Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Vụ Án Mạng Bên Hồ - Higashino Keigo

7 trả lời, 31 lượt xem — Trang 1 / 1
Vụ Án Mạng Bên Hồ 
Higashino Keigo
 Dịch giả: Nguyễn Phương Chi
Nhà xuất bản: NXB Thanh Niên
 
**
 
1 Đám mây trôi lơ lửng trên bầu trời trước mắt, trông như một vết bẩn bị vạch trên nền trời. Những mảng màu xanh tươi len lỏi giữa đám mây. Namikishi Yunsuke buông bàn tay trái khỏi vô-lăng, đưa lên bóp vai phải, rồi lại đổi tay cầm vô-lăng, bóp vai trái. Sau cùng anh lắc đầu sang hai bên, tạo ra những tiếng lục khục.
Trên làn xe bên phải của đường cao tốc Chuo, chiếc Cima anh lái đang chạy quá hai mươi kilomet so với tốc độ quy định. Radio trên xe ra rả nhắc đến những cung đường bị tắc do dòng người đổ về quê dịp lễ hội Obon. Có vẻ năm nay tình trạng ùn xe đỡ hơn mọi năm.
Chiếc xe xuống hết đường cao tốc, băng qua trạm thu phí, anh lấy điện thoại ra. Rồi anh tìm một số điện thoại lưu trên máy trong lúc dừng xe chờ đèn đỏ. Số điện thoại ấy được lưu dưới cái tên “ET”.
Anh bấm gọi, nhưng đầu dây bên kia để chế độ trả lời tự động. Anh tặc lưỡi, đành cất điện thoại vào trong túi quần.
Theo hướng dẫn trên màn hình chỉ đường, chiếc xe cứ thế mải miết chạy một hồi lâu. Chẳng mấy chốc sau đó, nó đã len vào một con đường nằm lọt thỏm giữa rừng cây. Con đường vẽ ra những đường cong mềm mại; ở những đoạn quang đãng, hai bên vệ đường lại mọc lên bảo tàng hay quán ăn nhỏ như thể thế chỗ của cây cối. Những căn nhà đó đều khoác lên mình dáng vẻ sang trọng theo phong cách của một đất nước xa lạ nào đó.
Tấm biển báo cho biết khu biệt thự hồ Himegami còn cách bao nhiêu cây số hiện ra trước mắt. Trông thấy nó, Yunsuke bất giác thở dài. Con số thể hiện khoảng cách trên tấm biển đã giảm dần. Đến tấm biển cuối cùng với hàng chữ “Khu biệt thự hồ Himegami—rẽ trái ở đây”, anh xoay vô-lăng. Chiếc Cima màu xanh tím than rẽ vào con đường nhỏ bao quanh bởi rừng cây rậm rạp.
Những con đường hẹp trong khuôn viên khu biệt thự nối nhau chạy dài như mê cung. Các căn biệt thự không nằm san sát nhau thành từng cụm, mà rải rác như tô điểm cho khu rừng sâu.
Bên rìa con đường là một bãi đất trống. Ba chiếc xe ô tô đỗ sát nhau ở đó: một chiếc xe Mercedes-Benz màu xám bạc, một chiếc BMW màu tím than và một xe Wagon màu đỏ. Cả ba xe đều quay đèn hậu về phía mặt đường.
Yunsuke cũng đỗ xe vào bãi đất đó, tay cầm túi và áo jacket màu trắng, bước ra ngoài xe. Anh đóng cửa, rồi mặc áo. Ngay bên cạnh bãi đất trống có một cái cầu thang dẫn xuống phía dưới. Một tòa biệt thự màu nâu cháy nằm phía trước cầu thang. Khu rừng trải rộng bao quanh khiến ngôi biệt thự đó trông như thể ngập chìm trong biển cả màu xanh lục.
Yunsuke toan bước xuống cái cầu thang trông như thể mấy tảng đá lớn được ghép đại lại, chợt có tiếng phụ nữ loáng thoáng vọng đến tai. Theo phản xạ, anh quay mặt nhìn về hướng giọng nói phát ra, một cái sân tennis xuất hiện trong tầm mắt.
Yunsuke chậm rãi đi về phía cái sân tennis đó. Bốn người cả nam và nữ đang ở bên trong khoảng sân chăng lưới thép. Họ đang hăng say chơi bóng hai chọi hai, hay còn gọi là đánh đôi nam nữ.
Anh đứng ở gần lưới thép, tháo kính râm. Một người đàn ông và một người phụ nữ đứng cạnh nhau, quay lưng về phía anh. Đội bên kia chuẩn bị phát bóng, người phụ nữ mảnh dẻ đứng ở đầu sân bên kia vung vợt lên vào tư thế chuẩn bị.
Cô toan tung quả bóng thì nhìn thấy Yunsuke, liền lập tức dừng lại. Thấy cô dừng tay, ba người còn lại không ai bảo ai đồng loạt hướng mắt nhìn về phía anh.
“Tôi xin phép một chút.”
Cô nói với những người kia, tay cầm vợt và bóng, vòng ra ngoài sân tennis, đi về phía Yunsuke. Hai người đứng đối diện nhau qua tấm lưới thép.
“Anh đến sớm hơn em nghĩ.” Cô thở hổn hển.
“Anh xong việc sớm.”
Ba người kia cũng đi về phía này.
“Chồng cô à?” Người phụ nữ vóc người nhỏ nhắn hỏi. Gương mặt cô ta tròn xoe, trang điểm đậm.
“Vâng.” Người phụ nữ mảnh khảnh khẽ gật đầu.
“Tôi là Namikishi.” Yunsuke cúi đầu. “Cảm ơn mọi người luôn giúp đỡ Minako và Shota nhà tôi.”
“Anh đừng khách sáo, chúng tôi giúp đỡ lẫn nhau mà.” Người đàn ông áng chừng trên dưới năm mươi tuổi nói. Anh ta đeo trên đầu một món đồ màu trắng nổi bật. Cái băng-đô giữ cho chiếc kính màu xanh vàng không bị tuột ra. “Tôi là Fujima. Còn đây là vợ tôi, Kazue.”
“Chào cô.” Yunsuke cúi đầu chào.
“Đây là anh Sakazaki. Sakazaki Yotaro.”
“Tôi là Sakazaki.” Người đàn ông đánh cặp với Minako ban nãy chào hỏi anh. Anh ta khoảng trên dưới bốn mươi tuổi, theo ước đoán của Yunsuke. Gương mặt rắn rỏi ngự trên thân hình săn chắc.
Sakazaki quay sang Fujima. “Anh Namikishi cũng đến đây rồi, chúng ta ngừng chơi thôi nhỉ. Với lại cần sửa soạn cho bữa tối nay nữa.”
“Anh nói phải. Để cho mọi người có thời gian tắm táp.” Fujima nói với vợ mình.
“Em thì cần nằm ngả lưng một chút.”
“Em không biết lượng sức gì cả, có tuổi rồi mà còn thế. Đáng lẽ không nên chơi đấu đôi.”
“Nhưng cũng vui mà.” Kazue nhìn sang Minako, ánh mắt như mong mỏi sự đồng tình của cô.
Minako gật đầu hưởng ứng. Sakazaki ở bên cạnh dọn đồ, nhưng không quên buông lời khen ngợi. “Vợ anh tiến bộ nhiều đấy. Động tác của cô ấy hoàn toàn khác trước đây.”
“À, thế ư? Vậy là tôi có thể tự tin thêm một chút rồi.”
“Thôi đi Sakazaki, cô ấy mà lên mặt thì phiền cho tôi đấy.”
Sakazaki và Minako bật cười. Yunsuke đứng ở ngoài sân tennis, mắt nhìn xuống chân mình.

“Giờ muốn làm một cốc bia quá!” Fujima cất lời cảm thán ngay khi bước vào phòng khách trong biệt thự. Trên cổ anh ta vắt chiếc khăn tắm.
“Không được. Chúng ta đã thống nhất là không uống đồ uống có cồn, trừ trong bữa tối mà.”
“Anh biết rồi. Chỉ tiện miệng nói chơi thôi. Nói thì không ảnh hưởng đến ai đâu mà!”
Sàn phòng khách được lát gỗ, chính giữa phòng dựng một cây cột to làm từ thân cây đã róc vỏ. Cái cột vươn cao mãi, lên đến tận trần nhà đã được xây thành một cái giếng trời.
Bên cạnh cột gỗ có cái bàn lớn cũng làm bằng gỗ, vợ chồng Fujima ngồi đối diện nhau. Một phần phía trong căn phòng được dùng làm bếp, bao quanh là chiếc bàn quây hình chữ L để phân định không gian bếp với khoảng diện tích còn lại. Sakazaki mở tủ lạnh, nhòm vào trong.
“Mọi người uống gì nhỉ? Nước ngọt, nước ép trái cây, trà ô long, cà phê lon, xem ra có đủ loại đồ uống trong này.”
“Tôi uống cà phê nhé!”
“Còn tôi thì trà ô long.”
Vừa đặt đồ uống lên trên bàn, Sakazaki hỏi ngay, “Còn cô Minako uống gì?”
Yunsuke mở căng mắt nhìn phản ứng của hai người bọn họ. Minako đang ngồi trên chiếc ghế đẩu ở đằng trước chiếc bàn quây. Bộ váy tennis vạt ngắn của cô để lộ ra một khoảng đùi.
“Chắc tôi uống nước ép thôi.”
“OK. Vậy còn…” Sakazaki nhìn Yunsuke. “Anh thì uống gì?”
“Tôi không uống gì đâu.”
“Anh đừng ngại. Đồ uống trong này là do mọi người góp tiền lại mua đấy.” Sakazaki nở nụ cười khoe ra hàm răng trắng tinh.
“Không, tôi không uống thật mà.” Yunsuke khẽ nâng tay lên làm điệu bộ từ chối.
“Anh Namikishi, mời anh ngồi. Hẳn anh cũng mệt rồi,” Fujima cất lời.
Yunsuke gật đầu, ngồi chếch với anh ta.
“Lần này cả nhà tôi đã làm phiền mọi người, mong mọi người lượng thứ.”
“Không có chuyện đó đâu. Tôi cũng chỉ cung cấp địa điểm thôi. Nên anh không cần khách sáo làm gì.” Fujima xua tay trước mặt.
“Cảm ơn anh.” Yunsuke cúi đầu lần nữa.
Sakazaki phát đồ uống cho mọi người như một người phục vụ thực thụ. Xong xuôi, anh ta quay lại chỗ Minako đang ngồi.
“Tôi thường xuyên nghe Minako nhắc đến anh.” Fujima Kazue cười tủm tỉm.
“Vậy sao? Tôi tò mò muốn biết cô ấy nói gì về mình đấy.” Yunsuke khẽ liếc sang Minako, thấy vợ cười xếch khóe môi.
“Nói nhiều lắm, có kể ra cũng không hết được đâu.” Kazue nhìn nhanh chồng mình, rồi lại tủm tỉm uống trà ô long.
Yunsuke nhìn cô ta giây lát, rồi hỏi bâng quơ, “Không biết bọn trẻ đang ở đâu nhỉ?”
“Giờ này chắc chúng đang học.” Fujima nhìn đồng hồ treo trên tường. Chiếc đồng hồ kiểu cổ, hình tròn, có khung bằng gỗ cho biết bây giờ là bốn giờ chiều. “À không, sắp đến giờ nghỉ rồi.”
“Sau đó thì sao?”
Minako nhanh nhảu tiếp lời, “Bữa tối lúc sáu giờ, trước giờ ăn tối là hoạt động ngoài trời.”
“Hoạt động ngoài trời ư?”
“Mọi người đã đi cả quãng đường dài đến đây, không khí thì trong lành như thế này, mà không để bọn trẻ tận hưởng thiên nhiên thì phí quá. Chứ để chúng cả ngày chôn chân một chỗ, không khéo lại bị trầm cảm,” Fujima giải thích.
“Chôn chân một chỗ là… học suốt từ sáng à?”
“Lịch học của bọn trẻ như thế này đây.” Tiếng nói phát ra ở sau lưng Yunsuke.
Sakazaki chỉ tay về phía cửa ra vào. Trên cửa dán tờ áp-phích, ghi lịch học trong một ngày của bọn trẻ.
“Thức dậy lúc bảy giờ sáng, sau bữa sáng thì nghỉ ngơi một chút, học từ chín giờ ba mươi đến mười hai giờ ư? Làm theo lịch này thì hẳn là bọn trẻ vất vả từ sáng.”
“Người ta luôn nói học tập vào buổi sáng là tốt nhất.” Giọng Fujima vang lên. “Lịch học này là bình thường thôi. Nói thật tình là tôi đã muốn để chúng dậy sớm hơn, rồi học bốn tiếng trong buổi sáng cơ.”
“Song thầy Tsukumi đã lên lịch trình này, cho nên…” Vợ anh ta nói như dỗ dành chồng.
“Thì thế nên chúng ta đang làm theo đúng lịch đó còn gì?”
Yunsuke nhìn lại lịch học đó. Buổi chiều học từ một giờ ba mươi phút đến bốn giờ. Sau bữa tối xem chừng là khung giờ tự do, rồi từ chín giờ đến lúc tắt đèn là mười một giờ, lại được gán cho cái tên “thời gian tự học”.
“Bọn trẻ học ở đâu vậy?”
“Ở biệt thự phía trước. Đi bộ là đến ngay,” Fujima đáp.
“Ra vậy.” Yunsuke nhìn Fujima lần nữa. “Vậy biệt thự đó cũng là của anh Fujima à?”
Người đàn ông đeo kính xanh vàng xua tay phủ nhận. “Chỗ đó là thuê thôi. Căn nhà sang trọng kiểu nhà gỗ í.”
Ngồi uống nước ép ở bàn quây, Minako lén buông tiếng thở dài, có vẻ cô không nhịn được khi nghe đoạn hội thoại đó.
“Ở cùng bố mẹ làm cho bọn trẻ ỷ lại, chểnh mảng chuyện học hành, nên mới phải thuê riêng biệt thự cho chúng. Trước khi đi, em đã nói rồi mà, xem ra chẳng lời nào lọt vào tai anh.”
“Em có nói vậy à?” Yunsuke nghiêng đầu, cười trừ.
“Quả nhiên người lớn chúng ta phải gắng hết sức để đem đến cho bọn trẻ một môi trường học tập thật tốt.” Nói xong, Fujima nhún vai. “Nhưng mà trước đó, bố mẹ chúng sẽ đối mặt với thực tế thương đau là bốn gia đình phải ngủ ở biệt thự sơ sài này.”
“Anh nói gì vậy? Chẳng phải đây là căn đẹp nhất trong khu biệt thự này sao?” Sakazaki cất cao giọng. “Vợ tôi cũng hết lời khen ngợi rằng đúng là biệt thự của Viện trưởng Fujima có khác.”
“Không đâu, nếu biệt thự rộng rãi thêm một chút thì tốt hơn. Tôi cũng muốn vậy, mà cậu này cứ nằng nặc mãi.”
“Tôi có nói gì đâu. Chính miệng anh bảo nếu chỉ có mấy gia đình ở thì diện tích này là vừa đủ.”
“Thế người nói rộng thì phải dọn dẹp mệt người là ai hả?”
“Bởi vì anh bảo diện tích này là vừa đủ, tôi mới nói thêm là đúng vậy, càng rộng thì dọn càng mệt.”
“À ra vậy.”
“Mà chuyện đó không quan trọng đâu.” Sakazaki cười, dang hai tay ra.
Yunsuke đưa mắt nhìn khung cảnh bên ngoài cửa sổ. Anh trông thấy cái sân tennis ở bên cạnh biệt thự.
“Dẫu vậy, việc học hành của bọn trẻ thay đổi thật đấy. Thời chúng ta còn nhỏ đâu dám nghĩ đến chuyện thuê biệt thự nghỉ mát làm trại luyện thi cơ chứ,” Yunsuke nói.
Nghe đến đây, Fujima khựng cánh tay cầm cốc cà phê, quay ra cười với Yunsuke.
“Nghe nói anh Namikishi phản đối việc Shota thi vào trường trung học tư thục.”
“Không, tôi nào có phản đối.” Yunsuke liếc mắt sang Minako nhằm quan sát phản ứng của vợ, rồi mới tiếp tục. “Tôi chỉ lăn tăn rằng bắt con cái học hành khổ sở, rồi tham gia thi cử khốc liệt để vào những nơi như thế thì có ý nghĩa gì. Chưa bàn đến việc bản thân thằng bé có muốn điều đó không, riêng việc bố mẹ tự tiện áp đặt con đường tương lai cho bọn trẻ chắc gì đã là chuyện hay.”
Fujima gật mạnh đầu.
“Anh Namikishi có những suy nghĩ tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn ở đây có nghĩa là nằm ở mức trung bình.”
“Mức trung bình sao?”
“Thời nay nhiều bậc phụ huynh nghĩ như anh lắm. Nào là con đường tương lai phải để bọn trẻ tự lựa chọn, rồi bố mẹ không được quyết định thay chúng. Thiết nghĩ, đó là suy nghĩ sai lầm. Bố mẹ phải quyết định con đường tương lai cho con cái ở một mức độ nhất định. Hoặc chí ít bố mẹ nên quyết định xem có cho con cái thi vào trường trung học tư thục hay không, chứ không thể để chúng tự quyết định được. Không được đẩy hết việc lựa chọn cho bọn trẻ đâu.”
“Thế ư?”
“Bởi vì, anh thử nghĩ xem có đứa trẻ mười một, mười hai tuổi nào suy nghĩ thấu đáo cho tương lai của mình, rồi tự nói với bố mẹ rằng con muốn thi vào trường tư thục không? Đã là trẻ con thì chẳng đứa nào thích học cả. Để mà trao quyền quyết định cho chúng thì đương nhiên chúng sẽ chọn con đường dễ dàng. Thế nên mới cần bố mẹ nghiêm túc suy nghĩ về tương lai của đứa trẻ đó, cân nhắc xem cho nó học thế nào là phù hợp rồi quyết định thay chúng. Vì chẳng có ai ngoài bố mẹ chúng được trao cho quyền quyết định điều đó cả.”
Kazue lộ ra biểu cảm đồng tình trên gương mặt. Minako và Sakazaki cũng gật gù tán thưởng. Những hành động đó đều lọt vào mắt Yunsuke.
“Tôi hiểu điều anh nói, nhưng có một kỳ thi đang đợi chúng ở ngoài đời thực đúng không? Đó là rào cản cam go mà chúng không thể hời hợt, chừng nào không cố gắng hết sức, chuẩn bị kĩ lưỡng, thì không thể nào đương đầu với kỳ thi đó. Tôi không thấy mặt tích cực nào khi ném đứa trẻ còn nhỏ dại vào cái nơi không khác nào địa ngục ấy. Đã là trẻ con thì cần được nuôi dạy để tự do lớn lên.”
Từ lúc Yunsuke đang say sưa nói, Fujima đã quay sang nhìn Minako, trưng ra điệu cười khổ não.
“Đúng là bọn trẻ phải hy sinh nhiều thứ cho việc thi cử. Bởi thi cử là cuộc chiến mà. Quan điểm của tôi là việc học ở trường tư thục giống như gò những đứa trẻ ưu tú vào khuôn khổ. Để vào được trường thì phải trải qua những kỳ thi tuyển chọn. Chính vì nhà trường tuyển chọn nên chúng ta phải dốc hết sức để trụ lại cuối cùng. Đây chính là cuộc chiến. Nhưng chẳng phải xã hội vốn đã hình thành dựa trên cơ sở nguyên lý của chiến tranh hay sao? À mà, tôi nghe nói anh Namikishi đang làm giám đốc nghệ thuật.”
“Vâng, đúng vậy.”
“Thế giới nghệ thuật cũng giống như thế phải không? Tất cả đều là cuộc chiến sống còn. Bởi vậy, ta nên dạy cho bọn trẻ rằng tự do lớn lên thì cũng được thôi, nhưng phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt để đạt được thứ gì đó thì mới có thể sống sót trong cuộc chiến này.”
Yunsuke chống khuỷu tay lên bàn, miệng phát ra những tiếng mệt mỏi.
“Thêm nữa…” Fujima uống cạn lon cà phê rồi nói tiếp. “Có vẻ anh Namikishi nghĩ việc luyện thi là một thứ độc hại nào đó, nhưng thực tế không phải như vậy.”
“Vậy à?”
“Bởi khả năng của mỗi đứa trẻ khác nhau. Nếu không trao cho chúng nhiều cơ hội để tìm ra khả năng nào phù hợp với chúng, ta không thể biết chúng có khả năng gì. Ví dụ, cho chúng học năng khiếu hay chơi thể thao cũng là một biện pháp hiệu quả. Cho nên việc thi cử cũng là một cơ hội để khơi dậy khả năng của con cái. Nói cách khác, luyện thi cũng giống như luyện tập để chơi đá bóng hay bóng chày thôi. Anh Namikishi chắc có nghe chuyện bố mẹ không hỏi ý kiến con mình thế nào, đã tự ý cho chúng đi học bơi, và cũng chẳng thấy xa lạ gì với câu chuyện đó đúng không? Nếu anh nghĩ thoáng ra một chút, coi việc luyện thi lần này giống như việc tập hợp những đứa trẻ tài năng vào trại đào tạo bóng đá, anh sẽ không thấy lăn tăn nữa đâu.”
“Nếu cần nơi để học tập thì chúng đã có trường học rồi.”
Fujima lắc đầu trước phản biện của Yunsuke.
“Thế nếu những tiết học với cường độ thấp tại trường không đủ để phát huy được hết khả năng của bọn trẻ thì sao? Để những khả năng đáng lẽ có thể phát triển lên nữa bị vùi dập không thương tiếc ở trường học là thiếu sót của bố mẹ đấy.”
Gương mặt điềm đạm của anh ta không giấu được giọng điệu tự tin. Yunsuke khẽ kêu một tiếng, rồi đưa tay gãi tóc mái.
“Xem ra anh Fujima rất tự tin vào khả năng học tập của con mình.”
“Tôi không tự tin đến thế đâu.” Fujima cười nói. “Nhưng tôi đặt kỳ vọng vào con mình. Biết đâu thằng bé sẽ tạo ra những kết quả tốt hơn người bình thường thì sao. Kỳ vọng vào con cái cũng đâu ảnh hưởng hay gây rắc rối cho ai.”
“Thì đúng là như vậy.”
“Tôi cũng kỳ vọng lắm, vào Shota nhà tôi.” Minako ở bên cạnh bày tỏ quan điểm đồng tình.
“Tôi cũng thế.”
“Đã vậy, chẳng phải nên biến kỳ vọng đó thành hiện thực hay sao? Vì chúng ta có đủ khả năng kinh tế để hỗ trợ bọn trẻ mà.” Fujima nắm bàn tay lại rồi giơ lên.
Yunsuke nghe chừng không phản bác được gì nữa, nên chỉ hời hợt gật đầu.
“Mà này, trước mắt chúng ta đi thay sang bộ quần áo nào thoải mái hơn được không? Tôi đang muốn bỏ bộ quần áo này ra.” Tay Minako túm vào bộ váy tennis đang mặc trên người.
“Ừ đúng rồi. Thế thì…”
“Tôi đã sắp xếp cho hai người phòng ở lầu trên. Hai người cứ thoải mái sử dụng nhé!” Fujima chỉ tay lên trên.
Nhìn vợ chồng Namikishi đi khuất hẳn, Fujima nở nụ cười, cố không tạo thành tiếng, rồi đung đưa người.
“Một con người bình thường điển hình. Lúc biết anh ta là nhà nghệ thuật, tôi lại cứ tưởng sẽ có tư tưởng tiến bộ lắm cơ.”
“Tôi thì chịu thua cách nghĩ trẻ con cần được nuôi dạy để tự do lớn lên của anh ta. Rồi lại còn lý lẽ nơi học tập là trường học.” Sakazaki cười chua chát.
“Thế nên Minako có than phiền thì cũng không có gì lạ. Dẫu rằng anh ta ra vẻ bản thân theo chủ nghĩa tự do, nhưng thực chất đang thoái thác trách nhiệm.” Fujima uống cạn lon cà phê, rồi đập nó xuống bàn tạo ra những tiếng lộp cộp.
“Nhưng mà đâu làm gì khác được. Dù sao thì…” Kazue nhìn Sakazaki. Sakazaki không đáp lại, chỉ gật đầu, trên gương mặt còn nguyên điệu cười chua chát.
“Ý cô là vì thằng bé không phải con ruột của anh ta?”
“Thì chuyện không liên quan đến mình nên anh ta mới hành xử như thế. Anh ta không muốn can thiệp vào là cái chắc.”
“Nếu vậy thì xen vào làm gì. Cứ giao hết mọi việc của Shota cho Minako là được rồi.”
“Anh ta vẫn luôn như vậy thì phải,” Sakazaki nói. “Thế nên Minako cũng bất ngờ khi anh ta tham gia chuyến du lịch lần này.”
“Hay anh ta đã thay đổi ý định nhỉ?”
“Có khi là nổi hứng nhất thời thôi.”
“Có lẽ anh ta chỉ muốn thể hiện cho Minako thấy: Rằng tôi đây cũng nghĩ cho con cái chứ bộ.” Fujima với tay lấy gạt tàn và bao thuốc ở cửa sổ, rút ra một điếu thuốc, đặt nó ngay ngắn trên bao thuốc. “Mà này…” Anh ta châm lửa, phả ra làn khói thuốc rồi hỏi. “Giám đốc nghệ thuật làm công việc gì nhỉ?”
 
 
 
 
2 Vợ chồng Namikishi được xếp cho một phòng trên tầng hai. Căn phòng rộng chừng tám tấm chiếu, bên trong phòng có hai chiếc giường đơn. Góc phòng đặt một chiếc bàn nhỏ kết hợp tủ nhiều ngăn, trên bàn có đèn ngủ với chụp đèn làm bằng gốm sứ.
“Cả nhà ba người nhà chúng ta ngủ ở đây sao?” Yunsuke hỏi Minako.
“Shota ngủ ở đằng đó.”
“Chỗ biệt thự thuê đấy hả?”
“Vâng. Chuyến đi này dù sao cũng là trại luyện thi mà. Không thể giống như đi du lịch bình thường được. Thử hỏi anh có thể sắp xếp lịch trình của mình cho phù hợp với thời gian tắt đèn của bọn trẻ ở đó không?”
“Thế chỉ có bọn trẻ ngủ ở đó thôi sao?”
“Có thầy Tsukumi ở cùng. Và một người lớn nữa ngủ tại đó. Tối nay hình như là anh Sakazaki thì phải. Mà anh đừng lo, em không nhờ anh ngủ tại đó đâu.”
“Ờ.” Yunsuke đưa ngón tay trỏ lên gãi má.
Minako ngồi lên một chiếc giường.
“Mà em không nghĩ là anh sẽ đến đây.”
“Vậy sao?”
“Hôm qua em còn nghĩ có khi anh nổi hứng nhất thời thôi.”
“Thế anh không được đến đây à?”
“Làm gì có chuyện đó, em chỉ bất ngờ thôi. Suốt thời gian qua, anh đâu có quan tâm đến chuyện tương lai của Shota. Nhưng dù sao em cũng mừng vì anh đã đến. Bởi em muốn anh hiểu hơn về việc thi cử. Mà anh có tham khảo được điều gì trong lời anh Fujima nói ban nãy không?”
“Anh hiểu lý lẽ của mấy người các em, nhưng tự nhiên bảo anh phải hiểu thì hơi khó.”
“Em đâu có yêu cầu anh làm vậy. Anh coi điều đó là kiến thức để tiếp thu thôi. Còn lại anh cứ im lặng dõi theo em và Shota là được rồi.”
“Im lặng à?”
Yunsuke đứng ở cửa sổ, ngắm nhìn khung cảnh xung quanh. Một con đường lộ ra ở khoảng trống giữa các nhành cây.
“Những người khác giờ đang ở đâu vậy? Còn một cặp vợ chồng nữa nhỉ?”
“Vợ chồng Sekitani đến biệt thự cho thuê rồi. Giờ này có lẽ họ đang phụ giúp thầy Tsukumi ở đó. Các cặp vợ chồng sẽ luân phiên nhau hỗ trợ thầy ấy, việc đó cũng được quyết định từ trước khi khởi hành tới đây. Chắc chắn là em nói với anh rồi đấy.”
“À phải rồi. Anh có nghe được việc đó.” Yunsuke xua tay.
Hai người rời phòng, xuống cầu thang. Đúng lúc đó, tiếng chuông cửa sảnh ra vào vang lên.
“Có phải vợ chồng Yasuko không nhỉ? Mà cửa có khóa đâu.”
Minako đi về phía cửa, còn Yunsuke đến phòng khách. Fujima và Sakazaki đang chơi cờ vua ở đó. Không thấy bóng dáng Kazue đâu cả.
Yunsuke định ngồi xuống bên cạnh Sakazaki. Đúng lúc đó, cửa phòng khách mở ra.
“Anh ơi, người của công ty đến.” Minako nói.
“Của công ty anh ư?” Yunsuke chỉ tay vào mình. “Ai vậy?”
Minako chưa kịp trả lời, một cô gái trẻ đã bước ra từ sau lưng cô. Cô gái dong dỏng cao, mái tóc dài buông xõa.
“Chào anh!” Cô gái cúi đầu, trên môi nở nụ cười rạng rỡ.
“À, ra là cô Takashina.”
“Anh bỏ quên đồ tại công ty đấy. Không có thứ này thì anh không làm việc được ở đây nhỉ?” Cô đưa anh cái phong bì lớn màu nâu.
Yunsuke nhận phong bì đó, rồi kiểm tra bên trong. Thấy vài tấm ảnh, sách quảng cáo. Anh nhìn cô gái. Nụ cười vẫn vương lại trên môi cô. Anh nuốt nước bọt, rồi mở miệng nói.
“Đúng rồi, quên thứ này thì nói chuyện gì nữa. Cảm ơn cô đã lặn lội mang đến tận đây cho tôi.”
“Không có gì ạ. Mà biệt thự này đẹp thật. Tôi không nghĩ trên đời lại có chỗ đẹp nhường này. Ở Tokyo đang nóng như xông hơi. Thời tiết thì mát mẻ, lại còn được ở trong biệt thự tuyệt vời như thế này, tôi ghen tị với anh đấy.” Cô gái nói rồi quay ra nhìn Minako. “Chị thật hạnh phúc. Ông xã chị là người tốt bụng.”
“Cô nói gì vậy?” Yunsuke ngượng ngùng. “Tôi chưa nói với cô à? Chúng tôi không đến đây để chơi đâu. Chỉ đi theo trại luyện thi của bọn trẻ thôi. Vì chúng sắp sửa thi vào trung học.”
“Ra là vậy.”
“Tôi tưởng đã nói với cô rồi chứ nhỉ?”
“Nhưng vợ chồng anh Namikishi không học đúng không? Thế thì khác gì đi chơi.” Cô gái nhìn Minako mong nhận được sự đồng tình. Minako dùng điệu cười nhăn nhó để đáp lại.
“Ở công ty vẫn ổn chứ? Có xảy ra rắc rối nào khi tôi không có mặt ở đó không?”
“Không, đến thời điểm hiện tại, mọi thứ vẫn yên ổn ạ.”
“Nhưng mà cô xuống tận đây thế này, chẳng phải những người ở lại sẽ nháo nhào lên hay sao?”
Cô gái trẻ bật cười cười khúc khích.
“Anh đừng lo, tôi sẽ đi ngay. Anh Namikishi hãy thong thả tận hưởng cuộc sống ở biệt thự đi nhé!” Nói rồi, cô quay về phía hai người đang chơi cờ, cúi gập đầu chào. “Xin lỗi vì đã làm phiền mọi người ạ.” Mái tóc dài phủ lên bờ vai đang lộ ra do cô mặc áo sát nách.
“Cô về luôn à?” Sakazaki đứng lên.
“Hay cô uống trà nhé, hoặc đồ uống nào mát mát?” Fujima đon đả.
“Không, tôi chỉ tới để giao thứ này thôi.” Cô xua tay từ chối rồi ngước nhìn Yunsuke. “Vậy hẹn gặp lại anh ở công ty.”
“Vâng, cảm ơn cô nhiều.”
Cô gái xin lỗi vì đã làm phiền một lần nữa, rồi đi về phía cửa. Thấy Yunsuke bước theo sau cô ta, Minako cũng đi theo.
“Còn bản báo cáo đó thế nào?” Yunsuke hỏi khi cô gái đang xỏ xăng-đan vào chân.
“Báo cáo ư?”
“Bản báo cáo đó í. Chẳng phải cô đang giúp tôi tìm hiểu mấy tư liệu hay sao?”
“À…” Cô gái gật đầu. “Tôi đang làm dần, lúc nào xong sẽ báo cáo với anh.” Cô nhìn sang Minako, nói xin phép cáo lui, rồi bước ra ngoài cửa.
“Chắc phải là tài liệu quan trọng lắm thì cô ấy mới đi cả chặng đường dài để mang đến đây.” Minako nhìn xuống tay Yunsuke rồi nói. “Giờ gửi qua thư điện tử cũng được mà.”
“Có những thứ không dùng được cách đó.”
Yunsuke hớt hải chạy lên cầu thang, chui tọt vào phòng, quẳng cái phong bì sang một bên, rồi lấy ra chiếc điện thoại từ trong túi áo khoác. Anh gọi cho cái tên “ET” được lưu trên danh bạ. Lần này cũng không khác gì lần trước, điện thoại chỉ vang lên tiếng chuông trả lời tự động. Anh bực dọc ném điện thoại lên trên giường.

Ra khỏi tòa biệt thự, Takashina Eriko bước đi trên con đường trước mặt. Giữa đường, cô lấy kính râm ở trong túi xách ra, đeo lên mắt. Tiện tay bật nguồn điện thoại, kết nối với dịch vụ trả lời tự động. Sau khi nghe thông báo không có lời nhắn nào, cô mỉm cười, rồi tắt nguồn điện thoại, bỏ nó vào trong túi xách.
Hai bên con đường có vài căn biệt thự trông na ná nhau. Nhưng không căn nào toát ra vẻ đang có người sống bên trong.
Có một bãi đất trống nhỏ, trên đó trồng hai cây sồi. Dưới một cây có mắc chiếc võng cũ kĩ. Hai khúc gỗ từ gốc cây xếp cạnh nhau làm thành ghế để người ngồi lên được.
Bên trái con đường hiện ra một căn nhà mô phỏng nhà xếp gỗ. Trước căn nhà, vài đứa trẻ ngồi tách biệt với nhau. Đứa nào đứa nấy cầm sổ phác họa trên tay. Bên cạnh chúng, một người đàn ông và một người phụ nữ trung tuổi xem chừng đang vô công rồi nghề, trên gương mặt họ không giấu được vẻ chán nản.
Cách đó không xa, một người đàn ông trẻ đang chỉnh trang cái xe đạp leo núi. Eriko đi về phía anh ta và bắt chuyện, “Xin chào.”
Người đàn ông giật mình ngưng tay, ngước lên nhìn cô. “À… chào cô.”
“Xe đạp của anh bị hỏng à?”
“À, cũng chưa đến mức hỏng, chỉ trục trặc chút thôi.” Người đàn ông lau mồ hôi bằng chiếc khăn mặt vắt trên vai. “Cô cũng ở trong khu biệt thự này ư?”
“Không, tôi có việc nên đến gặp người quen ở đây.”
“Ra là vậy.”
“Những đứa trẻ ở đằng kia đang làm gì vậy nhỉ?”
“Chúng vẽ phác họa. Nghe nói đó là bài tập hè của chúng.”
“Ồ, vậy con của anh là một trong số những đứa đứa trẻ đó à?”
“Không, không.” Anh ta mỉm cười lắc đầu. “Tôi là giáo viên luyện thi. Có thể gọi là trại luyện thi đặc biệt, tôi được bố mẹ bọn trẻ mời đến để tham gia.”
“Trại luyện thi ư? Nghe chừng thú vị đấy.” Cô ngồi xuống cái ghế ở gần đó.

“Người phụ nữ đó là ai nhỉ?” Sekitani Takashi ngước mắt nhìn lên phía con đường. Anh trông thấy một người đàn ông và một người phụ nữ đang ngồi trên chiếc ghế ở vệ đường.
“Có khi nào là người quen của thầy Tsukumi không?” Sekitani Yasuko thắc mắc.
“Sao người quen của thầy ấy lại đến tận đây?”
“Làm sao em biết được.” Sekitani áp cái ống nhòm đang cầm trên tay lên mắt.
“Anh thôi đi.” Yasuko nhắc nhở.
Anh đổ dồn sự hiếu kỳ vào gương mặt cô gái. Ngay lập tức, ánh mắt hai người chạm nhau qua ống kính. Cô gái dùng nụ cười kiều diễm để đáp lại và giơ một tay lên chào. Cơ mặt Sekitani bất giác dãn ra.
“Một cô gái đẹp. Cơ thể cũng cân đối nữa.”
“Dù anh có thèm nhỏ dãi thì cũng chẳng làm gì được đâu.” Yasuko giật ống nhòm trên mắt chồng xuống.
“Hay đó là người yêu của Tsukumi nhỉ?”
“Không phải đâu. Như em được biết thì người yêu anh ta nhỏ nhắn hơn. Vả lại, chắc gì người ta chịu mất công mất việc đến tận đây.”
“Em nói cũng đúng.”
“Mà thôi, đoán già đoán non làm gì, lát nữa hỏi thẳng Tsukumi là xong. Có điều anh đừng có mơ tưởng hão huyền.”
“Anh có mơ tưởng gì đâu. Mà này…” Sekitani liếc mắt nhìn bọn trẻ, để chắc chắn không đứa nào để ý, rồi hạ giọng. “Vụ kia sao rồi em?”
“Vụ kia là sao?”
“Em biết tỏng rồi còn gì, vờ vịt làm gì nữa. Đừng nói là em không mơ tưởng đấy. Chẳng phải em bảo sẽ thử rủ rê Minako tham gia còn gì.”
Yasuko lừ mắt. “Anh say mê Minako nhỉ?”
“Anh không nói theo nghĩa đó.”
“Vậy anh nói theo nghĩa nào?”
Yasuko cười toét miệng. Sekitani quay mặt đi, tay gãi cằm.
“Thấy bảo chồng cô ấy sẽ đến đây.”
“Chồng ư? Chồng của Minako á?”
“Đúng vậy. Có khi đến rồi ấy chứ. Vì thế, anh nên bỏ ý định đó đi.”
“Vậy ư, chồng cô ấy đến rồi à?” Sekitani bĩu môi có vẻ chưng hửng, rồi khẽ gật đầu.
Yasuko đã đứng dậy, đi về phía sau lưng một cậu bé.
“Shota vẽ đẹp quá! Chắc di truyền từ bố nhỉ? Haruki nhà cô mà vẽ đẹp như cháu thì tốt.”
Sekitani cũng đi một vòng nhìn tranh của mấy đứa trẻ, nhưng không bình luận câu gì. Thi thoảng anh đưa ống nhòm lên mắt, để quan sát hai người đang ngồi trên ghế kia.
Nụ cười diễm lệ của cô gái hiện trên ống nhòm ban nãy đã biến mất. Ở bên cạnh đó, gương mặt Tsukumi cũng trở nên đăm chiêu. Sekitani bỏ ống nhòm khỏi mắt, khẽ nghiêng đầu.
 
 
 
3 Khi Namikishi Yunsuke đang làm việc trên máy tính xách tay ở trong phòng, Minako không gõ cửa, xộc vào trong.
“Anh ơi, ăn cơm.” Giọng cô gọi cộc lốc.
“Đã đến giờ rồi à?” Anh tắt nguồn máy tính, nhìn về phía cửa sổ. Bên ngoài trời đã tối mịt.
“Anh đâu cần vừa đến đây đã làm việc ngay.”
“Anh làm xong rồi.” Anh đứng dậy.
Bước xuống cầu thang, anh nghe thấy tiếng trò chuyện huyên náo vọng ra từ phòng khách. Minako mở cửa, đi ra ngoài trước.
Cái cửa kính nhìn ra vườn mở toang. Đám người có cả Fujima đã ra vườn. Trong phòng chỉ còn lại hai người phụ nữ. Cả hai đều đeo tạp dề. Một trong hai người đó là Fujima Kazue.
“Yasuko, để tớ giới thiệu chồng mình với cậu.” Minako cất giọng gọi một người trong số đó. Người phụ nữ trung niên đậm người, hơi tròn trịa ấy toan mang món khai vị ra vườn, nghe Minako nói vậy liền bưng cái khay trở lại bàn.
“Hân hạnh được biết anh. Tôi là Sekitani.” Cô ta tươi cười cúi chào.
“Tôi thường xuyên nghe vợ nhắc đến cô, mà bây giờ mới có dịp gặp mặt. Cảm ơn cô đã luôn giúp đỡ vợ tôi.”
“Người nói câu cảm ơn phải là tôi mới đúng. Tôi mới luôn được Minako giúp đỡ, từ hồi còn học ở trường nữ sinh.” Nói rồi, Sekitani Yasuko nhìn Minako, lè lưỡi ra trêu chọc.
Một người đàn ông từ ngoài vườn đi vào trong nhà. Anh ta gầy gò, trán bị bò liếm, nụ cười đang nở trên môi.
“Tôi là Sekitani. Không biết tôi có mang danh thiếp không.” Anh ta lục tìm trong túi quần.
“Tôi là Namikishi. Hôm nay đã làm phiền anh rồi, mong anh bỏ qua cho.”
“Mọi người thay phiên nhau làm mà, nên anh đừng bận tâm quá. Chúng tôi cũng sẽ làm phiền anh Namikishi đấy.”
“Nghe nói anh làm công việc về xây dựng. Tình hình ngành xây dựng thế nào ạ?”
“Vẫn chưa thấy khởi sắc. Có vẻ phải kiên nhẫn thêm một thời gian nữa.” Anh ta nhăn nhó khuôn mặt quá mức cần thiết.
Một người đàn ông trẻ đứng sau lưng Sekitani. Anh ta cũng đang nhìn Yunsuke.
Minako ở bên cạnh nói xen vào, “Anh này, đây là thầy Tsukumi.”
“À, vậy anh là thầy giáo à?” Yunsuke gật đầu.
“Mong được anh giúp đỡ.” Người thanh niên trẻ cúi đầu.
“Cảm ơn thầy đã luôn quan tâm đến Shota nhà tôi. Mong thầy tiếp tục chiếu cố cho cháu.”
Nghe vậy, Tsukumi vội lắc đầu. Anh ta rụt cằm lại, ngước mắt nhìn lên.
“Shota là cậu bé ngoan. Thành tích học của cháu tốt. Nên tôi không có gì phải nhọc công cả. Hẳn anh chị đã nuôi dạy cháu rất tốt.” Nụ cười thoáng hiện trên hai khóe miệng anh ta, nét mặt ấy toát lên sự thành thật.
“Nào tôi có làm được gì đâu.” Yunsuke cười nhăn nhó.
“Nhưng chẳng phải lần này anh đã đi cả quãng đường dài để đến tận đây sao, trong lúc còn bận trăm công nghìn việc.” Tsukumi nói. “Người thờ ơ với con cái sẽ không làm được như vậy. Hay là anh có mục đích nào khác?”
Yunsuke vụt tắt điệu cười nhăn nhó, nhìn thẳng vào khuôn mặt của thầy giáo luyện thi, quả quyết nói, “Tôi không có mục đích nào khác. Sự thật đúng là như vậy.”
“Thấy chưa, điều đó chứng minh Shota có ông bố tuyệt vời đấy.”
Yunsuke làm điệu cười hời hợt, nghiêng đầu, cố cho mọi người thấy.
“Tôi xin lỗi vì xuống muộn.” Tiếng nói phát ra ở sau lưng Yunsuke. Anh ngoảnh lại, thấy Sakazaki đang dẫn một người phụ nữ đi vào phòng khách. Đường nét trên khuôn mặt cô ta giống y như con búp bê Nhật. Nhưng trên gương mặt trắng trẻo lại phảng phất sắc xanh xao. Cô ta mặc váy dài liền thân.
“Kimiko, cô ổn không?” Giọng Minako không giấu được vẻ lo lắng.
Cô ta khẽ cười rồi gật đầu. “Tôi ổn mà. Xin lỗi vì tôi không đỡ đần mọi người được gì cả.” Cô ta uể oải đáp lại bằng giọng nhỏ nhẹ.
“Đừng nghĩ ngợi chuyện đó, cô đã hết sốt chưa?”
“Trông có vẻ chưa đến ba mươi bảy độ. Tôi nghĩ là ổn rồi.” Sakazaki trả lời thay vợ.
“Đừng làm gì quá sức nhé. Cô cứ nghỉ ngơi bao lâu cũng được.” Fujima nói sau khi từ vườn đi vào phòng khách.
“Cảm ơn mọi người đã quan tâm. Nhưng mà nếu thế thì không hiểu tôi đến đây để làm gì nữa.” Ánh mắt cô ta dừng lại khuôn mặt Yunsuke. “Xin hỏi, anh là… của Minako?”
“Tôi là Namikishi.” Yunsuke cúi đầu và chào hỏi lại một lần nữa giống như ban nãy. Xem ra Sakazaki Kimiko bị mệt từ hôm qua, nên nằm ngủ suốt ngày hôm nay.
“Có vẻ cô ấy bẩm sinh đã ốm yếu.” Minako nói thầm vào tai Yunsuke sau khi tách khỏi vợ chồng Sakazaki.
Đúng lúc ấy, tiếng chuông cửa ở sảnh ra vào vang lên. Mọi người đồng loạt nhìn nhau.
“Ồ, có khi nào là vị khách đó?” Tsukumi nói bâng quơ, rồi nhìn Fujima. “Như lúc nãy tôi bảo anh đấy.”
“À à!” Fujima gật gù.
Đợi Tsukumi đi ra sảnh, Yunsuke quay sang hỏi Minako, “Khách nào vậy?”
“Ai mà biết được!” Cô nghiêng đầu tỏ ý không hiểu. Chẳng mấy chốc sau đó, Tsukumi đã quay lại. Yunsuke mở to mắt nhìn vị khách bước vào phòng khách sau Tsukumi.
Đó là Takashina Eriko.
“Nào, chào mừng cô tới đây.” Fujima cất giọng niềm nở.
“Tôi xin mạn phép đến đây. Vì qua lời anh Tsukumi kể, có vẻ mọi người ở đây rất vui ạ.”
“Chúng tôi lấy làm vinh dự, có cô gái trẻ đẹp nhập hội thì niềm vui sẽ tăng lên gấp bội.” Sekitani góp lời.
“Ơ kìa, mà này…” Yunsuke mang vẻ mặt đầy nghi vấn lần lượt nhìn mặt Eriko và nhóm Fujima. “Chuyện này là thế nào? Không phải cô về Tokyo luôn rồi à?”
“Lúc đầu tôi cũng định như thế, nhưng trên đường ra thì gặp anh Tsukumi và anh Sekitani, lại được họ mời ở lại ăn tối.” Eriko cười toe toét, rồi cũng nhìn một lượt gương mặt của tất cả mọi người ở đó.
Đến đây, Sekitani vội giải thích, “Chẳng phải cô ấy đến đưa đồ cho anh Namikishi sao? Để cô ấy lặn lội đến đây xong lại về luôn thì tội quá. Nên tôi nghĩ ít nhất cũng mời cô ấy ở lại đây vui vẻ một đêm.”
“Một đêm, nghĩa là cô sẽ ngủ tại đây sao?” Yunsuke hỏi Eriko.
“Chỗ ngủ thì thiếu gì.” Fujima nói xen vào. “Có thể anh Namikishi không muốn người cùng công ty trông thấy cuộc sống riêng tư của mình, nhưng trong hôm nay, hãy nghĩ cô Takashina là khách của chúng ta.”
“Nhưng mà…”
“Thôi được rồi. Sẽ vui lắm đây.” Sakazaki vô tư nói. “Tôi tiếc ngẩn người vì tưởng cô về luôn đấy. Thế này thì cô sẽ mang một làn gió mới đến buổi tiệc nướng của chúng tôi.”
“Ái chà, xin lỗi vì ở đây toàn gương mặt anh nhìn chán rồi nhé!”
Vài người cười ồ lên trước câu bông đùa của Sekitani Yasuko.
Yunsuke chỉ lặng lẽ nhìn Eriko mà không nói gì. Cô cũng nhìn vào mắt anh, nở một nụ cười ẩn ý.
4 Đến bữa tối, buổi tiệc nướng được tổ chức trong phòng khách và sân vườn. Duy có thời gian này, bố mẹ mới được ở cùng con cái nên các gia đình tự khắc đứng quay lại cạnh nhau.
“Việc học thế nào hả con? Có hiệu quả không?” Yunsuke hỏi Shota lúc cậu bé đang cắn xiên thịt. Hai người ngồi cạnh nhau, ngồi lên thùng bia thay cho ghế. Minako đang chuyển đồ uống cho mọi người ở cách đó không xa.
“Vâng, cũng tàm tạm ạ.” Shota trả lời bằng giọng đều đều không ngữ điệu. Kiểu tóc dài phủ kín đôi tai của cậu bé là kiểu tóc mà Minako yêu thích. Tay chân cậu bé thon dài, cổ nhỏ.
“Học từ sáng đến tối chắc con vất vả lắm nhỉ?”
“Tại con không được lựa chọn mà.” Shota trả lời, đầu vẫn cúi gằm.
Yunsuke cầm lon bia trên tay, ghé tai Shota, thì thầm, “Mặc kệ việc thi cử đi con. Nếu con không muốn vào trường trung học tư thục thì không thi cũng được. Không cần gượng ép bản thân làm việc mà mình không muốn.”
Shota không phản ứng lại. Chỉ cúi đầu nhìn bàn tay đang cầm xiên thịt. Trong thoáng chốc, bầu không khí trở nên tĩnh lặng, chỉ còn nghe thấy tiếng thở dài phát ra từ miệng đứa trẻ mười một tuổi.
Yunsuke đi tìm Eriko. Cô đang vui vẻ tán gẫu gì đó với Sakazaki, trên tay cầm ly rượu vang.
“Cô ta có mục đích gì thế nhỉ?” Minako đã đến bên cạnh Yunsuke, thì thầm vào tai anh từ lúc nào. “Em tưởng cô ta chỉ đến đưa đồ cho anh thôi, ai dè lại bất thình lình xuất hiện ở đây thế này.”
“Em không biết cô ấy được mời đến đây à?”
“Em không biết.”
“Anh cũng tưởng cô ấy về ngay lúc đó rồi.”
“Dù người ta có mời mọc thế nào, thì cũng đừng vô tư nhận lời như thế chứ. Đúng là không biết ý biết tứ gì cả. Trong khi đám Tsukumi chắc chỉ mời xã giao thôi.”
Yunsuke im lặng, nghiêng lon bia.
Thấy Sakazaki đã lảng ra chỗ khác, Eriko nhìn nhanh về phía Yunsuke. Anh đứng dậy, đi về phía cô. Minako bắt đầu nói chuyện với Sekitani Yasuko.
“Anh có những người bạn vui tính đấy.” Eriko ngước nhìn Yunsuke.
“Sao em lại tắt điện thoại? Anh đã gọi em mấy lần rồi.”
“Thế à? Tại em tưởng không có việc gì gấp.”
“Thôi, chuyện đó thế nào cũng được. Quan trọng hơn, việc em đang làm ở đây có mục đích gì vậy?”
“Có gì không được sao?”
“Chắc chắn là không rồi. Em đến đây làm gì? Lại còn nói dối là anh bỏ quên đồ. Em đã nói gì với mấy người ở công ty thế?”
“Em xin nghỉ phép rồi. Mà em không ngờ lại bị anh nói thế này. Bởi em chỉ đang làm theo lệnh của anh thôi.”
“Lệnh của anh ư? Anh không nhớ là mình đã bảo em đến đây.”
“Nhưng anh đã lệnh cho em làm việc đó.”
“Việc đó thì…” Yunsuke đảo mắt nhìn xung quanh, thấy không ai chú ý, rồi mới hạ giọng. “Đúng là anh đã nhờ em làm việc đó, nhưng em không cần phải đến tận đây, đúng không? Ngược lại, em có thể tranh thủ điều tra nhân lúc bọn họ không ở đó.”
“Vì vậy…” Eriko lè cái lưỡi màu hồng ra như thể trêu chọc. “Em đã điều tra tất cả những gì có thể và đến đây để hoàn thiện việc điều tra đó đây.”
“Vậy, em nắm được thông tin gì rồi à?”
“Có lẽ.” Eriko nhếch một bên khóe môi.
“Nói vậy là em biết kẻ đó là ai rồi sao? Quả nhiên là Tsukumi đúng không?” Dù anh cố nói nhỏ, nhưng không giấu được giọng điệu gay gắt.
“Vẻ mặt đáng sợ đó sẽ khiến anh bị nghi ngờ đấy. Vợ anh đang nhìn chúng ta.” Eriko nhìn ra phía sau anh. “Chi tiết em sẽ nói sau nhé. Gần đây có một khách sạn tên là Lakeside, anh có biết không?”
“Vậy sao? Anh không biết.”
“Ra khỏi khu biệt thự, rẽ trái, đi thêm khoảng năm mươi mét là thấy. Tầng một của khách sạn đó là sảnh phục vụ đồ uống. Chúng ta hãy gặp nhau ở đó lúc mười giờ, à không, mười giờ ba mươi phút đi. Hình như sảnh đó mở đến mười một giờ.”
“Em biết rõ thật đấy.”
“Tại vì em sẽ nghỉ tại khách sạn đó.”
“Nghỉ tại đó ư? Nhưng chẳng phải ban nãy em bảo sẽ ngủ ở đây sao?”
“Anh muốn em làm thế à?” Cô nhìn anh, nụ cười vẫn phảng phất trên môi.
Yunsuke quay mặt đi một chốc, rồi lại nhìn cô. “Anh khó mà viện lý do để rời khỏi đây vào thời gian đó.”
“Nếu vậy thì anh không đến cũng được.”
“Anh nhất định sẽ đến. Nhưng trước tiên anh muốn biết tên của kẻ đó ngay bây giờ, tại đây.”
“Hiện giờ em chưa thể nói gì. Nhưng mà sau hai tiếng nữa, chắc em sẽ biết thôi. Đừng lo, em đã nắm thóp của hắn ta.” Nói rồi, cô nhanh nhẹn bước qua Yunsuke. Trước khi rời đi, cô còn quay lưng về phía anh nói thêm, “Shota có vẻ là một cậu bé ngoan, lại học tốt nữa. Chắc cậu bé sẽ thi đỗ vào ngôi trường mình hằng mong muốn.”
Yunsuke hít một hơi. Nhưng anh chưa kịp nói điều gì, Eriko đã nhanh chân rời khỏi đó.

“Con đã quyết định sẽ làm gì trước khi đi ngủ chưa?” Fujima hỏi cậu con trai Naoto. Hai bố con ngồi đối diện nhau trên chiếc bàn kê ở ngoài vườn.
“Bài kiểm tra chữ Kanji.” Naoto bực bội trả lời. Cậu bé có vóc dáng thâm thấp, đậm người, gương mặt trắng trẻo như con gái.
“Con định làm mấy trang?”
“Con chưa nghĩ đến.”
“Thế thì không được rồi. Phải quyết định mình sẽ làm đến đâu ngay từ đầu chứ. Nếu không, con sẽ chỉ kéo thời gian dài lê thê ra thôi. Bố hiểu rồi, vậy con làm ba trang đi. Làm xong mà vẫn dư thời gian thì làm thêm bài tập Toán. Con thấy được không?”
Cậu con trai gật đầu, nét mặt chẳng lấy gì làm vui vẻ. Biểu cảm trên gương mặt hằm hằm ấy như nói rằng món gà nướng đang ăn không còn ngon một chút nào.
“Này con, bạn Shota giỏi thế cơ à?” Ở bên cạnh lẳng lặng ngồi nghe cuộc hội thoại của hai bố con, sau cùng Kazue cũng lên tiếng. Naoto đang uống nước ép, im lặng gật đầu thay cho câu trả lời.
“Em nói gì vậy? Sao lại nhắc đến Shota ở đây?” Fujima hỏi.
“Là tại vì lúc nãy thầy Tsukumi cũng nói còn gì. Rằng Shota rất giỏi.”
“Đó đơn thuần là lời khen xã giao thôi. Em không cần cả nghĩ.”
“Thế nhỡ Shota thi đỗ, còn Naoto nhà mình trượt thì sao?”
“Thôi đi.” Fujima chau mày. “Chuyện đó không thể nào xảy ra. Vì Naoto là con trai anh.”
“Nhưng mà, vẫn có những chuyện chẳng may mà.”
“Không bao giờ có chuyện đó.” Fujima nốc cạn lon bia. “Anh đang cố gắng làm hết mọi việc trong khả năng của mình. Em hiểu rõ điều đó mà.”
“Thì đúng là như vậy, nhưng mà…”
“Em không cần lo lắng gì cả. Chỉ cần nghĩ xem làm thế nào để tạo ra môi trường thuận lợi cho Naoto học thôi.”
Kazue đăm chiêu thở dài.

“Em đâu cần phải gắng gượng để tới đây.” Sakazaki cắn miếng thịt trên xiên rồi nói với vợ mình. Kimiko hầu như không nói gì, chỉ lặng lẽ uống nước. Có lẽ thấy lạnh nên cô khoác thêm áo len mỏng. Cậu con trai lớn Takuya đang nhai miếng dứa ở cách đó không xa.
“Người nói em nhất định phải tham gia trại luyện thi là anh đấy nhé.”
“Thì anh đã bảo là mình anh lo được cho Takuya rồi mà. Em đến tận đây rồi lại sốt thế này là làm phiền mọi người chứ còn gì nữa.”
“Ờ, ý anh là biết thế để em ở nhà đúng không? Bỏ lại mình em và mẹ anh, trong căn hộ chật chội đó?”
“Em cũng có thể về nhà bố mẹ mình.” Sakazaki bỏ xiên thịt lên trên đĩa.
Kimiko không nhìn mặt chồng, cô cọ người vào chiếc áo khoác len.
“Anh nói vậy nghĩa là không muốn em đến đây?”
“Không phải như vậy, anh chỉ nói nếu em mệt thì không cần gượng ép bản thân thế.”
“Thôi được rồi, anh khỏi cần giải thích. Anh tưởng em không biết gì sao?”
Nghe vậy, Sakazaki hít một hơi để lấy lại bình tĩnh, rồi mới hỏi, “Em nói chuyện gì?”
“Anh đừng vờ vịt. Ban ngày anh chơi tennis vui vẻ đến thế mà.”
“Em nói thế là sao? Chẳng lẽ anh không được chơi tennis à?”
“Em không hề có ý đó. Anh biết rõ mà.”
“Anh chẳng hiểu em đang nói chuyện gì nữa.” Sakazaki bực dọc đứng dậy.

Tám giờ, bọn trẻ quay lại biệt thự cho thuê. Bố mẹ của từng đứa cũng tập trung lại trước sảnh để tiễn con mình.
“Anh Sakazaki, vậy nhờ anh giúp đỡ mấy đứa trẻ.” Fujima Kazue nói với Sakazaki.
“Vâng, cứ giao việc đó cho tôi.”
“Ồ, anh Sakazaki sẽ đến biệt thự đằng đó à?” Takashina Eriko hỏi.
“Ừ, cũng phải đi chứ để một mình thầy Tsukumi xoay xở thì áy náy lắm.”
“Vậy à. Hẳn biệt thự đó cũng đẹp lắm nhỉ?”
“Nói thế nào nhỉ? Vì đó là biệt thự cho thuê mà.” Sakazaki nghiêng đầu, sau một thoáng phân vân, anh ta mở lời nói tiếp. “Nếu tiện thì cô có muốn đi cùng tôi qua đó không?”
“Tôi đi được không ạ?” Cô tròn mắt ngạc nhiên.
“Được chứ sao. Cũng không ảnh hưởng gì mà.” Sakazaki ướm lời, mắt dò xét những người khác.
“Tuy là biệt thự cho thuê, nhưng khá lộng lẫy. Mới hơn hẳn căn này.” Fujima tươi cười nói.
“Vậy, cho tôi ngắm một chút được không ạ?”
Sakazaki gật đầu liên tục. “Vậy, xin mời, xin mời.”
“Thế thì tạm thời chưa xếp phòng cho cô Takashina vội. Biết đâu cô ấy lại bảo thích ở biệt thự cho thuê hơn.” Nghe Fujima nói, vài người mỉm cười.
Sau cuộc trao đổi trên, Sakazaki dẫn bốn đứa trẻ, cùng với Eriko rời biệt thự của Fujima. Bọn trẻ cắm cúi đi đằng trước, hai người nối gót ở đằng sau.
“Tôi thấy ghen tị với anh Namikishi, khi ngày ngày được làm việc chung với người như cô Takashina đây.” Sakazaki buông lời khen ngợi, chân vẫn bước đi. Anh liếc sang bên cạnh nhìn gương mặt nghiêng của Eriko.
“Anh khéo nói thật đấy. Anh luôn khen ngợi phụ nữ thế này à?”
“Đâu có, tôi nói thật lòng mà. Có thể cô nghĩ tôi đang tâng bốc, nhưng thật lòng tôi nghĩ cô là một người phụ nữ tuyệt vời.”
“Cảm ơn anh đã dành lời khen.” Eriko cúi đầu, rồi sau đó nhìn bọn trẻ đang đi phía trước. “Takuya xem ra có năng khiếu vận động, cậu bé chơi môn thể thao gì vậy?”
“Thằng bé chơi bóng đá. Mặc dù nó vận động cơ thể tốt, nhưng đầu óc lại không nhanh nhạy lắm. Tôi cứ lo nó sẽ làm vướng tay vướng chân những đứa khác.”
“Nhưng cậu bé đã đặt mục tiêu thi vào trường trung học tư thục nhỉ? Thế cũng là giỏi rồi.”
“Đặt mục tiêu thì ai chẳng làm được. Cá nhân tôi thấy trường công lập ở địa phương cũng không tồi, nhưng mà tôi còn giao du với mọi người nữa, cho nên không thể tách nhóm, một mình một kiểu được.”
“Vậy ra mọi người đều cho con dự thi vào trường trung học tư thục à?”
“Ừ, gọi là đi theo cả nhóm thì…” Sakazaki bỏ lửng vế cuối.
Họ đã đến biệt thự cho thuê kiểu nhà xếp gỗ. Bọn trẻ im lặng nhìn Sakazaki mở khóa cửa. Cả lúc cửa mở, đi vào trong nhà rồi, bọn chúng vẫn yên lặng không nói lời nào.
“Cả bốn đứa đều đi giày giống nhau nhỉ? Đó là do nhà trường yêu cầu ư?” Eriko nói khi nhìn những đôi giày bọn trẻ cởi ra.
“Chúng tôi mua ở cùng một cửa hàng mà anh Fujima giới thiệu. Nghe đâu những đôi giày đó giúp bọn trẻ thông minh hơn.”
“Đầu óc thông minh hơn ư?” Eriko cười ngặt nghẽo.
“Cô cười cũng phải thôi. Đến tôi lúc nghe chuyện đó còn không nghĩ là thật. À không, đến giờ tôi vẫn thấy khó tin đấy. Nó giống như một dạng bùa may mắn.”
“Vậy có căn cứ khoa học nào không ạ?”
“À có đấy. Anh ấy nói chân trái và chân phải của con người vốn có chiều dài khác nhau, nên xương sống dần dần bị cong vẹo để tạo sự cân bằng cho hai chân. Và trong xương sống có tủy sống, mà dây thần kinh trong tủy sống chạy đến não, nên xương sống bị cong vẹo khiến não hoạt động kém.”
“À!” Eriko gật gù. “Nếu nghe giả thuyết đó thì cũng thấy thuyết phục đấy chứ.”
“Đúng vậy không? Vì trên đời này thiếu gì thiên tài với dáng người xiêu vẹo.”
Trong lúc hai người mải nói chuyện, bọn trẻ đã đi lên cầu thang. Sakazaki mở cánh cửa cuối hành lang ra. Trong đó là một sảnh phục vụ đồ uống rộng rãi. Chính giữa căn phòng là một cái bàn lớn. Ở bên cạnh có tấm bảng trắng do Fujima đem đến.
“Biệt thự đẹp quá. Tiền thuê bao nhiêu nhỉ? Có khi lần tới mình cũng thu xếp đến đây cùng ai đó.” Eriko lẩm bẩm một mình khi nhìn quanh bức tường được tạo nên bởi các khối gỗ xếp chồng lên nhau.
“Cô muốn dẫn ai đến đây à?” Sakazaki cười toe toét. Nhưng cô chỉ cười thay cho câu trả lời. Sakazaki mở tủ lạnh ở bên cạnh bồn rửa tay nhỏ.
“Cô muốn uống gì không? Thấy bảo có một ít đồ uống trong này.” Không thấy Eriko trả lời, anh lấy ra hai lon nước ép bởi không thấy đồ uống có cồn trong tủ lạnh.
“Vậy anh và thầy Tsukumi sẽ trông chừng tối nay nhỉ?”
“Ừ, hôm nay tới phiên của tôi.” Sakazaki đặt hai lon nước ép lên bàn, xếp cạnh nhau và ngồi xuống ghế. “Cô cũng ngồi đi!”
“Vợ anh trông không được khỏe, anh ở đây thế này có sao không?”
Sakazaki giật khoen lon nước, cười xếch một bên gò má. “Chuyện như cơm bữa mà. Sau cuộc phẫu thuật đó, cô ấy cứ ốm đau liên miên. Tôi cũng quen với việc đó rồi.”
“Phẫu thuật ư?”
“Cô ấy bị u ác tính, nên đã cắt bỏ tử cung và buồng trứng.”
“Ra vậy.” Eriko nói rồi ngồi xuống ghế. Chỗ cô ngồi ở giữa Sakazaki và cái bàn.
“Ngọt bùi đắng cay tôi đều trải qua hết rồi, dù gì vợ tôi cũng không còn là phụ nữ nữa.” Sakazaki nhíu mày đăm chiêu, uống lon nước ép, sau đó đắm đuối nhìn Eriko. “Cô vẫn chưa trả lời câu hỏi ban nãy của tôi.”
“Câu hỏi ban nãy ư?”
“Người yêu í, cô có không?”
“Ai mà biết được.” Eriko lại mỉm cười.
 
 
 
 
5 Trong biệt thự của Fujima, trừ vợ chồng Sakazaki ra, mọi người đang ngồi quây quần quanh chiếc bàn ở phòng khách. Tsukumi đứng yên tại chỗ, mắt đảo quanh nhìn khắp lượt bọn họ.
“Tiếp theo tôi xin nói về giải pháp cho câu hỏi thời sự. Dù gọi là như vậy, nhưng không có môn học nào mang tên thời sự cả. Mà câu hỏi thời sự được khéo léo lồng ghép trong các câu hỏi về lịch sử, địa lý hay công dân. Dù chiếm tỷ lệ trong thang điểm không nhiều, nhưng những đứa trẻ học tốt chắc chắn kiếm được điểm ở dạng câu hỏi này. Cũng không phải đánh đố gì cả, thắng thua đều dựa vào kiến thức cơ bản thôi, nên anh chị hãy nghĩ rằng con mình giải được mấy câu hỏi này trong tầm tay.” Tsukumi nói rành mạch như phát thanh viên truyền hình, trên gương mặt ưa nhìn ấy hầu như không bộc lộ bất cứ cảm xúc gì. “Những gia đình đang có thông lệ xem TV vào giờ ăn, hãy duy trì thói quen đó, xem thời sự nhiều nhất có thể. Trong trường hợp bữa ăn không trùng với giờ chiếu thời sự, có thể ghi hình vào video, đến giờ ăn thì bật lên xem. Không phải để con xem một mình đâu nhé, cả nhà cùng phải xem, rồi bàn luận với nhau. Bởi cách làm này đọng lại ấn tượng sâu sắc hơn hết thảy. Nếu chương trình xuất hiện những từ bọn trẻ không hiểu thì bố mẹ cố gắng giải thích ngay lúc đó.”
Yunsuke ngáp không ngừng nghỉ, anh đưa tay đeo đồng hồ xuống dưới bàn, len lén nhìn giờ. Đã tám giờ bốn mươi phút rồi.
“Không biết tôi giải thích được cho con không?” Giọng Fujima Kazue xen lẫn bất an.
“Bố mẹ hãy học tập hằng ngày để làm được như thế.” Tsukumi nói như muốn buông xuôi. “Dẫu không trả lời được ngay, cũng phải tìm hiểu ngay lúc ấy, chứ đừng bỏ ngỏ. Với những câu hỏi về thời sự này, chỉ cần bố mẹ lật lại những bài báo cũ là hầu như biết được đáp án.”
Các ông bố bà mẹ gật gù không ngớt trước lời căn dặn của thầy giáo luyện thi. Yunsuke cũng làm bộ ghi chép lại.
“Có lẽ phải tổng hợp lại tất cả những tin tức thời sự quan trọng đã xảy ra tính đến thời điểm này của năm nay.” Fujima nhìn về phía vợ và nói.
“Việc đó cũng quan trọng, nhưng tôi cho rằng cần chú trọng những tin tức được đưa ra từ thời điểm bây giờ đến cuối năm hơn. Vì nghe đồn những câu hỏi trong kỳ thi đầu vào sẽ được soạn ra từ bây giờ. Con người làm ra câu hỏi, nên có khuynh hướng sử dụng những sự kiện còn mới trong ký ức của mình.”
“Ra là vậy. Những câu hỏi sẽ được soạn từ bây giờ à?” Fujima lẩm nhẩm trong miệng. Ngồi bên cạnh, Sekitani ho nhẹ.
Tsukumi nói xong cũng là lúc kim đồng hồ chỉ hơn chín giờ.
Yunsuke nói thầm vào tai Minako, “Anh không nghĩ là có cả hội học tập cho bố mẹ đấy.”
“Có phải chuyện gì to tát đâu.”
“Đúng vậy. Chuyện chẳng có gì to tát. Chỉ là giọng điệu của anh ta khiến anh liên tưởng đến mấy kẻ làm công việc tư vấn doanh nghiệp. Mặc dù nội dung sơ sài, nhưng lại dùng cách nói ra vẻ trịnh trọng lắm, làm người nghe lầm tưởng rằng mình đang nghe chuyện hệ trọng.”
Không đợi chồng nói hết câu, Minako đã đứng dậy. “Thầy vất vả rồi. Để tôi pha cà phê nhé.” Cô nói và đi về phía bếp.
“À thôi, tôi không cần đâu.” Tsukumi khẽ xua tay. “Tôi lo cho bọn trẻ nên muốn về biệt thự đằng kia.”
“Không sao đâu, uống một cốc cà phê không mất nhiều thời gian đến thế.” Fujima cố giữ chân.
“Tôi không cần thật mà. Cảm ơn mọi người.”
“Tôi cũng không uống cà phê đâu nhé! Tôi sẽ về phòng vì có việc cần làm.” Sekitani nói rồi rời đi trước.
Chừng hai, ba phút sau, Tsukumi quay lại, gương mặt phảng phất sự nghi hoặc.
“Ơ, thầy giáo à? Thầy để quên đồ sao?” Minako hỏi.
“Không, thật ra tôi bị mất giày. Mà chỉ mất một chiếc.”
“Giày á? Một chiếc ư?” Fujima bật cười. “Hay anh Sakazaki đi nhầm giày của thầy nhỉ? Nhưng mà nhầm một chiếc thì cũng lạ đấy.”
Mọi người cùng đổ xô về phía sảnh ra vào. Yunsuke cũng đi theo.
Trước sảnh, giày da của đàn ông và xăng-đan của phụ nữ được xếp gọn gàng. Nhưng cách đó không xa, chỉ có một chiếc giày da lộn bên chân trái.
“À đúng thật này. Lạ thật.” Đến sau Minako, Yunsuke nhìn xuống chiếc giày da chỉ có một bên và nói.
“Có khi để vào tủ giày rồi cũng nên.” Fujima Kazue nhòm vào tủ giày. “Không có rồi.”
“Lạ nhỉ, chắc anh Sakazaki không đi nhầm đấy chứ?” Fujima lặp lại câu nói ban nãy.
“Chắc không có ở ngoài đâu nhỉ?” Sekitani Yasuko nghiêng đầu, chân xỏ xăng-đan bước ra ngoài.
“Thầy có chắc là để giày ở đây không?” Yunsuke xác nhận lại.
“Chắc chắn tôi để ở đây. Tại vì chiếc giày bên trái vẫn đây mà, chuyện đó nhầm làm sao được.”
Vợ chồng Fujima lại tìm trong tủ giày một lần nữa, Minako thì đi hẳn ra ngoài. Yunsuke cũng đi theo sau. Họ bắt đầu công cuộc tìm giày. Sekitani Yasuko cầm đèn pin trên tay, rọi vào bụi cây cách đó không xa để tìm kiếm.
“Rất xin lỗi mọi người.” Tsukumi ở đằng sau nói. “Sao lại xảy ra chuyện này nhỉ?”
“Có khi bọn mèo hoang tha đi mất rồi.” Minako nói, tay cầm chổi quơ vào bụi cây.
“Ở đây có mèo hoang không nhỉ?” Sekitani Yasuko nói khi đi men theo tường của biệt thự. “Cứ cho là có mèo đi chăng nữa, làm sao chúng mở được cửa sảnh ra?”
“Hay là bọn trẻ bày trò?” Yunsuke đóng góp ý kiến. “Trên đường quay lại biệt thự đằng kia, chúng cố tình giấu đi chẳng hạn.”
“Chúng mà làm việc trẻ con đó à?” Minako nói.
“Thì chúng là trẻ con còn gì.”
“Ý em là bọn trẻ không đến mức trẻ con như anh nghĩ đâu.”
“Anh thì không cho là thế.” Yunsuke nghiêng đầu hoài nghi.
Sekitani Yasuko ngạc nhiên kêu lên một tiếng. Cô ta bước vào trong bụi cây, ngồi thụp xuống, tiếp theo cầm một chiếc giày da lộn rồi đứng dậy. “Thầy Tsukumi, có phải giày của thầy đây không?”
“À, đúng rồi, đó là giày của tôi. Chắc chắn đấy.”
“Sao lại ở đó được nhỉ?” Không hiểu vì lý do gì, Minako nhìn Yunsuke. Anh dang tay sang hai bên tỏ ý không biết.
“Dù sao cũng tìm được rồi. May quá. Cảm ơn mọi người.” Tsukumi cúi đầu, xỏ chiếc giày vừa tìm thấy vào chân bên phải.
“Tìm thấy giày rồi à?” Fujima đứng ở sảnh ra vào. “Sao lại thế nhỉ? Chuyện thế này đã bao giờ xảy ra đâu.”
“Quả nhiên là trò của lũ mèo hoang rồi. Mà thôi, mọi người vào trong đi ạ. Ngoài này lạnh lắm.”
Tsukumi giục mấy người cùng Yunsuke đi vào trong biệt thự. Riêng anh ta không vào, hai chân vẫn xỏ giày, rồi cúi đầu. “Xin lỗi vì đã làm phiền. Hẹn mọi người ngày mai.”
“Chúc thầy ngủ ngon.” Mọi người cùng nhau nhìn theo bóng lưng thầy giáo luyện thi, cho đến khi anh ta đi khuất dạng.
 
 
 
6 Yunsuke quay lại phòng mình, sửa soạn để chuẩn bị ra ngoài. Anh chờ năm phút, rồi xuống cầu thang. Minako đang nói chuyện với Fujima cùng mấy người nữa trong phòng khách. Trông thấy chồng, cô liền cất lời hỏi, “Có chuyện gì vậy? Sao giờ này anh lại ăn mặc thế kia?”
“Có chuyện không hay.” Yunsuke làm điệu bộ nhăn nhó. “Video quảng cáo anh làm hôm trước gặp sự cố. Hết cách rồi, anh phải đi ngay bây giờ.”
“Bây giờ ư? Vì công việc sao? Đi vào lúc này ư?” Minako tròn mắt ngạc nhiên. Những người khác cũng không giấu nổi vẻ kinh ngạc trên gương mặt.
“Anh muốn giải quyết xong xuôi trước buổi trưa mai.” Yunsuke nhìn về phía Fujima cùng mấy người kia rồi cúi đầu.
“Tôi có việc đột xuất như đã nói ở trên. Xin lỗi vì vừa mới đến mà đã phải đi thế này, vậy tôi xin phép cáo lui.”
“Anh đã nói vậy thì cũng không còn cách nào khác.” Sau Fujima, đến lượt vợ anh ta niềm nở.
“Nhưng mà anh hãy cẩn thận đấy. Đêm hôm khuya khoắt thế này mà lái xe thì vất vả lắm.”
“Cảm ơn hai người,” Yunsuke cúi đầu lần nữa.
Anh đi ra sảnh, thấy đôi giày của mình được xếp ngay ngắn ở đó, ngoài đôi giày đó ra, không thấy đôi nào nữa.
“Kazue dọn đấy.” Minako nói. “Chuyện giày của thầy Tsukumi bị mất khiến cô ấy cứ bận lòng mãi. Dù chuyện cũng chẳng có gì.”
“Ừ.”
Vợ chồng Fujima tiễn anh ra cửa. Fujima cũng bảo sẽ giải thích với những người khác giúp anh. Yunsuke nói xin lỗi một lần nữa, rồi rời căn biệt thự. Minako cũng nối gót theo sau.
Lúc chồng sắp chui vào ô tô, cô hỏi, “Thế có chuyện gì vậy?”
“Ý em là sao?”
“Là việc anh về vào giờ này đấy.”
“Thì lúc nãy anh đã giải thích rồi đó. Công việc của anh gặp sự cố.”
“Nhưng em chưa bao giờ thấy anh vội vội vàng vàng thế này cả. Đó là sự cố gì vậy?”
“Anh có nói em cũng không hiểu đâu.” Yunsuke chui vào trong xe, thắt dây an toàn. Anh bật động cơ, mở cửa kính xe. “Anh sẽ giải quyết xong xuôi trước buổi sáng. Rồi sau đó quay lại đây.” Minako không nói gì nữa, chỉ im lặng nhìn mặt chồng. Yunsuke đóng cửa kính, rồi phóng xe lao vút đi.

Rời khu biệt thự, chạy xe thêm vài chục mét nữa, anh trông thấy tấm biển “KHÁCH SẠN LAKESIDE”. Đó là một tòa nhà nhỏ xinh, trước sảnh tòa nhà là một bãi đỗ xe rộng. Dù có khoảng hai, ba chục xe đang đỗ ở đó, bãi vẫn còn hơn nửa để trống. Yunsuke đỗ xe vào trong góc, tay cầm áo khoác, bước xuống xe.
Bước qua hai cái cửa kính, anh thấy quầy lễ tân ở bên trái; đằng trước quầy lễ tân, một hành lang trải dài tít tắp. Yunsuke nhìn vào bên trong. Một sảnh phục vụ đồ uống với không gian mở. Bên trong sảnh náo nhiệt với khách khứa tấp nập.
Anh ngồi vào chỗ có thể dễ dàng quan sát cửa ra vào, gọi một cốc soda bourbon. Tiếp đó, anh lấy ra bao thuốc trong túi áo khoác, châm lửa bằng chiếc bật lửa Zippo, rít một hơi thật sâu. Làn khói thuốc màu xám anh phả ra trôi bồng bềnh trong không gian chìm trong bóng tối mờ ảo.
Uống hết một nửa cốc soda bourbon, anh lấy ví ra, nhìn bằng lái xe và thẻ hội viên cửa hàng cho thuê băng đĩa nhét bên trong. Một góc của túi đựng bao cao su lộ ra. Anh cất ví lại chỗ cũ. Sau đó, anh rít thêm một hơi thuốc, nuốt trôi soda bourbon qua cổ họng.
Sau khi đưa cốc soda bourbon thứ hai lên miệng, anh nhìn đồng hồ. Đã gần mười một giờ, Eriko không xuất hiện. Những vị khách xung quanh lần lượt từng người rời chỗ. Yunsuke hút thêm một điếu thuốc nữa, định bụng đợi thêm năm phút nữa thôi. Năm phút lại trôi qua, anh dụi điếu thuốc ấy vào gạt tàn và đứng dậy. Dẫu đã được đổ vài lần, nhưng bên trong cái gạt tàn, đầu mẩu thuốc lá vẫn chất thành đống.
Bước ra khỏi quán bar, Yunsuke lấy điện thoại ra, thử gọi đến số được lưu trên danh bạ là “ET”. Nguyên ngày hôm nay, đã mấy lần anh phải nghe tin nhắn trả lời tự động từ số này. Lần này điện thoại đã được kết nối. Tiếng đổ chuông vang đến bên tai anh.
Nhưng chuông reo hơn chục lần, Eriko vẫn không nhấc máy. Yunsuke bỏ cuộc, bực bội tắt cuộc gọi, bật màn hình, trực tiếp ấn số điện thoại. Không chệch đi đâu được, số anh ấn hiện dòng chữ “ET” trên màn hình. Anh đợi thêm chút nữa, điện thoại lại chuyển sang chế độ trả lời tự động. Anh chép miệng, bất giác lẩm bẩm trong miệng: Cô ta đang làm cái quái gì thế không biết.
Sảnh phục vụ đồ uống đến giờ đóng cửa, nhân viên bắt đầu dọn dẹp. Những vị khách còn lại lũ lượt tản ra. Vài người bước vào trong thang máy của khách sạn, vài người khác đi ra bên ngoài khách sạn.
Yunsuke thở dài đánh thượt, bước qua tấm cửa kính.
Anh quay lại ô tô, gọi điện thoại thêm lần nữa, nhưng kết quả vẫn vậy. Anh đan tay để sau đầu, ưỡn người ra sau, buông một tiếng thở dài.
Anh lại rút điện thoại ra, lần này gọi một số khác lưu trên điện thoại. Tiếng chuông điện thoại vang lên. Chuông reo hết lần thứ tư thì điện thoại được kết nối.
“Vâng, tôi Fujima đây.” Giọng Fujima Kazue lí nhí.
“Alo, xin lỗi cô vì gọi điện vào giờ này. Tôi là Namikishi đây.”
“À anh Namikishi, có chuyện gì thế ạ?”
“À, có chút chuyện thôi, vợ tôi có ở đó không ạ?”
“Để tôi xem. À có đây, vậy tôi chuyển máy cho anh nhé.”
“Vâng, xin nhờ cô. À chờ chút đã, cô Takashina có ở đó không vậy?”
“Cô Takashina ư? Cô ấy không có ở đây.”
“Vậy cô có biết cô ấy ở đâu không? Tôi không gọi được cho cô ấy.”
“Biết nói sao nhỉ…” Fujima Kazue nín thinh một lát, rồi nói. “Tạm thời tôi cứ chuyển máy cho Minako đã nhé.”
“Vâng, xin nhờ cô.”
Yunsuke áp điện thoại lên tai, đầu ngón tay gõ nhẹ vào vô-lăng. Trong khoảng thời gian chờ đợi ấy, anh không thôi hướng mắt nhìn về sảnh khách sạn. Quả nhiên Takashina Eriko không xuất hiện.
“Alo.” Giọng Minako truyền đến tai anh. Giọng nói thều thào nhỏ hơn hẳn thường ngày.
“Anh đây.”
“Có chuyện gì ạ?”
“Không có chuyện gì. Thực ra lúc nãy người của công ty gọi cho anh, nói là sự cố được giải quyết ổn thỏa rồi. Thế nên anh sẽ quay xe lại.”
“Quay xe lại… Ý anh là quay lại đây á?”
“Ừ. Anh đã quay xe ngay trước đường cao tốc. Chắc mười phút nữa về đến biệt thự thôi.”
Minako không trả lời.
“Thế có chuyện gì sao?” Anh hỏi. “Anh không được quay về đó à?”
“Không phải như vậy. Chỉ là chuyện xảy ra đột ngột nên em hơi bối rối.”
“Tóm lại mọi chuyện là như vậy, em hãy giải thích cho những người khác giúp anh.”
“Em hiểu rồi.”
“Vậy nhờ em.” Yunsuke nói rồi dập máy. Sau đó, anh nhìn đồng hồ. Mười một giờ mười phút rồi.
Chờ đến mười một giờ hai mươi phút, anh bật động cơ, phóng ô tô đi. Anh lái xe quay lại con đường đã qua, rẽ vào trong khu biệt thự, rồi lại đánh xe vào bãi đỗ xe ban nãy. Trong biệt thự của Fujima, các ô cửa sổ vẫn sáng đèn rực rỡ.
Anh bấm chuông cửa và đứng chờ, có tiếng mở khóa, cửa mở ra. Fujima đứng ở đó.
“Anh vất vả rồi.” Fujima nhìn Yunsuke rồi nói. Trên gương mặt đó, không còn nụ cười niềm nở của vài tiếng đồng hồ trước.
“Vợ tôi đã giải thích tình hình cho anh chưa?”
“Rồi, tôi biết là anh đã giải quyết xong sự cố.”
“Đúng vậy. Nên tôi mới lập tức quay về đây. Xin lỗi vì tôi toàn tự làm theo ý mình.” Yunsuke cúi đầu.
“Không sao, anh đừng bận tâm chuyện đó.” Fujima không nhìn mặt Yunsuke, chỉ đi khóa cửa lại.
Không biết từ lúc nào, vợ chồng Sekitani và Fujima Kazue đã có mặt ở tiền sảnh. Nhìn thấy bọn họ, Yunsuke lại cúi đầu lần nữa. “Xin lỗi vì đã gây phiền phức cho mọi người.”
Nhưng không ai trong số họ đáp lại lời xin lỗi ấy. Mọi người chỉ cúi mặt lảng tránh, gương mặt ai nấy đều ủ rũ.
“Có chuyện gì vậy?” Yunsuke hỏi, lần này cũng không ai trả lời anh. “Vợ tôi… Minako đang ở đâu vậy?”
Nghe như Sekitani Yasuko hít vào một hơi. Thấy Yunsuke nhìn mình, cô ta cũng ngước nhìn lại.
“Vợ anh đang ở trong phòng khách.”
“Cô ấy đang làm gì à?”
“Không phải như vậy.” Yasuko vẫn chưa ngẩng mặt lên.
“Anh Namikishi.” Fujima cất tiếng. “Anh hãy đến chỗ vợ mình đi!”
Yunsuke nhìn Fujima, sau đó quay sang nhìn mọi người một lần nữa, rồi mới cởi giày ra. Anh bước trên hành lang, mở cửa phòng khách ra.
Thoạt đầu anh tưởng trong phòng khách không có ai. Nhưng mà không phải. Khi tiến sâu vào trong, Yunsuke bắt gặp Minako đang ngồi thu lu dưới cái bàn. Cô vòng tay ôm đầu gối, gương mặt vùi trong hai cánh tay.
“Em đang làm gì ở đây vậy?”
Nghe thấy giọng anh, Minako từ từ ngẩng mặt lên. Lớp trang điểm xung quanh mắt nhòe nhoẹt vì nước mắt. Cổ tay phải của cô quấn băng.
“Em bị sao vậy? Vết thương đó là thế nào?”
Thế nhưng cô chỉ nhìn anh bằng ánh mắt vô hồn.
“Để tôi giải thích cho anh.” Giọng nói vọng ra đằng sau lưng Yunsuke. Đám người cùng Fujima đã đi vào trong phòng từ bao giờ. “Thật ra ban nãy…”
“Đợi đã!” Minako ngắt lời. “Tôi sẽ tự nói.” Cô uể oải đứng dậy. Máu thấm đẫm băng trên tay.
“Sao vậy? Đã có chuyện gì?” Yunsuke hỏi đám người Fujima.
“Để em giải thích. Anh hãy đi cùng em.” Minako nói rồi rời phòng khách. Yunsuke đi theo sau.
Cô leo lên cầu thang, dừng bước trước căn phòng của hai người. Sau khi xoay tay nắm cửa, cô quay lại nhìn Yunsuke dặn dò, “Anh đừng giật mình nhé!”
Anh nuốt nước bọt. Fujima và những người khác đã đứng sau lưng anh.
Minako mở cửa ra. Nhưng cô không vào bên trong, chỉ nói với Yunsuke, “Anh hãy tự nhìn xem đã xảy ra chuyện gì.”
Yunsuke băng qua Minako, đặt chân vào phía bên kia cánh cửa. Ngay giây phút đó, anh bất thình lình hét lên.
Một cô gái nằm gục bên cạnh chiếc giường. Anh thấy bộ váy liền sát nách này quen lắm.
“Eriko…” Yunsuke tiến thêm hai, ba bước rồi dừng lại. Người anh run lên bần bật.
Takashina Eriko đang mở mắt, nhưng đôi mắt đó nhìn chằm chằm vào khoảng không vô định. Tấm thảm ở dưới đầu cô nhuộm màu máu. Đôi vai, lẫn cánh tay hở ra đều đã biến thành màu đất.
Anh lấy tay che miệng, nhưng không giấu nổi tiếng rên dưới bàn tay đó. “Tại sao lại ra nông nỗi này?”
Minako đứng bên cạnh anh. Cô cũng nhìn Eriko và thì thào nói, “Em đã giết người.”
 
 
 
7 Yunsuke nhìn xoáy sâu vào gương mặt vợ mình. “Em nói sao?”
Minako xoay cổ, bằng các động tác lóng ngóng như một cỗ máy.
“Em nói là mình đã giết người. Em đã đập vào đầu và giết chết người này.”
“Nhưng tại sao?” Giọng Yunsuke khản đặc.
“Anh Namikishi, câu chuyện này có nhiều uẩn khúc lắm. Anh hãy bình tĩnh lắng nghe Minako nói.” Fujima ở đằng sau nói xen vào.
“Dù anh có bảo tôi bình tĩnh thì…” Yunsuke nhìn thi thể Eriko, rồi lại nhìn vợ và lắc đầu thật mạnh như thể không muốn tin vào những gì ở trước mắt.
“Chúng ta tạm thời xuống dưới được không? Làm ầm lên ở đây sẽ khiến Kimiko tỉnh giấc.” Sekitani nói.
“Đúng rồi. Anh Namikishi, cô Minako, chúng ta xuống dưới thôi.” Fujima đồng tình.
Sekitani Yasuko dìu Minako đi qua hành lang. Yunsuke đi đằng sau họ; trước khi rời căn phòng, anh ngoảnh đầu lại nhìn một lần nữa. Cái đèn ngủ để chỏng chơ ở bên cạnh Eriko. Phần gốm ở chụp đèn vỡ tan tành và dính máu. Trông thấy cảnh tượng ấy, toàn thân anh lại run lẩy bẩy.
Xuống đến phòng khách, Sekitani Yasuko bảo đi pha cà phê nên ra bếp. Yunsuke và Minako ngồi kẹp ở hai góc bàn, vợ chồng Fujima và Sekitani cũng ngồi xuống đó.
“Anh Namikishi rời đây được một lúc thì người đó đến. Cái cô Takashina Eriko đó.” Fujima mở miệng nói. “Lúc ấy chúng tôi đều có mặt ở đây giống lúc này. Rồi Takashina bước vào, bảo là có chuyện cần nói với Minako. Chúng tôi thoáng chút ngạc nhiên vì tưởng cô ta đã cùng anh quay về Tokyo rồi.”
“Là vì sự cố lần này của tôi không liên quan tới cô ấy, cho nên cô ấy không đi cùng.” Yunsuke phân trần.
“Có vẻ là như vậy. Thế rồi Minako hỏi có chuyện gì muốn nói, thì Takashina bảo muốn nói chuyện riêng hai người với nhau thôi. Do đó, Minako mới ngỏ ý nói chuyện trong phòng mình, rồi hai người họ cùng rời khỏi đây. Một lúc sau, chắc tầm mười lăm phút gì đó, Minako quay lại một mình. Nhìn thấy cô ấy, chúng tôi đều kinh ngạc. Rõ là cô ấy cư xử rất kỳ quặc. Thấy máu chảy từ cổ tay cô ấy, tôi mới hỏi có chuyện gì. Và thế là Minako…” Nói đến đây, Fujima ngừng lời, đau đáu nhìn Minako. Minako thì vẫn cúi đầu nhìn xuống bàn.
“Vợ tôi nói rằng mình đã giết cô ấy sao?” Yunsuke hỏi.
“Đúng rồi. Cô ấy đã nói như vậy.”
“Nghe vậy, chúng tôi đều bàng hoàng và bảo nhau đi lên tầng hai.” Sekitani nói thêm. “Nhìn cảnh tượng bên trong phòng, chúng tôi còn sửng sốt hơn.”
“Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy?” Yunsuke hỏi Minako. “Em đã nói chuyện gì với cô ấy?”
Minako không nhìn anh, cô còn cúi đầu hơn nữa, và cứ thế trả lời, “Nói về anh.”
“Về anh? Về chuyện gì liên quan đến anh?”
Nhưng cô không trả lời ngay tức khắc. Thấy vậy, Fujima nói thêm vào, dường như anh ta không sao đứng nhìn thêm được nữa. “Hình như Takashina yêu cầu Minako phải chia tay anh đấy.”
Yunsuke ngạc nhiên trợn trừng mắt. “Không thể nào…”
“Thật đấy.” Minako cuối cùng cũng chịu mở miệng. Nhưng cô vẫn ủ rũ cúi đầu. “Cô ta đã nói như thế.”
“Làm gì có chuyện ngu ngốc như vậy.” Yunsuke lắc đầu. “Cô ấy không đời nào nói thế.”
“Nhưng cô ta đã nói điều đó, còn em cực chẳng đã mới làm như vậy.” Cô nói thêm rồi quay mặt về phía Yunsuke. “Việc anh qua lại với cô ta là sự thật đúng không?”
Yunsuke không trả lời, anh chột dạ. Một giọt mồ hôi lăn dài trên thái dương. Anh rút khăn tay ra lau nó.
“Em đã nói thế này: ‘Không đời nào tôi chia tay anh ấy đâu.’ Đến đây, cô ta bảo: ‘Thế thì tôi sẽ làm theo ý mình.’”
“Làm theo ý mình là sao?”
“Cô ta nói sẽ sinh đứa bé ra.” Minako nhìn Yunsuke. “Sinh con của anh.”
“Cái gì…” Yunsuke bối rối nhìn vợ chồng Fujima và Sekitani.
“Cô ta nghĩ rằng chỉ cần sinh đứa trẻ ra là có thể trói chân anh được. Vì anh không có con ruột, nên nếu cô ta sinh đứa bé đó ra, chắc chắn anh sẽ lựa chọn cô ta. Miệng lưỡi cô ta tự tin lắm.”
“Cô ấy nói là đang có thai ư?”
Minako khẽ gật đầu. Yunsuke buông tiếng thở dài não nề.
“Xin lỗi, tôi có thể nói chuyện riêng với vợ mình không?” Anh nói với tất cả những người còn lại.
“Không cần đâu.” Minako nói. “Mọi người biết cả rồi. Bởi ban nãy em đã nói cho họ.”
“Vâng, đúng là chúng tôi nên rời đi để hai người nói chuyện riêng.”
Thấy Fujima toan đứng dậy, Minako liền hét lên, “Mọi người hãy ở lại đây. Có như thế thì tôi mới bình tâm được.”
Sau khi lộ vẻ khó xử trên gương mặt, Fujima lại bất đắc dĩ ngồi xuống ghế.
Sekitani Yasuko đã mang cà phê đến. Cô ta đặt cốc cà phê ở trước mặt từng người, rồi ngồi xuống cái ghế đẩu ở chiếc bàn quây cách đó không xa.
“Đúng là…” Yunsuke nói. “Anh thừa nhận mình có qua lại với cô ấy. Nhưng mà chuyện đó, nói thế nào đây…”
“Anh thôi đi được rồi.” Minako ngắt lời. “Đến nước này, anh có nói gì cũng vô ích thôi. Chuyện đã hết đường cứu vãn.”
Yunsuke im bặt, anh với tay lấy cốc cà phê đang bốc khói nghi ngút, uống một ngụm rồi lại thở dài.
“Biết chuyện cô ấy mang thai nên em nổi điên và ra tay giết cô ấy à?”
“Không phải như vậy.”
“Vậy thì như thế nào?”
“Vì cô ta nói với em rằng vì bản thân mình, em nên rút lui trong êm đẹp ngay từ bây giờ.”
“Anh không hiểu câu đó.”
“Cô ta còn tuyên bố rằng: ‘Dẫu cô không chia tay anh ấy, chỉ cần đứa bé ra đời, bố của đứa bé sẽ là anh ấy. Thế nên, dù cô có chọn con đường nào, gia đình Namikishi cũng sẽ bị hủy hoại. Shota cũng không thể thi vào trung học được nữa. Như vậy sẽ ảnh hưởng đến tương lai của Shota, đúng không? Cô thấy thế cũng được hay sao?’ Minako hướng gương mặt vô cảm về phía chồng. Cô ta đã nói như thế đấy, rồi còn cười nhạo em.”
Cốc cà phê Yunsuke cầm trên tay vang lên những tiếng lạch cạch khi đập xuống bàn.
“Cô ta bảo em suy nghĩ cho kĩ rồi toan rời đi. Nhìn tấm lưng của cô ta, có thứ gì đó bên trong thôi thúc em không thể bỏ qua thế này được, em phải làm điều gì đó. Phải để cho người phụ nữ này im lặng. Thế là em lập tức cầm cái đèn ngủ lên, từ đằng sau đập vào đầu cô ta. Người đó ngã gục xuống mà không kêu lên tiếng nào. Em thì quá ngạc nhiên…” Đến đây, Minako cười phá lên. “Lạ thật nhỉ? Em là người gây án mà lại ngạc nhiên. Lúc lay người cô ta mãi mà không thấy có phản ứng gì, em mới nhận ra có khi cô ta chết rồi.”
Minako lảng tránh ánh mắt của Yunsuke, cô đưa hai tay lên má, lẩm bẩm, “Vì cô ta dám nhắc đến tên Shota.”
Rồi cô lại bất động như tảng đá. Sekitani Yasuko đứng dậy, vòng ra sau lưng cô. Cô ta nhẹ nhàng đặt hai tay lên vai Minako như muốn an ủi. Yunsuke sững sờ nhìn cảnh tượng trước mắt. Hơi thở của anh gấp gáp hơn. Chỉ có tiếng thở đó là lặp đi lặp lại trong không gian bị bao trùm bởi sự tĩnh lặng.
“Dù sao chúng tôi cũng là người ngoài nên không tiện xen vào vấn đề nam nữ. Nhưng mà anh Namikishi, anh định thế nào?” Fujima hỏi. Trong bầu không khí tĩnh mịch này, giọng nói của anh ta càng vang vọng.
“Anh hỏi tôi thế có nghĩa là gì?”
“Tôi muốn hỏi chuyện sắp tới. Chắc anh phải có biện pháp nào đó để giải quyết tình huống này chứ?”
“À…” Yunsuke gãi tóc mái, rồi cứ thế ôm đầu. “Chắc mọi người báo cảnh sát rồi nhỉ?”
“Chưa đâu, chúng tôi chưa kịp làm điều đó. Lúc mọi người đang bàn nhau xem nên làm gì thì anh gọi điện về.”
“Thế ư? Vậy phải ưu tiên làm việc đó trước nhỉ?”
“Anh nói vậy nghĩa là…?”
Nghe câu hỏi của Fujima, Yunsuke nhìn mặt hết thảy mọi người.
“Là báo mọi chuyện cho cảnh sát. Hiển nhiên phải làm việc đó rồi.”
Fujima lập tức nhìn sang Sekitani, tránh né ánh mắt Yunsuke. Sekitani xoa tay lên má mình. Râu trên mặt anh ta mọc lởm chởm.
“Anh Namikishi, thật ra chúng tôi đã bàn chuyện đó rồi…” Fujima nói. “… Bàn xem có nên cứ để thế này mà gọi cảnh sát không.”
Yunsuke chớp mắt liên hồi, rồi liếm môi.
“Xin lỗi, nhưng tôi không hiểu ý anh.”
“Tôi cũng muốn hỏi anh Namikishi chuyện này, Takashina có thật sự tới đây để đưa đồ anh bỏ quên không? Tôi đoán là không phải như vậy. Cô ta muốn cướp người yêu mình khỏi tay của vợ anh ta nên mới lặn lội đường xa tới đây. Và chẳng có món đồ bỏ quên nào cả. Tôi nói đúng chứ?”
“Giả sử đúng thế thì sao?”
“Nếu sự thật là như vậy, thế thì chẳng phải không có ai biết việc cô ta đến đây sao?”
“Cô ấy nói là đã xin với công ty cho nghỉ phép…”
“Quả nhiên là như vậy.” Fujima và Sekitani nhìn nhau rồi gật đầu cùng lúc.
“Gì vậy? Anh tính làm gì với việc đó à?”
“Anh thấy làm thế này có được không.” Sekitani ở bên cạnh nói xen vào. “Làm theo cách của anh thì Minako sẽ bị bắt với tội danh giết người đấy. Và không dừng lại ở đó, nếu ngọn ngành được sáng tỏ, chắc chắn địa vị xã hội của anh sẽ bị lung lay. Anh sẵn sàng đón nhận điều đó chứ?”
“Tất nhiên là không, nhưng đến nước này rồi thì tôi còn làm được gì nữa?”
“Vấn đề ở chỗ đó.” Fujima nói. “Chúng ta có thể làm được gì nào? Chúng tôi đã bàn về việc này đấy.”
“Dẫu anh có nói vậy, nhưng người đã chết rồi thì đâu thể sống lại.”
“Thì đúng là như vậy.” Fujima chống khuỷu tay lên bàn, hai bàn tay đan vào nhau. “Chúng tôi không muốn giao nộp Minako cho cảnh sát. Dù việc Minako làm đáng lẽ phải bị pháp luật trừng trị, nhưng xét về tình người, hành vi đó có thể hiểu được. Nói là chúng tôi thông cảm với hành động của cô ấy cũng không sai. Lúc bàn bạc chuyện này, không rõ ai trong chúng tôi đã lên tiếng trước, rằng có cách nào để Minako không bị bắt không. Thật tâm chúng tôi cũng không muốn người xung quanh mình trở thành tội phạm giết người. Vả lại, nếu chuyện này bị phơi bày, có lẽ cuộc sống riêng tư của chúng tôi cũng sẽ bị truyền thông làm xáo trộn đáng kể. Rồi hệ lụy của nó sẽ khiến bọn trẻ không thi vào trung học được nữa. Thế nên người chịu những tổn hại trên phương diện xã hội không chỉ có mình anh Namikishi đâu.”
Minako bắt đầu thổn thức.
“Tôi xin lỗi.” Từ kẽ bàn tay đang che lên mặt cô lọt ra giọng nói nhỏ nhẹ. “Chỉ vì hành động của tôi mà gây rắc rối cho mọi người.”
“Cô đừng bận tâm đến chúng tôi.” Fujima Kazue ân cần nói. “Mọi người đều yêu quý cô nên muốn làm điều gì đó cho cô. Đó mới là điều quan trọng nhất.”
“Đúng thế đấy.” Fujima bổ sung. “Và chúng tôi đưa ra ý kiến này không chỉ xuất phát từ tình cảm dành cho cô, mà còn vì nghĩ cho hoàn cảnh của mọi người nữa. Mong cô hiểu cho điều đó.”
“Được mọi người nghĩ giúp cho đến thế, tôi lấy làm biết ơn.” Giọng Yunsuke lí nhí. “Thực tế, dù lực bất tòng tâm, nhưng bản thân tôi cũng muốn tránh để Minako bị bắt.”
“Anh Fujima…” Sekitani nói. “Hay là thử nói kế hoạch ban nãy cho anh Namikishi nghe xem sao.”
“Ừ, làm thế đi.”
“Kế hoạch gì vậy?”
Thấy Yunsuke hỏi, Fujima nhoài người lên một chút. Ánh mắt anh ta bỗng trở nên sắc lạnh.
“Cách để Minako không trở thành hung thủ giết người chỉ có một. Đó là làm sao để biến vụ án từ có thành không có. Cụ thể hơn là xử lý cái xác đó. Bằng đôi tay của chúng ta đây.”
Nghe những lời phát ra từ miệng Fujima, Yunsuke nghiêm trang ngồi thẳng lưng dậy. Ngoại trừ Minako và chính bản thân anh, mọi người đều đang đổ dồn sự chú ý về phía này. Yunsuke một mặt đón nhận những cái nhìn đó, nhưng lại lắc đầu phủ nhận.
“Việc đó chắc chắn không làm được.”
“Thế sao?”
“Đó là việc làm thiếu suy nghĩ. Mọi người định xử lý thế nào? Nếu cảnh sát xác định được nhân thân của cái xác, chúng ta bị đưa vào diện tình nghi là cái chắc.”
“Thế nên, chúng ta phải nghĩ cách xử lý để cái xác không bao giờ bị tìm ra. Hoặc cho dù có bị tìm thấy, thì cũng không có cách nào xác định được nhân thân của nó.”
“Nếu chúng ta tác động vào khuôn mặt và vân tay, có lẽ không tìm ra tung tích đâu.” Sekitani đưa ý kiến.
“Hai thứ đó và răng nữa.” Fujima điềm tĩnh nói.
Sekitani Yasuko và Fujima Kazue im lặng gật đầu. Cảnh tượng trước mắt khiến Yunsuke không nhẫn nhịn được mà đập tay lên bàn.
“Mọi người có hiểu mình đang nói gì không đấy? Sao có thể làm mấy trò nhảm nhí đó được?”
Hai bàn tay vẫn đặt trên bàn, Yunsuke hít thở hai, ba lần. Mọi người im lặng nhìn anh một lúc lâu.
“Quả thật…” Fujima nói. “Việc mà chúng tôi định làm là nhảm nhí. Và không đáng được dung thứ. Nhưng thế cũng được chứ sao. Tất cả đều là vì vợ anh. Còn anh bảo cách này không được thì anh có cách nào tốt hơn không? Nếu có thì xin mời anh nói ra.”
“Nhưng ngoài cách báo cảnh sát đấy nhé.” Sekitani tiếp lời. “Cách đó không tính.”
Yunsuke nắm chặt cái khăn vừa lau mồ hôi trong tay. Minako vẫn lấy tay che mặt, tư thế ngồi bất động không suy chuyển.
“Dàn dựng như bị tai nạn hoặc tự sát thì sao?”
“Không đáng để đưa ra.” Fujima bác bỏ ngay tắp lự. “Ý kiến đó cũng được đưa ra rồi, nhưng nó phi thực tế. Tuy tôi không rành về cảnh sát lắm, nhưng có thể khẳng định một điều, những người nghiệp dư như chúng ta không qua mắt được nghiệp vụ điều tra khoa học của họ đâu.”
“Nhắc tới điều tra khoa học, cách anh đưa ra lại càng không có giá trị. Dù anh có xóa vân tay hoặc hủy hoại gương mặt, với công nghệ giám định ADN hiện giờ, cảnh sát vẫn có thể tìm ra mọi thứ.”
“Tôi cũng nghĩ đến ADN rồi. Nhưng anh Namikishi này, người ta chỉ giám định ADN khi đã xác định được nhân thân của cái xác thôi. Nếu không có manh mối gì về thi thể thì họ muốn giám định cũng không có ADN của ai để so sánh cả.”
“Takashina Eriko có gia đình. Việc họ trình báo cảnh sát chỉ còn là vấn đề thời gian. Nếu tìm thấy những thi thể không rõ tung tích, cảnh sát chắc chắn sẽ đối chiếu với dữ liệu của những người mất tích đã được trình báo theo cách trên. Từ giới tính, đặc điểm cơ thể, tuổi tác dự tính, cảnh sát hẳn sẽ suy đoán thi thể đó là Eriko.”
“Dù việc đó có xảy ra, chúng ta chỉ cần đảm bảo không còn ADN của cô ta lúc sinh thời, họ sẽ không có gì để đối chiếu.”
“Việc đó thì có gì khó. Nếu lục tìm trong căn hộ của cô ấy, thế nào chẳng thấy một, hai sợi tóc rơi vãi.”
“Đấy là nếu lúc đó căn hộ của cô ta vẫn còn.”
“Ý anh là sao?”
“Takashina Eriko có sống cùng gia đình không?”
“Không, cô ấy sống một mình.”
Fujima gật đầu. “Sống trong căn hộ phân lô hay gì?” Fujima hỏi.
“Làm gì có, cô ấy ở nhà thuê.”
“Cũng phải. Nếu vậy, đến một lúc nào đó sẽ phải trả lại nhà nhỉ?”
Yunsuke khẽ mở miệng, rồi nhìn Fujima. Fujima từ tốn lắc đầu hai lần.
“Có nghĩa là nếu trả phòng rồi thì vật dụng để điều tra ADN cũng biến mất.”
“Cho nên cái xác bị phát hiện càng muộn thì càng có lợi cho chúng ta. Lý tưởng là nó không bị tìm ra dù đã vài năm trôi qua kể từ khi trình báo mất tích. Và đương nhiên vĩnh viễn không tìm thấy là tốt nhất.”
“Thì ra là vậy.” Yunsuke gật gù, rồi đưa tay lên xoa cổ. Sau đó, anh cởi áo khoác, lấy bật lửa và thuốc lá trong túi áo ra. “Tôi hút thuốc được chứ?”
“Nhưng hút thuốc vào buổi tối là vi phạm quy định về phòng ngừa cháy nổ.” Sekitani ngoài miệng nói vậy, nhưng vẫn với tay lấy cái gạt tàn ở kệ sau lưng đặt lên bàn.
Thấy Yunsuke châm lửa, Fujima nói mình cũng hút, rồi rút một điếu thuốc.
“Anh nói xử lý cái xác, là anh định vứt nó ở đâu? Hay anh định đào hố để chôn?”
“Thoạt đầu tôi định làm thế. Nhưng suy đi tính lại, tôi thấy việc chôn xác quá nguy hiểm. Bởi chúng ta không biết được cái xác có bị phát hiện vì một nguyên cớ nào không. Thêm nữa, chúng ta không dễ dàng gì khi đào được một cái hố đủ sâu để giấu cái xác một cách hoàn hảo, đúng không?”
“Nếu vậy thì anh tính làm gì?”
“Đây là ý tưởng của tôi.” Sekitani mở lời. “Nếu chôn ở dưới đất không ổn, vậy chôn ở dưới nước thì sao?”
“Ở trong nước ư?” Yunsuke hỏi lại và kinh ngạc mở to mắt. “Trong hồ Himegami á?”
“Tôi cho rằng cách đó là tốt nhất. Chắc chắn, lại nhanh gọn hơn hết thảy.”
“Tôi cũng nghĩ cách đó ổn.” Fujima nói.
Yunsuke khẽ rên lên, rồi lại bồn chồn hút thuốc. Điếu thuốc ngay lập tức cháy rụi.
“Ý anh là sau đây sẽ vứt cái xác xuống hồ à?”
“Đúng vậy. Nếu đã quyết rồi thì không nên chần chừ thêm một giây nào nữa.” Fujima quả quyết.
“Bây giờ, đem xuống hồ?” Yunsuke mở bao thuốc lá, rút thêm một điếu trong đó, châm lửa.
“Tôi nói thế này có thể là khiếm nhã nhưng mà…” Sekitani nói. “Để mà nói thì tôi thấy anh Namikishi đang gặp may đấy.”
Yunsuke nhìn Sekitani. Khói thuốc trào ra từ miệng anh.
“Là tại vì, nếu một mình anh lâm vào cảnh ngộ này, anh sẽ làm thế nào? Tự mình xử lý cái xác gần như là không thể, dù có quyết làm một mình thì nguyên việc sợ sệt cũng đủ lấy mất bao nhiêu thời gian của anh rồi. Nhưng giờ đây anh lại có những cộng sự như thế này. Chẳng phải gọi đó là may mắn cũng được hay sao?”
“May mắn ư? Anh nói việc này á?”
“Thôi thôi, tôi cũng hiểu điều anh Sekitani muốn nói, nhưng mà anh Namikishi đang ở trong tình cảnh đau đớn nhất.” Fujima cố xoa dịu bầu không khí căng thẳng. “Anh ấy vừa mất đi nhân tình.”
Lời nói khiến vẻ mặt Sekitani bừng tỉnh, như thể đã vỡ ra điều gì đó, anh ta liền lúng túng nói, “Tôi xin lỗi vì đã nói vậy.”
Yunsuke dập điếu thuốc cháy dở vào trong gạt tàn.
“Anh Namikishi.” Fujima đứng dậy. “Anh định thế nào? Chúng tôi thì đã hạ quyết tâm rồi.”
Trừ Minako, ánh mắt của mọi người lại đổ dồn về phía Yunsuke lần nữa. Anh lảng tránh những ánh mắt đó. Khoảng lặng kéo dài một hồi lâu. Loáng thoáng có tiếng côn trùng kêu.
Yunsuke nhìn Minako, rồi thốt ra lời than trách, “Tại sao? Tại sao em lại hành động hấp tấp như vậy? Không giống em ngày thường chút nào.”
“Giờ này anh còn nói thế phỏng có ích gì?” Sekitani Yasuko nói.
“Anh Namikishi!” Fujima giục lần nữa.
Yunsuke lau mồ hôi bằng khăn tay, rồi cắn môi. Anh vẫn cúi gằm mặt và nói, “Vứt xuống hồ thì chẳng phải cái xác sẽ nổi lên sao?”
“Chúng ta sẽ bọc cái xác bằng bạt nylon cùng với món đồ nặng nào đó.” Sekitani tức khắc trả lời.
Yunsuke khẽ gật đầu. Ánh mắt của mọi người vẫn chưa rời khỏi anh.
“Phải cẩn thận để vân tay chúng ta không dính trên đó.” Anh lí nhí.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
2 1 “Phụ nữ thì đợi ở đây, chứ lũ lượt kéo nhau ra chỉ tổ thu hút sự chú ý thôi.” Fujima nói với mấy bà vợ. “Và hãy cẩn trọng, đừng để cô Kimiko phát hiện ra chuyện này.”
“Chúng ta sẽ giữ bí mật chuyện này với cô ấy à?” Yunsuke hỏi.
“Bí mật càng ít người biết càng tốt. Quan trọng hơn, không có gì đảm bảo rằng cô Kimiko sẽ đồng tình với suy nghĩ của chúng ta.”
Yunsuke khựng lại một chút rồi gật đầu.
“Vậy thì chuyển cái xác ra ngoài nào!” Sekitani đứng dậy.
“Để tôi khiêng cho.” Yunsuke đứng trước mặt Sekitani.
“Hai người khiêng thì dễ hơn mà.”
“Không, một mình tôi là đủ rồi. Phiền mọi người chuẩn bị xe ô tô.”
“Nhưng mà…”
“Anh Sekitani…” Fujima nói sau lưng Sekitani. “Anh Namikishi—người tường tận về người phụ nữ đã chết nhất—nói là sẽ khiêng một mình.”
“À à…” Sekitani há hốc miệng. “Vậy tôi đợi ở ngoài nhé!”
Yunsuke rời phòng khách, leo lên cầu thang. Anh đứng trước phòng mình, hít một hơi thật sâu để trấn tĩnh bản thân, rồi xoay tay nắm cửa, nhẹ nhàng mở cửa ra.
Đôi mắt của Takashina Eriko vẫn đang nhìn chăm chăm vào thinh không. Yunsuke đứng thẫn thờ một lúc lâu ở cửa. Sau đó, anh đi vào trong phòng, chậm rãi ngồi xuống. Đầu gối anh run lên bần bật.
Anh với tay phải, chạm vào má cô. Làn da đã không còn đàn hồi. Hơi ấm cũng lìa bỏ thân xác. Yunsuke chăm chú nhìn khuôn mặt Eriko, rồi đưa môi mình lại gần môi cô. Nhưng anh đã dừng lại ngay trước khi chạm vào bờ môi đó. Anh buồn bã thở dài. Rồi nhắm mắt, lắc đầu sang hai bên.
Anh luồn tay xuống dưới cơ thể đó, cúi người, nhấc cô lên. Mái tóc bết máu dính chặt bị giật ra, tạo thành tiếng loạt soạt.
Lúc anh xuống cầu thang, Sekitani Yasuko đang ở hành lang. Nhìn cái xác được Yunsuke ôm trên tay, cô ta khẽ hét lên, sợ hãi lùi ra sau, nhưng rồi ngay lập tức lấy lại vẻ bình tĩnh. Cô ta nhìn Yunsuke, hỏi han, “Mọi việc ổn chứ?”
“Tôi ổn. Xin lỗi, nhưng nhờ cô bảo Minako vệ sinh phòng giúp tôi. Thảm thì bị bẩn, còn những mảnh vỡ của đèn ngủ vương vãi khắp nơi.”
“Vâng, việc đó cứ để chúng tôi làm.” Yasuko gật đầu, tay cô ta đặt lên ngực.
Cánh cửa sảnh ra vào mở ra, Sekitani từ ngoài đi vào. Trên tay anh ta ôm tấm bạt nylon màu xanh.
“Hãy bọc bằng cái này rồi khiêng ra.” Nói rồi, anh ta đặt nó xuống sàn.
“Anh lấy thứ này ở đâu vậy?”
“Tôi đem từ nhà đi đấy. Định dùng để trải dưới đất lúc ăn tiệc nướng ngoài trời. Cái này bán nhan nhản ở khắp nơi, nên nếu cảnh sát có muốn điều tra nguồn gốc cũng không sao. Đương nhiên họ sẽ không lần ra chỗ tôi mua.”
Đợi Sekitani trải xong tấm bạt trên sàn nhà, Yunsuke đặt cái xác lên trên đó. Đôi mắt Takashina Eriko vẫn mở trừng trừng.
“À này, anh Namikishi, dùng cái này đi.” Sekitani chìa đôi găng tay ra. Tay anh ta đã đeo sẵn găng. “Anh bảo phải cẩn thận, không để lại dấu vân tay mà.”
“Ừ, suýt thì tôi quên mất.” Yunsuke xỏ hai tay vào găng.
Sau khi cuộn cái xác trong bạt nylon, Yunsuke cùng Sekitani khiêng nó ra ngoài. Fujima tay cầm đèn pin, đi xuống từ bãi đỗ xe. Anh ta cũng đeo găng tay.
“Hai người có khiêng được không?”
“Được mà. Quan trọng hơn, anh có tìm được thứ gì nặng không?” Sekitani hỏi.
“Tôi nhặt được vài hòn đá to. Cho chúng vào là ổn thôi.”
Đến bãi đỗ xe, đúng như lời Fujima nói, khoảng hơn chục hòn đá to như quả bóng ném đã được xếp ở góc.
“Trong thời gian hạn hẹp vậy mà anh lấy được từng này cơ à?” Yunsuke thán phục.
“Không. Tôi cũng phải lao lực lắm chứ. Chạy đôn đáo khắp nơi để nhặt đấy. Quan trọng hơn, chúng ta cần nhanh chóng khiêng cái xác lên xe. Nếu bị trông thấy thì phiền lắm. À mà dùng xe nào đây?”
“Dùng xe của tôi là thích hợp nhất nhỉ?” Sekitani nói. “Xe con bình thường có lẽ khó để khiêng hết lên.”
“Có được không vậy?”
Sekitani gật đầu đáp lại câu hỏi của Yunsuke, nét mặt anh ta vẫn đăm chiêu.
“Giờ làm gì còn cách nào nữa. Sau khi xong xuôi, tôi sẽ làm lễ thanh tẩy hay cái gì đó đại loại như vậy.”
“Xin lỗi anh.” Yunsuke cúi đầu nói, trên tay vẫn ôm cái xác được quấn bằng bạt nylon.
Fujima lấy chìa khóa xe trong túi Sekitani, mở cửa sau chiếc xe Wagon một khoang màu đỏ. Khoang hành lý trên xe khá rộng, lại còn được dọn dẹp sạch sẽ. Yunsuke và Sekitani khiêng cái xác cho lên đó. Fujima thì chất mấy hòn đá lên. Yunsuke và Sekitani cũng phụ một tay.
“Suýt thì quên một thứ quan trọng.” Fujima ném cuộn dây thừng lên xe sau cùng. Cuộn dây khá to, bện bằng nylon.
“Đây là gì vậy?” Yunsuke hỏi.
“Tôi mua ở Tokyo đợt trước. Nếu chỉ bọc cái xác bằng bạt, sợ sẽ bị tuột ra, nên sau cùng cứ bó lại bằng cái dây này cho chắc.”
“Ra thế, anh suy nghĩ thấu đáo thật.”
Sau khi đóng cửa sau, ba người leo lên xe. Lái xe hiển nhiên là Sekitani, Yunsuke thì ngồi ở ghế phụ. Khi Sekitani bật động cơ, bật đèn pha, con đường tối đen trước mặt bỗng sáng bừng lên.
“Nào, xuất phát thôi!” Fujima ra hiệu, Sekitani lái xe đi.
Chạy xe khoảng vài phút là đến hồ Himegami. Con đường ven hồ với nhiều nhà hàng, quán cà phê, cửa hàng bán đặc sản. Quả nhiên vào đêm khuya, những cửa tiệm đó đều đóng cửa, tắt hết đèn.
Đi hết con đường đó, cái hồ đã hiện ra trước mặt.
“Rẽ trái ở đây.” Fujima ngồi ở đằng sau chỉ dẫn. Sekitani đánh vô-lăng sang bên trái.
Một con đường hẹp được làm bao quanh hồ. Xe ô tô chầm chậm chạy trên con đường đó. Một loáng sau, đã đến kịch đường, Sekitani dừng xe lại. Khi đèn pha tắt, xung quanh lại chìm trong màn đêm tối đen. Chỉ còn thấy ánh sáng leo lắt của đèn đường ở đằng xa.
Fujima xuống xe trước tiên. Anh ta cầm đèn pin trên tay. Đi bộ về phía cái hồ, tầm hai, ba phút sau thì quay lại.
“Đúng như tôi thấy hồi trưa. Mấy cái thuyền cho thuê vẫn ở đây.”
“Thế có dùng được không?” Yunsuke hỏi.
“Tôi nghĩ là dùng được.”
Trong khi Fujima rọi đèn pin, hai người Yunsuke và Sekitani khiêng cái xác ra khỏi xe.
“Nào…” Fujima có vẻ ngập ngừng. “Cứ thế này mà ném xuống hồ thì không hay. Chúng ta phải làm gì đó để cảnh sát không xác minh được nhân thân của cái xác.”
Sau phút chốc im lặng, Sekitani cũng đưa ý kiến.
“Vân tay, khuôn mặt và răng nhỉ?”
“Hủy đi à?” Yunsuke nói.
Tất cả đều im bặt trong giây lát.
“Tại vì, nếu không làm gì đó thì…” Fujima lặp lại lời ban nãy.
“Khuôn mặt thì không cần phải làm đến mức thế đâu nhỉ?” Sekitani lầm bầm. “Tôi nghe nói xác bị ngâm trong nước sẽ không nhận dạng được.”
“Nhưng với răng thì vô ích thôi, nếu chúng ta không tác động gì. Vân tay cũng thế.”
“Tôi hiểu rồi. Để tôi làm cho.” Yunsuke gật đầu nói. “Đâm lao thì phải theo lao vậy.”
Hai người còn lại nhìn nhau. Fujima đưa tay phải gãi tóc mai.
“Đúng vậy. Để anh Namikishi xử lý việc đó là tốt nhất.”
“Trước mắt, chúng ta khiêng cái xác đến chỗ thuyền đã. Nhét đá vào bên trong bạt rồi mới làm việc đó.”
“À, hay đấy.” Sekitani đồng tình với Yunsuke.
Hầu hết thuyền đều được đặt úp xuống, riêng một chiếc thuyền vẫn ngửa lên như khi vừa từ hồ về bờ. Họ đặt cái xác ở bên cạnh con thuyền ấy, rồi nhét đá vào bên trong bạt nylon xanh.
“Vậy thì, anh Namikishi, nhờ anh xử lý việc kia nhé!” Fujima ngại ngần mở lời.
Yunsuke hít thở sâu một hơi.
“Cho tôi mượn đèn pin được không? Và phiền hai người lánh mặt đi một chút.”
Fujima gật đầu, tay đưa đèn pin. Sau đó, anh ta cùng Sekitani đi thêm mấy mét, rồi quay lưng về phía này.
Trước tiên, Yunsuke lôi tay phải của Eriko ra. Bàn tay lạnh ngắt, cứng đơ, không còn đàn hồi như thể tay của ma-nơ-canh. Anh lấy bật lửa trong túi áo khoác, châm lửa, đưa bật lửa lại gần đầu ngón tay đó.
Làn da cháy sun lại. Mùi khét bắt đầu nồng nặc tỏa trong không khí. Yunsuke căng thẳng nuốt nước bọt liên tục. Đốt các đầu ngón tay bên trái và phải xong, anh đăm đăm nhìn vào gương mặt đã chết của Eriko. Gương mặt với những đường nét sắc sảo ngày nào giờ đây đã trở thành một gương mặt tầm thường. Anh rọi đèn pin, thử chạm đầu ngón tay vào môi cô. Nhưng đôi môi ấy cũng không còn đàn hồi nữa.
Yunsuke cầm một hòn đá lên. Khi giơ nó lên cao bằng với vai mình thì anh dừng lại. Anh đặt hòn đá sang một bên, quấn cơ thể Eriko trong bạt nylon, đoạn kiểm tra vị trí mặt cô từ bên ngoài lớp bạt, rồi lại cầm hòn đá trên tay.
Anh nhắm hờ mắt, nín thở, đập hòn đá xuống. Nhắm đúng mặt Eriko mà dồn sức đập. Nhưng lực đập hơi yếu. Dù vậy, có vẻ Sekitani vẫn nghe thấy tiếng hòn đá đập xuống, nên mới quay sang hỏi Fujima, “Anh ta làm xong rồi à?”
“Chưa, có vẻ lực đập chưa đủ mạnh.”
“À…” Sekitani vẫn quay lưng đi. Fujima thì không nói gì nữa.
Lần này, Yunsuke cầm hòn đá bằng hai tay. Anh hít thở vài lần để trấn tĩnh lại, rồi nâng hòn đá đến ngang đầu mình. Một lần nữa anh nín thở, nhắm nghiền mắt lại. Đập hòn đá xuống… Thanh âm trầm đục phát ra. Thanh âm lần này khác rõ rành với lần trước. Yunsuke rón rén mở mắt. Hòn đá đã lõm vào tấm bạt nylon màu xanh. Chỗ lõm đó là mặt của Eriko.
Hai tay anh nhấc hòn đá lên, giáng thêm một cú nữa. Chỗ lõm ban nãy càng lõm sâu hơn. Anh đập thêm một lần cuối. Nhưng lần này không thấy trên bạt thay đổi nhiều so với lần trước.
“Cuối cùng cũng xong.” Giọng Yunsuke nghe như tiếng rên rỉ.
Fujima và Sekitani đã đi về phía anh.
“Xử lý xong răng rồi chứ?” Fujima lên tiếng.
“Tôi nghĩ là ổn rồi, nhưng cũng không chắc. Vì tôi không kiểm tra bằng mắt.”
“Chắc là ổn rồi. Anh Namikishi đập những ba lần mà.”
Dẫu Sekitani nói vậy, Fujima vẫn ngồi xuống bên cạnh cái xác, cẩn thận mở hé bạt nylon ra xem. Ngay tức khắc, anh ta rên lên một tiếng.
Yunsuke nhìn ra chỗ khác. Sekitani cũng nhăn nhó quay mặt đi. “Chắc anh hay phải làm việc này, đúng là bác sĩ có khác.”
“Tôi cũng đâu muốn làm như vậy. Nhưng chúng ta phải đề phòng bất trắc.” Fujima đóng bạt nylon lại. “Thế này thì ổn rồi đấy.”
Họ quấn vài vòng dây thừng ở bên ngoài bạt nylon. Sau đó, ba người cùng khiêng cái xác lên thuyền. Chỉ riêng đá đã đủ làm nặng con thuyền.
“Chắc không cần cả ba người lên thuyền đâu.” Fujima nói. “Anh Sekitani hãy ra xe để canh chừng. Anh có cầm điện thoại theo nhỉ?”
“Vâng.”
“Vậy, nếu có chuyện gì hãy gọi điện nhé. Tùy trường hợp mà có thể phải vứt thuyền ở chỗ khác.”
“Tôi hiểu rồi.”
“Vậy thì đi thôi nào!” Fujima nói với Yunsuke. Yunsuke im lặng gật đầu.
Ba người ra sức đẩy thuyền, đến chỗ thuyền nổi được thì Fujima và Yunsuke trèo lên. Dựa vào vị trí lúc lên thuyền, Yunsuke nhận trách nhiệm chèo thuyền. Ban đầu có hơi mất sức, nhưng dần dà anh đã quen với chuyển động của mái chèo.
“Chúng ta chèo đến chỗ nào bây giờ?” Yunsuke vừa chèo thuyền vừa hỏi.
“Chỗ càng sâu càng tốt. Cứ đến gần giữa hồ là được nhỉ?”
“Nhưng tối om thế này, tôi không xác định được đâu là giữa hồ.”
“Thế thì chỉ còn cách dựa vào trực giác thôi. Trực giác của hai chúng ta đó.”
Yunsuke không đáp lại. Sự im lặng đó kéo dài một lúc lâu. Chỉ có tiếng mái chèo rẽ nước là lặp lại không ngừng nghỉ.
Yunsuke tiếp tục chèo thuyền thêm hồi lâu nữa. Xung quanh gần như là màn đêm bao phủ. Xa xăm kia có vài chấm sáng nhỏ trông như những vì sao rơi.
“Anh mệt rồi à?”
“Không, tôi ổn. Quan trọng hơn…”
“Có chuyện gì à?”
“Anh làm việc này có sao không? Mặc dù tôi rất biết ơn vì mọi người hết lòng che giấu sai lầm của vợ tôi.”
“Anh Namikishi, giờ anh nói chuyện đó để làm gì. Không thể quay lại như lúc đầu được đâu. Chẳng phải hiện giờ chúng ta chỉ có thể làm những việc chúng ta nên làm một cách hoàn hảo, không để xảy ra sai sót gì sao?”
“Tôi hiểu điều đó, nhưng nếu kết cục chuyện này lộ ra với cảnh sát thì…”
“Thế nên chúng ta đang bỏ bao công sức xoay xở để cái xác không bị tìm ra, đúng không? Hoặc không may có bị tìm thấy thì cũng không xác định được tung tích của nó. Bản thân anh hẳn cũng khổ tâm khi phải tự tay hủy hoại gương mặt của người mình yêu.”
Yunsuke cúi đầu.
“Anh Namikishi.” Fujima đổi giọng. “Tôi muốn anh thành thật trả lời một điều tại đây, ban đầu anh định thế nào với cô Minako? Ly hôn cô ấy và đến với người phụ nữ này à?”
“Đến mức đó thì…”
“Nghĩa là anh chưa nghĩ đến đúng không? Ra vậy. Nhưng chắc anh phải nói điều gì đó ám chỉ rằng mình sẽ cưới người phụ nữ này chứ. Nếu không thì cô ta sẽ không đời nào làm cái việc trơ trẽn như vậy. Có điều, anh đừng hiểu lầm. Tôi không định trách móc gì anh cả. Vì đàn ông trên đời này, ai cũng làm những việc giống anh. Chỉ là tôi không hiểu, đối với anh thì gia đình hiện tại là gì? Chuyện Shota là con riêng của Minako, tôi cũng biết. Tôi không muốn suy bụng ta ra bụng người đâu, nhưng chẳng phải cách anh đối xử với thằng bé không như đối với con ruột của mình hay sao?”
“Tôi đang rất cố gắng để làm việc đó.”
“Tôi biết. Nhưng mà, chúng tôi lại không cần sự cố gắng đó.”
“Anh nói vậy nghĩa là sao?”
“Đó là yêu thương con mình mà không cần sự cố gắng nào cả. Đó là tình yêu vô điều kiện. Chúng tôi khác với anh.”
“Nếu bị nói vậy thì tôi…”
“Vậy thì tôi lại hỏi anh, gia đình hiện giờ là gì đối với anh? Là thứ có thể dễ dàng vứt bỏ bất cứ lúc nào à? Là thứ anh sẵn sàng đánh đổi với bất kỳ người phụ nữ hấp dẫn nào ư?”
“Miệng anh bảo không trách móc, nhưng cách nói của anh quả nhiên đang chĩa mũi dùi về phía tôi.”
“Tôi không trách móc anh. Chỉ thấy lạ thôi. Nếu gia đình hiện tại đối với anh không quan trọng đến thế, thì tại sao lần này anh lại đến đây?”
Yunsuke nhìn Fujima, tay vẫn đang chèo thuyền. Dù anh không nhìn rõ, nhưng có cảm giác Fujima cũng đang nhìn mình.
“Lúc nãy tôi nói rồi mà.” Yunsuke khẽ nói. “Việc đến đây cũng là một trong những sự cố gắng của tôi.”
Bẵng đi một lúc mới thấy tiếng Fujima đáp lại, “Ra vậy.”
“Đến đây chắc được rồi nhỉ?” Yunsuke nói sau hồi lâu chèo thuyền.
“Ừ nhỉ. Tôi cũng nghĩ đến đây là được rồi.”
Yunsuke ngừng chèo thuyền. Anh đặt tay lên sợi dây buộc cái xác.
“Anh cẩn thận đấy. Đứng không khéo sẽ làm thuyền bị lật.”
“Tôi biết mà.”
Yunsuke và Fujima vẫn ngồi, tay lăn cái xác để đẩy nó về góc thuyền. Sự chênh lệch trọng lượng làm cho con thuyền nghiêng ngả. Hai người vừa phải di chuyển vị trí ngồi để giữ cho thuyền thăng bằng, vừa phải ấn chặt cái xác cuộn trong bạt nylon. Thuyền tròng trành dữ dội, nước thì bắn tung tóe. May thay, sự tròng trành đó lại giúp ích cho họ. Con thuyền nghiêng vài lần, bạt nylon cuộn cái xác lăn tròn theo nhịp nghiêng ấy rồi rơi tùm xuống nước.
Yunsuke thở dài một tiếng, nhìn sang bên cạnh, thấy Fujima đang chắp tay cầu nguyện. Yunsuke quay lại nhìn mặt nước, rồi ngắm sóng gợn một lúc.
Thấy cái xác không nổi lên, Yunsuke mới yên tâm chèo thuyền đi. Trên đường quay lại, Fujima gọi điện cho Sekitani. Sekitani đã bật sẵn đèn pha, Yunsuke chỉ việc lần theo ánh đèn đó để chèo về bờ.
“Có bị ai trông thấy không?” Khi thuyền đã quay về bờ, chui vào trong xe, Fujima hỏi Sekitani. Sekitani vừa phóng xe đi, vừa lắc đầu.
“Không có ai đến đó cả. Với lại, từ trên bờ hoàn toàn không trông thấy con thuyền của hai người.”
“Trong bóng tối đó thì đúng là không thấy thật.”
“Tôi thật sự không biết phải nói gì với mọi người nữa.” Yunsuke cúi đầu.
“Anh Namikishi, xin anh đấy, anh đừng xin lỗi nữa. Chúng ta vẫn còn việc quan trọng hơn cần giải quyết.” Fujima nói với lên từ ghế sau.
“Việc quan trọng hơn ư? Đó là việc gì vậy?”
“Đó là…” Fujima khoanh tay, tựa người vào ghế. “Về đến biệt thự, anh sẽ biết thôi.”
 
 
2  
 
Lúc họ quay lại biệt thự, đèn ở hầu hết các phòng đã tắt. Fujima đã gọi điện nhắc trước, đảm bảo mấy người phụ nữ đợi ở trong phòng vợ chồng họ. Cho nên Yunsuke cùng mọi người cũng đến phòng họ ở tầng ba. Trong căn phòng kiểu Nhật rộng tám tấm chiếu, Minako, Sekitani Yasuko, Fujima Kazue đang ngồi quanh cái bàn vuông. Trông thấy Yunsuke cùng mấy ông chồng, Yasuko sốt sắng hỏi, “Thế nào rồi anh?”
“Ừ, mọi chuyện xong xuôi rồi.” Chồng cô ta đáp.
“Nghĩa là cái xác chìm hẳn rồi nhỉ?” Kazue hỏi chồng mình.
“Chắc chắn rồi. Sau ngần ấy việc chúng ta làm, tạm thời nó không nổi lên được đâu.”
Ba người đàn ông cũng ngồi xuống. Minako im lặng, cúi đầu. Yunsuke quay sang nhìn gương mặt nghiêng của vợ, rồi nhắc nhở.
“Mọi người đã nhọc công vì chúng ta. Em nên nói tiếng cảm ơn họ.”
Nghe vậy, cô ngẩng đầu lên, song chưa kịp nói gì, Fujima đã xua tay.
“Cảm ơn và xin lỗi thế đủ rồi. Anh Namikishi cũng đừng trách móc Minako thêm nữa. Bởi lỗi không hoàn toàn thuộc về cô ấy.”
Yunsuke cúi đầu, anh rơi vào trầm tư.
“Kimiko có phát hiện ra không?” Sekitani hỏi vợ.
“Không sao. Ban nãy em đi kiểm tra rồi, cô ấy đang say giấc. Chắc do tác dụng của thuốc.”
“Vậy thì tốt.”
“Như lúc nãy tôi nói, càng ít người biết bí mật này càng tốt. À còn việc đó, mọi người đã biết gì chưa?” Fujima nhìn một lượt mấy người phụ nữ.
“Đây là đồ đạc lấy ra từ trong túi của cô ta.” Sekitani Yasuko đặt một bọc bằng giấy nhỏ lên trên bàn. Giở bọc giấy ra, thấy bên trong có chìa khóa. Trên chìa khóa gắn tấm kim loại nhỏ màu vàng. Trên đó ghi dòng chữ 0305.
“Không dính vân tay đâu.”
“Đây là chìa khóa phòng ở khách sạn Lakeside.” Sekitani nói.
“Quả nhiên cô ta thuê phòng ở đó.” Fujima nói.
“Tại sao nhỉ? Với khoảng cách từ Tokyo đến đây, cô ta thừa sức đến rồi rời đi ngay trong ngày.”
Thấy vẻ băn khoăn ấy, vợ Sekitani nhanh trí huých vào khuỷu tay chồng.
“Thế anh nghĩ cô ta thật sự đến đây để đưa đồ cho anh Namikishi sao? Chuyện đó là không thể nào.”
“Hả, à, thế à.” Sekitani khẽ liếc Yunsuke.
“Từ đầu cô ta đã có ý định ở lại đây. Thế nên mới xin nghỉ làm vào ngày mai. Tôi suy luận như vậy không sai đâu nhỉ?” Fujima hỏi Yunsuke.
“Thì chính miệng cô ấy nói thế mà.” Yunsuke đáp.
“Mong là cô ta không nói với ai chuyện mình đuổi theo anh Namikishi đến hồ Himegami.”
“Chắc gì cô ta đã làm thế. Cũng như chúng ta, đâu có tiết lộ bí mật của mình cho bất cứ ai.”
“Thì đúng là thế.” Yunsuke lẩm bẩm.
“Dù sao…” Fujima nói. “Cũng may là biết được chỗ cô ta ở. Chứ mà không biết, hay trơ mắt ra không làm gì, thì sớm muộn khách sạn đó cũng xôn xao lên cho mà xem. Nếu bị xác định là mất tích ở vùng này, không loại trừ khả năng cảnh sát sẽ điều tra ở mức độ nào đó. Nên bằng mọi cách, phải để cô ta quay lại Tokyo. Nếu là mất tích sau khi về Tokyo, cảnh sát ở đây sẽ làm việc qua loa thôi.”
“Anh nói là để cô ấy quay lại Tokyo, nhưng người chết rồi làm sao quay lại được?” Yunsuke lẩm bẩm.
“Ý tôi là chúng ta phải làm cho người ta nghĩ như vậy. Nếu như cô ta ở khách sạn Lakeside…” Fujima toan với tay lấy chìa khóa, rồi lại thu tay về. “… Thì phải làm thủ tục trả phòng khách sạn. Hơn nữa, sao cho nhân viên khách sạn không nghi ngờ.”
“Có nghĩa là ai đó sẽ thay cô ta làm việc đó nhỉ?” Sekitani nói. “Cải trang thành cô ta.”
“Chắc không cần làm gì quá mức đúng không? Quan trọng là không gây sự chú ý. Đối với nhân viên khách sạn, việc trả phòng của khách trọ chỉ là một thủ tục bình thường trong chuỗi công việc thường ngày của họ. Lý tưởng nhất là việc trả phòng này nằm lẫn trong mớ ký ức thường ngày đó. Chứ cải trang, rồi hành xử lạ lùng thì càng khắc sâu vào trí nhớ của họ thôi, nếu thế thì thà chẳng làm gì còn hơn.”
Sekitani gật đầu, thể hiện bản thân cũng đồng tình với cách nghĩ đó.
“Xin lỗi.” Minako từ từ đứng dậy. “Vai đó, để tôi làm cho.”
Câu nói khiến tất cả mọi người đều nhìn chằm chằm vào Minako.
Fujima liếm môi rồi hỏi, “Cô làm được không?”
“Tôi làm được. Hãy để tôi làm.”
“Không được, quá mạo hiểm,” Yunsuke nói. “Với trạng thái tinh thần của em hiện giờ, sao có thể bình tĩnh hành động được. Nếu cứ cố chấp mà xuất hiện trước mặt người khác thì e rằng…” Anh nhìn sang Fujima, mong đợi sự đồng tình của anh ta. “Anh Fujima cũng cho rằng làm thế là mạo hiểm nhỉ?”
“Không sao đâu. Em sẽ làm tốt.”
“Anh hiểu là em muốn làm gì đó có ích. Nhưng giờ không phải lúc để chúng ta mạo hiểm. Em hãy ngoan ngoãn ở yên tại đây đi.”
“Không, anh Namikishi. Thật ra tôi lại có suy nghĩ là để Minako thế thân.”
Yunsuke chớp mắt liên hồi. “Anh nói thật lòng đấy à?”
“Đương nhiên là tôi nói thật lòng. Vì vai này chỉ có Minako diễn được thôi. Ban nãy, tôi nói là nếu không để lại ấn tượng cho nhân viên khách sạn thì không cần cải trang gì hết, quả thật, dáng dấp tương đồng nhau là tốt nhất. Mà trong số những người ở đây, người đem lại ấn tượng gần giống với người phụ nữ đã chết nhất chẳng phải là Minako hay sao?”
Yunsuke nhìn Sekitani Yasuko và Fujima Kazue, ngầm so sánh, quả thật hai người họ đều đẫy đà. Hai người đó cũng nhìn nhau, rồi chẳng ai bảo ai mà cùng lúc cúi mặt xuống.
“Minako trông trẻ hơn tuổi từ ngày xưa nhỉ. Phong cách cũng ổn nữa.” Yasuko lẩm bẩm.
“Dù là cô gái đã chết kia hay cô Minako, đều là người phụ nữ được anh Namikishi chọn lựa, nên đương nhiên sẽ đem lại ấn tượng tương đồng.” Sekitani nói vu vơ.
“Vì những lý do trên, việc này nhất định phải để cho Minako thực hiện.” Fujima lần lượt nhìn Yunsuke và Minako.
“Em có làm được không?” Yunsuke hỏi lại.
“Em sẽ làm mà.” Cô quay sang chồng và nói, tiếp đó nhìn Fujima. “Trả phòng vào sáng mai là được đúng không?”
“Trước đó, còn phải dọn dẹp hành lý của cô ta nữa. Với lại, cẩn trọng sao cho không để lại dấu vân tay. Sau khi ra khỏi phòng khách sạn thì bỏ găng tay ra, điểm này cần chú ý nhé. Vì thời tiết này mà đeo găng tay là điều kỳ quặc trong mắt người khác đấy. Cô làm được chứ?”
Minako khựng lại một chút, rồi đáp, “Tôi làm được. Mấy giờ thì tôi đến đó được?”
“Khách sạn đó trả phòng lúc mười một giờ sáng nhỉ? Có lẽ từ mười giờ đến mười một giờ là khoảng thời gian lễ tân nhốn nháo nhất.”
“Có nhiều người thì xác suất bị trông thấy sẽ tăng lên đấy.” Sekitani nói.
“Chỉ xuất hiện thoáng qua, nên dẫu có vài người thì người ta cũng không để ý đâu. Sợ nhất là lễ tân nhớ mặt thôi. Vì chắc chắn cảnh sát sẽ đến khách sạn Lakeside để dò la tin tức.”
“Vậy tôi nên đến khách sạn đó lúc mười giờ sáng là được nhỉ?”
“Thì đúng là như vậy.” Fujima trưng ra vẻ mặt suy tư.
“Còn vấn đề gì nữa sao?” Kazue cất giọng như thể chán nản.
“Tôi muốn đến xem phòng của Takashina Eriko một lần, để đề phòng bất trắc. Việc thu dọn hành lý sẽ mất kha khá thời gian, mà để một mình Minako làm, tôi sợ sẽ muộn giờ trả phòng.” Mắt Fujima nhìn vào đồng hồ đeo tay của mình. “Một tiếng nữa là trời sáng rồi. Đến phòng đó trước khi trời sáng là được. Minako, cô đi cùng tôi nhé.”
“Đi ngay bây giờ ư?”
“Đúng vậy. Rồi cô ở lại phòng đó. Đến mười giờ thì mang hành lý xuống, làm thủ tục trả phòng như các khách trọ khác.”
“Sau đó, tôi quay lại đây là được à?”
“À, không được rồi…” Ánh mắt Fujima chuyển sang nhìn Yunsuke. “Đến đây tôi muốn nhờ anh Yunsuke giúp sức.”
“Tôi phải làm gì?”
“Đầu tiên, anh đi ô tô đến khách sạn. Cố gắng âm thầm, đừng thu hút sự chú ý. Tại đó, anh nhận hành lý từ Minako. Còn Minako đi bộ về đây.”
“Anh Fujima, đừng nói với tôi là…” Yunsuke hít một hơi rồi hỏi. “Anh định chuyển hành lý của Eriko về Tokyo đấy chứ?”
Fujima mím môi, cụp mắt xuống rồi lại nhìn Yunsuke.
“Mọi người nên nghĩ rằng không thể giấu được việc Takashina Eriko đã đến đây. Đương nhiên chúng ta không cần báo việc đó với cảnh sát, và việc đó không bị lộ ra là tốt nhất, nhưng vẫn cần chuẩn bị tinh thần ứng biến nếu việc đó xảy ra. Nhưng cô ta đã quay về Tokyo rồi. Để khiến cho người ta nghĩ rằng cô ta mất tích sau khi về Tokyo thì hành lý của cô ta nên để ở trong nhà cô ta.”
Yunsuke gãi tóc mái, rồi lại gãi đầu. “Tôi hiểu điều anh nói, nhưng mà…”
“Tôi biết là không dễ dàng gì, nhưng đã làm thì phải làm cho trót. Anh yên tâm, tôi sẽ đi cùng anh.”
“Anh cũng đi sao?”
“Để anh thực hiện một mình, tôi sợ sẽ xảy ra sai sót khâu nào đó. Vả lại, khi đến nhà người yêu đã chết, tôi đoán anh sẽ khó giữ bình tĩnh, đúng không? Thật ra tôi đi một mình thì tốt hơn, nhưng tôi lại không biết nhà cô ta. Nên anh Namikishi, anh sẽ nhận lời nhỉ?”
Ánh mắt mọi người đổ dồn về Yunsuke. Anh khẽ gật đầu.
“Vậy cứ làm theo kế hoạch đã quyết. Nào, cô Minako, chúng ta khẩn trương đến khách sạn thôi!” Fujima đứng dậy.
“Chờ đã. Tôi sẽ đến khách sạn,” Yunsuke nói.
“Không được, tôi vừa nói rồi, giờ anh đang…”
“Tôi đang rất bình tĩnh đây. Với lại, chỉ kiểm tra hành lý của Eriko đúng không? Tôi sẽ không bất cẩn mà để lại dấu vân tay đâu.”
“Nhưng mà…”
“Anh Fujima…” Minako nói. “Tôi sẽ đi cùng chồng mình. Tôi cũng sẽ hết sức cẩn thận.”
Thoáng phân vân hiện trên khuôn mặt Fujima. Anh ta nhìn những người còn lại, mong chờ ai đó nêu ý kiến phản đối, nhưng không một ai trong số họ buồn hé miệng.
“Hành lý của cô ta…” Minako một lần nữa quả quyết, “… sẽ do tôi chịu trách nhiệm.”
Fujima gật đầu, thở dài một tiếng.
“Tôi hiểu rồi. Vậy giao việc đó cho hai người.”

