Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Buồng Tắm - Jean-Philippe Toussaint

4 trả lời, 17 lượt xem — Trang 1 / 1
Tên sách: Buồng Tắm
Tác giả: Jean-Philippe Toussaint
Hồ Thanh Vân dịch
Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn
TÁC GIẢ Jean-Philippe Toussaint sinh năm 1957 tại Brussels, Bỉ. Ông là nhà văn, nhà làm phim và nhiếp ảnh gia. Ông là tác giả của mười sáu cuốn sách xuất bản tại Éditions de Minuit. Năm 2005, ông giành giải Médicis cho Fuir (Bỏ trốn) và năm 2009 giải Décembre cho La vérité sur Marie (Sự thật về Marie ). Ông từng đạo diễn bốn phim điện ảnh dài và có triển lãm ảnh khắp nơi trên thế giới, trong đó phải kể đến triển lãm Livre/Louvre tại bảo tàng Louvre, Paris, năm 2012.
BUỒNG TẮM là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, xuất bản năm 1985.
 
Tôi rất thích cuốn sách dụng công và phóng khoáng này. Nó chứng tỏ một năng khiếu văn chương đặc biệt hiếm hoi giữa lúc ta đang tìm về với truyền thống.”
MICHEL NURISDANY,
LE FIGARO

“Có một điều chắc chắn là cuốn sách đã được viết bằng tông giọng tuyệt đối độc đáo, Các tên tuổi lớn trong làng phê bình văn chương châu Âu thảy đều không thể bỏ qua Toussaint, như thể với nghệ thuật tiểu thuyết, ông đã thực hiện thành công một cuộc cách mạng nho nhỏ nhưng triệt để.”
JACQUES-PIERRE A METTE,
LE POINT

“Một lối viết điềm tĩnh, lạnh lùng, tuyến tính. Nhưng đồng thời lại thấm đẫm giọng mỉa mai và sáng suốt đến ngạc nhiên,”
MARIO FORTUNATO,
L'ESPRESSO


Bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh còn lại.
Pythagoras
Đăng nhập để trả lời
0

