Tôi gửi bản gốc viết về Ns Văn Cao, Rất tiếc BBT Unesco Mỹ thuật VN, đã chỉnh lại.
Tham luận về Văn Cao:
Văn Cao đi qua cõi trần gian dễ hơn đi qua chính mình
Phạm Ngọc Dũ
Trong âm nhạc Việt Nam, dù mới du nhập tân nhạc phương Tây đầu thế kỷ thứ 20, nhưng những trí thức Việt Nam nhờ học được tiếng Pháp nên tiếp cận nền Tây học thời kỳ đầu rất tốt, từ đó phát triển không ngừng về văn học, nghệ thuật. Lĩnh vưc âm nhạc cũng vậy những người tiên phong cho dòng nhạc Việt Nam ở đầu thập niên 30 - 40 thế kỷ 20 cùng với Lê Thương, Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Đỗ Nhuận, Phạm Duy, Hoàng Qúy v.v… chúng ta không thể không nhắc đến nhạc sĩ Văn Cao, người nhạc sĩ tài năng của đất Việt.
Ngoài Văn Cao còn có các nhạc sĩ khác cũng tài hoa, lẫy lừng, những người chuyên sáng tác, nhận định lý luận âm nhạc đã chọn 3 tác giả nổi bật của làng nhạc Việt, đó là:
Phạm Duy, Văn Cao và Trịnh Công Sơn.
Phạm Duy – Người mệnh danh là phù thủy âm nhạc. Trịnh Công Sơn, mệnh danh là người viết ca từ hay nhất, mang tầm vóc triết lý. Tuy nhiên, Trịnh Công Sơn chưa thể như Phạm Duy và Văn Cao, bởi như chính tác giả Trịnh Công Sơn đã từng nhìn nhận: “Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm khuất trong những thân phận riêng tư”... (TCS) Như thế công chúng và các nhà nhận định chuyên môn âm nhạc cũng rất bình tĩnh nhận ra tương đối công tâm về âm nhạc Việt Nam nói chung.
Ngoài ra còn nhiều nữa, ví dụ như Lê Thương, Hoàng Quý, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước…
Tuy nhiên, nếu đặt phép so sánh của 2 người bạn thân trong âm nhạc là Văn Cao và Phạm Duy ta sẽ thấy khó có thể xác quyết ai có phần hơn.
Bởi sức sáng tác của Phạm Duy quá đồ sộ, nếu nói trường ca trong âm nhạc thì Văn Cao không thể bằng Phạm Duy.
Phạm Duy có rất nhiều trường ca bàng bạc khắp cùng đất nước, đâu đâu cũng thấy hiện diện từ anh nông phu, bà mẹ quê, người lữ khách, anh thương binh, em bé quê…: Trường ca Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, Bầy chim bỏ xứ, Minh họa Kiều, Hàn mặc Tử, Đạo ca* (Phan Trang Hy)
Riêng Trường ca Mẹ Việt Nam có 4 phần: Đất Mẹ, Sông Mẹ, Núi Mẹ và Biển Mẹ. Ông khái quát người mẹ Việt tuyệt vời, với dáng vẻ nhỏ nhắn, hao gầy, thật thà và chất phát nhưng toát lên sự mạnh mẽ bền bỉ bên trong cơ thể ốm yếu – Nghĩa là tính tư tưởng như bà Trưng, bà Triệu… nơi nào bà cũng dõi theo đàn con từ đất, sông, núi, biển hầu mong các con bảo vệ tổ quốc, giữ vững cương thổ và biển đảo mong cho nhân dân Việt đoàn kết sống trong thanh bình yêu thương lẫn nhau.
Văn Cao chỉ có trường ca Sông Lô, Bắc Sơn. Thiên Thai chưa phải là trường ca
Còn nhiều nữa nhưng bài viết không cho phép, tôi trở lại với nhạc sĩ Văn Cao.
Thân thế và sự nghiệp
“Văn Cao (Tên thật là
Nguyễn Văn Cao, sinh ngày
15 tháng 11 năm
1923 tại
Hải Phòng – mất ngày
10 tháng 7 năm
1995) là một
nhạc sĩ,
họa sĩ,
nhà thơ,
chiến sĩ biệt động ái quốc người Việt Nam. Ông là tác giả của ca khúc
Tiến quân ca, quốc ca chính thức của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Nay là nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đồng thời ông cũng là một trong những nhạc sĩ có sức ảnh hưởng lớn nhất của nền
Tân nhạc Việt Nam. Ông được giới chuyên môn và công chúng yêu nhạc đánh giá một cách rộng rãi là một trong ba
nhạc sĩ nổi bật nhất của nền
âm nhạc hiện đại Việt Nam trong
thế kỷ XX, cùng với
Phạm Duy và
Trịnh Công Sơn” (Wikipedia)
Văn cao có vợ là bà Nghiêm Thị Băng, một cô gái Hà Thành xinh đẹp, nền nã, thủy chung với ông đến cuối cuộc đời. Ông bà sinh được 5 người con, 3 trai 2 gái. Con trai cả Văn Thao theo nghiệp cha là nhạc sĩ Văn Thao.
