Nhất Thống tiên sinh
Viết xong bài “Người xưa giờ đâu?”, nằm đọc lại dưới ngọn đèn tàn không đủ sức tỏa chiếu, tôi chợt xúc động triền miên, không tự ngăn nổi, hai giòng dư lệ.
Tôi vừa nghĩ đến người con trai độc nhất của “Cậu Ba Vị Xuyên”, người mang tên Thống - mà tôi đã từng gán cho mỹ hiệu: Nhất Thống tiên sinh - cũng là một người “nghèo nhất thiên hạ”, như Cậu Ba trước kia; và ngay từ thuở còn học trường tiểu học tỉnh Nam tôi đã coi là một “vong niên tri kỷ”.
Chính bậc “vong niên tri kỷ” này đã khuyến khích tôi trên bước đường sáng tác; và ngay khi tập Thơ say của tôi được ấn hành (1940), đã tìm đến tặng tôi một chiếc quạt trên có đề thơ. Nét bút nặng trịch u hoài, quằn quại như cả một thân thế không lối thoát; nét bút ấy, tôi không lạ lùng gì cho lắm; nhưng bài thơ đề trên quạt đã khiến tôi vô cùng ngạc nhiên. Thế ra lần này Nhất Thống tiên sinh “phá cựu lệ”? Cũng hạ bút, cũng sáng tác như ai?
Nguyên ủy là tiên sinh vẫn thường tuyên bố: “Tôi là con của một danh sĩ, như thế đủ rồi. Cần chi đến tôi phải làm thơ! Mà thí dụ tôi có gắng làm đi nữa, thì thơ ấy cũng chỉ là những cái bóng mờ, những tiếng vang yếu ớt của thơ cha tôi mà thôi. Muốn gặp tiên, phải vào sâu tận cuối hang chứ! Sao lại quanh quẩn nơi dòng suối gấm, rừng hoa đào làm chi!”.
Ấy thế mà hôm nay tiên sinh lại vẽ ra cho tôi thưởng thức cả một giòng suối rừng hoa... Tôi không ngạc nhiên sao được!
Sáng tác của tiên sinh như sau:
Hành ca cổ phúc cánh xương cuồng
Không tác ngang tàng nhất túy vương.
Trần ai chân vật sắc
Thiên địa nhất không nang
Càn khôn phiêu điểu
Hồ hải thương mang.
Phong vũ chỉ Lưu Lang đắc cú
Đăng lâm chỉ Đỗ Mục tha hương.
Học cô nhân phong lưu mộng trung chi túy hề hà thương !
*
Ngay tại trận, tôi đã có bài “dịch nguyên điệu” và đúng cả số câu số chữ, như sau:
Hát ngao vỗ bụng khoái cơn cuồng,
Làm cái “Không-làm”... Một túy vương !
Đất trời kia: túi rỗng !
Cát bụi này: kim cương !
Trước sau mù mịt
Rừng biển đầm hang...
Mưa gió chàng Lưu thơ lất phất
Quê người Đỗ mục rượu lang thang.
Học cổ nhân có hề chi mà!... dòng Say ta đi hoang.
*
Cộng tất cả năm mươi tám chữ, chia làm chín câu. Bài dịch này, Nhất Thống tiên sinh khen là có “phong cốt” lắm. Nhưng ngâm đi ngâm lại hàng chục lượt, qua đến mấy tuần trà và mấy phen ngồi dậy khêu đèn sửa bấc, tiên sinh bỗng cười lớn, vung tay:
“Đã thế, tội gì anh tôn trọng nguyên điệu! Cứ phóng bút rồi nó muốn ra điệu gì thì ra, mấy câu thì mấy chứ, cần gì nào!”.
Tôi chịu quá. Nhưng “hứng bất khả ép”, đành để dịp khác thôi. Kẻo rồi lại đường cùng, phải khóc mà quay về như Nguyễn Tịch, thì mất cả thú!...
Cái “dịp khác” này, phải 8 năm sau mới chịu lững thững lê gót đến. Mà lúc đó, giang sơn đã đổi chủ, đào kép đã thay tuồng; Nhất Thống tiên sinh và tôi đã trở thành “dân tản cư, dân chạy loạn”.
Dầu sao cũng vẫn còn chút phong độ cuối mùa: trà vẫn pha, đèn vẫn thắp, và khói thơm vẫn tỏa rộng, bất chấp ngọn lửa chiến cuộc đang bùng cháy từ Hà Nội lan ra.
Và cuối cùng thì “hứng thơ” lại nổi dậy, tôi hoàn thành bản phóng dịch bài “Hành ca cổ phúc..như sau:
Vỗ cái trống bụng
Ta nằm ta ca.
Rằng điên cũng đúng
Rằng ngóng cũng là!
Ngang tàng giữa cõi người ta
Một Vua Say... Mấy ai mà, ngàn xưa?
Đất trời: tủi rỗng.
Ngày đêm: bụi nhơ.
Ngọc vùi đáy động
Cần chỉ bến bờ!
Trùng lai mưa gió thành thơ
Mười năm gánh rượu say mờ cố viên...
Học theo người trước
Say thánh say hiền,
Phất phơ lan nhược
Say “tĩnh’ say ‘‘yên’’.
Và say vang bóng thuyền quyên
Say luôn cả cái “hư huyền”... đã sao?
Nghe tôi đọc xong, Nhất Thống tiên sinh vỗ đùi tán thưởng:
“Ừ, đã sao? Hỏi rằng đã sao nào? Say luôn cả cái Hư huyền đi... cũng được lắm chứ!”.
Rồi đột nhiên tôi cảm thấy giọng nói giọng cười của tiên sinh có chút gì lạnh lẽo ghê rợn. Lửa trong hỏa lò đã vạc dần. Lửa trên ngọn bấc cũng nhạt nhòa tê tái, như có sương mù vây quanh.
May sao, một tiếng chuột rút phá tan bầu không khí nặng nề. Tôi cười giọng, buông một câu nửa an ủi, nửa cợt đùa:
“Ông sắp giàu rồi, lo gì! Có điềm báo trước đấy”.
Tiên sinh không trả lời, nhưng vẻ mặt đang lạnh như mồ hoang bổng đổi ra trịnh trọng, cầu khẩn:
“Anh còn trẻ, duyên nợ với thơ còn dài. Mong anh đừng quên nhau. Và cũng mong anh nhớ cho cái việc tôi nhờ anh... từ lâu lắm rồi thì phải!”.
“À... Bài thơ đó hử? Đệ không quên đâu, nhưng khó dịch quá, vận dụng chữ nghĩa không nổi? Nhất là hai câu tam tứ và câu cuối cùng”.
“Thế là tôi chẳng bao giờ được nghe chứ gì? Đáng hận thật!”
“Ơ hay! Chẳng bây giờ thì tháng sau, năm sau. Thế nào ông cũng được thưởng thức cái tài “dịch liều lĩnh bất chấp” của tôi mà!”.
“Làm gì có tháng sau, chứ đừng nói năm sau nữa! Tôi chỉ còn mấy ngày trước mặt thôi. Nhưng... cũng chả sao! Miễn đừng quên nhau là được. Và nhớ cho rằng bài thơ ấy, tôi đã chỉ đọc riêng anh nghe thôi, và anh sẽ vì tôi mà chuyển sang Quốc âm, được câu nào hay câu đó. Dầu tôi về nằm sâu dưới đất, tôi cũng vẫn lắng tai”.
“Cụ Hoàng Giáp Mai Sơn..
‘‘… Nguyễn Thượng Hiên”.
“Vâng, cụ Nguyễn Thượng Hiền đối với lệnh tôn thật là chí tình. Chả biết sau khi lệnh tôn đã nằm xuống, và cụ Nguyễn đã lang thang nơi hải ngoại hoạt động cho cách mạng, có lần nào cụ nhớ đến thơ, đến bạn thơ xưa, đế ngâm lại bài phúng điếu lâm ly ấy không nhỉ?”.
“Điều đó tôi không biết. Nhưng có điều tôi tin chắc rằng khi cụ Nguyễn vẩy rượu quanh mồ và đọc bài thơ phúng điếu kia, thân phụ tôi nằm dưới đất đã nghe không sót một chữ... Cũng như rồi đây tôi về hầu cạnh người, tôi vẫn còn đợi bản dịch của anh”.
Tôi bàng hoàng. Và xúc động tới run ray. Nên không dám ngồi lâu nữa. Tưởng chừng như nói xong lời trăn trối này, Nhất Thống tiên sinh sẽ ngã gục bên ngọn đèn tàn, chẳng bao giờ tỉnh dậy.
Bài thơ Hán tự của cụ Hoàng Giáp Mai Sơn, viết từ đời Thành Thái, như sau đây:
Tiên huyết lâm ly sái chỉ hồng
Thanh sơn nan trắc hải nan cùng.
Thịnh Đường cảnh giới khai toàn Việt
Lão Đỗ môn đình kiến thử ông.
Thiên cổ hữu nhân đồng loại tửu
Tiền đồ vô lực thất truy phong.
Cánh kham hướng bích trường vi phúng
Nhiễu thất quần sồ ngữ vị công.
Và sau, tôi dịch Quốc âm, cũng gieo vần ở câu Phá:
Lệ nhỏ đầy trang máu thắm hồng
Non xanh dằng dặc biển mênh mông.
Thơ Đường cõi Việt đang vừa thịnh
Lão Đỗ thời nay chỉ có ông.
Mả lạnh đây còn hương loại tửu
Dặm trường đâu nữa sức truy phong?
Khóc ai những muốn quay vào vách
Bập bẹ đàn em mới vỡ lòng!
Lẽ dĩ nhiên tôi chỉ dịch để mà dịch, chứ còn Nhất
Thống tiên sinh thì sau lần gặp ấy, có bao giờ tôi được tái ngộ nữa đâu.
Sài Gòn, 1971
Sao lại thế được?