PARIS

1) Khi bắt đầu ngồi trong buồng tắm hằng chiều, tôi không tính ở luôn đấy; không, tôi thả đi những giờ khoan dịu, trầm tưởng trong bồn, thỉnh thoảng mặc đồ, lúc để không. Edmondsson, vui vẻ phía đầu tôi, thấy tôi tĩnh tại hơn; tôi có khi đùa, chúng tôi cười. Tôi nói năng cùng những cử chỉ khoáng đạt, cho rằng tiện dụng nhất là mấy kiểu bồn thành hai bên song song, đằng lưng thoải, còn đằng đuôi dựng thẳng miễn cho người dùng việc sử dụng kệ gác chân.
2) Edmondsson nghĩ có cái gì cằn cọc trong chuyện tôi không chịu rời buồng tắm, song việc ấy chẳng cản nàng giúp tôi dễ sống, đi làm nửa ngày cho một phòng tranh trang trải nhu cầu sinh hoạt trong nhà.
3) Quanh tôi có tủ, giá treo khăn, một chậu vệ sinh. Bồn rửa màu trắng; cái kệ nhỏ chìa ra bên trên, để bàn chải và dao cạo, Bức tường đối diện tôi, lỗ chỗ nốt sần, phô những đường rạn; mụn rộp ăn rỗ lác đác lớp sơn xỉn. Một vệt nứt như đang lấn tới. Hàng giờ liền, tôi rình canh hai đầu mút nó, hoài công bắt chợt nó men thêm. Đôi khi, tôi thử thể nghiệm khác. Tôi đồng thời theo dõi bề ngoài mặt mình trong gương bỏ túi và dịch chuyển của kim đồng hồ đeo tay. Nhưng mặt tôi chẳng biểu lộ gì. Chẳng bao giờ.
4) Sáng nọ, tôi giằng đứt dây phơi. Tôi moi rỗng toàn bộ tủ, dọn sạch hết giá. Dồn đồ vệ sinh vào túi đựng rác cỡ đại xong, tôi bắt tay chuyển một phần thư viện của mình. Lúc Edmondsson về, tôi đón nàng với quyển sách trên tay, người duỗi dài, chân bắt tréo trên vòi nước.
5) Edmondsson cuối cùng đành báo bố mẹ tôi.
6) Mẹ mang bánh cho tôi. Ngồi chậu vệ sinh, hộp mở banh đặt giữa hai chân, mẹ bày bánh ra đĩa sâu lòng. Tôi thấy mẹ ưu tư, từ lúc đến mẹ tránh ánh mắt tôi. Mẹ ngẩng đầu lên trong vẻ buồn nản, toan cất lời, song lại im lặng, lựa bánh kem tia chớp[1] cắn vào. Con làm gì cho khuây khỏa đi, mẹ bảo tôi, tập tành thể dục thể thao, mẹ cũng chịu chẳng biết. Mẹ lấy găng tay chùi khóe miệng. Tôi đáp mình thấy nhu cầu giải khuây đáng ngờ, Khi tôi, gần như mỉm cười, chêm thêm mình chẳng ớn gì bằng ớn mấy trò tiêu khiển, mẹ cho là chẳng thể nào tranh luận được với tôi và tiện tay, chìa cho tôi một phần bánh ngàn lớp[2].
7) Tuần hai lần, tôi nghe bản tin phát thanh tổng hợp diễn biến trong ngày của giải vô địch bóng đá quốc gia Pháp. Chương trình dài hai tiếng. Từ phòng thu ở Paris, người dẫn chương trình điều phối tiếng dàn phóng viên được phái đi tường thuật trận đấu tại những sân vận động khác nhau. Bởi cho rằng bóng đá được tưởng tượng thì có lợi hơn, tôi chẳng bỏ lỡ mấy buổi phát ấy bao giờ. Được vỗ về trong tiếng người nồng ấm, tôi để đèn tắt nghe tin, thỉnh thoảng nhắm mắt.
8) Một người bạn của bố mẹ tôi, tạt qua Paris, ghé thăm tôi. Bác ta cho hay trời đang mưa, Đưa cánh tay về phía bồn rửa, tôi mời bác dùng khăn. Cái màu vàng thì nên, cái kia bẩn. Bác lau tóc, lâu la, tỉ mỉ. Tôi chẳng rõ bác muốn gì ở tôi. Thấy im quá, bác bèn thông báo tình hình công tác, giảng giải với tôi các khúc mắc bác vướng phải là vô bề tháo gỡ, bởi dính đến mấy sự bất hòa tính khí giữa đám người ngang thứ bậc. Bồn chồn vầy khăn tôi, bác bước sải dọc bồn tắm và, hăng lên vì lời lẽ chính mình, càng lúc càng tỏ ra cố chấp. Bác đe nẹt, gầm gừ. Sau rốt bác quy kết Lacour vô trách nhiệm. Bác gắng cái không đặng, bác bảo, cái không đặng! mà bọn họ cứ thây cả nút.
9) Tôi bận đồ giản dị. Quần vải thô màu be, áo xanh lam cùng cà vạt trơn. Vải rủ xuống người tôi lợi đến mức, khi mặc đủ, trông tôi vạm vỡ kiểu thanh và mạnh. Tôi nằm duỗi dài, thư thái, mắt khép. Tôi mơ tưởng đến bà đầm trắng, món tráng miệng, viên kem vani bên trên tuôn xuống lớp sô cô la nóng chảy. Tôi nghĩ về nó mấy tuần nay. Từ quan điểm khoa học (tôi không phàm ăn), tôi thấy trong hỗn hợp ấy một tổng hòa của toàn bích. Một bức Mondrian. Sô cô la sánh trên vani buốt giá, nóng và lạnh, đặc và lỏng. Chung chiêng và nghiêm ngặt, chính xác. Thịt gà, dù tôi hết sức ưu ái, không bì được. Không đâu. Và tôi sắp sửa thiếp đi thì Edmondsson bước vào, xoay người chìa ra hai bức thư. Một là của Đại sứ quán Áo. Tôi rọc thư bằng lược. Edmondsson, đọc nhòm qua vai tôi, nhấn rõ tên tôi trên tấm thiệp mời. chẳng quen ai người Áo hay làm ngoại giao, tôi bảo do nhầm lẫn gì thôi, chắc vậy.
10) Ngồi thành bồn tắm, tôi trần tình với Edmondsson là có lẽ không được lành mạnh cho lắm khi, hai mươi bảy tuổi đầu, sắp sang hai mươi chín, mà lại sống co mình về bồn. Tôi phải liều, tôi vừa nói, mắt cụp xuống, vừa rờ lớp men bồn, liều xâm phạm sự tĩnh tại trong cuộc đời trừu tượng của mình để mà. Tôi bỏ lửng câu.
11) Hôm sau tôi ra khỏi buồng tắm.
12) Họ Kabrowinski. Tên ông thì là? tôi hỏi. Witold. Đó là một người tóc bạc, bận com lê màu ghi, ngồi trong bếp nhà tôi, tay cầm ống đót. Một anh chàng trẻ hơn đứng đằng sau. Kabrowinski đứng bật dậy mời tôi ngồi ghế mình. Ông tưởng có mỗi ông ở nhà, ông luống cuống, xin lỗi. Để thanh minh việc sao lại có mặt trong nhà tôi, ông vội giãi bày là được Edmondsson nhờ sơn bếp. Tôi có biết. Phòng tranh chỗ Edmondsson làm việc đang lúc triển lãm mấy nghệ sĩ Ba Lan. Họ rỗng túi, nên Edmondsson giải thích với tôi là có thể tranh thủ trả rẻ thuê họ sơn lại bếp.
13) Tôi trải qua một ngày yên ả, mấy bước loăng quăng bị xáo trộn vì sự hiện diện của hai người Ba Lan không rời khỏi căn bếp, ngoan ngoãn chờ số sơn Edmondsson quên đưa cho. Đôi chốc, Kabrowinski gõ cửa chỗ tôi và, đầu thò qua khe hở, hỏi những câu mà tôi đáp thân tình là mình chẳng biết mô tê gì. Đã mấy phút tôi không nghe tiếng họ nữa. Tôi ngồi đọc trên giường, lưng dựa gối. Cửa ra vào sập lại, tôi ngẩng lên. Chập sau, Edmondsson xuất hiện, mặt tươi rói. Nàng muốn yêu.
14) Bây giờ.
15) Yêu bây giờ? Tôi từ tốn gấp sách, giữ ngón tay giữa hai tờ giấy găm trang lại, Edmondsson cười, chụm chân nhảy lên. Nàng cởi khuy áo. Đằng sau cửa, Kabrowinski trầm giọng nói mình đợi sơn sáng giờ; ông nhắc đến một ngày hoài phí, chẳng ra đâu. Tự nhiên hết sức, Edmondsson, vẫn đang cười, mở cửa mời họ dùng chung bữa tối với chúng tôi.
16) Edmondsson bị bỏng môi lúc nếm mì. Ngồi ghế bếp, Kabrowinski, mặt cúi hờ ra chiêu trầm mặc, tư lự mút đầu ống đót. Từ lúc biết vì đâu Edmondsson lại chưa mua sơn (hàng tạp hóa đóng cửa hết cả), ông than vãn không ngớt chuyện rơi nhằm đúng thứ Hai. Đồng thời, ông tìm cách dò xem ngày của mình dù vậy có được trả công không. Edmondsson tỏ ra lấp lửng. Nàng thừa nhận hôm nay kiểu gì cũng chưa mua sơn ngay, do chưa chốt được màu, phân vân giữa màu be mà nàng sợ làm tối phòng và màu trắng - nhanh bẩn. Kabrowinski khẽ hỏi nàng có tính quyết trước buổi sau không. Nàng tiếp mì cho ông, ông cám ơn. chúng tôi ăn món spaghetti alle vongole[3] có điều ngao được thay bằng sò điệp. Bia ấm, tôi nghiêng cốc khi rót. Kabrowinski ăn thư thả. Cẩn thận quấn mì quanh dĩa, ông cho là nên bắt đầu sơn sớm chừng nào hay chừng ấy và, quay sang tôi, vẻ giao đãi, hỏi tôi nghĩ sao về một gam màu sơn xây dựng glycero. Nhằm làm rõ câu hỏi, ông nói thêm có nhìn thấy hai hộp như thế trong kho nhà chúng tôi. Không muốn tự gạt mình khỏi câu chuyện, tôi đáp, từ phía cá nhân, tôi chẳng nghĩ gì. Edmondsson thì dứt khoát phản đối. Mấy hộp sơn ấy, nàng cho chúng tôi hay, đã rỗng không thì chớ, lại còn là của người thuê nhà cũ, nên nàng thấy có thêm lý do hợp lý để khỏi động đến.
17) Còn chưa khép hẳn cửa sau lưng khách, Edmondsson đã cởi váy và tất giấy, oằn người cho tụt xuống chân. Qua khe cửa hé, Kabrowinski cứ chào mãi; ông cám ơn vì bữa tối, còn chuyện màu sắc, giọng hờ hững, ông chủ trương màu be. Edmondsson định chốt chặt cửa lại thì Kabrowinski, rất lẹ, lách cán ô qua khe hở và, mỉm cười hối lỗi, cám ơn tiếp, khác kiểu đi, vì bữa ăn rất vừa miệng. Sau hồi im lặng, ông rút ô về và, trong lúc Edmondsson, được che sau vách, lột quần lót ra, Kabrowinski lộ rõ ý hơn. Ông cố được ứng trước một khoản từ món tiền hứa hẹn, muốn chút tiền đi taxi và thanh toán khách sạn. Edmondsson trụ vững. Vừa khóa được cửa, nàng đã nhoẻn cười với tôi và, mông trần, kiễng chân dòm qua lỗ cửa. Không ngoái lại, nàng cởi khuy áo. Tôi bỏ quần cho nàng được vui.
18) Sau khi buông vòng ôm, chúng tôi ở trần ngồi đối diện nhau một lúc trên tấm thảm ngoài tiền sảnh.
19) Trong phòng tắm, đèn tắt, một ngọn nến soi Edmondsson chỗ mờ chỗ tỏ. Những giọt nước lóng lánh trên người nàng. Nàng duỗi dài trong bồn và, bàn tay đặt nằm, táp khẽ vào mặt nước. Tôi lặng lẽ nhìn nàng, chúng tôi mỉm cười với nhau.
20) Tôi nằm trên giường, và cố cho hết chương. Đầu chít khăn tắm, Edmondsson ở trần lượn lòng vòng quanh phòng, di chuyển uể oải, ngực ưỡn lên, hai cánh tay khoanh tròn trên không cử động chậm rãi, biểu diễn những vòng xoáy ốc vô tận trước mắt tôi. Đặt ngón tay vào đúng dòng, tôi chờ để đọc tiếp. Xoay tròn người, Edmondsson xem thư, xếp tài liệu. Nàng rời bàn làm việc, quay lại chỗ tôi. Nàng ngồi xuống ghế bành và, mấp máy môi, tìm hiểu nội dung một ấn phẩm; rồi thôi vắt chân, nàng đứng dậy buông lời bình phẩm. Suỵt, thỉnh thoảng tôi nói. Nàng không cố chây, gại gại đùi. Đăm chiêu, nàng lướt ngón tay trên mặt bàn làm việc, ngó quanh và cầm một tờ giấy xé đi. Nàng đứng im lại. Điệu bộ tần ngần, nàng nhặt một tấm thiệp to giấy bristol lên và ra giường nằm xuống cạnh tôi. Do tôi vẫn cúi đầu, nàng đặt tấm thiệp lên trang sách tôi đang đọc. Tôi hỏi nàng muốn gì. Gì đâu, nàng chỉ muốn biết ai đã gửi cái thiệp mời ấy cho tôi. Tôi hục hặc đầu hồi lâu, nghĩ ngợi, rồi, lấy ngón tay hẩy thiệp ra, đọc sách tiếp. Hồi sau, tiếng méo đi vì ngáp, nàng lại hỏi tôi người gửi là ai. Ai được nhỉ? Tôi phân vân. Mấy hôm nay, tôi đã có thời gian suy ngẫm. Phòng thư ký Đại sứ quán Áo chắc nhầm nhọt thế nào nên mới gửi cho tôi? Thế thì phải trường hợp đó, tôi khó lòng lý giải sao lại không có thêm nhầm lẫn gì ở mục địa chỉ. Hay chính phòng thư ký ấy, để lấy thông tin liên lạc của tôi, đã hỏi thăm qua mối quen biết nào chăng? Cũng có thể. Gần đây, gọi là làm nghề nghiên cứu, tôi hay gặp bên sử học, xã hội học. Tôi làm trợ lý cho T., chủ tọa một hội thảo chuyên đề, tôi có sinh viên, tôi đánh quần vợt. Bấy nhiêu thứ với tôi đều có vẻ là lý do tuyệt vời cho người ta mong tiếp đãi tôi, nhưng lại chẳng lý do nào, theo tôi, đủ chắc để lý giải lời mời của một đại sứ quán. Nàng thấy sao? Chẳng sao cả, Edmondsson đã thiếp đi rồi.
21) Một tay vùi dưới gối, Edmondsson vừa rên rỉ vừa hỏi giờ tôi, vì có người gọi chuông. Còn sớm. Bên ngoài, trời chưa hửng. Rèm cửa mở hé, nhưng không vệt sáng nào đến làm nhiễu động bóng tối tịch mịch của căn phòng. Ánh nhá nhem làm dịu các đường viền, bao trùm tường vách, bàn làm việc, ghế bành. Chuông lại reo. Quân phát xít, Edmondsson nói giọng ngái ngủ đặc sệt. Nằm sấp bụng, nàng vẫn bất động, như người kiệt sức, tay túm lấy ga. Trong lúc người ta nhấn chuông lần thứ ba, nàng đành thú nhận với tôi nàng không có đủ dũng khí đứng lên ra mở cửa. Tôi hòa hoãn đề nghị tháp tùng nàng; cả hai cùng đi, theo tôi, là thỏa hiệp công bằng. Edmondsson rề rà mặc đồ. Tôi ngồi đợi ở mé giường, bực bội vì tiếng chuông chẳng chịu ngưng cho. Khi Edmondsson xong xuôi, tôi vừa theo sau nàng trong hành lang vừa cài khuy bộ đồ ngủ. Kabrowinski ngại vì đã ấn chuông nhiều như thế. Ông đứng trước bậu cửa, áo da lót lông cài kín cổ, quàng khăn. Nằm giữa hai chân ông có cái túi nhỏ trong suốt, đựng đầy một thứ thịt lầy nhầy. Ông nhón túi lên, hôn tay Edmondsson và vào nhà. Kovalskazinski Jean- Marie chưa đến sao? ông nhìn quanh hỏi. Hắn đến ngay đấy, ông đảm bảo, hắn đúng giờ lắm. Rồi nhận ra nước ở túi đang rỏ xuống, làm ướt cả tấm thảm lẫn giày mình, ông nhìn như kiểu hối lỗi và cẩn thận chìa cái túi sũng nước cho Edmondsson. Cá mực, ông nói, quà. Thật, thật mà, ông khẩn khoản: quà mà. Ngồi cái ghế hôm trước trong bếp, ông kể đã chơi cờ thâu đêm ở phòng sau một quán cà phê rồi làm quen với người ngồi kế bên bàn, tay thanh niên khi bar đóng cửa đã kéo ông đến khu Les Halles, hai người mua một sọt mực rồi chia nhau lúc tờ mờ sáng, trong tàu điện ngầm, bến Invalides. Tôi nhìn ông nghĩ sang chuyện khác. Edmondsson cũng không nghe nốt; nàng đã mở vòi nước xả đầy ấm. Kabrowinski, yên vị thoải mái trong bếp, ngồi giạng chân, tay tiếp tục xoa cật lực. Ông bị nhiễm lạnh ở khu nhà kho dài rét cóng, ông bảo, đêm qua, giữa những nửa thân bò treo lủng lẳng, mà ông tả lại cho chúng tôi. Cười nụ tinh tế, trích dẫn Soutine, ông nói chuyện thịt sống, máu, ruồi, óc, lục phủ ngũ tạng, thịt vụn tấp đống trong thùng; kèm các chi tiết hôi thối là những cử chỉ khơi gợi chững lại khi ông hắt hơi. Cơm muối, Edmondsson, đang xây lưng về phía ông pha cà phê, lịch sự nói. Cùi chỏ vống lên, nàng rót nước vào phin. Tôi đề nghị làm thay để nàng có thể đi mua bánh sừng bò (cả sơn nữa, Kabrowinski chêm vào).
22) Sau khi Edmondsson đi khỏi, Kabrowinski mong được chà răng, vệ sinh chút đỉnh, rửa ráy, nếu tôi được cho phép. Tôi rất mực thân tình, tươi cười, giải thích là tôi cần buồng tắm, còn thì ông cứ tự nhiên dùng bồn rửa bát, có mấy con mực của ông đang nằm. Bỏ mực ra chỗ khác là được; tôi để ông tự làm nhé, tôi nói, rồi đi lấy khăn và xà phòng cho ông. Sau đó, tôi giam mình trong buồng tắm.
23) Đứng trước gương, tôi soi kỹ mặt mình. Đồng hồ đã tháo, nằm đối diện tôi trên kệ bồn rửa. Kim giây xoay quanh mặt đồng hồ. Bất động. Cứ hết một vòng, một phút lại trôi qua. Thong thả và dễ chịu. Không rời mắt khỏi mặt mình, tôi quết xà phòng cạo râu vào chổi; tôi chia kem lên má, lên cổ. Từ từ rê dao cạo, tôi kéo đi những hình chữ nhật bọt, và lớp da hiện lại trong gương, căng lên, khẽ ửng đỏ. Xong xuôi, tôi đeo đồng hồ về cổ tay.
24) Trên bàn bếp, cạnh túi bánh sừng bò quen thuộc, là ba hộp sơn. Kabrowinski lấy con dao Opinel khui một hộp và thấy chọn màu cam sơn lại bếp thật siêu hiện đại. Edmondsson ngờ vực, giải thích màu đấy là be tươi chứ không phải cam. Nàng xếp gọn sơn vào góc và mang cà phê ra. Tôi ngồi vào chỗ. Trong lúc tôi rót đầy tách mình, Kabrowinski, đối diện tôi, cố mở lọ mứt bằng con dao Opinel. Chúng tôi ăn lặng lẽ. Edmondsson giở lướt một tạp chí, ngạc nhiên vì triển lãm Raphael không được kéo dài thêm. Kabrowinski đã xem triển lãm tổng quan về danh họa, ở Luân Đôn. Raphael thì ông thấy cũng được. Ông kể với chúng tôi về sở thích cá nhân, thú nhận trọng Van Gogh, ngưỡng mộ Hartung, Pollock. Một tay dưới cằm hứng vụn bánh, Edmondsson hối hả ăn nốt bánh sừng bò. Nàng phải đi, mười giờ phòng tranh mở cửa. Kabrowinski, tự tiếp thêm cà phê, nhờ nàng chuyển lời chào trân trọng đến ngài giám đốc phòng tranh, con người đặc biệt đã chọn trưng bày tác phẩm của ông và, đăm chiêu, hớp một ngụm dài, thêm vào là nàng cũng có thể nhắc con người tuyệt vời ấy rằng ông xin tuân theo mọi sự thu xếp để gặp mặt người mua tiềm năng. Edmondsson chải đầu, thắt dây lưng áo choàng. Đi ngang chậu rửa bát, nàng bảo, chúng tôi mà muốn trưa ăn mực, thì phải moi ruột và bóc màng đi. Kabrowinski đồng tình cực lực. Mặt ông tươi rói. Ngả người ra, ông mãn nguyện lau miệng, và hướng về Edmondsson giờ đã ở ngoài tiền sảnh, kêu lên là nàng chớ quên gọi xưởng vẽ xem các bản litô đã xong chưa.
25) Cúi nghiêng một bên người, sơ mi trắng dưới dải đeo quần màu ghi, Kabrowinski cố lách mũi dao vào lớp thịt xúc tu nhớt của con mực đang nằm toẽ trên thớt gỗ. Đối diện ông, Kovalskazinski Jean-Marie (đến nơi lúc Edmondsson vừa đi khỏi, phục sức rất trang nhã) ghì con thân mềm giữa đôi tay thanh tú không cho ngoe nguẩy. Anh chàng đã tháo đồng hồ, và trao mình cho công cuộc ấy có phần dè dặt. Quần phủ khăn lau bếp, anh ta đứng thẳng đuỗn, đầu cứng ngắc, miệng bặm. Thỉnh thoảng, giọng xa xăm, anh gợi ý một chỗ giao mà theo anh lưỡi dao dễ lọt vào hơn. Lúi húi bên trên chuôi dao, tóc rủ xuống mắt, Kabrowinski không chịu nghe; ông nhăn nhó, tay quắp lại, lấy hết sức bình sinh chọt con dao Opinel vào nùi nội tạng. Ngồi mãi cuối bếp, chân bắt tréo, tôi hút thuốc. Nhìn đầu lọc, đang tỏa ra hơi khói ngập ngừng, tôi băn khoăn có nên đến tiệc chiêu đãi ở Đại sứ quán Áo không. Tôi có thể mong chờ gì ở đó? Diễn biến dạ tiệc, dự kiến vào thứ Ba tới, theo tôi là bất di bất dịch. Tôi sẽ đóng bộ tối màu, thắt cà vạt đen. Tôi sẽ trình thiệp mời ở lối vào. Dưới pha lê đèn chùm sẽ lấp loáng những bờ vai trần, những trang sức ngọc ngà, những ve áo lễ phục láng bóng. Tôi sẽ, thong thả, di chuyển từ xa lông này sang xa lông khác, ánh mắt hơi chúc xuống. Tôi sẽ không nói, không cười. Tôi sẽ vươn thẳng người mà bước, sẽ đến bên cửa sổ. Tôi sẽ, bằng một ngón tay, tẽ rèm nhìn ra phố. Đêm sẽ tối đen. Có mưa không nhỉ? Tôi sẽ thả rèm ra và quay lại tiệc đứng. Sẽ đứng im sau một nhóm khách. Một ông đại sứ sẽ phát biểu. Nước ta đang phát triển vững mạnh, ông ta sẽ bảo. Nhận định này, căn cứ vào bản tổng kết không chút nương tay, được rút ra ngay tại phiên khai mạc hội nghị thường kỳ của chính phủ ta. Ghi nhận ấy càng có ý nghĩa lớn lao hơn trong bối cảnh quốc tế đầy trở lực. Tôi sẽ lắng nghe. Ông ta sẽ oai phong, nói năng sẽ tự mãn. Trên cơ sở cái nền tảng phấn khởi ấy, ông ta giải thích, các chủ điểm khác nhau trên bàn nghị sự đã được xem xét: nhiều vấn đề đã được làm sáng tỏ trong quá trình diễn ra phiên họp, cho phép tổng kết từng khu vực hữu quan, nhờ công tác điều phối hiệu quả. Qua đó, các yêu cầu được đưa ra là mới về chất; chúng mang tên: mục tiêu thực tế, hợp lực toàn diện, quản lý nghiêm minh. Nghiêm minh. Từ này sẽ gây cười cho tôi; tôi sẽ cố nín, sẽ quay gót, bước giữa các xa lông, tay đút túi. Và tôi sẽ ra về, không quên lấy khăn ở phòng gửi đồ. Về nhà, tôi sẽ giải thích với Edmondsson rằng đám ngoại giao đã xúm xít nghe tôi bàn về giải trừ quân bị, các bà các cô chen nhau lại gần nhóm người nhỏ có tôi, tay cầm ly, đang diễn thuyết và bản thân Eigenschaften, vị đại sứ Áo, con người khắc khổ, tiết độ, uyên bác, đã thú nhận rất ấn tượng trước sự tinh tế trong các lập luận của tôi, kinh ngạc trước sự chắc nịch trong logic của tôi và cuối cùng, hết sức chân thành, choáng ngợp trước vẻ đẹp của tôi. Đúng lúc này, Edmondsson sẽ ngước mắt lên và gò má nàng sẽ nhô ra: nàng cười. Sau đó thì sao nhỉ? Tôi rời ghế ra tắt thuốc dưới vòi nước. Đi ngang, tôi đánh mắt nhìn con mực lúc này mới chỉ có nửa thân trên, nhẵn nhụi, đã bóc màng xong. Kabrowinski lột được miếng da dài nhờ nhờ xám nhưng cố mấy cũng không rứt được khỏi sợi xúc tu to nhất. Ông băm băm lưỡi dao vào đám xúc tu và khoét vết đứt hòng giải thoát cho da. Bệnh cúm không hỗ trợ công việc của ông: trước đó một lát, cơn hắt hơi mạnh buộc ông ngưng lại để lau ngón tay.
