Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Nhận định: Bài Gửi Lại Tình Quê/ tg Ngã Du Tử của Ba Lethanh

2 trả lời, 11 lượt xem — Trang 1 / 1


Nhận định: bài GỬI LẠI TÌNH QUÊ/ Ngã Du Tử của Ba Lethanh

Rất vui, hôm nay gặp lại bài thơ Gửi lại tình quê của Ngã Du Tử viết khi rời quê, vào Nam được anh Ba Lethanh dịch và có vài dòng nhận định bằng tiếng Anh.
Thì ra vẫn có duyên gặp được. Tks anh Ba Lethanh rất nhiều.
Và mong tất cả mọi người biết tiếng Anh xem.
Thân mến, NDT

SENDING MY COUNTRYSIDE LOVE
Translator/Poet: ABAHN LETH (Ba Lethanh)
*
GỞI LẠI TÌNH QUÊ
Tác giả: NGÃ DU TỬ
Ho Chi Minh City, 3rd July 2020
*
Tác giả Ngã Du Tử sáng tác bài thơ này ghi lại những cảm xúc của anh về một mối tình dang dở của anh . Anh tâm sự với độc giả: “Ngày tôi rời Quảng Ngãi vào Nam thập niên 80. Tôi viết bài thơ này cảm xúc mạnh khi xa quê, đăng lại bài thơ cho các bạn đọc nhé. Thân mến, NDT.”
Với những ngôn từ giản dị chân chất tác giả bộc bạch tâm sự của mình với người yêu:
“Vào phương Nam, vùng đất mới gọi mời
Mai xa quê lòng sẽ nhớ em ơi”
Đất Quảng các bạn, các bạn hẳn đã biết rồi là vùng đất sản sinh nhiều nhân tài thi ca nổi tiếng. Tôi trân trọng giới thiệu một trong những bài thơ đáng yêu của thi sĩ Ngã Du Tử. Khi ra đi anh lòng đầy lưu luyến, nhớ thương quê nhà với bao kỷ niệm thời niên thiếu:
Ta bỏ lại cánh diều tung gió lộng
Thả hồn trôi giữa trời đất mông mênh
Mái tóc thư sinh mà mượt bồng bềnh
Từng một thuở tuổi hồng giong mắt nhớ”
Những câu thơ tôi tâm đắc nhất là những câu anh gửi gấm nỗi lòng của anh với người yêu
“Ta đi rồi em có còn mắc cỡ
Nổi bận lòng giăng mắc buổi chia phôi…”
Anh đã sử dụng thi pháp nhân cách hóa khi cần thiết kéo cảnh vật có cùng tâm cảm của anh:
“Hoàng hôn buông, hấp hối một mặt trời
Xin gửi lại phương Nam trời ngóng gọi.”
Mời các bạn, các bạn tiếp tục thưởng thức bài thơ và để lại vài dòng bình luân.Thay mặt tác giả tôi thành thực cảm ơn các bạn. Tiện đây tôi cũng nói về quan điểm sáng tác thơ của tôi:
The author Ngã Du Tử wrote this poem recording his feelings about his unfinished love affair. He confided to the readers: “One day of the 80's I left Quang Ngai to the South. I wrote this poem with strong emotion when I was away from home, repost the poem for you to read. Sincerely, NDT. ”
With simple words, the author wrapped his confidences with his lover.
“The new land invites me to come, do you know?
Tomorrow I’ll leave, my heart misses you, darling!”
Quang Land, all of you must know already that the land produces many talented poetic talents. I would like to introduce one of the lovely poems of poet Nga Du Tu. When he left, he was full of nostalgia, missing his home town with many memories of his childhood:
The verses I like most are the sentences he sent his heart to his lover
“I leave the kite flying in the windy sky, you know
Between the vast sky and ground my soul is releasing
A smooth student hair was bobbing, floating
I had a pink childhood, my eyes longed to miss”
Everyone, please continue to enjoy the poem and leave some comments. On behalf of the author, I sincerely thank you. By the way, I also talk about the viewpoint of my poetry writing:
ĐỘC GIẢ KHAO KHÁT ĐIỀU GÌ
Thông điệp ngắn của Lê Thành Bá gửi các thi hữu Việt Nam và nước ngoài.
Bất cứ bài thơ nào đã viết là được viết để thỏa mãn nỗi khát khao trong lòng người nào đó. Thơ ca cũng chỉ là một cách sản sinh kết quả ấy. Bởi lý do này theo tôi, tránh chủ nghĩa hình thức, người làm thơ không bao giờ cố áp đặt độc giả phải đọc một bài thơ lập dị, nhiệm vụ của anh ta là kích thích hay tạo ra nỗi khát khao trong lòng bạn đọc bằng sự trợ giúp từ thông điệp của người làm thơ. Tầng bậc tinh thần hay đạo đức mục đích của thông điệp là yếu tố tiên quyết. Không phải những ý tưởng quá kỳ quặc mà là sự minh họa gợi hình, gợi ảnh sống động và bức tranh tư duy đáng tin cậy là những lôi cuốn thuyết phục. Không chỉ ngôn ngữ giàu hình tượng mà còn vần điệu và thi phong, không có quá nhiều lời mà là dòng nội dung trôi chảy. Không phải những từ hóc búa khó hiểu mà là những từ hiệu quả hơn chỉ rõ ý tưởng. Không phải có ý nghĩa về văn chương mà còn kiến thức thi pháp đặc biệt để nâng cao giá trị bài thơ. Một bạn đọc có thể lơ là đến từ ngữ, mệnh đề, câu cú cả đến những điều kỳ dị nhưng anh ta không thể không quan tâm thích sự chọn từ hay ho, dòng nội dung trôi chảy, khung vần điệu và thi phong độc đáo, có ý nghĩa về mặt văn chương, biểu thức mô tả ý nghĩ và cảm xúc tuyệt đẹp nâng độc giả lên tầm cao hơn về tinh thần và đạo đức.
*
WHAT DO READERS DESIRE?
* * * * *
To: My Dear Poets/Friends,
Any poem was written is written to satisfy some certain heart's desire. Poetry is only a way to produce a result. For that reason, as for me, the poet should avoid formalism, never try to press on the reader to read an eccentric poem, his task is to stimulate or create the heart's desire for the reader with the help of the poet's message. The purpose of the spiritual or moral level of the message is the primary factor.
Not extremely odd ideas but vividly figurative illustration and reliable mental picture are the convincing appeals. Not in so many words but a good flow of content. Not only figurative language but also rhyme scheme and poetic style. Not damned difficult words but the more efficient words denoting ideas. Not only a good meaning literally but also good knowledge of specific techniques for rising the value of the poem.
A reader can be indifferent to words, clauses, sentences even the odd things but he can hardly be indifferent to a good choice of words, a good flow of content with a good rhyme scheme and special writing style, the beautiful expression of thought and feelings trying to lift the reader to a higher spiritual or moral level.
PHOTO: Sir. Silvano Bortolazzi President of "World Union of Poets". The author Ngã Du Tử and I translator/poet Abahn Leth
.
ẢNH : Ngài Silvano Bortolazzi Chủ tịch Liên Đoàn Hiệp Hội Thế Giới Các Nhà Thơ. Tác giả Ngã Du Tử và tôi dịch giả/ thi sĩ Abahn Leth.
*
GỞI LẠI TÌNH QUÊ
Ta bỏ lại tình nhà bên gốc rạ
Vào phương Nam, vùng đất mới gọi mời
Mai xa quê lòng sẽ nhớ em ơi
Lưỡi cày xé mảnh đất cằn loang loáng
Ta bỏ lại cánh diều tung gió lộng
Thả hồn trôi giữa trời đất mông mênh
Mái tóc thư sinh mà mượt bồng bềnh
Từng một thuở tuổi hồng giong mắt nhớ
Ta đi rồi em có còn mắc cỡ
Nổi bận lòng giăng mắc buổi chia phôi
Hoàng hôn buông, hấp hối một mặt trời
Xin gửi lại phương Nam trời ngóng gọi
Ta đi đây, Em buồn đôi mắt nói:
Thời gian trôi có ai nhớ thuở nào
Buổi tàn đông đứng đợi cạnh cầu ao
Về chung bước những lời trăng hò hẹn
Em quay về: - Ta cũng sầu nghèn nghẹn
Cổ tim khô nhớ lắm những lời thề
Khanh tướng một ngày vẫn nhớ chân quê
Tà áo lụa ngóng trông ngày gặp lại
Ta đi rồi con đường quen ái ngại
Thiếu dấu chân tình tự mỗi chiều về
Ta đi rồi thành quách buồn hoang phế
Còn ai thân ngồi ngóng mộng ngang đời
NGÃ DU TỬ
(Trích DÒNG SÔNG QUÊ, NXB VĂN NGHỆ TPHCM 2004)

