📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

TỬ VI KHẢO NGHIỆM CĂN BẢN của TRỪ MÊ TÍN

2 trả lời, 2.496 lượt xem — Trang 1 / 1
TỬ VI KHẢO NGHIỆM CĂN BẢN


TRỪ MÊ TÍN



Học Thuyết Âm Dương Bát Quái Ngũ Hành

Trời Đất vạn vật nói chung là một đại vũ trụ và con người là một tiểu vũ trụ và cũng hàm chứa Âm Dương và Ngũ Hành. Khởi đầu là Thái Cực, chưa có sự biến hóa. Thái Cực này vận động biến thành hai khí Âm và Dương. Hai khí Âm Dương luôn luôn chuyễn hóa làm cho Vũ Trụ động và vạn vật sinh tồn. Người ta thường nói: Thái Cực thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái. Chú ý rằng "thị sinh" ở đây không có nghĩa là từ cái "không" mà sinh ra cái "có", mà có nghĩa là đã có sẵn trong đó rồi, và có thể nhận thấy được khi phân hai (sinh) mà hoạt động. Thái (lớn quá, cao xa quá) Cực (là chỗ tận cùng, chỗ chấm dứt, và cũng có nghĩa là rất lắm, quá nhiều, quá lớn) là nguyên lí tạo dựng và chi phối Vũ Trụ. Lí Thái Cực là lí Nhất Nguyên Lưỡng Cực có nghĩa là một nơi (Nhất Nguyên) khi nói chung (khi bất động) có hai phần Âm Dương (Lưỡng Cực) khi nói riêng ra (khi hoạt động). Nói ngược lại thì sự hoạt động của Âm Dương là cái lí của Thái Cực. Toàn thể cuộc Trời Đất này (Vũ Trụ) sinh tồn là do lí Thái Cực, và mọi vật đều do Âm Dương tác tạo, nên cũng có một lí Thái Cực cho riêng mình. Âm Dương là khí vô hình, có hai phần khác nhau là Dương và Âm để bù đắp cho nhau mà sinh động lực.

Hai khí Âm Dương giao tiếp tuần hòan sinh hóa ra vạn vật theo 4 trạng thái phát triển và suy tận được gọi là Tứ Tượng (Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm). Tứ Tượng lại sinh Bát Quái. Bát Quái là tám tướng chính của Âm Dương, sinh hóa ra 5 khí chất chính là Ngũ Hành. Theo Đổng Trọng Thư thì "Khí của trời đất, hợp thì là một, chia thì là Âm và Dương, tách ra làm bốn mùa, bày xếp thành Ngũ hành."Âm Dương là một, nhưng Âm Dương thiên biến vạn hóa (Bất Trắc) để sinh Ngũ Hành, và với tính cách tương phản tương thành đã sinh hóa vạn vật, muôn lòai, tạo ra một chuỗi nhân quả liên tục không dứt. Vạn vật trong Vũ Trụ này sở dĩ có được là do sự Diệu Hợp Nhị Ngưng, phối hợp với nhau một cách kỳ diệu mà ngưng đóng lại của nhị ngũ (2, 5) tức Âm Dương Ngũ Hành từ Hình Nhi Thuợng (khí năng, khí chất vô hình) qua Hình Nhi Ha (Thể Chất, Hữu Hình). Khi biến thì Hình hóa, ở Trời là Tượng, ở Đất là Hình. Âm Dương chuyển hóa, tiêu trưởng, thuận nghịch, đắp đổi cho nhau sinh ra Ngũ Hành, tạo nên vạn vật. Thái Cực động thì sinh Dương, động cực thì tịnh, tịnh thì sinh Âm, tịnh cực thì lại động, một tịnh một động cũng làm căn bản cho nhau, đó là trở về cái gốc (Hổ Vi Kỳ Căn).

Các Qui Luật Biến Động Của Vạn Vật

Các hiện tượng của Vũ Trụ chỉ là trạng thái khác nhau trong vòng Sinh Tử, Tử Sinh (tức là Thành Thịnh Suy Hủy, Thành Trụ Họai Không, Sanh Lão Bệnh Tử) của vật thể biến động. Tư tưởng Đông Phương cho rằng Vũ Trụ có một mãnh lực vô hình chu du khắp không gian và thời gian gọi là Thái Cực, tác động do hai trạng thái động tịnh của chính mình, tức là hai khí Âm Dương, đễ biến hóa muôn lọai, tạo ra một cuộc sống động và vĩnh cữu. Đó là lí Nhất Nguyên Lưỡng Cực, tức lí Thái Cực, Âm Dương. Khởi thủy, vua Phục Hi đã vạch và xếp Tiên Thiên Bát Quái và 64 trùng quái đễ biểu tượng cho Âm Dương chuyển hóa, rồi tìm hiểu và sự sinh khắc chế hóa của Ngũ Hành, do tác động của Âm Dương sinh ra, biểu hiện nơi các con số trên Hà Đồ. Đầy cả khỏang Trời Đất này duy chỉ có một cái lí ấy mà thôi, lí ấy là lí tự nhiên, lí của Thái Cực. Lí ấy nằm trong Tượng, nghĩa là trong các hào quái đã được dựng nên để biểu tượng cho sự chuyển hóa của Âm Dương. Sự chuyển hóa của Âm Dương là cái lí của Thái Cực. Âm Dương chuyển hóa tạo ra Ngũ Hành Khí, biểu hiện bởi các con số nằm trong Hà Đồ và Lạc Thư. Thái Cực là Lí tự nhiên, Hào Quái là Tượng của Âm Dương, Hà Đồ và Lạc Thư là số của Ngũ Hành. Có lí thì có Tượng, có Tượng thì có Số. Vũ trụ vạn vật chỉ có một cái lí chung và duy nhất nhưng mang nhiều Tượng Số, do đó mà mọi vật có từng nhóm số. Mọi vật đều có một Thái Cực (Các hữu Thái Cực), nghĩa là mọi vật, cũng như con người, đều là một tiểu Vũ Trụ, Vũ Trụ có tính chất nào, tính cách nào thì mọi vật cũng có như vậy. Vua Phục Hi và các người đời sau đều đã dùng Tượng Số ấy mà tìm hiểu Vũ Trụ trong mọi quan hệ với nhân sinh. Vũ trụ và nhân sinh có mới liên hệ nhất quán, chỉ khác nhau ở chỗ cao thấp, thanh trọc, lớn nhỏ mà thôi. Đó là Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể, đó là Thiên Nhân tương dữ và tương hợp. Lẽ Trời sao thì lẽ người vậy, việc trời sao thì việc người vậy.

Vạn vật đều biến động đổi dời tuân theo các qui luật như luật Biến Hóa, luật Tương Sinh Tương Khắc (Tướng Phản tương Thành), luật Tiêu Trưởng, luật Tương Ứng Tương Cầu, luâ,t Tích Tiệm, luật Phản Phục, luật Biến Dịch.