26) Chân trước chân sau, gần như chạy, tôi bước gấp qua hành lang ra trả lời điện thoại. Gọi nhầm, cho người thuê cũ. Trong phòng ngủ, một ánh xám xuyên qua rèm cửa vải tuyn. Tôi đặt ống nghe xuống thanh đỡ cái điện thoại già nua, mơ màng đi quanh bàn làm việc và dừng lại bên cửa sổ. Trời đang mưa. Đường phố ướt, vỉa hè sẫm tối. Vài ô tô vào chỗ đỗ. Những chiếc khác, đang đậu, mưa phủ kín. Mọi người sang đường nhoáng nhoàng, ra ra vào vào bưu điện, tòa nhà hiện đại trước mặt tôi. Chút vẩn nước mon men bám vào cửa kính. Sau màn hơi mỏng, tôi quan sát người đi đường bỏ thư. Mưa tạc vào họ dáng dấp mưu phản: đứng chững lại trước hòm thư, rút phong bì trong túi áo bành tô ra và thoắt cái, để thư khỏi ướt, vừa nhét nó vào khe vừa dựng cổ áo chặn mưa lại. Tôi ghé mặt sát cửa sổ và, mắt dán vào kính, bỗng có cảm giác hết lượt những con người kia đều đang ở trong bể kính. Có thể họ sợ chăng? Bể kính đầy dần lên.
27) Ngồi giường, tay ôm đầu (vẫn những tư thế cực đoan ấy), tôi tự nhủ con người ta đâu ngại gì mưa; vài người, ở hiệu cắt tóc ra, thì dè chừng đấy, chứ nào ai thật sợ sẽ chẳng bao giờ ngưng nữa cơn mưa này, sự tuôn chảy liên tục xối hết - xóa trơn. Chỉ có tôi, bên cửa sổ nhà mình, trong nỗi hoang mang vì khiếp hãi đủ kiểu chuyển động diễn ra trước mắt, mưa, dịch chuyển người xe, là bất thần ớn thời tiết xấu, trong khi chính sự tuôn chảy của thời gian, một lần nữa, mới làm tôi thất đảm.
28) Bàn phủ vải dầu trắng, tủ bếp, ngăn kéo tủ và kệ tủ, cửa sổ và thành cửa sổ. Tôi chẳng biết gì về cái chậu rửa bát trước mặt mình kia, chồng bát đĩa kia, cái bếp lò kia. Nền bếp trông tối thẫm, lớp lót linoleum bong tróc đôi chỗ. Hai cái chổi dựa vào tường. Tôi trông ra các chi tiết, ngó nhìn song không quyết bước vào. Trong khuông cửa, tôi có cảm giác mình đang đứng trước một nơi xa lạ. Mấy người kia là ai? Họ làm gì ở nhà tôi?
29) Tuyệt không đoái hoài đến sự hiện diện của tôi, hai người Ba Lan tiếp tục chuyện trò, mải mê và bình thản. Mắt hướng về đống dị hình của con chân đầu nằm dang kín thớt gỗ, Kabrowinski xọc hú họa mũi dao để xả cục u đâu đó. Con mực đã bóc xong, chỉ duy đầu chót mấy cái tua có thể nắm được là còn nguyên, vẫn dính những mẩu da nhờ xám, sun lại, giống như bít tất. chờm quanh thớt gỗ, các xúc tu uốn éo đủ mọi hướng, bò dọc bồn rửa bát, leo qua chướng ngại, gặp lại nhau, thỉnh thoảng vắt chồng lên nhau. Những cái dài nhất thõng ra tứ phía. Kabrowinski buông dao và, quay sang tôi, cho biết ông đã bắt đầu thuần thục. Theo ông thì, dẫu vẫn còn năm con mực chất trong chậu, ông cần không quá mười lăm phút là bóc sạch hết. Càng hay, càng hay, tôi vừa nghĩ bụng vừa lục túi tìm thuốc lá. Tôi để trong phòng ngủ mất rồi.
30) Chúng ta đã tiến hành thảo luận, viên đại sứ sẽ nói, đã đưa ra đề xuất, đã rút kết luận và thông qua các chương trình. Mọi kế hoạch, được xây dựng trên tinh thần thống nhất hệ thống văn bản, nhằm hỗ trợ thực thi loạt biện pháp đã chủ trương tại phiên họp trước, thông qua việc xác định rõ hoạt động nghiên cứu tiền khả thi. Các biện pháp này, bên cạnh đó, cũng nhằm khuyến khích người tham gia lên chương trình nghiên cứu chặt chẽ để làm chủ kế hoạch tốt hơn, qua đó triển khai những phương thức nâng cao hiệu quả năng lực thực tiễn. Tràn đầy kỳ vọng, những người tham gia đã thống nhất cùng phối hợp theo hướng đảm bảo tinh thần trách nhiệm, độ tin cậy và tính cố kết. và chưa hết. Họ mong chờ - theo lời chính chủ tọa phiên họp - có thêm nhiều nỗ lực hơn nữa nhằm thực hiện các mục tiêu chính đã đề ra. Anh có tô xa lát không? Kabrowinski hỏi. Sao cơ? Tô xa lát, ông nhắc lại trong lúc phác đại hình cái tô trộn xa lát.
31) Hơi khom người, Kabrowinski trìu mến để, thớt nghiêng, chỗ khoanh mực mỏng trượt vào bát đựng. Ông đã phải mở hết tủ tường, xê dịch nồi niêu, lôi bình, chậu, rổ rá, xoong chảo ra mới tìm thấy dưới đáy hộc tủ nào đó cái bồng bằng nhựa trong màu lục nhờ nhờ tồi tàn ấy. Kovalskazinski Jean-Marie cũng tìm, nhưng ít tin tưởng hơn, chỉ đi vòng quanh bếp chăm chú ngó nghiêng. Con mực đã thái xong, thân thành lát, xúc tu thành khoanh và, phần nhỏ rồi, biến thành một mớ rùng rình được Kabrowinski gạt dao tùa vào bát đựng. Xong việc, ông túm con thứ hai trong chậu lên, giơ cao tít trên đầu chúng tôi và, đầy mềm mại, gối chùng, trải nó xuống thớt trong một cử điệu ân cần. Nãy giờ, tôi đã biết mình sẽ rời bếp (tôi hơi lạnh).
32) Đứng dậy, tôi ra khỏi bếp vào phòng lấy áo len. Trước khi bước qua ngưỡng cửa, tôi khẽ nghiêng người, nụ cười hối lỗi, tỏ cho khách biết tôi rời họ đi trong luyến tiếc. Căn hộ yên ắng. Tôi bước êm ru. Tôi lướt qua tiền sảnh, quành trái rồi quành phải, vào hành lang, để về phòng bằng bước chân đều đều như thế đã bao lần rồi? Và đã bao lần tôi theo hành trình ngược lại? Tôi tự hỏi mình. Ở hành lang, mấy cánh cửa mở hé. Từ khe hở hắt ra những vệt sáng xám lẫn vào thảm; đôi giày đang chuyển động của tôi đón những tia sáng nhạt đan chéo nhau. Tôi rẽ phải vào phòng mình. Đứng trước cửa sổ, tồi vuốt cánh tay, xoa ngực. Tôi di ngón tay vẽ tranh trên ô kính, vạch đường lên màng hơi nước, những đường vòng bất tận (bên ngoài, vẫn cứ Paris như thế).
33) Có hai cách ngắm mưa rơi, ở nhà, sau cửa kính. Cách đầu là găm mắt vào một điểm bất kỳ trong không gian và nhìn mưa nối tiếp tại điểm đã chọn; cách này, thư thái cho tinh thần, không mang lại bất cứ ý niệm nào về đích của chuyển động. Cách thứ hai, đòi hỏi thị lực linh hoạt hơn, là cùng lúc dõi mắt theo đà rơi của đúng một giọt, từ lúc nó lọt vào tầm mắt cho đến lúc nước từ đó loang ra đất. Như thế, có thể hình dung rằng chuyển động, bề ngoài chớp nhoáng cỡ nào đi nữa, về căn bản vẫn hướng đến bất động, và do đó, dù đôi khi có vẻ chậm đến đâu, không ngừng kéo cơ thể về phía cái chết, tức là sự bất động. Ố giề.
34) Giờ thì đang mưa xối xả, cứ như mưa sẽ trút xuống hết, hết sạch. Ô tô chạy chậm lại trên mặt đường ướt đẫm, những chùm nước đọng tóe ra hai bên bánh lốp, Ngoài dăm ba cây ô giăng ngang chạy trốn, con phố cơ hồ bất động. Mọi người đứng trú trước lối vào bưu điện và, tụm lại, chờ mưa tạnh trên bậc thềm hẹp. Tôi trở ngược và đi mở tủ; tôi lục ngăn kéo. Đồ lót, sơ mi, đồ ngủ. Tôi tìm áo thun, Chẳng lẽ không đâu có áo thun? Tôi lại ra khỏi phòng và, giơ chân xê mấy thùng sơn làm vướng lối đi, mở cửa kho. Chúi vào trong, tôi dịch hòm xiểng, mở va li tìm quần áo ấm.
35) Vỏ sò, đá sưu tập, mã não miếng, cốc kim loại, cốc đựng trứng, khăn lót, khăn tay, ren, khăn san, lọ dầu giấm để bàn, mặt dây chuyền, hộp sơn mài, mở nút chai, đồ nghề cũ, dao gấp, dao bạc, hộp ngà đựng thuốc hít, đĩa, dĩa, tượng và con giống Giáng sinh vùng Provence, đồ chạm khắc Nhật. Tôi đã bậy được một cái rương sắt lớn, chi chít khóa và chằng kín dây dợ xổ lông, và ngạc nhiên thấy bên trong cả đống hổ lốn ấy, chắc của mấy người thuê cũ, mà bằng vào nét thanh nhã của tranh khắc thì thuộc típ người hưởng lạc.
36) Hai người thuê cũ, chúng tôi có gặp sát ngày chuyển đến ở. Trước khi nhường lại nhà, họ mong được làm quen. Họ gọi điện mời chúng tôi đến uống một ly. Chúng tôi trình diện ngay tối đó, mang theo chai Bordeaux. Ông thuê nhà cũ, người nho nhã, nhìn chai rượu, đánh giá là rất ngon, nhưng cười e dè thú thật ông ta không thích vang Bordeaux, mà khoái Bourgogne hơn. Tôi đáp tôi thì lại chẳng khoái cho lắm cách ông ta phục sức. Điệu cười ông ta gượng gạo, mặt ông ta ửng đỏ. Còn đâu thì có tí chút lạnh nhạt, chuyện trò không bắt lại được ngay. Cả bốn chúng tôi đứng đực ra ngoài tiền sảnh, tay khoanh, mắt cụp; Edmondsson ngó tranh. Bà thuê nhà cũ, xòe miệng cười, chấm dứt tình trạng khó xử khi mời chúng tôi qua phòng khách. Ở đó, giữa đống hòm xiểng chuyển nhà, chúng tôi ngồi xuống mấy cái ghế cắm trại. Ông thuê nhà cũ mang ô liu bày trong bát đất nung ra cùng chai Bourgogne, được ông ta khui đúng thể thức. Phải đứng lên gập ghế chúng tôi đang ngồi lại mới đến được chỗ cái hòm bên trong có ly pha lê, bọc giấy lụa, đặt cẩn thận giữa hai lần báo cũ. Khi tôi đã được tiếp rượu rồi, đã nói tôi thấy rượu ngon chừng nào rồi, ông thuê nhà cũ mạnh dạn hơn, thoải mái lên trông thấy, thắt lại khăn và kể chúng tôi nghe về bản thân, quá khứ, nghề nghiệp. Ông ta là nhân viên bán đấu giá. Vợ người Nîmes. Hai người họ quen nhau ngoài bãi biển Esmeralda, đảo Sardirina. Sở dĩ họ quyết định chuyển nhà là vì đã ngán cảnh sống ở Paris. Họ cần khoảng lùi, thanh khí, làng quê (chưa gì ông đã khấp khởi trước ý nghĩ sẽ thức giấc vì tiếng chim chiêm chiếp rồi). Cuối năm là ông nghỉ hưu, nên họ sẽ về sống hẳn ở vùng Normandie, trong một điền trang cải tạo. Viễn cảnh ấy khiến ông hoan hỉ. Ông sẽ được đi câu, săn bắn, tí toáy vặt. Ông ta sẽ viết tiểu thuyết. Thế ông bà có vườn không? Tôi hỏi cho ông ta khỏi kể chủ đề tiểu thuyết, các biến cố, thắt mở. Có vườn rộng lắm, ông ta đáp, cỡ công viên luôn ấy, mình sẽ tản bộ trong rừng mãi được, Brigitte nhỉ? Brigitte đồng tình, cười với chúng tôi và mời ô liu. Đặt bát về hòm, bà ta quay sang hỏi tôi làm nghề gì. Tôi á? tôi nói. Vì tôi cứ im thít, nên Edmondsson đỡ lời. Hí hửng biết được tôi làm nghiên cứu rồi, hai người thuê cũ thay nhau hỏi han về công trình của tôi, đưa nhận xét, nêu ý kiến. Họ nói năng sốt sắng, gắng làm sao thật thuyết phục, cuối cùng còn cho cả lời khuyên. Ở vào vị trí tôi, họ bảo, họ sẽ làm khác đi. Tôi nhả hạt ra tay, gật gù, không ra nghe hẳn. Giải thích hết cho tôi đường hướng chính kết luận của luận án phải là gì xong xuôi, họ đứng lên, chắc mẩm đã thuyết phục được tôi, và đề nghị đưa chúng tôi đi thăm nhà để cung cấp một số thông tin thực tiễn. Chúng tôi cất bước. Họ dẫn trước vào từng phòng, mô tả những thứ nhìn thấy cho chúng tôi. chúng tôi đi vòng một lượt hết các phòng theo kiểu tham quan bảo tàng, tay chắp sau lưng, vẻ dửng dưng hứng thú. Trong buồng tắm, họ lưu ý đường ống vừa được làm lại toàn bộ bằng chi phí của họ, gương treo tường cũng mới, hóa đơn họ vẫn giữ đây, còn nền lát được chưa đầy hai tháng. Thảm phòng ngủ mất của họ năm mươi sáu quan một mét. Mấy thanh treo áo ngoài hành lang, móc là gỗ anh đào dại, giá trên sáu trăm quan một cái. Đèn chùm tiền sảnh là đồ cổ, có thể ước tính giá trị gần ba nghìn quan, chúng tôi chăm chú nghe mấy con số, Edmondsson ý nhị mỉm cười với tôi, tôi thì muốn hỏi luôn cả giá cửa phòng khách. Quay về đó, họ mời chúng tôi ngồi, tiếp rượu đầy ly và, với những nụ cười bối rối lỗi lạc, gợi ý chúng tôi mua lại toàn bộ đồ nội thất lắp đặt trong nhà. Bằng không, họ bảo, xin thông cảm cho họ, họ tự thấy buộc lòng phải dỡ hết chỗ giá đỡ và rút thảm đi. Edmondsson, miễn chê trong vấn đề tiền nong, trả lời ngay là chúng tôi không cần đến giá để đồ và, về phần tấm thảm, thực tình nàng sẽ rất lấy làm cảm kích nếu họ giải phóng nền nhà cho chúng tôi được trải thảm của mình.
37) Chúng tôi đã đi vòng quanh căn hộ trống. Chúng tôi đã uống rượu Bordeaux bệt dưới sàn. Chúng tôi đã lấy hết đồ ra khỏi hòm xiểng, tháo hộp, dỡ va li. Chúng tôi đã mở cửa sổ cho bay hết mùi người thuê cũ. Chúng tôi ở nhà mình; trời se lạnh, chúng tôi cự nhau vì một manh áo ấm cả hai cùng muốn mặc.
38) Nhà mới được ăn mừng. Đôi chúng tôi mời đến rất sớm. Đó là bạn thuở nhỏ của Edmondsson. Họ ngồi vào tràng kỷ, vừa lau mắt kính vừa hà hơi, Lúc uống khai vị, còn lại mình tôi với hai thanh niên ấy, Edmondsson phải rút đi chuẩn bị bữa tối. Họ giữ im lặng. Họ bắt tréo chân, ngó quanh tường vách. Trao tôi vài nụ cười lịch thiệp rồi, họ bỏ mặc tôi đấy và bắt đầu rì rầm tán chuyện. Thôi để ý đến tôi, họ gợi lại những buổi tối mới đây, những kỷ niệm đi nghỉ, đợt trượt tuyết gần nhất. Rồi, do Edmondsson chưa quay lại, họ lấy mấy tờ tạp chí nằm trong tầm với. Họ giở lướt, chìa ảnh cho nhau xem. Tôi đứng dậy, bật đĩa hát rồi lại ra ngồi xuống. Ồ vui sao trước cửa nhà xe, cha hiện ra trên tầng xe hoa lệ, cha ơi, trời tối đen nhưng ánh đèn thoáng rọi, mình nhìn xa tít tắp sườn đồi. Charles Trénet, tôi nói. Trên đường Narbonne mình sẽ đi, xuyên đêm thâu sẽ vù tiếng máy, và tháp pháo đài Carcassonne mình sẽ thấy, ló ra ở Barbaira bên phía chân trời. Anh không có đĩa Frank Zappa à? Pierre-Étienne hỏi với vẻ bề trên thích thú. chẳng có cái nào, tôi nói. Tôi nhấp những ngụm nhỏ cho hết whisky và đặt ly xuống bàn. Từ trong bếp, Edmondsson hét vọng ra tầm mười phút nữa nàng mới xong. Trong lúc đợi, nàng tiếp tục váng lên, tôi đưa bạn chúng tôi đi thăm nhà được thì hay biết mấy. Bạn chúng tôi gập báo lại và, tay khoác tay, theo sau tôi trong hành lang, xoắn chặt vào nhau. Chúng tôi bắt đầu bằng buồng tắm. Tôi ngồi lên thành bồn tắm, để họ thỏa thuê ngắm nghía. Tiếp đó, tôi dẫn họ sang thăm phòng ngủ. Họ nán lại trước giá sách, rút ra mấy quyển, rồi lại xếp về chỗ. Tôi đợi ngoài hành lang. Ngang buồng vệ sinh, tôi mở cửa và, dẫn trước họ, điều khiển cánh tay lái họ về hướng mong muốn, khiến cả hai lọt được vào trong. Họ hối hả trở ra và, bước thong thả, ngó sang phải rồi sang trái, đi lại đường dẫn về phòng khách. Edmondsson cuối cùng cũng nhập hội. Nàng xin lỗi đã để phải chờ và hỏi họ thấy căn hộ thế nào. Tay nắm tay, bạn chúng tôi cho là căn hộ nhỏ - nhưng hài hòa. Chúng tôi ngồi vào bàn. Chúng tôi ăn măng tây; họ bàn chuyện chính trị quốc tế, chuyện bằng cấp đại học. Như đang kể chuyện cho ông bà nghe, Pierre-Étienne cho biết cậu ta học hành giỏi giang. Cậu có bằng cử nhân luật, cao học khoa học chính trị và đang tính lấy thêm mảnh bằng thạc sĩ lịch sử thế kỷ hai mươi. Nhưng, với cái bằng cuối cùng này, cậu chợn tuyển sinh đầu vào; giữa các thí sinh, cậu giải thích trong lúc ăn uống đúng mực, có sinh viên học viện hành chính quốc gia,spaghetti alle vongole rồi trường bách khoa nữa. Lực sĩ ném đĩa cả đấy, tôi vừa nói vừa lấy tiếp một cọng măng tây. Tôi chêm thêm, và lấy giọng nghiêm túc, mình mà tham gia hội đồng khảo thí thì ngộ. Người ta tưởng tôi giỡn. Tôi để kệ, nhưng, giả mà run rủi T. lại nhờ tôi hỗ trợ phỏng vấn tuyển sinh, thì tôi sẽ chẳng khoái làm thí sinh Pierre- Étienne đâu. Sau bữa tối, chúng tôi đánh cờ tỷ phú. Tôi rót whisky, chúng tôi chuyền súc sắc cho nhau, cất nhà, xây khách sạn. Cuộc chơi uể oải. Bạn chúng tôi rờ cẳng tay nhau, vuốt ngón tay nhau khi tung súc sắc; chúng tôi chuyện phiếm, Pierre-Étienne băn khoăn thế chiến thứ ba liệu có nổ ra không. Tôi kệ thây. Đè bẹp họ xong thì tôi đi ngủ (làm gì có bí mật, trong trò cờ tỷ phú).
39) Cái áo len sợi dày màu trắng, sườn thụng, vo lại nhìn giống vỏ bao khoai tây vứt xó. Dãy hình quả trám màu trắng và be vặn vào nhau ngang ngực; miếng da độn ở khuỷu làm ống tay như bị gãy. Tôi nhặt tấm áo vo cục dưới nền kho lên, và mở ra ngắm ở tiền sảnh. Nó bé bé: chắc đồ Edmondsson mặc hồi nhỏ đây mà. Tôi cởi áo khoác ra, tròng nó vào người. Đại khái thì cũng tạm ổn.
40) Ngồi cuối bếp, đầu cúi, tôi giằng ống tay áo len cố che lấy một phần cổ tay. Hai người Ba Lan, ngạc nhiên thay, chẳng nói năng gì. Kovalskazinski Jean-Marie vẫn đang dằn đầu một con thân mềm xuống thớt gỗ. Tay anh ta đỏ ửng, ướt, quắp lại. Anh ta sốt ruột, tôi cảm tưởng vậy, chớm mỏi lưng. Mỗi lần con dao lướt trên cái túi màu be co thắt về phần thân, anh lại xủng xẳng cảnh báo Kabrowinski đừng có chích vào, vì bên trong chứa mực. Kabrowinski chẳng tin, bảo đấy là gan và, để chứng minh, bén gọn một nhát, thọc con dao Opinel đúng chỗ bộ phận kia. Mực không phòi ra ngay, đầu tiên chỉ vài giọt, quánh đen, rỉ ra trên bề mặt, rồi vài giọt nữa, và cuối cùng một dòng tuôn từ từ ra thớt. Kovalskazinski Jean-Marie cởi cái khăn lau thắt ngang lưng, bỏ mặc việc đấy, ra ngồi cạnh tôi. Mặt căng thẳng, anh ta châm thuốc và, tiếng Pháp chen lẫn tiếng Ba Lan, trách Kabrowinski sao không nhờ hàng cá lột da mực luôn cho. Mà, anh ta nói, vẫn còn tận bốn con, nguyên xi, trong bồn rửa chứ. Kabrowinski không nghe. Ông chấm ngón tay vào mực và giải thích màu sepia được làm từ chính mực của con mực. Hồi trẻ, ông vẽ nhiều bức thủy mặc đẹp lắm. Đúng thế. Mơ màng, ông đem mực ra vòi nước xả mãi. Ông lấy giẻ lau thớt và, khi con mực đã rửa sạch lại nằm về chỗ, ông nhờ Jean-Marie Kovalskazinski làm ơn đến phụ một tay...
 
