📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Ông Lê Như Hổ - Ái Lan

2 trả lời, 24 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 20.05.2022 11:24:49 bởi Ct.Ly>
Ông Lê Như Hổ
 
Ái Lan
 
(Giết Báo, Cưỡi Rồng, Danh Vang Sấm Dậy)
Nhà sách Khai Trí
 
 
NGÀY XƯA, tại một nơi phụ cận ải Nam Quan, thuộc về ranh giới Việt Hoa, có một dãy núi gọi là núi Sư tử, thế núi khuất khúc, hiểm trở và rừng rậm hố sâu, nên sanh ra lắm giông thú dữ, người man rợ, ác quái rất nhiều.
Phía sau lưng dãy núi đó có một khu đồng bằng, dân Việt và dân Tàu tụ hợp cùng ở. Họ đặt tên nơi ấy là Sư tử thôn. Trong thôn có một vị niên thiếu anh hùng, tên là Tạ- Thành- Đạt, thuở nhỏ có luyện tập thành thạo các môn côn quyền. Gia đình họ Tạ giàu có nhứt thôn, ruộng nương trong núi họ chiếm được cũng nhiều. Tạ Thành Đạt tính tình hào hiệp, nên bạn hữu qui tụ theo chàng khá đông. Bọn thanh thiếu niên này thường ngày luyện tập võ nghệ ở một sân rộng trong vườn nhà của Đạt . Họ chuyên đi vào rừng sâu săn bắn những nai hươu chồn thỏ về chia nhau ăn.
Một hôm, bọn Tạ Thành Đạt rủ nhau vào núi săn bắn, bỗng thấy một con Kim- tiền- báo rất lớn, nhảy ra, cào tát luôn một hơi mấy chàng đi săn, làm cho cả bọn hoảng sợ chạy về.
Bọn thanh niên tráng sĩ này bèn họp bàn và tổ chức thành đội ngũ, sắm cung tên, khí giới thêm cho hoàn bị, để quyết vào núi nã bắt con báo hung ác ấy mà trả thù cho một người bạn đã chết sau khi bị nó cào tát trọng thương.
Họ kéo nhau hùng hổ, mạnh dạn vào núi tuyết lùng kiếm con báo. Nhưng lần này họ lại bị con báo ấy cắn chết một người nữa và làm bị thương xoàng vài người.
Bây giờ cả thôn đều xúc động, họ bàn tính trừ con báo ấy, nhưng lại nghĩ con mãnh thú đó lợi hại vô cùng, không ai địch lại, vì nó vừa mạnh vừa khôn, nên đành bỏ ý định vào núi lùng nó, mà đặt bẫy mấy ngã ba đường, phòng nó xuống cắn người mà thôi.
Nhưng con báo ấy rất tinh khôn, như biết có người lập tâm đánh lừa, nên nó chỉ len lỏi trong núi tìm ăn chớ không ra khỏi bìa rừng.
 