Cách đây hai mươi năm, ngay khi vào làng văn để nhận lấy cái nghiệp dĩ của những người cầm bút, tôi đã nghe đại danh ông tú Phan Khôi, như sấm dậy vang tai. Nhưng phải đến năm Bính Tuất (1946) tôi mới có dịp cùng tiên sinh hạnh ngộ. Buổi nhất kiến thật đã như định trước bởi duyên trời.
Hôm đó, tiết cuối thu... Cái lạnh của miền Bắc đã thấm vào lòng một gã ưa thú hợp bạn ngâm văn. Chịu không nổi nữa, tôi bèn lấy một chuyến xe lửa mà “giang hồ vặt” từ Nam Định lên Hà Nội. Cho được tự cởi mở tuềnh toàng theo đà cuồng hứng. Cho được sống hẳn vào nhịp sống vừa tao nhã vừa sôi nổi của đất ngàn năm văn vật, của hồ Trúc sông Hồng.
Bước xuống ga Hàng Cỏ, tôi về trụ sở Ban Kịch Đông Phương. Ở đấy, tôi được tin các văn hữu Kinh kỳ đang chào đón một số anh em từ miền Trung miền Nam mới ra. Tôi lấy làm tiếc lắm. Vì buổi hợp bắt đầu những từ năm giờ chiều. Vậy mà lúc tôi đặt chân vào vỉa hè Hàng Lọng thì ba mươi sáu phố phường đã nhất tề khai đăng.
Ngồi mạn đàm với họa sĩ Hoàng Tích Chù và nữ kịch sĩ Tuyết Khanh, câu chuyện nghệ thuật chưa đi hết một tuần trà, tôi đã thấy lừng lững hiện lên từ cầu thang gác cái mũi khoằm khoằm rất cá biệt của anh bạn họ Nguyễn. Dáng điệu bí mật, anh trịnh trọng tuyên bố: “Xin lỗi toàn thể Ban Kịch, tôi có chút việc riêng, cần phải mượn tạm Vũ quân đây...”.
Cả bọn phá lên cười: “Bất phương! Bất phương! Cứ mượn dài hạn đi cũng được, ông Tuân ạ!”.
Thế là tôi cùng Nguyễn Tuân vội vã ra đường.
“Này! Ông Phan Khôi muốn gặp anh đó! Mà gặp ngay tức khắc kia! Đi chứ?”.
Rồi không đợi tôi trả lời, anh vẫy luôn một chiếc xe kéo, ra lệnh cho “cọp” lồng thẳng xuống bãi Phúc Xá, nơi “ngự trị” của tác giả bài “Nhớ rừng”.
Quả nhiên ông Phan đang có ý trông đợi! Cái phút nhìn mặt cầm tay đã hào hứng phi thường. Lần thứ nhất tôi cùng Phan Khôi hạnh ngộ.
Chiều hôm sau, thấy tôi ngỏ lời cáo biệt, tiên sinh trầm ngâm nửa khắc, rồi bảo: “Được, hai ta sẽ cùng đi”.
Tôi cười thầm tự nhủ: “Gió đã lên!”. Và, bắt chước kiếu Nguyễn “mượn tạm” tôi ở Ban Kịch Đông Phương, tôi cũng chỉnh lại áo khăn, trịnh trọng xin phép Ban Kịch Thế Lữ cho “mượn tạm” ông Tú Khôi ít bữa.
Một già một trẻ, thẳng đường về bến Vị non Côi... Và, trong căn gác xép ở bờ sông, dài như cái ống, tối như cái “hũ Xuân Thu”, tôi đã tiếp chuyện Phan tiên sinh hai ngày tròn với hai đêm trắng; toàn chuyện văn chương cả, mà quái thay, dứt không ra nữa thôi!
Nguyên do: Buổi liên hoan tại Hà Nội, kịch sĩ Hoàng Cầm được ban tổ chức đề cử ra ngâm mấy bài thơ gọi là để thắt chặt mối duyên văn nghệ Nam Bắc. Tình cờ trong số bốn bài ấy lại có một bài của tôi. Bài ca sông Dịch đó vậy! Thai nghén từ 1940, nó đã bị Ban Kịch Thế Lữ thúc đấy bằng “đủ mọi phương tiện” để ra chào đời năm 1943, cốt mượn dùng làm khai từ cho vở kịch Kinh Kha của Vi Huyền Đắc. Rồi chuyến này, chính nó đã khiến ông Phan Khôi “thú” tác giả và nóng lòng muốn gặp mặt ngay...
Ấy là ông bảo thế! Chứ riêng phần tác giả, thì phải hiểu rằng người ta “thú” đây là “thú” cái tinh thần hào hiệp của anh chàng giết hụt Tần bạo chúa ở Hàm Dương kia!
Ồ! Hiểu cách nào thì hiểu! Mặc ý tác giả! Điều ấy bất túc luận. Nhưng can hệ là cái cử chỉ kia đã nói lên những gì về “con người của ông Phan Khôi”?
Thiết tưởng nó đã nói lên đủ lắm!
“Còn chưa đủ ư? Thì đây: suốt hai ngày đêm, trong cái dài dằng dặc và cái tối mò mò của “gác ống”, phố Bờ sông, Phan Khôi đã cao đàm hùng biện, hứng khởi thao thao, giọng sắc bén như chém đinh chặt sắt. Ông căm thù bạo lực, ông phản kháng độc tài, ông lên án mọi hình thức dân chủ giả hiệu. Ông có thừa phong độ cốt cách của một nho sĩ ngang tàng bất khuất, cộng thêm vào cái kiến thức sâu rộng của một tay lịch lãm giang hồ. Lắm lúc ông nói như gào như quát, sang sảng lạnh người.
“Không thể được! Sao lại thế được? Văn nghệ phải là văn nghệ! Thiếu tự do, thà ném bút đi! cầm lấy một mũi nhọn khác!”.
Phải chẳng hào khí Kinh Kha đã nhập vào con người thâm trầm quắc thước này? - Không! Tôi tin rằng lòng phẫn nộ của Phan Khôi có thể bốc lên cao hơn và mãnh liệt hơn cái oán khí cầu vồng trắng xuyên mặt trời của kẻ “một đi” trên bến Dịch.
Con người ấy! Buổi hạnh ngộ ấy! Tôi mà quên được ư? Và năm ấy, tôi còn nhớ là năm 1946! Triều Nguyễn chấm dứt vừa đúng mười ba tháng trời.
Sau đó ít lâu... Khói lửa bùng lên từ Hải Phòng, từ Hà Nội... và lan tràn khắp các thị trấn Trung châu. Tôi vâng lệnh huyên đường tạm dời về miền duyên hải. Ngày dài đằng đẵng, hết xuân rồi lại thu... Lòng nhớ bè bạn làng văn càng như thiêu như đốt. Bỗng một hôm, tôi nhận được từ Thái Nguyên gửi về không phải một lá thắm buông theo giòng nước biếc, nhưng một lá thư trao theo kiểu chim xanh...
Ngoài phong bì, chỉ có hai dòng: Vũ Hoàng Chương, Nam Định. Và bên trong vỏn vẹn một bài luật thi với chữ ký: Phan Khôi.
Thật không sao kể xiết được những cảm xúc của tôi phút bây giờ! Cảm xúc đến suýt quên rằng thư này chưa chắc tôi đã là người đầu tiên mở ra đọc. Thư rằng:
Ngừng tim lặng óc bặt giòng tình
Tai mắt như không phải của mình
Thấy dưới ánh trăng muôn khúc nhạc
Nghe trong tiếng ếch một màu xanh
Suối tiên đắm đuối bao cho chán
Khối mộng vờn mơn mãi chẳng thành
Thú ấy từ lâu không có nữa.
Ngủ say thức tỉnh, dậy buồn tênh.
Ôi! Câu phá đề sao nghẹn ngào u uất đến thế? Cả một giòng máu bị thắt nút đang sôi sục phá phách đòi tự do! Rất sẵn sàng vì tự do mà “lưu huyết”. Câu thừa đề mới lại mỉa mai não ruột đến đâu! Tai mắt còn “không phải của mình”, hỏi ngọn bút cầm ở tay có thể nào “của mình” được nữa chứ?
Nghe thấy màu, trông thấy nhạc, tai mắt loạn rồi ư? Mà không “loạn” sao được? “Không phải của mình” kia mà! Đến như “Suối tiên đắm đuối, khối mộng vờn mơn”, niềm khao khát tự do quả đã tuôn tràn đè trĩu khắp trang giấy.
Ồ! Hiển nhiên lắm rồi! Vì đây là hai câu kết:
Thú ấy từ lâu không có nữa...
Ngủ say thức tỉnh, dậy buồn tênh.
“Thú ấy” là thú nào? Nếu không phải cái thú tự do mà con người văn nghệ quyết tranh đấu cho kỳ được, nắm giữ lấy như tính mạng, hơn cả tính mạng có khi!
Thế mà “từ lâu..’’ Trời hỡi! Niềm cảm xúc dâng cao. Tôi nằm dưới một túp lều tranh tại phủ lỵ Xuân Trường, ngâm đi ngâm lại bài thơ của Phan tiên sinh, mà cả một tâm sự đột nhiên được cởi tung mở phắt. Một tiếng xướng phải có muôn tiếng họa! Lẽ nào trong muôn tiếng họa ấy lại thiếu tiếng họa của một kẻ từng vui nhận lấy văn chương làm nghiệp dĩ hay sao?
Cho nên tôi đã họa nguyên vần bài luật thi của Phan tiên sinh và đã gửi đi tức khắc. Tính ông Phan nóng như lửa, nếu giữa khoảng tiếng xướng tiếng họa mà im lặng đến hai mươi bốn giờ, ấy là tôi đã đắc tội với bậc vong niên tri kỷ lắm rồi đó!
Bài họa vần như sau:
Trời vô tâm quá, đất vô tình...
Biết gửi vào đâu cái “chính mình ”?
Tiếng ếch đã trùm lên tiếng sóng
Màu đen lại ngả xuống màu xanh.
Uổng cho thơ dẫu bày trăm trận
Ngán nhẽ sầu khôn phá một thành.