Có thể nói rằng nhạc sĩ Văn Cao đa tài, ông thành danh nhiều lĩnh vực, về hội họa, thi ca, và sáng tác ca khúc. Riêng mảng âm nhạc Văn Cao thành công quá rực rỡ nên người đời biết nhạc sĩ Văn Cao nhiều hơn những danh xưng khác.
Trước kháng chiến, Văn Cao còn ở Hải Phòng, Phạm Duy chính là người khuyên ông nên về Hà Nội, nơi tập trung anh tài để thi thố tài năng bởi Phạm Duy rất mến tài Văn Cao. Như hồi ký của họa sĩ Tạ Tỵ - Một họa sĩ tài ba, rất nổi tiếng tại miền Nam Việt Nam, ông viết: Nhắc lại quãng thời gian đầu khi Văn Cao đến với hội họa: "
Văn Cao khi ở Hải Phòng, lúc lên Hà Nội, mỗi lần có mặt ở thành phố, Văn Cao thường đến tìm tôi, mời lại căn nhà ở trong con ngõ nhỏ đường Hàm Long để khoe tranh mới. Trong khoảng thời gian từ năm 1942 đến 1945, tôi đâu biết Văn Cao đã dấn thân vào cách mạng, hoạt động bí mật cho Mặt Trận Việt Minh. Quả thật tôi không để ý đến cách mạng và chính trị nên thường có những lập luận đối nghịch với Văn Cao về sáng tác. Văn Cao cho rằng nghệ thuật chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cho số đông và một bức tranh đẹp phải truyền cảm, gây được ấn tượng tốt cho người xem tranh. Còn tôi cho rằng nghệ thuật - Bất cứ ở bộ môn nào, trước hết, phải có bản sắc cũng như đặc tính của nghệ phẩm. Một bức tranh đẹp không cần sự giải thích, chỉ cần sự cảm nhận giữa người xem tranh và tác phẩm” (Hồi ký Tạ Tỵ)
“
Giai đoạn sáng tác đầu tiên, giống như những nhạc sĩ tiền chiến khác, Văn Cao viết các nhạc phẩm trữ tình, nhưng ít ảnh hưởng bởi chủ nghĩa lãng mạn Pháp mà mang nặng âm hưởng phương Đông. Từ ca khúc đầu tay Buồn tàn thu, Văn Cao đã sử dụng ngũ cung để viết về một hình ảnh quen thuộc trong nghệ thuật châu Á: Người phụ nữ đan áo ngồi chờ đợi. Sau Buồn tàn thu, ông còn viết hai ca khúc khác về mùa thu là Thu cô liêu và Suối mơ.
Suối Mơ đầu tiên là bài Trương Chi 1, sau được Văn Cao phát triển thêm và cùng Phạm Duy hoàn tất”(1)
Trong kháng chiến chống Pháp, Văn Cao với Phạm Duy là bạn của nhau, cùng sáng tác chung với nhau như bài Bến Xuân sau này đổi là Đàn chim Việt (1942) và Suối Mơ. Chính Phạm Duy đã hát bản nhạc này để công chúng biết đến Văn Cao và sau này cũng Phạm Duy đánh giá là bản nhạc lãng mạn nhất của Văn Cao trong giai đoạn đầu tiền chiến về âm nhạc Việt Nam.
Chẳng những bây giờ, giai đoạn 1954 -75 tại miền Nam nhạc Văn Cao được nhiều thế hệ trước và sau chúng tôi đánh giá sang trọng, đầy chất trữ tình lãng mạn, đẹp đẽ rất thanh tân.