Vậy là Yunsuke lái xe đến khách sạn. Ngồi trên ghế cạnh ghế lái, Minako nín thinh, tuyệt nhiên không nói lời nào. Yunsuke cũng im bặt. Trong sự yên ắng đó, càng nghe rõ tiếng bánh xe lăn trên mặt đất.
Họ cất xe ở bãi đỗ xe, rồi đi vào trong khách sạn. Hành lang rộng không một bóng người, quá nửa số đèn đã tắt. Ở quầy lễ tân cũng không có ai. Hai người lẳng lặng đi tới sảnh chờ thang máy.
Phòng 0305 là phòng đơn. Tấm trải vẫn phủ bên trên giường. Bên cạnh TV đặt một cái túi du lịch nhỏ màu đen. Yunsuke vừa toan chạm tay vào đó, Minako đã hét lên, “Không được chạm vào.”
“Anh chỉ xem bên trong một chút thôi.”
“Đừng có chạm lung tung nữa. Anh Fujima nhắc nhở rồi đúng không?”
“Đằng nào lúc thu dọn hành lý chẳng phải chạm vào.”
“Em biết anh muốn nhìn kỷ vật của người yêu. Nhưng từ giờ hãy làm những gì em bảo. Xin anh đấy!” Cô khẩn khoản.
Trước sự van nài của vợ, Yunsuke vẫn cố chấp đứng nhìn cái túi một lúc, sau cùng mới đi ra chỗ khác.
Minako kiểm tra bên trong tủ quần áo và giá để đồ có ngăn kéo. Bàn tay cô đã đeo găng.
Yunsuke nhòm vào phòng tắm. Trên bồn rửa mặt để keo xịt tóc, nước hoa, bàn chải, có vẻ đều mang từ nhà đi. Không có dấu vết nào cho thấy đã sử dụng vòi sen để tắm.
“Hành lý có vẻ không nhiều lắm.” Minako cuối cùng cũng lên tiếng.
“Ắt hẳn cô ấy đến thẳng chỗ chúng ta sau khi nhận phòng xong.”
“À, xịt nước hoa rồi đến thì mới đúng.” Cô nhìn bồn rửa mặt và nói.
Yunsuke không trả lời, anh đến gần cái bàn cạnh cửa sổ. Bên trong gạt tàn đặt ở đó còn ba đầu mẩu thuốc lá. Trong thùng rác bên cạnh vứt một tờ khăn giấy vo tròn.
“Minako, em ổn không đấy?”
“Cái gì ổn cơ?”
“Em có thể ở một mình trong căn phòng này không?”
“Nếu em nói là không, thì anh sẽ ở lại đây cùng em sao?”
Yunsuke nhét hai tay vào túi quần, rồi so vai lại.
“Anh mà làm vậy sẽ bị Fujima quở trách đấy. Thế nào anh ta cũng cằn nhằn rằng kế hoạch sẽ đổ bể.”
“Đúng thế.” Minako lật tấm trải giường và ngồi xuống. “Sao cô ta lại ở phòng đơn nhỉ? Hay vì phòng đôi không còn trống?”
Đến đây, Yunsuke không đáp lại. Anh ngồi xuống ghế.
“Để sự việc đến nông nỗi này, quả thật anh cũng có một phần trách nhiệm.”
“Được rồi, anh không cần gượng ép bản thân nói thế đâu. Vì thực lòng anh không nghĩ thế, đúng không?”
“Làm gì có chuyện đó. Nguyên nhân của mọi chuyện bắt nguồn từ anh mà.” Yunsuke thở dài, lắc đầu sang hai bên. “Nên mọi chuyện mới thành ra thế này.”
“Em xin lỗi.” Minako nói. “… Vì đã giết người phụ nữ mà anh yêu. Hẳn trong lòng anh căm hận em lắm.”
Yunsuke nhìn cô. Cô cũng nhìn chồng chằm chằm. Khóe miệng cô tựa hồ như đang nở nụ cười. Tưởng mình nhìn nhầm, người chồng mở căng mắt để nhìn lại, thấy không phải mới yên tâm đưa mắt nhìn ra hướng khác.
“Anh không biết nữa. Bảo không hận thì có lẽ là nói dối.” Anh đưa hai tay lên ôm đầu. “À nhưng mà thực tình, giờ không phải lúc nói chuyện đó đâu. Thật không thể tin được những việc chúng ta đang làm, anh sắp điên lên rồi.”
“Giá như anh không quay lại đây.”
“Em nói vậy cũng có thay đổi được gì đâu.”
Yunsuke nhìn chiếc đồng hồ trên tủ đầu giường. Kim đồng hồ chỉ gần năm giờ sáng.
“Người đó là người như thế nào?” Anh hỏi.
“Người đó ư?”
“Là Fujima í. Sao anh ta hết lần này đến lần khác ra lệnh cho mọi người thế?”
“Anh ấy là như vậy đấy. Dù có xảy ra chuyện gì cũng không hề nao núng. Nghe nói lúc làm bác sĩ, anh ấy cũng xuất sắc như thế. Vả lại, anh ấy cực kỳ hâm mộ tiểu thuyết trinh thám.”
“Tiểu thuyết trinh thám à?” Yunsuke đứng dậy. “Tại sao anh ta lại hết lòng vì chúng ta như vậy? Mà không chỉ anh ta, những người khác cũng thế. Họ đều cố hết sức để cứu em. Cho dù có thân thiết đến mức nào, nhưng lần này là vụ án giết người đấy. Nếu bị đặt vào hoàn cảnh ấy, anh không nghĩ mình làm được như bọn họ.”
“Chẳng phải họ nói rằng làm vậy cũng vì bản thân mình sao?”
“Kể cả như thế.” Yunsuke nhìn vợ dò xét. “Cứ như thể bọn em ràng buộc nhau bởi một sự gắn kết đặc biệt nào đó.”
Minako cúi đầu xuống, chỉnh trang lại dáng ngồi. “Ý anh là sao?”
“Giống lời anh vừa nói. Dường như có một sự gắn kết bí mật.”
Nghe vậy, cô lập tức đăm chiêu nhìn vào không trung. Cảm xúc trên gương mặt như thể đã biến mất.
“Ừ nhỉ. Có khi thế đấy. Có lẽ bọn em gắn kết với nhau bởi một điều gì đó mà người như anh không thể nào hiểu được.”
Yunsuke vẫn đứng yên ở đó, anh ngắm nhìn gương mặt nghiêng của vợ, rồi nhanh chóng gật đầu.
“Sáng mai, nói vậy nhưng cũng chỉ còn vài giờ nữa thôi, anh sẽ tới đón em. Trả phòng xong thì em gọi di động cho anh. Đừng có nhầm lẫn mà sử dụng điện thoại của khách sạn đấy.”
“Em biết rồi. Em sẽ dùng cái này.” Minako giơ cái điện thoại di động để trong túi xách của Takashina Eriko lên.
Không lâu sau khi lái xe rời khách sạn, Yunsuke dừng xe ở vệ đường. Anh đi bộ về phía hồ Himegami. Xung quanh anh, ánh ban mai bắt đầu chiếu rọi, nhưng những cửa tiệm ở ven hồ không có vẻ gì sắp mở cửa.
Một khoảng đất ốp những tấm gỗ phẳng làm thành một cái sân hiên cho mọi người ngắm cảnh hồ. Anh đứng đó, phóng tầm mắt nhìn ra xa. Không nhìn sang được bờ bên kia. Nhưng anh thấy mặt nước đang dập dềnh theo cơn gió. Anh chắp tay trước ngực, nhắm mắt, nói khẽ, “Xin lỗi em.”
Trước khi rời đi, anh nhìn ra chỗ để thuyền. Vài con thuyền cho thuê được đặt úp trên bờ. Anh thử nhìn xung quanh. Không thấy con thuyền nào nữa.
Anh chau mày, tỏ vẻ khó hiểu, rồi bước đi.
 
 
3  
 
“Con thuyền ư?” Fujima giật giật gò má.
Yunsuke đã quay lại phòng của vợ chồng Fujima. Không có vợ chồng Sekitani ở đây.
“Đúng vậy. Lúc chúng ta di chuyển cái xác, chỉ có một con thuyền đặt ngửa lên đúng không? Những con thuyền khác đều úp xuống. Vậy mà vừa xong, tôi thấy con thuyền chúng ta dùng cũng được úp xuống rồi.”
“Ừ.” Fujima nắm bàn tay phải lại, làm điệu bộ như thổi khí qua đó.
“Mà cửa hàng cho thuê thuyền thì chưa mở cửa. Nên tôi băn khoăn là ai đã làm việc đó.”
“Quả là chuyện lạ.” Fujima ấn đầu ngón tay vào giữa trán. “Nhưng ngoài kết luận rằng đó là việc làm của cửa hàng cho thuê thuyền ra, thì làm gì còn khả năng nào nữa nhỉ?”
“Thì tôi nghĩ mãi không ra, nên mới nói cho anh. Nếu là cửa hàng cho thuê thuyền làm thì tốt. Chỉ là…” Yunsuke ấp úng.
“Chỉ là sao?”
“Tôi thắc mắc rằng con thuyền đó được úp xuống khi nào. Tuy tôi không biết kẻ nào làm việc đó, nhưng chắc chắn hắn đã đến gần cửa hàng cho thuê thuyền ấy ngay sau khi chúng ta vứt cái xác. Và có lẽ kẻ đó cũng tình cờ nhìn thấy việc chúng ta làm. Có khi hắn đã tìm hiểu cái thuyền đó rồi cũng nên.”
“Ra là anh đang lo lắng điểm đó.” Fujima tựa người vào ghế, duỗi thẳng lưng. “Nhưng mà anh Namikishi này, tôi thì cho là không cần lo điểm đó đâu.”
“Tại sao?”
“Cứ cho là có ai đó nhìn thấy chúng ta đi chăng nữa, chắc gì họ đã nghĩ là chúng ta vứt xác xuống hồ. Cái xác được bọc kín bằng bạt, lại bị thả ở giữa hồ, nên đứng từ trên bờ không thể nào thấy rõ. Có lẽ họ sẽ thấy ngờ ngợ nếu cái xác bị phát hiện, nhưng chúng ta đã cẩn trọng đến mức đó rồi, nên không cần lo việc đó đâu. Vả lại còn một điều nữa…” Fujima giơ ngón tay trỏ lên. “Kẻ đó úp cái thuyền xuống với mục đích gì? Nếu hắn muốn tìm hiểu thì chỉ rọi bật đèn pin là thấy. Còn nếu phát hiện người vứt xác thì chỉ có thể báo cảnh sát. Nhưng anh có thấy cảnh sát lao đến đó không? Tức là kẻ đó…” Fujima áp mặt lại gần Yunsuke. “Chẳng nhìn thấy gì cả. Hắn có việc nên cần úp con thuyền xuống. Và để làm việc đó, chỉ có thể là người của cửa hàng cho thuê thuyền thôi. Sao, anh thấy lập luận của tôi có sơ hở nào không?”
“À, không có.” Yunsuke lắc đầu một lần duy nhất.
“Tôi hiểu anh đang nhạy cảm. Bản thân tôi cũng cẩn trọng thái quá để đề phòng bất trắc. Nhưng sự đã rồi thì anh có lo nghĩ cũng không giải quyết được gì cả. Giờ anh cần suy nghĩ xem làm thế nào để chuyển được hành lý của Takashina Eriko về Tokyo trót lọt. Vừa nhanh gọn, vừa không để bị ai bắt gặp.”
Yunsuke im lặng hồi lâu, rồi mới gật đầu.
“Tôi hiểu rồi. Anh nói đúng, giờ nghĩ ngợi xem có bị ai trông thấy không cũng chẳng để làm gì. Tôi sẽ chợp mắt một chút để chuẩn bị cho ngày mai.”
“Anh làm thế là đúng. Tôi cũng đi ngủ đây. Mà tôi có thuốc ngủ đấy, nếu anh cần.”
“Tôi không cần đâu.” Yunsuke chống một đầu gối lên rồi đứng dậy.
Lặng thinh ngồi nghe bên cạnh từ đầu tới giờ, Kazue hỏi Yunsuke.
“Xin hỏi anh sẽ nghỉ ở phòng nào?”
“Đương nhiên là…” Nói đến đây, Yunsuke bỗng khựng lại. Anh cắn môi.
“Hẳn anh không ngủ được ở phòng đó đâu nhỉ? Dù lúc nãy chúng tôi đã dọn dẹp rồi, nhưng mà…”
“Tôi sẽ ở phòng khách. Xin lỗi, cô có thể cho tôi mượn chăn hay túi ngủ gì không?”
“Thế thì hại người lắm. Quả thực, anh nên nằm nghỉ trên giường thì…”
Không đợi Fujima nói hết câu, Yunsuke đã xua tay.
“Tối nay tôi không định ngủ đâu. Mà chắc tôi cũng không ngủ được. Cho nên tôi muốn ở một mình, thong thả nghĩ về chuyện trước mắt. Mà phòng khách là nơi thích hợp nhất để tôi làm việc đó.”
Nghe anh nói vậy, Fujima khẽ thở dài. Anh ta nhìn vợ, rồi nói, “Em cho anh ấy mượn cái chăn.”
Yunsuke đi đến phòng khách, ném cái chăn lên ghế. Anh châm lửa điếu thuốc lá, tay kẹp điếu thuốc, đi vào bếp, mở tủ lạnh ra. Trong tủ còn bia thừa lại sau bữa tiệc nướng. Anh lấy hai lon, mang chúng quay lại bàn.
Anh hút thuốc, vừa uống bia. Tấm rèm cửa sổ đang mở hé. Trời tờ mờ sáng bên kia ô cửa sổ.
Anh lấy chiếc điện thoại trong túi ra, bật số lưu tên “ET” trong danh bạ. Hút rụi điếu thuốc, anh xóa số đó.

Chuyện của một tháng trước. Yunsuke ở trong khách sạn thành phố.
“Anh nói thật sao?” Eriko nằm bên cạnh ngồi bật dậy. “Sao anh lại nghĩ thế?”
“Anh đã tìm thấy chứng cứ. Cũng tình cờ thôi.”
“Chứng cứ là sao?”
“Là thứ này.” Yunsuke tóm cái túi đựng bao cao su, giơ tay lên. Nó đã được xé mép ra nhưng chưa sử dụng.
“Anh tìm thấy ở đâu vậy?”
“Trong túi xách của cô ta. Anh cần mấy đồng xu lẻ nên mở túi ra tìm. Cái bao cao su này nằm trong cái túi nhỏ gắn bên trong túi xách.”
“Dù anh nói vậy, nhưng có mỗi thứ này thì chưa thể khẳng định được vợ anh ngoại tình, đúng không?”
“Vậy tại sao cô ta lại mang theo nó? Cô ta đâu phải mấy nữ sinh muốn được bọn con trai săn đón.”
“Với anh.” Eriko quay mặt sang bên cạnh. “Chẳng phải là để dùng với anh sao?”
“Em đừng đùa. Anh không làm thế.”
“Ý anh là sao?”
“Từ khi lấy nhau đến giờ, bọn anh chưa từng dùng biện pháp tránh thai. Bởi anh quan niệm giữa vợ chồng phải có đứa con chung thì gia đình mới hạnh phúc. Cô ta lại chỉ có con riêng, nên luôn thấy lép vế trước anh. Thế thì tại sao lại cần đến bao cao su?”
“Vâng, mà thôi chuyện đó sao cũng được.” Eriko với tay lấy bao thuốc trên tủ đầu giường. “Anh đã gặng hỏi vợ chuyện đó chưa?”
“Chưa, anh chưa hé răng nửa lời.”
“Tại sao? Anh sợ phải nghe lời thú nhận ngoại tình à?”
“Làm gì có.” Yunsuke khẽ đung đưa người, miệng bung một nụ cười khắc khổ. “Nếu cô ta thú nhận, anh sẽ được nước làm tới. Nhưng đời nào cô ta thừa nhận. Nếu làm thế thì phải chia tay anh. Lại còn không lấy được tiền bồi thường chia tay.”
“Vậy anh định thế nào?”
“Mấu chốt nằm ở đó.” Yunsuke giật lấy điếu thuốc trên môi Eriko, rít một hơi rồi đặt nó trở lại môi cô.
“Nếu cô ta có nhân tình thì lợi cho anh quá. Anh phải nắm đuôi cô ta. Nên anh định bàn với em.” Anh choàng cánh tay lên đôi vai trần của Eriko. “Anh muốn em tìm ra chứng cứ cô ta ngoại tình. Nếu biết được nhân tình của cô ta là ai thì càng tốt.”
“Anh đang bảo em làm việc đó đấy à?”
“Chẳng phải trước đây em làm việc ở văn phòng thám tử sao?”
“Là cơ quan điều tra mới đúng. Vả lại, có nửa năm thôi.”
“Giống nhau cả thôi. Nửa năm cũng là kinh nghiệm, giữa có kinh nghiệm và không có kinh nghiệm là cả một khoảng xa đấy. Nếu em vận dụng mối quan hệ, kỹ năng khi còn ở đó, việc này không làm khó được em đâu.”
“Anh nói thì dễ lắm. Em cũng có công việc của mình. Làm sao lẽo đẽo đi theo dõi vợ anh được.”
“Về công việc, anh sẽ cố gắng làm gì đó để tạo điều kiện cho em. Thêm nữa, em không cần phải lẽo đẽo canh chừng cả ngày. Anh cũng lờ mờ khoanh vùng đối tượng rồi. Có lẽ kẻ đó là một trong những người liên quan đến việc thi cử.”
“Việc thi cử mà anh nói là thi vào trung học của con trai vợ anh à?”
“Đúng vậy. Mấy phụ huynh quen nhau ở trung tâm luyện thi lập ra một thứ kỳ quặc gì đó, đại loại như câu lạc bộ luyện thi. Những khi rảnh rỗi, đám người đó tụ tập với nhau. Hình như còn rủ cả vợ chồng cùng tham gia ở những chỗ khác nữa. Có lẽ cô ta ngoại tình với một ông chồng ở trong nhóm đó.”
“Từ quan hệ bạn bè cùng sẻ chia mối phiền muộn chung phát triển thành quan hệ nam nữ à? Câu chuyện thường gặp đấy.” Eriko cười khúc khích, rồi dập điếu thuốc chưa cháy hết trong gạt tàn.
“Nếu không phải ông chồng nào trong số đó thì cũng là người có liên quan tới trung tâm luyện thi. Gã nào đó phụ trách hướng nghiệp hoặc thầy giáo luyện thi chẳng hạn. Anh nghe loáng thoáng thì đám người ở câu lạc bộ luyện thi đó hình như cũng tiếp đãi cả thầy giáo nữa. Không hiểu việc tiếp đãi đó có tác dụng đến đâu.”
“Ý anh là việc tiếp đãi đó được thăng hạng, và có những bà mẹ dâng hiến thân thể mình cho thầy giáo à?”
“Anh không biết nữa. Thế nên anh muốn nhờ em điều tra việc đó.”
“Hóa ra là vậy.”
Eriko nhanh nhẹn bò khỏi giường, khoác cái áo choàng tắm vắt trên ghế lên người. Tiếp đó, cô lấy chai nước Evian trong tủ lạnh, rồi đến bên cửa sổ, mở rèm cửa ra. Xung quanh không có tòa nhà nào cao hơn khách sạn này, cô trông thấy tấm biển quảng cáo ở đằng xa.
Sau khi uống ừng ực chai nước, cô quay đầu lại.
“Được rồi. Em sẽ giúp anh.”
“Không uổng công anh tin tưởng em.”
“Nhưng mà, anh này.” Eriko quay lại giường. Lúc leo lên giường, cô trườn người, nhìn chằm chằm Yunsuke. “Anh nghiêm túc chứ?”
“Đương nhiên rồi. Anh sẽ phanh phui chuyện cô ta ngoại tình.”
Eriko lắc đầu. Mái tóc dài đung đưa.
“Ý em không phải vậy. Nếu chia tay vợ, anh sẽ lấy em chứ.”
“Chính vì muốn làm thế, anh mới nhờ em việc này.”
Eriko tủm tỉm cười, tay vẫn cầm chai Evian, cô vòng tay ôm cổ anh.

Đó là lúc Yunsuke uống hết nửa lon bia thứ hai. Anh nghe thấy tiếng động đằng sau lưng mình. Sakazaki Kimiko đứng đó với gương mặt bối rối. Cô mặc áo phông dài tay.
“A, chào cô.” Anh cúi đầu.
“Anh dậy rồi à?” Có vẻ Kimiko đang nhìn mấy thứ ở trên bàn. Hai lon bia, gạt tàn, rồi bao thuốc lá và bật lửa. “Anh dậy sớm thế. À, hình như không phải. Anh đã đi đâu về à?”
“Không, sao cô nghĩ vậy?”
“Tại vì quần áo anh mặc…” Kimiko ngước lên. “Không phải quần áo thường ngày.”
Yunsuke đang mặc áo jacket và quần âu.
“À, cái này ấy hả?” Yunsuke làm ra vẻ bật cười. “Thật ra hôm qua tôi có việc gấp nên phải về Tokyo.”
“Thế ư.” Cô nói.
“Nhưng đang trên đường về lại nhận được điện thoại, báo là việc đó được giải quyết xong xuôi. Nên tôi quay xe về đây luôn. Mà nằm mãi không ngủ được. Dẫu biết ở nhà người khác cư xử thế này là không đúng mực, nhưng tôi vẫn làm một ly thế này.”
“Vậy à.” Kimiko gật đầu xem chừng đã bị thuyết phục.
“Sức khỏe cô ổn chứ?”
“Vâng, nhờ trời phật, tôi cảm thấy tốt lên nhiều rồi.” Cô lại gần cái bàn, ngồi xuống bên đối điện Yunsuke. “Tôi mượn cái này được không?” Rồi cô đặt tay lên cái chăn.
“Quả nhiên vùng này hay lạnh vào sáng sớm và chiều tối nhỉ?”
“Tôi nghĩ là môi trường này thích hợp nhất cho việc học.” Cô choàng cái chăn từ vai xuống người.
“Cô có uống gì không, để tôi lấy cho. Đồ uống ấm thì tốt hơn nhỉ?”
“Không, anh cứ mặc kệ tôi ạ. Nếu cần thứ gì, tôi sẽ tự đi lấy. Vì tôi không phải người ốm nặng gì cả.”
“Nhưng cô đừng nên làm gì quá sức mình.”
“Vâng, tôi biết mà. Đến chồng tôi cũng phản đối việc tôi đến đây. Anh ấy bảo tôi sẽ không thích ứng được với sự thay đổi môi trường, rồi đằng nào tôi cũng nằm bẹp giường thôi. Nếu mà thế thì lại làm phiền mọi người. Dù bực bội nhưng phải thừa nhận anh ấy nói đúng.”
“Không có chuyện làm phiền ai đâu. Người nằm nghỉ suốt chuyến đi mới là người thiệt thòi nhất.”
Sakazaki Kimiko bật cười.
“Nói thật lòng, tôi cũng không thiết tha chuyến đi này. Nhưng nghĩ đến cảnh ở nhà một mình cùng mẹ chồng là tôi thấy sợ rồi.”
“Cô sống chung với mẹ chồng à?”
“Vâng, được năm năm rồi. Dù trước khi lấy nhau, tôi đã ra điều kiện là không bao giờ sống chung.” Cô nhìn Yunsuke, đầu nghiêng sang một bên rồi chột dạ. “Chết rồi! Sao tôi lại than vãn mấy chuyện này với anh chứ?”
“Hóa ra gia đình nào cũng có những nỗi niềm riêng.” Anh cầm bao thuốc lên rồi sau khi nhìn Kimiko, lại bỏ ngay xuống.
“Tôi không sao đâu. Anh cứ hút đi.”
“Nhưng mà…”
“Anh ngại ngần thế, tôi lại càng khó nghĩ. Với lại, nếu có mọi người ở đây thì anh cũng không hút được mà. Có quá nhiều quy tắc phiền phức ở đây.”
“Vậy tôi không ngại nữa…” Yunsuke ngậm điếu thuốc rồi châm lửa. Làn khói anh phả ra bay thẳng lên giếng trời.
“Tôi cứ đinh ninh là anh Namikishi không đến đây. Vì mọi khi chỉ có Minako và Shota tham gia.”
“Cô nghĩ vậy vì Shota không phải con ruột của tôi ư?”
“Nói đúng hơn là, trong câu chuyện của Minako hiếm khi nhắc đến chồng. Tôi cũng nghe cô ấy bảo anh không quan tâm đến chuyện thi cử.”
“Có lẽ tôi không hề tồn tại trong suy nghĩ của cô ấy.” Yunsuke chống khuỷu tay xuống bàn, trên ngón tay vẫn kẹp điếu thuốc.
Kimiko kéo cái chăn trùm lên sát người. Cô vẫn ngồi yên, chỉ có đôi mắt là di chuyển để nhìn Yunsuke.
“Nhưng việc anh Namikishi đến đây, có lẽ khiến nhiều người phải thay đổi ý định của mình.”
“Ý cô là sao?”
Thấy Yunsuke hỏi, cô vội nhìn ra hướng khác. Cô chớp mắt, bờ mi dài chuyển động mạnh.
“Ý cô là sao?” Anh căn vặn.
Cô chậm rãi xoay cổ nhìn về phía anh. Không còn nụ cười trên gương mặt cô nữa.
“Anh có yêu vợ mình không?”
Câu hỏi khiến Yunsuke đang ngậm điếu thuốc trên miệng, bị sặc sụa trong làn khói thuốc. “Sao cô lại hỏi thế, đó là một câu hỏi khiếm nhã đấy?”
“Tôi lại nghĩ đó là câu hỏi bình thường. Khi bị hỏi rằng có yêu vợ không mà lúng túng không trả lời ngay thì mới là kỳ quặc.”
“Tôi xin đầu hàng trước lý lẽ của cô.” Yunsuke gãi đầu. “Mà tại sao cô lại hỏi tôi câu đó?”
“Vì tôi nghĩ nếu anh thật lòng yêu vợ mình, đừng nên để cô ấy qua lại với những người đó.”
“Những người đó mà cô nói là nhóm Fujima ấy à?”
Kimiko gật đầu, vẫn dán mắt nhìn Yunsuke. Anh bật cười.
“Tại sao vậy? Cô nói điều đó nhưng bản thân đang qua lại với họ mà. Cả chồng cô cũng vậy.”
“Nói thật tình, tôi không muốn qua lại với họ đâu. Nhưng mà chồng tôi không chịu ngừng việc đó.”
“Tôi thật sự không hiểu.” Yunsuke lắc đầu. “Có gì không được chứ? Chẳng phải họ là những người bạn giúp đỡ lẫn nhau để con cái thi cử đỗ đạt sao?”
“Thoạt đầu có lẽ là thế. Nhưng giờ đây đã biến tướng thành một thứ khác rồi. Những người đó…” Kimiko nhíu mày, cô hít thở một hơi thật sâu rồi nói tiếp. “Những người đó không bình thường.”
Yunsuke dập điếu thuốc, nhoài người về phía cô.
“Không bình thường như thế nào? Cô hãy nói rõ ra đi.”
Kimiko quay mặt đi. Cô liếm môi. Lông mi giật giật.
“Minako…” Cuối cùng cô cũng chịu mở miệng. “Ổn thôi. Chắc chắn là cô ấy vẫn ổn.”
“Ổn ư, cái gì ổn mới được chứ? Hay là có việc gì nguy hiểm?”
Kimiko không trả lời. Cô cúi mặt, mắt nhìn xuống sàn nhà.
“Cô Kimiko!”
“Xin lỗi anh.” Cô đứng dậy, đặt cái chăn đang khoác trên người xuống ghế bên cạnh. “Vì tôi đã buột miệng nói mấy điều kỳ quặc. Nhưng tôi không thể nói gì hơn. Đến một lúc nào đó anh sẽ phát hiện ra thôi. Vì nghĩ phát hiện sớm sẽ tốt cho anh, nên hôm nay đã tôi tiết lộ đôi chút.”
“Đợi đã. Cô lấp lửng như vậy chẳng phải càng khiến tôi tò mò sao? Cô hãy nói hết đi.”
“Tôi không muốn làm điều đó. Nhưng mà cũng không thể im lặng và coi như không có chuyện gì được… Xin lỗi anh.” Cô cúi đầu, toan rời phòng khách.
“Cô Kimiko!” Yunsuke gọi. Lúc cánh cửa mở ra, cô ngoái đầu lại.
“Sekitani thì thôi, nhưng anh nên cẩn thận với Fujima. Vì Minako không thèm để mắt đến Sekitani đâu.”
Yunsuke chớp mắt. “Cô nói vậy là thế nào?”
“Tôi xin phép. Chúc anh ngủ ngon.” Kimiko cúi đầu, đi ra khỏi phòng.
 
 
4  
Giống Sakazaki Kimiko ban nãy, Yunsuke trùm chăn lên người như mặc áo khoác. Âm thanh của đồng hồ quả lắc vang vọng trong không gian. Bao thuốc lá chẳng mấy đã trống trơn, anh bật TV lên. Sau vài lần chuyển kênh, anh dừng lại ở kênh NHK. Nhưng mắt anh hầu như không chú tâm vào những hình ảnh phát trên đó. Thi thoảng anh cố nhắm mắt lại. Nhưng dù có mong mỏi đến đâu, cơn buồn ngủ cũng không một lần ghé đến.
Hơn bảy giờ sáng, Fujima Kazue thức dậy đầu tiên. Chồng cô ta cũng xuất hiện ngay sau vợ. Anh ta ngồi xuống bên cạnh Yunsuke, đưa tay bóp vai mình.
“Anh có ngủ được không?”
“Không.”
“Thế à? Tôi cũng trằn trọc mãi. Vậy anh có lái xe được không?”
“Lái xe thì được.”
“Vậy à, anh cũng đừng cố quá. Nếu thấy mệt hay buồn ngủ thì nói với tôi ngay nhé. Tôi sẽ lái thay anh.”
“Đến lúc đó tôi sẽ nhờ anh.”
“À mà nhà cô ta ở đâu nhỉ?” Nói đến đây Fujima dịu giọng. “Cái người chết rồi ý.”
“Ở Takaido.”
“Vậy đi đường cao tốc Chuo nhỉ? Có lẽ đường sẽ hơi đông.”
“Chào buổi sáng.” Vợ chồng Sekitani đồng thanh nói. Họ cũng thức giấc rồi. Sekitani uể oải đi về chỗ Yunsuke, rồi ngồi xuống. Yasuko thì đi vào bếp.
“Tầm này bọn trẻ cũng dậy rồi đấy.” Fujima nói bâng quơ khi nhìn cái đồng hồ quả lắc.
“Chúng ngủ ngon không nhỉ?” Sekitani nói một mình.
“Đương nhiên rồi. Ban ngày bị thầy Tsukumi đốc thúc đến thế mà. Ngủ say là đằng khác.”
“À, đúng rồi.” Sekitani hất ngược tóc mái lơ thơ ra đằng sau. “Vậy là sau đây hai người sẽ…” Anh ta lần lượt nhìn Yunsuke và Fujima.
“Tôi đang định mười giờ sẽ xuất phát. Đợi ở bãi đỗ xe của khách sạn, và chờ Minako gọi điện.”
“Như thế được đấy.” Fujima cũng gật đầu đồng tình.
“Chúng ta sẽ giải thích với bọn trẻ thế nào?” Sekitani hỏi Fujima.
“Lúc chúng tôi rời khỏi đây cũng là lúc bọn trẻ bắt đầu học nhỉ? Thầy Tsukumi và anh Sakazaki thì đang ở biệt thự đằng đó, nên có thể qua mặt được khoảng thời gian ấy. Vấn đề là giờ ăn trưa, anh có thể nói là tôi và anh Yunsuke đi xem trước chỗ tổ chức tiệc nướng cho ngày mai không?”
“Anh nói vậy nghĩa là trưa mai sẽ làm tiệc nướng à?” Mặt Sekitani nhăn nhó. “Tôi nào có tâm trạng để làm việc đó.”
“Hãy cố thản nhiên hết mức có thể. Trẻ con rất nhạy cảm. Chỉ cần thấy chúng ta cư xử kỳ quặc, chúng sẽ nhận ra có chuyện gì đó không ổn ngay.”
“Có lẽ là thế. Vậy chúng ta không được cho bọn trẻ thấy điểm nào khác thường đâu đấy.”
Sau đó một lúc, Sakazaki Kimiko đi vào phòng khách. Cô mặc áo nỉ và quần jean.
“Xin lỗi vì đã làm phiền mọi người. Tôi ngủ quên mất. Giờ thì ổn rồi, có điều gì mọi người cứ nói với tôi ạ.” Cô nhìn một lượt tất cả mọi người rồi cúi đầu.
“Cô ổn thật không? Đừng cố sức quá.” Fujima ôn tồn.
“Tôi không sao mà. Chỉ không chơi được tennis thôi.”
Nghe vậy, mọi người đều im bặt trong giây lát.
“À, đúng rồi. Nếu cô thấy khỏe hơn rồi thì hôm nay hãy đến biệt thự cho thuê đi.” Sekitani nói.
“Tôi cũng định thế. Đằng nào hôm nay cũng đến phiên của nhà tôi.” Kimiko mỉm cười gật đầu, hất mặt về phía căn bếp. “Xin lỗi, từ hôm nay hãy để tôi giúp đỡ mọi người.”
Chờ cô khuất dạng trong căn bếp, Sekitani mới dám thở phào nhẹ nhõm.
“Suýt thì tôi quên là còn cô ấy ở đây.”
“Nhưng đến biệt thự kia thì không sao rồi. May là cô ấy đã khỏi cảm. Chứ ở đây xong chốc lát lại lượn lờ thì chúng ta khó lòng làm xong việc.” Nói rồi, Fujima nhìn Yunsuke. “Có thể Shota nhà anh sẽ thấy lạ vì Minako không có mặt trong bữa sáng. Anh hãy tìm đại một lý do nào đó nếu thằng bé hỏi.”
“Tôi hiểu rồi.”
Rồi chẳng mấy chốc sau đó, bọn trẻ cùng thầy giáo Tsukumi và Sakazaki đã qua đây. Bữa sáng diễn ra ở phòng khách. Người lớn và trẻ con, cả thảy là mười hai người, nên chỉ dùng bàn ăn trong phòng khách là không đủ, họ phải bê cả cái bàn ở ngoài vườn vào trong nhà. Đồ ăn sáng nhanh gọn với bánh mì, thịt nguội, trứng và nước ép. Bọn trẻ có vẻ trầm tĩnh, có lẽ chúng còn ngái ngủ vì vừa tỉnh giấc. Ngồi bên cạnh Yunsuke, Shota lặng lẽ ăn. Trông cậu bé không có vẻ gì sẽ hỏi về mẹ.
Nhưng Sakazaki đã nhanh chóng nhận ra Minako không có mặt ở đó. “Ơ, Minako đâu rồi nhỉ?”
Bắt đầu từ Fujima, tất cả những người dây dưa đến vụ án đó đồng loạt nhìn Yunsuke.
Anh bày ra nụ cười gượng gạo cho Sakazaki thấy. “Cô ấy bảo đau đầu nên đang nằm nghỉ trong phòng.”
“Hả, thế thì không ổn rồi.” Sakazaki nhìn sang vợ. “Lẽ nào cô ấy bị lây bệnh cảm của em?”
Sakazaki Kimiko chớp mắt lo lắng. Yunsuke xua tay.
“Không có gì nghiêm trọng đâu. Không phải bị cảm. Biết nói thế nào nhỉ, bệnh phụ nữ í…”
“À.” Sakazaki gõ vào đầu mình. “Tôi vô ý quá.”
“Mẹ có sao không ạ?” Shota hỏi.
“Con đừng lo. Nhưng chúng ta nên để mẹ con yên tĩnh nghỉ ngơi trong buổi sáng.”
“Vâng ạ.”
Ăn sáng xong, có vẻ bọn trẻ đã phấn chấn trở lại. Chúng ở trong vườn tận hưởng quãng thời gian tự do ngắn ngủi. Dáng vẻ đứa nào đứa nấy đều lọt vào tầm mắt đang nghiêm túc quan sát của bố mẹ chúng.
Sakazaki Kimiko tách khỏi đó, một mình đến bàn quây, đọc tạp chí. Yunsuke đi về phía cô.
“Chuyện sáng nay cảm ơn cô nhé!”
“À, không có gì đâu.”
“Về chuyện lúc đó, tôi muốn biết cụ thể thêm một chút.”
“Tôi đã nói rồi mà.” Cô cảnh giác nhìn xung quanh, thấy không có ai, rồi dịu giọng. “Tôi nghĩ là chỉ cần anh để ý một chút, đến lúc nào đó sẽ rõ cả thôi.”
“Tôi cũng biết ở một mức độ nào đó.”
Kimiko tròn xoe mắt ngạc nhiên. Yunsuke nhìn vào đôi mắt đó, rồi nói tiếp.
“Hình như Minako có người yêu. Đương nhiên kẻ đó là một người đàn ông khác, không phải tôi.”
Kimiko kinh ngạc như nín thở. Mặt và tai cô đỏ bừng lên.
“Và kẻ đó là…”
Yunsuke nói đến đây, thấy Kimiko nhìn ra sau lưng mình. Yunsuke quay đầu lại, cậu bé Takuya, con trai lớn của Sakazaki đang đứng ở đó.
“Mẹ ơi, mẹ khỏi ốm chưa? Mẹ còn sốt không ạ?”
“Ừ, mẹ khỏe rồi, mẹ xin lỗi nhé, vì đã làm con lo lắng. Con cố gắng học hành nhé. Hôm nay tới lượt mẹ trực, nên lát nữa mẹ sẽ qua đó.”
“Thế ạ?” Nghe rõ niềm hân hoan trong giọng nói của Takuya.
“Đúng rồi, mẹ phải thay đồ đã.” Kimiko dẫn theo Takuya rời phòng khách. Đang mải nhìn theo bóng lưng hai mẹ con họ, Yunsuke nghe thấy giọng Fujima ở đằng sau.
“Anh có việc gì với cô Kimiko vậy?”
“À không, tôi chỉ hỏi xem đêm qua cô ấy có ngủ được không thôi. Nhỡ cô ấy phát hiện ra điều gì thì không tốt cho chúng ta.”
“Ra vậy.” Fujima gật đầu. “Cũng phải để ý đến cô ấy thật. Bởi nếu biết nguồn cơn sự việc, chưa chắc cô ấy sẽ hợp tác với chúng ta.”
Yunsuke nhìn đăm đăm vào gương mặt nghiêng của Fujima lúc anh ta đang nhìn về phía cửa phòng khách. Như thể nhận ra ánh mắt đang nhìn mình, anh ta quay lại nhìn Yunsuke.
“Có chuyện gì à?”
“Không, không có chuyện gì đâu.”
“Anh Namikishi.” Lần này tới phiên Sakazaki hỏi. “Cô gái hôm qua ấy, tên là gì í nhỉ, cô gái cấp dưới của anh Namikishi…”
“Cô Takashina à?”
“À đúng rồi, Takashina. Cô ta về rồi à? Lẽ ra đêm qua cô ta ngủ tại đây chứ nhỉ?”
“À không.” Yunsuke liếc nhìn Fujima.
“Hình như cô ta thuê phòng ở khách sạn.” Fujima nói.
“Vậy à? Hôm qua cô ta không nói với tôi như vậy. Khách sạn mà anh nói là khách sạn Lakeside à?”
“Tôi không nghe cô ấy kể chi tiết đến mức đó.”
“Vậy có khi giờ này cô ta vẫn ở khách sạn đấy nhỉ? Hay để tôi điện thoại, gọi cô ta đến đây nhé!” Sakazaki nói với Yunsuke.
“Cô ấy bảo hôm nay sẽ về Tokyo từ sớm, không biết chừng đã về đến nơi rồi.”
“Thế à…”
“Có việc gì sao?”
“À không, tôi chỉ nghĩ là cô ta đã mất công đến đây rồi thì không cần nóng vội. Không biết cô ta có đến chào hỏi anh trước khi về Tokyo không?”
“Chắc không đâu. Cô ấy còn phải đi làm mà.”
“Ừ nhỉ. Vốn dĩ cô ta không đến đây để chơi.”
Sakazaki đập nhẹ mấy cái vào đằng sau cổ rồi đứng dậy rời khỏi đó. Nhìn bóng lưng anh ta, Fujima lẩm bẩm, “Một cô gái trẻ trung, xinh đẹp từ đâu xuất hiện, chắc chắn anh ta lại mơ tưởng viển vông rồi. Đúng là người bộp chộp. Chúng ta không thể chia sẻ bí mật với loại người đó.”
Yunsuke im lặng gật đầu.
Giờ học sắp đến, bọn trẻ đã quay lại biệt thự cho thuê. Đợi bọn trẻ cùng thầy Tsukumi và vợ chồng Sakazaki rời khỏi đó rồi, Fujima mới thở phào nhẹ nhõm.
“Nhanh lên nào, cuối cùng thì những người ngoài cuộc đã không còn ở đây.”
“Những người đó sướng thật nhỉ! Họ không biết chuyện gì đang diễn ra, hay chúng ta đang khốn khổ thế nào.” Sekitani Yasuko cười nhếch môi.
Yunsuke đứng trước mặt họ, cúi đầu. Và anh cứ cúi gằm mặt như thế rồi mở miệng.
“Xin lỗi vì đã gây phiền phức cho mọi người. Cả đêm qua tôi không ngủ, à không, tôi mải suy nghĩ nên không ngủ được. Quả nhiên tôi không thể tha thứ cho bản thân mình, khi khiến mọi người bị liên lụy vì tội lỗi mà Minako gây ra. Thế nên chỉ cần một người trong số những người ở đây muốn báo cảnh sát, tôi sẽ làm theo ý người đó.”
“Anh Namikishi, chúng tôi đã đi đến kết luận rồi nên anh bỏ ý nghĩ đó đi được rồi đấy.” Fujima vừa lắc đầu vừa nói. “Vợ chồng tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần rồi.”
“Nhà tôi cũng thế.” Sekitani tiếp lời rồi quay sang vợ, mong nhận được sự đồng tình. “Em nhỉ?” Cô ta cũng gật đầu.
“Tôi cũng xin lỗi vì tôi đã nói những lời như thể ghen tị với mọi người. Tôi không có ý đó đâu. Mong mọi người thứ lỗi. Nhưng mà…” Yunsuke chưa nói hết câu, Fujima đã lấy tay ngăn lại.
“Thôi, đừng nghĩ những chuyện dư thừa nữa. Chuẩn bị xuất phát thôi. Chúng ta cần suy nghĩ về những việc tiếp theo sắp tới.”
Yunsuke khẽ thở dài, rồi gật đầu.

Sakazaki cố nín cơn ngáp. Đằng trước mặt anh, Tsukumi đang viết lên tấm bảng trắng để dạy Toán cho bốn đứa trẻ. Bọn chúng đều nghiêm chỉnh, không đứa nào nói tự do. Ở bên cạnh Tsukumi, Kimiko đang phụ giúp phát sách.
“Vậy chúng ta nghỉ mười phút nhé. Nghỉ xong thì học môn Khoa học tự nhiên.”
Tsukumi vừa dứt lời, bọn trẻ đồng loạt đứng dậy. Sakazaki cũng duỗi người, vươn vai, tiện thể nhìn đồng hồ. Hơn mười giờ rồi.
Anh vẫy tay ra hiệu với vợ mình.
“Xin lỗi em, anh để quên đồ ở biệt thự rồi. Anh sẽ quay về đó để lấy. Em phụ thầy Tsukumi thay anh nhé.”
“Được thôi, nhưng anh để quên gì vậy?”
“Anh quên sách. Sách bìa mềm ấy.”
“Sách bìa mềm ư, anh mang đến đây à?”
“Thì anh đoán ngồi nghe giờ học của thầy ấy sẽ chán lắm nên mới mang đi. Vậy anh đi lấy nhé!”
“Thế anh định đọc sách trong lúc bọn trẻ học à?”
“Cũng được chứ sao. Tại anh đâu có việc gì để làm.” Dứt lời, anh nhanh chân đi về phía sảnh ra vào. Kimiko nói thêm điều gì đó, nhưng anh không ngoái đầu lại nhìn.
Ra khỏi biệt thự cho thuê, anh vội vã chạy ra đường, đến gần chiếc xe đạp leo núi đỗ ở đó. Anh lấy chìa khóa trong túi áo, mở khóa, rồi trèo lên xe.
Sakazaki mải miết đạp một mạch không dừng lại. Gần đến biệt thự của Fujima, anh cũng không định đạp chậm lại. Ngược lại, còn dồn hết sức vào đôi chân đặt trên bàn đạp để đạp nhanh hơn, chớp mắt anh đã đi qua biệt thự của Fujima.
Đi hết khu biệt thự, anh rẽ trái. Cứ thế đạp xe thẳng về phía trước, rồi nhìn thấy tấm biển đề “Khách sạn Lakeside” chình ình ở trước mặt.
Anh để xe đạp ở cuối con đường đằng trước khách sạn rồi bước đi. Xe ô tô lần lượt nối nhau rời khách sạn. Trông thấy một phụ nữ tóc dài đang lái xe, anh liền dừng bước, ráo riết nhìn mặt người phụ nữ đó.
Đó là lúc anh bước qua cánh cổng khách sạn, băng qua bãi đỗ xe, định đi về phía sảnh chính. Thấy gương mặt người đang lái chiếc Cima màu tím than, anh ta hoảng hồn nấp vội vào phía sau chiếc ô tô bên cạnh. Không thể nhầm đi đâu được, người đó nhất định là Namikishi Yunsuke. Còn người ngồi ở ghế bên cạnh ghế lái là Fujima.
Sakazaki chép miệng. Đồng hồ trên tay anh chỉ mười giờ ba mươi lăm phút.
Sau dăm ba phút quanh quẩn ở đó, Sakazaki quay lại, đi về phía cổng khách sạn. Có vẻ hai người trên xe Cima không nhận ra sự hiện diện của anh ở đó.
Đi qua cái cổng, Sakazaki ngoái đầu lại nhìn một lần nữa. Đúng lúc ấy, Namikishi Yunsuke mở cửa, bước ra khỏi xe. Ánh mắt Namikishi chăm chú nhìn về phía sảnh chính của khách sạn. Sakazaki cũng nhìn theo. Và anh ngạc nhiên mở to mắt.
Người bước ra từ sảnh khách sạn, đang đi bộ về phía chiếc xe của Namikishi là Namikishi Minako. Cô ta mặc bộ váy liền thân sát nách màu trắng, còn xách theo túi du lịch.

Đợi Minako đóng cửa sau của xe, Yunsuke liền bật động cơ cho xe chạy. Tiếng thở hổn hển của cô dội vào tai anh.
“Có bỏ quên đồ gì không?” Fujima hỏi.
“Chắc chắn là không.”
“Trong phòng không lưu lại dấu vân tay hay vết tích nào của cô đúng không?”
“Tôi đã cẩn thận hết mức rồi. Sau đó cũng đã bỏ biên lai của khách sạn vào trong cái túi xách tay này.”
“Vậy à. Nhưng mà nên hủy cái biên lai đó thì tốt hơn. Dù sao cô cũng vất vả rồi.”
“Anh không cần động viên sự cố gắng của Minako đâu. Là cô ấy gieo gió gặt bão. Dù cô ấy có tạ lỗi với mọi người bao nhiêu đi chăng nữa thì vẫn không đủ, đúng không Minako?”
Yunsuke dứt lời, cô đáp lại bằng giọng yếu ớt, dường như không thể phản kháng, “Vâng.”
Sau đó, cuộc chuyện trò ngưng lại hồi lâu. Chỉ đến khi Yunsuke dừng xe trước khu biệt thự, Fujima cuối cùng mới lên tiếng.
“Vậy chúng tôi sẽ chạy thẳng đến Tokyo luôn. Mọi người đều tưởng sáng nay cô mệt nên nghỉ ngơi trong phòng. Lỡ bọn trẻ hay vợ chồng Sakazaki có hỏi gì, cô liệu mà trả lời nhé!”
“Tôi hiểu rồi. Xin lỗi vì đã làm phiền anh.”
Minako xuống xe, bước đi trên con đường dẫn đến tòa biệt thự. Bộ váy liền thân màu trắng thoắt ẩn thoắt hiện giữa những hàng cây, chẳng mấy chốc sau đó mất hút.
“Bộ váy đó giống với cái váy Takashina mặc hôm qua nhỉ? Nhìn từ đằng sau, dáng người cũng y chang. Thế là đủ để qua mặt nhân viên khách sạn rồi. May mà hai người đó có phong cách giống nhau.”
Yunsuke không đáp lại lời Fujima nói, anh đạp chân ga. Một chiếc xe đạp leo núi đi về phía họ.

Khi Sakazaki đang đạp xe quay lại khu biệt thự thì thấy chiếc Cima của Namikishi hiện ra trước mặt. Sakazaki phanh xe, chiếc xe kia cũng giảm tốc độ. Cửa kính hạ xuống, Fujima ló mặt ra, miệng tươi cười.
“Anh đang làm gì vậy?”
“À, tôi đi thay đổi không khí một chút.” Sakazaki cũng nở nụ cười để đáp lại. “Còn hai người đi đâu vậy?” Anh nhòm ghế sau xe. Namikishi Minako không ở đó, nhưng lại có hành lý mà lúc nãy cô ta cầm.
“Chúng tôi đi xem địa điểm tổ chức tiệc nướng cho ngày mai. Vì bọn trẻ đã học hành chăm chỉ nên tôi muốn thưởng cho chúng một ngày để xả hơi.”
“Ra vậy.”
“Cô Kimiko đang ở biệt thự kia đúng không? Cô ấy mới ốm dậy, anh Sakazaki hãy dành thời gian ở bên cô ấy nhiều hơn.”
“Vâng, tôi biết điều đó mà. Tôi định quay lại đó luôn đây.”
Thấy Sakazaki để chân lên bàn đạp, Fujima mới gật đầu, đóng cửa kính. Namikishi không nhìn Sakazaki. Anh ta cứ thế lái chiếc Cima đi.
Sakazaki đạp xe, quay lại biệt thự cho thuê. Giờ học của bọn trẻ vẫn tiếp diễn. Kimiko ngồi ở ghế đằng sau ghi chép gì đó. Thấy chồng bước vào, cô ném ánh mắt trách móc về phía đó, nhưng tuyệt nhiên không nói lời nào. Đợi đến khi giờ học kết thúc, vào giờ nghỉ trưa, cô mới xả cơn bực bội ra, “Sao anh về muộn thế?”
“Anh không tìm thấy sách. Có khi để quên ở nhà rồi.”
“Vậy anh làm gì mà lâu thế?”
“Có việc quan trọng hơn anh muốn hỏi em, đêm qua Minako có ở trong biệt thự không?”
“Minako ư? Không ở đó thì ở đâu?”
“Chắc chắn không? Em ngủ ở phòng kế bên phòng nhà Namikishi còn gì. Em có thấy bóng dáng cô ta không?”
“Em uống thuốc nên ngủ thiếp đi, làm sao biết được chuyện ở bên ngoài. Sao anh lại hỏi thế?”
“À, anh thấy có gì lạ lắm.”
“Cái gì lạ cơ?”
Sakazaki nhìn Tsukumi và bọn trẻ. Họ đang say sưa bàn luận gì đó về môn Khoa học tự nhiên.
“Lúc quay lại biệt thự đằng đó, anh trông thấy Minako từ bên ngoài trở về biệt thự. Cô ta không có vẻ gì là bị ốm cả, dáng vẻ thì trông như đã ngủ ở đâu đó bên ngoài.”
“Chả có nhẽ…”
“Thật đấy. Nên anh mới thấy lạ. Hay là tối qua đã có chuyện gì?” Sakazaki nghiêng đầu sang một bên rồi cắn môi.
“Nói chung là em ngủ mê mệt nên không biết gì đâu.” Vừa nói dứt câu đó, Kimiko làm ra vẻ sực nhớ ra chuyện gì. “Nhắc mới nhớ!”
“Chuyện gì vậy?”
“Em cảm tưởng tối qua hơi ồn ào. Hình như có người ra, người vào phòng của nhà Namikishi.”
“Thật sao?”
Nhưng Kimiko không gật đầu. Cô nghiêng gương mặt ngán ngẩm sang một bên.
“Em không rõ nữa. Có thể em nằm mơ. Mà này, sao anh cứ bận tâm chuyện đó mãi thế? Hay anh lại nghĩ mình bị cho ra rìa? Anh vẫn để bụng chuyện không được gọi đến bữa tiệc chứ gì.”
“Em nói gì vậy, bữa tiệc nào?”
“Hờ, chẳng phải anh biết rõ hơn em sao?” Cô đứng dậy, đi về phía Tsukumi và bọn trẻ.
5 Thực đơn bữa trưa là bánh mì kẹp. Fujima Kazue kẹp những đồ mình nấu vào trong bánh mì, rồi cắt miếng vừa ăn. Minako xếp bánh lên đĩa, xong xuôi bê đĩa đến các bàn. Sekitani Yasuko làm salad và nước ép. Sau đó, Minako lại chuyển những thứ này ra bàn ăn. Lúc chuẩn bị, Sakazaki Kimiko cũng phụ giúp.
“Minako, cô thấy người khỏe hơn chưa?” Kimiko hỏi.
“Tôi ổn rồi. Chỉ mệt một chút thôi.” Minako tươi cười.
“Thế à? Tôi lại cứ lo cô bị lây bệnh cảm từ tôi đấy.”
“Không phải đâu, cô đừng áy náy. Quan trọng hơn, tình hình ở biệt thự đó thế nào? Bọn trẻ có học hành nghiêm chỉnh không?”
“Ừ, mấy đứa đều chú tâm vào việc học.”
“Shota nhà tôi cũng thế à? Nó có tập trung nghe giảng không?”
“Về Shota thì cô không cần phải lo đâu. Có vẻ đứa nhà tôi mới không tập trung nhất.”
Kimiko rót chỗ nước ép làm từ các loại hoa quả vào vài chiếc cốc, xếp lên khay rồi bê đi. Nhìn bóng cô ta khuất hẳn rồi, Minako, Sekitani Yasuko và Fujima Kazue đồng loạt nhìn nhau. Nhưng cả ba người đều không nói lời nào.
Sakazaki lại gần bọn họ. “Anh Fujima và anh Namikishi vẫn chưa về à?”
“Ban nãy anh ấy gọi điện về.” Fujima Kazue nhanh nhảu đáp. “Bảo là lỡ đi xa quá, nên cả hai sẽ ăn trưa ở ngoài rồi mới về. Anh ấy cũng bảo là sẽ không tranh thủ uống bia đâu, nên đừng có lo.”
“Ơ kìa, họ đi đến tận đâu thế nhỉ?”
Thấy Minako xếp salad lên khay, chuẩn bị bê đi, Sakazaki liền đứng ra sau lưng cô.
“Cô khỏe rồi chứ?”
“Vâng, xin lỗi vì đã làm anh lo lắng.”
Nhưng câu trả lời đó chưa đủ để Sakazaki rời đi. Anh ta ghé miệng lại sát tai cô.
“Tối qua có chuyện gì à?”
Minako ậm ừ rồi quay lại nhìn mặt anh ta. “Chuyện gì là sao?”
“Chuyện gì đó kỳ quặc í. Và rồi đám người đó lại đuổi cô ra khỏi đây mà không có lý do gì à?”
“Anh đang nói gì vậy?”
“Mà thôi. Tôi sẽ nói chuyện với cô sau.” Anh ta chỉ nói thế, rồi cuối cùng cũng chịu đi ra chỗ khác.
Đến giờ ăn trưa, bố mẹ cùng con cái tập trung lại với nhau như mọi khi. Minako và Shota ngồi cạnh nhau.
“Mẹ ơi, bố đâu rồi ạ?” Shota hỏi.
“Bố con ra ngoài cùng chú Fujima một chút. Trước buổi tối, bố sẽ quay lại.”
“Thế ạ.” Shota nhai nhồm nhoàm miếng bánh mì kẹp. Ngồi bên cạnh, Minako chăm chú nhìn dáng vẻ của con trai. Khi ánh mắt hai người chạm nhau, cậu con trai nhíu mày tỏ vẻ hoài nghi. “Gì thế ạ?”
“À, không có gì đâu.” Minako tươi cười, uống nước ép. “Này, việc học của con thế nào? Có suôn sẻ không?”
“Con không biết. Mẹ hỏi thầy Tsukumi í.”
“Con này, nếu con không thích thì không cần gượng ép để vào trường trung học tư thục đâu. Dù con có vào trường công lập trong vùng thì mẹ cũng không sao.”
Shota nhìn mẹ với gương mặt sửng sốt. “Sao tự nhiên mẹ lại nói thế?”
“Tại vì… Mẹ không muốn áp đặt con làm những việc mình không thích.”
“Hồi trước mẹ có nói thế bao giờ đâu. Chẳng phải mẹ bảo vào được trường học tốt, vào đại học tốt, cuối cùng sẽ có lợi cho con, nên từ giờ con hãy cố gắng hộ mẹ sao? Mẹ lúc nào cũng bảo rằng nói gì thì nói, đất nước này sẽ không thay đổi định kiến về bằng cấp đâu còn gì.”
“Đúng là mẹ từng nói vậy, nhưng đời người ta không chỉ có mỗi việc học hành con ạ.”
“Đến lúc này mẹ nói thế làm gì nữa ạ?” Shota chau mày, chu môi lên. “Người nói không vào được trường tốt thì chỉ có thiệt thân cũng là mẹ đúng không? Ngay đến những công chức nhà nước làm việc xấu để kiếm chác, cũng phải học Todai mới được ngồi vào vị trí đó. Bởi họ học Todai nên được cảnh sát bảo vệ, không phải đi tù đúng không ạ? Trong thế giới này, kẻ chiến thắng là những người thăng tiến nhỉ. Thế mà giờ này, sao mẹ tự dưng lại nói mấy lời kỳ quặc thế ạ?”
“Shota…”
“Con cảm ơn vì bữa ăn.” Shota chắp tay nói rồi đứng dậy.

Làn đường ô tô của đường cao tốc Chuo khá vắng vẻ. Cả quãng đường không gặp cảnh ùn tắc nào nghiêm trọng nên chiếc Cima đang thuận lợi tiến gần Tokyo.
“Anh vẫn lái được chứ, có cần tôi lái thay không?” Fujima hỏi sau khi đến khu dịch vụ Dangozaka không lâu. Cho đến lúc đó, giữa hai người không có cuộc hội thoại nào đúng nghĩa.
“Tôi ổn. Hay nghỉ một chút để đi vệ sinh nhé!”
“Tôi không cần đâu.”
“Vậy không ghé vào Dangozaka nữa. Tôi muốn đến chỗ kia thật nhanh.”
Fujima có vẻ không phản đối, bởi anh ta không nói gì cả.
“Tôi hỏi một chút được không?” Yunsuke nói.
“Chuyện gì?”
“Tôi vẫn luôn tự hỏi, rằng tại sao mọi người đi xa đến mức này để giúp Minako, dù cho mọi người có thân nhau đi chăng nữa. Nếu chẳng may làm không tốt, có thể còn bị cảnh sát bắt. Vậy thì tại sao? Đặc biệt là anh Fujima, một người luôn điềm tĩnh như anh mà lại quyết định dấn thân vào chuyện như thế này, tôi thấy quả là liều lĩnh.”
“Chắc chắn tôi đã giải thích trước đó rồi mà. Chúng tôi coi Minako như người thân của mình. Chẳng ai lại muốn người thân của mình trở thành tội phạm giết người cả.”
“Chẳng phải chỉ là như người thân thôi sao? Chứ nào phải người thân thật sự. Cứ cho là truyền thông có đánh hơi được mối quan hệ của mọi người đi nữa, cứ giả vờ không biết là được mà. Mặc dù thực tế có lẽ sẽ ảnh hưởng đến việc thi cử của bọn trẻ, nhưng điều đó có đến mức trở thành động cơ để che giấu tội phạm giết người không?” Yunsuke chăm chú nhìn cảnh vật trôi qua bên kia cửa kính xe và bình thản nói.
“Anh Namikishi tính nói gì vậy? Đừng bóng gió nữa, nếu có gì muốn nói, hãy nói thẳng ra. Tôi không muốn phí hoài trí óc lẫn thời gian của mình để đoán ý của anh đâu.”
Trong phút chốc, Yunsuke dồn lực vào cánh tay nắm vô-lăng và nghiến chặt răng. Tốc độ xe tăng vọt lên.
“Phiền anh lái xe cẩn thận.” Fujima nói. “Chưa bàn đến việc gặp tai nạn, chúng ta không thể để bị bắt vì vi phạm tốc độ. Quan trọng hơn, chuyện chúng ta đang chạy xe ở đây, vào thời gian này, không được để lộ cho cảnh sát biết.”
Yunsuke nhấc chân khỏi chân ga. Tốc độ xe đột ngột giảm. Anh lái chiếc xe từ làn đường vượt vào trong làn di chuyển.
Anh điều hòa lại hơi thở, rồi nói, “Vậy tôi sẽ nói thẳng.”
“Mời anh.”
“Kế hoạch lần này được thực hiện theo chỉ thị của anh Fujima. Trông anh cũng có vẻ xông xáo nhất. Thế nên mới dấy lên nghi ngờ của tôi ở chỗ này. Rằng phải chăng anh có lý do đặc biệt nào đó để bao che cho Minako. Nói một cách dễ hiểu hơn thì…”
“Ý anh là giữa tôi và Minako có một mối quan hệ đặc biệt à?”
Yunsuke liền im bặt. Trái ngược với anh, Fujima nở nụ cười xảo trá.
“Tôi thấy anh nói chuyện với Kimiko sau bữa sáng. Lẽ nào cô ta đã nói điều gì đó với anh?”
“Không, chuyện không phải như thế.”
“Mà thôi, sao cũng được. Tôi biết cô ta vốn không thiện cảm với chúng tôi. Thay vào đó, tôi muốn hỏi ngược lại anh. Tại sao anh lại hỏi tôi điều đó? Chẳng phải anh không còn tình cảm với Minako nữa hay sao? Nếu thế thì dù cô ấy có mối quan hệ sâu sắc với ai, cũng không mắc mớ gì đến anh nữa.”
“Chuyện giữa tôi và Minako có như thế nào, cũng không tới lượt người ngoài xen vào. Tôi nói thật đấy. Nhưng nếu Minako có người đàn ông khác, với tư cách là chồng cô ấy, tôi nghĩ mình có quyền được biết.”
“Hóa ra anh nghĩ vậy. Chứ không phải anh biết rồi sẽ tổn thương đâu nhỉ?”
“Rồi vậy thì sao? Người đàn ông đó là anh à?”
“Hình như anh đang quy chụp Minako có tình nhân.”
“Tôi có trong tay chứng cứ.”
“Hả?” Giọng nói của Fujima không thoáng chút dao động. “Chứng cứ gì vậy?”
Yunsuke im lặng giây lát. Tận dụng khoảng thời gian đó, anh chầm chậm vượt qua chiếc xe tải hạng nhẹ đằng trước.
“Là bao cao su,” Yunsuke nói. “Nó được cất trong túi xách của vợ tôi. Bất kể vợ chồng tôi chưa từng dùng biện pháp tránh thai.”
Lần này tới phiên Fujima im lặng. Tiếng rên khẽ của anh ta vang lên bên tai Yunsuke.
“Nếu chỉ có thế thì chưa đủ để làm sáng tỏ sự ngờ vực của anh.”
“Anh tính lật bài ngửa với tôi đấy à?”
“Được thôi. Cùng lật bài ngửa nào!” Fujima vẫn nói bằng giọng nhẹ nhàng không khác lúc trước. “Tôi bị vợ anh, tức là cô Namikishi Minako…” Anh ta tạm ngắt ở đây, buông một tiếng thở dài rồi nói tiếp. “… thu hút. Cũng có thể nói là tôi quan tâm đến cô ấy.”
Yunsuke căng một bên gò má.
“Anh can đảm đấy.”
“Cô ấy xinh đẹp. Lại cực kỳ quyến rũ. Tôi nghĩ cô ấy là người phụ nữ tuyệt vời gấp ngàn vạn lần cái cô Takashina Eriko kia. Từ tận đáy lòng mình, tôi ghen tị với anh vì có thể độc chiếm cô ấy.”
“Anh nói mà không biết ngượng mồm nhỉ?”
“Ở vào tình huống này, tôi có hơi kích động. Nhưng tôi nghĩ sẽ là vô nghĩa nếu lấy bừa một lý do nào đó để qua mặt anh.”
“Vậy để tôi nói cho anh biết giờ trong đầu tôi đang nghĩ gì nhé! Tôi nghĩ rằng đáng lẽ mình nên dừng xe tại Dangozaka.”
“Ra là anh định thả tôi xuống xe à? Hay muốn đấm tôi vài quả? Đàn ông quả là sinh vật lạ lùng nhỉ. Một mặt, anh phản bội vợ mình, nhưng khi thấy vợ bị người đàn ông khác giành mất lại cảm thấy tức tối đúng không?”
“Tôi đã bảo đây là vấn đề riêng của vợ chồng tôi rồi còn gì?”
“Nhưng anh đã muốn chấm dứt mối quan hệ vợ chồng đó, tôi nói sai à?”
”… Anh bắt đầu qua lại với Minako từ khi nào?”
“Từ khi nào nhỉ? Chúng tôi biết nhau ở trung tâm luyện thi. Chính xác là từ sau khi đó.”
“Sau đó, hai người ngay lập tức tiến triển thành quan hệ nam nữ à?”
“Chuyện đó thế nào ư? Anh tùy ý tưởng tượng đi. Nhưng mà tôi chỉ nói điều này thôi. Cái bao cao su mà anh tìm thấy mang một ý nghĩa khác, không như những gì anh nghĩ đâu. Có một lý do mà hiện tại anh không nghĩ đến.”
Yunsuke quay mặt về phía Fujima.
“Anh không nhìn đằng trước sẽ nguy hiểm đấy.” Fujima tức khắc nói.
“Vậy lý do đó là…”
“Việc đó anh nên trực tiếp nghe từ vợ mình thì hơn. Tôi không dám phán đoán bừa. Vả lại, hiện tại chúng ta đang thực hiện một nhiệm vụ quan trọng, nên anh đừng suy nghĩ linh tinh nữa. Để tôi nhắc cho anh nhớ, chúng ta bây giờ cùng hội cùng thuyền rồi, không rảnh để nói về chuyện quan hệ cá nhân đâu.”
Yunsuke đi vào làn xe vượt, anh lại đạp mạnh chân ga, nhanh chóng áp sát xe đằng trước. Mặc dù xe chạy quá tốc độ, nhưng lần này Fujima không phàn nàn gì.

Tới Takaido, thời gian đi đến chung cư Eriko ở chưa đến mười phút. Chung cư đó là một tòa nhà năm tầng không mới lắm, nhưng được xây khá kiên cố. Yunsuke và Fujima đỗ xe ở bãi xe cách đó không xa, cầm hành lý Minako đưa, đi vào chung cư. Ở đây không có người quản lý nhưng cửa được khóa tự động. Yunsuke dùng chiếc chìa khóa cô ấy đưa từ trước để mở khóa.
Trước khi vào căn hộ của Eriko, anh đi vòng ra đằng sau tủ đựng thư. Mỗi hòm thư ở đây lại được khóa bằng ổ khóa nhỏ.
Fujima lấy ra thứ gì đó. Là đôi găng tay màu trắng. Anh ta cũng đưa một đôi cho Yunsuke.
“Những dấu vân tay của anh có trong căn hộ từ trước thì đành chịu, nhưng hôm nay mà có dấu vân tay mới thì dở đấy. Một khi bị in dấu tay rồi thì sau đó có lau cũng không sạch. Cảnh sát chỉ cần điều tra là truy ra ngay.”
Yunsuke gật đầu, đeo găng vào hai tay.
“Anh có mở được hòm thư của Takashina không?” Fujima hỏi.
“Tôi không chắc. Vì nó lúc nào cũng bị khóa.”
Yunsuke lục túi xách của Eriko. Anh tìm thấy cái móc treo chìa khóa của nhãn hiệu cao cấp. Ở đó treo ba chìa khóa. Cắm chìa nhỏ nhất vào ổ khóa hòm thư của phòng 405 thì vừa khít.
Chỉ có thư quảng cáo, thông báo tiền điện ở bên trong hòm thư. Lấy hết mấy thứ đó ra, anh lại đóng cửa, khóa hòm thư.
“Hình như không có báo nhỉ?”
“Có vẻ cô ấy không đặt báo. Cô ấy bảo chỉ dùng TV và mạng Internet là đủ rồi.”
“Ra vậy.” Fujima gật đầu.
Căn hộ của Eriko ở góc trong cùng của tầng bốn. Trong thang máy, lẫn ở hành lang, họ không gặp ai đi ngang qua.
Căn hộ đó vốn là phòng 2DK. Những vách ngăn trong phòng đã bị tháo ra, nên thực chất nó được sử dụng như phòng 1DK. Đồ nội thất trong phòng mang phong cách hiện đại, nhiều món là hàng cao cấp. Đồ đạc được phối theo tông màu be. Mùi vị cuộc sống không lưu động nhiều nơi đây, bởi trong bếp hầu như không có bát đĩa hay dụng cụ nấu nướng.
“Căn hộ đẹp đấy. Anh Namikishi trả tiền nhà cho cô ta à?”
Yunsuke lắc đầu. “Cô ấy thuê chỗ này từ trước khi quen tôi.”
Anh đặt hành lý của Eriko lên trên cái ghế sofa hai người ngồi.
“Anh lôi đồ trong túi ra, rồi thu dọn chúng giúp tôi được không?” Fujima nói. “Phải cất quần áo và mỹ phẩm đi. Nếu để nguyên mấy đồ đó trong túi du lịch, cảnh sát sẽ tra ra cô ta đã đi đâu.”
“Tôi hiểu rồi.”
Đầu tiên, Yunsuke đổ hết đồ bên trong túi du lịch lên trên mặt bàn. Cái bóp nhỏ lèn chặt mỹ phẩm rơi ra trước. Ngoài ra còn có quần áo để thay, túi đựng đồ lót, đồ vệ sinh cá nhân. Anh ngắm nghía chúng một lúc lâu.
“Có chuyện gì thế?”
“Không, tôi đang nghĩ xem hành lý chỉ có ngần này thôi à?”
“Chỉ đi một đêm thôi nên từng đây là đúng rồi. Hay còn có món đồ nào đáng lẽ phải có mà lại thiếu?”
“Không, ý tôi không phải vậy.”
Yunsuke cất từng món đồ vào vị trí vốn có của nó. Quần áo thì ném vào cái giỏ ở bên cạnh máy giặt, mỹ phẩm để trên bàn trang điểm. Đồ vệ sinh cá nhân thì cất ở cái giá trong nhà tắm.
Xong xuôi, anh quay lại ghế sofa, đúng lúc Fujima đang lục lọi ngăn kéo cái tủ trong phòng khách.
“Anh đang làm gì vậy?”
“Tôi tìm xem có thứ gì chỉ ra việc cô ta đã đến hồ Himegami không. Dù ở khách sạn, Minako đã dốc sức đóng vai cô ta rồi, nhưng nếu được, tôi muốn sự chú ý của cảnh sát không hướng về phía chúng ta.”
Fujima ngừng tay, quay lại phía Yunsuke. “Mà tôi quên không hỏi, có ai biết mối quan hệ của anh và Takashina không?”
“Chắc chắn là không.”
“Anh chắc chứ? Người ở công ty anh có biết không?”
“Tôi nghĩ là không.”
“Anh nghĩ… à? Nếu đó không phải là suy nghĩ chủ quan của anh thì tốt.” Nói đoạn, Fujima lại tiếp tục công việc đang làm dở.
Yunsuke mở tủ quần áo, cất cái túi du lịch đã trống hết đồ vào bên trong. Quần áo trong tủ treo thành hàng ngay ngắn. Anh đặt cái túi vào khoảng trống bên dưới chỗ quần áo đó. Lúc ấy, một cái túi xách màu đen ở dưới chân đập vào mắt anh. Túi không đóng nắp, nên có thể nhìn thấy đồ bên trong túi.
Anh cho tay vào trong túi, tay quờ vào một xấp ảnh. Tấm ảnh trên cùng chụp đằng sau lưng một người phụ nữ. Đây có vẻ là khu dân cư ở nơi nào đó. Bức ảnh thứ hai, chụp cô ta đang đi vào một căn nhà. Trong bức ảnh này có thể thấy gương mặt nghiêng.
Người phụ nữ đó chính là Minako.
Và bức ảnh thứ ba. Cánh cửa ngôi nhà đó được mở ra, người đàn ông ló mặt ra. Gò má Yunsuke giật giật. Người đàn ông trong ảnh là Fujima.
Yunsuke lén nhìn Fujima. Có vẻ Fujima đã lục xong ngăn kéo tủ ở phòng khách, giờ thì đang chăm chú quan sát phía dưới tủ để điện thoại.
Yunsuke nhanh tay nhét xấp ảnh vào trong túi áo khoác.
Hơn một tiếng đã trôi qua kể từ lúc họ bước chân vào trong căn hộ này.
“Chúng ta chuẩn bị rút thôi!” Fujima nhìn đồng hồ và nói. “Không nên ở lại lâu. Về muộn quá có lẽ Sakazaki sẽ nghi ngờ.”
“Anh nói đúng. Vậy anh có tìm thấy thứ gì chỉ ra cô ấy, à không, Eriko đã đến hồ Himegami không?”
Fujima lắc đầu.
“Tôi tìm kĩ lắm rồi, hình như không có. Mà tôi nghĩ đến đây là đủ rồi. Nào đi thôi.” Fujima nói.
Họ quay lại xe ô tô. Chạy được một lúc, Fujima mới mở miệng.
“Về chuyện ban nãy, có lẽ cần nghĩ xem sẽ che giấu được đến mức nào.”
“Chuyện ban nãy ư?”
“Chuyện có người nào biết mối quan hệ của anh và cô ta không đó.”
“À…”
“Hôm nay thì vẫn ổn, nhưng việc Takashina không xuất hiện ở công ty từ ngày mai, có lẽ sẽ gây ra khá nhiều náo động đấy. Chắc người ta cũng sẽ liên lạc với anh để hỏi thăm thông tin.”
“Có lẽ vậy.”
“Đến lúc đó, anh sẽ trả lời thế nào đây nhỉ?” Fujima ngả ghế ra đằng sau. “Trước mắt, anh cứ giả vờ như không biết gì cả. Ý tôi là đừng nói ra việc cô ta đã đến hồ Himegami. Tôi nhắc lại để anh nhớ, tôi muốn hạn chế tối đa việc cảnh sát hướng sự chú ý về phía chúng ta.”
“Tôi biết mà. Tôi cũng định làm như thế?"
“Nhưng mà, chúng ta sẽ duy trì việc đó được bao lâu? Tôi không đoán được cảnh sát sẽ năng nổ đến đâu với vụ mất tích kiểu này. Giả sử họ sẽ bắt tay vào điều tra gì đó, vậy thì có lẽ sẽ bắt đầu từ mối quan hệ với đàn ông của cô ta.”
“Tôi cũng nghĩ thế.”
“Giả sử có người lờ mờ nhận ra mối quan hệ của hai người, hoặc giả như xuất hiện món đồ nào đó trong căn hộ của cô ta chỉ ra mối quan hệ với anh… Nếu thế, cảnh sát sẽ tìm đến anh đúng không? Đến lúc đó, anh sẽ làm gì?”
“Thì cứ giả bộ không biết là được. Dù chuyện có bị lộ ra sau đó thì cũng không bị cảnh sát nghi ngờ đâu, vì đã là con người, một khi có quan hệ ngoài luồng, chẳng ai dại gì vạch áo cho người xem lưng để người khác biết.”
“Cách đó có lẽ ổn với anh, nhưng với người khác thì chưa chắc. Ví dụ trong giai đoạn anh vờ như không biết ấy, Minako lại bị tra xét thì sao? Nếu bị cảnh sát hỏi về người phụ nữ tên Takashina Eriko, cứ giữ nguyên quan điểm, khăng khăng bảo không biết gì thì có được không?”
“Nói thế thì có vấn đề gì sao?”
“Giả sử cảnh sát nắm được việc cô ta đã đến hồ Himegami, vậy thì khai như thế lại thành khiên cưỡng. Vì chắc chắn việc anh đến ở khu biệt thự đó đã được họ xác định, nên hiển nhiên Minako sẽ phải gặp Takashina ở đó.”
“Nhưng cũng có khả năng tôi lén lút gặp cô ấy mà Minako không biết, cho nên, dù quan hệ giữa tôi và Eriko bị phơi bày sau đó, cũng chẳng có gì mâu thuẫn nhỉ?”
“Thế thì chúng tôi cũng phải thống nhất nói dối, rằng chúng tôi không gặp người phụ nữ tên Takashina Eriko ở hồ Himegami.”
“Chuyện sẽ thành như thế, nhưng…” Nói đến đây, Yunsuke cắn môi. Anh đập nhẹ vào vô-lăng. “À, không được rồi.”
“Đúng rồi. Vì còn vướng vợ chồng Sakazaki nữa. Trường hợp họ bị cảnh sát hỏi cung, chắc hẳn họ sẽ nói ra sự thật, rằng người phụ nữ tên Takashina Eriko quả thật đã đến đây. Nếu thế, những người đã thống nhất lời khai từ trước sẽ bị nghi ngờ.”
Yunsuke khẽ rên lên.
Lối vào đường cao tốc đã ở trước mặt. Anh cho tay vào túi toan lấy tiền, nhưng Fujima đã xòe ra tờ một nghìn yên trước. Anh nói cảm ơn rồi nhận tiền.
“Nếu thế thì về cơ bản, để mình tôi nói dối thì tốt hơn.”
“Anh cũng nên chuẩn bị sẵn tinh thần cho việc đó, một khi cảnh sát đã lờ mờ phát hiện ra mối quan hệ của anh với Takashina Eriko. Nhưng có lẽ họ khó mà nhìn thấu sự tình.” Fujima ấp úng nói, rồi vỗ nhẹ vai Yunsuke. “Mà anh yên tâm. Chúng ta đã có sự phòng bị kĩ lưỡng. Cho dù cảnh sát có nghi ngờ anh đến đâu, họ cũng không thể ngờ chúng ta hợp tác với nhau. Và quan trọng hơn, cái xác đó vẫn chưa bị phát hiện. Chừng nào chưa tìm thấy thi thể, không thể cấu thành vụ án.”
Yunsuke thở dài, rồi lẩm bẩm trong miệng, “Nếu chuyện diễn biến theo hướng đó thì tốt.”
 
 
6  
Lúc họ về đến hồ Himegami, mặt trời đã khuất bóng. Đó cũng là khoảng thời gian bữa tối bắt đầu. Trên quãng đường về, chuông điện thoại của Fujima reo một lần duy nhất. Kazue gọi đến. Fujima chỉ nói “Ổn rồi. Mọi chuyện đều suôn sẻ,” rồi cúp máy.
Về đến biệt thự, cánh cửa sảnh mở ra, mùi cà-ri thoang thoảng trong không khí. Bọn trẻ đã dùng bữa xong, chúng đang chơi trò chơi điện tử cùng Tsukumi trong phòng khách. Ở trong bếp, ba người phụ nữ đang rửa dọn bát đĩa. Không thấy bóng dáng vợ chồng Sakazaki và Sekitani đâu.
“Anh về rồi à? Anh ăn tối chưa?” Kazue hỏi chồng.
“Anh ăn tạm ở trạm dừng chân rồi. Mà Sekitani và nhà Sakazaki đâu em nhỉ?”
“Em không rõ, đến ban nãy họ vẫn ở đó mà.”
“Kimiko thì sao?”
“Em nghĩ là cô ấy ở trong phòng. Hình như cô ấy mệt.”
Có tiếng động ở sảnh ra vào. Rồi đến tiếng bước chân, cửa phòng khách mở ra. Sekitani bước vào, hết nhìn Fujima rồi lại nhìn Yunsuke. “À, hai người về rồi. Đầu xuôi đuôi lọt chứ?”
“Ừ, đại khái vậy,” Fujima đáp.
“Vậy à?” Nói rồi, Sekitani cụp mắt nhìn xuống.
“Có chuyện gì sao?”
“Ừ, thực ra có một chuyện làm tôi khó nghĩ.”
“Là chuyện gì vậy?”
“Qua đây rồi nói.” Sekitani rời phòng khách. Yunsuke cùng Fujima đi theo sau. Sekitani đi vào phòng mình.

“Sakazaki sao?” Mặt Fujima nhăn nhó khi nghe câu chuyện Sekitani kể lại. “Anh ta nói là nhìn thấy chúng tôi à?”
“Đúng vậy. Sau bữa tối, anh ta rủ tôi đi dạo và đã nói như thế. Hình như anh ta mê mẩn cô Takashina đó, cho nên sáng nay đã đi tới khách sạn Lakeside để tìm gặp. Ở đó, anh ta bắt gặp hai người, lại còn thấy Minako bước ra từ khách sạn.”
“Gay thật!” Fujima khoanh tay lại. Rồi anh ta chép miệng, gãi trán. “Nhắc mới nhớ, lúc chúng tôi rời khỏi đây cũng gặp anh ta. Có lẽ lúc đó anh ta vừa quay về từ khách sạn.”
“Thế anh Sekitani đã nói gì với anh ta vậy?” Yunsuke hỏi.
“Hình như anh ta nghĩ tối qua đã xảy ra chuyện gì đó đây. À không, dĩ nhiên anh ta không biết sự thực rồi. Ngược lại còn nghĩ đó là một chuyện vui vẻ nào đó và chỉ có mình bị ra rìa.”
“Ngu ngốc! Sao lúc nào anh ta cũng thế nhỉ?” Giọng Fujima bực bội.
“Tôi đã nói dối là không có chuyện gì đâu, và tôi chẳng biết gì hết, nhưng có vẻ chưa thuyết phục được anh ta. Làm sao bây giờ? Cứ đà này tôi nghĩ anh ta sẽ đi tìm Minako để hỏi cho ra nhẽ đấy.” Sekitani nhìn Fujima rồi nhìn Yunsuke.
Trên mặt Fujima vẫn hiện lên vẻ sầu não. Một con bướm nhỏ từ đâu đó lọt vào trong phòng, nó bay vật vờ xung quanh cái đèn huỳnh quang, thi thoảng lại đâm thẳng vào đèn.
“Để tôi nói với anh ta,” Yunsuke nói.
Hai người còn lại nhìn anh.
“Tại vì hết cách rồi mà. Chứ chờ đến lúc cảnh sát tìm đến Sakazaki, mà anh ta nói điều này ra, mọi công sức của chúng ta đổ sông đổ biển hết.”
“Đúng vậy. Đúng là chỉ còn cách đó.” Fujima không phủ nhận. “Anh ta không phải kiểu người biết giữ mồm miệng, nên tôi khá bất an. Vả lại tôi cũng không biết anh ta có chịu hợp tác với chúng ta không.”
“Giờ tôi sẽ nói luôn. Sakazaki đang ở đâu nhỉ?”
“Khoan đã. Anh Namikishi không nói trực tiếp thì tốt hơn. Tôi sẽ giải thích với anh ta.” Fujima nói.
“Không được, mọi nguồn cơn đều từ hành động thiếu suy nghĩ của vợ tôi mà ra, nên tôi sẽ nói. Tôi nghĩ mình nên làm như vậy.”
“Tôi hiểu cảm giác của anh, nhưng những lúc như thế này, có người thứ ba tham gia sẽ tốt hơn. Nếu nói ra sự tình khiến chúng tôi hợp tác với anh, biết đâu anh ta sẽ hiểu thấu.”
“Làm thế tốt hơn đấy, anh Namikishi.” Sekitani cũng đồng tình. “Hãy giao cho anh Fujima đi.”
Yunsuke thở dài một hơi, nhìn mặt hai người đó rồi gật đầu.
“Tôi hiểu rồi. Nhưng đổi lại, hãy để tôi có mặt ở đó. Tôi nghĩ đó là nghĩa vụ tối thiểu của mình.”
“Không, việc đó thì…”
“Xin anh đấy.” Yunsuke cúi đầu.
Ngập ngừng mất vài giây, Fujima nói, “Tôi hiểu rồi. Lời anh Namikishi nói cũng có lý. Vậy anh Sekitani, nhờ anh gọi Sakazaki giúp. Nói luôn ở đây nhỉ. Nếu anh Sekitani thấy phiền thì chúng ta sẽ đổi chỗ.”
“Không cần đâu. Ở đây cũng được. Vậy tôi sẽ đi gọi anh ta.”
Sekitani đi rồi, Fujima châm lửa điếu thuốc lá.
“Nào, biết mở lời thế nào đây?”
“Chắc Sakazaki sẽ sửng sốt lắm.”
“Có lẽ vậy.” Fujima phả ra làn khói thuốc, rồi chăm chú nhìn làn khói ấy bồng bềnh trôi trong không trung.
Sekitani dẫn Sakazaki vào trong phòng. Sakazaki đang cười toe toét. Mặt anh ta hướng về phía Fujima và Yunsuke.
“Mọi người tụ tập đông đủ ghê.”
“Xin lỗi vì làm phiền lúc anh mệt.” Fujima xin lỗi.
Sakazaki ngồi đối diện Fujima và Yunsuke.
“Chuyện anh định nói là gì vậy? Tôi cũng đại khái nhìn ra rồi.”
“Thế ư, anh nhìn ra điều gì?”
“Tối qua có một việc đã xảy ra ở đây. Tôi đoán là bữa tiệc ấy. Nhưng Minako không chấp nhận điều đó, nên chỉ mình cô ấy bỏ ra ngoài ngủ. May thay, Takashina Eriko đang ở khách sạn, nên Minako cũng đến khách sạn đó. Tôi nói đúng không?”
Lắng nghe những lời tuôn ra từ miệng anh ta, Yunsuke chớp mắt liên hồi. Anh lần lượt nhìn Sekitani và Fujima.
“Không phải đâu, anh Sakazaki. Tôi chẳng hiểu anh đang nói gì hết. Bữa tiệc là sao?” Fujima cười trừ. Nhưng nét mặt anh ta đanh lại.
“Không cần lấp liếm đâu. Anh Namikishi cũng biết phải không?”
“Anh Sakazaki, hình như anh đang hiểu lầm điều gì thì phải. Chuyện chúng tôi định nói không phải như vậy. Chuyện hoàn toàn khác.”
“Chuyện khác ư?”
“Đúng vậy, chuyện nghiêm trọng hơn rất nhiều. Nên gọi đó là chuyện lớn.” Fujima liếm môi rồi tiếp tục. “Thực ra, tối qua một vụ án đã xảy ra ở đây. Một người đã lỡ tay hại chết một người.”
Mặt Sakazaki nghệt ra trong phút chốc. Ngay khi anh ta định nói gì đó, Fujima đã cướp lời.
“Người chết là Takashina Eriko. Hại chết người là Minako.”
Trước Sakazaki dường như chưa thể chấp nhận được tình hình, Fujima bình thản kể lại sự việc tối qua. Sakazaki chắc vì không nghĩ ra lời nào để nói, nên chỉ im lặng lắng nghe. Yunsuke nhìn thấy mồ hôi lăn dài trên thái dương anh ta.
Kể đến đoạn đã xử lý xong cái xác, Fujima tạm ngừng lời, hít thở sâu, rồi tiếp tục.
“Vì lý do đó, chúng tôi đang dùng tất cả những gì mình có để xử lý trót lọt việc này. Nên anh Sakazaki, rất mong anh có thể hợp tác với chúng tôi.”
Fujima cúi đầu. Ở bên cạnh, Yunsuke cũng làm theo.
“Anh đang bảo tôi trở thành đồng phạm đấy à?” Sakazaki cuối cùng cũng chịu mở miệng. Giọng anh ta như gào lên.
“Cầu xin anh đấy.” Yunsuke nài nỉ.
Sự im lặng kéo dài đằng đẵng. Yunsuke cúi đầu, nên không biết trên mặt Sakazaki đang hiện lên thứ cảm xúc gì.
“Tôi xin phép từ chối.” Sakazaki nói nhỏ.
Nghe vậy, Yunsuke liền ngẩng mặt lên.
Mặt Sakazaki đỏ phừng phừng.
“Tại sao chúng tôi phải giúp anh làm việc đó chứ? Đó chẳng phải là tội nghiêm trọng sao? Không phải chuyện đùa đâu. Tôi sẽ không đời nào tiếp tay cho việc làm đó.”
“Anh Sakazaki, nhưng việc này…”
Bỏ ngoài tai lời khẩn cầu của Yunsuke, Sakazaki đứng dậy.
“Tôi sẽ về. Sẽ rời chỗ này ngay lập tức. Tôi cũng sẽ dẫn Kimiko và con trai tôi về cùng. Tôi không nói chơi đâu. Thật không thể tin được việc mấy người đã làm.” Nói rồi, anh ta lao như bay khỏi phòng.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
3  
1  
Yunsuke vội lao ra khỏi phòng để đuổi theo Sakazaki. Fujima và Sekitani cũng đuổi theo sau họ.
Đến trước phòng Sakazaki, họ nghe thấy tiếng nạt nộ của anh ta ở bên trong.
“Tóm lại chúng ta sẽ thu dọn hành lý thật nhanh. Rồi rời khỏi nơi này ngay lập tức.”
“Chờ đã. Rốt cuộc đã có chuyện gì vậy?” Kimiko cũng thét lên như thể đang rối bời.
“Chẳng đâu vào đâu cả. Một việc kinh khủng đã xảy ra. Thế mà em lại không biết gì hết.”
“Thế nên em đang hỏi anh đó là chuyện gì?”
Yunsuke không gõ cửa mà xộc thẳng vào trong phòng. Kimiko đang ngồi trên giường, hoảng hốt nhìn anh. Sakazaki thì đang mở cái túi to ở trên sàn.
“Gì vậy, sao anh tự tiện mở cửa thế, thật bất lịch sự.” Sakazaki nói bằng giọng điệu hằn học.
Thấy Yunsuke chỉ im lặng nhìn anh ta mà không làm gì, Fujima từ đằng sau bước vào.
“Anh Sakazaki, bình tĩnh đã. Tóm lại, hãy nghe chúng tôi nói một lần nữa.”
“Tôi không muốn nghe.” Sakazaki gắt gỏng. “Kimiko, em nghĩ tối qua đã xảy ra chuyện gì? Là giết người đấy. Ở phòng bên cạnh có người đã bị giết. Người phụ nữ trẻ đó, cô gái tên Takashina đã bị giết. Là Minako đã giết cô ta.”
Kimiko trợn trừng mắt, nét mặt sợ sệt nhìn Yunsuke.
“Họ lại còn vứt cái xác để việc đó không bị lộ ra với cảnh sát. Vứt ở cái hồ đó. Hồ Himegami. Họ nói những người khác cũng giúp đỡ, chỉ có thể nói là họ điên rồi. Mấy người mất trí hết rồi.”
“Bởi vì sự việc có nhiều uẩn khúc, anh hãy nghe chúng tôi nói đã.”
Sekitani cố lựa lời để xoa dịu cơn thịnh nộ của Sakazaki, song có vẻ vô ích. Anh ta xua tay, rồi lắc đầu.
“Uẩn khúc gì chứ? Tôi biết các anh thân thiết với nhau. Nhưng tôi không có nghĩa vụ phải đi theo các anh. Anh Sekitani, anh thừa biết còn gì. Đó là giết người đấy. Là phạm tội nghiêm trọng nhỉ. Để xảy ra chuyện như thế, đương nhiên phải báo cảnh sát.” Anh ta hướng ánh nhìn giận dữ về phía Yunsuke. “Lỗi phần nhiều ở anh. Anh thích ngoại tình thì mặc xác anh, nhưng đừng mang rắc rối đến tận đây. Chuyện này chẳng liên quan gì tới chúng tôi. Hà cớ gì mà kéo chúng tôi vào xích mích giữa vợ và cô nhân tình của anh chứ?”
Đáp lại, Yunsuke chỉ có thể lí nhí nói xin lỗi và cúi đầu.
Những người phụ nữ có vẻ đã nghe thấy tiếng tranh cãi, nên đồng loạt kéo đến. Nhìn thấy Minako, Sakazaki xếch mắt lên.
“Minako à, cô nên đi đầu thú. Cô mà không làm thế thì mới lạ đấy. Cô phải làm việc đó đi.”
Minako không nói gì, chỉ hướng vẻ mặt bối rối về phía Fujima để cầu cứu.
“Bọn trẻ đâu rồi?” Fujima hỏi Kazue.
“Chúng mới quay về biệt thự cho thuê.”
“Vậy à? Anh Sakazaki, cầu xin anh, hãy nghe chúng tôi nói một lần nữa thôi.” Fujima năn nỉ.
“Anh bảo tôi nghe chuyện gì? Này Kimiko, em làm gì mà lề mề thế? Sửa soạn nhanh lên để còn rời khỏi đây. Sau đó, gọi điện sang biệt thự kia, xin cho Takuya về.” Sakazaki lấy quần áo trong tủ, ném mạnh vào trong túi.
“Cũng hết cách rồi. Trước mắt, chúng ta xuống dưới đã.” Fujima nói với Yunsuke.
“Nhưng mà…”
“Không nhưng nhị gì nữa, cứ nghe lời tôi đi!”
Fujima đẩy lưng Yunsuke ra khỏi phòng của vợ chồng Sakazaki. Trong phòng vẫn còn vẳng lên tiếng la hét của anh ta.
Trừ vợ chồng Sakazaki, tất cả mọi người đã tập trung ở phòng khách. Người mở lời đầu tiên là Sekitani.
“Quả nhiên không thuyết phục được anh ta với cách giải thích đó.”
“Nhưng nếu không giải thích thì…” Fujima nói. “Hoặc nếu không cầu xin anh ta bao che cho Minako thì…”
“À ừ, thì đúng là như vậy.” Sekitani gãi đầu.
Yunsuke thừ người ra, tay anh ấn vào đuôi mắt, anh nhìn sang vợ, cô cũng đang thẫn thờ đứng đó.
“Nhưng mà lời anh ta nói đúng mà. Vốn dĩ nên báo cảnh sát. Và rồi…”
“Ý anh là Minako nên tự thú?” Sekitani Yasuko hỏi.
“Đó là điều đương nhiên phải làm còn gì.”
“Anh Namikishi, đến nước này rồi thì không thể quay đầu lại đâu.” Fujima nói như thể lên lớp anh.
“Tôi thì không rành lắm về luật pháp,” Yunsuke nói. “Có lẽ mọi người sẽ bị truy tố về tội phi tang thi thể. Nhưng nếu báo cảnh sát và biện minh rằng những việc mọi người làm tối hôm qua là trong trạng thái tinh thần hoảng loạn, có khi không bị cấu thành tội nghiêm trọng.”
“Tội của anh và chúng tôi thì đúng là như thế.” Sekitani Yasuko lừ mắt. “Nhưng Minako sẽ thế nào? Đó là tội giết người đấy. Anh thấy thế cũng được hay sao? Trong khi vốn dĩ người sai là anh.”
“Yasuko!”
Mặc cho chồng quát nạt, cô vợ vẫn không chịu im lặng.
“Không, anh cứ để em nói. Anh Namikishi, trong lòng anh nghĩ rằng Minako bị bắt cũng được. Và không chỉ có thế, anh còn nghĩ cô ấy bị tử hình cũng không sao. Bởi chắc chắn anh oán hận cô ấy vì đã giết cô người yêu trẻ trung của mình.”
“Em vừa phải thôi!” Sekitani ấn tay vào vai vợ. Đến đây, cuối cùng, cô ta đã ngậm miệng, nhưng cái lừ mắt với Yunsuke thì vẫn giữ nguyên.
Yunsuke cho tay vào túi quần, tựa người vào tường. Minako cúi đầu đứng chết lặng. Không một ai nói lời nào.
Tiếng bước chân huỳnh huỵch bước xuống cầu thang. “Nhanh cái chân lên đi!” Sakazaki quát tháo.
Sekitani đi ra khỏi phòng khách. Yunsuke định nối bước theo sau, nhưng Fujima đã tóm tay anh lại.
“Anh và Minako hãy về phòng mình! Cứ để chúng tôi nói chuyện thì tốt hơn.”
“Nhưng mà…”
“Nhìn thấy mặt hai người chỉ làm anh ta kích động thêm. Không sao đâu, nếu từ tốn giải thích, chắc anh ta sẽ hiểu cho thôi.”
Fujima cũng gật đầu ra hiệu với Minako, rồi đi khỏi phòng khách. Sekitani Yasuko và Fujima Kazue cũng rời bước. Yunsuke lắc đầu, đến chỗ cái bàn, lấy bao thuốc.
Anh nghe thấy giọng Sakazaki nói gì đó. Một lát sau, hình như anh ta đã dẫn vợ đến sảnh ra vào. Có tiếng nhóm Fujima đuổi theo họ.
“Chúng ta về phòng mình thì tốt hơn.” Minako nói.
“Ở đây cũng được chứ sao.”
“Nhưng có thể anh Fujima sẽ dẫn anh Sakazaki quay lại đây để nói chuyện.”
Yunsuke chu môi, dụi điếu thuốc vừa châm lửa vào gạt tàn.
“Anh nghĩ là vô ích thôi.” Nói rồi, anh đứng dậy.
Về đến phòng rồi, hai người không nói với nhau lời nào. Minako ngồi xuống giường, lặng lẽ nhìn sàn nhà. Yunsuke đứng bên cửa sổ, mắt nhìn về khu rừng bị màn đêm bao phủ.
Có tiếng động ở hành lang, Minako rời phòng rồi nhanh chóng quay lại.
“Hình như vợ chồng Sakazaki quay lại rồi.”
“Chỉ quay lại thôi đúng không?” Yunsuke nói. “Còn việc thuyết phục họ là không thể.”
Minako không nói năng gì, lại ngồi xuống giường. Yunsuke cũng ngồi xuống chiếc giường còn lại, mặt quay về phía cô. Sau đó, anh luồn tay trái qua vai phải, xuống đến lưng, rồi ấn vào cả vùng khớp tay phải. Mặt anh nhăn nhó.
“Anh vẫn đau chỗ đó à?”
“Giờ không làm việc mà vẫn đau. Chắc tại anh căng thẳng.” Anh vẫn tiếp tục ấn vào lưng.
“Có cần em xoa giúp không?”
“Không cần đâu.” Anh ngừng tay. “Người đàn ông đó là Fujima à?”
Cô ngạc nhiên ngẩng mặt lên.
“Người đàn ông của em í. Là người đó còn gì.”
Minako nghiêng đầu tỏ vẻ hoài nghi.
“Anh nói chuyện gì vậy?”
“Em đừng vờ vịt nữa. Anh biết hết mọi người ở đây. Em tưởng anh không nhận ra em đang qua lại với người đàn ông khác à?”
“Anh đang nói cái gì thế hả? Làm gì có chuyện đó.”
“Lúc nãy Fujima đã thú nhận rồi. Anh ta nói bị em thu hút. Và cảm thấy em là người phụ nữ quyến rũ.”
Minako nghiêng đầu, hai tay cô dang ra.
“Chuyện gì vậy? Em chẳng hiểu gì hết. Anh Fujima đã nói thế nào?”
“Lúc trước, anh từng mở túi của em ra. Không phải anh định tìm hiểu gì trong đó, mà chỉ tìm tiền lẻ thôi. Nhưng anh đã tìm thấy một thứ. Là bao cao su đấy. Nhìn thấy thứ đó, em có biết trí tưởng tượng của anh phát huy thế nào không?”
Minako hé môi. Có vẻ cô đang hít không khí vào trong cơ thể.
“Thế nào, em muốn thanh minh điều gì không? Thế thì để anh hỏi nhé. Nếu như em có thể giải thích một cách hợp lý.” Yunsuke giơ tay ra hiệu xin mời.
Cô buông tiếng thở dài dường như trút hết chỗ khí mình vừa hít vào ban nãy. Đôi vai buông thõng như thể toàn bộ sức lực trong cơ thể đã bị rút cạn.
“Ra vậy… Anh đã thấy thứ đó à?”
“Em không có gì để biện minh sao?”
“Biện minh à?” Minako nhìn thẳng mặt chồng. “Em nghĩ là thứ đó chẳng nói lên điều gì cả.”
“Em nói vậy là sao?”
“Sự thật là em đã chuẩn bị tinh thần để phản bội anh. Nhưng việc đó khác với ngoại tình. Đối phương cũng không phải anh Fujima.”
“Nếu không phải ngoại tình thì em nghiêm túc sao? Fujima cũng thừa nhận rồi, rằng anh ta ghen tị với anh vì độc chiếm được em.”
“Không phải anh Fujima đâu. Em cũng không có mối quan hệ như anh nói với người đó.”
“Nhưng anh lại nghe từ chính miệng anh ta nói như thế đấy.”
“Vậy anh thử hỏi anh ấy lần nữa đi. Hỏi anh ấy rằng có quan hệ xác thịt với em không?”
“Nếu không phải anh ta thì là ai? Hẳn em muốn ngủ với ai đó nên mới cầm theo bao cao su chứ?”
Minako làm khuôn mặt khó hiểu với câu hỏi của Yunsuke.
“Đàn ông đúng là kỳ quặc nhỉ. Trong khi bản thân ngang nhiên ngoại tình, lại nổi giận khi vợ mình có ý định đó.”
“Không phải nổi giận. Anh đang hỏi em.”
“Thì em trả lời rồi còn gì nữa. Em không ngoại tình. Vậy thì làm sao nói ra tên của người đàn ông đó?”
“Ban nãy em vừa nói dứt lời, rằng em có ý định phản bội anh. Anh đang hỏi em định thực hiện điều đó với ai, ở đâu?”
“Điều đó…” Cô lắc đầu một lần duy nhất. “Em không biết.”
“Không biết ư? Nghĩa là với bất cứ ai cũng được à? Em đang cạnh khóe anh đó hả?”
“Cạnh khóe anh ư? Em không dám.” Minako vẫn giữ nguyên ánh mắt sắc lạnh, cô nhếch lên nụ cười ở khóe môi. “Việc đó chẳng có nghĩa gì. Đến giờ này, em cạnh khóe anh làm gì cơ chứ. Anh tưởng em không biết gì về những việc anh làm sao? Người qua lại với anh không chỉ có Takashina Eriko. Anh chắc chắn đã ngoại tình suốt thời gian qua. Nhưng em biết phận mình nên đã nhẫn nhịn. Vì anh chịu lấy em, người phụ nữ đã có con riêng, nên em nghĩ rằng mình phải nhịn. Quan trọng hơn tất cả, vì Shota, em không muốn xáo trộn sự bình yên trong gia đình mình.”
“Lời em nói chẳng phải đang mâu thuẫn hay sao? Phản bội chồng mình mà bảo là không làm xáo trộn sự bình yên trong gia đình à?”
“Bởi vậy…” Yunsuke biết cô đang nuốt nước bọt khi nhìn sự chuyển động ở cổ của cô. Cô nói tiếp, “Em đã chuẩn bị tinh thần sẽ chia tay anh vào lúc đó.”
“Em chuẩn bị chu đáo đấy.”
“Chẳng phải anh muốn chia tay em sao? Em biết điều đó mà. Và Shota đã nhận ra quan hệ của chúng ta đang trên bờ vực thẳm. Con phát hiện ra, rồi phiền não. Để đến bước đường đó, thà em và con quay lại cuộc sống hai mẹ con như ban đầu còn hơn.”
“Vậy tại sao em giết Eriko?”
Cảm xúc vụt tắt trên gương mặt Minako. Cô nhìn anh, gương mặt ráo hoảnh như đang đeo mặt nạ. Cô từ từ nhắm mắt, rồi mở ra.
“Ừ nhỉ. Nếu lúc cô ta bảo em hãy chia tay với anh, em nói: ‘Vâng, tôi hiểu rồi.’ Và dâng anh cho cô ta thì mọi chuyện đã khác.”
Khi Yunsuke đứng dậy, tiếng gõ cửa vọng đến. Anh mở cửa ra, trước khi đáp lại lời vợ. Sekitani Yasuko thò mặt vào.
“Anh Fujima nhắn hai người xuống dưới. Có mấy chuyện muốn bàn với hai người.”
“Đằng nào Sakazaki cũng đi rồi đúng không? Mọi chuyện đã kết thúc.”
“Không phải vậy đâu.” Yasuko nhìn Minako, rồi lại nhìn Yunsuke.
“Vợ chồng anh Sakazaki cũng đang ở dưới.”
“Họ vẫn ở đó à?”
“Vâng, nhưng trước mắt, hai người cứ đến phòng khách đi đã.” Sekitani Yasuko nói, rồi bước xuống cầu thang trước.
Yunsuke khẽ chép miệng.
“Chắc sẽ bảo chúng ta cúi đầu cầu xin chứ gì? Thật lòng anh chỉ thấy chúng ta đang làm mấy chuyện ngớ ngẩn. Mà cũng hết cách rồi, chúng ta xuống đó thôi.”
Minako lặng thinh đi sau anh.
Trong phòng khách, vợ chồng Sakazaki đang ngồi cạnh nhau ở chỗ chiếc bàn. Fujima, cùng vợ chồng Sekitani ngồi như vây quanh họ. Vợ chồng Yunsuke đứng dựa lưng vào cửa.
Sakazaki ở đó trầm tĩnh, yên ắng, trái ngược hoàn toàn với ban nãy. Anh ta ngẩng mặt, liếc nhìn Yunsuke giây lát, rồi lại nhanh chóng cúi mặt xuống nhìn cái bàn.
“Chúng tôi vừa mới giải thích cho vợ chồng anh Sakazaki xong.” Fujima mở lời.
“Giải thích là sao?”
“Tức là nói về quá trình chúng tôi đi đến quyết định bảo vệ Minako. Và kết quả là…” Fujima nhìn vợ chồng Sakazaki. “Vợ chồng anh Sakazaki quyết định sẽ hợp tác với chúng ta.”
Yunsuke bước lên một bước, lần lượt nhìn mặt vợ chồng Sakazaki.
“Anh nói thật sao?”
“Ban nãy họ đã hứa như vậy.”
Yunsuke chưa kịp mở miệng, Sakazaki đã ngẩng mặt lên.
“Xin lỗi vì lúc này đã làm loạn lên. Tôi chỉ biết nghĩ cho bản thân mình… Lại còn nói những lời không phải, do bị kích động nên tôi mới lỡ lời. Mong anh bỏ qua cho.” Sakazaki cúi đầu. Ở bên cạnh, mặt Kimiko vẫn tiu nghỉu.
“Không, anh đừng bận tâm chuyện đó. Quan trọng hơn, anh thật sự đồng tình chứ? Lúc đầu, anh bảo đây là phạm tội nghiêm trọng mà.”
“Khi nghe anh Fujima giải thích, tôi mới nhận ra. Việc bảo vệ Minako cũng là vì bản thân chúng tôi. Vả lại, chúng tôi cũng không muốn giương mắt lên nhìn Minako bị cảnh sát bắt.” Nói xong, anh ta quay sang nhìn Minako với vẻ mặt hối lỗi.
“Minako, tôi sai rồi. Tôi không có ý xấu đâu. Mong cô không để bụng.”
“Để bụng gì chứ…” Giọng Minako ngắt quãng.
“Vậy thì việc hợp tác của chúng ta có thể nói là hoàn chỉnh rồi.” Fujima đúc kết. “Chỉ còn thầy Tsukumi thôi, nhưng thầy ấy luôn ở cùng bọn trẻ, nên chắc chắn không biết gì. Nếu tám người chúng ta thống nhất lời khai với nhau từ trước, vậy thì trước mắt, sẽ có thể loại bỏ sự nghi vấn của cảnh sát.”
“Đúng rồi, cứ nghĩ là không có gì xảy ra đi!” Sekitani nói thêm. “Dù không giấu được việc Takashina Eriko từng đến đây, nhưng với những chuyện xảy ra sau đó, cứ giả vờ không biết là được. Thanh tra chắc không thể ngờ chúng ta thông đồng với nhau đâu.”
“Tốt quá rồi, Minako.” Sekitani Yasuko đi về phía Minako. Minako vẫn im lặng, quay về phía mọi người, cúi hẳn đầu xuống.
 
 
2  
“Chúng ta cần bàn bạc kĩ những chuyện từ nay trở đi.” Fujima nói. “Do tính chất nghiêm trọng của sự việc, chúng ta tuyệt đối không được có những hành động bất cẩn hay vô ý. Phải hết sức cẩn thận.”
“Tối nay không ai sang biệt thự cho thuê cũng được à?” Yunsuke hỏi.
“Tôi đã gọi điện cho thầy Tsukumi, nói là Minako thấy không khỏe nên tối nay sẽ ngủ tại đây. Bởi tối nay tới phiên vợ chồng anh Namikishi trực bên đó.”
“Vậy để một mình tôi qua đó cũng được.”
“Không cần đâu, thầy ấy đồng ý rồi. Vả lại, anh ở bên cạnh Minako thì tốt hơn.”
Vợ chồng Sekitani và Fujima Kazue cũng gật đầu đồng tình.
“Trước khi bàn chuyện thì sao nhỉ? Làm vài ly bia chứ?” Sekitani làm điệu bộ cầm cái cốc đưa lên miệng. “Thú thực là tôi oải lắm rồi, nên muốn thay đổi tâm trạng một chút.”
“Phải rồi, từ tối qua đến giờ cứ căng như dây đàn ấy.” Fujima Kazue toan đi vào bếp thì bị chồng ngăn lại.
“Chờ đã. Anh Sekitani, tôi hiểu cảm giác của anh. Nhưng hãy nhẫn nại thêm một chút. Những lời tôi sắp nói ra sau đây từng người phải khắc sâu trong đầu. Bởi chỉ cần lơ là một chút thôi, sẽ xảy ra chuyện không hay.”
Sekitani nhăn nhó gật đầu.
“Thôi được, vậy tôi sẽ để dành niềm vui đó sau vậy.”
“Đầu tiên, tôi sẽ trình bày suy đoán của mình. Suy đoán này đã được tôi và anh Namikishi bàn với nhau trên đường đến nhà Takashina Eriko.” Fujima liếc sang Yunsuke rồi tiếp tục. “Dù chúng ta không biết cảnh sát sẽ vào cuộc đến đâu đối với sự mất tích của cô ta, nhưng hãy nghĩ rằng việc điều tra đó nhất định sẽ được tiến hành. Giả sử trong gia đình hay họ hàng của Takashina có một nhân vật nào đó có tiếng nói với giới cảnh sát, thì động thái của cảnh sát trong vụ này sẽ khác biệt đáng kể so với những vụ mất tích thông thường.”
“Tôi chưa nghe cô ấy kể mình có người thân nào như thế.” Yunsuke lẩm bẩm.
“Nhưng giả định cũng không thừa đâu. Vậy tiếp theo cảnh sát sẽ làm gì? Trước tiên, họ sẽ tìm đến tất cả những người liên quan đến cô ta. Và một trong số đó là anh Namikishi. Bước đầu, anh Namikishi đã đồng ý che giấu mối quan hệ đặc biệt của mình với Takashina.”
Fujima nhắc lại câu chuyện hai người họ đã nói ở trong xe ô tô trước mặt mọi người.
“Nghĩa là đến một lúc nào đó, anh Namikishi sẽ phải thú nhận mối quan hệ với Takashina, và thừa nhận việc cô ta đã đến hồ Himegami. Và trường hợp chúng ta bị cảnh sát hỏi cung gì đó, cũng phải khai ra việc chúng ta đã gặp người phụ nữ tên Takashina Eriko tại đây, lẫn quá trình mời cô ta ở lại ăn tối.”
Sekitani lặp lại nội dung. “Và giữ nguyên quan điểm: không biết gì về những việc xảy ra sau đó.”
“Đúng vậy. Ai có ý kiến gì khác không?”
Không ai nói gì, vài người lắc đầu.
“Nói đi cũng phải nói lại, nếu việc cô ta đến đây không lộ ra với cảnh sát là lý tưởng nhất.” Fujima nhận xét.
“Xin hỏi…” Sakazaki Kimiko rụt rè giơ tay. “Vậy chúng ta cứ giữ im lặng cho đến khi bị cảnh sát hỏi đến đúng không? Và không cần làm điều gì hết à?”
“Cô muốn nói gì?”
“Ví dụ nhé, giả sử bản tin trên TV đưa tin về Takashina. Nói rằng cô gái này bị mất tích, nếu ai biết thông tin gì hãy liên lạc với đồn cảnh sát gần nhất. Trong trường hợp đó, nếu chúng ta không làm gì thì chẳng phải là không tự nhiên sao?”
“Ra vậy, nếu sau đó họ biết cô ta đến đây, thì chúng ta sẽ bị nghi ngờ, rằng tại sao biết chuyện mà không báo tin cho cảnh sát.” Fujima gật gù. “Chuyện đó cũng cần tính đến.”
“Ở vào tình huống đó, bình thường người ta có liên lạc với cảnh sát không nhỉ?” Sekitani nghiêng đầu. “Tôi lại cho rằng người ta im lặng vì sợ liên lụy cũng không phải chuyện lạ.”
“Nhưng mà Takashina đã xin công ty cho nghỉ phép. Và nếu thời sự đưa tin cảnh sát đang điều tra xem cô ta đã làm gì vào ngày nghỉ đó, quả nhiên chúng ta nên báo cho cảnh sát. Vì sự thật là chúng ta đã gặp cô ta vào ngày đó mà.”
Sekitani chỉ rên lên, như thể bất lực, không tìm ra cách nào phản bác lại ý kiến của Sakazaki Kimiko.
“Vậy nếu chúng ta nói rằng không biết bản tin đó thì sao?” Sekitani Yasuko thay chồng đáp trả. “Cứ coi như chúng ta không biết việc Takashina bị mất tích đi.”
“Tất cả mọi người ư?” Chồng cô ta hỏi.
“Đúng rồi.”
“Không được, như thế càng khả nghi. Chẳng lẽ cả tám người mà không có lấy một người xem bản tin đó.”
“Còn thêm thầy Tsukumi nữa,” Yunsuke nói. “Không loại trừ khả năng thầy ấy gọi cho cảnh sát.”
Mọi người sửng sốt nhìn nhau như thể đã quên mất sự tồn tại của Tsukumi.
“Tôi hiểu rồi. Vậy thế này đi.” Fujima đập hai tay lên mặt bàn. Tất cả mọi người chăm chú nhìn anh ta. “Giả sử bản tin đó được phát trên TV. Ai đó trong số chúng ta đã xem bản tin đó. Và người đó sẽ bàn với mọi người, rằng có nên báo cho cảnh sát biết việc Takashina đã đến hồ Himegami không. Lúc đó, chúng ta sẽ tập trung lại thật, và gọi thầy Tsukumi đến.”
Mọi người đều nhoài người lên như muốn hỏi tiếp theo thì sao.
“Tuy nhiên, anh Namikishi sẽ không có mặt khi đó. Đến đây, đương nhiên mọi người sẽ thắc mắc, rằng cảnh sát đã đến chỗ anh Namikishi rồi, nên chẳng phải anh ấy đã nói cho họ rồi hay sao?”
“Đúng như thế.” Sekitani đập bang một tiếng xuống mặt bàn.
“Vậy ai sẽ thay mặt mọi người nhỉ? À thôi, để tôi làm cho, quyết định vậy nhé. Tôi là người khơi mào mà. Tôi sẽ gọi điện cho anh Namikishi. Và hỏi rằng anh đã nói với cảnh sát chuyện Takashina đến hồ Himegami chưa?”
“Vậy tôi sẽ trả lời thế nào?” Yunsuke hỏi.
“Là đã nói rồi. Đương nhiên phải trả lời như vậy.”
“Vậy nghĩa là tôi thành kẻ nói dối à?”
“Anh không muốn à?”
“Không, mời anh tiếp tục.”
“Nghe anh nói vậy thì tôi hỏi rất bình thường, rằng tại sao việc đó không được công bố trên bản tin? Hay cảnh sát ém nhẹm thông tin với truyền thông nhỉ? Và câu trả lời của anh Namikishi sẽ là thế này: ‘Tôi không biết, chắc cảnh sát có cách nghĩ của họ…’ Đại loại như vậy đấy.”
“Quá xuất sắc!” Sekitani trợn tròn mắt, đập tay xuống bàn. “Nếu thế thì hợp lý đấy. Chúng ta không cần nói dối mà chuyện vẫn êm xuôi.”
“Anh Fujima, anh viết tiểu thuyết được đấy.” Sekitani Yasuko buông lời khen ngợi với vẻ mặt nghiêm túc.
“Có giai đoạn anh muốn trở thành biên kịch nhỉ?” Fujima Kazue ngồi bên cạnh len lén nhìn mặt chồng.
“Nhưng trong trường hợp đó, tôi sẽ bị cảnh sát thẩm vấn chứ?”
Fujima gật đầu.
“Không thể tránh được điều đó. Nhưng anh có lý do chính đáng để che giấu việc cô ta đến hồ Himegami. Mà tôi cũng không biết là dùng từ ‘chính đáng’ có đúng không nữa.”
“Nói cách khác, vì muốn che đậy mối quan hệ với cô ấy nên tôi phải giấu giếm việc cô ấy đã đến hồ Himegami.”
“Đúng vậy.”
“Nghe thì hợp lý nhưng mà…” Yunsuke lắc đầu. “Nếu cảnh sát điều tra đến mức đó thì chắc chắn tôi sẽ bị nghi ngờ đầu tiên. Khi tôi đi nghỉ mát cùng gia đình và người quen, cô nhân tình không mời mà đến quấy nhiễu. Chúng tôi cãi vã, tôi nổi khùng lên, giết chết cô ấy. Có vẻ họ sẽ nghĩ câu chuyện theo hướng đó.”
“Cũng được chứ sao. Dù họ có nghĩ ra câu chuyện nào, nó cũng không phải sự thật. Chính vì không phải sự thật nên cảnh sát không thể chứng minh được điều gì. Càng không thể nắm được chứng cứ. Cho nên anh hãy lạc quan rằng không đời nào cảnh sát tiếp cận câu chuyện thật sự. Bởi lẽ ai mà nghĩ rằng tất cả chúng ta là đồng phạm. Và chừng nào họ không nghĩ chúng ta là đồng phạm, vụ án lần này cũng không được hình thành.”
Yunsuke không phản bác được nữa, anh nhìn Minako đang nghệt mặt ra bên cạnh. Dường như đoán ra cái nhìn của anh, cô cũng ngẩng lên nhìn lại, nhưng tuyệt nhiên im lặng.
“Nhưng đấy là tình huống xấu nhất.” Fujima trấn an mọi người. “Như tôi đã nói lúc đầu, tốt nhất là việc cô ta đến đây vĩnh viễn không bị cảnh sát phát hiện. Tôi đoán xác suất đó cao đấy.”
“Được thế thì còn gì bằng.” Sekitani buông lời cảm thán. “Bởi trong trường hợp đó, chúng ta không cần làm gì hết.”
“Nhưng vẫn phải liên lạc với nhau một cách bí mật chứ.” Sakazaki Kimiko nói bằng giọng điệu dứt khoát. “Như câu chuyện vừa nêu ở trên, trong trường hợp bản tin được phát trên TV, cũng phải quyết định xem khi nào mọi người tập trung lại để bàn bạc với nhau.”
“Đương nhiên phải làm việc đó rồi.” Fujima lớn tiếng. “Chúng ta không được lơ là cảnh giác cho đến khi vụ mất tích đó chìm xuống. À không…” Anh ta lắc đầu. “Chúng ta không được mất cảnh giác với bất kể điều gì liên quan đến vụ án này.”
“Ôi, hết vấn đề này đến vấn đề kia, cứ dồn dập đổ về như thác lũ thế này.” Sekitani Yasuko xoa vào hai cánh tay mình. “Không chắc là em nhớ được hết ngần ấy. Anh để ý em nhé, nếu thấy em sơ sẩy thì phải nhắc ngay đấy!”
“Chưa gì em đã nói mấy lời không đáng tin rồi, đừng nói vậy chứ!”
“Không sao đâu. Không có nhiều phân đoạn Yasuko phải nói dối đến thế. Nếu mọi chuyện trót lọt, cô thậm chí không cần phải làm gì.”
Được lời động viên của Fujima, cô ta mới thở phào nhẹ nhõm. “Tôi cũng chỉ cầu được như thế.”
“Có từng ấy việc cần quyết định thôi nhỉ, còn ai có câu hỏi hay băn khoăn điều gì nữa không?” Fujima chậm rãi nhìn lần lượt mặt mọi người.
Sakazaki rụt rè giơ tay, phá vỡ sự im lặng bao trùm.
“Chắc cái xác ấy không bị tìm thấy đâu nhỉ?”
Sekitani khoanh tay, hắng giọng. Anh ta làm vẻ mặt ngán ngẩm.
“Chỉ có thể nói là chúng tôi đã vận dụng hết khả năng để cái xác không bị tìm ra,” Fujima đáp.
“Nhưng mà bên trong xác chết có khí ga, và nếu xác ngâm trong nước thì đến lúc nào đó nó sẽ nổi lên đúng không?”
“Đó cũng là điều mà anh Namikishi lo ngại. Cho nên chúng tôi đã suy nghĩ kĩ càng và bỏ bao công sức để xử lý thấu đáo.”
“Nhưng mà…”
“Giờ anh nói chuyện đó thì cũng có thay đổi được gì đâu.” Sekitani nhanh nhảu nói, mặt anh ta nhăn nhó. “Đến bước đường này rồi thì không thể làm gì nữa. Chỉ có thể cầu trời khấn phật để cái xác không bị phát hiện thôi.”
“Thì thế, dù gì tôi cũng không có mặt ở đó nên không tránh khỏi băn khoăn, à không, mọi người đừng hiểu nhầm, đương nhiên tôi nghĩ là mọi người đã vắt óc suy nghĩ rồi.”
“Cho nên anh chỉ có thể tin vào chúng tôi thôi. Chắc anh Sakazaki không hiểu được đâu. Chúng tôi đã phải bỏ ra rất nhiều công sức đấy. Thể xác mệt mỏi, còn tinh thần thì rệu rã.” Sekitani nói mà không nhìn Sakazaki, đến đây anh ta lại bồn chồn như thể nghĩ ra điều gì đó. “Tôi thì đã đành. Nhưng điều đó chẳng thấm tháp gì so với sự gian truân mà anh Fujima hay anh Yunsuke trải qua khi hoàn thiện kế hoạch đến bước cuối cùng đâu.”
Sakazaki gật đầu, không ý kiến gì nữa. Anh ta cọ tay vào dưới mũi.
“Nước ở giữa cái hồ ấy sâu lắm.” Fujima cố trấn an. “Người ta nói chỗ sâu nhất hồ khoảng hai mươi mét cơ. Chí ít không có chuyện cái xác bị cuốn đi chỗ khác hay bị lộ ra đâu. Và tôi cũng chưa từng nghe cái hồ đó bị cạn nước.”
“Nếu vậy thì không sao.” Sakazaki đáp lại bằng giọng lí nhí.
“Xin hỏi…” Lần này tới phiên vợ anh ta mở miệng. “Bọn trẻ sẽ làm thế nào đối với cảnh sát ạ?”
Mọi người đồng loạt nhìn cô ta. Vài người có vẻ đang căng thẳng nín thở.
“Sẽ làm thế nào là sao nhỉ?” Fujima cười trừ.
“Trong trường hợp cảnh sát biết việc Takashina đến đây, chẳng phải họ cũng sẽ hỏi bọn trẻ thông tin sao? Đến lúc đó, chúng ta sẽ xử trí thế nào?”
“Có vấn đề gì đâu.” Sekitani Yasuko tức tốc trả lời. “Một người phụ nữ không quen biết đã đến đây lúc mọi người đang dùng bữa tối, làm sao mà biết người đó thế nào. Trả lời như thế là được nhỉ.”
Chồng cô ta và Fujima Kazue gật đầu.
“Nếu chỉ có thế thì tốt, sợ lại có đứa trẻ nào trông thấy, hay nghe thấy điều gì và lỡ mồm nói với cảnh sát thôi.”
Sau một hồi ngẫm nghĩ, Fujima đột nhiên làm điệu bộ sửng sốt. “Đúng rồi, chuyện đó cũng có thể xảy ra.”
Mọi người nhìn anh ta.
“Tóm lại là thế này. Cô sợ bọn trẻ biết điều gì đó bất lợi cho chúng ta, giả như đứa nào đó đã chứng kiến một công đoạn trong quá trình phi tang cái xác. Đứa trẻ đó lại không hiểu chúng tôi đang làm gì, và vô tình tiết lộ điều đó với cảnh sát, rằng tối đó nhìn thấy mấy ông bố ra ngoài bằng ô tô. Kimiko, ý cô là thế phải không?” Không đợi Kimiko trả lời, Fujima đã nhanh nhảu nói tiếp. “Nhưng không đời nào chúng trông thấy việc làm của chúng tôi đâu.”
Khóe miệng đang mấp máy của Kimiko khựng lại giây lát rồi gật đầu.
“Vâng, ý tôi là vậy. Tôi nghĩ là phải tính toán cả chuyện đó nữa. Vì trẻ con hay vô tình biết những chuyện mà bố mẹ chúng không ngờ đến, trước khi chúng ta kịp nhận ra.”
“Nhưng việc tối qua có lẽ chúng không biết đâu nhỉ?” Fujima Kazue đặt ra thắc mắc ở cuối câu. “Nửa đêm mà. Lại còn cách xa biệt thự đằng đó.”
“Ý cô ấy là cần xét đến tất cả các khả năng có thể xảy ra.” Ánh mắt Fujima trở nên sắc lạnh. “Còn em thì suy nghĩ quá nông cạn.”
Kazue ngạc nhiên nhìn chồng, thấy anh ta trừng mắt thì im bặt.
“Có khi nào cảnh sát hỏi đến bọn trẻ không?” Minako thì thầm bâng quơ.
“Vậy cứ cho là họ sẽ hỏi đi. Cũng cần giả định chuyện đó trong trường hợp cảnh sát nắm được việc Takashina Eriko từng đến đây,” Fujima đáp.
“Vậy à?” Sekitani chép miệng. “Tôi hiểu rồi. Có lẽ không dễ đâu. Có cách gì để xác định xem bọn trẻ nhìn thấy, hay nghe thấy điều gì khác lạ không?”
“Hay là làm theo cách này,” Yunsuke nói. “Mỗi nhà về hỏi con mình, rằng buổi tối hôm qua chúng đã làm những gì. Cố gắng hỏi thật chi tiết. Bằng cách đó, chúng ta sẽ xác định được chúng có biết điều gì nguy hiểm không.”
Nhưng Fujima phản đối ý kiến này ngay tức khắc. “Không được, làm thế không ổn đâu.”
“Tại sao?”
“Trẻ con có khuynh hướng nhớ những điều lạ. Nếu đột nhiên bị bố mẹ hỏi một câu lạ lùng như thế, chắc chắn sẽ để lại ấn tượng cho chúng. Thế thì lại phản tác dụng. Vả lại, hỏi như anh Namikishi rất khó. Có khác nào hỏi chúng là tối qua có nhìn thấy gì lạ không đâu.”
“Thì đúng là thế. Anh Sekitani cũng bảo là không dễ mà.”
“Tôi không khẳng định nhé. Chỉ nói có lẽ thôi.”
“Giống nhau cả. Vì anh cũng suy tính tất cả các khả năng mà.”
Dường như không tìm ra lời nào để phản biện, Sekitani ngậm miệng quay mặt sang bên cạnh.
“Dĩ nhiên cảnh sát không tiếp cận bọn trẻ là tốt nhất. Nhưng nếu chúng ta đã làm đủ mọi cách rồi mà vẫn không tránh được tình huống ấy, thì chỉ còn nước bố mẹ cũng có mặt ở đó, để trông chừng bọn trẻ không nói năng lung tung mà thôi.” Mặt Fujima nhăn nhó.
“Nhưng lỡ chúng nói ra thì…”
“Này anh…” Minako đặt tay lên đầu gối Yunsuke. “Đến lúc đó hẵng hay. Em chuẩn bị tinh thần rồi.”
“Em thì hay rồi.”
“Mà anh Namikishi này, để một thời gian nữa mới bàn đến việc này có được không? Giờ chúng ta cũng chưa biết có đứa trẻ nào phát hiện ra điều gì hay không, vả lại tôi nghĩ nếu cảnh sát có hỏi đến bọn trẻ thì cũng phải vào thời điểm cuối cùng.”
“Đúng vậy, chưa đến lúc phải cuống lên đâu.” Sekitani đồng tình với Fujima. “Chúng ta vẫn còn thời gian.”
Không còn người nào đưa ra ý kiến phản đối. Người ban đầu khởi xướng câu chuyện là Sakazaki Kimiko cũng đã gật đầu tán thành.
“Mọi người thấy ổn là được,” Yunsuke nói.
Tranh luận đã ngừng lại, sau đó không có ý kiến nào được đưa ra nữa.
“Tối nay bàn đến đây thôi.” Fujima nói. “Nếu có chuyện gì, mọi người sẽ lại tập trung để bàn tiếp.”
“Mệt thật đấy.” Sekitani đứng dậy, duỗi người, đi về bếp. Anh ta mở tủ lạnh, lấy bia ra.
“Chúc ngủ ngon.” Mọi người trao nhau lời chào. Yunsuke đi về phía cửa. Nhưng anh đã dừng bước trước đó. Anh dán mắt nhìn bốn bức tranh ở trên tường. Những bức tranh vẽ phong cảnh quanh đây. Dưới mỗi bức đều ghi tên người vẽ. Bức bên phải hàng dưới là của Shota.
“Vẽ đẹp quá!” Yunsuke lẩm bẩm. Trong bức tranh, Shota vẽ biệt thự này. Những chiếc xe ô tô đậu ở bãi đỗ xe cũng được khắc họa chỉn chu. Tất cả ô tô quay mặt về phía biệt thự.
“Đây là một trong số bài tập hè của bọn trẻ.” Minako đằng sau nói.
 
 
3  
Quay về phòng, Minako bắt đầu thay quần áo. Còn Yunsuke vẫn ngồi yên vị trên cái ghế đặt trước bàn.
“Anh không thay đồ à?” Minako hỏi, cô cuộn tròn người trên giường trong bộ pijama.
“Anh không buồn ngủ. Không hiểu những người khác có ngủ được không nhỉ?”
“Đêm qua em cũng không chợp mắt.”
“Anh cũng vậy, nên giờ đau đầu quá. Mà không có vẻ gì sẽ ngủ được.”
“Có khi em cũng không ngủ được đâu. Nhưng mà có thức thì cũng đành chịu.”
“Bực thật, biết thế mang chai whisky theo. Uống bia thì không say được.” Anh nhìn cái túi du lịch của mình, rồi đập tay lên đầu gối. “A phải rồi, đi mua là được. Gần đây chắc phải có cửa hàng tiện lợi chứ.”
“Đi tìm chắc có đấy.” Minako trở mình, quay lưng về phía Yunsuke.
Anh ngắm cái chăn lông vũ phủ lên đường cong trên cơ thể của vợ một lúc lâu. Sau đó anh đứng dậy, nhét chìa khóa ô tô vào trong túi quần.
“Anh đi luôn đấy à?” Minako hỏi, mặt cô vẫn quay vào tường.
“Ừ.”
“Anh đi cẩn thận.”
Yunsuke đặt tay lên cái nắm cửa. Trước khi mở cửa, anh hỏi vợ.
“Fujima đã thuyết phục vợ chồng Sakazaki bằng cách nào nhỉ? Tay Sakazaki đó đã kích động đến thế, mà giờ dễ bảo đến lạ.”
“Chắc là kiên nhẫn nói cho đến khi thuyết phục được anh ấy mới thôi.” Giọng cô ngắc ngứ.
“Nhưng mà trước đó, Sakazaki không có vẻ gì chịu lắng tai nghe cả.”
Minako không trả lời ngay. Cô khựng lại chốc lát, rồi nói, “Anh có hỏi thì em cũng không biết đâu.”
“Hỏi em cũng bằng thừa nhỉ?” Yunsuke rời phòng.
Anh ghé qua phòng Fujima, gõ cửa. Có tiếng trả lời ngay sau đó, Fujima mở cửa. Anh ta cũng chưa thay đồ. “Có chuyện gì thế?”
“Tôi định ra cửa hàng tiện lợi một chút. Anh cho tôi mượn chìa khóa cửa sảnh được không?”
“À, anh đi mua rượu hay gì?”
“Vâng. Tôi định thế.”
“Anh cứ đi luôn đi. Đằng nào chúng tôi vẫn thức nên chưa khóa cửa.”
“Vậy à?”
“Vâng, anh cẩn thận nhé.”
“À, anh Fujima này.” Yunsuke vội vàng nói, như sợ Fujima đóng cửa ngay. “Anh đã dùng cách gì để thuyết phục được vợ chồng Sakazaki vậy?”
“Cũng không có tiểu xảo gì đâu.” Fujima nói. “Nói thật thì, tôi chỉ truyền đạt lại y nguyên suy nghĩ của chúng ta thôi, không thêm bớt gì. Sakazaki cũng không phải kẻ ngốc, nên đã hiểu cho chúng ta.”
“Ra vậy.”
“Vậy tôi xin phép.” Fujima nói rồi đóng cánh cửa lại.
Yunsuke rời khu biệt thự bằng xe ô tô, nhưng tìm mỏi mắt không thấy cửa hàng tiện lợi nào. À, cũng có đấy, nhưng có vẻ không mở cửa hai mươi tư giờ một ngày như thành phố.
Vừa lái xe, anh vừa bóp vai, thi thoảng lại đổi tay cầm vô-lăng, xoa từ khớp vai xuống cánh tay phải. Khớp kêu lục khục. Xoay cổ sang hai bên, cổ cũng phát ra tiếng.
Chạy xe đến tận chỗ chuyển làn trên đường cao tốc, cuối cùng cũng tìm thấy cửa hàng tiện lợi. May cho anh, trong đó có bán rượu. Anh nhặt rượu bourbon, bánh mì kẹp, mua thêm thuốc lá.
Lúc rút ví ra để thanh toán, anh chạm tay vào thứ gì đó trong túi áo khoác. Đó là xấp ảnh anh tìm thấy trong căn hộ của Eriko.
Mua đồ xong, anh quay lại xe, bật động cơ. Nhưng chưa vội phóng đi ngay, mà bật đèn bên trong xe lên.
Yunsuke lôi xấp ảnh ra, tỉ mỉ quan sát từng bức ảnh. Ba bức ảnh đầu tiên chụp lúc Minako đi vào nhà Fujima. Vài bức ảnh khác chụp vợ chồng Sekitani và Sakazaki. Họ cũng đi vào nhà Fujima sau đó. Và bức ảnh chỉ có Minako đi ra khỏi đó. Rồi ảnh chụp Minako tạt vào siêu thị.
Có cả ảnh Tsukumi. Chụp lúc anh ta bước ra khỏi trung tâm luyện thi. Hay cảnh anh ta đi vào quán cà phê. Thêm ảnh chụp bên trong quán. Tsukumi gặp một phụ nữ. Mặt người phụ nữ được chụp nghiêng. Người phụ nữ không phải Minako, Fujima Kazue hay Sekitani Yasuko, càng không phải Sakazaki Kimiko. Độ tuổi người đó đoán chừng chưa đến ba mươi.
Ảnh chuyển sang bối cảnh khác, chụp cảnh bên trong một quán ăn gia đình. Có Tsukumi, người phụ nữ ban nãy và thêm một người đàn ông nữa. Người đàn ông này không phải Fujima, Sekitani hay Sakazaki. Anh ta trung tuổi, to béo, cỡ bốn mươi lăm. Tấm lưng tròn lẳn màu xám, mái tóc mỏng rẽ ngôi lệch bảy ba.
Cũng có ảnh Minako ở đó. Bốn người đang cười nói vui vẻ.
Nốt bức ảnh đó là hết.
Yunsuke cất lại xấp ảnh vào trong túi, rồi phóng xe đi. Từ đó về đến khu biệt thự mất khoảng bốn mươi phút. Thành thử, anh mất hơn một tiếng đồng hồ cho việc mua đồ.
Lúc quay về biệt thự, anh thấy ánh sáng lọt ra từ bên trong. Có vẻ ánh sáng đó trong phòng khách. Yunsuke kéo cánh cửa sảnh ra vào, nhưng nó đã bị khóa. Anh toan bấm chuông, rồi đổi ý, bắt đầu đi men theo bờ tường bao quanh căn nhà.
Ngay trước khi đến gần phòng khách, anh loáng thoáng nghe thấy tiếng nói, nên vội vàng dừng bước. Anh nấp trong góc tòa nhà, len lén nhòm vào bên trong.
Cánh cửa kính của phòng khách đang mở, một người đàn ông và một người phụ nữ ngồi cạnh nhau. Là Sekitani và Fujima Kazue. Hai người đó dính chặt người vào nhau, tay Sekitani còn vòng ra ôm eo Kazue.
Yunsuke chậm rãi quay lại. Bước đến sảnh ra vào, rồi bấm chuông. Một loáng sau, từ bộ đàm thoại vang lên giọng đàn ông, “Vâng.”
“Xin lỗi, tôi Namikishi đây.”
“À, vâng, vâng.” Đó là giọng của Fujima.
Tiếng lạch cạch mở khóa, cửa được mở ra. Fujima ló mặt. “Anh đã về đấy à? Có tìm được cửa hàng nào không?”
“Tôi phải đi đến tận chỗ chuyển nhánh của đường cao tốc mới có.”
“Cũng phải thôi, muộn thế này mà.”
Bước vào nhà, Yunsuke nhìn bên trong. Cửa phòng khách vẫn đang mở. Anh thấy mặt Sakazaki.
“Mọi người đều thức à?” Anh hỏi Fujima.
“Quả nhiên không ai ngủ được cả. Nên thành ra tụ tập thế này.”
Khóa cửa xong, Fujima đi đến phòng khách. Yunsuke cũng đi theo sau.
Sekitani và Fujima Kazue đã quay vào bên trong phòng. Ngoài họ và Sakazaki, còn có Sekitani Yasuko. Yunsuke lần lượt nhìn mặt bọn họ.
“Có chuyện gì sao?” Sekitani Yasuko nghiêng đầu.
“Không, không có chuyện gì cả.”
“Anh có tìm thấy thứ gì hay ho không?” Sekitani nhìn cái túi Yunsuke cầm trên tay và hỏi.
“Cũng không có gì để mua cả. Nên tôi chỉ mua rượu bourbon, bánh mì kẹp thôi.”
“Ra vậy, bình thường tôi hay đem theo rượu brandy đấy, nhưng trong chuyến đi này chỉ được phép mang bia thôi, nên tôi mới không mang rượu.”
“Vậy anh cùng uống với tôi nhé!”
“À không, tôi xin phép. Tôi mà không ngủ đàng hoàng thì người không có tí sức nào cả.” Sekitani quay về phía vợ. “Vậy, lên nghỉ thôi em.”
“Vâng.” Sekitani Yasuko gật đầu. Vợ chồng họ chào mọi người, rồi ra khỏi phòng khách.
“Anh Namikishi, anh định uống ở phòng này à?” Fujima hỏi.
“Vâng, tôi đang tính thế.”
“Vậy anh cứ dùng phòng này cũng được. Nhưng nhớ cẩn thận lửa đấy nhé.”
“Tôi biết rồi. Cảm ơn anh.”
Vợ chồng Fujima cũng rút khỏi đó. Sakazaki nối bước theo sau. Nhìn anh ta sắp đi, Yunsuke cất lời.
“À, anh Sakazaki này, bữa tiệc là thế nào?”
“Bữa tiệc ư?”
“Vâng. Bữa tiệc anh nhắc đến lúc chúng ta nói chuyện trong phòng Sekitani í. Bữa tiệc đó là gì vậy?”
“Tôi đã nói thế à?”
“Anh đã nói mà.”
Sakazaki nhẹ nhàng mở miệng, di chuyển tròng đen của mắt sang bên phải, rồi xuống dưới. Ở đằng sau, Fujima chăm chú quan sát nhất cử nhất động của bọn họ.
“À, việc đó í hả?” Ánh mắt Sakazaki chuyển hướng và dừng lại trên mặt Yunsuke. “Cũng không có ý nghĩa đặc biệt nào cả. Là bữa tiệc karaoke ấy. Vì mọi người đều thích karaoke, nên tôi nghĩ họ đã tổ chức bữa tiệc đó.”
“Karaoke à? Nhưng máy móc để hát thì lấy ở đâu ra?”
“Dùng mamekara.” Fujima gãi đầu. “Xem nào, mấy cái máy móc trông như đồ chơi mà đem đi được í, nhà tôi có sẵn, trước đây cũng tổ chức một lần rồi. Nhưng lần này lại không mang đi.”
“Mamekara à?” Sakazaki gãi đầu.
“Ngẫm cũng đúng, anh Fujima không đời nào lại mang mấy thứ đó trong chuyến đi này đâu. Xem ra tôi đã suy diễn lung tung rồi.”
Thấy Yunsuke im lặng rồi, Sakazaki mới chốt lại, “Mọi việc là thế đấy,” rồi rời phòng khách.
Đứng bên cạnh cửa, Fujima nhìn xoáy sâu gương mặt Yunsuke. “Anh còn việc gì nữa không?”
“Không.”
“Vậy anh cũng nên chợp mắt một chút đi!” Fujima nói rồi quay gót.
Trong phòng khách không còn ai, Yunsuke uống bourbon, ăn bánh mì kẹp. Thi thoảng, anh nhìn xấp ảnh kia.
4 “Anh Namikishi, anh Namikishi ơi, trời sáng rồi.”
Bị lay vào người khiến Yunsuke choàng tỉnh. Anh đang nằm trên cái ghế dài ở phòng khách. Có vẻ Sakazaki Kimiko đã lay anh dậy.
“Hình như tôi ngủ quên mất.” Anh chậm rãi ngồi dậy, nhìn xung quanh. Vẫn chưa có người nào khác ở đây.
“Ôi trời. Sao anh lại ngủ ở đây? Anh có bị cảm không?”
“Tôi vẫn ổn. Mấy giờ rồi nhỉ?”
“Hơn bảy giờ rồi.”
Áo khoác của Yunsuke rơi dưới chân. Kimiko nhặt nó lên. Khi ấy, xấp ảnh trong túi áo rơi xuống sàn nhà. “A!” Cô thốt lên, bàn tay toan nhặt chúng lên bỗng khựng lại.
Yunsuke đã với tay nhặt ảnh lên. Mặt Kimiko đanh lại.
“Cô không hỏi tôi đây là ảnh gì à?”
“Đây là ảnh gì vậy?”
“Tôi cũng không rõ nữa. Bởi người chụp chúng không phải tôi.” Trước mặt Kimiko, Yunsuke xem từng bức ảnh. Nhưng cô không buồn nhìn chúng. “Eriko đã chụp những bức ảnh này.”
Kimiko ngẩng mặt lên. “Tại sao người đó làm vậy?”
“Trước khi trả lời câu hỏi đó, tôi muốn cô nói cho tôi biết phần tiếp theo của câu chuyện hôm qua. Cô đã bảo những người đó không bình thường, rồi thật lòng không muốn qua lại với họ. Điều cô nói có ý gì?”
“Việc đó đã…” Kimiko nhanh chân chui vào trong căn bếp.
Yunsuke đứng dậy theo, chìa xấp ảnh qua chiếc bàn quây cho cô xem. “Trong này hầu như có ảnh của những người ở đây. Có vẻ họ tập trung lại để làm việc gì đó. Nhưng cô không xuất hiện lấy một lần trong những bức ảnh này. Tại sao lại như vậy?”
“Tôi không biết.”
“Kimiko, đã có chuyện gì vậy? Chẳng phải hôm qua cô chủ động bắt chuyện với tôi sao? Nhưng đến hôm nay sao cô lảng tránh như vậy?”
“Tôi không lảng tránh gì hết.” Kimiko đặt cái chảo lên bếp, bật lửa. Rồi mở tủ lạnh, nhìn bên trong tủ.
Mắt Yunsuke nhìn trừng trừng vào tấm lưng cô, sau đó dịu giọng nói, “Hay là cô đã bị Fujima nhắc nhở?”
Đôi vai Kimiko bỗng giật nảy lên. “Ý anh là sao?”
“Tôi thấy rất kỳ quặc. Ban đầu, chồng cô hoàn toàn không có ý định bao che cho Minako. Anh ấy không muốn dính líu tới vụ án. Thế nhưng sau khi nói chuyện với nhóm Fujima, thái độ của anh ấy đã hoàn toàn thay đổi. Chuyện đó quả thật không bình thường.”
“Đó là vì lúc đầu chồng tôi quá kích động nên không thể đưa ra phán đoán đúng đắn.”
“Lựa chọn ban đầu của chồng cô mới là đúng đắn. Không muốn hợp tác làm những việc đó là cách nghĩ bình thường. Nghĩ một cách khách quan, Fujima và đám người đó mới là kỳ quặc.”
Kimiko đóng tủ lạnh, cuối cùng cũng chịu quay đầu lại. Gò má cô ửng hồng.
“Anh Namikishi nói thế còn kỳ quặc hơn. Mọi người, kể cả tôi, đều yêu quý Minako, cho nên không ai muốn cô ấy bị bắt với tội danh giết người cả. Anh Namikishi không nghĩ thế à?”
“Vấn đề không phải ở đó.”
Có tiếng bước chân vọng đến. Yunsuke vội rời khỏi bàn quây. Minako đi vào phòng.
“Anh có ngủ được không?”
“Hình như anh đã ngủ ở đây.”
“Vậy à?” Minako nhìn chai bourbon đặt trên bàn, rồi đi ra bếp. “Xin lỗi nhé Kimiko, để tôi giúp cô một tay.”
Vợ chồng Fujima đi vào. “Mọi người dậy sớm thế! Hay là không ngủ được?”
“Cũng đại loại thế.”
Yunsuke cầm chai bourbon, bước ra ngoài. Trên hành lang, anh đi lướt qua vợ chồng Sekitani. Họ cúi đầu chào nhau, nhưng tuyệt nhiên không nói lời nào.
Quay về phòng, anh thay quần áo, mặc áo polo và quần chino. Rồi vẫn nguyên bộ dạng đó, đổ người xuống giường. Tư thế lúc ấy làm cho cái giường xê dịch một chút.
Nằm thế được một lúc, anh nhỏm dậy, ngồi lên mép giường. Đồng hồ cho biết lúc ấy là hơn bảy giờ ba mươi phút. Anh đứng dậy, lấy đồ dùng vệ sinh cá nhân ở trong túi ra. Lúc định rời phòng, đập vào mắt anh là thứ gì đó trên sàn nhà. Anh liền ngồi thụp xuống.
Chiếc giường bị xê dịch khỏi vị trí ban đầu, anh trông thấy dấu chân hiện rõ nét trên thảm. Xung quanh dấu chân đó dính những vệt màu đỏ. Yunsuke nhăn mặt.