Luật Biến Hóa nghĩa là biến động mãi mãi, chu lưu khắp chốn, lên xuống không cùng, luân phiên thay đổi nhau: cứng mềm, nóng lạnh, sinh tư.. cho nên không thể lấy cái gì làm chủ yếu điển hình được. Chết (tử) chỉ là Biến và Hóa, chết mà không mất (Tử nhi bất vong). Biến là do cùng: Cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu, nghĩa là có cùng thì mới có biến, có biến mới có thông, có thông mới có lâu bền. Một đóng, một mở gọi là biến. Qua rồi lại, lại rồi qua, và qua lại không cùng gọi là thông.

Luật Tương ứng tương cầu (giao cảm) nghĩa là hai khí Âm Dương có giao cảm với nhau thì vạn vật mọi hóa sinh, vạn vật sinh rồi lại tiếp tục sinh mãi đưa đến cuộc biến đổi trở thành vô tận. Âm Dương có hòa xướng là cái trạng thái bình, Âm Dương xung khắc là cái trang bĩ lọan. Vạn vật trong Vũ Trụ bao giờ cũng tìm bạn đồng hành để tương ứng, đồng khí để tương cầu. Âm Dương tìm lẫn nhau, hoặc Âm cũng tìm Âm, Dương cũng tìm Dương nhưng phải là đồng vọng hay đồng độ, nghĩa là Nội Ngọai tương ứng và tùy thuộc vào thời. Do đó trong một quẻ thì chỉ có hào Dương và hào Âm mới tương ứng, còn nếu toàn Âm hay tòan Dương thì có tương sinh cũng không sinh được, có tương khắc cũng không khắc được. Bởi vậy Âm Thủy mới sinh Dương Mộc, Dương Mộc mới sinh Âm Hỏa. Về tương khắc cũng theo lẽ ấy thì mới có sự hóa sinh. (Chú ý để có sự hóa sinh thì cần phải khác Âm Dương và ngũ hành phải tương sinh hoặc tương khắc. Tương khắc không đưa đến hóa sinh mà đưa đến hủy diệt thì đòi hỏi phải cùng Âm Dương và ngủ hành tương khắc, ví dụ Dương Kim thì khắc Dương Mộc (ví như kim khí cứng rắn mà gặp cây cứng rắn thì mới khắc mạnh, mới đưa đến sự hủy diệt, còn Dương Kim tuy có khắc Âm Mộc nhưng không mạnh được, trái lại lại đưa đến sự hóa sinh)

Luật Tích Tiệm: Tích có nghĩa là chất chứa, tích lũy từ lâu dài. Biến và hóa đều có nghĩa là đổi dời, nhưng biến thì đổi từ từ, khó nhận thấy, còn gọi là tiệm biến, hóa xảy ra ngay khi cuộc chuyển biến đã hoàn tất, gọi là đột biến

Luật Phản Phục: trở lại nơi khởi điểm, trở về cái gốc cũ. Sự tiến triễn của vạn vật không đi luôn mà sẽ trở lại. Vật cùng tắc phản, nghĩa là khi cùng cực thì trái nghịch trở về cái gốc, cái trước. Nếu không đi thì sẽ không trở lại, đã có đi thì sẽ có lại (Vô vãng bất phục)

Luật bất dịch (bất di bất dịch): sự biến hóa ở vạn vật diễn biến trong vòng trật tự, theo một qui luật nhất định, không thay đổi, thuờng hằng. Tất cả mọi vật đều rất động, nhưng nhờ qui luật này chi phối mà sự động ấy không bị rối lọan, không đổi khác. Tất cả sự vật đều cùng về một nguồn (gọi là Thái Cực), nhưng mọi vật theo con đường riêng của mình, cùng về nhà mà đi khác đường (Đồng qui nhi thù đồ). Luật thuờng hằng do chi phối tất cả mọi cuộc biến hóa trong trời đất, điều hòa mọi trạng thái động tĩnh, không cho sự gì đi đến thái quá hay bất cập, thiếu thì nó bù vào, thừa thì nó bớt đi, đưa đến quân bình



Dịch lý quan niệm Âm Dương là khí và Ngũ Hành là thể chất

Âm Dương tượng trưng cho hai khí thiên nhiên trong vũ trụ. Nguyên lí của Vũ Trụ thì vô hình, không thể mô tả cụ thể được, mà dù cho có mô tả được đi chăng nữa thì cũng không bao giờ mô tả hết được. Muốn mô tả nguyên lí của Vũ Trụ đó ta phải mượn hữu hình để mô tả cho chân lý vô hình đó, gọi là mượn Tượng để mô tả Hình

Khí Dương tượng trưng bỏi nóng, cứng, dài, nhanh, khỏe, Nam, ban ngày, trời, số lẻ, phát triển, trẻ, Mặt Trời, mùa Xuân, Hạ, hướng Đông, hướng Nam, phía trên, phía ngoài, lửa, sáng, năng động, tích cực, cương quyết, hữu hình...

Khí Âm tượng trưng bởi lạnh, mềm, ngắn, chậm, yếu, Nữ, ban đêm, đất, số chẵn, suy thoái, già, Mặt Trăng, mùa Thu, Đông, hướng Tây, hướng Bắc, phía dưới, phía trong, nước, tối, thụ động, tiêu cực, nhu nhược, vô hình ...

Trong con người, Dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí...Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới, ngũ tạng, huyết...

Âm Dương không phải là thứ vật chất cụ thể nào mà là thuộc tính nằm trong tất cả mọi sự vật. Nó giải thích sự biến hóa và phát triển của sự vật. Người ta dùng Thái Cực Đồ để tượng trưng cho hai khí Âm Dương nằm trong Thái Cực.