MỘT TIỂU ANH HÙNG VIỆT-NAM XUẤT HIỆN.
Độ một tháng sau, bọn Tạ Thành Đạt qui tụ thêm người, củng cố lực lượng hùng hậu, mới kéo nhau rần rộ vào núi trừ cho xong con Kim tiền báo để dân thôn xóm đi lại làm ăn được dễ dàng, và bọn chúng được vào rừng săn bắn kiếm ăn. Họ bàn nhau chờ có đêm trăng trong sáng sẽ đi, vì đi ban ngày, con Kim tiền báo sẽ dễ hành hung hơn như hai lần trước. Đoàn người đi săn báo sẽ len lỏi, ẩn núp dưới bóng tối của tàng cây rừng, rình rập con báo thì tiện hơn.
Đêm ấy nhằm đêm trăng tròn. Trăng tuy sáng tỏ, nhưng xuyên qua nhiều lớp lá rừng dày đặc, ánh sáng đã bị chặn bớt, nên rừng núi âm u mờ ảo, im lìm nằm dưới bóng trăng huyền hoặc.
Thành đạt và một ông già mạnh khỏe, thầy dạy võ của bọn tráng sinh, đi trước, theo sau trên 10 người tráng sĩ đã được chọn lựa là mạnh khỏe, giỏi nhứt nhì trong thôn.
Hồi lâu, bọn người đã đến chân núi. Rồi họ hẹ nhàng, cẩn mật, leo lên đỉnh núi. Họ đứng lại nghỉ mệt và nhìn xem địa thế. Thấy mầm đá lô nhô, cây cối rợp đất, bí mật và ghê rợn bao trùm đây đó dưới bonh1 trăng vằng vặc, lan tràn trên cảnh vật dưới núi.
Một tráng sinh chỉ tay sang một ngọn núi và nói :
-       Chỗ kia là lối Kim tiền báo qua lại. Chính núi Lãnh-Vân này nó cũng đến luôn.
Rồi anh ta lại trỏ tay vào chỗ cây cỏ gãy nát mà nói :
-      Và đây là chỗ chúng tôi đấu với con súc sinh đó trước đây. Nó giảo hoạt lắm, không chịu chạy vào chỗ cạm bẫy của chúng tôi, kết quả nó lại cắn chết anh Đỗ- Kha hôm rồi.
Cảnh vật im lặng, bóng trăng chảy tràn trên núi rừng. Thanh Đạt ngắm nghía chung quanh, thấy có một tảng đá to dựng đứng bên đảnh núi. Đạt bèn mời thầy võ là ông già mà dân trong thôn thường gọi là Lâm-Ông , cùng một số tráng sinh vào đó ẩn nấp và dặn rằng :
-      Nếu trông thấy con báo phải reo hò vang lên, để nhử nó đến. Khi con báo đến rồi thì im lặng, đừng để nó biết chỗ mình núp, chờ lúc nó đi, ta lại reo vang lên. Cứ làm như thế luôn ba lần, cho nó mệt đi, ta dẽ dễ đấu với nó.
Cảnh vật vẫn im lặng.
Bỗng có tiếng gió thổi, cây lá uốn mình ào ào. Phút chốc, có con vạc ăn đêm, vỗ cánh bay lên, gieo những tiếng động phành phạch của đôi cánh vỗ và cất tiếng kêu quác quác…
Giây lát, lại thấy cây lá dưới triền núi lay động. Rồi một bóng đen lớn hiện ra. Chú ý nhìn xem, mới biết đó là một con heo rừng già, nanh nó ló ra hai bên mép thật dài. Con heo rừng ấy ngơ ngác một chút rồi chạy xuống chân núi.
Rừng núi trở lại im lặng. Bọn người đã lấy làm lạ, tự nghĩ :
- ‘‘Có lẽ con nghiệt súc ấy đã biết đêm nay có chúng ta đến toan giết nó nên không dám chườn mặt ra chăng ?’’.
Vừa nghĩ như vậy thì bỗng nghe có một tiếng kêu dữ dội. Kế thấy mây đùn gió thổi, bóng trăng vụt mờ đi. Một ngọn gió lạnh buốt thổi qua, ai nấy đều rùng mình, cố thu gọn người lại để đỡ run rẩy.
Một phút mây qua, trăng lại sáng. Một tráng sinh kéo cánh tay Thành-Đạt nói thật nhỏ :
-      Đại huynh thử nhìn sang ngọn núi bên kia mà xem…có phải nó đã đến đó chăng ?
Thành đạt đưa mắt nhìn sang núi kia thấy một con mãnh thú cao lớn như một con ngựa, nhìn kỹ thấy thân mình nó sặc sỡ có những đốm tròn như đồng tiền, dưới bóng trăng sáng. Quả nó là con Kim tiền báo. Kế thấy nó quay đầu nhìn lại, hai mắt xanh biếc như hai cái bóng đen.
Lâm Ông khẽ nói :
-      Giống báo nó quỉ quyệt lắm, thường nó vẫn nín lặng tăm hơi, lẻn đến sau lưng, rồi thình lình chụp người, làm cho người ta khó lòng phòng bị cho kii5p. Đó, con súc sinh đó chả đang dòm ngó chúng ta kia sao ?
Mọi người đang hồi hộp thì thào bàn tán vói nhau,
(Mất trang 6,7).
. . . . . . .
Sĩ dùng nhiều miếng quyền hiếm ác vào những chỗ yếu-hại, nên con báo ú ớ mấy tiếng rồi nằm vật xuống. Tráng sĩ vẫn ngồi lên mình báo, bấy giờ báo đã nằm dài, đưa bốn chân thẳng ra, thở phì phò trong họng vì bị bóp nghẹt. Tráng sĩ quì lên một bên bụng nó, nhấn mạnh hai tay lên cổ nó rồi nắm đầu bẻ ngược lên. Con vật giãy một cái mạnh rồi tắt thở.
Tráng sĩ đứng lên, phủi tay và gọi mấy người núp sau tảng đá, cho hay con báo chết rồi, đến mà khiêng về.
Trong lúc tráng sĩ đánh với con báo thì ai cũng kinh hãi, đến khi thấy con báo bị đánh chết, lại càng le lưỡi lắc đầu mà khen ngợi. Mọi người chạy ra thì thấy mặt tráng sĩ vẫn tươi như chẳng mệt chút nào, không khác một pho tượng thiên thần, oai phong lẫm liệt thì bọn Thành-Đạt đều hô lớn là ‘‘Thiên-thần’’ là ‘‘ anh-hùng xuất chúng’’.
Tráng sĩ trẻ tuổi ấy nói :
-      Các ông hãy khiêng con báo này xuống núi mau, không nên ở đây lâu.
Mọi người lại gần, thấy con Kim tiền báo nằm sóng sượt dưới đất, hai mắt lồi ra, mở trô trố, nhe hai cái nanh ra ngoài môi, miệng chảy một dòng máu, đọng vũng dưới đất.
Bọn tráng sinh lấy dây thừng trói bốn chân con vật chụm lại, rồi xỏ đòn vào mà khiêng. Lâm Ông và Thành Đạt mừng rỡ, cảm tạ tráng sĩ cùng mời chàng theo xuống núi.
Chừng nửa canh ba đêm ấy thì khiêng con báo về đến nhà Thành-Đạt. Lâm Ông và Thành -Đạt ân cần tiếp đãi tráng sĩ thật là trọng hậu. Chủ nhà khẩn khoản xin tráng sĩ cho biết danh tánh. Nhưng tráng sĩ một mực từ chối khéo :
-      Có gì mà quí ngài phải bận tâm với kẻ vô danh tiểu tốt này, chẳng qua là một sự tình cờ, tôi đi ngang qua núi ấy, thấy trời đã tối, leo lên cây ngồi tạm một đêm ; Chẳng ngờ các ông lại có mặt ở đó. Khi con Kim tiền báo xuất hiện, tôi ra tay diệt trừ nó giùm cho các ông một tí thế thôi, có ơn nghĩa gì mà các ông phải cảm ơn và tiếp đãi tôi trọng hậu vậy. Các ông cũng không cần phải biết tên họ tôi làm gì. Tôi là một kẻ giang hồ, rày đây mai đó, thấy sự gì bất bình thì can thiệp, thấy ai lâm nạn hay gặp việc khó khăn thì giúp giùm xong lại đi, có ở đâu lâu mà biết tên họ làm gì.
 
