📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

HOÀNG ĐẾ CUỐI CÙNG (Hồi ký - Phổ Nghi)

60 trả lời, 188 lượt xem — Trang 2 / 3

Ý kiến người Nhật Bản khác nhau

 
            Chưa đợi trong Tĩnh Viên bàn bạc ra ý kiến nhất trí, Goto, phó Tổng lãnh sự quán Nhật Bản ở Thiên Tân ngày hôm sau đã tìm đến. Họ hoàn toàn biết rõ việc tôi đến trại binh Nhật Bản: Tổng lãnh sự quán tỏ ý: họ hoàn toàn thông cảm về tâm tư và hoàn cảnh của tôi song tốt nhất là tôi cần hành động thận trọng, lúc này không nên rời Thiên Tân, họ có trách nhiệm bảo vệ nên không thể không đưa ra lời khuyên này.
            Bắt đầu từ hôm đó, Goto, vị phó tổng lãnh sự này không trực tiếp đến gặp tôi nữa mà tìm cháu trai Trần Bảo Thám hoặc cha con Trịnh Hiếu Tế tiến hành khuyên ngăn. Mặt khác, Yoshida, sĩ quan phiên dịch quân đội Nhật Bản lại tiếp tục tuyên truyền với tôi nói rằng phía quân đội Nhật quyết tâm ủng hộ tôi lên ngôi, tốt nhất là tôi ra đi ngay.  
            Lúc đó, tôi có cách nhìn mới về hai phía quân sự và chính khách Nhật Bản, có sự bất đồng với cách nhìn của Trần Bảo Thám và cánh của ông. Trần Bảo Thám luôn cho rằng chủ trương chính trị của các văn nhân là luôn đứng đắn do đó ông chỉ liên lạc với công sứ Yoshizawa. Cháu ngoại ông ta chỉ qua lại với lãnh sự quán và các nhân vật chính trị ở Tokyo. Khi đó ông kiên quyết chủ trương nếu phía Tokyo không có biểu thị gì , muôn vàn không nên nghe lời các quân nhân. Cách nhìn của tôi lại khác, cho rằng hiện nay, có thể quyết định số phận của tôi không phải là các chính khách Nhật Bản mà là các quân nhân. Tôi cũng không có sự tìm hiểu về tình báo sâu xa nào mà từ tình hình thực tế hiện tại để nhận ra. Tôi thấy rõ, người Nhật một mặt tuyên bố về mặt ngoại giao chuẩn bị cùng chính phủ Nam Kinh giải quyết sự giành giật Trung - Nhật bằng con đường hòa bình, mặt khác quân đội Quan Đông không ngừng tiến lên tiến công đẩy lui quân đội Trung Quốc. Lúc đó, tôi tuy chưa thật biết. rõ. Phía Tưởng Giới Thạch, Uông Tinh Vệ, một mặt hò hét chống cự, mặt khác lại mang đất đai của đất nước nhường cho kẻ thù vốn chỉ là thủ đoạn lừa dối hai mặt. Song tôi có thể nhận rõ quyết định vấn đề vẫn là các quân nhân Nhật Bản. Trần Bảo Thám chỉ rõ: thái độ mập mờ của các cường quốc quốc tế là đáng lo, điều đó cũng khác với cảm giác của tôi. Sau ít ngày tôi đến trại binh Nhật Bản, chuẩn tướng F. H. Burnell-Nugent, tư lệnh quân đội Anh đang ở Thiên Tân vẫn đến thăm Tĩnh Viên. Đối với sự biến “19 tháng 9” tạo ra cơ hội cho tôi, ông ta tỏ ý “chúc mừng riêng và nói: “nếu như bệ hạ có thể lại lên ngôi ở Mãn Châu vĩ đại, Burnell-Nugent, người hầu của bệ hạ sẵn sàng làm một tên lính dưới cờ rồng của bệ hạ”. Câu nói đó khiến tôi càng tin vào tin tức của Trịnh Hiếu Tế nói: phía Anh ủng hộ người Nhật. Sau cuộc thăm viếng của Burnell-Nugent, Johnston cũng bỗng nhiên cùng tôi hội ngộ, theo ông nói thì lần này ông là đại biểu của Bộ Ngoại giao Anh đến giải quyết vấn đề tồn tại của việc trả Uy Hải Vệ nhân thể đến thăm tôi. Ông tỏ ý vui mừng về tiền đồ của tôi đồng thời đề nghị tôi đề tựa cho bản thảo tác phẩm “Hoàng hôn ở Tử cấm thành” của ông. Ông nói: ông sẽ thêm vào phần cuối cùng của cuốn sách một chương gọi là “Rồng về tổ cũ”.
            Những tin tức do Lưu Nhượng Nghiệp và Đông Tế Hy từ Đông Bắc mang tới cũng là sự cổ vũ đối với tôi. Đông Tế Hy về trước nói: ông cùng Viên Kim Đăng và các di lão ở Thẩm Dương gặp mặt đều cho rằng thời cơ đã đến, không nên chần chừ. Tiếp đó Lưu Nhượng Nghiệp cũng tới, tuy ông ta không thể gặp được Uchida và Honjo, hai điều đó khiến người ta thất vọng, song ông ta gặp được Itagaki và Kim Lương, chứng thực La Chấn Ngọc và Kaeisumi không phải là lừa dối. Kim Lương tỏ ý hết sức lạc quan “Mọi việc ở Phụng Thiên đã chuẩn bị chu đáo, chỉ cần chờ hạnh phúc dấy lên”. Ông ta cũng đến Cát Lâm, chứng thực La Chấn Ngọc nói không sai. Quân đội Nhật đã khống chế toàn tỉnh, Hy Hiệp và mọi người sẵn sàng chuẩn bị hưởng ứng phục tích.
            Ngoài những điều nói trên, khi đó xuất hiện một số lời đồn đại thúc tôi gấp rút khởi hành. Khi đó tin tức của giới báo chí Thiên Tân vô cùng nhạy bén. Việc tôi đến trại lính Nhật Bản rất nhanh chóng được truyền ra xã hội. Có tờ thậm chí còn đưa tin tôi đã đi tàu tới Đông Bắc. Cùng lúc đó, không rõ từ đâu truyền đi lời đồn đại nói rằng người Trung Quốc sẽ có hành động không có lợi cho tôi, vì vậy tôi càng cảm thấy không thể ở lỳ ở Thiên Tân được.
            Tôi cử Trịnh Thùy đến gặp Tổng lãnh sự Nhật Bản nói do thời cơ chưa tới, tôi không nhất định đến thẳng Phụng Thiên, có thể trước hết ở tạm ở Lữ Thuận, ở đó an toàn hơn một chút so với Thiên Tân. Tổng lãnh sự Nhật lập tức tỏ ý: cũng không cần đến Lữ Thuận. ông ta báo Trịnh Thùy nói lại với tôi: Uchida, Tổng tài Mãn Châu cũng không đồng ý tôi ra đi lúc này. Uchida là lão tiền bối của chính giới Nhật Bản giới quân sự Nhật Bản cũng tôn trọng ông ta, vì vậy hành động cẩn thận vẫn tốt hơn. Còn về vấn đề an toàn, tổng lãnh sự quán chịu hoàn toàn trách nhiệm. Cuối cùng ông nói: ông muốn trao đổi ý kiến một chút Với Kashii, viên tư lệnh quân đóng ở đây. Ngay hôm sau, phó lãnh sự đến gặp Trịnh Thùy nói: Tổng lãnh sự đã thương lượng với Kashii, ý kiến nhất trí, đều không chủ trương lúc này tôi rời Thiên Tân.
            Nghe những tin đó tôi cảm thấy rất bối rối, để làm rõ sự thật, không thể không mời viên sĩ quan phiên dịch của Bộ Tư lệnh tới. Không ngờ sự trả lời của Yoshida lại là: căn bản không có cái gọi là cuộc gặp gỡ giữa Tổng lãnh sự và viên tư lệnh. Tư lệnh Kashii chủ trương tôi ngay lập tức đi với Kaeisumi. Ông ta bày mưu cho tôi: do tôi tự tay viết thư gửi Bộ Tư lệnh, nói rõ thái độ kiên quyết muốn đi. Tôi viết thư này trong cơn bối rối. Song không rõ tại sao, Tổng lãnh sự Nhật lại biết vội vã đến tìm Trần Bảo Thám, Trịnh Hiếu Tế tìm hiểu xem có việc đó không,  bức thư đó là thật hay giả?...
            Tôi vô cùng tức giận trước sự giành giật của hai giới quân chính Nhật Bản, tuy nhiên lại không thể nghĩ ra cách nào. Vào lúc đó Lưu Nhượng Nghiệp đi Đông Bắc lần thứ hai gửi thư về nói đã thăm dò được ý kiến thật sự của Honjo Shigeru viên tư lệnh quân Quan Đông. Hiện nay chưa kiểm soát được toàn bộ ba tỉnh Đông Bắc. Đợi “3 tỉnh đoàn kết vững chắc, sẽ do Honjo mời hoàng thượng lên Thẩm Dương”. Cố nhiên, quyền lực tối cao quyết định vận mạng của tôi đã tỏ ý như vậy, tôi chỉ vâng lệnh đợi chờ.
            Từ đó về sau, tôi ít nhiều biết rõ, không chỉ lãnh sự quán và quân chiếm đóng ở Thiên Tân bất đồng ý kiến, ngay đến bộ điệu quân Quan Đông cũng không thật nhất trí. Có một số hiện tượng tôi không thể không quan tâm. Nguyên Cung Thân vương Phổ Vĩ, được sự bảo hộ của Nhật Bản đi lễ ở Bắc Lăng tại Thẩm Dương, Liêu Ninh xuất hiện tổ chức “Hội duy trì địa phương Đông Bắc”; Tang Thức Nghị, nhân vật quan trọng của hệ Đông Bắc cũ được quân Quan Đông “ưu đãi”, tin tức về tung tích Đoàn Kỳ Thụy, nguyên chấp chính Dân quốc lại xuất hiện trên báo chí, đưa tin người Nhật Bản muốn dùng tổ chức chính quyền phương Bắc của ông ta. Nếu như khi đó tôi biết người Nhật đã từng có lúc muốn dùng Đoàn Kỳ Thụy, lại có lúc muốn dùng bộ khung “Ủy ban hành chính Đông Bắc” cũng như những chi tiết đáng sợ khác, tâm tư tôi càng thêm khó chịu.
            Sau khi trả lời “Tạm thời không xuất hành” cho La Chấn Ngọc và Kaeisumi, tôi ngồi đợi tin tức. Trong khi chờ đợi, tôi liền tiếp phát “chỉ dụ” cho hai người cháu mới tốt nghiệp sĩ quan từ Nhật Bản về là Hiến Nguyên và Hiến Cơ đến Tuyên Vũ ở Đông Bắc ban thưởng ngọc quý cho một số Vương công Mông Cổ như Trương Hải Bằng, Quý Phúc... đã đầu tiên đi theo quân chiếm đóng Nhật Bản. Căn cứ vào lời thỉnh cầu của Mori võ quan Nhật Bản viết thư cho Mã Chiếm Sơn đang đối kháng với Trương Hải Bằng và một số Vương công Mông Cổ có khí tiết khác khuyên họ quy hàng. Tôi phong Trương Hải Bằng làm quan tư lệnh quân Mãn - Mông độc lập, Mã Chiếm Sơn làm Tổng tư lệnh lộ phía Bắc, Quý Phúc làm Tổng tư lệnh phía Tây, ban quân hàm đại tá cho Hiến Nguyên, Hiến Cơ. Tôi viết hàng loạt tờ khống chỉ về các loại quân hàm, dụ chỉ để sẵn sàng điền tên vào...
            Đặc biệt cần nói đến một việc là theo ý kiến của Trịnh Hiếu Tế, tôi trực tiếp cử người đến Nhật Bản hoạt động. Từ lúc La Chấn Ngọc bị tôi cự tuyệt hậm hực rút lui, Trịnh Hiếu Tế bề ngoài thay đổi thái độ thận trọng, từ chủ yếu chờ xem biến thành phản đối chờ xem, chủ trương tích cực hành động. Khi đó, ông ta cho rằng tại Nhật Bản, Suzuki Kantaro và Najiro cũng như về phía Hội Hắc Long nói về thời cơ đã đến là lúc đưa ra yêu cầu rồi, đồng thời, đại thể ông ta cũng thấy rõ có người đang cạnh tranh với tôi, do đó chủ trương cử người đi Tokyo hoạt động. Đối với sự thay đổi đột nhiên như vậy, tôi cũng không những không lấy làm lạ mà ngược lại rất vui mừng.
            Tôi không nghe Trần Bảo Thám, thu nhận ý kiến của Trịnh Hiếu Tế, cử Enzan Takoa, một người Nhật Bản đi Nhật, tìm Minami Jiro mới lên nắm quyền và Toyama Mitsuru, thủ lĩnh Hội Hắc Long tiến hành liên lạc. Theo bản thảo của Trịnh Hiếu Tế, tôi dùng lụa vàng đích thân viết cho mỗi nhân vật một bức thư. Sau này, tại tòa án Quốc tế ở Tokyo năm 1946, Minami Jiro đã đưa bức thư đó ra để luật sư làm chứng bào chữa cho hắn. Do sợ sau này trở về Tổ quốc bị xét xử, tôi đã phủ nhận bức thư này, gây nên một trận sóng gió. Rất tiếc hiện nay nguyên văn bức thư không còn, chỉ có thể tạm dịch từ sách báo Nhật Bản như sau:
            “Sự biến Đông tam tỉnh lần này, chính phủ Dân quốc đã phạm sai lầm, khiêu khích nước bạn, đày đọa sinh linh, tôi thật đau buồn. Triều đình chúng tôi không thể nhắm mắt trước cảnh thống khổ của muôn dân, từ khi nhường chính quyền cho người Hán, càng ngày càng loạn, thật  không phải sự mong muốn của triều đình chúng tôi. Nay muốn Đông Á vững mạnh, phải dựa vào sự đoàn kết Nhật - Trung, nếu không không thể hoàn thành được. Nếu như không giải quyết triệt để những trở ngại trên con đường trước mắt ắt sẽ có bọn đỏ hoành hành, tai vạ không thể nào lường được. Ngày 11 tháng 10 (tháng 9 Tân Mùi)”.
            Cứ như thế, tôi vừa chờ đợi vừa hoạt động 3 tháng sau khi Enzan Takoa mang bức thư đi, cuối cùng tôi đợi đến một ngày mà Trịnh Hiếu Tế ghi trong nhật ký như sau:
            Ngày Tân Dậu 23 tháng 9 (2/11) đến hành tại. Triệu vào nói chuyện. Hoàng thượng nói: “Thương Diễn Doanh đến gặp, nơi Phụng Thiên, Cát Lâm đều mong nhanh chóng hưng phục. Itagaki gửi thư, Doihara đến Thiên Tân thương lượng đối mặt với Bộ tư lệnh nói rằng nên di sớm”.
            Tâu rằng: Doihara là tham mưu của Honjo Shigeru, một nhân vật quan trọng của Quan Đông nếu đến đón thì không nên trì hoãn. Ngày mai báo cho lãnh sự quán, đêm triệu tập Doihara.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Đêm gặp Doihara

 
            Thời kỳ mới bắt đầu xử lý công việc ở đây, Doihara nguyên là đại tá lục quân Nhật Bản. Tháng 4/1941 lên cấp tướng, cư trú ở Trung Quốc khoảng 18 năm trước sự kiện “18 tháng 9” được xem là người thông hiểu về nội bộ lục quân Trung Quốc. Đối với việc tại Mãn Châu phát động và triển khai cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc cũng như sau đó thiết lập nước Mãn Châu do Nhật Bản chi phối hắn đều có quan hệ mật thiết.
            Doihara có nhiệm vụ rất rõ ràng trong việc đảm nhiệm thúc đẩy và chỉ đạo nhiều mưu mô chính trị, gây sức ép bằng vũ lực, hòng dùng vũ lực thực hiện chiến tranh xâm lược mà phái bộ quân đội Nhật áp dụng đối với các nơi khác của Trung Quốc.
            “Doihara nguyên là kẻ thiết kế và chỉ đạo các phái bộ quân đội khác, chuẩn bị và thực hành khi Đông Á và Đông Nam Á đặt dưới sự chi phối của Nhật Bản sẽ cùng với họ giữ liên hệ chặt chẽ mà hành động.
            “Khi trí thức đặc biệt đối với Trung Quốc và khả năng tiến hành âm mưu hành động tại Trung Quốc không còn cần thiết nữa, hắn liền dựa vào địa vị cấp tướng ở tại chỗ ngăn cản việc thực hiên những mục đích mà bản thân hắn đã từng mưu mô và tham gia. Hắn không những đã tham gia thực hành chiến tranh xâm lược đối với Trung Quốc đồng thời cùng tham gia thực hành chiến tranh xâm lược đối với Liên Xô cũng như các nước, tức là tham gia cuộc chiến tranh xâm lược của Nhật Bản đối với các nước từ năm 1941 đến năm 1945, trừ nước Pháp...” 
(Bản phán xử của Tòa án quân sự lục quân Quốc tế Viễn Đông)
            Doihara là một trong hai người bị phán xét nhiều tội nhất trong 25 tên tội phạm chiến tranh bị xét xử tại “Tòa án quân sự lục quân quốc tế ở Viễn Đông”. Tội trạng của hai tên như nhau, đều phạm 7 điều về tội “phá hoại hòa bình”, vi phạm quy tắc pháp luật chiến tranh và phạm tội phản nhân đạo trong đó nặng nhất là một điều: tội hạ lệnh cho phép hành động trái công ước.
            Đối với những tên tội phạm này, mãi đến tháng 11 năm 1948 tòa án quân sự quốc tế mới xử tội Doihara cùng Itagaki và 5 tội phạm chiến tranh bị tử hình. Doihara là quân nhân Nhật Bản hoàn toàn nhờ xâm lược Trung Quốc mà phất lên. Sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan khóa 16 khoa bộ binh và đại học quân sự hắn đã từng làm thành viên bộ tham mưu Nhật bản, Liên đội trưởng Liên đội bộ binh thứ 13, đến Trung Quốc bắt đầu từ năm 1913, phục vụ trong đội quân Quan Đông, hơn 10 năm làm phó quan cho trung tướng cố vấn quân phiệt Đông Bắc Sakamishi Rihachiro. Hắn quan hệ rất mật thiết với Trương Tác Lâm, trong chiến tranh Trực Phụng, năm 1924, hắn huy động quân Quan Đông giúp đỡ Trương Tác Lâm. Năm 1928 quân Quan Đông quyết định tiêu diệt Trương Tác Lâm, trong âm mưu nổ bom giết chết Trương Tác Lâm tổ chức ở Hoàng Cô Đồn cũng có hắn tham gia. Không bao lâu, do lập công, hắn được thăng cấp đại tá, đảm nhiệm chức vụ trưởng cơ quan đặc vụ tại Thẩm Dương. Từ đó bắt đầu những tội ác đã bị kết tội nói trên, bắt đầu tiến lên như diều. Thực ra, nhiều “kiệt tác” của Doihara “bản kết tội” đã không đề cập tới. Ví dụ sự kiện gây rối loạn ở Thiên Tân năm 1931, bùng nổ chiến tranh Nhiệt Hà năm 1932, sự kiện Phong Đài tháng 5 năm 1935, cuộc bạo động của lưu manh Hương Hà tháng 11 và sự xuất hiện chính quyền đặc biệt của Đái - Sát… đều không tách rời những hoạt động của Doihara. Có thể nói, trong thời gian đó, Doihara đi đâu tai họa dáng đến đấy. Đại thể sự thất bại của hắn chỉ có một lần đó là: dưới sự lôi kéo của hắn Mã Chiếm Sơn đã phản quốc, sau lại chống Nhật. Tuy nhiên điều đó cũng không ảnh hưởng gì đến sự thăng tiến của hắn sau này. Hắn bị điều đi làm lữ đoàn trưởng, không bao lâu lại được điều về làm trưởng cơ quan đặc vụ quân đội Quan Đông. Cho đến sự biến ngày “mùng 7 tháng 7”, các tổ chức ngụy quyền mà người Nhật muốn thành lập đều đã được thành lập. Thủ đoạn bạo động, gây rối... đã thay thế bằng những cuộc tiến công vũ trang, Doihara mới bỏ đôi găng tay trắng, nắm ngọn đao chỉ huy, với chức vụ sư đoàn trưởng, quân đoàn trưởng, tổng tư lệnh phương diện quân... thống soái quân Nhật tại đại lục Trung Quốc và Đông Bắc Á tiến hành tàn sát và cướp đoạt. Cứ như vậy, từ trong máu và xác chết, chưa đến 10 năm, từ sự biến “18 tháng 9” hắn đã từ đại tá leo lên cấp đại tướng.
            Khi đó về những truyền thuyết đầy rẫy màu sắc thần bí, báo chí phương Tây gọi hắn là ““Lawrence của phương Đông” (tên một trùm đặc vụ nước Anh). Báo chí Trung Quốc nói: hắn quen mặc trang phục Trung Quốc, thông thạo những phương ngôn Trung Quốc. Theo hiểu biết của tôi, những hoạt động của hắn ở Trung Quốc nếu cũng giống như cách hắn khuyến khích tôi xuất quan thì hắn cũng không cần phải khôn ngoan và lừa lọc như truyền thuyết về Laurence mà chỉ cần có bộ mặt trên bàn đánh bạc, có thể biến lời nói dối thành lời nói thật là được.
            Lần đó gặp tôi, hắn cũng không mặc trang phục Trung Quốc, chỉ mặc bộ âu phục kiểu Nhật Bản. Tiếng Trung Quốc của hắn cũng không thật thông thạo, để tránh nói sai và nghe sai, hắn còn dùng Yoshida Chitaro làm phiên dịch cho chúng tôi.
            Khi đó hắn 48 tuổi, cơ thịt gần mắt đã xuất hiện dấu hiệu nặng húp, dưới mũi có chòm ria nhỏ, nét mặt từ đầu đến cuối mang vẻ tươi tỉnh, ôn hoà và lễ độ. Vẻ tươi tỉnh này cho người ta một cảm giác duy nhất là những lời người này nói ra đều có căn cứ.
            Hắn hỏi thăm sức khỏe của tôi, sau đó chuyển vào đề tài chính, trước hết giải thích hành động của quân Nhật là chỉ đối phó cá nhân Trương Học Lương, nói nào là Trương Học Lương “làm loạn Mãn Châu khiến dân hết đường sống”, quyền lợi và sinh mạng, tài sản của người Nhật không được bất cứ sự đảm bảo nào. Do đó, người Nhật mời bắt đắc dĩ phải ra quân”. Hắn nói: quân Quan Đông không có dã tâm nào đối với lãnh thổ Mãn Châu, chỉ là thành tâm thành ý muốn giúp đỡ nhân dân Mãn Châu, xây dựng nhà nước mới của mình”, mong rằng tôi đừng bỏ lỡ thời cơ này, nhanh chóng trở về với đất mà tổ tiên đã dựng nên cơ nghiệp, đích thân lãnh đạo nhà nước này. Nhật Bản sẽ lập đồng minh công, thủ cùng nhà nước này, chủ quyền lãnh thổ của nhà nước này sẽ được Nhật Bản hoàn toàn bảo hộ. Là nguyên thủ quốc gia đó, tôi có thể tự chủ mọi việc.
            Giọng điệu thành khẩn của hắn, vẻ tươi cười lễ độ của hắn và tiếng tăm, vai vế của hắn hoàn toàn không cho phép tôi dùng thái độ đối với La Chấn Ngọc và Kaeisumi để đối xử với hắn. Hai vấn đề mà Trần Bảo Thám quan tâm là lo La Chấn Ngọc và Kaeisumi không thể đại biểu cho quân Quan Đông, sợ quân Quan Đông không thể đại diện cho chính phủ Nhật Bản, tôi cho rằng cũng không tồn tại nữa. Bản thân Doihara là nhân vật có vị trí quyết định của quân đội Quan Đông, hơn nữa hắn còn nói như đinh đóng cột: “Thiên hoàng bệ hạ rất tin tưởng vào quân Quan Đông!”
            Tâm tư của tôi vẫn còn một vấn đề cực kỳ quan trọng, tôi hỏi:
            - Nhà nước mới này là nhà nước thế nào?
            - Tôi đã từng nói: là nhà nước độc lập, tự chủ, do hoàng đế Tuyên Thống hoàn toàn làm chủ.
            - Không phải tôi hỏi vấn đề đó, tôi muốn biết nhà nước này là cộng hòa hay là đế chế, có phải là đế chế không?
            - Về vấn đề này, đến Thẩm Dương có thể giải quyết.
            - Không, - tôi nói một cách kiên trì, - nếu là phục tích, tôi sẽ đi, nếu không tôi sẽ không đi.
            Hắn cười, giọng không thay đổi nói:
            - Đương nhiên là đế chế, điều đó không thành vấn đề.
            - Nếu quả là nhà nước đế chế, tôi có thể đi! - tôi tỏ ý hài lòng.
            - Như vậy xin hoàng đế Tuyên Thống sớm khởi hành, dù sao cũng phải đến Mãn Châu trước ngày 16. Biện pháp chi tiết đến Thẩm Dương sẽ bàn. Biện pháp khởi hành do Yoshida sắp xếp.
            Cũng như lúc đến, hắn cung kính chúc tôi lên đường bình an, vái chào xong liền cáo từ.
            Sau khi Doihara đi rồi, tôi tiếp Kim Lương cùng đến với Doihara. Kim Lương báo cáo tin tức về các di lão Đông Bắc do Viên Kim Đăng đứng đầu, nói rằng họ có thể kêu gọi quân Đông Bắc cũ qui phục. Tóm lại, tôi cho rằng hoàn toàn không có vấn đề gì nữa.
            Sau khi Doihara đi rồi, Yoshida nói với tôi: không cần phải nói chuyện này với Tổng lãnh sự quán. Về việc lên đường đến Đại Liên, hắn sẽ tự sắp xếp thỏa đáng cho tôi. Lúc đó tôi quyết định, ngoài Trịnh Hiếu Tế sẽ không tìm ai bàn bạc nữa.
            Tuy nhiên, tin này còn truyền đi nhanh hơn tin tôi đến trại lính Nhật Bản. Ngày hôm sau, báo chí đều đăng tin về cuộc gặp gỡ giữa tôi với Doihara và còn vạch rõ mục đích chuyến đi này của Doihara. Mấy hôm đó, Trần Bảo Thám vốn không ở Thiên Tân được tin vội vã từ Bắc Kinh quay về, vừa xuống xe lửa thì chạy đến nhà Trịnh Hiếu Tế thăm dò tin tức. Sau đó, chạy tới Tĩnh Viên. Khi đó, đứng lúc Lưu Nhượng Nghiệp vừa gửi một bức điện từ Tokyo tới nói phía quân đội Nhật Bản cho rằng thời cơ tôi ra đi vẫn chưa tới.
            Đọc bức điện, tôi thấy không thể không nói lại với Trần Bảo Thám về tình hình cuộc gặp Doihara, đồng thời đồng ý cùng mọi người bàn bạc một chút.
            Hôm đó là ngày mùng 5 tháng 11, tại Tĩnh Viên mở một cuộc “Ngự tiền hội nghị” rất mới lạ. Còn nhớ, được mời tới họp, ngoài Trần Bảo Thám, Trịnh Hiếu Tế, Hồ Tự Viện ra còn có Viên Đại Hóa và Thiết Lương sống lưu vong ở Thiên Tân, (Thăng Sung khi đó đã chết). Tại lần họp này Trần Bảo Thám và Trịnh Hiếu Tế mở cuộc tranh luận rất quyết liệt. Trần Bảo Thám nhìn Trịnh Hiếu Tế nói: “Hiện nay đại cục chưa định, không cẩn thận và manh động chỉ có hại mà không ích lợi gì. Hành động đón hoàng thượng của La Ngọc Chấn là vội vã. Hiện nay định khởi giá há chẳng phải là vội vã hay sao?”
            - Dù phía quân đội Nhật Bản nhiệt thành song nội các Nhật Bản vẫn chưa có ý đó. Sự việc không phải trò đùa, vậy xin hoàng thượng suy xét kỹ hãy định đoạt.
            - Nội các Nhật Bản không đáng kể. Bộ Tư lệnh quân Nhật Bản có quyền định đoạt tại trận. Suy đi tính lại cũng đến thế mà thôi.
            - Tôi nói là xin hoàng thượng suy nghĩ cân nhắc chứ không phải xin ông!
            - Cân nhắc! Cân nhắc! Đợi người Nhật đưa Phổ Vỹ lên, đám bề tôi chúng ta sẽ hãm hoàng thượng đến mức nào?
            - Phổ Vỹ múa may quay cuồng, chẳng qua vẫn là Phổ Vỹ. Hoàng thượng đứng ra chỉ có thể thành công chứ không thể thất bại. Nếu như không thành công, càng hãm hoàng thượng đến mức nào?
            - Xem ra đã hết đường rồi! Đến quan ngoại, lại khôi phục sự nghiệp tổ tiên, lại không phải sống lo lắng, có gì lỗi với tổ tiên?
            Trước giọng thao thao bất tuyệt của Trịnh Hiếu Tế, Trần Bảo Thám mặt trắng bệch, run run nắm chặt mép bàn, dướn người lên, đối mặt với Trịnh Hiếu Tế, cười nhạt nói:
            - Ông có sự tính toán của ông, sự hăng hái của ông, thành bại có thế nào, hoàn toàn không có gì đáng nói!
            Viên Đại Hóa không lên tiếng, Thiết Lương cúi đầu ngồi im. Hồ Tự Viện, do thân phận không được luận bàn cũng cảm thấy không thể im lặng được nữa do đó đều phát biểu ý kiến. Thiết Lương nói một số điều về “bàn kế lâu dài” lộ rõ là ông ta ủng hộ Trần Bảo Thám. Viên Đại Hóa nói mấy câu ngay ý tứ cũng không rõ. Hồ Tự Viên muốn ủng hộ Trần Bảo Thám song nói không rõ ràng. Tại cuộc họp, tôi không tỏ thái độ song trong lòng cho rằng Trần Bảo Thám là “lòng trung thành đáng khen ngợi”.
            Tôi cảm thấy, biện pháp tốt nhất là chưa nên bày tỏ cách suy nghĩ của mình, chưa bộc lộ ý đồ của mình. Đối với người xung quanh mình cần như vậy, đối với xã hội càng cần phải như vậy ở đây tôi cần nói thêm một chút về việc tôi tiếp Cao Hữu Đường, khoảng hai ba ngày sau khi tôi gặp Doihara.
            Mấy hôm đó mấy người xin gặp tôi rất nhiều. Tôi cho rằng nên từ chối hết, chỉ càng chứng thực sự thăm dò của báo chí, càng không có lợi cho tôi. Còn về nhân vật Cao Hữu Đường, càng cần phải có sự gặp gỡ. Trước kia ông ta là khách của Trương Viên. Trương Viên coi ông ta như di lão vì ông xuất thân học quán triều Thanh, đã làm quan nhà Thanh. Sau đó ra mấy tờ báo, làm ủy viên viện giám sát của Quốc dân Đảng, đã từng tác động yêu cầu Nam Kinh “chi tiền hàng năm” cho tôi (không có kết quả). Tôi nghĩ có lẽ ông ta sẽ tiết lộ tin tức gì đó cho tôi, do đó tiếp ông ta. Không ngờ ông ta lại đến làm thuyết khách cho Tưởng Giới Thạch. Ông ta nói: Chính phủ Quốc dân Đảng đánh điện cho ông ta, bảo ông ta là nói với tôi: Chính phủ Quốc Dân Đảng hứa khôi phục điều kiện ưu đãi, hàng năm phát khoản chi phí ưu đãi hoặc là chi cả khoản tiền cũng được, đề nghị tôi đưa ra số mục. Còn về nơi ở mong tôi chọn Thượng Hải, nếu như tôi muốn ra nước ngoài thì hoặc đến một nơi nào ngoài Đông Bắc và Nhật Bản đều có thể được.
            Nghe ông ta nói tôi cười nhạt mà rằng:
            - Chính phủ Dân quốc sao không làm gì sớm hơn? Điều kiện ưu đãi đã bỏ bao nhiêu năm rồi, Tôn Điện Anh xâm phạm lăng tổ tiên tôi, ngay quản cũng không quản. Hiện nay sợ tôi ra đi người của Tưởng Giới Thạch cũng rơi nước mắt nghĩ đến ưu đãi... Bản thân tôi không nhận bất cứ ưu đãi nào. Tôi cũng không định đi bất cứ nơi nào. Ông vốn là cựu thần triều Thanh việc gì phải đi nói thay cho họ!
            Cao Hữu Đường lấy thân phận di lão, với giọng điệu hoàn toàn lo tính cho tôi mà nói với tôi. Ông nói: “Điều kiện của chính phủ Dân quốc rất có lợi đối với tôi. Hiện nay lời nói của họ thường không chắc chắn, song nếu như tôi thấy cần thiết, có thể do ngân hàng nước ngoài bảo đảm. Ông nói: “Nếu như có người nước ngoài bảo đảm, Tưởng Giới Thạch lần này quyết không dám lừa dối”. Ông ta hầu như có hiểu được tâm ý của tôi, nói khôi phục diều kiện ưu đãi đương nhiên cũng khôi phục đế hiệu, nếu như muốn về Bắc Kinh cũng có thể thương lượng.
            Tôi cũng không tin vào những lời nói của ông ta. Từ lâu tôi đã nghe nói thủ đoạn của Tưởng Giới Thạch rất lợi hại. Có người nói, để lôi kéo Anh Mỹ mà ông ta lấy Tống Mỹ Linh, đến cả vợ hắn ta cũng bỏ, hoàn toàn không nói đến tín nghĩa. Loại người này chuyên mềm nắn, rắn buông. Vì hắn sợ người Nhật, nay thấy người Nhật tiếp xúc với tôi thì điều kiện nào hắn cũng đáp ứng, đợi tôi tách khỏi người Nhật, đại thể sẽ lại đối phó với tôi. Dù mọi lời nói của hắn đều chắc chắn, hắn cho tôi một đế hiệu cũng là làm sao so sánh được với đế vị mà Doihara đã đáp ứng với tôi. Số tiền mà hắn có thể cho tôi, làm sao so sánh được với cả vùng Đông Bắc. Tưởng Giới Thạch lại tốt với tôi, hắn có thể trao lại cả giang sơn cho tôi ư? Nghĩ đến đó tôi thấy không muốn tiếp tục nói chuyện với Cao Hữu Đường nữa.
            - Thôi, những lời ông nói ta đều đã rõ cả. Cuộc nói chuyện này có thể kết thúc ở đây.
            Nhìn tôi sau một lúc suy nghĩ nói như thế, Cao Hữu Đường lại hiểu lầm cho rằng tình hình còn có hy vọng vội vã nói: “Vâng! Vâng! Hoàng thượng tiếp tục suy nghĩ, mấy ngày nữa thần sẽ quay lại.”
            - Ừ, lại đến nhé!
            Ông ta tràn đầy hy vọng đi ra. Sau đó nghe nói ông ta sau khi hoạt động với chú bảy của tôi đã từ Bắc Kinh quay lại, gặp “sự biến Thiên Tân”, bị chặn ở phía ngoài khu tô giới. Sau khi ông ta tìm cách vào tô giới Nhật Bản tôi không còn ở Tĩnh Viên nữa.
            Trong hai ngày đó, còn có một số người liên tiếp đến thăm dò tin tức hoặc đưa ra lời can ngăn, tôi còn nhận được nhiều thư gửi tới, đối với tôi mọi người đều có lời khuyên trung thực, có lời cảnh cáo thậm chí có người họ Ái Tân Giác La khuyên tôi chớ nhận giặc làm cha, phải gìn giữ sự tôn nghiêm của người Trung Quốc. Bị giấc mộng phục tích hoàn toàn làm mê mẩn tâm thần, bất cứ lời khuyên nào đối với tôi đều không có kết quả. Tôi quyết định, đối với bên ngoài không nói bất cứ lời thật lòng nào.
            Có một phóng viên một tờ báo nhỏ ở Thiên Tân tên là Lưu Tài Công, cũng là khách thường tới Trương Viên và Tĩnh Viên, thường viết bài ca tụng tôi trên báo của ông ta khi đó đến thăm dò ý tứ của tôi có xuất quan hay không? Thấy tôi cực lực phủ nhận, nên lại thay tôi làm nhiệm vụ bịt lời đồn đại. Ông ta không ngờ, cùng với ngày trên báo ông ta đăng tin bịt lời đồn đại cho tôi, tôi bước lên hạm tàu Nhật Bản đi Doanh Khẩu.
            Trước hai ngày tôi rời Thiên Tân, không thể không nói một việc. Hôm đó, tôi đang ngáp ngủ nghe thấy lời giảng giải:
            “Chớ để mất lòng nhiệt thành của nước bạn, chớ cự tuyệt sự vui mừng của người dân nước… đó mới là sự nghiệp anh hùng, quyết  không phải là điều mà thư sinh văn sĩ hiểu được…”
            - Hỏng rồi! - Kỳ Kế Trung, người hầu cận của tôi bỗng hoảng hốt chạy vào “Lựu đạn, hai quả lựu đạn!...”
            Tôi ngồi trên ghế sô-pha sợ đến mức không đứng lên được. Trong cơn rối loạn, một lúc mới rõ: Vừa đó, có một người không quen biết gửi tới một tặng phẩm kèm theo một tấm danh thiếp của Triệu Hoạn Bá, nguyên cố vấn Bộ tổng tư lệnh Bảo an Đông Bắc. Người đó đặt tặng phẩm xuống đàng hoàng quay ra. Theo quy định, Kỳ Kế Trung kiểm tra tặng phẩm, phát hiện trong giỏ quả tươi có hai quả lựu đạn.
            Từ trên xuống dưới ở Tĩnh Viên bàng hoàng lo sợ. Cảnh sát Nhật bản và sĩ quan Bộ Tư lệnh quân Nhật tới, mang lựu đạn đi. Ngày hôm sau, sĩ quan phiên dịch Yoshida báo cáo với tôi: qua kiểm nghiệm hai quả lựu đạn đó do công binh xưởng của Trương Học Lương chế tạo.
            Yoshida nhắc nhở: “Hoàng đế Tuyên Thống không nên tiếp kiến người ngoài nữa, khởi hành sớm một chút là hơn”.
            - Được ông hãy thu xếp nhanh lên.
            - Vâng lệnh, xin bệ hạ không nên nói với người không có liên quan.
            - Không nói. Lần này tôi chỉ mang cha con Trịnh Hiếu Tế và hai người hầu.
            Hai ngày đó, tôi nhận được nhiều thư đe dọa. Có bức thư rất ngắn mà lời lẽ lại rất đáng sợ. Có thư chỉ có một câu: “Nếu ông không rời nơi này, hãy cẩn thận cái đầu ông!” Càng đáng sợ hơn là Kỳ Kế Trung nhận được một cú điện thoại. Theo anh ta nói: đối phương là một người hầu bàn ở nhà ăn Victoria cảnh cáo tôi hôm đó chớ có đến ăn cơm vì một số người “hình dáng đáng ngờ” đến nơi này thăm dò tôi. Người bạn quan tâm tới tôi còn nói: có lẽ trong túi áo họ còn có dao điện. Điều kỳ lạ là anh ta nhận ra những người đó là do Trương Học Lương phái tới.
            Anh hầu bàn đó là người thế nào tôi cũng không nói rõ được còn Kỳ Tế Trung thì tôi không bao giờ quên được anh ta. Anh ta là người hầu tôi mang từ Bắc Kinh tới. Sau khi trong cung di tán thái giám, anh ta vào cung lúc đó còn là một thiếu niên rất được tôi tin cậy. Trong thời kỳ ở Thiên Tân, anh ta là một trong những người hầu tôi ưng nhất. Trong thời kỳ ngụy Mãn, tôi gửi anh ta sang bồi dưỡng ở trường sĩ quan Nhật Bản. Tuy nhiên về sau tôi phát hiện anh ta là nhân vật “mật thám xấu xa” trong cung đình. Lúc đó may mắn là nghe nói ở Nhật Bản, anh ta cãi nhau với bạn học, tôi vin cớ “phá hoại bang giao Nhật - Mãn” yêu cầu người Nhật khai trừ anh ta khỏi trường học. Sau đó do người Nhật giới thiệu, anh ta đến Hoa Bắc làm sĩ quan ngụy quân. Về sau lại lắc mình biến thành thượng tá Quốc dân Đảng, sau giải phóng, do án phản cách mạng bị trấn áp. Khi tôi rời Thiên Tân anh ta là một trong ba người hầu của tôi, không có hành động nào của tôi mà anh ta không biết. Đến mãi về sau tôi mới biết rõ, người Nhật Bản và Trịnh Hiếu Tế khi đó hiểu rõ mọi động tĩnh của tôi, nắm rất kịp thời và chuẩn xác tâm tính của tôi đã diễn cho tôi xem màn kịch - tuy các diễn viên diễn tương đối vụng về - song hiệu quả lại tốt như thế. Kỳ Kế Trung thật sự là người rất có liên quan gắn với lựu đạn, thư đe dọa, gọi điện thoại là việc nổ ra “sự kiện Thiên Tân”. Người Nhật Bản tổ chức các đội Hán gian, mật vụ ra sức gây rối loạn đối với khu vực người Trung Hoa. (Đây cũng là một “kiệt tác” do Doihara đạo diễn); tô giới Nhật Bản tuyên bố giới nghiêm, cắt đường giao thông với khu vực người Trung Hoa. Ngoài cửa Tĩnh Viên ra vào có xe bọc thép đến đảm nhiệm “bảo hộ”. Do đó Tĩnh Viên cũng bị cắt đứt với bên ngoài. Chỉ có hai cha con Trịnh Hiếu Tế là nhận được giấy ra vào.
            Về sau tôi nhớ lại, Doihara vội vã thúc tôi đến Đông Bắc như thế, nếu như không phải là phái trẻ quân Quan Đông vì phải đối phó với phái chống đối trong nội bộ hoặc vì nguyên nhân nào khác mà chỉ là do tôi thay đổi ý định thì họ đã đánh giá quá cao ảnh hưởng của bên ngoài tô giới đối với tôi. Sự thật là không những khi tôi đã hạ quyết tâm, ngay đến những người chịu ảnh hưởng của Trần Bảo Thám như Hồ Tự Viên, Trần Tăng Thọ cũng đã thay đổi thái độ. Họ không còn kiên trì chờ xem nữa, bắt đầu tỉnh toán chủ động tiến hành tiếp xúc với Nhật Bản. Tuy nhiên họ vẫn sợ không thể dựa vào quân Nhật, cho rằng tin chính phủ Nhật vẫn hơn. Sự thay đổi của những người này cũng giống như tôi tức là: đã sợ lỡ cơ hội, lại sợ chưa ăn được thịt cừu mà khắp mình đã sực mùi cừu. Đối với điều kiện giao thiệp với người Nhật, điều họ quan tâm là có được làm quan to hay không; vì vậy chủ trương “quyền dùng người” ắt phải là tôi. Còn như thế nào là vinh dự dân tộc, quyền lợi kinh tế... hoàn toàn có thể là thứ trao đổi trả giá cho địa vị của bản thân mình. Sau khi tôi gặp Doihara, Trần Tăng Thọ đã lập tức tấu trình lời tâu như sau:
            “Hiện nay, Nhật Bản bị các cường quốc phản đối nên bế tắc, không thể thay đổi tình hình Đông Tam tỉnh để gỡ thế bí đối với các cường quốc, do đó có hành động khuyến khích như vậy là cơ hội ngàn năm có một. Gặp cơ hội mà không nắm lấy thì càng về sau còn có cơ hội nào? Tuy nhiên nắm cơ hội nếu không được gì thì cái hại còn hơn là cái lỡ cơ hội... Nay con đường ta đang tự xử lý có thể quyết bằng hai câu: có thể định ước với Nhật Bản nhường cái lợi của đường mỏ, buôn bán mà quyền dùng người làm việc hoàn toàn tự chủ thì có thể hành động ngay. Nếu không, muôn vàn không thể hành động. Hiện nay báo chí xôn xao, kẻ thù nghi kỵ, Thiên Tân đã vào thế không thể ở yên. Muốn đừng sợ có lợi cho Nhật Bản, muốn tĩnh lại sợ mất thời cơ tốt này, tiến lui đều khó, xin hoàng thượng cử trọng thần sang Nhật Bản, tiếp xúc với Chính phủ và các nguyên lão Tây Viên Tự, trực tiếp định ước sau đó mới đi Thẩm Dương thì vẹn toàn mà không sai lầm. Ý kiến mạo muội của hạ thần có đúng đắn hay không, xin thánh thượng xem xét!”.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Trốn vượt sông Bạch Hà

 
            Ngày khởi hành là ngày 10 tháng 11. Theo kế.hoạch, chiều tối hôm đó, tôi phải tránh được mọi tai mắt, lặng lẽ lẩn ra khỏi cửa lớn Tĩnh Viên. Tôi cho rằng việc này phải tính toán kỹ lưỡng. Mới đầu tôi dự định không đi cửa lớn, Sách Hưng lái xe từ nhà xe đi ra. Tôi ra lệnh cho Lý lớn, người hầu thân cận nhất ra xem có thể mở cửa nhà xe hay không; anh ta báo cáo: cửa nhà xe lâu nay không sử dụng, cửa ngoài đã bị dán kín giấy quảng cáo chào hàng. Sau đó, lại cho Kỳ Kế Trung đưa ra biện pháp. Đó là, dấu tôi vào thùng sau của một chiếc xe chở hàng. Sau đó chọn một trong những người hầu biết tạm lái xe lái tạm thời, người đó ngồi cạnh lái xe, áp tải chiếc “xe không” mang tôi ra khỏi  Tĩnh Viên.
            Tại một nơi không xa cửa lớn Tĩnh Viên, Yoshida đợi sẵn trên một chiếc xe lớn, thấy xe ô tô của tôi ra khỏi cửa lớn, xe của hắn liền lặng lẽ theo sau.
            Lúc đó; chính là ngày thứ ba sau sự kiện gây rối loạn ở Thiên Tân. Vùng tô giới Nhật Bản và khu vực Trung Quốc quản lý bị giới nghiêm suốt ngày. Tôi không đoán định được lần này gây rối loạn và giới nghiêm này là sự bố trí cố ý hay là sự ngẫu nhiên, nói chung đã tạo nên hoàn cảnh rất thuận lợi cho việc tôi chuồn đi. Trong tình hình xe của bất cứ người Trung Quốc nào cũng không được đi qua, xe ô tô của trôi chạy đến trước mớ hàng rào dây thép gai ở ngã tư nào, khi gặp lính Nhật Bản chặn lại, Yoshida đi phía sau chỉ khoát tay là lập tức được đi ngay. Do đó, tuy kỹ thuật của hai anh lái xe do Kỳ Kế Trung kiếm được rất tồi. (Vừa ra khỏi cửa lớn Tĩnh Viên đã va phải cột điện, đầu tôi va mạnh vào nắp hòm xe, trên đường còn xóc,tôi vô cùng khổ sở), tuy nhiên cuối cùng cũng đến được địa điểm dự định một cách thuận lợi - trạm xử lý Phu Đảo.
            Sau khi xe dừng bánh, Kỳ Kế Trung chỉ cho người lái xe đứng ra một bên, Yoshida tiến đến mở cửa thùng xe đỡ tôi ra cùng tiến vào trạm Phu Đảo. Một đại úy quân đội Nhật Bản tên là Bujiro đã đợi sẵn ở đây, lấy ra một áo khoác và một chiếc mũ của quân đội Nhật nhanh chóng mặc cho tôi sau đó cùng Yoshida đưa tôi lên ngồi trên một chiếc xe quân sự của Bộ tư lệnh quân đội Nhật Bản. Chiếc xe này chạy trên bờ sông Bạch Hà không gặp trở ngại gì chạy thẳng đến bến cảng. Sau khi xe dừng lại Yoshiđa và Bujiro đỡ tôi xuống xe. Rất nhanh chúng tôi thấy rõ, đây không phải là tô giới Nhật Bản, bất giác cảm thấy hoảng hốt. Yoshida nói thầm an ủi tôi: “Đừng sợ, đây là tô giới Anh”. Tôi được Yoshida và Bujiro dìu đi bộ trên một quãng đường lát xi măng. Một chiếc tàu nhỏ không có ánh đèn đã xuất hiện trước mắt. Tôi bước xuống khoang tàu, thấy hai cha con Trịnh Hiếu Tế đã đợi sẵn ở trong đó tôi mới yên tâm. Ngồi trong khoang tàu còn có ba người Nhật Bản. Một, là: Kaeisumi Riachi, hai là Kudo Tetsusaburo, một người Nhật lưu vong đã từng là thủ hạ của Thăng Sung. Còn một người nữa là Ôtani, đến nay tôi quên lai lịch của hắn. Tôi đã gặp thuyền trưởng Nishinagara, được biết trên tàu còn có 10 người lính Nhật Bản đảm nhiệm việc hộ tống. Tầu này thuộc bộ phận vận tải của hải quân Nhật Bản. Do nhiệm vụ “vận tải” đặc biệt lần này, trên tàu đã có chất bao cát và sắt tấm. Hai mươi năm sau, tôi đọc được một đoạn hồi ký của Kotolitsusanro đăng  trên tạp chí “Văn nghệ xuân thu” của Nhật bản nói trên tàu còn dấu một thùng dầu xăng lớn chuẩn bị vạn nhất bị quân đội Trung Quốc phát hiện, khi không có cách nào chạy thoát, quân đội Nhật sẽ châm lửa đốt để thủ tiêu chúng tôi và các nhân chứng cùng với chiếc tàu. Khi đó, ngồi cạnh thùng xăng không quá 3 mét tôi cảm thấy “hạnh phúc” ngày càng đến gần!
            Yoshida và đại úy Bujiro rời con tàu, con tàu rời bến cảng. Đèn điện bật sáng. Qua của kính tôi ngắm quang cảnh ban đêm của sông, không nén được cảm khái trong lòng. Tôi đã mấy lần đến Bạch Hà vào ban ngày, trên pháo hạm hải quân Đông Bắc của Tất Thứ Đăng cùng với khu trục hạm của Nhật Bản. Tôi đã từng nảy ảo tưởng: coi Bạch Hà là bến sông, sau này tôi chạy ra biển cả tìm kiếm con đường bên ngoài giáp đỡ phục tích. Nay tôi thật sự đang đi trên con sông này. Không ngăn nổi sự đắc ý, vui mừng nghĩ đến một số điều để nói.
            Song, tôi vui mừng quá sớm. Trịnh Thùy bảo tôi: “Đã qua tô giới nước ngoài, phía trước là thế lực của người Trung Quốc. Kho lương thực của quân đội phía bên kia, có thể có người Trung Quốc coi giữ”.
            Nghe câu nói đó, tôi nhìn cha con họ Trịnh và mấy người Nhật Bản, tất cả đều đăm chiêu, không ai nói một lời. Mọi người trầm lặng trong hai giờ đồng hồ, bỗng nghe tiếng hô từ trên bờ: “Dừng tàu lại!”.
            Như thần kinh bỗng bị đứt, tôi hầu như ngã lăn ra. Mấy tên lính Nhật Bản vội vã lên sàn tàu. Trên sàn tàu truyền tới khẩu lệnh khe khẽ và những bước chân loạn xạ. Tôi thò đầu ra ngoài cửa sổ nhìn thấy sau mỗi bao cát đều có người mai phục dương súng chuẩn bị tư thế bắn. Lúc đó, tôi cảm thấy tốc độ con tàu nhanh chóng giảm, hướng tàu như là vào gần bờ. Tôi đang chưa hiểu ra sao bỗng mọi đèn điện vụt tắt, tiếng súng trên bờ vang lên hầu như đồng thời, tiếng máy bỗng nhiên nổ to, con tàu bỗng tăng tốc, chỉ cảm thấy rùng một cái giống như nó nhảy lên cướp bờ mà vượt đi.  
            Tiếng hô trên bờ, tiếng súng dần dần xa. Thì ra, người Nhật Bản đã sớm chuẩn bị thủ đoạn này, lúc đầu làm như vẻ nghe lệnh. Sau đó thừa lúc trên bờ không chuẩn bị phụt khói vượt đi.
            Một lúc sau, đèn điện lại bật sáng, không khí trong tàu lại sống lại. Đến nửa đêm đến cửa khẩu Đại Cô. Khi đợi chiếc tàu buôn “Đàm Lộ Hoàn” ra ngoài cửa khẩu đón chúng tôi, lính Nhật Bản lấy ra nước chấm, dưa cải trắng và rượu Nhật Bản. Trịnh Hiếu Tế hoạt bát hẳn lên, cao giọng miêu tả giờ phút vượt qua nguy hiểm thành một “sự nghiệp anh hùng”. Ông ta cạn chén với lính Nhật, vui mừng phấn chấn ngâm ngay một bài thơ.
                        Đồng châu nhị đế(57) dục đồng tôn
                        Thức khách đồng chu thức cộng luân
                        Nhân định thắng thiên phi lãng ngữ
                        Tương khán ứng tai bất đa ngôn.
 
Tạm dịch:
                        Cùng miền hai đế muốn lên ngôi
                        Bẩy khách trong thuyền thử bàn chơi
                        Người định thắng trời là sự thật
                        Cùng xem hiệu quả khỏi nhiều lời.
 
            Sự vui mừng của Trịnh Hiếu Tế tối hôm đó ngoài việc ông ta trở thành người thắng lợi, có thể còn do một nguyên nhân không tiện nói ra. Đó là, qua sự bất đồng ý bề ngoài của giới quân sự và chính trị Nhật Bản, so với bất cứ ai khác, ông ta sớm nhận rõ sự nhất trí của họ. Một ngày sau khi tôi gặp Doihara ông ta ghi trong nhật ký (ngày mùng 3 tháng 11):
            “Đại Thất (tức Trịnh Thùy) đến lãnh sự quán Nhật bản. Goto Rokino nói: Doihara lần này đến để đón hoàng thượng đến Phụng Thiên, lãnh sự quán biết nhưng làm như không biết”.
            Hồ sơ của Bộ Ngoại giao Nhật Bản được phát hiện sau đại chiến thế giới thứ hai có một bức điện mật mà bộ trưởng Ngoại giao Nhật Otatonoseo gửi Tổng lãnh sự quán Nhật ở Thiên Tân nói rõ màn kịch “Trốn vượt Bạch Hà”. Nội dung bức điện như sau:
            “Về phong trào tôn lập hoàng đế Tuyên Thống: thấy rằng nếu như câu thúc quá độ tự do của hoàng đế, quan hệ đối nội, đối ngoại đều sẽ không tốt. Đã trao đổi ý kiến này về mặt đối ngoại. Phía đối ngoại tuy cũng đồng ý song về tình hình hiện nay ở Mãn Châu, các mặt đều có phong trào tôn lập hoàng đế. Do đó, đối với mặt chấp hành chính sách đế quốc khó tránh khỏi khó khăn. Đồng thời, sự bảo hộ bên cạnh hoàng đế cũng cần thiết nên phải có sự chuẩn bị tương đối. Thêm nữa, phía ngoại vụ cũng bày tỏ hiện nay tình hình các mặt chính trị ở Mãn Châu cũng yên ổn một chút. Ý chí chung của dân chúng Đông tam tỉnh cũng muốn tôn lập Hoàng đế. Nếu như không có trở ngại gì cho việc chấp hành quốc sách, cũng có thể thuận theo”.
 
