📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lược Sử Máy Kéo Bằng Tiếng Ukraina 🔒

32 trả lời, 64 lượt xem — Trang 1 / 2
Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina
Tác giả Marina Lewycka
Dịch giả Hồ Thanh Ái
Phát hành Nhã Nam
Nhà xuất bản Lao Động
 
Dành tặng Dave và Sonia
 

Lời cảm tạ

Rất nhiều người đã góp phần làm nên quyển sách này. Trước tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình và bạn bè, vì lòng kiên nhẫn, sự ủng hộ và những lời góp ý quý báu của họ. Tôi đặc biệt cảm ơn Sarah White, Tessa Perkins và Lesley Glaister cùng Chris và Alison Tyldesley vì đã giúp đỡ tôi về mặt lịch sử, câu cú, và nếu không có họ thì con mèo của tôi có lẽ đã chết vì bị bỏ mặc rồi. Tôi cũng rất biết ơn Eveline và Patrick Lessware, tôi đã viết bốn chương cuối cùng của quyển sách này trong ngôi nhà xinh xắn của họ ở Totnes. Tôi chân thành cảm ơn Bill Hamilton vì lòng hào hiệp và những lời khuyên quý báu của ông, cảm ơn Livi Michael, Jane Rogers, Juliet Annan và Scott Moyers vì những lời góp ý chân tình trên bản thảo. Cũng xin cảm ơn mọi người ở nhà xuất bản Viking, Penguin và A. M. Heath đã hợp tác hết sức ăn ý. Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến nhiều tác giả, phần lớn là vô danh, những bài viết của họ trên Internet về lịch sử máy kéo và ngành hàng không đã cho tôi cảm hứng viết nên quyển sách này. Danh sách những người tôi đặc biệt mang ơn được ghi rõ ở cuối sách.


0

1.
Hai cú điện thoại và một đám tang

Hai năm sau khi mẹ tôi mất, cha tôi đem lòng yêu một cô ả Ukraina tóc vàng quyến rũ đã ly dị chồng. Ông tám mươi tư còn ả ba mươi sáu. Ả ta sấn sổ vào cuộc đời chúng tôi cứ như là một quả lựu đạn bọc bông màu hồng, khuấy đảo mặt nước âm u, khiến cho đám cặn ký ức bị vứt bỏ lại nổi lên, đá một cú mạnh vào mông của những bóng ma gia đình.
Mọi chuyện bắt đầu từ một cú điện thoại.
Giọng cha tôi run run vì phấn khích lách tách vang lên trong ống nghe. ‘Có tin mừng này, Nadezhda. Ba sắp lập gia đình!’ Tôi nhớ lại lúc đó máu mình đổ dồn lên đầu. Lạy trời cho đó chỉ là một lời nói đùa! Ôi chao, ông bị mát dây rồi! Ôi chao, ông già ngu ngốc! Nhưng tôi chẳng hề nói những lời này ra miệng. ‘Ô, hay đấy, ba ạ’ tôi nói.
‘Đúng, đúng vậy. Nàng và con trai từ Ukraina đến. Tỉnh Ternopil ở Ukraina.’
Ukraina: ông thở dài, hít sâu hương cỏ khô và hoa anh đào trong ký ức. Nhưng tôi ngờ rằng đó chỉ là mùi xì gà dỏm của nước Nga mới.
Tên nàng là Valentina, ông kể với tôi. Nhưng nàng hợp với tên Venus hơn. ‘Nàng Venus của Botticelli nhô lên từ sóng biển. Tóc vàng óng. Mắt lấp lánh. Ngực căng phồng. Khi con gặp nàng con sẽ hiểu’ Con người chín chắn trong tôi thấy thông cảm với ông. Đóa hoa tình yêu cuối cùng nở muộn thật ngọt ngào làm sao. Nhưng đứa con gái trong tôi thì nổi điên lên. Tên phản bội! Đồ già dê mắc dịch! Mẹ chúng tôi mới mất có hai năm thôi mà. Tôi vừa giận dữ vừa tò mò. Tôi háo hức muốn gặp cô ả, người đàn bà tiếm ngôi của mẹ tôi.
‘Nghe có vẻ cô ấy tuyệt vời quá. Khi nào con có thể gặp cô ấy?’
‘Sau đám cưới.’
‘Con nghĩ bọn con nên gặp cô ấy trước mới phải chứ?’
‘Con gặp làm gì? Con có cưới nàng đâu?’ (Ông biết như vậy không phải lắm nhưng vẫn cố lẩn tránh.)
‘Nhưng ba à, ba đã nghĩ kỹ chưa? Mọi chuyện có phần đột ngột quá. Ý con là cô ấy nhất định trẻ hơn ba rất nhiều.’
Tôi cố giữ giọng bình tĩnh, giấu đi mọi dấu hiệu bất bình, cứ như một người lớn sành sỏi chuyện đòi cư xử với một gã trẻ tuổi si tình.
‘Ba mươi sáu. Nàng ba mươi sáu, ba thì tám mươi tư. Thế thì sao chứ?’ (Ông phát âm ‘sao’ thành ‘xao’.)
Ông độp lại ngay, xem ra ông đã dự đoán trước câu hỏi này.
‘À, tuổi tác chênh lệch khá nhiều đó...’
‘Nadezhda, ba không ngờ con lại bảo thủ đến thế’ (Ông nhấn mạnh từ ‘bảo thủ’ - ôi trời đất ơi!)
‘Không, không.’ Ông buộc tôi phải co vòi lại. ‘Chỉ là... có thể có vài vấn đề.’
Sẽ không có vấn đề gì ở đây cả, ba tôi nói. Ông đã lường trước mọi thứ rồi. Ông biết nàng được khoảng ba tháng. Nàng có một ông cậu ở Selby và đã đến thăm ông ta bằng thị thực du lịch. Nàng muốn xây dựng cuộc đời mới cho mình và con trai ở phương Tây, một cuộc đời tươi đẹp, việc làm tốt, tiền bạc dư dả, xe cộ hào nhoáng - tuyệt đối không chấp nhận xe Lada hay Skoda - chỗ học hành tốt cho con trai, ít nhất phải là trường Oxford hay Cambridge. Nhân tiện phải nói luôn nàng là một phụ nữ có học. Có bằng dược sĩ. Nàng sẽ dễ dàng tìm được việc làm tốt ở đây, một khi học xong tiếng Anh. Trong thời gian chờ đợi, ông sẽ giúp nàng tiếng Anh, nàng thì sẽ lau nhà và chăm sóc cho ông. Nàng ngồi lên đùi ông và cho phép ông mân mê bầu ngực của mình. Hai người sẽ sống hạnh phúc bên nhau.
Tôi có nghe lầm không? Cô ả ngồi trên đùi ba tôi và ông mân mê bộ ngực kiểu Botticelli vĩ đại của cô ả?
‘À, ừ...’ Tôi giữ giọng bình tĩnh nhưng cơn giận đã bùng lên trong tim, ‘... cuộc đời này tràn đầy những chuyện bất ngờ. Con mong mọi chuyện sẽ tốt đẹp với ba. Nhưng nghe này, ba’ (đã đến lúc phải nói huỵch toẹt ra) ‘con hiểu vì sao ba muốn cưới cô ấy. Nhưng ba có bao giờ tự hỏi vì sao cô ấy muốn cưới ba không?’
Tak tak. Ừ, ba biết chứ. Hộ chiếu. Thị thực. Giấy phép lao động. Thế thì xao nào?’ Giọng ông cáu gắt, bực tức.
Ông đã liệu trước mọi thứ. Nàng sẽ chăm sóc ông khi ông già yếu đi. Ông sẽ cho nàng một mái nhà, chia sẻ khoản lương hưu ít ỏi cho đến khi nàng tìm được một công việc đáng tiền. Con trai nàng, một cậu bé cực kỳ thông minh, một thiên tài, biết chơi dương cầm, sẽ được hưởng nền giáo dục Anh quốc. Họ sẽ trò chuyện về nghệ thuật, văn chương, triết học vào buổi tối. Nàng là một phụ nữ có giáo dục chứ không phải là một ả nông dân lắp bắp. Cũng phải nói luôn, ông đã dò hỏi quan điểm của nàng về Nietzsche
và Schopenhauer[link=#id2]*[/link] và nàng hoàn toàn đồng ý với ông. Cũng như ông, nàng ngưỡng mộ chủ nghĩa kết cấu và kinh tởm chủ nghĩa tân cổ điển. Họ có rất nhiều điểm chung. Một nền tảng hôn nhân vững chắc.
‘Nhưng ba à, ba không nghĩ cô ấy lấy một người gần tuổi với mình thì sẽ tốt hơn sao? Chính quyền sẽ nhận ra đây là một cuộc hôn nhân giả hiệu. Họ không có ngu đâu’ ‘Hừm’
‘Cô ấy vẫn có thể bị gửi trả về.’
‘Hừm’
Ông chưa lường tới chuyện này. Nó làm ông lọng cọng một chút nhưng không thể cản ông lại được. Con biết đấy, ông giải thích, ông là niềm hy vọng cuối cùng của nàng, cơ hội duy nhất giúp nàng thoát khỏi tình trạng bị ngược đãi, cảnh nghèo túng, con đường bán thân nuôi miệng. Cuộc sống ở Ukraina quá cực nhọc cho một tâm hồn nhạy cảm như nàng. Ông thường hay đọc báo, và tin tức khá ảm đạm. Không có bánh mì, giấy vệ sinh, đường, không hệ thống thoát nước, cuộc sống bon chen, điện đóm chập chờn. Làm sao ông có thể để một người phụ nữ đáng yêu chịu cảnh sống đó được? Làm sao ông có thể ngoảnh mặt làm ngơ?
‘Con phải hiểu, Nadezhda, chỉ có ba mới giúp được cô ấy!’
Đúng vậy. Ông đã thử. Ông đã hết sức cố gắng. Trước khi quyết định cưới cô ta, ông đã tìm kiếm những người chồng hợp cách. Ông đã đến gặp gia đình Stepanenko, một cặp vợ chồng già người Ukraina đang sống chung với đứa con trai còn độc thân. Ông đã nói chuyện với ông Greenway, một người đàn ông góa vợ sống ở quê, ông này có đứa con trai chưa vợ thỉnh thoảng về thăm. (Hợp lý đây. Một kỹ sư. Không phải loại tầm tầm. Là một đám rất tốt cho Valentina.) Bọn họ đều từ chối cả: họ hẹp lượng quá thể. Ông đã nói thẳng vào mặt họ như vậy. Giờ thì gia đình Stepanenko và ông Greemvay chẳng ai thèm nói chuyện với ông nữa.
Cộng đồng Ukraina ở Peterborough cũng chối bỏ cô ấy. Bọn họ đúng là thiển cận. Bọn họ không bị ấn tượng trước quan điểm của cô ấy về Nietzsche và Schopenhauer. Bọn họ chỉ quan tâm đến quá khứ, chủ nghĩa dân tộc Ukraina, Banderivtsi. Cô ấy là một phụ nữ hiện đại phóng khoáng. Nhưng bọn họ đơm đặt những lời đồn kinh khủng về cô ấy. Bọn họ nói cô ấy bán dê và bò của mẹ để lấy tiền chăm chút nhan sắc nhằm quyến rũ đàn ông phương Tây. Bọn họ nói toàn thứ nhảm nhí. Mẹ cô ấy chỉ nuôi gà lợn chứ nào có dê hay bò. Chỉ nhiêu đó thôi cũng thấy rõ những kẻ ngồi lê ngu ngốc ra sao.
Ông ho sù sụ ở đầu dây bên kia. Ông bị bạn bè xa lánh vì chuyện này. Nếu cần thì ông cũng sẽ từ luôn đám con gái. Ông sẽ một mình chống lại cả thế giới, chỉ với người đàn bà xinh đẹp đứng bên cạnh. Lưỡi của ông không theo kịp sự hứng khởi của Ý Tưởng Lớn đó.
‘Nhưng ba à...’
‘Còn chuyện này nữa, Nadia. Đừng nói cho Vera biết.’
Chẳng có cơ đâu. Tôi đã không nói chuyện với bà chị gái hai năm rồi, kể từ trận tranh cãi nảy lửa sau đám tang của mẹ.
‘Nhưng ba à...’
‘Nadezhda, con phải hiểu đàn ông đôi khi có những cơn bốc đồng khác hẳn với phụ nữ’
‘Ba à, làm ơn đừng phân tích sinh học với con.’
Ô, cần quái gì? Cứ để ông ấy nếm mùi đau khổ.
○○○
Có lẽ câu chuyện bắt đầu từ trước cú điện thoại này. Có lẽ nó bắt đầu từ hai năm trước, trong chính căn phòng ông đang ngồi, nơi mẹ tôi nằm hấp hối và ông đi loanh quanh khắp nhà trong nỗi đau khổ vô biên.
Tất cả cửa sổ mở toang, làn gió luồn qua tấm màn vải lanh khép hờ mang lại mùi oải hương từ khu vườn phía trước. Tiếng chim hót, tiếng người đi lại trên đường, cô con gái nhà hàng xóm làm màu với cậu bạn trai trước cửa. Trong căn phòng nhợt nhạt tinh tươm, mẹ tôi hổn hển thở hắt hết giờ này sang giờ khác, sự sống trong bà cứ mất dần, còn tôi thì đút morphine cho bà bằng muỗng.
Cái chết khoác bộ đồng phục cao su: găng tay y tá bằng latex, tấm ga trải giường không thấm nước, đôi dép xốp, một hộp thuốc glycerine đặt hậu môn lấp lánh như những viên đạn bằng vàng, ghế tiểu tiện với nắp đậy và chân bọc cao su lúc này chứa đầy chất lỏng còn cợn xanh lè.
‘Mẹ có nhớ...?’ Tôi lặp đi lặp lại những câu chuyện về bà và thời ấu thơ của chúng tôi hết lần này đến lần khác.
Đôi mắt mờ đục của bà chớp chớp. Trong một giây phút tỉnh táo, bàn tay bà nằm trong tay tôi, bà nói, ‘Hãy chăm sóc cho Kolya tội nghiệp’
Ba ở bên mẹ khi bà mất trong đêm. Tôi còn nhớ ông đã gào lên đau khổ. ‘Bắt tôi đi, bắt tôi theo cùng!’ Giọng ông khàn khàn nghẹn ngào, chân tay cứng đờ như bị động kinh.
Vào buổi sáng, sau khi họ đưa thi thể của mẹ đi, ông ngồi ở căn phòng phía sau, vẻ mặt đau xót. Một lúc sau ông nói, ‘Con có biết không, Nadezhda, ngoài phương pháp chứng minh bằng đại số, định lý Pythagore còn có cách chứng minh bằng hình học nữa. Nhìn xem nó đẹp chưa này.’
Trên một tờ giấy, ông vẽ các đường thẳng và các góc, biểu trưng bởi các ký hiệu nhỏ, rồi lẩm bẩm trong lúc giải phương trình.
Ba hoàn toàn mất trí rồi, tôi nghi. Kolya tội nghiệp.
○○○
Mấy tuần trước khi mất, mẹ tôi nửa nằm nửa ngồi dựa vào chiếc gối trên giường bệnh, lòng lo lắng không yên. Đám dây nhợ lằng nhằng nối liền mẹ với chiếc máy ghi lại từng nhịp đập yếu ớt của trái tim. Mẹ cằn nhằn luôn miệng về phòng bệnh chung - giường này giường nọ chỉ cách nhau bởi một tấm màn khép vội, về tiếng hắt hơi, tiếng ho, tiếng ngáy đầy khó chịu của mấy ông già. Mẹ co rúm trước bàn tay mập mạp lạnh lùng của nam y tá trẻ. Anh ta đến cắm dây truyền phía trên bầu ngực dúm dó bất cẩn hở ra dưới tấm áo choàng bệnh viện. Mẹ chỉ là một bà già bệnh tật. Ai thèm để ý đến những cảm nhận của mẹ chứ?
Rời bỏ cuộc đời không dễ chút nào, mẹ nói. Quá nhiều chuyện phải lo trước khi có thể an tâm rời đi. Kolya, ai sẽ chăm sóc cho ông ấy? Chắc không phải là hai cô con gái rồi, chúng lanh lẹ đấy nhưng hay gắt gỏng quá. Chuyện gì sẽ xảy ra cho chúng? Chúng có tìm được hạnh phúc không? Hai tên đàn ông dễ thương nhưng vô dụng mà chúng lấy liệu có chăm sóc chúng đàng hoàng không? Rồi ba cô cháu ngoại nữa, thật xinh đẹp mà vẫn chưa chồng. Còn quá nhiều thứ để lo mà sức khỏe của mẹ lại đang dần yếu đi.
Mẹ viết di chúc trong bệnh viện, chị Vera và tôi đều đứng ngay tại đó vì chẳng ai tin tưởng người kia cả. Mẹ tự tay viết những dòng di chúc xiêu vẹo, có hai y tá làm nhân chứng. Giờ bà yếu lắm nhưng bao nhiêu năm qua bà đã rất mạnh khỏe. Bà già ốm yếu bệnh tật nhưng di sản - số tiền tiết kiệm cả đời bà - vẫn đang sinh sôi trong ngân hàng Co-op.
Một điều mẹ cương quyết: di sản không thể giao cho ba được.
‘Nikolai đáng thương, ông ấy không minh mẫn đâu. Đầu óc ông ấy chỉ toàn những kế hoạch quái dị. Tốt hơn là hai con chia đôi, mỗi người một nửa’
Bà nói chuyện bằng tiếng Anh bồi, pha lẫn vài từ Ukraina.
Khi rõ ràng là bệnh viện chẳng thể làm gì hơn, họ cho bà về nhà để bà chết yên ổn bên cạnh người thân. Chị tôi ở cạnh bà trong suốt tháng cuối cùng. Tôi thì thường đến thăm vào cuối tuần. Trong tháng cuối cùng đó, khi tôi không có mặt, chị tôi đã viết thêm khoản phụ lục di chúc, chia đều di sản giữa ba cô cháu ngoại, Anna của tôi và hai đứa con gái Alice, Alexandra của chị ta, thay vì chia đôi giữa hai chị em. Mẹ tôi đã ký tên, hai người hàng xóm làm chứng.
‘Mẹ đừng lo’ tôi nói với mẹ trước khi bà mất, ‘mọi chuyện sẽ ổn thôi. Chúng con sẽ buồn, sẽ nhớ mẹ, nhưng chúng con sẽ thu xếp được’
Thực tế là chúng tôi chẳng ổn chút nào.
Mẹ được chôn ở nghĩa trang nhà thờ trong làng, trên một khoảnh đất mới nhìn ra đồng quê thoáng đãng. Mộ của bà nằm ở cuối một dãy mộ mới tinh.
Ba đứa cháu ngoại, Alice, Alexandra và Anna, dong dỏng cao và tóc vàng, ném hoa hồng vào huyệt, tiếp theo đó là những nắm đất. Nikolai, gập người vì bệnh thấp khớp, nước da xám xịt, đôi mắt vô hồn, bám chặt vào tay chồng tôi trong nỗi đau khổ không thể bật ra thành nước mắt. Hai đứa con gái, Vera và Nadezhda, Niềm tin và Hy vọng, chị tôi và tôi, đã sẵn sàng đánh nhau vì di chúc của mẹ.
Khi khách dự tang lễ quay trở về nhà, ăn đồ nguội và say xỉn với rượu samo-hơnka của Ukraina, chị tôi và tôi tranh cãi trong phòng bếp. Chị đang mặc bộ đồ lụa đen mua từ một tiệm chuyên bán quần áo cũ bé tẹo nằm trong góc khuất ở Kensington. Trên giày chị có mấy cái khoen vàng, tay chị cầm cái túi Gucci có khóa vàng và trên cổ đeo một sợi dây chuyền vàng mảnh. Tôi thì mặc một bộ đồ màu đen mua ở Oxfam.[link=#id3]*[/link] Vera hết nhìn lên rồi lại nhìn xuống tỏ vẻ chê bai.
‘À, bộ dạng nông dân. Tôi thấy rồi’
Tôi bốn mươi bảy tuổi và là giảng viên đại học, nhưng giọng điệu của bà chị gái bỗng chốc biến tôi trở thành một đứa nhóc bốn tuổi thò lò mũi xanh.
‘Nông dân thì có sao. Mẹ cũng là nông dân đấy’ đứa nhóc bốn tuổi phản pháo.
‘Cũng gần thế’ bà chị lớn nói. Chị châm một điếu thuốc. Khói thuốc bay lên cao lượn vòng điệu nghệ.
Chị cúi về phía trước để cất bật lửa vào chiếc túi Gucci, và tôi nhìn thấy sợi dây chuyền vàng của chị có gắn một trái tim nhỏ lồng ảnh, lấp ló trong ve áo. Trông nó lỗi mốt và chẳng hợp chút nào với bộ đồ thời trang của Vera. Tôi nhìn nó chằm chằm. Mắt ngấn nước.
‘Chị đang đeo mặt dây chuyền của mẹ.’
Đó là của quý duy nhất mẹ mang đi từ Ukraina, đủ nhỏ để có thể giấu trong viền váy. Đó là món quà ông ngoại tặng cho bà ngoại trong ngày cưới. Bên trong trái tim, hai bức ảnh của ông bà tôi nhoẻn miệng cười nhìn nhau.
Vera nhìn thẳng vào mắt tôi.
‘Mẹ cho tôi đó.’ (Tôi không thể tin được điều này. Mẹ biết tôi yêu mặt dây chuyền này, biết tôi mong có được nó hơn hẳn mọi thứ khác. Nhất định Vera đã lấy trộm nó. Không có cách giải thích nào khác.) ‘Bây giờ, cô muốn nói gì về di chúc nào?’
‘Em chỉ muốn công bằng thôi’ tôi rên rỉ. ‘Có gì sai chứ?’
‘Nadezhda, cô mua quần áo từ Oxfam cũng quá đủ rồi. Cô còn phải nghĩ đến cả chuyện đó nữa sao?’
‘Chị đã lấy mặt dây chuyền. Chị ép mẹ ký vào khoản phụ lục di chúc. Chia đều số tiền cho ba cháu ngoại thay vì giữa hai con gái. Như vậy, chị và gia đình kiếm được nhiều gấp đôi. Đồ tham lam.’
‘Hết chỗ nói, Nadezhda. Tôi thật sốc khi cô nghĩ như vậy.’ Đôi lông mày tỉa tót của bà chị lớn run run.
‘Cũng chưa sốc bằng em khi em biết rõ sự thật đâu’ con nhóc thò lò mũi xanh kêu lên be be.
‘Cô không có mặt ở đó, phải không, cô em bé bỏng của tôi? Cô đi làm công việc tuyệt vời của mình. Cứu vớt thế giới. Theo đuổi sự nghiệp. Để mặc mọi trách nhiệm lại cho tôi. Cô vẫn luôn làm như thế’
‘Chị hành hạ những ngày cuối cùng của mẹ bằng câu chuyện về vụ ly dị, về sự tàn nhẫn của chồng chị. Chị đốt hết điếu này đến điếu khác bên giường bệnh của mẹ trong khi mẹ đang hấp hối’
Bà Chị Lớn búng tay gạt tàn thuốc rồi thở dài điệu bộ.
‘Cô thấy đấy, vấn đề của thế hệ các cô, Nadezhda, là cô chỉ đi lướt qua mặt ngoài cuộc sống thôi. Hòa bình. Tình yêu. Người lao động cầm quyền. Đó chỉ là những lý tưởng nhảm nhí. Cô phải gánh lấy sự xa xỉ của thói vô trách nhiệm, bởi vì cô chưa bao giờ nhìn thấy mặt đen tối của cuộc đời.’
Vì sao cái giọng ngân nga dạy đời của bà chị làm tôi nổi điên đến thế? Vì tôi biết đó là giả dối. Tôi biết cái giường đơn chúng tôi cùng nhau ngủ, biết cái nhà vệ sinh ở phía bên kia sân và chồng báo cũ chùi đít. Chị ta không thể qua mặt tôi. Nhưng tôi cũng có cách châm chích lại chị ta.
‘Ô, mặt đen tối của cuộc đời làm chị băn khoăn sao? Hay là chị đi xin tư vấn đi?’ Tôi ranh mãnh đề nghị bằng giọng điệu thành thạo hãy-biết-điều-với-nhau-đi, giọng điệu hãy-xem-tôi-người-lớn-thế-nào-này, giọng điệu tôi thường dùng với ba.
‘Làm ơn đừng nói theo kiểu của nhân-viên-xã-hội nữa, Nadezhda.’
‘Điều trị tâm lý đi. Thấu hiểu mặt đen tối, rồi tống nó ra ngoài, trước khi nó ăn mòn chị.’ (Tôi biết nói vậy sẽ làm cho chị ta nổi điên.)
‘Tư vấn. Trị liệu. Hãy nói ra mọi khó khăn của chúng ta. Hãy ôm lấy nhau để cảm thấy dễ chịu hơn. Hãy giúp đỡ những người kém may mắn. Hãy tặng hết số tiền chúng ta có cho những đứa nhỏ đói khát.’
Chị ta cắn mạnh vào miếng bánh. Một trái ô liu bắn vọt xuống sàn.
‘Vera, chị vừa ly dị, lại mất mẹ. Đương nhiên là chị cảm thấy căng thẳng rồi. Chị cần được giúp đỡ’
‘Đó chỉ là trò tự dối mình. Đằng sau tấm rèm, con người ai cũng nhỏ nhen, ích kỷ, chỉ biết vun vén cho bản thân. Cô không biết tôi khinh bỉ đám nhân viên xã hội thế nào đâu’
‘Em biết chứ. Nhưng Vera này, em không phải là nhân viên xã hội’
Ba tôi cũng nổi điên. Ông đổ lỗi cho bác sĩ, chị tôi, gia đình Zadchuk, người đàn ông cắt cỏ sau nhà, đã làm mẹ chết. Thỉnh thoảng ông cũng tự đổ lỗi cho mình. Ông đi loanh quanh lẩm bẩm, nếu chuyện này không xảy ra, nếu chuyện kia không xảy ra, Millochka của ông vẫn còn sống. Gia đình lưu vong bé nhỏ của chúng tôi, trước giờ được gắn kết chặt chẽ bởi tình yêu thương và món xúp củ cải của mẹ, nay bắt đầu tan vỡ.
Một mình trong căn nhà trống, ba tôi sống nhờ vào đồ hộp và thức ăn nhanh, cứ như thể trừng phạt mình kiểu đó thì ông sẽ mang được bà quay trở lại vậy. Ông không chịu đến sống với chúng tôi.
Thỉnh thoảng tôi đến thăm ông. Tôi thích ngồi trong nghĩa trang nhà thờ nơi đặt mộ của mẹ. Tấm bia ghi rằng:
Ludmilla Mayevska
Sinh năm 1912 ở Ukraina
Vợ yêu của Nikolai
Mẹ của Vera và Nadezhda
Bà ngoại của Alice, Alexandra và Anna

Người thợ đá đã cất công ghi hết tất cả những từ này lên bia mộ. Có một cây anh đào đang trổ hoa, bên dưới là một băng ghế gỗ trông ra những khoảng cỏ vuông vắn mà quá nửa đã được chuyển thành phần mộ, một hàng rào táo gai ngăn cách nghĩa trang và cánh đồng lúa mạch, tiếp đó là những cánh đồng khác trồng lúa mạch, khoai tây, hạt dầu... nối liền nhau tới tận chân trời. Mẹ tôi gốc gác từ thảo nguyên, bà cảm thấy thư thái trước chân trời rộng mở. Lá cờ Ukraina có hai khối màu hình chữ nhật: màu xanh phía trên màu vàng - màu vàng biểu trưng cho cánh đồng bắp, màu xanh biểu trưng cho bầu trời. Khu đầm lầy mênh mông bằng phẳng không có gì đặc biệt này khiến bà nhớ lại quê nhà. Chỉ có điều bầu trời nơi đây hiếm khi xanh như bầu trời quê hương.
Tôi nhớ mẹ, nhưng tôi bắt đầu chấp nhận sự mất mát này. Tôi có chồng, có con và cuộc đời của riêng mình.
Ba tôi thơ thẩn đi quanh căn nhà ba mẹ từng sống chung. Đó là một căn nhà kiểu mới, nhỏ, xấu xí, tường ốp đá, ga ra sàn bê tông ở bên hông. Ba mặt còn lại quanh nhà là vườn, nơi mẹ tôi trồng hoa hồng, oải hương, tử đinh hương, mao lương, anh túc, păng xê, cây ông lão (giống Jackmanii và Ville de Lyon), hoa mõm chó, hoa ủy lăng, hoa quế trúc, bạc hà mèo, hoa lưu ly, mẫu đơn, hoa cải tím, hoa nghệ tây, hoa chuông, hoa hồng đá, hoa hương thảo, hoa diên vĩ, hoa loa kèn và hoa đậu tía xen lẫn vào nhau, cứ như ở vườn bách thảo vậy.
Có hai cây táo, hai cây lê, ba cây mận, một cây đào và một cây mộc qua, những trái cây vàng ruộm thơm nức luôn giành giải thưởng ở hội làng hai mươi năm nay. Phía sau, bên ngoài vườn hoa và bãi cỏ, là ba khoảnh đất nơi mẹ tôi trồng khoai tây, hành, đậu đũa, đậu tằm, đậu Hà Lan, ngô ngọt, rau bí, cà rốt, tỏi, măng tây, rau diếp, rau bi na, bắp cải và cải bruxen. Thì là và mùi tây mọc rải rác giữa các luống rau. Ở một góc vườn, mấy luống mâm xôi, dâu, quả ngẩy, phúc bồn tử đen và đỏ, cùng một cây đào nằm gọn trong nhà lưới mà ba tôi dựng lên ngăn lũ chim béo háu ăn vào mổ. Nhưng vài cây dâu và mâm xôi đã lọt ra khỏi lưới, lan sang mấy khóm hoa.
Trong nhà kính, những dây nho tím đầy sức sống uốn lượn bên trên những luống cà chua và ớt lúc lỉu. Phía sau nhà kính là thùng chứa nước, hai nhà kho nhỏ, một đống phân trộn và một đống phân chuồng vốn là niềm mơ ước của cả làng. Đó là phân bò đã hoại, toi xốp và giàu dinh dưỡng, do một người làm vườn người Ukraina tặng. ‘Sô cô la đen’ mẹ tôi gọi nó như vậy. ‘Nào, cục cưng của ta’ bà thì thầm với những mầm cây, ‘dùng chút sô cô la đen nào.’ Chúng ngấu nghiến sô cô la đen, rồi lớn nhanh vùn vụt.
Mỗi lần ba tôi ra vườn, ông lại thấy bóng dáng mẹ lờ mờ in trên vách nhà kính, đang lúi húi giữa đám cây lá, với tay buộc lại mấy ngọn đậu đũa. Đôi khi giọng bà gọi ông văng vẳng giữa các gian nhà trống vắng. Mỗi lần nhớ ra là bà không còn ở đây nữa, vết thương của ông lại vỡ ra nhức nhối.
Cú điện thoại thứ hai gọi đến vài ngày sau cú đầu tiên.
‘Nadezhda, con nghĩ một người đàn ông tám mươi tư tuổi có thể có con không?’
Thấy cách ông luôn đi thẳng vào vấn đề chứ? Không rào trước đón sau. Không thèm hỏi ‘Con thế nào? Mike và Anna khỏe không?’ Không dài dòng về thời tiết. Không thứ gì phù phiếm trì hoãn được ông khi ông đã nảy ra một Ý Tưởng Lớn.
‘Ô, con không chắc...’
Tại sao ba lại hỏi tôi? Làm sao tôi biết được? Tôi không muốn biết. Tôi không muốn con sóng xúc cảm đẩy tôi quay về tuổi thơ thò lò mũi xanh, thuở ba vẫn còn là một vị anh hùng và tôi luôn sợ bị ông quở mắng.
‘Nếu có con được, Nadezhda’ ông nhanh nhảu nói tiếp trước khi tôi kịp phòng vệ, ‘con nghĩ có bao nhiêu phần trăm đứa nhỏ bị thiểu năng?’
‘Ô ba à’ (ngừng lại một chút để thở, cố giữ giọng vui vẻ và ân cần) ‘y học đã chứng minh rất rõ rằng phụ nữ càng lớn tuổi thì càng có khả năng sinh con mắc bệnh Down. Đó là một loại bệnh gây khó khăn trong học tập, còn gọi là bị đần độn’
‘Hừm.’ (Ông không vui khi nghe tin này.) ‘Hừm. Nhưng có lẽ bọn ba sẽ liều một phen. Con thấy đấy, ba cho rằng nếu cô ấy là mẹ của một công dân Anh, đồng thời là vợ của một công dân Anh, cô ấy chắc chắn sẽ không bị trục xuất...’
‘Ba à, con nghĩ ba không nên vội vã...’
‘Bởi vì luật pháp nước Anh là tốt nhất toàn cầu. Nó vừa là một sứ mệnh vừa là một gánh nặng lịch sử, muốn gọi thế nào cũng được...’
Ba luôn nói với tôi bằng tiếng Anh, nhấn giọng sai và dùng mạo từ quái dị, nhưng đủ để hiểu được. Tiếng Anh của dân kỹ sư. Mẹ nói tiếng Ukraina với tôi, thứ tiếng thấm đẫm mọi sắc thái hậu tố. Tiếng mẹ đẻ.
‘Ba, nghĩ kỹ lại đi. Đây có phải là điều ba muốn không?’
‘Hừm, điều ba muốn à?’ (ông phát âm thành ‘đều ba mún’). ‘Đương nhiên làm cha một đứa trẻ như vậy không đơn giản chút nào. Nhưng về mặt kỹ thuật thì có thể có cách...’
Nghĩ tới chuyện ba tôi ngủ với ả đàn bà này, tôi cảm thấy quặn bụng.
‘... Cái khó là không cương cứng được nữa. Nhưng có lẽ với Valentina thì...’
Ông lần khân ở kịch bản sinh sản này quá lâu so với sức chịu đụng của tôi. Nhìn từ những góc độ khác nhau. Tính ngược tính xuôi.’... con nghĩ thế nào?’
‘Ba à, con không biết phải nghĩ thế nào cả’
Tôi chỉ muốn ông ngậm miệng lại.
‘Đúng, với Valentina thì vẫn có thể...’
Giọng ông trở nên mơ màng. Ông đang nghĩ mình sẽ tạo ra một đứa con như thế nào - một đứa bé trai, chắc chắn thế. Ông sẽ dạy nó cách chứng minh định lý Pythagore và cách đánh giá đúng chủ nghĩa kết cấu. Ông sẽ thảo luận về máy kéo với nó. Điều ba tôi nuối tiếc nhất là hai đứa con của ông đều là con gái. Trí tuệ kém cỏi, không đến nỗi phù phiếm và nữ tính như đám phụ nữ nói chung, nhưng vẫn là những sinh vật ồn ào, cứng đầu và không biết tôn ti trật tự. Đúng là bất hạnh cho đàn ông. Ba chưa bao giờ cố che giấu nỗi thất vọng của mình.
‘Ba à, con nghĩ trước khi làm chuyện gì, ba nên xin tư vấn pháp luật trước đã. Có thể mọi chuyện sẽ không như ba nghĩ. Ba có muốn con nói chuyện với luật sư không?’
Tak tak.’ (Ừ... ừ.) ‘Con nên kiếm một luật sư ở Cambridge ấy. Có đủ yếu tố nước ngoài ở đó. Bọn họ nhất định biết chút ít về luật nhập cư’
Ông luôn tự động phân loại con người. Ông không có chút ý niệm gì về phân biệt chủng tộc cả.
‘OK, ba. Con sẽ ráng tìm một luật sư chuyên về luật nhập cư. Đừng làm gì cả cho đến khi con gọi lại cho ba.’
Viên luật sư là một chàng trai trẻ thạo việc ở một hãng luật trong khu ổ chuột. Anh ta viết:

Nếu cha của bà muốn lập gia đình thì ông ấy cần phải nộp đơn tới Bộ Nội vụ xin cho vợ ông ấy ở lại.

Để được chấp thuận, bà ấy cần phải thỏa mãn những điều kiện sau:

  1. Kết hôn không phải nhằm mục đích giúp bà ấy vào Anh hay ở lại Anh.
  2. Hai người đã gặp nhau.
  3. Hai người định sống chung lâu dài với tư cách là vợ chồng.
  4. Họ có thể tự trang trải cuộc sống mà không cần xin cứu trợ xã hội.
Vấn đề chính là Bộ Nội vụ (hoặc Đại sứ quán nếu bà ấy nộp đơn bên ngoài nước Anh) rất có thể sẽ cho rằng bà ấy lấy chồng cốt chỉ để di dân sang Anh, bởi tuổi tác cách biệt và bởi đám cưới diễn ra quá gần ngày bà ấy phải rời khỏi Anh.

 
 
 
Tôi chuyển lá thư đó cho ba tôi.
Viên luật sư cũng nói với tôi rằng cơ hội thành công sẽ lớn hơn hẳn nếu cuộc hôn nhân kéo dài được năm năm hoặc hai người có con. Tôi không nói gì với ba tôi về chuyện này.ni
0

2.
Gia tài nhỏ bé của mẹ

Mẹ tôi có một chạn bếp ở gầm cầu thang, bên trong chất đầy nào hộp cá, thịt, cà chua, trái cây, rau, nào bánh pud-ding, các túi đường (đường kính, đường tinh luyện, đường bột, đường mía), bột (loại thường, tự nổi, nguyên hạt), gạo (hạt nhỏ, hạt dài), mì (mì ống, mì xoắn, nui), đậu lăng, kiều mạch, đậu chẻ, yến mạch, dầu ăn (dầu thực vật, dầu hướng dương, dầu ô liu), đồ ngâm dấm (cà chua, dưa leo, củ cải), các hộp ngũ cốc ăn sáng (chủ yếu là loại Shredded Wheat), các gói bánh quy (chủ yếu là loại hương sô cô la), sô cô la thỏi. Trên sàn, hàng đống chai và các hũ cổ nhỏ chứa đầy rượu sanh sánh màu tím sẫm làm từ mận, đường nâu và đinh hương. Chỉ cần một ly thôi cũng đủ cho tên bợm rượu sừng sỏ nhất (loại này đầy rẫy trong cộng đồng Ukraina) bất tỉnh đến ba tiếng đồng hồ.
Trên lầu, ngăn kéo phía dưới giường là nơi để trái cây khô (chủ yếu là mận), và những lọ mứt nhà làm (mận, dâu, mâm xôi, phúc bồn tử, mộc qua kết hợp đủ kiểu). Trong nhà kho ngoài vườn và ga ra để đầy các thùng giấy đựng táo vừa mới thu hoạch, táo Bramleys, Beauty of Bath và Grieves, trái nào trái nấy được gói riêng trong giấy báo, tỏa hương thơm ngát. Mùa xuân tới, vỏ táo sẽ sần sùi và phần thịt teo lại, nhưng vẫn còn tốt để làm món bánh nhân táo kiểu Áo và bánh kếp kiểu Nga. (Những quả tự rụng hay bị hư đều được nhặt riêng, cắt nhỏ và ninh nhừ ngay lập tức.) Hàng giỏ cà rốt và khoai tây vẫn còn dính đất, và hàng bó hành tỏi treo đầy trong góc tối nhà phụ.
Khi ba mẹ tôi mua tủ lạnh vào năm 1979, đậu, đậu Hà Lan, măng tây và mấy loại trái cây mềm nhanh chóng được chất đầy trong các hộp nhựa đựng kem, được dán nhãn ghi ngày tháng và thường xuyên đảo qua đảo lại. Thậm chí cả thì là và ngò tây cũng được bọc trong túi ni lông cất để dành, nên suốt các mùa trong năm gia vị lúc nào cũng đủ dùng.
Khi tôi trêu mẹ về việc tích trữ quá nhiều thực phẩm, đủ để nuôi cả một đội quân, bà bèn lúc lắc ngón tay rồi nói, ‘Đề phòng khi nào cái tên Tony Benn[link=#id4]*[/link] của con lên nắm quyền đấy.’
Mẹ tôi biết thế nào là lý tưởng, và cũng biết thế nào là đói rét. Bà biết - ký ức này không bao giờ rời bỏ bà trong suốt năm mươi năm sống ở Anh và rồi được truyền vào tâm can các con của bà - bà biết chắc rằng đằng sau các giá hàng cao ngất và những quầy hàng nặng trĩu ở Tesco và Co-op, cơn đói với bộ xương khô và đôi mắt thố lố vẫn lảng vảng sẵn sàng chộp lấy ta ngay khi ta không chú ý, tống ta lên một chuyến tàu, hoặc một chiếc xe bò, hay xô ta vào đoàn người chạy loạn, đẩy chúng ta vào cuộc hành trình mà đích đến luôn là cái chết.
Cách duy nhất để qua mặt cơn đói là tiết kiệm và tích cóp, bảo đảm luôn có một thứ cất giấu ở đâu đó, thứ gì đó nho nhỏ để qua mặt hắn ta. Mẹ tôi có niềm đam mê và tài năng tằn tiện ghê gớm. Bà sẵn sàng cuốc bộ cả nửa dặm trên phố High để mua một túi đường rẻ hơn một xu. Bà không bao giờ mua thứ gì mà bà có thể tự tay làm. Chị gái tôi và tôi đã xấu hổ biết bao khi mặc những bộ váy bà tự may từ những mẩu vải thừa ngoài chợ. Chúng tôi bị buộc phải chịu đựng những món ăn truyền thống và bánh nhà làm trong khi chỉ thèm thức ăn nhanh và bánh mì trắng. Thứ nào bà không làm được thì bà sẽ mua đồ dùng rồi. Giày, áo choàng, vật dụng trong nhà - phải có ai đó đã chọn, mua, dùng rồi bỏ đi. Nếu phải mua hàng mới thì bà chọn loại rẻ tiền nhất, hay hơn cả là hàng giảm giá hoặc hàng mặc cả được. Trái cây dập, đồ nhôm móp, mẫu vải lỗi thời, kiểu từ năm trước. Không quan trọng - chúng ta không kiêu ngạo, chúng ta không phải hạng ngu ngốc vung tiền ra cho vẻ bề ngoài, mẹ nói, khi mà người có học thức ai cũng biết rằng thứ bên trong mới là quan trọng.
Ba tôi sống trong một thế giới khác. Hằng ngày ông tới vẽ kỹ thuật cho một nhà máy sản xuất máy kéo ở Doncaster. Ông lãnh lương, mua những thứ mà đồng nghiệp vẫn mua - quần áo mới (cái áo cũ của anh có sao đâu? Em vá nó lại được mà!), máy ảnh (ai cần máy ảnh cơ chứ?), máy ghi âm và đĩa than (lãng phí quá!), sách (thư viện công cộng có rất nhiều sách hay), bộ dụng cụ gia đình (để làm những thứ nhảm nhí), đồ đạc (mua ở Co-op thì rẻ hơn biết bao), chiếc mô tô mới (phóng cứ như thằng điên). Mỗi tuần, ba tôi đưa cho mẹ một khoản tiền cố định nhưng không hề ít để lo việc nội trợ, rồi tiêu sạch số còn lại.
Sau năm mươi năm tiết kiệm, trữ đồ ăn trong tủ đông, nướng bánh, tự tay làm những thứ có thể làm, mẹ tôi đã tích lũy được một khoản mấy ngàn bảng từ số tiền ba tôi đưa hàng tuần. Đó là cú đấm móc phản kháng của bà vào cơn đói, cảm giác ấm áp an toàn trong đêm, món quà an toàn cho con cái lỡ khi cơn đói ập tới. Nhưng thứ đáng ra phải là một món quà lại trở thành lời nguyền rủa, bởi vì tôi phải xấu hổ mà thú nhận rằng chị em chúng tôi đã cãi nhau ầm ĩ vì chuyện nên chia chác gia tài nhỏ của mẹ ra sao.
Sau lần làm mặt lạnh ở đám tang, chị tôi và tôi quăng những lá thư tràn đầy thù hận vào nhau, bơm nọc độc vào đường dây điện thoại. Một khi xung đột đã bắt đầu thì không sao ngăn cản được nữa.
○○○
Một buổi tối nọ, chị gọi cho tôi, lúc ấy Anna đã đi ngủ còn Mike không có nhà. Chị muốn tôi tiếp ký để một đứa con gái của chị rút tiền ra mua căn hộ. Tôi để điện thoại reo đến chín hồi chuông mới thèm nhấc máy, vì tôi biết là chị gọi. Mặc nó! Mặc nó! Một giọng nói khôn ngoan vang lên trong đầu tôi. Nhưng cuối cùng tôi cũng nhấc máy, và mọi lời xúc phạm mà chúng tôi chưa từng nói nay tuôn ra ào ạt. Và một khi lời đã nói ra thì không có cách nào lấy lại được.
‘Chị đã gây sức ép và lừa mẹ ký vào bản phụ lục đó, Vera. Chị trộm mặt dây chuyền của mẹ.’ (Kẻ nào đang nói những điều khủng khiếp về chị mình như vậy, có phải là tôi chăng?) ‘Mẹ yêu chúng ta như nhau. Mẹ muốn chúng ta chia sẻ những gì mẹ để lại.’
‘Giờ cô quá lố bịch rồi đấy.’ Chị tôi bật lại lạnh như băng. ‘Mẹ chỉ có thể đưa mặt dây chuyền cho một trong hai chúng ta. Mẹ cho tôi vì tôi có mặt khi mẹ cần. Tôi luôn có mặt khi mẹ cần. Còn cô - con gái rượu, cục cưng bé bỏng - rốt cuộc cô đã bỏ rơi bà.’ (Ái chà! Làm sao chị ta có thể nói điều này với tôi, đứa em nhỏ của chị ta chứ?) ‘Tôi sớm biết cô sẽ như vậy mà.’
Cả hai chị em chúng tôi đều theo trường phái tấn-công-là-cách-phòng-thủ-tốt-nhất.
‘Mẹ yêu em. Mẹ sợ chị chết khiếp, Vera. Đúng, tất cả mọi người nhà mình đều sợ chị - những lời xỉa xói của chị, tính nóng nảy của chị. Chị ăn hiếp em bao nhiêu năm ròng. Nhưng giờ thì đừng hòng.’
Khi nói những lời đó, lẽ ra tôi phải cảm thấy trưởng thành hơn, nhưng không. Nó làm tôi cảm thấy mình trở lại hồi bốn tuổi.
‘Cô cứ thế biến mất tăm mất tích, như thói quen cả đời của cô, Nadezhda. Chơi trò chính trị, diễn mấy màn nhỏ bé đáng thương, tỏ vẻ ta đây và thảo luận về việc biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn, trong khi những người khác phải còng lưng làm việc. Cô chỉ ngồi yên đó mà để mặc tôi lo mọi thứ’
‘Chị xông vào tự vơ hết vào người đấy chứ.’
‘Cần có người lo lắng mọi chuyện, và rõ ràng đó không phải là cô. Cô không có thời gian dành cho mẹ. Trời ạ, cô đã quá bận rộn với sự nghiệp tuyệt vời của mình rồi.’
(Bụp! Chị ta đã đánh trúng chỗ hiểm. Tôi lúc nào cũng ân hận vì đã không bỏ hết mọi thứ mà chạy về bên mẹ. Giờ chị ta đã buộc tôi phải tự vệ, nhưng tôi vẫn cứ thẳng tiến tấn công.)
‘Ô, xem ai nói kìa, một kẻ cả đời chưa làm việc bữa nào! Ăn bám chồng’ (Hờ! Tôi chơi xấu chị ta.) ‘Em lúc nào cũng phải làm việc để kiếm sống. Em có trách nhiệm và bổn phận. Mẹ hiểu. Mẹ biết thế nào là làm việc vất vả’ ‘Công việc thật sự kìa, chứ chẳng phải là mấy chuyện nhảm-nhí nhạt-nhẽo hão-huyền lằng-nhằng tốn-thời-gian đâu. Đi trồng rau còn có ích hơn’
‘Chị chẳng hiểu gì về công việc, phải không Vera? Chị luôn có một tên Đực Rựa dâng hiến cho chị tài khoản, cổ phiếu, tiền thưởng hàng năm, những vụ làm ăn lách luật trốn thuế. Rồi khi mọi việc đổ bể, chị lại cố gắng lột của hắn đến đồng xu cuối cùng. Mẹ luôn nói mẹ hiểu vì sao hắn ly dị chị. Chị cư xử với hắn quá tệ.’ (Ha ha, tôi thắng điểm rồi.) ‘Chính mẹ chị cũng phải phát biểu thế đấy, Vera!’
‘Mẹ không biết tôi phải trải qua những gì.’
‘Mẹ biết hắn ta phải chịu đựng những gì’
Điện thoại như rạn tanh tách bởi cơn giận của chúng tôi.
‘Nadezhda, vấn đề của cô là đầu óc cô chứa đầy những thứ vô bổ khiến cô không nhìn thấy được thế giới thực sự’ ‘Lạy Chúa, em bốn mươi bảy rồi, Vera à. Em biết thế giới này. Chỉ là em nhìn nó từ một góc độ khác’
‘Bốn mươi bảy cũng chả khác gì đâu. Cô vẫn chỉ là một đứa bé. Cô luôn luôn như vậy. Cô lúc nào cũng chỉ biết nhận mà không biết cho’
‘Em cũng biết cho đấy chứ. Em làm việc. Em cố gắng mang lại điều tốt đẹp hơn cho người khác. Còn hơn chị’ đứa nhóc bốn tuổi gào tướng lên.
‘Ôi trời ơi! Cố gắng mang lại điều tốt đẹp hơn cho người khác! Cô cao thượng quá đấy!’
‘Tự nhìn lại mình đi, Vera - chị chỉ toàn chăm chút cho tổ của mình, rồi nhổ toẹt vào mọi người khác.’
‘Tôi phải học cách đấu tranh cho bản thân. Cho chính tôi và cho hai đứa con gái của tôi. Làm ra vẻ cao thượng thì dễ thôi, nhất là khi cô chẳng biết thế nào là đau khổ. Khi cô bị dính bẫy, cô phải tự vùng vẫy để thoát ra.’
(Ô làm ơn đi! Chị ta vẫn cứ lải nhải về mấy câu chuyện cũ rích thời chiến! Sao chị ta không quên nó giùm đi?)
‘Bẫy nào? Đau khổ nào? Đã năm mươi năm rồi! Nhìn lại chị đi! Cay độc và lươn lẹo cứ như con rắn ghen ăn tức ở vậy.’ (Tôi bắt đầu giở giọng nhân viên xã hội.) ‘Chị cần học cách quên đi quá khứ.’
‘Đừng nói mấy thứ nhảm nhí lập dị của thời đại mới nữa. Hãy nói về những điều thực tế đi.’
‘Em thà quyên tiền cho Oxfam chứ không để chị moi một đồng đâu, Vera.’
‘Oxfam. Thật là thống thiết quá thể!’
Thế là món gia tài nhỏ của mẹ vẫn nằm yên trong ngân hàng, bởi sau đó chị em tôi chẳng ai thèm nói gì với nhau suốt hai năm ròng, cho tới khi một kẻ thù chung giúp chúng tôi xích lại gần nhau.
0

3.
Một phong bì màu nâu dày cộp

‘Ba nhận được thư luật sư chưa ba?’
‘Hừm, được rồi.’
Rõ ràng ông không muốn nói chuyện.
‘Vậy ba nghĩ thế nào?’
‘À há, ồ...’ Ông ho. Giọng ông có vẻ miễn cưỡng. Ông không thích nói chuyện qua điện thoại. ‘Ờ, ba đã cho Valentina coi’
‘Cô ấy nói sao?’
‘Cô ấy nói sao à? Ờ...’ Lại ho húng hắng. ‘Cô ấy nói là luật pháp không đời nào lại đi chia rẽ một cặp vợ chồng được.’
‘Nhưng ba đã đọc thư của luật sư rồi mà?’
‘Ừ. Không. Nhưng đây là điều cô ấy nói. Cô ấy tin như vậy.’
‘Nhưng niềm tin của cô ấy là sai lầm, ba à. Sai lầm.’
‘Hừm.’
‘Còn ba thì sao? Ý ba thế nào?’ Tôi cố gắng giữ giọng bình tĩnh.
‘Ờ, ba biết nói sao đây?’ Giọng ông thoáng để lộ cảm giác bất lực, cứ như thể ông đã đầu hàng trước những sức mạnh đang khống chế mình.
‘Ô, ba có thể nói ba cho rằng lấy nhau không phải là một ý hay. Có thể không?’
Bao tử của tôi quặn lại vì lo lắng. Tôi nhận ra ba sẽ quyết định cưới, và tôi phải chấp nhận điều này.
‘À há. Ừ. Không.’
‘Ý ba là sao? Ừ? Không?’ cổ họng tôi gầm gừ bực tức. Tôi cố hét sức để nói cho ngọt ngào.
‘Ba không thể nói vậy. Ba không thể nói trước điều gì.’ ‘Ba à, vì Chúa..’
‘Nghe này, Nadezhda, bọn ba sẽ cưới nhau, nhất định thế. Bàn tiếp cũng chẳng để làm gì.’
Tôi có cảm giác một chuyện khủng khiếp nào đó sắp diễn ra, nhưng tôi thấy rõ ba mình đang tràn đầy sức sống và vui sướng! Lần đầu tiên kể từ khi mẹ tôi mất.
Đây không phải lần đầu tiên ông mơ mộng muốn cứu vớt những người Ukraina khốn khó. Có lần ông đã lập kế hoạch tìm kiếm các thành viên của một gia đình mà ông chưa gặp hàng nửa thế kỷ nay và đem họ đến Peterborough. Ông viết hàng đống thư gửi tới tòa thị chính và bưu điện làng khắp Ukraina. Hàng đống thư trả lời tới tấp ùa về từ những người ‘họ hàng’ đáng ngờ muốn nhận giúp đỡ của ông. Nhưng mẹ đã nói không.
Giờ tôi thấy mọi năng lượng của ông đều đã tập trung cả vào người đàn bà này và đứa con của ả - bọn họ sẽ trở thành gia đình mới của ông. Ông có thể nói chuyện với họ bằng tiếng mẹ đẻ. Thứ ngôn ngữ tuyệt đẹp mà ai dùng cũng có thể là thi sĩ. Cảnh quan tuyệt vời có thể biến bất kỳ ai thành nghệ sĩ. Những ngôi nhà gỗ sơn xanh, cánh đồng lúa mì vàng rực, rừng bạch dương trắng bạc, dòng sông mênh mông lặng lẽ trôi. Thay vì quay về Ukraina, Ukraina sẽ đến với ông.
Tôi đã tới thăm Ukraina. Tôi nhìn thấy những dãy nhà bê tông và cá chết đầy sông.
‘Ba à, Ukraina không như trong ký ức của ba đâu. Giờ nó đã thay đổi rồi. Con người cũng khác. Họ không ca hát nữa - chỉ gào thết khi say rượu vodka thôi. Họ chỉ quan tâm đến việc mua sắm. Hàng hóa phương Tây. Thời trang. Đồ điện tử. Hàng hiệu Mỹ’
‘Hừm. Con nói vậy thì chắc là vậy. Nhưng nếu ba có thể cứu giúp một con người đáng yêu...’
Ba lại mơ mộng rồi.
Nhưng có một vấn đề. Thị thực du lịch của cô ấy sẽ hết hạn trong vòng ba tuần nữa, ba tôi giải thích.
‘Mà cô ấy vẫn còn phải chờ giấy tờ ly dị của chồng.’ ‘Ý ba là cô ấy đã cưới rồi?’
‘Chồng cô ấy ở Ukraina. Một gã trí thức đấy nhé. Hiệu trưởng trường bách khoa. Ba có liên lạc với anh ta, thậm chí còn nói chuyện qua điện thoại nữa. Anh ta cho ba biết rằng Valentina sẽ là một người vợ tuyệt hảo.’ Giọng ông đầy vẻ tự đắc. Người-chồng-sắp-trở-thành-chồng-cũ-này sẽ fax giấy tờ ly dị cho Lãnh sự quán Ukraina ở London. Trong thời gian đó, ba tôi sẽ chuẩn bị cho đám cưới.
‘Nhưng nếu thị thực của cô ấy hết hạn trong ba tuần tới, e là ba sẽ không lo hết mọi chuyện kịp đâu.’ (Tôi hy vọng là vậy.)
‘Ô, nếu cô ấy phải quay về thì bọn ba sẽ cưới khi cô ấy quay trở lại. Bọn ba hoàn toàn nhất trí về chuyện này.’
Tôi để ý thấy từ ‘ba’ đã trở thành ‘bọn ba’. Tôi nhận ra kế hoạch này đã được tính toán khá lâu rồi, và tôi chỉ được thông báo vào giai đoạn chót. Nếu cô ả phải quay về Ukraina, ba tôi sẽ viết một lá thư cho cô ả và ả có thể quay trở lại với tư cách vợ chưa cưới của ba tôi.
‘Nhưng ba à’ tôi nói, ‘ba đã đọc thư của luật sư rồi đó. Họ rất có thể sẽ không cho cô ấy quay lại. Không còn ai đó khác, ai đó trẻ hơn một chút, mà cô ấy có thể lấy ư?’
Ừ, người phụ nữ tháo vát này có một kế hoạch hôn nhân dự phòng, ba tôi đáp. Thông qua một trung tâm chăm sóc sức khỏe tại gia, cô ấy đã gặp một chàng thanh niên bị tê liệt toàn thân sau một tai nạn xe cộ. Người này, chú ý nhé (ba tôi nói), là một chàng trai rất khá xuất thân từ một gia đình tốt. Từng là giáo viên. Cô ấy đã luôn chăm sóc cho anh ta: tắm rửa, đút ăn, đưa đi vệ sinh. Nếu cô ấy bị từ chối cho nhập cảnh với tư cách là vị hôn thê của ba tôi, cô ấy sẽ tìm cách để được mời trở lại với tư cách là người chăm sóc cho chàng trai trẻ này. Luật nhập cư vẫn cho phép loại công việc ấy. Trong vòng một năm cô ta được phép ở lại làm công việc chăm sóc, chàng trai sẽ yêu cô và cô sẽ cưới chàng ta. Như vậy tương lai của cô ở đất nước này sẽ được đảm bảo. Nhưng đây cũng là bản án tù khổ sai cả đời cho Valentina tội nghiệp, vì anh ta hoàn toàn phụ thuộc vào cô, hai mươi bốn tiếng một ngày, trong khi nhu cầu của ba tôi thì rất ít (ba tôi nói). Ba tôi biết chuyện này, vì cô ấy đã mời ông đến thăm ngôi nhà nơi cô đang làm việc và chỉ cho ông thấy chàng trai trẻ. ‘Ông thấy anh ta thế nào chứ?’ cô ả nói với ba tôi. ‘Làm sao mà tôi cưới anh ta được?’ (Đương nhiên là cô ả nói tiếng Ukraina.) Không, ba tôi không muốn cô ấy sống cuộc sống nô lệ. Ông sẽ hy sinh và cưới cô ấy.
Tôi tan nát vì lo lắng. Tôi điên cuồng vì tò mò. Do đó, tôi gác hai năm thù hận qua một bên và gọi điện cho chị gái.
○○○
Vera là một người cương quyết trong khi tôi là dân tự do vô tổ chức. Chị ấy cứng rắn còn tôi thì lại hay dao động.
‘Lạy Chúa tôi, Nadezhda. Sao cô không nói với tôi sớm? Chúng ta phải chặn ả ta lại’
‘Nhưng nếu cô ta làm ba hạnh phúc...’
‘Đừng có lố bịch thế. Chắc chắn là cô ả sẽ không làm cho ba hạnh phúc đâu. Chúng ta thấy rõ ả đang nhằm vào cái gì mà. Thiệt tình, Nadezhda, tại sao cô luôn đứng về phía mấy tên tội phạm thế...’
‘Nhưng Vera à...’
‘Cô phải gặp ngay ả ta và cảnh cáo cho ả rút lui.’
Tôi gọi điện cho ba.
‘Ba à, hay con qua gặp Valentina nhé?’
‘Không không. Không thể nào đâu’
‘Tại sao không thể chứ?’
Ba ngần ngừ. Ông không kịp nghĩ ra lý do nào.
‘Cô ấy không biết nói tiếng Anh’
‘Nhưng con nói được tiếng Ukraina’
‘Cô ấy nhút nhát lắm.’
‘Con không cảm thấy vậy. Con và cô ấy có thể thảo luận về Schopenhauer và Nietzsche’ (Ha ha)
‘Cô ấy bận đi làm.’
‘Ồ, con có thể gặp cô ấy sau đó. Sau khi cô ấy xong việc.’
‘Không, gặp cũng chẳng để làm gì cả. Nadezhda, chúng ta không nói chuyện này nữa là hơn. Tạm biệt’ Ông cúp máy. Ba đang giấu giếm điều gì đó.
Vài ngày sau tôi lại gọi cho ba. Tôi thử cách khác.
‘Chào ba, con Nadezhda đây’ (Ba biết đó là tôi nhưng tôi muốn tỏ vẻ thân thiện.)
‘À há. Ừ, ừ’
‘Ba à, cuối tuần này Mike rảnh. Hay bọn con qua thăm ba nhé?’ Ba tôi mê tít chồng tôi. Ông có thể nói chuyện với anh về máy kéo và máy bay.
‘Hừm. Tak. Tuyệt đấy. Khi nào bọn con qua?’
‘Chủ nhật. Chúng con sẽ đến ăn trưa vào Chủ nhật, khoảng 1 giờ’
‘OK. Tốt. Ba sẽ nói với Valentina’
Chúng tôi đến khá sớm, hy vọng gặp được cô ả nhưng ả đã ra ngoài rồi. Căn nhà có vẻ bừa bộn và ảo não. Hồi mẹ tôi còn sống, trong nhà lúc nào cũng có hoa tươi, khăn trải bàn sạch sẽ, mùi thức ăn thơm phức. Giờ thì không có bông hoa nào, chỉ có ly chén bẩn, hàng chồng báo, sách, đồ đạc lổn ngổn. Chiếc bàn mi ca màu nâu sẫm trơ trụi, bên trên là tờ báo trải rộng với vài mẩu bánh mì ôi và vỏ táo mốc lẽ ra phải vứt đi từ lâu. Mùi mỡ ôi thoang thoảng.
Thế nhưng ba tôi lại rất phấn chấn. Ông nom rất sôi nổi, hào hứng. Mái tóc mỏng bạc trắng của ông để dài, phất phơ sau lưng. Da ông sạm lại và có vẻ rắn chắc hơn, hơi cháy nắng một chút, cứ như là ông đã làm việc mãi ngoài vườn vậy. Đôi mắt ông sáng rực. Ông mời chúng tôi dùng bữa trưa - cá hộp, cà chua hộp, bánh mì nâu, tráng miệng là táo Toshiba. Đây là công thức nấu ăn đặc biệt của ông - táo hái ngoài vườn, gọt vỏ, cắt nhỏ, đặt lên một đĩa thủy tinh chịu nhiệt rồi làm chín trong lò vi sóng (hiệu Toshiba) cho đến khi nó nhũn ra rồi đặc lại. Tự hào trước phát minh của mình, ông mời chúng tôi ăn hét đĩa táo này đến đĩa táo khác và còn gói cho chúng tôi mang về nữa.
Tôi cảm thấy lo lắng, ăn đồ hộp nhiều vậy có tốt không? Ba ăn có đủ chất không? Tôi kiểm tra tủ lạnh và chạn thức ăn. Có sữa, phó mát, ngũ cốc, bánh mì và rất nhiều đồ hộp. Không có trái cây hay rau tươi, trừ táo Toshiba và vài quả chuối sắp thối. Nhưng coi bộ ông rất khỏe. Tôi bắt đầu lập danh sách những thứ cần mua.
‘Ba phải ăn nhiều trái cây tươi và rau, ba à’ tôi nói. Ông đồng ý ăn bắp cải và cà rốt. Ông không ăn đậu hay đậu Hà Lan đông lạnh được nữa - chúng làm ông bị ho.
‘Valentina có nấu cho ba không?’ tôi hỏi.
‘Thỉnh thoảng.’ Ông lảng tránh.
Tôi lấy khăn rồi bắt đầu lau bụi. Bụi bám khắp nơi, cả trên những mảng dinh dính màu nâu nơi thức ăn bị đổ. Sách để lung tung cả: lịch sử, sinh học, vũ trụ học, vài quyển ông mua, vài quyển lấy từ thư viện công cộng. Trên bàn ở phòng trước, tôi thấy vài xấp giấy viết đầy những dòng chữ rõ ràng nhưng cáu kỉnh của ông, đôi chỗ gạch xóa, đôi chỗ lại được viết thêm vào. Chữ viết tay Ukraina không hề dễ đọc đối với tôi, nhưng cứ nhìn lối viết thì tôi đoán đấy là một bài thơ. Bài thơ đầu tiên của ba tôi được xuất bản khi ông mười bốn tuổi. Đó là bài ca tụng một nhà máy thủy điện mới xây bên dòng Dnieper vào năm 1927. Hồi theo học làm kỹ sư ở Kiev, ông gia nhập một hội các nhà thơ Ukraina. Tôi vui khi thấy ông vẫn còn làm thơ. Tôi thậm chí còn cảm thấy thoáng tự hào nữa. Tôi sắp xếp đống giấy cho gọn ghẽ rồi lau bàn.
Ở phòng bên, Mike ngồi ườn ra ghế bành, mắt khép hờ, tay cầm một ly rượu mận, cố gắng giữ vẻ mặt chăm chú trong lúc nghe ba tôi nói.
‘Nếu ba có thể cứu một người - một con người - khỏi cơn ác mộng này, con nghĩ đó có phải là chuyện đúng đắn hay không?’
Mike lẩm bẩm vài câu lấy lệ.
‘Con thấy đấy, Mikhail’ ông nói với giọng tin tưởng kiểu đàn-ông-với-nhau, ‘một đứa nhỏ chỉ có một người mẹ, nhưng một người đàn ông thì có thể có nhiều người tình. Đó là chuyện hoàn toàn bình thường thôi. Con có đồng ý không?’
Tôi vểnh tai cố nghe xem Mike trả lời ra sao, nhưng chỉ nghe tiếng lầm bầm không rõ.
‘Ba biết Vera và Nadia không vui. Chúng vừa mất mẹ. Nhưng chúng sẽ chấp nhận khi thấy Valentina xinh đẹp đến nhường nào.’ (Ô thế à?) ‘Đương nhiên vợ cũ của ba, Ludmilla cũng rất xinh đẹp hồi ba gặp bà ấy lần đầu khi còn trẻ. Ba cũng cứu bà ấy đấy, con biết không. Bà ấy bị mấy đứa con trai tấn công giành giày trượt, và ba đã can thiệp giúp bà ấy. Từ đó bọn ba trở thành bạn thân. Đúng vậy, bản năng tự nhiên của đàn ông là bảo vệ phụ nữ’ (Ôi, làm ơn đi!) ‘Bây giờ, với Valentina, ba gặp một người phụ nữ xinh đẹp khác cần ba cứu giúp. Làm sao mà ba ngoảnh mặt đi được?’
Ông bắt đầu liệt kê ra những nỗi khủng khiếp mà ông đang giúp cô ả tránh. Cộng đồng người Ukraina đồn là các cửa hiệu đều trống rỗng. Thực phẩm duy nhất là thứ người ta tự trồng được - cứ như thời đồ đá vậy, người ta nói thế. Đồng hrivna trượt giá trầm trọng, càng ngày càng tệ hại hơn. Dịch tả bùng phát ở Kharkiv. Bệnh bạch hầu ập xuống cả Donbass. Ở Zhitomir, một phụ nữ bị cướp giữa ban ngày ban mặt, ngón tay bị chặt đứt hết để giật lấy nhẫn vàng. Ở Chemigov, cây rừng quanh nhà máy điện nguyên tử Chemobyl bị đốn làm đồ gia dụng nhiễm phóng xạ, rồi số đồ này được đem bán khắp toàn quốc khiến người dân bị nhiễm phóng xạ trong chính nhà mình. Mười bốn thợ mỏ chết trong vụ nổ ngầm ở Donetsk. Một người đàn ông bị bắt ở trạm xe lửa Odessa vì bị phát hiện đang giấu một nhúm uranium trong cặp. Ở Lviv, một ả đàn bà trẻ tuổi tự xưng là Chúa cứu thế đệ nhị ra sức thuyết phục mọi người là ngày tận thế sẽ đến trong vòng sáu tháng tới. Nhưng còn đáng sợ hơn tình trạng an ninh luật pháp rối ren, ấy là sự băng hoại đạo đức và niềm tin. Một số người ở lại với Nhà thờ cũ, nhưng đa số thì kéo tới các nhà thờ mới toanh kỳ quặc được ‘nhập cảng’ từ phương Tây, hay đặt niềm tin vào các nhà tiên tri, các ông thầy bói lóa mắt vì tiền, các tu sĩ hành xác. Mọi người không biết phải tin ai, tin vào cái gì.
‘Giá như ba có thể cứu vớt ít nhất là một con người...’
‘Ôi trời đất ơi!’ Tôi ném cái giẻ lau về phía ông. Nó rơi xuống ướt nhẹp nơi đùi ông. ‘Ba à, đầu óc ba lại lên mây rồi à? Valentina và chồng cô ta đã từng là đảng viên. Bọn họ vừa giàu vừa có thế lực. Họ đã sống rất tốt dưới chế độ cộng sản. Cô ta không chạy trốn khỏi chủ nghĩa cộng sản mà là chủ nghĩa tư bản. Ba thích chủ nghĩa tư bản lắm mà, phải không?’
‘Hừm.’ Ông cầm cái giẻ lau lên rồi lơ đãng dùng nó lau trán. ‘Hừm’
Tôi nhận ra cái đang gắn ông với Valentina không thuần túy chỉ là hệ tư tưởng.
‘Vậy khi nào chúng con được gặp cô ấy?’
‘Sau khi tan ca cô ấy sẽ đến đây, khoảng năm giờ chiều’ ba tôi đáp. ‘Ba có quà tặng cho cô ấy.’ Ông cầm lấy cái phong bì màu nâu dày cộm trên chiếc kệ gần đó, bên trong có vẻ nhét đầy giấy.
‘Vậy thì con chạy ra ngoài mua đồ cho ba nhé? Mọi người có thể cùng uống trà khi cô ấy quay về’ Giọng vui sướng và biết điều. Giọng Anh đưa tôi xa khỏi tất thảy những nỗi đau và cơn giận dữ.
Trên đường từ siêu thị về, tôi dừng xe bên ngoài viện an dưỡng nơi Valentina làm việc. Cũng chính viện an dưỡng này mẹ tôi đã từng ở một thời gian ngắn trước khi qua đời, cho nên tôi biết khá rõ đường đi lối lại bên trong. Tôi đậu xe ngoài đường, rồi thay vì đi thẳng vào trong qua lối cổng trước, tôi đi vòng bên hông để nhìn vào qua cửa sổ nhà bếp. Một người đàn bà đứng tuổi mập mạp đang đứng đảo đảo thứ gì đó trên lò. Là cô ả chăng? Kế bên nhà bếp là phòng ăn nơi vài bệnh nhân già đang túm tụm dùng trà. Mấy đứa nhóc mặc tạp dề ngán ngẩm đẩy xe đưa họ đi vòng vòng. Có vài người bưng khay thức ăn, nhưng xa quá nên không nhìn rõ mặt. Giờ thì một số bắt đầu ra khỏi cửa trước, đi về phía trạm xe buýt. Họ là nhân viên hay là thân nhân? Tôi đang tìm kiếm điều gì? Tôi tìm một người giống như ba đã miêu tả - một phụ nữ tóc vàng xinh đẹp với bộ ngực khổng lồ. Chẳng có ai giống như vậy ở đây cả.
Khi tôi về tới nhà, ba tôi đang có vẻ bối rối. Cô ả vừa gọi điện nói là không đến được. Ả đi thẳng về nhà. Mai sẽ lên máy bay về Ukraina. Ông phải gặp ả trước khi ả đi. Ông phải tặng quà cho ả.
Chiếc phong bì không dán kín nên từ chỗ đang ngồi tôi có thể thấy bên trong là mấy tờ giấy với chữ viết nguệch ngoạc và vài tờ giấy bạc. Tôi không rõ là bao nhiêu tờ. Cơn giận trào dâng trong tôi. Mắt tôi đỏ ngầu.
‘Ba, sao ba lại đưa tiền cho cô ta? Tiền hưu trí của ba chỉ vừa đủ sống thôi mà.’
‘Nadezhda, đây không phải là chuyện của con. Sao con phải quan tâm đến cách tiêu xài của ba chứ? Con nghĩ con sẽ mất khoản thừa kế hả?’
‘Ba không thấy là cô ả đang lừa ba sao? Con nghĩ con phải báo cảnh sát.’
Ông nín thở. Ba tôi sợ cảnh sát, hội đồng địa phương, thậm chí cả người đưa thư mặc đồng phục mỗi ngày vẫn hay tới trước cửa nhà tôi. Tôi đã làm ông hốt hoảng.
‘Nadezhda, sao con lại tàn nhẫn vậy? Sao tôi lại sinh ra một con quái vật với trái tim cứng nhắc chứ? Rời khỏi nhà tôi ngay. Tôi không bao giờ muốn’ (mún) ‘gặp cô nữa. Cô không phải là con gái tôi!’ Ông đột ngột ho liên hồi. Đồng tử ông giãn ra. Nước bọt lấm tấm trên môi.
‘Ôi, đừng làm bộ thống thiết vậy nữa, ba à. Ba từng nói vậy với con rồi, ba nhớ không? Hồi con còn là sinh viên, ba đã cho rằng con quá thiên tả.’
‘Đến Lênin còn viết rằng cộng sản thiên tả là ấu trĩ.’ (Ho húng hắng.) ‘Rối loạn một cách ấu trĩ.’
‘Ba nói con là kẻ theo đuôi Trotsky. Ba nói "Rời khỏi nhà ngay, tôi không muốn gặp lại cô nữa!" Nhưng nhìn nè, con vẫn ở đây. vẫn phải chịu đựng những điều vô lý của ba’
‘Cô chính là một kẻ theo đuôi Trotsky. Tất cả các người, những nhà cách mạng sinh viên với hàng đống cờ và băng rôn ngu ngốc. Cô có biết Trotsky đã làm gì không? Cô có biết hắn đã giết bao nhiêu người không? Bằng cách nào không? Con có biết không? Trostky là một con quái vật. Tệ hơn cả Vera nữa kìa.’
‘Ba à, con không theo Trotsky, mà dẫu con có theo đi nữa, ba cũng không nên nói những lời tàn nhẫn như vậy với con gái mình’
Chuyện đã xảy ra hơn ba mươi năm, nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ cú sốc đau đớn đó - cho tới lúc ấy tôi vẫn luôn tin rằng tình yêu của ba mẹ là vô điều kiện. Nhưng đó không chỉ là về chính trị, mà là về ý chí - ý chí của ba đối lập với của tôi: ông có quyền ra lệnh cho tôi, với tư cách một người cha.
Mike xen vào.
‘Ba à, con biết ba không có ý đó. Nadezhda này, đâu cần phải khơi lại những xung đột đã qua. Cả hai người hãy ngồi xuống bình tĩnh nói chuyện’
Chồng tôi rất giỏi những việc dàn xếp thế này.
Ba tôi ngồi xuống. Ông run lập cập, hàm nghiến chặt. Tôi nhớ lại cái nhìn đó của ông thuở xưa, và tôi muốn đấm cho ông một cái, hay quay đầu bỏ chạy.
‘Ba à, con nghĩ Nadezhda có lý. Giúp cô ấy đến Anh là một chuyện, nhưng cô ta đòi tiền của ba thì lại là chuyện khác’
‘Đó là tiền mua vé máy bay. Nếu định quay lại, cô ấy sẽ cần tiền mua vé.’
‘Nhưng nếu thực sự quan tâm tới ba thì cô ấy sẽ đến chào ba trước khi đi chứ, phải không? Cô ấy phải muốn đến chào tạm biệt’ Mike nói.
Tôi im lặng. Tôi không dính dáng vào vụ này nữa. Cứ để lão già ngu ngốc xuống địa ngục thôi.
‘Hừm, có thể.’
Ba tôi có vẻ buồn. Tốt. Cứ để ông ta buồn.
‘Ý con là ba bị cuốn hút bởi cô ấy thì cũng là điều dễ hiểu, Ba à’ Mike nói. (Cái gì? Dễ hiểu? Chúng ta sẽ phải nói chuyện rõ ràng sau.) ‘Nhưng con nghĩ là rất đáng nghi khi cô ấy không chịu gặp ai trong gia đình chúng ta, nếu cô ấy thực sự muốn cưới ba.’
‘Hừm.’ Ba tôi không cãi lại Mike như đã từng phản bác tôi. Mike là một người đàn ông, nên suy nghĩ của anh cần được tôn trọng.
‘Thế nhưng cô ấy đi làm cũng kiếm được tiền chứ? Chắc cũng đủ để mua vé mà.’
‘Cô ấy còn phải trả vài món nợ nữa. Nếu ba không đưa tiền mua vé cho cô ấy, có thể cô ấy sẽ không bao giờ quay trở lại’ Mặt ba tôi lộ vẻ mất mát cùng cực. ‘Và vài bài thơ ba viết tặng cô ấy. Ba muốn cô ấy đọc.’ Vào lúc ấy, cả tôi và Mike đều nhận ra là ba đã thật lòng yêu cô ả. Một lão già đần độn.
‘Ô, cô ấy ở chỗ nào ở Peterborough?’ Mike hỏi. ‘Có lẽ chúng ta có thể đến nhà cô ấy.’ Anh giờ cũng lo lắng y như tôi. Và có lẽ cũng tò mò nữa.
Chúng tôi leo lên xe, cả ba người. Ba mặc chiếc áo vest đẹp nhất, nhét chiếc phong bì nâu vào túi ngực, ở ngay sát trái tim. Ông chỉ đường cho chúng tôi đến một con phố hẹp với dãy nhà cao ốp gạch đỏ gần trung tâm thành phố. Chúng tôi đậu xe bên ngoài căn nhà có cái cổng nhỏ và lối đi rải nhựa mấp mô dẫn vào cửa chính. Ba tôi nhanh chóng chui ra khỏi xe rồi bước vội lên đường nhựa, tay nắm chặt chiếc phong bì phía trước. Tôi bình thản nhìn ông một thoáng, rồi sững sờ khi thấy ông đã già biết bao, dáng đi của ông đã lòm khòm và chuệnh choạng đến dường nào. Nhưng đôi mắt ông như rực lửa. Ông rung chuông. Không có ai trả lời. Ông rung chuông lần nữa. Lần nữa. Lần nữa. Dài hơn, dài hơn. Sau một hồi lâu, cửa sổ kính trượt kẽo kẹt mở ra. Ba tôi háo hức ngẩng đầu lên. Ông chìa chiếc phong bì ra. Tay ông run run. Chúng tôi nín thở, hy vọng nhìn thấy một người đàn bà tóc vàng xinh đẹp với bộ ngực khổng lồ, nhưng thay vào đó, một người đàn ông ló đầu ra cửa sổ. Hắn ta khoảng bốn mươi, tóc nâu, áo sơ mi trắng hở cổ. ‘Cút đi! Cút đi!’
Ba tôi không nói nên lời. Ông run rẩy giơ chiếc phong bì ra.
Người đàn ông tóc nâu lờ đi.
‘Ông nghĩ ông gây chuyện chưa đủ sao? Trước tiên là lá thư từ luật sư, rồi làm phiền cô ấy ở chỗ làm, giờ thì theo tới tận nhà. Ông làm cô ấy bực bội. Giờ thì hãy cút đi và để cô ấy yên!’ Hắn ta đóng rầm cửa sổ.
Ba tôi co rúm lại như sắp ngã qụy tại chỗ. Mike quàng vai ông rồi đưa ông trở lại xe. Khi chúng tôi về tới nhà, ông không nói được tiếng nào.
Mike nói, ‘Con nghĩ ba đã may mắn thoát nạn, Ba à. Sáng mai ba hãy cất tiền vào ngân hàng rồi quên cô ta đi.’ Ba tôi lặng lẽ gật đầu.
‘Con có nghĩ là ba ngốc lắm không?’ ông hỏi Mike. ‘Không không’ Mike đáp. ‘Người đàn ông nào cũng mất hết lý trí trước một phụ nữ xinh đẹp cả.’ Anh bắt gặp ánh mắt tôi và mỉm cười hối lỗi.
Ba tôi hồi lại một chút. Tự trọng đàn ông của ông vẫn được bảo toàn.
‘Ừ , ba sẽ không dính dáng gì đến cô ta nữa. Con nói rất đúng.’
Chiều đã muộn. Chúng tôi tạm biệt rồi chuẩn bị lái một quãng đường dài về lại Cambridge. Khi chúng tôi rời khỏi nhà, điện thoại reo và tôi nghe tiếng ba nói bằng tiếng Ukraina. Tôi không nghe rõ ba tôi nói gì, nhưng giọng điệu của ông làm tôi nghi ngờ - một sắc giọng âu yếm, dịu dàng. Tôi biết mình nên dừng lại, lắng nghe, can thiệp, nhưng tôi cảm thấy mệt mỏi nên chỉ muốn về nhà.
‘Em biết trong phong bì có bao nhiêu tiền không?’ Mike hỏi.
Chúng tôi lái xe trong áng chiều chạng vạng, đã đi được nửa đường, và đang ngẫm nghĩ về những chuyện xảy ra trong ngày.
‘Em thấy có đến một xấp dày. Chắc là một trăm bảng.’
‘Chỉ là anh thấy tờ trên cùng là 50 bảng. Khi mình đến ngân hàng rút tiền, họ hiếm khi nào đưa mình tờ 50 bảng. Họ chỉ đưa tờ 10 hay 20 bảng thôi. Trừ phi em rút một khoản tiền lớn.’ Anh nhăn trán, tập trung vào khúc đường vòng trước mặt. ‘Anh nghĩ chúng ta phải tìm hiểu cho kỹ.’ Anh đột ngột dừng xe trước một buồng điện thoại màu đỏ ở một ngôi làng. Tôi thấy anh tìm đồng xu, quay số, nói chuyện, bỏ tiền thêm vào, nói thêm một hồi nữa. Rồi anh quay trở lại xe.
‘Một ngàn tám trăm bảng.’
‘Cái gì?’
‘Trong phong bì. Một ngàn tám trăm bảng. Ông già đáng thương.’
‘Ông già đáng thương ngu ngốc. Đó chắc là toàn bộ số tiền dành dụm của ba.’
‘Có vẻ như Valentina gọi điện cho ba và cố thuyết phục ba chuyển tiền thẳng vào tài khoản của cô ả.’
‘Cô ta không thích đọc thơ của ba sao?’ (Ha ha.)
‘Ba nói ba sẽ cất tiền vào ngân hàng sáng mai.’
Chúng tôi lái đi tiếp. Giờ là tối Chủ nhật mà đường xá rất vắng vẻ.
Hoàng hôn đã buông xuống, mặt trời chìm vào đám mây, những tia sáng kỳ ảo lấp lánh trên bầu trời. Chúng tôi hạ cửa xe xuống, mùi hương đồng quê ập vào mặt - mùi táo gai, mùi nga sâm, mùi cỏ vừa mới cắt.
Khoảng mười giờ tối chúng tôi về tới nhà. Mike gọi cho ba tôi lần nữa. Tôi nghe ở máy phụ.
‘Con muốn báo cho ba biết tụi con đã về nhà an toàn. Ba chắc là mai ba đến ngân hàng được chứ? Con không an tâm khi biết ba giữ số tiền lớn như vậy trong nhà qua đêm. Ba có thể cất nó vào chỗ nào an toàn được không?’
‘Được... không...’ Ba tôi lộ vẻ kích động. ‘Nếu ba cứ đưa cho cô ấy thì sao?’
‘Nikolai, con không nghĩ đó là ý hay đâu. Con cho rằng ba nên cất hết vào ngân hàng như ba đã nói.’
‘Nhưng nếu đã quá trễ thì sao? Nếu ba đã đưa nó cho cô ấy rồi thì sao?’
‘Ba đưa cho cô ấy khi nào?’
‘Ngày mai.’ Ba tôi bối rối, ấp a ấp úng. ‘Ngày mai. Hôm nay. Có gì khác biệt chứ?’
‘Đợi chút, Nikolai. Đợi chút đã.’
Mike mặc áo choàng rồi cầm lấy chìa khóa xe. Anh có vẻ hết sức mệt mỏi. Sáng sớm hôm sau, anh trở về với chiếc phong bì, giấu khoản tiền một ngàn tám trăm bảng dưới đám vớ trong ngăn kéo, cho đến khi anh có thể đến ngân hàng vào ngày hôm sau. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với mấy bài thơ ba viết.
0