Mới đây, nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên trong khảo cứu: “Nhìn Lại Âm Nhạc miền Nam” đã viết về nhạc sĩ Văn Cao như sự cung kính một trong những người có công đem lại cho nền âm nhạc Việt Nam thời phôi thai, khai đường mở lối cho dòng nhạc trữ tình. Ông viết: “Trong đội ngũ các nhạc sĩ sáng tác xuất sắc trong giai đoạn này là nhạc sĩ Văn Cao. Ngoài các bài theo khuynh hướng trữ tình nổi bật nhất của trào lưu lãng mạn trong giai đoạn đầu của lịch sử tân nhạc Việt Nam, Văn Cao còn sáng tác nhiều ca khúc mang âm hưởng hào hùng như: Gò Đống Đa, Hò Kéo Gỗ, Bạch Đằng Giang, Thăng Long Hành Khúc Ca, Tiến Quân Ca, Tiến Về Hà Nội, Chiến Sĩ Việt Minh, sau đổi thành Chiến Sĩ Việt Nam, Hải Quân Việt Nam, Không Quân Việt Nam, Công Nhân Việt Nam…Vì vậy ông trở thành tiêu biểu của dòng nhạc kháng chiến, những bài hùng ca của ông lấy cảm hứng từ chiến công của bộ đội trong kháng chiến chống Pháp như Trường Ca Sông Lô, Bắc Sơn:
Ôi, còn đâu đây sắc chàm pha màu gió
Bao lòng bao năm sống lầm than đây đó
Ai về châu xưa nhớ hồi máu thắm cây rừng.
Còn vang khe núi tiếng quân oai hùng
Lớp lớp chiến đấu Lạng Sơn tung bay cờ…
ĐK: Bắc Sơn đây hố sâu mồ chôn
Rừng núi ngân tiếng hú căm hờn
Bắc Sơn! Khi bóng trăng mờ sương
Bắc Sơn! Không bóng người dưới thôn…
(Văn Cao - Bắc Sơn)
Và sau bài Tiến Quân Ca nhạc sĩ Văn Cao còn viết tiếp bài ca ngợi các chiến sĩ Việt Nam:
Bao chiến sĩ anh hùng
Lạnh lùng vung gươm ra sa trường
Quân xung phong
Nước non đang chờ mong tay ngươi
Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời
Ngựa phi nơi xa kia còn nghe súng vang
Bên trời điệu kèn rộn ràng
Là trang nam nhi quyết chiến sa trường
Sống thác coi thường
Mong xác trong da ngựa bọc thân thể trai
(Văn Cao - Chiến sĩ Việt Nam 1945)
(Trích khảo cứu Nhìn lại Âm Nhạc Miền Nam của ns Nguyễn Phú Yên)
Có thể nói lúc bấy giờ những bản nhạc này như thôi thúc mãnh liệt, làm phấn chấn tinh thần yêu nước, lòng quyết chiến giặc Pháp của hàng vạn chiến sĩ ngoài mặt trận và từng địa phương ai cũng muốn tòng quân xông pha nơi chiến địa để cứu lấy nước nhà dù phải hy sinh tính mạng. Âm nhạc như có sức mạnh truyền lửa yêu nước cho mỗi công dân trong công cuộc kháng chiến chống Pháp thời ấy.
Đặc biệt là bản nhạc Tiến Quân ca, theo nhiều tài liệu còn để lại, báo nhân dân đã nói:
“Mùa đông năm 1944, khi cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc đang sục sôi khí thế. Văn Cao gặp Vũ Quý, là một cán bộ Việt Minh, cũng là một người vẫn theo dõi những hoạt động nghệ thuật của Văn Cao. Ông Vũ Quý hỏi như đề nghị Văn Cao thoát ly hoạt động cách mạng và giao nhiệm vụ đầu tiên cho Văn Cao là sáng tác một bài hát cho quân đội cách mạng Việt Minh
Văn Cao lúc ấy, chưa biết đến chiến khu, chỉ biết những con đường Phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ (Hà Nội) theo thói quen đi và cũng chưa gặp các chiến sĩ quân đội cách mạng trong khóa quân chính đầu tiên và không biết họ hát như thế nào... tác giả “đang nghĩ cách viết một bài hát thật đơn giản cho họ có thể hát được…”.
Ông đã trăn trở, tìm kiếm những âm thanh, hình ảnh trong buổi chiều đi dọc các con phố Hà Nội… và ông đã viết được những nét nhạc đầu tiên của bài “Tiến quân ca”. Ông đã chỉnh sửa và hoàn thiện bài hát nhiều ngày sau đó tại căn gác số 45 Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội trong những ngày đông ảm đạm, đói, rét, khổ cực”.(2)
(
https://nhandan.vn/nhac-s...an-ca-post712842.html)
(Hiện tại Quốc ca – Đã chỉnh sửa để bớt cho nhẹ nhàng hơn trong một gian đoạn lịch sử - do sự phẫn nộ của ông trước cái chết của vài triệu đồng bào ở nạn đói 1945. Sau năm 1946 đã trở thành bài Quốc ca mãi đến bây giờ 2023). Xin trích:
Đoàn quân Việt Nam đi
Chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù,
Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu.