Đêm ấy tráng sĩ ngủ lại đó.
 
Sáng hôm sau, dân chúng thôn Sư Tử đồn vang về việc tráng sĩ giết được Kim Tiền báo, nhứt là các tráng sinh thuật lại việc tráng sĩ đánh nhau với Kim tiền báo, sức khỏe không kém một vị Thiên thần. Dân chúng nghe nói như vậy, bọ bảo nhau quyết không phải là người tầm thường. Lại nghe nói con báo bị đánh chết ấy bày trước cửa nhà khách, mọi người đều kéo tới xem, phút chốc chật nứt cả trong ngoài, không tài nào chen chân vô lọt.
Sau khi tráng sĩ điểm tâm một hơi đến một nồi cơm to tướng, tráng sĩ từ giã Lâm Ôngvà Tạ Thành Đạt cùng các tráng sinh rồi quảy bao hành lý ra đi. Thành-Đạt cố cầm lại vài hôm nữa sẽ đi, nhưng tráng sĩ nhứt quyết cáo từ và nói có việc cần, hẹn sẽ còn ngày gặp lại Sư Tử thôn.  




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.05.2022 11:54:52 bởi Ct.Ly>
LAI LỊCH CỦA TRÁNG SĨ

 
Tráng sĩ trẻ tuổi đã đánh hạ con Kim tiền báo mà dân ở Sư Tử thôn gọi là Thiên thần hay Tiểu anh hùng, vì họ khâm phục một người trẻ tuổi tài cao, đã trừ được cho họ một mối họa lớn là con Kim tiền báo hung ác. Nhưng họ vẫn thắc mắc chưa thỏa mãn là vị tiểu anh hùng đó không chịu tiết lộ danh tánh của mình. Họ bàn tán với nhau và nghi ngờ có cái gì bí mật ở vị anh hùng trẻ tuổi đó. Tuy thế, họ cũng ý thức được rằng thời buổi trong nước đương bị chia năm xẻ bảy này, lớp thì nội loạn, lớp thì ngoại xâm, như thời Lê-Mạt và giữa dân ta với quân nhà Minh bên Tàu thường hục hặc bất hòa, tuy chưa xả ra chiến tranh thực sự, tuy nhà Minh đang đo hộ nước ta. Thế cho nên, người dân thường dè dặt lời nói và tung tích hay hành động, để tránh sự tai vách mạch rừng, có hại cho việc công hoặc việc tư.
 