4.
Thỏ và gà

Tôi không biết Valentina dụ dỗ ba tôi đưa tiền cho ả ta lúc nào, nhưng cuối cùng ả cũng đạt được mục đích.
Tôi biết mình phải báo lại cho Vera nhưng điều gì đó làm tôi ngần ngừ. Mỗi lần gọi điện cho ba hay chị, tôi có cảm giác như đang bước qua cây cầu từ thế giới nơi tôi là một người trưởng thành với đầy đủ trách nhiệm và quyền hạn để trở về cái thế giới bí ẩn của tuổi thơ nơi tôi phải thuận theo chủ đích của kẻ khác, những chủ đích mà tôi không sao nắm giữ hay hiểu được. Bà Chị Lớn là kẻ thống trị tuyệt đối trong cái thế giới lờ mờ đen trắng đó. Chị trị vì một cách lạnh lùng, không chút xót thương hay ngần ngại.
‘Chúa tôi, ông ta đúng là ngu ngốc!’ chị kêu lên khi nghe tôi kể về Valentina và phong bì tiền. ‘Chúng ta phải chặn ba lại.’ Bà Chị Lớn luôn luôn biết mình phải làm gì.
‘Nhưng Vera này, em nghĩ ba rất nghiêm túc về việc này - về cô ta. Và nếu cô ta làm ba hạnh phúc...’
‘Thiệt tình, Nadezhda này, cô thật là dễ dụ quá. Báo chí ngày nào chả viết về những hạng người như thế. Dân di cư, tị nạn, nhập cư... Có rất nhiều cách gọi. Thực tế là chỉ những kẻ kiên quyết và tàn nhẫn nhất mới tới được đây, và khi họ nhận ra không dễ gì tìm được việc làm, họ bắt đầu phạm tội. Cô không đoán được chuyện gì sẽ xảy ra nếu con ả đó đến ở đây sao? Chúng ta phải chặn không cho ả quay trở lại từ Ukraina’
‘Nhưng ba quyết tâm lắm. Em không biết mình có làm nổi không...’
Tôi bị giằng co giữa hai ý chí khác biệt: của ba và của chị. Cả đời tôi đã luôn là như vậy.
Chị tôi gọi điện cho Bộ Nội vụ. Họ bảo chị hãy viết thư khiếu nại. Nhưng nếu ba tôi phát hiện ra thì ông sẽ không tha thứ cho chị, bởi ông chưa bao giờ tha thứ cho bất cứ chuyện gì chị từng làm, nên chị chỉ viết một lá thư nặc danh:
Cô ta đến đây bằng thị thực du lịch. Đây là thị thực du lịch thứ hai. Cô ta cũng làm việc bất hợp pháp. Con cô ta học trong một trường Anh. Ba tuần trước khi thị thực hết hạn, cô ta nghĩ ra chuyện kết hôn. Cô ta định kết hôn với ông Mayevskyi nhằm kiếm thị thực và giấy phép làm việc.
Sau đó chị điện thoại cho Đại sứ quán Anh ở Kiev. Một người thanh niên với cách phát âm cực chuẩn uể oải thông báo cho chị biết là Valentina đã được cấp thị thực. Hồ sơ của cô ả không có gì đáng ngại hết. Nhưng còn...? Vera liệt kê hàng đống vấn đề đã viết trong thư. Anh ta nhún vai qua điện thoại: chả có vấn đề gì.
‘Cô thấy đấy, tôi giờ chỉ biết nhờ cô thôi, Nadezhda’ Bà Chị Lớn nói.
Vài tuần sau đó, tôi nhắc lại chuyện này khi đang dùng bữa trưa ở nhà ba: Mike, ba và tôi. Dăm bông hộp, khoai tây luộc, cà rốt luộc. Thực đơn thường ngày của ông. Ông tự hào thết đãi chúng tôi.
‘Ba có biết tin gì mới của Valentina không?’ (Giọng ơ hờ cứ như là chuyện người dưng.)
‘Có, cô ấy có viết thư. Cô ấy rất khỏe.’
‘Cô ấy đang ở đâu? Đã quay lại với chồng chưa?’
‘Ừ, giờ cô ấy đang ở đó. Anh ta là người có học. Hiệu trưởng trường bách khoa.’
‘Vậy cô ấy định thế nào? Có quay lại Anh quốc không?’ Giọng vui vẻ giữ-khoảng-cách.
‘Hừm, có thể. Ba không biết.’
Rõ ràng là ông biết nhưng không chịu nói.
‘Vậy gã đàn ông tóc nâu ở cửa sổ, cái tên đã cư xử thô lỗ với ba đó, hắn là ai vậy?’
‘À ha, đó là Bob Tumer. Một người rất đàng hoàng. Kỹ sư dân dụng.’
Ba tôi giải thích Bob Tumer là bạn của cậu của Valentina ở Selby. Hắn ta sống với vợ ở Selby, căn nhà ở Peterborough là nhà mẹ hắn, hắn cho Valentina và Stanislav ở.
‘Vậy ba cho rằng quan hệ giữa hắn và Valentina thế nào?’ Chuyện đã quá rõ ràng với tôi, nhưng tôi cố ý hỏi theo lối đối thoại kiểu Platon để dẫn dắt ông tìm ra sự thật.
‘À há, biết chứ. Hai người từng có quan hệ. Thậm chí anh ta còn định cưới Valentina, nhưng bà vợ không chịu ly dị. Đương nhiên giờ thì hai người đã chấm dứt rồi.’
‘Đương nhiên là Valentina vẫn còn lằng nhằng với hắn, ba à. Ba không thấy mình đang bị lừa sao?’ Giọng tôi trở nên rít róng. Nhưng ba không thèm nghe. Đôi mắt ông nhìn xa vắng. Giờ ông đã trở thành một đứa nhóc tám-mươi-tư-tuổi, chìm đắm vào bản nhạc tình yêu riêng tư của mình.
‘Cũng phải nói thêm là anh ta đã trả tiền nhập quốc tịch cho ba’ ông lẩm bẩm, ‘để đến khi ba lấy cô ấy, ba sẽ là công dân Anh.’
Khi ba lấy cô ấy.
‘Nhưng ba à, ba có tự hỏi - vì sao? Vì sao Bob Turner lại trả tiền nhập quốc tịch cho ba không?’
‘Tại sao?’ Ông cười nhạt tự mãn. ‘Tại sao không?’
Lối đối thoại kiểu Platon của tôi chẳng đem lại kết quả gì, do đó tôi thử cách khác. Tôi lấy Bà Chị Lớn ra làm lá chắn.
‘Ba à, ba có nói với Vera về chuyện Bob Tumer không? Con nghĩ chị ấy sẽ rất bực.’
‘Tại sao ba phải nói với nó? Đây hoàn toàn không phải chuyện của nó’ Mắt ông tỉnh táo trở lại. Quai hàm ông giật giật. Ông sợ.
‘Vera lo lắng cho ba. Chúng con đều hứa với mẹ là sẽ chăm sóc cho ba’
‘Nó chăm sóc ba chỉ để đưa ba sớm xuống lỗ thôi’
Ông bắt đầu ho sù sụ. Những mẩu cà rốt luộc bay tá lả dính cả lên tường. Tôi lấy cho ba một ly nước.
Trong vương quốc tuổi thơ tranh tối tranh sáng, chị tôi là nữ hoàng, ba tôi là Kẻ Tiếm Ngôi bị lưu đày. Trước đó rất lâu, hai bên từng khai chiến. Lâu quá rồi nên tôi không nhớ họ bắt đầu xung đột về chuyện gì, và tôi nghĩ ngay cả bọn họ cũng đã quên. Ba tôi rút lui chiến lược vào lãnh địa ga ra của ông, nơi chứa đầy nhôm, cao su, gỗ, những cơn ho sù sụ và những Ý Tưởng Lớn. Thỉnh thoảng, ông lại xông lên đột kích bằng những lời giận dữ nhằm vào chị gái tôi, và khi chị dọn ra ngoài thì những lời giận dữ ấy lại nhằm vào tôi.
‘Ba à, sao lại nói xấu Vera chứ? Vì sao hai người lúc nào cũng tranh cãi? Vì sao hai người lại...’
Tôi ngần ngừ không muốn dùng chữ ‘ghét’. Chữ đó quá nặng nề, thốt ra rồi là không sao rút lại được. Ba tôi lại bắt đầu ho.
‘Con biết Vera rồi đấy... Tính tình nó tệ hại lắm. Con phải thấy cách nó quấy rầy Ludmilla - mẹ phải để lại mọi thứ cho mấy đứa cháu ngoại, mẹ phải làm bản phụ lục di chúc. Mọi lúc mọi nơi, mặc cho mẹ đang hấp hối. Nó quá quan tâm đến tiền bạc. Và giờ thì nó muốn ba làm di chúc y hệt vậy, chia đều cho ba đứa cháu ngoại. Nhưng ba đã nói KHÔNG. Con nghĩ sao?’
‘Con nghĩ ba nên chia đôi’ tôi đáp. Tôi không để mình bị cuốn vào trò chơi này.
Ha! Thì ra Bà Chị Lớn này vẫn còn đang dòm ngó gia tài của ba - dù giờ chỉ còn căn nhà và lương hưu. Tôi không biết có nên tin ba hay không. Tôi không biết tin vào thứ gì nữa. Tôi cảm thấy dường như có một chuyện gì đó khủng khiếp đã xảy ra trong quá khứ mà không ai chịu nói cho tôi biết bởi dẫu tôi đã bốn mươi mấy tuổi nhưng tôi vẫn chỉ là một đứa bé: quá nhỏ chưa thể hiểu chuyện. Tôi tin điều ông nói về phụ lục di chúc của mẹ. Nhưng giờ ông đang chơi một trò khác, cố gắng lôi kéo tôi theo phe ông chống lại chị.
‘Con nghĩ sao nếu ba di chúc mọi thứ lại cho con và Michael khi ba chết?’ ông hỏi, giọng bỗng trở nên minh mẫn.
‘Con vẫn nghĩ ba nên chia đều cho hai chị em.’
‘Vậy thì cứ theo ý con đi.’ Ông thở dài cáu kỉnh. Tôi từ chối không tham gia cuộc chơi.
Dù tôi thầm thỏa mãn khi thấy mình là đứa con cưng, nhưng tôi phải thận trọng. Ông chúa là hay thay đổi. Lâu lắm rồi, tôi từng là con gái rượu của ba, cô kỹ sư học việc bé bỏng luôn lẵng nhẵng theo đuôi ông. Tôi cố nhớ lại những điều đáng yêu về ba.
Có một thời ba thường đặt tôi ngồi sau chiếc mô tô của ông - ‘Cẩn thận đó, Kolyusha!’ mẹ tôi van vỉ - và chúng tôi gầm rú lướt dọc con đường dài thẳng tắp lầy lội. Chiếc mô tô đầu tiên của ông là chiếc Francis Bamett 250 phân khối do ông tự lắp ráp lấy, từng bộ phận đều do chính tay ông lau rửa và sửa chữa lại. Sau đó là chiếc Vincent đen 350 phân khối mới toanh, rồi chiếc Norton 500 phân khối. Tôi từng đọc thuộc lòng từng cái tên như kinh nhật tụng. Tôi nhớ mình đã chạy ngay đến bên cửa sổ mỗi lần nghe tiếng máy nổ ở đầu đường. Rồi ông vụt chạy vào như làn gió, mang theo kính bảo hộ và chiếc mũ bay bằng da kiểu Nga cũ, hỏi, ‘Ai muốn ngồi xe nào?’
‘Con! Con! Cho con đi!’
Nhưng đó là trước khi ba phát hiện ra tôi chẳng có năng khiếu gì về cơ khí.
Sau bữa trưa, ba tôi chợp mắt một lát, còn tôi thì tìm kéo tỉa cây rồi ra vườn cắt vài bông hồng đem ra mộ mẹ. Mưa vừa tạnh, đất tỏa mùi rễ cây và tăng trưởng - tăng trưởng lộn xộn và mãnh liệt. Bụi hồng nhung leo lên hàng rào ngăn giữa nhà tôi và nhà hàng xóm bị dây bìm bìm quấn chặt, khóm tầm ma đâm chồi trên những khoảnh đất xưa vốn dành riêng cho thì là và mùi tây. Mấy bụi oải hương mẹ tôi trồng hai bên lối đi đã mọc cao, gầy nhẳng và thưa thớt. Anh túc và mao lương, những cây hạt khô thân ngả màu nâu, nằm lẫn với cỏ liễu trong mấy luống hoa, thèm thuồng món sô cô la đen thường được mẹ tôi cho ăn. Ôi, mẹ sẽ thở dài, bao giờ cũng có việc phải làm ngoài vườn. Luôn có cây gì đó mọc lên và cây gì đó cần được xén tỉa. Một con người chẳng có giây phút nào ngơi nghỉ.
Nghĩa trang cũng là nơi sự sống và cái chết sóng vai bên nhau. Một con mèo đốm lông vàng đánh dấu lãnh địa của mình ở đây, rồi đi tuần tiễu dọc hàng rào ngăn cách nghĩa trang và cánh đồng bắp. Một đôi chim hét mập mạp đang tìm giun ở những huyệt mộ mới đào. Năm ngôi mộ mới đã xuất hiện sau ngôi mộ của mẹ; năm người làng nữa đã chết từ khi bà qua đời. Tôi đọc bia mộ của họ. Mẹ... Hết sức thương yêu... Đau buồn từ giã cuộc đời... Ngủ yên cạnh Chúa... Ngàn thu... Một con chuột chũi cũng bận rộn làm việc cùng với mấy người đào huyệt, thỉnh thoảng lại đùn đất lên. Có một đụn đất ngay phía trên mộ của mẹ. Tôi chợt nghĩ con chuột béo mỡ đen óng này chắc đã rúc vào người mẹ ở bên dưới đất đen. Trong tang lễ, viên linh mục nói bà đang ở thiên đường, nhưng mẹ biết mình sẽ nằm sâu dưới lòng đất, bị giun rúc rỉa. (Đừng bao giờ giết một con giun nào, Nadezhda, nó là bạn của người làm vườn.)
Mẹ tôi hiểu về sự sống và cái chết. Một lần bà mua một con thỏ chết ngoài chợ về, lột da và moi ruột nó trên bàn bếp. Bà lấy ra bộ lòng bê bết máu me, luồn một cọng rơm vào khí quản, rồi thổi vào phổi. Tôi mở to mắt nhìn buồng phổi hết phồng lên lại xẹp xuống.
‘Thấy chưa, Nadezhda, chúng ta thở như vậy đó. Chúng ta hít thở và chúng ta sống’
Một lần khác bà đem về một con gà còn sống. Bà đem nó ra sân sau, kẹp nó vào giữa hai đầu gối trong lúc nó ra sức giãy giụa, và nhanh nhẹn bẻ quặt cổ nó một cách nhẹ nhàng như không. Con gà giật giật rồi nằm yên.
‘Thấy không, Nadezhda, chúng ta chết như vậy đó.’
Cả gà và thỏ đều được om vàng cùng tỏi, hẹ và các loại gia vị khác hái trong vườn nhà, và rồi khi chúng tôi chén hết sạch thịt, mẹ lấy xương nấu xúp. Không bỏ đi một tí gì.
○○○
Tôi ngồi trên băng ghế dưới cây anh đào dại trong nghĩa trang, lần giở từng trang ký ức, nhưng càng cố nhớ, tôi càng bối rối không biết đâu là ký ức, đâu là truyện kể. Khi tôi còn nhỏ, mẹ thường kể cho tôi nghe chuyện gia đình - nhưng chỉ là những câu chuyện có kết thúc tốt đẹp. Chị tôi cũng hay kể chuyện: những câu chuyện của chị đều theo khuôn mẫu cứng ngắc, với người tốt (Mẹ) và người xấu (Ba). Chúng đều có khởi đầu, diễn biến, kết thúc và bài học rút ra. Thỉnh thoảng ba cũng kể chuyện cho tôi nghe, nhưng những câu chuyện của ông có kết cấu phức tạp, ý nghĩa mơ hồ, kết thúc không có hậu, với những đoạn lan man lạc đề và những tình tiết mập mờ. Tôi thích mẹ và chị kể chuyện hơn.
Tôi cũng có một câu chuyện để kể. Ngày xửa ngày xưa, chúng tôi là một gia đình, có ba, có mẹ, chị tôi và tôi - không phải một gia đình hạnh phúc nhưng cũng không phải một gia đình bất hạnh, chỉ là một gia đình bình thường, cuộc đời êm đềm trôi, con cái lớn lên, ba mẹ già đi. Tôi còn nhớ có lúc chị tôi và tôi yêu quý nhau, ba tôi và tôi yêu quý nhau. Có lẽ cũng có lúc ba tôi và chị tôi yêu quý nhau, nhưng tôi không nhớ được. Tất cả chúng tôi đều yêu mẹ, và mẹ yêu tất cả chúng tôi. Tôi là một cô gái nhỏ tóc thắt bím ôm con mèo vằn, tấm hình chụp ngày đó vẫn còn để trên bệ lò sưởi. Chúng tôi nói thứ ngôn ngữ khác hẳn nhà hàng xóm, ăn thức ăn khác biệt, làm việc chăm chỉ và cố gắng không dây dưa vào chuyện người khác. Chúng tôi sống tốt để cảnh sát ngầm không đến bắt chúng tôi vào giữa đêm.
Khi còn bé, thỉnh thoảng tôi mặc pyjama ngồi trong bóng tối ở đầu cầu thang, cố nghe lỏm câu chuyện của ba mẹ ở phòng bên dưới. Họ đang nói về chuyện gì? Tôi chỉ có thể nghe thấy câu được câu mất, nhưng tôi cảm nhận được sự khẩn nài gấp gáp trong giọng nói của họ. Hay khi bước vào phòng, tôi để ý thấy giọng của họ đột ngột thay đổi, mặt họ nở một nụ cười gượng gạo.
Có phải họ nói về một thời điểm khác, một đất nước khác? Có phải họ nói về những chuyện xảy ra trong khoảng giữa thời thơ ấu của họ và của tôi - những điều đáng sợ đến nỗi tôi không bao giờ được biết?
Chị tôi hơn tôi mười tuổi và đã đặt một chân vào thế giới người lớn. Chị biết những điều tôi không biết, những chuyện chỉ được nói thì thầm chứ không bao giờ được cao giọng kể ra. Chị biết những bí mật của người lớn khủng khiếp đến nỗi chỉ biết thôi cũng đủ làm trái tim chị tổn thương.
Giờ thì mẹ đã mất, Bà Chị Lớn trở thành người lưu giữ tài liệu của gia đình, người thêu dệt nên những câu chuyện, canh giữ những sự thật định nghĩa rõ chúng tôi là ai. Vai trò này, hơn tất thảy những thứ khác, là thứ tôi thèm muốn và ganh tị nhất. Tôi nghĩ đã đến lúc tôi tự mình tìm hiểu toàn bộ câu chuyện và kể lại nó theo cách của mình.
0

5.
Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina

Tôi biết được những gì về mẹ? Ludmilla (Milla, Millochka) Mitrofanova sinh năm 1912 ở Novaya Aleksandria, một thành phố nhỏ có quân đội đồn trú. Giờ nơi này thuộc về Ba Lan, nhưng lúc đó nó nằm ở mé Tây của Đế quốc Nga. Cha bà, Mitrofan Ocheretko, là sĩ quan kỵ binh, anh hùng chiến tranh và là một kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Mẹ bà, Sonia, sinh Ludmilla ở tuổi mười chín. Sonia lúc ấy là giáo viên thực tập, một người sống sót.
Gia đình Ocheretko không thuộc tầng lớp cao sang nhưng là những phú nông ở vùng Poltava của Ukraina. Họ sống ở ven khutor (khu định cư), trồng trọt trên một khoảnh đất ba mươi héc ta ở bờ Đông sông Sula. Họ là những người Cô dắc chăm chỉ, ham rượu chè, bằng cách nào đó đã kiếm được đủ số tiền lót tay cần thiết để nhận được một hợp đồng béo bở cung cấp ngựa cho quân đội Nga hoàng, số tiền kiếm được giúp họ dành dụm đủ để trả một khoản hối lộ lớn gấp bội nhằm đảm bảo cho con trai lớn của họ, Mitrofan, kiếm được một chỗ trong học viện quân sự.
Mitrofan Ocheretko dường như là một người lính xuất sắc: dũng cảm và thận trọng, ông yêu cuộc sống nhưng luôn kính trọng cái chết. Không giống như những sĩ quan xuất thân từ tầng lớp quý tộc, coi nông dân chẳng phải là người, Ocheretko quan tâm đến lính tráng dưới quyền, trân trọng tính mạng của họ và chỉ liều lĩnh khi cần đạt được gì đó. Sau bao vất vả gian nguy cùng cuộc tàn sát thời Chiến tranh Thế giới thứ nhất, ông xuất hiện trong ánh hào quang. Giây phút đáng nhớ của ông đến vào năm 1916, ở Mặt trận phía Đông, khi ông lãnh một viên đạn vào đùi ở hồ Naroch trong lúc bò qua đầm lầy để cứu em họ của Nga hoàng bị kẹt giữa dải bùn lầy lội kéo dài hàng dặm ven hồ do tuyết tan khi xuân đến. Ocheretko kéo chàng quý tộc trẻ đến nơi an toàn và ôm anh ta trong vòng tay giữa trận mưa pháo ồ ạt.
Ông được thưởng Thập tự giá Thánh George cho lòng dũng cảm. Đích thân Nga hoàng cài nó lên ngực ông, còn Hoàng hậu thì xoa đầu cô bé Ludmilla. Hai năm sau, Nga hoàng và Hoàng hậu chết, Ocheretko trở thành kẻ trốn chạy ngoài vòng pháp luật.
Sau cuộc cách mạng năm 1917, Ocheretko không gia nhập Bạch quân Nga hay Hồng quân Xô viết. Thay vào đó, ông dẫn Sonia cùng ba đứa trẻ - mẹ tôi Ludmilla khi ấy có một em trai và một em gái - quay trở lại Poltava và bỏ mặc họ trong căn nhà gỗ xiêu vẹo ở khutor rồi tham gia vào Quân đội Cộng hòa Quốc gia Ukraina nổi loạn. Đó là thời khắc quyết định: trong lúc nước Nga bị xâu xé, Ukraina cuối cùng cũng có cơ hội thoát khỏi ách thống trị của đế quốc.
Ludmilla hiếm khi gặp được cha trong những năm đó. Thỉnh thoảng ông về vào giữa đêm, đói khát và kiệt sức, rồi lại bỏ đi trước khi trời sáng. ‘Đừng nói với ai chuyện ba con về’ người mẹ thì thào dặn các con.
Cuộc nội chiến gây ra hàng loạt cuộc thảm sát và trả đũa đẫm máu tàn tệ đến nỗi cái gọi là tâm hồn con người dường như đã chết. Không thị trấn, thậm chí là không làng quê nào dù nhỏ bé nhất, hay không gia đình nào thoát khỏi bàn tay tội ác. Sử sách ngày nay còn kể lại bao nhiêu cách tra tấn mới đầy khéo léo hòng kéo dài cái chết đau đớn. Trí tưởng tượng, bị cơn khát máu làm cho méo mó, phát minh ra biết bao cách tra tấn không sao tưởng tượng được, còn những người láng giềng cũ thì trở thành kẻ thù mà dẫu bắn chết vẫn chưa hả dạ. Nhưng ba mẹ tôi không bao giờ kể cho tôi nghe những chuyện khủng khiếp này: tôi là đứa con cưng sinh ra trong thời bình.
Thời thơ ấu của mẹ theo lời bà kể lúc nào cũng thơ mộng - những mùa hè dài nắng, họ chạy chân trần trên đồng, cởi trần nhảy xuống tắm dòng Sula, hay chăn bò ở những đồng cỏ xa và rong chơi từ sáng sớm đến tối mịt. Không giày, không quần áo, không ai buộc đám trẻ phải làm gì. Cỏ thì cao ngất đủ để chơi trốn tìm và xanh ngăn ngắt điểm lẫn sắc đỏ vàng của những đóa hoa dại. Bầu trời xanh thẳm, cánh đồng bắp tựa như dải vàng hải dài tít tắp. Thỉnh thoảng, ở đằng xa, họ nghe thấy tiếng súng bắn, và nhìn thấy những luồng khói bốc lên từ một căn nhà bị thiêu rụi.
○○○
Ba tôi tự đặt mình đứng trước tấm bản đồ Ukraina và bắt đầu bài giảng dài hai tiếng đồng hồ đầy tâm huyết cho thính giả bất đắc dĩ duy nhất (Mike) về lịch sử, chính trị, văn hóa, kinh tế, nông nghiệp và hàng không của Ukraina. Học trò của ông ngửa người thoải mái trên chiếc ghế bành đối diện với tấm bản đồ nhưng mắt thì lại tập trung vào một điểm nào đó cách xa đầu của người diễn thuyết. Má anh ửng đỏ. Tay anh cầm một ly rượu mận do mẹ làm.
‘Nhiều người thường quên mất rằng cuộc nội chiến không chỉ đơn giản là quân trắng chống lại quân đỏ. Có không ít hơn bốn đội quân nước ngoài tranh giành quyền ảnh hưởng ở Ukraina: Hồng quân Xô viết, Bạch quân Đế quốc Nga, quân đội Ba Lan thừa cơ xâm chiếm, và quân Đức dựng lên chế độ bù nhìn của Skoropadski’
Tôi ở trong bếp thái rau nấu xúp, lơ lễnh nghe chữ được chữ mất.
‘Người Ukraina tập hợp dưới hướng của các atman người Cô dắc, hay dưới khẩu hiệu vô chính phủ của Makhno. Mục tiêu của bọn họ tuy đơn giản nhưng cũng cực kỳ khó khăn: giải phóng Ukraina khỏi mọi lực lượng ngoại bang’
Bí mật món xúp tuyệt vời của mẹ là bỏ thật nhiều muối (ba mẹ đều bị huyết áp cao), một mẩu bơ to đùng (họ không quan tâm đến chất béo gây xơ cứng động mạch), rau, tỏi và gia vị tươi hái ngoài vườn. Tôi không thể làm món xúp như thế.
‘Ông ngoại của Nadezhda, Mitrofan Ocheretko, gia nhập một nhóm dưới sự lãnh đạo của Tiutiunik, rồi trở thành phó tướng của ông này. Họ tạm thời liên kết với "Chế độ Đốc chính Ukraina" của Simon Petlura. Mở ngoặc là Ocheretko là một người rất nổi bật, ria mép dài và mắt đen như than. Ba từng xem qua ảnh của ông ấy, nhưng đương nhiên không có dịp được gặp.’
Khi xúp sắp sôi, mẹ dốc vào hàng muỗng ‘halushki’ - hỗn hợp trứng sống và bột hòn đánh đều với muối và gia vị. Hỗn hợp này sẽ phồng lên thành món bánh hấp tan ra nơi đầu lưỡi.
‘Khi nội chiến kết thúc, Ocheretko trốn qua Thổ Nhĩ Kỳ. Lúc này em trai Sonia, Pavel, đã trở thành một người đàn ông xuất chúng, kỹ sư đường sắt từng tham gia xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên từ Kiev đến Odessa - cậu ấy là bạn của Lenin đấy. Nhờ vậy, vài lá thư được gửi đi, và Mitrofan Ocheretko được xá tội phục chức, trở thành thầy dạy đánh kiếm trong học viện quân sự ở Kiev. Và đây chính là nơi Ludmilla và ba gặp nhau lần đầu tiên ở Kiev.’ Giọng ông chợt trở nên khàn khàn.
‘Ba ơi, Mike ơi, bữa trưa sẵn sàng rồi!’
○○○
Khoảng thời gian kể từ lúc Valentina quay lại Ukraina cho đến khi cô ả trở về Anh quốc là khoảng thời gian ba tôi tha hồ phát triển bản ngã và trí tuệ. Ông bắt đầu làm thơ trở lại, những mẩu giấy để vương vãi khắp nhà với cùng những dòng chữ kirin nguệch ngoạc ấy. Tôi thỉnh thoảng giải mã ra được chữ ‘yêu’ nhưng không đủ can đảm đọc thêm.
Mỗi tuần ông đều viết thư cho Valentina ở Ukraina, ngoài ra ông còn gọi điện để nói chuyện, thỉnh thoảng với Valentina, thỉnh thoảng với người chồng trí thức của cô ả. Tôi biết ông nói chuyện lâu vì đã xem hóa đơn điện thoại.
Tuy nhiên, với chị tôi và tôi, ông lại hết sức kín đáo. Ông không muốn chúng tôi xen vào chuyện của mình. Ông đã quyết tâm rồi.
Tháng Chín Vera đến thăm ông. Chị mô tả chuyến viếng thăm thế này.
‘Căn nhà bẩn thỉu. Ba vùi đầu vào báo chí. Ba chẳng ăn thứ gì khác ngoài táo. Tôi cố thuyết phục ông ta vào viện dưỡng lão nhưng ông ta nói là cô khuyên ông ta đừng vào. Tôi không tưởng tượng nổi cô nghĩ cô có thể kiếm chác được gì từ chuyện này nữa, Nadezhda. Tôi cho rằng cô sợ nếu ba bán nhà thì cô sẽ không được chia phần. Thật hết nói! Cô bị ám ảnh quá rồi đấy. Căn nhà quá rộng cho ba. Tôi cố kiếm người giúp việc nhưng ba từ chối. Còn cái chuyện kinh tởm kia - tôi cố tìm hiểu con điếm kia đang bày trò gì nhưng ba không chịu nói nửa lời. Ông ta cứ lái sang chuyện khác. Tôi chẳng biết ba thế nào nữa. Ông ta hành động thật kỳ quặc. Chúng ta phải gặp bác sĩ để khám xem liệu ba có bị tâm thần không, cô có đồng ý không? Ba cứ như đang sống trong thế giới của riêng ông ta vậy.’
Tôi để ống nghe ra xa lỗ tai, mặc cho chị tha hồ nói hươu nói vượn.
Ngày hôm sau ba gọi điện cho tôi để miêu tả chuyến viếng thăm của Bà Chị Lớn.
‘Khi ba thấy xe lái tới cổng, rồi thấy nó bước ra khỏi xe và đi vào nhà, Nadezhda à, con có tưởng tượng được không, ba són cả ra quần’ Ông nói cứ như bàng quang của ông không chịu sự khống chế của ông mà bị một sức mạnh siêu nhiên sai khiến vậy. ‘Con thấy đấy, cái con Vera này, nó chuyên quyền khủng khiếp. Bạo chúa. Cứ như Stalin vậy. Nó lúc nào cũng quấy rầy ba. Phải làm thế này, phải làm thế kia. Tại sao ba phải nghe lời cơ chứ? Ba không tự quyết định được hay sao? Giờ nó lại bảo ba phải đi viện dưỡng lão. Ba không đủ tiền để ở viện dưỡng lão. Nó mắc quá đi. Tốt nhất là ba ở lại đây. Sống ở đây. Chết ở đây. Con nói với nó là ba nói vậy đó. Nói với nó là ba không muốn nó đến thăm nữa. Con và Michael đến là được rồi.’
Lần tới khi tôi và Mike đến thăm, tôi thấy nhà và vườn đúng hệt như chị đã mô tả. Một lớp bụi xám phủ dày lên mọi lớp sơn trắng và bám vào mạng nhện chăng trên trần nhà. Phòng khách ê hề táo rụng xếp trong các hộp và thùng nông đáy để trên bàn, ghế, tủ ly, thậm chí cả ở nóc tủ quần áo, khiến cả căn nhà ngào ngạt mùi táo chín nẫu. Ruồi giấm lượn lờ quanh những hái táo Grieves và Beauty of Bath. Mấy trái táo này nụng hơn nên đã bắt đầu ngả nâu, vài ba chỗ mốc lên, ba tôi mắt cận nên không nhìn thấy. Ba ngồi ở đầu bàn, tay cầm một con dao nhỏ, gọt vỏ, cắt khoanh rồi xếp thành từng đống đủ đưa vào lò vi sóng. Tôi để ý thấy ba tôi nhìn đã khá hơn trước nhiều.
‘Xin chào! Xin chào!’ ông vui vẻ chào chúng tôi. ‘À, không có gì mới để báo cáo. Táo ngon tuyệt! Nhìn này!’ Ông mời chúng tôi một đĩa táo nướng nhũn Toshiba. ‘Hôm nay chúng ta phải đi thư viện. Ba có đặt mấy quyển sách. Ba đang bắt đầu rất quan tâm đển thứ gọi là nhân sinh quan kỹ thuật bởi nó kết hợp tư tưởng vào thiết kế các máy móc mới.’
Mike tỏ vẻ khâm phục. Tôi thì đảo mắt lên trần nhà. Ba tôi hùng hục nói tiếp, trong lúc gọt quanh lớp vỏ táo nâu sáng loáng.
‘Con thấy đấy, chính Marx cũng nói là quan hệ sản xuất gắn liền với cơ cấu sản xuất. Lấy ví dụ máy kéo đi. Vào thế kỷ mười chín, những chiếc máy kéo đầu tiên được làm ra bởi các thợ thủ công cá thể trong phân xưởng riêng của họ. Giờ thì chúng được sản xuất trên dây chuyền lắp ráp, và ở cuối mỗi chuyền lại có một người đàn ông cầm đồng hồ tính giờ đứng canh. Ông ta đo thời gian quy trình. Để công việc hiệu quả hơn, công nhân phải làm việc chăm chỉ hơn. Giờ hãy nhìn người đàn ông cày ruộng. Anh ta ngồi một mình trong buồng lái. Anh ta kéo cần lái và máy kéo bắt đầu cày xới. Anh ta đi theo độ dốc của mặt đất, chú ý đến loại đất và thời tiết. Anh ta tin rằng mình làm chủ quy trình. Nhưng ở cuối cánh đồng lại có một người đàn ông khác cầm đồng hồ tính giờ. Ông ta quan sát người lái máy kéo, ghi chép lại những đường cày và những lần anh ta quay đầu máy. Do đó, thời gian cần để cày trọn một cánh đồng được xác định, và lương của người lái máy kéo được trả trên cơ sở đó. Bây giờ, con xem này, vào thời đại mọi thứ được điều khiển bằng máy tính, ngay cả người đàn ông cầm đồng hồ tính giờ cũng trở nên thừa thãi bởi đồng hồ được tích hợp vào thiết bị đo đạc’
Ông hăng hái múa may con dao nhỏ. Từng lọn vỏ táo rơi xuống bàn rồi trượt xuống thảm, và bị giẫm lên thành một đám đặc sệt thơm ngát.
○○○
‘Do testosterone tăng mạnh đấy mà’ Mike nói khi chúng tôi đi theo ba trên con đường đông đúc của Peterborough vào sáng thứ Bảy. ‘Nhìn kìa, lưng ba đã thẳng lên, chứng viêm khớp của ba cũng đỡ rồi. Chúng ta còn khó mà theo kịp ba nữa’
Đúng như vậy. Ba tôi dẫn đầu, len lỏi lao qua đám đông với một mục đích duy nhất. Ông đang đi thẳng tới thư viện công cộng để lấy sách. Ông đảo chân thật nhanh, thân trên cúi về phía trước, tay để hai bên, đầu vươn ra, cằm bạnh, nhắm thẳng về phía trước.
‘Ô, đàn ông các anh y hệt nhau, cứ tưởng tình dục là liều thuốc vạn năng.’
‘Nó chữa được nhiều bệnh đấy chứ.’
‘Thật tức cười, nhưng khi em nói chuyện của ba và Valentina với đám bạn gái, ai cũng kinh hãi hết. Họ thấy một ông già yếu ớt bị lợi dụng. Thế nhưng đám đàn ông, kể cả anh, Mike’ (tôi lúc lắc ngón tay) ‘bọn họ đáp lại bằng một nụ cười hiểu biết đáng ghét, rồi tấm tắc khâm phục nữa chứ. Ô, ông ấy còn sung quá chứ. Thành công tuyệt đỉnh, chiến thắng cả đám trẻ non nớt. Chúc ông ấy may mắn. Cứ để ông ấy vui vẻ chút mà’
‘Em cũng phải công nhận là nó có tác dụng tốt với ba đấy chứ.’
‘Em chẳng công nhận gì cả.’
(Cãi lộn với Mike chẳng dễ chịu như khi cãi với Vera hay ba tôi. Anh lúc nào cũng đầy lý lẽ đến phát cáu.)
‘Em có chắc là mình không quá khắt khe không?’
‘Đương nhiên là em không khắt khe rồi!’ (Nếu có thì sao chứ?) ‘Đó là vì ông là cha em - em chỉ muốn ông người lớn một chút’
‘Thì ông cũng người lớn đó chứ, theo cách của ông.’
‘Không, ba y như một thằng nhóc vậy. Một thằng nhóc tám-mươi-tư-tuổi. Bọn đàn ông các anh chỉ là một đám nhóc. Nháy nháy mắt. Thúc thúc khuỷu tay. Đôi gò bồng đảo vĩ đại. Làm ơn đi!’ tôi rít lên.
‘Nhưng em thấy đó, mối quan hệ này tốt cho ba. Thổi cho ba một luồng sinh khí mới. Chứng tỏ rằng tình yêu không có tuổi’
‘Anh muốn nói tình dục thì có’
‘Ừ, có lẽ là vậy. Ba em chỉ muốn thỏa mãn giấc mơ của mọi thằng đàn ông - nằm trong vòng tay của một phụ nữ trẻ tuổi xinh đẹp’
‘Giấc mơ của mọi đàn ông á?’
Tối hôm đó, tôi và Mike ngủ riêng giường.
○○○
Ba tôi mượn từ thư viện mấy quyển tiểu sử của các kỹ sư thế kỷ mười chín: John Fowler, David Greig, Charles Burrell, anh em Fisken. Được anh chồng trí thức của Valentina - hiệu trưởng trường bách khoa - khích lệ, ba đã bắt đầu nghiên cứu và viết tác phẩm lớn của mình: Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina.
Chiếc máy kéo đầu tiên được phát minh bởi John Fowler, một người không mấy tiếng tăm, thành viên của tín đồ phái Giáo hữu, một con người thông minh và tiết chế. Không vodka, bia, rượu, đến một giọt trà nhấp môi cũng không. Do vậy, đầu óc của ông ta tỉnh táo một cách khác thường. Một số người còn gọi ông ta là thiên tài.
Fowler là một người tài giỏi, người đã nhìn thấy ở máy kéo một công cụ giải phóng khối lượng lao động khổng lồ khỏi cuộc đời lam lũ của con người, giúp họ cảm nhận được cuộc sống tinh thần, ông làm việc cả ngày lẫn đêm để kịp hoàn thành kế hoạch.

Ông viết bằng tiếng Ukraina rồi vất vả dịch sang tiếng Anh (ba tôi học tiếng Anh và tiếng Đức hồi trung học) cho Mike đọc. Tôi ngạc nhiên khi thấy ba viết tiếng Anh giỏi như vậy, dẫu đôi khi tôi cũng phải giúp ông dịch thuật.
Chiếc máy kéo đầu tiên do Fowler phát minh chưa thể gọi là máy kéo vì nó không kéo cày theo. Dù sao thì nó vẫn là một cỗ máy khéo léo tuyệt vời.
Máy kéo của Fowler bao gồm hai động cơ đặt ở hai đầu cánh đồng và nối với nhau bằng một sợi dây cáp cuộn tròn. Lưỡi cày được dính cứng vào dây cáp. Khi mở động cơ, sợi dây cáp kéo lưỡi cày đi lên đi xuống cánh đồng, lên rồi xuống. Lên rồi xuống.

Giọng nói của ba tôi vo ve lên bổng xuống trầm như con ong nghệ được thỏa mãn vào dịp thu hoạch. Căn phòng ấm áp và nức mùi trái cây. Bên ngoài cửa sổ, ánh chiều tim tím phủ xuống cánh đồng. Một chiếc máy kéo chầm chậm đi lên đi xuống, vùi những gốc rạ cháy xém vào đất.
0

6.
Ảnh cưới

Bất chấp nỗ lực của tôi và Vera, Valentina và con trai cô ả Stanislav đã quay lại Anh vào ngày 1 tháng Ba. Họ vào qua cửa khẩu Ramsgate, thị thực du lịch sáu tháng. Không ai trong Đại sứ quán Anh ở Kiev phản đối cấp thị thực cho họ; người ở Ramsgate chỉ liếc vội qua hộ chiếu của bọn họ. Ngay khi quay lại Peterborough, họ chuyển về ở chung với Bob Tumer. Valentina kiếm được việc làm ở một khách sạn gần thánh đường và nhanh chóng bắt tay vào kế hoạch kết hôn với ba tôi. Sau hàng giờ nói chuyện điện thoại, tôi mới moi ra được chừng đó thông tin.
Ba tôi cố giấu kế hoạch của mình không cho chị em tôi biết. Khi bị hỏi thẳng, ông lảng sang chuyện khác. Nhưng ông không phải là người quen nói dối nên bị bắt giò ngay. Ông quên khuấy mất những điều từng nói với chúng tôi, và tưởng rằng chúng tôi vẫn không thèm nói chuyện với nhau. Nhưng chúng tôi đã bắt đầu chia sẻ thông tin.
‘Đương nhiên là cuối cùng ba cũng gửi cho ả 1.800 bảng, Vera à. Ba chuyển vào tài khoản của ả rồi ả rút ra hết. Ba cũng gởi tiền thường xuyên cho ả trong suốt thời gian ả không có ở đây’
‘Thật hết nói nổi! Quá đáng!’ Giọng Bà Chị Lớn rít lên the thé. ‘Thế là gần hết khoản lương hưu của ông ta rồi còn gì.’
‘Ba còn gửi tiền để ả và Stanislav đi từ Lviv đến Ramsgate. Sau đó ả nói là ả cần thêm tiền để có thị thực quá cảnh qua Áo.’
‘Mẹ nói đúng quá’ Vera thốt lên. ‘Ba mất trí rồi.’ ‘Khi hết tiền thì ba phải bó tay thôi’
‘Có thể. Nhưng có thể đây chỉ là bắt đầu thôi.’
Ba tôi chẳng những cứu vớt người phụ nữ Ukraina xinh đẹp nhưng bất hạnh mà còn muốn vun đắp tài năng cho cậu con trai có trí thông minh thiên tài của ả.
Stanislav, mười bốn tuổi, được gửi đến một nhà tâm lý học độc lập. Ông này được ba tôi trả một khoản lệ phí vừa phải để kiểm tra chỉ số IQ của thằng nhóc và viết giấy chứng nhận nó là một thiên tài. Nhờ thế mà thằng bé (cũng đồng thời là một nghệ sĩ dương cầm tài năng) được nhận vào học ở một trường tư nổi tiếng ở Peterborough. (Đương nhiên nó quá thông minh để vào học ở trường phổ thông địa phương vốn chỉ dành riêng cho con cái của đám nông dân.)
Chị tôi, người phải lo trả một khoản tiền lớn cho hai cô con gái thông minh thiên tài đi học ở một trường cao cấp, đã hết sức phẫn nộ. Tôi, kẻ đưa đứa con gái thông minh thiên tài của mình học ở trường phổ thông địa phương, cũng hết sức phẫn nộ. Cơn giận của chúng tôi nổ đì đùng qua lại theo đường dây điện thoại. Cuối cùng thì chúng tôi cũng tìm được điểm chung.
Và một vấn đề nữa. Romeo và Juliet đã phải trả giá mới hiểu ra rằng kết hôn không bao giờ chỉ là việc của hai kẻ đang yêu mà còn là việc của gia đình hai bên. Vera và tôi không muốn Valentina bước vào gia đình mình.
‘Nói thẳng ra’ Vera lên tiếng. ‘Chúng ta không muốn một kẻ tầm thường như vậy’ (Tôi không có nói đâu nhé!) ‘mang họ của chúng ta.’
‘Ồ thôi nào, Vera. Gia đình chúng ta cũng có gì đặc biệt đâu. Chúng ta cũng chỉ là một gia đình bình thường, như mọi người khác thôi.’
Tôi bắt đầu thách thức vai trò bảo vệ lịch sử gia đình mà Bà Chị Lớn tự khoác vào mình. Chị không ưa điều đó chút nào.
‘Chúng ta là một gia đình tư sản truyền thống, Nadezhda. Không phải là đám mới nổi.’
‘Nhưng gia đình Ocheretko thì sao? Tá điền giàu có...’
‘Chủ nông trại.’
‘... sau trở thành kẻ buôn bán ngựa.’
‘Nuôi ngựa’
‘Lại còn là người Cô dắc nữa. Có thể nói là hơi hoang dã một chút’
‘Sôi nổi chứ’
‘Còn gia đình Mayevskyi là giáo viên’
‘Ông nội Mayevskyi là Bộ trưởng Bộ Giáo dục’ ‘Nhưng chỉ trong vòng sáu tháng. Của một quốc gia không tồn tại.’
‘Đương nhiên là Ukraina Tự do có tồn tại chứ. Thật tình, Nadia à, vì sao cô cứ nhìn mọi việc một cách u ám vậy chứ? Cô nghĩ cô là thư ký của lịch sử à?’
‘Không nhưng...’ (Thực ra đúng là tôi nghĩ như vậy.) ‘Khi tôi còn nhỏ...’ Giọng chị dịu lại. Tôi nghe tiếng chị lục tìm thuốc lá. ‘Khi tôi còn nhỏ, bà Sonia thường kể cho tôi nghe câu chuyện về đám cưới của bà. Một đám cưới là phải như vậy chứ, đâu phải là trò hề thảm hại mà ba chúng ta bị lôi kéo vào đâu’
‘Nhưng nhìn ngày tháng đi, Vera. Cô dâu lúc ấy đã mang bầu bốn tháng rồi’
‘Họ yêu nhau mà.’
Chuyện gì đây? Bà Chị Lớn trở nên lãng mạn lãng xẹt rồi sao?
○○○
Bà ngoại tôi, Sonia Blazhko, cưới Mitrofan Ocheretko năm mười tám tuổi tại thánh đường Thánh Michael vòm vàng ở Kiev. Bà mặc một chiếc váy trắng và đeo mạng che mặt, lủng lẳng trên cổ là một mặt dây chuyền vàng tuyệt đẹp. Mái tóc nâu dài của bà đội một vòng hoa trắng. Dù dáng bà thanh mảnh, nhưng cái bụng bầu của bà hẳn đã lộ rõ. Người anh cả của bà, Pavel Blazhko, kỹ sư đường sắt, sau này là bạn của Lênin, dắt bà đi dọc lối đi giữa nhà thờ bởi ba của bà quá yếu không thể đứng suốt buổi lễ. Chị gái của bà, Shura, vừa tốt nghiệp bác sĩ, làm phù dâu. Hai cô em gái vẫn còn đi học tung những cánh hồng vào người bà, và òa khóc khi chứng kiến bà hôn chú rể.
Đàn ông nhà Ocheretko sải bước dài vào nhà thờ với giày cưỡi ngựa, áo sơ mi thêu và quần thụng kỳ dị. Phụ nữ thì mặc váy xòe rộng, đi giày bốt đế nhỏ, tóc thắt dây nơ. Họ đứng túm tụm thành một nhóm nhặng xị ở sau nhà thờ, rồi nhanh chóng bỏ đi vào cuối buổi lễ mà chẳng thèm cho tiền linh mục.
Gia đình Blazhko coi thường gia đình chú rể, cho rằng những người đó thật thô lỗ, chỉ đỡ hơn tướng cướp đôi chút, uống say xỉn và chẳng bao giờ chải tóc. Gia đình Ocheretko lại nghĩ bọn người Blazhkov là đám thị dân cáu kỉnh và là những kẻ phản bội đất nước. Sonia và Mitrofan không quan tâm đến suy nghĩ của cha mẹ. Họ đã ăn nằm với nhau, và trái ngọt đang đến với họ.
○○○
‘Đương nhiên nó bị kéo đổ vào năm 1935’
‘Cái gì cơ?’
‘Thánh đường Thánh Michael vòm vàng đấy’
‘Ai kéo đổ?’
‘Thì cộng sản chứ ai’
Ha! Thì ra đằng sau câu chuyện lãng mạn này cũng ẩn giấu thông điệp đấy chứ.
‘Ba và Valentina yêu nhau, Vera à’
‘Sao cô có thể nói những lời ngớ ngẩn đến thế, Nadia? Cô không bao giờ chịu lớn lên à? Nghe này, cô ả muốn kiếm hộ chiếu và giấy phép lao động, và cả số tiền ít ỏi mà ba dành dụm được. Quá rõ ràng rồi. Ba thì bị cặp vú của nó làm mê mẩn. Ba chẳng nói đến thứ gì khác cả.’ ‘Ba cũng hay nói chuyện về máy kéo đấy chứ.’
‘Máy kéo và vú. Thế đấy.’
(Sao chị ấy lại ghét ba đến vậy?)
‘Còn về ba mẹ chúng ta, chị có nghĩ là họ cưới nhau vì tình yêu không? Liệu có phải đó chỉ là một cuộc hôn nhân vụ lợi không?’
‘Chuyện đó khác. Mỗi thời một khác’ Vera nói. ‘Lúc ấy mọi người phải tìm cách để sống sót. Mẹ đáng thương - sau ngần ấy chuyện xảy ra lại lấy phải ba. Đúng là số phận trớ trêu!’
○○○
Năm 1930, khi mẹ tôi mười tám, ba của bà bị bắt. Lúc bấy giờ là vài năm trước khi các cuộc thanh trừng lên tới đỉnh điểm kinh hoàng, nhưng chuyện xảy ra thời ấy thật vô cùng đáng sợ: nửa đêm có tiếng gõ cửa, con nít òa lên khóc, bà ngoại tôi Sonia Ocheretko mặc áo ngủ, mái tóc dài buông xõa sau lưng, năn nỉ đám cảnh sát.
‘Đừng lo, đừng lo!’ ông ngoại tôi gọi với lại khi họ kéo ông đi với mỗi bộ quần áo đang mặc trên người. ‘Đến sáng anh sẽ về thôi.’ Bọn họ không bao giờ gặp lại ông nữa. Ông không bao giờ được đưa ra xét xử.
Sáu tháng sau đó, ngày nào Ludmilla cùng các anh chị em cũng theo mẹ đem một gói đồ ăn đến trại giam. Họ đưa đồ ăn cho lính gác ở cửa, hy vọng một phần đồ ăn sẽ tới tay ông ngoại. Một ngày nọ, viên lính gác nói, ‘Mai không cần tới nữa đâu. Ông ấy không cần thức ăn nữa.’
Bọn họ đã gặp may. Những năm thanh trừng chính trị sau đó, chẳng những người phạm tội mà gia đình, bạn bè, đồng nghiệp hay bất kỳ ai bị nghi ngờ có liên quan đều bị bắt đi cải tạo. Ocheretko bị xử tử, nhưng gia đình ông thoát tội. Lúc ấy ở lại Kiev không còn an toàn nữa. Ludmilla cũng bị đuổi khỏi khóa chuyên ngành thú y ở trường đại học - bà giờ đã là con gái kẻ thù của nhân dân. Anh em bà đều bị buộc nghỉ học. Họ chuyển về khutor và cố tìm cơ sống sót.
Chuyện đó chẳng dễ dàng gì. Dù đất nông nghiệp ở Poltava thuộc loại màu mỡ nhất cả Liên Xô, người nông dân vẫn phải đối mặt với nạn đói.
Họ ăn thịt cừu, gà, dê, rồi tới chó, mèo; rồi thì chuột cống, chuột nhắt; rồi chẳng còn gì để mà ăn ngoại trừ cỏ. Khoảng bảy đến mười triệu người đã chết trên khắp Ukraina trong nạn đói năm 1932-1933.
Sonia Ocheretko sống sót. Bà nấu canh suông từ cỏ và lá chút chít dại hái ngoài đồng. Bà đào cải ngựa, rễ atisô, tìm được một ít khoai tây trong vườn. Đến khi rau cỏ đều hết, họ bẫy lũ chuột sống trên mái lá để ăn, rồi đến lúc phải ăn cả mái lá và nhai da thuộc để làm dịu cơn đói. Khi đói quá không ngủ được, họ thường cất tiếng ca:
‘Có một ngọn đồi cao, và bên dưới là đồng cỏ,
Đồng cỏ xanh ngắt tốt tươi
Tưởng như đang ở thiên đường vậy’

Ở làng bên, có một người phụ nữ đã ăn thịt đứa con nhỏ của mình. Chị ta phát điên và lang thang khắp đường làng ngõ hẻm mà kêu khóc, ‘Nó chết rồi mà. Nó chết rồi. Ăn thì có sao? Thật là béo mập! Sao lại lãng phí? Tôi không có giết nó! Không! Không! Không! Nó chết trước mà’
Khutor nằm ở nơi hẻo lánh, nhờ vậy mà họ sống sót - nếu có ai đó nghĩ tới họ thì cũng tưởng họ chết rồi. Năm 1933, họ may mắn xoay được giấy phép đi lại và đã làm một cuộc hành hình dài đến Luhansk, về sau được đổi tên thành Voroshilovgrad, nơi chị của Sonia là Shura đang sống.
Shura là bác sĩ, lớn hơn Sonia sáu tuổi. Bà là người vui tính, thích các loại mũ đắt tiền, tóc bà nhuộm đỏ và giọng cười khàn khàn (bà hút thuốc lá tự cuốn tự tay trồng trong vườn nhà.) Bà sống với một ông chồng già, Đảng viên và là bạn của Nguyên soái Voroshilov, một người rất có thế lực. Họ sống trong một ngôi nhà gỗ kiểu cũ ở ven thị trấn, với mái hiên chạm trổ, cửa sổ sơn xanh, hoa hướng dương và cây thuốc lá mọc đầy vườn. Shura không có con nên rất thương con của Sonia. Khi Sonia tìm được chỗ dạy học và chuyển tới sống trong một căn hộ nhỏ trong thị trấn với hai đứa bé hơn, Ludmilla ở lại với bà Shura. Chồng bà Shura tìm cho cô việc làm trong một xí nghiệp đường sắt ở Luhansk, ở đó cô phải học lái cẩu. Ludmilla ngần ngừ. Cô sẽ làm gì với cần cẩu chứ?
‘Làm đi cháu’ bà Shura thúc giục. ‘Cháu sẽ trở thành một người vô sản’
Lúc đầu, việc điều khiển những cỗ máy khổng lồ này quay theo ý mình khiến Ludmilla cảm thấy thích thú. Nhưng sau đó công việc trở nên chán ngắt. Rồi chán chết đi được. Một lần nữa cô mơ mộng được trở thành bác sĩ thú y. Thú vật tỏa ra sinh khí, lại ấm áp khi chạm vào, làm ta thích thú hơn khi sai bảo, và ngoan ngoãn hơn những cỗ máy đơn thuần chỉ biết hoạt động nhờ đòn bẩy. (‘Cần cẩu hay máy kéo làm sao so sánh được với ngựa hả con, Nadia!’) Bác sĩ thú y thời đó chỉ chữa bệnh cho súc vật đáng tiền - bò cái, bò đực, ngựa. (‘Thử nghĩ xem, Nadia, đám người Anh này sẵn sàng bỏ ra cả trăm bảng để cứu mạng mèo hay chó thứ có thể nhặt đầy đường. Tốt bụng mà ngu ngốc quá!’)
Cô viết thư cho Học viện ở Kiev và nhận được một xấp đơn xin học yêu cầu cô ghi rõ nghề nghiệp của cô, của cha mẹ cô và của ông bà cô - vị trí của họ trong cấu trúc giai cấp. Thời ấy chỉ những người thuộc giai cấp lao động mới được học đại học mà thôi. Cô gửi đơn đi với trái tim nặng trĩu và chẳng ngạc nhiên khi không nhận được hồi âm. Hồi ấy cô hai mươi ba tuổi, vậy mà cuộc đời dường như đã bị chặn ngang. Rồi cô nhận được thư của cậu trai kỳ lạ từng học chung với cô.
Đám cưới, cũng như đám ma, là sàn diễn tốt nhất cho vở bi kịch gia đình: nghi lễ, trang phục biểu trưng và mọi cơ hội để tỏ vẻ hợm hĩnh dưới mọi hình thức. Theo Vera, gia đình ba tôi không thích gia đình Ocheretko. Đứa con gái Ludmilla thì đẹp đấy, bà Nadia nói, nhưng bừa bãi quá; và không may là cha cô ả, nói theo cách nói giảm nói tránh, lại còn là ‘kẻ thù của nhân dân’.
Bà Sonia thì thấy gia đình ba tôi khác thường và kiêu căng. Nhà Mayevskyi là một bộ phận của giới trí thức nhỏ của Ukraina. Ông nội Mayevskyj cha của Nikolai, là một người đàn ông cao ráo, tóc bạc để dài, đeo kính mắt nhỏ. Trong thời gian nở hoa ngắn ngủi của nền độc lập ở Ukraina vào năm 1918, ông trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong sáu tháng. Sau khi Stalin lên cầm quyền và mọi ý tưởng về quyền tự trị cho người Ukraina bị đánh bật gốc, ông trở thành hiệu trưởng trường học tiếng Ukraina ở Kiev, nơi học sinh đăng ký tự nguyện và chịu sự giám sát chặt chẽ của chính quyền.
Ba mẹ tôi gặp nhau lần đầu ở chính ngôi trường này. Họ học chung một lớp. Nikolai là người luôn giơ tay phát biểu đầu tiên, luôn đứng đầu lớp. Ludmilla nghĩ cậu ta đúng là đồ-biết-tuốt hợm hĩnh.
Nikolai Mayevskyj và Ludmilla Ocheretko cưới nhau trong phòng hộ tịch ở Luhansk vào mùa thu năm 1936. Lúc đó họ hai mươi bốn tuổi. Không có nhà thờ vòm dát vàng, chuông hay hoa tươi. Buổi lễ được tổ chức bởi một nữ Đảng viên mập mạp mặc vest xanh ve chai và áo choàng màu cháo lòng. Cô dâu không mang bầu và chẳng có ai khóc, dẫu có nhiều điều đáng phải khóc lắm.
Họ có yêu nhau không?
Không, Vera nói, mẹ cưới ba vì bà cần một lối thoát. Có, ba tôi nói, bà ấy là người đáng yêu nhất ba từng gặp, và là người sôi nổi nhất. Con cứ nhìn đôi mắt sẫm màu của mẹ khi mẹ nổi giận đi. Trên sân trượt, mẹ lướt đi như một bà hoàng. Dáng ngồi trên lưng ngựa của mẹ là một kỳ quan.
Dẫu có yêu nhau hay không thì họ cũng sống bên nhau sáu mươi năm trời.
‘Ba ơi, ba còn nhớ gì về cô Ludmilla ấy? Kể cho con biết mẹ thế nào khi hai người gặp nhau lần đầu đi?’ (Tôi cố dùng liệu pháp hồi ức. Tôi có phần hy vọng khi nhớ về mẹ tôi thì ông sẽ quên đi con ả kia.) ‘Có phải là tình yêu từ cái nhìn đầu tiên không? Mẹ rất đẹp, đúng không?’
‘Ừ. Đẹp về mọi mặt. Nhưng đương nhiên là không đẹp bằng Valentina.’
Rồi ông ngồi đó mỉm cười bí hiểm, những lọn tóc bạc vương nơi cổ áo sờn, cặp kính gãy được dán lại bằng băng keo màu nâu ngự nơi chóp mũi nên tôi không thể nhìn thấy mắt ông, bàn tay sưng lên vì bệnh viêm khớp của ông đang nâng niu một cốc trà. Tôi muốn chộp lấy cốc trà mà hất thẳng vào mặt ông. Nhưng tôi nhận ra ông không biết, không hề biết những lời nói của mình tác động đến tôi thế nào.
‘Ba có yêu mẹ không?’ (Ý tôi muốn hỏi ba có yêu mẹ tôi nhiều hơn con ả kia không.)
‘Ôi tình yêu! Tình yêu là thứ gì! Không ai hiểu nổi. Ở điểm này, khoa học phải nhường bước cho thi ca rồi’
○○○
Ba tôi không mời chúng tôi đến dự lễ cưới, nhưng ông vô tình buột miệng nhắc đến ngày cưới. ‘Không cần đến thăm đâu. Mọi việc đều ổn. Con có thể đến sau ngày 1 tháng Sáu’ ba tôi nói.
‘Chúng ta còn bốn tuần để ngăn cản cô ả’ chị tôi nói.
Nhưng tôi ngần ngừ. Tôi cảm động trước hạnh phúc và sức sống mới của ba. Hơn nữa, tôi nghĩ tới ý kiến của Mike.
‘Có lẽ mọi chuyện sẽ ổn thôi. Có lẽ cô ta sẽ chăm sóc ba và làm ba hạnh phúc trong những năm cuối đời. Như thế tốt hơn đi viện dưỡng lão nhiều’
‘Làm ơn đi, Nadia. Cô không nghĩ là con ả đó chịu ở lại khi ba già lão, nhỏ dãi và bất lực chứ? Ả sẽ vơ vét tất cả rồi biến.’
‘Nhưng nói thẳng ra thì cả chị lẫn em đều không chăm sóc ba khi ba già cả, phải không?’ (Tốt nhất là nói sự thật, dù nó quá thẳng thừng.)
‘Tôi hết lòng chăm sóc mẹ. Còn về ba thì tôi chỉ cảm thấy có nghĩa vụ thôi: không hơn’
‘Muốn yêu thương ba cũng không dễ’ Không phải tôi đang cố ra vẻ buộc tội, nhưng chị tôi lại cảm thấy vậy.
‘Tình yêu không có chỗ ở đây. Tôi sẽ làm đúng trách nhiệm của mình, Nadezhda. Tôi cũng thành thật mong cô làm như vậy. Dẫu điều đó có nghĩa là chúng ta phải giúp ba không biến mình thành một thằng ngốc không não’ ‘Đúng là em không thể lúc nào cũng ở bên chăm sóc cho ba được, Vera à. Em và ba lúc nào cũng cãi nhau, ở chung chắc em điên quá. Nhưng em muốn ba sống tốt - sống hạnh phúc. Nếu Valentina làm ba hạnh phúc...’
‘Đây không phải chuyện hạnh phúc mà là vấn đề tiền bạc, Nadezhda à. Cô không thấy sao? Tôi nghĩ với tư tưởng thiên tả của cô, cô sẽ ủng hộ bất kỳ ai muốn đến tước đoạt của cải của những người làm ăn chân chính’ ‘Thiên tả chẳng liên quan gì ở đây hết. Chỉ là chuyện đâu là điều tốt nhất cho ba thôi’ (Giọng tự mãn. Thấy chưa? Tôi đâu có phát xít như chị đâu.)
‘Đương nhiên là vậy. Đương nhiên là vậy. Tôi có bao giờ ám chỉ tới chuyện khác đâu?’
○○○
Chị tôi lại gọi cho Bộ Nội vụ lần nữa. Họ bảo với chị là phải viết đơn. Chị lại viết đơn nặc danh. Sau đó chị gọi điện đến phòng hộ tịch nơi hai người định đăng ký kết hôn. Hộ tịch viên lắng nghe chị nói một cách thông cảm.
‘Nhưng cô biết đấy, nếu ông ấy quyết tâm thì tôi chẳng làm gì khác được’ hộ tịch viên nói.
‘Nhưng giấy tờ ly dị chồng của cô ta ở Ukraina chỉ vừa đến vào giờ chót. Vả lại sau khi bọn họ ly dị, cô ta còn quay về sống chung với anh ta nữa mà.’
‘Tôi sẽ kiểm tra lại giấy tờ, nhưng nếu mọi thứ đều ổn...’
‘Vậy còn việc dịch thuật thì sao? Khi nước đến chân rồi cô ta đã phải đem đi dịch gấp ở một trung tâm dưới London. Họ rất có thể nhầm lẫn giữa quyết định ly dị chính thức và quyết định ly dị tạm thời’ Chị gái tôi là một chuyên gia về ly dị.
‘Đương nhiên tôi sẽ xem xét nó kỹ càng. Nhưng tôi không biết tiếng Ukraina. Tôi chỉ có thể dựa vào bản dịch. Ông ấy là người trưởng thành mà’
‘Nhưng ba tôi đâu có cư xử như người trưởng thành’ ‘À, thì ừ’
Giọng cô ta nghe cứ như là một nhân viên xã hội quan liêu điển hình, chị tôi kể lại. Cô ta sẽ cố hết sức nhưng vẫn phải tuân thủ các quy định.
Chúng tôi tưởng tượng mình sẽ chạy đến đám cưới, lẻn vào giữa buổi lễ trong lúc cặp tình nhân đang đứng trước bàn thờ.
‘Tôi sẽ mặc bộ vest đen’ Vera nói, ‘cái bộ tôi mặc dự đám tang mẹ ấy. Khi viên linh mục lên tiếng hỏi, "... nếu ai biết có bất kỳ trở ngại về mặt pháp lý nào..." chúng ta sẽ kêu lớn từ đằng sau...’ (Tôi luôn luôn muốn làm như vậy.)
‘Nhưng chúng ta sẽ nói gì?’ tôi hỏi chị.
Cả hai đều tịt ngóm.
○○○
Ba tôi và Valentina cưới ngày 1 tháng Sáu ở nhà thờ Đức Mẹ Trinh Vương, vì Valentina theo Công giáo. Ba tôi là người vô thần, nhưng ông chiều theo ý ả ta. (Phụ nữ thì đương nhiên là vô lý mà, ông nói.)
Ông đưa cho ả 500 bảng để mua váy cưới: lụa polyester màu kem, bó chặt vào eo và hông, cổ hở sâu đính diềm đăng ten qua đó có thể nhìn thấy bộ ngực kiểu Botticelli căng tròn e lệ nép mình bên dưới. (Tôi đã xem qua ảnh cưới.) Tôi có thể tưởng tượng được ba đã loay hoay thế nào để bảo đảm cho tay thợ chụp hình ông thuê nắm bắt được góc chụp đẹp nhất. Ông muốn trưng bày ả, chiến tích của ông, cho đám người nghi ngờ nhiều chuyện từng chỉ trích ả. Ả cũng cần có ảnh để nộp cho viên chức nhập cư.
Linh mục là một người Ailen trẻ, ba tôi nói anh ta giống như một thằng nhóc tóc chải mượt mặt lốm đốm tàn nhang. Anh ta nghĩ gì về đôi đũa lệch mà anh ta vừa ban phước? Anh ta có biết cô dâu đã có một đời chồng rồi không? Anh ta có cảm thấy bất an chăng? Gia đình Zadchuk, những người bạn Ukraina duy nhất của ả, cũng là người Công giáo đến từ miền Tây Ukraina. Mọi người Ukraina khác trong đám khách khứa, bạn của mẹ được ba mời đến dự lễ cưới, đều theo đạo Chính thống đến từ miền Đông. Tôi cho rằng vẻ ngoài non trẻ cùng những đốm tàn nhang của viên linh mục khiến họ càng thêm nghi ngờ về Công giáo.
Cậu cô ả từ Selby đến cũng chụp chung hình, cả Stanislav và mấy người đồng nghiệp của cô ả nữa. Họ ăn mặc rất diện, vẻ tự đắc như vừa thắng xong một vụ lừa đảo. Bob Turner không có mặt.
Sau buổi lễ, những người hai năm trước từng ngồi trong phòng khách nhà tôi sau lễ tang của mẹ, giờ quay lại ngôi nhà ấy nâng cốc vodka chúc mừng cặp đôi hạnh phúc, nhấm nháp mấy món ăn nhẹ mua ở chuỗi cửa hàng Tesco và nói chuyện... Tôi không biết họ nói gì, tôi không có mặt ở đó. Nhưng tôi có thể tưởng tượng ra những lời xì xào đồn đại. Chỉ bằng nửa tuổi ông ta. Nhìn ngực cô ả xem - cứ lắc lư dưới mũi đàn ông. Mặt bự phấn. Ông lão tự biến mình thành thằng ngốc. Thật xấu hổ.
0

7.
Chiếc xe thổ tả

Lễ cưới trôi qua được ba tuần mà tôi vẫn chưa gặp được bà mẹ kế.
‘Vậy khi nào tụi con có thể ghé qua gặp cô dâu may mắn đây?’ tôi hỏi ba.
‘Chưa đâu. Chưa đâu’
‘Vậy thì khi nào?’
‘Từ từ đã.’
‘Vì sao phải từ từ?’
‘Vì cô ấy chưa ở đây.’
‘Không ở nhà? Vậy cô ấy ở đâu?’
‘Không cần quan tâm. Chỉ là không phải ở đây’
Ông già bướng bỉnh. Ông ta chẳng chịu hé răng nửa lời. Nhưng tôi vẫn có cách lần ra thôi. Tôi khiêu khích ông. ‘Vợ gì mà kỳ vậy? Không thèm sống chung với chồng sao?’
‘Cô ấy sẽ đến sớm thôi. Trong vòng ba tuần nữa. Khi Stanislav học xong.’
‘Học hành thì có liên quan gì chứ? Nếu cô ấy yêu ba thì cô ấy phải ở bên cạnh ba.’
‘Nhưng nhà của anh ta kế bên trường. Thuận lợi hơn cho Stanislav’
‘Đường Hall? Nơi Bob Tumer ở? Vậy là cô ấy vẫn sống chung với Bob Tumer?’
‘Ừ. Không. Nhưng mối quan hệ của họ lúc này hết sức thuần khiết. Cô ấy đã đoan chắc với ba như thế.’ (Ông nhấn mạnh ‘chờ ắc chắc’.)
Ngu ngốc. Bị cắm sừng mất rồi. Có tranh cãi với ba cũng vô dụng thôi.
Giữa tháng Tám, trời nóng hầm hập, chúng tôi ghé thăm ba. Máy gặt đập liên hoàn chạy qua chạy lại rì rầm trên đồng như những con gián khổng lồ. Nhiều nơi đã thu hoạch xong, những kiện rơm khô to tròn được quấn quanh bởi các lá nhựa dẻo màu đen đang nằm rải rác giữa các gốc rạ trông chẳng khác nào những mảnh vỡ của một cỗ máy khổng lồ - vụ thu hoạch ở vùng Cambridge chẳng có gì đẹp đẽ thơ mộng cả. Người ta đã mang máy xén hàng rào ra xén gọn mấy bụi tầm xuân và mâm xôi mọc chen chúc trên hàng rào cây. Chẳng bao lâu nữa sẽ đến lúc đốt cháy gốc rạ trên cánh đồng bắp, còn cánh đồng khoai tây và đậu thì sẽ được xịt thuốc làm rụng lá.
Khu vườn của mẹ tôi vẫn là thiên đường trú ngụ của chim chóc và sâu bọ. Quả trĩu nặng trên cây, chưa đến độ chín, ăn vào khiến người ta đau bụng. Ong vò vẽ và đám ruồi bọ tha hồ ngốn ngấu những quả rơi dưới đất do gió lay rụng, trong khi bầy sẻ tham lam say sưa bữa tiệc muỗi mắt, lũ chim hét đào tìm giòi, còn đàn ong mật béo mập thì vù vù chui vào chùm hoa mao địa hoàng đang xòe nở. Hồng phấn và hồng nhưng chen chúc sánh vai với bìm bìm trong từng luống hoa. Cửa sổ phòng ăn dưới nhà mở toang nhìn ra vườn, ba tôi đeo mắt kính ngồi đó với một quyển sách đặt trên đùi. Bàn đã trải khăn đàng hoàng thay vì lót giấy báo như lần trước. Trong bình cắm vài bông hoa giả.
‘Chào ba’ Tôi cúi xuống hôn lên má ông. Râu ria lởm chởm.
‘Chào ông ngoại’ Anna lên tiếng.
‘Chào Nikolai’ Mike nói.
‘À ha. Các con đến thật là tốt. Nadia. Anushka. Michael’
Ôm hôn chào nhau một lượt. Ông có vẻ khỏe mạnh.
‘Dyid, ông ngoại viết sách tới đâu rồi?’ Anna hỏi. Nó rất thương ông và coi ông là một thiên tài. Vì nó, tôi cố lờ đi tính kỳ quặc, cơn hồi xuân đáng tởm và sự thiếu vệ sinh của ông.
‘Tốt. Tốt lắm. Ông sắp viết đến đoạn thú vị nhất rồi. Sự phát triển của xích sắt. Giây phút quan trọng trong lịch sử loài người.’
‘Con đi đun nước nhé ba?’
‘Kể cho cháu nghe về xích sắt đi’ Anna hỏi không chút mỉa mai.
‘À há. Cháu biết đấy, vào thời tiền sử, người ta vận chuyển những tảng đá lớn bằng các hộc lăn làm từ thân cây. Nhìn này’ Ông xếp lên bàn một hàng bút chì 2H đã chuốt nhọn rồi đặt một quyển sách lên trên. ‘Vài người đẩy tảng đá, còn những người khác - sau khi tảng đá lăn qua trục lăn - phải nhặt trục lăn ở đằng sau, rồi đi vòng lên để nó ở trước tảng đá. Với dây xích, các trục lăn di chuyển nhờ dây và các mối nối’
Ba, Anna và Mike thay phiên nhau đẩy quyển sách trên những cây viết chì, rồi chuyển chúng từ đằng sau ra đằng trước, càng lúc càng nhanh.
Tôi bước vào bếp, chuẩn bị một khay trà, đổ sữa vào bình và đi tìm bánh quy. Cô ả ở đâu? Có nhà không? Vẫn còn trốn chúng tôi sao? Rồi tôi nhìn thấy ả - một phụ nữ tóc vàng cao lớn thơ thẩn đi tới từ sau vườn, chân mang giày cao gót hở ngón. Bước đi của ả uể oải khinh thường, cứ như chúng tôi chẳng đáng để ả chào đón. Ả mặc váy jean siêu ngắn dài chưa đến đầu gối, áo sát nách màu hồng ôm sát lấy bộ ngực phì nhiêu tung tẩy theo từng bước đi. Tôi nhìn chằm chằm. Hở hang, phô bày da thịt quá lố lăng. Đầy đặn ở ngưỡng sắp phì. Khi ả tới gần tôi mới thấy tóc ả, thắt bím rối kiểu Bardot hững hờ buông ngang bờ vai trần, được nhuộm vàng hở ra đoạn chân tóc màu nâu. Khuôn mặt rộng và quyến rũ. Gò má cao. Cánh mũi nở. Mắt to, màu nâu vàng như mật, được kẻ viền đen đậm xếch lên ở đuôi mắt kiểu Cleopatra. Miệng bĩu ra hồ như đang cười khinh thị, môi tô một lớp son hồng đào nhạt lem cả ra ngoài vành môi như thể ả muốn làm đôi môi đầy đặn hơn.
Đĩ thõa. Chó cái. Điếm rẻ tiền. Người đàn bà thế chỗ của mẹ tôi. Tôi giơ tay ra và cố nhăn răng cười.
‘Xin chào Valentina. Thật vui là cuối cùng cũng được gặp cô’
Bàn tay của ả lạnh lẽo, mềm mụp, hờ hững bắt tay tôi. Móng tay dài sơn màu hồng đào óng ánh hợp với màu son. Tôi thấy cách ả đánh giá mình - nhỏ con, gầy giơ, đen đúa, không ngực. Chả phải là đàn bà. Ả cười với Mike, nụ cười uể oải tinh quái.
‘Anh thích vodka chứ?’
‘Tôi vừa pha trà rồi’ tôi nói.
Ba tôi dán mắt vào ả mỗi lần ả đi qua đi lại.
Khi tôi mười sáu, ba cấm không cho tôi trang điểm. Ông bắt tôi lên lầu rửa sạch phấn trước khi đi chơi.
‘Nadia, nếu mọi phụ nữ đều trét son phấn lòe loẹt lên mặt, nghĩ thử xem, làm sao còn có chọn lọc tự nhiên nữa chứ? Hậu quả tất yếu là sẽ tạo ra một giống nòi xấu xí. Con không muốn chuyện đó xảy ra chứ, phải không?’
Đúng là một bậc trí giả. Tại sao ba không thể như những người cha bình thường khác, nói thẳng ra là mình không thích? Giờ nhìn ông nhỏ dãi thèm thuồng trước con điếm Nga phết phấn dày cộp này đi. Hay bây giờ ông cận nặng đến nỗi không thể thấy là ả đang đánh phấn. Có lẽ ông nghĩ ả sinh ra đã có đôi môi hồng đào lóng lánh ánh ngọc hai cùng đuôi mắt đen nhánh xếch lên kiểu Cleopatra.
Một bóng người khác xuất hiện nơi cửa, một thằng nhóc mười mấy tuổi. Hơi tròn trịa một chút, khuôn mặt ngây thơ đầy tàn nhang, răng cửa sứt, tóc nâu quăn, mắt kính tròn.
‘Cháu là Stanislav phải không’ tôi buột miệng. ‘Vâng.’ Nụ cười duyên với hàm răng sứt.
‘Rất vui được gặp cháu. Tôi nghe kể về cháu nhiều, uống chút trà nhé’
Anna liếc mắt thăm dò thằng nhỏ, mặt không đổi sắc. Thằng nhỏ ít tuổi hơn nó, do đó nó không quan tâm lắm.
Chúng tôi gượng gạo ngồi xuống. Stanislav là người duy nhất có vẻ thoải mái. Nó kể cho chúng tôi nghe chuyện ở trường, thầy giáo yêu thích nhất, thầy giáo khó ưa nhất, đội tuyển bóng đá thích nhất, nhóm nhạc thích nhất, chiếc đồng hồ thể thao không thấm nước bị mất ở hồ Balaton, đôi giày thể thao Nike mới, món ăn ưa thích: mì ống, nó lo bạn bè sẽ trêu chọc nếu mình phát phì, bữa tiệc vừa dự hôm thứ Bảy, chú chó con mới của cậu bạn Gary. Giọng nó tự tin, lên bổng xuống trầm êm ái, âm điệu vui vẻ. Nó hoàn toàn thoải mái. Không ai nói gì cả. Những điều không nói ra thành lời như đám mây đen đè nặng trong lòng chúng tôi. Bên ngoài mưa lác đác rơi, chúng tôi nghe thấy tiếng sấm đì đùng ngoài xa. Ba tôi đóng cửa sổ lại. Stanislav vẫn say sưa kể chuyện.
Sau bữa trà, tôi đem ly tách đi rửa nhưng Valentina vẫy tay đuổi đi. Cô ả đeo găng tay cao su bảo vệ những ngón tay đẫy đà son ánh hồng, đeo tạp dề có diềm đăng ten vào, rồi hớt bọt xà phòng trong bát.
‘Tôi làm’ ả nói. ‘Các người đi đi.’
‘Chúng ta đi ra nghĩa trang’ ba tôi nói.
‘Cháu đi theo với’ Stanislav nói.
‘Stanislav, không, ở nhà giúp mẹ cháu đi.’
Nếu không nó sẽ kể cho chúng tôi nghe về nghĩa trang yêu thích nhất mất.
Khi từ nghĩa trang quay về nhà, chúng tôi uống thêm một tách trà rồi dùng bữa tối. Valentina sẽ nấu cho chúng ta ăn, ba tôi nói; cô ấy là một đầu bếp giỏi. Chúng tôi ngồi quanh bàn chờ đợi. Stanislav kể cho chúng tôi nghe về một trận bóng mà nó ghi được hai bàn. Mike, Anna và tôi mỉm cười lịch sự. Ba tôi rạng ngời niềm tự hào. Trong lúc đó, Valentina đeo tạp dề diềm đăng ten tất bật trong bếp. Ả hâm nóng sáu phần ăn đông lạnh đã-làm-sẵn, thịt nướng cắt lát rưới nước xốt, đậu và khoai tây, rồi tự hào bưng ra bàn.
Chúng tôi ăn trong im lặng, nghe được cả tiếng dao nghiến trên đĩa khi cố gắng xắt miếng thịt hâm nóng dai nhách. Đến Stanislav cũng câm miệng được vài ba phút. Khi ăn đến đậu, ba tôi bắt đầu ho. Lớp da nhăn nhúm nơi cổ họng. Tôi rót nước cho ông.
‘Ngon tuyệt’ Mike tuyên bố, nhìn quanh chờ hưởng ứng. Tất cả chúng tôi đều lẩm bẩm tán thành.
Valentina mỉm cười chiến thắng.
‘Tôi nấu hiện đại, chứ không nấu kiểu nông dân.’
Món tráng miệng là kem dâu lấy từ tủ đá.
‘Món khoái khẩu của cháu’ Stanislav cười khúc khích. Nó bắt đầu liệt kê những vị kem ưa thích cho chúng tôi nghe.
Ba tôi lục lọi ngăn kéo rồi lấy ra một xấp giấy. Đó là chương mới nhất của quyển sách ông đang viết do tôi dịch giúp. Ông muốn đọc nó cho Mike, Valentina và Stanislav.
‘Mọi người sẽ hiểu thêm chút ít về lịch sử quê hương yêu dấu của chúng ta.’
Nhưng Stanislav chợt nhớ là nó còn có bài tập về nhà, Anna đã vào làng mua ít sữa, còn Valentina thì bận nói chuyện điện thoại ở phòng bên, nên chỉ có mình tôi và Mike ngồi với ông trong căn phòng khách có cửa sổ lớn.
Trong lịch sử Ukraina, máy kéo đóng những vai trò trái ngược. Thời xưa, Ukraina là một nước nông nghiệp. Để một nước nông nghiệp phát huy tối đa tiềm năng nông nghiệp thì cơ khí hóa là việc tất yếu. Nhưng cách tiến hành cơ khí hóa thời bấy giờ thì thật sự rất kinh khủng.