Đứng trước bàn quây, cánh tay đang đưa viên thuốc dạ dày lên miệng chuẩn bị uống của Fujima bỗng khựng lại.
“Ảnh như thế à?”
“Vâng.” Sakazaki Kimiko gật đầu. “Hình như anh ta giữ trong tay khá nhiều ảnh.”
“Anh ta đã tìm thấy trong phòng của Takashina Eriko chăng?” Fujima chép miệng. “Và có vẻ sẽ không hé răng nói chuyện đó với chúng ta.”
“Có cảnh nào không hay bị chụp lại không?” Sekitani bên cạnh nói.
“Giả sử có bị chụp lại đi chăng nữa thì cũng không phán đoán được gì đâu. Nhưng chắc là anh ta đã nhận ra điều gì đó kỳ lạ.” Fujima nhìn Kimiko. “Lúc đưa ảnh cho cô xem, anh ta nói gì vậy?”
“‘Cô nghĩ tại sao chỉ có mình cô không có mặt trong ảnh?’”
Câu trả lời của Kimiko khiến gương mặt Sekitani lộ rõ vẻ khó chịu, anh ta quay mặt sang bên cạnh, rồi gãi tóc.
“Còn gì nữa không?” Fujima hỏi.
“Chỉ có vậy thôi.”
“Sao nhìn thấy ảnh mọi người tập trung ở nhà tôi, mà anh ta lại nghĩ ra câu hỏi đó nhỉ? Kimiko, cô đã nói gì với anh ta?”
“Không nói gì hết.” Kimiko lắc đầu.
“Thật chứ? Cô mà không nói thật là làm khó cho chúng tôi đấy.”
“Tôi không nói gì thật mà.”
Fujima nhìn chằm chằm vào mặt cô một lúc. Kimiko cũng nhìn đối lại, như thể không có ý định tránh né ánh mắt đó. Cái nhìn của cô buộc anh ta phải nhìn ra hướng khác, anh ta đành thở dài.
“Thôi bỏ đi, nếu chỉ có thế thì nghĩa là anh ta chưa nhận ra điều gì đâu.”
“Nhưng anh ta đang nghi ngờ. Có vẻ anh ta thấy lạ vì người trong nhóm chúng ta đột ngột thay đổi thái độ như vậy.”
“Việc đó thì chịu thôi. Chúng ta không thể làm gì được.”
“Nhưng anh ta quả là kỳ quặc. Mọi người thì đang cố sức bảo vệ Minako, đáng lẽ thấy điều đó, anh ta phải ngoan ngoãn ngồi yên chứ.” Sekitani chống khuỷu tay lên bàn quây. “Đã vậy, vụ án lần này khởi nguồn từ sự cãi vã của hai người phụ nữ do sự ngoại tình của anh ta. Hành động của anh ta đang chứng minh rằng anh ta rất yêu người phụ nữ đó, cho nên mới lưỡng lự không muốn giúp Minako.”
“Có vẻ trong suy nghĩ của anh ta, việc chúng ta bao che cho Minako mới là kỳ quặc.”
“Hừ, chắc từ đầu anh ta đã canh cánh trong lòng việc đó.” Fujima nói. “Trên đường đến nhà Takashina Eriko ngày hôm qua, anh ta cũng hàm ý dò xét. Hơn nữa, anh ta dường như nghi ngờ mối quan hệ giữa Minako với tôi. Thế nên tôi đã dùng cách nói lập lờ nước đôi, không khẳng định, cũng không phủ định để đáp lại, nhưng chẳng có tác dụng gì thì phải.”
“Sao anh lại dùng cách nói đó?” Sekitani hỏi.
“Vì anh ta mong chờ cách giải thích đó chứ sao nữa, rằng tôi có tình ý với Minako nên mới giúp cô ấy, nên tôi cho anh ta toại nguyện. Bởi tôi nghĩ đằng nào anh ta cũng không yêu Minako.”
“Hèn chi. Nhưng tại sao cách đó không thuyết phục được anh ta nhỉ?”
“Vì người đó có trực giác sắc bén.” Minako nói vọng ra từ bếp. “Thông minh nữa.”
“Có vẻ như vậy. Nhưng chúng ta vẫn phải giấu việc đó bằng mọi giá.”
Fujima vừa dứt lời, tiếng chuông cửa vang lên. Đám phụ nữ trong bếp tiếp tục nấu nướng. Sekitani rời bàn quây.
“Bọn trẻ đến rồi thì phải. Mọi người, nhớ hành xử như bình thường nhé!”
Mọi người đồng loạt gật đầu.

Bữa sáng với mì spaghetti. Bố mẹ và con mình tập trung lại ăn như mọi khi. Yunsuke ngồi đối diện Shota, còn Minako ngồi bên cạnh cậu bé.
“Hôm qua bố có tìm thấy chỗ nào hay không ạ?” Shota hỏi.
“Hả?”
“Chẳng phải hôm qua bố đi tìm địa điểm để làm tiệc nướng sao ạ?”
“À, đúng rồi. Bố nghĩ là chú Fujima sẽ thông báo với mọi người sau bữa ăn.”
“Vâng, chỗ đó có cây không ạ?”
“Cây ư?”
“Vâng. Con muốn làm bài tập hè môn thủ công.”
“Cây thì chỗ nào mà chẳng có hả con.”
Minako lặng lẽ ngồi nghe cuộc hội thoại của bố dượng và con trai.
Lúc ăn xong, Fujima đứng dậy.
“Vậy tôi sẽ nói về lịch trình của ngày hôm nay. Như đã hứa từ đầu, chiều nay nghỉ học. Chúng ta sẽ đến hồ Himegami, tổ chức tiệc nướng ở đó. Trẻ con hãy mang đồ chơi đi nhé.”
Cậu bé Naoto, con trai Fujima, hồ hởi đập nhẹ tay xuống bàn. Takuya, con trai Sakazaki thì lí nhí nói vui quá. Riêng Sekitani Haruki và Shota hầu như không thay đổi biểu cảm trên mặt.
“Shota, con không vui sao?” Minako hỏi con trai. “Cuối cùng cũng có thể vui chơi mà.”
“Con vui chứ.”
“Nhưng trông con không có vẻ gì là vui cả.”
“Thì tại con đang ăn mà.” Shota bỏ nốt chỗ mì spaghetti vào miệng. Sau khi nuốt nó xuống bụng, cậu bé hỏi bố, “Tại sao lại là hồ Himegami ạ?”
“Ờ, cái gì tại sao hả con?”
“Tại vì hôm qua bố đã đi cả quãng đường dài như vậy để tìm chỗ mà. Vậy sao kết quả lại chọn hồ Himegami ở ngay gần đây ạ?”
“Vì không có chỗ nào tốt hơn con ạ.”
“Hừ.” Shota ngắm đĩa mì spaghetti. Minako chăm chú nhìn bộ dạng đó.
Yunsuke nhìn thấy Tsukumi đi ra vườn. Anh liền đứng dậy, bỏ dở cốc cà phê còn hơn nửa.
“Thầy giáo ơi!” Yunsuke cũng đi ra vườn, gọi Tsukumi.
Thầy giáo trẻ quay đầu lại với vẻ mặt bất ngờ. “À, vâng, anh gọi tôi ạ?”
“Thầy vất vả rồi. Xin lỗi vì hôm qua tôi không phụ giúp thầy được.”
“À, không sao đâu. Anh đừng bận tâm. Thế sức khỏe của vợ anh tốt hơn chưa, trông cô ấy không hoạt bát lắm nhỉ.”
“Vì cô ấy hăng hái quá mức, nên mới mệt phờ. Không phải do bệnh đâu.”
“Thế thì tốt quá.”
“Đằng đó thì sao? Việc học vẫn tiến triển tốt chứ?” Yunsuke cười niềm nở.
“Tôi nghĩ là thuận lợi. Mấy đứa trẻ kia gồm cả Shota đều tiếp thu nhanh.”
“Nghe thầy nói thế, dẫu biết là phép lịch sự, tôi vẫn thấy yên tâm.”
“Tôi không nói thế vì phép lịch sự đâu.”
“À, nhân đây tôi muốn hỏi…” Yunsuke thì thầm. “Giáo viên của trung tâm luyện thi, có nhiều người làm công việc ngoài, gọi là hoạt động ngoài trung tâm ấy, giống như thầy không?”
“Ý anh là làm thêm hả?”
“À vâng, nói trắng ra là như vậy.”
Tsukumi cười nhăn nhó.
“Chắc cũng không ít đâu. Nhưng quan trọng hơn mục đích kiếm tiền, hầu hết làm để nhận được sự kính trọng.”
“Họ có giới thiệu người không nhỉ?”
“Giới thiệu ư?” Nét phân vân hiện trên gương mặt Tsukumi. “Ờ, ý anh là giới thiệu ai?”
“Ví dụ gia sư hay người hướng nghiệp. Ha ha, mà tôi cũng không biết có người hướng nghiệp không nữa.”
Tsukumi khẽ kêu ừ một tiếng, rồi khoanh tay lại.
“Dù sao những người đó đối với chúng tôi cũng là đối thủ cạnh tranh, nên về cơ bản sẽ không giới thiệu đâu. Mà tại sao anh lại hỏi việc đó?”
“À, thật ra thì người quen của tôi có con đang học tiểu học, và người đó hỏi tôi có biết gia sư nào tốt không. Khi tôi bảo con mình đang học tại trung tâm, người đó bảo con anh ta học kém lắm, đến trung tâm sợ lại không theo kịp, nên chỉ muốn học một thầy một trò thôi.”
Tsukumi há to miệng, rồi bật cười.
“Vậy nhờ anh giới thiệu trung tâm của chúng tôi cho người đó. Chỗ tôi nổi tiếng trong việc đào tạo trẻ có học lực chênh lệch. Thực tế thì trẻ con có nhiều loại lắm.” Anh ta lấy tay che miệng rồi tiếp tục. “Loại học kém í.”
Khi Yunsuke làm điệu bộ cười phá lên, bỗng tiếng gọi “thầy giáo ơi” vang lên từ đằng sau. Là Fujima.
“Bọn trẻ sắp sửa…”
“À, đúng rồi. Vậy xin phép anh Namikishi.” Tsukumi khẽ cúi đầu, rồi đi về phía biệt thự.
Nhìn theo Tsukumi cho đến khi bóng anh ta khuất hẳn trong đó, Fujima sốt sắng hỏi, “Hai người nói chuyện gì vậy?”
“Cũng không có gì,” Yunsuke nói. “Chuyện của Shota và chuyện ở trung tâm luyện thi. Dù sao đây cũng là lần đầu tiên tôi gặp thầy ấy.”
“Anh không hỏi chuyện gì kỳ quặc đấy chứ?”
“Chuyện kỳ quặc là gì?”
“Là những chuyện sẽ để lại ấn tượng. Hẳn anh cũng biết rồi, cảnh sát có thể sẽ đến gặp thầy Tsukumi. Nếu mà để lại ấn tượng kỳ quặc cho thầy ấy thì…”
Fujima chưa nói dứt câu, Yunsuke đã xua tay trước mặt.
“Chỉ là mấy chuyện vô thưởng vô phạt thôi. Thế anh nghĩ còn chuyện gì nữa? Hay anh cho rằng tôi cố tình nói những chuyện bất lợi cho chúng ta?”
Yunsuke bước đi trước khi Fujima kịp nói điều gì.
5 Đám mây mỏng vắt ngang bầu trời suốt buổi sáng, đến xế trưa thì tan ở đâu đó. Mười ba người, gồm bốn gia đình cùng một thầy giáo đi bộ đến nơi tổ chức tiệc nướng bên bờ hồ Himegami. Nguyên liệu và đồ uống được mua ở cửa tiệm dọc con đường dẫn ra hồ, vật dụng để nướng thì thuê ở cửa hàng cho thuê bên cạnh.
“Nào, mọi người ăn nhiều vào nhé! Takuya, con chuyển đĩa mới cho mọi người giúp bố. Thịt còn nhiều đấy.” Đứng án ngữ trước tấm nướng là Sakazaki. Đầu anh ta quấn khăn mặt, nướng rau và thịt không ngơi tay, chỉ thi thoảng vươn tay với lon bia nhấp một ngụm. Tsukumi phụ nướng đồ, mấy bà vợ ban nãy còn chú tâm chuẩn bị nguyên liệu, giờ đang say sưa ăn cùng lũ trẻ. Fujima hút thuốc ở cách đó không xa.
Yunsuke ngồi lên khúc gỗ thay cho ghế, tay cầm lon bia, ngắm nhìn hồ. Ánh mặt trời chói chang khiến anh không thể nhìn thẳng mặt nước nên phải đeo kính râm.
Sekitani đến bên cạnh anh. “Anh có ăn không?” Anh ta chìa ra túi hạt kaki. Yunsuke nói “Mời anh” rồi cầm lấy.
Sekitani hạ giọng, “Làm thế nào cũng không thấy ngon miệng được.” Anh ta cười nhạt. “Anh Namikishi cũng thế phải không? Tôi để ý từ ban nãy, anh hầu như không động đũa vào miếng thịt nào.”
Yunsuke nhìn chằm chằm gương mặt đối phương qua kính râm, rồi lập tức đưa mắt quay lại nhìn mặt hồ. Anh uống một ngụm bia. Bia đã hết lạnh.
“Xin lỗi, tôi bất lịch sự rồi.” Sekitani nói. “À mà, cái xác đó ở chỗ nào vậy?”
“Anh thấy chỗ hai chiếc thuyền đang bơi cạnh nhau không?” Yunsuke chỉ tay về phía trước. “Chiếc nào cũng có đôi có cặp, người phụ nữ trên một chiếc thuyền mặc áo sơ-mi màu đỏ.”
“À, tôi thấy rồi, thấy rồi.”
“Tôi nghĩ là chỗ đó, mà cũng không chắc. Cảm giác về khoảng cách vào ban ngày và ban đêm luôn khác nhau, vả lại, có khi góc độ nhìn bây giờ cũng khác với lúc đó.”
“À, đúng vậy.” Sekitani bỏ ống nhòm xuống. Sau khi ngắm nghía một lúc thì lẩm bẩm một mình, “Nếu không phóng to lên nhìn thì không thấy gì đâu,” rồi đặt ống nhòm xuống bên cạnh.
“Anh Sekitani, anh hay đi hát karaoke à?”
“Karaoke ư? Không, không phải là tôi không đi, nhưng có đi thì cũng chỉ nhìn mọi người hát thôi. Mà gần đây tôi không hay đi lắm. Tôi ấy, đi cùng đám trẻ trung thì chỉ thấy lạc lõng, không có người cùng tuổi sẽ không đi đâu. À, nhưng nếu anh Namikishi muốn đi thì tôi sẽ đi cùng. Nhắc mới nhớ, gần đây cũng có mấy quán đấy. Quán karaoke ấy. Không hiểu có ai nữa muốn đi không nhỉ?”
Thấy Sekitani quay ra đằng sau, chuẩn bị gọi ai đó, Yunsuke liền giữ vai anh ta lại.
“Không, không phải tôi rủ mọi người đi đâu. Chỉ là tôi thắc mắc mọi người thường giao lưu thế nào thôi.”
“Anh nói thế là có ý gì?”
“Mọi người hay tụ tập để bàn về chuyện học hành, rồi tương lai của bọn trẻ, đúng không? Ví dụ tập trung tại nhà của anh Fujima.” Yunsuke lén nhìn Sekitani.
“À, ở nhà anh Fujima… Việc đó cũng thi thoảng thôi. Không đến mức thường xuyên đâu.” Sekitani gật đầu, rồi lại lắc đầu và xua tay.
“Tôi chỉ không hiểu những lần tập trung ấy, ngoài nói chuyện về bọn trẻ, mọi người còn làm gì khác nữa. Dù sao đây cũng là lần đầu tiên tôi nhập hội, mà không biết cách mọi người giao lưu thế nào khiến tôi khó tránh khỏi lúng túng.”
“Ha ha, ra vậy. Nhưng chúng tôi chẳng làm gì đao to búa lớn cả. Chỉ uống trà và tán gẫu thôi.”
“Nghĩa là mọi người không hát karaoke à?”
“Chúng tôi chưa từng làm thế.” Sekitani vặn cổ sang một bên xem chừng có vẻ khó hiểu.
“Vậy ư?” Yunsuke gật đầu, rồi lại đưa mắt nhìn về phía hồ. Hai chiếc thuyền anh nhìn thấy ban nãy đang chèo về hướng ngược lại.
“Mà anh Namikishi này…” Sekitani đưa mặt sát về phía Yunsuke. Anh ta làm điệu bộ ngoái lại đằng sau để kiểm tra, rồi nói tiếp. “Tôi hiểu cảm giác của anh, nhưng tôi nghĩ anh nên coi đây là một nơi để xốc lại tinh thần.”
Yunsuke chớp mắt, ngơ ngác nhìn đối phương. “Anh nói gì thế?”
“Người yêu, à không, nên gọi là tình nhân thì đúng hơn. Mà thôi, gọi cách nào cũng như nhau. Tóm lại, người phụ nữ anh yêu đã lìa bỏ thế gian này, việc đó đối với anh hẳn là một cú sốc. Là đàn ông với nhau, tôi đồng cảm với anh, nhưng mọi chuyện tùy thuộc vào cách nghĩ. Tôi không biết anh chân thành với cô ta đến đâu, nhưng tôi đoán được kết cục của mối quan hệ này, đến một lúc nào đó, anh cũng phải chia tay cô ta thôi. Bởi tôi không nghĩ Minako sẽ dễ dàng chấp thuận ly hôn, dù không muốn tranh cãi thì lại sợ người đời phán xét. So với việc lâm vào cảnh ngộ bi thảm, đánh mất tất cả, có lẽ kết cục lần này chưa hẳn tệ lắm. Vả lại, anh Namikishi này, phụ nữ tốt trên đời này còn nhiều lắm. Riêng tôi không phản ứng cực đoan với việc ngoại tình. Tôi coi đó là chất bôi trơn để con người tận hưởng cuộc sống, mặc dù tôi không dám vỗ ngực nói oang oang điều đó. Thế nên chuyện anh cần làm bây giờ là xốc lại tinh thần. Quan trọng là những chuyện từ giờ trở đi cơ. Anh có địa vị xã hội, có gia đình. Có thể anh muốn ruồng bỏ gia đình đó, nhưng anh không muốn khiến họ gặp bất hạnh đâu nhỉ? Ví như Shota, anh cũng yêu thương thằng bé theo cách của mình đúng không?”
“Đương nhiên rồi, nhưng anh muốn nói điều gì?”
Vì lẽ gì đó, Sekitani ngoái lại đằng sau một lần nữa xem có ai để ý không, rồi nói tiếp.
“Tôi muốn nói là có nhiều chuyện không thể phân định rạch ròi, tóm lại chúng ta chỉ còn cách đồng tâm hiệp lực để hóa giải cục diện này. Xem nào, có câu ‘vững như bàn thạch’ còn gì. Nên chúng ta phải đoàn kết lại.”
“Anh đang nói là tôi không phân định rạch ròi à?”
“Không, tôi không biết nữa. Có vẻ anh đang chạy ngược chạy xuôi, dò hỏi mọi người, nên tôi tưởng anh thấy gì đó vướng mắc.” Sekitani nhặt một hòn đá nhỏ dưới chân, ném nó xuống hồ. Con sóng nhỏ gợn lên, rồi biến mất ngay tức khắc.
Yunsuke đưa mắt nhìn xa xăm. Fujima nhìn về phía họ. Khi chạm mắt Yunsuke, anh ta quay mặt đi, tiếp tục đi bộ về hướng ngược lại.
“Mọi người thân thiết thật đấy.” Yunsuke nói, tay bóp cái lon rỗng.
“Sao đột nhiên anh lại nói thế?”
“Tham gia chuyến đi này, tôi mới cảm nhận sâu sắc điều đó. Hiếm khi gặp được nhóm nào gắn kết đến vậy. Bình thường người ta còn ở sau lưng ngáng đường nhau cơ.”
“Vì ở đây không có ai như thế cả, nên mới gắn bó được tới giờ.”
“Có lẽ vậy…” Yunsuke nhìn chằm chằm gương mặt Sekitani. “Thế mọi người có nảy sinh tình cảm nam nữ không?”
“Hả?” Sekitani mở to mắt xem chừng hoảng hốt, người anh ta ngửa ra đằng sau.
Đúng lúc ấy, Shota từ phía sau đi đến.
Yunsuke gượng cười. “Có chuyện gì thế con?”
“Bố ơi, trên lưng bố có côn trùng này.”
“Thật à, con bỏ ra giúp bố.”
“Vâng, bố đừng động đậy.”
Shota đứng sau lưng Yunsuke. Sekitani thừa dịp đó mà đứng dậy, chuồn khỏi đó.
“Bỏ ra được chưa con?”
“Không được rồi, nó chạy mất rồi.”
“Côn trùng gì vậy?”
“Ừm, nó to, đen. Nhưng không phải xén tóc.”
“Hay là gián?”
“Không phải ạ.”
“Về bức tranh đó…” Yunsuke nói khi Shota định rời đi.
“Tranh ạ?”
“Bức tranh dán ở bức tường trong biệt thự í. Tới đây rồi con mới vẽ đúng không?”
“Vâng ạ.”
“Con vẽ lúc nào?”
“Hôm kia ạ. Con vẽ cùng các bạn vào buổi chiều hôm kia.”
“Hôm kia à?”
“Có chuyện gì ạ?”
“Không, không có gì đâu. Mà sao con không chơi với các bạn?” Yunsuke nhìn xung quanh. Anh thấy Sekitani Haruki đang ngồi chơi trò chơi điện tử. Fujima Naoki thì ở bên cạnh mẹ. Không thấy bóng dáng Sakazaki Takuya đâu.
“Ít nhất trong thời gian chơi…” Shota nói. “Khỏi ở cùng cũng được.”
Yunsuke nhìn mặt con trai. Cậu bé cúi đầu, bước đi.
Có vẻ tiệc nướng đã kết thúc, bởi mọi người đã bắt đầu dọn dẹp. Yunsuke cũng giúp một tay.
Thấy Sakazaki Kimiko ở đó, nên anh hỏi con trai cô ta đâu.
“Hình như chồng tôi dẫn thằng bé đi câu rồi. Xin lỗi, chồng tôi chẳng đỡ đần việc gì.”
“Cô nói gì vậy, anh Sakazaki nướng thịt cho mọi người ăn mà, nên dọn dẹp là việc của chúng tôi.” Sekitani cười nói.
Dọn dẹp xong xuôi, từ lúc đó đến trước bữa tối là khoảng thời gian hoạt động tự do. Mỗi gia đình có hoạt động riêng. Yunsuke nhìn thấy Tsukumi, liền bước đến gần.
“Thầy giáo này, tôi có chuyện muốn nhờ thầy giúp.”
“Chuyện gì vậy ạ?”
“Tôi muốn mượn chìa khóa của biệt thự cho thuê. Hôm qua tôi không đến giúp được gì, cứ thế này thì tôi chẳng còn cơ hội nào để đến xem biệt thự đó nữa.”
“Vậy à? Hôm nay đến phiên trực của anh Fujima. Được thôi.” Tsukumi nói rồi lấy chìa khóa trong túi ra.
“Anh này…” Sau khi Tsukumi rời khỏi đó, Minako đi về phía Yunsuke. “Lát nữa anh định làm gì?”
“Anh muốn ghé chỗ này một chút. Em và Shota cứ làm gì mình thích.”
“Anh muốn đến chỗ nào vậy?”
“Em biết cũng để làm gì đâu.” Yunsuke bước đi.
Minako chạy chầm chậm đuổi theo chồng. Khi đến ngang với anh, cô nói nhỏ.
“Anh Fujima đã dặn phải hạn chế hành động một mình rồi mà. Khi cảnh sát hỏi về hành động của hôm nay, càng ít điểm kỳ lạ thì càng tốt.”
“Anh không định làm gì kỳ lạ đâu. Hơn nữa, em để Shota một mình mà được à?”
Như thể sực nhớ ra, Minako kêu lên một tiếng ngạc nhiên, rồi quay lại. Cô cứ đúng thừ người ra ở đó.
Yunsuke bước tiếp mà không dừng lại. Anh nhìn cái hồ một lần nữa. Ánh mặt trời phản chiếu trên mặt hồ đã dịu bớt. Yunsuke tháo kính râm.

Bố con Sekitani đi vào trong cửa hàng bán đồ đặc sản. Thấy anh ta mải ngắm cái giá bày móc treo chìa khóa, vợ anh ta liền đến bên cạnh.
“Haruki đâu rồi?” Anh ta hỏi.
“Con nó đang chơi trò chơi điện tử trong cửa hàng.”
Sekitani thở dài. “Thằng nhóc này lúc nào cũng chơi thứ đó được.”
“Nhưng có gì đó hơi lạ. Làm sao mà chơi đến mức đó… Ban nãy cũng thế, ăn tiệc nướng xong, nó cắm đầu chơi trò chơi trên điện thoại suốt. Cứ như bị bỏ bùa mê vậy.”
“Sở thích của thằng bé thôi.”
“Em đã bảo là bình thường nó không chơi đến mức đó. Sáng nay cũng thế, nó có vẻ gì lạ lắm.”
“Lạ thế nào?”
“Không hiểu sao em có cảm giác vậy.”
“Nói thế là em cũng không biết đúng không?”
Lúc Sekitani chau mày thì Haruki bước vào. Hai người hắng giọng cùng lúc, quay lại vẻ bình thường.
“Haruki, con có mua quà không? Chẳng phải con bảo sẽ mua quà cho bạn cùng lớp à?”
Haruki lắc đầu. “Không cần đâu ạ, cũng chẳng có thứ gì hay ho để mua cả.”
“Thế à. Con thấy cái này được không? Nếu lắc nó sẽ nghe thấy tiếng côn trùng kêu đấy.” Sekitani lắc lư cái móc treo chìa khóa, nhưng Haruki chẳng buồn nhìn.
“Bố ơi, có thật là hôm nay không cần học cũng được không ạ?”
“Thật mà. Tối nay là buổi cuối cùng rồi, nên con cứ thong thả tận hưởng đi. Con cũng có thể sang phòng của mấy bà mẹ.”
Haruki không đáp lại. Vợ chồng Sekitani nhìn nhau, tiếp đó nhìn ra hướng khác.

Kimiko đang ngồi trên ghế dài khi chồng dẫn con trai quay lại, cô ngước nhìn chồng.
“Thế nào hả anh?”
“Chẳng câu được con nào. Mình chọn thời điểm không tốt lắm. Mặc dù chỗ đó có vẻ nhiều cá.” Sau khi dựng cần câu vào cái cây kế bên, Sakazaki ngồi xuống bên cạnh Kimiko. Cách đó không xa, Takuya bắt đầu thu dọn dụng cụ câu cá mà họ thuê ở cửa hàng.
“Takuya, con có thấy tâm trạng tốt hơn chút nào không?” Kimiko cất giọng hỏi ở sau lưng con trai.
Cậu bé không ngừng tay, chỉ làm điệu bộ nghiêng đầu phân vân.
“Gì vậy, hành động đó là sao?”
Nhưng Takuya vẫn im lặng không nói lời nào. Cũng không buồn quay lại nhìn bố mẹ.
“Hay chẳng thu được chiến lợi phẩm nào khiến thằng bé không vui?” Sakazaki nói.
“Không câu được cũng có sao đâu. Dù có đi từ sáng sớm, cũng có lúc chẳng câu được con cá nào ấy chứ. Anh không nghĩ là được thư thả tại đây vui hơn việc câu cá sao?”
“Em thôi đi.”
“Là tại…”
Thu dọn xong, Takuya đứng dậy. Lần đầu tiên cậu bé quay mặt nhìn mẹ.
“Không phải là con không vui đâu.” Cậu bé tươi cười.
“Thế à?”
“Con chỉ hơi mệt. Vì cứ phải học suốt.”
“Con vất vả rồi. Nhưng không cần phải cố quá đâu.”
“Nhưng mà…” Takuya vác cần câu lên vai. “Con mà không thi đỗ trường trung học thì không được nhỉ?”
“Hả?”
Takuya bắt đầu bước đi. Nhìn theo lưng của cậu bé, Kimiko quay sang nhìn chồng. Anh nhún vai.

Naoto uống một chút soda kem, rồi bỏ miếng bánh bơ giòn vào trong miệng. Quanh miệng cậu bé dính đầy kem.
Gia đình Fujima ở trên tầng hai quán cà phê nằm bên đường chính. Từ chỗ họ ngồi, có thể nhìn thấy hồ Himegami qua khung cửa sổ. Fujima uống cà phê, Kazue thì uống trà sữa.
“Sao rồi Naoto, thành tích học của con tốt hơn chứ?”
Fujima vừa dứt lời, Naoto vội vàng bỏ cái dĩa xuống, hai tay đặt lên đầu gối, làm tư thế nghiêm trang. Fujima cười nhăn nhở.
“Con vừa ăn vừa nói cũng được. Bố không định lên lớp con đâu.”
“Lúc này con có thể làm mọi việc mình thích mà.” Kazue cũng mỉm cười trìu mến.
Nhìn cậu bé thở phào nhẹ nhõm, bắt đầu ăn kem, Fujima lặp lại câu hỏi, “Thế kết quả sao rồi?”
“Này anh, chuyện đó để sau hẵng nói.”
“Cũng tàm tạm ạ.” Naoto nói, rồi xiên cái dĩa vào quả dâu tây. “Bất cứ điều gì con không hiểu đã có thầy Tsukumi chỉ bảo.”
“Vậy à. Mà Naoto này, vào được trường trung học rồi thì con muốn làm gì? Chơi thể thao à? Hay đi du lịch? Hay quả nhiên vẫn muốn vui chơi thỏa thích?”
“Vâng.” Naoto bỏ dâu tây vào trong miệng. “Nhưng mà… Lúc trước bố bảo không phải vào được trung học rồi thì được vui chơi và chểnh mảng việc học cơ mà.”
Fujima và vợ nhìn nhau.
“Bố nói thế à?” Anh nói với con trai.
“Vâng. Bố bảo ranh giới phân định người làm được và người không làm được là lúc mọi người đều sao nhãng thì mình cũng chểnh mảng giống như họ, hay là mình tận dụng thời điểm đó để bật lên. Thế nên chẳng phải vào được trung học rồi, vẫn phải cần mẫn học tập để nâng cao thành tích ạ?”
Fujima không trả lời ngay, anh nở nụ cười xem chừng mãn nguyện, rồi cầm tách cà phê lên. Sau khi uống hai ngụm, anh đặt cái tách xuống.
“Đúng rồi.” Anh nói. “Không được sao nhãng. Cần giữ nguyên phong độ này. Đương nhiên làm được thế là tốt nhất.”
Ăn hết bánh, Naoto lấy ống hút khuấy cốc soda kem. Fujima quay về phía người vợ đang lo lắng nhìn con và gật đầu.
 
 
 
6  
Đến biệt thự cho thuê, Yunsuke dùng chìa khóa Tsukumi cho mượn để vào bên trong. Ở sảnh ra vào đặt một cái tủ giày, nhưng bên trong đó chỉ để hai đôi xăng-đan. Giống với biệt thự của Fujima, căn biệt thự này có cửa ở bên trong, mở cánh cửa đó ra sẽ thấy một tầng rộng khoảng mười tấm chiếu. Có hai cái bàn gấp, bốn cái ghế. Chỗ góc tường thêm hai cái ghế nữa. Trên bức tường đối diện treo một chiếc bảng trắng.
Yunsuke bật đèn, nhìn một lượt khắp căn phòng. Anh thử mở cái cửa trượt, đằng sau cánh cửa là một căn phòng kiểu Nhật rộng bốn chiếu rưỡi. Trong phòng trống trơn, không có bất kỳ đồ đạc nào.
Chừng năm phút sau, anh tắt đèn, ra khỏi phòng đó.
Giữa hành lang có một cái cầu thang dẫn lên trên, anh leo lên cầu thang đó, thấy một cái cửa ở gác lửng tầng hai. Mở cánh cửa ra, bên trong là một phòng rộng khoảng ba chiếu, góc phòng kê chiếc giường đơn. Dưới chân giường có cái túi trượt tuyết lớn. Sách tham khảo, các loại sổ thò ra ngoài cái túi. Yunsuke bật đèn bên trong, tỉ mẩn quan sát sàn nhà, rồi tắt đèn, đóng cửa lại.
Anh tiếp tục lên cầu thang, đầu tiên thấy một khoảng không gian dài, hẹp khoảng bốn chiếu. Cuối khoảng không gian đó có một cái tay vịn.
Giếng trời ở ngay phía trên.
Ở phía đối diện có hai cái cửa. Trên cửa gắn cái tay nắm tròn màu đồng, có thể gọi là đồ cổ. Trên một cánh cửa có biểu tượng nhà vệ sinh. Anh đẩy cánh cửa còn lại.
Bên trong phòng có hai cái giường hai tầng được kê sát hai đầu tường. Trên mỗi giường đều treo rèm, và hiện giờ rèm được kéo lại.
Yunsuke mở cái rèm của giường bên phải phía dưới. Trên gối để đèn học, sách giáo khoa. Bên trên cái chăn, bộ pijama được gấp gọn gàng.
“Anh ơi!” Giọng nói vang lên sau lưng Yunsuke.
Anh quay đầu lại, Minako đứng ở đó, cô mặc áo sơ-mi trắng, quần jean. Cái mũ cô đội lúc ăn tiệc nướng vẫn ở trên đầu.
“Anh đang làm gì vậy?”
“Còn em, tại sao lại ở đây?”
“Em mới là người đang hỏi anh.”
Yunsuke đóng cánh cửa phòng bọn trẻ lại, rồi quay người về phía vợ.
“Em nghe thầy Tsukumi nói nên biết anh ở đây đúng không? Nếu vậy, chắc thầy ấy cũng nói lý do anh mượn chìa khóa rồi chứ. Vì hôm qua không tới đây được, nên trước khi quay về, anh muốn biết chỗ Shota học ra sao. Lý do chỉ có vậy thôi.”
Minako rụt cằm lại, ngước nhìn chồng. “Không thể nào có chuyện đó.”
“Sao em nói vậy?”
“Vì anh đã có ý định vứt bỏ mẹ con em đúng không? Rồi tính lựa chọn cô ta. Người như anh, sao lại đột nhiên quan tâm đến Shota vào lúc này chứ?”
Yunsuke gãi thái dương, đi đến bên cạnh Minako. Sau khi nhìn xuống tầng một, anh tựa người vào tay vịn cầu thang.
“Sao em lại để tâm đến anh như thế? Bao nhiêu lâu nay em có bao giờ đoái hoài xem anh làm gì đâu. Cái xác của Eriko cũng được xử lý xong xuôi rồi. Vụ án cũng dần được bưng bít. Fujima và đám người kia thì thản nhiên như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra mà kết thúc chuyến đi này. Còn anh chỉ làm những việc anh có thể làm thôi. Và những việc đó không ảnh hưởng đến ai cả. Thế thì em còn cằn nhằn gì nữa hả?”
“Một mình anh đang hành động kỳ quặc còn gì. Như việc anh đến chỗ này.”
“Thì anh đang hỏi em, việc anh đến đây kỳ quặc ở chỗ nào?”
“Em chỉ mong anh hợp tác với mọi người.” Cô nói vậy rồi cúi đầu. “Dẫu em hiểu cảm giác của anh khi không muốn cứu em.”
Yunsuke ngồi bệt xuống sàn. Góc phòng chất đầy sách giáo khoa, sách quảng cáo. Anh với tay lấy quyển sách mỏng trên cùng. Trên tờ bìa in dòng chữ “Tài liệu giới thiệu trường học, trường trung học Shubunkan”.
“Shota đang làm gì vậy?”
“Con đang ở biệt thự đằng kia. Hình như đang làm gì đó bằng gỗ.”
“Chắc làm thủ công. Một mình à?”
“Em nghĩ là có thầy Tsukumi làm cùng.”
“Ừ.” Anh dựa lưng vào tường. “Nhìn mối quan hệ của mấy người bọn em, anh thấy lạ lùng thật đấy. Trong khi các bố mẹ thân thiết nhau một cách lạ thường, như thể có một sự gắn kết bền chặt nào đó thì mấy đứa trẻ lại không như thế. Mãi mới có thời gian tự do để chơi, được tận hưởng không gian ngoài trời, nếu là bình thường, chúng phải reo hò phấn khích mới đúng. Thế mà cả bốn đứa, sau khi ăn xong, đứa nào đứa nấy tách nhau ra chơi một mình. Cứ như thể không quen biết nhau. Việc đó là thế nào nhỉ?”
“Anh muốn nói điều gì?”
“Anh chỉ nói là không bình thường.”
“Trẻ con không phải cứ tụ tập lại là nhất định sẽ vui vẻ chơi cùng nhau. Những đứa trẻ đó đã gặp đủ chuyện khó rồi.”
“Thế ư? Mà thôi, anh cũng không hiểu được đâu. Do anh không có con ruột nên không hiểu nhỉ?”
“Em biết anh không yêu thương gì Shota.”
“Anh quan tâm và nghĩ cho nó theo cách của mình.”
“Và anh đang gọi Shota là ‘nó’ đấy.” Minako thở dài.
Yunsuke sột soạt lật giở từng trang trong quyển sách quảng cáo. “Mối quan hệ giữa Sekitani và Fujima như thế nào?”
“Hả?” Cô ngạc nhiên mở to mắt.
“Hôm qua, lúc ra ngoài về, anh trông thấy Sekitani và vợ của Fujima âu yếm nhau ở ngoài vườn. Anh sửng sốt, mới vòng ra cửa trước để vào trong, lại thấy vợ của Sekitani và Fujima ở trong phòng khách. Sakazaki cũng ở đó. Có nghĩa là họ ngang nhiên làm cái việc đó, dù bạn đời mình ở ngay bên cạnh. Cho nên, việc anh thấy lạ lùng và không hiểu chuyện gì đang diễn ra là bình thường phải không?”
“Chắc họ chỉ đùa giỡn nhau một chút chăng?”
“Em đừng quên anh là một người đàn ông trưởng thành đấy. Anh thừa khả năng phân biệt được họ đang đùa nhau hay âu yếm thật.”
Minako khoanh tay, ngả người vào bức tường đằng sau. Cô cắn môi, nhíu mày. Yunsuke đứng nhìn biểu cảm đó của vợ.
“Em không biết.” Cô đáp bằng giọng điệu cộc cằn. “Em không thể xen vào chuyện của người khác.”
“Kimiko cũng nói rồi đấy, rằng những người đó không bình thường. Giờ anh đã hiểu ý của cô ta.” Thấy Minako nhìn mình, anh cũng nhìn đối lại, rồi nói tiếp. “Cô ta cũng nói là ‘nhưng Minako chắc vẫn ổn’.”
“Em hoàn toàn chẳng hiểu gì cả.”
“Anh nghi ngờ bọn họ không chỉ có chung nỗi lo về chuyện thi cử của con cái, mà còn gắn kết với nhau bằng thể xác.”
Minako chuyển động phập phồng khuôn ngực, cô nuốt nước bọt xem chừng căng thẳng.
“Em chuẩn bị về đây.” Cô bước về phía cầu thang.
“Minako!”
Nghe tiếng Yunsuke gọi, cô dừng bước, nhưng không quay đầu lại.
“Có thật là em giết Eriko không?”
Minako khẽ nghiêng đầu. Quả nhiên cô không nhìn thẳng vào mắt Yunsuke.
“Anh cũng thấy rồi còn gì.”
“Thứ anh thấy chỉ là cái xác của cô ấy.”
“Nếu anh nói vậy thì…”
“Anh đang hỏi em…” Yunsuke hít thở một hơi, rồi nói tiếp. “Có thật là em đã giết Eriko không?”
Minako đặt bàn chân lên bậc cầu thang, nhưng không di chuyển. Sau vài giây như vậy, cô mới xuống được một bậc.
“Anh lại nói điều kỳ quặc rồi. Nếu không phải em, thì ai làm việc đó?”
“Anh không biết. Nên mới đang đắn đo suy nghĩ đây.”
“Em đã giết đấy.” Cuối cùng cô cũng nhìn Yunsuke. “Là em đã giết người phụ nữ anh yêu. Có thể anh không muốn tin, nhưng đó là sự thật. Vì vậy, anh cứ căm hận em bao nhiêu cũng được.”
Khi Yunsuke định mở miệng thì Minako bắt đầu bước xuống cầu thang.
Nghe thấy tiếng cô rời khỏi sảnh rồi, Yunsuke ngồi thụp xuống. Anh đưa tay ôm lấy mặt, luồn bàn tay vào trong mái tóc, vò đầu bứt tai, rồi cuối cùng cũng đứng dậy.
Trên tay anh vẫn cầm quyển sách quảng cáo. Trước khi cất nó về chỗ cũ, anh lật các trang bên trong ra xem. Trong đó đăng bức ảnh chụp cổng trường trung học Shubunkan, rồi ảnh cơ sở vật chất, các trang thiết bị của trường. Còn có ảnh của thầy hiệu trưởng, tiếp đó là ảnh cán bộ nhân viên của trường đứng xếp hàng.
Bàn tay lật trang sách của Yunsuke bỗng khựng lại. Mắt anh dán chặt vào bức ảnh nhân viên của trường.
Anh lần mò túi áo khoác, nhanh chóng lôi ra xấp ảnh lấy từ nhà của Eriko. Rồi anh lại ngồi khoanh chân trên sàn nhà, nhìn thật kĩ từng bức ảnh một.
Anh rút ra tấm ảnh chụp cảnh Tsukumi gặp một người đàn ông và một người phụ nữ ở quán ăn gia đình. Tiếp theo, anh đặt bức ảnh đó lên trên quyển sách, bắt đầu đối chiếu.
 
 
7  
Đến sáu giờ tối, bữa ăn bắt đầu như mọi khi. Thực đơn hôm nay là pizza và salad. Đồ ăn được nhà hàng gần đó giao đến. Có lẽ việc chạy lăng xăng cả ngày đủ làm mấy người phụ nữ mệt nhoài, nên không còn hơi sức đâu mà nấu nướng nữa. Vả lại, sau bữa ăn có màn đốt pháo hoa, nên họ chọn các món đơn giản, cho tiện dọn dẹp.
Bữa ăn diễn ra với những cuộc hội thoại ít ỏi. Người lớn lẫn trẻ con chỉ im lặng đưa pizza lên miệng ăn. Hầu như không có ai bật ra tiếng cười, mấy lời trò chuyện qua lại cũng là nói thì thầm.
“Mọi người sao thế? Sao ai nấy đều ỉu xìu vậy? Hay đến ngày thứ ba rồi nên mọi người mệt?” Giọng Fujima hoạt bát.
Nhưng chẳng có ai hưởng ứng lại lời nói đó. Cuối cùng chỉ có Sekitani tươi cười, rồi nhìn sang xung quanh.
“Ngày mai là về rồi. Hôm nay, hãy tận hưởng buổi tối cuối cùng ở nơi nghỉ mát này đi.”
Vẫn không có ai phản ứng với lời tổng kết đó của Fujima.
Sau bữa tối, mọi người đốt pháo hoa như kế hoạch. Theo quy định ở đây, không được bắn pháo hoa gần tòa nhà, nên mọi người phải đi bộ đến bãi đất trống ở bên cạnh văn phòng quản lý của khu biệt thự.
Sau khi Sakazaki và Fujima bắn vài quả pháo để mở màn, pháo được phát cho bọn trẻ. Lũ trẻ im lặng suốt bữa ăn, đến đây cuối cùng đã nở nụ cười trên môi.
Lúc Yunsuke đang cầm pháo hoa, Shota tiến lại gần.
“Bố ơi, con muốn mượn chìa khóa ô tô của bố.”
“Được rồi, nhưng để con làm gì?”
“Con muốn lấy ít đồ trong xe.”
“Bố hiểu rồi.” Yunsuke lấy chìa khóa trong túi ra, đưa cho Shota.
“Con cảm ơn bố ạ.” Cậu bé nói rồi rời đi.
Đốt hết pháo hoa, mọi người cùng nhau thu dọn, rồi quay lại con đường dẫn về biệt thự. Bố mẹ và con mình làm thành một nhóm, rảo bước đi trên con đường mờ tối. Riêng Yunsuke tách khỏi nhóm, một mình lững thững ở đằng sau. Minako và Shota đang ở tít phía trước.
Về đến biệt thự rồi, như thường lệ, Tsukumi chuẩn bị dẫn bọn trẻ quay về biệt thự cho thuê. Tối nay tới phiên Fujima trực ở đó.
“Nào mọi người, hãy tận hưởng buổi tối cuối cùng đi. Còn tôi sẽ chơi cờ tướng với thầy Tsukumi ở biệt thự bên kia.” Trước sảnh ra vào, Fujima giơ một tay lên chào. Bọn trẻ cũng đã ra ngoài hết.
“Anh chờ chút đã!” Yunsuke bước lên trước một bước.
Fujima vẫn tươi cười nhìn anh. “Có chuyện gì à?”
Những người khác cùng lúc đổ dồn sự chú ý về phía anh. Nhưng ngoài Fujima ra, không có người nào cười cả. Minako nhìn chồng với ánh mắt nghiêm túc.
“Cả anh Fujima và thầy Tsukumi có thể khoan đến đó không? Vì tôi có chuyện quan trọng cần nói ra.”
Nụ cười trên gương mặt Fujima đã biến mất.
“Chuyện đó phải nói ngay bây giờ sao?”
“Vâng, đó là chuyện khẩn cấp.”
“Tôi hiểu rồi.” Fujima quay mặt về phía Tsukumi đang đứng bên cạnh. “Vậy cứ để bọn trẻ về trước nhỉ.”
“Phải rồi. Tôi sẽ đưa chìa khóa cho chúng.”
Tsukumi đi ra ngoài.
“Nói ở chỗ nào thì được?” Fujima hỏi Yunsuke.
“Ở đâu cũng được. Phòng khách hay là phòng của mấy người chúng ta, hay nên nói ở căn phòng có xác của Eriko?”
Fujima cong môi. Vẫn nguyên biểu cảm đó, anh ta chìa cái cằm ra. “Vậy thì ở phòng khách đi.”
Tsukumi đã quay lại. “Tôi bảo bọn trẻ về trước rồi.”
“Anh hãy khóa cái cửa đó vào!” Yunsuke nói. “Vì tôi không muốn đứa trẻ nào nghe được chuyện này.”
Tsukumi toan cử động môi, nhưng cuối cùng không nói năng gì, chỉ lẳng lặng đi khóa cửa lại.
Tất cả người lớn đã tập trung tại phòng khách. Vợ chồng Fujima, vợ chồng Sekitani và Tsukumi ngồi ở bàn lớn, còn vợ chồng Sakazaki ngồi ở bàn quây. Minako đặt một cái ghế ở bên cạnh cửa sổ và ngồi lên đó.
“Vậy thì bắt đầu thôi nào!” Yunsuke vẫn đứng đó, anh nhìn một lượt tất cả mọi người. “Tôi đã nói là có chuyện quan trọng cần nói, nhưng người nói chuyện đó không phải là tôi. Mà là mọi người. Rất mong mọi người sẽ nói ra.”
“Anh đang nói chuyện gì vậy?” Sekitani bật cười.
“Đương nhiên là chuyện vụ án. Xảy ra vào hai ngày trước.”
“Chúng tôi phải nói chuyện gì?” Fujima hỏi.
“Nói sự thật,” Yunsuke nói. “Tôi muốn nghe mọi người kể xem chuyện gì thật sự đã xảy ra vào buổi tối hôm đó. Chừng nào chưa nghe được chuyện đó, tôi không thể xem các vị là đồng minh của mình.”
“Anh thật là…”
“Em im đi cho anh!” Anh nạt vợ, rồi lại nhìn bọn họ lần nữa.
Không có lời nói nào được cất lên. Cũng không có ai nhìn về phía anh.
“Nếu như mọi người nhất quyết không chịu nói…” Yunsuke lấy điện thoại di động trong túi ra. “Tôi sẽ gọi cho cảnh sát ngay bây giờ. Và kể cho họ chuyện tối đó. Với tất cả những điều mà tôi nắm được.”
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.03.2023 15:55:19 bởi Ct.Ly>
Tên Trộm Xác Người - James Bradley PHẦN I
MỘT THỨ NHẸ HƠN KHÔNG KHÍ  
1  
London, 1826-1827
Họ nằm trong những cái bao tời như nằm trong tử cung của mẹ; gối chạm cằm, đầu ép xuống, như thể chết chỉ đơn giản là quay về với nhục thể mà từ đó chúng ta sinh ra, và đây là sự thụ thai lần thứ hai. Một sợi thừng sau gối giữ họ trong tư thế đó, một sợi khác cột đôi tay họ, rồi miệng bao khép lại bên trên họ và được cột ràng lần nữa, toàn thể trông như một gói đồ nén chặt, đã được ngụy trang một cách dễ dàng, vì nếu bị người bên ngoài nhìn thấy, một thứ hàng hóa như thế sẽ thu hút cả một đám đông.
Thế rồi một con dao cắt phăng sợi thừng cột bao, và người này nhấc lên, người nọ kéo, chúng tôi lôi những thứ bên trong bao ra, đặt họ duỗi dài lên mặt bàn, trần truồng và giá lạnh, như một con bê hoặc một em bé chuồi ra khỏi lòng của mẹ, sợi dây và cái bao được giữ lại, vì một lát sau chúng tôi sẽ dùng lại chúng, để thu dọn những mảnh xác bị cắt rời.
Chúng tôi cùng giữ chặt họ, kéo thẳng thi thể họ ra lần nữa. Dù tứ chi của họ không mềm quặt mà cũng không cứng lại, bất chấp sự giá lạnh vẫn còn nấn ná bên trong, tình trạng cứng đờ của họ đã bị phá vỡ bên cạnh nấm mồ khi họ bị bẻ gập lại và cột ràng để nhét vào bao. Lúc này, họ duỗi ra dưới bàn tay nắm giữ của chúng tôi, di chuyển với sự dễ uốn nắn lạ lùng của một thân hình nằm giữa cái chết và tình trạng thối rữa. Đấy là một công việc ghê tởm, thế nhưng sự ghê tởm không nằm ở việc đứng gần người chết mà ở sự thân mật nó đòi hỏi từ chúng tôi, sự cận kề với xác thịt và vật chất của thi thể họ.
Khi họ đã được uốn nắn xong, nằm tái nhợt và trần truồng trên bàn, chúng tôi bắt tay vào việc. Trước hết chúng tôi lật úp họ xuống, để lộ phần lưng và mông lốm đốm tím và xanh giống như những vết bầm do máu đã tụ lại suốt nhiều giờ sau khi chết. Nếu lớp thịt bắt đầu thối rữa, sẽ có những chỗ phồng dộp, mềm, nhũn nước và tái nhợt, có thể vỡ toang nếu bị chạm vào, nhưng khi đó, lớp da cũng ẩm ướt do thứ chất lỏng giống như mồ hôi rỉ ra từ chúng. Đôi khi, những người liệm xác sẽ nút kín những lỗ hậu môn, và nếu thế, những vật đó phải được lấy ra khỏi xác. Sau đó, với giẻ lau, nước và dấm, chúng tôi bắt đầu rửa ráy cho họ, đôi tay cẩn thận di chuyển qua lớp da của họ, mùi dấm lẫn vào những thứ mùi u ám hơn bám vào họ, chúng tôi tiết chế những cử động nhưng không phải không lau chùi một cách nhẹ nhàng.
Khi đã làm xong phần lưng và hai cẳng chân, chúng tôi lật họ trở lại, lau từ bàn chân lên háng, từ háng lên ngực, hai cánh tay và hai bàn tay, cuối cùng tới bộ mặt. Ở đây chúng tôi làm việc cẩn trọng nhất, lau quanh những đầu xương và chỗ nhô lên với những tấm giẻ gấp gọn, quanh đôi gò má, quanh phần trũng quanh mắt. Đôi khi hai mí mắt vẫn còn hé mở, cứng đờ, đôi mắt bên dưới mờ đục và không màu sắc như mắt của những người rất già.
Khi lau rửa xong xuôi, chúng tôi xuống sân lấy nước, xà bông và dao cạo. Nước lạnh, dùng cho thi thể lạnh. Thế rồi, kéo thẳng lớp da chùng, chúng tôi bắt đầu cạo; trước tiên là phần da đầu và mặt, tóc ướt được tách thành từng lọn để lộ ra phần u lên của cái sọ; sau đó là lồng ngực và hai nách; rồi cuối cùng là bộ phận sinh dục, lưỡi dao cạo soàn soạt lướt trên lớp da. Đôi khi chúng tôi cắt phạm vào họ, nhưng chẳng có chút máu nào chảy ra, vết đứt tái nhợt và trống rỗng.
Tôi không thể nói do đâu chúng tôi biết rằng đây là công việc cần phải được tiến hành trong im lặng. Chỉ biết cách thức là thế, phải luôn là thế. Vào những lúc khác chúng tôi di chuyển quanh họ như thể họ không nằm đó, nói cười với nhau trong lúc lôi kéo, cắt và dọn dẹp những mảnh thịt, gạt chúng sang bên một cách ngẫu nhiên giống như gạt sang bên một cuốn sách hay cái áo khoác đang nằm ở nơi ta định ngồi xuống. Nhưng lúc này chúng tôi lặng lẽ làm việc, không nói nhiều hơn mức cần thiết. Như thể việc rửa ráy người chết này chính là một nghi lễ: giống như người ta rửa sạch những thứ nhớt nhau từ lòng mẹ trên thân hình một em bé, chúng tôi chùi sạch mùi âm ty địa ngục khỏi những xác chết bị đánh cắp đó, đưa chúng mới tinh khôi vào thế giới.
Khi công việc đã hoàn tất, mấy cái bao đã được gấp lại gọn gàng, mấy cái xô đã trút sạch nước, những tấm giẻ đã được vắt và phơi, bắt đầu tới việc tính tiền. Thầy chúng tôi kỹ lưỡng nhất trong việc lưu giữ sổ sách tiền nong, và số tiền trả cho Caley và Walker phải được ghi lại: tám đồng tiền vàng cho một xác đàn ông hay phụ nữ đã trưởng thành, hay thứ chúng tôi gọi là một cái lớn; bốn đồng tiền vàng cho một đứa trẻ con, hay một cái nhỏ; một siling mỗi phân Anh cho thứ mà chúng tôi gọi là một bào thai, hay một em bé dài chưa tới một bộ Anh. Và cứ vậy, trong lúc tôi lau sàn, Robert lặng lẽ tính toán trên cuốn sổ cái, ghi lại những khoản thanh toán, kiểm lại số tiền còn tồn trong hộp đựng tiền, gương mặt giấu sau một tấm mặt nạ lặng buồn mà anh luôn khoác lên khi nghĩ rằng mình không bị ai quan sát.
Tối nay có ba cái xác, hai lớn và một nhỏ, và khi chúng tôi đã hoàn tất công việc, bước xuống thang gác ra sân để rửa sạch mấy cái xô và mấy đầu ngón tay, bầu trời bắt đầu hửng sáng trên những mái nhà cao xung quanh. Từ xa, vọng lại tiếng bước chân lộc cộc của một con ngựa trên lớp đá lát đường, nhưng ngoài ra mọi thứ đều im ắng. Bầu không khí lành lạnh, nước từ ống nước trở nên lạnh hơn khi chúng tôi chà xát hai cánh tay, hết lần này sang lần khác.
*** Thầy Poll luồn hai ngón tay vào mồm xác chết, kéo bộ hàm mở ra một lần nữa. Ông liếc mắt quan sát những học viên đang theo dõi.
— Cái chết là một tấm gương - Ông nói - trong đó cuộc sống được phản chiếu lại để khai sáng cho chúng ta.
Bên dưới hai ngón tay của ông, có thể trông thấy cái lưỡi của xác chết, tím bầm như lưỡi của một con bò đặt trên thớt thịt, khối u sẫm màu hơn phồng lên bên dưới. Ông đè lên đó, nghiêng đầu nhìn vào như thể đã nhìn thấy điều gì đó khiến ông chú ý. Sau đó, dường như đã thỏa trí tò mò, ông rút hai ngón tay ra và kéo đôi môi nhếch lên, để lộ ra hai hàm răng, vàng và nâu, chĩa tứ tung trong lớp thịt đã loét của nướu răng.
Nếu cái chết là một tấm gương, tôi nhận ra mình đang tự hỏi, thì cái gì nằm phía sau nó?
Khi đã xong xuôi với cái mồm, ông quay sang Robert.
— Chúng ta sẽ bắt đầu với lồng ngực. Phải xác định được tình trạng của các cơ quan chủ yếu.
Một cơn chấn động chạy dọc suốt cái xác khi con dao mổ chọc vào lớp da. Gần như là một tiếng thở dài, khí tích tụ đầy trong khoang được giải phóng, thoát ra trong một hơi thở nhẹ. Mùi của nó không hôi lắm, đúng hơn, đó là thứ mùi dai dẳng của sân nhà người bán thịt, thứ mùi sền sệt lạ lùng của thịt cắt ra hòa lẫn với sự ngọt ngào ban đầu của tình trạng thối rữa. Tôi không còn bị nghẹt thở vì thứ mùi này nữa, thật sự thứ mùi mà một thi thể có thể tạo ra hiếm khi khiến cho tôi cồn cào gan ruột, nhưng dù không bịt miệng lại, tôi vẫn ý thức được nó, thậm chí sau bấy nhiêu tháng trời.
Lớp da tách ra theo lưỡi dao mổ của thầy Poll khi ông rạch một đường êm ái từ cổ xuống tới háng. Ông cẩn thận cắt rộng thêm ở đầu và cuối vết rạch, rồi, với một cử động đã thực hành nhiều lần, ông luồn mấy ngón tay vào vết rạch và lột lớp da ra, để lộ lớp thịt đỏ bên dưới, những chiếc xương sườn trắng và lớp mỡ vàng vàng.
Đặt hai mảnh da lên cánh tay, ông cầm lấy cái cưa mà Robert đã cầm sẵn. Lấy thế với một bàn tay đè lên vai xác chết, ông áp lưỡi cưa lên những chiếc xương sườn và bắt đầu cưa. Những răng cưa nghiến vào xương với một tiếng kêu ẩm ướt, rin rít, những vụn thịt và xương nhỏ xíu văng vương vãi ra phía trước lưỡi cưa, bắn tung vào tấm tạp dề trên người mỗi chúng tôi. Khi làm xong, ông nhấc xương ức và mấy cái xương sườn ra, để lộ những cơ quan nội tạng nằm bên trong cái khung xương đã bị phá toang: xám, xanh, đen. Ông xòe bàn tay ra sờ vào quả tim, những ngón tay thanh mảnh của ông dừng lại giây lát bên trên lớp cơ xanh xanh.
— Nó không đập - Ông nói. Câu phát biểu có vẻ như hiển nhiên. Nhưng giây lát sau thầy Poll ngẩng lên, đôi mắt xanh long lanh của ông dán vào tôi với một ánh nhìn lạnh lẽo - Tại sao không?
Tôi không đáp.
— Cậu nghĩ đó là một câu hỏi ngốc nghếch có phải không, Swift?
Tôi lắc đầu.
— Không, thưa thầy.
— Vậy có lẽ cậu nghĩ người đặt ra câu hỏi là một tên ngốc?
— Không - Tôi đáp.
— Vậy thì tại sao nó không đập? - Ông lặp lại câu hỏi, và như thường lệ, tôi cảm thấy ông đang mong đợi ở tôi một điều gì đó giản đơn, một điều gì đó vượt quá sự hiểu biết của tôi. Ở mé bên kia bàn, tôi thấy Robert đang quan sát, đôi mắt dán vào tôi.
— Bởi vì anh ta chết rồi - Tôi đột ngột nói, biết rằng câu này nghe có vẻ ngu xuẩn. Thầy Poll nhìn tôi với vẻ thất vọng, rồi hướng sự chú ý của mình vào cái xác trở lại.
— Và em cho rằng một khi nó đập, nó đập là vì anh ta còn sống.
*** Khi công việc với mấy cái xác hoàn tất, chúng tôi nhét những phần còn lại của chúng vào bao, chất chúng trong tầng hầm cho tới khi chúng tôi có thể tống khứ chúng đi. Ngay cả bây giờ, tháng mười một, chúng đang thối rữa trong lúc chờ đợi, các tứ chi và thân mình sưng phù lên và bốc mùi, dù Robert bảo tôi rằng thế này là tốt nhất rồi; vào mùa hè, những cái bao tải có thể nằm đó cho tới khi chúng gần như tan thành nước. Và thế là mỗi thứ năm, trước lúc bình minh, chúng tôi thức dậy và chất những cái bao lên xe ngựa trong ánh sáng nhờ nhờ. Những ngôi nhà đối diện vẫn còn thiếp ngủ, đứng lặng yên trong lúc chúng tôi làm việc, vì dù những người láng giềng biết công việc của chúng tôi, khôn ngoan nhất vẫn là không nhắc cho họ nhớ tới nó nhiều hơn mức cần thiết.
Người đánh xe, một cựu quân nhân, tên là Miller. Ông ta không nói lời nào trong lúc chúng tôi chất mấy cái bao lên xe, chỉ lầm bầm khi công việc đã xong xuôi và chìa tay ra để lấy tiền công. Robert kể với tôi rằng có lần, hai năm trước, thầy Poll muốn anh cùng đi với Miller để xem những thứ còn lại có được thủ tiêu một cách kín đáo và trọn vẹn hay chăng. Họ chọn một ngày cuối xuân, trời đẹp như trong mùa hạ. Robert ngồi trên xe cạnh Miller. Người bạn đồng hành của anh hiếm khi mở miệng, vì thế họ đi trong im lặng, trên cỗ xe dằn xóc. Họ đi dọc theo bờ sông về hướng đông từ sáng sớm đến tận xế trưa cho tới khi đến một cánh đồng thấp, một phía là những hàng cây và phía còn lại là vùng đất phẳng ven sông. Nơi đó rất im lặng, không một tiếng chim, ngoại trừ một bầy ngỗng xám đi thành hàng một, cất tiếng kêu kiu kíu ầm ĩ khi cỗ xe tới gần. Lớp cỏ giữa cánh đồng cháy rụi, mặt đất cằn khô cháy xém và bẩn thỉu. Robert giúp Miller dỡ khỏi xe số củi mà ông ta đã chất bên trên mấy cái bao để ngụy trang khi đi qua các đường phố, và họ cùng dựng một giàn hỏa thiêu. Sau đó, họ lần lượt trút những thứ trong mấy cái bao ra, trải chúng thành một lớp mỏng trên đống củi. Cuối cùng Miller châm lửa, thêm củi và trông chừng đống lửa. Ngọn lửa reo lên và nổ lách tách khi chạm tới lớp mỡ, những mảnh thịt sủi bong bóng và đen xạm lại. Robert bảo có lẽ địa ngục cũng giống vậy, đầy những cẳng chân, cánh tay và những cái đầu nằm lẫn vào nhau, vỡ toang và bốc cháy. Làn khói bốc lên từ giàn hỏa đen bóng như dầu và thật tởm lợm. Robert bảo nó bám vào áo anh cả một lớp dày.
Trời sụp tối trước lúc đống lửa tàn, những hòn than sáng rực trong ánh chiều nhòa nhạt. Và trong bóng tối đang gom tụ, Miller lấy từ cỗ xe một cái đầm rồi bước qua những thứ còn sót lại của giàn hỏa thiêu, đầm những gì còn lại xuống đất, những tia lửa vọt lên thành cụm quanh ông ta như những bầy đom đóm hoặc những vì sao băng trên không gian đêm bát ngát.
 
 
2  
Chúng tôi thức dậy sớm cùng những cô hầu và những chú bé chạy chợ. Dưới cầu thang, bà Gunn đã dậy từ trước đó nửa giờ để chất than vào bếp; đôi khi có thể nghe thấy tiếng động lách cách của cánh cửa mở ra sân hay tiếng bà chuyện trò với người giao sữa, nhưng ngoài ra, phía trên những mái hiên của ngôi nhà vẫn còn thiêm thiếp ngủ. Từ những con phố vọng lên tiếng la hét í ới của những tay chè chén say sưa cuối cùng từ đêm hôm trước, hoặc tiếng động của những chiếc xe cút kít và xe ngựa đầu tiên đang đi lướt qua những ô cửa sổ lặng im, nhưng những âm thanh đó dội lại qua một thế giới vẫn còn lặng thinh bất động, ít ra là trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.
Rùng mình vì lạnh, tôi vội vã rời khỏi cái giường nhỏ hẹp của mình, xỏ chân vào chiếc quần dài và đôi ủng. Tôi gom mớ áo còn lại rồi cẩn thận bước xuống thang để không đánh thức ông Tyne trong căn phòng bên dưới cầu thang. Bà Gunn đang đứng trước bếp khuấy nồi cháo hoặc nói chuyện với Robert trong lúc anh mặc quần áo. Thỉnh thoảng tôi lấy trộm một khoanh bánh mì hay khen ngợi mái tóc của bà Gunn để cho bà đỏ mặt chơi; nếu tôi làm chuyện đó, cả Robert cũng tham gia trêu ghẹo bà cho tới khi bà phát vào người hai chúng tôi và múc cháo đặc ra mấy cái chén.
Chúng tôi có một giờ, hiếm khi hơn. Một giờ trước khi thầy Poll tới và công việc của một ngày bắt đầu. Nhưng tôi đã trở nên yêu mến cái thời gian ngắn ngủi lơ lửng giữa ánh bình minh và lúc khởi đầu của một ngày này. Chỉ có cháo đặc và trà, hoặc đôi khi có bánh mì và sữa, nhưng thế cũng đủ rồi, vì trong lúc đó chúng tôi chuyện trò hoặc cười vui vẻ, và cả hai thứ này đều tới một cách dễ dàng thoải mái. Khó mà nói được chúng tôi bàn luận về chuyện gì - chả có gì quan trọng, tôi chắc thế - công việc trong nhà và những người hàng xóm, những chuyện ngồi lê đôi mách ngoài khu chợ. Đôi khi bà Gunn, người có thói quen gắn bó với những bệnh nhân đã gặp hoặc những người mà bà biết tên qua tiếp xúc với họ, nói về những linh hồn tội nghiệp đó như thể họ là những bạn bè thân thuộc, đưa ra những lời khuyên răn giáo huấn về hạnh phúc của họ, một thói quen thường khiến tôi và Robert cười chảy cả nước mắt. Nhưng chúng tôi không hề nói gì về công việc chiếm trọn ngày đêm của mình, việc mổ xẻ và khảo sát những xác chết, không phải ở đây, không phải lúc này, vì trong thời gian này chúng tôi lại trở thành những gã đàn ông, như bất kỳ gã đàn ông nào khác, và chúng tôi hài lòng về điều đó.
*** Đã ba tháng kể từ hôm tôi tới đây, thực tập nghề cạnh thầy tôi để học hỏi từ ông. Vào cái đêm đầu tiên đó, bầu trời trên đầu đỏ ửng như lửa. Hoặc máu. Robert đón tôi ở sân nhà thờ Bell, nơi những cỗ xe ngựa khạc những hành khách của nó vào thành phố ồn ào náo nhiệt. Tôi nhận ra anh nhờ bộ com lê, cũng đen như bộ com lê của tôi, mới cắt may xong cho cuộc sống trước mặt tôi.
— Anh là cộng sự của ông Poll thầy tôi phải không?’ - Tôi hỏi. Robert cười phá lên và lắc đầu.
— Không, đó là Charles - Anh nói - Tôi chỉ là một học viên, giống như anh.
Quẳng cái túi xách của tôi lên vai, anh dẫn tôi bước vào những con đường thành phố. Kể từ đó tôi ngày càng biết rõ về những con đường lớn và những hẻm hóc của nó, nhưng với tôi đêm hôm ấy, dường như nó là một vùng nước xoáy, một mê cung rối rắm đầy những mảnh sân và những hành lang, những ô cửa sổ chất đống thịt, bánh mì và trang phục phụ nữ, những ngọn đèn khí đốt kêu rít lên trên đầu đám đông đang di động. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một nơi như thế, có quá nhiều gương mặt, nhiều thân hình chen chúc cạnh nhau, và dù chúng tôi trò chuyện trong lúc đang đi, tôi không nhớ được chúng tôi đã nói gì với nhau mà chỉ nhớ cái cách tiếng ồn ào của thành phố khuấy động lòng tôi.
Trời tối trước khi chúng tôi về tới nhà, đêm đen quánh lại. Robert mở cửa và dẫn tôi lên căn phòng sẽ thuộc về tôi. Đặt cái túi xuống sàn, anh quan sát trong lúc tôi bước tới cửa sổ, nhìn ra những mái nhà bên ngoài. Và khi tôi quay sang, anh lại mỉm cười.
— Đi nào - Anh nói - Chúng ta sẽ xem coi bà Gunn có còn thức hay không. Anh đã đi một chặng đường xa và sẽ thấy đói.
*** — Nhưng linh hồn thì sao? - Marshall hỏi, giọng anh ta vang lên chen vào giọng của thầy Poll.
Thầy Poll dừng tay, ngẩng lên khỏi cái xác.
— Xin lỗi, cậu có một câu hỏi phải không?
— Em hỏi rằng linh hồn thì sao ạ - Marshall đáp, lần này không dứt khoát lắm.
Thầy Poll nhìn anh ta chằm chặp, để mặc cho thời gian quý báu của ông trôi qua. Charles đã đặt con dao mổ của mình xuống.
— À, phải, linh hồn - Thầy Poll nói. Với một cái nhìn nghiêng, ông quan sát đám khán giả của mình - Vậy cậu nghĩ là cái linh hồn này sẽ ngự trị ở chỗ nào? Ở đây hả? - Ông hỏi, đưa một ngón tay khỏ lên quả tim đã bị cắt đôi. Rồi ông hướng đôi mắt xanh nhạt vào Marshall.
— Không à? Vậy có lẽ là ở đây? - Ông đề xuất, xúc mớ óc lên khỏi cái dĩa. Từ sau lưng Marshall vang lên tiếng cười khẩy: Hilbert, tôi nghĩ, một anh chàng nóng nảy, nhưng rất khéo tay khi cầm dao mổ. Từ chỗ của mình, thầy Poll đo lường sức nặng của mớ óc trên tay mình, mắt vẫn không rời khỏi Marshall.
— Không ngờ gì rằng có một tuyến nội tiết ở đâu đó, một thứ bạch huyết màu mỡ hoặc thứ gì đó đại loại có trong tâm trí cậu. Nói cho cùng, không phải vào những thời kỳ mông muội hơn người ta đã bảo rằng trong sọ của lũ cóc có ngọc đó hay sao?
Marshall nhìn quanh, đỏ mặt, có lẽ hy vọng nhận được sự ủng hộ nào đó từ các bạn của mình.
— Tôi cầu khẩn cậu, Marshall, nếu cậu biết cái tuyến đó có thể nằm ở đâu, đừng ngại thông báo cho chúng tôi biết với.
Lúc này có tiếng cười lặng lẽ. Marshall nghếch cằm lên đầy thách thức.
— Em không thể nói.
— Không - Thầy Poll nói - Tôi e là cậu không thể.
Cuối cùng, tiếng cười rộ vang lên, không chút kềm chế và đầy vẻ khinh bỉ. Thầy Poll nghiêng đầu đáp lại sự tán thưởng này, rồi biết rằng tốt hơn nên để cho màn kịch này tự diễn tiến, ông giơ một tay lên ra dấu im lặng. Tiếng cười gần như nín bặt ngay, nhường cho một sự lặng im khó chịu. Thầy Poll đặt mớ óc xuống, chùi tay vào tấm tạp dề, rồi giơ một cái lọ nhỏ lên với cung cách của một ông bầu sân khấu.
— Nhìn này - Ông nói - Tôi đang cầm trong tay một ao-xơ mạt sắt - Tiếp đó ông cầm lấy cuốn sổ tay và đặt nó xuống nơi mọi sinh viên đều có thể trông thấy.
— Trút hết mớ này lên một mảnh giấy như thế này thì chúng sẽ trơ ra, sự sắp xếp của chúng quyết định bởi một loạt cơ hội ngẫu nhiên. Vật lý, các cậu ạ, không hơn không kém.
— Nhưng nếu đưa một cục nam châm tới gần, chúng ta có thể quan sát thấy một điều khác hẳn - Ông nói tiếp, rút ra một que kim loại nhỏ từ trong một ngăn kéo của cái tủ cạnh tường và đặt nó lên trên mảnh giấy. Với một chuyển động đột ngột, những vụn mạt sắt trượt đi, tạo thành những đường lực quanh hai cực của nam châm.
— Không nhìn thấy một lực tác động nào, không có sự va chạm giữa các nguyên tử, thế mà những mạt sắt di chuyển. Nhưng vì sao?
— Từ tính! - Một trong số các sinh viên từ phía sau nói to.
— Khả năng chẩn đoán của cậu vẫn xuất sắc như thường lệ, Dawson - Thầy Poll đáp, quay lại với cái xác trên bàn.
— Hãy suy nghĩ, các cậu, người đàn ông nằm trước mặt các cậu đây, trước kia từng… - Ông dừng lời, nhìn xuống thân hình. Dưới ánh sáng của chiếc đèn dầu treo trên đầu, lớp da đã bắt đầu có vệt lốm đốm, như thể những vết bầm đang mờ đi nằm chìm bên dưới lớp da.
— …Có lẽ không thật sự rất gần đây như chúng ta mong muốn, ông ta đã từng sống. Tim ông ta đập, máu lưu thông trong huyết quản, thân thể ông ta bị tàn phá bởi những thèm thuồng xác thịt và cao cả. Thế nhưng giờ đây ông ta một lần nữa giống như đất sét, cử động của quả tim và dòng máu ngưng lại, thân thể ông ta giá lạnh. Cái vỏ xác thịt này bắt đầu hư hoại, chỉ một tuần nữa là nó sẽ bốc mùi, một hoặc hai năm nữa, chỉ còn hai hàm răng và những chiếc xương. Sao lại thế được, các cậu hỏi, cái gì đã đổi thay? Sức mạnh nào trước kia từng ngăn giữ sự hủy hoại không thể tránh khỏi này và giờ đã thất bại, nguồn điện tích tụ nào đã tan biến mất?
— Linh hồn của ông ta? - Hilbert châm biếm, và dù một nụ cười thoáng qua trên gương mặt của thầy tôi, những người khác không hề cất tiếng cười.
— Hãy nhìn chăm chú vào những vụn mạt sắt này, và quan sát hình ảnh mà nó tạo nên. Dù trước đó là trơ, giờ đây chúng có cả năng lượng lẫn hình dáng. Thế nhưng chúng ta không cần viện tới sự dối trá của các vị giáo sĩ để thấu hiểu nguyên nhân của điều này.
Ông dừng lại, nhìn chòng chọc khắp căn phòng im lặng. Không ai nhúc nhích hay cất tiếng; họ là của ông.
— Chúng ta là những người làm khoa học, các cậu ạ, những sinh viên khoa tự nhiên. Mục đích của chúng ta là xé toang bức màn mê tín, chọc thủng chính lớp xơ của cơ thể sống của chúng ta và làm sáng tỏ sức mạnh mang lại sinh khí cho những cái vỏ mà chúng ta gọi là thân thể này. Và chúng ta sẽ tìm ra nó tại đây, trong lớp thịt giá lạnh này. Với những lớp mô này chúng ta sẽ nhận biết hình bóng của nguồn lực điều khiển mạch điện bên trong, khiến cho quả tim ông ta phập phồng và đập. Cứ gọi nó là linh hồn nếu các cậu muốn, nhưng tôi hứa với các cậu rằng nó sẽ chứng minh rằng không có gì là bí ẩn ngoài sức mạnh của nam châm đã lái những mạt sắt này theo ý nó.
*** Khi bài giảng kết thúc, các sinh viên rời khỏi nhà và kéo ra phố. Bên ngoài, buổi xế trưa đã trôi qua trong lúc chúng tôi làm việc, và bầu trời trên đầu đã nhạt đi. Tôi không biết Marshall có quay lại hay chăng: một đồng vàng mỗi buổi học là cái giá khá đắt khi bị coi là đồ ngốc nghếch. Nhưng nếu không, cũng sẽ có những kẻ khác thế chỗ anh ta, vì dù ở London có nhiều giảng sư về khoa phẫu thuật, không ai qua nổi thầy tôi về phẩm chất trí tuệ. Dù công trình lớn sẽ đặt nền móng cho danh tiếng lâu bền của ông vẫn chưa được hoàn thành và ông không còn trẻ nữa, ông vẫn giữ một vai trò không ai thay thế được. Với Charles bên cạnh, ông rất nhanh nhẹn, nhẫn tâm, một kẻ toàn tâm trong nghệ thuật của mình, với một trí thông minh sắc sảo không kém gì lưỡi dao của ông.
Thế nhưng đặt lòng tin vào ông không phải là chuyện dễ dàng. Dù có tài, ông hay mắng nhiếc những ai ngưỡng mộ ông. Con trai của một người chủ cối xay, được gửi tới London để trở thành một viên thư ký, ông đã tìm cách trở thành một nhà phẫu thuật - một kẻ mà muốn được ông ta phục vụ thì phải chi một khoản tiền chỉ thua kém khoản chi cho ngài Astley[1] ở Bệnh viện Guy’s; kẻ từng mổ cho các vị công tước và bá tước. Một con người không tìm cách che giấu nguồn gốc của mình, ngay cả trong giọng nói, mà trái lại còn phô trương chúng như một sự trêu ngươi, kẻ sở hữu một cỗ xe ngựa và một ngôi nhà xinh đẹp trên Quảng trường Cavendith và có một cô con gái sẽ trở thành niềm tự hào cho bất kỳ gã đàn ông nào, nếu như cô nàng chưa bị Charles de Mandeville tán tỉnh.
Chắc chắn là có nhiều người lấy làm sỉ nhục vì những điều như thế, nhưng tôi nghĩ đó không phải là điều duy nhất khiến bọn sinh viên chúng tôi cảm thấy khó chịu với ông. Bởi dù với tư cách là một nhà phẫu thuật và mổ xẻ xác người nên có ít bạn hữu, những thành tựu thật sự của thầy Poll ngày càng lớn lao, sâu sắc hơn. Ông làm việc từ sớm mai tới tận đêm khuya, năng lượng không ngừng nghỉ của ông phủ đầy ngôi nhà, dường như sự hiếu kỳ của ông giống hơn với một nỗi khát khao, một sự thèm khát quái dị không bao giờ thỏa mãn, luôn thăm dò khám phá sâu hơn để tìm kiếm sự thấu hiểu không chỉ về các cấu trúc cơ thể mà ngay cả chính bản chất cuộc sống.
Vì nguyên do này, ông đã mổ xẻ tất cả mọi loài sinh vật - quạ và ngựa, cá và khỉ nhân hình, côn trùng, các loài rắn, thậm chí có lần cả một con hà mã thuộc một đoàn xiếc thú ở Chelsea - để tìm kiếm điều bí ẩn đã ràng buộc cuộc sống của chúng trong cái lồng xác thịt. Tôi cũng từng trông thấy những cuộc thí nghiệm, những điều lạ lùng và kinh khủng: một cái răng nhổ sống từ mồm của một cô gái điếm đã mọc rễ và phát triển trong một cái mào gà trống. Xác một con sa giông được làm cho sống lại trong khoảnh khắc bởi một ứng dụng điện. Một cái tử cung giả, may từ bong bóng ngựa trong đó đựng một một bào thai cừu đầy máu me vẫn còn nhúc nhích bơi, vùng vẫy như thể nó đang chết đuối trong bầu không khí, trước khi trở nên bất động và chết hẳn. Trong công việc ở đây, chúng tôi còn tìm kiếm các thứ kỳ quái và biến dạng, những sinh vật khác thường mà nguyên bản của Tự nhiên trong bản thân chúng đã bị đọc sai, vì thầy tôi nghĩ, trong tấm gương méo mó chưa hoàn chỉnh của chúng, chúng tôi có thể tìm thấy hình ảnh hoàn hảo của mình.
Chúng tôi không chỉ nghiên cứu những xác chết. Tôi từng nhìn thấy Tyne bắt lũ mèo ra khỏi mấy cái bẫy do chính anh ta tự tay làm, và nhiều lần đưa những người đàn ông đàn bà tới đây, được thuê với giá một đồng florin từ những quán rượu ở khu St. Giles để làm mẫu cho một thứ thuốc này khác, và các phản ứng của họ được đo lường và ghi chép lại. Một tuần sau khi tới đây, với một cục thịt, tôi đã dụ một con chó vào nhà để thầy Poll và Charles có thể mổ lồng ngực của nó, và trái tim còn sống của nó cứ giãy lên như một con cá dưới bàn tay thăm dò của chúng tôi.
*** Khi ngọn đèn bên ngoài được thắp lên, số sinh viên còn lại cũng rời nhà đi dọc xuống phố, chắc chắn là tới một quán rượu nào đó, nơi họ sẽ nhậu nhẹt, nói cười và thư giãn. Tôi quay trở lại bàn, nhìn xuống cái xác đã mổ banh ra. Dọn dẹp những cái xác là một công việc rối rắm, và tôi có bổn phận phải bảo đảm rằng trong phòng không còn chút dấu vết gì. Ngoài cái chậu chứa quả tim đã bị cắt đôi để lộ lớp mỡ bên trong, quyển sổ mà thầy Poll đã dùng để chứng minh vẫn còn nằm ngay tại chỗ nó bị bỏ lại khi nãy. Những lời đầy kịch tính của ông đã khiến tôi rối trí. Tôi nghĩ: cái thuyết vô thần của ông thật là đáng sợ; khi gạt bỏ mọi niềm tin không thể đo lường được, khi gạt ra sau lưng những cấu trúc của cái mà thế giới gọi là đạo đức. Tôi cầm thỏi nam châm lên và đo sức nặng của nó trong lòng bàn tay. Ngọn đèn trên đầu kêu rì rì lặng lẽ, một thứ âm thanh đều đều gần giống tiếng mưa rơi. Trên mảnh giấy, những vụn mạt sắt vẫn còn ghi dấu hình bóng sự hiện diện của thỏi nam châm; tôi thò tay quẹt qua mảnh giấy. Những mạt sắt kêu lách tách, một âm thanh giống như những chiếc lá khô, những đường sóng bị phá vỡ khi bàn tay lướt qua, những vòng xoắn thanh tú đã bị xóa đi. Không có thỏi nam châm, những vụn mạt sắt không di chuyển để tái tạo lại mô hình mà nằm trơ ra không phản ứng trên mảnh giấy. Chúng là những thứ mong manh, cuộc sống của chúng ta; có được một cách rẻ rúng, mất đi một cách rẻ rúng, chỉ đơn giản sáng chập chờn giữa bóng tối muôn năm, những hình bóng ngắn ngủi trên một bức tường. Cuộc sống này không còn nữa hơi thở vật chất, một thứ ánh sáng phủ đầy các gian phòng của thân thể chúng ta, và đã mất đi.
 
 
3  
Tôi vẫn còn thức khi trời đã khá khuya trong cái đêm đầu tiên đó, sức nóng mùa hè thoạt tiên nhường chỗ cho tiếng sấm, rồi cơn mưa. Tôi cảm thấy từ phía trên cao trong phòng mình màn đêm đang di động, cơ thể tôi thao thức bồn chồn trong bóng tối. Ở phía ngoài, những cái đồng hồ gõ mười hai tiếng, rồi một tiếng.
Rồi đột nhiên tôi bừng thức giấc. Trên đầu là một cái mạng nhện đong đưa ló thụt khi nó di động theo cơn gió; mưa vẫn còn gõ nhịp trên mái nhà.
Tôi đã nằm mơ, dù tôi không biết là mơ thấy điều gì.
Thoạt đầu tôi không nhúc nhích, không chắc cái gì đã đánh thức tôi. Rồi có tiếng gõ cửa, tôi nhận biết ngay lập tức tiếng gõ thứ hai, lớn hơn và dứt khoát hơn. Tôi sờ soạng tìm đôi ủng trong bóng tối, rồi dò dẫm đi về phía cánh cửa.
Sảnh đường bên ngoài vắng lặng, chuyển động của tôi nghe mồn một trong bầu không gian xa lạ. Quanh tôi mọi vật đều lặng im bất động. Tiếng gõ lại vang lên khi tôi xuống cầu thang, khiến tôi giật nảy người.
Kéo tấm lưới sắt sang bên, tôi nhìn ra ngoài. Một gương mặt xuất hiện, áp sát tới mức tôi có thể ngửi thấy mùi rượu gin ngòn ngọt trong hơi thở của hắn ta.
— Cậu có một đêm nghỉ ngơi thật là tuyệt - Một giọng nói cất lên, với chất giọng Ái Nhĩ Lan trầm. Tôi lùi lại theo bản năng.
— Anh là ai - Tôi hỏi, giữ cho giọng mình trầm xuống. Rồi trong khoảnh khắc tôi cảm thấy hắn đang quan sát tôi. Khi cất tiếng trở lại, giọng hắn rắn rỏi hơn.
— Đừng ngốc thế - Hắn nói - Cứ mở cửa ra.
— Không, nếu ông không xưng tên - Tôi khăng khăng.
— Báo là Tyne, hoặc thực tập sinh, họ sẽ biết.
Tôi ngần ngừ, nhưng lúc đó tôi nghe thấy tiếng chân sau lưng và khi quay sang, tôi thấy Robert đứng đó, tay cầm một cây đèn dầu.
— Không, Gabriel - Anh nói - Cứ làm theo lời anh ta.
Chủ nhân của giọng nói nhỏ thó và nhẹ cân; sau lưng hắn là một cỗ xe ngựa. Hình dáng của nó nổi lên trong màn mưa, một bóng người khác đang ôm đầu con ngựa sát vào ngực mình. Thế rồi Tyne tới sát cạnh tôi, giọng nói sắc nhọn nhói vào tai tôi.
— Tới giúp họ đi; đã có khá đủ tiếng ồn ào rồi.
Tôi né ra khỏi hắn, bước vào màn mưa. Trên lối đi, Tyne quan sát, cặp mắt lướt dọc hết chiều dài con phố đang thiếp ngủ. Thấy tôi nhìn lại, hắn mỉm cười, có vẻ khoái trá vì sự bực dọc của tôi.
Mưa rơi như trút nước, những sợi mưa lạnh giá đập vào mặt và má chúng tôi. Trong cỗ xe, gã người Ái Nhĩ Lan đang nhấc vật gì đó có hình dáng một bó to ra khỏi đống rơm, lẳng nó về phía tôi, thế rồi nó yên vị trên vai tôi, nặng hơn là tôi mong đợi, những sợi dây buộc ẩm ướt và dày, sặc sụa mùi đất. Tôi loạng choạng, cảm thấy sức nặng bên trong bắt đầu chuyển động, một chuyển động chùng đi, như thể nó là đất, hoặc những hòn đá, nước lạnh chảy ròng ròng xuống từ trong bao xuống cổ tôi. Và như thể tôi hiểu tôi đang vác vật gì, cú sốc khiến tôi trượt chân trên lớp đá sỏi nhờn dầu. Nhưng khi đó Tyne đã bước tới đỡ tôi.
— Lạy Chúa Jesus lòng lành, cậu bé - Hắn rít lên, nắm chặt cánh tay tôi và kéo tôi đứng thẳng lên - Cậu sẽ sừng sộ với chúng tôi nữa chứ?
*** Tên của họ là Caley và Walker. Trong bóng tối, người ta có thể tưởng lầm Caley là một cậu bé mười lăm tuổi, hắn rất nhỏ thó. Nhưng dưới ánh đèn trong tầng hầm, rõ ràng hắn cũng trạc tuổi của tôi hoặc Robert, sự nhỏ thó của hắn không phải do tuổi trẻ mà do nghèo khổ - dù hắn có đôi môi xinh xắn và một gương mặt rất dễ nhìn, ở hắn có một cái gì đó trẻ con, non nớt và tàn ác, một sự lấc cấc trong cách di chuyển khiến tôi thấy khó chịu khi ở gần hắn.
Khi họ đã đi, chúng tôi lôi những thân hình mà họ mang đến ra khỏi bao, bắt đầu lau rửa. Trong lúc làm việc, tôi nghĩ lẽ ra việc này sẽ khiến tôi bỏ cuộc, nhưng không.Tôi cũng không e sợ. Ngược lại, tôi quan sát đôi tay của mình di chuyển trên làn da của họ như thể chúng không phải là của chính tôi, như thể tôi đã lìa khỏi bản thân, tách ra khỏi cơ thể của mình.
*** Đêm đó tôi không ngủ lại được, hình ảnh của những gương mặt và thân thể đó tự động hiện lên trong tâm trí. Trên những ngón tay tôi, mùi dấm vẫn còn phảng phất, và tôi có thể cảm thấy trên đôi cánh tay và cổ của mình ký ức về sự va chạm với những thân hình. Tôi ngồi dậy cùng với tia sáng đầu tiên, lê người khỏi giường, đi xuống sân. Ở đó, tôi mở vòi bồn nước, quan sát dòng nước chảy vọt xuống những phiến đá. Tôi chậm rãi xăn tay áo lên, thoa xà bông, nhưng rồi vẫn thấy vướng víu nên rốt cuộc tôi cởi phăng cái áo ra rồi nghiêng người tới trước, để dòng nước chảy tràn qua mái tóc xuống lưng, biết rằng dù có làm như thế tôi cũng không thể tẩy sạch được sự hiện diện của họ trên da thịt mình.
*** Cha tôi mất khi tôi mười hai tuổi. Chúng tôi tìm thấy ông cách nhà nửa dặm, nằm co quắp dưới một hốc tường thấp. Gương mặt ông hướng về phía những phiến đá tối tăm, quay lưng khỏi thế gian, tuyết phủ đầy nửa phần thân thể của ông. Bầu trời trên đầu mong manh như một quả trứng.
Chính Tobias, hàng xóm của chúng tôi, là người đầu tiên nhận ra ông đã ra đi. Tháng giêng, năm mới hầu như đã bắt đầu. Từ chỗ đang ngồi bên trong cửa sổ nhà bếp, tôi thấy Tobias đi tới. Khi trèo lên thang, ông nhìn chằm chặp về phía trước, giữ cho đầu mình thật cứng và thẳng; chỉ xoay chuyển lần cuối khi có vẻ như ông ngẩng lên, đôi mắt lướt qua mảnh sân đổ nát, chiếc xe độc mã vỡ toang và những đồ đạc bỏ đi.
Tôi đã mở sẵn cửa trước khi ông gõ cửa, và ông nhìn xéo qua tôi vào gian phòng trống.
— Ông ấy đã đi bao lâu rồi? - Ông hỏi. Tôi cắn môi. Vì trong chừng mực tôi còn nhớ, tôi đã bị cấm không được nói cho bất kỳ người khách nào có thể sẽ tới chỗ ba tôi để quấy rầy ông.
— Ba ngày - Cuối cùng tôi đáp. Tobias gật đầu, nhìn lướt tôi, không còn ngờ gì đang tự hỏi ông có nên mang theo một đứa bé đói gần chết đi bộ suốt cả giờ vào thị trấn hay không.
— Con chó của ông ấy hả?
Như thể biết rằng chúng tôi đang nói về nó, nó áp mũi vào bàn tay tôi.
— Mang nó theo - Ông nói.
Dù trận bão tuyết đã qua, để lại một bầu trời trống rỗng và quang đãng, không khí bên ngoài thật lạnh lẽo, hơi thở của chúng tôi tỏa lên thành từng cụm. Tobias không nói năng gì khi chúng tôi đi ra lộ lớn, vì thế tôi hầu như ý thức được sự im lặng đang vây bủa chúng tôi, những tiếng kêu cô lẻ của lũ quạ vọng lại từ dãy đồi trống vắng.
Khi chúng tôi tới khúc quanh của con đường, nơi có thể nhìn thấy thị trấn, con chó ngóc đầu lên, dỏng cao hai tai và vẫy đuôi, như nó vẫn thường làm mỗi lần ba tôi về tới nhà. Tobias liếc nhìn nó, có lẽ đang nghĩ tới việc bảo tôi ôm nó lại, nhưng nó quá lanh lẹ. Nó phóng về trước chừng một trăm mét, cuối cùng dừng lại trước một đống tuyết thấp cạnh bức tường. Nó ngần ngừ vài giây, cất tiếng kêu ư ử, ai oán và bối rối, rồi nó ngẩng đầu lên và sủa hai tiếng. Tobias đặt tay lên vai tôi.
— Đợi ở đây - Ông nói, và vẫn không thay đổi nhịp bước, ông tiếp tục đi tới chỗ con chó đang đứng cào chân lên mặt tuyết. Tôi quan sát khi ông dừng lại và quỳ xuống. Từ chóp của đống tuyết có thể nhìn thấy một hình dáng sẫm màu; Tobias đưa một tay ra chạm vào nó, rồi ông đứng lên và quay sang tôi.
Trên thân hình của ba tôi không có một dấu hiệu nào của bạo lực. Thật ra gương mặt của ông, xanh xao và bị băng tuyết viền quanh, hầu như có vẻ an bình. Có thể ông đột nhiên bị một cơn đau tim hay đau đầu tấn công, nhưng có khả năng nhiều nhất là ông đã thấm mệt và rối trí trong màn tuyết đang rơi, chếnh choáng vì rượu và cái lạnh nên đã quyết định nghỉ chân một lát. Ngoại trừ chỗ con chó đang cào bới và đánh hơi trên lớp da thịt lạnh cóng của ông như thể nó có thể sưởi ấm và mang ông quay lại cuộc sống, lớp tuyết vẫn còn nguyên vẹn, chỉ bị phá vỡ bởi một đường dài những vết chân chim, băng ngang con đường cho tới chỗ ông, rồi ngoặt sang một phía và kết thúc, con chim lại một lần nữa cất cánh, biến vào bầu trời và không khí.
*** Tôi nhớ về ba tôi như là một sức mạnh bồn chồn, không thể lường trước, một người đàn ông sở hữu một vẻ quyến rũ bất cẩn và một nhiệt tâm to lớn cũng như những cơn giận dữ bất lực và những thoáng nản lòng. Ông chưa bao giờ hung bạo đối với tôi, cũng chưa bao giờ cố tình làm tổn thương tôi, chỉ đơn giản là ông đã sống phụ thuộc quá nhiều vào bản tính của mình. Thật sự, với ông hình như tôi rất hiếm khi tồn tại, thế rồi, như thể sực nhớ tới tôi, ông tìm cách áp đặt lên tôi một sự thân mật mà chúng tôi không chia sẻ cho nhau. Giá như ông sống thêm vài năm nữa, hẳn tôi có thể nhìn thấy ở ông điều mà giờ đây tôi đoán về ông: một con người ưa thích cờ bạc và chè chén say sưa, khốn khổ ở một nơi thẳm sâu nào đó của tâm hồn, do một tổn hại đã xảy đến với ông từ lâu trước đó hoặc do khuynh hướng tự nhiên, và sở hữu tính khí của một tay cờ bạc, với những dao động điên rồ và khả năng tự lừa dối bản thân. Thế nhưng với tôi ông chỉ đơn giản là ba tôi, một con người mà tôi ao ước được gần gũi nhưng đã hiểu được qua kinh nghiệm là không thể tin cậy được.
Ngay cả ở khoảng cách xa này tôi vẫn có thể nhìn thấy một điều gì đó ở ba tôi khi ông còn trẻ. Đẹp trai, quyến rũ, tràn trề năng lượng điên rồ và một ý thức về khả năng của chính mình. Ông nội tôi làm quản lý cho một trang trại, thế nhưng chính ông trại chủ mới là người đã chú ý tới ba tôi và nhìn thấy ở ông một tương lai, rằng đôi mắt tròn của ông hiền dịu thế nên ông có thể tìm được một chỗ đứng trong thế giới này. Ông có một thân hình đẹp, tôi chắc thế, vì ông ngồi trên lưng ngựa như một kỵ sĩ bẩm sinh, và ngay cả lúc gần qua đời, khi ánh nhìn đã mờ đục và áo quần rách rưới, ông vẫn có thể quyến rũ một nàng hầu hay một phu nhân đi ngang qua với một cử chỉ hào hoa nào đó.
Tâm hồn thấm đẫm rượu gin và niềm tiếc nuối, đôi khi ông nói về những năm tháng đầu đời ấy, không phải với sự cay đắng mà tôi mong đợi, mà với một tình cảm hầu như yêu mến. Bị từ bỏ khi ông chạy trốn cùng với con gái của vị ân nhân, rồi bỏ lại một góa phụ cùng một đứa bé chỉ vừa tròn sáu tháng, chẳng bao lâu ông đã tìm thấy những cung cách và sự quyến rũ đã giúp ông duy trì cuộc sống túng quẫn dưới gánh nặng của tính ham mê cờ bạc, và thế là cú trượt dốc dài, chậm chạp trong cuộc sống chung của chúng tôi đã bắt đầu. Từ London tới Bath, từ Bath tới Liverpool, từ Liverpoll tới York và cuối cùng tới con đường nơi ông bỏ mạng, trên dãy đồi cao bên trên thành phố, chỉ cách thị trấn nơi ông chào đời vài dặm.
*** Tôi cùng con chó ngồi chờ bên cạnh xác ba tôi trong lúc Tobias đi thêm khoảng một dặm vào thị trấn. Ngày thật yên tĩnh, và khắp chung quanh tuyết lấp lánh trong ánh nắng. Tôi nhớ đã nhìn xuống xác ông, nhìn sự hiện diện vô tri vô giác của thi thể lặng câm. Không còn ngờ gì nữa, nó đến như một cú sốc, nhưng tôi không nhớ là đã cảm thấy ngạc nhiên hay ngay cả đau khổ, chỉ là một dạng trì trệ nào đó, như thể phát hiện này bằng cách nào đó đã luôn luôn chờ tôi ở đây, vào khoảnh khắc này. Đây là cách thức của trần gian, tôi nhớ đã nghĩ thế, một nơi của sự vắng mặt và những cuộc ra đi.
Vào hôm tang lễ, Tobias cùng tôi đi bộ vào thị trấn. Ông là một người theo Hội Giám lý, như nhiều người khác ở mấy vùng này, thế nên ông sẽ không tới chỗ huyệt mộ với tôi, nhưng ông đứng khá gần, đủ để cho tôi nhìn thấy, hai tay ông đặt chéo trước ngực, cầm chiếc mũ. Tôi chắc rằng ba tôi sẽ thích được nhớ tới như là một con người được nhiều người yêu mến, thế nhưng chuyến đi của ông ngày hôm đó được ghi dấu lại do chính con trai của ông, vị linh mục và hai người đàn ông chẳng bao giờ nhìn thấy lại số tiền mà họ đã cho ông mượn.
Khi cuộc lễ kết thúc, vị linh mục kéo tôi sang một bên. Ông là một người nhỏ thó, đang trở nên béo phì, và dù tôi không biết ông, tôi đã nghe từ lũ nhóc trong thị trấn rằng ông có một đứa con trai đã chết vì bệnh sốt vào mùa hè năm ngoái, một đứa trẻ ốm yếu chưa bao giờ khỏe khoắn.
— Tobias bảo cậu biết đọc - Ông nói.
Tôi không đáp, chỉ đứng yên.
— Tôi cần có một chàng trai trẻ trong lớp học - Ông nói - Để giúp tôi dạy học.
Thỉnh thoảng tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy đến với tôi nếu hôm đó ông chẳng nói gì. Có lẽ là viện cô nhi, có lẽ là một nông trại nào đó nếu như tôi may mắn. Nhưng không, tôi cùng ăn với ông trong ngôi nhà linh mục, và theo học trong ngôi trường mà ông làm chủ. Nhưng dù ông đối đãi với tôi như với con ruột của mình, tôi không thấy yêu mến ông, chỉ một trạng thái hững hờ, như thể một phần cốt lõi nào đó trong tôi đã chết đi vào hôm đó.
 
 
4  
Khi đi ngang qua quán trọ Barnard tôi nghe thấy một tiếng hét, ai đó đang gọi to tên tôi giữa phố phường huyên náo. Tôi giật mình dừng lại, và tiếng gọi lại cất lên, từ một cỗ xe ngựa ở mé bên kia đường. Cánh cửa sổ mở ra, bên trong là Charles.
— Anh thấy có muộn lắm không nếu đi chơi quanh một chuyến? - Anh gọi.
— Tôi vừa tới nhà của một người bạn của người giám hộ tôi - Tôi đáp lại, nhưng anh nhe răng cười và ngắt lời tôi.
— Nói giỡn chơi hả, Gabriel. Bạn của anh sống ở đâu?
— Camden - Tôi lại cất tiếng, nhưng rồi bị ngắt lời bởi một tiếng la từ trong xe.
— Chán chết!
Tôi ngần ngừ, nhưng Charles không hề thoái chí.
— Thế giờ anh định đi đâu?
— Về nhà - Tôi đáp, rồi chỉnh lại - Quay lại ngôi nhà đó.
Bên trong cỗ xe phát ra một tiếng rên, như thể kẻ phát ra tiếng rên đó không còn kềm nén được nữa. Charles ngần ngừ, liếc ra sau vai, rồi lại quay về phía tôi với một vẻ mặt mà tôi không hoàn toàn thấu hiểu.
— Cùng đi với chúng tôi nhé - Anh nói.
Tôi lắc đầu.
— Tôi không nghĩ là… - Tôi nói, nhưng Charles ra hiệu cho tôi ngưng lại.
— Sao không chứ? Công việc tuần này của anh đã xong rồi - Anh mở cửa xe cho tôi trèo lên - Đừng sợ, chúng tôi sẽ đưa anh về nhà lại.
Chiếc xe đã đầy người. Charles và ba người khác mà tôi không quen biết ngồi mỗi phía hai người, vì thế khi tôi len vào họ phải nhích ra và co người lại để dành chỗ cho tôi. Người đánh xe phàn nàn rằng năm người là quá nhiều đối với con ngựa của y, nhưng câu này chỉ khơi mào cho một lời chế nhạo từ người ngồi đối diện với tôi. Khi tay đánh xe cứ khăng khăng, hắn đứng phắt lên và hét lên một câu đe dọa, thế là mọi chuyện kết thúc và tay đánh xe vừa chửi thề vừa quất roi. Anh chàng kia ngồi lại xuống ghế và nhìn tôi khinh miệt.
— Đây là cung cách gà mờ gì vậy? - Hắn hỏi Charles, nét mặt khinh khỉnh. Dù không cao, hắn có một thân hình lực lưỡng và cũng khá đẹp trai, theo một cung cách thô lỗ, nếu sống mũi của hắn không bị gãy, như thể đã được lắp vào bởi một tay không chuyên nghiệp.
— Gabriel Swift - Tôi lên tiếng, chìa bàn tay ra. Tôi xấu hổ khi hắn không làm điều tương tự mà chỉ nhìn xuống tay tôi với vẻ không tin tưởng. Sự sỉ nhục này dường như đã khơi gợi sự khoái trá cho những người bạn đồng hành của hắn, và ngay lập tức tôi nhận ra họ đã say.
— Tên của cậu ta là Chifley - Charles cắt ngang - Và cậu ta là một tên vô lại xấc láo khi không bắt tay anh.
Nghe thấy thế Chifley cười rống lên:
— Nếu lúc nãy tớ không bắt tay cậu, de Mandeville, hẳn cậu đã không trả tiền rượu cho tớ phải không?
Charles mỉm cười, đôi mắt nheo lại.
— Đây là Carwell - Anh nói, chỉ vào tay ngồi bên trái Chifley. Dù gã này có thể lớn tuổi hơn Charles hay Chifley chút ít, mái tóc nâu nhạt của hắn đã trở nên thưa thớt. Không còn ngờ gì nữa, để cố gắng bù đắp cho khuyết điểm này, hắn đã để một kiểu tóc khiến tóc ở mọi phía mọc dài hơn và chảy quét ngang qua đỉnh đầu. Cả nét mặt của hắn cũng là nét mặt của một người già giặn, yếu ớt và phúng phính, nhưng khá nhân hậu. Không như Chifley, hắn chìa một bàn tay ra, và tôi bắt tay hắn.
Cuối cùng Charles quay sang nhân vật ngồi cạnh tôi, từ nãy giờ vẫn im lặng.
— Còn đây là May.
May chìa tay ra bắt tay tôi, nắm chặt và lắc khá mạnh. Nét mặt hắn hốc hác, và mang một vẻ xanh xao kỳ lạ, nhưng hắn mỉm cười khá dễ thương.
— Lúc nãy anh bảo anh đã ở đâu? - Charles hỏi. Mới nãy tôi cho rằng anh đã say, giống như Chifley và Caswell, nhưng giờ đây hình như anh vẫn là con người tỉnh táo như thường lệ.
— Nhà của một người bạn của người giám hộ tôi - Tôi đáp - Ông Wickham, ông ta sống tại một giáo xứ ở Camden.
— Cậu có thường tới đó không?
— Tôi đã làm khách của ông ta ba lần - Nghĩ tới những buổi tối vô vị tôi đã trải qua ở đó, ngồi lắng nghe giọng nói ồ ề của ông Wickham và giọng líu lo đơn điệu của Georgiana con gái ông ta, tôi ngần ngừ - Họ rất tốt với tôi.
Charles mỉm cười dịu dàng:
— Nghe có vẻ như đó là một cách thức tiêu pha buổi tối khá buồn tẻ của một thanh niên.
Đây là một thiên tài của Charles, tôi biết, khiến những ai trò chuyện với anh đều cảm thấy như anh hiểu được ý nghĩa thật sự của những lời họ nói.
— Tôi có khá ít chọn lựa - Tôi nói, mỉm cười - Bạn hữu của tôi ở London không nhiều lắm.
— Còn Robert thì sao?
— Tối nay anh ta về với gia đình mình.
Có lẽ thấy chán với cuộc trò chuyện của chúng tôi, Chifley bắt đầu hát nghêu ngao. Và hầu như ngay lập tức Carwell và May nối giọng với hắn. Charles nhìn họ, rồi quay sang tôi.
— Chúng ta đang đi đâu vậy? - Tôi hỏi.
Charles ngả lưng ra phía sau, môi nhếch lên tạo một nụ cười bí ẩn.
— Việc đó có gì quan trọng không?
*** Trong lúc cỗ xe nghiến bánh trên những phiến đá tôi nhìn sang phía Charles. Ba tháng qua tôi đã làm việc bên cạnh anh, thế nhưng dù anh vẫn tỏ ra vui tính và nồng nhiệt, tôi cảm thấy tôi khó mà hiểu được con người của anh. Là con trai của một linh mục, đầu tiên anh được ngài Astley đào tạo và sau đó là ở Lục địa, tạo được thanh danh nhờ bàn tay khéo léo và sự lanh lẹ trong công việc. Robert bảo thầy Poll từng tin rằng không ai có thể sánh với ông về những kỹ năng nghiệp vụ cho tới khi ông gặp Charles. Sau đó chính thầy Poll là người đã đệ đạt để Charles được thu nhận vào trường Đại học Phẫu thuật.
Kể từ đó danh tiếng của Charles vượt lên ngang hàng với những kẻ gấp đôi tuổi anh, và có nhiều người danh giá, quan trọng muốn được anh phục vụ. Thế nhưng một người xa lạ có thể thắc mắc về mối liên hệ gần gũi giữa thầy Poll và Charles, hai kẻ rất khác biệt nhau về tính cách. Trong khi thầy Poll luôn tỏ ra cách biệt, Charles có một vẻ dễ chịu mang lại sự thoải mái cho tất cả những ai gặp gỡ anh. Charles trò chuyện với những người mà anh tiếp đãi không chỉ như những kẻ ngang hàng mà còn như những người bạn, tỏ ra thoải mái tự nhiên trong phòng của những kẻ nghèo hèn không khác gì trong các căn phòng lộng lẫy của những tay quyền thế.
*** Cỗ xe chở chúng tôi tới một quán rượu trần thấp ngay ở cuối phố Strand. Bên trong quán đông nghịt những nam nữ đang ngồi sát rạt cạnh nhau hay luồn lách giữa những cái bàn. Chỗ nào cũng ồn ào tiếng nói cười vui vẻ. Charles và Chifley dẫn chúng tôi tới một cái bàn cạnh lò sưởi và gọi món thịt bê trong lúc cho gọi chủ quán. Tôi nghe lời gọi món mà trong bụng bồn chồn: những tháng đầu tiên ở London của tôi là những tháng tiêu pha tốn kém, và đã ngốn đi hầu hết số tiền mà người giám hộ cung cấp cho tôi. Dù tôi đã viết thư cho ông ta để xin ứng thêm một số tiền cho nửa năm kế tiếp, tôi lo rằng tôi sẽ không đủ tiền thanh toán, và còn e rằng tôi sẽ phải chấp nhận chuyện này. Tuy nhiên Charles đã nhìn thấy sự lúng túng của tôi, gửi tới tôi một cái nhìn bí mật và bảo tôi đừng lo chi hết, tôi phải ăn mừng vui vẻ như họ đêm nay. Bối rối, tôi hỏi đây là dịp gì, điều này gợi ra nhiều thích thú, nhưng trước khi tôi hiểu được tận cùng sự việc, rượu vang đã được đưa tới, và những cái cốc được rót đầy. Thế rồi chúng tôi nâng cốc.
Trong cuộc rượu, tôi cố đoán xem tôi có thể làm gì với những người bạn đồng hành. Chifley buôn bán ngựa, tôi vừa biết thế, dù có vẻ như hắn xem công việc làm ăn của mình chỉ là một cái cớ để nhạo báng những ai sử dụng dịch vụ của hắn. Trái lại, Caswell, dù khá tử tế, có vẻ như chả có nghề ngỗng nào. Còn May thì tự nhận là một họa sĩ, dù khó mà hình dung cái cảnh hắn ngồi trước tấm toan, vì hắn nói hầu như không ngừng nghỉ, tự phá vỡ và xen ngang chính mình trong lúc nói, như thể đang nói ro ro với một năng lượng điên rồ. Tác dụng của điều này gần như mang lại thiện cảm, vì hắn hoàn toàn không có ác ý, và cứ cười rộ liền miệng, nhưng có một nét dễ tổn thương bất ổn nào đó trong vẻ vô tội của hắn. Hắn khỏ mấy ngón tay lên bàn theo một điệu trống dồn dập, và dù tôi không thấy bực mình, thói quen này khiến Chifley nổi nóng. Hắn đã nhiều lần yêu cầu May ngừng khỏ, nhưng mỗi lần như thế May lại bắt đầu khỏ tiếp, cho tới khi cuối cùng hắn cáo lỗi và chuồn vào căn phòng mà Chifley cứ khăng khăng đặt tên là phòng vệ sinh.
Món thịt bê rất ngon, và dù tôi đã ăn tối trước đó, tôi vẫn ăn thêm một cách thèm thuồng. Chifley lẳng một xâu bánh mì về phía tôi.
— Cậu để cho chú chim sẻ này đói gần chết hả? - Hắn hỏi Charles. Anh nhìn tôi với một nụ cười giễu cợt.
— Chúng tôi có để cho cậu đói gần chết không, Gabriel? - Anh hỏi.
Tôi lắc đầu, bảo không, dù điều này không hoàn toàn đúng. Theo quy tắc của thầy Poll, Robert và tôi hầu như chỉ ăn lòng bò và cháo, thầy chúng tôi cho rằng ăn nhiều thịt quá là nguồn cội của tâm trạng sầu tư. Charles nhìn tôi một lúc, rồi anh rót thêm rượu vang vào cốc của tôi và giục tôi nâng cốc.
*** Tôi không chắc tôi nhận ra rằng mình đã say vào lúc nào. Caswell đang hát một bài nào đó về một gã chăn cừu và một cô nàng vắt sữa, tôi khó mà theo dõi được những tình tiết của bài hát, dù tôi thấy nó khá vui tai. Trên đỉnh đầu của hắn, phần còn lại của mái tóc màu nâu cát dựng lên thành một búi, và lớp da đầu bên dưới của hắn bóng loáng một sắc hồng. Nhưng hắn hát với một giọng nam cao rất khá, hai mắt khép lại như thể hắn đã lạc vào chính giọng hát của mình, giọng hát hay không thích hợp chút nào với một gã đàn ông ngốc nghếch, có vẻ mặt âu lo như thế. Trên đùi Charles có một người phụ nữ; vì thế thỉnh thoảng họ trò chuyện gì đó với nhau, anh thì thầm vào tai cô gái và cô nàng cười rúc rích, rồi thì thầm đáp lại. Tôi không chắc May đã chuồn đi đâu, nhưng Chifley đang đấm tay lên bàn, giục Caswell hát lại. Một người bồi bàn rót rượu vào cốc của tôi, và tôi cũng tham gia vào cuộc hò hét do Chifley khởi xướng để yêu cầu Caswell hát lại, dậm chân lên những phiến đá lát sàn và đấm lên bàn. Sau đó chúng tôi ra đứng trên đường và ai đó đang hát, giờ không phải Caswell mà là Chifley, tôi nghĩ; một gương mặt áp vào cửa sổ cỗ xe, liếc mắt đưa tình, ai đó đang hét toáng lên từ phía trên bảo chúng tôi im lặng. Trong tình huống này, thỉnh thoảng tôi lại nổi cơn buồn nôn. Tôi mở toang cửa xe và té nhào xuống đường, những thứ bên trong dạ dày tôi bắn phọt xuống lớp đá lát đường giống như một cái túi da đựng rượu bị dốc ngược lên, đốt cháy cổ họng và hốc mũi của tôi. Khi nôn mữa xong, người yếu xìu như bún, tôi cảm thấy mình bị ai đó nhấc bổng lên từ phía sau, và hai bàn chân của tôi bắt đầu đong đưa bên dưới, rồi đột ngột tôi đứng trên bậc thềm của ngôi nhà, Charles và Chifley đang xô tôi qua cánh cửa mở.
 
 
5  
Nó nằm lơ lửng trong cái tử cung bằng thủy tinh, hơi quay đi nửa phần như thể tìm cách tự giấu mình trước ánh mắt xoi mói của kẻ đang quan sát. Dù nó chỉ có một đôi cẳng chân, bên trên cái eo mọc ra một thân hình thứ hai, nhỏ hơn, một bộ ngực và một cánh tay nhú ra từ lồng ngực của thân hình thứ nhất, và dù thân hình thứ hai này chỉ được tạo thành nửa phần, bên trên cùng của nó vẫn có một cái đầu, hoàn hảo không kém sự kỳ quái của thân hình. Bị che đậy nửa phần bởi người anh em song sinh to lớn hơn của nó, cái đầu nhỏ này dường như đang ngủ; tựa sát vào người bảo vệ của nó, hình dáng tí hon đó nằm gọn trong cánh tay của thân hình lớn hơn như nằm trong nôi.
Nhưng trong khi cái đầu nhỏ ngủ, cái đầu lớn vẫn thức, hoặc nó có vẻ như vậy, do một thủ thuật nào đó của kẻ bảo quản, đôi mắt của nó được thể hiện sao đó khiến chúng dường như nhìn theo người quan sát tới mọi góc phòng. Hai mí mắt hơi khép trùm lên hai nhãn cầu mù lòa, vì lý do nào đó độ sâu của chúng có vẻ thâm hiểm, giống như nhãn cầu của một con cóc hoặc một con vật nặng nề, đầy căm ghét, ghen tức với cuộc sống và mọi niềm vui thú. Nhưng so với những đường khâu nhăn nhúm chạy thành hình chữ Y từ hai cái cổ đến phần chung chính giữa của chúng, lớp da chúng rất mịn, hoàn hảo như da của bất kỳ đứa trẻ nào, thế nhưng nhợt nhạt và lạnh lẽo như cẩm thạch hoặc thạch cao tuyết hoa.
Có tất cả một trăm cái lọ khác đặt trên những cái kệ, mỗi lọ chứa đựng một thứ quái dị riêng. Trong một số lọ bảo quản các chi và các cơ quan của người chết, những bàn tay và những đôi mắt, những lỗ tai và những bàn chân, lớp thịt biến thành màu xám xịt và kinh khủng bởi rượu cồn; trong một số khác là những thứ khác nhau, khó phân biệt hơn: một buồng phổi đen xì, một quả tim lớn, một nhãn cầu với những đường dây thần kinh trắng trông như một con sứa. Trong một lọ chứa cái đầu của một người đàn ông được cắt đôi rất gọn bằng một cái cưa, một nửa gương mặt hoàn hảo và không có khuyết điểm, đôi mắt khép lại như thể chỉ trong khoảnh khắc, nửa còn lại áp sát vào lớp kính để lộ ra những lớp xương, não và cơ, những cái hốc tinh tế của lỗ mũi, cái gốc lưỡi to mũm mĩm. Nhưng ở đây còn có những thứ khác khiến cho những con mắt chưa được huấn luyện thấy khó chịu khi nhìn vào, những thứ như khoác lên hình dáng chúng cõi bờ âm u của những cơn mê sảng. Những bàn tay sáu ngón, một bàn chân có vảy, cơ quan sinh dục của một động vật lưỡng tính, một dương vật và hai hòn bi phát triển nửa vời nằm trong những nếp gấp của cái vỏ bọc trông như cỏ chân ngỗng. Và ở giữa là một hàng lọ to hơn, mỗi lọ đựng một đứa bé dị dạng theo một cách thức đáng sợ nào đó: một đứa có cái đầu như một cái bao rỗng nằm bềnh bồng trên cổ; đứa khác trông như một người cá, lưng và hai chân của nó biến mất trong những vòng xoắn của một con rắn; đầu của đứa khác lộn ngược từ trong ra ngoài, bộ răng mọc thành những vòng tròn đồng tâm xuyên qua lớp thịt bóc trần của vòm miệng như thể cái lỗ vòm tìm cách thu thập lại phần từ cằm tới chân mày trên gương mặt nơi nó đang nằm.
Tyne là người bảo quản từng mẩu vật; đôi tay khéo léo của hắn đã mang lại vẻ ngoài của cuộc sống cho những tạo vật này và những bộ xương của chúng. Có lần, khá lâu trước đó, hắn là thợ tập sự của ông Gaunt, một thợ làm răng cho những kẻ giàu có. Từ thầy mình, hắn đã học được nghệ thuật tạo ra các hàm răng với dây kẽm và sừng, chế ra những vòm miệng và bàn kẹp để giữ chặt chúng trong mồm các chủ nhân mới của chúng. Và cũng từ thầy mình, hắn học được cách tìm kiếm những hàm răng, từ những người sống, hoặc, thông thường hơn, từ mồm của những người chết. Chính nhờ nghề nghiệp này hắn đã thu hút được sự chú ý của thầy Poll, người ngay từ lúc ấy đã nhìn thấy ở hắn một thiên tài trong kỹ thuật này, trong việc tìm kiếm các xác chết và đánh cắp những tài sản của họ. Khi gặp dịp, thầy Poll đã mua lại Tyne từ chỗ học nghề và xem hắn như là người của mình, bố trí hắn làm việc trong những xóm nghèo và khu ổ chuột, thu gom thi hài của những người chết như trước kia hắn đã thu gom những bộ răng của họ cho ông Gaunt.
Theo mọi cách thức, hắn là người của thầy tôi, là cái bóng trung thành của ông, siêng năng cần mẫn, thực hiện không chút phiền hà những điều mà thầy Poll quan tâm. Trong khắp thành phố, hắn có những người trợ giúp và những địa điểm để lùng sục những thứ mà thầy tôi có thể quan tâm, bố trí các cuộc giao nhận những cái xác chúng tôi không thể chứa sẵn trong nhà. Hắn có một tính cách bí ẩn, tò mò và cảnh giác, và dù hắn không có quyền lực nào đối với Robert và tôi, chúng tôi hiểu rằng phải thận trọng với hắn, và không thể tin vào hắn. Bởi ở hắn không có chút dấu vết nào của lòng nhân hậu, tuy nhiên, những thứ hắn tạo tác ra cho thấy bàn tay khéo léo của tình mẫu tử, và hắn xem ngôi nhà này như là nhà của mình. Nhưng dù hắn là người của thầy tôi ở mọi cách thức bề ngoài, đôi khi tôi vẫn nhìn thoáng thấy một điều khác bên trong, một lòng căm ghét sâu xa, như thể hắn cảm thấy mình không khác chi một con ngựa bị ghìm cương vì sự chiếm hữu thái quá ấy.
*** Khi đợt múa tạm ngưng và nàng kéo tấm mặt nạ xuống, tôi thấy mình run lên; mặt nàng sáng lóng lánh dưới ánh đèn sân khấu chập chờn, như thể trong cùng một khoảnh khắc nàng vừa có thật vừa không có thật, một sinh thể được tạo thành không phải từ vật chất mà từ chất liệu của những giấc mơ. Nổi bật trên màu sơn nhợt nhạt ma quái của sân khấu, trông đôi mắt của nàng thật to, ướt sũng, miệng nàng giãn rộng.
Giữa màu sắc quay cuồng của quả cầu treo bên trên sân khấu, nàng đứng bất động, và tôi nhìn nàng đăm đăm, khao khát, sợ rằng vì lý do nào đó nàng có thể bốc thành hơi hoặc tôi có thể sực tỉnh khỏi giấc mơ, đánh mất đi nhận thức về những đường nét của nàng trong cảm giác khẩn thiết này. Ban nhạc phía sau lại tấu lên, khán giả bật cười, thế rồi nàng kéo mặt nạ lên và bước sang bên để bạn diễn của mình cất tiếng.
Đây là một vở bi kịch, kể về cảnh những tên hải tặc và bọn người Thổ tấn công một lâu đài vùng Bắc Ý. Nàng không phải là nữ nhân vật chính mà chỉ thủ một vai nhỏ hơn, một người bạn, và trong diễn tiến của vở kịch, nàng cứ ra ra vào vào, đôi khi nấn ná bên cạnh nữ nhân vật chính hoặc người đàn ông sẽ là tình nhân của cô ta, đôi khi với tay diễn viên mà chính bản thân nàng khao khát. Cảnh diễn lớn nhất của nàng là cảnh gã đàn ông đóng vai phản diện đang cố sức quyến rũ nàng. Nàng diễn với một sự cam chịu lạ lùng, như thể tâm hồn nàng đã bị hắn tước đoạt đi, và khi người tình của nàng tới giải cứu nàng, mọi chuyện đều đã muộn. Mỗi lần xuất hiện nàng đều thu hút sự chú ý của khán giả, tất cả chúng tôi, thậm chí cả đám đông đang trò chuyện rì rầm ở những dãy ghế bên dưới cũng im bặt đi khi nàng cất tiếng. Không hiểu vì sao lại có chuyện này, vì nàng không diễn xuất như những diễn viên khác, mà cũng chẳng hề lên gân trong lời thoại. Thật sự phần này có vẻ như chỉ là một cái gì ngoại diện, nhằm che đậy một điều gì đó khác, một điều gì đó chưa hé lộ tỏ bày, một ảo tưởng nằm trong một ảo tưởng.
*** Sau đó, trong những căn phòng mà chúng tôi hay lui tới, tôi nhìn thấy nàng đi ngang qua. Mặt nàng đã tẩy sạch lớp phấn son, và trông nàng có vẻ nhỏ nhắn hơn, hầu như mong manh. Nàng đi cùng hai người đàn ông và một thiếu nữ tóc vàng. Nàng không nhìn về phía chúng tôi khi đi ngang căn phòng, nhưng tôi vẫn không ngăn được cảm giác căng thẳng. May ghé sát mồm vào tai tôi:
— Cậu nhìn cái gì vậy, chú chim nhỏ của tôi?
— Người phụ nữ đó, lúc nãy cô ta có mặt trong vở kịch - Tôi đáp, không chắc đây là một câu hỏi hay là một lời phát biểu.
— Đúng vậy - May nói. Hơi thở của hắn nóng rực - Cậu nghĩ cô ta có đẹp không?
Tôi gật đầu và May cười lặng lẽ. Cả Chifley cũng đã trông thấy tôi nhìn nàng.
— Tay thực tập sinh của anh đang học theo các thói quen của anh đó, de Mandeville - Hắn tuyên bố. Rồi hắn cười to, nhưng khi hắn cười, vẫn có cái vẻ đó trong mắt hắn, một sự khẳng nhận lạnh lẽo.
*** Tiếng gõ cửa đột ngột vang lên ầm ĩ trong ngôi nhà trống. Khi cửa mở, có tiếng ồn ào của đường phố, và một giọng nói, không thể nghe rõ các từ ngữ. Thế rồi, chắc nịch và đều đều, tiếng chân mang ủng của một gã đàn ông đang di chuyển tới gần bên trên đầu.
Tôi bực dọc đứng lên, quay lại và đối mặt với kẻ đang bước xuống thang. Hắn cao lớn, cường tráng, và dù không còn trẻ, hắn vẫn di chuyển với cung cách của một gã đàn ông ý thức được sức mạnh của chính mình và không hề e sợ nó. Hắn dừng lại bên lò sưởi, xòe hai bàn tay ra để hơ.
— Một đêm ẩm ướt - Hắn nói. Giọng hắn trầm, kiểu giọng của một quý ông.
— Thật vậy - Tôi đáp, quét mắt lên phía bà Gunn. Bà đang đứng trên cầu thang sau lưng hắn. Bà không nói gì, chỉ lắc đầu, nét mặt bà để lộ một sự cảnh báo nào đó mà tôi không hiểu được.
— Họ bảo có một đứa trẻ bị nhét xuống ống cống và đã chết đuối ở mé Finsbury - Hắn cất tiếng, nhìn tôi như thể để xem tôi có phản ứng ra sao.
— Ông tới đây có việc gì? - Tôi hỏi - Ông tìm ai?
Hắn ta mỉm cười với câu hỏi.
— Cậu là Swift, phải không? - Hắn hỏi, đôi mắt nhíu lại.
— Phải - Tôi thận trọng đáp. Hắn gật đầu, ánh mắt hắn hướng tới những cuốn sách rải rác trên bàn. Trên một trang có một phác họa, hình một đứa trẻ vẫn còn nằm co trong tử cung của mẹ nó, hình ảnh này được khắc họa với sự chính xác kinh khủng. Hắn thò tay ra, lướt mấy ngón tay qua nó, rồi lật sang để xem một trang khác.
— Họ bảo cậu đang học việc ở đây, dưới yêu cầu của người giám hộ cậu, em họ của thầy cậu.
Tôi thấy khó chịu khi hắn biết những chuyện như thế. Hắn lại ngẩng lên trong bầu không khí im lặng.
— Ông là ai? - Tôi hỏi, và hắn bật cười, một thứ âm thanh ngọt dịu lạ lùng - Ý cậu là họ chưa nói cho cậu biết? - Hắn hỏi, quan sát tôi - Lucan, tôi tên là Lucan.
Tôi không trả lời.
— Có lẽ có những điều mà họ nghĩ nếu cậu không biết thì tốt hơn - Hắn nói, và lật sang một trang khác.
Dưới ánh sáng của ngọn lửa, cái miệng rộng và cặp mắt sụp mí đem lại chút gợi cảm cho đường nét quá thô bạo của khung hàm và cái mũi khoằm của hắn. Không đẹp, nhưng là một cái gì đó khác, khó mà lý giải.
— Swift, thầy cậu đâu rồi? - Hắn hỏi, giọng hắn kéo dài ra ở cái tên của tôi như thể để nhấm nháp nó.
— Không có ở đây - Cái cạnh bàn đang ép mạnh vào đùi tôi.
— Thế còn de Mandeville?
Tôi lắc đầu. Hắn đứng đó hồi lâu, không nói năng gì, mắt không hề rời khỏi tôi. Tôi cảm nhận được sức mạnh của hắn, trong tôi run rẩy một điều gì đó gần như là một niềm khao khát.
— Nếu cậu muốn nhắn gửi gì đó cho thầy cậu hoặc de Mandeville, tôi đảm bảo là họ sẽ nhận được nó.
Cặp mắt hắn nheo lại với vẻ khoái trá. Hắn xoay người, thò tay vào áo khoác và rút ra một cái hộp bằng bạc. Nó nhỏ xíu, được chạm khắc theo kiểu Đông Phương. Với một cử động thuần thục, hắn mở nó ra, và đưa sang mời tôi nhón lấy một trong những điếu xì gà Thổ Nhĩ Kỳ bên trong hộp. Tôi đã từng hút loại xì gà này - May rất khoái nó - nhưng khi nhìn xuống, tôi chú ý tới bàn tay của hắn chứ không phải những điếu xì gà. To và dài, những móng tay sứt sẹo và đầy cáu ghét như móng tay của một người lao công, và dù sưng lên vì chứng thấp khớp, mấy ngón tay được trang trí với khá nhiều nhẫn, loại mà một tay thợ hàn nồi hoặc một tay Hồi giáo thường đeo.
Tôi lắc đầu. Hắn đợi, rồi với một cử chỉ chấp nhận, hắn rút ra một điếu cho chính mình và đóng nắp hộp lại.
— Tôi không thích cung cách cậu đối xử với tôi, Swift - Hắn nói, mồi một que lửa từ lò sưởi và đưa nó lên điếu xì gà.
— Tôi xin lỗi về chuyện đó - Tôi đáp - Nhưng đây là nhà của thầy tôi, còn ông là một người khách.
Hắn rít mạnh điếu thuốc và từ từ thả khói qua hai lỗ mũi.
— Thầy cậu đối xử với tôi như thể với một người hầu. Ông ta đâu có tổn hại gì khi học hỏi đôi chút phép lịch sự.
— Có phải đó là điều mà ông muốn tôi nói với thầy tôi?
Hắn chằm chằm nhìn tôi, đủ lâu để tôi phải suy nghĩ cẩn thận hơn về những lời nói của mình. Rồi hắn cười lặng lẽ, như thể theo cách nào đó tôi đã làm cho hắn hài lòng.
— Phải - Nói với ông ta như thế - Hắn nói. Rồi di chuyển rất chậm rãi, với cử động đều đều ru ngủ của một con rắn, hắn nhấc một bàn tay lên nắm lấy mặt tôi, xoay nó sang để hắn có thể nhìn tôi kỹ hơn.
— Cậu là một cậu bé dễ nhìn đấy Swift - Hắn nói - Những quý bà bệnh nhân hẳn sẽ thích thú sự chăm sóc của cậu.
Mùi thuốc xì gà của hắn nặng và ngòn ngọt, và dù tôi biết mình nên vùng ra, tôi không thể làm điều đó. Thân hình tôi bị kẹp chặt trong một cơn tê liệt lạ lùng nào đó. Bên dưới đôi mí mắt nặng nề, cặp mắt hắn thẫm màu tới độ gần như đen láy, và bên trong chúng là một thứ lửa.
Từ phía trên, phát ra âm thanh đột ngột từ cánh cửa mở ra đường, giọng nói của thầy Poll và Oates, người đánh xe. Với một nụ cười lặng lẽ, Lucan buông tôi ra và bước sang bên.
— Nói cho cùng, có lẽ tôi sẽ tự nói với thầy của cậu - Hắn nói, đưa điếu xì gà lên môi.
*** Trong tòa sảnh bên trên, thầy Poll đứng sững người khi nghe nói tới cái tên Lucan.
— Sao? - Ông hỏi. Thái độ của ông đem tới cho tôi một cảm giác khó chịu rằng theo cách nào đó tôi phải chịu trách nhiệm cho sự xâm phạm này. Sau lưng ông, Oates lui lại phía sau một bước, chiếc áo choàng của thầy Poll nằm trong bàn tay mũm mĩm của ông ta - Hắn ta tới đây có việc gì chứ?
— Em không biết - Tôi đáp - Chỉ biết là ông ta sẽ nói với thầy.
Thầy Poll suy nghĩ về cái tin này. Rồi ông lắc đầu và mỉm cười, dù không khoan hòa cho lắm.
— Bảo hắn tôi sẽ gặp hắn trong phòng làm việc của tôi.
*** Thầy Poll không nói gì khi Lucan bước vào. Thay vì thế, ông đứng quan sát hắn với một vẻ khinh miệt hầu như không che giấu.
— Anh có công việc làm ăn gì với chúng tôi à? - Ông hỏi.
— Có lẽ - Lucan đáp - Tôi đã nghe được vài điều mà ông sẽ muốn nghe.
— Thật vậy sao? - Thầy Poll hỏi với vẻ chế giễu - Những điều đó là gì vậy?
— Họ bảo Caley khoác lác rằng nó đã bịp được ông và nhiều người khác. Rằng nó khoái chí với việc nhận tiền cho những thi hài mà nó không hề giao và sẽ chơi xỏ ông bất cứ lúc nào có thể.
— Caley bảo rằng chính anh mới là người phá đám công việc của cậu ta.
Lucan mỉm cười:
— Nếu tôi mà phá đám thì chúng sẽ phải làm nhiều việc hơn là chỉ than phiền về chuyện đó.
— Anh dọa tôi hả? - Thầy Poll khẽ quát - Hãy nhớ anh đang ở trong nhà của ai. Tôi không chấp nhận những cú tống tiền của anh nữa đâu.
— Tống tiền là một từ mà tôi sẽ sử dụng một cách thận trọng nếu chúng ta vẫn còn là bạn hữu - Lucan nói, lúc này giọng hắn tỏ ra giận dữ. Nhưng thầy Poll chỉ bật cười to:
— Đừng tự tâng bốc mình khi cho rằng chúng ta là bạn hữu.
Lucan đứng sững. Đột nhiên tôi nhận ra thầy Poll muốn tôi làm nhân chứng cho sự sỉ nhục này. Đột ngột, hắn bật cười hô hố.
— Sẽ có lúc ông ước gì ông đã không chối bỏ tình bạn của tôi một cách nhẹ nhàng như thế - Hắn nói, và dù hắn mỉm cười, chúng tôi không thể hiểu lầm ý nghĩa của câu nói đó.
Dù vai trò của tôi là đứng về phía thầy mình, khi đưa Lucan ra cửa, tôi thấy xấu hổ vì những lý do mà tôi không hiểu rõ. Dù kiêu ngạo, thầy Poll không phải là một người độc ác, cũng không phải là một kẻ ngu xuẩn, thế nhưng tôi không thể không cảm thấy ông đã cư xử quá tệ. Ở bậc thềm, Lucan quay sang tôi.
— Mọi gã đàn ông đều là con tin của bản tính họ, cậu bảo có đúng thế không? - Hắn hỏi, không thể hiểu được ánh mắt của hắn. Trên con phố sau lưng hắn, mưa đang rơi, những ngọn đèn lờ mờ tỏa sáng trong bầu không khí mù sương.
— Ông không nghĩ là ý chí của chúng ta sẽ làm chủ chúng sao? - Tôi đáp.
Hắn đứng hồi lâu. Rồi cuối cùng hắn mỉm cười, tôi không biết là do thích thú hay khinh bỉ.
— Chắc chắn là chúng ta sẽ còn gặp lại - Hắn nói, và vừa hơi nghiêng đầu chào tôi, hắn vừa quay đi, bước vào bóng đêm đen.
 
