như một cô tiểu thư con nhà đài các. Nhà xây theo lối kiến trúc Pháp ở thời kỳ đầu của phong cách kiến trúc hiện đại, với đầy đủ các phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn… được bao bọc “kín cổng cao tường” bởi một hàng rào sắt có rặng cây và giàn hoa giấy rực đỏ. Lối đi rải sỏi, ghế đá, vườn hoa, nhà xe, nhà bồi, nhà bếp… Từ cấu trúc dành cho một gia đình, sống ở một chuẩn mực cao, nó biến chuyển và tự phân rã để đáp ứng cho những nhu cầu của một công năng mới, cuộc chung sống của nhiều hộ gia đình.
Những không gian vốn mang trong mình những chức năng cao quý đã được “cải tạo” lại. Qua năm tháng, những hộ gia đình lại sinh sôi, rồi những gia đình mới ra đời, cứ thế, theo cấp số nhân phát triển, “cấu trúc xã hội” của con người biến chuyển đã làm thay đổi hầu hết “cấu trúc không gian” của ngôi biệt thự. Nó trở thành một đơn vị cư trú mới, rất khó đặt tên một cách chính thống theo thủ tục hành chính, nhưng trên thực tế, có thể coi nó như một hình thái cư trú kiểu “xóm nhà” trong một phường đô thị, giống như dưới thôn là xóm ở làng quê. Vì trong đó, nó có đủ những cấu trúc của một đơn vị ở dạng “xóm”: Những không gian đã được phân chia, có chung và có riêng, những khoảng sân đã mọc lên những ngôi nhà. Dãy nhà bồi, căn bếp cũng được chia ra, cất lên thành những căn nhà gác với những không gian riêng biệt, được bao bọc bởi những dãy hàng rào kín kẽ, có cổng sắt, có dây leo. Lối đi rải sỏi năm xưa, nay chỉ còn là một con đường nhỏ ngoằn ngoèo lát gạch thẻ lúc nào cũng nhơm nhớp nước, nó là sự nối tiếp của giao thông công cộng từ ngoài đường lớn, len lỏi vào đến từng ngóc ngách bên trong biệt thự, và trên con đường nhỏ ấy, chị đội thúng bánh mì, cô hàng thịt lợn, anh xe thồ bán chuối hay bà lông gà lông vịt cứ vô tư đi vào mà cất tiếng rao. Bắt đầu từ bao giờ chẳng ai nhớ nữa, có thể là ngay từ lúc những gánh hàng rong trở lại phổ biến trên các ngả đường Hà Nội, và cánh cổng sắt hoen gỉ không bao giờ đóng đã mời gọi những cô hàng rau mạnh dạn cứ thế xông vào. Mới đầu các gia đình thấy cũng tiện, mãi thành quen, rồi đến một lúc nào đó lại thấy nó trở thành thân thuộc, vừa là nhu cầu, nhưng cũng đã hình thành một tình cảm nào đó với nhau, giữa người mua kẻ bán. Mấy bà già có thể mắng mỏ, nặng lời với cô hàng thịt vì một chút cân điêu hay một lời nói thách hơi quá, nhưng là mắng yêu chứ không giận, hôm nào không thấy đến, lại mong…
Sự “công cộng hóa” một không gian riêng biệt như thế tưởng có gì đó thật chua xót, giống như sự tiếc nuối về một điều gì đang tan vỡ mà người ta hay than phiền. Nhưng thực ra, nó là dòng chảy của đời sống, theo một quy luật tự nhiên khó bề ngăn cản nổi. Trong khi việc trả lại cho không gian biệt thự cái chức phận và vẻ đài các, trưởng giả năm xưa còn là một ước vọng thật xa xôi và có phần không tưởng, thì sự tồn tại một cách đầy “ngẫu hứng thời cuộc” như thế cũng không phải là một điều quá đỗi nguy bách, đôi khi nó cũng mang lại cho ta những xúc cảm ngất ngây, những hứng thú từ sự xộc xệch, bộn bề, không sắp đặt. Từ mảnh sân chung con con ngập đầy lá rụng thật gợi trong cái se lạnh đầu mùa, nhìn sang những mảnh sân nhà khác được quét sạch đến không còn một chiếc lá rụng vương lại trên nền, đôi khi cứ cảm thấy trơ trẽn thế nào. Tiếng quát tháo mắng con của ông hàng xóm, tiếng cãi nhau vì một sự tranh chấp vặt, hay tiếng nhạc xập xình quá cỡ trong cái không gian chật chội ấy cũng làm ta bực dọc, nhưng lòng ta có lúc lại được dịu đi bởi tiếng rao dân dã của cô bán bánh mì, tiếng lao xao mua bán, và hình ảnh êm dịu của gánh hàng hoa, hay cái mùi thoang thoảng hương cốm mới từ những gánh hàng cứ phảng phất trong lòng ngõ xóm…, đấy là những âm thanh, những mùi vị thật sinh động và thấm đẫm chất “đời”.
Và cứ thế, những gánh hàng cứ nhởn nhơ ngày hai buổi đi về, mang vào trong lòng cái “xóm biệt thự” ấy hơi thở của cuộc sống đời thường đầy chất hứng khởi, sống động.
 
Những ngày cuối năm Nhâm Ngọ 2012




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.09.2021 22:48:36 bởi Ct.Ly>
Ngày nào thì cũng
8 giờ là lại mắc màn
 
 
Là 8 giờ tối. Hà Nội nồm, ẩm ướt, muỗi như trấu, bực vì nó cắn thì ít, mà vì sự vo ve thì nhiều. Trên đời bực nhất là tiếng vo ve, thứ âm thanh của loài đểu giả, rõ ràng là chả động vào ai, như vô tội, mà lại chọc phá, gây tức tối nhất.
Dễ mấy chục năm mới lại mắc màn. Phiền phức kinh, nào móc, nào dây như thời ơ kìa. Nhưng xịn hơn là ở cái móc dính, xưa đóng đinh, hay buộc vào cánh tủ. Nay dây “polyester”, xưa dây chuối, lắm đêm mò mẫm, quàng một cái, cả cái tủ ngả nghiêng.
 Chả biết màn “tuyn” có từ bao giờ, năm giải phóng miền Nam? Xửa xưa là “vải màn”, loại vải này dùng nhiều việc, nhưng thường để may màn nên được gọi thế? Là những sợi chỉ đan chằng chịt, mới thì cứng như dây gai, lâu ngày lúc ngả màu cháo tiết thì mới mềm ra. Rồi băng bó vết thương, phụ nữ đến tháng (khoản này khổ nhất cho mấy bà thành thị về quê, đến ngày cứ tìm nơi phơi giấu như của gian), và ai cũng biết, khi làm vành trắng băng tang thì gọi là vải xô. Kể cũng lạ…
Hồi bé về quê nằm màn rất thú. Ở Hà Nội thì chỉ chống muỗi, nhưng những đêm nhà quê, mùa đông gió rít ngoài khe cửa, rú trên mái nhà, chiếu trải ổ rơm, màn giắt rất tiện. Trẻ con nằm rúc vào nhau mà nghe kể chuyện ma. Mình có bà chị họ, cái bà chị “rơm rạ” năm nào(1), kể ma làm cả lũ sợ đến nỗi chả “vãi” được, mà nín đến sáng.
Có lẽ vào cái thời mà tính cộng đồng còn bao phủ một cách bất đắc dĩ bên trong từng gia đình thì cái màn như một bức tường ước lệ. Nó tạo ra hẳn một không gian riêng tư cho mỗi người, mỗi cặp, hay mỗi nhóm người. Cái màn cũ kỹ, cáu bẩn và “đặc quánh lại” đến ngộp thở. Thời chiến nên là màu cỏ úa nhà binh, nằm trong màn cứ tối om om, trong nhìn ra, ngoài nhìn vào lúc mặt trời lên cũng chả rõ mặt người. Nhưng lắm lúc cũng tiện cho cái sự lùng nhùng… kiểu như trong phim “Mùa hè chiều thẳng đứng” hay “Mùi đu đủ xanh” của Trần Anh Hùng.
 Ông bô ngày xưa ra Hà Nội cưới vợ tiểu thư, mang gái đẹp đi kháng chiến gian khổ suốt mấy chục năm giời. Rồi hòa bình về Hà Nội, theo mình nhớ là chả làm được việc gì, mà cũng chả biết làm gì trong những thứ gọi là “việc nhà”, ngoài hai thứ là rót nước sôi từ phích đổ vào ấm trà và… mắc màn cho vợ mỗi tối. Sau có khá hơn là biết ngồi lụi hụi đơm cái cúc quần, hay khâu mấy đường sứt chỉ sau lúc mắc màn xong.
 Giờ là hai nghìn mười của thế kỷ 21, chả nên thi vị hóa cái sự bỏ màn, nhưng mà nằm trong đó để được thở không khí nguyên bản, vẫn cứ dễ chịu hơn là đốt cái hương nọ hương kia, hay phun thuốc.
(Thỉnh thoảng vợ mắng là cứ viết note “tán gái”. Lạ nhỉ, note kiểu này thì đến gái già nó cũng chán, huống hồ gái trẻ. Nhưng mà mình vẫn cứ muốn kể cho các bạn trẻ nghe về một thời, cái thời người ta chả biết @ là gì, chỉ biết mỗi việc… bỏ màn. He he!!!).
 
Chú thích:
 Xem bài “Kiếp rạ rơm” trong sách này (trang 105).
 
 
 
 
$$$
 
 
Bạn gái cũ
 
Tên: Samova
Quê quán: Nước Nga.
Năm sinh: 1956 (cùng năm với mình).
Chất liệu: Hợp kim gì đó, mạ bạc, giờ chỉ còn một màu xin xỉn, già nua.
Ông cụ mang về khi mình tròn tháng tuổi. Mình trong nôi, bạn ngự trên cái lò sưởi này.
Ở nước Nga, bạn không như thế. Chỗ của bạn là trên một cái bàn gỗ, có thể trải khăn trắng, carô, hay cũng có khi chỉ là một mặt gỗ sồi, không khăn trải.
Buổi tối mùa đông nước Nga, ông Ivan, bà Kôvalépxkaia, với cô con gái Irina xinh đẹp nào đó quây quần bên bàn trà, trong căn phòng chật.
 Ngoài trời đầy bão rú
tuyết lốc bay mịt mờ
 khi gầm như mãnh thú
 khi gào như trẻ thơ
khi ngập ngừng gõ cửa
như khách đêm ghé nhờ.
(Ấy là ông Puskin tả thế).
Họ ngồi uống trà.
Có cô gái sớm mai
ra ngoài trời quẩy nước.
 Cô gái ấy có những lọn tóc loăn xoăn rơi xuống má, những nếp ren trên váy, trên cổ áo, như những “motif” mềm mại trên mình bạn gái Nga này. Samova, vẻ đẹp Nga.
Bước chân trên tuyết hay lạo xạo lớp băng non mỏng vỡ dưới chân. Đôi thùng gỗ đung đưa, sóng sánh.
Ấy là bạn Irina.
Còn Samova thì đón vào lòng một vốc than củi, quanh mình là chỗ đựng nước, rồi nước sôi phì phì, nút bật. Vặn vòi, những cốc trà đen nghi ngút khói.
Ôi chao, buổi tối mùa đông thì ở đâu cũng da diết thế! Nhất là những buổi tối cuối năm!
Cái lò sưởi kia bao nhiêu tuổi không thể biết, chỉ biết bạn ra đời cùng với ngôi nhà, từ đầu thế kỷ 20. Đây là ngôi nhà Pháp. Bên nước Nga lò sưởi kiểu khác, hay là nhang nhác thế? Mà có gì quan trọng đâu.
Hai bạn cứ thế nâng nhau suốt mấy chục năm trời, trong căn phòng lúc nào bức tường vôi cũng cũ. Các lớp vôi cứ tróc ra.
Hai bạn già đi trong cái sự lớn lên của mình. Giờ thì mình cũng đang già đi cùng các bạn.
Ấm Samôva là nơi mình cất giấu mọi bí mật của trẻ con.
 Cái lò sưởi là nơi cất giữ những nỗi niềm của ký ức.
Trong không biết bao nhiêu mùa đông.
 
 
 
 
$$$
 
Quả đấm cửa
 
 
Bây giờ gọi là tay nắm nghe chả sướng bằng. Quả này bằng sứ, già cũ lắm nhưng không ố vàng. Chỉ lốm đốm vài vết sứt như rỗ sẹo, trơ như mặt giang hồ nhưng bóng mịn như da con gái. Đời sướng thế, 80 năm ngày nào cũng ấm tay người. Chả trách sống lâu.
Chỉ có điều trước đây nằm dọc, giờ có lúc nằm nghiêng, hay ngang. Dọc thì nghe êm lắm, nghiêng thì se sẽ ọ ẹ, ngang thì rít lên như mài răng. Mình ra đi từ lúc nó toàn nằm dọc, giờ về đa số là ngang, đúng 34 năm ròng.
Thời nằm dọc là cái thời yên ả của đầu thập niên 1960. Buổi sáng không nghe tiếng mở, cái khép cũng rất nhẹ. Chỉ có tiếng guốc gỗ lên xuống cầu thang, rồi mùi cà phê nưng nức. Năm bom đạn thì đã nghiêng rồi, tinh mơ hay nghe kèn kẹt dù bà cụ rất cố để khỏi lay động cả nhà, dù cái sự dậy sớm ấy cũng chỉ vì cái phích nước sôi cho chồng pha trà và cà phê bữa sáng.
Năm 1967 đạn bom rung ầm ầm những khuôn cửa kính. Những ô kính được dán những miếng hoa giấy cho khỏi vỡ. Ôi giời, hóa ra lại lọc sáng nữa. Dầu trong ổ khóa cứ khô dần, cũng chả buồn tra. Lo bếp dầu mì sợi chạy ra ngoại thành, thời gian đâu.
Nhưng cũng khổ, giai gái đi chơi về, lên thang rón rén, rồi một tiếng “cạch”, thế là tiêu tan.
Thôi thì ở nhà, những cái hôn trên sân thượng. Sân nhà người thì tự vệ sao vuông, súng 12 ly 7. Sân nhà mình thì hôn hít cả thật lẫn trong tưởng tượng.
Mà phải nói ổ khóa là cái thứ có tính gợi “chuyện nọ xọ chuyện kia” nhất. Nói kiểu văn Tự Lực… là có tính liên tưởng. Chỉ một tiếng “cạch” nhỏ mà tạo ra những cú giật mình lớn. Những dở dang…
Điện ảnh có nhiều “scène” chiếu khuôn hình qua lỗ khóa, đa số là những hình ảnh chả hay ho gì, thì đã hẳn, nhìn qua lỗ ấy là cái nhìn vụng trộm, là bất minh.
Cho nên mình cứ thấy thương cái lỗ khóa. Những ổ khóa cổ ngày xưa đa phần là như thế. Ngày ấy chìa to bằng đồng, lại còn dài nữa, cầm đút vào thật sướng.
Ổ khóa hiện đại tân thời tí hin khe kẽ. Như cái miệng ngậm, đút chìa vào phát bực. Ấy thế mà cần dòm trộm thì tuốt tuồn tuột, đã có mắt thần, rồi ca mê ra. Rõ ra cái đồ đạo đức giả.
Mình thì mê mẩn như thằng thần kinh, con có vẻ bực vì giật mình tỉnh giấc, vợ có lúc cằn nhằn sao không chịu thay, cứ cố mà giữ làm gây tiếng ồn. Mình câm lặng. Mỗi người đuổi theo một giá trị riêng.
Vật thể mà phi vật thể, ấy là những thứ cũ kỹ mà giá trị là ở thời gian. Thời gian không phải chỉ là cái sự lâu, là cái đồ cổ, mà thời gian là ở chỗ những khoảng khắc, những lúc nó chứa đựng những thứ, sự kiện, xúc cảm ghi dấu ấn sâu vào lòng người. Rõ ràng nhìn vật mà nghe ra âm thanh. Câm lặng thế mà như đánh thức.
Thôi đành mất ngủ.
 
 
$ $ $
 
Nơi sinh
và chứng vật đời người
 
 
Nơi sinh trong lý lịch thường ghi là một vùng lãnh thổ, tỉnh thành, huyện lỵ, làng xã. Trong giấy khai sinh là một địa chỉ, bệnh viện A, nhà hộ sinh B, nhưng có bao giờ cái chỗ con người ta cất tiếng khóc chào đời đầu tiên lại là chính ngôi nhà của mình?
Tôi được sinh ra ở một nơi như thế. Ngôi nhà cũng chính là nơi “chôn rau cắt rốn” theo đúng nghĩa đen, mà không phải là “đẻ rơi”. Cái tờ khai sinh cũng hơi đặc biệt, nơi sinh và nơi ở cùng một địa chỉ, nơi được sinh ra, được đỡ, được cắt rốn và cất tiếng khóc chào đời đầu tiên cũng chính là nơi mà sau đó mình được sống trong suốt hai mươi năm đầu tiên của cuộc đời. Mẹ tôi làm nghề đỡ đẻ, đôi tay bà đón đỡ hàng trăm đứa bé, và đôi tay người đồng nghiệp của bà đón đỡ tôi. Vừa là nhà hộ sinh, cũng chính là nơi gia đình ở, đến giờ đã hơn năm mươi năm trôi qua.
Có lẽ vì vậy, với tôi, ngôi nhà ngoài việc giống như một cái nôi lúc nhỏ, nó còn như một lời dỗ dành ngon ngọt lúc trưởng thành.
Nhà vốn là biệt thự của một bác sĩ thời Pháp, mẹ tôi thuê lại mở hộ sinh tư trong những ngày đầu hòa bình, khi thủ đô mới được tiếp quản. Như nhiều ngôi biệt thự khác lúc còn nguyên dạng, nó đẹp một vẻ cổ kính, có vườn, có cây và lối đi rải sỏi, những căn phòng có lò sưởi, và cửa sổ chạy sát xuống sàn nhà. Mà thôi, đấy là chuyện “muôn năm cũ” của những ngôi biệt thự cổ xưa. Bây giờ thì nó là ngôi nhà nhiều hộ ở, với nhiều phần thêm thắt chắp vá, chất trong đó là tất cả những gì của một đời sống thực hôm nay. Những lối đi lép nhép nước, những cái lò than tổ ong, mái v, nẩyhững “góc chết” công cộng là nơi chứa những thứ đồ chỉ làm chức năng “xí chỗ”. Trong đó có nhiều “thế giới”, những thế giới bình thản sống theo cách và những thói quen riêng, chả có gì chế ngự được.
Vài chục năm sống ở Sài Gòn với tiện nghi hoàn hảo, sự riêng biệt, không phải bước qua những khoảng sân suốt ngày ẩm ướt, không bị vấp vào cái chậu giặt ngay lối đi, không hít mùi cay cay ngạt ngạt của lò than tổ ong, không nghe tiếng chửi bới mắng con từ căn nhà đối diện, kể cả không phải nghe cái tiếng loa phường đến điếc tai oang oang vào những giờ người ta cần yên tĩnh nhất, những tưởng dễ làm con người quen sướng, khó thích nghi với cái khổ. Nhưng không phải vậy, như lá rụng về cội, trở về mà như chưa bao giờ đi đâu.
Nhà không có đồ cổ, những thứ gia bảo truyền đời. Chỉ một vài món đồ cũ, mấy cái đĩa sâu lòng bà cụ mang về từ một xứ nào đó rất xa, từ thời rất lâu, cái bình cà phê bạc bị ô xy hóa đen xỉn, cái hộp khâu đựng đồ lỉnh kỉnh, chìa khóa lẫn kim chỉ, cái mâm đồng, bát ô tô, bát chiết yêu to nhỏ, tất cả vẫn dùng được và được dùng, không phải vật trưng bày, trừ cái ấm samôva đun nước ông cụ mang về từ nước Nga xa xôi trong những năm năm mươi của thế kỷ trước là để đấy, vì chả có than, chứ có thì dùng cũng thích. Những thứ đồ cũ cũng gợi lại ít nhiều kỷ niệm, nhưng phơn phớt thôi, cái chính là nó gợi lại một lối sống, cái sức ám ảnh nhất chính là lối sống, cái lối sống lẩn khuất.
Nhìn góc nhà thì nhớ tới việc phải làm ngày cuối năm, chỗ luôn đặt một cây đào nguyên gốc. Cái mâm đồng vo tròn bữa cơm  lại, thiếu nó, bữa ăn cứ thành rời rạc. Thiếu nó không thành  mâm cơm cúng ngày tết, buổi tối mời ông bà. Nhưng đấy cũng là chuyện nhỏ.
Thứ “thiêng liêng” nhất là bộ ghế bàn trà nước và cái bàn làm việc có ngăn tủ của ông cụ, trong hai hộc bàn ăm ắp những xấp, những chồng tư liệu cũ. Những chồng tư liệu ấy như những chứng vật đời người, mà hình như, chân dung một con người còn ẩn sâu ở đó, những thứ nằm im trong các tập bìa cũ, ở dạng viết tay hay đánh máy, là một văn bản đã gửi đi hay bản thảo còn lưu lại, là một bức tranh hoặc các trang thư từ, thì trong đó đều chứa đựng những thứ cho thấy một hình ảnh khác, đời hơn, con người hơn, và có chút gì bi kịch hơn so với những gì người ta đã nghĩ, đã biết về cuộc đời họ. Do vậy, bằng tư liệu, ta có thể khôi phục lại một không gian sống của một con người, và bị tác động bởi nó.
Cái thú cầm một cây cọ lông nhỏ mịn màng phủi nhẹ lớp bụi cho một cái tem cổ, nếu đem so với cuộc dạo chơi bằng cái chổi lông gà khua vào cái chồng bản thảo cũ đã mốc meo, thì cũng như “bì phấn với vôi”. Nhưng quả thực, chưa chắc cái nào kém sự hồi hộp, kém thích thú hơn cái nào.
Có những bức tranh đã được đóng khung, cần được đóng khung, nhưng có những bản sơ phác, những bản thảo còn loang lổ vệt nước trà, những lá thư viết dở, tấm ảnh ố vàng mục nát một góc cạnh, thì chỉ nên ghim vào, hờ hững như lưu giữ một cảm hứng, một sự dang dở của một cuộc đời không bao giờ muốn được đóng khung.
Những chứng vật đó không hẳn chỉ gợi lại một niềm hoài cảm cũ kỹ. Không nên nhìn mãi chúng với một xúc cảm ủy mị - trạng thái mà người ta hay gọi là “sến” - hoặc với cái thú của một nhà sưu tầm, hay kẻ “chơi” tư liệu. Cũng không phải là những thứ trang trí nhà cửa. Với tôi, chúng là những thứ đập vào mắt khiến ta cứ phải “đọc” nó, với một sức ám ảnh ghê gớm. Và với tâm thế của người đang sống trong thời buổi hôm nay, nghĩ ngợi, thì nhiều ít gì chúng cũng đánh động, kích thích ta có được tâm trạng, niềm hứng thú sống một cách tích cực hơn.
Cho nên có những thứ rất bình thường nhưng đã tạo ra hẳn một nơi chốn, ấy là những chứng vật đời người. Chúng làm cho nơi chốn ấy khiến ta dù có đi đâu, lâu hay chóng, nhưng lúc trở về cứ như chưa bao giờ rời xa. Có lẽ đấy mới là nơi đích thực nhất để ghi trong tờ giấy khai sinh của mình: Nơi sinh. Chỗ sinh ra ta phần thể xác, cũng là nơi sinh và nuôi dưỡng ta phần hồn.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.09.2021 23:10:39 bởi Ct.Ly>
Những cuộc di chuyển
 
 
‘‘Một lần dọn nhà bằng ba lần cháy”, so sánh như vậy là để nói cái sự vất vả, đôi khi có cả sự mất mát trong đó, mỗi lần thay đổi, cho dù theo hướng đi lên.
Tại sao lại mất mát, nếu không phải là cháy nhà? Tôi đến thăm một nhân vật, ông đang sống những năm vào tuổi xế chiều trong một căn hộ cao cấp ở khu trung tâm số một giữa lòng thủ đô. Căn hộ sang lắm, tiện nghi theo lối hiện đại, tấm thân nhỏ bé của ông lọt thỏm trong lòng cái sofa bọc da, ông chuyển từ một ngôi biệt thự cổ về đây. Một lịch sử dòng dõi khá danh tiếng đang được gói gọn trong tấm thân cổ tích cũng lọt thỏm trong lòng cái sofa ấy.
Thân phụ ông là một nhân vật lịch sử, gia đình ông là danh giá, đã từng sống nhiều năm trong ngôi biệt thự được Nhà nước cấp, được làm chủ và đã bán. Cái dòng dõi gia thế ấy, những nhân vật ấy, ngôi nhà xưa ấy cùng với những gì còn lại của gia tộc, nếu đang giữ được thì có thể tạo lập một bảo tàng.
Nhưng bây giờ chỉ còn lại ông. Nhà bán xong, mua một căn hộ mới, dọn về ở có thể mang theo một số tiền lớn, nhưng không thể mang theo một lịch sử.
Những kỷ niệm cũ, những phần đời buồn vui, lối mòn lên xuống, góc nhìn qua cánh cửa sổ chênh chếch sang bên kia đường, nơi có những gốc cây già ám vào tâm khảm suốt mấy chục năm, ông mang đi bằng cách nào?
Nhưng không thể khác.
Nơi ở mới bao giờ lúc đầu cũng chỉ là một “khoảng trống”, kể cả khi đã được sắp đặt xong đồ nội thất. Nó chỉ được lấp đầy dần qua thời gian. Nó mới là một phần xác bao bọc, nó chỉ ấm lên khi có phần hồn của đời người diễn ra sau đó.
Do vậy, đôi khi với nhiều người, giữa một không gian mới mẻ nhưng còn nguội lạnh thường cảm thấy rất cô đơn.
Như chui vào một cái xe hơi mới vẫn còn mùi da, vào một ngôi nhà mới cũng vậy, cái mùi sơn phảng phất thật khó chịu, khi chưa có mùi người.
Và dường như có những cái không được lại thành là được, không may lại thành là may.
Cha mẹ tôi không có một ngôi nhà nguyên vẹn để để lại, chỉ có một phần của một ngôi nhà, và cũng may, nó cũng không lớn để dẫn đến những hệ lụy thông thường như nhiều gia sản thừa kế khác, nó còn nguyên.
Không lớn, và cũ. Nhưng quan trọng hơn là trong đó gói trọn cái lịch sử của một phần đời không chỉ của một thế hệ, với đầy đủ những chứng vật.
Cái vết nước trà loang ố trên sàn không còn chỉ là chuyện nhỏ, vết vẹt mòn của bậc cầu thang cũng thế, tường nhà đã được sơn lại rồi, cùng nhiều thứ mới, niềm hoài cảm sên sến cũng chả mấy thích thú nữa, còn đầy ra những chuyện phải làm.
Nghĩa là tâm thế mới, tình cảm mới, cái nhìn mới để trở về trong ngôi nhà cũ. Thế mà sao không lạ, không khó chịu, không cảm thấy xa vời! Mấy chục năm, lúc đi lúc về năm một, mà cứ như đi về hằng ngày, bình thản mà sống với nó.
Khi làm một căn phòng có tính “lưu niệm” trong nhà, dù không muốn và không bị gò vào những ước lệ thông thường, trên cái nền rất mới, có cả những sắp đặt và phá cách, mà sao vẫn ra hồn cốt cũ.
 
Tinh thần và linh hồn nơi chốn được tạo ra từ những mối liên   hệ bản chất, có tính gắn bó như máu thịt giữa người và vật. Cái phần đời đã sống, đã diễn ra ở đó tạo nên một thần khí bao phủ khắp nơi ăn chốn ở, bám chặt vào những chỗ ngóc ngách nhất, nó sẽ chả bao giờ mất đi đâu dù ta có xoay chuyển đồ vật hoặc chả làm gì cả, dù đi đi về về thế nào thì ở đấy vẫn cứ là cái không gian muôn thuở. Thế nhưng cũng vẫn là những chứng vật kia, lối sống cũ kỹ, niềm hoài cảm lúc nào cũng rưng rưng trong lòng ấy, nếu dịch chuyển đến một nơi chốn khác thì không bao giờ còn là chúng nữa.
Buổi lễ tưởng niệm 100 năm ngày sinh người cha đã khuất dù chật chội, chen chúc đứng ngồi, dù có những lời thắc mắc sao không mang đến một chỗ nào khang trang, rộng rãi và do một tổ chức quan trọng thực hiện cho tầm cỡ hơn, thì vẫn phải diễn ra ở đấy, nơi mà tất cả những gì là chứng vật, là dấu ấn của một đời người đã được sinh ra. Khuân vác chúng đi đâu thì chúng chỉ còn là những vật trưng bày không hồn vía.
 
Và thật may,  đã có ngày tôi phải đóng gói tất cả vào một cái va  li mang đi trong cuộc di chuyển, nhưng đã có ngày tôi lại được mang chúng trở về, để rồi hôm nay, chúng làm hiện ra cả một phần đời còn nguyên vẹn.
 
 
 
 
 
 
$$$
 
 
Cây sấu Hà Nội
 
 
Mỗi người đã sống qua những tháng ngày bom đạn ở thủ đô Hà Nội chưa thể nào quên hình ảnh về những cái hố tròn nho nhỏ rải rác dọc khắp các hè phố, bên những gốc sấu già. Đấy là những cái hầm átrúnhẩânnccho người qua đường. Và trên
cao, những cành sấu trĩu quả đung đưa ngả vào từng ô cửa sổ, kính được dán lên những dải hoa bằng giấy để tránh bị rung vỡ do tiếng nổ của bom, như những hoa văn trang trí, đầy tinh tế của người Hà Nội.
Nhà tôi ở gần một con đường nằm giữa lòng thành phố, đường Trần Hưng Đạo đi từ ga Hàng Cỏ thẳng tới bờ sông Hồng, là một trục chính của thủ đô. Thời trước nó thuộc khu “phố Tây”, và có lẽ những cây sấu ở đây đã được người Pháp trồng ngay từ những ngày đầu tiên khi xây dựng nên đô thị này. Tôi  không rõ lắm vì lý do gì mà  các nhà đô thị người Pháp lại chọn cây sấu cho nhiều con đường chính và sang trọng ở Hà Nội lúc đó, song bây giờ nhìn hàng cây với những tàn lá xanh rì, xòe rộng hai bên hè, nhập nhòa đổ bóng vào nhau, rợp mát dọc suốt con đường, xa xa, những khối nhà bê tông chỉ còn là những mảng màu thấp thoáng, không gian như dịu lại, như nhẹ nhõm hẳn đi, mới thấy cái sự tài tình của họ qua cách đặt dải cây xanh này cho không gian đô thị Hà Nội.
Mỗi lần trở về khi bước xuống tàu ra khỏi ga Hàng Cỏ, tôi thường được gặp lại tuổi thơ của mình. Đường Trần Hưng Đạo như những thước phim lần lượt đưa tôi về lại cái thời “đổ dế, bắt ve” qua từng gốc sấu. Khi trên tầng cao kia bắt đầu những tiếng râm ran của bản “giao hưởng” mùa hè là lúc mùa thi đến, lòng lại rạo rực vì một năm học nữa sắp trôi qua. Rồi những ngày hè nghịch ngợm ném sấu ném me… Khi những quả sấu đã ưng ửng vàng lộp bộp rơi xuống cũng là lúc vào mùa mưa bão. Trong nỗi lo tất bật của người lớn thì lũ trẻ con vui thích mỗi sớm mai dậy sớm ra đường ôm về một bụng đầy sấu rụng đêm qua. Đó cũng chính là lúc lũ chúng tôi chuẩn bị mấy cuốn vở để vào mùa khai giảng.
Có những không gian ấm áp được tạo nên từ những sự đơn giản đến không ngờ. Buổi tối mùa đông, trong cái rét căm căm của gió mùa đông bắc, bên gốc sấu già, một bà cụ đầu chít khăn mỏ quạ, ngồi co ro với một bình tích nước trà ủ bằng bao tải, hai ông khách ngồi “bắn” thuốc lào vào một ngọn đèn dầu lờ mờ ở giữa, tất cả như cụm lại vào nhau, thì thầm, chia sẻ, nương tựa, sưởi ấm cho nhau nỗi lòng.
Mỗi thành phố thường có một hoặc vài loại cây in sâu vào tâm tưởng mỗi người để rồi trở thành một hình ảnh quen thuộc, thân thương đến nỗi đi đâu, ở đâu cũng phải nhắc tới mỗi khi kể về thành phố của mình. Nó được ngân lên trong thơ, trong nhạc. Sài Gòn với những “con đường có lá me bay”, Hải Phòng được biết đến như một “thành phố hoa phượng đỏ”… Với Hà Nội hôm nay, ngoài cây hoa sữa, còn có những hàng sấu mà hình ảnh của nó cũng vô cùng thân thuộc song chưa được nói tới nhiều. Nếu hoa sữa khiến người ta ngây ngất nhiều về mùi hương của nó, “thơm mùi thơm chờ đợi”, một mùi hương đầy nữ tính, dịu dàng, ẩn hiện, quyến rũ trong buổi tối mùa thu, gợi lên cái xúc cảm nôn nao của tình yêu, của cuộc hẹn hò, khiến lòng rạo rực, thì cây sấu lại là một cái gì rất tương phản, gây ấn tượng từ dáng vẻ già nua, sần sùi, gân guốc, cho đến những quả sấu tròn nho nhỏ xanh xanh nằm lăn lóc trên mấy cái mẹt vỉa hè của mấy bà bán rong. Những hàng sấu đứng đều tăm tắp  hai bên đường, trầm ngâm, tĩnh lặng, khiến ta liên tưởng đến hình ảnh những người đàn ông từng trải, đã từng chứng kiến và chứa đựng trong mình biết bao nhiêu là sự kiện của đời phố, đời người, đầy chất suy tư, chiêm nghiệm. Và chắc rằng ít người Hà Nội nào quên được cái màu xanh dịu nhẹ, cái vị chua chua của quả sấu dầm trong bát nước luộc rau muống vào mỗi bữa cơm chiều mùa hè nóng bức. Thương cho cây sấu vì cái tên rất khó vào thơ vào nhạc, nhưng lại rất “văn xuôi” vì nó đầy “thân phận” và sự từng trải của cuộc đời.
Năm tháng trôi qua, trên những con đường ấy, những con đường rợp mát bóng cây, nhiều khối bê tông đang chen chúc mọc lên từng ngày. Bây giờ vào mùa hè đã ít thấy những đứa trẻ đi từ gốc cây này đến gốc cây kia để tìm tổ dế, chúng quá bận rộn với việc học hành và các trò chơi điện tử. Trên cành cây, những đám lá nhuộm màu bụi đỏ. Và đây đó, nhiều cây sấu đã phải đau đớn mang trên tấm thân già những chiếc đinh găm chặt lên các biển quảng cáo rao vặt.
Dưới lòng đường, dòng người xe vẫn vô tình, hối hả trôi, để lại hai bên hè dãy sấu già lặng lẽ, và luôn luôn bên cạnh chúng, dưới mỗi gốc cây vẫn chỉ là những ngọn đèn dầu lờ mờ cùng nó thao thức đêm đêm…
 
 
 
 
 
$
 
 
 
Bên cạnh rong rêu
 
 
Hai đêm một ngày, ấy là khoảng thời gian trong một lần về Hà Nội, là dài hay ngắn nhỉ? Thật ngắn để tiếc, và dài để tiếng í éo công việc gọi về.
 
Cô gái hỏi thay cho lời chào: Anh mới về? Ngoài Bắc hay có lối chào không phải bằng lời chào, ví dụ ngày trước ở quê, gặp nhau chào “anh đâu?” (ý muốn hỏi anh đi đâu), hoặc “anh cơm chưa?”, hỏi mà không cần trả lời, hỏi rồi đi.
Quay lại lời chào “anh mới về”. Mọi khi ở Sài Gòn ra, người ta hỏi “ra bao giờ thế?”, lần này “anh mới về”. Hơi ngạc nhiên, tưởng em hiểu lầm là Việt kiều “ở bển”. Nhưng không, em gái bảo, tụi em coi những người Hà Nội sống ở đâu, khi về Hà Nội là “về”. Ừ mà phải, như về nhà ấy! Có ý Hà Nội là cái nôi, cái gốc, nói kiểu cách là nơi “máu chảy về tim”. Chả biết điều đó đúng với bao nhiêu phần trăm người Hà Nội phiêu dạt?
Có em gái Hà Nội vặn: Sao các anh cứ kéo nhau vào Nam, hùng hục sưởi nắng, kiếm tiền, sinh con, bồ bịch nhăng nhít, rồi cuối đời nhớ nhớ thuơng thương mùa đông Hà Nội? Ừ nhỉ, như hôm nào nghe mà không thích cái câu “mỗi khi lòng xác xơ, ta lại trở về, để tìm lại dù chỉ một chút…” (cái gì đó như một sự khắc khoải của người nhạc sĩ) trong một ca khúc về Hà Nội, nghe “ngọt ngào” thật, nhưng tại sao cứ phải “xác xơ” mới trở về?
Người ta có thể phải xa Hà Nội vì nhiều lý do, nhưng thường có chung một cảm giác “sướng” mỗi lần trở về, chả cứ khi lòng tràn ngập niềm vui, tưng bừng hay “xơ xác”. Có người ra đi vì công việc, có người vì phải “trốn rét” mà đi. Mùa đông luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng. Thế nhưng vẫn cứ “nỗi nhớ mùa đông”, “về lại mùa đông” ngay cả khi mùa đông chưa trở lại, nhưng cũng không cảm thấy gì là lỡ dịp.
 
Một sớm đi bộ ra hồ Gươm, qua chợ Gia Ngư, trời tối om, mờ mờ những bóng người đi chợ. Mấy cái mẹt vỉa hè bán những con nhộng còn chưa ra khỏi kén. Lành lạnh lại thấy nhớ vợ chồng con bé người Bắc đẩy xe ba gác bán rau nơi góc đường Phùng Khắc Khoan ở Sài Gòn. Nó có nhớ mùa đông không nhỉ? Nó vào Sài Gòn không phải để sưởi nắng, nó vào để lầm lũi đẩy xe rau đi bán từ lúc 5 giờ. Nó không nhớ mùa đông, nó nhớ đứa con ba tuổi gửi ông bà ở cái làng quê nào xa tít tắp ngoài Thanh Hóa. Nó chả bang khuâng với cái se se lạnh, nó thích thú hớn hở cười với xấp tiền trên tay vào cái lúc nắng lên, là cái lúc xe rau bán hết.
Một tối ngồi nhìn mẹ ngoài chín mươi ngơ ngẩn cười như trẻ con. Cô nữ sinh Đồng Khánh có lúc ngồi bán lụa Hà Đông năm nào  ở phố Sinh Từ, rồi bỏ lại tất cùng chồng lên Việt Bắc, bỏ lại sau lưng một quãng đời tiểu thư Hà thành với “cả kinh thành ngun ngút cháy sau lưng”. 1954 về Hà Nội đã thành một người đàn bà khác, “người đàn bà kháng chiến”. Chả được mấy năm hòa bình đã phải đội cái mũ sắt lên đầu đến từng khu lao động để thăm sản phụ mới sinh và thay băng rốn cho những đứa trẻ mới chào đời dưới làn bom đạn. Giờ bà ngồi đấy, bên cái lò sưởi tróc vôi, nơi chồng bà năm nào lụi hụi đun nồi nước tắm. Bây giờ ông vẫn ở đấy, trong cái khung kính đặt trên mặt lò sưởi, cười cười như hôm nào. Nhiều năm rồi, cái lò sưởi chả bao giờ đốt lửa. Thèm đi chơi lắm, mai con cho mẹ đi vòng bờ hồ, rồi ăn kem!
Trời chưa lạnh nhưng vẫn đủ độ để làm sướng bàn tay khi bê lên bát phở nghi ngút khói ở vỉa hè Yên Phụ. Phở Cồ là một “thương hiệu” ở đất Hà thành, cửa hàng rải rác các nơi nhưng cùng một đặc điểm như các hàng phở nói chung là xập xệ. Có cửa hàng dù có chỗ trong nhà nhưng sướng hơn vẫn là ngồi ghế bàn lùn ngoài vỉa hè, bê bát phở lên nức mùi đặc trưng của phở, cái mùi vô cùng “sóng dậy” có từ trước ngày cách mạng vùng lên. Trước cái vị còn lại vô cùng hiếm hoi ấy của một vài hàng phở bây giờ, cái hương vị không thể cắt nghĩa mà chỉ bằng cảm nhận của những người đã từng gắn bó với Hà Nội ở một thuở cách mấy chục năm ấy, nó khiến ta không muốn vắt ngay vào đấy lát chanh dù rất tươi, hay vài thìa dấm tỏi. Cách ứng xử khôn ngoan và lịch lãm nhất là hãy thưởng thức nó trong cái hương vị nguyên bản, tương chanh hay dấm tỏi vào là hỏng, là làm sai đi cái “linh hương đệ nhất vị” của nó. Vài lát ớt tươi là đủ, dù có thói quen đến mấy cũng cố đừng phụ nó bằng cách thêm thắt gì vào, cùng lắm đến gần cuối bát, nếu lòng day dứt muốn thử cái vị có đủ chanh ớt thế nào thì để lúc đó hẵng hay.
Xong rồi thì cà phê.
Có người nhắc Highland bên hông Nhà hát Lớn. Một sự sang trọng đóng hộp, khoảng nhìn bị giam bởi mấy bức tường, là chỗ giới thời trang chọn làm bối cảnh thì tốt, hoặc bàn chuyện ký hợp đồng. Ra hẳn ở ngoài vỉa hè sướng hơn.
Nghĩ về cà phê “khu 36…” khí hơi xa, chậc lưỡi phát tìm đại quán nào gần đấy. Đôi khi rất vô tình bên kia đường có cái biển hiệu nguệch ngoạc với cái tên “Café Mùi” chẳng hạn, nghe gợi cảm, lại cạnh hàng chè chén vỉa hè, đúng ý quá. Mà tình cờ lại ngon. Hỏi ngon thế nào thì chịu, chỉ biết là ngon mũi, ngon mồm, thế thôi.
Đậm và thơm là một chuyện, nhưng hớp ngụm cà phê nóng trong cái tiết giời lành lạnh nó khác lắm về cảm giác khi uống ngụm cà phê đá trong nắng Sài Gòn. Chõ sang bên kia lại có “cây bàng mồ côi mùa đông” nghiêng vào một  căn  nhà  lụp xụp. Thì cũng sự thường. Cảnh này  Hà Nội chỗ nào chả có, đầy.
Ngồi thì chỗ giản dị thôi nhưng “quy trình” cũng cầu kỳ lắm. Xỉa răng tanh tách xong nên súc miệng bằng miếng trà nóng rồi hẵng cà phê, ấy là ông bạn già bảo thế. Cho nó có sự chuyển tiếp, trà náióvtịẩmy đắmi cmuối mùi vị của ẩm thực ta, rồi sang cà phê nó mới tinh khiết mồm để mà thưởng thức cái vị thuộc dòng ẩm thực Tây rồi.
 
Mà cũng chả thoát được khu phố cổ. Bát Sứ có mấy quán thú vị, cũng kiểu Hà Nội thôi, nhà phố nghiêm cẩn cứng đờ dưới chân nhưng liêu xiêu trên nóc, như một anh lính mặc quân phục đứng nghiêm nhưng cái mũ trên đầu lệch sang một bên. Lại cũng cây bàng lá đỏ, mái hiên vải bạt che thâm thấp ghi tên bảng hiệu, thỉnh thoảng vài em gánh rau quả đi qua như một thứ gia vị trang trí cho nhiếp ảnh gia chụp về phố cũ. Quán xá lao xao, cao bồi già kính râm mũ chào mào, quần áo lính tẩy, chân mang giày xăng đá nhưng nhìn kỹ mặt cũng chả bặm trợn gì. Trai trẻ, gái tân thời sáng láng “smart phone” đan cài một hai khuôn mặt bụ bẫm hình thể “phong nhũ phì đồn” của giới nhà cửa đất đai, nhìn thinh thích. Một cặp vợ chồng nhìn biết là giàu nhưng chỉ ăn sáng bằng gói xôi lúa. Chợt nghĩ, những món xôi truyền thống như xôi lạc, xôi xéo, xôi ngô giờ người già và người lao động ít tiền hay ăn. Quay sang hỏi ông bạn con ông có bao giờ ăn xôi lúa, bảo không (dù nhà nó chả giàu). Hình như thế. Già ăn theo ẩm vị cũ, ít tiền ăn vì nó rẻ, mười nghìn một gói to no căng bụng. Mà ngon.
Hà Nội có nhiều phố có hai dãy đều hàng cà phê, thường thì chỉ một bên nhìn thú vị, một bên không. Bên có chủ ý đầu tư ban đầu, bên a dua theo. Sẽ chọn bên nào? Đương nhiên là bên có hàng quán hấp dẫn, đông vui hơn. Nhưng thực ra nên ngược lại, ngồi trong cái sự hấp dẫn thì chả nhìn hết được nó, hãy nhìn nó từ bên ngoài mới thấy hết hình thù của nó.
 
Cái dáng ngồi cà phê của nhiều người Hà Nội cũng đặc biệt. Co ro, lưng còng còng, hai tay hay đặt vào giữa cặp đùi, rung bần bật. Là do trời rét, mãi thành quen nên khi ấm trời cũng thế. Hà Nội hay gặp người gù, còn tre trẻ mà lưng đã gù, hay là vì họ ngồi nhiều, hay đăm chiêu nghĩ ngợi trong cái dáng vẻ co cụm cho nó tập trung, cho nó tĩnh? Có thể là sâu thăm thẳm, nhưng cũng có thể là trì trệ. Sài Gòn thì động hơn, đương nhiên, là vì nóng, nóng trời, nóng các công cuộc làm ăn, tĩnh sao được.
 
Trên đời có cái sướng vô tình rất vớ vẩn, là kiếm được một thứ mình cần ở nơi không ngờ nhất. Đang tìm một thứ sản sinh từ Paris, đã lùng sục một ngày ở chợ trời Paris mà không mua đủ, là quả đấm sứ. Phùng Hưng - con phố ven đường tàu dẫn lên cầu Long Biên - với đủ thứ tạp pí lù, từ nhà tang lễ cho tới quán lẩu các loại, từ hàng cà phê cho đến các hiệu chữa mô tơ điện, hàn xì. Mang cái quả đấm cửa cũ đến hàn lại thì ông thợ khoe cũng có một quả như thế, cái bàn tay khéo léo và tinh thần chịu khó tỉ mt “ẩpnhưrấờng nghề” của thợ thủ công cùng cái óc ranh mãnh thị dân “phường buôn bán” trong một con người, ra rất đúng chất Tràng An. Ông hàn một cách khéo léo cái miếng đứt gãy nhỏ xíu, và cũng ra giá một cách rất khéo léo cái quả đấm sứ cũ vì biết tỏng cái sự cần và hiếm, mua ở Paris có 1-2 euro nhưng ở Phùng Hưng là 300 nghìn đồng sau một vài cái nhăn trán suy nghĩ của cả người ra giá và kẻ mua.
Đường ra Nội Bài, chú taxi lắm mồm vừa đánh tay lái vừa lầu bầu chửi, “Đ. mẹ, Tây sang đây cũng phải đóng bỉm”. Hay nhỉ, ngôn ngữ càng ngày càng ẩn dụ. Ý là cái lối giao thông loạn xạ thế này, lái xe sợ vãi đái, thì phải đóng bỉm chứ sao. Từ “vãi đái”, sang “vãi cả linh hồn”, bây giờ là “đóng bỉm”, ngôn ngữ đường phố luôn cập nhật những gì mới nhất theo đúng tinh thần thời đại!
Ờ, Hà Nội phố cũ rong rêu, Hà Nội nhà cửa đời mới vừa đẹp vừa dởm rít. Hà Nội sương mù giăng mắc, Hà Nội ngai ngái hương cuối mùa, Hà Nội gió mùa và hanh khô. Hà Nội được đón tiếp quá nhiệt tình khi là khách và Hà Nội cau có hay gây sự, Hà Nội nói khéo và Hà Nội dễ bị nghe chửi. Hà Nội với không khí nhiều mùi vị, đậm đà mặn ngọt chua cay. Hà Nội lờ đờ buồn ngủ, Hà Nội rống lên tự sướng. Hà Nội với “niềm tin và hy vọng”, và còn gì thêm nữa để đủ là một Hà Nội đúng nhất bên cạnh rong rêu?
 
Tháng 10-2014




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.09.2021 17:37:48 bởi Ct.Ly>
Lênh đênh phù sa


 
Vào cái thuở “Mùa thu dừng lại ở Long Biên, để một mình tôi lên Vĩnh Yên”(1), gã thường thả lời chào Hà Nội xuống dòng sông Hồng ở chỗ này.
Đi xa về, niềm rạo rực đầu tiên cồn lên trong lồng ngực cũng ở chỗ này.
Bãi giữa.
Những chuyến tàu chợ Hà Nội - Vĩnh Yên rời ga Hàng Cỏ vào chiều chủ nhật lèn kín người và hàng. Khách tàu đủ thành phần công nông binh nhưng chiếm nửa toa là lái buôn và sinh viên đại học các trường Quân sự, Xây dựng, Kiến trúc.
Công nông binh đi tàu chắc có mua vé, lái buôn cũng vậy, sinh viên gái thì ngoan và nhát, chắc cũng giả tiền. Sinh viên giai thì không.
 Cũng chả phải lén lút gì, cứ nghênh ngang thôi.
Lúc đi thì lên từ ga, xuống cũng tại ga. Lúc về thì lên từ ga, xuống tùy thằng, đứa cầu Long Biên, đứa chỗ chắn tàu đường Trần Phú, Cửa Nam. Tàu phi nước đại vẫn “liều mình như chẳng có”, lắm lúc tàu chạy nhanh, là cách anh lái tàu chơi xỏ, nhiều chú lăn lông lốc trên đường như cái ống bơ sữa bò người ta quăng đi. Tiền để lên trường ăn hút, tội gì.
 Bám cửa tàu đánh đu, hoặc ngồi trên nóc đón gió sông Hồng. Có vài thằng bị thành cầu gạt thẳng xuống sông mất mạng.
Rất sướng. Tàu đi nhìn Hà Nội nhỏ dần rồi chìm vào bãi giữa. Những mái nhà chui tọt ruộng ngô.
Rất sướng. Tàu về nhìn bãi giữa mờ sương, rét căm căm run rẩy phập phồng trong lớp áo bông mậu dịch, “phố - nhà - mưa sa…” lờ mờ ẩn hiện.
Bãi giữa tả tơi, dung dị thân xác, toang hoác thần hồn. Những  bờ ngô, bãi mía ngả nghiêng lá vẫy, “đưa người ta không đưa qua sông”, như thế cũng đủ nát nỗi lòng. Bãi giữa thân quen tần tảo đón người về như mẹ già đội cái nón lá tất tưởi chạy ra đầu ngõ đón con.
Nhưng chỉ được lúc đấy. Bãi giữa quăng ra một lô xúc cảm lành. Tàu đi một quãng, lúc rời Hà Nội ban chiều, qua hai tiếng đồng hồ là tối.
Giai mười tám chèn người vào gái con buôn. Chưa hay đã có chồng thì ở đây cũng “đương đông buổi chợ”, những khuôn mặt giai nổi đầy trứng cá, những khuôn mặt gái hây hẩy gió nồm… Những tiếng cười hic hic… nhưng thỉnh thoảng lại ré lên “bỏ tay ra, tiên sư cha thằng mất dậy”, tiếng mấy bà buôn chuyến sồn sồn.
Ở một góc tối cuối toa, bó gối trên sàn trong thoang thoảng mùi hôi hôi đồng ruộng, gã gật gù theo nhịp lắc con tàu, đung đưa giấc mơ về bãi giữa.
Ấy là chuyện trước mấy mươi năm.
Ngày xưa chị Phan Thị Thanh Nhàn nói về người “xóm đê” thế này: “Xóm đê ngày trước gọi nhau, lão Tư say, thằng bé đánh giày, mụ còng bới rác”.
Xóm đê và bãi giữa có gì liên quan?
Gã cũng có ông chú người xóm đê. Nơi nhiều Chủ nhật được bố chở đến vì món thịt chó. Vào thời ấy, để đối phó lũ lụt, căn nhà được tôn nền cao lên hơn một thước, cái phản kê thêm gần thước nữa là hai.
Thịt chó, gió sông. Cải ngồng bãi giữa.
Bây giờ xóm đê nhà phố, đạp mỏi chân mới ra bờ cát, mới mấp mé ruộng ngô.
Mấp mô đường, loanh quanh bãi, những mái nhà toang hoác gió sông. Xác xơ vườn chuối. Sông Hồng thờ ơ chảy.
Người “xóm đê” giờ giàu, dân xóm đê í ới gọi nhau đi nhậu nhà hàng, hát karaoke, gội đầu cắt tóc. Bức tường thành nhà phố chân đê tạo thêm một lớp ngăn cách nữa giữa phố Hà Nội với sông Hồng,  đẩy sông Hồng ra một quãng xa.
 Dân bãi giữa ngụ cư lay lắt. Vẫn đến từ đủ các nơi, sống trong nỗi phập phồng vừa cặm cụi cạo hà thủ ô, trồng cà chua, trồng chuối, vừa dáo dác ngó nghiêng, ngóng chờ tin quy hoạch.
 Lâu lâu sáng Chủ nhật làm gà phục vụ các nhiếp ảnh gia. Thế thôi, được ngày nào hay ngày ấy.
Dải đất bồi chập chờn theo con nước, lúc dính liền, lúc rời xa, nhưng mùa nào thì cũng không gì cắt rời mảnh đất ấy ra khỏi phần cơ thể của Hà Nội.
Như con thuyền chở nặng phù sa lênh đênh trên dòng sông Hồng, tự bao đời dải đất ấy cõng trên mình bao kiếp phận ngụ cư, những con người cắm mặt vào đất, bán lưng cho trời, chả quản nắng mưa, trong cái nắng cháy da, rét cắt thịt, đào bới, gieo trồng, chắt chiu từng sản phẩm nhỏ để sống và tồn tại. Chống chọi và sinh tồn qua bao mùa lũ lụt, trước tính khí thất thường của dòng sông, lúc hiền lành, khi hung dữ, chỗ lở, chỗ bồi, nhưng doi đất và con người vẫn tồn tại một cách âm thầm bền bỉ, nhẫn nại với thời gian, nên cũng đầy chất sử thi về một vùng đất sống.
 Cái dải phù sa nuôi nấng một vùng xanh ngan ngát ấy còn như một dải yếm mềm nâng niu cho Hà Nội ở chỗ ven bờ. Nhưng giờ đây, cứ phải yêu thương nó trong nỗi ám ảnh, lo lắng về một sự đe dọa nào đó trước số phận mong manh. Giá như nó vẫn cứ là một vành đai xanh cho Hà Nội, là rau, là hoa hay là quả… gì cũng được, miễn là một nơi con người sẽ không còn phải chống chọi, nhưng cũng không phải tranh giành. Là nơi con người được sống hiền lành, thở bầu không khí khoáng đãng, được đón những làn gió thổi từ sông. Ý nghĩ về một thành phố bên sông đang được vẽ lên, như một bức tường thô bạo chặn ngang dòng cảm xúc. Thôi thì cứ phớt lờ thời cuộc, và ở đấy cũng là chỗ cho người ta tìm đến để phớt lờ.
 Những đời người đã long đong phận người từ hàng trăm năm trên dải đất này, còn bây giờ, dải phù sa đang lênh đênh phận đất trong dòng chảy mỗi ngày một chậm của dòng sông.
 Không ai cấm ước mơ, nhưng sông Hồng không bao giờ thành sông Seine được, dù người ta cố vẽ ra nó.
Chú thích:
(1) Thơ Vĩnh Mai.
 
 
 
 
 
 
 
 
 $ $ $
 
 
Bờ Hồ
bao giờ cũng yêu
 
Kể cả tranh Bờ Hồ cũng vậy, yêu chứ. Ngây ngô một cách hồn nhiên, thành thực một  cách  hồn  nhiên,  người  ta chép lại không che giấu bằng một cách nhìn chất phác của người dân thường, thế mà xúc động. Bao nhiêu thế hệ dân cày mơ đến Bờ Hồ (viết hoa như một địa danh) để mút một que kem, để khắc vào thân cái bút máy Trường Sơn dòng chữ “lưu niệm” với nét chữ như rồng bay của anh thợ khắc qua hình ảnh hồ Gươm dán trên vách tường với tháp Rùa, cầu Thê Húc lơ thơ tơ liễu buông mành, bên cầu hai cô gái áo dài e ấp nón lá, áo dài quần lụa tung bay.
 
Bây giờ tôi cũng muốn nhìn hồ Gươm như thế, theo cách nhìn của dân thường. Chiều 30 tết, lạnh và tối. Người Sài Gòn bảo Hà Nội cứ “khổ hạnh” thế nào, chả lung linh được như Đồng Khởi, Nguyễn Huệ. Thì rõ rồi, chỉ những lồng đèn xanh đỏ hắt ra một thứ ánh sáng yếu ớt từ những lùm cây. Nhưng thế mới là Hà Nội, mới ra “Bờ Hồ”. Kể cũng lạ, dân Hà Nội uống bia cũng nhiều sao hãng Heineken không mang đèn ra giăng nhỉ? Nhưng mà lại may, nếu không, họ biến Bờ Hồ thành Đồng Khởi thì cũng buồn.
Ai đó nói rằng, “rét và mưa phùn là những giá trị của tết Hà Nội”, đúng thật. Sương phải giăng mờ bên hồ Gươm, đèn phải hiu hắt nhập nhoạng những bóng cây và cột đèn đường, gió phải hun hút đường xa. Chứ cứ trong veo leo lẻo hay tưng bừng ánh sáng như Champs-Élysées ở Paris, để lộ ra mấy gian hàng bán va li đểu hay cụm tượng “quyết tử” thì trông nhức mắt, phản cảm lắm.
 Cho nên tôi vẫn thấy thương, và yêu Bờ Hồ với đèn xanh đèn đỏ, ngọn tỏ ngọn mờ. Với cái xúc cảm của một anh “Le Nha Quê” vẫn thật là sướng lắm!
 
 
 
 
 
Thời bao cấp
 
Để gợi nhớ, để kể rằng chúng ta đã có một thời như thế, để biết trân trọng,  và biết quí cái sự “thoát khỏi” nó… thì “OK”. Nhưng cứ lạm dụng mãi chúng như những thứ vật trang hoàng la liệt, rối rắm, thì lại dễ nhàm. Cũng giống như lúc đầu người ta mang thúng mủng giần sàng ra trang trí cho những quán rượu dân tộc, viết thư pháp lên cái mẹt treo trước nhà hàng, đến lúc nào cũng dần mất đi. Mang đồ cũ ra bày có vẻ dễ, tìm ra được cái vẻ đẹp tinh tế trong thiết kế với tinh thần mới mẻ quả là khó.
 
Những đồ vật mà chúng ta đang mang nó ra với cái vẻ “yêu thương giả tạo” ấy, giờ như thứ đồ chơi của một số người, nhìn vui vui mắt. Chả biết họ có thực lòng yêu thương cái thời buổi nó sinh ra và muốn quay trở lại? Rõ ràng có nhiều giá trị thực thụ bị chính cái thời buổi đấy triệt tiêu mất hết (thôi khỏi phân tích nguyên nhân), vấn đề là sao giờ ít ai chú ý, nghĩ đến việc làm thế nào để “phục sinh” những giá trị ấy? Cái mùi vị phở ngày xưa, mùi vị ly cà phê đá 5 hào ở cửa hàng điểm tâm giải khát mậu dịch quốc doanh Hà Nội cũng đáng giá lắm. Miếng thịt quay thơm nức, bì giòn tan trong miệng vẫn cứ thơm một cách khó tả và mẹt thịt chó của ông gù óng ả một góc chợ Hôm. Ấy là chưa nói đến một số thương hiệu có từ thời trước nữa, hiệu bánh Bodega chỗ Tràng Tiền với những cái bánh sừng bò vàng óng do người Tây để lại, hay những con vịt quay ngầy ngậy ở cửa hàng Nguyên Sinh gần chợ Hàng Da…
 
Ở thành phố trong Nam, thật may cho Saigontourist tiếp quản được nguyên cơ sở, thương hiệu và công nghệ làm bánh từ ông chủ Pháp Brodard cong đít chạy để lại. Thế nhưng giờ cũng chỉ là cái tiệm bánh nhỏ trên đường Nguyễn Thiệp vẫn đông khách vào ra nhờ “lộc cũ”, còn cái tên Brodard từ lâu đã biến mất và quán cà phê ở cái góc phố đẹp nhất Sài Gòn trên đường Đồng Khởi giờ biến thành nơi bán sản phẩm Sony. Cái tên “Givral” nổi tiếng một thời, giờ chỉ còn ở một hai tiệm bánh rất xa trung tâm trong tình trạng èo uột.
 Đúng là cái gì tự đến cũng dễ đi. Biết quý báu gì đâu mà giữ!
 
 
 
 
 
 
Bếp mùn cưa
 
 
Hút tẩu, tiếng Tây là “pipe”, nhồi thuốc vào lại nhớ đến cái bếp mùn cưa.
Hồi đấy, những năm 1960-1970, thời “gạo châu củi quế”, dân Hà Nội ngoài dùng than quả bàng, còn hay đun bằng cái bếp ấy, kiểu bếp hình trụ rỗng, vỏ gò bằng tôn cao hơn ba tấc, đường kính chừng hai tấc, có một cái lỗ nhỏ bên hông. Đầu tiên để một cái chai vào chính giữa, cho mùn cưa vào xung quanh mà lèn chặt xuống, mùn cưa âm ẩm mịn màng được lèn xong rồi thì kéo cái chai lên, thế là thành cái bếp nấu cho cả bữa cơm gồm ba món, rau (xào, luộc), mặn (cá, thịt kho) và nồi cơm cuối cùng. Lèn khéo, vừa độ chặt thì rút chai ra để lại “cái lỗ” đẹp, bếp cháy âm ỉ, đượm lâu. Nếu không thì lúc rút chai cái lỗ hay bị vỡ, miệng nham nhở, bếp nhanh tàn. Củi hay giấy báo nhóm bếp đưa vào qua cái lỗ bên hông, rồi bén vào mùn cưa, lửa mùn cưa cháy không thành ngọn, cứ âm ỉ đỏ mà làm chín cơm, nhừ xương, nát thịt.
Thời khó, gạo thịt thiếu đã đành, chả hiểu sao đến thứ đun cũng khan hiếm thế. Sau còn dùng cả bếp trấu kèm củi cho đỡ tốn, rồi sang bếp dầu hỏa là thời “gạo phiếu, dầu sổ”. Có lần hết dầu buổi sáng, ẩu cho tí xăng vào bếp dầu đun nước pha cà phê, lửa bùng
lên suýt cháy nhà, toi mất cái chăn nhúng nước để trùm lên.
 Nhưng mùa nồm, mưa phùn lâu, mùn cưa hay củi ẩm quá, được bữa cơm khói cay xè dầm dề nước mắt. Ấy là bà cụ, chứ ông nhà thì có cái tẩu cũ mèm vẫn ngồi nhả khói vu vơ.
 Giờ “Gú gồ” đánh “bếp mùn cưa” tìm hình ảnh toàn cho ra bếp kiểu cải tiến gì đâu, như cái lò cho bếp tập thể, còn cái bếp mùn cưa “gia đình” kia chả có. Thế là “tuyệt tự” rồi, chả biết nó còn trong kho ảnh của nhà nào không?
 Giờ thành thị đa phần bếp ga, nhưng vẫn nhiều nhà dùng “tổ ong” cho rẻ, tuy trong nhà đủ ti vi, tủ lạnh và đi xe máy Dream, Lead, hay gì đấy.
 Rung đùi nhấm whisky, mồm ngậm tẩu, mắt lim dim tìm về quá khứ, không nhớ gì mà lại nhớ cái bếp mùn cưa?
 Thì ra cái đuôi “tiểu thị dân” nó vẫn còn, có ngồi đâu, Hà Nội, Sài Gòn, Paris, London, hay New York thì cũng vậy, nó cứ lòi ra!