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
Tiến mau ra sa trường,
Tiến lên, cùng tiến lên.
Nước non Việt Nam ta vững bền.
Lời 2
Đoàn quân Việt Nam đi
Sao vàng phất phới
Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than
Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới,
Đứng đều lên gông xích ta đập tan.
Từ bao lâu ta nuốt căm hờn,
Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn.
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
Tiến mau ra sa trường,
Tiến lên, cùng tiến lên.
Nước non Việt Nam ta vững bền.
(1944 đã chỉnh sửa)
Từ Tiến Quân ca đến Quốc ca
Kể từ khi Văn Cao từ Hải Phòng lên Hà Nội, “Mùa đông năm 1944 gặp ông Vũ Quý cán bộ Việt Minh ở ga Hàng Cỏ (Vũ Quý là quyền bí thư Ban cán sự Đảng hồi ấy) là người quen biết với nhạc sĩ Văn Cao đã động viên ông viết những bài ca yêu nước như Đống Đa, Thăng Long Hành Khúc, sau đó Vũ Quý đề nghị Văn Cao thoát ly hoạt động cách mạng và nhiệm vụ đầu tiên của Văn Cao là sáng tác một bài hành khúc cho bộ đội Việt Minh”.
Sáng tác chỉnh trang xong hát cho Vũ Quý nghe, người lãnh đạo đầu tiên - Cũng là người giác ngộ của Văn Cao, Vũ Quý rất hài lòng, giao cho Văn cao viết Tiến Quân Ca và in bí mật tại làng Bát Tràng. Lần đầu tiên được in trên trang Văn nghệ báo Độc Lập tháng 11/1944”
Ngày 17/8/1945, bài hát Tiến quân ca đã vang lên giữa bầu trời Hà Nội
Ngày 19/8/1945, một cuộc mít-tinh lớn họp tại quảng trường Nhà hát Lớn. Dàn đồng ca của Thiếu niên Tiền phong hát “Tiến quân ca” chào lá cờ đỏ sao vàng
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, năm 1946, Quốc hội khóa I đã chính thức quyết định chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca Việt Nam. Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam năm 1946, tại Điều 3, ghi rõ: Quốc ca là bài “Tiến quân ca”
Tiến quân ca" là một bài hát do nhạc sĩ
Văn Cao (1923–1995) sáng tác vào năm
1944 và được sử dụng làm
quốc ca Trước đó, bài
Tiến quân ca được chọn làm quốc ca của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 13 tháng 8 năm 1945 đến 1 tháng 7 năm 1976.
Khi thống nhất 2 miền Nam Bắc, Quốc ca của nước
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam kể từ ngày 2 tháng 7 năm 1976.
[1]
Ngày 21 tháng 6 năm 2010, Cục Bản quyền tác giả nhận được thư ngỏ lời được hiến tặng tác phẩm
Tiến quân ca của bà Nghiêm Thúy Băng, vợ cố nhạc sĩ Văn Cao gửi Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL). Bà Nghiêm Thúy Băng, đại diện gia đình nhạc sĩ Văn Cao đang hưởng quyền thừa kế đã trân trọng ngỏ lời hiến tặng
Đảng,
Quốc hội,
Nhà nước và công chúng tác phẩm
Tiến quân ca được sử dụng làm Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 1945 đến nay.
Tại Sao trong Tiến quân ca, ông dùng nhiều từ ngữ đậm chất căm phẫn?
Nếu như, ngày ấy trước khi Nhật đầu hàng đồng minh ở thế chiến thứ II (1939 – 1945) không có nạn đói kinh hoàng “Những thây ma thất thểu khắp lề đường/ Rồi gục ngã không đứng lên vì đói/ Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội/ Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm/ trên đường đi những xác chết rên nằm/ Rồi gục ngã trong bụi lần co quắp” (Đói/ Bàng Bá Lân). Cũng chính thi sĩ Văn Cao chứng kiến những người “như ma” ấy lần lượt chết rất khổ đau vì đói, ông viết trong sự thảng thốt vô cùng:
“Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa/ Chập chờn ảo hoá tà ma.../ Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa/ Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục” hay là tiếng rên thống thiết khi nhìn thấy sự kinh hoàng tột độ: “Bước gần ta chút nữa thêm gần/ Khoảng giữa tuổi thanh xuân nghe loạn trùng hút tuỷ/ Ai huỷ đời trên tang trống nhỉ?/ Hay ác thần gõ quách nạo mồ khuya! (Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc). Có thể chứng kiến cảnh ấy đã dấy lên ông tính căm phẫn nên ngôn ngữ, ca từ còn ảnh hưởng trong Tiến quân ca.