Người Trung Quốc khi vẽ hình thì hướng Bắc bên dưới, Nam bên trên, Đông bên phải và Tây bên trái của hình bởi vì Trung Quốc ở Bắc Bán Cầu nên người ta ngồi ở phía Bắc mà nhìn lên phía Nam, và theo đó mà đặt phương vị. Như vậy trước mặt là phương Nam, tay trái phương Đông, bên phải phương Tây. Trên Thái Cực Đồ thì phần màu trắng là khí Dương nằm ở phương Đông nơi Mặt Trời mọc, phần màu đen thì là khí Âm nằm ở phương Tây. Trong phần Dương có một chấm đen tượng trưng cho Âm Căn (mầm Âm), trong phần Âm có một chấm trắng tượng trưng cho Dương Căn (mầm Dương). Điều này thể hiện Dương trung hữu Âm căn, Âm trung hữu Dương căn, khi Dương cực thì mầm Âm sẽ sinh ra và khi Âm cực thì mầm Dương sẽ sinh ra (Dương cực thì Âm sinh, Âm cực thì Dương sinh hay nói khác đi cực Dương sinh Âm và cực Âm sinh Dương, vật cực tắc biến) và nhấn mạnh ý nghĩa không bao giờ có trường hợp cô Âm hay cô Dương bởi vì trong Dương có Âm và trong Âm có Dương. Khi Dương nhiều hơn Âm thì gọi là Dương, khi Âm nhiều hơn Dương thì gọi là Âm. Âm Dương vận động chuyển hóa theo qui luật Dương trưởng thì Âm tiêu, Âm trưởng thì Dương tiêu, Dương tiêu thì Âm trưởng, Âm tiêu thì Dương trưởng. Đường đi của Âm và Dương đều theo chiều thuận, từ trái qua phải, từ Đông sang Tây. Dương sinh ra ở phía Bắc, nóng và nhẹ nên đi lên về phương Đông. Dương lớn lên ở phương Đông, cực thịnh ở phía Nam (huớng Nam, giờ Ngọ thì nóng nhất nên Dương cực. Dương cực thì Âm sinh nên Âm sinh ở Ngọ, phía Nam) và tiêu mất ở phía Tây. Âm sinh ở phương Nam, lạnh và nặng nên đi xuống phương Tây. Âm lớn lên ở phương Tây, cực thịnh ở phương Bắc, giờ Tí thì lạnh nhất nên Âm cực, Âm cực thì Dương sinh nên Dương sinh tại Tí và tiêu mất ở phương Đông. Khi Dương tiêu mất ở phía Tây thì Âm lớn lên, khi Âm tiêu mất ở phía Đông thì Dương lớn lên. Với bản chất như vậy, Âm Dương chuyển hóa theo qui luật Dương Thăng Âm Giáng và theo qui luật có thứ tự là doanh (tràn đầy), hư (hao hụt), tiêu (mòn dần), trưởng hay tức (nở ra, sinh ra). Khi Dương doanh thì Âm tiêu, Dương trưởng thì Âm hư và ngược lại để đắp đổi cho nhau sinh hóa luân chuyển không ngừng. Dương có tiêu thì nhờ cái mầm Dương ở trong Âm mà lại trưởng, Âm có bị tiêu thì nhờ cái mầm Âm trong Dương mà Âm lại trưởng. Có người còn sử dụng qui luật theo thứ tự là thành (sinh ra), thịnh (cực độ), suy (yếu đi), hủy (mất đi) để diễn tả sự chuyển hóa của Âm Dương. Khi Dương thành thì Âm suy, Dương thịnh thì Âm hủy, Dương suy thì Âm thành, Dương hủy thì Âm thịnh. Tương tự như vậy đối với khí Âm: khi Âm thịnh thì Dương suy, khi Dương thịnh thì Âm hủy...







http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Tiên Thiên Bát Quái


Tiên Thiên Bát Quái là 8 quẻ thuộc về Trời, chỉ về Thiên Lý hay Lẽ Trời. Vì lúc đó chưa có chữ viết, vua Phục Hi sử dụng các vạch để diễn tả.

Sử dụng vạch liên tục, vạch liền, tức vạch Lẻ, gọi là Cơ để tượng trưng cho phần Dương.

Sử dụng vạch đứt đoạn, tức vạch Chẵn gọi là Ngẫu để tượng trưng cho phần Âm.

Lưỡng Nghi (Âm Dương) được tượng trưng bằng hai vạch Dương và Âm gọi là Dương Nghi và Âm Nghi.

TỨ TƯỢNG

Đặt một vạch Dương lên trên Dương Nghi thì thành Toàn Dương nên gọi là Thái Dương (Thái có nghĩa là đã lớn). Đặt một vạch Âm lên trên Dương Nghi thì ta có một Dương làm chủ ở dưới nên gọi là Thiếu Dương (Thiếu có nghĩa là còn nhỏ). Đặt một vạch Âm lên trên Âm Nghi thành Toàn Âm gọi là Thái Âm. Đặt một vạch Dương lên trên Âm Nghi thì ta có một Âm làm chủ ở bên dưới gọi là Thiếu Âm.

Như vậy ta có Tứ Tượng theo đúng thứ tự là Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm. Thiếu Dương đi trước Thái Âm và Thiếu Âm đi trước Thái Dương thể hiện Âm trung hữu Dương căn, Dương trung hữu Âm căn, nghĩa là trong Âm có mầm Dương, trong Dương có mầm Âm. Dương sinh ở dưới thành ra Thiếu Dương có một vạch Dương mới sinh ở dưới làm chủ. Dương trưởng ở trên thành ra Thái Dương với hai gạch Dương là Dương đã toàn thịnh. Âm sinh ở trên cho nên Thiếu Âm có một Âm mới sinh ở dưới làm chủ. Âm trưởng ở dưới cho nên Thái Âm với hai gạch Âm là Âm đã toàn thịnh.

TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Bát Quái là tám Quẻ, mỗi quẻ gồm có ba vạch (mỗi vạch còn gọi là Hào), còn được gọi là Quẻ Đơn hay Đơn Quái, dùng để diễn tả 8 hiện tượng chính của hoạt động Âm Dương trong Vũ Trụ. Việc xếp đặt các vạch để tạo thành Bát Quái được thực hiện theo một thứ tự hoàn toàn theo tự nhiên: Dương trước, Âm sau, tay măt trước, tay trái sau. Thứ tự và tên gọi của Bát Quái như sau:

Càn, Đoài, Li, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn


Quẻ Càn: đặt một vạch Dương lên trên Thái Dương thành toàn Dương gọi là quẻ Càn (trời, thiên. Càn vi Thiên). Quẻ này thì Dương đã thịnh, và Âm đã hủy.

Quẻ Đoài: đặt một vạch Âm lên trên Thái Dương ta có quẻ Đoài (đầm ao. Đoài vi Trạch). Quẻ này thì Dương đã lớn và Âm sắp tàn.

Quẻ Ly: đặt một vạch Dương lên trên Thiếu Dương ta có quẻ Ly (lửa, hơi nóng. Ly vi Hỏa). Quẻ này thì Dương đã lớn và Âm sắp tàn.

Quẻ Chấn: đặt một vạch Âm lên trên Thiếu Dương ta có quẻ Chấn (sấm sét, Chấn vi Lôi). Quẻ này thì Dương mới sinh và Âm bắt đầu suy.

Quẻ Khôn: đặt một vạch Âm lên trên Thái Âm thành toàn Âm gọi là quẻ Khôn (Đất, Địa. Khôn vi Địa). Quẻ này thì Âm đã thịnh và Dương đã hủy.

Quẻ Cấn: đặt một vạch Dương lên trên Thái Âm ta có quẻ Cấn (núi non. Cấn vi Sơn). Quẻ này thì Âm đã lớn và Dương sắp tàn.

Quẻ Khảm: đặt một vạch Âm lên trên Thiếu Âm ta có quẻ Khảm (nước, chất lỏng. Khảm vi Thủy). Quẻ này thì Âm đã lớn và Dương sắp tàn.