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.09.2021 18:03:37 bởi Ct.Ly>
Di sản
 
 
Nhà ba phòng, có ba cái quạt trần ngót trăm năm tuổi. Thuở bé trưa hè nóng nực rải chiếu hoa xuống sàn nằm ngay dưới quạt, bên trên tiếng phành phạch, bên ngoài ve râm ran, đọc tiểu thuyết nửa tình báo, nửa diễm tình “Nam tước Phôn Gôn-rinh” hay thế mà một lúc quăng sách ngủ. Cũng là bởi cái tiếng phành phạch ấy, nghe cứ như ru.
Hồi trước 1975, bị khô dầu cũng chả biết hiệu nào sửa, tra dầu. Càng về sau càng khó kiếm chỗ. Dạo ấy “anh nhà” còn tại chức viện trưởng quy hoạch đô thành, có quyền ký giấy cấp đất cho các cơ quan đoàn thể, to phết song bổng lộc chả có gì. Nhưng tất nhiên giới thiệu quy hoạch rồi cấp đất cho người ta nên cũng được trọng vọng. Cấp cho khách sạn, khi đến làm việc được mời bánh mì pa tê với cà phê sữa. Cấp cho công ty ăn uống, được mời bánh ga tô hình hòn than quả bàng với cà phê đá. Thỉnh thoảng được bám đuôi nên được ăn uống theo. Dạo ấy khổ, cái gì chả thèm, huống hồ là bánh mì pa tê. Thích lắm.
Liên quan đến cái quạt có chuyện thế này. Là khi cấp đất cho viện Khoa học Việt Nam do vị giáo sư tiến sĩ đầu tiên của ta là anh Nguyễn Văn Hiệu viện trưởng. Quạt trần khô dầu, có nhờ anh thợ đến nhà, loay hoay thế nào lúc đập xuống sàn để tháo quá mạnh tay nên vỡ bố nó bầu quạt. Anh Hiệu thấy vậy bèn sốt sắng điều quân đến, mang về cái viện to nhất của nền khoa học Việt Nam lúc bấy giờ, bảo để hàn lại cho. Lại nói là bằng “công nghệ hàn (điện điếc gì đó chả nhớ) tiên tiến hiện đại mới nhất” của viện Vật lý.
Hàn xong, sơn phết cẩn thận đẹp đẽ chả nhận ra dấu vết. Nhưng mà lúc bật lên thì cái tiếng “phành phạch” trước kia thành “cành cạch” như bánh xe bò lăn. Thôi thì cứ phải mở, phải nghe khi tiết giời nóng nực, kêu thế chứ có gầm lên như tiếng máy bay phản lực B.52 cũng đành.
Tất nhiên cũng phải tế nhị, nên chả than phiền gì anh Hiệu.
Thế mà cái tiếng “cành cạch” ấy cứ đeo đẳng dễ đến hai chục mùa hè. Nó chỉ hết hẳn vào cái năm lúc bật lên thì cái quạt… ngủ luôn. Một cái, hai cái rồi cả ba cái thi nhau ngủ. Khắc phục mãi, hỏng hộp số thì thay bằng công tắc quạt Thống Nhất nhưng cứ lừ đừ như ông từ vào đền, thôi cũng thoáng nhà. Bổ sung quạt đứng Sanyo, Panasonic… Nhật đảo chính Pháp và thời mất điện của Hà Nội chúng ta.
Hè năm nay nóng, lại ra đúng những ngày cao điểm của lịch sử nóng nhất mấy mươi năm. Nhìn ba cái quạt bất động trên trần nhà, vừa thương nó, vừa thương mình, quyết đi tìm thợ.
Hôm nọ xem nhà đài làm phóng sự rồi, địa chỉ đã ghi, số 2 Hàng Điếu, bên cạnh có quán nước hay bánh cuốn phở gì đó. Đạp xe dưới nóng 40 độ đến nơi.
Cái cửa hiệu góc phố vẹt đi một góc thành hình tam giác có hai cánh cửa cổ bằng gỗ làm mê mẩn trước. Gỗ lim lên nước lâu ngày, những hoa văn sắt hay gỗ chạm, không cầu kỳ nhưng điệu và đẹp quá. Rồi mới đến chuyện quạt. Trong nhà la liệt phụ tùng, quạt cũ, dưới đất, trên trần gác gỗ. Chả có không khí gì làm việc. Khách vào, vợ ngồi quay lưng ra ngoài nhặt rau, chồng chổng mông khom người ngó gì đó trên ti vi như chả cần đoái hoài đến khách. Có vẻ chảnh đây. Kiểu Hà Nội bây giờ là thế.
Rón rén hỏi, rồi trình bày “nhà có ba cái quạt…” như bệnh nhân cầu bác sĩ, cũng phải ngọt nhạt mãi anh chủ hiệu mới đồng ý đến tận nhà thăm khám rồi tính đường chữa chạy. Chứ bình thường thì khách phải tự tháo ra mà xách tới.
Hôm sau, trước khi đến gọi điện nói luôn, công tháo lắp, sửa chữa mỗi cái triệu hai chưa kể thay phụ tùng. Chậc lưỡi thôi thì…
Hai ông đến bắc thang leo trèo tháo quạt, chuyện như ngô rang. Nghề nghiệp, gia phả, tuổi tác…
Hóa ra họ là hai anh em trong một gia đình cho đến giờ bốn đời làm nghề điện. Hai ông này là đời thứ ba, có thằng con trai kế nghiệp là đời bốn. Ông nội thời Tây làm ông quản đèn khách sạn Metropole, mang theo con trai là bố hai ông này cùng làm thợ kỹ thuật chăm lo điện đóm cho toàn bộ “ô ten”.
Ngoài ra ông nội còn có một cửa hàng đồ điện lớn ở phố chợ Hàng Da, rồi hiệu nho nhỏ số 2 Hàng Điếu còn đến bây giờ. Sau năm 1954, cửa hàng lớn chỗ chợ Hàng Da bị “công ty hợp doanh” rồi biến thành hợp tác xã, rồi dần dần kiểu “thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng biến hóa vô cùng” là cái bánh đa bị bẻ vụn tan ngỏm vào miệng ông thầy đồ dạy chữ.
Thôi về số 2 Hàng Điếu, chắc vì cửa hiệu quá nhỏ có 24 mét vuông nên sống sót, còn đến bây giờ.
Con cái vào làm điện trong các xí nghiệp Nhà nước. Rồi lại rơi về cái tổ nghề với cửa hàng nho nhỏ này.
Bà mẹ cũng buôn tơ lụa thời Tây, có sạp ở chợ Hàng Da. Sau 1954 ông chồng dẫn vào hợp tác xã làm tạp vụ, lau bàn, đun nước, pha chè nấu cơm…
Ông cha thì cửa hiệu cửa hàng này nọ thời Tây, giờ hai anh em chung nhau căn nhà 24 mét vuông có tầng gác xép vừa ở vừa cửa hàng.
Thôi còn được cái nghề, đời vẫn vui hơn hớn.
Hai ông, một ông anh tên Thục, một ông em tên Thực, mà cửa hiệu lại là: “Thuần chuyên quạt cổ” là sao?
Hay là ra ý Thuần Thục, giỏi nghề?
Hỏi thì té ra Thuần là tên ông giai trưởng, chả làm gì, nhưng đòi ấn cái tên vào. Trưởng mà, hai ông em phải nghe, tất nhiên phải có phần cho thương hiệu chứ. Anh em vui vẻ là quý rồi.
Nhìn động tác, nét mặt lúc cặm cụi với cái quạt lộ ra cái sự lành nghề, lòng đam mê như con nghiện. Lại kể: “Tối qua em làm quạt cho anh đến 1 giờ sáng ngoài vỉa hè. Cảnh sát khu vực đi qua bảo chú ơi cho cái vỉa hè nó thở một tí”. Có vẻ như yêu nghề một phần nhưng yêu cái quạt kia nhiều hơn.
Cũng chỉ là một thứ vật dụng vô tri vô giác, sao những cái quạt cũ kỹ kia nó quyến rũ người ta thế?
Không phải ngạch cổ vật, nhưng bọn vật dụng cũ như cái quạt, cái đài, bộ ấm chén cũ, phin cà phê… là những thứ dễ đánh đấm vào lòng người. Hay làm người ta cứ mơ màng mà nghĩ ngợi.
 
Vì nó có sức gợi, sức kể cho người ta liên tưởng về một thời.
Giờ nó vừa có giá trị tinh thần, vừa vật chất nữa. Có người thích thật sự, yêu vì có gắn bó đời người. Nhưng lại có lắm người nhiều tiền, thực lòng thế nào chả biết, nhưng theo thời thượng thì rõ hơn.
Nên đắt phết. Và sinh ra cơ hội cho nhiều người kiếm được từ nó. Hai ông thợ kể chuyện một ông rất to, to lắm lắm, cỡ bờ cờ tờ cơ. Nay xây nhà chắc cũng nhà Tây, nhìn nhà mới rưng rưng nước mắt nhớ một thời. Thời mà bố ông phải tháo những cái quạt trên trần nhà xuống đem bán lấy tiền cho ông ăn học.
Nên ông thổ lộ nỗi niềm, nên lính ông phải lo. Và họ chạy đến tìm hai thợ này.
Còn dặn: “Cứ biết mang đến lắp thôi nhá, mà tìm loại phải còn tốt, zin. Mà đừng có nói chuyện tiền nong gì, nhớ chưa”!
Thương vụ ấy ba quạt ba phòng, đâu kiếm hơn trăm triệu.
Đấy, từ vật chất biến tinh thần, rồi trở lại vật chất. Mấy ông nhiều râu có nói câu gì kiểu thế không?
Cuối cùng, dù bị chém khá ngọt, nhưng nhìn những cách quạt quay vù vù và cái âm thanh xưa cũ như ru ngủ kia trở lại, cái hộp số hình bánh nướng bánh dẻo kia đến ba chai rưỡi một cái cũng phải cam lòng.
Tay vẫn bắt, mặt vẫn mừng. Rút tiền mười mấy chai ra trả mà lòng vẫn thầm cám ơn những bàn tay con nhà nghề mấy đời thợ điện kia.
Sự lành nghề của mỗi nghề cũng là di sản!
 
 
 
 
 
Đời cau, phận chuối
 
 
Trước cau, sau chuối. Đấy là hình ảnh quen thuộc trong mỗi ngôi nhà, ở mỗi ngôi  làng. Cây cau, cây  chuối  đẹp một cách mộc mạc. Chúng vừa đẹp, vừa mang lại những ích lợi thiết thực, và rất gần gũi, thân thiết với đời sống người Việt. Cau - chuối không chỉ là hình ảnh, mà đã trở thành biểu tượng, tình cảm, đi vào lòng người. Cùng với bờ ao, bụi  duối,  khóm tre, hay hàng râm bụt, cau - chuối như là hai loài cây nổi trội, tạo nên bản sắc, hồn vía cho cảnh quan làng xóm Việt Nam.
 
Người có phận người, thì cây cũng có phận cây. Có loại cây chỉ để làm đẹp, để làm ra hương và sắc. Có loại chỉ để lấy gỗ, hay ăn trái. Có loại với thân phận kiêu sa, luôn ở nơi sang trọng cảnh sắc. Có loại phận thấp hèn, phải sống ở những nơi hoang dã, bẩn thỉu. Cau và chuối cũng vậy, là hai thân phận khác nhau trong một cặp đồng hành.
 
Trước là “đời’’ cau.
Những hàng cau, cho dù đon đả trước hiên nhà, hay dọc dài theo bờ tường, bờ giậu,  thì cũng với thế hiên ngang, đứng thẳng, với dáng vẻ tao nhã, cao sang. Cây cau mang chức phận lễ tân, đối ngoại, sang trọng ngay ở vị trí của nó. Là ở phía trước, nơi vườn cảnh, chỗ sạch sẽ, là cái bắt tay chào hỏi, là lời chào đón. “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Quả cau, lá trầu thường có mặt vào những những việc hiếu hỉ, lúc vui chơi, cưới hỏi, tiếp khách. Hình ảnh “Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân” là một vẻ đẹp, một vẻ đẹp nhàn nhã. “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi”, nhưng là cái hôi gây nghiện! Và màu đỏ sắc trầu là cái màu quyến rũ. Đến cái mo nang làm quạt thì cũng chỉ với chức phận nhẹ nhàng, mang lại chút thoang thoảng gió, mà vẫn phải nhờ cái phe phẩy của tay người.
Trong cảnh quan làng xóm, cau luôn vươn lên tầm cao hãnh diện. Cau có vẻ đẹp phô diễn, có những cây cau có khả năng biểu đạt tính cá nhân của mình. Trong sân nhà, cau lại có kiểu làm dáng điệu đàng, có lúc nhẹ nhàng như duyên con gái. Đêm qua trời trở gió, sáng ra bên vại nước đã ngập đầy hoa cau, những bông nhỏ li ti, như hờn dỗi…
Sau đến “phận” chuối. Nhìn từ trên đê xuống làng, nếu những hàng cau tua tủa vươn lên theo chiều đứng, thì những bụi chuối lại lùm xùm theo vệt ngang. Chúng vẫn quyện vào nhau, nhưng cau thì cao, chuối lại thấp. Chuối như nền tảng, như bệ đỡ, như sự nương tựa.
“Vợ hiền hòa, nhà hướng Nam”, là hướng đón gió mát mùa hè. Gió hè mơn trớn những hàng cau. Sau lưng nhà là hướng gió bấc, gió lạnh mùa đông, chuối chịu hết. Gió mùa về, cùng lắm là hàng cau hiên trước chỉ rơi rụng vài bông hoa bé nhỏ nhìn thấy buổi sớm mai. Còn hàng chuối sau hè, trong đêm đã nghe gió táp phần phật, đã nghe những tiếng mưa rơi lộp bộp trên bản lá rộng, thật xót xa. Sáng mai ra, những tàu lá tả tơi, rách nát. Nhiều cây chuối đổ, may mà còn vài cây trĩu nặng bởi có buồng đã được chống đỡ.
Trong khuôn viên nhà, chuối ở đằng sau, là chỗ vườn hoang. Có khi lại gần bên chỗ đặt cái chậu sành hứng nước tiểu. Ngoài làng xóm, chuối lúc thì tơi tả bên vạt ngô đồng, khi lúp xúp sau một bức tường gạch vỡ, hay trơ trụi bên bờ ao, hoặc vũng trâu đằm.
Phận chuối thật thương, thương từ cái vẻ tả tơi của nó.
Cây chuối chịu nhiều nỗi đau, những nỗi đau đầy hy sinh, dâng hiến. Đời cau dài, phận chuối mỏng. Thân chuối như phận đàn bà, cũng mang nặng, đẻ đau. Cây chuối khi sắp cho buồng, nhú ra một nhánh lá non, nhỏ, giống như lá riềng. Bụng từ từ phình lên, cho đến lúc trổ hoa, độ quả. Cái tấm thân cứ nghiêng ngả dần, về phía mà buồng quả trổ ra. Trong những tháng ngày mang nặng, thân chuối phải oằn lên, đầy sức chịu đựng. Những tấm lá tả tơi trong mưa gió. Những tấm lá già khô rũ xuống. Nhưng đau đớn hơn, là lúc người ta hạ buồng chuối, thì cũng là phút lâm chung của đời cây. Ngay sau đó, cây bị chặt, thấm thân tàn hạ xuống, khi lăn lóc đâu đó bên vệ đường, khi chìm nổi lềnh bềnh dưới ao.
Nhưng chuối thật đẹp. Cây chuối đẹp ngay từ cái vẻ tả tơi của nó, là vẻ đẹp “thân phận”. Một thân phận “cho nhiều mà được chẳng bao nhiêu”. Trong mưa, có lúc nhìn cây chuối tả tơi như người đàn bà đi ngược gió. Lũ gà con trốn dưới tán lá như những đứa con núp mẹ. Chuối đứng che gió lạnh cho nhà, chuối cho trái ngọt nuôi đời sống. Bên ngoài lớp vỏ tả tơi, bóc dần vào trong, là tấm thân mịn màng, óng ả. Là cái màu tim tím ưng ửng, là cái trắng nõn nà tinh khôi. Khi trổ bông, kết trái, hoa chuối đâm ra như một chồi sống đầy sức mạnh. Sau khi hạ buồng, búp chuối và tấm thân tàn sau lần sinh nở lại hóa thân trong những rổ rau sống cùng với những gia vị khác. Lá chuối xanh, lá chuối khô bọc ngoài những tấm bánh cốm, bánh gai, bánh nếp, cũng ngát hương ngào
ngạt, nào kém gì cánh lá sen, tạo nên cả một nền “văn hóa lá gói” của người Việt.
 
Tôi có anh bạn họa sĩ luôn bị mê hoặc, ám ảnh bởi hình ảnh đầy tính tạo hình của hoa và lá chuối. Cái đường cong hoa chuối và cái búp tròn nhọn của nó rất gợi, rất biểu cảm, và rất gần với hình ảnh một sinh vật tạo ra sự sống. Lá chuối là những mảng lớn, các vệt rách của nó luôn theo đường thẳng, nên hình ảnh cách điệu một tàu lá chuối là một hình ảnh mạnh, gây ấn tượng, luôn được khai thác trong nghệ thuật trang trí và tạo hình.
Giờ đây, đã có những phận chuối được đổi đời. Chỗ đứng của chuối cũng đã một vài thay đổi. Đôi lúc thấy cây chuối “ra đứng” trước nhà, trong sân biệt thự, hay sân trong nhà phố. Ấy là những cây chuối được bứng khỏi mảnh đất nhà quê. Như “cô Tấm thời nay”, chuối ra thành phố, chuối đứng õng ẹo trước nhiều nhà hàng, hay trong mảnh sân con, mang cái vẻ thôn dã chân quê làm vật trang trí cho sân nhà của người sành chơi phố thị. Chuối làm đẹp cho nhiều ngôi nhà, còn những ngôi nhà kia có làm “sang” cho phận chuối, hay là vẫn mang nặng một vẻ cô đơn?
Cũng mừng cho phận chuối, nhưng vẫn còn thương lắm, chuối ơi…
 
Mùa gió đông bắc cuối năm 2005
 
 
 
 
 
 
 
Kiếp rạ rơm
 
 
Côi cút như túp lều nhỏ đứng ở góc vườn, cạnh chuồng trâu, chuồng bò, hay bên bờ ao, gốc tre, bụi chuối. Đống rơm, đống rạ trong cái tổng thể chung của ngôi nhà thôn quê không chỉ là hình ảnh, nó như một bộ phận không dứt ra được của một cơ thể. Chúng gắn bó, tương tác, “nuôi nấng” lẫn nhau…
Cây lúa có hai cuộc đời, hai kiếp phận. Một khi còn ở trên đồng, một sau lúc “vượt cạn”, đi vào đời sống con người.
Ngày xưa chưa có giống lúa cao sản, một năm hai vụ chiêm mùa. Chiêm tháng Năm, mùa tháng Mười. Mùa về xôn xao, đường làng gập ghềnh gạch đỏ, rơm vàng trải ngập lối đi, thơm lừng xóm ngõ.
Hạt thóc gieo xuống, nẩy mầm mơn mởn mạ non, lội đồng còng lưng mẹ cấy.
 
Bão tháng Bảy, mưa tháng Ba, mồ hôi đổ xuống cánh đồng. Lúa vào thì con gái, xanh mướt, trổ bông đòng đòng, ra hạt, chín. Nghiêng một màu vàng bên sông.
Kĩu kịt đường quê, từng đoàn người gánh lúa về làng. Sân đình như ngày hội, những bó lúa vung lên đập xuống. Thình thịch, thình thịch, những hạt thóc văng xa.
Thóc vào kho, vào bồ mỗi nhà. Chảy vào cối xay, cối giã. Lên nong nia sàng sẩy. Thóc lại được gieo xuống đồng, hạt nẩy mầm, nhú mạ non, tái sinh đời cây lúa.
Thân cây lúa chia hai phần, phần ngọn phía trên mang hạt. Những bó lúa gặt về, tuốt, đập xong vẫn còn sót hạt, lại bị “giày vò” thêm lần nữa, bó lúa bị giẫm, xéo, vặn, cho đến lúc chỉ còn lơ thơ vài hạt thóc, một mớ bùi nhùi, là rơm.
Phần thân dưới, phía gốc, khi gặt bị bỏ lại trên đồng, là rạ. Rơm vàng ươm, rạ sậm màu đất. Sợi rơm mềm, uốn éo. Cọng rạ cứng, thẳng đuỗn. Thời con gái của rơm là ngọn lúa phất phơ. Thuở tráng niên của rạ là cái gốc chịu đựng, làm thân cho cây lúa đứng vững. Cuống rạ liền với rễ, hút nước, hút “chất tinh” từ đất rồi bơm lên cho lúa trổ đòng.
Xong một đời trên cánh đồng, trả hạt, lại một đời trên cạn, một thân đôi phận, rạ - rơm.
Sợi rơm mềm thoang thoảng mùi thơm khô nồng, chân chất nhà quê. Rạ vẫn thoáng “hôi tanh mùi bùn”. Rơm sạch sẽ, rạ dính bùn, cùng đi vào cõi người.
Rơm khác rạ, vì có hương và sắc, vì sự mềm mại, và cái mỏng manh hình hài.
Rơm hay được ca tụng về mùi, “ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì”*. Rơm làm ấm những mùa đông, Nhà quê nghèo, trải rơm làm ổ.
Bọn trẻ nằm cuộn tròn, đông một lũ lợn con. Có nhà khá giả xây “phản” bằng xi măng, lát đá hoa cho mát mùa hè, đến mùa đông lót thêm lớp rơm, đủ ấm.
Sợi rơm mong manh thế mà có khi được dùng làm dây buộc. Nhè nhẹ thôi, như trang sức. Cọng rơm vàng quấn hờ quanh lớp lá sen gói cốm. Áo cánh nâu gánh vào trong phố. Là sự quấn quít giữa sắc và hương, thô và mịn.
Nhưng đâu phải lúc nào cũng thế, cũng được thế. Rơm còn là thức ăn cho trâu bò. Rơm được bện thành cái chổi lúa đem ra thành phố, len lỏi vào từng nhà để đổi lấy thùng nước gạo mang về nuôi lợn. Cũng tần tảo, theo cái tần tảo ngược xuôi cùng người đàn bà quê ra phố...
Sợi rơm mong manh nhỏ bé, cọng rạ to và thô. Thì nó ra thân phận khác. Rơm luôn là bề nổi, rạ ẩn mình.
Cánh đồng sau vụ gặt, những gốc rạ nằm lại để một ngày kia những lưỡi cày cuốn phăng tan vào trong đất. Gánh rạ cắt về phơi khô đánh đống, đun bếp, lợp nhà.
Từ thân cây lúa đi ra, chia lìa riêng phận, rồi cùng lại vào với kiếp người. Có lúc rơm nhởn nhơ một mình, tỏa hương, mang sắc. Có lúc lại cùng rạ nhọc nhằn gánh vác, hóa thân. Ở vài phận việc, rơm rạ vẫn có đôi.
Rơm trộn với đất thành vách nhà, cùng với mái lợp tranh rạ, trong loại hình “nhà tranh vách đất” chống chọi với gió mưa. Thổi cơm nồi đồng, cái nồi “thắt đáy lưng ong”. Đun rạ phải luôn tay luôn chân, lúc cơm sôi cạn nước, quấn một vòng rơm quanh nồi đốt lửa, cơm chín đều từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài. Mở nồi cơm hương gạo mới, trên mặt lẫn một lớp tro, cũng chẳng sao.
Bên bếp lửa, người đàn bà chít khăn mỏ quạ, ánh lửa bập bùng in cái bóng bất động trên tường đi qua những mùa đông, gian bếp chật sặc khói. Lửa làm khô nứt gò má đã sạm nắng mưa. Làn khói mỏng len lỏi qua mái rạ, lờ lững lam chiều.
Gái đến thì, “rút trộm rơm nhà đi trải ổ”(1). Đường làng đêm trăng muộn, nghe thút thít bên đường tiếng khóc vẳng ra từ một đống rơm: “Anh lừa em, anh dối em, hức hức…”. Đèn pin rọi vào, thằng trai đang đè nghiến con bé, bung hết làn cúc ngực. Nhưng thương nhất là buổi hôm nào, người đàn bà vợ bộ đội bị lôi ra từ một ổ góc vườn, rồi bị kéo đi xềnh xệch. Mái tóc dài xổ tung.
Mái tóc dài, lưng ong, dải yếm. Như buổi hôm nào, vô tình vương lên ngực chị, sợi rơm vàng như đánh thức tuổi dậy thì ở một đứa trai.
 
Làm đồng về, mồ hôi làm cái áo phin mỏng dính chặt vào người, quần đen xắn cao hết đùi. Ở nhà quê, con gái ra đồng giữ nước da bằng cách trùm “khăn vuông” che kín mặt, chân quấn xà cạp. Chị đứng đó bên chum nước, cúi xuống gỡ từng vòng xà cạp. Những vòng trắng da thịt. Trời nực, khuôn mặt ửng đỏ. Vài lọn tóc bết mồ hôi dính vào bên má. Trên bộ ngực phập phồng hơi thở, còn vương một cọng rơm vàng.
Đứa trai chớm lớn ngẩn ngơ cắn bút ở một góc hè. Ơ hờ… nghĩ ngợi cánh đồng xa…
Lại một chiều chị cúi đầu cho em dội nước. Làn tóc dài xổ ra chảy theo dòng nước đượm mùi bồ kết. Dạo ấy em còn chưa biết đến diêu bông…
Giờ đã xa rồi, rơm vàng, lưng ong, dải yếm. Những cái tết của ngày xưa, cỗ bài tam cúc “kết tịnh hồng đưa chị đến quê em”(1). Cái làng quê của cây lúa, những mái rạ lầm lũi một đời. Tiếng trống sân đình trẩy hội, í a…
Chợt bắt gặp một chiều mùng hai chưa hết tết, em gái áo thun quần bò lưng hở tênh hênh giữa đồng, nhìn kìa… chổng mông cấy lúa. Nhanh lên chiều rồi, còn kịp theo lũ giai làng lên phố huyện hát karaoke.
Nhưng vẫn còn, mỗi mùa, sau vụ gặt. Lúa cắt đi rồi, “đồng chiều, cuống rạ”. Những đống lửa xa lũ trẻ mục đồng. Khói bay lên giời, chiều thật vắng…
 
Ta lại hát, ơ hời… diêu bông…
Chú thích:
(1)        Câu thơ của Hoàng Cầm.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.09.2021 20:41:45 bởi Ct.Ly>
Phận xe đạp
 
 
Loanh quanh một hồi dễ đến hơn nửa tiếng đồng hồ, bị xua đuổi hết chỗ này đến chỗ khác, cuối cùng anh cũng tìm được nơi người ta nhận cho gửi chiếc xe đạp cũ, dù là xe Peugeot, niềm mơ ước một thời của nhiều người Hà Nội. Dạo này ở khu vực trung tâm Sài Gòn, người ta lập lại trật tự, không cho lập các bãi giữ xe tràn lan trên hè phố. Các bãi xe ngày càng chật chội, họ ưu tiên cho xe máy hơn, cùng một chỗ, xe máy 2.000 - 3.000 đồng, xe đạp chỉ 500, bõ gì! Dù anh cố năn nỉ trả thêm tiền, mà người giữ cứ ngúng nguẩy, khiến anh nổi cáu: “Mày dám khinh người nghèo hả?”.
Cách đấy chỉ mấy hôm, xem trên ti vi anh xúc động đến lặng người với những hình ảnh đã đi vào lịch sử dân tộc: từng đoàn nhữgưnờgicđhẩiyếcnxe đạp thồ nặng nhọc còng lưng lên dốc, là đoàn dân công hỏa tuyến đi chiến dịch Điện Biên Phủ. Những năm chống Mỹ, hình ảnh về một Việt Nam gian khổ và anh dũng trong các thước phim tài liệu nước ngoài hay trong nước đều thường thấy từng hàng xe đạp trôi đi như dòng nước chảy trên đường. Và trong đời sống thực ở miền Bắc khi ấy, chiếc xe đạp vừa là phương tiện, vừa là “của cải”, vừa là thời trang, cao cấp nhất là xe Peugeot do thân nhân từ Pháp gửi về, rồi đến Mifa, Diamand của những trí thức trẻ đi học ở Đông Âu, xe Phượng Hoàng của các viên chức Nhà nước, và cuối cùng là xe đạp Thống Nhất của giới bình dân. Bây giờ đến nhiều nhà chẳng còn nhìn thấy nữa, thỉnh thoảng lắm mới thấy một vài cái được treo lủng lẳng làm kỷ vật trong một vài gia đình ưa hoài cảm.
Ngẫm ra, cái phận xe đạp cũng như một kiếp người, cũng trôi nổi lên xuống, lúc “thịnh” lúc “suy” theo thời thế. Khi được trọng vọng, khi chỉ còn là “di vật” vì vai trò lịch sử đã hết.
Cái xe Peugeot cũ anh đang sử dụng là kỷ niệm của gia đình, anh mang nó vào từ Hà Nội, với nó năm xưa, cha anh đã rong ruổi trên khắp các nẻo đường Hà Nội, về quê, đi sơ tán…
Lại vừa nghe nói bên Pháp bây giờ hãng Peugeot đã tuyên bố chấm dứt làm xe đạp, có nghĩa là từ nay ai có xe Peugeot sẽ sở hữu nó như sở hữu một “cổ vật”. Vợ anh lập tức tuyên bố: Không cho đi xe đạp nữa! Và bắt lau chùi, bọc lại, treo lên… hy vọng đến một năm nào, chiếc xe đạp ấy lại được bước ra cuộc đời với một vai trò mới, “oách” hơn: một chiếc xe cổ!
 
Tháng 9-2004
 
 
 
 
 
Xa lạ trước hoàng hôn
 
 
Máy bay đang hạ độ cao, mặt đất dần hiện rõ qua khung hình nhỏ xíu cửa sổ máy bay, trời đã ngả sang chiều, hoàng hôn ưng ửng đỏ, ông khách ngồi bên cửa sổ chợt thốt lên: “Ồ trăng, có phải là trăng?”. Tôi ngoảnh sang, nhìn ra ngoài cửa sổ: một quả cầu đỏ lơ lửng giữa không trung, đang xuống thấp dần, thấp dần… “Không phải trăng đâu, mặt trời đấy”, tôi bảo, nhưng ông không chịu: “Mặt trời sao không có tia nắng, sao ta có thể nhìn nó rõ thế, hay là khinh khí cầu do sân bay thả lên?”. Ông nằng nặc không chịu tin đấy là mặt trời, tôi cố thuyết phục ông, rằng không thể có mặt trăng nào hiện ra vào lúc hơn năm giờ chiều, rằng “ngày tháng mười chưa cười đã tối”, mặt trời đi ngủ sớm, và lúc này là cái khoảng khắc mà người ta hay gọi là hoàng hôn, khi mặt trời đã mất đi những tia nắng gay gắt, chói chang để trở thành chỉ còn là một khối tròn ưng ửng đỏ, hắt xuống mặt đất một thứ ánh sáng thật dịu êm và đầy lãng mạn.
Lúc đó, gương mặt ông mới như được giãn ra, đầu ông gật gật như vỡ ra một điều gì: “Mình sống ở thành phố, giữa một rừng nhà cao tầng, ở nhà ống, làm việc trong cao ốc văn phòng, ra khỏi nhà khi mặt trời chưa mọc, trở về nhà lúc phố xá đã lên đèn, lâu quá rồi, có lẽ từ nhiều năm nay mình chưa thấy mặt trời lặn, chưa thấy hoàng hôn!”.
“Vâng, cuộc sống đô thị mà”, tôi an ủi ông, đấy là căn bệnh những người thành phố chúng ta đang mắc phải - xa lạ trước những gì bình thường nhất của thế giới tự nhiên, ngay cả trước một hoàng hôn như thế này!
 
 
 
 
 
 
Khát
 
Quán chiều lưa thưa khách, lịch sự nhưng hoang vắng. Anh chọn một bàn nơi góc khuất, hàng ghế phía bên kia.
Cách lối đi là một cặp, có vẻ chênh lệch tuổi tác. Người đàn ông trạc năm mươi, tóc điểm bạc, dáng sang trọng với vẻ sung mãn, thành đạt trên gương mặt. Cô gái trẻ, tóc nhuộm vàng, gương mặt đẹp rất thời trang, như trong phim ảnh. “Anh đừng giận em nữa mà”, một giọng nũng nịu, ướt sượt vẳng đến. Anh ngó sang, người đàn ông mắt nhìn sâu vào cô gái, nhẹ lắc đầu: “Không, không đâu, nhưng giá mà anh giận được”, ông ta nói, từng câu chữ như rải ra: “Có những trạng thái cảm xúc của con người, rất bình thường, như yêu, ghét, hờn giận, thế mà sao lắm khi cũng khó thực sự có được, cứ luôn là cái cảm giác trơ lì, trống rỗng. Những khoảng khắc bồng bềnh trước một buổi hẹn hò là một cái gì rất ít ỏi, rất thoáng qua và khó nắm bắt. Anh khao khát nó, thế mà em cứ để tuột đi. Không giận em, nhưng anh tiếc, tiếc vì cái cảm giác thèm khát, là một cái gì đó rất hiếm hoi lúc này, cứ bị vuột đi!”. Anh lại nhìn sang, không thấy vẻ gì giữa họ là vợ chồng, có gì hơi “phơn phớt” lãng mạn, anh bị cuốn hút vào câu chuyện của họ. Một buổi chiều thế này, trong cái không gian sang trọng thế này, với một người đẹp thế này, sao ông không hào hứng lắm, miệng nói mà có lúc mắt cứ nhìn đi đâu, thờ ơ, nguội lạnh. Hình như ông vừa bị tuột đi một cái gì đó, trên mặt ông là một vẻ hụt hẫng, như một cảm hứng bị đánh mất. Người như ông thế kia, gì mà chả có, có thể chỉ trừ một điều, ấy là nỗi khát khao.
Như anh cũng thế, anh đang ngồi đây, nơi hơn hai mươi năm trước lúc còn là gã viên chức quèn, nhà hàng khi ấy còn cũ kỹ, bình dân lắm, anh thường cùng vài người bạn ngồi uống những ly bia hơi nhạt thếch vào những buổi chiều sau khi lĩnh mớ tiền còm ở Viện. Thực ra thì bia rất nhạt, nhưng họ luôn thấy ngon. Lúc ấy, cái mà anh có là sinh lực, là sự khao khát tràn trề, khát ăn, khát uống, khát yêu đương, khát được sếp giao việc… Và bây giờ, sau một khoảng đời hơn hai mươi năm, anh đã khác, đã có nhiều, được nhiều, nhưng cũng mất đi nhiều, nhất là những “cái khát” của năm nào. Như người đàn ông kia, ngồi bên người đẹp sao với một khuôn mặt vô hồn như thế? Anh chắc cũng vậy, bằng cách nào đó, cũng có thể có một cô như thế, đôi lúc cũng thèm như thế, nhưng hình như vì tò mò nhiều hơn là vì một nỗi thèm khát bắt nguồn từ một xúc cảm thực sự. Cho nên, nó cũng chẳng vượt qua nổi sự cân đong. Cuộc sống khá no đủ, chính vì vậy mà anh luôn cảm thấy nó lại như thiếu một điều gì.
Và anh hiểu, đấy chính là cái cảm giác khát, khát một nỗi khát khao!
 
 
 
 
 
 
Cho một
khuôn hình cũ
 
 
Có những thứ nhờ vẻ xưa cũ mà thành giá trị, và dường như nó càng quý hơn khi là cái giá trị “còn sót lại”, ít ỏi, nhất là khi nó thành “độc bản” và mang dấu ấn nào đó, dù dấu ấn chỉ là chuyện cá nhân.
Cái cây ngoài cửa sổ đẹp cho một khuôn hình, nhưng với một người thì đấy là tuổi thơ, là những năm tháng có chuyển mùa, trong đó ghi nhận và lưu giữ những khoảng thời gian trong lòng cứ thấy cái gì “cựa quậy”.
Những bí mật không ai biết.
Có sự ngăn nắp đẹp, nhưng có sự bộn bề cũng đẹp. Và tất nhiên, có thể nó chỉ đẹp trong sự cảm nhận của một người, cái người quen bày ra, và sống với nó, nhưng đồng thời cũng được nó chiều chuộng, ve vuốt lại. Bởi vì chính sự ngổn ngang, bộn bề ấy được đẻ ra từ một nếp thân quen, là hình ảnh có tính lưu truyền, và cũng là một cốt cách.
Những chỗ như thế thực ra rất giản dị, năm tháng thường chất vào đó nhiều thứ khiến nó chật chội, bức bối và biến dạng, chỉ cần nhấc bớt, lược đi những gì che lấp là hiện ngay ra bộ mặt nguyên bản. Nhưng xử lý khuôn mặt đó thế nào cũng cần một cái nhìn tinh, đôi khi không dễ.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.09.2021 20:55:32 bởi Ct.Ly>
Hộp bí mật
 
 
Năm nào gặp trong bài học tiếng Pháp, câu chuyện về hai đứa bé khi khám phá những ngăn tủ cũ đã phát hiện ra những bí mật của bà ngoại trong cái hộp cũ kỹ, là những mảnh vải cũ, những cái kim, sợi chỉ và những bức thư tình.
Chúng thì thầm rồi thốt lên với nhau những tiếng rú, rồi cười rũ rượi với những thứ đồ vật vớ vẩn kia.
Mình nhớ hồi nhỏ nhà mình cũng có một cái hộp, gọi hộp khâu. Là cái hộp đựng kim chỉ, cúc áo cũ, dây kéo quần… Nó nguyên là một cái hộp kẹo chocolate bằng sắt, ông bố mang ở nước ngoài về năm 1956. Kẹo ăn hết từ 1956 nhưng cái hộp khâu tồn tại đến 1976, suốt hai mươi năm khi mình rời Hà Nội vào Sài Gòn thì cái hộp ấy vẫn cứ nằm trên tủ. Những cái cúc áo làm cho hộp đầy dần, như một chứng tích của từng thời kỳ. Cái của chiếc sơ mi kiểu chiết li của bà chị thời những năm 1960. Cái của chiếc áo lính ông anh trai gửi về cho thằng em năm 1972 trước khi vào Nam (hồi đó đám choai choai Hà Nội như mình thích mặc áo lính, đội mũ cối, đi dép đúc, phóng xe đạp ngoài đường, trêu gái và đánh nhau). Cái thì của chiếc quần bò đầu tiên được mặc thời Hà Nội mở cửa. Cái của chiếc “pa đờ xuy” cũ kỹ kiểu lính tẩy của ông bô từ thời Pháp thuộc… Cái hộp khâu như một bảo tàng, nhìn nó là thấy lại cả một thời.
Nhưng trong đó cũng có một mẩu gấu áo len đan tay, nó là một bí mật của mình mà nếu sau này trời có cho trở thành cỡ “Marquez” thì mới đủ sức nói ra. Nói thế để thấy là chắc chả bao giờ có ngày đó! Hoặc là đến lúc nào đó phải tự huyễn hoặc mình, rồi nốc vài chai, may ra...
Thời bây giờ người ta hay nói đến những cái “ngăn kéo” trong cuộc đời mỗi người. Mình cũng có một vài cái ngăn kéo, nhưng chả thấy cái ngăn nào bằng cái hộp khâu có chứa mảnh gấu áo len nọ.
Nhưng có một cái hộp vô hình, phi vật thể, là cái inbox.
Inbox là cái chứa vô cùng tận những bí mật riêng tư. Trong đó là những bí mật, những con người, những tâm trạng và những tình huống muôn màu sắc. Mình cứ thấy rộn lên khi trên màn hình con chữ đó nổi lên cái màu đen đậm, cho dù sẽ nhận trong đó một lời yêu thương, hay chửi bới diễu cợt.
Mình nghĩ cái inbox của mỗi người phải là một nơi chốn bất khả xâm phạm của chính chủ nhân, không ai khác dù là bố, mẹ, vợ chồng, bồ bịch… nên (và được phép) mở cái cánh cửa bước vào.
 
 
 
 
 
 
Khói
 
 
Có một con đường hay đưa ta về hoài niệm. Con đường ấy mong manh, ngoằn ngoèo, mờ ảo. Khiến ta lan man, vật vờ, nhung nhăng, mây gió.
Ta hay bắt gặp, rồi bị cuốn đi vào lúc buổi chiều. Là khói.
Chiều cuối năm tĩnh lặng. Thắp nén hương đợi phút giao thừa, có gì thiêng liêng hơn. Làn khói mỏng bay lên như vẽ một đường lên trời, kết nối không gian và thời gian. Những cõi người, âm và dương, quá khứ và hiện tại, còn và mất, hôm nay và hôm qua.
Có ngày hôm qua bên bếp lửa.
Những người đàn bà ngồi đun mỗi buổi sớm chiều. Lửa làm khô nứt khuôn mặt, hắt lên tường cái bóng hình khăn vuông mỏ quạ, im lìm như một bức tranh. Những ngày mưa làm rạ ẩm, mắt mũi cay xè. Nhưng những người đàn bà không giụi mắt.
Và những mái nhà.
Khói luồn qua khe, vật vờ mái lá. Khói dùng dằng bay, như không lên nổi trong làn mưa, trong không khí nằng nặng hơi ẩm buổi chiều.
Khói là con đường đi về nỗi nhớ. Chiều Tây Bắc của Quang Dũng không thoát khỏi con đường này:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.
Đấy là con đường đi về cõi tâm linh.
Trong đời sống thật, khói không hiền lành, mong manh như thế.
Ngùn ngụt đống lửa đồng chiều. Người ta đốt những gốc rạ chuẩn bị đất để mùa sau. Những cái lò gạch cũ nhả khói vào bầu trời. Đống lửa sưởi ấm, hun chuột hay thui một con vịt bọc đất mới bắt trộm được của trẻ chăn trâu. Khói làm mờ đi một vệt núi, vạt một góc đồng, hay che khuất mái chùa chập chờn trong sương. Có khi nhuộm trắng một buổi chiều.
Khói còn nhuộm ra màu, trầm như màu thời gian.
Đòn gánh, thúng mủng, rổ rá, nong nia, giần sàng còn nguyên tre tươi, gác lên gác bếp. Khói thấm vào, nhuộm ra một màu như bén cháy. Người tôi ngoài nắng, tre tôi bếp lửa.
Ấy là khói đồng quê.
Có đám khói không phun ra từ lửa, là những đám khói đô thị. Chúng hung bạo.
Những cái ống thổi vào bầu trời làn khói đen kịt nhuộm xám cả bầu trời.
Những luồng khói xả vào mặt người đi trên phố.
Những làn khói vật vờ bên hố bom. Vành khăn tang trắng phố Khâm Thiên mùa Noel 1972, chỉ còn mấy tháng nữa là hòa bình.
Những làn khói khen khét mùi lửa đạn chân cầu Sài Gòn, vào những phút cuối cùng của cuộc chiến tranh.
Vừa lúc nãy thôi, bản tin trưa của VTV, ở một tỉnh miền Trung, những cột khói bốc lên sau tiếng nổ của những trái bom còn sót lại.
Đám khói ngùn ngụt ở một góc thành phố sau vụ đánh bom hôm qua trên đất nước của “một nghìn một đêm lẻ”. Lại xác người, máu chảy, làn khói vật vờ bên đống tường đổ nát.
Và hôm nay trong ngôi nhà, xa rồi bếp lửa chiều hôm.
Không có lửa, không có khói. Vì bây giờ đã có những cái bếp không cần lửa, hay loại lửa không có khói. Bếp ga, bếp từ, bếp điện, lò vi sóng… Những cái bếp không làm cay mắt người. Không mùi, không vị, không tan…
Và đôi khi, mắt ta cay vì nhớ khói.
 
 
 
 
 
Se lạnh cuối năm…
 
 
Sài Gòn tháng Mười hai, chưa đến ngày hai mươi, đã thấy xôn xao trên phố, rộn rã đèn màu giăng ngang trên cao, thành phố đang vào mùa “Greeting Season”, mùa của sự gặp gỡ và đón tiếp, mùa của màu trắng và đỏ, cho dù người ta cố gắng tạo ra cái “không khí lành lạnh” cho thị giác bằng những cành cây màu trắng, bằng những bông tuyết, hạt tuyết bằng bông hay bằng những miếng xốp nhỏ li ti, thì cái cảm xúc lâng lâng đích thực cũng không thể bắt nguồn từ đấy. Như một ân huệ trời cho, như một món quà vô giá, cái se lạnh của tiết trời cuối năm khiến cái gay gắt của nắng Sài Gòn phải nhường chỗ cho một chút hanh hao, làm người ta được run lên, được co ro trong cái áo khoác mỏng ở buổi sớm mai hay nép mình vào nhau khi đêm muộn, nó cũng khiến người ta “cảm” được nhiều hơn về thời gian, và lòng se lại.
 
Đến cả làn khói lờn vờn trên ly đen nóng trông cũng có vẻ quyện hơn trong cái lành lạnh của buổi sớm mai!
Sống ở Sài Gòn, nhất là những người đã từng sống ngoài miền Bắc, dường như cái cảm giác về mùa lâu nay chỉ còn trong hai ý niệm: mùa mưa và mùa khô! Nó rõ ràng mạch lạc quá, đến độ đôi khi ta bỗng thấy thèm một sự đỏng đảnh thất thường của thời tiết như thèm khát một nỗi giận hờn vô cớ trong tình yêu.
Cho nên, người ta cảm nhận nó không chỉ bằng cảm giác da thịt, mà bằng nỗi xao động trong tâm tư.
Bàn tay con người có thể dễ dàng tạo ra một khuôn mặt đa sắc, một khuôn mặt người, một khuôn mặt kiến trúc hay một khuôn mặt đô thị. Nhưng khuôn mặt ấy không thể tạo ra được chút khơi gợi cảm xúc nào, nếu nó chỉ dừng lại ở mức dùng  công nghệ “hóa trang” một cách đơn độc. Có chăng, nó cũng  chỉ mang tính tô điểm, một hiệu quả “mua vui” ít nhiều cho thị giác trong những khoảng khắc nào đấy, nếu nó không bắt đầu từ những gì có trong trời đất, thực sự gắn bó với những quy luật của tự nhiên.
Một ông già Noel trông thật tội nghiệp giữa nắng trưa Sài Gòn là một “ký hiệu” cho ta nhìn thấy, nhưng chính cái tiết lành lạnh kia của đất trời mới là cái cho ta cảm thấy về Noel trong tâm thức.
Đêm cao nguyên, bên ngoài là rét lạnh gió gào, bên trong là bập bùng ánh lửa, dù cạnh một lò sưởi trong một ngôi biệt thự sang trọng ở Đà Lạt hay quanh bếp lửa dưới nếp nhà sàn dân dã trên triền núi, những câu chuyện cổ tích với bao điều kỳ diệu của nó, thực sự đều tạo nên một không gian “đặc quánh” xúc cảm. Nhưng với những cái lò sưởi ốp đá hoặc bằng gỗ bóng lộn trong nhiều ngôi biệt thự ở chốn nóng bức như Sài Gòn chỉ để trang trí, thì lại gây nhiều phản cảm.
Cho nên, dù thương, dù yêu đến mấy, cũng xin đừng mang nắng Sài Gòn “gửi ra ngoài ấy” cho mùa đông Hà Nội!
Để anh mãi được nghe câu em hát: “Gió mùa đông bắc về, tay em lạnh, môi em lạnh, sao chẳng có anh…”
 
Sài Gòn một ngày cuối năm




0
Nhuộm tóc về quê
 
 
Chuyến xe chiều cuối năm nêm chặt người, những kẻ tha phương về quê ăn tết,  thấp  thoáng  vài  khuôn  mặt thiếu nữ, có vẻ gì quen quen, ta đã gặp đâu đó ở chốn thị thành, trong nhà hàng, nơi quán rượu, hay một quán karaoke. Những khuôn mặt gái quê nhưng đã nhuốm màu thành thị, lại có vẻ gì là lạ, khang khác, mái tóc đen óng mượt, không còn là áo thun trễ cổ, hở rộng cả một khoảng ngực trần, không còn là váy ngắn cũn cỡn, khoe cặp đùi mời gọi, mà là kín kẽ, sơ mi dài tay cài “măng set”, quần tây, trang phục nửa quê nửa tỉnh…
Nhớ chiều hôm trước ở nơi cắt tóc gội đầu, người ra vào nườm nượp, ông già vào nhuộm đen mái đầu tóc bạc, mấy cô cậu tiểu thư công tử vào nhuộm nâu, nhuộm vàng những mái tóc đen. Còn em, em đến để nhuộm đen trở lại mái tóc vàng hoe, em bảo: Để về quê ăn tết!

À phải rồi, gái quê ra phố, “nghề nghiệp” và sự mưu sinh đã nhuộm vàng mái tóc đen nguyên thủy của em rồi. Năm hết tết đến, ngày trở về không muốn để người làng dị nghị, em muốn trở lại là  em, nguyên lành một cô gái quê, e ấp trên con đường làng, gặp ánh nhìn đàn ông, vẫn cứ len lét bước đi với dáng người nghiêng nghiêng tránh né, cúi đầu e thẹn, tay mân mê tà áo mỏng. Không còn cái vẻ ranh mãnh nhơn nhơn dưới ánh đèn màu, và không như nhiều kẻ khác, từ quê ra phố, xênh xang áo gấm về làng, dập dềnh xe cộ, nghêng ngang mặt nở, khệnh khạng xoa đầu trẻ con, cho quà người lớn… mà trong đó, có người thành công một cách lương thiện nhưng không ít kẻ cắp, hoặc những kẻ giàu có do bòn rút được.
Em biết phận mình, biết mình đang ở đâu giữa cuộc đời này, còn có một nơi để em giữ gìn phẩm giá, nơi ấy là quê hương, nơi em có những người thân yêu, là gia đình, là lối xóm.
Cho dù ngày mai sau buổi lễ chùa, em lại ra đi, trở lên thành phố, mái tóc em sẽ lại phải nhuộm vàng!
 
 
 
 
 
 
 
Nghĩ vu vơ
 
 
Mắt buổi sáng
Giá mà giữ lại được đôi mắt ấy.
Ngã tư đường, xe qua vội, bất chợt ánh nhìn từ một khuôn mặt bịt kín, qua cái khe nhỏ như một vết nứt, là khoảng nằm giữa khẩu trang và mũ bảo hiểm. Đôi mắt không ướt, cũng chả long lanh, nhưng như hình đôi mắt của người quen. Cái nhìn như bảo: “em đây mà”!
Bên trong cái khẩu trang kia là một nụ cười.
Cái khẩu trang chết tiệt, đã tước đi nụ cười kia của ta mất rồi.
 
Quên nỗi sợ
Hằng ngày xe đạp, chả phải mũ mão gì, đầu tưng tửng, tự do.
Hôm qua xe máy, vẫn nghĩ là xe đạp, cứ cái đầu tưng tửng ra đường, quên luôn nỗi sợ. Lúc gửi xe mới chột dạ, chết chửa, không mũ bảo hiểm, chốc về làm sao!
Đường về nhà cứ nơm nớp, xấu tốt thì vẫn thằng mình, mà sao như thằng ăn cắp trốn công an. Sợ một tiếng còi.
Mũ bảo hiểm, khẩu trang che mặt, kính mát, chả còn nhận ra nhan sắc nào nữa. Cũng hết nhận dạng nhé. Có đi với ai nhơn nhơn giữa phố thì cũng chả ai nhận ra được. Cái mũ nó bảo hiểm cho cả những “hoạt động tội lỗi”.
Nhưng chả lẽ đến chỗ hẹn cũng cầm theo một cái mũ. Và nhiều khi chỉ vì thiếu cái mũ mà mất đi một cơ hội.
Lúc đến nhảy taxi, cuối buổi cà phê, đi cùng em nhé. Mũ có mỗi cái, sợ không, dám không? Sợ à, thế là những tình cờ đầy cảm hứng tiêu tan. Hèn thế, cảm xúc cũng phải đội mũ à!
Đôi lúc cần phải quên đi, cái nỗi sợ ám ảnh cứ làm ta hèn và khô héo mãi.
 
Từ thật về ảo
Thật là cái thế giới mà con người mình chả phải chỉ là của mình, nó bị chia thành những mảnh vụn, quá nhiều trong một.
Thật là cái chỗ như là chỗ ngày ngày đi làm, phải đối mặt, phải sắm vai, là cái đời sống không có chỗ cho sự cô đơn, cái sự mà đôi khi cũng thấy thật cần, dù chán!
Cho nên mỗi chiều về không thể không tra chìa vào ổ khóa của “ngôi nhà riêng”, là ảo.
Đánh “username”, “password” rồi nhấn “sign in”, cái cảm giác cũng run run như khi tra chìa vào ổ khóa căn phòng độc thân thuở nào, cũng khắc khoải hồi hộp và chộn rộn như mỗi lần mở cửa
căn phòng ngày trước, nhìn xem dưới sàn có một bức thư, mảnh giấy nào nhét qua khe cửa. Nhất là khi hàng chữ “inbox” nổi đậm lên.
Nhưng là thật đấy chứ!
Những cái tên không thật của những con người thật, những câu đùa, hay những tâm tình như ảo của những tâm trạng thật.
Có những lúc ảo và thật không có ranh giới, nhưng dù ảo hay thật thì quan trọng nhất vẫn là được sống thật bằng chính con người mình.
 
Trôi
Thì cần gì định ra cái nơi đích đến. Xin đừng hỏi, “về đâu”.
Và đã trôi thì biết đến bao giờ?
Cuộc sống quá lắm chương trình, quá nhiều thứ “kế hoạch hóa”, nào gia đình, sinh sản, công việc…
Thì bây giờ thả lỏng người, duỗi chân cẳng, nằm ngửa nhìn giời, bập bềnh mặt nước, cho nắng, sóng, gió… táp vào, và kệ nó, trôi đi đâu thì trôi.
Có thể là “lềnh phềnh” như một miếng bánh mì cũ cho cá nó rỉa. Hay được như cây lục bình thì phúc quá.
Cuộc đời là cuộc hành trình, nhưng chả lẽ lúc nào cũng phải có nơi đến. Ở cái điểm nào đó rồi, cuộc hành trình cần những ngả rẽ. Những ngả rẽ, những con đường ngang, nó gây cảm hứng khám phá, nó chứa đựng nhiều bất ngờ.
Phải nhắc lại cái câu rất cũ, cái sướng là trên đường đi, chứ không phải là nơi đến.
Năm ngoái đi Tây Bắc, có những ngả rẽ gặp thiên đường cảnh vật, nhưng nhiều khi lại thích những cái ngõ để gặp con người, những ngõ ngách của con người.
Và đôi khi, một công việc mới cũng như ngả rẽ. Vấn đề không phải là việc gì, mà là tâm thế để đối mặt với nó là như thế nào.
Cho nên chả phải gồng mình, cứ lỏng người mà trôi!
 
Nhà ven đường
Tết nhất hay mang đến cái cảm giác lẩn thẩn, cái nhớ nhung lung tung thích lục lọi hòm rương cũ ra xem, tìm thấy tấm hình một căn nhà, một mái nhà ven đường số 6 ngày khá rét sắp tết năm ấy. Những mái nhà ven đường thường phủ lên những số phận buồn, lẻ bóng. Như ở quê, một mái rạ đầu làng y như rằng một bà lão không chồng lụi hụi vào ra với cái quán vài ba chén nước, dăm quả chuối, mươi củ lạc…
Căn nhà ven đường này suốt ngày xe chạy phủ lên nó một lớp bụi dày, người phụ nữ làm nghề thợ may, sống với một đứa trai ba tuổi, nó chạy đâu ngoài ruộng sau nhà. Không phải quán nước, chỉ vì cái xe đạp treo cái làn nhựa mà muốn dừng chân…
Và y như rằng, thằng nhỏ không có bố. Bố nó ở đâu, đi làm xa hay là…
Thật không nên hỏi!
 
Spa chiều cuối năm
Em gái có khuôn mặt của một “geisha”, nhất là khi lồng vào cái khung cảnh đầy thâm cung thế này, đã là chiều 28 tết, cái không khí vắng lặng đến rợn người.
Em người Đà Lạt, có cái nét đầm đậm miền cao. Hỏi, bàn tay này ngày xưa biết làm gì, cái thời trước lúc xuống Sài Gòn ấy. Em bảo, chỉ biết trồng hoa, nhà có mảnh vườn nhỏ, chỉ trồng hoa chơi thôi chứ không bán. Chắc bàn tay kia trước đây mềm lắm, bàn tay chỉ biết trồng và hái hoa thôi.
Bây giờ thì rắn chắc quá, cả bắp vai nữa, to khỏe như một vận động viên thể hình. Sau tám năm làm việc, cái nghề đã biến đôi bàn tay mềm mại ấy thành một gọng kìm.
Cuộc đời đã biến biết bao nhiêu bàn tay nhổ mạ, hái chè, trồng dâu… thành những gọng kìm như thế!




0
Quê


 
Thị dân sống ngoài kẻ chợ dù có thay hình đổi dạng thì thực chất vẫn cứ mang trong mình một sợi dây kết nối, rang buộc với cái nơi gốc gác của mình. Nơi ấy đất đã bơm đậm vào từng sản vật của nó những vị ngọt bùi, chua cay, đắng chát mà người đi xa muôn đời vẫn cứ canh cánh một nỗi thèm.
Sài Gòn sáng cuối năm, ngồi trong cái se se “rớt lạnh” như từ Hà Nội thổi vào, nhà hàng Cốm Xanh với những món mang hương vị Bắc. Bát bún ốc, đĩa bánh cuốn, tô cháo lòng, bát miến ngan, đĩa xôi khúc, chả phải của ngon vật lạ  gì mà đắt như cao lương mỹ vị, mà vẫn đông nghịt, đa phần là khách “nhập cư”. Nghe lao xao nhiều giọng nói, những âm sắc xứ Nghệ đã nhẹ đi rất nhiều, Hải Phòng hay Hà Nội thì ngôn từ cũng đã chịu ảnh hưởng nhiều của Sài Gòn. Nghe những chất giọng pha trộn từ nhiều vùng miền ấy, rồi nhìn người ta ăn, chợt nghiệm ra rằng, người ta có thể đổi giọng, pha tiếng nhưng cái “miệng ăn”, cái tình với mấy thứ thuộc “đồng quà tấm bánh” ấy thì còn thấm đậm và âm ỉ lắm, chả dễ gì suy xuyển được. Đôi lúc người ta nghĩ đến quê có khi chỉ từ mấy miếng ăn. Có lẽ quê hương cũng là ở những gì rất trần thế, cụ thể, chả phải cao siêu gì.
Thế nào là dân tỉnh? Người ta hay nói về người Hà Nội. Thế thế nào là người Hà Nội gốc, thực ra rất khó định nghĩa. Mỗi một người Hà Nội đều đến từ một vùng quê nào đó, có thể là từ thuở rất xa.Từ một cái làng, thuộc một phủ, một tổng của một tỉnh, một vùng miền. Sống nhiều đời thì bớt dần chất “quê” và thêm dần chất “thị”. Nhưng vẫn còn cái mớ quan hệ họ hàng nhằng nhịt ở quê mà nhờ nó, như sợi dây liên hệ, mỗi gia đình vẫn còn một “phần quê” trong mình. Rồi là sự đi lại thăm thú lẫn nhau. Người tỉnh về quê ăn giỗ, lúc giặc giã chạy về quê lánh nạn. Người quê ra tỉnh thăm họ hàng, ăn cưới, dự đám ma, đi chữa bệnh. Mỗi lần thăm thú là một lần quà cáp. Ngày xưa dân Hà Nội mang về quê mấy cái bánh mì mậu dịch, chai xì dầu, gói kẹo cứng Hải Châu, bánh quy gai, quy xốp. Quý hóa lắm. Khách quê ra là bu gà, nải chuối, gánh khoai, vài cân gạo nếp. Cũng quý hóa lắm.
Người quê rất trọng khách, mỗi khi khách tỉnh về, họ đón như thượng khách. Được tin về là nhốt gà từ hôm trước, mới nghe tiếng còi toe toe tít ở đầu làng là đã cuống quít, là quáng quàng áo xống, chạy vội chạy vàng ra đón rước. Có bể nước mưa tích trữ nấu ăn cả năm nhưng vẫn múc đầy chậu thau cho khách rửa mặt. Cơm rượu bày ra trên mâm, khách tháo giày tây, cởi áo vét, khoanh chân đĩnh đạc trên phản rồi mà chủ vẫn cứ xoa hai tay vào nhau mời mời mọc mọc, lúng ta lúng túng. Rồi thì sai vợ, quát con.
Xưa cơm nhà quê đãi khách, thuần túy là gà luộc, cỗ lòng xào su hào, nước dùng nấu bát canh bí xanh. Bát cơm thơm thơm mùi gạo mới. Bát canh, đĩa xào có cái mùi oi khói rơm rạ. Khách thích chí gắp gắp chan chan, rồi tợp ngụm rượu gật gù.
Nay cơm quê đãi khách cứ lưỡng lự, nửa quê, nửa tỉnh. Đã đành là vẫn gà luộc, lòng xào, bát canh khoai sọ, nhưng còn có đĩa giò lụa, chả quế, giá được giò chả Ước Lễ thì tốt quá, nhưng có nhà lại cầu kỳ “mật báo” cho con ngoài Hà Nội mua về thêm giò chả chợ Đồng Xuân. Có mâm cơm đã đặt lên bát su hào nấu mọc. Tỉnh thành rồi. Khách trách khéo nhà mày vẽ chuyện. Nhiều nhà giàu nhà quê bây giờ mang bia ra mời, khách thì cứ nằng nặc đòi rượu sủi tăm nút lá chuối. Một đằng thì muốn tỏ ra cho sang, một đằng lại cứ thèm khát cái vị tự muôn đời cho lạ cái miệng quen uống rượu tây.
Khách ra về thì cố dúi vài quả bưởi, mấy túm bánh nếp, lủng lẳng ra xe.
Cái anh thành thị về quê đôi lúc có gì hơi kẻ cả. Xoa xoa đầu trẻ con, phát cho dăm ba cái kẹo. Rồi giở chứng, đòi nào là gà quê, gạo quê, đôi lúc cất giọng lả lơi đòi cả “gái quê” nữa. Gái quê xưa gặp khách tỉnh về là cứ phải đứng túm tụm vài ba em, bá vai nhau, má phây phây hồng, sơ mi phin nõn chật căng cứng bộ ngực, nghe giai tỉnh tán thì rúc vào lưng nhau cười rinh rích. Đứa nọ đun đẩy đứa kia. Nay dạn rồi, má đã bôi crème Trung Quốc chứ chả phải thứ thuốc nẻ như sáp nến nữa. Quần jean trễ nải, bá vai bá cổ giai rồi. Vài ba trí thức tỉnh về cứ chép miệng chết chết, rồi than phiền nhiều nhà tầng, nhiều nhà gạch, mất hết làng, mất hết làng. Dân quê đang hí hửng với căn nhà mới xây nhờ tiền tích cóp từ việc đi lao động, buôn bán ở nước ngoài, chả hiểu đầu cua tai nheo thế nào cứ đực mặt ra cười trừ. Đôi khi dân thành phố cứ ích kỷ thế nào. Các bác trí thức, các nhà văn hóa tỉnh về quê cứ đòi giữ vẻ đẹp hồn làng, có bờ tre ao cá, có đống rơm đống rạ, cho họ lượn gót giày tây đi ngắm cảnh, để có cảm xúc viết văn. Nhưng mà chả ai chỉ ra được cho người quê biết phải xây nhà thế nào để họ sống cho ra người. Chả lẽ cứ phải giữ mãi mái tranh, mái rạ, chuồng lợn, chuồng bò cho các bác về chiêm ngưỡng vẻ đẹp thôn dã?
Nhưng dân quê ra tỉnh làm khách thì thương lắm. Rụt rà rụt rè, khép na khép nép. Là ra thăm nhà của con của cháu đấy, mà cứ như ở nhà ai. Bây giờ ngoài tỉnh cái gì của quê cũng có, mùa nào thức ấy, tôm cua ốc ếch, chim ngói, cốm xanh, nên quà gì cũng bớt quý đi. Đôi lúc có đứa con vô ý nhìn mẹ mang bu gà còn mắng sa sả “mang xách làm gì cho nhọc”. Chứ ngày xưa quý lắm. Có lẽ bắt đầu từ sự quý người, rồi ra quý của.
Xưa không thế. Có ông bà nọ ở Hà Nội khoảng ba đời. Ông là trí thức thời Tây, bà là bà đỡ, nghĩa là làm nghề đỡ đẻ, cũng từ thời Tây. Cứ xem cách sống của họ, ga giường nệm trắng, bàn ăn, bàn nước sạch sẽ tinh tươm, thì tưởng ra, với dân quê là xa cách lắm. Nhưng mà không phải. Khách quê ra nhà họ như ra nhà người ruột thịt. Đau ốm thì nhờ bà đưa đi chữa bệnh, bụng to thì nhờ khám thai, thậm chí có chị hồi thời chiến, đàn ông trong làng vợi cả, mà lại chửa hoang, cũng lại ra nhờ bà đưa đi “giải quyết”. Lại được kín tiếng, chứ cái chuyện ấy ở làng là hệ trọng, vỡ lở là hỏng cả đời người. Bà giúp tuốt. Nhà thờ họ có chuyện tranh chấp, cũng lại ra nhờ, vì ông là đại biểu Quốc hội. Ông nghị gật già yếu cứ nằm trên giường mắt lim dim mà nghe chuyện. Bà thì ngồi khâu vá. Khách quê ngồi ngay trên đệm giường trắng tinh tường trình nguyện vọng. Xong việc ra về chào hỏi một cách rất tả chân: “Ông nằm, bà ngồi, nhà cháu xin phép”! Thế là dù đi khám viêm gan, đẻ đái, chửa hoang hay kiện tụng thì ra về cũng để lại ngoài sảnh khi cặp gà giò, lúc bao gạo, hoặc có lần là cả gánh khoai mà có thể đến một nửa là khoai hà. Có nhiều hôm, khách quê ngủ lại, bà cho nằm cùng giường, chả ngại gì hôi hám. Chỉ nhắc khách, “mày nhớ rửa chân”!
Hồi ấy quê và tỉnh là như thế, chả có gì là thiêng liêng đến nỗi phải lên gân lên cốt hay là hét rống lên. Chả có những tiếng thốt lên “ôi quê hương”… Cứ bình dị, tự nhiên mà sống, mà nồng nàn với nhau.
Năm nay quê xa thì đã một phần mà quê gần thì lọt hẳn vào Hà Nội mất rồi. Nội ngoại bây giờ trong Hà Nội cả. Thành ra về quê ở Thanh Oai hay Phủ Khoái cũng như chạy lên chợ Bưởi hay xuống Thanh Trì. Về Ước Lễ mua mấy cân giò chả cũng chả khác gì phóng xuống chợ Mơ mua vài bìa đậu phụ, hay lên Bưởi làm nửa cân thịt chó, hay mấy miếng lợn quay.
Đường về quê ngày một gần, tết phóng về làng mà lòng vời vợi một nỗi nhớ xa.