[1] Nguyên văn: éclair, là loại bánh ngọt hình thuôn dài, nhân kem trứng, thường có hương vị cà phê hoặc sô cô la, bên trên phủ một lớp đường hoặc kem đông mềm. (Các chú thích trong sách là của người dịch.)
[2] Nguyên văn: mille-feuilles, gồm ba lớp bánh kẹp kem ngọt, trên mặt láng một lớp kem hoặc đường bột đun chảy.
[3] Tức mì ống xào ngao
Đăng nhập để trả lời
0

CẠNH HUYỀN

1) Tôi đi bất đồ, và chẳng báo ai. Tôi không đem theo gì. Tôi mặc com lê tối màu cùng áo choàng xanh tím than. Tôi bước trên đường: cây, hè phố, dăm khách bộ hành. Đến quảng trường, tôi thoáng thấy bóng xe buýt. Tôi rảo bước, băng ngang đại lộ và leo lên sau các hành khách khác. Xe chuyển bánh. Tôi ngồi phía đuôi xe, chỗ cái khoang vồng ra. Cửa kính mưa phủ dày. Đối diện tôi có hai người, một bà, một người đàn ông đọc báo. Giày người trước mặt tôi sũng nước, một vệt choèn loang quanh đế. Chúng tôi băng qua sông Seine, sang ngang lần nữa ở cầu Austerlitz. Đến bến nào tôi cũng quan sát khách lên xe, canh chừng mặt người. Tôi sợ gặp phải ai. Thỉnh thoảng, một khuôn mặt nhác trông nghiêng khiến tôi hốt và tôi cúi gằm xuống vì ngỡ nhận ra ai, rồi ngay khi người ta đối diện tôi, nhìn ra gương mặt xa lạ tôi thở phào và, đầy thiện chí, dõi theo cho đến khi người ta ngồi vào chỗ. Tôi xuống ở bến cuối, và hướng về nhà ga. Tôi lang thang một lúc ở sảnh chờ. Tôi mua vé, cố lấy giường nằm mà không kịp: tàu sắp sửa khởi hành.
2) Hôm sau, tàu tới nơi. Tôi xuống bến, vạ vật ở nhà ga, tay đút túi cái áo choàng thanh lịch. Cạnh cửa kính rộng, thụt vào, là văn phòng Nghiệp đoàn xúc tiến du lịch. Tôi xem ảnh, áp phích. Sau quầy, một cô đang nói chuyện điện thoại, tay phải ghi ghi chép chép. Khi cô bỏ máy, tôi bước vào và, đã yên chí được là cô có nói tiếng Pháp, nhờ cô đặt giúp phòng khách sạn. Phòng đơn hay phòng gia đình? cô hỏi. Tôi nhìn cô ngờ vực. Đâu, Cô đâu nói tiếng Pháp. Phòng cho tôi, tôi vừa hét vừa khoát tay trỏ vào mình từ đầu xuống chân.
3) Tôi đi quanh phòng. Giường phủ chăn lông màu gỉ sắt. Bồn rửa nhô khỏi tường, bên dưới đặt chậu vệ sinh nhựa. Một cái bàn tròn kèm ba ghế được bố trí giữa phòng rất dị. Cửa sổ rộng, có ban công. Không bỏ áo khoác, tôi xả cho nước chảy vào bồn rửa, giải thoát miếng xà phòng bé ton hon khỏi tờ giấy bọc và rửa tay. Nghếch nghiêng đầu lên, tôi quan sát mặt mình trong gương, rướn ra đằng trước để nhìn cho rõ cái cần cổ, lấm tấm những sợi lông sậm màu, lơ thơ. Nước vẫn chảy vào bồn sứ. vào cả khăn tôi nữa, lúc này.
4) Tôi đã ở cả đêm trên toa tàu, một mình, đèn tắt. Bất động. Nhạy với chuyển động, chỉ duy với chuyển động, chuyển động bên ngoài, hiển hiện, xê dịch tôi đi cho dù tôi bất động, và cả chuyển động bên trong thân thể đang tự hủy của tôi, chuyển động vô phương cảm nhận, làm tôi bắt đầu chú mục vào mỗi đó và muốn định hình bằng được. Nhưng nắm bắt nó làm sao? Nhận ra nó chỗ nào? Những cử động đơn giản nhất cũng làm lãng chú ý. Tôi chìa tấm hộ chiếu xanh cho viên cảnh sát Ý.
5) Tôi ra khỏi khách sạn sau khi đã vắt khăn lên sấy trên lò sưởi. Ngoài phố, tôi cà lưỡi vào răng, vào vòm miệng. Tôi thấy có vị tàu hỏa trong miệng, áo quần thì ẩm. Tôi phủi ống tay, vừa đi vừa giũ áo choàng. Đường phố hẹp ép chân bước theo một hướng, chẳng nghĩ ngợi gì tôi tiếp tục đi thẳng, qua mấy cây cầu. Tôi gặp được nhà băng có thể đổi tiền. Tôi mua một đài bán dẫn giá rẻ. Tôi uống tách cà phê xoàng, gọi thuốc lá. Trong một cửa hàng bách hóa Standa, tôi mua bộ đồ ngủ, hai đôi tất, cái quần lót. Tay lỉnh kỉnh túi, tôi dừng lần chót ở hiệu thuốc. Cửa ra vào rít lên. Viên dược sĩ không hiểu rõ ý tôi. Tôi phải đặt đống túi xuống để mô phỏng bàn chải đánh răng, dao cạo, xà phòng cạo râu.
6) Quay về khách sạn, tôi bị lạc giữa các tầng. Tôi đi dọc hành lang, leo cầu thang. Khách sạn vắng hoe; nó như mê cung, không đâu có chỉ dẫn. Quành khỏi một thềm nghỉ trải thảm bần, bài trí cây xanh, tôi rồi cũng thấy hành lang dẫn về phòng mình. Tôi bỏ đồ trong túi ra bàn, cởi áo choàng. Tôi thả người xuống giường. Tôi nằm đó cho hết buổi sáng, nghiêng bên mạng sườn, hoài công chỉnh đài bán dẫn. Tôi xoay vặn đủ hết các nút, chỉnh sang điều biến tần số, về lại sóng dài. Cái máy rẹt rẹt. Tôi lắc đài, chỉnh lại ăng ten.
7) Tôi không xuống ăn trưa.
8) Nhà tắm nằm ở tầng dưới. Muốn đến nơi, tôi phải men theo một hành lang dài, xuống cầu thang xoắn ốc và, ở thềm nghỉ, vào cánh cửa đầu tiên bên trái. Người dọn phòng mới chỉ đường cho tôi ban sáng. Ăn mặc chỉnh tề thì việc ấy không cho thấy khó khăn nào. Nhưng tôi lại đang đánh đồ lót, kèm đủ khăn tắm lẫn đồ vệ sinh, ẹp vào thành cầu thang, đợi một cặp quyết định hoặc bước vào phòng, hoặc đi ra. Vì lý do mờ mịt với tôi, họ chẳng có vẻ gì cả quyết. Tôi nghe được họ trao đổi - bằng tiếng Pháp - trên thềm nghỉ, có lẽ là trước cửa phòng họ, về tác phẩm của Titian, của Veronese. Người đàn ông nói về cảm xúc đích thực, về cảm giác thuần túy. Ông ta bảo thấy rung động vì tranh Veronese, rung động chân thành, độc lập với, ông ta bảo, mọi nền tảng văn hóa hội họa (đích thị dân Pháp đây rồi, tôi tự nhủ). Nép sát tường, càng lúc càng sốt ruột, tôi rình mọi tiếng động trên tầng, chỉ sợ bị bắt gặp đang mặc trơ quần lót, đứng phỗng ra, ở lồng cầu thang. Như thế, bỗng nghe tiếng chân bên trên đầu, tôi quyết định đi tiếp, phải đương đầu với ánh mắt hai cái người trên thềm nghỉ cũng mặc. Tôi hối hả bước nốt mấy bậc thang cuối ngăn tôi với họ, đi chậm lại và, chỉnh khăn quanh hông cho ngay ngắn, lấy vẻ ung dung nhất đời rẽ quành xuống. Tôi thấy mình dưới quầy bar khách sạn. Gần như không một bóng người. Cặp đang ngồi ở tràng kỷ quay lại ngó tôi. Người phục phụ quầy bar thì không ngước mắt lên.
9) Tường nhà tắm màu lục nhạt, sơn rộp rải rác. Khóa cửa lại, tôi cởi quần lót, móc vào tay nắm. Tôi tắm vòi trong bồn, lau người, lập cập về phòng, khăn vắt vai. Đồ lót mới nằm trên bàn. Tôi cắn đứt sợi dây đính hai chiếc tất với nhau. Len mềm, thơm. Tôi xỏ tất sạch, luồn quần lót mới. Tôi thấy khoan khoái. Tôi vật vờ tí chút trong phòng; phật phật cạp chun quần lót, đọc hướng dẫn ghim ở cửa, quy định về an toàn, giá phòng, phí ăn sáng. Quay lại bàn, tôi xỏ quần dài và mặc lại áo sơ mi đã bị hôi ở nách.
10) Chiều không tàn, như thường vẫn thế ở xứ lạ, nơi giờ phút, ngày đầu, có vẻ trì nặng, cơ hồ dài ra, chậm lại, không cùng. Nằm trên giường, tôi nhìn ánh xám xuyên qua cửa sổ. Căn phòng chớm trở tối, Đồ đạc nhòa đi, loãng ra trong ánh nhá nhem. Cái đài bán dẫn để hú họa ở một kênh đang phát nhạc rock and roll. Tôi nghe to hết cỡ và bàn chân xỏ tất, trên chăn lông, âm thầm ngoe nguẩy theo nhịp.
11) Tôi xuống ăn tối. Phòng ăn khách sạn nhỏ. Rèm cửa nặng, bằng nhung màu mận chín, đang buông, càng làm tăng cảm giác thân mật, chật chội. Bàn ăn, bài trí trang nhã, phần lớn không có người. Một phụ nữ đơn độc, tuổi đã cao, ngồi chiếm một góc. Trong khuông cửa kéo dài, tôi thấy được một phần sảnh đón của khách sạn, có màn hình ti vi đang nhấp nháy. Cái máy chắc đã bị ngắt âm, không nghe thấy tiếng động nào. Còn đâu, trong phòng ăn bao trùm một sự tĩnh lặng tuyệt đối, thỉnh thoảng lại càng được nhấn rõ hơn vì tiếng cạch dao dĩa kim loại của bà già đang ăn phía sau tôi. Xong bữa tối, tôi sang sảnh đón bên cạnh và ngồi xuống trước ti vi, đang chiếu những hình ảnh thảm họa lặng câm, khó hiểu.
12) Vắng âm thanh, hình ảnh bất lực không truyền tải nổi sự rùng rợn. Giả sử những giây cuối cùng của cuộc đời chín mươi tỷ con người đã chết, kể từ khi trái đất tồn tại, được quay rồi phát liên tục tại phòng chiếu, thì cảnh tượng, theo tôi, chẳng mấy mà gây buồn chán. Trái lại, nếu như năm giây cuối đời họ, những âm thanh đau đớn sau chót của họ, tập hợp hơi thở họ, tiếng rên la của họ, được ghi lại, rồi hòa âm trên một phim duy nhất và được công chiếu, to hết cỡ, ở phòng hòa nhạc, hoặc nhà hát lớn... Quang cảnh một sân vận động bóng đá cắt ngang suy tưởng của tôi, hai đội bóng đang khởi động trên sân. Tôi vội đứng dậy và, ngồi xổm đối diện cái máy, cố gắng bật tiếng.
13) Inter-Milan đấu với Glasgow Rangers ở vòng một tám cúp các câu lạc bộ vô địch quốc gia châu Âu. Trận đấu diễn ra ở Scotland. Muốn giành cơ hội cho trận lượt về, đội Ý khép thế trận, co lại phòng ngự. Cuộc chơi buồn tẻ. Vài pha đẹp, tuy vậy, làm tôi cảm động; có lúc tôi còn bật nhào về đằng trước, tay chống xuống đất, làm sao ghé thật sát màn hình. Phút hai mươi lăm hiệp hai, anh chàng phục vụ quầy đến nhập hội với tôi trước ti vi. Anh ta máy móc dịch ăng ten, chỉnh độ tương phản rồi mới ngồi xuống. Mười lăm phút cuối trận sôi động. Bên Scotland chuyền bóng dài, sút thẳng cánh, cố gắng mở tỷ số ở những phút cuối cùng. Khi một cú sút xa ba mươi mét bật cột dọc, tôi nín thở trao đổi ánh mắt chứa đầy ngụ ý với người phục vụ. Tôi châm thuốc và ngoái lại vì cảm nhận có người hiện diện đằng lưng. Phía sau chúng tôi, trước ngưỡng cửa, nhân viên lễ tân đang đứng đó.
14) Hôm sau, tôi tỉnh dậy sớm sủa, trải qua một ngày yên tĩnh.
15) Tôi bắt đầu rành khách sạn, hết bị lạc ngoài hành lang. Các bữa được phục vụ cách đều nhau, tôi ăn sáng thật sớm, thường là một mình dưới phòng ăn. Bữa tối cũng mình tôi, nhỉnh trước hai mươi giờ một chút. Khách chúng tôi trong khách sạn có vẻn vẹn không quá năm người. Thỉnh thoảng, ở một chỗ ngoặt cầu thang, tôi lại chạm mặt cặp người Pháp. Tôi còn ngạc nhiên, buổi nọ, thấy họ vào phòng ăn lúc tảng sáng. Họ băng ngang phòng không chào hỏi, dành cho tôi ánh mắt dửng dưng lúc lướt qua bên cạnh. Mới tinh mơ mà ngồi chưa ấm chỗ họ đã lao vào tranh luận (đó đích thị là dân Paris kỳ cựu). Họ bàn chuyện mỹ thuật, thẩm mỹ. Lập luận của họ, hoàn toàn trừu tượng, với tôi khoác một vẻ sắc bén dịu êm. Diễn đạt bằng ngôn từ trau chuốt, người đàn ông phô bày uyên bác, không thiếu hoài nghi. Người phụ nữ thì chăm chắm mỗi Kant, phết bơ lên bánh mì cho mình. Vấn đề trác tuyệt, theo tôi thấy, chỉ chia rẽ hai người họ ở vẻ ngoài mà thôi.
16) Hằng ngày, cuối buổi sáng, chị hầu phòng đến lau dọn phòng tôi. Nhường địa điểm cho chị ta, tôi xỏ áo khoác xuống tầng trệt náu mình. Tôi loanh quanh dưới sảnh, tay đút túi, cho đến lúc thấy chị kia, xách xô và chổi, tái xuất trên cái cầu thang xanh da trời. Khi ấy tôi lại leo về phòng và thấy giường đã được dọn gọn ghẽ, đồ vệ sinh xếp hoàn hảo trên giá bồn rửa.
17) Nếu có bước chân ra khỏi khách sạn, tôi cũng hiếm khi đi xa. Tôi quanh quẩn ở mấy phố lân cận. Tuy vậy, tôi phải một lần quay lại cửa hàng Standa: tôi cần sơ mi, quần lót mới thì đã bẩn. Cửa hàng sáng lựng. Tôi bước thong thả giữa các lối đi, dáng như thanh tra, thỉnh thoảng lại xoa đầu trẻ con. Tôi nấn ná trước đồ may mặc, chọn áo, sờ len áo chui cổ. Ở quầy đồ chơi, tôi mua một bộ phi tiêu.
18) Về phòng, tôi dốc túi ra, xé bao nhựa đựng món đồ chơi. Một cái đĩa đơn giản, rạch mấy đường tròn đồng tâm, kèm sáu cây phi tiêu cánh tròn, trang trí bằng lông chim. Tôi móc bia lên cửa tủ và, lui xa ra để có khoảng cách, mãn nguyện ngắm nghía.
19) Tôi tập trung cao độ lúc chơi phi tiêu. Tựa cứng vào tường, tôi nắm chặt mũi phi tiêu. Cả người tôi căng ra, mắt quắc lại. Tôi nhìn dính tâm bia với lòng quyết tâm ngùn ngụt, moi rỗng đầu - và phóng.
20) Các buổi chiều trôi qua yên ả. Có khi nào ngủ trưa, tôi tỉnh dậy quạu cọ, hàm đơ ra. Cài khuy áo khoác, tôi xuống quầy bar, vắng hoe vào giờ ấy. Hễ nhác thấy bóng tôi là người phục vụ rời ghế ngồi và, rề bước, đi trước tôi về quầy. Không cần tôi phải thốt lời nào, anh ta tỉnh bơ lắp phin vào bình, đặt lót tách trước mặt tôi. Phục vụ cà phê rồi, anh ta xê lọ đường ra tận tách của tôi, chùi tay và, lại cầm lấy báo, ra ngồi lại xuống ghế.
21) Tôi mua một tờ nhật báo hầu như hằng ngày. Tôi xem ảnh, đọc mục thời tiết, rất rõ ràng, gồm một bức vẽ cách điệu mô phỏng chuyển động của mây và bản kê nhiệt độ thấp nhất và cao nhất, ghi nhận được hoặc dự báo, trong ngày và ngày hôm sau. Tôi lướt qua cả các trang chính trị quốc tế, xem kết quả thể thao, quảng cáo phim kịch.
22) Dần dà, tôi bắt đầu kết thân với anh chàng phục vụ. Chúng tôi nghiêng đầu chào nhau mỗi lần đụng mặt ở cầu thang. Khi tôi tới uống cà phê, lúc xế chiều, chúng tôi còn hàn huyên, chúng tôi tán chuyện bóng đá, đua xe. Thiếu mất ngôn ngữ chung không làm chúng tôi nản lòng, về đạp xe chẳng hạn, cả hai thao thao bất tuyệt. Moser, anh ta bảo. Merckx, tôi lưu ý sau một hồi. Coppi, anh ta nói, Fausto Coppi. Tôi khuấy thìa trong tách cà phê, gật đầu đồng tình, trầm ngâm. Bruyère, tôi thì thào. Bruyère? anh ta hỏi lại. Đúng vậy, đúng vậy, Bruyère. Anh ta không có vẻ phục. Tôi nghĩ cuộc trò chuyện sẽ dừng lại đó, nhưng, lúc tôi sắp sửa rời quầy, níu tay tôi lại, anh ta bảo Gimondi. Van Springel, tôi đáp. Planckaert, tôi thêm. Dierieckx, Willems, Van Impe, Van Looy, de Vlaeminck, Roger de Vlaeminck và Eric, em trai. Người ta đối đáp lại kiểu gì được? Anh ta không cố. Tôi trả tiền cà phê và leo về phòng.
23) Phi tiêu cắm vào bia không chắc. Thỉnh thoảng, phập lỏng lẻo, long ra vì khúc đuôi nặng quá, chúng lại rụng xuống đất. Lần nào cũng làm tôi bực. Ngồi trên thành giường, tôi chuốt lại đầu mũi bằng lưỡi dao cạo.