Quẻ Tốn: đặt một vạch Dương lên trên Thiếu Âm ta có quẻ Tốn (gió. Tốn vi Phong). Quẻ này thì Âm mới sinh và Dương bắt đầu suy.

Muốn dễ nhớ tám quẻ này thì có thể sử dụng cách đọc như sau:

Càn tam liên (Càn ba vạch liền, vì có ba vạch Dương)

Khảm trung mãn (Khảm giữa đầy. Trung là giữa. Mãn là đầy. Quẻ Khảm có vạch Dương ở giữa, còn lại là hai vạch âm ở trên và dưới )

Cấn phút quãng (Cấn úp xuôi, giống như hình cái thau hoặc chậu úp xuống, nghĩa là một vạch Dương bên trên, hai vạch Âm bên dưới)

Chấn ngưỡng bồn (Chấn nằm ngửa như cái bồn để ngửa, vì có một vạch Dương ở dưới và hai vạch Âm ở trên)

Tốn hạ đoạn (Tốn dưới dứt đoạn, vì có một vạch Ãm ở dưới và hai vạch Dương ở trên)

Ly trung hư (Ly giữa khuyết, vì có một vạch Âm ở giữa, hai vạch Dương còn lại thì ở trên và dưới)

Khôn lục đoạn (Khôn sáu đoạn vì có ba vạch Âm)

Đoài thượng khuyết (Đoài khuyết trên vì có một vạch Âm ở trên, hai vạch Dương ở dưới)

Trong Bát Quái, có bốn quẻ bất dịch, nghĩa là không đổi dù đảo lộn, lật lên lật xuống là Càn Khôn Ly Khảm. Bốn quẻ này là bốn quẻ chính (vì Trời, Đất, Lửa, Nước là bốn yếu tố chính) được đặt vào bốn phương chính, ở giữa hai trục chính Nam Bắc và Đông Tây: phía Đông (tay trái) là hướng Mặt Trời mọc nên thuộc Dương, gồm có Đông Bắc và Đông Nam. Phía Tây (tay phải) là hướng mặt trời lặn nên thuộc Âm, gồm có Tây Bắc và Tây Nam.

Càn ở phương Nam vì Càn là toàn Dương nên nóng, phương Nam là lúc giữa trưa nên nóng nhất.

Khôn ở phương Bắc vì Khôn là Đất, toàn Âm nên lạnh, phía Bắc lúc gần nửa đêm thì rất lạnh.

Ly ở phương Đông vì Ly là Lửa, thuộc Dương nên ấm áp, phương Đông là nơi Mặt Trời mới mọc có hơi ấm.

Khảm ở phương Tây vì Khảm là nước thuộc Âm nên mát, ở phương Tây nơi Mặt Trời lặn thì mát. Các nguồn nước cũng từ phương Đông mà ra.

Bốn quẻ còn lại là bốn quẻ phụ, là những hiện tượng chính ở trên Trời và dưới Đất, được đặt ở bốn góc:

Chấn ở phương Đông Bắc
Cấn ở phương Tây Bắc
Đoài ở phương Đông Nam
Tốn ở phương Tây Nam

Tiên Thiên Bát Quái chỉ về lẽ Trời nên lấy Âm Dương làm trọng, do đó Càn Khôn (Trời Đất) ở trục chính Nam Bắc và Ly Khảm (Lửa, Nước) là hai nhân tố chính ở trục Đông Tây. Trục chính Nam Bắc này tạo lực cho trục ngang Đông Tây xoay vần, gây sức sống cho Vũ Trụ mà yếu tố chính của sức sống không gì ngoài Lửa và Nước nên Ly Khảm đặt ở Đông Tây.



Trong Tiên Thiên thì các quẻ đối xứng với nhau: Càn với Khôn (Cha đối với Mẹ), Chấn với Tốn (Trưởng Nam với Trưởng Nữ), Ly với Khảm (trai thứ với gái thứ), Cấn với Đòai (trai út với gái út).

SỰ VẬN ĐỘNG CỦA ÂM DƯƠNG TRONG TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Phần Dương gồm có Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, từ Cha xuống Con là Dương thuận. Phần Âm là Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8, từ Con lên Mẹ là Âm nghịch.

Nói chung Âm Dương thì Dương từ Bắc đi lên, Dương thăng. Âm từ trên Nam đi xuống, Âm giáng. Trong Tiên Thiên thì Cha sinh gái (Càn sinh Âm quái) và Mẹ sinh Trai (Khôn sinh Dương quái) đó là chỉ về cái lí tự nhiên Dương sinh Âm, Âm sinh Dương.

Chấn với một hào Dương làm chủ là Nhất Dương sinh ở phương Bắc đi lên và lớn dần ở Ly. Đoài đã có hai vạch Dương và tới Cấn ở phương Nam bên trên đã có đủ ba vạch Dương (toàn Dương). Như vậy Dương đi trong phần Dương mà đi thuận từ trái qua phải, từ dưới Bắc đi lên trên (Dương thăng).

Dương từ Cấn Khảm (1 vạch) qua Tốn (hai vạch) về Càn (3 vạch) nên Dương đi trong phần Âm mà đi nghịch từ phải qua trái. Đi nghịch ở đây là đi rút về.

Tốn với một vạch Âm ở dưới làm chủ là Nhất Âm sinh đi xuống Khảm. Cấn đã có hai vạch Âm và tới Khôn ở dưới Bắc đã có đủ 3 vạch Âm (toàn Âm). Như vậy Âm đi trong phần Âm mà đi thuận từ trái qua phải, từ Nam đi xuống (Âm giáng).

Âm đi từ Đoài Ly (1 vạch) qua Chấn (hai vạch) về Khôn (3 vạch). Âm đi trong phần Dương mà đi nghịch từ phải qua trái.

Bên cạnh Thái Dương đã có 1 Âm xuất hiện ở Tốn, do Âm Căn ở Đoài. Cạnh Thái Âm đã có 1 Dương xuất hiện ở Chấn, do Dương Căn ở Cấn. Sự phối trí các quẻ cho ta thấy Sinh rồi Trưởng, Trưởng quá thì Tiêu, cái này tàn thì cái khác lại sinh ra vì đã có mầm sẳn. Vòng Tiêu Trưởng xoay vần không dứt, tạo ra động lực làm cho vạn vật biến hóa không cùng.