Tráng sĩ người làng Tiên-Châu, huyện Tiên-Lữ (thuộc Hưng Yên bây giờ) tên là Lê như Hổ. Hổ mồ côi cha sống nhờ người mẹ đảm đang tảo tần mua bán và làm ruộng làm rẫy, nuôi con ăn học. Cậu Hổ có một cái lạ lùng là ăn rất nhiều, cậu ăn gấp mười lần một nông dân khỏe ăn khác. Thân hình của cậu to lớn vạm vỡ, cao lớn khỏe mạnh phi thường. Cậu đi học chữ, rất thông minh, học võ nghệ cũng xuất sắc hơn chúng bạn. Chuyện đó không đặc biệt bằng cái ‘‘đức ăn’’ của cậu. Hình như trời sanh cậu có một cái dạ dày to tướng lắm, nên cậu chứa bao nhiêu đồ ăn cũng hết. Ban đầu, cậu ăn hết sạch một nồi cơm, cả nhà đã phải sợ cái đức ăn của cậu. Sau lớn dần, cậu ăn hết đến nồi hai, nồi ba, rồi nồi tư, nồi năm. Bà mẹ thấy con ăn khỏe quá, đâm hoảng lên, một hôm, bà mẹ cậu bảo con rằng:
-      Hổ ơi ! Tại sao con ăn khỏe lắm thế? Con ăn có chừng có mực thế nào, chớ con ăn khỏe như hạm như hùm thế, thì mẹ chạy sao kịp cho con ăn !  
Như Hổ nghe mẹ nói, cậu cảm động, lấy làm thương mẹ vất vả chạy gạo nuôi mình, bèn thưa rằng :
-      Vâng ! Từ rày con xin ăn bớt đi. Kẻo mẹ chạy ăn cực nhọc quá nhiều vì nuôi con.
Bà mẹ nghe con nói, lòng bà đau đớn :
-      Nuôi con chẳng quản tốn cơm, ai có tiếc cơm cho con ăn bao giờ. Nhưng nhà ta nghèo, con cũng thấy đó. Vả lại, con ăn nhiều quá, sợ rồi nó sẽ đau dạ dày chăng ?
Như Hổ từ đó ăn bớt đi. Nhưng vì ăn không đủ no mà sức khỏe của cậu thấy kém suy, sự học hành snh ra biếng nhác. Bà mẹ thấy thế biết rằng con mình vì nhịn ăn nên yếu sức thành ra học kém. Bà nghĩ rằng : ‘‘Con ta học vấn rất thông minh, nhưng nó ăn được no đủ thì học mới được siêng năng sáng láng. Thôi thì mình cũng ráng sức già chạy thêm cho nó ăn no đủ mà học hành.’’ 
Từ đấy, bà cố sức làm lụng thêm cho con được ăn no, và bà nấu nhiều cơm cho con ăn. Bà bảo :
-Ngày trước mẹ túng nên bảo con nhịn ăn bớt nhưng bây giờ mẹ đã làm thêm được nhiều lúa thóc rồi, con ăn bao nhiêu mẹ cũng có thể cho con ăn được cả. Miễn là con cố học, sau công thành danh toại thì mẹ thỏa lòng lắm.
Từ đó, Như Hổ lại ăn khỏe như trước. Lần lần theo với tuổi lớn lên mà tăng gia số lượng vật thực lên, mà sự học hành của chàng cũng do đó mà tiến theo một cách tốt đẹp. Ngoài sự học chữ, Như Hổ cũng chăm lo luyện tập thân thể, luyện võ, tập quyền ; dần dần, thân thể chàng rất khỏe mạnh và văn võ toàn tài. Những khi học hành xong, chàng ra đồng tiếp tay với mẹ làm lụng để gia tăng sản xuất mới đủ ăn. Bây giờ chàng ăn khỏe vô cùng, mỗi bữa ăn đến một nồi bảy cơm. Tuy sản xuất được gia tăng, nhưng chàng vẫn phòng bị lúc thất mùa hay hạn hán, làm thiếu ăn thì nguy, nên chàng trồng thêm khoai đậu. Mỗi khi nấu cơm, chàng cho khoai trộn lẫn với gạo mà nấu cho đỡ hao gạo.
Vốn người có sức vóc khỏe mạnh, chàng làm việc bằng năm bằng mười người lực điền khác lại rất mau mà không biết mệt. Lúc nầy, chàng đảm nhận tất cả công việc đồng áng cho mẹ nghỉ ngơi. Gặt sào lúa chín, người ta phải tốn năm bảy công nhân đi gặt mau lắm là một ngày. Như Hổ chỉ một mình vừa gặt vừa bó gánh về chỉ trong vài giờ là xong. Ngoài làm việc cho nhà mình, Hổ còn thừa thì giờ làm mướn cho hàng xóm láng giềng, vì ai thấy cậu Hổ làm khỏe và mau như thế cũng thích, giành nhau mướn cậu làm giúp, đã đỡ tốn nhiều nhân công lại mau chóng và cẩn thận nữa.
Thế là gia đình cậu đã có dư ăn dư để hơn trước. Mẹ cậu không còn vất vả gian lao nữa, chỉ lo việc vá may và cơm nước cho hai mẹ con mà thôi.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.06.2022 22:06:21 bởi Ct.Ly>
LỌT XUỐNG HỐ SÂU,
THẦN LONG CỨU MẠNG
 