 
--------------------------------------------------------------
(57) Nhị đế: ý nói Phổ Nghi và Phổ Vĩ đều muốn được người Nhật đưa lên làm vua ở Mãn Châu.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Trong vòng phong tỏa

 
            Trên tàu “Đạm lộ hoàn” (Awaji Maru), Trịnh Hiếu Tế nói suốt ngày về chí hướng trị quốc bình thiên hạ. Sáng sớm ngày 13, chúng tôi đến cảng “Mãn Thiết” của thành phố Doanh Khẩu, tỉnh Liêu Ninh.
            Tại sao đi Thẩm Dương phải cập bến từ Doanh Khẩu. Về vấn đề này tôi chưa từng cân nhắc đến. Tôi chỉ nghĩ nhân dân Đông Bắc sẽ đến đón tôi tại Doanh Khẩu như thế nào. Trong trí tưởng tượng của tôi ở đó nhất định có cảnh một đám dân chúng hoan hô gần như quang cảnh tôi đã thấy ở trường tiểu học kiều dân Nhật trong tô giới ở Thiên Tân: mọi người vẫy những lá cờ nhỏ hướng về tôi hô to muôn năm. Tuy nhiên thân tàu càng áp dần vào bến cảng càng không thấy có chuyện đó. Ở đó không có quần chúng, càng không có cờ quạt gì. Đợi đến khi lên bờ mới biết rõ: không những số người đón tiếp rất ít mà toàn là người Nhật Bản.
            Qua giới thiệu của Kaeisumi tôi mới biết những người đó đều do Itagaki phái đến do Amakasu Masahiko đứng đầu. Người này, ở Trung Quốc ít người biết, sống ở Nhật Bản lại rất nổi tiếng. Hắn vốn là một đại úy hiến binh, khi Nhật Bản bị động đất lớn, lợi dụng sự hỗn loạn do động đất gây ra, Bộ Tư lệnh quân đội Nhật Bản ra sức bức hại những nhân sĩ tiến bộ. Vợ chồng Osugi Sakae và đứa con bảy tuổi đã chết trong tay hắn. Sau vụ thiên tai, thảm án này bị người ta tố cáo, trước sức ép của dư luận xã hội,  Bộ tư lệnh quân đội Nhật Bản buộc phải đưa hắn ra làm vật hy sinh, giao cho tòa án quân sự xét xử xử tội tù chung thân. Sau đó không lâu, hắn được thả ra, được gửi sang Pháp học tập. Ở Pháp hắn học mỹ thuật và âm nhạc. Sau mấy năm, nhà nghệ thuật này trở về Nhật Bản, lập tức được cử đến cơ quan đặc vụ quân Quan Đông. Theo một cuốn sách do Nhật Bản xuất bản sau đại chiến thế giới thứ hai, vụ nổ bom đường sắt Liễu Điều Câu, tín hiệu của sự biến “18 tháng 9” chính là một “kiệt tác” của hắn. Ở cảng Doanh Khẩu, tôi không thể nghĩ rằng con người đeo kính cận rất lễ phép này sao lại có một lịch sử không bình thường như vậy. Nếu như không có “kiệt tác” của hắn, cũng có thể tôi vẫn chưa đến được Đông Bắc.
            Amakasu Masahiko đưa tôi và cha con Trịnh Hiếu Tế lên chiếc xe ngựa đã chuẩn bị sẵn, chở chúng tôi đến ga xe lửa. Ngồi xe lửa khoảng trên một giờ đồng hồ lại chuyển. sang đi xe ngựa. Trên đường đi không nghe thấy bất kỳ lời giải thích nào, gật gà gật gưỡng đến khu an dưỡng nước suối nóng Dương Cương Tử. Tôi bước vào nhà khách suối nước nóng Đối Thúy Các với tư tưởng hoài nghi.
            Nhà khách Đối Thúy Các thuộc xí nghiệp “gang thép Mãn Châu” của Nhật Bản. Nhà lầu kiểu châu Âu, phong cách Nhật Bản, thiết bị khá sang trọng, chỉ có các sĩ quan quân đội Nhật Bản, nhân viên cao cấp thép Mãn Châu và các quan chức Trung Quốc được phép vào ở. Tôi được đưa lên một phòng khách rất lịch sự trên gác, trong đó thấy có La Chấn Ngọc, Thương Diễn Doanh và Đông Tế Hy. Sau khi hỏi thăm sức khỏe của tôi, La Chấn Ngọc lập tức nói với tôi: ông ta đang thương lượng với quân Quan Đông về việc phục tích, lại nói: trước khi thương lượng kết thúc, không nên để tin tức về việc tôi đến đây lọt ra ngoài. Hèn nào không có cảnh nhiệt liệt hoan nghênh vì mọi người vẫn chưa biết tôi đã đến. Tôi tin rằng đàm phán với quân Quan Đông là việc dễ dàng, chẳng bao lâu sẽ có thể tuyên bố tin tức về hoàng đế Đại Thanh phục tích tại cố cung ở Thẩm Dương. Khi đó chắc sẽ không thể yên yên lặng như hiện nay, càng nghĩ tôi càng vui mừng, hoàn toàn không chú ý đến thần sắc khác thường của cha con Trịnh Hiếu Tế. Tôi sảng khoái ăn một bữa cơm phong vị Nhật Bản, qua cửa sổ ngắm một lúc cảnh sắc ban đêm của khu này và đi ngủ một cách thoải mái.
            Qua một đêm, tôi mới biết rõ lần vui này hơi quá sớm.
            Tắm rửa xong, tôi gọi người hầu Kỳ Kế Trung nói, tôi muốn đi dạo một chút xem phong cảnh xung quanh.
            - Không được ạ, không được phép ra ngoài.
            Kỳ Kế Trung nói với vẻ mặt đau khổ.
            - Sao lại không được? - tôi ngạc nhiên hỏi: - Ai nói? Xuống nhà hỏi xem?
            - Ngay xuống nhà cũng không được ạ!
            Lúc đó tôi mới biết, nhà khách Đối Thúy Các đã bị phong tỏa. Không những không cho phép người bên ngoài vào phạm vi nhà khách, ngay những người ở dưới nhà cũng đừng hòng lên gác (trên gác chỉ có mấy người chúng tôi). Đặc biệt, người ta không hiểu được là tại sao ngay người trên gác cũng không được phép xuống nhà. Tìm La Chấn Ngọc cũng không biết ông ta đi đâu. Cha con Trịnh Hiếu Tế đều rất tức giận, đề nghị tôi tìm người Nhật hỏi tại sao có chuyện như vậy. Những người Nhật cùng ở với chúng tôi ở đây, đứng đầu là Kaeisumi và Amakasu Masahiko. Kỳ Kế Trung tìm được Kaeisumi tới, hắn cười hì hì nói tiếng Trung Quốc giọng Nhật Bản:
            - Đó là vì sự an toàn, sự an toàn của Hoàng đế Tuyên Thống.
            - Chúng tôi ở đây đến bao giờ? - Trịnh Hiếu Tế hỏi.
            - Điều đó phải hỏi đại tá Itagaki.
            - Còn La Chấn Ngọc?
            - Đến Thẩm Dương tìm đại tá Itagaki. Hiện nay vẫn còn bàn vấn đề nhà nước mới, bàn được ý kiến nhất trí sẽ đến mời hoàng đế Tuyên Thống đi.
            - Hừ! - Trịnh Thùy khoát tay hầm hầm bước sang một bên.
            Hành động “thất lễ trước vua” đó khiến tôi rất khó chịu. Song khi đó càng khiến tôi chú ý là việc Kaeisumi: vấn đề “nhà nước mới” còn đang thảo luận. Điều đó quá lạ lùng. Chẳng phải là Doihara và Hy Hiệp đều nói: tất cả đều không có vấn đề, chỉ còn mời tôi đến chủ trì kế lớn đó sao? Kaeisumi nói: “Vẫn đang thảo luận”, điều đó có ý gì? Tôi nêu vấn đề này, Kaeisumi trả lời một cách hàm hồ:
            - Việc lớn như thế, làm sao nói thực hiện là thực hiện ngay được. Xin hoàng đế Tuyên Thống không nên nóng vội, đến lúc, tự nhiên sẽ mời hoàng đế Tuyên Thống đi.
            - Đi đến đâu? - Trịnh Thùy vội vã quay lại chen vào hỏi: - Đến Phụng Thiên ư?  
            - Điều đó phải đợi đại tá Itagaki.
            Tôi rất bực bội tránh bọn họ, đến một gian phòng khác gọi Đông Tế Hy đến hỏi việc hắn đánh điện từ Thẩm Dương nói, “mọi việc đã sắp xếp xong” là ý thế nào? Đông Tế Hy nói: đó là Viên Kim Đăng nói, không rõ tại sao lại rắc rối như vậy. Tôi lại hỏi Thương Diễn Doanh xem ông ta nhận xét điều này như thế nào? Ông ta cũng không nói ra được lý lẽ vì sao, chỉ oán hận ở đây không có “đàn bói”, nếu không nhất định có thể được thần tiên giải đáp.
            Khi đó tôi vẫn chưa biết người Nhật cũng đang bấn lên. Trên quốc tế, Nhật Bản ở thế cô lập, trong nội bộ, đối với việc dùng hình thức nào thống trị mảnh thực dân địa này ý kiến vẫn chưa thống nhất. Quân Quan Đông tất nhiên cũng chưa tiện để tôi lộ mặt. Tôi chỉ cảm thấy rằng, đối với tôi người Nhật không kính trọng như ở Thiên Tân. Kaeisumi cũng không phải là Kaeisumi ở Bộ tư lệnh quân đang đóng ở Thiên Tân nữa. Trong dự cảm lo lắng, tôi chờ đợi một tuần lễ bỗng nhận được điện thoại của Itagaki mời tôi chuyển đến Lữ Thuận.
            Tại sao không đi Thẩm Dương? Kaeisumi cười hì hì giải thích: việc đó vẫn còn phải đợi đại tá Itagaki thương lượng xong xuôi mới quyết định được. Tại sao đến đợi ở Lữ Thuận? Theo Kaeisumi nói: vì ở gần vùng Thang Cương Tử này có “thổ phỉ”, rất không an toàn, không bằng ở Lữ Thuận tốt hơn. Lữ Thuận là địa phương lớn, mọi mặt đều thuận tiện. Do đó, tối hôm đó lên xe lửa, sáng sớm hôm sau đến Lữ Thuận.
            Nơi ở Lữ Thuận là khách sạn Đại Hòa, cũng lại như cung cách ở Đối Thúy Các. Toàn bộ tầng trên dành cho mấy người chúng tôi sử dụng, bảo chúng tôi không được xuống lầu, người dưới lầu cũng không được phép lên. Kaeisumi và Amakasu nói với chúng tôi vẫn là mấy câu: Vấn đề nhà nước mới còn đang thảo luận. Không nên nóng ruột, đến lúc sẽ có người đến mời chúng tôi đi Thẩm Dương. Ở nơi này không lâu, cha con Trịnh Hiếu Tế được đãi ngộ như La Chấn Ngọc. Không những đi ra ngoài không bị ngăn cản mà còn có thể đến Đại Liên. Khi đó nét mặt trầm trầm không vui của Trịnh Hiếu Tế không còn nữa. Giọng điệu cũng giống như La Chấn Ngọc, nói nào là “Hoàng thượng thiên uy không tiện xuất đầu lộ diện, mọi việc nên do “tôi con” đi làm; đợi “bề tôi” sắp xếp xong khi đó Hoàng thượng tự nhiên có thể đàng hoàng ngoảnh mặt về phía Nam nhận lễ chúc mừng”. Lại nói: trước khi công việc hoàn thành, không nên nói ra, vì vậy cũng không cần tiếp kiến mọi nhân viên; quân Quan Đông hiện nay là người chủ nơi này, trước khi tôi “lên ngôi” tạm thời tôi là người khách, khách nghe theo, thuận tiện cho chủ cũng là lẽ đương nhiên. Nghe họ nói, tuy trong lòng rất nôn nóng, tôi cũng phải nhẫn nại đợi chờ.
            Sự thực là, những lời ngoài miệng gọi tôi là Hoàng thượng ấy, những người đổ mồ hôi trán, không nề gian khổ chạy chọt cho tôi ấy, trong tư tưởng họ, tôi chỉ là lá bài hoàng đế. Tác dụng của loại hoàng đế này chẳng qua chỉ là có thể diệt con bài của người khác để giành phần thắng trong một canh bạc mà thôi. Để đối phó với sức ép của dư luận trong nước và sự chỉ trích của phương Tây, người Nhật mới chuẩn bị ván bài này. Trước khi đánh quân bài ra, tự nhiên họ cần giữ kín một cách nghiêm mật. Để ứng phó trong cuộc sống giành giật này độc quyền được người Nhật ban thưởng, bọn Trịnh Hiếu Tế, La Chấn Ngọc cũng đều muốn độc chiếm con bài tôi, đều dốc hết tâm cơ nắm lấy tôi. Do đó đã hình thành sự phong tỏa đối với tôi, khiến tôi lâm vào cảnh bị cách ly. Ở Thang Cương Tử, La Chấn Ngọc muốn lợi dụng sự quy định hạn chế của người Nhật Bản để cắt đứt sự qua lại của những người khác với tôi, đã từng ngăn cản tôi và Trịnh Hiếu Tế tiếp xúc với quân Quan Đông của Nhật Bản, để đảm bảo cho ông ta bao tất cả. Đến Lữ Thuận, Trịnh Hiếu Tế và phía người Nhật lại có quan hệ, cùng La Chấn Ngọc đối đáp trong màn kịch, vì vậy ông ta chỉ còn cách mất bò lo sửa chuồng, tìm cách không cho người thứ ba dính vào. Về mặt canh giữ tôi, La và Trịnh phối hợp với nhau, do đó xuất hiện tình trạng một mặt Trịnh, La phối hợp với nhau lũng đoạn tôi, mặt khác lại giành giật quyết liệt với phía người Nhật.
            Nhưng sự thật bên trong của màn kịch này tất nhiên khi đó tôi không biết. Tôi chỉ cảm thấy La Chấn Ngọc và cha con Trịnh Hiếu Tế câu kết với người Nhật muốn cách ly tôi với những người khác. Đối với Đông Tế Hy và Thương Diễn Doanh chỉ biết bói toán cầu thần họ không chú ý lắm đối với những người đi từ Thiên Tân tới muốn gặp tôi thì họ canh giữ rất chặt, thậm chí ngay với Uyển Dung cũng không nể nang gì.
            Trước khi tôi rời Tĩnh Viên đã để lại một đạo dụ viết tay, trao cho một người hầu chuyển cho Hồ Từ Viện, lệnh cho ông ta sau đó tìm đến tôi, lệnh cho Trần Tăng Thọ đưa Uyển Dung đến. Nghe nói tôi ở Lữ Thuận, ba người liền đến Đại Liên. La Chấn Ngọc cử người tìm nơi ở cho họ, nói rằng quân Quan Đông ra lệnh không cho phép họ đến Lữ Thuận. Uyển Dung sinh nghi về mệnh lệnh này, cho rằng tôi xẩy chuyện gì  liền kêu gào khóc lóc, không đến không được, như vậy mới được phép đến Lữ Thuận thăm tôi một lần. Sau đó khoảng 1 tháng quân Quan Đông đưa tôi đến ở nhà con trai Thiện Kỳ (khi đó đã chết) mới cho phép Uyển Dung và sau đó là em gái thứ hai, thứ ba của tôi chuyển đến ở cùng tôi.
            Tôi vốn muốn để Hồ Từ Viện, Trần Tăng Thọ cùng chuyển đến ở cạnh tôi song Trịnh Hiếu Tế nói: quân Quan Đông quy định, ngoài mấy người là cha con ông ta, La Chấn Ngọc, Vạn Thăng Thức ra, không cho phép bất cứ ai đến gặp tôi. Tôi yêu cầu ông ta đi thương lượng với Kaeisumi và Amakasu kết quả cho phép Hồ Từ Viện gặp một lần với điều kiện là ngay ngày hôm đó phải quay về Đại Liên. Trong tình hình đó Hồ Từ Viện vừa trông thấy tôi đã khóc rống lên, nói rằng ông ta không nghĩ rằng ở cạnh tôi bao nhiêu năm nay rơi vào cảnh chỉ một lần gặp cũng bị hạn chế, nói đến mức lòng tôi rất bối rối. Một nỗi sợ hãi cô lập không nơi bấu víu đè nặng lên tôi, tôi chỉ có thể an ủi Hồ Từ Viện mấy câu, bảo ông ta hãy đợi đến khi tôi nói chuyện được nhất định sẽ “truyền dụ” gọi ông ta và Trần Tăng Thọ đến với tôi. Nghe tôi nói Hồ Từ Viện nín khóc, thừa lúc trong nhà không có ai kể với tôi mọi tội lỗi của hai người Trịnh - La, công kích họ là những kẻ “dối trên lừa dưới, loại bỏ trung lương”.
            Sau hai tháng tôi đến Lữ Thuận, Trần Bảo Thám cũng tới. Khi đó, Trịnh Hiếu Tế đã trở thành người tin cậy của quân Quan Đông, La Chấn Ngọc nhìn thấy sẽ thất bại trong tay ông ta, chính vào lúc ông ta sắp giành thắng lợi hoàn toàn. Sự giao dịch tiếp cận giữa ông ta và quân Quan Đông đã rất thành thục, thấy “ông thầy vua”, uy vọng vượt ông ta xuất hiện ở Đại Liên, lập tức khiến ông ta cảnh giác. Ông ta sợ người đồng hương của mình có thể khiến người Nhật càng ưng hơn, vội vã muốn đẩy Trần Bảo Thám quay trở về. Do đó, Trần Bảo Thám ở Lữ Thuận chỉ có hai tối, chỉ gặp tôi hai lần liền bị Trịnh Hiếu Tế vin cớ người Nhật sẽ họp ở nhà khách mà đẩy Trần Bảo Thám đi.
            Đồng thời một số di lão ở Bắc Kinh và Thiên Tân muốn làm quan, vin cớ phục vụ tôi chạy tới Lữ Thuận cũng bị Trịnh Hiếu Tế và Amakasu ngăn cản. Ngay đến Cung Thân Vương Phổ Vỹ muốn gặp tôi cũng bị ngăn chặn. Đến ngày sinh nhật của tôi, họ không tìm được cớ gì mới bất đắc dĩ để một số người gặp tôi, chúc mừng tôi, trong đó có Bảo Hy, Thương Diễn Doanh, Thẩm Kế Hiền, Kim Trác, Vương Quy Liệt, Trần Tăng Thọ, Dục Thiện..., những người sau này khi thành lập ngụy Mãn đều trở thành quan lớn nhỏ.
            Khi đó giành giật lẫn nhau, anh tranh tôi không những chỉ có di lão, giữa những người Nhật lưu vong và đặc vụ cũng không loại trừ. Được thế đương nhiên là bọn Kaeisumi và Itagaki tay chân của Yoshida. Lúc đó Ezan Takeo đã từng là giáo sư trong gia đình cha tôi muốn đến bên tôi dựa dẫm, do không phải người thuộc hệ thống bộ tổng tư lệnh quân đội, cuối cùng đều bị Kaeisumi và Amakasu đuổi đi.
            Cuộc đấu tranh giữa Trịnh Hiếu Tế và La Chấn Ngọc nổ ra là quyết liệt nhất. Đây là cuộc chiến một mất một còn giữa hai tên oan gia vì vậy họ đều sử dụng sức mạnh toàn thân. La Chấn Ngọc lợi dụng thế lực của Kaeisumi và Amakasu phong tỏa Trịnh Hiếu Tế ngay cả khi ông ta vừa tới Đông Bắc, đó là hiệp đầu tiên của ông ta. Ông ta dựa vào công “nghinh lập” đầu tiên, tin rằng chỉ cần lũng đoạn được tôi trong tay, dùng tôi làm con bài đi đàm phán với Nhật Bản, nhất định có thể đạt tới mục đích đứng hàng đầu. Tuy nhiên trong đàm phán, mới mở đầu ông ta đã đòi phục tích đại Thanh. Phía Nhật Bản cảm thấy không thích ý kiến đó của ông ta. Cũng như tôi, ông ta không biết rằng cách làm của phục tích là không khớp với cách nói của người Nhật tuyên truyền “quần chúng nhân dân yêu cầu độc lập tự trị”. Khi đó trên quốc tế người Nhật hết sức bị cô lập, vẫn chưa thể đưa màn kịch bù nhìn lên ngay sân khấu. Vì vậy quân Quan Đông chưa vội vã quyết định phương án, tạm thời vẫn sử dụng cái gọi là “Bộ chỉ đạo tự trị”, “Hội duy trì”... để nắm giữ. La Chấn Ngọc cho rằng, Trịnh Hiếu Tế đã bị ông ta phong tỏa chặt, những người khác càng không có cách nào dựa gần cạnh tôi. Không thể thay tôi để nói chuyện với người Nhật, ông ta có thể sử dụng hoàn toàn địa vị một mình kinh doanh, đàng hoàng giao thiệp với người Nhật. Phục tích đại Thanh và cuộc giành giật lập nhà nước riêng bị gác lại chưa quyết định, tôi và Trịnh Hiếu Tế đến Lữ Thuận là việc bất ngờ đối với La Chấn Ngọc. Sự phong tỏa của ông ta đối với Trịnh Hiếu Tế không có hiệu quả. Phía quân Quan Đông mời Trịnh Hiếu Tế đi hội đàm. La Chấn Ngọc đã không biết quan hệ của Trịnh Hiếu Tế với Bộ tư lệnh quân đội Nhật ở Tokyo, cũng không ngờ rằng trước khi rời Thiên Tân, Trịnh Hiếu Tế đã làm quen với Kaeisumi. Cũng giống như năm tôi ra khỏi cung, quan hệ giữa La Chấn Ngọc và đại tá Nhật Bản Takemoto biến thành quan hệ của Trịnh Hiếu Tế, lần này Kaeisumi do La Chấn Ngọc mang tới cũng nhanh chóng biến thành bạn bè của Trịnh Hiếu Tế, thành cái cầu giữa Trịnh Hiếu Tế và quân Quan Đông. Cha con họ Trịnh đến Doanh Khẩu, Lữ Thuận, đã mấy lần tâm sự với Amakasu, quân Quan Đông do đó đã hiểu rõ cha cọn họ Trịnh “linh hoạt” hơn La Chấn Ngọc rất nhiều, không phải như La Chấn Ngọc: Không mũ mãng, triều phục, ba lần quỳ, chín lần lạy thì không đã cơn nghiện, vì vậy dùng cha con họ Trịnh làm đối thủ giao dịch. Sau khi Trịnh Hiếu Tế được lựa chọn, lần đầu tiên gặp Itagaki (ngày 28/1/1932 tại Lữ Thuận) nghe Itagaki muốn bảo tôi làm “Đại tổng thống nước cộng hòa Mãn - Mông”, lúc đầu rất ngạc nhiên, sau đó biết phía quân đội Nhật Bản quyết không cho tôi cái mũ hoàng đế, liền lập tức thay đổi ý định, do con trai là Trịnh Thùy ra mặt tìm phía quân đội bày tỏ: Nhật Bản nếu như cho rằng tôi gọi “đế quốc” không thích hợp với nhà nước mới này, chỉ cần đồng ý ông ta đứng đầu nội các tương lai này thì tất cả đều không thành vấn đề, ông ta có thể đảm nhiệm thuyết phục “hoàng đế Tuyên Thống” nhận cái xưng hiệu nguyên thủ khác. Nhân tiện nói thêm giành giật cái ghế hàng đầu này còn có nhiều người khác, không những chỉ có La Chấn Ngọc, còn có Trương Cảnh Huệ, Tang Thức Nghị, Hy Hiệp... Hy Hiệp mấy lần cử người đến đưa tiền cho tôi tổng cộng tới mười mấy vạn đồng, yêu cầu tôi trao cho ông ta chức “thủ tướng”. Trịnh Hiếu Tế tất nhiên rất lo lắng do đó đã vội vã cho con là Trịnh Thùy đi trình trước “giá cả” với Honjo Shigeru và Itagaki, vì vậy Trịnh Hiếu Tế liền trở thành người khách của quan tư lệnh quân Quan Đông. Như vậy đối thủ thứ nhất của quân Quan Đông từ La Chấn Ngọc, biến thành Trịnh Hiếu Tế.
            Tất nhiên, trong khi bị phong tỏa tôi không thể nhận rõ những bộ mặt thật đó. Tôi có thể thấy được là ở chỗ khác.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Những điều trông thấy và suy nghĩ 

 
            Sau khi đến Lữ Thuận, tôi cảm thấy rất lo lắng bàng hoàng, không chỉ vì bị phong tỏa, cách ly mà từ Kaeisumi và mấy người Nhật nghe thấy: vấn đề quốc thể của nhà nước, quân Quan Đông hầu như chưa quyết định.
            Đối với tôi điều đó càng chán nản hơn so với việc không có người đón tiếp ở bến cảng. Không có người tiếp đón còn có thể lấy lý do “chưa chuẩn bị kịp”; “vẫn chưa công bố” để giải thích. “Chưa quyết định thể chế quốc gia” là thế nào? Thể chế quốc gia đã chưa quyết định, Tại sao Doihara lại phải yêu cầu tôi đến Mãn Châu?”
            Trịnh Hiếu Tế và Kaeisumi giải thích với tôi: Doihara không nói vu vơ. Những lời: quân Quan Đông ủng hộ tôi khôi phục địa vị và chủ trì kế lớn hoàn toàn đúng. Song, đây là việc của Mãn Châu. Trước khi chưa thương lượng xong gọi là “chưa quyết định”.
            Khác với ở Thang Cương Tử tôi đã không còn dễ tin về những người này, song tôi không tìm ra được bất cứ ai để bàn bạc tình hình công việc. Đây còn là lần đầu tiên tôi xa rời các ông thầy dạy tôi. Trong tình hình không có thầy chỉ dẫn, tôi chỉ còn cách áp dụng biện pháp của Thương Diễn Doanh, tìm sự giúp đỡ của thần tiên để giải đáp vấn đề. Tôi lấy cuốn “Thuật đoán biết tương lai” mang từ Thiên Tân đến, lắc được bài “Kim tiền chấn khóa”. Còn nhớ lại tôi đã lắc được quẻ “Càn càn”, quẻ bói không xấu. Do đó, dưới sự chỉ dẫn khuyên bảo của Trịnh Hiếu Tế, La Chấn Ngọc và Gia Cát Lượng (58) tôi dằn lòng chờ đợi.
            Có một hôm, Kaeisumi đến hỏi tôi: Có quen Mã Chiếm Sơn hay không. Tôi nói, khi ở Thiên Tân, ông ta có đến Trương Viên, cũng coi là có quen. Kaeisumi nói: Itagaki mong tôi có thể viết một bức thư khuyên Mã Chiếm Sơn quy thuận. Tôi nói: Ở Thiên Tân, tôi đã viết một bức thư, nếu cần tôi có thể lại viết. Bức thư khuyên đầu hàng thứ hai này chưa dùng tới thì Mã Chiếm Sơn đã đầu hàng rồi. Tuy rằng bức thư của tôi chưa có tác dụng, song việc quân Quan Đông yêu cầu tôi viết thư mang lại sự an ủi đối với tôi. Trong lòng tôi tự giải thích: điều này rõ ràng là người Nhật bản thừa nhận uy tín của tôi, thừa nhận mảnh giang sơn này phải do tôi thống trị mới được. Tôi là ai, chẳng phải là hoàng đế đại Thanh hay sao?
            Nghĩ như vậy tôi hơi yên tâm.
            Đợi như thế 3 tháng, sau ngày kỷ niệm sinh nhật của tôi 19 tháng 2 năm 1932, bỗng nhiên có tin đồn: “Ủy ban hành chính Đông Bắc” vừa mới được khôi phục và thông qua một bản nghị quyết: sẽ xây dựng ở Mãn Chân một nước “cộng hòa”. Cái gọi là Ủy ban hành chính Đông Bắc được phục hồi ngày 18 tháng 2. Ủy ban này do: Trương Cảnh Huệ nguyên đại khu trưởng Cáp Nhĩ Tân đã đầu hàng, Tang Thức Nghi chủ tịch tỉnh Liêu Ninh (khi đó gọi là Phụng Thiên), Mã Chiếm Sơn, quyền chủ tịch Hắc Long Giang và Hy Hiệp được ủy ban này truy nhập là chủ tịch tỉnh Cát Lâm tổ chức ra. Trương Cảnh Huệ làm ủy viên trưởng. Ngày 19 tháng 2, dưới sự đạo diễn của Itagaki, ủy ban này thông qua nghị quyết đó, tiếp đó là công bố một bản Tuyên ngôn độc lập. Sau khi những tin này được truyền đến, ngoài cha con họ Trịnh, mọi người xung quanh tôi kể cả La Chấn Ngọc đều rất hoang mang, tức giận. Khi đó điều chứa chất trong lòng tôi không phải là nhân dân Đông Bắc chết bao nhiêu người, không phải là người Nhật dùng biện pháp nào thống trị mảnh đất thực dân này. Họ cần dùng bao nhiêu quân, cần khai mỏ gì... tôi đều không quan tâm. Điều tôi quan tâm nhất chỉ là phục tích, muốn họ phải thừa nhận tôi là hoàng đế. Nếu như không vì điều này, việc gì tôi phải từ nghìn dặm đến nơi này. Nếu như tôi không làm hoàng đế, sự tồn tại của tôi trên cõi đất này còn có ý nghĩa gì nữa? Ông già Trần Bảo Thám, mang cái thân hơn 80 tuổi chả còn sống được bao lâu khi đến Lữ Thuận đã nói đi nói lại với tôi: “nếu không phục tích với hệ chính thống thì ăn nói làm sao với tổ tiên thiêng liêng trên trời!”.
            Lòng tôi căm thù Doihara và Itagaki muốn chết. Hôm đó, một mình ở trong phòng khách của Túc Thân Vương, tôi đi đi lại lại như phát điên, hút hết điếu thuốc lá này lại đến điếu khác. Cuốn “Thuật dự đoán tương lai” bị tôi quăng trên thảm. Tôi bỗng nghĩ đến Tĩnh Viên của tôi, nghĩ đến nếu như tôi không trở thành Hoàng Đế, thì không bằng cuộc sống lưu vong dễ chịu của tôi trước kia vì ở đó tôi vẫn có thể bán một phần đồ trang sức, tranh vẽ, ra nước ngoài hưởng phúc. Nghĩ như vậy, tôi có chủ ý: tôi cần bày tỏ thái độ với quân Quan Đông. Nếu như không tiếp nhận yêu cầu của tôi, tôi liền quay về Thiên Tân. Tôi nói ý định này với La Chấn Ngọc và Trịnh Hiếu Tế họ đều không phản đối.
            La Chấn Ngọc đề nghị trước hết tôi gửi một chút tặng phẩm cho Itagaki. Tôi đồng ý, lấy mấy thứ trong những thứ quý giá tôi mang theo để ông ta đưa đi. Đúng lúc đó Itagaki gọi điện thoại đến mời La Chấn Ngọc và Trịnh Hiếu Tế đến hội đàm do đó tôi gọi Trần Tăng Thọ thay tôi viết một bản lý do phải là “hệ chính thống” (tức là một nhà nước độc lập, theo đế chế), giao cho họ đưa cho Itagaki, bảo họ phải kiên trì nói rõ thái độ của tôi với Itagaki.
            Trịnh Hiếu Tế biết rằng lần đi Thẩm Dương này là then chốt quyết định số phận của bản thân mình vì trước khi quân Quan Đông bảo ủy ban hành chính Đông Bắc thông qua “thể chế nhà nước” phải trước tiên sắp đặt vị trí “Khai quốc nguyên huân”. Do đó trước khi khởi hành ông ta ra sức bày tỏ sự phục tùng đối với tôi để tránh gây sự nghi ngờ của tôi đối với ông ta. Tuy nhiên, đợi đến khi mục đích của ông ta đã đạt được lúc từ Thẩm Dương trở lại, tình hình liền thay đổi. Ông ta khuyên tôi không nên tranh luận với quân Quan Đông, khuyên tôi chấp nhận chế độ công hòa, đứng ra “chấp chính”.  
            Chấp chính thế nào? Bảo tôi chấp chính nước cộng hòa ư? Tôi phản ứng.
            - Việc này đã quyết định. Thần tranh luận mãi với phía quân Quan Đông mà không có kết quả: Phía quân Quan Đông tỏ ý: chấp chính tức là nguyên thủ…
            Tôi mặc kệ ông ta quay hỏi La Chấn Ngọc: thế này là thế nào? La Chấn Ngọc nói: “Thần chỉ gặp Itagaki còn do Trịnh Hiếu Tế cùng Itagaki bàn”.
            Sau này Trần Tăng Thọ nói: Cha con Trịnh Hiếu Tế hoàn toàn không lấy ra bản 12 điều “Hệ chính thống” của tôi để trao cho Itagaki mà còn bảo đảm với Itagaki: “Việc của Hoàng thượng tôi hoàn toàn có thể đảm nhiệm”, “Hoàng thượng như trang giấy trắng, Bộ tư lệnh quân đội các ông muốn vẽ gì cũng được” v.v... Khi đó tôi vẫn chưa biết rõ việc này, chỉ cho rằng ông ta không biết làm việc, đều bị người Nhật lừa dối.
            - Các người thật vô tích sự! - tôi quát to - Tại sao các người không nói, nếu đòi hỏi của ta không đạt được, ta sẽ quay về Thiên Tân.
            - Hoàng thượng hãy xem xét kỹ thì hơn - Trịnh Hiếu Tế nói: - Phục tích phải dựa vào Nhật Bản, nay trái mắt họ, hy vọng rằng tương lai cũng mất, tương lai phục tích cũng không có hy vọng.
            Ông ta lại còn kể một số chuyện lịch sử khuyên tôi đáp ứng. Song những chuyện lịch sử đó tôi đã nghe từ lâu rồi...nói lại dù là Lưu Quý hay là Trung Nhĩ cũng đều không bỏ tôn hiệu quân chủ. Cuối cùng ông ta nói:
            - Buổi trưa Itagaki sẽ đến bệ kiến xin Hoàng thượng hãy nói với ông ta.
            - Cho hắn đến! - Tôi thở phì phò trả lời.
 
 
-----------------------------------------------------------------
(58) “Thuật đoán biết tương lai” là cuốn sách mê tín do Hồng Kông xuất bản, bịa ra là trước tác của Gia Cát Lượng.   
 
Đăng nhập để trả lời
0

Hội kiến Seishiro Itagaki

 
            Năm 1929, Seishiro Itagaki được điều đến làm tham mưu quân Quan Đông. Theo tố cáo của tòa án quân sự quốc tế Viễn Đông tháng 5 năm 1930 hắn nói với mọi người: đối với việc giải quyết “vấn đề Mãn Châu” hắn có “cách suy nghĩ rõ ràng” hắn cho rằng phải dùng vũ lực giải quyết vấn đề quan hệ Trung - Nhật. Ít nhất một năm trước sự biến “18 tháng 9” hắn chủ trương đuổi Trương Học Lương xây dựng một “nhà nước mới” ở Đông Bắc. Bản phán quyết viết: bắt đầu từ năm 1931, với địa vị đại tá tại bộ tham mưu quân Quan Đông, hắn tham gia âm mưu lúc đó dùng vũ lực chiếm Mãn Châu làm mục đích trực tiếp. Hắn tiến hành kích động ủng hộ mục tiêu này, hỗ trợ việc kiếm cớ gây ra cái gọi là “sự biến Mãn Châu”. Hắn áp chế một số ý đồ muốn ngăn ngừa hành động quân sự này. Sau đó, trong phong trào cổ động “Mãn Châu độc lập” cũng như trong âm mưu thành lập “nước Mãn Châu” bù nhìn hắn đều gánh nhiệm vụ chủ yếu.
            Năm 1934, hắn đảm nhiệm phó tham mưu quân Quan Đông; sau sự biến “mùng 7 tháng 7” là sư đoàn trưởng. Năm 1938 làm bộ trưởng lục quân. Năm 1939 làm tham mưu trưởng quân đội Nhật ở Trung Quốc, sau đó dã làm tư lệnh ở Triều Tiên; tư lệnh phương diện quân thứ 7 đóng ở Singapore. Trong các sự kiện quan trọng: lập ngụy quyền ở Hoa Bắc, Nội Mông; tiến công nội địa Trung Quốc; lập ngụy quyền Uông Tinh Vệ, phát động cuộc tấn công quân đội Liên Xô ở hồ Khasan... hắn đều đóng vai trò chủ yếu.
            Chiều 23 tháng 2, tôi hội kiến Itagaki do sĩ quan phiên dịch của quân Quan Đông Nahashima làm phiên dịch. Itagaki vóc người nhỏ bé, đầu hói, bộ mặt trắng xanh cạo rất nhẵn, lông mày và bộ râu nhỏ đen nhánh. Trong các sĩ quan quân đội Nhật Bản mà tôi đã gặp trang phục của hắn chỉnh tề và sạch sẽ nhất, túi áo thò ra mùi soa trắng muốt, ống quần là thẳng tắp, thêm vào động tác thói quen xoa tay nhè nhẹ gây cho tôi một ấn tượng văn nhã nhuần nhị. Trước hết Itagaki biếu tôi tặng phẩm bày tỏ sự cảm ơn. Sau đó nói rõ: hắn vâng lệnh quan tư lệnh quân Quan Đông Honjo Shigeru báo cáo với tôi về vấn đề “xây dựng nhà nước Mãn Châu mới”.
            Hắn thong thả nói nào là “chính quyền họ Trương không được lòng người, quyền lợi của Nhật Bản ở Mãn Châu hoàn toàn không được đảm bảo”, nhấn mạnh về “tính chất chính nghĩa” trong hành động của quân Nhật, “chân thành giúp đỡ nhân dân Mãn Châu xây dựng Vương đạo lạc thổ”. Nghe hắn nói, tôi không ngừng gật đầu, trong bụng hy vọng hắn nhanh chóng nói ra đáp án mà tôi quan tâm. Thật không dễ đàng, hắn cuối cùng mới vào đề chính: “Tên gọi của nhà nước mới là “nước Mãn Châu” quốc đô đặt ở Trường Xuân, vì vậy Trường Xuân đổi tên thành Tân Kinh. Nhà nước này do năm dân tộc chủ yếu tổ chức nên, tức: dân tộc Mãn, dân tộc Hán, dân tộc Mông Cổ, dân tộc Nhật Bản và dân tộc Triều Tiên. Người Nhật Bản đã tốn mười thấy năm tâm huyết, địa vị luật pháp và địa vị chính trị tự nhiên cũng giống như các dân tộc khác, cũng có thể làm quan lại nhà nước mới này...”
            Không đợi Nahashima dịch xong, hắn lấy từ cập da ra bản “Tuyên ngôn của nhân dân Mông Mãn” cũng như quốc kỳ lấy nước Mãn Châu năm màu đặt trên bàn sa lông trước mặt tôi. Tôi giận như muốn vỡ lồng ngực. Tay tôi run rẩy gạt những thứ đó hỏi:
            - Đây là nhà nước nào? Chẳng lẽ đó là đế quốc đại Thanh sao?
            Giọng tôi lạc đi. Itagaki vẫn từ tốn như thường trả lời: “Tất nhiên, đây không phải là phục tích đế quốc đại Thanh, đây là một nước mới. Ủy ban hành chính Đông Bắc thông qua nghị quyết nhất trí cử Ngài làm nguyên thủ nhà nước này, tức là “chấp chính”.
            Nghe từ miệng Itagaki thốt ra lời “ngài” tôi cùng thấy máu trong người dồn lên mặt. Đây là lần đầu tiên nghe người Nhật bản gọi tôi như thế. “Hoàng đế Tuyên Thống” hoặc “Hoàng đế bệ hạ”. Vốn xưng hô đã bị họ thủ tiêu rồi. Điều đó làm sao chấp nhận được? Trong lòng tôi, đất đai 2 vạn dặm vuông Đông Bắc và 30 triệu nhân dân đều không thể ngăn chặn một tiếng “bệ hạ”. Tôi xúc động hầu như ngồi không vững lớn tiếng nói:
            - Danh không chính thì nói không thuận, nói không thuận thì việc không thành! Lòng người Mãn Châu hướng về không phải là cá nhân tôi mà là hoàng đế đại Thanh. Nếu như thủ tiêu cương vị này, lòng người Mãn Châu ắt mất. Vấn đề này xin quân Quan Đông xem xét lại.
            Itagaki xoa tay nhè nhẹ tươi cười nói:
            - Nhân dân Mãn Châu cử ngài làm nguyên thủ nhà nước mới, đó tức là lòng người quay về, cũng là điều mà quân Quan Đông đồng ý.
            - Tuy nhiên, Nhật Bản cũng là đế quốc của chế độ Thiên hoàng, tại sao quân Quan Đông lại đồng ý lập chế độ cộng hòa?
            - Nếu như ngài cho rằng chế độ cộng hòa không thỏa đáng, sẽ không dùng từ này. Đây không phải là chế độ cộng hòa, là chế độ chấp chính.
            - Tôi rất cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt thành của quý quốc, song điều khác có thể nói, duy có chế độ chấp chính thì không thể tiếp thu. Xưng vị hoàng đế do tổ tiên tôi để lại. Nếu tôi thủ tiêu nó, tức là bất trung, bất hiếu.
            - Gọi là chấp chính, chẳng qua là quá độ mà thôi.
            Itagaki tỏ ý hoàn toàn đồng tình “hoàng đế Tuyên Thống là hoàng đế bệ hạ thứ 12 của đại Thanh đế quốc, đó là điều rất rõ ràng. Trong tương lai, sau khi thành lập quốc hội, tôi tin rằng nhất định sẽ thông qua hiến pháp khôi phục đế chế. Vì vậy việc chấp chính hiện nay chẳng qua là biện pháp của thời kỳ quá độ thôi”.
            Nghe đến hai từ “quốc hội” tôi như bị lửa đốt vội lắc đầu nói: “Quốc hội không tốt. Hoàng đế đại Thanh mới đầu cũng không phải do quốc hội phong”.
            Chúng tôi tranh cãi mãi, nói chung là không nhất trí được. Thái độ Itagaki bình tĩnh, nhẹ nhàng, không hề nóng nảy, bộ mặt tái xanh vẫn tươi tỉnh, hai bàn tay xoa đi xoa lại. Tôi kiên trì nhắc đi nhắc lại 12 điều lý lẽ không thể không phải hệ chính thống, không thể bỏ qua địa vị hoàng đế. Chúng tôi hội đàm hơn 3 giờ đồng hồ, cuối cùng, Itagaki sắp xếp lại cặp da của hắn, tỏ ý không muốn bàn nữa. Giọng nói của hắn không thay đổi, song mặt càng tái xanh hơn, vẻ tươi cười cũng không còn nữa, có lúc từ Tuyên Thống hoàng đế xưng hô trên miệng lại thành ngài: “Ngài hãy xem xét lại thêm, ngày mai lại bàn”. Hắn lạnh lùng nói xong liền cáo từ.
            Tối hôm đó, căn cứ ý kiến của cha con Trịnh Hiếu Tế và Kaeisumi, tôi tổ chức một bữa tiệc mời Itagaki tại khách sạn Đại Hòa, theo họ nói, đây là để gây cảm tình.
            Tại buổi tiệc, tâm tư của tôi rất phức tạp. Tôi sở dĩ dám cự tuyệt danh nghĩa chấp chính, ít nhiều đo chịu ảnh hưởng của một số người như Trần Tăng Thọ, Hồ Từ Viện vì cho rằng người Nhật làm cho tình hình Đông Bắc hiện nay như thể không có tôi đứng ra không thu xếp được. Vì vậy chỉ cần tôi kiên trì một chút người Nhật sẽ có thể nhượng bộ. Tuy nhiên, sau khi tôi cự tuyệt Itagaki, Trịnh Hiếu Tế liền nhắc tôi: Dù thế nào cũng không thể làm tổn thương đến cảm tình của phía quân đội Nhật Bản, tổn thương cảm tình nhất định không hay gì. Sự sụp đổ của Trương Tác Lâm là một tấm gương. Vừa nghe câu nói đó, tôi lại sợ hãi. Tôi vốn cho rằng, Trương Tác Lâm xuất thân thổ phỉ không thể so sánh với “giống rồng”, “khác với người thường” như tôi. Hiện nay tôi thấy rõ, người Nhật không đối xử với tôi như “giống rồng”. Vì vậy tôi luôn luôn chú ý bộ mặt tái xanh của Itagaki. Bộ mặt này là bộ mặt không có xuân, hạ, thu, đông. Hắn uống rượu từng ngụm lớn, bất cứ ai chúc rượu đều tỏ ra rất hào hiệp, miệng không hề nói gì đến cuộc tranh luận ban ngày, hầu như hoàn toàn không hề xảy ra chuyện gì như thế. Tối hôm đó, hầu như đã thỏa thuận với nhau, ngồi trên bàn tiệc, ngoài phong hoa, tuyết nguyệt, chuốc rượu, ăn uống không có ai nói chuyện gì khác, cho đến 10 giờ tối kết thúc bữa tiệc tôi vẫn không thấy được sự thay đổi thời tiết trên nét mặt của Itagaki.
            Tuy nhiên tôi chẳng cẩn phải tốn thì giờ thăm dò, sáng sớm hôm sau, Trịnh Hiếu Tế, La Chấn Ngọc, Vạn Thăng Thức va Trịnh Thùy đều được Itagaki gọi đến khách sạn Đại Hòa bảo họ truyền đạt “thời tiết” của hắn cho tôi.
            - Yêu cầu của Bộ tư lệnh quân đội không thể có sự thay đổi. Nếu không tiếp thu, chỉ có thể coi là thái độ chống đối, sẽ dùng thủ đoạn đối xử với kẻ thù để trả lời. Đây là những lời cuối cùng của Bộ tư lệnh quân đội.
            Nghe câu trả lời đó, tôi sững người. Chân tôi nhũn ra ngã trên ghế sa lông, hồi lâu không nói ra lời.
            La Chấn Ngọc cúi đầu hết hồn không nói một lời, Vạn Thăng Thức kinh hoàng lo lắng đứng một bên, những người khác đều không nói gì. Yên lặng một lúc, chỉ nghe thấy Trịnh Hiếu Tế nói: “Từ lâu thần đã nói, không thể xúc phạm cảm tình của Nhật Bản... song hiện nay vẫn còn kịp, thần đã ra sức đảm bảo trước Itagaki là hoàng thượng ắt sẽ nghe theo”.
            Mọi người im lặng.
            - Không vào hang hổ làm sao bắt được hổ con?
            Trịnh Thùy mặt mày rạng rỡ bước tới nói:
            - Biết tùy thời là người tuấn kiệt. Người Nhật đang thử lòng vua tôi chúng ta, không thể quyết liệt với họ được, chi bằng hãy tương kế tựu kế, bằng cách tùy nghi để đạt tới việc lớn sau này.
            Tối hôm trước, tại bữa tiệc, Trịnh Thùy là một trong những người hoạt bát nhất, y cùng Itagaki cạn chén liên tục, sau buổi tiệc còn kéo Itagaki uống rượu. Hôm nay, hắn nói một cách thao thao bất tuyệt về luận thuyết tương kế tựu kế, tuỳ nghi, tôi không liên hệ với động thái của y tối hôm trước thì lấy làm lạ, cha con y trước khi đi Thẩm Dương còn nói: không phục tích đại Thanh không được, sao nay lại thay đổi nhanh chóng như vậy?
            Thấy tôi không nói gì, Trịnh Hiếu Tế lại chuyển sang giọng xúc động nói: “Người Nhật Bản nói là làm, trước mắt không thể nhượng bộ, huống hồ người Nhật vốn có ý tốt, để hoàng thượng làm nguyên thủ, như vậy cũng như làm hoàng đế. Thần hầu hạ hoàng thượng ngần ấy năm há chẳng vì hôm nay sao? Nếu như quyết định không nhận, thần chỉ còn thu xếp khăn gói về nhà”. Nghe ông ta nói tôi đâm hoảng. Con ông ta lại nói: “Hiện nay đáp ứng quân đội Nhật Bản, tương lai xây dựng thực lực không lo không có cách làm theo cách nghĩ của mình”. Lúc đó, La Chấn Ngọc chán nản nói: “Việc đã như vậy, hối cũng không kịp, chỉ có tạm thời định kỳ hạn một năm, nêu như quá hạn vẫn không thực hành thì đế chế khi đó sẽ thoái vị, coi đó là điều kiện Itagaki sẽ nói như thế nào?”
            Tôi không còn cách gì, thở dài bảo Trịnh Hiếu Tế đi nói với Itagaki xem sao.
            Không bao lâu, Trịnh Hiếu Tế hớn hở trở về nói rằng Itagaki đã đồng ý và tối nay sẽ tổ chức một bữa tiệc nhỏ mừng việc “chấp chính” sắp ra đời. 
            Tôi ở vào tình thế một mặt chẳng có thế lực gì, mặt khác vẫn ảo tưởng “phục tích lên ngôi” trong tương lai, công khai bước vào con đường xấu xa nhục nhã, xác định thân phận tên Hán gian đầu sỏ, làm cái khố cho bọn thống trị đẫm máu. Dưới mảnh vải che đó bắt đầu từ ngày 23 tháng 2 năm 1932, Đông Bắc của Tổ quốc hoàn toàn biến thành đất thực dân: 30 triệu đồng bào bắt đầu cuộc sông khổ nạn đầy máu và nước mắt. Đồng thời tôi cũng làm cho bọn Honjo Shigeru, Itagaki tăng thêm lòng tin, định được cơ sở “thăng quan tiến chức” của chúng.
            Trong nhật ký Trịnh Hiếu Tế đã ghi như sau về giờ phút then chốt số phận của bọn Honjo Shigeru, Itagakia:
            “Hoàng thượng đã quyết, Vạn Thăng Thức vâng lệnh đi mời, Itagaki đồng ý đổi bốn chữ “Tạm thời duy trì”. Itagaki rất vui mừng ra về. Hôm trước Honjo Shigeru hai lần gọi điện thoại hỏi tình hình... Việc này không thành thì Honjo và Itagaki sẽ phải từ chức, mà chính sách của lục quân Nhật Bản sẽ thất bại”.
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG VI
MƯỜI BỐN NĂM NGỤY MÃN
 
Tấn kịch bù nhìn mở màn  

            Trong bữa tiệc của Itagaki, tư tưởng của tôi rối bời và có mâu thuẫn. Tôi không biết nên vui mừng hay lo buồn về số phận của mình. Tối hôm đó, Itagaki gọi đến một đám đông kỹ nữ Nhật Bản, cho mỗi người dự tiệc có một cô dâng rượu mua vui. Bản thân hắn, tay nắm tay ôm, mất sạch vẻ nghiêm trang văn nhã, lúc nâng chén nốc rượu, lúc cười ha hả, hoàn toàn không che dấu tâm trạng đắc ý. Mới đầu, khi còn tỉnh táo hắn hết sức cung kính chúc rượu tôi với vẻ mặt tươi cười, chúc tôi “tiền đồ thuận lợi; đạt tới ý nguyện”. Lúc đó tôi cảm thấy hầu như có thể vui mừng một chút, về sau cùng với tửu lượng tăng lên, mặt hắn ngày càng tái xanh, tình hình liền thay đổi. Một kỹ nữ Nhật Bản nói tiếng Trung Quốc giọng the thé hỏi tôi một câu: “Ông có phải nhà buôn không?”. Itagaki nghe thấy bỗng cười lớn. Lúc đó tôi lại nghĩ, thực ra tôi chẳng có gì đáng vui mừng cả.
            Tâm tư vui buồn lẫn lộn, tiền đồ mờ mịt, của tôi kéo dài cho đến khi Hồ Từ Viện, Trần Tăng Thọ quay về bên cạnh. Mấy ông già này được quân Quan Đông cho phép có thể trở về cạnh tôi đều rất vui mừng. Sự vui mừng này thật ra là do vua tôi lại họp mặt chứ không phải ham muốn quan tước bổng lộc. Một mặt họ tỏ ra buồn bực vì tôi hạ mình chấp chính, mặt khác họ kể với tôi về những chuyện lịch sử chứng minh các vua dựng cơ nghiệp ai cũng phải tạm lánh mình để tìm chỗ dựa cần thiết. Có những lời chỉ dẫn đó lại thêm Thương Diễn Doanh mang tới cuốn “Lão tổ giáng đàn huấn giới” tâm tư của tôi dần dần ổn định. Ngày 26 tháng 2, tôi ra lệnh cho những người hầu chuẩn bị hương án để tôi tế tổ tiên.
            Một ngày cuối tháng hai, với sự đạo diễn của quân Quan Đông, cái gọi là “Hội nghị toàn Mãn Châu” thông qua nghị quyết, tuyên bố Đông Bắc độc lập, cử tôi ra làm “chấp chính nhà nước”. Kaeisumi và Trịnh Hiếu Tế nói với tôi: các “đại biểu” của hội nghị này sẽ đến Lữ Thuận xin ý kiến tôi, trước hết phải chuẩn bị lời đáp. Lời đáp cần chuẩn bị hai bản, bản thứ nhất tỏ ý cự tuyệt. Đợi các “đại biểu” tha thiết thỉnh cầu lần thứ hai, sẽ lập ra bản thứ hai tỏ ý tiếp nhận. Ngày mùng 1 tháng 3, Trương Yến Khanh, Tạ Giới Thạch và 7 người khác đến Lữ Thuận.
            Trịnh Hiếu Tế thay mặt tôi tiếp, lấy ra lời đáp thứ nhất tỏ ý cự tuyệt. Sau đó tôi tiếp kiến. Hai bên nói một hồi, toàn là những lời được người khác căn dặn trước chẳng qua là một bên “khẩn thiết thỉnh cầu”, một bên “từ chối khéo”. Thời gian không quá hai mươi phút, hai bên rút lui. Ngày 5 tháng 3, theo kể hoạch của quân  Quan Đông, số “đại biểu” lên tới 29 người, lần thứ hai đến “khẩn thiết thỉnh cầu”. Lần này các “đại biểu” hoàn thành nhiệm vụ. Đoạn cuối lời đáp của tôi như sau:
            “Vì trọng trách đại nghĩa, há dám thản nhiên, cứ tĩnh toàn mãi, lại trái với nguyện vọng của quần chúng... cố gắng tạm giữ chấp chính một năm, sau một năm, thành lập hiến pháp, thể chế quốc gia ổn định, nếu chí hướng cùng hợp, sẽ lại xem xét...”. 
            Diễn xong màn kịch này, ngày hôm sau tôi và Uyển Dung cùng Trịnh Hiếu Tế và những người khác quay về Thang Cương Tử. Trương Cảnh Huệ, Triệu Hãn Bá cùng một số người đã đợi ở đấy từ lâu tỏ ý “đến mừng”. Chúng tôi nghỉ ở đó một đêm, hôm sau cùng đi Trường Xuân.
            3 giờ chiều ngày mùng 8 tháng ba, xe lửa đến ga Trường Xuân. Xe chưa dừng bánh đã nghe thấy quân nhạc và tiếng hoan hô trên sân ga. Tôi được Trương Cảnh Huệ, Hy Hiệp, Cam Bách, Kaeisumi đỡ xuống sân ga, nhìn thấy khắp nơi là đội hiến binh Nhật bản và các đội ngũ sắc phục khác nhau. Trong các đội ngũ đó, có áo thụng áo chẽn, có âu phục và y phục Nhật Bản, người nào trong tay cũng có một lá cờ nhỏ, tôi không nén được xúc động, trong bụng nghĩ đến cảnh không diễn ra ở cảng Doanh Khẩu ngày nay cuối cùng đã diễn ra. Tôi đi qua trước các đội ngũ đó, bỗng nhiên Hy Hiệp chỉ cho tôi nhìn một đội cờ rồng vàng kẹp giữa những cờ mặt trời và nói: “Đây đều là người dân tộc, họ đợi Hoàng thượng đã hai mươi năm”, nghe câu nói đó, tôi không cầm được nước mắt, cũng cảm thấy tôi rất có hy vọng.
            Ngồi trên xe ô tô, đầu óc tôi chỉ nhớ lại Tử Cấm Thành của tôi, nhớ lại tình hình năm tôi bị quân Quốc dân của Phùng Ngọc Tường đuổi khỏi kinh thành, cũng nghĩ đến “sự kiện Đông Lăng” và lời thề tôi đã thốt ra. Lòng tôi lại bị hận thù và dục vọng nung đốt, hoàn toàn không chú ý gì tới cảnh sắc đường phố Trường Xuân như thế nào. Nhân dân thành phố cùng một nỗi hận thù làm cho họ trầm lặng đã nhìn tôi bằng con mắt như thế nào. Thời gian không lâu, xe chạy vào một khu nhà cổ cũ: Đó là “Phủ chấp chính” của tôi.
            Căn nhà này là nhà quan Đạo doãn trước đây tại Trường Xuân không phải là nơi rộng nhất mà đã cũ nát, nghe nói do thời gian cấp bách chỉ có thể tạm thời đến đây. Ngày hôm sau, trong một gian phòng lớn được sắp xếp vội vàng đã cử hành nghi lễ nhận chức của tôi. Các nhân vật quan trọng: Tổng giám đốc “sắt thép Mãn Châu” của Nhật Bản ở Đông bắc Uchida, Tư lệnh quân Quan Đông Honjo Shigeru, Tham mưu trưởng quân Quan Đông Santaku Hikariji, tham mưu Kaeisumi... đều tới. Các cựu thần tham gia nghi lễ, ngoài những Trịnh, La, Hồ, Trần... còn có Quý Phúc, vương công Mông Cổ và con ông là Lăng Thăng; vương công Mông Cổ Tề Mặc Đắc v.v... Ngoài ra, còn có các nhân vật Phụng Thiên cũ: Trương Cảnh Phúc, Tang Thức Nghị, Hy Hiệp, Trương Hải Bằng, Lâm Đình Thám, luật sư tại Thiên Tân đã từng giúp tôi trong vụ án ly hôn, Kim Trác, người đã từng làm tham mưu cho Trương Tôn Xương khi đó cũng đến làm võ quan tuỳ tùng cho tôi.
            Hôm đó tôi mặc âu phục đại lễ, cử hành lễ vái. Dưới sự chứng kiến của các nhân vật Nhật Bản quan trọng, các “nguyên luân” vái tới ba vái, tôi đáp lễ một vái. Tang Thức Nghị và Trương Cảnh Huệ thay mặt “dân chúng Mãn Châu” dâng “ấn chấp chính” bọc trong lụa vàng. Trịnh Hiếu Tế thay tôi đọc tuyên ngôn chấp chính”. Tuyên ngôn viết:
            “Nhân loại vốn trọng đạo đức, do có phân biệt chủng tộc, áp bức người, đề cao mình, mà đạo đức suy đồi. Nhân loại vốn trọng nhân ái, do có giành giật quốc tế, hại người lợi mình mà nhân ái suy đồi. Nay ta lập nước, lấy đạo đức nhân ái làm chính, gạt bỏ phân biệt chủng tộc, giành giật quốc tế, vương đạo thực hành khắp đất nước có thể thấy sự thật... Phàm là người dân nước mong hãy cố gắng sức.”
            Nghi lễ xong, khi tiếp kiến khách nước ngoài, Uchida đọc “lời chúc mừng”. La Chấn Ngọc thay tôi đọc “lời đáp”. Sau đó ra vườn kéo cờ chụp ảnh, cuối cùng cử hành tiệc chúc mừng.
            Chiều hôm đó, tại “văn phòng chấp chính” Trịnh Hiếu Tế trình một “việc công”: “... Quan tư lệnh Honjo Shigeru đã cử thần ra nhận nhiệm vụ thủ tướng quốc vụ, tổ chức nội các”. Ông ta khom mình, giọng mềm mỏng: “Đây là bản đặc nhiệm và danh sách các bộ trưởng xin ký ngự danh”.
            Đây vốn là việc người Nhật Bản Amakasu đã nói vời tôi ở Lữ Thuận. Tôi lặng lẽ  cầm bút làm một việc công đầu tiên sau khi nhận chức.
            Tôi ra khỏi văn phòng gặp Hồ Từ Viện và Trần Tăng Thọ. Nét mặt hai ông già đều buồn rầu vì biết rằng trong danh sách các quan đặc nhiệm hoàn toàn không có tên họ. Tôi nói với họ: Tôi muốn họ ở bên tôi, để Hồ Từ Viện làm chánh văn phòng của tôi. Trần Tăng Thọ làm thư ký. Hồ Từ Viện thở dài tạ ơn. Trần Tăng Thọ nói nhà ông ta ở Thiên Tân có việc, xin tôi cho phép được trở về.
            Ngày hôm sau, La Chấn Ngọc tới, chức quan mà ông ta được phong là một vị “tham nghị”. Ông ta đến để “từ chức quan không vui lòng ấy”. Tôi tỏ ý giữ lại, ông ta nói: “Hoàng thượng buộc phải chấp chính. Đáng lẽ vua nhục, bề tôi phải chết, thần muôn vàn không thể nhận chức tham nghị”. Sau đó ông ta nhận một nhiệm kỳ “Viện trưởng Viện giám sát” rồi quay về Đại Liên tiếp tục bán đồ cổ giả của ông ta cho tới khi chết.
            Tuy nhiên tư tưởng của tôi lại khác họ. Cờ rồng và quân nhạc ở ga Trường Xuân, nghi thức lễ nhận chức cũng như những lời chúc tụng khi tiếp khách nước ngoài đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc. Khiến tôi không nén được có chút hưng phấn. Mặt khác, tôi đã công khai lộ mặt, lên đài, không còn đường rút. Dù cho Itagaki hôm nay nói với tôi: ngài không làm thì tuỳ ngài, tôi cũng không thể đảo ngược được. Đã như thế, tôi chỉ còn “khuất thân phục tùng” đến cùng. Lại nói, nếu như ứng phó được với người Nhật cũng có thể họ ủng hộ tôi khôi phục tôn hiệu hoàng đế. Hiện nay tôi đã là nguyên thủ một nước, sau này có vốn liếng, càng có thể thương lượng với người Nhật. Do tôi chỉ nghĩ về phía hài lòng do đó không những không còn cảm thấy làm “chấp chính” là việc chịu khuất phục mà còn coi việc “chấp chính” thành bậc thang để tới “ngai vàng hoàng đế”.
            Tôi tự an ủi như thế và bị tư tưởng chứa chan ảo tưởng chi phối, làm sao lợi dụng “cái thang” đó, bước lên, “ngai vàng” một cách thuận lợi đã trở thành vấn đề trung tâm mà tôi suy tính. Sau mấy ngày suy nghĩ, một buổi tối, tôi nói với Trần Tăng Thọ và Hồ Từ Viện kết quả sự suy tính của tôi.
            - Hiện nay, tôi có ba điều thề nguyền nói với các ông: thứ nhất tôi sẽ sửa đổi một số khuyết điểm trước đây, hơn 10 năm trước Trần Bảo Thám đã nói tôi lười biếng khinh bạc, tôi thề từ nay không bao giờ tái phạm. Thứ hai, tôi sẽ chịu đựng mọi gian khổ, hết lòng gắng sức thề khôi phục sự nghiệp của tổ tiên, dù khó khăn gian khổ cũng không nản chí, chưa đạt được mục đích chưa thôi. Ba là: cầu trời cho một hoàng tử để thừa kế cơ nghiệp đại Thanh. Thực hiện được ba điều này, tôi chết cũng nhắm mắt.
            Khoảng một tháng sau khi tiến hành nghi lễ, “Phủ chấp chính” chuyển đến nơi mới được sửa chữa, vốn là nhà của Cục Vận tải Cát Lâm - Hắc Long Giang trước kia.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Tôn nghiêm và chức quyền