 
 
6  
 
Khi Robert quay lại, tôi đang ngồi cạnh ngọn lửa trong bếp. Đêm nay trông anh rất gầy và mệt mỏi, nhưng anh vẫn mời tôi cùng ăn chút bánh mì và thịt hầm mà bà Gunn chừa lại. Khi tôi từ chối, anh nhìn tôi với vẻ tò mò, nhưng không nài ép thêm. Anh chả quan tâm mấy tới thức ăn, tôi nghĩ, và thường là quên cả ăn uống. Thậm chí khi ăn anh cũng ăn một cách chậm rãi và có phương pháp, như thể mỗi miếng thức ăn phải được phản ánh lại trong lúc nó đang được nhai. Cuối cùng anh ngẩng lên, mỉm cười và hỏi điều gì đang làm tôi khó chịu.
— Lucan đã tới đây - Tôi đáp. Robert không ngừng nhai mớ thức ăn trong miệng, nhưng khi đã nuốt xong, anh đặt cái nĩa xuống và nhìn tôi.
— Tới vì chuyện gì?
Tôi lắc đầu:
— Tôi không chắc. Ông ta đòi nói chuyện với thầy Poll.
— Rồi ông ta có làm chuyện đó không?
— Có.
— Thầy Poll nói gì với ông ta?
— Rằng ông ta đã tự tâng bốc chính mình nếu cho rằng họ từng là bạn của nhau.
Robert gật đầu, chấm mẩu bánh mì vào phần thịt hầm còn lại.
— Vậy thì sao? - Tôi hỏi.
Anh lắc đầu:
— Chuyện này chả hay ho gì đâu.
— Tôi không hiểu.
— Việc tự đặt chúng ta vào tình thế chống lại Lucan như thế.
— Anh muốn chúng ta phải cúi đầu trước những lời đe dọa của ông ta sao?
— Tôi sẽ không gây thù chuốc oán với những gã có thể gây hại cho chúng ta. Ông ta có đủ lý do để căm ghét chúng ta như thế.
Anh ngừng ăn và nhìn tôi.
— Anh biết gì về ông ta?
— Rằng ông ta là một tay đào trộm xác, giống như Caley, rằng ông ta đã dọa dẫm phân nửa số nhà phẫu thuật ở London.
Robert gật đầu:
— Anh có biết chuyện trước kia ông ta từng làm việc cho chúng ta, cho ngài Astley và nhiều người khác, và Caley và Walker từng là thuộc hạ của ông ta?
Anh lại chấm bánh mì vào đĩa thịt hầm, rồi nói tiếp:
— Ông ta tìm cách ép chúng ta phải trả tiền ngày càng nhiều hơn, và dọa sẽ làm cho chúng ta chết đói nếu chúng ta không đáp ứng. Và do vậy họ đã quyết định phải hạ nhục ông ta. Do những nỗ lực của thầy Poll và ngài Astley, Caley đã rời khỏi ông ta, sau đó tới lượt cả Câu lạc bộ liên kết chống lại ông ta.
— Họ đã làm đúng khi đứng lên chống lại ông ta.
— Có lẽ thế. Nhưng cái giá phải trả cho sự tham lam của chính chúng ta cũng ngang với sự tham lam của ông ta. Và ngoài ra, có một thứ có thể cho đi một cách ít tốn kém hơn nhiều, một thứ mà Lucan mong muốn hơn cả tiền bạc.
— Đó là gì?
— Sự tôn trọng - Robert đáp - Ông ta từng là một quý ông.
Tôi thốt ra một âm thanh tỏ vẻ coi thường, và Robert ngẩng lên khỏi đĩa thức ăn, nhìn tôi chòng chọc.
— Anh nghĩ là lòng tự hào của họ không dính dáng gì tới sự phán xét của họ sao? Vậy hãy tự hỏi mình xem: làm thế nào mà Lucan vẫn hoạt động được khi họ liên kết nhau chống lại ông ta.
— Ông ta bán cho van Hooch, Brookes và nhiều người khác - Tôi đáp - Những nhà phẫu thuật không phải là các quý ông và không được phép tham gia vào Câu lạc bộ Phẫu thuật.
Robert gật đầu:
— Không ai chịu để cho lòng tự hào của mình bị tổn thương một cách dễ dàng. Và chúng ta đã làm tổn thương lòng tự hào của Lucan theo nhiều cách chứ không chỉ một.
— Thế còn Caley. Anh ta tách khỏi Lucan như thế nào?
Robert phát ra một tiếng cười ngắn ngủi, buồn bã:
— Đây là London, Gabriel - mọi thứ đều mua bán được.
*** Một lát nữa trong đêm nay, Caley sẽ tới, mang theo mấy cái xác, và tôi sẽ nhìn thấy cách thức đối xử thận trọng của Tyne và Robert đối với hắn, như thể họ sợ rằng hắn sẽ biết Lucan đã tới đây. Và dù không nói gì về chuyện đó, khi quay đi hắn mỉm cười và hỏi chúng tôi đang che giấu hắn điều gì vậy. Và khi chúng tôi không tiết lộ điều gì với hắn, hắn cứ đứng đó, đưa mắt dò xét chúng tôi. Hắn có thể độc ác nhưng rất nhạy bén khi nhận ra ngay những lời nói dối, và cả sự khiếp nhược.
Tuy vậy, vào lúc này, khi tôi gặp Tyne trên cầu thang, hắn đưa thân hình ra chặn tôi lại.
— Ông ta đến đây chi vậy?
— Tôi không biết - Tôi đáp. Nhưng Tyne không nhích ra, và trong mắt hắn hiện lên vẻ nghi ngờ, một thứ bạo lực mà tôi chưa từng trông thấy trước đó.
— Cậu nói chuyện với ông ta một mình hả?
— Đúng vậy - Tôi bực bội đáp.
— Ông ta đã nói gì với cậu?
— Chả có gì - Tôi lắc đầu.
Hắn đứng bất động hồi lâu. Rồi cuối cùng hắn bước tránh sang bên để tôi có thể đi qua, thân người của hắn sát cạnh người tôi, mắt hắn dán chặt vào mặt tôi.
*** Ngày hôm sau thời tiết trở nên tệ hại: đầu tiên là mưa, rồi tới mưa đá, rồi một làn sương mù dày đặc trùm lên đường phố và cứ kéo sà dưới thấp. Bầu không khí khắp nơi đặc quánh lại vì sương mù, hơi sương thiêu nóng những cặp mắt và cổ họng. Rồi cũng nhanh như lúc nó kéo tới, màn sương mù tan biến, ngày lại trong sáng và sạch như băng. Không có gió, chỉ một sự thinh lặng, một cơn nhoi nhói băng giá xuất hiện trước lúc tuyết rơi. Mùi của than cháy và khói gỗ lan tỏa trong bầu không khí.
Song hành cùng cái lạnh là bệnh hoạn, chứng nám phổi và viêm phổi, mọi thứ tai ương của dân nghèo, và vì thế vào những chiều tối chúng tôi thường ghé thăm bệnh những người dân sống trong các con phố hẹp và những căn hộ ở khu St. Giles và Saffron Hill. Họ không có gì để trả nhưng chúng tôi vẫn tới với họ, đem lại bất cứ niềm an ủi nào có thể, dù có khi đó chỉ là một hai lời nói.
Việc tới với những người nghèo này, nhìn thấy những nhu cầu trần trụi của họ, khiến tâm hồn tôi trĩu nặng. Họ quá đông, chúng tôi thì quá ít, sự an ủi chúng tôi mang đến quá ư bé nhỏ, tôi cảm thấy không thoải mái với họ, không có lời nào để nói như Charles, không biết khi nào thì nên im lặng và để cho họ nói như Robert.
Sau đó, nếu chỉ có hai chúng tôi, Charles sẽ rủ tôi đi nhậu ở đâu đó, hoặc xem một vở diễn nào đó tại một sân khấu. Có khi mấy gã kia cũng tới đó, có khi không. Khi đi cùng với anh tôi bắt đầu hiểu được đôi điều về một thành phố mà nếu theo cách khác tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy. Tôi chắc rằng Robert biết chúng tôi đi đâu, dù anh không bao giờ hỏi, và Charles cũng ít khi rủ anh đi cùng.
Thế rồi, một đêm đầu tháng mười hai, có ai đó ở ngoài cửa bên dưới đã đánh thức tôi vào lúc nửa đêm. Tôi ngồi dậy, đứng lặng lẽ ở đầu cầu thang, lắng nghe giọng nói của Tyne. Đêm nay chỉ có chúng tôi: Robert đã xin phép nghỉ để về thăm nhà, em gái anh đang ốm. Charles và thầy Poll đã về nhà. Lúc này, nghe thấy tiếng Tyne bước lên cầu thang, tôi đi xuống.
— Có một tiểu thư hỏi thăm de Mandeville - Tyne nói khi chúng tôi gặp nhau ở giữa cầu thang.
— Tôi đã chia tay với anh ta được hai tiếng rồi. Đêm nay anh ta sẽ không quay lại.
— Cậu nghĩ là tôi chưa nói với cô ta điều đó sao? - Dù lời lẽ gay gắt, hắn tự kiểm điểm lại mình, như thể tìm kiếm sự tự tin của tôi.
— Cô ta tên gì?
— Cô ta không chịu nói, chỉ bảo rằng cô ta phải nói chuyện với cậu ấy.
Tôi bước ngang qua hắn, xuống thang, không biết mình sẽ tìm thấy điều gì. Có lẽ là một nàng hầu khốn khổ nào đó, được bà chủ cử tới và đã được dặn dò là phải kín đáo thận trọng, có lẽ là một người nghèo bất hạnh ở khu St. Giles hoặc Saffron Hill tới chuyển lời của một thân nhân trở bệnh đột ngột và quá sợ Tyne nên không dám nói tên. Nhưng không ai trong hai dạng đó đang đợi chờ tôi. Nàng đứng cạnh lò sưởi, áo khoác vẫn cài kín nút, và dù tôi không thể nhìn thấy mặt nàng, tôi biết đó là nàng ngay tức khắc.
— Anh là học viên? - Nàng hỏi. Giọng nàng trầm hơn, dè dặt hơn lúc đứng trên sân khấu.
— Đúng vậy - Tôi đáp. Dưới ánh sáng của lò sưởi, mái tóc đen của nàng có màu sắc của kim loại được đánh bóng, và gương mặt nàng dường như tỏa sáng lung linh giống hệt đêm hôm đó.
— Vậy còn de Mandeville?
— Tối nay anh ấy không về đây.
Lúc này nàng quay đầu lại, và tôi nhận thấy ngay rằng nàng trẻ hơn tôi tưởng, có lẽ không già hơn tôi mấy.
— Xin nói xem cô cần gì? - Tôi nói.
Nàng tỏ ra lưỡng lự. Đôi mắt nàng sẫm một màu nâu mà người ta hiếm khi nhìn thấy, giống mắt của một con nai hoặc một loài thú hoang nào đó.
— Một đứa nhỏ - Cuối cùng nàng nói - Nó bị một con chó tấn công.
— Nó là con của cô? - Tôi hỏi, cảm nhận một cơn nhói đau đột ngột, nhưng nàng lắc đầu.
— Con của một người bạn.
— Vết thương của nó có nghiêm trọng không?
Nàng gật đầu. Tôi suy nghĩ một lúc, rồi ra hiệu cho nàng đi theo tôi.
— Vậy tôi sẽ đưa cô tới chỗ anh ấy.
*** Khi tới bên ngoài mấy căn phòng của Charles, tôi gõ mạnh lên mui xe, và vừa bảo nàng chờ ở đó tôi vừa trèo xuống xe. Có ánh đèn trong cửa sổ phòng Charles ở tầng ba bên trên; tôi giơ tay đập cửa, rồi lui lại và gấp rút gọi tên của anh. Một dáng người xuất hiện gần như ngay lập tức phía sau lớp kính, kéo mấy tấm màn che ra trước khi biến mất. Vài giây trôi qua, rồi cánh cửa ra phố mở toang, để lộ ra không phải là Holroyd, người hầu của Charles, mà chính anh. Anh cầm trên tay một cây đèn.
— Gabriel - Anh nói, giơ cây đèn lên cao hơn - có gì khẩn cấp vậy?
Trước khi tôi có thể trả lời, có tiếng bước chân trên mặt đá lót đường.
— Arabella? - Anh hỏi - Có chuyện gì vậy? Cô tới đây làm gì?
Dù anh tìm cách che đậy, vẫn có một điều, một nỗi e sợ nào đó trong giọng nói của anh, và nó cũng hiện ra trên nét mặt của nàng, cái vẻ u buồn, cảnh giác mà chúng ta dành cho những người mà chúng ta từng chia sẻ một sự thân mật gắn bó nay không còn nữa.
— Có phải Kitty không? Chuyện gì đã xảy ra với cô ấy?
— Không phải Kitty - Arabella đáp - Oliver.
Nghe thấy thế Charles đứng bất động. Khi cất tiếng trở lại, giọng anh dịu nhẹ hơn.
— Chết rồi?
Nàng lắc đầu:
— Bị thương, rất nặng!
Những từ của nàng được thốt ra bằng một giọng đều đều, như muốn nói lên những ý nghĩa riêng tư nào đó.
Charles ngần ngừ - Để tôi lấy cái áo khoác đã - Anh nói.
Trong những khoảnh khắc trước khi anh quay trở ra, chúng tôi đứng trong sự thinh lặng của đường phố tối. Arabella không nhìn tôi. Khi Charles quay ra, anh đặt một bàn tay lên vai tôi.
— Cám ơn, Gabriel! Mai tôi sẽ nói chuyện với anh.
— Tôi sẽ ngồi với người đánh xe - Tôi tình nguyện. Cỗ xe chỉ đủ rộng cho hai người. Có gì đó trong cách hành xử của tôi khiến Charles chựng lại.
— Rất tốt - Anh nói.
*** Chiếc xe ngựa đưa chúng tôi tới một con phố gần Drury Lane. Dù không phải là con đường tệ nhất trong quận, nó là một địa điểm suy tàn đổ nát, những tòa nhà hầu như bị nhuộm đen vì bồ hóng, đây đó là những ô cửa sổ vỡ toang há hốc, một số vẫn được để nguyên thế không sửa chữa, số khác được đóng kín lại bằng ván. Con đường dưới chân ngập lún đầy bùn, và thậm chí trong cái lạnh, một mùi hôi thối cứ lơ lững khắp nơi, như thể có một cái nhà xí bị tràn.
Ngôi nhà mà Arabella dẫn chúng tôi tới trước kia từng là một địa điểm khá hơn hiện tại. Những ô nhợt nhạt trên các bức tường vẫn còn chỉ ra nơi đã từng treo những bức tranh, nhưng bất kỳ dấu vết nào của sự xa hoa đều đã biến mất từ lâu, mấy căn phòng được chia thành cả một khu cư ngụ cho những hộ cá thể; giấy dán tường long tróc và lấm tấm những nấm mốc. Charles không nói lời nào khi chúng tôi bước lên cầu thang; miệng anh khép chặt, nét mặt kín như bưng.
Ở tầng ba, chúng tôi đi tới một căn phòng. Hẳn trước kia nó là một phòng đọc sách, hoặc có lẽ là phòng ngủ, vì bốn bức tường của nó được trang trí bằng những bức bích họa, đã bị hư hại nhiều do ẩm ướt, và những tấm màn che nặng trĩu tỏa mùi mốc theo thời gian vẫn treo trên các ô cửa sổ. Giờ thì nó trở thành một dạng phòng khách nào đó, có kê một cái trường kỷ bạc phếch và hai cái ghế. Khi nghe thấy tiếng chúng tôi tới, một cô gái xuất hiện ở cánh cửa bên. Cô ta gầy ốm và ăn mặc rất nghèo nàn. Trông thấy Arabella, cô ta lặng lẽ bước về phía chúng tôi để vào phòng.
Bên trong phòng, một người phụ nữ đang nằm trên một cái giường, một đứa bé nằm co trong vòng tay của cô ta. Khi chúng tôi bước vào, cô ta ngẩng lên, và dù đôi mắt của cô ta sưng mọng vì nước mắt, không thể nhầm được vẻ giận dữ trong ánh mắt dán vào Charles.
Charles đứng một lúc, nhìn lại cô ta đăm đăm. Trước kia, có lẽ không lâu lắm, cô ta khá xinh đẹp, nhưng giờ đây nét mặt của cô ta hằn sâu dấu tích của sự nghèo túng, mang một vẻ tuyệt vọng. Không nói lời nào, Charles đưa tay về phía đứa bé. Người phụ nữ quan sát bàn tay của anh, rồi, như thể nó làm cô ta ghê tởm, cô ta lùi lại. Charles thả rơi bàn tay xuống hông.
— Xin cô nào, Kitty - Anh nói - Tôi phải xem qua nó.
Cô ta nhìn chòng chọc anh một hồi lâu, rồi với một cử động co giật đột ngột, cô trao đứa bé cho anh. Charles ôm lấy nó và bế nó tới cái trường kỷ bên dưới cửa sổ, đặt nó nằm xuống. Khi kéo tấm chăn ra, anh không tỏ ra lưỡng lự, nhưng tôi cảm nhận được cảm giác do cảnh tượng nhìn thấy bên dưới chạy xuyên qua thân hình anh. Thằng bé gần như bất tỉnh, tiếng thở của nó phát ra thành từng hơi ngắn hổn hển, và thoạt tiên khó mà xác định mức độ của những vết thương, vì tất cả những gì thấy được chỉ là máu me và lớp da thịt bị hủy hoại.
— Một con chó đã làm chuyện này à? - Tôi hỏi, thấy hối tiếc ngay trong lúc nói vì cường độ của những từ mình nói.
— Chủ nó bảo rằng nó là một con chó nông thôn, rằng những chiếc xe ngựa đã khiến nó giật mình - Arabella nói khẽ.
Cô hầu gái ló đầu vào cửa:
— Không có xe cộ nào hết, con chó đã phát rồ.
Charles lắng nghe, mắt không rời khỏi đứa bé. Nét mặt anh trơ trơ vô cảm, như thể mọi cảm giác đã rút sạch ra khỏi nó.
— Mang nước tới giùm tôi - Anh nói khi cô gái nói xong - Và giẻ lau. Chúng tôi phải rửa sạch nó.
Trong bếp, Arabella lấy xuống từ trên lò sưởi một cái chậu, và đổ đầy nước vào đó, hai cánh tay của nàng ôm lấy cái bình nước trong lúc nàng rót. Nàng bé nhỏ hơn lúc đầu tôi nghĩ, và mỏng manh hơn, và khi nàng đứng tập trung vào công việc này, có một sự mong manh nào đó trong sự hiện hữu của nàng mà tôi chưa từng nhìn thấy trước đây. Khi trút hết lượng nước cuối cùng và nâng cái bình lên, nàng ngước lên, và tôi lại nhìn thấy cái cách thức nàng có vẻ như tồn tại trong chính bản thân nàng.
— Cô đã có mặt ở đó?
Nàng im lặng, rồi lắc đầu - Tetty ở đó với nó.
— Còn cô gái giúp việc?
— Anh ta đã cho cô ấy một đồng bảng Anh; thật là một quý ông tốt bụng.
Chúng tôi đứng cạnh nhau như thế một lúc, bị sự thấu hiểu về điều này xâm chiếm. Rồi nàng bê cái chậu lên, lúc này khá nặng vì chứa nước, và đặt nó vào hai tay tôi.
— Đây - Nàng nói - Hãy mang nó vào phòng. Tôi sẽ đi lấy một ít giẻ - Đôi mắt nàng đều đặn và trong sáng.
*** Charles bảo mấy người phụ nữ ra ngoài trước khi chúng tôi bắt đầu, Arabella và cô gái giúp Kitty rời khỏi giường và đưa cô ta sang căn phòng mé ngoài. Sau đó chúng tôi nhúng nước và lau sạch lớp máu trên người thằng bé, thận trọng để không chạm vào những vết thương đã bắt đầu rỉ máu trở lại. Nhiều lần nó tỉnh lại trong chốc lát, ú ớ và rên rỉ, và có lần ngẩng nhìn lên với vẻ sáng suốt đột ngột, nhưng đa phần nó nằm im lìm. Khi mức độ tổn thương của nó đã lộ ra, nét mặt Charles hiện lên một vẻ nặng nề, như thể anh đã biết trước rằng trận chiến sẽ thua. Cánh tay phải bị phá hủy, mất hai ngón tay, lớp thịt trên cẳng tay và cùi chỏ bị xé toang nhiều chỗ đến mức có thể nhìn thấy xương và gân, trắng một cách khó chịu trên dòng máu đang ri rỉ; trong khi khắp nơi trên hai vai, cổ và ngực là những vết bầm tím và những vết thương xuyên thủng. Nhưng chính mặt và đầu là hai chỗ tệ nhất, lớp da đầu của nó tróc khỏi sọ, tóc và thịt dính lủng lẳng trên một mảnh kinh khủng gần vành tai. Có lẽ nó từng là một cậu bé đẹp trai, nhưng giờ đây gương mặt hầu như đã bị hủy hoại, lỗ mũi và đôi gò má tím bầm, con mắt phải nhìn ra một cách mù quáng từ một khối thịt đang rỉ máu, mí mắt hoàn toàn bị lột mất.
Khi những vết thương đã sạch, chúng tôi bắt đầu. Charles đính và khâu một cách thận trọng, phủ lại lớp da đầu lên sọ, khép kín những vết thương có thể. Một giờ trôi qua, rồi hai giờ, và thêm nữa, thời gian cứ lướt trôi trong lúc chúng tôi tập trung vào công việc chuyên môn cẩn trọng của mình. Lúc này thằng bé vẫn còn hôn mê, rên rỉ và lẩm bẩm khi những giấc mơ rượt đuổi nhau qua tâm trí nó, vô ý thức một cách khoan dung với những gì đang được tiến hành trên người nó. Bàn tay không còn cứu chữa được, và chúng tôi cắt đi một phần trước khi chữa trị các vết thương. Khi lưỡi cưa cắt qua những chiếc xương nhỏ bé, tôi trông thấy một vẻ khiếp sợ làm biến dạng khuôn mặt đẹp trai của Charles, nhưng dù sao đi nữa anh vẫn tiếp tục. Khi hoàn tất, chúng tôi cẩn thận băng bó cho nó, bế nó tới giường và đặt nó xuống giữa giường. Hơi thở của nó nông và chậm.
*** Kitty và Arabella ngồi trên chiếc trường kỷ. Đầu của Kitty tựa vào lòng của Arabella. Khi chúng tôi vào, Kitty đứng lên, cô ta đưa mắt tìm kiếm trên mặt của Charles một dấu hiệu nào đó. Charles tới gần cô ta, và tôi ngạc nhiên khi thấy Kitty vòng tay ôm lấy cổ anh vào kéo ép anh sát vào người mình, từ cơ thể cô ta phát ra một âm thanh dài, quặn thắt. Arabella đặt một bàn tay lên vai Kitty.
— Chúng tôi đã làm những gì có thể làm - Charles nói với Arabella.
Arabella vẫn im lìm, và ba người bọn họ cứ đứng như thế một lúc lâu, cho tới khi Charles gỡ đôi cánh tay của Kitty khỏi cổ mình và giao cô ta lại cho Arabella.
— Giờ chúng tôi có thể vào thăm nó chứ - Arabella hỏi.
Charles gật đầu:
— Nếu nó trở nên tệ hơn thì nhắn cho tôi nhé.
Arabella và Kitty đi tới cửa phòng ngủ. Cô gái giúp việc cũng đi theo, nhưng dừng lại ở ngưỡng cửa, đứng nấn ná ở lối ra vào, quay lưng về phía chúng tôi.
Từ bên trong phát ra tiếng rì rầm, rồi cô gái giúp việc quay đi, nhìn xuống nền nhà. Cử chỉ đó nói rất nhiều điều. Không cần phải nói, ai cũng có thể biết chính cô ta là người chịu trách nhiệm về đứa trẻ khi nó bị tấn công.
— Đi thôi - Charles nói - Chúng ta không còn làm thêm được điều gì ở đây nữa.
Bên ngoài, buổi bình minh đã đến và trôi qua. Len lỏi tìm đường băng qua vũng bùn cứ hút chặt lấy gót ủng, chúng tôi chậm rãi đi về hướng tây. Đó đây, những công việc trong ngày đã được bắt đầu - một người đánh xe đang chải lớp lông bóng mượt của con ngựa, một cô hầu đang trút nước từ một cái xô vào đường lộ, những người quét đường đầu tiên trong ngày đang làm việc ở các góc phố - nhưng phần lớn các con phố vẫn còn trống vắng sự sống. Charles không nói năng gì, sự im lặng của anh chặn đứng các câu hỏi của tôi.
Ở phía trước Ngân hàng Drummond, nơi chúng tôi phải chia tay nhau, một trong những chiếc xe cút kít trên đường tới chợ đã bị lật, số củ cải trong xe đổ tháo vương vải trên lớp đá lát đường và đang thu hút sự chú ý của một con heo. Nó ủn ỉn dừng lại và lần theo mớ củ cải. Cố cứu vãn một cách tuyệt vọng hàng hóa của mình, người chủ xe cút kít, một gã đàn ông tiều tụy có bước đi vặn vẹo, đang cố vung một chiếc gậy để đánh đuổi con heo. Ông ta là một người nhỏ thó, ốm yếu, trong lúc con heo là một con vật khổng lồ trong chủng loại của nó, với cái bụng oằn xuống và đôi nanh vàng. Có vẻ như nó không hề nhụt chí, mỗi nhát gậy chỉ đơn giản khiến nó kêu eng éc và lảo đảo né sang một bên trên mấy móng chân thanh nhã một cách phi lý của nó, nhưng vẫn không ngừng ngốn ngấu. Không rõ đó là heo của ai, nhưng cảnh tượng này đã thu hút sự chú ý của một nhóm ba cậu nhóc con. Lúc này chúng đang vọt tới chỗ chiếc xe cút kít, háo hức nhét mớ củ cải vào trong áo và mấy cái túi, trong lúc người chủ nhân đã phát rồ thở phì phò và cố tóm lấy chúng, ngay cả trong lúc ông ta đang chiến đấu với con heo.
— Chúng ta có thể làm gì cho những người sinh sống như thế này? - Cuối cùng Charles hỏi. Những lời của anh hướng tới chính bản thân anh cũng như tới tôi.
— Đứa bé đó sẽ chết phải không? - Tôi hỏi lại.
Charles gật đầu, không nhìn tôi:
— Rất có khả năng đó.
Lúc này chủ của xe củ cải vừa đập trúng mũi của con heo. Cú đập nhanh và mạnh, và rõ ràng là nó rất có tác dụng, vì con heo ngóc đầu và rống lên giận dữ, hơi thở nóng hổi của nó bốc hơi trong bầu không khí lạnh giá khi nó quay sang tập trung vào kẻ tấn công nó. Thấu hiểu tình thế, người đàn ông lùi lại một bước, nhưng ngay khi đó một trong ba thằng nhóc ném một củ cải vào đầu ông ta. Bỏ quên con heo, ông ta chạy vòng vòng, vung cây gậy và cố tóm lấy kẻ tấn công.
— Kitty có phải là một diễn viên như Arabella không? - Tôi hỏi. Charles quay sang như thể lần đầu tiên nhận ra tôi.
— Trước kia, giờ thì không - Anh đáp. Người chủ xe củ cải đã tóm được cổ áo của một đứa trong bọn, xoay nó vòng vòng, chỉ để chính mình bị hụt chân và té một cú khá nặng xuống mặt đá lát đường.
— Tôi thấy không có lý do gì để thầy Poll và Robert biết về những gì đã xảy ra đêm nay - Charles đột ngột nói, những lời của anh cẩn trọng nhưng cân nhắc.
— Tất nhiên - Tôi đáp. Chúng tôi đứng hồi lâu, rồi không nói lời nào, anh quay lưng và bước đi, băng qua không gian hầu như trống vắng của ngã sáu Charing Cross, thân hình anh nhòa đi trong màn sương mù lơ lửng trên mặt đất, cho tới khi hình dáng của anh hoàn toàn khuất hẳn.
 
 
 
7  
Thầy Poll rũ lá thư bung ra, đọc lướt nhanh qua nó.
— Gì vậy thầy? - Charles hỏi. Như thể nó không có gì quan trọng, thầy Poll trao nó cho Charles để anh đọc lớn cho chúng tôi nghe. Nó đến từ ngài Astley, thông báo cho thầy Poll biết những kết quả của một cuộc khám nghiệm tử thi tiến hành trên một phụ nữ, người cho tới cách đây hai ngày là một bệnh nhân của chúng tôi.
— Caley sẽ mang thi thể của cô ta tới chỗ chúng ta - Charles nói, và thầy Poll gật đầu. Không chút tình yêu nào mất đi giữa ông và đối thủ của ông. Những cung cách tử tế vờ vĩnh của Astley chẳng tác động mấy tới thầy Poll. Không còn ngờ gì nữa, lá thư của ngài Astley là nhằm mục đích chọc tức, bất chấp cái vẻ quảng đại của nó. Thầy Poll suy nghĩ khoảng một hai giây rồi nhìn tôi.
— Gọi anh Tyne vào đây. Bảo anh ta tôi muốn nói chuyện với anh ta.
Tyen đang ở căn phòng bên dưới. Hắn ngẩng lên khi tôi bước vào. Dù thái độ xử sự của hắn đối với thầy Poll không thay đổi, tôi cảm thấy hắn đã thay đổi thái độ đối với tôi kể từ sau cái đêm Lucan ghé tới, một sự gắt gỏng do ngờ vực nào đó. Khi đã nghe kể về lá thư của ngài Astley và được hỏi chuyện này là thế nào, khi chúng tôi đã yêu cầu Caley mang cái xác đó đến chỉ cách đây hai ngày, hắn bảo hắn không biết gì hết.
Thầy Poll mím chặt môi, cử hắn đi tìm Caley để có một lời giải thích, nhưng hắn quay về với kết quả ít hơn dự đoán của chúng tôi. Theo giải thích của Caley, cái huyệt chôn người phụ nữ đó trống trơn, cái xác đã bị kẻ khác lấy đi. Khi thầy Poll hỏi Tyne rằng có khi nào Caley nói dối với hắn chăng, rằng có thể chính Caley đã bán cái xác đó cho người của ngài Astley, nét mặt của Tyne đanh lại, vất bỏ đi cái cung cách đầy tinh thần trách nhiệm của hắn.
— Hắn quá thân cận với họ - Charles nói khi Tyne đã đi khỏi.
— Các cậu nghĩ anh ta nói dối vì họ à? - Giọng của thầy Poll có vẻ gay gắt. Khi không ai trong số chúng tôi trả lời, ông phẩy tay.
— Đi đi. Tôi không muốn nhắc lại chuyện này nữa.
*** Đêm đó, một mình trong phòng, tôi lắng nghe thầy Poll và Charles nói chuyện bên dưới, giọng họ khẽ và nhanh. Theo ý của Charles, chúng tôi sẽ làm rõ chuyện này với ngài Astley để biết cái xác đã đến chỗ ông ta bằng cách nào, nhưng thầy Poll không đồng ý. Bức tường mà tôi tựa lưng vào khá lạnh, nhưng thứ thấm thía nhất không phải cái lạnh của không khí mà là hình ảnh trong ký ức về Arabella, là nhận thức về những khả năng bên trong con người nàng khi nàng đứng rót nước vào nồi. Dù tôi không có dịp gặp lại nàng, nàng đã thường xuyên xâm chiếm những ý nghĩ của tôi. Tôi muốn hỏi Charles về nàng, nhưng sự im lặng của anh đối với những sự kiện trong đêm hôm đó dường như ngăn cấm tôi làm điều đó, và lời tôi hứa sẽ giữ kín bí mật những sự kiện đó đã ngăn cản không cho tôi hỏi về nàng với Chifley, Caswell hay những người khác. Nhiều lần tôi những tưởng đã thoáng nhìn thấy nàng trên phố, đang đi trước một đám đông hay đi ngang qua một cỗ xe ngựa, nhưng mỗi lần như thế, sự giống nhau biến mất khi tôi tới gần hơn. Có lần, chỉ có tôi và Chalres trong một quán rượu gần Drury Lane, tôi nghĩ tôi đã nhìn thấy nàng đang trò chuyện với một phụ nữ khác trên đường phố bên ngoài, nét mặt nàng bị biến dạng đi do những vết rạn trên kính cửa sổ, nhưng khi đi tới gần nàng lại quay đi, và dù tôi cố tìm cách gặp nàng lần nữa, tôi không thể, và nàng đã bỏ đi.
*** Tôi bắt gặp May bên ngoài hiệu sách Dryden’s. Hôm nay là một ngày lạnh, u ám, đường phố quánh lại vì một làn sương mù dường như ngày càng trĩu nặng hơn cùng với buổi chiều đang buông xuống. Lớp tuyết của tuần trước đã tan, lớp rơm trải lên bên trên tuyết đã chuyển thành màu đen và trơn trợt vì bồ hóng và băng.
Dù chỉ cần một lần hụt bước, người ta có thể té lăn quay, May vẫn vội vã đi một cách bất cẩn, đầu cúi gằm và một bàn tay giơ ra phía trước, nửa phần đầu mấy ngón tay của hắn hơi co lại và lúc lắc như để chuẩn bị cho một sự khiển trách hoặc lời giải thích nào đó mà hắn đang dượt lại trong đầu để đối phó với bất kỳ ai có thể tìm cách trì hoãn hắn. Dừng lại cạnh cánh cửa gần hiệu sách, hắn lục lọi túi để tìm một chiếc chìa khóa. Không hề nghĩ ngợi gì, tôi cất tiếng gọi hắn. Hắn ngẩng lên ngay tắp lự.
— Gabriel - Hắn kêu lên, hớn hở bắt tay tôi.
Tôi nhe răng cười, bị tước vũ khí bởi sự nồng nhiệt của hắn. Đã nhiều tuần trôi qua kể từ lần cuối hắn cặp kè với chúng tôi trong một chuyến phiêu lưu và tôi ngạc nhiên khi nhận ra rằng tôi đã thấy nhớ hắn.
— Cái gì đưa cậu tới đây vậy?
— Một việc vặt cho thầy tôi - Tôi đáp - Còn anh? Anh đi đâu đây?
— Về nhà, ở đây - Hắnnói, chỉ vào cánh cửa.
— Vội vàng đến thế sao? - Tôi hỏi, bật cười.
Nghe nói thế, đột nhiên hắn có vẻ hoang mang.
— Tôi vừa tới gặp ông già bào chế thuốc Ruthven - Hắn nói vội, rồi bồn chồn cười lớn, một tiếng cười có âm sắc cao như tiếng huýt gió. Hắn nhìn vào cánh cửa rồi quay lại phía tôi.
— Đi nào - Hắn nói, đã hoàn hồn lại - Tôi sẽ chỉ cho anh xem mấy căn phòng của tôi.
Phía sau cửa, những thứ đã vất đi hoặc không còn dùng đến nằm ngổn ngang lộn xộn trên các bậc thang: những cái ghế và thảm, những cái lồng chim, một cái bàn viết. Khi tới gần cửa, May bảo tôi rằng chúng là tài sản của chủ nhà, một người đàn ông có năng khiếu tích lũy các thứ có giá trị đáng ngờ. Rồi May chỉ vào vật này, rồi vật nọ, giải thích về từng thứ một, những từ ngữ của hắn tuôn theo một dòng chảy tràn trề, mỗi câu chuyện bắt đầu trước khi câu chuyện trước kết thúc, trước khi vòng lại để tự khôi phục chính nó, cho tới khi cuối cùng tôi cười phá lên, và hắn đứng nhìn chòng chọc vào tôi một hồi lâu, bối rối, trước khi chính hắn cũng bật cười.
— Đây - Hắn nói, dẫn tôi đi lên. Cầu thang dốc đến độ gần như là một cái thang. Vẫn còn cười lặng lẽ, tôi bước theo hắn lên cầu thang và bước qua cánh cừa ở trên cùng. Căn phòng tối mù, chỉ có một khoảng không gian sáng lờ mờ nhờ ánh sáng xuyên qua những tấm kính che cửa sổ mái nhà. Dù có một cái lò sưởi ở góc phòng, không khí khá lạnh lẽo, và trong khi May quẹt một que diêm để thắp nến, tôi kéo áo khoác của mình sát vào người. Chỗ này trông có vẻ như đã được bày biện bằng các thứ đồ đạc lấy từ bộ sưu tập trên cầu thang, mọi thứ đều rách tươm và hư vỡ, không món nào hợp với món nào. Cạnh lò sưởi là một cái ghế bành có trùm một tấm chăn, những lớp độn bên trong lòi ra sau lưng ghế; đối diện là một cái trường kỷ cũ, đã mất một chân và được chống tạm bằng một chồng sách; bên dưới khung cửa sổ có một cái ghế mà bên trên là một cuốn sổ phác họa. Nhưng số lượng của những thứ đồ đạc này bị áp đảo bởi những tấm vải bạt dựng sát vào các bức tường, và những tấm ván, khăn trải giường chất thành đống trên mọi bề mặt có thể hình dung.
Khi nến đã được thắp lên, May kéo một cái chai bẹp từ trong áo khoác ra, và rót một ít vào một cái cốc đặt trên sàn nhà. Dù việc này được thực hiện một cách công khai tôi vẫn quay đi, có gì đó trong cung cách tiến hành nó khiến cho việc quan sát có vẻ như một sự xâm phạm.
Trên ghế, hai bìa cứng của cuốn sổ phác họa mở ra, và trên trang đầu tiên, có thể nhìn thấy một gương mặt, những nét phác đầu tiên của một thân hình. May đặt đôi kính mát xuống và bước tới gần.
— Cậu có vẽ không?
— Chút chút - Tôi đáp.
— Có lẽ hôm nào đó tôi sẽ dạy cho cậu một bài.
Mặt hắn có vẻ nôn nao.
— Có lẽ - Tôi đáp. Hai chúng tôi ngắm nhìn bức tranh một lúc.
— Vậy tối nay thầy của cậu đi đâu? - Hắn hỏi, vì lý do nào đó giọng hắn hạ thấp xuống, chùng hơn.
— Với con gái của ông, và Charles.
Hắn lặng im một lúc, rồi hỏi:
— Charles thế nào rồi?
Tôi ngạc nhiên nhìn hắn:
— Anh không gặp anh ta sao?
May lắc đầu, lắc nhẹ cái ly cầm trên tay.
— Người ta không cãi cọ với Charles - Hắn nói - Chắc chắn là giờ cậu đã nhận ra điều đó - Trong một lúc, May chỉ đơn giản đứng đó, rồi hắn bật cười, như thể để chối bỏ những gì vừa mới nói. Rồi hắn lại lặng im.
— Anh ta đã biến cậu thành bạn của anh ta rồi, phải không?
Tôi không trả lời suốt một hồi lâu. Tôi nhìn xuống, chỉ vào cuốn sổ phác họa trên ghế và hỏi:
— Cô gái này là ai?
May ngẩng lên khỏi cuốn sổ.
— Lại đây nào - Hắn nói.
Ở cuối phòng có một cánh cửa thấp mở nửa phần. May đẩy cho nó mở ra và lặng lẽ dẫn tôi vào. Trên giường, một cô gái đang ngủ, chiếc chăn tụt xuống, phơi bộ ngực và đôi vai ra trước bầu không khí lạnh như băng. Cô ta có làn da trong mờ của những phụ nữ tóc hung, hai núm vú hồng, nhỏ nhắn và cứng như núm vú của trẻ con. Đầu cô ta ngửa về sau, miệng hơi hé mở, nét mặt của cô ta là nét mặt của một người hay mơ mộng, lạc vào một nơi chốn ẩn giấu nào đó trong tâm hồn. Từ ngoài đường vọng vào tiếng lanh canh của một cỗ xe ngựa, những âm thanh và tiếng rao hàng cùa người bán rau quả dạo, nhưng ở đây thì yên tĩnh đến độ có thể nghe thấy được những hơi thở của cô ta, đều đều, dịu nhẹ. Tôi thấy mình đang đỏ mặt lên. Đây là một điều riêng tư - không phải là sự trần trụi của cô ta, mà là khả năng dễ bị tổn thương của cô ta.
— Cậu nghĩ cô bé có đẹp không? - May hỏi khi chúng tôi bước ra ngoài trở lại, mặt hắn có vẻ nôn nao.
— Cô ta là ai vậy?
— Tên cô ta là Molly.
— Cô ta là điếm à? - Tôi hỏi, giọng tôi cứng hơn mức bình thường. Một vẻ tổn thương hiện ra trên nét mặt của May.
Từ sau lưng chúng tôi phát ra một âm thanh. Cô gái đã ngồi lên, và đứng ở mé trong cánh cửa sau lưng chúng tôi, quanh người trùm một tấm chăn.
— Người này là ai vậy? - Cô ta hỏi.
— Gabriel - May đáp - Một anh bạn.
Cô ta chìa tay ra cho tôi và gửi tới một cái nhìn, một sự cảnh cáo về những hiểm họa của việc xâm phạm vào lãnh địa của cô ta. Khi thấy rằng tôi hiểu, cô ta mỉm cười, rồi đi tới chỗ cái ghế cạnh lò sưởi và ngồi xuống. Chân của cô ta ló ra từ tấm chăn, đôi bàn chân để trần, lòng bàn chân bẩn và dày do một nếp sống không giày vớ.
— Đốt lửa lên giùm tôi - Cô ta nói, và dù vẫn mỉm cười, trên mặt cô ta không có một nét dịu dàng nào. May gom một mớ than và đặt chúng vào lò sưởi.
— Anh ta xử sự cái kiểu gì vậy chứ? - Nàng hỏi, nhìn tôi - Một anh bạn họa sĩ khác của anh hả? Hay anh ta là một quý ông?
— Người ta không thể là cả hai hay sao? - May hỏi, mỉm cười. Trong lúc hắn nói tôi cảm thấy thương hại cho hắn, vì tôi thấy hắn yêu cô gái này với tất cả những gì tốt đẹp trong con người hắn.
Cô ta thốt lên một tiếng cười nhạo báng. Trong một lúc lâu May đứng nhìn cô ta, rồi, vừa mỉm cười nôn nao, hắn vừa quay đi, vớ lấy cái chai bẹp lúc nãy và rót thêm hai cốc nữa. Trên ghế, Molly dõi theo cử động của hai bàn tay hắn, và dù cô ta tìm cách che đậy điều này, tôi nhìn thấy cô ta thèm thuồng thứ chất lỏng trong chai như thế nào. May mang một cốc tới cho cô ta, và cô ta giơ tay vớ nhanh lấy nó. Cầm cốc bằng cả hai tay, cô ta uống nhanh, một chuyển động nhanh của cổ họng. Và rồi, khi uống cạn cốc, cô ta đặt nó sang bên, phớt lờ bàn tay đang giơ ra của May. Lúc này cô tay nhìn tôi và cười lớn, một âm thanh trầm trầm, mơ màng, tự chìm vào chính nó.
— Anh có muốn uống một chút không? - Cô ta hỏi, và quan sát tôi.
Tôi ngần ngừ, hai mắt dán vào Molly, rồi chậm rãi gật đầu.
*** Dù đã được lọc qua mùi rượu cháy ngòn ngọt, chất thuốc phiện vẫn còn đắng, một dư vị gay gắt phủ lên lưỡi và nấn ná trong vòm miệng. Thoạt tiên tôi không cảm thấy gì ngoài sức nóng của rượu mạnh, nhưng sau đó nó xuất hiện, một cảm giác thư thái len lén tuôn chảy khắp người tôi như một đợt thủy triều. Đầu tiên, thế giới dường như không thay đổi, sự thay đổi duy nhất là sức nặng trong kết cấu của một vật gì đó. Ngồi thoải mái trong chiếc ghế bành của mình, May đang nói chuyện, giọng của hắn vừa to vừa có vẻ xa xôi, trong lúc đó Molly nằm ngửa đầu ra. Tôi cảm thấy một sự hiện hữu nào đó ép lên bầu không khí xung quanh, một thế giới khác, như thể căn phòng này, những cuộc sống này của chúng tôi, cái thế giới này, tất cả đều như một giấc mơ đang di động bên trên một không gian nào đó thẳm sâu hơn, giống như những làn sóng gợn lăn tăn trên bề mặt của một cái hồ bị mưa làm xáo trộn, xuyên thủng qua ở nơi này nơi khác và chuyển động chỉ để vượt qua nó, rồi nhòa nhạt dần; tri giác về nó đến như ký ức về một điều gì đó đã bị lãng quên mà tôi không biết, với một sự đúng đắn nằm sâu bên dưới lớp ngôn từ, như thể cuối cùng tôi đã hiểu ra bản chất, nếu như đó không chỉ là tên gọi, của sự trống rỗng đang nằm ngay giữa hồn tôi.
Tôi không chắc mình đã rời khỏi đó bao lâu, thế nhưng những đường phố bên ngoài đã vắng lặng từ lâu. Trên đầu, sương mù biến những ngọn đèn thành những ánh lửa vàng hực lập lòe rạng rỡ, như kim loại trong lò của một tay thợ rèn. Không có sức nóng, thậm chí không có tiếng ồn, dù ở tứ phía thế giới vẫn kêu tích tắc và rung động. Trên phố Old Compton, tôi nghe thấy tiếng cú kêu, rồi một con cú bay sà ngang đầu tôi, lớp lông nhạt màu dưới bụng nó và đôi cánh rộng của nó chậm rãi lướt qua bầu không khí nặng trĩu, hình dáng ma quái của nó gần đến độ tôi có thể giơ tay lên chạm vào nó. Một thời điểm sau đó, tôi nằm ngủ trên giường của mình, một giấc ngủ thoảng nhanh không chiêm bao mộng mị, cho tới khi tôi bị đánh thức bởi ánh bình minh vẩn đục, thân thể phủ đầy ký ức về những gì đã trôi qua, và giờ đây chỉ cảm thấy sự vắng mặt của nó, cái tri giác về sự mất mát của nó.
*** Mùa Giáng Sinh đến, mang lại tuyết và một sự thinh lặng cho những con đường thành phố. Tiếng chuông ngân băng qua những mái nhà, âm thanh của chúng trong veo như thủy tinh trong bầu không khí giá băng, những cỗ xe ngựa rít lên chói cả tai trên những phiến đá. Dù tôi không có gia đình riêng để về xum họp, theo lời mời của Robert, tôi trải qua đêm Giáng sinh với mẹ và em gái của anh tại một ngôi nhà ở thị trấn Kentish. Thật lạ khi trông thấy Robert như thế, cười nói và thoải mái vô tư với gia đình anh ấy, vì Robert không còn là chàng thanh niên nghiêm nghị mà tôi đã trở nên quen thuộc. Ở đây, anh làm hề và kể chuyện tiếu lâm, trêu ghẹo cô em gái cho tới khi cô bé bật cười và kéo tóc anh, rồi lại khiêu vũ với mẹ anh bên lò sưởi. Ngôi nhà không to lớn lắm: một tầng của một tòa nhà nằm cạnh một cánh đồng nơi lũ khỉ kiếm ăn, và đồ đạc trong nhà đều mòn xơ mòn xác, những trạng huống hoàn toàn khác với một thuở họ từng biết trước đây, nhưng ít ra là trong đêm nay, dường như những đồ vật này không làm họ phải âu lo, và họ có vẻ hoàn toàn hạnh phúc với bản thân và với nhau.
Dù họ muốn tôi ở lại như Robert đã dự định, tôi từ chối lời mời của họ. Robert được ông chú tặng cho một hộp xì gà, và anh ép tôi đốt một điếu khi hai chúng tôi đi bộ băng qua những cánh đồng lạnh giá lúc nửa đêm, hơi say và mụ đi chút chút vì khói thuốc. Bầu trời trên đầu trong trẻo, những cụm sao sáng lặng lẽ di chuyển vào những khúc quanh tối tăm của trái đất. Âm thanh duy nhất là tiếng rống của lũ bò khi chúng giật mình trong giấc ngủ. Chẳng bao lâu, có cái gì đó trong sự thinh lặng của đêm khiến cho chúng tôi im bặt, rồi tôi cảm thấy một sự trống rỗng nào đó ập xuống. Trong suốt buổi tối tôi đã cảm thấy nó hiện diện ở đó, như thể tôi quan sát niềm hạnh phúc của họ từ phía bên ngoài, cả những tràng cười rộ của tôi và những bài hát của chúng tôi cũng đều như ảo giác. Có lẽ Robert cũng nhận ra điều này, vì khi chúng tôi dừng lại cạnh cánh cổng đá nơi anh chào tạm biệt tôi, anh nắm chặt bàn tay tôi và giữ nó một hồi, một lần nữa nài nỉ tôi ở lại. Nhưng tôi lắc đầu và bảo anh rằng tôi sẽ không làm phiền nhiều hơn nữa, và thế là chúng tôi chào từ giã nhau trong bóng đêm.
Dưới bầu trời rộng mở, tôi chậm rãi bước quay về, băng qua những cánh đồng, những khu vườn để đi vào thị trấn Camden. Rồi từ đó đi ngang qua những quán trọ và ngôi nhà cuối cùng của những con đường quê để bước vào phố xá. Từ một cỗ xe, mấy thanh niên địa phương cất tiếng gọi tôi, và tôi vẫy tay, nhưng thật ra những ý nghĩ của tôi không dành cho họ. Nửa tháng đã trôi qua kể từ cái đêm tới nhà thằng bé, và trong thời gian đó Charles không hề nhắc về nó lần nào nữa. Ở ngoại diện, anh có vẻ như không thay đổi, nhưng đã có điều gì đó đổi thay: chưa quá hai đêm trước, trong quán Cock, anh đã quát nạt Chifley, anh đã trở nên dễ nổi nóng vì những điều nhỏ nhặt. Thế nhưng sau đó anh lại năn nỉ chúng tôi, tâm trạng của anh bất ổn và mất kiểm soát, cho tới khi ngay cả Chifley cũng thấy sợ anh, và đêm đó chúng tôi bỏ những cuộc chè chén.
*** Bà Gunn đang ngủ ngồi trước ngọn lửa trong bếp lò, cuộn tròn trong chiếc ghế. Trên bàn là những gì còn lại trong bữa tối của bà, trên đùi bà là một hũ bia đen. Ngôi nhà bên trên im lặng như nấm mồ. Không thấy bóng dáng của Tyne đâu cả, vì thế tôi thận trọng đỡ bà ngồi dậy, và vòng tay quanh người bà, tôi đưa bà tới căn phòng ngủ của bà bên cạnh nhà bếp. Khi đỡ bà nằm xuống, bà nắm lấy tôi và cố dán một cái hôn lên miệng tôi, đôi môi nhăn nheo của bà lẩm bẩm điều gì đó mà lẽ ra tôi không nên nghe thấy, và xấu hổ cho bà, tôi rút lui. Căn phòng của tôi trên gác sẽ rất lạnh, vì thế tôi ngồi trước ngọn lửa, thả hồn vào những hình ảnh trong ánh lửa chập chờn.
 
 
 
8  
Ngay cả ở đây, trong ngôi nhà này, nơi chúng tôi sống rất gần gũi với nhau, vẫn có khả năng cảm thấy cô đơn. Tôi đã hiểu được tính khí thầy tôi, cũng như tôi ngày càng kính trọng những lần im lặng của Robert. Có rất nhiều điều chúng tôi không nói ra, và nhiều điều tôi giữ cho bản thân mình. Nhưng những bí mật này đè nặng lên chúng tôi trong những khoảnh khắc thinh lặng, giống như trong những ngày sau đó. Tôi chẳng có gì nhiều để làm, chẳng có nhiều công việc ngoại trừ việc học, vì thế tôi rảnh rỗi, lang thang qua những căn phòng trống. Do đang dịp lễ Giáng sinh, chúng tôi không lên lớp, có ít bệnh nhân, và do đó, ít cần tới những cái xác.
Điều này có thể là một dạng phúc lành nào đó, vì trong mấy tuần vừa rồi, dường như Caley đã đổi tính. Dù chúng tôi vẫn cẩn thận không nhắc tới cuộc ghé thăm của Lucan, hắn có những cách khác để khám phá ra mọi chuyện. Nhưng dù có biết hay không, dạo gần đây hắn có vẻ thất thường, ít đáng tin cậy hơn, và khi có người hỏi han, hắn đáp lại với sự giận dữ và ngờ vực.
Vì vậy tôi rất ngạc nhiên khi bị Robert đánh thức vào cái đêm trước Năm Mới hai ngày. Anh bảo tôi Caley đang ở đây. Tôi ngồi dậy, cài cúc áo khoác và theo anh xuống tầng hầm, nơi Caley và Walker đang ngồi chờ cùng Tyne. Trông Caley có vẻ bực dọc, đi lại một cách nôn nóng.
Hai cái bó họ mang tới đang nằm trên sàn nhà. Dưới sự quan sát của Caley, chúng tôi quỳ xuống để kiểm tra chúng. Robert mở cái bao lớn trước. Nó có một hình dáng kỳ quặc, và khi anh ngồi lại trên hai gót chân, tôi hiểu ra lý do. Bên trong, là hai đứa bé, thân hình của chúng xoắn vào nhau như thể chúng nằm gối lên nhau trong giấc ngủ vô tư. Robert không nói năng hay cử động gì một hồi lâu: không ai trong hai chúng tôi có chút cảm tình nào với việc mua xác của trẻ con, dù thỉnh thoảng chúng tôi làm chuyện đó.
— Chúng là một cặp song sinh - Caley nói.Thật sự, dù một đứa là trai còn đứa kia là gái, cả hai đứa đều giống hệt như nhau. Robert thò tay ra và thận trọng sờ vào mặt và cổ của chúng, tìm kiếm xem có dấu hiệu nào cho thấy chúng đã bị hủy hoại hay không.
Khi bàn tay của Robert lướt qua làn da của hai đứa trẻ, tôi cảm thấy Tyne trở nên bất động một cách kỳ lạ bên cạnh tôi. Liếc mắt lên, tôi trông thấy cái cách hắn nhìn, cách toàn bộ sự chú ý của hắn tập trung vào hình dáng nhỏ xíu của chúng. Và đối diện với tôi, Caley cũng quan sát hắn. Không nói lời nào, hắn đưa mắt nhìn tôi, một nụ cười xuất hiện trên môi hắn, và tôi nhận ra hắn quan sát Tyne không như người ta quan sát một kẻ tòng phạm hay một người bạn, mà như quan sát một kẻ các nhược điểm của y hắn hoàn toàn thấu hiểu.
Với một dấu hiệu của Robert, chúng tôi nhấc cả hai cái xác lên đầu bàn. Sau đó, tôi rút con dao ra, quỳ xuống để cắt những sợi dây cột cái bó thứ hai, cái bao nhỏ hơn. Tôi cảm thấy một sự khốn khổ nào đó: có thứ gì đó kinh khủng đang nằm trong cái bao này, một điều gì đó vô nghĩa và u mê trong những cái vỏ rỗng không này. Và rồi, khi kéo cái xác ra, tôi nhìn thấy những đường khâu, gương mặt đã bị hủy hoại của thằng bé.
— Gì vậy? - Robert hỏi. Thoạt tiên tôi không thể thốt nên lời, chỉ ngồi xuống, bàn tôi giơ lơ lững ngay bên trên lồng ngực bé nhỏ của đứa bé.
— Gabriel?
— Chúng ta không thể nhận cái xác này - Tôi nói, ngả người về phía sau.
— Tại sao không? - Anh quỳ xuống cạnh tôi.
Tôi chỉ lắc đầu, không chắc phải nói thế nào. Đứa bé này là Oliver, con trai của Kitty. Robert đưa tay ra và sờ vào nó.
— Nó đã bị đánh dấu - Tôi nói, ra hiệu về phía lớp da đầu và bàn tay đã bị hủy hoại; những đường khâu của Charles, một công trình chắp vá kinh khủng.
— Chúng ta không còn khả năng kén cá chọn canh - Robert nói.
Sau lưng chúng tôi, Caley đang quan sát.
— Nó chết lâu rồi - Tôi nói.
— Có lẽ là hai tuần. Không lâu lắm trong thời tiết này.
Tôi lắc đầu, khăng khăng:
— Chúng ta không thể nhận nó.
Robert liếc mắt về phía sau nhìn Caley rồi nghiêng người sát vào tôi.
— Anh bảo chúng ta sẽ không nhận nó nhưng anh không đưa ra được lý do khả dĩ nào - Anh giữ cho giọng mình thật khẽ nhưng tôi nghe thấy sự bực mình trong đó.
— Tôi đã đưa ra cho anh hai lý do - Tôi nói.
— Và tôi đã nói không lý do nào đầy đủ cả.
Lại nhìn xuống Oliver tội nghiệp, tôi lắc đầu - Xin anh, đừng nhận nó.
Caley tiến tới gần hơn, ánh mắt hắn chuyển từ thằng bé sang tôi.
— Gì vậy?
Dù hắn kềm chế, có thể nhìn thấy sự đe dọa trong thái độ của hắn. Robert nhìn tôi một lần nữa. Rồi, như thể vì lý do nào đó tôi đã thuyết phục được anh, anh quay sang Caley.
— Chúng tôi không thể nhận đứa bé này.
Nét mặt Caley tối sầm, nhưng trước khi hắn có thể nói, Tyne đã bước tới, một bàn tay giơ lên để ngăn hắn lại.
— Tại sao không? - Tyne hỏi.
Im lặng bao trùm, rồi Robert lắc đầu.
— Những vết thương của nó tệ quá - Anh nói, giọng anh vẫn đều đều, như thể không có gì phải nói thêm về chuyện này. Nhưng Tyne không dễ bị gạt ra như thế. Hắn quỳ xuống, đưa một tay sờ vào gò má của đứa trẻ. Cái vẻ thân mật trong cử chỉ này không hay ho chút nào, và tôi thầm ước, trong lúc mấy ngón tay cứng còng của hắn quét qua lớp thịt trần trụi đó, rằng giá mà tôi có thể ngoảnh nhìn sang chỗ khác.
— Chúng ta từng nhận những xác tệ hơn - Hắn nói, thăm dò lồng ngực và những khoảng kín bên dưới hai cánh tay - Các cậu phản đối điều gì ở cái xác này? - Khi chúng tôi không đáp, hắn ngẩng lên, đầu tiên là nhìn Robert.
— Tôi hiểu - Hắn nói - Không phải cậu phản đối mà là cậu ta - Tiếp đó hắn nhìn tôi - Tôi nghĩ là cậu biết điều gì đó về đứa trẻ này - Mặt hắn đột nhiên gần đến độ tôi có thể ngửi thấy mùi thối chua lòm từ hơi thở hắn - Phải thế không?
Tôi lắc đầu, dù đôi mắt tôi phản bội lại tôi.
— Đây là quyết định của tôi - Robert nói, đưa người ra che chở tôi. Tyne không nhúc nhích, nhưng hắn chậm chạp chuyển ánh mắt sang mặt Robert. Cuối cùng hắn thốt lên một tiếng phẫn nộ rồi quay đi.
*** Dù không mấy hài lòng, Caley vẫn cột ràng đứa bé lại như cũ và cùng với Walker quay trở ra bóng đêm. Tyne nấn ná trong phòng, quan sát chúng tôi lau rửa thân thể của hai đứa bé song sinh. Vì sự có mặt của hắn ở đó, tôi không thể nói gì, và điều này khiến tôi đau xót, bởi lẽ trong không khí im lặng tôi cảm nhận được một sự phiền trách khiến cho tôi xấu hổ. Chỉ khi chúng tôi đã xong việc, chỉ còn lại Robert và tôi, tôi mới có thể thốt nên lời.
— Cám ơn.
Robert quay lại ở đầu cầu thang, và trong suốt nhiều giây chỉ đứng nhìn tôi.
— Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra đêm nay, Gabriel, và tôi cũng không quan tâm. Nếu anh muốn giữ bí mật thì đó là việc riêng của anh.
— Bí mật này không phải của tôi - Tôi nói, nhưng anh lắc đầu.
— Cứ cho là thế - Giọng anh vẫn bình thường, nhưng tôi nghe thấy sự giận dữ trong đó - Tôi chỉ lưu tâm tới việc những bí mật đó sẽ không theo anh về ngôi nhà này lần nữa.
Tôi gật đầu, nhưng anh chưa nói hết.
— Chuyện này rất tệ. Caley là người của Tyne và việc mua bán cũng mang lợi tới cho hắn.
— Tôi rất tiếc về việc anh phải cãi nhau với hắn để bênh vực cho tôi.
— Tôi không lo cho mình - Anh đáp - Tyne là một gã cần phải cảnh giác và tối nay anh đã khiến cho hắn thất thu.
*** Cùng với sự chuyển đổi của năm, thời tiết ngày càng tệ hơn, những cơn mưa rét buốt nhường chỗ cho những trận mưa đá đen ngòm và những trận gió điên cuồng gào rú. Trong tầng hầm, những trụ băng hình thành trên những rui xà; băng che kín nước trong những cái xô, trong mọi căn phòng, cái lạnh ngày càng tăng lên theo từng ngày. Rồi, không có một dấu hiệu cảnh báo nào, những cơn gió quay sang hướng bắc, và tuyết rơi suốt cả đêm, sạch và trắng tinh khôi, lặng lẽ di chuyển về hướng đông, trải thảm lên những mái nhà u ám và biến cả thành phố thành một địa điểm của vẻ đẹp khắc nghiệt, những chóp nhà thờ chỉa lên như những chỏm núi trùm tuyết trắng, những hàng cây vươn nhánh trơ trụi vào không gian lạnh lẽo, bị cắt thành từng đoạn bởi lớp băng lóng lánh.
Và cùng với tuyết là một sự thinh lặng, như thể thành phố trở nên bất động vì sức nặng của nó. Trong những nghĩa trang và công viên, những hình dáng co ro di động ngang qua khoảng đất đóng băng, thu gom nhánh cây để làm củi đun, để sưởi ấm thân hình, và trên các con phố, những cỗ xe ngựa và mọi người vẫn còn đi lại, nhưng với số lượng ít hẳn đi, và cử động của họ kém phần hối hả.
Không có lời nào nhắc tới vụ tôi từ chối mua đứa trẻ. Nhưng Tyne không hề quên: dạo này hắn theo dõi tôi sát sao hơn, và có hai lần tôi chắc chắn tôi đã nhìn thấy hắn trên phố từ khóe mắt. Có lẽ câu chuyện sẽ dễ chịu hơn nếu hắn nói cho thầy Poll biết; theo cách nào đó, sự im lặng của hắn đáng ngại hơn nhiều, và tôi thấy rất khó chịu.
*** Trên phố Prince’s, ngay trước nhà thờ Thánh Ann, một đàn quạ đi lại trên mặt đá lát đường, thu nhặt thức ăn theo những vết lại qua của những cỗ xe băng qua lớp tuyết - một màu đen nổi lên trên màu trắng. Bầu trời trên đầu sà thấp, nặng trĩu và tím ngắt. Tiếng chuông trên tháp đổ dồn, âm thanh nghe rất lớn trong sự tịch mịch của buổi sáng giá lạnh, và khi chuông ngân tôi dừng lại, nhìn ngược về hướng ngôi nhà thờ hiện ra như một khối mờ mờ. Qua dãy lan can của nghĩa trang, tôi thoáng thấy mái đầu của những người đưa đám, những cái mũ chóp cao của mấy người phu mai táng và cỗ quan tài trên vai họ chỉ hiện ra khi nó được khiêng ngang qua khoảnh đất trống.
Tôi cứ đứng như thế suốt nhiều giây, nhìn đăm đăm, rồi tôi chậm chạp quay đi và băng ngang mặt đường lún sâu để đi tới cổng. Khối sắt bên dưới bàn tay tôi lạnh ngắt. Cả ở đây cũng trắng toát, những tấm bia đá chen chúc lẫn vào nhau. Ở một số nơi, những cái huyệt há hốc miệng, tối đen trên nền tuyết, gần giống như những cánh cửa trống rỗng mở ra trong lòng đất. Lúc này những người đưa đám đã dừng lại bên dưới tán lá trơ trụi của một cây sồi, cỗ quan tài được hạ xuống, rồi giọng của vị linh mục cất lên.
Một sự tĩnh mịch bao trùm lên nghĩa trang, cái không gian thinh lặng của những nghĩa trang ở mọi nơi. Cạnh huyệt mộ, một người đàn bà đang khóc, đầu bà ta gục xuống; người thanh niên đứng cạnh bà ta, có lẽ là con trai bà, vì cậu ta còn trẻ, đưa tay ra để an ủi bà ta, nhưng bà ta không đón nhận, và gạt nó ra với một sự dứt khoát gần như thô bạo, cử động này khiến mọi thứ im bặt, ngay cả giọng của vị linh mục. Người thanh niên vẫn đứng đó, bàn tay chìa ra, người phụ nữ nhìn một cách dữ tợn ra trước mặt, và nhóm người tụ tập nhỏ bé lao xao một cách khó chịu.
Đột nhiên có cảm giác như mình đang xâm phạm, tôi quay lưng lại và rời khỏi đó - và ngay lúc đó tôi nhìn thấy nàng trên con đường bên ngoài cánh cổng. Khi mắt chúng tôi gặp nhau, nàng ngần ngừ, như thể muốn chuồn đi nhưng vẫn đứng đó bất chấp ý muốn của chính nàng và giờ đã bị tóm được.
— Tôi e là tôi sẽ không thích lý do vì sao anh có mặt ở đây - Nàng nói, khi chúng tôi tới gần nhau.
Tôi lắc đầu:
— Tôi đứng nhìn đám tang, chỉ có thế.
Nàng dò xét nét mặt của tôi. Rồi với một cử động nhỏ, nàng liếc ra qua vai tới những tòa nhà mọc lên ở mé bên kia phố Prince’s. Những ô cửa sổ bên trên chúng mở ra trống rỗng.
— Đi với tôi - Nàng nói.
Nàng bước nhanh, như thể mong muốn rời khỏi chỗ này.
— Đi bộ trong một ngày như hôm nay thật là vất vả - Cuối cùng tôi lên tiếng - Cô định đi đâu?
— Tới chỗ một người bạn - Nàng đáp. Tôi nghe thấy sự lãng tránh nhưng không muốn thúc ép nàng. Nàng đang run lẩy bẩy, ép hai cánh tay sát vào người; dù mũ và cổ áo của nàng làm bằng lông, cái áo khoác nàng mặc khá mỏng, và mặt nàng đỏ ửng vì lạnh.
— Tôi rất tiếc khi biết về mất mát của Kity - Tôi nói, câu nói của tôi vụng về đến nỗi tôi thấy hối tiếc vì nó ngay lập tức. Nhưng nàng không tỏ ra dấu hiệu nào rằng tôi đã xúc phạm. Thay vì vậy, trông như thể có điều gì đó trong câu nói của tôi đã làm cho nàng phải ngạc nhiên.
— Một đứa trẻ chết đi luôn là một chuyện buồn - Nàng cất tiếng, rồi quay đi. Lời của nàng có vẻ gay gắt, nhưng trong giọng nói có một điều gì khác.
— Kitty thế nào rồi?
— Đó là một sự kiện đau lòng. Và trước đó chị ấy cũng không khỏe lắm.
Câu đáp cuối cùng này mang lại sự im lặng giữa chúng tôi trong một lúc.
— Tôi đã không còn hy vọng được gặp lại cô - Tôi lên tiếng, người tôi run lên, lại thấy hối tiếc về những lời vừa thốt. Thế nhưng nàng không bật cười mà cũng không chế giễu.
— Công việc của anh có mang đến cho anh hạnh phúc?
Tôi ngần ngừ:
— Đó là ý định của người giám hộ, rằng tôi nên có một nghề nghiệp để tự lo cho bản thân mình.
— Cha mẹ của anh ra sao?
— Họ đã qua đời.
Nàng gật đầu, nhìn vào và nhìn xuyên qua con người tôi, như thể tôi không hoàn toàn có thật, hoặc nàng đã nhìn thấy ở tôi một điều gì đó đã bị quên lãng từ lâu.
— Còn cha mẹ của cô? - Tôi đánh bạo hỏi.
Nàng im lặng trong chốc lát, rồi quay đi chỗ khác:
— Cũng đã qua đời, lâu rồi.
Tôi chờ đợi, nghĩ nàng sẽ nói tiếp, nhưng thay vì vậy, nàng lại lặng thinh một lúc.
— Tôi có công việc ở đây, anh Swift - Nàng nói - Mong anh thứ lỗi cho.
Tôi cúi đầu chào. Nàng đứng nhìn tôi một lúc lâu.
— Tôi không nghĩ chúng ta sẽ gặp lại lần nữa - Cuối cùng nàng nói, rồi, với chiếc áo vẫn quấn chặt quanh người, nàng quay đi, bỏ tôi đứng lại ở đó dõi theo hình dáng của nàng khi nó ngày một xa dần ở cuối đường. Cuối cùng, tôi cảm thấy có vật gì đó trên gò má mình, và ngẩng đầu lên, tôi thấy tuyết lại rơi lần nữa, những hoa tuyết trắng ngần trôi bồng bềnh và xoay tít trong bầu không gian giá lạnh.
*** Ở phòng khám bệnh, tôi quan sát Charles trút một liều cà độc dược vào một cái chai.
— Có chuyện này tôi phải nói với anh - Tôi nói, biết rằng anh đã để ý tới sự im lặng của tôi.
Anh mỉm cười:
— Thế à, chuyện gì vậy?
— Ba đêm trước, khi Caley tới, tôi đã khiến cho một trong mấy cái xác hắn mang tới bị khước từ.
— Nó đã bị hư hoại à?
Tôi lắc đầu:
— Không, không hư hoại.
— Vậy tại sao? - Anh hỏi, giọng vẫn bình thường.
— Đó là con của Kitty.
Anh không trả lời.
— Anh đã biết?
— Không biết việc họ mang nó tới đó.
— Tôi rất tiếc - Tôi nói, nhưng ngay vừa khi nói ra tôi biết những từ này là sai, và theo cách nào đó tôi đã xúc phạm. Charles lắc cái chai để kiểm tra lại liều thuốc thêm lần nữa, rồi nhét nó vào trong áo khoác.
Ra tới cửa anh dừng lại, quay về phía tôi.
— Tôi chưa cám ơn anh một cách thích đáng về sự thận trọng của anh trong vấn đề này. Tôi sẽ ghi nhớ nó.
 
 
 
9  
Tuần lễ sau đó không có gì vui vẻ. Dù Caley và Walker vẫn mang hàng tới cho chúng tôi, những chuyến giao hàng của họ rất thất thường, họ thường không thực hiện đúng theo lời hứa. Họ không đưa ra lý do nào cho sự thất hứa của mình, dù thầy Poll khá chắc rằng Lucan có dính dáng tới chuyện này. Chỉ riêng điều này không cũng đủ gây rắc rối, nhưng vì có quá ít thi thể, thầy Poll và Charles buộc phải hủy bỏ những bài giảng nhiều lần. Mất tiền đã khá là bực mình rồi, nhưng phải chịu đựng sự nhục nhã khi thấy những người khác được học trong lúc chúng tôi thì không thật là một điều cay đắng. Đây cũng không phải là chuyện tệ hại duy nhất trong mấy tuần này: đó đây rộ lên lời đồn rằng có những tay khác đang khoái trá với tình trạng khó xử của thầy Poll, và tệ hơn nữa, người ta bảo rằng Công tước xứ Kent đã khước từ các dịch vụ của thầy Poll và chọn ngài Astley thay thế. Chúng tôi không thể biết vì sao chuyện lại xảy ra như thế vì không có chứng cứ nào, nhưng thầy Poll vẫn đoan chắc rằng nguyên do xuất phát từ đối thủ của ông. Người ta cho rằng với tất cả những lá thư tỏ vẻ cảm thông, ông ta vẫn hoạt động không mệt mỏi để gieo rắc những lời vu khống về khả năng của thầy Poll.
Chẳng nhìn thấy bóng dáng Arabella đâu cả; thật sự, khi những ngày chuyển thành những tuần, những lời từ giã của nàng ngày càng có nhiều khả năng trở thành sự thật. Hai lần tôi đã lê gót tới nhà hát nơi nàng biểu diễn, ngồi trong những lô ghế rẻ tiền nhất, theo dõi nàng di chuyển trên sân khấu. Dù vẫn xinh đẹp, có vẻ như nàng xa cách vô cùng, như thể người phụ nữ đêm đó trong nhà của Kitty đã trở nên ít có thật hơn khi nhìn thấy nàng như vậy. Điều này khiến tôi buồn nẫu ruột, vì thế sau lần thứ hai tôi không tới đó nữa.
Tôi cũng cảm thấy sự thay đổi ngày càng tăng ở Charles, sự biến chuyển trong cung cách xử sự của anh. Có lẽ người khác không nhận ra điều này. Việc che giấu nó thật là vất vả đối với Charles, vì với tất cả sự cởi mở hiển nhiên của mình, anh phải nén giữ lại nhiều điều quá. Nhưng khi mấy tuần này đã trôi qua, anh không còn là mình nữa, anh nóng nảy hơn, và dù vẫn nói cười hát hỏng, anh thường tỏ ra xao lãng và khó tính hơn theo cách nào đó, như thể một phần cốt lõi nào đó trong anh đã vỡ toang.
Tôi chắc là Chifley cũng nhận ra điều này, dù tôi không hỏi hắn. Tôi chưa bao giờ hiểu điều gì đã nối kết hai người bọn họ lại với nhau. Thường thường, họ có vẻ như không phải là bạn bè gì cả, nhưng như thể họ được kết nối lại bởi một nhu cầu sâu xa hơn về sự bầu bạn của người kia, một mối ràng buộc không thể vỡ về tinh thần và tính khí mà mỗi người trong bọn họ đều cố gắng kéo căng, có những lúc sự cố gắng này tự thể hiện ra trong một năng lượng điên rồ - sự hồ hỡi say sưa mà dường như họ có thể mang tới cho nhau - và có những lúc khác trong sự soi mói, im lặng và cái gì đó gần như là ghét bỏ.
*** Dù chỉ cách phố Fleet chừng một trăm thước Anh, sự thinh lặng bao phủ nơi đây, những con chuột cống nối nhau thành hàng trên đầu, di động như những bóng ma trong bầu không khí kín như hũ nút. Trong vòng vài phút qua, tôi liếc ra sau không chỉ một lần, nghĩ rằng tôi đã nghe thấy một âm thanh đang cố tỏ bày điều gì đó qua màn sương mù. Trong khoảnh khắc, tôi cho rằng tôi đã nhìn thấy một hình dáng hiện ra, nhưng nó biến mất gần như ngay tức khắc. Với những ý nghĩ về bọn trộm cắp, tôi kéo chiếc áo khoác sát vào người hơn và quay sang bên, luồn xuôi theo một hành lang có mái. Thế rồi đột ngột hắn hiện ra, tựa người vào một ô cửa.
— Đây là những con đường không thân thiện - Hắn nói, vươn người ra để chặn đường tôi.
— Ông đi theo tôi à? - Tôi hỏi.
— Sao tôi lại phải đi theo cậu? - Hắn hỏi lại với tiếng cười mượt như nhung.
— Đó là điều mà tôi không thể biết.
— Công việc ở nhà thầy cậu thế nào rồi?
— Tệ hơn, do những lưu tâm của ông.
— Tôi rất tiếc khi nghe thấy điều đó - Hắn mỉm cười, và tôi cảm nhận được một sự lôi kéo rủ rê đồng lõa. Tôi lắc đầu, thốt ra một âm thanh biểu thị sự không tin tưởng.
— Thế nhưng tôi nghe nói cậu từ chối không nhận một đứa trẻ.
Tôi ngần ngừ, nhận ra phản ứng của tôi đã cung cấp cho hắn bất kỳ câu trả lời nào hắn đang tìm kiếm. Hắn im lặng một lúc.
— Nó đã kết thúc trên bàn của van Hooch - Hắn nói. Khi tôi không đáp, hắn moi một điếu xì gà từ trong hộp ra và quẹt một que diêm vào ủng, cẩn thận châm lửa điếu thuốc.
— Tyne không phải là loại người nổi giận một cách nhẹ nhàng. Sao lại làm liều như vậy?
Mùi của điếu xì gà hòa vào mùi lưu huỳnh của que diêm khi hắn hít khói vào và để cho nó uốn éo thoát ra khỏi đôi môi. Rồi với một cử động lười nhát của cổ tay, hắn búng que diêm văng ra xa.
— Thầy của cậu đã chơi khăm tôi một vố, cậu biết đó. Tôi tới gặp ông ta với tư cách một người bạn và ông ta đã sỉ nhục tôi.
— Ông đã đe dọa ông ấy.
Hắn lắc đầu:
— Không. Chính ông ấy đã tước đi cái thuộc về tôi và tìm cách gây tổn hại cho tôi.
Tôi ý thức một cách bất ổn về những bức tường của hành lang khép lại quanh chúng tôi, cái mái thấp trên đầu nhuộm đen bồ hóng.
— Những rắc rối này của ông ta, ông ta hoàn toàn có thể ngăn chặn chúng. Hãy nhắc nhở ông ta điều đó.
Tôi gật đầu, và hắn tới gần hơn, làn khói ngòn ngọt làm se khô cổ họng vây quanh chúng tôi.
— Nghe nói de Mandeville đã có một kế hoạch dành cho cậu, rằng anh ta đưa cậu đi ăn nhậu, và gặp những cô bồ của anh ta.
Tôi không trả lời, và hắn chậm rãi đi ngang qua tôi, cho tới khi hắn đứng ở sau lưng tôi.
— Tôi có thể giúp cậu - Giờ đây hắn hạ thấp giọng, thân mật hơn.
— Tôi không thể tưởng tượng được bằng cách nào - Tôi đáp, và hắn cười lặng lẽ.
— Nào, cứ suy nghĩ về chuyện đó. Cậu là một cô nhi, chẳng có tài sản cũng chẳng có danh vọng gì, và nghe nói cậu nợ tiền của bọn Do Thái.
— Tôi là một quý ông - Tôi nói, những từ này cứng lại và vỡ ra khi thoát khỏi miệng tôi.
— Cậu kiêu hãnh. Điều đó tốt. Nhưng đừng để lòng kiêu hãnh đó làm cho cậu mù quáng.
Tôi đứng đó, chẳng thốt lời nào.
— Tất cả chúng ta đều cần có bạn hữu trên cõi đời này, Gabriel ạ.
— Tôi đã có đủ bạn rồi.
Im lặng hồi lâu, rồi cuối cùng hắn bỏ đi.
— Bảo với thầy cậu rằng chúng ta đã gặp nhau.
*** Khi hắn đã đi khỏi, tôi đứng nhìn vào khoảng không gian hắn vừa rời bỏ. Tôi nhận ra bàn tay mình đang xiết chặt lấy cái gói mà thầy tôi đã giao cho tôi. Dưới màn sương, thành phố dường như đang thở. Một sức nặng đè xuống cổ tôi, như thể tôi đang bị theo dõi từ đâu đó.
Lo lắng, tôi quay lưng bước đi, nhanh hơn mức cần thiết.
Tôi hiểu rất rõ hàm ý những lời của Lucan. Mới tối hôm qua Caley và Walker tới muộn, chỉ cách lúc bình minh có một giờ rưỡi. Caley đập mạnh vào cửa liên tục như một gã bị quỷ ám. Robert đi xuống.
— Im lặng nào, ông bạn - Robert rít lên trong lúc mở của, nhưng Caley lao ngang qua anh, Walker đi theo với một cái bó trên vai.
Trong tầng hầm, Caley ra hiệu cho Walker đặt cái bó xuống nền nhà. Tôi lui lại, ý thức một cách khó chịu về tính khí của hắn. Khi Robert rút con dao của anh ta để cắt những sợi dây, Tyne xuất hiện trên cầu thang, quan sát cảnh tượng bên dưới.
Thậm chí trước khi Robert kéo thứ bị cột ràng bên trong ra, cái mùi của nó đã nói cho chúng tôi biết chúng tôi sẽ tìm thấy thứ gì. Nhưng sự thật còn tệ hại hơn - cái xác bầm dập, sưng phồng và bốc mùi nồng nặc. Robert buông rơi nó, đứng lên, quay sang Caley.
— Anh sẽ nhận nó chứ? - Caley hỏi.
Robert nhìn tôi rồi ngẩng lên nhìn Tyne.
— Chúng tôi không thể, anh biết điều đó.
Caley ngần ngừ. Sau lưng hắn, tôi có thể thấy Walker đang quan sát, gương mặt tàn tạ của hắn tái nhợt.
— Không - Hắn nói - Các anh sẽ trả cho chúng tôi tám đồng ghi nê để lấy nó.
Robert không nói gì, chỉ lắc đầu, nét mặt của anh đanh lại. Lúc này đã bớt chắc ăn, Caley liếc nhìn Tyne rồi quay sang Robert trở lại.
— Sáu vậy - Hắn nói, rất nhanh.
— Không - Robert đáp - Cái xác đã bị hỏng, chúng tôi không mua nó.
— Vậy còn chúng tôi thì sao đây? - Caley hỏi - Anh định để cho chúng tôi chết đói sao?
Nhưng trước khi Robert có thể trả lời, giọng của Walker xen vào:
— Đó là tại L-l-lucan - Hắn cà lăm cà lặp - Ông ta xúi những người gác nghĩa trang chống lại chúng tôi - Caley bắn sang hắn một tia mắt giận dữ.
— Tôi rất tiếc - Robert nói - nhưng những vụ này không phải là mối quan tâm của thầy tôi.
— Chính thầy các anh và những dự án của ông đã mang lại sự báo thù này trên đầu chúng tôi! - Caley nói, giọng hắn rung lên - Và giờ đây ông ấy từ bỏ chúng tôi.
Trong lúc nói, hắn nhón gót lên, thân hình căng ra như sắp tấn công.
— Một dự án mà các anh cũng góp phần - Robert nói một cách cẩn trọng - Caley lại ngần ngừ, khoảnh khắc này dường như kéo dài vô tận. Thế rồi, với một cử động đột ngột, hắn lôi cái bó lên.
— Đi - Hắn quát Walker - Chúng ta sẽ không nấn ná ở đây nữa.
*** Quay trở về cảnh tượng trong nhà, Tyne đi theo tôi khi tôi đi lên thang gác để vào phòng thầy Poll. Hắn đứng sát sau lưng, không nói năng gì, nhưng tôi không quay lại. Đã một tháng trôi qua kể từ hôm tôi từ chối không nhận thằng bé, và hắn vẫn khư khư không quên chuyện đó, như thể hắn nghĩ sẽ có lúc làm rõ được nguyên nhân của nó.
Khi tôi bước vào, thầy Poll ngẩng lên.
— Gì vậy?
— Em có một thông điệp - Tôi nói, di chuyển một cách khó khăn. Sau lưng tôi có tiếng bàn chân bước lên những tấm ván, liếc ra sau tôi trông thấy Robert, Charles đứng bên cạnh anh.
— Của ai? - Thầy Poll hỏi.
— Lucan.
— Cậu đã nói chuyện với hắn?
Tôi gật đầu:
— Ông ta muốn em nhắc thầy rằng việc kết thúc chuyện này nằm trong khả năng của thầy.
— Thế ư, bằng cách nào?
— Ông ta bảo thầy đã sỉ nhục ông ta.
— Và giờ đây hắn muốn tôi cầu xin sự tha thứ của hắn? Không bao giờ.
— Chắc chắn là không có gì tổn hại trong chuyện này - Robert nói - Tại sao không kết thúc vấn đề này nếu chúng ta có thể.
Thầy Poll nhìn anh với sự bực dọc không che giấu.
— Hãy cẩn thận đấy, thưa cậu - Ông quát khẽ.
Robert ngần ngừ, nhưng không chùn bước:
— Thế chuyện gì sẽ xảy ra nếu hắn ngăn cản cả Caley và Walker giao dịch với chúng ta? Lúc đó thì sao?
— Im đi! - Thầy Poll quát - Tôi không cho phép học viên của tôi dạy đời mình.
Trong cơn thịnh nộ, ông trở nên thô lỗ, với giọng điệu của một thương gia, và tôi nghĩ Robert nao núng.
Thế là Robert chờ đợi, trong lúc thầy Poll cân nhắc.
— Mẹ kiếp - Cuối cùng ông nói - Hắn sẽ không hưởng được niềm vui nhìn thấy tôi cầu khẩn.
*** Sau khi chia tay với Charles và mấy gã kia ở nhà hát, tôi chợt bất ngờ chạm trán nàng. Thoạt tiên tôi nghĩ nàng toan quay đi, nhưng rồi nàng ngần ngừ, và tôi có thời gian để chào nàng.
— Tôi không nghĩ là sẽ gặp anh ở đây - Nàng nói. Mặt nàng trát đầy son phấn, và dù ở cự ly gần nó mang lại cho nàng một vẻ cứng rắn mà tôi chưa từng nhìn thấy trước đó, nó cũng khiến cho nàng có vẻ như trẻ hơn, mong manh hơn.
— Một anh bạn của Charles đã đặt một lô, tôi là khách của anh ta - Tôi nói.
Nàng gật đầu, nhưng không đáp. Sự im lặng của nàng khiến tôi e rằng tôi đã làm nàng nổi giận, hoặc là nàng sợ rằng tôi muốn làm hại nàng.
— Tôi đã tới xem các vở diễn của cô - Tôi lúng túng - Tôi đã trông thấy cô trên sân khấu.
— Đóng chung?
— Một mình - Tôi đáp - Tôi xin lỗi vì cách chúng ta gặp thế này.
Nàng nhìn tôi, đôi mắt nàng dịu lại. Trong một khoảnh khắc dường như nàng định nói điều gì đó, rồi nàng cúi đầu xuống.
— Tôi phải đi. Có người đang mong tôi - Nàng nói. Nhưng đột nhiên một phụ nữ khác xuất hiện bên cạnh nàng. Cô ta rất xinh đẹp. Đầu tiên cô ta nhìn Arabella, rồi nhìn tôi cười xấc xược, với dáng vẻ của một người tình cờ bắt gặp một cuộc hẹn hò.
— Ai đây? - Cô ta hỏi, nhìn tôi từ đầu tới chân, ánh mắt của cô ta không hề bối rối và đầy vẻ thích thú bên dưới những lọn tóc xoăn vàng óng.
— Đây là anh Swift - Arabella đáp, trong mắt nàng hiện lên vẻ hoang mang. Người bạn của nàng gật đầu, vẫn với biểu hiện thích thú linh hoạt đó trên nét mặt.
— Không phải anh ta là một anh chàng đẹp mã hay sao?
— Tôi xin lỗi - Tôi nói - Nhưng…
— Đây là cô Amy Stanton - Arabella nói - Ông Swift là một đồng sự của ông de Mandeville.
— Anh là một nhà phẫu thuật à? - Cô ta hỏi, run lên vì một niềm hân hoan hám lợi.
— Không - Tôi bật cười - Tôi chỉ là một học viên.
Cô ta giơ cây quạt lên che mặt và ngoảnh đi - Thật đáng tiếc - Cô ta nói, dù cô ta chả biểu lộ một dấu hiệu tiếc nuối nào.
— Có lẽ cô cùng tới ngồi với chúng tôi? - Tôi ra hiệu về phía cầu thang và lô ghế, nhưng Arabella lắc đầu.
— Không, không thể được. Chúng tôi phải đi.
Amy thở dài với vẻ khiêu khích đầy chế giễu.
— Vậy có lẽ anh sẽ tới thăm chúng tôi chứ hả? - Lúc này cô ta hoàn toàn tỏ ra tinh quái.
Arabella toan lên tiếng, rõ ràng là định phản đối cô bạn của mình, nhưng Amy cắt ngang bằng cách đặt bàn tay lên ống tay áo của nàng.
— Anh Swift?
Tôi nhìn Arabella.
— Tôi rất hân hạnh.
— Tốt - Đôi mắt của Amy sáng lên vui vẻ - Có quá ít những vị khách đẹp trai tới chỗ chúng tôi - Cô ta nhìn thẳng vào mắt tôi, và như thể chúng tôi đã đạt tới một sự thấu hiểu nào đó, cô ta để cho Arabelle kéo mình chen lẫn vào giữa đám đông.
Chỉ khi quay lại tôi mới nhìn thấy Charles đang ở phía trên chỗ tôi, dừng lại ở đầu hành lang dẫn vào lô ghế của chúng tôi, một trong mấy cô gái từng đi chơi với chúng tôi đứng cạnh anh. Năm phút sau, khi tôi từ giã họ, cô ta cười phá lên về chuyện gì đó. Dù dường như Charles vẫn tỉnh táo, cô ta đã say mèm, đôi má đỏ bừng, và khi tôi quan sát cô ta quay về phía anh, mặt áp vào cổ anh, hít ngửi. Chúng tôi đứng như thế, nhìn chòng chọc vào nhau. Thế rồi, choàng một tay ôm cô ta, anh kéo cô ta sát vào mình, mắt vẫn không rời khỏi mắt tôi.
*** Đêm nay tâm trạng của Charles dường như rất nóng nảy, bầu không khí quanh anh chứa đầy đe dọa, biến chuyển rất nhanh. Tôi không biết tôi có góp phần gì vào việc tạo nên tâm trạng đó hay chăng, nhưng đêm nay tôi thấy sợ anh, sợ điều anh có thể làm. Tất cả chúng tôi đều thấy rõ đã có một đổi thay nào đó bên trong anh từ ba tuần nay. Khi chỉ có một mình với tôi anh vẫn tỏ ra thân thiện, và thậm chí vô tự lự, khi anh quên đi bản thân. Được anh rủ đi cùng trong một chuyến thăm bệnh hay phụ giúp anh trong một ca mổ vẫn là một niềm vui mà tôi chưa bao giờ muốn từ bỏ. Nhưng khi có đông người, nhất là khi có mặt Chifley, thái độ của anh khác hẳn, cứng rắn hơn và khó đoán hơn, đêm nay hai người bọn họ càng khiêu khích nhau dữ hơn.
Chỉ có May dường như vẫn có thể kháng cự khi sự điên khùng này chế ngự. Mấy hôm nay hắn lại tới với chúng tôi, và dù có bị Charles công kích hay dỗ ngọt, hay bị Chifley chế nhạo - dường như Chifley có vẻ khinh thường May - hắn vẫn luôn không lay chuyển, cười cợt với họ nhưng không bao giờ dự phần vào bất kỳ cuộc chè chén nào của chúng tôi. Ngay cả Charles cũng khác đi khi hắn có mặt, trong thái độ của anh đối với hắn có một cái gì đó thật kỳ dị, một sự nhã nhặn quá đáng, gần như thể anh không muốn tới quá gần hắn. Và dù tôi không thể nói được vì sao, vì tên của cô ta không bao giờ được nhắc tới, tôi thấy rằng nguyên do của điều này là Molly, và tầm ảnh hưởng mà anh cho phép cô ta đặt lên mình.
Tôi không thể tìm ra cái gì đã ràng buộc hai người này lại với nhau, vì tính khí của họ có rất ít điểm chung. Trong lúc May tốt bụng, ở Molly có cái gì đó đầy ghen ghét và hằn học. Tâm trạng của cô ta đối với May thay đổi không hề có dấu hiệu cảnh báo nào: phút này cả hai còn dịu dàng với nhau như hai chú cừu non, phút sau cô ta đã chửi bới hắn một cách cay độc. Rõ ràng là điều này khiến hắn tổn thương, nhưng tệ nhất là những lúc đó hắn vẫn đối đãi cô ta với lòng tử tế.
Dù sao đi nữa, khi những tuần đó trôi qua, tôi ngày càng gần gũi với May hơn. Nhưng lúc rỗi việc, tôi trèo cầu thang lên phòng của hắn, có khi để trò chuyện, khi khác thì ngồi xem hắn làm việc. Ở hắn có một sự cởi mở, một phẩm chất nhân hậu, khiến người ta không thể không thích hắn, bất chấp mọi kiểu cách lập dị của hắn. Nhiều lần tôi đã bắt gặp hắn chuyện trò với một tay chủ tiệm, một cậu bé đi ngang qua, hay những quý bà, nét mặt họ đóng băng trong một biểu hiện bối rối khi hắn nói với họ một cách không kiềm chế, hai tay vung lia lịa sang phải hoặc sang trái. Hắn cũng không hề nghĩ suy chín chắn, khi một ý nghĩ hiện ra trong đầu, nó sẽ xuất hiện ngay trên lưỡi hắn, bất chấp bản chất hay giọng điệu của nó. Và mỗi lần như thế, hắn lại rên lên, cố kềm mình lại, chìm vào một trạng thái nản lòng vì đã phản bội lại một người bạn hay người quen mà hắn vừa đề cập tới, trước khi bắt đầu cố gắng một cách hăng hái để tự cứu gỡ cho mình với những lời giải thích và xin lỗi, một diễn biến dễ đoán trước đến nỗi không ai là không bật cười khi hắn thực hiện nó.
Chỉ trong công việc của mình, hắn mới tìm thấy một mức độ tĩnh lặng nào đó. Khi giơ cọ hoặc bút sắt lên, dường như hắn có thể làm việc suốt nhiều giờ mà không thốt lời nào, thỉnh thoảng lại dừng tay để nhìn đăm đăm vào khoảng không hay đi lại quanh quẩn trong phòng để ngẫm nghĩ, cử động của hắn đều đều và cân nhắc, còn trong những lúc khác chúng luôn vụng về và hấp tấp. Khó mà quấy rầy trạng thái này một khi nó đã xâm chiếm hắn, và tôi từng nhìn thấy hắn tiếp tục làm việc khi ánh sáng đã nhòa nhạt trong phòng, cho tới khi hắn gần như vẽ trong bóng tối, như thể hắn không cần nhìn thấy chỗ nào khác ngoài tâm trí hắn. Nhìn hắn làm việc như vậy là một cảm giác bình an lớn lao, không chỉ với tôi mà cả với Molly, và chúng tôi rất thường ngồi cạnh nhau quan sát trong lúc hắn làm việc, với một sự gần gũi mà chúng tôi không bao giờ có vào những lúc khác. Vào những giờ khắc đó cô ta nghĩ gì, tôi không thể nói, nhưng cô ta tỏ ra dịu dàng và ít giận dữ hơn.
Sự thanh bình này cũng tiếp nối vào những giờ sau khi hắn vẽ. Trong lúc những cơn gió áp mạnh trên mái nhà, chúng tôi tụ tập lại quanh lò sưởi và trò chuyện. May lấy thuốc phiện ra và chúng tôi uống rượu vang cùng với nó. Thoạt tiên chỉ cần vài hạt để trượt vào vòng tay của nó, những giấc mơ mắt đen mà nó mang tới. Thời gian lúc đó không có nghĩa lý gì, tất cả những gì quan trọng là âm thanh giọng nói của chúng tôi, khoảng không gian sáng nhỏ bé nơi chúng tôi ngồi, May, Molly và tôi trôi giạt vào đêm.
*** Tôi dừng lại cạnh cửa, Robert đang ở bên trong, tập trung vào công việc. Trên cái băng trước mặt anh là bàn chân của một phụ nữ, đã đen lại vì quá trình phân hủy. Bị cắt rời khỏi thân hình, nó trở thành vô danh, những ngón chân vặn vẹo và chai do nhiều năm mang giày quá chật. Thế nhưng trong lúc Robert làm việc nó tự hé lộ bản thân, lưỡi dao vững vàng của anh áp vào sự cưỡng kháng mềm mại của lớp thịt, chậm chạp để lộ ra lớp xương bọc gân và lớp sụn. Ánh sáng nhợt nhạt từ cửa sổ hắt lên mặt Robert, làm mềm đi những nét tập trung. Thỉnh thoảng anh dừng lại để vẽ lên trang giấy đặt cạnh bên. Về mặt vẽ phác thảo, anh không khéo tay cho lắm, nhưng ở sự vụng về trong phác họa này, có một điều gì đó mà tôi chưa từng thấy trước đó. Một sự thanh tú, như thể những đường nét đơn giản của ánh sáng và bóng đổ đã hát lên khúc thánh ca cho ngôi đền kỳ lạ này, mang lại cho ngôi nhà thờ nhỏ bé của thịt và xương này một sự linh thánh mơ hồ.

10

 
Sau đó một tuần tôi mới tới chỗ nàng. Dù buổi trưa đã trôi qua, những tấm màn vẫn buông xuống. Tiếng gõ của tôi xuyên qua lớp cửa, và chẳng bao lâu một cô hầu nét mặt vàng bủng mở cửa ra. Cô ta lạnh lùng nhìn tôi khi tôi xưng tên và công việc. Dù cô ta chỉ hơn một đứa trẻ chút xíu, trong ánh mắt của cô ta có một sự sỗ sàng đáng ngại. Có lẽ với một người đàn ông khác, nó có vẻ như một lời mời mọc, nhưng với tôi dường như nó có cái gì đó gần với một vết thâm, vì tôi từng nhìn thấy vẻ mặt này quá nhiều lần trên những con đường thành phố, và biết nó là vẻ mặt của những cô gái trở thành phụ nữ trước tuổi và ghét bỏ trần gian chính vì điều đó.
Sau khi đề nghị tôi đứng chờ trong phòng khách, cô ta biến mất trên cầu thang. Tôi thấy bồn chồn, lo lắng, và khi Arabella bước vào, tôi giật mình. Cả nàng cũng dừng lại khi nhìn thấy tôi, mắt nàng chạm mắt tôi với cái vẻ dễ tổn thương mà tôi từng thoáng thấy ở nàng mỗi lần chúng tôi nói chuyện, thế rồi nàng trấn tĩnh lại và chìa tay cho tôi nắm.
— Anh Swift, anh tới bất ngờ quá.
— Tôi không định làm phiền cô… nếu cô muốn tôi về…”
— Không - Nàng nói, rồi như thể bối rối vì sự khẩn thiết trong lời đáp của mình, nàng chỉnh lại - Hãy ở lại, tôi sẽ bảo Mary mang trà ra. Hay anh thích rượu hơn?
— Trà - Tôi đáp, và nàng gật đầu, kéo cô hầu lại gần để đưa ra vài chỉ thị. Vươn thẳng người, Mary nhìn tôi với ánh mắt vừa khinh thường vừa cảnh giác, rồi đi vào.
— Tôi xin lỗi vì đã xâm phạm.
— Đừng xin lỗi nữa - Nàng nói. Sự cộc lốc của câu này khiến tôi choáng váng, và mọi ngôn từ đều bay biến, tôi ước gì tôi đừng tới.
Nàng ngồi xuống, vuốt phẳng lại váy. Chúng tôi cứ như thế trong nhiều giây, rồi đột ngột cả hai cùng bắt đầu nói, nàng hỏi tôi đã đi đâu mấy tuần qua, tôi thì hỏi thăm về những vở kịch mà nàng diễn. Tôi ngưng lại, đề nghị nàng nói tiếp, và nàng cũng làm điều tương tự, cả hai chúng tôi cướp lời nhau trước khi lại rơi vào im lặng thêm lần nữa, sự lúng túng này giữa chúng tôi chế ngự mọi thứ.
Và tình cảnh của chúng tôi đang là thế khi Amy hối hả đi vào. Không như Arabella, dường như cô ta khiến cho giây phút này sôi động hẳn lên, những lọn tóc xoăn buông xõa và rối tung, tạo ra một vẻ trẻ thơ và dễ chịu lạ lùng. Nét mặt cô ta ngập tràn niềm hân hoan mong đợi, và khi bước vào đôi mắt của cô ta bừng sáng. Biết ơn vì sự can thiệp của cô ta, tôi đứng lên.
— Anh tới để đưa chúng tôi đi đâu đó bằng chiếc xe ngựa của anh phải không, Swift? - Cô ta hỏi khi tôi nắm lấy bàn tay đưa ra - Một cuộc dạo chơi sẽ khiến cho một ngày tẻ ngắt dễ chịu đựng hơn nhiều - Cô ta gửi cho tôi một nụ cười trêu chọc, và không đừng được, tôi cũng mỉm cười.
— Giá mà tôi có thể, nhưng tôi e là tôi không có cỗ xe nào cả.
— Nhưng anh là một nhà phẫu thuật - Cô ta vui vẻ đáp - Chắc chắn anh phải có một cỗ xe.
— Theo nguyên tắc, bọn học viên chúng tôi không có khuynh hướng có xe ngựa của riêng mình.
Sau lưng cô ta, Arabella mỉm cười, nét mặt nàng tràn ngập tình yêu bao dung. Bắt gặp ánh mắt nàng, tôi mỉm cười đáp lại, một cách bí ẩn.
— Vậy có lẽ chúng ta đi bộ - Amy nói - Trông có vẻ như hôm nay là một ngày đẹp trời - Quay sang Arabella, cô ta gửi một cái nhìn ẩn ý.
— Mới hôm qua chị bảo rằng đã lâu chị không tới công viên.
Arabella lắc đầu, nhưng tôi thấy sự chống đối của nàng đã mất đi.
— Việc diễn xuất của cô thì sao? - Nàng hỏi Amy.
— Tới tận tối cơ mà.
Arabella lắc đầu, nhượng bộ:
— Vậy thì chúng ta ra ngoài, nếu hai người cứ nhất quyết.
*** Tôi bị bỏ lại một mình trong lúc họ thay đồ, dù không lâu lắm, và chưa tới nửa giờ sau, với một cảm giác hân hoan, tôi bước vào đường phố cùng với họ. Dù bầu không khí lạnh giá, trời đẹp, bầu trời cao, xanh mong manh. Là người đầu tiên bước ra ngoài, Amy quay lại đối diện với hai chúng tôi khi ra tới đường, một tay giơ lên để giữ chiếc mũ trên đầu. Dưới ánh sáng ban ngày, trông cô ta không hơn một đứa trẻ là bao, có lẽ chỉ mười bảy tuổi. Một chiếc xe ngựa đứng ở góc đường, một cỗ xe cho thuê cũ kỹ với hai con ngựa lang. Tôi bước tới trước để thu hút sự chú ý của người đánh xe nhưng Arabella nắm lấy cánh tay tôi.
— Chúng ta đi bộ đi - Nàng nói. Trong mắt nàng có một nỗi lo âu mới - hẳn nàng biết tôi không đủ tiền cho cuốc xe. Tôi lúng túng gật đầu, cám ơn nàng, biết ơn vì sự tốt bụng nho nhỏ này, dù nỗi xấu hổ khiến tôi nhức nhối.
Chúng tôi vừa lững thững bước về hướng công viên vừa quan sát thời tiết đã mang sự sống trở về cho thành phố ra sao. Khắp mọi nơi, mặt trời đột ngột hiện ra mang tới cho mọi người một tâm trạng dễ chịu. Đàn ông và đàn bà đứng chuyện trò, những người hầu lăng xăng lo công việc, trẻ con đuổi bắt nhau chạy dọc trên đường phố - một niềm vui đang trỗi dậy. Amy nói thay cho cả ba người chúng tôi, cười to và trêu chọc, bình phẩm lớn tiếng và không chút xấu hổ về bất kỳ thứ gì lọt vào mắt mình. Giữa tôi và Arabell dường như nảy sinh một điều gì đó gần như bí ẩn, như thể những nét tương phản của Amy đã thúc ép chúng tôi đến với nhau. Tôi không biết đó có phải ý định của Amy hay chăng, nhưng ở bên ngoài một hiệu sách trên phố Portland, tôi khuỳnh cánh tay ra cho Arabella khoác. Nàng có chấp nhận nó hay không tôi không biết, vì chính Amy khoác lấy nó, phá lên cười điên dại và hạnh phúc. Tôi lo lắng liếc nhìn Arabella, nhưng nàng mỉm cười và lắc đầu, không phải khiển trách mà đầy vẻ mến yêu, và cả người tôi nóng rực, vì tôi hiểu rằng dù Amy bám sát vào tôi, cô ta không phải là người bước cạnh tôi mà là Arabella.
Ngang qua công viên, những cành cây trơ trụi chĩa thẳng lên bầu trời, những thân cây màu nhợt nhạt nổi bật trên thảm cỏ vừa mới nhú. Những con đường đông nghẹt người, tất cả đều chải chuốt làm dáng với nhau. Trong bộ com lê mực thước của mình, tôi có thể thấy lạc lõng, thế nhưng ánh mắt ngưỡng mộ của những người đàn ông đi ngang và cái nhìn ghen tị của những người phụ nữ xua đi rất nhanh ý nghĩ ấy khỏi đầu tôi.
Vầng dương sáng rực trên mặt hồ, nước phản chiếu ánh sáng vào bầu không khí. Đó đây những con thiên nga di chuyển; khi chúng tôi tới bờ hồ, Amy quỳ xuống, thì thầm gì đó như thể muốn dụ chúng tới chỗ cô. Arabella quan sát cô với vẻ thương yêu, và tới lượt mình, tôi quan sát Arabella, mừng vì thấy nàng vui vẻ. Khi đàn thiên nga tới, và Amy đã khum hai bàn tay của mình thành hình cái chén trước những cái đầu dò hỏi của chúng, cô lại đứng lên, hài lòng và đôi mắt cô dán vào một người đàn ông thanh lịch đang đứng trên đường, nhìn chăm chăm vào ba chúng tôi. Arabella căng thẳng, nhưng nếu nàng muốn tránh gã thì Amy lại không có ý định đó, vì cô vui vẻ chào gã, khẽ nhún gối và cặp kè với gã, một cánh tay luồn qua cánh tay gã như nửa tiếng trước đã luồn qua cánh tay tôi.
Được đưa tới trước chúng tôi, những lời chào hỏi của gã khá thân mật, dù có gì đó trong cách gã mím môi cho thấy bất chấp thái độ của mình, gã không mấy vui khi phát hiện ra Arabella và Amy ở đây với tôi. Mặt gã gầy guộc, chỉ lớn hơn tôi vài tuổi, với những đường nét gắt gỏng, và dù trông gã khá quen, chỉ tới khi được báo cho biết rằng gã tên là Ash tôi mới nhớ ra gã là bạn của Chifley. Rõ ràng gã cũng nhận ra tôi, nhưng chúng tôi không nói gì tới chuyện đó.
Khi đã tiến hành xong thủ tục giới thiệu, chúng tôi đi tiếp, Ash và Amy đi trước. Ở cuối hồ, Arabella và tôi dừng lại: cao tít trên đầu, trong khoảng không bên trên hồ, một bầy sáo bắt đầu hội tụ, thân hình bé xíu của chúng chuyển động như cát. Một cảnh tượng bình thường, nhưng chúng tôi cũng nhìn lên cảnh kỳ diệu nho nhỏ này, khi chúng lượn tròn như được dẫn dắt bởi một cái đầu duy nhất, một đám mây bềnh bồng ngày càng nhập vào, to thêm, chỉ để tản mác trở lại ngay tức khắc vào không gian.
Trong lúc này Amy đã dừng lại, với Ash, bên một tay kéo đàn. Ash moi từ trong túi áo khoác một đồng tiền và trao cho Amy. Cô quay lại, giơ nó lên để chúng tôi nhìn thấy trước khi ném nó vào cái mũ của người nhạc công.
— Cô là một người bạn tốt đối với cô ấy - Tôi nói, nhưng Arabella lắc đầu.
— Nếu thế thì tôi đã khá hơn.
— Vì sao? - Tôi hỏi. Arabella ngần ngừ. Khi cất tiếng trở lại, giọng nàng dịu nhẹ.
— Cô ta không khác gì một đứa con nít khi chúng tôi gặp nhau. Cô ta từng là một thợ may, còn tôi đã là một diễn viên, đóng những vai nho nhỏ. Thế nhưng trái tim của cô ta lớn gấp đôi tim tôi - Chúng tôi cùng theo dõi Amy nắm chặt cánh tay của Ash, nép sát vào người gã. Tôi không thể hình dung nổi cô đứng trên sân khấu thế nào, vì không như Arabella, cô có vẻ như hoàn toàn là chính mình. Để trở thành một người khác thì phải che đậy bản thân, có lẽ thậm chí đánh mất đi bản thân. Đó là một điều kinh khủng, và điều dễ dàng nhất.
— Anh ta có tốt với cô bé không? - Tôi hỏi.
— Anh ta là một gã đàn ông - Nàng đáp, giọng nàng gay gắt. Nhưng rồi nàng nói tiếp, giọng dịu lại.
— Anh biết anh ta, phải không?
Tôi ngạc nhiên nhìn nàng.
— Không nhiều lắm - Tôi nói.
Nàng gật đầu:
— Vậy anh biết anh ta là loại người nào.
— Cô nghĩ anh ta không định cưới cô bé?
— Anh ta là một quý ông, và một quý ông không muốn cưới những cô gái giống như Amy.
Dù giọng nàng không tỏ ra giận dữ, tôi thấy hổ thẹn vì câu này, nhưng tôi không chắc là cho ai trong hai chúng tôi.
— Vì sao cô muốn tránh mặt tôi ở nhà hát? - Một lúc sau tôi hỏi. Nàng buông tay tôi ra và quay về phía bờ hồ. Hai con vịt trống đang đánh nhau, cánh của chúng làm bắn tung nước lên quanh chúng.
— Arabella?
Nàng không nhìn tôi.
— Anh không được làm chuyện này, Gabriel.
— Tôi không hiểu.
Nàng khoanh hai tay trước ngực khi quay lại, và một lần nữa, trông như thể nàng nghĩ tôi có thể làm tổn hại nàng.
— Nhìn Amy xem - Nàng nói - và anh chàng Ash của anh. Anh ta là một quý ông, và vì lý do đó sẽ không bao giờ cưới con bé. Dĩ nhiên nếu con bé biết sự thật, bản thân chuyện đó cũng chẳng có chi quan trọng lắm, vì Amy không quan tâm nhiều tới Ash. Nhưng nếu có một Ash khác thì sao? Nó sẽ không trẻ mãi mãi, cũng không xinh mãi được.
— Còn cô? - Tôi hỏi.
Nàng dán mắt vào tôi, pha trộn giữa sự giận dữ và một điều gì đó khác.
— Đừng tỏ ra chậm hiểu, Gabriel - Cuối cùng nàng nói, quay người bước đi - Việc đó không hợp với anh đâu.
*** Ở cổng, Amy và Ash đang đứng đợi giữa đám đông qua lại. Khi tới gần, tôi không thể không nhìn thấy sự chua chát của gã, khoảng trống trong gã mà tuổi trẻ của cô bé sẽ lấp vào, và không bao giờ đủ.
— Chúng ta sẽ ăn trưa - Gã mỉm cười với tôi khi nói thế.
Biết rằng gã hy vọng tôi sẽ từ chối, tôi gật đầu và chúng tôi đi vào khu Mayfair, nơi chúng tôi chọn một cái bàn trong một quán ăn và dùng bữa. Amy, không còn ngờ gì nữa, cảm nhận được một điều gì đó giữa chúng tôi, vừa ăn hàu, bánh mì và uống bia, vừa nói chuyện đủ cho mỗi người, cô đưa tay lên che miệng mỗi khi cười to. Arabella ăn chậm hơn, thỉnh thoảng cùng cười phụ họa với Amy như điều mà một bà chị phải làm. Tuy nhiên Ash vẫn im lặng, thân hình gã tựa sát vào người Amy. Nhiều lần, tôi bắt gặp gã đang quan sát tôi, đôi mắt đen điềm tĩnh và khó chịu.
Khi chúng tôi ăn xong bữa, màn chiều đã nhạt nhòa, bầu trời trên đầu gần như không màu sắc, một mảnh trăng xuất hiện bên trên những nóc nhà. Amy phải có mặt ở nhà hát trong vòng một giờ nữa, vì thế cô lên đường cùng với Ash trong một cỗ xe, bỏ lại tôi và Arabella đi bộ trở về. Chúng tôi bước bên nhau, không chạm vào nhau, lúc này, khi chỉ còn lại hai người, câu chuyện của chúng tôi trở nên thận trọng, giữ gìn, dù có một sự gần gũi mà trước đó không hề có.
— Tôi không nghĩ là tôi thích cái anh chàng Ash này - Tôi nói. Arabella nhìn tôi:
— Không à? - Nàng hỏi, rồi lắc đầu và ngoảnh đi lần nữa - Anh ta không phải là kẻ tệ nhất trong loại người của anh ta.
— Tôi không có ý nói điều đó.
— Không - Nàng nói - Tôi biết. Nắm lấy hai cánh tay tôi, nàng kéo tôi sát lại, để cho sức nặng nhỏ bé của nàng tựa vào tôi.
*** Tôi biết ngay là đã có chuyện không ổn, vì ánh mắt của Tyne chứa đầy sát khí. Sau lưng hắn là Oates, người đánh xe, đang bồn chồn qua lại, gương mặt béo phị của hắn toát lên vẻ sợ hãi xen lẫn cảm giác tự cho là mình đúng. Hai người bọn họ đã tới nghĩa trang Thánh Bart để thu thập một cái xác từ già Crowley, thầy giáo ở đó.
— Cái xác đâu? Thầy Poll hỏi, và Tyne đưa mắt nhìn Oates. Mồm gã này cứ há ra ngậm vào như một con cá.
— Đã bị đánh cắp - Tyne đáp.
Căn phòng rơi vào im lặng.
— Trước hay sau khi anh trả tiền cho nó - Thầy Poll hỏi.
— Sau - Tyne đáp.
Thầy Poll quay sang hắn.
— Như thế nào? - Ông hỏi, rồi lắc đầu - Không, đừng kể với tôi, để tôi đoán xem. Anh để gã ngố bi bô này ở lại đó coi chừng cho anh phải không.
Oates cúi đầu xấu hổ, nhưng chỉ khi thầy Poll nhìn hắn với vẻ bực mình, mới rõ ra rằng hắn không nghe thấy câu nói cuối này.
Tyne chậm rãi gật đầu, và dù hắn cẩn thận kềm chế bản thân, có thể thấy rõ cơn giận vì bị quở trách đang bừng bừng trong lòng hắn. Tôi cố quay đi nhưng vẫn bắt gặp ánh mắt của hắn, và trong khoảnh khắc đó tôi nhìn thấy lòng căm ghét của hắn rõ như ánh ban ngày.
— Anh nghĩ là hắn ta sẽ không nắm lấy mọi cơ hội để hành hạ chúng ta sao? - Thầy Poll giận dữ hỏi, và trong giây lát, tôi nghĩ Tyne sẽ đáp trả, cơn giận của hắn đang sôi sục. Thế rồi thầy Poll lắc đầu, vẻ mặt đầy phẫn nộ.
— Ra ngoài đi - Ông nói - Tôi không muốn trông thấy các anh nữa.
Tyne đùng đùng xuống thang và bước ra phố. Không còn ngờ gì nữa, hắn có ý định đi tìm Caley để tính sổ với tay này. Trong sảnh, Oates run rẩy, gương mặt béo phị đỏ bừng vì thẹn và căm giận. Không thèm nói câu an ủi nào, tôi bỏ hắn lại đó.
*** Dù buổi chiều đã trôi qua quá nửa, ngôi nhà vẫn im lìm, Robert đi khỏi, còn Charles thì chưa tới. Tôi tạ ơn Trời vì sự lặng lẽ này; mấy tuần nay tâm tính của thầy Poll ngày càng xấu đi, và tôi rất thường nhận lãnh hậu quả của nó. Việc chúng tôi buộc phải mua cái xác từ nghĩa trang Thánh Bart chỉ là giọt nước cuối cùng làm tràn ly phẫn nộ của Lucan. Hết lần này sang lần khác, những cái xác do Caley và Walker lùng sục được trong mấy tuần qua dưới danh nghĩa của chúng tôi đều biến mất trước khi họ họ tìm lại được chúng, những cái huyệt đã bị đào trộm từ trước hoặc mấy cỗ quan tài đựng toàn đá, cái xác bên trong đã bị trộm đi thậm chí từ trước khi được chôn xuống đất.
Chỉ chuyện này thôi cũng đã tệ hại lắm rồi, nhưng có tới phân nửa số lần mấy cái xác này tái xuất hiện hầu như ngay lập tức trên bàn của một nhà phẫu thuật khác, do chính tay Lucan giao tới đó. Đã hai lần chúng tôi phải mua lại những cái xác đặc biệt cần thiết, một lần từ van Hooch, lần kia từ Guy’s, trả thêm một khoản tiền cho sự ưu tiên. Cái xác bị lấy trộm từ Tyne và Oates là một trường hợp tương tự. Một người đàn ông tên là Polkinghorne chết vì chứng sưng não, thầy Poll đã chi một khoản tiền lớn để khám nghiệm ông ta, thế nhưng lần này Lucan đã bày mưu đặt kế để buộc chúng tôi trả thêm tiền rồi sau đó cuỗm nó đi lần nữa, thế là chúng tôi mất trắng cả tiền lẫn hàng, tốn mười lăm đồng ghi-nê cho một cái xác mà chúng tôi không còn nữa.
Tôi khép cửa thư viện lại và sắp xếp mấy cuốn sách của tôi đang đặt trên bàn. Bên ngoài vẫn im lìm, mây sà thấp, trải đều và không hình thù, khuếch tán ánh sáng thành một sắc xám mờ. Trên bàn đặt một cánh tay phụ nữ mà Caley đã mang tới hai đêm trước, lớp da của nó đã được ghim chặt nên tôi có thể vẽ nó. Tôi cầm bút lên và bắt đầu. Vài phút trôi qua, rồi một con chim sẻ hạ xuống đậu trên ngưỡng cửa, thân thể nó bất động trong khoảnh khắc. Chiếc bút trong tay tôi dừng lại, treo lơ lửng trên trang giấy. Cẩn thận kẻo nó nhìn thấy cử động của tôi và bay mất, tôi lật một trang vở, lướt bàn tay qua đó, tôi chép lại hình dáng cái đầu, cái lưng béo tròn của nó, vẽ nhanh hết mức có thể, mắt tôi di chuyển nhanh từ trang giấy và đối tượng, cố xác định nó trong đầu, để nắm bắt bản chất của nó. Có thể việc này chỉ trong vòng vài giây, nhưng có cảm giác như nó kéo dài cả một giờ hay một ngày, tim tôi đập dồn dập, thân thể lạc mất trong khoảnh khắc này. Thế rồi khi tôi liếc mắt lên, nó đã quay lại và đang nhìn vào. Cây bút trong tay tôi bất động, cặp mặt đen bắt gặp ánh mắt của tôi, đầy sức sống và ý thức theo một cách bất khả tri nào đó. Khoảnh khắc này kéo dài, tim tôi như chùng xuống, rồi đột ngột như khi tới, nó quay đầu đi và bay mất, thân hình nó lao vút vào không trung dưới đôi cánh mờ mờ.
Trong lúc nó bay đi, tôi ngồi nhìn sững ra ngoài, vào ánh sáng, và do đó tôi không nghe thấy ông bước vào. Chỉ khi ông dừng lại sau lưng, tôi mới nhận ra tôi không còn một mình nữa và quay lại, một tay đặt trên trang giấy, tay kia đưa lên mặt như để quét đi làn ánh sáng.
— Chuyện đó trông không giống công việc cậu phải làm - Ông nói, và dù giọng ông có vẻ nghiêm khắc, dường như cơn giận lúc nãy đã dịu đi. Và cả một cái gì đó lúng túng nữa, như thể ông muốn tỏ ra thân thiện, và điều này không dễ thực hiện.
— Không, thưa thầy - Tôi nói, đứng lên một cách vụng về.
— Không - Ông nói - Cứ ngồi đi - Ông đặt tay lên bức vẽ. Biết rằng tôi phải làm điều đó, tôi nhấc cánh tay lên, từ bỏ nó.
— Nó là một con chim sẻ - Tôi yếu ớt nói, và ông đưa mắt nhìn lướt từ bức vẽ sang tôi.
— Cậu tưởng tôi mù hay sao?
Ông không phải là một người dễ chịu, và tôi rất ngán ông. Ông lại vươn tay ra cầm lấy những tờ giấy đặt trên bàn giấy. Việc này để lộ ra không phải là những bức vẽ và ghi chú về công việc của tôi, mà là những bức phác họa tôi đã vẽ, ngày này sang ngày khác: một bức vẽ nghiêng chân dung Charles, một nữ thợ giặt, hai con mèo, cầu Blackfriars. Ông kiểm tra từng tờ một, xem xét cẩn thận, cho tới tấm cuối cùng.
— Cậu có tài với cây bút đó - Ông nói, như thể ngạc nhiên. Tôi không chắc chắn: chính ông là kẻ tin rằng vẽ là một phần chủ yếu trong việc học hành của chúng tôi, vì chỉ thông qua việc tái tạo một vật, hình ảnh của nó mới thật sự gắn vào tâm trí, do đó theo chỉ thị của ông chúng tôi đã vẽ, nhưng tôi biết, như ông phải biết, đó là phần duy nhất mà tôi có chút năng khiếu trong sự học của tôi.
— Cám ơn - Tôi nói. Đột nhiên ông quay đi, lật nhanh qua những trang của một cuốn sách nằm trên cái ghế bên cạnh.
— Charles nói với tôi là cậu đã đi tham quan vài nơi trong thành phố cùng cậu ấy.
Tôi nhích người, khó chịu. Đã có sự thay đổi trong quan hệ giữa ông và Charles trong mấy tuần qua, vì tính khí của thầy Poll trở nên khó chịu, Charles cũng trở nên quan tâm và lo lắng hơn cho bậc tiền bối của anh, nhưng đó là một sự quan tâm lo lắng có vẻ như được thiết kế để che đậy một khoảng cách đang lớn dần giữa hai người. Có lẽ một người ngoài cuộc sẽ không nhận ra nó, và thật sự không phải lúc nào nó cũng xuất hiện: khi họ gắn với nhau trong công việc mổ xẻ, họ vẫn là họ như trước, hai thân thể cùng sở hữu một tinh thần, đắm mình vào công việc. Nhưng dù sao thì nó cũng vẫn hiện diện ở đó.
— Một đôi chỗ thưa thầy - Tôi đáp.
— Và cậu làm cách nào tìm ra cậu ấy?
Tôi không đáp. Thầy Poll quan sát tôi, rồi chậm rãi gật đầu.
— Cậu trung thành, tôi thấy. Còn cậu ta là một người khơi gợi lòng trung thành, có phải không?
— Đúng vậy.
— Cậu có xem cậu ta là một người bạn hay không?
— Em hy vọng là anh ấy xem em như thế.
Thầy Poll trầm ngâm, rồi, hoàn toàn đột ngột, ông dúi một bức vẽ vào tay tôi.
— Cái gì mang tới sức mạnh cho cơ bắp? - Ông hỏi, chọc vào cánh tay của người phụ nữ.
— Sự rèn luyện - Tôi đáp một cách cảnh giác.
— Vậy đừng để cho khả năng này của cậu tự kết liễu chính nó. Làm những điều dễ dàng không rèn luyện được gì cho những khả năng tinh thần của não bộ. Có một nhược điểm cố hữu trong những người dễ dãi với bản thân, một nhược điểm mà cậu nên cố gắng tránh đi.
 
 
 
11  
Khi sự kết thúc đến, nó đến rất nhanh. Trên bậc thềm là một người đàn ông tôi không quen biết. Một bên mắt bị mù, đờ đẫn, màu sắc bên trong nó dường như đã trôi sạch, sự trống vắng của nó khiến tôi giật lùi lại. Thoạt tiên tôi nghĩ ông ta là một ông bõ già trong nhà thờ, hoặc có lẽ là một người phục vụ mai táng, vì ông ta mặc một bộ com lê đen và đội mũ đen, và có cái gì đó ở gương mặt dài, cung cách và vẻ cảm thông không đúng chỗ của ông ta, nhưng theo cách nào đó nó lại phù hợp với ông ta. Nhưng bộ đồ của ông ta quá rách rưới tả tơi, nụ cười và cách thức con mắt của ông ta khiến tôi phải giật mình lại hé lộ một bản chất khác hẳn.
— Này, chàng trai trẻ - Ông ta nói - Có cái này cho thầy cậu.
Tôi cầm lấy lá thư ông ta chìa ra.
— Ai gửi nó? - Nhưng khi tôi hỏi, cánh cửa sau lưng tôi mở ra, đó là Tyne. Ánh mắt hắn chuyển từ người này sang người khác trong hai chúng tôi, rồi vẻ mặt thay đổi.
— Là ông? - Hắn phun nước bọt. Nhưng người khách của chúng tôi chỉ mỉm cười, như thể tính khí của Tyne làm ông ta hài lòng. Khi nhìn thấy lá thư trên tay tôi, Tyne giật phắt lấy nó.
— Lá thư này của ông hả? - Hắn hỏi. Người đàn ông chỉ sờ lên mũ và cúi đầu một cách thái quá.
— Gửi tới thầy cậu lời chúc phúc của tôi.
*** Khi chỉ còn lại hai chúng tôi, Tyne đưa lá thư lên sát mặt tôi.
— Cậu đã đưa ông ta tới đây hả?
Tôi lắc đầu, bảo hắn tôi chưa bao giờ gặp ông ta trước đó. Hắn quẳng lá thư vào ngực tôi với một cử động đột ngột.
— Thầy của cậu ở trong nhà đó, nhóc. Cứ làm như cậu được yêu cầu.
Hắn theo tôi đi lên phòng làm việc của thầy Poll. Charles đang ở đó, cả Robert, và khi chúng tôi bước vào, cả ba quay lại.
— Gì thế? - Thầy Poll hỏi, và tôi bước tới trước, đặt lá thư vào tay ông. Khi nhìn thấy nét chữ ở mặt trước phong bì, một cảm giác nào đó thoáng lướt qua nét mặt ông, nhưng ngoài ra nét mặt ông vẫn bình thản khi ông mở nó ra và đọc.
— Ai mang nó đến? - Ông hỏi và ngẩng lên nhìn tôi. Tyne bước lên một bước.
— Craven - Hắn đáp, và nghe thấy thế cả phòng rơi vào im lặng. Thầy Poll khẽ đặt lá thư vào tay Charles; thật sự, thậm chí ông không nhìn vào mặt anh.
— Nó do Lucan gửi tới. Caley và Walker đã bị bắt.
Bên cạnh tôi, Tyne thốt lên một âm thanh cảm thán, nhưng chính Charles mới là người lên tiếng.
— Hắn muốn chúng ta phải van xin sao?
— Đó chính xác là điều hắn muốn - Thầy Poll nói, giọng ông át đi những lời của Charles, như thể đó là những lời của một đứa bé ngốc nghếch. Nét mặt Charles tối sầm lại, nhưng anh không tỏ dấu hiệu nào cho thấy thầy Poll có nhìn thấy nó hay không, vì anh quay sang Tyne, chìa lá thư ra cho hắn.
— Còn anh, ông bạn. Sao tôi phải biết về chuyện này như thế? Có đúng thế không? - Dù rõ ràng từ vẻ mặt giận dữ của Tyne, hắn không biết gì hơn bất kỳ người nào trong số chúng tôi - Sao? Trả lời tôi đi!
— Tôi không biết.
Thầy Poll nhìn hắn chòng chọc một lúc lâu.
— Vậy thì đi tìm hiểu đi - Nói đoạn, ông quay đi, giải tán chúng tôi. Chỉ còn Charles ở lại, nhìn vào lưng ông, ánh mắt của anh lạnh lẽo.
*** Trời đã tối khi Tyne quay về. Ngôi nhà lặng im, quạnh quẽ. Chúng tôi theo hắn lên phòng của thầy Poll để nghe hắn báo cáo sự tình. Thật sự Caley và Walker đã bị bắt, và ngay lúc này đang ngồi trong nhà tù ở phố Bow nơi họ được mang đến sau một cuộc ẩu đả trong sân nhà thờ Thánh Bartholomew.
Ngoài phố, màn đêm buông dịu nhẹ, tiếng la hét của lũ trẻ và mùi khói bốc lên qua những ô cửa sổ, nhưng trong nhà rất lạnh.
— Rất tốt - Thầy Poll nói - Chuyện đã xong.
*** Khi thầy Poll đã đi, tôi theo Charles và mấy người kia tới một nơi thuộc phố Haymarket. Không khí bên trong nóng rực và kín bưng, những căn phòng đông nghịt đàn ông đang trò chuyện và uống rượu. Chifley muốn đánh bài, và tức tốc kéo Caswell đi tìm một bàn đánh bạc, bỏ lại tôi và Charles. Charles di chuyển một cách bồn chồn, nhìn khắp các phòng như để tìm kiếm gì đó vẫn nằm ngoài tầm với của chúng tôi.
— Chuyện gì sẽ xảy ra với Caley và Walker? -Tôi hỏi trong lúc chúng tôi đang đi, và anh nhìn tôi như thể tôi đang nói về một điều xảy ra đã lâu, vào lúc khác, ở một nơi khác.
— Họ sẽ bị xét xử, và chắc chắn là bị kết án tù.
— Về tội gì?
— Trộm cắp, xâm phạm, ẩu đả. Người ta sẽ tìm ra một số lời buộc tội.
— Thế còn chúng ta?
Anh nhún vai:
— Chúng ta sẽ lại là người của Lucan.
Ngạc nhiên với sự thờ ơ trong giọng nói của anh, tôi bắt đầu phản đối, nhưng anh nhắc tôi rằng đó không phải là đề tài cho một cuộc du hí như lúc này. Ở mé kia phòng, Chifley và Caswell đã tìm ra một nhóm chơi và vừa ngồi xuống bàn. Chifley ra hiệu cho chúng tôi tới tham gia, nhưng Charles từ chối, cáo lỗi và bỏ mình tôi ở đó.
Chỉ còn lại một mình, tôi đi lững thững ngang qua ngôi nhà, nhìn những gương mặt, những bộ váy áo, đồ trang sức và vẻ đẹp của những người phụ nữ đang đứng đầy trong các căn phòng. Trong căn sảnh dưới cầu thang, có những cây cọ trồng trong những cái chậu to, và cạnh cửa là những người da đen mặc đồng phục, và trong phòng khiêu vũ ban nhạc đang trình tấu.
Thế rồi hoàn toàn đột ngột, tôi nhìn thấy nàng, hơi xoay nghiêng sang phía khác. Nàng mặc một chiếc váy màu xanh dương thẫm, tóc vấn cao. Tôi bắt đầu bước về phía nàng, vui mừng vì tìm thấy nàng ở đây, nhưng rồi tôi nhận ra rằng nàng không đứng một mình; nàng đang trong vòng tay của một người đàn ông tôi không quen biết.
Anh ta lớn tuổi hơn nàng, để một bộ ria mép rậm, dáng dấp to cao, cường tráng. Tôi dừng lại, một khoảng trống nào đó đang mở rộng trong tôi, thế rồi nàng quay lại. Tôi biết là nàng trông thấy tôi - vì mắt chúng tôi chạm vào nhau và trong một hồi lâu, nàng đứng sững, nhìn đáp trả, đôi mắt nàng thẫm đi với một vẻ cảnh báo mà đêm đó nàng đã gửi tới tôi, cách nay nhiều tháng, trong phòng của Kitty. Rồi nàng quay đi, không để lộ một dấu hiệu nhận biết nào.
— Cậu biết cô ta hả? - Giọng của Chifley.
— Người đàn ông đi với nàng là ai vậy?
— Tình nhân của cô ta, Sparrow, một gã giàu sụ.
Tôi sẽ không chùn bước.
— Sao chứ? Cậu nghĩ cô nàng chỉ có thể yêu mình cậu? - Chifley hỏi.
Tôi bước đi, chưa chuẩn bị để cho hắn thấy những lời của hắn đã cứa nát lòng tôi. Căn phòng chao đảo như thể tôi đã uống say, đôi chân tôi yếu hẳn đi, và gương mặt hắn sáng lên với một nụ cười méo mó.
*** Đã khuya, và trên phố mưa bắt đầu rơi. Một làn sương mù di chuyển thành cụm qua vầng sáng của những ngọn đèn. Đứng trước nhà, cô độc và say khướt, tôi rút chìa khóa ra, cố đẩy cửa thật lặng lẽ. Bên trong tối om, nhưng sự kiện trong ngày vẫn còn vương vấn trong im lặng. Ngày mai Lucan sẽ tới, chúng tôi biết. Hắn sẽ đưa ra những điều kiện mà chúng tôi không còn chọn lựa nào khác ngoài việc chấp nhận cùng với nhận thức rằng chúng tôi là kẻ chiến bại trong tay hắn.
Những tấm ván dưới chân tôi kêu răng rắc, âm thanh này vang lên trong khoảng không gian của tòa sảnh, thếrồi tôi cảm thấy nó - một sự hiện diện trong bầu không khí.
— Robert hả? - Tôi hỏi, hơi lảo đảo - Bà Gunn?
Một âm thanh gì đó, hầu như chỉ là tiếng sột soạt.
— Xin chào? - Tôi gọi, mở cánh cửa dẫn vào phòng mổ ở mé sau nhà. Một chuỗi ánh sáng buông xuống từ mái nhà bằng kính. Ngoài ra đều là bóng tối. Bước vào trong một bước, tôi nhìn vào không gian tĩnh mịch. Hơi thở trong lồng ngực tôi ngưng lại, máu tôi lưu thông trong im lặng. Thế rồi từ phía sau, tôi nghe thấy tiếng cọt kẹt chói tai của cánh cửa khi nó bị đóng sập lại, ánh sáng của một cây đèn phủ đầy căn phòng, và khi quay lại, tôi nhìn thấy Tyne.
— Anh làm gì ở đây? - Tôi hỏi.
Hắn không đáp, chỉ bước về phía tôi một bước.
— Anh cần tôi giúp gì à?
Dưới ánh sáng của cây đèn, đôi mắt hắn hầu như không có màu trắng, nhỏ và dữ tợn như mắt của con cá mập trong cái bồn nước cạnh cửa. Cách hắn di chuyển khiến tôi hoảng sợ, và không hề nghĩ suy gì, tôi lui lại sang bên khi hắn bước tới gần. Chỉ khi gần như sát vào tôi hắn mới lên tiếng.
— Tôi biết cậu là gì, nhóc - Hắn nói, trầm trầm.
Tôi chậm chạp quay lại dõi theo hắn khi hắn đi ngang qua tôi vào phòng, không muốn để hắn lọt ra khỏi tầm mắt của tôi hoặc tới gần tôi quá. Tuy nhiên hắn không tới gần tôi mà là cái bàn mổ, mặt bàn bị che kín bởi tấm vải trùm lên cái xác cuối cùng do Caley mang tới. Tyne dừng lại cạnh nó, quan sát tôi, một tay giơ ra nắm lấy tấm vải.
— Gì thế? - Tôi hỏi lần nữa, nhưng Tyne chỉ cười hô hố, một tay kéo tấm vải xuống, thế là nó trượt ra và rơi xuống sàn, để lộ thân hình của một người phụ nữ. Tôi nhìn cô ta, tê dại trong giây lát, thế rồi, Tyne đưa bàn tay đã kéo rơi tấm vải lướt qua mặt cô ta, cùng lúc đó di chuyển về phía cuối bàn, để đứng ở phía đầu cô ta. Có điều gì đóthân mật một cách khó chịu trong sự ve vuốt của bàn tay hắn, cái cách nó nằm trên lớp da trần trụi của cô ta.
— Cô ta dành cho cuộc mổ vào ngày mai - Tôi nói. Hắn gật đầu, đôi mắt hắn quét ngược quét xuôi trên thân hình trần truồng của cô ta. Tôi thấy xấu hổ cho sự phơi bày đột ngột của cô ta trước gã đàn ông này. Tôi thấy khó chịu với hắn, cả với sự gần gũi quá sát sao này, và tôi rón rén lui lại thêm một bước, nhưng khi tôi làm điều đó, hắn luồn một tay vào áo khoác, và rút ra một con dao. Với một cử động nhanh nhẹn hắn bước tới trước, mũi dao chĩa vào cổ tôi.
— Anh làm gì thế? - Tôi hỏi, mong rằng giọng của tôi đừng run lên. Tôi cảm thấy trái tim trong ngực tôi đang đập với một nhịp nhanh, run rẩy. Ở khoảng cách gần này, tôi nhìn thấy lớp phấn trên mặt hắn, ngửi thấy mùi rượu gin còn vương lại trong hơi thở hắn. Thế rồi với một cử động chậm rãi, hắn đưa con dao trượt qua cổ áo tôi xuống ngực tôi. Trong lúc nó hạ xuống, hắn tiến tới sát hơn, cho tới khi chúng tôi gần như mặt kề mặt, lưỡi dao nằm trên những chiếc xương sườn của tôi, mũi dao ấn sâu vào da.
— Cậu có dáng vẻ của một quý ông, thế nhưng cha cậu chết như một tên ăn mày.
— Tôi có từng xúc phạm tới anh theo cách nào đó chưa? - Tôi hỏi, giọng run run. Đôi mắt của Tyne nheo lại.
— Cậu chỉ muốn làm ra vẻ thôi, nhóc - Hắn nói. Con dao trượt ra khỏi bụng tôi, và tôi thở phào nhẹ nhõm. Tyne lui lại một bước, con dao nằm hờ hững trong tay hắn. Đó là một con dao ngắn, xấu xí, hai cạnh của nó vót lại thành một mũi nhọn. Một con dao để giết chóc, không còn gì khác.
— Tôi rất tiếc là anh nghĩ như thế.
— Có lẽ đã tới lúc dạy cho cậu một bài học - Hắn nói. Trong vòng vài giây, hắn quan sát tôi, rồi hắn quay trở lại cái xác, nhấc đầu của cô ta lên, và ấn con dao vào ngực cô ta, nhưng không đâm mạnh.
— Anh không được xâm phạm tới cô ta - Tôi nói, mong cho giọng của mình nghe có chút thẩm quyền.
— Không à - Hắn hỏi - Cậu sẽ làm gì nếu tôi cứ xâm phạm?
— Tôi buộc phải báo với thầy của chúng ta.
— Và nếu tôi chối bỏ, cậu nghĩ ông ấy sẽ tin ai?
Tôi ngần ngừ:
— Sao anh lại phải làm việc này?
Một sự bất động kinh khủng dường như đang tóm chặt lấy hắn, tất cả, trừ đôi mắt của hắn, lúc này đang nhìn thẳng vào mắt tôi.
— Đừng tưởng tôi là thằng ngốc. Không hề - Trong lúc nói, hắn đưa con dao chạy ngoằn ngoèo ngang mặt của cái xác.
— Thầy Poll sẽ muốn biết ai chịu trách nhiệm nếu cô ta có dấu xâm phạm. Ông sẽ không tin rằng tôi làm việc đó mà không có nguyên do.
Hắn gật đầu, mỉm cười, con dao trong tay hắn lỏng đi. Nhẹ nhõm, tôi thư giãn, hơi thở tôi lại thoát ra trong một tiếng thở phào. Thế rồi với một cử động nhanh hắn giơ tay lên, hai ngón tay kẹp lấy lỗ mũi cái xác và cứa mạnh vào nó, cho tới khi nó đứt lìa ra. hắn xòe bàn tay ra, khoe với tôi cái mũi vừa bị tùng xẻo đang nằm trong lòng bàn tay hắn. Tôi trừng mắt nhìn lại, không nói lời nào. Thế rồi, với một cái phẩy tay nhanh, hắn quẳng vật kinh khủng này xuống chân tôi.
— Cứ bảo ông ta rằng đó là tôi và tôi sẽ giết cậu trong lúc cậu đang ngủ.
*** Đầu tiên tôi nghe thấy giọng bà Gunn cười vui vẻ. Rồi tới giọng Oates, lại thêm một tràng cười, dù lần này đè nén lại hơn, như thể họ sợ bị nghe lén. Nghe thấy tiếng cười vọng ra từ nhà bếp trong ngày không phải là chuyện khác thường. Oates có thói quen tới đó chơi khi thầy Poll không có mặt, và dù tôi từng nghe bà Gunn than phiền về ông ta, thật tâm tôi không nghĩ là bà quan tâm mấy, vì Oates cũng khá vui tính theo kiểu của ông ta, và rất khoái mọi dạng ngồi lê đôi mách.
Chùi hai tay vào một miếng vải, tôi bước tới cửa. Cả hai im bặt đi, cùng lúc quay mặt sang tôi. Oates đứng cạnh lò sưởi; nhìn thấy tôi ông ta cau mày và chuyển ánh mắt sang bà Gunn. Đã gần một tháng kể từ hôm có phát hiện về cái xác của người phụ nữ, nhưng vẫn chưa ai quên sự cố đó, ít ra là ở bà Gunn. Tôi không biết bà đã nghe thấy những gì, tất cả những gì tôi thấy là giờ đây bà không còn đối xử với tôi như trước, mà như cách người ta đối xử với một vị khách không mời.
— Có gì vui thế? - Tôi hỏi, nhìn từ người này sang người kia - Có chuyện gì xảy ra à?
Bà Gunn mím môi lại, nhưng Oates trả lời thay cho bà, biết mình có đầy quyền lực trong chuyện này nên có vẻ như ông ta nở nang từng khúc ruột.
— Tin tức - Ông ta nói.
— Về vụ gì?
Oates nhướng mày như thể bảo rằng ông ta sẽ không nói, dù theo kinh nghiệm, tôi biết ông ta sẽ nói.
— Một vụ vui vẻ - Ông ta đáp, nhưng trước khi ông ta có thể nói tiếp, chúng tôi bị cắt ngang bởi âm thanh của cánh cửa trên đầu. Giờ hai tay nắm chặt lấy tấm tạp dề, bà Gunn bước vội lên cầu thang, theo sau là Oates. Charles bước vào sảnh, mũ vẫn còn trên tay; anh mỉm cười khi nhìn thấy bà Gunn.
— Tôi thấy thông báo của tôi đã tới trước tôi - Anh nói. Bà Gunn bước vội tới gần và đưa tay nắm lấy hai bàn tay của anh, xiết chặt. Charles bật cười to, rõ ràng là vì sự không lịch sự này, bởi bà Gunn thương mến anh như thương đứa con trai cưng của mình nếu có, và anh ôm lấy bà với một cảm tình đặc biệt.
— Cho phép tôi là người đầu tiên chúc mừng cậu nhé - Oates nói, đầu gục gặt lia lịa trong một cử động mà chắc chắn là một kiểu chào.
— Cám ơn - Charles đáp, nắm lấy đôi tay của bà Gunn lần nữa. Rồi anh hướng ánh mắt về phía tôi.
— Anh nói sao, Gabriel? Anh không chúc mừng tôi gì cả hay sao?
— Hãy nói với tôi chuyện gì trước đã, rồi tôi sẽ chúc mừng anh - Tôi nói, dù tôi đã biết đó có thể là chuyện gì.
— Tôi sẽ cưới cô Poll, đã định ngày rồi.
Dù lời lẽ của anh rất nhẹ nhàng, tôi nghĩ ý nghĩ của anh không đơn giản như bề ngoài của nó. Tôi ngần ngừ giây lát, rồi bước tới, chìa tay ra bắt để chúc mừng.
*** Dù ngay hôm đó không còn cuộc chè chén nào khác, hôm thứ bảy chúng tôi đưa Charles tới quận Convent Garden. Trong một căn phòng bên trên một quán ăn có đủ thịt thà, nước xốt, rượu vang và khiêu vũ. Trời đêm rất dịu, và những đường phố bên ngoài đông nghịt những người, tất cả thật náo nhiệt ồn ào với những cuộc chén chú chén anh. Chúng tôi có tất cả chừng hơn chục người, kể cả Robert, một vài tay tôi quen biết, một vài tay không quen, và chúng tôi tổ chức một bữa tiệc rất vui.
Tới khoảng nửa đêm chúng tôi đã say mèm, con số hơn chục người đã phình lên tới hai mươi hoặc hơn. Có hai người tôi không quen, hai gã Ái Nhĩ Lan chơi vĩ cầm và trống, nhiều phụ nữ và một gã đầy sẹo đậu mùa mà tôi đoán là ông bầu của họ. Dù bữa tiệc này dành cho Charles, Chifley vẫn là chủ xị như từ trước tới nay. Hắn ngồi trên một cái ghế đặt giữa phòng để điều hành mọi thứ, một tay vòng quanh người một cô gái, tay kia nắm chặt cái ly, góp phần vào sự hỗn loạn huyên náo của bữa tiệc như có ác tâm gì đó. Hắn không nói năng gì với tôi, trừ một lần hét lên bảo tôi hát; mặt hắn sáng lên với vẻ thách thức mà hắn biết tôi sẽ không đáp lại. Trong số chúng tôi, phải chăng tôi là người duy nhất nhìn thấy cái cách hắn quan sát Charles và Charles quan sát hắn? - như thể giữa họ có một sự căm ghét bí mật nào đó, và Chifley tìm cách làm hại Charles bằng chính sự vui vẻ của chúng tôi. Tuy nhiên, dường như Charles không đặt tâm trí vào những trò vui của chúng tôi, ngay cả khi anh cười nói hát hò như bất cứ ai trong bọn.
Đối với họ, ăn uống nô đùa thế này không có gì mới lạ. Nhưng vào khoảng một giờ, một cô gái bỗng xuất hiện giữa chúng tôi. Cô ta tới chỗ Charles và ngồi lên đùi anh, một hành động khơi dậy niềm vui thú lớn cho đám người còn lại chúng tôi, vì cô ta rất béo, và Charles nhăn mặt dưới sức nặng của cô ta. Cô ta hôn anh với cái mồm không còn cái răng nào, và Charles đáp lễ với một tinh thần hài hước tuyệt vời, một cảnh tượng gớm ghiếc. Thế rồi cô ta ngả ra sau, kéo tấm áo lót xuống, khiến bộ ngực lộ ra thô lố. Chúng to kềnh và nhợt nhạt, màu da của chúng dường như trong suốt, và trên một bên vú, có thể nhìn thấy một mạch máu xanh xanh, chạy ngoằn ngoèo tới đầu núm vú, dày và phập phồng như một con sâu. Cô ta nghiêng người tới trước, ép đôi vú vào mặt Charles, lắc mạnh vai để chúng nảy lên và va chạm vào mặt anh. Bị kẹt cứng trên ghế vì sức nặng của cô ta, Charles không còn chọn lựa nào hơn ngoài việc chịu trận. Đám bạn bè khắp phía hò reo í ới, giục cô ta tiếp tục, và cô ta làm thế, ôm lấy gáy của Charles và áp mặt anh vào ngực mình như thể cho anh bú. Trong lúc những người khác reo hò, mặt đỏ ửng vì rượu và kích động, tôi thấy mình ngày càng căng thẳng, lo sợ điều mà Charles có thể làm.
Sau khoảnh khắc dường như vô tận đó, Charles đẩy cô ta vào vòng tay của Chifley, Chifley nắm chặt hai cổ tay của cô ta và lôi cô ta nhảy tung tăng điệu jig khiến bộ ngực trần của cô ta tưng lên dập xuống loạn xà ngầu trước mắt mọi người, sự tục tĩu này càng gợi thêm nhiều tiếng hoan hô, người đàn bà rít lên như một nữ thần báo tử trong vòng tay kềm chế của hắn.
Bị bỏ quên, Charles đứng lên, bước về phía cửa sổ. Trong lúc người đàn bà la hét và quay tròn, hai tay kéo đàn chơi một khúc luân vũ, nhưng Charles không quay lại, vẫn đứng nhìn đăm đăm ra ngoài. Tôi băng tới chỗ anh và thấy rằng trên con đường bên dưới, mọi người cũng đang la hét, xô lấn, hát hò, say như điếu đổ và quậy phá tưng trời. Qua màn sương của men rượu, cảnh tượng này thật rực rỡ sắc màu, những nhân vật di động rất nhanh và tiếng ồn ào của nó bốc thẳng lên cửa sổ. Thân người chúng tôi đang sát cạnh nhau.
— Tối nay tôi chẳng thấy thú vị gì - Anh nói.
— Đó là một trò lừa hạ cấp - Tôi đáp.
Bên dưới chỗ chúng tôi, một đôi đang ôm nhau, thân hình họ áp sát vào nhau, quên đi thế giới với một nụ hôn. Khi cuối cùng anh cất tiếng trở lại, giọng anh lặng lẽ hơn, ít chắc chắn hơn.
— Đôi khi tôi ước gì tôi có thể sống như họ, không thèm lưu tâm gì tới thế gian và những nhu cầu của nó.
Tôi lắc đầu, khó chịu. Với tôi, thật đáng sợ khi một người như anh lại ao ước phá hủy đi cuộc đời mình.
— Tôi không hiểu - Tôi nói, dù tôi e là mình hiểu.
— Không à? - Anh hỏi, cuối cùng quay sang đối diện với tôi. Tôi có thể ngửi thấy mùi quần áo vừa giặt ủi và nước hoa đặc biệt của anh. Mắt anh bắt gặp mắt tôi, tìm kiếm, như thể anh nghĩ anh sẽ tìm ra một điều gì trong đó, khoảnh khắc này dường như mở ra những khả năng. Thế rồi anh gật nhẹ đầu.
— Vậy là anh may mắn - Anh lui lại và nhìn về phía Chifley và cô gái, và đột nhiên dường như anh quên đi tâm trạng của mình. Anh nắm chặt cánh tay tôi và xoay tôi hướng vào căn phòng.
— Tới đó đi thôi - Anh nói - Tôi muốn nghe Caswell hát một bài - Nhưng dù anh mỉm cười, trong mắt anh không hề có niềm vui.
*** Đêm đã khuya trước khi tôi tìm thấy đường trở về nhà, con đường tôi đi băng qua những dãy phố tối om. Dùđã uống rất nhiều, tôi không say, bị lạc vào một sự tỉnh táo nào đó nặng như chì mà không lượng rượu nào có thể làm lay chuyển được. Tôi dừng lại ở bậc thềm. Bóng tối của những căn phòng bên trong dường như mở ra, không thể lấp đầy, và trong giây lát tôi đứng yên bất động, không thể bước vào.
Bên trong, ngôi nhà đang thiếp ngủ, hoặc có vẻ là thế cho tới khi tôi bước qua cánh cửa phòng mở rộng của Robert. Tôi không biết chắc anh đã rời khỏi bữa tiệc lúc nào, vì anh không nói gì với tôi, cũng không chào tạm biệt. Lúc này anh đang ngồi trước bàn làm việc, thân hình nghiêng về phía ánh nến, đầu tựa vào bàn tay. Cánh cửa sổ mở ra màn đêm, thu nhận làn không khí ấm áp mùa xuân; có thể nghe thấy tiếng cây bút của anh chạy sột soạt trên trang giấy bên trên những âm thanh xa xôi của thành phố tối đen. Dù hẳn đã nghe thấy tiếng chân tôi trên cầu thang, anh không quay lại, đang chìm đắm vào công việc nào đó. Tôi dừng bước, bị ngăn lại bởi cảnh tượng im lìm, hồi nhớ tới cảm giác thoải mái chúng tôi từng chia sẻ với nhau, dường như giờ đây nó không còn nữa.
Một lúc sau, anh ngẩng lên, nhìn tôi với một vẻ mặt không phải không tử tế nhưng khiến tôi thấy buồn vì sự xa cách hàm chứa bên trong đó.
— Anh có việc cần tôi à? - Anh hỏi.
Tôi lắc đầu - Tôi chỉ mới quay về - Rồi tôi ngưng lời, không biết phải nói gì kế tiếp. Dù đã một tháng trôi qua kể từ hôm tôi chạm trán với Tyne dưới tầng hầm và tất cả những chuyện xảy ra sau đó, mọi việc giữa chúng tôi vẫn chưa ổn thỏa. Không ai nói lời nào, nhưng cả hai chúng tôi đều biết một sự thật không dễ hàn gắn đã vỡ toang, và trong lúc nấn ná ở khung cửa, tôi chỉ ước gì tìm ra cách để làm lại mọi chuyện từ đầu.
Có lẽ anh nhìn thấy điều này, vì anh đặt bút xuống.
— Anh không khỏe sao?
— Không - Điều này không hoàn toàn đúng, tâm trạng của tôi bất ổn, và đã nhiều đêm nay tôi ngủ không ngon giấc.
— Sắp tới hè rồi - Anh nói - Khóa thực tập của tôi sẽ kết thúc.
— Tôi biết - Tôi đáp, nhưng thật sự khó mà hình dung nổi cuộc sống ở đây nếu không có sự hiện diện của anh - Anh có quyết định được anh sẽ làm gì chưa?
— Tôi nghe nói có công việc ở Ấn Độ và các vùng lân cận dành cho giới y khoa.
Tôi gật đầu, dù chưa bao giờ nghĩ rằng Robert có thể cân nhắc tới một hướng đi như thế.
— Nơi đó có vẻ rất xa xôi - Tôi nói, giọng vỡ ra. Điều tôi muốn nói là anh không nên đi, hoặc nếu có đi thì nên rủ tôi đi cùng. Trong khoảnh khắc, tôi nhiệt thành ước mong tôi có thể cùng đi với anh tới một nơi ấm áp nào đó.
— Tôi đã mệt mỏi với London - Anh nói - Và với việc làm bạn cùng những xác chết.
Có quá nhiều điều còn chưa nói hết giữa hai chúng tôi, và tôi không biết làm thế nào để chúng tôi có thể tìm được con đường băng qua nó.
 