Kẻ hậu bối chúng ta đọc lại đoạn thơ này lòng đã cảm thấy rờn rợn, đau lòng và xót xa căm phẫn, huống chi ông là người thực chứng quang cảnh ấy, ôi, thương cho số phận con người không có cái ăn, phải chết vì đói, vì rét, bởi chiến tranh tàn khốc, điều kiện lịch sử lúc bấy giờ rất nghiệt ngã, Cỗ mẹ Việt Nam chịu đến 2 tròng xâu xé: Pháp và Nhật Bản đang tham dự chiến tranh thế giới.
Quân đồng minh Pháp đang trên đường thất bại, phe Trục Nhật đang mở rộng lấn chiếm phía đông nam châu Á mà Việt Nam đang là thuộc địa Pháp.
“Việt Nam bị cuốn vào nền kinh tế thời chiến, với việc Pháp và Nhật tranh giành quyền kiểm soát kinh tế. Người ta nói đến lý do là Nhật Bản bắt dân Việt Nam trồng đay thay trồng lúa gạo để phục vụ chiến tranh, nhưng thực ra Pháp đã tiến hành việc ấy từ trước, cụ thể là thu hẹp diện tích canh tác các hoa màu phụ như
ngô,
khoai,
sắn, để trồng
bông,
đay,
gai hay cây kỹ nghệ. Sản lượng lúa gạo và hoa màu quy ra thóc tại miền Bắc giảm xuống rất mạnh do diện tích canh tác bị thu hẹp. Theo thống kê, năm 1940, diện tích trồng đay là 5.000
ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 ha”(3)
Nhật và Pháp đều lo sợ không đủ lương thực, buộc họ phải lo cho quân đội viễn chinh của họ. Và bấy giờ Pháp là phe Đồng minh, Nhật là phe Trục đang thắng thế.
Ngoài ra họ dùng lúa thay than đá làm khí đốt, vì vậy lương thực vốn đã thiếu thốn dẫn đến kiệt quệ trầm trọng. Hậu quả là gần 2 triệu người Việt chết đói. Chính điều này đã nung nấu sự căm hờn của người Việt nói chung, trí thức nói riêng, trong đó có Tiến Quân ca của Văn Cao.
“Trong cuộc đời và sự nghiệp của Văn Cao, những người là bạn văn nghệ thân thiết gần gũi và có nhiều ghi chép giá trị về ông là nhạc sĩ
Phạm Duy (bạn lâu năm và đồng thời là người có đánh giá chuyên môn toàn diện nhất về sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Văn Cao)”
(Nguyễn Thụy Kha)
Chủ nghĩa lãng mạn và ảnh hưởng của văn nghệ sĩ
Chủ nghĩa lãng mạn phương Tây, được vào Việt Nam vào đầu thế kỷ XX nhưng đến thập niên 30 - 40 sức ảnh hưởng của nó mới bắt đầu, tầng lớp trí thức Việt nhất là giới sáng tác văn nghệ chịu ảnh hưởng mạnh.
Cũng theo nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên trong Nhìn Lại Âm Nhạc Việt Nam. Ông viết: “Chủ nghĩa lãng mạn phương Tây đã có ảnh hưởng lớn đến tầng lớp trí thức và nghệ sĩ Việt Nam có tiếp xúc với nền Tây học. Họ đã đem phần lớn nguồn rung cảm và chủ đề của chủ nghĩa lãng mạn vào trong sáng tác của mình từ văn chương nói chung đến âm nhạc nói riêng. Do đó ta có thể tìm thấy phần nào trong sự tương đồng về nội dung, chủ đề, cách khai thác đề tài và phương thức thể hiện trong các tác phẩm lãng mạn của phương Tây, nhất là của Pháp và các tác phẩm của Việt Nam, dĩ nhiên có tính bối cảnh đặc thù của đất nước, thực tế đời sống và cá tính của người nghệ sĩ Việt Nam.
Cũng có người nói “Theo lời Nhạc sĩ Văn Cao, bài Suối mơ được sáng tác với cảm hứng từ dòng suối bên đền Cấm, ở tại thị trấn Đồng Mỏ, Chi Lăng, Lạng Sơn, thời ấy là nơi nhiều văn sĩ thời tiền chiến lên chơi (?)”. Tuy vậy chưa thấy tài liệu nào xác tín vấn đề này.
Với dòng nhạc trữ tình, lãng mạn của Văn Cao thậm chí là mang tính thần tiên của phương Đông, ảnh hưởng của văn học Trung Hoa. Đặc trưng là bản nhạc Thiên thai.