VẤN ĐỀ ÂM DƯƠNG CÂN BẰNG TRONG TIÊN THIÊN BÁT QUÁI

Trong Tiên Thiên thì các quẻ đối xứng với nhau: Càn với Khôn, Chấn với Tốn, Li với Khảm, Cấn với Đòai có đặc điểm là các vạch tương ứng của hai quẻ đối xứng luôn luôn trái nghịch Âm Dương và tổng Âm Dương của hai quẻ đối xứng luôn luôn cân bằng (tổng số vạch của hai quẻ đối xứng gồm 3 vạch Dương và 3 vạch Âm) nghĩa là trong Tiên Thiên thì Âm Dương cân bằng theo mọi hướng (Hai quẻ đối xứng này gọi là cặp quẻ biến dịch)

Phần Dương gồm có Càn, Đoài, Li, Chấn với tổng số vạch Dương là 8, vạch Âm là 4 (tỉ lệ 2/1). Phần Âm là Tốn, Khảm, Cấn, Khôn với tổng số vạch Dương là 4, vạch Âm là 8. Như vậy giữa hai phần Dương nghi và Âm nghi trên thì Âm Dương không cân bằng, nhưng tống số Âm Dương của hai phần thì cân bằng (12 vạch Dương và 12 vạch Âm)
Chú ý nếu viết các quẻ trên dưới hệ nhị phân (coi dưới) thì Càn là 111 (= 7), Đoài 110 (= 6), Li 101 (= 5), Chấn 100 (= 4), Tốn 011 (= 3), Khảm 010 (= 2), Cấn 001 (=1), Khôn 000 (= 0) thì thứ tự của Tiên Thiên bắt đầu từ số 7 xuống 0. Tổng bốn quẻ Dương là 22 (= 7 + 6 + 5 + 4), còn tổng các quẻ Âm là 6 (= 3 + 2 + 1 + 0) nên không có sự cân bằng giữa hai phần Âm Dương, nhưng về hướng thì có sự cân bằng (tổng hai quẻ đối xứng qua tâm thì bằng 7 (= 111), nghĩa là tổng hai quẻ phải có 3 vạch Dương và 3 vạch Âm)




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
64 Quẻ Kép (Trùng Quái) của Tiên Thiên Bát Quái

Trùng quái là quẻ kép gồm sáu vạch (còn gọi là 6 Hào), do hai quẻ Đơn xếp chồng lên nhau. Đơn Quái ở trên gọi là Ngoại Quái hay Thuợng Quái. Đơn Quái ở dưới gọi là Nội Quái hay Hạ Quái. Khi viết thì viết quái dưới trước, quái trên sau. Tên gọi được căn cứ vào tên hai Đơn Quái, đọc theo thứ tự từ trên xuống dưới. Trùng quái là Tượng chỉ về sự chuyển hóa của Âm Dương nên gọi là Quái Tượng, và mỗi Hào còn được gọi là Hào Tượng.

Trùng quái do quẻ Càn sinh ra: đặt 8 đơn quái lên trên quẻ Càn, ta được quẻ sau đây:
Bát Thuần Càn 63
Trạch Thiên Quải 62
Hỏa Thiên Đại Hữu 61
Lôi Thiên Đại Tráng 60
Phong Thiên Tiểu Súc 59
Thủy Thiên Nhu 58
Sơn Thiên Đại Súc 57
Địa Thiên Thái 56






Trùng quái do quẻ Đoài sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên quẻ Đoài, ta có quẻ sau đây:
Thiên Trạch Lí 55
Bát Thuần Đoài 54
Hỏa Trạch Khuê 53
Lôi Trạch Qui Muội 52
Phong Trạch Trung Phu 51
Thủy Trạch Tiết 50
Sơn Trạch Tổn 49
Địa Trạch Lâm 48





Trùng quái do quẻ Ly sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên quẻ Ly, ta được quẻ sau đây:
Thiên Hỏa Đồng Nhân 47
Trạch Hỏa Cách 46
Bát Thuần Li 45
Lôi Hỏa Phong 44
Phong Hỏa Gia Nhân 43
Thủy Hỏa Kí Tế 42
Sơn Hỏa Bí 41
Địa Hỏa Minh Di 40



Trùng quái do quẻ Chấn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên quẻ Chấn, ta được quẻ sau đây:
Thiên Lôi Vô Vọng 39
Trạch Lôi Tùy 38
Hỏa Lôi Phệ Hạp 37
Bát Thuần Chấn 36
Phong Lôi Ích 35
Thủy Lôi Truân 34
Sơn Lôi Di 33
Địa Lôi Phục 32




Trùng quái do quẻ Tốn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên quẻ Tốn, ta được quẻ sau đây:
Thiên Phong Cấu 31
Trạch Phong Đại Quá 30
Hỏa Phong Đỉnh 29
Lôi Phong Hằng 28
Bát Thuần Tốn 27
Thủy Phong Tỉnh 26
Sơn Phong Cổ 25
Địa Phong Thăng 24





Trùng quái do quẻ Khảm sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên quẻ Khảm, ta được quẻ sau đây:
Thiên Thủy Tụng 23
Trạch Thủy Khốn (Khổn) 22
Hỏa Thủy Vị Tế 21
Lôi Thủy Giải 20
Phong Thủy Hoán 19
Bát Thuần Khảm 18
Sơn Thủy Mông 17
Địa Thủy Sư 16



Trùng quái do quẻ Cấn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên quẻ Cấn, ta được quẻ sau đây:
Thiên Sơn Độn 15
Trạch Sơn Hàm 14
Hỏa Sơn Lữ 13
Lôi Sơn Tiểu Quá 12
Phong Sơn Tiệm 11
Thủy Sơn Kiểm 10
Bát Thuần Cấn 9
Địa Sơn Khiêm 8



Trùng quái do quẻ Khôn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên quẻ Khôn, ta được quẻ sau đây:
Thiên Địa Bỉ 7
Trạch Địa Tụy 6
Hỏa Địa Tấn 5
Lôi Địa Dự 4
Phong Địa Quan (Quán) 3
Thủy Địa Tỉ 2
Sơn Địa Bác 1
Bát Thuần Khôn 0



Trong sáu mươi bốn quẻ thì có tám trùng quái bất dịch (số 63, 51, 45, 33, 30, 18, 12, 00 màu xanh), còn lại 58 quẻ, gồm 28 cặp, là điên đảo dịch hay phản dịch, nghĩa là khi lật ngược (xoay 180 độ) thì quẻ này thành quẻ kia. Cần chú ý với cách đánh số cho các quẻ như trên thì hai quẻ có tổng số bằng 63 là hai quẻ biến dịch, nghĩa là đổi vạch Dương thành Âm, Âm thành Dương của một quẻ thì ta được quẻ kia, hai quẻ này luôn luôn có tổng Âm Dương cân bằng