Một hôm, Như Hổ vào rừng đốn củi về để dành sang mùa đông mà sưởi và nấu nướng. Chàng đi đến một cánh rừng giáp với một dãy núi, cách làng chàng ở khá xa.
Chàng đã đốn được nhiều cây tươi, chàng lại một đống để lát nữa vác về, thì bỗng có một bầy thỏ rừng chạy đến, thản nhiên và dạn dĩ, đứng ăn những lá tươi mà Hổ đã trảy nhánh bỏ lại đó.
Như Hổ bèn nẩy ra ý là bắt vài con thỏ về ăn. Chàng giương cung, lắp tên, nhắm bắn một con thỏ đầu đàn, to béo nhứt trong bầy. Mũi tên ghim vào mông con thỏ. Chàng chạy lại toan bắt nó thì nó đã dùng miệng ngậm cây tên mà rút ra, rồi vẫn ngậm mũi tên ấy mà chạy. Bầy thỏ cũng chạy theo con đầu đàn tất cả. Hổ rượt theo. Rượt mãi đến chân núi thì chàng ta bỗng lọt xuống một miệng hầm như một cái giếng hoang, tối om, trên miệng hầm cỏ cây mọc mọc chìa ra chung quanh, lấp kìn nên chàng không thấy đó là một miệng giếng cạn.
Thân hình to lớn nặng nề của chàng lọt xuống đó như một cục đá ném xuống giếng sâu.
Trong khi rớt xuống, Như Hổ đinh ninh rằng mình sẽ nát thây với những đá dựng chơm chởm ở dưới hố. Chàng nghe tiếng dội và tiếng gió từ dưới hang ù ù vang lên rất là ghê rợn. Chàng đưa tay thử rờ quanh vách giếng xem có cái gì nhô ra có thể bấu víu vào đó mà trèo lên. Nhưng vách đá phẳng lì. Chàng tuyệt vọng, kể chắc mười phần mình sẽ chết khô, chết đói không thì cũng chết vì va đầu vào da901 hoặc thuồng luồng hổ mang sẽ ăn thịt chàng. Chàng nhắm ắt liều cho số phận.
Bỗng, chàng cảm thấy chàng rớt lên một vật gì mềm mềm, lành lạnh, hình như thân mình vật đó lại động đậy …. ‘‘À, có lẽ là một con trăn hay con rắn khổng lồ ?’’ Chàng nghĩ vậy rồi hai tay thử thám hiểm trên mình con vật đó trong bóng tối, xem nó ra sao.
Chàng rờ trên mình thì thấy có vẩy to và cứng. Những cái vẩy đã giương cao như hả ra, thì bàn tay chàng đụng phải một lớp da và thịt hơi mềm. Chàng xoa bàn tay lên cái vẩy thì thấy nó nham nhám, vừa tròn vừa rộng bằng cây quạt giấy lớn. Hai cánh tay chàng thử ôm vòng thân mình con vật, thì ôm không hết, mặc dầu đôi cánh tay chàng dài hơn tay người bình thường.
Trong chốc lát sau, con vật mang chàng trên lưng mà dựng đứng thân mình nó thẳng lên như một cây sào khổng lồ, đưa chàng lên đến miệng giếng. Như Hổ vươn tay nắm lấy những bụi cây mọc quanh giếng và nhìn lei5 xem con vật đó, vì lúc bấy giờ có ánh sáng trên miệng giếng soi vào một khoảng. Chàng kinh ngạc xiết bao mà thấy đầu con vật tương tợ như đầu rồng mà chàng thấy vẽ và tô trên cung điện nhà vua. Cái đầu nó thật to, to gần bằng cái miệng giếng. Miệng nó táp không khí bằm bặp, thở phì phì, hai hàm răng nhọn hoắt, hai mép có hai cái nanh cong lên như cái móc. Miệng, lưỡi đỏ như huyết. Râu ria tua tủa, màu xanh lét, cái sừng trước trán nó to và dài, cong xuống như dòm vào mồm. ‘‘Rõ ràng là một con rồng’’.
Như Hổ nghĩ thế, rồi mỉm cười sung sướng, vỗ tay lên đầu con rồng :
-      Cảm tạ Thần long đã cứu mạng tôi. Vậy xin giã từ.
Nói xong, Hổ thót lên miệng giếng. Những bụi cây sum sê dầy bịt, đã phủ lại kín miệng giếng Thần long. Như Hổ trở về chỗ đốn cây, vác lên vai những cây rừng đem về. Chàng giấu nhẹm vụ bị lọt xuống giếng thần long, không tiết lộ cho ai biết, ngoài mẹ chàng.
Càng ngày, Hổ càng cao lớn dị thường, và ăn cũng khỏe hơn lên. Sức ăn và sức làm cùng việc học hành văn cũng như võ, chàng đã nổi tiếng như cồn. Thiên hạ đồn khắp đó đây trong nước. Người ta bảo :
-      Quái ! Tôi thường nghe nói ông Lê Nại ở làng Mộ trạch, đỗ Trạng nguyên năm đầu Đoan Khánh, đời vua Lê Uy Mục là một người ăn khỏe lạ thường. Người đương thời với ông Lê Nại đã làm mấy câu hát về ông ta rằng :
Mộ Trạch tiên sinh
   Dĩ thực vi danh
Thập bát bát phạn
Thập nhị bát canh.
Khôi nguyên cập đệ,
Danh quán quần anh.
Súc chi dã cự,
Phát chi dã hoành.
Nghĩa là
Thầy nho Mộ Trạch
Nổi tiếng vì ăn.
Mười tám bát cơm
Mười hai bát canh.
Đỗ đầu thiên hạ,
Tên trùm làng văn.
Chứa vào càng đầy,
Phát ra không ngần.
‘‘Thế mà ông Hổ nhà ta lại ăn còn khỏe hơn ông Lê Nại nữa, thì thật là vô địch.’’
Như Hổ nghe người ta bình phẩm mình như thế, cười mà nói rằng :
-      Vô địch cái gì chớ vô địch sự ăn thì khổ lắm ! Chẳng qua trời cho tôi cái dạ dày to rộng và làm việc cũng khỏe như ăn. Âu đó là một cái bịnh lạ hay cái của tội phải mang thì ráng chịu đó thôi. Chớ trong khi chung quanh có bao nhiêu kẻ nghèo khó cầu lấy mỗi bữa có đủ ba bát cơm mà ăn cũng chẳng kiếm ra, mà tôi ăn đến mấy chục bát, tôi tự thấy mình là một kẻ … ăn hại ! Nếu đời bớt đi một tôi, hay tôi chỉ ăn như một người thường, có phải là được mấy chục người no đủ.
 