 
            Trong “Luật tổ chức nước Mãn Châu, chương thứ nhất “chấp chính” có 13 điều, điều này cũng quy định uy quyền của tôi. Điều thứ nhất là “chấp chính thống trị nước Mãn Châu”, điều thứ hai đến điều thứ tư quy định do tôi “điều khiển quyền lập pháp”, “chấp hành quyền hành chính”, “chấp hành quyền tư pháp”, các điều dưới đó quy định do tôi “công bố những huấn lệnh khẩn cấp có hiệu lực cùng với pháp luật” , “định ra quan chế, bổ nhiệm quan lại”, “thống soái hải, lục, không quân”, cũng như nắm quyền “đặc xá, đại xá, giảm hình phạt và khôi phục quyền công dân”. v.v...
            Trên thực tế ngay quyền tôi tự quyết định đi ra khỏi cửa cũng không có.
            Một hôm, tôi bỗng nhiên muốn đi ra bên ngoài dạo chơi cùng Uyển Dung và hai em gái đến “công viên Đại Đồng” tên đặt theo niên hiệu của tôi. Không ngờ vào công viên không lâu xe ô tô của đội hiến binh Nhật Bản và “Phòng cảnh bị Phủ chấp chính” liền đuổi tới mời tôi quay về. Thì ra, họ phát hiện không thấy tôi trong Phủ chấp chính liền báo cáo với Bộ tư lệnh hiến binh Nhật Bản. Bộ tư lệnh hiến binh liền huy động rất nhiều quân cảnh đi tìm ở khắp nơi, làm chấn động cả thành phố. Sau việc này viên cố vấn Phủ chấp chính Kaeisumi nói với tôi: vì an toàn và tôn nghiêm của tôi, từ nay về sau tôi không nên tự mình đi ra ngoài. Từ đó, ngoài sự sắp đặt của quân Quan Đông, tôi không ra ngoài lần nào.
            Khi tôi được khuyên quay về nghe người Nhật Bản giải thích: đây đều là vì sự an toàn và tôn nghiêm của tôi, tôi cảm thấy cũng có lý. Song phải đến sau một số ngày làm việc ở lầu Cần Dân tôi mới nghi ngờ về sự an toàn và tôn nghiêm đối với bản thân mình.
            Từ sau khi đưa ra lời thề nguyền, mỗi buổi sáng tôi đến lầu Cần Dân làm việc đúng giờ. Nhìn bề ngoài, tôi thật bận rộn, từ sáng đến tối luôn có người xin gặp. Trong những người xin gặp ngoài số ít bề tôi cũ hoặc người họ tôn thất Giác La đến thăm hỏi, đa số là các nhân vật chức sắc đương nhiệm như bộ trưởng các bộ tham nghị cấp đặc nhiệm... Những người đó gặp tôi đều bày tỏ lòng trung thành, hiến dâng cống vật, song không bàn việc công với tôi. Mỗi lần tôi hỏi về “việc công” họ nếu không trả lời “thứ trưởng đang làm” thì là “việc này còn phải hỏi thứ trưởng”. Thứ trưởng là người Nhật Bản, họ không tìm đến tôi.
            Hồ Từ Viện mới đầu tỏ ý căm tức. Ông ta nêu ra với Trịnh Hiếu Tế: chủ quyền các bộ phải trong tay Bộ trưởng. Việc quan trọng cần do chấp chính đưa ra quyết định trước, sau đó các bộ mới làm. Không thể thứ trưởng nói thế nào là thế nấy, Trịnh Hiếu Tế trả lời: “Chúng ta thực hành chế độ nội các trách nhiệm, công việc hành chính cần do “Hội nghị quốc vụ” quyết định. Nội các trách nhiệm chịu trách nhiệm chấp chính; nội các trách nhiệm mỗi tuần do thủ tướng báo cáo một lần những vấn kiện mà hội nghị thông qua, xin chấp chính quyết định. Ở Nhật Bản là như thế, “còn như vấn đề bộ trưởng cần có chủ quyền, ông ta cùng đồng cảm, ông ta nói: việc này đang chuẩn bị nêu ra với Bộ Tư lệnh quân Quan Đông để giải quyết. Thì ra quan hệ giữa ông thủ tướng này với chánh văn phòng thủ tướng cũng đang có vấn đề.
            Tôi không biết Trịnh Hiếu Tế sau đó nói như thế nào với quân Quan Đông. Song sau đó Hồ Từ Viện nói với tôi về tình hình một lần hội nghị quốc vụ khiến tôi hiểu rõ cái gọi là “chế độ nội các trách nhiệm” là cái gì và quan hệ Bộ trưởng và Thứ trưởng là thế nào.
            Đây là một hội nghị quốc vụ bàn vấn đề tiêu chuẩn tiền lương của các quan lại. Cũng như trước, nghị án do Văn phòng thủ tướng chuẩn bị trước, in gửi Bộ trưởng các bộ. Đối với mấy nghị án trước như tiếp quản tài sản của Chính phủ Đông Bắc trước, cung cấp lương thực cho quân đội Nhật Bản, tịch thu bốn ngân hàng lớn ở Đông Bắc để thành lập ngân hàng trung ương .v.v. đều không tốn chút công sức nào để tán thành. Tuy nhiên, nghị án lần này quan hệ trực tiếp đến quyền lợi của bản thân mình do đó không lơ mơ được. Các bộ trưởng nghiên cứu kỹ nghị án, lập tức thảo luận sôi nổi, tỏ ý bất mãn. Nguyên do là bản thân dự thảo pháp lệnh quy định tiền lương “quan lại Nhật Bản” và “hệ Mãn Châu” khác nhau. Người Nhật cao hơn người Mãn khoảng 40%. Bộ trưởng Tài chính Hy Hiệp không nhịn được, phát biểu ý kiến đầu tiên nói “nghị án này thật không ra sao cả”. Chúng ta đã làm nhà nước phức hợp dân tộc, các dân tộc nhất loạt bình đẳng, tại sao người Nhật Bản đòi được đãi ngộ đặc biệt. Nếu như nói là quốc dân  nhà nước thân thiện thì nên tỏ ý thân thiện, tại sao lại đặc biệt nhận lương cao? Bộ trưởng thương nghiệp Trương Hy Khanh cùng nói: Nhật Mãn thân thiện, đồng tâm đồng đức, có phúc cùng hưởng, có khó khăn cùng gánh vác. Nếu như đãi ngộ khác nhau, e rằng không phải ý kiến của quân tư lệnh Honjo.
            Các bộ trưởng khác như Bộ Trưởng Giao thông Định Kiều Tu và những người khác cùng tới tấp bày tỏ hy vọng tôn trọng lẫn nhau không bên trọng bên khinh. Chánh văn phòng tổng vụ không cho các bộ trưởng phát biểu nữa, yêu cầu người dự thảo là Komai Tokuzo, giải thích. Tokuzo bình tĩnh đưa ra một lô đạo lý đại thể là: muốn bình đẳng trước hết phải xem năng lực có bình đẳng hay không? Năng lực người Nhật lớn đương nhiên tiền lương phải cao, mà mức sống của người Nhật cao, sinh ra ăn gạo trắng, không như người “Mãn” ăn cao lương cũng sống được. Hắn còn nói: muốn nói thân thiện, yêu cầu người Nhật nhận lương nhiều hơn, đó chính là nói thân thiện!”. Nghe xong, các bộ trưởng đều tỏ ý bất mãn, chánh văn phòng Tổng vụ không thể không tuyên bố nghỉ họp, đổi sang hôm sau lại bàn.
            Ngay hôm sau khi họp lại, Komai Tokuzo nói với mọi người: “hắn cùng các thứ trưởng đã nghiên cứu, quân Quan Đông cũng đồng ý, đưa tiền lương các bộ trưởng nhất loạt bằng tiêu chuẩn các thứ trưởng” tuy nhiên hắn bổ sung “các quan chức Nhật Bản xa quê hương đến Mãn Châu giúp nhân dân xây dựng đất nước vương đạo, điều đó nên cảm kích vì vậy cần cấp cho người Nhật tiền phụ cấp đặc biệt. Đây là quyết định cuối cùng, không nên tranh cãi nữa”. Nhiều bộ trưởng nghe câu nói đó biết rằng có tranh cãi nữa cũng chẳng được, điều tốt là đã được tăng thêm tiền do đó không lên tiếng nữa.
            Tuy nhiên, Hy Hiệp tự cho rằng mình có chút quan hệ - với Honjo Shigeru, coi thường Tokuzo nên khi đó lại nói mấy câu: “Tôi không phải tranh chấp mấy đồng tiền, song tôi muốn hỏi: Người Nhật giúp xây dựng đất nước Vương đạo ở đâu? Không phải là ở Mãn Châu ư? Không có người Mãn Châu, làm sao xây dựng được?”.
            Nghe xong Komai Tokuzo cả giận, đập bàn quát: “Ông có biết lịch sử Mãn Châu không? Mãn Châu là do người Nhật đổ máu đổi lấy giành lại từ tay người Nga, ông có hiểu không?”. Hy Hiệp tái mặt hỏi: “Ông không cho nói phải không? Quan tư lệnh Honjo Shigeru cũng chưa từng quát tháo với tôi!”. Komai Tokuzo vẫn quát lớn: “Tôi muốn bảo ông rõ: đây là quyết định của tư lệnh quân đội!”. Câu nói này rất có hiệu quả, Hy Hiệp quả nhiên không nói nữa, cả hội nghị im lặng.
            Sau khi xảy ra sự kiện này, cái gọi là “Chế độ nội các” và “hội nghị quốc vụ” không còn che dấu được ai nữa.
            “Thủ tướng thật sự của Quốc vụ viện không phải là Trịnh Hiếu Tế mà là Chánh văn phòng Tổng vụ Komai Tokuzo. Thực ra, người Nhật cũng không thể dấu sự thật này: Khi đó, tạp chí “Cải tạo” của Nhật Bản ngang nhiên gọi hẳn là “Thủ tướng quốc vụ viện Mãn Châu” và “Tổng lý đại thần nội các nhà nước mới”.
            Tôi và Trịnh Hiếu Tế là chấp chính và thủ tướng trên danh nghĩa, các bộ trưởng là bộ trưởng trên danh nghĩa, cái gọi là hội nghị quốc vụ đều là thứ mà “hội nghị thứ trưởng” đã quyết định, đó mới là hội nghị quốc vụ thật sự. Đương nhiên, đó chỉ là hội nghị chịu trách nhiệm đối với “thái thượng hoàng” quan tư lệnh quân Quan Đông. Mỗi lần hội nghị đều có quân Quan Đông tham gia, nhiều nghị án đều vạch ra theo căn cứ yêu cầu của quân Quan Đông.
            Tình hình sau này không còn là điều bí mật đối với ai nữa. Lẽ ra, tôi cũng cần tỉnh ngộ nhận ra song tôi lại không phải là người như thế. Bên cạnh tôi có Hồ Từ Viện hay nói, do ông ta ngày thường nhắc nhở, tôi cũng không bao giờ quên thân phận duy ngã độc tôn của mình, càng không thể quên từ khi còn ở Trương Viên đã xác lập một loại tư tưởng, tức là “nếu không thực sự lập tôi làm hoàng thượng, Nhật Bản sẽ khó làm ăn”. Thái độ bề ngoài của người Nhật Bản đối với tôi cũng thường xuyên gây cho tôi cảm giác đó khiến tôi thường coi đó là thật, cho rằng hoàn cảnh của tôi khác với Hy Hiệp, người Nhật Bản không tôn trọng tôi không xong. Ví dụ trong vấn đề lập “Hội hiệp hoà” tôi đã nghĩ như thế.
            Sau khi tôi nhận chức hơn một tháng, một. hôm Trịnh Hiếu Tế báo cáo một số việc, đề cập đến việc quân Quan Đông muốn thành lập một chính đảng, gọi là “Đảng hiệp hoà”. Nhiệm vụ của đảng này là “tổ chức dân chúng hợp sức xây dựng đất nước, bồi dưỡng tinh thần, tôn trọng lễ giáo, vâng nghe mệnh trời”. Mỗi lần nghe thấy có người nhắc đến “đảng” tôi luôn có cảm giác sợ như cọp vì vậy nghe Trịnh Hiến Tế báo cáo càng căng thẳng hơn nghe tin Komai Tokuzo đập bàn, vội vã ngắt lời ông ta, xua tay phản đối nói: “Muốn đảng gì? Tân Hợi mất nước chẳng phải do đảng gây rối đó sao?”. Trịnh Hiếu Tế xịu mặt nói: “Lời hoàng thượng rất đúng song đây là do Bộ tư lệnh quân đội quyết định”. Ông ta cho rằng câu nói đó có thể chặn họng tôi. Không ngờ đến lần này, tôi coi việc đó thành vấn đề quan hệ đến sinh mạng của tôi, nói thế nào tôi cũng không đồng ý. Với việc ông ta luôn mồm nói: “Bộ tư lệnh quân đội quyết định” từ lâu tôi đã ngán, không muốn lại nghe nữa nên bực tức nói: “Ông không đi nói với người Nhật thì để ta gọi họ đến!”. 
            Trịnh Hiếu Tế đi rồi, tôi nói với Hồ Từ Viện việc này. Vị chánh văn phòng này ca ngợi cách làm này của tôi và nói:
            - Thần nhận thấy không thể như Trịnh Hiếu Tế nói, mọi việc đều do Bộ tư lệnh quân đội quyết định. La Chấn Ngọc đã từng nói: Trịnh Hiếu Tế dựa vào Bộ tư lệnh quân đội, tuỳ tiện phạm thượng. Nếu hoàng thương theo lý đấu tranh với Bộ tư lệnh quân đội họ vị tất đã dám lộng hành. Huống chi đảng không có lợi cho ta, càng không có lợi cho Nhật Bản, phía quân đội Nhật Bản sao lại không rõ lý lẽ này.
            Nghe ông ta nói có lý, lại càng có ý riêng. Hai ngày sau, Katagura tham mưu quân Quan Đông trợ lý của tham mưu trưởng Hashimoto Toramojo liên tiếp với gặp tôi giải thích đều không thuyết phục được tôi. Sự việc bị gác lại.
            Ba tháng sau tức tháng 7 năm đó, tôi tin rằng mình đã thắng lợi. Quân Quan Đông quyết định không thành lập “Đảng Hiệp hoà” chỉ thành lập một “Hội Hiệp hoà” làm tổ chức “vây cánh” của chính phủ. Hội này cụ thể là: phàm đàn ông đủ 20 tuổi đều là hội viên, phụ nữ đều là hội viên “Hội phụ nữ”, thanh niên 15 đến 20 tuổi là đoàn viên “đoàn thanh niên”, thiếu niên 10 đến 15 tuổi là đoàn viên “đoàn thiếu niên”. Sự thực là quân Quan Đông đổi “Đảng” thành “Hội” cũng không phải có sự nhượng bộ đối với tôi mà là cho rằng tổ chức một chính đảng đầu Ngô mình Sở như vậy càng dễ thống trị nhân dân Đông Bắc, qua tổ chức lùa mọi nhân khẩu như vậy càng tiện việc tuyên truyền nô dịch hoá, đặc vụ theo dõi và nô dịch nhân dân.
            Tôi không nhận thấy sự thật đó, chỉ cảm thấy người Nhật rút cục phải nghe tôi. Có sự cảm nhận sai lầm như vậy, tôi khó tránh lại va đầu vào đá. Đó là việc sau khi thiết lập “Một nước Nhật Mãn”.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Sau khi lập mật ước

 
            Khi ở Lữ Thuận, Trịnh Hiếu Tế đã cùng Honjo Shigeru thoả thuận điều kiện sau khi tôi xuất nhiệm chấp chính và ông ta giữ chức thủ tướng quốc vụ viện. Sự việc này mãi đến trước ngày Honjo Shigeru thôi chức, Trịnh Hiếu Tế mới đến lầu Cần Dân đưa ra một đống văn kiện nói với tôi :
            - Đây là thần cùng quan tư lệnh Honjo soạn một hiệp định, xin bề trên duyệt.
            Xem hiệp định đó, tôi nổi nóng:
            - Ai bảo ngươi ký?
            - Đây là những điều kiện mà Itagaki đã nói rõ ở Lữ Thuận - ông ta lạnh lùng trả lời. -  Itagaki cũng đã nói với bề trên.
            - Itagaki nói với ai? Ta chưa nghe ông ta nói, ngươi ký tên trước cũng phải nói với ta chứ!
            - Đây cũng là Itagaki dặn dò, e rằng Hồ Từ Viện cùng những người khác không hiểu đại cục, sớm dựa vào đó gây rắc rối.
            - Rút cục ai là người làm chủ? là ngươi hay là ta?
            - Thần đâu dám, những hiệp định này thực ra là kế ứng phó, hoàng thượng muốn tìm chỗ dựa, sao lại không coi đó là điều kiện. Vốn ra những điều ước này cũng đã thành sự thực, sau này có thể ký những điều ước khác, qui định mấy năm sẽ thu hồi quyền lợi ích.
            Thật ra, ông ta nói cũng không sai. Những quyền lợi mà Nhật Bản đòi hỏi trong Hiệp định vốn ra đã là những thứ mà họ đã nắm trong tay. Hiệp định này có 12 điều khoản, còn có những hiệp định phụ, chủ yếu nội dung là toàn bộ “quốc phòng, trị an” của nước Mãn Châu giao phó cho Nhật Bản. Nhật Bản quản lý đường sắt, bờ biển và hải cảng, đường thuỷ, đường không của nước “Mãn Châu” và có thể sửa chữa và xây dựng thêm các loại vật tư, thiết bị mà quân đội Nhật Bản cần do “nước Mãn Châu” phụ trách cưng ứng. Nhật Bản có quyền khai mỏ, tài nguyên, người Nhật Bản được làm quan lại “nước Mãn Châu” v.v.. Cuối cùng bản hiệp định quy định nó sẽ là cơ sở của hiệp ước chính thức giữa hai nước sau này. Lý lẽ mà Trịnh Hiếu Tế nói cũng đúng, đã muốn dựa tại sao lại không phải trả giá. Song mặc dù sự việc đã rõ ràng như thế, tôi vẫn không thể không cảm thấy bực bội. Tôi bực là vì Trịnh Hiếu Tế lộng hành, dám tự ý mang “giang sơn” của tôi, đi trao đổi với Nhật Bản. Tôi cũng căm người Nhật lừa đảo quá mức, chưa cho tôi cái “ngai vàng hoàng đế” trái lại đã đổi bao nhiêu thứ như vậy.
            Tôi bực tức mà lại không biết làm thế nào, truy nhận sự thực đã rồi. Trịnh Hiếu Tế cầm bản “mật ước” mà tôi đã ký đi rồi. Hồ Từ Viện theo lệ liền đi tới. Tôi mang chuyện đó nói với ông ta, ông ta lập tức công phẫn nói:
            - Trịnh Hiếu Tế thật chẳng còn ra gì! Từ lâu Trần Bảo Thám đã nói: ông ta quen cái khảng khái của người khác. Nay ông ta dám lộng hành đến như thế.
            - Hiện nay ván đã đóng thuyền! - tôi nói một cách chán nản.
            - Cũng có thể chưa hoàn toàn như thế, để xem tin tức phía Tokyo.
            Trước đó nhiều ngày, chúng tôi đã biết quan tướng quân Quan Đông sẽ đổi người và Nhật Bản sẽ thừa nhận “nước Mãn Châu”. Hồ  Từ Viện rất coi trọng tin tức này. Theo quan điểm của ông ta, Nhật Bản thay đổi quan tư lệnh quân Quan Đông rất có thể thay đổi một chút thái độ, cần nhân dịp này cử người sang hoạt động ở Nhật Bản. Ông ta nói: Không nhường người Nhật là không xong như mỏ, đường sắt, tài nguyên cũng như quốc phòng đều có thể để người Nhật kinh doanh và quản lý, song về mặt quan chế, quyền nhiệm miễn phải là ta. Tôi tiếp thu ý kiến của ông ta đồng thời theo đề cử của ông ta tôi cử Lâm Đình Thám đã từng làm luật sư và Thái Pháp Bình người Đài Loan đến Tokyo tìm Hứa Bình, bạn của ông ta là người Đài Loan, thông qua Hứa Bình tìm nhân vật cấp cao trong quân đội để hoạt động.
            Tại Tokyo, Lâm Đình Thám và Thái Pháp Bình gặp được tổng tham mưu trưởng lục quân Jinsaburo Mazaki và Kashii, nguyên tư lệnh quân đội Nhật đóng ở Thiên Tân và cả Muto Nobuyoshi, người sắp kế nhiệm quan tư lệnh quân Quan Đông, nêu với họ gia cầu cụ thể của tôi:
            1. Chính phủ chấp chính căn cứ luật tổ chức điều hành chính quyền.
            2. Cải tổ quốc vụ viện do chấp chính đề cử danh sách.
            3. Cải tổ quan chế các bộ, chủ quyền quy về các bộ trưởng, bãi bỏ chế độ chánh văn phòng nội các.
            4. Huấn luyện tân binh, mở rộng quân đội.
            5. Viện lập pháp triệu tập hội nghị đúng kỳ hạn, quyết định quốc thể.
            Những điều này do Hồ Từ Viện thảo ra cho tôi. Theo ý tứ của ông ta, cũng không hy vọng Nhật Bản tiếp thu toàn bộ. Tuy nhiên, vẫn phải nêu nhiều điều kiện một chút để chuẩn bị mà cả với đối phương.
            Hai ngày sau, Hồ Từ Viện vui mừng phấn chấn nói với tôi: có tin tức tốt từ Tokyo. Qua thư của các ông Lâm, Thái trong phái nguyên lão và quân đội ở Tokyo có một số người đồng tình với tôi, không hài lòng về thái độ của Honjo Shigeru đối với tôi, tỏ ý sẵn sàng ủng hộ các yêu cầu của tôi. Hồ Từ Viện nói: từ đó xem ra, sau khi quan tư lệnh mới đến, tình hình có thể thay đổi, tôi sẽ có thể điều hành chức quyền của mình theo quy định, cai trị nhà nước của mình. Song, muốn cai trị tốt nếu không có thủ tướng biết vâng lời thì không thể làm được. Tôi nghe ông ta nói có lý, liền quyết định thay thế Trịnh Hiếu Tế. Tôi và ông ta nghiên cứu cảm thấy Tang Thức Nghị tương đối thích hợp, nếu cử ông ta làm thủ tướng, nhất định ông ta sẽ cảm ơn, báo đức, nghe tôi chỉ huy. Thương lượng xong, tôi ra lệnh Hồ Từ Viện cùng Hứa Bảo Hoành đi tìm Tang Thức Nghị.
            Thái độ của Tang Thức Nghị còn do dự, thì Trịnh Thùy con Trịnh Hiếu Tế đến.
            - Nghe tin hoàng thượng cử người đi Tokyo tìm Muto Nobuyoshi. - Hắn đứng trước mặt tôi nói một câu bâng quơ như thế. Nói xong, hắn nhìn tôi chờ phản ứng của tôi. Chẳng nói, hắn cũng thấy tôi không muốn thừa nhận sự việc đó nên hắn lại nói tiếp: - Tokyo đã truyền lan việc này, nói bề trên định cải tổ quốc vụ viện. Thần nghe thấy, không thể không trình với bề trên. Song mong đó là tin đồn.
            - Sao lại mong đó là tin đồn?
            - Mong là như vậy. Dự định này là không thể thực hiện được, dù cho có thực hiện được, tất cả do người Mãn làm chủ, các bộ trưởng cũng không thể điều hành dược. Dù là Tang Thức Nghị hay là ai cũng không được?
            - Ngươi muốn nói là như thế phải không?
            - Thần nói là thực tình…
            - Nói xong ngươi đi đi!
            - Vâng.
            Trịnh Thuỳ đi rồi, một mình tôi bực bội trong văn phòng, một lát, Hồ Tự Viện biết, lại vểnh râu lên.
            - Cha con họ Trịnh, thật là cha nào con ấy. Trịnh Thùy càng thật đáng giận. Trước đây Hy Hiệp gửi tới các đồ dùng trong nhà bằng gỗ đỏ. Hắn khuyên bề trên tiết kiệm, chỉ là sự ghen ghét, sợ Hy Hiệp được lòng bề trên. Lần này hắn lại đề phòng Tang Thức Nghị tới.
            - Thật không phải là người! - Tôi càng nghe càng giận, quyết tâm lại càng lớn, liền hỏi Hồ Từ Viện: - Đã nói với phía Tang Thức Nghị chưa?
            - Ông ta không muốn.
            Trịnh Hiếu Tế biết Tang Thức Nghị không dám, có căn cứ để không sợ ngang nhiên dùng biện pháp năm xưa, Dịch Khuông đối với cha tôi để đối với tôi, lấy lùi để tiến, cáo ốm xin tôi cho nghỉ. Tuy nhiên ông ta không ngờ rằng có tin tốt ở Tokyo tôi cũng có căn cứ để không sợ. Thấy ông ta xin nghỉ, tôi cũng coi là cơ hội nói thẳng:
            - Ông cũng đến lúc dưỡng lão rồi, ta không ép, ông hãy cử một người.
            Cái đầu hói của ông ta không bóng nữa.
            - Ý thần là xin nghỉ mấy ngày.
            - Thế cũng được.
            Trịnh Hiếu Tế vừa đi, tôi lập tức lệnh Hồ Từ Viện đi tìm Tang Thức Nghị để ông ta trước hết hãy làm quyền thủ tướng, sau đó sẽ tìm cơ hội để loại bỏ Trịnh Hiếu Tế. Song qua 5 ngày, không đợi Tang Thức Nghị bày tỏ thái độ, Trịnh Hiếu Tế trở lại phòng làm việc.
            Hồ Từ Viện biết Trịnh Hiếu Tế đã quay về Quốc vụ viện, thở dài nói với tôi: “Ông ta dùng “Hiệp ước bí mật” đổi lấy chức ấn thủ tướng. Tự nhiên không thể buông ra”, lời có vẻ cay đắng.
            Tôi cũng có chỗ cay đắng, điều đó đương nhiên không phải vì chiếc ấn thủ tướng mà là uy quyền chấp chính của tôi dù với ai cũng không thi hành được. Lần thất bại này cho tôi bài học rất quan trọng. Đó là do câu nói cay đắng của Hồ Từ Viện gợi ra.
            “Trịnh Hiếu Tế dùng Hiệp ước bí mật đổi lấy ấn lớn thủ tướng, hiệp ước bí mật trở thành tiền vốn của ông ta, có cái lý ấy thật sao? Mật ước sao không thể là tiền vốn của tôi, đổi với người Nhật những điều tôi cần?”
            Tôi quyết định đợi đến khi nào viên tư lệnh Quan Đông mời tôi tới nhận chức sẽ lại đưa ra 5 yêu cầu. Hồ Từ Viện ủng hộ biện pháp đó và nhắc tôi đừng quên yêu cầu người Nhật đổi Trịnh Hiếu Tế. Từ khi Trịnh Hiếu Tế lên làm thủ tướng, ông ta đã luôn luôn có ý đó.
            Đây là việc của thượng tuần tháng 9. Trung tuần tháng 9 viên tư lệnh quân Quan Đông mới kiêm đại sứ nhiệm kỳ thứ nhất ở “Mãn” Muto Nobuyoshi, đến Trường Xuân. Ngày 15, trong lầu Cần Dân, Muto Nobuyoshi cùng Trịnh  Hiếu Tế ký “Nghị định thư Nhật Mãn”. Đây là hiệp nghị công khai lấy bản mật ước làm cơ sở.
            Cử hành xong nghi thức, uống xong sâm banh tôi lập tức tiến hành hội đàm riêng với Muto Nobuyoshi. Lúc đó tôi vững lòng tin vì trước đó mấy ngày Lâm Đình Thám và Thái Pháp Bình từ Nhật Bản trở về đã báo cáo với tôi: ở Tokyo Muto Nobuyoshi không những đã đồng ý yêu cầu của tôi mà xem xét cả việc đáp ứng yêu cầu khôi phục tôn hiệu của tôi.
            Trong thời đại đại chính Nhật bản, Muto Nobuyoshi được thăng đại tướng lục quân, đã làm thứ trưởng bộ tham mưu, Tổng giám đốc giáo dục, tham nghị quân sự. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất đã soái lĩnh quân Nhật chiếm lĩnh Siberia của Liên Xô. Lần này, ông ta đến Đông Bắc với tư cách đại tướng, bản thân kiêm ba chức: tư lệnh trưởng quân Quan Đông, (trước đều là hàm trung tướng), tổng đốc Quan Đông (trước sự kiện 18 tháng 9, Nhật Bản đặt tổng đốc thực dân ở bán đảo Liêu Đông) và “đại sứ ở nước Mãn Châu”. Đến nhận chức không lâu lại được thăng hàm nguyên soái. Trên thực tế là kẻ thống trị cao nhất trên giải đất này, thái thượng hoàng của “nước Mãn Châu”. Báo chí Nhật Bản gọi ông ta là “thần trông coi Mãn Châu”. Đối với tôi, ông già bạc đầu 65 tuổi này thật sự như một ông thần linh thiêng. Khi ông ta rất lễ phép khom mình chào tôi, tôi liền có cảm giác như mình sắp bay bổng lên mây xanh. Đợi tôi nói xong, ông ta rất lễ phép trả lời:
            - Đối với ý kiến của ngài, tôi sẽ mang về nghiên cứu cẩn thận.
            Ông ta mang Hồ Từ Viện và mấy yêu cầu của tôi đi, song ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, không thấy kết quả nghiên cứu của ông ta.
            Theo qui định, mỗi tháng tôi ba lần hội kiến với đại sứ kiêm tư lệnh quân Quan Đông. 10 ngày sau, hội kiến ông ta lần thứ hai, tôi hỏi kết quả nghiên cứu, ông ta vẫn nói: “đang nghiên cứu”.
            Mỗi lần gặp tôi, ông ta rất lịch sự, lễ phép, cúi rạp mình trước tôi, miệng mỉm cười, cất lời là “Ngài”, đồng thời với thái độ sùng kính nói đến mỗi vị tổ tiên tôi. Song tuyệt nhiên không nhắc đến mỗi yêu cầu của tôi. Nếu như tôi lái câu chuyện sang phía đó, ông ta quay nói sang phía khác. Tôi hai lần bị ứng phó nhạt nhẽo như vậy nên không còn can đảm hỏi ông ta nữa.
            Cho đến tháng 7 năm 1933, khi Muto Nobuyoshi chết, mỗi lần gặp ông ta tôi chỉ nói về Phật học, Nho học, “thân thiện”. Trong thời gian này, với bất cứ ai, uy quyền của tôi không tăng thêm, còn trong lòng tôi uy quyền của ông ta mỗi ngày một tăng, chỉ có tăng mà thôi.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Lần thứ ba làm hoàng đế

 
            “Các bề tôi cũ ở Bắc Kinh và Thiên Tân nghe tin Hoàng thượng nhận chức chấp chính ngờ rằng tôn hiệu từ nay bị thủ tiêu, đều đau buồn và công phẫn sâu sắc. Ngay những người đã từng làm quan lại Dân quốc như Tào Nhữ Sâm, Uông Vinh Bảo... cũng lấy danh nghĩa quan hệ rất quan trọng mà nói. Thần lấy việc Hoàng thượng mấy lần kiên quyết cự tuyệt, sau bắt đầu đắc dĩ phải chấp nhận một cách khổ tâm để giải thích. Người nghe bước đầu biết sự thật trong đó nhưng cuối cùng cũng không loại bỏ được sự nghi ngờ”… 
            Đây là một đoạn trong thư của Trần Tăng Thọ về nghỉ ở Thiên Tân sau một tháng tới nhận chức chấp chính. Những lời tâu như thế từ Bắc Kinh, Thiên Tân gửi tới còn có mấy bản khiến tôi hết sức đau đầu.
            Theo ước định, hết thời kỳ tôi chấp chính một năm, nếu như quân Quan Đông không thực hành đế chế, tôi có thể từ chức. Song tôi không làm như vậy, không có can đảm như vậy vì nếu như quân Quan Đông cho từ chức, tôi có thể đi đâu?
            Mấy ngày đầu sau một năm nhận chức, ngoài dự tính của tôi, tại một cuộc hội kiến, Muto Nobuyoshi nêu trước với tôi vấn đề này. Ông ta nói: Nhật Bản hiện đang nghiên cứu vấn đề quốc thể nước Mãn Châu, khi thời cơ chín mùi, vấn đề này tự nhiên có thể giải quyết. Sau đó không lâu, từ 27 tháng 3; để càng thuận tiện cho việc tự do hành động, Nhật Bản rút khỏi liên minh quốc tế. Đồng thời, quân Nhật Bản đẩy mạnh các hoạt động quân sự tấn công các cửa vào Trường Thành, hình thành thế bao vây đối với Bắc Bình và Thiên Tân. Cuối tháng 5, Nam Kinh chỉ lo việc nội chiến đã càng thoả hiệp với Nhật Bản, ký “hiệp định Đường Cố” quy vùng phía Nam Trường Thành, khu vực Đái - Đông là khu không có vũ trang, rút quân đội Trung Quốc đi khiến thế lực Nhật Bản càng khống chế Hoa Bắc. Trong tình hình đó, những người hăng hái phục tích đều được cổ vũ rất lớn, đều cho rằng thời cơ đã chín muồi, tới tấp hoạt động. Trong tháng 3, Hy Hiệp đã thúc đẩy người tin cậy của ông ta là Lâm Học Tuyền, tập hợp một đám “di dân” tộc Mãn và các nghị viên Đông tam tỉnh cũ, tụ hội ở Trường Xuân mưu toan đưa ra một bản tuyên bố, nhưng bị hiến binh Nhật Bản ngăn chặn, khi đó lại khôi phục hoạt động. Một số nhân vật thuộc hệ Trực cũ ở Hoa Bắc và một số đặc vụ lưu vong Nhật Bản chuẩn bị “suy tôn” Ngô Bội Phu lộ mặt; một số di lão ở Bắc Bình - Thiên Tân vì thế cử người đến liên lạc phục tích ở Hoa Bắc, Đông Bắc. Trong tháng 7, chánh văn phòng tổng vụ Komai Tokuzo rút lui, nhận một triệu đồng tiền từ chức, ngoài ra còn muốn có một khoản tiền “cơ mật phí” rất lớn, đi tìm Hoàng Phù vận động Hoa Bắc độc lập. Lúc sắp đi, hắn bày tỏ với Trịnh Hiếu Tế vẫn muốn đến Thượng Hải giúp tôi hoạt động việc phục tích trong toàn quốc sau này. Tóm lại, trong một số ngày đó, thường xuyên có thể nghe thấy những lời đồn về phục tích hoặc đế chế. Những lời đồn đó cổ vũ tôi, cổ vũ những người có dã tâm như tôi. Tiết Trùng dương năn đó Trịnh Hiếu Tế viết một bài thơ trong đó có những từ “Chí khí” khôi phục “hậu Thanh”... khiến ác cảm của tôi đối với ông ta giảm nhiều. “Mộng hoàng đế” của tôi lại diễn lại. Tôi hết sức quan tâm tin tức các mặt. Tôi càng đặt hy vọng vào quân đội Nhật Bản những kẻ tàn sát đồng bào mình. Sau khi quân đội Nhật chiếm lĩnh toàn bộ Nhiệt Hà, tôi đã mở tiệc linh đình chúc mừng, thăm hỏi Muto Nobuyoshi và các tướng lĩnh quân đội Nhật Bản tham gia tác chiến, chúc họ “Vũ vận trường cửu”, “thắng lợi này tiếp thắng lợi khác”. Sau đó, một cánh quân Nhật Bản chiếm lĩnh Mật Vân chỉ cách Bắc Kinh một trăm dặm liền án binh bất động, đối với việc đó tôi cảm thấy rất thất vọng. Khi đó Trịnh Hiếu Tế nói với tôi: quân Nhật chiếm lĩnh Hoa Bắc cũng như Hoa Nam chỉ là việc sớm hay muộn. Việc khẩn cấp hiện nay vẫn là cần giải quyết trước vấn đề thể chế nước Mãn Châu. Ông ta lại nói: quyết định việc này không phải ở quân đội Quan Đông mà là ở phía Tokyo. Ông ta đã nghe nói nhiều người trong phái nguyên lão Tokyo đều chủ trương tôi lên ngôi. Nghe lời ông ta, tôi cảm thấy cần cử người đi Tokyo hoạt động, ít nhất cũng cần thăm dò tin tức.
            Nhận sứ mạng này là Kudo Tetsusaburo, sĩ quan cảnh vệ của tôi. Kudo Tetsusaburo đã đi theo tôi từ Thiên Tân đến Đông Bắc. Từ cuối triều Thanh y đã theo hầu Thang Sung. Trong hoạt động phục tích của Thang Sung sau đó, y là kẻ tích cực tân trợ. Khi tôi tôi ở Lữ Thuận, y không xuất hiện với tư cách đại biểu phía quân đội như Amakashira và Kaeisumi mà là đứng cạnh tôi nói chuyện thậm chí và tỏ ý bất mãn sau lưng đối với quân Quan Đông. Có một lần, tôi thấy nước chè trong chén có vẻ khác màu, sợ có người đầu độc, muốn gọi người đưa đi hoá nghiệm, lúc đó Tetsusaburo lập tức bưng chén uống một ngụm. Sau khi tôi làm chấp chính, y là người Nhật Bản duy nhất gọi tôi là Hoàng thượng và thường xuyên tỏ ý không hài lòng đối với sự ngang ngược của quân Quan Đông, thường tỏ ý tin rằng tôi nhất định có thể khôi phục danh vị “hoàng đế Đại Thanh”. Lòng trung thành của y đã biểu hiện không kém các di lão tiêu chuẩn nhất vì vậy tôi cho y đổi tên thành “Trung”, đối xử như người nhà mình, y cũng cảm động rơi nước mắt, thề chết vẫn trung thành, mãi mãi không thay đổi. Nhận sứ mạng tôi giao phó, đi không bao lâu liền trở về. Ở Nhật Bản, y đã gặp Minami Jiro và các nhân vật quan trọng của Hội Hắc Long, thăm dò được nhân vật đương quyền phái quân đội đồng ý thực hành đế chế. Theo tin tức của y, tôi tin rằng thời cơ sẽ đến nhanh.
            Tháng 10/1933, tin tức của Tetsusaburo đã được chứng thực. Kế nhiệm tư lệnh quân Quan Đông Hishikari Takashi chính thức thông báo nói: Chính phủ Nhật Bản chuẩn bị thừa nhận tôi làm “hoàng đế đế quốc Mãn Châu”.
            Nhận được thông báo đó, tôi vui mừng vô hạn. Việc thứ nhất tôi nghĩ tới là phải chuẩn bị một bộ long bào.
            Long bào do thái phi mang từ Bắc Kinh tới, song quân Quan Đông lại nói với tôi: Nhật Bản thừa nhận là “hoàng đế nước Mãn Châu” chứ không phải là “Hoàng đế đại Thanh”. Vì vậy, tôi không thể mặc long bào đại Thanh, chỉ được mặc “lễ phục đại nguyên soái hải, lục, không quân nước Mãn Châu” do quân Quan Đông quy định.
            - Sao lại như thế được? - tôi nói với Trịnh Hiếu Tế - ta là người thừa kế họ Ái Tân Giác La, sao lại không mặc chế phục của tổ tiên? Lại nói họ tôn thất Giác La ở Bắc Kinh đều sẽ tới, nhìn thấy ta mặc trang phục kiểu Tây như thế thì lên ngôi còn có ý nghĩa gì?
            - Hoàng thượng nói đúng. - Trịnh Hiếu Tế gật đầu, nhìn long bào để trên bàn. Con người luôn luôn muốn là thừa tướng “hậu Thanh” này có thể đang tính toán cái mũ lông công, chóp san hô chánh nhất phẩm giờ đây đối với tôi khá vâng lời. Ông ta gập đầu nói: - Hoàng thượng nói đúng song nói như thế nào với phía quân Quan Đông?
            - Ta cử ông đi.
            Trịnh Hiếu Tế đi rồi tôi một mình ngắm bộ long bào do thái phi Vinh Huệ cất giữ 22 năm qua, lòng đầy xúc cảm. Đây là bộ long bào mà tôi đã mong đợi 22 năm qua. Tôi phải mặc để lên ngôi, đây là điểm đầu tiên khôi phục triều Thanh.
            Đầu óc tôi chưa bình tĩnh trở lại thì Trịnh Hiếu Tế đã về. Ông ta báo cáo rằng quân Quan Đông vẫn giữ ý kiến khi lên ngôi phải mặc lễ phục nguyên soái. 
            - Ông có đi giao thiệp không?
            - Thần sao dám không đi. Đó là do Itagaki đích thân nói với thần.
            - Như thế sao được? - tôi biết vậy - trước khi lên ngôi phải làm lễ tế trời, chẳng lẽ bảo tôi mặc trang khục nguyên soái đội mũ tế trời ư?
            - Thần lại đi nói với Itagaki!
            Trịnh Hiếu Tế đi rồi, Hồ Từ Viện tìm đến nhắc tôi: Cần đấu tranh không phải là chế phục, quan trọng là nói với phía quân Quan Đông về quyền quyết định bổ nhiệm và bãi miễn quan lại. Nếu như vấn đề này được giải quyết thì Hồ phục cưỡi ngựa bắn cung của Triệu Vũ Hưng Vương cũng tốt.
            Thực ra, Hồ Từ Viện cũng như tôi, đều không biết rõ Nhật Bản muốn đế chế này chẳng qua để tôi càng bù nhìn hơn, càng thuận lợi cho việc họ thống trị mảnh đất thực dân này. Danh nghĩa hoàng đế cũng chẳng mang lại cho tôi quyền lực gì. Người như tôi lại làm sao học được cưỡi ngựa bắn cung? Ngoài việc dựa vào cái ủng da của quân Quan Đông tôi thật ra chẳng biết làm cái gì, nghĩ cái gì cho nên sau đó, quân Quan Đông đồng ý tôi mặc hoàng bào tế trời tôi cũng không còn tranh chấp gì nữa.
            Sáng sớm 1/3/1934, tại thôn Hạnh Hoa ngoại ô Trường Xuân, trên “Thiên đàn” đắp bằng đất, tôi mặc long bào làm lễ cổ tế trời lên ngôi...
            Khi đó Phủ chấp chính đổi thành “Phủ nội cung”. Nơi tôi ở này vì kiêng gọi “hoàng cung” của Thiên hoàng Nhật Bản nên gọi là “đế cung” sau đó nhà cửa bên trong, ngoài việc xây thêm một “điện Đồng đức” còn lại đều là sửa chữa lại, trên lầu vẫn như cũ. Nghi lễ lên ngôi cử hành tại lầu Cần dân.
            Hôm đó, phòng lớn lầu Cần dân trải một thảm đỏ lớn, tường phía bắc dùng màn lụa đỏ trang trí thành một nơi như bàn thờ thần phật, ở giữa đặt một chiếc ghế tựa cao chế tạo đặc biệt, bên trên khắc hoa lan. Tôi đứng trước ghế này, xếp hàng đứng hai bên là Bảo Hy, đại thần Phủ nội cung, chánh Võ quan tuỳ tùng Trương  Hải Bằng, vũ quan tuỳ tùng Ishimaru và Kim Trác, Xứ trưởng thị vệ. Kudo Tetsusaburo Trung, quan thị vệ Hy Luân Hoán (em Hy Hiệp), Nhuận Lương (anh Uyển Dung) và một số người khác.
            Trăm quan văn võ do “Tổng lý đại thần” Trịnh Hiếu Tế đứng đầu xếp hàng làm lễ vái tôi ba vái, tôi nửa cúi mình đáp lại. Tiếp đó là đại sứ Nhật Bản Hishikari trình quốc thư và chúc mừng tôi. Cử hành xong những nghi thức này, những người Giác La từ Bắc Kinh tới cũng như những người ở Phủ nội vụ trước lại làm lễ ba lần quỳ, chín lần vái. Đương nhiên, tôi ngồi trên ghế nhận lễ.
            Di lão các nơi ở quan nội như Trần Quý Long, Diệp Nhĩ Đăng, Lưu Thừa Hiên, Thẩm Tăng Trực, Thẩm Tăng Đồng, Chương Sâm, Lê Thậm Kỳ, Trần Bá Đàn, Ung Diệu Phổ... đều gửi biểu đến chúc mừng. Thường Ngọc Thanh, đần sỏ lưu manh ở Thượng Hải cũng gửi lời tâu tới xưng là bề tôi. Ngày 6 tháng 6, Chichibuno Miya Yasuhito, em Thiên hoàng Nhật Bản đến chúc mừng, tặng huân chương Huân vị Cúc hoa. Tháng 7, cha tôi mang các em trai, em gái tôi đến Trường Xuân thăm tôi. Khi ông đến Trường Xuân, tôi cử các quan Cung nội phủ do Bảo Hy dẫn đầu và một đội bảo vệ do Đồng Tế Hy dẫn đầu đến ga Trường Xuân xếp hàng đón tiếp. Tôi và Uyển Dung đứng đợi ở trong “đế cung” và cửa ngoài. Uyển Dung trang điểm trang phục trong hoàng cung. Tôi mặc quân phục, ngực đeo đầy huân chương.
            Huân chương của tôi có 3 chiếc, một chiếc do Nhật bản tặng, một chiếc của “đế quốc Mãn Châu”, một chiếc khác “đế quốc đại Thanh” do tôi ngầm cử người vào cửa quan chế ra. Chiếc thứ ba này tất nhiên không thể sử dụng trước mặt quân Quan Đông, chỉ có thể lợi dụng dịp này để đeo.
            Xe ô tô của cha tôi tới, tôi đứng nghiêm, cạnh xe của ông, chào ông theo quân lễ. Uyển Dung quỳ thỉnh an. Sau đó tôi đưa ông vào phòng khách, lúc đó trong nhà không có người ngoài, tôi chưa cởi bỏ quân phục, quỳ lạy thỉnh an.
            Tối hôm đó, mở tiệc lớn. Ăn cơm tây, xếp đặt chỗ ngồi hoàn toàn theo quy củ phương Tây, do tôi và Uyển Dung ngồi ghế chủ nhân nam,  nữ.
            Ngoài ra, theo sự sắp đặt của tôi, khi tôi bước vào phòng tiệc, đội nhạc bắt đầu tấu nhạc.
            Khi tiệc đến lúc uống sâm banh, theo sắp đặt của tôi, Phổ Kiệt đứng lên nâng chén hô to: “Hoàng đế bệ hạ muôn năm, muôn năm, muôn năm”. Cả gia tộc tôi đều hô theo kể cả cha tôi. Nghe những tiếng hô này dù người không say rượu cũng cảm thấy say say.
            Ngày hôm sau, Bảo Hy, đại thần Phủ nội cung nói với tôi: Bộ tư lệnh quân Quan Đông cử người tới lấy danh nghĩa đại sứ quán đưa ra kháng nghị đối với tôi rằng, hôm trước quân bảo vệ ra ga xe lửa là vi phạm hiệp nghị mà nhà đương cục Đông Bắc trước đã ký với Nhật Bản về nghĩa vụ mà “đế quốc Mãn Châu” gánh vác. Hiệp nghị này quy định: trong phạm vi nhất định của hai bên đường sắt là đất phụ thuộc “đường sắt Mãn Châu”, ngoài quân Nhật, bất cứ lực lượng vũ trang nào cũng không được vào. Quan tư lệnh quân Quan Đông - không, đại sứ Nhật bản yêu cầu từ nay về sau không xẩy ra những việc như thế.
            Sự việc này lẽ ra đủ để tôi tỉnh táo lại, song khi đó người Nhật còn biết giữ thể diện cho tôi trước hết là không phản đối công khai, sau nữa là khi tôi cho người đi xin lỗi và cam kết, họ không nói gì nữa. Song điều chủ yếu là họ quy định cho tôi nhiều hình thức rất thoả mãn lòng hiếu danh của tôi khiến tôi lại chìm đắm trong mê muội.
            Điều tôi say sưa nhất là “Ngự lâm hạnh” và “tuần thú”.
            Theo sắp xếp của quân Quan Đông, mỗi năm tôi sẽ đi ra ngoài hai lần gọi là “tuần thú”. Ở “Tân Kinh” (Trường Xuân) mỗi năm tôi sẽ tham gia 4 lần nghi thức đội ngũ: một lần đi “tháp trung linh” tế vong hồn quân Nhật Bản chết trong cuộc chiến tranh xâm lược; một lần đến Bộ tư lệnh quân Quan Đông chúc thọ Nhật hoàng; một lần đến “Hội Hiệp hoà” tham dự hội hàng năm; một lần đến “Kiến quốc trung linh đường” tế vong linh quân ngụy Mãn. Những cuộc đi ra ngoài như thế gọi là “Ngự lâm hạnh”.
            Cái gọi là “sắp xếp thứ tự khi thiên tử đi ra” là như sau: đi đầu là xe đi dẹp đường của quân cảnh, sau đó một quãng là một xe màu đỏ cắm một lá cờ nhỏ, ngồi trong xe là “Tổng giám đốc cảnh sát”, tiếp đó là “xe chính” tôi ngồi, toàn màu đỏ, hai bên có xe mô tô hộ tống, cuối cùng là xe của nhân viên tuỳ tùng và nhân viên bảo vệ.
            Trước một ngày tôi đi ra, hiến binh và quân cảnh Trường Xuân vin cớ bắt “những phần tử khả nghi” và “dân lang thang” chướng mắt. Căn cứ vào những dấu hiệu đó, dân thành phố biết là tôi sẽ đi ra. Đến ngày tôi đi ra, ven đường bố trí đầy quân cảnh, cấm người đi đường qua đường, cấm người ở các cửa hàng và nhà hai bên đường ra vào, cấm nhìn theo dõi qua cửa sổ. Tại cửa lớn “Hội Hiệp hoà” treo đầy cờ vàng.
            Trước khi xa giá lăn bánh, đài phát thanh lập tức thông báo toàn thành phố “hoàng đế bệ hạ khởi giá xuất cung” nói bằng tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật. Khi đó toàn thể người trong “Hội Hiệp hoà” đứng dậy, các quan đặc nhiệm “thủ tướng” trở xuống đều xếp hàng ở bên ngoài ngoài “phụng nghênh”. Xa giá đến, mọi người khom mình 90 độ đồng thời đội nhạc cử “quốc ca”. Tôi tiến vào trong nhà, trước hết nghỉ một lát sau đó tiếp kiến các đại thần Phủ nội cung , chánh võ quan tuỳ tùng, xứ trưởng thị vệ, xứ trưởng lễ nghi, võ quan tuỳ tùng... đứng hai bên. Bàn ghế và khăn trải bàn đều từ Phủ nội cung mang tới. Các quan viên có tư cách từ thủ  tướng trở xuống lần lượt làm lễ trước tôi và lui ra. Cảnh đó diễn xong, tôi đứng lên rời chỗ, đội nhạc lại vang lên cho đến khi tôi tiến vào hội trường, bước lên bục nói mới thôi. Trong thời gian đó, mọi người trong hội trường đều khom mình 90 độ. Viên tư lệnh Quan Đông lúc đó đứng ở một góc bục nói, thấy tôi bước lên cúi mình chào, tôi quay lại đáp lễ, những người đứng bên dưới đều đứng thẳng lên, khi đó đại thần Phủ Cung nội hai tay dâng “lời chiếu”. Tôi đến lấy mở ra, hướng cả hội trường truyền đọc. Những người dưới hội trường đều nhất loạt đứng cúi đầu. Không được nhìn lên, đọc xong, khi tôi ra khỏi hội trường, tiếng nhạc lại vang lên, mọi người lại khom mình 90 độ, tôi về phòng khách nghỉ ngơi, các quan đặc nhiệm lại ra bên ngoài chuẩn bị “phụng tiễn”. Sau khi đưa tôi về, loa phóng thanh trên đường phố toàn thành phố lại phát ra bằng hai thứ tiếng “hoàng đế bệ hạ khởi giá về cung”. Tôi về đến nhà, loa phóng thanh còn một lần nói “hoàng đế bệ hạ về cung bình yên”.
            Nghe nói, đây là phương thức những biện pháp áp dụng cho Thiên hoàng Nhật Bản, ghi lời trên ảnh của tôi cũng bắt chước từ Nhật Bản. Ảnh của tôi gọi là “Ngự dung”. Theo quy định ở những nơi quy định đặc biệt của các cơ quan, trường học, quân đội và mọi đoàn thể công cộng như phòng họp cơ quan, phòng hiệu trưởng trường học, đặt một thứ như khám thờ thần phật, bên ngoài có màn che, bên trong treo ảnh và “chiếu thư” của tôi. Bất cứ ai bước vào những phòng đó đều phải trước tiên làm lễ trước nơi che màn đó. Tại nhà dân cư, tuy không có pháp lệnh cưỡng chế treo ảnh “ Ngự dung”, song Hội Hiệp hoà đã ép mua ảnh của tôi và Uyển Dung và chỉ định phải treo ở nhà chính.
            Trọng điểm của việc thi hành sùng bái ngu muội đó là ở quân đội và trường học. Mỗi buổi sáng, quân đội ngụy Mãn ở khắp nơi và trường học đều cử hành triều hội, phải cử hành lễ vái hai lần tức là trước hết hướng về nơi “vua ở” phía đông (nơi của Thiên Hoàng ở Tokyo), sau đó hướng về phía đế cung ở Trường Xuân cử hành lễ chào cúi 90 độ. Ngoài ra khi gặp “ngày công bố chiếu thư” còn phải đọc chiếu thư.
            Ngoài ra, còn có nhiều quy định khác, như nghi thức “tuần thú” ở các nơi, tôi không nói hết ở đây. Tóm lại là, bọn quân phiệt Nhật Bản rất coi trọng thực hành những trò chơi đó. Theo thể nghiệm của tôi, điều đó không những để huấn luyện người Trung quốc, tạo thành tập quán phục tùng mù quáng và tư tưởng mê tín phong kiến mà dối với người Nhật lớp dưới cùng như thế. Quân Quan Đông Nhật Bản đã mấy lần lợi dụng tôi đi cổ vũ thần dân của họ. Một lần tôi đến mỏ than Trung Tân, người Nhật tập trung những đốc công Nhật lại để tôi nói mấy lời khuyến kích. Những đốc công được “vinh dự đặc biệt” này đã cảm động đến rơi nước mắt. Đương nhiên, khi đó tôi cũng cảm thấy mình có giá.
            Điều khiến tôi có cảm giác sai lầm lớn nhất tự nhận mình có quyền uy rất cao là sau chuyến đi thăm Nhật Bản tháng 4 năm 1935.
            Thực ra, trong chuyến đi thăm Nhật Bản này, hoàn toàn do quân Quan Đông sắp đặt. Họ nói: để cảm ơn Nhật hoàng đã cử ngự đệ đến chúc mừng tôi “lên ngôi”, cũng là để tôi đích thân làm điển hình cho sự “thân thiện Nhật - Mãn” yêu cầu tôi phải như thế.
            Chính phủ Nhật Bản tổ chức một uỷ ban đón tiếp 14 người do Nam tước Hayashi Gonsuke đứng đầu, cử chiến hạm Tỷ Nhuệ hoàn đón tiếp, còn có các chiến hạm Bạch Vân, Tùng Vân, Bạc Vân hộ tống. Khi tôi lên tàu ở Đại Liên đã đi duyệt các đội khu trục hạm thứ 12,15.
            Khi đến cảng Yokohama, có biên đội 100 máy bay hoan nghênh. Nhớ lại trong cuộc hành trình được chiều chuộng đến u mê đầu óc này, tôi đã viết một bài thơ 4 chữ:
                        Hải bình như kính
                        Vạn lý viễn hành.
                        Lưỡng bang huề thủ
                        Vĩnh cố Đông phương.
 
Tạm dịch:
 
                        Biển phẳng như gương
                        Vạn dặm đi xa
                        Hai nước nắm tay
                        Vững mãi Đông phương.
 
            Ngày thứ tư trên tàu, một lần tôi được xem cuộc diễn tập của 70 tàu chiến. Trong cơn say tàu tôi nôn nao, tôi viết một bài thơ 7 chữ tuyệt cú:
                        Vạn lý hùng hàng phá phi đào
                        Bích thương nhất sắc thiên địa giao
                        Thử hành kỳ cẩn lam sơn thuỷ
                        Lưỡng quốc thân minh nhật nguyệt chiêu.
 
Tạm dịch:
 
                        Vạn dặm sóng cồn vượt biển khơi  
                        Xanh xanh một giải nối chân trời
                        Chuyến đi đâu phải ngao sơn thuỷ
                        Hai nước tình thân rạng đất trời.
 
            Nói chung vẫn còn chưa lên bờ tôi đã bị u mê đầu óc. Tôi không những khiếp sợ khi nhìn thấy uy lực của Nhật Bản mà còn coi đó là sự thật lòng tôn kính đối với tôi. Tôi chỉ tự trách mình đã sai lầm với những điều không vui trước kia.
            Đến Tokyo Nhật Bản, Nhật hoàng Hirohito đích thân ra ga đón tôi và mở tiệc chiêu đãi tôi. Sau khi tôi đến chào họ, ông ta lại đến chào lại. Tôi đã tiếp kiến các nguyên lão, trọng thần Nhật Bản, được họ chúc mừng; lại cùng Hirohito duyệt binh. Tôi còn đi thăm “Minh trị thần cung”, thăm hỏi một số sĩ quan, binh lính đã bị thương khi xâm lược Trung Quốc tại bệnh viện lục quân. Tôi đến nơi ở của mẹ Hirohito dâng lễ vật. Báo chí Nhật Bản đã đưa tin về việc tôi cùng bà ta tản bộ, nói có một lần lên dốc, tôi đã lấy tay đỡ hoàng thái hậu Nhật Bản, điều đó cũng giống như tình cảm của tôi khi ở trong nội phủ Trường Xuân khi tôi đỡ cha tôi lên bậc thềm. Thực ra, từ trước tới nay tôi chưa đỡ cha tôi bao giờ, nếu như hỏi tình cảm của tôi khi đỡ mẹ Hirohito tôi thẳng thắn nói, điều đó thuần tuý là vì nịnh nọt.
            Ngày cuối cùng, em trai Hirohito thay mặt anh ra ga tiễn tôi, ông ta dọc lời tiễn:
            “Đến Nhật Bản lần này, hoàng đế bệ hạ đã cống hiến rất lớn cho sự thân thiện Nhật - Mãn. Thiên hoàng bệ hạ nước tôi cảm thấy hết sức hài lòng. Mong hoàng đế bệ hạ về nước với niềm tin vững chắc rằng Nhật Mãn thân thiện sẽ có thể thật sự đạt được. Đó là mong muốn của chúng tôi”.
            Tôi lại hết sức nịnh nọt đáp lời:
            “Đối với sự đón tiếp long trọng của hoàng thất Nhật Bản và sự hoan nghênh nhiệt tình của quốc dân Nhật Bản, tôi vô cùng cảm kích. Hiện nay tôi hạ quyết tâm, nhất định sẽ dốc sức cố gắng cho sự thân thiện lâu dài Nhật-Mãn. Đối với sự việc này, tôi vốn có niềm tin thật sự”.
            Lúc sắp lên tàu ra đi, tôi yêu cầu Hayashi Gonsuke người phụ trách đón tiếp chuyển lời cảm ơn tới Thiên hoàng Nhật Bản và mẹ Hirohito. Lúc đó hai hàng nước mắt nhục nhã đã ứa đầy mắt tôi và ông già này cũng khóc.
            Sự tiếp đãi của hoàng thất Nhật Bản đối với tôi lần này khiến đầu óc tôi càng cuồng nhiệt, cảm thấy từ sau khi làm hoàng đế, ngay không khí cũng thay đổi mùi. Đầu óc tôi xuất hiện một lô gích: Thiên hoàng và tôi bình đẳng. Địa vị Thiên hoàng tại Nhật Bản cũng là địa vị của tôi tại nước Mãn Châu. Người Nhật Bản đối với tôi cũng như đối với Thiên hoàng vậy.
            Trong sự hôn mê như vậy tôi về tới Trường Xuân lập tức phát biểu “hồi loan huấn dân chiếu thư” (Chiếu huấn thị dân chúng sau khi  vua trở về), đồng thời mời đại tướng Minami Jiro, tư lệnh quân Quan Đông mới nhận nhiệm vụ bày tỏ với ông ta cảm tưởng của tôi. Ngày hôm sau (tức 29/4) tôi vô cùng vui vẻ tham gia cuộc họp chúc mừng sinh nhật Nhật hoàng Hirohito; ngày tiếp đó liền vội vã xuống dụ triệu tập toàn thể các quan lại chức có giản (59) trở lên không kể là người Trung Quốc hay người Nhật Bản đến nghe tôi huấn thị nói về cảm tưởng đi thăm Nhật Bản. Việc này tôi hoàn toàn không thương lượng với người Nhật Bản cũng không chuẩn bị bài nói, tới lúc đó lại thao thao lưu loát. Tôi nói về quá trình đi thăm Nhật Bản, miêu tả chi tiết sự tiếp đãi của Thiên hoàng Nhật Bản đối với tôi nói về sự tôn kính của Nhật. Bản đối với tôi. Sau đó cao hứng bình luận:
            “Vì sự thân thiện Nhật Mãn tôi tin tưởng chắc chắn rằng nếu người Nhật Bản có điều gì không có lợi cho người Mãn Châu tức là không trung thành với Thiên hoàng bệ hạ; nếu như người Mãn Châu có điều gì không có lợi cho người Nhật Bản cũng tức là không trung thành với hoàng đế Mãn Châu. Nếu không trung thành với hoàng đế Mãn Châu cũng !à không trung thành với Thiên hoàng Nhật Bản, không trung thành với Thiên hoàng Nhật Bản cũng là không trung thành với hoàng đế Mãn Châu”.
            Những điều tôi nghĩ thật quá ngây thơ.
            Về tới Trường Xuân chưa đến một tháng, Minami Jiro tư lệnh quân Quan Đông trong một cuộc hội kiến đã nói với tôi: “Thủ tướng Trịnh Hiếu Tế mệt mỏi muốn rút lui, cần để ông ta nghỉ dưỡng lão, thay một thủ tướng đại thần khác”. Về việc Nhật Bản không hài lòng với Trịnh Hiếu Tế, tôi đã nghe qua, đang tìm dịp để đuổi ông ta, nay Minami Jiro nêu việc này ra, tôi lập tức không cân nhắc nói ngay: Để Trịnh Hiếu Tế nghỉ, tôi hoàn toàn đồng ý. Chức thủ tướng có thể để Tang Thức Nghị thay thế. Tôi cho rằng nghe tôi hai lần nói rõ về “Nhật Mãn thân thiện” Minami Jiro nhất định sẽ tuân lệnh, nào ngờ ông lắc đầu nói: “Không, quân Quan Đông đã cân nhắc chọn người thích hợp, hoàng đế bệ hạ không phải quan tâm, hãy để Trương Cảnh Huệ làm thủ tướng đại thần tốt hơn”.
            Trước đó không lâu, tại “thư viện Vương đạo” Trịnh Hiếu Tế đã thốt ra lời bất mãn. Ông nói với những người nghe giảng: “Nước Mãn Châu nay không còn là đứa trẻ con nữa, nên để cho nó tự đi, không nên chỗ nào cũng không buông tay”. Câu nói đó chọc tức ông chủ Nhật Bản vì vậy đã bị ông chủ gạt bỏ. Sau đó ngay “tiền lao công kiến quốc” của ông ta ở ngân hàng, ông ta cũng không rút được, muốn rời khỏi Trường Xuân cũng không được phép. Dưới sự giám sát của hiến binh Nhật, Trịnh Hiếu Tế chỉ có thể ở nhà viết chữ, làm thơ. Ba năm sau, kết cục ôm mối ước mong chưa thoả mắc bạo bệnh chết ở Trường Xuân. Trịnh Thúy con ông ta cũng mắc bệnh cấp tính chết trước 3 năm. Nghe đồn, cha con ông đều chết vì sự ám hại của Nhật Bản. Dù tin đồn không đúng, sự sụp đổ của ông ta cũng đã đập tan ảo tưởng khôi phục sự nghiệp tổ tiên của tôi, song mãi một năm sau, trước trước ngày Nhật Bản xâm lược toàn diện Trung Quốc tôi mới dần dần thấy rõ.
 