Tưởng tới nguồn Đào thôi lại tiếc!
Con thuyền đêm ấy nhẹ tênh tênh.
Thơ trao đi, lòng còn thắc mắc. Cho đến mãi giờ phút này!
Không biết hồi đó Phan tiên sinh có tiếp nhận được chăng? Mà từ đấy biệt vô âm tín...
Đại Ẩn am không
Buổi gặp đầu tiên với tác giả bài Thăng Long hành đã diễn ra không ở nơi nào khác mà ở ngay nơi “ngàn năm văn vật đất Thăng Long”; giữ vai trò liên lạc cũng chẳng phải người nào khác mà chính là người chủ trương nhà xuất bản Thăng Long. Kỳ diệu thay! Duyên hàn mặc, ai dám bảo không trên đá ba sinh ghi sẵn?
Thuở ấy... chừng như mùa thu. Và thế kỷ hai mươi vừa đứng bóng thì phải. Thật ra cái bóng ấy đã nhích đôi chút về phía bên này, nghĩa là vào khoảng 1952, 1953... chi đó! Nhưng nếu đọc tới đây, một số thân hữu của tôi có bất chợt nổi hứng vỗ án mà ngâm lại hai câu thơ:
Lưng chừng thế kỷ thứ hai mươi [1]
Khoảng giữa mùa thu đẹp tuyệt vời...
thì vẫn cứ được đi! Không ai bắt uống rượu phạt! Lầm ngày lộn tháng, sai trật khoảng mười năm trở lại, đâu có ăn nhằm gì!...
Vâng. Anh bạn Vũ Minh Thiều, giám đốc Thăng Long xuất bản cục khoảng 1952, 1953 đã hướng dẫn thi sĩ Đông Hồ đến tìm tôi, ở tận ngõ hẻm kế cận Đài Khuê Văn, giữa một vùng cỏ áy nước ao tù, phảng phất mùi ấm mốc tỏa ra từ rừng bia Tiến sĩ. Nơi mà:
Sư biểu muôn đời nền tịch mịch
Cung tường trăm ngọn nửa hoang vu
Cương lồng chinh mã què chân hạc
Củi thổi quân lương chẻ chữ thờ
Khoa bảng bia còn hàng chữ khắc
Khuê văn gác sót bóng sao thưa... [2]
Cùng đi với thi sĩ Đông Hồ cũng có cả nữ sĩ Mộng Tuyết, đôi chim liền cánh từ vùng trời sao Dực sao Chẩn vừa bay ra đất Bắc để góp chung nguồn cảm hứng vào tâm sự của:
Bút tháp viết trời xanh chữ hận
Nghiên đài tràn mực đậm màu thu.
Buổi gặp ở “Giám Hồ hồ biên” chỉ ngắn ngủi trong vòng một khắc; giữa khoảng hai chén trà, Đông Hồ tiên sinh có đọc mấy câu thơ, rồi ngâm lên, âm hưởng bàng bạc như vô cùng xa lạ, mà cũng như quen thuộc từ lâu lắm, từ những thuở nào xưa!
Đến nay giọng ngâm sương kính êm đềm kia vẫn còn nghe rơi rớt đâu đó mỗi khi tôi ngồi trầm mặc, pha chén trà thứ nhất trong ngày, khói bốc lên xanh ngát đón bình minh, kể cả mùa mưa mùa nắng...
Nhưng mấy câu thơ ngẫu chiếm ấy ra sao? Bốn câu hay chỉ hai câu? Bảy chữ hay năm chữ? Tôi không nhớ gì hết, ngoài cái hình ảnh “ngõ trúc” mà ngay lúc đó thơ tiên sinh đã gieo vào cảm quan của tôi! Ngõ trúc? Phải rồi, những khóm trúc gầy úa trong con ngõ hẻm dẫn vào hiên Loạn Trung Bút của Hoàng Lang. Ngõ trúc! Nhớ được bấy nhiêu tưởng cũng đã quá đủ; hà tất phải làm nhọc ký ức thêm.
Vì bấy nhiêu đó là “chân cảm”. Còn ngoài ra, đều chỉ giữ phần “gấm dệt hoa thêu”.
Tiên sinh chẳng đã có lần tâm sự với tôi đó sao! “Thơ làm cả tập chỉ cầu lấy đắc ý một bài; trong cả hai bài ấy cũng chỉ cầu lấy ngọc đọng ở một chữ”.
Ôi, đó chính là cái Hồn đích thực của thơ Á Đông! Một chữ ngọc đọng, với hào quang “chân cảm” của nó, đủ soi sáng cả một bài thơ, cả một tập thơ, cả một thi nghiệp!
Cho nên từ sau buổi “Con chim bằng vỗ cánh dời sang Nam Minh” tôi thường đến thăm tiên sinh, tham dự hoặc tổ chức những chiều ngâm vịnh xướng họa, cùng trao đổi biết bao là “ý ngọc tình châu”.
Tiên sinh còn nhớ chăng buổi họp thơ đầu năm Mùi, với đề thơ “Hương gây mùi nhớ”? Và tôi quên sao được cái phút tiên sinh mỉm cười trao tận tay tôi bài thơ luật viết theo đề “Trùng cửu thơ trao” nhân buổi hợp cuối thu cũng năm Mùi ấy.
Nhưng rồi qua năm Thân khói lửa mù mịt, sang năm Dậu tương đối yên hàn; tôi lại xướng lên đề thơ “Rày ước mai ao” thì tiên sinh lỗi hẹn bất ngờ, phụ lòng ao ước của làng Ngâm vịnh.
Chợt nhớ lại một trong bốn bài thơ “Trùng cửu”, bài vần TRAO, của tiên sinh có những câu:
Rồng ở sâu và Tiên ở cao,
Thơ làm lơ lửng giữa ai trao.
Mùa về tháng Chín ngày mồng chín
Ta ở nơi nào tự thuở nao...
tôi không khỏi giật mình, ngang trông lên vòm sao thưa thớt: giờ đây “Đại Ẩn am không”, biết tìm tiên sinh ở thuở nào, nơi nào được nhỉ?
Tiên sinh vội chi mà lỗi hẹn? Vừa qua buổi nguyên tiêu được năm ngày, tôi đã vượt hai chặng xe Lam (Trần Quốc Toản - Phú Nhuận, rồi Phú Nhuận - Chi Lăng) đến tận Quỳnh Lâm Thư thất trao đề thơ và giấy mời hợp, ấn định vào tiết Thanh minh, tháng Ba, ngày bốn. Tiên sinh đang có khách; nhưng cũng đọc đi đọc lại đề thơ, rồi cười hỏi: “Tại sao lựa đề tài này? Rày ước mai ao chuyện gì vậy?”. Tôi lấy giọng thân mật trả lời: Thì... mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình!... đó mà”. Tiên sinh vẫn còn thắc mắc: “Ai chả biết thế, nhưng... ờ... ờ! Thôi cũng được đi! Mà... còn xa ngày đó chứ?”. Thế rồi tiên sinh đưa tôi ra tận ngoài hiên, gương mặt rất vui, cầm tay tôi khen ngợi thật tình: “Coi bộ Vũ Hoàng Chương vậy mà nhàn lắm nhỉ!”.
Ai ngờ đâu tới buổi hợp tháng Ba ngày bốn thì tiên sinh rũ áo bụi hồng đã được hai mươi tám hôm rồi. Các thi hữu trên tiệc, từ nữ sĩ Đào Vân Khanh, tuổi còn hơn tiên sinh một giáp, cho đến Tôn Nữ Hỷ Khương, tuổi chỉ bằng nửa số tuổi của tiên sinh, ai cũng ngẩn ngơ thương cảm, vần điệu thôi sao cũng vướng mắc chập chờn. Nhân danh “kẻ mời tiệc hôm đó”, tôi yêu cầu Hỷ Khương ngâm lên bài thơ mà tôi vừa hoàn tất, để cùng nhớ ĐÔNG HỒ ĐẠI ẨN AM.
Thơ rằng:
Trăng chiều in đó nét mày ai
Nhạt tiếng gà trưa sắc nắng mai
Ngày tháng góp nên thơ bảy chữ
Sông hồ quẩy tới rượu hai vai
Gió không thét nữa rồi cầu Vị
Mây đã về quanh tiệc bến Sài
Tình bạn như hoa tùy hứng nở
Đông Quân có hẹn nỡ nào sai
Ôi mười hẹn một đơn sai
Chỗ ngồi năm trước bóng ai đâu nào
Hương cùng gây... Thơ cùng trao
Mà quên Rày ước mai ao cho đành
Hồn lai, hề, phong lâm thanh
Ngọc nhân lai, hề, lạc hoa vô thanh
Vạn đội tửu binh, hề, nan phá sầu thành [3]
Trên tiệc các bạn cũ
Ai là không hoài cảm giấc phù sinh
Đại Ẩn ẩn hà xứ
Cao ngâm trưởng bất bình
Nhìn nhau mình lại thương mình
Trầm xây Vương giả hương đình rối tơ
Phải chẳng giữa đợt khói mờ
Tay ai giảng bút qua bờ âm dương. [4]
Tất cả đều lắng tai và xúc động tới đỉnh cao nhất của duyên Thơ tình Bạn.
Riêng phần tôi, chỉ mong rằng những âm thanh gieo ngọc của Tôn Nữ Hỷ Khương có đủ ma lực dọn lối mời anh hồn tiên sinh về ngự giữa thi đàn. Và qua những âm thanh gieo ngọc ấy, may ra bài thơ của tôi có được một chữ nào “đọng ngọc” làm vừa ý tiên sinh chăng! Lệ là không ngọc ư, hỡi rừng xanh ải tối?
Tâm tư thời đại
Nữ sĩ Thanh Quan trước đây hơn một thế kỷ đã cất tiếng não nuột khóc thành Thăng Long, cảm thương cho nó trải từ Lý, Trần vẫn thường oanh liệt sắm vai trò Đế Đô, rồi chẳng tội tình gì cũng bị chấm dứt vai trò ấy một cách tàn nhẫn:
Tạo Hóa gây chi cuộc hí trường!