Giọng ông trở nên nặng nề, có bao nhiêu lời không sao thốt ra hay viết ra trĩu nặng trên những con chữ ông đang đọc.
Sau cuộc Cách mạng năm 1917, nước Nga bắt đầu trở thành một nước công nghiệp với lực lượng vô sản thành thị không ngừng tăng lên. Giai cấp vô sản này được tuyển mộ từ nông dân ở nông thôn. Nhưng nếu nông dân phải rời làng quê, thì dân thành thị ăn gì mà sống?
Cách giải quyết của Stalin cho vấn đề khó khăn này là ban sắc lệnh công nghiệp hóa nông thôn. Do đó, thay vì nông dân sở hữu những mảnh đất nhỏ lẻ, toàn bộ đất đai được tập trung vào những nông trại lớn, tổ chức theo kiểu nhà máy. Tên gọi của kiểu tổ chức này là Kolkhoz, có nghĩa là nông trang tập thể. Không có nơi nào nguyên tắc của Kolkhoz lại được áp dụng triệt để như ở Ukraina. Ở nơi người nông dân tá điền dùng ngựa hay bò để kéo cày, kolkhoz dùng ngựa sắt, tên ban đầu của máy kéo. Được lắp ráp sơ sài, không chắc chắn, bánh xe bằng sắt không có lốp, nhưng những chiếc máy kéo đầu tiên vẫn dư sức làm việc thay cho hai mươi người.
Sự xuất hiện của máy kéo cũng có tầm quan trọng mang tính biểu tượng, bởi nó có thể xới luôn cả dải đất ngăn cách giữa mảnh ruộng của các nông dân tá điền, tạo thành một kolkhoz rộng lớn. Do đó, nó là điềm báo cho sự sụp đổ của cả giai cấp phú nông kulak, những người nông dân có ruộng, và họ trở thành kẻ thù của cách mạng trong mắt Stalin.
Con ngựa sắt phá hủy nếp sống truyền thống làng quê, nhưng ngành công nghiệp máy kéo ở Ukraina có dịp phát triển mạnh. Tuy nhiên hợp tác xã kolkhoz không mấy hiệu quả, đa phần là do bị nông dân phản đối. Họ không tham gia vào hợp tác xã mà tự mình trồng trọt phần đất riêng của mình.

Ông ngừng lại, lặng lẽ gom mấy tờ giấy. Kính của ông xệ xuống sống mũi, tròng kính quá dày đến nỗi hầu như tôi không thấy được mắt ông, nhưng tôi tưởng như đã nhìn thấy một giọt lệ rơi xuống. Trong khoảng lặng sau đó, tôi có thể nghe tiếng Valentina vẫn đang nói chuyện điện thoại ở phòng bên, và tiếng nhạc khe khẽ phát ra từ phòng của Stanislav. Phía xa, kim đồng hồ trên nhà thờ làng chỉ số bảy.
'Tuyệt lắm, Nikolai’ Mike vỗ tay.
‘Ba à, tuyệt lắm’ Tôi vỗ tay tuy có miễn cưỡng hơn Mike. Chủ nghĩa dân tộc Ukraina làm tôi cảm thấy khó chịu - nó lỗi thời và chẳng liên quan gì đến tôi cả. Người nông dân ở ngoài đồng, những bài ca thu hoạch, đất mẹ: mấy thứ này thì có liên quan gì đến tôi chứ? Tôi là một phụ nữ hiện đại. Tôi biết về cấu trúc luận. Tôi có một người chồng biết nấu cháo ngô. Vậy thì vì sao tôi lại cảm thấy chút xúc động bất chợt này chứ?
Cửa sau mở ra. Anna đã quay về. Valentina nói chuyện điện thoại xong, bước vào phòng vỗ tay khen ngợi, những đầu ngón tay màu ánh hồng khẽ chạm vào nhau. Cô ả mỉm cười vẻ thỏa mãn, cứ như là chính mình đã viết nên tuyệt tác văn chương này vậy, và hôn vào mũi ba tôi. ‘Holubchik!’ Con bồ câu bé bỏng. Ba tôi sướng rơn.
Đã đến giờ chúng tôi quay về nhà. Chúng tôi bắt tay nhau, thực hiện màn hôn má tạm biệt một cách gượng gạo. Cuộc viếng thăm có thể coi là thành công.
○○○
‘Cô ả thế nào?’ chị tôi hỏi qua điện thoại.
Tôi tả cho chị nghe về chiếc váy siêu ngắn, kiểu tóc và cách trang điểm. Giọng tôi khách quan, thản nhiên. ‘Chúa ơi, tôi biết ngay mà!’ Vera kêu lên.
(Tôi thích thú cuộc nói chuyện ngồi lê đôi mách này biết bao! Chuyện gì đã xảy ra với tôi vậy? Trước nay tôi vẫn là người bênh vực bình quyền cho phụ nữ. Giờ tôi bỗng trở thành một bà hàng tôm hàng cá.)
Tôi kể cho chị nghe về đôi găng cao su, móng tay sơn màu hồng lóng lánh ánh ngọc trai.
‘Ừ... ừ, tôi có thể tưởng tượng ra được’ Giọng chị đầy vẻ hậm hực. Đôi bàn tay của mẹ rám nắng và chai sần vì nấu nướng và làm vườn. Tôi biết ngay nó là hạng gái gì mà. Ba đã cưới phải một con điếm!’ (Tôi không nói điều đó ra miệng đâu đấy nhé!)
‘Nhưng Vera này, chị không thể đánh giá người ta qua vẻ bề ngoài được’ (Ha! Xem tôi đã chín chắn và người lớn thế nào này!) ‘Dù sao chăng nữa, cách ăn mặc ở Ukraina khác ở đây - họ muốn chối bỏ nguồn gốc nông dân, chỉ vậy thôi.’
‘Nadia, sao cô ngây thơ quá thế?’
‘Không đâu Vera. Có một giáo sư xã hội học người Ukraina ghé thăm trường em năm ngoái, cô ta cũng ăn mặc y như thế. Cô ta cảm thấy khó chịu khi thấy đa số bạn bè em đều không trang điểm, họ mặc quần jean hay quần thụng, trong khi cô ta chỉ thèm bận đồ hàng hiệu. Cô ta nói không thể phản bội nữ tính của mình được’
‘Đúng vậy’
Chị tôi thà chết chứ không chịu mặc quần jean (đương nhiên trừ quần jean hàng hiệu) hay quần thụng. Nói đi cũng phải nói lại, chị cũng thà chết chứ không đi giày cao gót hở ngón và váy jean siêu ngắn.
Tôi kể cho chị nghe về mấy phần ăn đông lạnh hâm nóng lại. Lúc này thì chúng tôi đồng quan điểm. ‘Điều đáng buồn là ba có lẽ cũng chẳng thấy có gì khác biệt’ chị lẩm bẩm. ‘Tội nghiệp cho mẹ’
○○○
Xung đột đầu tiên trong cuộc sống hôn nhân của họ diễn ra không lâu sau lần viếng thăm của chúng tôi. Valentina đòi mua xe mới - không phải xe đã dùng rồi đâu nhé. Phải là một chiếc xe tốt. Ít nhất phải là Mercedes hay Jaguar. BMW thì tạm được. Không xe Ford. Chiếc xe sẽ được dùng để chở Stanislav đến ngôi trường quý tộc của nó khi mà đám bạn nó chỉ ngồi xe Saab và Range Rover. Ba tôi tìm được một chiếc Ford Fiesta còn tốt mà ông đủ tiền mua. Valentina không thể chịu được Ford Fiesta. Cô ả cũng không thèm cả Ford Escort. Hai bên cãi nhau ầm ĩ.
‘Nói ý kiến của con cho ba nghe đi, Nadezhda’ Ông bực tức gọi cho tôi.
‘Con nghĩ mua Ford Fiesta là được rồi’ (Tôi lái chiếc Ford Escort.)
‘Nhưng cô ta không chịu’
‘Vậy ba làm sao thì làm’ Dù gì thì ông cũng sẽ làm theo ý mình thôi.
Ba có một ít tiền trong ngân hàng. Trái phiếu Hưu trí, ba năm nữa thì mãn kỳ, nhưng kệ xác, quý bà này muốn có một chiếc xe mới và ông muốn là người hào phóng. Họ chọn một chiếc Rover cũ, đủ rộng để thỏa mãn tham vọng của Valentina, đủ cũ để ba tôi có thể chi trả. Ông bán Trái phiếu Hưu trí, dùng phần lớn số tiền mua xe cho Valentina. Hai trăm bảng còn lại ông gửi cho con gái tôi, Anna. Anna vừa thi tốt nghiệp với điểm số rất cao, số tiền đó sẽ giúp nó vào đại học. Tôi cảm thấy ái ngại khi nhận tiền, nhưng không thấy bứt rứt. Tôi tự nhủ nếu ba không đưa số tiền này cho Anna vào học đại học thì cũng đưa cho Valentina mua một chiếc Mercedes thôi.
‘Để đền bù lại sự bất công của khoản phụ lục di chúc’ ông nói, ‘số tiền này chỉ dành riêng cho Anna chứ con gái Vera không có phần.’
Tôi lo lắng vì biết Bà Chị Lớn thế nào cũng nổi khùng lên. Nhưng tôi muốn báo thù vụ phụ lục di chúc.
‘Tuyệt lắm ba à. Lên đại học nó sẽ cần dùng đến khoản tiền này’
Giờ thì ông cháy túi - ông đã hết sạch tiền.
Anna rất mừng khi tôi nói với nó về món quà của ông ngoại.
‘Ôi, ông thật dễ thương. Hồi Alice và Lexy lên đại học, chắc ông cũng đã cho quà các chị ấy phải không?’
‘Mẹ cho là vậy’
Valentina mê mẩn chiếc Rover. Nó láng coóng, bóng loáng, màu xanh kim loại, động cơ ba lít, ghế bọc da tỏa mùi xì gà đắt tiền, bàn điều khiển làm bằng gỗ hồ đào và đã chạy tổng cộng 186.000 dặm. Họ lái chiếc xe khắp phố rồi đậu kế bên mấy chiếc Saab và Range Rover bên ngoài trường của Stanislav. Valentina có bằng lái xe quốc tế cấp ở Temopil, có giá trị trong một năm. Cô ấy chưa bao giờ thi lái xe, ba tôi nói, nhưng cô ấy mua bằng lái từ tiền bán cốt lết heo của mẹ. Họ đi thăm gia đình Zadchuk và Charlotte, bạn của cô ả, cùng ông cậu ở Selby. Sau đó chiếc xe bị hỏng. Khớp ly hợp bị gãy. Ba tôi bèn gọi điện thoại tới.
‘Nadezhda, con cho ba mượn 100 bảng để sửa xe nhé. Ba sẽ trả lại khi nhận được lương hưu’
‘Ba à’ tôi nói, ‘lẽ ra ba nên mua chiếc Ford Fiesta’ Tôi gửi cho ông một tấm séc.
Sau đó ông gọi cho chị tôi. Chị gọi cho tôi.
‘Chiếc xe bị làm sao?’
‘Em không biết’
‘Ba muốn mượn 100 bảng để sửa thắng. Tôi nói với ba, Valentina không trả nổi sao? Cô ta kiếm cũng khá mà’ ‘Ba trả lời sao?’
‘Ba không chịu nghe. Ông ấy không dám hỏi cô ả. Ông bảo cô ả cần gửi tiền về Ukraina cho bà mẹ bị ốm. Cô tin nổi không’ Giọng chị đầy bực bội. ‘Mỗi lần tôi phê phán ả là ba lại nhảy dựng lên bênh vực ngay.’
‘Có lẽ ba vẫn còn yêu cô ta.’ (Tôi vẫn còn là kẻ lãng mạn.)
‘Ừ, tôi cũng nghĩ vậy. Tôi cũng nghĩ vậy.’ Chị thở dài sườn sượt. ‘Đàn ông thật là ngu ngốc.’
‘Bà Zadchuk nói với cô ta là người chồng có nghĩa vụ trả tiền cho xe của vợ.’
‘Nghĩa vụ cơ à? Dễ thương thế! Quái dị thì có! Ba nói với cô vậy à?’
‘Ba hỏi em nghĩ sao. Cứ như em đã là người ủng hộ bình quyền nam nữ thì phải có đủ hiểu biết về quyền lợi của các bà vợ ấy.’ Tôi không biết chị nghĩ gì về việc nam nữ bình quyền.
‘Mẹ chúng ta có bao giờ ưa nhà Zadchuk đâu, phải không?’ Vera lầm bầm.
‘Em nghĩ đó là do lòng tự tôn của ba. Ông không thể hỏi tiền phụ nữ. Ông cho rằng đàn ông phải đứng mũi chịu sào’
‘Ba vừa hỏi tiền chị em mình đó thôi, Nadazhda.’
‘Nhưng chúng mình không hẳn là phụ nữ, phải không?’
Mike gọi điện cho ba. Họ nói dông dài về điểm mạnh và điểm yếu của hệ thống phanh thủy lực. Cuộc nói chuyện kéo dài năm mươi phút. Phần lớn thời gian Mike im lặng, anh chỉ thỉnh thoảng ậm ừ cho có lệ.
○○○
Một tháng sau lại có một vụ cãi lộn khác xảy ra. Chị gái của Valentina từ Ukraina đến thăm. Chị ta muốn tận mắt thấy cuộc sống tươi đẹp ở Tây phương như Valentina miêu tả trong thư - căn nhà hiện đại thanh nhã, xe đẹp, người chồng góa vợ giàu có. cần phải có xe hơi đón chị ta ở Heathrow. Ba tôi nói chiếc Rover không chạy nổi chặng đường đến London rồi quay trở lại. Động cơ rỉ xăng, phanh rỉ nước. Động cơ bốc khói. Một chiếc ghế bị gãy sụp. Những chỗ người bán mông má lại trước đó thì bị gỉ sét. Stanislav tóm tắt lại vấn đề.
‘Ô tô không xịn.’ Nó mỉm cười ngọt ngào, gần như chế nhạo.
Valentina quay sang ba tôi.
‘Đồ đàn ông bẩn tính. Đồ lắm tiền keo kiệt. Hứa tiền. Tiền nằm trong ngân hàng. Hứa xe. Xe thổ tả’
‘Em đòi có một chiếc xe hạng sang. Ô tô xịn. Nhìn thì sang, nhưng không chạy được. Ha ha.’
‘Xe thổ tả. Chồng thổ tả. Phì!’ ả ta nhổ nước bọt.
‘Em học cái từ "thổ tả" ở đâu đấy?’ ba tôi hỏi. Ông không quen bị mắng mỏ sai phái. Ông đã quen muốn gì được nấy, thích được nâng niu chiều chuộng.
‘Ông là kỹ sư. Sao không sửa xe? Kỹ sư thổ tả.’
Ba tôi từng tháo rời và lắp ráp động cơ trong ga ra từ khi tôi bắt đầu khôn lớn. Nhưng giờ ông không chui xuống gầm xe được nữa: căn bệnh sưng khớp không cho phép.
‘Nói với chị của em là đi xe lửa xuống đây’ ba tôi đáp lại. ‘Xe lửa. Máy bay. Mọi phương tiện giao thông hiện đại ở đây đều tốt hơn. Xe thổ tả. Đương nhiên là xe thổ tả rồi. Chính em muốn mà. Giờ em đã có nó.’
Và lại một vấn đề khác nảy sinh. Lò nướng thổ tả. Cái lò nướng trong bếp mẹ tôi vẫn dùng xưa nay giờ đã quá cũ. Chỉ còn có hai vòng bếp dùng được, đồng hồ hẹn giờ đã hỏng dù bản thân cái lò thì vẫn còn hoạt động. Cái lò nướng này đã nấu lên những món ăn tuyệt vời của nghệ thuật ẩm thực suốt hơn ba mươi năm nay, nhưng nó sẽ không gây ấn tượng với chị gái của Valentina. Lò nướng chạy bằng điện, mà chỉ có kẻ ngốc mới không biết điện thì không sang bằng ga. Chẳng phải chính Lênin còn công nhận rằng cộng sản là chủ nghĩa xã hội cộng với điện khí hóa hay sao?
Ba tôi đồng ý mua một cái lò nướng mới. Ông thích tiêu tiền mà, nhưng chẳng còn tiền để tiêu. Đành phải mua trả góp. Ông đã thấy ở Co-op có quảng cáo giảm giá đặc biệt. Valentina đẩy Nikolai vào chiếc xe thổ tả rồi đưa ông vào thị trấn để mua một cái lò nướng sang trọng. Phải là lò nướng ga. Phải màu nâu. Ôi trời, cái bếp nâu không nằm trong diện bán hạ giá. Nó có giá gấp đôi.
‘Nhìn này, Valenka, cũng là một cái lò nướng y hệt vậy mà. Cũng cái nút vặn như thế. Cũng chạy ga. Mọi thứ đều giống hệt’
‘Thời Liên Xô cũ, lò nướng nào cũng màu trắng. Lò thổ tả.’
‘Nhưng mọi thứ trong nhà bếp đều màu trắng mà - máy giặt màu trắng, tủ lạnh màu trắng, tủ đá màu trắng, tủ chén màu trắng - nói thử xem vì sao ta phải mua lò nướng màu nâu chứ?’
‘Đồ lắm tiền keo kiệt. Ông muốn cho tôi cái lò nướng thổ tả.’
‘Vợ tôi dùng nó nấu ăn hơn ba mươi năm trời. Ngon hơn em nấu.’
‘Vợ ông là một bà nông dân. Bà nông dân già, nấu ăn theo kiểu nông dân. Với người hiện đại, lò nướng phải là lò nướng ga, màu lò nướng phải là màu nâu.’ Cô ả nói chậm dằn từng tiếng, cứ như đang giảng bài vỡ lòng cho một tên khờ dại.
Ba tôi ký giấy mua trả góp một cái lò nướng của người hiện đại. Cả đời ông chưa bao giờ phải vay tiền lần nào. Vì vậy, hành vi ‘trái phép’ lần này khiến ông ngây ngất. Hồi mẹ còn sống, tiền được cất trong một hộp thiếc đựng kẹo giấu bên dưới tấm ván sàn phủ vải. Muốn mua thứ gì thì phải để dành đủ tiền trước đã. Lúc nào cũng trả tiền mặt. Lúc nào cũng mua ở Co-op. Tem mua hàng Co-op cũng được kẹp vào một quyển sách giấu dưới ván sàn. Về sau, khi mẹ phát hiện chơi hụi sẽ có lãi, số tiền chơi hụi vẫn được tích lũy từ những đồng tiền mặt giấu dưới sàn.
Một vấn đề khác: căn nhà dơ bẩn. Máy hút bụi thổ tả. Chiếc máy hút bụi Hoover Junior kiểu cũ không còn hút tốt nữa. Valentina đã thấy quảng cáo một chiếc máy hút bụi dành cho người hiện đại. Màu xanh. Dùng xy lanh. Thấy chưa, không cần đẩy đi lòng vòng. Chỉ cần hút, hút và hút. Ba tôi lại ký giấy mua trả góp lần nữa.
Ba tôi kể cho tôi nghe mọi chuyện, nên đương nhiên tôi chỉ nghe được câu chuyện từ phía ông. Có lẽ còn có một phiên bản khác thú vị hơn nếu nghe từ phía Valentina. Dẫu vậy, tôi không muốn nghe chút nào. Tôi tưởng tượng cảnh ba tôi lưng còng yếu đuối, run rẩy vì giận nhưng không làm sao được, mà lòng tràn ngập niềm căm tức thay cho ba.
‘Nghe này ba, ba phải bật lại cô ta. Nói với cô ta là không thể có chuyện cô ta muốn gì được nấy đâu’
‘Hừm’ ông nói. ‘Tak.’ Ông nói ừ, nhưng giọng ông chẳng có chút đanh thép nào. Ông chỉ thích càu nhàu với những thính giả biết lắng nghe, chứ không muốn động tay động chân làm gì.
‘Cô ta toàn mơ mộng hão, ba à.’
‘Nhưng không thể trách cô ấy được. Cô ấy tin vào mọi sự tuyên truyền của phương Tây.’
‘Vậy thì cô ta phải học khôn thôi, không phải thế sao?’ Giọng tôi chua chát.
‘Dù sao thì tốt nhất con đừng kể lại chuyện này cho Vera’
‘Đương nhiên là không rồi.’ (Tôi đang nôn nóng muốn nói chuyện với chị gái đây!)
‘Con thấy đấy, Nadezhda, cô ấy không phải là người xấu. Chỉ là có vài suy nghĩ sai lầm thôi. Không phải lỗi của cô ấy.’
‘Để xem.’
‘Nadezhda này...’
‘Cái gì?’
‘Con không được nói chuyện này với Vera.’
‘Tại sao không?’
‘Nó sẽ phá lên cười. Nó sẽ vênh váo: con đã bảo mà.’ ‘Con chắc là chị ấy sẽ không vậy đâu.’ (Tôi biết chắc là chị sẽ vênh mặt lên.)
‘Con biết cái con Vera này mà, loại người như nó thì...’
Mặc dù cố gắng thoát ra, tôi vẫn bị hút vào tấm bi kịch này mà quay trở lại thuở ấu thơ. Nó luôn bíu chặt lấy tôi. Cứ như chiếc máy hút bụi của người hiện đại. Hút, hút và hút. Tôi bị hút vào túi chứa bụi của quá khứ với những mảng ký ức xám xịt dính nhằng nhụa lấy nhau, nơi mọi thứ đều không có hình hài, lờ mờ và vón cục với mớ vụn vặt lãng nhách giấu trong lớp bụi cũ xưa - bụi ở khắp nơi, nhận chìm tôi, chôn sống tôi, chui vào phổi và mắt khiến tôi không thể nhìn, không thể thở, không thể gào thét.
‘Ba à, vì sao ba cứ bực bội Vera hoài vậy? Chị ấy đã làm gì?’
‘À, Vera ấy à. Nó lúc nào cũng chuyên quyền, từ hồi bé tí đã vậy. Bíu chặt lấy Ludmilla với nắm tay cứng như sắt. Bíu chặt. Bú, bú, bú. Tính tình khó ưa. Khóc. Gào.’
‘Ba à, lúc đó chị chỉ là một đứa bé, có biết gì đâu.’ ‘Hừm.’
Trái tim tôi gào lên, ‘Ba phải yêu tụi con. Ba phải yêu tụi con, dù tụi con có xấu xa đến mức nào! Bậc cha mẹ thường thì phải thế!’ Nhưng tôi không nói ra lời. Dù sao thì ông cũng không biết cư xử khác hơn. Lớn lên với bà Nadia, cùng món xúp nghèo nàn và những đòn trừng phạt nghiêm khắc.
‘Không ai trong chúng ta quyết định được tính cách của mình’ tôi nói.
‘Hừm. Đương nhiên thuyết định mệnh tâm lý này rất đáng để thảo luận’ (ông phát âm thành ‘tịnh mệnh’) ‘chẳng hạn như Leibniz, người đặt nền móng cho toán học hiện đại, tin rằng mọi thứ đều được định sẵn ngay từ lúc sinh ra.’
‘Ba à...’
Tak tak. Rồi lúc nào cũng hút thuốc nữa. Hút thuốc ngay bên giường bệnh của Milla. Đúng là một đứa chuyên chế nghiện ngập’ Ba tôi nhận thấy tôi đã mất kiên nhẫn. ‘Ba có kể cho con nghe là ba suýt chết vì thuốc lá chưa?’
Chẳng lẽ đây là mánh khóe chuyển-đề-tài-câu-chuyện sao? Hay ba trở thành kẻ rối trí rồi.
‘Con tưởng ba đâu có hút thuốc.’
Ba mẹ tôi đều không hút thuốc. Chẳng những vậy, họ còn làm trận làm thượng khi tôi bắt đầu hút thuốc năm mười lăm tuổi khiến tôi, dù chẳng mê gì thuốc, vẫn cố hút đến vài năm sau mới bỏ, để dằn mặt ba mẹ.
‘Hà! Bởi vì ba không hút thuốc nên thuốc lá mới cứu sống ba, và cũng vì vậy mà suýt nữa nó hại chết ba.’ Ông chuyển sang giọng kể chuyện thong thả. Giờ ông đã hoàn toàn tự chủ, lái chiếc xe kéo của mình đi qua những vết cày lồi lõm của quá khứ. ‘Con biết đấy, trong trại lao động tập trung của quân Đức nơi chúng ta tìm thấy chính mình ở cuối cuộc chiến tranh, thuốc lá được mọi người coi là tiền tệ. Thù lao nhận được là hàng đống bánh mì, hàng đống mỡ và hàng đống thuốc lá. Do đó ai không hút thuốc thì có thể đổi lấy thức ăn, quần áo hay những thứ xa xỉ như xà bông, chăn mền. Nhờ có thuốc lá, chúng ta đã luôn được đủ ăn đủ mặc. Đó là cách chúng ta sống sót qua được cuộc chiến.’ Ba nhìn chằm chằm lên khoảng tường phía sau tôi. ‘Thật không may giờ Vera lại nghiện thuốc lá. Nó có kể cho con nghe lần đầu tiên nó chạm vào thuốc lá chưa?’
‘Không, chị không kể gì với con cả. Ba muốn nói về chuyện gì?’ Tôi đã không mấy chú tâm vào những lời ba nói, giờ có muốn nghe lại cũng đã muộn. ‘Chuyện gì xảy ra với Vera và thuốc lá vậy?’
Một khoảng lặng dài.
‘Không nhớ được.’ Ông nhìn ra ngoài cửa sổ và bắt đầu ho. ‘Nadia, ba đã kể cho con nghe nồi hơi của những con tàu khổng lồ đến nhường nào chưa?’
‘Quên mấy cái nồi hơi đó đi ba. Hãy kể cho con nghe về vụ thuốc lá. Chuyện gì đã xảy ra?’
‘Không nhớ được. Nhớ để làm gì. Quá khứ có quá nhiều chuyện...’
Đương nhiên là ba nhớ, chỉ là ba không chịu nói.
○○○
Chị của Valentina đến nơi. Ba tôi trả 50 bảng cho một người đàn ông trong làng lái chiếc Ford Fiesta đến sân bay Heathrow ở London đón chị ta về. Tóc chị ta không vàng như Valentina mà đen thẫm, bới lên cầu kỳ, vài lọn tóc quăn rủ xuống gáy. Chị ta mặc một chiếc áo choàng lông thú thật, đi giày da bóng loáng, cặp môi trề tô son đỏ chót. Chị ta lướt mắt lạnh lùng nhìn qua căn nhà, lò nướng, máy hút bụi, ông chồng, rồi tuyên bố chị ta sẽ ở nhà ông cậu tại Selby.
0

8.
Áo lót xa tanh màu xanh lá

Một cuộc xung đột nữa. Lần này là về hóa đơn điện thoại. Hơn 700 bảng, đa số đều là những cú điện thoại gọi về Ukraina. Ba tôi gọi cho tôi.
‘Con cho ba mượn năm trăm bảng được chứ?’
‘Ba à, phải chấm dứt thôi. Tại sao con phải trả tiền cho cô ta gọi điện về Ukraina chứ?’
‘Không chỉ mình cô ấy. Stanislav cũng gọi mà.’
‘Ừ thì cả hai người bọn họ. Họ không thể cứ thoải mái gọi điện tán nhảm với bạn bè được. Nói với cô ta là cô ta phải lấy lương ra mà trả lấy.’
‘Hừm, được rồi.’ Ông cúp máy.
Ông gọi cho chị tôi.
Chị tôi gọi cho tôi.
‘Cô nghe vụ hóa đơn điện thoại chứ? Thiệt tình! Tiếp theo là gì đây?’
‘Em nói với ba là phải bảo Valentina trả tiền. Em sẽ không trợ cấp cho cô ả.’ Giọng tôi đầy vẻ khinh bỉ và coi thường.
‘Tôi cũng nói y chang vậy, Nadezhda ạ.’ Cái giọng khinh khỉnh của chị tôi khá hơn của tôi nhiều. ‘Cô có biết ba nói gì không? Cô ả không trả tiền hóa đơn điện thoại được vì phải trả tiền mua xe’
‘Nhưng em tưởng ba mua xe cho ả chứ.’
‘Một chiếc xe khác. Hiệu Lada. Ả mua để đem về Ukraina.’
‘Vậy giờ ả có hai chiếc xe?’
‘Hình như là vậy. Đương nhiên, đám người đó tự xưng là cộng sản. Xin lỗi Nadezhda. Tôi biết cô định nói gì. Nhưng bọn họ luôn có mọi thứ họ muốn: xa hoa, đặc quyền. Giờ khi không còn rúc rỉa được gì từ chế độ nữa, họ muốn chạy sang đây mà rúc rỉa chúng ta. Ô xin lỗi...’
‘Không đơn giản như vậy đâu, Vera.’
‘Tôi biết chắc là cô không đồng ý với tôi, Nadezdha ạ, và thực sự tôi không muốn tranh cãi làm gì. Tôi biết lòng thương xót của cô đặt ở đâu. Nhưng tôi nhìn thấy rõ bản chất của bọn họ.’
‘Chị chưa gặp bọn họ mà.’
‘Tôi đoán được từ lời mô tả của cô.’
Con bò cái ngu ngốc. Tranh cãi với chị ta chỉ tốn nước bọt. Nhưng tôi vẫn ấm ức khi thấy chị chẳng ngại ngần gì châm chọc tôi dẫu chúng tôi đang liên kết với nhau.
Tôi gọi điện cho ba.
‘À há’ ông nói. ‘Đúng, chiếc Lada. Cô ấy mua cho anh trai. Con biết đấy, anh cô ấy sống ở Estonia, nhưng bị trục xuất vì thi rớt kỳ thi kiểm tra ngôn ngữ. Anh ta là người Nga gốc mà. Chỉ biết nói độc tiếng Nga thôi. Chẳng biết từ Estonia nào. Sau khi tách khỏi Liên bang, chính quyền mới của Estonia muốn trục xuất mọi người Nga. Do đó anh trai cô ấy phải ra đi. Giờ Valentina nói cả tiếng Nga và tiếng Ukraina. Giỏi cả hai thứ tiếng. Stanislav cũng vậy. Giỏi từ vựng. Phát âm chuẩn’
‘Chiếc xe Lada’
‘À há, ừ, chiếc Lada. Anh trai cô ấy có một chiếc Lada, con biết đấy, chiếc xe bị vỡ toang. Mặt anh ta bị trọng thương. Một đêm nọ, anh ta đi câu cá, câu cá qua một cái hố trên mặt băng. Rất lạnh, ngồi thật lâu trên băng chờ cá cắn câu. Estonia rất lạnh. Để giữ ấm, anh ta uống vodka. Chất cồn đương nhiên không cung cấp nhiên liệu đốt cháy như dầu hỏa hay xăng dùng cho máy kéo, nhưng nó vẫn có tính năng làm ấm. Song phải trả giá. Giá phải trả là thế này. Anh ta uống quá nhiều, bị trượt đi trên tuyết. Chiếc Lada vỡ toang. Mặt anh ta bị trọng thương. Nhưng ba tự hỏi vì sao mình phải giúp một người đàn ông không phải gốc Ukraina, mà còn chỉ biết độc tiếng Nga đến nỗi thi rớt kỳ thi ngôn ngữ Estonia nữa? Nói cho ba biết lý do đi.’
‘Vậy là cô ấy mua cho anh trai một chiếc Lada mới?’
‘Không mới. Xe dùng rồi. Cũng không đắt tiền lắm đâu. Một ngàn bảng. Con biết đấy, ở nước chúng ta Lada không phải là hiệu chic.’ (Ông phát âm kiểu Pháp. Lúc nào ông cũng cho rằng mình có chút dòng máu Pháp trong người.) ‘Thân xe quá nặng do kích thước động cơ. Tiêu thụ nhiên liệu không hiệu quả. Bộ truyền lực kiểu cũ. Nhưng ở Ukraina, xe Lada được coi là tốt vì phụ tùng thay thế nhiều nhan nhản. Có lẽ cô ấy cũng không tặng cho anh trai. Có thể cô ấy sẽ bán lại kiếm lời’
‘Vậy giờ cô ấy lái cả hai chiếc xe?’
‘Không. Chiếc Lada nằm trong ga ra. Chiếc Rover dùng để chạy.’
‘Nhưng cô ấy không có tiền trả tiền điện thoại.’
‘À há. Điện thoại. Có chút vấn đề ở đây. Nói chuyện nhiều quá. Chồng, anh, chị, mẹ, cậu, dì, bạn, anh em họ. Thỉnh thoảng nói tiếng Ukraina nhưng đa số là tiếng Nga.’ Làm như ông sẵn sàng trả tiền nếu cô ả nói toàn tiếng Ukraina vậy. ‘Không phải nói chuyện nghiêm túc. Chỉ toàn tán láo thôi.’ Ông sẵn sàng trả tiền nếu họ thảo luận về Nietzsche và Schopenhauer.
‘Ba à, nói với cô ấy là nếu không trả tiền thì điện thoại sẽ bị cắt.’
‘Hừm, ừ.’ Ông nói ừ nhưng giọng nói của ông biểu thị điều ngược lại.
Ông không làm vậy được. Ông không thể chống đối lại cô ta. Có lẽ chính ông cũng không muốn làm thế. Ông chỉ muốn ca cẩm, muốn chúng tôi thông cảm.
‘Ba phải cứng rắn hơn với cô ấy.’ Dù nhận ra vẻ miễn cưỡng của ông ở đầu dây bên kia, tôi vẫn không lùi bước.
‘Cô ấy không hiểu. Cô ấy cứ tưởng rằng ở phương Tây ai cũng là triệu phú cả’
‘À há’
Vài ngày sau ông lại gọi điện thoại đến. Chiếc Rover lại hư nữa. Lần này là hệ thống phanh thủy lực. Ô, nó lại còn không đạt tiêu chuẩn kiểm định. Ông lại muốn vay thêm ít tiền.
‘Ngay khi lấy được tiền hưu trí ba sẽ trả’
‘Anh thấy chưa?’ Tôi nổi điên với Mike. ‘Bọn họ điên cả rồi. Cả hai người. Vì sao em không có một gia đình bình thường cơ chứ?’
‘Như vậy thì sẽ buồn chán lắm.’
‘Ô, em nghĩ buồn chán chút cũng được. Em không thích phải đối mặt với những chuyện thế này suốt cuộc đời.’
‘Thôi nào, đừng có quá căng thẳng. Có một điều em có thể chắc chắn: chuyện sẽ còn tệ hơn nhiều.’ Anh lấy một lon bia lạnh từ tủ lạnh và rót ra hai cái ly. ‘Em hãy cho ba có cơ hội vui thú một chút. Đừng xen vào.’
Về sau, tôi hối hận vì mình đã không can thiệp nhiều hơn, sớm hơn.
Tôi nhận ra là không thể nắm rõ tình hình qua điện thoại được. Đã đến lúc đến thăm lần nữa. Lần này tôi không báo cho ba biết.
Lúc chúng tôi tới thì Valentina đã ra ngoài nhưng Stanislav đang ở nhà. Nó làm bài tập trong phòng, cúi gằm đầu trên giấy. Học hành chăm chỉ. Một cậu bé ngoan.
‘Stanislav’ tôi hỏi, ‘chuyện gì xảy ra với chiếc xe vậy? Có vẻ như nó gây ra quá nhiều chuyện’
‘Ô, không có chuyện gì đâu. Giờ thì ổn rồi. Đã giải quyết ổn thỏa’ Nó mỉm cười duyên với hàm răng sứt.
‘Nhưng Stanislav này, cháu có thể thuyết phục mẹ nên mua một chiếc xe nhỏ hơn và chạy tốt hơn con quái vật láng coóng to đùng chuyên đốt tiền này không? Ba cô không có nhiều tiền lắm đâu, cháu biết đấy’
‘Ô, ổn rồi mà. Đó là một chiếc xe rất dễ thương’ ‘Nhưng cháu sẽ thích một chiếc xe bền hơn mà, chẳng hạn như Ford Fiesta đấy.’
‘Ồ, Ford Fiesta không tốt đâu. Trên đường từ xa lộ đến đây, cháu thấy một vụ tai nạn khủng khiếp giữa một chiếc Ford Fiesta và một chiếc Jaguar. Chiếc Ford Fiesta bị chiếc Jaguar cán bẹp gí. Cô thấy đấy xe lớn thì tốt hơn nhiều’
Nó nói nghiêm túc ư?
‘Nhưng Stanislav này, ba cô không đủ sức mua xe lớn’ ‘Ô, cháu nghĩ là mua được thôi,’ nó cười ngọt ngào. ‘Ông ấy có đủ tiền mà. Ông ấy còn cho Anna một ít, phải không?’ Mắt kính tuột xuống mũi nó. Nó đẩy lên rồi thản nhiên nhìn thẳng vào mắt tôi. Có lẽ nó cũng chẳng phải một cậu bé ngoan.
‘Đúng, nhưng...’ Tôi có thể nói gì đây? ‘... vì ông muốn vậy.’
‘Chính xác.’
Có tiếng chân hối hả bước lên cầu thang, và Valentina xông vào phòng. Cô ả mắng Stanislav vì đã nói chuyện với tôi. ‘Đừng có nói chuyện với con quạ ngực lép báo điềm xấu này.’ Cô ả quên mất là tôi biết tiếng Ukraina, mà có khi ả chẳng thèm quan tâm.
‘Không có gì đâu, Valentina’ tôi nói. ‘Tôi muốn nói chuyện với cô kìa. Chúng ta xuống dưới lầu nhé?’
Cô ả theo tôi đi xuống bếp. Stanislav cũng đi theo, nhưng cô ả bảo nó vào phòng bên, nơi ba đang cất công giải thích với Mike bảng so sánh mức độ an toàn giữa các hệ thống phanh khác nhau, ngoan cố né tránh các vấn đề cụ thể của chiếc Rover, trong khi Mike cố hết sức hướng câu chuyện theo hướng đó.
‘Vì sao cô muốn nói chuyện với tôi?’ Valentina đứng đối diện tôi, khoảng cách hơi có vẻ quá gần. Màu son môi đỏ chót giận dữ.
‘Tôi nghĩ cô biết vì sao, Valentina.’
‘Biết? Vì sao tôi biết?’
Tôi đã chuẩn bị sẵn những lời sáng suốt cùng những lập luận hợp lý và tỉnh táo buộc ả ta phải ngoan ngoãn chấp nhận thua cuộc và mỉm cười thảm não mà thừa nhận mọi chuyện phải thay đổi. Nhưng cơn giận bùng lên làm tôi mờ mắt, mọi lập luận đã rời bỏ tôi. Máu nóng bốc lên đầu.
‘Cô không thấy xấu hổ à?’ Tôi chuyển sang thứ tiếng bồi, nửa Anh nửa Ukraina, trôi chảy và gắt gỏng.
‘Sấu-hổ! Sấu-hổ!’ cô ả khịt mũi. ‘Cô xấu hổ. Tôi không xấu hổ. Sao không cô ra mồ thăm mẹ cô đi? Sao cô không khóc, không đem hoa đi? Sao cô ở đây mà gây chuyện?’
Nghĩ đến mẹ đang cô đơn nằm một mình dưới lòng đất lạnh lẽo trong khi kẻ tiếm đoạt đang vênh váo trong nhà bếp của bà, tôi giận dữ điên cuồng.
‘Đừng động tới mẹ tôi. Đừng bao giờ mở cái mồm dơ-bẩn rộng-ngoác của cô ra mà nhắc đến mẹ tôi!’
‘Mẹ cô chết. Giờ ba cô cưới tôi. Cô không thích. Cô gây chuyện. Tôi biết. Tôi không ngu’
Ả cũng nói thứ tiếng bồi. Chúng tôi gầm gừ như hai con chó hoang.
‘Valentina, vì sao cô lái tới hai chiếc xe, trong khi ba tôi không đủ tiền để sửa nổi một chiếc? Vì sao cô gọi điện về Ukraina trong khi ba tôi phải xin tiền tôi trả hóa đơn điện thoại? Cô nói đi!’
‘Ông ấy cho cô tiền. Giờ cô cho ông ấy tiền’ cái miệng rộng đỏ chót châm chọc.
‘Vì sao ba tôi phải trả tiền xe cho cô? Tiền điện thoại cho cô? Cô đi làm. Cô có tiền. Cô phải đóng góp cho cái nhà này chứ.’ Tôi giờ đã trở thành một vị thần công lý giận dữ, và câu chữ cứ trào ra, nửa Anh, nửa Ukraina, rối loạn xì ngậu.
‘Ba cô không mua gì cho tôi cả!’ Cô ả chồm tới quát thẳng vào mặt tôi, gần đến mức tôi cảm thấy nước bọt của ả bắn cả vào mặt tôi. Tôi ngửi thấy mùi hôi nách và keo xịt tóc. ‘Không xe! Không nữ trang! Không quần-áo!’ (Cô ả dằn giọng khi nhắc tới quần-áo.) ‘Không đồ trang điểm! Không quần-áo-lót!’ Cô ả lật cái áo thun lên, phô ra cặp vú to đùng hung hãn như hai đầu nổ ngư lôi nằm bên dưới chiếc áo lót xa tanh co giãn màu xanh lá, viền đăng ten có thắt nơ.
‘Tôi mua cả! Tôi làm việc! Tôi mua!’
Nói tới bộ ngực thì tôi đành chịu thua. Tôi không biết nói gì hơn. Trong khoảng lặng sau đó, tôi nghe tiếng ba tôi vang lên đều đều ở phòng bên cạnh. Ông đang kể cho Mike nghe câu chuyện về bút chì trong không gian. Tôi đã nghe nó quá nhiều lần rồi. Mike cũng vậy.
‘Khi mới bắt đầu du hành trong không gian, một vấn đề thú vị nảy sinh từ những thí nghiệm trong trạng thái không trọng lực. Người Mỹ nhận ra rằng bút mực bình thường không thể dùng để viết hay ghi chú được nếu không có trọng lực. Các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và cuối cùng đã phát minh ra một loại bút kỹ thuật cao có thể hoạt động trong điều kiện không trọng lực. Ở Nga, các nhà khoa học phải đối diện với cùng vấn đề này nhưng họ dùng một giải pháp khác. Thay vì bút mực, họ dùng bút chì. Người Nga đã đem bút chì lên không gian như thế đó’
Làm sao ba tôi có thể không nhìn thấy chuyện gì đang xảy ra với ông?
Tôi quay qua Valentina.
‘Ba tôi là một người vô tội. Ngốc nhưng vô tội. Cô tiêu hết tiền vào quần áo lót và đồ trang điểm đĩ thõa! Bởi vì ba tôi không đủ sức phục vụ cô sao? Bởi vì cô đang theo đuổi một người đàn ông khác, có khi là hai, ba hay bốn người? Tôi biết cô là hạng người gì, ba tôi cũng sẽ biết sớm thôi. Đến lúc đó chúng ta sẽ biết ai thắng.’
Stanislav kêu lên,
‘Ôi trời, con không ngờ Nadezhda có thể nói tiếng Ukraina khá vậy!’
Sau đó chuông cửa reo. Mike mở cửa. Đó là gia đình Zadchuk. Họ đang đứng trước ngưỡng cửa với một bó hoa và một cái bánh ngọt tự làm.
‘Mời vào! Mời vào!’ Mike nói. ‘Các bác vừa đến kịp giờ uống trà đấy!’
Họ chần chờ trước ngưỡng cửa. Họ đã nhìn thấy khuôn mặt hầm hầm của Valentina. (Bộ ngực đã được che lại.)
‘Mời vào’ Valentina trề môi. Dù sao thì họ cũng là bạn của cô ả, và có thể ả còn cần tới họ sau này.
‘Mời vào’ tôi nói, ‘tôi đi đun nước đây.’ Tôi cần thời gian để trấn tĩnh lại, để có thể lấy lại nhịp thở.
Mặc dù đang tháng Mười, thời tiết vẫn khá dịu và mặt trời tỏa sáng. Chúng tôi sẽ uống trà trong vườn. Mike và Stanislav đặt mấy chiếc ghế bố và một chiếc bàn cắm trại cũ khập khiễng dưới gốc mận.
‘Các bạn tới thật tốt’ ba tôi nói với gia đình Zadchuk và ngả người ra sau chiếc ghế cọt kẹt. ‘Bánh ngon nữa. Millochka của tôi thường làm bánh giống vậy.’
Valentina cho rằng ông coi thường mình.
‘Ở Tesco ngon hơn.’
Bà Zadchuk bực bội.
‘Tôi thích làm bánh hơn.’
Ông Zadchuk đứng ra bảo vệ vợ.
‘Sao cô lại mua bánh ở Tesco, Valentina? Sao cô không tự làm? Đàn bà phải làm bánh.’
Valentina vẫn còn phừng phừng sau cuộc nói chuyện với tôi.
‘Tôi không có thì giờ làm bánh. Cả ngày làm vì tiền. Mua bánh. Mua quần áo. Mua xe. Chồng keo kiệt tệ hại không đưa tiền.’
Tôi sợ ả lại vạch áo lên, nhưng may thay ả chỉ kệch cỡm hất ngực về phía ba tôi. Ba tôi sợ hãi nhìn sang Mike cầu cứu. Mike không rành tiếng Ukraina lắm để hiểu chuyện gì đang diễn ra, anh phạm phải sai lầm chết người khi quay lại câu chuyện về chiếc bánh, cố lấy lòng bà Zadchuk bằng cách lấy thêm một miếng lớn.
‘Măm. Ngon tuyệt’
Đôi má hồng của bà Zadchuk bừng lên. Bà vỗ vỗ đùi anh.
‘Cậu ăn ngon. Tôi thích đàn ông ăn ngon. Sao anh không ăn nhiều chút, Yuri?’
Ông Zadchuk cảm thấy bị xúc phạm.
‘Ăn nhiều bánh bụng bự. Em mập, Margaritka. Hơi mập chút đấy.’
Bà Zadchuk cảm thấy bị xúc phạm.
‘Béo hơn là gầy. Nhìn Nadezhda kìa. Cô ấy như quý-bà-Bangladesh-chết-đói ấy.’
Tôi cảm thấy bị xúc phạm. Tôi ưỡn bụng. ‘Gầy là tốt. Gầy là khỏe. Người gầy sống lâu hơn.’
Tất cả mọi người quay sang tôi rồi phá lên cười sằng sặc.
‘Gầy là đói! Gầy là chết đói! Ai gầy cũng ngã ra chết! Ha ha!’
‘Tôi thích mập’ ba tôi nói. Ông đặt bàn tay khô đét lên ngực Valentina và bóp nhẹ. Máu bốc lên đầu tôi. Tôi nhảy dựng lên và vô tình va phải chân bàn khiến bình trà và phần bánh còn lại rơi xuống đất.
Bữa trà hôm đó không thể tính là thành công.
Sau khi gia đình Zadchuk ra về, chúng tôi vẫn còn phải chùi rửa và giặt khăn trải bàn. Valentina đeo găng tay cao su để bảo vệ đôi tay son móng lóng lánh sắc hồng. Tôi đẩy ả qua một bên.
‘Để tôi làm’ tôi nói. ‘Tôi không sợ dơ tay. Cô rõ ràng là quá cao sang để làm việc này, Valentina. Quá cao sang cho ba tôi, phải vậy không? Nhưng không phải quá cao sang để xài tiền của ông.’
Ả ta rú lên. ‘Hồ ly tinh! Quạ cái! Cút ra khỏi bếp của tôi! Cút khỏi nhà của tôi!’
‘Không phải nhà của cô! Nhà của mẹ tôi!’ tôi quát lại.
Ba tôi chạy vào bếp.
‘Nadezhda, sao con nhúng mũi vào đây? Không phải chuyện của con!’
‘Ba à, ba điên rồi. Đầu tiên ba nói Valentina xài hết tiền của ba. Cho ba mượn 100 bảng. Cho ba mượn 500 bảng. Rồi ba nói con đừng nhúng mũi vào. Ba phải rõ ràng hơn chút chứ.’
‘Ba nói mượn tiền. Ba không bảo con nhúng mũi vào.’ Quai hàm ông nghiến lại. Bàn tay siết chặt. Ông bắt đầu run rẩy. Tôi còn nhớ cái hồi điệu bộ này của ông từng làm tôi khiếp hãi, nhưng giờ tôi còn cao hơn cả ông.
‘Ba à, vì sao con phải đưa tiền cho ba để cho cái người dối trá hám của màu mè này...’ Đồ chó cái, đồ chó cái, đồ chó cái! tôi nghĩ bụng. Nhưng cái miệng chuyên bảo vệ phụ nữ của tôi không nói được như thế.
‘Cút! Cút và đừng bao giờ quay lại! Cô không phải là con gái tôi, Nadezhda!’ Ánh mắt ông long lên sòng sọc.
‘Tốt thôi’ tôi nói. ‘Với con thế thì tốt chán. Ai muốn có một người ba như ba chứ? Ba cứ ôm ấp mụ vợ vú bự của mình và để con yên đi!’
Tôi thu đồ đạc rồi chạy ra ngoài xe. Vài giây sau Mike ra theo.
Khi chúng tôi rời khỏi ngoại ô Peterborough và lái xe ra vùng nông thôn thoáng đãng, Mike đùa, ‘Gia đình em đúng là điên khùng cả lũ.’
‘Im đi!’ Tôi rú lên. ‘Câm mồm và đừng xía vào chuyện này.’ Tôi lập tức cảm thấy xấu hổ. Tôi đã để cơn giận lấn át. Chúng tôi lái xe về nhà trong yên lặng. Mike dò sóng radio tìm những bản nhạc êm ái để xoa dịu tôi.
0

9.
Quà Giáng sinh

Một buổi tối rất khuya, không lâu sau chuyến thăm của chúng tôi, Stanislav gọi điện cho chị tôi. Nó tìm thấy số điện thoại của chị trong sổ của ba.
‘Làm ơn đi mà. Cô phải làm gì đó... tranh cãi quyết liệt... gào thét liên hồi...’ nó nức nở qua điện thoại.
Vera bèn ra tay. Chị gọi điện cho Bộ Nội vụ. Họ bảo chị hãy làm đơn. Chị tức điên gọi điện cho tôi.
‘Lần này cả hai chúng ta phải viết đơn rồi cùng nhau ký tên. Tôi không để cho ba lợi dụng đứa này chống lại đứa kia đâu. Tôi cũng không để cô ngồi yên lấy lòng ba, còn tôi thì hùng hục vất vả rồi bị gạch tên khỏi danh sách thừa kế.’
‘Chắc vậy’ tôi nói. ‘Em sẽ gọi điện cho ba trước, xem có thể tìm hiểu được chuyện gì đang xảy ra không. Em không muốn làm chuyện gì khiến chúng ta phải hối hận về sau.’ Tôi cảm thấy có lỗi vì đã không quan tâm đúng mực đến ba.
Tôi gọi điện cho ba. Tôi nghe tiếng điện thoại lạch cạch, rồi tiếng thở hổn hển của ba khi ông nhấc điện thoại lên.
‘Xin chào? À, Nadezhda. Con gọi đúng lúc lắm’
‘Có chuyện gì vậy ba?’
‘Ô, Valentina không được ổn. Có vài vấn đề. Giờ thì cô ấy cư xử cứ như là ghét ba lắm... nói ba là đồ hạ đẳng... côn trùng đáng bị đập chết... tên đần đáng bị bỏ tù... xác chết đáng bị chôn xuống đất... những điều tương tự như vậy.’ Ông lắp ba lắp bắp và ho sù sụ. Giọng ông khàn khàn, chắc ông đau đớn lắm mới thốt ra được thành lời.
‘Ôi, ba’ Tôi không biết phải nói gì, nhưng ông nghe được sự trách móc trong giọng của tôi.
‘Đương nhiên đó không hoàn toàn là lỗi của cô ấy. Cô ấy bị áp lực rất lớn do sự chậm trễ ở Bộ Nội vụ. Ngoài ra công việc cô ấy cũng rất vất vả, ban ngày làm ở viện điều dưỡng, buổi tối làm ở khách sạn. Cô ấy mệt mỏi, và khi mệt mỏi thì rất dễ nổi cáu’
Tôi nổi điên vì căm giận - căm giận cô ả, căm giận ba. ‘Nhưng ba à, ai cũng thấy trước được những chuyện này rồi sẽ xảy ra. Chỉ trừ ba thôi’
‘Đừng nói với Vera nhé con! Nó sẽ nói...’
‘Ba à, Vera biết rồi. Stanislav gọi điện cho chị ấy’ ‘Stanislav gọi điện cho Vera à?’
‘Nó khóc nức nở trong điện thoại’
‘Tệ quá. Tệ quá. Thôi, dù có gì xảy ra... ít nhất cho đến khi cô ấy yêu cầu, bọn ba sẽ vẫn sống chung với nhau... sau đó bọn họ sẽ ra đi, và ba sẽ được yên thân’
Nhưng chị tôi và tôi không thể buông tay như vậy được. Tôi thảo một lá thư gửi đến Văn phòng Nhập cư của Bộ Nội vụ ở tòa nhà Lunar, Croydon, kể lại chuyện Valentina kết hôn với ba tôi và mối quan hệ giữa cô ả với Bob Tumer. Tôi không muốn làm một người theo chủ nghĩa tự do tốt bụng nữa. Tôi muốn con đàn bà này bị đuổi đi. Tôi mô tả cuộc sống của họ - riêng phòng - và chuyện hai người chưa hề ngủ với nhau, bởi tôi cho là giới cầm quyền coi một cuộc hôn nhân thực sự thì không thể không có tình dục. Tôi rất hài lòng với nội dung chặt chẽ của bức thư:

Vào đầu năm nay, bà Dubova nhận được thị thực sáu tháng lần thứ hai và vào Anh quốc qua cửa khẩu Ramsgate vào tháng Ba. Một lần nữa bà ấy lại chuyển đến sống ở nhà ông Tumer. Bà ấy và ba tôi cưới nhau tại nhà thờ công giáo ở Peterborough vào tháng Sáu.

Sau đám cưới, bà Dubova không chuyển về ở với ba chúng tôi mà vẫn tiếp tục sống ở nhà ông Tumer trên phố Hall. Khi năm học của con trai kết thúc, bà Dubova (giờ đã là bà Mayevska) và Stanislav dọn về nhà ba chúng tôi. Tuy nhiên, bà ta với ba tôi ngủ riêng phòng và bọn họ chưa hề quan hệ tình dục.
Ban đầu mọi việc có vẻ ổn. Chúng tôi cho rằng dầu bà Dubova (giờ là bà Mayevska) không có tình yêu lãng mạn với ba tôi, nhưng ít nhất bà ấy sẽ vui lòng chăm sóc cho người đàn ông lớn tuổi yếu ớt trong những năm cuối đời. Tuy nhiên, chỉ sau vài tháng, tình hình đã trở nên tồi tệ.

 
 
Trong khi viết, tôi cảm thấy hết sức có lỗi, nhưng đồng thời cũng thoải mái hơn khi trút được bầu tâm sự. Đâm một nhát sau lưng, nói xấu mà không sợ trừng phạt. Ba tôi sẽ không bao giờ biết. Mike và Anna cũng sẽ không bao giờ biết. Valentina sẽ nghi ngờ, nhưng ả không thể nào biết chắc chắn được.
Tôi đề nghị nhân viên ở Bộ Nội vụ bảo vệ bí mật cho chúng tôi. Tôi ký vào thư, rồi gửi sang cho chị. Chị ký rồi gửi thẳng đến Bộ Nội vụ. Không có thư trả lời. Vài tuần sau chị tôi gọi lại và được biết là lá thư đã được đưa vào hồ sơ.
Lần kế tiếp, tôi gọi điện cho ba để hỏi thăm tình hình, ông lảng tránh.
‘Mọi việc ổn mà’ ông chỉ nói vậy. ‘Không có chuyện gì bất thường cả.’
‘Không cãi vã nữa sao?’
‘Cũng bình thường thôi. Vợ chồng mà. Cãi nhau là chuyện thường. Không quá tệ.’ Sau đó ông chuyển sang đề tài hàng không. ‘Con biết đấy, yêu cũng như ngồi máy bay, quan trọng ở chỗ giữ được thăng bằng. Cánh dài và mỏng thì bay cao hơn, nhưng hạn chế của chúng là làm tăng trọng lượng máy bay. Cũng như vậy, cãi vã và những cơn giận dữ chợt đến là cái giá phải trả cho tình yêu. Khi thiết kế cánh máy bay, bí quyết thành công là phải tìm ra tỷ lệ thích hợp giữa lực đẩy và lực kéo. Valentina cũng vậy thôi’
‘Ý ba là cô ấy làm ba phấn khích, nhưng cũng hay kéo ba xuống bùn chứ gì’ (Ha ha.)
Ba tôi im lặng thật lâu ở đầu dây bên kia, có lẽ là đang đoán xem tôi ám chỉ điều gì.
‘Ba à’ tôi nói, ‘nói về máy bay vậy là đủ rồi. Ba không thấy là con lo cho ba sao?’
‘Ba ổn mà. Nhưng bệnh viêm khớp lại quay trở lại. Thời tiết ẩm ướt mà’
‘Ba có muốn con và Mike đến thăm ba không?’
‘Không, không phải bây giờ. Có lẽ là đợi thêm vài ba bữa nữa’
Chị tôi còn moi được ít thông tin hơn.
‘Ba chẳng thèm trả lời câu hỏi nào của tôi. Ông ấy cứ lảm nhảm hết chuyện này đến chuyện khác. Tôi tin chắc đầu óc của ba có vấn đề rồi’ chị nói. ‘Chúng ta nên gặp bác sĩ để xác nhận ông ấy bị mất trí. Khi đó ta có thể tuyên bố rằng đầu óc ông ấy không tỉnh táo khi cưới cô ả.’
‘Ba lúc nào cũng vậy mà. Đâu có tệ hơn so với trước đây đâu. Chị cũng biết ba hơi khùng khùng mà’
‘Đương nhiên là vậy. Rất khùng là đằng khác. Nhưng dù sao tôi vẫn cảm thấy tình trạng của ba có tệ hơn. Ba có nói gì với cô về Valentina không?’
‘Không. Ba nói họ có cãi nhau, nhưng không có gì đặc biệt. Nhớ ba mẹ vẫn thường hay cãi nhau không? Một là mọi chuyện đã ổn và họ huề nhau, hai là ba giấu không cho mình biết tình hình đã quá tồi tệ rồi. Ba sợ chị sẽ cười nhạo ông ấy, Vera à.’
‘Ô, đương nhiên là tôi sẽ cười nhạo ba rồi. Ba còn mong đợi gì hơn chứ? Nhưng dù sao ông ấy vẫn là ba của chúng ta. Chúng ta không thể để con đàn bà hung hãn ấy ăn hiếp ba được.’
‘Ba nói mọi chuyện ổn. Nhưng giọng ba chẳng ổn chút nào.’
‘Có thể ả nghe ngóng trong lúc ba đang nói chuyện điện thoại. Chỉ đoán vậy thôi.’
Giáng sinh cho chúng tôi cái cớ để đến thăm ba.
‘Giáng sinh đến rồi, ba à. Gia đình phải tụ họp trong dịp Giáng sinh chứ’
‘Để ba hỏi xem ý của Valentina thế nào.’
‘Không, cứ nói với cô ấy là bọn con sẽ tới’
‘Vậy cũng được. Nhưng đừng quà cáp gì cả. Không cần tặng quà cho ba, ba cũng không mua gì cho các con đâu.’
Cái ý tưởng ‘không cần quà’ này xuất phát từ mẹ ông, bà Nadia. Tên của tôi được đặt theo tên bà. Bà là giáo viên trường làng, một phụ nữ nghiêm khắc và sùng đạo, với mái tóc suôn đen bóng không một sợi bạc cho đến khi bà bảy mươi tuổi (dấu hiệu của dòng máu Mông cổ, mẹ tôi bảo thế), và cũng như toàn bộ giới trí thức Nga hồi đó, bà mê mẩn Tolstoy và những ý tưởng gàn dở của ông ta: tâm hồn thanh cao của giai cấp nông dân, vẻ đẹp của sự hy sinh và những thứ nhảm nhí khác (đó là lời của mẹ tôi, kẻ phải chịu đựng những lời dạy dỗ của bà mẹ chồng về hôn nhân, nuôi dạy con cái và cách làm bánh hấp ngon nhất). Thế nhưng. Thế nhưng khi tôi còn nhỏ, ba đã làm cho tôi những món quà thật tuyệt vời. Những chiếc máy bay mô hình làm từ gỗ balsa[link=#id5]*[/link] được nạp năng lượng từ dây thun - cả khu phố ngưỡng mộ nhìn chúng bay trên trời. Một ga ra có trạm kiểm tra làm bằng gỗ và nhôm ghép với nhau bằng đinh tán, với một chiếc thang máy hoạt động nhờ dây thun đưa những chiếc xe kém chất lượng lên trên nóc, và một cầu tuột uốn cong để đẩy xe xuống trở lại. Một dịp Giáng sinh khác, ba tặng tôi một mô hình nông trại, kiểu khutor như ở quê nhà Ukraina - một phiến gỗ ép sơn xanh bao quanh bởi bức tường sơn màu, với cổng gắn bản lề mở ra được, một ngôi nhà có cửa sổ và cửa ra vào, một chuồng bò mái dốc cho đàn bò và lợn nhựa. Tôi nhớ lại những món quà đó đầy ngưỡng mộ. Lâu lắm rồi tôi mới tìm được lý do vì sao tôi từng yêu thương ba đến vậy.
‘Nhưng Valentina và Stanislav thì có lẽ là thích quà đấy’ ông nói. ‘Họ theo truyền thống mà, con biết đấy.’ Ha! Thì ra họ không phải là bậc trí thức chuyên đọc Nietzsche như ba tôi tưởng.
Tôi thích thú chọn quà cho Valentina và Stanislav. Tôi gói một lọ nước hoa siêu rẻ tiền với mùi hương quái dị mà tôi được tặng miễn phí khi mua hàng ở siêu thị. Đó là quà cho Valentina. Còn Stanislav, tôi chọn một chiếc áo len poly-este dài tay màu tím mà con gái tôi mua về nhân một dịp bán hàng từ thiện ở trường. Tôi gói hai món quà hết sức cẩn thận, cài thêm mấy chiếc nơ nhỏ. Chúng tôi mua sô cô la và một quyển sách về máy bay cho ba. Ba lúc nào cũng thích quà, dù điều đó ông chẳng bao giờ công nhận.
Chúng tôi lái xe đến nhà ba vào chiều Giáng sinh. Đó là một ngày lạnh cóng xám xịt, chẳng giống Giáng sinh tuyết trắng chút nào. Căn nhà tối tăm, buồn thảm và bẩn thỉu, nhưng ba tôi đã treo vài tấm thiệp Giáng sinh (kể cả mấy tấm để dành từ năm ngoái) lên một sợi dây treo ngang phòng để trang trí. Nhà không có gì ăn. Bữa tối trước Giáng sinh, bọn họ ăn ức gà tây thái lát, khoai tây, đậu và nước xốt đông lạnh được làm nóng bằng lò vi sóng. Thậm chí chẳng có chút đồ ăn thừa nào. Trong chiếc nồi đặt trên bếp, có một ít khoai tây luộc lạnh ngắt thâm xì cùng phần còn thừa của một quả trứng chiên.
Tôi nhớ lại bữa tối Giáng sinh năm nào với một con gà tây béo, da vàng giòn tẩm muối và nước thịt béo ngậy ứa ra, thơm phức mùi tỏi, kinh giới và kiều mạch nhồi đầy bụng, hẹ tây và hạt dẻ nướng xếp vòng quanh, cùng món rượu nhà làm khiến chúng tôi chuếnh choáng, khăn bàn trắng toát và hoa tươi cắm giữa bàn, dẫu đang giữa mùa đông, cùng những món quà bất ngờ, những nụ cười và những nụ hôn. Con ả đàn bà này đã thay thế vị trí của mẹ tôi, lấy đi ngày lễ Giáng sinh và thay vào đó là đồ ăn sẵn và hoa nhựa.
‘Hay là chúng ta ra ngoài ăn đi’ Mike đề nghị.
‘Hay đấy’ ba tôi nói. ‘Chúng ta có thể đi ăn món Ấn.’
Ba tôi thích đồ ăn Ấn Độ. Có một nhà hàng tên là Himalaya trong một trung tâm mua sắm vắng vẻ được xây dựng trong làng từ những năm 60. Sau khi mẹ tôi mất, có một khoảng thời gian ông toàn ăn đồ mua từ nhà hàng này và đã quen thân với ông chủ.
‘Ngon hơn tiệm Meals on Wheels’ ông nói, ‘mùi vị ngon hơn.’ Cho đến một ngày ông lỡ chén quá nhiều món cà ri cay vindaloo đến độ phải chịu một kết cục khá bi đát mà ông vẫn thường khoái trá miêu tả lại cho bất cứ ai chịu nghe. (‘Ăn vào đã cay. Đi ra còn cay hơn nhiều.’)
Chúng tôi là khách hàng duy nhất trong tiệm: Mike, Anna, tôi, ba, Valentina và Stanislav. Lò sưởi vặn nhỏ nên cả căn phòng thật lạnh giá. Có mùi ẩm ướt và gia vị hỏng. Chúng tôi chọn bàn gần cửa sổ, nhưng bên ngoài chẳng có gì để nhìn ngắm ngoài sương giá bám trên nóc xe và ánh đèn đường hắt lại. Giấy dán tường nhà hàng rắc bột len màu hạt dẻ, điểm lẫn những ô giấy da màu sáng theo mô típ Ấn Độ. Tiếng nhạc Giáng sinh vui nhộn từ đài địa phương vang lên sôi nổi.
Ông chủ đón tiếp ba tôi như một người bạn lâu năm. Ba giới thiệu tôi, Mike và Anna. ‘Con gái tôi, chồng nó, cháu ngoại tôi.’
‘Và đây là?’ Ông chủ chỉ sang Valentina và Stanislav. ‘Họ là ai vậy?’
‘Quý bà này và con trai từ Ukraina đến’ ba tôi đáp.
‘Và bà đây là? Vợ ông chăng?’ Rõ ràng lời đồn đã lan ra khắp làng trên xóm dưới, và giờ ông ta muốn xác nhận lại câu chuyện xôn xao này. Ông ta muốn tham gia vào đội ngũ ngồi lê đôi mách.
‘Họ từ Ukraina đến’ tôi nói. Tôi không thể trả lời là, Đúng, vợ của ba tôi. ‘Chúng tôi xem thực đơn được chứ?’
Ông ta thất vọng, lấy thực đơn rồi quăng xuống bàn.
‘Chúng tôi gọi rượu được không?’ Mike hỏi, nhưng nhà hàng này không được phép bán rượu.
Chúng tôi đành chúc tụng suông thôi.
Chúng tôi gọi món. Ba tôi thích món cà ri cừu. Con gái tôi ăn chay. Chồng tôi thích ăn món gì thật cay. Tôi thích món bỏ lò. Valentina và Stanislav chưa ăn món Ấn Độ lần nào. Họ tỏ vẻ dè dặt.
‘Tôi chỉ muốn thịt. Nhiều thịt’ Valentina nói. Cô ả chọn thịt bò nướng ở phần món ăn Anh. Stanislav chọn món gà quay. Chúng tôi đợi. Chúng tôi nghe nhạc pop và tên DJ lải nhải. Chúng tôi ngắm ánh sương giá lóng lánh trên nóc xe hoả. Ông chủ nhà hàng đứng sau quầy, lén lút quan sát chúng tôi. Ông ta đang chờ đợi cái gì?
Anna ngồi sát cạnh Mike và bắt đầu gấp khăn ăn của anh thành hình một đóa hoa giấy lộng lẫy. Nó rất yêu thương ba, tôi cũng đã từng giống như vậy. Nhìn hai người ở bên nhau, tôi vừa hạnh phúc lại vừa chua chát.
‘Ừm’ Mike nói. ‘Lại một Giáng sinh nữa đến. Ra ngoài ăn thật vui phải không? Lẽ ra chúng ta phải đi thường xuyên hơn.’
‘Tuyệt đấy’ tôi nói. Anh không biết gì về lá thư gửi đến Bộ Nội vụ.
‘Em có nhiều quà không, Stanislav?’ Anna hỏi, giọng nó tràn ngập niềm háo hức Giáng sinh. Nó cũng chẳng biết gì về lá thư.
Stanislav được tặng vớ, xà bông, sách về máy bay và vài băng nhạc. Năm ngoái nó được tặng một chiếc áo khoác đen, cổ bằng lông thú. Lông thú thật. Năm trước đó nữa, ba nó tặng nó giày trượt.
‘Ở Ukraina tuyệt hơn, Giáng sinh’ Valentina nói.
‘Vậy thì sao cô...’ Tôi kịp thời ngậm miệng lại nhưng Valentina hiểu tôi muốn nói gì.
Tại sao à? Vì Stanislav. Tất cả vì Stanislav. Stanislav phải có cơ hội tốt. Ở Ukraina không có cơ hội’ cô ả lớn giọng với tôi. ‘Ukraina chỉ có cơ hội cho trộm cướp đĩ điếm’
Mike gật đầu thông cảm. Anna trở nên trầm lặng. Stanislav mỉm nụ cười răng sứt đáng yêu. Phía sau quầy, ông chủ nhà hàng im lặng. Ba tôi trông như đang ở chốn nào xa xăm lắm, có lẽ đang cưỡi trên một chiếc máy kéo.
‘Khi còn chế độ cộng sản thì có khá hơn không?’ Tôi hỏi.
‘Đương nhiên tốt hơn. Cuộc sống tốt. Cô không biết loại người nào đang lãnh đạo đất nước bây giờ đâu’
Đôi mắt màu mật ong của cô ả lộ vẻ mệt mỏi thẫn thờ. Hôm nay là ngày nghỉ đầu tiên sau hai tuần liền đi làm. Chì kẻ mắt màu đen bị lem và chảy xuống nếp nhăn dưới mắt. Nếu không cẩn thận, tôi sẽ bắt đầu cảm thấy tội nghiệp cho cô ả. Phù phiếm. Đĩ thõa. Đồ mì ăn liền. Tôi nghĩ đến mẹ và buộc mình trở nên cứng rắn.
‘Trường học của cháu hồi đó cũng tốt hơn’ Stanislav nói. ‘Kỷ luật hơn. Bài tập nhiều hơn. Nhưng giờ ở Ukraina, muốn thi đậu thì phải đưa tiền cho thầy giáo’
‘Trường mới của cháu ở đây cũng có khác gì’ tôi nói cộc lốc. Mike đá vào chân tôi nhắc nhở.
‘Trường chị cũng thế’ Anna xía vào. ‘Bọn chị toàn dùng táo để hối lộ thầy cô giáo.’
Stanislav lộ vẻ ngạc nhiên.
‘Táo?’
‘Chỉ đùa thôi’ Anna nói. ‘Học trò ở nước em không biếu táo cho thầy cô sao?’
‘Không bao giờ’ Stanislav đáp. ‘Nhưng vodka thì có’
‘Cô là giáo viên đại học?’ Valentina hỏi tôi.
‘Đúng vậy’
'Tôi muốn giúp Stanislav vào đại học Oxford hay Cambridge. Cô làm ở đại học Cambridge. Vậy cô giúp?’
'Tôi làm việc ở Cambridge, chứ không phải đại học Cambridge. Tôi dạy ở trường đại học Bách khoa Anglia’ ‘Đại học Angella? Là cái gì?’
Ba tôi chồm tới nói khẽ, ‘Bách khoa’
Valentina nhướng mày rồi lầm bầm thứ gì đó tôi không hiểu rõ.
Đồ ăn được bưng tới. Ông chủ có vẻ quanh quẩn bên Valentina hơi lâu hơn mức bình thường trong lúc bày đồ ăn trước mặt cô ả. Cô ả cũng chớp chớp đôi mắt màu mật ong với ông ta nhưng không mấy vồn vã. Đã trễ và bọn tôi ai cũng đói cả, không có thì giờ để làm điệu làm bộ. Món cà ri cừu dai nhách, chúng tôi phải cắt thành từng miếng bé xíu cho ba. Món cà ri rau chẳng có rau gì ngoại trừ bắp cải. Cà ri cay của Mike quá cay. Món gà bỏ lò của Stanislav vừa khô vừa cứng. Miếng thịt bò nướng của Valentina y như một khúc củi.
‘Mọi thứ ổn cả chứ?’ ông chủ hỏi.
‘Tuyệt lắm’ Mike đáp.
Sau đó, Mike lái xe chở ba tôi, Anna và Startislav về nhà, còn tôi thì đi bộ với Valentina. Lề đường băng đóng trơn trợt, chúng tôi phải bíu lấy nhau, ban đầu để giữ thăng bằng, sau đó cái nắm tay đã trở nên thân thiện hơn. Mặc dù bữa ăn quá tệ, tinh thần Giáng sinh cũng đã lướt qua chúng tôi. Hòa bình nơi trần thế, hạnh phúc cho muôn người, các thiên thần Giáng sinh cất tiếng hát trên bầu trời lạnh giá. Tôi nhận ra sẽ không bao giờ có cơ hội tốt như thế này nữa.
‘Mọi chuyện thế nào?’ tôi hỏi.
‘Tốt, mọi chuyện tốt cả.’
‘Nhưng còn các cuộc cãi vã? Hai người có vẻ rất hay cãi nhau.’ Tôi cố giữ giọng bình tĩnh, thân thiện.
‘Ai nói cô?’
‘Valentina, ai cũng thấy vậy mà.’ Tôi không muốn mách lẻo về Stanislav, và tôi cũng không muốn ba tôi dính vào.
‘Ba cô không phải loại đàn ông dễ tính’ cô ả đáp. ‘Tôi biết’ Tôi biết mình không thể sống chung với ba hằng ngày như cô ta được. Tôi bắt đầu hối hận là đã gửi thư đến Bộ Nội vụ.
‘Mọi lúc ông ta làm phiền tôi’
‘Nhưng Valentina à, cô làm trong một viện điều dưỡng. Cô biết là người già thì khó tính mà’
Cô ta mong đợi gì chứ? Một ông già tao nhã tặng hàng đống quà cho cô ta rồi một đêm kia bỗng lặng lẽ qua đời à? Không phải người cha già cứng đầu khó tính của tôi rồi.
‘Ba cô khó tính hơn. Ho ho ho trục trặc. Thần kinh trục trặc. Tắm rửa trục trặc. Đi vệ sinh trục trặc’ Khi cô ta quay sang tôi, ánh trăng soi sáng nét nhìn nghiêng nghiêng xinh đẹp, gò má cao, đôi môi cong của cô ta. ‘Và mọi lúc, cô biết đấy, hôn hôn, đụng ở đây, đây, đây...’ Bàn tay đeo găng của cô ta vuốt ve ngực, đùi, đầu gối qua lớp áo choàng dày. (Ba tôi làm vậy sao?) Tôi cảm thấy muốn ói nhưng cố giữ giọng bình thản.
‘Hãy đối xử tốt với ông ấy. Chỉ vậy thôi’
‘Tôi tốt’ cô ta đáp. ‘Như cha tôi. Cô không lo’
Cô ta trượt chân trên tuyết và bíu chặt lấy tay tôi. Thân hình mềm mại ấm áp của cô ta khẽ dựa vào người tôi, mũi tôi thoáng ngửi thấy mùi nước hoa ngọt đậm, món quà Giáng sinh của tôi. Cô ta đã xịt lên ngực và cổ. Người đàn bà này đã chiếm vị trí của mẹ tôi.
0