 
-------------------------------------------------------------
(59) Chức có giản: thời phong kiến, làm quan có giản là chức quan khá cao (ND)
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 24.02.2022 22:59:40 bởi Thanh Vân>

Ảo tưởng bị tan vỡ

 
            Sau khi rút khỏi Hội Quốc Liên đầu năm 1933, Nhật bản càng tha hồ mở rộng quân bị để chuẩn bị chiến tranh, nhất là khẩn trương bố trí kế hoạch xâm lược toàn diện Trung Quốc và chuẩn bị hậu phương. Trước sự biến mùng 7 tháng 7 (60) Nhật bản liên tiếp dùng vũ lực và gây sự biến tại vùng Hoa Bắc, chính quyền Quốc dân Đảng Nam Kinh từng bước khuất phục, đã ký “Hiệp định Hà Ứng Khâm - Umezu”, “Hiệp định Tần Đức Thuần - Doihara” và các hiệp định khác nhường quyền kiểm soát Hoa Bắc cho Nhật, chấp nhận sự tồn tại và hoạt động của các tổ chức ngụy như “Chính phủ tự trị phòng cộng miền đông Hà Bắc”, “Chính phủ quân sự tự trị Nội Mông” v.v.., mấy lần bày tỏ với Nhật “không những không có hành động và tư tưởng chống Nhật, mà vốn cũng không có lý do gì để chống Nhật”, hơn nữa còn ra lệnh “hoà thuận với láng giềng”, nhấn mạnh sẽ nghiêm trị những ai chống đối với Nhật Bản. Vì thế, thế lực của Nhật Bản tại miền Hoa Bắc được tăng cường nhanh chóng, mọi người đều có thể nhận thấy rằng chỉ cần tới một thời gian nào đó là 5 tỉnh của Trung Quốc sẽ hoàn toàn mất đứt.
            Phần trước tôi đã nói, thời kỳ này là lúc bọn mê muội phục hồi ở trong và ngoài Trường thành đang muốn thử sức thực hiện ý muốn của mình, và cũng là thời gian trước sau khi tôi hý hửng lên làm vua lần thứ ba. Song, trong khi Nhật Bản nhe nanh múa vuốt ở phía Trường thành Trung Quốc, thì chúng đồng thời cũng ngày càng có nhiều biện pháp ở “nước Mãn Châu” của chúng. Các biện pháp đó cuối cùng là nhằm chĩa vào tôi lúc đó đang làm “hoàng đế”.
            Quá trình thuộc địa hoá hoàn toàn vùng Đông Bắc Trung Quốc phải nói cho công bằng là bọn Hán gian cũng được lợi nhiều bề. Chẳng hạn như việc khôi phục lại chế độ quân chủ, biện pháp này không những khiến bọn mê phục hồi được vừa ý với một mức độ nào đó về mặt tâm lý mà còn là một dịp để bọn chúng phát tài. Các đại thần Hán gian kể từ Trịnh Hiếu Tế trở xuống, mỗi người đều được một khoản tiền thưởng từ 5 vạn đến 60 vạn đồng “công lao dựng nước”, tổng cộng bọn chúng được tất cả là 8 triệu đồng, sau đó cứ mỗi đợt vơ vét lớn chẳng hạn như “dự trữ lương thực”, “quyên góp yêu nước”.. thì từ “tổng lý đại thần” tới ấp trưởng lại một lần nữa được chia “tiền thưởng”. Ở đây tôi không muốn nhắc lại toàn bộ các biện pháp của Nhật Bản mà chỉ muốn nói sơ qua quá trình tư tưởng khôi phục lại sự nghiệp tổ tiên của tôi bị tiêu tan và những sự việc đã làm tôi hết sức ghê rợn.
            Lẽ ra, khi quân Quan Đông Nhật Bản chính thức cho tôi biết: khôi phục chế độ quân chủ không phải là khôi phục nhà Thanh, không cho phép tôi mặc áo long bào khi “lên ngôi” và không đếm xỉa gì đến ý kiến của tôi khi quyết định người làm “tổng lý đại thần”, thì tôi phải biết cái “tôn nghiêm” của mình chỉ là thứ giả tạo, song vì quá “say mê” ngôi vua, nên tôi không vì thế mà tỉnh ngộ. Sư việc khiến tôi bắt đầu nếm mùi vị bị tan vỡ phải nói là vụ “Lăng Thăng”.
            Lăng Thăng là con của Quý Phúc, thống đốc Mông Cổ, cuối đời Thanh, vốn là cố vấn tổng tư lệnh quân bảo an 3 tỉnh Đông Bắc thuộc Trương Tác Lâm và cố vấn quan Thứ sử Tuyên phủ Mông Cổ. Y là một trong những “đại biểu thỉnh nguyện” ở Lữ Thuận hoạt động cho tôi lên làm vua, vì vậy được liệt vào hàng ngũ những người “có công dựng nước”. Hồi xảy ra vụ này, y là tỉnh trưởng tỉnh Hưng An của ngụy Mãn, mùa xuân năm 1936, bỗng nhiên bị quân Quan Đông Nhật Bản bắt giữ. Theo Yoshioka Yasunori là người do quân Quan Đông phái đi bắt nói thì nguyên nhân Lăng Thăng bị bắt là vì có hoạt động chống “nước Mãn Châu” và Nhật Bản. Song theo tin của Đông Tế Hy nghe được thì trong một cuộc họp liên tịch các tỉnh trưởng, y đã phát biểu những lời kêu ca, do đó khiến người Nhật nổi giận. Nghe nói trong cuộc họp đó y oán trách quân Quan Đông nói và làm không nhất trí. Y nói, hồi ở Lữ Thuận, chính tai y đã được nghe thấy Itagaki nói Nhật Bản sẽ thừa nhận “nước Mãn Châu” là một nước độc lập nhưng sự thật về sau thì việc gì cũng bị quân Quan Đông can thiệp. Y nói, y ở tỉnh Hưng An có chức chứ không có quyền, mọi việc đều phải do người Nhật định đoạt. Họp xong, vừa trở về tới Hưng An thì y ắt bị bắt. Nghe tin này, tôi rất không yên tâm, vì mới nửa năm trước đây thôi tôi đã cùng y kết thành thông gia; em gái thứ tư của tôi đính hôn với con trai của y. Tôi đang do dự có nên nói với bên quân Quan Đông thông cảm cho không thì Ueda Kenkichi, tư lệnh quân Quan Đông vừa nhậm chức và là đại sứ tại nước Mãn Châu tìm đến tôi và nói:
            - Mấy hôm trước chúng tôi khám phá ra một vụ án, tội phạm là Lăng Thăng, tỉnh trưởng tỉnh Hưng An mà bệ hạ quen đấy. Y cấu kết với nước ngoài, âm mưu làm phản chống lại Nhật Bản. Toà án quân sự đã điều tra tội chống nước Mãn Châu và chống lại Nhật Bản của y, và tuyên bố y bị tử hình.
            - Tử hình? - tôi kinh ngạc.
            - Đúng, tử hình. - Y gật đầu nói lại một lần nữa cho phiên dịch của y, có ý nói rõ cho tôi biết rồi quay lại nói với tôi:
            - Giết một để răn trăm, bệ hạ ạ. Giết một để răn trăm là điều cần thiết.  
            Sau khi y về, tham mưu quân Quan Đông lại thông tri cho tôi biết, nên lập tức từ bỏ việc hôn nhân giữa con trai của Lăng Thăng với em gái thứ tư của tôi. Tôi vội vàng tiến hành ngay.
            Lăng Thăng bị hành quyết chém đầu. Cùng bị chém còn có vài người thân thuộc của y. Đó là nhân viên quan trọng đầu tiên mà tôi được biết bị người Nhật giết hại, hơn nữa lại là người mới kết thông gia với tôi. Bằng hành động kết thành thông gia với tôi, tôi rất biết Lăng Thăng là người sùng bái tôi nhất và cũng là người trung thành với tôi nhất. Thế nhưng tiêu chuẩn thước đo duy nhất của quân Quan Đông đối với mọi người là thái độ đối với Nhật Bản như thế nào; và khỏi nói, họ cũng lấy tiêu chuẩn thống nhất ấy đối xử với tôi. Nghĩ đến đây, tôi càng thấy câu nói “giết một để răn trăm” của Ueda Kenkichi thật là nham hiểm và đáng sợ.
            Việc này làm tôi lại nghĩ đến một việc cách đó không lâu. Ấy là cuối năm 1935, có một số nhân vật như Nhiệm Tố An, đồ đệ của Khang Hữu Vi , Ngô Thiên Bồi, quan tâu việc của tôi trước kia... vì muốn phục hồi nhà Thanh nên thường lui tới hai miền Nam Bắc Trường thành tiến hành hoạt động, đã khiến quân Quan Đông chú ý. Về việc này quân Quan Đông cũng đã từng hỏi tôi để điều tra. “Vụ Lăng Thăng” đã nhắc nhở tôi rằng người Nhật không thích những việc tương tự như thế, hãy nên cẩn thận một chút thì hơn.
            Người Nhật thích gì? Tự nhiên tôi lại nghĩ ngay đến một người hoàn toàn khác với số mệnh của Lăng Thăng, đó là Trương Cảnh Huệ. Người Nhật thật sự muốn lấy hai người này làm hai gương cho chúng tôi xem. Một hoạ, một phúc đối chiếu rõ rệt. Sở dĩ Trương Cảnh Huệ được người Nhật ưa chuộng và được thay thế Trịnh Hiếu Tế là vì y có bài bản của y.
            Một lần, viên quan Bộ tổng vụ phát biểu cái lý thuyết quái đản “Nhật-Mãn cùng một lòng, một đạo đức” trong một buổi họp quốc vụ để làm căn cứ cho hành động của Nhật Bản cướp bóc tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc, sắp hết buổi họp, “Tổng lý đại thần” Trương Cảnh Huệ được mời phát biểu mấy câu. Y nói: “Tôi là ông già thô kệch, không biết chữ, nhưng cũng xin nói vài câu thô kệch vậy. Hai nước Nhật-Mãn ví như hai con chuồn chuồn buộc chung một sợi chỉ”, câu nói đó liền được người Nhật tán tụng một dạo và được lấy làm “câu cách ngôn” để nhắc nhở những quan viên “nước Mãn Châu”. Khi Nhật Bản thi hành chính sách “mở mang đất đai và di dân” ở Đông Bắc (61), “hội nghị quốc vụ” phải thông qua một đạo luật quy định Nhật Bản chỉ cần bỏ ra một phần tư hay một phần năm giá tiền đất đai là có thể mua ruộng đất ở vùng Đông Bắc. Có một số đại thần như Hàn Vân Giai... một là vì sợ dân “nổi loạn”, hai là vì tự mình có nhiều ruộng đất không muốn bị thiệt nên đã tỏ ý phản đối. Lúc ấy Trương Cảnh Huệ đứng ra nói: “Đất đai nước Mãn Châu thiếu gì người Mãn Châu đều là những người quê mùa, không có kiến thức, để người Nhật tới vỡ hoang và dạy cho kỹ thuật, chẳng phải lợi cả đôi bên hay sao? Thế là đạo luật này được thông qua. Câu nói “lợi cả đôi bên” từ đó lại được người Nhật thường xuyên nhắc đến. Về sau, vì tiến hành khẩn trương chính sách “dự trữ lương thực”, lương thực của nông dân Đông Bắc bị trưng mua hết sạch, một số “đại thần” cũng vì giá trưng mua quá thấp mà trực tiếp thiệt hại đến lợi ích của mình nên vin cớ nông dân bị đói kém, yêu cầu “hội nghị quốc vụ” bàn việc nâng cao giá trưng mua. Tất nhiên người Nhật không chịu; và Trương Cảnh Huệ lại nói với mọi người: “Quân đội Nhật Bản không tiếc xương máu, người Mãn Châu chúng ta đóng góp chút lương thực thì có thấm vào đâu. Đói thì thắt chặt dây lưng lại một chút là qua khỏi thôi”. Câu “thắt chặt dây lưng” lại được người Nhật thích nhắc đến nhất, dĩ nhiên họ không phải nói để họ nghe.
            Tư lệnh quân Quan Đông thường hay khen ngợi Trương Cảnh Huệ là “thừa tướng tốt” và “người thực hiện Nhật-Mãn thân thiện” trước mặt tôi. Lúc bấy giờ tôi ít nghĩ đến lời nói đó có ý nghĩa gì đối với tôi, nay có “ tấm gương” Lăng Thăng so sánh với Trương Cảnh Huệ, và tôi đã hiểu.
            “Vụ Lăng Thăng” đã qua, nhưng việc gặp gỡ giữa tôi và Đức Vương càng làm tôi không yên lòng.  
            Đức Vương tức Demchukdongrub, người tổ chức ra “chính phủ quân sự tự trị Nội Mông” do Nhật thao túng. Ông vốn là một vương công Mông Cổ. Hồi tôi ở Thiên Tân, ông từng cho tiền tôi, tặng giống ngựa tốt Mông Cổ cho Phổ Kiệt, tìm nhiều cách tỏ ý trung thành với tôi. Lần này ông có việc tìm đến quân Quan Đông cho phép đến thăm tôi. Ông kể tình hình của mình mấy năm qua và tình hình thành lập “chính phủ quân sự tự trị Nội Mông”, bất giác thốt ra những lời kêu ca oán trách người Nhật ở chỗ chúng quá hống hách chuyên quyền. Ông nói trước khi thành lập chính quyền tự trị” quân Quan Đông hứa hẹn nhiều điều, nhưng rồi sau chẳng thực hiện điều nào. Điều làm cho ông khổ não nhất là ông không tự chủ được việc gì cả. Nghe ông nói, tôi cũng phàn nàn kêu ca, thông cảm với ông cùng cảnh huống và an ủi một hồi. Không ngờ hôm sau, Yoshioka, tham mưu liên lạc của quân Quan Đông phái đến làm liên lạc bên cạnh tôi, về sau làm “tùy viên nhà vua” mà tôi sẽ nói ở phần sau, hầm hầm nét mặt tới gặp tôi, hỏi:
            - Hôm qua bệ hạ nói gì với Đức Vương thế nhỉ?
            Tôi thấy có điểm không tốt, bèn chối bay chối biến rằng đó chỉ là chuyện hàn huyên bình thường thôi.
            Y không buông tha, truy hỏi: “Câu chuyện hôm qua tỏ ý gì bất mãn người Nhật không?”.
            Trống ngực tôi đánh thình thình. Tôi biết chỉ có cách duy nhất là chối phăng và cách tốt hơn hết là lấy thế lùi thay thế công.  
            “Có lẽ Đức Vương bịa ra lời gì đó chăng?”.
            Yoshioka không hỏi dồn nữa. Song mấy ngày liền, tôi đã rợn tóc gáy, lo lắng vô cùng. Tôi nghĩ việc này chỉ có hai khả năng, nếu không phải là người Nhật đã gài máy nghe trộm trong phòng tôi thì là Đức Vương đã nói hết sự thật với người Nhật rồi. Để tháo gỡ mối lo lắng rối bời ấy, tôi ra công lục tìm xem có chiếc máy nghe trộm đặt trong phòng không, nhưng rút cục chẳng có gì hết. Tôi lại nghi hoặc có lẽ Đức Vương bán rẻ tôi, nhưng cũng chẳng có chứng cứ gì. Hai khả năng này đều không đoán được, nhưng cũng không phủ định được, vì vậy cứ ám ảnh tôi mãi.
            Sau này, những việc tôi hiểu càng nhiều hơn “vụ Lăng Thăng” đã dạy cho tôi. Từ đó tôi không tâm sự với bất cứ người nào từ ngoài tới. Đối với bất kỳ người khách nào đến thăm tôi cũng cảnh giác. Sự thật là từ khi tôi diễn thuyết sau khi đi thăm nước Nhật trở về thế ngày càng có ít người chủ động đến gặp tôi, và sau cuộc gặp gỡ với Đức Vương hình như không còn ai đến gặp tôi nữa. Đến năm 1937, quân Quan Đông lại nghĩ ra một qui định mới nghĩa là mỗi lần tôi tiếp ai đều phải có “tùy viên nhà vua” đứng bên cạnh.
            Bước sang năm 1937, tôi ngày càng lo lắng.
            Trong sáu tháng đầu năm, trước sự biến “mùng 7 tháng 7” xẩy ra, Nhật bản đã tăng nhanh tốc độ chuẩn bị chiến tranh xâm lược toàn diện Trung quốc. Để củng cố ách thống trị ở căn cứ hậu phương của chúng, chúng đàn áp toàn diện phong trào yêu nước chống Nhật của nhân dân Đông Bắc. Ngày 4 tháng giêng, “Hình pháp của đế quốc Mãn Châu” được ban bố theo lệnh của “Hoàng đế Mãn Châu quốc”, kế đó bắt đầu tiến hành các đợt “tố giác” “trừng trị” ráo riết thực hành “liên gia giám sát”, cưỡng bức mọi người phải vào “Hội liên hiệp thân thiện”, bắt dân sửa đường, xây lô cốt, sát nhập thôn ấp... Nhật Bản điều đến 20 sư đoàn quân  để đối phó với 45.000 liên quân chống Nhật và không bỏ qua những người chúng cho là “không kiên định”. Cuộc “tố giác” và “trừng trị” ấy không giành được hiệu quả lắm, song tư lệnh quân Quan Đông vẫn khoe với tôi “uy thế và chiến công hiển hách” của quân đội Nhật Bản.
            Chưa tới một năm sau, Nhật Bản lại điều binh khiển tướng ào ạt tới (sau này được biết  gồm có 70 vạn quân Nhật và 30 vạn quân ngụy) mở đợt “càn quét trừng trị” mới. Cùng thời gian này, theo tâm phúc của tôi là Trưởng ty cảnh vệ Đông Tế Hy cho biết thì, các nơi thường có người bị “mất tích”, hình như những phần tử chống nước Mãn Châu và kháng chiến chống Nhật bắt mãi mà vẫn không hết.
            Tôi không bao giờ được nghe thấy tin thật trong những cuộc nói chuyện với tư lệnh quân Quan Đông cũng như trong những báo cáo thường lệ của “Tổng lý đại thần”, chỉ có Đông Tế Hy mới có thể cho tôi biết được một vài sự thật. Y từng nói cho tôi biết, tư lệnh quân Quan Đông nói với tôi tin thắng lợi về “càn quét trừng trị” chưa chắc là đúng. Tin tức cho là “thổ phỉ” cũng khó nói là những người như thế nào. Y nói, y có một vài người bà con bị bắt làm lao công, từng tham gia xây dựng một công trình bí mật, theo người bà con này cho biết, sau khi công trình này hoàn thành, những người lao công đều bị giết sạch, chỉ có người bà con này và người khác may mắn sống sót, trốn được ra ngoài. Theo Đông Tế Hy thì có một lần báo chí thổi phồng một nơi nào đó tiêu diệt được bao nhiêu “thổ phỉ”, nhưng người ấy chính là những lao công bị giết hại.
            Câu chuyện của Đông Tế Hy kể xẩy ra không lâu thì Ngô Hãng Nghiệp, người từng làm phiên dịch tiếng Anh cho tôi bị mất tích. Có một hôm Phổ Kiệt đến nói với tôi: Ngô Hãng Nghiệp bị bắt vì đi lại với người Mỹ khi còn làm việc của “nước Mãn Châu” tại Tokyo, và bây giờ đã chết trong trại hiến binh Nhật. Phổ Kiệt còn nói, trước khi chết, Ngô Hãng Nghiệp có nhờ cai tù mang cho Phổ Kiệt một bức thư, nhờ Kiệt xin tôi đi nói hộ, song Kiệt lúc ấy không dám nói với tôi. Nghe vậy, tôi bảo Kiệt đừng nói tiếp nữa.
            Trong đoạn thời gian này, tất cả những chính sách và luật pháp do tôi đồng ý ban hành trong đó có nhiều biện pháp cho Nhật Bản tăng cường chuẩn bị chiến tranh và kiểm soát vùng thuộc địa này như “kế hoạch 5 năm lần thứ nhất về khai thác tài nguyên “, “luật kiểm soát tài sản”, hoặc “cải tổ cơ cấu chính phủ” nhằm thích ứng hơn nữa nhu cầu kiềm chế hay quy định tiếng Nhật làm tiếng “quốc ngữ”... đều không làm tôi bị kích động bằng việc hôn nhân của Phổ Kiệt.
            Sau khi tốt nghiệp trường con em quý phái Nhật Bản, Phổ Kiệt chuyển vào học trường sĩ quan lục quân. Mùa đông năm 1935, Phổ Kiệt từ Nhật Bản về Trường Xuân với quân hàm trung uý “cấm vệ”. Từ đó, những người trong quân Quan Đông quen biết Phổ Kiệt thường bàn luận với Kiệt về vấn đề hôn nhân, nào là đàn ông phải có đàn bà hầu hạ, nào là phụ nữ Nhật Bản là người vợ lý tưởng nhất trên thế giới. Thoạt đầu nghe Phổ Kiệt nói đến việc này, tôi chỉ cười xoà chứ không để tâm. Không ngờ về sau quân Quan Đông phái Yoshioka, người làm việc ngay bên cạnh tôi đến gặp tôi nói rằng, để xúc tiến quan hệ thân thiết giữa hai nước Nhật Mãn, ý của quân Quan Đông là mong muốn Phổ Kiệt lấy vợ người Nhật Bản. Lúc ấy tôi không tỏ ra đồng ý hay không, nhưng trong lòng rất không yên, tôi vội vàng tìm gặp em gái thứ hai của tôi cùng tìm cách đối phó. Chúng tôi đều nhất trí đây là âm mưu của người Nhật định lôi kéo Phổ Kiệt, muốn Kiệt có một đứa con trai có dòng máu Nhật Bản để khi cần thiết có thể thay thế tôi. Để thủ tiêu ý đồ của quân Quan Đông, tôi quyết định bắt tay ngay vào việc tổ chức lễ cưới cho Phổ Kiệt. Tôi gọi Phổ Kiệt đến, trước hết huấn thị một hồi, sau đó cảnh cáo Kiệt là tôi nhất định tìm cho y một người vợ tốt, nên nghe lời tôi, đừng có nghĩ đến con gái Nhật Bản làm gì nữa. Phổ Kiệt cung kính vâng lời. Tôi bèn phái người đi Bắc Kinh để hỏi vợ cho Kiệt. Về sau, người nhà của bố vợ tôi tìm được một đám cho Kiệt ở Bắc kinh. Kiệt cũng tỏ ra vừa ý nhưng Yoshioka bỗng tìm đến Phổ Kiệt can thiệp một cách ngang ngược. Y nói: quân Quan Đông mong Kiệt lấy vợ Nhật để tăng thêm một tình thân thiện Nhật Mãn, nói Kiệt là em vua thì phải đi đầu làm gương “thân thiện”, đó là ý muốn của quân Quan Đông, tướng Honjo ở Tokyo sẽ đích thân làm mối cho Kiệt, vì vậy không nên tiếp nhận việc hôn nhân ở Bắc Kinh mà nên chờ tin ở Tokyo. Rút cục, Phổ Kiệt buộc phải phục tùng quân Quan Đông.
            Ngày 3 tháng 4 năm 1937, Phổ Kiệt thành hôn với Saga Hiro, con gái của hầu tước Saga tại  Tokyo. Chưa đầy một tháng sau, theo mệnh lệnh của quân Quan Đông, “Quốc vụ viện nước Mãn Châu” thông qua “luật thừa kế ngôi vua”, lời văn quy định rõ ràng là: sau khi vua mất thì con nối ngôi, nếu không con, không cháu nội thì em trai nối ngôi.
            Sau khi Phổ Kiệt và vợ về Đông Bắc, tôi quyết định trong thâm tâm: Không nói một lời tâm sự nào của mình với Phổ Kiệt nữa. Vợ Phổ  Kiệt đem thức ăn đến biếu, tôi không ăn miếng nào. Giả sử có ngồi ăn cùng bàn với Phổ Kiệt thì với thứ ăn trên bàn do vợ Kiệt làm, tôi chờ Kiệt gắp ăn trước rồi mới ăn chút ít.
            Về sau, khi Phổ Kiệt sắp làm bố, tôi thường thấp thỏm bói quẻ cho mình, thậm chí cũng lo lắng cho em Kiệt của tôi. Tôi biết, những câu trước trong “luật thừa kế ngôi vua” chẳng có gì đáng tin cậy cả; chỉ có câu “con trai của em trai nối ngôi” là có giá trị thôi. Quân Quan Đông chỉ muốn có một vua nước Mãn Châu có huyết thống Nhật Bản, vì vậy hai anh em chúng tôi có thể là vật hy sinh của chúng. Sau nghe nói Phổ Kiệt được con gái, lúc ấy tôi mới thở phào.
            Lúc bấy giờ tôi cũng từng nghĩ, nếu như tôi có con trai thì có được an toàn không? Nghĩ cho cùng thì giả sử có con trai thật tôi cũng chưa chắc được lợi ích gì, vì vậy quân Quan Đông đã bảo tôi viết sẵn giấy cam đoan: nếu hoàng tử ra đời thì khi lên 5 tuổi phải đưa sang Nhật cho quân Quan Đông nuôi dưỡng.
            Sự việc đáng sợ không phải kết thúc ở đây. Ngày 28 tháng 6, tức là 9 ngày trước khi xẩy ra vụ “hộ quân”.
            Cái gọi là “hộ quân” là một đội ngũ do tôi tự bỏ tiền ra nuôi dưỡng. Đội ngũ này không như “cấm vệ quân” thuộc biên chế của “Bộ quân chính”. Lúc đầu xây dựng đội quân này, tôi không phải chỉ nhằm mục đích bảo vệ tôi mà cũng giống như động cơ của tôi phái Phổ Kiệt và các người khác sang Nhật học lục quân là để bồi dưỡng cốt cán quân sự của tôi, nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng đội quân do tôi làm lấy. Toàn bộ “hộ quân” gồm 300 người này đều được huấn luyện theo tiêu chuẩn sĩ quan. Đông Tế Hy phụ trách quản lý đội quân này đã sớm cho tôi biết, quân Quan Đông rất không thích đội quân này. Đối với sự nhậy bén của Đông Tế Hy trước đây, tôi vẫn không hiểu nổi, mãi đến khi xẩy ra sự việc tôi mới hiểu.
            Ngày 28 tháng 6 đó, một số đội viên hộ quân đi chơi công viên vì mướn thuyền bơi đã cãi nhau với một số người Nhật mặc thường phục. Lúc ấy có một đám người Nhật kéo đến chẳng nói chẳng rằng ẩu đả luôn. Hộ quân bắt buộc phải dùng đến võ thuật chống lại. Người Nhật thấy không làm gì được bèn thả chó ra cắn. Hộ quân đá chết chó, thoát khỏi vòng vây chạy về đơn vị. Họ không ngờ việc này dẫn đến tai họa lớn. Một lát sau một đám hiến binh Nhật đến bên ngoài cổng đòi Đông Tế Hy phải nộp toàn bộ những hội viên “hộ quân” đi chơi công viên hôm đó. Đông Tế Hy sợ quá vội nộp số “hộ quân” ấy cho hiến binh Nhật bắt đi. Hiến binh bắt họ phải nhận có hoạt động “chống Mãn Châu, chống Nhật Bản”. Họ không nhận liền bị nhận cực hình tàn khốc. Lúc đó hội viên “hộ quân” ấy mới hiểu ra sự việc này là do quân Quan Đông cố tình gây nên. Những người Nhật mặc thường phục ấy chính là những người do quân Quan Đông phái đi, trong khi hai bên ẩu đả thì có hai sĩ quan tham mưu của quân Quan Đông bị thương. Chó bị đá chết là chó béc giê của quân Quan Đông. Khi được tin một số “hộ quân” bị bắt, tôi tưởng họ vô ý gây sự vội nhờ Yoshioka Yasunori nói hộ với quân Quan Đông Yoshioka đi được một lát trở lại đem theo ba điều kiện của tham mưu trưởng quân Quan Đông Toihara:
            1. Đông Tế Hy phải đi xin lỗi hai sĩ quan tham mưu quân Quan Đông bị thương.
            2. Trục xuất những Hộ quân đã gây sự.
            3. Đảm bảo sau này không xảy ra những việc tương tự như thế nữa.
            Sau khi tôi chấp nhận mọi điều kiện của Toihara, quân Quan Đông kế đó lại buộc tôi phải cất chức Trưởng ty cảnh vệ của Đông Tế Hy và để Nagayoshigôrô, sĩ quan người Nhật thay thế. Hơn nữa, biên chế độ quân thuộc Ty cảnh vệ quản lý phải thu hẹp, súng trường của Hộ quân phải đổi thành súng ngắn.
            Trước kia, tôi tùừg phái mấy đợt thanh niên  sang Nhật học lục quân để về gây dựng thực lực tôi nhưng không ngờ sau khi về nước, những người này, kể cả Phổ Kiệt đều bị “Bộ quân chính” sắp xếp công việc, còn tôi thì chẳng chi phối được người nào. Và giờ đây, “hộ quân” do tôi nuôi dưỡng làm cốt cán lại hoàn toàn rơi vào tay người Nhật. Từ đó, tôi không còn mộng đẹp nực cười ấy nữa.
            Sự biến “mùng 7 tháng 7” bùng nổ quân Nhật đánh chiếm Bắc Kinh, lúc bấy giờ có một số vương công hồi trước ở Bắc Kinh lại muốn hoạt động để được đội mũ quan đời Thanh, song lúc này tôi đã hiểu rõ việc ấy không thể nào thực hiện được. Tư tưởng duy nhất của tôi lúc đó chỉ là làm thế nào để được an toàn trước người Nhật, làm thế nào ứng phó cho tốt “tùy viên nhà vua” Yoshioka Yasunori, hoá thân của quân Quan Đông.
 
 
-------------------------------------------------------------
(60) Ngày 7/7/1937 vin cớ tìm một tên lính mất tích, quân đội Nhật đòi tiến vào lục soát trong thành Uyển Bình ở ngoại ô Bắc Kinh, còn đòi quân đội Trung Quốc rút khỏi Uyển Bình. Tiếp đó, quân đội Nhật đã tấn công Lư Cầu kiều ở ngoại thành Uyển Bình, mở đầu cho việc chúng xâm lăng toàn Trung Quốc - (ND). 
(61) Nhật Bản di dân sang vùng Đông Bắc Trung Quốc (ND)
 
Đăng nhập để trả lời
0

Yoshioka Yasunori

 
            Quân Quan Đông giống như một dòng điện có điện thế mạnh, tôi như một động cơ điện nhạy, tinh xảo và chính xác, Yoshioka Yasunori như một dây dẫn điện tính năng cực tốt.
            Con người trán dô, râu thưa, người thấp bé ở đảo Lộc Nhi Nhật Bản này, đến cạnh tôi bắt đầu từ năm 1935 cho đến khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945, cùng với tôi bị Liên Xô bắt làm tù binh, trước sau không hề rời tôi. Trong vòng 10 năm, từ một trung tá lục quân hắn dần dần leo lên cấp trung tướng. Hắn có hai thân phận: một là tham mưu cao cấp cho quân Quan Đông,  hai là “Tùy viên nhà vua nước Mãn Châu”. Thân phận thứ hai là tên gọi của Nhật Bản, nghe nói y giống như “nội đình hành tẩu” lại giống như “thư ký hoàng thân”, rút cục việc dịch ra như thế nào cho phù hợp tôi thấy điều đó chẳng có gì quan trọng vì hàm ý chữ nghĩa bề ngoài dù thế nào đều cũng không nói rõ được chức năng thực tế của Yoshioka. Chức năng thực tế của hắn là một sợi dây điện. Mọi ý nghĩ của quân Quan Đông đều qua sợi dây điện này truyền tới tôi. Tôi đi tuần du, tiếp khách khứa, làm lễ huấn thị thần dân, nâng cốc chúc mừng cho đến gật đầu mỉm cười đều tiến hành theo sự chỉ thị của Yoshioka. Tôi có thể gặp ai, không gặp ai. Khi gặp nói gì với họ, đến lúc nào tôi dự hội nghị nào, tại hội nghị phát biểu thế nào... đều phải nghe lời dặn dò của hắn. Những lời tôi nói, đều do hắn dùng tiếng Trung Quốc kiểu Nhật Bản viết sẵn trên giấy.
            Nhật Bản phát động cuộc chiến tranh toàn diện với Trung Quốc, cần ngụy Mãn cung cấp lương thực, người và của cải, tôi liền phân phối nhiệm vụ tước đoạt tại “hội nghị tỉnh trưởng” theo giấy của Yoshioka. “Kêu gọi” các tỉnh trưởng hết sức hoàn thành nhiệm vụ, ủng hộ cuộc chiến tranh thần thánh”. Nhật Bản phát động cuộc chiến tranh xâm lược Thái Bình Dương, binh lực không đủ, yêu cầu quân đội ngụy Mãn thay thế nhiệm vụ trên một bộ phận chiến trường Trung Quốc. Tại buổi tiệc của quan tư lệnh khu quân quản, tôi liền theo giấy bày tỏ quyết tâm với Nhật Bản, cùng sống, cùng chết, một lòng một dạ gắng sức đập tan thế lực Anh - Mỹ.
            Ngoài ra, mỗi lần Nhật Bản tiến công chiếm được một thành phố tương đối lớn, ở trong cửa quan, sau khi báo cáo kết quả chiến đấu, Yoshioka cùng tôi đứng dậy, hướng về phía chiến trường khom lưng mặc niệm những sĩ quan và binh lính chết trong chiến đấu. Qua mấy lần huấn luyện của hắn, khi Vũ Hán thất thủ tôi không cần nhắc nhở, đợi khi hắn vừa báo cáo xong kết quả chiến đấu đã tự đứng lên khom lưng mặc niệm.
            Cùng với thành tích tiến bộ không ngừng của tôi, hắn cũng không ngừng tăng thêm những bài học cho tôi. Ví dụ, lần Vũ Hán thất thủ này, hắn lại chỉ thị cho tôi tự viết thư chúc mừng Okamura, tên đại đao phủ tiến công Vũ Hán, ca ngợi chiến công của hắn và chỉ thị tôi gửi điện chúc mừng Thiên hoàng.
            Về sau xây dựng “Kiến quốc thần miếu”, mỗi tháng tôi đến đó làm lễ chúc mừng thắng lợi của quân đội Nhật Bản cũng là tiến hành theo ý của “dây điện” này.
            Trước sự biến “ngày 7 tháng 7” những việc riêng, việc nhà cửa của tôi, quân Quan Đông ít hỏi đến. Song, sau sự biến, tình hình lại khác.
            Trước sự biến “mùng 7 tháng 7” gia tộc tôi ở trong cửa quan, theo lệ mỗi năm có một số người đến để chức thọ tôi, lúc bình thường cũng có lúc qua lại. Sau sự biến “mùng 7 tháng 7”, quân Quan Đông đưa ra quy định, chỉ cho phép  mấy người trên danh sách, trong một thời gian nhất định đến Trường Xuân. Lại còn qui định, ngoài những người thân tộc gần chi tôi, những người khác chỉ được làm lễ, không cho phép nói chuyện với tôi.
            Dòng thời thư từ từ bên ngoài gửi cho tôi cũng nhất loạt gửi trước cho quan lại hệ Nhật của Phu Cung nội, lâu la của Yoshioka xem. Cuối cùng do Yoshioka quyết định có đưa cho tôi hay không.
            Đương nhiên, quân Quan Đông cũng biết tôi cũng không đến mức chống Mãn, chống Nhật, song, họ vẫn lo ngại tôi có thể câu kết với những người trong cửa quan khôi phục triều Thanh mà điều đó không phù hợp với yêu cầu của họ.
            Có lúc, muốn dấu Yoshioka gặp gỡ riêng người bên ngoài hoặc nhận một bức thư rõ ràng là không thể được. Khi đó, tại Phủ cung nội đặt một “Phòng hiến bình” do một tiểu đội hiến binh Nhật Bản sắc phục xanh thẫm, không những bất cứ ai ra vào cũng không lọt qua được mắt chúng mà ngay từ trong viện xảy ra việc gì cũng không thoát được tai mắt chúng. Thêm vào đó những người Nhật là thứ trưởng trở xuống trong Phủ cung nội cũng đều là tay chân của Yoshioka. Điều đó tạo thành sự khống chế nghiêm khắc đối với tôi.
            Sở dĩ Yoshida có thể làm hóa thân của Quan Đông, làm tới mười năm là do hắn có một bản lĩnh.
            Có cuốn sách nói, Yoshioka nguyên là bạn tốt của tôi ở Thiên Tân. Sau đó làm quan tham mưu quân Quan Đông, đúng vào lúc quân Quan Đông muốn chọn một “người liên lạc” giữa quân Quốc Dân Đảng và nhà vua, để thay thế cho võ quan tùy tùng Joshimaru do đó liền chọn hắn. Thực ra, khi ở Thiên Tân, hắn chẳng qua chỉ có một thời gian nói thời sự cho tôi, không thể nói là bạn tốt được. Hắn được cử làm “người liên lạc” với tôi ở đó cũng không phải là làm tham mưu quân Quan Đông mới gặp thời. Nếu như nói hắn là bạn tốt của Phổ Kiệt, một nửa là thật. Sau khi thành lập ngụy Mãn, Phổ Kiệt vào học trường lục quân Nhật Bản. Yoshioka đang là sĩ quan dạy lịch sử chiến tranh ở trường này. Hầu như hàng tuần, hắn đều mời Phổ Kiệt đến nhà, ân cần tiếp đãi. Sau khi hai người trở thành bạn thân, hắn tiết lộ với Phổ Kiệt: quân Quan Đông có ý mời hắn đến Mãn Châu làm người liên lạc giữa phía quân đội và cá nhân tôi. Phổ Kiệt viết thư báo cho tôi. Sau đó lại báo cho hắn thư tôi trả lời tỏ ý hoan nghênh. Việc đó hắn có bày tỏ đó là điều vinh hạnh của hắn. Tuy nhiên, nếu như hắn không đạt tới chức vụ tham mưu cao cấp của quân Quan Đông thì sẽ không muốn làm vì từ trước Nahashima và Joshimaru làm nhiệm vụ đó đều không trụ được ở Mãn Châu vì đã không cắm rễ được trong quân Quan Đông.
            Sau đó không rõ hoạt động như thế nào hắn đã đạt được nguyện vọng. Trước khi khởi hành đi Mãn Châu, hắn yêu cầu Phổ Kiệt viết thư báo cho tôi, đồng thời nói: “Nếu như anh ngài chuẩn bị tốt cho tôi một gian phòng làm việc tôi càng cảm thấy vinh hạnh”. Với việc đó, tôi đáp ứng đầy đủ “vinh hạnh” của hắn. Sau đó ít lâu tôi mới biết rõ: vốn ra hắn có ý để quân Quan Đông thấy, dưới con mắt quân Quan Đông hắn đã có quan hệ khác thường đối với tôi. Trong mắt tôi, lại có oai cọp tham mưu cao cấp quân Quan Đông, tự nhiên và ăn khớp được cả mọi bề.
            Yoshioka rất thích vẽ tranh thủy mặc. Một lần hắn vẽ một bức mặc trúc, đề nghị Trịnh Hiếu Tế đề thơ, tôi đề chữ (đề chữ gì tôi đã quên từ lâu) mang về Nhật Bản tặng Hoàng thái hậu Nhật Bản, mẹ của Hirohito. Sau đó không lâu báo chí Nhật Bản đăng bức tranh đó và ca ngợi Yoshioka là “họa sĩ quân nhân”. Tiếng tăm nghệ thuật của Yoshioka có phải vì thế xuất hiện hay không tôi không rõ, song điều tôi dám khẳng định là hắn chỉ mong bức tranh đó mang tới cho hắn không phải là xưng hiệu nghệ thuật nào mà là số tiền có giá hơn là xưng hiệu đó. Từ khi đi thăm Nhật Bản về, Hoàng thái hậu Nhật Bản và tôi thường có sự trao đổi, không ngừng gửi tặng nhau một số tặng phẩm nhỏ, người trung gian là Yoshioka. Từ sau lần hắn tặng mặc trúc, sự qua lại của Tokyo và Trường Xuân càng thêm nhộn nhịp.
            Hầu như mỗi năm hắn về Tokyo vài lần, mỗi lần trước khi đi, hắn thường yêu cầu tôi làm một số thức ăn loại điểm tâm mang về làm quà biếu Hoàng thái hậu. Lúc trở lại, lại mang quà biếu của Hoàng thái hậu Nhật Bản trong đó tất nhiên không thể thiếu điểm tâm của Nhật bản, may mà bà già này và tôi đều có thợ làm điểm tâm giỏi, người này biếu người nọ đều không khó khăn gì. Tuy nhiên, do bệnh đa nghi của tôi, mỗi lần Yoshioka mang điểm tâm về tôi đều gọi người khác ăn trước mới dám ăn.
            Đương nhiên thời gian mỗi lần Yoshioka đi về hoàng thất Nhật - Mãn, điều đó quyết không phải do hắn tự quyết định. Song nội  dung mỗi lần đi, về tôi tin rằng chủ yếu do hắn tự sáng tạo, thiết kế. Ví dụ, một lần, hắn nhìn chiếc máy thu thanh 4 tác dụng của tôi bỗng như phát hiện một kỳ tích hỏi tôi:
            - Máy này có thể record (ghi âm)?
            Tiếng Trung Quốc của hắn tồi, song chúng tôi nói với nhau vẫn không khó khăn lắm vì hắn biết một ít tiếng Anh, thêm vào bút đàm nên hắn có thể nói rõ ý tứ.
            - Record rất tốt, rất tốt - tôi nói và lấy ra một đĩa ghi âm cho hắn xem thử.
            - Tốt, tốt - hắn cười vui mừng, nhìn tôi lắp đĩa xong liền nói: - Tôi dạy bệ hạ mấy câu tiếng Nhật! Ây, tiếp đó dùng tiếng Nhật nói. Tôi chúc thiên hoàng bệ hạ mạnh khỏe.
            Theo tiếng Nhật của hắn, tôi nói “Tôi chúc thiên hoàng bệ hạ mạnh khỏe”. Câu nói này được ghi vào đĩa. Hắn mang đĩa đó phát hai lần, lấy ra một cách hài lòng.
            - Tốt, lần này về Tokyo, ây, gửi biếu Thiên hoàng bệ hạ.  
            Yoshioka nói chuyện luôn xem mấy tiếng “ây”, “hà”, lông mi đồng thời dướn lên, tật này càng về sau càng nhiều, tôi cũng cảm thấy ngày càng khó hiểu. Cùng xảy ra sự thay đổi ấy, còn có sự giải thích về quan hệ giữa tôi và hắn.
            Năm 1934 tôi đi thăm Nhật Bản, Hoàng thái hậu Nhật Bản viết cho tôi mấy bài hát khi đó lời nói của Yoshioka là lúc tôi nghe thuận tai nhất.
            - Hoàng thái hậu bệ hạ cũng như mẹ bệ hạ nếu là gia thuộc của bệ hạ, tôi cảm thấy vinh dự!
            Có lúc hắn nói với Phổ Kiệt: “Tôi và ông có quan hệ như tay với chân, tôi và hoàng đế bệ hạ tuy không thể nói là tay chân như thế, cũng coi là quan hệ ngón chân và ngón tay, chúng ta là gia tộc thật sự”.
            Tuy nhiên đến trước năm 1936, lời nói của hắn có thay đổi:
            “Nhật Bản như cha của bệ hạ - Ây! Quân Quan Đông là đại biểu của Nhật Bản - Ây! Quan tư lệnh quân Quan Đông cũng như cha của bệ hạ, hà!”
            Tình hình quân đội Nhật Bản ở tiền tuyến ngày càng xấu, thân phận của tôi trước quân Quan Đông và Yoshioka cũng ngày càng thấp. Sau đó, hắn ngang nhiên nói:
            “Quân Quan Đông là cha của ngài, tôi là đại diện của quân Quan Đông”.
            Về sau Yoshioka mỗi ngày vào “cung” càng dồn dập, có thể hắn đến không quá 10 phút đã đi, đi chưa đầy 5 phút lại đến. Lý do đi lại rất vớ vẩn: ví dụ quên nói câu gì hoặc quên hỏi tôi ngày hôm sau có việc gì bảo hắn làm, v.v.. Vì vậy tôi không thể không quan tâm, phải chăng hắn dùng biện pháp đột kích để khảo tra tôi.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Việc trong gia đình

 
            Tôi không được hỏi nhiều về việc chính quyền, không được tự ý đi ra ngoài, không được tự ý gọi “đại thần” nói chuyện cho nên khi dòng điện của phía quân Quan Đông không chuyển tới tôi chẳng có việc gì để làm. Dần dần tôi hình thành một thói quen: ban đêm, tới sau nửa đêm, thậm chí quá 3 giờ mới ngủ. Sáng sớm, 11 giờ mới dậy. Mỗi ngày 2 bữa ăn: bữa sáng từ 12 giờ đến một, hai giờ chiều, bữa tối từ 9 giờ đến 11 giờ có khi tới 12 giờ đêm. Từ 4 giờ đến 5,6 giờ chiều ngủ trưa. Sinh hoạt hàng ngày của tôi ngoài ăn, ngủ dùng 8 chữ có thể khái quát đánh mắng...., bói toán, uống thuốc, sợ hãi. 
            Bốn điều này có mối quan hệ với nhau. Cùng với dấu hiệu Nhật Bản tan vỡ ngày càng rõ tôi càng khiếp sợ, sợ Nhật Bản trước khi sụp đổ có thể giết tôi để bịt miệng. Dưới sự chi phối của tâm lý đó, với người Nhật Bản tôi lựa ý chiều chuộng, liếc mắt đưa tình, đối với người nhà thì tính khí ngày càng thô bạo, động một chút là đánh mắng. Tư tưởng mê tín của tôi cũng càng phát triển, suốt ngày ăn chay niệm Phật, bói toán xin quẻ, cầu thần phật phù hộ. Với tinh thần khủng hoảng, và tập quán sinh hoạt không bình thường, thân thể vốn đã rệu rã khi đó càng thêm suy nhược. Vì vậy lại tiêm chích uống thuốc chí mạng. Nói tóm lại bốn điều đó kết thành cuộc sống đêm ngày hỗn loạn của tôi.
            Sự tàn bạo và đa nghi của tôi đã có gốc rễ từ thời thơ ấu ở “Tử Cấm Thành”, đến Thiên Tân phát triển lên một bước. Ở Thiên Tân, tôi đã định ra “quy tắc trong nhà” đối với người hầu như sau:
            - Không cho phép người này tùy tiện nói chuyện với người khác, để đề phòng kết bè kết đảng. 
            - Không cho phép bênh vực bao che lẫn nhau.
            - Không cho phép dối trá kiếm tiền.
            - Khi đồng sự phạm lỗi phải lập tức báo. 
            - Những người cấp trên đối với người cấp dưới phạm lỗi sau khi phát hiện phải đánh mắng ngay.
            - Nếu lơi lỏng kiểm tra và quản lý tội tăng một mức.
            Sau khi đến Đông Bắc lại thêm một lời thề: “Nếu vi phạm cam lòng chịu trời phạt, chịu trời đánh, sét đánh”.
            Trong khu tôi ở, hành vi tàn nhẫn, bạo ngược của tôi về sau phát triển đến mức thường xuyên đánh người, thậm chí cả hình cụ.
            Rất nhiều cách đánh người đều là sai người khác thay tôi thi hành. Những người được ủy thác không phải chỉ là một hai người mà là tất cả những người có mặt. Khi họ ra tay, ắt phải đánh thật nặng nếu không có thể khiến tôi nghi ngờ cho rằng họ bao che lừa dối vì vậy mà tạm thời chuyển mục tiêu thành đánh người không muốn đánh người khác.
            Đối tượng đánh mắng của tôi, ngoài vợ, em trai và em rể ra, hầu như gồm mọi người trong nhà. Tôi có mấy đứa cháu, học tập ở trong cung đồng thời cũng là những người hầu chuyện và phục dịch tôi, là những người thân tín do tôi bồi dưỡng. Tuy nhiên tôi cũng đánh mắng họ như thế. Khi đó, họ rất sợ tôi nói một câu, đó là: “cho hắn xuống!”, ý tức là xuống nhà chịu đòn.
            Những hành động ấy của tôi, ngoài việc nói lên tính cách ngang ngược, điên cuồng, tàn bạo và vui giận thất thường đáng xấu hổ của tôi không thể nói lên vấn đề nào khác. Có lần, một người hầu trẻ ngồi lên chiếc ngai của tôi một chút, người khác căn cứ vào gia pháp của tôi đã đi tố cáo anh ta. Tôi cho rằng như thế là xúc phạm tôi, lập tức ra lệnh đánh cho anh ta một trận nhừ tử. Thực ra chiếc ngai vàng này chẳng phải là tôi cũng sợ hãi, run rẩy ngồi vào đó sao.
            Ở Trường Xuân, vì tôi mắc bệnh mụn nhọt, mua khá nhiều loại thuốc. Một cháu tôi trông thấy loại thuốc rất lạ, vô ý nói: “rất giống đạn sung”, lập tức đụng vào điều kiêng kỵ của tôi - “Không phải là rủa ta ăn đạn sao?” - Theo lệnh tôi các cháu khác nện cho hắn một trận đòn.
            Dưới sự thống trị của tôi như thế, lâm vào cảnh thê thảm nhất là đám hầu nhỏ. Đây là một số trẻ mồ côi do cái gọi là đoàn thể từ thiện từ Trường Xuân đưa tới, khoảng hơn 10 đứa. Bọn chúng phần lớn là những đứa trẻ sống sót sau khi cha mẹ bị người Nhật giết hại. Người Nhật sợ thế hệ sau này nhớ thù nên bảo chính quyền Hán gian dùng danh nghĩa đoàn thể từ thiện gom nuôi, thay tên đổi họ cho chúng, tiến hành giáo dục nô dịch, dùng lao động nô dịch chà đạp chúng. Khi chúng nghe nói được gửi đến cho tôi, có một số vẫn mang hy vọng rất lớn, cho rằng cuộc sống nhất định sẽ khá hơn hội từ thiện. Trên thực tế, không những không có gì cải thiện mà trái lại càng xấu hơn. Ở đây chúng ăn hạt cao lương xấu nhất, mặc quần áo rách nát, mỗi ngày phải làm lụng 15 đến 16 giờ, ban đêm còn phải canh gác. Mùa đông, do vừa rét vừa đói lại mệt nhọc có một đứa trong lúc quét dọn đã mê mẩn phục trên lò sưởi ngủ, thậm chí nóng đến da sưng thịt nát. Bị đòn roi là việc thường xuyên đối với chúng. Ngủ khi làm việc sẽ phải đòn. Quét không sạch sẽ phải đòn. Nói chuyện to sẽ phải đòn. Những người hầu khi không vui cũng lấy chúng để giải sầu. Để xử phạt chúng, người hầu phụ trách quản lý chúng đã đặt một phòng giam đặc biệt. Chịu mọi kiểu đầy đọa như vậy, những đứa trẻ mồ côi này lớn đến 17, 18 tuổi vẫn còn nhỏ bé như đứa trẻ con.
            Đến cuối thời kỳ ngụy Mãn, hiện tượng thua trận của Nhật Bản ngày càng rõ, dù là tin tức của đài phát thanh đồng minh, tin vô tuyến điện hay là Yoshioka lộ ra, tâm tư chán nản đều mỗi ngày càng ăn sâu tư tưởng tận số của tôi. Tính nết tôi càng xấu, thét lát, ra oai trong nhà càng hăng. Đầu năm 1944, một vị trưởng bối theo lệ đến chúc thọ tôi, đã không may trở thành đối tượng ra oai của tôi.
            Hôm đó, để chúc mừng ngày sinh tôi, Phủ nội cung tổ chức một tối trượt băng, tìm một số người biết trượt băng đến biểu diễn. Khi mọi người xem trượt băng, vị trưởng bối từ trong cửa quan tới trông thấy Yoshioka và các quan chức Nhật Bản, để tỏ ra lịch sự đã chào họ trước tôi.  Việc này đối với mọi người xem ra là rất bình thường, song lúc đó, trước mọi người tôi cho là việc làm trái lễ “đại bất kính”. Vì “thiên tử” mới là “chí tôn”, trước mặt “thiên tử” không có ai tôn quý hơn cho nên bất cứ ai cũng không thể chào hỏi lẫn nhau, tỏ ý nhận lễ. Người trong nhà đều biết tôi tuyệt đối không cho phép xẩy ra sự việc như vậy và căn cứ theo lời dạy của tôi, nếu có người phát hiện bất cứ hành vi bất kính nào, không báo cáo cho tôi đều coi là bất trung. Do đó bao lâu, tức là khi biểu diễn trượt băng kết thúc cử hành tiệc gia đình thì có một đứa cháu báo cáo tôi tại bữa tiệc. Lúc đó tôi đang phấn khởi, thêm vào đó nghĩ tới ông ta là người già cả không muốn truy xét bèn ra hiệu cho người cháu trung thành ấy lui ra. Không ngờ ông già vừa phạm tội “đại bất kính” ấy lại phạm tính hiếu kỳ muốn biết người cháu nói gì bên tai tôi, quay đầu đi hỏi người cháu, lại một lần phạm tội “đại bất kính”. Tôi không nén giận được nữa, đập mạnh xuống bàn quát: “Giữ thể diện cho ông, ông không giữ, ông còn chưa đủ sao?”. Ông già đó mới biết mình “quá sai” sợ tái mặt, hốt hoảng quỳ mọp xuống. Còn tôi càng nghĩ càng bực, rời chỗ ngồi quát ông ta: “Ông có coi tôi ra gì không? Ông không coi tôi ra gì tức là không có đạo đức bên cạnh hoàng đế, không có tôn nghi hoàng đế!”. Cả bàn tiệc im lặng như tờ.
            Tôi sở dĩ hay nổi giận như vậy, nói thẳng ra chẳng qua vì lòng hư vinh bị tổn thương. Tôi thậm chí cảm thấy ông già này không bằng người Nhật: Ngay người Nhật có xúc phạm tôi cũng là tiến hành sau lưng, còn ông già này đã xúc phạm tôi ngay trước mặt.
            Từ sau khi đến Trường Xuân, tôi đọc rất  nhiều sách mê tín quỉ thần, đọc đến mụ người. Qua đọc sách nói mọi sinh vật đều có tính Phật, tôi đâm sợ ăn thịt là người thân sau khi chết biến thành, do đó ngoài mỗi ngày sáng tối hai lần niệm kinh, mỗi bữa ăn lại niệm thêm một lần “vãng kinh chú” chiêu sinh chủ thịt mà tôi ăn.
            Tôi biết ruồi nhặng mang vi trùng truyền bệnh. Món ăn có ruồi nhặng rơi vào tôi đều không ăn. Nếu bậu vào miệng tôi, tôi lấy bông tẩm cồn lan (trong người tôi luôn luôn mang một hộp sắt nhỏ đựng bông tẩm cồn), nếu phát hiện trong món ăn có chân ruồi nhặng sẽ phạt tiền bếp nấu. Mặc dù như vậy, tôi lại không cho phép ai đánh chết một con ruồi. Một lần tôi trông thấy một con mèo đang tha một con chuột tôi hạ lệnh cả nhà đi đuổi mèo.
            Tôi còn thường hỏi quẻ, tính quẻ cho mình, không được quẻ tốt chưa thôi. Sau này tôi ngày càng sợ quân Quan Đông hại tôi, phát triển đến mức khi Yoshioka tìm tôi, tôi liền bói một quẻ xem lành, dữ. Tìm lành, tránh dữ, hầu như trở thành tư tưởng trung tâm chi phối mọi cử động của tôi đến mức đi đứng, mặc áo, ăn cơm, trong đầu cũng nghĩ đến lành dữ thế nào. Còn như tiêu chuẩn lành dữ, cũng không có quy tắc nhất định, luôn luôn là thấy cảnh sinh tình, lâm thời tư định. Ví dụ: lúc đi đường, phía trước có một hòn gạch, trong bụng liền quy định: “đi qua từ phía trái tốt lành, từ phía phải không tốt lành”, sau đó bèn đi qua phía trái. Bước qua bậu cửa dùng chân phải hay chân trái trước, gắp rau: gắp rau xanh trước hay rau trắng trước thật vô cùng vô tận. Uyển Dung cũng theo tôi nhập vào mê tín. Cô ta tự quy định cho mình: đối với việc cho là không lành liền chớp chớp mắt một hồi, hoặc là từ miệng phát ra những tiếng “phì, phì, phì” giống như người bị động kinh.
            Qua sự quản chế và giáo dục của tôi, các cháu tôi, đám thanh niên khoảng 20 tuổi, người nào cũng giống như ẩn sĩ tu khổ hạnh. Có người hàng ngày “nhập định”, có người sau tân hôn không về nhà. Có người đầu giường treo tranh “xương trắng”, có người niệm chú y như thấy ma quỷ…
            Tôi còn hàng ngày “định thiền”, khi “định thiền” không cho phép có tiếng động. Lúc đó mọi người đều thở mạnh cũng không dám thở ra. Trong sân của tôi nuôi một con hạc, nó chẳng theo quy ước gì, khi cao hứng lên kêu một hồi. Tôi bảo người phụ trách, nếu hạc kêu một tiếng sẽ phạt 5 hào. Người hầu sau khi bị phạt nhiều tiền đã tìm ra một cách, hạc vươn cổ hắn liền đánh vào cổ cho một cái, thế là nó không kêu nữa.
            Vì sợ chết nên tôi rất sợ ốm, tôi ưa thuốc thành nghiện. Tôi ưa thuốc không những uống mà còn đóng gói cất giữ. Thuốc Trung y có kho thuốc thuốc Tây y có phòng thuốc. Có lúc vì khẩu vị món ăn kém một chút liền bắt trừ cả người nấu bếp mấy hào, song mua một số thuốc không dùng đến có thể chi mấy nghìn đồng, mấy vạn đồng, đặt mua ở nước ngoài. Một số cháu tôi, ngoài giờ học phải trông nom kho thuốc nhà thuốc của tôi. Mỗi ngày các cháu và thầy thuốc thuê đặc biệt đã bận rộn vì tôi mấy giờ đồng hồ.
            Trước kia ở Tử Cấm Thành, tôi “bệnh tưởng” nay không phải là tưởng nữa mà thật sự khắp người tôi là bệnh. Thân thể suy nhược lại thêm tư tưởng căng thẳng khiến tôi luôn cảm thấy cái chết đang đến gần.
            Do suốt ngày mù trời tối đất, dở dở, điên điên, tôi càng không có chút hứng thú nào trong cuộc sống gia đình... Trước sau tôi có 4 người vợ, theo cách nói thời ấy, đó là một hoàng hậu, một quý phi, hai quý nhân. Nếu nói trên thực chất,  chẳng có ai trong họ là vợ tôi. Tôi căn bản không có một người vợ, có chẳng qua là sự bày biện. Tuy cảnh ngộ cụ thể của mỗi người trong họ khác nhau, song họ đều là vật hy sinh như  nhau.
            Uyển Dung, chịu lạnh nhạt thời gian dài, lịch sử của cô ta thì ngay đến thanh niên hiện đại của nước Trung Hoa mới cũng không thể hiểu được. Nếu cô ta không phải là vừa sinh ra đã bị quyết định số phận cũng là vừa kết hôn đã sắp đặt sự kết thúc. Về sau tôi vẫn thường nghĩ, nếu như khi ở Thiên Tân, cô ta có thể như Văn Tú ly hôn với tôi, rất có thể không có kết cục như thế. Đương nhiên, cô ta khác Văn Tú. Trong tủ tường Văn Tú có một thứ so với thân phận phong kiến và lễ giáo càng được xem trọng, đó là muốn có một gia đình bình thường. Còn Uyển Dung, trái lại đã xem trọng thân phận “hoàng hậu” của mình. Do đó, thà chịu làm một người vợ hờ chứ không chịu để mất chiêu bài đó.
            Từ sau khi cô ta đuổi Văn Tú đi, tôi càng có phản cảm đối với cô ta, rất ít khi nói chuyện, cũng không để tâm đến tình hình của cô ta, cho nên càng không thể nghe từ miệng cô ta nói về tâm tình, nói về đau khổ và nguyện vọng của mình. Chỉ biết rằng về sau cô ta nghiện hút (thuốc phiện) hành vi mà tôi không thể chấp nhận được.
            Sau ngày “15/8”, khi chia tay với tôi, nghiện thuốc đã quá nặng lại thêm suy nhược yếu ớt năm sau cô ta ốm chết ở Cát Lâm.
            Năm 1937, để tỏ ý trừng phạt Uyển Dung, để có sự bày biện không thể thiếu, tôi tuyển thêm một vật hy sinh: Đàm Ngọc Linh. Qua sự giới thiệu của một người họ hàng ở Bắc Kinh, cô trở thành “quý nhân” mới của tôi. Cô vốn họ Tatala thị, là một học sinh cấp II ở Bắc Kinh,  khi kết hôn với tôi 17 tuổi. Cô cũng là một người vợ hờ, tôi nuôi cô ta trong “cung” như nuôi một con chim, nuôi đến khi cô ta chết năm 1942 mới thôi.
            Nguyên nhân cô chết, đến nay vẫn là một mối nghi ngờ đối với tôi. Bệnh của cô, theo chẩn đoán của Trung y là bệnh thương hàn, song cũng không cho là bệnh không chữa được. Sau đó Hoàng Tử Chính bác sĩ của tôi giới thiệu một bác sĩ Nhật Bản đến chữa trị. Khi đó Yoshioka nói là “chăm sóc” đã phá lệ chuyển đến lầu Lê Dân Phủ nội cung. Như vậy dưới sự giám sát của Yoshioka, bác sĩ Nhật Bản tiến hành chữa bệnh cho Đàm Ngọc Linh, không ngờ chữa bệnh đến ngày thứ hai cô đột ngột chết.
            Điều khiến tôi lấy làm lạ là khi bắt đầu chữa bệnh, bác sĩ Nhật Bản biểu hiện vô cùng sốt sắng, túc trực bên cạnh cô, tiêm thuốc cho cô, để y tá truyền máu cho cô, bận rộn không lúc nào ngơi. Tuy nhiên, khi Yoshioka gọi ông ta sang một gian buồng khác, đóng cửa lại, nói chuyện rất lâu thì không thấy ông ta sốt sắng nữa. Ông ta không còn bận rộn tiêm thuốc, truyền máu, trở nên trầm mặc, yên lặng. Trong lầu Lệ Dân Yoshioka hôm đó suốt đêm không ngừng gọi hiến binh nhật Bản gọi điện thoại cho y tá ở phòng bệnh hỏi tình hình bệnh tật. Qua một đêm như vậy sáng sớm hôm sau Đàm Ngọc Linh chết. Tôi không thể không lấy làm lạ, tại sao khi chữa chạy Yoshioka gọi bác sĩ nói chuyện trong thời gian dài như thế? Tại sao khi nói chuyện, thái độ bác sĩ thay đổi như thế?
            Tôi vừa nghe tin Đàm Ngọc Linh chết,  Yoshioka tới, nói hắn thay mặt tư lệnh Quan  Đông tỏ lời chia buồn với tôi và lập tức mang vòng hoa của quân Quan Đông. Tôi càng lấy làm lại tại sao lại chuẩn bị nhanh đến thế?
            Do nghi ngờ, tôi nhớ lại Đàm Ngọc Linh khi còn sống, cô thường cùng tôi bàn chuyện về người Nhật Bản. Khi cô học ở Bắc Kinh biết nhiều chuyện về người Nhật hoành hành ngang ngược ở quan nội. Từ sau khi xẩy ra sự kiện Đức Vương, có lúc tôi nghi ngờ Đức Vương nói lung tung, có lúc tôi nghi ngờ người Nhật nghe trộm cuộc nói chuyện của chúng tôi. Đàm Ngọc Linh chết, tôi lại nghĩ những điều ấy.
            Một cử chỉ của Yoshioka sau khi Đàm Ngọc Linh chết không lâu càng khiến tôi liên tưởng: dù không phải Yoshioka làm điều gì xấu, cái chết của cô vẫn có liên quan đến quân Quan Đông. Đàm Ngọc Linh vừa chết, Yoshioka liền mang tới cho tôi một đống ảnh con gái Nhật Bản  để tôi lựa chọn.
            Tôi cự tuyệt. Tôi nói: di thể Đàm Ngọc Linh chưa lạnh, tôi không có lòng nào nói chuyện này. Hắn lại nói: chính vì muốn giải từ sự đau buồn của tôi cho nên hắn muốn tiến hành sớm việc lớn này. Tôi chỉ còn nói: đây đúng là một việc lớn, song nói chung là phải hợp lý tưởng của bản thân mình, không thể quá hấp tấp huống hồ ngôn ngữ không thông cũng là vấn đề.
            - Ngữ ngôn thông, ây, họ đều biết tiếng Mãn, Hà!.
            Tôi sợ hắn thấy rõ ý nghĩ của tôi nên vội nói: “dân tộc không thành vấn đề, song về tập quán, hứng thú đều cần thích hợp mới tốt”.
            Tôi đã khẳng định chủ ý: quyết không lấy vợ Nhật Bản, vì như thế khác gì đặt một tai mắt trên giường tôi - song không thể nói ra như vậy, chỉ còn cách đưa đẩy từ chối, tìm mọi cớ để ngăn cản.
            Không ngờ “viên thư ký của nhà vua” này thật như bám lấy tôi, mặt trơ trán bóng, ngày ngày thúc dục. Tôi sợ nếu chọc tức hắn, lại cũng không thể ngậm miệng. Sau đó, có lẽ hắn biết rõ tôi nhất định không lấy vợ người Nhật, có lẽ quân Quan Đông có cách suy nghĩ khác, lại đưa đến một số ảnh học sinh Trung Quốc học ở trường Nhật Bản tại Lữ Thuận. Em gái thứ hai tôi nhắc tôi: đây là những người được Nhật Bản huấn luyện kỹ, cũng như người Nhật. Song tôi cảm thấy, cứ từ chối mãi cũng không hay. Do đó nếu như quân Quan Đông ép tôi chọn một cô gái tôi cũng phải nhận. Cuối cùng tôi quyết định chọn một cô còn ít tuổi, trình độ văn hóa thấp. Đối với tôi đối tượng như thế, mặc dù người Nhật đã huấn luyện cũng còn dễ đối phó; vả lại chỉ cần tôi bỏ công sức cũng có thể huấn luyện lại cho cô ta. Sau khi quyết định, tôi nói với Yoshioka.
            Như vậy một em gái nhỏ 15 tuổi được gọi là phúc quý nhân” của tôi (62) trở thành vật hy sinh thứ tư.
            Cô tới chưa được hai năm, cũng tức là cô chưa đến tuổi thành niên thì ngụy Mãn sụp đổ. Trong cuộc tan vỡ lớn đó, tôi trở thành tù binh, cô được đưa về với gia đình ở Trường Xuân.
 