24) Tôi tỉnh dậy lúc đang đêm. Trơ trọi. Bận đồ ngủ vật vờ một hồi trong phòng, tôi khoác áo choàng đi ra hành lang, chân đất, tay vươn trước mặt. Khách sạn tối om. Tôi vừa xuống cầu thang vừa nhìn quanh. Đồ đạc mang hình người, nhiều cái ghế ngó sững tôi. Mấy bóng đen và xám, có đốm mắt, lác đác, làm tôi hốt. Tôi so vai, khép cổ áo choàng. Dưới tầng trệt, mọi vật im lìm. Cửa ra vào khóa chặt về đêm, cánh đóng kín hết. Tôi lặng lẽ băng ngang sảnh và, quẹt bật lửa để tự dò đường trong bóng tối, men theo hành lang đến khu văn phòng. Ở đó, phân vân không biết đi đằng nào, tôi mở cửa kính dẫn vào bếp. Có đốm lửa bé tí của bật lửa rọi cho, tôi đi quanh căn phòng, chân không trên nền đá lạnh. Mọi thứ ngăn nắp, sạch sẽ, xếp gọn đâu ra đấy. Hai cái bàn to trống không dựng sát tường. Bồn rửa bát sáng bóng. Tôi ra đóng cửa lại sau lưng, và yên chí không có ai bám theo, khẽ hết sức mở tủ lạnh (tìm đùi gà).
25) Hôm sau, tôi cuối cùng cũng báo tin về cho Edmondsson. Tôi rời khách sạn và, ngoài phố, hỏi một người đang chạy bộ đường ra bưu điện (tôi vẫn khoái hỏi thăm những người vội vã). Anh ta trỏ nhanh hướng cho tôi và muốn tránh ra để tiếp tục đi đường của mình, nhưng, lịch thiệp chắn lối, tôi hỏi thêm cho rõ. Đến nước ấy, anh ta dừng hẳn và, bỏ công ngoái lại, với rất nhiều nhẫn nại, cho tôi mọi chỉ dẫn cần thiết. Tôi dễ dàng tìm ra. Văn phòng bưu điện hiện đại, quầy làm bằng gỗ bào nhẵn, có buồng điện thoại. Vài người đang hối hả dọc cái bàn viết, có sẵn mấy xấp mẫu khai, bút cắm bàn gắn dây xích. Tôi băng qua phòng và, ở quầy đầu tiên tới được, hỏi thăm thủ tục đánh điện tín. Tôi được đưa mẫu in. Tôi thảo một bài ngắn, ghi địa chỉ cùng số điện thoại khách sạn. Edmondsson sẽ nhận được tin tôi hôm nay luôn (tôi mong gặp lại nàng).
26) Về khách sạn, tôi dừng lấy chìa khóa và, nán lại trước quầy lễ tân, hỏi xem nhân viên trực có biết ở đâu đánh quần vợt được không. Anh ta phân vân, trả lời chắc khách sạn lớn nào đó có sân chơi, nhưng theo anh ta khả năng mùa đông thì đóng cửa. Muốn cho rõ, anh mở một quyển hướng dẫn, đeo kính lên và vừa lật trang vừa bảo tôi tốt nhất hãy ra Lido tìm hiểu. Tôi hỏi đến đó đi đường nào. Dễ thôi. Ra khỏi khách sạn, phải rẽ ngay vào (bỏ kính xuống, anh ta choãi tay trên quầy chỉ hướng cho tôi) phố đầu tiên bên phải, rồi đi thẳng tiếp đến dinh tổng trấn Venice Doges. Ở đó, tôi sẽ thấy buýt sông đưa đến tận nơi.
27) Cuối buổi chiều, tôi đang chơi phi tiêu trong phòng thì nhân viên trực quầy đến báo có người gọi điện. Tôi đi xuống và, cầm máy trên quầy lên, kéo rê dây vào núp trong góc. Ngồi xổm sát tường, tôi thì thào nói chuyện một hồi dài với Edmondsson.
28) Những buổi sau, chúng tôi lại gọi cho nhau, thường xuyên, chúng tôi nao lòng, mỗi lần, được nghe thấy nhau. Giọng chúng tôi mong manh, chung chiêng vì cảm xúc (tôi rất e dè). Nhưng chúng tôi cùng khăng khăng quan điểm riêng: Edmondsson bảo tôi về Paris, tôi thì lại đề nghị nàng đến chỗ mình.
29) Ngày của tôi, giờ đây, chia theo nhịp gọi điện của Edmondsson. Nàng gọi cho tôi ở phòng tranh mỗi khi giám đốc phải đi vắng (và, vì nàng không mất tiền liên lạc, chúng tôi cần giữ dây nói càng lâu càng tốt để tiết kiệm tối đa). Những khi chuyện trò lâu quá, mệt vì chồm hỗm cạnh máy, tôi ngồi bệt ra thảm ở sảnh vào. Edmondsson nói với tôi và tôi thấy thật dễ chịu; tôi vừa nghe vừa hút thuốc, chân xếp bằng tròn, lưng tựa vào tường. Mỗi lần tôi ngước nhìn lên, luống cuống trước ánh mắt tôi, anh chàng lễ tân làm như đang bận túi bụi sau bàn làm việc. Anh ta giở sổ, xem lại phiếu. Khi tôi mang trả máy, anh ta cười thoảng với tôi, ra điều mỏi mệt vì công việc.
30) Một hôm, đương ngồi bệt ở sảnh nói chuyện điện thoại, ống nghe kẹp giữa vai và cằm, bận rút thuốc trong bao ra, tôi thấy cặp người Pháp bước vào khách sạn. Họ dừng ở quầy lễ tân, lấy chìa khóa và, ung dung trò chuyện, đi ngang trước mặt tôi về phòng (theo tôi, họ đến Venice để gối chăn như hồi một ngàn chín trăm năm mươi chín).
31) Mỗi lần xong bữa, tôi lại vòng ra quầy bar nhặt mấy quyển tạp chí vứt vất vưởng khắp các bàn. Tôi leo về phòng và nằm trên giường xem lướt.
32) Tôi chẳng làm gì. Tôi bền bỉ chờ Edmondsson gọi điện. Tôi không rời khách sạn nữa, sợ lỡ mất lần gọi nào. Tôi thôi ngủ trưa, hết lươn khươn trong nhà tắm. Thường thường, tôi ngồi ghế ở lối vào, và đợi ngay trước mặt nhân viên lễ tân (tôi cần được cảm thấy gần Edmondsson).
33) Edmondsson ngày càng năng gọi cho tôi. Thỉnh thoảng chúng tôi có cùng nhau, trên đường dây, những quãng lặng dài. Tôi thích mấy khoảnh khắc ấy. Kề ống máy, tôi căng ra nghe hơi thở, nhịp hô hấp của nàng. Khi nàng phá vỡ sự yên lặng, giọng nàng có giá.
34) Trên điện thoại, Edmondsson rất đỗi dịu hiền với tôi; nàng an ủi tôi khi tôi bảo. Nhưng nàng không hiểu được sao tôi lại không về Paris. Khi nàng đặt câu hỏi, tôi chỉ nhắc to lên: Sao anh không về Paris ấy hả? Thì đúng rồi, nàng bảo, tại sao? Có lý do nào không? Bất kỳ lý do nào tôi đưa ra được ấy? Không.
35) Cuối cùng Edmondsson đành đến tìm tôi.
36) Tôi ra ga đón nàng. Vì có mặt sớm, kiểm tra giờ đến chuyến tàu của nàng trên bảng thông tin xong, tôi rời nhà ga ra ngồi ngoài bậc thềm. Trời lạnh. Trên thềm có nhiều lắm là bốn người, ăn vận ấm áp. Bên cạnh tôi, một bà già, đâu như người Anglo-Saxon, cẩn thận cất áo len vào ba lô. Một anh lính hút thuốc, chân duỗi dài trên va li. Tôi liên tục xem giờ. Trước mười chín giờ mười bảy một chút, tôi đứng dậy hướng về phía bờ ke.
37) Tàu đến muộn hai tiếng rưỡi. Quanh tôi bỗng huyên náo hết lên, cửa bật mở, tiếng va li lộc xộc trên nền, tiếng người nói, gần như tiếng hét. Người đi trước tôi, người cắt mặt tôi. Vài người quệt vào tôi. Tôi chờ bên bờ ke, vươn thẳng, đầu nổi rõ. Vừa thoáng thấy tôi, Edmondsson đã khoát rộng tay ra hiệu bằng vợt tennis, đung đưa người tiến về phía tôi, phồng má, cười với tôi. Nàng ào tới gặp tôi. Tôi ngóng nàng. Nàng rờ mặt tôi, khen mái tóc sạch của tôi.
38) Chúng tôi hướng về lối ra, kề bên nhau, theo sau các hành khách khác; tôi xách va li cho nàng. Thỉnh thoảng, chúng tôi nhìn lén nhau, âu yếm. Chúng tôi không nói. Ngay giữa sảnh chờ, dừng lại, Edmondsson cởi khuy áo choàng của tôi và, luồn tay xuống dưới, vuốt ngực tôi. Nàng bước tiếp đầu tiên, ngoái lại và mỉm cười với tôi. Có một nốt son li ti trên răng nàng.
39) Tôi đã đặt bàn cho hai mốt giờ. Khi chúng tôi tới được nhà hàng, tuy đã mười một giờ hơn, viên giám sát, rất đon đả, không trách móc. Chúng tôi để va li và vợt dưới chân cây treo áo khoác rồi theo anh ta vào phía trong, đi sau là một bà hoài công nhét phiếu gửi đồ vào tay tôi, thậm chí còn cố giành lấy áo choàng lúc tôi cởi ra; nhưng tôi rất lẹ và, hết sức uyển chuyển, giơ áo xa khỏi tầm tay bà và cho được vào nơi yên ổn. Bà hằn học nhìn Edmondsson và bỏ phiếu lên bàn. Edmondsson ngồi xuống đối diện tôi. Chúng tôi thấy dễ chịu. Cái bàn, xếp khéo, tạo cảm giác bình yên, thoải mái. Ly mỏng, đĩa dày. Mấy loại bánh mì khác nhau, cắt lát hoặc thanh dài, bày trong giỏ.
40) Sang món tráng miệng, tôi kín đáo vơ cái áo choàng đang để trên mép ghế dài và, vẫn ngồi nguyên tại chỗ, khoác lên người, không kém phần kín đáo. Edmondsson tưởng tôi muốn ra về, nhưng đâu phải. Tôi nắm lấy tay nàng nhẹ vuốt. Cùng lúc, tay kia, với sự lẹ làng của ảo thuật gia, thò vào túi áo khoác rồi lại rút ra cùng một hộp nhỏ hình chữ nhật, đặt lên cổ tay nàng. Là một món quà. Edmondsson, bị bất ngờ, dịch tay, làm hộp rơi xuống khăn. Mắt nàng cười. Nàng nhẹ nhàng bóc giấy gói. Có giấy, giấy bên dưới giấy, giấy lụa trong hộp, bao kín cái đồng hồ đeo tay.
41) Ra khỏi nhà hàng, chúng tôi đà đận. Chúng tôi lững thững bước qua từng phố nhỏ, dừng chân trên mỗi cây cầu. Ở một quảng trường bé, có cây bao quanh, chúng tôi thấy ghế băng và ngồi xuống, đặt vợt bên cạnh. Mọi vật im ắng. Các cung điện để đèn, phía bờ đối diện, thắp sáng đêm. Con kênh tối thẫm, đen thẳm như mây. Nước, thoáng chốc chững lại, ôm lấy thềm một nhà thờ, rồi đổ dồn thành thác, lần lượt bỏ từng bậc thang ở lại.
42) Chúng tôi về khách sạn. Edmondsson, cởi đổ ngay, chỉ còn mặc sơ mi màu lam, mở phanh, nhón chân đi lại quanh phòng, bàn chải đánh răng ngậm trong miệng. Nằm trên giường, tôi lưu ý đơn giản với nàng là phía dưới bụng nàng để trần, chỗ khoảnh tam giác, còn sót quần chíp lông bò u, lông ngựa vằn. Nàng cúi xuống nhìn (và, sau một chốc, giật nhẹ lông phản đối đầy thực tầm).
43) Cùng nằm giường, chân hợp lại trong chăn, chúng tôi mở quyển tạp chí phụ nữ Edmondsson đem ở Paris sang. Tôi lật trang, và thỉnh thoảng Edmondsson bảo tôi quay ngược lại, níu tay tôi để xem một bức ảnh. Giở hú họa phần trang phục, chúng tôi bình phẩm về váy vóc, vest bộ, áo cardigan. chúng tôi đánh giá dung nhan người mẫu. Khi có cô nào tôi thấy đẹp không hợp nhãn Edmondsson, nàng nhún vai, coi thường tôi.
44) Nắng vào phòng, sáng hôm sau, khi tôi thức giấc. Phía dưới mấy tấm rèm mở hờ, dọc suốt bờ tường, ánh sáng cắt nhỏ bề mặt, vạch lên sàn những đường viền nóng bỏng. Tuy có vài vệt sáng, đôi chỗ rực hẳn lên, căn phòng, hoàn toàn im ắng, vẫn chìm trong cả mảng đầm tối. Edmondsson, cạnh tôi, đang ngủ: mặt nàng mịn; miệng nàng, vẹo đi vì gối, khẽ xếch ngược. Phía trên đầu nàng, những hạt bụi rỡ lên dưới tia nắng xéo. Tôi im lìm trở dậy mặc đồ. Trước khi ra khỏi phòng, lặng lẽ quay lại giường, tôi dém chăn cho nàng (và ngắm nàng).
45) Ánh nắng xuyên hành lang từ đầu này qua suốt đầu kia, cửa kính lóng lánh hết lên, cây xanh rạng ngời. Trời hửng rõ, tôi bước nhanh, tôi lâng lâng hạnh phúc. Trên cầu thang, tôi bắt đầu nhảy bậc, và gần như chạy khi xuống đến sảnh. Người trực quầy lễ tân ngăn lại lúc tôi đi ngang qua. Cô gái, là đi với ông phải không? ông ta hỏi. Eđmondsson ấy hả? tôi nói, nàng đẹp nhỉ? Ông kia, đuỗn ra sau quầy, trịnh trọng chỉnh kính và, nghiêng người sau bàn làm việc, chìa một quyển hộ chiếu cho tôi xem. Tôi mở ra và, đặt ngón tay vào ảnh thẻ của Edmondsson, để ông ta xác nhận đúng là chúng tôi đang nói về cùng một người.
46) Lom khom trước cửa kính, tay khum quanh mắt, tôi nhòm vào cửa hàng Standa, còn chưa mở, đấm khẽ mấy cú lên ô kính cố làm một cô bán hàng chú ý. Ngay khi một trong mấy cô rốt cuộc cũng để mắt đến tôi, tôi lễ phép chào và, trỏ đồng hồ đeo tay, nhìn cô ra ý hỏi để biết cửa hàng mở lúc mấy giờ. Sau vài lần ra dấu vô hiệu, cô ta lê bước lại gần tôi và, xòe rộng cả hai tay, cho tôi thấy chín ngón. Rồi, tiến sát hơn nữa, cả ngực lẫn bụng dán hết vào lớp kính chia cách chúng tôi tí ti, miệng gần như áp vào miệng tôi, nhả âm lả lơi: alle nove, làm nở ra một cụm hơi giữa hai người. Tôi liếc đồng hồ, tám rưỡi. Tôi rời khỏi đó, dạo quanh trong khu. Cuối cùng, tôi tìm được bóng tennis ở chỗ khác.
47) Quay về phòng, tôi khép cửa lại thật khẽ sau lưng và, để hộp bóng lên chăn lông, bò êm ru trên giường đến chỗ Edmondsson. Mắt vẫn nhắm, nàng bảo tôi nàng không ngủ và vừa kéo tôi áp lại vừa dùng vai thong thả hướng dẫn. Nàng đón tôi và, lặng lẽ, mở áo choàng cho tôi, cởi áo sơ mi của tôi. Má nàng còn ấm hơi ngủ. Tôi nhấc chăn lên và đặt mình vào thân nàng, ở trần áp da nàng, bụng ấp bụng, áo choàng trải rộng trên người chúng tôi. Chúng tôi bắt đầu cử động; chúng tôi cử động chậm rãi và biết ơn nhau vì điều ấy. Về sau, chăn lật ra: cái hộp rơi xuống đất bật mở và bóng tennis văng hết ra khắp sàn.
48) Edmondsson trang điểm trước bồn rửa. Nàng đã vén một trong mấy tấm rèm lên, chèn ghế chặn lại, và ánh nắng tràn vào phòng. Tôi nằm ngửa thư giãn trên giường; tôi duỗi chân dưới một tia nắng và ngoẹo đầu ngắm mấy sợi lông. Edmondsson mỉm cười với tôi trong gương. Xong xuôi, nàng ra ngồi cạnh tôi rủ đi ăn sáng. Tôi mặc đồ và chúng tôi rời phòng. Ngoài cầu thang, bước xuống kẻ trước người sau, chúng tôi chạm mặt đôi người Pháp. Họ vừa đi qua, Edmondsson liền bảo tôi tay ấy nổi tiếng, J... d’Ormesson đấy. Rõ là chúng tôi số may, những đợt đi Ý. Mấy năm trước, ở Rome, chúng tôi đã sửng sốt thấy Ranger và Platone từ nhà hàng đi ra.
49) Trong phòng ăn khách sạn chỉ có mình chúng tôi, ngồi đối diện nhau cạnh cửa sổ. Qua rèm vải tuyn nắng chiếu cho mỏng tang, có thể thấy được chuyện gì xảy ra ngoài phố. Chúng tôi xong bữa sáng. Tay khoanh lại, hút thuốc bên tách cà phê đã hết, tôi kể là có mua hai sơ mi hiệu Benetton rồi, một màu vàng tái một xanh dương, song lại thiếu mất quần soóc. Edmondsson không nghe. Thôi được. Câu lạc bộ tennis, tôi tiếp tục, hôm trước tôi hỏi thăm qua điện thoại rồi, mở thông tầm, có thể thuê được sân không khó khăn gì. Điều tôi đề xuất, mà theo tôi là đơn giản nhất, là đến đấy trước bữa trưa. Tùy tình hình, tôi mỉm cười nói thêm, mình có thể ăn nhẹ ngay tại chỗ. Mà mình có nghe anh không đấy? tôi nói. Không, nàng không nghe. Nàng đã lôi quyển hội họa Ý trong túi ra và, mê mải đọc, vừa hích mũi vừa lật trang.
50) Chúng tôi leo về phòng và, ngồi hai bên mé giường, chẳng nói năng gì nữa. Chúng tôi nói hết với nhau rồi, chúng tôi không thuận. Edmonđsson, muốn tranh thủ trời nắng ấm, tính bát phố, dạo chơi, thăm bảo tàng. Theo nàng, chúng tôi đánh tennis cuối buổi chiều vẫn được, mà có khi còn hơn, nàng bảo, vì đỡ bị chói nắng. Trước chừng ấy thiếu nhiệt tình, tôi chẳng có gì mà nói; thôi, tôi chẳng nói gì nữa.