10.
Mềm chảy nước

Ba tôi đang hết sức hứng khởi. Thanh tra của Sở Nhập cư sắp tới nhà kiểm tra. Hồ sơ nhập cư của Valentina sẽ sớm được chấp thuận, tình yêu của họ sẽ vững chắc muôn đời. Khi bóng đen trục xuất không còn đe dọa nữa, đám mây hiểu lầm sẽ tan biến, họ sẽ trở lại thuở mới yêu nhau. Có thể còn tốt hơn nữa. Có thể họ sẽ bắt đầu một gia đình mới. Valentina đáng thương đã rất lo lắng, điều này khiến cô ả thỉnh thoảng bực bội. Nhưng mọi khó khăn của họ sẽ sớm chấm dứt thôi.
Viên thanh tra là một phụ nữ đứng tuổi đi giày ống đế bằng, tóc rẽ ngôi. Bà ta cầm theo một chiếc cặp màu nâu, từ chối lời mời dùng trà của ba tôi. Ông dẫn bà ta đi khắp nhà.
‘Đây là phòng tôi. Đây là phòng của Valentina. Đây là phòng của Stanislav. Bà thấy đấy, đủ phòng cho tất cả mọi người’
Viên thanh tra ghi chú cụ thể nơi ngủ của mỗi người.
‘Và đây là bàn của tôi. Bà thấy đấy, tôi thích ngồi ăn một mình. Stanislav và Valentina ăn trong bếp. Tôi tự nấu ăn lấy. Nhìn này, món táo Toshiba, nấu bằng lò vi sóng hiệu Toshiba. Giàu vitamin. Bà muốn nếm thử không?’
Viên thanh tra lịch sự từ chối và ghi chú lia lịa.
‘Vậy khi nào tôi có thể gặp bà Mayevska? Khi nào bà ấy đi làm về?’
‘Giờ về của cô ấy hay thay đổi lắm. Lúc sớm, lúc trễ. Tốt nhất là bà gọi điện thoại báo trước.’
Viên thanh tra lại ghi chú thêm mấy chữ, rồi bà ta cất quyển sổ vào chiếc cặp màu nâu và bắt tay ba tôi. Ba tôi nhìn chiếc Fiat nhỏ màu lam của bà ta khuất sau khúc quanh, rồi gọi điện báo tin cho tôi.
Hai tuần sau đó Valentina nhận được thư từ Bộ Nội vụ. Đơn xin ở lại Anh quốc của cô ta đã bị từ chối. Viên thanh tra không tìm ra bằng chứng chứng minh đây là một cuộc hôn nhân thực sự. Cô ta nổi điên quát vào mặt ba tôi.
‘Lão ngu ngốc đần độn. Ông trả lời sai bét. Sao ông không cho bà ta coi những lá thư-thơ tình? Vì sao ông không cho coi hình cưới?’
‘Vì sao tôi phải đưa thơ cho bà ta coi? Bà ta không đòi coi thơ tình, bà ta đòi coi phòng ngủ.’
‘Ha! Bà ta thấy ông không phải loại đàn ông giỏi giang gì mà đi vào phòng ngủ của phụ nữ.’
‘Cô là người đàn bà không tốt, không cho chồng vào phòng ngủ.’
‘Ông vào phòng ngủ để làm gì, hả? Phì! Ông mềm mụp chảy nước. Ông quặc qua quẹo lại. Mềm mụp chảy nước, quặc qua quẹo lại!’ ả chế giễu. Ả gí sát mặt vào mặt ông, giọng mỗi lúc mỗi lớn. ‘Mềm mụp chảy nước! Quặc qua quẹo lại!’
‘Im đi! Im đi!’ ba tôi hét lên. ‘Đi! Đi! Đi đi! Cút về Ukraina đi!’
‘Chèm nhẹp chảy nước, quặc qua quẹo lại!’
Ông đẩy cô ta ra. Cô ta đẩy ông lại. Cô ta bự hơn ông. Ông loạng choạng, tay va phải cạnh tủ áo. Một vết bầm thâm tím in hằn trên tay.
‘Nhìn xem cô làm cái gì này!’
‘Giờ thì ông đi khóc với con gái đi! Cứu, cứu, Nadia Verochka! Vợ đánh ba! Ha ha! Chồng mới được đánh vợ chứ!’
Có lẽ nếu đủ sức thì ông cũng đánh cô ta, nhưng ông không thể. Lần đầu tiên ông cảm thấy mình bất lực đến vậy. Tim ông tràn đầy nỗi tuyệt vọng. Ngày hôm sau, khi cô ta đi làm, ông gọi điện cho tôi và kể cho tôi nghe mọi chuyện. Ông lắp bắp thì thào cứ như thể nói lớn thì sẽ đau đớn lắm. Tôi tỏ vẻ thông cảm nhưng trong lòng thì tự đắc. Chẳng phải tôi đã đúng về chuyện ba tôi không thể nào đưa vào được sao?
‘Con thấy đấy, vấn đề là rối loạn dương cương. Chuyện này vẫn thỉnh thoảng xảy ra với nam giới.’
‘Ba à, dù sao đi nữa thì cô ta cũng không nên châm chọc ba như vậy.’ Ngốc quá đi mất, tôi nghĩ. Ba còn mong đợi gì chứ?
‘Đừng cho Vera biết’
‘Ba à, có lẽ chúng ta cần Vera giúp đỡ’
Tôi từng nghĩ câu chuyện này sẽ trở thành một vở hài kịch vui nhộn, nhưng giờ thì phải đối mặt với vở bi kịch dở khóc dở cười. Lúc trước ba không kể cho tôi nghe vì cô ta ở đó trong lúc ông gọi điện. Và bởi vì ông không muốn Vera biết chuyện.
Tôi cố nhịn không nói câu ‘Con đã bảo ba rồi mà, ông già ngốc nghếch’. Nhưng tôi gọi điện cho Vera và chị ấy cũng nói y chang như vậy.
‘Nhưng thật ra kẻ đáng trách là cô, Nadezhda’ chị nói thêm. ‘Cô cản không cho ba vào viện dưỡng lão. Nếu ba vào viện dưỡng lão thì mấy chuyện này làm gì xảy ra chứ’
‘Không ai ngờ trước được mà...’
‘Nadia, tôi biết trước mà’ Giọng Bà Chị Lớn ngân vang đắc ý.
‘OK, chị thì giỏi rồi. Giờ làm sao chúng ta giúp ba ra khỏi mớ bòng bong này?’ Tôi lè lưỡi khiêu khích dù biết chị không nhìn thấy được qua điện thoại.
‘Có hai cách’ Vera nói. ‘Ly dị hoặc trục xuất. Cách thứ nhất thì tốn tiền mà không chắc chắn. Cách thứ hai cũng bấp bênh nhưng ít nhất ba không phải trả tiền.’
‘Chúng ta có thể thử cả hai chứ?’
‘Nadia, cô thay đổi nhiều quá nhỉ. Chuyện gì xảy ra với các ý tưởng bình đẳng giới của cô thế?’
‘Đừng có hằn học thế, Vera. Chúng ta phải liên kết với nhau, thế mà chị chẳng cư xử một cách thân thiện với em được sao? Giờ thì em hiểu vì sao ba chẳng bao giờ kể gì cho chị nghe.’
‘Ừ, thì ba là một tên ngốc mà, như cô vậy. Mẹ và tôi là những người thực tế duy nhất trong cái gia đình này.’
Thấy cách chị ta giành giật gia tài của mẹ chứ? Không chỉ là tủ bếp đầy đồ hộp và chai lọ, không chỉ là mặt dây chuyền vàng, thậm chí không phải là số tiền tiết kiệm: không, chúng tôi đấu tranh để được thừa kế tính cách, bản chất của mẹ.
‘Chúng ta chưa bao giờ là một gia đình thực tế cả.’
‘Mấy nhân viên xã hội các cô thường dùng từ gì ấy nhỉ? Một gia đình bất thường. Có lẽ chúng ta nên nộp đơn xin hội đồng tài trợ thôi.’
Mặc dầu vẫn còn cãi vã châm chọc, chúng tôi vẫn thu xếp xong việc phân công công việc. Vera, chuyên gia gia đình về các vấn đề ly hôn, sẽ liên lạc với các luật sư, trong khi tôi tìm hiểu luật nhập cư và trục xuất. Ban đầu, tôi cảm thấy có chút lấn cấn khi bước ra khỏi đôi giày êm ái của chủ nghĩa tự do để xỏ chân vào đôi giày cao gót của bà Tống Chúng Về Quê coi người bằng nửa con mắt, nhưng sau một thời gian đôi giày mới đã vừa chân hơn. Tôi phát hiện ra Valentina có quyền khiếu nại, và nếu bị từ chối thì cô ta được phép kiện ra tòa. Cô ta cũng được quyền xin trợ giúp pháp luật. Rõ ràng cô ta sẽ còn ở lì ở đây một thời gian.
‘Có lẽ chúng ta nên viết bài gửi báo Daily Mail’ tôi mở rộng phạm vi hành động.
‘Ý hay đấy’ Vera đồng ý.
Trên mặt trận ly dị, chị tôi có một kế hoạch hết sức láu cá. Chị phát hiện ra nếu đơn phương xin ly dị thì sẽ rất phức tạp và tốn kém, do đó chị nảy ra ý hủy hôn - quan điểm không-tình-dục-không-hôn-nhân quá thường gặp trong hoàng gia châu Âu thế kỷ mười sáu.
‘Cậu thấy đấy, cuộc hôn nhân này chưa hề tồn tại nên không cần ly dị’ chị giải thích cho gã luật sư tập sự miệng-còn-hôi-sữa trong một hãng luật ở Peterborough. Cậu ta chưa gặp qua chuyện thế này bao giờ nhưng hứa là sẽ tìm hiểu thêm. Cậu ta lắp ba lắp bắp khi cố lấy chi tiết về cuộc-hôn-nhân-không-quan-hệ-tình-dục từ chị tôi qua điện thoại.
‘Trời ơi’ chị kêu lên, ‘cậu cần bao nhiêu chi tiết nữa chứ?’
Nhưng dẫu hủy hôn thường xảy ra trong hoàng gia châu Âu, có vẻ như nó sẽ không áp dụng được cho ba cô - chỉ khi nào một bên phàn nàn về việc bên kia không thể hoặc từ chối quan hệ tình dục trong hôn nhân thì việc-không-quan-hệ-tình-dục mới được tính là cớ để ly dị hay hủy hôn, viên luật sư tập sự viết như vậy trong một lá thư câu chữ hết sức vụng về.
‘Ô, tôi không ngờ đấy’ Vera thốt lên. Chị cứ tưởng chị biết hết mọi điều liên quan đến ly dị.
Valentina phá lên cười khi ba đòi ly dị. Tôi lấy hộ chiếu thị thực trước đã, sau đó ông được ly dị
Ba tôi cũng chùn chân không muốn ly dị. Ông sợ người ta sẽ hỏi ông về vụ chèm nhẹp chảy nước. Ông sợ cả thế giới đều biết về vụ quặc qua quẹo lại.
‘Nadia, tốt nhất là con tìm cách khác đi’ ông nói.
○○○
Mặc cho tâm trạng căng thẳng, ông vẫn cố viết xong một chương nữa của cuốn lược sử, nhưng giọng văn đã trở nên ảm đạm. Khi tôi và Mike đến thăm ông vào đầu tháng Hai, ông dẫn chúng tôi vào phòng khách, ở đó vẫn chất đầy táo của năm ngoái và lạnh ngắt như đá. Ông cao giọng đọc cho chúng tôi.
Những nhà chế tạo máy kéo đầu tiên mong mỏi rằng kiếm sẽ được chuyển thành lưỡi cày, nhưng giờ thì tinh thần thế kỷ đã trở nên đen tối, và chúng ta chợt nhận thấy lưỡi cày đã bị biến thành kiếm sắc.
Nhà máy cơ khí Kharkiv, nơi từng sản xuất hơn 1.000 máy kéo mỗi tuần để phục vụ nhu cầu cho Kế hoạch Kinh tế Mới, đã được chuyển tới Chelyabinsk bên kia dãy núi Ural và bắt đầu sản xuất xe tăng theo lệnh của K. J. Voroshilov, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nhân dân.
Thiết kế trưởng là Mikhail Koshkin, người từng theo học ở Học viện Leningrad và làm việc ở xí nghiệp Kirov cho tới năm 1937. Ông này là người có học, tính khí ôn hòa, tài năng của ông đã được Stalin dùng, hoặc có thể nói là lợi dụng, để tạo ra uy thế tối cao về quân sự cho Liên bang Xô viết. Chiếc xe tăng đầu tiên của Koshkin, chiếc A20, chạy bằng dây xích thông thường, có súng nòng 45 mm và vỏ bọc thép có thể chống lại súng cối. Nó được đổi tên là T32 khi nòng súng mở rộng đến 76.2 mm và vỏ thép dày hơn một chút. Chiếc T32 có dịp trổ tài trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, do vỏ thép quá mỏng nên nó dễ bị phá hủy, tuy nhiên tính linh hoạt của nó thì được đánh giá rất cao. Rút tỉa kinh nghiệm, xe tăng T34 huyền thoại ra đời góp phần quan trọng làm thay đổi cả chiều hướng chiến cuộc. T34 có vỏ bọc dày hơn, và để giải quyết vấn đề sức nặng, nó là chiếc xe đầu tiên được sử dụng động cơ đúc bằng nhôm.

Giọng của ông đã yếu và run rẩy hơn trước, thỉnh thoảng phải dừng lại nghỉ lấy hơi.
Trong khí hậu khắc nghiệt của tháng Hai năm 1940, chiếc T34 đầu tiên được lái tới Moscow để diễu hành trước mặt giới lãnh đạo Xô viết. Nó gây ấn tượng mạnh nhờ chạy hết sức êm ái trên những con đường lồi lõm, dằn xóc, tuyết bám đầy của thủ đô.
Tuy nhiên, Koshkin đáng thương không được tận mắt chứng kiến thành quả sáng tạo của mình đi vào sản xuất hàng loạt. Trong chuyến đi này, ló đầu ra ngoài trời quá nhiều trong thời tiết buốt lạnh, ông đã mắc bệnh viêm phổi và qua đời vài tháng sau đó.
Aleksandr Morozov, học trò và cũng là đồng nghiệp của ông, một viên kỹ sư trẻ đẹp trai, đã hoàn thiện bản thiết kế này. Dưới sự giám sát của anh ta, những chiếc T34 đầu tiên được lắp ráp xong vào tháng Tám năm 1940, sau đó thì hàng trăm hàng ngàn chiếc khác ra đời. Để kỷ niệm sự kiện này, thị trấn Chelyabinsk, trước nổi tiếng nhờ sản xuất máy kéo, được đổi tên thành Tankograd.

Bên ngoài, mặt trời chìm xuống bệ cửa sổ bám đầy sương giá mà cả ngày vẫn chưa tan nổi. Ngọn gió châm buốt cành lá thổi tới từ vùng bình nguyên của bờ biển Đông Anglia, từ nơi xa hơn bờ biển Đông Anglia là những đồng cỏ, và từ nơi xa hơn những đồng cỏ là dãy núi Ural.
Ba tôi mang đôi găng không ngón, mũ len và ba đôi vớ để chống lại tiết trời giá lạnh. Ông chồm lên trong ghế, chăm chăm đọc qua đôi mắt kính dày cộp. Bức chân, dung của mẹ được đặt trên bệ lò sưởi đằng sau ông. Bà đang nhìn qua vai ông để ngắm cánh đồng và chân trời. Người phụ nữ trẻ mắt nâu lặng lẽ với mái tóc thắt bùn dọn sóng và nụ cười bí hiểm. Vì sao bà lại cưới ông? Liệu ông có phải là một anh chàng kỹ sư trẻ tuổi đẹp trai hấp dẫn? Có phải ông đã quyến rũ bà bằng những câu chuyện về hệ thống truyền động tự động và những món quà làm từ dầu bôi trơn động cơ?
○○○
‘Vì sao mẹ lại cưới ba?’ tôi hỏi Vera.
Bà Chuyên Gia Ly Dị và bà Tống Chúng Về Quê trao đổi qua điện thoại, giọng điệu chúng tôi nói chuyện với nhau đã mềm hơn. Từ cuộc hôn nhân giữa ba và Valentina, chúng tôi chuyển sang cuộc hôn nhân của ba mẹ, và khi thấy cánh cửa quá khứ hé mở, tôi muốn đẩy cửa mở rộng hơn.
‘Chuyện xảy ra sau khi viên sĩ quan tàu ngầm bị giết ở Sebastopol. Tôi cho rằng mẹ sợ cô đơn. Thời kỳ đó quả là đáng sợ thật’
‘Viên sĩ quan tàu ngầm nào cơ?’
‘Thuộc hạm đội Biển Đen. Vị hôn phu của mẹ.’
‘Mẹ đính hôn với một viên sĩ quan tàu ngầm?’
‘Cô không biết sao? Ông ấy là tình yêu của cả cuộc đời mẹ’
‘Không phải là ba sao?’
‘Cô nghĩ thế nào?’
‘Em không biết’ đứa nhóc thò lò mũi xanh rền rĩ, ‘chẳng ai kể gì cho em cả’
‘Đôi khi không biết còn tốt hơn.’
Bà Chị Lớn đóng phịch cánh cửa quá khứ và khóa trái lại.
0

11.
Cưỡng chế

Ngày để Valentina kháng cáo quyết định của Sở Nhập cư đã được xác định. Đột nhiên ba tôi nhận ra mình không yếu đuối như ông tưởng. Buổi kháng cáo tổ chức ở Nottingham vào tháng Tư.
‘Tôi không đi’ ba nói.
‘Ông đi’ Valentina nói.
‘Cô đi một mình đi. Vì sao tôi phải lên tận Nottingham chứ?’
‘Đồ ngu. Nếu ông không đi, đám quan liu nhập cư sẽ hỏi chồng cô đâu? Sao cô không chồng?’
‘Bảo đám quan liu đó tôi bệnh. Nói với họ tôi không đi.’
Valentina hỏi ý kiến luật sư của cô ta ở Peterborough. Anh ta cho biết cô ả sẽ rất khó kháng cáo nếu chồng cô ả không đi cùng, trừ phi có thể chứng minh là ông chồng bị bệnh.
‘Trong đầu ông bị bệnh’ Valentina nói với ba tôi. ‘Ông gây quá nhiều chuyện. Nói quá nhiều điều điên khùng. Lúc nào cũng hôn hít. Ông già tám tư tuổi không ra gì. Bác sĩ phải viết thư.’
‘Tôi không bệnh gì cả’ ba tôi đáp. ‘Tôi là một nhà thơ, một kỹ sư. Nhân tiện, Valentina, cô phải nhớ là ngay bản thân Nietzsche cũng bị đám người kém thông minh hơn coi là điên khùng đấy. Chúng ta sẽ đi gặp bác sĩ Figges. Bà ấy sẽ nói với cô tôi không bị khùng.’
Bà bác sĩ làng này là một phụ nữ nói năng nhỏ nhẹ sắp đến lúc nghỉ hưu. Bà ấy đã chữa bệnh cho ba mẹ tôi hơn hai mươi năm.
‘Tốt. Chúng ta tới chỗ bác sĩ Figges. Rồi tôi sẽ nói với bác sĩ Figges về chuyện làm tình bằng miệng’ Valentina nói. (Cái gì? Làm tình bằng miệng? Ba tôi?)
‘Không không! Valya, sao gặp ai em cũng muốn nói chuyện này chứ?’ (Ba cũng nói chuyện này với tôi đâu có ngại ngần gì!)
‘Tôi sẽ nói với bà ta là ông chồng tám mươi tư tuổi muốn làm tình bằng miệng. Ông chồng chèm nhẹp ướt nhoét muốn làm tình bằng miệng.’ (Làm ơn mà ba, con muốn ói rồi.)
‘Làm ơn mà, Valenka’
Valentina mủi lòng. Họ sẽ đến chỗ một bác sĩ khác vậy. Valentina và bà Zadchuk ấn ba tôi vào chiếc xe thổ tả. Vì sợ ông đổi ý họ vội vàng đến phòng khám đến nỗi chiếc áo khoác của ba tôi bị cài lộn nút còn giày thì bị mang ngược. Thay vì mang kính cận ông lại mang nhầm kính lão khiến trước mắt ba tôi thứ gì cũng mờ ảo - mưa, cần gạt nước, cửa xe mù sương, hàng giậu nhạt nhòa. Valentina ngồi đằng trước, lái xe loạng choạng theo kiểu tự học trong khi bà Zadchuk ngồi đằng sau bíu chặt lấy Nikolai, đề phòng ông mở cửa phóng ra ngoài. Bọn họ lao hết tốc lực trên con đường làng nhỏ hẹp, vụt qua mấy vũng bùn, khiến đám gà lôi cong đuôi chạy tán loạn.
Họ không đưa ông đến chỗ bác sĩ Figges ở trạm xá trong làng mà chọn một chi nhánh của nó ở làng kế cận, nơi một bác sĩ khác làm việc. Họ muốn gặp vị bác sĩ trung niên người Ấn nhưng chỉ có bác sĩ trực thay ở đó. Bác sĩ Pollock còn trẻ, tóc đỏ, và rất xinh đẹp. Ba tôi không muốn khai bệnh với cô ta. Ông trố mắt săm soi cô ta qua đôi kính lão mờ hơi nước, rồi cố gắng đổi lại đôi giày cho đúng mà không để cô ta nhìn thấy. Valentina giành phần nói chuyện. Cô ả tin chắc người phụ nữ trẻ tuổi này sẽ thông cảm với mình, bèn kể tỉ mỉ về những hành động quái lạ của ba tôi - ho, táo Toshiba, lẩm bẩm về máy kéo, thường xuyên đòi hỏi quan hệ. Bác sĩ Pollock chăm chú quan sát ba tôi, để ý đến đôi giày mang ngược, ánh mắt nhìn chằm chằm, áo khoác cài lộn nút, rồi hỏi ông mấy câu:
‘Ông đã lập gia đình bao lâu rồi? Có gặp trục trặc tình dục gì không? Vì lý do gì mà ông đến gặp tôi?’
Câu nào ba tôi cũng trả lời là ‘Tôi không biết’. Sau đó ông quay sang Valentina, vung tay khoa trương, ‘Bởi vì cô ta mang tôi đến đây! Đồ quỷ sứ đến từ địa ngục!’
Bác sĩ Pollock từ chối viết thư cho Sở Nhập cư thông báo rằng ba tôi không đủ sức khỏe tham dự phiên tòa kháng cáo của Valentina. Nhưng cô ta bảo sẽ lấy hẹn cho ông gặp một chuyên gia tư vấn tâm lý ở bệnh viện quận Peterborough.
‘Thấy chưa!’ Valentina hân hoan kêu lên. ‘Bác sĩ nói ông khùng đó!’
Ba tôi im thin thít. Ông không hề muốn kết quả như vậy.
‘Con có nghĩ là ba khùng không, Nadia?’ ông hỏi tôi qua điện thoại vào ngày hôm sau.
‘Ô, ba à, nói thật thì con cũng hơi nghĩ vậy. Chỉ có điên ba mới đi cưới Valentina - lúc đó con đã nói vậy mà.’ (Tôi muốn nói, Ha ha! Con đã bảo ba mà! Nhưng tôi ráng nhịn.)
‘À, như vậy không phải là khùng. Chỉ là một sai lầm nhỏ thôi. Ai chẳng mắc sai lầm chứ.’
‘Điều đó thì đúng’ tôi nói. Tôi vẫn còn giận ông, nhưng cũng cảm thấy thương xót ông.
○○○
‘Làm tình bằng miệng thì có dính dáng gì ở đây?’ tôi hỏi Vera. Chúng tôi lại trao đổi tin tức với nhau. Cuộc nói chuyện dần đã trở nên thân mật.
‘Ô, đó là ý tưởng bẩn thỉu của Margaritka Zadchuk. Có vẻ Valentina nói với bà ta là chúng ta đang tìm cách hủy hôn vì hai người không có quan hệ tình dục’
‘Nhưng họ có...?’
‘Xin lỗi, Nadezhda. Đừng nói nữa, kinh tởm quá.’
Dù sao thì tôi cũng moi được câu chuyện từ ba. Valentina thường hay trò chuyện với bà bạn Margaritka Zadchuk, bà ta cũng mách lẻo nhiều chuyện với ả. Rằng bà Mayevska quá cố là một phụ nữ ranh ma tằn tiện. Trước khi chết, bà ấy đã để dành được một gia tài lớn. Hàng trăm ngàn bảng. Số tiền đó được giấu đâu đó trong nhà. Vì sao ông chồng keo kiệt không đưa cho ả chứ? Ông chồng keo kiệt cười khúc khích khi kể cho tôi nghe chuyện này. Cô ả có lật tung cả căn nhà lên cũng đừng hòng tìm được một xu.
Bà Zadchuk cũng dạy Valentina một cụm từ mới: làm tình bằng miệng. Rất phổ biến ở Anh quốc, bà Zadchuk nói. Báo chí tiếng Anh viết đầy ra đấy. Người Ukraina tốt thì không làm chuyện này. Ông chồng keo kiệt sống ở Anh quốc quá lâu, đọc quá nhiều báo chí Anh quốc, nên nhiễm luôn trò làm tình bằng miệng kiểu Anh quốc. Làm tình kiểu này cũng tốt, bà Zadchuk tiếp, bởi vì mọi người sẽ cho đây là cuộc hôn nhân thực sự, ông chồng keo kiệt không thể viện cớ hủy hôn được.
Bà Zadchuk còn nói với cô ả một chuyện khác nữa - nếu cô ả ly dị ông chồng keo kiệt đánh vợ vì chuyện làm tình bằng miệng, chắc chắn ả sẽ được chia nửa căn nhà. Đó là luật Anh quốc. Bay bổng với giấc mơ giàu có đế vương, ả thách thức ba tôi.
‘Trước tiên tôi lấy hộ chiếu thị thực, sau đó tôi ly dị. Khi ly dị tôi sẽ có nửa căn nhà.’
‘Sao không bắt đầu từ giờ luôn?’ ông nói. ‘Chúng ta sẽ chia đôi nhà. Cô và Stanislav ở trên lầu, tôi ở bên dưới.’
Ba tôi bắt đầu vẽ thiết kế - bản đồ tầng trệt, tầng lầu, cửa cần bịt lại, chỗ cần đục thông. Những bức vẽ nguệch ngoạc lấp đầy các xấp giấy vẽ. Nhờ hàng xóm giúp, ông đem giường mình xuống đặt ở căn phòng khách chứa đầy táo, căn phòng mà mẹ nằm lúc qua đời. Ông nói với Vera mình ở đó là vì không leo cầu thang nổi.
Nhưng căn phòng đó lạnh quá, ông thì không muốn tăng sưởi vì sợ hư táo. Ông bắt đầu ho và thở khò khè. Valentina sợ ông chết trước khi ả lấy được hộ chiếu Anh quốc (ông nói vậy) nên đưa ông tới gặp bác sĩ Figges. Bà bác sĩ nói ông cần giữ ấm buổi tối. Giường của ông được chuyển sang phòng ăn kế bếp, nơi nồi hơi sưởi trung tâm bật suốt ngày đêm. Gian phòng này ban đầu không có vách ngăn, nhưng ông nhờ Mike lắp cửa vào, bởi ông sợ Valentina sẽ giết chết ông vào ban đêm (ông nói vậy). Trong căn phòng này, ông ngồi làm việc, ngủ nghê, ăn uống. Ông sử dụng phòng vệ sinh nhỏ dưới lầu và phòng tắm trước đây được dành riêng cho mẹ. Thế giới của ông bị thu hẹp trong một căn phòng nhưng trí óc ông vẫn phiêu lưu tự do khắp các luống cày trên toàn thế giới.
○○○
Cũng như Ukraina, Ailen là một đất nước đa phần là nông thôn, nhưng phải chịu nhiều sức ép khi ở gần một nước láng giềng có nền công nghiệp hóa hùng mạnh. Ailen đóng góp vào lịch sử máy kéo bằng kỹ sư thiên tài Harry Ferguson. Ông này sinh năm 1884, gần Belfast.
Ferguson là một người thông minh và nhạy bén, rất yêu thích máy bay. Nghe đồn ông là người đầu tiên trong Vương quốc Anh lắp ráp và tự bay máy bay riêng vào năm 1909. Nhưng sau đó ông ta nhận ra việc cải thiện hiệu suất sản xuất nông nghiệp chính là sự đóng góp vinh danh tên ông cho nhân loại.
Cái cày hai lưỡi đầu tiên của Harry Ferguson được gắn vào khung gầm một chiếc Ford Model T vốn được sử dụng như máy kéo. Nó được đặt tên là Eros. Chiếc cày này được lắp đằng sau máy kéo, và thông qua hệ thống lò xo cân bằng được thiết kế khéo léo, người lái xe có thể nâng lên hạ xuống chiếc cày nhờ một chiếc cần gạt ở gần ghế ngồi.
Trong lúc đó, hãng Ford cũng đang nghiên cứu phát triển máy kéo. Thiết kế của Ferguson tiến bộ hơn và tận dụng hệ thống liên kết thủy lực, nhưng Ferguson biết dù có là thiên tài, ông cũng không thể một mình đạt tới ước mơ. Ông cần một công ty lớn hơn để sản xuất thiết kế của mình. Do đó ông lập một thỏa thuận miệng với Henry Ford, hai bên chỉ bắt tay thay vì ký kết giấy tờ. Sự cộng tác giữa Ford và Ferguson đem lại cho thế giới chiếc máy kéo Fordson, ưu việt hơn hẳn những loại máy kéo được biết đến trước đó và là tiền thân của mọi loại máy kéo hiện đại.
Tuy nhiên, thỏa-thuận-miệng này chấm dứt vào năm 1947 khi Henry Ford II thừa kế đế chế của ba, và bắt đầu sản xuất máy kéo thế hệ mới Ford 8N dựa trên thiết kế của Ferguson. Tính tình cởi mở vui vẻ của Ferguson không sao chống lại đầu óc lạnh lùng của một nhà làm ăn người Mỹ. Vụ tranh chấp được đưa ra tòa vào năm 1951. Ferguson đòi 240 triệu đô, nhưng chỉ được đền bù 9,25 triệu đô.
Không nản lòng, Ferguson nảy ra một ý tưởng mới. Ông tìm đến công ty Standard Moto ở Coventry với kế hoạch cải tiến chiếc Vanguard thành máy kéo. Nhưng thiết kế này cần chỉnh sửa lại vì xăng dầu vẫn rất khan hiếm trong thời hậu chiến. Thách thức lớn nhất cho Ferguson là chuyển từ động cơ chạy xăng sang động cơ diesel. ông đã chế tạo thành công chiếc TE-20 nổi tiếng với hơn nửa triệu chiếc được lắp ráp ở Anh thời kỳ đó.
Đời sau nhớ đến Ferguson như là người kết hợp hai sản phẩm công nghệ vĩ đại của thời đại: máy kéo và xe hơi gia đình, nông nghiệp và phương tiện đi lại, vốn đều có cống hiến to lớn cho cuộc sống nhân loại.

○○○
Cuối cùng ba tôi cũng đi dự buổi kháng cáo của Valentina ở Nottingham. Cô ả làm sao thuyết phục được ba tôi nhỉ? Có phải ả đe dọa sẽ nói với đám người quan liu về chuyện làm tình bằng miệng không? Có phải cô ả dùng đôi vú như hai đầu nổ ngư lôi kẹp lấy cái đầu xương xẩu của ba rồi thỏ thẻ những lời ngọt ngào vào máy trợ thính của ông? Ba tôi giữ kín chuyện này nhưng ông có một kế hoạch khá ranh ma.
Họ đến Nottingham bằng xe lửa. Valentina mua cho mình một bộ đồ mới nhân dịp này; một bộ vest xanh với viền lụa polyester màu hồng hợp tông với màu môi và màu móng tay. Tóc cô ả bới cao thành một búi màu vàng và được giữ chặt nhờ kẹp và keo xịt. Ba tôi mặc lại chính cái bộ vest ông mặc hôm đám cưới cùng chiếc áo sơ mi trắng nhàu nhĩ, cổ áo rách tươm, hai nút trên cùng được đính bằng chỉ đen. Đầu ông đội một cái nón lưỡi trai màu xanh mà ông gọi là ‘lordovska kepochka’ (nghĩa là ‘nón quý tộc’) mua ở Co-op Peterborough hai mươi năm trước. Valentina dùng kéo nhà bếp tỉa tót lại mái tóc của ông cho gọn gàng, chỉnh lại cà vạt, rồi thậm chí hôn nhẹ một cái lên má ông.
Họ được đưa vào căn phòng sơn màu be ảm đạm, nơi hai người đàn ông mặc vest xám và một phụ nữ mặc áo len xám ngồi sau chiếc bàn nâu để mấy chồng giấy, một bình nước và ba cái ly. Valentina được gọi lên trước, trả lời hàng loạt câu hỏi trong đó cô ả mô tả chi tiết ả và ba tôi gặp gỡ nhau ở Câu lạc bộ Ukraina tại Peterborough như thế nào, họ yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên ra sao, ông đã theo đuổi cô ả bằng thơ và thư tình thế nào, họ làm đám cưới trong nhà thờ và sống hạnh phúc bên nhau ra sao.
Khi đến lượt ba tôi, ông nhỏ nhẹ hỏi liệu mình có thể trình bày riêng trong một phòng khác không. Ban hội thẩm thảo luận một hồi rồi họ bảo không, ông phải trả lời trước mặt mọi người.
'Tôi sẽ trình bày dưới sự cưỡng chế’ ông nói. Họ hỏi ông loạt câu hỏi tương tự và ông trả lời y hệt như Valentina. Cuối cùng, ông nói, ‘Cảm ơn. Giờ tôi muốn các ông bà ghi chú rằng tôi nói ra những lời này dưới sự cưỡng chế.’
Ông đánh cuộc một phen trước vốn tiếng Anh bập bõm của cô ả.
tiếng ghi chép loạt xoạt nhưng không nhân viên nào ngẩng đầu lên hay nhìn ba tôi dù là một thoáng. Valentina nhướng mày một thoáng, miệng vẫn giữ nụ cười.
‘Cững chế nghĩa là gì?’ cô ả hỏi ông khi họ đợi xe lửa về nhà.
‘Có nghĩa là tình yêu’ ba tôi nói. ‘Tiếng Pháp nói thế đấy.’
‘À holubchik. Con bồ câu bé nhỏ của em’ Cô ả nhoẻn cười rạng rỡ và lại hôn nhẹ lên má ông.
0

12.
Miếng bánh kẹp giâm bông ăn dở

‘Cô nghĩ bà Z làm sao lại biết về kế hoạch hủy hôn?’ Vera hỏi. Bà Chuyên Gia Ly Dị và bà Tống Chúng Về Quê chụm đầu bàn bạc.
‘Valentina chắc đã xem qua thư luật sư’
‘Cô ả xem lén thư của ba.’
‘Có lẽ là vậy.’
‘Với năng khiếu phạm tội bẩm sinh của cô ả, phải nói là tôi chẳng chút ngạc nhiên.’
‘Đừng tưởng mình ả mới chơi được trò này’
Lần đến thăm kế tiếp, bỏ mặc Mike ở lại với bài độc thoại dài lê thê về máy kéo trong căn phòng khách ngập táo, tôi lẻn lên lầu lục lọi phòng của Valentina. Ả đã chiếm căn phòng của ba mẹ tôi trước đây. Một căn phòng ủ ê xấu xí với đồ đạc gỗ sồi nặng trịch kiểu thập kỷ 50, tủ áo còn để đầy quần áo của mẹ, đôi giường đơn với khăn trải bông xù màu vàng, rèm cửa màu hoa cà, vàng và đen thiết kế theo kiểu cách tân ấn tượng do ba tôi chọn, một tấm thảm vuông màu xanh dương đặt ở giữa sàn nhà lót vải sơn nâu. Đối với tôi, căn phòng này, chốn linh thiêng thầm kín của ba mẹ tôi, luôn là một nơi đầy bí ẩn và e dè. Do vậy, tôi rất ngạc nhiên khi thấy Valentina đã biến nó thành một buồng the kiểu Hollywood với gối đệm bọc vải lông màu hồng, hộp giấy lụa có diềm xếp nếp, mỹ phẩm, bông trang điểm, tranh những đứa bé mắt tròn xoe treo trên tường, thú bông trên giường, nước hoa, kem dưỡng thể, kem dưỡng da la liệt trên bàn trang điểm. Tất cả có vẻ như đều được mua theo catalog đặt hàng qua mail, vài tờ catalog để mở còn nằm lăn lóc trên sàn.
Ấn tượng đầu tiên khi bước vào phòng là sự bừa bãi. Hàng đống giấy, quần áo, giày dép, cốc bẩn, sơn móng tay, lọ mỹ phẩm, vụn bánh mì, lược, dụng cụ làm đẹp, bàn chải đánh răng, vớ, túi bánh quy, nữ trang, hình chụp, vỏ kẹo, vỏ bánh, đĩa bẩn, đồ lót, lõi táo, băng gạc, catalog, giấy gói, kẹo chảy nước, tất cả nằm la liệt trên bàn trang điểm, trên ghế, trên chiếc giường trống, và tràn lan dưới sàn. Còn bông trang điểm nữa, những miếng bông dính son đỏ, chì kẻ mắt màu đen, phấn màu cam, sơn móng tay màu hồng vứt vung vãi trên giường, trên sàn, bị giẫm bẹp gí trên tấm thảm xanh, lẫn lộn trong đống quần áo và đồ ăn.
Căn phòng ngập ngụa mùi hương quái lạ, một thứ hỗn tạp của mùi hương ngọt đến muốn ói, mùi hóa chất, và mùi gì đó - mùi gì đó như mùi hữu cơ phân hủy.
Bắt đầu từ đâu đây? Tôi nhận ra mình không biết chính xác mình đang phải tìm thứ gì. Tôi biết mình còn khoảng một giờ cho tới khi Valentina đi làm về và Stanislav về nhà sau giờ làm thêm ngày thứ Bảy.
Tôi bắt đầu từ chiếc giường. Có vài ba tấm ảnh, vài ba thứ giấy tờ có vẻ quan trọng, một tờ đơn xin cấp giấy phép lái xe tạm thời, tờ thông báo nghỉ việc từ viện điều dưỡng (tôi nhận thấy họ cô ả ghi khác nhau trên hai tờ giấy), một tờ đơn xin việc ở McDonald. Mấy tấm ảnh có vẻ thú vị - hình Valentina trong chiếc váy dạ tiệc hở vai quyến rũ, tóc cuốn cầu kỳ, đứng bên cạnh một người đàn ông trung niên có thân hình bè bè và nước da ngăm đen, lùn hơn cô ả mấy phân. Vài tấm hắn quàng tay qua vai cô ả; vài tấm họ nắm tay; vài tấm họ mỉm cười vào ống kính. Người đàn ông này là ai? Tôi nhìn kỹ hồi lâu nhưng người đàn ông này không giống Bob Turner. Tôi lấy một tấm ảnh bỏ vào túi.
Dưới gầm giường, trong một chiếc túi đựng đồ mua hàng của Tesco, tôi tìm thấy những thứ khác: hàng chồng thư và thơ tình với nét chữ nguệch ngoạc của ba tôi. Rải rác trong đám thư từ lộn xộn là bản dịch sang tiếng Anh. Cưng... yêu quý... nữ thần Venus diễm lệ... bộ ngực như trái đào chín mọng (trời ơi đất hỡi!)... mái tóc như cánh đồng lúa mì vàng óng của Ukraina... tất cả tình yêu và sự hiến dâng của tôi... mãi mãi là của em cho đến tận kiếp sau. Nét chữ của bản dịch có vẻ trẻ con, chữ to tròn. Stanislav chăng? Sao nó lại phải dịch ra? Dịch ra để cho ai coi? Trên một lá thư, tôi để ý thấy có mấy chữ số. Tò mò, tôi lấy ra đọc. Ba tôi đã ghi rõ thu nhập của mình, kê khai chi tiết về mọi khoản lương hưu và tài khoản tiết kiệm. Những con số nguệch ngoạc bò lết hết trang này sang trang khác. Đó là một khoản tiền khiêm tốn nhưng cũng đủ để sống ấm no, và tất cả sẽ là của em, tình yêu của tôi, ba tôi đã viết như vậy ở cuối thư. Tất cả đều được dịch sang tiếng Anh bởi cùng một nét chữ trẻ con.
Tôi đọc lại lần nữa và cảm thấy bực bội. Chị tôi nói đúng - ba là một tên ngốc. Tôi không nên trách Valentina vì đã lấy tiền của ông - chính ông đã ấn hết tiền cho cô ả mà.
Giờ thì tôi lục lọi trong mấy ngăn kéo. Bên trong ngăn kéo nào cũng bừa bộn như nhau. Tôi lướt qua đống đồ lót, quần áo, giấy gói kẹo nhớp nháp, lọ kem dưỡng thể, nước hoa rẻ tiền. Trong một ngăn kéo, tôi tìm thấy một mẩu giấy. ‘Hẹn gặp em vào thứ Bảy. Tất cả tình yêu của anh, Eric.’ Bên cạnh đó, vùi trong một đôi vớ, là nửa miếng bánh kẹp giăm bông ăn dở, vỏ bánh khô cong xám xịt, miếng giăm bông hồng sẫm khô quẹo thò ra một cách kinh tởm.
Vào đúng lúc đó, tôi nghe tiếng xe dừng lại. Tôi vội lẩn ra khỏi phòng Valentina và chui vào phòng Stanislav. Đây là phòng cũ của tôi và tôi vẫn còn để vài thứ trong tủ áo, nên tôi có vào thì cũng không sao. Stanislav ngăn nắp hơn Valentina. Tôi nhận ra ngay nó là fan hâm mộ Kylie Minogue và Boyzone. Thằng bé ‘thiên tài âm nhạc’ này chất đầy băng đĩa của Boyzone trong phòng! Trên bàn cạnh cửa sổ là mấy quyển sách ở trường và một quyển vở. Nó đang viết một lá thư bằng tiếng Ukraina. Ba yêu quý...
Rồi tôi nghe thấy hai giọng nói mới - không phải Mike và ba tôi, đó là Valentina và Stanislav đang nói chuyện trong bếp. Tôi nhẹ nhàng đóng cửa phòng Stanislav lại rồi rón rén bước xuống lầu. Valentina và Stanislav đang trong bếp chọc đũa vào thứ đồ nấu sẵn nào đó đang sôi sục trên bếp. Hai cái xúc xích nhăn nheo đã bắt đầu bốc khói trong lò nướng.
‘Chào Valentina, chào Stanislav.’ (Tôi không biết nên cư xử ra sao: bạn sẽ nói gì với một người đánh ba của bạn, và bạn vừa mới lục lọi phòng của người đó xong? Tôi quyết định chọn kiểu phớt tình Ăng lê.) ‘Làm việc mệt lắm sao?’
‘Tôi lúc nào cũng làm việc mệt. Quá mệt’ Valentina gắt gỏng. Tôi để ý thấy cô ả đã phát phì. Bụng ả căng tròn như quả bóng, má phình và chảy xệ. Stanislav thì ngược lại, trông có vẻ gầy đi. Ba tôi lấp ló ngoài cửa, bạo dạn hơn khi có Mike bên cạnh.
‘Xúc xích đang cháy kìa, Valentina’ ông nhắc.
‘Ông không ăn, ông câm mồm.’ Cô ta ném một tấm khăn ướt về phía ông.
Sau đó cô ả bỏ phần đồ ăn làm sẵn vào đĩa, dùng dao cắt cắt khiến nó xì ra thứ chất lỏng chẳng biết là gì, vứt cái xúc xích vào bên cạnh, xịt xốt cà chua lên trên rồi giậm chân quay về phòng ngủ. Stanislav lẳng lặng theo sau.
○○○
Ngòi bút thì mạnh hơn khăn ướt, và ba tôi viết nên sự thù địch của mình.
Chưa bao giờ kỹ nghệ hòa bình, dưới hình dạng của máy kéo, bị chuyển thành công cụ chiến tranh một cách hung tợn như sự ra đời của xe tăng Valentine. Chiếc xe tăng này được thiết kế tại Anh, rồi sản xuất tại Canada, nơi có nhiều kỹ sư Ukraina lành nghề trong việc sản xuất máy kéo. Chiếc xe tăng được đặt tên là Valentine vì nó ra đời vào ngày thánh tình yêu Valentine năm 1938. Tuy nhiên nó chẳng dễ thương chút nào. Thô kệch và nặng nề với hộp số kiểu cũ, nó hết sức đáng sợ, một cỗ máy giết người thực sự.

'Tởm!’ Vera kêu lên khi nghe tôi kể về miếng bánh kẹp giăm bông. ‘Nhưng đương nhiên ta có thể trông đợi gì khác từ một con điếm chứ?’
Tôi không sao mô tả được mùi của căn phòng. Tôi kể cho chị nghe về mấy miếng bông tẩy trang.
‘Thật là kinh tởm! Trong phòng ngủ của mẹ nữa chứ! Nhưng cô không tìm ra được thứ gì khác sao? Thư của luật sư về tình hình nhập cư của cô ả hay lời khuyên về việc ly dị?’
‘Em không tìm thấy gì cả. Có lẽ là ả để ở chỗ làm. Không thấy trong nhà.’
‘Nhất định là ả giấu ở đâu đó. Đương nhiên đó là thứ duy nhất người ta có thể mong đợi từ một ả có đầu óc tội phạm tổ chức cao.’
‘Nhưng nghe này, Vera. Em có nhìn qua phòng của Stanislav, đoán xem em tìm thấy gì.’
‘Chẳng đoán nổi. Thuốc phiện? Tiền giả?’
‘Đừng ngớ ngẩn thế. Em thấy một lá thư. Nó đang viết thư cho ba nó ở Temopil, nói là ở đây nó rất buồn. Nó muốn quay về nhà.’
0

13.
Găng tay cao su màu vàng

Đương nhiên Valentina tìm ra được nghĩa thực sự của từ ‘cưỡng chế’. Stanislav cho ả biết. Tệ hơn nữa là ả tìm ra vào đúng cái ngày ả nhận được thư từ Sở Nhập cư, nói rằng kháng cáo của ả lại bị từ chối.
Ả chặn đường ba tôi khi ông vừa bước ra khỏi nhà vệ sinh, đang gập người dò dẫm kéo lại khóa quần.
‘Đồ xác chết biết đi!’ ả gào lên. ‘Tôi sẽ cho ông biết cững chế!’
Ả đang mang đôi găng cao su màu vàng, tay cầm một khăn lau bát vừa giặt xong còn ướt. Ả dùng nó quất vào người ông.
‘Đồ con lừa đầu-teo đít-teo vô dụng.’ Bốp bốp. ‘Đồ phân dê già teo tóp!’
Cô ả đánh vào chân vào tay ông đang giơ ra để che chắn và giữ thăng bằng. Ông lùi lại và thấy mình bị ép sát vào bồn rửa trong bếp. Ông có thể nhìn thấy chảo khoai tây đang sôi sùng sục sau lưng ả.
‘Ông đồ côn trùng kinh tởm tôi giẫm lên.’ Bốp bốp! Hơi nóng từ chảo khoai tây làm kính ông mờ đi, mùi khét bắt đầu lan tỏa.
‘Cững chế! Cững chế! Tôi cho ông biết cững chế!’ Càng lúc càng hăng tiết, ả đánh vào mặt ông. Bộp bộp. Góc khăn móc vào sống mũi của cặp kính, kéo cặp kính của ông rớt xuống đất.
‘Valechka, làm ơn...’
‘Đồ mẩu xương còm khô khốc chó gặm chó bỏ đi! Phì!’ Ngón tay đeo găng cao su vàng của ả xỉa vào sườn ông. ‘Vì sao ông còn sống? Lẽ ra ông phải nằm cạnh Ludmilla lâu rồi, chết nằm cạnh chết.’
Ông run lẩy bẩy, lại cảm thấy cơn tưng tức quen thuộc ở bàng quang. Ông sợ mình sắp tiểu ra quần. Mùi khoai tây cháy khét nồng nặc.
‘Làm ơn mà Valechka, cục cưng, bồ câu bé bỏng...’ Cô ả áp sát vào ông, bàn tay đeo găng cao su vàng vừa đấm, vừa tát. Khói bắt đầu bốc lên từ chảo khoai tây.
‘Ông sẽ trở về chỗ của mình sớm thôi! Dưới đất! Dưới cũng chế! Ha!’
Ông được cứu sống nhờ tiếng chuông cửa của bà Zadchuk. Bà ta bước vào, đánh giá tình hình rồi đặt bàn tay mập mạp lên cánh tay của cô bạn mà ngăn lại.
‘Đi nào Valya. Mặc xác ông chồng xấu xa keo kiệt mê làm tình bằng miệng này đi. Đi nào. Chúng ta đi mua sắm.’
Khi chiếc xe thổ tả biến mất sau góc đường, ba tôi cứu lấy chảo khoai tây cháy rồi lập cập vào nhà vệ sinh giải quyết.
Sau đó ông gọi điện cho tôi. Ông thở hồng hộc, giọng rin rít.
‘Ba nghĩ là cô ta muốn giết ba, Nadia’
‘Cô ta nói vậy thật sao, quay trở lại nghĩa địa ấy?’
‘Bằng tiếng Nga. Nói bằng tiếng Nga.’
‘Ba à, nói bằng tiếng nào thì có quan trọng gì chứ...’
‘Không đâu, ngược lại đó, ngôn ngữ cực kỳ quan trọng. Nó không những chuyển tải suy nghĩ mà còn bao gồm cả những giá trị văn hóa...’
‘Ba à, nghe này. Làm ơn nghe này.’ Ông vẫn còn lải nhải mãi về sự khác biệt giữa tiếng Nga và tiếng Ukraina trong khi đầu óc tôi chỉ quan tâm đến Valentina. ‘Nghe con nói một chút này. Tuy cô ta gây phiền nhiễu cho ba, nhưng tin tốt là cô ta không được phép ở lại. Có nghĩa là sớm hay muộn cô ta sẽ bị trục xuất. Giá như chúng ta biết được là lúc nào... Nhưng trong thời gian đó, nếu ba sợ ở một mình trong nhà với cô ta, ba hãy chuyển đến ở với con và Mike.’ Tôi biết chỉ khi tuyệt vọng hết mức thì ba mới chịu đến ở nhà chúng tôi - ông ghét phải phá bỏ thói quen hằng ngày. Ông chưa bao giờ ngủ đêm ở nhà tôi hay nhà chị tôi.
‘Không, không. Ba ở lại đây. Nếu ba rời khỏi nhà cô ta sẽ đổi ổ khóa. Ba sẽ ở ngoài, cô ta sẽ ở trong. Cô ta đã bắt đầu nói như vậy rồi.’
Sau khi ba tôi tạm biệt và chui vào sau cánh cửa khóa chặt, tôi gọi ba cú điện thoại.
Đầu tiên tôi gọi đến Bộ Nội vụ: tòa nhà Lunar ở Croydon. Tôi tưởng tượng cảnh cung trăng lỗ chỗ mênh mông, im ắng không một tiếng động ngoại trừ tiếng chuông điện thoại ngân nga. Sau khoảng bốn mươi hồi chuông, điện thoại được nhấc lên. Một giọng phụ nữ thờ ơ cho tôi biết hãy viết đơn, và bảo với tôi rằng hồ sơ cần được giữ kín, không thể cho bên thứ ba biết. Tôi cố giải thích tình trạng tuyệt vọng của ba tôi. Giá như ông biết được chuyện gì đang xảy ra, liệu Valentina có kháng cáo được nữa không, khi nào cô ta sẽ bị trục xuất. Tôi năn nỉ họ. Giọng thờ ơ đó mủi lòng và đề nghị tôi gọi bộ phận nhập cư của vùng Peterborough.
Sau đó tôi gọi cho trạm cảnh sát trong làng. Tôi kể lại vụ hành hung bằng khăn lau bát ướt nhẹp và giải thích mối nguy hiểm của ba. Viên cảnh sát không mấy quan tâm. Ông ta đã gặp nhiều chuyện tệ hại hơn.
‘Hãy nhìn sự việc thế này’ ông ta nói. ‘Có thể đó chỉ là xích mích gia đình thôi. Chuyện thường ấy mà. Nếu mỗi lần một cặp vợ chồng cãi vã mà cảnh sát phải xen vào thì làm sao hết việc được. Thật ngại nhưng tôi phải nói là cô đã xen vào việc của ba cô khi ông ấy không yêu cầu. Rõ ràng cô không thích người đàn bà mà ông ấy cưới. Nhưng nếu ông ấy muốn khiếu nại thì ông ấy đã gọi điện rồi, phải không? Nói không chừng ông ấy đang tận hưởng hạnh phúc bên cạnh bà ấy đấy.’
Trong đầu tôi hiện ra cảnh người cha già gầy còm nhom như một cây gậy, lom khom co rúm người trước những cú đánh bằng khăn ướt. Valentina to béo, cợt nhả, mang găng cao su vàng đứng đó cười sằng sặc. Nhưng viên cảnh sát lại mường tượng ra cảnh khác. Đột nhiên tôi hiểu ra.
‘Ông nghĩ đó là trò-chơi-tình-dục-khăn-ăn-ướt.’
‘Tôi không nói như vậy’
‘Nhưng ông nghĩ vậy đúng không?’
Viên cảnh sát đã được huấn luyện để đối phó với những người như tôi. Ông ta lịch sự đợi cơn giận của tôi dịu xuống. Cuối cùng, ông ta hứa sẽ ghé qua khi đi tuần tra, tạm thời chúng tôi đồng ý như vậy.
Cú điện thoại thứ ba tôi gọi cho chị gái. Vera hiểu ngay. Chị nổi điên.
‘Con chó cái. Con điếm tội phạm. Nhưng ba thật là ngu ngốc. Thật đáng đời’
‘Vera à, dẫu có đáng đời hay không, em nghĩ mình cần phải đưa ba ra khỏi chuyện này.’
‘Tống khứ ả đi còn tốt hơn. Một khi ba đi khỏi nhà thì ông sẽ không thể quay về nữa, ả sẽ có cả căn nhà.’
‘Làm gì có chuyện đó.’
‘Cô biết người ta hay nói: chiếm hữu là sở hữu mà.’
‘Giống quyển sách luật của bà Zadchuk quá.’
‘Trước đây tôi cũng vậy thôi - khi Dick giở trò, tôi muốn bỏ đi, nhưng luật sư khuyên tôi nên ở lại, nếu không tôi có thể mất căn nhà’
‘Nhưng Dick đâu có định giết chị’
‘Thế cô nghĩ Valentina muốn giết ba à? Tôi nghĩ cô ả chỉ muốn làm ba sợ thôi’
‘Rõ ràng là ả đã thành công rồi’
Im lặng. Tôi có thể nghe thấy tiếng nhạc jazz trên đài vẳng lại. Tiếng nhạc dứt. Tiếng vỗ tay vang lên. Sau đó Vera giở giọng Bà Chị Lớn, ‘Nadia, đôi khi tôi tự hỏi có thứ gì gọi là trạng thái tâm lý nạn nhân hay chăng - cô biết đấy, trong thế giới tự nhiên, luôn có thứ bậc thống trị trong mỗi loài.’ (Chị ta lại thế nữa rồi.) ‘Có lẽ bản chất của ba là hay bị ăn hiếp.’ ‘Ý chị đó là lỗi của nạn nhân sao?’
‘Ờ, ừ, có thể nói vậy’
‘Nhưng khi Dick nổi khùng - đó không phải là lỗi của chị.’
‘Đương nhiên là khác rồi. Trong mối quan hệ giữa đàn ông với đàn bà thì phụ nữ luôn là nạn nhân’
‘Vera, chị nói y hệt như người bảo vệ quyền phụ nữ vậy.’
‘Quyền phụ nữ? Ôi trời. Tôi cho rằng đó chỉ là lý lẽ đương nhiên thôi. Nhưng khi một người đàn ông để phụ nữ đánh mình, cô phải công nhận là có điều gì đó không ổn’
‘Ý chị là nếu chồng đánh vợ thì OK? Valentina cũng nói y chang vậy’ Tôi không nhịn được. Tôi vẫn chọc tức chị. Nếu tôi không cẩn thận, cuộc nói chuyện này sẽ như bao cuộc nói chuyện khác trước đây kết thúc với tiếng dập máy tức tối của một trong hai chị em tôi. ‘Đương nhiên là chị có lý của chị, Vera. Nhưng có thể đó là vấn đề về vóc dáng, sức lực chứ không phải là tính cách hay giới tính’ tôi thêm vào.
Im lặng. Chị hắng giọng.
‘Mọi thứ bắt đầu rối bời rồi đấy, Nadia. Có lẽ không phải là do trạng thái tâm lý nạn nhân. Có lẽ ba luôn là người hấp dẫn bạo lực. Mẹ có kể cho cô biết chuyện họ gặp nhau lần đầu thế nào không?’
‘Không. Kể cho em đi.’
○○○
Một ngày Chủ nhật tháng Hai năm 1926, ba tôi đi quanh thành phố với đôi giày trượt treo trên cổ cùng một quả trứng luộc và một lát bánh mì cất trong túi áo. Mặt trời lên cao, lớp tuyết mới lấp lánh trên những ban công chạm trổ và những cây cột tượng đàn bà của những căn nhà cuối thế kỷ trước trên đại lộ Melnikov, bóp nghẹt tiếng chuông Chủ nhật ngân vang từ những thánh đường vòm vàng và nằm ngoan như một chiếc gối trẻ thơ trên sườn ngọn Babi Yard).[link=#id6]*[/link]
Cậu bé vừa qua cầu Melnikov và đang đi về phía sân vận động thể thao thì một quả cầu tuyết bay vụt từ phía bên kia đường lướt qua tai cậu. Khi cậu quay lại nhìn xem quả cầu tuyết đó từ đâu ném tới thì một quả cầu khác đập thẳng vào mặt cậu. Nikolai thở hồng hộc, quờ quạng tìm mũ rơi lẫn trong tuyết. ‘Này này Nikolashka! Nikolashka biết tuốt! Mày thích ai hả, Nikolashka? Khi ham muốn thì mày nghĩ đến ai?’
Bọn người đang chọc ghẹo cậu là hai anh em Sovinko, hai tên này đã bỏ học mấy năm trước. Bọn chúng chắc cũng khoảng mười ba mười bốn tuổi, bằng tuổi ba tôi lúc đó. Đầu cạo trọc lóc, chúng sống chung với mẹ và ba cô chị trong hai căn phòng sau trạm xe lửa. Cha chúng chết trong một tai nạn rừng gần Gomel. Bà Sovinko chật vật kiếm sống bằng nghề giặt đồ thuê, hai thằng bé mặc toàn đồ bỏ mà bà mẹ lượm lặt được từ đống đồ giặt của khách.
‘Này đồ đít cắm lên đầu! Mày thích Lyalya hả? Hay là Ludmilla? Cá là mày khoái Katya rồi. Mày cho nó coi của quý của mày chưa?’
Thằng anh ném một quả cầu tuyết khác.
‘Tớ chẳng thích ai cả’ ba tôi nói. ‘Tớ chỉ quan tâm đến ngôn ngữ và toán học thôi’
Hai thằng con trai chỉ ngón tay đỏ ửng vì lạnh vào Nikolai rồi rú lên cười như điên.
‘Nè, nó không thích con gái. Vậy mày thích con trai hả?’
‘Chỉ dựa vào chuyện tớ không thích con gái thì không thể suy luận là tớ thích con trai được.’
‘Mày có nghe không? Không thể suy luận! Mày có nghe không? Nó có của quý biết suy luận đấy! Này này Nikolashka, cho bọn tao coi của quý biết suy luận của mày đi’
Bọn chúng băng qua đường, và lẵng nhẵng bám theo ba, càng lúc càng lại gần hơn.
‘Mình làm nguội của quý của nó chút đi!’
Bọn chúng bắt đầu rượt đuổi. Thằng em lạng lên ném một nắm tuyết vào mông quần Nikolai. Nikolai cố tránh né nhưng vỉa hè quá trơn. Cậu ngã dúi mặt xuống. Hai thằng bé đè cậu ra và tống từng nắm tuyết vào mặt, vào cổ, vào quần cậu. Chúng bắt đầu kéo quần cậu xuống. Thằng anh tóm lấy đôi giày trượt và bắt đầu giật. Nikolai khiếp hãi gào lớn và giãy giụa trong tuyết.
Vào đúng lúc ấy, ba bóng người xuất hiện ở đầu đường. Từ chỗ đang nằm úp mặt xuống tuyết, Nikolai nhận ra một cô gái cao dong dỏng đang dắt tay hai đứa bé.
‘Cứu tôi! Cứu tôi!’ Nikolai kêu lên.
Ba người đó ngần ngừ trước cuộc ẩu đả. Nên chạy hay can thiệp đây? Rồi đứa con trai nhỏ xông lên.
‘Tránh ra!’ nó gào lên rồi lao mình vào chân thằng em. Cô gái cao dong dỏng cũng xông vào, bắt đầu kéo tóc thằng anh. ‘Tránh ra, đồ du côn béo ú! Để cậu ta yên!’
Thằng anh nhún vai khinh thường trước đòn tấn công của cô rồi dùng hai tay tóm chặt lấy cổ tay cô, tha cho Nikolai.
‘Nó là bạn trai của mày hả? Mày có thích nó không?’
‘Tránh ra, không thì tao sẽ gọi ba tao và ông ấy sẽ dùng kiếm cắt phăng ngón tay của mày rồi nhét vào lỗ mũi mày đó.’ Mắt cô lóe sáng.
Đứa con gái nhỏ quăng hàng nắm tuyết vào lỗ tai bọn chúng.
‘Nhét vào lỗ mũi của mày! Nhét vào lỗ mũi của mày!’ cô bé gào lên.
Hai anh em vừa né tránh vừa đánh trả, nhe răng cười và bám chặt lấy mấy cô gái. Bọn chúng chả thích gì hơn ngoài đấm đá, và chúng chẳng thấy lạnh. Bầu trời phía trên xanh màu xanh của trứng chim cổ đỏ, và ánh mặt trời lấp lánh trên tuyết. Sau đó mấy người lớn đến. Có tiếng quát mắng và gậy gộc vung vẩy. Anh em nhà Sovinko đội mũ lên rồi co giò chạy nhanh như thỏ tuyết trước khi bị tóm.
‘Cậu có sao không?’ cô gái cao dong dỏng hỏi. Đó là bạn học của cậu, Ludmilla Ocheretko cùng hai đứa em. Họ cũng đeo giày trượt nơi cổ. (Đương nhiên anh em nhà Sovinko thì quá nghèo nên không có giày trượt.)
Vào mùa đông, sân vận động thể thao ở Kiev được phun một lớp nước mỏng. Lớp nước này nhanh chóng đông cứng lại tạo thành một sân băng ngoài trời nên tất cả thanh thiếu niên ở Kiev đều đến đó trượt băng. Bọn họ lướt vèo vèo, phô trương tài năng, té ngã, đẩy nhau, lượn vòng và đâm sầm vào nhau. Mặc cho chuyện gì đang xảy ra ở Moscow hay trên mặt trận đẫm máu của cuộc Nội chiến: người ta vẫn gặp gỡ, cùng trượt vài vòng, và yêu nhau. Nikolai và Ludmilla nắm lấy bàn tay đeo găng của nhau rồi xoay vòng xoay vòng trên giày trượt - bầu trời, áng mây và mái vòm vàng cùng xoay tròn với họ - xoay nhanh, nhanh hơn nữa và cười đùa như những đứa trẻ (bọn họ vẫn còn là trẻ con) cho đến khi choáng váng nằm ngã vật trên tuyết.
0

14.
Chiếc máy photocopy xách tay nhỏ

Lần tiếp theo tôi đến thăm ba là vào giữa tuần, giữa buổi sáng, đi một mình mà không có Mike. Đó là một ngày xuân trong xanh dịu dàng, ngoài vườn trước uất kim hương nở rộ và cây cối trổ đầy mầm xanh. Trong khu vườn của mẹ, mẫu đơn đã hé nụ, vươn những nắm tay đỏ thẫm khỏi lớp cỏ dại um tùm trong các luống hoa.
Đậu xe bên ngoài, tôi để ý thấy một chiếc xe cảnh sát màu trắng đen đậu gần đó. Tôi đi vào bếp thì thấy Valentina và viên cảnh sát làng đang vừa uống cà phê vừa cười đùa với nhau. Trái hẳn với bầu không khí mùa xuân tươi mát, trong nhà nóng không tưởng được, nồi hơi hầm hập, cửa sổ đóng chặt. Hai người đó bực bội nhìn tôi, cứ như tôi làm lỡ cuộc hẹn hò riêng tư vậy. Valentina mặc chiếc váy bò bó siêu ngắn, áo khoác lông mịn màu hồng phấn có túi xa tanh hình trái tim màu trắng. Ả ngồi trên chiếc ghế cao, chân bắt tréo, đôi dép hở ngón hững hờ đong đưa. (Con điếm!) Viên cảnh sát nằm ườn trên chiếc ghế dựa vào tường, hai chân dạng ra. (Tên thô lỗ!) Họ im bặt khi tôi bước vào. Khi tôi tự giới thiệu, viên cảnh sát kéo mình ngồi dậy và bắt tay tôi. Đây chính là viên cảnh sát tôi nói chuyện qua điện thoại về vụ tấn công bằng khăn lau ướt. ‘Vừa ghé qua để xem ba cô thế nào’ ông ta nói.
‘Ba tôi đâu?’ tôi hỏi.
Valentina chỉ về phía cánh cửa tạm do Mike lắp, ngăn giữa bếp và phòng ăn, phía sau cánh cửa giờ là phòng ngủ của ba tôi. Ông đã khóa mình trong phòng và từ chối ra ngoài.
‘Ba à’ tôi dỗ dành, ‘Là con mà, Nadia đây. Ba có thể mở cửa ra. Mọi chuyện ổn rồi, con ở đây rồi.’
Một hồi lâu sau mới có tiếng kéo then sột soạt, rồi ba tôi hé mở cửa. Tôi choáng váng trước những gì mình nhìn thấy. Ông gầy nhom đến thảm hại - tiều tụy - hai mắt lõm sâu vào hốc đến mức khuôn mặt ông trông chẳng khác gì khuôn mặt thần chết. Mái tóc bạc dài rối bù nơi gáy. Ba tôi chẳng mặc gì từ bên dưới thắt lưng. Tôi nhìn hai ống chân và đầu gối trắng bợt bạt của ông run run khổ sở.
Chính lúc đó tôi bắt gặp viên cảnh sát và Valentina liếc mắt nhìn nhau. Cái liếc của Valentina như muốn nói: Thấy chưa? Viên cảnh sát đáp lại bằng mắt: Ôi trời!
‘Ba à’ tôi thì thầm, ‘quần của ba đâu? Ba mặc quần vào đi.’ Ông chỉ vào đống quần áo trên sàn, và ông không cần nói gì thêm vì tôi đã ngửi thấy mùi bốc lên để hiểu chuyện gì đã xảy ra.
‘Ông ta ỉa ra quần’ Valentina nói.
Viên cảnh sát cố giấu nụ cười khinh bỉ.
‘Chuyện gì xảy ra vậy ba?’
‘Cô ta...’ ông chỉ vào Valentina. ‘Cô ta...’
Valentina nhướng mắt, bắt tréo lại chân và không thèm nói gì.
‘Cô ta làm gì? Ba, kể cho con nghe đi.’
‘Cô ta hắt nước vào ba.’
‘Ông ta quát vào mặt tôi’ Valentina bĩu môi. ‘Quát những điều tồi tệ. Nói bậy. Tôi bảo im. Ông ta không im. Tôi hắt nước. Chỉ là nước thôi. Nước không đau.’
Viên cảnh sát quay sang tôi.
‘Xem ra là kẻ tám lạng người nửa cân’ ông ta nói. ‘Cãi vã gia đình là thế đấy. Không thể bênh vực ai.’
‘Rõ ràng ông thấy chuyện gì đang xảy ra mà?’ tôi bực bội.
‘Theo những gì tôi biết thì chẳng có ai phạm tội hết.’ ‘Nhưng công việc của ông là bảo vệ kẻ yếu mà? Hãy nhìn đi - dùng mắt của ông ấy. Nếu không thấy gì thì ít nhất ông cũng phải nhận thấy sự khác biệt về sức khỏe và vóc dáng của hai người chứ. Đâu được kẻ tám lạng người nửa cân?’ Tôi để ý thấy Valentina đã lên cân khá nhiều, tuy thế, hay chính vì thế, sức quyến rũ của ả lại càng tăng thêm.
‘Không thể bắt giam ai đó vì họ to cao được’ Viên cảnh sát không thể rời mắt khỏi cô ả. ‘Đương nhiên tôi sẽ còn để mắt đến chuyện này, nếu ba cô muốn’ Ông ta chuyển cái nhìn từ Valentina sang tôi rồi sang ba tôi.
‘Ông chẳng khác gì đám cảnh sát của Stalin’ ba tôi chợt cất giọng rít lên. ‘Cả hệ thống nhà nước chỉ bảo vệ kẻ mạnh chống lại kẻ yếu’
‘Thật tiếc khi ông nghĩ vậy, ông Mayevskyj’ viên cảnh sát lịch sự đáp. ‘Nhưng chúng ta đang sống ở một nước tự do và ông được quyền tự do nói lên suy nghĩ của mình’
Valentina nhảy phịch xuống đất từ trên ghế đẩu.
‘Tới giờ tôi đi làm rồi’ cô ả nói. ‘Cô lau cứt cho ba cô đi’
Viên cảnh sát cũng nói tạm biệt rồi rời đi.
Ba tôi ngồi sụp xuống ghế nhưng tôi không để ông yên.
‘Ba à, làm ơn mặc quần vào đi’ tôi nói. Thân hình trần truồng y hệt xác chết của ông có cái gì đó đáng sợ đến mức tôi không dám nhìn. Tôi không chịu đựng được ánh mắt của ông - vừa bất lực vừa lì lợm. Tôi không chịu được mùi hôi thối trong căn phòng của ông. Tôi biết chắc Valentina cũng không chịu nổi, nhưng tôi cố dằn lòng: đó là sự lựa chọn của cô ả.
Trong lúc ba tôi rửa ráy, tôi lục soát căn nhà lần nữa. Nhất định thư luật sư, thông tin về việc kháng cáo của ả ta phải ở đâu đó trong nhà. Ả để thư ở đâu đây? Chúng tôi cần phải biết ả định làm gì, ả còn ở lại bao nhiêu lâu nữa. Tôi ngạc nhiên tìm thấy một máy photocopy xách tay nhỏ đặt trên bàn phòng khách giữa đám táo chín thối. Lần trước tôi không để ý đến nó, cứ nghĩ nó là một bộ phận của máy vi tính, đồ của Stanislav.
‘Ba à, cái gì đây?’
‘Ồ, đây là món đồ chơi mới của Valentina. Cô ta dùng nó để phô tô thư từ’
‘Thư từ nào?’
‘Đó là trò điên khùng mới của cô ta, con biết mà. Sao chép cái này, sao chép cái kia’
‘Cô ta phô tô thư từ của ba?’
‘Thư từ của cô ta. Của ba. Có lẽ cô ta cho rằng làm vậy là hiện đại. Cô ta phô tô lại mọi thư từ’
‘Để làm gì chứ?’
Ba nhún vai. ‘Có lẽ cô ta cho rằng phô tô thì sang trọng hơn chép tay chăng’
‘Sang trọng? Ngu ngốc thì có. Đó không phải là lý do.’
‘Con có biết lý thuyết nhà tù xây tròn không? Nhà triết học Anh Jeremy Bentham đã thiết kế ra nhà tù hoàn hảo này. Cai tù nhìn thấy mọi thứ từ mọi góc độ, nhưng chẳng ai nhìn thấy anh ta. Valentina biết mọi điều về ba, còn ba chẳng biết gì về cô ta cả’
‘Ba đang nói cái gì vậy? Thư từ và bản sao ở đâu?’
‘Có lẽ là trong phòng cô ta’
‘Không, con đã xem qua rồi. Phòng Stanislav cũng không có.’
‘Ba không biết. Chắc là trong xe. Ba thấy cô ta đem mọi thứ ra xe.’
Chiếc xe thổ tả nằm ở ngoài lối vào. Nhưng chìa khóa đâu?
‘Không cần chìa khóa đâu’ ba tôi nói. ‘Ổ khóa hư rồi. Cô ta khóa trong rồi quên mất. Ba dùng tua vít để phá ra.’
Tôi để ý thấy trên kính xe không dán nhãn thuế cầu đường. Có lẽ cô ta đã nghĩ lại về chuyện lái xe khi có mặt viên cảnh sát. Tôi lục lọi trong cốp và tìm ra một thùng các tông chất đầy giấy tờ, hồ sơ và bản sao. Chính là thứ tôi cần tìm. Tôi bưng cái thùng vào phòng khách rồi bắt đầu xem xét.
Tôi choáng ngợp trước số lượng giấy tờ trong đó. Từ chỗ không có chút thông tin nào, giờ bỗng nhiên tôi lại có cơ man là nhiều. Theo tôi thấy thì thư từ không hề được sắp xếp theo ngày, người gửi hay nội dung gì cả. Tôi rút ra hú họa vài lá. Một lá thư từ Sở Nhập cư nằm ở gần phía trên đập vào mắt tôi. Đó là lá thư nêu lý do vì sao họ từ chối không cho cô ta ở lại sau lần kháng cáo - họ không đề cập đến lời khai dưới sự cưỡng chế của ba tôi, nhưng có một đoạn nói rõ cô ta có quyền kiện ra tòa. Tim tôi thắt lại. Vậy là lần kháng cáo vừa rồi vẫn chưa phải là lần chót. Còn bao nhiêu lần kháng cáo và xét xử nữa? Tôi sao lại lá thư bằng chiếc máy photocopy để cho Vera xem.
Tôi tìm thấy bản sao của mấy bài thơ và thư tình ba tôi gửi cho ả, bao gồm cả lá thư ghi rõ tiền hưu và tiền tiết kiệm của ông - bản gốc tiếng Ukraina và bản dịch đều được sao lại và kẹp chung với nhau. Vì sao? Cho ai? Có một lá thư từ chuyên gia tư vấn tâm lý ở bệnh viện quận Peterborough hẹn gặp ba tôi. Cuộc hẹn diễn ra vào ngày mai. Ba tôi không nhắc gì đến chuyện này. Ba tôi có nhận được lá thư này hay chưa? Cô ta đã sao lại lá thư (tại sao?) nhưng không trả lại bản gốc cho ba.
Có vài lá thư từ Ukraina, có lẽ là của chồng cô ta, nhưng tiếng Ukraina thì tôi chỉ có thể đọc từng chữ mà giờ thì tôi không có thời gian.
Tôi phát hiện ra thêm mấy lá thư gửi cho ba tôi nữa - thư từ viên luật sư tập sự nói về trở ngại khi đòi hủy hôn. Một lá thư ông gửi tới Bộ Nội vụ, bày tỏ tình yêu của ông đối với cô ả, khẳng định đây là một cuộc hôn nhân thật sự. Lá thư đề ngày 10 tháng Tư, ngay trước lần kháng cáo ở Nottingham. Có phải ba tôi cũng bị ép phải viết nó hay không? Một lá thư từ bác sĩ đa khoa trong vùng, bác sĩ Figges, nói là ông phải gọi điện để lấy đơn thuốc mới.
Trong một phong bì màu nâu, tôi tìm thấy vài tấm hình cưới - Valentina mỉm cười trước ống kính, cúi sát người bên ba tôi đến nỗi lộ ra cả bộ ngực đồ sộ, ba tôi mở to mắt, cười hớn hở như một con chó có hai cái đuôi. Trong phong bì còn có bản sao giấy chứng nhận két hôn và một tờ thông tin từ Bộ Nội vụ hướng dẫn về vấn đề nhập quốc tịch.
Cuối cùng tôi cũng tìm ra thứ tôi cần - lá thư từ luật sư của Valentina, gửi từ tuần trước, đồng ý đại diện cho cô ta ở phiên tòa Nhập cư tại London vào ngày 9 tháng Chín và khuyên cô ta xin trợ giúp pháp luật. Tháng Chín! Ba tôi làm sao chịu đựng được tới lúc đó chứ. Lá thư kết thúc bằng một lời cảnh báo:
Bằng mọi giá, bà nên tránh đừng để chồng bà có lý do ly dị, vì điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cơ hội thắng kiện của bà...
Tôi đọc mê mải đến mức không nghe tiếng cửa sau mở ra. Có người trong bếp. Tôi vội xếp tất cả thư từ và giấy tờ, nhét chúng vào thùng rồi tìm chỗ giấu. Ở góc phòng là chiếc tủ đá to đùng nơi mẹ tôi từng để rau cỏ và gia vị, giờ thì Valentina dùng nó để chứa đồ ăn đông lạnh. Tôi bỏ cái thùng vào đó. Cửa mở ra.
‘Ô, cô vẫn còn ở đây à’ Valentina nói.
Tôi chỉ dọn dẹp chút thôi’ Giọng tôi nhẹ nhàng (không việc gì phải chọc tức cô ta - tôi sắp phải đi, chỉ mình ba tôi ở lại chịu trận) nhưng cô ta coi đó là một lời chê trách.
‘Tôi có quá nhiều việc. Không có thì giờ làm việc nhà.’
‘Chắc vậy.’ Tôi bình thản dựa lưng vào tủ đá.
‘Ba cô - ông ta không cho tôi tiền.’
‘Nhưng ông ấy đưa cô phân nửa số lương hưu mà.’ ‘Lương hưu vô dụng. Lương hưu thì mua được gì.’
Tôi không muốn tranh cãi với cô ta. Tôi chỉ muốn cô ta đi ngay để có thì giờ tiếp tục xem xét giấy tờ. Nhưng tôi nhận ra có lẽ cô ta quay lại để lấy bữa trưa đông lạnh.
‘Cô có muốn tôi làm bữa trưa cho cô không, Valentina? Cô lên lầu nghỉ một chút, tôi làm xong ngay thôi.’
Cô ta ngạc nhiên, cơn nóng dịu xuống, nhưng vẫn từ chối lời đề nghị của tôi.
‘Tôi không có thì giờ ăn. Chỉ bánh kẹp thôi. Tôi về để lấy xe. Sau khi làm việc xong tôi đi Peterborough với Margaritka mua sắm.’
Cô ta đóng cửa lại rồi lái xe đi, còn tôi ở một mình với thùng giấy tờ đã đông thành đá.
Tôi định sao lại thư của luật sư, nhưng nhận ra chỉ còn hai tờ giấy trắng nên thôi. Tôi bỏ một bức ảnh cưới và mấy lá thư vừa sao vào túi xách rồi để số giấy tờ còn lại vào thùng giấy.
Trong lúc đang sắp xếp giấy tờ, tôi chợt để ý đến một tờ giấy khác. Đó là lá thư của Viện vẻ đẹp Phụ nữ ở Budapest, đánh máy trên loại giấy màu kem khá dày có viền vàng, gửi cho bà Valentina Dubova ở đường Hall, Peterborough. Họ cảm ơn cô ta, bằng tiếng Anh, vì đã là một khách hàng đáng trân trọng và thông báo đã nhận được số tiền ba ngàn đô la Mỹ trả cho việc thẩm mỹ nâng ngực. Lá thư kết thúc bằng chữ ký hoa mỹ của bác sĩ Pavel Nagy. Ngày trên bức thư cho thấy vụ phẫu thuật thẩm mỹ này diễn ra vài tháng trước khi họ cưới nhau, trong chuyến thăm Ukraina của cô ta. Tôi nhớ đến chiếc phong bì màu nâu dày cộp. Ba ngàn đô la Mỹ chỉ hơn 1800 bảng chút xíu. Vậy là ba tôi biết số tiền đó dùng để làm gì rồi. Ông đã biết và còn rất hào hứng chi trả nữa chứ.
‘Ba à’ tôi nhẹ nhàng gọi ông, cố giấu cơn tức giận. ‘Ba à, đây là gì?’
‘Hừm, ừ.’ Ông nhìn lá thư và gật đầu. Ông còn gì để nói nữa đâu.
‘Ba điên thật rồi đấy. Thật may là ba có hẹn với bác sỹ tâm lý vào ngày mai.’
Tôi giấu cái thùng thư lạnh cóng dưới giường ba, dặn dò kỹ càng là ông phải để nó lại vào cốp xe của cô ta vào dịp sớm nhất có thể mà không để cô ta biết. Tôi biết mình nên ở lại và tự làm lấy nhưng trời đã về chiều rồi, tôi chỉ muốn về nhà ngay, về với Mike tốt bụng sáng suốt cùng căn nhà gọn gàng của mình. Tôi nấu món mì ống xốt pho mát cho ông - trắng như giòi, chẳng có vị gì nhưng ông có thể ăn được mà không cần răng giả. Chúng tôi ăn trong im lặng. Không có gì để nói với nhau nữa. Lúc ông ăn xong, tôi chào tạm biệt. Khi tôi quẹo ra đường chính, một chiếc xe khác lạng vèo tới từ khúc quanh ở hướng đối diện. Một đèn pha bị vỡ. Đằng trước là hai bóng người hớn hở: Valentina và Margaritka vừa đi mua sắm về
0