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương...
Thế là từ cuối thế kỷ thứ mười tám, kinh đô nước Việt dời vào Thuận Hóa tức Huế đô mà cũng thường được gọi bằng một cái tên văn vẻ: Phượng Thành. Đối lại với Long Thành!
Khoảng 1947, nhân dịp tản cư, người viết bài này có duyên được đọc bài thơ Qua Huế cảm tác của nữ sĩ Mộng Thiên, và cứ chiếu theo năm vần của nữ sĩ họa lại như sau đây, gọi là nối dòng dư lệ của Thanh Quan, một đàng khóc thành Rồng, một đàng khóc thành Phượng:
Nửa gánh gươm đàn tới Đế Đô
Mưa liền sông tạnh tưởng vào Ngô.
Bìm leo cửa khuyết, ai ngờ rứa
Rồng lẩn mây thành, chẳng thấy mô.
Lăng miếu tỉnh chưa hồn cựu mộng?
Vàng son đẹp nhỉ bức dư đồ!
Tiếng chuông Thiên Mụ riêng hoài cảm
Tốt đã vào cung... loạn thế cờ.
Câu thứ hai vì vần “Ngô” khó quá, không họa thẳng được, nên phải cầu cứu đến thơ Đường:
Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô...
Câu ba câu bốn đều ám chỉ việc vua Bảo Đại thoái vị đi lưu vong và triều Nguyễn cũng đồng thời chấm dứt.
Câu tám đã nói màu đến thời sự: T.H.L. và C.H.C. vào Huế tước ấn kiếm Hoàng đế. Việc xảy ra cuối năm 1945.
Thời gian không ngừng trôi, cuộc biển dâu lại tiếp diễn. Giữa năm 1954, kẻ viết bài này đã theo trăm họ vào Nam.
Thị trấn Sài Gòn, thường gọi nôm na là Bến Nghé, vụt trỗi dậy sắm vai trò lịch sử của Thăng Long, Thuận Hóa trước kia; đã trở thành kinh đô Nước Việt, có quốc tế thừa nhận rõ ràng.
Hà Nội (tức Thăng Long), Thuận Hóa (tức Phượng Thành), Sài Gòn (tức Bến Nghé)... Chặng đường lui xuống phương Nam ấy, biết có khơi dậy cảm xúc cho ai chẳng, riêng Vũ Hoàng Chương thì chỉ biết ghi nhận một nét tâm tư thời đại:
Long Thành đâu nhỉ? Phượng Thành mô?
Lê, Nguyễn: Hai giòng lệ cố đô.
Lệ chảy, chảy xuôi tràn Bến Nghé
Giựt mình... Nam Hải sóng lô xô.
Chú thích:
[1] Thơ Vũ Hoàng Chương.
[2] Thơ Đông Hồ (trong tập Bội lan hành, 1969).
[3] Ba câu đặt bằng Hán tự. Và có nghĩa như sau:
Hồn tôi chừ rừng phong xanh
Người ngọc tới chừ hoa rụng không tiếng
Muôn đội binh Rượu chừ khó phá thành sầu.
V.H.C.
[4] Bài thơ gồm 23 câu nhưng có sự gián đoạn về thời gian sáng tác: sáu câu đầu đã viết từ trước khi Đông Hồ thi hữu lên đường; còn từ câu bảy trở xuống, đều đã sáng tác ngay trong buổi hợp.
Nguồn: Cơ sở xuất bản Trương Vĩnh Ký, in tại Sài Gòn ấn quán, 35 Nguyễn Đình Chiểu, Sài Gòn, Việt Nam. In 5.000 cuốn, xong ngày 20-3-1974 - Nạp bốn tháng 3-1974. Giấy phép PTUDV số 278-74 - KSALP -TP - ngày 21-1-1974. Phát hành: 25-3-1974 - số đăng ký tại Nhà xuất bản: I-A. Bản điện tử do talawas thực hiện.
THI SĨ VŨ HOÀNG CHƯƠNG SUỐT ĐỜI SAY
CHƯA TỈNH!
Say lão đỗ, say phù dung tiên tử, say má đào, sênh phách, say tình bằng hữu với giai nhân là... Nàng ‘‘mây’’
-Từ Quyên ĐẶNG VĂN NHÂM
LỜI TÁC GIẢ.- Thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời thấm thoát thế mà đã hơn 33 năm rồi. Thời gian ngót một nửa thế kỷ vụt qua nhanh như bóng câu qua cửa sổ.
Trong thời gian ly hương dài dằng dặc này, trải qua hơn một thế hệ, tôi nhận thấy công tác văn học, báo chí hải ngoại của các nhà văn, nhà báo tị nạn chỉ nở rộ về mặt LƯỢNG , nhờ kỹ thuật ấn loát tối tân và truyền thống tự do thông tin và xuất bản của Âu Mỹ. Nhưng về mặt PHÀM, tức nội dung và tư tưởng, đã tỏ ra sa sút đến mức thảm hại. Ấy là chưa kể một đám đông “BÚT GIAN” vô liêm sỉ ở hải ngoại, no cơm rửng mỡ, sanh chứng háo danh, đã kéo nhau túa vào tràn ngập tổ chức VBVNHN, tranh giành chức vụ khiến cho tổ chức văn hoá thanh cao này bị mang nhục trên bình diện quốc tế.
Ngày nay, ở hải ngoại, tôi nhận thấy, vẫn có một số người thừa tiền của đem in ra những thi, văn phẩm của chính mình để trình làng, hầu được mang nhãn hiệu: nhà thơ , nhà văn v.v...Tôi không có thì giờ đọc các tập thi, văn ấy, nên không dám mạo muội phê bình. Nhưng hơn thế nữa, tôi lại được thấy có người chịu khó làm công việc sưu tập một số tác phẩm và các tác giả mới này (chắc là phải quen biết thân lắm!), nhắm mục đích rõ rệt là mặc áo thụng, nửa ngô nửa ngọng tâng bốc lẫn nhau , để cuối cùng tự coi đó là một giòng văn học hải ngoại!
Để giúp bạn đọc phân biệt được vàng thau lẫn lộn trong số các tác phẩm xuất bản bừa bãi ở hải ngoại, hôm nay, nhân dịp ngày giỗ muộn lần thứ 33 của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương, tôi viết bài này.
Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời cầm bút , tôi đã làm một việc phá lệ, viết về một thi nhân nổi tiếng cùng thời, nhưng không thân thiết lắm, mặc dù tôi với Hoàng huynh vốn quen biết nhau trên cả 2 lãnh vực dạy học và hoạt động văn hoá từ 1954. Thuở còn ở quê nhà, thỉnh thoảng tôi vẫn gặp Hoàng huynh nơi trường ốc hay những ngày hội hợp VĂN BÚT VN (PEN). Nhưng ở trường ốc, nơi hành nghề ‘‘gõ đầu trẻ” , tôi đã thân với các anh Bùi Xuân Uyên, Bàng Bá Lân, Tam ích, Nguyên Sa, Hư Chu (dạy Sử Địa), và Lê Thương ( dạy Pháp Văn ) ...nhiều hơn. Ấy cái nghề dạy học tư nó như thế đó. Lắm khi anh em đồng nghiệp dạy chung một trường mà cả niên học không bao giờ gặp mặt nhau, hoặc thỉnh thoảng chỉ kịp trao đổi với nhau vài câu thăm hỏi vội vàng lúc ‘‘chạy giờ ”, hay những giây phút xả hơi khi đổi giờ! Về mặt viết lách, tuy cùng là hội viên VĂN BÚT, nhưng tôi với Hoàng huynh cũng không gần gũi lắm. Tôi tham gia hội từ khi mới thành lập, năm 1957. Mỗi lần hội hợp đông đảo tôi thường ngồi bên cụ Nguyễn Thiệu Lâu hay cụ Vương Hồng Sển. Vì cụ Nguyễn Thiệu Lâu vừa là thầy cũ dạy Sử Địa ở Văn Khoa (chương trình Pháp), vừa là đồng nghiệp , dạy chung trường trung học Tân Thịnh, các niên khóa giữa thập niên 50. Tôi với cụ lại dạy chung giờ, và hai phòng sát nhau, nên cụ thường ngoắc tôi theo cụ xuống tiệm tàu đầu đường đong vội một cóng ‘‘bạch thủy”. Còn ông Vương Hồng Sển vốn làm việc trong ‘‘nhà xưa ” ở Sở Thú , nơi đây có thư viện của trường Viễn Đông Bác Cổ , (tôi là hội viên Hội Khảo Cổ Đông Dương từ năm 1953 đến 1975), thường cùng nhà văn Sơn Nam vào đây đọc sách và nghiên cứu...
Đã không thân với Hoàng huynh thì tôi không thể nào phác họa linh động và trung thực được chân dung của thi nhân. Nếu tôi mạo muội, làm công việc khiên cưỡng ấy, tất sẽ không tránh khỏi sơ thất đáng trách. Nhưng ngược lại, tôi vốn là người yêu thơ của Hoàng huynh, thuộc nhiều thơ của Hoàng huynh cũng như tôi đã từng thuộc truyện Kiều của Tiên Điền tiên sinh, mỗi lần đi dạy học, tôi không cần cầm sách theo vẫn có thể đọc và giảng bài cho học trò được. Như vậy, tại sao tôi không viết về thơ và những cái say, yên sĩ phi lý thuần, đã giúp thi nhân phun châu nhả ngọc, và đã để lại cho đời rất nhiều thi phấm tuyệt tác, giá trị bất hủ, vượt thời gian cả không gian!