 
 
12  
Robert có đủ lý do để tỏ ra xa cách với tôi, vì trong suốt một tháng kể từ ngày Craven ghé tới và cuộc xung đột giữa tôi với Tyne, đã có nhiều thay đổi. Buổi sáng hôm sau tôi dậy sớm, ý thức về hành động của Tyne nặng trĩu trong lòng tôi. Sẽ không lâu, tôi biết, và thật sự khi Robert tới gặp tôi trong phòng khám bệnh, đã gần chín giờ đêm.
— Anh có nhìn thấy cái xác chưa? - Anh hỏi.
Tôi ngần ngừ, toan nói dối. Nhưng trên nét mặt anh có gì đó khiến tôi thấy dễ nói ra sự thật hơn.
— Có.
— Anh biết gì về chuyện đó?
Một khoảnh khắc trôi qua, một nhịp đập trái tim, không có gì hơn.
— Không có gì.
— Cái xác vẫn còn nguyên vẹn khi chúng ta lau rửa nó hai đêm trước.
— Tôi mới thấy chuyện gì đã xảy ra hồi sáng này.
— Sao anh không tới và nói cho tôi biết ngay lúc đó? - Robert đang tìm kiếm nguyên cớ để có thể tin tôi.
— Tôi e rằng anh sẽ nghĩ tôi nhúng tay vào việc đó.
— Giá như anh tới gặp tôi thì lúc đó tôi sẽ không nghĩ điều gì như thế.
Có gì đó thắt lại trong bụng tôi, riết chặt.
— Còn bây giờ?
— Tôi sẽ báo cáo việc này với thầy Poll. Nhưng sẽ tốt hơn nếu sự việc sáng tỏ giữa chúng ta trước khi ông ấy biết.
Tôi ngần ngừ giây lát, muốn kể cho anh nghe tất cả. Nhưng khi ngước mắt lên tôi biết tôi sẽ không nói.
— Tôi không thể nói gì nhiều hơn với anh.
*** Khi Robert đã đi, tôi ngồi thẫn thờ trong phòng khám. Tôi thấy muốn bệnh với chuyện này, không chỉ sợ hãi về điều mà Tyne đã nói, mà còn vì đã nói dối với Robert. Vài phút trôi qua, và trong sảnh bên ngoài có tiếng chân bước lên cầu thang, tiếng những giọng nói thì thầm. Một cánh cửa mở ra, rồi khép lại; Robert đã quay lại.
— Thầy Poll cần gặp anh.
*** Thầy Poll đứng bên ô cửa sổ cao trong phòng làm việc của ông, giấy tờ bày đầy trên bàn như thể ông đã bị cắt ngang công việc. Charles đứng cạnh ông, và khi tôi bước vào, chúng tôi chạm mắt nhau. Tôi quay đi trong niềm xấu hổ. Robert khép cửa lại sau lưng chúng tôi. Cuối cùng thầy Poll quay sang tôi.
— Cậu có thấy cái xác chưa? - Giọng ông nhẹ nhàng, nhưng đanh lại.
— Dạ có - Tôi đáp.
— Và cậu nói cậu không biết gì về chuyện đó?
— Chỉ là em nhìn thấy nó hồi sáng này và chưa báo cáo lại.
— Vì cậu sợ sẽ trở thành đối tượng của sự nghi ngờ?
Tôi gật đầu.
— Thế nhưng cậu thấy sự khó khăn ở đây rồi đó. Phải có tác giả cho hành động đó.
Ở phía đối diện với tôi, mặt Charles kín như bưng. Tôi đột nhiên hiểu ra - anh đã đoán được phần nào những chuyện đã xảy ra, nếu không phải là những chi tiết. Thế nhưng anh không can thiệp.
— Và cậu bảo với tôi rằng cậu không phải là tác giả?
Tôi lắc đầu:
— Em không biết gì về việc đó hơn thầy.
Thầy Poll im lặng, chậm rãi khỏ một ngón tay lên cánh tay bên kia.
— Khó mà tin được, cậu hiểu chứ?
— Em hiểu - Tôi đáp, những lời của tôi vang lên rõ ràng trong căn phòng tĩnh lặng.
Có điều gì đó mà trước đó tôi không nhìn thấy đang trộn lẫn vào cơn giận của thầy Poll, một điều gì đó đã dập tắt cơn giận trong tôi. Ông dò xét nét mặt tôi một lúc lâu.
— Cậu có cam đoan rằng cậu không phải là kẻ đã làm chuyện đó? - Cuối cùng ông hỏi.
— Vâng.
Với một cảm giác rất giống với sự căm phẫn, ông nói:
— Vậy thì đi đi. Tôi không còn gì để nói với cậu nữa.
*** Mỗi chủ nhật, khi làm xong công việc, tôi lấy giấy bút ra và viết thư cho người giám hộ của mình. Việc tôi báo cho ông danh sách của các bệnh nhân và những nơi đã tới không được đồng ý, nhưng dù sao tôi vẫn cứ thực hiện nó, bỏ qua những chi tiết mà tôi nghĩ tốt nhất là ông không biết. Những lá thư của tôi rất cẩn trọng, tôn kính, đầy đủ các tính chất mà một người như tôi phải thể hiện với người giám hộ của mình. Thế nhưng chúng là những lá thư kém cỏi, những ngôn từ của chúng nằm chết trên trang giấy, tẻ ngắt vì lặp đi lặp lại, và tôi chắc rằng chúng mang tới khá ít niềm vui khi đọc, không khác gì khi viết.
Việc lẽ ra nó phải là thế càng khiến tôi đau khổ gấp đôi. Trong suốt bảy năm trời, người giám hộ của tôi đã đối xử với tôi không khác chi với con trai của mỉnh. Tôi cần phải biết ơn, và tôi rất biết ơn, nhưng tôi không cảm nhận được những điều mà lẽ ra tôi phải cảm nhận nhiều hơn; nói đúng hơn, tôi chỉ cảm thấy lúng túng, một vết thương rối rắm trong lòng mà tôi không tài nào tháo gỡ.
Những lá thư của tôi không nói chuyện chi quan trọng - chỉ kể về những người bạn tôi đã kết thân, tình cảm của tôi đối với Charles và Robert, sự ngưỡng mộ tài năng của thầy tôi. Tôi không nói gì tới cái thế giới mà tôi đã phát hiện ra ở đây khi đi chơi với Charles.
Có lẽ sẽ tốt hơn nếu tôi dành những buổi tối này cho mấy cuốn sách của mình, nhưng tôi không khoái chúng mấy. Trong suốt nhiều tuần, tôi không tìm thấy niềm vui trong những giờ học tập, không có sự tập trung lẫn thoải mái, những điều mà tôi học hỏi được chẳng có dụng ích gì nhiều. Ở tôi thiếu đi một thứ gì đó, một thái độ nào đó.
Tôi dành cho chính mình những giờ mà trước kia tôi từng trải qua với Charles, tản bộ đó đây trong khắp thành phố để tìm tiêu khiển, hay một điều gì khác mà tôi không thể tìm ra.
*** Tôi nghe thấy ai đó gọi tên mình khi tới gần bùng binh Seven Dials, và quay lại, tôi thấy May đang đứng đó. Trông hắn gầy hơn lần cuối tôi gặp hắn, thân hình của hắn trong bộ com lê đen càng giống hệt như một con nhện.
— May, anh làm gì ở đây vậy? - Tôi nói, lùi lại một bước khi hắn tới gần.
Hắn mỉm cười, và dù nét mặt có vẻ chân thành, nó thoáng hiện một niềm xấu hổ.
— Tôi có công việc - Hắn đáp, thờ ơ ra bộ. Tôi đưa mắt nhìn theo điệu bộ của hắn, nhưng không hiểu, cho tới khi May đột ngột cười phá lên theo kiểu cách cũ của hắn.
— Những người Do Thái - Hắn nói, như thể thừa nhận một nhược điểm nào đó mà hắn đang kiếm tìm sự cảm thông dành cho nó - Tôi tới để gặp mấy người Do Thái.
Đã hiểu ra, tôi gật đầu.
— Dạo gần đây tôi không gặp anh - Hắn nói.
Tôi lắc đầu - Tôi quá bận với những nhiệm vụ của mình.
May nhe răng cười, gật đầu, dù chắc chắn hắn phải biết sự dối trá trong đó.
— Còn Charles? Cậu ấy thế nào?
Nhận ra hắn chưa nghe thấy chuyện gì, tôi ngần ngừ - Anh ta sắp kết hôn.
— Kết hôn à? Đó là một tin vui - May nói, nhưng rồi hắn lại im bặt.
— Còn anh? Anh vẫn ổn chứ?
Hắn gật đầu, nhưng khi đó một cánh cửa thấp lè tè mở ra sau lưng hắn, một thanh niên Do Thái đứng choán lấy nó. May giơ một tay lên như để giữ anh ta ở đó.
— Tôi phải đi, nhưng nhớ ghé thăm tôi, tôi nhớ sự bầu bạn của anh - Hắn nói, mỉm cười.
Tôi đứng lại đó hồi lâu, nhìn theo hắn. May chưa hề làm điều gì sai trái với tôi, tôi không thể nghĩ ramột điều gì không tử tế. Nhưng tôi không chịu nổi việc cặp kè với hắn, không chịu nổi tất cả những gì hắn đòi hỏi ở tôi.
*** Tôi nhận ra gã ngay lập tức, dù tôi chưa gặp lại gã kể từ hôm đó trong công viên.
Không nghĩ ngợi gì, tôi nhìn xuống, nhưng Chifley giơ tay lên.
— Ash - Hắn gọi, đứng lên khỏi ghế. Đối diện với tôi, Caswell nhìn chằm chặp vào cái bàn trước mặt hắn, và tôi biết ngay rằng Chifley đã lên kế hoạch cho một trò chơi nào đó ở đây.
— Hai cậu đã gặp nhau, tôi cho là thế? - Chifley hỏi, kéo một cái ghế tới bàn chúng tôi. Trông chẳng vui vẻ gì khi gặp tôi hơn lần trước, Ash gật đầu thừa nhận.
— Swift - Hắn nói.
Tôi đứng lên, nghĩ sẽ xin cáo lỗi để bỏ đi, nhưng Chifley đặt tay lên cánh tay tôi, gọi thêm một cốc rượu. Và thế là tôi ngồi xuống lại, chờ đợi.
Hóa ra Ash và Chifley có đôi công việc về một con ngựa. Hệt như hôm có Arabella và Amy, thái độ của Ash cứng ngắc và trịch thượng, như thể gã phát hiện ra mình đang bị làm phiền bởi sự hiện diện của chúng tôi. Khi uống xong cốc rượu, gã đứng lên hầu như ngay tắp lự, liếc mắt vào cái đồng hồ.
— Tôi có việc ở chỗ khác - Gã nói, hầu như không nhìn vào mặt chúng tôi trong lúc nói. Chifley ngả người dựa vào ghế, nhấp một ngụm rượu và mỉm cười.
— Tôi nghe nói cô ta tên là Louisa - Hắn nói.
Ash nhìn Chifley.
— Cậu nói nhiều quá đấy, anh bạn.
Thoạt tiên tôi nghĩ gã sẽ nói thêm nhưng sau đó gã ném vài đồng tiền lên bàn và quay đi. Chifley với tay về phía hộp đựng thuốc lá của hắn.
— Sao? Anh không biết gì à?
— Biết gì?
— Cái ả điếm ngu xuẩn mà anh từng gặp đã tiêu tùng rồi. Ash chẳng còn dính dáng gì tới cô ta.
Tôi đã uống quá nhiều, và mặt tôi nóng bừng bừng. Chifley nhìn tôi với vẻ chế giễu khi tôi đứng lên.
— Sao, chim sẻ - Hắn hỏi - Cậu không cho những lời đùa cợt của chúng tôi là bậy bạ đó chứ?
Tôi lao qua họ về phía cửa. Một cơn thịnh nộ lạnh lùng sôi lên trong ruột gan tôi.
Trời đêm ấm áp, đường phố đông nghịt người trong ngày Thứ bảy, những tay kéo đàn, những đám thủy thủ, lính tráng và những ả gái điếm, tất cả đang chen lấn nhau và hò hét. Không quan tâm tới việc sẽ đi đâu, tôi bước dọc theo phố Strand tới đồi Ludgate, rồi quẹo về hướng nam, đi tới bờ sông. Đầu tiên tôi nghĩ sẽ đi tìm Ash và dạy cho gã một bài học với những nắm đấm của tôi, vì lòng tôi tràn ngập một niềm căm ghét mù quáng với bọn đàn ông này và kiểu cách của chúng. Thế nhưng trong những con phố mé dưới nhà thờ Thánh Paul, nơi những người lái đò và anh em của họ cư ngụ, nó bắt đầu nhạt nhòa dần, thay vào đó là một nỗi hổ thẹn, không chỉ vì vai trò của tôi trong chuyện này mà còn vì sự hèn nhát của tôi.
Căn bếp tối om, thế nên lúc đầu tôi không nhìn thấy hắn trong bóng tối.
— Đã khá khuya để cậu đi quanh quẩn.
Giật mình, tôi nhảy lên. Hắn cười khúc khích, nghiêng tới trước để tôi có thể nhìn thấy đường viền của gương mặt hắn.
— Cậu tưởng là chỉ có một mình cậu hả?
— Làm sao ông vào đây được? - Tôi rít lên.
Lucan phát ra một âm thanh chế giễu.
— Cậu sẽ tống cổ tôi ra chứ? - Với một cử động lười nhát, hắn tựa lưng vào tường.
Tôi chầm chậm né ra khỏi hắn. Dù dạo này hắn thường tới đây, tôi không thoải mái chút nào khi có mặt hắn, tôi cũng không tin vào những động cơ của hắn khi tới mà không thông báo.
— Cậu không cần phải sợ, chỉ có mình tôi.
— Bà Gunn gặp chuyện gì? - Tôi nhìn ra hướng cửa tới căn phòng nhỏ của bà.
— Bà ta sẽ không thức giấc, tôi nghĩ - Trong lúc hắn nói, tôi nhận ra rằng hắn đã say. Thế rồi, như thể đoán được ý nghĩ của tôi, hắn nói thêm - Cả Tyne cũng không.
Tôi không đáp.
— Anh ta đã chơi xấu cậu, phải không?
— Phải - Dù có cả chiều rộng của căn phòng ngăn cách giữa tôi và hắn, sự hiện diện của hắn giống như một cái gì đó đầy tính vật chất.
— Cậu sợ hắn hả?
Tôi không đáp, và hắn gật đầu.
— Chả có gì phải xấu hổ về chuyện đó. Anh ta là một người nên tránh xa khỏi tầm mắt. Tôi e là chính vì tôi mà cậu bị chơi xấu.
— Có lẽ thế - Tôi đáp.
— Cậu có muốn tôi thay mặt cậu dạy cho Tyne một bài học không?
Tôi ngần ngừ, vì đây là một ý tưởng hấp dẫn, nhưng rồi tôi lắc đầu. Lucan cười hô hố.
— Tốt. Tôi ngưỡng mộ một người không muốn mang nợ một cách dễ dàng - Hắn ngưng lại trầm ngâm.
— Họ bảo là de Mandeville sắp cưới con gái của thầy cậu?
— Đúng vậy.
Hắn để cho câu đáp đó treo lơ lửng giữa chúng tôi một lúc.
— Tôi nghĩ cậu biết về cậu ta nhiều hơn là lần trước khi chúng ta nói chuyện.
— Có lẽ - Tôi đáp.
— Cha cô ta chỉ là con trai của một ông chủ cối xay. Còn ông ta lại là một quý ông quá vĩ đại - Hắn tiến tới gần hơn.
— Tôi không hiểu.
— Không à? - Hắn hỏi, giọng hắn có vẻ vui vui - Họ bảo cô ta đã kiếm được một tấm chồng danh giá hơn là ông ta có thể ước ao.
— Tôi không hiểu ông muốn nói gì - Tôi đáp, nhưng tôi thấy ớn lạnh, vì thật sự tôi nghĩ tôi hiểu.
— Cậu đã từng gặp một nữ diễn viên, một đứa bé đã chết.
Tôi lắc đầu:
— Tôi đã hứa rằng tôi sẽ không nói gì về chuyện đó.
— Cậu cũng không tiết lộ nó ra.
— Anh ta thiếu nợ à? - Tôi hỏi, rồi với một sự đột ngột khiến tôi giật mình, Lucan giơ tay lên và tóm lấy mặt tôi. Nắm tay của hắn gần như dịu dàng, thế nhưng tôi cảm thấy sức mạnh của hắn, quyền lực căng tràn trong bàn tay hắn.
— Chắc chắn là cho tới giờ này cậu đã thấy quá đủ các cái chết để biết chút gì đó về cuộc sống? - Hắn hỏi, mặt hắn sát tới nỗi tôi cảm thấy sức nóng của hơi thở hắn. Hơi thở của tôi thoát ra một cách rời rạc, máu sôi lên trong cổ họng tôi, thân thể của chúng tôi sát vào nhau trong cái ôm kỳ lạ này.
— Đừng trở thành một thằng ngu vì họ - Cuối cùng hắn nói, rồi buông tôi ra ngay lập tức.
*** Tháng Năm mưa dầm. Chỗ nào cũng mưa, suốt cả một tuần. Trong nhà, mọi thứ đều trở nên ẩm ướt, và dưới tầng hầm sũng nước. Rồi một sớm mai có tiếng gõ cửa - một thằng bé đứng trên bậc thềm với một lá thư không ghi tên họ mà nó bảo là gửi cho tôi, và nó không chịu nói gì thêm. Tôi mở thư ra, lo sợ. Nó viết rằng Amy đang ốm và cầu xin tôi đưa Charles tới ngay lập tức. Mực loang ra trên giấy vì nước mưa. Nhìn xuống, tôi thấy gương mặt sợ sệt của thằng bé.
— Chờ ở đây - Tôi nói.
Trong phòng mổ, Charles đang cúi người trên một xác chết cùng thầy Poll. Robinson, một người buôn nón, vừa chết trước đó hai ngày vì bị tắt nghẽn ruột. Charles đang vẽ lại mớ ruột gan lòng thòng của ông ta, một khối trơn trợt cứ phình lên ở chỗ này chỗ khác trong lúc anh xúc nó vào một cái xô. Mùi thối quánh lại trong bầu không khí, thế nên tôi phải đưa một tay lên che mũi.
— Có gì thế? - Anh hỏi, và vừa bước tới gần, tôi vừa giơ lá thư ra để anh có thể đọc nó. Gần như không ngưng tay, anh đọc lướt nhanh qua nó, rồi nhìn xuống cái lổ hổng trên bụng của Robinson. Ở mé bên kia bàn, thầy Poll chờ đợi. Charles uốn cong bàn tay đuổi theo cục gan trơn trợt. Rồi cuối cùng anh đặt con dao mổ xuống và nhìn thầy Poll.
— Có người cần em - Anh nói. Thầy Poll nhìn Charles giây lát, có lẽ mong đợi một câu giải thích thêm nào đó. Nhưng Charles không nói gì thêm. Một sự im lặng diễn ra giữa hai người, thế rồi Charles nhặt một mảnh giẻ lên, bắt đầu lau sạch lớp mỡ trên hai bàn tay của mình.
— Người đưa tin còn ở đây không? - Anh hỏi, và tôi gật đầu.
— Bảo rằng tôi sẽ tới đó ngay.
*** Ngày ướt sũng, mưa rơi đều đều từ bầu trời nặng trĩu, và dù bước nhanh, chúng tôi vẫn ướt mèm khi chưa đi được tới một trăm bộ. Gương mặt đẹp trai của Charles kín như bưng.
Ngay khi chúng tôi tới nơi, Mary mở cửa ra. Hôm nay trông cô ít dữ dằn hơn, tôi nghĩ, mặt cô nhợt nhạt và sợ sệt.
Trong nhà khá nóng, ấm áp quá mức giống như ngày đầu tiên tôi tới đó. Mary đi xuôi theo hành lang, dừng lại trước một cánh cửa và xoay nửa người sang Charles. Gương mặt vàng bủng của cô đanh lại, tái đi vì lo lắng, thế nhưng vẫn còn đó sự pha trộn giữa thách thức và cần thiết mà tôi từng trông thấy ở cô khi chúng tôi gặp nhau lần đầu. Dường như cô toan nói gì đó, nhưng không thể tìm ra từ để nói. Charles chìa tay rà và đặt nó lên cánh tay cô, dường như sự va chạm đó đã làm tan chảy một thứ bất kỳ nào đó đang bùng cháy bên trong cô.
— Đừng sợ - Anh nói, và Mary gật đầu, ấn tay lên cánh cửa và đẩy nó mở ra.
Căn phòng tối om, những tấm màn che kín ánh sáng ban ngày. Trên sàn những đống chăn mền nằm vương vải đó đây, nhàu nhĩ và dính đầy máu. Amy nằm trên cái giường đặt giữa phòng, mặt cô ta xám ngoét như tro, đầu gối lên đùi của Arrabella. Arabella ngẩng lên khi chúng tôi bước vào.
— Xin cứu giùm con bé - Nàng nói, gạt tay qua mớ tóc rối bù của Amy - Tôi không biết điều nào tệ hơn, cảnh tượng máu me của Amy hay giọng nói vỡ ra vì sợ hãi của Arabella.
— Cô ấy bị thế này bao lâu rồi? - Charles hỏi, đặt cái túi xách xuống và ngồi xuống cạnh nàng. Arabella lắc đầu.
— Đêm qua tôi có vở diễn, và cô ấy đã lên giường nằm khi tôi trở về. Sáng nay khi cô ấy không ngồi dậy, tôi vào phòng và thấy cô ấy thế này - Giọng nàng lạc đi.
Charles gật đầu, đặt tay lên chân mày của Amy.
— Đó là một phụ nữ ở Ludgate Hill - Arabella nói. Và trong khi nàng nói, Amy mở mắt ra.
— Charles - Cô ta nói, mỉm cười, và Charles nắm lấy tay cô ta.
— Amy, cô đã làm gì vậy?
Cô ta nhún vai, rồi trông thấy tôi - Anh Swift - Cô ta nói - Anh đã không ghé tới chơi.
Tôi lắc đầu - Không - Và cô ta lại mỉm cười.
— Anh sẽ không muốn, lúc này, tôi nghĩ.
— Không, tôi sẽ tới mà.
Cô ta bật cười rời rạc - Và cỗ xe ngựa của anh, anh sẽ mang cỗ xe của anh tới chứ?
Tôi nuốt nước bọt một cách khó khăn. Thế rồi cô ta nhăn mặt, thân hình gập lại vì đau, cô ta quay người sang bên, khép mắt lại và dường như đã thiếp đi.
— Hãy nói với tôi rằng anh sẽ cứu cô bé - Arabella van nài, nhưng Charles chỉ lắc đầu.
— Tôi sẽ làm những gì tôi có thể. Sau đó, mọi chuyện nằm trong tay của Thượng đế.
Anh lấy ra từ trong túi xách một liều thuốc cầm máu, trộn nó với thuốc phiện và cẩn thận rót nó vào miệng của Amy. Nhờ thuốc phiện, hơi thở của cô ta chậm lại, đều đặn hơn. Mary liếc nhìn Arabella; sự thay đổi này khiến họ bình tĩnh hơn chút đỉnh. Nhưng máu vẫn còn chảy. Đây không phải là lần đầu tôi nhìn thấy một bệnh nhân xuất huyết, nhưng vẫn khó mà tin vào số lượng máu thật sự chảy ra. Mary liên tục dùng vải và khăn để chậm nó, rồi mang chúng ra, nhưng dường như máu cứ chảy nhiều hơn, rỉ ra như một đợt thủy triều. Cuối cùng Arabella bảo cô ta thôi đi, nét mặt nàng tuyệt vọng. Nàng giơ tay ra cầm lấy bàn tay của cô bé, cử chỉ dịu dàng đến độ tôi cảm thấy cổ mình nghẹn lại. Charles đứng cạnh cửa sổ, mặt hơi quay đi; như thể anh chỉ ước gì sự kết thúc tới ngay cho.
Chúng tôi chờ suốt buổi chiều, hầu như không nói chuyện. Đôi lúc tôi ngồi xuống cạnh Arabella và cầm lấy tay nàng. Nó lạnh ngắt, và mềm oặt, mạch đập rất yếu. Thế rồi Arabella nhấc đầu của Amy ra khỏi đùi mình và đứng lên, bước ra cửa, như thể nàng không chịu đựng thêm được việc ở gần cô bé.
Sự sống bên trong Amy chậm chạp rút xuống, hơi thở của cô ta ngày càng yếu đi, ngắt quãng nhiều hơn, cho tới khi với một cái giật nhẹ nó hoàn toàn chấm dứt. Chúng tôi im lặng hồi lâu, rồi cuối cùng giọng của Arabella phá toang sự im lặng.
— Vậy là đã xong xuôi?
Charles quỳ xuống, đè một ngón tay lên cổ họng Amy, rồi gật đầu và bước ra xa. Arabella chậm rãi bước tới gần, một tay vẫn ôm lấy mình, tay kia giơ ra sờ lên mặt Amy, cẩn thận vuốt lại mái tóc bên trên mày của cô ta, như thể cô ta là một đứa trẻ. Ở mé cửa ra vào, Mary bắt đầu khóc rưng rức.
Charles nhanh nhẹn cầm lấy cái túi xách, và cúi đầu chào trước khi đi ra cửa. Thế nhưng tôi không thể nhúc nhích. Arabella lặng lẽ quay sang nhìn tôi.
— Arabella - Tôi bắt đầu, đưa tay ra tìm bàn tay của nàng, nhưng nàng lắc đầu, rút bàn tay lại.
— Không - Nàng nói - Đừng nói gì hết. Tôi không thể chịu nổi điều đó.
 
 
13  
Bên ngoài, cơn mưa đã dứt, nước trên những phiến đá thẫm lại trong ánh sáng mờ mờ bụi, sâu thẳm như những tấm gương. Sau sự ấm áp trong nhà, không khí trên đường mát lạnh, nhưng có cảm giác xa xôi, chuyển động của xe cộ lại qua dường như không có thật.
Dù tôi mong mỏi nghe Charles nói đôi điều, có một dấu hiệu nào đó cho thấy có lẽ tốt hơn là không có lời nào hết. Chỉ khi chúng tôi về tới cửa anh mới quay sang tôi.
— Chuyện này lẽ ra không nên xảy ra. Mấy người phụ nữ đó không phải là mối quan tâm của tôi.
Cánh cửa đột ngột mở ra, thầy Poll xuất hiện, bên cạnh ông là Oates. Bị bắt gặp trong lúc không khoác mặt nạ, Charles như đứng trần trụi trước mặt ông cụ, để lộ mọi nhược điểm của mình. Nhưng thầy Poll không nao núng, cũng không khiển trách anh, thật sự nét mặt của ông có vẻ ân hận hơn là giận dữ. Một lần nữa, một điều gì đó được chuyển giao giữa họ, thế rồi thầy Poll đưa tay lên mũ, chào tạm biệt, nhắc nhở Charles về lời hẹn tới ăn tối tại nhà ông đêm đó và bước tới cánh cửa xe đang mở sẵn. Trong khoảnh khắc, tôi nghĩ Charles sẽ quay lại và đi theo ông, nói đôi lời gì đó để giữ ông lại, cố xóa bỏ điều đã được chuyển giao giữa họ. Nhưng anh không làm thế, những chiếc bánh xe kêu rít lên trên mấy phiến đá khi cỗ xe lăn bánh.
Chỉ khi cỗ xe ngựa của thầy Poll đã khuất khỏi tầm mắt sau khúc quanh của Quảng trường, tôi mới nhận thấy anh đang run lên, dù tôi không biết đó là do giận dữ hay hổ thẹn.
Tôi theo Charles lên cầu thang, quan sát anh thu lượm các thứ đồ dùng của mình. Tôi biết tôi nên rời khỏi anh, để cho anh yên ổn một mình, nhưng tôi cảm thấy cần nói đôi lời nào đó với anh, một cách thức nào đó để giải tỏa điều tôi vừa nhìn thấy. Anh bực bội nhìn quanh phòng, tìm một thứ gì đó, và nghĩ rằng đó là liều thuốc mà anh đã yêu cầu tôi pha chế cho một bệnh nhân hồi sáng này, tôi lấy nó ra khỏi kệ. Nhưng khi trao nó cho anh, tôi nhận ra anh không biết rằng tôi đang ở đó, vì anh giật mình, một điều gì thoáng hiện trong ánh mắt của anh. Thoạt tiên tôi tưởng anh định nói với tôi một cách giận dữ, anh có vẻ rất bực dọc, nhưng thay vì thế, anh cầm lấy liều thuốc trong tay tôi.
— Ồ, Gabriel - Anh nói - Cô ta là một cô bé xinh đẹp, nhưng đừng biến mình thành một thằng ngốc.
Có gì đó trong tôi thắt lại. Nhưng Charles chỉ mỉm cười lạnh lẽo.
— Tôi thấy anh không lòng dạ nào nghe những lời nói của tôi, nhưng tin tôi đi, quá gắn bó với những loại người đó không có lợi lộc gì đâu.
— Chắc chắn là anh nói điều này từ kinh nghiệm - Tôi đáp, lời lẽ của tôi tới quá nhanh, quá dễ dàng. Nét mặt Charles đanh lại.
— Rất tốt. Chỉ nên nhớ rằng: cô ta không thể là của anh với cái giá một vài dải ruy băng. Tôi không bao giờ có thể sắp xếp chuyện đó cho anh nếu anh mong muốn.
Tôi đứng bất động. Có gì đó chuyển đổi trên gương mặt của anh - có lẽ là sự ân hận vừa lóe lên - và có vẻ như anh sắp xin lỗi. Nhưng rồi anh lao đi, băng qua cửa và xuống thang. Khi tôi nghe thấy tiếng cánh cửa mở ra phố đóng lại, tôi quay qua - và bắt gặp Tyne. Mọi sự rõ ràng ngay tắp lự rằng hắn đã nghe thấy tất cả những trao đổi giữa hai người chúng tôi, bởi hắn nhìn tôi với vẻ vui sướng. Hắn bước tới, và tôi lui lại một bước, rồi thêm một bước. Bỗng dưng thấy lo sợ, tôi lao ngang qua hắn ra khỏi phòng.
*** Tôi bước mù quáng trên đường, lao qua đám đông đang chuyển động. Những ô cửa sổ đã sáng đèn, thành phố tràn ngập ánh sáng và âm thanh. Từ phố Compton, tôi cắt sang hướng đông, đi về phía Covent Garden nơi đám đông dày đặc hơn, tiếng vĩ cầm và sáo Tô Cách Lan ép nặng lên bầu không khí, dù tôi hầu như không nghe thấy chúng. Từ các ô cửa sổ, những người phụ nữ nghiêng người ra, bộ ngực thõng xuống đong đưa, và họ cất tiếng gọi tôi với vẻ dâm dật. Không hề nghĩ ngợi, tôi đáp lại bằng những lời giận dữ, nhưng họ vẫn đối đáp một cách tử tế; ở cạnh khu chợ có hai người đàn ông, có lẽ là sinh viên của trường Cambridge, va phải tôi, tôi đẩy họ ra và hét lớn. Họ đã say, và dù có hai người, họ không giơ nắm đấm lên, chỉ đơn giản lùi lại, bỏ mặc tôi giận dữ chửi bới sau lưng họ. Thế rồi, từ trên phố Strand, Chifley xuất hiện, bên cạnh là Caswell. Trong thoáng giây, tôi cho là mình đã tấn công, nhưng Chifley tóm lấy cổ tay tôi, ngăn tôi lại.
— Chim sẻ - Hắn cười to - Cậu đi đâu vậy?
Tôi lắc đầu, vùng ra. Dù hắn gần như lùn hơn tôi một cái đầu, thân hình giống như một con chim câu to diều của hắn rất cường tráng. Hắn mỉm cười.
— Tôi cho là cậu sẽ đi cùng chúng tôi.
Thoạt tiên tôi cưỡng lại, vì tâm trạng của Chifley có vẻ nguy hiểm. Nhưng rồi tôi nhận ra rằng tôi không quan tâm, và cầm lấy chai rượu hắn chìa ra, tôi đưa nó lên môi và nốc.
Họ đã thắng độ bi-a, và đã nhậu say sưa với tiền thắng cược. Chifley kềm chế rất tốt, dấu hiệu duy nhất cho thấy hắn đã say là mục đích trong bước đi của hắn, nhưng gương mặt của Caswell thì đỏ bừng và bước chân của hắn hơi loạng choạng. Họ dẫn chúng tôi qua những con hẻm, đầu tiên là tới một tiệm bán pa-tê nhồi thịt lươn, rồi sang một quán rượu Chifley biết ở gần phố Monmourth. Theo cách thức vui vẻ của những cô nàng phục vụ đối với Chifley, rõ ràng là họ biết hắn rất rõ. Đó là một nơi đáng sợ, trần thấp lè tè và kín mít, nhưng rượu gin lại rẻ, và âm nhạc ồn ào. Một phụ nữ ngồi ở mé quầy, không cao hơn một đứa trẻ lên năm. Cô ta mặc một cái váy trẻ con dính đầy vết bẩn, mặt bôi đầy son phấn. Dù có hai gã đang trò chuyện với cô ta, Chifley yêu cầu phải mang cô ta tới, hắn bảo rằng hắn muốn đặt cô ta trên đùi để nựng nịu. Những gã đi cùng với cô ta trừng mắt nhìn chúng tôi, nhưng Chifley không thèm để ý tới họ.
Cô ta tên là Rosa, và cô ta di chuyển với một dáng đi nhún nhảy của loại người giống như cô ta, đôi chân teo tóp của cô ta không dài hơn cẳng tay tôi, thế nhưng cô ta nhảy lên đùi của Chifley hệt như cách một con chó có thể làm, uốn éo trong đôi tay sờ soạng của hắn và cười khanh khách với một giọng đàn ông khàn khàn.
Tôi gọi ngay một cốc gin khác khi vừa uống cạn cốc đầu và vị ngọt gắt của rượu vẫn còn trong cổ họng. Bên dưới lớp phấn dầy vòng quanh đôi má và cặp chân mày, gương mặt của cô gái trông thật kệch cỡm, những đường nét nặng nề và méo mó như nét mặt của một con khỉ dã nhân. Gửi tới tôi một nụ cười ranh mảnh, cô ta luồn bàn tay vào dưới áo khoác của Chifley. Tôi không thích cái nhìn này, cái vẻ thách thức chua ngoa của nó, nhưng không nói gì, ngay cả khi cô ta rút cái ví tiền của Chifley ra và tuồn nó vào áo lót của mình. Bỗng nhiên tôi ước ao thoát khỏi bản thân mình, quên hết mọi thứ cùng men rượu, thế là với vẻ dữ tợn, tôi nâng cốc lên và một lần nữa nốc cạn món rượu gin, nhắm mắt lại khi sức nóng ngập tràn óc não và dạ dày tôi.
Những giờ sau đó trôi qua một cách lờ mờ. Ở một lúc nào đó, Rosa biến mất dù trước đó tôi nhớ mình đã lảo đảo đi vào một căn phòng và nhìn thấy Chifley đang đứng tựa vào tường, cúc áo mở bung và cô ả ngồi trước hắn, đầu di động tới lui nhanh. Sau đó chúng tôi ăn tiếp, và Chifley phát hiện ra cái ví của hắn đã mất tăm mất tích, chuyện này khiến tâm trạng hắn trở nên u ám. Sau đó, hoặc có lẽ muộn hơn nữa, tôi bảo rằng tôi phải đi, nhưng Chifley và Caswell yêu cầu tôi ở lại. Khi tôi nhất quyết, họ bảo rằng họ muốn theo hộ tống để bảo vệ tôi trước bọn kẻ cướp. Thế là ba người chúng tôi loạng choạng quay về, tay khoác vào nhau và say như điếu đổ, băng qua những đường hẻm của phố Hy Lạp. Trên bậc thềm, tôi chào tạm biệt, cố vặn chìa trong ổ một cách lặng lẽ hết mực. Nhưng rồi Chifley nghiêng người qua và tóm lấy cánh tay tôi.
— Nè, Chim sẻ - Hắn nói lè nhè - Còn mấy cô nàng mà cậu hứa với chúng tớ thì sao?
— Tôi chả hứa cô nàng nào với anh cả - Tôi đáp, nhưng hắn chỉ cười hô hố.
— Tôi nghĩ chúng tôi sẽ tự tìm cho mình vậy - Hắn liếc Caswell, gã này nở một nụ cười say khướt, vừa nôn nao với niềm vui mới này, vừa e sợ điều có thể xảy ra.
— Không - Tôi nói, nhích người ra khỏi hắn, nhưng tôi quá chậm, vì hắn đã vọt ngang qua tôi vào nhà.
— Họ đang ngủ - Tôi chỉ lên tầng trên, nhưng Chifley không chút nao núng. Hắn vớ lấy tay nắm cửa của căn phòng trước, mở tung nó ra, lẩn vào trong để xem có gì ở đó. Trong sảnh, Caswell va mạnh vào cái bàn, rồi Chifley quay ra, nhìn quanh quất.
— Tôi nghĩ dưới tầng hầm - Hắn nói, mò mẫm trong túi để tìm một que diêm.
Tôi tóm lấy áo khoác của hắn, cố ngăn hắn lại một cách vô ích, Chifley không thoái chí. Caswell đi theo chúng tôi, rúc rích cười một cách vui sướng với cảnh tượng hỗn loạn mới này. Tình cờ cửa tầng hầm không bị khóa, và Chifley tuồn người qua. Vẫn cố ngăn cản hắn một cách vô ích, tôi theo hắn xuống, bước vào bóng tối. Ánh sáng tỏa ra từ que diêm nhảy múa một cách hoang dại trên những bức vách, nhưng rồi que diêm cháy xuống tới mấy ngón tay hắn, và hắn cất tiếng chửi thề, vứt nó xuống sàn. Que diêm kêu xèo xèo rồi tắt ngóm.
— Tìm cho tôi một cây nến - Hắn rít lên, dẫm thình thịch mấy bước cuối cùng, và ánh sáng lại bùng lên ở mấy đầu ngón tay hắn. Từ đâu đó, Caswell chuyền cho hắn một cây nến. Chifley thắp nó lên trước khi lao ra giữa phòng.
Trên bàn có ba cái xác, hai phụ nữ và một đàn ông, và đó đây rải rác những phần còn lại của công việc chúng tôi: một đôi cánh tay, một cẳng chân vẫn còn bị cột trong lớp vải mỏng, ba khúc giữa thân mình trống toác và một cái đầu, hồi lúc sáng này nó đã được Robert đặt ngửa lên, vì nó không nằm yên ở bất kỳ vị thế nào khác mà cứ lăn qua lăn lại. Mùi thối nồng nặc, và Chifley nhăn mặt.
— Ở đây các cậu có một thứ mùi thật hiếm - Hắn nói, đưa một tay lên mũi. Caswell khịt mũi.
— Công việc mùa đông - Chifley nói một cách khó hiểu, và chậm rãi chép môi. Bên cạnh tôi, Caswell lại cười rúc rích, nhưng Chifley đã quên hắn. Lò dò tới gần cái xác đàn ông, hắn khom xuống sát lỗ tai cái xác và chào từ giã, kéo dài mấy từ đó khiến chúng có vẻ ngớ ngẩn. Khi không có lời đáp nào, hắn cố nói lại lần nữa, và không thể kềm lại trước cảnh tiếu lâm mới nhất này, những tiếng cười khúc khích của Caswell òa vỡ thành một tràng cười hô hố. Tôi cố hết sức làm cho hắn im lặng, nhưng việc này chỉ chọc cho hắn tức cười thêm. Hắn áp hai bàn tay lên mồm, cố kềm mình lại mà không được. Chifley liếc qua hai chúng tôi, giơ một ngón tay lên và với một cử động đột ngột chọc mạnh vào cánh tay cái xác. Làm xong, hắn ngẩng lên và rón rén chuyển sang một trong hai người phụ nữ, và vào khoảnh khắc cuối cùng khom người xuống và kêu lên: “Ê!” Dù cố kềm, tôi vẫn mỉm cười trước cảnh này, trong lúc Caswell cười nhiều tới mức phải tựa người vào cầu thang. Chifley giơ một ngón tay ấn vào mũi hắn, xì mũi bên này rồi bên khác. Rồi phát chán với việc này, hắn quay sang người phụ nữ thứ hai. Cô ta trẻ hơn người kia, và dù nét mặt của cô ta hốc hác, bẩn thỉu, và lớp da đầu trụi lởm chởm, có một phẩm chất nào đó trên mặt cô ta cho thấy trước kia cô ta khá xinh xắn.
— Chào ngày lành - Chifley nói, với một cái liếc mắt sang chúng tôi để xem chúng tôi có theo dõi hay không. Rồi hắn dừng lại, như thể chờ một lời đáp lại.
— Gì thế này? - Hắn hỏi - Cô có gì muốn nói với tôi không? - Hắn khom xuống gần hơn và đặt tai lên môi cô ta.
— Cô muốn tôi làm gì? - Hắn lại dừng, như thể đang lắng nghe, rồi hắn cười khúc khích giống như cách một cô gái vẫn cười, vỗ vào mí mắt mình và che mồm lại.
— Ồ, không - Hắn cười khúc khích - Tôi không thể.
Nhưng rồi, như thể để trả lời, hắn nhún vai - Ờ thôi được, nhưng chỉ một lần - Và với một cử động õng ẹo, hắn giơ hai bàn tay úp lên phần trũng còn lại trên bộ ngực của cái xác. Hắn xoa bóp chúng với vẻ mến thương, rồi hắn chậm rãi đặt môi lên môi của cô ta, lẩm bẩm thì thào, mm-mm-mm, một âm thanh như thể hắn đang ăn. Rồi đột nhiên hắn luồn một cánh tay xuống người cô ta, kéo cô ta về phía hắn trong một cái ôm. Chuyện này thật kỳ khôi nhưng tôi vẫn bật cười. Có lẽ vì rượu gin, có lẽ do sự điên rồ của giây phút đó, nhưng tôi không thể kềm mình được. Chifley nhìn quanh với vẻ hoang dại, vàánh mắt chúng tôi chạm nhau trong một thoáng, rồi hắn kéo cô ta ra khỏi bàn, một cánh tay vòng ngang eo cô ta, cánh tay còn lại áp sát bên dưới cô ra để kéo cô ta đứng thẳng lên, và xoay mạnh người một vòng, hắn bắt đầu khiêu vũ, xoay tròn ngang qua tôi và Caswell. Caswell đang ngờ nghệch cười, và Chifley bắt chước tiếng của một chiếc kèm trumpet, ta-ran-ta-ran-ta-ran-ta-ra. Caswell đuổi theo hắn, vỗ tay. Hắn cứ xoay vòng vòng, Caswell lượn theo hắn, cả tôi nữa, vì tôi đang cười như nắc nẻ, thế rồi đột nhiên tôi khóc, dù tôi không nhận ra ngay tức khắc. Tôi trở nên im lặng, lắc đầu, mặc cho họ tiếp tục xoay vòng. Họ tiến ra xa rồi vòng lại. Lúc này Caswell nhảy múa với đôi bàn tay đặt lên vai của cô gái. Họ lướt sát qua tôi, đôi mắt của Chifley bắt gặp ánh mắt của tôi, tràn ngập một niềm hớn hở. Tôi bước theo hắn, nhưng tôi không cần phải làm thế, vì hắn trượt lên một cái giỏ và lảo đảo té nhào xuống đất với thân hình cô gái nằm đè lên trên. Caswell cũng té ngửa đánh oạch. Vẫn còn cười rộ, Chifley bắt đầu lồm cồm đứng lên, nhưng tôi đã tới gần hắn. Tôi tóm lấy cái áo khoác của hắn và kéo hắn đứng dậy, đẩy hắn ra phía cửa.
— Cút đi - Tôi nói.
Tôi đẩy hắn lên cầu thang, vào sảnh. Sau lưng mình, tôi nghe thấy cả Caswell cũng đi lên, và với một cái xô mạnh, tôi tống Chifley ra đường phố bên ngoài. Cổ áo hắn xoắn lại và áo khoác rách toạc. Hắn nhìn tôi chòng chọc, không giận dữ, cũng không hổ thẹn, mà tỏ ra khá hài lòng, và dù tôi biết tôi nên tấn công hắn, đuổi cổ hắn đi, bỗng dưng tôi không thiết chi nữa, và vừa lắc đầu, tôi vừa bước lui lại, tránh xa khỏi hắn.
— Đi đi! - Tôi rít lên - Và Caswell bước ra cửa, vẫn còn cười hô hố, nhưng tôi không thể nhìn vào hắn, thế là tôi đóng cửa lại và lảo đảo đi xuống cầu thang để cố chấn chỉnh lại sự lộn xộn ở đó.
 
 
 
14  
Tôi thức giấc, khốn khổ và muốn bệnh. Trong phòng rất nóng, bầu không khí kín bưng: ở một thời điểm nào đó trong đêm tôi nhớ mình đã bước xuống giường, dạ dày tôi tống những thứ nó chứa đựng vào cái bô đặt trong phòng ngủ. Mùi hôi vẫn còn lẩn quẩn. Đôi mắt tôi nhức nhối, cổ họng và mũi tôi chua lòm vì chất mật, và trong giây lát tôi cứ nằm ì ra đó, mặt áp lên tấm vải trải giường, chỉ muốn trôi trở lại vào nơi ẩn náu êm đềm của giấc ngủ. Từ đâu đó chỉ ngoài tầm tay với, có gì đó đang đay nghiến tôi, một tri giác nào đó về một điều tôi đã lãng quên, tôi cố lờ mờ nhớ lại, cho tới khi ký ức đột nhiên quay lại, ập xuống như một gánh nặng.
Khi tôi đã có thể tập trung sức lực, ánh ngày bên ngoài sáng rực, không khí trong sân tươi mùi cây lá. Khom người thấp dưới vòi nước, tôi nhắm mắt lại, để cho nước chảy tràn qua đầu và lưng mình. Dù trời lạnh, tôi vẫn không rụt lại, vui mừng để cho cái lạnh băng giá trôi qua bộ mặt sưng phồng của mình. Tiếng nước chảy tràn lên những phiến đá. Khi xong xuôi, tôi đứng dậy, hấp háy mắt, và nhìn thấy Robert đang đứng đó, chìa cho tôi một cái khăn.
— Áo của anh bẩn rồi - Anh nói.
— Nó vẫn ổn thôi - Tôi vặn lại, gay gắt hơn ý định. Tôi giơ tay lên, thoạt tiên định xin lỗi, nhưng rồi không làm điều đó.
— Gabriel…. - Robert mở lời.
— Gì?
— Tôi không vờ như hiểu hết mọi chuyện đã xảy ra đêm qua, nhưng anh chỉ làm hại bản thân mình theo cách này.
Tôi gật đầu. Dù ký ức của tôi rối bời, giờ tôi cũng nhớ ra Robert đã tìm thấy tôi đang cố dọn đống lộn xộn do Chifley và Caswell gây ra.
— Có hư hại thứ gì không?
— Không có gì khó chấn chỉnh, dù tôi không cần phải nói với anh rằng mọi chuyện rất có thể tệ hơn.
— Còn thầy Poll?
Robert im lặng nhìn tôi.
— Tôi thấy không có lý do gì để báo cho ông biết - Anh nói.
— Cám ơn anh - Tôi nói gượng gạo.
— Đưa cho tôi cái áo, tôi sẽ nhờ bà Gunn giặt giùm anh.
*** Ngày hôm đó trôi qua một cách lê thê, bầu không khí ảm đạm kéo dài tới tận chiều tối. Vào giữa trưa, cơn buồn nôn đã qua đi, thay vào đó là một cơn đau đầu ép nặng lên hai nhãn cầu của tôi. Tôi trở nên lóng ngóng vì nó, và hai lần thầy Poll quở mắng tôi vì đánh rơi các thiết bị. Công việc đầu tiên của chúng tôi là mổ xác cô gái, và khi giúp Robert đưa cô ta lên cầu thang, lòng tôi tràn ngập niềm xấu hổ về những sự kiện đêm hôm trước. Tôi nhìn một cách vô cảm khi thân thể của cô ta bị cắt bung ra, từng chút từng chút. Dù tôi đã nhìn thấy chuyện này nhiều lần, hôm nay tôi nhìn trừng trừng, gần như không nháy mắt khi cổ họng của cô ta bị mở ra, lớp sụn của khí quản được tách ra, to bằng cánh tay của một đứa trẻ. Trên cùng của nó vẫn còn gắn liền với cái lưỡi sưng phồng, lởm chởm và có lông như một con thú nào đó ở chợ.
Khi mổ xong, tôi thu gom những mảnh vụn, các xô chậu và vác cô ta trở xuống tầng hầm, dọn dẹp những thứ còn sót lại trên bàn với một niềm phẫn nộ bất thường.
Suốt buổi chiều, tôi chuồn vào ngồi giấu mình trong một góc phòng khám bệnh. Đầu tựa lên chiếc ghế dài, tôi rơi vào một giấc ngủ nông, chập chờn, nửa mơ nửa tỉnh, bị quấy rầy bởi những bóng ma vi vút lại qua ngay ngoài tầm với. Không biết tôi ngủ được bao lâu; có lẽ vài phút, nhưng bỗng dưng tôi giật mình tỉnh giấc. Charles đứng ở cửa, một tay đặt lên quả đấm cửa. Rõ ràng là anh không nghĩ sẽ gặp tôi ở đây, vì anh đứng tần ngần như sắp bỏ đi lần nữa. Chúng tôi nhìn nhau một cách khó chịu; suốt ngày nay Charles rất bực dọc, cáu kỉnh, và giờ đây khi chỉ có hai chúng tôi, tôi nhận thấy anh ước gì chúng tôi đừng gặp nhau.
— Xin lỗi - Tôi nói, ngồi lên - Tôi chỉ nghĩ sẽ nghỉ ngơi một lúc - Dù lời lẽ của tôi có tính chất xin lỗi, thái độ của tôi lại không thế.
— Không sao - Anh nói gượng gạo, và chúng tôi gần nhau đến nỗi có thể chạm vào nhau. Ngay cả lúc này, khi tôi biết khá nhiều về anh hơn trước, Charles vẫn có một sự thanh tú nào đó, một vẻ đẹp ít người cưỡng nổi, và tôi nhận ra tôi muốn tha thứ cho anh, và anh cũng thế đối với tôi. Nhưng sự việc không như vậy.
— Tôi có việc phải làm - Tôi nói, bước ngang qua anh ra ngoài.
*** Đêm đó tôi không thể ngủ, trôi giạt trong bóng tối của căn phòng. Từ đường phố bên dưới vọng lên tiếng hát hò nghêu ngao của những gã say và tiếng lóc cóc của những chiếc bánh xe lăn trên mặt đường lát đá. Lúc ba giờ, tôi nghe thấy hồi chuông ở nhà thờ Thánh Giles. Tôi trượt khỏi giường, đi xuống cầu thang. Ánh trăng rọi qua ô cửa sổ, tạo thành những hình chữ nhật mềm mại trên những bậc thang, lòng bàn chân tôi áp lên lớp gỗ mát lạnh. Trong phòng khám, tôi hít thuốc phiện và uống rượu. Nó mang tới giấc ngủ, một cơn mê bềnh bồng đầy âm thanh và lửa, di động trong một chuyển động không ngơi nghỉ, giống như một kẻ đang bơi, ngay dưới bề mặt của sự tỉnh thức. Tôi biết tôi đang mơ, thế nhưng tôi vẫn mơ và không thể thoát ra, thậm chí khi tôi cảm thấy mình đang bị rượt theo. Tôi không biết cái gì đuổi theo tôi, thế nhưng vẫn thấy sợ, một thứ gì đó vừa kinh khủng vừa quen thuộc, và nó chạm vào vai tôi, khiến tôi trở nên bất động, thế là tôi quay lại đối mặt với nó, thân thể tôi nhũn ra vì kinh hoàng, quay lại lần nữa, rồi lần nữa, rồi lần nữa cho tới khi đột nhiên tôi nhìn thấy nó và thức giấc ngay khi ấy.
*** Ngày hôm sau trôi qua trong sự thinh lặng ảm đạm. Dù chúng tôi có đủ công việc, tôi vẫn có nhiều thời gian cho riêng mình. Hai lần tôi tới Whitechapel và thị trấn Kentish để chuyển tin nhắn, đi ngoằn ngoèo qua những con đường thành phố, và giữa thời gian đó tôi gục đầu xuống mấy quyển sách hoặc ngồi thơ thẩn trong sân. Tôi không biết điều gì khiến cho tôi phiền não; dù tôi đau đớn cho Amy nhiều hơn thế, cơn giận của tôi trộn lẫn với một niềm hổ thẹn không tài nào xua đuổi hoặc xóa tan đi, và cùng với nó là việc nhớ lại nỗi khao khát của tôi đối với Arabella.
Chính Charles là người báo cho tôi biết về đám tang của Amy. Anh kéo tôi sang một bên vào buổi sáng thứ bảy. Suốt ba ngày qua chúng tôi hầu như không trò chuyện với nhau, và lúc này anh thấy lúng túng với tôi.
— Họ sẽ chôn cô ta vào chiều nay - Anh nói. Tôi lạnh lùng nhìn anh.
— Nếu anh muốn đi, tôi sẽ nói với thầy Poll rằng anh thay mặt cho tôi đi công chuyện.
Tôi khó chịu gật đầu, vì tôi không muốn mang ơn anh. Có lẽ anh nhận ra điều này, vì anh không nhấn mạnh vấn đề, và vì thế chính tôi là người phải đồng ý.
— Cám ơn - Tôi nói, hơi gượng gạo.
Thế là sau buổi trưa một giờ tôi bước ra cửa trước. Nhưng giọng của Tyne phát ra từ phía cầu thang:
— Ông Poll muốn gặp cậu.
Thoạt tiên tôi nghĩ tới việc tiếp tục bước đi, khép cánh cửa lại sau lưng và bỏ mặc hắn ở đó. Nhưng tôi ngần ngừ. Tyne quan sát tôi với một nụ cười chế nhạo.
— Gì thế? Cậu còn phải có mặt ở nơi nào khác?
*** Thầy Poll có một cái xác trong phòng mổ, được Lucan đưa tới đêm qua, đang nằm đó chờ khám nghiệm. Đó là Banister, chủ nhân của một phòng kế toán trong thành phố, đột quỵ do một cơn co thắt não ba đêm trước. Khi tôi bước vào, thầy Poll liếc mắt nhìn tôi, bảo tôi thu thập các dụng cụ của ông.
Tôi không phản đối. Tôi cởi áo khoác ra và xắn tay áo lên và khoác vào người tấm tạp dề. Hầu như không nhìn tôi, thầy Poll ra hiệu cho tôi chuyền cho ông con dao mổ, và với một động tác thành thạo, ông cắt từ mé tai này sang tai kia ngang qua cái vòm sọ, chia đôi phần da đầu, rồi đặt con dao mổ sang bên, ông chùi mấy ngón tay vào trong vết cắt rồi kéo lớp da mặt xuống, để lộ lớp xương màu vàng của hộp sọ. Luôn luôn có một cái gì đó đáng ngại ở cách thức lớp da mặt bị tuột gọn khỏi lớp xương, như thể nó chỉ là một tấm mặt nạ đã rách toạc và bị loại bỏ. Sau khi lặp lại quá trình ở phía sau gáy, thầy Poll cầm lấy cưa và cưa rời phần vòm sọ. Lớp xương rất khô, chuyển động của cái cưa thoạt tiên tạo nên một làn bụi màu vàng, rồi mùi khét. Đó không phải là một công việc nhanh chóng, nhưng tỏ ra nôn nóng chỉ tổ mang tới cho tôi đôi lời khiển trách, vì thế tôi cố không nhìn lên cái đồng hồ đặt trên lò sưởi. Nhiều phút trôi qua, cái cưa di động trong sự im lặng của căn phòng, cho tới khi cái sọ bị cắt làm đôi bởi nhát cưa cuối cùng. Thầy Poll trao cho tôi cái cưa rồi kéo bộ não ra, cắt rời cái cột giữ nó trong võ não, rồi đặt nó lên phiến đá, ông trầm ngâm quan sát nó.
— Tôi từng cân những bộ não của những người khờ dại và cả quỷnh. Chúng không khác gì bộ não của chúng ta về khối lượng - Ông nói.
Vì những lời của ông dường như không hướng về tôi một cách cụ thể, tôi không trả lời, và một lát sau, ông cầm con dao lên, cắt đôi bộ não nhiều lần cho tới khi phần thẫm màu và trắng của khối xuất huyết hiện ra. Ông hài lòng, nói lẩm bẩm, múc bộ não lên và bóp chặt nó khiến những giọt máu rỉ ra. Đây không phải là lần đầu tiên tôi tự hỏi về cách thức những tảng tế bào này hàm chứa chúng ta, về sự diệu kỳ của chuyển động của bản thân chúng ta thông qua lớp nhục thể này. Ông ta đã cảm thấy thế nào, ông già Banister này, khi máu tràn lên óc não của mình? Một âm thanh giống như nước, hay như gió? Sự rời xa khỏi chính bản thân ông ta?
*** Giờ tiến hành tang lễ đã trôi qua khi chúng tôi xong việc, và tôi co chân chạy khi rời khỏi nhà, chạy ngoằn ngoèo qua những cỗ xe ngựa và người đi kẻ lại. Nhà thờ nằm không xa phố Percy, trong một khu đất nhỏ sau lưng phố Charlotte, và ở sau lưng nó, khu nghĩa trang là một nơi yên tĩnh dưới bóng một cây sồi, bốn bên là những ngôi nhà tường phủ đầy dây thường xuân. Khi tới bên hông nhà thờ, tôi nhìn thấy những người đưa tang ở một góc xa, đang im lặng trong lúc vị linh mục ngâm nga những câu kinh cầu nguyện.
Bỗng dưng tôi thấy bồn chồn, nóng và lúng túng, như thể sự hiện diện của tôi ở đây sẽ không được đón chào.
Arabella đứng một mình giữa nhóm người, đang nhìn chằm chặp xuống cỗ quan tài. Nàng đứng bất động, cứng người đến độ thân thể của nàng dường như khước từ mọi sự cảm thông. Mary đứng sau lưng nàng, mặc toàn đồ đen, nét mặt kín như bưng.
Tang lễ không kéo dài, những người đưa tang tản mác ra khi nhóm phu đào huyệt hạ cỗ quan tài vào lòng đất. Cạnh Arabella, một người đàn ông để mái tóc mai màu gừng đang nói gì đó mà tôi không nghe được, cúi đầu sát vào nàng trong lúc nói. Nàng gật đầu cộc lốc, và mắt nàng bắt gặp mắt tôi qua khoảnh sân, nhưng nàng không tỏ dấu hiệu gì. Khi nàng đi ngang qua nhóm người, những người khác chạm vào cánh tay và bàn tay nàng, thì thầm những lời chia sẻ; chỉ khi việc này đã xong xuôi nàng mới tiến tới chỗ tôi đang đứng.
— Anh đã tới - Nàng nói, chìa tay ra, Tôi nắm chặt lấy nó, không muốn buông ra. Đã nhiều lần tôi nghe Robert và Charles an ủi những người đau khổ, nhưng đó là một nghệ thuật mà tôi chưa từng chia sẻ. Dường như có quá ít điều để nói, thế nhưng lại có mọi điều cần nói, như thể những ngôn từ không thể chứa đựng nó. Nhưng tôi thấy nàng không muốn sự thương hại, hay sự đau khổ của tôi, chỉ muốn lặng yên, chỉ muốn chuyện này kết thúc và nàng sẽ rời xa khỏi nó.
— Tôi không biết… - Tôi ấp úng.
— Biết gì?
— Tôi có được chào đón không.
— Cô ấy là bạn của anh - Nàng dịu dàng nói.
— Cô ấy có gia đình không? - Tôi hỏi, nhưng nàng lắc đầu.
— Khi cô ấy còn sống chưa từng có ai tới thăm cô ấy.
— Vậy là họ chưa biết?
— Tôi đã viết thư cho anh của cô ấy, và một bà cô mà cô ấy nhắc tới, thế nhưng không có ai trả lời - Nàng lắc đầu và nhìn đi chỗ khác, rồi quay lại.
— Vậy những người ở đây?
— Bạn hữu. Và có khá ít người. Không sao, chuyện này sẽ sớm kết thúc.
Tôi lắc đầu:
— Không nên như thế này.
— Phải, không nên - Nàng giận dữ nói - Rồi tự kềm mình lại, như thể nàng sẽ không bộc lộ điều này, cũng không nói nó ra.
Tay đàn ông để mớ tóc mai xuất hiện bên cạnh nàng.
— Gabriel, đây là ông Gardine. Cái nhà hát mà anh từng thấy tôi diễn kịch là của ông ta.
Gardine nhìn tôi. Dù nét mặt hắn hồng hào với những đường nét thô kệch sáng láng, trong ánh mắt hắn có một nét sắc sảo khiến tôi không ưa được.
Xin tôi thứ lỗi bằng một giọng Tô Cách Lan trầm, gã quay sang Arabella.
— Cỗ xe ngựa - Gã nói, và nàng gật đầu.
*** Quay trở về nhà, vài người đã đưa tang đứng trong phòng khách lặng lẽ chuyện trò. Sự kiện này không mấy dễ chịu; những người tụ họp tại đây có vẻ bồn chồn và nôn nóng muốn đi. Chỉ có Gardine dường như vẫn thản nhiên, nói năng bình thường vui vẻ. Ngồi mặt sưng mày sỉa giữa họ, tôi thấy lúng túng, lạc lõng, nhưng họ không phải đối tượng quan sát của tôi, mà là Arabella. Khi nàng đi lại chuyện trò, tôi nhìn thấy cái cách nàng che đậy bản thân, cách nàng cười to và cười mỉm, và cơn giận của tôi bùng lên vì sự vờ vịt của nàng. Cuối cùng tôi đứng dậy đi xuống bếp. Từ trên gác vọng xuống âm thanh của những giọng nói, tiếng cửa mở, nhưng tôi vẫn không nhúc nhích, mong muốn nàng tới với tôi, tìm thấy tôi ở đây. Một giờ trôi qua, rồi một giờ khác, và chỉ khi đó mới có tiếng chân bước trên cầu thang.
Vì lý do nào đó, mái tóc nàng nghiêng lệch, nét mặt nàng điềm tĩnh.
— Anh đây rồi - Nàng nói - Tôi tưởng là anh đã đi về.
Tôi đứng lên đối diện với nàng.
— Tôi mừng vì anh chưa về - Nàng nói. Đột nhiên tôi biết vì sao tôi ở lại, rằng lúc này tôi đang rất giận nàng, giận vì cách nàng không để cho mọi chuyện tác động tới nàng, và bỗng dưng tôi muốn đánh nàng, làm cho nàng khóc, bằng cách nào đó làm cho nàng bộc lộ một dấu hiệu của niềm thống khổ. Có lẽ nàng nhìn thấy điều này trên nét mặt tôi, vì nàng lắc đầu và bước tới gần.
— Vì sao hôm nay anh tới?
Tôi lùi lại - Làm sao tôi có thể không tới được?
Nàng ngần ngừ:
— Anh đang giận tôi.
— Không - Tôi đáp, nhưng nàng cầm lấy tay tôi, nắm chặt nó khi tôi cố vặn người né ra.
— Tôi mừng vì điều đó - Nàng nói. Hai chúng tôi đứng sát vào nhau đến độ tôi có thể ngửi thấy mùi hơi thở của nàng, nhìn thấy phấn trên mặt nàng bết lại ở nơi này nơi khác. Tôi cảm thấy mọi thứ trong tôi khi đó, cơn giận và niềm thống khổ, và tôi không biết có nên đánh nàng chăng, hay vòng tay ôm lấy nàng. Thế rồi nàng ngẩng mặt áp vào mặt tôi, và với một bờ môi khẩn trương, khao khát, nàng hôn tôi, một lần, rồi lần nữa, thân hình nàng ép sát vào người tôi, như muốn tìm cách đánh mất mình trong chuyện này, vỡ òa ra trong nhu cầu tan rã đang dâng lên trong lồng ngực, đôi môi và đôi tay của chúng tôi.
*** Vậy ra đây là phương tiện để hiểu biết một người phụ nữ. Niềm mong muốn tả tơi này. Đôi tay tôi lặng lẽ hoạt động, non nớt và ngốc nghếch, nỗi khao khát của tôi giống hơn với một cơn đau không thể xoa dịu. Bên ngoài, những ngày mùa hạ kéo dài, thành phố xôn xao và rực rỡ.
Có lẽ nếu chúng tôi bận rộn hơn thì sẽ tốt hơn, nhưng với sức nóng ở đó, chẳng có gì nhiều để chúng tôi làm. Không thể giữ được các thi thể, và chúng tôi không được học, những ngày của chúng tôi mất đi trong sự nhàn rỗi. Tôi chắc là Robert phải phỏng đoán nhiều về nguyên nhân của sự xao lãng, sự lơ đãng, sự ghẻ lạnh của tôi đối với Charles. Trong những đêm ấy, khi tôi không gặp nàng, anh đi bộ cùng tôi qua những đường phố bụi mờ.
*** Những tuần cứ trôi qua, tôi tới gặp nàng thường xuyên trong khả năng cho phép. Nàng có đời sống của nàng, tôi có đời sống của tôi, nhưng từ cái đêm Amy chết, trong tôi đã có gì đó đổi thay. Dù tôi vẫn loay hoay với công việc của mình, tôi không còn quan tâm tới nó, về bất cứ chuyện gì. Khi chúng tôi xa nhau, tôi ước ao được gần gũi bên nàng, nhưng khi chúng tôi ở bên nhau, tôi không thể tập trung. Và tôi chỉ luôn ao ước bỏ lại tất cả những điều này sau lưng, tránh xa khỏi nó. Niềm khát khao này đối với con người nàng luôn mở rộng một cách không thể bác bỏ trong tôi; bất kể tôi cố gắng thế nào, tôi vẫn không thể vượt qua cái hố sâu nằm giữa chúng tôi, không thể biến mình thành sức nóng đó.
 
 
 
15  
Tôi có thể cảm thấy bề mặt của chai rượu bên dưới gối mà lúc chiều nay tôi vừa đổ đầy trong phòng khám. Hình dáng của nó áp mạnh lên mặt tôi. Đêm nay tôi sẽ không uống, tôi tự nhủ, dù đây là một lời dối trá, và tôi lật lại thò tay nắm lấy nó, lớp thủy tinh mát lạnh trong bàn tay thèm khát của tôi.
*** Ở cửa ra vào, Mary lắc đầu.
— Không - Cô ta nói - Không phải bây giờ.
Từ ô cửa sổ trên đầu vọng xuống giọng nói của một gã đàn ông, trầm và giễu cợt, rồi giọng của Arabella cất lên trong một tràng cười khúc khích, âm thanh đó tràn vào bầu không khí ban đêm. Mary không nhúc nhích, thân hình của cô ta chặn hết lối vào của tôi.
— Lúc khác - Cô ta bảo - Hãy đến vào lúc khác.
*** Ngôi nhà im ỉm khi tôi trở về. Cửa sổ mở ra bầu không khí mùa hè. Thầy Poll và Charles đã đi từ sáng. Nhưng khi bước vào bếp, tôi nghe giọng nói của Tyne.
— Đã quay về từ chỗ ả điếm của cậu rồi đấy ư?
Giật mình, tôi thấy hắn đang đứng ở cửa phòng của bà Gunn.
— Sao? - Hắn hỏi, tiến tới gần hơn - Cậu không biết cô ta làm nghề đó hả?
— Đừng dùng từ đó - Tôi nói, nhưng hắn chỉ cười hô hố. Sau lưng hắn, tôi trông thấy bà Gunn xuất hiện.
— Con điếm - Hắn nói - Con điếm - Và có lẽ hắn sẽ lặp lại, nhưng trước khi hắn có thể, tôi lao vào hắn, tóm lấy cổ áo hắn và chúng tôi va mạnh vào tường và cánh cửa. Chúng tôi té oạch xuống, nhưng nếu có bị đau hắn cũng không để lộ ra điều đó. Thay vì vậy hắn cười to, gương mặt rỗ hoa của hắn cười nhăn nhở, thế là tôi lẳng hắn ra, xô hắn vấp ngã qua những cái ghế trên sàn nhà. Cây đèn trên bàn lật nghiêng, rơi xuống đất với một tiếng loảng xoảng của thủy tinh vỡ. Không nghĩ ngợi gì, tôi lại lao vào hắn, định đập hắn lần nữa, nhưng tôi trượt chân và trong khoảnh khắc tôi té ngửa ra. Hắn vùng dậy, một tay đè lên cổ tôi, tay kia luồn vào trong áo khoác. Thấy hắn muốn rút dao ra, tôi búng chân, cố xô ngã hắn. Đầu hắn chảy máu, máu chảy xuống từ một vết đứt trên mắt hắn.
— Tao đã từng nói tao sẽ giết mày - Hắn nói - Đó là một lời hứa mà tao muốn giữ.
Con dao ló ra, cặp sát vào người hắn và hạ thấp để có thể vung ngược lên trên. Tôi tóm lấy tay hắn một cách vô vọng, giữ nó ngay bên trên bụng tôi, thế nhưng góc đó bất tiện, và hắn có lợi thế. Mặt hắn dí sát vào mặt tôi, đôi mắt ti hí hung dữ của hắn nhìn tôi trừng trừng, chúng toàn một màu trắng dã nhưng không thể nhìn thấy. Rồi đột nhiên Robert xuất hiện sau lưng hắn, lôi hắn ra khỏi người tôi.
— Chuyện này có nghĩa là gì? - Anh hỏi. Tyne tựa lưng vào tường, một tay giơ lên đầu, tay kia vẫn cầm chặt con dao. Hắn thở gấp, hơi thở của hắn thoát ra thành những tiếng hổn hển rời rạc. Tôi chà vào cổ mình, bắt đầu lồm cồm ngồi dậy, quan sát Tyne. Tôi không thể tin hắn để cho sự việc kết thúc ở đây, nhưng hắn không cử động.
— Sao? - Robert hỏi.
Tôi lắc đầu - Không có gì. Chẳng có gì cả.
Sau lưng tôi bà Gun bước tới trước - Chính cậu ta - Bà nói, chỉ vào tôi - Cậu ta tấn công trước.
Robert nhắm mắt lại, hơi thở của anh như ngừng lại. Rồi, với vẻ mặt cam chịu, anh quay sang tôi.
— Có đúng vậy không, Gabriel? - Anh hỏi - Anh đã gây ra chuyện này hả?
Trong khoảnh khắc, tôi nghĩ sẽ lắc đầu, nhưng tôi không thể, và tôi chỉ nói - Đúng vậy.
Robert gật đầu, gương mặt gầy guộc của anh dường như bị tác động bởi một sự chắc chắn đáng sợ nào đó.
— Anh biết là tôi sẽ báo cáo vụ này?
— Biết - Tôi đáp.
Anh đứng đó hồi lâu, nhìn tôi đăm đăm, rồi cuối cùng quay đi.
— Dọn dẹp đi - Anh nói, đi tới cầu thang. Tyne đứng thẳng lên, một nụ cười thắng lợi xuất hiện trên mặt hắn.
— Cung cách của mày đâu hết rồi, nhóc?
Tôi cảm thấy hơi thở của mình nóng ran trong lồng ngực, nhưng trước khi tôi có thể nói Robert đã quay sang hắn.
— Im lặng! - Trong lúc nói anh lại đi trở xuống, đôi mắt dán vào Tyne và bà Gunn.
— Gabriel là học viên của ông chủ anh, anh bạn, và dù bất cứ điều gì xảy ra ngày mai, trong thời gian đó anh phải đối xử với anh ta với sự tôn trọng mà anh ta xứng đáng.
Tyne toan trả lời, nhưng Robert cắt ngang lời hắn:
— Đừng tưởng tôi không biết phần của anh trong chuyện này - Anh nói, tiến về phía hắn cho tới khi họ đứng đối mặt với nhau. Tyne bất động hồi lâu, rồi đột ngột hắn quay đi, và với một cái liếc mắt tràn ngập lòng căm ghét về phía sau, hắn biến mất trên cầu thang.
Khi hắn đã đi khỏi, Robert quay sang bà Gunn.
— Bà sẽ làm tốt nếu nhớ những gì bà đã nghe tôi nói - Anh nói dứt khoát, nhưng không có vẻ giận dữ - Tyne không phải là ông chủ của ngôi nhà này, bất kể những gì hắn tin.
Bà Gunn ngần ngừ rồi gật đầu - Vâng thưa cậu - Bà lặng lẽ nói. Nghe thấy thế Robert dịu lại.
— Bà đã là bạn tốt đối với tôi suốt sáu năm qua, bà Gunn. Tôi sẽ nhớ bà khi tôi đi.
Bà Gunn nhìn xuống, đôi má cằn cỗi của bà ửng đỏ.
— Tôi hy vọng bà sẽ vẫn đối xử như cũ với anh Swift khi tôi đã ra đi.
Bà ta ngẩng lên, đầu tiên nhìn Robert, rồi nhìn tôi, rồi lại quay sang Robert. Bà ta là một phụ nữ tốt bụng, dù hơi ngốc nghếch, nhưng bà ta đã xao lòng, và cả hai chúng tôi nhìn thấy điều đó.
— Vâng, thưa cậu.
*** Tôi không theo Robert lên gác ngay. Thay vì thế, tôi nấn ná trong bếp, định giúp bà Gunn sửa chữa những thứ hư hại. Thế nhưng khi tôi nhấc một cái ghế lên, bà giữ nó lại và lắc đầu. Hiểu ý, tôi buông tay ra.
Trên gác, cửa phòng Robert để mở, và anh đang ngồi trên ngưỡng cửa sổ. Ngoài kia thành phố thật sống động với ánh đèn.
— Cám ơn - Tôi nói.
Robert lắc đầu: Không. Tính khí của tôi chỉ khiến mọi thứ tệ hơn. Tyne là loại người tệ nhất.
Anh lại nhìn ra những ánh đèn.
— Anh biết đó, đây là mục đích của hắn. Từ cái đêm hôm nọ với thằng bé.
— Vâng, tôi biết - Tôi suy nghĩ giây lát - Tôi sẽ bị đuổi, phải không?
— Rất có khả năng.
— Tôi rất tiếc - Tôi nói.
— Tôi cũng vậy
— Anh sắp đi rồi sao? - Tôi hỏi. Quay lại bàn làm việc, Robert cầm lên một tờ giấy gấp lại.
— Nó đã được xác nhận hôm nay - Anh nói - Tôi sẽ đi trong vòng một tháng tới đảo quốc St. Lucia, một chỗ thực tập ở Castries.
Dù đây không phải là một tin tức bất ngờ, nó vẫn tác động mạnh tới tôi, vì chỉ tới lúc này tôi mới nhận ra tôi sẽ cảm thấy mất mát đến thế nào khi anh đi.
— Có lẽ anh có thể đi cùng tôi - Robert nói, giơ tay ra - Tôi, người giám hộ của anh và thầy Poll có thể thỏa thuận chuyện này. Anh có thể tập luyện với tôi, hay kiếm một công việc nào đó.
Gương mặt gầy của Robert tràn ngập một cảm tình sâu sắc đến độ tôi thấy xấu hổ vì anh nhìn thấy quá nhiều điều trong con người tôi. Nhưng rồi tôi lắc đầu.
— Không, cuộc đời đó không dành cho tôi.
*** Trong phòng mình, tôi tựa lưng vào tường và nhìn lên cái trần nhà rạn nứt mà tôi đã từng nhìn đăm đăm nhiều lần trước đó. Cái giường hẹp rất cứng, mùi quen thuộc của bụi và giấc ngủ mơ hồ bốc lên. Nếu tôi nhắm mắt lại, tôi có thể hình dung ra gương mặt của nàng, cảm thấy sự va chạm của nàng. Tôi thấy yếu hẳn đi. Nếu tôi nhấc bàn tay lên và giữ nó bất động, nó sẽ run lẩy bẩy: mục đích của hắn là gây tổn thương và Tyne đã thật sự chạm vào một thứ gì đó mà tôi phải chiến đấu để chối bỏ -cái cách nàng trao bản thân cho những người đàn ông khác, và ý nghĩa của điều đó. Từ bên kia tường, tôi nghe thấy Robert trong phòng của anh: với sự ra đi của anh sẽ không còn gì để giữ tôi lại nơi đây. Và bỗng dưng tôi muốn nó được thực hiện, việc rời xa khỏi nơi này, khỏi tất cả những điều này.
*** Hôm sau, thầy Poll tới muộn, buổi chiều đã trôi qua. Ngồi trong bếp, tôi nghe thấy tiếng xe của ông bên ngoài, những giọng nói bị bóp nghẹt trong căn sảnh bên trên. Ngay sau đó Robert xuất hiện trên cầu thang xuống bếp.
Thầy Poll đang ở trong phòng làm việc của ông. Tyne đứng một bên. Đêm qua hắn đã đi đâu tôi không rõ, nhưng lúc này, khi nhìn thấy vết đứt sưng phồng và con mắt bầm đen của hắn, những vệt thâm tím trên má và cổ hắn, tôi nhận ra tôi không còn sợ hắn nữa, không còn sợ bất cứ điều gì trong chuyện này nữa. Thầy Poll đứng quan sát khi tôi ghi nhận những vết thương đó, ánh mắt tôi trong và lạnh lẽo, với một cái liếc mắt, ông ra hiệu cho Robert khép cửa lại.
— Ý nghĩa của vụ này là gì?
Trước khi Tyne có thể trả lời, tôi lên tiếng, giọng tôi phát ra gần như có vẻ tự hào:
— Đó là do em gây ra.
— Cậu đánh anh ta? Vì mục đích gì?
— Vì anh ta là một tên côn đồ.
— Đó là kiểu trả lời nào vậy - Thầy Poll nạt. Rồi ông trấn tĩnh lại, quay sang Robert.
— Cậu biết gì về chuyện này? Ai đã tung ra cú đấm đầu tiên?
— Em không có ở đó, thưa thầy.
— Chính là em - Tôi đáp, trước khi Robert có thể nói thêm bất cứ điều gì.
Thầy Poll nhìn tôi, rồi quay sang Robert.
— Sao?
Robert nhìn xuống - Em nghe bà Gunn bảo rằng cú đánh đầu tiên là của Gabriel.
Thầy Poll gật đầu. Rồi ông quay sang Tyne.
— Còn anh? Anh nói gì về chuyện này?
— Cậu ta nói sự thật - Tyne đáp - Cậu ta đã tấn công tôi.
— Và anh không hề làm chuyện gì khiêu khích?
Tyne chỉ mỉm cười, mắt hắn gặp mắt tôi trong một thoáng.
— Mời Charles tới đây - Thầy Poll nói - Vụ này cũng có liên quan tới anh ta.
Khoảng một giờ sau Charles mới tới nơi, do Robert triệu tập từ nơi nào đó. Theo lệnh, tôi chờ ở thư viện và nghe thấy Charles anh bước vào, nói chuyện với thầy Poll một lúc. Sau đó Robert xuất hiện ở cửa và gọi tôi vào gặp họ. Lần này, Tyne không có mặt, nhưng thật sự chuyện đó không quan trọng, vì cái cảnh Charles đứng với thầy tôi đã làm sống lại trong tôi niềm khao khát rằng chuyện này sẽ được thực hiện. Tôi không biết Charles nghĩ gì, vì anh không nói, vì thế thầy Poll là người bắt đầu.
— Tôi sẽ hỏi lại cậu lần nữa. Có nguyên nhân gì cho hành vi này không, một lý do nào đó cậu có thể đưa ra?
Tôi lắc đầu, không nhìn thầy Poll mà nhìn Charles.
— Hãy suy nghĩ cho cẩn thận - Thầy Poll nói - Tôi biết có một cảm giác xấu giữa cậu và Tyne trong một khoảng thời gian, và tôi không ngờ gì rằng cậu đã bị khiêu khích.
— Gabriel, nói đi - Robert nói, nhưng tôi chỉ lắc đầu.
— Cú đấm đầu tiên là của em, đó là tất cả những gì phải nói về chuyện này.
— Vậy là cậu không cho tôi lựa chọn nào, cậu hiểu điều đó chứ? - Thầy Poll hỏi.
— Em hiểu - Tôi đáp. Sau đó là sự thinh lặng. Thầy Poll đứng im lìm. Cuối cùng ông nói - Vậy thì đi đi. Cậu bị đuổi - Trong lúc nói, ông lắc đầu, vẻ mặt của ông tỏ ra buồn bã chứ không giận dữ, và đột nhiên tôi cảm thấy máu nóng bốc lên mặt mình, thế là tôi quay đi, không thể lưu lại đó.
*** Trong phòng mình, tôi gói ghém đồ đạc, một tiến trình được nhanh chóng thực hiện xong, và một cách vui mừng, vì hai bàn tay tôi run rẩy trong lúc thu dọn, dù tôi không biết đó là do cơn thịnh nộ hay nỗi hổ thẹn. Trong lúc tôi thu dọn, Robert quan sát tôi từ cửa phòng, không nói năng gì.
— Anh sẽ đi đâu? - Anh hỏi khi tôi xong việc, và tôi nhún vai.
— Tôi sẽ tìm một căn phòng.
— Anh có tiền không?
— Một ít - Tôi đáp. Anh gật đầu, mắt anh đăm đăm nhìn tôi, rồi anh dang hai tay ra kéo tôi vào người mình.
— Thượng đế gìn giữ anh, Gabriel - Anh nói - Thượng đế gìn giữ anh.
*** Trên đường phố bên ngoài, bầu không khí ấm áp, ngày chưa qua hẳn, và ở hướng tây bầu trời đỏ ối. Trong bầu không khí trên đầu, lũ chim sẻ bay liệng, thân hình nhỏ xíu của chúng tạo thành những đường cong nổi lên bầu trời nhòa nhạt khi chúng đuổi theo con mồi. Trước cửa tiệm của Clark, con trai của anh ta đang ngủ trên hè phố, kế bên cửa cô hầu gái đang tán gẫu với người chở nước; toàn bộ cuộc sống của phố phường vẫn tiếp diễn như từ trước tới nay, chỉ duy có tôi là thay đổi. Trong khoảnh khắc, tôi ngần ngừ, không biết ngoặt sang đường nào. Trong sảnh sau lưng tôi bà Gunn đứng với Robert, Charles sau lưng họ. Thế là, không muốn nấn ná, tôi quẹo sang trái, đôi chân tôi nối bước nhau tiến vào thành phố đục ngầu.
Tôi thức giấc cùng với ánh sáng ban đêm nhòa nhạt. Bầu không khí quanh tôi đặc quánh và hôi hám. Qua bức vách mỏng bên cạnh tôi vọng lại tiếng ho, một thứ tiếng ồn vừa ẩm ướt vừa khủng khiếp cứ tiếp nối mãi. Thoạt tiên tôi không chắc là mình đang ở đâu, hay đó là lúc nào, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, tôi tưởng tượng rằng có thể tôi chỉ mới vừa chợp mắt, trượt vào giấc ngủ cạn lơ mơ của thuốc phiện, rằng ánh sáng bên ngoài có thể là ánh bình minh, nhưng ngay cả khi đó tôi vẫn biết rằng không phải vậy, rằng ngày đã trôi qua, và đang đêm tối.
Tôi ngồi dậy, xát hai tay lên mặt. Đầu tôi nặng chịch, và một cảm giác mất mát nào đó trĩu nặng trong lòng, một sự tiếc nuối dường như không có nguyên do. Tôi quơ tay tìm được một que diêm trên chiếc bàn cạnh giường và tôi quẹt nó lên, thắp một mẩu nến, căn phòng sáng chập chờn khi mẩu nến cháy bùng lên.
Tôi ngồi dậy mò mẫm vạch hai vạt áo ra, quan sát dòng nước tiểu của mình chảy tong tong xuống cái bô. Nó sẫm màu và hăng hăng, mùi của nó bốc lên nóng hổi. Sau đó tôi thò tay lấy cái áo khoác trên ghế, và chợt nhớ ra cái đồng hồ của tôi đã bị đem cầm hôm qua. Từ dưới gác, giọng của Scarpi, ông chủ nhà trọ, cất cao trong cơn giận dữ với bà vợ của ông ta. Bên ngoài, mọi người sẽ tụ tập lại, cười nói với nhau trong khi tiến hành công việc của những giờ cuối trong ngày. Hướng mắt lên chỗ cửa sổ, tôi hình dung ra họ, cảm nhận cử động của họ từ nơi nào đó trong tôi. Tôi sẽ ra ngoài đó, tôi nghĩ, hòa vào sự chuyển động bận rộn của họ, và một lần nữa tôi với cái áo khoác, vội vã đi ra cửa, xuống cầu thang dẫn ra đường phố.
*** Đã sáu tuần trôi qua kể từ ngày tôi rời nhà của thầy tôi. Đêm đó tôi đi vô định hướng, cảm nhận một sự nhẹ nhàng thơ thới khi được tự do trở lại. Từ bốn phía, đường phố tràn ngập sự sống và tiếng ồn ào, áp lực liên miên không dứt của thành phố luôn chuyển dịch, thế nhưng tôi hầu như không để ý. Chỉ khi tới Ludgate Hill, với hình dáng đồ sộ của nhà thờ Thánh Paul cháy rực rên nền trời nhòa nhạt, tôi mới chùn bước, nhận ra tôi không biết tôi đã đi đâu, những hàm ý của điều tôi đã thực hiện đột nhiên đè nặng lên tôi.
Không biết phải làm gì khác, tôi ngoặt sang một phía, tìm kiếm một quán rượu hay tiệm ăn nơi tôi có thể ngồi một lát; khi tìm ra một quán, tôi chọn một chỗ trước cửa sổ, nhìn xuyên qua lớp kính mờ khói vào đường phố. Tôi gọi rượu vang, và với lời mời nằng nặc của chủ quán, thêm bánh mì và súp, dù tôi không thấy đói cho lắm.
Thức ăn được nhanh chóng mang ra. Trong miệng tôi, bánh mì rất khô và có vị ôi dù thật sự tôi hầu như không thưởng thức nó. Thỉnh thoảng, tôi rút cái ví ra và đếm những đồng tiền trong đó. Không có nhiều, chỉ đủ cho một hai tuần thôi. Có lẽ tôi có thể tìm việc làm, dù tôi giật mình với cái ý tưởng quá kinh khủng rằng sẽ đánh mất những ngày tháng của mình với một chức vụ thầy giáo hay kế toán nào đó. Cứ thế tôi ngồi, nhìn ra đường phố, đầu óc lạc trong những hàm ý của điều đã xảy ra, vừa xảy ra và sẽ xảy ra, mỗi ý tưởng lại lùng nhùng mắc vào những ý tưởng khác.
Cuối cùng tôi cố ăn món súp, nhưng nó đã lạnh từ lâu, mẩu thịt xám ngoét thật tởm lợm trong miệng tôi. Đẩy bát súp sang bên, tôi đưa mắt tìm chủ quán. Với vài đồng siling ông ta dẫn tôi vào một căn phòng. Tôi tháo ủng, cởi áo khoác và nằm duỗi người trên giường. Tấm nệm quá cứng, ngập ngụa mùi nấm mốc và mùi của những cơ thể khác từng nằm trên nó; từ dưới đường vọng lên qua cửa sổ âm thanh của những tay rượu chè trở về ngang, chúng phủ đầy không gian như thể họ đang la lối hét hò ngay trong chính căn phòng này.
*** Khi tới giờ, tôi nghe tiếng cái đồng hồ gõ lên hai giờ, rồi ba giờ. Từ đâu đó không xa lắm những nhạc công đang trình tấu, giọng của những gã đàn ông rống lên một bài ca. Thế nhưng bên trong tôi chỉ có một khoảng không rộng lớn và không thể lấp đầy. Cuối cùng tôi chồm dậy, mở túi xách, lôi ra cái túi đựng thuốc phiện mà tôi đã giấu trong đó. Ngay lúc đó tôi cảm thấy nó, sự trộn lẫn giữa khao khát và khiếp sợ, như thể hai bàn tay tôi được dẫn dắt không phải bởi ý chí của tôi mà là một thứ gì đó mạnh mẽ hơn. Tôi thích nghĩ rằng tôi đã ngồi đó chần chừ do dự, rằng lẽ ra tôi có thể gạt nó sang bên, nhưng tôi đã không làm vậy, thay vì thế tôi đưa cái chai lên môi và uống, cảm thấy mình chìm đắm trở lại vào vòng tay của nó.
 
 
 
16  
Những ngọn đèn trên phố đã được thắp lên, tỏa ánh sáng lên những gương mặt của đám đông đi ngang. Dù đêm mát lạnh, bầu không khí vẫn trong trẻo, tôi có thể nhìn thấy người dân trong huyện sau những ô cửa sổ và trên lối ra vào. Kia là một người thợ đóng sách đang làm việc, nọ là một ông chủ tiệm đang chuyện trò trao đổi, trong mấy ngôi nhà khác là những gia đình và lũ trẻ con. Tôi bước nhanh hơn khi đi ngang qua họ, biết ơn vì được tự do đi đứng. Giữa đám đông tôi là một kẻ vô danh, một gương mặt khác để được nhìn và quên đi một cách dễ dàng và dù có chút gì đó hân hoan ở điều này, nó cũng khiến cho tôi sợ hãi, do sự bồn chồn mà nó gợi nên. Quanh tôi có quá nhiều người, lướt qua sát bên, lướt qua, lướt qua mãi, và giữa họ, tôi như được cởi trói.
Ở phố Strand, tôi vội vàng đi ngang qua từng cửa ra vào, tìm kiếm một nơi có thể dừng lại. Tô thò tay vào áo khoác, đếm những đồng tiền giữa mấy ngón tay. Có lẽ không nhiều lắm, nhưng cũng đủ. Tôi đã phát hiện ra rằng thành phố mang lại nhiều lạc thú cho những ai muốn nếm thử chúng, những bầu bạn dễ tìm trong chốn rượu chè, cờ bạc.
Cuối cùng tôi dừng lại bên ngoài một chỗ quen thuộc. Bên trong quán lửa cháy bập bùng, căn phòng dày đặc khói thuốc lá. Tôi chọn một chỗ ngồi và nhìn quanh, trông thấy những gương mặt quen biết và không quen biết. Với một cái vẫy tay ra hiệu, cô gái phục vụ mang rượu tới. Cô ta mỉm cười khi đặt nó trước mặt tôi, và tôi cười đáp lễ: cô ta khá xinh xắn, được nhiều người ưa thích, và cô ta có một nhược điểm đối với tôi, đó là tính hay tâng bốc. Tôi đưa cốc rượu lên môi nhấp một ngụm, cảm thấy hơi ấm của nó chạy xuống cổ họng tôi. Thêm một ngụm, lại thêm một ngụm, cuối cùng nỗi bồn chồn của tôi dịu xuống. Tôi gãi gãi cần cổ, hai tuần qua có một chỗ bị phát ban, một chứng khó chịu cứ đến rồi đi, và cổ áo sơ mi cọ vào đó khiến tôi khó chịu.
Ở Covent Graden, Arabella sẽ lên sân khấu, có lẽ là kịch của Shakespeare, hoặc Sheridan, những ngôn từ hơi không phù hợp. Trong những lô ghế, họ sẽ lắng nghe, mắt họ chết sững, lạc vào bất kỳ ảo ảnh nào đó đang được thêu dệt trên sân khấu. Nàng vẫn như vậy hằng đêm, thân hình nàng được các cô gái giúp phục trang khoác lên những lớp váy áo, mặt nàng bôi đầy son phấn.
Dường như đã có một thời gian rất tuyệt vời, khi tôi thường tới đó xem nàng diễn và tìm được niềm hạnh phúc, nhưng trong mấy tuần qua tôi gần như không thể chịu nổi khi trông thấy cái cách nàng từ bỏ bản thân vì vai diễn. Đêm qua tôi đã đợi nàng trong phòng thay đồ của nàng. Cái đồng hồ đeo tay vừa mới đem cầm, tôi có tiền trong túi, số tiền mà tôi đã xác định là phải giữ gìn. Nàng từ sân khấu vào, không vui và có vẻ như không còn là chính bản thân mình. Tất cả những gì tôi muốn là sờ vào mặt nàng, để cảm thấy nàng gần gũi với tôi lần nữa. Nhưng khi nàng bước vào tôi thấy nàng vẫn còn đặt nửa phần hồn vào vai diễn, điệu bộ của nàng hơi giả tạo, vì thế tôi khơi ra một cuộc tranh cãi, muốn nhìn thấy nàng khóc, để nếm trải cái quyền năng đối với nàng do điều này mang lại. Nhưng khi thứ quyền năng đó tới, nó trống rỗng và khá rẻ tiền.
*** Sau đó khá lâu, tôi không còn đứng vững trên hai chân. Ví tôi nhẹ hẫng, tiền của tôi đã đội nón ra đi, và bản thân tôi chẳng khá hơn chút nào vì sự mất mát của nó. Đêm nay Arabella diễn muộn, và tôi sẽ tới gặp nàng, dù tôi không có tâm trạng háo hức gì mấy. Đêm nay tôi nghe thấy giọng nói của mình khi đang nói với mấy gã đàn ông khác, quá to và không tự nhiên, như thể tôi cũng đã đóng một vai tuồng, một vai không phù hợp.
*** Tôi nhận được hai bảng cho mấy cuốn sách, một siling mỗi thứ cho đôi ủng và mấy cái áo sơ mi còn thừa. Chỉ khi sờ tới cuốn kinh Thánh người chủ hiệu cầm đồ mới dừng lại.
— Tôi đã có quá nhiều những cuốn này - Ông ta nói, đẩy nó ngang qua bàn về phía tôi. Tôi đẩy nó trở lại.
— Ông chắc chắn là không thể nhận một cuốn nữa sao? - Tôi hỏi. Ông ta bình thản nhìn tôi rồi quăng một đồng nửa xu qua quầy.
Tôi vớ nhanh số tiền, vọt ra cửa. Có lẽ không nhiều, nhưng cũng đủ để mua thức ăn và thuốc phiện suốt một tuần. Lại quay ra phố xá, tôi thấy tinh thần mình bay bổng, thoát khỏi tình trạng câu thúc của căn phòng nhỏ xíu đó với những dãy hàng hóa đóng thành từng gói. Tôi biết cảm giác này, biết cái cách nó lôi kéo người ta. Tôi đi rất nhanh, rất bất cẩn, vì lý do nào đó thấy sợ sự bất động hay ngơi nghỉ.
*** Hai đêm trước nàng đặt một đồng ghi-nê vào tay tôi, nài nỉ tôi nhận nó. Tôi xòe tay ra, nhìn đồng tiền vàng nằm nặng trĩu trong lòng bàn tay của mình.
— Gì thế này?
— Một món quà - Nàng nói, nhưng tôi lắc đầu.
— Tôi có tiền - Tôi đứng đó trước mặt nàng, cảm thấy mình giống như một thằng ngố, một đứa trẻ dỗi hờn.
— Đồng hồ của anh, sách của anh - Nàng nói.
Nổi giận, tôi giúi trả lại nàng đồng tiền khiến nó trượt ra và rơi xuống sàn nhà.
— Thế đồng tiền này được làm ra bằng cách nào? - Tôi hỏi.
Sau lưng nàng, Mary đang quan sát tôi, gương mặt vàng bủng của cô ta trơ lì vô cảm.
*** Trên phố Thánh Martin, hắn lao tới nắm cánh tay tôi.
— Những em nào bị bệnh giang mai? - Hắn hỏi. Một quý ông, ít nhất ở cái tên. Tôi lắc đầu và vùng ra. Hắn buông tay tôi, lui lại một bước.
— Sao, anh định nói anh không thể bảo đảm về họ à? - Hai tay hắn khoác một vòng rộng để chỉ những người phụ nữ đứng dọc theo mấy con phố xung quanh. Sau lưng hắn, lũ bạn hắn cười rú lên.
Tôi lại lắc đầu, cố vọt qua năm tay say xỉn này.
— Tớ nghĩ anh ta là một tay theo Hội Giám lý, các cậu à - Hắn la lên, nhưng tôi không quay lại.
Má đỏ bừng, tôi quẹo nhanh sang một góc phố, và rồi đối mặt với một cặp phụ nữ. Họ đứng sát bên nhau, đang tranh cãi, nắm đấm của một bên giơ lên đe dọa. Có lẽ tôi làm cho họ giật mình, vì họ quay lại, nét mặt căng lên vì giận.
— Molly? - Tôi hỏi.
Thoạt tiên tôi không chắc là cô ta biết tôi, nhưng rồi cô ta cười phá lên.
— Một nơi thật hay để gặp anh.
Với cố gắng cuối cùng, cô ta đẩy người phụ nữ kia xuống đường.
— Cô làm gì ở đây? May đâu rồi?
— Ai biết? - Dù vẫn xinh đẹp, trông cô ta già hơn và cũng gầy hơn, lớp da quanh hai mắt và miệng cô ta thâm tím và co lại.
— Cô đã rời bỏ anh ta?
Cô ta bật cười, có thể nhìn thấy sự tính toán trên nét mặt cô ta - Anh nghĩ tôi còn chưa tới đây hay sao vậy?
— Cô bất công với anh ta quá - Tôi nói - Anh ta yêu cô, chắc chắn anh ta vẫn còn yêu cô.
— Ở đây bọn đàn ông cho tôi những đồng xô-vơ-ren để đổi lấy cùng thứ tình yêu đó - Cô ta nói, tới gần hơn. Tôi lui ra, và cô ta bĩu môi - Sao? Anh không màng biết tới những chuyện này à? Lại đây, có lẽ anh sẽ thử điều mà anh ta tìm thấy ở tôi - Dù cô ta không chạm vào tôi, sự gần gũi của cô ta thật khó chịu. Hơi thở của cô ta hôi hám, ngọt mùi rượu gin và thuốc phiện.
— Không - Cô ta lại nói, bước lùi ra khỏi tôi - Anh không đàn ông hơn anh ta chút nào.
Vài cô gái khác đã tụ tập lại để quan sát, lúc này họ cười phá lên và trêu ghẹo nhau. Tôi lắc đầu, lui lại hai bước, rồi quay lưng, bước vào bóng đêm.
Việc Molly lìa bỏ May chẳng có gì đáng ngạc nhiên, nhưng nó khiến tôi khó chịu. Tôi nấn ná ở một góc phố, cảm thấy bất lực, kinh tởm chính mình. Rồi, quyết định sẽ đi tìm anh ta, người bạn mà tôi biết sẽ xem tôi là bạn, tôi bước về phía phố Marshall. Nhưng người đáp lại tiếng gõ cửa của tôi không phải May mà là một người đàn ông lớn tuổi hơn. Ông ta nhìn tôi chòng chọc như thể theo cách nào đó tôi đã xúc phạm ông ta.
— Căn phòng đã được cho thuê - Ông ta nói cộc lốc.
Bối rối, tôi nhìn qua ông ta - Cho thuê? Cho ai thuê?
— Hãy thử hỏi ở chỗ của Pizzey - Ông ta nói, ra hiệu về phía bên kia đường, rồi bắt đầu đóng cửa lại.
— Không - Tôi nói, bước tới trước - Khoan đã. Người thuê phòng lúc trước sao rồi?
— Tay họa sĩ? - Ông ta hỏi - Đi rồi, đi từ sáu tuần trước.
— Đi đâu? - Tôi khăng khăng.
Mặt ông ta dịu lại, nhưng rồi ông ta lắc đầu.
— Nếu anh tìm thấy anh ta, hãy bảo anh ta rằng anh ta còn nợ tôi hai bảng sáu - Ông ta nói, đóng sập cửa lại.
*** Thế rồi ông chủ nhà của tôi, Scarpi, xuất hiện ở cửa phòng tôi. Dưới những cú nện của ông ta, cánh cửa rung lên, mé dưới cùng cong lại vì những cú đá và tiếng la hét của ông ta.
Tôi đứng lên, mang ủng và mặc áo sơ mi, chà xát hai mắt để tạo ấn tượng đang làm việc chăm chỉ. Năm tuần trước, khi tôi nhận căn phòng, tôi đã bảo với Scarpi rằng tôi định tìm người giúp việc cho mình, và nhờ nền tảng này mà họ cho tôi thuê phòng. Liếc vào tấm gương bẩn thỉu cạnh cửa, tôi ép mái tóc rối bù xuống, rồi tựa người vào cửa, lặng lẽ xoay cái chìa khóa trong ổ khóa. Ngay cả khi đang la hét giận dữ, Scarpi vẫn nhận ra, và giọng ông ta dịu lại. Vẫn tực sức nặng của mình lên cánh cửa, tôi mở nó ra và nhìn ông ta.
— Anh định ngủ suốt cả ngày hay sao? - Ông ta hỏi khi nhìn thấy tôi.
— Giờ giấc của tôi không liên quan gì tới giờ giấc của ông - Tôi đáp, nhưng ông ta không lắng nghe.
— Tiền thuê nhà của anh - Ông ta nhìn qua tôi vào căn phòng - Hai hôm trước anh bảo là sẽ sớm trả nó - Có gì đó tính toán trong cách ông ta nói khiến tôi nhận ra chính bản thân ông ta cũng đang cần tiền.
— Tôi sẽ có tiền, sớm thôi.
Scarpi nhìn tôi, rồi cười to.
— Có lẽ là một ông chú hả? - Ông ta chế nhạo - Người Anh các cậu luôn luôn có một ông chú.
Khi tôi không trả lời, ông ta lắc đầu.
— Tôi nghe nói anh mắc nợ một số người khác.
Một cơn giận trào lên trong ruột gan tôi, nhưng tôi cẩn thận giữ lời.
— Ngày mai - Ông ta nói - không thì anh sẽ ra khỏi đây - Ông ta bước đi, tới đầu cầu thang ông ta quay lại.
— Một ông chú - Ông ta nói, rồi hài lòng với nhận xét dí dỏm của mình, ông ta lại cười phá lên.
*** Trong lúc lắng nghe tiếng ông ta lạch bạch xuống thang, tôi ngồi xuống giường, chà xát mặt mình. Nỗi sợ nhói lên trong ngực tôi. Không còn gì để cầm cố nữa, tôi không tìm ra cách nào để kiếm tiền. Tôi cần một kế hoạch, một con đường để thoát ra khỏi chuyện này. Cầm ví lên, tôi nhìn vào vài đồng tiền trong đó, cố tìm ra cách nào đó để nhân chúng lên. Vài đồng siling, chỉ có thế, số còn lại đã tiêu xài hết. Lần này sẽ khác, tôi tự nhủ, những đồng tiền này sẽ không bị hoang phí.
Trời bên ngoài lạnh, buổi tối dường như đang kéo tới. Trước khi tới chỗ nàng, tôi cần một cốc rượu, vì thế tôi tìm một cửa tiệm có bán rượu vang và chơi bài. Căn phòng ấm áp, có tiếng cười nói, ca hát, và dù mấy gã ở đây toàn là người lạ, tôi tìm được đôi chút bình thản với sự bầu bạn của họ. Ngay cả với số tiền này trong tay, tôi vẫn cảm thấy một nỗi khốn khổ nào đó, như thể theo cách nào đó tôi đã sai lầm, vì thế tôi uống một ly rượu mạnh, rồi lại một ly. Trong lúc đó tôi xem một ván bài, và nghĩ rằng tôi biết chơi gieo súc sắc, tôi đánh cược chút ít và thắng. Điều này khơi gợi nhiều niềm vui, vì thế tôi cược thêm ván nữa, và lại thắng. Ba, hoặc bốn lần, hạt súc sắc rơi đúng như tôi đặt, và chẳng bao lâu tôi đã có số tiền nhiều gấp ba lần số lúc đầu. Nhưng rồi tôi đoán sai, rồi lại đoán sai. Dù nên ngưng lại, rời khỏi cuộc chơi và giữ lại chút tiền còm còn sót, tôi không thể. Thay vì thế tôi cược một cách giận dữ, như thể để ép hạt súc sắc rơi theo con số của tôi, nhưng chẳng bao lâu tôi chả còn gì ngoài một siling.
Tự giận mình vì sự ngu xuẩn, tôi cược mười ăn một, nghĩ rằng để thắng lại tất cả số tiền tôi đã thua và còn nhiều hơn thế. Lắc chúng trong tay, tôi cảm thấy quả tim tôi bắt đầu đánh lô tô, dạ dày tôi nhẹ hẫng đi và nôn nao vì xúc động. Mấy hạt súc sắc rơi nhanh khỏi tay tôi và xoay tròn trên chiếc ghế dài, và trong thời gian chúng xoay tôi hân hoan, chối bỏ sự viễn vông của chúng và những khả năng thất bại. Thế rồi với cú xoay cuối cùng, ván chơi kết thúc, sự phấn khích của tôi bị thế chỗ bởi một niềm chắc chắn tái tê rằng tôi lại phạm sai lầm, và, giống như Icarus[2], phải bị rơi.
Trên đường phố bên ngoài, tôi thấy phát ốm với những điều tôi đã làm. Tiền của tôi lại bị phung phí, thua mất vì bài bạc và uống rượu. Nhìn lại hướng cửa, tôi ao ước xóa bỏ được những giờ qua, tháo tấm vải hành động của tôi thành từng sợi chỉ lại, nhưng nó đã được tiến hành và không thể đảo ngược được. Từ một ô cửa sổ vọng ra những giọng nói, giọng của một người phụ nữ, cao và chói tai, rồi của một người đàn ông, cáu gắt vì giận dữ. Khi nghĩ tới căn phòng của mình tôi không chịu nổi việc ở một mình. Tôi không muốn gì hơn là tới gặp Arabella, để đánh mất bản thân lần nữa trong thân thể của nàng. Nhưng tôi cảm thấy ô uế vì sự ngu ngốc của mình.
*** Một mình trong phòng, tôi lôi tấm mề đay hình trái tim ra khỏi túi xách và mở nó ra. Bên trong là hình vẽ gương mặt mẹ tôi sau lớp kính ố mờ, những đường nét rắc rối ở cổ bà được thể hiện lại bởi một bàn tay vụng về nào đó. Đã bao lần tôi nhìn nó, đã bao lần tôi hình dung ra giọng nói, bàn tay ve vuốt của bà? Chỉ mười bảy tuổi, chết trên một cái giường thuê nào đó, và tôi là nguyên do của nó. Tôi vuốt ngón tay lên lớp kính, hình dung đó là gương mặt mẹ tôi. Tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại. Cha mẹ của chúng ta sống trong chúng ta, đôi khi tôi nghĩ, như những hồn ma, hoặc sự tiên tri.
 
 
17  
Ngôi nhà tịch mịch, những ô cửa sổ bám đầy bụi đóng im ỉm, như thể nó chỉ là nhà của những hồn ma và ký ức. Tôi gõ cửa, ý thức được ánh mắt của những người đi ngang qua tôi. Tôi chờ khoảng nửa phút, có thể hơn, rồi tôi lại đưa tay lên, nhưng vừa hay lúc đó cửa mở xịch ra, gương mặt một cô gái xuất hiện.
— Tôi muốn gặp chủ của cô - Tôi nói. Cô ta không xinh lắm, hoặc không hoàn toàn xinh, nhưng trên mặt cô có một phẩm chất mà tôi không thể định nghĩa, có lẽ một sự lẻ loi nào đó, khiến sự im lặng của cô ta buộc tôi phải tạm ngưng lời.
— Ông ta biết tôi - Tôi nói thêm, nghe thấy giọng của mình vang lên quá lớn hoặc quá thúc ép, như thể tôi cần thiết điều này hơn mức bình thường. Thế nhưng ngay cả khi này cô ta vẫn không trả lời, chỉ khẽ gật đầu, rồi bước tránh sang bên cho tôi đi qua.
Trong nhà vắng lặng, những căn phòng khép cửa, những đồ đạc trùm vải kín mít. Trong sảnh có hai tấm tranh đặt đối diện với bức tường; ở mé trên bức tường những ô vuông mờ nhạt cho thấy trước kia chúng từng được treo ở đó. Đối diện là một cái đồng hồ dừng lại ở ba giờ mười lăm, không ai biết cách đây đã bao lâu. Và ở khắp mọi nơi, có cảm giác về sự từ bỏ đã nhiều năm, bụi đóng một lớp dày trên sàn nhà.
Không nói lời nào, cô ta dẫn tôi đi xuôi căn sảnh vào một phòng khách. Bên trong lờ mờ tối, những tấm màn buông phủ; nếu được kéo ra, chúng có thể hé lộ mảnh sân của nhà thờ Thánh Ann ở bên kia đường. Tôi tiến vài bước vào trong, nhìn thấy những cây nến đang cháy trong một ngọn chúc đài lớn trên mặt lò sưởi. Nghĩ tới việc hỏi cô gái xem ông chủ của cô ta ở đâu, tôi quay lại, nhưng cô ta đã đi rồi, lặng lẽ như khi tới. Đột nhiên tôi chợt tự hỏi phải chăng cô ta bị câm, hay ngốc nghếch, và nếu thế, địa vị của cô ta là gì tại đây, với ông ta. Còn có một mình, tôi thấy mất bình tĩnh, không chắc là mình nên chờ hay đi về, khoảng không gian vang vọng của ngôi nhà lúc này dường như trải rộng ra mọi phía. Thế rồi từ sau lưng tôi vang lên một giọng nói, trầm, sâu. Tôi giật nảy người như một đứa bé.
— Tôi không nghĩ là sẽ gặp lại cậu - Hắn nói. Hắn đứng cạnh cái lò sưởi, dù nó lạnh và tối. Để che giấu sự hồi hộp của mình, tôi hắng giọng rồi bước một bước tới gần nơi hắn đứng.
— Không - Tôi đáp - Không ngờ gì rằng ông đã không nghĩ thế.
— Nghe nói cậu đã đánh nhau với Tyne.
Tôi nhìn quanh, không thấy cánh cửa nào để hắn có thể đi vào; hẳn hắn phải ở đây khi tôi tới, vô hình, hoặc ẩn nấp bằng cách nào đó.
— Phải - Tôi đáp.
— Cậu may đấy khi hắn chưa giết cậu.
— Hắn không muốn cố làm điều đó.
Hắn gật đầu:
— Tôi đã tưởng là cậu quay về nhà người giám hộ của cậu.
Tôi lắc đầu:
— Ông từng bảo rằng ông có thể là một người bạn của tôi.
Im lặng hồi lâu.
— Và cậu bảo cậu đã có đủ bạn rồi, theo như tôi nhớ.
Tôi không đáp.
— Cậu tìm kiếm điều gì?
— Tiền. Một cái giường tôi có thể gọi là của mình.
Hắn bật cười:
— Thế đổi lại tôi sẽ được gì?
Tôi lắc đầu:
— Tôi không hiểu.
— Không à? - Hắn hỏi, quan sát tôi - Cậu đã trông thấy ngôi nhà này? Trước đây nó thuộc về một người tự biến mình thành con nợ của tôi.
Trong lúc nói, hắn tiến tới gần tôi, đôi mắt của hắn đè nặng lên tôi.
— Vậy là chúng ta hiểu nhau rồi, tôi nghĩ.
*** Dù hắn không ra một mệnh lệnh nào, tôi đi theo hắn, đầu tiên hoang mang, rồi thấy sáng tỏ nhiều hơn. Cỗ xe của hắn đang đợi trên phố. Ngày sắp tới, quanh chúng tôi mọi người đang vội vã xô lấn nhau. Trong lúc di chuyển ở phía trước tôi, hắn rút ra từ trong áo khoác một chai rượu bẹt và đưa lên môi. Hắn giơ một tay lên ra hiệu cho một gã mà hắn gọi là Bridie tới gần, đập lên mui xe khi hắn mở cửa xe rồi chuyền chai rượu cho tôi, bàn tay hắn chia sần và thô cứng ở chỗ nó chạm phải tay tôi.
Trong khi hắn trèo lên chỗ ngồi của người đánh xe, Bridie liếc sang tôi, có gì đó trong thái độ của hắn đủ khiến cho tôi đưa cái chai lên môi. Miệng chai ướt và nóng do miệng của Lucan, và chất rượu mạnh cháy bùng khi tôi nốc vào mồm.
Chúng tôi cho xe chạy về hướng đông trong làn bụi đang tích tụ, cỗ xe quanh quẹo qua phố High Holborn rồi ngược lên Snow Hill, tiến vào những con đường ít quen thuộc hơn. Trong xe, Lucan và tôi bị quăng lên quật xuống khi cỗ xe nhảy chồm chồm trên những phiến đá, thế nhưng tôi không quan tâm, chỉ uống thứ rượu mà hắn chuyền cho tôi. Bên ngoài, những ánh lửa cháy sáng trong những vỉ lò cạnh các con đường, những người bán quần áo cũ và các thứ phế phẩm khác chất đống hàng của họ trên những phiến đá dọc đường.
Sau đó, những tòa nhà nhường chỗ cho những cánh đồng lầy lội và những ngôi nhà mới xây cất nửa phần, những con đường lún sâu và những khu vườn không cây cối, theo cách nào đó không cho thấy sự hoạt động, mà đúng hơn đây là một nơi đã suy tàn. Cuối cùng chúng tôi dừng lại trước một căn nhà kho và trèo xuống xe, mặt tôi đã đỏ bừng và ngây ra vì rượu. Quanh chúng tôi, nhiều người đang tụ tập, có cả những phụ nữ.
Bên trong có một khoảng không gian trần thấp, bầu không khí ở đó dày đặc khói, ở mọi phía các gã đàn ông chen lấn xô đẩy nhau, mặt họ bừng lên một sự kích động rõ ràng, một cảm giác say sưa, và nhanh. Vài gã cầm chai rượu và chuyền cho nhau, mấy gã khác cười hô hố. Ở giữa phòng, một vòng tròn bằng phấn được vẽ lên sàn nhà, một nhân vật ngồi trên một chiếc ghế, tay khoanh trước ngực và ở trần tới thắt lưng, cái đầu vuông gần như cạo trọc.
— Đây là nơi nào? - Tôi hỏi, nhưng Lucan chỉ ấn một chai rượu vào tay tôi và bảo tôi uống. Tiếng ồn ào, sức nóng và đám đông đang chiếm ngự, khiến cho mọi người hồ hỡi. Những tay đàn ông hò hét, kêu gọi bắt đầu cuộc đấu. Trên gương mặt đầy tàn nhang của Bridie nở một nụ cười. Hắn là một người tìm được niềm vui ở mọi thứ, tôi nghĩ, và không tìm ra giá trị ở bất cứ thứ gì.
Sau đó, một tiếng hét cất lên, đám đông tràn lên phía trước, tay diễn giả cho gã đàn ông trong vòng phấn đi vòng vòng, dụ dỗ mọi người. Gã đàn ông tên là Byrne, và khi tay diễn giả của hắn oang oang xướng lên các thành tích của hắn, hắn đứng dậy, rống lên một bài ca Ái Nhĩ Lan. Khắp tứ phía đám đông gào hét những lời sỉ nhục, vẫy vẫy những tờ biên nhận cá cược, những chai rượu và vung nắm đấm vào không trung. Trong một hoặc hai phút, đó là tất cả những gì diễn ra, sau đó một cánh cửa ở phía sau mở ra, và qua một khoảng trống mở ra trong đám đông, một gã khác tiến vào vòng phấn.
Tên hắn là Levi, và trong lúc Byrne đi vòng quanh vòng phấn, hai tay giơ cao, rống lên bài hát của mình, gã này dường như không thèm biết tới đám đông. Thậm chí khi Byrne vừa hét lên với hắn, vừa vỗ bình bình bịch vào ngực mình, Levi dường như vẫn không chú ý gì tới hắn, chỉ đứng ở rìa vòng phấn, lặng lẽ cởi cái áo đang mặc ra, cẩn thận gấp nó lại cũng giống như khi hắn cởi đồ để đi ngủ. Dù hắn không to lớn, có một sự thanh nhã trong cái cách hắn kềm chế bản thân, một điều gì đó sắc sảo và nguy hiểm. Đặt cái áo của hắn vào tay một trong những người đi theo mình, hắn quấn vải quanh hai bàn tay, thỉnh thoảng dừng lại để kéo thẳng lớp vải. Ở mé bên kia Byrne vẫn đang hát và đi đi lại lại, nhưng Levi không nhìn hắn, và rõ là ngay cả khi Byrne giơ hai nắm đấm lên lần nữa để đám đông reo hò cổ vũ mình, hắn đang tìm cách xác định ở Levi một điều gì đó. Sau khi quấn vải xong, Levi duỗi tay ra cho tay phụ tá để gã này thắt gút, và chỉ khi đó, khi việc này đã kết thúc, hắn mới quay sang đối mặt với Byrne ở mé kia vòng phấn.
Như một ảo thuật gia, tay diễn giả giơ hai tay lên, ngã người xuống và trượt ra ngoài, cử chỉ thật tuyệt và đầy kịch tính, tạo nên một tiếng hò reo lớn từ đám đông tập trung quanh vòng phấn. Trên đầu, ngọn đèn cháy bập bùng, tỏa một ánh sáng mờ khói lên mọi thứ. Không sáng lắm, nhưng cũng đủ để nhìn thấy Byrne nhếch miệng cười. Hắn há mồm gọi Levi, chế nhạo gã kia, gọi gã kia là Kẻ giết Chúa và tên cho vay nặng lãi. Giữa mỗi câu nhục mạ hắn cong lưỡi vào giữa hai hàm răng như cách một đứa trẻ thường làm. Nhưng Levi không đáp trả, chỉ nghiêng đầu từ bên này sang bên kia, và lắc hai cánh tay như để thả lỏng chúng, đi vòng quanh rìa của vòng phấn để Byrne phải đi theo hắn. Byrne cao hơn hắn một cái đầu rưỡi, nhưng trông Levi không có vẻ hoang mang sợ sệt, chỉ tỏ ra thiết thực. Đối mặt nhau như vậy, họ xoay quanh vòng phấn, rồi quay trở lại, không bên nào tiến tới gần hơn, không bên nào lùi lại. Ở tứ phía đám đông gào thét, thúc hối họ tấn công ngay và tấn công mạnh bạo, để giúp họ thắng cược. Nhưng họ làm chủ thời gian của mình và quan sát lẫn nhau, dường như tìm kiếm một khoảnh khắc, một khe hở trong sự phòng vệ của đối phương mà qua đó họ có thể tung một cú đấm. Byrne chiếm thế thượng phong, vì sải tay của hắn dài hơn, và Levi không thể tới gần hắn mà không dính đòn. Vì thế, không có gì phải ngạc nhiên khi hắn bước tới và tung một cú đấm vào Levi. Nhưng Levi rùn thấp xuống và né qua né lại, xoay quanh cú đấm, thúc cùi chỏ vào hông Byrne khi lúc sườn của gã lớn con hơn để lộ ra. Đòn này rất nặng, ngay cả khán giả cũng có thể cảm thấy nó, và Byrne làu bàu như thể nó khiến hắn bị đau. Hắn quay lại tấn công tiếp, một lần nữa Levi luồn qua dưới hắn và tấn công vào hông hắn, lần này Byrne hơi loạng choạng, rồi đứng vững lại. Lần thứ ba, Byren đã chuẩn bị sẵn sàng, và khi Levi luồn xuống dưới, hắn giáng lên đầu gã kia một cú đấm, sức mạnh của cú đấm khiến Levi mất thăng bằng và Byrne đuổi theo hắn, tung thêm một đòn, với toàn bộ sức nặng của mình, khiến Levi ngả ngửa ra. Lucan cứng người lại, bàn tay hắn nắm chặt trong lúc theo dõi từng chuyển động quanh vòng phấn của tay đấu nhỏ con hơn.
Lúc này sức mạnh hơn hẳn của Byrne khước từ mọi khoản thời gian ngưng nghỉ của Levi. Dù hắn nhanh nhẹn, lẩn như chạch và tránh được hầu hết những cú đòn của Byrne như đã làm được ở hai đòn đầu, mỗi lần lại phản công với những nhát ngắn, mạnh vào xương sườn và vùng bụng, với mỗi cú đấm thành công khiến Byrne té xuống, hắn lẩm bẩm và nao núng, cho tới khi mũi và môi hắn đều chảy máu, lớp da trên trán hắn bị giập nát, trợt ra. Tâm trạng của đám đông đã đổi thay, sự kích động chuyển thành một cảm giác gì đó gần gũi hơn, chú ý hơn, như thể cảnh Levi chứng tỏ sự giỏi hơn của mình đã phồng lên bên trong họ. Byrne liên tục tung nhiều cú đấm vào hắn, phản công lại từng đòn của Levi bằng hai đòn của mình, cho tới lúc giờ khắc ấy tới khi Levi trượt ngã. Trước dấu hiệu này, đám đông bắt đầu gầm lên trong cổ họng, giọng của họ lần lượt cất cao, kêu gọi Byrne kết liễu Levi. Nhưng Lucan không nói năng gì, chỉ đứng quan sát khi Levi xoay tròn và nao núng, các nỗ lực của hắn ngày càng hướng tới việc chỉ né tránh các cú đấm của gã to con. Byrne toát lên vẻ tập trung khi đuổi theo hắn, tấn công và ép hắn lùi ra rìa vòng phấn. Khắp mọi nơi những gương mặt áp sát vào nhau, những đường nét của chúng bị bóp méo đi bởi ánh sáng đỏ nhờ nhờ, bầu không khí nặng nề với mùi mồ hôi, khói thuốc, bia và máu. Thế rồi hoàn toàn bất ngờ, Byrne lại bị trượt chân, và Levi xoay mình luồn qua dưới cú đấm, nhổm lên tấn công vào bụng của Byrne từ phía sau. Byrne ưỡn cong lưng, mất thăng bằng, và Levi lại tấn công mạnh vào sườn hắn, cú đấm khiến Byrne mất thăng bằng và cho phép Levi giáng một quả vào gò má không được bảo vệ của hắn, sức mạnh của nó khiến đầu của Byrne gật ra sau. Bản thân Levi cũng loạng choạng, nhưng vẫn theo sát Byrne khi hắn trượt ra sau, liên tục tấn công những cú đòn mạnh vào mặt, hông, lưng và bụng của Byrne. Lúc này đám đông nổi giận và bối rối, và nếu lúc nãy họ quan sát với sự thỏa mãn kinh khiếp, giờ họ trở nên căng thẳng. Byrne không còn tấn công Levi, giờ đây chính hắn là người giơ hai tay lên để tự vệ trong lúc xoay mòng mòng né tránh như một con bò mộng bị một con muỗi mắt quấy rối. Hết lần này sang lần khác, Levi tấn công hắn, gã to con quay lại, chiến đấu để tự khôi phục bản thân, cho tới khi cuối cùng với một cú đấm Levi hất hắn ngã oạch xuống đất. Đứng trên người Byrne, Levi lảo đảo, co giật và run rẩy, như thể hắn nghĩ Byrne có thể vùng dậy tiếp, nhưng Byrne chỉ xoay người sang một bên.
Tôi kêu lên, tán dương chiến thắng của Levi, cả Bridie cũng thế, ngay cả Lucan cũng gật đầu. Nhưng đám đông có vẻ bồn chồn, kích động và hò hét, như thể tìm một tiêu điểm cho cơn giận của họ. Tôi không quan tâm, tôi đã đặt cược ba đồng ghi-nê và đã thắng, và điều này khiến tôi run lên xúc động. Lucan chuyền chai rượu bẹt qua và tôi cầm lấy nó, cảm thấy chất rượu bốc lên và bùng cháy. Ở giữa vòng phấn, gã đàn ông đã giữ áo cho Levi, một gã Do Thái mặc áo khoác đen với một món tóc bên tai, cầm cánh tay của Levi giơ lên, nhưng đám đông không reo hò chúc mừng, họ buông lời nhục mạ, ném chai và thức ăn lên, thế nhưng Levi không tỏ ra e sợ, như thể hắn thấy vui vì sự căm ghét của họ, như thể nó đáp ứng cho một điều gì đó bên trong hắn.
— Đi thôi - Lucan đẩy tôi ra khỏi đám đông - Tối nay sẽ có bạo động xảy ra - Hắn nói, khi chúng tôi đi ngang qua gã Ái Nhĩ Lan ở cửa ra vào - Cứ nhớ lấy lời tôi về chuyện đó.
 
 
 
18  
Bên ngoài trời, Craven đang chờ cạnh cỗ xe.
— Đây là ai vậy? - Hắn hỏi, nhìn tôi, và Lucan lắc đầu.
— Học viên của ông Poll, như cậu biết rất rõ - Hắn mở cửa xe, đẩy tôi vào, dừng lại để rút một điếu xì gà khỏi hộp và đốt nó với một que diêm Lucifer. Nhưng Craven không dễ bị gạt ra như thế.
— Sao lại đưa gã tới đây? - Hắn tới gần cửa hơn. Dù hắn gầy gò, tôi không muốn hắn tới quá gần tôi.
— Tôi có đôi việc phải nhờ anh ta - Lucan thờ ơ đáp. Tôi nghĩ Craven sẽ phản đối tiếp, nhưng không, hắn chỉ lùi lại và đi theo. Bridie leo lên chỗ đánh xe.
— Ông sẽ nhờ tôi làm gì? - Tôi hỏi Lucan khi hắn khép cửa xe lại. Trong bóng tối điếu xì gà của hắn lóe sáng, soi rõ những đường nét trên mặt hắn.
— Một việc đơn giản, dễ làm - Hắn đáp.
*** Chúng tôi tới Camden, đi qua một quãng đồng trống. Vầng trăng trên đầu sáng rỡ và những tòa nhà dường như tỏa sáng, ánh sáng rượt đuổi nhau trên con đường trước mặt chúng tôi. Tôi hơi say đôi chút, sự kích động của cuộc đấu quyền anh vẫn còn lưu lại trong huyết mạch và tứ chi tôi. Thế nhưng tôi ngày càng khó chịu khi con đường cuộn lại bên dưới chúng tôi, cố hình dung xem chúng tôi đang hướng tới chuyện gì.
Cuối cùng chúng tôi dừng lại bên cạnh một ngôi nhà thờ nhỏ. Lucan kéo cửa sổ xuống, nhìn qua dải hàng rào.
— Trong đó có một cô gái tên là Jenny Carpenter - Hắn nói - Vừa chết chưa được mười hai tiếng. Chúng ta phải có xác của cô ta và cậu sẽ lấy nó cho chúng tôi.
— Sao ông không tự đi lấy nó - Tôi hỏi, và Lucan cười ruồi, ngả lưng về phía sau.
— Tôi e là tay linh mục biết mặt tôi, cả Craven nữa.
— Vì sao ông ta lại giao cho tôi, nếu không giao cho ông?
— Cô ta không có thân thuộc bạn bè gì cả, vì thế giáo xứ phải chịu phí tổn đám tang của cô ta.
Hai chúng tôi im lặng giây lát. Rồi Lucan mở cửa xe.
— Giờ hãy đến gặp ông ta, bảo ông ta rằng cô ta là em cậu, đã thất lạc nhiều năm, và cậu muốn mang cô ta về để chôn cất.
— Làm sao ông ta có thể tin được một điều như thế?
— Vì cậu sẽ làm cho ông ta tin - Lucan đáp, rồi hắn cười phá lên, ra hiệu về phía ngôi nhà - Ngoài ra, ông ta sẽ vui mừng vì tiết kiệm được khoản chi phí.
Tôi chậm chạp leo xuống đường. Lucan gọi theo tôi với một giọng trầm - Vị linh mục là một người bạn của chúng tôi, hãy chắc là cậu đặt vào tay ông ấy một đồng cu ron.
*** Vị linh mục là một người xanh xao, có vẻ nôn nóng, thậm chí khi tôi nói với ông ta về công việc của mình, tôi có thể thấy sự bực dọc của ông ta khi bị quấy rầy.
— Cậu tới muộn rồi, nhất là với một việc trọng đại thế này - Ông ta nói. Lo rằng ông ta ngờ vực, tôi ngần ngừ.
— Tôi tới ngay khi nghe tin - Tôi nói, nhận ra sự soi mói của người linh mục. Ông ta vỗ lên cánh tay mình theo một nhịp điệu dồn dập.
— Ngài có biết nó không, thưa ngài? - Tôi vội vã hỏi - Nó sống ra sao?
Vị linh mục liếc sang người bõ già.
— Cô ta là đứa trẻ nhã nhặn, phải không, ông Caroll? Rất được yêu mến?
— Thật vậy, thưa ngài - Người bõ già đáp với một nụ cười ôn tồn.
— Vâng - Tôi nói - Rất được yêu mến, tôi chắc thế - Cảm nhận được sự miễn cưỡng của vị linh mục, tôi tiến thêm một bước - Suốt chín năm nay tôi không gặp nó. Xin nói cho tôi biết tất cả những gì ngài biết.
Vị linh mục đi lại với vẻ bứt rứt, và trong lúc đó, đột nhiên tôi thấy không ưa ông ta chút nào, người đàn ông nhỏ bé khoa trương này.
— Khi chúng tôi còn bé, tất cả những ai biết nó đều rất thương mến nó - Tôi bịa chuyện - Và nó còn là một cô bé xinh đẹp nữa.
Vị linh mục đã ngưng vỗ vào cánh tay, và hoặc do những lời của tôi đã thuyết phục được ông ta, hoặc chỉ đơn giản là ông ta muốn tống cổ tôi và sự tự tin của tôi đi cho khuất mắt, giờ ông ta có ý định cho tôi mang cô gái đi.
— Cậu có xe ngựa chứ? - Ông ta hỏi, và với một cử chỉ đột ngột, ông ta ra hiệu cho người bõ già đi cùng tôi. Tôi cám ơn và bắt tay ông ta. Khi chúng tôi ra tới cửa, ông ta lên tiếng.
— Cô ta được gói trong tấm vải linen.
Tôi nhìn ông ta - Một siling được chứ? - Tôi hỏi, và ông ta ngần ngừ, tính toán.
— Một siling.
*** Trong xe ngựa, Lucan khom xuống thi thể cô gái, mở tấm vải ra để xem xét. Trước kia cô ta rất xinh, nhưng dường như Lucan không nhìn thấy điều đó.
— Làm hay lắm - Hắn nói, ngả lưng vào ghế trở lại và mỉm cười với tôi - Làm hay lắm.
*** Cỗ xe chở chúng tôi quay lại thị trấn, qua những con hẻm và đường phố im lặng và hướng tới trường Blenheim Steps. Ở đó chúng tôi dừng lại trước một tòa nhà mà tôi biết là trường phẫu thuật do Joshua Brookes chủ trì. Lucan mở cửa, bảo tôi bước xuống xe. Con đường tối om, tiếng ồn duy nhất là tiếng nhạc thoát ra qua một cánh cửa mở.
— Gõ cửa đi - Lucan bảo và tôi làm theo, giây lát sau cánh cửa mở ra, để lộ một cậu bé khoảng mười sáu mặc một cái áo choàng da.
— Ông tìm ai? - Nó hỏi.
— Chủ của cậu - Lucan đáp từ sau lưng tôi, thằng bé nhìn hắn và mỉm cười.
— Mời vào - Nó lui lại để chúng tôi có thể đi theo nó. Sau lưng mình, tôi nghe tiếng cửa xe mở, một tiếng rơi đánh thịch, và giây lát sau Craven đi ngang tôi qua cánh cửa, Jenny Carpenter nằm trên vai hắn.
Ngôi nhà khá đơn giản, gọn gàng sạch sẽ, dù trong không khí có mùi gì đó giống như mùi thịt lợn muối, vì lý do nào đó nó quá ngọt ngào. Với thằng bé dẫn đường, chúng tôi tới một khoảng trống ở phía sau, một căn phòng trước kia từng là một mảnh sân, nhưng giờ được che mái bằng kính và khung sắt, bên trong là bốn cái bàn xếp thành một dãy. Có khoảng một chục ngọn chúc đăng đang cháy sáng, phủ đầy căn phòng ánh sáng chập chờn. Trên mấy cái bàn là ba thi thể trong tình trạng tháo rời khác nhau, rải rác xung quanh là những xô chậu, và cạnh cái xác thứ ba là một người đàn ông to lớn, áo sơ mi của ông ta mở cúc cổ và hai tay áo được xắn lên. Ông ta mặc một chiếc áo choàng rộng đến độ nó có thể trùm kín một con bò cái. Nghe thấy chúng tôi vào, ông ta ngẩng lên, cười lặng lẽ, bàn tay tay mủm mỉm vẫn cầm một cái ống tiêm.
— Anh đã mang cô ta tới - Ông ta chùi tay vào áo choàng trong lúc lạch bạch bước tới gần chúng tôi, ra hiệu cho thằng bé dọn sạch một chỗ trên mặt bàn gần nhất. Gương mặt ông ta không cạo, những vết thức ăn bám vào bộ râu lởm chởm và cổ áo, da ông ta trông như da người mắc bệnh tràng nhạc và bẩn thỉu, bột thuốc lá hít bám bên dưới hai lỗ mũi của ông ta. Khi ông ta tới gần, mùi hôi càng nồng nặc hơn, mùi của thân hình ông ta cũng thế.
Craven đặt cô gái bó trong lớp vải lên bàn. Khụt khịt mũi một cách vui vẻ, Brookes chọc mạnh vào cái xác.
— Tốt, tốt - Ông ta quay sang Lucan, nhưng rồi nhận ra tôi, chìa một tay ra chạm vào má tôi.
— Cu cậu xinh xắn này là ai thế? - Ông ta hỏi, và Lucan nhìn tôi hồi lâu.
— Gabriel - Cuối cùng hắn nói. Brookes gật đầu.
— Mười hai ghi-nê nhé? - Ông ta hỏi, lại khoác vẻ làm ăn, và Lucan mỉm cười.
Lúc ấy tôi thở dốc lên, vì sau lưng Brookes tôi nhìn thấy một dãy tủ ngăn, tất cả đều chất đầy những thân hình trông như nặn bằng sáp chằng chịt những tĩnh mạch và động mạch, thanh tú như đồ chạm vàng bạc, từng hình người một đều đứng ở tư thế hai tay duỗi thẳng ra và đầu hơi xoay đi, lớp thịt, xương và cơ quan nội tạng chứa trong đó trước kia đã được rút ra.
— A, cậu đã thấy những người đẹp của ta.
Ở đường phố bên ngoài, Lucan vừa bảo tôi rời khỏi hắn, vừa đặt tiền vào tay tôi.
— Đừng để vụ này khiến cậu có ấn tượng sai - Hắn nói - Brookes không ngốc tí nào đâu.
Bên trên chúng tôi, Bridie lắc đầu và huýt sáo không thành tiếng. Với một cử động đột ngột Lucan chụp cánh tay tôi ngay dưới cùi chỏ, bàn tay hắn xiết quanh nó như một cái êtô.
— Craven nghĩ tôi là một thằng ngốc khi tin cậu - Hắn nói, kéo tôi sát lại. Tôi có thể cảm thấy Craven đang nhìn sau lưng tôi - Cậu sẽ không biến tôi thành một thằng ngốc chứ, Swift? - Hắn nói, giọng hắn trầm và đều.
Tôi chậm rãi lắc đầu, nhìn sâu vào mắt hắn, đôi đồng tử của chúng sẫm đen, tròng trắng vàng và chằng chịt gân máu. Hắn giữ tôi sát vào hắn, trong vòng tay đó. Rồi với một tiếng cười trầm trầm, hắn buông tay ra và tôi lảo đảo lùi lại.
— Đi thôi - Hắn nói với Craven, quay đi trong lúc nói - Đêm nay còn có công việc phải làm.
*** Nhà nàng tối om khi tôi tới, tất cả mọi người trong nhà đều đã lên giường từ lâu. Thân hình nàng ấm áp và đầy đặn trong giấc ngủ, làn da nàng áp vào da tôi. Trong vòng tay của mình, tôi cảm nhận hơi thở của nàng; chuyển động của nó trong ngực nàng. Mỗi người trong chúng tôi đều đơn độc trong điều này, tôi nghĩ, bị cầm tù trong cái lồng của chính bản thân chúng tôi. Thế nhưng khi tôi áp mặt vào cổ nàng, tôi ước ao mình có thể lạc mất bản thân trong nàng, có thể tìm thấy một sự vỗ về nào ở đó, nỗi ước ao như một cơn đau khiến tôi thao thức thật lâu.
Không có gì khác lạ khi tôi thức giấc, thế nhưng tất cả đã đổi thay. Số tiền kiếm được rất thật, cả ký ức của tôi về việc có nó bằng cách nào, ý thức về điều đó bám lên tôi như một vết nhơ. Nhưng ở đây, trên giường nàng, theo cách nào đó nó có vẻ xa xôi, như thể đó không phải là việc làm của tôi mà của ai đó khác, một ký ức được nhớ lại như đã mơ thấy từ lâu.
Giá mà khi tôi nhắm mắt lại nó có thể biến đi, giá mà niềm vui tàn bạo của những giờ khắc trải qua với Lucan đừng vương víu.
Mưa đã rơi trong lúc chúng tôi ngủ. Ngày bên ngoài còn tối, nước chảy thành lượn sóng trên lớp kính sau rèm cửa, và khi tôi ngồi dậy để mặc quần áo, Arabella không thức giấc. Trên bậc thềm, tôi lật cổ áo lên, nhưng nước chảy lạnh trên da tôi khi tôi bước vào màn mưa. Tôi trong sạch và tự do, thế nhưng bồn chồn, hoang mang không biết sẽ đi đâu. Tôi luồn tay vào áo khoác cầm đồng tiền Lucan trao cho tôi tối qua, ép nó sát vào da thịt, cảm nhận được cái cách tôi rùng mình khi nó chạm vào tôi. Dường như có một bí ẩn nào đó ở đây, tôi cảm thấy nó - như thể tôi đang bị phân cách ở một nơi nào đó, số tiền này là do một bản ngã khác làm ra, một bản ngã mà tôi có thể che giấu bên trong như thể nó là một vai trò tôi đã diễn, và được trở nên tự do trong lúc diễn.
Trên phố Ba Lan, tôi dừng lại bên ngoài cửa tiệm bào chế thuốc. Ánh sáng rực rỡ bên trong thật ấm, một quầng sáng màu vàng nổi lên bóng tối của ngày. Trong tay tôi, đồng tiền dường như gây ngứa ngáy; trong tiệm, cái đầu hói của người bào chế thuốc gục gặt lên xuống trong lúc làm việc, những cái chai chất đầy trong cái kệ trên tường sau lưng ông ta. Tôi không nên, tôi biết, nhưng ngay cả khi tôi tự nhủ tôi sẽ không bước vào, sẽ không sử dụng số tiền, tôi biết tôi sẽ, cánh cửa đã mở ra, cái chuông reo lên trên đầu tôi.
Sau đó, trong phòng mình, tôi quan sát những hạt thuốc phiện xoay tròn trong ly, ánh sáng của ngọn đèn vỡ ra và lung linh trên vành ly cong. Ngoài trời mưa vẫn đang rơi, thế nhưng căn phòng có thể là một cái bong bóng nước, và tôi treo lửng lơ giữa nó. Bên dưới, giọng của Scarpi cất cao trong một cuộc tranh cãi nhưng tôi hầu như không nghe thấy chúng. Tôi cảm thấy buồn, hoặc rất gần với cảm giác đó, như thể có gì đó đã bị phân tách ở đây, bị chia đôi ở nơi lẽ ra không nên thế. Nhưng rồi chỉ còn có điều này, tiếng thì thầm của cơn mưa và ánh lửa của ngọn đèn đang nhảy múa trên kính cửa sổ.
*** Khi tôi lại tới gặp Lucan, hắn đang đợi. Tôi không cần nói và hắn cũng vậy. Thay vì thế, hắn nhìn tôi như thể tôi đã trả lời hắn một câu hỏi nào đó, sau đó hắn quay đi như thể tôi không hề có mặt ở đó.
Chúng tôi tới Cornhill, xe di chuyển nhanh và xốc. Những đường phố bên ngoài trông không quen và lạ lùng bên dưới màn sương. Cuối cùng Lucan đập lên mui xe bảo Bridie dừng lại. Hắn trèo xuống và gật đầu với Craven, và họ tiến vào bóng tối nhờ nhờ. Tôi theo sau họ, xuôi một hành lang có mái che rồi ló ra một con hẻm. Dưới màn sương mọi thứ đều lặng lẽ, chỉ có tiếng nước nhỏ giọt từ những cây cối bên trên, tiếng lanh canh xa xôi của xe cộ lại qua. Ở đâu đó gần bên, một con chim kêu lên, rồi một em bé bật ho và bắt đầu khóc. Lucan và Craven quẹo sang bên, đi vào một con hẻm mà một bên chắn bởi một bức tường cao, phủ đầy thường xuân. Ở đây Lucan nắm cổ áo tôi và kéo tôi sát lại.
— Hãy bảo đảm là chỉ có chúng ta - Hắn nói, liếc lên phía trên. Tôi xem xét bức tường, rồi cẩn thận thọc tay vào mớ lá thường xuân rậm rạp, tìm kiếm một điểm tựa nào đó. Nó ẩm ướt và trơn trợt, mùi bụi nồng nặc, nhưng tôi cố xoay xở bấu chặt vào những cuống lá, và bắt đầu trèo lên. Gần như ngay lập tức đôi ủng của tôi bị trượt, đầu gối và cùi chỏ đập mạnh vào tường khi tôi rơi xuống đất trở lại khá mạnh, đôi chân và cột sống đau ê ẩm và hầu như nghẹn thở.
Trước khi tôi có thể phục hồi, Lucan tóm lấy áo khoác của tôi.
— Cậu muốn chúng ta qua đêm trong xà lim hay sao? - Hắn hỏi, kéo tôi dậy, đẩy tôi trở lại chỗ bức tường.
Nhăn nhó với cơn đau ở mắt cá, tôi bám vào mớ thường xuân để lấy thăng bằng, và bắt đầu lần nữa. Lần này tôi không trượt, và chẳng bao lâu tôi đã lên tới đầu bức tường. Nhìn qua tán lá, tôi thấy một khoảng không gian hẹp, bốn phía bao bọc, và ở cuối là một tòa nhà, cửa sổ tối om, cái tháp nhà thờ chĩa lên như một cái bóng trong màn sương phía sau.
Bên dưới tôi, Craven cười to, và tôi thấy cơn giận bùng cháy trong lòng. Tôi quay lại rít lên rằng mé bên kia không có ai; với một cử động nhanh, Lucan ném cái túi đang cầm cho tôi, rồi hắn leo lên chỗ tôi đang ngồi. Hắn không nhìn tôi, chỉ liếc quanh mặt đất bên dưới, rồi co chân nhảy vào bên trong sân. Bám vào lớp thường xuân để làm chậm lại cú rơi, tôi xuống theo hắn, nặng nề rơi vào một vũng nước mưa lầy lội; nước ngấm vào giày tôi ngay tắp lự. Một lúc sau Craven cũng đu xuống, cầm lấy cái túi trong tay tôi và tiến qua dãy đá chất ngổn ngang lộn xộn.
Chúng tôi lấy được hai xác, một người đàn ông chết chưa quá hai ngày, và một bà già quay hàm thõng xuống đã bốc mùi. Công việc này khó nhọc và tàn bạo, và trước khi kết thúc, thân thể tôi run rẩy vì nó, đôi chân tôi run lên dưới sức nặng của tôi. Thế nhưng tôi chẳng nhận được sự giúp đỡ nào, Craven nhiếc mắng, đe dọa tôi rằng người bõ già ở đây là một gã hay đố kị và sử dụng rất thông thạo khẩu súng ngắn của hắn.
Chúng tôi bán họ cho người gác cổng ở bệnh viện Thánh Bart, một gã ma cà bông tên là Atkinson. Hắn trả chúng tôi mười ghi-nê cho mỗi cái xác. Đôi bàn tay tôi lột ra và phồng giộp, bộ đồ rách toạc và lấm bùn bê bết tới độ không còn chữa được. Trong lúc theo dõi Lucan cò kèo giá cả với Atkinson, tôi cảm thấy lòng mình ảm đạm, như thể tôi trở nên nặng trĩu từ bên trong, thế nhưng tôi vẫn đi theo hắn trở ra cỗ xe ngựa.
Sau đó, ở Holborn Hill hắn bảo Bridie dừng xe lại. Thò tay vào áo khoác, hắn rút ra tờ giấy bạc năm bảng chìa cho tôi. Thoạt tiên tôi không nhúc nhích, nghĩ rằng sẽ lắc đầu và quay đi - nhưng thay vì thế tôi giơ tay lên cầm lấy tờ giấy bạc gập đôi, cảm nhận nó khi nắm nó trong tay.
Nhưng đó không hoàn toàn là kết thúc của chuyện này. Khi Craven rời khỏi chúng tôi, tôi đứng lên để đi, nhưng Lucan giơ tay ra giữ tôi lại.
— Không, chúng ta chưa làm xong - Hắn nói.
Hắn chọc cây gậy lên mui xe, và chúng tôi lại lên đường, qua phố Grevil tới Leather Lane và Clerkenwell, và từ đó tới Windmill Hill. Tới Liquorpond chúng tôi ngoặt vào một khu đất nhỏ có rào, rồi đi ngoằn ngoèo tới tận cuối khu đất. Ở đây rất yên tĩnh, và dù những ngôi nhà trước kia rất đẹp, giờ chúng trở nên xiêu vẹo và bị bỏ hoang, những ô cửa sổ được đóng ván đè lên, và trống rỗng. Bridie kềm lũ ngựa đi chậm lại, ngoặt chiếc xe qua một mái vòm, và tiến vào một mảnh sân.
Ở đây tĩnh lặng, u ám đến mức tôi thấy sợ, chắc rằng họ định làm hại tôi. Nhưng thay vì vậy Lucan bước xuống xe và băng qua sân, tới gõ vào một cánh cửa. Một lần nữa tôi đi theo hắn. Bên trong, những giọng nói im bặt đi, rồi một người đàn ông hỏi vọng ra rằng chúng tôi tới có chuyện gì, vì đã muộn rồi, và mọi người đều đã ngủ. Lucan nói tên, và gần như ngay lập tức cái then cửa được hạ xuống, ánh sáng tràn ra, hình dáng của một gã đàn ông bị che khuất phân nửa bởi quầng sáng của cây đèn trên tay hắn.
— Gì vậy? - Hắn hỏi - Ông tới đây ở hả?
— Tôi có một quý ông sẽ thuê phòng của anh - Lucan đáp. Trong ánh sáng ở lối ra vào, gã đàn ông dường như cố giữ nguyên tư thế của hắn, không thì hắn có thể nhảy dựng lên vào bất cứ lúc nào. Thế nhưng hắn tới gần tôi, đi hơi ngang như một con cua, chà xát hai bàn tay vào nhau, như thể tôi là một niềm vui đã được dự báo từ lâu. Ở khoảng cách gần này tôi thấy hắn không già như tôi đã tưởng, có lẽ ba mươi, hoặc ba mươi lăm, cũng không khó coi, trừ cái cung cánh hắn kềm giữ chính mình, và đôi mắt hắn lé nặng đến độ trông hắn giống như một tên đần độn. Hắn giơ cây đèn lên mặt tôi và khụt khịt với vẻ vui mừng.
— Đây là Graves -Lucan nói.
 