Cần nhấn mạnh rằng vào thời Phục Hi chưa có chữ viết nên việc xắp xếp các quẻ theo thứ tự mà thôi, không có việc đánh số thứ tự các quẻ. Sau này phát minh ra chữ viết và cách đếm thì người ta sắp xếp thứ tự theo hệ đếm sử dụng. Sử dụng các con số thứ tự bên trên là sử dụng cách đọc của hệ thập phân để diễn tả giá trị các con số của hệ nhị phân. Hệ nhị phân sử dụng hai con số là 0 và 1. Nếu trong một quẻ, ta qui ước vạch Dương tương ứng với số lẻ 1 và vạch Âm tương ứng với số chẵn 0, và viết lại từ trái qua phải các quẻ bằng số nhị phân theo thứ tự các vạch từ dưới lên trên (như thứ tự viết quẻ) thì ta được một số của hệ nhị phân, rồi đổi số này sang hệ thập phân. Như vậy ba số đầu bên trái của số nhị phân là quẻ Hạ, ba số sau bên phải là quẻ Thượng (trái Hạ, phải Thượng), vạch dưới cùng tương đương với số đầu bên trái của số nhị phân

Ví dụ

Quẻ Bát Thuần Càn được viết dưới dạng số nhị phân là 111 111 trong đó 3 số 1 đầu (nằm bên trái) tương ứng với quẻ Hạ, ba số 1 sau (nằm bên phải) tương ứng với quẻ Thượng. Số 111111 này tương đương với số 63 của hệ thập phân (63 = 1x32 + 1x16 + 1x8 + 1x4 + 1x2 + 1x 1).

Quẻ Thủy Thiên Nhu được viết dưới dạng số nhị phân là 111 010 trong đó 3 số 1 đầu (nằm bên trái) tương ứng với quẻ Hạ, ba số 1 sau (nằm bên phải) tương ứng với quẻ Thuợng. Số 111010 này tương đương với số 58 của hệ thập phân (58 = 1x32 + 1x16 + 1x8 + 0x4 + 1x2 + 0x1).

Để đổi một số thuộc hệ thập phân qua một quẻ tương ứng, ta trước hết đổi số thập phân đó sang hệ nhị phân rồi căn cứ vào đó mà viết quẻ

Muốn đổi một số thuộc hệ thập phân sang hệ nhị phân, ta chia số đó cho cơ số 2 của hệ nhị phân, giữ lại số dư, còn thương số thì tiếp tục chia cho 2 đến khi thương số bằng 0. Đọc các số dư trên từ dưới lên trên và viết các số dư có được từ trái qua phải, ta có số nhị phân tương đương. Vì ta cần sáu số tương ứng với 6 vạch, nếu thiếu ta thêm số 0 vào bên trái cho đủ (thêm 0 vào bên trái thì giá trị của số mới không đổi)
Ví dụ
58:2 = 29 dư 0
29:2 = 14 dư 1
14:2 = 7 dư 0
7:2 = 3 dư 1
3:2 = 1 dư 1
1:2 = 0 dư 1

Vậy 58 tương đương với 111010 (111: quẻ Hạ, 010: quẻ Thuợng). Với cách trình bày như trên thì chỉ cần đổi số 111010 thành vạch, ta sẽ có tượng của quẻ (Thủy Thiên Nhu 58)
Ví dụ
4:2 = 2 dư 0
2:2 = 1 dư 0
1:2 = 0 dư 1

Vậy 4 tương đương với 000100 (thêm 3 số 0 vào bên trái cho đủ 6 số)(100: quẻ Hạ, 000 quẻ Thượng). Với cách trình bày số như trên ta chỉ cần đổi số 000100 thành vạch, ta sẽ có tượng của quẻ (Lôi Địa Dự 4)
0
0
0
1
0
0

Khi sử dụng hệ nhị phân để theo dõi thứ tự các trùng quái của Tiên Thien thì ta thấy rằng thứ tự này đi từ 63 đến 0, nghĩa là đi từ lớn đến nhỏ

Thiên Địa Tự Nhiên Phương Đồ (Bảng 64 quẻ dịch theo trật tự Tiên Thiên, trật tự từ Bát Thuần Càn đến Bát Thuần Khôn, từ số 63 đến 00 theo hệ nhị phân)

Sáu mươi bốn trùng quái Tiên Thiên được sắp đặt vào phương đồ (hình vuông) theo thứ tự số nhị phân từ 63 đến 0, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, mỗi hàng 8 quẻ. Với cách trình bày phương đồ như trên thì các trùng quái đối xứng qua tâm phương đồ thì cũng nằm đối xứng qua tâm viên đồ, ví dụ như 35 và 28 đối xứng nhau, 46 và 17 đối xứng nhau. Với sự sắp xếp trên thì các quẻ cùng một cột ngang đều có quẻ Hạ giống nhau

Trong bảng ta dễ dàng nhận thấy rằng các cột dọc Càn Li Tốn Cấn đều chứa quẻ thuộc nhóm Dương (quẻ số lẻ) đi xen kẽ với các cột dọc Đoài Chấn Khảm Khôn đều chứa quẻ thuộc nhóm Âm (quẻ số chẵn)





Thiên Địa Tự Nhiên Viên Đồ

Đồng thời sáu mươi bốn trùng quái đó cũng được xếp vào viên đồ (hình tròn). Bên trái hình tròn là 32 quẻ thuộc Càn (Dương) bắt đầu bằng quẻ Càn (63) đi xuống quẻ Phục (32). Bên phải hình tròn là 32 quẻ thuộc Khôn (Âm) bắt đầu bằng quẻ Cấu (31) đi xuống quẻ Khôn (0).
Quẻ Càn số 63 ở chính Nam (bên trên)
Quẻ Đoài số 54 ở Đông Nam
Quẻ Li số 45 ỏ chính Đông (bên trái)
Quẻ Chấn số 36 ở Đông Bắc
Quẻ Tốn số 27 ở Tây Nam
Quẻ Khảm số 18 ở chính Tây (bên phải)
Quẻ Cấn số 9 ỏ Tây Bắc
Quẻ Khôn số 0 ở chính Bắc (bên dưới)

Tám quẻ trùng quái ứng với 8 phương chính trên đều nằm trên đường chéo nối liền quẻ Càn và Khôn của phương đồ và đều là bội số của 9. Với cách sắp xếp như trên thì hai quẻ nằm đối xứng qua tâm hình tròn là hai quẻ biến dịch, hai quẻ này luôn luôn có tổng Âm Dương cân bằng (tổng vạch Dương của hai quẻ bằng tổng vạch Âm của hai quẻ), đồng thới các vạch tương ứng của hai quẻ thì trái nghịch Âm Dương và tổng hai quẻ là 63, ví dụ quẻ 34 và 29)

Thiệu Khang Tiết ghi rằng trên viên đồ thì Càn hết giữa Ngọ, Khôn hết giữa Tí, Li hết giữa Mão, Khảm hết giữa Dậu. Dương sinh ra trong Tí và cực ở Ngọ, Âm sinh ra trong Ngọ và cực ở Tí. Dương ở về Nam, Âm ở về Bắc

Dưới đây là Thiên Địa tự nhiên hoành đồ, nếu uốn cong thành vòng tròn thì ta có Thiên Địa tự nhiên viên đồ



Trong 64 trùng quái thì có 12 trùng quái chính biểu thị cho qui luật Doanh Hư Tiêu Trưởng, Thành Thịnh Suy Hủy, Dương Thăng Âm Giáng, Tiêu Trưởng, Thuận Nghịch, Tiến Thoái trong sự chuyển hóa của Âm Dương. Mười Hai quẻ này được đặt trong Thiên Bàn, hòa hợp với 12 năm, 12 tháng, 12 giờ, 12 Địa Chi, và bốn Phương tám Hướng, Tứ Thời (Xuân Hạ Thu Đông), Thập Nhị Tiết:
Quẻ Phục (Địa Lôi Phục) số 32, ở Tí, một vạch Dương ở dưới, là thời kỳ Dương bắt đầu sinh (Nhất Dương sinh. Cực Âm thì Dương sinh). Phục có nghĩa là trở lại, là Dương đã bắt đầu trở lại. Đặt ở giờ Tí, tháng 11, phương Bắc rất lạnh, tiết Đông Chí giữa Mùa Đông.