0
Ngồi
 
 
Ngẫm cái sự ngồi ở ta, nó cũng có nhiều kiểu, nhiều cách và để làm nhiều việc.
Các cụ ngày xưa thường thực hiện hầu hết công việc ở tư thế ngồi. Lúc đi làm đồng, mệt thì ngồi bệt xuống bờ ruộng, đàn ông ngồi bắn thuốc lào, đàn bà cẩn thận thì kê đít bằng cái mo cau, hay đòn gánh. Có khi chả cần, hạ luôn xuống đất, phe phẩy quạt bằng cái nón lá, cũng thỏa thuê.
Ở nhà thì ngồi đun bếp, vì bếp rơm bếp rạ. Ngồi mổ cá, làm gà. Ngồi sàng gạo. Ăn cơm thường ngồi xuống đất, đặt mâm nơi đầu hè, hay ngồi trên chõng. Cái bàn ăn phải mãi sau này, ra thành thị mới có. Ăn xong thì cắp rổ bát đĩa xuống ngồi rửa ở cầu ao. Đi ỉa thì ngồi xổm, vì làm gì có nhà toilet, “nhất quận công, nhì ỉa đồng”.
Ngồi có nhiều kiểu. Ngồi bệt, khi nghỉ mệt, hay trẻ con ăn vạ. Ngồi giẫy đành đạch. Ngồi xổm, khi chờ đợi, xem chọi gà, hay khi làm việc nhà. Ngồi xếp bằng trên chiếu khi tụng kinh, khi ăn cỗ, hay đánh bài.
Tắm ngồi cũng là một nếp quen của người Việt xưa. Có lẽ nó thể hiện sự kín đáo, phù hợp với hoàn cảnh, và tâm lý Á Đông. (Có lẽ với người phụ nữ Á Đông xưa, khỏa thân khi đứng là một sự lõa lồ quá thể, dù ở một chốn rất riêng tư?). Nhà quê không có nhà tắm, đôi khi chỉ quây tấm cót lại ở một góc vườn để che. Người phụ nữ ngồi tắm lúp xúp trong đó, chỉ thấp thoáng mái tóc đen.
Các tư thế ngồi đã trở thành thói quen cố hữu trong đời sống, trong sinh hoạt, nó truyền đời từ hàng nghìn năm, nên nó ăn vào máu, vào nếp.
Cho đến bây giờ vẫn thế!
Ở chợ người Hà Nội, những đám người mũ cối, quần bộ đội, dép lê, ngồi chồm hổm chờ việc bên hè.
Ở công viên, hay bờ hồ Gươm, thanh niên vẫn mũ cối, dép nhựa nguyên đôi, ngồi xổm trên ghế đá.
Có dạo ở đường Nguyễn Thái Học có một dãy các anh thợ khóa, complet Tàu cả loạt, ngồi ngay ngắn, thẳng hàng, mỗi anh một thùng gỗ trước mặt, nom như nghệ thuật pờ pho mân (perfo- mence), thật thích mắt.
Trong nhiều cuộc họp, không ít người ngồi giả vờ đăm chiêu, giả vờ chú ý, ghi ghi chép chép ý kiến lãnh đạo, giả vờ thán phục trước những ý tưởng rất tầm thường và nhàm chán, nhưng được nói ra với cái vẻ quan trọng, cao siêu.
Ở nghị trường, nghị sĩ từng hàng đều tăm tắp ngồi ghi ghi chép chép và biểu quyết nhất trí.
Quan chức có vài người “ngồi xổm” trên dư luận. Và nhiều ông thích ngồi lâu, ngồi dai, thành ra rất dễ nghĩ dại.
Nhiều người sống ở Hà thành hay có kiểu ngồi lê đôi mách. Ngồi quán nước vỉa hè, ngồi co ro, tay đút túi, đùi rung rung (vì trời rét). Có khi bàn cả chuyện chính trị.
Giữa phố phường, mấy bà đồng nát ngồi với quang gánh, thúng mủng, soạn mấy món hàng mua được, là sách báo cũ. Thỉnh thoảng mấy chị nhà quê quang gánh ngồi nghỉ mệt sau khi bán hết gánh rau, gánh chuối, để chuẩn bị về nhà.
Gánh cốm Vòng, hàng xôi, mẹt bánh cuốn Thanh Trì, bánh mì chả, trứng vịt lộn, ngồi bệt vỉa hè. Có cả khách complet, veston. Thúng đội đầu, đang “bánh mì lóng đê…” rồi bỗng dưng phệt một cái, thế là xổm ngay xuống đất, cân đo, đong, đếm, thu tiền giắt ruột tượng.
Người châu Âu trong sinh hoạt hay đứng. Khi làm bếp, khi giặt, là, khi tắm (vòi sen là một sản phẩm mang đặc tính cách ấy, phụ nữ thường thích tự ngắm mình khỏa thân trong gương). Các tiệm ăn nhanh, người ta chỉ để cái bàn cao, hay kệ tường, nhai nhanh uống vội, rồi đi. Ở ta ít những nơi như thế. Cứ là phải ngồi, và còn thích khề khà nhiều lắm.
Ngồi là trạng thái tĩnh, trạng thái của tư duy, có thể nẩy sinh ý tưởng uyên thâm, sâu sắc. Nhưng ngồi cũng là trạng thái của trì trệ và lười biếng, của chậm trễ và ù lì.
Đứng và đi là trạng thái động, là hành động và linh hoạt, là lưu chuyển.
Người ta bảo, thói quen tạo ra tính cách, tính cách tạo ra số phận. Đấy là nói về một cá nhân, nhưng với một dân tộc, chắc cũng vậy.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Khóc, cười
 
 
Con trai đầu vào tuổi mười tám, cũng bằng với số năm ông nội nó đi xa.
Mùa đông năm ấy, ông cụ đã vào tuổi tám mươi mà lại ra đi đương lúc còn khỏe, còn làm việc, khi đang dự một cuộc họp xét duyệt phương án thiết kế cho một công trình kiến trúc đặc biệt của thủ đô. Lần về thăm trước đấy, chào bố để đi mà lòng không một dự cảm xấu nào. Thì ra với người già, cuộc chia tay nào cũng có thể là cuộc chia tay lần cuối.
Nên từ đấy, cứ canh cánh trong lòng một nỗi lo mỗi lần về thăm mẹ. Nhất là vào cái lúc cúi xuống hôn lên hai gò má nhăn nheo luôn ướt bởi hai dòng nước mắt của bà cụ phút tiễn con cháu ra xe. Lo, nhưng cứ phải cười, để giấu đi cái lo và nỗi buồn. Suốt nhiều năm khi mẹ còn tỉnh táo, khi còn nhận biết được thì nỗi buồn xa cách và nỗi phập phồng mỗi lần tiễn con đi làm mắt bà rơi lệ. Nhưng người ra đi, là con, là cháu, cứ phải cười.
Rồi cái lẫn của tuổi già ập đến, nó thật lạ. Nhớ những điều rất xa nhưng lại quên những cái thật gần. Chuyện xửa xưa, thời Pháp thuộc, ra kháng chiến, lên Việt Bắc… kể ra như những thước phim tư liệu. Nhưng lại quên dần ngay cả những cái tên vốn rất quen thuộc của những đứa con, đứa cháu ruột thịt của mình. Rồi bỗng thành như trẻ con, vô lo nghĩ, ngẩn ngơ. Gặp con cháu là cười, con về thấy vui, cười. Con đi cũng chẳng biết buồn, vẫn cười. Gặp con cái  cứ chào bằng bác. Tiễn con đi xa mà như tiễn khách, lại đôi lúc cứ nghĩ nó về nhà gần đâu đây, rồi mai nó lại đến.
Những lần chia tay trước, mẹ tiễn tận ra xe, mẹ khóc thì ta vẫn cười.
Còn bây giờ, mẹ không đi xuống nữa. Bà cụ đứng đó, trên những bậc cầu thang gỗ đã mòn vẹt bước chân người, trong suốt mấy chục năm. Những tiếng lọc cọc của đôi guốc mộc trên bậc cầu thang gỗ mỗi sớm mùa đông khi ta còn nằm trong chăn ấm vẫn văng vẳng đâu đây.
Tiễn con đi mà mẹ cứ cười, nhưng lòng ta bật khóc!
 
Mùa Vu Lan 2007
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Gừng cay, tuyết trắng.
 
Nửa đêm, quán vắng. Tiếng nhạc réo rắt từ chiếc máy hát cổ, bản “Polonaise” lẫn một chút lạo xạo của đĩa nhựa cũ. Đêm
cuối năm, gió xào xạc dọc đường Tú Xương. Người khách cuối cùng ngồi lại, cô gái gục đầu một mình bên ly rượu uống dở.
Ngồi sau Vespa của một người bạn. Cái màu trắng chập chờn trong đêm. Bạn định chạy đi đâu? Mặc kệ! Tôi đưa mình về lại một nhà ga…
Ga xép ngoại ô Warsaw, Ba Lan. Đêm ấy cũng cuối năm, những chuyến tàu muộn mệt mỏi nhả ra những luồng khói vật vờ trên đường ray. Trời khuya, tuyết trắng. Những người khách cuối cùng rời quán rượu. Người đàn bà đi một mình, cũng gục đầu bên chai vodka đã vơi một nửa.
Ôi trời, những người đàn bà nơi quán rượu lúc nửa đêm. Những sân ga đêm cuối năm tuyết lạnh. Những bước chân lữ khách  cuối cùng trở về nhà. Và tôi, lầm lũi bước đi co ro trong cái áo cổ dựng đứng. Những bao hàng đè lên thân phận kẻ tha hương. Đôi giày lún sâu trong tuyết. Còn hai tiếng nữa ở nơi quê nhà, chỉ một cái tích tắc, kim đồng hồ sẽ nhảy, tờ lịch cuối cùng của năm rơi xuống.
Tôi nhớ tới một người anh. Anh đã ngã xuống ở chiến trường Quảng Nam vào năm 1968 khi chưa đầy ba mươi tuổi. Hồi ấy, khi còn nhỏ, tôi đã được anh đưa vào thi ca qua mùi vị của những ngụm nước. Những ngụm nước mưa anh hớp trên đường hành quân, trong một đêm rừng già:
“Đêm rừng già đi nghe mưa rơi
Một mảnh áo tơi che chẳng kín người
 Nước chảy qua môi hớp từng ngụm nhỏ
Bỗng nhớ mẹ ngồi bên ấm giỏ
Nước vối mặn nồng ngọt ngào chuyện cũ”.
Anh tên là Nguyễn Trọng Định, một nhà thơ, cũng là phóng viên chiến trường của báo Nhân Dân. Bài thơ và cái vị “nước vối quê hương” ấy đã sống trong tôi nhiều năm.
Tôi lại nhớ một chuyến bay Air France chặng Paris - Hà Nội, vị kiến trúc sư Việt kiều trở về sau nhiều năm xa quê, cảm thán: Ôi, giá như được một tô phở nóng, những củ hành chần và những miếng gừng nướng đượm mùi thơm!
Thì ra, trên những nẻo đường xa, với người đi, quê hương luôn hiển hiện. Khi là một hình ảnh, lúc lại là một thứ âm thanh, hay mùi vị nào đó đầy sức liên tưởng.
Tôi cũng có nhiều đêm đi trong gió lạnh. Có nhiều buổi đứng trong tuyết trắng. Và đã đứng được, nhờ một chút gì đó là của quê hương.
Đường hầm Poznan, chiều 30 tết năm nào. Phía trên là quảng trường ngập tuyết. Những luồng gió lạnh thổi vào đường hầm hun hút từ những lối lên xuống. Mặt sàn ẩm ướt. Những đống tuyết vụn lép nhép để lại sau những gót giày. Trong cái lạnh 20 độ âm, bàn chân đã được bọc thêm bằng bảy đôi tất các loại bên trong đôi giày mùa đông. Nhưng dù như thế thì vẫn phải đứng trên những vỏ thùng các tông, và vẫn lạnh. Cứ phải nhảy như con choi choi. Trước mặt là ngồn ngộn một giường quần áo bày ra để bán.
Và trong buổi chiều cuối năm ấy, phương thuốc để chống rét, sưởi ấm thân thể, và cũng sưởi cho cả lòng mình, là “một chút quê hương” để trong áo ngực: những miếng gừng khô!
Những miếng mứt gừng khô. Ai đã từng được nhấm nháp nó trong những buổi mùa đông xa xứ, những lúc phải đi kiếm tiền trong tuyết lạnh, mới thấm được hết cái vị cay, cái sức nóng lan tỏa của nó. Mẹ đã bỏ vào cái túi hành lý từ khi nào, như một vật dễ bị lãng quên trong đủ thứ đồ lặt vặt. Có đôi lúc lòng ta trở nên vô tình, cứ cáu kỉnh với sự chu đáo một cách lặt vặt của người khác. Nhưng vào một tình huống nào đó, cái sự lặt vặt ấy lại làm ta bừng tỉnh. Cái mùi gừng hăng hăng, cái vị cay cứ day dứt đầu lưỡi, cái nóng phừng phừng chạy dọc trong cổ họng đã làm tôi bừng tỉnh. Nó vừa gợi lên và cũng vừa lấp đầy sự trống trải mỗi khi ập về nỗi nhớ xa quê.
Tôi không định bàn về ẩm thực, về cái thứ gia vị độc đáo được đưa vào biết bao nhiêu những món ăn Việt. Bát nước mắm gừng chấm ốc, mực hấp gừng hay đĩa thịt bò kho gừng trong những bữa ăn mùa đông xứ Bắc. Và biết bao món ăn các vùng miền khác nữa.
Nhưng tựu trung thì cái vị cay nóng của gừng luôn để cân bằng lại cái “hàn” trong mọi tình huống. Vị cay của gừng là cái cay không xốc nổi, không xé lưỡi nhưng thẳm sâu, xé lòng. Là cái cay thâm trầm của người già, cũng lại là cái day dứt, cái nỗi nhớ dằng dai, là “gừng cay muối mặn” của tuổi trẻ.
Không theo một hình thù cố định, cái vẻ xù xì, lớp vỏ khô với cái màu bàng bạc, củ gừng mang một bề ngoài như một khuôn mặt luôn bị biến dạng của một con người chịu nhiều đau khổ. Nhưng vị của nó thấm đậm, và có sức nóng lan tỏa.
Những miếng gừng khô trong làn áo ngực đã theo tôi đi khắp nẻo đường phiêu bạt. Trong giá lạnh, chúng như những ngọn lửa nhỏ cháy liu riu, bền bỉ, làm ấm nóng lòng người. Đó chính là những mảnh vụn cụ thể của những gì là quê hương, là gia đình.
Những mùa đông xứ người, ở sân ga hay trên mỗi chuyến tàu, những buổi chợ ngoài trời ngập trong tuyết trắng…, tôi đã chịu đựng được, nhờ những miếng gừng.
 
Jan 2007




0
Quyền được không phải là mình
 
 
Nguyễn Ngọc Tư phàn nàn trên báo, rằng không được là mình. Nhà văn đang đòi cái quyền “được là mình”.
Còn ta thì chả bao giờ thấy mình không được là mình cả, lúc nào cũng cứ phải “là mình”, thế mãi phát chán, nên thỉnh thoảng cứ thấy thèm được là người khác.
Làm người khác có nhiều cái thích chứ.
Nếu không phải là mình, thì giờ này ta đang được đi đánh golf rồi. Hay đang ngồi trả lời phỏng vấn một cô nhà báo xinh đẹp ở cà phê Paris Deli.
Hành nghề tự do mãi, bỗng thấy thèm được đi họp, nhất là đi dự hội nghị. Hôm qua trong tiệc cưới có bà lại bảo trông anh quen quen, hình như gặp ở hội thảo nào? Hóa ra mình cũng có tướng đi hội thảo à? Hay sắp tới tự ứng cử vào ban chấp hành hội gì đó, hội làm vườn, hay nuôi chó cảnh?
Thực ra thì mình cũng muốn tự cải tạo mình đi một tý, dạo này bị kêu quá. Lôm côm, tếu táo nó quen, có lẽ phải cho mình “vào tổ chức” thôi. Nếu không chả bao giờ nghiêm chỉnh được.
Suốt ngày dép lê, quần soọc, xe đạp lại thêm cái túi của thằng bỏ báo đằng sau, đến thăm công trường cai thầu tưởng kẻ cắp, định không cho vào. Ăn cơm, uống nước vẫn làm rơi vãi xuống áo, đôi khi nhai chưa biết khép miệng, lại còn nhóp nhép. Đi nhà hàng, vào khách sạn 5 sao, thấy gái đẹp cứ nhìn chằm chặp, mà ngón tay lại đưa lên ngoáy mũi.
Thế mà có đứa lại bảo “ông phải đi Rolls-Royce”!
Không khéo mấy hôm nữa hoang mang, rồi đốc chứng, đi cạo đầu trọc như Trịnh Cung, lái cái Citroën cổ giống Thanh Tùng, áo chim cò và mượn bác Dương Tường ít câu tinh hoa nghệ thuật, ra ngồi cà phê Highland đầu đường Đồng Khởi. À, còn thiếu ít em vừa chân dài, vừa uyên bác xung quanh, lấy đâu ra nhỉ?
Thế là đủ nhé, sang trọng này, nghệ sĩ này, còn gì nữa?
Nhưng hôm nay thì vẫn phải đạp vội ra công trường, bụi trắng đầy mình, thân già tóc bạc…
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ở và đi
 
 
Ở không chỉ là trú ngụ, ở là sống, là gắn bó, gắn bó một thân phận với một thân phận (“Cái đêm em ở với chồng/ Có kẻ hóa đá bên sông đợi đò”(1)), gắn bó một thân phận với một nơi chốn (“Hỏi rằng người ở nơi đâu?/ Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà” (2).
Ngôi nhà không chỉ là nơi trú ngụ, nó là nơi ở, nơi người ta gắn kết cuộc đời, như gắn kết với một con người (“Mình ơi ta gọi là nhà/ Nhà ơi ta gọi mình là nhà tôi” (2). Ngôi nhà như người vợ, ta hạnh phúc với nó, khổ đau với nó.
Cho nên chia tay với ngôi nhà mà như với một con người, có khi thấm đẫm nước mắt.
Tôi vừa chứng kiến một cuộc chia tay đẫm nước mắt.
Gần ba chục năm về trước, khi dọn đến thì anh ở tầng trên, tầng có cái sân thượng được xây thành phòng, tôi ở dưới. Anh đang là sinh viên, tôi cũng sinh viên. Trong nhiều năm, tôi nhìn thấy tình yêu của anh đi lên đi xuống, qua cái cầu thang hẹp, tối, và bẩn. Những con chuột chạy ngược xuôi. Những dòng nước mưa chảy xuống từ trên mái.
Đi xa vài năm, lúc trở về họ đã thành vợ, thành chồng. Và những đứa con. Tôi cũng thế.
Cuộc sống cứ trôi. Cũng có lúc va chạm, hàng xóm cãi nhau, cũng có lúc lại tặng nhau hộp bánh.
Những đứa trẻ cứ dần lớn lên, nhưng cái hành lang và cầu thang dẫn lên lầu vẫn tối. Ngôi nhà chật dần, cũ kỹ dần và ngày càng xuống cấp. Đã nhiều lần có những phương án đổi chác, nhưng việc mãi không thành, suốt mười mấy năm, cho dù có những đề nghị tôi đưa ra đầy thiện chí và ưu đãi. Thật khó hiểu!
Thì cũng chỉ nghĩ rằng, chắc lại là cái sự “bắt chẹt” nhau vậy thôi. Đến tận năm ngoái, dễ đến gần hai mươi năm từ ngày có lời đề nghị đầu tiên, câu chuyện mới kết thúc. Dài như một cuộc chiến tranh giải phóng!
Chúng tôi thu xếp một cuộc “tái định cư” ngoạn mục. Là tôi giao cho họ một căn nhà khác, ba tầng lầu, rộng, đẹp, mới, đủ tiện nghi, ở một quận trung tâm, để tôi nhận nốt cái nóc nhà cho trọn vẹn. Ai cũng nói là một sự trao đổi xa xỉ!
Họ chịu dọn đi. Nhưng đến một nơi ở tốt hơn mà sao vẫn có gì như đau xót. Sắp đến ngày giao nhà, mất ăn mất ngủ, chị nói trong nước mắt: “Xin anh từ từ, đừng giục gấp”. Chị khóc lóc chia tay láng giềng. Lạ thế!
Những tháng đầu tuy có chỗ ở mới, chiều nào khi đi về đó chị cũng lạc đường. Tay lái cứ đưa về nơi chốn cũ.
Và lúc này thì tôi hiểu, những toan tính thiệt hơn chỉ là một phần. Dọn đến nơi ở mới, nghĩa là phải chia tay mãi mãi với một khoảng đời, cái khoảng đời có cuộc tình đầu tiên của họ, những buổi họ dọ dẫm đưa đón nhau trên cái cầu thang tối đen, những nụ hôn trao vội, rồi cuộc hôn nhân, những kỷ niệm vui buồn, sự ra đời và lớn lên của những đứa trẻ, những dấu ấn năm tháng…
Ngẫm lại, càng thấm câu thơ của Chế Lan Viên: “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”.
 
Chú thích:
(1) Thơ Đồng Đức Bốn.
(2) Thơ Bùi Giáng.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phố nhỏ,
lãng đãng bước chân…
 
 
Sức quyến rũ của một không gian đô thị  có khi không phải ở những chiều kích to lớn về tầm vóc hay vẻ hào nhoáng của con đường, hoặc những kiến trúc trên đó. Mà đôi khi, nó ẩn dưới một vẻ thầm kín, bởi một đời sống với phong cách riêng. Có một con phố như thế, một con đường rất ngắn và hẹp, nằm gọn trong lòng một khu “đắt tiền” ở trung tâm, nhưng nó không chinh phục ta bởi chiều kích cao rộng, không làm lóa mắt ta bởi sự lộng lẫy trau chuốt, cũng không áp chế ta bởi một danh tiếng, nó níu bước chân, gọi mắt nhìn ta bởi một nhan sắc mà khi đối diện, ta không thấy lúng túng, mà thấy thoải mái để đối thoại, chỉ cần với một cách cảm, vậy thôi…
 
Một chút lai lịch
Có thuở, con phố ấy mang tên Carabelli, một luật sư người Pháp (tên đầy đủ là Raoul Roch Carabelli) từng làm thị trưởng thành phố Sài Gòn những năm 1884-1890. Sau này, phố được đổi tên là Nguyễn Thiếp, tức danh sĩ La Sơn Phu Tử thời vua Quang Trung Nguyễn Huệ, nhưng người địa phương gọi biến âm thành ra Nguyễn Thiệp, riết mãi thành quen, ngay cả trong mọi giấy tờ chính thức. Ở đây người viết chỉ muốn gọi nó theo cách riêng của mình: Con đường lãng đãng bước chân!
Nếu nhìn ở trên cao từ phía đường Đồng Khởi, ta sẽ thấy con phố này giống như một cái “khe” nhỏ xíu “nứt” ra từ hai khối nhà bốn tầng phía đại lộ Nguyễn Huệ. Nhưng nếu đang dạo bộ dưới đường, giữa cái mênh mang rộng của đại lộ Nguyễn Huệ hay cái hun hút dài của đường Đồng Khởi, chỉ vài bước chân thôi, ta gặp nó nằm vắt ngang như một khoảng lặng, một bước nghỉ chân, một điểm dừng thị giác, người đi như lạc vào một thế giới khác, gần gũi và ấm cúng hơn bởi sự nhỏ hẹp của nó. Lại có gì nhang nhác như con hẻm nào trong lòng “Quartier Latin” ở Paris, chỉ cần thay mặt đường trải nhựa kia bằng những viên đá chẻ. Kiến trúc trong phố giản dị và đồng nhất, không quá cũ kỹ như vài dãy nhà trong Chợ Lớn thời Tây, không hiện đại như phố xây thời Mỹ, cũng chưa vấy bẩn bởi một bóng dáng nào của thứ kiến trúc tạp nham thời bây giờ, chỉ thuần một phong cách ngay ngắn theo kiểu thời kỳ đầu tiên của kết cấu bê tông cốt thép. So với mấy con phố song song gần đó, nó không rộng mà loãng như Mạc Thị Bưởi, không dài và bị chia khúc như Đông Du, nó ngắn với mươi nóc nhà, lòng đường hẹp, vỉa hè nhỏ, chẳng cột đèn, xe chạy chầm chậm, người đi lững thững, nhà cửa thâm thấp, cửa tiệm nho nhỏ, ấy là “nhịp điệu” của Nguyễn Thiệp. Tỷ lệ nhỏ của kích thước kiến trúc và đường phố tạo nên một cái “air” rất thân thiện cho con phố nhỏ bé ấy. Sang trọng mà không ngạo nghễ, giàu có nhưng không xa cách, cái “sang” ở đây chỉ khiến người ta có một ý thức lịch lãm nhưng không cần khuôn phép lắm, cũng chẳng làm ai khiếp sợ. Vào phố là thấy thong dong, chân không muốn bước vội, mắt không muốn nhìn xa, cứ thong thả mà đi, nhởn nhơ mà đứng, nhung nhăng mà ngồi, vẩn vơ mà nhìn ngắm, nhấm nháp tách cà phê, chai bia, hay ly rượu chát… Nhịp sống nội sinh trong một không gian đặc sánh như thế khiến ta không còn cảm giác về khoảng cách, nhìn gì cũng thấy gần, nghe gì cũng như ở bên tai. Những cửa tiệm bé nhỏ, chật chội, san sát tạo những không gian mua sắm, đi lại, ăn uống rất ấm cúng, liền mạch, chi phối từ ngoài vào trong… Cái không khí ấy không cho phép tạo ra nhiều khoảng trống, một gian hàng, một quán bar, một tiệm ăn rộng rãi sẽ rất dễ trở nên loãng nhạt.
Phần lớn nhà trong phố nguyên là sở hữu của công ty Hui Bon Hoa, tên một Hoa kiều giàu sụ mà người ta quen gọi là Chú Hỏa, tương truyền ông này bắt đầu sự nghiệp với nghề ve chai, sau thành chủ sở hữu của nhiều bất động sản lớn ở Sài Gòn. Trước năm 1975, hầu hết dãy phố là bar, từng thu hút rất đông lính Mỹ. Trong phố, nổi tiếng nhất là cái tên Brodard với một tiệm bánh và một quán cà phê kiêm nhà hàng ở góc đường Đồng Khởi, nguyên của người Pháp làm chủ. Lạc vào đấy thật ít ỏi là hai tiệm may “Xuân Sơn” và “Bình Couture” nổi tiếng của hai anh em ruột gốc Bắc, một thời là nơi nhiều quý bà năng lui tới, còn lại là tiệm vàng My Lon của ông chủ người Tàu, tiệm đồ thêu Ngọc Bích mà bà chủ chỉ thích nói tiếng Pháp… Hiện chỉ còn Tài Nam - Augustin Restaurant, một nhà hàng Pháp mang chính tên thánh của ông chủ, người đã từng nhiều năm sống ở Paris, chủ nhân nhà hàng cũng là cư dân duy nhất còn lại của khu phố đã sống liên tục ở đây từ trước 1975...
 
Những logo của thời gian


1-    Ánh sáng snack-bar, ông thư ký và chiếc Mobylette cũ


Đó là mấy biểu tượng tương phản, cho tôi sự cảm nhận đầu tiên về khu phố ấy trong lần đầu đặt chân đến Sài Gòn ba mươi năm trước. “Phố bar” những ngày đầu sau 30-4-1975 không còn nguyên vẹn không khí “ăn chơi” về đêm, nhưng ánh sáng, cái ánh sáng réo rắt như tiếng nhạc cùng nó hắt ra từ một vài quán bar và nhà hàng Brodard vẫn như là một biểu tượng. Khi đó, nhà hàng Brodard còn trong tay người chủ Pháp, những chiếc bàn phủ khăn trắng muốt được kê tràn ra vỉa hè, những thực khách đẹp và sang, váy ngắn, quần jean, áo ba lỗ khoét rộng, những thời trang nhức mắt… tất cả cứ nhập nhòa trong sự mờ ảo… Ánh sáng, âm thanh, con người đêm ấy… tất cả đã tạo nên một không khí mà người ta thường gọi là văn hóa “snack-bar” kiểu Mỹ, nhưng đấy cũng chỉ là khuôn mặt của đêm.
Rõ nhất trong buổi sáng đầu tiên thức dậy trên đất Sài Gòn là cái cảm giác là lạ của ngày hôm sau. Ở đây, buổi sáng bắt đầu hơi muộn, nắng đã lên nhưng đường còn vắng lặng, những cửa tiệm vẫn im ỉm đóng, bao trùm một không khí còn e ngại, nhiều cánh cửa nhà khép chặt, một vài cánh he hé mở với vẻ ngập ngừng như chỉ muốn thăm dò thời thế... Thấp thoáng bóng mấy chú bộ đội tiếp quản những căn nhà chủ đã bỏ đi nước ngoài. Những bảng hiệu vừa tiếng Pháp vừa tiếng Mỹ, một chiếc xe hơi Peugeot cổ màu trắng rẽ vào góc phố rồi từ từ dừng lại trước hiệu bánh ngọt Brodard, ông chủ người Pháp bước xuống và cánh cửa sắt được kéo lên, những chiếc bánh croissant kiểu Pháp vàng trong tủ kính, đấy là hình ảnh đầu tiên về sinh hoạt thương mại trong con phố. Bên kia đường, một chú bé ôm chồng báo Tin Sáng cất tiếng rao lanh lảnh, và một người đàn ông trên chiếc Mobylette cũ từ từ rà tới, quần tây xám, sơ mi trắng dài tay măng sec, lưng gù, đầu chải mượt, hình ảnh điển hình của một thầy ký thời Tây.
Một chút dấu ấn Mỹ của thuở rất gần, một chút dấu ấn Pháp từ thuở rất xa, đấy là một thoáng cảm nhận về con phố vào năm 1975.
 
2-    Cà phê cóc và những cái bụng bia
Thế rồi cũng đến lúc phải chịu những tác động của thời thế, vào những năm khó khăn của thập kỷ 1980, cư dân cũ thì đóng cửa, hoặc chỉ buôn bán với một quy cách cho qua ngày, đoạn tháng. Cửa tiệm bán đồ mỹ nghệ rất lớn trước kia được biến thành quán cà phê bình dân, là nơi tụ tập đánh cờ cho mấy chú buôn chợ  trời đánh hàng từ Intershop, những cái bàn cà phê được đóng từ những bức tranh sơn mài cũ, trên mặt vẫn còn nguyên hình ảnh dòng sông với con đò, hay cô gái áo dài che nón khảm trai... Cư dân mới mang đến một nồi cháo sườn, một tiệm cho thuê sách, hay một bàn cà phê vỉa hè xuất hiện nơi góc phố, một vài gánh bún và mấy bác xích lô nằm ghếch chân ở ngã ba đợi khách. Nhà hàng Brodard vắng vẻ vì ít người đủ tiền vào, chỉ một vài dịp đông người vào lễ 30-4 vì có bán bia hơi. Trong cái khung cảnh ấy, thì việc mấy ông bạn hàng xóm kê bàn ngồi nhậu những ly bia nhạt ngoài đường, phanh áo ngực phơi những cái bụng bia ngay giữa lối đi, nơi người qua lại ở một con phố trung tâm có vẻ như không có gì lạc lõng lắm. Nhưng dưới cái vẻ lam lũ như cố tình, như có vẻ cười cợt ấy, con phố cứ nửa đùa nửa thật mà thấp thoáng ngầm một nét kiêu kiêu…
 
3-    Những tấm kính thời mở cửa
Sự xuất hiện của một vài tủ kính sang trọng với những con tem và những chiếc đồng hồ cổ như là những dấu hiệu đầu tiên của một sự “đổi đời”. Dần dà, những cửa tiệm được sửa sang, phố như tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài, khi những ông tây bà đầm mà người Sài Gòn lúc đó cứ gọi chung là “Liên Xô” xuất hiện. Khởi đầu là sự mua bán với những vị khách nói tiếng Nga, nhịp sống con phố cứ đập nhanh dần theo tốc độ mở cửa của các chính sách kinh tế xã hội. Và phố như trở lại với chính nó trước kia, sau những tấm kính là hiệu ăn Pháp, nhà hàng Việt, các gallery bán tranh, cửa hàng mỹ nghệ… Mỗi nhà là một khuôn mặt, đã thấy nhiều cái khang khác, nhiều dáng dấp mới đứng bên những khuôn mặt cũ. Ông chủ quán ăn Pháp có tuổi vẫn thủy chung với cái vẻ tao nhã xa xưa của mình, nhưng bên kia đường, những cô chủ mới đã mang đến những phong cách khác, mặt phố bỗng trở nên trẻ trung, sinh động, mất hẳn đi sự tẻ nhạt từ nhiều năm, nhưng cũng không bị rơi vào hỗn loạn. Phố đã có những thương hiệu mới, Phở 24, Minh Boutique, Shop Uyên, Alibi Bar… Ngồi trong phố bây giờ, “chỉ một khúc ngắn thôi mà thấy lướt qua rất nhiều luồng văn hóa”, đấy là lời một gã lãng tử phán bên ly bia trong một quán bar sát bên vỉa hè. Mà đúng thật, những tà áo dài lướt thướt đi qua, không phải là sự trình diễn của mấy cô người mẫu, mà là hình ảnh của một đời sống thật, những cô gái bán hàng Việt Nam qua lại, rồi tất tưởi một gánh hàng rong, hay vẻ bụi bụi của mấy du khách trẻ người Nhật, kiểu đóng hộp lịch sự của các doanh nhân vừa Tây vừa Việt, hay là sự ồn ào của đoàn khách Đài Loan… Những hình ảnh đa chiều, một chút “truyền thống” bản địa, một chút “exotique” ngoại lai, một chút nhếch nhác, bụi bặm, lại một chút là lượt phẳng phiu…
Chỉ có điều, phố nhỏ như càng nhỏ hơn bởi cái bóng đổ xuống từ tòa nhà Sheraton Hotel cao ngất ngưởng bên đường Đồng Khởi, nó như một bức tường sừng sững chặn lại cả một tầm nhìn. Lúc này, chỉ qua những tấm kính phản chiếu, ta mới thấy được vầng mây.
 
Và một chút “giá như”...
Từ cửa kính nhà hàng Brodar nhìn ra đã bị mất đi một khoảng trời mà trước kia ta vẫn thấy. Khi xưa ở đấy là một dãy nhà kiểu Pháp hai tầng, có mái hiên mà dưới đó vào những lúc mưa, trong cái chạng vạng chiều ta thường bắt gặp những nụ hôn trao vội, in xuống lòng đường ướt là lấp loáng ánh đèn, những bóng người che dù bước đi vội vã… Lại lo một ngày kia sẽ không còn phố, hai bên đường những khối nhà sừng sững mọc lên, phố thực sự biến thành con hẻm, chìm đi giữa một núi bê tông! Còn bây giờ, phố chỉ biết xuôi theo cái “phận” nhỏ bé và xem ra cũng thật mong manh của mình, rồi đây trước biến đổi của thời cuộc, rồi ra “đời phố” có được yên, được còn nguyên sắc phố, nguyên cái vẻ hiền từ luôn cho ta một cảm xúc khi nhìn nó trong làn mưa, hay vào lúc phố chạng vạng lên đèn?
Vâng, “giá như”… nếu chưa thể có một khu phố đi bộ, thì chỉ cần một con phố nhỏ thôi, cho người lững thững…
Như con đường này, nơi của những bước chân không vội!




0
Người
của con đường
 
 
Thế là ông chủ hàng cơm Pháp, quán Augustin - người hàng xóm bên kia đường, cũng là ông bạn vong niên khả kính, người đàn ông bệ vệ với khuôn mặt luôn viên mãn, cư dân già nhất của con phố, kẻ sót lại cuối cùng trong số người sống lâu nhất ở đây - đã ra đi. Cũng chả có gì đặc biệt, chỉ là cái chết già ở tuổi ngoài tám mươi, như xong một kiếp người. Nhìn qua lớp kính, khuôn mặt đầy đặn của ông có thể coi là mãn nguyện. Thế thì có gì mà buồn, một đám tang không tiếng khóc, chỉ tiếng kèn réo rắt nhà đòn cho thấy là nhà có đám, còn là vui, khách tây khách ta ngồi cụng ly đưa ông về nước Chúa.
Nhưng ông đi rồi, nhìn cánh cửa sắt nhà ông im ỉm đóng, thấy như cái miệng ngậm chặt của người chết. Mạch sống của ngôi nhà như khựng lại, in một nỗi buồn tê tái trong lòng con phố, cho dù xung quanh vẫn không ngưng chảy những hoạt động, và không khí ì xèo của một con phố thương mại.
Lịch sử, hồn cốt của mỗi đường phố thường được tạo nên từ   đời sống, ngành nghề của những con người diễn ra ở đó. Và phố Nguyễn Thiệp này với chưa đến hai chục số nhà, nơi vị cư dân già nhất của nó vừa ra đi, là một đường phố khá đặc biệt. Nó đặc biệt ở vị trí, là đường phố nhỏ nhất, ngắn nhất trong lòng một khu trung tâm nhất. Nhưng đặc biệt hơn là những con người sống tại đó và ngành nghề của họ đã để lại cho nó nhiều dấu ấn. Những con người chỉ bằng cái tên cửa hiệu nhỏ nhoi của mình mà có thể đưa cả con phố đi vào tâm thức cộng đồng. Người ta biết đến đây không phải là nhờ tên phố, vì phố quá nhỏ, mà là nhớ cái tên của một tiệm bánh, một quán cà phê, một tiệm may, hay một hàng cơm. Lên taxi nói tên phố, nhiều anh tài ú ớ chả biết ở đâu, khách lại phải thêm lời là tên cái tiệm bánh B, hay quán phở Z. Những cái tên đó còn đưa con phố đi ra bên ngoài, đến với thế giới. Tên con phố và tên cửa hiệu của họ đã được in trên cuốn guidebook nổi tiếng Lonely Planet.
Bây giờ thì những cái tên một thời in đậm trong đời sống quý bà quý cô ở Sài Gòn đã lần lượt ra đi. Hai anh em ông chủ nhà may Bình và Xuân Sơn. Tiệm đồ thêu tay quần áo trẻ con, khăn trải bàn Ngọc Bích mà bà chủ - từng là một mệnh phụ phu nhân – nói tiếng Pháp như người Pháp. Cái cửa tiệm nhỏ xíu chưa đầy chục thước vuông, song dường như bất cứ người châu Âu nào cũng phải tạt vào khi đến Sài Gòn. Hay ông chủ tiệm vàng My Lon người Hoa nổi tiếng từ trước 1975, những năm khó khăn sau giải phóng đã từng làm tổ phó dân phố chuyên đi phân phối nhu yếu hphưẩnmg .đNến một ngày ông cũng ra đi, để lại căn nhà cho
Nhà nước tiếp quản rồi rơi vào tay một vị giám đốc. Những con người ấy đã đến ở đây từ đầu thập niên 1940, với hai bàn tay và một cái nghề, khi con phố chỉ là một dãy những căn nhà buồn tẻ đều tăm tắp được xây để cho thuê. Rồi cuộc đời họ, con người họ, nghề nghiệp của họ đã tạo ra con phố có bản sắc, có tên hiệu. Nên dù chỉ là một người bình thường, nhưng ông chủ Augustin chính là một phần của lịch sử, là một phần hồn cốt của con phố này. Cái chết của ông như là sự mất đi nốt chút gì đó còn sót lại của những tháng năm xưa.
Chỉ còn tiệm bánh Brodard là cái tên cũ đầy ma lực còn sót lại. Những cái tên cửa hiệu mới đang dần được thay vào và tính pha tạp những ngành nghề dường như trái ngược đã xuất hiện trên con phố.
Nếu như ngày xưa thương nhớ của những văn nhân, trí thức hay công chức sang trọng là ngồi nhâm nhi ly cà phê nhỏ giọt chậm rãi trong tiệm Brodard ngắm đường Tự Do (hay Đồng Khởi), bên kia đường là dãy nhà hai tầng mái ngói mà phía dưới là những cửa tiệm nhỏ, thì bây giờ là cái không khí vui vẻ trẻ trung của một kiểu hưởng thụ mới trong Gloria Jean với cách tự phục vụ rồi ngồi ngâm mình trước cái laptop hoặc ngắm dãy hàng hiệu nơi tầng trệt của khách sạn Sheraton bên kia đường. Và qua lớp cửa kính trong suốt của nó, bên kia vỉa hè vẫn còn bà cơm sườn, tủ thuốc lá lẻ chen chúc trong mớ bùng nhùng xe cộ. Hai hàng cơm Pháp là Augustin và D-house là hai cái vẻ mặt trầm mặc già nua vào buổi tối, nhưng trước cửa vào ban ngày lại là một không khí khác hẳn. Những người trẻ trung nhiệt huyết với đồng tiền, những nhà đầu tư vào một lãnh vực rất cao cấp là chứng khoán song lại sinh hoạt nghề nghiệp với một phương thức vô cùng giản dị, chỉ bằng hai ba cái ghế nhựa và mấy ly cà phê cũng bằng nhựa uống trên vỉa hè, cũng là cho dễ bề chạy công an khi bị đuổi.
Chả còn ai là người của “muôn năm cũ” sau cái chết của ông chủ Augustin. Cũng còn một gia đình, nhưng là hàng con cháu thế hệ thứ ba thứ tư gì đó. Người ta đã bán nhà, đã xuất cảnh và đã đi về thế giới bên kia. Dân cư còn lại đông nhất bây giờ là một ngôi nhà tập thể, những cán bộ công nhân viên của một cơ quan Nhà nước được phân chia ở trong đó từ sau 1975, theo từng đơn vị ở, tầng trệt là cửa hiệu kim hoàn, có cả cửa hàng trên lối đi bán ba lô túi xách loại rẻ, lên dần là căn hộ và cao hơn nữa là những tổ chim, chuồng cu mà để lên đó phải trèo theo những cái thang cây nhỏ hẹp. Một tổ hợp người ở rất giống với hình ảnh những nhà tập thể ngoài Hà Nội thời bao cấp. Bây giờ thì chả ai phải nuôi heo trong nhà, nhưng đã có cán bộ về hưu ở đây làm một xe bánh mì, xôi mặn trước cửa để khai thác tối đa giá trị thương mại của con phố. Và người ta nhìn ra sự xa xỉ của gã chủ một hàng cơm Pháp khi thấy bảo gã chỉ muốn mở quán ăn như để giữ gìn một chút gì đó cái kỷ niệm xưa cũ của gia đình, trong khi lợi nhuận gã thu được chỉ bằng một phần rất nhỏ so với cho thuê.
Rồi đây, những cái tên mới, những con người mới trên con phố này sẽ đưa đẩy nó đến đâu? Một ý đồ quy hoạch, một chủ trương khai thác, tạo dựng sẽ chỉ là chuyện phiếm trên bàn của những nhà quản lý, nếu không có sự tham gia của một đời sống mà trong đó người ta biết cảm nhận những giá trị về bản sắc, để định ra tính chất, loại hình kinh doanh cho phù hợp.
Tất cả, có lẽ phải bắt đầu từ con người, những con người của con phố...
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lụa Hà Đông
 
“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”.
 
Lụa Hà Đông vào Sài Gòn lần đầu năm nào, Nguyên Sa viết những dòng thơ ấy năm nào, tôi không biết.
Nhưng tôi biết một nơi, một con phố ngang, nhỏ như một cái ngách nứt ra từ những khối nhà - phố Carabelli (sau này là Nguyễn Thiệp), nối hai con đường lớn nổi tiếng một thời, Catinat và Charner (Đồng Khởi và Nguyễn Huệ bây giờ). Vào năm 1938, tại một trong những căn nhà của cái dãy phố hai tầng này, có một người phụ nữ gốc Bắc đã mở một cửa hàng tơ lụa. Từ ấy, những súc lụa Hà Đông được gửi vào từ Hà Nội, những súc lụa sắc trắng, sắc ngà và những đường tơ óng lên trong nắng Sài Gòn.
Những súc lụa đã đi con đường nào đến đấy? Con đường của sự giao thương hàng hóa hay con đường của số phận con người?
Đã có những câu chuyện về lụa, bắt đầu từ lụa, số phận con người như bị cuốn vào cái vòng giăng tỏa của cái thứ vải mềm óng ánh đầy mê hoặc ấy. Như câu chuyện từ thế kỷ 19 của nhà văn Ý Alessandro, mà theo tờ Newsday đã viết, là một câu chuyện tình “có những sắc màu rực rỡ, có cuộc sống bị dồn nén, và có cả bùa ngải của một bức tiểu họa”. Bắt đầu từ một cuộc viễn chinh vì lụa, dẫn đến một câu chuyện tình có sức ám ảnh như một thứ bùa mê.
Đã có một cuốn phim truyện Việt Nam về lụa.
Phim cho thấy một cách thể hiện “nặng tình” với lụa. Nhưng dường như người ta đã áp đặt vào đó quá nhiều “giá trị tinh thần”, nên vô tình đã ấn cái tấm lụa mong manh ấy trôi theo một cuộc đời sóng gió, đầy chìm nổi, vật vã, và khốc liệt của chiến tranh. Đẩy số phận của lụa vào chỗ phải chịu một kiếp khổ đau không đáng có.
Có thể có một tấm lụa Hà Đông như thế.
Nhưng thực ra, có một đời sống khác của lụa. Giá trị của những tấm lụa Hà Đông không giản đơn như thế, thân phận của những tấm lụa Hà Đông không đáng thương như thế.
Có những tấm lụa Hà Đông không cần phải đi qua chiến tranh, không cần chìm nổi vật vã, kể cả lúc loạn lạc, nó vẫn sống, mềm mại, óng ả ngay bên lề cuộc chiến.
 
Những súc lụa Hà Đông không chịu kiếp nghèo hèn, mà sang trọng lắm.
Ngoài những cô gái quê chân chất, mộc mạc, những tấm lụa ấy còn khoác lên những tấm thân ngà ngọc của cô tiểu thư, của quý bà môi son má phấn lướt giày cao gót trên phố Hàng Đào, con đường một thời được gọi là “Rue de la Soie” giữa lòng Hà Nội.
Những súc lụa có thể đẩy đưa, dẫn dắt đời người, chứng kiến mọi diễn biến của đời người, có thể cuốn chặt vào mình những đời người, những số phận, những mối tình vừa ngập tràn hạnh phúc, vừa tan nát khổ đau.
Nhưng lụa không cần và không phải chịu khổ theo số phận con người.
Lụa của cái cửa hàng mép mình trên con phố cũ Carabelli nhỏ bé kia là như thế.
Một ngày tôi đọc được câu chuyện về lụa từ những bức hình đen trắng cũ của gia đình. Chúng như những khuôn hình dừng lại của một cuốn phim.
 
Là câu chuyện về những cuộc đời thật, những con người thật, và một căn nhà thật.
Là câu chuyện về những người đàn bà tài sắc đã mang lụa đến đây, bán lụa ở đây.
Bắt đầu từ một ngôi làng nhỏ thuộc tỉnh Hà Đông, xứ Bắc Kỳ thời thuộc Pháp.
Làng nghèo, đến cái tên nghe cũng mộc và nghèo. Làng Bồ Nâu. Chả có nghĩa to tát gì, chỉ là tên của một loại củ dùng nhuộm vải, cho ra những tấm vải gụ nâu sồng.
Nhưng lụa không phải là hình ảnh dẫn dắt đầu tiên cho câu chuyện này.
Mà bắt đầu là một khuôn mặt trùm khăn mỏ quạ giữa Paris tuyết trắng.
Hai người đàn bà đẹp, sang trọng và quý phái trong hai tấm áo lông.
Họ đã mang lụa từ Hà Đông vào Sài Gòn. Nhưng lụa đã dẫn họ đến Paris.
Bắt đầu là họ mang lụa đi, nhưng rồi lụa dẫn dắt, đưa đường cho họ.
 
Những tấm lụa đi bằng tàu hỏa, tàu biển, máy bay. Những tấm lụa không chìm nổi, tuy cuộc đời những người mang lụa cũng rất nhiều sự nổi chìm.
Khăn mỏ quạ xuất thân từ ngôi làng ấy, khăn mỏ quạ lớn lên, khăn mỏ quạ lấy chồng. Chồng là một ông hàn (cách gọi những người có tí chữ ở quê), khăn mỏ quạ trở thành bà hàn.
Rồi ông hàn ra Hà Nội làm công chức nhà dây thép. Có lúc bị bổ đi làm ở những miền xa, tận Lạng Sơn, Cao Bằng. Ông bà hàn có một ngôi nhà ở Hà Nội, phố Sinh Từ. Sống cuộc đời êm ả, đủng đỉnh công chức thời Tây, ăn uống cầu kỳ, kỹ lưỡng. Ngồi nhấp trà từng ngụm nhỏ, thức đêm ngắm hoa quỳnh.
Bà hàn sinh bốn người con, ba gái, một trai út.
Gái cả tính tình cẩn trọng, căn cơ, theo nghề dạy học. Lấy chồng đốc học tỉnh Thanh.
Gái hai nhan sắc mặn mà, thông minh, sắc sảo, mạnh mẽ, có máu hoạt động xã hội, ra đời với nghề đầu tiên là viết báo. Vào đầu thập niên 1930 viết cho tờ Phụ nữ thời đàm ở Hà Nội.
 
Gái ba kém chị kế chín tuổi, đẹp rực rỡ, hiền lành, nhân hậu. Nữ sinh Đồng Khánh, một ngôi trường mà từ đó khá nhiều người  trở thành những bậc phu nhân của những trí tức tài danh hay chính khách. Theo lời kể, thì là một trong năm cô gái đầu tiên đi xe đạp ở Hà Nội vào đầu thế kỷ 20. Tốt nghiệp Lycée, đi làm ở sở Canh nông. Sắp được qua Pháp học thì xảy ra chiến tranh thế giới, Đức chiếm Pháp, việc đi bị hủy.
Thì ở nhà bán lụa.
Cậu út là giai một, được nuông chiều, học hành phất phơ.
Bà hàn mở một cửa hàng bán lụa ở phố Sinh Từ, lấy tên gái thứ ba (đẹp nhất nhà) đặt tên cho cửa hiệu, tiệm Nguyễn Hải.
Lụa lấy từ Hà Đông, vừa bán, vừa bỏ cho những cửa hiệu khác nổi tiếng trên phố Hàng Đào, như nhà Quản Đại Lợi, Ba Năng, rồi cho những nhà buôn có tiếng ở Hải Phòng. Những mối quan hệ với mấy nhà mà sau này gọi là “tư sản” bắt đầu từ đây, chuẩn bị cho một “con đường tơ lụa” xuôi Nam.
 
Năm 1931, nhân có cuộc triển lãm đấu xảo ở Paris, nhà báo Nguyễn Thị Khang, con gái thứ của bà hàn, sang Paris dự hội chợ, có lẽ là một chuyến đi định mệnh, vì đã dẫn đến cuộc gặp gỡ định mệnh.
Có một người đàn ông Tây học, từng là ký giả kiêm nhà hoạt động trẻ nổi tiếng đất Nam Kỳ vào thập niên 1920, cũng có mặt ở Paris lúc đó. Là ông Cao Văn Chánh.
Ông Chánh sanh năm 1903, con của một điền chủ Nam Kỳ, tốt nghiệp Collège Mỹ Tho và sau này tốt nghiệp cử nhân văn chương ở Pháp. Những tờ báo do ông làm chủ bút hoặc sáng lập, như Công luận báo, Nam Kỳ kinh tế báo hay Tân thế kỷ, đều là những tờ báo quốc ngữ có tinh thần yêu nước, dám đối đầu trực diện với chính quyền thực dân lúc bấy giờ. Cao Văn Chánh có chị gái là bà Cao Thị Khanh, tức madame Nguyễn Đức Nhuận (gọi theo cách Tây, lấy tên chồng), người sáng lập tờ Phụ nữ tân văn nổi tiếng.
Và họ, Cao Văn Chánh và Nguyễn Thị Khang, gặp nhau tại cuộc triển lãm đấu xảo Paris ấy.
 
Sau khi về nước, làm đám cưới rồi theo chồng vào Sài Gòn, bà Khang vẫn cùng chồng tiếp tục những năm viết báo.
Nhưng còn một dòng máu nữa vẫn chảy trong người phụ nữ ấy, là máu kinh doanh.
Gia đình ngoài Hà Nội vẫn nghề buôn lụa. Từ chuyến “xuất giá tòng phu”, một con đường mới mở cho những súc lụa Hà Đông đi vào Sài Gòn.
Cô em gái xinh đẹp ở Hà Nội là người lo đầu cung cấp hàng cho chị trong Sài Gòn, gửi những súc lụa vào Nam.
Ông Cao Văn Chánh vừa viết báo vừa hoạt động chính trị, có tinh thần chống Pháp. Vào năm 1940 bị bắt và đi đày ở Bà Rá vì có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.
Đầu 1942, Cao Văn Chánh tuy đã được thả nhưng vẫn bị quản thúc, chính quyền thực dân cấm không cho đi khỏi Nam Kỳ, nên khi bố vợ mất cũng không ra được Hà Nội để chịu tang, về sau mới ra dự giỗ đầu.
Khi ấy cô em ở Hà Nội chưa lấy chồng. Tiểu thư xinh đẹp hằng ngày áo dài tung cánh, đi làm sở Canh nông, rồi vừa đi học lớp nữ hộ sinh, vừa lo việc hàng hóa.
Cửa hàng lụa phố Sinh Từ được xây dựng lại, ông thầu khoán giới thiệu anh ruột là kiến trúc sư vẽ kiểu nhà.
Tạ Mỹ Duật khi đó tuổi ngoài ba mươi, chả đẹp giai gì, nhưng tài ba, lại gặp lúc nổi danh, đang thời phất, mới có vài giải thưởng kiến trúc, mua được chiếc “tac xông”(traction) Citroën, complet đũi trắng, giày tây nện lốp cốp, vào ra, giao tiếp khách hàng chỗ giàu có, lớp danh giá Hà thành. Quen biết cũng nhiều, nhưng đến đây đưa mắt liếc trộm tiểu thư con nhà hàng vải.
Chàng kiến trúc sư và tiểu thư con gái nhà tơ lụa thành duyên số. Nhưng Cao Văn Chánh và Tạ Mỹ Duật, hai người chồng của hai nhan sắc, hai người chưa một lần gặp nhau.
Cách mạng Tháng Tám 1945, ông kiến trúc sư đang thời hoạnh phát, danh tiếng như cồn, hồ hởi với mùa thu cách mạng như bao nhiêu trí thức văn nghệ sĩ khác. Độc lập rồi, độc lập rồi, còn một cuộc đời rộng lớn lắm. Thế là theo, thế là gia nhập, ngun ngút ngọn lửa của tinh thần yêu nước, chứ chưa biết cộng sản là gì.
Rồi cả nước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Tạ Mỹ Duật cùng gia đình rời Hà Nội một đêm mùa đông 1946 để lên Việt Bắc, tham gia đoàn văn hóa kháng chiến. Điểm dừng chân đầu tiên trong đêm là gia đình ông Dương chuyên bán lụa ở làng Vạn Phúc, Hà Đông (là chỗ lấy mối lụa). Đang ngồi trên nhà thì như có linh tính, ông chủ nhà bảo “thôi cô xuống nhà đi, tôi thấy nguy hiểm lắm”, vừa xuống đến dưới đất thì một quả đạn xuyên qua tầng hai. Ngôi nhà này cũng chính là điểm dừng chân của nhiều vị lãnh đạo chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên đường rút lên Việt Bắc.
Trong đôi thúng treo hai đầu quang gánh do người làm của gia đình Tạ Mỹ Duật gánh đi, ngoài hai đứa con còn có vài đứa cháu con bà chị ở Sài Gòn, chúng được gửi ra Hà Nội ở với dì (vì gia đình trong Nam xảy ra biến cố trước đó: ba bị tù đày, má vừa lo đi nuôi chồng, vừa tần tảo ngược xuôi, buôn bán). Ở vùng kháng chiến, ngoài giới kiến trúc, Tạ Mỹ Duật hay túm tụm với giới văn nhân, như các cụ Phan Khôi, Bùi Huy Phồn, Nguyễn Tuân, và giới họa sĩ, thân với gia đình Tô Ngọc Vân. Nhà ông là nơi lui tới, rượu chè của dân văn nghệ, vợ đẹp hằng ngày trồng rau, nuôi gà, cơm nước phục vụ cho đám bạn của chồng…
Cũng năm 1945 ở Sài Gòn, sau ngày 23 tháng 9 (ngày Nam Bộ kháng chiến), ông Cao Văn Chánh mượn ô tô của bạn chở gia đình xuống Cần Thơ lánh nạn. Đến khi quay trở lại trả xe thì ông mất tích tại Bến Lức, Long An. Năm ấy, ông 43 tuổi, chia tay gia đình lần cuối vào ngày 31 tháng 10 năm 1945.
Lộn về Sài Gòn, bà chủ cửa hàng tơ lụa vừa đi khắp lục tỉnh tìm chồng, vừa phải lo buôn bán, một mình tất tả ngược xuôi. Lũ con thì một số gửi ngoài Bắc, số gửi dần sang Pháp học.
Hằng ngày, bà ngồi bàn giấy, tóc vấn cao, áo dài sang trọng, gọi tê lê phôn đi các nơi điều hành công việc. Tầng dưới là cửa hàng, tầng trên là văn phòng điều hành nhập xuất. Nhìn trên ảnh, bà mềm mại trong tấm áo dài, nhưng gương mặt đầy quyết đoán như một vị tướng. Thời gian này lụa đang bán chạy, những súc vải đầu tiên sắp lên tàu sang Pháp.
Hai năm sau, với những dòng thông tin chắp nối lại, bà được  biết là chồng đã bị thủ tiêu vào một buổi chiều bên một bờ sông. Những người du kích nghi ông là Việt gian vì ông không mang theo giấy tờ, lại lái xe hơi, đeo kính trắng, ăn mặc kiểu trí thức.
Bà cho người ra vùng kháng chiến ở ngoài Bắc lôi lũ con trở vô Sài Gòn, rồi cho sang Pháp. Nhốt tất cả vào trường nội trú.
Một mình bà ở Sài Gòn vẫn điều hành công việc tại 15 Carabelli. Hàng của bà xuất cảng sang Pháp, thành đồng franc, trở về thành đồng Đông Dương, thành những cửa hàng, dãy nhà phố, biệt thự. Cho đến 1954, hiệp định Genève ký kết.
Bà em xinh đẹp ngoài Việt Bắc về Hà Nội trước, để thăm bố chồng - cụ thân sinh ông kiến trúc sư ở quê đang gặp nạn vì cải cách ruộng đất. Trong tấm ảnh cuối cùng chụp chung với gia đình, ông cụ quần trắng, áo the đen, khăn xếp, chân đi guốc mộc. Địa chủ Tạ Mỹ Ân nét mặt buồn như linh cảm những ngày cuối cùng sắp đến. Chỉ vài tháng nữa thôi, ông sẽ bước chân vào tù.
Rồi bà em cắp hai đứa con vào Sài Gòn, gặp lại mẹ, gặp lại chị và những súc lụa Hà Đông.
Đường Catinat, Charner, Bonnar, người đẹp tơ lụa phất phới áo dài, quần lụa trắng, giày cao gót, tay lủng lẳng ví đầm.
Ông thầu khoán là em ruột ông kiến trúc sư cũng vào Sài Gòn, có thời làm quản lý cho bà chị của người chị dâu. Ông cũng mua được Citroën. Ngoài người vợ đã mất ở Hà Nội, ông lấy thêm ba bà vợ để ở ba góc Sài Gòn, được tất cả mười chín người con. Ông bố mỗi Chủ nhật, bệ vệ complet đũi trắng, giày “deux couleur”(hai màu) đi chơi chụp hình bên cái xe hơi màu đen, đỗ bên vườn trước dinh Norodome, cùng con cũ, con mới. Những người con gái vợ đầu cũng vào từ Hà Nội, những cô gái Hà Nội tóc uốn kiểu Sài Gòn, nhưng tung tăng áo dài, quần trắng lụa Hà Đông.
Bà chị đưa mẹ và cô em sang Pháp chơi, vẫn khăn mỏ quạ trùm đầu, phu nhân ông kiến trúc sư khoác áo lông trên mình nhưng vẫn để lộ cái cổ áo dài lụa, đứng trong tuyết trắng Paris.
 