Vượt thời gian thì ai là người VN cũng đã thấy rồi. Còn vượt không gian? Tôi có quá yêu thi nhân mà hóa ra nồng nàn hoa ngữ hay không? Thưa không! Tôi xin tạm dẫn chứng. Từ thập niên 60, nhiều thi phẩm của Vũ Hoàng Chương đã được chuyển dịch sang ngoại ngữ Anh, Pháp, Đức...như: thi tập ‘‘Cảm Thông ” ( nhan đề Anh ngữ là: Communion, do Nguyễn Khang phiên dịch ), thi tập ‘‘ Tâm tình Người Đẹp”( nhan đề Pháp ngữ : Les 28 Étoiles ), gồm 42 bài thơ Nhị Thập Bát Tú, bản dịch của nữ thi sĩ Bỉ Quốc Simone Kuhnen de La Coeuillerie, tập ‘‘Thi Tuyển ” ( nhan đề Pháp ngữ là: Poèmes Choisis), bản dịch của nữ sĩ Simone Kuhnene de La Coeuillerie, thi tập ‘‘Ánh Trăng đạo ” , do Nha Tuyên úy Phật Giáo xuất bản tập ‘‘Die Achtund- Zwanzig Sterne ”, thơ dịch Đức Ngữ , do nhà Hoffmann Und Campe, tỉnh Hamburg. Dịch giả là thi sĩ Áo quốc Kosmas Liegler...
Huống chi, ở Sài Gòn, hiện nay nữ sĩ Thục Oanh, hiền nội của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương vẫn còn giữ được một ít tư liệu về cố thi sĩ. Được biết nữ sĩ Thục Oanh vốn là bào tỷ của thi sĩ Đinh Hùng, tên thật là Đinh Hoài Điệp bút hiệu Thứ Lang. Đinh Thục Oanh cũng chính là khuê danh của nữ sĩ.
Nữ sĩ Thục Oanh cho biết, sau ngày 30. 4 năm 1975, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã bị quân CSBV bắt giam về tội làm... thơ ! Những ai đã từng quen biết Vũ thi sĩ đều biết sức khoẻ của ông vốn rất mong manh, dáng người gầy yếu, đi đứng chơi vơi tưởng chừng như gió có thể thổi bay. Bởi thế chỉ trong vòng 6 tháng giam cầm, đày đọa, Vũ thi sĩ đã lâm bịnh nặng. Trước sự thể ấy, cs liền phóng thích Vũ thi sĩ, để một là nhà nước khỏi tốn tiền thuốc men, khỏi tốn công mai táng, mà lại còn tránh được tiếng ác là: giam cầm đến chết một thi nhân yếu đuối!
Nhưng Hoàng huynh chỉ về nhà đoàn tụ với vợ con (một dưỡng tử ) được vỏn vẹn 6 ngày thì mất, đúng ngày 0 6. 09. 1976, tức ngày 14, tháng Tám Â. L. Tính ra đến tháng Chín 1998 này đã tròn 22 năm!
THƠ SAY, CÁI SAY CỦA NHÀ THƠ .
Nhìn vào tiểu sử của họ Vũ, ta thấy tác phấm đầu tay của thi sĩ là tập ‘‘THƠ SAY ” ( xuất bản năm 1940 ). Đành rằng sau đó không lâu, thi nhân còn cho ra đời nhiều ‘‘đứa con có vần ” khác nữa, như : MÂY, VÂN MUỘI, TRƯƠNG CHI, HỒNG ĐIỆP, LÊN ĐƯỜNG, THƠ LỬA, CÔ GÁI MA, RỪNG PHONG, HOA ĐĂNG, TRỜI MỘT PHƯƠNG v.v...nhưng dường như chỉ có THƠ SAY, hay nói một cách khác chỉ có chữ ‘‘SAY” độc nhất đã hiển lộ rõ nét con người và tài năng thiên phú của tác giả.
Nếu ngày xưa đã có Đỗ Phủ càng say làm thơ càng tuyệt tác, và đã qua đời sau một cơn say, khiến cho thi thần Cao Bá Quát, trong bài ‘‘Tài tử đa cùng phú” đã phải thốt nên những câu:
‘‘
Lắc bầu rượu dốc nghiêng non nước lại,
Chén tiểu đàm mời mọc trích tiên.
Hóng túi thơ nong hết gió trăng vào,
Cơn xướng họa hẹn hò Lão Đỗ.’’
( Ghi chú thêm của ĐVN : Đời nhà Đường, có hai thi nhân cùng họ Đỗ. để phân biệt, người đương thời gọi Đỗ Phủ là Lão Đỗ và Đỗ Mục là tiểu Đỗ. Vì Đỗ Phủ lớn tuổi hơn).
Nhưng ngày nay, nếu có ai đã biết thi sĩ họ Vũ- anh em thân thuộc thường gọi là Hoàng - , thì thấy cái ‘‘SAY” của hai họ Đỗ và Vũ khác nhau xa. Xa lắm chẳng khác nào như đất Tương Dương, bên tàu và Nam Định, miền Bắc VN !
Ngày xưa , vào khoảng năm những năm 758 trở đi , thi hào Đỗ Phủ chỉ say men rượu mà làm thơ. Nhưng, kể từ những năm 1940 trở đi, ở VN, thi sĩ họ Vũ chẵng những SAY rượu Mai Quế Lộ, hay rượu Con Hươu ( bạch thủy ) mà gieo vần xướng họa.
‘‘Tay tiên rót chén rượu đào,
Đổ đi thì tiếc uống vào thời say...”
Thi sĩ còn nhả tơ cả trong những giây phút SAY sưa , đi mây về khói, bên Phù Dung Tiên Tử, với bạn hiền.
‘‘Nhựa say tâm sự đêm huyền hoặc nâu.
Ngắm hoa đèn , hiểu ý nhau:
Quên ngày quên tháng, quên sầu nhân sinh...”
Tôi thấy Hoàng huynh đã tỏ ra là con người rất dễ say. Ông SAY cả khi vừa thoáng nghe và chợt thấy:
‘‘
Sống lụa thâm phần phật đổ bên thềm,
Trên vách phấn, quan họ gái đã vẽ thêm dăm sáu bóng...”
Cho đến lúc các quan viên vừa an tọa và đào nương gieo tiếng phách, ‘‘Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy..., thì thi sĩ họ Vũ đã ngâm bài trường ca :
‘‘Quải ấn phong kim hề xa Bắc Ninh:
Đại ga sáu tháng hề bao nhiêu tình !
Khói hề thơm...Rượu hề ngọt...
Xóm Niềm ran tiếng trống hề gái Niềm tươi xinh!...” Mấy câu trên trong bài trường ca của Hoàng huynh, nhưng dường như ông chỉ còn nhớ lõm bõm có vài câu này, thỉnh thoảng ngâm lên nhè nhẹ, để nhớ đến xóm Niềm, nơi có những nhà hát Ả Đào nổi tiếng tỉnh Bắc Ninh, mà ông đã gửi lại đó nhiều kỷ niệm khó quên với các bằng hữu văn thi sĩ trong số có cả tác giả ‘‘
Vàng và Máu ” họ Nguyễn. Khi cuộc vui thanh nhã, gồm đủ cả các khoản trợ hứng : giai nhân thanh lịch ‘‘
Má hồng không thuốc mà say ”, tiếng đàn hát véo von, thuốc ngon, rượu nồng, thi sĩ họ Vũ không bao giờ chẳng lưu lại một vài bài thơ tuyệt tác. Lần này để ghi kỷ niệm xóm Niềm tác giả đã xuất khẩu thành thi bài Hán Tự như sau:
‘‘
Ngẫu ư: Kinh Bắc phiếm du; Niềm thôn dạ bạc.
Bồ đào mỹ tửu, thắng hữu như vân,
Điểm cổ văn ca, thuần yên diễm sắc.
Hoa gian ty trúc, nguyệt hạ y thường.
Vũ hóa đăng tiên; Xích Bích Tầm Dương chi túy mộng; tình căn vị liễu, thanh sam hồng phấn chi lưu duyên
Dịch nôm:
Chợt nay : Kinh Bắc chơi rông, xóm Niềm đêm ghé.
Bồ đào rượu ngọt, bạn tốt như mây.
Điểm trống nghe ca, khói thơm người đẹp.
Trong hoa xênh phách , dưới nguyệt xiêm hài.
Chắp cánh lên tiên. Xích Bích, Tầm Dương say mộng cũ; nợ tình chưa dứt, áo xanh má phấn còn duyên ghi.”
Ngoài ra, Hoàng huynh còn SAY cả những khi gặp bạn tri kỷ trong giới văn chương, như tác giả ‘‘ Vàng và Máu ”, tác giả ‘‘Lỡ Bước Sang Ngang ”, như Tô Hoài, Chu Ngọc...Khi tác giả ‘‘Lỡ bước sang ngang ”, Nguyễn Bính phải rời cố đô vào Sài Gòn làm việc, bộ ba Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng và Nguyễn Bính đã thức thâu đêm, để cùng nhau thả hồn theo mây khói trước giờ ‘‘ Kinh Kha vào Tần ” ( chữ của Vũ Hoàng Chương ). Dịp này thi sĩ họ Vũ đã sáng tác bài ‘‘Tận Túy” độc đáo để tặng Nguyễn Bính trước khi chia tay. Bài này đã đăng trong thi tập ‘‘Rừng Phong”( Sài Gòn , 54).
Trong thời gian vào Nam, thi sĩ Nguyễn Bính đã làm việc dưới Rạch Giá ( Kiên Giang). Đến khoảng năm 1952, nếu tôi nhớ không lầm, ông đã lên Sài Gòn , thỉnh thoảng có tạt đến nhà trọ của Lý Văn Sâm chơi, ở xóm trước nhà thương Thuốc Chó. Nơi đây còn có Ngọc Giao, Thẩm Thệ Hà, Vũ Anh Khanh, Nguyễn Văn Lộc (lúc này anh Lộc còn đang đi học, về sau đã có thời làm thủ tướng thời Thiệu -Kỳ) trước khi ông về Bắc với Ngọc Giao và Lý Văn Sâm. Những dịp ấy tôi đều có mặt.
Dưới đây là nguyên văn ‘‘Bài CaTận Túy ” của Vũ
Hoàng Chương gửi Nguyễn Bính. Bài này Nguyễn Bính thích lắm, đặc biệt nhất là câu:
‘‘
Con chim Bằng vỗ cánh hề dời sang Nam Minh”.