 
---------------------------------------------------
(62) Cô gái này là Lý Ngọc Cầm, sau khi Phổ Nghi bị bắt sang Liên Xô, cô về Trường Xuân. Sau ngày Trung quốc giải phóng cô làm nhân viên thư viện Trường Xuân. Tác giả có ý tránh nói tên. (ND) . 
 
Đăng nhập để trả lời
0

Sụp đổ hoàn toàn

 
            Qua máy thu thanh tôi dần dần nghe và hiểu rõ, tin thua trận của quân Nhật ở các chiến trường ngày càng nhiều. Tình hình vật tư thiếu thốn nghiêm trọng dù tôi ở bao tầng bưng bít cũng vẫn thấy được. Bọn thống trị Nhật Bản “lớn mạnh vô địch” bắt đầu lộ tẩy. “Hoàng quân không biết sợ là gì” đã trở thành sợ tất cả.
            Vì sợ tôi biết chất lượng lương thực cung cấp cho quân đội quá tồi tệ, quan tư lệnh quân Quan Đông đặc biệt mở cuộc triển lãm khẩu phần lương thực quân dụng mời tôi đến xem. Vì sợ qua máy thu thanh tôi tin những lời đã nghe được của đài nước ngoài, quân Quan Đông đưa phim tuyền truyền thành tích chiến đấu của quân Nhật đến cho tôi xem. Không cần phải nói tôi không tin mà ngay đến đứa cháu bé nhất của tôi cũng không tin.
            Nỗi lo sợ mà quân nhân Nhật Bản đã để lộ ra gây cho tôi ấn tượng sâu sắc hơn cả. Sau khi chiếm được Singapore, Yamashita Tomoyuki đến Đông Bắc giữ chức tư lệnh phương diện quân X của quân Quan Đông. Khi đó thái độ cực kỳ ngông cuồng, kiêu căng ngạo mạn của hắn còn hằn rõ trong trí óc tôi. Thế mà năm 1945, khi nhận được lệnh điều đi Indonesia lần thứ hai, hắn đến từ biệt tôi ôm mặt khóc và nói:
            - Đây là lần chào vĩnh biệt, đi chuyến này chắc tôi không thể trở về nữa.
            Tại một cuộc tiễn đưa “đạn thịt” tôi lại nhìn thấy càng nhiều nước mắt. “Đạn thịt” là những binh sĩ được tuyển lựa trong quân đội Nhật Bản, sẵn sàng dùng thân xác mình đương đầu với xe tăng máy bay đối phương. 
            Lúc này quân Quan Đông bảo tôi đến  khích lệ quân “đạn thịt”, gọi là chúc phúc cho họ. Vừa đúng hôm trời âm u ảm đạm, gió cát mịt mùng. Địa điểm tiến hành lễ tiễn đưa là sân điện Đồng Đức. Ở đây lỏng chỏng những bao cát phòng không. Cảnh tượng ngao ngán, nặng nề. Mười mấy “đạn thịt” xếp hàng ngang trước mặt  tôi. Tôi theo lời chúc viết sẵn của Yoshioka mà đọc một lượt rồi nâng cốc chúc họ. Lúc đó tôi mới trông rõ mặt mũi những “đạn thịt ấy” đều xám ngắt, nước mắt đầm đìa.
            Nghi thức kết thúc sơ sài trong gió cát. Tâm tư rối bời, tôi muốn về nhà ngay để rửa mặt. Nhưng Yoshioka lẵng nhẵng đi theo. Tôi biết là hắn nhất định muốn nói gì nên chờ hắn một bước. Yoshioka hắng giọng:
            - Chúc từ của bệ hạ hay quá, cho nên những người ấy cảm động, nước mắt những chàng trai Nhật Bản mới chảy ra.
            Nghe câu nói ấy, tôi nhủ thầm “chính là  mày cũng sợ đấy. Mày đã sợ tao lại càng sợ hơn”.
            Tháng 5 năm 1945, nước Đức bại trận, tình thế nước Nhật bị đánh bốn bề lại càng rõ rệt. Việc Liên Xô xuất quân tham chiến chỉ còn là thời gian mà thôi.
            Sáng sớm ngày 9/8/1945, Yamata Otozo, viên tư lệnh cuối cùng của quân Quan Đông và tham mưu trưởng của hắn đến điện Đồng Đức báo cáo với tôi rằng Liên Xô đã tuyên chiến với Nhật Bản. 
            Viên tư lệnh này là lão già thấp bé, gầy gò, lúc bình thường cử chỉ rất thận trọng, nói năng từ tốn. Hôm đó hắn hoàn toàn thay đổi, hấp tấp giảng giải cho tôi rằng quân đội Nhật đã chuẩn bị đầy đủ ra sao, có đủ lòng tin tất thắng như thế nào... Hắn chưa hết lời bỗng nhiên còi báo động phòng không rú lên. Chúng tôi cùng chạy xuống hầm trú ẩn ngoài sân điện. Vào hầm chưa ban lâu đã nghe tiếng bom nổ gần. Tôi thầm tụng kinh Phật. Hắn yên lặng không nói  một lời cho đến lúc còi báo yên, hắn không còn nhắc đến lòng tin nào nữa. 
            Bắt đầu từ đêm ấy, tôi ngủ với cả quần áo ngoài, trong túi luôn luôn thủ một khẩu súng ngắn và đích thân quy định khẩu lệnh ở trong nhà. Hôm sau, viên tư lệnh và tham mưu trưởng lại đến tuyên bố quân Nhật sẽ lui về giữ vùng Nam Mãn Châu, “quốc đô” phải rời đi Thông Hóa và bảo tôi ngay hôm đó phải đi. Tôi chỉ nghĩ đến của cải và người nhà tôi quá nhiều, làm sao thu dọn hết trong một ngày.
            Từ hôm đó, tôi bị dằn vặt vì câu nói của viên tư lệnh:
            - Nếu bệ hạ không đi, ắt sẽ bị quân đội Liên Xô giết hại trước tiên.
            Qua giọng nói, dáng hắn hung hãn, tôi đoán ra rằng người Nhật nghi ngờ tôi không muốn đi, ăn ở hai lòng với họ.
            “Chúng sợ ta là nhân chứng quan trọng này lọt vào tay quân đội Đồng minh. Liệu chúng có giết để bịt đầu mối không?” Vừa mới chớm nghĩ về các vấn đề này tôi đã sởn tóc gáy.
            Nhớ lại thủ đoạn của mình hơn 10 năm qua, tôi nghĩ cách bày tỏ sự trung thành trước mặt Yoshioka, vừa nghĩ tới, tôi gọi người tìm thủ tướng quốc vụ viện Trương Cảnh Huệ, trưởng phòng tổng vụ Takebe Rokuzo đến hạ lệnh cho họ:
            - Phải hết sức cố gắng chi viện thân bang tiến hành cuộc chiến đấu thần thánh, phải chống quân Liên Xô đến cùng, đến cùng.
            Nói xong tôi quay lại nhìn nét mặt Yoshioka song viên “thư ký hoàng thất” cũng không biết khi nào ra đi.
            Tôi đi đi lại lại trong nhà, một lúc như thế bỗng nhìn thấy ngoài cửa sổ có mấy hiến binh Nhật mang súng, đi về phía Đồng Đức. Hồn vía tôi như bay mất, cho rằng đã đến lúc chúng ra tay giết hại. Tôi cảm thấy không biết nấp vào  đâu đơn độc đi đến cửa bậc thềm, đón chúng. Mấy hiến binh Nhật trông thấy tôi liền quay đi.
            Tôi cho rằng đó là chúng đến theo dõi tôi có bỏ chạy không, tôi càng nghĩ càng sợ, cầm ống điện thoại tìm Yoshioka, gọi thế nào cũng không được. Tôi cho rằng Nhật Bản đã bỏ rơi tôi mà đi rồi. Điều đó càng làm tôi sợ hãi.
            Sau đó tôi lại gọi điện thoại cho Yoshioka. Điện thoại hỏng, tiếng Yoshioka rất yếu ớt nói  hắn ốm. Tôi vội vàng bày tỏ mối quan tâm đối với hắn, nói một lô lời mỹ miều. Nghe hắn nói “Cám ơn bệ hạ” tôi đặt máy xuống, thở phào.
            Lúc đó tôi cảm thấy bụng rất đói, thì ra cả ngày chẳng ăn uống chút gì. Tôi gọi Lý lớn, người hầu cận còn lại cho tôi ăn. Lý lớn nói: đầu bếp đã đi hết rồi. Tôi chỉ còn cách ăn chút bánh bích quy.
            Hơn 9 giờ tối ngày 11, Yoshioka đến. Lúc đó các em trai, em gái, em rể và các cháu đều đã đi trước ra ga xe lửa rồi. Trong những người này chỉ còn lại tôi và hai vợ tôi. Bằng giọng mệnh lệnh, Yoshioka nói với tôi và mấy người đi theo:
            - Dù đi bộ hoặc lên xe, do Hashimoto Toranosuke bưng “thần khí” (63) đi phía trước. Ai đi qua “thần khí” đều phải khom mình 90 độ làm lễ.
            Tôi biết đó thật sự đến lúc khởi hành.
            Tôi cung kính đứng nhìn Hashimoto bưng bọc “thần khí” lên chiếc xe đầu, sau đó tự mình bước vào chiếc xe thứ hai. Xe ô tô rời “đế cung” tôi quay đầu nhìn lại trên bầu trời “kiến quốc thần miếu” vọt lên chớp lửa trên đường đi Đại Lật Tử xe lửa chạy mất hai ngày ba đêm. Lẽ ra cần đi từ Thẩm Dương, để tránh bị máy bay tập kích, đổi đi tuyến đường sắt Cát Lâm - Mai Hà Khẩu. Trong hai ngày chỉ ăn hai bữa cơm và một ít bánh bích quy. Ven đường, chỗ nào cũng là xe lính Nhật Bản, hàng ngũ chẳng ra hàng ngũ, dân tỵ nạn chẳng ra dân tỵ nạn. Ở Mai Hà Khẩu, xe dừng lại, tư lệnh quân Quan Đông lên xe lửa báo cáo rằng quân Nhật thắng trận, bắn hỏng nhiều máy bay và xe tăng của quân đội Liên Xô, đang ở ga Cát Lâm, tôi nhìn thấy một cảnh tượng trái lại, từng đám dân và con trẻ Nhật Bản kêu gào chen chúc theo xe lửa van xin, kêu khóc trước những  hiến binh Nhật ngăn họ, ở khắp ga xe lửa, hiến binh và binh lính đang đánh đập họ.
            Đại-lật-tử-câu là một mỏ than ở eo núi, cách Triều Tiên một con sông; sáng sớm mây  trắng phủ kín dãy núi, sau khi mặt trời mọc, non xanh núi biếc, chim hót hoa thơm, cảnh đặc biệt đẹp. Lúc đó, mọi thứ trước mặt tôi đều u ám. Nơi tôi ở là nhà ở của giám đốc mỏ Nhật Bản, có 7, 8 phòng. Những gian phòng kiểu Nhật Bản này cách âm không tốt nên suốt ngày ầm ĩ.
            Ngày 13 tháng 8 đến nơi này, qua hai ngày sống bàng hoàng lo lắng, ngày 15 tháng 8 Nhật Bản tuyên bố đầu hàng.
            Khi Yoshioka nói với tôi: “Thiên hoàng bệ hạ đã tuyên bố đầu hàng, chính phủ Mỹ đã tỏ ý sẽ đảm bảo an toàn và địa vị của Thiên hoàng bệ hạ”.
            Tôi lập tức quỳ xuống khấu đầu lạy trời đất mấy lạy lẩm bẩm khấn: “Con xin cảm tạ trời đất phù hộ cho Thiên hoàng bệ hạ bình yên”. Yoshioka cũng quỳ xuống dập đầu lạy theo. Sau đó hắn nói với tôi: quân Quan Đông Nhật Bản đã liên hệ với Tokyo quyết định đưa tôi sang Nhật nhưng lại nói: “Thiên hoàng bệ hạ cũng không thể đảm bản an toàn tuyệt đối cho bệ hạ. Đến giai đoạn này phải tùy theo ý của quân đồng minh”.
            Tôi nhận thấy thần chết đã vẫy gọi tôi.
            Trương Cảnh Huệ, Takebe Rokuzo và một đoàn “đại thần”, “tham nghị” đã tìm đến tôi. Thì ra còn một màn kịch phải diễn. Họ mang đến một bản “chiếu thoái vị”. Tôi đứng trước một đám đại thần tham nghị đọc một lần.
            Cùng với việc quyết định tôi đi Nhật Bản người Nhật bố trí Trương Cảnh Huệ và Takebe Rokuzo trở về Trường Xuân sắp xếp việc về sau. Họ đến Trường Xuân do Trương Cảnh Huệ lộ mặt qua đài phát thanh liên hệ với Tưởng Giới Thạch đồng thời tuyên bố thành lập “Hội duy trì trị an”. Chuẩn bị đón quân đội Tưởng Giới Thạch tiếp quản. Họ mưu toan trước khi quân đội Liên Xô tới, nhanh chóng biến thành đại biểu của “Trung Hoa dân quốc”. Tuy nhiên họ không ngờ quân đội Liên Xô thần tốc đến và quân đội do Đảng Cộng sản lãnh đạo cũng đã loại bỏ sự chống trả của quân Nhật, tiến sát thành phố. Quân đội Liên Xô đến Trường Xuân, sĩ quan chỉ huy Liên Xô nói với họ một câu: “Hãy đợi xem xét”. Đám Trương Cảnh Huệ cho rằng Hội duy trì đã được công nhận, không khỏi ảo tưởng đối với Liên Xô.
            Ngày hôm sau, các đại thần bù nhìn được mời đến Bộ tư lệnh Liên Xô đợi sự sai phái của quân đội Liên Xô. Không ngờ sĩ quan quân đội Liên Xô tuyên bố: “Đến đủ rồi ư? Tốt, máy bay sẽ đưa các ông đi Liên Xô”.
            Ngày 16 tháng 8, người Nhật nghe tin ở Trường Xuân quân cấm vệ và quân Nhật đã nổ ra xung đột, chúng tức tốc tước vũ khí của đội quân cấm vệ cùng đi với tôi.
            Lúc này Yoshioka thông báo cho tôi: ngày mai sẽ khởi hành đi Nhật Bản. Tôi tất nhiên vội vàng gật đầu làm ra vẻ vui mừng.
            Yoshioka bảo tôi chỉ lựa chọn mấy người đi thôi vì máy bay nhỏ, không thể chở nhiều. Tôi chọn Phổ Kiệt, hai em rể, ba cháu, một bác sĩ và người hầu Lý lớn.
            Phúc Quý nhân (Ngọc Cầm) khóc lóc:
            - Em làm thế nào đây?
            - Máy bay nhỏ quá, mọi người chờ đi xe lửa - tôi nói.
            - Xe lửa cũng chạy được đến Nhật Bản ư?
            - Xe lửa đến được. Chậm nhất là ba ngày, quý nhân cùng hoàng hậu và mọi người lại sẽ gặp nhau.
            - Nhỡ xe lửa không đến được thì sao? Em chẳng có ai là họ hàng thân thích ở đây.
            - Chỉ hai hôm nữa là gặp nhau thôi mà!
            Tâm tư tôi rối như canh hẹ, suy tính làm sao thoát chết, còn bụng dạ nào nghĩ đến xe lửa nữa.
            Mục tiêu thứ nhất của máy bay trên chặng này là Thẩm Dương. Ở đó, chúng tôi sẽ phải đổi máy bay cỡ lớn. Xuất phát từ Thông Hóa cùng với tôi có Yoshioka, Hashimoto, Phổ Kiệt và một nhà tu Nhật Bản (đi theo Hashimoto bưng  “Thần khí”). Những người khác và một hiến binh Nhật trên một máy bay khác. 11 giờ sáng hôm đó tôi đến sân bay Thẩm Dương trước, nghỉ ở phòng nghỉ sân bay đợi một máy bay khác.
            Chờ đợi không lâu, bỗng nhiên có tiếng động cơ nổ rầm trời, chấn động màng tai. Thì ra máy bay Liên Xô hạ cánh. Từng đội lính Liên Xô mang tiểu liên xuống sân bay, lập tức tước khí giới quân Nhật trên sân bay. Không bao lâu khắp sân là quân đội Liên Xô. Đó là những đại diện quân đội Liên Xô đến tiếp nhận quân Nhật đầu hàng.
            Do sự thay đổi đột ngột này, chúng tôi không đi Nhật Bản được. Ngày hôm sau, được máy bay Liên Xô đưa đi Liên Xô.
 
 
------------------------------------------------------------------
(63) Thần khí: gồm 3 thứ: một thanh kiếm, một miếng ngọc và một tấm gương bằng đồng gọi là “Nhất bản thiên chiếu đại thần” do Nhật hoàng trao cho Phổ Nghi mang về thờ phụng ở Mãn Châu nhằm thể hiện “Nhật Mãn là một lòng một dạ, không thể chia cắt”. (ND).
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG VII
TẠI LIÊN XÔ
 
Hoài nghi và Ảo tưởng  

            Máy bay đến Chita, trời đã gần tối, chúng  tôi là một đám tội phạm chiến tranh ngụy Mãn được đưa tới Liên Xô. Cùng đi với tôi có Phổ Kiệt, hai em rể, một bác sĩ và một người hầu. Chúng tôi lên một chiếc xe ô tô nhỏ do Liên Xô đã chuẩn bị sẵn rời sân bay.
            Từ trong xe nhìn ra ngoài, hầu như xe chạy trên cánh đồng hoang, hai bên tối mò mò không nhìn thấy gì. Đi được một hồi, len qua mấy hàng cây, bò lên một quãng dốc, đường sá trở nên gập ghềnh chật hẹp, tốc độ xe chậm lại và đột ngột dừng bánh. Từ bên ngoài chuyền lại một câu bằng tiếng Trung Quốc:
            - Muốn xả hơi xin xuống xe.
            Tôi bất giác hết sức kinh hãi cho rằng người Trung Quốc đón tôi về. Thực ra người nói là một sĩ quan Liên Xô gốc Trung Quốc. Trong nửa đời trước của tôi, bệnh đa nghi của tôi đã làm bản thân mình khổ sở, luôn luôn dày vò mình. Rõ ràng vừa mới ngồi trên máy bay Liên Xô, từ Trung Quốc bay đến Liên xô thì làm sao có thể chuyển giao cho người Trung Quốc ở đây! Nếu còn có một tia hy vọng, nếu rơi vào tay người Trung Quốc thì cầm chắc cái chết.
            Chúng tôi nghỉ ngơi xong lại lên xe tiếp tục chạy khoảng hai giờ đồng hồ nữa thì đi vào một eo núi, đỗ trước một căn nhà đèn sáng rực. Cả toán xuống xe. Nhìn thấy công trình xây dựng lịch sự này, có người nói nhỏ: “đây là một khách  sạn”, mọi người đều vui mừng.
            Đi vào “khách sạn”, một người khoảng hơn 40 tuổi, mặc thường phục bước tới trước chúng tôi theo sau có mấy sĩ quan Liên Xô. Ông ta trang nghiêm tuyên bố:
            - Chính phủ Liên Xô hạ lệnh, từ nay bắt đầu thực hành câu lưu đối với các ông. 
            Thì ra đây là “Tư lệnh quân bảo vệ thành phố Chita”, một vị thiếu tướng lục quân Liên Xô. Sau khi tuyên bố xong mệnh lệnh, ông rất hoà nhã bảo chúng tôi: có thể yên tâm ở đây, đợi xử lý. Nói xong, ông chỉ bình nước trong trên bàn nói:
            - Nơi này có một suối nước khoáng nổi tiếng, nước khoáng là thứ nước uống rất có ích cho sức khoẻ.
            Loại nước khoáng này có chút vị khó uống sau này lại trở thành thứ nước tôi rất thích.
            Chúng tôi lại bắt đầu cuộc sống câu lưu với điều kiện ưu đãi ở trạm diều dưỡng này. Mỗi ngày ba bữa ăn Nga thịnh soạn, một lần uống trà kiểu Nga. Có nhân viên phục vụ chăm sóc, có bác sĩ, y tá thường xuyên đến kiểm tra sức khoẻ chữa trị bệnh tật, có máy thu thanh, sách báo, các loại dụng cụ giải trí, thường xuyên còn có người đưa đi tản bộ. Tôi cảm thấy hài lòng ngay về cuộc sống như thế này.
            Ở đó không lâu, tôi nảy ra một ảo tưởng: tuy rằng Liên Xô và Mỹ - Anh là những nước đồng minh, cũng có thể tôi từ đây rời sang Anh - Mỹ làm người lưu vong. Khi đó, tôi đã mang được rất nhiều châu báu, đồ trang sức, đủ tiêu dùng cho nửa đời sau của tôi. Muốn đạt tới mục đích này, trước hết tôi phải xác định cần phải ở Liên Xô. Vì vậy trong 5 năm ở Liên Xô, ngoài nói miệng, tôi đã ba lần viết đơn gửi nhà cầm quyền Liên Xô cho phép tôi vĩnh viễn ở Liên Xô. Ba lần gửi đơn hoàn toàn không có câu trả lời.
            Tôi đến Chita được mấy ngày, Trương Cảnh Huệ, Tăng Thiếu Nghị, Hy Hiệp... đều tới khoảng mấy ngày sau, Trương, Tăng, Hy đến nơi tôi ở thăm tôi. Tôi cho rằng họ đến thỉnh an tôi. Không ngờ là đến yêu cầu tôi. Trương Cảnh Huệ mở miệng trước nói:
            - Nghe nói bề trên muốn ở lại Liên xô, nhưng chúng tôi đều ở Đông Bắc, đều được tự mình lo liệu; lại nói, còn có một số việc công chưa làm xong, mong bề trên nói với Liên Xô cho chúng tôi sớm trở về Đông Bắc. Bề trên xem có được không?
            Họ có việc công nào chưa làm xong, tôi không biết, cũng không quan tâm, do đó tôi hoàn toàn không hứng thú gì với những lời thỉnh cầu của họ.
            - Tôi làm sao làm được? Ngay tôi ở lại hay đi vẫn còn xem quyết định của những người Liên Xô.
            Đám người này thấy tôi không nhận liền khẩn thiết van xin: “Mong bề trên hãy nói, bề trên nhất định làm được”. “Đây là ý muốn của mọi người. Mọi người cử chúng thần làm đại biểu đến thỉnh cầu”. “Việc của mọi người không cầu xin cụ còn có thể cầu ai?”
            Hiện nay, tôi không thể còn gọi là “hoàng thượng”, “bệ hạ” nên gọi lung tung. Tôi không còn cách nào nên phải tìm người sĩ quan phụ trách quản lý chúng tôi.
            Ông ta nghe tôi thông báo về yêu cầu của các đại thần ngụy Mãn bèn nói: “Vâng, tôi sẽ truyền đạt”.
            Khi tôi viết đơn xin ở lại Liên Xô ông ta cũng trả lời như vậy. Về sau tình hình cũng như thế, không có câu trả lời.
            Tuy nhiên, những đại thần ấy và tôi không cam lòng, sau khi đến ngoại ô thành phố Khabarovsk, tôi xin ở lại Liên Xô, bọn họ xin trở về Đông Bắc, vẫn ép tôi nói thay họ.
            Khi đó tôi vẫn chưa biết rõ, so với tôi họ hiểu được bí mật chính trị của Quốc Dân đảng, biết Quốc Dân đảng có nhu cầu đặc biệt đối với họ, vì vậy tin rằng trở về không những an toàn mà còn kiếm chác được. Cũng có lẽ sự cám dỗ đó quá lớn do đó có người muốn trở về đến mức phát điên.
            Khi ở ngoại ô thành phố Khabarovsk, có một lần, một tù binh Ngụy Mãn làm nhiệm vụ quét dọn có lẽ mắc bệnh thần kinh, ngã lăn ra đất, nói lung tung. Có một đại thần ngụy tin sùng đàn lễ nhận định đây là thánh nhập, nên vội vàng quỳ trước mặt người tù binh đó cúi đầu lạy, miệng còn lẩm bẩm, vái xin “đại thánh” chỉ cho bao giờ ông ta được rời Liên Xô.
            Tại Liên Xô, ngoài người phiên dịch Liên Xô thường xuyên thông báo tin tức cho mọi người, chúng tôi còn thường xuyên được đọc báo “Cuộc sống thực” do quân đội Liên Xô phát hành tại Lữ Thuận. Nghe được tin tức chiến sự trong nước. Tôi không quan tâm những cái đó, cho rằng chẳng kể ai thắng, ai bại, đối với tôi rút cục cũng như thế, đều muốn giết tôi. Hy vọng duy nhất của tôi là vĩnh viễn không về nước. Các ngụy đại thần trái lại rất quan tâm tình hình trong nước. Họ đặt hy vọng vào nền thống trị của Tưởng Giới Thạch. Họ tin rằng, có sự giúp đỡ của họ, Tưởng Giới Thạch có thể đánh bại quân giải phóng nhân dân, do đó khi mới nghe tin tức thắng lợi của quân giải phóng nhân dân ai cũng không tin. Về sau, sự thực ngày càng rõ họ lại đâm hoảng. Khi nước Trung Hoa mới tuyên bố thành lập, có người vốn tự cho mình có kinh nghiệm phong phú, đưa ý kiến gửi điện chúc mừng. Ý kiến này được sự hưởng ứng rộng rãi.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Không dứt được gánh

 
            Trong cuộc sống câu lưu 5 năm ở Liên Xô, tôi trước sau không dứt được gánh. Sau đó chúng tôi chuyển đến Sở thu dung Khabarovsk. Nơi này tuy không có nhân viên phục vụ, tôi vẫn có người phục dịch như trước. Người nhà tôi gấp chăn cho tôi, dọn dẹp nhà cửa, bưng cơm và giặt quần áo. Họ không dám công khai gọi tôi là “hoàng thượng” nên đổi gọi là “bề trên”. Mỗi sáng sớm, họ vào phòng tôi, theo lệ thỉnh an tôi.
            Khi mới tới ngoại ô Khabarovsk, có một hôm tôi muốn đi tản bộ từ trên gác xuống. Một đại thần trước đây ngồi trên ghế ở tầng trệt nhìn thấy tôi nét mặt không hề thay đổi. Tôi trong bụng rất tức giận, từ đó không muốn xuống gác nữa. Hàng ngày ngồi ở lỳ trên gác, phần lớn thời gian dành cho tụng kinh. Tuy nhiên, nói chung các ngụy đại thần phần lớn vẫn giữ sự kính trọng đối với tôi. Nói ví dụ: trong năm năm ở Liên Xô, mỗi tết âm lịch, mọi người làm bánh chẻo (sủi cảo) (64) để ăn bát đầu tiên bao giờ cũng giành mời tôi.
            Tôi tự mình không làm gì, còn không muốn người nhà tôi làm giúp người khác. Có lần ăn cơm, em trai và em gái tôi giúp mọi người dọn bàn bị tôi ngăn cấm. Người nhà tôi làm sao có thể hầu hạ người khác!
            Từ 1947 đến 1948, người nhà tôi một dạo được chuyển đến một sở thu dung ở thành phố khác. Đây là lần đầu tiên tôi cách rời người nhà cảm thấy rất không thuận tiện. Nhà đương cục Liên Xô rất chiếu cố tôi, cho phép tôi ăn cơm một mình. Song ai bưng cơm cho tôi, may mà bố vợ tôi tự giác nhận trách nhiệm, ông không chỉ bưng cơm cho tôi, đến giặt quần áo cũng thay giúp tôi.
            Để đám “ký sinh trùng” chúng tôi làm ít lao động nhẹ, Sở thu dung tìm cho chúng tôi một số mảnh đất trong khu nhà để chúng tôi trồng rau. Tôi và người nhà tôi được chia một mảnh nhỏ, trồng đậu, cà chua, rau cải... Đương nhiên tôi thường nghĩ điều đó rút cục không thuận lợi bằng mua ở quầy hàng.
            Để chúng tôi học tập, Sở thu dung phát cho chúng tôi một số sách Trung văn và có một thời gian bảo em trai, em gái và em rể tôi theo sách nói về “vấn đề chủ nghĩa Lê Nin”, “Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô”. Người nói chẳng hiểu gì, người nghe lờ mờ lơ mơ, tâm trạng bản thân tôi chỉ là nhàm chán. Những điều đó có gì quan hệ với tôi. Nếu không cho tôi ở lại Liên Xô, hãy trả tôi về. Tôi đọc hai cuốn sách này dùng để làm gì.
            “Học tập”, hai tiếng đó đối với tôi khi đó lại không bằng rau cải, cà chua hiện thực hơn. Mỗi lần học tập, tôi ngồi ở một chỗ đặc biệt cạnh bục giảng thường là một mặt nghe “giáo viên” nói tràng giang dại hải về những điều tôi không hiểu và cũng không muốn hiểu: Mensêvích, nhà nước Duma,... mặt khác suy nghĩ lung tung: “nếu như có thể ở lại Moscow hoặc là London, số châu báu trang sức đó tôi dùng được mấy năm?”. 
            Tuy nhiên, tôi vẫn có thể làm ra vẻ rất chú ý nghe song có người lại khác, ngáy khò khò. Sau bữa cơm tối, là thời gian tự do hoạt động, lại là một dạng khác. Một đầu hành lang là mấy bàn cờ tướng, đầu bên kia có cửa sổ, có người hướng phía ngoài cửa sổ vái trời lớn tiếng niệm “Nam mô a di đà phật! Quan thế âm bồ tát!”. Trên gác, nơi các tội phạm chiến tranh Nhật Bản truyền tới giọng kịch điệu Nhật “U, U, U” càng ly kỳ hơn là có người bày bãi đoán chữ, một đám người vây xung quanh hỏi đến bao giờ có thể về nhà, gia đình có xảy ra chuyện gì không? Lại có một số người nằm trong phòng bói quẻ đều là hỏi về vấn đề trở về nhà. Mấy ngày đầu, lính gác Liên Xô bị tiếng huyên náo kinh động đã hết sức kinh ngạc nhìn đám người như thế chỉ lắc đầu về sau này họ cũng quen đi.
            Trong những lúc đó, tôi thường ở trong nhà một mình lắc khoá kim tiền của tôi, niệm kinh kim cương của tôi.  
 
--------------------------------------------------------------
(64) Bánh chẻo: bánh nhân thịt, ngoài bọc bột hình 3 cạnh thường ăn trong dịp tết (ND).
 
Đăng nhập để trả lời
0

Tôi không nhận tội

 
            Đã không dứt được gánh, lại không chịu học tập, tư tưởng của tôi căn bản không có gì thay đổi, tất nhiên càng không nói đến nhận tội. Tôi biết, trước luật pháp, tôi phạm tội phản quốc. Song đối với việc này, tôi chỉ coi là sự sắp đặt ngẫu nhiên của số phận. “Cường quyền là công lý” và “được làm vua, thua làm giặc” đó là tư tưởng của tôi khi đó. Tôi căn bản không nghĩ về trách nhiệm nào của mình; đương nhiên, càng không nghĩ đến tư tưởng nào chi phối tôi phạm tội, cung chưa từng nghe nói tư tưởng nào phải cải tạo.
            Để tránh số phận bị trừng phạt, biện pháp mà tôi áp dụng vẫn là một kiểu: rõ ràng trước mắt Liên Xô là người quyết định vận mệnh của tôi thế thì tôi phải làm vừa lòng Liên Xô. Do đó, tôi lấy cớ chi viện Liên Xô xây dựng kinh tế sau chiến tranh, tôi xin hiến cho Liên Xô châu báu, trang sức của tôi.  
            Tôi cũng không hiến tất cả, chọn một phần tốt nhất để lại, và giao cho cháu tôi giữ phần đó, giấu ở từng dưới đáy chiếc va li da màu đen, do tầng đáy hẹp, không thể giấu hết, tôi liền giấu ở những nơi có thể giấu được, thậm chí giấu cả trong xà phòng, vẫn giấu không hết, cuối cùng chỉ còn cách vứt đi.
            Một hôm, phiên dịch Liên Xô và một sĩ quan đi vào phòng lớn, tay cầm một vật rất đẹp hỏi mọi người:
            - Cái này của ai? Ai vứt trong đống mảnh lò sưởi bỏ đi ở trong sân?
            Mọi người trong phòng lớn xúm lại nhìn rõ vật trong tay viên sĩ quan là đồ trang sức trên đầu. Có người nói: “bên trên vật đó còn có dấu in “Bắc Kinh ngân lầu”. Lạ thật, ai vứt ra vậy?”
            Tôi nhận ra ngay vật đó do tôi bảo cháu vứt đi. Lúc đó họ đều ở một Sở thu dung khác. Tôi cũng không nhận trách nhiệm, vội vã lắc đầu  nói:
            - Lạ thật, lạ thật, cái này ai vứt đi?...
            Không ngờ trong tay người phiên dịch vẫn còn một chiếc lược gỗ, anh ta mang nó đến trước mặt tôi nói:
            - Trong đống còn có cái này, tôi nhớ chiếc lược gỗ này có thể là của ông?
            Tôi đâm hoảng, vội vã phủ nhận nói: “Không phải, không phải, lược gỗ cũng không phải của tôi”, khiến hai người không còn cách nào, đứng sững hồi lâu, cuối cùng chỉ còn rút lui. Có thể đến nay họ vẫn chưa rõ rút cục tâm trạng con người tôi là thế nào? Thực ra tôi chỉ có một tâm trạng đó là sợ thừa nhận việc đó sẽ dẫn đến sự ngờ vực của họ, do đó tôi áp dụng biện pháp gạt phắt đến mức ngốc nghếch như vậy khiến họ sững người.
            Không những tôi vứt đi một số đồ trang sức trên đầu lại còn ném vào lò đốt đi một số hạt trai. Trước khi sắp rời Liên Xô, tôi gọi Lý lớn, người hầu của tôi mang một số còn lại vứt vào ống khói trên nóc nhà.
            Tôi oán hận người Nhật. Khi Liên Xô qua tôi điều tra về những tội ác của giặc Nhật ở Đông Bắc, tôi tích cực cung cấp nhiều tài liệu, sau đó, tôi được gọi tới “Toà án quân sự quốc tế Viễn Đông” ở Tokyo làm nhân chứng. Tôi vạch tội các tội phạm chiến tranh Nhật Bản một cách thống khoái lâm ly. Song mỗi lần nói đến đoạn lịch sử này, tôi chưa bao giờ nói về tội lỗi của mình mà lại hết sức làm cho mình thoát khỏi vì tôi sợ bản thân mình bị xét xử.
            Tôi đến làm nhân chứng ở “Toà án quân sự quốc tế Viễn Đông” tại Tokyo vào tháng 8 năm 1946. Tôi ra toà án cộng 8 ngày. Nghe nói đây là một lần thời gian làm chứng dài nhất trong toà án. Trong những ngày ấy tin tức về toà án trở thành tin tức giật gân hàng đầu trên báo chí một số nơi trên thế giới.
            Chứng thực bộ mặt thật của Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, nói rõ Nhật Bản lợi dụng tôi - hoàng đế cuối đời Thanh làm bù nhìn như thế nào để thống trị và xâm lược bốn tỉnh Đông Bắc, đó là yêu cầu của việc làm chứng của tôi.
            Ngày nay, nhớ lại lần làm chứng đó, tôi cảm thấy rất lấy làm tiếc. Do lúc đó tôi sợ tương lai sẽ bị Tổ quốc trừng phạt, tâm tư nặng trĩu lo lắng, tuy rằng đã nói ra một phần sự thật về tội ác của bọn xâm lược Nhật Bản, song để giữ thoát cho bản thân mình, trong khi che giấu tội ác của mình, tôi đồng thời cũng che giấu một phần bộ mặt thật lịch sử có liên quan đến tội ác của mình. Thậm chí không vạch trần một cách đầy đủ, triệt để những tội ác của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản.
            Bọn đế quốc Nhật Bản câu kết bí mật với các tập đoàn do tôi đứng đầu vốn đã bắt đầu từ trước sự kiện “18 tháng 9”. Sự dung dưỡng gây dựng của người Nhật đối với bọn người này vốn là chuyện bí mật công khai. Sau sự kiện “18 tháng 9” bọn người chúng tôi công khai đầu hàng kẻ thù tức là kết quả của sự câu kết lâu dài với người Nhật. Để giải thoát cho mình, tôi đã lẩn tránh vấn đề này, chỉ chuyên nói về tôi bị o ép và chịu hãm hại như thế nào.
            Cũng như mọi bè đảng đen tối, sự câu kết của chủ nghĩa đế quốc bên ngoài và các thế lực bên trong, sự cọ xát nội bộ là khó tránh, còn tôi lại nói việc đó như là sự xung đột giữa cái thiện và cái ác.
            Tại toà án, tôi mấy lần tỏ ra bị kích động khi nói đến chuyện đón tiếp “Thiên chiếu đại thần”. Một luật sư Nhật Bản hướng tôi nêu ý kiến: tôi công kích tổ tiên Thiên Hoàng, điều đó rất không phù hợp vì đạo đức phương Đông. Tôi lớn tiếng thét một cách kích động: “Tôi không cưỡng ép họ coi tổ tiên của mình làm tổ tiên của họ!”. Điều đó gây trận cười lớn ran hội trường còn tôi căm tức mãi. Nói đến cái chết của Đàm Ngọc Linh, tôi mang sự hoài nghi của mình làm sự thật đã được khẳng định và nói một cách căm phẫn: “Ngay cô ấy cũng bị Nhật Bản giết hại!”. Cố nhiên tâm tư của tôi lúc đó bị kích động song đồng thời, tôi muốn mọi người coi tôi là một kẻ bị bức hại.
            Để giảm nhẹ tội của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo đã sử dụng nhiều biện pháp để đối phó với tôi, mưu toan hạ thấp giá trị những lời làm chứng của tôi, thậm chí muốn phủ định tư cách làm chứng của tôi. Đương nhiên, họ thất bại. Dù cho họ thật sự hoàn toàn phủ định tôi cũng không có cách nào thay đổi số phận của bọn bị cáo. Tuy nhiên nếu như họ lợi dụng tâm lý sợ bị trừng phạt của tôi, khiến tôi ít nói về sự thật thì họ đã đạt một phần mục đích. Tôi còn nhớ, khi tôi kiểm kê tội ác của bọn tội phạm chiến tranh Nhật Bản, một luật sư Mỹ đã quát lớn: “Ông đưa mọi tội ác đổ lên đầu người Nhật, song ông cũng là tội phạm, rút cục ông cũng sẽ bị chính phủ Trung Quốc phán quyết”. Câu nói của ông ta đánh trúng chỗ yếu của tôi, nói đến chỗ tôi sợ hãi nhất. Tôi nảy ra tâm lý đó mới coi việc đầu hàng bán nước là kết quả của bị bắt. Tôi hoàn toàn phủ nhận sự câu kết của tôi với Nhật Bản, thậm chí tại toà án đưa ra bức thư tôi gửi Minami Jiro tôi cũng kiên quyết phủ nhận nói là người Nhật Bản bịa ra. Tôi che giấu việc này cũng là che giấu một âm mưu, thủ đoạn của bọn quân phiệt Nhật Bản cho nên ngược lại vẫn là thuận lợi cho bọn quân phiệt Nhật Bản.
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG VII 
TỪ NGHI NGỜ, SỢ HÃI ĐẾN NHẬN TỘI
 
Tôi chỉ nghĩ đến cái chết  

            Ngày 31 tháng 7 năm 1950, tàu hỏa Liên Xô áp giải tội phạm chiến tranh ngụy Mãn Châu tới ga Tuỳ Phần Hà biên giới Liên Xô - Trung Quốc. Đại uý Asnis phụ trách áp giải nói cho tôi biết việc bàn giao cho chính phủ Trung Quốc phải chờ tới sáng hôm sau mới tiến hành được khuyên tôi yên tâm ngủ một giấc.
            Khi ở Khabarovsk lên tàu hỏa, tôi được xếp vào toa sĩ quan Liên Xô để tách rời với người thân. Các sĩ quan Liên Xô chuẩn bị bia và bánh kẹo mời tôi và nói chuyện tế nhị với tôi suốt dọc đường, mặc dù vậy, tôi vẫn nghĩ là họ đang dẫn tôi tới chỗ chết. Tôi đinh ninh rằng khi đặt chân lên đất Trung Quốc, cuộc đời của tôi cũng sẽ kết thúc.
            Trên ghế nằm đối diện, đại uý Asnis vẫn ngáy đều đều. Mắt tôi mở trâng trâng, nỗi lo sợ sắp bị giết làm tôi không tài nào ngủ được. Tôi ngồi dậy niệm mấy hồi kinh, vừa định nằm lại thì nghe có tiếng giầy nện rầm rập trên sân ga và càng ngày càng rõ. Hình như một đội lính đi tới. Tôi ghé sát cửa sổ nhòm ra ngoài nhưng không thấy bóng người nào cả, tiếng giầy ủng nhỏ dần. Tôi thở dài, thu mình ngồi xuống góc ghế nằm, nhìn chằm chằm vào chiếc cốc rỗng đặt bên cửa sổ, bất giác nhớ lại mấy lời nói của đại uý Asnis trong khi uống rượu: “Trời sáng, ông sẽ thấy được Tổ quốc của ông rồi. Ông cứ yên tâm, chính quyền của Đảng Cộng sản là văn minh nhất thế giới, độ lượng của Đảng và nhân dân Trung Quốc lớn lắm”.
            “Bịp”, tôi tự nhủ và căm ghét nhìn Asnis đang nằm ngáy trên ghế. Lời mi nói, bia mi mời, bánh kẹo mi cho, toàn là bịp hết. Tính mạng của ta chẳng qua như hạt sương dính bên ngoài cửa sổ mặt trời mọc lên là tiêu tan hết, vậy mà mi  vẫn ngủ ngon được ư.
            Lúc bấy giờ, trong óc tôi chỉ có tổ tông chứ nào có Tổ quốc, còn Đảng cộng sản thì chỉ có thể gắn với “tai hoạ” chứ nói chi đến văn minh. Tôi biết Liên Xô cũng là một nước cộng sản đối xử với tôi không có gì gọi là không nhân đạo; nhưng Liên Xô là một nước đồng minh, phải chịu sự ràng buộc của hiệp nghị quốc tế nên không thể làm ẩu được, còn Trung Quốc thì khác. Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh đổ Tưởng Giới Thạch, không thừa nhận bất kỳ “chính thống” nào, đối với tôi tất nhiên muốn làm gì thì làm chẳng cần kiêng nể gì hết. Những lời tuyên truyền mà tôi được nghe trong thời gian mấy chục năm tôi ở Bắc Kinh, Thiên Tân, Trường Xuân đều cho rằng Đảng Cộng sản là hoá thân của những từ ngữ 'tàn khốc”, “hung ác”. Hơn nữa, họ thù ghét tôi còn hơn Tưởng Giới Thạch hàng trăm lần. Rơi vào tay những con người ấy, tôi làm sao còn có đường sống?
            Tư tưởng “chết thơm không bằng sống nhục” từng chi phối tôi mười mấy năm, nhưng lúc này tôi nghĩ: “sống nhục” cố nhiên là điều ảo tưởng, mà “chết thơm” cũng là niềm mơ ước hão huyền.
            Cả đêm hôm ấy tôi đã nghĩ rất nhiều về những việc khủng khiếp sẽ đến với tôi. Trời hửng sáng, khi đại uý Asnis bảo tôi đi theo để gặp đại biểu của chính phủ Trung Quốc, trong óc tôi chỉ nghĩ có một điều: trước khi chết mình có dũng cảm hô lên một câu: “Thái tổ hoàng đế muôn năm” không?
            Tôi bước theo Asnis mà đầu óc căng thẳng như muốn nứt vỡ ra. Vào tới một gian buồng ở toa khác, đã thấy hai người Trung Quốc ngồi ở đấy, một người mặc bộ đại cán, một người mặc quân phục màu xanh úa không đeo quân hàm, trên ngực áo có đính phù hiệu viết bảy chữ “Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc”. Hai người đứng dậy nói vài câu với đại uý Asnis xong, người mặc đại cán quay lại nhìn chúng tôi một lượt rồi nói:
            - Theo mệnh lệnh của thủ tướng Chu Ân Lai, chúng tôi đến đây để tiếp nhận các ông. Bây giờ các ông về đến Tổ quốc rồi...
            Tôi cúi đầu, chờ người mặc quân phục bước tới còng tay nhưng người quân nhân ấy chỉ đứng nhìn tôi mà không nhúc nhích.
            “Ông ta biết mình chạy cũng chẳng thoát”. Tôi nghĩ vậy. Độ hơn một tiếng đồng hồ sau, tôi theo Asnis xuống sân ga. Trên sân ga, hai hàng lính bồng súng đứng thành hàng dọc, một bên là quân đội Liên Xô, một bên là quân đội Trung Quốc đeo phù hiệu “Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc” trên ngực áo. Chúng tôi đi vào giữa hai hàng lính và lên tàu hỏa đỗ phía trước mặt. Trong khoảnh khắc đó, tôi nghĩ ngay đến 8 triệu quân của Tưởng Giới Thạch chính là bị những người đeo phù hiệu này tiêu diệt hết, giờ đây trong mắt họ, có lẽ tôi không bằng một con sâu bọ.
            Lên tàu, tôi lại gặp đám ngụy Mãn, người nhà của tôi. Họ đều ngồi ngay ngắn và cũng không một ai bị còng tay hoặc bị trói. Tôi được dẫn đến chỗ ngồi gần cuối toa, một người lính giúp tôi đặt vali lên giá hành lý. Tôi ngồi xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ định xem những người lính trên sân ga đang làm gì, lúc đó mới biết là tất cả cửa sổ đều đã được dán kín bằng giấy báo. Quay lại nhìn hai đầu toa thấy mỗi đầu có một lính hồng súng tiểu liên đứng gác. Tôi lặng người. Không khí nặng nề như thế chứng tỏ là họ đưa chúng tôi ra pháp trường chứ còn gì nữa. Tôi nhìn quanh một lượt, các tù nhân xung quanh sắc mạt ai nấy đều xám xịt.
            Lát sau, một quân nhân hình như là sĩ quan không mang theo vũ khí gì bước vào giữa toa tàu và nói:
            - Tốt. Bây giờ các ông đã về đến Tổ quốc rồi.
            Sĩ quan nhìn qua một lượt các tù nhân nói tiếp:
            - Chính phủ nhân dân Trung Hoa đã sắp xếp thoả đáng cho các ông rồi, các ông hãy yên tâm... Trên tàu có nhân viên y tế, ai ốm đau có thể ghi tên và được khám bệnh.
            Thế là nghĩa lý gì? Tổ quốc, sắp xếp, yên tâm, ốm đau được khám bệnh? À, tôi hiểu rồi, chẳng qua là họ muốn làm chúng tôi vững bụng để khỏi xảy ra việc gì trên dọc đường chứ gì. Sau đó có mấy người lính đem tới một rổ to, bát đũa phát đều cho mọi người, vừa phát vừa nói:
            - Tự mình giữ gìn cẩn thận, đừng làm vỡ vì đi đường bổ sung thêm có khó khăn đấy.
            Tôi nghĩ bụng: xem ra con đường dẫn tới pháp trường không phải gần, nếu không thì sao phải nói như vậy.
            Bữa ăn sáng hôm ấy có rau cải muối, trứng muối và cháo. Bữa ăn mùi vị quê hương đã lâu không được hưởng làm mọi người cảm thấy rất ngon miệng, chỉ một lúc thùng cháo đã hết sạch. Những người lính thấy vậy bèn nhường cả thùng cháo của mình cho chúng tôi. Tôi biết trên xe không có thiết bị nấu nướng, họ phải chờ đến ga tới mới nấu được, vì vậy hành động của họ tôi không tài nào hiểu nổi, cuối cùng chỉ tự kết luận: dù sao họ cũng chẳng thể có ý tốt gì với chúng tôi.
            Sau bữa ăn sáng, nỗi lo sợ buồn rầu trên nét mặt một số không ít người đã vợi đi ít nhiều. Có người nói: qua việc nhường bữa sáng đã thấy được những người đi áp giải có sự rèn luyện rất khá, kỷ luật rất tốt, và ít nhất là dọc đường họ sẽ không ngược đãi chúng ta. Song lúc đó, tôi không có cách nghĩ như vậy, ngược lại, tôi cho là người cộng sản căm thù tôi nhất, chắc gì nửa đường lại không giết tôi để trả thù. Thật như bị ma ám, vừa mới thoáng nghĩ như vậy mà tôi cứ có cảm giác sự việc ấy nhất định sẽ xảy ra, hơn nữa có lẽ không qua khỏi ngày hôm nay. Có người sau bữa cơm sáng ngồi ngủ gật, còn tôi thì đang ngồi không yên, thấy phải đi tìm người nói ra mới được, phải gặp nhân viên áp giải giãi bày là mình không đáng tội chết mới được.
            Ngồi phía trước tôi là một chiến sĩ công an trẻ măng, đây là đối tượng gần nhất để tôi nói chuyện. Tôi quan sát kỹ anh chiến sĩ, cuối cùng tìm được đầu câu chuyện từ phù hiệu “Quân  giải phóng nhân dân Trung Quốc” trên ngực áo anh:
            - Ông là quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (lần đầu tiên tôi dùng danh từ “ông”). Giải phóng, hai chữ này ý nghĩa đẹp quá. Tôi là người theo đạo Phật, trong kinh Phật cũng có nghĩa này. Phật chúng tôi từ bi, mong muốn giải phóng tất cả sinh linh...
            Chiến sĩ trẻ tròn mắt lặng yên nghe tôi lải nhải. Khi tôi nói đến việc tôi chưa bao giờ sát sinh, cả đến con ruồi cũng chưa từng đập chết thì thái độ trên mặt chiến sĩ làm tôi khó mà đoán được. Tôi chán nản không nói tiếp được nữa. Tôi có biết đâu, chính bản thân anh chiến sĩ trẻ này cũng không thể đoán được tâm trạng của tôi lúc bấy giờ.
            Tôi càng tuyệt vọng. Tiếng tàu hỏa nghiến đường sắt khiến tôi có cảm giác ngày càng gần cõi chết. Tôi rời khỏi ghế ngồi, bước tới đầu bên  kia toa xe đứng tần ngần mấy giây trước cửa buồng vệ sinh rồi lại quay về. Tới giữa toa, thấy thằng Tú, cháu tôi đang nói chuyện “dân chủ” gì gì đó. Tôi dừng lại quát nó:
            - Thời thế này còn nói quân chủ cái gì nữa. Đứa nào mà nói dân chủ không tốt thì tao quyết định sống mái với nó.
            Mọi người trố mắt nhìn tôi. Tôi như phát khùng:
            - Các người nhìn tôi làm gì, có xử bắn cũng chỉ mình tôi thôi, các người chớ sợ.
            Một chiến sĩ bước tới bảo tôi về chỗ cũ và khuyên tôi: “Ông nên nghỉ ngơi một chút”. Tôi như bị ma quỷ nhập hồn kéo anh chiến sĩ đó lại rỉ tai: “Thằng đó là cháu tôi, tư tưởng xấu lắm chống dân chủ. Còn lão họ Triệu nữa, trước nó là tướng, hồi ở Liên Xô nó đã nói nhiều điều xấu”.
            Về đến chỗ ngồi, tôi vẫn còn lải nhải, anh chiến sĩ bảo tôi nằm xuống. Tôi bất đắc dĩ phải nằm xuống ghế, nhắm mắt lại nhưng mồm vẫn lải nhải mãi. Sau đó, có lẽ vì đã mấy đêm không ngủ nên tôi thiếp đi lúc nào không biết.
            Tỉnh giấc thì đã là buổi sáng hôm sau. Nhớ lại việc hôm trước, tôi rất muốn biết vận mệnh của hai người mà tôi đã tố giác ra sao. Tôi ngồi dậy tìm kiếm, thấy thằng Tú và lão họ Triệu vẫn ngồi ở chỗ cũ, sắc mặt thằng Tú vẫn bình thường, lão họ Triệu thì hình như hơi khác. Tôi đến gần càng nhìn càng thấy sắc mặt hắn thảm thương: hắn đang ngắm nghía bàn tay mình, hết lật ngửa lại úp xuống. Tôi đoán chắc hắn biết mình sắp chết nên đang luyến tiếc đời mình. Lúc đó tự nhiên tôi nhớ đến câu chuyện quỷ báo oán, sợ hắn ta chết rồi hoá quỷ tìm đến mình để thanh toán. Nghĩ vậy tôi bỗng bước tới trước mặt hắn và thình lình thụp xuống vái hắn một vái. Sau khi làm xong lễ “siêu độ” đó, tôi vừa quay về chỗ cũ vừa lẩm bẩm đọc kinh “vãng sinh thần chú”.
            Tàu hỏa giảm dần tốc độ và ngừng hẳn. “Trường Xuân”. Không biết ai khẽ kêu lên một tiếng khiến tôi bật dậy và chồm tới cửa sổ đã bị giấy báo bịt kín. Tôi ức quá chỉ muốn khoét được một lỗ thủng nhìn ra ngoài xem sao. Tôi chẳng nhìn thấy gì, chỉ nghe thấy tiếng hát của nhiều người cách đó không xa. Tôi nghĩ, đã tới nơi chết của mình rồi. Đây từng là nơi tôi làm vua, có lẽ người ta đến đông đủ chờ công khai xử tôi rồi. Hồi còn ở Liên Xô, tôi đã từng đọc trên báo “Sự thật” những bài miêu tả các cuộc mít tinh đấu cường hào, ác bá, biết được chương trình xử công khai; trước hết là quân dân áp giải người bị xử ra trước quần chúng. Vừa lúc ấy có hai người lính từ cửa toa bên bước tới khiến tôi hoảng hồn vì sợ hãi, thì ra họ đem cháo sáng đến cho chúng tôi. Cùng lúc ấy, tàu lại chuẩn bị chuyển bánh.
            Tàu tới Thẩm Dương. Tôi nghĩ, lần này ắt không đi nữa rồi, nhất định là tôi sẽ phải chết. Ở nơi tổ tiên tôi phát tích. Tàu ngừng được một lát thì có người lạ mặt bước vào toa xe cầm tờ giấy nhỏ tuyên bố với mọi người: “Trời nóng nực quá người nào lớn tuổi hãy theo tôi đi nghỉ một lát”. Tiếp đó ông ta đọc danh sách tôi không những nghe thấy có tên tôi trong danh sách mà còn có cả thằng Tú cháu tôi nữa. Thật lạ lùng. Tôi - 44 tuổi, nếu miễn cưỡng thì cũng có thể cho là lớn tuổi chứ thằng Tú mới hơn 30 tuổi mà  cũng là lớn tuổi à! Tôi chắc mẩm đó chỉ là lừa bịp. Tôi là vua, những người có tên trong danh sách đều là đại thần, còn thằng Tú thì vì bị tôi tố giác hôm qua nên bị liên luỵ. Thôi, thế là hết! Chúng tôi được ngồi vào cùng một chiếc xe ôtô du lịch loại lớn, có lính bồng súng tiểu liên đi theo xe. Tôi nói với thằng Tú: “Thôi thế là hết. Tao dẫn mày đi gặp tổ tiên đây”. Sắc mặt thằng Tú thoáng trắng bệch. Người cầm danh sách cười nói: “Ông đừng sợ, chả đã nói là các ông đi nghỉ một lát hay sao!”. Tôi im lặng, bụng vẫn nghĩ: “Trò bịp! trò bịp, trò bịp!”.
            Ôtô đỗ trước một toà lầu, bên cửa lại có lính bồng súng tiểu liên đứng gác. Một quân nhân không mang vũ khí bước ra đón và dẫn chúng tôi vào cửa chính nói: “Lên gác!” Tôi bất chấp tất cả vì đã sắp chết thì mau chết cho xong, bèn cởi áo ngoài vò kẹp vào nách bước theo lên cầu thang. Tôi càng bước càng nhanh, vượt cả người dẫn đường khiến ông ta phải bước vượt lên trước tôi. Lên tới trên lầu, ông bước nhanh tới của một phòng rồi ra hiệu bảo tôi vào. Phòng rất rộng, chính giữa kê chiếc bàn dài và một số ghế, trên bàn đặt một số trái cây, thuốc lá và bánh ngọt. Tôi vứt áo ngoài đánh phịch một tiếng lên bàn và tiện tay lấy một quả táo cắn luôn, bụng  bảo dạ “Tiệc tống mạng đây, mau mau ăn đi thôi”. Tôi đã ăn hết một quả táo rồi mấy người đi sau mới lần lượt tới. Chỉ chốc lát trong phòng đã chật người; ngoài mười mấy người chúng tôi có tên trong danh sách còn có khá đông người mặc quần áo đại cán và quân phục.
            Một người trung niên mặc đại cán đứng cách tôi không xa bắt đầu nói chuyện. Tôi đang cố nuốt cho trôi thức ăn trong miệng nên chẳng nghe rõ lời nào. Sau khi cố sức ăn hết quả táo, tôi đứng dậy cắt ngang lời ông ta:
            - Thôi, đừng nói nữa, đi đi thôi!
            Vài người mặc đại cán cười, người đang nói chuyện cũng cười theo:
            - Ông đừng hấp tấp quá, đừng sợ, tới Phủ Thuận nghỉ cho khoẻ rồi cố gắng mà học tập.
            Tôi ngạc nhiên, đứng như phỗng. Chẳng lẽ không bắt tôi chết nữa ư? Sao thế nhỉ? đúng lúc ấy người dẫn chúng tôi đến đây, tay cầm tờ danh sách bước tới báo cáo với người đang nói chuyện rằng, ngoài Hy Hiệp vì ốm không đến được còn những người cần nghỉ ngơi đều đến đủ. Để xác minh điều đó, tôi bất chấp tất cả, bước tới giật phăng tờ danh sách xem. Tuy hành động này khiến mọi người cười ồ nhưng tôi cũng đã biết được đó là danh sách thật chứ không  phải tờ quyết định hành quyết như tôi nghĩ. Đang lúc ấy thì tiểu Trương con của Trương Cảnh Huệ cũng vừa đến. Anh ta cùng với nhóm tội phạm chiến tranh khác đã về trước trong đợt đầu giới thiệu cho chúng tôi biết tình hình hiện nay của những tội nhân về nước đợt đầu, đồng thời cho một số người trong chúng tôi biết tình hình gia quyến của họ hiện nay. Mọi người nghe nói những tội phạm chiến tranh về nước đợt đầu vẫn còn sống, tình hình gia đình rất tốt, con cái người đi học, kẻ đi làm, ai nấy mặt mày rạng rỡ hẳn lên. Lúc đó, nước mắt tôi như suối, chảy ròng ròng.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Mới đến Phủ Thuận