SENDING MY COUNTRYSIDE LOVE
I left my rice-stubble native land for the South
The new land invites me to come, do you know?
Tomorrow I’ll leave, my heart misses you, darling!
By plowshares, the arid land will be tearing
I leave the kite flying in the windy sky, you know
Between the vast sky and ground my soul is releasing
A smooth student hair was bobbing, floating
I had a pink childhood, my eyes longed to miss
I’ve gone if you are still shy about our bliss
Dusk falls, the sun seems to be dying at the horizon
My heart was confused about our separation
The South sky is calling me, I say goodbye
I go now, you are sad with speaking eyes
Time passes by, does anyone remember old days
Waiting by the pond in the withered winter rays
We both stepped with moonful promises
You returned home – I also choked sadly
I remember the vows a lot even my heart dries
One day of mandarin, I still remember the countryside
I long for meeting again the in-silk-long-dress girl
I've gone, the familiar path is shyer than ever
Lacking loving footprint every afternoon
I've gone, the citadel is wildly desolated soon
Who is my bosom friend to dream of my love life?

Abahn Leth@All Rights Reservedviết khi rời quê hương


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.10.2023 08:46:33 bởi THƠ NGÃ DU TỬ>

DIỄN DÀN VĂN NGHỆ
Đây là bài giới thiêu NGÃ DU TỬ của tác giả MAI BÁ ẤN trên DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ, trang bichkhe.org đăng 2016
NDT 

DIỄN ĐÀN VĂN NGHỆ
NGÃ DU TỬ - NHỮNG VẦN THƠ 'SẮC SẮC KHÔNG KHÔNG'

LGT: Bút danh Ngã Du Tử (Họ tên thật: Phạm Ngọc Dũ) cũng đã khá quen với người yêu thơ vì anh in rất nhiều thơ ở nhiều tuyển tập. Cái bút danh đã cho ta thấy một chàng lãng du nhiều mơ mộng. Quê Nghĩa Hành, Quảng Ngãi mà rồi lưu lạc muôn phương. Trải nghiệm đời, trải nghiệm tình để rồi nhớ quê hương quay quắt. Chàng lang thang theo “mây trắng nghìn trùng”, chàng đi và về “vô tư” như “sắc sắc không không”, như “vô ngã” giữa cuộc “vô thường”, “vô minh” mà không lạc lối:
Đi từ lòng mẹ tinh khôi
Về cho trọn chữ con người thế gian
Ta nhận ra chàng là một kẻ trải đời. Chính vì trải đời, nếm lưỡi xuống đời, thấy đời vị đắng, nếm môi xuống đời, thấy đời ngọt lịm, cho nên chàng đã “ngộ” được lẽ đời, lẽ sống, lẽ tình yêu để đủ sức đề kháng và thản nhiên đắm mình trong quy luật: “giữa trần gian chuyện đắng cay thường tình”:
Ngại ngùng chi chuyện thị phi
Đường ngay ngõ thẳng một đi hai về
Bước chân giẫm mấy sơn khê
Sá gì nếm mật… bốn bề nước mây
Trót đem thanh thế ra bày
Giữa trần gian chuyện đắng cay thường tình
Tình đầu tan vỡ, lắm kẻ thù tình, thù đời rồi bêu riếu, rồi thở than… chàng Ngã Du Tử khắc nỗi đau trong lòng thành một kỷ niệm ái ân thuở ban đầu trong sáng. Cái đáng quý ở đây chính là: Chàng chỉ tự trách mình. Ai thấy “đáng kiếp” với kẻ phụ tình, Du Tử lại bênh vực cho người tình một cách hồn nhiên và cảm thông cả sự “lênh đênh” phận số:
Nhưng thuở ấy thanh xuân nông nổi quá
Tình xanh em nuôi nấng cũng bẽ bàng
Tưởng bỏ lái em về sang bến khác
Ngày tháng trôi …em cũng lắm lênh đênh
Và vì thế chàng gửi hồn vào thơ, mặc nhân thế lắm lời, nhân sinh lắm lẽ. Khép phòng văn lại, ủ lòng mình lại, chàng đã đạt đến sự an nhiên, tự “xếp”, tự “xây” cuộc đời mình trong chính “niết bàn thơ” của con tim yêu đời và đau đời và… vui sống:
Góc đời đọc sách xem tranh
Xếp ngôn ngữ lại xây thành quách thơ
Bichkhe.org xin giới thiệu chùm thơ Ngã Du Tử cùng bạn đọc trong và ngoài nước
Ts Mai Bá Ấn
CHÙM THƠ NGÃ DU TỬ


MÂY TRẮNG NGHÌN TRÙNG
Kính tặng: Lão Du Tử


Ngại ngùng chi chuyện thị phi
Đường ngay ngõ thẳng một đi hai về
Bước chân giẫm mấy sơn khê
Sá gì nếm mật… bốn bề nước mây 


Trót đem thanh thế ra bày
Giữa trần gian chuyện đắng cay thường tình
Chơi hết mình, sống hết mình
Để xem nhân nghĩa phù sinh thế nào


Ung dung vào trước ra sau
Mặc khanh tướng, kệ công hầu - lợi danh
Góc đời đọc sách xem tranh
Xếp ngôn ngữ lại xây thành quách thơ