51) Thánh đường Saint-Marco sẫm tối. Tôi nhăn nhó theo sau Edmondsson, tay thọc sâu trong túi áo choàng, sệt đế giày trên nền đá cẩm thạch cong vểnh. Đây đó, dưới đất, tranh khảm nằm rải rác. Tôi để Edmondsson sải bước đi lên trước, về phía những bức khảm vàng và, trong lúc đợi nàng, tựa vào cột, nhìn các mái vòm trên đầu. Khi quay lại (trước đó tôi đã tìm được ghế băng để ngồi), nàng rủ tôi đi thăm kho bảo vật của nhà thờ và, giúp tôi đứng dậy, kéo tôi theo đuôi, trong gian giữa, chúng tôi trả tiền hai vé và tôi phải cúi đầu mới vào được cái nhà nguyện chật chội, thắp sáng bằng đèn điện. Mấy bức tường dựng kín tủ kính bày vũ khí, đồ gốm. Trong lồng thủy tinh, chính giữa nhà nguyện, đặt những báu vật khác, chúng tôi theo sau hai ông già đi dọc dãy tủ kính, và chốc chốc lại phải dừng vì họ liên tục đứng im trước mặt chúng tôi mà chỉ trỏ món đồ lạ nào đó cho nhau. Trong lúc họ, chúi hẳn về đằng trước, kính tháo ra, dềnh dang trước một cây nỏ (cứ như chưa thấy nỏ bao giờ vậy), tôi lách được qua và len lên trước. Tôi đi vòng quanh phòng rồi ra ngoài, đợi Edmondsson trong nhà rửa tội, dựa vào trụ tường.
52) Bên ngoài, ánh sáng làm tôi lóa mắt. Edmondsson ra chỗ tôi ở sân trước và lấy tay che nắng. Đứng cạnh nhau trước nhà thờ, mắt nheo lại, chúng tôi hỏi nhau sẽ làm gì. Edmondsson, giở lướt quyển hội họa Ý, muốn tham quan tiếp. Tôi cố gàn. Trước sự quả quyết tự tại của nàng (nàng không nghe tôi), tôi thấy rõ mình sẽ chẳng khiến được nàng đổi ý. Tôi quay về khách sạn một mình.
53) Khi Edmondsson về phòng với tôi, lúc xế chiều, tôi đang nhìn ra cửa sổ. Nàng ngồi xuống giường, và tháo giày. Người chúi ra đằng trước, nàng giải thích với tôi là đã phát hiện được ba bức họa mê hồn, rất mực đen tối, của Sebastiano del Piombo ở Gallerie dell’Accademia, rồi, không ngừng day chân, nàng hỏi tôi nghĩ sao về tác phẩm của vị danh họa. Khó nói đây. Hồi sau, vì nàng hỏi lại, tôi thú thật mình chẳng còn muốn đánh giá gì hội họa nữa. Edmondsson đứng dậy không gặng thêm. Đã cởi váy ra, nàng luc va li tìm váy thể thao. Tôi chêm thêm mình cũng chẳng muốn đánh tennis gì nữa. Edmondsson bèn mặc lại váy, nàng thấy tôi đến là rầy (mà tôi cũng chẳng có quần soóc gì nốt, tôi bảo).
54) Trước bữa tối một chút, chúng tôi ra ngoài tiếp. Edmondsson cầm tay tôi và chúng tôi bước chậm trên phố, dừng lại đọc mấy bức áp phích tường giới thiệu hòa nhạc, kịch, mấy tờ cáo phó. Một trong số ấy, giấy trắng diềm khung đen, thông báo nhẹ nhàng về cái chết của một chàng thanh niên hai mươi ba tuổi. Tôi giật tờ cáo phó xuống.
55) Chúng tôi tiếp tục tản bộ. Edmondsson nhìn tôi kiểu kỳ kỳ, và ánh mắt nàng đặt lên tôi làm tôi phiền. Tôi thân tình bảo nàng đừng nhìn nữa và, được mấy lúc, thấy đỡ hơn. Chúng tôi dừng xem quầy kính cửa hàng. Chúng tôi la cà cạnh một tiệm kim hoàn, vào một quán cà phê. Quán trang trí bằng gỗ ốp tường. Trong phòng tối, ngồi ghế nhung, mấy bà già đang ăn kem hoa quả bằng thìa dài, uống trà, sô cô la. Các bà nói êm ru. Edmondsson đã mở thực đơn trước mặt tôi. Tôi chẳng muốn ăn muốn uống gì. Cô phục vụ đứng chờ ngay cạnh bàn. Thấy nặng nề vì sự có mặt của cô ta, tôi bèn gọi bà đầm trắng - để cô ta đi quách cho xong.
56) Tôi nhìn bà đầm trắng tan chảy trước mặt. Tôi nhìn vani ngấm ngầm tan chảy bên dưới lớp sô cô la nóng. Tôi nhìn viên kem khắc trước còn tròn trịa từ từ tuôn thành những vệt trắng nâu đều đặn, quyện vào nhau. Tôi bất động nhìn chuyển động, mắt dán vào lót cốc. Tôi không cựa quậy. Tay đóng cứng trên bàn, tôi vận sức giữ sự bất động, ghìm hãm nó, nhưng cảm nhận rõ, cả trên thân mình nữa, chuyển động đang vuột đi.
57) Ra khỏi quán cà phê, chúng tôi quay về khách sạn. Tay xỏ túi áo choàng, tôi bước đi, đầu cúi, dận bước trên vỉa hè để nhấn thành phố chìm xuống nước. Mỗi lần xuống hết một cầu thang, tôi lại chụm chân kín đáo nhảy xuống đất và, đứng bên dưới chờ Edmondsson, tôi bảo nàng làm theo. Theo đà thành phố cứ mỗi thế kỷ lún thêm ba mươi xăng ti mét, tôi giải thích, tức mỗi năm ba mi li mét, tức mỗi ngày không phẩy không không tám hai mi li mét, tức mỗi giây không phẩy không không không không không không một mi li mét, tính hợp lý ra ta có thể, khi giậm mạnh chân trên vỉa hè, dự liệu góp phần nhất định vào sự lún chìm của thành phố.
58) Chúng tôi lạc đường, chúng tôi lạc lối. Edmondsson đợi tôi giữa một quảng trường nhỏ, còn tôi đi vòng quanh, xông vào từng con phố lân cận, cố nhận ra cái gì quen mắt. Vô hiệu. Chán cuộc dạo bộ không chịu kết đi cho (mặt trời thì đang lặn), chúng tôi quyết định về bằng buýt sông. Trong lúc Edmondsson mua vé dưới bến, tôi ra xem sơ đồ thành phố ở một bảng treo tường. Bên cạnh tôi, một bà di tay trên bản đồ, ngón trỏ dò mãi theo đường vạch một con phố. Bà ta làm tôi bực, tôi chẳng nhìn thấy gì. Tôi khẽ phát cho bà mấy cái vào tay.
59) Chúng tôi ăn tối ở một nhà hàng trong khu. Quay về phòng, tôi nằm vật ra giường chẳng buồn bỏ áo choàng. Một tay kê dưới gáy, tôi ung dung hút thuốc. Tôi ngó trần nhà, Edmondsson ngồi ghế đối diện tôi. Thảng hoặc, cuộc nói chuyện lúc bữa tối của chúng tôi nối lại kiểu đứt đoạn, rời rạc. Ngoài nhà hàng, khi Edmondsson nói đặt vé giường nằm, tôi đã bảo khỏi cần. Tôi không muốn về Paris. Không (tôi dứt khoát).
60) Hôm sau, tôi kiểu như không ra ngoài. Đọc Suy tưởng của Pascal (tiếc là bằng tiếng Anh, một ấn bản bỏ túi nằm trơ trên bàn ở khu quầy bar).
61) Tôi gặp Edmondsson khá thưa. Nàng hầu như chẳng ở khách sạn mấy khi. Sau bữa trưa, dùng chung dưới phòng ăn, chúng tôi ra quầy bar uống cà phê và, ngồi cạnh nhau trên ghế đôn cao, tán gẫu bâng quơ, chẳng hạn Edmondsson kể tôi nghe buổi sáng của nàng. Sau đó tôi leo lên phòng còn Edmondsson mất tăm cho đến xế chiều. Thỉnh thoảng, nàng còn ra ngoài tiếp sau bữa tối. Như thế, tối nọ, nàng đã dự một buổi hòa nhạc trong nhà thờ, biểu diễn tác phẩm Mozart và Chopin.
62) Khi chơi phi tiêu, tôi bình tâm, thư thái. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Sự trống rỗng dần dần xâm chiếm và tôi để nó thâm nhập cho đến lúc tiêu tan mọi dấu vết căng thẳng trong tâm tưởng. Thế rồi - bằng động tác chớp nhoáng - tôi phóng phi tiêu vào bia.
63) Tôi có mua một lốc giấy viết thư ngoài quầy báo và, trong phòng, ngồi bên cái bàn tròn to, vạch hai cột trên giấy. Ở cột đầu, tôi viết tên năm nước: Bỉ, Pháp, Thụy Điển, Ý và Mỹ và, bên cạnh, trong cột kia, tôi ghi lại kết quả các ván phóng tiêu. Sau vòng đầu, vòng loại, tôi tổ chức cuộc đấu giữa hai đội tuyển quốc gia đạt tổng điểm cao nhất. Trận chung kết đối đầu Bỉ và Pháp. Ngay lượt phóng đầu tiên, dân tộc tôi, hết sức tập trung, dễ dàng giành lợi thế trước đám người Pháp hậu đậu.
64) Tôi thích tranh Mondrian ở sự bất động. Không họa sĩ nào tiệm cận bất động gần tới độ ấy. Bất động không có nghĩa vắng chuyển động, mà là vắng toàn bộ viễn cảnh chuyển động, bằng với cái chết. Hội họa, nhìn chung, không bao giờ bất động. Giống như trong cờ vua, bất động của hội họa thì động. Mỗi bức tranh, uy lực bất động, là một tiềm lực chuyển động. Còn ở Mondrian, bất động là bất động. Có lẽ Edmondsson thấy Mondrian chán òm là vì thế. Tôi thì lại được ông trấn an. Tay cầm phi tiêu, tôi nhìn tấm bia treo trên cánh tủ, và thắc mắc sao tấm bia ấy lại khiến tôi nghĩ đến Edmondsson chứ không phải Jasper Johns[1] .
65) Ác mộng của tôi cứng nhắc, nặng tính hình học. Kịch bản thì sơ sài, luôn ám ảnh: chẳng hạn, một cơn lốc xoáy trùm lấy tôi cuộn vào tâm, hoặc mấy đường thẳng đặt trước mắt tôi, và tôi cứ cố mãi để thay đổi kết cấu, thế đoạn này bằng đoạn kia, lao vào những chỉnh sửa không hồi kết cho chúng sáng sủa lên. Mấy ngày này, tôi chơi phi tiêu nhiều quá, thành thử về đêm, trên bề mặt giấc ngủ tôi trồi lên bóng dáng ám ảnh của những tấm bia.
66) Khi Edmondsson ở khách sạn buổi tối, xong bữa, tôi mời nàng ra bar uống tiêu vị. Đài đang phát nhạc sau quầy. Được một hồi, anh chàng phục vụ rời ghế và, không đáp lại những nụ cười mà tôi nghĩ là có thể trao được, nhân danh tình hữu hảo chúng tôi đã nuôi dưỡng khi Edmondsson chưa đến (anh phục vụ bạn tôi, hồi đầu tôi gọi như thế), cau có nghe gọi đồ và lẳng lặng phục vụ chúng tôi.
67) Một tối, tôi bảo Edmondsson ăn sớm nhỉnh hơn mọi bữa, vì lúc tám rưỡi, Inter Milan tiếp Glasgow Rangers ở trận lượt về vòng một tám cúp các câu lạc bộ vô địch quốc gia châu Âu. Mười lăm ngày trước, ở Scotland, hai đội đã có trận hòa. Xong bữa, Edmondsson cùng tôi ra sảnh chờ của khách sạn, chỗ đặt ti vi. Trận đấu bắt đầu ngay. Đội Scotland, rút về phòng ngự, chơi một lối lủng củng, lia chân triệt hạ đối thủ. Tôi ngồi cách màn hình chưa đầy mét. Edmondsson theo dõi trận đấu ở đằng sau, ngả nửa người ra đi văng. Nàng thấy tôi nhác giống một cầu thủ. Tôi phản đối (đó là một gã tóc hung lực lưỡng, mặt tàn nhang), ừ, nhang nhác, nàng bảo, ở dáng chạy. Yên nào, tôi nói; (Edmondsson biết dáng chạy của tôi chắc?). Nghỉ giữa hai hiệp, Inter Milan đã dẫn hai không. Chúng tôi leo về phòng trước khi hết trận.
68) Sáng ra, khi thức giấc, tôi nhìn ngày sắp đến như biển cả thẫm tối sau vành mắt nhắm, một biển cả mênh mông, mãi mãi lặng tờ.
69) Có khi tôi tỉnh dậy giữa khuya không mở mắt. Tôi giữ mắt nhắm và đặt tay lên tay Edmondsson. Tôi bảo nàng an ủi tôi. Giọng dịu dàng, nàng hỏi tôi muốn được an ủi chuyện gì. An ủi anh, tôi bảo. Nhưng vì chuyện gì mới được, nàng nói. An ủi anh, tôi bảo (to console, not to comfort).
70) But when I thought more deeply, and after I had found the cause for all our distress, I wanted to discover its reason, I found out there was a valid one, which consists in the natural distress of our weak and mortal condition, and so miserable, that nothing can console us, when we think it over[2] (Pascal, Suy tưởng).
71) Ngủ trưa xong, tôi không dậy ngay. Không, tôi thích chờ hơn. Xung động sớm muộn sẽ tới, cho phép tôi dịch chuyển, quên thân xác mình đi, nhẹ nhàng như với những cử chỉ mà ta không trù liệu.
72) Edmondsson muốn về Paris. Tôi thì lại tỏ ra lưỡng lự, chẳng muốn nhúc nhích.
73) Khi chúng tôi dùng bữa dưới phòng ăn khách sạn, tôi cảm nhận được ánh mắt Edmondsson trên mình. Tôi lẳng lặng ăn tiếp. Nhưng tôi muốn leo về phòng, tách mình ra. Tôi không muốn cảm thấy cái nhìn đặt vào mình nữa. Tôi không muốn bị nhìn thấy nữa.
74) Tôi hết muốn nói chuyện. Tôi khoác nguyên áo choàng trong phòng, chơi phi tiêu thâu ngày.
75) Edmondsson thấy tôi bí rị. Tôi bơ đi, cứ chơi tiếp. Nàng bảo tôi thôi, tôi chẳng đáp. Tôi phóng phi tiêu vào bia, tới rút ra. Đứng bên cửa sổ, Edmondsson ngó sững tôi. Nàng lại bảo tôi thôi lần nữa. Tôi lấy hết sức phóng phi tiêu về phía nàng, nó phập vào trán nàng. Nàng khuỵu xuống. Tôi lại gần nàng, rút phi tiêu ra (tôi run). Không hề gì đâu, tôi bảo, một vết trầy.
76) Edmondsson mất máu, tôi rê nàng ra khỏi phòng. Chúng tôi xuống lễ tân. Chúng tôi chạy khắp các hành lang, tìm bác sĩ. Tôi đặt nàng lên ghế trong sảnh khách sạn, lao ra ngoài. Nhưng đi đâu? Tôi chạy, tôi băng trên phố. Tôi dừng lại, quay bước. Khi tôi về khách sạn, nhiều người đang xúm quanh Edmondsson, nàng đã được trùm chăn lên vai. Một người khẽ bảo tôi nàng sẽ được đưa đi viện, xe cứu thương chuẩn bị tới nơi. Tôi thấy mình xuôi xuống, không muốn gặp ai nữa, tôi bước đi trong khách sạn, ra quầy bar uống whisky. Y tá rồi cũng tới. Tôi giúp Edmondsson đứng dậy, đỡ eo nàng, nàng tựa vai tôi. Chúng tôi ra phố, trèo vào xuồng. Xuồng nổ máy ngay, lao hết tốc lực giữa hai làn nước khổng lồ. Tôi ngồi phía trước, giữ mắt mở, đón gió táp thẳng vào mặt. Tôi ngoái lại và thấy Edmondsson, ngồi ghế dài, mặt bợt bạt, vai trùm chăn len đỏ và đen.
77) Edmondsson ngả người ra ghế, đắp chăn lên ngực. Nàng nằm duỗi dài, đầu vươn lên, mắt mở. Chúng tôi lướt vun vút trên dòng kênh, tránh những chiếc xuồng khác. Tôi nhìn viên y tá đang điều khiển trong cabin. Cứ đến khúc ngoặt, Edmondsson lại quặp vào ghế chặt hơn. Cánh tay nàng rơi đánh thõng ở một khúc quành rộng hơn, tay nàng ngật ra, nàng ngã xuống nền. Một y tá giúp tôi đỡ nàng dậy, chúng tôi giữ nàng ngồi bệt, lưng tựa vào ghế dài. Nàng bất tỉnh. Phải khiêng nàng khi đến được bệnh viện. Tôi đi cạnh mấy viên y tá, siết chặt tay nàng. Tôi được bảo chờ ở đó, trong hành lang.
78) Tôi ngồi đợi trên ghế băng. Hành lang vắng tanh, dài hút, trắng một màu. vắng bặt tiếng động, chỉ có mùi ether: sự xông lên của tử khí, quánh đặc, làm tôi khó ở. Tôi phục ra ghế, khép mắt lại. Thỉnh thoảng, có người vào hành lang, lướt qua tôi và đi tiếp về đầu đằng kia.
79) Tôi đứng dậy và dạo vài bước ngay trước ghế. Dần dà tôi lùi ra xa, tiến xích về cuối hành lang. Tôi đi qua cửa kính vào một sảnh hẹp, tối thui, có thang máy công vụ và cầu thang. Tôi ngồi xuống mấy bậc đầu tiên và nán lại đó, lưng tựa vào tường, cho đến khi nghe tiếng lục tục phía trên đầu. Tôi đứng dậy và leo cầu thang. Lên tầng, tôi quanh sang trái và men dọc cái hành lang dài. Hai bên tôi, tường trổ những ô cửa cao tít, Tôi dừng lại nhờ một y tá nói cho... tôi không rõ nữa. Anh ta ngó tôi lạ lùng và nhìn theo tôi. Tôi bước gấp, trèo những cầu thang khác. Lên tầng bốn, tôi ngồi xuống ghế dài, đối diện thang máy. Được một hồi, cửa tự động mở ra trước mặt tôi. Tôi vào buồng thang. Thang rất rộng, màu xám. Tôi ấn nút xuống. Cửa tự động đóng lại. Thang máy khởi động, từ từ hạ xuống. Nó dừng lại, Cửa tự động mở. Tôi bước ra và đẩy cửa kính hành lang, Edmondsson đang ở đó.
80) Chúng tôi hôn nhau trong hành lang trắng.
 