 
 
 
 
THI ĐỖ ? LÀM QUAN
Đến khoa thi Hương. Như Hổ đi thi, đỗ ngay Hương Cống. Rồi niên hiệu Quãng – Hòa năm Tân Sửu (1541) đời vua Mạc Phúc Hải, Như Hổ lên kinh đô Thăng long thi hội, đỗ Tiến sĩ.
Khi về vinh qui, hàng tổng hàng huyện dân chúng vác cờ lọng chiêng trống đi đón rước rất long trọng. Áo gấm ngựa hồng, trở về làng cũ đã bỏ công cực nhọc của mẹ hiền và bỏ lúc đói no khổ cực của mình để kiên nhẫn học tập trau dồi để lập thân trong cảnh cùng khốn.
Sau đó, tiếng tăm ông Hổ đồn dậy gần xa, triều đình vời ông về kinh phong chức Tả Thị Lang. Rồi cử ông cầm đầu một sứ bộ sang Tàu. Trong số nhân viên phái đoàn, có Tạ Thành Đạt, do ông đề cử.
 
 
 
 
 
SỨ VIỆT ĐẢO VŨ THÀNH CÔNG,
DÂN TÀU V0 SỨ THẦN CÁC NƯỚC CẢM PHỤC NHƯ MỘT VỊ THẦN SỐNG.
 