Chán, tìm non nước ngao du
Như là mây trắng tự do nghìn trùng
Thương ai khó nhọc đã từng
Hương yêu thương sẽ theo ngàn phương bay


Lần tìm theo cuộc tỉnh say
Mới hay dòng lệ thấm đầy buồng tim
Muôn đời thế thái nhân tình
Lợi danh thua được cứ rình rập nhau


Hãy xem như nước qua cầu
Theo dòng trôi, chảy về đâu? - Mặc lòng


LUẬN
Ban mai vừa chạm cỏ cây
Giọt sương tan bởi bàn tay mặt trời
Đi từ lòng mẹ tinh khôi
Về cho trọn chữ con người thế gian

MÔT THUỞ TÌNH ĐẦU
Tặng mối tình đầu rất đẹp


Lỡ đánh mất thiên đường tình đôi lứa
Nên tâm tư buồn giận suốt đường về
Từ dạo ấy mảnh tâm hồn loáng lệ
Vào thế gian làm hạt mưa mây


Tháp tình xanh vun đắp suốt tháng ngày
Ôi xuân sắc một thời ta mộng mị
Khoảng thương nhớ trời yêu mây giăng lối
Tiễn em về ta thuộc cả đường đi


Nhưng thuở ấy thanh xuân nông nổi quá
Tình xanh em nuôi nấng cũng bẽ bàng
Tưởng bỏ lái em về sang bến khác
Ngày tháng trôi… Em cũng lắm lênh đênh


Ai về lại dòng sông xưa thuở ấy
Cho nhắn lời thăm hỏi đến em tôi
Rằng có nhớ đường về quên cả lối
Thuở mười năm một thời đã xa rồi


SÔNG ƠI, VẪN CHẢY NGỌT NGÀO


Ta về thăm lại dòng sông
bình yên góc đoài sang đông
âm thầm cùng nguồn nước chảy
chở thêm mầu mỡ ruộng đồng


tình sông ngọt ngào đất Mẹ
lòng sông mây giỡn ban ngày
chiếc lá vô tình rơi khẻ
làm chao mây trắng, ô hay


cánh đồng xanh đùa sóng lúa
hòa cùng gió nhẹ lao xao
tiếng chim chiều khua tĩnh mịch
sông mang giọt nhớ chảy vào


ra đi bao lâu sông nhỉ?
ngày về còn trắng đôi tay
nói gì với sông yêu dấu
đời lên mai mốt có ngày


trở về quê hương làm khách
nao nao viễn xứ tấc lòng
quê ơi! còn nhiều trăn trở
trang đời viết mãi chưa xong


chiều lên quê mình xinh quá
chở trăng lãng mạn giữa dòng
hôn lên đất quê tạm biệt
sợ trăng vỡ dưới lòng sông


THEO EM 


Theo em vì chút đam mê
Nếu không có lẽ tôi về từ lâu
Tình em con dốc ngược sầu
Thỏng tay tôi cũng cơ cầu theo em


Phất phơ một dãi lụa mềm
Bay bay trong nắng cho thèm tim ai
Cho nhau đuôi mắt thật dài
Con đường mòn gót sẽ mai mốt còn


Tôi về nhặt mảnh tình son
Bện thành thơ để trong hồn cho em
Khuya đêm thao thức bên đèn
Làm thơ tôi viết tên em trang đầu
(Bài nầy đã phổ nhạc trong CD: VỀ ĐÂU NHỮNG CÁNH CHIM)
NXB VHTT TPHCM 1999 Đã phát thanh trên LÀN SÓNG XANH đài TPHCM, SÔNG BÉ


LỐI CŨ MÙA XƯA


Tơ vàng rắc dưới xanh trời
Tuổi xuân ngày ấy một thời đã qua
Tóc huyền hong phía đông nhà
Bên tây có kẻ lén qua mắt nhìn


Nhìn thôi, lòng lại lặng thinh
Tóc em cứ việc để bình minh hôn
(lỡ mai có kẻ theo chồng
bên đây chắc có người trông theo người)
Em bên kia nở nụ cười
Bên đây xanh mượt giữa đời hồn nhiên
                     * *
Đã đành không nợ, chẳng duyên
Bên kia xuất giá lòng riêng bên này
Tóc huyền hong giữa ban ngày
Còn đâu mà ngắm để say một mình


Bên đây vụt mất chữ tình
Tại mình hay tại vô tình dửng dưng
Nhà em pháo nổ tưng bừng
Bên nầy mắt ướt lòng rưng rưng buồn 
Mạch sầu len giọt giọt tuôn
Cho vơi tiếc nhớ theo muôn trùng về
* * *
Theo chồng em bước vu quy
Mắt đầm nước mắt vu quy nhà người
Hay là em khóc cho tôi
Giữ chi kín đáo để rồi buồn tênh


Ngày mai khắp nẻo dập duyềnh
Giang hà trăm nhánh mông mênh phương nào
Giá như ngày ấy đem trao
Chữ tình ươm nụ khát khao tim nầy
Phải chăng sẽ khác đường bay
Dòng thơ tình viết chẳng ray rức hồn
NGÃ DU TỬ














📎 49065374_2020...8944000_n
Đăng nhập để trả lời
0
 Tôi gửi bản gốc viết về Ns Văn Cao, Rất tiếc BBT Unesco Mỹ thuật VN, đã chỉnh lại.
 
Tham luận về Văn Cao:
Văn Cao đi qua cõi trần gian dễ hơn đi qua chính mình
Phạm Ngọc Dũ