15.
Ở chỗ bác sĩ tâm lý

Lần tới khám chỗ bác sĩ tâm lý của ba tôi kết thúc một cách mỹ mãn. Cuộc nói chuyện kéo dài cả giờ đồng hồ, vị bác sĩ chẳng nói chen được mấy câu. Ông ta là típ người thông minh và có học, ba tôi nói. Một người Ấn Độ. Ông ta rất hứng thú nghe ba tôi giải thích lý thuyết về mối quan hệ giữa kỹ thuật cơ khí áp dụng cho máy kéo và kỹ thuật tâm lý do Stalin chủ trương áp dụng cho tâm hồn con người. Ông ta đồng cảm với quan điểm của Schopenhauer về mối liên hệ giữa điên khùng và thiên tài, nhưng không muốn bị lôi vào cuộc tranh cãi xem tính cách được coi là điên khùng của Nietzsche có phải do bệnh giang mai gây ra không, tuy rằng khi bị dồn ép ông ta cũng phải công nhận giả thiết của ba tôi là tài năng xuất sắc của Nietzsche đơn giản là bị những kẻ kém thông minh hơn hiểu lầm. Ông ta hỏi ba tôi là ông có cho rằng ngay lúc này ba có đang bị ngược đãi hay không. ‘Không, không!’ ba tôi kêu lên. ‘Chỉ do cô ta thôi!’ Ông ta chỉ ra cửa nơi Valentina đang lấp ló. (Viên bác sĩ muốn thử xem ba có bị hoang tưởng không, ba tôi nói, nhưng đương nhiên ba không bị lừa rồi.)
Valentina bực bội khi không được có mặt trong buổi khám bệnh bởi cô ta cho rằng mình có công khi báo tin ba tôi bị điên khùng. Cô ta còn bực hơn khi thấy ba tôi bước ra với vẻ đắc thắng.
‘Bác sĩ hết sức thông minh. Ông ta nói tôi không khùng. Cô mới khùng đó!’
Cô ta xông vào phòng bác sĩ tâm lý rồi bắt đầu gào thét phản đối ông ta bằng đủ loại ngôn ngữ. Viên bác sĩ gọi bảo vệ bệnh viện và yêu cầu cô ta ra ngoài. Cô ta khoa tay múa chân bước ra ngoài, miệng không ngừng mắng chửi người Ấn Độ.
‘Được đó ba, cuộc khám bệnh thành công. Nhưng chuyện gì xảy ra với cái đầu của ba vậy? Ba cắt tóc ở đâu thế?’
‘À, cũng do Valentina gây ra thôi. Sau vụ bắt bác sĩ chứng nhận ba bị điên thất bại, cô ta tìm cách giết ba.’
Ba kể lại thêm một cảnh tượng chướng tai gai mắt khi họ rời khỏi cổng bệnh viện, miệng vẫn quát nạt nhau. Cô ta đẩy ông, ông mất thăng bằng té ngã và đập đầu vào bậc đá. Đầu ông ứa máu.
‘Lại đây’ Valentina nói, ‘đồ già ngu ngốc té-ngã. Lên xe mau mau, về nhà mau mau’
Một đám người đã xúm xít quanh họ.
‘Không, tránh ra, con giết người!’ ba tôi vung tay kêu lên. ‘Tôi sẽ không về nhà với cô!’ Mắt kính của ông đã rơi ra, một bên bị bể nát.
Một y tá rẽ đám đông bước tới, xem xét vết thương trên đầu ông, vết thương không sâu nhưng máu chảy ra rất nhiều. Chị ta bám vào cánh tay đỡ lấy ông.
‘Hay là ông ghé vào khoa cấp cứu để họ kiểm tra.’
Valentina kéo cánh tay còn lại của ông.
‘Không, không! Ông ta chồng tôi. Ông ta OK. Ông ta vào xe về nhà.’
Hai người phụ nữ kéo qua kéo lại, ba tôi ở giữa không ngừng la hét ‘Giết người! Giết người!’ Đám người tò mò càng lúc càng đông. Cô y tá gọi bảo vệ và ba tôi được đưa đến khu Tai nạn & cấp cứu để băng bó vết thương, Valentina vẫn dai như đỉa bám chặt lấy cánh tay ông. Cô ta không chịu buông tha ông.
Nhưng ba tôi từ chối rời khỏi khu Tai nạn & cấp cứu với Valentina. ‘Cô ta muốn giết tôi!’ ông gào lên với tất cả mọi người xung quanh. Cuối cùng, một nhân viên xã hội được gọi tới, và ba tôi với cái đầu băng bó thảm thương được đưa đến một khu nhà ở tạm một đêm. Ngày hôm sau ông được xe cảnh sát đưa về nhà.
Valentina đợi sẵn với nụ cười và bộ ngực vĩ đại.
‘Lại đây nào, holubchik, con bồ câu bé bỏng. Cục cưng của em.’ Ả vỗ má ba tôi. ‘Chúng ta sẽ không tranh cãi nữa.’
Đám cảnh sát mê mẩn cô ả. Họ ở lại dùng trà, ngồi trong bếp lâu hơn hẳn thời gian cần thiết, thảo luận về sự yếu ớt và ngu ngốc của người già và rằng người già cần được chăm sóc chu đáo ra sao. Đám cảnh sát còn kể vài câu chuyện về người cao tuổi bị đám tội phạm đến tận nhà lừa đảo, bị đám cướp giật đánh ngã ngoài phố. Không phải người nào cũng may mắn có được một người vợ đáng yêu chăm sóc đâu. Valentina tỏ vẻ ghê tởm trước những trường hợp bạo lực công khai như vậy.
Và có thể là cô ả thực lòng hối hận, ba tôi nói, bởi sau khi đám cảnh sát đi rồi, ả không nổi điên với ba tôi mà cầm tay ông đặt lên ngực, vuốt ve bàn tay ông, dịu dàng trách móc ông vì đã không tin ả và để mối nghi ngờ xen vào giữa hai người. Cô ả thậm chí không trách móc gì ông vì đã lấy thùng giấy tờ giấu vào dưới gầm giường. (Đương nhiên ả tìm thấy chúng ở đó - đương nhiên ba đã không cất trở lại cốp xe.) Hay có thể là ai đó (bà Zadchuk?) đã giải thích cho ả ý nghĩa câu cuối cùng trong bức thư của viên luật sư.
○○○
Tôi gửi cho bà Chuyên Gia Ly Dị bản sao bức thư của luật sư, và bà ta gửi lại cho bà Tống Chúng Về Quê một mẩu tin cắt ra từ báo. Tin đó nói về một người đàn ông gốc Congo sống ở Anh mười lăm năm, giờ sắp bị trục xuất vì ông ta nhập cư trái phép suốt ngần ấy năm, dù rằng ông ta đã xây dựng được một cuộc sống tốt, mở hãng kinh doanh riêng, trở thành một nhân vật quan trọng trong cộng đồng địa phương. Nhà thờ khu đó đã mở chiến dịch vận động cho ông ta ở lại.
Tôi cho rằng gió đã xoay chiều’ Vera nói. ‘Cuối cùng thì người dân đã thức tỉnh’
Tôi lại đi đến kết luận hoàn toàn trái ngược - người dân đã mê ngủ trước vấn đề này chứ không thức tỉnh. Giọng nói ơ hờ ở tòa nhà Lunar đang mê ngủ. Giọng nói cực chuẩn ở những lãnh sự quán xa xôi đang say ngủ. Ba người trong hội đồng nhập cư ở Nottingham cũng đang say ngủ - họ chỉ đang làm mọi thủ tục như những kẻ mộng du. Chẳng có chuyện gì xảy ra cả.
‘Vera, những chuyện trục xuất, những vụ nổi bật cùng với chiến dịch vận động và thư từ cho báo chí - chỉ nhằm tạo ra ảo giác cho dân chúng thôi. Trên thực tế, trong hầu hết các trường hợp - chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Chẳng có gì. Chỉ là một trò hề thôi.’
‘Nadezhda, dĩ nhiên tôi biết cô sẽ nói vậy mà. Cô lúc nào mà chẳng thông cảm với bọn chúng.’
‘Vấn đề không phải là thông cảm hay không, Vera à. Nghe em nói nè. Chúng ta đã sai khi nghĩ rằng họ sẽ đuổi cô ả đi. Nhưng họ không làm vậy đâu. Chúng ta phải tự làm thôi’
Mang đôi giày cao gót của bà Tống Chúng Về Quê đã làm thay đổi dáng đi của tôi. Tôi từng có quan điểm thông thoáng với việc nhập cư - tôi cho rằng mọi người có quyền sống ở nơi họ muốn. Nhưng giờ tôi tưởng tượng đến hàng đoàn người như Valentina xông qua hàng rào hải quan, ở Ramsgate, Felixstowe, Dover, Newhaven - đổ dồn xuống thuyền, điên cuồng với một mục đích duy nhất.
‘Nhưng cô lúc nào cũng bênh cô ả’
‘Không như vậy nữa.’
‘Tôi cho rằng vì cô là nhân viên xã hội nên cô chỉ có thể suy nghĩ đến vậy thôi.’
‘Em không phải là nhân viên xã hội, Vera.’
‘Không phải là nhân viên xã hội?’ Im lặng. Điện thoại rè rè. ‘À, thế cô làm nghề gì?’
‘Em là giảng viên.’
‘À - một giảng viên. Cô dạy cái gì?’
‘Xã hội học.’
‘Thì đó - đó là ý của tôi.’
‘Xã hội học không phải chỉ nói về công việc xã hội đâu.’
‘Không ư? Vậy nó là cái gì?’
‘Nó nghiên cứu về xã hội - các lực lượng và nhóm người trong xã hội và vì sao họ lại cư xử như vậy.’
Im lặng. Chị hắng giọng.
‘Hấp dẫn đấy!’
‘Ừ, em cũng nghĩ vậy.’
Im lặng lần nữa. Tôi có thể nghe tiếng Vera châm thuốc ở đầu dây bên kia.
‘Vậy vì sao Valentina lại hành động như vậy?’
‘Bởi vì cô ả tuyệt vọng.’
‘À đúng. Tuyệt vọng.’ Chị hít sâu một hơi thuốc.
‘Nhớ lúc chúng ta tuyệt vọng không, Vera?’
Nhà tập thể. Trung tâm tị nạn. Chiếc giường đơn chúng tôi cùng chia sẻ. Căn nhà liền kề với nhà vệ sinh ở sân sau và hàng chồng báo rách.
‘Nhưng phải tuyệt vọng đến mức nào người ta mới phạm tội? Hay làm gái điếm?’
‘Phụ nữ luôn hy sinh tất cả cho con cái. Vì Anna, em cũng sẽ làm như vậy. Em chắc chắn đấy. Chị có làm vậy vì Alice hay Lexy không? Mẹ có hy sinh như thế cho chúng ta không, Vera? Nếu chúng ta tuyệt vọng? Nếu chúng ta không còn đường nào khác?’
‘Nadia, cô chẳng biết mình đang nói gì đâu.’
○○○
Tôi nằm trên giường vào lúc mờ sáng, nghĩ tới người đàn ông gốc Congo. Tôi tưởng tượng tiếng gõ cửa vào ban đêm, trái tim đập thình thịch muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, con mồi và thợ săn nhìn thẳng vào mắt nhau. Tóm được rồi! Tôi tưởng tượng cảnh bạn bè và hàng xóm tụ tập trên vỉa hè, gia đình Zadchuk vẫy chiếc khăn tay thấm đầy nước mắt. Tôi tưởng tượng cốc cà phê ấm để quên trên bàn trong lúc đi vội. Cốc cà phê từ từ lạnh đi, mốc lên rồi cuối cùng khô lại thành một lớp vỏ cứng màu nâu.
Mike không thích bà Tống Chúng Về Quê. Bà ta không phải là người đàn bà anh yêu.
Trục xuất là một biện pháp đối xử tàn ác với con người. Nó không phải là giải pháp.’
‘Em biết. Em biết. Nhưng...’
Sáng hôm sau tôi gọi đến số điện thoại ghi trên lá thư Valentina nhận được từ Dịch vụ Tư vấn Nhập cư. Họ cho tôi số điện thoại ở sân bay East Midlands. Thật may là tôi gặp được người phụ nữ xách cặp nâu và lái xe Fiat xanh từng ghé thăm nhà tôi sau lễ kết hôn của ba. Bà ta ngạc nhiên khi tôi gọi đến nhưng bà nhớ ra ba tôi ngay.
‘Tôi cảm giác có gì đó không ổn’ bà ta nói. ‘Ba cô có vẻ quá, à ừ...’
‘Tôi biết.’
Bà ta nói chuyện hòa nhã - hòa nhã hơn hẳn cách ba tôi mô tả.
‘Không phải chỉ là chuyện phòng the - vấn đề là dường như họ chẳng có sinh hoạt gì chung cả.’
‘Nhưng giờ thì sao? Chuyện sẽ giải quyết thế nào?’
‘Điều đó thì tôi không nói được.’
Bà ta cho tôi biết là việc trục xuất, nếu có, không phải do Sở Nhập cư tiến hành mà là do cảnh sát địa phương theo lệnh của Bộ Nội vụ. Mỗi vùng đều có nhân viên cảnh sát chuyên về vấn đề nhập cư.
‘Nói chuyện với cô thật vui’ bà ta nói. ‘Chúng tôi đến thăm người dân, viết báo cáo rồi họ biến mất. Thường thì chúng tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.’
‘Ừ, thì cũng chưa có chuyện gì xảy ra cả.’
Tôi gọi tới đồn cảnh sát trung tâm ở Peteirborough và xin được nói chuyện với nhân viên chuyên trách về nhập cư. Họ chuyển máy cho tôi tới Spalding. Người nhân viên họ cho tôi tên không có ca trực vào hôm đó. Hôm sau tôi gọi lại. Tôi tưởng sẽ gặp một người đàn ông, nhưng hóa ra Chris Tideswell lại là phụ nữ. Khi nghe tôi kể chuyện xong, cô ta nói ngay.
‘Tội nghiệp cho ba cô. Cô gặp đúng dân tội phạm rồi.’ Giọng cô có vẻ còn trẻ và vui tính, giọng của dân sống vùng đầm lầy rộng lớn. Xem ra cô chưa làm đủ lâu để có dịp trục xuất được bao nhiêu người.
‘Nghe này’ tôi nói, ‘khi mọi chuyện kết thúc, tôi sẽ viết một quyển sách và cô có thể là người nhân viên anh hùng trẻ tuổi đã đưa cô ả ra trước ánh sáng pháp luật.’
Cô cười. ‘Tôi sẽ cố hết sức, nhưng cô cũng đừng quá hy vọng.’ Cô không thể làm gì khi chưa có kết quả phiên tòa. Sau đó thì có thể họ được quyền kháng cáo dựa trên yếu tố nhân đạo. Sau đó nữa may ra sẽ có lệnh trục xuất. ‘Gọi cho tôi khoảng một tuần sau phiên tòa’
‘Cô có thể có vai chính trong bộ phim này. Có Julia Roberts đóng nữa.’
‘Coi bộ cô tuyệt vọng lắm rồi hả?’
○○○
Valentina liệu có thể giữ dáng vẻ đáng yêu như con chim bồ câu nhỏ và cho ông vuốt ve ngực đến tháng Chín hay không? Tôi có phần nghi ngờ điều đó. Liệu ba tôi, ốm như que củi, yếu như cái bóng, có thể sống sót với món giăm bông hộp, cà rốt luộc, táo Toshiba và những trận đòn thi thoảng không? Có lẽ là không.
Tôi gọi điện cho chị.
‘Chúng ta không thể đợi đến tháng Chín được. Chúng ta phải đuổi cô ta đi.’
‘Đúng vậy. Chúng ta đã chịu đựng quá lâu rồi. Thật ra, lỗi là ở...’ Chị dừng lại. Tôi có thể nghe thấy tiếng thắng ken két của toa xe chứa đầy những lời trách móc.
‘Chúng ta cần hợp tác trong chuyện này, Vera.’ Tôi xoa dịu. Chúng tôi đã khá hòa thuận với nhau rồi. ‘Chúng ta cần phải thuyết phục ba tính đến chuyện ly dị lần nữa.’
‘Không, cần có hành động gì nhanh chóng hơn. Chúng ta phải xin lệnh đuổi cô ta ra khỏi nhà ngay. Ly dị tính sau’
‘Nhưng liệu ba có đồng ý không? Giờ họ đã lại vuốt ngực nựng mông nhau rồi, ba khó đoán lắm.’
‘Ba khùng rồi. Quá khùng. Dù chuyên gia tâm lý có nói gì chăng nữa.’
○○○
Đây không phải lần đầu tiên bác sĩ tâm lý cho rằng ba bình thường. Ít nhất chuyện đã xảy ra một lần trước đây, khoảng ba mươi năm trước, khi tôi đang ở giai đoạn ba tôi gọi là theo đuôi Trotsky. Tôi tình cờ biết được thôi. Ba mẹ tôi ra ngoài, và tôi vào lục lọi phòng của họ - cũng căn phòng với đồ đạc gỗ sồi nặng trịch và những tấm rèm chọi màu giờ là buồng the của Valentina. Tôi không nhớ mình định tìm gì nhưng tôi thấy hai thứ làm tôi sửng sốt.
Vật thứ nhất là một bao cao su nhăn nheo, đầu bao nhơn nhớt thứ chất lỏng màu trắng đục, nằm dưới gầm giường. Tôi chăm chăm nhìn nó một cách kinh tởm. Thứ chất lỏng riêng tư nhất. Bằng chứng trơ tráo rằng ba mẹ tôi làm tình nhiều hơn hai lần tạo ra tôi và Vera. Tinh dịch của ba tôi!
Vật thứ hai là báo cáo của bác sỹ tâm lý ở bệnh xá vào năm 1961. Nó lẫn vào đám giấy tờ cất trong ngăn kéo tủ áo. Báo cáo ghi rằng ba tôi muốn gặp bác sĩ tâm lý vì ông không kìm được sự căm ghét bệnh hoạn đối với con gái ông (là tôi, chứ không phải Vera!). Sự căm ghét đó ám ảnh điên cuồng đến mức ba tôi sợ nó là dấu hiệu của bệnh tâm thần. Bác sĩ tâm lý đã nói chuyện với ba tôi khá lâu và kết luận là sau những trải nghiệm thời cuộc của ba thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên, thậm chí còn là chuyện đương nhiên, khi ông ghét đứa con gái có quan điểm đối ngược lại ông. Tôi đọc bản báo cáo đó với nỗi ngạc nhiên lớn dần, rồi sau đó là sự phẫn nộ, vừa giận ba tôi, vừa giận viên bác sĩ tâm lý vô danh nọ, kẻ đã chọn con đường dễ dàng, kẻ không thèm lắng nghe lời kêu cứu của ba tôi. Ngu ngốc - cả hai người họ. Gia đình mẹ tôi phải chịu rất nhiều oan khuất không sao kể xiết, lẽ ra bà có nhiều lý do để ghét tôi hơn. Thế nhưng bà vẫn không bao giờ hết yêu thương tôi, ngay cả trong những năm nổi loạn của tôi, ngay cả khi những lời tôi nói cứa sâu vào tim bà.
Tôi cất xấp giấy trở lại vào ngăn kéo. Tôi dùng giấy báo bọc cái bao cao su đã dùng rồi bỏ nó vào thùng rác, cứ như làm vậy tôi có thể bảo vệ mẹ khỏi thứ chất lỏng đáng xấu hổ chứa ở bên trong.
0

16.
Mẹ con đội mũ cơ mà

Bà Shura đã đỡ đẻ cho đứa con đầu của mẹ. Vera sinh ở Luhansk (Voroshilovgrad) vào tháng Ba năm 1937. Chị là một đứa bé đáng thương với tiếng khóc nức nở inh tai, cứ như thể chị sẽ ngừng thở bất cứ lúc nào. Đứa bé làm Nikolai điên đầu. Bà Shura thương Ludmilla nhưng chẳng ưa nổi Nikolai, ông chồng Đảng-viên-và-là-bạn-của-thống-chế-Voroshilov của bác cũng vậy. Cuộc sống ở nhà bà Shura trở nên căng thẳng. Những trận cãi vã bùng nổ, tiếng đóng cửa sầm sập, những giọng nói kích động, căn nhà gỗ trở thành một hộp âm thanh xóc óc. Sau vài tuần, Ludmilla, Nikolai và bé Vera chuyển đến sống ở nhà mẹ Ludmilla (giờ bà đã thành bà ngoại nên mọi người gọi bà là Baba Sonia). Đó là một căn hộ ba phòng trong một tòa nhà bê tông ở đầu bên kia thành phố.
Căn hộ chật như nêm cối. Nikolai, Ludmilla và đứa bé ở một phòng; Baba Sonia ở phòng thứ hai còn phòng thứ ba cho hai sinh viên thuê. Em trai và em gái của Ludmilla sống ở trường, khi nào về thì ở chung phòng với bà Sonia. Không có nước nóng - nhiều lúc còn không có cả nước lạnh nữa - và dù cơn đói đã qua, thức ăn vẫn rất thiếu thốn. Đứa bé mới ra đời vàng vọt và khóc lóc không ngừng. Bé bú chùn chụt nhưng Ludmilla bệnh và xanh xao, chẳng có bao nhiêu sữa cho con.
Baba Sonia thường đặt đứa bé khóc nhè lên đầu gối, rung rung chân dỗ dành nó rồi hát:
‘Bên ngoài Caucasus chúng ta đứng lên vì quyền lợi,
đứng lên vì quyền lợi của mình. Này!
Người Magyar đang tiến lên, đang tiến lên. Này!’

Bà Shura nói, ‘Lấy một quả táo, cắm đinh sắt vào, để qua đêm, nhổ đinh ra rồi ăn - làm vậy sẽ có đủ vitamin C và chất sắt.’
Nikolai không tìm được việc phù hợp ở Luhansk nên cứ thơ thẩn trong nhà làm thơ và làm quẩn chân mọi người. Tiếng la khóc không ngừng của đứa nhỏ làm anh phát khùng, đến phiên anh lại làm Ludmilla phát khùng. Mùa đông năm 1937, anh quay lại Kiev.
○○○
Cùng năm đó, cuối cùng Ludmilla cũng được nhận vào trường thú y ở Kiev. Có lẽ công việc lái cẩu đã mang lại may mắn cho cô, biến cô trở thành một người vô sản.
Nhưng cuộc đời đúng là một trò đùa tàn nhẫn. Với một đứa con mới sinh và ông chồng phải đi làm, cô không thể nào đi học được.
‘Đi đi! Đi đi!’ bà Shura nói. ‘Ta sẽ chăm sóc Verochka cho’
Ludmilla phải lựa chọn: chồng và trường thú y, hay đứa con gái bé bỏng. Bác Shura mua cho cô một cái áo choàng mới và vé xe lửa, tặng cô một chiếc mũ kiêu sa đính hoa lụa và mạng che. Ludmilla hôn tạm biệt mẹ và bác ở ga. Bé Verochka nức nở bíu chặt lấy cô. Họ phải níu bé lại để Ludmilla lên xe lửa.
‘Vậy đến khi nào chị mới gặp lại mẹ?’
‘Gần hai năm sau đó’ Vera đáp. ‘Mẹ ở Kiev miết tới lúc chiến tranh sắp bắt đầu. Sau đó mẹ quay về đón tôi. Kharkiv quá nguy hiểm. Mọi người đến Dashev sống với Baba Nadia. Ở làng quê thì an toàn hơn.’
‘Gặp lại mẹ chắc chị vui lắm.’
‘Tôi không nhận ra mẹ.’
Một ngày nọ, một phụ nữ nhếch nhác gầy gò đến trước cửa và ôm lấy Vera. Cô bé gào lên giãy giụa.
‘Verochka, con không nhận ra mẹ con sao?’ bà Shura hỏi.
‘Bà ta không phải mẹ con!’ Vera gào lớn. ‘Mẹ con đội mũ cơ mà.’
Chúng tôi vẫn còn giữ một bức ảnh mẹ đội chiếc mũ đó, mạng được vén ra sau và bà mỉm cười tươi trẻ. Ba tôi chắc đã chụp bức ảnh đó ngay sau khi mẹ đến Kiev. Tôi tìm thấy nó giữa một chồng ảnh cũ và thư từ trong chính cái ngăn kéo tôi từng thấy bức thư của viên bác sĩ tâm lý. Lá thư đó bị thất lạc từ lâu, nhưng những bức ảnh thì vẫn nằm trong một hộp giày cũ trong phòng khách, cùng những quả táo ngát mùi chín rữa, cái tủ đá đầy đồ ăn liền, chiếc máy photocopy xách tay nhỏ và chiếc máy hút bụi Hoover của người hiện đại. Chiếc máy được sản xuất ở nước ngoài, trong nước không có túi bụi thay thế nên giờ nằm bỏ xó với cái nắp mở toang, bụi rác toàn ra từ lõi hiện đại bên trong.
Căn phòng này vẫn là vùng tranh chấp. Khi Valentina ở nhà, cô ả ngồi đó, bật ti vi oang oang cùng máy sưởi điện (ba tôi đã ngắt không cho lò sưởi hoạt động để bảo vệ đống táo). Ba tôi không ưa tivi, phần lớn nội dung trên đó hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì với ông. Ông ngồi trong phòng ngủ và nghe nhạc cổ điển trên đài, hay đọc sách. Nhưng khi cô ả đi làm, ông thích ngồi ngoài phòng khách với đống táo, hình chụp và nhìn ra ngoài những cánh đồng được cày xới.
Chúng tôi ngồi bên nhau trong phòng khách vào một buổi chiều ẩm ướt tháng Năm, uống trà, ngắm mưa tạt vào cửa sổ và gió lung lay những cây tử đinh hương ngoài vườn. Tôi cố gắng chuyển chủ đề câu chuyện ra khỏi sự phát triển của động cơ phản lực ở Ukraina vào thập kỷ 30, và nói sang vấn đề ly dị.
‘Con biết ba không thích ly dị. Nhưng con cho rằng đó là cách duy nhất để ba được tự do’
Ông khựng lại rồi nhăn trán nhìn tôi. ‘Vì sao con lại nhắc đến ly dị hả Nadia? Thường thì chỉ có Vera mới hứng thú với ly dị mà. Thuốc lá và ly dị. Phì!’
Ông bạnh cằm, những ngón tay viêm khớp đan vào nhau đặt lên gối.
‘Vera và con đồng ý với nhau về chuyện này, ba à. Chúng con cho rằng Valentina sẽ tiếp tục hành hạ ba, chúng con lo cho sự an toàn của ba.’
‘Con có biết là khi Vera phát hiện ra thế nào là ly dị, nó đã cố thuyết phục Ludmilla ly dị ba không?’
‘Thật chứ?’ Đây là lần đầu tiên tôi nghe chuyện này. ‘Con cho rằng chị ấy không có ý như vậy. Con nít thì hay nói tùm lum mà.’
‘Nó muốn vậy đấy. Thật sự muốn vậy đấy. Cả cuộc đời nó luôn cố để Millochka và ba ly dị. Giờ thì ba và Valentina. Giờ tới phiên con nữa, Nadia.’
Ông ương bướng nhìn tôi. Tôi có thể thấy cuộc nói chuyện này sẽ chẳng đi tới đâu.
‘Nhưng ba à, ba sống với mẹ con hơn sáu mươi năm. Ba phải thấy là Valentina đâu có giống mẹ chút nào’
‘Rõ ràng là cô Valentina này thuộc về một thế hệ hoàn toàn khác. Không biết tí gì về lịch sử, kể cả lịch sử cận đại. Cô ta thuộc về cái thời đại mà người ta chỉ muốn chôn vùi quá khứ và bắt chước phương Tây. Để xây dựng nền kinh tế này, mọi người luôn phải mua những thứ mới. Nhu cầu mới phải được sinh ra cũng nhanh như ý tưởng cũ phải bị chôn vùi. Chính vì vậy cô ta luôn muốn mua những món đồ hiện đại. Đó không phải là lỗi của cô ta; đó là tâm lý thời hậu chiến mà.’
‘Nhưng ba à, cô ta không có lý do gì mà đối xử tệ với ba. Cô ta không thể hành hạ ba như vậy.’
‘Người ta luôn có thể tha thứ mọi chuyện cho một phụ nữ xinh đẹp.’
‘Ôi ba ơi! Làm ơn đi!’
Mắt kính của ông trễ xuống, nằm vẹo vọ một cách kỳ dị trên sống mũi. Mấy khuy áo sơ mi ở trên cùng không cài, để lộ những sợi lông trắng mọc lên quanh vết sẹo. Từ người ông tỏa ra mùi chua lòm lâu ngày không tắm rửa. Ông không giống Don Juan chút nào, nhưng không hề ý thức được điều đó.
‘Cái cô Valentina này, cô ta đẹp y như Milla, và cũng như Milla, cô ấy mạnh mẽ, nhưng trong bản tính tự nhiên lại có chút tàn nhẫn khác hẳn Ludmilla. Đó là đặc trưng của người Nga mà’
‘Ba à, làm sao ba có thể so sánh cô ta với mẹ được chứ? Làm sao ba có thể đặt tên cô ta và mẹ trong cùng một câu?’
Tôi không thể tha thứ cho sự phản bội của ông.
‘Ba làm mẹ khổ sở cả đời, và giờ thì ba chà đạp lên ký ức về mẹ. Vera nói đúng - lẽ ra mẹ phải ly dị ba từ lâu rồi mới phải.’
‘Khổ sở? Ký ức? Nadia, sao con lúc nào cũng muốn làm lớn chuyện thế? Millochka đã chết rồi. Buồn thật đấy, đương nhiên, nhưng chuyện đã là quá khứ rồi. Giờ là lúc phải bắt đầu cuộc sống mới, tình yêu mới.’
‘Ba, không phải con làm lớn chuyện, mà là ba đấy. Cả cuộc đời tụi con, cả cuộc đời mẹ, chúng con đã phải sống với những ý tưởng kỳ quặc và những trò hề của ba. Ba có nhớ mẹ đã bực thế nào khi ba mời tất cả đám Ukraina tới sống với chúng ta không? Ba có nhớ lần ba mua chiếc mô tô Norton mới trong khi mẹ cần máy giặt không? Ba có nhớ lần ba rời nhà và muốn bắt tàu lửa về Nga không?’
‘Nhưng lần đó không phải vì Millochka. Mà là vì con. Lúc đó con là một kẻ điên cuồng theo đuôi Trotsky.’
‘Con không theo đuôi Trotsky. Và nếu có đi nữa thì hồi đó con chỉ mới mười lăm tuổi thôi. Lúc đó ba đã là người lớn rồi mà.’
Đúng vậy, chính là vì tôi mà ông đòi bỏ nhà bắt tàu trở lại Nga. Ông xếp đồ vào chiếc va li bìa cứng màu nâu - chính là chiếc va li ông từng xách theo khi rời Ukraina - đứng trên sân ga ở trạm Witney. Tôi có thể tưởng tượng cảnh ông đi qua đi lại, lẩm bẩm một mình và thỉnh thoảng lại nôn nóng nhìn đồng hồ.
Mẹ phải tới đó năn nỉ ông.
‘Nikolai! Kolya! Kolyusha! về nhà đi nào! Kolka, anh đi đâu vậy?’
'Tôi đợi xe lửa đi Nga!’ Tôi tưởng tượng cái ngẩng đầu khoa trương của ba, đôi mắt tóe lửa của ba.
Đúng vậy, tất cả là lỗi của tôi. Tôi cùng bạn là Cathy chạy xuống căn cứ không quân Greenham Common năm 1962. (Tôi còn xuống một lần nữa năm 1981 nhưng đó là chuyện khác.) Chúng tôi tới đó để biểu tình phản đối kế hoạch triển khai bom khinh khí ở căn cứ hạt nhân nên bị bỏ tù. Chúng tôi mặc quần ống tuýp, đầu thắt khăn đủ màu, ngồi trên con đường mới được xây dựng. Tôi đang đọc cuốn De Bello Gallico[link=#id7]*[/link] của Julius Caesar (trong chương trình GCE)[link=#id8]*[/link] thì cảnh sát tới lôi từng người một đi. Đúng là tôi có thách thức chính quyền qua hành vi chống đối phi bạo lực, nhưng tôi vẫn là con gái ba tôi, và tôi đang làm bài tập tiếng Latin đấy chứ.
Có ai đó gảy đàn ghi ta và mọi người bắt đầu hát:
‘Bạn có nghe tiếng sấm bom khinh khí,
Nghe như tiếng vỡ òa diệt vong?
Chúng xé toang bầu trời,
Bụi phóng xạ rơi xuống đất chất thành lăng mộ’

Đúng vậy, tôi có thể nghe tiếng bom khinh khí nổ. Tôi có thể nhìn thấy bụi phóng xạ lấp lánh trong không khí, tôi có thể cảm nhận được màn mưa kỳ dị đang rơi xuống. Tôi thực sự tin rằng mình sẽ không thể sống mà lớn lên được nếu không tống khứ bom khinh khí đi. Nhưng tôi vẫn chơi trò nước đôi và tham gia các kỳ thi GCE.
Tất cả những người khác đều lớn hơn Cathy và tôi. Vài người để tóc dài và đi chân trần, mặc quần bò bạc màu và đeo kính đen. Những người khác ăn vận gọn gàng theo kiểu tín đồ phái giáo hữu cùng với giày chắc bền và áo len đan. Họ vẫn tiếp tục cất cao tiếng hát khi bị cảnh sát xốc tay nhấc chân tống vào xe tải chở hàng (có vẻ họ đã hết xe tù rồi). Cathy và tôi không hát - chúng tôi không muốn bị coi là ngớ ngẩn.
Một phòng xử án tạm bợ được mở ra ở trường tiểu học địa phương. Chúng tôi ngồi trong những chiếc ghế nhỏ xíu, lần lượt được gọi lên trước ghế dài. Mỗi người đều phát biểu về sự tồi tệ của chiến tranh và bị phạt 3 bảng, cùng với 2 bảng lệ phí xét xử. Khi đến lượt tôi, tôi không nghĩ ra thứ gì mới mẻ để nói nữa nên chỉ bị phạt 3 bảng (đỡ quá!) Tôi nói dối về số tuổi của mình vì không muốn ba mẹ tôi biết, nhưng cuối cùng họ cũng biết.
‘Kolya’ mẹ tôi van vỉ, ‘con bé chỉ là một đứa nhỏ ngốc nghếch thôi mà. Mình về nhà đi anh’
Ba tôi không nói gì nhưng vẫn nhìn chằm chằm dọc đường ray. Chuyến tàu tới sẽ đến trong bốn mươi phút nữa, đi tới Eynsham và Oxford chứ không phải đến Nga.
‘Kokyusha, đường đến Nga xa lắm. Nghe này, mình về nhà ăn gì trước đi đã. Em vừa nấu món xúp củ cải ngon lắm. Và món kotletki nữa - món kotletki anh thích nhất, với rau bina và đậu ngoài vườn cùng khoai tây nhỏ. về nhà ăn no bụng đã, rồi anh hẵng trở về Nga’
Cứ như vậy, vẫn còn lẩm bẩm tức giận, ông để mình bị dắt dọc theo con đường bùn lầy giữa hai hàng bụi gai và tầm ma, quay về căn nhà đá rửa nơi chúng tôi sống. Ông miễn cưỡng vục đầu xuống bát xúp bốc khói. Sau đó mẹ dỗ ông lên giường. Vậy là sau rốt ông không bỏ nhà ra đi nữa.
Thay vào đó, tôi bỏ đi. Tôi bỏ đến ở nhà Cathy. Gia đình Cathy sống trong một ngôi nhà thấp và dài bằng đá Cotswold ở White Oak Green. Căn nhà đầy sách, mèo và mạng nhện. Ba mẹ Cathy là trí thức cánh tả. Họ không cấm Cathy biểu tình mà còn khuyến khích bạn ấy. Họ nói về những chuyện lớn lao như nước Anh có nên gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu không hay ai tạo ra Chúa trời. Nhưng căn nhà lạnh lẽo, đồ ăn kỳ cục, ban đêm ngủ cứ bị mèo nhảy lên người. Sau vài ngày, mẹ cũng đến dỗ tôi về nhà.
Nhiều năm sau đó, tôi vẫn còn nhớ mùi nắng chiếu lên lớp nhựa đường mới trải ở Greenham Common và mùi ẩm mốc trong phòng ngủ của Cathy. Chỉ có hình bóng của ba tôi là mờ nhạt, cứ như một thứ gì đó mơ hồ nhưng có thực đã bị xóa đi, chỉ còn để lại dáng vẻ giận dữ. Ông ta là ai, người đàn ông mà tôi biết cả đời nhưng không hề hiểu chút nào?
‘Nhưng tất cả là quá khứ rồi, Nadia. Vì sao con lại có thiên kiến bảo thủ đến vậy với lịch sử cá nhân vậy?’
‘Bởi vì nó quan trọng, nó định nghĩa... nó giúp chúng ta hiểu... bởi vì chúng ta có thể biết được... Ô, con không biết.’
0

17.
Quý bà Di và chiếc Rolls-Royce

Valentina và Stanislav được tặng một con mèo. Họ gọi nó là Quý bà Di, đặt theo tên công nương Diana xứ Wales, người bọn họ hết sức ngưỡng mộ. Quý bà Di vốn là một con mèo nhà hàng xóm của bà Zadchuk, nó giống một con miu con hơn là một con mèo - và chẳng hề đẹp như vị công nương cùng tên. Nó có bộ lông đen chấm trắng, viền mắt hồng nhạt và cái lỗ mũi ươn ướt ửng hồng.
Quý bà Di (họ đọc là Qí bà De) vào nhà, cào nát tất cả những món đồ đạc mềm trong nhà. Sau vài tuần, mọi người mới biết nó là mèo đực chứ không phải mèo cái (mẹ tôi sẽ không bao giờ lầm tưởng như vậy). Nó bắt đầu đi tiểu khắp nơi. Giờ trong nhà có thêm mùi nước tiểu của con mèo đực hòa trộn với mùi táo chín rục, mùi thức ăn đông lạnh ăn dở bị rữa, mùi dầu thơm rẻ tiền và mùi hôi tỏa ra từ căn phòng kín bưng của một ông già. Không chỉ là chuyện mùi nước tiểu mà thôi. Chẳng ai dạy cho Quý bà Di biết đi vệ sinh đúng chỗ, và chẳng ai thèm dọn dẹp chỗ phân nó thải ra vào những ngày ẩm ướt khi nó tự nhận thấy mình quá cao sang không thể bước ra ngoài vườn.
Ba tôi, Valentina và Stanislav đều mê mẩn Quý bà Di với tài nhảy rất gọn lên rèm cửa, tài nhảy cao đến mét hai để bắt lấy một mẩu giấy treo tòng teng trên một sợi dây. Chỉ có tôi và Vera không thích nó, nhưng chúng tôi không sống ở đó, vậy đó đâu phải việc chúng tôi cần quan tâm đến?
Quý bà Di đã trở thành đứa con nuôi của bọn họ. Họ ngồi đó, nắm tay nhau cùng thưởng thức sự thông minh và vẻ mỹ miều của nó. Chắc chẳng bao lâu nữa nó sẽ được dạy cách chứng minh những định lý đầu tiên của Pythagore thôi.
○○○
‘Ba không chịu ly dị, Vera à. Họ ngồi đó, nắm tay nhau ồ à mơn trớn con mèo con hư hỏng ấy’
‘Thật quá lắm! Tôi đã bảo cô là phải nói bác sĩ chứng nhận ông ta bị khùng mà’ Bà Chị Lớn nói.
‘Valentina cũng nghĩ vậy đấy.’
‘Ờ thì cô ta đúng đó chứ, dẫu xấu xa nhưng vẫn đúng. Cô ta lại khiến ông già mê mẩn lần nữa, cho tới khi cô ta lấy được hộ chiếu. Đàn ông thật là ngu ngốc.’
‘Vera, toàn bộ câu chuyện chị muốn mẹ ly dị ba là thế nào?’
‘Cô muốn nói gì?’
‘Ba nói chị từng thuyết phục mẹ ly dị ba’
‘Vậy à? Tôi chẳng nhớ nữa. Thật không may là tôi đã không thành công.’
‘Dù sao thì điều đó cũng làm cho ba không chấp nhận được chuyện ly dị.’
‘Xem ra tôi phải đến gặp và nói chuyện với ba mới được.’
○○○
Tuy nhiên, có chuyện xảy ra làm ông thay đổi ý kiến. Một sáng nọ, ông gọi điện đến và bắt đầu lải nhải về một cái trục lăn roller lớn. Tôi đang vội đi làm nên nói ông hãy gọi lại sau. Nhưng cuối cùng ba tôi cũng nói thẳng ra.
‘Đó là cái roller nằm trên bãi cỏ ở vườn trước.’
‘Ba muốn nói gì? Cái roller nào cơ?’
‘Roller! Rolls Royce ấy!’
Valentina đã đạt tới ước vọng cao nhất về cuộc sống đầy mộng tưởng ở phương Tây - cô ả trở thành chủ nhân của một chiếc Rolls Royce. Đó là chiếc xe 4 lít mà Eric Pike bán cho cô ả với giá rẻ bèo là 500 bảng (ba tôi trả). Cô ả giờ đã có một chiếc Lada trong ga ra, một chiếc Rover trên lối xe và một chiếc Roller trên bãi cỏ. Không chiếc xe nào được kiểm định hay bảo hiểm. Cô ả vẫn chưa thi đỗ lấy bằng lái xe.
‘Tay Eric Pike này là ai vậy ba?’ Tôi nhớ đến mẩu giấy nhét trong ngăn tủ đựng vớ cùng miếng bánh kẹp giăm bông ăn dở.
‘À, một người rất thú vị đấy. Anh ta từng là phi công trong Không lực Hoàng gia. Phi công lái máy bay chiến đấu động cơ phản lực. Giờ anh ta bán xe cũ. Bộ ria của anh ta đẹp tuyệt.’
‘Anh ta thân thiết với Valentina lắm à?’
‘Không không. Ba không nghĩ vậy. Hai người họ chẳng có gì chung cả. Cô ấy đâu quan tâm gì đến máy móc, ngoại trừ xe cộ bóng bẩy. Thực ra chiếc xe đó cũng được lắm. Di sản của quý bà Glaswyne. Ba cho rằng nó được dùng làm xe nông trại nhiều năm, chở cỏ khô, cừu, phân bón, bất cứ thứ gì. Gần như là một chiếc máy kéo đấy. Giờ thì nó cần sửa chữa đôi chút.’
Mike phá lên cười khi anh nhìn thấy chiếc Roller. Nó đứng xiêu vẹo trên mặt cỏ ngay trước cửa sổ phòng khách trông chẳng khác nào con thiên nga gãy cánh. Có vẻ hệ thống giảm xóc đã tiêu đời. Chất lỏng màu nâu chảy ra từ gầm xe, đầu độc bãi cỏ. Lớp sơn từng là màu trắng giờ là một mảng chắp vá, chỗ này bị sơn đè lên, chỗ kia bị gỉ sét. Anh và ba tôi đi vòng quanh xe, vỗ chỗ này, gõ chỗ kia, rồi lắc đầu.
‘Cô ta muốn ba sửa lại nó’ ba tôi nhún vai bất lực, cứ như mình là chàng hoàng tử trong truyện cổ tích đứng trước thử thách tình yêu quá đáng của nàng công chúa xinh đẹp.
‘Con cho rằng không sửa được nữa đâu’ Mike nói. ‘Hơn nữa, mình có thể kiếm bộ phận thay thế ở đâu đây?’
‘Đúng vậy, cần thay thế vài chỗ, sau đó cũng chưa chắc là nó chạy được nữa’ ba tôi nói. ‘Thật đáng tiếc. Loại xe này lẽ ra phải dùng được mãi mãi, nhưng có lẽ nó bị tàn phá quá nhiều. Dù sao thì nó cũng rất đẹp...’
Vào đúng lúc đó, Valentina bước ra khỏi nhà. Giờ đang tháng Sáu, tiết trời ấm áp, nhưng cô ả vẫn mặc một chiếc áo lông to sụ vai-rộng chít-eo, tay đút túi theo kiểu diễn viên điện ảnh. Ả đã mập ra đến mức áo không cài lại được nữa. Trên cổ ả đeo sợi dây chuyền lấp lánh, trong ánh sáng lờ mờ thì có thể tưởng là kim cương. Stanislav mặc áo sơ mi cộc tay đi đằng sau xách túi cho mẹ.
Cô ả dừng lại khi thấy ba chúng tôi đứng trong vườn nhìn chằm chằm vào chiếc Roller của ả.
‘Chiếc xe đẹp đấy, phải không?’ cô ta hỏi tất cả chúng tôi nhưng mắt chỉ nhìn vào Mike chờ đợi.
‘Ừ, xe đẹp lắm’ Mike đáp, ‘nhưng có lẽ là dùng để trưng bày hay sưu tập chứ không phải để chạy.’
‘Chào Valentina’ tôi mỉm cười duyên dáng. ‘Trông cô thật quý phái. Cô ra ngoài à?’
‘Ừ’ Cộc lốc. Cô ả thậm chí còn không thèm quay sang nhìn tôi.
‘Cháu nghĩ sao, Stanislav? Cháu có thích chiếc xe không?’
‘Ô có chứ. Nó tốt hơn chiếc Zill.’ Nhe chiếc răng sứt. ‘Valentina muốn gì được nấy mà’
‘Xe không chạy’ ba tôi nói.
‘Ông sửa xe’ cô ả bật lại. Chợt nhớ ra là đang phải đối xử tốt với ông, ả cúi xuống vỗ vỗ má ông. ‘Quý ngài kỹ sư.’
Quý ngài kỹ sư ưỡn tấm thân lòng khòng oai vệ. ‘Rolls Royce không chạy. Lada không chạy. Chẳng bao lâu Rover cũng không chạy. Chỉ có cặp giò là chạy tốt. Ha ha.’
‘Sớm muộn gì ông cũng không chạy’ Valentina nói. Ả liếc nhìn tôi rồi cười khẽ như thể muốn nói ả chỉ đùa thôi.
Ả lái chiếc Rover chở Stanislav đi, để lại một đám khói và mùi khét nồng nặc. Trong lúc Mike và ba tôi vẫn miệt mài săm soi chiếc Roller, tôi vào nhà lật niên giám điện thoại. ‘Xin chào, có phải ông Eric Pike không?’
‘Tôi có thể giúp gì cho cô?’ Giọng nói vừa nhờn nhạn vừa xin xít, cứ như dầu máy bị cháy vậy.
‘Tôi là con gái của ông Mayevskyj. Ông vừa mới bán xe cho ba tôi.’
‘À, đúng rồi.’ Cười rin rít. ‘Chiếc Roller của Valentina. Di sản của Glaswyne, cô biết đấy.’
‘Ông Pike, sao ông có thể làm thế được? Ông biết chiếc xe đến chạy còn không nổi mà.’
‘À ừ, cô, à, bà à... Cô biết đấy, Valentina nói rằng chồng mình là một kỹ sư cừ khôi. Ngành hàng không. Cô biết đấy, tình cờ tôi cũng biết chút đỉnh về máy bay.’ Giọng nhờn nhọn xin xít trở nên đầy tâm sự. ‘Cô biết đấy, một số chuyên gia hàng đầu về hàng không trong thập kỷ 30 là người Ukraina. Sikorsky - phát minh ra trực thăng. Lozinsky - tham gia chế tạo chiếc MiG. Tôi từng thấy chúng hoạt động ở Triều Tiên. Nhỏ nhưng chiến đấu rất cừ. Do đó khi Valentina kể cho tôi nghe về chồng cô ấy, về chuyện ông ta hứa sẽ sửa được chiếc xe dễ dàng... Tin tôi đi, ban đầu tôi cũng nghi ngờ, nhưng cô ấy thuyết phục giỏi lắm. Cô biết con người của cô ấy mà.’
‘Ba tôi xem xét chiếc xe rồi, ông ấy nói là không sửa được. Có lẽ ông nên đem xe về và trả tiền lại cho ba tôi.’
‘Năm trăm bảng là một cái giá khá hời cho một chiếc Roller cổ đấy.’
‘Nhưng không phải cho một chiếc không chạy được.’
Đầu dây bên kia im thin thít.
‘Ông Pike, tôi biết rõ mọi chuyện. Tôi biết ông và Valentina dây dưa với nhau.’
Lại im lặng, rồi cách một cái. Tít tít tít, điện thoại cúp.
Quý bà Di rất thích chiếc Roller. Cửa sổ đằng sau phía ghế phụ không đóng sát được nên nó hay chui vào theo lối đó. Nó cũng mời cả bạn bè tới nữa, và bọn chúng tiệc tùng cả đêm trên ghế da xa hoa rồi phun một ít nước tiểu để đánh dấu lãnh địa. Bạn gái của Quý bà Di là một con mèo mướp ốm nhom nhút nhát. Con này nhanh chóng có bầu và rất khoái nằm cuộn tròn trên ghế tài xế, bấu vuốt vào lớp da mềm mại.
Tháng Sáu mà lại ẩm ướt khác lạ. Trời mưa mãi khiến bãi cỏ trở thành một biển bùn. Chiếc Roller lún xuống mỗi lúc một sâu, cỏ cây dại mọc um tùm xung quanh. Bạn gái của Quý bà Di sinh con trên ghế trước của chiếc Roller - bốn con mèo con - chưa mở mắt, mềm mại, chỉ biết kêu meo meo và vục đầu vào bầu sữa dúm dó của mẹ. Ba, Valentina và Stanislav mê tít và cố đem chúng vào nhà, nhưng con mèo mẹ cứ tha cổ từng con từng con một quay trở lại xe.
○○○
Không lâu sau khi đám mèo con ra đời, Vera đến thăm ba. Chị lái từ Putney trên chiếc Golf GT hở mui tả tơi, món quà tình yêu Big Dick tặng khi hai người vẫn còn yên ấm (đương nhiên lúc mới tặng thì nó không tả tơi như vậy). Chị tới vào giữa buổi chiều, lúc Stanislav và Valentina không có nhà, còn ba thì thiu thiu ngủ trên ghế bành với tiếng đài mở to hét cỡ. Ba thức dậy thì thấy chị đang đứng trước mặt. Ông bất giác kêu lớn, ‘Không! Không!’
‘Ôi làm ơn im đi, ba à. Tuần này tụi con có quá đủ kịch để coi rồi, cảm ơn ba nhiều’ Vera cắn cảu bật lại bằng giọng Bà Chị Lớn. ‘Này ba!’ Chị nhìn quanh cứ như Valentina đang nấp đâu đó trong góc nhà. ‘Cô ả đâu?’
Ba ngồi trên ghế bíu chặt lấy tay vịn, không nói tiếng nào.
‘Cô ả đâu hả ba?’
Ông bặm môi vẻ rất kịch, mắt nhìn thẳng về phía trước.
‘Ba à, làm ơn đi, con lái cả ngần ấy chặng đường từ Putney đến đây để vớt ba ra khỏi vũng bùn mà ba tự lao thân vào, thế mà ba còn không thèm cố nói với con câu nào sao.’
‘Cô bảo tôi im thì tôi im rồi đấy.’ Ông lại bặm môi ương bướng.
Bà Chị Lớn đảo quanh mọi căn phòng trong nhà, mở cửa đóng cửa rầm rầm. Chị thậm chí còn liếc qua nhà kho và nhà kính ngoài vườn. Rồi chị quay lại căn phòng ba đang ngồi. Ông chẳng hề nhúc nhích. Môi ông vẫn mím chặt.
‘Thật tình, Nadia à’ chị kể với tôi. Tôi có thể hiểu được vì sao Valentina lại tạt nước vào ba. Tôi muốn làm y hệt vậy. Tôi cho rằng ông ta đang muốn chứng tỏ mình thông minh thế nào’ Tôi không nói gì. Môi tôi mím chặt. Tôi đang cố nhịn cười. ‘Đương nhiên dụ ba nói chuyện thì cũng dễ dàng thôi. Tôi chỉ hỏi ba về Korolev và chương trình đi vào vũ trụ’
‘Cuối cùng thế nào? Chị có gặp Valentina không?’
‘Nhưng tôi nghĩ cô ả khá tuyệt đấy. Rất... sôi nổi.’
Hẳn nhiên là Bà Chị Lớn và Valentina bắt cạ với nhau rất nhanh. Valentina ngưỡng mộ phong thái và điệu bộ của Vera. Vera thì ngưỡng mộ sức quyến rũ và sự tàn nhẫn của Valentina. Cả hai người họ thống nhất quan điểm rằng ba là một người thảm hại, điên khùng và đáng khinh bỉ.
‘Nhưng những móng tay son màu hồng đào óng ánh thì sao? Đôi dép cao gót hở ngón thì sao? Chiếc Roller trên bãi cỏ nữa?’
‘À ừ. Thì đương nhiên ả ta là một con điếm. Và là một tên tội phạm. Nhưng dù sao tôi vẫn rất ngưỡng mộ cô ả’
Trái tim tôi chìm xuống. Tôi đã trông đợi cuộc chạm trán này biết bao: luận điệu hôn nhân Zadchuk chống lại bà Chuyên Gia Ly Dị; cặp súng phóng tên lửa xa tanh màu xanh lá đấu với túi xách Gucci. Tôi trước giờ toàn trông cậy rằng Bà Chị Lớn sẽ đánh bại Valentina. Nhưng giờ tôi mới nhận ra về một số mặt, hai người này cùng một giuộc.
Tội nghiệp ba. Em biết ba có hơi kỳ quặc một chút, nhưng em không nghĩ ba đáng khinh bỉ’
‘Hãy nhìn những rắc rối mà ông ta gây ra cho mọi người - cho chúng ta, cho chính quyền và cho cả Valentina nữa. Cuối cùng thì ả ta sẽ nhận ra nên tìm ai khác để bấu víu là hơn cả. Nếu ba chịu nói không ngay từ đầu thì tốt quá rồi. Ông ta nghĩ mình đủ sức sánh đôi với một con đàn bà đĩ thõa ba mươi sáu tuổi. Như vậy không gọi là đáng khinh thì cái gì mới là đáng khinh đây?’
‘Nhưng ả dắt mũi ba. Ả nịnh nọt ba. Ả làm ba cảm thấy mình còn trẻ trung và hấp dẫn.’
‘Ông ta để mình bị nhận chìm trong những lời nịnh nọt vì trong lòng ông ta luôn nghĩ mình hơn người. Ba cho rằng mình đủ thông minh để qua mặt cả chính phủ. Đây đâu phải lần đầu tiên ba giở trò đâu’
‘Chị muốn nói gì?’
‘Cô không biết nhiều chuyện lắm, Nadia à. Cô có biết ông ta suýt nữa đã hại bà Sonia bị đày đi Siberia không?’
‘Em nhớ ba có kể cho em một chuyện về những người Ukraina tiên phong trong ngành thiết kế hàng không. Em cũng nhớ mẹ có kể vì sao bà Sonia bị gãy hết hàm răng cửa’
○○○
Sau khi tốt nghiệp Viện Hàng không Kiev năm 1936, ba tôi muốn tới đại học Kharkiv, nơi Lozinsky và các đồng sự đang tiến hành những nghiên cứu tiên phong phát triển động cơ phản lực. Nhưng thay vào đó, ông được gửi về phía Đông tới Perm, dưới chân dãy Ural, để dạy ở một trường huấn luyện lực lượng hàng không Xô viết. Ba ghét Perm: đầy nhóc đám lính say rượu; đời sống văn hóa tinh thần nghèo nàn; cách nhà hàng ngàn dặm; xa cách Ludmilla đang mang thai đứa con đầu lòng hàng ngàn dặm. Nhưng làm thế nào để được chuyển về nhà? Nikolai nghĩ ra một kế hoạch tinh ranh. Ông làm mình bị loại vì lý do an ninh. Trên một tờ đơn trong đống đơn phải điền, ông khai là mình đã lấy một kẻ thù của nhân dân. Để thân thế của mình trở nên đáng ngờ hơn, ông chế ra một người anh không có thật của Ludmilla, một tên khủng bố phản cách mạng sống ở Phần Lan đang tìm cách lật đổ chính quyền Xô viết.
Chính quyền bắt được tin thì mừng không sao tả xiết. Đương nhiên là họ muốn tìm hiểu thêm về ông anh phản cách mạng này. Họ bèn bắt giữ bà Sonia, tra tấn và đánh đập bà tàn bạo trong mấy ngày liền. Đứa con trai trưởng này đang ở đâu? Vì sao trong giấy tờ của bà không nhắc đến anh ta? Bà còn giấu giếm điều gì khác nữa? Có phải bà, cũng như người chồng quá cố, là kẻ thù phản bội nhân dân hay không?
Sonia Ocheretko từng may mắn thoát nạn vào năm 1930 khi chồng bà bị bắt giữ rồi bị xử tử. Nhưng hồi đó mới chỉ nổi lên lớp sóng ngầm đầu tiên của đợt thanh trừng. Đến năm 1937, số lượng người bị bắt giữ tăng lên. Giờ thì xử tử là quá khoan hồng cho đám kẻ thù của dân tộc - chúng phải bị gửi đến Siberia để lao động cải tạo.
Bà Shura đứng ra giúp đỡ Sonia, và kể với viên thanh tra chuyện khi còn là bác sĩ tập sự bà đã đi đến Novaya Aleksandria năm 1912 để đỡ đẻ cho đứa con đầu tiên của em gái Sonia, tức là Ludmilla mẹ tôi. Bà ký giấy tuyên thệ rằng Ludmilla là đứa con đầu tiên của Sonia Ocheretko. Nhờ chồng Shura là bạn của Voroshilov nên mọi chuyện được thu xếp ổn thỏa.
Sonia tuy sống sót nhưng không bao giờ bình phục trở lại sau sáu ngày thẩm vấn. Trán bà chi chít sẹo phía trên mắt, hàm răng cửa của bà bị gãy hết. Dáng đi của bà vốn nhanh nhẹn và uyển chuyển giờ lê lết khó nhọc, mắt bà lúc nào cũng chớp chớp sợ hãi. Tinh thần của bà suy sụp.
○○○
‘Đương nhiên bà Shura tống ba ra khỏi cửa sau chuyện đó. Họ không biết đi đâu nên đành quay lại ở chung trong căn hộ của bà Sonia. Hành động của ba thật sự không thể nào tha thứ được’
‘Nhưng bà Sonia đã tha thứ cho ba’
‘Bà tha thứ là vì mẹ thôi. Nhưng mẹ không bao giờ tha thứ cho ba’
‘Cuối cùng thì mẹ cũng tha thứ đó thôi. Mẹ sống chung với ba hơn sáu mươi năm mà’
‘Mẹ sống với ba chỉ vì chúng ta mà thôi. Vì cô và tôi, Nadia ạ. Mẹ thật đáng thương.’
Tôi tự hỏi - chuyện này có đúng hay không? Hay Vera chỉ áp đặt cái nhìn u ám của mình vào quá khứ?
‘Nhưng Vera à, vậy nghĩa là chị sẽ ngồi yên để mặc Valentina hành hạ ba à? Lấy hết tiền của ông? Thậm chí còn giết ông nữa?’
‘Không, đương nhiên là không. Thật tình, Nadezhda à, tôi thật không hiểu vì sao cô lại có thể muốn tôi ngồi yên mà không làm gì trong tình cảnh thế này. Vì mẹ, chúng ta phải bảo vệ ông ta. Dù vô dụng nhưng ông ta vẫn là người thân của mình. Chúng ta không thể để ả ta thắng được.’
(Vậy là Bà Chị Lớn vẫn còn trong vòng chiến!)
‘Vera, sao ba cứ mãi trách chị vụ hút thuốc vậy? Ba ghét thuốc lá lắm’
‘Thuốc lá? Ba nói với cô về thuốc lá à?’
‘Ba nói chị bị ám ảnh về chuyện ly dị và thuốc lá.’ ‘Ông ta còn nói gì nữa?’
‘Chỉ thế thôi. Vì sao thế?’
‘Quên đi. Quan trọng gì chứ’
‘Đương nhiên là quan trọng rồi.’
‘Nadia, vì sao cô lúc nào cũng đi bới móc quá khứ vậy?’ Giọng chị căng thẳng, cáu kỉnh. ‘Quá khứ bẩn thỉu. Như cống rãnh vậy. Cô đừng có chơi đùa ở đó. Để nó yên. Quên nó đi’
0

18.
Thiết bị nghe lén từ xa

Valentina nhận được thiệp mời đám cưới của bà chị ở Selby. Cô ả đưa thiệp cho ba tôi xem, vung vẩy trước mũi ông với hàng tràng những lời châm chọc rủa xả. Lá thư của bà chị mô tả người-chồng-tương-lai là một bác sĩ, bốn mươi chín tuổi, đã lập gia đình (đương nhiên là đã ly dị vợ) với hai đứa con còn đi học (ở trường tư) và một căn nhà ngon lành có vườn rộng và gara đủ cho hai xe đậu. Bà vợ ngực teo gây đủ trò nhưng ông chồng đã quá say đắm vào lưới tình nên cũng giải quyết được hết.
Trong ga ra hai chỗ có một chiếc Jaguar và một chiếc Renault. Jaguar thì tốt đấy, Valentina nói, nhưng không bằng Rolls Royce. Renault thì tốt hơn Lada một chút. Dù sao chăng nữa, lá thư của bà chị đã nhóm lên ngọn lửa bất mãn trong lòng Valentina về một ông chồng vô-dụng nhiều-tiền-nhưng-keo-kiệt và cuộc-sống-hạng-hai mà ông ép ả phải sống.
Trong lúc ba tôi lắp bắp kể chuyện qua điện thoại, thỉnh thoảng lại dừng lại ho liên hồi, tôi bất giác liếc nhìn sang Mike, ngồi gác chân với một ly bia trong tay, đang xem tin tức trên kênh Channel Four News. Anh nhìn thật đàng hoàng, tử tế, tuy tóc đã điểm bạc, bụng bắt đầu hơi phệ nhưng vẫn còn đẹp trai lắm, thật đáng yêu, thật ra dáng một người chồng. Nhưng... một tia lo lắng thoáng qua trong đầu tôi.
Đàn ông có phải cùng một giuộc không?
Và bây giờ, sau một đợt ho dữ dội, ba tôi mới đi vào nội dung chính của cú điện thoại. Valentina đòi hỏi thêm tiền và ông phải bán đi một ít tài sản. Nhưng ông có tài sản gì chứ? Chỉ còn mỗi căn nhà thôi. À! Đằng sau nhà là một khoảnh đất rộng chẳng để làm gì. Ông có thể bán được. (Ông đang nói về khu vườn của mẹ!)
Ba đã thỏa thuận với người hàng xóm, và người này đồng ý mua với giá ba ngàn bảng.
Tim tôi đập thình thịch, mắt tôi mờ đi vì tức giận khiến tôi hầu như không thể trông thấy gì, nhưng tôi vẫn cố giữ giọng bình tĩnh.
‘Đừng vội làm gì cả, ba à. Đâu có gì gấp rút chứ. Có thể ông-anh-vợ-tương-lai này cũng là một tên keo kiệt thì sao. Hơn nữa, ông ta còn phải nuôi bà vợ trước và hai đứa con học trường tư nữa chứ. Có thể người vợ sẽ lấy chiếc Jaguar và bà chị gái kia chỉ còn lại chiếc Renault. Có lẽ Valentina sẽ nhận ra mình may mắn đến chừng nào. Cứ đợi xem đã’.
 