- ‘‘Mặt khói chơi vơi hề ngọn đèn chênh vênh
-
Kìa núi tà dương đảo dậy Lam mờ bế nguyệt lung linh.
Đã mở cánh huyền vi hề sau rèm hiển hiện
Còn nguyên khối hỗn mang hề vũ trụ sơ sinh.
Hồn mê loạn áo trần ai vụt biến
Lộ Đài thiêng trong một phút hoa Quỳnh...
*
Chiếc bướm phân thân hề ba nghìn thế giới
Đầu cuối thời gian hề chợp mắt Trang Sinh.
Bắc Hải muôn trùng thăm thắm
Sóng cao dâng vạn trượng hề quẫy đuôi Kình
Đám mây, đám mây hề chín dặm
Con chim bằng vỗ cánh hề dời sang Nam Minh.
Ta thấy trước đời ta rồi đêm nào tận túy
Thanh sắc chiêm bao về một hội phù sinh.
Bào ảnh vọng lên từng dị điệu
Khuê Ngưu tỏa xuống khúc ân tình.
Hán Nguyễn hưng suy hề màu trôi họat họa.
Gió ngủ trăng bay hề nét đứng u minh !...
*
Thúy kiều ơi ! đêm giác ngộ tương lai vào mộng huyễn
Nẻo hồi dương vang ngợp tiếng thần linh !
*
Đèn hôm nay ngọc đỏ
Khói nơi này tơ xanh.
Ta ơi hề ta ơi !
Kìa thoáng chân thân vừa hiện đó
Nụ cười SAY hoan lạc đến vô tình !
Như vậy, ta thấy mỗi lần trong cơn SAY, thi sĩ họ Vũ lại xuất khẩu thành thi. Hoàng huynh làm thơ, đọc lên lời thơ lưu loát, niêm luật gắn bó nhịp nhàng tưởng chừng như đã xếp sẵn, ý thơ dồi dào, tình thơ lai láng, tưởng chừng nếu không như Đỗ Phủ cũng phải tày Tử Kiến, thất bộ thành thi ! (Tử Kiến tên thật là Tào Thực, đời Ngụy Văn Đế, con thứ hai của Tào Tháo, có biệt tài bước bảy bước làm được một bài thơ. Nhờ tài đó mà thoát chết).
Mặt khác, tôi có thể so sánh các chất liệu đã khiến thi sĩ họ Vũ say như : bạch thủy Con Hươu (hay Mai Quế Lộ là những loại rượu thi sĩ ưa chuộng, mỗi khi ‘‘dĩ văn hội hữu ”), chất nhựa Phù Dung, những áng đào kiểm, hay những âm thanh sênh, phách rộn ràng chẳng khác chi chất lá dâu ngon đã giúp kiếp tằm nhả ra những sợi tơ óng mượt cho đời. Cũng trong cái SAY của Hoàng huynh, tôi còn có thể hình dung như một thứ PHƯƠNG TIỆN để đạt đến CỨU CÁNH, như một ngón tay chỏ mặt trăng, như một con thuyền đưa người trần tục đến bờ ‘‘đáo bỉ ngạn ”( Paramita) !
‘‘
Say gắng say lên hề lên tận độ
Gắng say hề cho tỉnh nhé ta ơi
Điên đảo thời gian hề linh đài vụt sáng
Lẫn lộn không gian hề trần tâm sẽ vơi...”
Dĩ nhiên , Hoàng huynh còn tập thơ MÂY , và nhiều thi phấm khác cũng rất nổi tiếng tuyệt tác.
THƠ MÂY, ĐÁNH DẤU MỘT MỐI TÌNH !
Nếu tập thơ ‘‘SAY” đã bộc lộ phần nào tâm tư của tác giả trong những giây phút say sưa sảng khoái của cuộc đời, thì ngược lại, tập thơ ‘‘MÂY” đã đánh dấu một mối tình đầu tiên đẹp như trăng , như thơ giữa thi nhân, công tử Hà Thành với nàng Mây, một thôn nữ , ngây thơ trong trắng, có giọng hát tuyệt vời của Làng Dương Ổ.
-
‘‘ Phách ngọt đàn say nệm khói êm,
Tiếng ca buồn nổi giữa chừng đêm,
Canh khuya đưa khách lời gieo ngọc,
Mơ gái Tầm Dương thoảng áo xiêm,
Ai lạ nghìn thu xa tám cõi,
Sen vàng như động phía châu liêm,
Nao nao khói biếc hài thương nữ,
Trở gối hoa lê rụng trắng thềm.”
(Nghe hát)
Chuyện tình của Hoàng huynh đã diễn ra từ những năm đầu thập niên 40, còn gọi là thời kỳ Tiền Chiến, tức chưa xảy ra cuộc tổng khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lăng vào Mùa Thu năm 1945. Lần đầu tiên, vào một buổi chiều tháng 4, năm 1942, Vũ thi sĩ đã theo chân nhà thơ Lê Quân , tức Lê Trọng Quỹ, tác giả thi tập ‘‘Thực và Mộng ” đến làng Dương Ổ nghe hát Ả Đào. Nơi đây, Lê quân đã lập ‘‘phòng nhì ” với người đẹp Dương Quí Phi (do chính Lê Quân tự phong), một trang thanh sắc vẹn toàn. Nhân dịp này, Vũ thi sĩ cũng đã bất ngờ được chiêm ngưỡng cảnh ‘‘kim ốc tàng kiều’’. Nàng Kiều ấy tên là MÂY.
Lần thứ hai, vào tiết tháng Bảy , lúc chập tối, khi vừa hết say rượu, Vũ thi sĩ chợt nhìn thấy nhan sắc của nàng và nghe tiếng hát trong như tiếng hạc bay qua của nàng , thi nhân lại bị sa ngay vào cuộc say vì tình ‘‘
Má hồng không thuốc mà say !”. Lúc ấy, Vũ thi sĩ đã ứng khẩu ngâm ngay một bài thơ Tứ Tuyệt, ngụ ý riêng tặng giai nhân, nguyên văn như sau :
-‘‘
Ánh rượu đào trên má đỏ hây,
Tiếng ca tròn với khuôn trăng đầy,
Ngọn cau, trăng cũng tròn theo tiếng,
Tròn não nùng như tuổi của Mây.’’
Vâng, tên nàng chính là MÂY !
Đến cuối năm 1942, anh em trong văn giới , nhiều người đã tỏ ra nóng lòng đợi tập thơ MÂY ra đời. Trong số, có cả Xuân Diệu và Cù Huy Cận. Đợi mãi đến mùa Thu năm sau, 1943, tập thơ Mây mới được nhà xuất bản Đời Nay cho ra đời, sau khi đã được họa sĩ Tô Ngọc Vân vẽ bìa và Đinh Hùng vẽ phụ bản. Chẳng hiểu Vân với Mây đã có duyên nợ với nhau như thế nào kể từ khi có mối giao duyên văn tự Hán -Việt, nên cái bìa tập thơ Mây từ ngày đầu tiên đã tạo nên nhiều dư luận bình phẩm. Nhìn bìa thi tập MÂY , ta thấy nhà danh họa Tô Ngọc Vân đã góp hết Mây lại trong một cái bầu rượu nhỏ, như cái bình của Lý Thiết Quài, một trong bát tiên. Cái bình rượu của Lý Thiết Quài lại mập tròn, nằm chếch về một bên, tưởng đâu chính nó cũng đang say, sắp té ngửa, té lăn ra ngòai cái bìa! Trong khi đó con Phượng, biểu hiệu của nhà xuất bản Đời Nay lại nhỏ bé và còm cõi xác xơ khác thường , khác với những con Phượng khác của nhà Đời Nay. Tóm lại, nhìn cái bìa tập thơ MÂY chẳng ai biết nhà xuất bản nào đã in ra nó. Ngược lại, mọi người đều bị cái bình rượu mập thù lù của Lý Thiết Quài đập ngay vào mắt. Nên có người đã đùa dai cho rằng tập thơ MÂY do nhà xuất bản ‘‘HỒ LÔ” ấn hành !
Dường như mấy người ấy ngụ ý giễu cợt Vũ thi sĩ cùng phường với nhóm ‘‘Xuân Thu Nhã Tập ”, gồm một số trí thức lãng mạn đang chủ trương lối thơ ‘‘hũ nút ” thời bấy giờ.
Như trên tôi đã nói tập thơ MÂY đã đánh dấu một mối tình đầu tiên, bất thành, giữa thi nhân và nàng thôn nữ thanh sắc vẹn toàn làng Dương Ổ. Lúc đó Hoàng huynh còn trẻ lắm, chưa có gia đình, khi về làng Dương Ổ, nghe hát Quan Họ, Ả Đào với các bạn văn nghệ sĩ gồm Lê Quân , Nguyễn Bính , Tô Hoài, Đỗ Đức Thu, v.v...đã gặp nàng Mây, cũng còn trẻ lắm. Hai người đã quyến luyến nhau, rồi yêu nhau say đắm. Vũ thi sĩ đã có ý định cưới nàng Mây về làm vợ.
Nhưng tục lệ ở đây kỳ lắm. Nàng Mây tuy còn quá trẻ, nhưng trên danh nghĩa nàng đã ‘‘có chồng ” , theo tục tảo hôn, do cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Dĩ nhiên chồng nàng cũng chỉ là một cậu bé ‘‘thò lò mũi xanh ” , con một gia đình nhà nông trong làng. Hai người này trên danh nghĩa đã là vợ chồng, nhưng trên thực tế, họ chưa hề chung đụng gối chăn.
Vũ thi sĩ thực tâm muốn cưới nàng Mây về làm vợ, rồi đem nàng về Nam Định ở với cha mẹ. Nhưng vì phong tục khắt khe của làng Dương Ổ, nàng Mây đã không dám thoát ly gia đình, và cả không dám bước chân ra khỏi lũy tre làng, nên đành phải nghe lời cha mẹ về với nhà chồng, để lại cho Vũ thi sĩ một vết thương lòng khá sâu đậm !