Trong âm nhạc Việt Nam, dù mới du nhập tân nhạc phương Tây đầu thế kỷ thứ 20, nhưng những trí thức Việt Nam nhờ học được tiếng Pháp nên tiếp cận nền Tây học thời kỳ đầu rất tốt, từ đó phát triển không ngừng về văn học, nghệ thuật. Lĩnh vưc âm nhạc cũng vậy những người tiên phong cho dòng nhạc Việt Nam ở đầu thập niên 30 - 40 thế kỷ 20 cùng với Lê Thương, Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Đỗ Nhuận, Phạm Duy, Hoàng Qúy v.v… chúng ta không thể không nhắc đến nhạc sĩ Văn Cao, người nhạc sĩ tài năng của đất Việt.
Ngoài Văn Cao còn có các nhạc sĩ khác cũng tài hoa, lẫy lừng, những người chuyên sáng tác, nhận định lý luận âm nhạc đã chọn 3 tác giả nổi bật của làng nhạc Việt, đó là:
Phạm Duy, Văn Cao và Trịnh Công Sơn.
Phạm Duy – Người mệnh danh là phù thủy âm nhạc. Trịnh Công Sơn, mệnh danh là người viết ca từ hay nhất, mang tầm vóc triết lý. Tuy nhiên, Trịnh Công Sơn chưa thể như Phạm Duy và Văn Cao, bởi như chính tác giả Trịnh Công Sơn đã từng nhìn nhận: “Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm khuất trong những thân phận riêng tư”... (TCS) Như thế công chúng và các nhà nhận định chuyên môn âm nhạc cũng rất bình tĩnh nhận ra tương đối công tâm về âm nhạc Việt Nam nói chung. 
Ngoài ra còn nhiều nữa, ví dụ như Lê Thương, Hoàng Quý, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước…
Tuy nhiên, nếu đặt phép so sánh của 2 người bạn thân trong âm nhạc là Văn Cao và Phạm Duy ta sẽ thấy khó có thể xác quyết ai có phần hơn.
Bởi sức sáng tác của Phạm Duy quá đồ sộ, nếu nói trường ca trong âm nhạc thì Văn Cao không thể bằng Phạm Duy.
Phạm Duy có rất nhiều trường ca bàng bạc khắp cùng đất nước, đâu đâu cũng thấy hiện diện từ anh nông phu, bà mẹ quê, người lữ khách, anh thương binh, em bé quê…: Trường ca Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, Bầy chim bỏ xứ, Minh họa Kiều, Hàn mặc Tử, Đạo ca* (Phan Trang Hy)
Riêng Trường ca Mẹ Việt Nam có 4 phần: Đất Mẹ, Sông Mẹ, Núi Mẹ và Biển Mẹ. Ông khái quát người mẹ Việt tuyệt vời, với dáng vẻ nhỏ nhắn, hao gầy, thật thà và chất phát nhưng toát lên sự mạnh mẽ bền bỉ bên trong cơ thể ốm yếu – Nghĩa là tính tư tưởng như bà Trưng, bà Triệu… nơi nào bà cũng dõi theo đàn con từ đất, sông, núi, biển hầu mong các con bảo vệ tổ quốc, giữ vững cương thổ và biển đảo mong cho nhân dân Việt đoàn kết sống trong thanh bình yêu thương lẫn nhau.
Văn Cao chỉ có trường ca Sông Lô, Bắc Sơn. Thiên Thai chưa phải là trường ca
Còn nhiều nữa nhưng bài viết không cho phép, tôi trở lại với nhạc sĩ Văn Cao.
 
Thân thế và sự nghiệp
 
“Văn Cao (Tên thật là Nguyễn Văn Cao, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Hải Phòng – mất ngày 10 tháng 7 năm 1995) là một nhạc sĩhọa sĩ, nhà thơchiến sĩ biệt động ái quốc người Việt Nam. Ông là tác giả của ca khúc Tiến quân ca, quốc ca chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đồng thời ông cũng là một trong những nhạc sĩ có sức ảnh hưởng lớn nhất của nền Tân nhạc Việt Nam. Ông được giới chuyên môn và công chúng yêu nhạc đánh giá một cách rộng rãi là một trong ba nhạc sĩ nổi bật nhất của nền âm nhạc hiện đại Việt Nam trong thế kỷ XX, cùng với Phạm Duy và Trịnh Công Sơn” (Wikipedia)
Văn cao có vợ là bà Nghiêm Thị Băng, một cô gái Hà Thành xinh đẹp, nền nã, thủy chung với ông đến cuối cuộc đời. Ông bà sinh được 5 người con, 3 trai 2 gái. Con trai cả Văn Thao theo nghiệp cha là nhạc sĩ Văn Thao.
Có thể nói rằng nhạc sĩ Văn Cao đa tài, ông thành danh nhiều lĩnh vực, về hội họa, thi ca, và sáng tác ca khúc. Riêng mảng âm nhạc Văn Cao thành công quá rực rỡ nên người đời biết nhạc sĩ Văn Cao nhiều hơn những danh xưng khác.
Trước kháng chiến, Văn Cao còn ở Hải Phòng, Phạm Duy chính là người khuyên ông nên về Hà Nội, nơi tập trung anh tài để thi thố tài năng bởi Phạm Duy rất mến tài Văn Cao. Như hồi ký của họa sĩ Tạ Tỵ - Một họa sĩ tài ba, rất nổi tiếng tại miền Nam Việt Nam, ông viết: Nhắc lại quãng thời gian đầu khi Văn Cao đến với hội họa: "Văn Cao khi ở Hải Phòng, lúc lên Hà Nội, mỗi lần có mặt ở thành phố, Văn Cao thường đến tìm tôi, mời lại căn nhà ở trong con ngõ nhỏ đường Hàm Long để khoe tranh mới. Trong khoảng thời gian từ năm 1942 đến 1945, tôi đâu biết Văn Cao đã dấn thân vào cách mạng, hoạt động bí mật cho Mặt Trận Việt Minh. Quả thật tôi không để ý đến cách mạng và chính trị nên thường có những lập luận đối nghịch với Văn Cao về sáng tác. Văn Cao cho rằng nghệ thuật chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cho số đông và một bức tranh đẹp phải truyền cảm, gây được ấn tượng tốt cho người xem tranh. Còn tôi cho rằng nghệ thuật  -  Bất cứ ở bộ môn nào, trước hết, phải có bản sắc cũng như đặc tính của nghệ phẩm. Một bức tranh đẹp không cần sự giải thích, chỉ cần sự cảm nhận giữa người xem tranh và tác phẩm” (Hồi ký Tạ Tỵ)
Giai đoạn sáng tác đầu tiên, giống như những nhạc sĩ tiền chiến khác, Văn Cao viết các nhạc phẩm trữ tình, nhưng ít ảnh hưởng bởi chủ nghĩa lãng mạn Pháp mà mang nặng âm hưởng phương Đông. Từ ca khúc đầu tay Buồn tàn thu, Văn Cao đã sử dụng ngũ cung để viết về một hình ảnh quen thuộc trong nghệ thuật châu Á: Người phụ nữ đan áo ngồi chờ đợi. Sau Buồn tàn thu, ông còn viết hai ca khúc khác về mùa thu là Thu cô liêu và Suối mơ.
Suối Mơ đầu tiên là bài Trương Chi 1, sau được Văn Cao phát triển thêm và cùng Phạm Duy hoàn tất”(1)
Trong kháng chiến chống Pháp, Văn Cao với Phạm Duy là bạn của nhau, cùng sáng tác chung với nhau như bài Bến Xuân sau này đổi là Đàn chim Việt (1942) và Suối Mơ. Chính Phạm Duy đã hát bản nhạc này để công chúng biết đến Văn Cao và sau này cũng Phạm Duy đánh giá là bản nhạc lãng mạn nhất của Văn Cao trong giai đoạn đầu tiền chiến về âm nhạc Việt Nam.
Chẳng những bây giờ, giai đoạn 1954 -75 tại miền Nam nhạc Văn Cao được nhiều thế hệ trước và sau chúng tôi đánh giá sang trọng, đầy chất trữ tình lãng mạn, đẹp đẽ rất thanh tân.
Mới đây, nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên trong khảo cứu: “Nhìn Lại Âm Nhạc miền Nam” đã viết về nhạc sĩ Văn Cao như sự cung kính một trong những người có công đem lại cho nền âm nhạc Việt Nam thời phôi thai, khai đường mở lối cho dòng nhạc trữ tình. Ông viết: “Trong đội ngũ các nhạc sĩ sáng tác xuất sắc trong giai đoạn này là nhạc sĩ Văn Cao. Ngoài các bài theo khuynh hướng trữ tình nổi bật nhất của trào lưu lãng mạn trong giai đoạn đầu của lịch sử tân nhạc Việt Nam, Văn Cao còn sáng tác nhiều ca khúc mang âm hưởng hào hùng như: Gò Đống Đa, Hò Kéo Gỗ, Bạch Đằng Giang, Thăng Long Hành Khúc Ca, Tiến Quân Ca, Tiến Về Hà Nội, Chiến Sĩ Việt Minh, sau đổi thành Chiến Sĩ Việt Nam, Hải Quân Việt Nam, Không Quân Việt Nam, Công Nhân Việt Nam…Vì vậy ông trở thành tiêu biểu của dòng nhạc kháng chiến, những bài hùng ca của ông lấy cảm hứng từ chiến công của bộ đội trong kháng chiến chống Pháp như Trường Ca Sông Lô, Bắc Sơn:
Ôi, còn đâu đây sắc chàm pha màu gió
Bao lòng bao năm sống lầm than đây đó
Ai về châu xưa nhớ hồi máu thắm cây rừng.
Còn vang khe núi tiếng quân oai hùng
Lớp lớp chiến đấu Lạng Sơn tung bay cờ…
ĐK: Bắc Sơn đây hố sâu mồ chôn
Rừng núi ngân tiếng hú căm hờn
Bắc Sơn! Khi bóng trăng mờ sương
Bắc Sơn! Không bóng người dưới thôn…
(Văn Cao - Bắc Sơn)
Và sau bài Tiến Quân Ca nhạc sĩ Văn Cao còn viết tiếp bài ca ngợi các chiến sĩ Việt Nam:
Bao chiến sĩ anh hùng
Lạnh lùng vung gươm ra sa trường
Quân xung phong
Nước non đang chờ mong tay ngươi
Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời
Ngựa phi nơi xa kia còn nghe súng vang
Bên trời điệu kèn rộn ràng
Là trang nam nhi quyết chiến sa trường
Sống thác coi thường
Mong xác trong da ngựa bọc thân thể trai
(Văn Cao - Chiến sĩ Việt Nam 1945)
(Trích khảo cứu Nhìn lại Âm Nhạc Miền Nam của ns Nguyễn Phú Yên)
 