Bà chị dụ cô em ở lại, Paris hay Sài Gòn cũng được, ở đâu cũng có tiền, ở đâu cũng có nhà, nhưng “đừng ra ngoài ấy”. “Rồi tôi cho người ra đón chú ấy vào”, xán lạn quá còn gì! Đã bao trí thức quay về thành, kiến trúc sư mà vào trong này tha hồ đất sống, tên tuổi nhé, vốn liếng nhé, một trí thức từ bỏ Việt Minh cộng sản nhé, chả thiếu thứ gì!
Ông kiến trúc sư ở ngoài Việt Bắc ngày đêm trông tin vợ mà lo sốt vó. Một đằng vợ đẹp ở xa, mọi lời cám dỗ, xã hội phía bên kia những miệng rắn hang hùm. Một đằng con đường đã đi, là lý tưởng đã nhất quyết theo rồi, sắp đến đích rồi, bỏ làm sao được. Về thôi, về thôi. Vợ đẹp nhất định trở về để ra ngoài ấy với chồng.
Bỏ ngoài tai dụ dỗ, bỏ ngoài tai giận hờn.
Rơi nước mắt chào mẹ, chào chị và chào những súc lụa Hà Đông đang nằm trên tủ.
Theo con đường 100 ngày (là thời gian quá độ cho hai miền tự do đi lại, theo hiệp định Genève), bà lặng lẽ mang hai đứa con trở ra Hà Nội.
Đấy là những người đàn bà của một thời, họ đẹp, họ thông minh, và họ cũng trải qua đầy những nỗi truân chuyên, biết bao giằng xé.
Và lúc ấy cũng là thời điểm chỉ còn những súc lụa cuối cùng. Hai miền chia cách, cũng như con người, những súc lụa Hà Đông không còn vào được Sài Gòn.
Cửa tiệm ở Sài Gòn sau khi hết lụa Hà Đông vẫn theo đường bán vải, song trên tủ kính thời Mỹ là những súc vải nhập từ Hồng Kông, Nhật Bản, trong đó có nhiều “soie Pháp”, tức thứ lụa bằng sợi hóa học thay thế cho tơ sợi tự nhiên. Nhưng rồi chất khốc liệt, tính cạnh tranh và kiểu làm ăn nhiều thủ đoạn thời Mỹ đã đánh gục người đàn bà cổ điển thời Pháp. Những khối gia sản lớn lần lượt ra đi...
Cho đến năm 1975.
Một tối không lâu sau ngày 30 tháng 4, tôi là người đầu tiên đại diện cho gia đình ngoài Hà Nội vào Sài Gòn thăm bà bác. Từ Ngã Bảy, chiếc xích lô máy chở thằng trai gầy ốm nhưng vẫn được anh xe gọi là “thầy hai” chạy băng băng dọc đường Tự Do, đến chỗ ngã ba góc Nguyễn Thiệp. Nhà hàng Brodard trong nhấp nháy ánh đèn, những chiếc bàn trải khăn trắng muốt kê ngoài vỉa hè, trai thanh gái lịch, những anh bồi thắt nơ chạy qua chạy lại…
Căn nhà số 15 tối mờ ánh điện, sau rất lâu với nhiều lần nhấn chuông, một chị người làm rụt rè mở cửa, cánh cửa sắt kéo lâu ngày không dầu mỡ rít lên những tiếng rợn người. Bà bác già bước xuống, lọm khọm trong tà áo dài trắng, mái tóc bạc phơ… Những chiếc tủ kệ hai bên tường từ năm 1938 vẫn còn, cao ngất ngưởng, nhưng trống rỗng.
Gần cửa là một vài bịch gạo với hàng chữ “Điểm dịch vụ bán gạo phường”. Một phần ngôi nhà đã phải sang nhượng cho người khác.
Hằng ngày bà đi nhà thờ, rồi về lẩm bẩm những câu thần chú đợi ngày xuất cảnh sang Pháp đoàn tụ với con cái(1). Hằng ngày vẫn ông thư ký già còng lưng cưỡi cái Mobylette cũ từ thời Pháp tới làm việc. Mà có làm gì, ngoài việc đi đánh những bức điện sang Pháp giục tiền, hay lâu lâu đi bán dấm dúi một vài đồ kỷ vật cũ. Tất cả chỉ còn như những chứng tích, những con người bảo tàng của một thời.
Chú thích:
(1) Bà Nguyễn Thị Khang mất tại Paris ngày 29 tháng 6 năm Quý Mùi (2003), thọ 94 tuổi.




0
Quản gia, quản lý,
làm vườn - thời và người
 
 
Hồi Sài Gòn mới giải phóng, ở Hà Nội vào nhà bà bác nguyên là chủ doanh nghiệp, cứ thấy là lạ hình ảnh một người đàn ông hằng ngày đi cái Mobylette cũ, đầu bóng mượt chải “bi dăng tin”, sơ mi trắng cài cúc cổ, cà vạt, giày da, quần tây xếp li, đến làm việc rất đúng giờ.
Hỏi ra thì bảo là “thầy thơ ký”. Nhưng thấy ông lo lắng, thu xếp hết mọi việc trong nhà, từ giấy tờ, sổ sách (lúc này chả còn buôn bán gì nữa, nhưng những xấp hồ sơ vẫn được ông lưu giữ, sắp đặt ngăn nắp, đâu ra đấy), đến bếp núc, củi lửa, dầu đèn, điện, nước.
À, hóa ra thơ ký vào cái thời xã hội chủ nghĩa cũng đa năng thế! Trước kia buôn bán tấp nập, là ngồi đánh máy, thảo văn thư, đi nhà băng… Nay hết thời, làm đủ việc. Chạy photocopy, đóng tiền điện nước, gọi thợ thông cống, kêu tê lê phôn cho ông thầu khi nhà dột, thay cái bóng đèn hư, chữa cái quạt điện hỏng. Thậm chí vào thời khó, có lúc con cái bà chủ chưa chuyển tiền kịp từ nước ngoài về nuôi, còn phải âm thầm đi bán từ cái đồng hồ, bút máy, cho đến bông tai, nhẫn vàng. Rõ ràng đồ của mình, mà cứ thì thà thì thụt như ăn cắp, là để giữ thể diện cho chủ.
Nhìn ông thấy thật kính phục, cái đức cần mẫn, thủy chung. Trước chỉ thấy trên phim ảnh, trong sách. Đến lúc ấy mới biết hình ảnh về một người quản gia thật trong đời sống. Mẫu quản gia như thế, thời nay còn được mấy người?
Vừa rồi nhân việc làm nhà, lại chợt nhớ đến người “quản gia” năm ấy.
Là nghĩ theo nếp cũ, chứ gọi theo cách bây giờ là đi tìm người quản lý. To thì gọi là quản lý dự án, nhỏ gọi là gì, thí dụ chỉ xây cái nhà phố, hoặc cải tạo sửa chữa, lên tầng, cần không nhỉ?
“Đàn ông xây nhà…”, nhưng thỉnh thoảng thấy mấy bà “số khổ”. Lẽ ra cứ việc ngồi chờ nhà làm xong rồi khăn gói vào mà “xây tổ ấm” cho sướng. Lẽ ra chỉ cần khoác vai chồng ngày Chủ nhật, vào show-room chọn bồn tắm, máy mát xa, gạch ốp lát. Đằng này lại cũng nhảy ra công trường, la hét, chỉ trỏ, mắng mỏ thợ. Rồi cũng đi tìm mua vật liệu, dây điện, ổ cắm, hỏi giá xi măng, sắt thép. Là họ thích thế, hay là dư thời gian, hay là gặp lão chồng lười?
Nhưng nhiều khi cũng do quan niệm. Hay là một chút thiếu lòng tin.
Xây cao ốc, đương nhiên phải có dự án rồi. Và phải có ban quản lý. Nhưng có tình huống, cái cao ốc nó cao vừa thôi, lại lưỡng lự.
Có bà hỏi, thế thủ tục pháp lý có bắt buộc phải có quản lý dự án không, vốn tư nhân mà? Trả lời không, chả ai bắt buộc cả. Nhưng bỏ ra nhiều tỷ xây nhà như thế lại cứ tiếc ít triệu cho cái người người ta chăm nom, theo dõi giám sát cho, xem tiến độ thế nào, nhà thầu làm ăn ra sao, nghiêm chỉnh không, hay gian dối. Dây điện, ống nước đi thế nào, chống thấm, thoát nước ra sao, ôi trời, ty tỷ thứ…
Xây dựng xong đưa vào sử dụng, cho thuê, giá mà lại được chính cái anh quản giúp trong quá trình xây dựng ấy làm quản lý cho tòa nhà, thì còn gì bằng. Anh ta nắm vững ngôi nhà như đứa con mình sinh ra. Mỗi khi có bệnh, chập điện, thấm dột, hay cần biết xem đường dây, ống nước đi chỗ nào để đóng cái đinh lên tường treo tranh ảnh, tiện quá.
Dù chỉ là căn nhà ở, có thể chả to tát gì, nhưng chịu tốn kém thêm chút, thuê quản lý trông nom, sau này vào ở có chuyện gì, gọi một tiếng, còn hơn chả biết nó cấu tạo, đi đứng thế nào.
Đến chuyện người làm vườn.
Trong nhiều nhà giàu xưa, ngoài người hầu, anh xe, chị bếp, nhà vi la phải có thêm người làm vườn, hằng ngày lo chăm bón, cắt tỉa, tưới cây, nhổ cỏ. Nay phiên phiến, không kể nhà đại gia, còn thông thường gộp nhiều trong một. Người giúp việc làm việc nhà, giặt ủi, lau chùi, quét tước, lại lo cả việc làm vườn.
Nhà có ôsin trẻ, chỉ lo cơm nước theo bổn phận, cây cối làm đại khái, qua loa cho xong. Mấy cô đứng đứng một chút, thường làm tốt hơn việc này. Nhất là gặp người có quê gốc chỗ “miệt vườn”.
Nhà có vườn cây, ăn quả thì nào xoài, nào ổi, đu đủ, chanh, ớt, làm cảnh thì các loại lan, hồng, nguyệt quế, ngâu… tốt tươi, mơn mởn.
Mấy cây đu đủ trái bự, ngọt lừ. Ổi, xoài cũng thế. Là nhờ công cô người làm chăm sóc, tưới bón hằng ngày. Chứ lão chủ thì lười, vả lại cũng chưa đến tuổi để có cái thú điền viên. Lão còn ham hố lắm, những chuyện ở ngoài đường kia. Bà chủ bận nhiều việc. Cho nên cái việc cây cối vào một tay cô người làm. Nhìn thì đơn giản, cũng chỉ thấy ngày ngày phun nước phè phè từ cái máy bơm, rồi lâu lâu bỏ phân, cắt lá. Ai làm chả được. Nhưng mà lạ, có thời cô ấy phải về quê, gái trẻ làm thay thế, ngày nào cũng y vậy, cũng phun nước phè phè, cũng tắm tưới, nhổ cỏ, bón phân. Nhưng sao cây lá chẳng thấy xanh, quả thì ra còi cọc, thưa thớt, chả còn được ngọt? Không lẽ giống này cũng biết õng ẹo, kén người?
Hóa ra như vậy thật. Người đi, kẻ đến, cuối cùng thì lại cái cô giúp việc dạo trước trở về. Lại phun nước phè phè, cũng vẫn như thế, ngày ngày vun cây, nhổ cỏ, bắt sâu.
Thế là cây lá lại xanh, quả lại to, trái lại ngọt. Chả biết thế nào, hay là cái sự mát tay? Hay là chuyện cây cối cũng như người, phải có chút nhân duyên. Phải có cái tình với nó, phải hiểu, phải yêu, phải thương, thì lá mới chịu xanh, hoa mới chịu tươi sắc, và quả mới chịu to, vị mới chịu ngọt.
 
 
 
 
 
 
 
Thợ giày hè đường
 
 
Từ hiệu cắt tóc ra đứng chờ xe bên hè, bỗng nghe nó nói “giày chú mới sửa tuần trước”,  giật mình. Đúng thật, tuần trước mới đưa tài xế đi gia cố lại cái đế, mình có tật giày đi party (lễ tiệc) lại lê ra công trường và giày công trường đôi lúc đi vào party. Lung tung thế nên có đôi còn trẻ (là dùng chưa lâu) mà đã “trên bảo dưới không nghe”, bề mặt còn đẹp, nhưng có lần bước đi thì lớp lót đế giày ở lại, mõm ngoác ra. Ngượng gần chết. Hỏi sao mày biết, nó nói “thì chính tay cháu sửa”. Á à, ra thế. Nhìn mà nhớ à, hay lộn của ông nọ thành ông kia. “Cháu  nhớ chứ,  mà đường kim mũi chỉ kia trượi đi đâu được”. Kinh, chảnh nghề gớm. Chắc hai thằng này “con nhà nòi” giày dép rồi thất thế mà ra vỉa hè. Hỏi nhà mày mấy đời sửa giày, nó cười cười bảo “chú hỏi thế cháu chửa biết nhưng cháu là… đời đầu”. Hóa ra hai chú từ Thanh Hóa vào, làm linh tinh rồi đậu ở đây với nghề giày, vỉa hè Lê Thánh Tôn, quận 1. Hỏi chúng mày học nghề thế nào, “học hành gì đâu, cháu làm thuê phụ cho người ta rồi mót lỏm thôi”. Bố thợ cày miền Nông Cống, con thợ giày hè đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn, thế là con hơn cha.
Nhìn đường may và cách dán cái đế, tao thấy thế là nhà chúng mày có phúc rồi. Cầu cho chúng mày tay nghề dày lên, khách đông rồi năm nào tao được đến “đo ni đóng giày” ở cái tiệm có tên “Giày Nông Cống” giữa đất Sài Gòn nhá, ở quận nào cũng được.
Cái xe hơi sắp đến đón bố đây cũng có nguồn từ những đồng tiền hơn hai mươi năm trước bố lê la dưới đường hầm hay trên các vỉa hè bên trời Tây đấy các con ạ. Và bố tự hào về nó. Ráng nhá các con!
 
 
 
 
 
 
Thuốc hôi nách hiệu Con Ba Ba
và tâm lý chín bỏ làm mườ
 
“Một buổi sáng nắng trắng mây hồng
chị ngồi bên anh, anh ngồi bên chị một cơn gió nồm nam thổi tới
một cơn gió nồm bắc thổi qua
chị nghi cho anh, anh nghi cho chị
để bảo đảm hạnh phúc trong lành cho đôi lứa hôm nay chúng tôi đến đây phục vụ đồng bào
một loại thuốc hôi nách nhãn hiệu Con Ba Ba ba lần ba là chín
đã chín năm xuôi ngược khắp nam bắc tây đông hàn gắn hạnh phúc gia đình cho bao đôi lứa”.
 
Tuyến tàu điện Mơ - Bưởi, cặp vợ chồng mù dắt nhau đi dọc ba toa với túi đeo vai và vài hộp thuốc tay cầm tay dắt. Lời dẫn lòng vòng êm ái rồi bụp cái lôi người ta vào cuộc bằng những con số 3 và 9 rõ ràng mạch lạc như khẳng định một cách chắc nịch cho cái tên sản phẩm thuốc hôi nách của mình: nhãn hiệu Con Ba Ba!
Rất rõ ràng dứt khoát.
Chín năm giời, con Ba Ba đó bò đi khắp nam bắc đông tây. Kinh chứ!
Nhưng cái tâm lý “chín bỏ làm mười” lại là một câu chuyện khác. Tối nọ đi ăn chả cá ông Lã ở một nhà hàng có tiếng, có tổ nghề, có gốc gác đã lâu từ Hà Nội mở vào tận Sài Gòn. Hồi cơ sở đầu tiên mở ở Sài Gòn rất được, ở con đường nhỏ vắng. Căn nhà một tầng mái ngói còn để lộ nguyên giàn vì kèo gỗ, nền lát gạch tàu, bàn ghế gỗ mộc mạc. khung cảnh rất OK cho cái món có nhiều gia vị và bát mắm tôm nồng nàn. Mọi thứ đều đúng chuẩn phố Chả Cá gần hồ Gươm.
Vài năm sau nhà hàng chuyển chỗ khác thành hai điểm. Một quận 3 chỗ HXH với toàn bàn ghế inox trắng tinh bóng lộn. Khung cảnh giống quán bia hơi và đúng là quán bia thật. Người ta uống bia với mồi là chả cá mắm tôm chứ không còn là hàng chả cá ông Lã nữa.
Chỗ thứ hai ở con đường rất xịn trung tâm quận 1, phố TTT, giờ nằm ngay cạnh trục đi bộ to đoành Nguyễn Huệ. Chỗ này sang hơn ở cái địa điểm và những bộ bàn ghế gỗ đánh bóng kiểu Đồng Kỵ Bắc Ninh. Bàn ăn lót kính, không khí hơi u buồn nhưng cũng có chút thâm trầm để nhấm nháp cái món ăn đầy rắc rối kia.
Nhưng đến lúc khách rút cái hồ lô rượu cuốc lủi mang theo đặt lên bàn thì có chuyện.
Phí rượu là 100 ngàn/1 chai bất kể chai gì. Whisky, cognac, wine các loại giá từ 1-2-3-4-5 triệu cho đến 50 ngàn… cũng thế!
Lần trước không thế, cũng mới năm ngoái thôi. Nhưng “giờ thế chú ạ”!
Ừ, thôi cũng được. Cũng chả nhớ ngó quầy rượu nhà hàng xem bán những loại nào.
Nhưng khi mấy đứa mang ly ra thì biết ngay.
Chúng nó định cho khách ăn chả cá uống vang đây mà!
Lần đầu mang ra cho mấy cái tách để uống trà bằng sứ trắng tinh. Đây là ly uống rượu à? Có ly khác không?
“Dạ không - chỉ có mấy ly kia”. Theo ngón trỏ của nó nhìn lên quầy chỉ thấy mấy ly uống vang lóng lánh như mấy “ả cave nhà hàng Maxim” đứng cười cười…
Thế có ly như thế mà nhỏ hơn không? Cũng không.
Đành rót “nếp cái hoa vàng” ra mấy “ả cave nhà hàng Maxim” mà tức đắng miệng. Chả nhẽ đứng dậy về.
Phòng máy lạnh, không hút thuốc, nói chuyện khe khẽ, ừ thôi, cũng là văn minh. Được. Nhưng cái kiểu hành sống mà cắt vụn như rau muống để chuẩn bị nấu cám lợn thế kia thì đúng là làm hỏng văn hóa quá. Hỏi xin cọng hành còn nguyên cây dài, lại “dạ không có”. Chắc chúng nó lười thôi chứ nhà bếp làm gì không có nổi cây hành chưa cắt vụn. Là quen bán cho Tây rồi. Tây biết gì đâu, đọc Lonely Planet thấy bảo ở Việt Nam có món đấy món đấy, ở chỗ đấy chỗ đấy là đến, là xơi, biết quái gì.
Nhưng như thế là làm hỏng món ăn, dần sẽ làm suy thoái cái thứ quốc hồn quốc túy, thoái hóa luôn cả cái nền “văn hóa ẩm thực” vốn èo uột này.
Bán cho Tây ở chỗ gọi là phố trung tâm du lịch, là người đại diện để khoe cái món truyền thống dân tộc, mà chỉ biết mỗi kiếm tiền! Lần khác nữa ở một quán có tiếng giữa thủ đô, cạnh Bờ Hồ gọi món thịt luộc mắm tép. Bún đưa ra trước, rồi thịt luộc ra. Ngồi một lúc thêm tí rau sống như để ăn… bún riêu. Và bát nước mắm với đĩa chanh ớt.
Uống rượu đợi mãi, thỉnh thoảng vô tình gắp miếng thịt luộc chấm nước mắm chanh làm mồi tạm trong lúc chờ đợi mắm tép ra cho đỡ nhạt mồm. 20 phút, rồi 30, 40, mãi chả thấy mắm tép đâu. Sực nhớ hỏi mắm tép sao lâu thế cháu? Cháu điềm nhiên “dạ không có ạ”. Ô hay, trong thực đơn ghi rành rành “thịt lợn mắm tép” thế này? “Vâng, ghi thế nhưng không có chú ạ”. Rồi thản nhiên “thôi các chú thông cảm, chấm nước mắm đi”!
À này, không được nhé. Các chú gọi thịt luộc vì mắm tép chứ không phải vì thịt luộc nhé. Thôi bê hết cái đĩa thịt với rau sống mắm chanh vào bếp nhé. Ăn vài miếng rồi đấy nhưng trả lại đấy, ai làm sai người đấy chịu nhé. Không tính tiền món thịt thuộc mắm chanh này nhé!
Bực đấy nhưng vừa dịp sắp tết, thế là cụ nhà văn tóc bạc TrC có luôn bài “Chín bỏ làm mười” cho báo số xuân.
Là cái ý phê phán cái nếp nghĩ cẩu thả, xuê xoa dễ dãi trong tư duy người mình. “Thôi, chín bỏ làm mười” tưởng là hay, là sự tha thứ, sự bỏ qua. Nhưng không phải thế. Mà thực ra vô cùng độc hại.
Có vợ chồng người bạn thuộc hàng “trai tài sắc - gái sắc tài” ưu thế mỗi bên đều có. Cân bằng cả hai, đều giám đốc doanh nghiệp lớn, mỗi tội ông chồng gốc quê. Lại hiền. Bà vợ tay đáo để, vòng tay ôm cả giang sơn được. Nhưng lần nào gặp cũng nghe vợ mắng chồng, nào dại khờ, nào quê cục. Có lần ngồi xe hơi từ biệt thự ở Sóc Sơn về mấy chục cây số ngót tiếng đồng hồ chỉ nghe tiếng vợ chỉ trích chồng, thế mà chồng cứ thản nhiên lái, cho đến lúc dừng ở một nhà hàng miến cua ven hồ Trúc Bạch loa mới ngừng. Phải người khác chắc chẹt chết vài mạng rồi. Nhưng mà ông kia vẫn nhóp nhép ngon miệng lắm.
Mấy năm sau họ bỏ nhau. Chồng ngồi tâm sự, “người ta bảo chín bỏ làm mười chứ tôi sáu bảy cũng bỏ làm mười rồi vẫn không xong ông ạ”.
Đấy. Không dễ “làm tròn” được đâu.
Sửa một đoạn đường xong chừa lại mấy đống gạch đá ngổn ngang, đào cái hố xong để đấy không lấp thành hố tử thần, làm xong chả thèm đậy cái nắp cống lại. Rồi đến mấy sợi dây buộc, mấy cái bọc gốc cây cũng chả thèm cắt tháo, cứ thế chôn xuống đất. Ông chồng kia tự dễ dãi “sáu bảy bỏ làm mười” cùng lắm bị vợ đì cho thì khốn mình thân lão, còn rộng hơn cứ tư duy đấy là có khi giết chết nhiều thứ. Nhẹ thì giết một nhà hàng, hơn tí nữa thì toi một nghề gia truyền, nghiêm trọng nữa thì đi cả mạng người như chơi.
Còn khủng hơn nữa cứ để thế thấm dần qua thời gian có khi đi tong cả dân tộc chửa biết chừng!
Thế cho nên rất đáng nể trọng nhà “thuốc hôi nách hiệu Con Ba Ba” kia!
 
 
 
 
 
Đường Lâm,
làng và (một vài) người
 
 
Lâu không về lại chỗ này. Lai lịch của nó ai về rồi chắc biết, ai chửa thì về khắc biết, nhắc lại làm gì.
Cứ ngờ ngợ phân vân, nên gọi phố hay làng?
Thì rõ là làng rồi, giờ giấy trắng mực đen trên văn bản, rành rọt trên miệng người. “Làng cổ Đường Lâm” rành rành ra đấy.
Cũng phải đi qua ruộng rồi mới đến nơi, có cổng làng, có đình, có rơm phơi, có bò và phân bò trên đường. (Công nhận là cái mùi rơm, nằm vật ra mà ao ước giá có cái “đi zi tồ” gì để thu giữ được mùi!).
Đường gạch cũ, mới, hay đường xi măng, chả quan trọng, vẫn ngóc ngách, sâu vào trong vẫn còn mùi vị âm lịch, tương cà, tường cũ rêu phong, liếp che, giàn mướp là còn quý hóa quá.
Cổ kính đã có phần sắp đặt, sập gụ tủ chè thì ra kiểu người giàu, bày cái bình men sứ kiểu Giang Tây đúng chỗ, thêm cái giỏ ấm tích cho ra nhẽ. Ông chủ kể chuyện cha ông, tự hào, ý thức về nề nếp gia phong, giữ gìn di sản. Lời lẽ có bài có bản, rõ thực nếp nhà.
Một dạng cổ khác bình dị hơn, kiểu “nhà nho nghèo yêu nước”, nhã nhặn nhưng mặt ông nhà nho lại văn minh kinh khủng, như vua rock Ăng lê John Lennon, kính trắng mắt tròn, hàm râu quai nón, Tây rặt. Thấy ông “John” này đang ngồi tập viết chữ nho. Có bức ảnh trên tường như của một bậc thầy “phô tô gờ ráp phờ” chụp, khoe là do một ông Tây, giờ thành bạn.
 
Trước khi vào làng, mỗi khách dừng xe chỗ ba ri e đầu cổng nộp mỗi người hai chục. Hỏi các chủ nhà cổ nơi được giới thiệu cho khách (đếm trên đầu ngón tay, cả làng hiện còn ngót chục nhà) mỗi gia đình được hỗ trợ bao nhiêu, họ bảo đâu ba trăm nghìn một tháng. Giữ được thế này là phải bán tương, làm cơm dịch vụ, và chắc còn nhiều thứ khác nữa.
Ông “John Lennon” viết chữ nho này nhăn nhăn trán, phàn nàn mỗi ngày có khi phải giả nhời hàng trăm câu hỏi, nhà có tự thế kỷ nào, xây bao giờ, mấy đời cụ kỵ tổ tông??? Chán, mệt, khàn tiếng. Thỉnh thoảng có đứa vào chả được câu chào, ngó ngó nghiêng nghiêng, hỏi hỏi han han rồi cắp đít nguẩy, chả thanh kiu thanh kìu gì sất.
Nhưng cũng ra phố rồi.
Sân trước đình như quảng trường trung tâm, vui nhộn nhịp. Hàng quán tưng bừng nhưng vừa phải lắm, bán nước chè tươi, nụ vối, lạc luộc, kẹo dồi, mận chua kèm dịch vụ đi toa lét thu hai nghìn, sạch sẽ.
Mà vẫn còn là chỗ phơi rơm. Đầu óc đa nghi cứ nghĩ, hay người ta sắp đặt cho ra nhà quê? Hóa ra đúng như thế. Xưa mỗi năm hai vụ chiêm mùa rõ rệt, giờ lúa ngắn ngày, lúc nào chả có thể là vụ gặt để phơi rơm. Thế cũng hay.
Đã có thêm đủ thứ nghề, cắt tóc, mộc, mua bán ti vi cũ…
Đang âm u hoài cổ, thỉnh thoảng thấy một cái lối dẫn vào nhà rất điệu, cây cối, cổng gỗ trông “có nghề” thì đoán chắc là của một tay chơi sành điệu, một “artist” nào từ Hà Nội về đây.
Nghe bảo có những ngôi nhà chục tỷ rồi, bây giờ người ta đã thấy giá trị cổ chứ không còn là giá trị đất. Thật đã văn minh.
Lại một “ông Tây”, chồng bà bán nước chè, mũ phớt cao bồi miền Texas. Bà lão áo cánh nâu, quần lụa thâm, răng đen nhưng tay ôm túi kiểu “eo vì” giả con cháu đi lao động mang về từ Hàn Quốc, móm mém ngồi vắt một chân lên ghế xởi lởi với khách xa về.
Kể cũng khó. Giờ mà hỏi mấy đứa giai gái ở đây, phóng xe máy vù vù, áo quần sành sỏi, tóc tai dựng ngược, rằng nhà cháu/em ở đâu, chả biết chúng nó có gãi đầu gãi tai mà ngượng ngùng bảo “dạ, làng Đường Lâm” không nhỉ? Chắc là không!
 
 
 
 
 
Đường về đất Phật
 
Bước xuống đò nhìn rặng núi mờ xa, thấy chợt gợi về một buổi chiều của Nguyễn Bính:
“Thơ thẩn đường chiều một khách thơ
Say nhìn xa rặng núi xanh lơ”.
 
Nhưng hôm nay là buổi sáng, một buổi sáng như còn ngái ngủ trong bay bay mưa bụi của tiết xuân. Xa xa rặng núi mờ đi trong màn sương, trời không lạnh, chỉ hơi se se nhờ sự ẩm ướt hơi mưa,  nhưng  cũng  đủ  để  tạo ra cái tê tê về cảm giác và nhập nhòa cho thị giác, đường về chùa Hương, người đi như chìm trong hương và mơ…
Mái chèo khua sóng của cô thôn nữ đưa con thuyền trôi trên dòng Yến Khê hướng về đất Phật. Năm nay lòng suối đã rộng hơn, nước đã trong hơn, nhìn rõ từng cọng rong đung đưa theo làn chảy, đưa đẩy đáy thuyền. Và sạch, hãy còn xuân sớm, người đi chưa đông nên vẻ tĩnh lặng của chốn thinh không chưa bị phá vỡ bởi nhiều tạp cảnh. Chỉ có hương mùa xuân, một mùi ngan ngát tinh khôi của đất trời, của hoa và cỏ dại, một mùi xuân rạo rực dậy thì nao nức lòng quân tử. Nhưng thâm trầm hơn, thắm đượm và sâu thẳm hơn vẫn là mùi hương của hương, cái mùi cứ quyện vào làn không khí ẩm ướt cùng với đoạn cuối của khúc chầu văn “Á a a á ả à a…” để rồi ám vào hồn ta, làm lay động tâm linh ta.
Dãy núi mờ xa, làn nước xanh trong giữa hai hàng vạt lúa viền bên bờ suối, màu má em gái chèo đò hay chỉ một khuôn mặt thấp thoáng ở thuyền bên khiến ta như lẫn vào giữa cõi mơ và thực, mơ về rừng mơ trên dãy núi xa, mơ về một cuộc đời dưới một mái nhà:
 
“Nhà ta ở dưới gốc cây dương
Cách động Hương Sơn nửa dặm đường
Có suối nước trong tuôn róc rách
Có hoa bên suối ngát đưa hương”.
(Nguyễn Bính)
 
Và ta thấy, trước mắt ta là một mái nhà ẩn giữa rừng xanh, chênh vênh triền núi, như là nơi cư ngụ của một bậc chư tăng hay là một kẻ sĩ ở ẩn, một nơi mà :
 
“Ánh sáng ngoài hiên
Chẳng sớm, chẳng trưa đây bức họa,
 Tiếng chim trước cửa
Không tơ, không trúc đấy cung đàn”.
(Lời ghi ở Thiên Trù)
 
Đường về chùa Hương, mờ ảo giữa núi gần núi xa, giữa trời và nước, giữa mơ và thực. Cái thực như mờ đi trong cái mơ của không gian huyền ảo, có gì đó như cảm giác được trút bỏ, được gột rửa, và được trở về. Nơi trở về là nơi làm lòng ta yên ổn, nó thanh lọc tâm ta, cứ thấy sờ sợ cái sự nhìn rõ, sợ cái lồ lộ của kiếp đời trần thế, và chợt nghe văng vẳng đâu đây cái âm thanh của thế giới sắc không:
“Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không”.
(Thơ thiền sư Từ Đạo Hạnh,
(bản dịch)
 
Nhưng rồi trước mắt ta vẫn là cõi thực của hôm nay, không còn “quần lĩnh áo the mới, tay cầm nón quai thao ”, chỉ có tấm nón lá và áo cánh nâu trên con thuyền gỗ còng lưng khua nước chở quần bò trễ rốn đi với tóc đuôi gà, “em đi chùa Hương” của ngày hôm nay là thế. Và xa xa dải cáp treo như một sợi dây trói lơ lửng giữa trời, lại chợt nghe văng vẳng đâu đó tiếng xô xát của cuộc choảng nhau giành giật hôm nào. Những “bộ veste” ngồi cabin đi chùa, những lưng còng mỏ quạ vẫn chống gậy leo dốc, miệng lẩm bẩm Nam Mô A Di Đà…
“Căn tu” là nghiệp vận vào từng số phận, nhưng những dòng sông con suối dẫn về nơi đất Phật vẫn là nơi hằng năm ta muốn đến để được trôi về, những dòng sông đầy hương và mơ…
 
Yến Khê - Hương Sơn,
xuân Bính Tuất 2006




0
Biển mùa đông

 
Điểm chấm bút đầu tiên trên bản đồ chữ S.
Là nghe người ta nói thế về Tràng Vĩ, Trà Cổ. “Mũi Cà Mau, địa đầu Móng Cái”, ấy là cách nói “đại khái’ thôi, ý là ở hai nơi ấy có những vị trí “xông ra” biển nhiều nhất trong toàn tuyến biên cương. Nói cụ thể ở Cà Mau là Đất Mũi, ở Móng Cái là Trà Cổ với cái điểm được ấn định “cực Đông” nhất là Tràng Vĩ.
Ở nơi đón bình minh sớm nhất lại là một bình minh không có ánh mặt trời, nhưng có vẻ đẹp của nỗi buồn, và cũng là cảm giác sướng nhất khi ra biển “trái mùa”. Cái ánh sáng mà không sáng của sự hoang sơ, mây mù bao phủ và gió ngả nghiêng những tán phi lao, chòng chành những “con thuyền không bến” nằm vật vờ sóng vỗ. Biển không người, không rác thải du lịch nhưng rải rác những đụn rác tự nhiên không bốc lên một chút mùi vị. Gã xe ôm nằm thẳng đuỗn trên cái xe máy Tầu che dù ngủ. Nhiếp ảnh dạo sau mấy phút mời chào không được, cau có trả lời vớ vẩn mấy câu hỏi của khách cho xong.
 
Ai mà lòng không run run ở mốc cây số 0 của Tổ quốc, mà chắc chắn là không phải run vì gió lạnh!
Và thấy thật sáng suốt khi tối hôm trước bỏ qua Móng Cái với ánh đèn xanh đỏ để chạy thẳng về đây. Trà Cổ tối muộn le lói ánh đèn, khách sạn nhà hàng đã ngủ hết. Duy nhất một nhà hàng của gã chủ cởi mở với chuyện “em đã từng đi tù vì dùng súng đi cướp hồi là lính ở Tiên Yên và bị tòa án binh xử ba năm nhập kho” còn bán. Biết trước khu nghỉ mát mùa đông là thế, nên đã chuẩn bị “hàng xách tay”, em này dong dỏng quốc tịch Ba Lan với cái tên mỹ miều “Belveder” trong vắt, rất “bắt” với đĩa cá khô nướng mặn chát và những con tôm hấp cuối cùng còn sót lại trong ngày nhưng vẫn còn tươi ngọt. Có lẽ nhờ phải trải qua một đêm lạnh co ro trong tấm chăn mỏng ở nhà khách rẻ tiền (may không có cái mùi tù đọng), lại thêm phần khó ngủ vì tiếng khò rền vang của lão giường bên mà được ra biển đón bình minh sớm.
Trà Cổ với khuôn mặt thật trong buổi sáng mùa vắng khách có cái vẻ lặng lẽ chờ thời. Nhưng nhìn những nhà hàng khách sạn và hệ thống “phân lô bãi biển” thì hình như đã đâu vào đấy cả rồi. Chắc do vị trí xa xôi và thời khủng hoảng nên chưa có nhiều công trình mọc lên, chưa thấy sự hỗn độn, song tương lai thế nào chả biết, chủ những lô đất bãi biển kia là ai, họ sẽ cho những thứ gì mọc lên ở đấy sau này. Tuy nhiên, cứ nhìn ở cái thành phố miền biên viễn là Móng Cái đầy không khí thổi đến từ phía bên kia biên giới, thì cũng đã dự cảm được điều gì sẽ đến ở đây mà lòng thật sự thấy lo ngại.
Lênh phênh xã đảo”.
Đấy là cái “tít” bài báo đã viết về Quan Lạn từ mấy tháng trước của bác nhà văn đi cùng. Hai ông đi với nhau, một ông đã Trà Cổ, chưa Quan Lạn, một ông đã Quan Lạn chưa Trà Cổ. Thôi thì chiều nhau mà mỗi người đều đi lại cái nơi đã đi vào cái lúc chả phải mùa.
Để ra đảo, phải qua bến Vân Đồn là nơi bắt tầu đi Quan Lạn. Về lịch sử thì nơi này là một địa danh gắn với tên tuổi vị danh tướng Trần Khánh Dư đời nhà Trần với lắm tài nhưng cũng nhiều  tật (mà theo như bác nhà văn đi cùng gọi là có nhiều “khuyết điểm”). Tài đánh giặc là kinh nhất, làm tan tác đoàn thuyền quân lương của giặc Nguyên tới 500 cái chở đầy những người và ngựa chiến trên dòng sông Mang là cái lạch biển ngăn cách giữa hai đảo Quan Lạn và Trà Báu. Còn “khuyết điểm” là thông dâm với công chúa Thiên Thụy, con dâu Trần Hưng Đạo, bị đày ra biên viễn “cùng bọn hèn hạ làm nghề bán than” (cũng theo lời bác nhà văn, bảo sách “Đại Việt sử ký toàn thư” biên thế). Thêm một tài nữa về kinh doanh kiểu “đầu cơ” và dùng “biện pháp hành chính” của vị danh tướng là “khi trấn giữ Vân Đồn, ông ra lệnh không được đội nón của phương Bắc mà phải dùng nón Ma Lôi, mỗi ichiếc g á ngang tấm vải, nhờ thế bán được cả mấy thuyền nón mua cất từ trước”.
Chuyện sử sách thì lôi thôi lắm, nhất là dân ngoại ngạch như tôi. Thành ra phải tảng lờ mà giấu cái sự “dốt sử” bằng cách hướng mắt nhìn vào mấy quả núi đứng chỏng chơ trên bờ, cạnh mấy căn nhà con con trên trục đường chính dẫn ra bến tàu nằm trên vịnh Bái Tử Long, một địa danh kề bên Hạ Long di sản. Đấy là kết quả của một chương trình lấn biển mà Quảng Ninh thực hiện trong nhiều năm qua. Những quả núi xưa kia nằm trên biển, “non xa xa, nước xa xa”, giờ nằm lừng lững sau lưng nhà tưởng chừng như với tay là đụng phải. Kiệt tác của thiên nhiên đã bị bức tử từng phần cho những ngôi nhà phố mọc lên với những tấm bảng hiệu, nhà nghỉ, hàng quán và cắt tóc gội đầu. Về cơ bản, con người đã thực hiện một quy trình tiêu diệt thế giới tự nhiên không thương xót một cách hoàn hảo. Bản tin thời tiết báo bão ở xa, đã mùa đông lại còn bão tố, nhưng chả có cơn bão nào tàn phá nổi thiên nhiên như con người.
Con tàu rẽ nước để lại những vệt trắng dài trên vịnh Bái Tử Long lướt qua những quả núi xanh rờn, biển êm sậm một màu u ám. Nếu trước đó chưa đầy một giờ là cảm giác mệt mỏi của chặng đường đi qua vùng than đầy bụi, thì cái vùng biển hẹp này như một vị thuốc tiên của trời ban tặng, thổi đi tất cả những u uẩn nặng nề. Nhìn vào bờ, rồi hướng về đảo xa, cứ thấy khoảng cách giữa hai phía như ngày càng gần lại. Con người sẽ còn rút ngắn dần cái khoảng cách ấy đến đâu?
Tên đảo là Quan Lạn nhưng nó gồm hai phần, là hai xã Quan Lạn và Minh Châu, trong đó Quan Lạn đóng vai “thủ phủ”, nơi tập trung các cơ sở chính của đảo. Mùa không có khách du lịch nên người ta được hít thở, được cảm nhận hết cái vẻ “nguyên gốc” của nó. Thủ phủ Quan Lạn mang không khí của nơi thị tứ, với cái cấu trúc thường có ở các đảo nhỏ, con đường trục xuyên dọc xã với hai dãy nhà thường thấy ở tỉnh lẻ như một thứ bản sao thu nhỏ của các đô thị trên bờ. Những dấu ấn quý giá nhất là một tổng thể ba công trình đứng liền nhau là đình, chùa và đền. Ngôi đình thờ vua Lý lập cảng Vân Đồn từ thế kỷ 11, đạt đến cái độ khiến ông nhà văn phải thốt lên: “Tỷ lệ, kích thước và các bức chạm trên câu đầu, cửa võng không thua gì một ngôi đình xứ Đoài”. Bên cạnh là chùa nhưng “tiền Phật, hậu Thánh”, và đền thờ ba ông tướng họ Phạm theo Trần Khánh Dư đánh giặc độ nào. Lác đác còn sót lại những căn nhà cổ của nhiều dòng họ, giờ cái bỏ hoang, cái làm xưởng mộc mà nghe đâu đều có chủ là người ở tỉnh và trên Hà Nội mua rồi để đấy.
Những lối rẽ nhỏ đưa vào bên trong, mở ra một thế giới “gan ruột” với những gì nguyên xưa của nó. Không khí làng xóm vẫn còn, đáng chú ý hơn là một đời sống với nếp xưa cũ, đơn giản, đạm bạc thực sự là do nghèo nên lòng người vẫn hướng tới sự đổi đời từ những căn nhà, mảnh đất hương hỏa mong được bán đi nhưng không may gặp thời khủng hoảng. Kỷ niệm của quá khứ vẫn là một cái gì da diết lắm, song không thể sống nghèo mãi trên cái nền đất bỏ hoang và căn nhà cũ kỹ của gia tộc. Họ cứ khăng khăng giữ mà không chịu bán khi khách hỏi mua một cái chậu giặt làm từ mảnh xác máy bay cách đây mấy chục năm đã được hàn vá bằng một miếng nhôm theo lối thủ công ngày trước, nhưng lại đau đáu trông chờ người ở tỉnh về để bán đi căn nhà trên mảnh đất hương hỏa của mình.
Chừng hơn mươi cây số từ thủ phủ đảo về vùng hoang dã Minh Châu, con đường lúc thấp thoáng thấy biển, khi dập dờn bãi sú, lúc lại dải cát dài trắng phau hay một vùng lốm đốm đất và lạch biển có những con bò thả rông lững thững. Cũng vì sự “trái mùa” mà cái vẻ hoang sơ được tôn lên, cho dù đã có hẳn một cái “resort” với giá phòng được tính bằng tiền triệu vào mùa hè. Chính vì vậy, thấy rõ cảm giác là có lúc ta nhìn biển còn thích thú hơn nhiều lần đắm mình vào nó, nhất là vào mùa đông, vì một vẻ đẹp khác chứ không phải vì lạnh.
Sá sùng là một loài “giun cát” đặc sản của Quan Lạn, nổi tiếng như người ta nói đến Lý Sơn là tỏi. Tỏi cho mùi, sá sùng cho vị, dù đã hầm xương hay đã bỏ vào một nắm tôm khô nhưng chỉ thêm vài con sá sùng thì nồi nước dùng dậy vị hơn hẳn. Đào bắt sá sùng là những người phụ nữ khăn mũ sùm sụp, quần xắn cao quấn xà cạp, họ vác mai lúi húi trên bờ cát như nữ chiến binh trong chiều nhập nhoạng. Con gái Quan Lạn gọn gàng săn chắc cũng đã ngóng tai nghe về cái cuộc thi “Next top model” trên ti vi. Mà phải, họ có nhiều tố chất hình thể đáng cho sự “ngóng tai” này.
Với vẻ đẹp hoang sơ đang bị khám phá, điện lưới còn trong quá trình “năm tiếng một ngày”, một chút đặc sản nhỏ là sá sùng và việc đánh bắt quanh quẩn ven bờ có vẻ như không đủ để người dân Quan Lạn có được những gì họ đang khao khát. Chắc rồi đây, chính cái vẻ hoang sơ mời gọi kia sẽ dần dần mang tiền đến cho người ta, nhưng cũng không gì dễ vò nát cái vẻ hấp dẫn ấy nhanh như đồng tiền kiếm được từ nó.
 
Lại một vòng lẩn quẩn với cái vết xe nghiệt ngã cứ lăn nghiến hết từ vùng đất này đến vùng đất khác, từ đất liền ra hải đảo. Có cách nào ngăn lại?
 
 
 
 
 
Hòn
 
 
Là đảo con, đảo cháu, hay là đảo anh em của hòn đảo chính trong một quần đảo, nhưng vì cái thân bé mọn mà bị gọi là hòn?
Phú Quốc xênh xang áo gấm với những resort các loại, sang hèn hay chỉ là để giữ chỗ, thì cũng cứ nhơn nhơn, thằng nào đụng vào ông cứa cổ, ấy là lời ấp ủ trong đầu của các chúa đất. Đường sá sau mấy năm trở lại mà vẫn thế, bụi đỏ bay mù, nẩy tưng tưng, thành ra thích nhất vẫn là cái mùi tanh tanh, khăm khẳm của cá, của mắm ở thị trấn Dương Đông.
 
Đường ra bến tàu để đi hòn Thơm qua những cánh rừng, những bãi đất trống, hầu hết đều có chủ. Rải rác những túp lều mái xanh đỏ, là của những gái trong bờ ra hành nghề, tài taxi bảo thế. Dân Phú Quốc bán đất hết, giờ cũng chả còn gì, ông chủ đất cũ chiều chiều nằm võng đung đưa khúc ca u hoài phơi cái bụng phệ do nhiều bia bọt nhìn sang bên kia hàng rào với niềm thương tiếc khôn nguôi những vạt dừa xanh tươi mơn mởn hôm nào.
Đâm ra cái hòn cách đảo chính chả mấy mái chèo kia vẫn còn khá lớn mảng xanh rì của vườn tược, và hàng dừa lướt thướt ngoài bãi biển với tàu thuyền san sát lại gây một sự gì như bình yên. Mặc dù bước chân lên bờ là lộn xộn, là rác và những bước gập ghềnh của con đường như chả ai buồn đoái hoài tới, được chất lên những cái bao đất tạo bậc.
Thoạt đầu là trên bến dưới thuyền tấp nập, đàn ông nhởn nhơ bài bạc, đàn bà vẫn cứ là te tưởi. Gái đảo ở đâu cũng vậy, ngăm giòn, ngực căng, chắc nình nịch. Đi sâu vào chừng 15 phút đã chỉ thấy vườn, ngót nghét có được mấy chục nóc nhà? Bao nhiên nhân khẩu, bao nhiêu miệng ăn, nhưng thấy đủ trụ sở UBND xã to oành, công an, trường phổ thông cơ sở, trạm y tế… Phố chợ vui vui cà phê nhạc tình tang thương nhớ, anh thợ cạo chăm chút tỉa tót đầu trai làng, hay đeo đèn ngoáy tai cho lão kia lim dim ngủ, rõ ra không khí ban trưa.
Giếng Tiên là một cái khe nước luôn chảy ra một dòng nước trong mát, nơi ấy có miếu thờ Đức Gia Long. Tương truyền dòng nước mang lại sức lực, may mắn, giờ xây thành cái bể xi măng như Hà Nội thời khan nước, tưới tắm thì múc từng gáo nhựa, mình không biết suýt nữa nhảy vào, xin được hỉ xả ạ.
Gặp đám thuyền chài dạt vào thư giãn, là dân tận Hà Tiên đi biển lênh đênh dài ngày thấy chán, thích nhẩy lên bờ tìm hơi đất. Gặp khách xa mừng và quý, hồn nhiên, chân chất, nhiệt tình đắm đuối quá. Mực tươi, cá tươi, “cà seo” (một loại sò) tươi nướng, ngọt như chắt ra từ toàn những tinh chất của biển. Khoái nhất là chú lùn cao mét rưỡi, mặt chai đen sạm hầm hố có cái tên con gái Hồng Thủy. Yêu anh chàng này nhất.
Vẫy chào nhau, hẹn hẹn hò hò. Bơi ra tàu về bờ. Một lúc mà chiều xuống nhanh, biển và trời một màu sẫm lại.
 
 
 
 
 
Ẩn ức Lý Sơn
 
 
1. Chuyện của chúng nó thôi, hai thằng ngồi cãi vã, thằng hơi đứng tuổi đeo kính, thằng tóc nếu còn chắc cũng xanh - gọi tắt là đeo kính và đầu trọc, nhanh cho vuông.
Đeo kính hào hứng khoe: tao mới post hình kèm dòng chữ “Lý Sơn mùa không có tỏi”. Đầu trọc nhảy dựng, câu của em. Đeo kính bảo, ừ thì “Lý Sơn mùa này không có tỏi” vậy, khỏi đụng hàng.
Chỉ mỗi chữ “này” mà thằng kia phải nín.
Cũng đều là Dương. Một lão tóc bạc, một gã tóc đen. Tóc bạc khọm già, bụi bặm, tóc đen tao nhã, trí thức.   Nhưng xe tóc bạc máy khỏe (là chú đầu trọc kính lão mà nhường cho), xe tóc xanh máy hơi yếu, lại hình như không phanh. Cô gái lưỡng lự, chọn xe hay người? Cuối cùng là chọn người. Phi công trẻ chạy vù vù chả biết vì xe hay vì đổ dốc không phanh mà thế, như thể lỡ leo lưng cọp rồi, xuống làm sao? May không lao xuống biển. Sau kể lại là run lắm.
Hôm sau sáng sớm ra chợ, rồi nhung nhăng, gặp chú râu tóc mời lên xe “zin” ba, tóc bạc ngồi giữa, cô gái ngồi sau vì có cái ba lô. Cái ba lô nặng trĩu như muốn kéo ngược người cô ra đằng sau, nhưng hai tay vẫn kiên quyết chỉ bám vào một chút cái thành bagage. Bám vào vai “bác” í, kẻo ngã. Dạ được ạ. Hỡi ôi, đến cái “bờ vai” nghĩa đen còn chả thiết.
 
2. Cũng lại chỉ mấy lọn tóc đen - trắng, mà như giữa núi cao, vực sâu.
Chỉ gần một giờ tàu chạy đã đến nơi, vậy là rất gần đất liền, ngó vọng vào cũng thấy bờ mờ xa. Thi nhau tí tách trên tàu nên lại càng thấy nhanh. Biển êm như ru ngủ. Mỗi lá cờ là phần phật.
Ôi chao là cái mùi tanh khi bước chân lên đảo, nó cứa vào khứu giác, như cá làm vạ cơm.
Phút nói thật, đang tìm người rủ đi chơi một hòn đảo ở Quảng Ninh, nghe nói đến Lý Sơn, vập vào ngay. Vừa ngao du, vừa làm việc tốt, ok quá. Lúc đầu cũng lờ mờ thôi là như thế, như thế… cũng như bao lần đi các nơi là người tốt việc tốt khác. Nhưng lần này…
Nhiều người nghe nói đến Lý Sơn, hỏi ở đâu? Giả nhời, ngoài khơi Quảng Ngãi, chỗ có tỏi í. À à, biết rồi. Vậy người ta biết đến Lý Sơn là nhờ tỏi.
Bao nhiêu thứ của Lý Sơn, ngoài tỏi và còn hơn cả tỏi, nhiều người đâu có hay!
Lý Sơn gần Hoàng Sa đấy, thế à? Lý Sơn có nhiều ngư dân bị bọn Trung Quốc bắt giữ đấy, thế à? Dám chắc còn có nhiều cái mồm há hốc chữ A, thế Hoàng Sa thì ở đâu?
Lý Sơn được chú ý đến là từ vấn đề Hoàng Sa. Nhưng cứ nghĩ, đến như Hoàng Sa mà bao nhiêu năm chả có cuốn sách giáo khoa địa lý nào nhắc tới nó, chả có luồng thông tin công khai chính thống nào nói về nó, cho đến gần đây, và bây giờ, khi những cặp mắt gian tham, cuồng vọng ngấp nghé gần bờ quá rồi thì mới rộ lên. Huống chi là Lý Sơn.
Cũng đi được vài ba hòn đảo nước nhà. Phú Quốc với không khí rì zọt ăn ngủ nghỉ. Côn Đảo với nỗi ám ảnh về tội ác. Cát Hải, Cát Bà vừa sản xuất vừa tiêu dùng… Sướng khổ lam lũ đủ cả, nhưng cảm giác chung là yên bình. Đến những nơi ấy dễ dàng ca ngợi vẻ đẹp, máu hưởng thụ rần rật trong người, khen món ăn này, chê kiểu dịch vụ kia… Nhưng ở Lý Sơn có gì khang khác.
Hay đầu tiên là bị chi phối bởi cái tâm lý “nơi anh đến là biển xa, nơi anh đến là đảo xa”? Mặc dù chỉ cách đất liền chưa đầy một tiếng tàu trung bình tốc.
Phải rồi, đấy là cái tâm lý Trường Sa!
Cũng vẫn thế thôi, nắng và gió, trời và biển, vị mặn mòi của những món ăn, nước da mặn mòi sém nắng của người, sự khô cằn bờ cát, sức chống chọi truyền đời của bản năng tồn tại, và tất nhiên - vẻ đẹp - trời, nước, tàu thuyền, ánh sáng, bình minh và hoàng hôn. Nhưng không hiểu sao ta cứ chiêm ngưỡng và thưởng ngoạn tất cả với một sự lo lắng không hề mơ hồ?
Và một nỗi rấm rứt bực dọc thế nào, ngay trong một tâm lý khá thoải mái của một chuyến đi vừa có tính ngao du, vừa có tính “thiện nguyện”.
Cái nhà trọ với một dãy phòng xếp hàng chạy dài ra bờ cát, mở một khoảng nhìn ra biển. Hàng cây bàng xòe tán lá che rợp khoảng sân, những lỗ thủng tạo những “giọt nắng” nhảy nhót trên tường đúng kiểu nhìn của ông Trịnh nhạc sĩ. Cho dù lỏng chỏng là mấy cái ghế nhựa rẻ tiền mà vẫn thấy thích, thích hơn nhiều những cái ghế nhựa giả mây ở mấy khu rì zọt cấp cao. Khỏi cần “wellcome drink” - ly nước mời chào ở mỗi khu nghỉ, nắng thế kia cứ trà đá mà tu ừng ực là đã lắm rồi. Phòng giản dị, quạt đủ dùng cho mỗi đầu người, hai cái nhỏ tròn trên đầu, một cái cao đứng cuối chân, vù vù phành phạch. Đơn sơ nhưng sạch, có lẽ vì gió biển, còn hơn mấy cái mi ni sang không ra sang, hèn chả ra hèn, mở cửa vào là thấy trên giường loang lổ và cứ thoang thoảng mùi tinh khí cũ, phát kinh.
Nhưng vài bước ra ngoài thì bẩn quá, rác là rác ngập tràn mặt đất, bồng bềnh mặt biển.
Ở đâu cũng đẹp và ở đâu cũng rác.
Người ta sống chung với rác như một lẽ tự nhiên. Không ai suy nghĩ gì và dường như cũng chả ai bắt họ phải suy nghĩ.
Đằng sau những người đàn ông đi biển là những người đàn bà  Lý Sơn.
Trong gian phòng lớn của trụ sở Ủy ban huyện đảo, chiều xuống dần ngoài cửa sổ, họ ngồi một dãy dài bên chiếc bàn lớn, chờ đến lượt lãnh tiền. Đến lãnh tiền nhưng họ khóc. Những khuôn mặt mờ đi trong ánh sáng ngược có thể làm khó chịu cho các tay máy, nhưng như thế đúng hoàn cảnh họ hơn, nhìn họ thấy thương và đúng thân phận hơn là lúc lên sân khấu nhận quà trong ánh sáng lóa mắt ở các buổi lễ trọng thể. Buổi gặp gỡ trao nhận giản dị, người trao (gã đeo kính lúc này trông như một cán bộ lão thành đã hưu trí) cũng giản dị, chân tình và nhiều xúc cảm.
Họ đang nghĩ đến những người chồng đã nằm trong lòng biển sâu ngoài khơi xa, hay những người đàn ông đã bị liệt nửa người phía dưới đang ở nhà trên giường hay trên những chiếc xe lăn cũ.
Thấy người phụ nữ đẩy xe lăn cho ông chồng liệt như thế nhưng không ai để ý đến, chị âm thầm, có phần hơi khép nép, nhún nhường thân phận. Thật khổ. Sao mọi người chỉ chú ý vào ông chồng liệt nửa người kia, sao không để ý đến nữ anh hùng đứng sau chiếc xe lăn ấy? Liệt thì còn biết gì cảm giác, vậy có đoái hoài gì về cảm giác của người đàn bà bên cạnh mình? Trẻ, khỏe, làm lụng, hầu hạ, chịu đựng, cắn răng?
Nghe nói ngư dân bị liệt là do lặn sâu, ở lâu dưới nước. Vậy là tại ai? Sao một nơi có nghề biển truyền đời như thế lại không có, không biết, và không một sự huấn luyện những kinh nghiệm cho những người đi biển? Một sự thiếu trách nhiệm của con người với chính bản thân mình trước, rồi  thành ra với cả gia đình, xã hội?
 
3.  Những tờ giấy khen dán kín một mảng tường nhà cũ kỹ lụp sụp của một cháu học sinh cấp 1, và những tờ bằng khen của Thủ tướng Chính phủ treo ở trên cao, nơi trang trọng nhất trong nhà anh ngư dân - “sói biển” nổi tiếng Mai Phụng Lưu. Có gì giống và khác nhau?
Thì đương nhiên là khác rồi. Khác ở tầm cỡ sự việc, tầm cỡ người ký để khen.
Nhưng mà giống chứ, những thành tích đạt được từ sự chịu đựng gian khổ, vượt qua gian khó để rồi vẫn tiếp tục gian khó hơn.
Mấy hôm nữa anh Lưu lại ra Hà Nội để tiếp tục nhận bằng khen, nhưng ngôi nhà của anh vẫn còn đang phải thế chấp sổ đỏ để vay tiền tiếp tục nghề đi biển.
Em gái cấp 1 kia vẫn hằng ngày vừa cắp sách đến trường, vừa phụ mẹ bán hàng, hoặc làm một việc gì đó quá khổ so với tuổi của em, để kiếm sống.
Cái anh dân chài kia đã từng có lần phải lạy mấy thằng cướp biển để được về nhà, vì mạng sống của mình là chỗ dựa cho cả gia đình. Vậy có đáng trách không?
Ngư dân Lý Sơn phải bám biển, nhiều người nói họ vì lòng yêu nước. Giản dị hơn như lời anh Mai Phụng Lưu, là vì “từ thời ông bà tôi đã đánh bắt cá ở Hoàng Sa thì tôi quyết bám cái ngư trường mà tổ tiên mình đã bám giữ”. Cũng có người sợ, ngại vì đã mất thuyền, họ không còn khả năng đi biển, hoặc không đủ phương tiện để đương đầu với bọn cướp. Họ muốn ra bám ngư trường lắm chứ, trước tiên là vì đời sống đã, nhưng ai cho không phương tiện? Làm sao trách họ được, khi phải bỏ ngư trường để mặc bọn cướp biển hoành hành?
Người ta đang xây một bức tường bê tông cốt thép cao vòng quanh đảo như một bức tường thành, chắc để chống xâm lấn của nước biển, song quan trọng hơn là để phòng vệ. Nhưng đấy chỉ là vòng ngoài. Còn những con người bên trong thì sao, có gì bảo vệ, giữ gìn cuộc sống, phát triển nghề nghiệp cho họ, cho cơ sở hạ tầng, cống rãnh, hệ thống xử lý chất thải, môi trường…? Bao nhiêu tiền nhỉ, trong số hàng trăm nghìn tỷ đang được dự liệu đổ vào để làm tái sinh những dự án tàu biển to tát hướng tới những bến bờ xa, thì chỉ cần một phần mấy nhỏ nhoi là đủ cho một hòn đảo gần nơi đầu sóng ngọn gió như Lý Sơn này?




0
Cao bồi già
hay nhà hiền triết trẻ
 
 
Những khuôn mặt tự họa của Phạm Văn Hạng nhìn đẹp. Và ông đã nặn nhiều tượng các danh nhân, nhưng nếu tự nặn mình, e khó mà “đẹp” bằng người thật của ông.
Một lô các chân dung ông qua tay các họa sĩ và nhiếp ảnh, nhưng chưa có cái nào lột hết được cái sự “nghịch” và “quái” của ông Hạng thật.
Người ta thường chỉ chú ý đến cái vẻ nghệ sĩ của ông Hạng, nhưng đẹp hơn chính là vẻ đẹp của gã cao bồi tóc bạc trắng, mà lại ngông ngông.
Là cái nheo nheo mắt tinh quái có vẻ “hiền triết”, nhưng vẻ ngoài cứ hồn nhiên như đứa trẻ.
Khoác cái “áo” chỉ là một mảnh vải tím khoét lỗ tự làm, hai vạt bay bay cùng mái tóc, có lúc nhìn ông giống cụ “Đốt”, lúc giống Yer- sin, lúc lại giống gã “Đạc Ta Nhăng” ngang tàng trong ba chàng ngự lâm.
Mà ông hồn nhiên thật, hồn nhiên chơi với bọn trẻ, OK để thằng ranh gọi cậu cậu, tớ tớ…, trong lúc trên tường kia là tấm ảnh ông ngồi ung dung tự tại bên ông thủ tướng Võ Văn Kiệt mà chuyện trò.
Hồn nhiên phát biểu về những chuyện to tát, về ông Yersin, ông Kiệt, hay kiến trúc nhà Quốc hội, cứ nhẹ nhõm như khi ông đứng tán chuyện với lão hàng xóm qua bức hàng rào về ý tưởng đóng một cái chuồng chim trong mảnh vườn con nhà mình.
Chả nói gì nhiều về điêu khắc cả. Dẫn khách xem sơ mấy bức tượng đang làm dở, đất còn tươi. Tượng còn tươi như tranh ở dạng phác thảo, chưa thành hình nhưng gợi, bởi ngổn ngang những xúc cảm bộn bề.
Nhưng thật ra ông chả hồn nhiên, mà nhiều lúc như một nhà mưu lược. Và ông khá thành công.
“Nhà trưng bày nghệ thuật Phạm Văn Hạng” là một sự ưu ái thật đặc biệt của Đà Lạt với ông. Lạ nhỉ, sao vẫn còn một ngôi nhà tuyệt vời như thế, một biệt thự cổ trên triền đồi trung tâm dành cho Phạm Văn Hạng? Sao bao nhiêu năm mà chưa rơi vào tay một quan chức nào đó?
Có người kể, một lần ngủ nhà ông đêm nghe tiếng người. Tôi hỏi ông có bao giờ ông thấy và trò chuyện gì với họ, nhất là những “nữ hồn”? Ông giẫy nẩy. Cứ nhất định chống chế, như kiểu bị “vu vạ” với mẫu nữ ở cõi dương vậy.
Trêu ông, bảo tượng nào lột tả được “nết” xấu của Phạm Văn Hạng mới là tượng đẹp. Ông cười. Rồi tung tăng bảo, vào đây, vào đây. Hóa ra khoe một cái mũ phớt!
 
Ra tượng đài Yersin bên hồ Xuân Hương, ông được một “nhân dân” hâm mộ xin chụp ảnh, xin chữ ký, mời đi nhậu.
Hình như ông chỉ thích họ vừa vừa, dù trân trọng. Nhưng ông lộ đủ vẻ thỏa mãn đã đặt được “me xừ Yersin” vào chỗ đẹp nhất của Đà Lạt, với chữ ký Phạm Văn Hạng. Cứ như một sự sai khiến, một sự nhập hồn của Yersin vào ông, mặt ông sống kề bên tượng ông chết trông khá giống nhau, bức tượng thật đẹp và có hồn. Ông Hạng bảo, “thôi, đời như thế là được rồi”.
Rồi toe toe bấm còi Vespa đi ăn cưới.
 
 
 
 
 
 
 
 
Tứ bình nude


Lâu rồi, một lần hóng chuyện ông Nguyễn Tuân nói về tranh cụ Chánh vẽ đàn bà tắm, ông tỏ ý không thích. Ông bảo “kín hở” kiểu đấy nó “tục”. Hồi ấy mải nghe mà chưa kịp nghĩ, nghe rồi để đấy thôi. Theo ý ông Nguyễn, hình như là “cái nhìn cổ hủ mà nhìn đàn bà tắm thì nó dễ ra là tục”, có nhẽ thế?
 