[1]: Jasper Johns (1930-): họa sĩ, nhà điêu khắc người Mỹ. Tác phẩm Mục tiêu bốn mặt của ông thể hiện một tấm phi tiêu, phía trên có nửa dưới bốn khuôn mặt.
[2] Tiếng Anh trong nguyên bản. Nghĩa là: Nhưng khi đã ngẫm kỹ hơn và tìm ra nguyên nhân mọi nỗi khổ của chúng ta, tôi lại muốn tìm hiểu lý do của những nỗi khổ ấy, và thấy có lý do chắc chắn, thuộc về nỗi khổ tự nhiên trong thân phận mong manh và phàm trần của chúng ta, thảm thương đến chừng không có gì an ủi được ta, khi ngẫm kỹ hơn.
 
Đăng nhập để trả lời
0

PARIS

1) Edmondsson (tình yêu của tôi) về Paris.
2) Sáng hôm nàng đi, tôi tiễn ra ga; tôi xách va li cho nàng. Trên bờ ke, trước cửa toa tàu mở, tôi định ôm nàng; nàng khẽ hê ra. Cửa sập lại từng cánh. Và con tàu lao đi như y phục toạc xé.
3) Tôi ở lì khách sạn nhiều ngày. Tôi không ra ngoài, không nhúc nhích khỏi phòng. Tôi thấy mình lên cơn sốt. Về đêm, những cơn nhói buốt xẻ rạch trán tôi, mắt tôi cay sè, rát bỏng. Trời tối đen, tôi đau nhức. Đau đớn là bảo chứng cuối cùng cho sự tồn tại của tôi, bảo chứng duy nhất.
4) Tôi chớm bị viêm xoang - như phim X-quang trán và mũi, mà rồi tôi cũng vào viện chụp, cho thấy. Viên bác sĩ thăm bệnh tôi chần chừ chọc hút; ông phân vân, xem phim trước cái bóng đèn sáng quắc. Cuối cùng, ông nhận định là sẽ theo dõi tiến triển tình trạng viêm nhiễm và để mấy ngày nữa xem tiếp, khi nào chụp thêm X-quang mặt thẳng. Không loại trừ một ca phẫu thuật, lành thôi, ông trấn an.
5) Tôi đem mấy tấm phim X-quang ra khỏi phòng làm việc của bác sĩ và đến quầy tiếp đón của bệnh viện, hỏi xin một phòng. Y tá trực không hiểu tiếng Pháp, nhưng ông đứng chờ bên cạnh, thấy chúng tôi gặp trục trặc, đề nghị dịch giúp yêu cầu của tôi. Rồi, trong lúc tôi lấy phim ra khỏi bao và chìa sọ mình ngoài sảnh cho ai nấy có mặt xung quanh được thấy, cô y tá bảo tôi chờ và hồi sau lại xuất hiện, đi cùng một y tá cứng tuổi hơn, trông không có vẻ dễ tính gì. Cái ông đang dịch hộ dịch là mấy bữa nữa tôi sẽ mổ nên muốn nhập viện luôn hôm nay để tĩnh dưỡng trước phẫu thuật. Cô y tá hỏi ông tên bác sĩ phụ trách. Tôi trả lời ông là mình không biết, nội dung được dịch lại chu đáo cho cô y tá. chốt lại, tôi được đưa về căn phòng nằm cuối một hành lang.
6) Phòng có hai giường. Tường trắng, giường trắng. Một cánh cửa mở hé dẫn vào buồng vệ sinh nhỏ, có bồn tắm ngồi, thành thẳng, chỗ ngồi bằng, đôn cao. Giường thứ hai trong phòng, không có chăn, bỏ trống; hai cái gối đồ sộ án ngữ trên ga trải. Tôi đặt vợt tennis lên ghế, bỏ đồ xuống, đi mở cửa sổ. Nó trông ra sân. Các cửa sổ ở bức tường đối diện thì quay vào những phòng khác.
7) Ngoài sân hầu như chẳng xảy ra chuyện gì. Đôi khi, đối diện với tôi, có người đi đi lại lại trong phòng. Một ông già, tóc bạc, bận đồ ngủ vải nỉ. Thỉnh thoảng, ông lão đứng sững ra trước cửa kính, và chúng tôi mặt đối mặt, chòng chọc nhìn nhau. Không ai muốn cụp mắt. Tuy khoảng cách có làm ánh mắt bớt sắc đi, sau vài phút, trong lúc chúng tôi vẫn trân ra nhìn nhau, tôi bắt đầu cảm thấy thái dương nhói ran lên, nhưng vẫn không hạ mắt xuống; không đâu, tôi nhắm mắt lại.
8) Khi hết thuốc lá, tôi mặc đồ thật ấm, khoác áo, choàng khăn. Tôi khép cửa sau lưng và men theo hành lang đến lối ra. Thỉnh thoảng, trên một lối đi, tôi cười khi nhận ra viên y tá nào. Ngoài phố, tôi dừng trước quầy thuốc lá, rồi thường sang uống cà phê phía đối diện. Cậu thanh niên đứng quầy bắt đầu quen mặt tôi, biết tôi dùng thêm vài giọt sữa lạnh cùng tách espresso. Lúc đi ra, tôi mua báo và đọc lướt trên đường về bệnh viện.
9) Sảnh bệnh viện lúc nào cũng chen chúc người đợi. Dọc các hành lang, tôi gặp từ băng ca đến bàn để đồ ăn. Có lúc, nền nhà ướt. Y tá đang cọ rửa. Mùi ether, trong thoáng chốc, nhường chỗ cho thứ mùi, nồng chua, của nước tẩy.
10) Từ khi tôi đến ở, hai hôm trước, căn phòng mang dấu ấn hiện diện của tôi, báo sắp gọn trên bàn ngủ, áo khoác treo móc, cốc đánh răng bộn tàn thuốc lẫn đầu lọc. Thỉnh thoảng tôi lấy phim X-quang ra khỏi bao ngắm hộp sọ mình; tôi thích soi nhất là trước cửa sổ, để ngược sáng, tay vươn ra đằng trước. Hộp sọ màu trắng, thuôn dài. Xương trán thóp lại hai bên thái dương. Bốn mối hàn, trong miệng, in thành vệt sắc nét. Rìa răng cửa bị mẻ, một cái mẻ đều, cái kia chỉ lẹm một bên, chỗ khuyết mất một mảnh. Mắt thì trắng mênh mông, lo âu, hoắm lại.
11) Các cô y tá, phần đa, tốt với tôi. Chỉ duy y tá trưởng là nuôi ác cảm. Mỗi lần vào phòng tôi, cô đi chậm quanh giường nhìn tôi dè chừng. Vietato fumare, cô bảo. No comprendo, tôi nói nhỏ, giong xoa dịu. Vietato fumare, cô nhắc lại, vietato. Và cô mở tung cửa sổ cho thoáng. Rèm bắt đầu lật phật ở khuôn cửa, mấy tờ báo trên bàn ngủ phất dậy[1].
12) Các bữa ăn được mang lên phòng tôi vào giờ cố định, tôi không động đến. Vì tò mò tôi ngó xem trong khay có gì; món nghiền chỉ khác mỗi màu, vàng tái, da cam. Cái khay nằm phơi trên bàn hàng giờ. Thỉnh thoảng, lúc đi ngang qua, tôi chọt ngón tay và mút để nếm thử. Vô vị. Thứ tôi đang ăn ngon hơn. Quán cà phê tôi hay lui tới cạnh bệnh viện đổi món vào buổi trưa, và tôi đã thu xếp với cậu thanh niên để được giao bữa tận phòng, kèm nửa chai chianti (loại rượu thường của họ thì nên tránh, nó cay). Sau bữa trưa, tôi mang khay trả quán và thanh toán tiền ăn. Tôi không ra về ngay. Không, tôi chẳng vội gì, tôi uống một tách espresso tại quầy, mời cậu thanh niên một ly bã nho.
13) Khi đi ngang hành lang trung tâm bệnh viện, có lúc tôi gõ cửa phòng làm việc bác sĩ của tôi. Ngay khi cái bóng đèn xanh nhỏ trên đầu bật sáng, tôi bước vào, đứng đợi trước bàn. Bác sĩ vẫn viết tiếp. Tôi thoáng có cảm tưởng mình gây phiền. Nhưng không, ông mời tôi ngồi, bắt tay tôi, cười rất tươi. Chúng tôi trò chuyện bâng quơ. Đó là một người sôi nổi, trạc tứ tuần, làm bác sĩ mà nói tiếng Pháp đặc biệt tốt. Ông hỏi, tôi dè dặt đáp. Ngay từ đầu, nói cho đúng, tôi đã không thành thật với ông. Không, tôi dân sử song lại làm ông tưởng là xã hội học. Tuy thế, ông có vẻ lưu tâm đến lời tôi, không chừng còn thấy tôi dễ mến, tôi nghĩ mình khiến ông tò mò, kiểu như, giả dụ vậy, một bức họa đen tối thế kỷ mười bốn có thể gây tò mò. Hễ rảnh ra lúc nào, ông lại không bỏ lỡ dịp tạt qua phòng tôi; ông ngồi ghé thành giường và chúng tôi tiếp tục trò chuyện vu vơ. Dù có vẻ không lo lắng gì về thể trạng của tôi (viêm xoang, với ông, chỉ là hết sức tầm thường), với lòng ân cần thực thụ, ông như sợ tôi rồi sẽ đâm chán nản, nếu cứ ru rú một mình cả ngày trong bệnh viện, và buổi chiều nọ, gần như ngượng nghịu, ông đến báo tôi là vợ chồng ông sẽ rất lấy làm vui nếu được tiếp tôi đến ăn tối.
14) Chập tối, tôi vào phòng làm việc gặp bác sĩ. Ông đang ngồi đợi trên bàn, mặc com lê màu hạt dẻ, đọc báo. Ông cẩn thận gập báo lại và, khoác vai kéo tôi ra ngoài, hỏi tôi có thích bầu dục không. Có, còn ông thì sao? tôi hỏi. Ông cũng thích. Chúng tôi ra khỏi bệnh viện và, ngoài phố, nói sơ qua tiếp về sở thích của đôi bên. Nhà ông cách bệnh viện vài bước chân. Khi chuẩn bị lên nhà, đấm khẽ một cú vào bụng tôi, ông thú nhận mẹ ông nấu ăn ngon hơn vợ.
15) Vợ bác sĩ đón chúng tôi ở cửa vào. Tôi lịch sự bắt tay chị ta (chào bà), nhìn quanh, đặt một ngón tay lên đầu con gái họ, con bé biến mất ngay tắp lự. Người mẹ ngại ngùng cười với tôi, vắt áo choàng của tôi lên lưng ghế và mời tôi qua phòng khách. Tôi đi chậm quanh phòng, xem sách trên giá, đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài. Trời đã tối. Hy vọng anh thích bầu dục, bà chủ nhà nói với tôi. Có, cậu ấy có thích, bác sĩ của tôi đáp. Không quay người lại, tôi nhìn theo chuyển động của bóng ông phản chiếu trong cửa kính. Cuối cùng ông cũng ngồi xuống, vợ ông vào chỗ bên cạnh. Vẫn còn chừa lại chỗ be bé cho tôi giữa họ trên tràng kỷ, nhưng đến lúc cuối, không muốn vào đó, tôi ngồi riêng ra ghế khác, chúng tôi mỉm cười với nhau. Lúc uống khai vị - một thứ dung dịch lỏng kết hợp đủ mọi bất lợi là vừa hồng, vừa đắng lại vừa có ga -, chúng tôi nói chuyện, ở những mức quan tâm khác nhau, về hội họa và du thuyền, Chúng tôi thư thái, tôi thả cho mình tranh luận, thậm chí còn buông cả một câu đùa. Vợ bác sĩ thấy tôi có óc hài hước Ăng-lê.
16) Sau khai vị, trong lúc bác sĩ cùng vào bếp phụ vợ đốt quả bầu dục, tôi ở lại một mình với con bé nhà chủ, nó đã quay lại phòng khách, sau khi không đừng được cứ thập thò sau của rình tôi mãi. Lượn quanh ghế tôi hai lần đâu đấy xong, nó đứng lại bên cạnh, dè dặt đặt tay lên đùi tôi nhoẻn cười. Tôi hỏi nó có nói tiếng Pháp không. Nó gật đầu lia lịa, người thẳng đuỗn, hai đầu gối nhỏ chụm lại. Tôi hỏi nó biết những từ nào tiếng Pháp. Nó nhìn tôi rất chi bối rối. Mắt nó đen huyền. Tóc xoăn thành lọn, cũng màu đen, còn quần nó mặc có dải đeo đỏ trắng. Thấy nó không đáp, tôi cúi thấp xuống, hỏi có muốn tôi kể chuyện cho nghe không. Tôi ngồi bệt ra thảm bên cạnh nó và bắt đầu thì thào kể vụ đắm tàu Titanic. Câu chuyện của tôi xem chừng giải khuây dữ cho nó, vì nó cứ cười mãi, ban đầu còn rụt rè, mắt cụp xuống, rồi thoải mái hẳn, trong lúc nhìn tôi cảm kích, kể từ lúc tôi chèo con xuồng cứu hộ.
17) Bầu dục đốt rượu whisky rất ngon. Tôi được mời nước xốt, được tiếp thêm rượu vang. Dù tuổi chỉ khẽ nhỉnh hơn tôi, bà chủ nhà đối đãi với tôi như với con. Ngồi bên trái tôi, chị ta lo bao quát sao cho tôi không bị thiếu thứ gì, hỏi thăm tình hình, tìm hiểu xem tôi có chơi bài brit không. Tôi bảo không. Nhưng tôi nghĩ anh có đánh tennis, bác sĩ bảo. Chà, tôi nói. Thật vậy à? vợ ông hỏi. Anh mà muốn... thì ngày mai... ở câu lạc bộ... nếu đẹp trời. Anh có muốn không? Chà, tôi nhắc lại. Chị ta hẹn ngay một trận đôi hỗn hợp vào sáng hôm sau, tôi sẽ chơi cùng bạn chị ta, đánh cừ lắm, anh sẽ thấy. Tôi tư lự cám ơn, rồi, sau thoáng tần ngần, thú thật với bác sĩ mình không có quần soóc. Bác sĩ của tôi, kiểu người thực tế, đề nghị khắc phục ngay tức thì. Ông lau miệng, đứng dậy khỏi bàn và đi khuất vào phòng khác, tay vẫn cầm khăn ăn. Vài hồi sau, ông xuất hiện, mang theo quần soóc và đặt xuống cạnh đĩa tôi. Rồi, ngồi về chỗ, ông bắt đầu băn khoăn hẹn chỗ nào là đơn giản nhất cho trận quần vợt. Vấn đề với ông nghe chừng khoác tầm trọng đại. Nghĩ xong, giải thích là còn giấy tờ phải sắp xếp ở văn phòng, ông bảo sáng hôm sau sẽ đợi tôi quãng tám rưỡi ngay tại bệnh viện. Tôi bảo thế quả thật rất khéo và ông tỏ ý hài lòng. Lúc sắp sửa xong bữa, tôi, hoàn toàn không chủ tâm, chực lấy quần soóc lau miệng, vợ bác sĩ bèn nắm tay tôi và thế vào đó, vẫn tiếp tục nói, chìa khăn ăn cho tôi.
18) Chúng tôi chuyển sang phòng khách và, ngồi lún vào ghế bành, nhấp cognac trong ly tròn, tôi ngó hờ cái quần của bác sĩ đang vắt thõng trên tay trái. Nó, rõ rành, quá khổ so với tôi. Không, không được, tôi vừa nói vừa bỏ quần xuống bàn. Trong bộ ngủ vải bông màu vàng mơ, con bé con tụt phắt khỏi ghế và thộp lấy đội lên đầu. Nó vỗ tay lượn vòng quanh phòng. Vì nó không chịu đi ngủ, sau một lát, bác sĩ nghiêm giọng bảo đã mười một rưỡi rồi, cái điều xem ra chỉ thuyết phục con bé được phân nửa. Nó chịu về giường nhưng, đến lạ, không chịu thơm ông khách. Để khỏi có vẻ mong chờ được thơm quá lộ liễu, lấy giọng hờ hững, tôi hỏi hai bậc phụ mẫu nó tên gì. Laura, bác sĩ đáp gọn lỏn, bắt đầu mất kiên nhẫn trông thấy. Ông tóm tay con ranh, nhâng bổng nó lên, máy móc áp mặt nó vào má tôi rồi cắp nó tha ra khỏi phòng.
19) Tôi về đến bệnh viện thì đèn đóm đã tắt cả. Sảnh tối thui. Trong một khoang lắp kính, sáng điện, y tá nói chuyện nhỏ nhẻ, đan lát; phích giữ nhiệt và hộp bánh quy nằm trên bàn. Tôi im lìm đi qua phía đằng trước và tiến vào lối đi trung tâm. Ở góc hành lang, đèn đêm màu xanh dương vẫn bật. Tôi mở cửa phòng thật khẽ, và cởi đồ trong bóng tối.
20) Sáng hôm sau, đóng bộ sơ mi màu vàng tái cùng quần vải thô, vợt cầm tay, tôi rời phòng từ sớm sang gặp bác sĩ. Hành lang bệnh viện sáng sủa, cửa kính lấp loáng. Tôi đi qua một sảnh sáng trưng có tốp y tá đang đứng nói chuyện và thoáng thấy, phía cuối hành lang, cạnh một bệnh nhân mặc đồ ngủ, bác sĩ của tôi, đội mũ vải mềm, bận quần soóc, đi đi lại lại, tay chắp sau lưng. Ông bắt tay tôi và, đầu lắc lắc vẻ nghiêm trọng, cho hay ông đang bực vì bị bộ phận hành chính của bệnh viện khóa mất cửa phòng làm việc (mà Chủ nhật nào cũng như chủ nhật nào, ông vừa nói vừa đập một phát vợt vào cửa).
21) Ở hành lang trung tâm, khi chúng tôi bước cạnh nhau về phía cửa ra, có người lại gần bác sĩ. vẻ mặt sầu muộn, mũ cầm tay, ông ta hỏi mấy câu, bác sĩ trả lời cụt ngủn trong lúc kiểm tra dây vợt. Để chốt lại, vì ông kia cứ nhằng nhặng, bác sĩ ngẩng đầu lên và, giọng cương quyết, bảo đang là Chủ nhật, mà Chủ nhật thì ông không làm việc. Đoạn, lại thân tình, chân bước tiếp, ông quay sang hỏi tôi đã dùng điểm tâm chưa.
22) Ngoài quán cà phê, có sự huyên náo sáng Chủ nhật, một kiểu ươn lười hội quần, ủ ê và câm lặng. Nắng vào tận giữa phòng. Trong góc, chỗ bóng râm, một người vừa đọc báo vừa khuấy cà phê liên hồi. Bác sĩ bỏ mũ xuống quầy và, chồm lên, với sự mạnh bạo nhờ làm chủ ngôn ngữ, nói với bồi bàn để gọi đồ. Trong lúc chờ được phục vụ, không ngồi yên tại chỗ, ông bắt đầu khởi động chuẩn bị cho ván tennis. Vận sơ mi và soóc trắng, nổi bật trong bộ đồ thể thao, ông khủng khuỷnh lúc lắc cánh tay, cẳng chân. Cậu thanh niên đặt cà phê xuống trước mặt chúng tôi. Bác sĩ chống khuỷu tay vào quầy và, liếc mắt nhanh một vòng rồi, tiếp tục khởi động mơ hồ, chốt bánh sừng bò nhân mứt nhỏ, ngoạm ăn như ngoạm cá trích, đầu ngật ra. Rồi, lấy khăn lau miệng, ông nắm cánh tay tôi bằng những ngón tay dính nhớp, gợi lại buổi tối chúng tôi cùng trái qua hôm trước, ông khẽ bảo tôi - cứ như chuyện gì lạ lùng lắm - vợ ông thấy tôi dễ mến.