Có thể nói lúc bấy giờ những bản nhạc này như thôi thúc mãnh liệt, làm phấn chấn tinh thần yêu nước, lòng quyết chiến giặc Pháp của hàng vạn chiến sĩ ngoài mặt trận và từng địa phương ai cũng muốn tòng quân xông pha nơi chiến địa để cứu lấy nước nhà dù phải hy sinh tính mạng. Âm nhạc như có sức mạnh truyền lửa yêu nước cho mỗi công dân trong công cuộc kháng chiến chống Pháp thời ấy.
 
 Đặc biệt là bản nhạc Tiến Quân ca, theo nhiều tài liệu còn để lại, báo nhân dân đã nói:
“Mùa đông năm 1944, khi cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc đang sục sôi khí thế. Văn Cao gặp Vũ Quý, là một cán bộ Việt Minh, cũng là một người vẫn theo dõi những hoạt động nghệ thuật của Văn Cao. Ông Vũ Quý hỏi như đề nghị Văn Cao thoát ly hoạt động cách mạng và giao nhiệm vụ đầu tiên cho Văn Cao là sáng tác một bài hát cho quân đội cách mạng Việt Minh
Văn Cao lúc ấy, chưa biết đến chiến khu, chỉ biết những con đường Phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ (Hà Nội) theo thói quen đi và cũng chưa gặp các chiến sĩ quân đội cách mạng trong khóa quân chính đầu tiên và không biết họ hát như thế nào... tác giả “đang nghĩ cách viết một bài hát thật đơn giản cho họ có thể hát được…”.
Ông đã trăn trở, tìm kiếm những âm thanh, hình ảnh trong buổi chiều đi dọc các con phố Hà Nội… và ông đã viết được những nét nhạc đầu tiên của bài “Tiến quân ca”. Ông đã chỉnh sửa và hoàn thiện bài hát nhiều ngày sau đó tại căn gác số 45 Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội trong những ngày đông ảm đạm, đói, rét, khổ cực”.(2)
(https://nhandan.vn/nhac-s...an-ca-post712842.html)
(Hiện tại Quốc ca – Đã chỉnh sửa để bớt cho nhẹ nhàng hơn trong một gian đoạn lịch sử - do sự phẫn nộ của ông trước cái chết của vài triệu đồng bào ở nạn đói 1945. Sau năm 1946 đã trở thành bài Quốc ca mãi đến bây giờ 2023). Xin trích:
Đoàn quân Việt Nam đi
Chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù,
Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu.
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
Tiến mau ra sa trường,
Tiến lên, cùng tiến lên.
Nước non Việt Nam ta vững bền.
Lời 2
Đoàn quân Việt Nam đi
Sao vàng phất phới
Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than
Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới,
Đứng đều lên gông xích ta đập tan.
Từ bao lâu ta nuốt căm hờn,
Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn.
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
Tiến mau ra sa trường,
Tiến lên, cùng tiến lên.
Nước non Việt Nam ta vững bền.
(1944 đã chỉnh sửa)
 
Từ Tiến Quân ca đến Quốc ca
 
Kể từ khi Văn Cao từ Hải Phòng lên Hà Nội, “Mùa đông năm 1944 gặp ông Vũ Quý cán bộ Việt Minh ở ga Hàng Cỏ (Vũ Quý là quyền bí thư Ban cán sự Đảng hồi ấy) là người quen biết với nhạc sĩ Văn Cao đã động viên ông viết những bài ca yêu nước như Đống Đa, Thăng Long Hành Khúc, sau đó Vũ Quý đề nghị Văn Cao thoát ly hoạt động cách mạng và nhiệm vụ đầu tiên của Văn Cao là sáng tác một bài hành khúc cho bộ đội Việt Minh”.
Sáng tác chỉnh trang xong hát cho Vũ Quý nghe, người lãnh đạo đầu tiên - Cũng là người giác ngộ của Văn Cao, Vũ Quý rất hài lòng, giao cho Văn cao viết Tiến Quân Ca và in bí mật tại làng Bát Tràng. Lần đầu tiên được in trên trang Văn nghệ báo Độc Lập tháng 11/1944”
Ngày 17/8/1945, bài hát Tiến quân ca đã vang lên giữa bầu trời Hà Nội
Ngày 19/8/1945, một cuộc mít-tinh lớn họp tại quảng trường Nhà hát Lớn. Dàn đồng ca của Thiếu niên Tiền phong hát “Tiến quân ca” chào lá cờ đỏ sao vàng
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, năm 1946, Quốc hội khóa I đã chính thức quyết định chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca Việt Nam. Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam năm 1946, tại Điều 3, ghi rõ: Quốc ca là bài “Tiến quân ca”
Tiến quân ca" là một bài hát do nhạc sĩ Văn Cao (1923–1995) sáng tác vào năm 1944 và được sử dụng làm quốc ca Trước đó, bài Tiến quân ca được chọn làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 13 tháng 8 năm 1945 đến 1 tháng 7 năm 1976.
Khi thống nhất 2 miền Nam Bắc, Quốc ca của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam kể từ ngày 2 tháng 7 năm 1976.[1] 
Ngày 21 tháng 6 năm 2010, Cục Bản quyền tác giả nhận được thư ngỏ lời được hiến tặng tác phẩm Tiến quân ca của bà Nghiêm Thúy Băng, vợ cố nhạc sĩ Văn Cao gửi Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL). Bà Nghiêm Thúy Băng, đại diện gia đình nhạc sĩ Văn Cao đang hưởng quyền thừa kế đã trân trọng ngỏ lời hiến tặng ĐảngQuốc hộiNhà nước và công chúng tác phẩm Tiến quân ca được sử dụng làm Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 1945 đến nay.
 