 
            Trước khi tàu đến Phủ Thuận trên đường có thể nghe thấy sự đánh giá các kiểu về tiền cảnh tốt đẹp. Trên tàu, không khí hoàn toàn thay đổi. Mọi người hút thuốc lá từ Thẩm Dương mang đến, nói năng rất vui vẻ phấn chấn. Có người nói, ông ta đã từng đến Câu lạc bộ lịch sự nhất ở Phủ Thuận, và tin rằng nơi đó nhất định là nơi đón tiếp chúng tôi. Có người nói: chúng tôi có thể ở Phủ Thuận rất lâu, nghỉ ngơi mấy ngày, đọc sách Đảng Cộng sản mấy ngày sẽ có thể về nhà. Có người nói, đến Phủ Thuận ông ta sẽ gửi cho gia đình bức điện báo bình yên để gia đình chuẩn bị một chút. Lại có người nói, đến Phủ Thuận có thể tắm suối nước nóng rồi đi. Những ảo tưởng muôn màu muôn vẻ chẳng có cơ sở nào. Nhớ lại sự khiếp sợ trước đây - mọi người đều như tôi - không thể không bật cười.
            Tuy nhiên, vừa tới Phủ Thuận, xuống tàu hỏa. Khi nhìn thấy bốn bề là các tiêu binh vũ trang, chẳng còn ai khua môi múa mép nữa.
            Xuống tàu, dưới sự giám sát của các tiêu binh vũ trang, chúng tôi được đưa lên mấy chiếc xe ca lớn. Bắt đầu từ lúc đó, dầu óc tôi lại mụ đi, không biết qua bao thời gian, chỉ biết sau đó, khi xe dừng mình đã ở trong một toà nhà màu vàng thẫm, tường gạch lớn. Lại là tường lớn! mà bên trên lại mắc giây thép gai, góc tường lù lù vọng gác. Tôi xuống xe, theo số người xếp hàng, đi một đoạn đường ngắn dừng trước một dãy phòng. Những phòng này, mỗi cửa sổ đều có chấn song sắt. Tôi hiểu rõ đây là nhà giam.
            Chúng tôi được quân lính dẫn vào cửa dãy phòng, qua một hành lang hẹp tiến vào một gian phòng lớn. Ở đó, chúng tôi qua kiểm tra sau đó do quân đội có vũ khí chia nhau dẫn đi.  Tôi và mấy người khác theo một quân nhân đi một đoạn vào một gian phòng. Tôi còn chưa nhìn rõ hình thể trong phòng, phía sau lưng đã vang lên tiếng kéo cửa nhức tai. Gian phòng này có một bệ hầm khá dài, một chiếc bàn dài và hai chiếc ghế dài. Cùng tôi vào đây có mấy viên tướng ngụy Mãn lúc đó chưa quen biết. Tôi  không muốn nói chuyện với họ, không rõ họ cũng lo sợ như tôi hay là vì trước mặt tôi họ cảm thấy gò bó, cũng đều im hơi lặng tiếng cúi đầu đứng ở một phía. Đứng sững một lúc bỗng tiếng cửa sắt nhức tai lại vang lên. Cửa phòng được mở ra, một nhân viên coi giữ bước vào đưa tôi theo anh ta sang một phòng khác. Tôi không ngờ, tại gian phòng này tôi lại gặp ba cháu tôi, em trai Phổ Kiệt và bố vợ Vinh Nguyên. Thì ra vẫn là để chúng tôi cùng ở với nhau. Họ vừa mới lĩnh chăn gối và đồ dùng rửa mặt đánh răng và mang giúp tôi một bộ.
            Trước hết khiến tôi được an ủi là Vinh Nguyên qua sự từng trải của mình đã phân tích:
            - Đây là một nhà giam quân sự - ông sờ chấn song sắt nói: - toàn mặc quân phục, đúng rồi, không phải lập tức xẩy nguy hiểm, nếu không việc gì phải phát bàn chải răng, khăn mặt. Vừa rồi lúc kiểm tra, để lại tài sản vàng bạc, đưa giấy biên nhận, điều đó cũng không giống như đối với phạm nhân thường. Lại thêm ăn uống cũng khá.
            - Ăn uống cũng khá, chẳng phải là tiệc táng mệnh hay sao? - Cháu tiểu Cố nói một cách khẳng định.  
            - Không, bữa cơm kiểu đó có rượu, song ở đây không có rượu - bố vợ tôi nói một cách chắc chắn. 
            - Chúng ta hãy xem bữa sau. Nếu bữa sau vẫn khá như thế thì không phải. Không nghe nói ăn mấy bữa như thế.
            Ngày hôm sau, tôi bắt đầu tin một chút vào lời nói của bố vợ tôi. Không phải vì ăn uống và ngày hôm trước không ra sao, mà vì các quân y tiến hành kiểm tra sức khoẻ chúng tôi, kiểm tra hết sức kỹ. Ngay trước kia đã sinh bệnh gì, thường ăn gì, kiêng kỵ thứ gì cũng đều hỏi. Đồng thời còn phát quần áo đen và may ô trắng. Điều khiến mọi người ngạc nhiên là còn phát thuốc lá. Rõ ràng không giống như dối đãi với tử tù.
            Qua mấy ngày, một người thô thấp, tuổi trạc trên dưới bốn mươi vào phòng chúng tôi. Ông ta hỏi tên mọi người, ở Liên Xô đọc sách gì, ở đây đêm ngủ được không, sau khi nghe chúng tôi trả lời ông gật gật đầu nói:
            - Tốt, lập tức phát sách báo cho các ông, các ông hãy học tập tốt.
            Mấy giờ đồng hồ sau, chúng tôi liền nhận được sách, báo chí, còn có các loại cờ và bài, từ hôm đó, mỗi ngày chúng tôi nghe đài phát thành hai lần, loa phóng thanh mắc ngay hành lang, một lần nghe tin tức, lần khác là âm nhạc hoặc các tiết mục ca kịch. Ngoài ra mỗi buổi chiều còn có nửa giờ đi tản bộ trong sân. Tại cuộc đi ra tản bộ lần đầu tiên ấy, cháu tiểu Cố thăm hỏi ra người bảo chúng tôi học tập “tốt” ấy là trại trưởng trại quản lý tội phạm chiến tranh.
            Người mang sách đến cho chúng tôi họ Lý, sau biết đó là một trưởng phòng.
            Khi đó, ngoài Trại trưởng, chúng tôi nhất loạt gọi các nhân viên sở quản lý là “ông” (vì khi đó không biết gọi cách nào khác), ông Lý mang đến cho chúng tôi ba cuốn sách: “Bàn về chủ nghĩa dân chủ mới”, “Lịch sử Trung quốc 100 năm gần đây” và “Lịch sử cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới”. Ông nói: hiện nay chưa đủ sách, mọi người có thể lần lượt chuyển nhau đọc, hoặc một người đọc, mọi người nghe. Trong sách có nhiều danh từ, chúng tôi cảm thấy rất mới nhưng càng mới là bảo bọn chúng tôi đọc sách.
            Đối với những sách này, tiểu Cố là người trước tiên thấy thích thú. Hắn đọc nhanh hơn mọi người và lập tức đưa ra những vấn đề khó hiểu yêu cầu mọi người giải đáp. Người khác không giải đáp được hắn liền đi hỏi nhân viên quản lý. Vinh Nguyên cười nhạo hắn nói: “Mi đừng coi đây là trường học, đây là nhà tù”. Tiểu Cố nói: “Chẳng phải là trại trưởng nói muốn chúng ta học tập hay sao?”. Vinh Nguyên nói: “Học tập, cũng là nhà tù. Hôm qua, lúc đi tản bộ ta nghe nói: nơi này trước đây là một trại giam. Trước kia là như thế, nay có sách, có báo vẫn như thế”. Phổ Kiệt nói theo: “Nghe nói nhà tù Nhật Bản cũng có sách báo đọc, song vẫn chưa nghe thấy nói Trung Quốc có “nhà tù văn minh” như vậy”. Vinh Nguyên lắc đầu gân cổ nói: “Nhà tù là nhà tù, văn minh cũng là nhà tù. Học những cái đó, chẳng bằng niệm Phật”. Tiểu Cố muốn tranh luận với ông ta, ông ta lạnh nhạt nhắm mắt thầm niệm Phật.
            Hôm đó, chúng tôi tản bộ từ sân quay về, tiểu Cố báo một tin mới nghe được. Lão Cốc, Thứ trưởng Tổng vụ ngụy Mãn trước lấy một chiếc đồng hồ tặng nhân viên coi giữ (khi đó chúng tôi vẫn chưa biết tên gọi chức danh này, trước mặt chúng tôi gọi là ông, sau lưng gọi là “quản người”), kết quả bị chỉnh một trận. Tin tức này dẫn tới cuộc tranh luận của mấy người trẻ tuổi.
            Tiểu Tú nói: nước nóng tắm lần trước cũng không phải nước nóng ở đây. Lò vẫn chưa sửa chữa xong nên nước là do các ông “quản người” gánh từng gánh về. “Gánh nước cho phạm nhân, chưa hề thấy ai nói”. Tiểu Thụy cũng cho rằng các “quản người” và “ngục tốt” trong truyền thuyết khác nhau. Không mắng người, không đánh người. Lúc đó Vinh Nguyên đang chuẩn bị ăn bữa tối, vừa niệm xong “Vãng sinh thần chú” cười nhạt nói nhỏ:
            - Các ngươi trẻ tuổi rất không từng trải, chẳng lạ cũng cho là lạ. Người tặng đồng hồ nhất định là tặng không đúng lúc, người khác trông thấy, trước mặt người khác làm sao dám lấy. Không đánh, không mắng, anh cho là họ không thù chúng ta. Xin lỗi, chịu tội ở sau này!
            - Gánh nước thì nói thế nào? - Tiểu Cố ngang ngạnh nói, - gánh nước cho chúng ta tắm tức là bảo chúng ta chịu tội ư?
            Dù nói thế nào, giọng nói của Vinh Nguyên càng hạ thấp: “Đảng Cộng sản không thể của loại người chúng ta!”.
            Nói xong ông sờ túi một hồi bỗng hốt hoảng nói: “Tôi để quên thuốc ở bên ngoài bệ cửa sổ rồi. Thật tiếc, từ Thẩm Dương mang đến chỉ còn một bao”. Ông không vui vẻ mở một bao thuốc rẻ tiền do trại quản lý phát còn lẩm bẩm “ở đây, quản người đều hút thuốc tôi coi như biếu không rồi”.
            Thật đúng như kịch đã nói: “Không khéo không thành sách”, câu nói của ông ta vừa dứt, cửa phòng có người mở ra, một nhân viên coi giữ họ Vương tay dơ một vật nói: “Ở đây có ai đánh rơi thuốc lá không?”, mọi người nhìn rõ vật mà người coi giữ cầm chính là bao thuốc lá Thẩm Dương của Vinh Nguyên.
            Vinh Nguyên nhận bao thuốc luôn miệng nói: “Cảm ơn ông Vương, cảm ơn ông Vương”. Nghe bước chân nhân viên coi giữ đã xa, tiểu Cố không nhịn được cười hỏi ông vừa niệm chú gì, tại sao vừa niệm đã niệm được bao thuốc trở  lại. Vinh Nguyên châm thuốc lặng lẽ hút một hồi bỗng nhiên như tỉnh ngộ vỗ đùi một cái.
            - Những người “quản người” đúng là có chuyên môn lựa chọn, vì phải đối phó với chúng  ta tự nhiên phải chọn một số người văn minh một chút.
            Tiểu Cố cười, Phổ Kiệt gật đầu liên tiếp, ngoài ra hai cháu tôi cũng bị sự từng trải của Vinh Nguyên át đi. Tôi cũng như Phổ Kiệt hoàn toàn đồng ý sự giải thích của Vinh Nguyên.
            Sau này, xảy ra một việc khiến sự giải thích  của Vinh Nguyên rất không đúng. Hôm đó chúng tôi tản bộ trong sân quay về. Phổ Kiệt vừa vội vã tìm tôi báo, mặt khác phấn khởi nói, y mới nghe thấy người ở phòng khác cũng đang bàn tán về một bài đăng trên báo hôm nay. Bài báo này khiến chúng ta đoán ra ý tứ của nước Trung Hoa mới bảo chúng ta học tập. Mọi người vừa nghe, đều vây xung quanh Phổ Kiệt, xem y tìm bài nào. Tìm thấy bài rồi, tôi quên đầu đề bài báo chỉ nhớ được khi Phổ Kiệt đọc đến đoạn nói Trung Quốc bức thiết cần các loại nhân tài, phải bồi dưỡng số lớn nhân tài, mạnh dạn đề bạt cán bộ. Trừ Vinh Nguyên mọi người đầu đều xúm vào mặt báo. Theo Phổ Kiệt nghe được sự phán đoán của phòng khác, chính phủ cho chúng ta học tập, ưu đãi chúng ta tức là do nhà nước thiếu nhân tài, muốn sử dụng một số người của chúng ta. Ngày nay nhớ lại, sự phán đoán ấy tức cười biết bao nhiêu. Song khi đó, nó rõ ràng là cách suy nghĩ của nhiều người. Trong gian phòng của chúng tôi mặc dù Vinh Nguyên tỏ ra hoài nghi, nhưng người khác lại càng nghĩ càng cảm thấy đó là một việc gì đó.
            Tôi nhớ, từ ngay hôm đó, từng phòng có sự thay đổi rõ ràng. Mọi người đều thật sự học tập. Trước kia, ngoài tiểu Cố, những người khác đều không thấy hứng thú với những cuốn sách nhỏ đầy danh từ mới. Mỗi ngày đọc sách nửa ngày, chủ yếu là để nhân viên coi giữ ở hành lang nhìn. Hiện nay dù nhân viên coi giữ có mặt hay không học tập vẫn tiến hành. Khi đó còn chưa có cán bộ trại quản lý giảng bài, gọi là học tập cũng chỉ chẳng qua chỉ là đào bới danh từ mà thôi. Đương nhiên Vinh Nguyên vẫn như cũ, không tham gia, khi người khác học, ông nhắm mắt tụng kinh.
            Sự lạc quan mù quáng này không kéo dài khi phía trại quản lý tuyên bố điều chỉnh nhà cửa, tách tôi khỏi họ hàng, nó giống như bông hoa vừa nở đã tàn.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Tôi tách khỏi họ hàng

 
            Tại sao lại tách tôi và họ hàng tôi? đến mãi về sau tôi mới biết rõ. Trong cải tạo của tôi điều đó thật sự là một bước cực kỳ quan trọng. Song khi đó tôi trái lại coi đó là hành động của Đảng Cộng sản thề không đội trời chung với tôi. Tôi cho rằng đó là muốn qua họ hàng của tôi điều tra việc làm trước kia của tôi để tiến hành xét xử tôi.
            Sau khi tôi bị bắt, ở Liên Xô tôi luôn nói việc làm bán nước của tôi là bị ép buộc, bất đắc dĩ, là tiến hành dưới sức ép bạo lực. Tôi biến cuộc hội đàm với Doihara thành sự trói buộc bằng vũ lực. Tôi hoàn toàn che dấu những việc làm cấu kết với đế quốc Nhật Bản và sau đó là những thủ đoạn xấu xa lấy lòng kẻ thù. Các thành viên trong gia tộc biết rất rõ nhưng đều giúp tôi che giấu bộ mặt thật. Hiện nay về tới Trung Quốc, tôi càng cần họ giữ bí mật cho tôi, tôi tiếp tục phải quản lý họ tránh không để họ lỡ lời nói ra những điều không cần nói, đặc biệt là tiểu Tú, cần phải chú ý ngăn ngừa.
            Ngày đầu tiên đến Phủ Thuận, tôi phát hiện tiểu Tú vì chút “thù trừng mắt” trên xe lửa, thái độ có chút không bình thường. Hôm đó, tôi vào phòng giám thị không lâu bỗng cảm thấy có cái gì bò trên cổ, tôi vội gọi tiểu Tú xem giúp tôi. Nếu như trước kia, hắn đến ngay, song hôm đó lại làm như không nghe thấy, không đụng đậy gì. Không những như thế, sau khi tiểu Thụy đến từ sau cổ tôi tìm thấy một con sâu róm vứt xuống đất. Tiểu Tú ở bên cạnh còn hầy một tiếng: “Hiện nay còn phóng sinh, phóng sinh để nó đi hại người khác!”. Tôi nghe rồi khắp người nhũn ra.
            Mấy hôm sau, tiểu Thụy giúp tôi sắp xếp chăn gối, tôi bảo hắn mang chăn ra dập, việc làm này không ai bằng lòng, làm cho khắp nhà bụi mù mịt. Phổ Kiệt bưng miệng lánh sang một bên. Tiểu Cố bịt mũi nói với tiểu Thụy: “làm tốt đi, đụng chết người ta đi!”. Tiểu Tú giằng lấy chiếc chăn vứt lên sàn nói: “Trong phòng này không phải chỉ có các người ở, người khác cũng ở, các người không quan tâm đến người khác là không được”. Tôi sầm mặt hỏi:
            - Thế nào là các người, chúng ta? mi còn hiểu qui tắc không?
            Hắn không trả lời tôi, quay đầu ngồi trên cạnh ghế, chẳng nói chẳng rằng. Một lát sau, thấy hắn hí hoáy vẽ, tôi muốn xem hắn vẽ cái gì, không ngờ vừa đi qua, hắn cầm giấy xé ra, một thoáng tôi nhìn thấy một hàng chữ: “Chúng ta đi thôi”.
            Nhớ lại chuyện trên xe lửa, nếm mùi vị mình làm mình chịu, từ hôm đó, tôi hết sức tỏ cảm tình tốt với hắn, tươi tỉnh với hắn. Tôi tìm dịp đơn độc giải thích với hắn về việc trên xe lửa cũng không phải có ác ý gì, đối với hắn tôi luôn yêu quý. Sau đó, có dịp tôi liền nói với ba đứa cháu về luân thường không thể phế bỏ, trước khó khăn lớn hiện nay, phải đồng lòng hợp sức vượt qua khó khăn là rất cần thiết. Khi tiểu Tú không có mặt, tôi dặn dò người khác “phải rất cẩn thận với tiểu Tú! Chú ý đừng để hắn hành động ngoài khuôn phép”.
            Qua một thời gian nỗ lực, tiểu Tú không xảy ra vấn đề gì. Sau đó, bài trên báo gây ảo tưởng trong đầu óc tôi. Thái độ của Tiểu Tú cũng hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, tôi vừa yên lòng về hắn lại có chuyện điều chỉnh phòng giam. Nhân viên coi giữ bảo một mình tôi chuyển sang một phòng khác tiểu Cố và tiểu Thụy thay tôi thu xếp chăn nệm đồ đạc vali đưa tôi sang phòng mới. Chúng đặt các thứ xuống và đi. Tôi cô đơn đứng trước một đám người lạ cảm thấy vô cùng xấu hổ. Phòng này vốn có 8 người ở, thấy tôi đến đều trầm ngâm không nói, thái độ gò bó. Sau đó, có người đỡ lấy chăn nệm của tôi đặt tại nơi sát đầu tường. Về sau tôi mới rõ, nơi này mùa đông ấm, mùa hè mát, mùa đông được sưởi ấm, mùa hè có cửa sổ. Lúc đó, đối với những ý đồ tốt đẹp đó, kể cả về mặt kính nể của họ tôi cũng không chú ý, trong lòng chỉ nghĩ rằng lần chia ly này nguy hiểm đối với tôi. Tôi im lặng ngồi một lúc cảm thấy nơi này, ngay ván trên bệ nằm cũng rất cứng.  
            Tôi nghĩ ra một cách, đến cửa phòng gõ cửa:
            - Có việc gì thế? - một người thấp bé mở cửa hỏi.
            - Xin hỏi ông? tôi có thể nói với ông trại trưởng một việc không?
            - Loại việc gì?
            - Tôi muốn nói, từ trước tới nay tôi chưa bao giờ tách khỏi người nhà, nay xa rời họ tôi rất không quen.
            Anh ta gật gật đầu, bảo tôi đợi một chút. Đi một lúc, anh ta quay lại nói trại trưởng cho phép tôi quay về.
            Tôi mừng quá, ôm chăn nệm, nhân viên coi giữ giúp tôi xách vali quay về, ở hành lang tôi gặp trại trưởng.
            - Để chiếu cố ông và một số người tuổi cao cho ông tiêu chuẩn ăn cao hơn một chút - trại trưởng nói: - cân nhắc việc các ông cùng ở một nơi, tiêu chuẩn ăn cũng khác nhau sợ ảnh hưởng đến họ do đó mới...
            Tôi hiểu rõ trại trưởng muốn cân nhắc như vậy, không đợi ông nói hết, tôi vội vàng nói:
            - Không sao, tôi bảo đảm họ không bị ảnh hưởng.
            Suýt nữa thì tôi nói ra: “Họ vốn phải như thế”.
            Trại trưởng mỉm cười:
            - Ông nghĩ thật đơn giản. Phải chăng ông đã từng nghĩ, ông tự mình cũng sẽ học để chăm sóc mình.
            - Đúng, đúng - tôi vội vàng nói - song rồi tôi tập dần dần, một chút, một chút.
            - Được thôi - trại trưởng gật đầu nói - ông hãy luyện tập đi.
            Về lại gian phòng mà người nhà ở, tôi cảm thấy xa cách nửa ngày mà giống như một năm. Gặp mặt, mọi người đều rất vui mừng. Tôi nói với họ lời trại trưởng bảo tôi hãy “luyện tập” đi, từ câu nói đó mọi người cảm thấy chính phủ hầu như không vội xử lý, tâm tư của tôi lại càng vui mừng.
            Nhưng, người nhà tôi vẫn không để tôi luyện tập. Bản thân tôi cũng không muốn luyện tập. Tôi chỉ suy nghĩ ý tứ câu nói của trại trưởng, sớm muộn vẫn có thể gọi tôi phân khai, vì vậy phải nghĩ ra biện pháp để đối phó vấn đề này. Tôi cũng không ngờ trại trưởng cho thời gian ngắn như thế, mới qua mười ngày, biện pháp tôi còn chưa nghĩ ra. nhân viên coi giữ đã đến bảo tôi thu xếp chăn nệm.
            Tôi quyết định tranh thủ lúc tiểu Thụy giúp tôi thu xếp đồ đạc tôi dặn dò gia tộc mấy câu. Vì sợ nhân viên coi giữ nghe thấy không tiện nói miệng, liền viết ra một trang giấy; lại vì trong phòng khi đó còn có hai người của ngụy quân Uông Tinh Vệ, do đó tờ viết đặc biệt hàm xúc. Đại ý là: chúng ta cùng ở với nhau rất tốt, sau khi tôi đi vẫn phải đồng tâm hiệp sức vượt qua khó khăn, đối với mọi người tôi đều rất quan tâm. Viết xong, tôi trao cho Phổ Kiệt bảo y chuyển cho mọi người đọc. Tôi tin rằng sau khi đọc, ắt hiểu ý tôi là không muốn họ nói lung tung. Tôi tin rằng hai người của ngụy quyền Uông Tinh Vệ không nghi ngờ gì cử chỉ của tôi.
            Cháu tôi lại mang giúp chăn nệm, vali, đưa tôi sang phòng lần trước. Mọi người lại dỡ chăn nệm của tôi, sắp xếp ở chỗ tốt cũng như lần trước, tôi ngồi trên bệ, xoa đầu gối một hồi sau đó đi gõ cửa.
            Lại vẫn là viên coi giữ thấp bé mở cửa. Khi đó tôi đã biết anh ta họ Lưu và có chút cảm tình với anh ta. Điều đó do ăn bánh bao dần đến. Trước đó không lâu, chúng tôi lần đầu tiên ăn bánh bao. Mọi người ăn rất ngon, một nhoáng đã ăn hết sạch. Nhân viên coi giữ họ Lưu cảm thấy việc đó rất mới lạ, tươi cười bước tới hỏi chúng tôi ăn có đủ không. Có người không nói, có người ấp a ấp úng nói “đủ rồi”. Anh ta nói: “Việc gì phải ngượng ngượng, ngùng ngùng như thế. Phải ăn no”. Nói xong, anh ta đi như cơn lốc, một lúc một thùng bánh bao nóng nghi ngút xuất hiện trước cửa phòng chúng tôi. Tôi cảm thấy con người này thật nhiệt tình, cùng anh ta nói ra ý nghĩ mới cùng không ngại xảy ra chuyện gì.
            - Ông Lưu, tôi có chút việc....
            - Tìm trại trưởng? - anh ta hỏi trước
            - Tôi muốn cùng ông Lưu thương lượng một chút. Tôi, tôi…
            - Vẫn là chưa quen? - anh ta cười. Lúc đó tôi cảm thấy sau lưng hình như có người bật cười, không ngăn được mặt đỏ ửng, vội vàng giải thích nói:
            - Không, tôi muốn nói không phải là lại chuyển về. Tôi nghĩ, có thể cho tôi mỗi ngày gặp người nhà một lần không. Chỉ cần gặp gỡ là tôi cảm thấy tốt nhiều rồi.
            - Hàng ngày tản bộ ở sân chẳng phải là có thể gặp hay sao? như vậy có vấn đề gì?
            - Tôi muốn cùng họ nói chuyện, trại trưởng có cho phép không? Theo quy định, không cùng một phòng không được nói chuyện với nhau.
            - Tôi sẽ đi hỏi cho ông.
            Tôi được cho phép. Từ hôm đó, hàng ngày khi tản bộ trong sân đều có thể gặp người nhà một lần, nói chuyện một lúc. Hàng ngày các cháu tôi đều thông báo cho tôi tình hình trong phòng của chúng; người của trại nói gì với họ chúng lại đến nói với tôi: từ trong tiếp xúc, tiểu Cố vẫn lửng khủng, tiểu Tú cũng không có gì khác, tiểu Thụy vẫn giặt áo, vá tất cho tôi một cách lễ phép.
            Vấn đề tôi quan tâm được giải quyết, không ngờ vấn đề mới lại xuất. hiện. Đó là, thói quen sống hơn 40 năm “cơm đến há miệng, áo đến giơ tay” nay mang lại cho tôi khổ tâm rất lớn.
            Hơn 40 năm qua, tôi chưa hề đập một lần chăn, trải một lần giường, đổ một lần nước rửa mặt. Tôi thậm chí chưa tự rửa chân mình, chưa tự buộc dây giầy cho mình. Những thứ như muỗng ăn, dao, kéo, kim, chỉ... từ trước tới nay tôi chưa hề mó tới. Sáng sớm dậy, mọi người đã rửa mặt xong thì tôi mới mặc xong quần áo. Đợi đến lúc tôi chuẩn bị đi rửa mặt, có người nhắc nhở tôi gấp chăn trước, tôi cuốn vội cái chăn mới đi rửa mặt, mọi người đã rửa xong. Khi tôi súc miệng, đưa bàn chải răng vào miệng mới phát hiện chưa có thuốc đánh răng, tôi vội vàng làm xong những việc đó, mọi người đã nhanh chóng ăn xong bữa sáng. Mỗi ngày, tôi luôn đi sau mọi người, vội vã đến u mê đầu óc.
            Nếu chỉ là vội vã cũng còn được, khổ tâm là những người cùng phòng cười thầm. Cùng phòng có 8 người đều là tướng ngụy Mãn, có “Tư lệnh khu quân quản”, “lữ trưởng”, còn có “đoàn trưởng quân cấm vệ”. Trước kia họ là những nhân vật đều không thể ngẩng đầu trước mặt tôi. Khi tôi mới đến gian phòng này, họ tuy nhiên không như gia tộc tôi, gọi tôi là “bề trên” song vẫn chưa dám dùng từ “nỉ” (đại từ nhân xưng rất chung chung - ND) nếu không gọi là “ông” thì cũng bỏ xưng hô “nỉ” để bày tỏ sự tôn kính đối với tôi. Khi đó không phải họ công nhiên cười chế diễu song việc họ cố ý làm như không nhìn mà nhìn trộm thường khiến tôi cảm thấy rất khó chịu.
            Điều tôi cảm thấy rất khó chịu không chỉ như vậy, bắt đầu từ ngày đầu tiên chúng tôi tới Phủ Thuận, các phòng giam đều có chế độ trực nhật, mọi người mỗi ngày luân lưu quét dọn sân nhà, lau bàn ghế và đổ thùng nước giải. Khi chưa tách khỏi gia tộc, những việc đó đương nhiên tôi không phải làm. Sau khi tôi chuyển sang phòng mới, khó khăn đã đến, luân chuyển đến ngày tôi trực nhật thì làm thế nào? Tôi cũng đi đổ thùng nước giải cho người khác ư? Khi tôi lập hiệp ước bí mật với quân Quan Đông còn không cảm thấy làm sao, mà hiện nay coi việc đổ thùng nước giải thành việc làm nhục tổ tiên, xấu hổ muốn chết. May sao phía trại giải vây cho tôi. Ngày hôm sau, một vị cán bộ họ Giả của trại đi tới nói với mọi người: “Phổ Nghi có bệnh, không cần bảo ông tham gia trực nhật”. Nghe câu nói tôi như người đường cùng thấy lối, lần thứ nhất trong lòng nảy sinh tình cảm cảm kích.
            Việc trực nhật được giải quyết, không ngờ lại xảy ra một việc khác. Một hôm, chúng tôi đang tốp hai, tốp ba tản bộ trong sân. Trại trưởng xuất hiện. Mỗi lần chúng tôi tản hộ ông nhất định xuất hiện và thường tìm phạm nhân nói mấy câu. Lần đó tôi phát hiện ông chú ý đến tôi. Ông nhìn tôi từ đầu đến cuối nhìn ngắm đến lòng tôi như lửa đốt.
            - Phổ Nghi - ông gọi tôi một tiếng. Từ sau khi tôi về nước bắt đầu nghe người khác gọi tên mình, cảm thấy chưa quen, lúc đó cũng cảm thấy nhức tai, thấy rằng chẳng thà cứ gọi số hiệu còn dễ chịu hơn. Lúc nói đến nơi này, nhân viên coi giữ nói chung gọi số hiệu (số hiệu của tôi là 981).
            - Vâng, Trại trưởng - tôi bước tới.
            - Quần áo của ông phát cùng với người khác tại sao mình ông không như người khác? - giọng nói của ông ta rất hoà nhã.
            Tôi cúi đầu nhìn quần áo mình, lại nhìn mọi người. Vốn là trên mình mọi người chỉnh chỉnh tề tề, sạch bong mà tôi thì trái lại nhăn nhăn nhúm nhúm, lôi thôi lếch thếch, túi toạc một nửa, áo trên thiếu một cái nắp đậy dây một dám mực đen. Chẳng biết làm sao, hai ống quần cũng bên dài bên ngắn. Giầy còn tốt nhưng hai chiếc giày chỉ có một cái rưỡi dây giày.
            - Tôi sẽ chỉnh lý một chút - tôi nói nhỏ - tôi về sẽ vá miệng túi, đính khuy áo.
            - Tại sao quần áo ông luộm thuộm? - Trại trưởng mỉm cười nói - ông có thể nên lưu tâm một chút, người khác sống như thế nào. Học chỗ mạnh của người khác mới có thể tiến bộ.
            Trại trưởng nói rất nhẹ nhàng mà tôi cảm thấy không chịu nổi, rất đau đầu. Lần đầu tiên tôi bị người ta công khai chỉ rõ tôi chẳng biết làm cái gì, trở thành vật bỏ đi trước mặt mọi người. Tôi trở thành tiêu bản để mọi người nghiên cứu. Tôi khó chịu quay mình, tách khỏi  con mắt các “đại thần” và “quan, tướng” mong sắc trời tối nhanh. 
            Tôi lết đến chân tường, nhìn bức tường lớn màu xám lòng muôn vàn cảm khái. Cuộc đời tái sinh ra không tách khỏi sự bao vây của bức tường. Trước kia ở trong bức tường, tôi còn có sự tôn nghiêm nào đó. Ngay trong tường vây nhỏ ở Trường Xuân, tôi cũng giữ được đặc quyền trong sinh hoạt. Song ngày nay, trong bức tường này mọi thứ đều không có. Tóm lại một câu: khi đó không phải tôi cảm thấy mình vô năng mà đau buồn mà là do bị người ta xem là vô năng mà đau đầu tức giận.
            Tối hôm đó, tôi phát hiện người khác trước khi ngủ, cởi quần áo, gấp ngay ngắn, đặt dưới gối nằm, còn tôi lại tiện tay vứt một đống dưới chân. Nhớ lại câu nói của trại trưởng, rõ ràng có lý nên chú ý một chút chỗ mạnh của người khác - Nếu như tôi sớm biết câu này, hôm nay sẽ không gặp phải cảnh khó chịu hay sao?
            Tôi sống như thế ở Phủ Thuận qua hai tháng. Cuối tháng 10, trại quản lý chuyển đến Cáp Nhĩ Tân.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Chuyển đến Cáp Nhĩ Tân

 
            Trên xe lửa chuyển đến Cáp Nhĩ Tân, chỉ có mấy người trẻ tuổi còn có chút hứng thú cười nói, muốn cùng nhân viên coi giữ đánh “trăm điểm” (một kiểu chơi bài tú lơ khơ), những người khác rất ít nói chuyện, có nói cũng không nói to. Không ít người đêm không ngủ được, ngày không ăn được. Tôi tuy không lo sợ như khi về nước nhưng vẫn căng thẳng so với bất cứ người nào khác. Khi đó, chính là trên chiến trường Triều Tiên, quân đội Mỹ đã đến gần sông Áp Lục.Quân chí nguyện Trung Quốc đã sang chi viện Triều Tiên chưa lâu. Có một đêm, tôi thấy Phổ Kiệt cũng không ngủ được như tôi, liền hỏi quan điểm của y đối với chiến cuộc. Y chán nản  trả lời: “xuất quân ra nước ngoài tham chiến, rõ ràng là đốt hương dẫn quỷ xem ra sẽ hết”. Tôi lĩnh hội ý tứ “sẽ hết”, một mặt chỉ Trung Quốc sẽ thua trận, ít nhất Đông Bắc sẽ bị quân Mỹ  chiếm đóng; mặt khác lo rằng Đảng Cộng Sản nhìn thấy “thế lớn đã mất, giang sơn khó giữ” sẽ ra tay trước dọn đẹp đám người chúng tôi để tránh khỏi rơi vào tay người Mỹ, sau này mới biết, đó cũng là cách nghĩ của mọi phạm nhân.
            Đến Cáp Nhĩ Tân, nhìn thấy nhà cửa của trại quản lý, tôi càng tuyệt vọng. Nhà cửa của Trại quản lý vốn là nhà tù ngụy Mãn để lại. Nhìn thấy nó, chợt có mùi vị “lấy cái đạo của người, phải trị cái thân của người”. Nhà tù này do Nhật Bản thiết kế, là nơi chuyên giam “tội phạm chống Mãn, chống Nhật”, có hai tầng. Trung tâm là vọng gác. Bao quanh trạm gác là các nhà giam hai tầng hình quạt, trước và sau là lan can sắt dày, tường màu xám, ngăn nhà giam thành những phòng nhỏ, mỗi phòng chứa được 7, 8 người. Phòng tôi ở có 5 người không đến nỗi chen chúc, song do kiểu Nhật chỉ có thể ngủ trên sàn. Tôi ở đây khoảng hai năm, sau này nghe nói đã dỡ bỏ. Khi mới bước vào, tôi vẫn chưa biết rằng những “phạm nhân” ngụy Mãn bị giam cầm ở đây rất ít người sống sót. Tuy nhiên cứ nghe thấy tiếng mở cửa song sắt thì đã quá sức chịu đựng của tôi rồi. Tiếng vang của loại kim loại này luôn khiến tôi liên tưởng đến tra tấn và bắn giết.
            Chúng tôi được đãi ngộ cũng như ở Phủ Thuận, nhân viên coi giữ vẫn hoà nhã như trước. Tiêu chuẩn ăn uống không có chút gì thay đổi. Mọi thứ báo chí, đài phát thanh, hoạt động văn hoá văn nghệ như thường. Thấy những điều đó lòng tôi tuy có bớt sợ hãi song vẫn chưa ổn định được. Tôi luôn nghĩ rằng mình không chết trong tay người Trung Quốc cũng sẽ chết trong oanh tạc của máy bay Mỹ.
            Tôi còn nhớ rất rõ, qua báo chí chúng tôi thấy tin tức về quân chí nguyện nhân dân Trung Quốc giành được thắng lợi trong chiến dịch thứ nhất trên chiến trường Triều Tiên. Lúc đó chẳng ai tin. Đến cuối năm, tin tức thắng lớn trong chiến dịch thứ hai lại đến. Chúng tôi vẫn mang mối hoài nghi lớn. Năm sau, có một hôm, một vị cán bộ trại đứng trên vọng gác, đọc cho mọi người nghe tin đặc biệt về quân đội Trung - Triều khôi phục Hán Thành. Các phòng giam vang lên tiếng vỗ tay nhiệt liệt. Lúc đó, bụng tôi mới nửa tin, nửa ngờ.
            Khoảng tháng hai, trên báo công bố “các điều trừng trị bọn phản cách mạng”. Sợ dẫn tới sự kinh hoàng sợ hãi của chúng tôi nên ngừng việc chúng tôi đọc báo. Chúng tôi không biết nội dụng liền đoán rằng thua trận trên tiền tuyến, hoài nghi những tin mừng trước đó đều là giả dối. Do đó, tôi tự cho rằng vận nguy của tôi sắp đến.
            Một hôm, vào nửa đêm, tôi bỗng nhiên bị tiếng cửa sắt đánh thức, thấy nhiều người đến  bên ngoài chấn song, từ một phòng giam liền tường có một người đi ra. Tôi cho rằng chắc là quân đội Mỹ đến gần Cáp Nhĩ Tân, Đảng cộng sản cuối cùng giết chúng tôi. Sáng hôm sau nghe mọi người cùng phòng bàn luận mới biết rõ thật là sự nhầm lẫn ngớ ngẩn. Vốn là bệnh tiểu tràng của lão Khúc nguyên là một “tỉnh trưởng” phát ra, sau khi phát hiện, nhân viên coi giữ báo cáo trại trưởng, trại trưởng đưa bác sĩ quân y và y tá đến kiểm tra một chút, cuối cùng đưa ông ta vào bệnh viện. Lúc đó, do sợ hãi và liên tưởng tôi đã điên rồ lẫn lộn, cho nên chỉ nhìn thấy ống quần quân trang mà không thấy áo trắng của bác sĩ và y tá.  
            Gạt bỏ sự lầm lẫn mà cũng chưa an ủi tôi bao nhiêu.
            Ngoài tiếng cửa sắt ban đêm, tôi còn sợ nghe tiếng ôtô ban ngày. Mỗi lần nghe bên ngoài có tiếng xe ôtô, tôi ngờ là đến mang tôi đi xét xử.  Ban ngày, tôi tập trung tinh lực vào nghe ngóng, quan sát mọi động tĩnh bên ngoài chấn song sắt, ban đêm thường bị ác mộng kinh hoàng. Tình hình bốn viên “tướng” ngụy Mãn cùng phòng cũng chẳng khác gì tôi. Họ cũng như tôi, sức ăn ngày càng ít đi. Tôi nhớ trong những ngày đó, mỗi khi cầu thang có tiếng động, mọi người đều quay đầu nhìn về phía chấn song sắt.. Nếu như cầu thang xuất hiện khuôn mặt người lạ, trong các phòng giam nhất định tự động ngừng mọi hoạt động, giống như mọi người đứng trên sự tuyên phán ngày cuối cùng. Đúng vào lúc mọi người cảm thấy tuyệt vọng, một thủ trưởng công an đến nhà giam, thay mặt chính phủ nói chuyện với chúng tôi. Nghe lần nói chuyện đó, chúng tôi mới thấy có thể sống.
            Vị thủ trưởng này đứng trước vọng gác nói chuyện với các phòng giam luôn một giờ đồng hồ. Ông thay mặt chính phủ nói với chúng tôi một cách chính xác và rõ ràng: chính phủ nhân dân không muốn bảo chúng tôi chết mà là muốn chúng tôi qua học tập tỉnh ngộ, được cải tạo. Ông nói: đảng cộng sản và chính phủ nhân dân tin rằng, dưới chính quyền nhân dân đa số tội phạm có thể cải tạo thành người mới. Ông nói: lý tưởng Cộng sản chủ yếu là muốn cải tạo thế giới, cải tạo xã hội và cải tạo nhân loại. Ông nói xong, trại trưởng lại nói một hồi. Nhớ được ông nói một đoạn như sau: “Các ông chỉ nghĩ đến cái chết. Hãy xem đã sắp xếp những gì để các ông chết? Các ông có thể nghĩ xem: nếu chính phủ nhân dân định xử quyết các ông, việc gì lại phải để các ông học tập?
            “Đối với cuộc chiến tranh Triều Tiên, các ông có rất nhiều cách nghĩ kỳ lạ. Có người cho rằng, quân chí nguyện nhất định không đánh nổi quân đội Mỹ, quân Mỹ nhất định sẽ đánh vào Đông Bắc, do đó lo rằng Đảng Cộng sản sẽ ra tay giết hại các ông. Có người có thể còn mê tín sức mạnh quân sự Mỹ, cho rằng không thể chiến thắng bọn xâm lược Mỹ. Tôi có thể rõ ràng và chính xác nói với các ông, nhân dân Trung - Triều sẽ đánh bại đế quốc Mỹ, chính sách cải tạo tội phạm của Đảng cộng sản cũng nhất định giành được thắng lợi. Người cộng sản chưa bao giờ nói suông, sự thực là sự thực.
            “Các ông có lẽ sẽ nói: không muốn giết chúng tôi thì hãy thả chúng tôi ra có tốt không? Không tốt. Nếu chưa qua cải tạo đã thả các ông ra, không những các ông sẽ có thể phạm tội mà nhân dân cũng không đồng tình. Thấy các ông, nhân dân không thể tha thứ. Cho nên, các ông cần học tập, cải tạo tốt”.
            Đối với lời nói của vị thủ trưởng và trại trưởng tôi tuy không hiểu hết, thậm chí không hoàn toàn tin, song về câu nói chính phủ không muốn xử quyết chúng tôi thì tôi lại thấy ngày càng có đạo lý. Đúng nếu quả là có ý định giết chúng tôi, khi ở Phủ Thuận việc gì phải mở rộng nhà tắm của trại giam? Đến Cáp Nhĩ Tân việc gì phải cấp cứu người bệnh nguy cấp? Việc gì liên tục chiếu cố những người tuổi cao về mặt ăn uống?
            Những đãi ngộ về việc chữa bệnh, tắm rửa, sau này chúng tôi mới biết rõ, tại các nhà giam ở nước Trung Hoa mới không phải là chuyện hiếm lạ. Song khi đó, chúng tôi thật sự cảm thấy rất mới lạ, coi đó là sự chiếu cố đặc biệt đối với chúng tôi. Vì vậy, nghe câu nói chính phủ nhân dân chính thức nói ra là không muốn tiêu diệt chúng tôi, chúng tôi từ đó cảm thấy thoải mái hơn.
            Về việc học tập cải tạo mà thủ trưởng và trại trưởng nói, khi đó không ai trong chúng tôi bày tỏ ý kiến. Với tôi, bảo chúng tôi đọc sách, đọc báo chẳng qua để chúng tôi giết thời gian, tránh suy nghĩ lung tung. Nói rằng đọc mấy cuốn sách có thể thay đổi tư tưởng của một con người tôi cảm thấy không thể tưởng tượng dược. Về lời nói có thể đánh bại đế quốc Mỹ, tôi càng không tin. Bốn viên “tướng” tự cho là mình hiểu quân sự ở cùng phòng thì nhất trí cho rằng nước Mỹ chỉ dùng vũ khí thông thường cũng đủ để xưng bá chủ thế giới, thiên hạ vô địch. Nói có thể đánh bại quân đội Mỹ chỉ chẳng qua là câu nói suông.
            Tuy nhiên về sau, chúng tôi dần dần cảm thấy người Cộng sản không phải là những người nói suông. Sau đó không lâu, chúng tôi lại đọc báo chí, cảm thấy những tin tức về chiến trường Triều Tiên không phải là giả dối. Một số viên “tướng” cũng nói: xưa nay bịa đặt tin chiến sự, có thể bịa số người chết và bị thương của hai bên, còn về được, mất đất., thành phố thì không bịa trong thời gian dài được. Đặc biệt là tin tức về tổng tư lệnh quân đội Mỹ muốn đàm phán đình chiến còn có thể nói là vô địch sao? “Tướng, sĩ quan” đều hoài nghi. Khỏi phải nói, tôi càng giải thích không thông.
            “Việc binh không ngại lừa dối”, một tội phạm chiến tranh đã từng là lữ trưởng nói:”có lẽ bên trong còn đó vấn đề. Tôi không tin nước Mỹ là con hổ giấy”.
            Tuy nhiên, chẳng kể tin hay không tin, chiến tranh Triều Tiên ngày càng không như chúng ta nghĩ lúc ban đầu, nước Mỹ càng đánh càng không giống con hổ thật. Tình hình ngoài dự đoán ngày càng rõ rệt. Trái lại, tôi cảm thấy yên tâm vì tôi cho rằng nếu Đảng cộng sản không bị thất bại, thì cũng chẳng vội gì tiêu diệt tôi, con người vô dụng này.
            Học tập lúc này cũng khác trước. Trước kia học tập là tự đọc, phía trại không hỏi tới. Hiện nay cán bộ phụ trách học tập của trại đích thân lãnh đạo chúng tôi học tập, ông nói chuyện chuyên đề với chúng tôi về thế nào là “xã hội phong kiến”, sau đó cho chúng tôi thảo luận, mỗi người còn phải viết bút ký học tập.
            Một hôm, cán bộ giảng bài nói với chúng tôi:
            - Tôi đã từng nói, cải tạo tư tưởng trước hết phải hiểu rõ tư tưởng vốn có của mình là thế  nào. Tư tưởng của mọi người không tách rời xuất thân, lịch sử của mình. Vì vậy, phải từ xuất thân, lịch sử của mình mà nghiên cứu. Để tiến hành cải tạo tư tưởng, mỗi cá nhân phải phân tích một cách khách quan, không bảo lưu lịch sử của bản thân mình, viết một bản tự truyện...
            Tôi tự nói với mình: “thế là cải tạo ư? đó chẳng phải muốn cố cải tạo để lừa mình cung khai sao?”
            Đó là tư tưởng của tôi khi đó. Dưới sự chi phối của tư tưởng đối lập, tôi viết một bản tự truyện đầu tiên của tôi.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Viết tự truyện và hiến “Của Báu”

 
            Tôi cho rằng viết tự truyện là khúc dạo đầu của xét xử. Đã phải xét xử tức là nói sống chết vẫn chưa định, về mặt này, tôi cần ra sức giành một con đường sống.
            Để đối phó xét xử, tôi sớm có tính toán đã định. Ngày vừa tới Cáp Nhĩ Tân, chúng tôi xuống xe, còn chưa vào phòng giam, lúc đó tiểu Cố cháu tôi đến gần tôi, nói nhỏ vào tai tôi: “Hỏi ra, vẫn là cách nói ở Liên Xô”. Tôi khẽ gật đầu.
            Cái gọi là cách nói ở Liên Xô là che dấu việc đầu hàng kẻ địch của tôi, nói bản thân mình là người hoàn toàn lương thiện, yêu nước, yêu nhân dân. Tôi biết hoàn cảnh hiện nay khác với thời kỳ ở Liên Xô, tôi cần phải bịa dựng một cách rất nghiêm mật, quyết không đề lộ chút sơ hở.
            Lời tiểu Cố hôm đó là đại biểu cho các cháu khác cùng ở với y và Lý lớn người hầu của tôi. Câu nói đó chứng tỏ bọn chúng đã sớm chuẩn bị tốt đồng thời cũng chứng tỏ lòng trung thành của chúng đối với tôi như trước kia. Tuy nhiên, muốn không có sơ hở chỉ dựa vào lòng trung thành vẫn chưa đủ, tôi cảm thấy vẫn còn phải dặn dò một chút đặc biệt là đối với Lý lớn vì hắn là chứng nhân thực tế tận mắt bộ phận then chốt nhất trong bản tự truyện của tôi - Tôi từ Thiên Tân đến Đông Bắc như thế nào?
            Trước khi tôi từ Tĩnh Viên trốn đi, y là người trước tiên chuẩn bị hành lý đồ đạc cho tôi. Tôi chui vào hòm sau xe, y là người đậy nắp. Những việc đó nếu để lộ ra thì câu chuyện Doihara dùng sức mạnh bắt đi sẽ chẳng có ai tin được.
            Việc này chỉ có lúc nghỉ ngơi, lợi dụng lúc tôi và gia tộc gặp gỡ hợp pháp mới làm được. Tình  hình lúc đó so với trước cũng khác. Một số phạm nhân tuổi tương đối trẻ bắt đầu làm một số việc vặt như gánh nước, đưa cơm, giúp nhà bếp v.v.. Gia tộc tôi, ngoài Vinh Nguyên khi đó đã chết, thầy thuốc họ Hoàng do chứng phong thấp viêm khớp thường xuyên nghỉ, số còn lại đều tham giao lao động có tính chất phục vụ này. Thời gian nghỉ, tôi không dễ gặp toàn thể họ. Không người này đi giúp nhà bếp thì người kia đi đưa nước sôi. Tuy nhiên, cũng có mặt tốt tức là họ hành động tương đối tự do, có thể chuyển lời tôi tìm người, tôi đã lợi dụng thuận lợi đó để tiểu Thụy bảo Lý lớn tìm đến.
            Lý lớn đến, lễ phép đến gần tôi dáng điệu đợi nghe dặn dò. Tôi hỏi nhỏ hắn:
            - Ngươi còn nhớ việc từ Thiên Tân rời nhà chứ?
            - Là nói đến quan ngoại ư? cháu là người thu xếp đồ đạc phải không?
            - Nếu phía trại hỏi ta rời Thiên Tân như thế nào, người nói hoàn toàn không biết nhé. Ngươi thu xếp đồ đạc là sau khi ta đi biết không?
            Lý lớn gật đầu, tỏ ý hoàn toàn lĩnh hội lặng lẽ đi.
            Ngày hôm sau, ở trong sân tiểu Thụy cho tôi biết: Lý lớn nhờ báo cáo: tối hôm trước, y và cán bộ họ Giả của trạm nói chuyện phiếm. Y nói với cán bộ họ Giả rằng khi ở Đông Bắc, tôi đối xử với người dưới rất hậu, chưa bao giờ đánh mắng người; lại nói khi ở Lữ Thuận, suốt ngày đóng cửa không gặp người Nhật. Nghe nói như thế, tôi cảm thấy Lý lớn quá bốc, tại sao lại nói đến việc Lữ Thuận! tôi bảo tiểu Thụy nói với hắn: đừng nói nhiều, nếu được hỏi về tình hình Lữ Thuận thì nói không biết gì cả.
            Tôi rất hài lòng về sự trung thành của Lý lớn. Tôi đã nắm được vấn đề quan trọng, lại đã dặn dò các cháu, như vậy mới bắt đầu viết bản tự truyện của tôi. Trong bản tự truyện này, tôi viết gia thế của mình, việc Tây thái hậu đã cho tôi làm hoàng đế như thế nào, tôi đã trải qua những năm thơ ấu ở Tử Cấm Thành như thế nào, tôi “hoàn toàn bất đắc dĩ” trốn vào công sứ quán Nhật Bản như thế nào, cuộc sống ẩn dật ở Thiên Tân ra sao, sau đó theo truyền thuyết bên ngoài vứt thánh “bị bắt” và những năm “bất hạnh” ở Trường Xuân. Tôi còn nhớ, cuối cùng tôi viết:
            “Thấy nhân dân chịu khổ nạn như thế tự mình không có cách gì, lòng tôi vô cùng đau buồn. Tôi mong quân đội Trung Quốc có thể đánh tới, cũng mong trên quốc tế có sự thay đổi khiến Đông Bắc được giải phóng. Sự mong mỏi đó cuối cùng đã được thực hiện năm 1945”.
            Bản tự truyện đó, qua gọt dũa và sửa chữa nhiều lần, cuối cùng gửi lên trên. Từ bài viết này, tôi tin rằng bất cứ ai cũng có thể thấy rõ tôi là một người rất hối hận về tội lỗi.
            Sau khi gửi bản tự truyện đi, tôi lại nghĩ chỉ có bản viết đó chưa đủ, cần phải nghĩ cách để phía chính phủ tin rằng tôi “thành thật” và “tiến bộ” mới được. Làm thế nào? dựa vào Lý lớn và bọn chúng thổi phồng ư? điều đó rõ ràng chưa đủ, quan trọng nhất là tự mình phải có thành tích thực tế.
            Cứ nghĩ đến thành tích, tôi không ngăn được có chút lo lắng. Từ khi về nước đến nay, không tính lúc trên xe lửa cũng không tính lúc ở Phủ Thuận, chỉ nói từ lúc đến Cáp Nhĩ Tân tôi tham gia trực nhật ở phòng giam đến nay, về thành tích, ngay tự mình cũng không hài lòng, càng không cần nói tới phía trại.
            Vốn là các phạm nhân và trưởng trại nói chuyện, mỗi người đều tìm cách chứng minh bản thân mình có “giác ngộ”, coi đó là cách tìm đường sống. Hiện nay nhớ lại, cảm thấy thật đáng cười. Một người khi đó coi sự việc quá đơn giản, hình như chỉ cần giả vờ rất khéo là có thể lừa được chính phủ. Khi tôi mang ảo tưởng này, điều đau buồn nhất là ở chỗ cái gì cũng không bằng người khác.
            Khi đó, qua ba mặt: học tập, trực nhật và sinh hoạt, cố gắng thể hiện mình mong giành lòng tin của phía trại. Tổ chúng tôi, về mặt học tập “thành tích” tốt nhất phải kể lão Vương, tổ trưởng của chúng tôi. Ông ta nguyên là thiếu tướng quân pháp ngụy Mãn, học qua mấy năm pháp chính ở Bắc Bình, trình độ văn hoá tương đối cao, đối với danh từ lý luận mới hiểu tương đối nhanh. Ba viên “tướng” khác lúc đầu cũng như tôi, đến “chủ quan”, “khách quan” cũng không phân rõ, tuy nhiên “tiến bộ” cùng nhanh hơn tôi. Khi mở hội nghị thảo luận, họ đều có thể nói một hồi. Sợ muốn chết là sau khi đọc xong chuyên đề “thế nào là xã hội phong kiến”, mọi người phải viết một bài tâm đắc (hoặc gọi là tổng kết học tập) tự mình nói ra cảm tưởng, sự lĩnh hội đối với vấn đề này. Khi thảo luận, tôi còn có thể nói một cách đơn giản, biết đến đâu nói đến đấy, còn viết điều mình tâm đắc thật không dễ dàng. Trong tâm trạng không ổn định, một chữ tôi cũng không viết ra được.
            Sau khi đến Cáp Nhĩ Tân, tôi tự động tham gia trực nhật, đây là điều duy nhất chứng minh điểm “tiến bộ”. Công tác trực nhật chỉ là nhận từ ngoài phòng đưa vào ba bữa cơm, nước sôi và lau sàn nhà. Tôi không còn cảm thấy khó chịu, khi đến lượt tôi bắt tay làm ngay. Từ khi sinh ra, lần đầu tiên tôi phục vụ người khác nên cũng xảy chuyện. Khi bưng cơm ăn hầu như đổ cả bát canh xuống đầu người khác. Vì vậy, về sau mỗi lần đến lượt tôi, luôn có người tự động giúp đỡ. Họ một phần do ý tốt, phần khác là do không muốn bị nước canh đổ vào đầu.
            Về mặt sinh hoạt, tôi cũng không so sánh được với người khác. Quần áo tôi vẫn không chỉnh tề, sạch sẽ, vẫn phải nhờ tiểu Thụy giặt, vá. Tôi đã từng thử luyện tập tự chăm sóc mình, tự giặt quần áo, song khi tôi làm cho đầy mình ướt át vẫn không khống chế được xà phòng và bàn giặt. Khi tôi đứng trong sân chờ tiểu Thụy, mắt người khác nhìn vào tay tôi cầm quần áo đợi giặt tôi lại cảm thấy xấu hổ. 
            Nộp bản tự truyện không lâu, tôi bỗng hạ quyết tâm lại thử một lần. Tôi còn nhiều châu báu, đồ trang sức, không kể số tôi giấu ở đáy hòm, ngay số để bên ngoài cũng rất có giá trị. Trong số đó, có một bộ của “báu” do hoàng đế Càn Long khi làm Thái thượng hoàng sử dụng là thứ của báu vô giá. Đó là ba quả ấn điêu khắc bằng đá Điền hoàng thạch liên kết với nhau bằng ba dây xích cũng bằng đá quý, điêu khắc cực kỳ tinh xảo. Tôi không muốn động tới những thứ quý báu giấu dưới đáy hòm, quyết định lấy ba quả ấn ra để chứng mình sự “giác ngộ” của tôi.
            Quyết định rồi liền làm ngay. Tôi còn nhớ trước đó có một lần nhân viên trại trên vọng gác tuyên bố tin lục quân chí nguyện giành thắng lợi trong chiến dịch lần thứ năm, không rõ phạm nhân nào đó sau khi nghe lập tức hướng cán bộ yêu cầu sang Triều Tiên tham gia chiến đầu, tiếp đó có một người cũng yêu cầu như vậy, còn có người viết giấy thỉnh nguyện. Đương nhiên phía trại không tiếp nhận. Sau đó tôi có chút oán hận: những người này đã biểu hiện “giác ngộ”, lại thực tế dám nhận sự nguy hiểm thật có tấm lòng. Nghĩ đến sự việc này, tôi quyết định việc này tôi không thể lạc hậu hơn người khác, không nên để họ làm trước mình. Vừa dịp hôm đó nhân viên phụ trách của chính phủ đến kiểm tra qua chấn song sắt nhìn thấy đó là người ở Thẩm Dương bảo tôi đừng lo sợ. Căn cứ việc trại trưởng đi theo sau, tôi đoán rằng ông nhất định là cấp trên của trại trưởng. Tuy nhiên ông ta không mặc quân phục. Tôi cảm thấy đưa cống vật đối với người như thế thì hiệu quả càng tốt. Đợi khi ông đi đến trước phòng giam chúng tôi, tôi vái ông một vái nói:
            - Báo cáo ông thủ trưởng, tôi có một thứ muốn hiến dâng chính phủ nhân dân…
            Tôi lấy ra chiếc ấn Điền hoàng thạch của Càn Long đưa cho ông ta. Ông ta không đón nhận, chỉ gật gật đầu:
            - Ông là Phổ Nghi phải không? Việc này tôi sẽ bàn với trại.
            Ông ta lại hỏi mấy câu rồi đi.
            Tôi nghĩ, nếu ông nhìn thấy đồ vật của tôi, biết giá trị của nó sẽ không thể lạnh nhạt như thế. Không còn cách nào, tôi chỉ còn gặp trại tiến hành việc này. Tôi viết một bức thư, bọc mấy quả ấn giao cho nhân viên coi giữ nộp trại trưởng.
            Sau khi gửi ấn Điền hoàng thạch đi, như đá chìm biển cả, nhiều ngày sau không có tin tức gì. Tôi không nén được sự nghi ngờ: phải chăng nhân viên coi giữ lẩm đi?
            Tôi lại phạm bệnh cũ, bụng nghi ngờ thế nào thì tin như thế. Tối hôm đó, người khác đánh cờ, đánh tú lơ khơ còn tôi ngồi một mình nghĩ ngợi ấn Điền hoàng thạch đi đâu, khẳng định rằng nó đã bị tham ô rồi. Tôi cân nhắc xem có nên trực tiếp hỏi trại trưởng không. Lúc đó người coi giữ thấp bé họ Lưu từ phía ngoài đi qua, đứng lại.
            - Sao ông không chơi gì? - anh ta hỏi.
            - Tôi không biết chơi - tôi đáp.
            - Ông học đi, đánh trăm điểm học là biết - anh ta nhiệt tình nói tiếp: - giao ban xong tôi đến dạy ông.
            Sau đó một lúc, anh ta quả nhiên mang cỗ bài tú-lơ-khơ đến, ngồi xổm ngoài chấn song sắt hăng hái trang bài.
            Bộ ấn Điền hoàng thạch là tôi trao cho anh ta. Tôi vốn có ấn tượng tốt với anh ta song nay hoàn toàn không còn nữa. Tâm tính tôi lúc đó - nay nhớ lại vẫn thấy khổ tâm - đầy căm ghét.
            - Tôi không tin là cái này không học được - Lưu giám thị chia bài nói. Anh nói tiếp: - không biết chơi làm sao được? sau này ông lại làm người, sống cuộc sống mới, không biết chơi thì sống làm sao!
            Tôi thầm nghĩ: mi thật khéo nói, khéo giả vờ!
            “Phổ Nghi cũng không tốt”, chơi cao bằng lão Vương cũng thắng dược, chỉ cần học là học được.
            Anh ta châm thuốc, cách tường có người hỏi:
            - Ông Lưu, thuốc lá của ông thơm quá.
            - Thế nào, chắc là ông lại hết thuốc lá rồi?
            Anh ta nhìn về phía tường ngăn. Không biết ai đó lại cười nói: “Tôi hút thuốc rất không có kế hoạch”. Lưu giám thị cười cười, cởi túi thuốc vứt sang: “Được thôi, lấy giấy cuốn một điếu!”
            Nếu khi gặp phạm nhân hút hết thuốc lá quy định, viên coi giữ họ Lưu đều cởi túi thuốc đưa cho họ cuốn hút. Việc làm đó vốn khiến tôi không hiểu và nay có sự giải thích: “các người đều là bọn lừa bịp! Ta chẳng tin bộ điệu đó của các người”.
            Sự thật là luôn luôn nghĩ cách lừa dối người khác, chẳng ai khác, chính là bản thân tôi làm cho người khác không thể tin được cũng chính là tôi. Sau đó không lâu, trại trưởng nói với tôi ở ngoài sân: “Thư và ấn Điền hoàng thạch của ông tôi đã xem. Những thứ trước kia ông đã đưa ra ở Liên Xô hiện nay cũng đang ở đây, song, với nhân dân mà nói, thứ càng có giá trị hơn là con người, là người đã được cải tạo”.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Tai hoạ và hận thù của nhân dân Đông Bắc