‘Hừm’
 
Còn về việc bán mảnh vườn của mẹ - hàm tôi nghiến chặt đến mức tôi không thể bật ra được lời nào qua kẽ răng - thì phức tạp hơn ta tưởng nhiều. Giấy tờ sở hữu bị thu hồi. Phần lớn số tiền bán đất có thể rơi vào tay luật sư. Và cái giá của nhà hàng xóm nữa, ồ, quá bèo. Nếu ba có được giấy phép xây dựng một căn nhà khác ở đó thì giá khu đất phải tăng gấp mười lần ấy chứ. Cứ tưởng tượng Valentina sẽ vui sướng thế nào đi. (Nhưng xin được giấy phép xây dựng thì cũng còn khướt.)
Vậy ba có muốn tôi hỏi luật sư không? Có muốn tôi hỏi hội đồng thành phố về giấy phép xây dựng không? Tôi có nên cho Vera biết không?’
‘Hừm, luật sư thì được. Hội đồng thì được. Vera thì không.’
‘Nhưng rất có thể Vera sẽ biết được. Cứ nghĩ xem chị ấy sẽ buồn’ (ba hiểu tôi muốn nói là phát khùng) ‘đến mức nào’
○○○
Vera quả nhiên biết được tin này. Chính tôi cho chị biết. Chị vừa buồn vừa phát khùng.
Chị chạy xe hai tiếng từ Putney đến Peterborough. Chị vẫn còn mang dép trong nhà khi tới nơi (một sự cẩu thả bất thường). Chị hùng hổ thẳng tiến sang nhà hàng xóm (một căn nhà xấu xí bắt chước phong cách vương triều Tudor, lớn hơn nhà ba mẹ tôi nhiều), đập cửa ầm ầm và đấu tay đôi với ông hàng xóm. (‘Giá như cô nhìn thấy mặt ông ta lúc đó.’) Người hàng xóm, một nhà buôn về hưu hiện là tay làm vườn tập sự đang theo học chăm sóc cây tại trường Leylandii, co rúm người trước đợt tấn công của chị.
Tôi chỉ định giúp đỡ thôi. Ba cô nói là ông ấy gặp khó khăn về tiền nong’
‘Ông giúp đỡ cái quái gì. Ông chỉ đang làm mọi chuyện tệ hơn thôi. Đương nhiên là ông ấy túng tiền rồi, vì con vợ hút máu đấy. Lẽ ra ông nên để ý nhắc nhở ông ấy, chứ sao lại khuyến khích ông ấy. Ông là láng giềng kiểu gì vậy?’
Bà vợ ông ta nghe tiếng cãi cọ bèn bước ra cửa, áo len chui cổ và áo khoác cài cúc tiệp màu, cổ đeo ngọc trai, tay cầm ly gin & tonic (chính những người hàng xóm này đã làm nhân chứng cho bản phụ lục di chúc của mẹ.)
‘Chuyện gì vậy Edward?’
Edward giải thích. Bà vợ nhướng mày.
‘Giờ em mới biết chuyện này đấy. Em tưởng mình để dành tiền để đi du lịch chứ, Edward’ Sau đó bà ta quay sang Vera. ‘Chúng tôi cũng lo cho ông Mayevskyj lắm, chỉ là không muốn nhúng mũi vào chuyện người khác thôi. Phải không Edward?’
Edward vừa gật vừa lắc. Vera cần giữ họ làm đồng minh nên dịu giọng.
‘Tôi chắc đây chỉ là chuyện hiểu lầm thôi.’
‘Ừ, hiểu lầm thôi.’
Edward tóm ngay phao cứu sinh và lùi lại sau lưng bà vợ. Bà ta giờ đã bước ra thế chỗ ông chồng trên bậc cửa.
‘Cô ta không phải là một phụ nữ đáng trọng’ bà ta nói. ‘Cô ta tắm nắng trong vườn, mặc... mặc...’ Bà ta quay lại liếc chồng một cái rồi thì thầm, ‘Tôi thấy ông ta nhìn lén qua cửa sổ trên lầu. Và một chuyện khác nữa’ bà ta tiết lộ, ‘tôi nghi là cô ta ngoại tình. Tôi có thấy một người đàn ông...’ - bà ta trề môi - ‘... gọi điện cho cô ta từ trong xe. Hắn ta đậu dưới cây tần bì, nơi ông Mayevskyj không thể nhìn thấy được từ cửa sổ, bấm còi và đợi cô ta. Cô ta chạy ra, ăn mặc điệu đà hết chỗ nói. Theo kiểu mẹ tôi hay gọi là mặc áo choàng lông mà không mặc quần lót ấy.’
‘Cảm ơn vì đã kể chuyện này cho tôi biết’ Vera nói. ‘Bà đã giúp chúng tôi rất nhiều.’
○○○
Chắc Valentina đã nhìn thấy xe của Vera, vì ả đứng chặn sẵn ở ngay cửa, tay chống hông, sẵn sàng chiến đấu. Ả nhìn Vera từ đầu đến chân. Mắt ả dừng lại một thoáng trên đôi chân mang dép của Vera, rồi nhích mép cười khinh miệt. Vera cũng nhìn xuống. (‘Đến lúc ấy tôi mới nhận ra là mình quên thay giày.’) Valentina đang mang một đôi giày cao gót, kiểu giày này khiến cặp đùi to đùng trần trụi của ả phồng lên chẳng khác nào bắp tay của võ sĩ quyền Anh.
‘Cô sang nhà bên cạnh làm gì, đồ nhiều chuyện?’ Valentina hỏi.
Vera lờ tịt, đẩy cô ả qua một bên rồi xông vào bếp. Căn bếp đầy hơi nước, cửa sổ mờ hẳn đi. Bồn nước còn một đống chén bát chưa rửa, không khi thoảng mùi hôi ghê tởm. Ba tôi lấp ló ngay cửa, mặc chiếc quần yếm công nhân màu xanh biển, hai sợi dây quần bắt chéo qua tấm lưng còng trơ xương của ông.
‘Con vừa nói chuyện với hàng xóm xong, ba à. Họ không còn muốn mua khu vườn của mẹ nữa đâu’
‘Vera, con làm vậy để làm gì? Sao không để cho ba yên?’
‘Nếu con để ba một mình thì con kền kền này sẽ rỉa sạch gan của ba đó.’
‘Đại bàng. Đại bàng.’
‘Đại bàng? Ba đang nói cái gì thế?’ (‘Nadia à, thật tình tôi cứ tưởng ba đã mất trí hẳn rồi chứ.’)
‘Đại bàng rỉa gan của Prometheus vì anh ta đã đem lửa cho loài người.’
‘Ba à, ba không phải là Prometheus, ba chỉ là một lão già lãng trí đáng thương đã đâm đầu vào miệng con sói cái này bởi chính sự ngu ngốc của mình...’
Valentina mặt hầm hầm đứng nghe nãy giờ, đến khúc này thì ả gầm lên, gập hai cánh tay đẩy mạnh vào ngực Vera. Vera loạng choạng lùi lại nhưng không ngã.
‘Valya, làm ơn đi, đừng bạo lực thế’ ba tôi van vỉ, cố chen vào giữa hai người. Việc này quá sức đối với ông.
‘Đồ gậy già mềm nhũn chó-ăn-mất-não, ông vào phòng, ông câm miệng’ Valetina cũng đẩy ba một cái, ông loạng choạng dựa vào khung cửa Mike lắp, lom khom đứng đó. Valentina lấy chìa khóa từ trong túi ra và vung vẩy nó trước mũi ba.
‘Tôi có chìa khóa phòng, ha ha, tôi có chìa khóa phòng!’
Ba tôi giơ tay muốn giật lại chiếc chìa khóa nhưng cô ả giữ nó ngoài tầm với của ông.
‘Ông cần chìa khóa làm gì?’ ả mỉa mai. ‘Ông vào phòng. Tôi khóa cửa.’
‘Valya, làm ơn đưa chìa đây!’ Ông hơi nhảy chồm lên, thật thảm bại, cố giật lấy chiếc chìa khóa nhưng bị ngã ra sau với một tiếng nức nở.
Vera cũng cố giật lại giúp ông - ‘Sao cô dám!’- nhưng Valentina đẩy chị ra.
‘Tôi có máy ghi âm!’ Vera hét lên. ‘Tôi sẽ ghi lại làm bằng chứng những hành động phạm tội của cô!’
Chị lấy chiếc máy ghi âm ra khỏi túi xách (chị thật đáng khâm phục!), bật nó lên và giơ cao trên đầu Valentina.
‘Nào, Valentina, vui lòng đưa chìa khóa phòng lại cho ba tôi, cố cư xử bình tĩnh và có văn hóa nào’ chị nói bằng giọng ra lệnh rõ ràng. Chị cao hơn Valentina, nhưng Valentina lại có lợi thế nhờ giày cao gót. Ả giật lấy máy ghi âm, lẽ ra ả lấy được rồi nhưng vào đúng lúc đó, ba tôi tóm được chiếc chìa khóa ở tay bên kia của ả khiến ả bị xao lãng. Bị hai bên tấn công, ả rú rít rồi nhảy vọt lên không trung (‘Cứ y như trong mấy bộ phim Kung Fu mà Dick hay xem vậy’) rồi rơi bịch xuống đất, một gót giày cao gót của ả dẫm vào bàn chân mang dép của Vera, gót giày còn lại đập vào ống chân ngay dưới đầu gối của ba tôi. Ba tôi và Vera oằn người lại. Chiếc máy ghi âm tuột khỏi tay, trượt trên mặt sàn xuống gầm bếp. Vera cúi người lấy máy ghi âm. Valentina đẩy ba tôi qua cửa phòng ông, giật chìa khóa khỏi tay ông rồi khóa cửa lại. Vera nhảy đè lên Valentina, co kéo, vặn tay - cả hai người họ giờ đều đang nằm trên sàn - cố lấy lại chìa khóa từ tay ả, nhưng Valentina khỏe hơn, ả nắm chặt chìa khóa trong tay, giấu ra sau lưng rồi lôi mình đứng dậy. Vera thua trận, vung vẩy máy ghi âm:
‘Tôi ghi lại mọi chuyện rồi! Tất cả những điều cô nói đều được ghi lại!’
‘Tốt!’ Valentina nói, ‘đây là điều tôi muốn nói: đồ hồ ly tinh chó cái ngực lép. Cô không có vú, cô ghen tị.’ Ả dùng hai tay nâng ngực lên, ép chúng lại với nhau một cách thô bỉ, miệng làm bộ hun chụt chụt. ‘Đàn ông thích vú bự. Ba cô thích vú bự’
‘Làm ơn mà Valentina’ Vera nói, ‘tự kiềm chế đi. Không cần nói chuyện bẩn thỉu thế đâu.’
Nhưng chị biết là chị đã bị đánh bại. Chị vẫn ngẩng cao đầu nhưng trái tim trĩu nặng nỗi tủi nhục.
Ở bên kia cánh cửa khóa kín, ba tôi cào vào tường, thút thít như một con chó vừa bị ăn đòn.
○○○
‘Ô Vera! Chị đã cố hết sức rồi. Chị thật tuyệt vời. Một nữ anh hùng. Chị có cuộn băng ghi âm ở đó không?’
‘Trong máy chẳng có cuộn băng nào. Chỉ là dọa suông thôi. Chứ tôi còn làm gì khác được nữa?’
Sau đó, trước khi ra ngoài, Valentina mở khóa phòng cho ba nhưng vẫn giữ chìa khóa.
Ba tôi lại tiểu trong quần lần nữa.
‘Ông chẳng dừng lại được. Lẽ ra ông không nên mặc quần yếm.’
‘Ô, ba dừng lại được chứ - đương nhiên là không phải dừng đái dầm, mà là dừng mê muội. Ông ta bám rịt lấy cô ả, không kể gì đến lý lẽ - hứng khởi, huy hoàng biết bao. Ông ta vẫn bảo vệ ả trước mặt tôi mà, cô biết đấy.’
‘Em biết’
‘Và cô biết tôi tìm ra thứ gì khác không? Nối với ổ điện dưới gầm giường của ông là một thiết bị nghe lén từ xa’
‘Trời đất, ba cần nó làm gì?’
‘Là cô ả cần, không phải ba. Một chiếc khác cắm trong phòng cô ả trên lầu. Nó cho phép cô ả nghe được mọi chuyện ba nói trong phòng’
‘Bộ ba hay nói chuyện một mình lắm hả?’
‘Không, ngốc ạ, những khi ông ấy nói chuyện điện thoại với chúng ta.’
‘À.’
0

19.
Lưỡi cày đỏ

Tôi cho rằng chính cái máy nghe lén đó đã làm nên điều tuyệt vời này. Ông chấp nhận ly dị. Tôi có nhiệm vụ tìm một luật sư thích hợp - ai đó có tiếng nói đủ mạnh mẽ để chống lại đội ngũ luật sư miễn phí của Valentina, ai đó sẽ bảo vệ ba tôi tới cùng, chứ không phải chỉ làm cho có lệ rồi nhận tiền công.
‘Đừng chọn thằng nhóc mà tôi từng gặp để bàn về vụ hủy hôn. Hắn là đồ vô dụng’ bà Chuyên Gia Ly Dị nói. Phải chọn một phụ nữ - cô ta nhất định sẽ phẫn nộ trước chuyện này. Đừng chọn mấy hãng luật lớn, vì bọn họ sẽ giao những vụ án nhỏ cho đám tập sự. Cũng đừng chọn mấy hãng quá nhỏ vì họ không có kinh nghiệm’
Tôi đi tới đi lui dọc theo những con phố trong khu luật sư ở Peterborough, nhìn vào tên khắc trên các tấm bảng bằng đồng. Có thể nhìn tên đoán người được chăng? Chẳng dễ gì. Nhưng tôi đã tìm được luật sư Laura Carter bằng cách này.
Lần đầu tiên gặp mặt, suýt chút nữa là tôi đứng dậy đi ngay ra khỏi phòng. Tôi chắc chắn là mình đã lầm. Cô luật sư có vẻ quá trẻ, quá dễ mến. Làm sao tôi có thể kể cho cô nghe về vụ mân mê bầu ngực, làm tình bằng miệng, hay vụ mềm mụp ướt nhẹp được chứ? Nhưng tôi đã lầm - cô Carter là một con cọp cái, một con cọp cái tóc vàng, mắt xanh có sống mũi thanh của một cô gái Anh quyến rũ. Trong lúc kể rõ sự tình, tôi thấy mũi cô phập phồng vì giận dữ. Cho tới khi tôi nói xong, thì cô hoàn toàn điên tiết.
‘Ba của bà đang gặp nguy hiểm. Chúng ta phải đuổi cô ả ra khỏi nhà càng sớm càng tốt. Chúng ta sẽ nộp đơn xin lệnh huấn thị của tòa ngay, đồng thời xin ly dị luôn thể. Ba chiếc xe là bằng chứng tốt. Mẩu tin nhắn của Eric Pike cũng vậy. Chuyện xảy ra ở bệnh viện là chứng cứ tuyệt vời cho chúng ta, vì nó diễn ra ở chốn công cộng nên có nhiều người làm chứng. Đúng vậy, tôi cho rằng chúng ta sẽ lo xong ổn thỏa trước lần kháng cáo ra tòa của ả ta vào tháng Chín.’
Lần đầu tôi dẫn ba đến gặp cô Carter ở văn phòng, ông bận bộ vest đám cưới đã tả tơi và chiếc áo sơ mi trắng dùng chỉ đen để đính cúc. Khi cô đưa tay ra chào, ông cúi gập người xuống theo kiểu Nga cổ thấp đến mức suýt ngã. Cô Carter có ấn tượng rất tốt về ba.
‘Đúng là một quý ông dễ thương’ cô thì thầm với tôi bằng giọng Anh chuẩn mực. ‘Lợi dụng ông cụ đúng là đáng xấu hổ’
Tuy nhiên ba tôi lại có phần ngần ngại. Ông kể với Vera qua điện thoại.
‘Trông như một đứa trẻ ranh vậy. Cô ta biết được cái gì chứ?’
‘Ba thì biết cái gì mà nói?’ Bà Chị Lớn bật lại. ‘Nếu ba biết chuyện thì đâu bị rơi vào đám hổ lốn này.’
Cô Carter cũng giải thích cho tôi rõ bí ẩn đằng sau chiếc máy photocopy xách tay và tờ thư hẹn khám bệnh không đến tay ba tôi.
‘Có lẽ cô ả muốn chứng minh ba của bà yếu bệnh, không đủ sức khỏe để tham dự phiên tòa. Cũng có thể cô ả muốn tìm bằng chứng chứng tỏ đầu óc của ông cụ không được minh mẫn - đãng trí, không biết mình đang làm gì.’ ‘Còn dịch thơ tình ra tiếng Anh thì sao?’
‘Để cho thấy đây là một tình yêu thực sự.’
‘Đồ hồ ly tinh xảo quyệt!’
‘Ồ, tôi cho rằng chính luật sư của cô ả đã chỉ cho ả làm như vậy.’
‘Luật sư mà lại đi làm những chuyện như thế hay sao?’
Cô Carter gật đầu. ‘Còn tệ hơn thế nữa kìa.’
Giờ đã là giữa tháng Bảy, và vụ kháng cáo vào tháng Chín tưởng chừng còn xa tít tắp giờ đột nhiên sát lại gần. Cô Carter thuê một thám tử tư đến giao giấy đòi ly dị.
‘Chúng ta phải bảo đảm đơn xin ly dị được đưa tận tay cho cô ả. Nếu không ả có thể sẽ nói mình chưa nhận được’
Vera tình nguyện có mặt ở nhà ba vào ngày hôm đó, nhằm bảo đảm Valentina tận tay nhận đơn ly dị. Lúc này có những việc phải làm mà chị không muốn bỏ lỡ. Ba tôi khăng khăng bảo chị không cần tới làm gì, rằng dù sao ông cũng là một người trưởng thành và đủ thông minh để giải quyết chuyện này một mình; nhưng ông không cãi nổi lại chị. Cái bẫy đã được bày sẵn.
Vào đúng giờ đã định, viên thám tử tư, một người đàn ông cao, da ngăm đen, mặt lún phún râu với vẻ ngoài bí hiểm xuất hiện trước nhà và đập cửa ầm ầm.
‘Ô, chắc là nhân viên bưu điện rồi!’ Vera kêu lên. Chị thức dậy từ sáu giờ sáng, nôn nóng muốn được chứng kiến cảnh này. ‘Chắc là giao hàng cho cô đó, Valentina.’
Valentina chạy nhanh ra cửa. Cô ả đang dở tay rửa chén bát nên vẫn còn mặc tạp dề diêm dúa và đeo găng cao su vàng.
Viên thám tử tư ấn phong bì vào tay ả. Valentina không hiểu.
‘Giấy ly dị? Tôi đâu có muốn ly dị.’
‘Không’ viên thám tử tư nói, ‘người đứng đơn là ông Nikolai Mayevskyj. Ông ấy muốn ly dị bà.’
Ả sững sờ đứng đó một hồi. Rồi ả vỡ òa giận dữ.
‘Nikolai! Nikolai! Cái gì đây?’ ả gào vào mặt ba tôi. ‘Nikolai, ông là đồ-chết-dẫm điên khùng não-bị-chó-ăn!’
Ba tôi khóa cửa nhốt mình trong phòng rồi bật radio to hét cỡ.
Ả quay phắt lại định làm cho ra lẽ với viên thám tử tư, nhưng ông này đã đóng rầm cửa chiếc BMW đen lại rồi lái vút đi. Ả quay sang Vera.
‘Cô đồ-phù-thủy-ăn-thịt-người đồ-hồ-ly-tinh-mèo-cái-chó-cái!’
‘Xin lỗi Valentina’ Bà Chị Lớn trả lời, giọng bình tĩnh ôn hòa (chị khoe với tôi), ‘nhưng vậy là đáng đời cô. Cô không thể tới đất nước này lừa gạt người ta hoài được, dù người ta có ngu đến mức nào chăng nữa.’
‘Tôi không lừa! Cô lừa! Tôi yêu ba cô! Tôi yêu!’
‘Đừng ngớ ngẩn nữa, Valentina. Giờ đi gặp luật sư của cô đi.’
○○○
‘Ô Vera, tuyệt quá! Mọi chuyện êm thấm chứ?’
Nếu tôi có cảm thấy chút bùi ngùi cho cô ả Valentina hoang mang bị gài bẫy thì đó chỉ là cảm giác lướt qua. ‘Cho tới giờ vẫn ổn’, bà Chuyên Gia Ly Dị đáp.
○○○
Nhưng luật sư của Valentina cũng có tuyệt chiêu riêng mà cô Carter không ngờ tới. Trong ngày xử đầu tiên, cô Carter yêu cầu tòa xem xét việc đuổi Valentina ra khỏi nhà. Cả tôi lẫn chị đều không tới được nên chỉ nghe Laura tường thuật lại. Cô và ba tôi đến tòa sớm. Thẩm phán tới. Valentina và Stanislav tới. Viên thẩm phán bắt đầu buổi xét xử. Valentina đứng dậy.
‘Tôi không hiểu tiếng Anh. Tôi phải cần phiên dịch’
Cả tòa án ngạc nhiên. Thư ký chạy qua chạy lại, gọi điện khắp nơi. Nhưng không tìm được nguời phiên dịch nào biết tiếng Ukraina. Thẩm phán tạm hoãn phiên tòa, và định ngày xét xử khác. Chúng tôi mất đứt hai tuần.
‘Ôi, phiền quá!’ cô Carter nói. ‘Lẽ ra tôi phải tính trước vụ này.’
Vào đầu tháng Tám, mọi người lại tới tham dự phiên tòa, nhưng lần này có thêm một phụ nữ trung niên thuộc Câu lạc bộ Ukraina ở Peterborough, bà này đã đồng ý làm phiên dịch viên. Ba tôi sẽ trả chi phí. Bà ta nhất định biết rõ câu chuyện của Valentina và ba tôi - tất cả người Ukraina trong vòng mấy dặm quanh đây đều biết cả - nhưng mặt bà ta lạnh nhu tiền, chẳng để lộ chút cảm xúc nào. Tôi xin nghỉ hôm đó đến dự phiên tòa để ủng hộ tinh thần cho Laura và ba tôi. Đó là một ngày nóng hầm hập, tính ra họ chỉ mới cưới được hơn năm. Valentina mặc bộ vest xanh biển viền hồng - có lẽ vẫn là bộ mặc lần khiếu nại trước. Ba tôi vẫn mặc bộ vest cưới cùng chiếc áo sơ mi trắng dùng chỉ đen đính cúc.
Cô Carter kể lại những vụ xung đột với chiếc khăn lau ướt, ly nước và bậc thềm bệnh viện. Giọng cô thấp và rõ ràng, tràn đầy cảm xúc được tiết chế, hết sức nghiêm nghị trước sự trầm trọng của vấn đề. Cô lộ vẻ gần như thương xót, đầu cúi thấp và mắt nhìn xuống khi đưa ra coup de grâce:[link=#id9]*[/link] bản tường thuật của bác sĩ tâm lý. Valentina phản đối dữ dội, cáo buộc ba tôi với những từ ngữ hết sức sinh động rằng ông toàn nói dối, rằng ả yêu chồng, rằng ả và con chẳng còn chỗ nào khác để sống cả.
‘Tôi không phải phụ nữ xấu. Ông ta bị bệnh hoang tưởng thôi!’
Ả vung vẩy bộ tóc, hai tay quất mạnh vào không khí trong cơn tức giận lúc khẩn xin quan tòa. Người thông dịch viên dịch lại những lời đó bằng thứ tiếng Anh vô cảm và nhạt nhẽo.
Giờ tới phiên ba tôi đứng dậy trả lời câu hỏi. Giọng ông yếu ớt và run rẩy đến mức thẩm phán phải yêu cầu ông lặp lại mấy lần. Ông nói tiếng Anh chính xác và trang trọng, tiếng Anh của dân kỹ sư, nhưng cách ông run rẩy chỉ tay thẳng vào Valentina có một thoáng khôn khéo rất kịch, 'Tôi tin rằng cô ta muốn giết tôi!’ Với bộ vest nhăn nhúm và đôi mắt kính dày cộm, trông ông thật nhỏ bé, khô đét và hoang mang. Viên thẩm phán ra lệnh cho Valentina và Stanislav phải rời khỏi nhà trong vòng hai tuần, mang theo mọi đồ đạc của họ.
Chiều hôm đó, ba tôi và tôi mở chai rượu mận tím sẫm của mẹ đã cất được bốn năm ra ăn mừng. Nút chai bắn vọt chạm trần nhà với một tiếng bụp giòn giã, để lại một vết mẻ trên lớp thạch cao. Vị rượu y hệt như thuốc ho, bốc thẳng lên đầu. Ba tôi bắt đầu kể cho tôi nghe những ngày ông làm việc ở xí nghiệp Lưỡi cày Đỏ ở Kiev. Ngoại trừ ngày hôm nay, ông tuyên bố, những ngày làm việc ở đó là những ngày vui sướng nhất trong cuộc đời ông. Trong vòng ba chục phút, cả hai chúng tôi đã ngủ khì, ba ngủ ngồi trên ghế bành, tôi ngủ gục xuống bàn ăn. Chẳng rõ là lúc nào khi đêm đã về khuya, tôi bị đánh thức bởi tiếng Stanislav và Valentina tự ý chui vào nhà, rón rén lên lầu, khe khẽ nói chuyện với nhau.
○○○
Mặc dù bác sĩ tâm lý nói ba tôi không có bệnh, điều Valentina nói về bệnh hoang tưởng không phải là không đúng, bởi chỉ có ai từng sống trong chế độ chuyên chế mới thực sự hiểu được thế nào là bệnh hoang tưởng. Năm 1937, khi ba tôi từ Luhansk về lại Kiev, cả đất nước chìm đắm trong luồng hơi độc của chứng hoang tưởng.
Thứ ám khí này len lỏi khắp nơi, vào cả những ngõ ngách kín đáo nhất trong cuộc sống con người: nó làm cho quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, thầy trò, cha mẹ, vợ chồng trở nên xấu đi. Bốn bề đều là kẻ thù. Nếu không thích cách ai đó bán cho mình một con lợn con, hay cách ai đó nhìn bạn gái mình, đòi tiền nợ hay cho mình điểm thấp trong một kỳ thi, thì chỉ một câu với NKVD[link=#id10]*[/link] là mọi chuyện sẽ được giải quyết. Nếu bạn thích vợ một người nào đó, chỉ cần một câu với NKVD, đợt nghỉ dài hạn ở Siberia của ông chồng sẽ giúp bạn đạt được ước nguyện. Dẫu bạn có thông minh, tài năng hay yêu nước đến mức nào, bạn vẫn là mối đe dọa của một ai đó. Nếu quá thông minh, chắc chắn bạn có khả năng trở thành phần tử ly khai hay phá hoại; nếu quá ngu ngốc thì sớm muộn bạn cũng sẽ nói sai câu gì đó. Không ai có thể tránh được chứng hoang tưởng, từ kẻ nghèo hèn nhất đến người vĩ đại nhất; bản thân Stalin, người quyền lực nhất trong đất nước này, cũng lại là kẻ mắc chứng hoang tưởng nặng nhất. Chứng hoang tưởng len ra ngoài những cánh cửa khóa kín của điện Kremlin, làm tê liệt cuộc sống của tất cả mọi người.
Năm 1937, Tupolev, nhà thiết kế máy bay nổi tiếng, bị bắt giữ vì bị nghi ngờ có hành vi phá hoại đã khiến cả giới hàng không sững sờ. Ông ta không bị giam trong trại tù chính trị mà ở ngay chính viện nghiên cứu của mình tại Moscow, cùng với cả đội ngũ thiết kế, và bị buộc phải làm việc như nô lệ. Họ sống trong ký túc xá bị canh giữ vũ trang, nhưng được ăn thịt hảo hạng và đủ loại cá, vì người ta tin rằng não cần có chất bổ thì mới hoạt động tốt được. Mỗi ngày, các kỹ sư được nghỉ ngơi khoảng một tiếng trên sân thượng rào kín của viện nghiên cứu. Từ chỗ này, họ thỉnh thoảng có thể nhìn thấy được những chiếc máy bay do họ thiết kế bay vù vù tít trên trời cao.
‘Và không chỉ Tupolev mà thôi’ ba tôi nói, ‘còn Kerber, Lyulka, Astrov, Bartini, Lozinsky, và cả thiên tài Korolev, cha đẻ của hàng không vũ trụ nữa.’ Ngành hàng không đột nhiên trở nên hết sức nguy hiểm.
‘Rồi đám lãnh đạo ngu si nữa chứ! Khi các kỹ sư đề nghị thiết kế động cơ xăng hai thì nhỏ gọn thay vì động cơ bốn thì cồng kềnh để cung cấp điện cho máy bay trong trường hợp máy phát điện chính bị hỏng thì đám lãnh đạo từ chối ngay, cho rằng chuyển thẳng từ bốn thì sang hai thì quá mạo hiểm đi. Thay vào đó, họ được lệnh phải thiết kế động cơ ba thì! Động cơ ba thì! Ha ha ha!’
Có lẽ do vụ bắt giữ Tupolev, hay do ảnh hưởng đáng sợ của chứng hoang tưởng, ba tôi bắt đầu chuyển hứng thú từ bầu trời cao rộng của ngành hàng không xuống thế giới mặt đất khiêm tốn của máy kéo. Rồi ông tìm cách gia nhập xí nghiệp Lưỡi cày Đỏ ở Kiev.
Lưỡi cày Đỏ là nơi không tồn tại chứng hoang tưởng. Nép mình trong một khúc quanh của dòng Dnieper, cách xa những trung tâm quyền lực chủ chốt, xí nghiệp này duy trì cái công việc khiêm tốn là sản xuất các thiết bị nông nghiệp, máy móc xây dựng, nồi hơi và bể chứa. Không có sản phẩm nào được dùng trong quân đội. Không có gì là bí mật hay khoa học tiên tiến. Do vậy, nó trở thành chốn trú thân của các nhà khoa học, kỹ sư, nghệ sĩ, nhà thơ và những người dân muốn hít thở chút không khí tự do. Dự án thiết kế đầu tiên của ba tôi là máy trộn bê tông. Nó đẹp như mơ. (Ba tôi quay tít bàn tay để mô tả cách hoạt động của nó.) Rồi tới máy cày hai lưỡi. (Hai tay ông trượt lên trượt xuống, lòng bàn tay hướng ra ngoài.) Vào những buổi chiều hè sau giờ làm việc, họ cởi quần áo nhảy xuống tắm trong dòng sông rộng đáy đầy cát uốn vòng quanh khu vực xí nghiệp. (Ông hăng hái vuốt ngực. Rượu mận đã bốc lên đầu ông thật rồi.) Họ luôn ăn uống đầy đủ, vì nhận sửa tay trái đủ loại xe đạp, mô tơ, máy bom, xe đẩy với tiền công là bánh mì và xúc xích.
Ba tôi làm ở Lưỡi cày Đỏ từ năm 1937 đến khi chiến tranh nổ ra ở ngoại thành Kiev. Họ sống trong một căn hộ hai buồng ở tầng trệt của một căn nhà trát vữa theo kiểu ‘nghệ thuật mới’ trên đường Dorogozhitska. Họ ở chung với Anna và Viktor, đôi bạn quen ở trường đại học. Cuối đường Dorogozhitska là con phố Melnikov, một đại lộ thênh thang dẫn qua khu nghĩa trang cũ của người Do Thái đến hẻm núi Babi Yar dốc đứng.
○○○
Sáng hôm sau, tôi dậy trễ, đầu nhức nhối, cổ cứng đờ. Ba tôi đã dậy từ lâu, đang nghịch nghịch radio. Ông rất vui vẻ và muốn bắt đầu kể tiếp ngay về số phận của Tupolev, nhưng tôi cắt ngang rồi đi đặt ấm nước lên bếp. Có cái gì đó thật đáng sợ trong bầu không khí tĩnh mịch của ngôi nhà này. Stanislav và Valentina đã ra ngoài, chiếc Rover đã biến mất. Khi cầm tách trà đi vòng quanh nhà, tôi nhận ra đám hỗn độn trong phòng Vera dường như đã được dọn dẹp lại một chút, mấy chiếc nồi và chảo trong bếp đã mất tích, chiếc máy photocopy xách tay nhỏ cũng biến mất tăm.
0

20.
Bác sĩ tâm lý giả hiệu

Ngay sau khi được tòa chấp nhận, ngày nào tôi cũng gọi cho ba để xem Valentina và Stanislav đã chuyển ra ngoài chưa, nhưng câu trả lời của ông lúc nào cũng là, ‘Rồi. Chưa. Có lẽ. Ba không biết’
Họ đã chuyển vài món đồ đạc đi, nhưng vẫn còn để lại kha khá. Họ ở ngoài một đêm hay một ngày gì đó rồi lại quay trở lại. Ba tôi không biết họ đi đâu, ở đâu hay khi nào trở lại. Hành tung của họ hoàn toàn bí ẩn. Valentina không còn nói chuyện với ông khi đụng mặt ông ở cầu thang hay trong bếp - ả thậm chí còn không thèm để ý đến sự tồn tại của ông. Stanislav thì nhìn ra chỗ khác, miệng huýt sáo lạc điệu.
Cuộc chiến tranh lạnh này còn tệ hơn cuộc chiến ném vào nhau những lời mắng chửi. Ba tôi bắt đầu dao động.
‘Có lẽ ba sẽ cho cô ta ở lại quá. Cô ta không hẳn là người xấu, Nadia. Cũng có vài điểm tốt đấy chứ. Chỉ là thỉnh thoảng có vài ý tưởng sai lầm.’
‘Ba à, đừng có ngốc như vậy. Ba không thấy mình đang mạo hiểm tính mạng hay sao? Dẫu cô ta không đích tay giết ba, cứ như vậy mãi thì ba cũng bị đau tim hay đột quỵ mà thôi’
‘Hừm. Có thể. Nhưng chẳng phải chết trong tay người mình yêu còn hơn chết một mình hay sao?’
‘Ba à, làm ơn đi. Sao ba có thể tưởng bở rằng cô ta yêu ba được? Hãy nhớ đến cách cư xử của ả đối với ba trước giờ, những điều ả nói, những lần ả đuổi đánh, quát nạt ba’
‘Đúng vậy, đây chính là nhược điểm tính cách phổ biến của tinh thần Nga, họ luôn có xu hướng lạm dụng bạo lực mà.’
‘Ba à, chúng ta đã phải vất vả bao nhiêu mới có được lệnh huấn thị của tòa án, giờ ba đột nhiên muốn đổi ý sao? Vera sẽ nói gì?’
‘À, Vera. Nếu Valentina không giết ba thì chắc Vera sẽ ra tay’
‘Không ai giết ba cả, ba à. Ba sẽ sống lâu trăm tuổi và viết xong quyển sách của mình.’
‘Hừm. Đúng.’ Giọng ông trở nên vui hơn. ‘Con biết không, có một sản phẩm mới rất đáng chú ý trong Thế chiến thứ hai: máy kéo kết hợp. Người Pháp nghĩ ra đấy, rất xuất sắc, vừa tao nhã lại vừa khéo léo.’
‘Ba à, làm ơn nghe kỹ này. Nếu bây giờ ba quyết định ở với Valentina, con sẽ bỏ mặc ba luôn. Lần sau đừng có gọi cầu cứu con hay Vera nữa.’
Tôi giận tới mức hôm sau không thèm gọi cho ba, nhưng chiều muộn ngày hôm đó ba gọi cho tôi.
‘Nghe này, Nadezhda!’ ba tôi gào lên trong điện thoại, giọng lắp bắp vì vui sướng. ‘Kết quả thi GCSE[link=#id11]*[/link] của Stanislav. Tiếng Anh điểm B! Nhạc điểm B! Toán điểm C! Khoa học điểm C! Kỹ thuật điểm C! Lịch sử điểm D! Tiếng Pháp điểm D! Chỉ được điểm A môn Tôn giáo thôi!’
Tôi có thể nghe văng vẳng tiếng Stanislav phản đối ở bên ngoài, và lời trêu chọc của ba tôi, ‘Điểm C! Ha ha! Điểm C!’
Tôi còn nghe thấy tiếng rít thất thanh khi Valentina xông vào vòng chiến, rồi tiếng đồ rơi vỡ và điện thoại nín bặt. Tôi thử gọi lại nhưng nhận được tín hiệu bận. Hết lần này đến lần khác. Tôi bắt đầu hốt hoảng. Sau khi chuông reo cả hai mươi phút mà không có ai trả lời, tôi mặc áo choàng rồi chộp lấy chìa khóa xe. Tôi phải đi cứu ba mới được. Tôi thử gọi lại lần nữa thì lần này ba tôi nhấc máy.
‘Chào, Nadezhda hả? ừ, thật may vì chúng ta đã biết được sự thật. Tên bác sĩ tâm lý viết bản đánh giá IQ là đồ dỏm. Stanislav không phải là thiên tài, thậm chí còn không thông minh nữa. Chỉ là hạng xoàng thôi.’
‘Ôi Ba ơi...’
‘Không có lý do gì để biện hộ hết. Môn khoa học học bằng tiếng Anh, ừ, có thể nó chưa quen tiếng. Nhưng toán là bài kiểm tra trí tuệ thuần túy. Điểm C! Ha!’
‘Ba, ba ổn chứ? Hồi nãy con nghe tiếng đổ vỡ, là gì vậy?’
‘Ô, chỉ là vấp chút xíu ấy mà. Con biết đấy, cô ta không thể chấp nhận nổi sự thật này. Con trai cô ta không phải là thiên tài, nhưng cô ta không tin’
‘Stanislav và Valentina còn ở đó với ba không?’
Tôi muốn ông im miệng trước khi ả đập cho ông một trận.
‘Không, ra ngoài rồi. Đi mua sắm.’
‘Ba à, tòa án chấp thuận cho ba đuổi họ đi hơn hai tuần nay rồi. Sao họ vẫn còn sống ở đó? Lẽ ra họ phải chuyển ra ngoài rồi chứ.’
Rõ ràng là Valentina có một cái ổ khác, thậm chí có thể là một căn nhà khác ở đâu đó nơi ả, Stanislav và chiếc máy photocopy cư ngụ. Vì sao ả vẫn còn bám theo ba tôi?
‘Lúc thì ở đây, lúc thì không. Hôm đi, hôm về. Con biết đó, cô Valentina này không phải người xấu, nhưng cô ta không thể chấp nhận chuyện thằng bé không phải là thiên tài.’
‘Vậy cô ta đã chuyển ra ngoài hay chưa? Cô ta ở đâu?’
Im lặng thật lâu.
‘Ba à?’
Rồi ông khẽ lẩm bẩm với một chút tiếc nuối, ‘Điểm C!’
○○○
Vera đi nghỉ ở Tuscany vừa về nên tôi gọi báo cho chị biết những chuyện xảy ra trong hai tuần vừa qua. Tôi tả cảnh trong phòng xử án, bài phát biểu của Laura Carter, và cách ba tôi chỉ-ngón-tay buộc tội Valentina.
‘Hoan hô!’ Vera kêu lên.
Tôi kể luôn cả lời tuyên bố tình yêu hết sức kích động và khó hiểu của Valentina cùng buổi tiệc rượu mận ăn mừng của tôi và ba.
‘Em và ba đều ngà ngà say, sau đó ba bắt đầu kể về những ngày ông làm việc ở xí nghiệp Lưỡi cày Đỏ.’
‘À đúng rồi, Lưỡi cày Đỏ.’ Giọng già đời của Vera khiến tôi cảm thấy bất an, cứ như có chuyện gì không hay sắp tới. ‘Cô biết là cuối cùng họ vẫn bị lộ phải không? Một người nhờ họ sửa xe đạp đã tố cáo họ với NKVD. Giám đốc và hầu hết nhân viên bị đày đi Siberia’
‘Ồ không!’
‘May mắn là chuyện xảy ra khi ba đã đi rồi. Một người hàng xóm cũng giao nộp Anna và Viktor, và cuộc đời họ kết thúc ở nghĩa trang Babi Yar. Cô biết họ là người Do Thái mà, phải không.’
‘Em không biết.’
‘Cô thấy đấy, cuối cùng ai cũng bị phản bội cả.’
Tôi cứ nghĩ cuộc đời của ba mẹ là một câu chuyện hạnh phúc để kể lại, một câu chuyện của chiến thắng vượt lên mọi bi kịch, của tình yêu vượt qua mọi thách thức, nhưng giờ tôi nhận ra có những khoảnh khắc hạnh phúc thật ngắn ngủi cần phải nắm giữ và tận hưởng trước khi nó kịp trôi đi.
‘Vera à, em vẫn không hiểu được vì sao người ta dễ dàng phản bội nhau đến thế? Em nghĩ khi bị áp bức thì phải đoàn kết hơn mới phải.’
‘Không không, đó là một cách nhìn quá non nớt, Nadezhda à. Cô thấy đấy, đây là phần đen tối trong bản chất con người. Khi ai đó có quyền lực, những người thấp kém hơn luôn muốn tìm cách chiếm được cảm tình của họ. Nhìn cách ba nịnh nọt làm vui lòng Valentina đấy, ngay cả khi ba bị cô ả hành hạ. Nhìn cách đám chính khách đảng Lao động của cô quỳ gối thần phục’ (chị nói thành thần phụt) ‘bọn tư bản’ (chị nói thành tư bảng) ‘đám người lúc trước họ từng thề thốt phải lật đổ. Đương nhiên, chuyện như vậy không chỉ xảy ra trong đám chính khách, trong giới súc vật cũng vậy thôi.’
(Ôi, Bà Chị Lớn, sao chị khéo ngửi thấy những vết nhơ, những điều cặn bã, những chuyện xấu xa, những nguy hiểm tiềm tàng. Chị học từ đâu cái nhìn bi quan như vậy?)
‘Em không ủng hộ những chính khách đó, Vera.’
‘Tôi thì chắc chắn là không rồi. Mẹ cũng vậy, cô cũng biết mà.’
Đúng vậy, người mẹ với trái-tim-rộng-mở-yêu-món-bánh-bao-nhân-táo tống-thật-lực-thức-ăn-cho-tới-khi-vỡ-bụng-ra của tôi là một người ủng hộ cuồng nhiệt bà Thatcher.
‘Đừng nói mấy chuyện chính trị nữa, Vera. Có vẻ như chúng ta lúc nào cũng bất đồng với nhau’
‘Dĩ nhiên là một số chuyện ghê tởm thì tốt nhất không nên động đến làm gì.’
Thay vào đó, chúng tôi lập kế hoạch cho phiên tòa đang lặng lẽ nhích sau lưng chúng tôi rồi đột nhiên chỉ còn hai tuần nữa là tới. Vera và tôi đã bất giác thay đổi vai trò. Tôi giờ là bà Chuyên Gia Ly Dị, hay ít nhất tôi là người đảm nhận công việc liên quan đến vụ ly dị. Vera đóng vai bà Tống Chúng Về Quê. Chị đúng là một diễn viên hạng cừ. ‘Nadia, cốt lõi là phải lập kế hoạch cho kỹ càng.’
○○○
Vera ghé thăm phòng xử án, tìm hiểu ngọn ngành đường đi nước bước và làm quen với người gác cửa. Chị liên lạc với văn phòng của tòa án, đòi cung cấp phiên dịch cho phiên tòa, cách nói mập mờ của chị khiến họ nhầm tưởng chị là người đại diện cho bà Mayevska.
Tôi đi lên London tham dự phiên xử vì không muốn lỡ một trò vui. Vera và tôi hẹn gặp nhau trong một quán cà phê đối diện tòa nhà xử án ở Islington. Dù đã nói chuyện nhiều với nhau trong điện thoại, đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp mặt nhau kể từ sau đám tang của mẹ. Chúng tôi nhìn nhau từ đầu đến chân. Hôm nay tôi ăn mặc chăm chút hơn hẳn, mặc áo vest Oxfam đang mốt, áo cánh trắng và quần đen. Vera mặt áo vest với nhiều nếp gấp kiểu cách và váy lanh màu nâu đất. Chúng tôi thận trọng cúi người tới trước và hôn gió vào bên má của nhau.
‘Thật tuyệt khi được gặp cô, Nadia’
‘Em cũng vậy, Vera’
Chúng tôi hết sức khách sáo và dè dặt.
Đến nơi khá sớm, chúng tôi chọn chỗ ngồi ở cuối phòng xử án, căn phòng ốp gỗ sồi ảm đạm, ánh mặt trời chiếu xiên qua những ô cửa sổ nằm quá cao nên không thể nhìn ra ngoài. Vài phút trước khi bắt đầu vụ xử, Valentina và Stanislav bước vào. Cách ăn mặc của Valentina đã khá hơn nhiều: không còn bộ áo vest xanh dương viền hồng nữa. Ả mặc váy trắng, áo vest với những họa tiết sao điểm màu trắng đen, cổ áo trễ làm lộ ra bầu ngực nhưng cắt may rất khéo để giấu đi vẻ ngồn ngộn phóng túng. Mái tóc ả uốn phồng, đầu ả đội một chiếc mũ trắng nhỏ đính hoa bằng lụa đen. Son và sơn móng tay đều đỏ sậm. Stanislav vừa cắt tóc, mặc đồng phục và thắt cà vạt của trường.
Vừa bước vào cô ả đã nhìn thấy ngay chúng tôi và khẽ rú lên một tiếng. Anh chàng tóc vàng đi cùng, có lẽ là luật sư của ả, nhìn theo ánh mắt ả, rồi hai người bàn bạc to nhỏ với nhau trong lúc tìm chỗ ngồi. Anh ta mặc một bộ vest cắt khéo và đeo cà vạt màu chói đến mức chúng tôi chắc chắn anh ta không xuất thân từ Peterborough.
Ai nấy đều cố gắng ăn mặc trau chuốt ngoại trừ ba thành viên hội đồng xét xử. Bọn họ bước vào ngay sau đó, mặc quần thụng cổ lỗ sĩ và áo vest nhàu nhò lỗi mốt. Ngay sau khi họ tự giới thiệu xong, viên luật sư của Valentina đứng bật dậy yêu cầu người phiên dịch cho thân chủ của mình. Hội đồng xét xử bàn bạc, viên thư ký cũng góp lời, sau đó một phụ nữ mập mạp với mái tóc uốn lọn bước vào từ cửa hông, ngồi ngay trước mặt Valentina và Stanislav rồi tự giới thiệu mình với hai người bọn họ. Tôi có thể nghe thấy tiếng bọn họ ồ lên ngạc nhiên. Lúc này viên luật sư lại đứng dậy lần nữa, chỉ về phía Vera và tôi đang ngồi ở cuối phòng xử, phản đối sự có mặt của chúng tôi. Phản đối của anh ta vô hiệu. Cuối cùng anh ta lại đứng dậy, làm một bài diễn thuyết hùng hồn dài dằng dặc về tình yêu giữa Valentina và ba tôi, rằng họ đã yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên tại một buổi lễ tại Câu lạc bộ Ukraina ở Peterborough, rằng ba tôi đã van vỉ xin cưới ả, gửi cho ả cả đống thư từ và những bài thơ tình nồng thắm - anh ta vung vẩy xấp giấy phô tô dày cộm - rằng họ sống hạnh phúc như thế nào cho đến khi hai đứa con gái - anh ta chỉ sang tôi và Vera - bắt đầu can thiệp vào.
Anh ta nói được chừng mười phút thì có tiếng ồn bên ngoài và một nhân viên tòa án cầm vài tờ giấy vội vã đi vào, đặt xấp giấy trước mặt viên chủ tọa. Ông ta đọc lướt qua rồi đưa sang cho hai ủy viên kia xem.
‘Và ông ấy lẽ ra sẽ đích thân đến đây để làm chứng cho tình yêu của mình đối với thân chủ của tôi, nếu không phải vì chứng viêm phổi, cộng với tuổi già sức yếu, đã cản trở khiến ông ấy không tới đây được ngày hôm nay’ Giọng của anh ta ngân vang đến cực điểm. Viên chủ tọa lịch sự đợi anh ta dứt lời rồi mới giơ tờ giấy mới nhận được lên.
‘Ông Ericson, bài phát biểu của ông lẽ ra đã thuyết phục được tôi’ ông ta nói, ‘nếu không phải ngay khi nãy chúng tôi nhận được bản fax từ luật sư của chồng bà Mayevska ở Peterborough với lá đơn ông ấy xin ly dị với thân chủ của ông’
Valentina định bật dậy, quay xuống chỗ tôi và Vera đang ngồi.
‘Đây là việc làm của con ả phù thủy độc ác này!’ cô ả cào vào không khí bằng những móng tay đỏ rực.
‘Xin hãy nghe, thưa ông’ cô ả chắp tay lại vừa như cầu nguyện, vừa như van xin ông chủ tọa, ‘tôi yêu chồng’ Nãy giờ bực bội vì không có dịp tham gia vào vở kịch, bà phiên dịch chen vào ngay:
‘Bà ấy nói hai chị em nhà này là những phù thủy độc ác. Bà ấy muốn nói là bà ấy yêu chồng’
Vera và tôi giữ im lặng và tỏ vẻ nghiêm nghị.
‘Ông Ericson?’ ông chủ tọa gọi.
Anh chàng mặt đỏ tới tận mang tai.
‘Tôi muốn xin nghỉ mười phút để bàn thảo với thân chủ.’
‘Cho phép’
Khi họ kéo nhau ra khỏi phòng xử, tôi nghe tiếng anh ta thì thầm rít lên với Valentina cái gì như’... bà đã biến tôi thành một thằng đại ngốc...’
Mười phút sau, Ericson quay vào một mình.
‘Thân chủ tôi xin rút lại khiếu nại’ anh ta nói.
‘Cô có thấy cách ông ta nháy mắt với mình không?’ Vera hỏi.
‘Ai cơ?’
‘Ông chủ tọa ấy. Ông ta nháy mắt’
‘Không! Em không thấy. Thật chứ?’
‘Tôi nghĩ ông ta thật hấp dẫn.’
‘Hấp dẫn?’
‘Rất Anh và gân guốc. Tôi mê nhất là đàn ông Anh.’
‘Nhưng chị đâu có mê Dick.’
‘Dick là người Anh và hồi mới gặp nhau anh ta cũng gân guốc lắm chứ. Lúc đó tôi rất mê anh ta. Trước khi anh ta gặp Persephone.’
Chúng tôi ngồi gác chân cạnh nhau trên một chiếc trường kỷ rộng trong căn hộ ở Putney của Vera. Trên cái bàn thấp trước mặt là hai ly thủy tinh và một chai rượu trắng ướp lạnh gần cạn. Tiếng nhạc của Dave Brubeck êm đềm ngân nga. Sau sự hợp tác trong phòng xử án, việc tôi theo chị quay về đây dường như là chuyện tự nhiên nhất trên đời. Đó là một căn hộ sơn màu trắng kem trải thảm màu nhạt, rất nhỏ nhưng đồ đạc toàn loại cực đắt. Tôi chưa đến đây lần nào.
‘Em thích căn hộ của chị lắm, Vera. Nó đẹp hơn căn nhà chị sống với Dick hồi đó.’
‘Cô chưa ghé qua đây lần nào à? À, đúng rồi. Ừ, lần sau lại ghé qua chơi nữa nhé’
‘Em cũng muốn vậy lắm. Hay là cuối tuần nào đó chị lên Cambridge chơi đi.’
‘Có thể’
Hồi Vera còn sống chung với Dick, tôi đã đến thăm nhà của họ một hai lần - căn nhà đầy đồ gỗ bóng loáng và giấy dán tường cầu kỳ, tôi cảm thấy nó u ám và ngạo mạn.
‘Vera, chị cho rằng ả nghĩ gì khi rút đơn khiếu nại? Ả có hoàn toàn bỏ cuộc không? Hay chị cho rằng việc ả rút đơn chỉ đơn giản là ả sẽ lại xin hẹn sang lần khác?’
‘Có lẽ ả sẽ chìm vào thế giới ngầm tội phạm vốn là nơi ả thuộc về. Dù sao thì họ chỉ có thể trục xuất ả khi nắm đầu được cô ả thôi’
Vera đốt một điếu thuốc và hất giày đi.
‘Hay có thể ả sẽ quay lại nịnh nọt ba. Dụ ba không ly dị nữa. Nếu ả gãi đúng chỗ ngứa, em chắc ba sẽ nghe theo thôi.’
‘Với sự ngu ngốc của ba thì dám lắm.’ Vera nhìn theo làn khói dài mỏng manh bốc lên từ đầu điếu thuốc. ‘Nhưng tôi nghĩ ả sẽ lẩn đi. Trốn trong một cái ổ bí mật ở đâu đó. Làm giả giấy ăn tiền trợ cấp và làm gái điếm.’ Tàn thuốc khẽ rơi vào chiếc gạt tàn thủy tinh. Vera thả dài. ‘Ả sẽ tìm ra một nạn nhân mới nhanh thôi.’
‘Nhưng ba vẫn có thể xin ly dị đơn phương mà.’
‘Chỉ còn cách hy vọng vậy thôi, vấn đề là ba phải chi bao nhiêu để tống khứ được ả.’
Trong lúc nói chuyện, tôi đảo mắt nhìn quanh phòng. Có một bình hoa mẫu đơn màu hồng nhạt trên bệ lò sưởi, cạnh đó là một hàng ảnh, chủ yếu là hình của Vera, Dick và đám trẻ, một số là hình màu, một số trắng đen. Nhưng trong đó có một bức vẽ lồng trong khung bạc. Tôi nhìn chằm chằm. Có lẽ nào? Đúng vậy. Đó là bức ảnh mẹ đội chiếc mũ ấy. Nhất định là chị đã lấy nó từ cái hộp trong phòng khách. Nhưng khi nào? Và vì sao chị ta chẳng nói gì cả? Tôi cảm thấy mặt đỏ bừng vì giận dữ.
‘Vera, bức ảnh của mẹ..’
‘Ô, đúng rồi. Thật duyên dáng phải không? Cái mũ đẹp tuyệt’
‘Nhưng nó không phải của chị’
‘Không phải của tôi? Cái mũ?’
‘Bức ảnh, Vera. Không phải của chị’
Tôi đứng phắt dậy, làm đổ cả ly rượu. Rượu Sauvignon trắng đổ thành vũng trên mặt bàn rồi nhỏ xuống thảm.
‘Chuyện gì vậy Nadia? Chỉ là một tấm ảnh thôi mà, làm ơn đi’
‘Em phải đi đây. Em không muốn nhỡ chuyến tàu cuối’
‘Nhưng cô không ngủ lại à? Tôi đã dọn giường trong căn phòng nhỏ rồi’
‘Em xin lỗi. Em không ở lại được’
Nó có gì quan trọng đâu chứ? Chỉ là một bức ảnh thôi mà. Nhưng bức ảnh đó quý giá biết bao! Dù sao chăng nữa liệu nó có đáng để đánh đổi với người chị mới tìm lại được không? Những suy nghĩ đó lướt qua đầu tôi khi tôi ngồi trên chuyến tàu cuối trở về nhà, ngắm bóng mình phản chiếu nơi cửa sổ khi chuyến tàu lướt qua những cánh đồng và khu rừng tối om. Gương mặt trong cửa sổ, màu sắc nhạt nhòa trong ánh sáng lờ mờ, có cùng đường nét và hình dáng như gương mặt trong bức ảnh. Khi khuôn mặt trong gương mỉm cười, nụ cười cũng giống như nụ cười trong tấm ảnh.
Hôm sau tôi gọi điện cho Vera.
‘Em xin lỗi vì đã vội đi. Em quên mất là mình có một cuộc hẹn vào sáng sớm’
0

21.
Quý bà biến mất

Vài ngày sau phiên tòa thất bại đó, Eric Pike lái một chiếc Volvo lớn màu xanh tới trước nhà ba tôi. Hắn ta và ba tôi ngồi trong căn phòng ở phía sau nhà, thân thiện trò chuyện về ngành hàng không trong khi Valentina và Stanislav chạy lên chạy xuống cầu thang, đem đồ đạc nhồi đầy vào túi ni lông màu đen rồi ấn vào sau xe. Mike và tôi ghé qua đúng lúc họ định rời đi. Eric Pike bắt tay ba tôi rồi ngồi vào ghế lái, Stanislav và Valentina nhét mình vào ghế phụ. Ba tôi thập thò trên bậc cửa. Valentina vặn cửa kính xuống, thò đầu ra quát:
‘Ông tưởng ông ngon, ông kỹ sư, nhưng ông đợi đó. Hãy nhớ tôi muốn gì là được đấy’
Ả nhổ nước bọt phì một cái. Chiếc xe đã bắt đầu lăn bánh. Bãi nước bọt rơi trúng cửa xe, bám vào đó một lát, rồi trôi tuột xuống đất. Sau đó bọn họ đi mất.
‘Ba ổn chứ ba? Mọi chuyện thế nào?’ Tôi ôm lấy ba. Dưới lớp áo len đan, vai ba gầy giơ xương.
‘Ổn. Mọi việc đều ổn. Công việc tốt. Có lẽ một ngày nào đó ba sẽ gọi điện làm hòa với Valentina.’
Và lúc này đây, lần đầu tiên tôi nghe thấy một âm điệu mới trong giọng nói của ba: tôi nhận ra ông cô đơn đến nhường nào.
○○○
Tôi gọi điện cho Vera. Chúng tôi phải sắp xếp ổn thỏa cuộc sống sau này cho ba khi mà giờ đây ba chỉ còn một mình. Bà Chị Lớn thì ủng hộ cách cho bác sĩ xác nhận ba bị tâm thần và đưa ông vào viện dưỡng lão.
‘Chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật, Nadezhda à, dẫu nó có khó khăn đến mức nào. Ba chúng ta điên rồi. Sớm muộn gì ba cũng lại dính vào một trò điên khùng nào đó thôi. Tốt nhất là đưa ba vào nơi nào mà ba không thể gây rắc rối được’
‘Vera à, em không nghĩ là ba khùng, ba chỉ lập dị thôi. Quá lập dị để sống trong một viện dưỡng lão’
Chẳng hiểu sao, tôi không nghĩ ba tôi với những quả táo, câu chuyện về máy kéo và những thói quen kỳ dị có thể dễ dàng hòa mình vào nếp sống ở viện dưỡng lão. Tôi đề nghị cho ba vào sống ở nhà dưỡng lão riêng biệt, nơi đó ba sẽ được tự do hơn, phù hợp với ba hơn. Vera đồng ý và nhấn mạnh rằng lẽ ra phải làm thế ngay từ đầu. Chị cho rằng mình đã thắng một keo. Tôi lờ cho qua chuyện này.
○○○
Sau khi Valentina và Stanislav rời đi, tôi dọn dẹp kha khá rác rưởi từ phòng họ đủ để chất đầy mười bốn túi rác lớn. Tôi vứt bỏ hết đám bông trang điểm bẩn, các túi đồ nhàu nát, chai lọ mỹ phẩm, quần lót thủng, báo và tạp chí, catalog đặt hàng qua thư, thư rác, giày hỏng và quần áo cũ. Miếng bánh kẹp giăm bông ăn dở, lõi táo và pa tê thịt heo hỏng nằm dưới gầm giường nơi tôi từng tìm thấy bao cao su dùng rồi cũng được tống tiễn sạch sẽ. Trong phòng của Stanislav, tôi ngạc nhiên phát hiện ra một giỏ xách đầy tạp chí khiêu dâm dưới gầm giường. Chà chà.
Sau đó tôi chuyển sang phòng tắm, và với một chiếc móc áo bằng thép, tôi móc ra cả nắm lông tóc rối bù mắc trong lỗ thoát nước. Một người làm sao có thể bày ra cả đống rác rưởi như vậy chứ? Trong lúc dọn dẹp, tôi bất chợt nghĩ cả đời Valentina chắc phải có người đi sau để lo lắng cho cô ả.
Tôi bắt tay vào dọn bếp và tủ chạn, kỳ cọ cho sạch hết những nhờn mỡ bám trên bếp nấu ăn và các bức tường xung quanh - nó dày đến mức tôi phải dùng dao để cạo. Tôi vứt đi những mẩu thức ăn thừa, lau dọn những vết dính nhơm nhớp trên sàn, kệ và mặt bàn nơi bao nhiêu thứ chất lỏng không biết gọi tên là gì bị đổ ra mà chẳng ai thèm lau sạch. Bình, chai, hộp, gói bị mở ra ăn chút ít rồi phần còn lại để thối rữa. Một lọ mứt để mở nắp cất trong chạn đã bị nứt, cứng lại như đá, dính chặt vào kệ đến mức vỡ tan trong tay tôi khi tôi cố nhấc nó lên. Những mảnh thủy tinh rơi xuống sàn lẫn vào đám báo cũ, các túi đồ ăn sẵn đã hết, đống đường bị đổ, những mẩu bánh vụn và đám đậu khô.
Bên dưới bồn rửa bát, tôi tìm thấy một đống hộp cá thu - tôi đếm được tổng cộng bốn mươi sáu hộp.
‘Cái gì đây?’ tôi hỏi ba.
Ông nhún vai. ‘Mua một tặng một đó mà. Cô ta thích lắm.’
Tôi có thể làm gì với bốn mươi sáu hộp cá thu đây? Tôi không thể vứt chúng đi được. Mẹ sẽ làm gì với chúng? Tôi đem đống đồ hộp đó tặng mấy người quen trong làng, phần còn lại thì đem đến chỗ vị linh mục để giúp người nghèo. Trong mấy năm sau đó, các hộp cá thu vun thành nhiều đống nhỏ trước bàn thờ chúa vào mỗi dịp lễ thu hoạch.
Trong nhà phụ, tôi phát hiện ra mấy hộp bánh quy trong một thùng giấy. Hộp nào cũng bị mở ra, bánh vụn và giấy gói vứt tứ tung. Ở một góc nhà khác có bốn ổ bánh mì trắng mốc meo. Giấy gói cũng bị xé toang, phần bánh bên trong nát vụn. Sao ai đó có thể làm thế chứ? Rồi tôi để ý thấy có thứ gì to màu nâu thập thò trong góc.
Lạy chúa tôi! Phải gọi ngay hội đồng thôi!
Trong phòng khách, bếp và chạn, những đĩa đồ ăn và sữa dành cho Quý bà Di nhưng bị Quý bà chê cứ nằm đó mốc meo trong hơi nóng hầm hập tháng Tám. Một đĩa còn mọc cả nấm mốc màu nâu. Chiếc đĩa khác thì lúc nhúc đầy dòi trắng. Sữa bị lên men biến thành chất nhớt xanh lè. Tôi ngâm cả đống đĩa trong thuốc tẩy.
Tôi không phải dạng phụ nữ coi dọn dẹp là một liệu pháp tâm lý, nhưng dọn dẹp như vậy đem lại cho tôi cảm giác thanh rửa, loại bỏ được tận gốc một kẻ xâm lược ngoài hành tinh muốn đô hộ cả gia đình chúng tôi. Thoải mái hết sức.
○○○
Tôi thận trọng không để Vera biết ba tôi đã nói đến chuyện làm lành với Valentina, bởi tôi biết chỉ cần một lần xung đột với Bà Chị Lớn nữa thôi, ông sẽ chui ngay vào vòng tay của cô ả. Nhưng chẳng biết vì sao tôi lại nói tuột ra.
‘Ôi, đồ ngốc!’ Tôi có thể nghe thấy tiếng thở hổn hển của chị khi chị cố tìm từ thích hợp. ‘Đương nhiên đám nhân viên xã hội như cô quen với hội chứng những người đàn bà bị hành hạ nhưng vẫn bám rịt lấy kẻ hành hạ bọn họ.’
‘Em không phải là nhân viên xã hội, Vera.’
‘Hẳn là không rồi, cô là một nhà xã hội học. Tôi quên mất. Nhưng nếu cô nhân viên xã hội thì cô sẽ nói vậy.’
‘Có thể’
‘Do vậy, tôi cho rằng điều quan trọng nhất hiện giờ là đưa ba ra khỏi mớ bòng bong này, vì chính bản thân ông. Nếu không ba lại biến thành nạn nhân của một kẻ táng tận lương tâm khác thôi. Cô chẳng phải đang kiếm một nhà dưỡng lão riêng biệt sao, Nadia? Thật tình, đã đến lúc cô đảm nhận trách nhiệm nào đó, như hồi đó tôi làm với mẹ vậy’
Nhưng ba tôi cương quyết muốn tận hưởng sự tự do mới của mình. Khi tôi nhắc đến nhà dưỡng lão, ông tuyên bố mình sẽ ở lại nơi đây. Ông quá bận để nghĩ tới chuyện chuyển đến nơi khác sống. Ông sẽ giữ căn nhà ngăn nắp, có thể cho một quý bà đứng tuổi nhã nhặn nào đó thuê căn phòng cũ của Valentina trên lầu. Và ba vẫn còn phải viết sách nữa.
‘Ba kể hết cho con nghe về xe kéo bánh xích chưa?’
Ông vươn tay cầm lấy tập giấy A4 với những đường kẻ sít giờ chi chít chữ trong kiệt tác của ông, và đọc:
Xe kéo bánh xích được phát minh bởi một kỹ sư Pháp tên là Adolph Kegresse, ông này từng là giám đốc kỹ thuật tại Nga cho đội xe của Nga hoàng, nhưng khi cuộc cách mạng 1917 nổ ra ông ta quay trở lại Pháp và tiếp tục hoàn thiện những thiết kế của mình. Xe kéo bánh xích được chế tạo dựa trên một nguyên tắc đơn giản: bánh xe bình thường ở đằng trước và bánh xích đằng sau. Xe kéo bánh xích, xe bọc sắt rất phổ biến trong quân đội Ba Lan, bởi chúng được thiết kế phù hợp với việc chạy trên những con đường xuống cấp của đất nước này. Người ta cho rằng sự kết hợp lịch sử giữa Adolph Kegresse và André Citroen đã làm nên một hiện tượng lớn đưa tới sự ra đời của xe địa hình. Vào thời điểm ra đời, loại xe này dường như hứa hẹn một cuộc cách mạng trong nông nghiệp và vận tải nặng, nhưng thật đáng tiếc, nó đã trở thành một trong những gánh nặng cho xã hội hiện đại.

Sau lần tổng vệ sinh của tôi, chỉ còn sót lại hai thứ nhắc nhở ba tôi nhớ đến Valentina, mà hai thứ này thì không dễ vứt đi chút nào: Quý bà Di (cùng cô bạn gái và bốn con mèo con) và chiếc Roller trên bãi cỏ.
Chúng tôi cho rằng nên để Quý bà Di và gia đình ở lại vì chúng sẽ làm bạn với ba, nhưng trước hết phải kiểm soát thói quen ăn uống và đi vệ sinh của chúng. Tôi hoàn toàn nhất trí với việc mua một khay vệ sinh nhưng Bà Chị Lớn phản đối.
‘Cái thứ đó quá là vô dụng. Ai sẽ đi đổ chứ? Chỉ có một cách duy nhất thôi - dạy bọn chúng không đi vệ sinh trong nhà’
‘Nhưng bằng cách nào?’
‘Cô nắm cổ bọn chúng và gí mũi chúng vào bãi phân. Đó là cách duy nhất’
‘Ô Vera, em không làm vậy được. Ba thì đương nhiên càng không được’
‘Đừng có ủy mị thế Nadia. Đương nhiên là cô làm được. Mẹ cũng dùng chiêu này với đám mèo chúng ta nuôi đó thôi. Nhờ vậy mà chúng sạch sẽ và hết sức ngoan ngoãn.’
‘Nhưng làm sao chúng ta biết con mèo nào đi bậy?’ ‘Mỗi lần có bãi phân, cô cứ gí mũi hết bọn chúng vào đấy.’
‘Cả sáu con hả?’ (Nghe cứ như chuyện xảy ra ở Nga vào thập kỷ 30 vậy.)
‘Cả sáu con.’
Tôi đã làm theo.
Phần ăn của chúng cũng được giới hạn họp lý. Chúng chỉ được cho ăn ở hiên đằng sau, hai lần một ngày, và nếu chúng không ăn thì phần ăn sẽ bị đổ đi vào ngày hôm sau.
‘Ba có nhớ rõ không hả ba?’
‘Có có. Một ngày. Chỉ để thức ăn một ngày thôi.’
‘Nếu chúng vẫn còn đói thì ba cho chúng ăn bánh quy khô loại dành cho mèo. Chúng sẽ không bốc mùi’ ‘Một phương pháp khoa học. Cho ăn theo kỹ thuật tân tiến. Tốt tốt’
Hội đồng cho người tới đặt thuốc diệt chuột, và không lâu sau đó, bốn cái xác lông lá nâu nâu nằm ưỡn bụng được tìm thấy trong nhà kho. Mike chôn chúng ngoài vườn. Mấy con mèo bị cấm không được ngủ trong nhà hay trong chiếc Rolls Royce nữa, và một cái hộp có lót chiếc áo len cũ của Valentina được đặt trong nhà kho cho lũ mèo. Quý bà Di phản đối chế độ mới, mấy lần cố cào tay tôi khi bị gí đầu vào đám phân, nhưng nó cũng sớm học cách vâng lời.
Cô bạn gái của Quý bà Di hóa ra thật tuyệt vời - thân thiện, tình cảm và còn sạch sẽ nữa chứ. Ba tôi quyết định gọi cô nàng là Valyusia theo tên của Valentina. Cô nàng nằm cuộn tròn và khẽ kêu gừ gừ trên đùi ông khi ông gật gù ngủ trưa, rõ ràng ông hy vọng Valentina thực sự cũng làm vậy. Chúng tôi dán thông báo ở bưu điện làng để rao tặng những chú mèo con dễ thương cho gia đình nào cần đến. Một điều tốt không ai ngờ tới là rất nhiều quý bà lớn tuổi trong làng, bạn của mẹ tôi khi trước, ghé qua xem đám mèo con và nói chuyện với ba tôi, rồi sau đó thỉnh thoảng lại gọi điện hỏi thăm. Có lẽ họ bị hấp dẫn bởi không khí của vụ bê bối vẫn còn lẩn quất trong căn nhà. Ba nói thẳng với Vera rằng ông thấy bọn họ nói chuyện chán phèo, nhưng ít nhất ông vẫn nhã nhặn với họ, và họ để mắt đến ba. Viên mục sư cũng đến nhà cảm ơn ông vì mấy hộp cá thu. Chúng đã được gửi tặng cho một gia đình tị nạn từ Đông Âu. Dần dần ông cũng hòa nhập trở lại vào cộng đồng.
Riêng về phần xe cộ thì mọi việc không ổn cho lắm. Chiếc xe thổ tả biến mất một cách bí ẩn trong đêm, nhưng chiếc Roller vẫn nằm yên trên bãi cỏ đằng trước. Dù ba tôi trả 500 bảng để mua xe nhưng Valentina giữ chìa khóa và giấy tờ, mà không có hai thứ này thì không thể bán lại hay thậm chí là kéo nó đi chỗ khác được. Tôi lại gọi điện cho Eric Pike.
‘Tôi có thể nói chuyện với Valentina được không?’
‘Ai gọi vậy?’ giọng dầu nhớt lợn cợn vang lên.
‘Tôi là con gái của ông Mayevskyj. Chúng ta đã nói chuyện một lần rồi’ (Lẽ ra tôi nên nghĩ trước một cái tên giả và bịa ra một câu chuyện nào đó.)
‘Thưa bà ơ cô..., tôi mong cô đừng gọi cho tôi nữa. Tôi thật không hiểu vì sao cô cho rằng Valentina đang ở đây’
‘Ông lái xe chở cô ả đi trong chiều muộn hôm trước mà. Cùng với toàn bộ tài sản của cô ả nữa. Nhớ không?’
‘Tôi chỉ giúp cô ấy một chút việc thôi. Cô ấy không có ở đây’
‘Vậy ông chở cô ả đi đâu?’
Không trả lời.
‘Làm ơn cho tôi biết cách liên lạc với cô ta đi. Cô ta còn để lại vài thứ mà tôi nghĩ là cô ta cần dùng. Cả thư từ vẫn đang được gửi tới đây cho cô ta nữa’
Im lặng một thoáng rồi ông ta nói,
‘Tôi sẽ chuyển lời cho cô ấy và bảo cô ấy liên lạc với cô’
Một vài ngày sau ba tôi nhận được thư từ luật sư của Valentina, nói là mọi thư từ hãy gửi đến văn phòng của anh ta, và rằng Valentina chỉ liên lạc qua anh ta mà thôi.
○○○
Tôi có thể hiểu được cảm giác cô độc của ba, bởi vì, thật lạ, nhưng tôi cũng cảm thấy như vậy. Valentina đã trở thành một nhân vật quan trọng trong cuộc đời của tôi nên sự biến mất của cô ả đã để lại một khoảng trống lớn, trong khoảng trống ấy những câu hỏi không lời giải đáp cứ quay mòng mòng như những chú chim hốt hoảng. Cô ả biến đi đâu? Làm việc ở đâu? Ả định giở trò gì tiếp theo? Ai là bạn bè của ả? Ả đang ngủ với một hoặc nhiều thằng đàn ông nào? Có phải là loại không đúng đắn như trước giờ, hay là một người đặc biệt - một người Anh đàng hoàng đứng đắn, một người cảm thấy ả hết sức quyến rũ nhưng lại quá nhút nhát không dám tỏ tình? Còn Stanislav nữa, thằng nhóc sẽ cất chồng báo khiêu dâm mới ở đâu?
Những câu hỏi này không tha cho tôi. Tôi tưởng tượng ra hết cảnh này đến cảnh khác: Valentina và Stanislav nhếch nhác trong một căn phòng thuê với đồ đạc rẻ tiền đâu đó ở Peterborough; hay bị nhồi nhét cùng với đống túi đồ rác rưởi ở căn phòng gác mái của một nhà trọ xập xệ; cũng có thể bọn họ đang hưởng phúc trong tổ chim câu sang trọng do người tình của ả thuê cho; những cái nồi cái chảo một thời là của mẹ đang nghi ngút khói, cả căn bếp ngập trong màn hơi nước của những món đồ ăn sẵn đang hâm lại nóng hôi hổi, chiếc máy phô tô xách tay nằm trên bàn ăn. Ăn xong rồi, họ có ra ngoài không? Đi với ai? Hay nếu họ ở trong nhà, thì nửa đêm ai sẽ tới gõ cửa?
Tôi lái xe lòng vòng quanh căn nhà của gia đình Zadchuk trong làng, xem xem chiếc xe thổ tả có đậu bên ngoài không. Không hề. Tôi hỏi láng giềng xem họ có thấy Stanislav hay Valentina không. Câu trả lời là không. Người đàn ông ở bưu điện và người phụ nữ bán hàng ở góc đường không gặp cô ta. Người đưa sữa cũng thế.
Tôi trở nên bị ám ảnh phải tìm cho được Valentina. Mỗi lần lái xe vào làng hay đi qua Peterborough, tôi lại ngỡ như thoáng nhìn thấy chiếc xe thổ tả vừa rẽ sang một con phố ngang. Tôi thắng gấp lại hay quay đầu xe một vòng khiến các lái xe khác bực tức bấm còi phản đối. Tôi tự nhủ đó là bởi vì tôi cần biết kế hoạch của ả là gì - liệu ả có từ chối ly dị, ả sẽ đòi bao nhiêu tiền, liệu ả có bị trục xuất trước đó hay không. Tôi tự thuyết phục mình rằng tôi cần tìm ra ả nhằm giải quyết cho xong chiếc Roller và hàng đống thư từ vẫn tới tấp gửi tới qua hộp thư nhà tôi: đa số là thư rác hướng dẫn phương pháp làm giàu nhanh và những cách làm đẹp đáng nghi ngờ. Thực ra chính sự tò mò khủng khiếp đã luôn ám ảnh tôi. Tôi muốn biết cuộc đời của ả. Tôi muốn biết ả là ai. Tôi muốn biết.
Một chiều Chủ nhật nọ, trong cơn tò mò bấn loạn, tôi lái xe tới theo dõi bên ngoài căn nhà của Eric Pike. Tôi dò địa chỉ trong danh bạ điện thoại và bản đồ đường phố. Đó là căn nhà gỗ nhỏ hiện đại được xây dựng theo lối kiến trúc Anh Mỹ đầu thế kỷ 20 nằm ở phía sau thảm cỏ dốc trong một ngõ cụt toàn nhà gỗ một tầng, căn nhà với những cây cột trắng bên cửa ra vào, đầu sư tử trên cột cổng, cửa sổ viền chì, chiếc đèn ga Victoria (được chuyển sang dùng điện) đặt ở lối vào, những giỏ hoa dã yên thảo tím treo lủng lẳng, và hồ nước lớn với đài phun và cá chép Nhật bơi lội tung tăng. Có hai chiếc xe đậu ở lối vào - chiếc Volvo lớn màu xanh và chiếc Alfa Romeo nhỏ màu trắng. Không thấy chiếc Rover của Valentina ở đâu. Tôi đậu cách đó một khoảng, bật đài lên nghe, rồi chờ đợi.
Một tiếng, rồi một tiếng rưỡi chẳng có gì xảy ra. Sau đó một phụ nữ bước ra khỏi nhà. Cô ta hơn bốn mươi, với vẻ ngoài quyến rũ, mặt trang điểm kỹ lưỡng, chân đi giày cao gót và đeo lắc chân bằng vàng. Cô ta đi tới trước xe của tôi và ra hiệu cho tôi hạ kính xe xuống.
‘Cô là thám tử tư hả?’
‘Ô không, tôi chỉ...’ Tôi không nghĩ ra gì cả. ‘Tôi chỉ đợi bạn thôi.’
‘Nếu cô là thám tử tư thì xéo đi. Ba tuần nay tôi không gặp hắn ta. Mọi chuyện chấm dứt rồi’
Cô ta quay người đi về phía căn nhà, gót giày nghiến lạo xạo trên sỏi.
Một lát sau, một người đàn ông đi ra và đứng ngay trước cửa nhìn chằm chằm về phía tôi. Ông ta cao và mập, bộ ria rậm đen nhánh. Khi ông ta bước xuống lối xe đi đến chỗ tôi, tôi vội khởi động xe rồi lái đi.
Trên đường về nhà, tôi nảy ra một ý. Tôi lái qua nhà Bob Turner ở đường Hall, nơi chúng tôi từng đến để giao chiếc phong bì màu nâu dày cộp. Nhưng căn nhà trống hoác, biển bán nhà treo ngay ở cổng. Tôi nhìn qua cửa sổ; màn cửa vẫn vén lên nhưng không hề có đồ đạc gì bên trong. Một người láng giềng thấy tôi nên thò cái đầu đầy lô cuốn tóc ra khỏi cửa.
‘Họ đi rồi.’
‘Stanislav và Valentina?’
‘Ô, họ đi lâu lắm rồi. Tôi tưởng cô muốn hỏi gia đình Linaker. Tuần trước họ đi rồi. Tới ức. May thật’
‘Bà có biết Valentina và Stanislav không?’
‘Không nhiều. Ồn dữ lắm, anh và ả nô đùa trong nhà ngay giữa đêm hôm khuya khoắt. Chẳng biết thằng nhóc làm sao chịu nổi.’
‘Bà không biết cô ta đang sống ở đâu sao?’
‘Lần cuối cùng tôi nghe nói tới là cô ả đã cưới một lão già cuồng dâm.’
‘Cuồng dâm? Bà chắc chứ?’
‘Ồ, một lão già bẩn thỉu. Anh Tumer gọi ông ta vậy đó, "lão già bẩn thỉu của Valentina". Nhưng nghe đồn ông ta có nhiều tiền lắm.’
‘Nghe đồn?’
Đôi mắt lấp lánh chớp chớp dưới lớp tóc cuốn lô tiếp tục nhìn tôi chằm chằm. Tôi nhìn thẳng vào mắt bà ta.
‘Cô ta lấy ba tôi’
Đôi mắt lại chớp chớp, rồi nhìn xuống.
‘Cô đến Câu lạc bộ người Ukraina chưa? Hình như thỉnh thoảng ả có ghé qua đó’
‘Cảm ơn, ý kiến hay đấy.’
Tôi nhận ra bà già tiếp tân ở Câu lạc bộ người Ukraina là bạn của mẹ, bà Maria Kornoukhov. Lần chót tôi gặp bà là ở đám tang. Chúng tôi ôm hôn nhau. Bà không gặp Valentina mấy tuần nay rồi. Bà muốn biết tôi cần gặp cô ta làm gì, và vì sao cô ta không sống chung với ba tôi nữa.
‘Búp bê trét phấn. Cháu biết đấy, bác chẳng ưa cô ả chút nào’ bà nói bằng tiếng Ukraina.
‘Cháu cũng vậy. Nhưng cháu cho rằng ả sẽ chăm sóc cho ba.’
‘Ha! Ả chỉ quan tâm đến tiền của ông ấy thôi! Mẹ tội nghiệp của cháu thì dành dụm từng xu. Rồi tất cả số tiền ấy lại đốt vào mỹ phẩm và đám áo váy trong suốt’
‘Xe hơi nữa. Bác biết không, ả có ba chiếc xe’
‘Ba chiếc! Điên thế là cùng! cần gì hơn đôi chân của mình chứ? Mà cháu thấy đấy, ả chẳng đi được bao xa với những đôi giày cao chót vót của ả đâu.’
‘Giờ ả biến mất rồi. Chúng cháu không biết làm sao tìm được ả nữa.’
Bà hạ giọng thì thầm và kề miệng sát vào má tôi.
‘Cháu thử tìm ở khách sạn Hoàng gia chưa?’
Khách sạn Hoàng gia chỉ là một quán rượu, chứ không hẳn là khách sạn. Nó cũng chẳng xứng đáng với chữ ‘Hoàng gia’, dù bàn ghế bọc vải nâu sẫm và ván tường gỗ dái ngựa cố gắng bắt chước kiểu cung điện. Tôi vẫn còn thấy ngại khi vào quán rượu một mình nên chỉ mua nửa vại bia gừng ở quầy rồi đi vào góc, ngồi xuống quan sát cả căn phòng. Khách hàng toàn là giới trẻ và rất ồn ào; đàn ông uống bia chai, phụ nữ uống rượu vodka hay rượu trắng, họ gào thết đùa cợt váng cả phòng. Xem ra họ đều là khách quen, vì họ biết tên của người đứng quầy rượu và trêu chọc ông ta về mái tóc mới cắt hỏng. Valentina và Stanislav làm quái gì ở đây? Ở góc đối diện phía xa, tôi nhìn thấy một cậu trai dọn ly tách trên bàn. Cậu ta có mái tóc dài xoăn tít và chiếc áo len màu tím kinh tởm.
Đến bàn của tôi, cậu ta ngước mắt nhìn lên, và bốn mắt chúng tôi chạm nhau. Tôi nở nụ cười thân thiện.
‘Chào cháu, Stanislav! Rất vui được gặp cháu! Cô không biết cháu làm việc ở đây. Mẹ cháu đâu? Có làm việc ở đây không?’
Stanislav không trả lời. Nó cầm cái ly vẫn còn phân nửa của tôi lên rồi biến mất trong căn phòng sau quầy rượu. Nó không ló đầu ra nữa. Sau một lúc, người đứng quầy rượu bước tới và yêu cầu tôi đi.
‘Vì sao? Tôi có làm gì đâu. Tôi chỉ muốn uống chút thôi.’
‘Bà uống xong rồi còn gì.’
‘Tôi muốn kêu một ly nữa.’
‘Nghe này, cút đi, được chứ?’
‘Quán rượu là nơi công cộng mà.’ Tôi cố giữ phẩm cách của người thuộc tầng lớp trung lưu.
‘Tôi nói rồi, xéo mau.’
Hắn ta chồm tới gần đến mức tôi ngửi thấy hơi thở đầy mùi bia. Kiểu đầu cắt hỏng nhìn như bị hói của hắn đột nhiên không có vẻ gì là tức cười nữa.
‘Được thôi. Tôi sẽ gạch tên nơi này khỏi những chỗ đáng ghé chơi vậy’
Khi tôi bước ra ngoài, trời đã nhá nhem tối nhưng vẫn còn ấm áp nhờ ánh mặt trời ban chiều. Hai tuần nay chẳng có giọt mưa nào, sân sau quán rượu bốc đầy mùi bia và mùi nước tiểu. Tôi ngạc nhiên khi thấy hai tay mình run lập cập trong lúc tìm chìa khóa xe, nhưng tôi chưa chịu đầu hàng. Tôi lẻn ra đằng sau và nhìn trộm qua cửa sổ để mở cửa phòng rửa chén. Không thấy Stanislav hay Valentina đâu. Bên trong, tôi nghe một tên khách quen to mồm hỏi, ‘Này Ed Hói, chuyện gì xảy ra ban nãy vậy?’ Ed Hói đáp: ‘Ô, một con quạ già đe dọa nhân viên bồi bàn ấy mà’ Tôi ngồi xuống một cái thùng rỗng và cảm thấy mệt rã rời. Mọi cuộc gặp gỡ trong ngày bùng nhùng ùa về trong đầu tôi: quá nhiều sự thù địch. Tôi không chịu nổi nữa. Tôi trèo vào xe, không quay về nhà ba mà lái thẳng về nhà mình ở Cambridge, về với Mike.
○○○
Vera hiểu ra ngay.
‘Họ làm việc bất hợp pháp. Do đó hắn không muốn cô hỏi lằng nhằng. Đương nhiên Stanislav cũng chưa đủ tuổi để làm việc trong quán rượu’
(Ôi, Bà Chị Lớn, sao chị giỏi đào xới lên những thứ dơ bẩn, bất lương và đáng ngờ thế.)
‘Còn người đàn bà ở nhà Eric Pike thì sao?’
‘Rõ ràng là vợ hắn ta ngoại tình trong lúc hắn ngoại tình với Valentina.’
‘Làm sao chị biết những chuyện này chứ, Vera?’ ‘Làm sao mà cô vẫn không hiểu chứ, Nadia?’
0

22.
Công dân gương mẫu

Sau khi đến Anh năm 1946, ba mẹ tôi là những công dân gương mẫu. Họ chưa hề phạm pháp - chưa hề dầu chỉ một lần. Họ quá sợ hãi. Họ run rẩy khi phải điền đơn từ có những từ nhập nhằng khó hiểu: nếu họ trả lời sai thì sao? Họ không dám xin trợ cấp: lỡ bị điều tra thì sao? Họ sợ không dám xin hộ chiếu: lỡ họ không được phép quay vào Anh lại thì sao? Những kẻ làm chướng mắt chính quyền có thể bị tống lên một chuyến tàu dài không có đường trở lại.
Thế nên hãy hình dung ba tôi rối lên đến thế mà khi nhận được giấy gọi ra tòa vì không trả Thuế Vận Hành Xe. Chiếc xe thổ tả được tìm thấy đậu ở ven đường mà không dán nhãn thuế cầu đường. Ông là người đứng tên chiếc xe.
‘Con thấy đấy, vì Valentina mà lần đầu tiên trong đời ba trở thành tội phạm.’
‘Mọi chuyện sẽ ổn mà ba. Con chắc đây chỉ là chuyện hiểu lầm thôi.’
‘Không không. Con chẳng hiểu gì cả. Nhiều người đã chết vì bị hiểu lầm đấy.’
‘Ở Peterborough này thì không như vậy đâu’
Tôi gọi điện cho Cơ quan Đăng ký xe và giải thích trường hợp của ba tôi. Tôi kể với người ở đầu bên kia rằng ba tôi chưa bao giờ lái chiếc xe đó và không còn đủ sức để lái nữa. Tôi đã chuẩn bị tinh thần gặp một quan chức lạnh lùng, nhưng giọng nói trong điện thoại - giọng phụ nữ đứng tuổi, âm điệu vùng Yorkshire - lại rất dịu dàng đầy thông cảm. Đột nhiên không hiểu vì sao tôi òa lên khóc và kể hết câu chuyện cho bà nghe: bộ ngực bơm căng, đôi găng tay cao su màu vàng, giấy phép lái xe vô giá trị.
‘Ôi trời, thật không ngờ!’ giọng nói dịu dàng vỗ về. ‘Tội nghiệp ông cụ! Bảo ông ấy đừng lo lắng. Tôi sẽ gửi cho ông ấy một lá đơn để điền vào. Chỉ cần ghi rõ tên và địa chỉ của cô ả là đủ.’
‘Nhưng đó chính là vấn đề đấy. Ba tôi không biết địa chỉ của cô ả. Chúng tôi liên lạc với cô ả thông qua luật sư’ ‘Ô, vậy thì cứ ghi địa chỉ của luật sư. Thế cũng được’
Tôi điền vào đơn cho ba tôi, rồi ông ký tên.
Vài ngày sau đó, ba lại gọi điện cho tôi. Sau một đêm, chiếc xe thổ tả lại xuất hiện trên lối vào. Hai bánh trước đè lên cỏ, kế bên chiếc Roller rỉ sét. Bánh sau bị xẹp, đèn xe bên phía người lái bị vỡ một góc, cửa xe bên phía người lái bị oằn cong và được buộc chặt bằng dây vào sườn xe. Do đó, tài xế phải leo lên xe qua cửa bên kia rồi trèo qua cần số. Không có nhãn thuế. Trong lúc đó, chiếc Lada lại biến mất khỏi ga ra.
‘Chuyện xảy ra thật đáng ngờ’ ba tôi nói.
Giờ có đến hai chiếc xe ở vườn trước, chúng đậu nghênh ngang khiến ba tôi phải đi sát vào hàng giậu gai để vào nhà. Những bụi gai móc vào áo khoác của ông, đôi khi còn cào xước mặt và tay ông.
‘Thật vô lý’ tôi nói với ba. ‘Cô ả phải đem cái xe của ả đi.’
Tôi gọi điện cho cô Carter, cô bèn viết thư cho luật sư của Valentina. Nhưng chẳng có gì thay đổi cả. Tôi gọi điện cho một người bán xe cũ, đề nghị bán cả hai chiếc với giá khá hời. Ông ta rất quan tâm đến chiếc Roller nhưng co vòi ngay khi biết xe không có giấy tờ. Tôi thậm chí chưa nói đến chuyện không có chìa khóa.
‘Nhưng ông không thể cứ thế mà kéo chúng đi, rồi lấy các linh kiện hay sao?’
‘Cần phải có giấy đăng ký xe, dù có tháo rời để lấy linh kiện.’
○○○
Luật sư của Valentina không trả lời thư của chúng tôi nữa. Làm sao chúng tôi thuyết phục Valentina chuyển chiếc xe của ả đi khi không biết ả đang ở đâu? Vera đề nghị nhờ Justin, người đàn ông râu ria lởm chởm từng giao giấy đề nghị ly dị cho Valentina. Tôi chưa thuê thám tử tư lần nào. Ý tưởng này có vẻ khá thú vị - y hệt như trong các phim trinh thám.
‘Cô em thân mến, cô sẽ thấy anh ta khá thú vị đấy’ Vera nói.
‘Nhưng liệu cô ả có nhận ra anh ta không? Ả sẽ nhận ra chiếc BMW đen đậu ngoài cửa thì sao?’
‘Ô, chắc là anh ta sẽ theo dõi một cách bí mật mà. Có lẽ anh ta phải có một chiếc Ford Escort cũ để dùng trong những dịp này.’
Tôi liên lạc với Justin qua cô Carter và để lại một tin nhắn lan man trên máy trả lời tự động của anh ta, vì thực sự tôi chẳng biết mình cần nói gì. Anh ta gọi lại cho tôi vài phút sau đó. Giọng anh ta trầm và tự tin, với cách phát âm còn mang dấu ấn của vùng Fenland mà anh ta đang cố khắc phục. Anh ta tin chắc là có thể giúp tôi. Anh ta có người quen trong giới cảnh sát và hội đồng thành phố. Anh ta ghi lại mọi chi tiết tôi cung cấp, tên và mọi dạng biến thể của tên cô ả, ngày sinh (nếu cô ả không bịa ra một ngày sinh khác), số an sinh xã hội (tôi tìm thấy trong xấp giấy tờ cất ở cốp xe), tên tuổi của Stanislav, tất cả những gì tôi biết về Bob Tumer và Eric Pike. Tuy nhiên, anh ta có vẻ quan tâm nhất đến tiền thù lao. Tôi muốn trả theo kết quả, hay theo ngày? Tôi chọn trả theo kết quả. Chừng đó tiền cho địa chỉ, chừng đó tiền cho chi tiết công việc ả làm, sẽ trả thêm cho những bằng chứng ngoại tình có thể đưa ra trước tòa. Đặt điện thoại xuống, tôi cảm thấy vui và hứng khởi. Nếu Justin có thể tìm ra những thông tin này thì trả chừng ấy không đắt chút nào.
Trong lúc tôi bận bịu tìm cách tống khứ chiếc Rolls Royce, ba tôi lại đang tán dương một loại máy móc khác.
Giai đoạn cuối của chiến tranh là thời điểm có nhiều tiến bộ và phát triển vượt bậc trong lịch sử của máy kéo, khi lưỡi kiếm một lần nữa được ghè thành lưỡi cày, và thế giới đói khổ bắt đầu suy nghĩ làm sao kiếm miếng ăn. Bởi chúng ta biết rõ một nền nông nghiệp phát triển là hy vọng duy nhất cho loài người, trong đó, máy kéo đóng một vai trò trung tâm.
Người Mỹ tham gia vào cuộc chiến chỉ sau khi ngành công nghiệp và dân số của cả châu Âu đã được thử thách đến mức gần như bị hủy diệt. Máy kéo Mỹ trước đây thua kém về mặt kỹ thuật so với máy kéo châu Âu, giờ bắt đầu chiếm lĩnh sân khấu.
Đứng hàng đầu trong số đó là sản phẩm của John Deere.
John Deere vốn là một thợ rèn ở Vermont, vóc người cao lớn vạm vỡ như bò mộng. Năm 1837, ông tự tay chế tạo lưỡi cày thép, hết sức thích hợp để khai phá những vùng đất hoang sơ trên thảo nguyên Mỹ. Do vậy, có thể nói rằng máy kéo của Deere, chứ không phải đám cao bồi ngớ ngẩn được ca tụng trong phim ảnh thời hậu chiến, mới là nhân vật khai phá miền Tây nước Mỹ.
Tài năng lớn nhất của ông không phải là về mặt kỹ thuật mà là về mặt kinh doanh, bởi bằng việc thỏa thuận hợp đồng và hỗ trợ tài chính cho người mua, ông đã biến phân xưởng thô sơ ban đầu của mình thành một trong những công ty lớn nhất nước Mỹ vào năm 1886 khi ông qua đời.
Mẫu hai xi lanh và động cơ diesel 376 inch khối nổi tiếng của John Deere vừa tiết kiệm nhiên liệu vừa dễ dàng điều khiển. Nhưng đến năm 1953, mẫu G mạnh mẽ mới được xuất khẩu ra toàn thế giới, góp phần không nhỏ tạo nên sự thống trị về kinh tế của nước Mỹ thời hậu chiến.