Lúc bấy giờ nước Tàu do nhà Minh trị vì. Kinh đô đóng ở Bắc Kinh. Ông Như Hổ và phái đoàn ngoại giao Việt Nam sang đến nơi, người Tàu thết đãi long trọng. Thấy ông Hổ ăn khỏe lạ thường họ đều cho là một dị nhân của nước Việt.
Gặp khi nước Tàu đại hạn, trời nắng ba bốn tháng không mưa, lúa má khô héo. Vua Tàu sai quan đại thần đến các đền miếu linh thiêng làm lễ cầu mưa. Nhưng chẳng thấy công hiệu gì. Vua Tàu lại truyền tha những tội nhân bị giam trong các ngục mà bị oan khúc hay án không được rõ lắm, và giảm bớt sự ăn uống xa hoa trong cung điện, lại rời nơi cung điện sang trọng đến ở một nơi tầm thường. Đó là những hành động mà vua chúa Á – Đông thường làm khi bị ‘‘Trời ra tai’’. Những khi trong nước bị nạn lụt lội, nạn nắng hạn, hay nạn sâu bọ cắn lúa, người ta cho đó là Trời giận nhà vua có điều chi thất đức, nên mới gieo những tai ách ấy. Thế rồi muốn giải trừ những tai ách ấy, nhà vua phải làm lễ cầu đảo, lại còn phải sợ hãi tu tỉnh, sửa sai và tự sám hối, tự trừng phạt mình, để mong Trời tha tội lỗi, để cho thần dân được an cư lạc nghiệp, gió thuận mưa hòa, sống đời thạnh trị.
Nhưng vua Tàu đã làm đủ cách mà trời nắng hạn vẫn càng nung nấu, đốt héo khô cả cây cỏ đồng ruộng. Vua lo buồn, nhân có sứ các nước ở Kinh, bèn nhờ các sứ thần của các nước đi phó hội ở Tàu, đứng ra đảo vũ giùm.
Các sứ thần mấy nước như Nhật, Hàn, Miên, Miến, Lào, Xiêm lần lượt lên đài đảo vũ. Nhưng trời vẫn nắng gắt.
Đến phiên sứ thần Việt -Nam là Lê Như Hổ đảo võ. Như Hổ đã để ý xem xét thời tiết, biết trời chưa có thể mưa được. Ông nghĩ thầm:
- ‘‘ Trời thế này mà cứ cầu mưa thì mưa sao được. Chẳng qua lễ bái chỉ phiền phức và hao phí vô ích lễ mễ mà thôi’’.
Tuy vậy, ông cũng không dám ngăn cản việc làm cầu may vô vọng của vua Tàu. Trong lúc các sứ thần khác làm lễ đảo vũ, thì ông Hổ vờ cáo bệnh xin để nhường cho các sứ thần làm lễ trước. Quả nhiên lễ ấy làm xong, trời vẫn chưa mưa một giọt nào. Nông dân vẫn khổ về nạn nắng hạn.
Sau đó, ông Hổ xem thấy khí trời có vẻ đổi thay, ông đi thăm dò những rễ cây si và cỏ gà, thì thấy hai thứ ấy đã ẩn dạng những điểm trắng ở trong. Đó là cách chiêm nghiệm của người Việt, hễ khi nào thấy rễ si và cỏ gà mọc trắng cả ra, ấy là trời sắp mưa lớn. Người bình dân ở đồng quê không cần thiết về thiên văn rắc rối cao xa đối với trình độ họ, mà họ chỉ kinh nghiệm và căn cứ ở hiện tượng thời tiết ảnh hưởng với cỏ cây mà thôi, nên họ thường có câu:
Chuồn chuồn bay cao thì nắng,
Cỏ gà trổ trắng thì mưa.
Vì thế, ông Như Hổ thấy cỏ gà và rễ si trổ trắng thì đoán biết trời sắp mưa, ông nghĩ thầm:
-      ‘‘Người Tàu họ bảo ta là dị nhân của nước Việt. Nhưng đó mới là dị nhân về cái ăn khỏe. Nay nhân có dịp, mình phải làm cho họ biết cái tài cầu mưa của mình, khiến cho họ và các sứ thần các nước phải khâm phục nước ta, cũng là một cách làm rực rỡ tiếng tăm, không uổng công đem chuông đi đánh ở nước ngoài, tức là quốc thể của nước mình được họ tôn trọng vậy.
Ông bèn tâu với vua Tàu rằng ông có thuật hô phong hoán vũ, nay nhân thấy cảnh nông dân nước Tàu rất khổ về nạn hạn hán, nên Ông sẵn lòng đem thuật ấy mà khiến cho mưa xuống để cứu mùa màng cho dân Tàu.
Vua Tàu nghe nói mừng lắm. Cả triều đình đón rước ông như một vị vĩ nhân và cầu khẩn ông đem tài tuyệt diệu ấy mà giúp cho nhân dân thoát khổ.
Ông Như Hổ bèn xin cho cất một cái đài cao ở phía nam Kinh thành. Đài cất cao ba từng, mỗi từng, ba thước bề cao, cộng là 9 thước. Từng dưới vuông, mỗi bề bốn mươi trượng, từng giữa vuông mỗi bề mười hai trượng. Từng trên tròn, đường kính sáu trượng. Vì dung nhiều quân dân làm việc cấp tốc nên nội trong một ngày là xong cái đài cao.
Sáng hôm sau, ông Hổ lên đài đảo vũ. Ông sai lấy hơn trăm quân cầm cờ trước đàn nghe hiệu lệnh! Từng dưới cắm hai mươi tám cây cờ, tượng trưng cho thập nhị bát tú. Ở phương đông bảy lá cờ trắng, phương nam bảy lá cở đỏ. Từng thứ hai, chung quanh đàn cắm sáu mươi bốn lá cờ vàng chiếu theo sáu mươi bốn quẻ. Trên chót đàn thì bày lễ vật cúng, có bốn người mặc áo rộng đứng bốn góc đàn. Dưới đàn có hai mươi bốn người đứng cầm cờ, quạt, lọng, tán, giáo gươm, bao vây bốn mặt.
 