Mình cũng không thích style đấy, cách nhìn đàn bà tắm của ông đồ nho, cứ “thập thà thập thò” thế nào, như “rình” người ta tắm vậy. “Bo đì” phốp pháp mà dáng đứng cứng đờ, mặt chả chút gì biểu cảm. Có biết bao nhiêu tư thế đẹp khi người ta múc, dội, kỳ cọ hay “ưỡn ra” đầy khoái cảm khi tắm mà. Sao lại “đứng nghiêm” như cây gỗ thế?
Thôi đấy là chuyện các cụ.
Hôm rồi xúi lão K vẽ quả “tứ bình nude” đi. Mà vẽ tắm. Tắm bốn mùa xuân hạ thu đông. Vẽ làm sao không cần “tả cảnh” mà ra mùa mới giỏi. Chứ kiểu “xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” thì xoàng. Hì hì.
Thế chắc phải vẽ “tắm trong nhà tắm” thôi, là vẽ ra được cái thần thái, cái sự “phản ứng”, sự “rung” của cơ thể người ta ở mỗi mùa. Xuân là cái mùa “sinh sôi” thì cơ thể tràn trề sinh lực, nó phồn thực.
Hè oi bức lắm, người ta dường như chỉ muốn thỏa mãn với nước, thả lỏng, vô nghĩ. Thu chắc dễ làm khao khát, còn đông thì khiêu gợi kinh khủng.
Ra được thế thì chả cần gì sen, nắng, trăng leo lẻo hay gió máy này nọ mới ra mùa.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Họa sĩ
với sex và nude
 
 
Phát ghen lên với mấy bác họa sĩ già.
Vẫn nhớ dăm ba năm trước mình hay gặp họa sĩ Lưu Công Nhân lẫm chẫm chống ba toong nơi góc đường Phùng Khắc Khoan - Nguyễn Văn Thủ ở Sài Gòn vào mỗi 5 giờ sáng, bóng ông nhập nhoạng trong ánh sáng đèn đường. Khuôn mặt họa sĩ với mái tóc bạc trắng có vẻ đẹp sang trọng của một bá tước. Không rõ năm ấy ông bao nhiêu tuổi, nhưng yếu rồi. Bệnh parkinson hình như đang hành ông. Những bước chân của tuổi già và bệnh tật. Lâu nay nghe kể nhiều câu chuyện của ông với mẫu, mình trộm nghĩ chả biết bây giờ cụ thế nào, cứ thương cho một mãnh hổ qua thời oanh liệt.
Nhưng rồi ít lâu sau, lên Đà Lạt và lầu đầu tiên được đến nhà ông, thấy ông lại nhanh nhẹn, con mắt vẫn tinh anh, không được như một con sóc nhưng tinh thần ông, dáng dấp ông chả còn gì là cái vẻ lừ đừ trên đường Nguyễn Văn Thủ những sớm mai nào. Tra- nh ông vẽ, nhiều bức phớt qua nhưng với những bức nude, khuôn mặt ông như bừng  lên  một  vầng sáng, thứ ánh sáng phát ra từ ngọn lửa nội tâm.
Hôm rồi được gặp lại Lưu Công Nhân qua những bức thư, là những bức thư ông viết tay gửi cho họa sĩ Bùi Quang Ngọc, nhiều trang giấy đã ố vàng, quăn nơi mép góc. Những bức thư từ hàng mấy chục năm, thời gian khó, thời ông đi vẽ xa, những lúc cô đơn, thời ông trăn trở về nghệ thuật, nỗi buồn và sự đam mê.
Định đến để xem họa sĩ Bùi Quang Ngọc vẽ nude mẫu thật, hóa ra lại bị cuốn hút bởi những bức thư của Lưu Công Nhân, trong đó ông luôn vẽ những ký họa ngẫu hứng, mà hầu hết là đàn bà khỏa thân, và bộ phận sinh dục nam nữ. Nó chẳng liên quan gì đến  nội dung thư, đến những điều muốn nói, muốn chia sẻ với bạn, nó chỉ như một sự thích, một nỗi chết mê chết mệt. Những dòng chữ ngả nghiêng xiêu vẹo nhảy múa, đan chèn vào những khoảng trống còn lại của tờ giấy, đẩy cái hình người lên khiến người ta cồn cào, chả biết nên xem hay đọc. À, hình như có một cái hình minh họa có liên quan đến câu chữ trong thư, là ở một bức, ông viết: “Vẽ ở nước ta hiện nay như cái (hình vẽ đầu b.) vậy!!!”.
 
Bùi Quang Ngọc không có dáng vẻ của một bá tước, trừ cái nhà vườn của ông. Dáng vẻ ông đúng là một nghệ sĩ, có chút lão thực và sự tinh anh của nhà hiền triết. Nhỏ bé, gầy gò, đầu hói, tóc bạc, nhưng nhanh nhẹn như một con sóc. Cũng như Lưu Công Nhân, ông cho xem lướt những bức sơn dầu to, vẽ phong cảnh chợ búa, và những bức chân dung. Tranh nude không nhiều lắm, trong những bức đã vẽ, mẫu của ông mập, hình chắc, khỏe, mông to, có vẻ như ông thích vẻ phồn
thực. Nhưng hôm nay mẫu của ông là một cô bé người nhỏ nhắn, trẻ, vẻ mặt và nước da đồng ruộng vùng chiêm trũng. Nét khỏe khoắn lồ lộ, khiến ta dễ liên tưởng đến sự lục đục trong những đống rơm. Ông khen những đường cong, nhưng ông dành  những  lời ưu ái nhất là cho cái chùm mươn mướt, như  một búi cỏ non gió thổi dựng ngược lên.
Ký họa “erotic” mới là những bức Bùi Quang Ngọc muốn và khiến khách dừng lại lâu mà chiêm ngưỡng. Ông nhiệt tình lục lọi, tìm và giở từng bức, từng bức. Có bức ông “tốc ký” ngay sau lúc làm tình, và ông nói, “đây chính là Bùi Quang Ngọc đêm tân hôn”. Ông say mê ca ngợi điều kỳ diệu của sex, những bức ký họa sống động và tràn cảm xúc. Cái thứ cảm xúc còn nóng hổi, còn ngồn ngộn…
Tranh “erotic” của Bùi Quang Ngọc là những thân người quằn quại trong đen trắng. Chỉ bằng những nét đơn giản, và gợi, ông tạo ra những tư thế mang một vẻ tạo hình đầy nhục cảm, nhưng đầy biểu cảm thẩm mỹ. Và dường như ông muốn đi
tới tận cùng bản thể, miêu tả sự khoái lạc tới tận cùng chi tiết, như là ông muốn “giải phẫu” chúng.
Có những bức như là một “festival” bởi sự tưng bừng, sự rộn rã của các cung bậc và sắc màu cảm xúc.
Ông đã có nhiều triển lãm, và đài truyền hình đã làm chương trình về ông, nhưng “erotic” - đề tài mà ông tâm đắc và háo hức được mang ra - thì chưa ai dám, chưa thỏa mãn cho ông.
 
Nhìn cái hình hài nhỏ bé, mái tóc còn lưa thưa bạc trắng của ông lụi hụi như đắm mình vào những bức tranh erotic, không thể nghĩ đấy là ông lão ngoài bảy mươi. Tuổi của ông chỉ là tuổi thời gian, còn tuổi tâm lý, sinh lý và sự mê đắm thì hình như ông không có tuổi.
 
 
 
 
 
 
Khách Hà Nội
 
 
Nhà giáo Vượng sáng nay có khách. Suốt chiều hôm qua anh đã giục vợ con chuẩn bị đánh lại cái chậu thau rửa mặt, đổ nước đầy bể, dọn dẹp lại cửa nhà. Khách ở đây là gia đình bà Đốc Hải, bà đi cùng hai người con trai, cậu lớn ở bên Pháp về chơi sau nhiều năm xa xứ, cậu nhỏ cũng làm ăn xa, nghe đâu mãi tận Sài Gòn, nay về thăm lại ngôi làng xưa, đối với gia đình bà, thực ra cũng chẳng phải quê cha đất tổ gì, nhưng là mảnh đất của cái tình, cái nghĩa, sâu nặng một thời, trải qua cả một chặng dài, suốt hai cuộc chiến tranh.
Gọi là bà Đốc, bởi vì bà làm vợ của một ông “đốc tờ”, Hải là tên chồng. Ông mất cũng đã lâu. Nghĩ cũng lạ, quê quán ông bà ở đâu, nào ai biết, nhưng ở chốn này, từ hơn năm mươi năm nay, người ta quý bà, từ cái thời bà còn được gọi là cô. Họ quý bà như một người ruột thịt, hơn một người ruột thịt, và họ ghen tị lẫn nhau vì bà. Bà như có họ hàng với toàn thể dân làng. Một lần về, đi từ đầu làng đến cuối xóm, chốc chốc lại có người chào hỏi, lại giữ bà lại chuyện trò, mời mọc. Vài bước lại phải dừng, trò chuyện, cho quà. Họ quý bà vì bà đẹp, cũng phải. Thời trẻ bà từng là một cô gái đẹp, với một vẻ dịu hiền, e ấp của một cô gái Hà Nội “con nhà’’. Lúc luống tuổi, bà càng đẹp, vẻ đẹp sang trọng, quý phái, kiêu sa của
một bà hoàng, những bức ảnh cụ chụp từ mấy mươi năm trước nay đã hoen ố, ngả vàng, nhưng vẫn nói lên điều đó. Và bây giờ bà vẫn còn đẹp, những sợi tóc như những sợi cước trắng tinh, mượt mà, óng ả. Không có cái vẻ to béo, phốp pháp thường thấy nơi các bậc mệnh phụ phu nhân lúc về già, bà vẫn gọn gàng nhỏ nhắn, với khuôn mặt rạng rỡ, phúc hậu, làn da mịn, hồng hào, khỏe mạnh. Nhìn bà Đốc, thấy rõ ra là một người sang cả, nhưng cũng thật dễ gần. Nói chẳng quá lời, ở bà có cái gì đó rất gần với hình ảnh của một bà tiên trong truyện cổ tích. Nhưng cái chính nhất, người ta thích bà vì bà nhân từ, rộng rãi với tất cả mọi người. Nghĩ cũng lạ ithật, kiếp người như lắm lúc có nhân duyên.
 
Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, thuở còn đi học, bà từng là nữ sinh Đồng Khánh. Thế rồi cọ nữ sinh, con vị công chức nhà dây thép gặp một chàng sinh viên trường thuốc, con của một vị quan tuy không to, nhưng làm ở phủ Toàn quyền. Họ nên vợ, nên chồng, kể ra cũng là môn đăng hộ đối.
Lại nói chuyện về cái “nhân duyên’’ mà từ đó đưa gia đình ông bác sĩ quyền quý ở Hà Nội đến với cái làng nghèo, nhỏ bé bên bờ sông Nhuệ này. Chàng sinh viên trường thuốc ra trường trở thành ‘‘ Ông  Đốc’’ cưới được cô vợ trẻ đẹp, nề nếp, rồi mở phòng mạch tư, thu nhập đều đều, rồi ra đời một cậu con trai đầu lòng kháu khỉnh, ngôi nhà nhỏ bên hồ Ha Le thực sự là một tổ ấm yên lành.
Vào thời ấy, ‘‘đốc tờ’’ là một nghề cao sang lắm, giới giao tiếp của gia đình ông bà thường là những người quyền quý, có tiền. Ấy vậy, nhưng đối với bất cứ ai, ông bà đều có cái nhìn thiện cảm, đều có thể giao hòa, thân thiện, từ anh xe, chị bếp, hay một ông giáo trường tư bên nhà hàng xóm. Thế rồi, vào một đêm của tháng Mười hai năm 1946, súng nổ đì đùng trong thành phố, điện tắt, nhà cửa rung lên, trong cái rét căm căm, cả gia đình ông Đốc vội vã khăn gói rời thành phố, không phương hướng, không ý thức rõ rệt trong đầu, như một phản xạ tư nhiên, cốt sao đi cho xa, cho nhanh khỏi cái thành phố đang đầy mũi tên hòn đạn này. Nắm tay theo vợ chồng người hàng xóm đi suốt đêm, khi những tia nắng đầu tiên ló rạng thì trước mặt họ, thấy xa mờ một dải màu xanh, thanh bình, yên ắng. Chỉ có tiếng gà gáy te te, vài tiếng chó sủa rời rạc từ xa xôi vọng lại. “Làng tôi đấy’’, vợ chồng ông Đốc lặng lẽ nhìn theo ngón tay của người hàng xóm, “chừng hơn hai cây số nữa là tới làng, ông bà cứ yên chí đi cùng chúng tôi, tạm lánh ở đây ít ngày, thư thư nghe ngóng thế nào rồi tính’’.
Và họ về làng, lần đầu tiên trong đời vợ chồng ông Đốc về một làng quê, không phải là một cuộc dạo chơi, mà để sống. Một làng quê nghèo, cổ kính với những mái nhà tranh lúp xúp, xiêu vẹo, không nước máy, không đèn điện, không nhà tắm, không nhà vệ sinh… Hai vợ chồng và đứa con trai mới hơn một tuổi, cái tuổi chỉ biết ngồi trong xe đẩy hay trên sườn chị vú. Với ông bà Đốc, đây chính là những ngày đáng nhớ nhất trong đời. Ở quê, bên cạnh cái khổ sở về tiện nghi vật chất, một cam go nữa đối với ông bà Đốc chính là sự khắt khe, ngặt nghèo của những thông lệ, tập quán trong sinh hoạt, trong đời sống riêng tư. Đối với vợ chồng ông, đấy là cả một thử thách lớn. Cũng thật may, gia đình ông được xếp ở nhờ nhà người em ruột của người hàng xóm, chả biết họ rủ rỉ thế nào mà người em lại dành cho gia đình ông Đốc hẳn nửa gian nhà, lại kèm thêm cái chái, nơi vẫn chứa thóc mọi ngày, làm phòng ngủ riêng. Ở quê, chuyện khách đến nhà mà ngủ cùng nhau dù là vợ chồng cũng không được, cũng là kiêng kỵ lắm. Đằng này, không những thế, họ còn thương cảm cho gia đình ông. Nhìn cái cảnh ông lúng túng kéo từng gầu nước giếng, hay cảnh bà lúi húi rửa chân ở cầu ao, họ thường chép miệng: “Thật rõ khổ, đang là sung sướng thế”, cứ như thể những người như vợ chồng ông chỉ có quyền được sướng, được hưởng đầy đủ những tiện nghi vật chất thị thành. Không chỉ có chủ nhà, nhiều người trong làng cũng xót thương cho họ, người ta mang chuối, mang
bưởi vườn nhà đến biếu. Họ càng quý ông hơn, tôn vinh ông hơn, vì ông thường xuyên khám và phát không thuốc cho dân làng và con cái họ. Trong những ngày ấy, lần đầu tiên trong đời, vợ chồng ông Đốc có được một cách nhìn về người nhà quê, không phải qua sách vở mà bằng sự cảm nhận từ chính đời sống đầy vẻ mới lạ, ngỡ ngàng, và ông bà trở nên gắn bó dần. Gia đình đã sống từ nhiều đời ở Hà Nội, không quê quán, nay lần đầu tiên ông bà thấy có một nơi chốn mà ở đấy đã cảm nhận được một điều gì đó khác lạ lắm trong tình cảm, trong tâm trạng.
Không chỉ là ít ngày như lúc đầu dự tính, gia đình ông Đốc trú tại ngôi làng đó đến mấy tháng sau. Chẳng biết thế nào gia đình ông không kéo nhau về Hà Nội như bao gia đình tản cư khác, mà lại gồng gánh nhau lên Việt Bắc! Nói là “gồng gánh” bởi vì hôm lên đường dân làng cử hằn một lực điền gánh con ông bà và đồ đạc. Trong hai cái thúng lủng lẳng ở hai đầu, một bên là tay nải áo quần, còn ở đầu kia là thằng bé con hơn một tuổi, ôm quả bưởi trong lòng, ngơ ngác nhìn bố mẹ nó khóc sụt sùi, và bao nhiêu người khác nữa cũng khóc lóc, bịn rịn chia tay.
Một thời gian sau không đủ sức chịu đựng thêm cuộc sống rừng rú, quá khả năng thích ứng với họ, vợ chồng ông lại bồng bế con nhỏ về thành, mở
Lại phòng mạch tư. Vào những năm tháng ấy khắp Hà Nội nhan nhản những tốp lính lê dương, đen, trắng, chật kín các hộp  đêm, tiệm nhảy   nhà chứa. Phòng mạch riêng của ông Đốc nằm trước cửa một trại bảo an, các chú lính đi chơi về đổ bệnh, âm thầm lui tới nhờ ông, và cứ thế ông Đốc giàu lên nhanh chóng. Đến lúc ta tiếp quản Thủ đô, ông đóng cửa phòng mạch, ông đi làm cho Nhà nước, ông là nhân sĩ, ông vào “mặt trận”, có năm ông trúng đại biểu Quốc hội. Nhiều biệt thự ông tậu được thời Tây, ông hiến cả, chỉ giữ lại được một phần, gồm vài phòng làm chỗ ở cho gia đình, trong một ngôi biệt thự nằm sâu tận cuối đường ở một  con phố nhỏ. Gia đình ông vẫn giao tiếp, vẫn có những người thuộc giới cũ của ông lui tới. Cửa nhà ông thấy ra vào nhiều khách khứa mà nhìn họ, từ khuôn mặt cho đến cách đi đứng, ăn vận, người ta đoán biết ngay đấy là những “ông Thông, bà Phán” cũ, là những vị luật sư, dược sĩ, hay công chức lưu dung từ thời Tây. Ấy vậy nhưng lâu lâu, những người hàng xóm lại trông thấy, lúc thì ông nhà quê đen đủi, mặt xương xương, chân đi đất, khi lại là một chị, một bà, vẻ quê quê, ngơ ngác, thập thò trước cổng. Lại có lần thấy một bà chít khăn mỏ quạ, gánh cả một giành khoai đầy, trên đầu quang gánh lại thấy có cái bị, thò ra hai cổ con gà. Ấy là những người ở làng, cũng thường xuyên lắm, khi thì để khám bệnh, lúc ra chơi. Tiếng là đã đóng cửa phòng mạch, nhưng nhà ông vẫn còn nhiều bệnh nhân lui tới, những người ở quê, ai đau ốm gì, họ nghĩ về ông trước, hỏi đến bệnh viện, họ ra ông Đốc, như một thói quen. Khách ở quê ra được ông bà tiếp đón nhiệt tình, niềm nở.
Có người chả đau ốm gì, cũng thích ra chơi, như ra chơi với những người ruột thịt, và ông bà cũng đón tiếp họ, mời mọc họ như với những người ruột thịt. Dưới chế độ mới, đành rằng cũng là đơn giản và luộm thuộm đi nhiều, nhưng so với nhiều gia đình khác
ở Hà Nội lúc đó, trong gia đình ông Đốc vẫn còn phảng phất ít nhiều không khí của thời trước, nghĩa là còn sang lắm, các phòng ngủ có giường đệm, có “ga” trải giường, đến bữa ăn, bàn trải khăn trắng. Lúc đầu còn rụt rè, nhưng sau mãi thành quen, như cơm bữa, rất tự nhiên, họ ở lại, họ ăn uống, thậm chí nhiều hôm đông quá, có người còn được ngủ cùng bà, chung chăn, chung màn với bà. Mọi người trong nhà ai cũng lạ, sao bà chẳng ngại gì cả cái mùi thôn dã của nhà quê nhỉ, bà chỉ hay nhắc khách phải rửa chân mỗi lúc lên giường. Thỉnh thoảng lại có ông còn vác cả đơn kiện đòi lại nhà thờ họ, nhờ ông Đốc, với tư cách là đại biểu Quốc hội, chuyển lên trung ương.
Thế rồi đùng một cái, đạn lại nổ, bom lại rơi, đến thời chống Mỹ gia đình ông Đốc một lần nữa lại dẫn con cái về làng. Và lần này, như mọi chuyến “ về quê” thực sự! Trong nỗi lo chiến cuộc, cả nhà ông như có một điều gì đó vui vui, cái vui của một người được trở về nhà, về một nơi như mình đã được sinh ra, được cưu mang, được kính nể. Gửi luôn cậu út ở nhà quê, hằng ngày đi học trường làng, ông bà Đốc phải trở ra Hà Nội, còn phải đi làm, thỉnh thoảng mới về vào những ngày nghỉ, hoặc tranh thủ sau một ca trực, khi bằng xe ô tô,     lúc xe đạp. Những lần như thế, trong hành lý của ông bà, bên cạnh dầu, mắm, gạo, mì... tiếp tế cho con, bao giờ ông bà cũng chuẩn bị cả quà cho làng xóm, thường là những chiếc bánh mì mậu dịch, mua từ tem phiếu theo tiêu chuẩn lương thực hằng tháng, hay những gói kẹo loại hai mà vợ chồng ông thường phải xếp hàng nhiều lần mới đủ. Họ mừng, họ vui, họ quý hóa và vô cùng cảm kích. Họ giành nhau mời ông bà Đốc lại nhà, ông bà không đi hết, họ giận, họ dỗi. Vợ chồng ông cứ phải chia ra, mỗi người đến một nơi, sợ mang tiếng khinh người. Cái trận bom rải thảm năm 1972, loa truyền thanh xã loan tin tàu bay Mỹ bỏ bom gần nơi bà Đốc làm việc, có bà chạy khắp làng, khóc hu hu, lo bà Đốc chết. Ngày ông mất, đến hơn nửa làng muốn ra đưa, bàn đi tính lại, đông như thế, chỗ đâu người ta tiếp đãi, bèn cử đại biểu, dễ cũng đến hơn ba chục người.
 
Ấy  vậy, mà đã mấy mươi năm…
 
Chuyến về  làng hôm nay, bà đã già và yếu đi nhiều lắm, nhưng vẫn cố về. Bà hiểu rằng, với mình thời gian còn lại không nhiều, phải về để tạ lễ với làng, để đáp lại tấm lòng của bà con làng xóm, tuy không ruột rà, máu mủ,  nhưng lại có một sợi dây vô hình trong trái tim, trong tâm khảm, nó níu kéo, nó gắn chặt vào với họ, khăng khít keo sơn. Cũng nhân thể dẫn hai người con ở xa về chơi, cho chúng thăm lại cái nơi đã in đậm vào ký ức tuổ thơ và đã để lại trong tâm thức không ít nỗi hoài cảm, mà bây giờ khi giàu có, đầy đủ một cuộc sống vật chất rồi, chúng lại càng cảm thấy trở nên da diết. Và còn một điều sâu thẳm trong lòng bà chưa nói với ai, bà muốn tìm một chỗ nằm vĩnh hằng trong lòng mảnh đất mỗi năm có hai vụ chiêm mùa, với hương thơm ngào ngạt của mùa gặt hái tháng năm, tháng mười. Bà muốn  được  yên  nghỉ  trong  lòng  những người dân quê, chân lấm tay bùn, tưởng chừng như với bà, họ thuộc một tầng lớp khác, nhưng bây giờ bà cảm thấy mình như đã thuộc về họ. Mỗi lần đi thăm ông, nhìn chỗ ông nằm, tuy cũng là khu vực đặc biệt trong nghĩa trang Văn Điển, những dãy mộ xi măng thẳng hàng tăm tắp, theo tiêu chuẩn, trong tương lai bà cũng có chỗ nằm chung với ông ở đấy, bà cứ thấy sờ sợ và buồn.
Ở, chỗ ấy, bà như thấy có một không khí gì lành lạnh, thật ảm đạm, u ám, xa xôi với cuộc sống, với con người. Bà ao ước được nằm ở một nơi, thật gần gũi với cuộc đời trần thế, nơi hằng ngày có những đứa trẻ chăn trâu, chúng ngồi trên mộ bà, thả diều, thổi sáo, hay những người dân quê ngày hai buổi ra đồng, cày cấy, nhổ cỏ,  gieo mạ… vừa làm họ vừa nói chuyện với nhau, bà sẽ được  nghe những tiếng chuyện trò, bà sẽ cảm thấy như ngày nào cũng có người đến thăm mình vậy.
Còn mải mê với những ý nghĩ miên man ấy, xe đã đến đầu làng, từng  đàn trẻ con chân đất chạy theo xe, reo hò ầm ĩ. Có đứa còn liều mạng nhảy lên cả thùng xe đằng sau, khiến bà và hai cậu con
trai phải xuống xe, cuốc bộ. Mới đến đầu chợ, trước vẻ đổi thay đến không thể nào nhận ra, ba mẹ con còn đang ngỡ ngàng, lớ ngớ cố tìm một lối xưa quen thuộc, thì một bàn tay đập mạnh vào vai cậu lớn: “Cậu Nâu hả, ối giời ôi, trắng cả tóc rồi!”. Nhìn sang, thì ra là giáo Vượng. “Ồ bác Vượng, gớm, chả nhận ra được bác tẹo nào!” - Hùng ngỡ ngàng reo lên.
 
Nâu là tên của cậu cả Hùng, được bà con thôn xóm đặt cho từ ngày đầu tiên chạy loạn về làng, đấy là tên của ngôi làng đã cưu mang, gia đình cậu, từ hơn năm mươi năm trước, dạo tản cư.
 
“Bà đã về” - Giáo Vượng chào bà Đốc, rồi với giọng hồ hởi: “Từ chiều hôm qua nghe ở Hà Nội điện về, chúng cháu rập rình từ sáng, đi vào, đi ra, tưởng xe về sớm”. Miệng nói, tay giằng lấy những túi, những bọc lỉnh kỉnh trên tay bà Đốc và hai cậu con trai hăm hở.
Giáo Vượng mới ngoài năm mươi, cũng trạc cậu cả Hùng, nhưng tóc bạc nhiều, lại rụng gần hết, má hóp, răng lại móm, thành ra nom như ông lão bảy mươi. Anh là con trai trưởng trong gia đình năm nào đã cho ông bà Đốc ở nhờ. Bố anh, ông Đồ, chính là em ruột bà hàn       g xóm ngoài Hà Nội của ông bà Đốc năm chạy giặc ấy.
Thấm thoát đã mấy chục năm, họ bắt đầu như thế, hết tránh đạn Tây, rồi bom Mỹ, rồi nên thân thiết, rồi thành như ruột thịt từ bao giờ chẳng rõ. Chỉ biết lần nào về quê, ông bà Đốc cũng coi nhà
ông bà Đồ, bố mẹ anh giáo Vượng như chỗ ruột thịt, mỗi lúc giỗ chạp, thắp nén hương lên bàn thờ nhà ông Đồ, ông bà Đốc cảm giác như thắp lên bàn thờ của chính họ tộc, tổ tiên mình.
Phút chốc đã quây kín lại thành một vòng người, chả biết từ đâu tin loan đi nhanh thế: Bà Đốc lại về làng! Người như ở ngoài đồng về, vai vác cày, trên mặt còn dính lại những vết bùn, có bà lại như dang dở nồi cám lợn đang sôi, cũng tất tưởi chạy ra. Mấy đứa trẻ quần đùi, chân đất, tóc đỏ râu ngô, mũi thò lò, lấp ló sau lưng mẹ, nhìn khách Hà Nội, vẻ tò mò, sợ sệt. Cứ lào xào, mỗi người một ý, tranh nhau hẹn, khó khăn mãi, mấy mẹ con bà Đốc mới thoát được ra.
“Tôi xin cảm ơn các ông, các bà, các anh, các chị! Xin cho tôi được về chỗ bác Vượng đây, nơi có bàn thờ các cụ trước, rồi buổi chiều, sẽ lại nhà các ông, các bà, các anh , các chị” - dùng dằng, đôi co
Mãi, đám đông mới tản ra được.
 
Cảnh vật thay đổi đến ngỡ ngàng, hình ảnh làng quê yên ắng, với lũy tre, cầu ao, đống rơm, đống rạ, ăm ắp những kỷ niệm trong lòng hai cậu bé năm nào, khi ở xa cứ nôn nao một nỗi hoài cảm, sâu lắng, mà nay sao khác quá thế này ? Vườn tre xưa bị chặt, bờ ao hôm nào ngồi câu cá mất rồi, ao bị lấp, nhà cửa chen chúc xây lên, đến cái tiếng chó sủa râm ran đầu ngõ cũng im ắng dần… Ngôi nhà xưa quen thuộc, có cái giại ngoài hè, mảnh sân phơi thóc, cây Muỗng bên bờ ao, cạnh bể nước năm nào cũng không còn nữa. Ông bà Đồ mất đi, ngôi nhà cũ được chia thành mấy phần, cho  mấy anh em, nay lổn nhổn mọc lên mấy căn nhà gạch, nhà gác mái bằng, không một dấu tích ngày xưa.
 
“Quê mình thay đổi quá, lâu ngày về gặp lại các bác, thấy mừng. Nhưng nhìn lại cảnh làng, chẳng hiểu sao, chúng em cứ thấy buồn buồn …’’ cậu cả Hùng lên tiếng.
 
“Đúng đấy, tôi hiểu cái buồn của chú, buồn là phải, với các chú, quê là hình ảnh, là ký ức, mà nay…”  - Hớp một ngụm nước  chè, hít hít một hơi thuốc lào thật sâu, mắt lim dim, thở ra khoan khoái, giáo Vượng nói tiếp: “Các chú đi xa lâu ngày, nhưng cũng có hiểu cho người ở làng, từ lâu đời rồi, họ khổ, họ nhìn thành thị bây giờ, họ càng thấy là mình khổ hơn, cho nên…”.
 
Lời giáo Vượng đã bị cắt ngang bởi mâm cơm đã được bê vào. Chị Nhàn là bà chị cả trong nhà, từ khi khách tới cứ lúi húi dưới bếp cùng cô em dâu, đi lên đon đả: “Bà và hai cậu rửa mặt, rồi xơi cơm”.
 
Nhìn ra hè, đã thấy hai thau nước đầy, lại có bánh xà phòng thơm xinh xinh bên cạnh. Đấy là sự chuẩn bị của chị Nhàn. Là chị cả “thoát ly’’ từ sớm, lên huyện, rồi ra tỉnh làm công nhân, chị cũng  tỏ ra rành rẽ cái “cung cách” lễ tân của người Hà Nội, cẩn thận, ý tứ. Sống ngoài  tỉnh, nhưng nghe tin bà và hai cậu về chơi, chị phải về từ chiều hôm qua để lo tiếp đón.
“Xem nào, bày vẽ những thứ gì thế này? Chết, sao thịt thà nhiều thế, lại cả giò chả nữa kia à, vẽ quá !’’ Bà Đốc vừa mở lồng bàn, vừa trách yêu cô cháu gái.
“Đấy, con đã bảo rồi, bà và các cậu thèm vào thịt, vào giò. Chị con lại cứ đòi lặn lội ra tận chợ Đồng Xuân mua chả. Những thức ấy, ngoài Hà Nội có mà chán ngấy. Con biết rồi, cứ phải gạo quê, gà quê, muối tiêu, chanh ớt, thế là đủ, là thế nào các cậu chả xuýt xoa, có phỏng?” - Giáo Vượng vẻ đắc ý, nhìn về phía hai cậu, đầu gật gật.
 
“Phải rồi, phải rồi, lại cả bia chai nữa à? Ra là bia tỉnh nhà sản xuất hả, thế thì nếm thử cái hương vị quê ta, chứ nếu không, cứ là xin bác vài chén rượu gạo”. Cậu út vừa nói, vừa cởi giày, leo lên tấm
phản có mâm cơm, vẻ đầy háo hức.
Chợt cảm thấy như thiếu vắng thế nào, nhìn quanh quẩn một lượt, bà Đốc hỏi: “Thế lũ trẻ và bu chúng nó đâu, không ra ăn luôn thể?”. Ra là lũ trẻ lít nhít bị bố mẹ lùa vào phòng trong, nơi chứa thóc, đứa đứng, đứa ngồi, lố nhố nhìn ra.
“Không được, không được, ra cả đây, sao anh gia trưởng thế, anh Vượng!”. Bà Đốc xăm xăm bước vào, lôi tuồn tuột từng đứa một ra ngoài, ấn lên tấm phản gỗ : “Ngồi xuống, ngồi xuống đây!”. Lũ trẻ len lén làm theo, mắt lấm lét nhìn cha mẹ, vẻ sợ sệt. Bà Đốc tiếp:
“Anh có học mà còn phong kiến thế, chả trách!”.
Chị Nhàn cứ tất tưởi, gốc quê nhưng cũng đã sống ở thành phố nhiều năm, người Hà Nội họ thèm gì, chị biết cả. Song chị cứ nghĩ, chả mấy khi họ là khách mình, lại quyền quý thế, mà mâm cơm cứ trống trải, cứ trơ ra, hai ba món, đĩa thịt luộc chặt to, bát canh su hào nấu với nước xuýt, nó cứ thế nào, nó cứ thiếu thiếu làm sao. Luôn lo mình thất lễ, dường như cái chất “khách khí tỉnh thành” đã nhiễm vào con người chị. Chị chỉ ngồi mà ít ăn, hết gắp cho người nọ, lại mời người kia.
 Chợt giáo Vượng lên tiếng, giọng đùa đùa, mà nghe như có gì nghèn nghẹn: “Nói bà và hai cậu bỏ qua cho, chứ người thành thị bây giờ ích kỷ và ang ác… thế nào, cứ thích lấy cái khổ của người nhà quê làm cái sướng cho mình. Thí dụ như các bác thích ăn   gà quê, gạo quê, rồi hay than là gà quê bây giờ không ngon như trước nữa, nó dai. Gạo quê bây giờ nó không dẻo như trước nữa, nó bở… Rặt các cái thứ chỉ được là cao sản. Làm gì còn được cái giống gà, giống gạo ngày xưa, vì sản lượng nó ra ít lắm ! Phải cao sản chứ. Nói giả dụ, không cao sản, chúng em lấy gì mà bán cho đủ các chi phí mà các bác tỉnh thành mang về dụ dân quê: nào xe máy      nào ti vi, nào tủ lạnh, lại cả karaoke…”.
 
Cậu em tủm tỉm đế vào: “Lại còn cái khoản gái quê nữa chứ!”.
Được lời, giáo Vượng hả hê: “Ừ, bao nhiêu em gái quê ra tỉnh các bác tuốt cả. Có nhiều ông giày tây, xe máy về làng, nhìn các cháu mà nuốt nước bọt ừng ực”. Lại tợp một ngụm rượu, gắp một gắp, chưa và ngay, giáo Vượng nói tiếp: “Hôm nọ có ông viết bài trên báo, bảo rằng ở nhà quê bây giờ, ăng ten ti vi mọc lên tua tủa trên các nóc nhà mái bằng, trên cả các ngọn tre, làm hỏng cảnh quan làng xóm. Rõ thật lạ cái nhà ông ấy, thế không có nó thì cái ánh sáng văn minh từ các bác đến với dân quê chúng em theo cái lối nào nhỉ? Lại còn bảo chúng em không nên xây nhà bê tông, nó xấu làng, mà ở nhà gì thì chả chỉ ra được. Cứ theo cách nghĩ của các bác trên tỉnh bây giờ, để thỏa mãn được cái thú, cái ý thích lãng mạn,  để gìn giữ những gì đối với các bác là quý báu, là cổ kính, là vẻ đẹp hồn quê, thì ra là ở nhà quê chúng em cứ phải khổ, phải chân lấm tay bùn, phải sống với những gì người dân quê đã sống với nó từ hàng trăm năm rồi”.
 
 
Nghe giáo Vượng thao thao, cậu cả Hùng cứ ngồi chống đũa, mặt lộ vẻ mông lung đầy nét đăm chiêu, tư lự. Sống ở nước ngoài nhiều năm, là trí thức, lại đa cảm, với cậu, nhà quê là những kỷ
niệm ngọt ngào, là hình ảnh mộc mạc bình dị, đầy chất thơ. Cậu chỉ muốn giữ gìn mãi hình ảnh con đường làng gồ ghề, lầy lội, ngập ngụa đầy phân bò, phân trâu. Mái nhà tranh, cây đa, giếng nước, với cậu tất cả đều đẹp, đều ấm áp một tình cảm chan chứa yêu thương. Thế mà giờ đây, cậu hiểu, trong tâm tư họ, những người dân quê, đấy là nỗi tủi cực, là cái kiếp nghèo, là cái điều phải nhanh nhanh phá bỏ.
 
“Nhưng tệ nhất là ở ngoài Hà Nội, người ta hay mang giọng của người nhà quê, mang cái ngọng nghịu, ngờ nghệch của người nhà quê ra làm tiếng cười trên sân khấu, phim ảnh, để mua vui, như thể trên đời nay không còn gì buồn cười hơn thế nữa!” - Rồi giọng giáo Vượng như chùng xuống: “Ấy là con nói về những người Hà Nội mới, mà trong số đó, không ít những người mà bản thân họ hôm nào và cha mẹ họ hôm nay còn lội bì bõm trên những cánh đồng làng. Sao mà họ thị thành nhanh thế! Họ ra tỉnh, họ giàu nhanh, no xôi, chán chè, rửng mỡ, vẽ chuyện, thích ăn cơm niêu, canh cua, cà muối… ra điều sướng quá, đủ quá rồi, chả còn biết thiết gì hơn nữa! Như nhà ta đây, con biết chứ, từ ngày nào đến giờ là người Hà Nội thật, Hà Nội gốc, lại giàu có thế, mà có bao giờ ra giọng gì đâu. Con vẫn nhớ cái ngày u con gánh một gánh khoai ra Hà Nội biếu ông bà, ngồi nhìn ông con bóc và cầm củ khoai luộc ăn một cách ngon lành, thích thú thật sự, con muốn rơi nước mắt”.
 
Giáo Vượng trước học trung cấp sư phạm, vốn con ông thầy Đồ ngày xưa có làm thư ký ở làng, nên gọi là “ông Thư”. Đang học dở chừng, anh đi bộ đội, vào tận chiến trường Tây Ninh. Năm cậu út sơ tán về, anh đi vắng, cậu bé như một niềm vui nho nhỏ trong gia đình, cái bi bô của cậu phần nào lấp đi sự nhớ nhung, lo lắng của bà Đồ cho đứa con ở chiến trường lửa đạn. Hòa bình về học lại, rồi về dạy ở trường cấp hai, môn văn, dạy thôn dưới. Anh cũng được đi đó đi đây, có học, lại có “gien” đồ nho, thêm sự nhạy cảm của người đi về đường văn học, nên nói năng sắc sảo, nhưng vẫn có tình. Vợ cũng là giáo viên cấp một, gia đình anh sống một cuộc sống nông thôn nửa thành thị, nghĩa là có lương, nhưng lại tính trên cơ sở quy ra thóc. Đi làm ăn lương Nhà nước nhưng nhà vẫn có ruộng, vừa tự làm, vừa cấy rẽ với người ta. Trong nhà vẫn cái xeđạp cũ, nhưng cũng được cái ti vi nhỏ cho mấy mẹ con, nhà xây trên đất do ông bà để lại, cũng chỉ mái ngói, một tầng. Dạo xây nhà, bà Đốc cũng bảo cậu út giúp cho một chút, gọi là… Mỗi lần ra Hà Nội, anh đều lại thăm ông bà, những lúc khó khăn hay nhà có việc, bà lại cho tiền hay tí chút áo quần cho trẻ nhỏ, tuy thực ra anh cũng chẳng có ý xin xỏ bao giờ. Những lúc ấy, anh vui vẻ nhận, lòng rưng rưng.  Tuy khổ, nhưng lúc nào anh cũng tĩnh tại, bình thản, có tư cách, luôn tỏ ra biết người, biết mình. Người như thế, chả trách ăn nói cứ như xoáy vào gan, vào ruột người ta.
 
Có tiếng chó sủa, tiếng chiếc cổng gỗ cọt kẹt vang lên, mọi người nhìn ra. Bước vào là một ông già, tay chống gậy, vừa nói, vừa thở:“Bà Đốc đâu rồi, năm nào cũng mong”. Bà Đốc vội chạy ra hè, đon
đả: “Dạ vâng, chào cụ, cụ lại chơi. Tôi thật không phải, lẽ ra phải sang chào cụ trước, đằng này…”.
“Thôi thôi, bà về được thế này là quý hóa rồi, tấm lòng của bà ở cái làng này ai mà không biết, bà như người chôn rau cắt rốn ở đây’’.
Bà Đốc đỡ ông cụ lên thềm, vào nhà, cũng chỉ là chỗ hàng xóm, nào có họ hàng gì.
Chuyện vãn, chai rượu vơi quá nửa, mâm cơm chỉ còn đĩa giò “chợ Đông Xuân” là gần như nguyên vẹn, nồi cơm gạo mới bay vèo. Trời ngả sang chiều, nắng đã nhạt, bà Đốc muốn dẫn hai cậu đi thăm mấy gia đình khi sáng đã gặp, đã hẹn ngoài chợ đầu xóm. Rồi còn ra thăm mộ ông bà Đồ, cũng là tìm loanh quanh đâu đó một nơi… Trên đường đi đến mỗi nhà, những con đường nhỏ vòng vèo trong xóm như những thước phim quay chậm, từng cảnh, từng cảnh, lần lượt đi qua… cái giếng nước xóm chùa, cây mít nhà ông Quảng Trương, gốc ổi nhà chị Bống. Bà Đốc cứ vừa đi vừa chỉ, chỗ này, chỗ này… Cậu cả Hùng tư lự, lâu lâu lại thốt lên tiếng xuýt xoa, đôi lúc khuôn mặt như được giãn ra, lộ vẻ vui sướng như chợt tìm ra một báu vật đã bị đánh mất lâu ngày. Cậu út mặt ít biểu cảm, đi trong im lặng, có vẻ thanh thản, nhẹ nhõm trong lòng. Hình ảnh ba mẹ con bà Đốc, lịch sự, sạch sẽ, chải chuốt, tinh tươm, như nổi bật lên trên cái nền tương phản, là khung cảnh con đường làng gập ghềnh, cũ kỹ. Xóm nhỏ xiêu vẹo những mái nhà lúp xúp, những mảng tường vôi bong vỡ.
“Ôi bà, hai cậu!”. Tiếng một phụ nữ cất lên, một người đàn bà quần xắn cao quá đầu gối, tất tưởi chạy ra từ cánh cổng một căn nhà, tóc vương mấy cọng rơm vàng. Đây là chị Tình, họ hàng với chị Nhàn và anh giáo Vượng. Dạo bé mỗi lúc về làng, hai cậu suốt ngày sang nhà chị trèo lên cây ổi bên bờ ao, rồi nhảy tũm xuống nước. Sướng lắm. Nhớ ngày ấy ở nhà quê không có cầu tiêu, cứ phải ra đồng. Còn nhỏ, nhiều lúc đêm hôm, lại sợ ma, thành ra phải nhịn. Nhiều lần đến chơi, chị Tình hay phải dẫn đi, vậy mà…
 
Lôi bằng được ba mẹ con bà Đốc vào nhà, quáng quàng thu dọn đống chăn chiếu lộn xộn, đống bát đĩa ngổn ngang trên bàn, chị vừa làm, vừa nói: “Chả mấy khi bà và hai cậu về, phải ở lại ăn với
nhà con bữa cơm rau”.
Bà Đốc vội xua tay: “Thôi thôi, có bình nước chè tươi nào thì mang nhanh ra đây, chiều tôi phải ra Hà Nội ngay rồi’’. Biết là chả giữ được , chị Tình giọng tiếc rẻ: “Thế thì bà và hai cậu ngồi chơi, con xuống đun quàng ấm nước”. Đảo quanh một lượt khắp gian nhà, bà Đốc gật gật đầu tỏ vẻ bằng lòng, xèm ra nhà này khá, bộ trường kỷ bóng lộn đặt trước bàn  thờ, lại có cả một cái tủ chè, trên thấy để ti vi, đầu máy.
 
Chị Tình từ dưới bếp đi lên, mặt còn đang đỏ hồng vì bếp lửa, bà Đốc ra giọng thăm dò: “Nhìn cửa nhà anh chị, ra là khá giả quá rồi?”.
“Chả giấu gì bà và hai cậu, con vẫn ở nhà với mấy sào ruộng, nhưng bố cháu sau cái đận bán đi cái xe thồ, chắt bóp mãi rồi cũng ra cái lò gạch, may đúng vào lúc người ta đua nhau xây nhà gạch mái bằng, thành ra …’’.
Vừa chế nước vào bình, chị Tình khoe tiếp, giọng đầy phấn khích và kiêu hãnh : “Hai cậu lần này về phải mừng cho chị, tháng trước mới khánh thành cái toa lét’’. Cậu út trêu chị, hỏi đùa: “Thế cái toa
lét là gì hả chị?”.
“Cậu ở thành phố  mà không biết à? Nó là cái cầu tiêu đấy, có lót cả gạch men xung quanh, sạch lắm, tẹo nữa trước khi về thế nào các cậu cũng phải thử cái toa lét nhà chị, nhớ hôm nào cứ phải ra đồng, rõ  khổ!”.
 
Chiều xuống thật nhanh, những tia nắng cuối ngày đã tắt hẳn trên cánh đồng làng, trời đột nhiên trở gió, se lạnh. Trong ánh sáng chập choạng của buổi hoàng hôn, mẹ con bà Đốc đứng dậy vái tạ trước hai ngôi mộ của ông bà Đồ, rồi lặng lẽ trở về. Trong cái ảm đạm của một buổi chiều như thế, thường ít ai tránh khỏi được nỗi buồn, hay một nỗi ưu tư nào đấy, nhất là đối với một người già. Nhưng mà không phải thế, trên khuôn mặt tuổi tác của mình, bà Đốc lại hiển hiện một vẻ rất vui, niềm vui thầm kín trong lòng mà bà chưa muốn nói, chưa muốn chia sẻ cùng ai. Bà đã nhắm được một chỗ cho mình, và còn ông nữa, một chốn an nghỉ vĩnh hằng trên cánh đồng làng. Bà sẽ đưa ông Đốc về đây, yên nghỉ cùng bà.  Vợ chồng bà với vợ chồng ông Đồ sẽ được cạnh nhau, bên nhau hàng xóm, ở cái rẻo đất cao, trên cái gò thật đẹp, bao quanh là cánh đồng, những thửa ruộng rì rào gió thổi, những đứa trẻ chăn trâu, chăn bò…
Lúc tiễn bà ra xe, chị em nhà giáo Vượng mắt ngân ngấn nước. Họ cứ ám ảnh một ý nghĩ trong lòng, liệu lần trở về của bà lần này có là lần cuối không ?  Với mỗi người già, bất kỳ cuộc chia tay nào đều có thể là cuộc chia tay cuối cùng.
“Bà cố giữ gìn sức khỏe, sang năm lại về”. Giọng chị Nhàn như nghẹn lại. Bà Đốc mặt tươi tỉnh, cười cười, tay đập đập lên vai cô cháu: ‘‘ Yên chí, yên chí, cô còn về, còn về, và sẽ về đây mãi mãi”.
Hè Nhâm Ngọ 2002




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.09.2021 22:45:51 bởi Ct.Ly>
Rờn rợn rừng chiều
 
 
Ngót hai giờ xe chạy thì lên đến đây, một điểm nào đó lưng chừng dải Trường Sơn mé phía đông có tên là Mương Đen thuộc huyện Kon Klong, tỉnh Kon Tum. Già nửa quãng đường đầy ổ trâu với cát bụi mịt mù vì đường hỏng đang sửa, anh taxi đã cảnh báo rồi nhưng cứ đi. Lên núi mà không đến với rừng thì biết làm gì!
 
“Rừng ơi, ta đã về đây”, một đoạn lời trong ca khúc từ hơn 50 năm trước văng vẳng trong lòng. “Bài ca người thợ rừng”(*) thời ấy ca cái gì ấy nhỉ? Hình như không phải ngợi ca cảnh đẹp của rừng mà là ca ngợi người thợ rừng, tinh thần lao động quật cường của người đi khai phá. Ừ nhỉ, “khai” và “phá” rừng đã manh nha tự thuở nào!
Chiều mọng hơi nước, mây vờn quanh. Con đường đất đỏ oằn lên với những vết xe hạng nặng. May mà nhờ có mây, tất cả đã mờ nhòe giấu đi phần nào sự xơ xác đã lộ diện từ khúc rừng đầu tiên mà nhờ nó đã nhẹ đi phần nào sự nhức mỏi của đoạn đường xóc tung người hơn tiếng đồng hồ vừa chạy qua.
Chiều hoang vắng quá. Rừng như vừa trải qua một trận bom trên dải Trường Sơn năm nào.
 
Tan nát.
Những tán cây xơ xác, những vạt rừng gãy đổ, những thân cây khúc gỗ nằm ngổn ngang như những xác chết.
Rừng im phăng phắc. Không một tiếng chim kêu.
Con chim thôi nhớ núi, con thú chả còn rừng mà trú ngụ. Và cả con người nữa, họ đang bị đẩy đi đâu?
Không phải do lâm tặc, hình như người ta đang “giải phóng rừng” để lấy mặt bằng xây dựng tiếp những dự án các “khu du lịch sinh thái”. Vì nhiều lắm xung quanh, các dự án dở dang do hết tiền, các dự án đã xong đang ế khách, những ngôi biệt thự dang dở hoang tàn. Một vài chỗ leo lét đèn kinh doanh thoi thóp thấy để biển “Xông hơi - Massage”.
Đến đây vì cái thác nước có tên Pa Sỹ loanh quanh tìm mãi mới thấy. Mái lá cổng khu du lịch có cờ xanh, cờ đỏ tung bay và một lỗ thủng trên mái có từ bao giờ như một dấu chấm sau chữ “mặc kệ”. Ở đây thì còn nguyên màu xanh, thứ màu xanh của một khu rừng tuyền cây non. Cái người ta bám vào là thác nước.
Thôi cũng may.
Khu du lịch chả có ai. “Ai” ở đây ý nói là khách. Chứ người thì vẫn có hai chú bán vé vào cổng. Vào bên trong thêm một người đàn bà đang lụi hụi nấu gì trong một cái quán lụp xụp. Ra là chỗ nấu ăn cho khách nào đặt trước, và có bán cà phê.
Nhâm nhi ly cà phê nhìn rừng non xanh lá, nhìn thác nước phía xa mà tai chỉ nghe tiếng nồi gì trên bếp lửa sôi lục bục. Hỏi nấu gì, chị ấy bảo “nấu cháo lợn rừng”. Ủa, có bán “cháo lợn rừng” hả? Không, thì ra là nấu cháo cho “lợn rừng sơ sinh” ăn. Lợn rừng mà nuôi ở nhà. Thế chắc phải “rừng” đời “F mấy” rồi. Đấy, người ta vẫn cứ phải nâng niu, trân trọng và quí hóa chữ “rừng” đến thế. Rừng còn đâu mà có chỗ cho lợn rừng trú ngụ. Cái món thịt “lợn rừng” trong nhà hàng đặc sản là thứ này.
Dù thế nào thì ở đây, hoàng hôn xuống thì rừng vẫn đẹp. Những bóng cây in hình dáng trên nền trời nhập nhoạng, ưng ửng hồng như một bàn tay với những ngón tay đầy ma mị.
Nhưng cứ thấy ứ lên một cảm giác rờn rợn trong lòng.
Chú thích :
[1] Tên một ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Người đàn bà
bên bức tường gạch cũ


 
Khoảng 40 năm trước, đọc trong “Ngày phán xử cuối cùng” của B. Dimitrova, nữ văn sĩ Bungari, gặp một câu mà cứ ấn tượng mãi: “Tôi đã bay nửa vòng trái đất để được gặp một nụ cười”. Cái “nụ cười” ấy là nụ cười bất ngờ lóe lên trên khuôn mặt khắc khổ của một người đàn bà Việt Nam trong chiến tranh. Giữa những ngày Hà Nội chìm trong bom đạn, phố xá vắng tanh, một “thành phố đi vắng” vì chiến tranh, chắc đến hai phần ba dân cư đã về nơi sơ tán, chỉ những người có nhiệm vụ thời chiến mới bám trụ ở lại, trẻ con, người già càng tuyệt hiếm. Từ khách sạn Thống Nhất (là Metropole bây giờ), Blaga thả bộ trên phố Ngô Quyền vào một buổi sáng sớm, trong cái vắng lặng lúc nắng chưa lên, từ xa bà văn sĩ chú ý tới một thân hình nhỏ nhoi như một cái chấm dần hiện đến, là một cụ bà lẫm chẫm cúi đầu bước từng bước một, một thân hình queo quắt, cứ thế vừa đi vừa như tìm một vật gì dưới đất. Khi đến gần, trước người phụ nữ nước ngoài xa lạ, bất ngờ cụ bà ngẩng mặt lên, và bất ngờ hơn là trên khuôn mặt héo khô ấy nở một nụ cười, một nụ cười vô thanh, không cần ngôn ngữ.
Ừ, dù nước mắt hay nụ cười thì cũng không cần phiên dịch. Và sự im lặng cũng thế.
Nhất là sự im lặng của người già.
Rất nhiều lần nhìn hình ảnh “bà còng” chống gậy trên con đường làng, hay ở góc xa xa cuối phố, thấy rất cô đơn. Cứ thấy chống chếnh giữa niềm thương cảm, nhưng nói thật, là sự ngưỡng mộ.
 
Họ rất đẹp, một vẻ đẹp thăm thẳm trong nỗi cô đơn ấy.
Cho dù là một bà khăn mỏ quạ nhà quê, hay một bà nhung the thành thị.
Năm năm trước, gặp một bà còng trên con đường rơm rạ ở Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
Hôm qua gặp một bà khăn mỏ quạ chống gậy bước đi bên bức tường gạch cũ ở thôn Na, Bắc Ninh.
Và một bà cũng bên bức tường gạch, không phải quê ở Na, nhưng giờ cũng như người làng Na. Bà đứng đấy, nhìn một vật gì đó, nghĩ một điều gì đó, không biết cái “điểm nhìn” khiến bà suy nghĩ, hay sự suy nghĩ dẫn dắt điểm nhìn.
Nhưng không một chút cô đơn. Và rất đẹp.
Bà là họa sĩ Nguyễn Mộng Bích, thân mẫu họa sĩ Bùi Hoài Mai.
Tết Bính Ngọ 2014
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Từ ao làng
đến đài phun nước
 
 
Ngoài lễ hội, hay việc làng diễn ra ở sân đình, đi cúng lễ ở chùa, giao tiếp buôn bán nơi chợ búa, trong đời sống người Việt xưa ít có những thói quen sinh hoạt khác ở chốn công cộng, nhất là những sinh hoạt mang tính thư giãn, nghỉ ngơi cho cá nhân. Đến chỗ nào thì cũng phải vì việc gì đó, lễ hội thì bị cuốn theo không khí tưng bừng của lễ hội, vào chùa thì phải tôn nghiêm, cầu xin, khấn bái, ra chợ thì mải chuyện bán mua... Ở những nơi diễn ra sinh hoạt như vậy, ý thức mỗi người thường bị cuốn hút vào cái không khí chung của sự việc. Những sinh hoạt, nghỉ ngơi cá nhân chỉ trên mảnh sân con, hay hàng hiên nhà mình, chả còn chỗ nào khác. Do vậy, từ xưa chưa hình thành cái ý thức chỉ dẫn cho những sinh hoạt mang tính cá nhân ở nơi chốn công cộng.
Có một nơi sinh hoạt công cộng, mà mọi hoạt động, thói quen cá nhân diễn ra thoải mái nhất, nơi người ta vừa làm mọi việc, nhưng cũng là nơi thư giãn, là cái cầu ao ở làng. Vừa giặt giũ, mổ cá, làm gà, lại vừa tán chuyện, hoặc cãi nhau. Ở đây, người ta được thể hiện tự do nhất các thói quen, và mọi sự tùy tiện. Người ta làm những việc có ý thức và vô ý thức. Một bà giặt chiếu nổi lềnh bềnh mấy cục phân trẻ con, nhưng bên cạnh đó, người khác lại rửa nồi niêu, làm cỗ lòng, mớ cá. Ông thợ cày ngoài đồng về, chân lấm bùn điềm nhiên lội xuống khoắng một cái ngay bên cạnh một bà đang rửa bát, ai nấy đều cho là bình thường. Mình làm sạch cho mình, nhưng không có cảm giác làm bẩn cho người khác.
Thị dân nhập cư từ nông thôn mang ra thành thị một số nếp sinh hoạt và những thói quen bên ao làng, cùng với sự hồn nhiên của những thói quen. Cũng chả trách gì được họ. Trong hàng thế kỷ, đa phần cái không gian công cộng mà họ gắn bó nhiều cũng chỉ loanh quanh cái vỉa hè trước cửa nhà, sân chung trong dãy nhà tập thể, hay là một cái bể nước, vòi nước công cộng. Nó cũng chẳng khác một cái cầu ao chuyển ra thành phố, cũng vui vẻ, cũng thoải mái, hoặc om sòm những tiếng cãi nhau.
Những không gian đô thị dành cho sinh hoạt công cộng như công viên, vườn hoa, quảng trường một thời rất ít và rất xa lạ với nhiều tầng lớp dân cư. Theo quá trình phát triển đô thị, chúng được xây dựng dần, và cũng theo đó là những tầng lớp dân nhập cư mới. Nhu cầu hưởng thụ ngày càng nhiều nhưng chưa ai kịp chuẩn bị gì. Mọi hành vi vẫn bị chi phối bởi ý thức cũ. Một thời có xu hướng làm công cộng hóa những không gian riêng biệt, những ngôi nhà riêng, biệt thự bị chia năm xẻ bảy. Và ngược lại, là cá nhân hóa những không gian công cộng, những mảnh sân chung bị lấn chiếm, đền chùa bị lấn chiếm, vườn hoa, vỉa hè cũng bị lấn chiếm, từ đó nảy sinh một ý thức có tính phổ biến, là tự do và tùy tiện. Làm nhập nhằng các khái niệm cá nhân và công cộng, không còn gì linh thiêng nữa, những góc riêng tự nhiên xả rác trong công viên, đài phun nước thành nơi tắm giặt cho người vô gia cư, nhà chờ xe buýt là nơi đi tiểu, ghế đá ven hồ là chỗ ngủ trưa.
Thực ra ở phương Tây người ta cũng chả quá trang nghiêm lắm ở những nơi công cộng. Họ đề cao sở thích cá nhân, và khá thoải mái. Những bãi cỏ, hành lang, khoảng trống ở sân bay, bậc thềm nhà hát hay sân quảng trường vẫn ngổn ngang người nằm ngồi phơi nắng mùa hè, thậm chí còn hở hang. Nhưng trong sự thỏa mãn cá nhân ấy vẫn thấy như có gì rất chung, rất tôn trọng và hòa quyện vào tinh thần cộng đồng, vẫn giữ gìn những lề luật, những quy định của cộng đồng. Điều khiến người ta không thấy chướng có lẽ là ở sự hòa hợp ấy.
Những nhà thiết kế đô thị không khó để tạo nên một không gian đô thị đẹp, và tiện ích. Người ta có thể sáng tạo, có thể bắt chước hay học hỏi từ những nơi thiên hạ đã làm. Nhưng ý thức của con người hưởng thụ mới là cái chi phối, cái tạo nên đời sống thực chất của những không gian đô thị ấy. Nó có thể làm sống hoặc giết chết cái không gian ấy. Một khúc ngoặt dưới đường hầm tàu điện ngầm rất dễ trở nên tăm tối, dơ bẩn và đầy sợ hãi, nhưng bỗng nhiên nó sống động và yên lành khi có vài chàng lãng tử ngồi hát và chơi đàn. Trong khi cả một góc công viên, một đài phun nước giữa khu vực trung tâm bỗng trở nên bất trắc khiến người ta ngần ngại, vì chúng đã bị một số cá nhân sử dụng một cách đầy chiếm hữu và tùy tiện. Riết rồi người ta sẽ mất hứng thú và mất luôn cả thói quen hưởng thụ ở những nơi đáng ra là cực kỳ cần thiết và thú vị cho một đời sống có chất lượng.
Bây giờ đã có phố đi bộ lớn như một quảng trường ở đại lộ Nguyễn Huệ Sài Gòn, một không gian thoáng đãng giữa khu trung tâm với những dẫy nhà cao tầng hai bên đường, một không gian lung linh, hiện đại. Đã có nhiều ý kiến về khu này nhưng gì thì gì, dân chúng cũng đã có một nơi để đến, thư giãn và hít thở không khí của nền văn minh mà ở các nước đã có từ những năm xửa xưa của thế kỷ trước. Những ngày đầu tiên đã có những đứa bé nhảy xuống tắm ở đài phun nước, và mỗi tối người ta vẫn túm tụm đông ngẹt xung quanh cái vòng tròn nước lung linh sắc màu với niềm thích thú tột độ. Những cảm giác lạ lẫm ban đầu sẽ dần qua, sự quá khích lộn xộn của giới trẻ như phóng xe qua đường, hẹn hò nhau đánh lộn sẽ đến lúc bị lên án và ngăn chặn và người ta sẽ thích nghi dần, bị chi phối dần bởi những giá trị do sự văn minh mang lại. Cái sự văn minh hình thành từ một không gian mới sẽ mang tới cho họ những thói quen mới khiến cho những gì lạc hậu sẽ trở thành lạc lõng rồi mất dần.
 
Muốn có một nền văn minh thì trước hết phải có một không gian sống thực thụ tương ứng để người ta học cách văn minh, nếu không mọi lời ca thán, dậy dỗ nhau chỉ như những lời nói suông vớ vẩn.
 
 
 
 
 
Giai phố cổ
 
 
Giai phố cổ này, chính gốc nhá, gặp ở Lương Văn Can chiều 29 tết. Lúc đầu mình chú ý vì cái Peugeot 103 đời 1982, sau vì cái vẻ ngồ ngộ do sự giống nhau từ thần thái toát ra trên khuôn mặt, cái áo, và đặc biệt là sự “quấn quít”. Hỏi ra thì đúng là anh em ruột, ông gầy đằng sau là anh, bảy nhăm tuổi, ông em cầm lái, bảy ba. Khen cái xe thì chỉ cười hơi mỉm như một sự khẳng định “ôi xời, đương nhiên rồi”. Nhưng đến lúc khen cái vest thì lộ rõ vẻ sung sướng, hãnh diện lắm. “Hàng dạ lông xù từ thời Pháp đấy”. Hỏi lại “là bên Pháp gửi về ạ?”, tưởng giống như cái 103 kia. “Không, từ thời Pháp thuộc”, nghĩa là trước 1954 đấy. Thế mà hai ông còn giữ ngon lành và còn điệu lắm, không hề “đề mốt đê” tẹo nào.
Hai ông chồng “cựu giai phố cổ” chở nhau đi mua mì tươi về cho hai bà vợ ở nhà nấu mì vằn thắn. Vằn thắn nhà làm rồi, hành hẹ sẵn rồi, chỉ chờ túi mì hai ông lủng lẳng trên tay lái cho bữa chiều tất niên.
“Ancient Hanoian” - “Người Hà Nội cũ” có lúc chỉ hãnh diện bởi một cái vest xưa cũ vậy thôi. Và rất mở lòng, từ gia phả cho đến chuyện nấu một món ăn thế nào cho ngon, như món mì vằn thắn các bà vợ của các các ông sắp nấu chiều nay vậy.
 
29 tết Giáp Ngọ 2014
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phở
Nội Bài
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Xưa có câu “Phở Nội Bài, đài Hà Nội”, nhưng giờ không nói về “phở” nữa, “đài Hà Nội” thôi cũng miễn bàn, dù không định kiến gì và rất yêu Hà Nội nhưng bao giờ cũng cảm thấy cái không khí ở đây nó nặng nề chứ không dễ chịu như Tân Sơn Nhất. Nhất là về thần sắc, khẩu khí của nhân viên bàn check in của VNA khi xử lý vấn đề, ngay cả khi vấn đề đấy thuộc lỗi nhà tàu. Chả khác gì cái không khí ngồm ngộp trước trận bão sắp ập vào, nó khiến không to mồm không được.
Nếu không tính đến cái mụn nho nhỏ bên má phải thì đây là khuôn mặt dễ nhìn, da căng, “mỏng mày” nhưng có “hay hạt” hay không chưa kịp biết. Chỉ có điều thế này, cha con mua vé cùng một chuyến, tự dưng chả biết tại máy hay tại người, nó đẩy ông bố sang chuyến khác. “Nó” là ai thì không biết. Mua cùng chuyến VN 249, giờ bảo con vẫn 249, nhưng “chú không có tên”. Một lúc sau, “chú bay chuyến 253” cùng giờ. Ô hay, vậy là sao? “Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới” là thế nào? Làm sao cho hai bố con đi một chuyến như vé đã mua chứ? “Cháu chả biết, chú sang quầy vé mà hỏi”, thản nhiên thế đấy.
Gái quầy vé ngồi không, nhận sự thắc mắc của khách gọi chỗ nọ chỗ kia một lúc rồi bảo: “Chú quay về bàn check in họ giải thích”. Lại ô hay, tao cần cái thứ tao mua chứ cần gì sự giải thích. Về lại quầy thủ tục, lại a lô, lằng nhằng một lúc thì cũng nhận lại được đúng thứ mình mua, bố con cùng một chuyến, gái bàn check in vớt vát: “Tại họ chả gọi nói gì cho cháu”.
Nhìn trai gái người của VNA đứa nào cũng bảnh, trẻ, thỉnh thoảng đèm đẹp. Nói cho công bằng cũng lễ phép, chỉ có điều sao cái sự lễ phép ấy nó cứ lành lạnh, như diễn viên, chứ chưa phải là thật sự ăn vào nề nếp, suy nghĩ, khí huyết trong người. Thỉnh thoảng có đứa nói “l” thành “n” hay ngược lại, thì cũng chả sao. Và nhiều giai gái nói giọng vùng miền, càng thích. Mình ghét tư tưởng kỳ thị, chả ưa gì cái giọng điệu của nhiều người  cứ hay thở ra là “Hà Nội gốc”. Thế nào “gốc”, cái khái niệm “gốc” nó mù mờ, chả ai cân đo đong đếm được. Sống từ mấy đời thì  có quyền bảo thế, bàn làm quái gì. Ông bố xưa cũng sinh ra ở làng, giai làng đấy sau thời gian ê a với thầy đồ làng thì lên thị xã học tiểu học, vào thành chung mới Nam Định thôi. Mãi lúc vào Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương mới được tới Bờ Hồ. Vậy là anh “nhà quê” đích thị rồi. Bà cụ tuy sinh ra ở Hà Nội thật, nhưng gốc cũng Hà Đông, thời đấy nhiều người thế chứ có phải ai cũng tinh hoa quý tộc nhiều đời thành thị cả. Chỉ là mỗi thời có gì để người ta tiếp thu hấp thụ mà thôi. Mà thấy thế hệ “nhập cư” thời ấy họ đâu có tệ. Thế thì thời nay phải hơn xưa chứ, cởi mở, văn minh hơn chứ?
Nghĩ cho cùng, viết thế này cũng là người ích kỷ, chả hay hớm gì. Chẳng qua cũng chỉ vì một chuyện rất cá nhân mà bật ra những vấn đề ngoài nó. Nhưng quả là bức xúc quá, chả biết có ai có lúc nào thấy như vậy?
 