Một buổi chiều đầu tháng Mười, ba tôi tạm dừng công việc và đang ngủ lơ mơ trên chiếc ghế bành trong phòng khách thì chợt nghe thấy trong giấc mơ một tiếng động lạ. Đó là tiếng động cơ vo vo khe khẽ - một tiếng động rất êm tai mà ông nói làm ông nhớ lại tiếng chiếc Francis Bamett cũ của mình chật vật khởi động vào một sớm tinh sương. Ông nằm đó, nửa mơ nửa tỉnh, lắng nghe tiếng vo vo, nhớ tới chiếc Francis Bamett, những làn đường Sussex lộng gió, gió thốc vào tóc, những hàng giậu trổ hoa thơm ngát, mùi hương của tự do. Ông lắng nghe một cách chăm chú và vui sướng, nhưng rồi ông lại nghe thấy một tiếng động khác, tiếng động khẽ đến mức gần như không nghe thấy được, tiếng rì rầm yếu ớt - tiếng người nói chuyện thì thầm.
Lúc này ông hoàn toàn bừng tỉnh. Có ai đó đang ở trong phòng. Nằm yên không nhúc nhích, ông hé một mắt ra. Hai bóng người đang đi tới gần cửa sổ. Khi họ lọt vào tầm mắt, ông nhận ra ngay: Valentina và bà Zadchuk. Ông vội nhắm mắt lại. Ông nghe tiếng họ di chuyển, tiếng thì thầm, và một thứ tiếng khác - tiếng giấy sột soạt. Ông mở con mắt bên kia ra. Valentina đang sục sạo tìm kiếm trong ngăn kéo tủ áo nơi ông để thư từ và giấy tờ. Thỉnh thoảng ả rút ra một tờ giấy rồi đưa cho bà Zadchuk. Giờ thì ông nhận ra tiếng động cơ vo vo là gì rồi. Đó không phải là tiếng của chiếc Francis Barnett, đó là tiếng chiếc máy photocopy xách tay nhỏ.
Ông cứng người lại. Ông không thể ngăn nổi mình nữa. Ông mở to hai mắt và thấy mình đang nhìn thẳng vào đôi mắt kẻ-chì-nâu-kiểu-Cleopatra của Valentina.
‘Ha!’ ả nói. ‘Cái xác chết sống dậy rồi, Margaritka’
Bà Zadchuk ừ hữ rồi bỏ thêm giấy vào máy phô tô. Nó lại kêu vo vo.
Valentina cúi xuống, kề mặt sát vào mặt ba tôi.
‘Ông tưởng ông thông minh. Ông sẽ chết sớm thôi, ông Kỹ sư Thông minh.’
Ba tôi rú lên một tiếng, cứ như là ‘bị thúc vào mông’, sau này ông kể lại như vậy.
‘Ông đã giống xác chết rồi - ông sẽ là cái xác chết sớm thôi. Đồ chó chết. Đồ bộ xương biết đi’
Cô ả chồm tới, hai tay để hai bên đầu ông mà ghìm chặt ông xuống ghế, trong lúc bà Zadchuk tiếp tục phô tô thư từ của cô Carter. Khi xong việc, bà ta vơ đống giấy tờ lại, tháo dây cắm chiếc máy phô tô ra, rồi tống hết vào một chiếc túi xách mua hàng Tesco lớn.
‘Đi thôi Valenka. Chúng ta có thứ mình cần rồi. Bỏ mặc cái xác hôi rình này đi.’
Valentina dừng lại trước cửa, gửi cho ông một cái hôn gió mỉa mai.
‘Đồ sống như chết rồi. Đồ trốn khỏi nghĩa địa.’
0

23.
Người trốn khỏi nghĩa địa

Không biết Valentina biết sự thật hay chỉ là cao hứng đoán mò, nhưng ba tôi quả thật đã trốn thoát từ nghĩa địa.
Chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1941 khi quân Đức xông vào Ukraina và Hồng quân rút lui về phía Đông, cầu đường và đồng ruộng bị đốt cháy. Ba tôi lúc đó đang ở Kiev với đơn vị. Ông là một người lính miễn cưỡng. Họ ấn lưỡi lê vào tay ông và bảo ông phải chiến đấu cho đất mẹ, nhưng ông không muốn chiến đấu - dù là cho đất mẹ, cho Liên bang Xô viết, hay cho bất kỳ ai. Ông muốn ngồi trước bàn làm việc với cây thước lô ga, với xấp giấy trắng và tìm lời giải cho phương trình lực kéo và đẩy. Nhưng không có thì giờ để làm những chuyện vô bổ như vậy - không có thì giờ cho bất cứ chuyện gì ngoại trừ đâm và chạy, bắn và chạy, nấp và chạy, chạy và chạy. Quân đội chạy về phía Đông, xuyên qua những cánh đồng lúa mì vàng rực sắp thu hoạch của Poltava, dưới bầu trời xanh ngăn ngắt, rồi cuối cùng tập họp lại ở Stalingrad. Chỉ lá cờ mà họ đi theo là không mang màu xanh vàng: nó mang màu đỏ vàng.
Có lẽ đó là lý do, hoặc có lẽ ông đã chịu quá đủ, nhưng ba tôi không đi theo họ. Ông lẩn khỏi đơn vị và tìm chỗ ẩn nấp. Tại nghĩa trang cũ của người Do Thái trong một quận khu im ắng rợp bóng cây của thành phố, ông chui vào một nấm mộ bị vỡ, chặn những tảng đá lớn bên trên, và ẩn mình trong mộ, kề cận người chết. Náu mình trong bóng tối, thỉnh thoảng ông lại nghe thấy tiếng quyến thuộc người Do Thái than khóc ở phía trên. Ông ở đó, trong sự câm lặng lạnh lẽo và chán nản gần một tháng trời, sống nhờ vào số thức ăn mang theo, rồi khi hết thức ăn, ông ăn giòi, ốc sên và ếch cho qua ngày. Ông uống nước từ những giọt mưa thấm vào lòng đất chảy nhỏ giọt xuống, và suy ngẫm tình thế cận kề cái chết của mình, tập cho mắt mình quen với bóng tối.
Chỉ có điều dưới đó không hoàn toàn tăm tối: mỗi ngày ánh nắng vẫn lọt qua khe hở giữa những tảng đá, nếu áp mắt vào khe hở ấy, ông có thể nhìn thấy thế giới bên ngoài. Ông có thể nhìn thấy những bia mộ phủ đầy hoa hồng, xa hơn nữa là cây anh đào lúc lỉu trái chín. Ông bị ám ảnh bởi cái cây đó. Cả ngày ông ngắm nghía những quả anh đào chín mọng trong khi phải đào sâu xuống lớp đất đen để moi giòi rồi bọc trong lá cây hay lá cỏ cho dễ ăn hơn.
Đến một ngày - một buổi tới - ông không chịu đựng được nữa. Khi hoàng hôn buông xuống, ông bò ra khỏi chỗ ẩn nấp, leo lên cây, hái hàng nắm quả anh đào, rồi nhét hết vào miệng. Thêm vài quả nữa, rồi lại vài quả nữa, nước quả chảy lem nhem xuống cằm. Ông nhổ hột tứ tung, quần áo dính đầy nước quả, đỏ rực như máu. Dường như ông không bao giờ thỏa mãn được cơn thèm khát. Sau đó, ông hái đầy trái bỏ vào túi và mũ, rồi len lén quay lại huyệt mộ.
Nhưng ai đó đã nhìn thấy ông. Ai đó đã đi trình báo. Sáng hôm sau, một đám lính xộc tới, kéo ông lên và bắt ông vì nghi ngờ ông là gián điệp. Khi bị chúng tóm lấy và đẩy vào xe, hàng đống anh đào tống vào bụng cùng với nỗi khiếp hãi khi bị bắt giữ đã làm ông vãi phần ra quần đầy hổ thẹn.
Chúng đưa ông tới một bệnh viện tâm thần cũ ven thành phố vốn là nơi chúng đặt bộ chỉ huy và giam ông trong một căn phòng trống trơn với cửa sổ chấn song sắt, ông phải ngồi trong mùi phân của mình và chờ đợi xét hỏi. Ba tôi không phải là một người dũng cảm, càng không phải là anh hùng. Ông biết người Đức đối xử tàn nhẫn thế nào với tù nhân Ukraina. Tôi và bạn sẽ làm gì trong hoàn cảnh đó? Ba tôi dùng tay đập bể cửa kính, rồi dùng một mảnh kính vỡ cứa vào cổ họng.
Lính Đức không tha cho ba dễ dàng như vậy. Chúng gọi bác sĩ tới, một bác sĩ tâm lý lớn tuổi người Ukraina ở lại bệnh viện để chăm sóc cho bệnh nhân. Ông ấy chưa hề khâu vết thương nào kể từ ngày học trường y. Ông ấy dùng chỉ khâu bình thường khâu lại vết thương bằng những mũi kim vụng về, để lại trên cổ ba một vết sẹo sần sùi làm ba ho mỗi lần ăn bất cứ thứ gì về sau. Nhưng dù sao thì ông ấy cũng cứu mạng ba tôi. Ông ấy nói với bọn Đức là dây thanh quản bị hủy hoại không thể chữa lại được, rằng người đàn ông này không thể trả lời thẩm vấn, và rằng bất luận thế nào ông ta cũng không phải là điệp viên mà chỉ là một người điên đáng thương - một bệnh nhân tâm thần từng tìm cách tự hủy hoại mình trước đấy. Nhờ vậy mà bọn Đức tha cho ba.
Ba ở lại trong bệnh viện, được vị bác sĩ tâm lý lớn tuổi chăm sóc. Ba đánh cờ, thảo luận về triết học và khoa học với ông ấy hằng ngày. Mùa hè qua đi, bọn Đức cũng tiến quân, đuổi theo Hồng quân về phía Đông. Khi thấy tình hình tạm ổn, ông lẩn đi, vượt qua hàng rào quân Đức, hướng về phía Tây, về thẳng Dashev để gặp lại gia đình.
Nhưng mẹ và Vera đã đi rồi. Hai tuần trước khi ba tôi về, quân Đức đã chiếm đóng ngôi làng, bắt tất cả thanh niên khỏe mạnh lên xe lửa, chuyển họ đến Đức để làm việc trong các xí nghiệp sản xuất đạn dược. Bọn họ bị gọi là ostarbeiter. các công nhân đến từ phía Đông. Bọn chúng không muốn cho Vera theo - chị lúc đó chỉ mới năm tuổi - nhưng mẹ tôi đã làm lớn chuyện đến mức bọn chúng đành dẫn chị theo. Ba tôi ở lại Dashev một thời gian đủ để hồi phục sức khỏe, sau đó ông lên tàu theo họ đi về phía Tây.
○○○
‘Không, không’ Vera nói. ‘Chuyện đâu phải xảy ra như vậy. Đó là cây mận chứ không phải anh đào. Hơn nữa, chính NKVD đã bắt ông chứ không phải bọn Đức. Bọn Đức sau đó mới đến cơ. Khi ba quay lại Dashev, bọn tôi vẫn còn ở đó. Tôi còn nhớ cảnh ba quay lại, cổ họng có một vết sẹo khủng khiếp. Bà Nadia chăm sóc cho ba. Ông chẳng ăn được gì ngoài xúp.’
‘Nhưng chính ba kể với em...’
‘Không, ba đi về phía Tây trước, nhảy xe đến Đức. Khi ông nói với chúng rằng ông là kỹ sư, bọn chúng bèn thuê ông. Sau đó ông đón mẹ và tôi tới ở cùng.’
Đó là câu chuyện gia đình tôi rời Ukraina như thế nào - hai phiên bản khác biệt: chuyện của ba và chuyện của mẹ.
‘Vậy ba là dân di cư kinh tế, chứ không phải dân tị nạn à?’
‘Nadia, làm ơn đi. Sao bây giờ cô còn hỏi mấy câu ngớ ngẩn thế? Chúng ta nên tập trung sức lực vào vụ ly hôn này - chứ không phải những lời ta thán không dứt về quá khứ. Không có gì để nói. Không có gì để học tập. Chuyện đã qua rồi coi như xong.’
Giọng chị hơi nghẹn lại, dường như tôi đã nói động đến một vấn đề nhạy cảm. Lẽ nào tôi đã làm chị tổn thương?
‘Xin lỗi chị, Vera.’ (Tôi thực lòng xin lỗi.)
Giờ tôi chợt nhận ra: Bà Chị Lớn không chỉ là một cái vỏ rỗng tuếch. Người chị thực sự của tôi là một người hoàn toàn khác, một người tôi chỉ mới bắt đầu hiểu được.
‘Bây giờ.’ Giọng chị bình tĩnh trở lại. Chị bắt đầu nắm quyền điều khiển. ‘Cô nói là Valentina đã phô tô tất cả giấy tờ của ba. Chỉ có một lý do cho chuyện này thôi - cô ả muốn dùng nó cho vụ ly dị. Cô phải nói cho Laura Carter biết ngay.’
‘Vâng, em sẽ làm vậy.’
Cô Carter bừng bừng lửa giận khi nghe tôi kể về vụ phô tô giấy tờ.
‘Có những luật sư chẳng khá hơn đám thân chủ khốn khiếp của mình bao nhiêu. Nếu họ đưa những giấy tờ này ra trước tòa, chúng ta sẽ phản đối. Chị có nhận được tin gì từ viên thám tử tư không?’
○○○
Justin thực hiện đúng lời giao ước. Khoảng một tuần sau đó, anh ta gọi cho tôi nói là đã lần ra Valentina: cô ả và Stanislav đang sống trong hai căn phòng phía trên Khách sạn Hoàng gia. Ả đứng quầy rượu, còn Stanislav rửa ly cốc. (Tôi cũng đoán được như vậy.) Ả cũng xin trợ cấp an sinh xã hội, và xin trợ cấp nhà ở được một căn nhà liền kế ở đường Norwell rồi cho một thực tập sinh khoa thính học người Ghana, khách quen của Khách sạn Hoàng gia, thuê lại. Ả có người tình nào không? Justin không chắc. Anh ta để ý thấy có một chiếc Volvo xanh thẫm đậu bên ngoài vài lần, nhưng không đậu qua đêm. Eric Pike là một khách hàng lâu năm của Khách sạn Hoàng gia. Không có bằng cớ nào có thể dùng được trước tòa.
Tôi cảm ơn Justin rối rít rồi gửi séc cho anh ta qua bưu điện.
Tôi gọi cho Vera nhưng máy bận. Trong lúc chờ đợi, tôi quyết định gọi cho Chris Tideswell ở trạm cảnh sát Spalding. Tôi kể cho cô ta nghe vụ rút đơn kháng cáo và chuyện Valentina cùng con trai đang ở tại Khách sạn Hoàng gia, nơi cả hai đều đang làm việc bất hợp pháp.
‘Hừm’ Chris Tideswell nói với giọng trẻ trung hoạt bát. ‘Chị đúng là một thám tử thực sự. Lẽ ra chị nên gia nhập ngành cảnh sát mới đúng. Tôi sẽ xem xem có làm được gì không.’
Vera mừng rỡ trước tin tức của Justin.
‘Cô thấy chưa, nó khẳng định những gì tôi nghĩ. Cô ả là một tên tội phạm. Trấn lột ba chưa đủ, ả còn moi tiền của đất nước chúng ta nữa.’ (Đất nước chúng ta?) ‘Còn cái tên Ghana này thì sao? Chắc hắn đại loại cũng là dân tị nạn thôi.’
‘Justin nói hắn là thực tập sinh thính học ở bệnh viện.’
‘Ô, thì hắn vẫn có thể là dân tị nạn mà, phải không?’
‘Chúng ta chỉ biết là ả cho hắn thuê nhà. Có lẽ ả cũng moi tiền của hắn nữa.’
Vera và tôi cách nhau mười tuổi - mười năm với nhóm Beatles, các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam, cuộc nổi dậy của sinh viên năm 1968, và sự ra đời của phong trào đòi bình quyền cho phụ nữ, mười năm đã dạy tôi coi mọi phụ nữ là chị em của mình - mọi phụ nữ ngoại trừ chị ruột của tôi, thế đấy.
‘Và có thể hắn cũng cho đám dân tị nạn khác thuê phòng.’ (Chị tôi không chịu để yên.) ‘Khi bước vào thế giới u ám của bọn tội phạm, cô sẽ phát hiện ra tầng tầng lớp lớp những trò lừa phỉnh, và cô phải vừa khôn khéo vừa kiên nhẫn mới khám phá ra được sự thật.’
‘Vera à, hắn ta là thực tập sinh khoa thính học. Hắn làm việc với những người điếc.’
‘Chẳng có ý nghĩa gì cả, Nadia ạ.’
Có một lần, cách đây không lâu, thái độ của Bà Chị Lớn đã khiến tôi nổi điên lên để bảo vệ lẽ phải, nhưng giờ tôi nhìn sự việc theo khía cạnh lịch sử, và tôi mỉm cười với mình vẻ bề trên.
‘Khi chúng ta mới tới đây, Vera, mọi người có thể nói y hệt như vậy về chúng ta - rằng chúng ta moi tiền của chính phủ, ngốn ngấu nước cam miễn phí, béo phì nhờ dầu gan cá của NHS.[link=#id12]*[/link] Nhưng họ không nói vậy. Ai cũng đối xử tốt với chúng ta cả’
‘Nhưng đó là chuyện khác. Chúng ta khác họ.’ (Dĩ nhiên rồi, ví dụ như chúng ta da trắng, tôi có thể nói vậy nhưng quyết định không thốt ra miệng.) ‘Chúng ta làm việc chăm chỉ và biết thân biết phận. Chúng ta học tiếng và hội nhập. Chúng ta không bao giờ xin trợ cấp. Chúng ta không bao giờ phạm luật.’
‘Em phạm luật. Em hút ma túy. Em bị bắt ở Greenham Common. Ba bực đến mức muốn bắt tàu quay lại Nga.’
‘Nhưng đó đúng là điều tôi muốn nói đấy, Nadia. Cô và đám bạn cánh tả của cô - các người chưa bao giờ biết ơn những gì nước Anh mang lại: ổn định, trật tự, luật pháp. Nếu cô và đám người của cô thắng lợi, đất nước này sẽ hệt như Nga - đâu đâu cũng xếp hàng mua bánh mì, người ta ăn cắp để rồi bị chặt tay.’
‘Đó là ở Afghanistan. Chặt tay là theo luật mà’
Cả hai chúng tôi đều cao giọng. Lại sắp sa đà cãi nhau nữa rồi.
‘Sao cũng được. Cô hiểu ý tôi rồi đấy’ chị nói vẻ khinh miệt.
‘Điều em đánh giá cao khi lớn lên ở đất nước Anh là lòng khoan dung, chủ nghĩa tự do, sự tử tế mà em cảm nhận được mỗi ngày.’ (Tôi vẫy vẫy ngón tay để nhấn mạnh, dẫu chị không nhìn thấy.) ‘Cái cách người Anh luôn giúp đỡ những kẻ bị thua thiệt’
‘Cô lại không phân biệt được người bị thua thiệt và quân kẻ cướp rồi, Nadia. Chúng ta nghèo, nhưng chúng ta không bao giờ trộm cắp. Người Anh tin vào sự công bằng. Trung thực. Như trò cricket đấy’ (Chị biết gì về cricket chứ?) ‘Họ chơi theo luật. Họ có ý thức tự giác về kỷ luật và trật tự’
‘Không không. Họ thuộc loại bất tuân luật pháp. Họ thích nhìn cậu bé tí hon giơ tay thách thức thế giới. Họ thích nhìn bọn người quyền lực bị trừng phạt’
‘Ngược lại, họ bảo vệ hệ thống giai cấp tuyệt đối trong đó ai cũng biết vị trí thực sự của mình’
Thấy chưa, chúng tôi lớn lên ở cùng một căn nhà, nhưng sống trong hai quốc gia khác hẳn nhau.
‘Họ đùa cợt trước các nhà cầm quyền’
‘Nhưng họ thích những nhà cầm quyền sắt đá’
Nếu Vera nhắc tới bà Thatcher, tôi sẽ cúp máy. Im lặng một thoáng, cả hai đều cân nhắc xem nên làm gì. Tôi cố gợi lại những kỷ niệm chung của hai chị em.
‘Vera, chị còn nhớ người phụ nữ trên xe buýt không? Người phụ nữ mặc áo choàng lông ấy?’
‘Người phụ nữ nào? Xe buýt nào? Cô đang nói cái gì thế?’
Đương nhiên là chị còn nhớ. Chị vẫn chưa quên mùi dầu xe, tiếng rin rít của cần gạt nước, chiếc xe buýt nghiêng ngả nghiền nát lớp tuyết mới đóng, ánh đèn màu lấp lánh bên ngoài cửa sổ; đêm Giáng sinh năm 1952. Vera và tôi, lạnh cóng người, ngồi sát vào mẹ ở ghế sau. Một phụ nữ tốt bụng mặc áo choàng lông nhoài người qua lối đi và đặt đồng sáu xu vào tay mẹ: ‘Quà cho đám nhỏ dịp Giáng sinh’
‘Người phụ nữ cho mẹ sáu xu’
Mẹ, mẹ của chúng tôi, không quăng đồng xu vào mặt bà ấy; bà lí nhí ‘Cảm ơn quý bà’ rồi đút nó vào túi. Thật nhục nhã!
‘À, vụ đó hả? Tôi nghi bà ta đang xỉn. Cô đã nhắc lại một lần rồi. Tôi chẳng hiểu vì sao cô cứ lải nhải chuyện này mãi thế’
‘Chính giây phút đó - chứ không phải những chuyện xảy ra với em về sau - đã biến em trở thành một nhà xã hội học bền bỉ’
Đầu dây bên kia im lặng, và trong một thoáng tôi tuởng chị đã cúp máy. Sau đó: ‘Có lẽ chính giây phút đó đã biến tôi thành người phụ nữ mặc áo choàng lông’
0

24.
Người đàn ông bí ẩn

Vera và tôi quyết định chúng tôi sẽ cùng nhau chặn đầu Valentina bên ngoài Khách sạn Hoàng gia.
‘Chỉ còn có cách như vậy thôi. Nếu không ả sẽ cứ lảng tránh chúng ta’ Vera nói.
‘Nhưng ả có thể quay người bỏ chạy khi nhìn thấy chúng ta.’
‘Thì chúng ta sẽ đi theo ả. Chúng ta sẽ lần theo ả đến tận hang ổ’
‘Nhưng nếu ả đi cùng Stanislav? Hay Eric Pike chẳng hạn?’
‘Đừng có nhút nhát thế, Nadia. Nếu cần thì chúng ta sẽ gọi cảnh sát.’
‘Vậy sao không để cảnh sát lo liệu luôn cho rồi? Em có nói chuyện với một nữ cảnh sát ở Spalding, cô ấy có vẻ rất thông cảm với tình cảnh của chúng ta’
‘Cô vẫn tin là luật pháp sẽ hất cẳng được cô ả à? Nadia, nếu chúng ta không làm việc này thì chẳng có ai làm đâu.’
‘OK.’ Dẫu phản đối nhưng tôi cũng rất hào hứng. ‘Có lẽ chúng ta nên sắp xếp cho Justin rậm râu có mặt ở đó. Để hỗ trợ nếu cần.’
Nhưng trước khi chúng tôi tìm được ngày thích hợp, ba tôi đã gọi điện tới trong trạng thái hết sức lo lắng. Ông thấy một người đàn ông bí ẩn lảng vảng quanh căn nhà.
‘Người đàn ông bí ẩn. Từ hôm qua. Nhìn trộm qua cửa sổ. Rồi biến mất’
‘Nhưng ba à, đó là ai? Ba phải gọi cảnh sát.’
Tôi cảm thấy hoảng sợ. Rõ ràng là có ai đó đang tìm cách đột nhập vào nhà ba.
‘Không không! Không gọi cảnh sát! Nhất định không gọi cảnh sát!’
Ba tôi vốn chẳng có mấy thiện cảm với cảnh sát.
‘Vậy thì gọi một người láng giềng vậy. Và phải chặn đầu hắn. Xem xem hắn là ai. Nhất định là một tên trộm muốn thăm dò xem ba có của cải đáng giá gì không’
‘Trông không giống trộm. Trung niên. Thấp. Mặc vest nâu’
Cơn tò mò của tôi trỗi dậy.
‘Thứ Bảy bọn con sẽ ghé qua. Giờ thì ba hãy khóa chặt cửa sổ và cửa ra vào nhé.’
Chúng tôi tới nhà ba vào khoảng ba giờ chiều ngày thứ Bảy. Giờ đã là giữa tháng Mười. Mặt trời đã xuống thấp, sương mù vùng đầm lầy bao phủ khắp thôn quê trong tấm màn mờ ảo ẩm ướt, lảng vảng trên những cánh đồng và đầm lầy trũng tháp, rón rén như một bóng ma trên những mương nước và kênh đào. Lá bắt đầu đổi màu. Ngoài vườn rụng đầy táo, lê, mận, một đám ruồi bu kín bên trên.
Ba tôi nằm ngủ trên chiếc ghế bành cạnh cửa sổ, đầu ngả ra sau, miệng há hốc, một dòng nước miếng chảy từ môi xuống cổ áo. Cô bạn gái của Quý bà Di nằm cuộn tròn trên đùi ba, cái bụng sọc của nó khẽ phập phồng. Tựa như bị bà phù thủy trong truyện cổ tích ra tay phù phép, ngôi nhà và khu vườn chìm trong bầu ám khí uể oải, và con người đang say ngủ kia đang chờ được đánh thức bởi một nụ hôn.
‘Chào ba’ Tôi hôn lên gò má gầy gò lởm chỏm râu của ông. Ông giật mình tỉnh dậy, con mèo nhảy xuống sàn, gừ gừ chào chúng tôi và cọ mình vào chân chúng tôi.
‘Chào Nadia, Michael! Các con đến thật tốt!’ Ông dang tay chào đón chúng tôi.
Ba gầy quá! Tôi đã hy vọng sau khi Valentina rời đi, mọi chuyện sẽ thay đổi; ba sẽ lại lên cân, sẽ dọn dẹp lại căn nhà, và mọi việc sẽ trở lại bình thường. Nhưng chẳng có gì thay đổi cả, ngoại trừ khoảng trống to đùng mang hình Valentina trong tim ông.
‘Mọi chuyện thế nào rồi ba? Người đàn ông bí ẩn đó đâu?’
‘Người đàn ông bí ẩn biến mất rồi. Từ hôm qua đã không thấy đâu nữa’
Phải thú nhận là tôi cảm thấy vô cùng thất vọng - tôi đã tò mò biết bao. Nhưng tôi bắc ấm lên bếp, rồi trong lúc chờ nước sôi, tôi thơ thẩn ra ngoài và bắt đầu nhặt trái cây rụng. Tôi cảm thấy lo lắng khi ba tôi không còn thực hiện nghi thức hàng năm: nhặt, cất giữ, gọt vỏ và chế biến táo Toshiba. Bỏ bê sở thích là dấu hiệu của bệnh trầm cảm.
Mike ngồi xuống chiếc ghế êm ái kế bên và sẵn sàng lắng nghe.
‘Nikolai, quyển sách đến đâu rồi? Ba còn món rượu mận tuyệt vời nữa không?’ (Anh đã mê mẩn món rượu này trên mức mà tôi có thể chịu đựng rồi đó. Anh không thấy là nó nguy hiểm sao?)
‘A ha!’ ba tôi kêu lên rồi rót cho Mike một ly. ‘Giờ đã đến một thời điểm hết sức thú vị trong lịch sử máy kéo. Như Lenin đã nói về thời kỳ tư bản, cả thế giới hợp lại thành một thị trường, với sự tập trung của đồng vốn tăng lên nhanh chóng, về công nghệ máy kéo, ba nghĩ rằng...’
Tôi không hề biết ba nghĩ gì, bởi vì lúc này Mike đã chếnh choáng trong men rượu mận còn tôi thì đã đi xa khỏi tầm nghe. Tôi dạo quanh khu vườn của mẹ. Thật buồn khi chứng kiến cảnh khu vườn bị tàn phá suốt bốn năm trời không có bàn tay ai chăm sóc; nhưng sự tàn phá đó là do sinh trưởng mạnh mẽ mà ra. Trên mảnh đất cực kỳ màu mỡ, mọi cây cỏ đều sinh sôi: cỏ dại um tùm, cây leo lan tràn, cỏ mọc cao như ngoài đồng cỏ, trái cây rụng bị thối rữa lấm tấm nấm mốc; ruồi, ruồi nhuế, ong vò vẽ, sâu bọ và ốc sên ngấu nghiến trái cây, chim thỏa thích dùng bữa với thực đơn chính là sâu bọ và ruồi muỗi.
Dưới hàng dây phơi đồ, một mảnh vải sáng màu lấp ló trong đám cỏ cao thu hút sự chú ý của tôi. Tôi cúi xuống gần hơn để nhìn cho kỹ. Đó là chiếc áo lót xa tanh màu xanh lá đã gần như phai hết màu. Một con sâu róm giật mình bò ra khỏi bầu ngực khổng lồ. Trong thoáng bốc đồng, tôi nhặt nó lên và cố đọc kích cỡ ghi trên nhãn. Nhưng thông tin ấy cũng đã bay màu bởi bột giặt và mưa nắng. Cầm di vật tả tơi này trong tay, tôi cảm thấy mất mát một cách kỳ lạ. Sic transitgloria mundi.[link=#id13]*[/link]
Tôi không biết cái gì kéo mình ngẩng lên khỏi dòng suy tư, nhưng vào giây phút ấy mắt tôi thoáng thấy có gì đó cử động, có lẽ là một bóng người ở bên hông nhà. Sau đó nó biến mất; có lẽ đó chỉ là một vệt màu nâu, hay một bóng người mặc áo nâu. Người đàn ông bí ẩn!
‘Mike! Ba! Mau lên!’
Tôi chạy vội ra vườn trước nơi hai chiếc xe gỉ sét vẫn đang chiếm chỗ. Ban đầu có vẻ như chẳng có ai ở đó. Sau đó tôi thấy có người đang đứng yên dưới bóng cây tử đinh hương. Anh ta béo lùn, tóc nâu xoăn. Anh ta mặc một bộ vest màu nâu. Nhìn anh ta quen quen một cách kỳ lạ.
‘Anh là ai? Làm gì ở đây?’
Anh ta không trả lời, cũng không đi về phía tôi. Sự yên lặng của anh ta thật quái lạ. Nhưng anh ta không đáng sợ. Khuôn mặt anh ta cởi mở, thân thiện. Tôi bước lại gần vài bước.
‘Anh muốn gì? Vì sao anh cứ đến đây hoài?’
Anh ta vẫn không nói gì. Rồi tôi nhớ ra mình đã thấy anh ta ở đâu: anh ta là người đàn ông trong những bức ảnh tôi tìm thấy ở phòng Valentina - người đàn ông choàng tay qua bờ vai trần của cô ả. Anh ta già hơn so với người trong hình một chút, nhưng chắc chắn là anh ta.
‘Làm ơn nói gì đi. Cho tôi biết anh là ai’
Im lặng. Rồi Mike và ba xuất hiện ở cửa trước. Mike dụi mắt ngái ngủ. Lúc này người đàn ông bước lên trước, chìa tay ra và nói một từ.
‘Dubov.’
‘À! Dubov!’ Ba tôi chạy vội tới, nắm lấy hai tay anh ta, và tuôn ra một tràng lời chào đón nồng nhiệt bằng tiếng Ukraina. ‘Vị hiệu trưởng đáng kính ở Temopil! Học giả hàng đầu nổi tiếng người Ukraina! Rất vui mừng được đón tiếp anh trong căn nhà tồi tàn của tôi.’
Đúng, chính là người chồng trí thức của Valentina. Ngay khi nhận ra anh ta, tôi cũng thấy được điểm giống nhau giữa anh ta và Stanislav: tóc xoăn màu nâu, vóc người thấp và nụ cười lúm đồng tiền khi anh ta bước ra khỏi bóng cây.
‘Mayevskyj! Kỹ sư hạng nhất! Tôi rất vinh hạnh được đọc bài luận văn tuyệt vời về lịch sử máy kéo mà ông gửi tới’ anh ta nói bằng tiếng Ukraina, lắc lắc tay ba tôi. Giờ thì tôi hiểu vì sao anh ta không trả lời câu hỏi của tôi. Anh ta không biết tiếng Anh. Ba giới thiệu chúng tôi với anh ta.
‘Mikhail Lewis, con rể tôi. Thành viên công đoàn kiệt xuất và chuyên gia máy tính. Con gái tôi Nadezhda. Nó là nhân viên xã hội’ (Ôi, sao ba có thể nói vậy!)
Nhâm nhi tách trà và hộp bánh quy quá đát tìm thấy trong chạn, chúng tôi dần hiểu ra lý do cho cuộc viếng thăm của người đàn ông bí ẩn này. Đơn giản thôi: anh ta đến tìm vợ và con trai, muốn đưa họ quay về Ukraina. Những lá thư từ Anh quốc đã khiến anh càng lúc càng lo lắng. Stanislav không cảm thấy thoải mái ở trường học, nó kể bọn con trai thì lười biếng, bị ám ảnh bởi tình dục, luôn mồm khoe khoang tiền của, trình độ giáo dục thấp kém. Valentina cũng chẳng vui vẻ gì. Cô ấy mô tả người chồng mới là một tên bạo lực và mắc bệnh hoang tưởng, rằng cô ấy đang tìm cách ly dị ông ta. Nhưng giờ anh ta đã gặp được quý ông kỹ sư đáng kính (người mà anh đã có vinh dự trao đổi thư từ về máy kéo), anh ta tin rằng có lẽ cô ấy đã nói quá lên một chút bởi trước đây cô ấy cũng từng nói quá lên như vậy không ít lần.
‘Người ta có thể tha thứ tội nói quá cho một phụ nữ xinh đẹp’ anh ta nói. ‘Điều quan trọng là mọi chuyện đều được bỏ qua, đã đến lúc cô ấy quay về nhà’
Anh ta đến nước Anh trong một chương trình trao đổi giáo dục với đại học Leicester nhằm mở rộng tầm hiểu biết của mình về hiện tượng siêu dẫn. Anh ta cũng xin được thêm mấy tuần nghỉ phép. Mục tiêu của anh ta là tìm lại vợ (dẫu anh ta đồng ý ly dị nhưng không giây phút nào không coi cô ấy là vợ mình), tán tỉnh cô nàng và khiến cô nàng đem lòng yêu anh ta trở lại.
‘Nàng đã từng yêu tôi một lần - chắc chắn nàng sẽ lại yêu tôi.’
Vào những ngày nghỉ, anh ta đón tàu từ Leicester tới đây, nằm đợi bên ngoài căn nhà, mong đem lại bất ngờ cho cô ả. Anh ta đã tìm khắp thành phố, nhờ Chủ tịch Câu lạc bộ Ukraina giúp đỡ, nhưng ngày lại ngày trôi qua mà nàng vẫn chưa xuất hiện. Anh ta sợ mình đã mất nàng mãi mãi. Nhưng giờ - giờ anh ta đã gặp được ông Mayevskyj kiệt xuất và cô con gái đáng yêu cùng anh con rể đáng trọng - giờ có lẽ họ sẽ giúp anh ta tìm được nàng.
Tôi có thể thấy ba tôi cứng người lại, bởi ông nhận ra vị học giả hàng đầu Ukraina này cũng là tình địch của mình. Ly dị Valentina là một chuyện, nhưng ông không thể chấp nhận kẻ khác cướp cô ả ngay trước mũi mình.
‘Chuyện này anh phải thảo luận với Valentina. Tôi cảm thấy cô ấy rất quyết tâm ở lại Anh quốc’
‘Đúng, đối với bông hoa xinh đẹp nhường ấy, những làn gió ở Ukraina lúc này đúng là quá khắc nghiệt và lạnh lùng. Nhưng mọi chuyện sẽ sớm thay đổi thôi. Và nơi nào có tình yêu, thì nơi đó luôn có đủ hơi ấm cho tâm hồn con người nở hoa’ người chồng trí thức nói.
‘Hắt xì!’ tôi khịt mũi vào tách trà, nhưng cố ngụy trang nó bằng một cái hắt hơi.
‘Vẫn còn một khó khăn nữa’ ba tôi nói. ‘Cả hai đều biến mất. Valentina và Stanislav. Không ai biết họ ở đâu. Cô ấy còn để lại hai chiếc xe ở đây.’
‘Tôi biết họ ở đâu!’ tôi kêu lên. Mọi người quay lại chằm chằm nhìn tôi, kể cả Mike dù anh chẳng hiểu nãy giờ mọi người nói gì. Ba tôi quắc mắt nhìn tôi như muốn nói: Đừng có cho anh ta biết!
‘Khách sạn Hoàng gia! Bọn họ đang ở Khách sạn Hoàng gia!’
Các quán rượu ở Peterborough đều rất đông khách vào chiều thứ Bảy, tấp nập người mua sắm, người bán hàng và du khách. Khách sạn Hoàng gia cũng chật cứng. Vài khách quen đem thức uống ra ngoài vỉa hè và túm tụm quanh lối vào, tán gẫu về bóng đá. Tôi đậu chiếc Ford Escort cách đó vài mét. Chúng tôi quyết định cử Mike vào trong thăm dò - anh sẽ trà trộn vào đám đông, tìm kiếm Valentina hay Stanislav, và nếu thấy họ thì phải lẳng lặng lẻn ra thông báo cho Dubov biết. Khi ấy Dubov sẽ tiến vào và dùng chiến thuật để thuyết phục bọn họ. Hiện giờ anh ta và ba tôi đang ngồi sau xe, vẻ háo hức lộ rõ trên mặt. Vì lý do gì không rõ, ai nấy đều hạ giọng thì thầm.
Vài phút sau Mike đi ra, tay cầm cốc bia, cho biết không thấy Valentina hay Stanislav đâu. Cũng chẳng có ai giống như lời tôi miêu tả về Ed Hói cả. Hai tiếng thở dài thất vọng vang lên từ ghế sau.
‘Để ba xem thử!’ ba tôi nói, những ngón tay sưng vù vì viêm khớp cố mở cửa xe.
‘Không không!’ Dubov kêu lên. ‘Ông sẽ làm nàng sợ hãi bỏ đi. Để tôi đi!’
Tôi lo lắng khi thấy cảm xúc của ba hình như lại đang bị xáo trộn lộn tùng phèo. Tôi sợ rằng sự có mặt của tình địch Dubov đã làm tổn thương đến sĩ diện đàn ông của ba và khiến ông lại mê mẩn Valentina. Ông biết cô ả không hợp với mình nhưng không kháng cự nổi sức hút của cô ả. Ông già ngu ngốc. Kết thúc chẳng vui vẻ gì đâu. Nhưng tôi cảm nhận được logic sâu xa ẩn bên dưới hành động mâu thuẫn của ông. Dubov có sức hút và sự quyến rũ chẳng khác gì Valentina. Ba yêu cả hai người họ: ông yêu chính nhịp đập của tình yêu. Tôi có thể hiểu được vì sao ông bị lôi cuốn, vì tôi cũng như vậy.
‘Hai người thôi nào, ngồi yên ở đó’ tôi nói. ‘Con sẽ đi vào xem sao.’
Cửa sau xe bị khóa chốt, không thể mở được từ bên trong, do đó bọn họ chẳng có lựa chọn nào khác.
Mike đã tìm được một chỗ ngồi gần cửa. Một đám thanh niên tụ tập trước màn hình ti vi, cứ vài phút lại cất tiếng hò reo. Đội Peterborough đang thi đấu trên sân nhà. Mike cũng dán mắt vào màn hình, vại bia đã cạn phân nửa. Tôi đi đến gần quầy rượu rồi nhìn quanh. Mike nói đúng - không thấy Valentina, Stanislav hay Ed Hói đâu cả. Đột nhiên tiếng hoan hô rộ lên vang dội. Ai đó đã ghi bàn. Người đàn ông đang dọn mấy vại bia ở đầu kia quầy rượu nãy giờ cúi gằm xuống liền quay qua nhìn vào chiếc ti vi. Mắt chúng tôi gặp nhau, rồi chúng tôi nhận ra nhau. Đó là Ed Hói - nhưng ông ta không còn hói nữa. Mấy chỏm tóc bờm xờm màu muối tiêu đã phủ kín đầu. Bụng ông ta to ra và bắt đầu chảy xệ xuống bên dưới thắt lưng. Trong vài tuần kể từ lần gặp trước, xem ra ông ta đã tệ đi khá nhiều.
‘Lại là cô nữa. Cô muốn gì?’
‘Tôi tìm Stanislav và Valentina. Tôi là bạn của họ, chỉ thế thôi. Tôi không phải là cảnh sát, ông đừng lo.’
‘Họ đi rồi. Dọn nhà đi. Lén lút.’
‘Ồ không!’
‘Có vẻ như lần trước cô làm họ sợ’
‘Nhưng hẳn là...’
‘Cô ấy và thằng nhỏ. Cả hai đều đi rồi. Cuối tuần trước.’ ‘Nhưng ông có biết...?’
‘Có vẻ là cô ấy nhận thấy tôi không xứng với cô ấy.’ Ông ta nhìn tôi với ánh mắt buồn bã.
‘Ý ông là...?’
‘Chẳng có ý gì cả. Giờ thì xéo đi, được chứ? Tôi còn phải lo cho cả quán rượu, mà chỉ có một mình’
Ông ta lại quay lưng về phía tôi và bắt đầu thu dọn ly cốc.
○○○
‘Ô không! Đi rồi!’ Hai tình địch ngồi ghế sau ồ lên thất vọng, rồi bầu không khí im lặng buồn bã bao trùm trong chiếc xe mà mất một lúc sau mới bị phá vỡ bỏi tiếng thở dài sườn sượt.
‘Thôi nào, thôi nào, Volodya Simeonovich’ ba tôi lẩm bẩm bằng tiếng Ukraina, quàng tay quanh vai Dubov. ‘Đàn ông chút đi!’
Tôi chưa nghe thấy ba tôi gọi cả họ tên người khác ra thế này bao giờ. Giờ thì ba và Dubov bắt đầu nói chuyện y hệt như trong tác phẩm Chiến tranh và hòa bình vậy.
‘Ôi chao, Nikolai Alexeevich, đàn ông là một sinh vật yếu đuối và hay phạm sai lầm!’
‘Có lẽ chúng ta cần cái gì đó phấn khích một chút’ Mike đề nghị. ‘Hay là chúng ta vào trong uống chút gì đi?’
Đám đông đã giãn ra vào cuối trận đấu nên chúng tôi cũng xoay xở tìm được đủ ghế đẩu để ngồi xuống quanh một cái bàn; thậm chí còn tìm được cả ghế dựa cho ba nữa. Ông không chịu được sự ồn ào trong quán rượu nên ngồi thu mình với đôi mắt mở to trống rỗng. Dubov đặt cái mông to bự lên mặt ghế tròn nhỏ xíu, dạng chân ra để giữ thăng bằng, cằm ngẩng cao, chăm chú quan sát xung quanh và uống với vẻ đầy tâm trạng. Tôi để ý thấy mắt anh ta lướt khắp đám đông, không ngừng liếc qua mọi lối vào với vẻ hy vọng.
‘Mọi người muốn uống gì?’ Mike hỏi.
Ba muốn một ly nước táo. Dubov muốn một ly lớn whiskey. Mike gọi một vại bia nữa. Tôi thì muốn uống trà, nhưng quyết định gọi một ly rượu trắng. Ed Hói đích thân phục vụ chúng tôi, bưng khay đồ uống ra tận bàn.
‘Vui lên nào!’ Mike nâng ly. ‘Vì...’ Anh ngần ngừ- Một nhóm người với khao khát và nhu cầu khác hẳn nhau thì nên nâng ly chúc mừng cái gì đây?
‘Vì chiến thắng của tinh thần nhân loại!’
Tất cả chúng tôi cùng nâng ly.
0

25.
Thắng lợi của tinh thần nhân loại

‘Thắng lợi của tinh thần nhân loại?’ Vera khịt mũi. ‘Cưng à, nghe thì hay nhưng ngây thơ quá! Để tôi cho cô biết, tinh thần nhân loại vừa hèn hạ vừa ích kỷ; động lực duy nhất của nó là vun vén cho bản thân thôi. Mọi thứ khác đều là ủy mị vô ích tất’
‘Vera, chị toàn nói như vậy thôi. Nhưng biết đâu tinh thần nhân loại lại cao quý và rộng lượng - sáng tạo, cảm thông, giàu sức tưởng tượng, thuần khiết - tất cả những gì chúng ta luôn phấn đấu đạt tới, nhưng thỉnh thoảng nó đơn giản là không đủ sức chịu đựng những điều hèn hạ và ích kỷ trên thế giới này thì sao?’
‘Thuần khiết! Thiệt tình, Nadia à! Thế cô nghĩ hèn hạ và ích kỷ chui ra từ đâu, nếu không phải từ tinh thần nhân loại? Cô thật sự cho rằng cái ác rình rập thế giới chúng ta à? Không, mọi xấu xa đều bắt nguồn từ trái tim của con người. Cô thấy đấy, tôi biết sâu thẳm bên dưới bản chất của con người là gì.’
‘Chẳng lẽ em không biết sao?’
‘Cô thật may mắn vì luôn sống trong thế giới mộng tưởng và đa cảm. Nhiều thứ tốt nhất là không nên biết.’
‘Chúng ta đành phải chấp nhận những bất đồng thôi.’ Tôi cảm thấy kiệt sức. ‘Dù sao thì cô ả lại biến mất lần nữa. Em chỉ định gọi cho chị biết vậy thôi’
‘Nhưng cô thử tới căn nhà kia chưa - căn nhà trên đường Norwell với tên tị nạn bị điếc ấy?’
‘Bọn em có ghé qua trên đường về nhà nhưng không có ai cả. Trong nhà tối đen.’
Sự mệt mỏi bao trùm quanh tôi như cái mền ướt sũng. Chúng tôi đã nói chuyện gần một giờ đồng hồ, và tôi chẳng còn sức lực đâu mà tranh cãi nữa. ‘Vera, em đi ngủ đây. Chào chị.’
‘Chào cô, Nadia. Đừng bận tâm vì những điều tôi nói’
‘Không đâu’
Nhưng sự hiểu biết về những điều đáng sợ của Vera làm tôi băn khoăn. Nếu chị đúng thì sao?
Dẫu là tình địch thì ba và Dubov vẫn rất hợp nhau. Sau lời mời khẩn khoản của ba tôi, Dubov dọn khỏi căn phòng bé tẹo trong nhà khách của trường đại học Leicester và đến ở trong căn phòng trước đây là phòng ngủ của ba mẹ tôi và sau đó là phòng của Vera. Đồ đạc của anh ta được gói ghém mang theo trong cái ba lô nhỏ màu xanh để ở chân giường.
Mỗi tuần ba ngày, anh ta bắt xe lửa đến Leicester và trở về lúc chiều muộn. Anh ta kể cho ba tôi nghe những tiến bộ mới nhất trong ngành siêu dẫn, dùng bút chì vẽ ra những sơ đồ chi chít cùng những ký hiệu khó hiểu. Ba tôi vẫy tay tuyên bố đó toàn là những thứ ông đã tiên đoán trước từ năm 1938.
Dubov là một người chăm chỉ. Anh ta dậy sớm pha trà cho ba tôi. Anh ta lau bếp và thu dọn chén đĩa sau mỗi bữa ăn. Anh ta nhặt táo trong vườn, ba tôi dạy anh ta cách làm táo Toshiba. Dubov tuyên bố anh ta chưa từng được ăn thứ gì ngon đến thế trong suốt cuộc đời mình. Mỗi buổi chiều, họ lại tâm tình về Ukraina, triết học, thơ ca và công nghệ. Họ chơi cờ vua vào cuối tuần. Dubov lắng nghe chăm chú khi ba tôi đọc những chương viết dài dằng dặc trong tác phẩm Lược sử máy kéo bằng tiếng Ukraina. Anh ta thậm chí còn hỏi những câu hỏi thông minh. Trên thực tế, anh ta chẳng khác gì một người vợ hoàn hảo.
Dubov cũng là kỹ sư, giống ba tôi, nhưng là kỹ sư điện. Trong những lần thơ thẩn ngoài vườn chờ đợi Valentina, anh ta có dịp quan sát hai chiếc xe bị bỏ rơi, và anh ta mê tít chiếc Rolls Royce. Tuy nhiên, khác với ba tôi, anh ta có thể chui xuống dưới gầm xe. Anh ta nhận thấy chiếc xe không đến nỗi quá tệ hại: bình hứng dầu bị rò rỉ vì chốt bị lỏng, về hệ thống giảm xóc, anh ta cho rằng vấn đề chủ yếu là lò xo bị gãy. Lý do xe không chạy được nữa có lẽ lỗi ở hệ thống điện, có thể là máy phát điện hay máy dao điện. Anh ta sẽ xem xét chỗ này. Đương nhiên nếu không tìm được Valentina và chìa khóa xe, chiếc xe sẽ cần thêm bộ phận đánh lửa mới.
Trong suốt cả tuần sau đó, ba tôi và Dubov quyết định gỡ toàn bộ động cơ, lau sạch các bộ phận, đặt chúng trên tấm chăn cũ trải trên mặt đất. Họ cũng nhờ Mike giúp đỡ. Anh dành ra hai buổi tối để vào internet và gọi điện thoại, tìm kiếm các nhà buôn phế liệu có thể có chiếc Rolls Royce tương tự, và cuối cùng anh tìm được một chiếc ở gần Leeds, cách khoảng hai giờ lái xe.
‘Thật tình, Mike à, anh không cần lái xe đến đó đâu. Anh biết đấy, không chừng chiếc xe đã hết đường cứu chữa rồi.’
Anh không nói gì, nhìn tôi với vẻ mơ màng nhưng bướng bỉnh mà thỉnh thoảng tôi vẫn thấy trên mặt của ba. Tôi biết anh cũng mê mẩn chiếc xe rồi.
Eric Pike xung phong sửa giá lò xo. Chủ nhật ông ta lái chiếc Volvo đến, cầm theo mỏ hàn và mặt nạ. Ôi, ông ta nhìn thật bảnh với bộ ria mép rậm rạp và đôi găng tay da to đùng, dũng cảm gắp mảnh kim loại nung đỏ bằng một cái kìm khổng lồ và vung búa nện vào nó liên hồi! Những người còn lại đứng túm tụm cách đó khá xa, ồ à ngưỡng mộ. Khi xong việc, ông ta vung vẩy cái giá lò xo còn nóng đỏ trong không khí cho nguội bớt, thế nhưng ông ta bất cẩn để cái mỏ hàn còn cắm điện chạm vào hộp đồ nghề khiến nó phá hủy một góc bờ giậu gai. Sau đó, thật may mắn là trời mưa, nên bốn người bọn họ xúm xít lại trong bếp, mải mê xem xét các chỉ dẫn kỹ thuật Mike tải xuống từ Internet. Mấy thứ này chẳng hợp với phụ nữ như tôi.
‘Con lên Peterborough đây’ tôi nói. ‘Con sẽ mua thứ gì đó cho buổi tối. Mọi người thích gì nào?’
‘Nhớ mua bia nhé’ Mike dặn.
Đương nhiên, mua hàng chỉ là cái cớ. Tôi thực lòng muốn đi tìm Valentina lần nữa. Tôi chắc Ed Hói không nói dối khi ông ta thú nhận là cô ả đi rồi; nhưng cô ả có thể đi đâu đây? Tôi lái xe lòng vòng trên phố hồi lâu, nhìn qua cái cần gạt nước đang đều đều đưa qua đưa lại, vòng qua những con phố vắng vẻ ngày Chủ nhật vẫn còn đầy rác rưởi từ đêm hôm trước. Tôi đánh một vòng: nhà của Eric Pike, Câu lạc bộ Ukraina, Khách sạn Hoàng gia, đường Norvvell. Tiện đường, tôi rẽ vào một siêu thị và chất đầy một xe hàng những thứ mà tôi nghĩ ba và Dubov sẽ thích: bánh ngọt béo ngậy, bánh nhân thịt có thể hâm lại trong lò nướng, rau đông lạnh đã qua xử lý, bánh mì, phô mai, trái cây, rau trộn có thể đổ ra ăn ngay, xúp đóng hộp, thậm chí cả một cái pizza đông lạnh nữa - tôi vốn không bao giờ mua thức ăn đông lạnh chế biến sẵn - và mấy lốc sáu lon bia. Tôi chất đồ đi chợ vào cốp rồi lái thêm một vòng nữa. Khi đi ngang qua Khách sạn Hoàng gia lần thứ hai, một chiếc xe màu xanh ghếch đầu trên lề đường thu hút ánh mắt tôi. Một chiếc Lada - trông nó y hệt như chiếc Lada của Valentina.
Không thể nào.
Chính là nó.
Valentina và Ed Hói ngồi đối diện nhau ở một chiếc bàn tròn trong góc phòng. Cửa ra vào lắp kính nên tôi có thể nhìn thấy ả rõ mồn một. Người ả mập thù lù. Tóc ả rối bù. Mắt ả lem phấn. Rồi tôi nhận ra nó không chỉ lem nhem mà còn chảy xuống má cô ả: cô ả đang khóc. Khi Ed Hói ngước lên, tôi thấy ông ta cũng khóc.
‘Ôi làm ơn đi’ tôi muốn gào lên nhưng rồi vẫn đứng đó mà không nói lời nào, nhìn họ nắm tay nhau trên bàn và trơ tráo rên rỉ với nhau. Những giọt nước mắt của họ chợt khiến tôi điên tiết: bọn họ khóc vì cái quái gì cơ chứ?
Rồi có ai đó lướt qua tôi bước vào quán, hai người họ nhìn lên và thấy tôi đứng đó. Valentina kêu lên rồi đứng bật dậy, áo choàng tuột khỏi vai cô ả và tôi nhìn thấy rõ điều lẽ ra tôi phải nhận thấy từ trước - điều tôi đã nhìn thấy nhưng không biết nó là gì: Valentina đang mang thai.
Chúng tôi nhìn thẳng vào nhau một thoáng. Cả hai đều không nói gì. Rồi Ed Hói nặng nề đứng dậy.
‘Cô không thấy chúng tôi đang nói chuyện à? Cô không thể để chúng tôi yên sao?’
Tôi lờ ông ta đi.
‘Valentina, tôi có tin quan trọng cần nói với cô. Chồng cô từ Ukraina tới. Anh ta đang ở với ba tôi. Anh ta muốn gặp cô. Và Stanislav. Anh ta có chuyện cần đích thân nói với cô.’
Nói xong tôi quay người bỏ đi.
○○○
Khi tôi quay về nhà ba thì ánh nắng đang nhạt dần và mưa đã dứt hạt, để lại trong không khí làn hơi ẩm ướt phảng phất mùi nấm mùa thu bí ẩn. Có lẽ là vì ánh hoàng hôn mà căn nhà trông có vẻ to hơn, khu vườn trông có vẻ rộng hơn, kéo dài từ phần đường phía sau hàng tử đinh hương. Phải một lát sau tôi mới nhận ra chiếc Rolls Royce đã đi rồi. Bốn người đàn ông cũng vậy.
Lẽ ra tôi phải vui mừng, nhưng tôi chỉ cảm thấy bực bội. Thế đấy, bọn họ đi tận hưởng những trò vui bồng bột, trong khi tôi còng lưng làm những công việc nặng nhọc - cung cấp cho họ đồ ăn thức uống - mà không được coi trọng. Đàn ông đúng là cùng một giuộc. Lại còn không ai có mặt để hoan hô tài năng thám tử tuyệt vời của tôi nữa chứ. Ô, có một người sẽ đánh giá cao công sức của tôi. Tôi đặt ấm nước lên bếp, cởi giày ra rồi gọi điện cho chị gái.
‘Có bầu!’ Vera kêu lên. ‘Đồ gái điếm! Đồ mất nết! Nhưng nghe này Nadia, có thể đây chỉ là một trò lừa gạt khác thôi. Tôi cá là không có cái thai nào hết, chỉ là cái gối nhét vào bên trong áo thôi.’
Khả năng nghi ngờ của bà chị lúc nào cũng làm tôi bất ngờ. Thế nhưng...
‘Nhìn thật lắm, Vera à. Không chỉ cái bụng, mà cả cách cô ả đứng nữa, mắt cá chân sưng lên. Hơn nữa, cô ả còn tăng cân khủng khiếp. Chỉ là chúng ta không nhận ra ngay từ đầu thôi.’
‘Nhưng thật không thể tin nổi! Dò ra được cô ả, làm được đó, Nadia.’ (Đối với Bà Chị Lớn này thì đó thực sự là một lời khen ngợi.) ‘Có lẽ tôi nên tới nhìn tận mắt thì hơn.’
‘Tùy chị thôi. Sớm muộn gì thì chúng ta cũng biết mà.’
Tôi uống xong tách trà và đang bắt đầu lấy đồ từ trong cốp xe ra thì nghe thấy tiếng xe đậu sau lưng. Tôi quay lại, đinh ninh sẽ thấy bốn người đàn ông cười toe toét bước ra khỏi chiếc Rolls Royce trắng. Nhưng đó là chiếc Lada xanh, Valentina đang ngồi lái bên trong.
Cô ả đậu xe trên bãi cỏ đầy vệt dầu loang rồi chui ra khỏi ghế. Cái bụng cô ả to đùng, bộ ngực khổng lồ căng mọng sữa. Ả đã chải lại tóc, trang điểm và xịt thêm chút nước hoa. Vẫn còn phảng phất vẻ quyến rũ xưa kia, và dù không ưa nhưng tôi cũng thấy vui khi gặp lại ả.
‘Chào Valentina. Thật vui khi cô tới được.’
Cô ả không nói gì, đi ngang qua mặt tôi rồi vòng ra sau nhà, nơi cánh cửa bếp đang mở.
‘Xin chào! Xin chào, Volodya!’ cô ả gọi.
Tôi đi theo ả vào nhà, giờ ả quay phắt sang tôi, miệng bĩu ra đầy vẻ hung hãn.
‘Không có ai ở đây. Cô nói dối tôi’
‘Anh ta ở đây thật, nhưng vừa ra ngoài. Nếu cô không tin thì cứ nhìn vào phòng ngủ. Đồ đạc anh ta vẫn còn ở đó.’
Ả xồng xộc leo lên cầu thang, mở toang cánh cửa mạnh đến mức đánh rầm vào tường. Rồi mọi thứ trở nên yên tĩnh. Một lát sau tôi lên lầu tìm ả. Tôi thấy cô ả ngồi trên chiếc giường của ả trước đây, ôm lấy cái ba lô nhỏ màu xanh như ôm một đứa bé. Cô ả ngơ ngác nhìn tôi.
‘Valentina’ Tôi ngồi xuống bên cạnh, đặt tay lên cái ba lô đang áp vào bụng cô ả. ‘Thật tuyệt khi có bầu.’
Cô ả không nói gì, vẫn ngơ ngác nhìn tôi.
‘Ba nó là Ed phải không? Ed ở Khách sạn Hoàng gia đó?’ Tôi chỉ đoán mò thôi, và cô ả biết tỏng.
‘Sao cô cứ nhúng mũi vào mọi chỗ vậy Hả?’
‘Ông ta có vẻ là một người đàn ông rất dễ thương.’
‘Đàn ông dễ thương. Không phải cha đứa nhỏ’
‘Ô, tôi hiểu rồi. Thật đáng tiếc’
Chúng tôi ngồi bên nhau trên giường. Tôi quay sang cô ả, nhưng cô ả chỉ đăm đăm nhìn thẳng về phía trước, nhăn trán suy nghĩ, chỉ để tôi nhìn thấy những đường nét nghiêng nghiêng xinh đẹp mà dữ tợn, gò má ửng hồng, đôi môi dửng dưng, làn da tươi sáng nhờ mang bầu. Đôi mắt mật ong của ả lấp lánh. Tôi không đoán ra cô ả đang nghĩ gì.
Tôi không biết chúng tôi ngồi như vậy bao lâu, cho đến khi tiếng xe đậu trước nhà làm chúng tôi giật mình. Chiếc Rolls Royce trắng đậu ngoài đường vì chiếc Lada và chiếc xe thổ tả đã choán hết khu vườn. Bốn người đàn ông chui ra, miệng cười toe toét tới tận mang tai, liến thoắng trò chuyện bằng đủ thứ tiếng hỗn tạp. Qua cửa sổ, tôi thấy ba giơ tay lên trời khi ông nhìn thấy chiếc Lada trên bãi cỏ. Ông gọi Dubov, háo hức chỉ cho anh ta thấy đặc điểm công nghệ của nó, trong lúc Dubov dường như chỉ quan tâm đến chuyện chủ của nó đang ở đâu. Eric Pike bám vào khuỷu tay của Mike và vung tay múa chân nói gì đó. Họ biến mất khỏi tầm nhìn, và tôi nghe thấy giọng nói của bọn họ vẳng lên cầu thang từ hành lang và phòng khách.
Sau đó dưới nhà yên lặng một cách đột ngột - cứ như là có người tắt công tắc vậy. Chỉ còn một giọng nói - giọng của Valentina.
‘Là cha của đứa nhỏ, chồng tôi Nikolai.’
Lúc tôi xuống thì mọi người đã tập hợp trong phòng khách. Valentina đang ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế bành bọc nhung màu be cứ như nữ hoàng chễm chệ trên ngai vàng, nhìn bao quát cả căn phòng. Dubov và ba tôi đang ngồi cạnh nhau trên chiếc trường kỷ nhỏ hai chỗ. Ba tôi mỉm cười tươi rơi rói. Dubov gục đầu vào tay. Eric Pike lòm khòm ngồi trên chiếc ghế để chân gần cửa sổ, cau có nhìn mọi người. Mike đứng trong góc đằng sau chiếc trường kỷ. Khi tôi len tới chỗ anh, anh choàng tay ôm vai tôi.
‘Đợi chút đã, Valentina’ tôi nói ngay. ‘Cô không thể có thai khi chỉ làm tình bằng miệng được, cô biết mà.’
Ả liếc mắc nhìn tôi hằn học.
‘Sao cô biết chuyện làm tình bằng miệng?’
‘Ồ, tôi biết...’
‘Nadia, thôi đi!’ ba tôi ngắt lời bằng tiếng Ukraina.
‘Valenka yêu quý’ Dubov lên tiếng, giọng thấm đẫm yêu thương, ‘có lẽ từ lần trước khi em ở Ukraina chăng? Anh biết là khá lâu rồi, nhưng tình yêu mang đến mọi phép màu. Có lẽ đứa bé quyết đợi đến lúc mình sum họp rồi mới chịu ra đời...’
Valentina lắc đầu. ‘Không thể nào.’ Giọng ả run rẩy.
Eric Pike không nói gì nhưng tôi thấy ông ta lén đếm ngón tay.
Valentina cũng đang tính toán. Mắt ả hết nhìn Dubov lại liếc sang ba tôi, rồi quay lại nhìn Dubov, nhưng mặt ả không lộ vẻ gì.
Vào đúng lúc đó, có tiếng bước chân vang lên bên ngoài và chuông cửa rít róng rung lên. Cửa không đóng, đột nhiên Ed Hói xông vào, theo sát đằng sau là Stanislav. Ông ta chạy thẳng đến phòng khách nơi Valentina đang ngồi. Stanislav lấp ló ngoài cửa, mắt chằm chằm nhìn Dubov, vừa khóc vừa cười. Dubov vẫy tay gọi nó lại gần, rồi ngồi sát vào ba tôi để chừa chỗ cho Stanislav và choàng tay ôm lấy thằng bé.
‘Được rồi, giờ ổn rồi’ anh ta thì thầm, xoa mớ tóc sẫm màu quăn tít của nó.
Hai má Stanislav đỏ ửng, một giọt nước mắt lăn tròn trên má, như thể thằng bé đang tan chảy trong hơi ấm vỗ về của người cha, nhưng nó vẫn không nói tiếng nào.
Ed Hói ngồi ngay trên tay ghế của Valentina như muốn khẳng định quyền sở hữu của mình. ‘Nào, Val, nói đi em!’ (Ông ta gọi cô ả là Val!) ‘Anh nghĩ đã đến lúc em cho chồng cũ của em biết sự thật. Sớm muộn gì thì ông ta cũng biết mà.’
Valentina lờ ông ta đi. Nhìn thẳng vào mắt ba tôi, cô ả đưa tay ôm ngực rồi vuốt xuống dưới bụng. Ba tôi run rẩy. Đầu gối ông bắt đầu lập cập. Dubov chồm qua đặt bàn tay béo ú lên bàn tay xương xẩu của ông.
‘Kolya, đừng có ngốc vậy mà.’
‘Không, tôi không ngốc, anh mới là thằng ngốc. Có ai nghe qua chuyện mang bầu mười tám tháng chưa! Mười tám tháng! Ha ha ha ha!’
‘Ai tạo ra đứa bé không quan trọng, quan trọng là ai sẽ là cha của nó’ Dubov bình tĩnh nói.
‘Anh ta nói cái gì thế?’ Ed Hói hỏi.
Tôi dịch lại.
‘Khốn kiếp thật. Quan trọng chứ! Tôi có quyền. Quyền làm cha, anh biết đấy. Nói với họ đi, Val.’
‘Anh không phải cha của đứa bé’ Valentina nói.
‘Anh không phải cha của đứa bé!’ ba tôi hòa giọng, mắt kích động. ‘Tôi là cha đứa bé!’
‘Chỉ có một câu trả lời thôi. Phải làm xét nghiệm huyết thống!’ một giọng nói lạnh lùng vang lên ngoài cửa. Vera đã lẳng lặng vào nhà mà không ai hay biết. Giờ thì chị bước vào phòng, đi về phía Valentina. ‘Nếu quả thật là cô đang mang bầu!’
Chị chồm tới muốn sờ vào bụng Valentina. Valentina đứng bật dậy, rú lên, ‘Không! Không! Đồ-bệnh-dịch-tả, đồ phù thủy ăn-thịt-trẻ-con! Cô không đặt tay lên tôi!’
‘Cô ta là kẻ quái quỷ nào thế?’ Ed Hói tóm lấy tay Vera để chặn chị lại.
Dubov bước lên, choàng tay quanh vai Valentina, nhưng cô ả xô anh ta ra rồi đi thẳng ra cửa.
Đến cửa cô ả dừng lại, lục tìm trong túi xách rồi lấy ra một chiếc chìa khóa nhỏ. Ả ném nó xuống sàn, nhổ nước bọt lên, rồi biến mất.
0