Quẻ Lâm (Địa Trạch Lâm) số 48, ở Sửu, hai vạch Dương ở dưới, là thời kỳ Dương bắt đầu thịnh, Âm bắt đầu suy. Lâm có nghĩa là đến, đã tới, ra mặt, Dương đã đủ góp mặt rồi, đó là Dương tiến Âm thoái, Dương thịnh Âm suy, Dương trưởng Âm giáng. Đặt ở giờ Sủu lúc mặt trời bắt đầu đang lên (Dương tiến), tháng 12, phương Đông Bắc (thiên Bắc), tiết Tiểu Đại Hàn, cuối mùa Đông đã bớt lạnh (Âm thoái)
Quẻ Thái (Địa Thiên Thái) số 56, ở Dần, ba vạch Dương ở dưới và ba vạch Âm ở trên, là thời kỳ Âm Dương quân bình. Thái có nghĩa là hanh thông. Dương thì nhẹ lại ở dưới nên bốc lên trên, Âm thì nặng ở trên hạ xuống dưới nên Âm Dương tiếp xúc, Âm Dương quân bình. Đặt ở giờ Dần lúc mặt trời đang lên, tháng 1, phương Đông Bắc (thiên Đông), tiết Lập Xuân, đầu mùa Xuân tiết trời bắt đầu ấm áp, cây cỏ tốt tươi

Quẻ Đại Tráng (Lôi Thiên Đại Tráng) số 60, ở Mão, bốn vạch Dương ở dưới, hai gạch Âm ở trên, là thời kỳ Dương thịnh, Âm suy. Đại Tráng là lớn mạnh, rất lớn, Dương đã lớn mạnh hơn Âm. Đặt ở giờ Mão, phương Đông, tháng 2, ứng với tiết Xuân Phân, giữa mùa Xuân, tiết trời ấm áp trong sáng

Quẻ Quải (Trạch Thiên Quải) số 62, ở Thìn, năm vạch Dương ở dưới, một gạch Âm ở trên, là thời kỳ Dương thịnh, Âm cực suy, sắp biến. Quải là quả quyết, dứt bỏ, Dương đã quyết dứt bỏ một Âm nằm một mình ở trên. Đặt ở giờ Thìn, tháng 3, phương Đông Nam (thiên Đông), tiết Thanh Minh, cuối mùa Xuân, tiết giao mùa, sắp sang mùa Hạ, tiết trời bắt đầu trở nên nóng nực, khí hậu bước sang mùa nắng nóng

Quẻ Càn (Càn Vi Thiên, Bát Thuần Càn) số 63, ở Tỵ, sáu vạch Dương, Toàn Dương, là thời kỳ Dương cực thịnh, Âm đã biến mất. Càn là Trời, tính cương kiện. Khí Dương cực thịnh. Đặt ở giờ Tỵ, tháng 4, phương Đông Nam (thiên Nam), tiết lập Hạ, đầu Mùa Hạ, tiết trời bắt đầu sang Hạ, nóng bức

Quẻ Cấu (Thiên Phong Cấu) số 31, ở Ngọ, một vạch Âm ở dưới, là thời kỳ Dương đã cực nên Âm bắt đầu sinh ở dưới. (Nhất Âm Sinh. Dương cực thì Âm sinh), năm gạch Dương ở trên. Cấu là gặp gỡ. Âm đã bắt đầu tới gặp Dương. Đặt ở giờ Ngọ, tháng 5, phương Nam, ứng với tiết Hạ Chí

Quẻ Độn (Thiên Sơn Độn) số 15, ở Mùi, hai vạch Âm ở dưới, bốn gạch Dương ở trên, là thời kỳ Âm bắt đầu thịnh, Dương bắt đầu suy, Âm trưởng, Dương giáng. Độn là lẩn trốn, trốn tránh, Dương đã lẩn trốn, bớt đi rồi. Đặt ở giờ Mùi, tháng 6, phương Tây Nam (thiên Nam), tiết Tiểu Đại Thử, cuối Mùa Hạ

Quẻ Bỉ (Thiên Địa Bỉ) số 7, ở Thân, 3 vạch Âm ở dưới và 3 vạch Dương ở trên, tuy Âm Dương quân bình nhưng Dương ở trên cứ bốc lên, Âm ở dưới lại hạ xuống nên Âm Dương không gặp nhau nên bế tắc. Bỉ là bế tắc. Đặt ở giờ Thân, tháng 7, phương Tây Nam (thiên Tây) tiết Lập Thu, đầu Mùa Thu, tiết trời trở nên mát mẻ với sự úa vàng của cây cỏ

Quẻ Quán (Phong Địa Quán) số 3, ở Dậu, bốn vạch Âm ở dưới, hai gạch Dương ở trên, là thời kỳ Âm trưởng Dương tiêu, khí Âm thịnh lấn át khí Dương. Quán là xem xét, Dương phải xem xét hoàn cảnh không hay (đang suy giảm) của mình mà lo liệu. Đặt ở giờ Dậu, tháng 8, phương Tây, ứng với tiết Thu phân, tiết trời khô mát, sáng sủa

Quẻ Bác (Sơn Địa Bác) số 1, ở Tuất, năm vạch Âm ở dưới, một vạch Dương cheo leo ở trên, là thời kỳ Âm thịnh, Dương sắp suy biến. Bác là rơi rụng, Dương nằm ở thế cheo leo (một vạch Dương) sắp sửa rơi rụng hết rồi. Đặt ở giờ Tuất, tháng 9, phương Tây Bắc (thiên Tây), tiết Hàn Lộ Sương Giáng, cuối Mùa Thu, giao mùa, trời bắt đầu trở lạnh, sắp bước sang mùa Đông

Quẻ Khôn (Khôn Vi Địa, Bát Thuần Khôn) số 0, ở Hợi, sáu vạch Âm , toàn Âm , Âm khí cực độ, Dương khí đã biến mất. Khôn là đất, tính nhu thuận. Đặt vào giờ Hợi, tháng 10, phương Tây Bắc (thiên Bắc), tiết Lập Đông, đầu mùa Đông, tiết trời trở sang lạnh giá.