 
 
 
 

 
 
 
Cây mùa đông
 
Và những mái nhà Hà Nội, nhà thờ, nhà xác, bệnh viện, biệt thự, nhà phố, nhà mái vẩy…Một Hà Nội cũ kỹ, kiêu sa, một Hà Nội bình dị, lam lũ, một Hà Nội bon chen kèn cựa, một Hà Nội của những người Hà Nội mới đến để trăm năm sau sử sách lại hồi tưởng về họ như những “người Hà Nội gốc”… Gì thì gì thì cũng là Hà Nội thôi, những Hà Nội kế tiếp nhau mang hình vẻ gì không biết, nhưng Hà Nội thế này thì chả biết còn được đến bao giờ???
Nhưng một Hà Nội của cây mùa đông cứ lầm lũi sống qua trăm mùa trầm mặc.
HN 20-2-2013
 
 
 
Căn phòng nhỏ
của một nhà văn hóa lớn
 
 
Con phố hẹp như chìm đi trong màn mưa của ngày cuối năm giáp tết. Con phố với toàn biệt thự kiểu Pháp của thời xa xưa đã nhiều biến dạng, những dấu hiệu dễ gợi lại ký ức của của một thời chỉ còn là một vài đoạn tường rào loang lổ vôi bong, cái cổng sắt hoen gỉ và những mảng tường rêu bám. Còn của hôm nay, đã mọc lên nhiều khối nhà xây chen, một vài sự chắp vá lộn xộn… Thế nhưng nơi ông ở lúc sinh thời vẫn rất dễ được nhận ra, tuy nó nép mình ở góc khuất của tầng trệt một ngôi biệt thự cũng nằm tận cùng góc phố, nơi mà ở đây ai cũng biết, nhà ông Nguyễn Khắc Viện - cái ông lão cao gầy, đầu húi cua, rất thân thiện và hay chơi cùng trẻ con lối xóm, ngày hai buổi đi về, và luôn đi bộ.
Với trẻ con ở phố Nguyễn Chế Nghĩa, Hà Nội năm nào, ông là một vận động viên thể thao “điệu  nghệ”,  một ông lão bán cầu  dễ tính. Với xã hội, ông là một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, một nhà báo, một nhà văn hóa lớn, ở cả tầm quốc gia và quốc tế. Nhưng tôi cứ băn khoăn và tự hỏi khi quan sát căn phòng nhỏ của ông, nếu như ta chưa biết ông là ai, qua căn phòng này, ta có thể đoán, có thể tưởng tượng ra cái tầm cỡ của con người đã từng sống nơi đây?
Căn phòng chừng mười sáu mét vuông, được sắp đặt theo kiểu đồ đạc chạy vòng quanh bốn bức tường cho vừa diện tích, và để tạo khoảng trống giữa nhà vì trong đó chủ nhân dùng để vừa ngủ, vừa làm việc và tiếp khách. Người ta hay nói, qua đồ đạc thì biết con người. Tôi đã biết ông từ khi còn là người bạn hàng xóm bé con của ông, đã từng nghe về ông, đọc về ông qua báo chí, sách vở trước khi nhìn thấy “không gian sống” của ông, nên tôi làm điều ngược lại, qua sự hiểu biết về ông để đoán tìm những gì đích thực nhất thuộc về ông có trong căn phòng. Và tôi đã không lầm.
Đầu tiên tất nhiên là sách, sách chật một cái tủ dài suốt bức tường dễ đến hơn ba mét và cao đến hơn hai mét rưỡi, sách trèo lên và lấp kín cả cái hốc cao phía trên cánh cửa ra vào, cũng lại sách và tư liệu chật cứng trên bàn và “leo” luôn lên giường ngủ. Nhưng đấy cũng chỉ là một phần nhỏ trong gia tài sách của ông, còn lại phải để ở cơ quan, vì nhà chật. Với một bậc trí giả lớn như ông, chuyện sách vở như thế cũng không là sự lạ, ta hãy nhìn ông qua các nét đời thường khác. Những vật dụng đầu tiên ông dùng trong những ngày đầu về nước sau hai mươi bảy năm sống trên đất Pháp vẫn còn kia, là một cái tủ gỗ tạp nhỏ chồng lên một cái tủ cũng bằng gỗ tạp lớn hơn kê ở góc phòng. Những năm mới về, ông sống độc thân, đồ gỗ chính của ông thường đóng bằng gỗ phá ra từ thùng hàng tàu biển, và của bạn bè cho. Cái giường ông nằm đầu tiên là giường sắt cũ kiểu giường “bệnh viện” (có lẽ là sót lại từ cái bệnh viện tư cũ của chủ nhà trước năm 1954?). Còn bây giờ, cái giường ông nằm cho đến lúc cuối đời cũng rất đặc biệt, nó cao hơn bình thường, lạ hơn bình thường, nghĩa là nó cũng vẫn mang dấu ấn như cái tủ kia, vẫn có “xuất xứ” từ những thùng hàng tàu biển! Tôi còn nhớ, ông hay mang về cho trẻ con trong phố những miếng gỗ lớn từ các thùng sách báo do nhà xuất bản Ngoại văn (mà ông làm Giám đốc, sau này là nhà xuất bản Thế giới) nhập về để làm bàn bóng, phải chăng giường ông nằm cũng đóng bằng những miếng gỗ như thế?
Có những vật dụng trong nhà tôi thấy không giống tính cách của ông, nhưng vẫn hiểu được. Tính ông đơn giản và dễ dãi trong mọi nhu cầu về đời sống sinh hoạt hằng ngày, cho nên cái tủ sách, cái bàn làm việc và đôi ghế gỗ kiểu cách và chạm trổ kia chắc không phải do ông chọn. Những thứ ấy có trong căn phòng của ông từ khi ông có người bạn đời, chúng có vẻ gì như hơi khác với cái chất đơn giản nhưng lại đúng với tính cách dễ dãi của ông. Không quá để ý đến chúng, ông có thể sống với nếp “nóng không quạt, ngứa không gãi và… bẩn không tắm” thì thực sự những thứ đồ vật ấy chẳng là điều gì quan trọng lắm!
 
Hai cái giường gỗ cũ nằm vuông góc nhau của hai vợ chồng, một cái còn được kê lên mấy cục gạch. Hai cái tủ gỗ tạp cũ để quần áo chồng lên nhau. Một cái ghế được đóng thêm bánh xe dưới chân để di chuyển trong phòng, chắc vào lúc ông đã yếu lắm… Một số món đồ có từ lúc ông trở về Tổ quốc, theo cùng ông trong suốt cuộc đời làm việc miệt mài và đầy những đam mê, nhìn ông viết ra hàng trăm bài báo, hàng chục cuốn sách trong đó có những cuốn có giá trị lớn như bản dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Pháp, “Lịch sử Việt Nam” và “Tuyển tập Văn học Việt Nam” bằng tiếng Pháp. Cũng ở đây, chúng nhìn thấy ông tiếp hàng trăm học giả, trí thức, nhà văn hóa trong và ngoài nước, và có cả vị nguyên thủ quốc gia. Giờ đây chúng là những vật chứng của cuộc đời ông, với một vẻ im lặng đầy ẩn chứa…
Nhìn căn phòng nhỏ của ông, tôi nghĩ đến một con thuyền độc mộc mà trên đó, ông cứ bình thản hít thở bằng một lá phổi* mà trôi đi trên dòng sông cuộc đời. Nhưng ông lại làm những việc của một người vượt đại dương bằng con tàu lớn, và đã tới được những bến bờ xa.
Hà Nội, những ngày giáp tết Ất Dậu 2005
Chú thích :
* Nguyễn Khắc Viện bị bệnh phải cắt đi một bên phổi từ khi còn ở Pháp. Bác sĩ Pháp nói ông chỉ sống chừng năm năm sau khi phẫu thuật, nhưng ông đã sống tới mấy chục năm sau, nhờ cách thở theo phương pháp dưỡng sinh của mình.




0
Cụ Cẩn
 
 
 
Nhất Trí, nhì Lân, tam Vân, tứ Cẩn”, ấy là tứ trụ của mỹ thuật Việt Nam thế hệ l’École Indochine de
Beaux-Art (Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương) trong những năm 1930 - 1940: Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn.
Cầu thang lên gác ba trong ngôi biệt thự số 10 Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội bây giờ có thể làm mỏi chân nhiều bậc trung  niên,  những đôi chân quen đi thang máy dù lên xuống chỉ một tầng lầu, hay vì cái bụng uống bia nhiều nên nặng. Nhà Pháp xây cao, cái cầu thang dài thườn thượt không chiếu nghỉ, đưa ta trở về thời bao cấp là cái vệt xe chạy một đường thẳng dài từ dưới lên để người ta đẩy xe đạp (về sau là xe máy) chia đôi bản cầu thang thành hai lối hẹp. Tự dưng chả nghĩ đến tranh pháo, cứ tưởng tượng ra hình ảnh cụ Cẩn của những năm 1970, 1980 và đầu những năm 1990, ở cái tuổi ngoài 60, 70, 80 của cuộc đời, người đàn ông dong dỏng, ôm ốm, râu dài rậm rạp hằng ngày vác cái xe đạp, hay quần đùi áo may ô xách những xô nước lên xuống mấy lần những bậc cầu thang cho người vợ nhỏ hơn mình 34 tuổi tắm táp mỗi chiều hè thì thật là cung kính cụ quá. Cung kính không phải với danh phận của một danh họa, mà với chức phận một con người, một người Đàn Ông rất đáng viết hoa.
Chớm hè, cái nóng chưa dữ dội nhưng sự hâm hấp cũng đủ làm dâm dấp mồ hôi lưng áo. Lại thêm cái mùi “nhà tập thể” nữa, là cái mùi nước mắm gặp lửa bay ra từ tầng hai. Đi qua đấy là nơi ở của những tên tuổi của nền văn học nước nhà, Tế Hanh “Nhớ con sông quê hương” (có phải?), và Nguyễn Văn Bổng “Con trâu”. Nơi của “Em Thúy” tít tận gác ba, là hai căn phòng rất nhiều cửa sổ và những bức tường cũ với nhiều vết nứt.
Khi đi vào chỗ ở của một danh nhân là ta đi vào cái thế giới của họ. Dù chỉ là một căn phòng nhỏ, nhưng là nơi đã chứa đựng, gói ghém cuộc đời với đầy những dấu tích vừa to tát của một cái “nghiệp lớn” hay nhỏ nhặt của một đời thường, nên ta có tâm lý rất pha trộn, nửa hau háu, nửa dè dặt. Vừa muốn trong một khoảng thời gian rất ngắn phải nhìn, phải thấy tất cả, lại vừa muốn từ từ, để cảm nhận theo cách nhấm nháp, như ăn dè một miếng bánh, hay nhấp từng ngụm nhỏ một ly rượu ngon.
 
Cụ Cẩn vắng nhà theo nghĩa đen đã 16 năm,
nhưng bức tượng (người tạc là vợ cụ) đặt trên bệ khiến cho khách được cảm giác như cụ đang ở nhà, nhờ mấy cái ổ khóa để bên. Có gì giống như lúc khách đến thì cụ vừa đi đâu về, mở cửa cho vào, vứt uỵch mấy ổ khóa lên bệ rồi bảo “ngồi chơi”. Những nhà nhiếp ảnh chụp nội thất có thể sẽ không muốn cho mấy cái thứ linh tinh lọt vào khuôn hình, nhưng mấy cái ổ khóa này cũ lắm, có thể còn những dấu vân tay họa sĩ Trần Văn Cẩn in trên đó chăng?
“Em Thúy” ngoài đời nghe nói năm nay đã ngoài bẩy mấy. “Em Thúy” của tranh thật thì ngồi trong bảo tàng mỹ thuật, chỉ còn kia “Em Thúy” của tranh in phiên bản, treo trên tường, chếch phía trên đầu bức tượng. Đôi môi như một nụ hồng và ánh mắt nhìn đăm đăm vào góc nhà, trong ánh sáng có phần nhập nhoạng và một thứ linh cảm tinh thần dồn nén thì ánh nhìn từ bức tranh in cứ như có hồn thật. Là hồn cụ lẩn khuất quanh đâu đó ám vào bức tranh, hay là do tâm lý?
Các mảng tường dày đặc những tranh thiếu nữ và hoa, đấy là những bức sơn dầu, có khung hoặc không khung. Tranh sơn dầu của cụ không nhiều, một số trên tường, một số nằm trong cái thùng tôn ở góc nhà đậy điệm như cất chăn bông khi qua vụ rét. Hai cái thùng tôn và một thùng sắt như thùng đạn pháo đựng toàn bộ di sản còn lại của Trần Văn Cẩn, hơn một nghìn bức tranh, trực họa, ký họa, nghiên cứu, phác thảo bằng các chất liệu sơn dầu, chì, bút sắt, màu nước, sáp màu, pastel, mực nho… nằm im trong đấy.
Những bức thời tiền chiến chỉ còn là hình ảnh trong tư liệu, tranh in. Hai cái thùng sắt tây chứa hàng trăm bức của thời chống Pháp, ký họa những vùng kháng chiến đi qua. Những cảnh núi rừng, chợ, những “bà bủ”, bộ đội, tù binh, thiếu nữ, qua tranh Trần Văn Chiẩếnn kta có cảm giác như thấy cuộc kháng chiến sao “đẹp” thế, người đẹp, cảnh đẹp, nhiều cảm xúc, và yên bình.
 
Vào những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này, vẻ đẹp con người trong tranh cụ lại toàn khỏe khoắn, săn chắc, hừng hừng khí thế sản xuất, chiến đấu của những trai gái thợ lò, nông dân, công nhân, dân quân miền biển… xem những bức ấy có cảm giác như nghe những bản hùng ca. Kiểu “trông lên Trường Sơn kìa gió đang thổi, trông ra biển Đông, kìa sóng đang gầm…”. Ý đồ tư tưởng, quan điểm nghệ thuật có ý thức “lập trường” rất rõ nhưng thực sự bằng những nét vẽ tài hoa, bố cục tạo hình chuẩn, thấm đẫm sự hiểu biết cặn kẽ về “anatomie” người Việt nên tranh đẹp và thực sự gây ấn tượng.
Nhưng sướng nhất vẫn là xem mảng “thiếu nữ” của cụ và đặc biệt là những bức nude dù không nhiều. Ở đây ta gặp một cụ Cẩn khác. Một cụ Cẩn mê, một cụ Cẩn của vẻ đẹp phụ nữ. Nghe nói trong số 50 nhân vật trong tranh chân dung cụ vẽ thì có tới 43 là phụ nữ. Khuôn mặt, thịt da thiếu nữ Hà Nội hiện ra dưới những những nhát quẹt, mảng màu ấm áp trên cái nền vải mỏng, mát của sắc nhẹ nhàng, trung tính, hay một tấm thân trần trụi không phải nõn nà, mà phồn thực, đầy đặn ấm nồng ngả nghiêng bên những bông cúc vàng, nét mặt và dòng suối tóc đen nhánh chảy ra sau lưng phảng phất nét dáng thời “Thiếu nữ bên hoa huệ” của Tô Ngọc Vân nhưng lại “phô bày” khiến người ta đê mê như khi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp “bên trong” của một thiếu nữ còn tinh khiết.
Nhiều bức nude khác của cụ ở dạng trực họa nhìn đẹp và “vui”. Có lẽ là vì ở những dáng tạo hình, thế nằm ngồi cong, uốn… Một vài bức “vui” ở chỗ cụ trực họa những hình ảnh người tình, người bạn đời ở những khoảng khắc rất tự nhiên, như vô tình…
Một điều rất rõ là các “maitre” (bậc thầy) thuộc thế hệ Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đều thấm đẫm một tinh thần dân tộc, những tình cảm sâu đậm ấy như có sẵn trong hồn, trong quá trình hình thành mỹ cảm từ thuở nhỏ. Về cảnh quan là những hình ảnh đồng quê, chùa chiền, mái đình, cây đa, bóng nước, những chi tiết kiến trúc cổ, cảnh sinh hoạt, cấy lúa, tát nước. Con người thì từ hình ảnh người mẹ, người chị, hay một người phụ nữ nào đó của đời sống với sự e ấp, mềm mại kiểu Á Đông (có thể chỉ là hình thức do bị đè nén). Và đến lúc vào Beaux-Art, gặp và tiếp nhận cái chuẩn mực của các nguyên tắc tạo hình và những kiến thức căn bản nhất của văn hóa phương Tây, nhưng họ vẫn bị ám ảnh những đường nét cũ và thế là có sự gặp gỡ, hòa trộn. (Trong kiến trúc cũng vậy,  những ngôi nhà kiểu Đông Dương thường  là những mẫu mực của tỷ lệ, những thành phần che chắn của một ngôi nhà nhiệt đới nhưng vẫn “cõng” trên đó những đường nét của kiến trúc cổ truyền). Có điều, họ biết xay tán khá nhuần nhuyễn và đã tạo thành một nền tảng. Và sự khao khát bản năng đầy ắp bên trong cái vẻ như bình lặng ấy đã được “thổ lộ” ra một cách tinh tế dưới bàn tay tài hoa và trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ, thành tác phẩm mang phong cách đặc trưng của một thế hệ ở một thời.




0
Bích Được
 
 
Gã cáu lắm, gã có tiền cơ mà, nhưng người ta vẫn không có máu tiếp cho mẹ gã. Bà cụ nằm giường số 6, phòng dịch vụ, được đưa vào cấp cứu từ chập tối vì chảy máu dạ dày, máu cứ tuôn ra không dứt, lẫn trong chất thải ở đường tiêu hóa. Cụ đang lả đi, mặt xanh dớt, nhợt nhạt, người nhỏ bé, nằm lọt thỏm trên tấm nệm mềm, xung quanh là con cháu với đầy vẻ sốt ruột, lo âu, trong ánh mắt, trên khuôn mặt. Kẻ chạy đi, người chạy lại, bác sĩ đi ra, y tá đi vào, người nhà bệnh nhân túm áo bác sĩ, thì thầm to nhỏ, năn nỉ hết lời. Máu cụ thuộc nhóm A, cả nhà có mỗi thằng cháu ngoại là cùng nhóm máu, nhưng cũng chỉ lấy được một lần, chưa đủ, còn cần truyền thêm chai nữa. Nghe bảo trong kho bệnh viện đã hết máu nhóm này, hay là họ muốn làm tiền? Thì gã sẵng sàng chi, bao nhiêu cũng được, nhưng vẫn không xong, bực thế. Gã khó chịu nhìn cô y tá, nào có xinh đẹp gì, cái mặt cứ lạnh băng, cứ khinh khỉnh, đi vào đi ra như cái máy, nhoay nhoáy tiêm, nhoay nhoáy chọc ven, đâm vào, rút ra, có vẻ là một y tá giỏi, nhưng cứ kiêu kiêu, khó chịu thế nào. À, thì ra cũng có nơi, có lúc, có người, chẳng thèm coi tiền của gã ra cái gì! Xưa nay, là kẻ giàu có, ở nhiều nơi, với nhiều người, cái vẻ kẻ cả có tiền của gã, cái phong thái hào hoa của gã, cũng có sức hút ghê gớm, cũng sai khiến được khối người, gã luôn hãnh diện về mình, và tự tin lắm, có thứ bạc tỷ, gã còn mua như chơi. Thời buổi này, biết bao người cho máu, người nghèo đi bán máu đông như đi chợ, với giá rẻ mạt, thì máu phải sẵn chứ. Thế mà lại không có được máu cho gã, kẻ sẵn sàng trả giá cao, tiền tươi thóc thật, gã nghĩ, hay là chúng nó ngửi được vị, chúng nó nghĩ mình giàu, và định “cắt tiết” mình đây? Thì bao nhiêu, cứ hét, gã chiều hết, lại cứ nhấm nhẳng, bực mình… Mãi gần nửa đêm, mới có bịch máu mang vào. Có thế chứ, gân mãi được à!
 
*
 
Bà cụ đã ngoài tám mươi, khuôn mặt còn rất đẹp, và toát lên một vẻ phúc hậu, phảng phất một nét gì xưa cũ của những gia đình sinh sống ở Hà Nội từ nhiều đời. Lúc xe cấp cứu đưa vào, nhìn cụ nằm thiêm thiếp trên cáng, lòng cô chợt dấy lên một cảm giác, một tâm trạng lạ lắm, cô thấy bà cụ gần gũi với mình, có điều gì cứ khiến cô bồn chồn trong gan ruột. Đã gần mười năm làm việc ở đây, từ lúc mới ra trường, mới chập chững vào nghề, cho đến bây giờ, khi đã thành một y tá giỏi, cô đã gặp, đã chứng kiến, đã thực hiện công việc với hàng trăm, hàng nghìn trường hợp người bệnh đến trong đau đớn, cũng quen, cũng nhàm, cũng nhiều lúc cứ dửng dưng trước cái đau đớn và những tiếng rên la. Cứ làm tròn cái trách nhiệm của một “lương y”, đã muốn đứt cả hơi, ngày nào cũng máu, cũng phân, cũng nước tiểu, lấy đâu là cảm xúc, là xúc động được nữa. Vất vả quá, cơ cực quá, mà đồng tiền kiếm được cũng bèo bọt quá, cho nên cứ trơ ra, cái mặt cứ khinh khỉnh, cứ sưng lên, cứ phải cáu bẳn, như đang tức giận ai. Thế mà tối nay, lần đầu tiên cô nghe lòng mình khác lắm, cô có cảm tình với bà cụ, tự dưng thôi, cô muốn được giúp đỡ, muốn có trách nhiệm với cụ, không vì một cái gì cụ thể, lại càng không phải vì tiền. Nói một cách trung thực, cô cũng cần tiền, cần lắm chứ, và thích nữa. Lương y tá ba cọc ba đồng, tuy chưa chồng, nhà chỉ có hai mẹ con, nhưng ngoài hai miệng ăn, còn tiền điện, tiền nước, tiền thuê nhà, và hàng lô các khoản chi phí không tên khác, đều trông chờ vào cô cả. Mẹ chưa già lắm, nhưng đau ốm liên miên, lại không có bố, thành ra trụ cột chính là cô, cho nên cô vẫn nhận tiền của bệnh nhân, hoặc người nhà họ. Gọi là bồi dưỡng cũng được, vì như thế, cô sẽ phải chăm sóc họ kỹ hơn, cẩn thận hơn, chăm chút hơn, trong từng mũi tiêm, từng cử chỉ, từng lời nói, hay nếu gọi một cách khác, là tiền đút lót, thì cũng đúng, đấy là luật bất thành văn, làm gì có quy định nào, văn bản nào, bắt người ta phải trả những chi phí đó. Nhưng với bà cụ này, nhìn dáng vẻ cụ, con cái cụ, cũng ra là người giàu có, nhất là anh con giai, quần áo bảnh bao, dáng đi khệnh khạng, mặt ra vẻ quyền uy, hơi tí là mở ví rút tiền, thì cô lại có thái độ khác. Cô muốn được giúp cụ, nhưng không phải với một một sự tính toán hay đòi hỏi gì về tiền như mọi khi, mà chỉ vì một tình cảm rất mơ hồ đã nẩy sinh trong cô. Cô không thích anh con trai, có gì mà cứ phải hoắng lên, đúng là cái đồ nhà giàu đứt tay, và khó chịu với cách mà anh ta nhìn cô, nó có vẻ lý tài, nó có vẻ kẻ cả bề trên của một gã luôn tự cho mình ở thế chủ động, như muốn điều khiển, sai khiến người khác.
Chẳng thèm quan tâm đến anh ta, cô ngọt ngào với bà cụ, nhẹ nhàng, cẩn thận với từng động tác, lúc tiêm thuốc, lúc lấy ven, truyền nước cho cụ, và cô hay tránh né mỗi lúc người nhà muốn tiếp xúc riêng, muốn ngỏ  ý đưa tiền bồi dưỡng. Lúc mọi người cứ nháo lên về chuyện máu, cô lẳng lặng xuống phòng xét nghiệm, và khi biết máu mình cùng nhóm máu của bà cụ, cô lặng lẽ đề nghị cho máu, nhưng không muốn để họ, những người trong gia đình bà cụ biết. Sẽ thật khó giải thích để họ hiểu, sẽ thật khó làm cho họ tin, là cô làm việc ấy không phải vì tiền, họ sẽ cho là cô vờ vĩnh, hay cố ý làm thế để đạt được điều gì đó lớn hơn là mấy trăm bạc như số tiền thu được của một người đi bán máu. Lấy tiền thì cô không thể, mà không lấy thì sẽ đưa họ vào chỗ khó xử, họ sẽ cảm thấy như thành những kẻ có nợ nần với cô, và đấy là điều cô lại càng không muốn.
 
*
Gã ngồi câm lặng, nhìn từng giọt máu trong chai chầm chậm chảy, chầm chậm từng giọt, từng giọt một rơi xuống, rồi chạy theo ống truyền, đi vào tĩnh mạch, hòa với dòng máu trong cơ thể mẹ gã, rồi chạy khắp cơ thể bà. Đêm thật yên tĩnh, và hoang vắng, sự hoang vắng về đêm trong bệnh viện thường tạo ra cái lạnh lẽo đến rợn người, nó làm người ta hay nghĩ ngợi, lo âu, và thường liên tưởng đến những gì thuộc về số phận con người. Gã cũng vậy, gã đang nghĩ ngợi, dòng máu được truyền và đang chảy trong cơ thể mẹ gã kia, dòng máu ấy của ai, người ấy có số phận thế nào, là người hạnh phúc hay kẻ bất hạnh, nghèo khổ hay sang giàu, là người lương thiện hay kẻ bất lương?... Cứ thế, gã lan man nghĩ về những dòng máu lạ, được truyền từ cơ thể người này qua người khác, bao nhiêu con nghiện và những kẻ bụi đời lang thang bán máu, thường là rất ngẫu nhiên, có khi một ông thầy tu lại nhận vào huyết quản của mình dòng máu của một kẻ giết người, hay có thể một bậc chuyên rao giảng đạo đức lại được dòng máu của một gã lừa đảo cứu sống, ai mà biết được, ai có thể chọn lựa được! Người ta chỉ kiểm tra chất lượng máu, chứ không thể kiểm tra được nhân phẩm của những người đi cho hoặc bán máu. Hình như cuộc đời có nhiều sự, mà mỗi người chỉ có thể nhìn nó như một sự ngẫu nhiên, ngẫu nhiên nhưng dường như đều do một bàn tay nào đó xếp đặt cả. Nghĩ theo duy tâm, mọi sự gặp nhau cứ như là do duyên nợ, tại sao gã lại gặp, rồi cưới người con gái mà bây giờ đang là vợ gã, mà không phải là một cô gái khác, có thể xấu và thông minh hơn, hay xinh đẹp và đần độn hơn?
Tại sao cái tuổi thơ của gã cơ cực thế, học hành xoàng xĩnh thế, chả có chút gì gọi là tố chất, là tài năng, lại đắm chìm trong bệnh hoạn, thế mà ra đời gã lại phất lên, cũng chả phải do tài cán gì, mà của cải, tiền bạc, từ đâu cứ rơi vào cuộc đời gã, như một sự sắp đặt từ trước? Đang là anh kỹ sư quèn, không có việc, gã lông bông ra nước ngoài, rồi gặp bạn gặp bè, thoắt một cái, cái xứ sở ấy đã biến gã thành một anh lái buôn, rồi gã trở thành kẻ có tiền, rồi gã chán kiếm tiền, cũng lại thoắt một cái, gã trở lại thành cái anh trí thức, nhưng lần này là anh trí thức đỏm dáng, không còn là anh kỹ sư quèn rách nát như xưa, gã xúng xính lắm, gã lên xe, xuống ngựa, ăn nhà hàng, ở vi la, đời vui như tết. Phận gã tài hèn, đức mọn, mà lại cứ gặp may, lại hay có “quý nhân phù trợ”, gã thầm nghĩ, hay là được phúc của âm phần, nghĩa là từ mồ mả ông bà, cụ kỵ? Hay là phúc của mẹ cha, cha gã cũng hiền từ và chân chất lắm, thuở sinh thời, có chức đấy, nhưng cũng chả biết bon chen, chả làm hại và cũng chả biết nịnh nọt ai, nên cũng chỉ là ông quan nhỏ, còn mẹ gã, bà nguyên làm nghề đỡ đẻ, là một bà đỡ, rất nhân từ. À phải rồi, gã sực nhớ tới một chuyện…
Ấy là câu chuyện do mẹ gã vẫn kể từ nhiều năm nay, về số phận của một con người mà bà vẫn đau đáu nhớ thương và hay nghĩ đến một cách đầy lo lắng, dù đã bặt tin từ mấy chục năm trời.
*
Hơn ba mươi năm trước, ở một nhà hộ sinh, nơi bà làm việc, vào một buổi cuối ngày mưa như trút nước, người ta chở đến bằng xích lô một cô gái trẻ, cô trẻ lắm, trẻ về tuổi đời, lại càng trẻ để làm một người mẹ. Người nhà muốn phá thai, và điều quan trọng nhất là cô chưa có chồng, nhưng cái thai lớn quá, và cuối cùng là một bé gái ra đời, nặng chưa đầy cân rưỡi. Bé bị sinh non, yếu lắm, những đứa trẻ như thế, con nhà giàu có của, bao nhiêu người xúm vào, bao nhiêu thuốc và những điều kiện chăm sóc tốt nhất được dành cho, cũng còn khó nuôi, những là ở đây, lại con nhà nghèo, lại là con hoang! Sau khi sinh, người mẹ trẻ khốn khổ ấy cứ năn nỉ nhờ nhà hộ sinh nuôi hộ, vì nhà nghèo quá, đã chẳng có gì, lại biết gì mà nuôi, thế là người ta đành giữ lại, và giao cho bà trách nhiệm chăm sóc, nuôi nấng đứa trẻ tội nghiệp ấy.
Bà đã làm công việc ấy không chỉ vì trách nhiệm, mà còn với một tình thương, bao nhiêu kinh nghiệm của mấy mươi năm làm nghề, với những kiến thức học được trước kia ở trường Tây, bà dồn hết cho đứa bé. Vào thời ấy, đang lúc chiến tranh, còn gian khổ lắm, bà đã nuôi đứa bé bằng sữa hộp, bằng nước cháo, bằng nước đường, bằng tất cả những gì có sẵn, hay đi xin được, từ những sản phụ nhiều sữa, từ những người nhà sản phụ hảo tâm, người cho hộp sữa, người giúp lạng đường. Cái cơ thể tím tái, nhỏ nhoi như con nhái bén ấy cứ thoi thóp, cứ chống chọi, để giành giật lại cuộc sống từng ngày, từng ngày một trong lồng kính. Cũng nhiều lần, đứa bé đã thập tử nhất sinh, đã tưởng nó sẽ bỏ đi, nhưng rồi qua khỏi, những khi ấy, nhiều người muốn buông xuôi, không ai tin cái cơ thể non nớt ấy lại có đủ sức giành sự sống, nhưng bà không nghĩ thế, nhìn đôi mắt trong veo trên cơ thể đang thoi thóp ấy, bà đọc thấy một lời ộcầtuánkhẩnnh,ìmn đầy sức mạnh, như có lời nói trong đáy mắt, rằng nó muốn sống, nó xin được sống! Hình ảnh đứa bé ám ảnh bà, sống trong lòng bà mỗi ngày, nó theo bà về nhà, theo bà ra chợ, nó leo lên giường ngủ cùng bà mỗi đêm. Có lần đi nghỉ phép một tuần, bà như kẻ vô hồn, về đến Hà Nội là chạy bổ vào nhà hộ sinh, bà nhìn đứa bé như thể mình có tội, nó đang hấp hối, mắt nhắm nghiền, nó không thể nhìn bà, nhưng bà vẫn thấy ánh nhìn của nó, đầy vẻ giận hờn. Bằng tất cả tình yêu và sức lực, ơn trời, lần ấy bà đã giành lại được nó từ tay thần chết. Khi đứa bé đã chắc chắn được trở về với cuộc sống, người ta mới nghĩ đến việc đặt tên, có người nói nó là đứa trẻ trời cho, đặt tên là Bắt Được, bà bảo, đúng là Được, nhưng là Bích Được, một viên Ngọc Bích đã được trả lại cho cuộc đời.
 Lúc đạn bom ác liệt quá, người ta phải trả nó về lại gia đình, hằng ngày bà đeo túi thuốc, bông băng, đến tận nhà thay băng rốn cho nó, trong tiếng máy bay gầm rít ở trên đầu.
Rồi bà đến tuổi về hưu. Đã nhiều năm trôi qua, bà chưa gặp lại viên Ngọc Bích ấy, nhưng bà vẫn nghĩ đến, và luôn cầu xin cho nó có một cuộc đời hạnh phúc.
*
Đêm ấy, gã không ngủ, ngồi bên mẹ, nhìn bà cụ, cứ miên man với những ý nghĩ xa xôi về số phận người con gái trong câu chuyện năm xưa.
*
Đêm ấy, không xa phòng bà cụ, chỉ cách một bức tường, ở trong phòng trực, cô cũng không ngủ được, ngồi chong đèn suốt đêm, với nỗi ám ảnh về một điều gì đó rất mơ hồ, cứ lởn vởn trong đầu từ lúc tối, khi cô tiếp nhận bà cụ, đỡ cụ lên giường, rồi truyền cho cụ dòng máu của mình. Cô chưa cắt nghĩa nổi cái tình cảm ấy, mà từ đó, đã khiến cô có một ý muốn, một hành động, rất tự nhiên, như cô đã làm cho bà. Và cô cứ có một linh cảm, là giữa cô và bà cụ, như đã có mối nhân duyên từ lâu, như chả phải là sự gặp gỡ lần đầu, chỉ là sự gặp lại sau một quãng đời xa cách, thế thôi.
Vào khoảng năm lên năm, lên sáu tuổi, lần đầu tiên cô hỏi mẹ về người bố của mình, mẹ bảo rằng bố đang ở một nơi nào xa lắm, và một câu chuyện cổ tích được mẹ cô viết ra, rằng lúc chui ra từ lòng mẹ, cô được đỡ bởi một đôi tay rất mềm, và rất ấm của một bà tiên, bà tiên ấy đã cứu giúp cô, che chở cho cô, vượt qua những hoạn nạn. Lúc lớn lên, thì cô hiểu câu chuyện cổ tích về bà tiên ấy là chính tấm lòng của những người nữ hộ sinh tại nơi cô chào đời, mà đặc biệt trong đó có một bà, mà mẹ cô thường nhắc đến nhiều nhất, với những tình cảm và lòng biết ơn sâu nặng nhất, cô chưa biết mặt, chẳng biết tên, cũng chưa bao giờ được gặp. Năm tháng trôi qua, không ít lần mẹ muốn dẫn cô đi tìm và gặp lại người đã có tấm lòng, người đã như một bà mẹ sinh ra cô lần thứ hai, nhưng những biến cố và những thay đổi dồn dập của cuộc đời cứ đến với mẹ con cô, cứ phải di chuyển và lưu bạt nhiều nơi, phải lo lắng và chống chọi với nhiều thứ, một mẹ, một con, nên chưa thực hiện được, dần dà rồi cũng quên đi, cũng lẫn lộn vào với bao nhiêu chuyện khác trong đời sống tất bật. Mẹ đã ở vậy nuôi cô, và bây giờ thì cô nuôi lại mẹ. Đã vào tuổi ba nhăm, chưa chồng, cuộc sống không quá cực khổ, nhưng tẻ nhạt, mỗi ngày cô chả chờ đợi điều gì, chả hồi hộp với điều gì, cũng chả buồn vui với điều gì, chỉ biết đến công việc, và là người thạo việc. Một cuộc sống bình thường, một nhan sắc bình thường, cô ít có cảm xúc, chỉ một lần duy nhất yêu, nhưng không thành, lại cứ nhìn và hay suy nghĩ về đời mẹ, lại đâm nghi ngại đàn ông, lại muốn tránh né đàn ông, thành ra, cô sống khép kín, và có phần lãnh đạm với mọi chuyện.
Nhưng lạ thế, gặp bà cụ này, lần đầu tiên có một “sự kiện” đã tác động đến cô, khiến cô chú ý, làm cô tò mò, cô đã làm một việc mà lòng cảm thấy vui vui. Chưa hỏi được chuyện gì với bà, còn với anh con trai thì cô không thích, nên cũng ngại. Chỉ biết bà tên H, cán bộ hưu trí, có bảo hiểm y tế, tuổi tám ba, ở số nhà ấy, phố ấy, đấy là tất cả những gì về bệnh nhân, ghi trong hồ sơ bệnh án, vậy thôi.
*
Lúc làm thủ tục thanh toán tiền viện phí, nhìn vào tờ giấy ghi các khoản chi phí phải trả, gã thấy còn thiếu một khoản, ấy là chi phí cho lọ máu sau cùng mà người ta đã truyền cho bà cụ, gã nhắc thì được trả lời rằng đấy là máu của một người tình nguyện, và người ta yêu cầu được giấu tên.
Gã lạ lắm, và lòng vô cùng thắc mắc, cứ nghĩ đấy là máu được người ta đưa ra vì những hấp dẫn vật chất của gã. Về phần mình, gã chẳng quen ai ở đây, cũng chưa làm được điều gì tử tế cho ai bao giờ, để được biết ơn, để được đáp nghĩa, thế thì ai nhỉ, ai đã là người hiến máu? Để có được máu truyền cho bà cụ, thì chỉ có thể là một người, đã có lòng với bà, vì bà cụ mà làm điều đó, hay là…
 
Gã chạy bổ đi tìm cô y tá, vừa định để cám ơn về những gì cô đã làm cho bà cụ, vừa để dò hỏi, điều tra xem, ai là người cho máu, tính gã thích sòng phẳng, gã muốn trả tiền thật hậu hĩnh, cho dù người ta muốn thế hay không.
Nhưng gã chợt giật mình, và không hiểu sao, linh tính cứ như thầm mách bảo trong ý nghĩ của gã, rằng cô gái ấy, chính là người…
Gã sực nhớ, ra là mình vô tâm quá, và cũng thật tệ quá, đến cái tên cô ấy mà cũng chưa kịp biết, cũng chưa kịp hỏi.
 
Đầu năm Quý Mùi 2003




0
Số sát chồng
 
 
Tôi nhận được tin nhắn: Cậu về Paris lấy quà, địa chỉ số nhà… rue de… Người nhắn là chị Nhạn, bà chị họ bên ngoại.
 Lạ nhỉ, có thể nào chị Nhạn đã tới được Paris, tới tận thủ đô nước Pháp? Lúc đầu còn bán tín bán nghi, nhưng khi cầm trong tay và xem kỹ mảnh giấy xé vội, nét chữ run run, nguệch ngoạc, rõ ràng đấy, mấy chữ địa chỉ ghi bằng tiếng Pháp như thể người viết phải “vẽ” từng chữ cái, thì đúng thật rồi, bà chị nông dân khốn khổ năm nào đã đặt chân lên đất Pháp.
Lâu lâu có người quen trong nước sang, gia đình tôi thường gửi quà, họ là sinh viên đi du học, trí thức sang nghiên cứu, hay cán bộ qua công tác, nhiều lắm, thành ra với tôi, cái việc đi lấy quà cũng là sự bình thường, mỗi ngày cũng bớt đi những háo hức, những hồi hộp. Nhưng lần này là chị Nhạn, người đàn bà mà trong ý nghĩ của tôi, nếu có một ngày được bước chân lên tàu hỏa vào Sài Gòn, cũng đã là trọng đại lắm, cũng là chuyện chỉ có trong mơ. Nhớ hôm nào chị cứ đùa tôi mà bảo rằng: “Cho chị đi một chuyến Sài Gòn, vào nhà cậu, cho chị làm người giúp việc, hay phụ bán hàng”. Là câu nói đùa, nhưng trong đấy, tôi biết nó chứa đựng cả một sự thèm muốn, một nỗi khát khao, như ước vọng về một cái gì xa xôi lắm.
Thế mà bây giờ chị đã đến tận Paris!
Tôi vội ra tàu, ngay trong đêm tuyết trắng, không phải với cái háo hức của một kẻ đi đến chỗ nhận quà, mà với sự tò mò, háo hức của một người muốn biết, muốn được giải tỏa tức thì những thắc mắc, những điều khó hiểu trong lòng, và cũng vì một tình cảm đặc biệt với chị, một con người đã phải gồng lên, đã phải chịu đựng quá nhiều những cay đắng, những nhọc nhằn trong cuộc đời.
Tàu lướt đi trong đêm, T.G.V(1) chạy nhanh nhưng tiếng bánh xe trên đường vẳng vào trong khoang ngồi ấm áp chỉ còn là những tiếng nhỏ nhẹ, đều đều, êm ả, có vẻ như muốn ru người ta vào giấc ngủ. Qua cửa sổ con tàu, những lùm cây tuyết trắng, những làng quê lập lòe trong ánh điện lờ mờ vun vút đi qua theo chiều ngược lại, kéo tâm tưởng của tôi trở về với những hình ảnh của một thời, bắt đầu từ những ngày tháng rất xa…
Năm ấy, những quả bom đầu tiên rơi xuống miền Bắc, chiến tranh, trong nỗi lo thời loạn lạc của cha mẹ, những đứa trẻ chúng tôi về làng với một niềm thích thú thơ ngây, hằng ngày được tắm ao, câu cá, được ra đồng hun chuột, bắt chim… Anh em tôi ở nhà chị Nhạn, một gian nhà ba gian, tường xây gạch, nền nhà vẫn bằng đất, mái lợp rạ, có một hàng hiên dài lại được lát đá hoa, và lại có một cái giại che nắng, là một không gian vừa kín, vừa hở, liền với cái sân gạch rộng hay dùng phơi thóc. Vào mùa hè, sau bữa cơm tối, tôi hay nằm ở đấy, với những ý nghĩ vẩn vơ, và thích nhất là được chị Nhạn gãi lưng, kể chuyện ma, vừa sợ nhưng lại vừa thích, nhiều hôm đái cả ra quần vì không dám ra ngoài, nhưng vẫn bắt chị kể, sự chăm sóc và những câu chuyện kể của chị lấp đi cho tôi nỗi buồn xa mẹ. Chị Nhạn xinh lắm, cao dong dỏng, ở thôn quê nhưng trời lại phú cho chị nước da của người thành phố, trắng muốt, và thật mịn màng, vẫn in đậm trong tôi hình ảnh chị lúc ở đồng về, quần xắn cao, áo cánh ta chẽn sát người, ướt đẫm mồ hôi, làm nổi rõ bộ ngực đang độ xuân thì của tuổi mười tám. Chị đứng ở đầu hè, nhẹ nhàng gỡ ra từng thứ một, tấm khăn che mặt, dải băng bằng vải quấn tay, quấn bắp chân, quấn đùi, và từ từ lộ ra là cánh tay trần mịn màng, bắp chân tròn lẳn, và cặp đùi trắng muốt.
Nghe kể hồi nhỏ, ngay từ lúc mới vài tháng tuổi, chị đã rất đẹp, một đứa trẻ nhà quê mà có vẻ đẹp như con Tây, kể cũng lạ, đến nỗi người ta gọi chị là con Đầm, và Đầm trở thành tên gọi thường ngày của chị, mãi sau này tôi mới biết chị có tên thật là Nhạn. Chả biết có phải khi ấy, lúc đặt tên cho chị, ra chừng ông Đồ Thơ muốn chị sau này sẽ được bay lên, như cánh chim nhạn, bay lượn, chao nghiêng giữa bầu trời rộng lớn, đi đó, đi đây. Ấy là nghĩ thế, chứ cái cách ông Đồ dạy chị, rèn giũa chị thì khác hẳn.
Trong ký ức của tôi, khi ấy, chị sống rụt rè lắm, xinh như thế, mà ít giao du, bè bạn, là cũng bởi tính nghiêm khắc đến nghẹt thở của bố chị. Trong khi bên hàng xóm, mấy đứa con gái mới mười lăm, mười sáu, mà tối nào cũng có mấy anh trai làng đến rủ đi tập văn nghệ, rồi lại thấy ngồi với nhau rúc ra, rúc rích ở bụi tre, chỗ cạnh cầu ao, nhưng chị thì ông cấm tiệt, ngay cả việc học, đâu như chị chỉ học hết cấp một, trường làng, biết đọc, biết viết, và làm tính, cốt để dùng lúc ghi công điểm với hợp tác xã. Học lên cấp hai là phải sang trường ở làng khác rồi, đi những mấy cây số, con gái con lứa, học lắm vào rồi lại vẩn vơ, không khéo có ngày chỉ mải viết thư cho giai, nên ông Đồ chỉ cho chị học thế, rồi ở nhà làm ruộng. Dù rất biết sự cần thiết của cái chữ, nhưng ông chỉ thích hướng cái sự học ấy vào hai cậu con trai. Chả thế mà hai cậu em chị, sau này, một anh học lên đến trung cấp sư phạm, một được học đến hết cấp ba.
 
Bỗng dưng ông Đồ đổ bệnh, ông bị ho lao, rồi thấy mọi người trong nhà cứ thì thầm to nhỏ, có gì như lo lắng lắm, như hệ trọng lắm. Một không khí nặng nề, đầy u ám trong nhà.
Những ngày này, chị Nhạn rất buồn, đôi mắt dường như sâu hơn, và trĩu nặng một điều gì u uẩn, có lúc cứ thấy chị ngồi thừ ra, nghĩ ngợi. Chị hay ra ngồi một mình ở cầu ao, nhìn về xa xôi. Rồi một tối chị vừa gãi lưng, vừa quạt nhẹ cho tôi, và bảo: “Em sẽ chẳng còn được nghe kể chuyện, gãi lưng bao lâu nữa, chị sắp phải lấy chồng!”. Khi ấy tôi đã hơi buồn ngủ nên cũng chẳng nhận ra nỗi buồn trong giọng nói của chị, và chính tôi cũng chưa kịp buồn, chỉ hỏi lại một cách bâng quơ: Ai thế? “Anh Đê!”, chị nói. - Sao, anh Đê á! Tôi chợt bừng tỉnh, như bị dội lên người một gáo nước lạnh.
Anh Đê là con ông Hàn Biểu, nhà ở xóm chùa, năm ấy quãng độ hai mươi, xét về tuổi tác, chị mười tám, anh đôi mươi, kể ra cũng được, cũng vừa, nhưng sao lại là anh Đê? Cái anh Đê ấy, mắt đã lác, lại lùn, cao độ mét rưỡi, “nhất lé nhì lùn”, anh có cả hai, chân đi vòng kiềng, người lạch bạch, mỗi buổi đi cày về, trâu đi trước, người theo sau, nhìn từ xa, chỉ thấy trâu mà chẳng thấy người, chỉ thấy cái cày trên vai anh lấp ló, trẻ con hay đi theo anh, hát ghẹo: “Chiều về trên cánh đồng xanh, lũn ca lũn cũn là anh Đê lùn”, rồi cười ngặt nghẽo, rồi bỏ chạy toán loạn. Được cái anh không biết cáu, chỉ giơ nắm đấm về phía tụi nhỏ, dứ dứ ra chiều dọa dẫm, rồi lại lầm lũi bước đi. Song cái chính, chả nói chuyện hình thức, giai tài, gái sắc, nhẽ đời là như thế, anh có xấu người, nết tạm được, giá như có tí chữ, hay tài cán gì đó, nhưng đằng này, mới học đến lớp hai bổ túc, nhiều khi thấy anh đọc, vẫn phải đánh vần từng chữ một. Đã đành là chị Nhạn cũng chả học cao gì, nhưng chị đẹp vào hàng nhất nhì ở làng, cũng nhiều anh giáo trường cấp một ngấp nghé, thế mà vẫn chưa thể làm quen, chưa tiếp xúc được với chị. Như một bông hoa mơn mởn trước mắt họ, chị là nỗi thèm khát, là niềm ấp ủ của nhiều chàng trai, có cả mấy anh trên tỉnh về, bông hoa ấy phải thuộc về ai chứ, phải xứng đôi, vừa lứa, không thể như một đôi đũa lệch, như chị và anh Đê, nó lệch quá, nó cong vênh quá. Hay cũng phải từ một tiếng sét ái tình, nhưng chị chưa bao giờ nói chuyện, chứ đừng nói là đã nghĩ đến anh Đê, thế thì làm gì có chuyện yêu đương, ra là sao nhỉ?
Hóa ra là tất cả từ bố chị, chỉ đơn giản là, ông cảm thấy trong người yếu lắm, ông linh cảm rằng ông sắp ra đi, ông có một lời nguyện với ông Hàn tự thuở hàn vi, khi hai ông còn là hai người bạn tối ngày ngâm vịnh, no đói có nhau, họ đã gá nghĩa bằng lời nguyện ước, sẽ gả con cái cho nhau, họ muốn cái tri âm, tri kỷ của họ được kết nối, được lưu giữ truyền đời. Ông Hàn chết đã lâu, nay cảm thấy mình sắp đến lúc cũng lên tàu đi gặp bạn, không làm được điều đó, ông Đồ không yên tâm nhắm mắt, ông còn mặt mũi nào để gặp ông Hàn! Chỉ có thế, mà ông gọi cả nhà lại, và ông bảo rằng ông sắp chết, ông bảo rằng ông quyết định gả chồng cho con gái, chị Nhạn phải lấy anh Đê. Dường như còn bao nhiêu chút sức tàn trong một con người đang đến gần cái chết, ông dồn vào giọng nói, ánh mắt, cử chỉ, khiến nó mê hoặc, nó thu phục lạ thường, làm cho cả nhà chị, từ bà Đồ, tới chị, và các em của chị, chỉ còn cách quỳ thụp xuống bên giường ông, vừa khóc, vừa lạy, nguyện làm đẹp lòng người sắp đi xa.
Hai họ gấp gáp lo đám cưới chạy tang, đau đớn thay, nhà trai mới chỉ kịp đội những mâm lễ vội vàng sang nhà gái, chữ ký trên tờ giấy kết hôn còn chưa ráo mực, đám cưới chưa kịp diễn ra, thì ông Đồ đã vội đi rồi.
Chị Nhạn như già đi mười tuổi, mắt thâm quầng, vì thương tiếc bố, vì cám cảnh cho thân phận chính mình, chỉ vì muốn cho tròn chữ hiếu, gật đầu một cái, mà cuộc đời thành ra rẽ sang ngả khác. Nay thì bố mất, tình không, chị bỗng dưng lại thành gái có chồng, mà đã kịp sống với nhau ngày nào! Vậy nên giữa chị và anh Đê, tình vốn đã không, còn cái nghĩa được tạo nên theo kiểu như các cụ ngày xưa, từ những cuộc hôn nhân cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, thì cũng không hề có. Đội trên đầu mâm lễ trả lại nhà trai, chị đến gặp anh Đê, và bảo: “Tôi với anh chẳng bén duyên nhau, tôi nhận gá nghĩa với anh chẳng qua vì chữ hiếu, nay bố tôi chết rồi, tình yêu giữa chúng ta không có, có sống với tôi, anh cũng chỉ được hưởng phần xác, tôi có đẹp đến mấy rồi cũng có lúc tàn phai, rồi anh cũng sẽ chán, vì cái phần hồn của tôi nó không thuộc về anh, rồi anh sẽ khổ, và tôi cũng khổ, nếu có con cái với nhau, rồi chúng cũng chẳng sung sướng gì. Thôi thì tôi lạy anh, tôi lạy anh trăm lạy, tôi lạy anh nghìn lạy, hãy thương tôi, anh thả tôi ra, anh tha cho tôi kiếp này, nếu như có kiếp sau, thì tôi xin trả nợ…”. Chị nói nhiều lắm, và khóc, anh Đê thấy thương chị, chị đẹp quá, chưa bao giờ anh biết đến xúc cảm yêu đương, đối với chị Nhạn, trong lòng anh chưa hề nảy sinh một tâm trạng, một niềm đê mê. Trước đó, chưa bao giờ anh dám nghĩ đến chị, chuyện hai ông cụ ngày xưa, thì cũng nghe thế, nhưng anh không dám nghĩ sẽ thành chuyện thật. Lúc bên ông Đồ đánh tiếng gả con gái cho anh, anh ngỡ ngàng tưởng như mơ, anh mừng lắm, anh thích lắm, bất ngờ như được của trời cho, một cô gái mà anh chưa bao giờ dám mơ ước tới, bỗng dưng thuộc về mình, như người ta bỗng dưng được bạc. Anh không thuộc loại người người cả nghĩ, sâu sắc, tự nhiên có được vợ đẹp, thì thích, thế thôi, anh sống đơn giản, vô tư, sau mỗi buổi đi cày về, là đi thả diều, rồi về nhà hút thuốc lào, rồi ăn cơm, rồi lăn ra ngủ, cứ thế, sáng mai ra, lại dậy sớm, lại ra đồng… Chẳng phải là loại người ham hố, nên thấy chị khổ, nhìn chị khóc, anh thấy mủi lòng, anh đỡ chị dậy, lần đầu tiên trong đời, anh làm một việc săn sóc cho một người con gái, ấy là lấy khăn mùi xoa lau nước mắt cho chị, bàn tay anh run run, đôi mắt anh rưng rưng, và bỗng chốc nhạt nhòa nước mắt…
Buổi xử ly hôn cho anh chị trời mưa to, tháng Tám, đang mùa giông bão, tôi bám theo như một đứa trẻ theo chị đi chơi. Mọi việc diễn ra nhanh gọn, trôi chảy, chỉ có những tiếng hỏi và trả lời gọn ghẽ, không một tiếng cãi nhau, cũng không một lời trách móc.
*
Chiến tranh ngày càng ác liệt, anh Đê lên đường ra trận, và đã không trở về, cuộc hôn nhân đầu tiên của chị Nhạn là như thế.
Thời loạn, trai làng xấu tốt gì rồi cũng lần lượt lên đường, là cảnh “giai thời loạn…”, ở làng chỉ còn lại là mấy anh què, vài ba ông góa vợ, có người những tưởng đây là cơ hội để léng phéng, để lợi dụng, đánh tiếng hỏi chị Nhạn, không được, lại quay ra dèm pha. Chị gầy ốm đi nhiều, mặt trở nên xương xẩu, tóp lại, làm nổi rõ hai gò má cao, đã xì xào đây đó, miệng lưỡi của mấy kẻ có thói thị phi, rõ ra là cái tướng sát chồng. Chị buồn và tức lắm, chị xin đi làm công nhân, để lại đằng sau một khoảng đời của tuổi trẻ, sắc đẹp, nhưng đầy những kỷ niệm buồn.
 