23) Vợ bác sĩ ngồi đợi chúng tôi tại câu lạc bộ tennis, ngoài hiên nhà hàng, mặc váy ngắn, mặt ngửa ra, phần thượng nổi rõ cặp kính râm hình thoi. Chị ta ở bàn tách riêng, dưới ô che nắng, cùng một tay tóc vàng phục phịch - đang nhăn như bị. Chúng tôi vừa đến ngang tầm họ, tháo kính ra, tươi roi rói, chị ta giới thiệu tay kia với tôi: đấy là anh trai chị ta. Tôi bảo mình rất vui. Gã béo tóc vàng, ì ra trên ghế, không nhúc nhích; nhưng gã thoáng lộ vẻ khó chịu lúc bác sĩ cúi xuống hôn má. chúng tôi ngồi xuống cạnh họ, bỏ vợt lên bàn. Trong lúc bác sĩ kê chân lên ghế thắt lại dây giày, vợ ông giải thích là không đặt được sân trước mười một giờ. chúng tôi vừa đợi vừa tán chuyện tào lao, bông lơn. Trời đẹp. Chốc chốc, gã béo tóc vàng lại phì phò thở dài.
24) Rồi nhân đà câu chuyện - và mãi đến lúc ấy, chứ trước đó thì không - vợ bác sĩ phân trần là cô bạn hủy mất hẹn vì về nhà bạn ở quê chơi cả ngày, tôi hiểu ra tay kia, gã mập tóc vàng, mới là đồng đội đôi hỗn hợp của mình.
25) Đúng lúc ra đánh bóng, khi bác sĩ đã tiến xa bằng những bước chạy nâng cao đùi, về phía sân số ba, gã béo tóc vàng, vẫn ngồi nguyên trên ghế, bảo cô em là mình sẽ không chơi. Khi, sững sờ ra mặt, chị kia hỏi sao lại thế, gã đáp mình chẳng có nghĩa vụ thanh minh. Hai ánh mắt lia nhau khá gay gắt, cô em bắt đầu liến thoắng, khoa chân múa tay. Ông anh, bất lay chuyển, không nhúc nhích; gã điềm nhiên nghe em nói, lấy tăm chọc xỉa một cái răng hàm. Bác sĩ, sau vài phút, lúp xúp quay lại chỗ chúng tôi, đầu hếch lên cùng ánh mắt dò hỏi. Được thông báo tình hình, ông ngồi xổm xuống trước mặt anh vợ và, để thuyết phục gã ra chơi, nói năng nhỏ nhẹ, vỗ khẽ mấy cái vào cặp đùi phốp pháp của gã, kẹp hai ngón tay bẹo má gã. Vẫn tiếp tục xỉa răng, xem ra ngày càng sùng lên, gã béo tóc vàng lắc đầu nguây nguẩy. Cuối cùng, gã đứng dậy và, trước khi bỏ đi, rút tăm khỏi miệng, giọng nhệch ra, bảo quỷ tha ma bắt lũ chúng tôi đi.
26) Vợ bác sĩ lộ vẻ phiền não. Bác sĩ thì lại ngồi xuống và, dáng ưu tư, cố trấn tĩnh, nhìn và so hai bàn tay với nhau. Đoạn, ông lại đội cái mũ mềm lên đầu mà chỉnh. Ông thở dài đứng dậy rồi uể oải bảo phải đi thôi. Porca miseria [2]. chúng tôi cất bước. Sân số ba nằm giữa cây cối, cách nhà câu lạc bộ chừng trăm mét. chúng tôi lặng lẽ nối bước nhau trên sỏi, giữa hai bãi cỏ xanh được chăm sóc cẩn thận. Một người làm vườn ngả mũ chào bác sĩ của tôi, mà có thể cũng là của anh ta. Chúng tôi càng đến gần sân chơi thì bác sĩ càng thêm phần hoạt bát, ông bắt tay, chào hỏi mấy người chơi qua hàng rào. Ở những mét cuối cùng, ông còn sải dài chân và lẹ làng băng qua ô cửa vào sân chơi bằng những bước chạy nhỏ. Đằng sau ông, bình thản bước trên một lối đi, vợ ông kể với tôi là con họ đến nhà một trong hai người bà chơi cả ngày.
27) Ô cửa dẫn vào ba sân chơi bằng đất nện, giống hệt nhau, mới được rưới nước. Chúng tôi đi dọc hai sân đầu tiên đến chỗ bác sĩ, ông đã đang thử giao bóng, đập nghiêng thẳng xuống đường cuối sân. Vợ ông đặt túi xách cạnh rìa sân, búi gọn tóc lên và, bằng những bước nhỏ yểu điệu, ra đứng vào chỗ đối diện. Chị ta vừa bước vào sân đã được chồng giao ngay một trái cực mạnh. Rất mực đắc ý, nhấc nhấc vai áo theo kiểu những tay vợt vĩ đại, ông kín đáo quay sang quan sát phản ứng của tôi và, thấy tôi ngồi trên cái ghế xanh lục, tay chắp sau gáy, ông kêu lên bảo tôi vào vị trí. Tôi xua ngón tay bảo không. Ông không cố nài và, nghiến chặt hàm lao bổ lên, ban một trái mạnh y như cũ vào ô chữ nhật đối diện.
28) Tôi để bác sĩ và vợ tỉ thí tại sân số ba và thung dung tha thẩn chỗ mấy khoảnh vườn của câu lạc bộ, lắng nghe tiếng sỏi lạo xạo dưới bước chân len lỏi giữa mấy lối đi. Thỉnh thoảng, tôi dừng phía sau hàng rào dõi theo một giao đấu. Vì nắng bắt đầu gắt, vẫn đi dạo tiếp, tôi vòng về phía một khóm cây nhỏ, thấy có ghế băng trong bóng râm. Ở sân đối diện, bao quanh là cây, ba thanh niên mảnh khảnh, chân lông lá, chơi một kiểu quần vợt lạ lùng. Bước sải rộng về phía bóng, đến phút cuối thì ngoằn ngoèo lao vào vị trí, chân thẳng tắp, các cậu giáng những cú vợt dữ dội sang nhiều hướng khác nhau. Một trong ba, tôi không xác định được là chủ tâm chơi phần sân bên trái hay bên phải, thường vừa gãi đùi vừa thơ thẩn dọc hàng rào tìm bóng, vợt kẹp nách. Mỗi lần cúi xuống nhặt một quả, cậu chàng lại giữ tay cho kính khỏi rơi xuống đất. Rồi, đột ngột bước gấp, cậu nhập bọn với một trong hai bạn chơi trên sân, tung cho bóng nẩy thật cao trước mặt và, bằng động tác tuyệt vọng giống cả trượt băng nghệ thuật lẫn quyền pháp, nhún nhảy đập bóng đầy hân hoan.
29) Nửa giờ sau, ở sân hiên nhà hàng, tôi lại thấy cậu chàng gàn dở đó ngồi một mình một bàn, cổ quấn khăn tắm xốp, nghỉ lấy hơi trước ly gin-tonic. Bạn chơi xem chừng đã bỏ rơi cậu. Tôi ngồi xuống một bàn kế đó và lơ đễnh ngó thực đơn đồ uống chờ bác sĩ. Khoảng mười phút sau, ông nhễ nhại xuất hiện, mệt lử lả, nhưng hoan hỉ. Ông đắc thắng thông báo với tôi sáu-không, sáu-không, rồi cởi giày tất, trong lúc ngửa người hết cỡ ra ghế. Ông vừa mới nằm ngả ra với vẻ hết sức khoan khoái, tay thõng xuống, cẳng duỗi thẳng trước mặt cho thoáng chân, thì một nhân viên phục vụ đến báo có người gọi điện. Porca miseria. Ông thở dài đứng dậy, đi chân đất xa dần trên sân hiên, tất vắt vai và, nhón chân bước sang ngang con đường rải sỏi, nghiêng đầu bước vào chái nhà. Ông gần như ra khỏi đó ngay và, lại vặn vẹo người trên lối đi rải sỏi cho đến lúc về tới chân cầu thang, bụm tay hét lên với tôi là ông đi tắm. Đi tắm, ông nhắc lại.
30) Tắm xong, bác sĩ của tôi lại xuất hiện ở sân hiên, vận quần vải thô cùng sơ mi màu cá hồi, tóc ướt, chải lật ra, bên trên uốn lượn vết lược. Vài giọt nước nấn ná đọng lại trán, hai bên cánh mũi. Vừa ngồi xuống, ông đã giơ ngón tay gọi bồi bàn và, gại gại mũi xem thực đơn, kêu ba ly pimm’s. Anh thích pimm’s chứ hả? ông bỗng căng thẳng hỏi, nhổm người khỏi ghế toan gọi bồi bàn quay lại. Vâng, vâng, tôi đáp. Tay khoát nhanh một động tác hững hờ, bực dọc, ông ra hiệu cho bồi bàn đi tiếp. Rồi ông bắt tréo chân và mỉm cười với tôi. Vợ bác sĩ tôi, cũng đã tắm xong, đến sân hiên gần như cùng lúc với mấy ly rượu. Trong lúc người phục vụ chia đồ uống ra bàn, lấy chỗ cạnh chúng tôi, chị ta duỗi chân lên ghế, ưỡn người hất tóc ra đằng sau. Bồi bàn bưng khay đi. Bác sĩ hớp một ngụm rượu, ngó quanh bảo hạnh phúc chính là đây.
31) Tôi cạn ly và đứng dậy. Sang ngang sân hiên, vào nhà câu lạc bộ, tôi thấy mình ở bên trong một phòng ăn nhà hàng, ốp gỗ sáng màu, phía tít cùng, chỗ tối, nhân viên phục vụ quầy đang rửa ly cốc. Sau khi ngó quanh, tôi hỏi anh ta có đúng nhà vệ sinh ở dưới tầng hầm không rồi xuống cầu thang. Bên dưới, trong một sảnh tối om, chiếu sáng nhân tạo, có nhiều cánh cửa, mấy tủ treo đồ, một bồn rửa.
32) Đứng trước tấm gương hình chữ nhật của nhà vệ sinh, tôi nhìn mặt mình, được ngọn đèn vàng đằng sau rọi sáng. Một phần mắt ẩn vào bóng tối. Tôi nhìn mặt mình bị ánh đèn phân cắt như thế, tôi nhìn trân trối và tự hỏi mình một câu đơn giản. Tôi đang làm gì ở chốn đây?
33) Quay ra ngoài hiên, tôi cứ thế đứng cạnh bàn bác sĩ đang ngồi, câm lặng, ngó sân tennis, phía đằng xa. Bác sĩ và vợ mời tôi ngồi, đề nghị tôi cùng dùng bữa. Tôi thoái thác. Do họ cố nài, tôi bảo mình phải ghé khách sạn xem vợ có viết gì cho không. Câu đáp của tôi làm họ bối rối đến cực độ (khách sạn của tôi? vợ tôi?). Song, bởi chẳng nợ họ lời giải thích nào, tôi bèn cáo từ luôn (không quên cám ơn họ lần nữa vì buổi tối hôm trước).
34) Tôi đứng khi đi buýt sông. Khuỷu tì vào thành vịn, tôi nhìn mấy người ngồi ghế dài. Họ săm soi nhau, rình rập lẫn nhau. Trong những đôi mắt đôi khi chạm phải, tôi chỉ thấy phảng phất một ánh hằn học, thậm chí còn chẳng nhắm vào tôi.
35) Vào sảnh khách sạn, tôi có cảm giác biết rõ địa điểm. Gỗ lát tường đánh nhẵn bóng, nhung bọc ghế mượt mà. Bước chân tôi, trên thảm, dội âm êm ái. Anh chàng lễ tân vẫn ngồi sau bàn làm việc, bất di bất dịch, kính đồi mồi cân đối trên mũi. Tôi lại gần quầy hỏi có thư cho mình không. Không có. Lạ một điều là, giọng anh ta khó chịu; kiểu như anh ta, vừa phát hiện ra tôi vẫn đang ở Venice, trách tôi đã đổi khách sạn.
36) Tôi đi loăng quăng đôi chút ở mấy phố lân cận. Đường sá vắng hoe. Hàng hiệu đóng cả, cửa kim loại che kín mặt tiền. Tôi tìm được quầy bar còn mở, ăn bánh mì gối kẹp cà chua và cá ngừ.
37) Về phòng mình, ở bệnh viện, tôi ngạc nhiên thấy có người nằm giường bên cạnh. Tôi quay ra ngay để đi hỏi ở quầy tiếp đón. Y tá trực hiểu kém tiếng Pháp. Tuy vậy, tôi vẫn giải thích với cô là có bệnh nhân khác trong phòng tôi. Rồi, lấy giọng hòa hoãn, tôi hỏi cô để người đó sang chỗ khác thì có được không, hoặc cho tôi đổi phòng cũng được, tôi sẵn lòng tự chuyển đi nếu như thế đơn giản hơn. Y tá giở sổ, xem lướt; cô bảo tôi chịu khó chờ và quay lại cùng cô y tá trưởng. Tôi không có quan hệ êm đẹp với nhà cô này. Thế nên, trước sự từ chối tắp lự của cô, lịch sự gọi là - cô tỏ ra khó chịu vì bị quấy rầy , tôi thấy không cố nài thì hơn.
38) Tôi quyết định về Paris.
39) Ở sân bay - Marco Polo -, tôi bắt quen một ông người Liên Xô. Ngồi cạnh tôi trong sảnh chờ hình cánh cung, khom người, ông chờ chuyến bay đi Leningrad, quá cảnh ở Rome, Ông trạc ngũ tuần, dáng to khỏe, để bộ ria nhỏ màu vàng, rậm, tỉa vát, Ông là kỹ sư thủy lợi, đi công tác nước ngoài liên miên. Ông cũng đa ngữ như tôi, nhưng lại ở những chuyên ngành khác (tiếng Nga, tiếng Rumani), nên tôi không hiểu rõ - ông giải thích bằng tiếng Ý - ông đến Venice làm gì. Song, do cả hai cùng phải ở sân bay hàng giờ, sau khi phởn phơ cạnh nhau phía sảnh xa tít, chúng tôi gặp lại nhau tại quầy đồ uống để uống bia. Đứng trước cốc, giữa hai quãng lặng khi ông phân vân nhấc nhấc cặp tài liệu áng chừng cân nặng, chúng tôi tán chuyện lịch sử đương đại, chuyện chính trị. Sau khi sơ kết lịch sử nước Ý thế kỷ hai mươi (Gramsci, Mussolini), chúng tôi gọi thêm bia. Rồi, chuyển sang lịch sử đất nước ông, do áp bức nên nhạy cảm hơn, chúng tôi nói Khrushchev, Brezhnev. Tôi dẫn tên Stalin. Ông trầm ngâm uống một hụm bia và, mang vẻ mặt cam phận, chắc muốn đổi chủ đề, chỉ tôi xem đường tiếp đất qua cửa kính. Loa thông báo chuyến bay của chúng tôi. Trước khi về cửa lên máy bay, chúng tôi siết tay nhau nồng ấm.
40) Trên máy bay, tôi ngồi sát lối đi, càng xa cửa sổ càng tốt, và sau lúc cất cánh, lắng nghe mọi loại tiếng động, giám sát các loại mùi. Hễ có ai di chuyển trong khoang, tôi lại cần yên chí là y ta không hút thuốc. Muốn tự tiếp dũng khí cho mình, tôi nhìn tiếp viên, chẳng có vẻ lo lắng đặc biệt gì. Không, các cô mỉm cười đi lại, như đang ở trên tàu thôi. Máy bay vừa bắt đầu hạ độ cao, xoang mũi đã bắt đầu hành tôi; tôi nhíu trán vì đau và, khi máy bay tiếp đất, co ro trên ghế, vận sức siết tay bà người Ý thanh lịch ngồi cạnh, bà ái ngại mỉm cười với tôi.
41) Xuống sân bay - Orly , tôi theo dòng hành khách đi xuất trình hộ chiếu. Cô cảnh sát biên phòng nhận quyển của tôi, kiểm tra xong thì hỏi một câu. Địa chỉ nhà tôi ở Pháp ấy hả? Nơi tôi đến ấy hả? Do không chú ý nghe (mắt tôi găm vào khẩu súng lục cô đeo ngang hông), tôi đáp một câu mập mờ chẳng ăn nhập vào đâu. Cô ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt dè chừng. Anh giễu tôi đấy à? cô bảo, Đâu có, tôi nói. Cô lạnh lùng trả lại hộ chiếu. Anh đi tiếp đi, cô nói, và đừng có quên anh đang đứng trên xứ lạ, ở đây.
42) Tôi vật vờ khắp mấy hành lang sân bay, ngồi lại ở phòng đợi, chẳng rõ phải làm gì.
43) Tôi gọi cho Edmondsson ở bốt điện thoại công cộng. Nàng nhấc máy. Giọng nàng xa ngái, vắng nồng nàn. Nàng nói chuyện tưng tửng, kể cuối tuần vừa làm gì. Tôi hỏi tôi về có được không. Được thôi, nếu tôi muốn thì cứ về. Trước khi gác máy, nàng bảo sẽ để chìa khóa dưới thảm chùi chân vì lại phải ra ngoài tiếp.
44) Thư từ dồn lại khi vắng tôi ở Paris. Giữa chỗ phong bì tấp đống trên bàn làm việc của tôi, tôi nhận ra thư T., và mở ra đọc ngoài hành lang trong lúc bước về phía buồng tắm. Hắn bảo điện cho tôi nhiều lần không được và nhắn tôi về nhớ gọi lại ngay. Tôi cởi sơ mi và xả nước vào bồn.
45) Hôm sau, tôi không rời khỏi nhà.
46) Khi tôi bắt đầu ở trong buồng tắm hằng chiều, chẳng có gì khoa trương trong thái độ của tôi. Không, thỉnh thoảng tôi ra bếp lấy bia, hoặc đi vòng quanh phòng và ngó ra ngoài cửa sổ. Nhưng buồng tắm là nơi tôi cảm thấy thoải mái nhất. Thời gian đầu, tôi ngồi đọc ở ghế bành, rồi sau - vì muốn ngả lưng nằm đọc - duỗi dài trong bồn tắm.
47) Edmondsson, tan làm về, vào gặp tôi kể chuyện ngày làm việc, chuyện họa sĩ trưng bày ở phòng tranh, vết thương nàng rồi cũng liền sẹo. Bọc máu bầm trên trán cho nàng thêm duyên, tôi thấy vậy, song lại ngại chẳng dám bảo cho nàng hay
48) Tôi nằm dài trong bồn cả buổi chiều và bình tâm suy tưởng, mắt khép, với cảm giác sáng suốt diệu kỳ có được nhờ ý nghĩ chẳng cần gì phải tỏ bày. Thảng hoặc, Edmondsson ngẫu hứng bước vào buồng tắm và tôi, ngạc nhiên, giật nẩy người lên trong bồn (khiến nàng rất lấy làm thích chí). Như thế, một bận, nàng ùa vào và, chẳng cho tôi kịp dựng dậy, xoay tròn người chìa ra hai phong thư, Một là của Đại sứ quán Áo.
49) Tôi có nên, tôi bắt đầu băn khoăn, mà để trông mong gì ở đó mới được, đến tiệc chiêu đãi của Đại sứ quán Áo không đây? Ngồi thành bồn tắm, tôi trần tình với Edmondsson là có lẽ không được lành mạnh cho lắm khi, hai mươi bảy tuổi đầu, sắp sang hai mươi chín, mà lại sống co mình về bồn. Tôi phải liều, tôi vừa nói, mắt cụp xuống, vừa rờ lớp men bồn, liều xâm phạm sự tĩnh tại trong cuộc đời trừu tượng của mình để mà. Tôi bỏ lửng câu.
50) Hôm sau, tôi ra khỏi buồng tắm.
 
[1] Tiếng Ý trong nguyên bản. Nghĩa lần lượt là: "Cấm hút thuốc.” “Không hiểu." “Cấm hút thuốc. Cấm.”
[2] Tiếng Ý trong nguyên bản, Có nghĩa là: khỉ gió, chết tiệt...
 
HẾT
Đăng nhập để trả lời
0
Buồng Tắm - Jean-Philippe Toussaint
Đã mang vào thư viện
Welcome pandaa đến với nhóm hiệp sĩ để góp sức cho thư viện
Cảm ơn và chúc pandaa luôn vui và an lành
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0