Tại Sao trong Tiến quân ca, ông dùng nhiều từ ngữ đậm chất căm phẫn?
 
Nếu như, ngày ấy trước khi Nhật đầu hàng đồng minh ở thế chiến thứ II (1939 – 1945) không có nạn đói kinh hoàng “Những thây ma thất thểu khắp lề đường/ Rồi gục ngã không đứng lên vì đói/ Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội/ Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm/ trên đường đi những xác chết rên nằm/ Rồi gục ngã trong bụi lần co quắp” (Đói/ Bàng Bá Lân). Cũng chính thi sĩ Văn Cao chứng kiến những người “như ma” ấy lần lượt chết rất khổ đau vì đói, ông viết trong sự thảng thốt vô cùng:
“Ngã tư nghiêng nghiêng đốm lửa/ Chập chờn ảo hoá tà ma.../ Đôi dãy hồng lâu cửa mở phấn sa/ Rũ rượi tóc những hình hài địa ngục” hay là tiếng rên thống thiết khi nhìn thấy sự kinh hoàng tột độ: “Bước gần ta chút nữa thêm gần/ Khoảng giữa tuổi thanh xuân nghe loạn trùng hút tuỷ/ Ai huỷ đời trên tang trống nhỉ?/ Hay ác thần gõ quách nạo mồ khuya! (Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc). Có thể chứng kiến cảnh ấy đã dấy lên ông tính căm phẫn nên ngôn ngữ, ca từ còn ảnh hưởng trong Tiến quân ca.
Kẻ hậu bối chúng ta đọc lại đoạn thơ này lòng đã cảm thấy rờn rợn, đau lòng và xót xa căm phẫn, huống chi ông là người thực chứng quang cảnh ấy, ôi, thương cho số phận con người không có cái ăn, phải chết vì đói, vì rét, bởi chiến tranh tàn khốc, điều kiện lịch sử lúc bấy giờ rất nghiệt ngã, Cỗ mẹ Việt Nam chịu đến 2 tròng xâu xé: Pháp và Nhật Bản đang tham dự chiến tranh thế giới.
Quân đồng minh Pháp đang trên đường thất bại, phe Trục Nhật đang mở rộng lấn chiếm phía đông nam châu Á mà Việt Nam đang là thuộc địa Pháp.
“Việt Nam bị cuốn vào nền kinh tế thời chiến, với việc Pháp và Nhật tranh giành quyền kiểm soát kinh tế. Người ta nói đến lý do là Nhật Bản bắt dân Việt Nam trồng đay thay trồng lúa gạo để phục vụ chiến tranh, nhưng thực ra Pháp đã tiến hành việc ấy từ trước, cụ thể là thu hẹp diện tích canh tác các hoa màu phụ như ngôkhoaisắn, để trồng bôngđaygai hay cây kỹ nghệ. Sản lượng lúa gạo và hoa màu quy ra thóc tại miền Bắc giảm xuống rất mạnh do diện tích canh tác bị thu hẹp. Theo thống kê, năm 1940, diện tích trồng đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 ha”(3)
Nhật và Pháp đều lo sợ không đủ lương thực, buộc họ phải lo cho quân đội viễn chinh của họ. Và bấy giờ Pháp là phe Đồng minh, Nhật là phe Trục đang thắng thế.
Ngoài ra họ dùng lúa thay than đá làm khí đốt, vì vậy lương thực vốn đã thiếu thốn dẫn đến kiệt quệ trầm trọng. Hậu quả là gần 2 triệu người Việt chết đói. Chính điều này đã nung nấu sự căm hờn của người Việt nói chung, trí thức nói riêng, trong đó có Tiến Quân ca của Văn Cao.
“Trong cuộc đời và sự nghiệp của Văn Cao, những người là bạn văn nghệ thân thiết gần gũi và có nhiều ghi chép giá trị về ông là nhạc sĩ Phạm Duy (bạn lâu năm và đồng thời là người có đánh giá chuyên môn toàn diện nhất về sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Văn Cao)”
(Nguyễn Thụy Kha)
 
Chủ nghĩa lãng mạn và ảnh hưởng của văn nghệ sĩ
 
Chủ nghĩa lãng mạn phương Tây, được vào Việt Nam vào đầu thế kỷ XX nhưng đến thập niên 30 - 40 sức ảnh hưởng của nó mới bắt đầu, tầng lớp trí thức Việt nhất là giới sáng tác văn nghệ chịu ảnh hưởng mạnh.
Cũng theo nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên trong Nhìn Lại Âm Nhạc Việt Nam. Ông viết: “Chủ nghĩa lãng mạn phương Tây đã có ảnh hưởng lớn đến tầng lớp trí thức và nghệ sĩ Việt Nam có tiếp xúc với nền Tây học. Họ đã đem phần lớn nguồn rung cảm và chủ đề của chủ nghĩa lãng mạn vào trong sáng tác của mình từ văn chương nói chung đến âm nhạc nói riêng. Do đó ta có thể tìm thấy phần nào trong sự tương đồng về nội dung, chủ đề, cách khai thác đề tài và phương thức thể hiện trong các tác phẩm lãng mạn của phương Tây, nhất là của Pháp và các tác phẩm của Việt Nam, dĩ nhiên có tính bối cảnh đặc thù của đất nước, thực tế đời sống và cá tính của người nghệ sĩ Việt Nam.
Cũng có người nói “Theo lời Nhạc sĩ Văn Cao, bài Suối mơ được sáng tác với cảm hứng từ dòng suối bên đền Cấm, ở tại thị trấn  Đồng Mỏ, Chi Lăng, Lạng Sơn, thời ấy là nơi nhiều văn sĩ thời tiền chiến lên chơi (?)”. Tuy vậy chưa thấy tài liệu nào xác tín vấn đề này. 
Với dòng nhạc trữ tình, lãng mạn của Văn Cao thậm chí là mang tính thần tiên của phương Đông, ảnh hưởng của văn học Trung Hoa. Đặc trưng là bản nhạc Thiên thai.
Riêng bản nhạc Thiên Thai có thể nói chắc rằng ông dựa vào và liên tưởng chuyện Lưu Thần, Nguyễn Triệu ngày tết Đoan ngọ hái thuốc trên núi Thiên Thai lạc Đào nguyên (Cõi Tiên) thời nhà Hán bên Tàu và ông viết ca khúc này vì vậy âm hưởng mang yếu tố lãng mạn và có tính thần tiên, giai điệu và ca từ làm người nghe cũng lạc vào cõi mộng u huyền xa xăm bềnh bồng theo cảm xúc của bản nhạc.
Nói như nhạc sĩ bậc thầy Phạm Duy:  “Một bài hát, theo tôi thật là tuyệt diệu! Nó vừa có tính chất trường ca, vừa có tính chất nhạc cảnh. Nếu hình thức ca khúc trong Tân nhạc Việt Nam cho tới năm 1944 này vẫn còn nằm trong khuôn khổ một đoản khúc được ước định trong một số khuôn nhạc nào đó, với một lối chuyển cung, chuyển điệu công thức nào đó… thì Thiên Thai của Văn Cao đã vươn lên một thức rất lớn, chia ra nhiều đoạn, nhiều cảnh, gồm tới con số chín mươi bốn khuôn nhạc, chan chứa những giai điệu thần tiên và những lời ca thần diệu”. Chúng ta đọc lại bản nhạc sẽ cảm nhận rất rõ:
Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng        
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
theo gió tiếng đàn xao xuyến
Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền

Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
Quê hương dần xa lấp núi ngàn
Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
Ai hát trên bờ Đào Nguyên

Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian
Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn

Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên
đây đó nỗi lòng mong nhớ
Này khúc bồng lai
là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xui ai quên đời dương thế
Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên

Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần

Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa
Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta

Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về
Tiên nữ ơi!
Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao ?
Những khi chiều tà trăng lên
Tiếng ca còn rền trên cõi tiên…
Thiên Tai còn được làm nhạc nền cho phim “Người Mỹ Trầm lặng” năm 2001. Ngoài ra chúng ta phải kể đến Suối mơ, Buồn Tàn thu
Suối mơ!
Bên rừng thu vắng,
giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng.
Ngày chưa đi sao gió vương?
Bờ xanh ngát bóng đôi cây thùy dương.

Suối ơi!
Ôi nguồn yêu mến,
còn ghi khi bóng ai tìm đến
Đàn ai nắn buông lưu luyến
Suối hát theo đôi chim quyên.

Từng hẹn mùa xưa cùng xây nhà bên suối
Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát.
Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi

Tơ đàn chùng theo với tháng năm,
Rừng còn nhớ tới người.

Trong chiều nào giữa chốn đây,
Hồn cầm lắng tiếng đời.

Suối ơi!
Nghe rừng heo hút.
Giòng êm đưa lá khô già trút
Còn như lưu hương yêu dấu
Với suối xưa trôi nơi đâu…
Thân phận Văn Cao đi qua trần gian & đi vào chính mình
 
Mỗi con người là một tiểu vũ trụ hiện diện trên trần gian đều có một định mệnh.
Mỗi cá thể được chi phối bởi môi trường xã hội chung quanh và vận hành theo quy ước chung của nhân quần xã hội. Dù là thiên tài, bậc vĩ nhân hay như người bình thường trong xã hội đều như nhau cả – quyền làm người. Văn Cao cũng vậy không thể nào thoát ra vòng bất biến của tự nhiên: Sinh, lão, bệnh, tử.
Từ khi sinh ra lớn lên, đến khi trưởng thành, mỗi người tự tìm kiếm cho mình một chỗ đứng phù hợp nhất trong điều kiện và hoàn cảnh của chính mình ở xã hội hiện tại trong cuộc làm người.
Vì vậy, ông lặn lội từ Hải Phòng lên Hà Nội tìm kiếm cho mình một chỗ đứng. Từ đó, ông gặp được nhiều bậc trí thức Hà Nội như Phạm Duy, Tạ Tỵ, Hoàng Quý, Vũ Quý…
Định mệnh cũng gắn bó ông với tiểu thư Hà Nội, Nghiêm Thúy Băng – Một thanh nữ xinh đẹp, trí thức, con nhà tư sản Thủ đô. Lịch lãm của gái Hà thành.
“Năm 1945 khi báo Độc Lập ra công khai, nhạc sĩ Văn Cao xuất hiện và tới nhà in Rạng Đông, nơi mẹ của bà làm chủ, để in tác phẩm. Ông là người trình bày báo Độc Lập, phụ trách trang Văn nghệ số mới ra. Lúc này, cô tiểu thư của nhà in Rạng Đông đứng ở tiệm sách nhỏ làm công việc nhận và giao hàng cho khách đến in. Vì thế hai người quen nhau”*.
Tình yêu của hai ông bà có sau hôn nhân. Những tưởng người nhạc sĩ tài hoa có nhiều bóng hồng vây quanh, tuyệt nhiên ông không hề có mối tình nào như ông một lần tự thú (1993)*.
Sau đó, năm 1947 hai người cưới nhau nhờ mai mối của người bạn Nguyễn Thành Lê.
Khi lập gia đình, ông vẫn còn công tác cho Việt Minh không thường xuyên ở nhà chăm lo gia đình cùng bà Thúy Băng. Một tay bà quán xuyến con cái và đời sống gia đình.
Các bạn cũng biết, sau khi thế chiến thứ II kết thúc, phe Trục đầu hàng. Người Pháp được phe đồng minh: Anh và Mỹ hậu thuẫn, lại bắt đầu manh nha trở lại Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung để đặt lại nền móng cai trị.
“Ngày 17/8/1945, Uỷ ban Quốc phòng Pháp quyết định đưa 6 vạn quân sang Đông Dương. Mặc dù mới có một bộ phận nhỏ quân Pháp theo gót quân Anh vào miền Nam như dựa vào gần 2 vạn lính Pháp còn lại tại Đông Dương và sự tiếp tay của quân Anh, ngày 23/9/1945, quân Pháp gây hấn đánh chiếm Nam Bộ, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta bắt đầu.
Ngày 23/9/1945 trong miền Nam đã tiếp tục đứng lên kháng chiến chống Pháp, với bản nhạc Nam Bộ Kháng Chiến của nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn như lời hiệu triệu toàn nhân dân đứng lên chống lại Pháp, ngày ấy lập tức nhân dân hưởng ứng rất mạnh mẽ, can trường: “Mùa thu rồi ngày hăm ba/ Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến/ Rền khắp trời lời hoan hô/ Dân quân Nam nhịp chân tiến ra trận tiền/ Thuốc súng kém chân đi không/ Mà lòng người giàu lòng vì nước…”
Ngày 19/12/1946 ngoài miền Bắc, chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, hồi ấy thanh niên toàn miền Bắc ai cũng rầm rập lên đường tham gia chống Pháp, Văn Cao với bài Chiến sĩ Việt Nam hừng hực khí thế: “Bao chiến sĩ anh hùng/ Lạnh lùng vung gươm ra sa trường/ Quân xung phong/ Nước non đang chờ mong tay ngươi / Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời”. Định mệnh cũng đã gắn liền ông với Vũ Quý, giác ngộ cách mạng và Tiến Quân ca ra đời, sau này thành Quốc ca như tôi đã nói ở trên.
Lịch sử đất nước và dân tộc Việt Nam quá nhiều thăng trầm, nhất là sau thế chiến II.
 