26.
Tất cả đều sẽ được cải tạo

‘Vậy chị nghĩ ai là cha đứa bé? Eric Pike hay Ed Hói?’
Tôi nằm ở tầng trên, Vera nằm tầng dưới chiếc giường trong căn phòng cũ của Stanislav, trước đó vốn là phòng dành cho Anna, Alice và Alexandra mỗi lần chúng ghé thăm, và trước đó nữa là phòng ngủ chung của tôi và Vera hồi chưa lấy chồng. Dường như việc hai chị em chúng tôi có thể ngủ cùng phòng với nhau lúc này đây đúng là một điều kỳ diệu, nhưng về một mặt nào đó, đây chính là điều hết sức tự nhiên. Chỉ có điều trước đây Vera toàn ngủ ở tầng trên còn tôi ngủ tầng dưới.
Qua vách tường mỏng, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng đàn ông thì thầm ở phòng bên cạnh: Stanislav và Dubov đang trò chuyện với nhau sau mười tám tháng chia cắt. Giọng họ dịu dàng thân thiết, thỉnh thoảng còn phá lên cười vui vẻ. Tiếng ngáy khò khè của ba vang lên từng đợt từ căn phòng bên dưới. Mike ở trong phòng khách, có người cho vừa chiếc sofa hai chỗ. May là anh cũng uống khá nhiều rượu mận trước khi đi ngủ- ‘Có một người khác nữa’ Vera nói. ‘Cô quên người đàn ông cô ta ở chung lúc đầu sao?’
‘Bob Tumer?’ Tôi chưa bao giờ nghĩ tới anh ta, nhưng giờ Vera nhắc tới tôi mới nhớ ra chiếc phong bì màu nâu dày cộm, nhớ tới cái đầu thò ra ngoài cửa sổ, tới cách ba tôi co rúm lại. ‘Đã hơn hai năm rồi. Không thể là anh ta được.’
‘Không thể sao?’ Vera cao giọng.
‘Ý chị là cô ả vẫn lăng nhăng với anh ta sau khi cưới ba ư?’
‘Bộ cô thấy ngạc nhiên lắm sao?’
‘Không hẳn.’
‘Cứ nghĩ là cô ả kiếm được đám khá hơn chứ. Chẳng có thằng kép nào coi được cả. Thật tình’ Vera lẩm bẩm, ‘cô ả cũng khá hấp dẫn, kiểu bọn gái điếm ấy. Nhưng dù sao ngủ với hạng gái đó là một chuyện, có cưới về làm vợ hay không là chuyện khác’
‘Nhưng Dubov cưới ả. Và anh ta xem ra cũng đàng hoàng lắm. Dubov vẫn còn yêu ả. Và em cho rằng ả thực lòng yêu anh ta - cứ nhìn cái cách ả lao vội đến khi nghe tin anh ta ở đây thì biết’
‘Nhưng ả lại bỏ rơi anh ta để theo ba’
‘Sức quyến rũ của cuộc sống phương Tây ấy mà.’
‘Giờ ả tưởng bằng vào cái bụng bầu ngớ ngẩn ấy thì có thể quay lại với ba - ba lúc nào cũng bị ám ảnh muốn có một đứa con trai.’
‘Nhưng thử tưởng tượng xem, từ bỏ tình yêu của cuộc đời để theo ba, sau đó phát hiện ra ba chẳng giàu có gì. Tất cả những gì ba có là tấm hộ chiếu Anh quốc - mà lại do Bob Tumer trả tiền nữa. Chẳng lẽ chị không thương hại cô ả chút nào sao?’
Vera yên lặng một thoáng.
‘Thật khó mà thương hại được. Nhất là sau vụ máy ghi âm. Còn cô thì sao?’
‘Thỉnh thoảng thôi.’
‘Nhưng cô ả cũng làm cho chúng ta thảm thương đấy, Nadia. Ả nghĩ là chúng ta ngu ngốc, xấu xí - và ngực lép’
‘Em thật không hiểu được Dubov yêu cái gì ở cô ta. Anh ta có vẻ rất... sáng suốt. Chị có thể cho rằng anh ta nhìn thấu được bản chất của cô ả’
‘Bộ ngực của cô ả đấy. Đàn ông ai cũng vậy thôi.’ Vera thở dài. ‘Cô có thấy cách Ed Hói chạy theo ả chưa? Thật đáng thương hại!’
‘Nhưng chị đã thấy xe của Ed Hói chưa? Rồi cái cách ba và Dubov nhìn nó thèm thuồng nữa?’
‘Mike cũng vậy mà.’
Sau khi Valentina bỏ đi, Ed Hói chạy vội theo ra vườn, cất giọng gọi như van vỉ ‘Val! Val!’ nhưng ả thậm chí chẳng thèm ngoái lại nhìn. Ả đóng rầm cửa xe rồi lái chiếc Lada đi, để lại một đám khói xanh cay xè luẩn quẩn trong vườn.
Ed Hói vẫy vẫy tay rồi chạy xuống đường theo xe của ả. Sau đó ông ta nhảy lên chiếc xe của mình đang đậu gần đó - chiếc Cadillac mui trần màu xanh lá kiểu những năm 50 của Mỹ, sườn xe mạ crôm sáng choang - và đuổi sát theo xe ả qua ngôi làng. Ba, Mike, Dubov và Eric Pike đứng nhìn chằm chằm qua cửa sổ trong lúc ông ta lái xe đi. Rồi bọn họ ngồi tụm lại uống mấy lon bia tôi vừa mua. Sau khoảng một giờ thì Eric Pike cũng đi về. Những người còn lại bắt đầu lôi chai rượu mận ra.
‘Vera, chị không nghĩ rằng ba có thể là cha đứa bé sao? Có người cỡ tuổi ba cũng có con được đó. Ba cũng có nhắc đến chuyện này hồi đầu rồi’
‘Đừng có ngốc nữa, Nadia. Cứ nhìn ba là biết ngay câu trả lời rồi. Hơn nữa, chính ông nói ra chuyện họ không quan hệ tình dục mà. Tôi nghĩ nhiều khả năng đó là Ed Hói. Tưởng tượng chuyện dây dưa với một người đàn ông tên là Ed Hói xem!’
‘Em cho rằng ông ta còn có tên khác. Hơn nữa, nếu ba ly dị cô ả, chúng ta sẽ chẳng dây dưa gì với ông ta hết.’
‘Nếu!’
‘Chị nghi là ba vẫn có thể đổi ý hả?’
‘Tôi chắc chắn là vậy đấy. Nhất là nếu ba cứ tự thuyết phục mình rằng đứa nhỏ là con trai. Tạo ra nhờ làm tình bằng miệng. Hay nhờ trao đổi ý tưởng thuần khiết kiểu Platon nào đó.’
‘Không thể nào ba lại ngốc vậy chứ’
‘Có thể lắm chứ’ Vera nói. ‘Cứ nhìn vào bảng thành tích trước đây của ba mà xem’
Chúng tôi khúc khích cười tự mãn. Nằm phía trên chị trong bóng tối, tôi cảm thấy vừa gần gũi vừa xa cách với chị. Hồi còn nhỏ, chúng tôi vẫn thường hay nói xấu ba mẹ với nhau.
Giờ ít nhất cũng đã là ba giờ sáng. Tiếng thì thầm ở phòng bên cũng đã im bặt. Tôi gần như chìm vào giấc ngủ. Bóng tối bao trùm thật dễ chịu. Chị em tôi ở gần nhau đến nỗi có thể nghe được hơi thở của nhau, nhưng bóng tối che phủ khuôn mặt chúng tôi, cứ như trong phòng thú tội vậy, nên không có gì giống như phán xét hay tủi hổ cả. Tôi biết có thể không bao giờ có được cơ hội như thế này lần nữa.
‘Ba nói chị gặp chuyện gì đó trong trại tập trung ở Drachensee. Có dính tới thuốc lá. Chị còn nhớ không?’
‘Đương nhiên là tôi nhớ rồi’ Tôi đợi chị nói tiếp, và một lát sau chị bảo, ‘Nadia, nhiều chuyện cô không nên biết thì hơn’
‘Em hiểu, nhưng chị cứ kể đi’
○○○
Trại lao động cải tạo ở Drachensee là một nơi tàn bạo, hỗn loạn, xấu xa và rộng lớn. Lao dịch từ Ba Lan, Ukraina, Belarus nhập ngũ để tăng cường nỗ lực chiến tranh của nước Đức, những người cộng sản và thành viên công đoàn được đưa tới từ các nước Vùng đất thấp[link=#id14]*[/link] để cải tạo lại, người Di Gan, dân đồng tính, bọn tội phạm, người Do Thái trước khi bị giết hại, bệnh nhân tâm thần, chiến binh cách mạng bị bắt giữ, tất cả kề vai sát cánh trong những doanh trại bê tông đầy chấy rận. Ở một nơi như vậy, trật tự duy nhất nằm trong tay kẻ hung bạo. Quyền thống trị của kẻ hung bạo được thiết lập lại ở mỗi cấp độ; mỗi cộng đồng và tiểu cộng đồng đều có giai tầng nắm quyền riêng.
Trong đám con cái của những người lao dịch, đứng đầu nhóm thống trị là một thằng nhỏ ốm yếu với khuôn mặt ranh mãnh tên gọi Kishka. Nó chắc phải mười sáu tuổi rồi nhưng khá nhỏ con so với tuổi thật, có lẽ vì thuở bé thiếu ăn, hay cũng có lẽ vì nó nghiện. Kishka mỗi ngày hút khoảng bốn mươi điếu thuốc lá.
Dầu nhỏ con nhưng Kishka tập hợp được quanh mình một nhóm những đứa to con sẵn sàng nghe lệnh; trong đám theo đuôi đó có một thằng cục súc tên là Vanenko, hai đứa nhóc người Moldavia đầu óc ngu si tứ chi phát triển, một con bé nguy hiểm với ánh mắt liều lĩnh tên gọi Lena. Con này lúc nào cũng có rất nhiều thuốc lá - nghe đồn nó ngủ với bọn lính. Để đảm bảo Kishka và băng đảng của nó có đủ thuốc lá, những đứa nhỏ còn lại phải ‘đóng thuế’ - có nghĩa là chúng phải trộm thuốc lá của ba mẹ rồi nộp cho Kishka, sau đó Kishka sẽ chia lại cho đồng bọn. Những đứa nào không nộp sẽ bị trừng phạt.
Trong đám trẻ con ở trại cải tạo, chỉ mình Vera bé nhỏ nhút nhát rụt rè là chưa nộp thuế thuốc lá lần nào. Làm sao có thể như thế được? Vera chống chế rằng cha mẹ cô không hút thuốc, rằng họ đổi thuốc lá lấy thức ăn và những đồ dùng khác.
‘Vậy thì mày phải trộm thuốc lá từ những người khác’ Kishka nói.
Vanenko và hai đứa nhóc người Moldavia mỉm cười. Lena nháy mắt.
Vera hết sức phiền muộn. Cô biết kiếm thuốc lá ở đâu bây giờ? Cô bé lẻn vào doanh trại lúc không có ai, rồi lục lọi trong số đồ đạc cá nhân ít ỏi để dưới gầm giường. Nhưng cô bị bắt và bị kéo tai đuổi ra ngoài. Cứng người vì tuyệt vọng trong lúc chờ ăn đòn, cô bé đứng ở góc sân, suy nghĩ tìm chỗ lẩn trốn, dẫu cô biết là có trốn ở đâu cũng sẽ bị bọn kia tìm ra. Sau đó cô để ý thấy một chiếc áo khoác treo trên cây đinh đóng ngay cửa. Đó là áo khoác của một tên lính - hắn ta đang đứng bên ngoài hàng rào, hút thuốc và nhìn sang hướng khác. Nhanh nhẹn như một con mèo, cô thò tay vào túi áo và tìm thấy một gói thuốc lá còn gần đầy. Cô giấu nó trong vạt váy.
Sau đó, khi Kishka đến tìm, cô đưa thuốc lá cho nó. Nó mừng rỡ. Thuốc lá quân đội có chất lượng cao hơn hẳn thứ rác rưởi phát cho người lao động.
Nếu Vera chỉ lấy một hai điếu thì câu chuyện đã khác hẳn. Nhưng tên lính đương nhiên phát hiện ra gói thuốc lá đã bị mất. Hắn vung vẩy cây roi đi rảo khắp sân, hỏi cung từng đứa nhóc một. Thiếu thuốc làm hắn bực bội. Có ai thấy tên trộm không? Ai đó phải biết chứ. Nếu họ không khai, cả khu trại sẽ bị phạt. Cha mẹ cũng vậy. Không ai thoát được. Hắn lầm bầm nhắc tới khu trừng phạt, nơi chẳng mấy ai sống sót bước ra được. Đám trẻ con cũng đã nghe đồn về nơi đó và đứa nào cũng sợ hãi.
Chính Kishka đã chỉ điểm Vera.
‘Làm ơn thưa ngài’ nó van xin, rúm người lại khi bị tên lính nhéo tai, Là nó - cái con ốm nhách đứng đằng kia - nó trộm thuốc lá và chia đều cho mấy đứa nhóc’
Nó chỉ sang Vera bé nhỏ lúc ấy đang đứng im lặng gần cửa một cái lều.
‘Là mày hả?’
Tên lính túm lấy cổ áo của Vera bé nhỏ. Cô bé sợ hết hồn không dám cãi và òa lên khóc. Hắn ném cô vào bốt gác rồi khóa cửa lại.
Vừa từ nhà máy quay về, mẹ đã đi tìm Vera mà không thấy cô bé đâu. Có người chỉ chỗ cho bà biết.
‘Con gái mày là một con chuột nhắt trộm cắp’ tên lính nói. ‘Nó phải được dạy một bài học.’
‘Không’ mẹ tôi van vỉ bằng thứ tiếng Đức bập bõm, ‘nó không biết nó làm sai đâu. Mấy đứa lớn ép nó làm vậy. Nó thì cần thuốc lá làm gì chứ? Ông không thấy nó chỉ là một đứa nhỏ ngu ngốc thôi sao?’
‘Ngu ngốc, đúng vậy, nhưng tao cần thuốc lá’ tên lính nói. Hắn là một thằng to con, nói năng chậm chạp, trẻ hơn mẹ tôi. ‘Mày phải đưa cho tao số thuốc lá của mày.’
‘Tôi xin lỗi, tôi chẳng có điếu nào. Tôi đã đem đổi hết rồi. Ông thấy đấy, tôi đâu có hút thuốc. Tuần tới, khi chúng tôi lãnh lương, tôi sẽ đưa hết cho ông.’
‘Tuần tới thì có ích gì? Tuần tới mày lại bịa ra chuyện khác.’ Tên lính bắt đầu vung vẩy cây roi quanh chân họ. Mặt và tai hắn đỏ ké lên. ‘Đám người Ukraina bọn mày là một lũ lợn không biết điều. Chúng tao cứu giúp bọn mày, đem bọn mày tới đất nước chúng tao, cho chúng mày ăn, cho chúng mày làm việc. Vậy mà bọn mày chỉ biết trộm cắp của chúng tao. Vậy thì mày cần phải được dạy một bài học, phải không? Chúng tao có một khu trừng phạt dành riêng cho đám sâu bọ bọn mày. Mày nghe nói đến khu F chưa? Mày có biết ở đó chúng tao chăm sóc bọn mày kỹ càng thế nào không? Mày sẽ sớm biết thôi’
Ai cũng nghe những lời đồn đáng sợ về khu trừng phạt, một dãy bốn mươi tám xà lim bê tông chật chội không cửa sổ bị chôn sâu quá nửa ở dưới đất, chẳng khác nào quan tài dựng đứng, nằm tách biệt trong trại lao động cải tạo. Mùa đông, cái lạnh và mưa rơi góp tay trừng phạt tù nhân, mùa hè thì thiếu nước. Nhiều người khi được kéo ra thì đã phát cuồng, chỉ còn da bọc xương dù mới ở đó mười hai mươi ba mươi ngày. Dài hơn thì, như người ta nói, chẳng còn ai sống sót.
‘Không’ mẹ tôi van vỉ. ‘Xin hãy rủ lòng thương!’
Bà kéo Vera và giấu cô bé sau váy mình. Bọn họ co rúm vào tường. Tên lính tiến lại gần, gần sát rồi gí mặt vào bọn họ. Cằm hắn lơ thơ những cọng ria lởm chởm hung vàng. Hắn nhất định chỉ ngoài hai mươi.
‘Ông có vẻ là một người tử tế’ mẹ tôi cầu xin, lắp bắp những từ tiếng Đức xa lạ. Mắt bà đầy lệ. ‘Làm ơn, xin hãy rủ lòng thương chúng tôi, chàng trai trẻ’
‘Được, chúng tao sẽ rủ lòng thương. Chúng tao sẽ không tách mày khỏi đứa bé’ Nước bọt từ cái mồm đầy răng khấp khểnh của hắn bắn vào mặt bọn họ. Hắn có vẻ phấn khích trước quyền lực của mình. ‘Mày sẽ đi cùng với nó, đồ mẹ sâu bọ’
‘Vì sao ông phải làm vậy? Ông không có chị sao? Ông không có mẹ sao?’
‘Tại sao mày nhắc tới mẹ tao? Mẹ tao là một phụ nữ Đức đứng đắn’ Hắn dừng lại một chút, chớp mắt, nhưng hắn quá phấn khích, hay cũng có thể hắn chẳng nhớ được mẹ mình thế nào.
‘Chúng tao sẽ chỉ cho mày cách dạy con không trộm cắp. Bọn mày sẽ được cải tạo. Và cả thằng chồng sâu bọ của mày nữa, nếu mày có chồng. Tất cả bọn mày sẽ bị cải tạo’
Bóng tối bủa vây chúng tôi. Sau đó tôi nghe thấy tiếng gì như tiếng nghẹn ngào lén lút bị kìm lại phát ra từ cái giường bên dưới. Tôi nằm yên cố đoán xem nó thật sự là cái gì, bởi âm thanh này tôi chưa hề nghe thấy lần nào, âm thanh tôi từ chối không chịu nghe, âm thanh tôi chưa hề nghĩ là nó tồn tại. Đó là tiếng khóc của Bà Chị Lớn.
Một ngày nào đó tôi sẽ hỏi Vera về khu trừng phạt, nhưng giờ không phải là lúc thích hợp. Hay có lẽ chị tôi nói đúng: có lẽ có nhiều thứ tôi không nên biết là hơn, bởi vì bóng đen của nó không thể nào xóa mờ được. Ba mẹ tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về khu trừng phạt, và tôi lớn lên mà không biết tới sự đen tối ẩn giấu trong tâm hồn con người.
Làm sao họ có thể tiếp tục sống với bí mật khủng khiếp trong tim như thế? Làm sao họ có thể trồng rau, sửa xe, cho chúng tôi đi học và lo lắng về kết quả thi cử của chúng tôi?
Nhưng họ đã làm được những điều đó.
0

27.
Nguồn lao động rẻ tiền

‘Ba à, hãy cố mà tỉnh lại đi’ Bà Chị Lớn nói, đặt phịch bình sữa xuống bàn. ‘Ba không thể nào là cha của đứa nhỏ được. Ba nghĩ tại sao ả lại bỏ chạy khi con nhắc tới chuyện xét nghiệm huyết thống chứ?’
‘Vera, con lúc nào cũng là một kẻ chuyên quyền nhiều chuyện’ ba nói, đổ sữa béo lên ngũ cốc Shredded Wheat rồi rắc cả đống đường vào. ‘Để ba yên. Giờ thì quay lại London đi. Làm ơn đi đi!’ Tay ba run rẩy nhưng ba vẫn cố múc ngũ cốc bỏ vào miệng, rồi ông bắt đầu ho, những mẩu ngũ cốc Shredded Wheat bắn ra đầy bàn.
‘Làm ơn ra vẻ người lớn một lần trong đời đi ba. Chuyện gì xảy ra với não của ba vậy? Ba không phải là cha đứa nhỏ, mà chính ba mới là một đứa con nít. Nhìn cách cư xử của ba kìa - đúng là hết sức trẻ con!’
‘Chứng rối loạn trẻ con! Ha ha ha!’ Ba tôi gõ mạnh cái muỗng xuống bàn. ‘Vera, cô càng lúc càng điên khùng đấy!’
‘Xét nghiệm huyết thống cũng là một ý hay’ tôi khôn khéo xen vào, ‘bởi vì nó chẳng những giúp ba biết được ba có phải là cha ruột đứa nhỏ không, mà còn biết cả giới tính của đứa nhỏ nữa.’
‘A ha’ Ba tôi dừng cơn ho lại. ‘Ý hay đấy. Con trai hay con gái. Hay đấy’
Vera nhìn tôi vẻ khen ngợi.
Stanislav và Dubov đang ngồi ngoài vườn trước, trò chuyện thân mật dưới ca pô mở nắp của chiếc Rolls Royce. Mike thì vẫn còn ngủ ngoài phòng khách, nhưng anh đã ngã khỏi chiếc trường kỷ và giờ đang nằm dưới đất. Vera, ba và tôi dùng bữa sáng ở căn phòng đằng sau, giờ vừa là phòng ăn vừa là phòng ngủ của ba. Ánh mặt trời chênh chếch rọi qua những ô cửa sổ đầy bụi phủ. Ba tôi vẫn mặc chiếc áo ngủ quái dị do chính tay ông làm. Ông nối dài chiếc sơ mi Viyella kẻ ô vuông cũ bằng mấy mảnh vải bông in họa tiết hoa, khâu đè lên đuôi áo những đường chỉ lớn màu đen ngoằn ngoèo, và nối vạt áo trước bằng những sợi dây giày màu nâu. Chiếc áo hở cổ, vết sẹo cũ phủ đầy lông bạc chớp chớp mắt với chúng tôi trong lúc ông nói chuyện.
‘Nhưng...’ ông thận trọng hết đưa mắt nhìn tôi lại nhìn sang Vera, ‘... chỉ có thể xét nghiệm huyết thống sau khi đứa nhỏ được sinh ra thôi. Khi đó thì biết ngay nó là trai hay gái rồi mà’
‘Không, không. Có cách để kiểm tra đứa nhỏ trước khi sinh. Trong dạ con.’ Vera liếc mắt sang tôi. ‘Nadia và con sẽ trả tiền’
‘Hừm’ Ba tôi vẫn tỏ vẻ nghi ngờ, cứ như thể ông nghĩ chúng tôi đang cố lừa ông vậy. (Chúng tôi thèm vào!)
Vào đúng lúc đó, hộp thư kêu leng keng. Thư tín buổi sáng được giao tới. Giữa hàng chồng thư mời mở thẻ tín dụng, những lời mời gọi hấp dẫn mua mỹ phẩm, thực phẩm chức năng và những lời hứa hẹn về những giải thưởng siêu lớn sẽ được trao, đã được trao và chờ đợi được xướng tên người nhận (Ba tôi: ‘Cô ấy thật may mắn khi trúng những giải thưởng như vậy!’), tất cả đều được gởi đến cho Valentina, là một lá thư cô Carter gửi cho ba tôi. Cô nhắc ông rằng phiên tòa xử ly dị sẽ diễn ra trong hai tuần tới, và thông báo cho ba biết lời đề nghị của luật sư của Valentina rằng cô ả sẽ không phản đối ly dị, không đòi chia tài sản của ba tôi, mà chỉ yêu cầu một khoản tiền trọn gói là 20.000 bảng.
‘Hai mươi ngàn bảng!’ Vera kêu lên. ‘Thật quá đáng!’
‘Dù sao thì ba cũng không có hai mươi ngàn bảng. Nên chẳng cần lo.’
‘Hừm’ ba tôi nói. ‘Có lẽ nếu ba bán nhà và vào ở trong khu nhà dưỡng lão...’
‘Không!’ Vera và tôi đồng thanh phản đối.
‘Hay là hai đứa con, Nadia, Vera, giúp người đàn ông già cả ngốc nghếch này...’
Rõ ràng là ông lo lắng trước yêu cầu của cô ả.
‘Không! Không!’
‘Nhưng nếu chuyện này được đưa ra tòa...’ tôi nói to suy nghĩ của mình, ‘thì tòa sẽ yêu cầu trả bao nhiêu?’
‘Đương nhiên họ có thể xử cho ả được phân nửa số tài sản’ bà Chuyên Gia Ly Dị nói, ‘nếu ba là cha đứa nhỏ. Nếu không phải thì tôi cho rằng họ chẳng cho ả bao nhiêu đâu.’
‘Ba à, ba thấy chưa? Chính vì vậy mà ả đòi tiền thỏa thuận trước đó. Bởi vì ả biết đứa nhỏ không phải là con ba, và tòa sẽ chẳng cho ả một xu.’
‘Hừm.’
‘Đúng là một trò lừa đảo xảo quyệt’ bà Chuyên Gia Ly Dị nói.
‘Hừm.’
‘Con nghĩ ra một ý, ba à’ tôi từ từ rót đầy tách trà của ba, ‘sao chúng ta không gọi điện cho Laura Carter và nói là ba sẵn sàng trả đủ 20.000 bảng, với điều kiện ả đồng ý cho xét nghiệm huyết thống, chúng ta sẽ trả tiền xét nghiệm, và đứa nhỏ là con ruột của ba.’
‘Như vậy quá công bằng rồi còn gì?’ bà Chuyên Gia Ly Dị nói.
‘Còn gì công bằng hơn thế nữa chứ, Nikolai?’ Mike nói. Anh đã thức dậy và đang đứng ở cửa, hai tay day day thái dương. ‘Trong ấm còn trà không? Anh thấy hơi mệt.’
Ba nhìn sang Mike. Anh nháy mắt động viên và gật đầu với ba.
‘Hừm. OK.’ Ba tôi nhún vai đầu hàng.
‘Còn gì công bằng hơn thế nữa?’ cô Carter nói qua điện thoại. ‘Nhưng... chị chắc chứ...?’
Tôi nhìn sang ba. Ông nhăn trán đăm chiêu trong lúc hớp một ngụm trà, miếng vải in hoa may thêm của chiếc áo ngủ không che hết được hai đầu gối sưng vù vì thấp khớp, hai bắp đùi gầy nhẳng, và phía trên nữa... Tôi không dám tưởng tượng tiếp.
‘Vâng, hoàn toàn chắc chắn.’
○○○
Stanislav dẫn Dubov đến gặp Valentina. Họ cùng biến mất trong chiếc Rolls Royce vào lúc nào đó buổi sáng nay.
Đến quá giữa trưa Dubov mới quay lại, một mình. Mặt anh ta lộ vẻ nghiêm nghị.
‘Nói cho chúng tôi biết cô ấy ở đâu đi?’ tôi hỏi bằng tiếng Ukraina.
Anh ta ngửa tay ra.
‘Tôi xin lỗi, tôi không nói được. Tôi hứa rồi.’ ‘Nhưng... chúng tôi cần phải biết. Ba tôi cần phải biết.’
‘Cô ấy rất sợ các cô, Nadia và Vera ạ.’
‘Sợ chúng tôi?’ tôi mỉm cười. ‘Chúng tôi đáng sợ lắm sao?’
Dubov mỉm cười tế nhị. ‘Cô ấy sợ bị đuổi về Ukraina’
‘Nhưng Ukraina đáng sợ lắm sao?’
Dubov suy nghĩ một lát. Đôi mày rậm của anh ta nhíu lại. ‘Hiện giờ thì đúng là vậy. Hiện giờ đất mẹ yêu quý của chúng tôi đang nằm trong tay của bọn tội phạm và bọn trộm cướp’
‘Đúng đúng’ ba tôi xen vào. Nãy giờ ông vẫn ngồi yên trong góc gọt táo. ‘Valenka cũng nói y như vậy. Nhưng Volodya Simeonovich này, hãy cho tôi biết sao người dân thông minh như vậy lại để chuyện đó xảy ra cơ chứ?’
‘À, đó là bản chất rối loạn của chủ nghĩa tư bản mà chúng tôi đang phải chịu, Nikolai Alexeevich ạ’ Dubov đáp bằng giọng sắc sảo và bình tĩnh. ‘Các cố vấn phương Tây chỉ cho chúng tôi cách xây dựng nền kinh tế tư bản. Mô hình của bọn họ là chủ nghĩa tư bản Mỹ thời kỳ đầu, tham lam và cướp đoạt.’
Mike nghe được mấy chữ ‘chủ nghĩa tư bản Mỹ’ và giờ anh cũng muốn tham gia câu chuyện.
‘Anh nói đúng, Dubov. Đó toàn là những cặn bã của chủ nghĩa tự do mới. Bọn lừa đảo chiếm đoạt hết tài sản rồi nhét vào những công ty được gọi là hợp pháp. Sau đó, nếu may mắn, thì một phần nhỏ trong đó có thể sẽ nhỏ giọt xuống cho những người còn lại trong chúng ta. Rockefeller, Carnegie, Morgan. Tất cả bọn họ đều khởi đầu là những ông trùm tư bản. Giờ thì những tập đoàn hàng triệu đô của bọn họ lấp lánh trong ánh hào quang’ (Anh mê tít mọi cuộc tranh luận chính trị.) ‘Em có dịch được không, Nadia?’
‘Không hẳn, nhưng em sẽ cố hết sức.’ Tôi cố hết sức dịch cho Dubov nghe.
‘Nhưng cũng có người biện luận rằng giai đoạn cướp bóc là cần thiết nhằm phát triển chủ nghĩa tư bản’ Dubov thêm vào.
‘Thật tuyệt!’ Vera kêu lên. ‘Ý anh là bọn cướp được đưa đến đó một cách có chủ ý à?’ (Hoặc là chị chỉ hiểu lõm bõm tiếng Ukraina, hoặc là trình độ phiên dịch của tôi tệ hơn tôi tưởng.)
‘Không hẳn’ Dubov kiên nhẫn giải thích. ‘Nhưng đám cướp này đã có sẵn ở đó rồi, bản năng cướp bóc của chúng bị kìm lại bởi lớp màn của xã hội dân sự, và một khi lớp màn ấy bị xé bỏ thì bản năng ấy nảy nở như cỏ dại trên cánh đồng mới cày xong.’
Cách nói chuyện của anh ta có cái gì đó mô phạm đến phát bực, hơi giống cách nói của ba. Thường thì nó sẽ làm tôi nổi khùng, nhưng giờ tôi lại cảm thấy bị lôi cuốn bởi sự chân thành của anh ta.
‘Nhưng theo anh thì có cách nào giải quyết không, Dubov?’ Mike hỏi, Tôi phiên dịch lại.
Trong ngắn hạn thì không, về dài hạn thì tôi sẽ trả lời là có. Bản thân tôi thì thích mô hình của các nước Scandinavia hơn. Tập hợp những gì tốt đẹp nhất của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội’ Dubov xoa tay. ‘Chỉ những gì tốt đẹp nhất, Mikhail Gordonovich ạ. Anh có đồng ý không?’
(Cha của Mike tên là Gordon. Chẳng ai biết tên tương đương trong tiếng Nga của ông là gì.)
‘Ừ, đương nhiên, ở một nước công nghiệp phát triển cùng với hoạt động công đoàn mạnh mẽ như Thụy Sĩ thì rất có thể.’ (Đây là sân nhà của Mike.) ‘Nhưng ở một nước như Ukraina thì sao?’
Anh đề nghị tôi dịch lại. Tôi ước gì mình không dính vào chuyện dịch dọt này. Cả hai chúng tôi đã xin nghỉ làm buổi sáng, giờ chúng tôi phải đi thôi. Nếu cứ tiếp tục nói chuyện thế này thì chúng tôi sẽ lại lôi chai rượu mận ra mất.
‘À, đúng là chúng tôi gặp phải một vấn đề hết sức nan giải’ Dubov thở dài, đôi mắt màu đen đá cuội của anh ta chăm chú nhìn vào người nghe. ‘Nhưng Ukraina phải tự tìm con đường riêng cho mình. Hiện giờ, chao ôi, chúng tôi mặc nhiên chấp nhận mọi thứ từ phương Tây. Một số đường lối thì tốt, một số thì rác rưởi’ (Dẫu không vui, tôi vẫn tiếp tục dịch. Mike gật đầu. Vera đi đến gần cửa sổ và châm một điếu thuốc. Ba tiếp tục gọt táo). ‘Khi chúng tôi có thể bỏ lại sau lưng những ký ức khủng khiếp về trại giam tù chính trị, thì chúng tôi có thể tìm lại được những điều tốt trong chủ nghĩa xã hội trước kia. Đến lúc đó, chúng tôi sẽ nhìn rõ được bản chất của bọn cố vấn - đám trùm, tư bản bóc lột tài nguyên của đất nước chúng tôi, lập ra những xí nghiệp do người Mỹ nắm quyền nơi nhân dân chúng tôi phải làm việc với đồng lương chết đói. Người Nga, người Đức, người Mỹ, tất cả bọn họ thấy gì ở Ukraina chứ? Chẳng có gì ngoài nguồn lao động rẻ tiền’
Bắt đầu kích động, anh ta nói càng lúc càng nhanh, đôi tay to lớn vung vẩy. Tôi khó khăn lắm mới theo kịp anh ta.
‘Chúng tôi từng là một quốc gia mà đa số người dân là nông dân và kỹ sư. Chúng tôi không giàu, nhưng chúng tôi sống đủ’ (Ở góc phòng, ba tôi gật gù đồng ý, con dao gọt táo dừng lại giữa lưng chừng.) ‘Giờ thì lũ cướp làm kiệt quệ các ngành công nghiệp của chúng tôi, trong khi đám thanh niên trí thức thì chạy sang phương Tây để làm giàu. Sản phẩm xuất khẩu của đất nước chúng tôi là những phụ nữ trẻ xinh đẹp, họ đi làm điếm để thỏa mãn nhu cầu kinh tởm của đàn ông phương Tây. Đó là một bi kịch’
Anh ta dừng lại, nhìn quanh, nhưng không ai nói gì.
‘Đúng là bi kịch’ cuối cùng Mike lên tiếng. ‘Chuyện đó xảy ra rất nhiều ở đất nước các anh’
‘Họ cười vào mũi chúng tôi. Họ cho rằng bản chất chúng tôi vốn thối rữa như vậy’ Giọng Dubov trở nên trầm lặng hơn. ‘Nhưng tôi cho rằng đó đơn thuần chỉ là đặc trưng của loại hình kinh tế vốn áp đặt lên chúng tôi thôi’
Vera nãy giờ đứng bên cửa sổ, càng lúc càng tỏ ra bực bội với cuộc nói chuyện.
‘Nhưng vậy thì càng hợp với Valentina chứ’ chị tuyên bố. Tôi liếc mắt ra hiệu chị hãy im miệng.
‘Nhưng Dubov à, cho tôi biết’ tôi hỏi, không thể ngăn lại ngay cả khi trong giọng nói của tôi lúc này có nhuốm chút ác ý, làm sao anh có thể thuyết phục một người... nhạy cảm như Valentina quay trở lại một nơi như thế?’
Anh ta nhún vai, giơ tay đầu hàng, nhưng miệng lại hơi mỉm cười.
‘Có một vài khả năng’
○○○
‘Một người đàn ông thú vị’ Mike nói.
‘Ừm’
‘Đối với một kỹ sư thì những hiểu biết về kinh tế học của anh ta thật đáng kinh ngạc.’
‘Ừm.’
Chúng tôi chỉ mới đi được nửa đường về nhà, và tôi có giờ giảng vào ba giờ chiều. Lẽ ra lúc này tôi phải nghĩ về Phụ nữ và Toàn cầu hóa, vậy mà suy nghĩ của tôi lại xoay quanh những điều Dubov nói. Mẹ và Vera ở trong trại lao động cải tạo quây hàng rào kẽm gai; Valentina làm việc quần quật như một kẻ nô lệ trong những ca làm lương thấp ở viện điều dưỡng, phía sau quán rượu Khách sạn Hoàng gia, nhục nhã trong phòng ngủ của ba tôi. Đúng, cô ả tham lam, lợi dụng, tàn ác, nhưng cô ả cũng là nạn nhân. Nguồn lao động giá rẻ.
‘Anh tự hỏi không biết mọi chuyện sẽ kết thúc ra sao’
‘Ừm’
Thế hệ của tôi thật là may mắn.
○○○
Tôi không biết Dubov cưa cẩm cô ả thế nào trong hai tuần sau đó, nhưng ba tôi kể ngày nào anh ta cũng lái chiếc Rolls Royce đi, lúc buổi sáng, lúc bữa chiều. Và lần nào quay về anh ta cũng rất vui vẻ, tuy thỉnh thoảng trông có hơi tiu nghỉu.
Chính Dubov là người duy trì quyết tâm của ba tôi trong vụ ly dị khi mỗi lần ba tôi dao động, thời gian đầu hầu như ngày nào ba tôi cũng muốn suy nghĩ lại vụ này.
‘Nikolai Alexeevich’ anh ta khuyên, ‘Vera và Nadia thật có phúc khi được người cha thông thái là ông nuôi dạy lớn khôn. Stanislav cũng cần ở bên cha nó. Còn với đứa nhỏ - một đứa nhỏ thì cần một người cha trẻ. Ông hãy hài lòng với những đứa con ruột của mình đi’
‘Nhưng này, anh cũng chẳng trẻ trung gì lắm đâu, Volodya Simeonovich ạ’ ba tôi bật lại. Song Dubov vẫn giữ bình tĩnh.
‘Đúng vậy. Nhưng tôi vẫn trẻ hơn ông nhiều’
Luật sư của Valentina gửi lại thư cho cô Carter, từ chối thẳng việc xét nghiệm huyết thống, nhưng đồng ý giảm hẳn khoản tiền bồi thường xuống còn 5.000 bảng và yêu cầu thanh toán đầy đủ trong một lần.
‘Ba phải trả lời thế nào?’ ba tôi hỏi.
‘Chúng ta phải trả lời thế nào?’ tôi hỏi Vera.
‘Cô đề nghị thế nào?’ Vera hỏi cô Carter.
‘Đề nghị trả 2.000 bảng’ cô Carter nói. ‘Chắc tòa sẽ yêu cầu trả chừng ấy. Nhất là khi có bằng chứng ngoại tình rõ rệt thế này’
‘Được đấy’ Vera nói.
‘Em sẽ nói với ba’ tôi nói.
‘OK, nếu con muốn vậy’ ba tôi nhân nhượng. ‘Rõ ràng là mọi người đều chống lại ba’
‘Đừng có ngốc vậy, ba à’ tôi gắt. ‘Chỉ có sự ngu ngốc của ba đang chống lại ba mà thôi. Ba phải biết ơn vì có mọi người chung quanh giúp đỡ ba thoát khỏi chính mình chứ’
‘OK. OK. Ba nghe theo hết.’
‘Và khi ba ra tòa, đừng có nói mấy điều vớ vẩn như "Tôi là cha của cái bầu nhé". Không xét nghiệm huyết thống, không "cha của cái bầu". Được chứ?’
‘OK’ ông càu nhàu. ‘Nadia, con càng lúc càng giống con quái vật Vera rồi đấy’
‘Ô, thôi đi Ba ơi’ Tôi cúp máy.
Chỉ còn một tuần nữa là tới phiên tòa, ai nấy đều có chút căng thẳng.
0

28.
Kính gọng vàng

Chỉ còn một ngày nữa là phiên tòa sẽ diễn ra, nhưng luật sư của Valentina vẫn chưa trả lời gì về đề nghị 2.000 bảng của chúng tôi cả.
‘Tôi cho rằng chúng ta đành phải theo vụ này đến cùng, và xem tòa quyết định ra sao thôi’
Giọng Anh cực chuẩn của cô Carter có chút lo lắng, hay là trạng thái thần kinh kích động của tôi tưởng tượng ra?
‘Nhưng cô nghĩ sao hả Laura?’
‘Khó nói lắm. Chuyện gì cũng có thể xảy ra cả.’
Tháng Mười một mà khí hậu ôn hòa một cách bất thường. Phòng xử án, một tòa nhà thấp kiểu mới với những ô cửa sổ cao và tường ốp gỗ gụ, tắm trong ánh sáng mùa đông trong trẻo mà gay gắt khiến mọi vật vừa thực lại vừa hư, cứ như trong một bộ phim vậy. Những tấm thảm dày màu xanh hãm lại tiếng bước chân và tiếng chuyện trò. Trong phòng bật điều hòa, không khí có phần quá ấm, và tỏa mùi sáp đánh bóng. Ngay cả cây trong chậu cũng xanh bóng đến mức chẳng giống thật chút nào.
Vera, ba, cô Carter và tôi ngồi ở khu chờ nhỏ dành riêng cho mình ở bên ngoài phòng xử. Vera mặc một bộ vest màu đào nhạt may bằng vải chất len tốt có đính cúc đồi mồi, nghe mô tả thì tệ nhưng nhìn thì rất lộng lẫy. Tôi vẫn mặc chiếc áo vest và quần dài đi dự phiên tòa lần trước. Cô Carter mặc bộ vest đen, áo sơ mi trắng. Ba tôi vẫn mặc bộ vest đám cưới và áo sơ mi trắng; chiếc cúc thứ hai từ trên xuống được khâu bằng chỉ đen, chiếc cúc thứ nhất bị sứt chỉ, cổ áo khép lại được nhờ chiếc cà vạt màu mù tạc kỳ dị.
Tất cả chúng tôi đều hết sức lo lắng.
Một thanh niên trẻ khoác áo choàng, đầu đội tóc giả đi đến. Đó là luật sư biện hộ cho cha tôi. Cô Carter giới thiệu chúng tôi. Chúng tôi bắt tay nhau, và tôi quên ngay tên anh ta. Tôi tự hỏi anh chàng trẻ tuổi này, người đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đời chúng tôi, là kẻ thế nào? Trong bộ đồng phục tòa án, anh ta chẳng lộ vẻ gì đặc biệt. Dáng vẻ của anh ta khá nhanh nhảu. Anh ta cho chúng tôi biết mình đã tìm hiểu về quan tòa, rằng ông này nổi tiếng là người ‘cương nghị’. Anh ta và cô Carter biến mất trong căn phòng cạnh đó. Chỉ còn lại Vera, ba và tôi. Vera và tôi cứ dán mắt nhìn ra cửa, tự hỏi khi nào Valentina mới tới. Tối qua Dubov không về nhà, sáng nay cũng khá rắc rối khi ba tôi suýt từ chối không chịu lên Peterborough. Chúng tôi sợ ba sẽ đổi ý khi nhìn thấy cô ả. Vera không chịu được căng thẳng nên lẩn ra ngoài đốt một điếu thuốc. Chỉ còn mình tôi ngồi cạnh ba, nắm lấy tay ông. Ba tôi đang quan sát một con côn trùng nhỏ màu nâu loạng choạng bò lên thân một cái cây trong chậu.
‘Ba nghĩ nó thuộc họ bọ rùa’ ba tôi nói.
Rồi cô Carter và viên luật sư biện hộ quay lại, và người gác cửa dẫn chúng tôi vào phòng xử. Cùng lúc đó, một người đàn ông cao gầy với mái tóc muối tiêu đeo kính gọng vàng tới ngồi vào ghế thẩm phán. Thế mà vẫn không thấy Valentina hay luật sư của ả đâu.
Viên luật sư đứng dậy giải thích lý do ly dị, và nói rõ là, theo anh ta biết, thì Valentina không hề phản đối. Anh ta kể với ông thẩm phán về tình trạng của cuộc hôn nhân. Nhấn mạnh vào sự cách biệt tuổi tác giữa hai bên cùng nỗi đau buồn của ba tôi sau khi góa vợ. Anh ta cũng nhắc đến hàng loạt quan hệ bất chính của Valentina. Đăm đăm sau cặp kính gọng vàng, viên thẩm phán ghi lại những điều anh ta nói. Viên luật sư biện hộ cũng kể chi tiết về lệnh trục xuất ra khỏi nhà của tòa, và những lần cô ả vi phạm. Ba tôi gật đầu lia lịa, và khi viên luật sư vừa nhắc đến hai chiếc xe đậu ngoài vườn trước nhà thì ông kêu lên, ‘Đúng đúng! Làm tôi bị kẹt ở hàng rào!’ Viên luật sư quả có tài ăn nói, đưa ba tôi trở thành người hùng trong chuyện này, chính miệng ba kể ra thì còn lâu mới được thế.
Anh ta nói được gần một giờ thì có tiếng lộn xộn vang lên ngoài cửa phòng xử. Cửa phòng mở hé, người gác cửa thò đầu vào, nói gì đó với thẩm phán, rồi thẩm phán gật đầu. Sau đó, cửa mở rộng ra và Stanislav bước vào phòng xử!
Thằng bé có hơi chải chuốt một chút. Nó mặc đồng phục trường học, mái tóc ươn ướt chải ép xuống. Nó đem theo một tập hồ sơ, nhưng khi nó chạy vội vào phòng thì giấy tờ bị bay tứ tán. Trong lúc nó lúi húi nhặt lại, tôi nhìn thấy bản phô tô của mấy bài thơ tình ba viết và lời dịch ra tiếng Anh bằng chữ con nít. Ba tôi đứng bật dậy, chỉ thẳng vào Stanislav.
‘Là vì nó! Tất cả là vì nó! Bởi vì cô ta nói nó là thần đồng và phải được học ở Oxford hay Cambridge!’
‘Làm ơn ngồi xuống, ông Mayevskyj’ viên thẩm phán nói.
Cô Carter nhìn sang ông vẻ năn nỉ.
Viên thẩm phán đợi đến khi Stanislav bình tĩnh lại rồi mới mời nó bước lên.
‘Cháu có mặt ở đây để đại diện cho mẹ cháu’
Luật sư biện hộ của ba đứng bật dậy, nhưng viên thẩm phán ra hiệu cho anh ta ngồi xuống.
‘Hãy để chàng trai trẻ này nói. Nào, chàng trai trẻ, cháu có thể cho chúng tôi biết vì sao mẹ cháu không có đại diện tại phiên tòa không?’
‘Mẹ cháu đang ở trong bệnh viện’ Stanislav đáp. ‘Mẹ vào viện sinh em bé. Đó là con của ông Mayevskyj’ Nó mỉm nụ cười răng sứt má lúm đồng tiền.
‘Không! Không!’ Vera đứng bật dậy. ‘Đó không phải là con của ba tôi! Đó là kết quả của các cuộc ngoại tình!’ Mắt chị long lên.
‘Làm ơn ngồi xuống, thưa cô... ơ... thưa bà...’ viên thẩm phán nói. Mắt ông ta nhìn thẳng vào mắt chị và dừng lại một thoáng. Có phải do chị quá phấn khích hay không, mà sao tôi lại thấy chị đỏ mặt? Chị ngồi xuống không nói thêm tiếng nào. Cô Carter hí hoáy viết mấy chữ vào một mảnh giấy rồi đưa cho viên luật sư. Anh ta đứng lên trình bày ngay.
‘Chúng tôi đã đề nghị’ anh ta nói, ‘trả một khoản tiền là 20.000 bảng với điều kiện cô ta phải cho xét nghiệm huyết thống và đứa bé là con ruột của thân chủ tôi. Nhưng lời đề nghị này bị từ chối. Họ bèn đòi một khoản thấp hơn, thay vào đó là không cần xét nghiệm huyết thống. Nhưng ông Mayevskyj đã từ chối!’
‘Cảm ơn anh’ viên thẩm phán nói. Ông ta lại cúi xuống ghi chép. ‘Bây giờ’ ông ta quay sang Stanislav, ‘cháu đã giải thích vì sao mẹ cháu không có mặt, nhưng quên chưa nói lý do mẹ cháu không được đại diện trước tòa. Mẹ cháu không có người tư vấn hay luật sư gì sao?’
Stanislav ngần ngừ, lí nhí gì đó. Ông thẩm phán yêu cầu nó nói to lên. ‘Có mâu thuẫn với luật sư’ Stanislav nói. Mặt đỏ bừng.
Bên trái tôi chợt vang lên tiếng ho khá lớn. Cô Carter giấu mặt vào trong chiếc khăn tay.
‘Nói tiếp đi cháu’ ông thẩm phán lên tiếng. ‘Mâu thuẫn vì chuyện gì?’
‘Về tiền bạc’ Stanislav thì thào. ‘Mẹ nói vậy thì không đủ. Mẹ nói anh ta không phải là một luật sư thông minh. Mẹ nói cháu phải đến gặp ông để xin nhiều hơn’ Giọng nó nghẹn lại, nước mắt ứa ra. ‘Ông thấy đấy, mẹ con cháu cần tiền, cho đứa bé. Cho con của ông Mayevskyj. Và mẹ con cháu không có chỗ nào để ở. Mẹ con cháu cần quay lại nhà ông ấy’
À! Sự im lặng nghẹt thở bao trùm lấy căn phòng. Cô Carter nhắm mắt lại như đang cầu nguyện. Vera lo lắng xoay xoay chiếc cúc đồi mồi. Ngay cả ba cũng sững người ra. Cuối cùng ông thẩm phán lên tiếng.
‘Cảm ơn cháu, chàng trai trẻ. Cháu đã làm đúng lời mẹ dặn. Đứng ra nói trước tòa đâu phải việc dễ dàng gì với một cậu bé. Tốt lắm, giờ thì ngồi xuống đi’ Ông ta quay sang chúng tôi. ‘Chúng ta sẽ nghỉ khoảng một giờ nhé? Tôi biết có máy bán cà phê ngoài hành lang.’
Vera ra ngoài hút thêm một điếu thuốc nữa. Phòng xử án không cho phép hút thuốc bên trong, nhưng cũng như các tòa nhà tương tự, nó có một khoảnh sân nhỏ dành riêng cho những người hút thuốc. Ba tôi không uống cà phê, mà đòi uống nước táo. Trong tòa nhà xử án không bán nên tôi ra ngoài tìm mua một hộp ở cửa hàng nào đó quanh đây.
Đi lên một chút nữa thì có một sạp báo. Tôi đang đi về phía đó thì chợt thấy Stanislav biến mất sau một góc đường. Nó có vẻ vội vã. Không hiểu sao tôi lại đi lướt qua sạp báo đến tận góc đường đó, xem xem nó đi đâu. Stanislav giờ đã đi đến gần đầu đường. Nó băng sang bên kia, rồi quẹo trái, đi ngang qua Thánh đường. Tôi theo sau nó. Giờ tôi phải chạy vội để đuổi kịp vì nó đã khuất khỏi tầm nhìn. Khi đến nơi lần chót nhìn thấy nó, trước mặt tôi là một con đường hẹp vòng qua sau lưng mấy cửa hàng rồi dẫn vào một mê cung toàn những căn nhà liền kề lụp xụp. Tôi không rành khu này lắm. Stanislav đã biến mất tăm. Tôi đứng đó nhìn bốn phía, cảm thấy mình thật ngốc nghếch. Nó có biết là tôi theo dõi nó không?
Giờ tôi mới nhận ra một tiếng đồng hồ đã sắp trôi qua. Tôi vội quay lại, rồi dừng trước sạp báo mình vừa đi qua để mua một hộp nước táo có ống hút. Tôi băng qua bãi đậu xe, đi về phía phòng xử án từ phía sau tòa nhà. Ở đây có một khoảng sân nhỏ để thùng rác và thang thoát hiểm gắn trên tường hậu. Ở tầng một bên trái, tôi thoáng thấy Vera thanh lịch trong bộ vest màu đào nhạt, đang dựa vào rào chắn và hút thuốc phì phèo. Có ai đó đứng cạnh chị, một người đàn ông cao lớn mặc áo vest, đang lén dùng chân day day mẩu thuốc lá. Đến gần hơn, tôi nhận ra đó là ông thẩm phán.
Cô Carter đang đợi bên trong với ba. Ba dành gần một tiếng đồng hồ trong nhà vệ sinh, và lúc này ông đang trong trạng thái phấn khích, lúc thì đầy hy vọng (‘Ông thẩm phán sẽ cho cô ta hai ngàn bảng, và ba sẽ được yên thân, chỉ làm bạn với ký ức dịu dàng thôi’), lúc thì tuyệt vọng (‘Ba sẽ bán hết tài sản rồi đến ở với mấy ông bà già’). Cô Carter cố hết sức trấn an ông. Cô thở phào nhẹ nhõm khi tôi đưa hộp nước táo cho ông. Ba dùng đầu nhọn ống hút chọc thủng lớp giấy rồi hút một cách thèm thuồng. Lát sau Vera quay trở vào và ngồi cạnh ba ở phía bên kia. ‘Suỵt!’ chị nói, cố khuyên ba hút khẽ hơn. Ba lờ chị đi. Vào phút cuối cùng, Stanislav đột nhiên chạy vụt vào, thở hổn hển, mồ hôi ướt đầm đìa. Nó đã đi đâu vậy?
Người đứng gác mở cửa, rồi tất cả chúng tôi được gọi vào phòng xử. Vài phút sau đó ông thẩm phán quay lại. Không khí căng thẳng không sao chịu nổi. Ông thẩm phán ngồi vào chỗ, hắng giọng chào chúng tôi. Sau đó ông ta tuyên án. Ông ta nói một tràng cỡ mười phút, phát âm hết sức rõ ràng, dừng lại một thoáng ở những cụm ‘người đệ đơn’, ‘bản án’, ‘đơn từ’ và ‘tiền trợ cấp’. Viên luật sư hơi nhướng mày. Tôi cho rằng mình thấy khóe môi của cô Carter động đậy. Những người còn lại trong chúng tôi chỉ biết ngẩn ra, ngay cả bà Chuyên Gia Ly Dị cũng vậy. Chúng tôi chẳng hiểu ông ta đang nói cái gì.
Sau khi ông ta nói xong, cả phòng xử im phăng phắc. Chúng tôi ngồi yên như bị bỏ bùa, cứ như một tràng dài những từ không hiểu nổi kia là câu thần chú thôi miên cả gian phòng. Mặt trời xuống thấp rọi một tia nắng xiên qua ô cửa sổ cao. Ánh nắng chiếu vào gọng vàng của cặp kính và những sợi tóc bạc của ông quan tòa, khiến ông ta tỏa sáng như một thiên thần. Và rồi sự yên lặng bùa phép bị phá vỡ bởi một tiếng hút ừng ực. Chính là ba, ba đã dùng ống hút hút giọt nước táo cuối cùng.
Tôi không biết có phải là mình tưởng tượng hay không, nhưng tôi thấy một nụ cười thoáng nở trên khuôn mặt đăm đăm của ông thẩm phán. Rồi ông ta đứng dậy (tất cả chúng tôi đều đứng dậy) và im lặng băng qua tấm thảm xanh ra khỏi phòng, chân vẫn mang đôi giày đen sáng bóng khi nãy vừa dập thuốc.
○○○
‘Vậy ông ta nói gì thế?’
Chúng tôi xúm quanh cô Carter ở ngoài tiền sảnh, uống cà phê từ những chiếc cốc giấy, dẫu hiện giờ cái chúng tôi cần không phải là cà phê.
‘Ô, ông ta cho phép ông Mayevskyj ly dị, theo như chúng ta yêu cầu’ cô Carter cười hớn hở. Cô đã cởi chiếc áo vest đen ra, một vệt mồ hôi đọng lại nơi nách áo.
‘Còn tiền bạc thì thế nào?’ Vera hỏi.
‘Ông ta không cho cô ả xu nào, vì cô ả không xin.’
‘Ý cô là..?
‘Thông thường thì thỏa thuận tài chính sẽ được thông qua cùng lúc với vụ ly dị, nhưng vì cô ta không có đại diện trước tòa nên chẳng ai đòi tiền cho cô ta.’ Cô Carter cố giữ vẻ nghiêm nghị.
‘Thế còn Stanislav?’ Tôi vẫn cảm thấy không yên tâm.
‘Cũng khá đấy. Nhưng tòa cần người đại diện hợp pháp. Tôi cho rằng Paul đang giải thích cho Stanislav hiểu.’
Viên luật sư biện hộ đã tháo bộ tóc giả và cởi áo choàng ra, và đang ngồi cạnh Stanislav trong góc, choàng tay qua vai nó. Stanislav đang khóc nức nở.
Chăm chú lắng nghe cuộc đối thoại từ ban nãy, giờ ba tôi vỗ tay vui sướng.
‘Trắng tay! Ha ha ha! Quá tham lam! Trắng tay! Luật pháp Anh quốc nghiêm minh nhất trên toàn thế giới!’
‘Nhưng...!’ Cô Carter giơ một ngón tay cảnh báo. ‘Nhưng cô ả vẫn có thể nộp đơn xin tiền cấp dưỡng. Nhưng trong trường hợp thế này, có lẽ ả nên đòi tiền cha ruột của đứa trẻ thì hơn. Nếu cô ả biết đó là ai. Và nếu... và nếu...’ Cô không nhịn được nữa mà phá lên cười khúc khích. Chúng tôi chờ đợi. Cô bình tĩnh trở lại. ‘Nếu cô ả có thể tìm được một luật sư đại diện!’
‘Ý cô là sao?’ bà Chuyên Gia Ly Dị hỏi. ‘Chắc là cô ả phải có luật sư chứ.’
‘Chị biết đấy’ cô Carter nói, ‘lẽ ra tôi không cho các vị biết việc này, nhưng trong một thị trấn nhỏ như Peterborough, mọi dân luật đều biết nhau cả.’ Cô nhăn răng cười. ‘Và đến giờ, bọn họ đều biết Valentina. Ả đã đi đến hầu hết mọi hãng luật trong thị trấn. Ai cũng ngán ả đến tận cổ. Ả đưa ra những đòi hỏi vô lý. Ả không thèm nghe lời khuyên của luật sư. Ả cứ đinh ninh mình có quyền chiếm nửa căn nhà, và không chịu nghe bất cứ ai nói điều ngược lại. Ả còn một mực tin sẽ nhận được Trợ cấp Pháp lý để giúp ả đòi được nửa căn nhà trước tòa. Khoác áo choàng lông và nói chuyện kiểu chợ búa, ả xộc vào văn phòng luật sư, hống hách đòi hỏi cái này cái nọ. Toàn bộ chi phí đều do Trợ cấp Pháp lý chi trả. Các quy định rất chặt chẽ, các vị biết đấy. Một số hãng luật ban đầu cũng chịu tiếp ả, khi họ còn lấy được tiền. Nhưng nếu họ không làm đúng ý của ả thì ả lập tức bỏ đi. Chuyện nhất định đã lại xảy ra như vậy khi chúng ta đề nghị trả 2.000 bảng. Tôi cá rằng luật sư của ả đã khuyên ả chấp nhận’ Cô liếc sang tôi. ‘Nếu là tôi thì tôi cũng làm vậy.’
‘Nhưng ông thẩm phán làm sao biết được.’
‘Tôi nghĩ là ông ta đoán ra’ cô Carter cười khúc khích. ‘Ông ta đâu có ngu.’
‘Cương nghị!...’ Vera thì thào, mắt mơ màng.
○○○
Sau những phấn khích ở phiên tòa, căn nhà có vẻ lạnh lẽo và u ám khi chúng tôi quay lại. Tủ lạnh sạch trơn, máy sưởi trung tâm đã tắt ngóm. Nồi niêu, chén bát bẩn chất đầy bồn rửa, và trên bàn vẫn còn bày đầy chén bát ăn xong chưa được đem ra bồn. Không thấy bóng dáng Dubov đâu.
Ba tôi xìu xuống ngay khi bước qua cửa.
‘Chúng ta không thể để ba một mình được’ tôi nói nhỏ với Vera. ‘Chị ở lại với ba đêm nay được không? Em không thể xin nghỉ thêm được.’
‘Chắc phải vậy rồi’ chị thở dài.
‘Cảm ơn chị.’
‘Được rồi.’
Ba phản đối ngay khi biết sự sắp xếp của tôi, nhưng có lẽ ông cũng nhận ra mọi chuyện phải thay đổi. Khi Vera ra ngoài mua đồ ăn, tôi ngồi trong phòng khách với ba.
‘Ba à, con sẽ tìm hiểu về mấy nhà dưỡng lão riêng biệt. Ba không thể sống ở đây một mình được’
‘Không, không. Tuyệt đối không. Không nhà dưỡng lão riêng biệt. Không viện dưỡng lão.’
‘Ba à, căn nhà này quá rộng đối với ba. Ba không thể lau dọn. Ba không đủ tiền để dùng lò sưởi. Ở nhà dưỡng lão, ba sẽ có một căn hộ riêng, có người chăm sóc cho ba’
‘Người chăm sóc! Phì!’ Ba tôi vung tay lên trời làm ra vẻ xúc động. ‘Nadia, trong buổi xử hôm nay, viên thẩm phán người Anh nói ba có thể sống trong nhà mình. Giờ thì con nói là ba không thể sống ở đây. Vậy ba phải ra tòa nữa sao?’
‘Đừng có ngốc mà, ba à. Nghe này’ tôi đặt tay lên tay ba, ‘ba nên chuyển đi bây giờ, khi ba còn đủ sức sống một mình trong một căn hộ. Ba sẽ có chìa khóa riêng để khóa cửa, ba muốn làm gì bên trong cũng được. Nhà bếp riêng, ba nấu nướng gì tùy thích. Phòng ngủ riêng, không ai được phép vào. Và nhà tắm nhà vệ sinh riêng, ở kế ngay phòng ngủ.’
‘Hừm.’
‘Chúng ta sẽ bán căn nhà này cho một gia đình tốt, gửi số tiền đó vào ngân hàng, như thế tiền lời sẽ đủ để thuê phòng cho ba rồi.’
‘Hừm.’
Tôi có thể thấy ba đã bị thuyết phục.
‘Ba muốn sống ở đâu? Gần Peterborough, nơi ba được ở gần bạn bè và Câu lạc bộ Ukraina?’
Ông ngẩn ra. Chỉ mẹ là có bạn bè. Ông có Ý Tưởng Lớn.
‘Hay là ba muốn chuyển đến Cambridge, ở gần con và Mike?’
Im lặng.
‘OK, vậy con sẽ tìm ở Cambridge để ba ở gần con và Mike. Tụi con sẽ có thể đến thăm ba thường xuyên hơn.’
‘Hừm. OK.’
Ông ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện cửa sổ, ngả đầu dựa vào gối, yên lặng ngắm bóng chiều phủ xuống những cánh đồng nhập nhoạng tối. Mặt trời đã lặn, nhưng tôi chưa kéo rèm cửa xuống. Ánh chiều muộn len vào căn phòng.
0

29.
Bữa tối cuối cùng

Khi tôi về thì Mike đã đi rồi, nhưng Anna vẫn còn ở nhà. Tôi nghe giọng nói rộn ràng của nó nói chuyện qua điện thoại ở hành lang, thỉnh thoảng lại phá lên cười lảnh lót, khiến trái tim tôi tràn đầy tình yêu. Tôi cẩn thận không dám nói với nó nhiều về chuyện giữa ba, Valentina và Vera. Có kể thì tôi cũng cố nói giảm nói tránh về mối bất hòa của chúng tôi. Tôi muốn bảo vệ nó, cũng như ba mẹ từng bảo vệ tôi. Vì sao phải để cho nó đau lòng vì những chuyện buồn cũ chứ?
Tôi cởi giày ra, pha cho mình một tách trà, bật nhạc lên, rồi ngả người lên ghế sofa với xấp giấy trên tay. Đã đến lúc đọc một chút rồi. Một lát sau có tiếng gõ cửa, Anna thò đầu vào.
‘Mẹ ơi, mẹ có rảnh một chút không?’
‘Đương nhiên rồi. Chuyện gì vậy?’
Nó mặc quần bò bó sát và áo ngắn cũn cỡn hở sườn. (Sao nó lại mặc như thế chứ? Nó không biết đàn ông xấu xa thế nào sao?)
‘Mẹ à, con muốn nói chuyện với mẹ.’ Giọng nói của nó nghiêm túc.
Tim tôi bắt đầu đập thình thịch. Chẳng lẽ tôi đã quá đắm chìm vào vở bi kịch của ba tôi mà bỏ bê con gái ruột của mình hay sao?
‘OK. Mẹ sẵn sàng nghe đây’
‘Mẹ à’ nó ngồi xuống cuối ghế, gần chân tôi, ‘con có nói chuyện với Alice và Alexandra. Tuần trước chúng con ra ngoài ăn trưa. Khi nãy Alice vừa gọi đó’
Alice, con gái út của Vera, hơn Anna vài ba tuổi. Hai đứa nó cũng chẳng thân thiết gì cho lắm. Có chuyện mới rồi đây. Tôi cảm thấy có chút bất an.
‘Ô, hay đấy, cưng. Các con đã nói chuyện gì vậy?’
‘Tụi con nói chuyện về mẹ và bác Vera.’ Nó dừng lại, quan sát tôi. Tôi mở to mắt vờ ra vẻ ngạc nhiên. ‘Mẹ à, con thấy chuyện đó thật ngu ngốc, chuyện mẹ và bác Vera căm ghét nhau ấy’
‘Căm ghét gì hả cưng?’
‘Mẹ biết mà. Chuyện tiền bạc ấy. Chuyện về bản di chúc của bà ngoại ấy’
‘Ồ’ tôi mỉm cười, ‘vì sao các con lại nói về chuyện đó?’ (Sao bọn nó dám? Ai nói cho bọn nó biết? Chắc Vera lại bép xép rồi.)
‘Con nghĩ chuyện đó thật ngu ngốc. Bọn con chẳng quan tâm gì đến tiền bạc. Bọn con chẳng cần biết ai lấy nó. Bọn con chỉ muốn mọi người ở bên nhau như một gia đình bình thường - tụi con gần gũi với nhau, Alice, Lexy và con’
‘Cưng à, không đơn giản vậy đâu...’ (Nó không nhận ra tiền bạc là thứ duy nhất giúp ta không bị chết đói à?) ‘Và không chỉ vì tiền bạc đâu...’ (Nó không nhận thấy thời gian và ký ức sẽ định hình mọi thứ à? Nó không nhận thấy một khi câu chuyện được kể ra theo cách này, thì không thể lật ngược được theo cách khác à? Nó không nhận thấy có vài điều cần phải được che đậy và chôn vùi, để những điều đáng hổ thẹn không vấy bẩn lên thế hệ kế tiếp à? Không; nó còn trẻ, và với nó mọi việc đều có thể.) ‘Nhưng mẹ nghĩ cũng đáng thử một phen đấy. Còn Vera thì sao? Có ai nói với Vera không?’
‘Mai Alice sẽ nói chuyện với bác ấy. Vậy còn mẹ, mẹ nghĩ sao?’
‘OK’ Tôi chồm lên ôm lấy con. (Nó gầy quá!) ‘Mẹ sẽ cố hết sức. Con phải ăn nhiều một chút.’
Nó nói đúng. Sự hờn giận này thật ngu ngốc.
Tất cả các nhà dưỡng lão quanh Cambridge đều có danh sách chờ, nhưng trước khi có dịp đi thăm từng nơi, tôi nhận được một cú điện thoại.
‘Dubov quay lại. Valentina quay lại với đứa bé. Stanislav cũng quay lại.’
Giọng nói của ba phấn khích, hay cũng có chút căng thẳng. Tôi không chắc.
‘Ba à, họ không thể ở đó được. Thật là lố bịch. Con cứ tưởng ba đồng ý vào nhà dưỡng lão rồi’
‘Ổn mà. Chỉ là tạm thời thôi.’
‘Tạm thời trong bao lâu?’
‘Vài ngày. Vài tuần.’ Ông ho rồi lắp bắp. ‘Cho đến lúc đi.’
‘Đi đâu? Khi nào?’
‘Thôi nào, Nadia, sao con hỏi nhiều thế? Ba đã nói rồi, mọi chuyện vẫn ổn.’
Sau khi ba cúp máy, tôi mới nhận ra mình quên hỏi đứa bé là trai hay gái, hay liệu ông có biết ba của nó là ai không. Tôi có thể gọi lại cho ba, nhưng tôi biết mình phải đi đến đó, nhìn tận mắt, hít thở cùng một bầu không khí, để thỏa mãn... thỏa mãn cái gì đây? Sự tò mò ư? Không, đây là nỗi khát khao, là niềm ám ảnh. Thứ Bảy kế tiếp, tôi lái xe đi vào buổi sáng mà lòng đầy hồi hộp.
○○○
Tôi đến nhà ba thì thấy chiếc Lada đậu ngoài đường. Chiếc xe thổ tả và chiếc Rolls Royce đậu ở vườn trước. Dubov đang ở đó, loay hoay với mấy thanh kim loại.
‘À, Nadia Nikolaieva!’ Anh ta ôm chầm lấy tôi. ‘Cô đến thăm đứa bé hả? Valya! Valya! Xem ai đến này!’
Valentina xuất hiện ở cửa, vẫn đang mặc áo ngủ và đi dép bông xù cao gót. Khó mà nói rằng ả vui khi gặp lại tôi, nhưng ả cũng vẫy tay mời tôi vào.
Một cái nôi gỗ sơn màu trắng đặt ở phòng khách, bên trong là một đứa bé nhỏ xíu đang say ngủ. Mắt nó nhắm lại nên tôi không biết là màu gì. Cánh tay nó thò ra ngoài chăn, bàn tay nắm chặt lại thành một nắm đấm bé tí áp sát vào má, ngón tay cái thò ra, móng tay lóng lánh như những vỏ sò hồng hào xinh xắn. Miệng nó hé mở và ươn ướt, hít vào rồi thở ra, khe khẽ chậc chậc trong giấc ngủ. Lớp da phủ lông tơ ở thóp phập phồng theo nhịp thở.
‘Ô, Valentina, dễ thương quá! Nó là trai hay gái vậy?’
‘Là con gái.’
Giờ tôi mới nhận thấy tấm chăn của đứa bé được thêu những bông hồng nhỏ, tay áo màu hồng phấn.
‘Cô bé đẹp tuyệt!’
‘Tôi cũng nghĩ vậy.’ Valentina mỉm cười tự hào, cứ như thể vẻ đẹp của đứa bé là thắng lợi dành cho riêng ả vậy.
‘Cô đặt tên cho bé chưa?’
‘Tên là Margaritka. Tên của bạn tôi, Margaritka Zadchuk.’
‘Ô, hay lắm’ (Tội nghiệp đứa nhỏ!)
Ả chỉ sang chồng quần áo sơ sinh màu hồng đính ren để trên chiếc ghế đặt cạnh nôi. Tất cả đều được đan rất khéo bằng sợi polyester mềm mại.
‘Bà ấy làm đấy’
‘Thật lộng lẫy!’
‘Tên của nó cũng là tên của thủ tướng Anh nổi tiếng nhất đấy.’
‘Gì cơ?’
‘Bà Tatsher’
‘À’
Đứa bé khẽ cựa quậy rồi mở mắt ra, thấy chúng tôi đang đứng nhìn, mặt nó nhăn lại như không biết nên khóc hay cười. ‘Gừ gừ’, cô bé nói, một giọt chất lỏng trăng trắng chảy ra từ khóe miệng. ‘Gừ gừ.’ Lúm đồng tiền nhỏ xíu in trên má.
‘Ôi!’
Cô bé thật xinh đẹp. Nó sẽ tự quyết định cuộc sống của mình. Nó không có lỗi vì những chuyện đã xảy ra.
Ba tôi chắc đã nghe tiếng tôi tới, nên ông bước vào và mỉm cười.
‘Nadia, con tới thật vui’
Chúng tôi ôm nhau.
‘Ba nhìn khỏe mạnh lắm, ba à’ Đúng vậy, ba tôi đã tăng cân được chút ít, và ông đang mặc một cái áo sơ mi sạch sẽ. ‘Mike gửi lời hỏi thăm ba. Anh ấy xin lỗi vì không đến được’
Valentina phớt lờ ông lúc ông bước vào, giờ thì ả quay gót bỏ đi trên đôi dép bông xù cao gót mà không nói một lời. Tôi đóng cửa lại, rồi thì thầm hỏi ba.
‘Ba thấy đứa bé thế nào?’
‘Là con gái’ ba thì thầm đáp lại.
‘Con biết. Nó thật là dễ thương phải không? Ba có biết cha nó là ai không?’
Ba tôi nháy mắt rồi làm mặt tinh nghịch.
‘Không phải ba. Ha ha ha.’
Tiếng nhạc rock nặng nện rầm rầm từ tròn lầu vẳng xuống. Sở thích âm nhạc của Stanislav đã trở nên chín chắn hơn thứ nhạc của Boyzone rồi. Ba liếc sang tôi rồi nhăn mặt bịt tai lại.
‘Âm nhạc suy đồi.’
‘Ba à, ba có nhớ không, hồi con còn bé, ba không cho con nghe nhạc jazz. Ba nói nó thật suy đồi.’
Tôi chợt nhớ lại cảnh ba hằm hằm lao xuống tầng hầm và cúp cầu dao chính. Đám bạn sành điệu mới lớn của tôi khúc khích cười châm chọc!
‘À há’ ông gật đầu. ‘Có lẽ thế.’
Không nhạc jazz. Không trang điểm. Không bạn trai. Hèn gì cứ khi nào nổi loạn được là tôi nổi loạn.
‘Ba đúng là một người cha tệ hại, ba à. Một tên bạo chúa’
Ông hắng giọng. ‘Đôi khi sự áp chế còn đỡ hơn vô chính phủ.’
‘Sao không thể kết hợp cả hai chứ? Sao không dân chủ và thỏa hiệp?’ Đột nhiên câu chuyện lại trở nên quá nghiêm túc. ‘Con nói Stanislav vặn nhỏ nhạc lại nhé?’
‘Không không. Đừng để ý. Ngày mai họ đi rồi’
‘Thật không? Ngày mai đi? Họ đi đâu?’
‘Quay lại Ukraina. Dubov đang làm khung chở hành lý gắn lên nóc xe’
Ngoài khu vườn trước nhà chợt vang lên tiếng động cơ xe gầm rú. Chính là chiếc Rolls Royce, chiếc xe đang hồi sinh. Chúng tôi bước tới nhìn ra ngoài cửa sổ. Chiếc Rolls Royce đang nổ máy, phía trên là một khung hành lý tự làm được gắn chắc chắn dọc suốt chiều dài xe. Dubov nâng nắp xe lên và đang hí hoáy làm gì đó với động cơ khiến chiếc xe hết tăng rồi lại giảm ga.
‘Điều chỉnh động cơ’ ba tôi giải thích.
‘Nhưng chiếc Rolls Royce có chạy nổi tới Ukraina không?’
‘Đương nhiên. Tại sao lại không chứ?’
Dubov ngẩng lên, nhìn thấy chúng tôi đứng ở cửa sổ nên vẫy tay. Chúng tôi vẫy tay lại.
○○○
Chiều hôm đó, sáu người chúng tôi ngồi xuống ăn tối quanh cái bàn trong phòng-ăn-kiêm-phòng-ngủ: ba, Dubov, Valentina, Stanislav, Margaritka và tôi.
Valentina lôi ra năm suất bò xắt lát đông lạnh rưới nước xốt hành ăn kèm với đậu đông lạnh và khoai tây bỏ lò. Cô ả đã thay váy ngủ, và lúc này đang mặc quần bó có móc cài dưới gót để bảo đảm nó ôm sát mông (đợi đấy, tôi sẽ kể cho Vera biết!) cùng một chiếc áo thun bó cổ lọ màu tùng lam, nhưng vẫn đi đôi dép bông xù cao gót. Ả rất vui vẻ, tươi cười với mọi người ngoại trừ ba tôi, và dằn mạnh suất thịt bò xuống trước mặt ông.
Ba tôi ngồi trong góc, bận rộn cắt thức ăn thành từng miếng nhỏ và xem xét kỹ trước khi bỏ vào miệng, vỏ đậu làm cổ họng ông bị ngứa, ông bắt đầu ho sù sụ. Stanislav ngồi kế bên ông, cúi đầu lặng lẽ trên đĩa thức ăn. Tôi cảm thấy tội nghiệp cho nó sau lần thất bại ở phiên tòa nên cố bắt chuyện, nhưng nó chỉ trả lời nhát gừng mà không nhìn vào mắt tôi. Quý bà Di và cô bạn gái, nhân dịp ngắn ngủi bà chủ cũ về thăm nhà, đã quên sạch những thói quen được dạy dỗ cẩn thận và luẩn quẩn quanh bàn chờ thức ăn thừa. Ai cũng chiều chuộng chúng, nhất là ba. Ông cho chúng phần lớn suất ăn tối của mình.
Dubov ngồi ở đầu bàn bên kia, cẩn thận ẵm đứa bé sơ sinh và cho nó bú bình. Bộ ngực đồ sộ của Valentina xem ra chỉ để làm cảnh thôi.
○○○
Sau bữa tối tôi rửa bát đĩa trong lúc Valentina và Stanislav lên lầu tiếp tục đóng gói đồ đạc. Ba tôi và Dubov lui vào phòng khách, vài phút sau tôi cũng vào ngồi cùng họ. Tôi thấy họ đang cắm cúi trên mấy tờ giấy vẽ kỹ thuật - một chiếc xe bên cạnh cái cột thẳng đứng, mấy đường thẳng nối chúng với nhau. Họ gạt xấp giấy qua một bên rồi ba tôi lấy ra bản thảo tác phẩm vĩ đại của mình và ngả người lên ghế bành, cặp kiếng xập xệ dán lại bằng băng keo trễ xuống mũi. Dubov ngồi trên chiếc trường kỷ đối diện, tay vẫn ẵm đứa bé đang say ngủ. Anh ta nhích qua một bên chừa chỗ cho tôi ngồi.
Mọi công nghệ đem lại lợi ích cho loài người đều phải được áp dụng một cách đúng đắn và hợp lý. Dù thế nào thì điều này cũng luôn đặc biệt đúng trong trường hợp của máy kéo.

Ông thong thả cất giọng đọc bằng tiếng Ukraina, thỉnh thoảng dừng lại một chút để nhấn mạnh, tay trái ông vung vẩy trong không khí như đang cầm đũa điều khiển dàn nhạc.
Bởi, bất chấp lời hứa hẹn ban đầu là giải phóng con người khỏi lao động vất vả, máy kéo đã đưa chúng ta đến bờ vực hủy diệt, bởi sự vô tâm và lạm dụng. Chuyện này đã xảy ra nhiều lần trong suốt lịch sử máy kéo, nhưng ví dụ nổi bật nhất xảy ra ở Mỹ vào thập kỷ 20.
Tôi đã kể rằng chính máy kéo đã giúp khai phá những thảo nguyên mênh mông phía Tây nước Mỹ. Nhưng những người đi sau đội tiên phong không hài lòng với kết quả này. Họ tin rằng nếu máy kéo giúp tầng năng suất của đất, thì càng dùng nhiều máy kéo năng suất của đất sẽ càng tăng thêm. Đáng tiếc là chuyện không dễ dàng như vậy.
Phải luôn dùng máy kéo để hỗ trợ tự nhiên chứ không phải để lèo lái tự nhiên. Máy kéo phải làm việc hòa hợp với khí hậu, độ màu mỡ của đất đai, cùng tinh thần chịu thương chịu khó của người nông dân.
Nếu không nó sẽ đem lại thảm họa, và thảm họa ấy đã xảy ra ở vùng trung tâm phía Bắc Hoa Kỳ.
Những người nông dân ở phía Tây không tìm hiểu về khí hậu. Đúng, họ phàn nàn rằng trời ít mưa và gió thổi mạnh, nhưng không nghe theo những lời cảnh báo. Họ cày, cày và cày. Họ tin rằng càng cày bừa thì lợi nhuận sẽ càng cao. Sau đó gió nổi lên, thổi bay lớp đất vừa được xới.
Bão Bụi xảy ra vào thập niên 20 và những khó khăn khủng khiếp nó gây ra cuối cùng đã dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế, làm Thị trường Chứng khoán của Mỹ sụp đổ vào năm 1929.
Nhưng phải nói thêm rằng bất ổn và nghèo đói lan tràn khắp thế giới chính là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển chủ nghĩa phát xít ở Đức và chủ nghĩa cộng sản ở Nga. Hai ý tưởng này xung đột với nhau kịch liệt, suýt chút nữa đã dẫn loài người tới chỗ diệt vong.
Các độc giả thân mến, tôi xin đưa ra một ý kiến thế này. Hãy dùng công nghệ mà các kỹ sư đã phát triển, nhưng hãy sử dụng nó một cách vừa phải và khéo léo. Đừng để công nghệ trở thành ông chủ của bạn, và đừng bao giờ dùng nó để làm chủ người khác.

Đọc xong, ông vung tay hào hứng, và đợi chờ ý kiến của người nghe.
‘Hoan hô, Nikolai Alexeevich!’ Dubov vỗ tay kêu lên. ‘Hoan hô ba!’ tôi khóc.
‘Gừ gừ!’ bé Margaritka cất tiếng.
Sau đó ba tôi gom lại đống bản thảo vứt vương vãi trên sàn và dùng một tờ giấy nâu gói lại, lấy dây buộc quanh rồi đưa cho Dubov.
‘Volodya Simeonovich. Hãy đem nó về Ukraina. Có lẽ nó sẽ được xuất bản ở đó’
‘Không, không,’ Dubov nói. Tôi không thể lấy nó được, Nikolai Alexeevich. Đây là tác phẩm để đời của ông mà.’ ‘Xì!’ ba tôi nhún vai khiêm tốn. ‘Đã viết xong rồi mà. Xin hãy nhận lấy. Tôi còn phải viết một quyển sách khác nữa.’
0
«« « 1 2 » »»