 
 
19  
Ngôi nhà nghèo nàn, tối tăm và ít khi được quét dọn. Sau cánh cửa bếp một người phụ nữ đang ngồi, mặt đần đi vì men rượu. Trông thấy chúng tôi, cô ta ngẩng đầu lên với một sự chú ý bất ngờ.
— Người này là ai vậy? - Cô ta hỏi, đầu tiên nhìn Lucan rồi quay sang tôi.
— Một quý ông, tới thuê phòng - Graves đáp. Cô ta nhìn tôi đánh giá, rồi khịt mũi.
— Quả là một quý ông.
Tôi không thể Graves biết Lucan bằng cách nào, nhưng biết là như thế, vì Graves xun xoe bợ đỡ hắn, nài ép hắn ở lại trò chuyện một lúc. Nhưng Lucan không muốn nấn ná, và chẳng bao lâu đã ra về, bỏ lại một mình tôi với họ.
Graves chỉ cho tôi một căn phòng ở tầng hai. Nó nhỏ xíu, đầy bụi, chỉ đủ lớn để kê một cái giường, bồn tắm và một ít đồ dùng. Khi tôi bước vào, hắn theo sát sau lưng, xô đẩy đồ đạc và nói lắp bắp như định giúp tôi bày biện lại chỗ đó. Chỉ khi tôi quay sang hắn mới lùi lại, giơ tay lên để xoa dịu tôi và cười rúc rích một cách ngốc nghếch. Thoạt tiên tôi nghĩ sẽ chửi bới hắn, nhưng ở hắn có điều gì đó khiến tôi lo lắng.
— Tôi muốn được ở một mình, xin vui lòng - Tôi nói. Như thể không hoàn toàn tin tôi, ngay cả lúc đó hắn lần khân, nhưng khi tôi quay sang hắn lần nữa, hắn lui ra căn sảnh bên ngoài.
Khi hắn đã đi, tôi ngồi lên giường, chạm vào nó với bàn tay xòe rộng. Những tấm vải trải giường dày cui những bụi và các ô cửa sổ đen sẫm vì bồ hóng và bụi đất. Dưới giường có một cái bô; tôi đưa bàn chân đẩy nó ra, rồi đặt chân xuống ván lót sàn khi nó hiện ra trong tầm mắt. Bên trong bô là một cục phân người, dài, cuộn tròn và đã khô thành một chất rắn màu vàng, bao quanh là một làn nước mốc meo. Trong một lúc lâu, tôi ngồi nhìn vào nó, rồi tôi đặt ủng lên vành bô và đẩy nó trở lại vào dưới giường, khuất mắt.
Sau đó tôi sẽ biết rằng Graves luôn là vậy, hắn dùng thời giờ của mình để ngồi trong bếp, tìm cách vơ vét những người thuê phòng chịu chuyện trò với hắn. Ở hắn có một thái độ cần thiết, xoa dịu và cố chấp, như thể hắn e ngại sự bầu bạn của chính mình. Hắn luôn muốn có thêm khách, và nhiều lần hắn theo tôi ra ngoài khu đất, phỉnh nịnh tôi ở lại với hắn, trò chuyện với hắn.
Lúc đầu điều này có vẻ vô tư, cảnh túng thiếu của một người ngốc nghếch, thế nhưng ba hôm sau khi tới đó tôi thức giấc vì những giọng nói giận dữ đang cất cao bên dưới, và khi xuống bếp, tôi thấy có một trong những người thuê phòng ở đó, một gã Ái Nhĩ Lan gọi là Murphy, đã say khướt và đang trong cơn thịnh nộ. Hắn cầm trong tay một cái chuông, và dùng nó tấn công vào đầu và lưng vợ hắn, liên tục giáng nó xuống cho tới khi mặt của cô ta trầy sướt hết và da của cô ta thâm tím. Dù vậy, cảnh tượng này không buộc tôi phải đứng sững lại mà chính là cái cảnh Graves, đang ngồi quan sát, hai bàn tay áp vào nhau trong niềm vui sướng, thân hình trong chiếc ghế của hắn dường như đang run lên với một sự khích động hiếm hoi nào đó.
*** Thế là tôi bắt đầu hiểu biết công việc. Đào và kéo xác lên. Với dây thừng, móc câu và xẻng, tôi dần dà thủ đắc được kỹ thuật này. Cách đào đường hầm tới đầu của cỗ quan tài, cách sử dụng chính sức nặng của đất để làm bật nắp, cách nhét một cái xác vào bao tải.
Thật tốt khi tôi cao lớn, khỏe mạnh, vì đây là một công việc rất nặng nhọc. Đào một cái lỗ càng nhanh càng tốt, kéo một cái xác ra, vác nó qua tường - tôi chưa bao giờ biết một công việc như thế này. Trên tay tôi, những chỗ trước kia mềm mại giờ trở nên chai cứng, móng tay của tôi bị gãy và đen thui vì đất cát.
Và dù tôi chán ghét công việc này, dần dần tôi cũng quen với nó. Trở thành một công cụ của Lucan theo ý muốn của hắn, luôn sẵn sàng làm vì mục đích của hắn. Không có tình yêu trong công việc này, cũng chẳng có mất mát nào giữa chúng tôi, những kẻ làm việc cho hắn, nhưng nó kiếm ra tiền, và có tiền để tiêu xài.
Tôi hiểu rằng ngôi nhà trên phố Prince’s không là ngôi nhà duy nhất mà Lucan chiếm được. Còn có một ngôi nhà khác trong hẻm Water, nhà giam Bridewell và khu nghĩa trang của nó. Hắn luôn khóa cửa ngôi nhà đó, tất cả cửa sổ và cửa ra vào đều bị đóng ván bít kín, nhưng ở phía sau, trong một con hẻm nhỏ, có một cánh cửa khác mà hắn dùng để ra vào. Bên trong, ngôi nhà hầu như trống rỗng, trừ hai căn phòng có đặt giường và bàn, và một căn khác cạnh đường mà trong đó hắn chất cả đống đồ đạc, tất cả đều bị vỡ toang, sứt mẻ và hư hỏng. Còn một ngôi khác ở Southwalk, nhìn ra nghĩa trang của nhà thờ Guy. Và tôi chắc là còn nhiều nữa, những nơi tôi chưa nhìn thấy mà chỉ nghe đồn. Các thi thể mà chúng tôi lấy cắp từ các khu nghĩa địa được cất tạm ở những nơi đó, trong những tầng hầm và phòng trống, đồ nghề của chúng tôi được gói lại và giấu phía sau chúng.
Tôi không phải là người duy nhất bị ràng buộc với hắn. Dường như có rất ít người hắn không quen biết, ít nơi hắn chưa từng nghe tới hay nhìn thấy. Những người phụ nữ canh gác nghĩa trang, những tay bõ nhà thờ, những phu khuân vác quan tài. Các thầy tư tế từ các nhà thờ giáo xứ, y tá trong các bệnh viện và các tay gác cửa ngân hàng, những viên thừa phát lại, những phu quét đường; từ mọi nơi hắn thu thập một cách sát sao lời đồn về những người chết và nơi họ nằm để chúng tôi có thể đánh cắp. Và dù có những kẻ ngăn cản chúng tôi, những kẻ có súng, bẫy, thậm chí gươm, thông thường sự khảo sát của chúng tôi làm sụp đổ ý chí của họ, và chúng tôi có thể mua tòng phạm nếu không phải là tình yêu.
Và có lẽ đây cũng là tất cả những gì mà hắn tìm kiếm ở tôi, để tôi hiến dâng bản thân mình cho hắn. Để biết rằng tôi được tạo ra là để trở thành thần dân cho ý muốn của hắn, rằng bản chất của tôi là tuân phục hắn. Biết rằng tôi là của hắn, ngay cả khi tôi chỉ muốn tự do.
*** Một đêm lạnh giá, băng đóng trên những cành cây và kính cửa sổ. Chúng tôi chia tay ở trước nhà của Brookes, tiền của Lucan nằm trong tay tôi. Tôi muốn mua thuốc phiện, nhưng đã khuya, và khoản tiền của tôi quá thấp. Máu chảy rộn trong đầu tôi, tất cả là những ý nghĩ đang chuyển động về mọi thứ. Đêm nay chúng tôi lấy được bốn cái xác từ một khu ở chuột ở Blackfiars, tứ chi của họ biến thành băng từ lòng đất bao quanh. Họ rất lạnh, những người chết, lạnh hơn không khí, lạnh hơn và nặng hơn đất.
Tôi nên tới nhà Arabella nhưng đêm qua chúng tôi đã cãi nhau; không có chuyện gì lớn, nhưng dù sao cũng đau lòng. Nàng đoán dạo này tôi đi đâu, làm gì để kiếm tiền, nhưng nàng không nói ra, cũng không hỏi han tôi, nàng không nói tới những điều đó. Dạo này tôi thường cảm thấy không được hoan nghênh trong ngôi nhà đó, như thể họ quay lưng lại với tôi, gần như họ e sợ tôi.
— Sao các cô cứ nhìn chằm chặp tôi như thế? - Tôi đã hỏi Mary, vì khi tôi tới cô ta không đứng dậy, chỉ ngồi trước lò sưởi.
— Im đi - Arabella nói.
Tôi nhìn vào mặt Mary, rồi quay sang Arabella, cảm nhận được cái cách họ liên kết với nhau để chống lại tôi.
— Cô ta luôn quan sát tôi như thể tôi là một con quái vật - Tôi nói.
— Anh đã hiểu lầm cô ấy. Phải vậy không? - Nàng hỏi Mary.
Một khoảnh khắc quá dài, rồi Mary chậm rãi gật đầu.
*** Trong bếp, Graves đã thức giấc, ngồi với Rose, người phụ nữ đã ở đó vào đêm Lucan đưa tôi tới đây. Dù họ không phải là vợ chồng, cô ta cùng ngủ chung giường với hắn, nhưng tôi không biết với điều kiện thế nào. Khi tôi bước vào cô ta chỉ chìa cằm về phía tôi.
— Sao, đó là cậu bé đẹp trai - Cô ta khịt mũi, giọng của cô ta quá lớn, đầu cô ta ngửa ra, nảy lên trên vai Graves, đong đưa vì say rượu. Tôi sững người với niềm ước muốn đập cô ta một trận, hất cô ta té lăn xuống sàn nhà. Graves cắn môi, đôi mắt lé của hắn sáng lên.
— Ngồi đi, ngồi đi - Hắn nói, đứng lên và đẩy một cái ghế cho tôi.
Tôi kéo nó lui lại và ngồi xuống. Rose lại khịt mũi, cố giữ thẳng đầu. Di chuyển một cách rất nôn nao, rất nhanh nhẹn, Graves cầm lấy một cái ly và rót đầy rượu cho tôi.
Chất rượu nóng tới tận cổ họng, nhưng dù sao tôi cũng nốc, cảm thấy ánh mắt đăm đăm của Graves và cơn giận của Rose. Có một cái gì đó hung dữ trong sự bầu bạn của Graves, một cảm giác mà hắn thôi thúc người ta bằng sự chú ý của hắn; và thế là, bất chấp thái độ và vẻ mặt của hắn, tôi uống những ly rượu mà hắn mời và chia sẻ với hắn niềm thú vị đối với sự đần độn của Rosa. Uống tới ly thứ năm, chúng tôi đập tay lên bàn đánh nhịp, hát bằng một giọng lớn và khàn, gọi Rose khiêu vũ, và khi quan sát cô ta lảo đảo từ góc này sang góc khác, đôi tay giơ cao, lạc mất trong nỗi khao khát của chính mình, nó khiến tôi thấy vui, cũng như khiến Graves thấy vui.
Sau đó, trong căn phòng tối tăm của tôi, âm thanh của thành phố thức dậy. Những giây trôi qua, giây này tiếp nối giây kia. Trên những ngón tay và bờ môi của tôi là mùi vị của Arabella, mùi của đất. Nếu tôi nhắm mắt lại tôi có thể cảm thấy nàng ở đây, cảm thấy nàng trong vòng tay tôi, nhẹ như bông, cơn mơ tạo thành da thịt. Nó là do thuốc phiện, tôi biết, thế nhưng không. Vào một lúc nào đó tôi thiếp ngủ, và mơ.
Gần sáng, đêm đã lui về. Craven và tôi đã đến thị trấn Camden. Không khí ở đó tĩnh mịch và trong trẻo, như đang mong đợi. Suốt đêm có điều gì đó cứ khuấy động trong đầu tôi.
Graves ngồi trước lò sưởi, mặt hắn căng lên đề phòng. Thoạt tiên tôi không hiểu, vì thế tôi dừng lại. Ngay cả khi ấy, kẻ tôi chú ý không phải là hắn mà là Walker, đang ngồi ở góc phòng. Thế rồi tôi nhìn thấy Caley, ngồi cạnh Graves, ánh sáng của cây đèn đặt trên bàn rọi sáng mặt hắn.
— Anh chàng học viên - Hắn nói.
Lúc đầu, tôi không thể nói, sự hiện diện của hắn ở đó khiến tôi thấy mình muốn bệnh.
— Sao? - Hắn hỏi - Cậu không nghĩ là tôi sẽ mục nát luôn trong cái xà lim đó chứ?
Tôi lắc đầu. Sau đó hắn đặt bàn chân lên một cái ghế và đẩy nó ra cho tôi ngồi.
— Uống với chúng tôi đi - Hắn nói.
Cuộc chuyện trò của họ đề cập tới mọi thứ, và chẳng có gì quan trọng. Một gã đàn ông gãy cổ khi té xuống cầu thang ở Foster, một phụ nữ sinh con dù chồng cô ta bị nhốt suốt mười tháng qua ở nhà tù Newgate, một băng cướp cuỗm đi một em bé sơ sinh từ một nhà bảo sanh ở Bloomsbury. Caley đã khác hẳn sau mấy tháng đi xa: gầy hơn, tất nhiên, và cũng xanh xao hơn, nhưng không chỉ có thế. Có một sự hoang dại mới mẻ nào đó trong con người hắn, một sự mong manh trong tâm trạng. Cả Graves cũng nhìn thấy điều này, và bám theo từng lời của hắn với một niềm vui bệnh hoạn.
Buổi sáng đã trôi qua từ lâu khi tôi đẩy cái ghế lui lại và đứng lên. Bên ngoài, thế giới xám xịt đã hoàn toàn thức tỉnh. Trong phòng mình, tôi quăng người xuống đệm, thân thể tôi nhẹ hẩng vì thuốc phiện và kiệt sức. Và khi tôi thức dậy, tất cả bọn họ đã đi mất, một lần nữa ngôi nhà trở nên tịch mịch.
Caley chưa hề nói gì về điều mà tôi biết nằm trong tâm trí hắn, điều đã mang hắn tới đây.
Đêm nay ba người bọn họ đã tề tựu lại, cười hô hố. Bridie ngồi trên ghế đánh xe, Lucan và Craven thơ thẩn gần cửa xe. Khi tôi tới gần, họ rơi vào im lặng, như thể đang nói về tôi. Lucan không chào tôi, chỉ hướng ánh mắt vào tôi rồi bỏ đi, ra hiệu cho Bridie cho cỗ xe lăn bánh. Một chuyện nhỏ nhặt, có lẽ, nhưng có gì đó quặn lại trong tôi. Và trong khoảnh khắc đó tôi nghĩ là tôi hiểu, nghĩ là tôi đã nắm được mục đích của Caley khi để lộ mình ra trước mặt tôi. Hắn muốn tôi trở thành đồng lõa của hắn, một tri thức bí mật hoàn toàn thuộc về tôi mà Lucan không thể chạm tới.
 
 
 
20  
Chúng tôi tới Berthnal Green, nơi có một thân cây nghiêng bóng trên những nấm mộ. Nắp cỗ quan tài đã vỡ, cái móc của tôi kêu lanh canh trong khoảng trống bên dưới.
Đầu tiên Lucan chỉ đứng nhìn chằm chặp, cả Craven nữa. Chuyện này không thể xảy ra, vì chúng tôi xem cái nghĩa trang này là của chúng tôi.
Craven đẩy tôi sang bên. Hắn quỳ xuống, rọi cái đèn lồng vào cái hành lang ẩm mốc mà chúng tôi đào, rồi vào đống đất trên đầu huyệt, tìm kiếm một dấu hiệu nào đó lý giải vì sao chuyện này lại xảy ra. Gương mặt hẹp của hắn đanh lại, hắn ngẩng lên và ra hiệu về phía cái huyệt gần nhất.
— Kiểm tra nó - Hắn rít lên.
Tôi nhặt cái thuổng, tới đó theo yêu cầu của hắn.
Lớp đất rời rạc, và tôi đào nhanh xuống, hơi thở kêu phì phò trong lồng ngực, những cơ bắp ở lưng và chân tôi nóng lên vì máu chảy. Và cuối cùng, khi tôi chạm vào nắp quan tài, cái thuổng của tôi xuyên qua tấm ván vỡ vào khoảng trống bên dưới, hệt như với cỗ quan tài đầu tiên.
— Chuyện này không ngẫu nhiên - Craven nói.
Lucan chậm rãi xoay cái đèn lồng qua lại, khảo sát mặt đất. Tia sáng để lộ ra một điểm nhạt giữa mặt đất bị đào xới. Một cái vỏ sò, tròn và mịn, được một người bạn hoặc thân nhân nào đó đặt làm dấu để phát hiện ra sự xáo trộn nếu có ai đó đào xới cái huyệt. hắn chậm rãi quỳ xuống và cầm lấy nó.
— Không - Hắn nói - Quả thật không hề ngẫu nhiên.
Đột nhiên có gì đó chuyển động trong tôi, và tôi hiểu ai là kẻ phá đám và vì sao. Tim tôi thắc thỏm, thân thể tôi nhẹ hẳn đi.
Cái vỏ sò vẫn còn nằm trong tay Lucan. Với một cử động cẩn thận, hắn giơ tay ra và đặt nó trở lại đống đất rồi đứng lên.
— Lấp chúng lại - Hắn nói.
*** Chúng tôi tới Kensington. Những tàng lá sà xuống những nấm mộ và có thể nghe thấy tiếng những con bò nhai lại và rống lên trong giấc ngủ của chúng bên ngoài bức tường. Từ một nấm mộ bên dưới một phiến đá hoa cương là thân thể của một người đàn ông, một chân cụt từ gối trở xuống. Sau đó chúng tôi quay lại qua những đường phố lặng câm, cái xác đã được cột và bó lại nằm trên sàn. Trên suốt chặng đường, Lucan hầu như không nói năng gì. Ngồi cạnh hắn trong bóng tối của cỗ xe, tôi có cảm giác chóng mặt, choáng váng và buồn nôn. Ở Blenheim Steps, chúng tôi đánh thức Brookes và bán cái xác cho hắn, rồi chia nhau, và với số tiền trong tay mình, tôi từ giã bọn họ tại đó, nôn nóng muốn đi ngay.
*** Ở khu đất tối om, những ô cửa sổ đóng chặt để ngăn chặn sương giá. Từ trong nhà phát ra những giọng nói, trầm và khó phân biệt, tiếng cười nghèn nghẹn của Graves. Tôi giơ tay lên và phát hiện ra rằng cửa đã bị khóa, im lặng buông xuống bên trong khi tôi gõ cửa.
— Ai đó? - Graves hỏi.
— Gabriel.
Cái then trượt ra để lộ gương mặt và đôi mắt lé của Graves, cánh cửa chỉ hé mở vừa đủ cho tôi lách người qua.
Những cây đèn đặt thấp, và Caley đang ngồi với Rose và Walker.
— Sao, anh học viên - Hắn nói - Tôi không nghĩ là cậu lại về sớm thế.
Trên sàn đầy dấu chân đẫm bùn, và qua cánh cửa mở nửa phần vào căn phòng của Graves, tôi nhìn thấy những bó to được cột ràng.
— Mấy người đã làm việc - Tôi nói.
Caley nhướng mắt nhìn tôi.
— Và nếu tôi đã làm?
Cạnh lò sưởi, Graves yên vị trở lại trên ghế, đôi môi hắn nhếch lên thành một nụ cười đề phòng.
Cuối cùng tôi lắc đầu. Caley cầm một chai rượu đặt trên bàn chuyền sang tôi.
— Hãy uống với chúng tôi - Hắn nói.
*** Những cái xác nằm trong phòng của Graves suốt ba ngày, được che lại nửa phần bằng một tấm vải bố. Dường như Caley không quan tâm chuyện gì sẽ xảy ra với họ, vui vẻ để họ nằm đó và hư hoại, lũ chuột ăn thịt họ, kêu chí chóe trên những bức tường và trần nhà. Tôi nghĩ họ đã bị bỏ quên, ngoài việc tới hôm thứ ba tôi dừng lại để nhìn họ, và trông thấy Caley đang quan sát tôi từ chỗ ngồi. Hắn cắn môi.
— Sao anh không bán họ? - Tôi toan hỏi, nhưng thái độ của hắn khiến tôi ngậm miệng.
*** Có lần, đã lâu, bị lạc trong một trò chơi con nít tít trên cái gác xép của một khu chuồng ngựa, tôi nhìn thấy con trai của người chăn ngựa đang lẻn vào bên dưới. Có lẽ lúc đó tôi chừng bảy hoặc tám tuổi. Trong cung cách của nó có cái gì đó, một sự lặng lẽ nào đó khiến tôi ngồi bất động.
Dù tôi biết nó và nó biết tôi, chúng tôi không là bạn của nhau. Ba nó là một người giúp việc, còn ba tôi là một quý ông, một sự phân biệt khiến tôi trở thành một kẻ cô đơn giữa đám trẻ con trong nhà.
Len lén tới một trong những ngăn chuồng, nó mở một cái túi rơm đeo trước ngực ra. Trong đó là một con mèo con mà tôi biết là của bà đầu bếp, một con vật nhanh nhẹn màu gừng với tiếng kêu gừ gừ giống như ho. Con mèo lắc đầu khi thằng kia đặt nó xuống theo cách của một con mèo con rồi chạy vọt đi. Một bàn tay giơ ra và nó bị kéo lại gần, nó kêu gừ gừ rồi cọ đầu vào bàn tay. Thằng kia chậm chạp vuốt dọc theo lưng con mèo, một lần, hai lần, cho tới khi nó tới gần trở lại, cuộn mình và đưa hai chân trước vỗ vào cánh tay thằng bé.
Thằng kia ngồi im đến độ khi nó khép bàn tay quanh cổ con mèo, con vật dường như chỉ nghĩ đó là chuyện ngẫu nhiên, chỉ kêu gừ gừ và lắc nó ra khỏi cổ. Nhưng thằng kia không buông nó ra; nó xiết chặt nắm tay, đè con mèo xuống đất. Ngay cả lúc này dường như con vật cũng chưa hiểu, nhưng tôi hiểu, tim tôi đập rộn lên khi nó đè con vật xuống. Nó lôi từ trong giỏ ra một cây búa, giơ nó lơ lửng trong không trung một lúc trước khi nó hạ cây búa xuống đầu con mèo, thật mạnh, một lần, rồi lần nữa.
Khi làm xong, nó đặt cây búa xuống, ngồi bệt ra như thể để chờ xem con mèo sẽ làm gì. Đầu tiên con vật không nhúc nhích, đầu nó đầy máu và vỡ toang, nhưng cuối cùng nó cố đứng lên. Nó đi loạng choạng, cố lê xa khỏi thằng kia. Thoạt tiên thằng kia để cho con mèo đi, chờ cho tới khi nó gần tới cửa chuồng, rồi đuổi theo, hất con vật ngã lăn ra lần nữa. Nó lại cố đứng lên, và thằng kia lại đẩy nó té lăn ra, rồi lần nữa, luôn khóa chặt đường đi của con vật. Cuối cùng nó rít lên, cố cắn, hàm răng của nó cắm vào cái chân để trần của thằng kia và làm tóe máu. Thằng kia chửi thề, rút tay lại, và vung búa đập mạnh vào sườn con vật, hất nó qua mé kia ngăn chuồng. Chúng cứ vờn vòng tròn với nhau, thằng kia khóa đường thoát của con vật, di chuyển ngày càng nhanh hơn, rồi cuối cùng nó nhấc chân lên và dẫm mạnh lên con mèo, một lần, rồi nhiều lần khác. Mặt nó tái đi vì niềm vui hoang dã. Cứ dẫm liên tục. Và trong lúc đó tôi không nhúc nhích hay gây ra một tiếng động nào. Không phải vì tôi sợ, vì tôi không thấy sợ hay tức giận, mà đứng hơn là một cảm giác nào đó gần hơn với niềm khao khát, một cảm giác bí mật, khủng khiếp và kỳ diệu tràn ngập đôi tay, lồng ngực và háng của tôi. Chỉ khi nó đã hoàn tất, và con mèo đã nằm bất động, thân hình nát nhừ, nó mới dừng lại. Và lúc đó, chỉ lúc đó, nó mới quay lại, nhìn lên chỗ tôi đang ngồi, mắt nó gặp mắt tôi. Gò má đầy tàn nhang của nó lấm tấm máu. Tôi không thể nhúc nhích hay nhìn sang chỗ khác. Nó không nói gì, cũng không cần phải nói, vì tôi nhận ra ngay lúc ấy rằng nó luôn biết tôi đang ở đó. Thế rồi nó mỉm cười, và đột nhiên tôi hiểu ra vai trò mà tôi đã đóng trong chuyện này, sức nóng mà tôi cảm thấy không phải do sợ mà do sự nhận biết.
*** Đôi khi tôi không chịu nổi sự ve vuốt của nàng. Giống như một niềm đau, nhận thức về việc những gã khác từng vuốt ve nàng, những lời nói dối của nàng, luôn ở đó; nó thì thầm trong đôi tai của tôi và theo tôi đi vào giấc ngủ. Và khi tôi ôm nàng trong vòng tay, lòng tôi tràn ngập một niềm căm ghét, không chỉ đối với nàng mà cả đối với chính mình, đối với tất cả những chuyện này.
*** Chuyện đó xảy ra hai lần nữa, những thi thể mà chúng tôi cho là của mình đã bị cuỗm mất. Mỗi lần, việc đó được thực hiện một cách cẩn trọng, vì thế chúng tôi biết đó không chỉ đơn giản là những tên trộm nghiệp dư. Tôi chắc chắn là Caley có liên can, và dù tôi không biết hắn giấu họ ở đâu, hắn luôn có mặt ở đây, và do đó tôi cho rằng cả họ cũng đang được giấu trong một căn phòng nào đó.
Có một sức mạnh nào đó trong sự hiện diện của hắn, giờ tôi đã nhận ra điều đó. Không chỉ ở cái cách hắn buộc Graves làm theo ý hắn hay cách Walker tuân phục hắn, mà còn trong cái cách tâm trạng của hắn tràn ngập căn phòng. Tâm trạng của hắn rất đáng sợ, và tất cả chúng tôi đều sợ hắn. Hắn luôn thách thức tôi tấn công lại, kiểm nghiệm lòng can đảm của hắn, mỗi lần như thế tôi lại chọn cách im lặng, và điều này dường như là một thắng lợi đối với hắn.
Dù tôi chỉ một thằng ngu với việc này, tôi phát hiện ra một dạng niềm vui hoang dã nào đó khi nhìn thấy Lucan bị chơi xỏ như thế. Rõ ràng hắn không biết ai chịu trách nhiệm vụ này, nó thể hiện trong vẻ mặt, ngôn từ và tất cả những gì hắn thực hiện, dù hắn chưa bao giờ mất kiểm soát hay để lộ bản thân. Ở một người đàn ông khác, điều này có thể đáng ngưỡng mộ, nhưng khi tôi quan sát hắn bị chế nhạo bởi những hành vi của Caley, tôi không thích chút nào chuyện đó, tôi chỉ thấy khinh thường hắn và tất cả những gì hắn làm cho tôi.
*** Chúng tôi đã tới Whitechapel, rồi Clerkenwell. Hai cái xác nhỏ, một bộ răng, không phải là vố lớn, nhưng Lucan không chia tiền. Thay vì thế hắn trì hoãn, tìm lý do để giữ chúng tôi lại với hắn, dù tôi bực dọc và khó ở, và muốn dùng thuốc phiện. Đây đó những tiệm bánh đã mở cửa, và theo lệnh của Lucan, chúng tôi mua bánh mì. Bánh vẫn còn ấm với sức nóng của lò, nhưng dạ dày tôi đau nhói, và tôi không thể ăn.
Sau đó, một cỗ xe lờ mờ hiện ra từ màn sương. Người đánh xe đã lót ván ngang vũng bùn để một phụ nữ có thể lên xe. Cô ta nhỏ thó, gương mặt bị chiếc mũ trùm đầu của áo khoác che khuất. Nhưng khi chúng tôi đi ngang, cô ta quay lại, và tôi nhận ra cô ta, không phải bởi gương mặt mà bởi cái cách cô ta kềm giữ bản thân. Gương mặt xanh xao của cô ta bắt gặp gương mặt của tôi.
Ở phía đối diện với tôi, Lucan tựa lưng vào vách xe, đôi mắt hùm hụp của hắn tối thẫm.
— Một người đàn ông nên cẩn thận để thị hiếu của mình không vượt quá phương tiện của mình - Hắn nói. Craven bắt đầu cười hô hố. Tôi nhìn trả lại ánh mắt của Lucan, chỉ ước gì tôi có thể quét sạch nụ cười khỏi gương mặt hắn, khỏi tất cả bọn họ.
*** Nàng dịu dàng mở lòng bàn tay của tôi ra.
— Làm sao mà anh bị thế này? - Nàng hỏi, sờ vào chỗ da bị xây xước trên mấy đốt ngón tay của tôi.
— Một sự thay đổi - Tôi đáp - Không có gì.
— Còn chỗ này? - Nàng hỏi, sờ vào sườn tôi. Một vết bầm, xanh tím.
— Đó là do công việc, chỉ có thế.
— Công việc - Nàng lặp lại, lời nàng hàm chứa sự phán xét. Dù nàng không nhúc nhích, tôi cảm thấy nàng đang lùi ra xa khỏi tôi.
Với một cơn tức giận đột ngột, tôi đẩy nàng ra, mạnh bạo hơn dự định, và nàng loạng choạng lùi lại. Một cái gì đó lóe lên trong tôi khi nhìn thấy nàng té xuống, một nỗi hân hoan nào đó, và trong giây lát, tôi nhìn nàng chòng chọc, hả hê.
*** Đất vỡ ra khắp tứ phía, bị đào xới vung vải, những huyện mộ mở toang.
— Bọn chó chết! - Craven phun nước bọt, bước tới trước, nhưng Lucan giơ tay ra ngăn hắn lại.
— Chờ đã - Hắn nói - Phải chắc chắn là chỉ có chúng ta ở đây.
Craven khom đầu xuống, rồi di chuyển dọc theo bức tường.
Lucan đứng bất động. Cái đèn lồng của hắn rọi vào một thân hình, bụng nó phồng to, bộ mặt nhăn nhúm do thối rữa. Cạnh nó là một cái xác khác, thi thể của một phụ nữ, lớp thịt đã phân hủy, tấm bia bị lật ngược lên. Hắn để cho ánh sáng di chuyển một cách bình thản từ xác này sang xác kia, không bình phẩm gì về điều chúng tôi nhìn thấy. Tôi bước lui vào bóng râm, rút chai rượu trong áo khoác ra và nhấp một ngụm.
— Đã đi từ lâu - Craven nói, xuất hiện trở lại. Lucan gật đầu. Hắn quỳ xuống cái xác đang nằm sình chướng trên mặt đất, đưa tay chạm vào bộ mặt bị hư hoại. Rồi hắn đứng lên, bước trở lại cổng. Khi tới sát cạnh tôi, hắn dừng lại, tóm chặt lấy cổ tay tôi, bàn tay hắn di chuyển quá nhanh, tôi không kịp phản ứng.
— Từ bỏ thứ thuốc độc đó đi - Hắn rít lên, và một cử động dứt khoát, hắn vung cánh tay tôi sang bên khiến cái chai bay khỏi tay tôi. Tôi quan sát nó rơi xuống, cắn răng kềmgiữ niềm thôi thúc muốn chộp lại nó.
*** Bên ngoài đang mưa, bầu trời vàng ệch, ánh bình minh mờ mờ tỏa lên mọi vật. Trong phòng mình, Graves đang ngủ, tiếng ngáy của hắn nghe như những tiếng huýt sáo khe khẽ. Một chai rượu nằm cạnh ngọn lửa. Sau lưng tôi có tiếng động, tôi quay lại, cho rằng sẽ nhìn thấy Caley. Nhưng không phải hắn, mà là Craven, đôi mắt trắng dã của hắn lóe lên trong ánh sáng vàng vọt.
— Không có ai ở đây à?
Tôi lắc đầu - Có thể có ai?
Hắn nở một nụ cười hiểu biết - Có lẽ cậu có thể kể cho tôi nghe chuyện đó?
— Tôi không thể kể gì với anh cả - Tôi đáp, Hắn chậm rãi đi men theo những bức tường nhà bếp, dừng lại ở mỗi cánh cửa để nhìn ngang liếc dọc. Tới cửa xuống tầng hầm hắn dừng lại, đặt tay lên nắm đấm cửa và chậm rãi xoay nó. Hắn không lắc, chỉ đè đủ mạnh để biết nó đã bị khóa.
— Anh muốn gì? - Tôi hỏi.
— Không nhiều - Hắn nói, kéo một cái ghế khỏi bàn và ngồi xuống - Một từ thôi.
— Vậy thì nói đi, vì tôi mệt lắm.
— Trong bọn chúng ta có một tên phản bội - Hắn nói.
— Thật thế ư? - Tôi phải cố giữ cho giọng mình bình thường.
— Thật thế - Hắn đáp, quan sát.
— Sao anh lại nói với tôi chuyện này?
— Cậu không biết đó có thể là ai sao?
Tôi lắc đầu, và Craven ngồi một hồi lâu.
— Trông cậu không được khỏe - Cuối cùng hắn nói - Cậu có ốm không?
— Chỉ mệt thôi - Tôi đáp. Hắn chầm chậm gật đầu.
— Cứ suy nghĩ về lời của tôi - Hắn nói, đẩy cái ghế lui lại và đứng lên đi. Khi hắn đã đi khỏi, một cảm giác nào đó bắt đầu dâng lên trong tôi, một cơn điên dại. Tôi sẽ chạy, tôi nghĩ, một lần nữa ném bản thân vào thế giới, cảm giác này không thể kiểm soát được. Đôi bàn tay của tôi đang run rẩy, và dù tôi cố cách mấy chúng vẫn không thôi run.
*** Thoạt tiên tôi nghĩ tôi đã từng sống khoảnh khắc này rồi. Dường như thời gian tự lặp lại chính nó.
Lucan mỉm cười - Cậu không nghĩ là sẽ gặp tôi ở đây? - Tôi lắc đầu, lui lại một bước.
— Sao cậu lùi lại? - Hắn hỏi - Cậu sợ cái gì?
Hắn liếc quanh căn nhà bếp trống rỗng.
— Graves đâu?
— Ra ngoài - Tôi nói, nhưng hắn không đáp.
— Ông muốn gì? - Tôi hỏi, ước gì có thể bình tĩnh được, nhưng hắn đã bắt được một âm điệu nào đó trong giọng nói của tôi.
— Gì thế? - Hắn hỏi, tiến tới gần hơn - Một sự căm ghét như thế? - Với sự nặng nề trong đôi mắt hắn, tôi biết hắn đã say - Không phải tôi từng là bạn của cậu sao?
— Không - Tôi đáp - Không ghét.
Nhưng hắn giơ tay ra và chạm vào mặt tôi, mấy chiếc nhẫn của hắn ép vào da tôi lạnh ngắt, cử chỉ đó gần như dịu dàng.
— Sự căm ghét thì tốt. Nó khiến chúng ta mạnh mẽ hơn - Trong lúc hắn nói, có gì đó quặn lại trong tôi. Không phải sự căm ghét, không hoàn toàn, cũng không phải nỗi sợ hãi, mà cái gì đó giống hơn với sự dịu dàng, thấm thía, đau đớn và mạnh bạo. Hắn giữ gương mặt tôi, chậm rãi xoay đi, mùi rượu từ hắn tỏa ra nồng nặc.
Dường như hắn định nói nhiều hơn, nhưng lúc đó có ai đó đang cố thở thật khẽ trên cầu thang, và Caley đứng đó, sau lưng là Walker. Ngay lúc ấy Graves xuất hiện ở cánh cửa mở ra sân. Không ai trong chúng tôi nhúc nhích.
— Vậy, nó là thật - Lucan lặng lẽ nói.
Caley lui lại, thân hình hắn căng lên, giống như một đứa bé trước sự hiện diện của một vật nào đó đã ao ước từ lâu nhưng bị cấm sờ vào. Ở cánh cửa mở ra sân, Graves vẫn đứng bất động một cách kỳ quặc, miệng hơi há ra.
— Sao? Lucan hỏi - Cậu không nghĩ là tôi sẽ phát hiện ra cậu hả?
Caley vẫn không đáp, có dáng bộ như chuẩn bị bỏ chạy. Sau lưng hắn Walker run lên, hơi thở hổn hển phát ra qua cái mồm méo mó. Lucan chậm rãi hạ tay xuống, và lúc đó tôi lùi lại.
— Cậu nghĩ cậu có thể lấy thứ này từ tôi phải không? Một thằng Ái Nhĩ Lan đầu đường xó chợ như cậu?
— Không - Caley nói - Ông đã đổ oan cho tôi, ông già - Giọng hắn run lên vì giận, nhưng Lucan chỉ cười to.
— Tôi đổ oan cho cậu? Bằng cách khiến cậu bị đi tù? - Lucan khịt mũi và quay lại. Caley nhìn hắn chòng chọc. Trông hắn giống như bị đánh, nhưng rồi hắn rút con dao khỏi thắt lưng và tiến tới một bước. Lucan quay lại, sự khinh miệt hiện lên trên mặt.
— Cậu nghĩ tôi sợ cậu sao? - Hắn hỏi. Caley nhích chân, con dao xoay tròn trước mặt hắn.
— Sao nó phải là của ông chứ?
Lucan bật cười - Vì tôi biến nó thành của tôi - Giọng hắn trầm. Caley vẫn dao động giữa lòng căm ghét và nỗi sợ. Nhìn qua hắn, Lucan tìm kiếm ánh mắt của Walker.
— Đi nào, Walker - Hắn nói - Giờ hãy rời khỏi đây với tôi và tôi sẽ quên vai trò của cậu trong vụ này.
Mặt của Walker không còn chút máu và nhăn nhúm lại, nhưng Lucan đã tiên đoán được một điều gì đó trong hắn. Dù vậy, hắn không đi theo. Cuối cùng Lucan nhìn Caley lần nữa và cười to, và lúc đó cánh tay Caley nao núng rồi hạ xuống.
— Hãy nhớ vụ này - Lucan nói, một lần nữa quay ra cửa. Sau lưng hắn, Caley đứng nhìn chòng chọc vào con dao trên tay mình. Tôi run lên, tôi nhận biết, đôi chân tôi nhũn ra. Nó đã kết thúc.
Thế rồi, hoàn toàn đột ngột, Caley nhướng mắt lên, bàn tay hắn xiết chặt quanh cán dao. Hắn bắt đầu lao tới, Lucan quay lại quá muộn để nhìn thấy hắn ở đó, và với một nhát đâm, Caley cắm con dao vào ngực Lucan, mắt hắn sáng rực với những giọt lệ.
Có một khoảnh khắc ngưng đọng khi lưỡi dao cắm vào người hắn, rồi tất cả lặng đi. Như thể thời gian chậm lại, và trong khoảnh khắc đó mọi chuyện đều có thể. Trên mặt Lucan hiện lên vẻ gì đó, không phải sợ hãi, mà là không thể tin. Tay áp sát vào ngực Lucan, Caley không nhúc nhích, như thể hắn không thể hoàn toàn tin vào điều mà hắn vừa thực hiện. Thế rồi từ miệng của Lucan ọc ra một búng máu, đặc và gần như đen. Đôi gối của hắn dường như run bắn lên, một cử động co giật. Caley buông con dao ra và lui lại một bước, thế rồi đôi chân của Lucan bắt đầu quỵ xuống, sức nặng của hắn khiến hắn quỳ trên hai gối. Hắn giơ tay lên sờ vào con dao ở chỗ nó nhú ra trên ngực hắn, nét mặt hắn vẫn còn có vẻ bị sốc, nhưng dường như bàn tay không thể nắm lại quanh cán dao, thay vì thế nó quờ quạng trong không khí, một lần, hai lần, rồi cuối cùng hắn té úp mặt xuống đất.
Không ai trong chúng tôi nhúc nhích suốt một hồi lâu, chỉ đứng nhìn thân hình hắn trên mặt đất. Hắn nằm co trên sàn, cái cán dao của Caley thò cao trên ngực. Sau lưng hắn, một vũng máu đang loang ra, chậm chạp tràn qua những phiến đá, dày và thẫm màu như dầu rỉ ra từ những vết nứt.
— Anh đã làm gì? - Cuối cùng tôi hỏi. Vì lý do nào đó, những từ này có vẻ quá lớn, không tự nhiên.
Mặt của Caley xám ngoét như tro, ngây dại. Tựa vào tường, cả Walker cũng bất động. Chỉ có Graves đang di chuyển, hai bàn tay mở ra nắm lại trong lúc hắn run rẩy trước lò sưởi.
— Anh đã làm gì vậy? - Tôi hỏi lại, và Caley lắc đầu. Có lẽ hắn sẽ chối bỏ chuyện này, viện ra một sự vô tình nào đó, nhưng rồi mặt hắn đanh lại.
— Đã giết ông ta - Hắn nói, và dù những lời của hắn chắc chắn, giọng của hắn có vẻ hoang mang - Lẽ ra tôi đã làm điều này từ lâu mới phải.
Có gì đó quặn lại trong ruột gan tôi, một cơn thịnh nộ. Vì lý do nào đó, nó khiến tôi thấy hài lòng, cái việc hắn đã làm. Cả hắn cũng cảm thấy nó, nó hiện ra trên mặt hắn, cái vẻ xanh xao của hắn, cơn chấn động buồn nôn của khả năng. Cạnh tôi, Graves đã dừng lại, và đứng nhìn xuống, mặt hắn đỏ bừng vì kích động, như thể hắn không thể kềm nhìn sang chỗ khác.
*** Chúng tôi đặt thân thể vẫn còn ấm hơi sự sống vừa qua của hắn trong bóng tối bên dưới sàn nhà. Có gì đó không thể cưỡng lại ở việc này, tất cả chúng tôi có thể cảm thấy nó. Khi chúng tôi vác hắn xuống cầu thang, Graves ba hoa nói, giơ cả hai bàn tay nôn nóng ra như thể để giúp đỡ, nhưng mỗi lần như thế tôi lại đẩy hắn ra.
Sau đó, trong nhà bếp, hắn ngồi trên ghế, đu đưa tới lui, mắt dán vào vết máu trên những phiến đá một cách kích động, giọng hắn đều đều cất lên với những câu chuyện tếu táo để che lấp thực tế mà chúng tôi không thể nói. Bất kể sự điên cuồng nào đã tác động tới Caley lúc nãy giờ đã thay đổi, hắn uống và nhìn quanh như lảo đảo bên lề thống khổ, và phải uống để xóa bỏ chuyện này. Khi nhìn hắn, cả tôi cũng muốn rời xa khỏi nơi này, khỏi vụ này, nhưng tôi không thể đi, không thể rứt ra được. Chỉ có Walker dường như không chia sẻ cảm giác đó, gương mặt bị tàn phá của hắn phờ phạc và nhăn nhúm. Tôi không thể nhìn hắn, vì có cái gì đó trong thái độ của hắn, trong vẻ mặt hối tiếc của hắn, dường như quá dễ sợ đối với tôi đêm nay.
 
 
 
21  
Chúng tôi lưu lại đây một hai ngày, chờ Craven tới tìm Lucan. Hắn phải biết có chuyện gì đó không ổn, và do đó sẽ tới, tôi chắc chắn. Thoạt tiên tôi nghĩ việc này khiến tôi sợ hãi, nhưng khi hai ngày trôi qua dần tôi nhận ra mình không quá sợ như vẫn tưởng, như thể Craven không còn khả năng làm hại tôi được nữa.
Trong thời gian đó, sự hiện diện của thi thể hắn trong cái giỏ đựng than bên dưới nhà giống như một gánh nặng tăng lên theo từng ngày, nặng trĩu như đợt thủy triều. Nhận thức về nó dường như đang phình lên trong lòng Graves, một điều mà hắn không thể quên hay gạt bỏ. Hắn cứ lẳng nhẳng đi theo tôi, gây chú ý trong nhu cầu được nói về điều đó. Cả Caley cũng thay đổi, dù trong lúc Graves ngày càng tỏ ra cần tới mọi người, Caley ngày càng trở nên lặng lẽ và xa lánh hơn.
Bên ngoài sương trĩu nặng, những ngày trôi qua trong một ánh sáng nhờ nhờ hầu như vô hình thể. Một đôi lần, tôi mạo hiểm ra ngoài, khi thì để mua thuốc phiện, khi để uống hay chỉ để đi tản bộ, nhưng đa phần tôi ở lì trong phòng mình. Tôi không ngủ, hoặc ngủ rất ít, những giờ khắc lướt qua, như thể tôi đang trượt qua bề mặt của những giấc mơ. Tôi biết rất rõ tôi dùng quá nhiều thuốc phiện, nhưng dường như nhượng bộ cho nhu cầu thì dễ hơn nhiều so với việc đấu tranh.
Chúng tôi hầu như không làm việc, dù những đêm đó rất kín đáo, phủ kín bởi sương mù và cái lạnh. Một lần chúng tôi tới Bethnal Green, một lần tới St Giles, nhưng mỗi lần như vậy chúng tôi chỉ lấy được một cái xác, đáng giá mười ghi-nê, không hơn.
Và một đêm nọ cái xác của Lucan biến mất, bị cuỗm đi như thể chưa bao giờ ở đó, khoảng không gian trong cái giỏ đựng than nơi hắn từng nằm trống rỗng.
*** Thế rồi việc đó đến, tựa như đã luôn là thế. Âm thanh của tiếng cười, giọng của một phụ nữ. Tôi xuống thang và nhìn thấy Caley ở đó, và Graves, hai người bọn họ đang đứng bên ngoài cửa phòng của Graves trong một cuộc hội đàm bí mật nào đó. Ở góc nhà Walker đứng một mình, thân hình vặn vẹo. Graves nhìn quanh, cung cách của hắn báo cho tôi biết ngay có cái gì đó đang diễn ra.
— Gì vậy? - Tôi hỏi. Graves ném một cái nhìn sang Caley. Gã kia mỉm cười như thể hắn có một bí mật mà hắn muốn dùng để chế nhạo tôi.
— Không có gì nhiều - Hắn nói, mỉm cười non nớt. Mặt hắn tái nhợt, giống hệt như cái đêm đó, sự hoang dại đó. Trong bụng tôi có cái gì đó quặn lại. Như thể Caley đã nói một câu đùa, Graves bắt đầu cười phá lên với giọng cười ngốc nghếch của hắn. Đôi chân của tôi run lên khi tôi bước tới cửa; Caley không di chuyển để ngăn tôi lại, chỉ đứng né sang bên để tôi đi qua.
Trên giường của Graves, một bà già ngồi tựa vào tường. Bà ta mặc một tấm váy rách tả tơi, đầy bùn đất và quấn quanh người một chiếc khăn choàng bẩn thỉu, trên tay bà ta là một chai rum. Nghe thấy tôi tới, bà ta ngẩng lên, dường như đang đánh hơi không khí và nhấp nháy đôi mắt cận thị.
— Tom hả? - Bà ta hỏi. Tôi bối rối nhìn quanh, và trong lúc đó Caley và Graves tới gần, đi ngang qua tôi để vào phòng.
— Không - Graves đáp, hầu như không thể kềm chế bản thân - Chỉ là một người bạn, một người bạn khác - Mắt hắn sáng lên một niềm vui bệnh hoạn, đôi mắt lé của hắn dường như nhìn khắp mọi nơi ngoại trừ tôi. Tiến tới chỗ bà ta, hắn đưa một tay ra để nhắc cho bà ta nhớ tới cái chai trong tay mình.
— Nó sẽ sớm tới đây chứ? - Bà ta hỏi, và Graves cười khúc khích.
— Rất sớm - Hắn nói, ấn chai rượu lên tay bà ta - Uống đi nào - Vừa cười lặng lẽ, bà ta vừa tham lam nhấc cái chai lên, liếm môi và nốc xì xụp. Cái mồm không còn răng của bà ta giãn ra khi uống, đôi môi nhăn nheo ướt và kinh khủng. Quay lại chúng tôi, Graves hơi nhảy cởn lên, hai tay giơ lên ngực. Tôi có thể nghe hơi thở của Caley di chuyển vào ra bên cạnh, nóng và gấp gáp.
— Bà ta là ai? - Tôi hỏi.
— Cậu không nghe sao? Bà ta là mẹ của Tom - Hắn đáp. Và khi đó tôi chợt hiểu. Điều này là sai, tôi biết rất rõ là thế. Nhưng nó có sức mạnh của chính nó. Và cả một dạng tự do nào đó nữa. Caley chậm rãi di chuyển tới gần nơi người phụ nữ đang ngồi.
— Tom hả? - Bà ta hỏi, và Caley bật cười. Trông hắn rất trẻ, tôi nghĩ, và khủng khiếp.
— Không - Hắn nói - Không phải Tom; và hắn đặt một bàn tay lên đầu bà ta để sờ tóc của bà ta. Bà ta uống ừng ực, khom đầu về phía hắn, theo một điệu bộ ỏng ẹo bắt chước con gái. Graves đang đứng, bàn tay mở ra nắm lại, có thể sờ được niềm phấn khích của hắn. Caley giơ tay lên vuốt tóc bà ta, tôi thấy rợn da gà mỗi lần nó hạ xuống đầu bà ta. Tựa người vào hắn, bà già lẩm bẩm gì đó, và Caley cười lặng lẽ, tỏ vẻ quan tâm. Thế rồi đột nhiên hắn túm lấy tóc của bà ra và quấn chặt nó quanh bàn tay mình, lôi bà ta ngược xuống sàn nhà trước mặt tôi. Cử động này nhanh như một con rắn, rất sốc ở sự tàn bạo của nó. Lúc này hoảng sợ, bà già kêu lên.
— Mày đang làm gì thế? Bà ta rên rỉ. Nhưng Caley chỉ cười to, một tay giữ bà ta, tay kia đặt quanh cổ bà ta.
— Xin đừng - Bà ta nức nở - Tôi có tiền, một siling, cậu có thể lấy nó - Nhưng Caley dường như không nghe thấy, nắm tay của hắn siết lại quanh cổ bà ta. Bà già bắt đầu đá và vùng vẫy, vặn vẹo thân hình và đấm vào hắn.
— Giữ yên bà ta nào - Hắn la lên, nhưng tôi không nhúc nhích, cả Graves cũng thế. Trông thật dễ sợ, cái cách hắn giữ bà ta ở đó, bộ mặt tái nhợt và đôi môi nũng nịu của hắn. Bà già dùng móng tay cào vào cổ hắn, làm tóe máu, nhưng dường như Caley không cảm thấy nó, lại hét gọi tôi nắm lấy hai cánh tay của bà ta, đè bà ta xuống. Và lần này tôi làm, bước tới giúp đè bà ta xuống.
Lúc này tôi nhận ra hắn đang thì thầm những lời có thể là lời âu yếm, những lời của tình yêu tạo ra từ những lời của sự căm ghét.
— Không - Bà già rên rỉ - Buông tôi ra. Tôi muốn thằng Tom của tôi - Caley nắm góc khăn choàng của bà ta và với hai ngón tay nhét nó vào miệng bà ta. Tôi nghĩ bà ta sẽ cắn vào bàn tay hắn, nhưng bà ta nôn ọe và nhổ, điên cuồng và khiếp hãi, trong lúc đó, hắn nhét nhiều hơn, lèn chặt nó, cho tới khi không thể nhồi nhét thêm được. Mắt bà ta mở to, lồi ra - trước kia màu xanh trời, tôi nghĩ, nhưng giờ vàng ố như chất nicotine và phủ một màn đỏ. Calery đã thôi nói, tập trung vào công việc này với một sự rõ ràng đáng sợ. Với bàn tay còn lại, hắn kẹp chặt mũi bà ta và vặn nó, và dù bà ta vùng vẫy và phát ra một âm thanh nghèn nghẹn, bà ta không thể giãy ra khỏi hắn. Hắn rất im lặng, có vẻ thế, ngay cả trong lúc bà ta giẫy giụa và quằn quại, cứ tiếp diễn như thế cho tới khi nó đột ngột kết thúc, và bà ta bất động.
Suốt một lúc lâu tôi không nhúc nhích. Dưới hai bàn tay tôi bà ta không còn vùng vẫy hay xô đẩy nữa. Cuối cùng, tôi buông tay thả bà ta ra và đứng lên. Tất cả vẫn như lúc nãy thế nhưng không có gì giống như cũ nữa: bên cạnh, Graves vẫn đứng run rẩy với niềm phấn khích, một bàn tay giơ ra như muốn chạm vào bà ta nhưng sợ không dám làm thế. Caley đã đứng lên, máu ở cổ hắn nơi bị bà ta cào long lanh sáng. Từ mồm bà ta ló ra một góc khăn choàng, mặt bà ta đỏ bầm và đôi mắt lồi ra. Tôi không biết mình nên cảm thấy thế nào, chỉ có điều nó không nên giống thế này: tôi bình thản, và hơi tê cóng, như thể tôi vừa làm điều gì đó đã luôn chờ đợi tại đây, một điều gì đó không khác hơn chính bản thân hành động này. Caley nhướng mắt lên nhìn tôi, và vẻ hoang dại trong cái đêm Lucan chết lại hiện ra. Nhưng lần này tôi cũng nhìn thấy một thứ khác, một cảm giác giống như đau đớn, hay nhu cầu, như thể hắn cảm thấy một điều gì đó hắn từng tìm kiếm đã trôi xa.
Chúng tôi mang bà ta tới chỗ của Guy để bán cho người của ngài Atsley. Thân hình bà ta mềm oặt trong cái bao tời.
— Vẫn còn ấm - Barker nói khi hắn sờ vào bà ta, ngước mắt lên nhìn chúng tôi. Caley không trả lời, thân hình hắn căng lên, khoảnh khắc đó kéo dài cho tới khi tôi thấy sợ.
— Còn mới - Tôi nói - Không phải đó là điều mà ông chủ của anh đòi hỏi hay sao?
Barker nhìn tôi, rồi hắn mỉm cười.
— Quả thật là vậy - Hắn nói - Quả thật là vậy.
Khi chúng tôi quay trở lại Clerkenwell qua những đường phố tối, dường như tôi di chuyển ra khỏi chính mình. Thật lạ, nhưng tôi không cảm thấy có tội, cũng không hối hận, chỉ một cảm giác không có thật nào đó, như thể một phần nào đó của trần gian đã bị làm cho khác đi và không bao giờ có thể như cũ nữa. Có thể tôi đã say, hay hít quá nhiều thuốc phiện, hay màu sắc và âm thanh dường như rực rỡ hơn, lớn hơn, nhưng theo cách nào đó chợt xa xăm.
*** Việc tước bỏ một sự sống chỉ là chuyện nhỏ. Rốt lại cũng chẳng khó gì hơn việc nhổ một cái răng hay cắm mũi dao vào da thịt. Tôi có thể nói tôi đã làm điều đó vì tôi sợ bà ta sẽ phản bội chúng tôi, nhưng tôi không nói. Cũng không vì lạc thú, hay vì tôi mất kiểm soát, vì tôi vẫn thản nhiên, và tỉnh táo. Đúng hơn, tôi đã làm điều đó vì tôi có thể, vì trong khoảnh khắc đó, trong căn phòng đó, có vẻ như nó dễ hơn là không làm. Và vì trong việc thực hiện nó dường như có một dạng trốn thoát nào đó, như thể trong hành động đó tôi đã thay đổi, và trong những khoảnh khắc đó, tôi bất động, tự do.
*** Một tuần lướt qua, chảy trôi như nước. Chúng tôi không nói về những sự kiện đêm hôm đó, nhưng chúng luôn hiện diện ở đó, giữa chúng tôi, dao động và đầy sức mạnh. Ở bề ngoài, Graves có vẻ khác lạ nhất, hắn tỏ ra xuẩn ngốc hơn, như thể hắn nén giữ lại hơi thở của mình, ít cười hơn, sự chú ý của hắn đối với khách đến nhà ít xun xoe hơn, đòi hỏi nhiều hơn.
Nhưng cả Caley cũng thay đổi, tâm tính hắn u ám hơn, dứt khoát hơn. Lúc trước, sự tàn bạo trong người hắn dường như luôn sẵn sàng hé lộ, giờ đây hắn lặng lẽ hơn, điềm tĩnh hơn. Mấy ngày qua, tiền của tôi cũng đội nón ra đi, của hắn cũng thế, nhưng hắn chẳng cho thấy dấu hiệu muốn làm việc nào, chỉ ngồi trong bếp với Graves, Walker và tôi. Trong hắn có một sự cảnh giác nào đó, một điều gì đó ấp ủ, giày vò như trong một ổ chuột.
Một đêm, khi Rose tới gặp Graves, Caley không phản đối, cũng không đe dọa cô ta. Graves không thể giữ được bí mật với cô ta, và thật sự giờ đây cô ta rất cảnh giác đối với Caley, quan sát hắn như người ta quan sát một con chó mà người ta có lý do để không tin tưởng, cứng người lại với những nụ cười và thái độ quyến rũ của hắn với những ánh nhìn thận trọng và đôi bàn tay cảnh giác.
Kế tiếp là một thằng bé mà Caley đưa về nhà. Bà già đã chết mười ngày; Rose đang ngủ trong phòng của Graves. Dù hắn cười to, thằng bé đang trong một tâm trạng xấu. Graves và tôi đang ở trong bếp, và khi nhìn thấy chúng tôi ở đó, nó gọi chúng tôi là những tên đồng tính, và bảo chúng tôi nó sẽ cắm một mũi dao vào mông chúng tôi nếu chúng tôi chạm vào nó. Nó có một con dao và khoe ra với chúng tôi; một con dao xấu xí, lưỡi bị sứt mẻ. Thế nhưng nó nốc cạn ly rượu do Caley mời và ngồi xuống. Dù không ai nói lời nào, tôi biết đang có âm mưu gì ở đây.
Chúng tôi cho nó uống rượu rum và cồn thuốc phiện, chẳng bao lâu nó đã xỉn. Nó là một thằng bé bẩn thỉu, có nét mặt giận dữ đầy mụn nhọt và mái tóc quện thành từng búi, thế nhưng khi Caley sờ vào má nó nó không cưỡng lại, và chỉ quan sát tôi vì thế tôi biết nó là loại nhóc con nào.
— Cho bọn tao nhìn lại con dao nào - Caley nói, và với một nụ cười hiểu biết nó giơ con dao ra.
— Anh phải trả lại cho tôi - Nó nói và Cley mỉm cười khi hắn cầm lấy con dao. Graves đã thôi cười khúc khích.
— Ồ, vâng - Caley đáp - Ồ, vâng.
Khi thời điểm đó tới, nó chết một cách dễ dàng, mụ mị vì cồn thuốc phiện. Lần này tôi không giúp, chỉ quan sát khi Caley lấy một cái gối và đè lên mặt thằng bé. Có thể tôi đã thoát khỏi con người mình, như thể tôi không phải là người đang ngồi trong căn phòng này, như thể tôi đang ngủ và quan sát chuyện này trong một giấc mơ. Toàn bộ con người Caley tập trung vào việc tiến hành chuyện này, như thể hắn đang tìm kiếm một lời giải đáp ở đây, một sự giải thoát nào đó. Nhưng vào thời điểm thằng bé giãy chết, vung chân và giật nãy lên rồi trở nên bất động, Caley đột ngột hít một hơi dài, nhanh và gay gắt, và tôi nhìn thấy không phải là niềm vui mà sự mất mát đang run lên trong hắn, thoáng hiện rồi nhanh chóng biến đi.
*** Chúng tôi bán xác thằng bé cho người gác cổng của ngài Atsley giống như đã bán bà già mười ngày trước, nhận được tám ghi-nê, một số tiền quá nhỏ. Dù Graves không đi cùng chúng tôi, Caley chừa lại cho hắn một ghi-nê, nhét vào tay hắn khi chúng tôi quay về Clerkenwell. Nhận đồng tiền từ tay Caley, Graves đứng với dáng vẻ như thể hắn sợ rằng chúng tôi sẽ giật lại nó, rồi với một tiếng cười nghèn nghẹn hắn nhét đồng tiền vào áo khoác.
Tâm trạng của Caley rất xấu, như đang chập choạng trên vách núi. Vừa chậm rãi đi lại quanh phòng, hắn vừa nhặt những thứ đặt trên mặt lò sưởi để xem xét chúng. Hắn không thỏa mãn. Rồi hắn dừng lại cạnh cửa phòng của Graves. Rose đang ngủ bên trong. Caley bước qua cửa và ngồi xuống giường cạnh cô ta. Cô ta lẩm bẩm gì đó rồi hơi xoay người ra khỏi hắn, vẫn còn say ngủ. Graves chậm rãi bước tới cửa, gương mặt lé của hắn run giần giật. Bên cạnh tôi Walker ngồi bất động, thở phì phò. Mắt hắn sáng lên vì sợ và cả nước mắt, tôi nghĩ. Caley ngẩng lên nhìn Graves, rồi hắn buông tay xuống vuốt lên mái tóc của Rose, một lần, rồi lần nữa.
*** Kế tiếp là một gã què tên là Matthiesen, chúng tôi làm hắn chết ngạt giống như thằng bé. Bất chấp sự hom hem yếu ớt của mình, hắn vùng vẫy và đá, đấm vào mặt tôi khi chúng tôi đè hắn xuống giường, làm tôi gẫy một cái răng. Chúng tôi bán Matthiesen cho Brookes, nhận được mười hai ghi-nê, vì cái xác còn tươi. Brookes không quan tâm tới Caley, và dù Caley tỏ ra thận trọng và nhã nhặn, tôi nhìn thấy cách ông ta quan sát chúng tôi.
Sau đó, chúng tôi ngồi uống rượu trong nhà bếp của Graves. Bên ngoài mưa đang nặng hạt. Caley có một con dao, hắn ấn nó lên mặt bàn, vạch sâu qua lớp gỗ, cánh tay hắn căng lên vì dùng sức. Graves đang lẩm bẩm gì đó, tôi không biết là với chính hắn hoặc Rose. Walker ngồi trên sàn nhà, tách khỏi chúng tôi, co đôi gối lên cằm, nhìn Caley chòng chọc. Mắt hắn mở to và ướt, và lúc này tôi nhớ lại cách hắn nhìn sau khi chúng tôi giết thằng bé, như thể một điều gì đó hắn yêu quý đã chết đi, và giờ đây không còn gì có ý nghĩa nữa, không còn gì nữa.
*** Tôi không biết nó trở thành thói quen từ khi nào. Thoạt tiên có vẻ nó xảy ra một cách hiếm họa: một đêm chè chén say sưa, một người bạn mới, cuộc đi bộ về nhà. Nó giống như một trò chơi, những quy tắc mà mỗi chúng tôi đều thấu hiểu mà không cần phải nói. Nhưng thật ra nó không hiếm họa, hoặc không hoàn toàn như thế. Cả bọn chúng tôi đều biết chuyện gì sẽ tới mỗi lần nó bắt đầu, và nó run lên trong chúng tôi, sự đề phòng cũng bất khả cưỡng kháng giống như bản thân hành động.
Chúng tôi bán những cái xác ở nơi nào chúng tôi muốn; hẳn có vài nơi nghi ngờ nhưng không chỗ nào từ chối món hàng chúng tôi mang tới. Chỉ có ở chỗ Brookes là chúng tôi cảnh giác, Brooke và thầy Poll. Chúng tôi chia những món tiền kiếm được làm ba, một phần ba cho Walker, Caley và tôi, chừa lại một ghi-nê cho Graves. Và dù chúng tôi cần tiền, đôi khi nó giống như một ý nghĩ đến sau hành động, không dính dáng gì tới hành động làm ra nó.
Sau vụ Matthiesen là một ả Tô Cách Lan mà chúng tôi không biết tên, do Caley đưa về trong một đêm lạnh cóng với đề nghị cung cấp thức ăn và chỗ ngủ. Sau cô ta là một thanh niên chột mắt và hơi xuẩn ngốc, đi xin ăn vào những buổi sáng gần Clerkenwell Green. Chúng tôi cho hắn nốc cồn thuốc phiện rồi đè vải lên mũi hắn. Cả một thằng bé người Ý tên là Fido. Và nhiều người khác, hơn nửa tá người nữa, quá nhiều để có thể nhớ một cách dễ dàng, dù với mỗi người dường như có một sự thôi thúc nào đó trong chúng tôi, một cảm giác trượt xuống dốc.
Không phải tôi không hiểu bản chất những hành động của tôi, cũng không phải tôi cảm thấy có tội. Thế nhưng giờ đây, vì lý do nào đó, những việc này không có ý nghĩa gì, được nhìn thấy như từ một nơi chốn khác, một thời gian khác. Có lẽ là do thuốc phiện, nhưng dường như tôi không phải là người thực hiện những hành động đó, chẳng khác nào một kẻ mộng du giơ tay lên trong giấc ngủ, không hề có ý chí hay sự hiện diện của cánh tay. Như thể bản thân tôi trở nên trống rỗng, và việc này là một khoảng trống trong tôi.
*** Tôi ngồi dậy như thế, không trọng lượng. Đôi khi trong thời gian phi hình thể của những giờ khắc trôi qua tôi thức giấc do những giọng nói từ các căn phòng khác, những tiếng cười, những âm thanh đau đớn, những giấc mơ rời rạc của giấc ngủ mê man. Dưới mặt tôi là lớp len mỏng của tấm mền, da tôi lạnh cóng trong bầu không khí giá băng. Bên ngoài, thế giới chuyển động như một khoảng hư không.
Giờ đây chúng xảy ra thường xuyên hơn, hai lần mỗi tuần, đôi khi ba lần. Và chúng vẫn còn là số ít. Có lẽ trong những quán rượu của thành phố chúng tôi cứ làm mãi, làm mãi chuyện này nhưng vẫn còn cả hàng ngàn người ở đó. Một ai đó phải biết, một ai đó phải nhìn thấy. Nhưng không có lời đồn hay nỗi sợ nào rằng mọi người đột nhiên biến mất khỏi cuộc sống của họ, bị lôi đi và đặt lên bàn học mổ của một sinh viên nào đó. Chắc chắn là phải có những khoảng trống bị bỏ lại, tôi nghĩ, những người thân và bè bạn ghi dấu sự vắng mặt của họ? Thế nhưng ngay cả khi tôi ngồi trong những cửa tiệm nơi rượu gin được mang ra, hay trong chợ, tôi không nghe thấy một lời xì xầm nào về sự kinh hoàng này giữa đám đông. Có lẽ họ là những bóng ma, những người mà chúng tôi đã giết, vì những kẻ khác gây náo động ở khắp nơi để phủ kín vị trí của họ, những lớp nước của thành phố phủ lên trên họ quá dễ dàng, không ai nhớ tới và không ai nhắc đến, như thể họ chưa bao giờ tồn tại, chưa bao giờ thở.
 
 
 
22  
Lúc đầu, tôi không nhận ra hắn đã đi khỏi. Hắn lặng lẽ, thận trọng đến độ luôn giấu kín mọi thái độ của mình. Caley ngồi trên chiếc ghế cạnh lò sưởi, tay cầm một mảnh gỗ, hắn vừa huýt sáo vừa đi động con dao lui tới. Bên ngoài, thời tiết rét buốt, những đám mây lướt nhanh qua bầu trời chết lặng. Tôi cầm lấy chai rượu trên bàn và uống, ý thức được cái cách hắn không nhìn vào tôi. Chính lúc đó tôi nhận ra hắn không còn ở đó, rằng tôi không thấy hắn ở bất kỳ chỗ nào. Có một điều gì đó rất lạ lùng trong chuyện này.
— Walker đâu? - Tôi hỏi, nhưng Caley vẫn nhìn đăm đăm vào mảnh gỗ và con dao bận rộn của hắn. Ngực tôi quặn lại.
— Anh đã làm gì anh ta? - Tôi hỏi, nhưng hắn vẫn tiếp tục huýt sáo, con dao di động nhanh hơn. Tôi không thể rời mắt khỏi lưỡi dao.
— Sao anh không nói? - Tôi hỏi - Có chuyện gì mà anh không nói cho tôi biết?
Hắn vẫn ngồi ngậm miệng.
— Nói đi - Giọng tôi gay gắt hơn, run lên - Nói cho tôi biết anh ta đâu rồi - Tôi muốn tới gần hắn, đặt tay lên cánh tay hắn và quay mặt hắn sang nhìn tôi, nhưng tôi sợ ánh mắt chăm chú của hắn, chuyển động của con dao.
— Nói đi - Tôi lặp lại. Cuối cùng hắn đứng lên, quẳng mảnh gỗ vào góc phòng khiến nó lăn lộc cộc trên những phiến đá.
— Đã đi xa - Hắn nói, giọng vỡ ra, vẻ mặt hắn thách thức tôi phủ nhận lời nói đó. Đột nhiên trông hắn rất trẻ, lại trở thành một cậu bé, hầu như chỉ trạc tuổi tôi. Có gì đó giống như nỗi đau hơn là sự tức giận trên mặt hắn - nỗi đau và cảm xúc mãnh liệt đến mức tôi nghĩ hắn sẽ làm tổn thương chính mình.
*** Sau đó tôi thức giấc và thấy hắn cạnh giường tôi. Dù không có lý do gì, hắn chưa bao giờ vào phòng tôi trước đó, luôn nấn ná ở ngoài cửa, như thể hắn sợ những gì nó chứa đựng, hoặc sợ tôi. Lúc này hắn đang ngồi, lưng quay về phía tường, gối co lên. Có lẽ tôi nên sợ hắn, nhưng tôi không nghĩ hắn muốn làm hại tôi, vì dường như hắn quá lạc lõng tại đây. Hắn đang cầm vật gì đó trong tay. Lặng lẽ ngồi thẳng lên, tôi nhận ra đó là tấm mề đay của tôi. Hắn đưa một ngón tay rà theo gương mặt của mẹ tôi dưới lớp kính.
— Bà ta là mẹ cậu? - Hắn hỏi.
Tôi gật đầu không nói. Mắt hắn không rời khỏi nét mặt bà.
— Cậu có biết bà ta không?
Tôi lắc đầu, lặng lẽ đáp - Không. Còn mẹ anh?... Anh có nhớ bà ta không?
Mặt hắn nhăn lại - Đôi khi - Hắn nói. Lắng nghe giọng Ái Nhĩ Lan đều đều của hắn, tôi cố hình dung ra khu ổ chuột Dublin nơi hắn chào đời.
— Giá mà tôi có một tấm hình của bà ấy, có lẽ tôi sẽ nhớ nhiều hơn.
— Có lẽ - Tôi đồng ý. Hắn nhìn vào tấm mề đay của tôi một lúc lâu. Khi hắn lại cất tiếng, giọng hắn lặng lẽ hơn.
— Nó không như cậu nghĩ đâu.
— Cái gì?
— Tôi phải làm chuyện đó, anh ta không cho tôi chọn lựa. Anh ta không hiểu - Hắn quay sang nhìn tôi, mắt hắn tìm kiếm sự chú ý của tôi, đòi hỏi nhiều đến độ tôi không thể đáp ứng được. Cuối cùng tôi gật đầu và nhìn sang chỗ khác.
— Vâng - Tôi nói, dù có gì đó đang dâng lên trong tôi trái hẳn với lời tôi nói - Tôi hiểu.
Sau khi hắn đi khỏi, tôi mở nút chai và uống, mong ước rời xa khỏi nơi này. Thuốc phiện đắng ngắt, một vị chua trong cổ họng tôi. Hôm qua tôi đã đi bộ một mình qua những đường phố của Bloomsbury, nhìn vào những ô cửa sổ. Những người đàn ông và phụ nữ di động trong thế giới ánh sáng bé nhỏ của họ, nói cười, đọc sách và nghe nhạc. Tôi đã ước gì tôi có thể tới với họ, ngồi trong nhà, và một lần nữa trở thành một trong số họ. Nhưng tôi biết tôi không thể, rằng tôi đã di chuyển ra bên ngoài thế giới, xa xăm.
Với sự biến mất của Walker, một khác biệt khác đã xuất hiện giữa ba chúng tôi. Giờ đây chúng tôi ràng buộc vào nhau, cả bọn đều biết điều đó. Caley có vẻ hoang dại hơn, tâm trạng hắn gắt gỏng hơn, thế nhưng cũng lặng lẽ hơn. Dù chúng tôi ít khi nói, giờ đây giữa chúng tôi có một mối dây thân mật, một cảm giác rằng chúng tôi hiểu được tâm trí của người kia hơn mức chúng tôi quan tâm.
Cả Graves cũng suy đoán khi thấy Walker biến mất, nhưng kềm câu hỏi của hắn lại. Trong khi trước kia hắn bợ đỡ Caley, giờ đây dường như hắn gần như sợ Caley, thích lẩm bẩm một mình cạnh lò sưởi hơn. Có lần trong sảnh hắn tới gần tôi, đôi mắt lé nhìn tôi chòng chọc, đặt một tay lên ngực tôi và hỏi tôi có biết chuyện đó không, Walker đã làm gì. Nhưng sự mê hoặc ít oi của hắn đẩy lùi tôi lại, và tôi rời khỏi hắn, không nói lời nào, đi ào ngang qua hắn trở về phòng mình.
Đêm đó hắn xa lạ với chúng tôi, xa vắng và kỳ dị, và khi Caley đi vòng vòng quanh hắn, hắn lùi ra xa, giơ tay lên và cười khúc khích như thể rối trí trước khi bắt đầu khóc rưng rức. Trong một đêm khác tôi có thể nghĩ đây là những dấu hiệu của một sự ân hận nào đó, nhưng hắn thích thú với công việc mà chúng tôi làm.
Tôi nên quan tâm, tôi biết, nhưng tôi không màng. Với từng người bọn họ, có một cái gì đó âm ỉ bên trong tôi. Thậm chí khi nó lưu giữ tôi lại đây tôi vẫn cảm thấy tuyệt vọng, một cảm nhận không phải điều này là sai mà rằng tôi đã thất bại theo cách nào đó. Về một vật gì đó trước kia từng nằm trong tay tôi và đã thoát đi.
*** Ở cạnh nhà ga St Pancras, nơi dây thường xuân phủ khắp tường và dòng nước ri rỉ ngấm qua mặt đá, tôi nghe một tiếng động, một âm thanh của súng được lén lút lên cò. Từ bóng tối phía trước, ló ra hình dáng của Craven. Tôi biết đó là hắn ngay lập tức do cái cách hắn di chuyển, điệu bộ lom khom của thân hình hắn. Sau lưng hắn là Bridie, và một gã khác mà tôi không biết. Trong tay Craven là một khẩu súng ngắn, và hắn giơ tay lên chĩa về phía chúng tôi.
— Vậy chuyện là có thật - Hắn nói.
Cái xe cút kít trong tay tôi nặng trĩu, tôi cẩn thận hạ nó xuống, không chắc hắn định làm gì. Ở trước mặt tôi, Caley không nhúc nhích, chỉ đứng nhìn chòng chọc vào họng súng.
— Các anh có việc gì ở đây? - Hắn hỏi.
— Tôi có thể hỏi cậu câu tương tự - Craven đáp. Bước tới gần hơn, hắn giơ tay về phía cái xe cút kít, khẩu súng vẫn giơ cao. Hắn kéo mấy que củi che bên trên mấy bóhàng của chúng tôi.
Có gì đó khiến hắn khó chịu, có gì đó mà hắn chưa hoàn toàn thấu hiểu. Caley tiến tới một bước, nhưng Craven chĩa súng vào hắn.
— Cái bóng của cậu đâu - Hắn hỏi - Cái con chó khốn khổ mà cậu gọi là bạn ấy?
Trong khoảnh khắc, tôi nghĩ Caley sẽ lao vào hắn, nhưng Caley đứng im. Thế rồi Craven hạ mũi súng xuống và quay sang tôi.
— Trước kia tôi từng bảo rằng chúng tôi là lũ ngu ngốc khi cho phép cậu gần gũi - Hắn nói - Giờ tôi biết là tôi đúng.
Khi họ đã bỏ đi, Caley và tôi trùm chiếc xe lại và lên đường, không ai muốn nhìn vào mắt của người kia. Caley đẩy mạnh chiếc xe, bước một cách giận dữ. Tôi đi theo, dù không gần hắn, một cảm giác nào đó quặn thắt trong tôi. Tôi có thể nghe hơi thở của Caley, nặng nề và nóng bỏng, và mạch máu trong đầu tôi đập mạnh, như những lượn sóng nghe từ một quãng xa.
*** Tôi đang ngồi cạnh lò sưởi trong bếp với Graves thì Caley bước vào. Graves ngẩng lên nhìn qua bàn, và tôi nhận thấy vẻ sợ hãi trên mặt hắn. Suốt đêm hắn vẫn lặng im thin thít, nhưng cho tới lúc này tôi không nghĩ gì tới việc đó.
— Cô ta đâu? - Caley hỏi, tới gần ghế của Graves.
— Ai? - Graves giật mình và lùi lại.
— Đừng nói dối tôi - Caley tóm lấy cổ áo của Graves và đẩy hắn ngã ngửa ra. Dù Graves cao hơn cả nửa cái đầu, tôi nhìn thấy sức mạnh trong cánh tay của Caley.
— Chuyện gì vậy? - Tôi hỏi, nhổm lên.
— Hắn đã phản bội chúng ta - Caley nói - Nói với già Barker hắn có một cái xác để bán.
— Không - Graves rên rỉ - Tôi sẽ chia phần với các anh mà.
Caley lắc đầu - Cô ta đâu? Anh đã làm gì với cô ta?
Graves bắt đầu khóc, và ngay tức khắc Caley rút ra từ thắt lưng hắn một con dao, dí vào cổ Graves.
— Đừng coi thường tôi - Hắn nói, đè Graves quỳ xuống.
— Xin anh - Graves lắp bắp - Tôi không định làm chuyện đó. Nó là chuyện tình cờ.
Caley ấn mạnh con dao vào cổ hắn - Tôi sẽ không hỏi lại lần nữa.
— Xin thương tình - Graves kêu lên. Caley buông hắn ra và hắn loạng choạng đứng lên, một tay sờ vào cổ để kiểm tra xem nó có nguyên vẹn hay không. Vẫn còn khóc rưng rức, hắn nhìn từ Caley sang tôi rồi quay trở lại Caley. Caley bước tới trước, lại giơ con dao lên. Graves lùi lại.
— Đừng - Hắn nói - Tôi sẽ chỉ cho anh.
Hắn đưa chúng tôi xuống tầng hầm, nơi cô gái nằm trong cái giỏ đựng than, một cánh tay vắt chéo ra sau một cách không tự nhiên, bàn tay cô ta co quắp lại. Cô ta còn trẻ, và xinh xắn, dù đen nhẻm vì than. Mặt cô ta trầy xước, và mồm há hốc, nhưng không có dấu hiệu khác của cái chết. Thế nhưng khi Caley và tôi kéo cô ta ra, chúng tôi nhìn thấy gáy của cô ta đã bị đập bằng dùi cui, cái sọ là một khối xương vụn vỡ và máu vón thành cục. Cô ta đã cứng, và chúng tôi phải làm cho tứ chi của cô ta mềm lại, đưa nó trở về vẻ ngoài bình thường. Sau lưng chúng tôi, Graves đã ngưng khóc lóc, và dù hắn không tới gần, hắn nói khi chúng tôi đang làm việc.
— Anh sẽ trả tiền cho tôi chứ, phải không? - Hắn khụt khịt. Caley quay sang hắn rồi nhìn đi chỗ khác, mặt và đôi tay hắn dính đầy than.
— Tôi sẽ không cho anh gì cả để dạy cho anh sự trung thực - Hắn nói.
Graves chỉ tôi - Thế nhưng cậu ta sẽ có một nửa cho việc mang cô ta tới những tay phẫu thuật khốn kiếp?
— Phải - Caley nói, rồi mỉm cười, thò tay vào áo khoác.
— Đây - Hắn lặng lẽ nói, rút ra hai đồng xôvơren - Giờ cứ nhận số tiền này rồi quên vụ này đi.
Graves giận dỗi chìa tay ra, nhưng khi đó Caley tóm lấy cổ tay hắn và kéo hắn sát lại.
— Cứ phản bội chúng tôi lần nữa, và chúng tôi sẽ bán xác của anh - Hắn rít lên, mồm hắn áp sát vào tai Graves.
*** Vầng trăng treo lơ lửng trên bầu trời như một con mắt nhợt nhạt. Da tôi rờn rợn, sống động với tiếng thì thầm xung quanh. Lại dùng quá nhiều thuốc phiện. Đêm lạnh buốt, nhưng tôi nấn ná trên những con đường. Tôi cảm thấy một sự gãy đổ trong bề mặt của trần gian, và sự di động của thứ nằm bên dưới.
Tôi chạm trán Graves trên đường, ở trước một quán rượu gần Clerkenwell Green.
Thoạt tiên hắn không nhìn thấy tôi, nhưng khi tôi tới gần hắn quay lại, và bắt đầu thu người lại, và tôi biết có gì đó không ổn.
Hắn đi cùng hai gã khác, có lẽ là thợ dệt, và họ quan sát tôi một cách ngờ vực.
— Không - Hắn rên rỉ - Đừng để hắn ta tới gần tôi.
Trong lúc Graves nói, một trong hai gã kia tới gần tôi, Graves co người lại sau lưng hắn.
— Graves - Tôi nói - Sao anh trốn tránh tôi?
— Vì cậu định giết tôi - Hắn đáp. Lời của hắn khiến tôi lo lắng, nhưng tôi nhìn hai gã kia và nhún vai.
— Anh ta là một người bạn - Tôi nói - Tôi không hề có ý định làm hại anh ta.
— Anh ta bảo anh ta biết nơi ở của những tên trộm xác người - Gã lớn con hơn nói, giọng hắn hàm ý rằng tôi phải là một trong số đó.
Tôi lắc đầu:
— Anh ta uống say quá nên trở thành ngốc nghếch.
Nhìn lướt qua họ, tôi mỉm cười với Graves.
— Tới đây nào, chúng ta không phải là bạn hay sao?
Graves nhìn tôi chòng chọc một hồi, rồi lảo đảo tới gần.
— Cậu ta không phải là người tôi sợ - Hắn nói, giọng hắn có vẻ phỉnh nịnh, nghe giống giọng của một đứa trẻ hơn bao giờ hết. Tôi nhìn lần lượt từng người bảo vệ của hắn.
— Tôi nghĩ nếu anh ta vào nhà sẽ tốt hơn. Đêm nay trời lạnh và anh ta có thể bị tổn hại.
Họ đứng trước mặt tôi giây lát, như thể không dứt khoát, rồi họ bước tránh sang bên, không nói lời nào, và tôi khoác tay Graves.
— Đi nào - Tôi nói, cố hết sức tỏ ra vui vẻ - Tôi sẽ giúp anh về nhà.
Dưới ánh trăng, tuyết dường như sáng lóng lánh, những dấu chân sẫm tối nằm trên nó như những vũng nước. Trong lúc chúng tôi bước đi, Graves níu tay áo của tôi:
— Tôi không kham nổi bản thân mình, tôi thật đáng nguyền rủa, tất cả chúng ta đều đáng nguyền rủa.
Tôi muốn tát hắn, vì lời nói ngu xuẩn này sẽ phản bội chúng tôi, nếu nó chưa gây ra điều đó. Thay vì thế, tôi đưa hắn đi xuôi theo một con hẻm hẹp tới cửa nhà chúng tôi. Tôi không chắc mình định làm gì, ngoài việc bỏ lại hắn ở đó và đi tìm Caley. Nhưng Caley đã ngồi sẵn trong nhà. Nhìn thấy hắn, Graves co người lùi lại, nhưng tôi không cho hắn chạy thoát, đẩy hắn qua cửa rồi khép nó lại sau lưng.
— Cậu tìm thấy anh ta ở đâu? - Caley hỏi.
— Trong một quán rượu, đang khẩn cầu cho linh hồn của anh ta.
— Một con chó cũng có linh hồn sao? - Caley hỏi, quan sát hắn, và đột nhiên tôi biết tôi đã không nhìn thấy toàn bộ chuyện này. Nhưng rồi Caley làm cho tôi ngạc nhiên bằng cách tới gần Graves, nắm lấy cánh tay hắn với vẻ quan tâm.
— Ngồi xuống đi - Caley nói. Graves phó mặc cho Caley dẫn hắn tới chỗ ngồi cạnh lò sưởi. Ở đó, Caley mời hắn một ly, và trong khoảnh khắc, dường như tất cả đã được phục hồi giữa họ.
— Anh nên cẩn thận - Caley nói - Nếu chúng ta bị phát hiện, tất cả sẽ bị treo cổ.
Graves khụt khịt nốc rượu, nhìn chúng tôi chòng chọc.
— Các cậu đã làm gì để đáng bị treo cổ?
— Cả anh cũng đã làm việc đó - Tôi nói.
Graves nhìn tôi - Có lẽ tôi đã làm, nhưng ít ra tôi không phải là một tên trộm xác người đáng nguyền rủa - Rồi hắn cười khúc khích, âm thanh ngốc nghếch đó nghe không thích hợp chút nào.
Sau lưng hắn, Caley đã rút ra vật gì đó. Có lẽ Graves nhìn thấy chuyển động của ánh mắt tôi, vì hắn bắt đầu quay lại, nhưng lúc đó Caley vung tay lên và cắm một cái đục vào đầu hắn. Mọi chuyện diễn ra không quá một giây, có lẽ ít hơn, nhưng dường như nó diễn ra một cách chậm chạp đến nỗi có thể tháo gỡ từng phần của nó: vẻ mặt của Caley, chuyển động giơ lên rồi hạ xuống của cái đục; sự nhận biết của Graves đối với sự việc sẽ tới; thế rồi, ngay khi họ tách rời nhau ra, dường như họ xáp lại gần nhau, quỵ vào nhau trong một chuyển động đột ngột, chỉ để gặp nhau trong một tiếng lạo xạo kinh tởm khi lưỡi đục cắm vào sọ của Graves.
Graves không té hoặc quỵ xuống, thay vì thế hắn nghèn nghẹn kêu lên rồi loạng choạng. Thoạt tiên tôi nghĩ vì lý do nào đó tôi đã hiểu nhầm, rằng cú đâm đã bị trượt, hay trúng vào một chỗ không quan trọng, nhưng rồi tôi nhìn thấy cái cán đục ló ra từ sau gáy hắn, lưỡi đục ngập sâu nhiều phân vào bên trong.
— Ôi, không - Graves kêu lên, đưa tay ra sau mò mẫm - Anh đã làm gì? - Hắn nắm lấy cán đục như thể hoàn toàn không thể tin nổi hắn đã tìm thấy cái gì.
— Tố cáo tôi - Caley rít lên - Anh sẽ tố cáo tôi phải không?
— Tôi không bao giờ cáo giác cậu - Garves đáp - Và giờ cậu giết tôi - Hắn nắm lấy cán đục, nhưng không thể cố rút nó ra. Máu bắt đầu phun ra từ vết thương và chảy xuống ướt đầm cổ áo của hắn.
Graves quay lại nhìn tôi, giơ một tay ra.
— Xin cậu - Hắn thì thào - Giúp tôi kéo nó ra - Hắn đột nhiên lảo đảo, mặt méo đi, nước mắt ứa ra từ đôi mắt lé lăn xuống má. Một lần nữa hắn nhìn Caley, rồi với một cử động đột ngột bước về phía cửa. Trong khoảng chừng một giây hắn sờ soạng cái then cửa, cố gắng mở nó ra một cách vô hiệu quả, thế rồi Caley bước tới phía sau hắn, tóm chặt cổ hắn. Dù di chuyển chậm hơn, loạng choạng và xoay mòng mòng như say rượu hoặc say thuốc phiện, Garves vẫn còn đủ sức để đẩy Caley lùi lại.
— Giúp tôi với - Hắn van nài một cách tuyệt vọng - Cứu tôi với - Nước mắt lăn dài trên mặt hắn. Tôi nhìn hắn, nhận ra tôi không còn quan tâm tới chuyện gì đang diễn ra tại đây, tất cả những gì quan trọng là nó đã được thực hiện, và di chuyển một cách điềm tĩnh, không chút vội vàng, tôi cầm lấy cái que cời lò cạnh lò sưởi. Khi nó giáng xuống cánh tay giơ lên của hắn, lực của cú đập dội lại qua cánh tay tôi, và tôi giơ tay lên quật thêm cú nữa, lần này mạnh hơn, vào ngang mặt hắn. Hắn vẫn chưa gục xuống vì thế tôi lại quật tiếp, tiếp nữa, và cuối cùng hắn quỵ xuống, tôi đi theo hắn, đập hắn như người ta có thể đập một con chó, liên tục nhiều lần, cho tới khi hắn nằm úp mặt xuống và bất động.
 
 
 
23  
Chúng tôi mang Graves tới nhà của Brookes. Thật dại dột khi mang tới một cái xác bị tổn thương như vậy, nhưng Caley cứ dứt khoát làm chuyện đó. Nét mặt hắn rất xanh xao và giận dữ, tôi thấy sợ hắn hơn hẳn nhiều tuần qua. Chúng tôi vội vã đi qua những đường phố khuất, mùi của dòng sông nồng nồng, ẩm ướt và thoảng mùi lưu huỳnh, Caley đẩy cái xe cút kít một cách không thương xót.
Brookes đang ngủ khi chúng tôi tới, thế nên người học việc của ông ta dẫn chúng tôi vào. Khi Brookes xuất hiện, ông ta vẫn còn mặc áo ngủ như thường lệ, những nếp gấp bẩn thỉu của nó gợn lên quanh thân hình ông ta. Khi nhìn thấy chúng tôi, ông ta gật đầu và chà xát hai tay vào nhau, và tôi nhớ lại những điều tốt đẹp mà ông ta dành cho tôi. Đêm nay thời gian dường như bị tách thành từng đoạn, mùi máu của Graves thấm đẫm trên làn da của tôi.
— Các cậu đã biết là tôi đang thiếu hả? - Ông ta hỏi, đôi mắt nhỏ của ông ta chăm chú quan sát chúng tôi.
— Hãy mua cái xác này, và cắt anh ta thành từng mảnh - Caley nói.
Brookes nhìn hắn với vẻ tò mò - Để tôi nhìn anh ta trước đã - Ông ta nói. Đột nhiên tôi ước gì có thể rời khỏi nơi này, rời khỏi ngôi nhà này, và tôi ngước mắt lên nhìn cái mái bằng kính trên đầu.
— Cậu có đôi chút học vấn - Brookes nói, nhìn tôi - Cậu có từng nghe nói về niềm tin của đạo Ấn rằng cuộc sống không phải là một vật sống từ đầu này tới đầu kia mà là một chu trình, trong đó chúng ta chết chỉ để tái sinh, hết lần này sang lần khác hay chưa?
Tôi lắc đầu - Một niềm tin kỳ lạ - Tôi nói, và Brookes gật đầu.
— Có lẽ - Ông ta nói - Có lẽ. Ông ta giơ tay kéo tấm vải ra để lộ gương mặt của Graves. Mồm hắn há hốc, đôi mắt lé nhắm nghiền. Tôi bị chấn động bởi cảnh đau buồn của cái xác của Graves nằm đó, bởi tiếng cười ngốc nghếch của hắn đã im bặt. Graves tội nghiệp, tôi nghĩ, nước mắt trào ra không kềm được. Brookes dừng lại, tay đỡ cằm của Graves, Ông ta chậm rãi hạ tay xuống, lưng bàn tay quét qua lồng ngực chỗ dưới cánh tay. Vẫn còn ấm, tôi nhận thấy, và phải kềm lại để không bật cười. Brookes đưa tay kia sờ vào gương mặt sứt sẹo của Graves, rồi lật lên mảng da đầu chỗ bị cái đục đâm vào. Ông ta nhìn chòng chọc vào nó hồi lâu, rồi chậm rãi, cẩn thận rụt tay về, chùi nó vào vạt áo ngủ.
— Đi đi - Ông ta nói - Mang theo cái xác này cùng các cậu - Dù giọng ông ta bình thản, tôi nhận ra ông ta phải cố để duy trì nó như vậy.
— Vì sao không? - Caley hỏi, bước tới gần hơn như để đe dọa ông ta. Brookes quay lại nhìn hắn.
— Tôi sẽ vờ như cậu chưa hỏi tôi câu đó - Ông ta nói, kéo cái bao phủ lên cái đầu vỡ nát.
Chỉ khi chúng tôi ra tới cửa ông ta mới lên tiếng trở lại.
— Đừng tới đây nữa, tôi sẽ không cho phép các cậu vào nhà tôi.
*** Tôi nghe thấy tiếng va chạm như rơi đánh thịch, và quay lại. Thoạt tiên tôi không thể nói cái gì đã tạo nên tiếng động. Có hai người đàn ông đứng sau lưng tôi, và một cỗ xe chất đầy đồ đạc. Cả họ cũng nghe thấy nó, và chúng tôi đứng im lặng nhìn quanh một lúc.
Thế rồi tôi nhìn thấy nó. Cái xác nhỏ thẫm màu trên mặt đường vừa mới quét. Hai người đàn ông đưa mắt nhìn theo khi tôi khom xuống sờ vào nó. Tôi biết ngay tức khắc nó đã bay vào tấm gương, va phải ảnh phản chiếu của chính nó trong một đường vòng cung vội vã, chỉ để chạm mạnh hơn vào lớp kính. Tôi nhấc thân hình mềm nhũn của nó lên, nhỏ tới mức có thể bỏ gọn trong lòng bàn tay. Vẫn còn ấm, trái tim nhỏ bé mới vừa ngưng đập. Sự sống của một sinh vật bé nhỏ quá dễ bị vỡ tan. Đột nhiên tôi khóc, trong lúc bên trên tôi hai người đàn ông đặt tấm gương lên xe, rồi một người lôi ra từ trong túi một mảnh giẻ, lau cái dấu vết nhỏ xíu mà con chim để lại trên tấm gương.
Tôi không nhớ tôi tới đây như thế nào. Như thể tôi đã trượt khỏi bản thân, như một mảnh thấu kính tuột khỏi tiêu điểm. Tôi không thể quay lại ngôi nhà, vì Caley ở đó, và tôi biết hắn sẽ nhìn thấy điều đó trong mắt tôi. Tôi đứng cạnh dòng sông, nơi tôi thường tản bộ với Robert. Tôi không nghe thấy tin tức gì của anh, và thấy nhớ anh. Tôi đi lang thang suốt ngày. Tôi phải có một quyết định, dù thật ra tôi biết nó đã được quyết định rồi. Vấn đề duy nhất bây giờ là thực hiện nó ra sao.
*** Tìm hắn không khó. Sương đã dày lên, vì thế hắn chỉ có thể nghe thấy tôi khi tôi va mạnh vào hắn, bước lùi ra từ phía sau để gọi tên hắn. Hắn quay người lại, một tay kéo sợi thắt lưng, đôi mắt trắng dã của hắn nhìn một cách mù quáng.
— Tôi đây mà - Tôi nói. Hắn nhìn như thể hắn nghĩ sẽ giết tôi tại đó.
— Chạy trốn đi, cậu bé - Hắn nói - Cậu chẳng có công việc gì ở đây cả.
Khi tôi không nhúc nhích, hắn bước tới gần hơn.
— Cậu không nghe tôi nói gì sao?
— Tôi muốn nói chuyện với ông.
— Cậu có thể nói chuyện gì mà tôi muốn nghe?
— Tin mật, về vụ giết Lucan.
Khi tôi nhắc tới cái tên Lucan, hắn cứng người lại.
— Cậu bảo là ông ta đã bị giết?
— Và bị mổ xác.
Với một cử động đột ngột, Craven lao tới trước, tóm lấy cổ áo tôi và đè tôi quỳ xuống. Dù gầy gò, hắn nhanh và khỏe, và trước khi tôi có thể chống cự lại, hắn rút ra một con dao và chĩa nó vào mắt tôi.
— Ai đã làm chuyện đó?
— Caley - Tôi thở dốc, và nắm tay của hắn ở cổ tôi xiết chặt hơn.
— Còn cậu - Hắn hỏi - Cậu có vai trò gì trong chuyện này?
— Tôi là một nhân chứng - Tôi nói - Chứ không phải đồng lõa.
Craven giữ tôi ở đó, lưỡi dao run run cách mắt tôi chỉ khoảng một phân. Với màn sương sau lưng, dường như hắn được che phủ trong một làn ánh sáng vàng vọt.
— Vì sao cậu tới nói với tôi chuyện này?
— Vì tôi muốn nhìn thấy một công lý nào đó.
Craven gật đầu, và hạ con dao xuống.
— Sao tôi phải tin một tên phản bội?
— Tôi chẳng nợ gì Caley cả.
Craven để tôi đứng lên.
— Vậy nói đi - Hắn nói - Nói xem cậu dự định thế nào.
*** Nàng đang ngủ khi tôi gõ lên cánh cửa.
Dù bản năng của Mary là tống cổ tôi đi, cô ta vẫn cho tôi vào. Tôi không biết tôi định làm gì: có lẽ đánh thức nàng, cầu xin một sự tha thứ nào đó. Thế nhưng khi đã đứng trong phòng nàng, tôi không thể chạm vào nàng. Phòng tối mờ, ánh sáng dịu của buổi tối nổi lên trên những tấm rèm. Bên ngoài, không khí tĩnh lặng và lạnh, nhưng ở đây thì ấm. Nàng nằm nghiêng sang bên, như thường lệ, một cánh tay duỗi ra, mặt úp xuống, khuất một phần sau gối. Chúng ta đi đâu trong giấc ngủ, tôi tự hỏi. Bản ngã quay vào bên trong, chỉ để nhận ra sự vắng mặt của chính nó, bị lạc mất giữa những hình dáng nội tâm của giấc mơ. Tôi đầy sai lầm trong chuyện đó, với ý thức về vai trò đóng góp của tôi. Thế nhưng khi nhìn nàng, tôi ước gì có thể nói với nàng rằng bằng cách nào đó tôi sẽ chấn chỉnh lại nó, rằng tất cả những gì đã thực hiện có thể cứu vãn. Tôi thấy mệt, và muốn nằm xuống cạnh nàng. Giây lát sau, khoảng một phút hoặc hơn, nàng lẩm bẩm và cựa quậy, xoay người nằm ngửa lại, quay mặt khỏi tôi, và tôi lặng lẽ bước ra cửa, bỏ đi.
*** Tin nhắn được gửi đi, nói cho hắn biết tôi là người tìm kiếm sự bầu bạn của hắn. Hắn chỉ có một mình trong hai ngày qua, và tôi e sợ điều hắn đã làm, khi ở một mình trong ngôi nhà.
Trong lúc bước đi, dường như tôi đang trôi bềnh bồng. Hôm nay tôi không ngủ, và đêm lạnh, một cơn gió rét buốt thổi mạnh qua bầu trời. Không thuốc phiện, sáng nay khi thức giấc tôi đã tự nhủ - đêm nay tôi phải tỉnh táo và điềm tĩnh - nhưng rồi lúc nào đó tôi đã uống, và rồi, chiều sâu áp lực của nó lại trĩu nặng lên mắt tôi.
Tôi tới muộn, tôi nghĩ khi tới nơi, hoặc sớm, hoặc có lẽ cả hai. Chúng tôi sẽ gặp nhau ở nghĩa trang nhà thờ Thánh John, một mảnh đất hẹp có tường bao. Tôi từng tới đó, tôi biết, nhưng tôi không thể tìm ra ký ức. Thời gian trôi giạt quanh tôi.
Thế rồi giọng hắn vang lên.
— Cậu học viên - Hắn nói. Tôi giật mình quay lại và thấy hắn đứng đó.
— Sao? Cậu không nghĩ là tôi sẽ tới à?
Tôi lắc đầu.
— Cậu đã đi đâu?
— Không đâu cả - Tôi đáp - Không đâu cả - Hắn bước tới một bước gần hơn, và tôi lùi ra. Hắn đứng yên.
— Sao phải lùi lại - Hắn hỏi - Cậu sợ tôi à.
Tôi nghe thấy sự rạn nứt trong giọng hắn, sắc lạnh như một khẩu súng. Trong tay hắn cầm thứ gì đó, rất nặng.
— Không, không sợ.
Hắn giơ một tay ra cho tới khi hầu như chạm vào tôi.
— Vậy thì vì cái gì? - Giọng hắn run lên.
Nhưng tôi nghe một tiếng động và quay lại mà không cần suy nghĩ. Cả hắn cũng giật mình, đưa một tay tóm lấy cổ áo tôi và đè tôi sát vào tường.
— Không có ai - Tôi nói. Nhưng khi hắn đè tôi vào tường tôi nhìn thấy mắt hắn ướt nhòa vì lệ.
— Cậu có định tố giác tôi không? - Hắn hỏi, đẩy mạnh tôi, thân hình hắn đè sát vào tôi.
— Không, tôi sẽ không tố giác anh.
Mặt hắn chứa đầy điều nằm trong cả hai chúng tôi. Tôi thấy cái cách nó phình to lên, đâm chồi nảy lộc, như sự dịu dàng, hoặc tình yêu.
— Xin anh - Tôi nói - Và hắn lùi ra ngay, Đầu tiên tôi nghĩ sẽ bỏ chạy, vì giờ tôi hiểu. Tôi đã bị phản bội bởi tất cả.
Thế rồi tôi nhìn thấy mắt hắn, giờ không phải hướng vào tôi mà vào một cái thuổng bị bỏ đi cạnh cái huyệt kế bên. Hắn tiến một bước về phía nó và giơ tay ra, khép chặt bàn tay quanh khúc giữa của nó.
— Anh làm gì thế? - Tôi hỏi, và hắn cười to.
— Cậu không nghĩ rằng tôi sẽ để cho cậu giết tôi, phải không?
— Để tôi đi và anh sẽ không bao giờ gặp tôi nữa - Tôi van nài, và Caley gật đầu. Được động viên tinh thần, tôi bước lùi ra xa, nhưng rồi hắn giật mạnh cái thuổng lên, hai tay nắm lấy nó và vung nó thành một cung tròn. Nó rít lên trong không khí chỉ cách đầu tôi vài phân trong lúc tôi trượt chân lùi lại. Gần hàng rào có một thân cây chĩa lên, và tôi lao vào bóng tối của nó, con đường nhanh nhất để băng qua bức tường, và gần như đã tới đó, thì đột nhiên tôi bị lôi ra khỏi bóng cây, và xô té xuống vũng bùn hôi thối. Một bàn tay bấu lấy mặt tôi, tôi cố vùng đứng lên, nhưng vật gì đó đập vào gáy tôi, một đòn mạnh khiến tôi quỵ xuống. Tôi cố đứng lên, nhưng nó tiếp tục đập vào tôi, đẩy tôi ngã xuống lần nữa, rồi lần nữa. Đầu óc mụ mị, tôi biết nó phải là cái thuổng.
Rồi một bàn tay tóm lấy tôi, thân hình tôi cong lại, sức nặng của một cái đầu gối đè lên ngực tôi.
— Cậu muốn phản bội tôi, phải không? - Hắn hỏi, và tôi nghe giọng hắn vỡ ra. Tất cả những gì tôi nhìn thấy là ánh sáng đỏ nhòe. Thế rồi hắn nắm chặt cổ họng tôi, đập đầu tôi vào đá, ý thức chìm xuống, và tất cả tối đen.
*** Tôi thức mà không tỉnh, chỉ đơn giản ngoi lên, từ một trạng thái choáng váng này bước vào một bóng tối khác. Tôi không biết mình đang ở đâu. Trên đầu tôi là bầu trời, dù thoạt tiên tôi không nhận ra nó. Một vầng mây nhẹ, thẫm màu đang trôi nhanh. Tôi nằm hồi lâu, nhìn chòng chọc lên trên. Tôi nghĩ tôi có thể cảm thấy mặt đất bên dưới người tôi đang di động trong khoảng hư không. Tôi lạnh, và mọi vật đều trôi giạt lên phía trên, như sức nóng lạc mất vào màn đêm. Vầng trăng khuyết. Tôi cố cử động, nhưng không thể, cả hai cánh tay của tôi không thể, và vì thế tôi ngửa đầu ra sau, và rồi tôi nhìn thấy cái đèn lồng, cái huyệt mở. Tôi đang trôi giạt, êm ái như một tảng đá nằm trong huyệt mộ.
Rồi tôi ở bên trên, cái huyệt mở ra bên dưới tôi. Một cái huyệt của lũ người cùng khổ, những thân hình được bó lại và chất chồng lên nhau, vô danh trong lòng đất. Với một sự tỉnh táo lạ lùng tôi hiểu chuyện gì đang xảy ra, điều Caley định làm. Hắn lần lượt lôi từng cái xác lên, xếp chúng quanh cái huyệt. Rồi tôi thấy hắn kéo lên cái xác mà tôi nhận ra là của chính mình. Hắn áp mặt sát vào nó để thì thầm gì đó mà tôi không nghe được, rồi đẩy nó vào cái hố sâu đang chờ đợi
Tôi đang ở bên trên và đang ở bên dưới.
Rồi lần lượt, những cái xác rơi lên tôi, thân hình bó chặt của chúng lăn bên trên tôi. Đột nhiên tôi thấy sợ, và tôi cố giẫy giụa vùng vẫy, nhưng thân thể tôi không phải của tôi, nó không nhúc nhích, vì thế tôi cố hét lên, nhưng giọng tôi lịm tắt, như thể đây là một giấc mơ mà từ đó tôi không thể tỉnh thức. Từ trên đầu, đất tiếp tục rơi, tỏa mùi nồng nồng, trong lúc thân thể tôi dường như rơi vào một bóng tối lờ mờ, vào sức nặng của nó, như thể tôi không chết mà chưa từng được sinh ra, chưa được tạo thành, quay trở lại lòng mẹ mà từ đó tôi đã chào đời. Và ngay tức khắc tôi nghĩ tôi hiểu. Thời gian không phải là một dòng sông, mà là một lăng kính, trong đó chúng ta vụn vỡ và bị phân tách như ánh sáng. Rồi mớ đất cuối cùng được hất xuống từ bên trên, và tất cả đi vào thinh lặng.




Đăng nhập để trả lời
0
PHẦN II
VƯƠNG QUỐC CỦA CÁC LOÀI CHIM 24 New South Wales, 1836
Đầu tiên nó không là gì cả, hoặc còn tệ hơn không là gì. Một sự ngập ngừng nào đó trong bầu không khí. Bourke ngồi bất động; mọi vật xung quanh đều im lặng, âm thanh duy nhất là tiếng thở của bụi cây. Trong lớp gương không có chiều sâu của mặt nước, những đám mây lướt qua, một chuyển động im lìm, đường bay nghiêng của một con chim họ sẻ băng ngang qua đường đi của chúng như một hòn đá rơi mãi mãi không bao giờ chạm đất. Khắp tứ phía thế giới trải ra.
Tôi lật bàn tay lại và nhìn nó. Nó là một bộ phận của tôi, thế nhưng dường như có những sự sống khác bên trong làn da của nó. Nước tràn xuống từ nó, những hạt thủy tinh, chậm chạp như một chiếc lông rơi. Máu tôi di chuyển trong người tôi.
Tôi ngước mắt lên và trông thấy họ. Lặng im trên một tảng đá trong một thung lũng hẹp mé bên kia; có thể nói là rất gần. Tôi không chắc họ đã đứng đó bao lâu rồi: dù chỉ bây giờ tôi mới nhìn thấy họ, dường như họ đã ở đó suốt thời gian, thậm chí đã bay đi, như thể sự gián đoạn đã đánh lừa các tri giác của tôi hoặc chính thời gian.
Mỗi bàn tay của hắn cầm một ngọn giáo, những vật nhẹ và mảnh khảnh tạo ấn tượng của một đường bay. Thế nhưng dường như họ ăn mặc không phải để đi săn mà cho một nghi lễ nào đó, mặt và thân thể họ vẽ những vòng tròn và vạch trắng, mang lại cho họ dáng vẻ không phải của loài người mà là những hồn ma, và có lẽ họ là vậy.
Tôi vươn người đứng lên. Họ không nói, không cử động, dù trong thoáng giây tôi nghĩ có lẽ họ sẽ thốt ra đôi lời bằng thứ ngôn ngữ nào đó mà tất cả chúng tôi đều biết. Nhưng không, họ chỉ đứng đó, và quan sát, mắt họ sâu và long lanh bên dưới những cặp lông mày tô đậm.
Tôi không chắc chúng tôi đứng như thế bao lâu. Chỉ vài giây, không hơn, dù dường như thời gian trải dài một cách không thể có. Thế rồi, rất đột ngột, một ánh sáng bập bùng lóe lên, như thể một cái bóng nào đó di chuyển qua chúng tôi. Trong những chiều sâu phai nhòa của nước một tia sáng trồi lên về phía xa. Quá nhanh, tôi nghĩ, như thể nó chỉ là một bóng chim di động qua ánh mặt trời. Nhưng thế cũng đủ để phá vỡ bất kỳ thứ bùa chú nào đó đã cột chúng tôi tại đây. Ở bên kia thung lũng, người nhỏ hơn trong hai người lui lại, đôi mắt của anh ta lướt qua tôi về hướng khác. Rồi cả người cao lớn hơn cũng thế, và họ biến đi không một tiếng động, mất dạng trong bụi rậm.
*** Cuối cùng, khi quay lưng khỏi chỗ họ vừa bỏ đi, tôi thấy Bourke vẫn còn đứng đó, cái yên ngựa đong đưa trên tay. Mắt ông chạm mắt tôi, và chúng tôi nhìn nhau đăm đăm. Rồi ông lại quay đi như thể một sự thân mật nào đó đã được chuyển giao giữa chúng tôi và nhờ nó chúng tôi trở nên gần gũi hơn mức chúng tôi có thể quan tâm.
Chỉ sau đó, khi chúng tôi ra tới con đường dẫn tới khu đất định cư ông mới nói về chuyện ấy. Trời đã xế bóng, trên đầu, những con chim lao vút qua và lượn vòng trên bầu trời nhòa nhạt.
— Họ nghĩ chúng ta là những linh hồn trước kia - Bourke nói, không quay lại - Họ xem màu da của chúng ta là sự xanh xao của những người chết và tưởng tượng chúng ta là tổ tiên của họ, bị thất lạc và lang thang trong thế giới của người sống thêm lần nữa.
Dù đây là một câu chuyện tôi đã nghe trước đó, ký ức về cái cách họ lặng im nhìn chúng tôi chòng chọc từ bên kia thung lũng, làn da tô vẽ như những chiếc mặt nạ giả ma của họ tự động nổi lên trong tâm trí tôi. Rồi đột nhiên ông quay sang tôi.
— Anh có bao giờ cảm thấy nó chưa? - Ông hỏi - Cái cảm giác rằng chúng ta không hoàn toàn có thật ở đây? Rằng mảnh đất này không phải của chúng ta?
Dưới ánh sáng yếu ớt, không thể đọc được nét mặt của ông, vì thế tôi để cho câu hỏi đó treo lửng lơ không có lời giải đáp.
*** Tôi và Joshua đang ở trên đồi. Tôi nhìn thấy hai con ngựa trên con đường mòn, đang chậm chạp đi lên dốc. Đang mải mê vẽ, Joshua không nhận ra chúng ngay, mắt nó chuyển từ cảnh vật sang tờ giấy rồi lại sang cảnh vật. Chỉ khi sự chú ý của nó thay đổi, tôi mới biết cha của nó ở đó. Thế rồi nó lại nhìn xuống, quay lại công việc, dù vẻ linh hoạt lúc nãy không còn nữa, bàn tay nó di chuyển một cách gượng gạo trên tờ giấy.
Khi họ tới gần, tôi đưa tay lên che mắt: ngày trong trẻo và sáng rực, Bourke ngồi trên ngựa, đưa một tay lên mũ chào tôi.
— Tôi đã nghĩ sẽ gặp anh ở đây - Ông nói, dù tôi chắc chắn không phải tôi, mà chính Joshua, vẫn đang cúi xuống bức tranh của nó, mới là kẻ mà ông muốn tìm.
— Ông định ra mé ngoài hả? - Tôi hỏi, và Bourke gật đầu.
— Không xa - Rồi ông đưa tay chỉ sang người bạn đồng hành - Anh có gặp người láng giềng mới của chúng ta chưa?
— Tôi chưa có hân hạnh đó - Tôi đáp, vẫn còn che mắt.
— Edmund Winter - Người ngồi trên ngựa nói. Anh ta gầy, khoảng quá ba mươi, tóc đen, ngồi ngay ngắn trên yên, dù nói năng khá cẩn trọng, anh ta không giơ tay để bắt tay tôi, Joshua đặt bút xuống.
— Thomas May - Tôi đáp, quay qua nhìn xuống đồi, rồi hỏi:
— Anh đã mua điền sản của Wemy?
Có lẽ anh ta thấy câu hỏi của tôi vô vị vì anh ta để cho câu hỏi treo lơ lửng không lời đáp một lúc lâu hơn phép lịch sự cho phép.
— Và mảnh đất ở ranh giới phía bắc của nó.
— Nhưng anh là người mới ở khu kiều dân này?
Winter nhìn tôi - Đúng thế - Anh ta nói. Miệng anh ta hơi rộng và đầy đặn trên gương mặt xương xương; ở một gương mặt khác nó có thể mang đến một vẻ dâm dục, nhưng ở anh ta, vì lý do nào đó nó có vẻ độc ác.
— Cái Sydney thu được là cái Hobart đánh mất - Bourke nói với vẻ khôi hài, nhưng Winter liếc nhìn ông như thể sự tiết lộ này khiến anh ta không hài lòng.
— Anh thấy ở đây như thế nào?
— Khá tốt - Winter đáp, cười nhạt.
*** Khi họ đã đi, tôi bảo Joshua quay lại bức vẽ của nó. Ở hướng tây, tôi có thể nhìn thấy ranh giới của mảnh đất trước kia thuộc về thiếu tá Wemy. Nó đã bị bỏ hoang ở đó ba năm, những cánh đồng mọc đầy cỏ dại, bầy gia súc đã được chấp hành viên bán đi trong lúc tìm kiếm và thông báo về chúng cho người em họ được hưởng thừa kế. Một luật sư ở Somerset, tôi nghe nói, hoặc Surrey, ông ta đã tới một cách bất ngờ dù không muốn nhìn thấy mảnh đất này. Trong một thời gian, chính Bourke cũng đã nghĩ tới việc mua lại nó, và nhiều người khác xung quanh cũng vậy, nhưng họ lần lượt thoái chí, vì thế người đại diện buộc phải tìm người mua ở nơi khác.
Cạnh tôi, Joshua lại cầm bút lên, cắt ngang ý nghĩ của tôi. Hình ảnh trên tờ giấy trước mặt nó đang bắt đầu tệ đi, tôi kềm lại ý muốn bảo nó tiếp tục, chỉ nói rằng chúng tôi sẽ kết thúc công việc hôm nay.
Trong lúc đi trở lại ngôi nhà, Joshua trò chuyện và cười to, dường như đã quên bẳng đi việc chạm trán với cha nó. Ở trước cổng, nó mời tôi cùng nó vào nhà, cam đoan rằng mẹ kế của nó sẽ vui sướng được gặp tôi, nhưng tôi lắc đầu và bảo nó tôi còn có việc riêng, thế là chúng tôi chia tay nhau.
Mối quan hệ giữa tôi và gia đình Bourke khá tinh tế. Trong ba năm quen biết họ, tôi đã đi từ chỗ là một vật bị mua đi bán lại trở thành người giúp việc cho họ, và, cuối cùng, một người bạn. Thế nhưng giữa chúng tôi còn nhiều điều chưa nói, những thiếu sót và những câu hỏi bị bỏ qua. Lúc đầu khi tôi tìm việc, chính Bourke là người đã giúp tôi tìm được việc làm với những tiểu thư trong khu kiều dân. Chỉ riêng điều này đủ khiến tôi mang ơn họ, nhưng họ vẫn đối đãi tôi như một người bạn, một sự tử tế mà tôi lấy làm khó chịu.
*** Tôi quay lại con đường, cái cặp giấy đeo sau lưng. Khi nghe thấy tiếng vó ngựa, tôi bước tránh sang bên và quay lại, mong đợi sẽ nhìn thấy Bourke đuổi theo tôi để nói đôi lời hay có một yêu cầu nào đó, nhưng đó là Winter. Anh ta quay ngựa lại và dừng trước mặt tôi.
— Anh May, tôi đã nghĩ sẽ tìm thấy anh ở ngôi nhà.
Tôi lắc đầu: Tôi có việc khác cần giải quyết.
Anh ta gật đầu khẽ đến nỗi gần như không thể nhận thấy.
— Bài học của anh với thằng bé đã xong? - Anh ta hỏi, và tôi gật đầu.
— Bourke bảo nó có tài.
— Nó vẽ giỏi - Tôi nói - Và tìm thấy niềm vui trong việc đó.
Winter nhìn tôi từ trên xuống dưới - Theo tôi hiểu, anh cũng nhận các học trò khác?
— Phải.
— Tôi có một cô em - Anh ta chậm rãi nói - Chưa kết hôn, và có quá ít việc để làm. Sẽ có ích cho nó nếu có có việc gì đó để tìm được niềm vui.
Có gì đó trong cung cách của anh ta khiến tôi do dự -Anh có trao đổi vụ này với cô ấy chưa?
Anh ta mỉm cười lạnh lẽo: Nó là em tôi, anh May, tôi nghĩ tôi hiểu tâm tính nó.
Anh ta rút một tấm danh thiếp từ trong áo khoác đặt vào tay tôi: Hãy ghé đến chỗ chúng tôi, vào tuần tới, nếu anh muốn.
Tôi nhét tấm thiếp vào trong áo khoác - Rất tốt - Tôi nói. Thế rồi Winter giật cương quay con ngựa xoay lại và phi qua ngọn đồi.
*** Nhà tôi rất lặng lẽ khi tôi về tới, những bóng râm duỗi dài ra trên mặt đất. Trong bầu không khí có mùi bạch đàn, mùi mơ hồ của những bụi cây. Tôi tháo cái cặp giấy khỏi lưng, cởi áo gilê và cổ cồn ra, trút nước khỏi cái túi treo sau cửa, sự mát lạnh ẩm ướt của nước nhắc tới tảng đá mà từ đó nó vọt ra. Trước mặt tôi, buổi chiều trải dài trong hiu quạnh, một khoảng không gian liên tục.
Có những kẻ với họ sự riêng tư là một thứ xa hoa phung phí lạ lùng trong một vùng như thế này. Thuộc địa này nhỏ, và những con đường giữa những khu dân cư và những ngôi nhà rất dài và ít người qua lại. Nhưng sự hiu quạnh và riêng tư là những điều khác biệt nhau: dù một người đàn ông có thể dễ dàng đi suốt một tuần ở đây mà không băng qua lối mòn của kẻ khác, thật sự việc đi ngang mà không bị nhìn thấy giữa đám đông ở London, lạc vào vô số người qua lại còn dễ hơn nhiều so với việc đi mà không bị chú ý ngay tại đây, giữa chốn quạnh hiu, vì ở nơi này, mọi người đều biết công việc của láng giềng họ, và lời đồn thổi lan đi rất nhanh và xa.
Tôi đã tìm thấy cho mình một kiểu lẻ loi kỳ lạ tại đây. Tôi là một trong số dân chúng ở khu kiều dân, thế nhưng không phải. Nghề nghiệp của tôi cho tôi phép tôi bước vào giới của họ với một mức độ tin cậy nào đó, nhưng với tất cả những điều đó tôi vẫn tự tách riêng bản thân mình ra, vì tôi thấy không thoải mái với họ.
Đây không phải là một đặc quyền mà tôi luôn hưởng thụ. Trong không gian hiện hữu của mình, tôi sống và làm việc với những người khác, nằm ngủ vật vựa trên mặt đất, sau đó là trên giường, sáu cái một phòng. Tôi không hạnh phúc với điều đó, cũng không khốn khổ, thay vì vậy, tôi học được cách tĩnh tâm, cách tạo ra một không gian bên trong nơi những ý nghĩ của tôi có thể là của riêng tôi. Và khi tôi đã hết hạn tù, Bourke cho tôi đầu tiên là một căn phòng, và sau đó, được thuê lại ngôi nhà và mảnh đất liền kề với điền sản của ông.
Dù nó nhỏ, không có nhiều tiện nghi, giá thuê rẻ và có ít láng giềng, nên tôi thuê nó với lòng biết ơn. Nó từng thuộc về một viên sĩ quan, ông ta đã quay lại nước Anh năm năm trước, và đã bị bỏ hoang khá lâu đến mức bị bụi rậm xâm lấn trở lại. Lũ vẹt mào làm tổ trong ống khói và thú có túi chạy rục rịch trên mái nhà, lá rụng và phân thú rải rác trên các sàn nhà. Không ngờ gì rằng việc cho tôi thuê chỗ này rất tiện cho Bourke, vì tôi dọn sạch nó, chữa lại mái nhà và những bức vách, và ngăn không cho người da đen thiêu rụi nó hoặc những tay vượt ngục chiếm nó làm của riêng, nhưng dù sao, hành động của ông là do lòng tử tế.
Một kẻ khác có thể cảm thấy cô độc tại đây, nhưng tôi tìm thấy niềm vui trong sự quạnh hiu. Tôi không hứng thú mấy với việc có bạn có bè, chỉ đi lại khi tôi phải mang những mẩu vật cho những người đặt mua, hoặc để dạy vẽ tại nhà những quý cô quý bà trong khu kiều dân. Không ngờ gì rằng tôi có thể sống tốt hơn theo cách khác; có nhiều người thuê tôi vẽ chân dung cho họ hoặc cho những người thân yêu và gia đình họ. Nhiều người khát khao có tranh chân dung của những con vật nuôi: đa phần là ngựa, nhưng đôi khi cũng có trâu bò và chó, thậm chí một hai lần là một con lợn quan trọng. Nhưng tôi chẳng thấy thú vị gì với công việc này; dù tôi là một người khéo tay khi vẽ chân dung người, dường như có cái gì đó sai lầm và vênh váo trong niềm khao khát lưu truyền cho hậu thế bức chân dung của mình. Thế nên tôi chỉ dạy, hướng dẫn để các bà các cô có thể thủ đắc một mức độ thành thục nào đó trong nghệ thuật vẽ tranh và màu nước. Tuy nó đòi hỏi tôi phải nói năng hoa mỹ và tâng bốc họ, dù sao trong công việc này cũng có một sự trung thực, một chân lý trong khoảnh khắc khi một học viên phát hiện ra một điều gì đó hoàn hảo và đúng đắn trong một nét vẽ, và nó khiến tôi vui sướng. Nhưng quan trọng hơn, thông qua việc dạy vẽ, tôi được yên ổn với thế giới bên trong của tôi, và công việc khác của tôi vẫn giữ được sự riêng tư và không bị xâm phạm.
 
 
25  
Một tuần trôi qua trước khi tôi tìm ra thời gian để ghé tới nhà Winter. Ngày hôm đó đẹp trời, bài ca thoát tục của lũ ve sầu chao động trong không khí. Dù tôi đã nhiều lần đi ngang qua nó, tôi không quen với điền sản này, chỉ biết ngôi nhà có thể nhìn thấy từ trên đường. Khi lên tới khúc ngoặt của lối dành cho xe ngựa, tôi nhìn quanh khắp những khu vườn bị bỏ hoang một phần không người chăm sóc. Trước kia chỗ này là nơi mà một quý ông người Anh có thể cảm thấy như ở quê nhà mình - ngoại trừ bầu trời mênh mông và ánh sáng gay gắt, những con vẹt kêu hót inh tai trên cây cối - nhưng vì bị bỏ mặc, nó đã trở nên hoang dã và lạ lùng, lũ rắn trườn dọc theo những nhánh cây, những loài cây trồng làm hàng rào và các loài bụi rậm trong vùng tự đâm chồi nảy lộc giữa những khóm hồng thanh nhã.
Tôi bước lên thềm, gõ cửa, và trong sự tĩnh lặng kế tiếp, tôi nghe thấy từ nơi nào đó trong nhà âm thanh của một chiếc dương cầm, giai điệu nhẹ nhàng và buồn bã. Rồi tiếng bước chân, cánh cửa mở ra, để lộ một phụ nữ mặc đồng phục quản gia, đầu tiên mặt bà ta đanh lại bởi ký ức về một khu ổ chuột London nào đó, rồi bởi ánh mặt trời không khoan thứ của Úc châu. Bà ta ngờ vực nhìn tôi khi tôi cho bà ta biết tên, nhìn chăm chú vào tấm danh thiếp tôi trao, rồi cầm lấy nó, bà ta dẫn tôi vào một căn phòng nhỏ cạnh cửa và bỏ tôi lại đó.
Còn lại một mình, tôi lắng nghe tiếng nhạc từ tầng trên. Tôi không biết giai điệu này nhưng nó tự tỏ bày mình theo một cách mà tôi hầu như cảm thấy nó có thể là. Vẫn lắng nghe, tôi đặt cái cặp giấy xuống và nhìn quanh. Căn phòng nhỏ và giản dị, có hai bức tường, mỗi bức được trang trí với một tấm tranh theo phong cách Gainsborough, một kệ sách dựa vào một bức tường khác. Bên trên lò sưởi treo một bức tranh khác, một tấm chân dung được thể hiện bởi một bàn tay thô thiển hơn. Khi bước tới gần để nhìn kỹ, tôi thấy đó là một người đàn ông trung niên, ăn mặc theo thời trang hai mươi năm trước. Bức tranh không có tính nghệ thuật mấy, bố cục đơn điệu và vụng về của nó phản bội lại một bàn tay chưa rèn luyện nào đó; dù sao nó vẫn nắm bắt được một phẩm chất nào đó của lòng tốt ở chủ thể và dù đó là một người nhiều tuổi hơn và to lớn hơn, tôi hình dung ra gương mặt của Winter trong đó.
Đang mải mê nhìn bức tranh, tôi giật mình khi nghe thấy giọng nói của người quản gia cất lên sau lưng tôi, có vẻ khiển trách, rồi một giọng khác, lặng lẽ và chắc chắn. Tiếng nhạc trên đầu đã ngưng, tôi nhận ra, và khi quay về phía cửa, tôi nhìn thấy một phụ nữ đang đứng đó. Tôi không chắc tôi đã mong đợi nàng trông ra sao, nhưng tôi biết ngay không phải thế này. Nàng còn trẻ, không hơn hai mươi hai, mặc một chiếc váy màu nhạt rất giản dị, mái tóc màu vàng tro cột túm sau gáy theo một phong cách hoàn toàn khác với kiểu phô trương rất phổ biến đối với những quý cô khác trong thuộc địa. Giống anh mình, nàng mảnh khảnh, nhưng trong khi nét mặt người anh có vẻ độc đoán, nét mặt nàng dịu dàng hơn.
— Anh May phải không ạ? - Nàng hỏi. Tôi muốn bắt tay nàng, nhưng trong vẻ mặt nàng có gì đó phản kháng lại sự thân tình đó.
— Anh cô có bảo tôi sẽ ghé tới không? - Tôi hỏi, và nàng gật khẽ.
— Anh ấy muốn tôi hướng dẫn cô kỹ thuật vẽ tranh, nhờ đó cô có thể lấp đầy thời gian của mình.
— Vâng - Nàng đáp - Anh ấy đã nói về chuyện này - Trong sảnh sau lưng nàng, người quản gia đang quan sát; theo ánh mắt của tôi, cô Winter quay sang bà ta.
— Cám ơn, bà Blaskstable - Nàng nói. Người quản gia nấn ná, rồi gật đầu chua chát và quay lưng đi xuôi theo hành lang.
— Tôi rất tiếc vì anh được chào đón với cung cách như thế - Cô Winter nói, quay lại phía tôi. Nàng chỉ về phía hai cái thùng gỗ để mở ở góc phòng - Như anh có thể thấy, chúng tôi chưa hoàn toàn ổn định trong nhà này.
Tôi lắc đầu, bảo nàng không cần phải xin lỗi - Tôi nghe nói trước kia cô ở Van Diemen’s Land[3]. Cô là dân bản xứ ở đó?
— Tôi sinh ra ở đó -Nàng đáp, giọng nàng nhòa đi ở cuối câu, để lại chút nghi ngờ về việc cha mẹ nàng đã tìm đường băng qua đại dương ra sao. Nhưng rồi nàng đột ngột ngước mắt lên nhìn tôi đăm đăm, như thể thách thức tôi tìm ra một sự hổ thẹn nào đó ở nàng. Cuối cùng nàng nhìn sang chỗ khác.
— Vậy anh là một họa sĩ?
Tôi bước tới trước, cầm lấy cái cặp giấy trên bàn - Tôi có thể cho cô xem vài ví dụ nếu cô cần tham khảo.
Nàng nhìn cái cặp giấy giây lát - Không - Nàng nói - Tôi nghĩ chuyện đó không cần thiết. Anh tôi có thảo luận các điều khoản với anh chưa?
— Chưa.
— Tôi chắc là chúng có thể chấp nhận được. Chắc chắn anh tôi sẽ xác nhận chúng với anh khi anh ấy quay về.
Sự cam chịu và thách thức hòa trộn một cách lạ lùng trong thái độ của nàng đến độ tôi không chắc phải phản ứng ra sao. Để dò dẫm tìm một lý lẽ thông thường nào đó, tôi đặt cái cặp giấy xuống.
— Lúc nãy tôi đã nghe thấy tiếng nhạc, tiếng dương cầm. Cô là người đã đánh đàn?
— Vâng - Nàng lặng lẽ đáp.
— Tôi nghĩ nó rất hay - Tôi nói, nhưng nàng nhìn chỗ khác.
— Cám ơn - Nàng nói. Tôi nghĩ nàng sẽ nói thêm, nhưng nàng chỉ ngước lên nhìn vào mắt tôi, nó hàm chứa sự thách thức trước khi chuyển trở lại trạng thái bình thường theo một cách tế vi nào đó.
— Tôi sẽ mong thư của anh cô - Tôi nói. Nhưng ở cửa nàng bước theo tôi.
— Anh May? Anh vẽ loại tranh gì thế?
Tôi nhìn qua cửa ra ngoài, rồi cuối cùng đáp:
— Những con chim. Chỉ những con chim.
*** Bị nắm chặt trong bàn tay tôi nó run lên, một khối lượng nóng ấm, hầu như chỉ nặng hơn hơi thở. Mới lúc nãy nó còn vùng vẫy và kêu ré trong những sợi lưới, giờ nó không cựa quậy, thân hình bất động trong tay tôi. Không bị choáng hay bị thương, chỉ nằm im, thân hình bé nhỏ của nó dường như run lên với niềm thôi thúc được tung bay đã bị chặn giữ.
Dù bàn tay tôi khép quanh nó, tôi chỉ nắm hờ. Nếu tôi mở tay ra nó sẽ bay vụt đi ngay, thân hình lao vào không trung với đôi cánh vỗ đều và biến mất, nhanh như ký ức. Nhưng trong lúc bị nắm giữ nó không kháng cự: thay vì thế như thể nó chờ đợi một dấu hiệu nào đó từ tôi.
Đây là một dạng quyền lực đáng sợ. Nắm giữ một sự sống quá bé bỏng trong vòng kiểm soát của bạn. Thế nhưng không phải thứ quyền lực ban cho hay tước đi sự sống đó khiến nó trở nên kinh khủng. Nói cho cùng, sống hay chết đều là một điều đơn giản. Đúng hơn, đó là sự thân mật, cái cách thức mà khi nằm trong vòng sở hữu một quyền lực như thế, bạn bị lột trần trụi trong con mắt kẻ khác, cũng chẳng khác gì khi họ nằm trong tay bạn. Và trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó có thể thoáng nhìn thấy ý nghĩa của việc rời khỏi cái lồng của chính bản thân và chạm vào một kẻ khác, để biết họ như bạn biết chính mình.
Sau lưng tôi, tấm lưới còn treo giữa bầu không khí dao động trong cơn gió nhẹ, những sợi lưới màu bạc hầu như vô hình sau làn ánh sáng nhạt nhòa. Ở tứ phía, lũ chim đang di chuyển, lũ chim ác là và vẹt Mã-lai, lũ vẹt mào đang kêu chí chóe. Và gần hơn, là những đồng loại của nó, thân hình bé xíu của chúng lao vụt quanh tôi trong những vòng tròn tuyệt vọng. Mỗi lần liệng xuống chúng lại kêu lên, thúc hối và giận dữ, sợ hãi cho cuộc sống của nó, vẻ thanh nhã của thân hình chúng rất tuyệt vời khi chúng lượn vòng trong không trung. Phải sống như thế để làm gì, tôi nghĩ, một cuộc sống nóng bỏng và nhanh như máu, toàn bộ ý nghĩa của nó tập trung vào khoảnh khắc đang hiện hữu?
Tôi cảm thấy nó căng thẳng trong tay mình, và khi nhìn trở xuống, tôi thấy nó đang quan sát tôi. Dưới ngón tay cái của tôi, thân hình nó dường như lung linh, nhịp đập khe khẽ của tim nó nhanh hơn mạch đập của một đứa trẻ con. Lúc này lũ bạn cùng đàn của nó di động nhanh hơn, lượn quanh chúng tôi, tiếng kêu phát ra từ ngực của chúng gay gắt hơn, khẩn thiết hơn. Với mỗi tiếng kêu, dường như nó giật mình, như thể nhói lên vì một cơn đau. Tôi cũng cảm thấy điều đó, tôi nghĩ, một cơn đau bên trong tôi.
Muốn xua đuổi tiếng kêu của lũ kia, tôi giơ tay lên, chậm chạp xiết chặt nắm tay quanh thân hình bé bỏng của nó. Nó nhẹ đến nỗi có thể nói nó chẳng là gì ngoài một sức nóng. Lúc này dưới ngón tay tôi là cái sọ của nó, mỏng manh như một quả trứng. Hẳn nó nhận ra ý định của tôi, thế nhưng nó không chiến đấu, ngay cả lúc này, mắt nó chỉ quan sát tôi, đen và ngấn nước. Tôi có thể nhắm mắt lại, hoặc nhìn sang chỗ khác, hoặc thả nóra để nó có thể tung bay, nhưng không. Thay vì vậy, tôi ấn mạnh ngón tay xuống cổ nó, lúc đầu nhè nhẹ, rồi mạnh hơn, cho tới khi cuối cùng nó giẫy nhẹ lên, và trong khoảnh khắc đó nó chết.
Dù ngày chưa nóng, tôi nhanh chóng gói nó lại, vì sức nóng còn nấn ná trong thân thể nó sẽ không kéo dài. Mắt nó đã mờ đục; trong một giờ nữa nó sẽ lạnh đi, đôi chân cứng lại, mấy ngón chân cong lại, và sẽ bị hư hỏng trong một ngày. Dù việc tước đi mạng sống của nó không mang lại cho tôi chút vui thú nào, sau đó tôi sẽ hình dung lại nó đang sống, học hỏi từ những chi tiết thân hình nó, xóa đi những sự lừa dối của con mắt. Dù hẳn người ta phải biết các tập quán của loài này, cách chúng di chuyển và tự bảo vệ, những loài cây chúng chọn làm tổ, cuộc sống chỉ nói rất nhiều về vẻ bề ngoài của một con chim. Để tạo một hình ảnh chân thực, người ta phải biết cách băng bó một cổ họng, biết nơi màu sắc của bụng nhường chỗ cho đuôi. Cũng giống như màu trắng rực rỡ của lũ vẹt thật ra pha trộn với màu vàng, cũng chính sắc độ này mang tới cho những sợi lông sự trong trẻo phi tự nhiên, ngay cả lũ chim trông có vẻ như đen thui hay nâu xỉn cũng sẽ hé lộ những màu sắc trên thân hình chúng khi bị nắm giữ trong tay, những sắc xanh trời và xanh ngọc lúc nửa đêm, những bóng tối lung linh chao động.
Đó là một thứ rất mong manh, đường nét trong một hình ảnh chứa đựng tổng thể Thế nhưng trong việc tìm kiếm nó, nó vượt quá mọi suy xét khác. Giống như một nốt nhạc được diễn tấu rõ ràng và chân thật, nó hé lộ bản thân như thể đã ở đó từ trước, ngân vang và không tô điểm. Và trong việc tìm kiếm nó chúng ta có thể cử động mà không hề lúng túng hay giả tạo, ở một nơi nào đó bên ngoài ngôn ngữ, bên ngoài sự quan tâm.
*** Dù Winter đưa ra các điều khoản rất rộng rãi, thôi thúc đầu tiên của tôi là gửi trả lại lá thư, từ chối thẳng lời đề nghị của anh ta. Tôi không có lý do gì để làm điều này, chỉ cảm thấy sự rộng lượng của anh ta quá dễ dàng để có thể chấp nhận, việc chấp nhận nó đưa tôi đến một tình trạng đồng lõa với một mục đích nào đó mà tôi không hoàn toàn thấu hiểu. Nhưng có gì đó trong ký ức về thái độ của nàng khiến tôi quyết định ngược lại, vì thế tôi chấp nhận qua thư, và hẹn ba hôm sau sẽ tới.
Vào ngày hẹn, tôi có một bài học ở nhà Robertsons trước, vì thế khi tôi có thể ghé tới đó, trời đã giữa trưa. Trong mấy ngày qua nhiều quý bà trong thuộc địa bàn tán đã bàn tán nhiều thứ về Winter. Họ biết nhiều hơn về anh ta, về những dự định của anh ta ở đây. Ở ranh giới điền sản của anh ta tôi trông thấy một nhóm đàn ông đang di chuyển rải rác qua ngọn đồi, lưng mang dụng cụ, như thể để bắt đầu công việc sửa chữa lại những hư hại do tự nhiên tạo ra trong mấy năm qua. Họ là người Công ty, tôi biết ngay lập tức, không phải do quần áo mà do cách ánh mắt của họ nhìn theo tôi nhưng không bao giờ chạm phải mắt tôi, một thắc mắc khó chịu hiện lên trong mắt họ.
Ở gần ngôi nhà hơn, công việc cũng đã được bắt đầu, lúc này bãi cỏ đang được cắt, những nhánh cây rải rác đó đây, cắt ra từ những cây chĩa nhánh quá xa. Cửa để mở, một thiếu nữ đang đứng bên trong; tôi chào cô ta, báo tên và công việc của mình và giây lát sau cô Winter xuất hiện. Nàng vẫn có cùng cái vẻ thách thức thất thường mà tôi nhớ trong lần đầu gặp gỡ giữa chúng tôi. Nàng gật đầu, dù tôi không chắc đó là sự chào mừng hay sự chán ngán.
— Vậy là các điều khoản của anh tôi có thể chấp nhận được? - Nàng hỏi, và có gì đó trong giọng nàng nhắc tôi nhớ tới sự thay đổi hầu như không thể hiểu đối với lá thư của Winter, tới những điều khoản rộng rãi của nó.
Nàng nhìn tôi một lúc lâu hơn mức cần thiết, rồi mím môi lại.
Bảo tôi đi trước, nàng hướng dẫn tôi tới một căn phòng nơi chúng tôi đã gặp nhau tuần trước. Trên bàn có một cái cặp giấy; tôi đặt cặp giấy của mình xuống cạnh nó và đưa tay sờ vào nó.
— Đây là của cô? - Tôi hỏi, và nàng gật đầu.
— Cô không phiền nếu tôi nhìn qua nó chứ?
Nàng lắc đầu, thế là tôi mở nó ra, lật qua những bức tranh bên trong. Một bức vẽ một tu viện, tất cả đều suy tàn một cách lãng mạn, một đôi bàn tay, gương mặt một người đàn ông. Những bức tranh mà một cô gái có thể vẽ, tôi nghĩ, ngoài ra khá cũ kỹ.
— Trước đây cô có được ai hướng dẫn không?
— Khi tôi còn bé có một người giúp việc cho cha tôi tên là Davidson - Nàng do dự giây lát trước khi nói thêm - Một tù nhân được phóng thích.
Tôi nhìn quanh, chỉ vào bức chân dung trên lò sưởi.
— Đó là tác phẩm của ông ta?
— Đúng thế.
Từ cửa, vọng lại tiếng hắng giọng. Cô gái mở cửa cho tôi đang đứng đó. Cô ta thật gầy gò, chiếc váy treo lỏng lẽo trên thân hình nhỏ bé, và cô ta quay đi, nhìn xuống sàn nhà. Cô Winter không có cử động nào để nhắc nhở cô ta, vì thế cuối cùng cô ta nói với vẻ lúng túng.
— Xin vui lòng, bà Blackstable bảo tôi nên ngồi với cô và quý ông đây.
Cô Winter vẫn không nói gì, vì thế, bối rối thay cho cô gái, tôi bảo cô tới một cáighế và ngồi xuống. Liếc nhìn lại cô Winter, tôi thấy nàng đang nhìn qua cửa sổ ra khu vườn, thân hình căng lên.
— Cô Winter - Tôi nói, và nàng quay lại.
— Chúng ta bắt đầu chứ?
Trong lúc chúng tôi làm việc, cô gái ngồi nhìn vào đôi tay của mình. Đầu tiên, tôi nghĩ chúng tôi đã làm điều gì đó khiến cho cô ta bối rối, nhưng sau mấy giờ trôi qua, tôi nhận ra mình đã nhầm: nỗi lo âu của cô ta không xuất phát từ sự im lặng của cô Winter, mà từ mục đích nào đó nằm sau sự hiện diện của cô ta ở đây. Tôi nói với cô Winter một lúc về các nguyên tắc bố cục, cố đo lường xem nàng đã biết được tới đâu, đặt những câu hỏi, quan sát cách nàng trả lời, rồi tôi yêu cầu nàng phác họa một lọ hoa đang đặt trên bàn.
Trong lúc nàng vẽ, tôi xem lại những bức vẽ trong cặp giấy của nàng lần nữa. Chúng có vẻ vụng về và thô kệch, tất cả đều thể hiện rất rõ niềm mong muốn và khao khát bồn chồn của một cô gái để cuộc đời phong phú hơn nó vốn là. Tôi ngước mắt lên, nhìn lại nàng. Công việc tôi giao nàng làm không có giá trị lớn lao gì, một bức vẽ được tạo ra rồi bị quên lãng, nhưng nàng vẫn làm việc với một sự chăm chú tới độ hầu như gây đau đớn khi quan sát nó. Tôi muốn giơ một tay lên để ngăn nàng lại, thế nhưng khó gạt sang bên cái cảm giác rằng ngay cả sự nghiêm túc của nàng vì lý do nào đó cũng là một hành động thách thức, dù người ta vờ như không quan tâm tới hậu quả. Vì lý do nào đó nó khiến tôi sợ, như thể nàng có thể tự gây tổn hại cho mình trong niềm khao khát đánh mất bản thân vào việc này. Hai bàn tay nàng nhiều nếp nhăn và đỏ ửng, đôi tay của một phụ nữ nhiều gấp đôi tuổi nàng, và chi tiết nhỏ này khiến cho nàng có vẻ dễ bị thương tổn hơn tất cả số còn lại. Tôi nhận ra mình đang cực kỳ mong muốn có thể xóa bỏ đi bất kỳ điều gì mà nàng đang đấu tranh quá vất vả để chống lại. Sự dịu dàng này là một điều kỳ lạ, nó gần biết bao với nỗi đau, như thể bản thân nó là một dạng mất mát, một ước vọng đối với một sự gần gũi mà chúng tôi không bao giờ biết được.
 