 
            Về những tai hoạ mà bọn xâm lược Nhật Bản gây ra đối với nhân dân Đông Bắc, trước kia tôi chưa bao giờ nghe nói thật cụ thể, chưa bao giờ để tâm đến vấn đề này. Tôi cũng biết ít nhiều về sự oán hận của nhân dân Đông Bắc song tôi chỉ nghĩ rằng đó là những việc giữa người Nhật Bản và nhân dân Đông Bắc, không quan hệ gì với tôi. Qua 10 năm, đến ngày nay tôi mới bừng tỉnh, mới cảm thấy thật sự nghiêm trọng.
            Nhân viên đoàn công tác đã giành một buổi nói chuyện với chúng tôi về kết quả điều tra một phần tội ác mà bọn xâm lược Nhật Bản đã gây ra tại Đông Bắc. 
            Khi đó, nghe xong tôi vẫn có chút hoài nghi. Nhân viên đoàn công tác đã đưa ra một số thống kê chưa đầy đủ như: số vụ thảm án, số người bị tàn sát tập thể trong những vụ thảm án, diện tích trồng cây thuốc phiện, số người nghiện thuốc phiện cũng như số lợi nhuận giành được trong buôn bán thuốc phiện v.v... đều là những số liệu mà người ta đã nghe thấy. Tình tiết về những vụ thảm sát, thảm án cũng khiến mọi người kinh sợ. Khi nghe, một mặt tôi cảm thấy dựng tóc gáy, mặt khác lại nghĩ: “Quả thật như vậy sao? Nếu như vậy, không rõ tại sao các em trai, em gái, các cháu và những người hầu không có ai nói gì với tôi?”.
            Cho đến sau khi tham gia cuộc họp học tập của các tội phạm chiến tranh Nhật Bản tôi mới không còn hoài nghi về những sự thật đẫm máu ấy.
            Đó là lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy những tội phạm chiến tranh Nhật Bản. Về sau, qua báo chí mới biết, số tội phạm chiến tranh Nhật Bản ở Phủ Thuận chỉ là một bộ phận tội phạm chiến tranh Nhật Bản bị giam giữ tại Trung Quốc. Tại cuộc họp này, tuy có mặt nhân viên “đoàn công tác” và trại, trên thực tế do “uỷ ban” của bản thân họ tổ chức. “Ủy ban” do phần lớn các tội phạm chiến tranh Nhật Bản sau khi có giác ngộ về tư tưởng đã bầu ra để quản lý sinh hoạt và học tập của mình. Tại hội nghị này, có mấy chiến phạm Nhật Bản đã nói về kết quả học tập của mình, thành khẩn nói ra nhiều  tội ác của mình. Có người còn tố cáo tội ác của người khác. Bằng sự thật, họ trả lời một vấn đề trọng tâm của học tập: chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản có phạm tội ác ở Trung Quốc hay không? Toàn thể tội phạm chiến tranh ngụy Mãn chúng  tôi dự nghe tại hội nghị. Những lời bộc lộ, và tố cáo gây ấn tượng sâu sắc nhất đến với chúng tôi, khiến chúng tôi cảm thấy bị xúc động là bộc lộ của Furumi Tadayuki, nguyên thủ trưởng Phòng Tổng vụ ngụy Mãn và một đội trưởng hiến binh ngụy Mãn.
            Furumi Tadayuki là một người thân tín của Bộ tư lệnh quân đội Nhật Bản, hắn và Takebe Rokuzo (chánh văn phòng tổng vụ) nhận chỉ thị của quân Quan Đông, với địa vị thống trị trên thực tế chính quyền ngụy Mãn đã vạch ra và thực hiện toàn bộ sự thống trị và tước đoạt toàn bộ Đông Bắc. Hắn đã nói một cách cụ thể chính sách di dân khai phá chiếm đoạt ruộng đất của nông dân Đông Bắc, “kế hoạch 5 năm mở mang sản nghiệp” tước đoạt tài nguyên Đông Bắc, chính sách thuốc phiện đầu độc nhân dân Đông Bắc cũng như những bí mật về vơ vét lương thực và các loại vật tư khác của Đông Bắc để chuẩn bị chiến tranh Thái Bình Dương v.v... Hắn cũng đã nói ra những bí mật bên trong của một số hội nghị, nêu ra những con số khiến nhiều người lè lưỡi. Những hậu quả của một số chính sách mà hắn nói tới, mỗi ví dụ đều là một thảm án... Ví dụ năm 1944, trưng dụng hơn 15.000 lao công ở các huyện xây dựng công trình quân sự ở Vương An Lĩnh, do lao động và điều kiện sinh hoạt rất tồi tệ, ăn không no, mặc không ấm dưới trời rét buốt, hơn 6.000 người đã bỏ mạng. Lại ví dụ, để chuẩn bị tác chiến với Liên Xô, tu bổ đường sông Mục Lăng Hà chảy vào hồ Hưng Khải, cũng do những nguyên nhân như thế, hơn 1700 công nhân đã chết.
            Tôi nhớ rằng điều hắn nói rõ ràng nhất là chính sách thuốc phiện.
            Đầu năm 1933, trước khi phát động hành động quân sự ở Nhiệt Hà, để chuẩn bị cho việc chi tiêu quân sự, quân đội Nhật bản quyết định thi hành chính sách thuốc phiện. Khi đó, chưa kiểm soát được tình hình sản xuất thuốc phiện ở Đông Bắc, số lượng hàng hoá trong tay chưa đủ, quân đội Nhật phải nhập từ nước ngoài hơn hai triệu lạng, đồng thời dùng máy bay rải truyền đơn khắp Nhiệt Hà kêu gọi trồng thuốc phiện.
            Sau đó, khoảng năm 1936, chúng mở rộng diện tích trồng ở 7 tỉnh ngụy Mãn, ra sức sản xuất về sau còn bằng hình thức luật pháp xác định độc quyền bán thuốc phiện. Để khuyến khích hút thuốc, các địa phương đều mở quán thuốc phiện có “nữ chiêu đãi viên” lôi cuốn mạnh thanh niên. Năm 1942, “Viện Hưng Á” của Nhật Bản triệu tập “Hội nghị về nhu cầu cung cấp thuốc phiện” ra nghị quyết “do nước Mãn Châu”, và Mông Cổ, Tân Cương cung cấp thuốc phiện trong phạm vi “khối thịnh vượng Đại Đông Á”, do đó lại mở rộng diện tích trồng ở Ngụy Mãn tới 3.000 hécta.
            Theo thống kê của Furumi Tadayuki, cho đến khi sụp đổ ngụy Mãn đã sản xuất hơn 300 triệu lạng thuốc phiện. Năm 1938 lợi nhuận thuốc phiện chiếm 1/6 thu nhập tài chính của ngụy Mãn. Năm 1944, lợi nhuận lên tới 300 triệu đồng, gấp 100 lần thời kỳ đầu ngụy Mãn, là một trong những nguồn quan trọng về chi phí quân sự của cuộc chiến tranh xâm lược của Nhật Bản. Số người nghiện thuốc phiện, chỉ một tỉnh Nhiệt Hà đã lên tới khoảng 30 vạn người. Toàn Đông Bắc bình quân 100 dân cư có 5 người nghiện thuốc phiện.
            Những điều bộc lộ của đội trưởng hiến binh đều là những sự việc hết sức cụ thể. Mỗi sự kiện  mà hắn cung khai đều là một bức tranh đẫm máu.
            Hắn đã từng làm đội trưởng hiến binh khu Tây Nam ngụy Mãn. Để đàn áp nhân dân, đội hiến binh thi hành mọi biện pháp khủng bố. Giết người, luôn luôn là tàn sát tập thể, sau khi tàn sát còn triệu tập quần chúng đến xem xác chết. Có lúc, chúng bắt những người mà chúng nghi ngờ đến, xếp thành hàng, bất thình lình chọn ra một người, dùng kiếm chém chết trước mặt mọi người. Riêng bằng cách này bản thân hắn đã giết hơn 30 người.
            Những người bị bắt đều chịu mọi hình phạt tra tấn, đánh bằng gậy, bơm nước lạnh, dầu hoả, nước ớt vào mũi, dùng đầu thuốc lá đốt, kìm nung lửa cặp, treo lộn đầu v.v..
            Trong tố cáo của một số tội phạm chiến tranh Nhật Bản, tính không xiết những thảm kịch kinh hồn bạt vía. Những tên gây ra những thảm kịch ấy còn tàn bạn hơn cả dã thú. Có một chuyện tôi nhớ được như sau: một bà mẹ trẻ đang ngồi cạnh nồi bếp, cho con bú, một tên hiến binh giằng lấy đứa bé thuận tay ném vào nồi nước sôi trên bếp sau đó hãm hiếp người mẹ, cuối cùng dùng gậy thọc vào âm đạo giết người mẹ chết tươi. Những câu chuyện như vậy, trong thời kỳ đó tại Đông Bắc đã thường xẩy ra ở những nơi mà quân Nhật chiếm đóng.
            Sau này, nhân viên kiểm sát không ngừng gửi tới những tài liệu mà nhân dân Đông Bắc tố cáo. Cảnh tượng địa ngục của khu vực Đông Bắc những năm đó ngày càng rõ ràng trước mắt tôi. Cuối cùng tôi hiểu rõ: cùng với việc tôi phục tùng, ve vãn quân Quan Đông, cùng với việc tôi ra sức tìm cách bảo tồn “tôn hiệu” của mình, đã có biết bao người lương thiện không may chết oan uổng, đồng thời cũng hiểu rõ trong khi tôi hết bụng phục vụ kẻ thù, đã có biết bao chiến sĩ yêu nước ngẩng cao đầu, sục sôi nhiệt huyết tiến hành cuộc kháng chiến chống quân thù.
            Sự thiệt hại của nhân dân Đông Bắc, nếu như không tính những thứ bọn thống trị Nhật Bản trực tiếp lấy đi, mà chỉ tính những thứ chúng lấy được qua ngụy quyền Hán gian cũng có thể không phải mất công sức đưa ra nhiều ví dụ và số liệu. Ví dụ do hàng loạt pháp lệnh, chính sách, số lương thực mà nhân dân Đông Bắc thu hoạch được hàng năm đều bị tước đoạt hết; đặc biệt là vào cuối thời kỳ ngụy Mãn, nhân dân Đông Bắc chỉ còn cách sống qua ngày bằng bột lõi ngô, khô đậu... Số lương thực bị tước đoạt ngoài phần dành cho quân đội sử dụng, đều vận chuyển về Nhật Bản, số lượng chuyển về Nhật Bản ngày càng tăng. Theo số thống kê chính thức của ngụy quyền Mãn Châu, trong một năm 1944 đã vận chuyển sang Nhật bản 8 triệu tấn. Trong vòng 6 năm cuối cùng của ngụy Mãn số lương thực vận chuyển sang Nhật. Bản tổng cộng là 66 triệu 62 vạn tấn. Với pháp lệnh về lương thực, vải bông, kim thuộc và các loại vật tư khác, nhân dân động một chút là “phạm tội kinh tế”. Ví dụ: tuyệt đối không cho phép người dân thường ăn gạo, dù cho bị phát hiện ăn gạo trong khi nôn mửa cũng bị coi là “phạm tội kinh tế” và bị trị tội. Chỉ trong vòng một năm từ 1944 đến 1945, đã có 31 vạn 7100 người bị coi là “phạm tội kinh tế”. Đương nhiên, những người bị bắt chịu một trận đòn nhừ tử rồi được tha không tính vào số này.
            Cùng với việc bị tước đoạt, trưng thu lương thực đất trồng trọt của nông dân Đông Bắc cũng không ngừng bị xâm chiếm. Theo “Điều ước khai thác cây trồng Nhật Bản” Nhật Bản đạt kế hoạch trong vòng 20 năm sẽ di dân từ Nhật Bản đến Đông Bắc 5 triệu người. Kế hoạch này chưa được thực hiện toàn bộ Nhật Bản đã sụp đổ, song trong hai năm cuối cùng đã di dân đến Đông Bắc 39 vạn người, qua ngụy quyền Đông Bắc đã chiếm đoạt từ tay nông dân 36 triệu 50 vạn hécta ruộng đất.
            Để xây dựng Đông Bắc thành cán cứ hậu phương, qua ngụy quyền Mãn Châu bọn thống trị Nhật Bản còn thực hành chế độ lao động nô dịch rất dã man gây nên số tử vong kinh người. Từ năm 1938, sau khi lấy danh nghĩa của tôi thực hành “pháp chế thống nhất lao động”, mỗi năm trưng tập 250 vạn người (chưa kể số trưng tập bên trong cửa quan) cưỡng bức lao động không công. Phần lớn đều lao động ở các mỏ và công trình quân sự, điều kiện vô cùng tồi tệ gây nên hàng loạt tử vong. Như năm 1944 trong “xây dựng chống lụt” ở thị trấn Liêu Dương 2500 thanh niên lao động quá sức chưa đến một năm đã có 170 người bị đầy đoạ đến chết.
            Quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù ngụy Mãn đàn áp nhân dân Đông Bắc cũng đẫm máu, gây ra không biết bao nhiêu thảm án. Theo một phần tài liệu còn sót lại tìm thấy từ những vụ án chính thức của ngụy Mãn đã thống kê ra hơn 6 vạn quân dân chống Nhật bị ngụy quyền Mãn Châu giết hại, hơn 8.800 cư dân bị giết hại, hơn 3.000 ngôi nhà của dân bị thiêu huỷ. Số thường dân bị cảnh sát, đặc vụ ngụy Mãn giết hại thì không thể thống kê được. Theo thống kê có thể kiểm tra được của 36 vụ án, trong số 5098 nhân sĩ yêu nước và quần chúng không may bị bắt, chỉ có 3 người được tha, 421 người bị tuyên án tử hình, chưa bị xử tử hình đã chết trong nhà tù 213 người, xử tội tù 2177 người; số 2.284 người còn lại mất tích. Thời kỳ ngụy Mãn, Đông Bắc là thế giới của cảnh sát, hầu như thôn nào cũng có cảnh sát. Một cơ quan cảnh sát của huyện là một điện Diêm Vương. Những thảm kịch do nơi này gây ra cũng chẳng khác gì ở địa ngục.
            Trong địa ngục sống ấy, dưới cái mũ “chấp chính” “Khang đức hoàng đế”, “Vương đạo lạc thổ” tồn tại trong 14 năm, mọi hành vi tàn bạo đều tiến hành dưới nhãn hiệu “chấp chính” và “hoàng đế”. Mỗi người bị hãm hại đều buộc phải hướng về “lệnh vua” lạy lục, đọc thuộc “chiếu thư”, cảm ơn “thân bang” và ơn ban của hoàng đế.
 
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG IX
TIẾP THỤ CẢI TẠO
 
 
Làm người như thế nào?  

            “Năm mới bắt đầu rồi, ông có suy nghĩ gì không?”
            Trưởng trại hỏi tôi như vậy nhân dịp Nguyên đán năm 1955.
            Tôi trả lời là chỉ có cách bó mình chịu tội, chờ phán xử. Nghe xong, trưởng trại lắc đầu lia lịa tỏ ý không phải như vậy:
            - Chả phải tiêu cực thế! Phải tích cực cải tạo tranh thủ trở lại làm người chứ!
            Cuối năm 1954, khi nhân viên kiểm sát cầm tập hồ sơ cuối cùng đến bảo tôi ký tên vào đấy, tôi cũng được nghe những lời tương tự như vậy: “Cố gắng mà cải tạo đi, tranh thủ làm một con người mới!”
            Những lời đó làm tôi yên tâm, song vẫn không làm tôi thay đổi được về căn bản thái độ tiêu cực và bi quan. Tôi đã rơi vào vực thẳm tự  ti và nỗi lo âu về việc phán xử đã tụt xuống hàng thứ yếu.
            Một hôm tôi đang ngồi nghỉ ngoài sân, thấy một phóng viên cầm chiếc máy ảnh bước vào sân bóng chụp ảnh. Sau đợt “tố giác và nhận tội” kết thúc, trại quản lý tội phạm chiến tranh khôi phục lại cách làm như trước, nghĩa là không phải chia từng tổ lần lượt nghỉ mà là toàn thể cùng được nghỉ một lúc, và thời gian nghỉ cũng kéo dài thêm nửa tiếng. Ngoài sân rất náo nhiệt, người thì chơi bóng chuyền, bóng bàn, người thì truyện trò, ca hát, làm gì cũng có, đều được phóng viên thu hết vào ống kính. Phóng viên hết chĩa máy sang bên này lại chĩa máy sang bên nọ, cuối cùng chĩa thẳng ống kính vào tôi. Lúc ấy có một nhân viên ngụy Mãn đang đứng bên cạnh tôi xem đánh bóng biết ý đồ của phóng viên, vội quay mình bỏ di chỗ khác và buông lại một câu: “Tôi không muốn chụp chung với hắn!” Kế đó, những người khác cũng lẩn đi hết.
            Giữa tháng 3, một số tướng lĩnh cao cấp Quân giải phóng tới Phủ Thuận thị sát trại quản lý tội phạm chiến tranh do Quân khu Thẩm Dương quản lý. Trưởng trại cho gọi tôi và Phổ Kiệt đi hỏi chuyện. Vừa bước vào phòng tôi thấy trong phòng chật ních những người đeo quân hàm lấp lánh trên vai. Thoạt đầu tôi tưởng là sắp mở toà án quân sự rồi, sau đó mới biết các tướng lĩnh muốn nghe tình hình học tập của tôi. Thái độ của họ đều hoà nhã, và hình như nghe kể một cách rất hứng thú. Các tướng lĩnh còn hỏi tôi về đời sống thuở bé và hồi thời kỳ ngụy Mãn. Cuối cùng, một vị thủ trưởng có râu nói: “Cố gắng học tập cải cải tạo, sau này ông sẽ được thấy tận mắt tình hình thật sự xây dựng chủ nghĩa xã hội đó!”. Trên đường về, tôi nghĩ người nói đó có lẽ là một vị nguyên soái, nhưng Phổ Kiệt nói với tôi là trong những tướng lĩnh đó không chắc chỉ có một vị nguyên soái. Tôi rất phấn khởi, những người cộng sản mà tôi từng cho là không ai có thể dung thứ tôi, thì sự thật từ nhân viên trông giữ tôi cho đến nguyên soái ai cũng đối xử với tôi như một con người, thế mà chính những tội phạm cũng như tôi lại cảm thấy không thể dung thứ tôi được dù là chỉ đứng bên cạnh tôi, dường như tôi chẳng phải còn là con người nữa.
            Về tới buồng, tôi kể lại lời nói của nguyên soái cho đồng bạn nghe. Lão Nguyên, từng làm đại sứ của Ngụy Mãn tại Nhật Bản là con người có bộ óc nhạy cảm nhất, nói: “Xin chúc mừng ông Phổ! Nguyên soái bảo ông sẽ thấy được chủ nghĩa xã hội, thế nghĩa là ông được đảm bảo rồi đấy!”.
            Mọi người nghe vậy đến sôi nổi hẳn lên, vì tên Hán gian đầu sỏ như tôi còn có thể đảm bảo được thì tất nhiên họ càng được đảm bảo.
            Sau đợt “tố giác và nhận tội”, nhiều người phấp phỏng tương lai của mình. từ khi bắt đầu tiến hành đợt “tố giác và nhận tội” tới nay chưa hề thấy lão Hiến cười lần nào, lúc này lão ta cũng nhoẻn miệng cười và thân mật vỗ vai tôi nói: “Xin chúc mừng ông nhé, ông Phổ!”
            Sau đợt “tố giác và nhận tội”, giờ nghỉ ở ngoài sân không những không còn cấm nói chuyện với nhau, mà ban ngày cũng không thấy khoá cửa phòng giam nữa, đôi khi còn có đồng bạn sang thăm hỏi lẫn nhau chơi. Tin mừng này truyền nhanh tới các tổ khác, thế là cả trại đều biết. Tôi nghĩ, vẫn còn có người bàn tán ngoài sân. Lúc này tôi nghĩ đến các cháu tôi và Lý lớn, từ đợt tố giác và nhận tội tới nay chúng nó chẳng đứa nào thèm đếm xỉa gì đến tôi, nếu được tin này ắt hẳn chúng cũng mừng. Tôi nghĩ bụng sẽ tìm đến nói cho chúng biết. Tôi nghe tiếng hát của tiểu Cố, cậu thanh niên sôi nổi nhất, đã đòi nhân viên trông giữ và lính gác dạy cho nhiều bài hát... đang hát bài “Hai trẻ chăn trâu”, tôi lần theo tiếng hát tìm thấy nó cùng thằng Tú đang đứng dưới gốc cây to ở góc sân bóng. Nhưng vừa thoạt thấy tôi bước đến chúng đã tránh đi nơi khác.
            Giữa tháng 4, lãnh đạo trại bảo trại 1 chúng tôi bắt chước tội phạm chiến tranh Nhật Bản ở trại 7 bầu ra Ban học tập. Ban học tập là tổ chức tự quản của phạm nhân đặt dưới sự chỉ đạo của phía trại để quản lý về đời sống và học tập của mình. Ban này có trách nhiệm tập trung các vấn đề trong học tập cũng như trong đời sống, tình hình thảo luận trong buổi học tập cũng như trong buổi họp kiểm điểm về đời sống rồi phản ánh cho phía trại và xin phía trại nhận xét góp ý. Ban học tập có 5 uỷ viên do phạm nhân bầu ra và được phía trại thừa nhận. Trừ uỷ viên chủ nhiệm, bốn uỷ viên khác được phân công quản lý về học tập, đời sống, thể dục thể thao và vui chơi giải trí. Tổ trưởng quản lý về học tập và tổ trưởng quản lý về đời sống của mỗi tổ hàng ngày phải liên hệ một lần với uỷ viên học tập và ủy viên sinh hoạt để báo cáo tình hình. Các phạm nhân rất phấn khởi trước việc thành lập tổ chức này, họ cảm thấy đây là một bằng chứng nói lên niềm tin tưởng của phía trại đối với việc cải tạo chúng tôi, và có một số phạm nhân càng nhận thức được cải tạo tư tưởng chính là công việc của bản thân mình. Về sau sự thật đã chứng tỏ tổ chức này có tầm quan trọng đối với việc cải tạo cho chúng tôi. Song, trong đoạn thời gian Ban học tập mới thành lập, tôi lại có sự suy nghĩ khác với mọi người. Trong số 5 uỷ viên này có hai người thuộc gia tộc của tôi: lão Vạn làm uỷ viên chủ nhiệm và cậu Thụy làm uỷ viên quản lý về đời sống. Họ là những người khi tố giác tôi chẳng hề chừa mặt và khiến tôi không còn chỗ dung thân được nữa.
            Ban học tập thành lập không bao lâu thì thông qua một nghị quyết: làm một sân vận động. Sân vận động mà chúng tôi thường sử dụng trước đây là do các tội phạm chiến tranh Nhật Bản xây đắp, bây giờ chúng tôi phải san bằng một mảnh đất để làm sân vận động của trại 1 chúng tôi. Tiểu Thụy là người chịu trách nhiệm tổ chức lao động đợt này. Ngày đầu lao động tôi đã bị nó sạt cho một chập ngay trước mặt mọi người. Chả là lúc xếp hàng điểm tên, tôi quên mất là vì việc linh tinh gì đấy và cũng như mọi khi lại đến muộn hơn mọi người. Tôi vừa cài khuy áo vừa chạy tới hàng ngũ, thình lình nghe thấy tiếng gọi: “Phổ Nghi!”.
            “Tới rồi tới rồi!”. Tôi lên tiếng và chạy vội đến cuối hàng.
            “Lần nào tập hợp ông cũng đến muộn, từng này người phải chờ có một mình ông, thật không tự giác tí nào cả!”. Tiểu Thụy đanh mặt lại lớn tiếng xoi mói: “Ông hãy nhìn từ trên xuống dưới xem đã, ăn mặc lôi thôi lốc thốc thế ư? Trông khuy kìa, cài vậy hử?”. Tôi cúi xuống nhìn qua một lượt, thì ra khuy này đã cài vào với lỗ khuy nọ! Lúc ấy cả đội ngũ đều quay đầu lại nhìn tôi, ngón tay cứ run run lần mãi vẫn chưa mò được khuy áo.
            Thậm chí tôi còn lơ là sổ ghi chép về buổi họp kiểm điểm về đời sống đến tay bọn chúng, chúng sẽ ghi thêm vào vài dòng ghi chú không có lợi cho tôi. Dạo ấy những buổi họp kiểm điểm về đời sống của tổ chúng tôi đã rất ít hiện tượng hoặc cãi vã lung tung hoặc tâng bốc một chiều như trước nữa, mà có thể họp với nhau ăn nói có chứng có cớ, ít nhất là mọi người có thái độ tương đối thận trọng so với trước. Nguyên nhân thứ nhất là vì có một ít nhận thức về cải tạo, nên bắt đầu tích cực lên; nguyên nhân khác là cái lối kiểm điểm kiểu gãi ngứa như trước kia thì giờ đây không thể nào thông qua được sau khi lên đến Ban học tập. Lúc này do mọi người hoàn toàn không chừa mặt khi phát biểu về tôi, và nhất là trong số đồng bạn mới được sắp xếp vào tổ tôi lại có người hiểu rõ tôi nhất và lại làm tổ trưởng tổ sinh hoạt nữa, vì vậy tôi cảm thấy các buổi họp kiểm điểm về đời sống đã khiến tôi có sự thay đổi. Người khác phê bình khuyết điểm của tôi thì Lý lớn lại giới thiệu và phân tích thêm, thế là càng đánh trúng chỗ hiểm của tôi điểm trúng căn bệnh của tôi. Có thêm Lý lớn phân tích và giới thiệu, lại qua ghi chú của lão Vạn và tiểu Thụy trong Ban học tập, thì tôi còn ra cái thằng gì nữa?!
            Trước đây hễ bị kích thích từ bên ngoài, tôi thấy chán nản và thất vọng vô cùng, nhiều khi tự oán trách mình, cho là mình làm mình phải chịu, nhiều khi lại oán hận trời đất, ghét bỏ người đời, oán cả vận mệnh, giận người khác cố tình làm khó dễ mình. Trước đó nữa thì oán hận Đảng Cộng sản, oán hận Chính phủ nhân dân, oán hận trại quản lý. Lúc này tôi tuy cũng oán trời trách người, song cũng giận mình hơn và không còn có cớ gì để oán hận Đảng Cộng sản, Chính phủ và trại quản lý nữa. Trong thời tự giác và nhận tội, sau khi tôi xem tài liệu tố giác của người khác viết về tôi, tôi biết những điều mà tôi không muốn để cho người ta biết thì lúc này đã lộ tẩy hết, và phía chính phủ trước đây vốn không biết nay cũng biết tỏng rồi, họ sẽ không ngờ tôi lại là con người như thế, theo đạo lý nếu không trả thù thì cũng sẽ vứt bỏ ý định cải tạo tôi. Song, từ nhân viên kiểm sát, trưởng trại cho đến nguyên soái vẫn nói với tôi là phải cố gắng học tập và cải tạo, trở lại làm người, hơn nữa ý nghĩ đó đã được xuyên suốt trong tư tưởng của tất cả nhân viên công tác, thể hiện trên mọi sự việc cụ thể.
            Sân vận động làm xong, Ban học tập lại quyết định tô điểm thêm sân vườn, trồng cây, trồng hoa, nhổ cỏ, san lấp hố, chuẩn bị chào mừng ngày lễ mồng 1 tháng 5. Mọi người ai nấy đều vui vẻ, hăng hái lao động. Lúc đầu tôi tham gia công việc lấp hố, nhân viên trông coi họ Giang nói mắt tôi kém, sợ ngã xuống hố, bèn đổi cho tôi đi nhổ cỏ. Tôi được phân công nhổ cỏ bên một mảnh vườn hoa, nhổ được một lúc thì lão Chính người dân tộc Mông Cổ bước tới, bất thần giật phăng mấy “cọng cỏ” từ trên tay tôi vừa mới nhổ xong quát lên:
            - Ông nhổ cái gì đấy hử? Hử?
            - Chả bảo là tôi nhổ cỏ ư?
            - Đây là cỏ à? Ông thật biết chọn nhỉ, nhổ rặt là cây hoa con!
            Và tôi lại trở thành tiêu điểm hứng mọi ánh mắt về mình. Tôi cắm đầu ngồi như phỗng, thật là chỉ mong cả hoa lẫn cỏ trên quả đất này phút chốc tiêu tan hết cho rồi.
            - Ông thật là đồ vô dụng! - Lão Chính cầm lấy cây hoa chõ vào mặt tôi mà nhiếc.
            Vừa lúc ấy, nhân viên trông coi họ Giang bước đến, tiếp lấy cây hoa con từ tay lão Chính xem qua rồi vứt xuống đất:
            - Anh mắng ông ấy làm gì vô ích, anh phải giúp đỡ ông ấy , bảo cho cách nhổ thì lần sau ông ấy mới không lầm được chứ!
            - Thật không ngờ vẫn có người không phân biệt được hoa nữa - lão Chính mỉa mai.
            - Thì tôi trước đây cũng thật không ngờ mà, nói làm chi nữa. Bây giờ chúng ta đã trông thấy rồi thì phải nghĩ cách giúp đỡ ông ấy chứ!
            Hồi trước, ba chữ “thật không ngờ” trong óc tôi nó cứ gắn liền với các kết luận đáng sợ: “Thật không ngờ Phổ Nghi giả dối đến thế, xấu xa đến thế! Hết cải tạo được!”, “Thật không ngờ Phổ Nghi có nhiều người thù ghét đến thế! Chết đi cho xong”. Nhưng giờ đây cũng đằng sau ba chữ “thật không ngờ” ấy, tôi lại được nghe “bây giờ chúng ta đã trông thấy rồi thì phải nghĩ cách giúp đỡ ông ấy chứ”.
            Vả lại không chỉ nghe thấy một lần, không phải chỉ nghe thấy từ miệng một người, và cũng không phải nghe nói chỉ giúp đỡ một mình tôi.
            Một hôm, cái kính đeo của tôi lại hỏng. Tôi do dự mãi, cuối cùng vẫn chỉ còn cách tìm đến nhờ Lý lớn chữa hộ:
            - Cậu giúp hộ tôi cái, - tôi nói với giọng rất nhẹ - tôi chữa mãi vẫn không xong, người khác cũng chẳng khéo tay gì mấy, nhờ cậu chữa hộ vậy.
            - Ông còn bảo tôi hầu ông à? - Lý lớn trợn trừng - bộ tôi hầu hạ ông còn chưa đủ hay sao? Ông sai bảo người ta vẫn chưa đủ à? - Dứt lời cậu ta hầm hầm nét mặt, từ phía bên này bàn vòng sang bên kia bàn định bỏ đi. 
            Tôi đứng lặng người, ấm ức chỉ muốn dập đầu vào tường cho xong.
            Chưa đầy hai phút, vẫn nét mật. hầm hầm ấy Lý lớn quay trở lại tiếp lấy kính đeo của tôi nói:
            - Được, chữa hộ ông, nhưng tôi phải nói trước không phải vì cái gì khác, mà là vì giúp ông trong cải tạo. Nếu không phải là vì điều này thì tôi chẳng hơi sức đâu!
            Hôm sau, nhân giờ nghỉ, tôi tới thư viện nhỏ mới xây dựng xong định tâm dạo bước một mình cho khuây khoả, bất chợt gặp Phổ Kiệt cũng ở đấy. Tôi tâm sự với Phổ Kiệt rằng mấy người trong dòng họ đã có thái độ không tốt đối với tôi, làm tôi tủi nhục mất ngủ suốt đêm. Phổ Kiệt nói: “Sao anh không tâm sự với phía bên trại?” Tôi nói: “Nói gì bây giờ? Trước đây người ta đã bị tôi làm khổ nhiều rồi, tất nhiên phải căm thù tôi chứ.” Phổ Kiệt nói: “Em nghe nói phía bên trại cũng từng khuyên dặn họ, không nên nhớ mãi hận cũ, mà phải giúp đỡ anh.” Lúc ấy tôi mới hiểu vì sao Lý lớn lại quay trở lại.
            Dạo ấy tôi chia sự giúp đỡ làm hai loại: một loại là bằng hành động, ví như Lý lớn chữa kính hộ tôi và người khác khâu chăn đệm hộ tôi sau khi tôi tháo giặt và phơi khô, nếu không tôi sẽ phải khâu mất trọn một ngày, và như vậy sẽ ảnh hưởng hoạt động của tập thể; một loại khác là bằng lời nói, tôi coi những lời phê bình của người khác đối với tôi quy vào loại này. Phía bên trại thường nói, phải thông qua phê bình và tự phê bình, trao đổi ý kiến, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng tôi ít khi nào “giúp đỡ” người khác như vậy hơn nữa dạo đó càng không muốn nhận “sự giúp đỡ” của người khác. Tóm lại, mặc dù Lý lớn nói mục đích chữa kính đeo hộ tôi là giúp tôi cải tạo mặc dù phía bên trại nói phê bình là một hình thức hỗ trợ trong việc cải tạo tư tưởng, song tôi vẫn chưa nhận thức được bất kỳ loại giúp đỡ nào có quan hệ gì đối với tôi trong việc cải tạo tư tưởng và trở lại làm người. Hơn nữa, tôi cho rằng chữa kính đeo hoặc khâu chăn đệm cho tôi, chỉ có thể nói lên tôi là một thằng vô dụng, bị người đời khinh ghét, phê bình tôi chỉ có thể càng bộc lộ vết thương và nỗi đau khổ của tôi mà thôi. Không giúp đỡ còn hơn, càng giúp tôi càng không có mặt mũi nào mà làm người nữa.
            Mỗi khi nói đến “làm người”, nhân viên chính quyền bao giờ cũng liên hệ đến “cải tạo tư tưởng” và “rửa lòng, rửa mặt”. Song, tôi cứ nghĩ đến cái “mặt mũi” của tôi, cứ nghĩ rồi đây những người trong dòng họ và trong xã hội sẽ đối xử với tôi như thế nào, có dung thứ cho tôi không? Thậm chí tôi nghĩ dù cho Đảng cộng sản và Chính phủ nhân dân có cho phép tôi sống ở trên đời đi nữa, nhưng vào xã hội vẫn chưa chắc sẽ được yên lành; dù cho không có ai đánh đập tôi, nhưng cũng sẽ có người chửi rủa tôi.
            Mỗi khi nói đến cải lạo tư tưởng, nhân viên phía bên trại vẫn thường nói: Hành động của con người đều do một tư tưởng nhất định chi phối, vì vậy phải tìm cho ra gốc rễ tư tưởng phạm tội và giải quyết căn bản về mặt tư tưởng, thì mới không phạm tội nữa. Song tôi lại cứ nghĩ bụng, những việc mà trước kia tôi làm nhất quyết là sau này không bao giờ làm nữa, nếu nhân dân nước Trung Hoa mới dung thứ tôi tôi sẽ bảo đảm vĩnh viễn không tái phạm, hà tất cứ phải truy tư tưởng làm gì?
            Tôi cho vấn đề “làm người” chủ yếu là ở chỗ: người khác đối xử với tôi như thế nào, chứ không phải tôi phải làm như thế nào! Nhưng trại thì lại nói với tôi: Nếu như cải tạo tốt thì sẽ được nhân dân khoan hồng, cải tạo không tốt hoặc không chịu cải tạo thì nhân dân sẽ không dung thứ. Tóm lại, vấn đề vẫn là ở mình.
            Phải nói là tôi hiểu được một chút ít về vấn đề làm người là sao biết bao ngày tháng khổ não và từ một sự việc nhỏ bắt đầu.
 
Đăng nhập để trả lời
0

Vấn đề là ở mình

 
            Chủ nhật, chúng tôi giặt quần áo như thường lệ. Tôi vừa giặt xong thì tới giờ bắt đầu hoạt động thể dục thể thao, tôi không có bụng dạ nào đi chơi, bèn đến thư viện nhỏ định xem sách một mình. Mọi ngồi xuống thì nghe thấy bên ngoài có tiếng người nói chuyện:
            - …Các cậu đều quen biết chơi quần vợt hay sao?
            - Tôi không biết chơi, cậu tìm Phổ Nghi đi, ông ta biết chơi đấy.
            - Ông ta biết chơi nhưng không chơi được đâu vì chẳng biết đến kiếp nào ông ta mới giặt xong mớ quần áo của mình.
            - Dạo này ông ta giặt nhanh hơn trước rồi.
            - Tôi chẳng tin.
            Thật tức chết người được. Rõ ràng là tôi đã giặt xong cả rồi, vả lại quần áo cũng chẳng ít ỏi hơn chúng nó, vậy mà vẫn còn có người không tin, chẳng lẽ trời sinh ra tôi không có được một chút tiến bộ nào hay sao?
            Tôi tìm lấy vợt và bước ra sân. Không phải tôi muốn chơi quần vợt, mà đúng hơn là để mọi người trông xem có phải tôi đã giặt xong quần áo hay chưa?
            Ra tới sân quần vợt, tôi không tìm được người nói chuyện ban nãy, và vừa đúng gặp một cậu đang muốn chơi bóng, tôi bèn chơi với cậu ta một vài ván. Dần dà một số người đến xem, tôi chơi rất hứng thú, mồ hôi vã cả người.
            Chơi xong đang rửa tay bên máy nước thì gặp trưởng trại - Chủ nhật gặp trưởng trại không phải là hiếm, vì chủ nhật ông vẫn thường đến.
            - Phổ Nghi, ông hôm nay có tiến bộ đấy.
            - Lâu lắm rồi tôi chưa chơi. - Tôi hơi đắc ý.
            - Không, tôi nói là nói cái này này, - trưởng trại chỉ dãy quần áo treo trên dây phơi, - vì ông có tiến bộ, thời gian giặt quần áo không nhiều hơn mọi người vì thế ông có thể nghỉ ngơi như mọi người, hưởng thụ được cái vui trong hoạt động thể dục thể thao.
            Tôi vội gật đầu, và cùng dạo với ông trong vườn.
            - Hồi trước, người khác đều nghỉ ngơi, đều tham gia hoạt động văn nghệ, vui chơi giải trí, còn ông thì vẫn bận túi bụi, không bình đẳng được như mọi người, trong bụng rất tủi, bây giờ ông đã biết giặt giũ, mới có sự bình đẳng về mặt này với mọi người, trong bụng tất nhiên thấy vui. Và như vậy, mấu chốt của vấn đề vẫn là ở mình. Chẳng cần phải lo lắng người khác dối xử với mình ra sao.
            Ngưng một lát, ông cười nói tiếp:
            - Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã biến ông từ vua trở thành một người tù. Ngày nay, trong tư tưởng ông lại xảy ra một cuộc chiến tranh lớn. Cuộc chiến tranh lớn này là phải biến vua thành một người lao động bình thường. Ông đã hiểu được chút ít về bản chất của vua, song, cuộc chiến tranh này chưa kết thúc, ông vẫn chưa cảm thấy bình đẳng như mọi người, phải tự hiểu mình mới được.
            Sau khi trưởng trại về, tôi nghĩ rất lâu.Tôi thừa nhận một nửa lời nói trước: xem ra thì vấn đề quả thật là ở mình; nhưng một nửa lời nói sau thì khó mà tiếp nhận được, vì chẳng nhẽ tôi vẫn khư khư giữ cái bộ tịch của vua hay sao?
            Song, chỉ cần thừa nhận nửa lời trước thì nửa lời sau cũng dần hiểu được, vì thực tế trong đời sống đã giải đáp vấn đề này. Thật đúng như trưởng trại dã nói, “cuộc chiến tranh” này chưa kết thúc.
            Hôm đó sau khi tổ tôi quét dọn xong rác mới về đến buồng, uỷ viên sinh hoạt phê bình chúng tôi:
            - Các ông rửa tay xong không đóng máy nước để máy nước cứ chảy ròng, thật là vô trách nhiệm, bận sao phải để ý đấy.
            Nghe xong, Lý lớn lập tức hỏi tôi:
            - Phổ Nghi, hình như ông là người rửa tay cuối cùng thì phải?
            Tôi ngẫm chốc lát, ừ nhỉ, đúng là mình:
            - Có lẽ tôi quên đóng vòi nước thật chăng?
            - Ông bao giờ mà chả quên.
            - Cũng có lúc không quên.
            Có tiếng cười giòn tan, trong đó có lão Nguyên. Lão hỏi:
            - Như vậy là cũng có lúc ông quên, và đã mấy lần quên không đóng máy nước chứ gì?
            Tôi phớt lờ hắn ta. Lý lớn nói với tôi với vẻ hầm hầm:
            - Ông thật không biết xấu hổ, có biết là thói quen đó từ đâu mà có không? Đó là thói quen hồi ông làm vua,ắt hẳn hồi trước ông không bao giờ tự tay đóng máy nước cả thì phải. Đến cái nắm tay mở cửa ông cũng chẳng bao giờ cần mó đến mà, chả là sẵn người khác mở cửa đóng cửa cho ông mà. Cho tới bây giờ ông ra vào cửa, chỉ mở thôi, có thấy ông đóng bao giờ đâu. Chỉ vì cái bộ tịch vua của ông tới nay vẫn chưa bỏ được đó!
            - À, tôi nhớ ra rồi, - lão Nguyên nói - nhiều lúc tôi thấy ông lấy giấy báo đệm tay gài kéo then cửa, ấy là cái nghĩa lý gì?
            - Sợ bẩn à, phải không? - Lý lớn nói chen.
            - Chỗ ấy mọi người đều mó đến, bẩn ôi là bẩn.
            Câu nói chế giễu ấy tức thì làm cho một số người càng bất mãn, mỗi người một lời ầm cả lên:
            - Sa người ta không sợ bẩn, chỉ mỗi ông là sợ bẩn, hử?
            - Chả nhẽ để mỗi mình ông ăn ở sạch sẽ, còn người khác thì đáng đời hay sao?
            - Ông sợ cửa bẩn hay là sợ người khác bẩn, hử?
            - Có phải ông cao cấp hơn người khác không? Có quyền coi thường mọi người à?
            Tôi bắt buộc phải cố hết sức giải thích, rằng quả thật là không có ý khinh ghét người khác. Song tôi cảm thấy rất khổ não, sao mình lại vậy nhỉ? Mình đã nghĩ thế nào nhỉ? Sao cứ là không giống như mọi người. Sau đó lại có người nói đến lần đi tắm, tôi thường nhảy xuống bể tắm trước tiên, chờ khi người khác xuống thì tôi lại nhảy lên ngay. Lại có người nhắc đến hồi còn ở Liên Xô, ngày tết thường gắp “sủi cảo” trước vào bát ăn và chỉ ăn bát đầu tiên thôi. Nghe nhắc lại những sự việc lặt vặt mà tôi không bao giờ để tâm tới, khiến tôi phải ngẫm nghĩ về lời Lý lớn phân tích:
            - Có gì đâu Phổ Nghi vẫn chưa bỏ cái vẻ làm vua mà! 
            Giờ đây nghĩ lại, Lý lớn hồi bấy giờ thật là một giáo viên rất nghiêm khắc đối với tôi. Hồi đó dù cậu ta có nghĩ gì đi nữa, nhưng lời nói của cậu ta bao giờ cũng làm tôi phải suy nghĩ đến những lý lẽ mà ngày thường tôi đã không nghĩ tới. Cuối cùng tôi không thể nào không thừa nhận là những điều làm tôi khổ não phần lớn là phải tự trách mình.
            Một hôm, lúc súc miệng rửa mặt buổi sáng, Lý lớn nhắc nhở mọi người phải để ý đừng để nước súc miệng nhỏ giọt xuống đất, nếu nhỏ xuống đất thì phải chùi ngay, vì hôm nay kiểm tra vệ sinh. Đây là thi đua, bẩn một tí thì trừ điểm.
            Tôi cúi xuống nhìn chỗ mình thấy có nhiều giọt thuốc đánh răng rơi dưới chân. Tôi cho là cũng không nom thấy rõ lắm, chưa coi là bẩn được. Lý lớn đi tới thấy vậy bảo tôi chùi ngay. Tôi lấy gót giầy đạp qua loa cho xong chuyện.
            Tới giờ kiểm tra vệ sinh, tổ kiểm tra liên hợp gồm các tổ trưởng sinh hoạt và cậu Thụy uỷ viên sinh hoạt của Ban học tập lần lượt vào từng buồng kiểm tra và cho điểm theo tiêu  chuẩn đã bàn trước. Khi kiểm tra tới buồng chúng tôi, tổ kiểm tra phát hiện vết thuốc đánh răng tôi chưa xoá sạch còn dính dưới đất, cho là vệt bẩn và trừ mất vài điểm. So với các tổ, tổ chúng tôi đạt điểm khá, song Lý lớn không vì vậy mà quên vết bẩn kia, cậu ta cầm giẻ lau đến, vừa vào buồng đã hỏi tôi ngay:
            - Tại sao ông không lấy giẻ lau mà chùi?
            - Tôi không nghĩ đến...
            - Không nghĩ đến? - Lý lớn to tiếng - thế ông nghĩ những gì? Ngoài ông ra, ông còn thèm nghĩ gì khác nữa! Ông chẳng thèm nghĩ đến tập thể! Trong óc ông chỉ nghĩ đến quyền lợi, chứ có nghĩ đến nghĩa vụ đâu!
            Vừa nói, cậu ta vừa định chùi, bỗng thay đổi ý nghĩ , chìa giẻ lau cho tôi nói:
            - Ông nên tự giác một chút, chùi đi!
            Tôi ngoan ngoãn làm theo mệnh lệnh của cậu ta.
            Từ khi ở Triều Tiên và Đông Bắc Trung Quốc phát hiện bom vi trùng của đế quốc Mỹ vã toàn quốc đẩy mạnh phong trào vệ sinh yêu nước, trại giam mỗi năm định kỳ tổ chức mấy đợt tổng vệ sinh quy mô lớn diệt ruồi, muỗi, chuột... Hoạt động này đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng sâu sắc, đáng kể là sự việc xảy ra giữa tôi và Lý lớn trong một lần diệt ruồi.
            Lần ấy, Lý lớn đem lại mấy chục vỉ ruồi, không đủ chia, có nhiều người nhanh tay mạnh ai nấy lấy. Tôi không chủ động, nhưng Lý lớn đưa cho tôi một cái trước. Lần ấy là lần đầu tiên tôi cầm cái thứ này, dường như có cảm giác ngồ ngộ, thú thực là tôi chưa hề đánh chết một con ruồi bao giờ cả!
            Lúc bấy giờ, trong trại giam đã không còn bao nhiêu ruồi nữa, nếu như theo tiêu chuẩn ở “kinh đô mới” (65) thì có thể cho là tiệt rồi. Tôi tìm hồi lâu mới thấy một con đang đậu ở thành cửa sổ cửa sổ đang mở, tôi bèn lấy chiếc vỉ ruồi huơ một cái xua nó bay ra khỏi cửa sổ.
            - Ông làm cái trò chi thế? - Lý lớn ở đằng sau lưng hét - diệt ruồi hay phóng sinh hử?
            Người khác có lẽ tưởng cậu ta nói đùa, nhưng tôi thì tôi biết ý của cậu ấy. Bất giác tôi đỏ mặt, vẻ không tự nhiên:
            - Ai mà phóng sinh làm gì? - Tuy trả lời vậy, nhưng trong bụng tôi cũng nghĩ sao mình kỳ quặc thế sao lại xua nó bay mất nhỉ?
            - Ông không sát sinh là sợ báo ứng gì? - Cậu ta trợn tròn mắt chất vấn. Tôi đuối lý, nhưng vẫn cố biện bạch:
            - Báo ứng gì chớ! Ruồi tự nó bay đó chứ!
            - Thì ông cứ tự suy nghĩ đi!
            Buổi họp kiểm điểm tối hôm ấy lúc đầu mọi người không để ý gì đến chuyện này, nhưng sau được Lý lớn giới thiệu, mọi người đều biết hồi tôi ở Trường Xuân từng ra lệnh không cho phép đánh ruồi và câu chuyện có lần thì bảo nhiều người moi con chuột từ trong miệng mèo đang tha ra, ai nấy được một trận cười tức bụng. Cười xong, mọi người đều phê bình óc mê tín của tôi. Tôi tiếp thu, nhưng buột mồm lại nói:
            - Tôi mà vẫn còn mê tín à? Năm ngoái tôi chẳng đập ruồi đó sao?
            - À tôi nhớ ra rồi! - Lão Nguyên không nhịn được cười - ông không nói năm ngoái thì tôi cũng chẳng nhớ tới. Tôi nhớ là năm ngoái ông nhường vỉ ruồi cho người khác, còn mình thì lấy tờ báo quạt lia lịa, ruồi bị ông xua bay mất hết còn đâu nữa mà đánh nữa!
            Chỉ có Lý lớn vẫn hầm hầm nét mặt trong tiếng cười chế giễu:
            - Người khác phóng sinh để làm gì thì tôi không dám nói, nhưng ông phóng sinh thì tôi biết rõ, ông hoàn toàn là người ích kỷ, với cái giá như vậy muốn dược phật tổ phù hộ. Người khác có thể chết hết, chỉ độc mình ông phải bảo hộ, vì ông coi ông là người cao quý nhất mà!
            - Cậu nói hơi quá đáng! - Tôi cự lại.
            - Phổ Nghi cũng có lúc rất tự ti. - Lão Nguyên nói.
            - Đúng thế! - Tôi ngắt lời - bất kỳ là điểm nào, tôi cũng tự thấy kém cỏi hơn mọi người.
            - Có lẽ có lúc tự ti - Lý lớn tỏ vẻ đồng ý, nhưng lại nói tiếp - có lúc ông lại tự coi mình cao quý hơn mọi người, quan trọng hơn mọi người. Sao ông lại vậy, thật tôi chẳng hiểu.
            Thật sự thì dần dần tôi cũng đã tự hiểu ra. Vì tôi đã sống 40 năm mãi tít ở trên, nay bỗng rơi xuống đất bằng, nên cứ cảm thấy oan uổng, bực dọc, thậm chí không phục; và cũng có nhiều sự thật đã chứng tỏ tôi thật sự không bằng người, nên lại cảm thấy nản lòng, hối hận, tự ti và bi quan. Tóm lại, cái thế của tôi đã bị đánh tan, nhưng thước đo của tôi đối với bên ngoài vẫn còn lại ở trong tôi. Sở dĩ tôi nhận thức được điều này là vì sau này tôi đã phát hiện có những người mà tôi đã khó lường được theo như thước đo của tôi. Trước khi nhận thức được điều này, trong đoạn thời gian cùng ở với Lý lớn, tôi chỉ hiểu được lời nói của trưởng trại, dần dần hiểu được quan hệ giữa mình với người khác là không bình đẳng, chính vì thế nên người khác mặc cảm với tôi, và tôi không được người khác đối xử bình đẳng và tôn trọng. Nói tóm lại thì vấn đề là ở mình. Cho tới khi tôi tận mắt thấy những người không thể lường được và chịu ân huệ của họ, thì tôi càng hiểu rõ tôi là người như thế nào.
 
 
------------------------------------------------------------------------
(65) Kinh đô của Phổ Nghi ở Trường Xuân trước giải phóng - ND 
 