Nhân Văn Giai phẩm – Một phong trào văn hóa có xu hướng chính trị của một số văn nghệ sĩ, trí thức thời bấy giờ (1955-1958), ở miền Bắc dưới chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khởi xướng đầu năm 1955 và chính thức bị kết thúc vào tháng 6/ 1958.
Một giai đoạn ngắn được cho rằng: “Văn nghệ phải tự do, nhằm chống lại chính sách thời ấy” nên ông cũng phải chịu lâm lụy như những người cùng thời: Thi sĩ Hoàng Cầm, Quang Dũng, triết gia Trần Đức Thảo, nhạc sĩ Nguyễn văn Tý…bị câu lưu thời gian khá dài.
Chính vì tác giả Quốc ca nên dù ông có mặt trong cùng nhiều văn nghệ sĩ thời ấy trong vụ Nhân Văn Giai phẩm dẫu sao ông cũng được nương tay hơn những nhân vật khác. Tuy vậy,
Ông vẫn sống với tâm trạng lo âu và nghèo khổ, đó là tâm lý đương nhiên. Hầu như suốt thời gian (1958- 1975), ông không sáng tác nhạc, chỉ loanh quanh Hà Nội vẽ và làm thơ.
Vì vậy sự cống hiến trong sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ tài hoa Văn Cao so với các nhạc sĩ khác không nhiều. Nếu như ông không bị nạn ấy, có lẽ gia tài âm nhạc ông sẽ nhiều hơn.
Ấy cũng là sự tiếc nuối của nhiều người yêu mến dòng nhạc ông.
Nỗi thao thức dài của ông cứ chập chờn lãng vãn trong đầu, nó chi phối nhiều lắm. Bản thân ông cũng hiểu nhờ suy tư và nghiền ngẫm, khi đối diện với thực tại khắc nghiệt ấy thì ra mọi việc trên đời tất cả dường như có đấng siêu hình chi phối, con người nhỏ bé không thể nào cưỡng cầu trước định mệnh, cũng Văn Cao này, từ một người lãng mạn thích văn nghệ, thích phóng khoáng không chịu ràng buột, thế mà định mệnh cũng đẫy đưa ông sang một bước ngoặc nghiệt ngã của thân phận. Suốt thời gian ấy ông không hề than thở, cặm cụi ông tìm vui trong sáng tác hội họa, thi ca. Nhờ phương tiện ấy đã làm cho ông bình yên về tâm thức, hầu như lĩnh vực nào ông cũng có vị trí riêng xứng đáng. Ông chấp nhận yên lặng, cổ nhân có câu “cùng tất biến, biến tất thông” chỉ là có chịu đựng nỗi với thời gian ngắn hay dài mà thôi.
May thay, ông có một người vợ - Nghiêm Thúy Băng Người đầu tiên cũng là người sau cùng chung thủy cả đời tận tụy với ông. Bà xuất thân trong gia đình tư sản Hà Nội gia phong nề nếp, gắn bó trong suốt cuộc đời ông, người đúng nghĩa sự đồng cam cộng khổ, vừa xinh đẹp, vừa trí thức…và nhất là tạo sinh kế, cũng vừa là người thay ông dạy dỗ con cái suốt thời gian ông đi xa những năm tháng kháng chiến và những năm mặc niệm cho chính mình trước thân phận nghệ sĩ tài hoa. 
Người nghệ sĩ chân chính xét cho cùng, tất cả đều cô đơn, dù ngoài kia đời vẫn xôn xao nhộn nhịp, thậm chí là hối hả. Một văn hào đã viết: “Cô đơn chính là món quà quý giá mà đất trời ban tặng để người nghệ sĩ có thể viết nên những tác phẩm mang chiều sâu tư tưởng”, chiều cao của tầm vóc. chiều dài của thời gian và chiều rộng của không gian. Nỗi cô đơn ấy dường như đã làm bệ phóng cho tư tưởng con người có khi chạm đến Thần linh lẫn siêu nhiên.
Lịch sử đã đi qua, không thể cải tử hoàn sinh. Ai dám bảo lịch sử không có sai lầm? Chúng ta là kẻ hậu học đọc, nghiền ngẫm suy tư cũng hiểu được điều này, thời đại ngày nay phương tiện truyền thông, thông tin quá đầy đủ cũng đã chứng minh điều ấy.
Những bộ óc thiên tài trên trần gian đã để lại di sản cho loài người quá nhiều công trình đều như thế cả, từ nhà soạn nhạc Ludwig van Beethoven, Mozart, nhà văn, kịch tác gia William Shakespeare, nhà vật lý lý thuyết Stephen Hawking, họa sĩ, giải phẩu học, triết gia Leonardo da Vinci… nhiều lắm, chúng ta không thể nào kể hết.
Nói đến Văn Cao dù muốn hay không tất cả trí thức, chuyên gia lý luận và phê bình âm nhạc, người thưởng thức sành điệu cũng phải công nhận ông là một thiên tài âm nhạc trong đầu thập niên 30 – 40 của thế kỷ 20 tại Việt Nam, ông có công trong việc mở rộng địa hạt âm nhạc Việt Nam. Rất tiếc thời gian sáng tác không nhiều – như tôi đã nói ở trên nên sức sáng tác, sự sáng tạo của ông còn khiêm tốn so với những tác giả khác. Tất cả như là định mệnh cho chính cuộc đời ông, dù ông cố gắng, nỗ lực soi rọi lại chính mình, nhưng một cá nhân hữu hạn không thể nào đáp ứng trước sự vô cùng của văn nghệ, mỹ học.
Cuối cùng nhạc sĩ Văn Cao cũng được giải thưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực âm nhạc năm 1996 khi ông đã qua đời. Dù muộn màng nhưng có lẽ hồn ông đang dạo chơi cùng mây gió phiêu diêu miên viễn cũng mỉm cười thành quả cuộc sống trần gian mà ông cống hiến cho đất nước và dân tộc đã được xã hội công nhận dù một thời chìm nổi cùng thân phận người.
 
 Phạm Ngọc Dũ
-          Hội Nhà Văn TPHCM
-          Chủ biên Diễn Đàn Văn Học Nghệ Thuật  Sông Quê TPHCM
 
 
Tài liệu tham khảo:
- Wikipedia
- (https://nhandan.vn/nhac-si-van-cao-va-su-ra-doi-bai-tien-quan-ca-post712842.html)
- ( (1993)
- https://vnexpress.net/co-tieu-thu-mot-thoi-cua-nhac-si-van-cao-1909697.html
- Khảo cứu: Nhìn lại Âm Nhạc Miền Nam của ns Nguyễn Phú Yên
 
 
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0