Riêng bản nhạc Thiên Thai có thể nói chắc rằng ông dựa vào và liên tưởng chuyện Lưu Thần, Nguyễn Triệu ngày tết Đoan ngọ hái thuốc trên núi Thiên Thai lạc Đào nguyên (Cõi Tiên) thời nhà Hán bên Tàu và ông viết ca khúc này vì vậy âm hưởng mang yếu tố lãng mạn và có tính thần tiên, giai điệu và ca từ làm người nghe cũng lạc vào cõi mộng u huyền xa xăm bềnh bồng theo cảm xúc của bản nhạc.
Nói như nhạc sĩ bậc thầy Phạm Duy: “Một bài hát, theo tôi thật là tuyệt diệu! Nó vừa có tính chất trường ca, vừa có tính chất nhạc cảnh. Nếu hình thức ca khúc trong Tân nhạc Việt Nam cho tới năm 1944 này vẫn còn nằm trong khuôn khổ một đoản khúc được ước định trong một số khuôn nhạc nào đó, với một lối chuyển cung, chuyển điệu công thức nào đó… thì
Thiên Thai của Văn Cao đã vươn lên một thức rất lớn, chia ra nhiều đoạn, nhiều cảnh, gồm tới con số chín mươi bốn khuôn nhạc, chan chứa những giai điệu thần tiên và những lời ca thần diệu”. Chúng ta đọc lại bản nhạc sẽ cảm nhận rất rõ:
Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
theo gió tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền
Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dần xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
Ai hát trên bờ Đào Nguyên
Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn
Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên
đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai
là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên
Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần
Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về
Tiên nữ ơi!
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao ?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên…
Thiên Tai còn được làm nhạc nền cho phim “Người Mỹ Trầm lặng” năm 2001. Ngoài ra chúng ta phải kể đến Suối mơ, Buồn Tàn thu
Suối mơ!
Bên rừng thu vắng,
giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng.
Ngày chưa đi sao gió vương?
Bờ xanh ngát bóng đôi cây thùy dương.
Suối ơi!
Ôi nguồn yêu mến,
còn ghi khi bóng ai tìm đến
Đàn ai nắn buông lưu luyến
Suối hát theo đôi chim quyên.
Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối
Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát.
Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi
Tơ đàn chùng theo với tháng năm,
Rừng còn nhớ tới người.
Trong chiều nào giữa chốn đây,
Hồn cầm lắng tiếng đời.
Suối ơi!
Nghe rừng heo hút.
Giòng êm đưa lá khô già trút
Còn như lưu hương yêu dấu
Với suối xưa trôi nơi đâu…
Thân phận Văn Cao đi qua trần gian & đi vào chính mình
Mỗi con người là một tiểu vũ trụ hiện diện trên trần gian đều có một định mệnh.
Mỗi cá thể được chi phối bởi môi trường xã hội chung quanh và vận hành theo quy ước chung của nhân quần xã hội. Dù là thiên tài, bậc vĩ nhân hay như người bình thường trong xã hội đều như nhau cả – quyền làm người. Văn Cao cũng vậy không thể nào thoát ra vòng bất biến của tự nhiên: Sinh, lão, bệnh, tử.
Từ khi sinh ra lớn lên, đến khi trưởng thành, mỗi người tự tìm kiếm cho mình một chỗ đứng phù hợp nhất trong điều kiện và hoàn cảnh của chính mình ở xã hội hiện tại trong cuộc làm người.
Vì vậy, ông lặn lội từ Hải Phòng lên Hà Nội tìm kiếm cho mình một chỗ đứng. Từ đó, ông gặp được nhiều bậc trí thức Hà Nội như Phạm Duy, Tạ Tỵ, Hoàng Quý, Vũ Quý…
Định mệnh cũng gắn bó ông với tiểu thư Hà Nội, Nghiêm Thúy Băng – Một thanh nữ xinh đẹp, trí thức, con nhà tư sản Thủ đô. Lịch lãm của gái Hà thành.
“Năm 1945 khi báo Độc Lập ra công khai, nhạc sĩ Văn Cao xuất hiện và tới nhà in Rạng Đông, nơi mẹ của bà làm chủ, để in tác phẩm. Ông là người trình bày báo Độc Lập, phụ trách trang Văn nghệ số mới ra. Lúc này, cô tiểu thư của nhà in Rạng Đông đứng ở tiệm sách nhỏ làm công việc nhận và giao hàng cho khách đến in. Vì thế hai người quen nhau”*.
Tình yêu của hai ông bà có sau hôn nhân. Những tưởng người nhạc sĩ tài hoa có nhiều bóng hồng vây quanh, tuyệt nhiên ông không hề có mối tình nào như ông một lần tự thú (1993)*.