 
26  
— Anh May - Bà Bourke gọi khi tôi toan rời khỏi nhà Joshua một tuần sau đó. Ngạc nhiên, tôi quay lại và nhìn thấy bà ta trên thang gác. Lizabet đang nhảy lò cò xuống ở phía dưới bà ta.
— Anh sắp đi à? - Bà ta hỏi, bắt đầu đi xuống, nhưng tôi lắc đầu.
— Chồng bà muốn tôi tới gặp ông ấy trước khi tôi đi, nhưng ông ấy vẫn đang bận việc với Tavistock.
Bà Bourke hơi mím môi lại. Tôi từng nghe bà phàn nàn một cách hài hước rằng hẳn chồng bà đã cưới Tavistock, người quản lý nông trại, nếu ông ta nghĩ người đàn ông đó có thể mang tới cho ông ta một khoản thừa kế.
— Anh ấy sẽ không về tới trong vòng vài giờ nữa, tôi nghĩ - Bà ta nói - Đừng chờ anh ấy.
Tôi khó chịu về việc thất hứa với Bourke, nhưng tôi tin phán đoán của vợ ông ta về nhiều điều, nhất là về chồng mình.
— Lizabet sẽ chơi đùa chút xíu, tôi nghĩ. Có lẽ anh có thể đi tản bộ với tôi trong lúc nó chơi - Bà ta nói trong lúc cô con gái lắc lắc con búp bê nhỏ nó đang cầm, mặt nó cau lại.
— Tôi có công việc - Tôi mở lời, nhưng bà Bourke đặt một tay lên cánh tay tôi, và đẩy nhẹ tôi.
— Vậy thì anh sẽ thực hiện nó, nhưng chưa phải bây giờ - Bà ta nói.
Dù chúng tôi bị ngăn cách bởi cái rào chắn vị trí của chúng tôi trong ngôi nhà, tôi quý mến vợ của ông chủ tôi. Bà và Bourke vừa mới kết hôn khi tôi bị nhốt tại đây lúc đầu. Bà nhỏ nhắn hơn cả một thiếu nữ, vẫn còn tươi tắn với cuộc sống ở những vùng duyên hải nước Anh và đang mang thai đứa bé sau này là Lizabet. Chỉ mới mười sáu tuổi khi Bourke gặp bà trong một chuyến viếng thăm nước Anh, chỉ lớn thêm chưa đầy một tuổi khi tới đây với tư cách bà vợ của một người góa vợ lớn hơn bà mười lăm tuổi và có một đứa con trai chỉ nhỏ hơn bà mười tuổi. Tôi nhớ đã từng nhìn thoáng qua bà khi tôi làm việc quanh nhà, chậm rãi bước qua những khu vườn, thận trọng với sự có mặt của bà. Ngay lúc đó tôi đã ngưỡng mộ bà, tôi cho là vậy, rất trẻ và rất xa với tất cả những gì bà đã biết, không chỉ vì lòng tử tế của bà mà còn vì sự tế nhị và bỏ qua những lễ nghi hình thức của bà.
— Gần đây chúng ta không gặp nhau nhiều - Bà nói trong lúc chúng tôi băng qua bãi cỏ.
— Tôi quá bận rộn - Tôi đáp, và bà mỉm cười.
— Anh có thấy quá lẻ loi không?
Tôi lắc đầu. Trong số người ít oi tôi có thể gọi là bạn, chỉ có bà Bourke mới hỏi tôi câu này.
— Tôi có việc để làm - Trước mặt chúng tôi, Lizabet đang lượn vòng vòng, một tay giơ cao con búp bê, thả hồn vào một trò chơi trẻ con nào đó.
— Bourke bảo anh dạy cô Winter vẽ - Bà Bourke nói. Tôi giật mình nhìn bà, nhưng trên mặt bà không nét tò mò. Có lẽ vẻ mặt tôi nói nhiều hơn những gì tôi muốn nói, vì bà nhìn tôi một lúc rồi quay đi.
— Anh nghĩ cô ta có xinh đẹp không?
— Bà chưa từng gặp cô ta sao?
Bà lắc đầu: Bourke thì có. Anh cô ta giữ cô ta rất chặt, tôi nghĩ, dù tôi không biết vì sao.
— Bà không quan tâm tới anh ta?
Bà trầm ngâm: Tôi nghĩ anh ta là một người quan tâm quá nhiều tới cách thế giới nhìn anh ta.
Trong lúc bà nói, Joshua xuất hiện. Lizabet chạy tới chỗ nó, con búp bê giơ cao, nôn nóng nói cho anh nó biết một bí mật nào đó mà nó mới phát hiện ra hoặc có lẽ yêu cầu anh nó cùng nhảy múa với nó. Bà Bourke nhìn chúng đăm đăm.
— Tôi nghe nói rằng Joshua ngày càng giống mẹ nó từng tháng một.
Tôi ngạc nhiên nhìn bà: Bourke nói thế sao?
Nhưng bà lắc đầu: Anh ấy không nói những điều như thế.
Joshua nhấc Lizabet lên vai mình, gợi nên một tiếng kêu ré vui vẻ.
— Nhưng tôi biết cả anh ấy cũng nhìn thấy điều đó.
*** Không ngờ gì rằng sẽ có vài người cười phì vào điệu bộ của những tay được tâng bốc trong những vùng thuộc địa này. Những kẻ phạm tội hai vợ hoặc hai chồng và những tay bắt cóc tống tiền, những tên trộm gia súc và những tay cờ bạc. Trong số chúng tôi ở đây có những người còn có nhiều giá trị hơn những tay tòng nam tước nói năng với giọng đông London phổ thông nhất, những phụ nữ mặc những váy áo đẹp nhất từng bán thân trên những đường phố London. Tuy nhiên, chế giễu, nhạo báng họ không phải là chuyện dễ, vì điều nằm trong quá khứ của họ đều có trong mỗi chúng tôi. Vì thế chúng tôi đồng lòng không dò hỏi, không nói gì, như thể nhờ sự im lặng này chúng tôi có thể quên đi chuyện cũ và sống một cuộc đời không có quá khứ, như thể đây là một mảnh đất không lịch sử, một đất nước được hình thành trong không khí.
Thế nhưng quá khứ vẫn ở đó. Trong mảnh đất và trong bản thân chúng tôi. Có những điều xảy đến với chúng tôi không cần lời lẽ, những di động bên trong bản thân chúng tôi. Chân xác như ý nghĩ hay ký ức. Nhưng không có ngôn từ chúng không thể hiện hữu, không có tên tuổi chúng không được trao tặng cuộc sống.
Suốt mấy tuần qua nàng luôn ở trong tâm trí của tôi. Không phải vẻ mặt của nàng mà là sự hiện diện của nàng trong căn phòng đó, cảm giác về một bí mật nào đó. Nó kêu vo ve trong tai tôi, một thứ gì đó mà tôi không thể gạt sang bên. Tôi xao lãng trong công việc, xao lãng với lũ học trò, thế nhưng tôi sẽ không đặt tên cho nó, sẽ không khoác cho cảm giác này một dáng hình. Tuy nhiên, với từng tuần trôi qua, tôi nhận ra mình đang nghĩ tới cuộc viếng thăm kế tiếp, ước ao có thể tìm ra một cách để xuyên qua bất kỳ thứ rào chắn nào nàng đã dựng quanh nàng. Trong những hình ảnh mà tôi tạo ra, trong những màu sắc và đường nét của chúng, tôi có thể cảm thấy sức ép của nàng, cảm thấy cách nàng bị cuộn vào việc tạo nên chúng. Nhưng tôi sẽ không thốt ra cái từ có thể làm rối ren tất cả những chuyện này.
*** Chính Bourke là người nói với tôi về lời mời của vợ ông, nói mấy từ đó như nói một chuyện đùa.
Tôi quay sang yêu cầu ông nhắc lại.
— Một đêm trình diễn âm nhạc - Ông lặp lại - Cô ấy bảo tôi nói với anh rằng cô ấy sẽ rất phấn khởi với sự hiện diện của anh.
— Tôi còn công việc - Tôi lưỡng lự, nhưng Bourke không phải loại người dễ bị khước từ.
— Cô ta xem việc đó là sự thể hiện lòng tốt đối với cô ta.
Vì thế, hai đêm sau đó tôi nhận ra mình đang ở trong nhà Bourke, đi lại một cách bồn chồn giữa đám khách. Tôi biết mặt họ, cả công việc của họ. Họ cười quá to, thô lỗ, ồn ào, những người phụ nữ trưng diện áo quần và đeo đầy trang sức, mặt họ rắn lại vì ánh nắng. Chúng tôi nói những lời nhã nhặn và không đòi hỏi. Thế rồi tôi ngước mắt lên và thấy Winter ở cửa, bên cạnh là cô em gái. Anh ta bước vào phòng, đầu ngẩng cao, và dù anh ta bắt tay với những người chủ nhà, tôi có thể thấy có rất ít nồng ấm trong việc chào hỏi. Em gái anh ta trông không thoải mái. Nàng cũng ngẩng cao đầu, nhưng trông như một phụ nữ có mặt ở đây trái với ý muốn của mình. Nếu bà Bourke có nhìn thấy thái độ này, bà cũng làm ngơ; bà giơ tay ra và kéo cô Winter lại gần, nói chuyện với nàng như thể họ đã là những bạn thân. Đôi mắt của Winter không rời khỏi lưng cô em gái, nhưng với một nụ cười bà Bourke yêu cầu anh ta rời khỏi họ. Trong khoảnh khắc, Winter định phản kháng, nhưng rồi anh ta gật đầu, mặt lạnh như tiền, và quay lưng khỏi họ.
Tay khoác tay với cô Winter, bà Bourke dẫn nàng đi ngang căn phòng. Dù nàng mặc một chiếc áo dài xanh lá nhạt rất hợp khi ở bên cạnh bà Bourke, trông nàng lúng túng và buồn bã, và sở hữu một phẩm cách thu hút những cái liếc mắt của cánh đàn ông và sự săm soi của cánh đàn bà khi nàng được giới thiệu. Ngay cả khi nhạc cất lên, và ca sĩ, một thiếu nữ xinh đẹp vừa từ Ấn Độ sang, cất giọng, tôi thấy cái cách họ nhìn nàng từ sau những chiếc quạt, cả cái cách nàng phớt lờ ánh mắt của họ, chỉ nhìn thẳng tới trước, sự chú ý thận trọng của họ chỉ khiến nàng tách biệt hơn, như thể nàng là một người lạ ở chốn này.
Rồi giọng của Bourke vang lên cạnh vai tôi.
— Học trò của anh tạo thành một bức tranh xinh xắn với vợ tôi - Mắt ông dán vào hai người phụ nữ. Dù ông là một ông chồng tốt và chung thủy, ông cũng là kẻ tán thưởng những nét quyến rũ của nữ giới và thấy thoải mái khi ở gần họ. Tôi bắt đầu nghĩ ra một câu trả lời, nhưng lúc đó anh của nàng đang đứng đó, bên cạnh Bourke.
— Anh May - Anh ta nói, giọng anh ta không có chút thân thiện nào.
— Anh Winter.
— Em gái anh thấy những bài học của cô ấy thế nào? - Bourke hỏi. Winter thận trọng nhìn tôi.
— Nó không nói rằng nó thấy chúng không vừa ý - Anh ta nói. Bourke cười lặng lẽ.
— Một xác nhận nồng nhiệt, chắc chắn rồi. Còn anh, May, anh thấy cô ta là một học viên như thế nào?
— Cô ấy cho thấy vài hứa hẹn - Tôi đáp - Dù tôi không phải là người đầu tiên hướng dẫn cô ấy - Rồi tôi quay sang Winter - Từng có một thầy giáo khác, một tù nhân phóng thích, cô ấy bảo.
— Một nhân công của cha tôi - Anh ta nói vắn tắt.
— Em gái anh bảo ông ta là tác giả của bức chân dung treo trong phòng khách của anh.
— Ông ta là một người bất cẩn trong mọi thứ - Winter nói. Tôi nhìn thẳng vào mắt anh ta.
— Thế nhưng tôi nghĩ ông ta đã dạy tốt em gái anh.
— Em tôi tiếp thu sự hướng dẫn khá tốt nếu nó thích thú - Winter nói. Đột nhiên tôi nổi giận vì nàng.
— Điều đó cũng đúng với tất cả chúng ta, phải không? Loài người chúng ta không có thói quen nỗ lực dưới ách áp bức.
Winter lãnh đạm nhìn tôi, nhưng trước khi anh ta có thể đáp lại, người ca sĩ kết thúc bài hát, gợi nên một tràng vỗ tay hoan nghênh. Cô gái yểu điệu cúi chào, và bà Bourke bước tới trước, tay giơ cao để ra hiệu cho khán giả im lặng lại.
— Có lẽ chúng ta có thể tìm ra một người khác trong số chúng ta có thể trình diễn cho chúng ta thưởng thức? - Bà hỏi, nhìn quanh. Có tiếng cười từ hai người đàn ông ở góc phòng; dán mắt vào họ, bà Bourke lắc đầu - Chúng tôi sẽ không nghe bài hát thủy thủ nào của các anh, tôi chắc thế, anh Wilkinson. Tôi đã nghe chúng quá đủ ở dưới bến cảng rồi.
Nhếch miệng cười vui vẻ với niềm thích thú chung chào mừng nhận xét này, bà Bourke lại giơ tay lên: Thế nào?
Mọi người rục rịch và thì thào, nhưng khi không có ai bước ra, bà Bourke giơ một tay về phía cô Winter.
— Cô chơi chứ? Có lẽ cô sẽ dành cho chúng tôi hân hạnh đó?
Dường như cô Winter trở nên bất động, dù nàng không co người lại trước lời đề nghị.
— Không, tôi nghĩ là không.
Bà Bourke lắc đầu - Xin vui lòng - Bà lặp lại - Ở đây chúng tôi quý trọng tài năng ở chốn này. Và tôi chắc cô có tài năng mà không ai trong chúng tôi có được.
Vẫn đứng đó, tôi cảm thấy một sự dịu dàng. Cô Winter dường như vẫn còn do dự. Nhưng rồi nàng cúi đầu và chấp thuận.
Với bà Bourke bên cạnh, nàng ngồi vào ghế của chiếc dương cầm, hai tay đặt lên bàn phím.
— Tôi nên chơi bài gì? - Nàng hỏi. Bà Bourke nhìn xuống nàng với vẻ quan tâm.
— Việc đó do cô quyết định - Bà nói. Thế là cô Winter nhấn một nốt nhạc, và rồi chậm rãi, cẩn trọng, nàng bắt đầu đàn.
Tiếng đàn của nàng không tao nhã cũng không điêu luyệnlắm, nhưng nàng chơi với một sự mãnh liệt, khao khát đến nỗi điều đó hầu như không quan trọng. Tôi không biết đó là bài gì, chỉ biết nó u buồn và kỳ diệu như bất kỳ bài nào tôi đã từng nghe. Nàng không nhìn quanh, không tìm kiếm những ánh mắt đang quan sát nàng, chỉ chơi, chơi mãi, đôi khi lạc nốt hay đánh nhầm chỗ này chỗ khác, nhưng hầu như sự vụng về này là một phần cung cách của nàng, niềm khao khát mãnh liệt nghe càng đau đớn hơn với sự vụng về này. Khi nàng kết thúc, tôi giơ tay lên vỗ, theo dõi nàng cúi chào, không phải với khán giả mà với chiếc dương cầm trước mặt, rồi đứng lên, và sau khi nắm tay bà Bourke giây lát, nàng đi ra phía sau.
*** Một lúc lâu sau khi nàng đã đi khỏi, tôi vẫn đứng nhìn khoảng không gian nơi nàng đứng cuối cùng. Suốt đêm tôi đã tìm cách tránh né ánh mắt của nàng, không biết do cảm xúc đối với nàng hay đối với chính tôi. Nhưng giờ đây tôi thấy rằng lẽ ra tôi nên nói chuyện với nàng, dù tôi không biết tôi sẽ nói những gì. Và vì thế, sau một đôi lời với những người tôi đi ngang, tôi theo nàng qua những cánh cửa để ra vườn. Ngoài trời, bầu không khí mát lạnh, mùi của đất và khói, lớp sa thạch của sân trong mềm lại và vàng rực dưới ánh đèn. Hai người đàn ông đang đứng, lặng lẽ hút thuốc. Nàng đứng ở chỗ bậc thềm xuống bãi cỏ với anh nàng, hai người đang trò chuyện với vợ chồng Bourke. Dù anh ta nói năng khá hòa nhã, tôi thấy cái cách anh ta giữ cánh tay nàng, cơn giận trong lòng anh ta. Mặt nàng hơi xoay đi, và nàng không thể nhìn thấy tôi; đứng bất động, tôi ước ao nàng quay về phía tôi, nhìn tôi. Nhưng không, nàng lần lượt bắt tay với vợ chồng Bourke trong lúc anh nàng chào từ giã họ. Chỉ khi họ đi tới lối dành cho xe chạy nàng mới quay lại, và mắt nàng chạm mắt tôi trước khi nàng quay đi, rồi họ đi khỏi.
*** Có lẽ do hồi ức về tiếng đàn của nàng nên đêm nay tôi không thể ngủ. Suốt đêm nàng hiện diện ở đó, tôi có cảm giác trong sự lặng lẽ đó của nàng có một sự cảm thông nào đó. Những con thú có túi chạy sột soạt trên mái nhà, bọn cú muỗi kêu rúc lên. Việc quá bị ám ảnh đến thế làm tôi thấy sợ. Đến ba giờ, tôi ngồi dậy, nghĩ sẽ làm việc, và thắp ngọn đèn trên bàn giấy. Dưới quầng sáng của nó lũ côn trùng di động thành những điểm sáng lao vút và đan vào nhau. Tôi lần lượt mở từng tấm ván, bên trong là những bức tranh, dõi theo những đường nét của lũ chim mà tôi đã phác họa trên những tờ giấy. Trong khi vẽ, chúng đã mang tới hạnh phúc cho tôi, nhưng giờ đây dường như chúng là những vật vụng về, những diễn dịch nghèo nàn của sự sống. Chúng không chuyển động, cũng không có tiếng kêu. Ngẩng lên, tôi thấy ảnh phản chiếu của mình méo đi trong tấm kính cửa sổ, một tương phản sáng tới dưới ánh đèn vàng của ngọn đèn. Những đặc điểm của nó quen thuộc, nhưng cũng lạ lùng, như thể gương mặt đó không phải của tôi mà là một tấm mặt nạ, và bên dưới nó chỉ có sự rỗng không.
 
 
 
27  
Tôi đang ngồi trong phòng khách nhà Roberson với Amelia thì mẹ cô ta bước vào. Tôi nhìn lại và chúc bà buổi sáng tốt lành, rồi hướng sự chú ý trở lại trang giấy của Amelia. Sau lưng tôi, bà Robertson ngồi xuống, và tôi có thể cảm thấy bà đang quan sát chúng tôi.
— Tôi nghe nói cô ta là một học trò của anh? - Cuối cùng bà ta nói.
— Cô ta? - Tôi quay sang bà ta. Bà Robertson mỉm cười, như thể câu hỏi của tôi khiến bà ta thấy thích thú.
— Cô Winter, người chơi đàn khiến cho mọi người mê mẩn đêm hôm trước.
Tôi giữ cho ánh mắt của mình điềm tĩnh, nhưng bà Robertson đã nhìn thấy điều bà ta tìm kiếm, và bà ta cầm cái quạt lên phe phẩy.
— Anh thấy cô ta thế nào?
— Cô ấy cho thấy có hứa hẹn - Tôi đáp, nhưng bà Roberson chỉ bật cười.
— Anh rất sáng suốt. Tính cách của cô ta ra sao?
Amelia đã quay sang lắng nghe. Bà Robertson giơ tay lên để xua cô bé đi chỗ khác.
— Để mẹ nói chuyện - Bà ta nói, và Amelia đứng lên khẽ chào tôi. Chỉ khi nó đã ra ngoài, bà Robertson mới nhìn tôi với ánh mắt có thể mê hoặc một gã đàn ông.
— Tôi nghe nói anh cô ta có tài sản đáng giá bốn mươi ngàn.
Tôi chỉ ngồi yên. Thế rồi, với một sự bất cẩn đột ngột, bà ta cười phá lên.
— Thật sự, anh May, đôi khi tôi nghĩ anh còn sống ẩn dật nhiều hơn là anh nói. Anh không biết cái chuyện giật gân quanh cô ta sao?
— Chỉ cần có thời gian, luôn có nhiều chuyện giật gân - Tôi nói, nhưng bà Robertson không nao núng.
— Nghe nói anh cô ta rời khỏi Van Diemen’s Land là vì cô ta. Cô ta đã sinh một em bé cho một viên sĩ quan, một người đã kết hôn với bà vợ còn ở nước Anh.
Có lẽ tác động của tin này lên tôi quá dễ thấy, vì bà Robertson mỉm cười không vui.
— Tôi chưa từng thấy một đứa bé nào cả.
Bà Robertson cười to: Không. Tôi nghe nói nó đã chết, chắc chắn là rất không may.
Tôi suy nghĩ giây lát tới chuyện bước ra ngoài, bỏ bà Robertson lại đó, nhưng điều đó sẽ tiết lộ nhiều hơn những gì bà ta đã suy đoán.
— Thế nhưng bà đã giới thiệu Amelia với anh cô ta - Tôi nói. Một sự im lặng lãnh đạm rơi xuống, và tôi biết mà không cần thêm lời nào khác rằng tôi sẽ không được chào đón tại đây nữa.
— Bốn mươi ngàn sẽ bỏ qua được nhiều điều - Bà ta đáp, rồi đứng lên, phủi chiếc váy.
— Kết thúc bài học của anh nhé, tôi muốn Amelia đi cùng tôi trong cỗ xe.
*** Bên ngoài, tôi bước nhanh. Còn ba giờ nữa mới tới giờ hẹn cho bài học, nhưng nhớ tới cuộc gặp cuối cùng giữa chúng tôi, tôi muốn tới nhà nàng ngay, như thể tôi có thể đưa ra cho nàng một sự ân xá, một sự thứ tha nào đó, dù về cái gì tôi không biết. Chỉ khi tới con đường dẫn tới cổng nhà nàng tôi mới dừng lại, biết rằng tới đó trong một trạng thái như thế này chỉ sẽ làm thương tổn cả hai chúng tôi.
Bà Blackstable chào tôi, và bỏ lại tôi chờ ở đó, bà ta vào để báo với cô Winter rằng tôi đã tới. Tôi bước loanh quanh, thỉnh thoảng lại nhìn lên bức chân dung bên trên lò sưởi.
Nàng xuất hiện ở cửa ra vườn, một chiếc khăn choàng điểm hạt khoác hờ hững trên vai.
— Tôi không ngờ anh tới sớm đến thế - Nàng nói - Tôi vừa ở trong vườn, và phải xin thứ lỗi.
Tôi lắc đầu: Không cần thiết, lỗi là ở tôi. Tôi đã tới sớm.
Dù tôi đã hình dung ra cuộc gặp mặt này trong suốt vài giờ vừa qua, giờ khi đã ở đây tôi lại thấy không thoải mái, và rõ ràng nàng không biết những thay đổi trong cảm giác của tôi.
— Chúng ta bắt đầu chưa? - Nàng hỏi, bước tới gần. Tôi gật đầu, tôi cho là hơi cộc cằn. Nàng nhìn tôi như thể tôi đã phản bội nàng theo cách nào đó.
— Có lẽ là ngoài trời - Tôi đề nghị, và với một tia nhìn cảnh giác, nàng bảo tôi chờ trong lúc nàng đi lấy cái cặp giấy.
Chúng tôi băng qua bãi cỏ, tìm một nơi để ngồi. Rốt cuộc chúng tôi chọn một chỗ râm mát bên dưới một cây bạch đàn vỏ xanh nhạt. Tôi đặt cái ghế đã mang từ trong nhà xuống cho nàng, chờ nàng ngồi xuống. Nàng kê tấm bảng lên, bắt đầu vẽ, nhưng rõ ràng có gì đó đang quấy rầy nàng, vì nàng xao lãng, không thể thả hồn vào công việc.
— Bài nhạc cô chơi ở gia đình Bourke - Tôi mở lời, nhưng nàng quay lại, rất nhanh, rồi lại nhìn sang chỗ khác.
— Tôi rất tiếc về chuyện đó, tôi là một nhạc công dở tệ.
— Không. Nó khiến cho tôi rất xúc động.
Nàng gật đầu, cử chỉ có vẻ tùy tiện - Anh tôi nghĩ rằng tôi đàn tệ.
Khi tôi không trả lời, nàng ngước mắt nhìn tôi. Chúng tôi cứ ngồi như thế giây lát, không nói lời nào.
— Tôi nghĩ anh đã hiểu lầm tôi.
— Không - Tôi đáp - Tôi không nghĩ là tôi hiểu lầm cô.
— Anh biết điều gì đó về tôi, về quá khứ của tôi?
— Về đứa bé, và viên sĩ quan, vâng.
Nàng im lặng hồi lâu.
— Thế nhưng anh vẫn tới thăm tôi?
Ngay lúc ấy tôi nghe một tiếng động. Bà Blackstable đang đứng đó.
— Anh cô muốn cô vào nhà có việc - Bà ta nói. Cô Winter nhìn bà ta với vẻ chán ghét nhưng bà ta không nao núng.
Nàng khép cặp giấy lại, đứng lên.
— Mong anh thứ lỗi cho tôi. Có lẽ chúng ta sẽ làm lại vào lần gặp sau.
Tôi gật đầu, đứng lên khi nàng quay lưng bước đi. Nàng ngẩng cao đầu, và sẽ không cúi xuống.
— Cô Winter - Lúc đó tôi gọi, và nàng quay lại.
— Vâng?
— Không ai trong chúng ta không có một quá khứ.
Nàng dừng lại chốc lát, quan sát tôi, rồi nàng hạ mắt xuống, quay lại, tiếp tục đi. Bà Blackstable nấn ná lại một lúc. Tôi không nói gì với bà ta, cũng không cần phải hỏi bà ta đã nghe thấy những gì vì khi quay đi, bà ta ngoái lại nhìn tôi, và mỉm cười.
*** Hôm đầu tiên đó, khi họ dẫn tôi từ tàu lên bến cảng, tôi không biết mình nghĩ gì về những điều có thể nằm ở phía trước. Bốn tháng trời giữa biển cả và gió, băng qua nửa vòng trái đất, thế nhưng tôi không quan tâm tới nơi tôi sẽ đến, mọi thứ dường như đều nhạt nhẽo và không lợi ích gì.
Sau bóng tối lờ mờ của nơi giam giữ, những cỗ quan tài kêu cọt kẹt là những cái giường mà trong đó chúng tôi nằm, ánh sáng ban ngày dường như là điều không thể có, tiếng nước vỗ oàm oạp và tiếng kêu chói tai của lũ chim. Chúng tôi tơi tả, xanh xao, thân thể héo hon sau những tháng nằm dưới boong tàu, và khi chúng tôi lảo đảo lê chân trên những đường phố trong xiềng xích, mọi người quay sang nhìn chòng chọc. Tôi đã tưởng họ có thể cười nhạo, nhưng không; ngoài một thằng bé chạy bên cạnh chúng tôi, kéo tay áo chúng tôi và thì thào đề nghị đổi thịt, bánh mì hay rượu vang để lấy một siling, hầu như không có lời nào thốt ra trong thời gian chúng tôi đi trên phố.
Dù tôi đã trải qua gần năm tháng bên cạnh họ, tôi không có người bạn nào trong số những người tôi đi bên cạnh, mỗi người lê chân dưới sức nặng của sợi xiềng. Một gã đàn ông khác có lẽ đã tìm được tình bạn trong đó, thế nhưng tôi không thích thú gì chuyện đó. Vì thế trong lúc chúng tôi nằm trên giường trong những trại lính, tôi chỉ có thể lắng nghe trong lúc những người khác lên kế hoạch và suy đoán xem vận mệnh nào đang chờ đón họ.
Tôi không nói gì tới việc tôi có thể viết và đọc, vì thế tôi nghĩ tôi sẽ bị đưa tới làm lao dịch cho khu kiều dân, một người của chính phủ, bị kết án phải nung vôi hay đào than. Dù đây là số phận mà hầu hết những kẻ khác ghét cay ghét đắng, nó có một quyền lực nào đó đối với tôi: việc trở thành kẻ thấp hèn nhất trong những kẻ thấp hèn có một sự cân xứng bệnh hoạn nào đó.
Thế nhưng tôi không bị đưa tới khu kiều dân, trái lại, tới một người tên là Tavish. Tin tức này đến cùng với chỉ thị rằng tôi rời khỏi cái giường. Tôi lảo đảo ra sân. Cùng với năm người không quen biết khác, tôi bước theo sau một cỗ xe chở hàng lên phía bắc. Dù chúng tôi sẽ phải đi bộ một trăm dặm hoặc hơn, băng qua những ngọn đồi và thung lũng, suối và sông, những sợi xiềng không được tháo khỏi chân của chúng tôi vì sợ chúng tôi bỏ trốn. Vì thế chúng tôi bước loạng choạng, đói khát, da mắt cá bị lột ra vì những cái còng, lưng cháy đỏ vì vầng thái dương trên đầu.
Dù có những ông chủ đối đãi lịch sự với những người được phân cho họ, Tavish không phải một trong số đó. Ông ta từng là quân nhân, và tôi chắc là trong cuộc sống đó, ông ta cũng bị những người thuộc cấp của mình căm ghét. Sử dụng thành thục một chiếc roi, ông ta tìm vui trong việc hành hạ những người được phân phối cho ông ta, như thể với việc biến chúng tôi thành thú vật, ông ta đáp ứng được một sự thiếu vắng nào đó trong bản thân mình.
Mảnh đất của ông ta nằm ở phía nam Newcatsle, giữa những cái hồ và đầm lầy, và ông canh tác đất đai cùng con trai mình, người chịu trách nhiệm cho cuộc hành trình cưỡng bức của chúng tôi. Dù đất đai quanh vùng toàn là cát và cằn cỗi, dự tính của họ là mở mang đất nước, để nó có thể tạo ra cừu và gia súc, và do mục đích này, chúng tôi được bố trí phát quang nó. Công việc này rất khắc nghiệt nhưng dường như Tavish và con trai ông ta không quan tâm, hầu như chỉ cho chúng tôi ăn vừa đủ để giữ hồn xác gắn vào nhau, và đày ải cho tới khi chúng tôi gục xuống. Chúng tôi biết họ không có quyền làm điều này, nhưng chúng tôi không còn nơi nào để đến, không nhà cầm quyền nào có thể giúp chúng tôi.
Nhưng theo cách nào đó, những tháng ngày tàn bạo đó cũng trui rèn một thay đổi khác trong tôi. Ngoài kia, nơi những ngọn đồi chạy thoai thoải xuống sông hồ, và ánh nắng giống như thủy tinh, tôi tìm được một mức độ lặng lẽ nào đó mà tôi chưa từng biết. Tôi thường trải qua suốt những ngày như thế một mình, hoặc chỉ với những người cùng lao dịch với tôi, và dù công việc nặng nhọc, mỗi người chúng tôi vui mừng về khoảng trống và không khí. Đôi khi trong lúc chúng tôi lao động, tôi chợt ý thức tới một cuộc sống khác bên cạnh, lũ diệc bạch và các loài thủy điểu, cho tới một ngày nọ, tôi quay lại và nhìn thấy một con diệc xám, đang băng qua một vũng nước không xa, cái cổ dài của nó vươn ra và sẵn sàng đớp mồi. Tôi biết nó nhìn thấy tôi, vì nó chợt đứng bất động, quan sát tôi một cách cảnh giác. Tôi và nó cứ đứng thế trong một khoảnh khắc, có thể chỉ một nhịp tim mà cũng có thể là vĩnh viễn, rồi cuối cùng nó quay đi, băng qua vũng nước một cách ung dung. Chỉ khi đó tôi mới cảm thấy hơi thở vừa thoát khỏi tôi trong một tiếng phì vội vã, và nhận ra tôi đã nín thở.
Dần dà tôi học được cách di chuyển lặng lẽ để tránh làm động lũ chim te te. Tiếng kêu của loại chim này có thể gửi tới mọi con chim đang kêu la ầm ĩ trong không trung cách đó ba trăm mét; và tôi bắt đầu học hỏi những tập quán và cung cách của các loài chim sống ở mé bên kia, những con chim bói cá, vẹt Mã-lai, chào mào, chích chòe và chim hút mật. Quan sát chúng tung cánh lên, quan sát sự nhẹ nhàng của những thân hình, bản thân điều đó là một sự tự do đối với tôi, thế nhưng đây không phải là tất cả những gì tôi thấy ở chúng: tôi đã nhìn thấy một điều gì đó sắc sảo, và nguy hiểm, những sinh vật sống bên ngoài lãnh địa của con người, đầy ước vọng khát khao, một Sự sáng tạo khác.
Có lẽ việc đó sẽ không tiến xa hơn nếu Tavish không tới với một bó giấy. Như nhiều ông chủ tìm thấy vui thú trong việc hủy hoại những người lao công cho họ trong các khu kiều dân, Tavish thường tìm kiếm sự đền đáp khi tỏ ra tốt với chúng tôi, bằng những vật phẩm vô dụng hay vô giá trị đối với những người có cuộc sống như của chúng tôi. Không còn ngờ gì nữa, mớ giấy này dường như với ông ta là một thứ như thế: chúng tôi có thể dùng chúng vào việc gì, chúng tôi, những kẻ không thể đọc hay viết thậm chí cả cái tên của chính mình? Mấy người khác nguyền rủa ông ta, và toan đốt nó đi, nhưng tôi lý luận rằng chúng tôi nên giữ nó lại, đền bù bằng một hai khẩu phần, và tôi cũng lấy những thứ được trao cho mấy người kia.
Tôi mua lại của người quản gia một cây bút máy, một lọ mực và vài cây bút chì, nghĩ rằng có lẽ để ghi nhật ký. Vì thế đầu tiên nó là một cuốn nhật ký, một biên niên sử để nhắc nhở chính tôi rằng tôi thật sự ở đây. Thế nhưng những ghi chép tôi viết có rất ít kết quả, danh sách dằng dặc của những cuộc đốn cây, đào gốc, dựng rào, đào hào, thành thử để thay vào đó, tôi bắt đầu viết, mỗi ngày một ít, về các loài chim. Mô tả chúng, đếm số lượng của chúng, liệt kê các tập quán của chúng khi tôi bắt đầu biết chúng ở phạm vi gần. Đó không phải là khoa học, hoặc không hoàn toàn, vì trong những từ này, tôi tìm thấy một dạng thi ca, như thể tôi có thể nắm bắt một điều gì đó vượt quá sự hiểu biết của tôi từ bản thân chúng, một cảm giác nội tâm mà sự hiện diện của nó hình thành từ sức nóng của cuộc sống chim chóc. Tôi không biết những từ này có thể là gì, chỉ biết rằng dường như trong việc viết ra chúng có một bí ẩn nào đó mà tôi cần vén mở. Chẳng bao lâu, từ ngữ chuyển thành hình ảnh, và lúc đầu tôi cố vụng về ghi lại dáng hình của chúng. Đầu tiên không phải là toàn bộ, mà chỉ những thứ nhỏ hơn: những quả trứng lốm đốm của mấy con gà gô đỏ trên mấy cái tổ sậy; những chiếc lông vũ của chim bồ nông; đôi cánh mở rộng của một con chim sẻ, chết và rơi xuống cỏ trong lúc đang bay.
Nhưng những thứ tôi đã thực hiện ngoài cuốn nhật ký đã tạo nên một phản ứng khác. Người ta cho rằng có thể đánh đồng những kẻ như chúng tôi, thế nhưng không phải thế, chúng tôi cũng chưa bao giờ là thế. Thi thoảng, khi chúng tôi nằm lơ mơ nửa ngủ nửa thức, thân thể đau nhừ sau một ngày vất vả, họ thường nói về quê nhà mà họ đã xa lìa, về những phố phường, những người phụ nữ, con trái, con gái xa xăm; những người này bị phạt mười bốn và hai mươi năm tù; có hai người có thể không bao giờ quay lại, và khi họ nói về quê hương, tôi nhận ra một ý nghĩa chân xác của sự lưu đày mà chúng tôi đang chia sẻ chia. Giọng họ cất cao với vẻ dịu dàng ảm đạm như mơ, không có chút vết tích của lòng tức giận, như thể họ cảnh giác để không bôi nhọ những điều đó. Trong số sáu người, chỉ mình tôi chưa bao giờ nói về cuộc sống trước đó của tôi, và dù không ai yêu cầu tôi tiết lộ về mình, sự im lặng của tôi khiến tôi bị tách riêng ra. Thế nhưng việc phát hiện rằng tôi có thể viết và vẽ dường như là sự phản bội lại một chân lý không được thốt ra nào đó. Tôi cảm thấy họ rút lui, co người tránh xa khỏi tôi.
Sau hai năm ở trang trại của Tavish, tôi được bán cho một người khác, một người đàn ông tên là Donaldson. Ông ta có một trang trại gần Liverpool. Tôi chuyển sang đó ba năm, rồi được gửi tới làm việc cho Bourke. Và ở nhà của Bourke, tôi tìm thấy một người cũng đã tìm kiếm để thấu hiểu đất nước này, từng nghiên cứu về súc vật và cây cỏ ở đây. Bằng cách nào đó ông ta đã nghe nói về việc ghi chép của tôi, và một hôm ông ta đến thăm tôi trong khu dành cho tù phóng thích ngủ, hỏi rằng ông ta có thể xem qua những gì tôi đã thực hiện hay không. Cho tới lúc đó tôi chưa cho ai xem nó, nhưng tôi mở nó ra, trao cho ông ta những cuốn vở và những bức tranh của mình. Ông ta thận trọng lật qua chúng, trong lúc tôi đứng sững bên cạnh, đôi má nóng bừng và bụng nhẹ hẩng. Thế rồi cuối cùng ông ta quay sang tôi, bảo rằng tôi có tài thiên phú về hội họa.
Dù một lời khen ngợi như thế khiến tôi thấy vui lòng, vì lý do nào đó tôi cũng cảm thấy bị phơi trần.
Theo đề nghị của Bourke, tôi bắt đầu nhận đơn đặt hàng làm những mẩu vật. Một chiều nọ ông ta tới gặp tôi, mang theo một lá thư, và hỏi tôi có muốn kiếm thêm một hai bảng một cách dễ dàng không. Lúc đó ông ta là chủ của tôi, vì thế tôi chấp nhận đề nghị của ông ta. Tôi nhăn mặt khi nghe thấy tiếng súng, nhìn thấy viên đạn xuyên vào những con chim, thấy chúng xoay tròn và rơi xuống đất. Trong mấy tháng đầu tiên đó, mỗi cái chết dường như là một phần của tôi, thế nhưng tôi đã học được cách làm cho mình trở nên sắt đá với chuyện này. Tất cả chúng là kiến trúc, những con chim này, nhẹ như giấy trên đôi cánh, ấm như không khí. Tôi biết rằng với thân hình của chúng trong tay người ta có thể vẽ chúng cẩn thận hơn, và vì thế bản thân hành động tàn bạo này có thể là một thứ rất gần với tình yêu.
 
 
 
28  
Chính bà Bourke là người nói cho tôi nghe về sự tức giận của bà Robertson đối với tôi.
— Đêm đó chúng ta không trò chuyện với nhau - Bà nói, ngồi xuống đối diện với tôi và Joshua.
— Tôi rất tiếc về chuyện đó. Dường như bà đã quá bận tâm chuyện khác.
— Anh nghĩ sao về cuộc vui đó.
— Cô Honoré hát nghe êm tai nhất.
— Còn cô Winter?
— Tôi nghĩ cô ấy chơi hay.
Bà Bourke mỉm cười, quay sang Joshua:
— Con bảo Lizabet tới đây giùm mẹ nhé.
Johsua đứng lên, bỏ lại hai chúng tôi.
Trong lúc nó đi ra cửa, bà Bourke nhìn theo nó một cách trìu mến. Trong sáu tháng qua, nó đã cao lên nhiều phân, và nó bứt rứt với sự kiện đó, lúng túng và thấy khó khăn.
— Tôi nghe nói là anh đã tạo cho mình một kẻ thù - Bà nói khi con bé đã đi khỏi.
— Ai vậy?
Với cái nhìn bộc trực mà tôi ngưỡng mộ ở bà, bà đáp: Bà Robertson.
— Thật thế.
— Vậy anh đã biết rồi?
— Không phải vì bà ấy có nói gì chống lại tôi.
Bà Bourke gật đầu: Tôi nghe hai người bạn nói lại chuyện đó. Bà ta không nói anh đã làm gì, chỉ bảo rằng bà ta sẽ không hoan nghênh anh tới nhà bà ta nữa.
— Tôi rất tiếc về điều đó.
Khi bà lại cất tiếng, giọng bà lặng lẽ hơn.
— Joshua đã gần mười bốn. Chẳng bao lâu nữa cha nó sẽ muốn bảo bọc nó nhiều hơn.
— Tôi đã được kỳ vọng quá nhiều.
— Anh không tán thành?
— Tôi nghĩ nó là một cậu bé không phù hợp với cuộc sống mà nó phải tự tạo ra cho mình.
— Cha nó quan tâm tới nó.
— Tôi không ngờ vực gì điều đó. Ý của bà là kết thúc công việc của tôi ở đây?
Bà lắc đầu: Không. Chỉ để nói với anh nó sẽ không kéo dài mãi được.
*** Trong bài học kế tiếp, bất kỳ mối ràng buộc nào mà chúng tôi đã tìm được vào lần gặp cuối dường như đã từ bỏ chúng tôi. Cô Winter tỏ ra khó ở và không thoải mái với sự hiện diện của tôi. Đã hai lần tôi đề nghị chúng tôi nên đi ra ngoài, để có thể ngồi lần nữa giữa không gian thoáng đãng, nhưng cả hai lần nàng đều viện lẽ thời tiết khắc nghiệt, sự đe dọa của cơn mưa đang tới. Đầu tiên tôi nghĩ tôi đã xúc phạm nàng, và tôi cẩn thận tìm kiếm một gợi ý nào đó về điều tôi đã làm. Sau đó bà Blackstable xuất hiện, bận rộn với một thứ đồ bạc nào đó trong tủ ngăn. Tôi bực bội quay sang, định nhắc bà ta về chỉ thị của tôi rằng không nên quấy rầy chúng tôi. Nhưng cô Winter giơ tay lên.
— Xin anh, May - Nàng nói. Trong khoảnh khắc, nàng bắt gặp mắt tôi, rồi nàng lắc đầu quay lại công việc vẽ tranh, và tôi hiểu. Ở chỗ cái tủ ngăn, bà Blackstable đã dừng công việc của mình và đang quan sát chúng tôi, nhận thấy cô Winter đang tập trung vào bức vẽ, bà quay lại với món đồ bạc của mình.
Tôi không nói thêm gì cho tới khi bà ta đi khỏi, chỉ ngồi mong ước bà ta bỏ đi giùm cho khuất mắt. Chỉ khi nghe tiếng bước chân của bà ta xuôi xuống tòa sảnh, tôi mới đứng lên, đi tới chỗ cô Winter đang ngồi, quỳ gối xuống cạnh nàng.
— Tôi xin lỗi nếu đã làm cho cô đau khổ - Tôi mở lời, nhưng nàng giơ tay lên, ngăn tôi lại.
— Anh không phải là nguyên nhân của nó - Nàng nhìn tôi. Khi nhìn vào đôi mắt xám của nàng, tôi cảm thấy nhu cầu được ôm lấy nàng, mạnh mẽ đến nỗi tôi nghĩ tôi không thể cưỡng lại được. Nhưng giây lát sau, nàng nhìn sang chỗ khác.
— Anh có bao giờ mong được tự do thoát khỏi chỗ này? - Nàng hỏi, với sự sôi nổi bất ngờ.
Tôi lắc đầu: Tôi không còn nơi nào khác để đi, không nơi nào cả.
Trông nàng như thể bằng cách nào đó tôi đã làm nàng thất vọng. Nàng nói:
— Tôi chưa làm điều gì có tội - Nàng nói - Và tôi bị cầm tù ở đây cũng chắc chắn như số còn lại các anh.
— Tôi không phải là một tù nhân.
— Toàn bộ nơi này là một nhà tù, anh không thấy điều đó hay sao? - Nàng hỏi, quay sang tôi. Không hề nghĩ ngợi gì, tôi giơ tay ra, chạm vào má nàng, nhưng nàng không nhũn ra hay cúi xuống. Cuối cùng nàng cầm lấy tay tôi.
— Không thể có chuyện này - Nàng nói, và nàng cầm tay tôi đưa trả về vị trí của nó.
Khi mở cửa ra, tôi cảm nhận được nó, cái cảm giác mơ hồ rằng đã có ai đó ở đây. Một sự im lặng nặng nề trong không khí, khoảng không gian trong phòng tĩnh lặng như một mặt hồ sau cuộc chết đắm. Trông căn phòng giống như lúc tôi rời khỏi nó, mọi thứ đồ đạc không hề xáo trộn, những thứ còn lại trong bữa ăn sáng của tôi vẫn ở nguyên trên bàn, khẩu súng của tôi nằm trên lò sưởi. Thế nhưng tôi không thể rủ bỏ sự chắc chắn rằng đã có ai đó vào đây, tìm kiếm thứ gì đó. Trong căn phòng kế bên, được dùng làm phòng làm việc của tôi, những giấy tờ vẫn nằm đó như lúc tôi để lại chúng, những cuốn sách và album tranh vẽ vẫn nằm nguyên vị trí. Trên chiếc ghế dài, bộ da nhồi của một con vẹt Mã-lai được bố trí để vẽ lại: tôi đặt một tay lên nó và nhìn lướt qua cái kệ, nơi cất giữ những chất liệu bảo quản. Thạch tín, và những con dao mổ. Bên dưới những ngón tay của tôi, bộ lông của con vẹt thật mềm, tôi ngước lên lần nữa, nhìn ra những cây cối ngoài cửa sổ.
Rồi hoàn toàn đột ngột, tôi nghe thấy một tiếng động, một bàn chân thận trọng đặt lên một tấm ván, và quay nhanh lại, tôi nắm chặt tay lại thành một nắm đấm, nhưng chỉ để nhận ra Winter đang đứng đó.
— Anh chọn sống trong một nơi thật hẻo lánh, anh May.
— Tôi không quan tâm tới khách khứa, đó là nguyên tắc - Tôi đáp.
— Phải, tôi thấy điều đó. Ngôi nhà này là của Bourke, phải không?
Tôi gật đầu, Winter bước tới lối ra vào: Tôi đã nghĩ nên tới xem những bức tranh của anh.
— Thật thế sao?
— Anh nghĩ tôi tìm kiếm thứ gì chứ? - Winter hỏi, liếc quanh.
Tôi lắc đầu: Tôi không biết.
Nhận ra một cách khó chịu sự đạm bạc của những thứ mà tôi gọi là của tôi, tôi quan sát anh ta nhìn quanh mấy bức tường trống, cái bàn và mấy cái ghế đơn giản.
— Những thứ này là của anh? - Anh ta hỏi, bước ngang qua tôi vào căn phòng và dừng lại trước một chồng giấy nhỏ. Trên cùng là hình vẽ một con chim ăn mật trên một bụi cây grevillea. Trong lúc nói, anh ta ngẩng lên, thấy tôi gật đầu, anh ta quay lại xem xét chúng, đặt bức vẽ sang bên để lộ bức bên dưới, rồi bức kế tiếp, mỗi lần lại tạm dừng lại để nhìn kỹ với cùng một sự chú ý, lần lượt xem qua tất cả. Bụng và cổ họng tôi quặn lại, một cảm giác mà tôi đang gánh chịu.
— Anh có muốn uống chút gì không? - Tôi hỏi, không thoải mái.
— Không - Anh ta đặt tờ cuối cùng xuống. Rồi chậm rãi di chuyển quanh căn phòng, lần lượt xem xét từng phần của nó.
— Anh tính bàn bạc với tôi điều gì đó? - Tôi hỏi, và anh ta quay sang tôi.
— Không còn ngờ gì rằng anh biết gì đó về em gái tôi - Anh ta nói. Tôi không nói gì. Có lẽ xem sự im lặng của tôi là sự đồng ý, anh ta nói tiếp.
— Thanh danh của một phụ nữ có một quá khứ như thế là một điều rất mong manh, một đề tài ngồi lê đôi mách muôn thuở, anh May ạ.
— Anh ngụ ý điều gì? - Tôi hỏi, có lẽ quá nóng vội. Winter không nao núng.
— Anh sẽ làm tốt nếu thận trọng không tạo nguyên cớ cho những kẻ khác tìm vui ở em tôi.
Tôi ước gì vào giây phút đó tôi có thể tung ra một lời cáo buộc đáp trả lại anh ra, nhưng làm thế chỉ có nghĩa là từ bỏ mọi hy vọng được gặp lại nàng.
— Tôi là một người có chút vị thế -Anh ta nói - Lỗi lầm quá khứ của em tôi có thể được khắc phục bằng một mối hôn nhân phù hợp.
— Tôi cho rằng đó là một vấn đề đối với cô ấy.
— Nhiều thứ sẽ bị quên lãng ở đây.
— Tôi không nghĩ là tôi hiểu.
Thoạt tiên anh ta không đáp.
— Vì sao anh sống một mình ở đây, anh May? - Cuối cùng anh ta hỏi - Anh đang lẫn tránh điều gì?
— Tôi không hiểu anh muốn nói gì.
— Chỉ để nói rằng tất cả chúng ta đều có những bí mật, những điều mà chúng ta muốn bỏ lại trong quá khứ.
Khi tôi không đáp, anh ta cầm mũ lên và mỉm cười.
— Vậy là chúng ta đã hiểu nhau rồi đó.
*** Anh ta bỏ tôi lại đó, biến mất trên lưng ngựa vào bóng tối dọc con đường mòn. Còn lại một mình, lẽ ra tôi cảm thấy thoải mái, nhưng thay vì vậy, tôi thấy bồn chồn, theo cách nào đó, sự riêng tư và chốn ẩn náu trong ngôi nhà của tôi đã bị xâm phạm. Cả sự tức giận nữa, với anh ta, với chính mình, dù đó là vì nàng hay vì chính tôi tôi không hoàn toàn chắc chắn. Gói trong lớp vải trên ngưỡng cửa sổ là một cặp chim ăn mật, bắt được hồi rạng sáng này. Lúc đó chúng còn ấm; trong nhiều giờ kể từ lúc đó chúng đã lạnh đi, thân hình chúng cứng lại và thảm hại, đôi chân nhỏ xíu của chúng co gập lại. Chúng phải được nhanh chóng rửa sạch, không thì chúng sẽ bị hỏng, và do đó, hy vọng đẩy lùi những cảm giác này khỏi đầu óc mình, tôi thắp một ngọn đèn.
Tôi làm việc thật nhanh, cử động của đôi tay với sự hiểu biết về công việc thực hiện thường xuyên đến độ không cần suy nghĩ này khiến tôi bình tĩnh lại: lưỡi dao lướt dọc theo bụng và vòng quanh, lớp da được lột ra khỏi thịt, cẩn thận để không làm hỏng nó, xoa thạch tín vào mặt trong da để sát trùng. Chúng rất bé, loài chim này, rất nhẹ, đôi cánh như hai cẳng chân của chúng mỏng đến nỗi chúng có có thể làm cho tôi thống khổ khi nhìn thấy chúng bị chết tức tưởi như thế.
Bên ngoài, bóng tối đã ập xuống, thế nhưng tôi không ngừng lại, đôi tay vẫn tiếp tục cử động. Tôi nhồi chúng rồi lấy giấy bút và bắt đầu vẽ, đôi mắt tôi căng lên dưới ánh đèn vàng vọt. Bình thường, công việc này mang lại cho tôi một mức độ lặng lẽ nào đó, nhưng đêm nay tôi làm việc một cách giận dữ, hai bức tranh tôi vẽ chứa đầy cuồng nộ và đau đớn. Dù cái đồng hồ cứ kêu tích tắc trên bệ lò sưởi, tôi không chú ý tới thời gian, và khi tôi ngừng lại đã gần tới nửa đêm. Hai bàn tay và lưng tôi mỏi rã rời, căn phòng đầy bóng tối. Bên ngoài, gió đã nổi lên, và ở khắp tứ phía những bụi cây chuyển động với một âm thanh nghe như nước hay như sóng. Dù biết rằng nhà tôi đã bị đột nhập, tâm trí tôi không hướng tới điều đó, mà quay lại với cô Winter, nỗi đau khổ của nàng. Tôi nên nói gì với nàng? Rằng cuộc sống quá mỏng manh, quá nhỏ bé, nó có thể mất đi trong một khoảnh khắc không suy tính? Rằng những ngục tù tồi tệ nhất mà chúng ta xây nên không phải làm bằng đá, hay thậm chí bằng không gian, mà bằng chính hành động của chúng ta? Rằng không có điều gì đã được thực hiện có thể thật sự xóa bỏ đi?
*** Tôi hồi tỉnh, đầu tiên trong bóng tối. Sau đó tôi nhớ tới những điều khác: những lớp đất rơi xuống mặt tôi, mùi máu trong miệng tôi. Sức ép lành lạnh và ẩm ướt của những thi hài quanh tôi. Lúc này tất cả những gì tôi biết là nỗi sợ, một cảm giác sợ hãi và hoảng loạn đè nặng xuống ngực tôi. Tôi điên cuồng cào cấu vào những thi thể bên trên tôi, những cái đầu, những thân hình, và những tay chân lộn xộn, nước mắt làm tôi nghẹn lại khi tôi đào bới lên phía trên, tìm kiếm bề mặt như một kẻ đang chìm đắm ngoi lên từ dưới lòng nước thẳm sâu. Sức nặng và lớp da của họ đè lên tôi. Thế rồi, hoàn toàn đột ngột, tôi được tự do - thở hổn hển trong bầu không khí rét căm căm.
Hai bàn tay tôi đẫm máu, những móng tay rách toạc. Quanh tôi là sương mù và mưa đang rơi.
Tôi cố lê người lên miệng hố. Tôi loạng choạng tìm kiếm cách rời xa khỏi nơi này. Dường như không có gì quanh tôi đặc cả, đầu óc tôi trống rỗng, và tất cả những gì tôi ao ước là thoát khỏi bóng tối đè nén đó.
Tôi nhớ rất ít trong những giờ đầu tiên đó: chạy trốn, lạnh, một cơn thèm khát gặm nhấm trong lồng ngực, đôi tay và cổ họng. Khi tôi nhận ra tôi không biết tên mình, rằng nơi tôi đã từng sống chỉ là một khoảng hư vô, tôi không chắc; tất cả những gì tôi nhớ lại là sự rối rắm của nó, cái cách của sự lãng quên dường như run lên trên lưỡi tôi.
Dưới màn sương, tất cả dường như đều giống nhau, như thể thành phố là một giấc mơ tỉnh thức không có vật chất hay chiều sâu. Những cỗ xe hiện lên mờ mờ như những con tàu trên mặt biển tối đen, hiện ra to lớn và đột ngột, tiếng vó ngựa và bánh xe trở nên kỳ lạ bởi tấm màn che phủ đó. Thế rồi mưa lại bắt đầu rơi, thấm qua cái áo sơ mi tơi tả của tôi, và giống như một con vật bò lê bẩn thỉu nào đó, tôi tìm nơi ẩn náu ở một cửa ra vào.
Một giờ trôi qua, có thể hai, rồi từ trong bóng tối một ánh sáng lóe lên, một ngọn đèn bão, hai hình dáng trùm kín mít. Họ đi nhanh, tới gần, dừng lại, rồi đột nhiên họ đứng ngay tại cửa, thân thề họ sát vào thân thể tôi. Dù họ không đe dọa, tôi thấy sợ, như thể một niềm khiếp sợ bản năng đã bùng lên trong tôi, một cảm giác rằng sự quan tâm của họ không phải là lòng tốt.
— Gã này là ai? - Tôi nghe người to hơn trong bọn nói, hắn sờ vào mặt tôi và quay nó ra để họ có thể nhìn thấy tôi dưới ánh đèn. Tôi lẩm bẩm gì đó, và cố co người lại, nhưng quá chậm - hai bàn tay của gã nhỏ con hơn đã luồn vào chỗ này chỗ khác dưới áo sơ mi của tôi. Nếu tôi có tiền, lúc đó họ đã lấy hết, dù tay của họ quá nhanh và quá nhẹ nên tôi không biết.
— Điên - Gã nhỏ con hơn nói - Hoặc bình thường.
— Không, không điên - Gã lớn con nói. Rồi, như thể tiến tới một quyết định nào đó, hắn nắm lấy cánh tay tôi, và nhấc tôi lên - Này, đỡ lấy anh ta.
Dù biết họ không có ý tốt, tôi không chống cự. Thay vì thế, tôi để cho họ mang tôi đi, tới hang ổ của họ. Tôi không thấy gì nhiều về nó, ngoài căn phòng họ nhốt tôi. Đó là một nơi thấp, rất nóng do ngọn lửa họ luôn giữ cho cháy. Hai ông bạn đồng hành đó đặt tôi xuống một góc phòng, một cái tổ bẩn thỉu đầy rơm cũ và những tấm chăn bằng sậy. Rồi từ chỗ lò sưởi, một người đàn bà bước tới, trông mập mạp và tàn ác. Cô ta bế trên tay một em bé, chừng một tháng tuổi, và đã say mèm với chai rượu. Cô ta thò tay ra tóm lấy tóc tôi và lôi tôi dậy. Rồi cô ta cười phá lên.
— Nó sẽ có ích - Cô ta nói, và để cho tôi yên.
Tôi không chắc tôi nằm đó bao lâu không biết: một giờ, một ngày, tất cả đều như nhau. Đôi khi tôi ngủ, cố tìm lại trật tự trong tâm trí hỗn độn của mình. Dường như nó không có ký ức hay vật chất, không thật hơn một cái bóng trên tường. Những gì tôi đã trải qua không bị quên đi, nhưng không thể nhớ ra, và bản thân tôi là một sự rối loạn và trống vắng. Thế nhưng tôi có thể cảm thấy quá khứ của mình, bản ngả trong tôi còn đó, dù tôi không thể với tới hay nắm giữ nó, vì dường như hành động nắm giữ đã thiêu nó cháy rụi, như một con côn trùng bị trẻ con bắt và nhốt vào trong một cái ly. Hoặc một giấc mơ được mang trở lại khi tỉnh thức.
Dần dà tôi nhận ra tôi phải bỏ trốn. Vì thế tôi nằm, vờ điên và bất tỉnh, cho tới khi tôi nhìn thấy giây phút của mình: một cánh cửa mở ra, một cái lưng quay lại, tôi nhảy lên và lao vào bóng tối. Tôi không biết tôi ở đâu, hay đi đến nơi nào, thế nên tôi chạy, chạy mãi, lảo đảo qua những đường phố sương giăng, cho tới khi cuối cùng tôi cảm thấy bóng tối thay đổi quanh tôi, và nghe thấy tiếng nước chảy, ngửi thấy mùi nồng ấm của lũ bò. Dù tôi không biết, tôi đã đi xa tới tận Hampstead Health, nơi lúc này tôi đang bước lang thang. Dở điên dở tỉnh vì đói và sợ hãi, cuối cùng tôi nhìn thấy một ngôi nhà, và không biết phải làm gì khác, tôi bò vào và tìm thấy một nơi để ngủ.
Hẳn là trước khi ngủ tôi đã ăn thứ gì đó, vì điều kế tiếp tôi biết là tôi bị một người đàn ông đánh thức. Hắn cầm một khẩu súng hỏa mai. Và hai thanh niên, những kẻ thề rằng sẽ kiện tôi. Tôi đã vào bếp của họ, ăn thức ăn của họ, và ngủ cạnh ngọn lửa của họ. Và lúc này, xem tôi là một tên lang thang cù bất cù bơ nào đó, họ lôi tôi tới chỗ quan tòa. Thế là tôi bị xiềng chân và đưa đi.
 
 
29  
Tôi nghe tiếng họ từ thư phòng, đầu tiên là giọng Winter, rồi giọng Bourke, rồi một người khác mà tôi không nhận ra. Bên cạnh tôi, Joshua ngẩng lên.
— Tôi không biết là ba cậu có bạn - Tôi nói.
Joshua nhún vai, nhưng trước khi nó có thể trả lời, Bourke xuất hiện ở cửa. Nhìn thấy ông ta tôi đứng lên.
— Winter đang ở đây? - Tôi hỏi, và ông ta gật đầu mỉm cười.
— Đúng vậy - Ông ta đáp - Và anh ta muốn nói chuyện với anh.
Tôi liếc sang Joshua.
— Mặc thằng bé đi - Bourke nói - Nó không cần anh quan sát trong lúc nó đang vẽ.
Ở mé kia sàn nhà sáng bóng, Bourke đứng sang bên để tôi có thể đi qua.
Winter chờ trong phòng khách, quay lưng về phía cánh cửa kiểu Pháp mở ra vườn. Khi tôi bước vào, mắt anh ta chạm mắt tôi giây lát trước khi chuyển về phía tay phải. Tôi quay sang theo chúng, nghĩ rằng sẽ nhìn thấy bà Bourke, nhưng thay vì thế, có một người đàn ông đứng đó.
— Robert Newsome - Winter nói - Đây là Thomas May, họa sĩ của chúng tôi.
Trong suốt nhiều giây chỉ có sự im lặng. Newsome há miệng định nói, rồi dường như kềm lại, lắc đầu như thể đang bối rối.
— Tôi không hiểu… -Winter lên tiếng. Newsome liếc nhìn anh ta, rồi lại quay sang tôi.
— Thomas May. Anh tên là Thomas May?
Tôi gật đầu: Vâng - Tôi đáp, nhìn anh ta chằm chặp.
— Hai người có quen nhau? - Winter hỏi. Một lần nữa Newsome lưỡng lự.
— Không - Anh ta nói - Tôi xin lỗi. Đã có sự nhầm lẫn.
Bourke và Winter liếc nhìn nhau.
— Loại nhầm lẫn nào vậy? - Bourke hỏi, nhưng Newsome lắc đầu.
— Người này không phải là người tôi nghĩ tôi có biết - Anh ta nói, đầu tiên nhìn Bourke rồi quay sang tôi - Tôi xin lỗi anh, về bất kỳ sự bối rối nào tôi đã gây ra.
Tôi gật đầu, nhận ra một cách khó chịu cách Winter quan sát chúng tôi.
— Xin vui lòng - Newsome nói - Chuyện này không là gì cả.
Rõ ràng là Newsome bị tôi làm cho lúng túng, dù anh ta tìm cách che giấu nó, anh ta bối rối, và cả tổn thương, tôi nghĩ. Winter nôn nóng giới thiệu với anh ta một vài thú vui của khu kiều dân, và theo đề nghị cho mục đích đó, anh ta nghiên cứu các bộ sưu tập của tôi. Thế nhưng cuộc chuyện trò của chúng tôi về các loài chim căng thẳng và không thoải mái, một thực tế mà cả Bourke và Winter đều nhận thấy. Cuối cùng, tôi xin cáo lỗi và ra về.
Nhưng trong đại sảnh bên ngoài, anh ta đi theo tôi, nắm lấy cánh tay tôi.
— Gabriel - Anh ta rít lên - Anh có biết tôi không? - Giọng anh ta không van nàimà gần như giận dữ.
Tôi giơ một tay lên, bước tránh xa khỏi anh ta.
— Đừng làm điều đó - Anh ta nói - Tôi đây mà. Robert, bạn của anh.
— Tôi là Thomas May - Tôi nói, cố hết sức chậm rãi và nhấn mạnh.
Thế rồi, với một vẻ giống như bị phản bội trên nét mặt, anh ta buông tay tôi ra.
— Rất tốt, cứ cho là thế.
Quay trở về nhà mình, tôi đặt khẩu súng xuống, và gói ghém túi xách. Tôi phải có những mẩu vật, tôi nghĩ, đi về hướng đông, tìm kiếm nơi sinh sống của những cây bạch đàn, tán lá bên dưới chúng nơi những loài chim bé nhỏ cư ngụ. Tôi di chuyển nhanh và lặng lẽ, quan sát lũ chim khi chúng lao vút lên, nhún nhảy và bay. Tôi không có đơn đặt hàng nào phải thực hiện, không cần mẩu vật nào, thế nhưng tôi vẫn đi, chĩa súng lên bầu không khí dõi theo chúng. Những phát súng của tôi không bất cẩn, nhưng trong chúng có một chút điên rồ nào đó, như thể tôi không quan tâm tôi đang bắn thứ gì, tiếng súng nổ dội lại qua những vùng thinh lặng kéo dài một lúc rồi bị thay thế bởi tiếng kêu hoảng loạn và sự nháo nhác của lũ chim. Con đầu tiên tôi nhặt lên là một con chim chích, rồi một cặppardalote[4], cuối cùng là một con hồng tước nhỏ, thân hình bé xíu của nó rơi lên những chiếc lá của nền rừng với một âm thanh khẽ đến mức hầu như không thể nghe thấy. Khi tới gần nó, tôi nhận thấy nó vẫn còn sống, ngực nó ướt đẫm máu và đôi cánh nó xoảy ra bất lực. Thế nhưng khi tôi với tay nhặt nó lên, nó vẫy cánh và kêu chiêm chiếp, cố né tránh bàn tay tôi. Tôi biết phải làm gì, nhưng khi cầm nó trong tay, tôi nhận ra rằng tôi không thể. Bất chấp sự đau đớn của nó, tôi không thể tiến hành điều đó, không thể làm điều sẽ kết liễu cuộc sống của nó. Tôi đứng đó, cảm thấy một niềm tuyệt vọng, một sự căm ghét đối với con người tôi đang là, cái con người nửa vời của những sự dối trá và hoàn cảnh.
*** Dù muốn bệnh, sáng hôm sau tôi vẫn ngồi dậy và mặc quần áo, để tới gặp nàng. Tôi không biết phải làm sao với bất cứ chuyện gì khác - gần như tôi nhìn thấy ở nàng một cách thức nào đó để kéo dài con người tôi đang là.
Vẫn còn sớm, thế nhưng nàng là người ra mở cửa.
— Anh May - Nàng ngập ngừng nói.
— Cô Winter… -Tôi cất lời, nhưng lúc đó bà Blackstabe xuất hiện sau lưng nàng.
— Nào, chúng ta đi tản bộ đi.
Chúng tôi cùng băng qua bãi cỏ. Cuối cùng khi tôi tìm ra từ để nói, giọng tôi vỡ ra.
— Có một điều về tôi mà cô nên biết - Tôi nói, nhưng nàng đã đoán trước được những lời đó, nét mắt nàng dường như cầu khẩn tôi đừng thốt lên điều mà nàng đã đoán ra.
— Anh Newsome, anh có biết anh ta không?
Tôi ngần ngừ: Chính anh ta đã nói chuyện này à?
Nàng lắc đầu: Không, anh ta không nói chuyện gì như thế. Nhưng anh tôi bảo rằng thái độ của anh ta đã biến cả hai người các anh thành những gã nói dối.
Tôi không đáp. Nàng nhìn tôi - Hai anh là người quen, có đúng không?
— Trước kia, cách nay lâu rồi.
— Thế nhưng anh đã chối bỏ điều đó trước mặt anh tôi và Bourke.
Tôi gật đầu.
— Và cả Newsome cũng vậy - Nàng dừng lại, quan sát tôi - Có gì chắn giữa hai người các anh?
— Anh ta không làm gì sai cả.
— Anh ta ngạc nhiên vì anh không phải là người mà anh ta tưởng - Nàng đáp, nhìn sang chỗ khác.
— Đúng thế -Tôi đồng ý.
— Thế nhưng anh ta biết anh. Bằng cách nào? Bởi một cái tên khác? Tên của ai đó khác? - Nàng ngập ngừng giây lát - Vì sao? Vì sao lấy một cái tên khác? Vì sao anh chọn cách biến mất như thế?
Tôi há mồm toan nói nhưng không thể tìm ra từ nào, rồi tôi nhìn thấy một tri kiến nào đó rạng lên trong nàng.
— Không - Nàng nói - Không phải điều đó.
Tôi có thể nhận ra cách nàng cưỡng lại hiểu biết chua xót này.
Cuối cùng nàng nói: Điều anh nghĩ anh muốn nói với tôi hôm nay là gì vậy?
— Chỉ là chuyện này, vì nó không nên tới tai cô từ miệng một kẻ khác.
Chúng tôi đứng hồi lâu, rồi cuối cùng tôi cúi đầu chào, và quay đi.
— Tôi muốn xem những bức vẽ của anh - Nàng nói.
Tôi quay lại, lắc đầu: Vì sao?
— Vì tôi cảm thấy tôi có thể biết anh trong khi lúc này tôi không thể.
Tôi cười phá lên, cay đắng hơn ý định của tôi -Ở tôi không có gì cần phải biết cả.
— Không, tôi không tin điều đó. Ở anh có lòng tốt.
Lần này nàng nhìn sang chỗ khác: Giờ chúng ta nên chào tạm biệt - Nàng nói - Vì tôi nghĩ chúng ta sẽ không gặp nhau như thế này nữa.
Chiều hôm đó Robert đi tìm tôi. Tôi đã tới cạnh thung lũng, hứng đầy túi nước, và quay trở về nhà, thấy anh đang ngồi trên bậc thềm. Chỉ khi tôi đứng trước mặt, anh mới đứng lên, phủi bụi trên chiếc quần.
— Tôi cho là tôi không nên ngạc nhiên - Tôi nói, và anh lắc đầu. Dường như sự tức giận của anh đêm trước đã biến mất, thay thế bởi một điều khác, một điều gì đó tốt đẹp hơn.
— Chúng ta đã chia tay nhau rất tệ. Tôi xin lỗi về chuyện đó.
Tôi không đáp trong một hai giây, rồi giơ tay chỉ ra khoảng đất trống.
— Anh nhìn thấy gì?
— Chỉ thấy anh.
— Vậy thì đi với tôi.
Chúng tôi đi xuống, băng qua thung lũng về phía bãi biển. Anh bước lặng lẽ.
Một chuyến thám hiểm, anh nói, vào Thái Bình Dương: Tôi là nhà phẫu thuật và nhà tự nhiên học của họ.
Tôi gật đầu.
— Đó là lý do vì sao tôi nghe thấy công việc của anh, về những bức tranh của anh - Anh ta nói tiếp, quan sát tôi - Anh luôn có một tài năng, kỹ năng của anh với cây bút máy - Anh nhún vai - Tôi thì chẳng có chút máu nghệ sĩ nào trong người.
Chúng tôi dừng lại. Trong giây lát, tôi nhìn thấy lòng tốt ở anh. Nhưng lúc đó một con wallaby[5] vọt ra khỏi bụi rậm, tiếng động đột ngột khiến tôi giật nảy người.
— Anh đề phòng cái gì vậy? - Anh hỏi.
— Không có gì - Tôi đáp. Anh biết tôi đang nói dối.
— Cô Winter - Anh mở lời, nhưng tôi lắc đầu - Cô ấy mến anh, đúng không?
Tôi gật đầu.
— Thế nhưng anh biết một điều gì đó về quá khứ của cô ấy?
— Cô ấy đã phải đau khổ vì sai lầm của mình - Tôi đáp, quá nóng nảy.
— Ý tôi không phải thế -Robert nói - Chỉ là cô ấy không nên chịu khổ hai lần.
— Anh đã nói gì với Winter và Bourke?
— Không gì cả -Anh đáp - Dù họ đã đoán khá đủ về nó và chẳng bao lâu sẽ tìm ra sự thật, tôi nghĩ.
Tôi không thể nhìn anh.
— Anh sẽ ra đi sớm hả?
Anh ta ngập ngừng: Tôi không phải là kẻ thù của anh, Gabriel -Anh nói. Khi nghe thấy âm thanh của cái tên, tôi cứng người lại, bất chấp bản thân - Hay anh thích tôi gọi anh là Thomas hơn?
— Cứ gọi tôi theo cái tên nào anh muốn - Tôi nói - Tất cả đều như nhau.
Hầu như ngay tức khắc tôi thấy hối tiếc về giọng nói của mình. Nhưng khi anh lại cất tiếng, giọng anh không hề tức giận.
— Trở thành một kẻ khác là một điều đáng sợ - Khi tôi không trả lời, anh nói tiếp - Cái gì làm cho anh sợ hãi vậy, Gabriel? Anh đang trốn tránh cái gì?
— Không gì cả -Tôi nói, quá nóng nảy - Không hề có gì hết.
Cái tên đó đến từ đâu tôi không thể nói. Những sợi chỉ trong tâm trí tôi vẫn chưa được tháo gỡ ra, một mớ ký ức hỗn độn không thể lần ra đầu dây mối nhợ ngay cả khi tôi đã đến gần chúng. Nhưng trong lúc nói chuyện, tôi cảm thấy một điều gì đó đã bắt đầu hình thành trong tôi.
Thoạt tiên tôi nghĩ tay chấp hành viên sẽ phản đối, hoặc ai đó khác sẽ cất cao giọng, nhưng vị quan tòa chỉ giơ tay lên, liếc nhìn viên thư ký, ra hiệu cái tên đó nên được ghi vào sổ.
Tôi không chắc đó là một lời nói dối, không phải vào lúc đó, vì tên của chính tôi vẫn có vẻ như tên của một kẻ khác, nhưng khi tôi đứng và lắng nghe tay chấp hành viên tuyên hình phạt, tôi bắt đầu hiểu tôi đã làm gì, nhận thức đó không kinh khủng lắm mà gần như mang tính chất giải phóng, như thể một phần nào đó của tôi đã bị bỏ lại sau lưng bởi những lời nói của tôi.
Chỉ sau đó, khi tôi được dẫn trở lại xà lim, tôi mới cảm thấy sự dối trá đó đã nằm sẵn trên đầu lưỡi tôi. Không phải tên của tôi mà của một kẻ khác. Nhưng còn có một điều khác, khó diễn tả hơn, một cảm giác mà trong đó nó đã thay đổi tôi. Tôi từng là gì, tôi từng làm gì, tạo nên khác biệt, một phần của một bản ngã khác. Không biến mất, không bao giờ như thế, nhưng vì lý do nào đó dễ chấp nhận hơn.
*** Tôi đã nằm trong cái xà lim đó một tuần, thân thể tôi bị những cơn sốt và những ảo ảnh phá hủy. Có lẽ tôi đã chết, một chút xíu những gì cỏn lại trong thân thể và tâm trí tôi cháy bùng lên trong cơn đau súc vật đó, thật sự đôi khi tôi tưởng tôi đã chết. Tôi mơ thấy những điều tẻ ngắt đang đào sâu xuống da thịt của tôi, thấy phân, mật và lửa trong bụng tôi, thấy những nỗi kinh hoàng không tên đang bò lên mái nhà và trườn trên sàn nhà, khóc lóc, lắp ba lắp bắp và cào vào những bức tường và cửa. Lúc đó, trên sàn đá lạnh, tôi bị dời ra khỏi bản thân, những nỗi kinh hoàng của những ngày cuối đó được chứng kiến trong một giấc mơ.
Trong xà lim đó còn có những người khác ngoài tôi. Có một người đã từng sống với tôi trước khi quan tòa là người đầu tiên dùng đến cái tên đó. “Ai vậy?” một người mới tới hỏi - “May,” anh ta đáp.
Có thời gian để suy ngẫm lại về lời nói dối của tôi trong những ngày và tuần đến sau đó. Đầu tiên cái tên không dễ gắn với tôi, một điều tệ hại, và dường như đầu óc vẫn còn yếu, chất liệu của bản ngã tôi trở nên mỏng manh và nông cạn. Tôi nói rất ít với những người trong chốn ấy, và tới lượt họ cũng ngoảnh mặt đi với tôi. Nhưng khi những tuần trôi qua, tôi nhận thấy cái tên đó ngày càng dễ xuất hiện trên lưỡi của tôi hơn, và quá khứ bắt đầu trôi mất.
Có lẽ một kẻ khác có thể bịa ra nhiều thứ khác ngoài cái tên, thậm chí vay mượn hay bịa đặt ra cả một quá khứ. Nhưng tôi chỉ ao ước tự do, sống mà không có quá khứ. Tôi có thể chào đời không phải là một em bé khóc oe oe mà là một người đã hoàn toàn trưởng thành, đứng lên từ nhục thể đó và lớp đất vón cục để bắt đầu lại lần nữa. Như thể lúc đầu đó là một lời nói dối, rồi dần dà nó trở thành một điều gì đó nhỏ nhoi hơn thế, và ngày càng nhỏ đi. Một cuộc đời khác, vừa tìm thấy, một cái tên khác mà tôi biết là của mình. Tôi không thể nói người bạn xưa của mình đã trở thành cái gì. Có thể anh ta thành đạt ngay trong một đường phố London nào đó, không biết tới cuộc sống như cái bóng của anh ta mà tôi đang sống. Anh ta có biết tôi chăng nếu nhìn thấy tôi lúc này? Anh ta có hiểu tôi đã làm những gì, tước đoạt những gì chăng? Nói cho cùng, chúng chỉ là những điều nhỏ nhặt, những cái tên của chúng ta, những mớ âm thanh và nét mực, vô thường. Chỉ là chuyện dễ thôi, để quên đi bản ngã của một người, để nhầm lẫn giữa tấm mặt nạ chúng ta đeo với sự thật về chúng ta, để trở thành một cái tên không phải của chúng ta, để bỏ lại sau lưng một cuộc đời và được tái sinh.
 
 
 
Kết  
Không có trát đòi, tuyên cáo hay lệnh trục xuất nào hết, nhưng dù sao đi nữa, nó đã được thực hiện. Lũ học trò của tôi lần lượt rút lui, những bài học bị hủy bỏ. Một số làm điều đó với một tia vui thú trên nét mặt, số khác ít vui vẻ hơn, như thể chúng đã thi hành một bổn phận đáng tiếc nhưng cần thiết. Trên phố, những gương mặt ngoảnh đi khi tôi đi ngang qua, các quý ông to tiếng hơn trong cuộc chuyện trò với bạn bè của họ, các quý bà bĩu môi, quay đi, chỉ thì thầm sau khi tôi đã đi qua.
Đây không chỉ là hành động của Winter. Những kẻ khác cũng đã tham gia một cách sẵn lòng, tôi chắc chắn. Có một sự tàn bạo lạ thường trong cách thức luật bất thành văn được duy trì tại đây, một sự trả thù, như thể ngã xuống giữa những kẻ đã ngã quỵ là một hình thức yếu kém phải bị xóa tên đi. Đôi khi tôi nghĩ thái độ lỗ mãng trong những khu kiều dân này, sự cứng rắn của những tâm hồn họ nuôi dưỡng, xuất phát không phải từ cuộc đời mà chúng tôi đã sống trước đây rất lâu mà từ sự chối bỏ những cuộc đời đó, gần như thể bản thân sự im lặng mà chúng tôi thông đồng chia sẻ với nhau là một hình thức bạo lực mà chúng tôi tự áp dụng cho chính bản thân.
Tất nhiên tội ác của tôi không ai ở chốn này không từng phạm phải. Tôi đã chọn một cái tên khác, một cuộc sống khác, làm mới bản thân. Nhưng có một phẩm chất nào đó ở cách thức tôi thực hiện nó, một sự phạm tội ngấm ngầm lẽ ra không nên có. Tôi cũng nhìn thấy nó, tôi cảm nhận được cách nó chối bỏ tất cả chúng tôi.
Không có học trò, tôi không thể kiếm sống, một điều thật là phiền toái cho tôi. Hiện tôi vẫn còn tiền, đủ để mua thức ăn, nhưng nó sẽ không kéo dài. Có một công việc khác tôi có thể làm, những đơn hàng cho những mẩu vật, nhưng suốt mấy tuần qua tôi thấy tôi không thể nhấc tay thực hiện những gì họ yêu cầu. Bắt một con chim bằng súng hay bẫy dường như quá kinh khủng đối với tôi, một điều mà tôi không thể tiến hành được nữa, cũng không muốn thấy nó được thực hiện. Tất nhiên một gã đàn ông có thể kiếm sống bằng nhiều cách khác: ở đây có công việc cho tất cả mọi người, và dần dà tôi có thể đi tới chỗ kéo cày hay canh giữ đất.
Đứa học trò cuối cùng bị tước khỏi tôi là Joshua. Bourke làm điều đó với một tuyên bố cộc lốc rằng đã tới lúc thằng bé phải học nhiều hơn về cách điều hành điền sản. Ông ta tiến hành nó một cách nhanh chóng, không muốn tranh luận, và tôi không tranh luận, dù tôi thấy ông đã quyết định trái với bản tính của mình. Có lẽ ông ta làm theo ý của bà Bourke, và ông ta nhìn thấy ở thằng bé người vợ trước của mình, một khả năng nào đó mà ông ta không thể nhận biết, nhưng rõ ràng quyết định đó khiến ông phải trả giá bằng một phần sự thoải mái với bản thân và gia đình mà trước kia ông từng có.
Dù sao, vì uy tín của gia đình Bourke, họ không từ bỏ tôi hoàn toàn. Bất chấp cảnh tôi chạm mặt Newsome, bất chấp việc sa thải tôi với tư cách là thầy của cô Winter -họ có thể đoán được nửa phần sự thật trong đó - không ai trong hai người ép buộc ở tôi một lời giải thích. Và dù đối với những kẻ khác, hiện giờ cái tên của tôi là nguồn của sự suy đoán và tin giật gân vô tận, gia đình Bourke vẫn niềm nỡ đón chào tôi trong nhà họ.
Thế nhưng rõ ràng với cả ba chúng tôi, một sự thật cơ bản nào đó đã bị phá vỡ. Tình bằng hữu của Bourke luôn là thứ tình cảm xa xôi giữa những kẻ không bằng vai phải lứa, và dường như nó ít thay đổi, nhưng với bà Bourke, sự thay đổi có thể dễ dàng nhìn thấy. Dù bà vẫn tốt với tôi như từ trước tới nay, hiện giờ sự tử tế của bà có một phẩm chất khác. Bà nói như thể nói với một ai đó trước kia từng là bạn, nhưng đã bị phân ly, giờ đã giải quyết nhưng không bao giờ có thể phục hồi như cũ; như thể bà đã quyết tâm không soi mói nội tâm tôi, không đào quá sâu.
Không có một lời nào nhắc tới nàng, người nằm ở trung tâm của tất cả những điều này, chỉ có những tin tức về chỉ thị của anh nàng rằng tôi sẽ không được đón tiếp trong nhà họ. Tôi không đoán được nàng đã biết những gì, những gì nàng suy đoán tôi không tài nào chịu đựng được khi nghĩ tới.
Có những người sẽ bảo bạn rằng để vẽ lại một con chim bạn phải bắt đầu với cái đầu, rồi tiếp tục tới cổ, từ đó vẽ dọc theo ngực xuống chân. Đôi cánh phải được bắt đầu từ đầu cánh, rồi nét viền của cái đuôi là nét cuối cùng. Nhưng thật ra không có quy tắc nào trong việc này, không có cơ chế nào cả. Đường nét được đặt lên giấy, rồi quay trở lại: vẽ ra cái hình ảnh hình thành trong tâm trí. Và hình ảnh này, với tất cả sự chính xác mà nó có, cũng mang lại ấn tượng và cảm giác nhiều như kỹ thuật thủ công, một việc thu thập sự sống của nó từ đường nét của nó, cho tới khi nó đưa bản thân nó tới sự hiện hữu, một vật được tái sinh, được làm mới.
Xế chiều, một tiếng gõ cửa. Sự xâm nhập của tiếng động con người này lên bầu không khí của ngôi nhà nghe có vẻ chói tai. Tôi ngồi bất động, nó lại vang lên, ít chắc chắn hơn.
Tôi đứng lên, bước tới cửa và mở ra, đằng hắng để có thể nói. Đã nhiều ngày trôi qua kể từ lần cuối tôi có bạn con người. Bên ngoài là ánh sáng xanh nhòa nhạt của buổi chiều tà, những nhánh cây chĩa lên trên các thân cây. Và tôi thấy nàng đứng đó.
Thoạt tiên nàng không nói gì, cả tôi cũng vậy. Trông mặt nàng hơi khác, như thể tôi đã nhớ lầm về nàng. Có lẽ già hơn, và cũng gầy guộc hơn, bình thường hơn. Có lẽ trông tôi cũng vậy, nên nàng nhìn tôi đăm đăm, như thể tôi là một bóng ma, một ông chồng hay ông anh đã chết từ lâu và nay sống lại, nhưng đã đổi khác so với hình ảnh chất chứa trong tâm trí suốt quá nhiều năm.
Có thể cả một đời đã trôi qua trong khoảng thời gian chúng tôi đứng đó. Cuối cùng, khi chúng tôi nói, những lời đầu tiên là của nàng, thốt ra một cách lo âu, vì tôi chưa từng nghe nàng nói theo cách đó bao giờ.
— Anh May - Nàng nói, xiết hai tay vào nhau.
— Sao cô tới đây? - Tôi hỏi, nhìn lướt qua nàng tới con đường mòn.
— Khoảng cách không xa lắm - Nàng nói - Tôi có thể vào nhà không? - Và, bối rối, tôi lui lại để nàng đi qua.
Ánh mắt nàng quét quanh căn phòng. Nàng đứng như thế khoảng vài giây, lưng quay về phía tôi, rồi quay sang tôi.
— Vì sao…? - Tôi mở lời, câu hỏi của tôi nhòa đi, không trọn vẹn.
— Tôi muốn xem những bức tranh mà anh đã hứa với tôi.
Không biết giờ nên nói gì, tôi giơ tay lên ra hiệu về phía căn phòng nơi tôi đặt cái bàn giấy.
Tôi thấy nôn nao, với nàng ở đây. Chúng tôi đi tới chỗ đặt chồng giấy trên bàn, nhưng tôi gạt chúng sang bên.
— Anh sẽ cho tôi xem tấm nào? - Nàng hỏi. Tôi chọn một tấm, đặt nó lên bàn trước mặt nàng. Nàng ngắm nghía nó hồi lâu. Rồi nàng dời nó sang một bên, và tôi trao cho nàng tờ kế, rồi tờ kế. Cổ họng tôi nghẹn lại.
Cuối cùng nàng đặt sang bên tờ cuối cùng. Nàng vươn thẳng lên, chạm vào những thứ tôi cất trên kệ. Trong lúc quan sát nàng, tôi cảm thấy nàng đang tiếp cận một điều gì đó trong tâm trí mình, một điều nàng không chắc phải làm cách nào để khai mở nó. Rồi cuối cùng nàng quay sang đối mặt với tôi. Nét mặt nàng mệt mỏi, nhưng tôi thấy trong đó một quyết định nào đó, một điều gì đó mà giờ đây nàng sẽ không gác lại.
— Anh có biết con trai tôi chết như thế nào không? - Nàng hỏi.
— Không cần thiết - Tôi đáp, lắc đầu.
— Phải - Nàng nói - Nhưng tôi muốn anh biết - Thế là tôi gật đầu, và nàng dừng lại, rồi bắt đầu kể.
— Tôi không yêu cha nó. Ngay cả lúc đó. Anh ta không phải là người xấu, nhưng là một gã ngu ngốc, loại người làm những gì khiến anh ta hài lòng và rồi sau đó thấy hối tiếc vì hành động của mình, mọi nỗi buồn và tự hổ thẹn. Anh ta bắt đầu nó, tôi cho là thế, dù tôi hiểu rất rõ anh ta tìm kiếm điều gì ở tôi, và tôi không khuyến khích anh ta. Tôi biết anh ta có vợ, nhưng anh ta tâng bốc tôi, và phần còn lại của câu chuyện giống như một sự bất cẩn. Tôi không chắc tôi đã nghĩ tôi có thể tìm thấy ở nó điều gì. Một lạc thú nào đó, tôi cho là vậy, một cảm giác nào đó.
Nàng nhìn tôi, và tôi hiểu rằng những gì nàng kể với tôi nàng chưa hề kể cho bất kỳ ai khác.
— Không nhiều niềm vui lắm trong chuyện đó, không đối với tôi, thậm chí cũng không đối với anh ta, tôi đoán, nhưng đó không phải là điều tệ nhất. Điều tệ nhất là khi mọi chuyện đã được thực hiện và tất cả đã thay đổi tôi vẫn còn là chính mình. Đôi khi tôi tự hỏi, nếu tôi có lại thời gian đó, tôi có làm chuyện đó hay không? - nếu tôi trung thực với chính mình, tôi biết tôi vẫn sẽ làm, ngoài sự tổn thương mà nó mang tới cho những người gần gũi với tôi.
— Khi kết quả của sự thiếu suy xét của tôi đã rõ ràng, tôi được gửi tới nơi sẽ không ai trông thấy tôi nữa. Một nông trại gần Launceston, do những người bạn của cha tôi từ một thời điểm khác trông nom. Những người tốt, và là người Công giáo nữa. Tôi trải qua một mùa đông ở đó cùng với họ, không khách thăm viếng, bị lãng quên, hoặc có vẻ là như vậy. Cha tôi viết thư cho tôi khi ông có thể, nhưng thư của ông ngày càng thưa thớt trong lúc những tháng giam cầm của tôi trôi qua. Không có lời nào từ Edmund cả, nhưng lúc ấy chuyện đó có vẻ bình thường đối với tôi, vì ngay cả khi chúng tôi còn trẻ, giữ chúng tôi đã không có nhiều cảm tình nồng ấm.
— Đứa bé chào đời vào cuối đông. Tôi sinh nó trong bóng tối ban đêm, được một bác sĩ mời tới từ thị trấn chăm sóc. Khi họ đặt thằng bé vào tay tôi, tôi không biết tôi đã cảm thấy thế nào; một cái gì đó dữ tợn, và giống như đau đớn đến độ tôi nghĩ tôi có thể khóc lên - Nàng đưa tay lên chùi ngang mặt, dù tôi không nhìn thấy giọt nước mắt nào - Tôi gọi nó là Thomas - Nàng nói - Cái tên mà anh mang.
Tôi nghĩ anh tôi cho rằng chúng tôi nên cho đi thằng bé, có lẽ cả cha tôi nữa, rồi đưa tôi trở về với xã hội, vờ như tôi chỉ đơn giản đi xa đâu đó, cho tới khi câu chuyện bị quên đi và tôi có thể kết hôn một cách lặng lẽ. Nhưng khi tôi bế nó trên tay, những ý nghĩ đó không nảy ra trong tôi.
Gần một tháng sau cha tôi mới tới thăm tôi, và khi ông tới tôi hiểu lý do vì sao thư của ông thưa thớt, vì ông đã bị ốm suốt nhiều tháng qua. Nhưng tôi nhìn thấy cách ông bế con tôi và đu đưa nó, cách ông trò chuyện với nó. Ông là một người đàn ông cao quý và tốt bụng, và tôi nhìn thấy niềm vui đối với thằng bé của ông. Ông hứa ông sẽ trở lại, nhưng không bao giờ trở lại nữa, vì ngay trong tuần đó ông bị tai biến mạch máu não, và suốt những tháng sau đó khi còn sống, ông không thể nói hay cử động chân tay.
Sau khi ông chết, anh tôi đưa tôi trở lại Hobart để tôi có thể sống với anh lần nữa. Lúc đầu tôi nghĩ đó có thể là một hành động xuất phát từ lòng tốt, khi có đứa trẻ ở đó, nhưng tôi sớm hiểu ra anh ấy chỉ muốn tôi ở đó để có thể theo dõi tôi sát sao hơn, để tôi không thể gây ra cho anh ấy thêm nỗi nhục nào khác nữa.
Dù Edmund không bao giờ nói chuyện với Thomas, ngoài những lúc anh ấy hông thể làm gì để tránh né việc đó, anh ấy không độc ác với nó. Đó không phải là cách của anh ấy. Thế nhưng Thomas lại tôn thờ anh ấy. Nó là một đứa bé lặng lẽ, không thích chơi đùa với lũ trẻ khác, mà có lẽ tôi thích hơn mức tôi nên. Đó là một điều lạ lùng, bị xua đuổi. Vì có rất ít người muốn gặp tôi, tôi hầu như chỉ sống với chính mình, và việc có thằng bé có rất nhiều ý nghĩa đối với tôi. Rất nhiều, tôi cho là người ta có thể nói thế.
Tuy nhiên, tôi thấy lo âu, vì nó quá thường xuyên ở một mình. Nhưng người quản gia của tôi có một người em trai, một người đàn ông vừa rời khỏi Port Arthur chưa lâu, và anh ta mang theo một con chó con. Nó không xinh đẹp gì mấy, chỉ là một con chó lam nham, nhưng con tôi yêu nó. Nó thường chơi với con chó hàng nhiều giờ, rượt đuổi, chọc cho nó sủa. Điều đó không giống nó chút nào, niềm hạnh phúc này, nên tôi không làm gì để phân cách chúng. Thế rồi một sáng nọ, tôi đi xuống để tìm hai đứa trong sân . Thomas chạy ngược chạy xuôi để con chó đuổi theo. Vì có những người đàn ông trong sân sáng hôm đó và tôi thấy nó có thể gặp rắc rối, tôi bảo nó đi xuống mé dưới ngôi nhà để nó chơi với con chó ở đó, định sẽ đi theo nó ngay. Nhưng rồi tôi nghĩ sẽ đi lấy một cuốn sách, để có gì đó đọc, thế là tôi vào nhà, lên gác để lấy cuốn sách để trong phòng ngủ nơi đêm trước tôi để lại. Nó là một cuốn thơ của Wordsworth.
Khi tôi đi xuống con đường mòn, tôi không thấy nó đâu cả, nhưng tôi có thể nghe con chó sủa. Có một cái lạch nhỏ trong chỗ trũng sau nhà, nước đen thẫm vì chất tanin của những lá cây rụng, thế là tôi đi theo tiếng sủa, tìm con chó và nó. Và tôi nhìn thấy con chó, đứng cạnh bờ lạch, sủa liên tục. Lúc đó tôi biết mà không cần phải thấy, nhận thức về nó mạnh mẽ đến độ tôi nghĩ tôi sẽ nghẹn thở, thế nhưng tôi quẳng cuốn sách xuống, và chạy qua bãi cỏ tới bờ lạch. Và tôi nhìn thấy nó, mặt úp xuống, thân thể nó trôi lềnh bềnh bên dưới mặt nước. Nó không trồi lên, và trong khoảnh khắc tôi nghĩ có thể cứu được nó, vì thế tôi lội xuống. Nước không sâu nhưng rất lạnh, và tôi kéo nó lên bờ, ấn vào ngực nó và thổi vào môi nó, tôi cố đưa hơi thở trở vào người nó. Nhưng chẳng ích gì, vì nó đã chết, chết chìm, và tôi biết. Tôi biết chuyện gì đã xảy ra, rằng mọi chuyện không thể trở lại như trước được.
Khi nàng kể xong, chỉ còn sự im lặng, một khoảng không gian rộng lớn hơn những ngôn từ. Dù nàng không nhìn tôi, tôi biết vai trò của mình là gì, vai trò mà giờ đây tôi nên giữ. Thế nhưng trong lúc tôi nhìn thấy điều nàng cần ở tôi, tôi biết tôi không thể, rằng không có lời lẽ nào chữa được điều này. Vì thế cuối cùng nàng nhìn sang chỗ khác, bàn tay nàng đặt hững hờ lên một bức tranh nằm bên cạnh ngưỡng cửa sổ.
— Tôi muốn giữ bức này, nếu có thể - Nàng nói, quay sang tôi. Mắt nàng ướt đẫm.
Tôi gật đầu, và nàng bước đi. Tôi theo nàng tới cửa. Vào phút cuối, nàng quay lại nhìn tôi.
— Tên của anh - Nàng hỏi - Tên của anh là gì?
— Gabriel - Tôi đáp - Nó là Gabriel.
— Đó là một cái tên đẹp - Nàng nói. Tôi nghĩ nàng sẽ khóc, nhưng nàng chỉ đứng đó, cố kềm chế để không run lên.
— Không ai trong chúng ta không có một quá khứ - Cuối cùng nàng nói,, nghiêng người tới trước và để đôi môi nàng quét nhẹ qua má tôi. Và với một cử động vội vã, nàng quay lại bước đi.
*** Khi nàng đã đi khỏi, tôi đứng đó hồi lâu, nhìn ra con đường mòn mà nàng đã đi qua. Bên ngoài, ngày sắp tàn, và trên đầu lũ chim chóc đang tụ họp để ngủ đêm, gọi nhau và trò chuyện trong lúc chúng di động giữa những hàng cây, tiếng kêu của chúng vang dậy không trung. Biết bao lần tôi đã nghe chúng như thế, tiếng ríu rít của lũ vẹt Mã-lai, tiếng bay vù vù của những con chim ăn mật, tiếng kêu vang dội của lũ chim ác là. Nó có thể là hôm qua, hoặc ngày mai, mỗi ngày đều như nhau. Đã bao lâu rồi, tôi nghĩ, đã bao lâu rồi tôi sống cô đơn như thế? Nó đè nặng lên tôi và ngột ngạt, một thứ gì đó mà tôi không thể tháo gỡ ra, không thể quên đi, hoặc sống không có nó.
Thi thoảng, khi tôi một mình ngoài đó, trong bụi rậm, hoặc thậm chí ngay ở đây trong nhà tôi, dường như có khả năng rằng tôi có thể đánh mất bản thân; trong sự im lặng đó không cần tới ngôn từ hay luận thuyết. Tôi từng nghe nói có ba người đàn ông đã mất trí vì nó, lý trí bị hút vào không gian đang tan rã của biển và trời. Và thật sự, vào những lúc chốn này đầy sức sống, với cả đoàn người cởi ngựa, ngay cả khi ấy cũng vẫn có một cảm giác trống vắng, như thể một sự thinh lặng xa xưa nào đó đang vương víu trong cấu trúc của chốn này, một cái gì xa lạ, bất khả tri.
Khi đang đứng đây, tôi tự hỏi tôi có mơ thấy họ vào ban đêm hay chăng? Câu trả lời là không, hoặc không thường xuyên. Đúng hơn, tôi ngủ như chết, hầu như không mơ, hoặc không có ai hồi sinh trở lại với tôi từ chốn đó. Thay vì vậy, tôi nhớ tới họ vào ban ngày, khi tôi ở một mình, giữa cây cối và những ngọn đồi. Khi đó họ quay lại với tôi, tập hợp như thể từ một cuộc đời khác. Nhưng ngay cả khi đó tôi vẫn không cảm thấy có tội, chỉ là sự trống rỗng, như thể mọi cảm giác đã bị hút cạn khỏi tôi, và tôi biến thành không có thật, trong suốt như âm thanh của gió trên những hàng cây.
Trên đầu lũ chim chóc đang gọi đàn, tiếng kêu của chúng dường như phủ đầy bầu không khí. Trong lúc tôi quan sát, chúng bay vọt lên, tung cánh giữa bầu trời, lượn tròn như những hòn than hồng hoặc cụm khói giữa không trung. Tôi ghen tị với chúng, cuộc sống này của chúng, cuộc sống rất tự do của chúng. Chúng không có quá khứ, không có tương lai, một cuộc sống phơi phới vỗ nhịp khắp mọi bề, vút lên không gian vô tận. Trong lúc quan sát chúng tôi nhận ra tôi muốn khóc, thế nhưng tôi không còn nước mắt. Và dù sao đi nữa, nước mắt để làm gì chứ? Vì tôi không thể bay liệng như chúng sao? Vì tôi không tự do? Tất cả chúng ta đều được sinh thành như thế này, giờ tôi nhận ra điều đó, sống và chết và sống lại, đôi bàn tay và thân thể là những cái lồng có thể trói buộc cũng như níu giữ. Tôi muốn tung cánh lên như chúng, quên đi bản thân, và được giải thoát. Thế rồi đột nhiên tôi bắt đầu khóc, và tôi nghĩ, tôi hiểu được tái sinh là gì, được tái tạo là gì. Rất nhiều cuộc đời, rất nhẹ.
HẾT ★★★




Đăng nhập để trả lời
0
 
Những Vụ Án Nổi Tiếng Thế Giới: Món Nợ Truyền Kiếp - Ed McBain
 
Tên sách: Món Nợ Truyền Kiếp
Nguyên tác: Chroniques Du 87e District
Tác giả: Ed Mc Bain
Người Dịch: Đoàn Doãn
Thể loại: Trinh Thám
Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân Hà Nội© 2000
The Happiness Project #8-F
TVE-4U Read Freely - Think Freedom
Thực hiện: lotus, hanhdb
Hoàn thành: 07/2015
 
**

DỰ ÁN HẠNH PHÚC

The Happiness Project #8-F

Hạnh phúc luôn tồn tại xung quanh chúng ta, điều quan trọng ta phải biết nắm bắt, kéo nó về phía mình để đem lại an lành cho bản thân, cho cuộc sống! Cuốn sách này là một niềm vui nhỏ bé chúng tôi muốn dành tặng đến bạn, người đọc ạ!
"Hãy nhớ rằng không có hạnh phúc trong sự sở hữu hay sự thâu nhận, mà chỉ có trong sự trao tặng. Hãy mở rộng vòng tay - Hãy chia sẻ - Hãy ghì ôm. Hạnh phúc là một loại nước hoa, mà khi bạn rưới lên những người khác, thế nào cũng có một vài giọt dính trên người bạn." Og Madino
 
*
 
BẬC THẦY CỦA TIỂU THUYẾT THÁM TỬ Nhà văn trinh thám Mỹ Salvadore Lombino sinh năm 1926 tại một xóm người Italia ở New York. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, ông vào học Trường cao đẳng Mỹ thuật. Trong những năm chiến tranh, Lambino phục vụ tại binh chủng Hải quân và bắt đầu viết truyện ngắn. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, ông tốt nghiệp Trường cao đẳng Hunter.
Năm 1952 Lombino chính thức đổi tên thành Evan Hunter, theo tên của ngôi trường phổ thông và cao đẳng nơi ông đã học. Ông từng làm nhân viên bán tôm hùm, chơi piano trong một giàn nhạc jazz, dạy học ở trường phổ thông, làm nhân viên quảng cáo. Một lần, với tư cách là đại lý văn học, Salvadore Lambino đã mang tới nhà xuất bản những tập bản thảo của Evan Hunter, nghĩa là của chính mình. 
Evan Hunter rất nổi tiếng trong giới những người hâm mộ thể loại trinh thám với bút danh Ed McBain độc nhất vô nhị, tác giả của những cuốn tiểu thuyết về đồn cảnh sát 87 - một chùm tiểu thuyết trinh thám dài, đa dạng và rất nổi tiếng. Theo ý đồ của tác giả, đồn 87 nằm ở một “thành phố tưởng tượng” nào đó, tuy nhiên độc giả tinh ý dễ dàng nhận ra trong đó New York, mặc dù tên gọi các đường phố, đại lộ và các địa danh khác đã được thay đổi. “Thành phố” chia thành 5 quận: Isola (Manhattan), nơi đồn 87 đóng, Riverhad (Bronks), Magesta (Quins), Calm-Point (Brooklin) và Bestawn (Steiten-Ireland). Ai đó có thể lấy làm ngạc nhiên rằng hai con sông xuyên qua “thành phố” - Hurb và Dike (Goojon và East-River), chảy về phía tây, trong khi “thành phố” lại nằm bên bờ phía đông. Theo chủ ý của Ed McBain, New York “quay” xung quanh trục của nó, vì vậy phía bắc trở thành phía đông, phía đông trở thành phía nam... phù hợp hoàn toàn với cực từ của trái đất. Đồn 87 nằm ở một vị trí khiến các nhân viên của nó buộc phải trình diễn tài năng trinh thám của mình khi khám phá các vụ tội phạm xảy ra trong các tầng lớp trên, cũng như ở dưới “đáy” xã hội của nước Mỹ. Phạm vi của đồn bao quát cả những khu sang trọng, vùng ngoại vi trù phú, phần lãnh thổ, nơi sinh sống của đại diện giai cấp trung lưu, lẫn các khu nhà ổ chuột, phố “đèn đỏ”, và thậm chí một số biệt thự kiến trúc kiểu gothique cổ kính. Các cuốn tiểu thuyết của Ed McBain đáp ứng tất cả những tiêu chuẩn của thể loại trinh thám. Hoạt động trong đó không chỉ là một người hùng đơn độc, mà còn cả một đội cảnh sát nhà nghề được phối hợp chặt chẽ. Thậm chí nếu một nhân vật nào đó của Ed McBain trở nên vượt trội (ví dụ, trong nhiều tiểu thuyết công lao khám phá tội phạm thuộc về Stev Carrele), hành động của anh ta cũng không thể mang lại những kết quả mong muốn, nếu như không có sự giúp đỡ và ủng hộ của các thám tử khác. Đồn 87 có cái gì đó giống như Con thuyền Noe, nơi tập hợp rất nhiều những con người khác nhau, được liên kết bởi một mục đích chung: quét sạch bọn tội phạm, xây dựng cuộc sống trong “thành phố” trở nên hạnh phúc và bình yên. Trong số đó có Trung úy Berne, Cảnh sát trưởng, được các nhân viên cấp dưới của mình, thậm chí cả bọn tội phạm nể trọng; Meier Meier, một thám tử cực kỳ chịu khó, xuất thân từ một gia đình gốc Do Thái, tuổi thơ của anh ta trôi qua trong sự đụng độ của những tín điều; Bert Kling trong cuộc sống và trong công việc không tìm kiếm những con đường dễ dãi, vì vậy anh đã phạm phải rất nhiều sai lầm mà lẽ ra có thể tránh được; Coton House, con trai của một linh mục đạo Tin Lành được phái đẹp hết sức hâm mộ, cũng như những chiến binh tận tụy khác đấu tranh vì sự bình yên của những người dân lương thiện. Một điều hết sức đặc trưng đối với Ed McBain là nhân vật của ông không phải là những con người xơ cứng, bất biến, không phải là những chiếc mặt nạ nào đó, ngược lại, họ biết tận hưởng cuộc sống, trưởng thành và hoàn thiện tài năng của mình. Nhân vật Stev Carelle là một ví dụ, một cảnh sát mẫu mực “đến tận xương tủy”. Thông thường, khi một nhà văn gặt hái được thành công ban đầu thì anh ta hay sản xuất ra những tác phẩm na ná nhau cho tới khi độc giả chán ngấy sự đơn điệu đó. Tuy nhiên, đối với Ed McBain, điều đó đã không xảy ra. Ông không bao giờ ngần ngại thử nghiệm. Trong tiểu thuyết “Cái nêm” có hai cốt truyện cùng phát triển song song, thoạt đầu không hề liên quan gì với nhau: một bên là câu chuyện khủng khiếp về một người phụ nữ mất trí vì quá đau khổ đã dọa đánh bom Đồn 87, và bên kia là một thủ pháp hơi lỗi mốt, khi một nhân vật xuất thân từ thành phần bất hảo đã trở thành kẻ sát nhân và chỉ bằng con đường suy diễn logique các thám tử mới vạch mặt được kẻ tội phạm. Hai cốt truyện này nối với nhau bằng một biểu tượng nào đó được tác giả gửi gắm trong tên gọi của tác phẩm. “Giá của sự ngờ vực” là câu chuyện về một “vụ giết người lý tưởng”, hơn nữa tác giả còn thử nhìn các sự kiện bằng con mắt của kẻ tội phạm, trong khi các thám tử thể hiện vai trò của mình một cách mờ nhạt. Tiểu thuyết “Công việc bình thường” đáng chú ý bởi trong đó có sự tham gia của hầu hết các thám tử thuộc Đồn 87 và họ buộc phải khám phá 14 vụ án. Tiểu thuyết “Sợi lông tơ” là một hài kịch, mặc dù luôn luôn tỏ ra làm việc căng thẳng, các nhân viên cảnh sát không thể vượt qua được bọn tội phạm. Không thể không nhắc tới nhân vật gã Điếc rất thành công của Ed McBain - đó là một kẻ bất khả chiến bại, may mắn thoát chết trong tiểu thuyết “Tên cướp”, lại xuất hiện trong tiểu thuyết “Sợi lông tơ” và muộn hơn trong “Hãy nghe gã điếc nói gì”. Mỗi một cảnh có sự tham gia của nhân vật này đều một pha mạo hiểm tiếp theo của y mà các thám tử tìm mọi cách ngăn chặn. Nhưng gã điếc đều thoát chết và lành lặn sau những hoàn cảnh hiểm nghèo, để rồi lại bất ngờ xuất hiện trong một cuốn tiểu thuyết tiếp theo nào đấy. Ed McBain được công nhận là một bậc thầy về văn xuôi trào phúng. Thực sự không một cuốn tiểu thuyết nào về Đồn 87 thiếu chất hài hước, điều này góp phần làm nên thành công của chùm tiểu thuyết nói trên. Chính chất hài hước đã “hồi sinh” các nhân vật, vì những nguyên nhân nào đó mà chân dung tâm lí của họ chỉ được tác giả phác qua một cách sơ sài. Tất nhiên, đôi khi trong các tác phẩm của Ed McBain bạn đọc cũng bắt gặp những hoàn cảnh và số phận bi kịch thực sự, nhưng chính chất hài hước đã trở thành một phẩm chất lành mạnh của toàn bộ chùm tiểu thuyết của ông Trần Hậu
 
 
**
LỜI NÓI ĐẦU Evan Hunter lúc chưa lấy tên Ed Mc Bain, đã viết nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn dưới nhiều tên khác nhau, được một nhà xuất bản đề nghị viết một loạt truyện về vụ án. Ông chọn nhân vật chính trong loạt truyện đó là cả một đơn vị cảnh sát. Ông nói:
“Tôi muốn nói về những người khám phá ra án mạng trong thực tế. Tôi cố gắng thể hiện công việc hàng ngày của những nhân viên cảnh sát ở một thành phố lớn, muốn xây dựng một lớp người hình dạng và tính cách khác nhau nhưng tập hợp lại cùng tạo ra một người anh hùng: đội Cảnh sát Quận 87. Việc đó chưa từng được làm và quan niệm này cho phép tôi đưa những nhân vật mới vào tập thể đã có. Toàn đội là người anh hùng trong truyện và không người nào trong đội buộc phải có hoặc không thể thay thế được. Trong đời sống thực tế, một cảnh sát có thể bị giết hay bị thương.”
Trong các thanh tra cảnh sát ở Quận 87 Steve Carella được nói đến nhiều nhất, cả về tiểu sử. Gốc Ý, sinh ở Jsola, anh tham gia mặt trận Ý trong thế chiến thứ hai và vào ngành Cảnh sát 21 tuổi.
Steve Carella là một cảnh sát liêm khiết, nhân hậu, có trách nhiệm cao trong công việc. Anh cũng là còn người bình tĩnh, không tha thứ đầu óc phân biệt chủng tộc, không thờ ơ với cái chết và có khả năng thông cảm với tất cả những ai anh phải tiếp xúc vì nghề nghiệp. Trực giác nhạy cảm, minh mẫn, ngoan cường, anh có khả năng cảm thụ rất cao: điều này được Mc Bain nói lên một cách hình ảnh bằng gán cho anh một người vợ câm điếc: Teddy.
Gia đình sống hạnh phúc - họ có hai con sinh đôi - Carella không ngừng suy nghĩ về cuộc đời mỗi khi có dịp nghề nghiệp đưa lại. Chính tiềm năng nhân đạo, cái nhìn nhiệt tình đối với mọi người và cuộc sống làm anh trở thành hấp dẫn, được trìu mến.
Xung quanh Carella, Quận 87 như là cả một gia đình: cảnh sát trưởng Peter Byrnes lãnh đạo đơn vị, như một người cha; Meyer Meyer là anh cả có đức tính kiên nhẫn nổi bật. Là người Do thái nhưng không cố chấp về giáo lý, anh đặt ra nhiều vấn đề về tính cách Do Thái và vị trí của người Do Thái hiện đại. Bert Kling là em út, rất gắn bó với Carella, trải qua hai cuộc thực tập khó khăn trong quá trình trưởng thành: nghiệp vụ cảnh sát nhiều khi rất nguy hiểm và lĩnh vực tình cảm riêng tư.
Và những người khác: Cotton Hawes tóc hung, con của một mục sư, rất nhiều quan hệ với phái nữ; Arthur Brown, người da đen duy nhất trong đội; Hal Willis người nhỏ bé nhưng không kém nổi danh; Rogeru Havilland, anh cảnh sát hung bạo và thoái hóa; Grossman, người phụ trách phòng xét nghiệm.
Tất cả đều có vai trò; quan trọng trong bối cảnh xuất hiện, len lỏi khắp nơi và có vẻ trở về hậu trường Quận 87.
Còn một lớp người khác không là thành phần của Quận 87 nhưng đóng vai trò những kẻ điên khùng, lúc này lúc khác làm cho các thanh tra cảnh sát “điên người”: Những hung thủ, những kẻ vô lại gian ngoan luôn xuất hiện từ hư không, chơi trò trốn tìm với cảnh sát.
Ed Mc Bain diễn tả những vụ việc trong một thành phố tưởng tượng, thành phố lớn Isola với những khu vực xen kẽ rất khác nhau: có những khu dinh cơ tầng lớp trên, những khu trung lưu, những khu Do Thái và những căn nhà lụp xụp, rác bẩn. Thành phố tập trung mọi tầng lớp xã hội và tiếp nhận dân cư của mọi bộ tộc thiểu số.
Việc điều tra những vụ án tiến hành trực diện hoặc theo bước nhảy trong cùng một việc như diễn biến ở một đơn vị mà cảnh sát viên phải giải quyết nhiều vụ cùng một lúc. Như vậy, sự việc này có thể đối chiếu với sự việc khác, phối hợp giữa chúng với nhau, gây ra những bất ngờ, nhận rõ được nhiều mặt của sự việc. Tác giả biết thay đổi kết cấu, nhiều khi dựa vào tính chất xảo quyệt của tội phạm, thay đổi phương pháp kể, phân tích diễn biến tâm lý phá án, phong cách xã hội trong suốt ba mươi năm tại của Quận Cảnh sát 87 sử dụng lối ghi chép việc để dõi theo số phận các nhân vật.
(Trích dịch bài viết của JACQUES BAUDOU)
NHỮNG VỤ ÁN NỔI TIẾNG THẾ GIỚI
Món Nợ Truyền Kiếp
Nguyên bản: Ed Mc Bain - Đoàn Doãn dịch
Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân Hà Nội - 2000
CHRONIQUES DU 87E DISTRICT
Traduit par Louis Saurin
Presses de la Cité ISBN 2-258-02550-5
Ed: 5644 Dépốt Legal 2C
Trimestre 1988
(Bản dịch của Louis Saurin - Nhà xuất bản Cité, quí 2-1988)
 
 
**
HÃY TIN TÔI 1 Mọi người đều có quyền kiếm sống.
Người ta đổ giọt mồ hôi và có một đô la. Với đồng đô la ấy mua chanh, đường, để chiếc bàn và hai chiếc ghế nhỏ, ngồi bán nước chanh bên lề đường, bỗng nhận ra kiếm được mỗi tuần năm đô la. Với năm đồng đó, lại mua chanh, đường, đặt bàn che lều dọc đường. Một thời gian sau thấy cần phải mượn thêm người làm, sản xuất nước chanh vào chai vào hộp rồi có xe để đi phân phối chai hộp đó cho các cửa hàng. Người ta mua một ngôi nhà đẹp ở vùng nông thôn có bể tắm, thường tổ chức chiêu đãi mà khách mời uống nước chanh pha thêm rượu. Có thể nói người ta đã thành đạt.
Luật pháp cho việc kiếm đồng tiền sinh sống là chính đáng, nhưng nhiều khi phải nói tới cách kiếm ra đồng tiền.
Nếu, ví dụ, anh ta có xu hướng phá khóa những hòm bạc, cảnh sát chau mày. Hoặc anh thích trấn lột khách đi đường, không ai có thể phàn nàn gì về việc cảnh sát can thiệp. Hay tệ hơn nữa anh kiếm sống bằng một khẩu súng ngắn thường chĩa vào người khác để tống tiền thì điều đó hoàn toàn không ổn.
Bây giờ nếu là một người ăn mặc đường hoàng nhưng kiếm sống bằng cách phạm tội, anh có thể làm hàng ngàn cách.
Có thể đánh lừa thiên hạ. Không cần dùng bạo lực; bỏ tiền ra mua những dụng cụ hành nghề đắt tiền như kìm cộng lực cũng vô ích; trang bị khẩu súng ngắn hay bố trí kế hoạch để cướp một nhà băng bảo vệ chu đáo cũng là thừa.
Anh có thể tỏ ra cao sang, sống một cuộc đời lãng mạn và phiêu lưu, gặp gỡ nhiều người, ăn uống thoải mái trong lúc làm tiền... nhưng cái đó nhằm đánh lừa thiên hạ.
Tóm lại, anh có thể lừa đảo, lợi dụng lòng tin ở mức độ cao.
Cô bé da đen có vẻ bị kích động mạnh. Cô đang ở trong một trạm cảnh sát, trình bày sự việc với hai viên thanh tra. Có một cảnh sát da đen, điều đó cũng không làm cô yên lòng. Hai người chú ý nghe, thái độ thông cảm nhưng cô cảm thấy mình vẫn rất kỳ cục và chính vì sợ kỳ cục mà cô bị kích động.
Cô ra thành phố đã hai năm, tự biết lúc ấy thật ngây thơ dại dột. Vừa mân mê quai chiếc túi đen, cô bảo hãnh diện đã đưa đến thất bại. Cô nói:
- Tôi cảm thấy mình ngu ngốc đến thế.
- Cô cho biết lại tên? - Kling hỏi.
Kling vừa lên chức thanh tra và còn chưa biết hỏi như thế nào cho thật đúng. Anh là một chàng trai tóc vàng to lớn, rất trẻ, hầu như còn non nớt. Đôi khi anh cũng cảm thấy mình nêu lên những câu hỏi ngốc nghếch, vì vậy hiểu tâm trạng cô bé da đen đang ngồi thẳng đờ trên ghế.
- Tôi tên là Betty - cô ta trả lời - Betty Prescott.
- Cô ở đâu, cô Betty?- Kling lại hỏi.
- Tôi làm việc cho người ta, ở bang bên cạnh, là đầy tớ ông hiểu chứ? Tôi phục vụ trong nhà ông bà Haines đã sáu tháng nay. (Cô hỏi như Kling phải biết ông bà này. Anh không biết họ). Tôi ra về vì thứ năm là ngày tôi được nghỉ. Ngày thứ năm và một ngày chủ nhật trong hai tuần. Thường thường ngày thứ năm tôi ra thành phố. Ông Haines đánh xe đưa tôi ra ga; khi trở về bà Haines đi đón. Đáng lẽ tôi phải về rồi nhưng cần đến trình bày với các ông việc đã xảy ra. Tôi đã điện cho bà chủ và bà đồng ý tôi phải đến gặp các ông. Ông hiểu chứ?
- Tôi hiểu - Kling nói - Cô có chỗ ở trong thành phố à?
- Khi tôi đến, tôi ở nhà bà chị họ, Jsabel Johnson ấy? Lại là câu hỏi. Kling không biết bà này.
- Được rồi, Betty, tiếp đó việc xảy ra như thế nào? Brown hỏi. Cho đến lúc đó, Brown ngồi im, để cho Kling thẩm vấn. Nhưng Arthur Brown nhiều tuổi hơn, vốn là người thiếu kiên trì. Do tên anh là Brown và hoàn cảnh sinh ra anh có màu da nâu, anh bị đùa cợt nhiều và có lúc đã định đổi tên để thực sự làm mồi cho bọn phân biệt chủng tộc. Nhưng từ tính sốt ruột cùng nảy sinh một loại cố chấp giúp anh trong việc điều tra. Khi Brown bắt tay vào một sự việc, chưa được sáng tỏ thì anh chưa thôi. Như vậy là Brown sốt ruột hỏi:
- Việc xảy ra như thế nào?
- Sáng hôm qua tôi xuống tàu, đang đi dọc sân ga thì ông ấy đến nói chuyện với tôi.
- Ở chỗ nào vậy?
- Ở sân ga. Ông ta chào tôi và hỏi mới ra thành phố ít lâu phải không. Tôi trả lời không, từ nông thôn ra đã hai năm nhưng làm việc ở ngoại ô. Ông ta có vẻ đường hoàng, ăn bận lịch sự, và về các mặt. Ông nhận rõ điều tôi muốn nói chứ? Ra dáng lắm phải không?
- Đúng - Kling nói.
- Ông ta bảo là mục sư. Vả lại cũng có vẻ như vậy. Ông chúc phúc cho tôi, nói với tôi phải rất thận trọng vì ở thành phố lớn đầy cạm bẫy đối với những cô gái ngây thơ. Có những người muốn làm hại tôi à?
Lại một câu hỏi và Kling trả lời xác nhận đúng một cách máy móc, bực mình vì ngạc nhiên về cách nói của cô.
- Ông ta bảo phải chú ý nhất là về tiền nong vì người ta thường tìm cách đánh cắp.
- Người da trắng hay da đen ?- Brown ngắt lời.
Cô bé nhìn, Kling như xin lỗi:
- Da trắng.
- Cô tiếp tục đi - Brown nói.
- Thế là tôi bảo tôi có một ít tiền; ông ta đề nghị để ông ban phúc cho, hỏi tôi có tờ mười đô la không, tôi nói không, chỉ có tờ năm đồng. Ông ta cầm lấy, bỏ vào chiếc phong bì trắng, làm dấu chữ thập lên trên. Dấu thánh giá à?
Lần này Kling không trả lời câu hỏi.
- Sau đó ông lẩm bẩm điều gì như cầu Chúa trời ban phúc cho đồng tiền; chúng tôi nói chuyện vớ vẩn với nhau và ông bỏ phong bì vào túi. Và rồi chúng tôi chia tay, ông đưa cho tôi chiếc phong bì có dấu chữ thập, đồng tiền đã được ban phúc.
- Còn sáng nay? - Brown rốt ruột.
- Lúc đi lên tàu, khi tôi mở chiếc phong bì ra chứ?
- Đúng vậy - Kling nói.
- Một điều lạ là không có tờ đô la! - Brown nhận định.
- Không hẳn thế! Chỉ có một chiếc khăn nhỏ bằng giấy gấp lại. Chắc ông ta đổi chiếc phong bì trong lúc nói chuyện, sau khi đã ban phúc cho đồng tiền. Tôi không biết phải làm gì bây giờ. Tôi rất cần tờ năm đô la ấy! Ông thấy có lấy lại được không?
- Chúng tôi thử cố gắng - Kling nói - Cô có thể nói nhân dạng người ấy được không?
- Chà, tôi không nhìn kỹ lắm. ông ta đường hoàng, ăn bận tử tế. Một bộ quần áo màu xanh nước biển. Có thể là đen; nói chung là màu tối.
- Có thắt cà vạt không?
- Hình như chiếc nơ cánh bướm.
- Có cặp da, sách vở gì không?
- Không.
- Có nói tên với cô chứ?
- Có lẽ. Tôi không nhớ nữa.
- Được rồi, cô Prescott - Brown thở ra nói - Nếu chúng tôi có được tin tức gì sẽ báo cho cô. Trong lúc chờ đợi, tôi khuyên cô vĩnh biệt tờ năm đô la của cô đi.
- Vĩnh biệt?
- Câu hỏi vang lên hơn bao giờ hết nhưng không ai trả lời. Người ta dẫn cô gái ra đến hành lang; cô buồn rầu bước xuống cầu thang.
- Anh nghĩ việc này thế nào? - Kling hỏi Brown.
- Việc đánh tráo cũ rích. Biết bao nhiêu cách làm. Chúng ta có thể theo dõi ở các sân ga.
- Anh thấy có thể tìm ra không?
- Tôi chẳng biết. Có thể ngày mai nó thay đổi địa điểm. Bert này, tôi có cảm tưởng lối lừa đảo và lợi dụng lòng tin gần đây lại phát triển. Những mưu mô cũ mà mọi người đã phải biết rõ, lại bắt đầu hoành hành. Tôi không hiểu....
- Việc không nghiêm trọng lắm - Kling nói.
- Mọi tội trạng đều nghiêm trọng - Brown nghiêm trang xác định.
- Đúng, chắc chắn rồi. Tôi muốn nói ngoài mấy đồng đô la bị mất dù sao cũng không có thương tích gì.
Cô gái trẻ ở cảng sông thì có thương tích thật sự.
Cô nổi lên, trôi vào những tảng đá gần cầu và lúc đầu ba đứa trẻ chơi gần đó không biết là cái gì. Khi hiểu ra chúng đi báo cảnh sát.
Khi anh cảnh sát đến, cô gái đang ở gần tảng đá. Anh không hề thích xác chết, nhất là những xác người đã ngâm trong nước trương phình, xác chết gần giống như một người đàn bà. Tóc đã hoàn toàn biến đi trong dòng nước; quần áo thì chỉ còn lại chiếc nịt ngực dán vào da thịt đã rữa như có phép lạ; răng hàm dưới phía trước cũng thiếu.
Anh cảnh sát cố gắng giữ khỏi nôn oẹ, chạy ngay đến trạm điện thoại gần nhất báo cho quận Cảnh sát 87 mà anh thuộc quyền.
Sulivan, trực ban trả lời anh.
- Tôi là Di Angelo - Anh cảnh sát nói.
- Gì thế?
- Có một thây người chết gần cầu.
Anh kể chi tiết cho Sulivan rồi trở lại đứng gần xác cô gái phơi dưới nắng tháng tư, trên tảng đá.

 




Đăng nhập để trả lời
0
CORNELL WOOLRICH
Nguyễn Thành Long dịch
—★—
KẾT HÔN
VỚI NGƯỜI CHẾT
PHÚC MINH & NXB VĂN HỌC
ebook©vctvegroup

***
Mở Đầu
Dễ chịu biết bao những đêm hè ở Caulfield.
Đêm thoảng hương hoa vòi voi, hoa nhài, hoa kim ngân và cỏ ba lá. Những vì sao nơi đây vừa ấm vừa thân thiện, chứ không lạnh lẽo và xa xăm như ở quê tôi; chúng như sà thấp xuống, tiến gần với chúng ta hơn. Làn gió thoảng khẽ lay động tấm màn bên khung cửa
sổ để mở, mềm mại và nhẹ nhàng như nụ hôn của em bé. Và nếu chịu khó lắng tai nghe, ta sẽ nhận thấy nó mang theo tiếng xào xạc của những thân cây sum sê cành lá đang trở mình và tiếp tục say ngủ. Ánh đèn từ các ngôi nhà chiếu lên thảm cỏ bên ngoài và lát lên chúng những dải đồng dài. Mọi vật đều chìm trong cái lặng im, tĩnh tại của bình yên và an toàn tuyệt hảo. Ồ, đúng vậy, những đêm hè ở Caulfield rất dễ chịu.
Nhưng không phải với chúng tôi.
Những đêm đông cũng vậy. Cả những đêm thu và đêm xuân.
Không phải với chúng tôi, không phải với chúng tôi. Ngôi nhà của chúng tôi ở Caulfield thật dễ chịu. Thảm cỏ xanh mướt lúc nào trông cũng như vừa được tưới nước, bất kể khi ấy đang là mấy giờ.
Những vòng tròn lấp lánh, hút khí của bộ vòi phun nước cứ mãi quay đều, và quay đều; khi quan sát đủ kĩ, ta sẽ thấy chúng vẽ lên những dải cầu vồng ngay trước mắt. Lối đi cho xe vào sạch bóng, uốn vòng. Những cây cột chống hiên rực trắng dưới ánh mặt trời.
Bên trong nhà, những thanh lan can trắng cong cong, đối xứng và






Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.03.2023 00:11:44 bởi Ct.Ly>
Bây Giờ Tháng Mấy

Hoàng hải thủy

Lúc “MẮT EM ĐẸP TRỜI SAO” là lúc anh nhìn thấy tình yêu trong mắt em. Những đêm trăng mùa thu sáng vàng trời khi chúng ta chung sống năm vợ chồng đầu tiên ở căn nhà đường Mayer. Em còn nhớ những đêm trăng vàng đó không em? Anh chắc em phải nhớ kỹ hơn anh. Và ngày đó anh mới bước chân vào Tình Yêu, anh đúng là một gã con trai lần đầu tiên đặt những bước chân mê đắm đi trên con đường tình ái. Lúc đó, gã con trai ấy tưởng là nó đã đi vững lắm – Gã con trai đó là Anh – nhưng thực ra anh đã đi theo bàn tay yêu đương dẫn dắt của em, anh đã đi theo bước chân em đi trên con đường Tình Ái. Lúc đó, anh mới và hãy còn là một gã con trai, còn em, em đã là một người đàn bà. Một người đàn bà đa tình và yêu thương – Đa tình với anh và yêu thương anh – Khi chúng ta mới gặp nhau, khi chúng ta mới yêu nhau.

Lúc “Mắt em đẹp trời sao” là lúc anh nhìn thấy trời sao trong mắt em. Có người nào trên cõi đời này, nói là “tôi đã yêu, tôi đã được yêu” mà lại ngẩn ngơ trả lời “tôi chưa hề trông thấy trời sao trong mắt người–tôi–yêu–và–người–yêu–tôi”. (Em chú ý : ở đây anh đánh năm bẩy cái dấu gạch nối, vì yêu là gần gũi, vì yêu không phải là xa rời, vì khi yêu xa nhau cũng vẫn là gần nhau, vì yêu khi không được yêu lại người yêu chân chính cũng vẫn yêu, vẫn gần người mình yêu. Vưỡn yêu, vưỡn gần. Như thường. Bây giờ khi yêu em, anh mới hiểu tại sao ở đời này, có những thằng đàng hoàng, tư cách hơn chán vạn thằng mà vẫn chịu đựng được, vẫn cứ phây phây chung sống với những con vợ ngoại tình, vẫn yêu những con vợ không yêu chúng nó mà lại yêu những thằng khác, ngủ, sung sướng với thằng khác. Anh hiểu và anh sẽ dần dần nói đến, trở lại trong những trang sau của cuốn tiểu thuyết tình dài này, của cuốn truyện kể lại lịch sử yêu đương của anh với em. Của anh mí em. Em cứ chịu khó đọc đi. Em sẽ xúc động, em sẽ cảm động và em sẽ cười, em sẽ yêu anh. Cuốn truyện này là cuốn truyện mà anh vẫn nghĩ là có ngày anh sẽ viết nhưng chưa bao giờ anh nghĩ đến chuyện ngày nào anh sẽ viết, và đêm nay anh viết). Bây giờ chúng ta trở lại với câu hỏi trên đây: Có người nào trên cõi đời này, nói là “tôi đã yêu, tôi đã được yêu” mà lại ngẩn ngơ trả lời “tôi chưa hề trông thấy trời sao trong mắt người–tôi–yêu–và–người–yêu–tôi”. Em đừng nghĩ và em đừng sợ rằng anh viết văn lầm cẩm rắc rối và không liên lạc. Em ơi, em đừng sợ. Chỉ cần anh viết ra là chuyện hay rồi. Người đọc sẽ hiểu là anh muốn viết gì, muốn nói gì, tại sao anh lại viết thế v.v. .. Bởi vì anh biết người đọc truyện này của anh và em phải là những người yêu đương, đã yêu đã sướng đã khổ. Bọn không yêu đương và không hề được yêu đương bao giờ không phải là người đọc truyện này. – Những người đó không đọc tiểu thuyết – Họ quảng cáo House for Rent, Cáo thị Đấu thầu công khai và khẩn hạ, Bar sang chỗ thị tứ dang đông khách huê lợi nhiều – Họ đọc giá vàng lên xuống, họ đọc tin Tầu đến Tầu đi – Họ đọc những mẩu tin cướp giật, hiếp dâm, úp hụi, ăn chơi quỵt, đàn bà đánh ghen.

Họ không đọc truyện tình yêu. Họ đọc tin người bị quân xa Mỹ cán chết, tin nhà người khác cháy, tin vợ người bỏ đi. Họ vui với những chuyện đau đớn và chết chóc của người khác.

Lại trở lại với câu – Có người nào v.v.. Không thể có người nào nói như thế mà lại trả lời như thế. Bởi vì nếu yêu thì chém chết chúng ta cũng nhìn thấy «trăng sao trong mắt người yêu» dù cho người yêu của chúng ta có mù tịt cả hai con mắt đi chăng nữa. Vưỡn nhìn thấy. Không thể không nhìn thấy. Kẻ nào không thấy là chưa yêu. Như anh đã yêu em và đã được em yêu, nên anh đã nhìn thấy «trăng sao trong mắt em», thấy «mắt em đẹp trời sao» – Bao nhiêu lần? Nhiều – Nhiều lần – Ở đâu? Ở bất cứ đâu – ở tất cả cả, ở mọi chỗ chúng ta yêu nhau và anh thò tay ra ngoài màn bật cây đèn nhỏ lên để chút ánh sáng đủ yếu để không đánh thức các con ta dậy, đủ sáng để anh nhìn rõ mặt em, để anh nhìn mắt em.

«Mắt em đẹp trời sao» rõ nhất – đúng là sao, sao đến nỗi không còn trời sao nào có thể trời sao hơn được nữa – là những đêm trăng sao mà chúng ta dắt nhau lên sân thượng của căn nhà lầu chúng ta chung sống những năm đầu tiên trong 12 năm chúng ta chung sống ở đường Mayer.

Đêm khuya mười một, mười hai giờ, sân thượng của bốn căn lầu liền nhau vắng tanh. Vào giờ đó, ở trên 312,784 sân thượng của 312,784 căn nhà có sân thượng ở Sàigòn này, chẳng có ma nào dẫn nhau lên đó trừ những người yêu nhau. Chỉ có những kẻ có tình yêu và có nhau mới nửa đêm trăng sao dắt nhau lên sân thượng. Những người yêu nhau và những kẻ chán đời. Những người yêu nhau lên đó để yêu nhau. Những kẻ chán đời lên đó để nhìn xuống đất, muốn nhẩy xuống tự tử.

Sân thượng của những nhà Việt Nam trần trụi không có gì ngoài một sân xi-măng ráp và những lỗ cửa cho người chui lên, tụt xuống. Đó là nơi dùng để phơi quần áo. Và những gia đình có anh con trai nào thích xì-po, đặt năm bẩy quả tạ trên đó để chiều chiều lên tập đẩy.

Trên sân thượng của căn nhà đường Mayer đó – năm chúng ta sống ở đó, con đường Mayer còn có tên là Mayer, năm nay nó đã có tên khác, song anh vẫn thích cái tên đường Mayer, anh vẫn muốn gọi nó là đường Mayer, một cái tên Tây hiền từ hiếm có trong số 752 cái tên Tây mất cảm tình, có những âm thanh chướng tai, nói lên nghe man rợ, đường đặt cho nhiều đường phố ở Sàigòn: Eyraud Des Vergnes, Borgnis Desbordes, Général Lizé, De Lattre de Tassigny, Mac Mahon, Dixmude, Legrand de la Lyraye v.v...

Nhưng Mayer! Cái tên nghe êm chứ. Như hai âm thanh tình tứ, như tiếng gọi : “Em ơi” – “Mayer”. Trong tình yêu của chúng ta, đường Mayer sẽ muôn năm, vĩnh viễn, ngàn đời là đường Mayer.

Mai sau, nếu có bao giờ...

Nếu có bao giờ chẳng may cho đất nước này – quê hương đau khổ – văn chương của anh có đi vào văn học sử, các anh chị học trò con cháu của anh và em sẽ phải lục tìm và kê khai con đường Mayer của anh và em là con đường nào, nằm ở khu nào, trong đô thành Saigon này.

Trên sân thượng của căn nhà đường Mayer đó, những đêm trăng mùa thu, anh đã theo em lên đó. Cả đô thành, cả trời đất này như chỉ còn có anh và em là sống. Les Amoureux sont seuls au monde. Toujours. Những kẻ yêu nhau thường chỉ có nhau là sống trên cõi đời này. Đúng đấy. Và những người yêu nhau tầm thường đã vậy rồi. Những người yêu nhau chân chính như anh và em thì còn «chỉ có nhau một mình» biết là bao nhiêu mà kể.

Và trên đó, anh đã thấy «mắt em đẹp trời sao». Em nằm ngửa trên chiếc chiếu trải trên nền xi-măng thật ráp – ráp có thể làm trầy đầu gối anh nếu anh không cẩn thận, nếu anh buông thả trong nồng nhiệt – khuôn mặt em đẹp với sống mũi cao như mũi đầm, ngước lên trời trăng sao. Ở trên đời này, có những người đàn bà khổ sở vì có những sống mũi không được cao, không tận hưởng được lạc thú ở đời vì có những sống mũi tẹt, cà chua, sư tử, huyếch. Có những người đàn bà phải vất vả sang tận Nhật để nhờ thầy sửa lại sống mũi cho cao, xẻ lại đôi mắt cho lớn, cho tình. Song em, em của anh, sống mũi đầm lai của em khi Má em sinh ra em đã đẹp.

Khi anh viết rằng em nằm ngửa và khuôn mặt em ngước lên trời trăng sao, anh không viết thừa một chữ nào hết. Anh không cẩn thận quá đâu. Có thể có người sẽ nài: đã nằm ngửa thì lẽ tự nhiên mặt mũi phải ngửa lên trời rồi, nằm ngửa mà úp xuống sao được?? Lầm. Có khi người ta nằm ngửa mà mặt vẫn úp được, nhất là khi người ta là đàn bà.

Trong kho tàng hình ảnh kỷ niệm của anh, hình ảnh em những đêm trăng đó sáng rỡ, sáng như trăng, như ngọc, như kim cương không bao giờ phai nhạt.

Đêm nay, tháng này, năm nay anh nhớ lại và tưởng như hình ảnh đó mới xảy ra đêm hôm qua. 12 năm rồi đấy. Chính em nói với anh là em đã sống với anh 12 năm, trong khi anh tưởng là mới chỉ có 10 năm. Thời gian qua thật mau mà cũng thật lâu.

Như Dudintsev viết trong truyện ngắn New Year Fable : «thời gian là một cái gì có thể co vào và dãn ra được ». Như thời gian sống trong Tình yêu qua đi thật mau, như thời gian sống trong Tình yêu thật dài.

Anh ngồi bên em, anh nằm bên em, ánh trăng chan hòa trên em như nước. Những lúc đó, anh chỉ còn biết có em, anh không ghi nhận gì về anh nữa. Cuộc sống của anh qui tụ lại quanh em, trong em. Trong tâm hồn và trong thể xác em.

Vũ trụ của anh là da thịt em, là núi ngực, rừng tóc, đùi thon, vai mởn và đùi dài; là thung lũng lưng eo, là cồn cát mông tròn gợn. Những đêm đó, tuy anh vẫn yêu em mỗi ngày, vẫn yêu em suốt ngày, anh vẫn thèm thuồng yêu em và thân thể em. Anh chống tay trên em và nhìn xuống thấy «mắt em đẹp trời sao ».

Em yêu dấu, trong truyện dài Tình yêu chúng ta, anh mở đầu bằng một bài ca. Lẽ ra ngoài việc viết tiểu thuyết, làm báo và làm cho cuộc đời anh trở nên một bài thơ dài, anh còn phải là nhạc sĩ – ít nhất – Và thi sĩ. Vì Thơ và Nhạc là tiếng nói của Tình yêu. Khi yêu, người ta không cần hát nhưng mạch máu, trái tim của chúng ta đã hát, vẫn hát.

Khi tình yêu chết, tiếng hát ngừng.

Tiếng hát sau khi Tình yêu đi được gọi là Tiếng hát đau thương, tiếng ra tuyệt vọng... cũng vẫn là tiếng hát ca tụng tình yêu. Một thứ Tình yêu đã . Đã yêu cũng vẫn là còn yêu. Tình yêu một chiều, một nhóm, đơn phương. Tình yêu không có đáp ứng. Tình yêu không được thỏa mãn. Tình yêu khi còn tiếng hát, dù là đau thương, dù có tuyệt vọng, Tình yêu vẫn chưa hết.

Lẽ ra anh ít nhất – phải là nhạc sĩ, không là nhạc công, nhạc sĩ sáng tác kia. Âm nhạc là tiếng nói của tình yêu. Tình yêu chỉ có thể thốt ra trọn vẹn bằng âm thanh, không thể trọn vẹn bằng chữ viết. Có lẽ vì chữ viết là do con người đặt ra, âm thanh là một trong số những gi Trời chế tạo và ban cho loài người dùng.

Mà cái gì của Trời vẫn quí hơn của người. Em thấy rõ nhé: bức thư tình lâm ly êm ái, gợi cảm nhất của văn chương Pháp không làm cho em, khi em còn là nữ sinh Gia Long, xúc động bằng bài Dictée khi em thi Brevet Élementaire; một truyện tình đẹp như « Hồn Không Mơ Tiên » không làm cho một cô gái Thượng xúc cảm. Nhưng một bản nhạc thì khác. Nhạc mà anh muốn nói tới đây là nhạc tình nhạc yêu, không phải thứ nhạc chọc cười hạ cấp, khiếu dâm bằng những ẩn ý. Như bài ONE DAY của Johann Strauss chẳng hạn. Nhac ca ngợi tình thì dù là nhạc nước nào, cũng là chung của tất cả thế giới. Nghe một bản nhạc tình, người ta tưởng nhớ đến ngay Tình yêu, đến người yêu, lẽ ra anh phải là nhạc sĩ. Ít nhất.

Để anh có thể ca ngợi tình yêu của chúng ta mà làm cho tất cả mọi người không hề biết tí ti về tình yêu của chúng ta cũng xúc động, để anh có thể khuyến khích mọi người hãy yêu chân thành yêu không bao giờ lỗ cả. Dù người ta có yêu mà không được yêu lại, người ta vẫn còn được yêu. Tình yêu chân chính không cần cả sự đền đáp.