Tôi trở lại thành phố, lớn lên, trưởng thành rồi đi xa, những lần về Hà Nội, thỉnh thoảng cũng gặp lại chị Nhạn, chị hay ra thăm gia đình tôi. Rồi chị Nhạn lấy chồng ở tuổi ngoài ba mươi, là công nhân kỹ thuật, đã được đi học nghề ở nước ngoài, hai vợ chồng cùng một nhà máy, ở một huyện ngoại thành Hà Nội, được cấp nhà tập thể, chật chội, nhưng là một tổ ấm. Đang như một cây khô trên đất cằn, nay gặp nước, có tay người chăm bón, trông chị tươi tắn, trắng hồng, ngất ngây một vẻ đẹp của người đàn bà đang vào độ chín muồi. Hai đứa con, một trai, một gái, cũng đẹp như tranh vẽ, cuộc sống của gia đình chị như bao gia đình công nhân khác thời đó, vất vả, nghèo khó trong một sự vừa vặn, vừa vặn với sức chịu đựng, và quen thuộc với cái khổ chung của cả xã hội. Cũng mừng cho chị, hạnh phúc đến tuy muộn màng, nhưng ra chiều chắc chắn, bình dị. Mỗi lần về làng, vợ chồng chở nhau xe đạp, chuông bấm kính coong, chồng áo sơ mi trắng, cài cúc cổ, quần ka ki xanh, vợ áo phin hoa, quần lụa, con cái thấy hồng hào trên mặt, áo hoa trên người, lủng lẳng trên ghi đông xe là gói nhỏ, gói to, những món quà rẻ tiền, nhưng cũng nhuốm màu thành thị. Đã có nhiều ánh nhìn thèm khát vào gia đình chị, từ những người ở làng, số phận tưởng như đã được an bài, một quãng đời bình yên êm ả trôi…
Thì đùng một cái, anh mắc bệnh ung thư! Cái bệnh ung thư quái ác đã cướp đi người chồng của chị, người bố của những đứa con chị nhanh quá, trong vòng chưa đầy nửa tháng. Chị Nhạn như người mất hồn trong hàng năm trời, và chị lờ mờ cảm nhận về một định mệnh nghiệt ngã, về cái oan nghiệt, bạc phận của kiếp người mà mình phải gánh chịu, đau khổ và đầy lo lắng. Cuộc hôn nhân ngắn ngủi quá, chưa đến mười năm trời, anh đã ra đi khi những đứa con chưa kịp lớn, tài sản chẳng có gì, lại đúng vào cái thời gian nan nhất của đất nước, xóa bao cấp, thịt phiếu, gạo sổ, lương thợ bậc thấp nuôi ba miệng ăn, hai đứa con đi học! Mỗi tết về gặp lại chị Nhạn, tôi cứ có cảm giác như sau hàng chục năm trời, vì chị già đi nhanh quá, cái già, cái khổ, cái vẻ tàn phai cứ chen lấn nhau trên khuôn mặt chị, đến cái dáng dắt chiếc xe đạp cũng cứ ngả nghiêng, như người sắp ngã. Nhìn cảnh chị, ai cũng nghĩ, cứ ở vậy mà nuôi được hai đứa con cho đủ ăn, cho khôn lớn, có việc làm, đã là nan giải lắm. Rồi chị sớm mất sức, phải nghỉ việc, đi bán hàng vặt, tiền kiếm được ngày nào hay ngày ấy, chả dám nghĩ đến điều gì xa xôi. Lâu lâu, mẹ con chị ra chơi, mỗi lần giúp chị, cho các cháu ít tiền, tôi như có cảm giác của người làm từ thiện, cần phải làm một việc gì đó trước một cảnh đời đang nguy cấp lắm. Chị lầm lũi kéo cái phận sống nhọc nhằn ấy đến mười mấy năm trời, thì số phận lại run rủi cho chị… đi bước nữa.
Cứ nghĩ đời người như có những duyên nợ truyền kiếp hay sao, chứ không thế, sao lại có chuyện tự dưng một ông già ngót nghét tám mươi, ở tận đẩu tận đâu bên nước Pháp, lại lò dò về Việt Nam, lại gặp, rồi nên vợ nên chồng với chị Nhạn? Ở cái tuổi ngoài năm mươi như chị, lại khổ thế, lại một nách hai con dở dại dở khôn, ai mà còn dám nghĩ, mà còn dám dấn vào chuyện tình duyên. Cái khốn khó, sự lam lũ, và những cơn bão đi qua cuộc đời tưởng như đã quét sạch, không thương tiếc cái nhan sắc của một thời   ở chị. Nhưng chưa, cái dáng cao cao, tấm thân mảnh dẻ và nước da trắng ngần của chị vẫn còn đấy, nhưng cái chính, đúng hơn là,cái phẩm chất quen lam lũ, cái vẻ tần tảo, tính thu vén và nét chịu thương chịu khó toát ra từ con người chị, đã đập vào mắt ông, đã khiến ông chú ý, đã làm ông xúc động. Sống ở Pháp từ hơn năm mươi năm, cũng gốc nông dân, bị bắt lính, bị đưa sang Pháp làm lính thợ, rồi giải ngũ luôn bên đấy, ông đã hai lần lấy vợ, nhưng rồi cũng chẳng được ở với ai. Lần đầu vợ đầm, được ít năm thì bỏ, lần sau vợ Việt, cũng lại chết sớm, con cái chả có, ông lủi thủi một mình với đồng lương hưu ít ỏi trong căn phòng đúng mười mét vuông giữa Paris hoa lệ. Sang Pháp từ lâu nhưng cái chất nông dân cố hữu, những thói quen, tình cảm, và nỗi ưu tư của anh thợ cày vẫn thấm đẫm trong ông, ông buồn lắm, ông nhớ quê hương, sau lần đầu về thăm quê trở sang, ông càng thấy nhớ, một nỗi cồn cào cứ tấy lên trong gan ruột. Rồi ông gặp chị Nhạn, vào lúc tuổi ông đã ngoài bẩy nhăm, chả còn là sự rung động như ở thời trai trẻ, mà vì ông đang cô đơn quá, đang cần một chỗ dựa lúc về già. Đang ở vào cái quãng trống vắng của buổi chiều hôm, mà cuộc đời lại có được một người đàn bà, lại ở ngay trên quê hương, xứ sở, sẵn lòng ở với ông, hầu hạ ông, thì mừng quá, thì phúc lớn quá đi rồi! Như một người đang hấp hối vớ được thuốc hồi sinh, ông quyết định hồi hương. Chị Nhạn cũng thế, sắp chết đuối lại vớ được cọc, cái cọc gỗ ấy cũng đã èo uột lắm, chả còn được cứng cáp, được rắn chắc như người ta, nhưng là gỗ quý, nó cứu chị và những đứa con của chị vào đúng cái lúc gian nan nhất của cuộc đời.
Ba nghìn quan tiền hưu trí một tháng, là mức lương tối thiểu, là bèo bọt với một người sống trên đất Pháp, nhưng ở Việt Nam là sáu triệu đồng, những sáu triệu đồng, là hàng tấn thóc ở quê, là hàng trăm cân thịt lợn, là hàng tấn ngô khoai, cà chua, bắp cải mà người nông dân quê chị phải còng lưng ra, đổ mồ hôi, sôi nước mắt, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, mới có được. Lấy ông, chị bỗng dưng thành bà chủ gia đình, trở thành chủ của cái tài khoản ấy, đều đều mỗi tháng được nghĩ đến, được tính toán chi tiêu thế nào cho phải, cho thích, lại còn cho dư để có thể dành một chút cất đi. Đấy là chưa kể tới số ông tích cóp được suốt mấy chục năm trời trên đất Pháp, mấy chục nghìn đô ở thời buổi này chả là gì với nhiều người thành phố, nhưng với chị, ấy là một sự khổng lồ. Thế là được tính chuyện mua nhà ở Hà Nội, mua được căn hộ lắp ghép, và trở thành cư dân thủ đô, con cái cũng đi học thêm, thỉnh thoảng còn giúp đỡ được cho ông em, là anh giáo khổ trường làng. Cả ông, cả chị, cứ như phải hơi nhau, lại thấy tươi ra, lại thấy đỏ da thắm thịt, tết nhất bao giờ cũng ra biếu mẹ tôi những cây giò loại ngon nhất, đắt tiền nhất. Chúng tôi hay trêu chị, về “khoản ấy” ông thế nào? Chị cười tươi: “Ôi dào, chả còn gì, vào tuổi này còn thiết gì nữa, đã từ lâu, tôi cũng quên rồi”. Lại kể thêm, như ở ta, về già rồi thì ai giường nấy, nhất là ở nhà quê, nhưng ông quen như ở bên Tây, vẫn bắt chị ngủ chung, nên cũng có rắc rối. Con bé thứ hai, chưa hiểu gì về sự quan trọng và cần thiết của ông đối với gia đình nó, tự nhiên thấy có ông già ở đâu đến giành mất mẹ mình, nó không chịu, nó cứ sưng mặt lên, đòi vào giường với mẹ, chị khổ sở mãi vì nó, mắng nó thì không nỡ, mà giải thích thì nó không chịu hiểu, thành ra nhiều lúc cũng làm ông tức, thằng anh lớn khôn hơn, nó biết, và còn biết làm đẹp lòng ông nữa.
Thì đã đành bây giờ chị Nhạn đã được đổi đời, và với chị, một cuộc sống khác đang trôi đi, đã đầy đủ và sung sướng lắm, nhưng chuyện được ra nước ngoài, được đi Tây, thì chưa bao giờ dám nghĩ, dám mơ tưởng đến, đấy là chuyện của người ta, những người làm ăn lớn hoặc giàu có, còn như chị, trời cho được thế này là may mắn lắm, là phúc lớn quá rồi. Nhưng mà chị đi Tây thật. Đến lúc mở cửa căn hộ, nơi chị đang trú ngụ nhờ ở Paris, vừa nhìn thấy tôi, chị đã nấc lên, và nhạt nhòa nước mắt, thì tôi chợt hiểu.
Hóa ra là do ông đổ bệnh, đàn ông đổ bệnh ở cái tuổi đã ngoài tám mươi là sự bình thường, nhưng cái khác thường là ông còn quốc tịch Pháp, ông được hưởng mọi chế độ của nhà nước Pháp dành cho một công dân, lại là một công dân có công với nước Pháp vì đã từng đi lính, đã từng đánh nhau với quân Đức, vì nước Pháp, nên ông được đưa về Pháp chữa trị. Là vợ của một người Pháp, chị được đi theo, chị phải đi cùng tấm thân thoi thóp của ông, cũng lại với căn bệnh ung thư, sang Paris chữa trị. Nhưng nước Pháp đã không cứu nổi ông, ông ra đi ở chính trên mảnh đất mà ông đã sống suốt mấy mươi năm tha hương, nơi ông đã quá buồn chán, đã tưởng như được vĩnh biệt nó, để trở về Việt Nam, để được sống nốt những giờ phút cuối cùng của cuộc đời, để được chết và nằm lại vĩnh viễn ở nơi mà ông đã mất gần cả cuộc đời cứ đau đáu nhớ thương. Thế mà giờ đây, nơi yên nghỉ của ông lại ở một nghĩa trang gần Paris, chỗ ông nằm là một cái mộ có nhiều tầng, nhiều lớp, ở các tầng dưới là những ông tây, cũng may là còn có vài người bạn đã đi trước của ông, nhưng họ bất hạnh hơn ông, không có được cái đoạn cuối như ông, là có một người đàn bà của quê hương đưa ra mộ.
Rõ thật khốn khổ cho cái thân chị Nhạn, cả đời được một lần ra nước ngoài, được bước chân trên đường phố Paris, lại là để đưa chồng ra nghĩa địa. Ba cuộc hôn nhân, ba người đàn ông đi qua cuộc đời, dù quãng ngắn hay dài, dù khi còn trẻ hay lúc đã về già, cứ đều bỏ chị mà đi. Bây giờ thì rõ quá, người ta bảo chị có số sát chồng, nghĩ mà xót xa cho chị. Những cuộc chiến tranh liên miên đã lấy đi sinh mạng biết bao nhiêu người đàn ông, nỗi bất hạnh đã dập xuống thân phận biết bao nhiêu người đàn bà trên đất nước này, chứ đâu phải chỉ riêng mình chị. Biết bao nhiêu ông chồng đã ra đi trước vợ, có phải bà vợ nào cũng là người có tướng mạo như chị! Thế nhưng với chị Nhạn, đến cái lần tiễn ông lão tám mươi ra mộ, người ta cũng cứ tính vào, cũng cứ bảo là do chị, cái gò má cao như thế…
 
Đầu năm 2003
Chú thích : TGV = Train Grand Vitesse = tàu cao tốc




0
Đêm phiền muộn
 
 
Chị không ngủ được, cũng nửa đêm rồi, trằn trọc mãi, nghiêng bên nọ, ngả bên kia, mắt đau đáu nhìn lên trần nhà, cái trần nhà thấp lè tè tuy mới được quét lại một màu sáng dịu nhẹ nhưng vẫn không thể làm cho lòng chị dịu đi, chị vẫn cảm thấy như có cái gì đó nằng nặng, ngột ngạt đè xuống căn phòng. Cũng may, còn cái cửa sổ nhỏ đang mở, nhưng ngoài kia, cũng chỉ là một khoảng trời đêm nho nhỏ hiện ra. Thu rồi, nhưng sao đêm nay trời nóng thế, tiếng vo vo của cái quạt cũ đứng ở góc nhà, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường thả vào đêm những nhịp đều buồn tẻ khiến chị càng cảm thấy thêm mệt nhọc. Bên mẹ, hai đứa trẻ đã ngủ say, vô tư với giấc mơ hoàng tử. Ở bên kia, sau cánh cửa khép hờ, anh ấy đang ngon giấc sau vài phút họ rời nhau, chỉ còn chị, một mình với đêm, hai hàng nước mắt cứ ứa ra…
 
Từ nhiều năm nay, chị hay bị hành hạ bởi những đêm triền miên như thế. Mỗi khi đêm đến, là chị sợ. Nỗi kinh sợ giống như của một người có bệnh mãn tính khi trở trời. Lần nào cũng vậy, sau khi “phải làm” chuyện ấy với anh, chị không tài nào ngủ được. Từ lúc chập tối, sau bữa cơm chiều, cái vẻ ỡm ờ, cố tỏ ra “tình cảm” một cách đột xuất của anh, lăng xăng hỏi han, nói cười lơi lả, đã khiến chị thấy sợ, nó giống như những dấu hiệu ban đầu của một cơn đau sắp đến. Nghĩ cũng lạ, lúc bình thường, chẳng mấy khi có được cho nhau mấy lời ngọt nhạt, chỉ khi ấy… Những tưởng vợ chồng với nhau, thì “chuyện ấy” phải là điều tự nhiên lắm. Nó phải đến một cách thật nhẹ nhàng, êm ái. Lúc chuyện phiếm ở cơ quan, chị thấy bây giờ người ta hay bàn về chuyện ấy, là cái chuyện “chăn gối” của đời sống vợ chồng mà trước kia cứ mỗi lần đám đàn ông tán chuyện thì chị em trong phòng chỉ dám đỏ mặt quay đi, tủm tỉm cười. Còn bây giờ, lắm mồm nhất lại là mấy bà sồn sồn có chồng, thi nhau mang chuyện mình ra kể, thích thú lắm, bạo dạn lắm, như để khoe khoang, để hãnh diện, để làm chuyện tiếu lâm và chọc ghẹo lẫn nhau, cứ tự nhiên, dễ dãi như nói về chuyện tập thể dục hay một thói quen trong sinh hoạt vậy. Họ nói về số lần sinh hoạt vợ chồng trong một tuần như thể nói về số ki lô mét trong mỗi lần chạy bộ buổi sáng, hoặc nói về một thói quen tình dục theo kiểu như nói về thói quen uống cà phê sáng với ý thích nhiều hay ít đường. Chỉ có chị là bẽn lẽn, chị thường ngồi lặng im như người ngoài cuộc, thỉnh thoảng họ quay ra trêu chị, họ bảo chị “tầm ngầm mà đấm chết voi”, chị đỏ mặt, cười trừ, họ tưởng là đã chạm đúng “tim đen”  chị, nhưng thực  ra là chị ngượng, ngượng lắm. Là đàn bà đã có chồng, chị không xấu hổ gì về “chuyện ấy”, mà chị ngượng vì hoàn cảnh riêng của mình, nó chả giống ai, chả được như ai, chị muốn được như mọi người, cái ao ước tưởng là đơn giản quá, hiển nhiên quá, cái cảm giác người vợ được sung sướng bên chồng, được dâng hiến, được hòa quyện, được thăng hoa cùng chồng đến cái tột đỉnh của niềm hoan lạc ái ân. Như bao người đàn bà khác ở tuổi bốn mươi, còn đầy những khát khao và ham muốn, nhưng chị khát khao một cái gì khác lắm, nó phải bắt đầu từ những xúc cảm yêu thương, của một đời sống vợ chồng yên ổn, nó phải đến một cách từ tốn, nhẹ nhàng đầy thi vị. Đằng này, lại ra là như thế, vợ chồng ai lại cứ “vờn” nhau, như gà trống vờn gà mái, cứ phải “vỗ cánh, xù lông”, nó khác người quá, và thô thiển quá! Cứ nhìn cái vẻ mặt ưng ửng đỏ và ánh mắt dài dại của anh sau vài ly rượu bổ trong bữa cơm chiều, chị lại rùng mình, phải cố tình đánh trống lảng, cố ý lờ đi, cố giữ những đứa con ở bên như một bức tường che chắn. Nhưng mà không được, anh gầm gừ, anh khó chịu, anh đá thúng đụng nia, anh mang những đứa trẻ, chỗ dựa cuối cùng của chị ra hành hạ, rồi chị phải đầu hàng, phải làm việc ấy như một sự trả nợ. Lúc ái ân, trước sự hùng hục của chồng, chị cứng đờ ra, lòng tê dại. Chị muốn khóc vì sự trống trải, chị muốn khóc vì cảm thấy cô đơn, chị cảm thấy tủi thân, như một người bị cưỡng bức phải chèo một con đò nặng qua sông, rồi lại thấy như mình có lỗi, với chồng sao mà như “ngủ khoán”, chị không muốn thế, đôi lúc nghĩ đến cái nghĩa, chị muốn khác đi, mãi mà không cố được.
Mấy năm rồi, ở một góc nhìn nào đó, họ sống với nhau mà cứ như những người cùng “ở trọ”. Tuy cùng dưới một mái nhà, ra vào cùng một cửa, một lối đi về, thậm chí chung bát, chung mâm, lại có chung hai đứa con xinh đẹp, kháu khỉnh, mà sao như lại chẳng chung đụng gì. Có một không khí rất nguội lạnh và tẻ nhạt giữa họ. Họ gọi nhau bằng những đại từ nhân xưng nghe rất chống chếnh, kiểu như “bố nó…” hoặc “mẹ nó…”, gọi nhau như thế, bảo là tình cảm còn đang lúc ấm nồng thì cũng được, nhưng lạnh nhạt rồi cũng chẳng sai, nghe chẳng ra thân mật, cũng chẳng ra xa lạ. Họ phân chia nhau một cách rạch ròi và sòng phẳng cái trách nhiệm về kinh tế, người này trả tiền điện, tiền nước thì người kia đóng điện thoại và gas. Mỗi tháng chị nhận một khoản trích ra  từ số tiền thu nhập thường là rất bí mật của anh, khoản ấy tương đương với 20 ki lô gam gạo cho cả gia đình, còn lại là tất cả, thực ipềhnẩhmọ,cthành cho con cái, những lúc ốm đau, sửa chữa nhà
cửa, tất cả những gánh nặng ấy đều chất lên đôi vai gầy guộc và tấm thân khẳng khiu của chị. Chị nhẫn nhục chịu đựng, ấy là vì chị là người có lỗi, cái lỗi lầm mà xét căn nguyên của nó, cũng là bắt nguồn từ chính sự chấp nhận hy sinh, sau đó là tính tin người của chị.
 
Năm ấy, sau khi ở nước ngoài về, họ đã có một số tiền kha khá. Anh là một nhà khoa học, một tiến sĩ, anh muốn được làm chuyên môn và được cống hiến hết thời gian và tâm lực của mình cho sự nghiệp khoa học cao cả ấy. Anh hay bảo: “Tôi không sống vì tiền”, chị thấy phải, cứ nhìn mấy ông tiến sĩ ở lại Đông Âu, người ra chợ bán áo quần, người thành ông chủ, cũng tướng soái cả đấy, nhưng giữa cái xã hội láo nháo chợ búa ấy, dưới con mắt của một người mê khoa học như anh, họ là những người hèn cả, cứ “nhếch nhác” thế nào. Anh thích làm và thích có tư thế của một “kẻ sĩ”, sống ở trời Tây vào thời buổi này với anh là không hợp, anh không muốn làm công dân loại hai, anh phải về. Khốn nỗi, ở xứ sở văn minh như thế, mà thân phận cái anh trí thức cũng chỉ là một kẻ làm thuê, mà cũng không hẳn đã là đủ sống bằng đồng lương của mình, huống chi là về nước, huống chi là anh, một con người trọng đạo làm khoa học, khinh rẻ tiền tài, thế thì chị phải vì anh, vì sự nghiệp của anh, cũng là vì cái tổ ấm của anh và của chị, chị sẵn sàng làm tất cả, để anh yên ổn với cái đạo của mình. Rồi chị đi buôn, chị nhận về mình cái phần việc đầy bấp bênh, trắc trở ấy. Những chuyến đầu có lãi, tuy rất mừng, nhưng chị cũng chỉ dám khoe với chồng về món lời khiêm tốn của những chuyến hàng đầu tiên ấy với một giọng nói đầy bẽn lẽn, chị tưởng là anh sẽ thờ ơ, sẽ lạnh nhạt, nhưng không, khi nghe đến số tiền lời, anh ngạc nhiên và trong ánh mắt có vẻ gì long lanh lắm, chị chợt nhận thấy rằng anh rất vui, anh thích lắm. Hóa ra là không phải, anh không chỉ thích làm kẻ sĩ, mà anh cũng thích làm người có tiền nữa. Làm kẻ sĩ, đã đành thì người ta trọng, nhưng là người có tiền nữa thì tốt quá, thì sướng quá. Xưa nay ở xứ mình, thường người ta hay nhìn mấy ông có tiền như là thằng trọc phú, văn hóa mỏng, nhưng mấy ông trí thức hoặc văn nghệ sĩ thường lại hay nghèo, mà cái nghèo lại hay đi với hèn, khổ thế, chứ nếu vừa có tiền, vừa có tiếng, lại được thong dong mà ngồi đọc sách, mà ngồi viết lách, thế thì thích quá, thế thì còn gì bằng. Đời làm thằng đàn ông như cụ Khổng dạy, có ba việc mà làm được, tức là thành công lắm, ấy là làm nhà, lấy vợ đẻ con trai và viết sách. Nhà thì chưa làm được, đang phải ở thuê, con trai kháu khỉnh đấy rồi, anh chưa viết cuốn sách nào, nhưng đi dạy cũng là đang làm công việc về chữ nghĩa, cũng như là viết sách vậy. Cho nên phải mua đất, phải làm nhà, phải có tiền, thế thì cái việc chị bươn chải đi buôn, nó là phải quá, nó là hợp lẽ quá. Nhưng mà chị không có nòi buôn bán. Cũng vẫn là chuyện làm ăn chung đụng với người ta, vẫn phải tin người, có gan và có “số” mới giàu được, chị có gan, có đức tin người nhưng giời không cho “số”, và chị bị mất, mất mà còn mang công mắc nợ. Lúc đấy thì anh gầm lên, anh tiếc của, tiếc lắm chứ, lời ba mà mất chín, vốn liếng cũ tích cóp được cũng chẳng còn, trong số đó, thực ra cũng là tiền chị làm ra là chính, nhưng dù có là “công vợ” thì cũng có phần “của chồng” trong đó, chị thông cảm với nỗi tiếc của anh, chị sống cun cút bên anh như một kẻ có tội, với một niềm ân hận dằng dai mãi.
Chị chịu đựng, chị đầu tắt mặt tối làm lại từ đầu, không quản ngại bất cứ việc gì miễn là ra tiền mà không tổn thương nhân phẩm, nhưng cũng chỉ là kiếm vặt. Với tai nạn ấy, chị mất luôn niềm tin của anh trong vấn đề tiền bạc, anh đã treo lên cuộc đời của chị một cái án lửng lơ, không thời hạn, như một sự trừng phạt. Và anh đã áp dụng với chị sự trừng phạt đó về kinh tế theo đúng nghĩa đen đầy đủ nhất của nó. Anh tuyên bố chỉ có trách nhiệm trong một giới hạn, với cái cái giới hạn ấy, ngay cả việc chỉ lo cho đời sống của riêng anh cũng đã là không sao đủ được. Lúc đầu tưởng là anh dọa, hóa ra anh làm thật. Anh thu nhập mỗi tháng bao nhiêu, chị không được biết, thỉnh thoảng thấy đi làm về, anh vào phòng đóng chặt cửa, loay hoay gì trong đó, hóa ra là để đếm tiền, rồi cho vào chiếc cặp có khóa số, rồi lại cất cặp vào tủ riêng, rồi khóa lại, ấy là do thằng con trai tám tuổi kể lại, chứ chị nào biết được. Một lần nó xin tiền học, chị chưa có, nó thì thầm bảo: “Bố nhiều tiền lắm, vẫn để trong tủ ấy”.
Anh muốn giấu chị nhưng có khi không để ý đến “tai mắt nhân dân” là ông con, người được “đặc quyền” ở bên lúc bố nó đếm tiền. Chị hỏi, thì anh điềm nhiên bảo: “Tháng này tôi đã mua cho nó cái bàn học, việc ấy cô lo!”, giọng anh tỉnh lắm, không một chút biểu cảm, không vui, nhưng cũng không hề tỏ ra bực bội, trách nhiệm đã phân rồi, thì cứ thế. Nhưng đến cái lần thằng bé nằm bệnh viện, ở phòng cấp cứu, bác sĩ kê một cái đơn thuốc phải mua ngay, đắt quá, chị không có đủ, hỏi đến anh, vẫn với giọng lạnh lùng vô cảm ấy, anh đã từ chối thì chị không còn chịu nổi nữa, không tin vào tai mình nữa. Chị nghẹn lại, lòng uất hận đến không nói nổi một câu nào, tự hỏi đời mình đã làm gì để phải bị trời đày ra nông nỗi thế, chả lẽ chỉ vì cái sự rủi ro ấy mà cuộc đời chị lại phải chịu một mức án cay nghiệt đến vậy sao? Chị không lý giải được, tại sao trên đời lại có một người đàn ông “thù dai” đến vậy, trơ lì đến vậy… Ừ thì tiếc của, ừ thì căm tức vợ, nhưng còn con cái, với con chẳng lẽ lại có thể lạnh lùng đến vậy được sao! Chị cảm thấy đổ vỡ tất cả, uổng phí tất cả, và dường như vô nghĩa tất cả, những chịu đựng côi cút của chị, những lầm lũi hy sinh của chị bấy lâu nay. Thế nhưng chị cứ phải sống bên chồng, lãnh đạm và nhẫn nhục. Vì con, chị sống như kiểu đời sống của một con gà mái hằng ngày cần mẫn đào bới và giương cánh để ấp ủ, để chở che cho lũ gà con của mình. Hình ảnh anh trong tâm trí chị như một cái gì đó vừa cụ thể, vừa mơ hồ. Có đấy mà tưởng như không, như không mà thành có. Rõ ràng là đấy, một ông chồng hiển hiện, bố của hai đứa trẻ, con chị, ngày hai buổi đi về, cũng trêu đứa nọ, chọc đứa kia, nhưng mà cứ chập chờn, ẩn hiện thế nào. Lúc phải nhắc đến trách nhiệm tiền bạc, ấy là lúc chị nhìn chồng ra là một người cùng ở trọ, lúc chồng lởn vởn ở bên, chị lại nhìn anh với nỗi khiếp sợ của một con mồi. Nhiều khi ngồi nhìn anh, ngắm nghía anh, chị chợt có cảm giác giống như đang ngắm một bức tượng, loại tượng thạch cao đúc sẵn, đẹp, mịn màng, trơn tru, sạch sẽ, cao một mét bảy mươi, người cân đối, thật chuẩn mưc về hình thể, mái tóc bồng bềnh xõa xuống vầng trán thông minh, nhưng sao có một cái gì đó làm chị cứ cảm thấy tiêng tiếc, như là sự vô hồn. Nhất là những khi anh mải mê bên máy vi tính, đôi bàn tay nhoay nhoáy lướt trên bàn phím, mắt đăm đăm vào màn hình với trò chơi điện tử hay mê mẩn theo các dòng tin trên internet. Chị bỗng đâm ra cố chấp, và dễ có ác cảm với mọi hành động của anh, những hành động mà ở một gia đình bình thường khác dường như sẽ chả có gì là “ầm ĩ” cả. Chị khó chịu với khói thuốc lá anh phả ra, khó chịu với những tiếng động, tiếng bước đi mỗi lần anh dậy sớm. Và chị hay suy diễn, cho là anh cố tình muốn làm chết cây của chị trồng mỗi lần anh hắt nước trà vào chậu cảnh, chị tưởng là anh muốn phá giấc ngủ của chị khi anh dậy sớm bật máy giặt áo quần… Tức mãi đâm nhàm, và chán. Chán ngay cả “cái sự tức” ấy. Chị trở nên chai lì tự lúc nào, không còn cảm xúc, thậm chí chị mất cả cảm giác tức giận ngay cả khi chồng bực mình vô lối, đập phá đồ đạc, nhà cửa như một người điên. Chị chỉ nhìn anh vô cảm, lại thấy anh cứ tồi tội thế nào, không cãi cọ, chị âm thầm nhặt nhạnh từng mảnh vỡ vứt đi. Có lúc nghĩ quẩn, chị ao ước, thà anh cứ hư hỏng, cứ sa đọa như nhiều người đàn ông khác ở thời buổi bây giờ, cứ rượu chè, gái gú, lại ra một nhẽ khác. Đằng này, anh lại sống cực kỳ mẫu mực, không đi sớm về khuya, không bồ bịch, rượu chè, sau những buổi đi dạy ở trường là anh về nhà đúng giờ, như một bộ máy hoạt động chính xác. Anh nguyên lành quá, anh sạch sẽ quá, một con người như thế, học thức như thế, mà lại không một chút gì xúc cảm, vợ ốm nằm trên giường không đi chợ được, mở nồi thức ăn thừa từ hôm trước, vẫn cứ điềm nhiên mà bảo: “Chợ búa làm gì, cứ ăn cho hết đã!”. Lúc lại có thể quát tháo ầm lên chỉ vì cái tội cả nhà dùng giấy vệ sinh tốn quá, tính toán với vợ từng đồng, cứ dửng dưng cất chặt tiền trong tủ trước sự tảo tần khốn khổ của vợ trong nỗi lo cơm áo. Mấy tháng nay, xót tiền điện thoại quá, anh đóng cái hộp gỗ, có móc khóa “nhốt” cái máy điện thoại lại. Ngoài anh ra, ba mẹ con chỉ có nghe mà không gọi đi được. Nhìn cái khóa treo lủng lẳng như một câu hỏi hư vô, chị thấy buồn nôn, và cứ nghĩ mãi, ra là lạ nhỉ, nó là thế nào, nó bắt nguồn từ đâu, là tính cách của một người đã phải chịu đói khổ quá nhiều, hay là văn hóa, cái văn hóa ứng xử ấy, phải chăng giữa học vấn và nó là một khoảng cách mà không phải ở mỗi người, cứ đạt được cái nọ thì ắt cũng sẽ đạt tới cái kia. Thì đấy, nhiều ông trí thức bây giờ còn có năng khiếu hành xử với nhau mang đậm sắc màu xã hội đen, như mấy ông thuê người tạt a xit, lại dùng đến cả mấy tay đâm thuê chém mướn. Xét về hiểm họa và sức công phá, một trái tim vô cảm trong một con người có cái đầu thông minh và học thức có lẽ không kém gì và có phần mạnh mẽ hơn so với cái bạo lực của một kẻ cục cằn, ít chữ. Tệ nhất là với tình cảnh như thế, mà anh không chán vợ, anh vẫn thèm khát cái thân xác của vợ, chỉ thân xác thôi, như một con nghiện, lúc trên giường, anh vẫn rít lên “thương lắm, thương lắm…”, anh lăn xả, anh ngấu nghiến, anh thỏa mãn…
“Tên em bắt nguồn từ một dòng sông, nơi bố em gặp mẹ…”, những lúc buồn trong đêm, chị thường thích nghĩ về ký ức của một thời. Ký ức ấy như một bàn tay mềm mại, nó vuốt ve nhè nhẹ vào cái chỗ tấy đỏ trong lòng, như một cơn mưa nho nhỏ, nó cứu vãn chị, làm dịu đi nỗi bức bối nóng bỏng trong lòng chị. Cái ký ức ấy thường trở về như thế, với cái câu mở đầu của câu chuyện cổ tích lãng mạn về mối tình của cha mẹ chị, chị hay kể đi kể lại với anh trong trong góc vườn lặng lẽ vào những buổi tối bên nhau, bên con người của nỗi xúc cảm đầu đời với chị, và lần nào cũng vậy, anh cứ ngồi lặng đi. Chị đã bắt gặp ánh mắt của anh, vào một buổi sáng, anh ngồi bên kia, trên chuyến tàu ngoại ô đi ngược lại, một khoảng khắc rất thoáng qua, nhưng nó như tia chớp của một cơn giông bão, rồi hai ánh mắt ấy cứ tìm nhau như một nỗi thôi thúc, mỗi buổi sáng chị bước lên tàu tới nơi làm việc với đầy dự cảm trong lòng… Họ chưa một lần nói lời yêu, nhưng cho đến nhiều năm sau này, chị vẫn hiểu rằng đấy là một mối tình, và với chị, nó sẽ còn là nỗi ám ảnh, nó sẽ là mãi mãi. Khi ấy, chị đã không đủ sức để vượt qua được lòng kiêu hãnh của mình, để đến với một tình yêu đích thực. Anh từng trải quá, còn chị thì trong trắng quá, chị sợ… Rồi đến lúc chị cảm thấy cần phải lấy chồng, chị đã lấy chồng mà chưa kịp yêu, cũng vì lúc ấy, anh, người chị lấy làm chồng sao mà nguyên lành thế, cần mẫn thế, anh có đầy đủ phẩm chất của một người đàn ông đứng đắn, sống ở nước ngoài, ở cái nơi mà người ta có thể ngủ với nhau chỉ sau hai lần gặp mặt, anh không cặp kè với ai, chỉ biết học hành. Cũng vì chị tưởng rằng, để làm một người chồng, anh như thế là quá đủ. Nhưng bất hạnh thay, những năm sống với nhau sau này, trái tim mẫn cảm trong con người chị lại không chịu hiểu như thế, lại không chịu chấp nhận như thế, nó không đập theo cái nhịp mà lý trí mong muốn, nó không chịu thỏa hiệp. Chị đau đớn nhận ra rằng, những “phẩm chất chuẩn mực” đầy lý tính ấy của chồng bỗng trở nên vô nghĩa, một khi nó không thể làm được một việc là lấp đi cái khoảng trống vắng vô hạn nơi trái tim chị, nó không một chút làm ấm lên cái khoảng trống vắng lạnh lùng ấy. Chị như bị đẩy sâu hơn vào bi kịch, vì cái nhan sắc ở tuổi đã ngoài bốn mươi nhưng vẫn chưa chịu nhạt đi cái vẻ mặn mòi, cái ánh vẻ cứ rơi vào ao nào là làm “chết cá” ao đấy, chị cứ phải chống chọi vất vả với nó, chị cố tình ăn mặc lôi thôi, không trang điểm, chị cứ để nguyên cái vẻ thẫn thờ, phờ phạc của những đêm mất ngủ trên khuôn mặt. Nhưng chị biết rằng, đàn ông vẫn cứ điên lên, điên lên vì chị, và mỗi đêm trong bóng tối, lúc phải đối diện với chính mình, từ trong sâu thẳm cõi lòng, chị hiểu rằng, không phải đã ngủ yên những khát khao về hạnh phúc. Nó vẫn còn đấy, nó thôi thúc, nó như một con sóng ngầm, chỉ chờ một cơ hội, nó sẽ trào dâng, sẽ phá phách và làm vỡ tan đi tất cả, những chịu đựng, những dồn nén, những ám ảnh về một chuẩn mực đạo đức mà chị cố giữ gìn và đeo đuổi. Có những lúc chị cảm nhận được hình như ở một nơi nào đó, lờ mờ một chút bóng dáng, thấp thoáng một hình ảnh của hạnh phúc mà chị mơ tưởng, mà chị có thể vươn tới, có thể đạt được, nhưng để đi đến đó, có khi, có đoạn, là con đường ngược chiều đầy bất trắc và những hiểm nguy rình rập, trên con đường ngược chiều đi tìm hạnh phúc đó, có thể chị sẽ đến nơi, nhưng với đầy hình phạt và thương tích. Cho nên chị sợ, mà cái hạnh phúc chị đang thèm khát ấy, nó có hình dạng gì đâu, nó có thật hay không, hay lúc chạm tới rồi, hóa ra cũng chỉ là ảo ảnh?
 
Sự tĩnh mịch của đêm cứ lạnh lùng đẩy chị chìm sâu vào nỗi cô đơn của kẻ độc hành. Bao giờ cũng vậy, trong những đêm như thế, chị luôn có cảm giác của một người đang phải cuốc bộ một mình trong đêm tối, hết lang thang với mọi nẻo đường của ký ức, lại lầm lũi quẩn quanh trong những ngõ cụt của hiện tại. Đêm  cứ dài thăm thẳm, tiếng ngáy khè khè vẳng sang từ gian bên như cứa vào lòng chị, khiến chị muốn bật dậy, chị chạy nhanh vào nhà tắm, chẳng muốn bật đèn, chị không muốn nhìn thấy gì nữa lúc này, chiếc váy ngủ rơi xuống, chị thèm những tia nước, và muốn để những giọt nước mắt cứ việc lã chã tuôn ra, tự nhiên, không kìm nén. Có một chút ánh sáng lọt qua khe cửa, hắt qua người chị rồi in lên bức tường một hình bóng lờ mờ, nhìn cái đường cong còn đầy gợi cảm của chính mình, chị nở một nụ cười trong những tiếng nấc nức nở vang lên.
 
Cuối năm Nhâm Ngọ 2002




0
Đi khách
 
 
Vào giữa mùa hè, chuyến bay từ Madrid về Amsterdam đầy ắp dân du lịch châu Âu, giữa lố nhố những thân hình vạm vỡ, những mái tóc đủ sắc màu, những khuôn mặt, những bộ ngực, những bắp đùi đỏ au như tôm luộc của đám khách Tây vừa đi phơi nắng trở về từ vùng biển Địa Trung Hải, tôi bỗng chú ý tới một cái “đầu đen” nho nhỏ cứ luôn ngọ nguậy trên hàng ghế phía trước, cái đầu đen ấy cứ trồi lên thụt xuống, lúc ẩn lúc hiện trước tấm dựa lưng của ghế ngồi như một con rối được giật dây ở phía dưới. Bao giờ cũng thế, mỗi lúc rong ruổi một mình trên những nẻo đường xa, trong những chuyến bay dài hay khi lăn lóc đợi chờ ở sân bay giữa hai chuyến bay nối tiếp, cái cảm giác cô đơn nó mới thấm thía làm sao, nó làm người ta thường ao ước được gặp một người bạn đường, và sẽ thật hạnh phúc, nếu như người bạn đường ấy lại cùng dân tộc, cùng tiếng nói. Tôi thầm cầu nguyện cái “đầu đen” kia sẽ là người bạn đường đang ao ước của tôi, và tôi cũng linh cảm như vậy, bởi mái tóc cắt ngắn với những sợi tóc cứng ngắc cứ đâm ra tua tủa, dựng ngược, bởi cái cổ khẳng khiu, gầy guộc và nước da mai mái đen. Hình như cũng linh cảm được là có người đang chú ý đến mình, cái “đầu đen” cứ chốc chốc lại quay xuống, nhìn về phía sau. Thì đúng là châu Á rồi, nhưng là nước nào, với nước da ngăm ngăm, mai mái kia chắc không thể là Trung Quốc, Triều Tiên hay Nhật Bản, nó cũng chưa đủ cái độ sẫm màu của những anh chàng người Phi, Indo hoặc Mã Lai… sang châu Âu lao động trong nghề đánh cá thường gặp ở các sân bay châu Âu, hay là Việt Nam, và tôi thầm hy vọng…
 
Thì bất chợt, “đầu đen” từ từ đứng dậy, từ từ tiến đến chỗ tôi ngồi, nhoẻn một nụ cười để lộ ra hai hàng răng vàng khè, khấp khểnh như những luống cày vội trên đồng:
-      Chào bác!
-      Vâng, chào anh, từ đằng sau, tôi cũng đoán anh là người Việt.
-      Không những thế, lại cùng “đồng bằng Bắc Bộ” với bác nữa kia.
Tôi hơi bất ngờ, vừa vui mừng, vừa thấy lạ. Thường ở nước ngoài, trong những lần gặp nhau, làm quen như thế, khi người bắt chuyện chưa xác định được người nói chuyện với mình là ai, người nước nào, thì câu cửa miệng thường là: “Where are you from? - Anh từ đâu tới?”. Thế mà ở đây, người hỏi lại khẳng định một cách tự tin như thế, thì chắc hẳn, anh ta phải có một kinh nghiệm, một con mắt rất sành sỏi để nhận biết một người Việt, hoặc là tôi có một sắc diện nào đó rất “đặc trưng”, khiến anh ngay từ đầu đã biết rằng mình không lầm lẫn.
-      Sao anh đoán ngay được tôi là người Việt Nam hay thế?
-      Dân mình có đi cùng trời cuối đất thì cũng chẳng ở đâu có thể lẫn được, ở đâu mà chẳng nhận ra! Như bác đấy, ăn vận thế này, vẻ mặt thế này, thì chỉ có thể là người Việt, em còn biết bác là “cán bộ Nhà nước” nữa, đúng không? Nói chung, chỉ trừ những người sinh trưởng hoặc đã sống ở bên này nhiều năm, còn là em nhận ra ngay, bác nào sang thăm người nhà, bác nào đi buôn, bác nào là cán bộ đi công tác… Bà con mình sang thăm người nhà, thường hay rụt rè, có vẻ nhút nhát, hay nhìn cái nọ, chỉ cái kia, rõ ra cái vẻ của những người lần đầu tiên đến một xứ sở xa lạ, nhưng rất vô tư, hay cười, hứng lên là giữa đám đông có thể cười hơ hớ, và hay dùng nụ cười thay cho ngôn ngữ biểu hiện, lúc nghe người ta nói, hiểu cũng cười, không hiểu cũng cười, có khi thấy người ta nghiêm mặt lại, đưa một ngón tay lên xua xua ra hiệu không được làm một việc gì đó, cũng cười, khiến nhiều thằng Tây tuy đang cáu cũng phải… bật cười. Còn cánh đi buôn, ấy là em nói về lớp doanh nhân mới, lại có vẻ mặt rất quan trọng, rất quen thuộc và lão luyện với mọi thứ, vào “duty free” thường hay mua thuốc lá 555 và rượu Hennessy, những thứ rất thường gặp trên các bàn tiệc ở nước mình. Còn bác, thì đích thị là người Việt rồi, lại là cán bộ nữa, trông mặt nghiêm lắm, tuy chỉ đi một mình nhưng cách ăn mặc thì vẫn thế, giống như nhiều vị khác đi theo đoàn, theo nhóm, ngồi hạng “ê cô”, ăn vận cứ na ná như nhau, nhưng rất lịch sự và nghiêm chỉnh, luôn com lê, cà vạt, giày da, tay xách cặp “dip lôm mat”, nhiều vị hay đội mũ phớt. Các bà cũng phải vét bộ, giày da, như đi dự tiệc. Còn tụi nó, mấy thằng doanh nhân gộc thì ngồi hạng “bi di net” rồi, tụi hạng hai bác nhìn xem, toàn một lũ bẩn cả, quần đùi, may ô, thằng kia mặc vét đấy, chân cũng giày tây, mà lại đánh cái quần soóc, hở ra hai cái cẳng toàn lông lá, nhếch nhác thế.
 
Cứ thế anh nói liền một mạch, khiến tôi bỗng cảm thấy thật thú vị và bị cuốn hút vào mạch chuyện của anh. Nhìn cái vẻ tự tin, dạn dĩ, cái cách nhìn Tây rất “ngông nghênh”, và sự hiểu biết của anh về những điều mà chính tôi, người đã nhiều phen mòn gót ở các sân bay quốc tế cũng còn thấy rất mơ hồ, thì chắc con người này cũng đã sống ở đây từ lâu lắm, hoặc là dân hay lang thang, từng trải, mới có được sự dạn dày như thế. Bỗng dấy lên trong lòng tôi một cảm giác bị kích thích, tò mò, muốn được kết bạn với anh.
-      Anh sống ở Amsterdam hay Madrid?
-      Em sống ở Amsterdam, sang Madrid lần này là “đi khách” đấy bác ạ.
Anh nhấn mạnh vào hai tiếng “đi khách” bằng cách kéo dài giọng nhưng với âm lượng nhỏ hơn, như thể nói thầm. Tôi bật cười vì câu “đi khách” đầy ẩn dụ của anh. Dường như hiểu được sự băn khoăn của tôi, anh tiếp:
-      Nghĩa là dẫn khách đi chơi, chả phải làm gì cả, chỉ đưa họ đi, tìm những nơi làm cho họ “sướng”, mình lại được tiền, như thế em gọi là “đi khách”. Vừa có một đại gia ở nhà sang công tác ở Amsterdam, xong lại muốn đi Madrid xem đấu bò, đi chơi mà một mình cũng chán, cứ nằng nặc bắt em đi cùng, bao luôn tiền vé, chơi xong, về thẳng Sài Gòn rồi.
Và anh kể về mình, nguyên là công nhân xuất khẩu lao động ở Tiệp, năm “bức tường Berlin sụp đổ”, từ Tiệp qua Đức, rồi tới  Hà Lan vào trại tị nạn. Trong thời gian chờ xem xét được cư trú, cũng đã trốn ra ngoài làm rửa bát, phụ bếp, trồng hoa, là những việc làm chui, không chính thức. Cũng phải một đôi lần tham gia vào đoàn người nằm vạ, biểu tình, lăn lộn ra đường, cũng là giả vờ thôi, đả đảo cộng sản vi phạm nhân quyền, cốt để lấy một suất “tị nạn chính trị”. Anh bảo:
-      Nghĩ cũng buồn cười, nhà em có mả ăn vạ gia truyền, đời ông nội thời cải cách ruộng đất đã từng ăn vạ, ấy là bắt “vạ tình”.
Anh kể rằng, lão phú nông hàng xóm mê bà cô út của anh, rồi dụ vào làm công cho lão ấy, rồi lão đòi tòm tem, rồi có chửa, lúc đầu lão chối đây đẩy, tính trốn trách nhiệm, rồi cách mạng vùng lên, rồi cải cách, lão sợ, nhân cơ hội ấy, ông nội anh làm tới, dọa lão, đã can tội bóc lột, lại cưỡng dâm dân nghèo, rồi cũng được lão đền cho vài tạ thóc, để ỉm đi. Đến đời bố anh cũng thế, nhờ vài lần “ăn vạ” mà đổi đời, từ nông thôn đi bộ đội, dạo bẩy nhăm giải ngũ về làng, cũng xấp xỉ bốn mươi, chán nghề nông chân lấm tay bùn, vài năm sau nhảy ra thành phố, đạp xích lô. Vốn ngang tàng, ít biết sợ ai, đạp xích lô nghêng ngang trên phố, xe chở kềnh càng gần nửa tạ, nào trứng, nào cà chua, nào hành củ… cho mấy mối quen ngoài chợ. Đã là xích lô, lại còn xích lô “ghẻ” nữa, nghĩa là gỉ ngoét, từ khung đến vành cứ đen nhẻm, đã thế lốp phải quấn thêm tới mấy lớp cao su ruột xe, vì nó cũ quá, nó mòn và mỏng quá, bánh xe lại chẳng có “gác đờ bu”, gọi là xe cởi truồng, chạy đến đâu tóe bùn lên đến đấy. Mà làm gì có nệm như xích lô Sài Gòn, hay được như xích lô lọng vàng du lịch bây giờ, là xích lô chở hàng, chở gà, chở lợn, nhưng thỉnh thoảng tiếc rẻ, có khách, cũng chở người. Một lần có ông khách Sài Gòn trợn mắt lên hỏi: Xe nhà anh chở người hay lợn? Ông đáp từ tốn: Dạ thưa cụ, xe con chở được cả lợn lẫn người, mời cụ lên. Xe của ông lừng lững đi trên phố như một chiếc xe tăng, chỉ có các xe khác là sợ nó, chứ nó nào biết sợ ai, cứ ngông nghênh giữa đường, chả cần luật lệ, xe máy đẹp, ô tô đời mới phải dè chừng, va vào nó, hay bị nó quẹt vào là rước họa, vừa thiệt tiền, lại mất thời gian. Xích lô sai, thì ông gãi đầu gãi tai, trên răng dưới cát tút, có gì mà bắt đền ông được, còn xích lô mà đúng, à thì chết với ông, ông là dân lao động, ông đổ mồ hôi, ông sôi nước mắt, ông đạp xe quần quật kiếm từng đồng bạc một, mà mày làm xe ông cong vành, vành đã cong vênh thế kia thì còn gì là nan hoa nữa, lại tính thế nào với chỗ trứng vỡ, chỗ cà chua dập nát kia? Anh tài xế chiếc Toyota đời mới mặt tái dại, nhìn khuôn mặt đỏ gay, cái sơ mi bộ đội cũ phanh ra để lộ một bộ ngực nở nang, cơ bắp cuồn cuộn, trên vai vắt chiếc khăn lau mặt đen nhẻm, cái mũ cối kia mà phang một nhát thì còn gì là kính ô tô nữa, thì đi tong cả chục triệu, thôi thì phiên phiến, chong chóng cho xong, thời gian là tiền bạc, thế là ông chủ ngồi bên trong phải rút ví đưa cho tài xế triệu bạc! Cũng “được” vài lần “tai nạn” như thế, ông có một số vốn nhỏ nhoi, thì vừa lúc xích lô bị cấm, may thật, cũng đủ tiền lên “con dim Tầu” cũ, chạy xe ôm tàm tạm. Đúng là cái “số ăn vạ” gia truyền, đến thân anh, đã tưởng sang được xứ người là thoát, là sung sướng, là đổi đời, thế mà nó vẫn còn đeo bám, nó vẫn vận vào. Khi còn in ít, dân tị nạn còn được đón tiếp, được cư xử đàng hoàng, viết thư về kể chuyện, chụp ảnh màu, như ở thiên đường, vợ chồng con cái bồng bế nhau, đứng cạnh ô tô, chồng com lê, vợ váy ngắn sặc sỡ, miệng cười toét toe, sung sướng, hạnh phúc, thế là rầm rập kéo nhau sang, đông quá, Tây nó hoảng hồn, chết thật, thế này thì của đâu, nhà đâu, việc đâu cho đủ, thì phải xiết lại. Không nhận tị nạn kinh tế thì dân ta lại phải mưu, phải tính, phải tìm kẽ hở của nó mà chui vào, sẵn có nhiều mẹo vặt, lại được cái tính chịu đựng giỏi, thế là rủ nhau lập nhóm, đi biểu tình, cho nó có “màu sắc chính trị”. Sau ba tháng lăn đường, nằm tuyết, nhóm “nằm vạ” của anh cũng được chính quyền để mắt tới, cũng có người đến quay phim, chụp ảnh, rồi tòa cũng xử cho được ở lại, cho thẻ định cư, vào quốc tịch, song không phải vì lý do chính trị, người ta biết tỏng ra rồi, mà vì có một đứa trẻ ra đời, trong cái nhóm nằm vạ ấy, đứa bé như một vị cứu tinh.
 
Nhưng anh vẫn thất nghiệp, hay đúng hơn, là anh thích thất nghiệp và được thất nghiệp trong suốt mười năm nay, kể từ ngày ra khỏi quy chế tị nạn. Vì sao? Vì nếu đi làm thì cũng chỉ thu nhập được hơn số tiền trợ cấp thất nghiệp một chút, chẳng đáng là bao so với khoản tiền anh phải trả tăng lên cho việc thuê nhà, cho bảo hiểm, cho lúc ốm đau. Ấy là chưa nói tới tính chất công việc, có đến tay, cũng chỉ là lao động nặng nhọc, cũng là giờ giấc chặt chẽ, trong khi đó nếu thất nghiệp, số tiền trợ cấp tuy không nhiều nhưng chi phí cũng ít, giá thuê nhà, khám chữa bệnh rẻ như cho.
 
Cái xứ Hà Lan này đến lạ, cứ nuông thằng chơi, ác với thằng làm. Thằng đi làm thì thuế ngốn hết non nửa, lại bị trả tiền điện nước, tiền thuê nhà ở giá cao, ai đời thằng thất nghiệp sống trong các khu nhà cứ như khu nghỉ mát, có vườn hoa trước nhà, hằng tháng tiền tự động chảy vào tài khoản nhà băng, ngày ngày đạp xe ra cửa hiệu gần nhà mua sữa, mua thịt, mua bia, đủ cả, chẳng thiếu thứ gì. Trong số tiền trợ cấp ấy lại được tính đến cả tiền đi du lịch mùa hè, cứ như thể nếu không du lịch thì người ta sẽ chết. Thấy bảo nếu biết tiết kiệm đằng ăn uống, thì người độc thân như anh còn có thể mỗi tháng tới khu “đèn đỏ” một đôi lần, ấy là nói vậy, chứ anh thì cần gì, anh thiếu gì, lại chả mất đồng nào. Anh khoe, với tấm thân còm như anh, chỉ nội ăn quẩn gà què ở mấy mụ đầm bỏ chồng cũng đủ bở sức rồi, chả phải đâu xa, quanh quanh hàng xóm. Đàn bà Tây bỏ chồng thì dễ, chứ bỏ nhu cầu tình dục thì không được, anh chẳng phải loại đàn ông “sức vóc” gì, nhưng mà lạ, ở đâu chả thế, cái giống lạ vẫn cứ là khơi gợi sự thèm muốn, có thằng thất nghiệp còn được nuôi ăn. Đang nói dở chuyện làm ăn, chả ông thất nghiệp nào chịu ngồi yên, không đi phụ bếp trong nhà hàng, rửa bát, coi kho, thì cũng cố tìm một việc như trồng hoa, quét dọn… lao động chui, trốn thuế, trong khi vẫn ẵm tiền trợ cấp. Nhưng anh khác, được cấp một căn hộ riêng, lại sống độc thân, tính tình xởi lởi, nhà anh trở thành địa chỉ cho khách thập phương qua lại. Người châu Á nói chung có một đặc tính là ưa tình cảm, dân mình cũng vậy, và có một thói quen ẩm thực, một nếp sinh hoạt cố hữu, bền chắc, rất khó thay đổi và ít chịu thích ứng khi ra ngoài, đi đến đâu, ở tận đâu, trên đất Âu hay Mỹ, tìm được một nơi chốn thân tình, gần gũi để đến, để trú ngụ là sướng lắm. Khách từ Mỹ qua, khách từ các nước châu Âu đến, các đoàn công tác ở nhà sang, hữu xạ tự nhiên hương, họ đều tìm đến chỗ anh. Nhiều nguời có tiền ở khách sạn, nhưng không thích, họ thích chen chúc ở nhà anh, nhiều khi kẻ trên giường, người dưới đất, nhưng vui, vì ở nhà anh, họ được hút thuốc lào, ăn thịt chó chấm mắm tôm, uống rượu cuốc lủi. Đặt mối qua hàng không, nhà anh chả thiếu thứ gì là “đặc sản” cả. Khách cần đến các nơi, anh lấy xe riêng chở đi. Khách đi làm, anh ở nhà nấu cơm, đi chợ, một dịch vụ trọn gói, từ ăn, ở, đi lại, với giá hữu nghị, nhất là so với giá “thị trường”, khách vừa thích vì ít tốn kém, vừa thấy vui vì không khí “gia đình”, anh lại có thêm thu nhập. Nhưng cái chính, anh bảo: Làm cái “trò” này nó thú vị lắm, làm mà cứ như chơi, chơi mà như làm thiệt, vừa ra tiền, vừa tha hồ tung tẩy, lại được gặp gỡ nhiều người, được ngắm nghía họ, quan sát họ, cũng “vỡ” ra nhiều.
Và anh kể: Nhiều đoàn ở nhà sang đây tiêu tiền khiếp lắm, dân sống ở bên này lắm lúc kinh hồn, nhất là mấy bác công ty Nhà nước đi mua máy móc, ký kết hợp đồng, toàn đòi dẫn đến chỗ chơi cao cấp, ở phố đèn đỏ chỉ là để ngắm cho vui mắt lúc đi dạo, chứ chơi thật, lại đòi vào chỗ khác kia, vì ở đấy nó lồ lộ quá, xem thì thích, vào cũng muốn, nhưng cứ ngường ngượng thế nào. Các bác nhà mình có tính tuy ham vui nhưng hay xấu hổ, cứ nghĩ bước chân vào chốn ấy, bao nhiêu con mắt nhìn vào, phải đến “Private club”(1) riêng, kín đáo, hàng VIP. Buồn cười, có lần một đoàn cán bộ ở nhà sang nhờ em dẫn đi “live show” xem nhảy cởi truồng, cứ than phiền rằng hỏi mấy ông sứ quán các ông ấy bảo không biết chỗ, thấy bảo trước khi đi, đoàn chia thành hai nhóm, nhóm nói đi thăm người nhà, nhóm lại bảo đi nghe hòa nhạc, sau buổi diễn lúc đèn bật sáng, nhìn sang dãy ghế bên kia đã thấy lố nhố mấy cái đầu hói quen quen, nhìn kỹ hóa ra là một hàng toàn mấy bác nhà ta cả, cứ nhìn nhau tủm tỉm cười.
Đấy, cứ phải ý tứ với nhau như thế! Anh còn kể: Ngay ở những chỗ ăn chơi, dân ta cũng có một “bộ dạng” dễ nhận ra lắm, có lần qua Thái, đến chỗ mát xa, thấy mấy ông ở trong ấy đi ra mà mặt ông nào cũng có gì như ngượng ngập, thiếu tự nhiên, vừa lộ vẻ thích thú, lại vừa có vẻ quan trọng, thì thầm bình luận cứ như sau một buổi họp, nhưng lại vừa như sợ nhỡ bắt gặp ai quen, rõ khổ, đã ra đến tận nước ngoài… Tây nó ở đấy đi ra như vừa uống xong cốc nước, mặt tỉnh bơ, còn ta có gì như bị ám ảnh, mà lại vẫn thích, mà lại vẫn thèm, khổ thế! Anh phân loại khách của mình theo sở thích của họ, loại thích được dẫn đi tìm nơi hàng rẻ, loại thích đến các chốn ăn chơi, chả thấy ông nào đòi dẫn đi xem bảo tàng Van Gogh.
 
Cứ thế, anh hồn nhiên nói về cuộc sống của mình một cách bình thản, cười cợt, như thể với anh mọi thứ trên đời chỉ là một trò đùa. Mà kể thì cũng như thế thật, với cái vẻ mặt và cách trò chuyện cứ tưng tửng của anh, ra là với anh, cuộc đời nó thanh thản lắm. Anh cứ sống khơi khơi như thế, không một chút lo toan, nghĩ ngợi, chẳng cần và cũng chẳng có gì nhiều, một cái áo vét sờn và đôi giày vải cũ cho mùa hè, một cái áo khoác dày hơn cho mùa đông, dùng hết năm này qua năm khác, cứ thế, anh hết đón đoàn nọ lại tiễn đoàn kia, lúc nào cũng có cái vẻ bận rộn của người làm việc, lại vừa có vẻ thong thả của kẻ rong chơi, cuộc đời cứ tênh tênh. Nhưng mà, tôi cứ có cảm giác rằng, khi kể chuyện, trong cái giọng điệu bình thản ấy, có gì như diễu cợt, như anh tự diễu cợt chính anh, người thân của anh, khách khứa của anh, và trong giọng nói ấy, trong cái tiếng cười hềnh hệch ấy, có gì cũng rất ngậm ngùi, có gì như một sự xót xa, và đượm buồn.
 
Lúc chia tay ở sân bay, anh bịn rịn lắm, anh cho địa chỉ và hẹn sẽ có ngày anh làm “guide”(2) cho tôi, anh sẽ “đi khách” với tôi, khắp Amsterdam, tới tận hang cùng ngõ hẻm, nếu tôi muốn. Anh bước đi trong ráng chiều chạng vạng, tấm thân nhỏ bé, gầy guộc của anh nhanh chóng chìm nghỉm vào dòng người bất tận, lẫn trong những thân hình cao lớn, đầy màu sắc. Tôi đứng lặng nhìn theo anh, cho đến khi cái đầu đen ấy chỉ còn là một chấm đen mờ dần, mờ dần, rồi mất hẳn.
 
Tháng 1-2003, cuối Nhâm Ngọ, đầu Quý Mùi
 
Chú thích:
(1) Private club: một kiểu câu lạc bộ về tình dục
(2) Guide: hướng dẫn viên




0
Một ngày buồn

 
Cơn mưa chiều đổ xuống thị trấn một nỗi buồn dai dẳng. Những chiếc xe tải phủ đầy đất bụi chạy qua chèn lên mấy cái ổ gà õng nước, làm bắn tóe lên những tia đầy bùn, khiến mặt tiền dãy nhà bên đường mờ đi vì bụi bẩn. Không một hàng cây, khúc đường ngắn cong cong chạy qua thị trấn mới được hình thành chẳng  có gì nhiều ngoài một vài căn nhà lổn nhổn với lối kiến trúc tạp nham, nhưng cũng tranh thủ cái mặt đường để làm chỗ kinh doanh mọn. Một cửa hiệu uốn tóc nữ với mấy cái ghế cũ, vài ba cô gái uể oải ngồi giũa móng tay. Một cái tủ tạp hóa với mấy thứ lặt vặt. Nhiều nhất vẫn là những chuyến xe hàng, xe tải cứ vùn vụt chạy qua, không mấy phút yên lặng. Cái nỗi oái ăm, cay nghiệt của những đoạn phố mọc lên tự phát bám theo trục lộ là thế: Buồn, nhưng lại không có được sự yên tĩnh riêng của nó. Không gian cứ như bị xé toác ra bởi những chuyển động, và tiếng ồn. Những lớp dày bụi bẩn càng làm khúc đường vốn dĩ đã ảm đạm lại càng trở nên u ám hơn.
 
Nổi lên giữa cái vẻ tuềnh toàng tạm bợ của khúc phố, lại có một khách sạn nhỏ, với một vẻ sang trọng cô độc. Nằm ngay mặt đường, nên suốt ngày cánh cửa bị rung lên bởi những chuyển động ầm ào xe cộ. Nói sang trọng là so với mấy tiệm tạp hóa xung quanh, chứ cái khách sạn cũng chỉ như một nhà nghỉ với lối kiến trúc tân thời tỉnh lẻ, vừa lòe loẹt, vừa sơ sài. Không hơn gì bên ngoài, cái nội thất lủng củng bởi bộ bàn ghế gỗ chạm trổ, trần thạch cao hoa văn sặc sỡ, và những thanh inox ở cầu thang không gây một chút gì gợi cảm. Có lẽ đáng chú ý nhất trong cái thế giới vô hồn ấy là một mái đầu thấp thoáng sau quầy gỗ, một mái tóc dài thả xuống bờ vai rồi trải ra trên cái nền màu xanh da trời bằng lụa. Cô làm lễ tân ở đây, nhưng vắng khách, nên công việc của cô thật lặng lẽ. Cô đã ngồi đây, sau cái quầy gỗ cũ kỹ này từ nhiều năm, nhiều tháng, nhiều ngày, và nhiều giờ. Cô đã ngồi từ mùa thu, qua mùa đông, đến mùa xuân ẩm ướt, rồi lại mùa hè oi ả. Mỗi mùa đi qua theo những thói quen đến nhàm chán. Mùa thu với tiểu thuyết của Quỳnh Dao. Những ngày đông hanh khô lạnh lẽo thì chỉ quanh quẩn với cái gương con và hộp kem bôi nẻ nhập về từ Thái. Xuân qua, hè lại thì lướt qua vài mẫu thời trang và hình ảnh nghệ sĩ trên mấy tờ “Điện ảnh kịch trường” hay “Thế giới nghệ sĩ”, rồi ngủ gật. Do vậy, cô cứ phải tự nghĩ ra thú tiêu khiển, để tiêu tốn thời gian.
Công việc của một lễ tân khách sạn là nhận khách thuê phòng, nhưng việc mà cô tốn thời gian nhiều hơn trong ngày lại là ngồi… đếm xe, và theo cách cô gọi, là đếm những nỗi buồn. Cô coi mỗi chuyến xe qua là một nỗi buồn để lại. Vì chúng như một sự dửng dưng thô bạo. Chúng lạnh lùng, chúng chẳng cần biết đến ai, đến những gì có ở bên đường, trong đó có cuộc đời cô. Cô cứ lẩm nhẩm đếm xe như một người đếm số trong đêm mất ngủ, từ một đến một nghìn, rồi mười nghìn… nhưng lại không phải để tìm giấc ngủ mà ngược lại, là để xóa đi những cơn buồn ngủ giữa ban ngày. Cô phải tiêu tốn thời gian, vì thời gian cứ trôi qua cuộc sống của cô như những khoảng lặng, buồn khủng khiếp. Ngày nào cũng vậy, có lẽ thứ âm thanh to tát nhất tạo ra từ công việc cô làm là tiếng ken két ré tai của cánh cửa sắt đã cũ, lại khô dầu, được kéo lên vào lúc tám giờ sáng, và hạ xuống lúc mười giờ đêm, dù có khách hay không. Còn lại là khoảng lặng, những khoảng lặng dầm dề, những khoảng lặng tẻ nhạt đến bức bối.
 
Đã ngoài hai mươi. Từ khi cởi ra bộ đồng phục nữ sinh để khoác lên mình cái áo dài xanh nhàn nhạt màu da trời, là lúc cuộc đời cô rẽ sang một hướng khác, một cuộc sống cũng nhàn nhạt như thế. Và giản đơn như cái áo dài cô mang trên người, nó chả báo hiệu điều gì. Ngồi trông khách sạn cho bà dì, một công việc không cần học việc, cô không thấy yêu, cũng chẳng thấy ghét, chỉ thấy buồn. Từ đây, cô đã nhìn thấy những chuyến xe đến từ những vùng đất rất xa, nhưng cô chỉ được tưởng tượng về những vùng đất ấy. Từ thuở bé, cô chưa được đi đâu xa quá 50 cây số từ cái thị trấn nhỏ nhoi buồn tẻ này. Vẻ nhàn nhã của công việc như một sự dụ dỗ mơn trớn, cũng chỉ làm cô nguôi ngoai đôi chút. Và dù cố tự bằng lòng, nhưng nhiều khi nó vẫn hành hạ lại cô.
 
Còn một việc nữa, cô hay làm khi ngồi nhìn những chuyến xe qua, là thầm phán đoán. Cô thích đoán xem chiếc xe nào sẽ là xe dừng lại ghé vào khách sạn. Lòng thấp thỏm, và hồi hộp từ lúc nhìn cái bóng đèn xi nhan nhấp nháy, nhìn xe giảm tốc độ từ từ… Nhưng cô thường thất vọng nhiều hơn, vì có đến chín mươi chín phần trăm những chiếc xe sau đó lại vút qua một cách lạnh lùng, bỏ lại tung tóe đằng sau là những cái tạt nước thô bạo. Chúng đi chậm lại có khi chỉ vì một cái ổ gà.
Nhưng chiều nay, trong cơn buồn ngủ lửng lơ vào lúc ba giờ, cô thiếp đi một lát. Sau giấc ngủ gật ngắn ngủi, cô lại tiếp tục cái công việc tẻ nhạt là đếm xe của mình. Đến cái xe thứ tám trăm tám mươi chín thì nó từ từ dừng lại. Đấy là một chiếc Land Cruiser bảy chỗ nhưng trên xe chỉ có hai người và một đống đồ đạc lủng củng, những vỏ đồ hộp, vỏ cam, vỏ chuối, máy ảnh, sách báo nằm bừa bãi, dấu hiệu sau một chặng đường dài của những kẻ lười biếng. Hai người đàn ông bước xuống, một chưa quá già, một không còn trẻ. Người lớn tuổi cầm lái, người ít tuổi hơn đi cùng vẻ mỏi mệt. Ăn vận xộc xệch, đơn giản, râu không cạo, giày bẩn bám đầy bụi đường. Đấy là hai mái tóc điểm bạc trước tuổi.
 
Những người đàn ông đi đường thường bộc lộ rõ ràng bản chất nhất. Họ thường có cái vẻ phong trần không trang điểm, áo không để trong quần, đầu không chải kỹ, tóc chẳng xịt keo, hay rẽ ngôi. Và dường như với họ, lúc trên đường là lúc sống thật, nó toát ra thần khí, bản lĩnh, sự tự tin, và những gì tự nhiên nhất, dù tốt hay xấu, không che đậy. Do vậy, họ khiến cô tò mò, và bị cuốn hút. Cô thích vóc dáng, vẻ lôi thôi bụi bặm, bơ phờ rất đàn ông ở họ, hay còn vì vẻ gì khác nữa? Họ có thể là cánh xe tải đường dài, hay mấy anh kỹ sư cầu đường đi công tác. Cô thích ngắm những người đàn ông ấy. Thích gặp gỡ và nói chuyện với họ.
 
Nên cô đón khách trong tâm trạng sung sướng khó tả, nhưng không rõ rệt. Một niềm vui, hay cái gì hơn thế nữa? Trên cả niềm vui, là niềm hy vọng vào một điều gì đó? Thỉnh thoảng vẫn có khách, nhưng cũng chẳng làm cô vui. Những cặp trai gái, những người đàn ông đưa những cô gái hay những người đàn bà vào khách sạn. Cô tiếp họ với một thái độ thờ ơ, vô cảm. Hoặc cùng lắm, là vẻ mừng rỡ như của người bán được hàng. Cô không thích những người đàn ông hay con trai ấy. Những người ở gần. Họ ăn mặc chải chuốt, bóng bẩy, và đi những đôi giày sạch. Nhưng nhiều khi cô thấy họ có chút gì ghê tởm.
Hai người đàn ông đi vào mà không định thuê phòng. Họ gặp cô, một nhan sắc khá, đậm chất mặn mòi của con gái miền biển, lại trong buổi chiều hoang vắng thế, với cái không khí buồn tẻ hắt hiu của quán trọ ven đường, rất dễ gợi đến một ước muốn sàm sỡ.
Nhưng họ chỉ muốn một bình nước sôi.
Phải đến khi nốc hết ly sữa đầy pha từ bình nước sôi của cô thì người trẻ hơn mới lên tiếng:
-      Bọn anh đi từ Sài Gòn, trên đường về Hà Nội. May quá, cám ơn em.
-      Các anh đi công tác à? - Ngồi thu mình như con mèo, cô hỏi như chỉ để hỏi mà chẳng cần biết câu trả lời.
-      Không, đi chơi. Đùa thôi, đi làm việc, mà cũng như đi chơi thôi.
-      Lại có cái nghề đi làm mà như đi chơi, sướng thật! Mà này, khách sạn là nơi cho thuê phòng ngủ chứ không bán nước sôi đâu nhé! - Cô thăm dò vì chẳng thấy họ có ý hỏi chuyện thuê phòng.
-      Dân làm báo mà, anh này bị đau trên đường, không có ly sữa vừa rồi thì thủng bao tử rồi. Đồng hương Quảng Bình với em đấy.  Người lớn tuổi nói.
 
Ánh lên một nét rạng rỡ, một niềm vui trong mắt, cô nhìn họ một cách thích thú, từ dưới lên. Ôi, những đôi giày bẩn bụi đường… Bỗng thấy cô tất bật, bận rộn hơn. Cô lau bàn nước, đun thêm nước sôi đổ vào bình, pha thêm ấm trà nóng, và hình như, trong lòng cô đang có một điệu nhạc cất lên… Họ nói chuyện với nhau về quê quán, về sự đi xa và trở về. Một chút đẩy đưa, một chút nhấm nhẳng…
-      Các anh ở lại đi, chiều muộn rồi. - Đến lúc này thì cô không chịu được nữa - Ở đây khách thường thuê phòng ban ngày, đêm vắng lắm. Chỉ có em và bảo vệ. Mong có khách ở đêm để khách sạn có tiếng người. Và nếu muốn, sẵng sàng phục vụ các anh bữa tối. Cũng chẳng có gì đâu, chỉ một bữa tối thôi, bữa cơm rau dưa với ba người…
-      Thị trấn buồn chết thế này! Bọn anh chả cần ăn, chỉ cần người! Ông trẻ sau hồi tỉnh táo nhờ ly sữa, đã sang giọng lả lơi, quên cả cơn đau bụng.
Một cái nguýt dài xuyên hai người, giọng cô trở nên trầm xuống:
-      Làm đàn ông thích thật. Các anh biết không, em mong những người khách từ nơi khác đến, hơn là khách ở gần quanh đây đến thuê phòng.
-      Vì sao vậy?
-      Vì trên đế giày các anh có mang đất bụi từ vùng khác đến.
Khách lặng người. Một sự ngỡ ngàng bất ngờ, một niềm xúc động như nghẹn lại. Ôi, sự trống rỗng và nỗi nghèo nàn tỉnh lẻ! Những ý nghĩ thật lầm lẫn về những tâm hồn mà lâu nay người ta vẫn tưởng!
 