Sau đó, năm 1947 hai người cưới nhau nhờ mai mối của người bạn Nguyễn Thành Lê.
Khi lập gia đình, ông vẫn còn công tác cho Việt Minh không thường xuyên ở nhà chăm lo gia đình cùng bà Thúy Băng. Một tay bà quán xuyến con cái và đời sống gia đình.
Các bạn cũng biết, sau khi thế chiến thứ II kết thúc, phe Trục đầu hàng. Người Pháp được phe đồng minh: Anh và Mỹ hậu thuẫn, lại bắt đầu manh nha trở lại Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung để đặt lại nền móng cai trị.
“Ngày 17/8/1945, Uỷ ban Quốc phòng Pháp quyết định đưa 6 vạn quân sang Đông Dương. Mặc dù mới có một bộ phận nhỏ quân Pháp theo gót quân Anh vào miền Nam như dựa vào gần 2 vạn lính Pháp còn lại tại Đông Dương và sự tiếp tay của quân Anh,
ngày 23/9/1945, quân Pháp gây hấn đánh chiếm Nam Bộ, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta bắt đầu.
Ngày 23/9/1945 trong miền Nam đã tiếp tục đứng lên kháng chiến chống Pháp, với bản nhạc Nam Bộ Kháng Chiến của nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn như lời hiệu triệu toàn nhân dân đứng lên chống lại Pháp, ngày ấy lập tức nhân dân hưởng ứng rất mạnh mẽ, can trường: “Mùa thu rồi ngày hăm ba/ Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến/ Rền khắp trời lời hoan hô/ Dân quân Nam nhịp chân tiến ra trận tiền/ Thuốc súng kém chân đi không/ Mà lòng người giàu lòng vì nước…”
Ngày 19/12/1946 ngoài miền Bắc, chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, hồi ấy thanh niên toàn miền Bắc ai cũng rầm rập lên đường tham gia chống Pháp, Văn Cao với bài Chiến sĩ Việt Nam hừng hực khí thế: “Bao chiến sĩ anh hùng/ Lạnh lùng vung gươm ra sa trường/ Quân xung phong/ Nước non đang chờ mong tay ngươi / Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời”. Định mệnh cũng đã gắn liền ông với Vũ Quý, giác ngộ cách mạng và Tiến Quân ca ra đời, sau này thành Quốc ca như tôi đã nói ở trên.
Lịch sử đất nước và dân tộc Việt Nam quá nhiều thăng trầm, nhất là sau thế chiến II.
Nhân Văn Giai phẩm – Một phong trào văn hóa có xu hướng chính trị của một số văn nghệ sĩ, trí thức thời bấy giờ (1955-1958), ở miền Bắc dưới chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khởi xướng đầu năm 1955 và chính thức bị kết thúc vào tháng 6/ 1958.
Một giai đoạn ngắn được cho rằng: “Văn nghệ phải tự do, nhằm chống lại chính sách thời ấy” nên ông cũng phải chịu lâm lụy như những người cùng thời: Thi sĩ Hoàng Cầm, Quang Dũng, triết gia Trần Đức Thảo, nhạc sĩ Nguyễn văn Tý…bị câu lưu thời gian khá dài.
Chính vì tác giả Quốc ca nên dù ông có mặt trong cùng nhiều văn nghệ sĩ thời ấy trong vụ Nhân Văn Giai phẩm dẫu sao ông cũng được nương tay hơn những nhân vật khác. Tuy vậy,
Ông vẫn sống với tâm trạng lo âu và nghèo khổ, đó là tâm lý đương nhiên. Hầu như suốt thời gian (1958- 1975), ông không sáng tác nhạc, chỉ loanh quanh Hà Nội vẽ và làm thơ.
Vì vậy sự cống hiến trong sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ tài hoa Văn Cao so với các nhạc sĩ khác không nhiều. Nếu như ông không bị nạn ấy, có lẽ gia tài âm nhạc ông sẽ nhiều hơn.
Ấy cũng là sự tiếc nuối của nhiều người yêu mến dòng nhạc ông.