Từ Phục đến Càn là sáu quẻ với quá trình Dương bắt đầu sinh đến trưởng, Âm bắt đầu suy đến tiêu dần. Từ Cấu đến Khôn là sáu quẻ với quá trình Âm bắt đầu sinh đến trưởng, Dương bắt đầu suy đến tiêu dần

Trên Thiên Bàn, các Quẻ đối nhau qua trục Âm Dương thì tính chất cũng đối nhau như Càn và Khôn, Phục và Cấu, Thái và Bỉ. Tốt nhất là quẻ Thái vì Âm Dương quân bình và vào lúc sớm mai. Xấu nhất là quẻ Bác vì Dương bị rơi rụng và vào lúc đêm tối. Từ quẻ Phục đến quẻ Càn thì Dương trưởng Âm tiêu. Từ Quẻ Cấu đến Quẻ Khôn thì Âm trưởng Dương tiêu. Âm Dương tiêu trưởng, tiến thoái nhưng luôn luôn trở về thế quân bính tại Quẻ Thái và Bỉ. Hai quẻ này nằm trên trục Dần Thần là trục đẹp nhất, là đường đi của Mộc Tinh, tức Thái Tuế.

Như vậy trong Tiên Thiên Bát Quái thì hào quái là tượng của Âm Dương




VẤN ĐỀ ÂM DƯƠNG CÂN BẰNG TRONG 64 TRÙNG QUÁI TIÊN THIÊN

Trong Tiên Thiên thì các trùng quái đối xứng với nhau có đặc điểm là các vạch tương ứng của hai quẻ đối xứng luôn luôn trái nghịch Âm Dương (gọi là cặp quẻ biến dịch: tổng hai số của quẻ đối xứng bằng 63) và tổng Âm Dương của hai trùng quái đối xứng luôn luôn cân bằng (tổng số vạch của hai quẻ đối xứng gồm 6 vạch Dương và 6 vạch Âm) nghĩa là trong Tiên Thiên thì Âm Dương cân bằng theo mọi hướng

Phần Dương gồm có Càn, Đoài, Li, Chấn với 32 trùng quái thuộc Dương từ quẻ Càn 63 đến quẻ Phục 32 với tổng số vạch Dương là 112, vạch Âm là 80 (tỉ lệ 7/5). Phần Âm là Tốn, Khảm, Cấn, Khôn từ quẻ Cấu 31 đến quẻ Khôn 0 với tổng số vạch Dương là 80, vạch Âm là 112. Như vậy giữa hai phần Dương nghi và Âm nghi trên thì Âm Dương không cân bằng, nhưng tống số Âm Dương của hai phần thì cân bằng (192 vạch Dương và 192 vạch Âm)

Chú ý nếu viết các quẻ trùng quái dưới hệ nhị phân thì trong Tiên Thiên tổng của hai trùng quái đối xứng bằng 63 nên có sự cân bằng về hướng nhưng lại không có sự cân bằng giữa hai phần Âm Dương vì tổng các trùng quái thuộc phần Dương là 1520 (= 63 + 62 +...+ 32) nhưng tổng các trùng quái thuộc Âm là 496 (= 31 + 30 +...+ 0)(nên sử dụng cấp số cộng để tìm kết quả cho nhanh)

PHÂN LOẠI 64 TRÙNG QUÁI THEO TƯỢNG SỐ


Cặp quẻ biến dịch các vạch tương ứng của cặp quẻ thì trái ngược Âm Dương. Tổng hai quẻ này là 63, ví du quẻ 61 và 2, 30 và 33

Cặp quẻ phản dịch (điên đảo dịch): xoay 180 độ một quẻ thì được quẻ kia. Hai quẻ phản dịch thì chưa chắc đã biến dịch (ví dụ quẻ 60 và 15)

Quẻ bất biến là quẻ có hai đặc tính:
Xoay 180 độ vẫn là quẻ ban đầu
Hoán đổi vị trí quẻ Thượng và Hạ cho nhau thì vẫn là quẻ ban đầu



Bốn quẻ Càn (63), Khôn (0), Li (45), Khảm (18) là quẻ bất biến trong đó Càn Khôn được sử dụng làm trục Tiên Thiên và Li Khảm được sử dụng làm trục Hậu Thiên

Quẻ bất biến trung gian là quẻ có hai đặc tính:
Xoay 180 độ vẫn là quẻ ban đầu
Hoán đổi vị trí quẻ Thượng và Hạ cho nhau thì ta có quẻ khác



Bốn quẻ Tiểu Quá (12), Di (33), Trung Phu (51), Đại Quá (30) là quẻ bất biến trung gian do các đơn quái Cấn, Chấn, Tốn, Đoài xếp chồng lên mà có.



Cặp quẻ Tiểu Quá - Trung Phu và cặp quẻ Đại Quá - Di là các cặp quẻ biến dịch (tổng bằng 63). Chú ý hoán đổi quẻ Thuợng Hạ của quẻ Tiểu Quá ta có quẻ Di, của quẻ Trung Phu ta có quẻ Đại Quá và ngược lại

Cặp quẻ vừa là biến dịch, vừa là phản dịch
Có 4 cặp:
Thái (56) - Bỉ(7)
Qui Muội (52) - Tiệm (11)
Ký Tế (42) - Vị Tế (21)
Tùy (31) - Cổ (25)
Mười hai nhóm quẻ, mỗi nhóm gồm 4 quẻ có mối quan hệ vừa biến dịch (tổng hai quẻ là 63), vừa là phản dịch

Nhóm Quải 62 - Cấu 31, Bác 1 - Phục 32 (trong đó cặp Quải - Cấu và cặp Bác - Phục thì là cặp phản dịch, còn các cặp có tổng 63 là Quải - Bác, Cấu - Phục thì là cặp biến dich)
Nhóm Đại Tráng 60 - Độn 15, Quan 3 - Lâm 48
Nhóm Tiểu Súc 59 - Lý 55, Dự 4 - Khiêm 8
Nhóm Nhu 58 - Tụng 23, Tấn 5 - Minh Di 40
Nhóm Đại Súc 57 - Vô Vọng 39, Tụy 6 - Thăng 24
Nhóm Đoài 54 - Tốn 27, Cấn 9 - Chấn 36
Nhóm Khuê 53 - Gia Nhân 43, Kiền 10 - Giải 20
Nhóm Tiết 50 - Hoán 19, Lữ 13 - Phong 44
Nhóm Tổn 49 - Ích 35, Hàm 14 - Hằng 28
Nhóm Cách 46 - Đỉnh 29, Mông 17 - Truân 34
Nhóm Bí 41 - Phệ Hạp 37, Khổn 22 - Tỉnh 26




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0