Trong tập thơ MÂY, còn gọi là thơ SAY, ta đã nghe
tiếng lòng của thi nhân thổn thức lúc phân ly, qua bài ”
CHÉN RƯỢU ĐÔI ĐƯỜNG
- ... ‘‘
Nhưng đêm nay dịu quá,
Không trăng có hề chi,
Say sưa tràn miệng cốc,
Cùng nâng hãy uống đi,
Trùng lai đâu dễ hẹn kỳ,
Đò ngang một chuyến chắc gì mai sau.
Tối nay còn hợp mặt,
Ngày mai đã cách xa,
Vàng xanh thay sắc cỏ,
Tươi úa đổi màu hoa,
Đường trần muôn vạn ngã ba,
Nhớ nhung muốn gặp biết là có nên ?!
Giờ đây chia đôi ngả,
Sông nước càng tiêu sơ,
Hồn men cay như quế,
Hồn men đắng như mơ,
Đắng cay này chén tiễn đưa,
Uống đi uống để say sưa ngập lòng.
Cạn đi và lai cạn,
Say rồi gắng thêm say,
Bao nhiêu mơ mà đắng,
Bao nhiêu quế mà cay,
Đắng cay trút xuống bàn tay,
Nắm tay lần chót thuyền quay mũi rồi ! ”...
VÀI NÉT TIỂU SỬ.
Theo tư liệu nữ sĩ Thục Oanh, chúng tôi được biết Hoàng huynh vốn ra đời năm 1916, tại Nam Định. Nhưng chính quán thuộc làng Phù Ủng , tỉnh Hưng Yên (BV). Thuở nhỏ ông đã theo học ở Lycée Albert Sarraut, Hà Nội. Sau khi đã thi đậu bằng Tú Tài Pháp, ông theo học Luật Khoa. Nhưng chỉ một năm sau, ông bỏ học, ra làm việc cho sở Hỏa Xa Đông Dương. Nhờ có thời kỳ làm việc cho Hoả Xa, Vũ thi sĩ đã quen biết gần như đủ mặt các viên chức trong ngành, nên thỉnh thoảng nổi máu giang hồ vặt, ông vẫn có thể cùng các bạn văn nghệ đáp xe hoả đi đây đó miễn phí!
Tôi còn nhớ, thời bấy giờ các ngành : Lục Lộ, Quan Thuế, Bưu Điện, và Hỏa Xa thuộc chánh phủ Bảo Hộ Pháp, có thể hoán chuyển phục vụ khắp 3 xứ Việt-Miên -Lào. Riêng ngành Hỏa Xa, còn có lệ: mỗi năm gia đình vợ con được dùng xe lửa, có ‘‘Wagon” riêng , đi nghỉ hè trong nước một lần không phải mất tiền vé tàu. Vì thân phụ tôi cũng đã từng phục vụ trong ngành hỏa xa ở Hà Nội, nên hồi còn bé, hằng năm tôi đã được đi nghỉ hè như thế, và đã vào Sài Gòn, rồi định cư luôn trong Nam trước 1954 khá lâu.
Nhưng chẳng bao lâu sau, ông cũng rời ngành Hỏa Xa, dấn thân vào con đường thi nghiệp và dạy học tư. Di cư vào Nam , thi sĩ họ Vũ tiếp tục sinh nhai bằng nghề dạy học, và làm thơ , mãi cho đến ngày miền Nam rơi vào tay CSBV.
Bây giờ, ở hải ngoại, tôi viết bài này để nhắc lại đôi chút kỷ niệm đơn sơ với một vị huynh trưởng trên cả hai lãnh vực giáo dục và văn hóa. Hoàng huynh lại còn là cựu chủ tịch Văn Bút Việt Nam, mà tôi đã là hội viên từ ngày hội mới thành lập, tháng 11, năm 1957, tại VN.
Nay , ở hải ngoại, Văn Bút VN Hải Ngoại vốn là hậu thân của hội Văn Bút VN, đang chìm đắm trong nghịch cảnh chia rẽ, vàng thau lẫn lộn, chân giả khó phân, trật tự cương thường đảo lộn , tôi viết bài này, với tư cách cựu chủ tịch của VBVNHN , như thắp lên một nén hương lòng, thành khấn gửi đến Hoàng huynh nơi Bồng Lai tiên cảnh, cầu xin anh linh người quá vãng độ trì cho VBVNHN vượt qua được mọi khó khăn nan giải. Tâm thành chí nguyện!
Từ Quyên
Vũ Hoàng Chương: Nho sinh ngất ngưởng
thời Tây học
(TPO) - Tuy Vũ Hoàng Chương tài năng không hề thua sút những vì sao Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính... trên bầu trời Thơ Mới, nhưng ông lại ít đươc nhắc tới một cách đáng ngạc nhiên.
hình
CÓ lẽ vì người ta đọc thơ ông không chỉ bằng “con mắt thơ”, mà còn bằng, và chủ yếu bằng con mắt của đạo đức, con mắt của lề thói, con mắt của đủ thứ cấm kị xã hội?
Có lẽ bởi thế mà vào cuối đời, cay đắng tổng kết cuộc đời mình, Vũ Hoàng Chương đã phải cất một tiếng than dài: “
Ta đã làm chi đời ta” (Tên tập hồi ký của ông)?
Ngưòi cũ trong thơ mới
Trong bài khái luận “Một thời đại trong thi ca” mở đầu tập “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã tạm chia Thơ Mới 1932 - 1941 thành ba dòng: dòng chịu ảnh hưởng Pháp, dòng chịu ảnh hưởng thơ Đường và dòng “có tính cách Việt Nam rõ rệt”.
Nhìn về đại thể, đó là cách chia tương đối hợp lý. Nhưng ở một đôi chỗ tiểu tiết, nhà phê bình tiền bối lại không khỏi khiến kẻ hậu bối viết bài này phải băn khoăn, việc xếp Vũ Hoàng Chương vào dòng Việt chẳng hạn.
Thơ của tác giả “Thơ say” liệu có gì chung với thơ của tác giả “Mười hai bến nước” (Nguyễn Bính, cũng được Hoài Thanh xếp vào dòng Việt)? Vì lý do gì lại không thể coi Vũ Hoàng Chương như một thi nhân thuộc dòng ảnh hưởng thơ Đường, trong khi dấu ấn của Đường thi trong thơ ông quá đậm nét?
Gạt những thắc mắc ấy sang một bên, ít nhất thì việc Hoài Thanh không xếp Vũ Hoàng Chương vào dòng thơ chịu ảnh hưởng Pháp cũng cho tôi can đảm để khẳng định cái cảm nhận ban đầu của mình: Vũ Hoàng Chương là một người cũ trong Thơ Mới.
“
Vừa bước chân vào cửa, tôi đã trông thấy một gã nho sinh đang ngất ngưởng ngồi trên chiếc ghế bành đen bóng. Tôi ngỡ ngàng trước lối phục sức kỳ dị của Hắn: mình mặc áo gấm trần, đầu không khăn, chân mang guốc. Trông mặt Hắn có vẻ vừa kiêu hãnh, cao kỳ, vừa có vẻ thơ ngây, chất phác’’
Trên tạp chí “Văn” số 150, Dương Thiệu Mục đã phác họa chân dung Vũ Hoàng Chương bằng những nét như vậy từ ký ức của lần gặp mặt đầu tiên giữa hai người.
Hãy thử tưởng tượng xem: ở thời buổi mưa Âu gió Mỹ đầy trời, khi trang phục của người thanh niên có học sống nơi thành thị phố biển là veston, mũ phớt, giày giôn, thì cái hình ảnh “
mình mặc áo gấm trần,
chân mang guốc” của Vũ Hoàng Chương há chẳng khiến người ta thấy ngỡ ngàng hay sao? Nó giống như dư ảnh của một thời xưa cũ còn lưu lại giữa đương thời vậy.
Thật khó tin nếu chúng ta chú ý tới sự kiện là Vũ Hoàng Chương từng tốt nghiệp trường Albert Sarraut, từng theo học đại học luật Hà Nội, rồi đại học toán, nghĩa là ông là người Tây học đến chân răng kẽ tóc!
Sự hiện diện của Vũ Hoàng Chương trong Thơ Mới cũng vậy. Không trình diện làng thơ bằng các thi phấm mang hình thức toàn luật thi và tuyệt thi như Quách Tấn trong tập “
Mùa cổ điển”, nhưng thơ của Vũ Hoàng Chương vẫn gợi lên nơi người đọc cái cảm giác xưa cũ, cái cảm giác được hít thở, được ngâm tẩm trong một bầu khí “đặc” Đông phương.
Cảm giác ấy nảy sinh từ nguồn thi liệu được ông sử dụng. Chúng tuyệt không vướng một chút dấu vết phương Tây. Nhưng, xin được nói ngay, chúng cũng khác xa với Nguyễn Bính: thi liệu trong thơ Nguyễn Bính chủ yếu lấy từ dân gian, mang màu sắc dân gian, có tính chất bình dị; còn thi liệu trong thơ Vũ Hoàng Chương lấy từ lịch sử và văn chương bác học Trung Hoa cổ điển, chúng được nhuộm bởi một gam màu cổ kính, sang trọng.
Nhà thơ của lạc loài, cô đơn
Trong bài “Phương xa”, Vũ Hoàng Chương đã viết,
như một tuyên ngôn về tình thế tồn tại và căn bệnh tinh thần của thế hệ mình: “
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa/
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh/
Bể vô tận xá gì phương hướng nữa/
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh/
Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ/ Một đôi người u uất nỗi chơ vơ/
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị /
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ’’.
Nếu điều đó không đúng với tất cả hoặc không đúng với số đông, chí ít, nó đúng với riêng ông. Vũ Hoàng Chương là người luôn sống với hiện tại trong cảm thức chơ vơ, lạc loài, cô đơn, bị ruồng bỏ, chia cắt.