Nỗi thao thức dài của ông cứ chập chờn lãng vãn trong đầu, nó chi phối nhiều lắm. Bản thân ông cũng hiểu nhờ suy tư và nghiền ngẫm, khi đối diện với thực tại khắc nghiệt ấy thì ra mọi việc trên đời tất cả dường như có đấng siêu hình chi phối, con người nhỏ bé không thể nào cưỡng cầu trước định mệnh, cũng Văn Cao này, từ một người lãng mạn thích văn nghệ, thích phóng khoáng không chịu ràng buột, thế mà định mệnh cũng đẫy đưa ông sang một bước ngoặc nghiệt ngã của thân phận. Suốt thời gian ấy ông không hề than thở, cặm cụi ông tìm vui trong sáng tác hội họa, thi ca. Nhờ phương tiện ấy đã làm cho ông bình yên về tâm thức, hầu như lĩnh vực nào ông cũng có vị trí riêng xứng đáng. Ông chấp nhận yên lặng, cổ nhân có câu “cùng tất biến, biến tất thông” chỉ là có chịu đựng nỗi với thời gian ngắn hay dài mà thôi.
May thay, ông có một người vợ - Nghiêm Thúy Băng Người đầu tiên cũng là người sau cùng chung thủy cả đời tận tụy với ông. Bà xuất thân trong gia đình tư sản Hà Nội gia phong nề nếp, gắn bó trong suốt cuộc đời ông, người đúng nghĩa sự đồng cam cộng khổ, vừa xinh đẹp, vừa trí thức…và nhất là tạo sinh kế, cũng vừa là người thay ông dạy dỗ con cái suốt thời gian ông đi xa những năm tháng kháng chiến và những năm mặc niệm cho chính mình trước thân phận nghệ sĩ tài hoa.
Người nghệ sĩ chân chính xét cho cùng, tất cả đều cô đơn, dù ngoài kia đời vẫn xôn xao nhộn nhịp, thậm chí là hối hả. Một văn hào đã viết: “
Cô đơn chính là món quà quý giá mà đất trời ban tặng để người
nghệ sĩ có thể viết nên những tác phẩm mang chiều sâu tư tưởng”, chiều cao của tầm vóc. chiều dài của thời gian và chiều rộng của không gian. Nỗi cô đơn ấy dường như đã làm bệ phóng cho tư tưởng con người có khi chạm đến Thần linh lẫn siêu nhiên.
Lịch sử đã đi qua, không thể cải tử hoàn sinh. Ai dám bảo lịch sử không có sai lầm? Chúng ta là kẻ hậu học đọc, nghiền ngẫm suy tư cũng hiểu được điều này, thời đại ngày nay phương tiện truyền thông, thông tin quá đầy đủ cũng đã chứng minh điều ấy.
Những bộ óc thiên tài trên trần gian đã để lại di sản cho loài người quá nhiều công trình đều như thế cả, từ nhà soạn nhạc Ludwig van Beethoven, Mozart, nhà văn, kịch tác gia William Shakespeare, nhà vật lý lý thuyết Stephen Hawking, họa sĩ, giải phẩu học, triết gia Leonardo da Vinci… nhiều lắm, chúng ta không thể nào kể hết.
Nói đến Văn Cao dù muốn hay không tất cả trí thức, chuyên gia lý luận và phê bình âm nhạc, người thưởng thức sành điệu cũng phải công nhận ông là một thiên tài âm nhạc trong đầu thập niên 30 – 40 của thế kỷ 20 tại Việt Nam, ông có công trong việc mở rộng địa hạt âm nhạc Việt Nam. Rất tiếc thời gian sáng tác không nhiều – như tôi đã nói ở trên nên sức sáng tác, sự sáng tạo của ông còn khiêm tốn so với những tác giả khác. Tất cả như là định mệnh cho chính cuộc đời ông, dù ông cố gắng, nỗ lực soi rọi lại chính mình, nhưng một cá nhân hữu hạn không thể nào đáp ứng trước sự vô cùng của văn nghệ, mỹ học.
Cuối cùng nhạc sĩ Văn Cao cũng được giải thưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực âm nhạc năm 1996 khi ông đã qua đời. Dù muộn màng nhưng có lẽ hồn ông đang dạo chơi cùng mây gió phiêu diêu miên viễn cũng mỉm cười thành quả cuộc sống trần gian mà ông cống hiến cho đất nước và dân tộc đã được xã hội công nhận dù một thời chìm nổi cùng thân phận người.
Phạm Ngọc Dũ
- Hội Nhà Văn TPHCM
- Chủ biên Diễn Đàn Văn Học Nghệ Thuật Sông Quê TPHCM
Tài liệu tham khảo:
- Wikipedia
- (
https://nhandan.vn/nhac-si-van-cao-va-su-ra-doi-bai-tien-quan-ca-post712842.html)
- (
(1993)
-
https://vnexpress.net/co-tieu-thu-mot-thoi-cua-nhac-si-van-cao-1909697.html
- Khảo cứu: Nhìn lại Âm Nhạc Miền Nam của ns Nguyễn Phú Yên