Trước khi lên đàn, Như Hổ tắm gội, ăn chay tỏ ra hết sức cung kính trọng hệ. Mình ông mặc áo đạo bào, đầu buông xõa tóc, trịnh trọng bước lên đàn. Sau lúc đã ngắm một lượt các phương hướng, ông ra lịnh cho các tướng sĩ hộ đàn, ai đứng đâu phải đứng nguyên chỗ ấy, không được làm sai phương vị, cũng không nói chuyện thì thào với nhau.
Như Hổ đốt hương trầm lên, rót nước ra chén, rồi ngửa mặt lên trời lầm thầm khấn vái. Sau một lúc, ông bước xuống đàn nghỉ và cho các tướng sĩ thay phiên nhau để ăn cơm. Trong ngày đó, Như Hổ lên đàn khấn cầu rồi xuống đàn nghỉ ngơi, như thế ba lần, và đàn cúng ba ngày như thế mới xong. Ông hẹn nội trong ba ngày ấy, tất nhiên phải có hiệu nghiệm.
Đàn cúng qua ngày thứ hai thì bỗng thấy chân trời phía đông có mấy vầng mây đen kéo lên. Những đám mây đó cứ nở lớn lần ra, làm cho cả một phía trời đông đen kịt. Vua Tàu và tất cả thần dân thiên hạ đều lấy làm lạ, mừng rỡ vô cùng.
Đến tối hôm ấy chợt có một cơn dông ào ào thổi tới làm cho đèn đuốc trên đàn đều tắt, cờ quạt lọng tàn bị bay ngã. Lúc ấy ông Như Hổ đương quì cầu đảo trên đàn, mặc dầu giông gió sấm, chớp, ông vẫn quì nghiêm trang khấn vái, không chịu đứng lên.
Chỉ trong chốc lát, một trận mưa rất lớn đổ xuống ầm ầm át cả tiếng hò reo vui sướng và khen ngợi vang kinh thành, lan ra khắp nơi đồng quê rẫy bái.
Người ta bao quanh đàn đứng xem, lúc bấy giờ mới chạy tránh mưa. Ông Như Hổ cũng xuống đàn trong lúc mưa tuôn ướt cả đầu cổ áo quần. Rồi ông truyền giải tán các quan quân có phận sự hộ đàn. Còn ông thì lui về sứ quán nghỉ ngơi.
Trận mưa ấy kéo dài đến sáng hôm sau mới ngớt. Đồng ruộng bốn phương đều tràn đầy nước. Vua quan và trăm họ dân chúng đều mừng rỡ reo cười thật là sung sướng.
Trời vừa ngớt mưa, vua Tàu liền sai quan Khâm mạng dẫn lính, đem kiệu đến sứ quán Việt-Nam, đón rước sứ giả Lê Như Hổ vào triều. Dọc đường nhân dân thành Bắc Kinh kéo ra reo mừng và ngợi khen, đầy đường lấp lối.
Vào đến trước lầu Ngũ phụng, đã thấy mấy vị lão thần phụng mệnh vua ra tiếp rước. Ông Như Hổ xuống kiệu cùng các quan đi vào triều kiến nhà vua. Vua Tàu đương đứng trên thềm rồng chờ đợi, ông Như Hổ theo nghi lễ quì xuống như các quan Tàu. Nhưng vua miễn lễ, mời ông Hở ngồi. Trước hết vua ban cho ông Hổ một ly rượu ngự rồi nói rằng:
-Khanh thật là một vị phúc tinh của thiên hạ Trung Hoa. Nếu không nhờ khanh có tài có đức đứng ra đảo vũ thì làm gì có trận mưa cải tử hoàn sanh cho thần dân của trẫm hôm nay.
Lê Như Hổ khiêm tốn:
-Đó cũng là ý trời thương, cứu muôn dân và cảm tấm lòng thành của bệ hạ, chớ chúng tôi có tài đức chi đâu.
Vua Tàu nói:
-      Khanh không nên khiêm nhượng quá thế. Nắng đã lâu, được một đám mưa hôm qua, chẳng phải là công ơn của Khanh đem đến cho đất nước nầy thì còn là ai nữa? Cho hay, mới biết nước Nam có lắm nhân tài, làm cho Trung quốc phải nể vì, trẫm lấy làm khâm phục, và cảm ơn Khanh vô cùng.
Rồi vua Tàu truyền đặt tiệc lớn thết đãi phái đoàn ngoại giao của nước Nam. Tất cả ngoại giao đoàn các nước và vua quan trong bữa tiệc, đều tôn trọng ông Như Hổ và phái đoàn Việt Nam là một bực khách quí. Nhà vua lại ban rất nhiều châu ngọc gấm vóc.
Từ đó, vua Tàu hàng ngày mời ông Như Hổ vào điện hỏi han về cách trị dân, thờ trời, làm sao được bốn biển yên vui, mưa thuận gió hòa, dân no ấm, nước phú cường, và hỏi về phong tục, văn hóa nước Việt. Ông Hổ đối đáp đâu đó phân minh thông thái, lại càng làm cho vua Tàu thêm kính phục.
Sau đó mấy hôm, ông xin về nước. Triều đình vua quan đều luuè luyến, lấy làm tiếc ông không ở lại được lâu.
Trên đường về nước, ông Hổ và phái bộ Việt Nam được vua quan và dân chúng kéo nhau đi tiễn chật đường. Đi qua các châu quận, quan địa phương và dân chúng cũng dâng lễ vật tống tiễn rất trọng hậu.  
Về đến Việt Nam, vua ta và triều thần cũng bầy lễ rước đón rất trọng hậu vì trong nước đã được biết ông Hổ sang Tàu làm vẻ vang cho quốc thể. Vua khen ngợi hết lời, và phong cho ông chức Thượng thơ Xuân giang hầu. sau ông thăng lên Thiếu Bảo tước Tuấn quận công. Rồi về trí sĩ, thọ 70 tuổi mới mất.
*
Hiện nay ở làng Tiên Châu là quê hương cũ thuộc huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, có đền thờ ông Lê như Hổ. Trong đền có đôi câu đối:
Lương tự kiêm nhân, Mộ Trạch tiên sinh đương thoái xá,
Thuật năng trí vũ, Bắc triều thiên tử cứu tri danh.
 
Nghĩa là:
 
Sức ăn gấp mấy người ta, thầy nho Mộ Trạch cũng phải nhường bước.
Thuật lạ làm ra mưa được, thiên tử Bắc triều từng biết tiếng tăm.




Đăng nhập để trả lời
0