Ông tồn tại ở đây, lúc này, nhưng luôn tin rằng bản thể chân thực của mình là ở trong một không gian khác, trong một thời gian khác. Và ông không ngừng băng qua giới hạn giữa “ở đây, lúc này” với “ở kia, lúc khác” để tìm kiếm cái bản thể ấy và hợp nhất với nó bằng tất cả các phương tiện có thể được: bằng Thơ, bằng Mơ, bằng Dục Tình, bằng Say (say rượu, say nàng tiên Nâu - đây chính là lý do khiến cho không ít phê bình gia đạo mạo đã coi Vũ Hoàng Chương như một điển hình của kiểu thi nhân trụy lạc).
Không khó để nhận thấy trong thơ Vũ Hoàng Chương hai loại “vương quốc” đối lập với “chốn lưu đày” (theo tên một tập truyện của nhà văn Pháp A.Camus: Vương quốc và chốn lưu đày). Loại vương quốc thứ nhất là Cõi tiên, là Thiên giới, ở đó bản thể chân thực của ông là Người tiên, việc ông có mặt tại chốn lưu đày được hình dung như chuyện tiên nhân bị biếm trích hoặc trót dại, sảy chân.
Bài “Tối tân hôn” trong tập “Thơ say” nói rõ điều này: “
Do dự mãi, đêm nay rời xứ Mộng/
Ta chiều em,
bỏ cánh lại cung Trăng/
Lén bước xuống thuyền mây chờ cửa động/
Vội vàng đi, quên giã biệt cô Hằng...
Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải/
Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn/
Khỉ tỉnh dậy bùn nhơ nơi hạ giới/
Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn’’.
Bài “Động phòng hoa chúc” cũng vậy: “
Lìa cõi Mộng, giong thuyền qua bến Tục/
Đoái hoài chỉ, băng tuyết sẽ vùi chôn/
Em khao khát dìu anh tìm hạnh phúc/
Ở men nồng chăn ấm tối tân hôn...
Thôi hết nhé, thỏa đi niềm rạo rực/
Từ cung trăng rơi ngã xuống trần gian/
Ta sắp uống bùn nhơ và sự thực/
Sẽ mai đây giầy xéo giấc mơ tàn”.
Trong thơ ca phương Đông, việc thi nhân tự coi mình là đấng trích tiên chí ít cũng đã thấy ở Lý Bạch (Trung Quốc) và Tản Đà (Việt Nam), nên Vũ Hoàng Chương không phải là một biệt lệ. Nhưng điều ấy liệu đã đủ để làm nên ở ông hình hài của một người cũ trong Thơ Mới?
Có lẽ phải tìm nó chủ yếu ở loại vương quốc thứ hai: đất nước Trung Hoa trong thời gian quá khứ miên viễn, trong bảng lảng khói sương của những điển tích văn chương đã làm nên niềm tự hào cho nền văn học đóng vai trò hạt nhân của vùng văn học chữ Hán.
Cái bản thể đích thực của Vũ Hoàng Chương, cái đích cho sự tìm kiếm không ngưng của ông nằm ở đó. Nó không phải là một nhân hình cụ thể. Phải chẳng, nó chỉ là một ý niệm, ý niệm về thời quá vãng huy hoàng của một phương Đông ngủ quên khi trên bầu trời đang vần vũ những mưa Âu gió Mỹ?
Trong thơ Vũ Hoàng Chương, không ít bài diễn tả cái trạng thái tác giả xuất hồn xuyên thời gian trở về với “thuở trước”, với “nghìn thu”, với “vạn cổ”. Và khi ấy, lịch sử và văn chương cổ điển Trung Hoa đã trở thành nguồn thi liệu vô tận để ông múc lấy, lấp đầy cái thiếu hụt chống chếnh trong tâm cảm hiện tại của mình.
Đây là khoảng khắc khi ông viếng mộ một tình nương: “
Ta chẳng biết, nhưng mà ai biết được/
Chân dừng lại hồn trôi vào thuở trước/
Tưởng chừng nghe thánh thót lệ người xưa/
Hán Minh Phi muôn dặm đất Thuyền Vu/
Tiếc cung điện Trường An còn nức nở/
Ai vụng tính để cung đàn lỡ dở/
Ai quên lời sai hẹn lúc chia tay/
Mắt mòn trông, ải Nhạn khói mây đầy” (Bạc tình).
Và đây, khi thi nhân cuồng nộ trong nỗi hận tình như một gã trai tuổi đôi mươi, bất kể nỗi hận tình ấy đã có quãng thời gian mười năm xoa dịu: “
Men khói đêm nay sầu dựng mộ/
Bia đề tháng Sáu ghi Mười hai/
Tình ta, ta tiếc ! Cuồng, ta khóc/
Tố của Hoàng, nay Tố của ai?/
Tay gõ vào bia mười ngón dập/
Mười năm theo máu hận trào rơi/
Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp/
Khúc Cổ bồn ca gõ hát chơi/
Kiều Thu hề, Tố em ơi/
Ta đương đốt lửa tơi bời Mái Tây/
Hàm ca nhịp gõ khói bay/
Hồ, xừ,
xang, xế bàn tay điên cuồng” (Mười hai tháng sáu- thi phẩm có thể xếp vào hạng nhất trong thất tình thi Việt Nam tự cổ chí kim).
Và đây nữa, khi chập chờn mộng ảo trong hương nha phiến, ông đã mở lỏng khóa linh hồn để nghe thấy một “Hơi tàn Đông á”: “
Đáy cốc bao la vạn vực sầu/
Ngai vàng Mông Cổ ngự đêm nâu/
Hãy nghe bão táp trong cô tịch/
Vó ngựa dân Hồi dẫm đất Âu/
Thuyền chiến nằm mơ cuộc viễn chinh/
Buồm neo rời rạc bến u minh/
Đâu đây quằn quại trong làn khói / Lớp lớp uy nghi Vạn Lý thành’’.
Nâng nỗi chán chường lên thành nghệ thuật
Là một thi nhân mang nặng căn cốt phương Đông, Vũ Hoàng Chương không thể không biết đến Lý Bạch, nhà thơ lớn của thi ca Trung Hoa thời Thịnh Đường.
Ông hâm mộ Lý Bạch, đã đành, ông còn từ huyền thọai họ Lý say rượu lao xuống sông vớt trăng:
“
Từ thuở chàng say ôm vũ trụ/
Thu trong bầu rượu một đêm trăng/ Nhảy xuống muôn trùng sông quạnh quẽ/
Đem theo chân hứng gửi cô Hằng” mà phác lên huyền thọai của chính mình:
“
Ngựa ơi, hãy nghỉ chân cuồng khấu/
Cho thỏa lòng ta nỗi khát khao/
Ta chẳng mò trăng như Lý Bạch/
Nhưng tìm thi hứng mất đêm nao/
Tình hoa thuở trước xô về đọng/
Ở phiến gương vàng một tối nay/
Ta lặng buông thân trời lảo đảo/ Mơ hồ sông nước choáng men say’’ (Chân hứng).
Một sự tự ví, hay phải chẳng nhà thơ Việt Nam đã nhận ra ở chính mình và bậc tiền bối Trung Hoa tính đồng dạng về mẫu hình nhân cách, tính trùng lặp về tần số của nhịp tim và sự gần gũi bất chấp khoảng cách thời gian?
Tương tự như vậy, Vũ Hoàng Chương bị ám ảnh không thôi bởi các danh tác của văn chương cổ điển Trung Hoa. Chúng như một quá vãng thân thuộc đối với ông, lại như một thế giới tồn tại song song với thế giới ông đang sống và cho phép ông xuất nhập tùy ý.
Ta có thể “đọc” thấy dấu vết của hàng loạt danh tác văn chương Trung Hoa cổ điển trong thơ Vũ Hoàng Chương. Nhưng đậm hơn cả, phải là “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị, khúc ca lãng mạn về cuộc gặp nơi Tầm Dương giang đầu giữa một ông quan bị biếm trích và một kỹ nữ ở buổi xế chiều của nghề hát xướng.
Vũ Hoàng Chương có ít nhất ba thi phấm tạo được mạch liên thông với “Tỳ bà hành”, đó là “Đà giang”, “Nghe hát” và “Dựng”. Nếu ở hai bài thơ sau (có lẽ được sáng tác trong hoặc ngay sau hai cuộc đi hát.
Trong hồi ức của nhiều người cùng thời thì Vũ Hoàng Chương hay đi hát và rất sành âm luật) “ý Tầm Dương” chỉ nảy sinh với tác giả khi đào nương cất tiếng hát “Tỳ bà hành”, thì điều đó là không cần thiết ở bài “Đà giang”.
“
Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ/
Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ/
Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi/
Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ\
Không mượn tới bất cứ một sự “môi giới” nào hết, sầu Tầm Dương là mối sầu khởi phát tự trong lòng thi nhân, là sự chiêm nghiệm đến đáy của một kẻ “đồng hội đồng thuyền” với những người “bên lề” thuở trước.
Hay nói đúng hơn, sầu Tầm Dương chính là miền tâm cảm để thi nhân nhận ra mình qua bao lớp sóng thời gian từ quá khứ đến hiện tại. Vì thế mà Vũ Hoàng Chương mới có thể viết:
“
Cánh rượu thu gần vạn dặm khơi/
Nẻo say hư thực bóng muôn đời/
Ai đem xáo trộn sầu kim cổ/
Trăng nước Đà giang mộng Liêu trai” (Đà giang).
Tôi muốn dùng lại một nhận định của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy để khép lại bài viết này:
‘‘
Biến cái ác (hiểu theo nghĩa triết học)
thành cái đẹp,
Baudelaire đã tạo nên một tác phẩm có tính chất cách mạng:
Những bông hoa của cái ác. Nâng nỗi chán chường lên thành nghệ thuật,
đó là đóng góp, chí ít cũng ở Việt Nam, của Vũ Hoàng Chương,
tính chất “
suy đồi” (
hiểu theo nghĩa nổi loạn)
và hiện đại của thơ ông” (Mắt thơ, bài “Vũ Hoàng Chương, đào nguyên lạc lối”, trang 148. NXB Văn hóa thông tin, 2000).
Hoài Nam