Đôi khi, có những tình thế đưa đẩy đàn ông đến những quyết định thật ngu ngốc. Cho đến mãi sau này, người lớn tuổi vẫn không cắt nghĩa nổi sự u mê của mình khi nói với cô gái:
-      Em nói nghe hay quá, ấm trà thật ngon, nhưng bọn anh phải đi đây, quãng đường ngày mai còn dài, mà thời gian không cho thêm nữa.
Người lớn tuổi cố nói lời chào trong một sự nửa day dứt, nửa tiếc nuối. Lòng muốn ở lại, nhưng dường như lại cố vịn vào một cái cớ nào đó để ra đi!
-      Chăm sóc thế mà chả giữ được chân người! - Nghe trong giọng có chiều giận dỗi, mà nếu không để ý, cứ tưởng giả vờ.
-      Bao nhiêu thì vẫn là không đủ, nhưng cho bọn anh gửi tiền…
Cái khoát tay dứt khoát, cái nhìn trách móc và sắc mặt buồn của cô gái khiến khách cảm thấy cái việc trả tiền bỗng rở nên thật lố bịch.
-      Thôi cám ơn em, hẹn chuyến trở vào…
 
Rồi khách vẫn lên đường! Cái góc thị trấn nhỏ bé vẫn trong mưa.
Sự luyến tiếc, và nỗi buồn trong mắt cô gái, cũng không níu giữ được họ.
Cô chỉ thèm một buổi tối trong khách sạn có tiếng người. Và thèm được một bữa cơm tối có ba người…
Hai người đàn ông ra đi trong im lặng. Họ đã im lặng rất lâu trên chặng đường dài hàng trăm cây số. Vì rằng, và chẳng ai trong họ dám thú nhận rằng, họ cùng thầm tiếc, và đang nghĩ về cô!
Nhưng họ đã đi rồi.
Chỉ còn cô gái ở lại với chỗ ngồi quen thuộc sau quầy gỗ. Lặng nhìn và đếm những chuyến xe qua. Và hy vọng…
Nhưng chiều ấy không còn chiếc xe nào dừng lại. Và tối ấy trong khách sạn cũng chẳng có tiếng người, vẫn chỉ là tiếng cửa cánh sắt cũ rít lên vào lúc sau mười giờ.
Cũng đã lâu, đến mãi tận nửa đêm, cô vẫn không sao ngủ được. Úp mặt vào gối, cô một mình nằm khóc.
 
Xuyên Việt 2005




0
Nơi góc phố
 
 
Trong căn nhà của mình, nơi Hân thích nhất lại là cái góc nhỏ xíu “dư ra” bên cái buồng ngủ, nó chỉ chừng sáu mét vuông, nhưng chứa đựng trong đó là cả một thế giới riêng của anh. Cái bàn viết nhỏ bằng gỗ đã theo anh qua nhiều năm tháng, với biết bao lần di chuyển. Tủ sách, các kỷ vật của những chuyến đi, cái giá vẽ, bức ký họa cũ trong một lần đi về miền biển… Hằng ngày, một phần đời sống của anh diễn ra ở đây, nơi anh ngồi vẽ, viết, đọc, và trăn trở với những suy tư đầy nặng nhọc. Cũng ở đấy, có một cái cửa sổ nhỏ, mà anh coi nó như người bạn, và như một bức tranh sống đầy màu sắc. Nó mang đến cho anh nhiều tâm trạng, khi là sự cồn cào như muốn đứt gan ruột trong những buổi chiều mưa, hay sự ngây ngất khi nhìn phố xá nhòe đi trong làn nước. Khi lại là một chút bâng khuâng, vơ vẩn. Đôi khi bất chợt, anh bắt gặp những hình ảnh như là một “khoảng khắc của đời sống” vút qua rất nhanh, thật thú vị. Cũng nhiều lúc, anh phải ôm đầu chịu sự ầm ì nhức óc của tiếng ồn, hay cái gay gắt nắng chiều xiên nghiêng cửa sổ. Nhưng cũng qua nó, cái cửa sổ con con ấy, thỉnh thoảng lại lọt vào chút hương sắc của đêm, như là đêm nay.
 
Hương nguyệt quế òa vào phòng đúng cái lúc Hân quét xong nét cuối cùng trong bức phác thảo tìm ý cho bức tranh minh họa cho một tờ báo. Anh uể oải đứng dậy, tới bên cái cửa sổ đang mở toang vào đêm. Với Hân, đây là những khoảng lắng đầy thú vị của một ngày, một khoảng khắc yên tĩnh hiếm hoi anh được tận hưởng ở cái con phố suốt ngày ầm ì xe cộ ấy. Hân hơi sựng lại, đêm ngoài kia vẫn thế, con đường sang trọng với toàn biệt thự ở một quận trung tâm. Hai hàng cây cổ thụ vẫn trùm lên con phố một khoảng tối âm u, những khoảng tường rào dây leo và sự im ắng đầy sang trọng.
Nhưng bất chợt đêm nay, chéo bên kia đường, dưới gốc cây, chỗ khúc vắng của con phố xuất hiện một bóng người, một bóng hình phụ nữ. Cái bóng hình dong dỏng cao ấy đi đi lại lại khiến người ta dễ liên tưởng tới hình ảnh một cô gái ăn sương tìm khách. Nhưng nhìn bề ngoài, lại không có dáng vẻ của gái đứng đường. Mái tóc dài phủ kín nửa lưng, sơ mi cộc tay bó sát gồ lên bộ ngực khỏe khoắn và cái bụng thon, nhỏ gọn, quần tây dài chấm gót. Lâu nay chỗ khúc đường này, chưa từng có những cô gái tìm kiếm khách tình. Có thể là một buổi hẹn hò? Nhưng không, không một vẻ gì sốt ruột, tâm trạng của một cuộc đợi chờ định trước. Mà là một sự nhẫn nại trong đêm. Người đàn bà chờ ai? Câu hỏi cứ ám ảnh, lởn vởn, và khơi gợi sự tò mò trong Hân. Trời khuya, đêm vắng, thỉnh thoảng vài chiếc xe rà rà dừng lại rồi nhanh chóng vút đi. Nhiều chiếc xe vụt qua không một cái ngoái đầu. Thì có gì đâu, không váy ngắn, không phấn son, chỉ là một người đàn bà đơn lẻ… Có tiếng giục đi ngủ của vợ, một tiếng “cạch” tắt đèn, Hân rời cửa sổ với những suy nghĩ miên man…
Là họa sĩ, nhưng Hân vẽ ít. Anh chậm chạp, và kỹ. Với  Hân,  một tác phẩm phải là kết quả của một quá trình quan sát, chiêm nghiệm và sống đến tận cùng cảm xúc. Nó phải bắt đầu từ một sự thôi thúc nội tại, một sự dày vò, trăn trở đến quặn lòng.
Từ nhỏ, thế giới tinh thần của anh được nuôi dưỡng từ hai dòng sữa, đầu tiên là từ gia đình, một gia đình trí thức nghệ sĩ mang nặng cái “sang” từ thời thuộc địa. Và cái thành phố văn vật nghìn tuổi nơi anh sinh ra và lớn lên, hai dòng sữa văn hóa ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn anh, tạo nên tính cách, tư duy và một thị hiếu ỹthđẩầmy kminh điển và tính chu  ẩn mực. Nhưng nó cứ bàng bạc chút gì cũ kỹ, nặng về hoài niệm và vô cùng cổ hủ. Trong các bức tranh Hân vẽ, các bài báo anh viết, cứ luôn phảng phất nỗi niềm hoài cổ, những vẻ đẹp rêu phong cũ kỹ. Khó bắt kịp với dòng chảy mới, anh sống nhịp sống chậm, lững thững đến sốt ruột. Cũng may là người hành nghề tự do, nay cộng tác với nhà xuất bản này, mai tờ báo nọ, nơi này chút bài, nơi kia bức vẽ. Chứ ngữ như Hân thì chẳng thể đứng ngồi hẳn trong một cơ quan hay tổ chức xã hội nào. Lại cũng may, là Hân hơi giàu. Cái giàu của số phận, chứ không phải nhờ bon chen. Không bị trói buộc trong cái vòng luẩn cqơumẩnáo gạo tiền, có vẻ là điều may mắn và là nỗi thèm khát
với nhiều người, nhưng dường như nó lại hại anh, nó tạo cho Hân cái thói quen yên phận, lừng khừng, lúc như buồn ngủ, lúc như một kẻ chỉ biết dạo chơi trong vòng đời nhỏ hẹp của mình. Cứ thế, hằng ngày Hân nhởn nhơ nhấm nháp cái đời sống văn hóa riêng đầy chất “lưu cữu”, như một gã đàn ông đeo kính, mặc pyjama, suốt ngày quanh quẩn bên cái tủ sách chất đầy những pho sách cổ, chứa đầy những điều uyên bác, và bao phủ bởi những lớp bụi thời gian.
 Một đời sống bó hẹp quanh nhà, với một niềm tự hào riêng đầy ma mị. Hân ít đến đám đông, nếu có, chỉ là những khi để nghe các “nhà văn hóa” nói chuyện. Khi ấy, anh thường ngồi thu lu một góc, xoay xoay chén rượu trong tay, tai vểnh, miệng ngậm, hóng chuyện và quan sát với một niềm thích thú rất bí mật. Và cái chất nửa vời. Cuộc đời anh luôn rơi vào cái sự một nửa như là một áp đặt của số phận. Con người một nửa trong anh cũng luôn chi phối mọi cách nghĩ, hàng động và những quyết định. Một nửa yêu và ghét. Một nửa đi và dừng. Liều và sợ. Sang và hèn…
Do vậy, cái đạt được của Hân cứ như là một sự ân huệ trời cho. Sự nổi tiếng, những giá trị gia đình, gia sản… tạo ra một con người luôn dùng dằng nhiều tính cách. Vừa tử tế lại vừa ti tiện. Vừa lãng mạn phiêu lưu lại vừa an phận thủ thường và thực dụng.
Nhưng bỗng dưng, khoảng một năm nay, tự dưng Hân trở tính!
 
Bắt đầu là “những lúc vắng nhà đến khó hiểu”, ấy là lời Liên, vợ anh thường chì chiết. Hân đi đâu nhỉ, vào những lúc buổi chiều là anh biến. Lúc vài ba tiếng, khi lại chỉ nửa giờ. Dưới mắt nhiều người, anh được tiếng là lành, ít chơi bời, nhậu nhẹt. Ăn cơm nhà, làm việc ở nhà, tiếp khách tại nhà, không đi sớm về khuya. Thế mà giờ đây, anh cứ thoắt ẩn, thoắt hiện. Lại có tiếng xì xào đến tai Liên, có người bảo thấy Hân ra vào mấy nơi âm u lắm. Cũng là từ miệng Liên, chứ là ai thấy thì anh chả biết, và cũng không cần biết. Vốn tính ương, anh cứ ỡm ờ, chả ra nhận, chả ra chối. Vì anh biết, có chối thì vợ cũng chả tin, mà nhận thì không phải, vì không hẳn là anh như thế! Chỉ vì có một ngày, Hân bỗng nhận thấy mình bị hụt hẫng, chơi vơi ngay trong cái dòng chảy rất lờ đờ của đời sống.
Có cái gì rất thiếu sinh khí. Anh cảm thấy dường như mình đang hưởng thụ một cuộc sống lương thiện và sạch sẽ nhưng rất nửa vời. Một chút sang sang về tiền của, một chút sang sang về văn hóa, một chút phóng khoáng và nhân từ. Nhưng mà chả đến đâu. Mà cứ nhàn nhạt, đơn điệu, và buồn tẻ quá. Có lúc, anh nghi ngờ ngay chính những việc thiện của mình. Sự tử tế, và cái đức hiền lành của anh, đấy là thực sự, hay chỉ để “bảo hiểm lương tâm”? Một đời sống sạch mà không sinh lực, không mùi vị, có còn là cuộc sống? Hân thấy mình hèn quá, cái hèn của một kẻ ngại dấn thân, kể từ khi anh thành đạt.
 
Và bỗng nhiên, anh thấy nhớ và khao khát cái mùi vị tanh tanh từ chợ cá năm nào cứ ập vào cửa sổ căn phòng trọ thời sinh viên. Thèm cái cảm giác sướng run rẩy lúc cầm được đồng tiền bán mấy cái quần áo cũ ở chợ trời. Thèm được sự hồi hộp khi đi tìm cái địa chỉ rất mơ hồ của một cô gái mới quen theo kiểu rất đầu đường xó chợ ngày xưa. Anh muốn đi tìm cái không khí ấy, là ở một con hẻm, hay một khu chung cư ở quận 4 năm nào. Vì đấy là đời sống, dù cay đắng, dù tởm lợm. Nhưng tất cả đã lùi xa! Và Hân lúc này đã là một Hân sang trọng, có những thói quen sang trọng, có cái ái ngại của người sang trọng. Nhưng nỗi buồn thì vẫn thế, vẫn là những xúc cảm của thuở hàn vi. Thế là anh chỉ biết làm những chuyến “giang hồ vặt”, lê la vặt, một vài chỗ ngồi có cả người sang, kẻ hèn, người đứng đắn, hay gái làng chơi.
 Anh thích nhìn ngắm họ. Với phụ nữ, bên cạnh cái nhìn bản năng của giống đực, anh còn có cái nhìn của một người “thăm dò địa chất”. Và Hân thích chuyện trò, đôi lúc anh có lân la với các cô gái, cũng kiểu như thế, như là một cuộc khám phá phận người.
Thế cho nên, cái bóng hình người đàn bà dưới đường kia cứ cuốn hút Hân, lởn vởn trong Hân. Lại đêm nay, lại từ bên cửa sổ, Hân bồn chồn nhìn xuống. Người đàn bà cứ nhởn nhơ, và cứ quay quắt với những câu hỏi trong đầu anh. Hân muốn xuống quá, nhưng ngại quá, cứ nhùng nhằng, nửa thèm, nửa sợ. Sự cám dỗ có phần nhục dục, sự tò mò mang tính khám phá, cái ám ảnh đạo đức về thanh danh, về thân phận, và bao nỗi ám ảnh khác nữa cứ dày vò anh. Hân bỗng thấy bực với chính mình, chán chường với chính mình.
Đêm nay người đàn bà kia không đến. Lại đêm nay, người đàn bà kia không đến.
Rồi nàng lại đến, lại mái tóc dài ngoe nguẩy đứng chờ, đi đi lại lại đến tận nửa đêm…
 
Chẳng biết từ lúc nào, cứ như là một thói quen, vào lúc có mùi hương nguyệt quế theo cơn gió nhẹ chui vào căn phòng, là Hân lại nhìn ra ngoài, lại trông ngóng và nghĩ ngợi. Mỗi khi nhìn gốc cây trống vắng, anh lại cảm thấy một sự thiếu vắng nào đó, trống trải nào đó…
Cho đến đêm nay. Đêm cuối năm, tối trời. Đêm ba mươi tết!
Trước lúc giao thừa, cái thời khắc khiến người ta cảm nhận rất rõ sự linh thiêng của không gian và của thời gian, Hân muốn xuống đường, để được cảm nhận và được hít thở gần hơn cái hơi thở của đất trời trước lúc bước sang năm mới. Anh bước đi dọc phố. Đêm tĩnh lặng, phố không một bóng người. Chỉ có ánh đèn nhợt nhạt hắt xuống từ vài cái bóng đèn đỏ quạch trên đường. Thoang thoảng mùi nhang nhè nhẹ đưa xuống từ mâm cúng giao thừa trên ban công nhà ai. Hân sựng lại, anh như không tin vào mắt mình, ở góc tối dưới gốc cây, một người đàn bà yên lặng. Chính người đàn bà ấy, cái người đàn bà đã tồn tại trong nỗi ám ảnh, trong sự thắc mắc, trong nỗi khát khao khám phá của anh bấy lâu nay đang đứng kia. Rất gần anh, đang nhìn anh, và nở nụ cười với anh, như một lời mời gọi, như một sự níu kéo. Trong một khoảng rất ngắn, Hân chợt thấy sợ, và lạ quá. Đêm ba mươi tết rồi, anh chợt nghĩ tới câu chuyện về một kiếp má hồng của một nhà văn nổi tiếng năm nào, cô gái làm tiền lừa anh xe kéo trong cái nỗi tuyệt vọng cuối cùng kiếm khách cũng trong một đêm ba mươi như đêm nay.
Hân không phải nhà văn, nhưng anh đủ nhạy cảm để hiểu rằng, trước mắt anh là một thân phận, một cảnh đời trắc trở và nhiều trớ trêu. Hân bỗng thấy nghi ngờ cái lúng liếng đĩ thõa kia, cho dù nó là một cái lúng liếng có vẻ nhà nghề. Nhưng đến nỗi phải đi kiếm khách tình ngay vào cái thời khắc thiêng liêng thế này, chắc hẳn phải vì một lý do rất đặc biệt nào đó, không thể chỉ vì tiền!
Hân rất mê tín. Và hay kiêng kị. Cho nên cái tấm thân đầy quyến rũ kia không gợi được trong anh một chút gì nhục cảm. Anh không thể nghĩ tới một cuộc mua bán thể xác vào đêm ba mươi tết thế này. Nhưng Hân không thể đi qua. Đã nhiều lần anh dùng dằng đi lên đi xuống, và cuối cùng đã tự cưỡng lại được mình để không bước xuống thang, nhưng lần này… Và anh bước đến.
Trên cái ghế đá trong công viên không xa con phố và gốc cây ấy, Hân ngồi bên người đàn bà, giữa cái hoang lạnh của đêm…
Từ lâu, hình như là cái giọng nói truyền cảm, cái cảm xúc dồi dào và sự cảm thông một cách rất chân thật của Hân luôn làm cho người giao tiếp với anh dễ thấy tin cậy, và cởi mở nỗi lòng.
-      Anh đừng tưởng tôi là một gái làng chơi, tôi chưa từng là gái điếm. Nhưng đêm nay, tôi muốn bắt đầu từ đêm nay, sẽ là lần đầu tiên tôi đi khách!
-      Không phải mãi đến bây giờ, tôi mới biết cô. Tôi biết cô từ lâu. Cô không có gì phải giấu. Phải, tôi đã nhìn thấy cô, đã nhìn theo cô từ nhiều đêm, dưới gốc cây tăm tối ấy.
-      Vâng, đúng vậy! Tôi đã đứng để chờ đàn ông, nhưng không phải là đứng để chờ những người đàn ông, mà để chờ… một người đàn ông! Với anh đêm nay, tôi muốn kể, vào cái đêm thế này, khi mọi nhà đều hạnh phúc xung quanh cái bàn có trải khăn và một bình hoa đẹp, với những đĩa bánh ngọt đầy màu sắc, và những lời chúc tụng ngọt ngào, thì tôi và anh, hai kẻ xa lạ lại gặp nhau ngoài đường, một cách rất trớ trêu, lại ngồi với nhau ở đây, trong cái công viên vắng lặng này, lẻ loi như hai kẻ lạc loài. Tôi biết ơn anh, nên anh hãy tin những gì tôi nói đây là thật. Tôi biết đàn ông các anh hay chơi bời, nghe những gì gái làng chơi nói về đời riêng như nghe một công thức bịa đặt, rất giống nhau. Hoàn cảnh nào cũng đau thương, bi lụy. Nhưng đêm nay ở đây, không phải là trên giường trong một khách sạn…
 
Và người đàn bà nấc lên, những giọt nước mắt tuôn lã chã. Như một phản xạ bản năng, Hân rút khăn lau những giọt nước trên khuôn mặt đau khổ ấy.
-      Nhà ông ta ở phố ấy, cái biệt thự đối diện gốc cây tôi đứng nhiều đêm. Chuyện thì dài, tôi chỉ muốn nói gọn với anh, đấy là người đàn ông của đời tôi, là niềm đê mê hạnh phúc, và cũng là nỗi hận tột cùng của đời tôi. Tôi đã từng làm nô lệ cho ông ta, có thể chết vì ông ta, và cũng có thể giết chết ông ta!
-      Thế cô đứng trước nhà ông ta làm gì trong suốt nhiều đêm như thế?
-      Là để trả thù ông ta, để ông ta nhìn thấy tôi như một cái gai, chỉ việc ông ta nhìn thấy tôi cũng sẽ làm ông ta nhức nhối. Và tôi muốn ông ta nhìn thấy tôi như một gái đứng đường… Tôi muốn cứa vào con tim ông ta. Để ông ấy hiểu rằng, dù ông ấy đang sống ở đâu, trong cái tổ ấm yên ổn nào, đã cố tình chạy trốn tôi bằng mọi cách, đã thành một quan chức thành đạt, đã có danh vọng, tiền tài, đã nhiều lần xuất hiện trên ti vi để nói chuyện, để rao giảng, và cố muốn cắt đứt với quá khứ, thì ông ấy cũng không thể nào quăng được tôi ra khỏi cuộc đời mình, như là ông ta mong muốn. Nghe ra tôi ác quá phải không? Nhưng giá anh biết được những gì ông ấy mang lại cho tôi, và đã quăng tôi ra đường thế nào, và với nhiều người khác nữa, thì anh mới hiểu, những cái ác có mùi đạo đức, những cái ác có vị ngọt ngào, mà đẩy cuộc đời người ta đến tận cùng của số phận.
 
Hân không muốn nghe, và không cần nghe thì cũng lờ mờ cảm thấy câu chuyện đời, cái sự bức bối, nỗi đau và niềm uất hận đến tộ cùng của người đàn bà mà anh đang ngồi bên. Anh cứ thấy lặng đi. Và một nỗi buồn trĩu nặng đè lên ngực. Anh cảm thấy bất lực, một cảm giác vừa kinh sợ, vừa thương xót.
-      Anh hãy đi với tôi đêm nay, tôi chưa từng đi khách, hãy đi với với tôi đêm nay như là một sự “mở hàng” đầu năm cho một cuộc làm nghề… Tôi biết khi anh đến gần tôi dưới gốc cây cũng là lúc ông ta vừa thắp xong nén nhang cúng Trời Phật, tổ tiên, cầu cho một năm mới an khang thịnh vượng. Tôi biết lúc ấy cũng là lúc lão đứng nhìn tôi, thấy tôi từ sau bức rèm, bên cửa sổ. Cái bóng đàn ông bụng phệ phục phịch, lờ mờ sau bức rèm cũng đã nhìn tôi từ nhiều đêm như anh. Nhưng đêm nay là đêm lão ta nhìn thấy tôi đi với một người. Tôi không muốn cái việc ông ta nhìn thấy chỉ là hình ảnh, mà là một sự thật. Tôi sẵng sàng đốt cháy cuộc đời mình. Đi đi anh, tôi chỉ xin đúng năm mươi ngàn lấy “hên”, để làm “lộc” mở hàng đầu năm!
Hân như muốn rũ ra. Như vừa gặp một cơn bão táp quất vào mặt. Ôi chao cuộc đời, còn có gì thảm thương và khốn nạn hơn như thế!
-      Em hãy cầm lấy năm trăm ngàn này, đây là tờ năm trăm ngàn mới, tờ mà anh định dùng để lì xì cho người mà anh gặp đầu tiên trong buổi sáng mồng một Tết. Với hy vọng là sẽ mang đến một sự may mắn, và tài lộc trong năm mới. Anh không cần gì ở em, chỉ cần em nhận nó, và coi nó không phải là tiền “bo”, mà là đồng tiền của sự chia sẻ. Anh…
Tự nhiên Hân buột miệng đổi cách xưng hô. Anh định nói tiếp thì bị bàn tay người đàn bà chặn ngang miệng.
 -     Thôi, anh hãy cất cái đồng tiền sạch sẽ ấy đi. Cầm tiền của anh mà anh không “đi” thì đấy không phải là một sự mở hàng may mắn. Sẽ chả mang lại điều gì cả. Nghề nào có lệ ấy. Anh đừng tưởng anh cứ cho em tiền là đạo đức. Em không cần sự ban phát dưới vẻ đạo đức ấy. Anh đưa tiền mà không làm gì là không mua, có nghĩa là em chưa bán, em cần gì cái cái sự xót thương xa xỉ ấy. Thế là anh hại em, làm em xui cả năm… Thôi, dù sao thì cũng cám ơn anh, đã cho em một đêm cuối năm thế này. Chúc anh không phải chỉ một năm mới, mà là một cuộc đời vừa đủ sự an lành, em đi đây.
Hân chưa kịp định thần thì người đàn bà bật đứng lên, bước vội ra khỏi công viên, rồi chạy thật nhanh và mất hút về phía cuối đường. Anh bàng hoàng, rồi uể oải đứng dậy, chập choạng bước đi trong một niềm hoang mang vô định. Anh cứ đi như thế rất lâu, con đường mờ mờ sáng hiện ra, nhưng buổi sáng mùng một Tết chưa bắt đầu.
 
 
 
 
 
 
Trang kim
 
Nhập nhoạng tối. Căn phòng chỉ có chút ánh sáng hắt qua ô cửa nhỏ trên cao, mé trái ban thờ. Những ngọn đèn đỏ quạch hình búp sen trên đó chỉ đủ phát ra trong phạm vi hẹp chút ánh sáng âm u. Ở một góc nhà, những sắc vàng, trắng, đỏ, xanh của ánh giấy trang kim lấp lánh bên đống hàng mã, tiền vàng có làm căn phòng rực lên đôi chút nhưng ma mị. Người đàn ông ngồi xếp bằng lúi húi đóng gói, biên chép vào từng gói lễ, đổ lên tường hình bóng của một người gù và cái đầu tròn như đầu sư. Tiếng mở cửa làm lão giật mình, hóa ra là con bé giúp việc mang vào cái mâm đồng.
 -     Bà bảo con mang cho ông cái mâm đặt lễ.
Lão không nhìn, hay đúng hơn là không dám nhìn, con bé đặt khẽ cái mâm bên đống lễ rồi lặng lẽ quay ra. Nghe từng bước rón rén trên sàn gỗ, lão buột miệng thở dài.
*
Hai mươi năm trước, quán cà phê nằm trong một con ngõ hẹp.
Đúng ra nó ở mặt tiền một con đường lớn, nhưng đi vào phải theo theo lối cửa hông, qua một cái sân nước suốt ngày lép nhép rồi mới lên cái cầu thang gỗ. Căn phòng trên gác hai là quán, chỉ có một cái phản ở góc nhà, một sô pha gỗ đóng kiểu “mô đéc” chế từ cái giường cưới mua theo tiêu chuẩn giấy đăng ký kết hôn. Bàn đóng từ thùng hàng biển vẫn còn nguyên mấy cái hình vẽ cốc thủy tinh chú ý hàng dễ vỡ, xung quanh lổn nhổn các loại ghế con, vừa mây, vừa gỗ.
Khách ngồi xếp bằng trên phản, hoặc túm tụm theo nhóm nhỏ quanh mấy chiếc bàn con. Quán đông là nhờ ở gần trụ sở cơ quan Trung ương hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, là nơi lui tới của các cụ văn nghệ, các tài danh mà phải nhiều năm sau tác phẩm của họ mới thành giá trị. Nhưng gần là một chuyện, cái chính là do chủ quán, người đàn ông có cái lưng gù, cặp mắt lèm nhèm lõm sâu trong hai cái hốc trên khuôn mặt gầy khắc khổ làm cho vẻ mặt luôn già hơn tuổi. Tóc cắt cao chỉ còn lơ thơ vài sợi bạc, đầu phía trên bè ra, hai má dưới tóp lại, giá bây giờ thì bảo giống người ngoài hành tinh. Lão hay mặc quần ta may bằng thứ vải thô nhuộm nâu, cả mùa đông lẫn mùa hè. Mùa đông giày bộ đội, áo bông xanh, mũ lưỡi trai dạ, quàng phu la bịt kín hai tai. Hè đến vẫn dưới quần ta, trên sơ mi nhưng bao giờ cũng cài cúc cổ. Cái lối ăn bận vừa xộc xệch, vừa nghiêm chỉnh của lão khiến ta có cảm giác như nhìn một lão nông về phố, có sự thoải mái nông dân, nhưng cứ phải có chút lễ nghĩa. Khách hay gọi “Dần gù”, thế là chả biết từ bao giờ, tên và cái lưng còng của lão bỗng trở thành tên quán.
Dần gù vốn ít nói, khách đến chừng như lão hiểu hết thói quen của họ. Nhiều khi chả cần hỏi, thấy người là biết uống gì. Cách pha của lão khá cầu kỳ, và kỹ. Dội một lượt nước sôi làm nóng đồ nghề, rồi mới bỏ cà phê vào. Nước sôi rót vào phin tí một, cho nở và nén chặt lại, rồi mới chính thức chế nước thêm. Trên phản là nhóm nói to của cánh viết. Cà phê đá rồi ấm trà ngồi mãi không vãn chuyện. Chả cầu kỳ, uống hết lại xin thêm nước sôi chế vào cái ấm trà loãng thếch. Cùng lắm vứt cho cái điếu là xong. Phải cthẩậnn là mấy bác họa sĩ hay ngồi quanh cái bàn bên cửa sổ, chỗ có mấy cành sấu già đung đưa. Mấy bác này vừa khôn chỗ vừa kỹ uống, phin cà phê cứ túc tắc nhỏ từng giọt chậm, đặc sánh. Lão thích nhìn và hóng chuyện họ hơn. Trong cái chỗ của mình, bên những nào là phích nước sôi, ấm, chén, và những vết cáu bẩn trên sàn, lão lờ đờ nhả khói. Khách vẽ nói ít, trầm tư nhiều, nhưng lại hay trò chuyện cùng lão. Họ thích cái ngôn từ và giọng nói thô mộc đặc sệt chất Thái Bình của Dần gù. Họ thích cả cái cử chỉ tự nhiên không câu nệ của lão, từ cách ho, cách hút huốc lào, nhả khói và gãi ngứa ở lưng bằng cái thanh tre tự chế. Lão vót một thanh tre cho thật mỏng, có một cạnh sắc như lưỡi dao, mềm như lá lúa, luồn hai tay ra sau, mỗi tay một đầu “lá lúa”, lúc theo chiều chéo, lúc chiều ngang đưa đẩy cào cho đến lúc tấm lưng đỏ rát. Buồn cười nhất là cái biểu hiện của sự sung sướng trên khuôn mặt, rất nhịp nhàng theo từng lần đôi tay đưa đẩy, lúc nhăn mặt méo mồm sang phải, lúc lại sang trái, lúc dồn dập đảo điên, gì sướng bằng khi “gãi đúng chỗ ngứa”, lúc ấy lão hai mắt nhắm tít, môi ngậm chặt. Thỉnh thoảng có bác họa sĩ ngoáy cho lão tấm hình chân dung trên vỏ bao thuốc lá, lúc đội mũ quàng khăn bịt tai như Van Gốc, khi sơ mi cài cúc cổ, lão đỡ bằng hai tay, vuốt cẩn thận rồi cho vào cuốn sổ tính tiền quăn queo.
Vào thời bấy giờ, cà phê đã là cái gì sang trọng lắm. Thông thường thì người ta chỉ ngồi vãn chuyện ở những quán chè chén vỉa hè, hay dưới gốc sấu tối tối với ngọn đèn dầu hỏa, kéo mấy hơi thuốc lào sảng khoái. Dân phong lưu một chút mới vào cà phê, ấy là nói đến cái phong lưu về cốt cách, chứ tiền bỏ túi cũng chả rủng rỉnh gì, thành ra cái quyển vở học trò quăn mép của Dần gù đôi khi có ghi nợ một vài tên tuổi là cũng sự thường. Việc kinh doanh của lão cũng nhẹ nhàng, cũng là cái “sự chui”, chả bảng hiệu gì, mà rồi nhiều người biết, khách đến uống mà như đến chơi nhà, lắm bữa sớm ngày đông rét, góc phản còn cái chăn bông hoa từ đêm chưa kịp cất.
Cà phê Dần gù thơm đặc biệt, nhất là mỗi sáng sớm, từ chân cầu thang người ta đã cảm nhận được cái mùi ngất ngây. Vị đắng của nó cũng đặc biệt, đầm đầm mà không gắt, không chua. Cà phê đen nóng tách sành, thứ hàng mậu dịch, cái méo cái tròn, được ngâm trong bát nước sôi, ly đen đá bằng thủy tinh hàng thứ phẩm, nhưng vẫn đủ độ để nhìn rõ lớp trên ngầu bọt, đặc sánh. Làm gì thì cũng phải có tay, dưới đường cũng có cái quán ngay mặt phố, là của anh công an về hưu non trên ngực lúc nào cũng lấp lánh huy hiệu thương binh Điện Biên Phủ, đèn tuýp xanh tươi mát, trên tường dán nhiều hình ảnh cắt từ họa báo Liên Xô, rất vui mắt nhưng chả được đông bằng. Hồi ấy có hai ông gù nổi tiếng Hà Nội được truyền tên, là Dần gù cà phê và ông gù thịt chó ở chợ Hôm. Nói gì thì nói chứ đã mở quán là có chút “thương mại” rồi, nên nhà lão cũng rủng rỉnh đồng ra đồng vào.
 Dần gù bán hàng thư thả, ngồi nhập tâm nghe chuyện nghệ thuật của mấy bậc anh tài, lúc đầu là tò mò, rồi thành thói quen và chả biết từ lúc nào cũng thấy hay hay. Thỉnh thoảng lão bày tỏ ý kiến với các họa sĩ khi họ vẽ mình, xin cho cái tay chỗ này thò ra, chỗ kia thụt vào một tí, hay thắc mắc “sao cái cổ nhà cháu nó rùn rụt thế nào”, khiến các họa sĩ cười bò. Tình thương mến thương đến như cái sự duyên, họ còn đi lại với nhau uống rượu. Rượu vào nhời ra theo năm tháng đưa Dần gù tới chỗ chả những biết nhìn, biết xem, lại còn biết bình phẩm như cái nhẽ “gần đèn thì rạng” khiến lão lắm lúc thấy cũng “rưng rưng”.
Năm tháng trôi qua, vật đổi sao dời, đến lúc cái căn phòng nhỏ quá chật với những gì lão tích lũy được, đến lúc cuộc đời Dần gù đã phình ra, thì chả còn là Dần gù cà phê nữa, mà trở thành một ông Dần nổi tiếng, cả về tiền và những giá trị khác không phải là tiền.
Thế là lão chuyển nhà.
Bây giờ là một ngôi nhà năm tầng ở con phố lớn, tầng một cũng vẫn cà phê nhưng có vẻ như chỉ để vinh danh một cái nghề mang đến hậu vận tốt đẹp cho đời lão. Những tầng giữa để ở và là nơi cất giữ những thứ là gia sản quý báu tích lũy được trong những năm bán cà phê, những năm gần và kết bạn với văn nghệ sĩ, những tinh hoa tên tuổi. Và tầng trên cùng là nơi thờ cúng. Vợ Dần gù thuộc dạng “có căn”, quanh năm mải mê các việc lễ lạt, đền phủ. Đâm ra lão cũng thế, suốt ngày bên vợ, chìm trong cái thế giới đệ tử con nhang. Hàng ngày lão chuyên làm cái việc soạn lễ, tính lão cẩn thận , tỉ mẩn, nên vợ hay bảo lau bàn thờ, sắp đặt lễ cúng, cắm hoa, lo việc hương oản.
 
Lão có cái thú thích đứng ngắm nghía ban thờ sau khi tự mình sắp đặt. Với Dần gù, đấy là cả một nghệ thuật, và được làm với niềm cảm hứng đặc biệt. Cứ như họa sĩ vẽ tranh tìm bố cục, lão nghĩ ngợi, nghiêng đầu nheo mắt khi sắp xếp, hay là do bị nhiễm cái tinh thần thẩm mỹ từ thuở giao du với mấy ông họa sĩ ngày xưa? Lão thích tìm sự cân đối trong phá cách, nên kiểu bày biện trên ban thờ nhà lão không như truyền thống. Lão không thích đối xứng, ít khi lão bày hai lọ hoa hai bên cùng một loại, hoặc một bên là bình hoa thì bên kia là quả. Màu sắc của hoa quả cũng phải hài hòa, không bao giờ quá nặng một màu mà cứ đan cài nhau, xanh của bưởi, vàng của cam, đỏ của táo tươi vui mơn mởn trên ban thờ.
Thế giới tâm linh với Dần gù có vẻ như chỉ là nơi nương nhờ yên ả cho tinh thần, như cơ thể cần một nơi trong lành thoáng đãng. Mỗi sáng lão thức giấc sớm, đi tập thể dục ngoài Bờ Hồ, về nhà tắm rửa rồi lên phòng thờ. Đánh một tiếng chuông ngân vang như lời tuyên cho một ngày mới, cắm mấy nén hương xong thì mới là lúc buổi sáng thật sự bắt đầu. Cứ thế, một đời sống lặng lẽ buồn trôi.
Bỗng một ngày, con bé ấy rơi tõm vào đời lão.
Về bản chất, Dần gù không phải là kẻ nâu sồng. Lại càng không phải là người “ăn chay, niệm Phật”. Chả biết từ bao giờ, hay từ lúc theo vợ đi đền phủ, lão xoay ra ăn trầu. Nhìn cái miệng lão nhai trầu bỏm bẻm, môi đỏ choét thật tức cười. Nom hơ hớ thế nào. Lão là người của người đời. Đi lễ chùa, đền phủ, cung kính nhất là trước ban Tam Bảo, hay ban thờ Thánh. Nhưng thực lòng nhất là khi lão đứng trước ban thờ ông Hoàng Bẩy, ông Hoàng mà lão nghe nói là phụ trách về khoản văn nghệ, hút xách, rượu chè. Đứng trước ngài, lão dám thú thật nỗi đau nhân tình thế thái, những uẩn khuất riêng tư. Sống có tâm, không dám cợt nhả gì nơi cửa Phật, trước thánh thần, nhưng lão cũng chả ngại ngần gì khi thầm khấn và bày tỏ nỗi lòng, những hệ lụy người trần mắt thịt. Lão dám nói thật không hẳn với tinh thần sám hối, mà như cốt để phân trần về cái sự ở đời. Có nhiều đêm lão mơ những giấc mơ kỳ lạ, như bị lạc vào thế giới đầy ảo ảnh, óng ánh của những sắc trang kim, với bao nhiêu sự lung linh huyền ảo của sắc màu, của những khuôn mặt phụ nữ hầu đồng. Những khuôn mặt trắng, mắt sắc lẹm và ánh nhìn lúng liếng bay lượn lờ, vờn vuốt xung quanh lão, như nuốt trọn hồn vía lão. Những mặt người bay lượn làm lão như bị hôn mê, đôi khi lại trào lên một sự thèm khát đến ngẹn thở, khiến lão ú ớ rồi thét lên trong đêm vắng.
Lão đặc biệt thích chầu văn, thứ âm nhạc có sức quyến rũ đầy ma mị. Những giai điệu mượt mà, lời hát nhiều khi nghe gọi một cảm giác xa xôi mà da diết. Ám ảnh nhất với lão là khuôn mặt con bé hát với cái câu “á a a á ả à a” đầy cắn xé ở chùa Hương, chỗ đền Trình. Tết nào lão cũng đi, cũng nghe và thần cả người. Con bé có khuôn mặt không có gì đặc biệt, ngoài cái nét gợi cho lão nhớ những ngày ở quê vào mùa hái rau khúc tháng ba ngoài bãi sông. Một năm sau tết, không thấy nó, người ta bảo trong một lần cãi nhau, chúng nó văng tục lọt vào “mi cờ rô” rồi phát ra tiếng loa oang oang ở nơi lễ hội, thế là bị đuổi. Lão cứ thấy chạnh lòng.
Cho nên vào buổi sáng hôm đó lão làm sao quên được, khi người ta dẫn về nhà một con bé giúp việc, không phải để làm “ô sin” như lẽ thông thường, mà làm “phụ lễ”, nghĩa là phụ giúp những việc lễ bái, bưng bê đèn nhang, trầu quả mỗi lần đi lễ cho bà nhà. Choáng mất một lúc, khi lão nhận ra chính là con bé hát ở chùa Hương.
Choáng rồi tỉnh. Lão thích thú giấu nhẹm cái tung tích mà lão đã biết về con bé như giấu một bí mật riêng tư đầy quý báu. Sự ám ảnh về giọng hát, khuôn mặt nó từ những tết năm nào lại hiện về sống trong tâm trí lão. Trong đầu lão bỗng nẩy ra những ý nghĩ tinh quái của một người từng trải, để che đậy đi sự nôn nóng, kìm nén lại cái liếm mép của con thú trước miếng mồi tươi. Không mặc cảm tội lỗi, lão tự cho mình cái quyền sở hữu một thứ của riêng cất giữ trong lòng. Với vẻ ngoài đầy cao đạo bề trên, hằng ngày lão gọi con bé, sai bảo việc này việc khác, không bao giờ bày tỏ một sự cưng chiều. Vẫn tự nhủ lòng là thế, nhưng càng ngày càng cảm thấy mất dần sự tự nhiên, thấy gượng và rất giả tạo ở mỗi lần lão cố tỏ ra nghiêm khắc với nó.
Mùa hè năm ấy, vợ lão sắm cho nó bộ cánh, quần lụa đen, áo nâu lụa mỏng kiểu bà ba cổ tròn, xẻ tà cao trên lưng quần. Mỗi chiều con bé hay lên phụ lão sắp lễ, phòng thờ tầng trên cùng, bao nhiêu
cái nóng căn phòng hứng trọn. Cái quạt trần quay tít cũng chả đủ xua đi cái hầm hập, lại còn tiếng vè vè khó chịu.
Lão đứng dưới, nó đứng trên cái ghế đẩu để nhận từ tay lão từng thứ đặt lên ban thờ trên cao. Mồ hôi ướt áo dính chặt vào tấm lưng, những đụn tóc bết trên khuôn mặt ửng đỏ vì nóng. Mỗi lần nó kiễng chân lên đặt lễ là một lần kéo tà áo mỏng cao lên khỏi lưng quần, đập vào mắt lão là cái eo lăn lẳn, cái tam giác da thịt trắng nõn làm lão hồi hộp. Lão lo nó ngã trên đôi chân lập cập của chính mình.
Ở tuổi ngấp nghé bẩy chục nhưng nhờ cái gốc người lao động nên Dần gù còn săn chắc, bụng không phệ, ngực không chảy, tay chân gân guốc, ngày hai bữa cơm rượu điều độ như cuộc đời buồn tênh của lão. Ngoài sáu mươi là vợ chồng “ra riêng”, đã từ lâu cũng vì hay lễ bái, trước những lần cúng quan trọng, bà không thích chung đụng. Người đàn bà khi mê man trong cái thế giới tín ngưỡng của mình thì quên luôn những đòi hỏi khác, tất cả chỉ còn là một sự “ôi dào”, thế là lão cứ tần ngần trong cái bí bách đầy lúng túng. Nhiều khi cố tự đánh lừa mình cũng chả được, năng lượng trong lão vẫn đầy, vẫn thôi thúc, vẫn như một mạch ngầm tuôn chảy rần rật chỉ chực trào ra. Lão sống như giả cách, miệng nhai trầu, quần áo nâu sồng lụng thụng, đôi khi nhìn con bé, lão không dám nhìn thẳng, hoặc chỉ nhìn thẳng kèm theo một nguyên cớ, là lúc lão phải giả vờ dặn nó một điều gì.
Con bé gọi lão là ông, xưng con. Cái lúc công việc chỉ có hai người oái oăm thay lại thường xẩy ra ở điện thờ trên tầng thượng, khi nó bị sai lên phụ giúp việc lễ. Nhiều hôm nó ngồi bên lão đơm oản, hay soạn lễ, mà chả ý tứ gì, lúc nóng cứ vô tư tốc vạt áo lên mà phành phạch quạt.
Hôm ấy buổi chiều, nắng quái thật bức bí, khó chịu. Những sắc màu nóng của đồ lễ như thêm hun đúc. Con bé ngồi xếp đồ rồi mệt quá, nằm tơ hơ dựa tường mà ngủ, chân gác chân duỗi khiến một bên ống quần tụt xuống. Chưa bao giờ lão cảm thấy đớn đau như thế, trong thế giới nhập nhòa của những sắc mầu ma mị, của thứ ánh sáng sắc lạnh nửa âm nửa dương, lồ lộ ra, rõ mồn một là mảng thịt da con gái, tươi non mơn mởn. Thứ ánh sáng ấy, những sắc màu kia, ánh trang kim u u mê mê vừa rạo rực, vừa ma quỷ, vừa kích động, vừa kìm hãm. Cố kìm nén trong sự run rẩy, sợ hãi, nhưng tự dưng như vô thức, tất cả như tuột đi đâu, lão run run bò đến.
Cái nóng luôn làm cho người ta dễ chìm sâu vào mê mệt, ở cái tuổi chơm chớm đôi mươi chưa nhiều điều phải nghĩ, thì giấc ngủ đầy thanh thản. Trong mơ màng, con bé linh cảm như có sự đụng chạm, nhưng một cảm giác khác đồng thời cũng thức dậy trong vô thức, là nỗi đê mê. Nó chả biết mình đang ở đâu, với ai, những căng ứa như được tràn ra…
Lão cũng thế, không còn ý thức được nữa, sự nửa mê nửa tỉnh của con bé thoạt đầu làm lão tê dại rồi bùng lên một ngọn lửa ham muốn cùng cực. Hai nửa u mê quyện lại vào nhau tê tái. Cứ thế, lão không còn biết mình đang ở đâu, ánh trang kim nhòa đi, những khuôn mặt hình nhân nhòa đi, những sắc màu thần thánh nhòa đi, chỉ còn sự gào thét của bản năng, vật vã như đi vào trận đấu cuối cùng.
… Vẫn còn nguyên quần áo, nhàu nát và ướt đẫm. Khi cả hai bừng tỉnh là lúc ngoài trời nổi gió, và cơn mưa bất chợt đổ xuống mịt mù màn nước. Cánh cửa sổ bị một cơn gió xô mạnh đánh rầm rồi bật ra, những hạt mưa tung tóe hắt vào.
Có phải là thánh thần nổi giận, hay là sự tưng bừng hỉ hả của đất trời cho lão, như là một sự nổ tung?
Con bé nem nép sợ. Hàng cúc áo bung ra một nửa, cái lưng quần mới lưng lửng trễ, da thịt thân thể đã cọ xát ở đâu, nhưng có hai ngọn lửa khát khao bùng cháy rồi lịm đi trong hơi thở như hấp hối của lão.
Xung quanh, những khuôn mặt hình nhân trừng trừng nhìn lão, trong mơ màng, lão nhìn thấy muôn vàn ánh lấp lánh của sắc trang kim. Và với lão, đấy là trận vã mồ hôi cuối cùng của cuộc đời.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 22.09.2021 13:21:22 bởi Ct.Ly>
Nơi hò hẹn
 
 
Ấy là một nền nhà hoang, anh tìm thấy trong một khu rừng phi lao, ba phía không còn gì, chỉ còn lại một bức tường trơ trọi bên phía biển như một mặt phẳng được gấp lên. Một vài vết loang lổ không rõ gốc tích, nhưng có một ô cửa sổ còn sót lại với cái khung mục nát tạo ra một bức tranh vì qua nó là nhìn thấy biển. Không có tiếng chim, càng không một tiếng chân người. Biển ì oạp cách vài chục mét.
Hì hục mãi, anh cũng đóng xong và đặt vào đấy, bên ô cửa, một cái bàn và hai cái ghế từ mấy thanh gỗ vụn vung vãi.
Hồi cuối năm ngoái, hình như anh có nợ một cuộc hẹn. Không, anh nợ người hay người nợ anh?
“Em bảo lưu cuộc hò hẹn này”, người nhắn thế. Cuộc bảo lưu đã đi qua hai mùa. Có cuộc bảo lưu đi qua gần cả đời người, nhưng anh không quên.
Họ thỏa thuận sẽ đến đấy nhưng “không cùng nhau”, nghĩa là không hẹn trước. Sẽ không bao giờ hẹn trước. Rất nhiều khi anh muốn gặp một người, nhưng không muốn hẹn. Cuộc gặp không hò hẹn là cuộc gặp “trời cho”.
Họ hẹn nhau, không xác định thời gian, với người chưa bao giờ gặp mặt.
Tất nhiên anh là người đến trước. Lần đầu với một chai ruợu vang, nhưng với hai ly thủy tinh kiểu “trà đá”. Lúc về, chai rượu vơi đi non nửa, một ly còn sạch nguyên.
Những mẩu vụn của một loại bánh ngọt còn vương lại khi anh đến lần thứ hai bảo với anh rằng, hôm qua nguời ở đây lúc mấy giờ. Chai rượu vơi đi một nửa của một nửa. Cái ly còn lại đã có vết môi.
Lần thứ ba.
 Lần thứ tư.
Lần thứ n.
Họ chưa bao giờ gặp nhau. Chai rượu cạn, chai rượu đầy, mẩu bánh mì rơi vãi, đầu tàn thuốc cháy sém một góc bàn. Một nửa cây nến. (Nhưng chưa bao giờ có một cành hoa). Cái mức ngang của rượu còn lại trong chai ngày hôm trước khi ra về và cái mức ngang của lần trở lại, là dấu vết, là những cái gạch thời gian, là trạng thái tinh thần của mỗi người để lại. Họ đến, ngồi, đợi, ăn, uống, và bình thản nghe biển hát. Họ cũng mong, cũng buồn… nhưng không bao giờ thấy thất vọng. Những tình cảm ướt át là thừa. Một sự định hình là điều chưa thôi thúc lắm. Nhưng họ cần nhau, muốn có nhau ở trong một sự không có gì cả. Mỗi người đều có khoảng trống, nhưng nếu lấp đi thì còn gì nữa. Mỗi người đều cần một chỗ dựa, nhưng nếu có một chỗ dựa vào thì cuộc đời có lẽ còn ngả nghiêng hơn.
 
Bởi vậy nên họ vẫn đến, nhưng nhất quyết không bao giờ hò hẹn. Rồi có thể một ngày, nếu có sự ngẫu nhiên nào đó, nhưng thôi…
Bóng một người vẫn in trên vách. Rượu vẫn cứ vơi mỗi lần một nửa. Hai cái ly chưa một lần cụng, nhưng vệt môi trên mỗi cái cứ nhập nhằng mà lẫn vào nhau, vì cả hai chả ai biết lần trước người nào uống ly nào.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mùi hồng bì
 
 
Dễ đến vài chục năm, cái mùi ngai ngái rất khó xác định ấy mới trở lại trong khứu giác. Bảo thơm thì không phải, nhưng sức quyến rũ thì hơn mọi mùi thơm. Nó xộc vào mũi, hơi cay cay, thoáng một chút hăng hắc nhưng không đáo để như mùi vỏ cam, vỏ quất. Hồng bì đặc trưng ở mùi hơn vị. Xưa chua chua, giờ chả biết sao ngòn ngọt, tình hình chung. Công nghệ sinh học chăng, làm biến đổi hương vị nhiều loại cây trái, giờ có nhiều quả ngọt như mứt, phải ăn kèm cà phê hay trà mạn.
Chùm hồng bì lắc lỉu trái trên cành trong nắng hè tháng Bảy cho cảm giác dìu dịu, khác hẳn với những chùm nhãn lủng lẳng xum xuê nóng. Những quả hồng bì nho nhỏ xinh như môi trẻ con, lớp vỏ mìn mịn mềm mềm lại như phơn phớt một chút gì có cảm giác như lông tơ nhưng mà không phải.
Căng căng mọng mọng, cắn nhẹ vào là một làn nước ngọt lịm môi.
Nhưng ấn tượng nhất vẫn là cái mùi đầy ám ảnh.
Nhặt một ký hồng bì 25 nghìn ở đường chợ vỉa hè Bảo Khánh của em gái xe đạp ra đâu từ mạn Long Biên. Mặc kệ bẩn, mặc kệ bụi hay thuốc sâu gì gì đi nữa. Nhớ cái mùi nó quá rồi, quệt vài phát lên vạt áo rồi bỏ tõm vào mồm. Nưng nức đạp về và nghĩ đến cây hồng bì bên cánh cổng nhà số 6, phố N.
Nhà mình số 10 ở chỗ ngã ba. Tận cùng trong ngõ bên phải là biệt thự số 6, cùng một dạng có từ thời Tây.
Ngôi biệt thự này rất lạ, nhiều thành phần ở rất khác nhau. Công chức, công an, lái xe và chả hiểu sao lại có cả một cái lò rèn trong đó, ở một góc sân rộng phía trước.
Cái lò rèn ấy đốt bằng than quả bàng, chuyên sản xuất dao, kéo, lưỡi liềm, lưỡi cày, cuốc xẻng giữa lòng thủ đô!
Các thợ rèn tay ngực vạm vỡ, đông hay hè thì cũng cởi trần lộ cơ bắp cuồn cuộn. Họ cho những thanh sắt vào lò rồi một lúc lôi ra những thanh đỏ rực, quai chan chát thành các loại lưỡi khác nhau. Hè thì khỏi nói, nhưng mồ hôi đầm đìa ngay giữa mùa đông.
Nhìn thật nể và kinh hãi.
Trong số các hộ dân sống trong ngôi nhà ấy có một gia đình rất đặc biệt, gia đình ông bà T.
Ông đi làm Nhà nước, người dáng nhỏ gọn, đẹp trang nhã. Lúc nào đầu cũng bóng, chải mượt như có bi zăng tin. Sơ mi dài tay, quần là kỹ cứng một hàng li chạy dọc ống quần. Đâu như ông làm ở một công ty vận tải, hằng ngày thấy đạp xe treo lủng lẳng trên ghi đông cái cặp da kiểu một quai ở góc. Kiểu cặp cho cán bộ cấp vụ. Thậm chí thứ trưởng ngồi Mát-cô-vích* cũng thường cặp ấy, móc tay qua quai nhưng vẫn phải nắm lấy góc cặp khi lên xuống ô tô.
Ông T cũng cặp hàng vụ trưởng, thứ trưởng, nhưng treo xe đạp, cứ lủng lẳng ngày bốn lượt đi về. (Hồi xưa Hà Nội làm việc theo giờ Pháp để lại, trưa 11 giờ còi hụ là về nhà ăn ngủ nghỉ, đến 2 giờ đi làm lại cho đến 5 giờ chiều, thành ra ngày đi về bốn lượt).
 
Ông bà T có năm người con, ba giai, hai gái. Gái lớn đầu lòng, ba giai kẹp giữa, rồi chốt lại là cô út. Giai đều đẹp, gái đều xinh.
Nhưng thật khổ.
Gái lớn bị động kinh, bình thường thì cũng khỏe mạnh, làm nghề đan len giống mẹ. Hối ấy Hà Nội có nghề đan len gia công cho các hợp tác xã cung ứng hàng cho nhà nước xuất khẩu. Có khi cô vừa đi vừa đan, những ngón tay thoăn thoắt như ngón tay nghệ sỹ theo một phím đàn. Nhưng đùng một cái bỗng lăn đùng ra sùi bọt mép ngoài đường. Mọi người lại hốt hoảng gọi bà T ra bế về, đang tuổi đôi mươi mơn mởn, thương thế.
Kế đến ba ông giai. Ông lớn nhất bảnh chọe, cao dong dỏng, dáng hào hoa giống bố, khỏe mạnh, có công ăn việc làm ngon lành, tên L. Mười mấy năm sau ngày đất nước thống nhất một lần gặp anh giữa Sài Gòn, thấy đưa “cạc vi sít” đề địa chỉ là một ngôi biệt thự trong một con phố yên tĩnh ở quận 3.
Ông kế dáng cũng ngon vậy, tên Hùng nhưng cả phố gọi “thằng Câm”. Thì vì câm mà chết tên như thế. Câm chả biết có được học hành gì không, chỉ biết là phải đi tù (mà hồi đấy gọi chệch đi là “đi cải tạo”) về tội móc túi từ nhỏ. Câm có biệt tài chơi bi rất mả. Đã bắn thì dù xa cũng bách phát bách trúng.
Giai thứ ba tên H, có tên là “H con”. H con người nhỏ gọn, mặt cũng xinh, nhanh nhẹt, nhảy tàu điện như hiệp sĩ lên xuống ngựa. H con chơi bi, xèng cũng mả chả kém gì anh. Có điều trường hoạt động của H con quanh khu vực rạp Tháng Tám. H con lẻn vào rạp xem phim rất nhanh. Có lần mình theo H con cũng xem phim lẻn, trốn vé, vì phim hay vé rất khó mua, hoặc những phim “cấm trẻ em dưới 16 tuổi”.
Nhưng rồi H con cũng lại đi tù. Hoạt động loanh quanh các rạp xi nê thuộc “bang Bờ Hồ” (thời đó chưa gọi “quân khu”), hay trong Bách hóa Tổng hợp thì chả nói ai cũng biết tội gì. Từ chuyên môn gọi là “lính mổ”.
Hồi đấy cả bọn đi xem về hay tụ tập luận bàn về phim, nhất là kiểu phim phản gián Đông Đức như “Tối mật” hay phim tình báo “Chiến hạm nổ tung ở cảng”. H con vừa nhắc lại cảnh trong phim vừa khoa chân múa tay như đánh võ.
Có lần nó còn kể cho cả bọn nghe vụ bọn nó chơi “phò” thế nào, cái mặt đầy trứng cá có cảm giác vẫn rung lên rần rật. Rồi kể chuyện bị “997” (là số xe của cảnh sát hình sự) đuổi bắt.
Thương nhất là gái út tên Lan. Tên đẹp, người đẹp thế, lúc bấy giờ vào cuối những năm sáu mươi, ước chừng mươi tuổi. Lan được mẹ chăm chút kỹ, thương chiều, hay mặc váy đầm, áo sơ mi tay bồng bềnh có chun ôm chặt cánh tay trắng trẻo. Mặt như thiếu nhi Liên Xô. Nhưng Lan nào được gọi tên, mà cũng bị cả phố gọi “con Câm”. Lan cũng bị câm từ bé.
Cây hồng bì sát hàng rào nhà Lan mỗi hè đều trĩu quả. Mùi hồng bì ngát mấy quang gánh của các bà bán rong là chuyện của các bà mẹ. Với trẻ con ở phố N thì những quả hồng bì trên cành cây ngôi nhà số 6 mới là cớ tụ tập, leo trèo. Hồi đó trong mỗi số nhà trong phố đều có một cây của mùa. Số 4 là cây roi (trong Nam gọi mận) quả to và ngọt sau mỗi trận mưa đêm, sáng ra sân ngập đầy roi rụng, trẻ con xông vào tranh cướp. Lại còn có cả một cây nhãn trĩu quả ngay hàng rào chìa ra ngoài đường suốt ngày bị ném gạch. Số 6 hồng bì. Số 8, số 10 là ổi, một loại ổi đặc biệt ngọt giòn, gọi ổi găng. Số 13 cây táo, là một nhà sân không có hàng rào, dưới cây táo là máy nước công cộng. Cành táo là là tầm với của bọn học sinh cấp hai Ngô Sĩ Liên nên chả cần gạch đá gì, đâm ra được yên.
Mấy chục năm, phố đổi đời phố, người theo phận người. Nhiều nhà chuyển đi, dân từ nơi khác đến. Nhiều chuyện lắm!
Nhưng từ mùi hồng bì mà nghĩ đến Lan. “Con Câm” ngày xưa vẫn đấy. Nhà bán rồi nhưng “con Câm” vẫn chưa thể xa N.
Bốn chục năm từ lúc vào Nam với hàng trăm lượt đi về phố N, lần nào lúc xe từ từ rẽ vào con phố nhỏ cũng nhìn thấy “con Câm” dưới mái dù với cái tủ thuốc lá nhỏ. Rồi những lúc đi bộ, xe máy hay xe đạp lướt qua một cách bàng quan. Cùng lắm cũng chỉ một cái liếc nhìn vội rồi lướt nhanh qua.
Trưa nay nhấp cái vị hồng bì, nghĩ ngợi thế nào mà ngồi không yên được. Bèn xỏ dép lê ra đầu phố, giữa cái góc hõm vào của tòa nhà hãng dầu Shell thời Pháp giờ là trụ sở bộ K, chỗ cái tủ thuốc lá dưới mái dù. Mỉm cười gật đầu chào “con Câm”, ra dấu làm hiệu, chỉ vào đầu “nó” rồi chỉ vào mình và chỉ về phía những ngôi nhà trong phố N. Ra ý hỏi “cô có nhớ tôi không?”. “Con Câm” giờ đã thành một người đàn bà ở tuổi cuối ngũ tuần, khuôn mặt hơi gầy nhưng không quá khắc khổ. Lan mỉm cười gật đầu chào lại thật rạng rỡ như bày tỏ một nỗi vui mừng khôn xiết. Đầu gật gật tỏ ý “tôi nhớ chứ” và chỉ về phía nhà số 10. Kéo cái ghế nhựa mời ngồi xuống bên cạnh. Hỏi mua thuốc lá thì chỉ có lèo tèo vài loại, mỗi loại một bao. Lấy một gói Thăng Long bao thường giá 10 nghìn. Nhưng trong ngăn tủ đầy ắp những “phơi đề”. Liên tục những khách đến ghi, trả tiền.
Cố gắng bằng thứ ngôn ngữ chưa bao giờ được học, thể hiện bằng ra hiệu, chỉ trỏ qua lại, lên giời xuống đất để hỏi chuyện Lan. “Con Câm” ra dấu và mình hiểu đã có hai con, một trai một gái. Khuôn mặt trĩu nặng đưa bàn tay lên thái dương, đôi mắt nhắm lại để nói là con trai đã chết. Rồi giải thích thêm bằng cách đưa hai cổ tay chéo nhau, bàn tay nắm lại với khuôn mặt đậm buồn: “chết trong tù”!
Trời ơi, sao cái dớp tù tội trong gia đình ấy nó vẫn không chịu buông tha đến đời con cháu thế!
Hỏi về con gái, chồng con thế nào? Khuôn mặt được giãn ra, bàn tay đưa cách mặt đất một khoảng vài tấc với bốn ngón tay giơ lên.
À, “có cháu ngoại bốn tuổi đấy”!
Một người đàn ông ghé đến, mình “anh ơi” đến mấy lần định hỏi cái bật lửa, chả thấy nói gì. Hóa ra cũng là ông câm. Ra hiệu hỏi có phải chồng không, thì “bàn tay” đáp lại là không phải. Cố vận dụng hỏi “có sợ công an không?” bằng cách chỉ tay vào cái bót cảnh sát canh cửa nhà riêng một nhà ngoại giao nước ngoài, thì lại thấy có một ông xe ôm đứng đấy. Thế là “con Câm” cười và ra dấu đấy là lão xe ôm, bằng cách đưa hai tay như nắm một cán tay ga đang tăng tốc. Trình ngôn ngữ câm điếc của mình tuy chưa được đào tạo bao giờ mà cũng đủ để “nghe, nói, hiểu” về một phần nho nhỏ của một phận người.
Nhà “con Câm” đã bán, hỏi giờ ở đâu thì chỉ về phía cuối đường Trần Hưng Đạo, phía đê sông Hồng.
Ôi hồng bì, cái mùi ngai ngái hấp dẫn thế lại đưa về một câu chuyện đầy hồi ức mà đậm buồn.
Nhưng thôi cũng mừng, “con Câm”, cô bé Lan xinh đẹp xửa xưa, bà Lan câm bán thuốc lá góc phố N bây giờ vẫn còn nở được những nụ cười tươi lắm. Ghi số đề chắc kiếm đủ sống, chắc cũng chả sao, chắc không ai nỡ “thực thi pháp luật” với người đàn bà khốn khổ này, cũng chỉ cò con thôi mà.
Cái mảnh trời nhỏ qua lỗ thủng mái dù chiếu thẳng một tia nắng xuống đất. “Con Câm” ngồi đây từ hàng chục năm rồi, và sẽ còn ngồi bao năm nữa. Tối mùa đông hay trưa hè đổ lửa nóng bốn mươi độ. Hỏi những ngày nắng vừa qua thế nào, “con Câm” U60 rùng mình nhăn nhó tả sự khủng khiếp!
Lần đầu tiên trong đời mình chơi đề. Chả có ý niệm gì, đánh đại con 59 là số tuổi và con 64 là số may mắn lúc lên mười, lần đầu tiên trong đời mình trúng số giải bét trị giá hai đồng (lúc bấy giờ tương đương bốn bát phở mậu dịch).
Lại nóng rồi, ngoài trời ba bảy độ C. Nhưng chưa nghe ai nói ăn hồng bì bị nóng như nhãn, vải.
Chỉ thấy rằng cắn quả hồng bì thơm ngon nhưng buồn quá!
 
Chú thích :
* Mát-cô-vích: tên phiên âm một nhãn xe ô tô con, do Liên Xô sản xuất.
 
HẾT




0