Đăng nhập để trả lời
0

Gặp gỡ người thân

 
            Nhân dân có thể khoan dung, vấn đề là ở bản thân mình có “làm người chính đáng” hay không - qua cuộc tham quan (66) tôi đã hiểu đạo lý này và vẫn không chỉ là đạo lý này. Trước đó, tức là ngày bắt đầu đi tham quan, tôi còn bằng con mắt cũ xem xét chính phủ ngày nay quan hệ với quần chúng như thế nào, cho rằng bất cứ chính phủ nào quan hệ với nhân dân cũng không tin cậy lẫn nhau như những điều nói trên sách. Tôi luôn cho ràng Đảng Cộng sản có quân đội lớn mạnh và chính phủ có hiệu lực như vậy là kết quả của thủ đoạn “cao minh” và khéo “lấy lòng người”. Cũng do cách nhìn nhận như vậy, tôi lo rằng khi quần chúng bị kích động sẽ hy sinh tôi.
            Hiện nay tôi hiểu rõ, nhân dân sở dĩ ủng hộ Đảng thực ra là do Đảng Cộng sản làm nhiều việc tốt cho nhân dân. Những việc tốt đó, bất cứ triều đại nào trong lịch sử đều không thể và cũng không muốn làm. Thiết kế nơi nghỉ ngơi cho công nhân mỏ trước kia gọi là “những tên nhọ nhem”, dốc toàn bộ tinh lực của tổ chức đảng tuyên chiến với hơi (Gas) để đảm bảo an toàn cho công nhân, biến “Đại quan lữ quán” thành nơi đánh cờ, thưởng hoa, ngắm cảnh, để 80% chàng trai độc thân từ “phòng lớn” chuyển về nhà ở mới, xóa bỏ cái sòng bạc, ổ nghiện hút tồn tại hàng thế kỷ nay… Có chính phủ nào có thể và dám làm những việc đó.
            Trước kia, có lúc tôi cũng nghĩ: có lẽ trong xã hội mới chỉ có người nghèo mới được lời, còn những người giầu có, những người có địa vị trong xã hội cũ, những người họ hàng với những người như tôi cho đến các dân tộc thiểu số ngoài người Hán e rằng không thể nói là hài lòng. Sau khi tham quan không lâu, mắt thấy những người thân thuộc của mình, tôi mới thấy rõ đó là cách nhìn lỗi thời.
            Từ mùa hè năm 1955, chúng tôi bắt đầu được thông tin với những người thân thuộc của mình.Qua thư nhà, mọi người biết rằng những người thân thuộc của mình không bị khinh rẻ vì những tội phạm của chúng tôi, biết rằng các con cái người đi học, người đang công tác, có người trở thành chuyên gia, có người tham gia đoàn thanh niên, thậm chí có người tham gia Đảng Cộng sản. Nhiều người, qua thư nhà được khích lệ rất lớn, càng thấy ý nghĩa của sự thay đổi xã hội đối với bản thân mình.
            Ngày 10 tháng 3, tức ba ngày sau khi đi tham quan, nhân viên coi giữ báo cho tôi và Phổ Kiệt cùng với chồng, em ba, em năm và ba cháu đến chỗ trưởng trại. Chúng tôi vào phòng khách của trưởng trại, ở đây bất ngờ trông thấy chú bẩy Tải Đào cùng em ba, em năm từ hơn 10 năm cách xa không gặp.
            Nhìn thấy em ruột khoẻ mạnh như xưa và các em gái mặc án đại cán tôi như bước vào cõi mộng.
            Tải Đào là người duy nhất còn lại của chi trưởng họ tôi. Trong cuộc bầu cử năm 1954, chú được bầu làm đại biểu đại hội nhân dân toàn quốc thay mặt cho 2 triệu dân tộc Mãn, đồng thời là uỷ viên Uỷ ban chính trị hiệp thương toàn quốc. Chú nói với tôi: trước mấy ngày đi thăm tôi, tại hội nghị lần thứ hai đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, thủ tướng Chu Ân Lai đã giới thiệu chú với chủ tịch Mao Trạch Đông: “Đây là ông Tải Đào, chú ruột Phổ Nghi”. Chủ tịch Mao đã bắt tay chú, nói: “Nghe nói Phổ Nghi học tập tốt, ông có thể đi thăm họ”.
            Nói đến đây, giọng chú bảy nghẹn ngào, tôi không cầm được nước mắt… 
            Từ cuộc gặp gỡ người trong gia tộc, tôi hiểu rõ không những tôi được cứu vãn mà cả dân tộc Mãn và tộc họ Ái Tân Giác La cũng được cứu vãn.
            Chú bảy nói với tôi: trước giải phóng, nhân khẩu tộc Mãn đăng ký là 8 vạn người, còn ngày nay, con số tăng gấp 30 lần.  
            Tôi biết rõ ý nghĩa của sự thay đổi số liệu  này. Tôi biết, sau cách mạng Tân Hợi, dưới sự thống trị của chính phủ Bắc Dương và chính phủ  Quốc Dân Đảng, số phận người Kỳ như thế nào. Khi đó, người tộc Mãn nếu không mạo nhận là người tộc Hán sẽ rất khó tìm việc làm. Bắt đầu từ đó con cháu họ Ái Tân Giác La tới tấp lấy họ Kim. Sau giải phóng thừa nhận bản thân mình là dân tộc thiểu số ngày càng nhiều. Sau khi Hiến pháp được công bố, toàn thể tộc Mãn đều đăng ký do đó mới có 2 triệu 40 vạn, đây là con số bất ngờ ngay với người tộc Mãn.
            Sự thay đổi mang tính lịch sử này bao hàm thế hệ sau của họ Ái Tân Giác La, bao hàm cả “Tải bối lặc”, “Tam các các”, “ngũ các các” trước kia.
            Chú bảy năm đó là 69 tuổi, khoẻ mạnh minh mẫn, hầu như tôi không nhìn thấy vẻ già nua của ông. Tôi thậm chí cảm thấy thói quen nói chuyện của ông và tôi cũng không có gì thay đổi. Sau giải phóng, bằng tuổi gần “xưa nay hiếm” của mình, ông tham gia công tác của quân giải phóng ở cao nguyên Tây Bắc.
            Khi nói đến những hoạt động này mặt ông lộ vẻ phấn chấn. Ông cho biết, ông đang dự định xuống địa phương thị sát công tác của dân tộc thiểu số để làm tròn trách nhiệm của đại biểu quốc hội. Nói đến đây, mặt ông càng rạng rỡ.
            Khi quân giải phóng vừa mới tiến vào thành phố Bắc Kinh, nhiều di lão tộc Mãn rất lo lắng đặc biệt là những người thuộc họ Ái Tân Giác La.
            Sau khi đọc chương 8 của Hiến pháp (chương này nói về chính sách dân tộc) vẫn lo lắng buồn phiền.
            Những ông già này sống ở Bắc Kinh, phần lớn chưa từng làm “Tân quý” của nước Mãn Chân và Chính phủ Uông Tinh Vệ, song cũng có người chưa quên được thân phận “thiên hoàng quý trụ” (con cháu nhà vua) của mình, chưa vứt bỏ được sự mê tín đối với tôi, vì vậy sau khi tôi trở thành tội phạm, họ càng không yên tâm, chưa từng mang “ảo tưởng” gì đối với quân giải phóng nhân dân. Điều bất ngờ đầu tiên đối với họ là nghe tin chính phủ nhân dân Đông Bắc xây dựng trường học dành cho con em tộc Mãn, sau đó lại thấy dân tộc Mãn có đại biểu bước vào Hoài Nhân Đường (67) cùng các giới nhân sĩ ngồi tại hội trường của hội nghị ủy ban chính trị hiệp thương toàn quốc tham gia thảo luận cương lĩnh chung. Tiếp đó, nhiều gia đình trong họ có cán bộ của chính phủ nhân dân đến thăm hỏi, mời họ làm dại biểu Uỷ ban chính trị hiệp thương của địa phương, đề nghị họ bày tỏ ý kiến của mình về dân tộc Mãn, mời họ cống hiến tài năng cho công cuộc xây dựng xã hội mới. 
            Tại Bắc Kinh, con cháu cụ nội tôi (vua Đạo Quang) cũng như con cháu ba chi Thuần Thân Vương, Cung thân Vương và Đôn thân vương đời chữ Phổ, ngoài mấy em con chú bảy còn tương đối trẻ, những người khác đều đã trên 60 tuổi. Anh tôi là Phổ Cân (tự Tuyết Trai) là cháu Thuần thân Vương Dịch Tôn (con Bối lặc Tải Doanh) giỏi hội hoạ, thư pháp và cổ cầm (đàn Cổ) khi đó đã hơn 60 tuổi. Ông không ngờ một hôm bên bờ Bắc Hải đã có thể cùng bè bạn thân thuộc say sưa thưởng thức nghệ thuật cổ cầm. Ông được bầu làm phó hội trưởng Hội nghiên cứu cổ cầm, Hội trưởng Hội nghiên cứu thư pháp, được mời vào Uỷ ban chính hiệp một khu lại là thầy dạy ở Viện hội hoạ Trung Quốc. Phổ Giản, em ruột Phổ Cân là một hoạ sĩ khi đó cùng được cử làm thầy dạy ở Viện hoạ Trung Quốc tại Bắc Kinh. Ông già tuổi gần “xưa nay hiếm” lại vung bút truyền dạy cho thế hệ trẻ về Trung Quốc hoạ.
            Anh em thúc bá với ông là Phổ Tu đã từng làm “hành tẩu cung Càn Thanh”, khi tôi ở Trường Xuân đã từng uỷ thác cho ông quản lý và trông coi nhà cửa ở Thiên Tân, sau đó bị loà hai mắt, mất hết mọi khả năng hoạt động, cuộc sống không nơi nương tựa.
            Sau giải phóng, sự từng trải cũng như tư liệu lịch sử sống trong óc của ông ấy được xã hội mới coi trọng, cử làm nhân viên Quán Văn Sử. Loại Quán Văn Sử này được thành lập khắp nơi tại Trung Quốc, trong đó các cử nhân, tú tài nhà Thanh trước, cũng có cả những người chứng kiến những sự kiện của các thời kỳ của các triều đại từ chính phủ Bắc Dương đến Tưởng Giới Thạch... Qua họ, đã thu thập được rất nhiều tài liệu lịch sử quý báu. Anh hai Tu bị loà mắt có lòng tin với cuộc sống, đã hồi ức một cách cụ thể,  chi tiết những tư liệu lịch sử triều Thanh, nhớ được đoạn nào, miệng thuật lại đoạn đó cho người khác ghi lại.
            Những hiện tượng đã được xã hội mới cho là bình thường này đến với tôi lại vô cùng mới mẻ là những tin tức tận mắt thấy sự thay đổi của các em gái tôi.
            Nửa năm trước, tôi và các em trai, em gái ở Bắc Kinh đã gửi thư cho nhau, qua thư từ tôi đã cảm thấy gia tộc của tôi đang có sự thay đổi song tôi chưa từng suy xét kỹ càng về sự thay đổi đó. Trong thời ngụy Mãn, trừ em trai thứ tư và các em gái thứ sáu, thứ bảy, các em trai em gái khác đều ở Trường Xuân. Khi sụp đổ lớn đều theo tôi chạy đến Thông Hoá. Sau khi tôi làm tù binh, thường lo lắng cho các em gái mình bị khinh rẻ vì thân phận người nhà Hán gian. Chồng em hai là cháu trai Trịnh Hiếu Tế, chồng em ba, em năm, một người là em trai “hoàng hậu”, một người là em trai tham mưu trưởng của Trương Huân, cả hai đều là trung tá của ngụy Mãn. Bố chồng em tư là tri phủ Thiệu Hưng cuối triều Thanh.
            Chỉ có chồng em bảy và chồng em tám là hai người học hành qui củ. Song liệu các em tôi có bị anh trai là tên Hán gian đần sỏ lôi xuống bùn không? Đây cũng là mối lo lắng chung của những đồng phạm, sự lo lắng của tôi càng lớn hơn họ. Về sau, qua thư từ, tôi mới biết sự lo lắng đó là thừa, cũng như những người khác, các em trai em gái tôi đều có việc làm. Như con cháu người khác, con cái họ cũng đều có thể đi học, lên lớp cũng như hưởng đãi ngộ tiền học phí. Em trai thứ tư và em gái thứ bảy vẫn là giáo viên tiểu học như cũ, em gái thứ sáu làm nghề tự do - hoạ sĩ. Em gái thứ năm làm thợ may. Em gái ba là nhà hoạt động xã hội, được dân phố bầu là ủy viên bảo vệ trị an. Mặc dù các em tôi tự nấu cơm, tự chăm sóc con song qua thư, họ lộ rõ sự hài long, vui vẻ. Tôi yên tâm. Nay tôi gặp được họ, nghe vợ chồng họ nói về tình hình sau khi cách biệt khiến tôi nhớ lại quá khứ.
            Tôi vẫn còn nhớ, lão Vạn, chồng em năm trợn mắt hỏi em năm: “Cô thật biết đi xe đạp ư? Cô lại còn biết may nữa?”. Sự ngạc nhiên của lão là có căn cứ. Ai ngờ cô “quận chúa” lúc còn nhỏ ngay chạy cũng không dám chạy, lớn lên có bao nhiêu a hoàn hầu hạ, chưa bao giờ bước vào nhà bếp, chưa bao giờ cầm chiếc kéo mà nay rõ ràng có thể đạp xe đi làm, có thể cầm kéo cắt quần áo, trở thành một nữ công nhân may mặc tự nuôi lấy mình.
            Càng khiến chúng tôi kinh ngạc là cô trả lời chồng một cách thản nhiên: “Điều đó có gì là lạ? Điều đó chẳng hơn là chẳng biết làm gì cả ư?”
            Cần biết rõ, nếu như trước kia cô nói như thế, không những bạn bè thân thuộc chê cười cô mà cô cũng tự thấy xấu hổ. Khi đó cô chỉ nên biết đánh phấn, đánh mạt chược, làm nghi lễ theo quy định; còn hiện nay, cô cầm chiếc kéo, đi xe đạp như đàn ông, sống cuộc sống mình tự nuôi mình.
            Sự nếm trải của em ba so với em năm càng nhiều hơn. Sau khi Nhật. Bản đầu hàng, vì con ốm, cô chưa về ngay Bắc Kinh. Cô và hai cô bảo mẫu đều ở lại Thông Hoá. Tài sản không có, cô sợ số nữ trang và đồ vật còn lại cũng như thân phận của mình sẽ làm người ta chú ý. Ở Thông Hoá, cô bán thuốc lá, quần áo cũ. Trong thời gian này, cô hầu như bị bọn đặc vụ Quốc Dân Đảng lừa dối, bị bọn con buôn bịp bợm bán buôn diêm rởm cho cô. Trải qua cuộc sống không bình thường như vậy, đến năm 1948 cô mới trở về Bắc Kinh. Sau giải phóng, cô luôn luôn đi họp dân phố vì khi ở Đông Bắc, tiếp xúc với chính phủ nhân dân và quân giải phóng nhân dân, cô biết một số chính sách của chính phủ, được hàng xóm tín nhiệm cử làm công tác đường phố. Cô nói một thời kỳ công tác vui nhất là tuyên truyền luật hôn nhân mới...
            Đối với người khác, sự nếm trải ấy cũng là chuyện bình thường, đối với tôi lại là sự ngạc nhiên lớn. Cuộc sống của cô trước kia còn “cao quý” hơn em năm, hàng ngày chỉ biết rong chơi, làm nũng với tôi, mỗi lần thấy tôi giữ thứ gì cho người khác đều đòi tôi “thưởng”... Ai ngờ, cô ba “quận chúa” kiêu sa đài các chỉ biết cám ơn, xin thưởng lại có thể là một nhà hoạt động xã hội. Tuy nhiên sự thay đổi đó là có thể hiểu được. Tôi hiểu, sau giải phóng vì sao cô tích cực tuyên truyền luật hôn nhân mới, vì sao cô khi đọc báo cho bà con hàng xóm cô có thể khóc. Vì tôi tin  câu nói của cô: “Trước kia tôi là cái gì? là vật  trang trí?”.
            Ngày thứ hai gặp gỡ, vừa khéo nhận được thư em hai. Qua thư, con gái lớn của cô, học sinh năm thứ hai học viện thể dục đã trở thành huấn luyện viên xe ô tô ưu tú nghiệp dư giờ đây  đã hoàn thành cuộc huấn luyện đường dài lái xe mô tô Thiên Tân - Hán Khẩu. Cô nói với tôi bằng giọng hạnh phúc: Không những cách đây 12 năm là cô tiểu thư trở thành vận động viên cấp kiện tướng mà các em khác của cô cũng là học sinh ưu tú. Khi tôi nói những điều này với em ba, em năm, các em đều lau nước mắt và nói về tình hình con cái mình. Ở đây tôi phát hiện đó mới là sự thay đổi thật sự của vận mệnh dòng họ Ái Tân Giác La.
            Tôi đã từng căn cứ vào bản “ngọc điệp” viết năm 1937 cung cấp tài liệu cho các em trai, em gái tôi làm một bản thống kê. Chi Thuần vương họ Ái Tân Giác La tính từ chữ Tải, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ chưa đến tuổi thành niên cuối triều Thanh là 34 %, thời Dân quốc là 10 %, mười năm sau giải phóng là số không. Nếu như tính tỉ lệ tử vong của tuổi vị thành niên cả nhà Ái Tân Giác La càng khiến cho mọi người kinh sợ. Chỉ tính từ đời cụ nội tôi, đời chữ Tải và đời chữ Phổ, tỉ lệ tử vong của vị thành niên là: con trai hơn 40 %, con gái gần 50 %, cộng lại là 45 %. Trong số nhân khâu tử vong, số trẻ dưới 2 tuổi chiếm hơn 58 %.
            Như vậy, con cháu vua Đạo Quang cứ 10 người sinh ra thì bốn người rưỡi tử vong, trong đó quá nửa chết lúc dưới hai tuổi.
            Khi gặp gỡ chú bảy và các em gái, tôi vẫn chưa có bản thống kê này song cú nghe các em kể chuyện về con cái mình, tôi không thể không nhớ lại vì được bà nội tôi quá yêu mà bác tôi chết đói, chị ruột tôi chết năm 17 tuổi, em trai thứ ba chết khi chưa được hai tuổi. Cũng như trong “Ngọc điệp” tôi thấy một loạt người chết “chưa có tên” (chưa kịp đặt tên đã chết). Vấn đề không chỉ ở con số tử vong và trưởng thành, dù cho mỗi đứa trẻ đến trưởng thành cũng chẳng biết làm cái gì, ngoài thất nghiệp, thất học, chẳng có tiền đồ gì. Thời đại Dân quốc, số phận con em tám kỳ phần lớn là như vậy. Lớp già, hàng ngày ngoài việc xách lồng chim đi dạo, thì uống trà từ lúc sáng sớm, uống cho đến trưa lúc ăn cơm, bữa ăn hàng chục món, ăn xong là ra oai với người nhà, ngoài ra chẳng còn biết làm gì…
            Những việc như thế, tôi biết rất nhiều, nay đã hoàn toàn thay đổi. Từ cuộc gặp mặt này, tôi sâu sắc cảm thấy vận mệnh của thế hệ sau chúng tôi so với thế hệ trước khác nhan như thế nào? Sự đãi ngộ mà họ được hưởng quả thật trước đây tôi không dám mong ước. Một em trai và tám em gái ở Bắc Kinh có tất cả 27 người con, ngoài số chưa đến tuổi đi học, đều đang đi học ở trường, đứa lớn nhất đã vào đại học.
            Chú bảy tôi có 16 cháu nội trai, gái. Cháu đích tôn 28 tuổi là kỹ thuật viên trạm thủy  điện, một cháu gái là sinh viên đại học quân y, một cháu gái đã từng tham gia quân chí nguyện, lập công cấp ba đã từ Triền Tiên về phục viên trở lại học ở trường đại học. Không một cháu nào rong chơi nhàn rỗi. Cuộc sống của lớp người thế hệ trước chúng tôi: cưỡi ngựa, thả chim ưng, xách lồng rong phố thật là chuyện cười dưới con mắt thế hệ mới này. Lớp người sau cũng có số phận ngoại lệ đó là con gái Phổ Kiệt sống ở một xã hội khác. Phổ Kiệt có hai con gái khi đó cũng theo mẹ về Nhật Bản, con lớn 18 tuổi. Chín tháng sau lần tôi gặp gỡ người thân, con gái Phổ Kiệt từ Nhật Bản báo một tin đau  buồn: cô gái lớn, vì vấn đề yêu đương đã cùng một bạn trai tự sát. Sau đó tôi nghe đủ mọi tin đồn, dù tin đồn như thế nào, tôi vẫn tin rằng người con trai đó vẫn cùng với cháu tôi đều là những người bất hạnh.
            Từ năm đó, trại quản lý không ngừng có người đến thăm người thân. Điều đáng nói là, lão Lưu, thuộc “phái hoài nghi ngoan cố” thấy con gái mình học nghệ thuật của mình và thấy con gái mang chàng rể đến. Cô con gái nói với ông ta: “Cha vẫn chưa tin ư? con ở học viện nghệ thuật! đây là bạn của con”. Lão nói: “Cha tin rồi”.
            Lão Lưu hiểu rõ sự tình, lão Trương cũng hiểu rõ. Lần con gái lớn đến thăm, mang thư của con trai lớn đến, lão đưa thư cho tất cả mọi người cùng xem.
 
 
--------------------------------------------------------------
(66) Đến năm 1956 trại cải tạo đã đưa các phạm nhân đi tham quan mỏ than Phủ Thuận. Hợp tác xã nông nghiệp Đài Sơn Bảo để tìm hiểu cuộc sông xây dưng đất mới từ sau khi Trung Quốc được giải phóng. Chúng tôi lược bỏ tiết này (ND)
(67) Hoài Nhân Đường ở Trung Nam Hải là nơi họp Quốc hội Trung Quốc trước khi Đại lễ đường nhân dân được xây dựng. - ND
 
Đăng nhập để trả lời
0

Đặc xá

 
            Kiến nghị  
            Của Ban chấp hành Trung ương
            Đảng Cộng sản Trung Quốc
            Ủy ban thường  vụ đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc:
            Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ mười ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vĩ đại, đặc xá một số tội phạm chiến tranh, tội phạm phản cách mạng và tội phạm hình sự thường đã thật sự cải tà quy chính.
            Công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa xây dựng chủ nghĩa xã hội nước ta đã giành được thắng lợi vĩ đại. Tổ quốc của chúng ta đã phơi phới đi lên, sản xuất và xây dựng phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện. Chính quyền chuyên chính dân chủ nhân dân củng cố và lớn mạnh hơn bao giờ hết. Giác ngộ chính trị và trình độ tổ chức của nhân dân toàn quốc nâng cao hơn bao giờ hết. Tình hình chính trị và kinh tế của nước nhà rất tốt. Chính sách thực hành trừng trị kết hợp với khoan hồng, lao động cải tạo với giáo dục tư tưởng của Đảng và nhân dân đối với phần tử phản cách mạng cũng như các tội phạm khác đã giành được thành tích vĩ đại. Số đông các loại tội phạm đang bị giam giữ đã được cải tạo với mức độ khác nhau, không ít người đã thực sự cải tà qui chính. Căn cứ vào tình hình này, Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận thấy rằng, nhân kỷ niệm lần thứ 10 ngày thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa vĩ đại, tuyên bố đặc xá một loạt tội phạm chiến tranh, tội phạm phản cách mạng và tội phạm hình sự thường đã thực sự cải tà quy chính là thích hợp. Thực hiện biện pháp này sẽ có lợi cho việc biến nhân tố tiêu cực thành nhân tố tích cực, nó có tác dụng giáo dục to lớn đối với việc tiếp tục cải tạo các tội phạm này và những tội phạm còn đang bị giam giữ. Điều này sẽ khiến họ cảm thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vĩ đại của chúng ta, chỉ cần cải tà quy chính thì sẽ có tiền đồ.
            Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc xét kiến nghị trên, đồng thời có quyết định tương ứng.
 
Ngày 14 tháng 9 năm 1959
MAO TRẠCH ĐÔNG
Chủ tịch Ban chấp hành trung ương
Đảng Cộng sản Trung Quốc
 
            Cảnh tượng vui mừng hớn hở trong trại khi nghe xong kiến nghị của Đảng Cộng sản và lệnh đặc xá của Chủ tịch nước đến nay tôi vẫn không quên.
            Nhân viên phát thanh đọc xong câu cuối cùng, trước loa phóng thanh, thoạt đầu mọi người im lặng phút chốc, sau đó hoan hô ầm ầm, tiếng hô khẩu hiệu và tiếng vỗ tay tựa như hàng vạn tiếng pháo cùng đốt lên một lúc, vang lên hồi lâu.
            Kể từ sáng sớm ngày 18 tháng 9, những người trong trại đều đứng ngồi không yên. Họ bàn tán xôn xao, người thì nói Đảng và Chính phủ xưa nay nói một là một, hai là hai, kẻ thì nói bây giờ thì có tiền đồ rồi. Có người nói ngày được thả gần đến rồi, có người nói đặc xá có từng đợt, có trước có sau. Có người nói có lẽ được thả hết cùng một lúc..., nhưng có người lại nói đặc xá đợt đầu nhất định sẽ có người này người nọ... Số đông người biết rõ hơn là được đặc xá hay không là xem biểu hiện cải tà quy chính ra sao, vì thế không ít người có vẻ hối hận gần đây đã hơi buông lỏng cải tạo. Cũng có người ngoài miệng thì “khiêm tốn” nói là không đủ tiêu chuẩn, nhưng lại chuẩn bị một cách âm thầm, nào xếp quần áo sửa soạn, nào đốt sổ tay không cần thiết, vứt bỏ những chiếc bít tất rách...
            Lúc nghỉ, ngoài sân tiếng ồn ào. Tôi nghe thấy lão Nguyên nói với lão Hiến:
            - Đợt đầu không biết có những ai nhỉ?
            - Những người được thưởng trong đợt bình bầu thành tích học tập lần này chắc không thành vấn đề. Rất có thể có anh đấy!
            - Tôi thế nào được? Theo tôi thì anh có thể lắm chứ.
            - Tôi ấy à? Nếu mà được ra thì sau khi tới Bắc Kinh tôi nhất định sẽ gửi quà thổ sản Bắc Kinh cho các anh. Tôi thèm táo đỏ mật Bắc Kinh quá đi mất.
            Từ một góc khác trong sân, tiếng “anh to cầm” kêu lên inh ỏi:
            - Thả thì thả hết, không thả thì đừng thả một ai hết.
            - Cậu lại mất tin tưởng rồi, - một người khác nói với anh ta - cậu sợ bị ở lại à?
            - Tôi bị ở lại? - “anh to cầm” lại đỏ ngầu con mắt - trừ phi còn lại Phổ Nghi, nếu hắn ta không bị ở lại thì không thể có tôi bị ở lại!
            Anh ta nói có lẽ đúng, chính tôi cũng nghĩ như vậy. Ngày hôm sau, phó trưởng trại hỏi tôi có suy nghĩ gì về đặc xá không? Tôi nói:
            - Tôi nghĩ, tôi chỉ có thể là người cuối cùng được đặc xá nếu như tôi còn có thể cải tạo tốt được. Nhưng tôi nhất định cố gắng.
            Đặc xá đối với tội phạm tức là có nghĩa họ sắp được đoàn tụ với cha mẹ vợ con, song đối với tôi lại không có quan hệ lớn lắm. Mẹ tôi đã mất từ lâu, cha tôi mất từ năm 1951, vợ cuối cùng của tôi cũng đã làm thủ tục ly dị với tôi năm 1956. Giả sử những người này còn sống, thì có ai hiểu tôi như những người trong trại không? Kể cả những người tôi quen biết từ trước đến nay, có ai như những người ở đây có thể nói cho tôi biết đạo làm người hay không? Nếu như được thả là được tự do và “ánh sáng” thì tôi phải nói rằng, chính là ở đây tôi dã được thấy ánh sáng của chân lý, giành được tự do về nhận thức thế giới.
            Đối với tôi đặc xá là được có tư cách làm người, bắt đầu cuộc sống mới thật sự có ý nghĩa.
            Cách đây không lâu tôi nhận được một lá thư của lão Vạn, trong thư nói về đứa con trai của lão ta đang học địa chất, là đội trưởng đội leo núi của một trường đại học, cùng với bạn học sau khi chinh phục núi tuyết Kỳ Liên đến Tây Tạng thì vừa đúng lúc bọn chủ nô gây phiến loạn, con lão ta bèn cùng với bạn học đứng về phía nông nô chiến đấu chống bọn chủ nô phiến loạn.
            Sau khi cuộc phiến loạn của chủ nô bị dập tắt, con lão ta lại cùng với bạn học tiếp tục leo núi tuyết khác. Trong bức thư đầy tự hào và hạnh phúc của lão Vạn gửi đến, mấy lần nhắc đến con lão ta may mắn được sinh trưởng trong xã hội ngày nay chứ không phải cái xã hội thật đáng nguyền rủa. Thời đại ngày nay đã mở ra con đường tương lai đầy hứa hẹn cho con lão ta. Nếu không phải là thời đại nay thì lão ta không thể nào có được người con như vậy, và lão ta cũng không có được như ngày nay. Lão Vạn bây giờ được làm công tác phiên dịch trong cơ quan biên dịch, trở thành một nhân viên công tác, một người xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã giống như mọi người Trung Quốc chân chính rồi. Lão ta chúc tôi sớm được cùng lão ta hưởng hạnh phúc mà trước kia mọi người trong chứng tôi chưa hề biết đến. Lão tin tưởng rằng, điều này cũng chính là điều mà bản thân tôi đang ngày đêm mơ ước…
            Sau khi lệnh đặc xá được công bố được một tháng, trại quản lý lại tổ chức cho mọi người trong trại 6 và trại 7 đi các nơi tham quan một lần nữa. Chúng tôi lại tới hồ chứa nước Đại Hoà Phong. Lần trước, năm 1957, khi chúng tôi tham quan hồ nước này, chỉ thấy biển người mênh mông đang hoạt động giữa lũng núi,lúc đó, qua mô hình trên bàn chúng tôi biết hồ nước tương lai này có thể chứa được 2,1 tỷ mét khối nước, có thể phòng ngừa nạn lụt lớn ngàn năm chưa từng có, và tưới được 8 vạn héc ta ruộng đất. Lần này chúng tôi tới tham quan thì công trình vĩ đại này đã hoàn thành trước đây một năm: một biển nhân tạo mênh mông hiện ngay trước mặt chúng tôi với một đập lớn cao hơn mặt đất 48 mét, mặt đập rộng 8 mét, chân đập rộng 330 mét, dài 1.367 mét. Sau đợt tham quan lần này về, Furumi Tadayuki, tội phạm chiến tranh Nhật Bản, thứ trưởng tổng vụ ngụy Mãn đã phát biểu cảm tưởng trước toàn thể tội phạm chiến tranh tụ tập trong phòng họp của câu lạc bộ trong trại như sau: “... đứng trên đập chứa nước Đại Hoà Phong nhìn bao quanh, tôi cảm thấy nó hùng vĩ, đẹp đẽ, hoà bình, tôi cũng thấm thía rằng đó là thắng lợi của nhân dân Trung Quốc trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và là niềm tự hào và vui mừng của họ tiếp tục chiến thắng thiên nhiên... Trông thấy hồ chứa nước này làm tôi nhớ lại chuyện cũ: hồi tôi làm vụ trưởng vụ kế hoạch bộ tổng vụ, thứ trưởng bộ kinh tế, thứ trưởng bộ tổng vụ trung thời ngụy Mãn, có lần đứng trên đập hồ chứa nước Thủy Phong nhìn cảnh lúc đó mới nghĩ đó là cuộc đấu tranh với thiên nhiên, cho rằng công trình lớn có trình độ thế giới như vậy, ở châu Á chỉ có người Nhật mới làm được, và tôi đã lấy làm hãnh diện, đã khinh bỉ người Trung Quốc cho là họ tuyệt đối không thể làm được (hồi đó, để chuẩn bị chiến tranh, rất nhiều việc không thể không làm, đã từng cưỡng bức biết bao lao động và bỏ ra nhiều vật liệu định xây dựng hồ nước Đại Hoà Phong, nhưng cuối cùng kế hoạch bị tan vỡ). Công nhân Trung Quốc quần áo rách rưới so với họ tôi cho là tôi là một giống người khác hẳn, với tư thế là người “vĩ đại, thông minh, cao thượng”, tôi coi họ với con mắt khinh thường.
            “Những người lao động tại hồ nước Đại Hoà Phong ngày nay vì có niềm tràn trề, lòng hăng hái cao độ, tinh thần lao động quên mình, khí thế sôi nổi, nên trên nét mặt họ ánh lên niềm tự hào và mừng vui vô hạn. Còn tôi, người đứng tại một góc trên đập nhìn bao quanh chính là tên tội phạm chiến tranh đã gây nên tội ác nghiêm trọng đối với nhân dân Trung Quốc. Thế thì ai đúng ai sai?”
            Một bên là nhân dân Trung Quốc “trên nét mặt ánh lên niềm tự hào và mừng vui vô hạn”, một bên là tội phạm chiến tranh đã gây tội ác nghiêm trọng. Và tôi đã mong sao tách khỏi được nhóm tội phạm chiến tranh mà đứng hẳn về phía nhân dân Trung Quốc. Đó chính là con đường duy nhất của tôi tìm ra được trải qua mười năm đắn đo suy nghĩ.
            Quá trình học tập trong mười năm qua khiến tôi hiểu biết được điều phải trái căn bản. Mười năm với biết bao sự việc xảy ra: cuộc chiến tranh chống Mỹ, giúp Triều thắng lợi; tội phạm chiến tranh Nhật Bản phải nhận tội; Trung Quốc giành được thắng lợi về mặt ngoại giao và uy tín quốc tế nâng cao chưa từng thấy; nước nhà, xã hội, dân tộc biến chuyển mạnh, bao gồm dòng họ tôi và kể cả sự đổi thay về thể xác tôi, tất cả những thành tích kỳ diệu đó đều sản sinh ra dưới sự lãnh đạn của Đảng Cộng sản mà tôi vẫn mặc cảm, thù địch và sợ hãi trong mười năm về trước. Sự thật trong mười năm qua và lịch sử hơn trăm năm qua chứng minh với tôi rằng: Quyết định vận mệnh lịch sử chính là nhân dân mà trước kia tôi vốn khinh thường nhất; nửa đời trước của tôi đã đi đến chỗ bị tiêu diệt đó là điều tất nhiên, đế quốc và thế lực phản động mà trước kia tôi dựa dẫm bị sụp đổ cũng là điều tất nhiên. Nay tôi đã hiểu vận mệnh mà trước kia Trần Bảo Thám, Trịnh Hiếu Tế, Yoshioka Yasunori và bất kỳ bồ tát, thần tiên nào cũng không thể nói cho tôi biết được là gì đó chính là làm con người thật thà, tay làm hàm nhai và có ích cho loài người. Vận mệnh gắn liền với nhân dân mới là vận mệnh tốt đẹp nhất.
            “Bên nào đúng thì đứng hẳn về bên đó”.
            Muốn như vậy cần phải dũng cảm. Lệnh đặc xá đã cho tôi thêm lòng dũng cảm, và đối với mọi người đều như vậy.
            Chúng tôi càng hăng hái học tập và lao động. Nhiều người chờ đợi bình bầu thành tích học tập đợt sau. Đậu phụ của tổ chế biến thực phẩm làm ra hàng ngày càng trắng tốt, đàn lợn của tổ chăn nuôi vỗ ngày càng béo ra, tổ y tế của chúng tôi đã tránh được sai sót trong kỹ thuật, thậm chí anh “to cầm” khó tính cũng trở lên hiền lành không cãi cọ với người ngoài nữa.
            Lại một tháng trôi qua. Một tối, phó trưởng trại tìm tôi nói chuyện khi nói đến vấn đề đặc xá, ông hỏi:
            - Hai tháng nay ông nghĩ thế nào?
            Tôi trả lời nếp nghĩ của tôi như trên đã nói, đồng thời nhận thấy rằng có mấy người đã có cải tạo tốt và tôi đã nêu lên mấy người trong tổ chăn nuôi, tổ chế biến thực phẩm và mấy người được bình bầu trong đợt học tập trước.
            - Bây giờ ông nhìn thấy ưu điểm của người khác tương đối dễ hơn trước rồi đấy, - phó trưởng trại cười nói - giả sử đặc xá lần này có ông, ông nghĩ sao?
            - Không có được - Tôi cười.
            Không thể có được. Khi tôi về đến buồng tôi vẫn nghĩ như vậy. “Nếu như có thế... thì sao?” Thoáng nghĩ đến đây tôi thấy rạo rực trong lòng. Kế đó lại nghĩ, sau này sẽ đến lượt tôi thôi, nhưng phải có một thời gian khá dài mới được. Tóm lại, hy vọng ngày càng nhiều. Bất giác tôi đâm ra mơ mộng, mường tượng mình cũng được như lão Vạn và cậu Thụy, được đứng vào hàng ngũ những con người bình thường... Tôi mường tượng sau này có lẽ được cơ quan lao động sắp xếp cho làm nhân viên phụ việc y tế trong một cơ quan y tế nào đó... Song nhất thiết là phải một thời gian khá dài, cần phải chờ đến khi nhân dân phê chuẩn tôi; thừa nhận tôi là một phần tử trong nhân dân thì mới được. Nghĩ đến hạnh phúc trong tương lai, đêm đó tôi hầu như không chợp được mắt.
            Hôm sau mọi người được lệnh tập hợp. Chúng tôi đi vào phòng họp của câu lạc bộ, ngước nhìn tấm băng đỏ lớn treo ngay trên bệ đài chủ tịch, tim tôi đập dồn dập. Trên tấm băng đỏ viết dòng chữ: “Mít tinh đặc xá của trại quản lý tội phạm chiến tranh Phủ Thuận”.
            Đại biểu toà án nhân dân tối cao, hai ông trưởng trại và một số người khác đã ngồi sẵn trên đài chủ tịch. Hội trường im lặng, dường như nghe được nhịp đập của những trái tim.
            Sau khi trại trưởng nói vài câu gắn gọn, đại biểu Toà án nhân dân tối cao bước ra giữa bệ, cầm một tờ giấy lên đọc:
 
Thông tri đặc xá của Toà án nhân dân tối cao
nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
 
            Căn cứ vào mệnh lệnh ngày 17 tháng 9 năm 1959 của Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Toà án nhân dân tối cao đã thẩm tra tội phạm chiến tranh nước Mãn Châu ngụy Ái Tân Giác La Phổ Nghi đang bị giam giữ.
            Tội phạm Ái Tân Giác La Phổ Nghi, nam, 54 tuổi, dân tộc Mãn, người thành phố Bắc Kinh. Tội phạm này đã bi giam giữ 10 năm, trong thời gian bị giam giữ, qua lao động cải tạo và giáo dục tư tưởng, đã thực sự có biểu hiện cải tà quy chính, phù hợp với quy định với điều 1 của lệnh đặc xá, nay được phóng thích.
 
Toà án nhân dân tối cao
nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Ngày 4 tháng 12 năm 1959
 
            Chưa chờ nghe hết, tôi đã khóc nấc lên. Tổ quốc, ôi Tổ quốc của tôi, Người đã đào tạo tôi thành người...
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.03.2022 16:21:45 bởi hoi_ls>

Một chương mới

 
            Xe lửa rầm rầm chạy. Bên ngoài là bình nguyên phủ đầy tuyết trắng, sáng loá, bao la như cuộc sống mới đang trải ra trước mắt tôi. 
            Trong xe, trước tôi, sau tôi đều là nhân dân lao động bình thường. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi ngồi với họ, cùng trên một chuyến tàu. Tôi sẽ cùng sinh sống với họ cùng xây dựng đất nước, tôi sẽ trở thành một người trong họ, không, hiện nay tôi đã trở thành một người trong học… 
            Ngày 9 tháng 12, tôi đến thủ đô Bắc Kinh. Đây là thành phố quê hương mà tôi đã xa cách hơn 35 năm. Tại Bắc Kinh huy hoàng tráng lệ, tôi gặp em gái thứ năm hơn mười năm chưa gặp và em trai thứ tư hơn hai mươi năm chưa gặp. 
            Tay bắt mặt mừng tôi nghe tiếng gọi “anh”.
            Trong nửa đời trước của tôi, các em trai em gái của tôi chưa bao giờ gọi như vậy. Từ tiếng gọi này, tôi cảm thấy sinh mệnh mới của tôi cũng bắt đầu trong gia tộc mình.  
            Chú bốn mang hộ tôi chiếc va li da mầu đen. Em năm và lão Vạn đi hai bên, chúng tôi cùng ra khỏi ga. Ngoài ga, tôi nhìn chiếc đồng hồ lớn treo trên nóc nhà ga, lấy ra chiếc đồng hồ bỏ túi của tôi. Trước khi rời Phủ Thuận, từ trong đống đồ đạc tôi trao hiến chính phủ, trưởng trại lấy ra chiếc đồng hồ này trao cho tôi. Tôi nói: chiếc đồng hồ này trước đây tôi mua bằng tiền bóc lột nay tôi không thể nhận. Trưởng trại nói: hiện nay nhân dân cho ông, ông hãy nhận đi. Đây là chiếc đồng hồ vàng của Pháp năm 1924 tôi đã mua ở cửa hàng Legation Quarter khi tránh Trương Văn Trị trong ngày tôi từ nhà cha tôi chạy vào khu Đông Giao Dân cảng. Từ giờ phút đó, mở đầu lịch sử đáng xấu hổ của tôi. Nay, tôi để nó cũng bắt đầu một cuộc sống mới, theo giờ Bắc Kinh tôi chỉnh lại kim chỉ giờ.
            Hôm trưởng trại đưa chiếc đồng hồ cho tôi đã nói cùng mười người chúng tôi được ân xá: các ông về nhà, gặp người nhà và xóm giềng thân thuộc nên xin lỗi họ vì trước kia các ông đã có lỗi với họ. Chỉ cần các ông làm người tốt, thành khẩn phục vụ nhân dân, mọi người xung quanh sẽ tha thứ cho các ông. Tôi đến nhà em năm và lão Vạn, lời nói của trưởng trại hoàn toàn được chứng thực. Mọi người trong nhà đều hoà nhã thân mật với tôi.
            Sáng hôm sau, tôi rất muốn cùng bà con xung quanh làm một việc gì đó. Thấy có người cầm chổi quét đường ngõ, tôi tham gia cùng quét. Tôi quét một mạch đến đầu ngõ, khi quay lại không tìm ra nơi mình ở nên đã đi vào một nhà dân. Người nhà này biết rõ sự tình đã nhiệt tình đưa tôi về nhà mình.
            Tôi còn gặp chú bảy, dì bảy, anh ruột, em ruột cùng các em gái, em rể... Qua chú bảy, tôi biết lịch sử lịch hưng vượng của gia tộc, biết chú là người phát ngôn của tình hình thị sát các dân tộc thiểu số tại Đại hội đại biểu nhân dân. Tôi được nghe anh lớn chơi đàn cổ cầm, được anh đề chữ tặng, thư pháp của anh rõ ràng đạt tới trình độ mới. Tôi đến thăm cô em thứ hai khi đó đã tổ chức xong nhà giữ trẻ đường phố. Chồng cô là kỹ sư Bưu điện cho biết: em hai luôn bận rộn đến hết cả bệnh đau đầu cũ. Vợ chồng em ba, em tư, em sáu, em bảy tôi đều được gặp. Vợ chồng em ba tham gia học tập ở uỷ ban chính trị hiệp thương khu, em tư công tác ở ngành bảo tàng Cố cung, vợ chồng em sáu là một đôi hoạ sĩ, vợ chồng em bảy (68) là nhà giáo. Càng phấn khởi hơn là thế hệ thứ hai. Ngày tết âm lịch, khăn quàng đỏ nhan nhản trong nhà ngoài sân nhà chú bảy. Trong số đã trở thành thanh niên thế hệ thứ hai tôi thấy có chiến sĩ chí nguyện quân đã có huân chương, nữ quán quân xe môtô Bắc Kinh, đội trưởng đội leo núi, bác sĩ y tá, giáo sư lái xe. Đông hơn cả học sinh trung học và học sinh chuyên nghiệp trung đó có đảng viên cộng sản, đoàn viên thanh niên cộng sản.
            Tôi còn gặp các bạn cũ thời trước. Thương Diễn Doanh nằm trên giường nói chuyện với tôi. Ông là nhân viên Quán Văn sử, do bệnh già nói đã thều thào. Gặp tôi, nét mặt ông vẫn có chút nghiêm túc kính cẩn muốn gượng dậy. Tôi nắm tay ông nói: “Ông tuổi cao lại không được khoẻ, nên nằm nghỉ. Chúng ta là người của xã hội mới, quan hệ hiện nay là quan hệ bình thường. Mong ông chóng khoẻ để phục vụ nhân dân”. Vẻ kính cẩn trên gương mặt ông biến mất, ông gật đầu mỉm cười nói “Tôi theo ông”.
            Tôi còn gặp những người cũ trước là thái giám, biết được tình hình gần đây của nhiều  người. Họ đang ở trong Viện Dưỡng lão do Cục dân chính lập ra để họ dưỡng già.
            Ngày đầu tiên khi tôi gặp, mọi người đều nói: “Ông đã trở về, nên đến các nơi tham quan, ông đã dạo qua Bắc Kinh chưa?”. Tôi nói: “Trước tiên tôi ra Thiên An Môn”.
            Từ lâu, qua phim ảnh, báo chí cũng như thư nhà tôi đã biết quảng trường Thiên An Môn. Qua màn ảnh, tôi đã thấy các công trình xây dựng, đội ngũ điều hành, hoạt động liên hoan trong ngày lễ. Tôi biết Đại lễ đường nhân dân, công trình rất lớn đã đã xây xong trong mười tháng, biết các khách nước ngoài từ các nước trên thế giới đã cảm động như thế nào khi tới đây. Hôm nay tôi đã đến được nơi mình mơ ước.
            Trước mắt tôi, Thiên An Môn nguy nga là nơi chứng kiến lịch sử khổ đau và hạnh phúc của tổ quốc, cũng là nơi chứng kiến Phổ Nghi cũ trở thành Phổ Nghi mới. Bên trái tôi là Đại lễ đường nhân dân uy nghiêm tráng lệ, các việc  lớn lao của đại gia đình tổ quốc được quyết định ở đây, trong đó cũng có quyết định tôi được cuộc sống mới. Bên trái tôi là Nhà bảo tàng lịch sử, phía sau tôi sừng sững bia kỷ niệm các anh hùng liệt sĩ cách mạng. Họ nói với mọi người. hơn một thế kỷ nay, có biết bao anh hùng liệt sĩ đang tiến hành đấu tranh gian khổ như thế nào mới cho chúng ta những thành quả ngày nay, mà tôi cũng là một người được hưởng.
            Trên quảng trường Thiên An Môn, lần đầu tiên trong đời, tôi dạo bước tràn đầy tự do, an toàn hạnh phúc và tự hào.
            Tôi cùng em năm, chú sáu đi chầm chậm về phía Tây. Khi đi tới Cung Văn hoá dân tộc tường tráng nóc xanh, em năm lo lắng nói: “Anh có mệt không? lần đầu tiên đi xa như thế này”. “Lần đầu tiên”, ba từ này chứa chan trong cuộc sống mới bắt đầu. “Lần đầu tiên” là rất không thuận tiện nhưng tôi cảm thấy rất phấn chấn và  cũng không vì thế mà có lo lắng gì.
            Lần dầu tiên tôi vào quán cắt tóc để cắt tóc. Nói một cách nghiêm túc đây lần thứ hai vì hơn 30 năm trước, tôi đã cắt tóc một lần ở công ty Trung Nguyên tại Thiên Tân. Song lần này sự việc gặp ở quán cắt tóc là lần đầu tiên… Tôi ngồi vào ghế, phát hiện một thứ tôi đã nhìn thấy ở cửa hàng bách hoá Cáp Nhĩ Tân nhưng không biết gọi là cái gì. Tôi hỏi người cắt tóc: “Cái kêu vo vo bên cạnh là cái gì?”. Người cắt tóc nói: “Máy sấy”. Tôi hỏi: “Sấy trước hay cắt tóc trước?” Nghe hỏi anh ta sững người: “Ông chưa cắt tóc bao giờ ư?”. Anh ta còn cho là tôi nói đùa. Sau đó hiểu rõ chúng tôi đều cười ồ. Đến lúc trên đầu tôi có tiếng kêu vo vo, lòng tôi càng vui.
            Lần đầu tiên tôi đi xe công cộng làm cho chú sáu bị một trận kinh hoàng. Tôi xếp hàng lên xe, thấy mọi người nhường người già, trẻ em lên trước. Tôi cũng nhường một người đàn bà cạnh tôi lên trước mà tôi không biết đó là người bán vé. Thấy tôi không lên, cô ta liền lên xe, cửa xe đóng lại, xe cũng chuyển bánh. Một lúc sau, chú sáu từ bến xe dưới chạy tới, còn cách xa nhau chúng tôi đã bật cười. Cười xong, tôi chân thành nói với chú sáu: “Không phải lo, chẳng xẩy ra chuyện gì đâu”.
            Nhiều người quan tâm tới tôi như vậy tôi còn lo gì?
            Ngay sáng hôm đó, từ một cửa hàng gần nhà em ba, tôi đã tìm được chiếc ví hôm qua tôi đánh rơi ở đó. Chẳng lẽ con người tôi lại rơi mất sao?
            Để giúp chúng tôi hiểu biết Bắc Kinh, cục Dân chính thành phố Bắc kinh đã tổ chức cho một số người sau khi được ân xá trở về ở Bắc Kinh trong đó có Đỗ Luật Minh, Vương Diệu Vũ, Tống Huy Lâm,... trước đây là tướng của Quốc Dân Đảng đi thăm quan nhiều nơi. Trong khoảng thời gian hai tháng, chúng tôi đã đi xem các nhà máy mới xây dựng, các công trình công cộng cùng các công xã nhân dân của thành phố. Cuối cùng, qua thỉnh cầu của những người cùng đi, chúng tôi đi chơi Cố cung do tôi tạm thời làm nhân viên hướng dẫn giới thiệu.Điều khiến tôi kinh ngạc là cảnh tượng suy bại cũ nát lúc tôi rời Cố cung không còn nữa, khắp nơi đều sơn phết lại như mới. Ngay rèm cửa, song cửa cũng như giường nệm, chăn gối bàn ghế đều mới. Sau khi thăm dò mới biết tất cả đều do công xưởng của Cố cung tự xây dựng phục chế như nguyên trạng. Các loại đồ ngọc, đồ sứ, tranh vẽ, đồ cổ của cố cung, do chính phủ Bắc Dương, chính phủ Quốc Dân đảng cũng như chính tôi lấy đi, nay còn lại rất ít. Tuy nhiên, tôi phát hiện ở đây có nhiều thứ do Nhà bảo tàng mua lại từ sau giải phóng cũng như các nhà sưu tập đồ cổ hiến góp ví dụ, bức tranh “Ngày thanh minh bên sông” của Trương Trạch Thụy trước đây đã do tôi và Phổ Kiệt lấy đi, nay đã mua về được.
            Tại Ngự Hoa Viên, tôi thấy các cháu nhỏ vui đùa dưới ánh nắng mặt trời, tại quán trà tôi thấy các cụ già ngồi uống trà. Thoảng thấy hương vị thanh xuân của những cây bách lâu năm tiết ra, tôi cảm thấy ánh nắng mặt trời đây cũng sáng rõ hơn trước. Tôi tin rằng Cố cung sẽ được sống lại.
            Tháng 3 năm 1960, tôi được phân phối về Vườn thực vật Bắc Kinh thuộc Sở nghiên cứu thực vật Viện Khoa học Trung Quốc bắt đầu cuộc sống nửa ngày học tập, nửa ngày lao động. Đây là thời kỳ chuẩn bị cho tôi đứng vào vị trí phục vụ nhân dân. Dưới sự hướng dẫn của các nhân viên kỹ thuật, trong nhà ấm tôi học gieo hạt, chăm bón hạt nảy mầm, trồng trọt... Nửa ngày còn lại tôi học tập, có lúc ngồi viết cuốn sách này.
            Trong nửa đời trước của tôi, tôi không biết “nhà” là cái gì. Mấy năm cuối ở Phủ Thuận, tôi bắt đầu có cảm giác có “nhà”. Đến vườn thực vật không lâu, tôi cảm thấy có “nhà” lần thứ hai. Tôi sống trong không khí có bạn bè, có người giúp đỡ. Một lần, tôi đi rong chơi ở ngoài về, không tìm thấy chiếc đồng hồ, không tránh khỏi nuối tiếc, cảm thấy đường xa như vậy, không có cách nào tìm thấy. Ông Lưu, nhân viên cùng phòng biết việc này, quên cả nghỉ ngơi, hỏi rõ hơn đường tôi đi và lập tức đi ra. Nhiều người biết tin đến giờ nghỉ cũng bổ đi tìm. Cuối cùng ông Lưu đã tìm thấy nó ở nhà ăn của một đại đội sản xuất thuộc công xã nhân dân “Bốn mùa xanh”. Ông vô cùng vui mừng mang về. Lúc đó tôi cảm thấy không phải nhận lại một chiếc đồng hồ mà là một trái tim.
            Mùa hè năm đó. Vườn thực vật thành lập đội dân quân, hàng ngày tiến hành tập luyện. Tôi ghi tên tham gia. Mọi người đều nói tôi tuổi cao quá tiêu chuẩn. Tôi nói “là một thành viên của đại gia đình tổ quốc, tôi cũng cần đứng vào vị trí bảo vệ tổ quốc”, sau đó mọi người bị tôi thuyết phục, tôi tham gia luyện tập, làm một dân binh quá tuổi.
            Đứng trong đội ngũ dân quân của Vườn thực vật tôi nghĩ đội ngũ của chúng tôi lớn biết chừng nào. Ở đây có mấy chục người nhưng toàn thể đội ngũ nhân dân là bao nhiêu vạn người. Tôi nghĩ, khi nào mới được xếp vào đội ngũ trùng trùng điệp điệp ấy diễu qua thành Thiên An Môn.
            Nguyện vọng này của tôi nhanh chóng được thực hiện. Tôi tham gia đội ngũ cuộc diễu hành của một triệu người chi viện nhân dân Nhật Bản phản đối “hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ”. Đây không chỉ là một triệu mà là một bộ phận của triệu triệu người trên toàn thế giới cùng tham gia đấu tranh. Chúng tôi lớn tiếng hô khẩu hiệu,  diễu qua quảng trường Thiên An Môn. Trên quảng trường vang tiếng hô của tôi từ đáy lòng.
            - Nước CHND Trung Hoa muôn năm!
            - Nhân dân toàn thế giới đại đoàn kết muôn năm!
            Từ đó tôi bắt đầu hoạt động xã hội, qua hoạt động, tôi cảm thấy mình sát cánh cùng nhân dân toàn quốc, toàn thế giới đấu tranh giành hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
            Ngày 26 tháng 11 năm 1960, tôi cầm lá phiếu bầu cử đầu tiên ghi “Ái Tân Giác La Phổ Nghi”.
            Giờ phút bỏ lá phiếu vào thùng phiếu màu đỏ tôi cảm thấy mình là người giàu có nhất trên thế gian.
            Tôi cùng 650 triệu đồng bào tôi trở thành người chủ của lãnh thổ 960 vạn kilômet vùng này.
            Tháng 3 năm 1961, tôi kết thúc giai đoạn chuẩn bị bước lên cương vị chính thức phục vụ nhân dân, nhận chức vụ chuyên viên Ủy ban nghiên cứu Văn sử của Uỷ ban chính trị hiệp thương toàn quốc. Tôi làm một người công tác Văn sử.
            Tôi tham gia công tác ở bộ phận xử lý tư liệu văn sử thời đại cuối triều Thanh và chính phủ Bắc Dương.
            Trong công tác của mình, tôi thường xuyên gặp những sự kiện lịch sử của thời kỳ này, tôi và các đồng sự đều là nhân chứng. Từ những tư liệu phong phú, qua công tác của mình, tôi thường xuyên gặp những tên chữ quen thuộc, có khi còn gặp những sự kiện lịch sử trước kia có dính líu đến tôi. Phần lớn những tác giả tư liệu là những người tận mắt nhìn thấy hoặc là sự kiện lịch sử bản thân mình. Đối với lịch sử thời kỳ này, tôi và các đồng sự đều là nhân chứng. Từ những tư liệu phong phú, qua công tác của mình, tôi càng thấy rõ sự thay đổi của thời đại. Những nhân vật đã bị lịch sử gạt bỏ: Diệp hách na-la-thi (Từ Hy), Viên Thế Khải, Đoàn Kỳ Thụy, Trương Tác Lâm... lúc đương thời tựa hồ không thể đội trời chung; nhân dân bị chúng áp bức tàn sát hầu như bó chân bó tay. Những văn nhân nhà Hồ Thích đã từng tâng bốc họ. Di lão,  di thiếu đã từng gửi gắm ảo tưởng phục tích vào họ mà bản thân họ càng tự thổi phồng sự lớn mạnh của mình, cho rằng các cường quốc đứng sau họ là chỗ dựa vĩnh cửu. Song, họ đều là hổ giấy cuối cùng bị lịch sử đốt sạch. Lịch sử là nhân dân “xem ra, bề ngoài phái phản động có vẻ đáng sợ, song trên thực tế chúng chẳng có lực lượng gì ghê gớm. Nhìn vấn đề từ quan điểm lâu dài, lực lượng lớn mạnh thật sự không thuộc về phái phản động mà thuộc về nhân dân”. Những kinh nghiệm của tôi khiến tôi tiếp thu chân lý đó. Công tác của tôi khiến tôi càng tin tưởng vào chân lý đó. Tôi còn muốn qua công tác và nhân chứng của bản thân mình tuyên dương chân lý này trước nhân dân.
            Lúc rảnh rỗi, tôi tiếp tục viết “Nửa đời trước của tôi”.
            Để viết sách, tôi đọc nhiều tài liệu. Đơn vị tôi công tác đã tạo mọi thuận lợi cho tôi, cung cấp cho tôi nhiều tài liệu văn sử quý báu. Được sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn ngoài ngành, tôi được đọc nhiều tài liệu quý báu ở các thư viện, các ngành lưu trữ, có được nhiều tài liệu điều tra chuyên môn. Có tài liệu do các bạn không quen biết sao chép từng câu từng chữ trong những nguyên bản quý báu gửi cho tôi. Có những tài liệu do những đồng chí ở ngành xuất bản đến nơi xa điều tra xác thực để gửi cho tôi. Có tài liệu do mấy cụ già, ghi lại hồi ức chứng kiến tận mắt của mình. Có nhiều tài liệu quý hiếm do ngành lưu trữ thư viện cung cấp. Đặc biệt phải nói tới các đồng chí ở nhà lưu trữ quốc gia, Nhà bảo tàng lịch sử, Thư viện Bắc Kinh và thư viện thủ đô đã đặc biệt tìm mọi cách sưu tầm, tập hợp giúp tôi. Tôi cảm thấy rất áy náy về sự quan tâm và giúp đỡ đó, thực ra ở đất nước chúng tôi điều này từ lâu đã là hiện tượng bình thường.
            Ở đất nước tôi chỉ cần làm việc có ích cho nhân dân, chỉ cần tuyên dương chân lý sẽ được khắp nơi quan tâm giúp đỡ chẳng cần phải nói Đảng và Nhà nước.
            Tác phẩm tôi viết cũng gây hứng thú đối với nhiều bè bạn nước ngoài. Đã có nhiều nhà báo nước ngoài, khách nước ngoài phỏng vấn tôi, hỏi về quá trình nửa đời trước của tôi, đặc biệt chú ý tìm hiểu tình hình mười năm cải tạo của tôi. Một vị khách Châu Á nói: “Mong rằng sau khi sách xuất bản , ông gửi cho một cuốn, tôi sẽ dịch ra tiếng nước tôi để nhân dân nước tôi thấy được kỳ tích này”. (69)
            Năm 1962, chúng tôi giành được thành tựu rực rỡ trong cuộc đấu tranh gian khổ đối với những khó khăn ở trong nước và ngoài nước. Đối với tôi năm đó có càng nhiều việc vui mừng tới cửa. Tháng 4, tôi được mời dự Uỷ ban chính trị hiệp thương nhân dân toàn quốc và được nghe báo cáo của đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc về công cuộc xây dựng đất nước. Ngày 1/5, tôi cùng Lý Thục Hiền vợ tôi xây dựng gia đình nhỏ của chúng tôi. Đây là một gia đình bình thường mà trái lại là thật sự khác thường đối với tôi.
             Đây là một chương mới của đời tôi. Cuộc sống mới của tôi bắt đầu như vậy. Nhìn vào nhà tôi, vào thẻ cử tri của tôi, đứng trước tương lai vô cùng rộng mở, tôi mãi mãi không bao giờ quên cuộc sống mới đã giành được như thế nào. Ở đây tôi cần bổ sung một đoạn: về những chuyện về chính sách vĩ đại cải tạo tội phạm, mang lại cuộc sống mới cho tôi, dùng lời cháu Thụy: “không viết vào cuốn sách là không được”.
            Tôi đang đứng trên sườn đồi Hương Sơn nhìn về phía Bắc Kinh đang tắm mình trong ánh nắng mặt trời, lòng nhớ lại những biến cố này đến sự việc nọ trong mười năm qua. Tôi nhớ lại ông trưởng trại đầu bạc, phó trưởng trại trẻ giọng nói trong trẻo, tôi nhớ những nhân viên coi giữ, mỗi bác sĩ, y tá, mỗi nhân viên của trại. Khi tôi lừa dối họ, khi tôi tìm mọi cách đáng xấu hổ để chống lại họ, khi tôi hoàn toàn bộc lộ mình ngu xuẩn chẳng biết gì, chẳng có tài cán gì, khi tôi tự cảm thấy tuyệt vọng tột độ, không thể sống được nữa thì họ, những người cộng sản ấy trước sau kiên định rằng ai có thể cải tạo được kiên nhẫn hướng dẫn tôi lại làm người.
            “Người”, đó là chữ đầu tiên tôi nhận biết được trong cuốn sách “Tam tự kinh” vỡ lòng. Tuy nhiên trong nửa đời trước của tôi, tôi luôn luôn không hiểu nó. Có người cộng sản, có chính sách cải tạo tội phạm, ngày nay tôi mới hiểu rõ ý nghĩa sâu xa của từ trang nghiêm này, mới thật sự làm người.
 
Lê Tư Vinh dịch
 
 
-------------------------------------------------------------
(68) Phổ Nghi có 3 em trai và 7 em gái (ND)
(69) Là người dịch hiện nay.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.03.2022 16:20:41 bởi hoi_ls>
PHỤ LỤC
GẶP GỠ HOÀNG ĐẾ CUỐI CÙNG  

            Đầu xuân năm 1962, tôi có may mắn với tư cách nhà báo đến phỏng vấn và trò chuyện với Phổ Nghi, hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, trong liền ba giờ đồng hồ. Đọc lại những trang nhật ký tôi ghi lại nội dung cuộc gặp gỡ, hình ảnh ông vua cuối cùng của nhà Thanh lại hiện lên rõ rệt trong tôi. Tôi ghi lại nội dung cuộc gặp gỡ để kết thúc bản dịch cuốn hồi ký.
            Ông Phổ Nghi tiếp tôi tại phòng khách căn nhà ông đang ở gần trụ sở của Ủy ban chính trị hiệp thương Trung Quốc. Đây là căn nhà cổ, một tầng, tường gạch, mái ngói, có nhiều buồng bài trí giản dị, ngăn nắp. Trên tường phòng khách treo hai bức liễn in hai bài tứ của chủ tịch Mao Trạch Đông. Trên bàn tiếp khách có lê, táo, kẹo ngon, trà Long Tỉnh, thuốc lá Trung Hoa bài, chứng tỏ mức sống khá của chủ nhân.
             Năm đó, ông Phổ Nghi đã 56 tuổi, dáng người tầm thước, mắt đeo kính cận như hình ảnh nhân vật Phổ Nghi trong hồi cuối của cuốn phim. Ông nói chuyện với tôi khá thoải mái, cởi mở, mặc dù khi đó, ông rất ít tiếp xúc với các nhà báo nước ngoài. Tôi đề nghị ông nói về cuộc sống của ông từ sau khi về Bắc Kinh. Ông vui vẻ nói:
            - Chắc bạn đã hiểu rõ lịch sử của tôi. Tôi đang chuẩn bị để viết một cuốn sách nói về cuộc đời của tôi từ lúc nhỏ tới khi được trở thành một công dân của nước Trung Hoa mới nhằm giúp cho các bạn trẻ hiểu về những sự xấu xa, thối nát của chế độ phong kiến xưa kia.  
            Đất nước vĩ đại của chúng tôi đang có sự thay đổi long trời lở đất. Nhân dân Trung Quốc đã đứng lên đập tan xiềng xích nô lệ, làm chủ vận mệnh của mình, xây dựng chủ nghĩa xã hội với tốc độ cực kỳ nhanh chóng... Nói về cá nhân tôi trước kia tôi đã làm tay sai của chủ nghĩa đế quốc và là kẻ thù của nhân dân Trung Quốc. Tôi đã từng giúp đế quốc đàn áp nhân dân và đã mang lại cho nhân dân nước tôi biết bao tai hoạ. Nhưng từ khi Trung Quốc được giải phóng, có nhiều người lẽ ra không thể nào tha thứ được cũng đã được hưởng chính sách khoan hồng và được cải tạo. Qua học tập cải tạo, tư tưởng tôi dần dần thay đổi. Việc cải tạo thực ra không phải đơn giản mà là một quá trình gay go, gian khổ, chủ yếu là phải đấu tranh với lập trường của giai cấp cũ của mình. Trước kia, lập trường của tôi là lập trường của giai cấp bóc lột, thống trị nay là lập trường của nhân dân, đó là sự thay đổi rất lớn về nhân sinh quan.
            Ông cảm động nói tiếp:
            - Qua học tập cải tạo, Phổ Nghi cũ của nhà Thanh đã chết rồi. Phổ Nghi ngày nay là Phổ Nghi mới. Từ một hoàng đế của nhà Thanh và là tay sai của đế quốc, ngày nay tôi đã trở thành một công dân của nước Trung Hoa mới, tôi nghĩ đây là việc chưa từng có trong lịch sử xưa nay. Năm nay tôi đã 56 tuổi nhưng tự thấy mình trẻ lại. Tôi đang công tác ở Ban Văn sử thuộc ủy ban chính trị hiệp thương toàn quốc. Cuộc đời của tôi từ nay về sau sẽ hoàn toàn phục vụ cho tổ quốc để chuộc lại những lỗi lầm xưa. Không riêng tôi, nhiều bạn cũ của tôi trước kia vốn có tội với tổ quốc với nhân dân nhưng được sự giáo dục của Đảng cộng sản và nhà nước Trung Quốc nay cũng trở thành những người công dân lao động. Em trai tôi là Phổ Kiệt nay cũng được ân xá về làm việc ở Ban Văn sử.
            Trả lời câu hỏi về tình hình gia đình riêng, đôi má đã mang những nếp nhăn thời gian của  Phổ Nghi bỗng ửng đỏ:
            - Ngày mùng 1 tháng 5 vừa qua, tôi mới kết hôn. Đây là một cuộc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Khác hẳn với thời xưa. Vợ tôi là Lý Thục Hiền, làm y tá ở một bệnh viện. Chúng tôi sống rất hạnh phúc, ban ngày đi làm, tối về  đoàn tụ gia đình. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới hiểu rõ thế nào là hạnh phúc gia đình.
            Nét mặt trầm tư trở lại, ông nói về bản than mình:
            - Trước kia, là Hoàng đế nhưng thật ra tôi không hề có tự do. Khi tôi lên ba tuổi, Tây thái  hậu đưa tôi lên làm vua. Bạn thử tưởng tượng xem đứa bé lên ba thì còn biết gì. Khi đó tôi giống như cây hoa dại được đặt trong một tủ kính và hàng ngày được tiêm mọi chất nuôi dưỡng. Cây hoa dại cũng lớn lên nhưng mang đầy chất độc, nó mềm yếu và không thể chịu nổi bão táp phong ba. Chính vì đắm chìm trong cảnh tù túng như vậy nên trước kia không những tư tưởng tôi xấu xa mà thể xác tôi hèn yếu.
            Từ khi được ân xá, trở thành một công dân đến nay, tư tưởng tôi được giải phóng, thân thể tôi cũng khoẻ ra. Trước kia tôi ăn kém, ngủ kém, nay ăn ngon, ngủ ngon. Tôi sung sướng cảm thấy mình hoàn toàn được tự do. Trước kia, tôi chỉ quanh quẩn trong Tử Cấm Thành, mỗi khi đi đâu thì có hàng đoàn thái giám vây quanh, tiền hô hậu hét rất khó chịu. Nay tôi có thể một mình đạp xe đạp đi trên quảng trường Thiên An Môn, đi khắp Bắc Kinh, rất thoải mái, tự do.
            Trả lời câu hỏi về cảm tưởng của ông đối với mùa xuân mới, ông phấn chấn hẳn lên:
            - Tôi đã được hưởng mấy mùa xuân mới. Mỗi độ xuân về là dịp anh em, họ hàng chúng tôi đoàn tụ, hàn huyên. Chúng tôi mới có cuộc họp mặt gia đình anh em, con cháu, ba thế hệ rất đông để chúc mừng năm mới.
            Ông đưa cho tôi xem tập an bom của gia đình, giới thiệu tấm ảnh “ba đời xum họp” tại nhà Tải Đào mừng tết năm 1961, tôi đếm tổng cộng là 32 người, ai cũng tươi cười vui vẻ. Ông còn thích thú giới  thiệu với tôi một số tấm ảnh khác như tấm ảnh ông và Lý Thục Hiền tươi cười trong lễ kết hôn tại Bắc Kinh, ảnh các vị lãnh đạo Trung Quốc như Chu Ân Lai, Trần Nghị... đến thăm gia đình ông...
            Mến mộ Phổ Nghi nổi tiếng viết chữ đẹp, trước khi từ biệt tôi dưa cuốn sổ tay đề nghị ông ghi mấy chữ lưu niệm. Ông nắn nót ghi mấy chữ: “Ái Tân Giác La Phổ Nghi”, nét chữ chân phương thanh thoát.
            Từ sau cuộc gặp gỡ, tôi không có dịp nào gặp lại ông Phổ Nghi nhưng có ý chờ đón cuốn sách mà ông đang viết. Tháng 3 năm 1964, đọc báo Trung Quốc đưa tin cuốn hồi ký “Nửa đời trước của tôi” do nhà xuất bản Quần chúng Bắc Kinh ấn hành đã được bán ở các hiệu sách. Tôi lập tức đánh xe lên phố tìm mua. Rất tiếc là các hiệu sách lớn ở Vương Phủ Tỉnh, Tiền Môn, Tây Đam... đều trả lời: sách đã bán hết trong một ngày. Tôi đành phải đánh xe về toà soạn Nhân dân nhật báo nhờ mua giúp. Các bạn đồng nghiệp ở đây cũng cho biết là sách đã hết từ hôm trước. Thấy vẻ tần ngần của tôi, các đồng chí trong toà soạn đã quyết định lấy một cuốn trong thư viện tặng tôi. Tôi giữ gìn cuốn sách trong hơn ba mươi năm qua và ngày nay có dịp dịch giới thiệu với bạn đọc.
            Sau khi Trung Quốc nổ ra cuộc đại cách mạng văn hoá, tôi chú ý tìm xem trên đường phố, trên các báo của Hồng Vệ binh có bài phê phán Phổ Nghi hay không nhưng không hề thấy. Khoảng giữa năm 1967, các báo hàng ngày ở Bắc Kinh đưa một tin ngắn ở trang tư về ông Phổ Nghi đã qua đời tại một bệnh viện ở Bắc Kinh. Tìm hiểu thêm về những ngày cuối đời của ông, tôi chỉ biết rằng Phổ Nghi chết vì bệnh già như một người dân thường ở Bắc Kinh.
 
Lê Tư Vinh
 
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
Hết
Đăng nhập để trả lời
0