Con người khi hồi tưởng kỷ niệm, có thể chỉ nhớ những khổ đau mà quên sung sướng, có thể chỉ nhớ sung sướng mà quên khổ đau, nhưng chỉ nhớ những đêm trăng đẹp mà không nhớ những đêm mưa dài, chỉ cần một đêm trăng yêu nhau bên nhau có nhau hoặc xa nhau cũng đủ làm cho người ta suốt đời xúc động mỗi khi nhìn thấy lại mặt trăng. Người đồng quê ngày xưa, thường lấy mặt trăng làm chứng khi thề nguyền yêu thương nhau, chờ đợi nhau là vì vậy.

Bấy giờ là tháng mấy ?? Những ngày chúng ta yêu thương đầu tiên ấy là mùa thu. Mùa thu là mùa của trăng và mây, mùa của tình yêu. Mùa thu ở Bắc là mùa đẹp nhất trong bốn mùa. Rất tiếc anh và em, chúng ta chưa có dịp nào sống chung với nhau ở Hà Nội. Chúng ta chưa được sống với nhau một ngày nào ở Hà Nội.

Anh muốn đưa em về miền quê hương cũ của anh nơi anh đã sống những ngày thơ ấu, những ngày anh chưa gặp em mà anh biết rằng cuộc đời này có em và mãi sau anh sẽ được gặp em, em sẽ yêu anh và chúng ta đã yêu nhau. Nhưng anh muốn đưa em về đó, điều cần nhất,trước nhất, là đời anh phải có em, anh phải tìm được em trước đã.

Anh đi tìm mùa xuân trên đời... Một việc làm không bao giờ có kết quả.

Vì làm sao anh có thể tìm được mùa xuân – không ai có thể đi tìm được mùa xuân, nhất là anh , vì em ở đâu là mùa xuân ở đó. Nơi nào không có em nơi đó chỉ có mùa đông, nơi đó bao giờ, muôn năm, vĩnh viễn... chỉ là mùa đông.



Ở căn nhà đường Mayer, căn phòng chúng ta ngủ, căn phòng có chiếc giường ngủ đệm bông thật đẹp và lớn của em – từ chiếc giường ngủ đó, anh nghiệm thấy rằng giường ngủ của những người đàn bà đa tình trên cõi đời này, đều lớn, êm và đẹp, đối với đàn bà đa tình, cái giường là vật quan trọng nhất – nhìn ra cửa sổ, cửa sổ nhìn sang vi-la bên cạnh, và trong vườn vi-la bên cạnh, có một cây dừa.

Lá dừa trong những đêm trường loáng ánh bạc; trong như dát vàng, như có nước chảy.

Em đã ngủ trong căn phòng đó nhiều đêm, nhưng vì không có anh, và không có tình yêu, nên em không thấy vẻ đẹp của cảnh vật. Đến những đêm có anh nằm bên em, có tình yêu, em mới thấy cảnh vật quanh em đẹp và thơ mộng :

– Anh... anh nhìn những cành lá dừa bên kia.... Đẹp quá phải không anh ??

Có một nửa đêm, em đánh thức anh dậy, để chỉ cho anh thấy những tầu lá dừa dát ánh vàng của nhà bên kia.

Và anh thấy đẹp, như anh chưa từng bao giờ thấy trăng, thấy bóng dừa trong trăng. Và sau đó, anh mất ngủ.

Những người suy nghĩ nhiều, những văn nghệ sĩ chân chính, thường bị bịnh mất ngủ. Đó là cái tật chung của những người suy nghĩ nhiều. Đã sắp chợp ngủ, tuy trong người rất mệt, chỉ cần một thắc mắc một suy nghĩ nhỏ làm bận trí, ý nghĩ vui hoặc buồn cùng vậy, là anh tỉnh ngủ luôn.

Trước nửa đêm đó, chúng ta đã yêu nhau – 6 tháng đầu tiên chúng ta chung sống, đêm nào cũng vậy. Nửa đêm em thao thức nằm bên anh, nhìn qua cửa sổ, ngắm lá dừa đẹp trong đêm trăng, em đánh thức anh dậy để anh thưởng thức. Sau đó, chúng ta lại yêu nhau.

Lần yêu nhau thứ hai trong đêm.

Và sau cuộc ái ân thứ hai đó, em đa tình hơn, nồng nàn hơn, sôi nổi hơn, mạnh mẽ hơn – em với anh bao giờ, lần nào cũng đa tình, nồng nàn, sôi nổi và mạnh như sóng cuốn, như gió thổi – song lần này em hơn, có lẽ vì cảnh trăng sáng ở bên ngoài quá đẹp – Em yêu và ân ái với trăng sáng ở trong lòng em – Rồi em mệt và em ngủ.

Và anh mệt nhưng không ngủ được.

Anh nằm bên em, nghe tiếng em thở đều, tiếng thở trong giấc ngủ lấy lại sức khỏe của một người đàn bà đa tình sau cơn ân ái với người yêu–hết mình không gìn giữ –có cái âm thanh của tiếng ngáy. Ngáy là gì? Ngáy là thở mạnh, phải không em? Đàn bà ngáy nhẹ như em đâu có xấu đâu có gì chướng tai. Miễn là ngáy nhẹ như em, đừng kéo gỗ quá lớn.

Anh nhìn khuôn mặt em bình yên, hiền lành trong giẫc ngủ và hồi tưởng lại lần đầu tiên anh gặp em, lần đầu anh nhìn kỹ nét mặt em.

Có người nói rằng và tin rằng con người ta trong giấc ngủ người nào cũng hiền lành. Nghĩa là khi ngủ nét mặt người nào cũng lành.

Anh không nghĩ thế. Trước khi gặp em, anh cho lời nói trên đây là đúng. Nhưng sau khi gặp, yêu em và nằm lặng nhìn em ngủ, anh không cho lời nói đó là đúng nữa.

Chỉ có những người tốt và yêu đương như em chẳng hạn và trẻ thơ, khi ngủ, nét mặt rất hiền, mới bình yên.

Bọn độc ác, bất nhân, bọn lòng dạ giả dối, khi chúng tỉnh giấc, có thể che dấu được những cảm nghĩ thực của chúng.

Nhưng khi chúng ngủ, chúng không giữ được, bao nhiêu xấu xa, bẩn thỉu của đời chúng, hiện cả trên mặt chúng.

Người ta khi ngủ, linh hồn cũng phiêu diêu, bay ra khỏi xác gần như là chết, khi đó, người ta còn dấu diếm được gì nữa.

Đêm đó. nhìn em bình yên ngủ tốt lành anh bỗng như nhìn thấy cả cuộc đời anh mai sau, như nhìn thấy con đường trải dài trước mặt,

Con đường mà anh sẽ đi, với em, có em,

Rồi đây trên những lối đi này.

Anh sẽ cùng em tay nắm tay...

Và anh nhè nhẹ trở dậy, ra khỏi giường.

Để cho em trong giấc ngủ khỏi giật mình – Anh ra bàn viết ngồi hút thuốc lá. Trong đêm khuya một mình anh ngồi với anh bên bàn viết, tiếng động của thành phố về đêm tắt dần – Thành phố về khuya thiệt êm – Năm đó Saigon chưa có nhiều xe cộ, máy móc, nhiều người như năm nay.

Anh ngồi nhìn về tương lai anh trong đêm khuya, với tiếng thở của em ở sau lưng như tiếng nhạc đệm cho một đoạn phim tình. Tiếng thở bình yên, nhịp nhàng, như tiếng ca trầm tĩnh : « Có em yêu anh. Bao giờ em cũng yêu anh. Em chỉ yêu có mình anh. Anh đừng sợ... Đừng bao giờ sợ ». Như tiếng gió reo, suối róc rách đệm cho những vùng cảnh đẹp.

Anh bật đèn bàn, cầm bút, và tay anh viết nên thơ :

Mùa thu mây trắng xây thành

Tình Em mầu ấy cỏ xanh da trời

Hoa lòng Em có về tươi

Môi Em có thắm nửa đời vì anh ?

Đã lâu lắm anh không làm thơ. Sau một thời gian sống và khổ sở, bỗng dưng nguồn thơ của anh như một dòng suối, chợt cạn, đột ngột khô khan. Tâm hồn anh vẫn còn rung động, nhưng mỗi lần anh muốn làm thơ, mỗi lần anh cầm bút viết thơ, là thơ người khác hiện ra dưới ngòi bút của anh.

Như một buổi sáng nào đó, chợt tỉnh giấc, chôt nhìn ra trời xanh, biết đó là sáng mùa thu và mùa thu đã về, lòng bâng khuâng hồi tưởng kỷ niệm – Kỷ niệm như Henry Miller thấy, dựng lên cao ngất, muôn mầu – bỗng muốn, bỗng thèm làm thơ, tự dưng những vần thơ của Đình Hùng dìu dịu đến, làm anh thấy rằng thơ tả sáng mùa thu và tình yêu như vậy là nhất rồi, anh không còn cần phải làm thơ sáng hôm đó nữa...

Hôm nay có phải là thu

Mấy năm xưa đã viễn du trở về ?

Cảm vì Em bước chân đi

Nước rung mặt ngọc lưu ly phớt buồn...

Một buổi chiều hoàng hôn nào đó, đến trên bến nước một dòng sông, anh nhớ em muốn làm thơ, trong tiềm thức anh những câu thơ nằm sẵn in nếp của Huy Cận :

Người ở phương trời, ta ở đây

Chờ mong phương nọ, nhớ phương này

Chờ mong phương nọ, nhớ phương này

Tương tư đôi chốn, tình ngàn dậm

Vạn lý sầu lên núi ngất mây

... hiện đến. Hoặc vào những buổi chiều buồn, thất vọng, thương nhớ tiếng nói của em mà không được nghe em nói, thèm khát nhìn ngắm mặt em mà chỉ có thể tưởng nhớ lại em, lại những câu thơ của Huy Cận :

Rồi một buổi đứng chờ người chẳng tới

Ta thấy buồn cùng mọc với trăng sao...

Gió đêm thổi không ngớt niềm thương nhớ

Tình đi mau, sầu ở lại lâu dài

Ta bỗng để hồn tan trong nhip thở

Kêu gọi người thương tiếc nỗi tàn phai...

... hiện đến và từ lâu rồi, anh không làm thơ nữa. Cho đến đêm trăng sáng đó, thức bên em ngủ, anh làm mấy câu thơ cuối cùng của đời anh, những câu thơ cho em. Chỉ bốn câu nhưng chưa bao giờ anh hài lòng đến thế.

Mùa thu mây trắng xây thành

Tình Em mầu ấy cỏ xanh da trời

Hoa lòng Em có về tươi

Môi Em có thắm nửa đời vì anh ?

Kể từ ngày anh viết phóng tác Tiểu thuyết «A kiss before dying » thành « Chiếc Hôn Tử Biệt » trên báo Ngôn Luận, anh ít viết sáng tác. Vì cuốn tiểu thuyết phóng tác của anh được nhiều người theo dõi, ham đọc, nên từ đó đa số chủ báo mỗi lần nhờ anh viết truyện dài, đều nói – «Anh cho một cái phóng tác...» Lâu dần thành ra quen. Anh cứ lấy tiểu thuyết Âu, Mỹ ra phóng tác nên ngại không muốn viết sáng tác. Song, không phải như vậy là anh sáng tác không được. Anh vẫn cảm thấy trong cánh tay anh tiềm tàng một nguồn sinh lực rất mạnh, như có những dòng chữ tiểu thuyết cuồn cuộn trôi trong các thớ thịt của tay anh. Anh vẫn nghĩ và tin rằng trong một ngày nào mai sau anh sẽ sáng tác và anh sẽ viết nhiều. Trong thời gian qua, anh đã hài lòng với việc phóng tác tiểu thuyết – Kể ra cũng phải có học, có tài mới phóng tác được chứ – Không cỏ ngoại ngữ và không có tài viết chữ thành ra truyện thì phóng tác làm sao được.

Ngày anh viết tiểu thuyết Môi Thắm Nửa Đời cho báo Chính Luận trước ngày Từ Chung bị bắn chết, anh đặt tên truyện theo câu thơ « Môi Em có thắm nửa đời vì anh » mà anh đã tặng em. Song, truyện đó không có chút hình dáng, hơi hướng nào của em hết. Truyện đó khác hẳn với truyện này. Truyện này anh viết về em, về mối tình của anh và em – Em sẽ nằm, ngồi, yêu, hờn, thương, giận, thở hít, tắm, ăn uống, cười, khóc, vẽ lông mày, tô son môi, nhổ lông nách, cởi và mặc quần áo, hôn hít, khạc nhổ, chửa đẻ, phá thai, tắm rửa, xức nước hoa trong truyện này – hôm nay, anh muốn viết để trở thành một người viết tiểu thuyết về Tình Yêu của mình, về Vợ mình, nhiều nhất nước, nhiều nhất thế giới.



Em yêu dấu, đây chỉ là, mới là đoạn mở đầu cho truyện dài của anh và em, chưa bao giờ anh viết đoạn mở đầu nào dài đến thế này. Dài nhưng không thừa, dài nhưng cần thiết. Cần phải có đoạn mở đầu này để hiểu những mẩu chuyện yêu đương sắp được diễn tả.

Đoạn mở đầu chưa phải là chuyện. Những gì sau đây, những gì sắp được kể tới mấy là chuyện.

Anh muốn thiên nhiên trong truyện của anh và em sẽ êm như tóc em, vì những mùa thu qua trong tình chúng ta đã trong như mắt em. Anh muốn truyện dài của chúng ta là một bản tình ca dài. Trong đó mỗi nét chữ là một vuốt ve, mỗi chấm phết là một hôn hít, mỗi con số là một nụ cười, mỗi vòng chữ là một vòng tay ôm nhau, mỗi trang giấy là một mặt giường nhầu nát in hình thân thể, anh muốn truyện của chúng ta là một cuộc ái ân dài...


một


Tỉnh lỵ Hà Đông ở cách Hà Nội 11 cây số, không xa bằng quận lỵ Thủ Đức hoặc quận Đức Hoà xa cách thủ đô Saigon.

Hà Đông được gọi là tỉnh chớ không là thành phố, vì nó nhỏ quá.

Một lý do làm cho Tỉnh Hà Đông không có gì đáng kể, người Hà Đông không có ai đáng được nói tới là vì Hà Đông ở quá gần Hà Nội. Học trò Hà Đông học hết ban tiểu học ra học ở Hà Nội, có thể sáng đi tối về, đường tầu điện Hà Đông – Hà Nội chạy leng keng qua Thanh Xuân, Ngã Tư Sở, rồi Thái Hà Ấp và vào Cửa Nam Hà Nội. Dân Hà Đông muốn xem chiếu bóng cũng đi ra Hà Nội để tới những rạp Philharmonique, Majestic, ăn cao lâu cũng dắt vợ con ra Hà Nội ăn ở Đông Hưng Viên.

Thị xã Hà Đông có đủ màu sắc của một tỉnh lẻ chỉ thiếu đường xe hoả và một nhà ga xép để một thi sĩ như Vũ Hoàng Chương có thể đến làm xếp ga và làm thơ «Mai sau nếu có là ta. Làm gì cũng được làm ga thì đừng» và để một văn sĩ Thanh nam có thể đến ở ít lâu và viết «Buồn ga nhỏ». Bù lại, Hà Đông có đường tầu điện như đã kể. Cũng có rạp xi-nê, một rạp hát cải lương do ông Tư Thiêm làm chủ nhân. Nhân vật Tư Thiêm — (tác giả quen gọi ông là cậu Tư Thiêm và ông anh độc đáo của ông là cậu Ba Sớm, vì ông có đi lại giao thiệp với thân phụ của tác giả) — ở Hà Đông được coi như là một nhà kinh doanh gần lớn như ông Trần-văn-Chi thân phụ của nhà giáo – nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan và nữ ca sĩ Linh Đa. Ông Tư Thiêm còn có một thời mở đường xe buýt chở khách Hà Nội – Hà Đông , bến xe đậu ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm và Đầu cầu Hà Đông.

Nhưng, vì Hà Đông quá gần Hà Nội — chỉ cách có 11 cây số, thanh nhiên Hà Đông đi xe đạp cũng có thể phây phân ra Hà Nội xem xi-nê, buổi Matinée và mát mẻ đạp về nhà ăn cơm vào buổi tối nên nhà xi-nê Hà Đông gần như vắng khách thường trực, chỉ vỏn vẹn khách có mỗi một xuất Matinée 2 giờ, 4 giờ trưa chủ nhật. Mà chỉ có chiếu phim Cao Bồi hoặc Tarzan mới đông.

Nhưng Hà Đông là một thành phố êm đềm. Thơ mộng thì chẳng có gì thơ mộng nhưng êm tĩnh thì thật là êm. Thị xã không có nhà máy, không có trại lính Tây, không có trại lính Khố đỏ, chỉ có một đồn lính Khố xanh, tiếng Pháp gọi là Garde Indigène.

Dòng Nhuệ Giang lặng lờ chẩy qua đầu tỉnh. Xuôi dòng sông đào này, người ta có thể đi thuyền xuống những làng Cự Đà, Khúc Thủy — Tỉnh Hà Đông có Chùa Hương, Chùa Trầm và có làng Cự Đà là nổi tiếng nhất — Dân Cự Đà không nổi tiếng về có đất văn học, nhiều người đỗ đạt, làm quan như các làng Thiện, Mọc Quan Nhân, mà nổi tiếng về khoản giầu tiền và có nhiều người có tay buôn bán, giỏi làm giầu. Dân Hà Đông nói rằng làng nằm ngay sông Nhuệ, đình làng nhìn ngay ra sông, mà dòng sông tới đó thì chạy vòng thành một khúc quanh, nước sông cứ vần vũ xoay tròn ở vũng sông trước cửa đình đó không đi.

Như thế là thủy tụ và thủy tụ thì dân giầu, song có cái hại là chỗ nào nước đọng thì bẩn. Do đó, trong làng Cự Đà có họ có máu phong hủi, tức là máu cùi. Ác liệt thay những cô gái có máu phong cùi này — khi nọc cùi chưa phát, khi chưa lấy chồng, chưa ân ái, chưa có hơi hướng đàn ông — lại vừa đẹp vừa giầu.

Thị xã Hà Đông cũng có một khu giải trí, đó là khu Cô đầu Bông Đỏ. Gọi là Bông Đỏ vì đó là một khu mà Ty Lục Lộ có trồng nhiều hàng cây me Tây — một thứ cây do các quan Đại Pháp mang giống sang gieo rắc trên đất xứ này — vào mùa hạ, me Tây nở hoa đỏ ối. Các nhà thơ trữ tình và bọn học trò mơ mộng gọi văn vẻ là hoa phượng, dân Hà Đông gọi ngay khu phố có nhiều bông đỏ là Bông Đỏ.

Xóm cô đầu Bông Đỏ cách căn nhà cuối cùng của thị xã Hà Đông chừng 1 cây số rưỡi. Từ xóm đó có đường rẽ đi vào làng La Khê, một làng chuyên dệt tơ — tơ La Khê để may áo – và quê ngoại nhà văn, nhà giáo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.

Trên con đường đất đi từ xóm Cô đầu Bông Đỏ vào làng La Khê dệt tơ quê ngoại của nhà văn Hiếu Chân đó đặc biệt đáng kể có một cái nhà chứa phân của dân thành phố. Ngay câu chuyện nầy mở đầu ở Hà Đông, ngày nhân vật chính của truyện này còn là một thiếu niên vừa ngoài mười tuổi — một teen-ager, nói theo ngôn ngữ Hoa kỳ du nhập — tức là vào những năm từ 1940 : Nhật bắt đầu tới Đông dương, và năm 1946: Việt Minh cướp chính quyền, hệ thống giải quyết sự tiêu hóa của dân thị xã Hà Đông vẫn còn tổ chức đổ thùng của ô Năm Diệm phụ trách. Phân của dân thị xã được đem về chứa ở kho phân gần làng La khê đó để được phân loại, đóng thùng gửi đi các nơi. Bọn học trò vào làng La Khê chơi, vô phúc đi trúng vào cuối chiều gió thổi, vừa bịt mũi, vừa cười đùa, vừa chạy vừa hít hết mình.

Nhân dịp ngàn năm một thuở diễn tả cảnh sắc tỉnh cũ Hà Đông, tưởng cũng nên có vài dòng hoặc là một đoạn viết về Xóm Cô đầu Bông Đỏ. Cái xóm Cô Đầu này xoàng xĩnh và rẻ tiền có lẽ nhất nước An Nam ta hồi ấy. Đó có lẽ chỉ là nơi lui tới của các ông tổng lý, kỳ hào lên tỉnh kiện cáo, hầu việc quan, hoặc của mấy ông lính lệ, lính khố xanh. Chị em ở đó không đẹp bằng bọn các em con sen ở trong tỉnh.

Nhưng dòng sông Nhuệ thật hiền từ. Nhưng những đêm trăng thả một con thuyền xuôi dòng sông đi về phía Cự Đà, Khúc Thủy thì cũng đẹp và nên thơ lắm. Khái Hưng đã có đêm đi thuyền trên sông Nhuệ, thấy làm mê đắm và viết thành truyện ngắn.

Nhưng Hà Đông có chùa Hương thì đẹp không đâu bằng. Nhưng Hà đông có Quản Dương ra lệnh cho lính nổ súng bắn một buổi chiều chết cả trăm thanh thiếu niên tỉnh dại dột theo bọn cán bộ Việt Minh biểu tình ào vào trại lính định cướp súng, và ven con đường tầu điện Hà đông – Hà Nội ở khoảng Thanh Xuân – Ngã Tư sở – Thái Hà ấp còn có hai hàng cây thấp, mùa xuân tôi thấy trên lá cây xanh nõn hai hàng cây thấp ấy vương vất những sợi tơ vàng tươi mởn trong mưa xuân. Chỉ mùa xuân tôi mới thấy những dây tơ vàng đó, tôi hỏi và được một người con gái nhiều tuổi hơn tôi, đáng tuổi chị tôi, bảo cho biết rằng đó là những sợi tơ hồng.

– Tơ hồng gì mà lại vàng?

Trên chuyến tầu điện đi giữa mưa xuân nhẹ bay ấy, tôi đi học ở Hà Nội về và nàng đi học ở Hà Nội về, nàng hơn tôi hai lớp, tôi ngây thơ tôi hỏi lại nàng như thế. Tôi ngây thơ tôi tưởng đã gọi là hồng thì phải có mầu hồng, tôi ngây thơ tôi chưa biết rằng sung sướng có thể là đau đớn và hạnh phúc có thể oan trái.

Chiều xuân đó tôi chưa hiểu nhưng mai sau, nhưng bây giờ tôi hiểu. Bây giờ tôi biết những người yêu nhau xa nhau vẫn có thể thấy gần nhau, và Tình Yêu của loài người có thể chết — người ta có thể đánh thuốc độc cho Tình Yêu chết dần và đem Tình Yêu đi chôn như chôn một người chết — song một phần nào đó trong tâm hồn tôi vẫn còn nguyên ngây thơ, trong trắng như ngày hôm xưa, tôi vẫn nghĩ rằng, tin rằng Tình Yêu của loài người, Tình Yêu của các bạn, có thể chết, có thể đem chôn, còn Tình Yêu của tôi và nàng thì không bao giờ chết.



Người bạn-gái-chị-gái không nhìn tôi khi tôi hỏi nàng :

– Tơ hồng gì mà lại vàng ?

Nàng nhìn qua khung cửa sổ tầu điện xuống hàng cây xanh có những sợi tơ vàng đang lùi lại vun vút bên thành tầu vì lúc đó con tầu đang chạy. Đôi mắt nàng, tôi còn nhớ, mơ màng như nhìn tới một nơi nào thật xa. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một đôi mắt gái đẹp mơ màng và nàng đáp mơ hồ :

– Tơ hồng phải vàng chứ.

Nghe nàng nói thế, từ giây phút đó, tôi yên trí những dây tơ vàng đỏ là dây Tơ Hồng, loài dây có thể ràng buộc đôi người nam nữ yêu nhau thành vợ chồng, loài dây có thể giữ cho những cặp vợ chồng gần nhau. Từ đó, tôi không có dịp nào hỏi lại ai rằng những dây tơ vàng đó có thật là dây Tơ Hồng hay không. Nhưng đêm nay, sau bao nhiêu tàn nhẫn, giả dối của người và cuộc đời, đêm nay hồi tưởng lại mùa xuân cũ, giây phút qua, chuyến tầu xưa, người đã xa, tuổi trẻ đã mất, tôi muốn hỏi nàng :

– Em... Em... — người năm xưa đã dạy anh những dây tơ vàng đó là dây Tơ Hồng trong một ngày mùa xuân chúng ta cùng đi học về trên chuyển tàu điện Hà nội – Hà Đông. Bây giờ em còn sống hay em đã chết ? ? Nếu em còn sổng em hãy trả lời anh : có thật đó là những dây Tơ Hồng không hay là chiều đó, em nhìn trời xuân, em nghĩ đến chuyện lấy chồng và em nói nhằng với anh như thế ? Em thấy không ? Một lời nói của đàn bà quan trọng đến là chừng nào với một thằng con trai mới lớn. Vì em nói đó là dây Tơ Hồng nên dù không phải, suốt đời anh vẫn tưởng, vẫn yên trí những sợi vàng đó là dây Tơ Hồng. Năm xưa, khi chúng ta cùng chưa ngoài 20 tuổi mà anh kém em tới hai, ba tuổi, sự hơn kém ấy xa cách lắm — Nhưng bây giờ khi chúng ta đã ngoài ba mươi tuổi, sự hơn kém vài ba tuổi đó không còn là xa cách nữa. Dù anh có kém tuổi em, em vẫn phải gọi anh là anh và xưng em với anh. Bây giờ anh trải đời rồi anh không còn dễ tin, dễ nghe lời em như năm xưa nữa đâu.

Thị xã Hà Đông có hai cầu qua sông Nhuệ và chỉ có một con phố chính. Phố chính ấy có cái tên trang trọng và lớn là Boulevard de la République. Cái tên A-Nam của nó lại rất khiêm nhượng, nặng những địa phương tính và có thể liệt vào nhà quê nữa là khác. Tên A-Nam của Boulevard de la République ở thị xã Hà Đông là Phố Bóp Kèn.

Boulevard de la République kể đã là lạ tồi. Đại lộ Cộng Hòa ? Nghĩa như thế đấy nhưng mà là Cộng Hòa nào ? Thời đó nước A-Nam bảo hộ và thuộc địa vẫn chia ra làm 3 kỳ, vẫn có vua Bảo Đại thì Cộng Hòa nỗi gì ? Chắc đó là Cộng Hòa Pháp quốc. Cái tên Phố Bóp Kèn mới quả là kỳ cục. Bóp Kèn là cái gì ? Vì sao lại có cái tên đó ? Tuổi trẻ của tôi sẵn sàng chấp nhận cái tên phố Bóp Kèn . Nhà tôi ở phố đó.

Tôi sinh trưởng trong một căn nhà có gác cuối phố Bóp Kèn thị xã Hà Đông. Tôi chưa bao giờ hỏi tại sao người ta lai gọi phố nhà tôi là phố Bóp Kèn. Tôi không thấy cái tên đó là lạ. Tỏi chỉ hơi bất mãn vì tên nó không được đẹp như những tên phố khác. Song ở thị xã Hà Đông chẳng có tên phố nào đẹp. Người ta quen gọi theo các khu như Đầu Cầu, phố Chợ, cửa Dinh, khu Chợ Trâu v.v...

Phố Bóp Kèn, con phố chính của Thị Xã, dài đúng một cây số. Dinh Công sứ, Tòa sứ, Dinh Tổng Đốc, Sở Cẩm đều nằm trên phố Bóp Kèn. Và nhà tôi ở cuối phố.

Tôi ra đời thì thầy tôi bắt đầu xây cất tòa nhà này. Trước đó, ông ở thuê nhà người khác — Quê quán tôi ở làng Linh Qui, Tổng Kim Sơn, Phủ Gia Lâm — vào năm 1950, Phủ này đổi thành Tỉnh — Tỉnh Bắc Ninh. Làng tôi tên chữ là Linh Qui, song có cái tên tục nghe rất hay là làng Bụi, có người phát âm là làng Vui.

Những làng quanh làng tôi đều có những tên chữ hay và những tên tục thât quê như làng Kim Sơn là làng Then, làng Trân Tảo là làng Táo. Rồi những làng Keo, làng Đề, làng Bụi hoặc Vui, hoặc Linh Qui ở Bắc Ninh là một làng ở gần sông Đuống và gần đường số 5. Làng tôi nằm giữa hữu ngạn sông Đuống và đường số 5, vì vậy trong cuộc chiến tranh Việt Pháp 1946-1954, làng tôi bị tàn phá và dân làng tôi bị tàn sát nặng nề. Làng tôi cũng không phải là một làng lớn, cũng không giàu không nghèo, nhàng nhàng nhỡ nhỡ không ra làm sao cả. Làng tôi không có cảnh đẹp. Nói là gần sông Đuống, nhưng không phải là ngay trên bờ sông. Dân làng không có ai hách. Người làng tôi chỉ có một người tương đối nổi tiếng. Người đó là Dương Đức Hiền — Dân chủ Đảng. Dương Đức Hiền là anh em con chú, con bác với tôi, và anh đã chết.

Làng tôi ở gần một làng có tên trong văn học sử — Làng Phú Thụy của ông Cao Bá Quát. làng Phú Thụy, có khi gọi là Phú Thị, ở gần đường số 5 hơn làng tôi. Làng Phú Thị cách làng tôi chừng 5 cây số. Làng Phú Thị có vẻ giầu, vững chãi và khang trang hơn làng tôi. Ở miền quê Bắc Việt chỉ cần trông qua lũy tre bao quanh một làng là có thể biết ngay làng đó giàu hay nghèo. Lũy tre làng Phú Thị dầy, có đất cao và cổng gỗ lim lớn, chắc hơn lũy tre, bờ đất, cổng làng của làng tôi.

Trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh Việt-Pháp ở Bắc Việt. Thầy tôi từ Hà Đông mang mẹ tôi và anh em tôi tản cư về làng Hòa Xá, Phủ Vân Đình, quê ngoại tôi, rồi thấy ở đó không ôn, lại đưa chúng tôi về thị xã Hà Đông để đi xuống đường Văn Điển, qua sông Cái, sang khu Bát Tràng, Thủ Khối —Thủ Khối là quê ngoại của Thầy tôi, nơi quê nội của Mai Thảo và anh Nguyễn Đăng Thục — để rồi đi qua đường số 5 về Linh Qui trong khi Spitfire của Pháp đã bắn phá tơi bời những làng quanh phi trường Gia Lâm và khói lửa đà bốc ngút trời ở những nơi bị bắn phá đó. Chúng tôi về làng Bụi sống trong căn nhà năm gian xưa cổ, xưa cổ đến nỗi không còn căn nhà nào cổ xưa hơn được nữa.

Thời đó trước mắt tôi, ở làng Phú Thụy của cụ Cao Bá Quát có một nhân vật nổi tiếng — Người đó là anh Cao Bá Thao, con cháu của cụ Cao Bá Quát. Anh là một trong số những thi sĩ hạng nhì thời tiền chiến ở BV. Tôi nhớ thơ anh không nổi như thơ Xuân Diệu, không trữ tình, lãng mạn. Dường như thơ anh có âm điệu hùng hồn, kêu gọi hơn là than thở. Tôi đã quên hết cả thơ Cao Bá Thao, chỉ còn nhớ mấy câu anh làm ở làng Phủ Thụy hòi đầu chiến tranh, để riễu một anh cán bộ Việt cộng.

Anh cán này là người làng Phú Thụy tên là Dinh, họ hàng gì đó với anh Cao Bá Thao. Dinh là Uỷ viên kháng chiến Xã. Lẽ tự nhiên, như 2.781.913 anh Uỷ viên kháng chiến Xã ở Bắc Việt, Bố cu Dinh mang súng lục, dao găm, bận y phục nâu, sống bí mật ẩn hiện bất ngờ, đi lại vi vút và ba hoa sống với Xã, chết với Xã.

Nhưng, đúng theo thông lệ, ngày Quân đội Liên hiệp Pháp mở cuộc hành quân trên đường số 5 — từ Hải Phòng đi lên, từ Gia Lâm đi xuống — những người chạy trước nhất, nhanh nhất, là Cán Bộ Việt Minh và bọn Uỷ viên kháng chiến xã. Trong số những người lẹ chân nhất có Bố cu Dinh. Cao Bá Thao làm thơ riễu :

Tiếng súng Cầu Bây nổ đánh ình

Nhìn quanh thấy mất Bố Cu Dinh.

Hỏi ra mới biết vừa quăng súng

Lõm bõm qua sông lội một mình...

Trên đường số 5, khoảng gần ga Phú Thụy, có một cái cầu sắt gọi là Cầu Bây, đằng sau làng Phú Thụy có một con sông đào, nước nông đàn bà xắn váy lội qua phăng phăng. Qua con sông đỏ là tới cánh đồng làng Táo rồi làng Bụi.

Làng Bụi chỉ cỏ một người xuất sắc với đời là Dương Đức Hiền. Song họ Dương là họ lớn nhất làng. Con gái họ Dương. Các chị, các em gái tôi ở làng, phải một là đi lấy chồng xa, hai là ế chồng ở nhà nuôi bố, nuôi anh nuôi em. Trong, làng, ông bác tôi là Tiên chỉ. Chánh Tổng, Lý Trưởng, Phó Lý, Trương Tuần đều là chú bác tôi. Số thanh niên ở tỉnh thật hiếm. Hách nhất làng là anh Hiền, anh Lợi, rồi đến anh em tôi.

Thầy tôi nói rằng xuất xứ của họ Dương chúng tôi ở làng Linh Qui đã từ một làng ở phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh giáp Hưng Yên. Tức là cũng nằm gần đường số 5. Ngày xưa, các cụ, các kỵ tôi thi trượt, không ra làm quan được, bèn đi giang hồ lang thang tìm chỗ ngồi dạy học — «Tiến vi quan, thoái vi sư» — các cụ xách gói tới đâu đất lành thì chim các cụ đậu lại, lấy vợ, đẻ con, rồi lập nghiệp luôn ở đấy. Vì vậy cụ tổ tôi mới lập họ Dương ỏ làng Linh Qui, rồi sau họ Dương hóa ra quan trọng, đông đinh nhất làng. Mỗi mùa hè về làng chơi, tôi mê đi chăn bò và được các hà Thím, bà Cô, các Anh các Chị chiều ra rít.

Thầy tôi còn nói Nhà Thờ Tổ cao cấp nhất của họ tôi là ở một làng ở huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên. Những năm cúng tổ, các bác tôi phải mang đồ lễ về Thuận Thành, họp các tông chi ở đấy rồi mới đi lên Đông Anh.

Thầy tôi ra làm việc ở Toà Tổng Đốc Hà Đông và về hưu cũng ở Hà Đông. Thầy tôi làm Thông Phán, người rất được cụ Tổng Đốc Hoàng Trọng Phu tín cần. Với gia đình cụ Thiếu Hoàng, thầy tôi thân như người nhà. Thầy tôi dạy các cô con gái cụ Thiếu học ở trong dinh. Thầy tôi là người ưa nhàn, không thích bon chen xoay xỏa, làm đủ nuôi vợ con thì thôi. Thầy tôi được cử đi Tri Châu nhưng ông không đi. Với chức Thông Phán đầu tòa, tôi đã được nghe các vị Tổng Lý đến nhà tôi, vái thầy tôi rạp đến tận đất và xưng hô chúng con, quan lớn, cụ lớn nghe thật long trọng.

Từ Linh Qui, Bắc Ninh, Thầy tôi sang làm việc và lập nghiệp ở Hà Đông đề rồi tôi sinh trưởng ở đó. Nguyên nhân là ông nội tôi làm việc với Quận Công Hoàng Cao Khải. Dường như có một thời, Cụ Quận trị nhậm ở Kinh Bắc, tức là ở tỉnh Bắc Ninh. Bố làm với Bố, con làm với con. Cuộc phục vụ diễn ra trong gần một trăm năm trời bị trị.

Cuộc phục vụ ấy không kéo dài tới ba đời. Đến tôi là dứt. Tôi có muốn tiếp tục việc phục vụ cho gia đình họ Hoàng cũng không được vì cụ Hoàng Trọng Phu không có con trai. Cụ chỉ có mỗi một Cậu Ấm, mà cậu lại chết bất đắc.

Người ta sống ở đời này, chắc phải có số mạng, chắc phải có một sức mạnh vô hình điều khiển cuộc sống của con người, làm cho người này sung sướng, sống lâu, giàu có, đông con cháu, vợ đẹp chung thủy, làm cho người kia khổ sở, chết non, hoặc sống cũng như chết, nghèo nàn, con cháu chết trước, vợ cho mọc sừng. Ngày xưa, khi mới bước chân ra khỏi cửa gia đình để đi vào cuộc đời, tôi tương đối gặp nhiều may mắn, tôi không nể sợ gì hết, tôi báng bổ, tôi không tin là đời có số. Với thần linh và những đấng mà người chung quanh tin lưỏng, thờ phượng không những tôi không tin, mà tôi còn nhạo báng.

Người ta phải đi nửa đời — có người đi hết cả đời vẫn không biết — mới có thể hiểu, biết đời là gì, đời có những gì. Nếu chúng ta chỉ sung sướng, chỉ gặp toàn thành công không mà thôi, cuộc đời chúng ta vẫn chưa đầy đủ, vẫn thiếu. Phải có thất bại, phải khổ đau mới là sống, có những đau khổ bẩn thỉu và có những đau khổ đẹp. Những đau khổ đẹp làm đẹp đời sống. Nhưng với một điều kiện là đau khổ vừa thôi, đừng đau khổ quá. Đau khổ quá làm cho tâm hồn chúng ta trơ cằn, trở thành chai đá. Đau khổ quá làm cho tâm hồn chúng ta tê dại, không còn rung cảm và thông cảm được những nỗi đau khổ của người khác. Đau khổ vừa, trái lại, làm cho chúng ta thương người và thêm bao dung.

«Không ai giàu ba họ. Không ai khó ba đời..» Những câu nói thông thằng của cổ nhân vậy mà đúng không thể tả. Như gia đình cụ Thiếu Hoàng ở Hà Đông chẳng hạn. Quận công Hoàng Cao Khải rồi đến Thiếu bảo Hoàng Trọng Phu quyền uy như hai vị Phó Vương đất Bắc. Quận công họ Hoàng hét ra lửa làm thơ vịnh Hai Bà Trưng với những câu đặt Hai Bà ngồi vào hàng ghế khiêm nhượng, khuất lánh mà xã hội Á Đông vẫn dành cho đàn bà... «Oanh liệt khen cho gái dị thường....».

Nhưng gia đình ấy dòng họ ấy không hiển hách được ở BV đến ba đời. Những ngày cuối cùng của cụ Thiếu Hoàng trời buồn và tắt dần trong thời buổi nhiễu nhương hồi Việt Minh mới lên nắm chính quyền. Trước năm 1946 chừng 4 năm cụ Thiếu đã về nghỉ, nhường ghế Tống Đốc Hà Đông lại cho ông Vi Văn Định rồi ông Hồ Đắc Điềm. Nhưng tuy về nghỉ cụ vẫn còn là một nhân vật quan lại mà chính quyền Việt Minh thấy cần phải bôi lọ và làm cho mất uy tín. Ông cụ mất trong tòa nhà ở đường Cột Cờ Hà Nội. Đám ma về Thái Hà Ấp tẻ nhạt. Người ta còn đồn rằng cụ Thiếu tự tử chết vì sợ Việt Minh đem ra làm xấu, và cụ chết giả ? Nếu là sau năm 1954, cụ Thiếu Hoàng chắc chắn bị đấu tố ra gì.

Chuyện quả báo ở đời này chắc rằng cũng có. Có thể vì Quận công Hoàng Cao Khải đã chém giết nhiều người — tôi nghiệm thấy chỉ cần giết oan một người thôi cả cuộc đời mình cũng đã bị hồn oan theo, phá hoại, làm hại — tới đời con cháu cự gặp nhiều tai họa. Cụ Thiếu Hoàng chỉ có một cậu con trai nay lại chết sớm.

Bây giờ là tháng mấy nhỉ ?? Tôi nhớ đò là một buổi chiều một tháng gần mùa hạ nắng. Mùa hạ Bắc Việt nắng và nóng khủng khiếp. Giường chiếu vào khoảng hai, ba giờ trưa khi có lửa đốt, như khô cong và sắp nứt nẻ. Tôi học ở trường Tự Đức của ông Giáo Kiên. Năm giờ chiều tôi có xe tay nhà đến trường đón, nhà nào có xe tay nhà Omic sơn đen, gọng đồng vàng ngời, đã sang như bây giờ có xe hơi HK. Thằng Hướng, thằng xe nhà tôi, đón tôi từ trường về ghé vào dinh Tổng đốc chờ đón Thầy tôi về. Tôi vào dinh chạy chơi. Thềm nhà cao, những dẫy hành lang dài và sạch. Phòng làm việc của thầy tôi có cái quạt trần bằng vải, ngoài cửa có một anh bé con bằng tuổi tôi vừa ngồi kéo quạt vừa ngủ gật. Trên bàn thầy tôi có cái máy đánh chữ Remington, một thứ cơ khí hoàn toàn mới lạ với tôi. Tôi tò mò hỏi máy đó là máy gì ? Thầy tôi nói đó là máy chữ. Ông cho tôi ngồi lên bàn, cho một phong bì vào máy, gõ lách tách mấy cái. Phong bì màu xanh di chuyển trên trục máy đen sì. Nhưng chữ in mầu xanh đậm hiện ra trên nền giấy mầu xanh nhạt. Từng chữ, từng chữ theo nhau :

Monsieur DƯƠNG TRỌNG HẢI

No 116 Boulevard de lu République

HÀ ĐÔNG — TONKIN

Phong bì thư đầu tiên mang tên tôi trong đời tôi là một phong bì do người sinh ra tôi đánh bằng máy chữ. Trong phong bì không có thư, không có một chữ nào khác ngoài tên tôi, không có những lời âu yếm như — « Bố yêu thương con lắm – Bố thương con nhất đời – Với bố, con là nhất» — cũng không có những lời mong ước — « Bố mong mai sau con sẽ đỗ đạt cao, con sẽ làm quan, con sẽ hách, con sẽ làm họ ta mở mày, mở mặt với thiên hạ..» — cũng chẳng có những lời yêu cầu — « Hải, con phải có hiếu với thầy...»

Nhưng... trong phong bì thư đó, có chứa đựng tất cả những nỗi yêu thương, trìu mến mà vũ trụ này có thể có. Tôi có thể tả vi vút về mọi thứ tình yêu, nhưng tôi tự thú : tôi không thể tả được một phần nghìn của thứ tình yêu đã dành đã gởi cho tôi trong bức thư không lời trong một buổi chicu mùa hạ trong Dinh Tổng đốc Hà Đông.

Có những tình yêu không thể tả bằng lời, không thể không nên và không được. Như tình yêu cha con, như tình yêu vợ chồng, nói tóm lại là tình yêu thuần túy. Tình yêu không còn gì khác. Tình yêu chỉ có thể nói được trong ba tiếng «Bố yêu con», «Anh yêu em», rồi thôi đừng nói gì hơn nữa. Bởi vì thế đã là đủ quá rồi. Bởi vì nếu khi người bố nói với con rằng «Bố yêu con» mà đứa con không hiểu, đứa con đó mai sau chắc chắn sẽ ăn mày, ăn nhặt. Khi người đàn ông nói « Anh yêu em » mà người đàn bà chưa thấy tình yêu, chưa cho là đủ, thì cũng chẳng còn có gì để mà nói thêm với nhau nữa.



Tôi chạy chơi trong Dinh — Những văn phòng lúc đó còn có người, những ông Thừa, ông Lục lạ mặt — Tôi đi ra vườn cây. Tuổi trẻ, mỗi khu vườn không phải là vườn nhà mình, là một khu rừng cấm tràn đầy bí mật và cần thám hiểm. Với một đứa bé vừa qua mười tuổi, mỗi căn nhà lạ không phải nhà mình là một thế giới khác.

Và tôi tha thẩn đi chơi một mình trong vườn cây dinh Tổng đốc Hà Đông. Những lối sỏi có nhiều hòn sỏi nhỏ, vân đỏ, đen, tím lượm cầm chơi một lúc, bỏ túi đề rồi lại vứt đi. Những bồn cỏ được những chú lính lệ chăm tưới mỗi chiều, tuy mùa hạ vẫn xanh tốt. Những chậu trồng cây hoa mà tôi không biết tên.

Một buổi chiều tháng hạ đó, đang đi thơ thẩn trong khu vườn vắng trong dinh tôi bỗng gặp một cụ già — Một cụ già mặc áo gấm lam —Người dong dỏng cao, hai tay dài, tóc bạc, da trắng trông thật sang và hiền từ. Ông cụ cũng đi thơ thẩn trong vườn như tôi. Thoắt thấy tôi biết ngay ông cụ là cụ Thiếu Hoàng, là người đang làm chủ tòa dinh thự này, là người chỉ huy cao cấp nhất ở đây. Tự nhiên, tôi có một thái độ ngoan ngoãn, hiền lành.

Chắc ông cụ nhận thấy vẻ ngoan hiền ấy của tôi, nên khi trẻ già gặp nhau trên lối sỏi của buổi chiều mùa hạ, ông cụ hỏi tôi:

– Cháu là con nhà ai ?

Tôi xưng tên tôi và tên thầy tôi, và nói thêm rằng tôi đi học về, vào đón thầy tôi cùng về.

Ồng cụ khen ngoan, và chúng tôi chia tay nhau. Đó là lần đầu tôi gặp cụ Thiếu Hoàng và là lần duy nhất tôi với cụ trao đổi vài lời hỏi đáp. Sau đó còn một vài lần nữa tôi nhìn thấy ông cụ ngồi trong xe hơi đi ra Hà Nội hoặc từ Hà Nội về. Vài năm sau, cụ Thiếu mất. Cảm nghĩ của tôi về cụ Thiếu Hà Đông là ông cụ trông người đẹp, sang, hiền từ và bây giờ khi nhớ lại hình ảnh cũ, tôi thấy thêm là buổi chiều đó, ông cụ buồn, cô đơn.



Đối với tôi, thầy tôi là một người cha hoàn loàn về tất cả mọi mặt tình cảm.

Trái hẳn với tánh tôi : bừa bãi, tham lam, mê đắm, dễ sa đọa, lười biếng, thầy tôi sống hoàn toàn trong sạch, ông không có một tật xấu nào, ông không cờ bạc, không uống rượu. Năm tôi 20 tuổi, tôi đã hút cặn thuốc phiện đầu tiên trong đời, hai mươi mốt tuổi, tôi đã ra vào các tiệm hút như người cặp sách đi học «cours particulier» buổi tối. Nhưng suốt đời thầy tôi, chắc ông không hề hút thử lấy nửa điếu thuốc phiện.

Thầy tôi có số sát thê kinh khủng.

Nếu tôi giống người về cung thê tử, chắc là tôi sẽ đau khổ lắm. Thầy tôi đã có 4 bà vợ trước khi gặp mẹ tôi. Cả 4 bà cùng theo nhau lấy vé tàu suốt đi về suối vàng sau một vài năm chung sống với thầy tôi.

Thầy tôi phải chôn 4 bà vợ, nhưng không có thời gian nào ông có vợ bé — chỉ một bà, một bà rồi lại một bà — Bà này tịch đi ông mới cưới bà khác. Anh em chúng tôi không bao giờ bị khổ vì nạn vợ nọ, con kia của bố.

Một địa danh nữa về tỉnh lỵ Hà Đông cân phäi kể: Hà Đông còn được gọi là Tỉnh Đơ.

Vì thị xã nằm trên đất của làng Cầu Đơ. Làng này bao quanh thị xã Hà Đông cũng như tỉnh Gia Định bao quanh thủ đô Saigon.

Vì vậy, thị xã Hà Đông còn được, nọi là tỉnh Đơ. Chợ Hà Đông còn được gọi là Chợ Đơ.

Bây giờ là tháng mấy nhỉ ? Có lẽ cũng là một buổi chiều mùa xuân, trời ấm mát, không có mưa, không có nắng. Hai cha con tôi dắt tay nhau đi chơi trong cánh đồng làng Đơ. Khoảng cuối phố Bóp Kèn, gần nhà tôi, có một con đường đất khá lớn, xe hơi có thể chạy được, đi qua cánh đồng vào trung tâm làng đơ. Đầu kia của con đường là Chợ Đơ. Ven con đường này có một truông lớn. Mùa thu, tôi và các bạn vẫn đem cần ra đây ngồi câu cá.

Thầy tôi mặc quốc phục, gọi nôm ra là mặc quần áo ta : chít khăn, áo dài, quần vải trắng. Thầy tôi nhuộm khăn đen. Với thê hệ bây giờ ông là người cổ, ông được gọi là «người của thế hệ trước ». Ngày thầy tôi đổi vào Nam làm việc, người ở xóm Hòa Hưng có người tưởng ông cụ làm nghề thầy cúng. Ở Saigon, chỉ có những ông làm nghề thầy cúng mới bận áo dài thâm, chít khăn đen.

Thầy tôi không chơi tennis như một số các ông Tham, ông Phán khác. Ông hút thuốc lào đánh tổ tôm, tài bàn. Thú tiêu khiển theo Âu Tây của thầy tôi là thú đi bắn chim gáy ở những làng quanh thị xã vào mùa lúa chín. Ông có khẩu súng săn hai nòng rất đẹp. Tôi còn nhớ khẩu súng đó Calibre 16, được gác ngay trên hai trạc sừng hươu giữa phòng khách nhà tôi. Trạc dưới của sừng hươu gác một thanh kiếm cổ. Khẩu súng săn bị Tự vệ Hà Đông mượn mất,

thanh kiếm về sau được mang theo đồ tản cư về nhà quê, và bị thầy tôi ném xuống ao mất tiêu.

Tôi vẫn đi theo thầy tôi trong các cuộc đi bắn chim. Tôi cầm chùm dây do nhà Chaffanjon Hà Nội bán, dùng để choàng cổ những con chim bị bắn mang về. Trong túi tôi có một số tiền cắc, dùng để chi cho những anh bé con đi nhặt chim. Những con chim gáy bị bắn trúng thằng rớt vào vườn sau bụi tre, hoặc vào giữa bụi tre. Những anh bé con may tay tìm thấy chim mang ra nộp là được tôi chi cho một khoản tiền công nhỏ.

Nhưng buổi chiều mùa xuân ấy, chúng tôi không đi bắn chim. Thầy tôi đi ra đồng chơi, dắt tôi đi theo. Ở cánh đồng này nhà tôi có vài thửa ruộng cho lấy rẽ. Một bà vợ đã chết của thầy tôi là người Làng La Khê – mẹ tôi vẫn gọi bà nầy là bà La Khê – được mang về chôn ở đồng làng La Khê, còn ba bà kia được chôn ở thửa ruộng của thầy tôi ở đồng làng Đơ. Một năm đôi kỳ, thầy tôi đi qua thăm mộ. Và gần như lần nào cũng có tôi đi theo. Song, chẳng thấy ông thắp hương hay ngồi suy tưởng bên ngôi mộ nào lấy nửa phút.

Năm ấy tôi mười hai tuổi. Cái khiếu về âm nhạc duy nhất của tôi mới là tài thổi harmonica. Tôi còn nhớ những cây kèn Nhật thổi nặng đến nổi xong một bài One Day hoặc Biệt Ly, Buồn Tàn Thu – bắt chước tây Le, cây kèn Harmonica vẫn thường biểu diễn tại các trường tiểu học khắp các tỉnh Bắc Viêt – tôi mệt vì hết hơi đến hoa cả mắt, bủn rủn cả chân tay.

Tôi chưa hề mó tay đến cây đàn banjo, cũng chưa thuộc một «nốt» nhạc nào, không hiểu vì lý do nào, tôi nghĩ rằng mai sau tôi có thể làm một nhạc sĩ nổi tiếng và tôi sẽ làm nhạc sĩ. Vì vậy, buổi chiều xuân ấy, khi thầy tôi hỏi :

– Mai sau con lớn, con muốn làm nghề gì?

Tuy còn nhỏ, tôi cũng biết đó là giây phút thật quý báu trong đời người làm con. Tôi cảm thấy tôi cần phải nói thật, dù lời nói thật của tôi có làm cho ông cụ tôi buồn, lo hoặc thất vọng. Vì không nói thật với bố trong những giây phút này, người con sẽ chẳng còn mấy dịp để mà nói thật nữa.

Trong suốt cuộc giao thiệp bố con, có thể là dài năm mươi năm, sáu mươi năm, chỉ có nhiều nhất là ba dịp bố con tâm sự với nhau là cùng.

Không do dự, không dấu diếm, tôi trả lời ngay :

– Mai sau con muốn làm nhạc sĩ.

– Nhạc sĩ ? – Thầy tôi có vẻ ngạc nhiên. Đây là lần đầu tiên ông nghe tôi thổ lộ tâm sự và thốt ra một ý muốn khác thường : muốn làm nhạc sĩ. Ông chờ đợi tôi nói những câu như : con muốn làm quan, làm bác sĩ v.v... Nếu tôi nói thế, chắc ông cụ khoái lắm.

Tôi cũng có lẽ là anh họ Dương thứ nhất tuyên bố muốn trở thành nhạc sĩ.

Sự ngạc nhiên làm thầy tôi đang đi phây phây phải đứng dừng lại. Ông nhìn tôi. Ông đang cầm tay trái tôi bằng bàn tay phải của ông, lúc đó ông cầm bàn tay trái tôi bằng cả hai bàn tay ông.

– Con muốn đánh đàn ? Nhưng... đánh đàn đâu có phải là một nghề ? Cái đó chỉ để chơi thôi đâu có thể nuôi sống được con ? Con còn có vợ con, con phải nuôi nữa chứ. Con phải học để đi làm lấy tiền nuôi thân, nuôi gia đình, con chỉ đánh đàn để mà chơi được thôi.

Con người ta ở cõi đời này không phải cứ muốn cái gì là được cái đó, là vừa ý. 2475 năm trước năm trước năm nay có một nhà hiền triết suốt một đời vất vả đi giang hồ quanh năm mà không làm nên cơm cháo gì, tên là Khổng Khâu – ông này mải đi liệt quốc để lập danh đến nỗi bị vợ ở nhà cho mọc sừng đau như hoạn – đã đau đớn nói ra một câu để đời «Người ta ở đời này cứ mười việc ước muốn thì có đến tám, chín việc không được như ý ».

1102 năm sau ngày Khổng Khâu nói câu đó, vị chưởng môn của Phái Tiêu Diêu ngồi lơ lửng cả 30 năm ở giữa không khí bằng cách buộc mái tóc vào sà nhà trong căn nhà gỗ thông không có cửa ra vào, chờ đợi một anh thiếu niên đẹp trai, con nhà quí phái như Mộ Dung, như Đoàn Dự bước vào để truyền thụ thần công 70 năm tu luyện, khi thấy anh nhà chùa Hư Trúc xấu trai, mũi huếch, tai vểnh, mắt trố sau khi tình cờ phá giải được thế cờ thử thách ngoài sân phom phom bước vào, lại nói – «Người ta ở đời này mười việc có tới tám, chín việc không được như ý».

Ngày xưa tôi muốn làm nhạc sĩ nhưng vì không phải con người ta ở đời này muốn cái gì cũng được. Nên dù muốn, tôi vẫn không trở thành nhạc sĩ. Đó là một ân hận trong vài cái ân hận của tôi. Đáng lẽ ra, tôi phải có điều kiện để diễn tả những tình cảm yêu thương, sung sướng, đau đớn của tôi bằng âm thanh. Những dòng chữ ghép bằng 24 chữ cái và có 5 dấu chỉ âm cao thấp này, theo tôi, yếu và giống nhau quá. Khi ta sung sướng, ta cười lên ha bả, ta kêu ầm lên. Khi ta đau đớn, ta khóc rú lên. Những âm thanh đó khác nhau biết chừng nào. Còn chữ viết không có âm thanh. Chữ viết không truyền được cho người khác những cảm giác một cách mau lẹ như người viết muốn. Chỉ ba tiếng kèn trompette, chỉ một đường tay lướt trên phím ngà piano, những âm thanh phát ra có thể làm cho các em đẹp nhất ở cõi đời này xúc động đến da thịt nổi da gà, sởn gai ốc, người co rúm lại và tâm hồn tê tái đến són đái ra slip Scandal. Tiểu thuyết với chữ viết muốn đạt được thành quả ấy, còn mệt.

«Em yêu dấu, lẽ ra anh phải là nhạc sĩ. Thế kỷ này là thế kỷ của âm Thanh. Lòng người không đủ tĩnh để cảm thông với chữ viết. Chỉ có âm nhạc với hàng trăm âm cao thấp của nó, mới đủ để diễn tả những yêu thương, sung sướng, đau đớn của anh, của loài người và những gì chất chứa, sống và chết trong tình yêu đôi ta.

Nỗi ân hận vì mình không trở thành nhạc sĩ của anh càng tăng khi ngoài ba mươi tuổi, khi thấy mình không còn đủ thì giờ và điều kiện để trở thành bất cứ một con người nào khác con người mà mình đang là, anh đi xem cuốn phim Jazz à Newport, để thấy những người chơi nhạc tụ về bờ biển Newport làm một cuộc trình diễn chung. Những người nhạc sĩ ra sân khấu trông đẹp như những thiên thần. Người ca hát chỉ cốt để làm vui cho đồng loại. Người ca hát, trừ một thiểu số hạ cấp, rẻ tiền, không bao giờ làm cho đồng loại phải đau đớn hoặc buồn rầu. Đó là một việc làm xứng đáng với những tâm hồn đẹp. Một việc làm xứng đáng với anh.

Song, hôm nay, tháng này, anh đã không là nhạc sĩ, mặc dầu ngày xưa, ngay từ ngày mới lớn, chưa đến tuổi mười lăm, mười bẩy, anh đã ước mơ làm nhạc sĩ. Bởi vậy, anh không thể diễn tả được tình ta bằng âm thanh, anh không thể gọi em bằng trompette, anh không thể vuốt tóc em bằng violon, anh không thể để những ngón tay anh đi lại tung tăng trên da thịt em hằng những nốt piano, anh không thể đánh đập em bằng trống, anh không thể cấu vào được em bằng violoncelle...

Vì vậy, hôm nay anh phải mượn lời nhạc của người khác để nói thêm với em, ngoài những gì anh nói với cm bằng chữ viết.

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?

Lênh đênh, ngàn mây trôi êm đềm

Chiều nay, nếu em đừng hờn dỗi

Trách nhau một lần thôi

Tâm hồn mình đâu lẻ đôi.

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?

Anh đi tìm mầu hoa em cài

Chiều nay, nhớ em rồi và nhớ

Áo em đẹp mầu thơ.

Môi tràn đầy ước mơ.

Em ơi, thôi đừng buồn anh nữa....



Ngày xưa, tại sao khi mới mơ hồ biết ước mơ, khi chưa ước mơ tình yêu, chưa có bóng người thiếu nữ tóc thề, mắt biếc nào ẩn hiện trong những giấc mơ mộng tinh, tôi đã mơ làm nhạc sĩ?

Mọi ước mơ ở cõi đời nầy đều có nguyên do nhất là những ước mơ ta có từ ngày ta mới lớn.

Tính tôi bừa bãi, bê bối, buông thả, không thích ghép mình vào lệ luật, tôi học toán rất dở, tôi vì nó có những định luật, những phép cộng, trừ, nhân, chia, phải theo đúng, không thể muốn làm gì thì làm cũng được. Những năm đi học, cứ đến giờ toán là tôi xách cặp đi bát phố hoặc vào Cinéma ngồi.

Tôi học không khá được, không đỗ đạt được là vì tôi ghét Toán, tôi ghét sự bó buộc của nó, tôi ghét phải nhớ những con số, những phương trình.

Nhưng những giờ học về văn chương, sử địa đều có tôi chăm chỉ ngồi. Về sinh ngữ cũng vậy, tôi thích những gì liên can đến tiếng nói. Tôi thích những chuyện gì nói hai tiếng cũng được mà cao hứng nói ra 2,785 tiếng cũng được. Về văn Anh, Pháp, nếu giáo sư bắt tôi làm phân tích mệnh đề, có thể tôi bí, tôi làm sai đấy. Song, nếu bảo tôi dịch một câu văn ngoại ra văn Việt, tôi dịch lưu loát ra trò.

Tại sao tôi lại mơ ước là nhạc sĩ? Phải có nguyên do chứ ? Mọi sự ở đời nầy đều có nguyên do chứ ? Nếu chúng ta chịu tìm, nếu chúng ta tìm đúng, chúng ta sẽ thấy nguyên do của mọi chuyện.

Nguyên do : tôi mang bản chất lãng mạn thích văn nghệ thừa hưởng của bên ngoại. Ông ngoại tôi làm thơ hay, sâu sắc, mẹ tôi là một người đàn bà có nhan sắc và tài hoa, nhưng tài hoa của mẹ tôi không nẩy nở.

Nguyên do đậm nhất là tôi bị ảnh hưởng của xi-nê. Ngoài mười tuổi, tôi mê xi-nê như mê đi bơi sông, mê đánh Ping-Pong. Mê chơi đến bỏ học. Ngoài những phim cao bồi có Gary Cooper đóng, tôi vừa được coi hai cuốn phim bất hủ, vô song diễn tả một cách lãng mạn, thơ mộng hóa cuộc đời của hai nhạc sĩ Johann Strauss và Franz Schubert.

Johann Strauss trong phim Toute la ville danse. Johann sống và yêu thương, hy vọng và thất vọng trước mắt tôi dưới nét mặt Fernand Gravey. Chàng nhạc sĩ đang giờ làm việc, đáng lẽ phải chép sổ lại xé giấy sổ viết bản nhạc, đến sở làm trễ, chậm bị chủ đuổi. Đó là nhạc sĩ Johann Strauss.

Franz Schubert thầy giáo tỉnh lỵ, hiền lành đến nỗi bị bọn học trò con nít bắt nạt, đang viết mấy con toán nhân trên bảng đen bỗng nổi hứng ghi luôn một bản nhạc. Và cả lớp học trò ngừng phá để hát theo thầy.

Và để Thầy cũng bị mời ra khỏi trường. Thầy đói, thầy mang cây đàn ghi-ta đi cầm. Hình ảnh người nhạc sĩ mang đàn đến tiệm cầm đồ làm tôi xúc động nhiều, xúc động và nhớ : hình chàng in trên làn kiếng mờ, người thiếu nữ con nhà cầm đồ hỏi tên, chàng đáp :

– Franz... Franz Schubert....

Tôi nhớ rõ lúc chàng nói hai tiếng – «Franz... Franz...»

Cô gái nhà cầm đồ mê nhạc sĩ Franz Schubert, muốn giúp chàng có tiền nên đánh lừa ông bố – các em khi bị bả tình yêu các em thật nhảm, các em phản hết, cả bố mẹ các em là những người sinh dưỡng các em, các em cũng phản vì một thằng cha căng, chú kiết từ đâu dẫn xác đến xuất hiện trong đời em như thường – em biên gấp năm, gấp sáu số tiền giá cây đàn đã chuyển qua «két» cho ông bố, và ông bố tin con gái, cứ thế chi tiền, làm cho nhạc sĩ nhà ta quýnh cả chân tay lên vì thấy tiền nhiều quá.

Nhạc sĩ Franz...Franz Schubert được con gái tiệm cầm đồ yêu mê, nhưng chàng không yêu mê em cầm đồ, chàng lại yêu mê con gái nhà bá tước, một em quí phái kiêu sa, lãng mạn ra gì. Cũng như nhạc sĩ Johann Strauss được em con gái nhà hàng bánh yêu mê, nhưng lại đi yêu mê một bà công tước lẩm cẩm nào đó. Những sự yêu mê ngoại tình ấy làm cho đời có những bản nhạc tình bất hủ Le Beau Danube Bleu, One Day, La Forêt de Vienne. Nếu Johann Strauss vui và an phận bánh nhà quà vợ với em con nhà hàng bánh, chàng sẽ mập ú, má phính, bụng phệ và chàng chỉ là tác giả của một lũ tí nhau vô bổ cho xã hội. Nếu Franz Schubert an phận làm một ông chủ tiệm cầm đồ, cả ngày ngồi viết biên lai cầm cố đồng hồ, radio, tính tiền lời, cuộc đời chàng và cuộc đời này đã chẳng có những bản Symphonie Inachevée, Ave Maria.

Chẳng biết trong cuộc đời thật, Franz Schubert sáng tác bản nhạc Dang Dở ấy trong trường hợp nào – có thể như một văn sĩ cạn nguồn văn, bỏ dở một truyện viết nửa chừng – Franz Schubert cũng có thể bỏ dở bản nhạc đó vì bí hứng, nhưng ở trong phim, chàng xé bỏ đoạn cuối bản nhạc vì yêu . Chàng chỉ đờn trên piano bản Symphonie đó có hai lần cho người yêu nghe. Lần đầu, vì nàng bất lịch sự cười rinh rích khi chàng đang dạo đàn nên chàng ngừng ngang, lần thứ hai nàng đã có chồng, ngồi nghe chàng biểu diễn bản nhạc cũ hồi tưởng lại thời mình còn con gái, nghĩ đến tình cũ, tình bây giờ, nàng xúc động đến nỗi ngất xỉu, và một lần nữa, chàng lại ngừng đờn nửa chừng.

Nhà nào có đàn, con gái sẽ dâm... Các cụ nói trúng phóc, chẳng sai câu nào. Tiếng đàn có ma lực kinh khủng thật. Đánh đàn đến nỗi con gái nhà người ta ngất đi. Trong giới văn nghệ sĩ, kẻ sĩ được nhiều đàn bà, con gái yêu, mê nhất không phải là thi sĩ, văn sĩ, lại càng không phải là hoạ sĩ, mà là các anh thầy đờn, thổi kèn, ca hát.

Vì hai cuốn phim Toute la ville danseLa Symphonie Inachevée mà sự say mơ trở thành nhạc sĩ trong tôi gia tăng. Cuốn phim thứ ba có ảnh hưởng đến tôi là phim La Symphonie Pastorale : một phim Nhật, tên Việt là Khúc Nhạc Đồng Quê.

Vào những năm này, Nhật chưa đảo chánh Pháp nên cuốn phim Nhật vừa kể còn có tên Pháp. Lần đầu tiên, màn ảnh Hà Nội xuất hiện một phim Nhật nghệ thuật. Trước đó, Hà Nội chỉ mới chiếu những phim, tuyên truyền đề cao Quân-đội Thiên Hoàng bách chiến, bách thắng và đánh hạ giá quân Anh – Mỹ ở Á Châu như phim «Tân Gia Ba thất thủ » v.v... Vai chánh của phim Khúc Nhạc Đồng Quê là một thanh niên thuộc loại «chân chỉ hạt bột », có tài kéo đàn cò Tây, tức Violon, được cô con gái ông chủ mê tít cứ khăng khăng đòi bố cưới chàng làm chồng.

Trên màn ảnh, cuộc sống của những chàng nghệ sĩ đẹp và phong lưu như những ông Hoàng, hơn cả những ông Hoàng, Cinéma cũng thỉnh thoảng năm thì, mười họa, lâu lâu mới có một lần – cũng đề cao cuộc sống của một anh chân chỉ hạt bột, hoặc những anh có chí thì nên, cố gắng học hành để đỗ đạt, để sáng chế ra những phát minh làm lợi cho người đời. Song, cuộc sống của những sinh anh chân chỉ hạt bột cơm nhà, quà vợ chẳng có gì gay cấn, không có một xu thơ mộng dù có được làm thành phim cũng chẳng có ma nào ưa, không hấp dẫn được ai cả, kể cả những người cơm nhà quà vợ quanh năm. Bởi vì, những anh cơm nhà, quà vợ mới là những anh ôm mộng chơi bời nay em này, mai em khác mơ thay vợ như thay áo may-ô, hơn ai hết.

Vì vậy Cinéma Âu-Mỹ chỉ chăm khai thác cuộc đời của những gã giang hồ hoặc chơi bời phóng túng. Ai cũng thích, thiên hạ đi coi chật rạp. Chẳng hạn như cuộc đời của lãng-đãng-tử Clark Gable trong phim L’Incendie de San-Francisco.

Trong phim Lửa Cháy Thành Thánh Phăng- Xi- Cô đã được xếp vào Lịch sử Điện Ảnh này, Clark Gable đóng vai một anh chủ Bar – Dancing Bar của anh có cô đào hát Jeannette Mac Donald đến trình diễn. Chủ Dancing mà kết với nữ ca sĩ thì đẹp đôi nhất rồi – đẹp đôi đến nỗi không cặp tình nhân nào có thể đẹp đôi hơn được nữa trừ hai cặp văn sĩ – vũ nữ – em ca sĩ Jeannette Mac Donald có giọng oanh vàng của Thái Thanh và cái nhan sắc của Thẩm Thúy Hằng – gái một con trông mòn cả hai con mắt – Em hát hay, em quyến rũ, em đa tình nhưng em vẫn ngây thơ, vẫn là con nhà lành, em vẫn chưa biết đàn ông là gì và em chưa biết những người đàn bà nhan sắc như em có thể làm những gì cho đàn ông. Mà anh chủ Bar-Dancing Clark thì lại là trai tứ chiếng chơi bời, phóng đãng quá cỡ.

Em yêu dấu, cũng như em đã yêu anh, cũng như em đã cho anh tất cả, cho anh nhiều hơn là anh đáng được cho, cho nhiều hơn là anh đòi hỏi, Jeannette Mac Donald nữ ca sĩ đã yêu, đã cho Clark Gable chủ Bar-Dancing như thế trong phim nhưng chủ Bar Clark Gable chơi bời, phóng đãng, khinh mạn quen rồi, anh làm cao, anh hắt hủi mối tình chân chính ấy. Anh làm nàng giận, nàng hờn và khi nàng giận hờn mà nàng không làm gì được, nàng bèn « phú lĩnh », tức là nàng đi mất ..

Nàng đi rồi – cũng như em đã yêu anh và em đã giận, đã hờn, đã xa anh, em đã đi mất – chủ Bar Clark Gable lúc đó mới biết là mình đã được yêu, được mê, được cho, được hưởng và mình đã mất tất cả tình yêu lẫn giai nhân tức là chẳng còn gì hết, đến lúc đó chủ Bar Clark Gable mới thấy người đã yêu mình là quí, là thơm, là vô song, là người duy nhất, người mà anh không bao giờ có thể tìm được người khác thay thế. Đến lúc đó chủ Bar Clark Gable mới cay cú, mới thấy thấm thía lời ca «Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em ?..»

Đến lúc đó đã là đoạn cuối của phim Lửa Cháy Thành Thánh Phăng- Xi- Cô rồi, và theo như cái tên phim, chém chết trong phim này cũng phải có xảy ra một vụ cháy nhà. Đúng vậy. Trong phim Lửa Cháy Thành Thánh Phăng- Xi- Cô không những chỉ có một trận cháy nhà mà là có những hai trận cháy nhà.

Hỏa hoạn đầu tiên ở đầu phim, cháy một khách sạn, vì vụ cháy này chàng và nàng gặp nhau. Vụ cháy thứ hai kinh khủng, rùng rợn, vĩ đại hơn. Cháy nhà vì động đất. Trận động đất, cháy nhà này tàn phá thành phố tan tành, làm cho bao nhiêu nhà đổ, hàng ngàn người chết, song có một cái hay là đó là một cơ hội để chàng và nàng tái ngộ.

Chủ Bar Clark Gable gặp lại Nữ ca sĩ Jeannelte Mac Donald trong cảnh hoang tàn, đổ nát của thành phố. Em nữ ca sĩ – như 1.792.813.056 người đàn bà đẹp ở cõi đời này, mỗi khi thấy đồng loại đau đớn, thấy có đồng loại chết, bèn tự hóa thành những nữ thần an ủi. Em nữ ca sĩ Jeannette Mac Donald đa tình – giữa thành Phan-Xi-Cô còn lửa cháy ấy – đã hóa thành một thứ Dì Phước dân sự săn sóc bọn trẻ nhỏ vừa mồ côi vì cha mẹ vừa chết. Dì Phước thường dân Jeannette Mac Donald ấy đang hát bản Ave Maria thì đãng tử Clark Gable Chủ Bar lọ mọ tới. Nghe tiếng nàng phơi phới bay lên, thần tiên, thoát tục, chàng hốt nhiên giác ngộ, lĩnh hội được đạo lý, bèn thấy đời mình tội lỗi và chàng bèn quì gối xuống, mặt ngước nhìn lên trời. Nàng bèn biết là chàng hối hận, bèn tha thứ cho chàng và lại trở về chung sống với chàng, họ lại yêu nhau như cũ.

Phim L’incendie de San Francisco là một phim hay trong số những phim hay mà tôi đã được coi thời tiền chiến ở những rap xi-né Hà Đông và Hà Nội. Tâm hồn tôi chịu ảnh hưởng những phim đó rất nhiều thật nhiều. Xem L’appel de la forêt, tôi muốn mai sau tôi sẽ một mình hai súng vào rừng, săn thú như Gary Cooper.

Xem Les Aventures de Buffalo Bill, tôi thấy chỉ có mẫu người cao bồi bắn súng như máy, một mình lăn qua phải, tung sang trái, hạ cả năm, sáu tên cướp mới là người hùng. Xem Toute la ville danseLa Symphonie Inachevée, tôi muốn làm nhạc sĩ, xem L’incendie de San Francisco tôi mơ sống cuộc đời lãng đãng tử, mở một cái Bar-Dancing, yêu toàn đàn bà đẹp để rồi sau cùng kết liễu cuộc đời bằng cách kết duyên với một em ca sĩ hát hay như Thái Thanh, đa tình như Thẩm Thúy Hằng và thơm như múi mít.

Qua phim Lửa Cháy Thành Thánh Phăng-Xi-Cô, cũng giống như qua 27.914.012 phim lửa cháy mọi thứ thành quách, thị trấn, thủ đô ở trên cõi đời nầy tôi rút được một kinh nghiệm : đàn ông phóng đãng cách mấy, khi gặp đàn bà đẹp, khi gặp Tình Yêu, vẫn bị Tinh Yêu cải huấn và cải hoá như thường .Và đàn ông cứ việc chơi bời, miễn là ở đoạn sau cùng tỏ ra hối hận là được đàn bà tha thứ rồi. Nhưng với một điều kiện tối cần, không có không được, là anh đàn ông đó phải có mã người, phải đẹp trai, phải hào hoa phong nhã, có đầy đủ kỹ thuật và nghệ thuật chiều chuộng đàn bà, làm cho đàn bà hài lòng.

Những anh đàn ông «cù lần», những anh đàn ông thiếu nhan sắc, dù có ăn ở hiền lành ngay từ thuở cha sinh, mẹ đẻ, dù có chiêu chuộng đàn bà hết lòng, cũng vẫn bị đàn bà chê và bỏ rơi không thèm đếm xỉa.



Đói. Rách. Những nghệ sĩ của chúng ta ở hồi đầu thế kỷ 20 này rất đói, rất rách. Văn nghệ ngày ấy chưa được kể là một thứ có thể giúp người ta sinh sống, có cơm ăn, áo mặc. Văn nghệ thời ấy chỉ là một món giải trí, có càng hay mà không có cũng chẳng sao.

Tác phẩm văn chương nào đẹp, hay và có giá trị cho bằng Truyện Thơ Đoạn Trường Tân Thanh của Thi Hào Nguyễn Du ? Bài Tình Ca nào trữ tình cho bằng Khúc Ngâm Chinh Phụ của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm ?? Song những tác giả đó không ai được một xu tiền bản quyền bán sách. Sáng tác để cho không người đời, không đòi đồng bào mình trả lại chút nhỏ công lao nào hết. Người xưa mới đúng là làm văn nghệ thuần túy.

Nhưng đói thì đói dài, rách thì rách nát. Rách đến không còn có thể vá được. Nhà thơ Tú Xương có uống rượu uống mỗi ngày để mà là thơ là nhờ bà vợ giỏi buôn bán. Nhà thơ Tản Đà phải đi làm thầy bói. Tiểu thuyết gia Lan Khai vợ chết không có tiền làm đám ma, phải đến xin ký giấy bán trước 4 bộ truyện dài cho nhà xuất bản Tân Dân, để lấy tiền về mua áo quan cho vợ. Bị nhà xuất bản bắt bí, trả rẻ, Lan Khai cần tiền nên bao nhiêu, cũng nhận. Nhưng anh cay cú, nhưng anh thấm thía sự đểu cáng ấy, nhưng anh đau đớn, cho nên sau đó, viết tiểu thuyết trả nợ cho nhà xuất bản Tân Dân, anh chấm xuống hàng thật nhiều để cho mau đủ số trang. Chẳng hạn:

Lá rụng.

Vèo.

Nàng nhìn lên.

Trời mùa thu có nhiều mây trắng.

Gió reo...

Những trang tiểu thuyết hai, ba chữ một hàng như vậy kéo dài suốt bốn, năm cuốn tiểu thuyết viết trả nợ tiền làm đám ma cho vợ của Lan Khai.

Kết quả là tác giả, nhà xuất bản, lẫn độc giả cùng thiệt hại.

Những người chơi nhạc ở nước ta vào những năm 1930-1945, chưa sống được với đàn, địch, kèn, trống. Những nhà Bar-Dancing Hà Nội chưa có nhiều, khác toàn là Lính Tây, Lính Khố Đỏ đi giầy săng-đá nhẩy cồm cộp trên nền xi măng. Nhạc là nhạc máy hát. Vài nhạc sĩ chơi đàn, thổi kèn, muốn kiếm ăn chỉ có thể đi làm cho các rạp hát cải lương. Chỉ có một số nhỏ Dancing mướn ban nhạc đến chơi vào những đêm thứ bẩy, chủ nhật.

Thầy tôi đã đúng khi ông nói ngày ấy – một buổi chiều mùa xuân giữa cánh đồng làng Đơ, khi hai bố con tôi tâm sự – rằng thổi kèn, khẩy đàn, ca hát không phải là một nghề có thể nuôi sống tôi. Lời nói đó đúng nhưng chỉ đúng trong thời gian đó thôi. Sự thật của năm 1910 không còn là sự thật của năm 1950.


hai


Từ 1940, sau khi Quân đội Phát Xít Nhật đặt gót giầy chinh phục lên mảnh đất cong cong hình chữ S nằm ven biển Thái Bình, nhiều thiên tai, hoạn nạn, bệnh não kinh khủng theo gót giầy xâm lược và theo nhau, tới hành hạ đám dân khốn khổ sống trên mảnh đất chữ S ấy.

Năm 1942, thuốc Tây không có, thuốc Tàu cũng hiếm, một chứng bệnh hiểm nghèo và mới tinh đến với dân Bắc Việt: bệnh đau màng óc.

Bệnh tật – những bệnh tật làm chết người – cũng như những tai nạn, tai họa – đến với con người ta không báo trước.

Buổi chiều, có lẽ là một chiều đầu mùa xuân, vì sau trận đau dài này, khi tỉnh cơn mê loạn lớn nhất đầu tiên trong đời, tôi thấy tôi sống những ngày mùa hạ nắng. Buổi chiều, vào lúc 4 giờ, tự nhiên tôi thấy tôi khó chịu.

Nhà tôi có một tầng lầu. Có vườn chung quanh. Nhà có cổng, một con đường lát gạch từ cổng vào đến nhà để chiếc xe tay Omic bên nhà bếp. Đó cũng là con đường tôi dùng để dượt chiếc xe ô-tô đạp năm tôi mười tuổi. Một bên đường là vách nhà, bên kia là vườn hoa, một bệ gạch xây cao chừng 80 phân, trên có đặt những chậu hoa lan, Thầy tôi thích chơi lan và khô mộc. Tôi lại kỵ lan nhất. Ngày đó, tôi chưa thấy cái đẹp của những bông hoa lan. Tôi ghét nó vì lá nó nhọn và sắc. Đứng gần những chậu lan, mặt tôi cao bằng những ngọn lá dài và nhọn ấy, tôi dễ bị lá lan chọc vào mắt.

Buổi chiều, bốn giờ, tôi còn nhớ tôi ngồi ở bậc cửa ngánh, nhìn ra vườn hoa . Cô hàng kẹo kéo đi qua, Chị Thìn – bà chị cả của tôi – mua cho tôi một xu kẹo. «Cây đớp» bị bệnh xâm lăng mạnh đến nổi ăn không hết xu kẹo.

Bệnh đau màng óc đến thật nhanh. Năm giờ chiều tôi vào giường nằm, sáu giờ tôi đã mê man. Hôm đó, thầy tôi có việc đi Hà Nội về muộn. Mẹ tôi lên nhà ông ngoại tôi chơi. Ông ngoại tôi, cụ Phủ Ninh, Nghiên Duy Ninh, chính quán tại làng Hòa Xá, Vân Đình, Hà Đông, cũng ở lại thị xã Hà Nội. Ông ngoại tôi có thời làm Thị Trưởng Thị xã Hà Đông, thời Nhật đã đảo chánh Pháp. Tôi chắc mẹ tôi lên nhà ông ngoại tôi đánh chắn với các bà dì, các ông cậu tôi, bỏ tôi nằm một mình nên tôi cay cú, tôi tủi thân. Khi mẹ tôi về tới, vào buồng chỗ tôi nằm, bà nghe tiếng cậu con nức nở.

Lúc đó, tôi nửa mê nửa tỉnh, nhưng khi mẹ tôi về tới, tôi tỉnh lại hoàn toàn. Cơn tỉnh lúc ấy ngắn thôi, vừa đủ để tôi biết rằng mẹ tôi đã về tới và tôi đã được săn sóc. Tôi nhớ rõ mẹ tôi vào buồng – căn buồng lúc đó tối om – mẹ tôi vừa bật đèn điện, vừa cười nói :

– Con trai gì mà lại khóc như con gái thế... Xấu quá.. Con trai thì phải giỏi dắn chứ...

Bà vẫn có lối nịnh nhẹ cậu con như vậy để kích thích tự ái của cậu con. Chẳng hạn như tôi lở chân hay bị sâu quảng, tôi sợ đau, mỗi lần rửa chân bằng nước ấm pha thuốc tím, chính tay mẹ tôi phải rửa và rắc thuốc vàng cho tôi. Bà vừa cầm những miếng bông gòn mơn mơn vết sâu quảng nổi bờ tròn trên cổ chân tôi, vừa nói ngọt như đường phèn – «con tôi gan lắm, con tôi nó anh hùng lắm..... Nó đau nhưng mà nó chịu được... Nó không khóc... »

Bà thường kể cho tôi nghe chuyện Quan Công ngày xưa đi đánh trận bị trúng tên tẩm thuốc độc vào cánh tay. Ông mời thầy thuốc tới điều trị. Ông vừa ngồi trật tay áo cho thầy thuốc cầm dao cắt chỗ thịt bị trúng tên tẩm thuốc độc, rồi dùng lưỡi dao cạo sồn sột vào chỗ xương bị nhiễm độc. Quan Công vừa đánh cờ, vừa uống rượu, thản nhiên để cho thầy thuốc nạo xương cánh tay. Bà kể chuyện Quan Công với mục đích khuyến khích tôi chịu đau. Bà còn nói đến chuyện mai sau tôi sẽ đỗ đạt, sẽ làm quan, sẽ lái xe hơi đi chơi oai như ông Huyện Hoài.

Ông Huyện Hoài thời thơ ấu của tôi là ông Huyện Hoài Đức, ông này có xe hơi, thường tới nhà mời thầy tôi đi đánh tổ tôm. Nơi lui tới của các ông ở Thị xã Hà Đông là nhà riêng mấy ông nhà giàu dân Cự Đà. Mấy ông Cự Đà này không có chức tước hay địa vị gì trong chánh quyền, các ông chỉ là nhà giàu chịu chơi, quen giao du toàn với các ông có chức việc. Đó là các ông Hai Lâm, ông Tám Thụ v.v.

Tôi nghe không trọn câu nói của mẹ tôi. Tôi lại mê man, nhưng từ giây phút này, tôi không lo sợ nữa.Tôi đã có mẹ tôi săn sóc ở bên. Từ giây phút đó, mẹ tôi không rời xa tôi nữa.

8 giờ tối, thầy tôi về tới nơi. Ông mời ông Đốc Miên, Giám đốc bệnh viện Hà Đông tới nhà, xem bệnh cho tôi. Ông này chỉ là Médecin, tức là Y sĩ, song ở Hà Đông, người ta vẫn quen gọi ông là ông Đốc, như Docteur vậy.

Ông Đốc Miên tới nhà. Ông bảo đỡ tôi ngồi dậy, bảo tôi cúi đầu xuống cho cằm chạm vào ngực. Nhưng tôi không cúi đầu xuống được, xương cổ tôi đã cứng rồi. Triệu chứng rõ nhất của bệnh đau màng óc là nhức đầu và xương cổ cứng.

Tôi là con đầu của mẹ tôi. Tiong số bốn bà vợ trước đã đi qua cuộc đời của thầy tôi, có hai bà sinh con. Tôi có hai chị và một anh cùng bố khác mẹ. Đến ngày thầy mẹ tôi « rổ rá cạp lại» – mẹ tôi đã có một đời chồng, và ông này qua đời sớm, tôi có một người anh cùng mẹ khác bố – tôi là anh con trai đầu của hai ông hà. Sau tôi toàn là em gái. Đến năm tôi đau màng óc, tôi đã có ba đứa em gái liền tù tì. Các cô Thu Nguyệt, Thu Thảo, Thu Mai.

Bởi vậy, mới có mình tôi là con trai. Cũng quí lắm. Cái tin tôi bị đau màng óc làm thầy mẹ tôi xúc động nhiều. Phải nói là cả họ tôi xúc động, cả khu phố Bóp Kèn gần nhà tôi xúc động, bàn tán.

Bởi vì vào những ngày của những năm từ 1940 đến 1945, chiến tranh cắt đứt đường liên lạc giữa Á Châu và Âu Châu, thuốc tây hiếm, quí và đắt như vàng. Thuốc Bắc cũng hiếm, cũng quí, cũng đắt, có nhiều thứ thuốc có tiền cũng không mua được. Môn thuốc Tây được chuộng nhất thời đó là Danégan : trừ bách bệnh. Bệnh gì cũng phải dùng đến Dagénan, từ đau lậu đến sưng phổi, sưng lá lách, đau dạ dày đến sưng màng óc. Người ta làm hàng sách kiếm sống bằng cách mua đi, bán lại thuốc Tây. Người ta chỉ có thể mua được thuốc Tây ở Chợ Đen mà thôi. Người ta làm Dagénan bằng bột nếp. Trong khi đó, những con bệnh nặng đau ốm không có thuốc điều trị. Chết. Mà bệnh đau màng óc lại là một chứng bệnh nặng nhất, bệnh mới, người ta chữa mò.

Nhà thương Hà Đông – cũng giống như tất cả những nhà thương tỉnh nhỏ ở trên cõi đời này – trước đôi mắt thơ ấu của tôi, là một khu tràn đầy bí mật và rùng rợn. Huyền bí và đáng sợ. Vì đó là một khu bệnh não, chết chóc. Bệnh và chết bao giờ cũng kinh tởm, cũng làm người sống sợ hãi, lánh xa. Kể cả những cái chết đẹp nhất, kể cả những cái chết của những người mình thương yêu nhất.

Đáng sợ vì Nhà Thương là nơi có người chết, có Nhà Xác, và có ma. Nhà thương Hà Đông nằm trên một khu đất lớn gần Trại Lính, sau dẫy phố Bóp Kèn, sau nhà ông Ngoại tôi. Cơ sở này khá văn minh, chia ra làm từng khu. Hàng rào dây thép gai và tường gạch bao quanh. Tôi và các hạn thân của tôi rất kỵ vào nhà thương.Trong khu đó không có gì để chơi cả. Tuy trong đó có nhiều cây cối, nhiều chim, nhưng bên ngoài, thị xã cũng có nhiều khu cây cối mát mẻ hơn, chim chóc đông đảo hơn. Chúng tôi chỉ một năm đôi kỳ, xếp hàng đôi cả trường, đi vào nhà thương vạch tay áo chủng đậu và chích ngừa dịch tả.

Chúng tôi chỉ hay chơi ở con đường chạy dài bên ngoài Nhà Thương. Đường phố trong Thị xã Hà Đông thời ấy vắng xe ô-tô – chỉ có con đường chính chạy qua tỉnh, đường Bóp Kèn, là có xe hàng chạy qua – những con đường khác cả ngày chẳng có bánh xe ô-tô nào lăn qua. Nhưng con đường trước Nhà Thương vẫn là con đường vắng xe ô-tô nhất. Cả năm chẳng có chiếc xe ô-tô nào lăn bánh tới.

Bọn thiếu niên, nhi đồng chúng tôi thường tới con đường đó tập đi xe đạp, đua xe đạp và đá bóng.

Tôi đi qua khung cổng bi thảm của Nhà Thương Hà Đông vào một đêm đầu mùa xuân. 10 giờ tối, ở tỉnh lỵ, đã là khuya lắm. Đã là đêm rồi. Luật pháp của Nhà Thương tỉnh nhỏ không cho xe cộ đi vào bên trong Nhà Thương, dù là xe tay. Mẹ tôi bồng tôi đi mãi, hun hút con đường dài tối đen đi sâu vào những khu sâu nhất của Nhà Thương. Năm đó, tôi đã mười hai, mười ba tuổi, tôi đã khá nặng rồi, tôi không còn là con nít nữa. Mẹ tôi bồng tôi nặng trĩu tay. May là đêm đó có Bà Trẻ tôi – Bà vợ kế của ông Ngoại tôi, bà trạc tuổi mẹ tôi – đi theo. Hai bà thay phiên nhau bồng tôi. Đi mãi.

Bệnh đau màng óc đã hoành hành ở tỉnh lỵ Hà Đông. Tôi không phải là bệnh nhân đầu tiên bị Thần bệnh chiếu cố đến. Trước tôi đã có nhiều con bệnh đau màng óc vào nhà thương Hà Đông và đã chết trong đó.

Bệnh truyền nhiễm, nguy hiểm và dễ lây. Người ta đặt riêng một khu cho bệnh nhân đau màng óc nằm. Một dẫy phòng bệnh chung quanh có dây thép gai và lính lệ bồng súng gác cấm mọi người ra vô, trừ những thân nhân có giấy phép. Khu đau màng óc lẽ tự nhiên, được đặt ở nơi hẻo lánh nhất của nhà thương. Nó nằm ngay cạnh Nhà Xác. Phòng bệnh với Nhà Xác chỉ cách nhau một sân có chừng 30 thước.

Trong nạn dịch đau màng óc ấy, cứ 10 bệnh nhân vào Nhà Thương Hà Đông nằm điều trị, có tới 8 người chết. Số người sống là sống sót, là số chưa chết, số chỉ bị một cơn đau nặng. Vì bệnh nhân dễ chết như vậy, người ta cho bệnh nhân nằm ở sát bên Nhà Xác, để khi chết, đua xác xuống Nhà Xác cho gần, cho tiện.

Mười người đau chỉ có hai người sống sót, không phải sống vì thuốc mà là sống vì số chưa chết.

Trong số những sống sót năm ấy có tôi và Nàng.

Nàng – viết hoa chữ N : Nàng – Tôi vốn kính trọng đàn bà, tôi kính trọng loài người. Nhất là những người yêu nhau.

Trong tất cả những truyện tôi viết sau này, khi tôi sống với nghề viết truyện, nuôi vợ con tôi bằng những truyện ngắn, truyện dài tôi viết đăng trên báo, hai tiếng Chàng và Nàng bao giờ, luôn luôn được tôi viết hoa. Như đó là những danh từ riêng, như đó là tên riêng của những nhân vật. Chàng tên là CHÀNG và Nàng tên là NÀNG. Một vài người bạn chỉ cho tôi cái lỗi ấy. Họ bảo tôi viết sai. Trong tiểu thuyết, chỉ có tên riêng mới viết hoa. Chàng và Nàng không phải là tên riêng của hai người, những chữ C và N phải viết thường.

Song, tôi đã viết quen rồi. Nếu đó là một cái lỗi – nếu anh yêu em là một lỗi, anh nhận lỗi đó – tôi nhận cái lỗi đó. Tôi vẫn viết hoa hai chữ C và N của Chàng và Nàng. Như tôi vẫn làm những gì tôi biết là không nên làm, như khinh bỉ đồng tiền, như lạnh nhạt với việc làm giầu, khinh bỉ bọn nhà giầu, như tin tưởng tuyệt đối vào Tình Yêu.

Như nghĩ rằng Tình Yêu của tôi và Nàng không bao giờ tàn. Như tin rằng tôi và Nàng yêu nhau mãi mãi, tôi được yêu mãi mãi.



Ngọc Diệp – Lá ngọc. Nàng đúng là một cánh lá, một bông hoa bằng ngọc.

Ở đời này, Thượng Đế ban cho loài người tiếng nói, cho tiếng nói có âm thanh, có nghĩa. Thượng Đế cho loài người thông minh và nhờ có thông minh, loài người biết làm thơ, biết đặt tên cho nhau.

Và có những cái tên tiền định. Có những người – nhất là những người con gái – giống hệt với cái tên đã được cha mẹ đặt cho từ ngày cất tiếng khóc chào đời, khi mới chỉ là một hài nhi đỏ hỏn

Ngọc Diệp được đặt tên là Lá Ngọc khi nàng chưa có một vẻ gì giống như cánh lá bằng ngọc hết. Những năm gặp Ngọc Diệp, Nàng đã là một lá ngọc, hơn nữa nàng là bông hoa bằng ngọc.

Ngọc Diệp vào nằm trong khu đau màng óc trước tôi hai đêm. Nàng tỉnh trước tôi. Khi tôi tỉnh lại, nhận thấy mình nằm trong một căn phòng lạ giữa những người lạ nằm trên những chiếc giường sơn vàng, việc đầu tiên của tôi là nhận thấy có mẹ tôi ở bên cạnh.

Mẹ tôi là một người đàn bà đẹp. Nước da bà trắng, bà đẹp nhất ở đôi mắt. Đôi mắt mà tôi cho là có đuôi dài, những lúc bà cười vui, đuôi mắt ấy hiện rõ, dài gần bằng cả con mắt của bà. Từ ngày thơ ấu lên năm, lên bảy, khi chưa biết thế nào là nhan sắc, chưa biết cả đánh vần, chưa biết ghép 25 chữ cái A, B, C vào nhau, tôi đã cảm thấy hãnh diện vì tôi có bà mẹ đẹp. Vì mẹ tôi đẹp.

Chúng ta, các bạn yêu thương cha mẹ chúng ta, tôi tin chắc, tôi hoàn toàn tin rằng các bạn, người đọc những dòng chữ này tôi viết, người theo dõi câu chuyện này tôi kể, các bạn là những người có tình, có tâm hồn đẹp, dễ xúc động. Và các bạn là những người yêu thương cha mẹ.

Bởi vì – dễ hiểu, không có gì khó đoán – nếu các bạn không như thế, các bạn đã không theo dõi, không đọc câu chuyện này, những dòng này.

Chúng ta yêu thương cha mẹ chúng ta. Khi đã yêu thương, cha mẹ chúng ta người đẹp hay xấu, tình nết tốt hay bần tiện, đối với chúng ta không thành vấn đề. Cha mẹ chúng ta xấu xí, lòng dạ nhỏ nhen, hèn hạ, chúng ta vẫn yêu thương các người như thường.

Chúng ta có thể chọn vợ, chúng ta có thể chọn người yêu – tôi không tin lắm ở quyền hạn lựa chọn này, trong tình yêu, chúng ta không có cả quyền lựa chọn. Kẻ nào lựa chọn tức là chưa yêu, hoặc chưa yêu đến tuyệt đối, chưa yêu hoàn toàn.

Tôi nói «chúng ta có thể chọn vợ, có thể chọn người yêu» với một nửa lòng tin mà thôi. Có khi chúng ta có thể chọn, có khi chúng ta không thể chọn. Phải nhận là duyên số. Có duyên số. Có một sự xếp đặt, hẹn hò nào đó ngoài ý muốn, ngoài tầm quyết định của chúng ta. Tình yêu cũng như cuộc đời, như sự sống cái chết. Đến một ngày nào đó – giờ phút, nơi chốn, tức không gian và thời gian, địa điểm, đã được định trước rồi – ta sẽ gặp người ta yêu. Và ta yêu người đó, dù muốn hay không, dù người yêu ta yêu có làm cho ta đau đớn hay ta sung sướng. Ta phải chịu, phải nhận. Song, có một điều an ủi lớn trong Tình Yêu là trong Tình Yêu, đau đớn cũng là sung sướng. Trong Tình Yêu, ta sung sướng hay cả khi ta đau đớn, ta hài lòng, ta ghi nhận, ta biết ơn dù ta bị Tình Yêu hành hạ.

Thuở nhỏ, tôi được yêu thương, được chiều chuộng. Tôi phá, quấy, hư hỏng và nghịch ngợm láo lếu nhiều, song tôi vẫn được yêu, vẫn được chiều. Ngày thơ ấu, tôi không biết là tôi sung sướng, là tôi được chiều chuộng. Lớn lên, trưởng thành, tôi vẫn được yêu, được chiều, tôi vẫn sung sướng. Trưởng thành, tôi biết là tôi được yêu, được chiều chuộng. Song, tôi chỉ biết là tôi sung sướng – đã sung sướng – khi tôi bị khổ sở. Và khi bị khổ sở, tôi vẫn thấy tôi sung sướng.

Ngay sau năm sinh ra tôi, mẹ tôi xem bói. Một ông thầy bói có duyên nào đó – chắc chắn là thầy bói mù. 30 năm trước xã hội ta có rất ít thầy bói sáng, gần như hoàn toàn không có những ông thầy bói khách mã hiệu chiêm tinh gia, trò đoán những việc sắp xẩy đến qua bài Tây chỉ là trò tiêu khiển của một số nhỏ các em Me Tây – ông thầy bói có duyên, ăn nói hợp thời đó đã đoán rằng cậu con mới ra đời của mẹ tôi là một quí tử, sau này sẽ làm nên, rất có hiếu với bố mẹ. Thầy đoán sai hơi nhiều. Song mẹ tôi tin lắm. Mẹ tôi kiêu hãnh kể lại lời ông thầy bói đó mỗi lần nói về tôi. Tôi vẫn khinh giới thầy bói, tôi vẫn gọi, vẫn viết là các «anh» thầy bói. Riêng vị thầy bói đã đoán về tôi năm xưa, tôi phải gọi là ông.

Nếu không có thầy bói nào tuyên bố rằng tôi là quí tử, chắc mẹ tôi vẫn yêu thương và quí báu, và chiều chuộng tôi như bà đã yêu thương, quí báu và chiều chuộng. Còn như, tôi biết nếu có anh thầy bói nhảm nhí, thối mồm nào nói láo rằng tôi là một thằng con mất dậy, trời đánh, bất hiếu, bất mục, bất lương phá hoại gia cang, làm xấu hổ họ hàng, làm bố mẹ nhục nhã, tôi sẽ ăn trộm, ăn cướp, hiếp dâm, ở tù, bị người ta đánh đập ngoài phố v.v... chắc chắn là mẹ tôi không tin, cho là nói láo và dấu biệt chuyện đó đi không kể lại cho ai nghe hết.

Tôi tỉnh dậy vào buổi sáng. Hình như lúc đó sớm lắm. Sáu giờ sáng một ngày đầu mùa xuân không khí còn lạnh, còn như là mùa đông. Ánh sáng trắng và loãng đục. Văn sĩ thường tả rằng ánh sáng sáng của những buổi sáng sớm khi trời lạnh có mầu trắng đục như sữa loãng, Nghe thì có vẻ vẽ vời, nhưng thực là vậy. Ánh sáng của những buổi sáng sớm nơi xứ lạnh, vào mùa lạnh, quả thật có mầu trắng đục như mầu sữa loãng.

Bàn tay êm đặt trên trán tôi. Tôi biết đó là tay mẹ tôi trước khi nhìn thấy mặt hà. Trước cơn mê, tôi biết có mẹ tôi ở bên tôi. Cơn mê loạn của tôi có thể dài lâu với người tỉnh, dài lâu với mẹ tôi, nhưng với tôi, rất ngắn. Qua rất mau. Vừa tỉnh lại, tôi biết ngay, nhớ ngay là tôi có mẹ tôi ở cạnh.

– Em có đói không ?

Tôi đói, tôi được ăn sữa bò. Sữa tươi đựng trong chai thủy tinh, không có đường, nhạt huyếch. Tôi vốn ghét sữa, tôi ưa ăn ngọt. Tôi chỉ gượng nuốt vài muỗng sữa nhỏ, rồi thôi không ăn nữa.

– Em có biết đây là đâu không ? Em có biết Em với Me đang ở đâu không?

Anh em chúng tôi được dạy xưng «em» với thầy mẹ. Không hiểu tại sao là «em» mà không phải là con. Song tiếng «em» thật êm đềm, thật đẹp. Tiếng xưng hô nào cũng êm, cũng đẹp, nếu có tình yêu trong đó.

Tôi nhìn quanh và lắc đầu. Lần đầu tiên tôi nằm ngủ trong một căn phòng lạ, giữa những người lạ.

Sau đó, tôi lại ngủ. Nhưng tôi ngủ không mê loạn. Mẹ tôi đã bớt lo, đỡ sợ. Nỗi lo sợ tôi chết trong lòng mẹ tôi nhẹ đi quá nửa. Bệnh đau màng óc đến nhanh và đi thật lâu, thật chậm. Người đau quá nếu chết ngay khi vừa lên cơn. Tỉnh lại là có cơ thoát. Song, phải mất 6 tháng nằm riêng một chỗ trong một căn phòng đóng kín, không được đi ra ngoài không được cả giao du thân mật với bất cứ ai. Anh em tôi không được bước vào phòng chơi với tôi.

Tôi tỉnh lại lần thứ hai vào lúc 9 giờ sáng. Nắng vàng mùa xuân ấm đã chan hòa bên ngoài. Nắng vàng của Trời đất đến với tất cả, người và mọi nơi. Những khung cửa kính phòng bệnh đục mờ cũng vàng hoe ánh nắng.

Tôi nhìn xung quanh. Phòng có hơn 10 giường, giường nào cũng có người bệnh nằm. Người theo nuôi bệnh nhân ban đêm nằm trên những chiếc ghế vải, hoặc trải chiếu nằm ngay trên lối đi. Vào giờ này, những người nuôi đi ra, đi vô, hoặc ngồi bên giường.

Đa số bệnh nhân là thiếu niên dưới 15 tuổi. Bà Thần đau màng óc dường như yêu thích trẻ con. Những anh bé con trong phòng đều là dân nhà quê. Trừ tôi ra, và Nàng.

Tôi nhìn sang chiếc giường bên cạnh – Lá Ngọc. Bà vú của Nàng đang chải mái tóc cho Nàng.

Mái tóc ấy thưa và mỏng, vì Nàng vừa trải qua một cơn bệnh khủng khiếp. Nhưng trước mặt tôi, mái tóc con gái đầu tiên ấy trong đời rất đẹp.

Ngọc Diệp đã tỉnh. Nàng đau trước tôi và nàng tỉnh trước tôi. Trong thời gian chúng tôi thoát tay Thần chết đó, có hai anh bé con đã chết trong căn phòng này.

Người thiếu nữ ấy hơn tôi hai tuổi. Năm ấy, so với tôi, nàng đã người lớn rồi. Trong khi tôi vẫn còn là một anh bé con.

Có một tiền định trong đời tôi. Đó là việc tôi có duyên với đàn bà lớn tuổi hơn tôi. Tôi dường như chỉ yêu những người đàn bà nhiều tuổi hơn tôi, và tôi hay được người đàn bà nhiều tuổi hơn tôi yêu lại. Tôi không chịu nổi những em Lolita.

Âu Tây gọi những người thanh niên yêu thích đàn bà hơn tuổi mình là những người có mặc cảm Œdipe. Ngày xưa chàng Œdipe yêu mẹ ruột của chàng. Nhưng yêu trong tiềm thức thôi, không loạn luân và Œdipe tìm thỏa mãn cho mối tình của chàng qua việc yêu những người đàn bà hơn tuổi chàng. Có thể. Có lý.

Tôi nhìn sang Ngọc Diệp và ngắm nàng ngồi để cho bà vú nàng chải tóc.. Nàng bận bộ áo cánh trắng, quần trắng. Chắc là vừa thay y phục, vì bộ quần áo nàng còn nguyên nét ủi. Khuôn mặt nàng trái soan, đôi gò má hơi nhô cao, đôi mắt trũng xuống vì cơn bệnh vừa hoành hành. Đôi mắt đã to đen lúc thường, trông càng to và đen. Lần đầu tiên, tôi nhìn ngắm kỹ hình người con gái ngồi chải tóc.

Nàng đang ăn cam. Những múi cam Triều Châu bóc vỏ, nằm trong lòng dĩa, hồng mọng. Hôm nay, khi hồi tưởng lại những múi cam ngày ấy tôi thấy nó giống như môi đàn bà đa tình, lúc đang thèm yêu, đang chờ đợi môi người yêu gắn lên. Song buổi sáng đó, với tâm hồn trẻ thơ, với đôi mắt chỉ mới quen nhìn cỏ cây, bướm hoa và mây trắng, nước trong, tôi chỉ thấy những múi cam tươi đó gợi ý ngon và mát

Một lọn tóc rối. Chiếc lược giật hơi mạnh. Nàng hơi đau, làn môi dưới nàng trề ra tỏ dấu phản đối. Cái trề môi ấy, nếu là môi bọn em gái tôi, chắc tôi ghét lắm, tôi có thể cốc thêm cho em em gái tôi mấy cái chỉ vì cái trề môi đó. Nhưng trên môi Ngọc Diệp, cái trề môi lại đẹp, có duyên làm tôi nhớ mãi. Hai mươi năm sau, tôi tìm thấy cái trề môi ấy trên môi của Brigitte Bardot.

Sau cái trề môi ấy, nàng như cảm thấy, tôi đang nhìn nàng. Nàng nhìn sang tôi, thấy đôi mắt tôi thao láo, nàng mỉm cười với tôi. Nàng chỉ tôi nói với bà vú :

– Cậu ấy thức rồi kìa.

Nàng bưng dĩa cam dơ lên, mời tôi :

– Ăn cam không ?

Tôi cũng có chục cam để trên đầu giường với chai nước lọc, chai sữa tươi. Thấy nàng mời, mẹ tôi nói :

– Cô Diệp ăn đi. Em nó cũng có cam đây

Nàng vẫn cầm dĩa cam dơ về phía tôi đôi mắt vẫn nhìn tôi, vẫn mời. Thấy tôi làm một cử chỉ định ngồi dậy, nhưng tôi hãy còn yếu lắm mẹ tôi vội đỡ lấy dĩa cam trên tay nàng :

– Cám ơn cô.

Mối tình đầu của tôi có từ phút mẹ tôi bỏ múi cam ngọt lịm vào miệng tôi.

Và tình yêu đến trong tim tôi thật sớm. Nhung những mối tình đầu, tất cả những mối tình đầu trên cõi đời này, đều sạch, thơm và thơ mộng. Những mối tình đầu không có chia ly, không có tan vỡ. Vì trong tình đầu, người ta không có một ước vọng nào về tương lai, không có cả sự ham muốn được gần nhau. Trong tình yêu đầu, chúng ta không có cả sự thèm muốn được yêu đền đáp Chúng ta cũng không biết là chúng ta đã yêu. Vì vậy trong tình đầu, chúng ta không bao giờ thất vọng.

Ngọc Diệp là con gái một ông Đốc Phủ người Nam Kỳ. Ông cụ ra ngoài Bắc Kỳ làm việc lấy vợ Bắc, và lập nghiệp ở tỉnh lỵ Hà Đông. Nhà Ngọc Diệp đông anh em. Nàng là con gái thứ sáu, thứ bảy trong nhà. Bà mẹ nàng đã qua đời. Ông Đốc Phủ có vợ kế. So sánh với tôi thì Diệp không được gia đình săn sóc đến nhiều.

Mỗi ngày, Thầy tôi vào thăm tôi một lần. Còn ông Đốc Phủ mỗi tuần lễ mới vào nhà thương thăm con gái một lần. Có khi cả hai tuần mới thấy ông xuất hiện.

Ông Đốc Phủ người hơi thấp. Ông bận đồ Tây, mùa hạ ông bận bộ «faux-tussor » mầu mỡ gà, tay xách ba-toong. Đặc biệt tay ông luôn luôn cầm một điếu thuốc lá giả làm bằng gỗ, sơn trắng, trông như cây bút chì mầu. Nơi đầu điếu thuốc lá giả bằng gỗ ấy có một chút sơn xám, giả làm tro thuốc lá đàng hoàng.

Điếu thuốc giả ấy, mới trông, ai cũng tưởng là thuốc thật. Chỉ thiếu có khói. Ông nói rằng người lịch sự lúc nào tay cũng phải có điếu thuốc lá, nhưng ông hút nhiều thuốc quá không được, có hại, nên ông bày ra chuyện cầm điếu thuốc lá giả.

Ông Đốc Phủ nói tiếng Nam kỳ. Nhưng giọng nói của Ngọc Diệp là một giọng nói lai, nàng sinh trưởng ở đất Bắc mẹ nàng lại là người Bắc, nên giọng nói của Nàng có nhiều âm Bắc hơn là Nam.

Kể từ giây phút ấy, tôi sống trong căn phòng bệnh, giữa những người gần chết, sắp chết, nằm gần ngay nhà xác, như sống trên một con tầu bồng bềnh trôi trên biển.

Những ngày thật êm đềm và bình thản. Tôi có mẹ tôi suốt ngày, suốt đêm ở bên cạnh, nâng niu săn sóc, nuông chiều. Tuổi thơ ấu tôi sung sướng nhất là được mẹ tôi săn sóc, chiều chuộng, được coi là người quan trọng nhất nhà.

Tôi sống không biết có những gì xẩy ra quanh tôi. Tôi chỉ biết tôi đang có mẹ tôi và một cô gái xinh xắn, dễ thương sống bên cạnh. Tôi không nhận thấy có những gì bẩn thỉu, ghê rợn – những gì đặc biệt của cái chết – đang diễn ra quanh tôi. Những ngày nằm bệnh ấy, giờ đây trong ký ức tôi, chỉ còn là một chuỗi dài những ngày ngọc sáng êm đềm. Ngày cuối xuân, đầu hạ, khí hậu vẫn còn lạnh ban đêm và không nóng lắm ban ngày. Chúng tôi vẫn còn nóng sốt bất thường. Những cơn sốt nóng đột ngột đến, vừa đủ để gây lo âu, rồi từ từ đi, cho thân nhân của chúng tôi có quyền nghĩ rằng cơn bệnh của chúng tôi đang giảm dần, đang sắp hết...

Tôi được nghe mẹ tôi kể lại rằng tôi nằm mê man mất ba đêm, hai ngày. Ngọc Diệp vào nằm đây trước tôi năm ngày, khi cơn đau của tôi đang thời kỳ nặng nhất, nàng đã tỉnh. Trong đêm đầu tiên tôi được đưa vào đây, phòng này có hai người đau màng óc từ trần. Xác chết vừa được mang đi thì tôi chiếm giường của người vừa chết.

Mẹ tôi vốn sợ ma như hầu hết những bà mẹ trên cõi đời này. Trong đêm đầu tiên ở đây, không biết nhà xí ở đâu, vào khoảng gần sáng, bà đi ra vườn thấy một căn nhà nhỏ, tối om ở góc vườn.

Yên trí đó là nhà xí, bà liền đến đó ngồi đái một bãi. Cũng may là bà lại ngồi đái ngay ngoài cửa, không cẩn thận mò vào bên trong căn nhà tối om đó. Vì đó là Nhà Xác. Sáng hôm sau, bà chết khiếp vì thấy người ta đem xác chết vào đấy.

Trong tâm hồn trẻ thơ cái chết thật bình thường. Tôi dửng dưng, thản nhiên với cái chết bình thường. Tôi dửng dưng, thản nhiên với cái chết của cả chính tôi. Chưa biết cuộc đời này có những gì nếu ngày trẻ thơ đó tôi phải ra đi, tôi thảnh thơi đi. Khi đứa con nhỏ chết, người đau đớn nhất là người mẹ.

Tháng ấy, trong căn phòng nhỏ cuối nhà thương Hà Đông , tôi được chứng kiến nhiều cái chết.

Đêm khuya, tôi thức dậy vì những tiếng kêu – «...ước… ước» khô khan, sắc và lạnh vang lên trong cái âm u rờn rợn của phòng bệnh. Mẹ tôi vẫn thức. Bà nằm bên tôi vòng tay ôm mình tôi.

Tôi bàng hoàng :

– Ai kêu đó mẹ?

Đó là tiếng kêu của một anh bé con trạc tuổi tôi. Anh cũng đau màng óc. Từ làng quê xa, anh được ông bố mang ra đây cứu chữa. Anh kêu «...ước....ước» và ông bố anh tưởng anh đòi uống nước rót nước cho anh uống, nhưng anh không uống. Ông bố anh cằn nhằn:

– Nước hả ? Mẹ bố mày...đòi uống nước người ta rót cho lại không uống.

Anh bé con đang mê hoảng. Không ai hiểu anh đòi gì, anh muốn nói gì qua những tiếng «ước..ước...» của anh. Gần sáng trời lạnh. Tôi nằm thu mình trong lòng mẹ. Hai bàn chân trẻ con, nhỏ bé của tôi nằm gọn trong hai đùi bà. Tôi được ngủ với mẹ đến năm lên tám, lên chín tuổi. Mùa rét, tôi được ủ hai bàn chân trong lòng mẹ. Ấm không thể tả. Đến khi tôi có em gái là bắt đầu có sự canh tranh. Em gái gái tôi chỉ kém tôi có một năm, nó đòi hỏi quyền lợi của nó đâu ra đấy.

Tôi cũng sờ tí mẹ và lẽ cố nhiên, con bé cũng sờ tí mẹ. Buổi tối, nhất là những tối mùa đông, nằm trên là chăn bông, dưới là nệm bông, mẹ nằm giữa hai con hai bên, cuộc tranh chấp sờ tí mẹ và được mẹ ủ chân diễn ra dữ dội. Một đứa tranh sờ một vú. Mẹ tôi ủ chân cho đứa này một lúc lại phải quay sang ủ chân cho đứa kia. Tôi yếu thế hơn em gái tôi. Nó có nhiều chính nghĩa hơn tôi. Nó là con gái, xã hội và pháp luật gia đình cho nó cái quyền được ngủ với mẹ.

Tôi con trai, quá 6 tuổi mà còn sờ tí là một sư bê bối cần dấu diếm. Anh em khi còn nhỏ thường ghét nhau là vì những cạnh tranh quyền lợi ấy.

Gần sáng, trong nhà thương lạnh, khi tôi ngủ say, anh bé con cùng tuổi tôi qua đời. Người ta thường nói chết là không may, thường gọi kẻ chết là xấu số, bạc phước, bất hạnh. Nhưng chắc đâu anh bé con chết năm đó đã là bất hạnh.

Buổi sáng dậy, tôi ăn bánh mì sữa. Ngọc Diệp cũng ăn bánh mì sữa. Mãi khi nắng lên, trời hết lạnh, tôi mới nhớ đến anh bé con kêu « ước... ước...» đêm qua. Nhìn sang giường anh nằm, thấy giường trống, tôi hỏi mẹ tôi anh ta đâu.

Mẹ tôi tôi nói:

– Anh ấy khỏi rồi. Ông Đốc cho anh ấy về nhà rồi...

Tôi tin là thật. Tôi nghĩ đến ngày tôi cũng phải về nhà. Tôi không muốn về. Tôi muốn ở đây mãi với mẹ tôi bên cạnh suốt ngày đêm chiều chuộng tôi, âu yếm tôi, nói với tôi những lời ngọt ngào. Ở đây với Ngọc Diệp nằm bên, xa hẳn cuộc đời, xa sự quấy nhiễu của các em tôi. Về nhà, mẹ tôi sẽ phải chia thời giờ lo cho các em tôi nữa chứ, tôi đâu có thể chiếm trọn vẹn mẹ tôi mãi như thế này được.

Ngày lại ngày êm đềm theo nhau qua. Từ phía Nhà Xác, cách vài ngày lại có tiếng khóc vang lên. Người chết trong nhà thương công cộng, tống táng trong Nhà Xác chung, không được khóc than nhiều. Có thể là người chết trong những nhà thương thí được những người thân yêu thương xót nhiều hơn nhưng không được khóc nhiều như những người chết ở nhà, đám ma rềnh rang đủ lệ bộ, có thân bằng, quyến thuộc đến phúng viếng. Khi đã mạnh đủ sức ngồi dậy được, mỗi lần nghe tiếng khóc từ phía góc vườn vẳng lại, tôi vẫn ngồi lên, dựa lưng vào thành giường sắt, ngóc đầu nhìn qua cửa sổ.

Lần nào cũng vậy, một chiếc xe bò đậu ở cửa căn nhà nhỏ. Chiếc áo quan gỗ mộc trắng phếu được khiêng từ trong nhà ra, đặt lên xe. Người ta đẩy xe đi. Đi sau xe, sụt sùi khóc, tôi thấy nhiều lắm là ba người.

Mẹ tôi thường bắt tôi nằm xuống. Bà không muốn để tôi thấy nhiều cái cảnh đưa ma bi đát đó.

Một hôm, tôi thấy một anh bé con cũng đau màng óc vào nằm. Anh cũng trạc tuổi tôi. Dường như năm đó, Thần Đau Màng óc chỉ bắt những anh bé con trên dưới mười tuổi. Người lớn bị chê.

Anh bé mê man ,anh vào nằm lúc chiều thì đến tối anh chết. Hình như bà mẹ anh đi lấy chồng khác hay sao đó nên hôm sau, tôi mới thấy bà mẹ anh tới. Một thiếu phụ trạc ba mươi tuổi ngoài. Trông khá đẹp. Bà có vẻ là người buôn bán ở tỉnh lẻ. Tôi nhớ rõ bà mặc chiếc áo trắng xổ gấu, chít khăn sô trắng. Chắc bà vừa có đại tang..Bố hay mẹ chết và con bà lại chết.

Tôi nghĩ chắc bà có chồng khác vì bà không đưa con vào nằm bệnh viện như mẹ tôi đưa tôi. Anh bé chết, bà mới vào lãnh xác con đi chôn.

Quan tài anh bé được chở đi trên một chiếc xe tay. Người thiếu phụ đi theo áo quan của con. Bà không khóc mấy. Tôi nhận thấy bà không khóc nhiều. Song, tôi nghe mẹ tôi nói chuyện với bà vú Ngọc Diệp :

– Tội nghiệp... Bà ấy không khóc được... Bà ấy cứ lặng đi thôi. Khóc không được mới thật là đau đớn.

Bà vú Ngọc Diệp đồng ý với mẹ tôi :

– Vâng... người nào khóc lớn chưa hẳn là đau đớn. Lặng đi không khóc lên tiếng được mới là khổ...

Tôi thơ ấu, mười tuổi, tôi đã để ý đến những chuyện mà những đứa trẻ khác cùng tuổi tôi không để ý.

Tôi ghi nhận : người ta đau đớn thực sự, đau đớn nhiều thật nhiều, nhiều lắm, không khóc được. Tôi ghi nhận người khóc nhiều vẫn chỉ là đau khổ vừa. Những nỗi đau đớn lớn làm vỡ gan, đứt ruột không thể thốt ra được bằng tiếng khóc nhưng trong tuổi thơ tôi chỉ biết ghi nhận vậy thôi. Tôi chỉ lấy làm lạ vì trước đó tôi vẫn tưởng rằng người nào khóc nhiều, khóc lớn là có sự đau đớn hơn những người khóc ít. Từ giây phút đó, tôi nghĩ : « Lạ nhỉ khóc ít mới là đau lòng nhiều, khóc nhiều lại là đau lòng ít ư ? »

Hai mươi năm sau – thực thế thời gian qua lâu dài và mau chóng đúng như Dutdinsey đã tả – thời gian qua mau nếu ta nghĩ nó qua mau, thời gian qua chậm nếu ta nghĩ nó qua chậm. Quan niệm về thời gian là trong tâm ta chứ không phải chính ở thời gian. Thời gian có thể co lại, dãn ra như cao su – và sự thực thay đổi theo số tuổi của con người. Có những sự thực đúng năm ta mười tuổi trở thành sai năm ta ba mươi. Và ngược lại. Có những nghi ngờ năm ta còn trẻ, còn nguyên tin tưởng ở tương lai, không còn là ngờ nữa khi ta có tuổi.

Bây giờ là tháng mấy? Cuối mùa Xuân năm 1942... Hà Đông, Bắc Việt.. Nhà thương. Tôi nghi ngờ chuyện «đau đớn nhiều không khóc được». Năm nay, tôi thấy đúng. Những nỗi đau đớn lớn làm cho người ta không khóc được ra tiếng, không nói được thành lời. Cũng như những tình yêu lớn. Hôm nay, tôi viết nhiều về Tình Yêu của tôi, về những đau đớn của tôi, nhung những gì tôi viết chưa được là một phần nghìn một phần triệu mối tình của tôi yêu cha mẹ yêu vợ con tôi. Có thể là vì tôi bất tài tôi chỉ diễn tả được có ít thế. Nhưng nếu tôi có tài, nếu tôi là văn sĩ, tôi cũng không thể nào diễn tả được lấy một nửa số lượng tình yêu chất chứa trong lòng tôi.

Mãi cho đến năm tôi 30 tuổi, tôi không tin ở Thần linh, tôi thích nhạo báng những tin tưởng của người khác, nhất là những người quanh tôi. Chúa Jesus, Đức mẹ Maria, Đức Phật Thích Ca, Phật bà Quan Âm ? ? ? Là cái gì ? Để làm gì ?? Chẳng làm quái gì được người ta ?? Chẳng có quyền phép gì hết !! Tôi cóc bao giờ tin và tôi tin rằng suốt đời, tôi sẽ chẳng bao giờ phải cầu nguyện.

Tôi tương đối thành công trong cuộc đời. Hai mươi tuổi, muốn viết tiểu thuyết, tôi viết tiểu thuyết, yêu một người đàn bà đẹp, muốn ăn đời, ở kiếp với người đàn bà đó, tôi lấy được nàng làm vợ. Tôi tự cho tôi thành công, tôi không tin một sức mạnh huyền bí nào có thể ảnh hưởng đến đời sống của tôi, làm tôi sung sướng, đau khổ, hoặc có thể cứu giúp được tôi, có thể làm cho tôi bớt đau khổ.

Nhưng nghĩ vậy là lầm , nghĩ vậy là sai; là có ngày sáng mắt ra, có ngày vỡ mặt, có ngày sẽ rất đau.

Bây giờ là Tháng Năm, bây giờ là đầu một mùa mưa ở Saigon. Bây giờ cơn mưa thứ nhất vừa trút xuống thành phố Saigon này, bây giờ tôi tin là cuộc đời có số Mệnh.

– Số mệnh ! Định mệnh !

Đời có số – Người ta có số ! Câu đó người ta vẫn nói, tôi vẫn nghe – Cả ngàn ngàn lần từ giây phút biết nghe, nghe và hiểu tiếng nói. Nhưng nghe mà không nghĩ, tiếng nói trôi tuột đi không để lại một dấu vết gì, không gây ra một ý nghĩ nào.

Đời có Số – Số mệnh – không tránh được Số! Những câu rất thường, cửa miệng, mà cũng rất thâm trầm chứa đựng nhiều. Số mệnh ! ! Là gì ! Có không? Tại sao ? Một triệu cuốn sách mỗi cuốn một triệu trang cũng chưa giải thích xong cái gì là Số Mệnh.

Nhưng bây giờ là tháng năm, bây giờ là đầu mùa mưa, tôi tin là đời này có Số Mệnh. Chúng ta đau khổ hay sung sướng là do Số Mệnh. Định Mệnh đã sắp đặt trước cho chúng ta sướng hoặc khổ. Chúng ta không thể tránh được. Câu nói: « Một miếng ăn, một miếng uống của con người cũng đã được định trước: Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định... » nghe thì có vẻ hơi quá đáng, song thực là thế. Đúng thế.

Tôi đau màng óc, một chứng bệnh nặng, nguy hiểm giữa thời kỳ chiến tranh, thuốc Tây không có. Nhưng tôi không chết. Vì số tôi chưa chết. Trong lòng bàn tay mặt của tôi đường sinh đạo bị ngắt ngang ở gần khởi điểm. Không cần phải là thầy bói không cần nghiên cứu về chỉ tay, chỉ nhìn vết sinh đạo đứt ngang đó, tôi cũng biết rằng thuở nhỏ, tôi bị một cơn đau nặng, mười phần chết chín.


ba


Nằm trong Nhà Thương hai tháng. Mẹ tôi ở liền 60 ngày 60 đêm trong căn phòng bệnh gần Nhà Xác đó với con.

Nhà tôi ở cuối phố Bóp Kèn. Lên lầu nhà tôi, ra cửa sổ sau nhà nhìn qua một cánh đồng nhiều ruộng rau muống, thấy góc cuối cùng của Nhà Thương Hà Đông, thấy cổng sau Nhà Thương, thấy con đường đá từ đó dẫn ra Nghĩa Trang Thành Phố ở bờ sông.

Đêm tối, khu nhà thương đó tối om, có một ngọn đèn điện sáng vàng sau vòm cây. Đó là ngọn đèn điện sáng trên cửa Nhà Xác. Trong vùng bóng tối âm u ấy, tôi đã sống với Thần Chết trong hai tháng.

Nhiều buổi sáng nắng, nhiều buổi chiều xám tôi đã đứng trên lầu nhà tôi, nhìn về phía Nhà Thương và trông thấy chiếc xe bò Nhà Thương chở xác người chết đi chôn. Cách xa một cánh đồng, song tôi tưởng như nghe thấy tiếng vành sắt của bánh xe kêu cọc cạch, nghiến ken két trên mặt đường sỏi đá.

Đứng trên lầu nhà tôi nhìn thấy khu Nhà xác Nhà Thương, tất nhiên đứng trong khu Nhà Xác đó, mẹ tôi cũng có thể nhìn thấy nhà mình.

Có những buổi chiều, mẹ tôi nhớ nhà, mẹ tôi nhớ bọn em gái tôi, bà ra cổng sau nhà thương nhìn qua cánh đồng về nhà. Chỉ vài phút thôi, bà trở lại với tôi ngay, bà nói với chị vú nuôi Ngọc Diệp:

– Nhìn thấy nhà mà không về được. Thật khổ...

Rồi bệnh tôi thuyên giảm, rồi cũng đến ngày tôi rời nhà thương trở về nhà. Bệnh dịch đã lắng, đã đi. Chuyện đau màng óc không còn là một đề tài mới lạ để nói nữa. Những người số chết bị bịnh đau màng óc đều đã chết.

Tôi và Ngọc Diệp được rời bệnh viện cùng một ngày.

Tôi không buồn, không vui. Trẻ thơ vô tư, nằm mãi lại trong nhà thương cũng được mà về cùng được. Mẹ tôi mừng và bồn chồn náo nức nhiều, tôi nghe bà nói với chị Vú :

– U có mừng vì được về nhà không chứ.... Thật tôi mừng như ở tù được thả...

Về đến nhà, vẫn chưa hết bệnh. Tôi phải «cấm cung» một thời gian khá dài. Sáu tháng.

Sáu tháng nằm một mình trong căn phòng đóng cửa «bế quan tỏa cảng, nội bất xuất ngoại bất nhập».

Chỉ có một mình mẹ tôi ra vào căn phòng đó với tôi. Nhà tôi hồi đó rộng thênh thang. Anh em chúng tôi còn nhỏ, ở không hết nhà.

Có một sự trái ngược về nhà cửa trong gia đình tôi là trong tuổi già của thầy tôi, anh em tôi có vợ có chồng có con, thì nhà chúng tôi lại chật hẹp, không đủ chỗ cho các cháu nội, cháu ngoại của Cụ chạy chơi, nô đùa. Đây là lỗi của tôi. Tôi đã không lo nổi một cái nhà đàng hoàng cho thầy tôi nghỉ ngơi khi cụ về già.

Tôi nằm một mình trong căn phòng sau. Phòng có hai cửa sổ, mở ra sân nhà sau. Tôi ngồi cả ngày bên cửa sổ, nhìn ra vườn, nơi có cây ổi Tàu thật ngon vào những mùa hè năm trước tôi vẫn leo trèo.

Anh em tôi đi học đi chơi, những tiếng cười đùa của các em vẳng vào phòng làm cho tôi thèm thuồng. Nhưng tôi vẫn ngoan, không đòi ra ngoài chơi, không khóc.

Tôi nằm «cấm cung» như vậy liền trong sáu tháng. Dường như trong tôi vẫn còn nọc độc của bệnh đau màng óc, tôi vẫn còn có thể truyền bệnh cho em tôi. Suốt thời gian đó, tôi đọc nhiều tiểu thuyết. Tất cả mọi thứ tiểu thuyết kiếm hiệp, tình ái lâm ly, đường rừng có để ở những tiệm cho thuê sách ở Hà Đông đều được mẹ tôi cho đi thuê mang về cho tôi đọc. Tôi làm bạn với ông Trọng Khang, nhân vật người hùng của tiểu thuyết Trường Đời, người chê mối tính của cô gái nhà giàu Marie Khánh Ngọc, tôi thán phục Trọng Khang và khinh bỉ anh François Giáp bụng phệ, tôi hồi hộp với những chàng cha chú «tiền bối» của James Bond Điệp Viên Bí số 007 như Đoan Hùng, Lê Phong, Kỳ Phát.

Tôi tưởng tượng đến cỏ non, nước trong, trăng sáng, giếng nước ngoài đồng, cây da đầu đình qua những trang tiểu thuyết của Tô Hoài. Tôi học nghề viết tiểu thuyết từ những ngày nằm bệnh «cấm cung» dài và qua mau ấy.

Để cho tôi vui, me tôi bầy ra một chuyện để quyến rũ bọn em gái tôi tới bên cửa sổ, trò chuyện với tôi giây lát.

Mỗi buổi sáng, bà mua thêm cho tôi một ổ bánh mì, một miếng chả. Tôi làm ông bán bánh mì chả cho bọn em gái tôi. Các em tôi đến cửa sổ, gọi vào «ông bán cho tôi năm xu bánh mì chả... !»

Tôi vui vẻ cắt một miếng bánh mì nhỏ xíu bằng nửa cái hộp quẹt, kèm theo một miếng chả cũng nhỏ bằng ngón tay, đưa qua cửa sổ. Ông hàng bất đắc dĩ bán bánh tây chả thật – dù là bán ít – nhưng lấy tiền giả làm bằng giấy, khi hết bánh là hết khách. Các cô em tôi «phú lỉnh» đi chơi nơi khác. Ông “hàng” hết khách, hết cả bánh mì lại quay vào giường nằm đọc truyện.

Sáu tháng sau, tôi được ra khỏi phòng cấm. Trời cuối mùa thu rồi, tôi vẫn còn được nghỉ học. Muốn cho tôi lấy lại sức khỏe, buổi chiều những ngày trời không lạnh lắm, thầy tôi đi làm về sớm, dắt tôi đi chơi ra cuối tỉnh đi trên con đường giữa cánh đồng.

Một buổi chiều, thầy tôi hỏi tôi nghĩa vài câu tiếng Pháp – «Le Soleil là cái gì ? La Terre là gì , con còn nhớ không ?» Le soleil ... la lune?» Những danh từ đó tôi đã học rồi, và tôi đã quên – quên hết.

Quân Phiệt Nhật chỉ thắng trong hai năm 1940 – 1941. Tới năm 1942, Nhật hết tiền và bắt đầu bại. Vào năm 1943, bọn thiếu niên Hà Đông ngu si chúng tôi đã bắt đầu nói đến chuyên Mỹ thắng trận, Mỹ «đổ bộ» Phi Luật Tân, Mỹ «giải phóng» Phi Luật Tân.

Trong khi đó Tây Thực Dân bị Nhật Bản đàn áp, trên chân về tất cả mọi mặt, tự cứu vãn bằng cách phát động một phong trào vô thưởng, vô phạt là phong trào Thanh Niên khỏe để Phụng Sự.

Những đoàn Thanh Thiếu Niên mặc áo sơ-mi trắng, quần xanh đều được thành lập ở mỗi tỉnh. Các trường học, kể cả trường tư, đều được lệnh tổ chức các đoàn Thiếu Nhi. Các đoàn này sinh hoạt giống như Hướng đạo sinh, nhưng ô hợp và hạ tiện, kém tổ chức hơn nhiều.

Tôi trở lại trường Tự Đức của ông Giáo Kiên – ông người làng Vạn Phúc, một làng có nghề dệt nổi tiếng về mục đàn ông gan dạ hay đâm chém nhau nhất tỉnh – vào đúng lúc phong trào Sport được phát động.

Tôi nhập đoàn tập ca hát, đi cắm trại và tập thể thao một tuần hai lần ở sân vận động Hà Đông. Sân này được đặt tên là sân Yves Chatel, ông Thống sứ Sa Tiền nổi tiếng dâm đãng nhất Bắc Kỳ.

Thống sứ Chatel là quan thầy của Án sát Bùi Đường Tịnh. Vào năm này, Quan Án sát Bùi Đường Tịnh đổi về ngồi ở Hà Đông. Nhà ông ở gần nhà tôi. Ông được giao trọng trách tổ chức và phát triển phong trào khỏe ở tỉnh.

Nhờ ông, đội đá bóng tròn Hà Đông – có hai hội đá giầy đàng hoàng và đội đá chân đất – vào những năm này được nâng đỡ và là một hội đá có hạng ở Bắc Kỳ,

Tôi mê đá bóng. Trận đá giầy nào ở sân Hà Đông cũng có mặt tôi ngồi cổ võ đội nhà. Tôi nhớ những trận Hội Đá Giầy Hà Đông đá với Hội Ancre của Tây. Hai trận, trận nào cũng thua 3-1. Đó là thời «gôn» Fay nổi tiếng nhất Bắc Kỳ. Tên «Fay» về sau trở thành một danh từ chung để chỉ những tên giữ «gôn» bắt bóng dính : Thằng ấy giữ «gôn phay» không thể tả. Đó là thời Hội Bóng Tròn Hà Đông có Thọ Ve giữ gôn.

Đá với Tây, các đàn anh trong Hội Bóng Hà Đông ngán, sợ – mặc cảm đầy tớ đá bóng với ông chủ còn nặng – nên không dám xông xáo để tránh sự đụng chạm.

Tôi thấy hào hứng nhất là những trận Hà Đông đá với Hội Tuyển Sơn Tây của Tí Bồ. Lần nào cũng huề nhau 2-2. Tí Bồ lùn nhưng to bề ngang đi tả biên, chạy theo bóng nhanh xứng đáng được nổi tiếng.

Và cũng vào những năm 1943, đám thanh niên hơn tôi năm, sáu tuổi, thuộc loại thanh niên lấc cấc như ông anh tôi, bắt đầu nhỏ to, bàn tán đến chuyện chánh trị, chuyện đánh nhau Mỹ–Nhật, chuyện mai sau sẽ «được» nước nào đô hộ.

Tôi còn nhớ những mẩu đối thoại đại khái :

– Mỹ đổ bộ lại Phi Luật Tân rồi... Thế nào quân Nhật cũng thua...

– Nước Phi Luật Tân ở đâu hả mày ?

– Nước Phi Luật Tân ở giữa biển... Nó nằm ở giữa nước mình với nước Mỹ. Nó là thuộc địa của nước Mỹ.

– Cũng như nước mình là thuộc địa của Tây phải không mày... ??

– Ừ . Nhưng được Mỹ đô hộ sướng hơn nhiều. Mỹ nó giầu tiền lắm. Mỹ nó không thèm bóc lột như Tây, vì nước nó giầu, dân cái gi cũng có cũng thừa, nó đem của cho dân thuộc địa...

– Ăn tiêu như Mỹ mà lỵ.... còn phải nói...giá nước mình mà được Mỹ đô hộ thì sướng nhỉ ??

– Sướng phải biết...

– Nhưng có chắc là Nhật nó thua không mày ? ...

– Thua hẳn đi chớ lỵ. Không nước nào có thể đánh nhau lại với Mỹ. Mỹ nó giầu lắm... Mỹ nó nhiều phi cơ, xe tăng, súng đạn nó có thừa, nó bán súng đạn cho cả thế giới. Nga đánh nhau với Mỹ, Nga cũng thua...

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tôi trẻ thơ, tôi ngây ngô, tôi cứ tưởng như ông Mỹ nào cũng hào huê phong nhã như ông Clark Gable trong phim L’incendie de San Francisco.

Mà không cứ gì tôi, một triệu anh nhi đồng bằng tuổi tôi ngày đó, mê coi xi-nê, cũng đều tưởng Mỹ bảnh như tôi tưởng.

Có lẽ những ước vọng «chính trị cao đẹp» đó được mẹ tôi nghe thấy. Mẹ tôi ngồi trong nhà. Bọn anh tôi nói bô bô ngoài cửa nên bà nghe tiếng hết. Chắc bà nói lại cho thầy tôi biết. Nên ngay bữa cơm hôm sau, anh tôi bị ông cụ chỉnh :

– Mày ngu lắm. Mày không biết gì thì đừng có nói... Có ngày nó bắt, nó đánh mày khốn nạn cái thân, con ạ...

«Nó» mà ông cụ nói tới đây ám chỉ bọn Mật Thám Tây. Từ ngày ông giáo Kiên, Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học Tư Thục Tự Đức, bị Mật Thám Tây từ Hà Nội vào khám trường, bắt, còng tay ra Hà Nội, dân Hà Đông sợ xanh mắt và những danh từ Mật Thám, Liêm Phóng, Săng tan, được dân Hà Đông khe khẽ nhắc tới luôn.

Vụ Liêm Phóng Tây bắt ông Giáo Kiên vì ông này có liên can đến một Hội Kín làm dư luận Hà Đông sôi nổi. Ông Giáo Kiên chỉ bị giữ đâu có nửa tháng.

Rồi được được thả về, ông lại dậy học như cũ. Song, từ đấy người ta thấy ông xanh xao, gầy ốm hơn trước nhiều.

Về sau, ông hút thuốc phiện và chết vì bệnh ho lao. Có lẽ ông mắc nghiện sau những trận đòn ở Sở Liêm Phóng Bắc Việt.

Ngày đó, tuy Nhật Bản đã vào Đông Dương, song các Quan Tây cũng vẫn còn quyền sanh sát với dân nó. Quan Tây chỉ nể sợ những người A-Nam nào làm việc với Nhật.

Bị mắng, anh tôi ú ớ :

– Em... em... có nói gì đâu...

Và anh tôi chối :

– Chúng nó nói đấy chứ... Em có nói gì đâu... Em chỉ nghe...

Thầy chúng tôi gắt :

– Không có chơi với mấy thằng ngốc ấy. Thấy chúng nó thì đi chỗ khác. Ranh con rửa mặt chưa sạch mà đã bàn tán chính trị... có ngày chết oan....



Nhưng ý nghĩ được «Mỹ đô hộ sướng» đã in sâu trong ý thức của tôi từ ngày đó.

Nước Mỹ, người Mỹ trước mắt lớp trẻ thơ như tôi thời ấy chỉ là nước Mỹ văn minh, có tổ chức, giầu đẹp, sung sướng, người Mỹ hào hoa, lương thiện, vui sống trên phim ảnh:

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Và trong thời gian đó, tôi đi học, đi cắm trại, đi sinh hoạt Thiếu Nhi, tôi học thuộc lòng những bài dịch các diễn văn của Thống Chế Pétain tuyên đọc bên trời Âu : Thống Chế Pétain đã nói... Le Maréchal a dit... Anh tôi cua Suýp (Supérieur) học thuộc lòng các bài tiếng Tây, tôi và Nguyệt, em gái tôi cua Moay Ăng Oong (Moyen Un), phải học thuộc lòng những bài Paroles du Maréchal bằng tiếng Tây ngắn hơn. Tôi và các bạn tôi ngày nào cũng gân cổ hát trước bức hình mầu in Thống Chế Pétain mũ képi, râu bàn chải trắng, trước lá cờ ba sắc :

– Maréchal... nous voilà... devant toi, le sauveur de la France...

Những kho giấy trắng cuối cùng của Nhà Nước Bảo Hộ Đại Pháp ở Bắc Kỳ được tung ra in affiche hình Thống Chế Pétain.

Nhà in Ideo Hà Nội vừa in bích chương Pétain, vừa in tiền giấy. Tài liệu Pétain được gửi đi khắp nơi. Quá nhiều. Thầy tôi mỗi ngày đi làm về, mang theo hai tờ nhật báo Đông Pháp và Việt Cường, cùng một tập lớn in hình Thống Chế Pétain in đủ cỡ.

Người ta được lệnh phải dán hình Thống Chế Pétain ở khắp nơi. Hết chỗ dán, người ta đem hình vào dán cả trong những vách tường cầu tiêu.

Chúng tôi hát bài Marseillaise một cách thật hùng hồn. Những bài hát Việt Nam được chúng tôi thuộc lòng, hát ầm ầm mỗi ngày là bài LÊN ĐÀNG.

Nào anh em ta...

Cùng nhau xông pha.

Lên đàng.....

Kiếm nguồn vui mới.

Ta nguyền đồng lòng ...điểm tô non sông...

Cùng nhau ca khúc...lên đàng...

Cùng những bài Bạch Đằng Giang, Đống Đa, Tiếng Gọi Thanh Niên, bài Quê Tôi của Hoàng Quý:

Quê nhà tôi nhiều khi nắng êm đềm

Chạy dài trên khóm cây

Đàn chim ríu rít ca

Bao người ra ngồi hay đứng bên thềm...

Chuyện trò chung với nhau....đời sống thần tiên...

Du dương và lãng mạn hơn, chúng tôi hát những bài Thiên Thai, Đêm Thu, Giọt mưa thu, bài Biệt Ly:

Biệt ly ... nhớ nhung từ đây.

Chiếc lá rơi theo heo may.

Người về có hay...

Hoặc những bài nhạc ngoại quốc lời Việt như bài được gọi là bài Tango Chinois :

Ta muốn được cùng em vui sống.

Trong núi cao trong chiều mơ hồ...

Trong số có một bài tôi không nhớ rõ tên là gì, cho đến bây giờ tôi vẫn thấy còn nguyên mùi lãng mạn :

Đàn chim ríu rít ca... trên núi cao miền xa

mang theo những nỗi buồn mộng mơ, nguồn thảm sầu đã qua....

Sông kinh châu... có con buồm trăng trắng...

Gió thu đưa dẫn người biệt ly vào cảnh sầu đó chăng ??

Năm 1943, Quân Nhật vào đóng ở Hà Đông. Thành phố tỉnh lẻ yên tĩnh cả chục năm không có chuyện gì có dịp sôi nổi bàn tán vì tin lính Nhật đi chiếm nhà cho Quan Nhật ngụ. Vài chiếc xe hơi sơn màu đất thó loang lổ đi vào tỉnh, dừng lại trước những tòa nhà lớn. Sĩ quan Nhật đi bốt mang kiếm dài, đeo kiếng trắng, ria mép, từ trong xe ngó nhìn nhà, rồi lại đi chứng minh tin đồn trên là có thực.

Nhưng rồi Quân đội Nhật chẳng chiếm một căn nhà tư nào ở Hà Đông hết. Nhà của Pháp ở trong tỉnh thừa chỗ cho họ ở. Cơ sở công cộng lớn nhất tỉnh là nhà riêng của Thống sứ Pháp ở ngay đầu cầu bên bờ sông. Quân Nhật chiếm nhà riêng đó. Thống sứ Pháp dọn về ở một tòa nhà nhỏ hơn. Quân Nhật còn đóng ở khu chợ Trâu, sát bên chợ Hà Đông và sân vân động.

Việc Quân Nhật đến đóng ngay bên sân vận động làm cho phong trào tập thể thao của Thanh niên Hà Đông thiếu chút nữa thì chết ngủm.

Lính Nhật đứng gác trên chòi cao bên chợ Trâu nay đã trở thành trại lính, nhìn sang sân vận động thấy đám thanh niên chạy trong sân đang chạy lại nằm rạp xuống theo tiếng hò của tên chỉ huy nằm rạp rồi lại nhổm lên chạy... Đúng kiểu tập quân sự... Sĩ quan an ninh Nhật được báo cáo. Một vài vụ xét hỏi xẩy ra làm nhiều người sợ xanh mặt. Án sát Bùi Đường Tịnh nhờ Quan Tây can thiệp. Không ai bị bắt, bị đánh cả, nhưng nhiều người sợ. Một số thanh niên bị bố mẹ cấm không cho ra bãi tập, trong số này có anh tôi.

Mỗi trường phải có một huấn luyện viên thể dục, ông này phụ trách dậy thể dục cho học sinh và phát động phong trào Jeunesse trong trường. Ông huấn luyện viên trường Tự Đức cùa tôi xuất thân từ lò đào tạo Moniteur ở Phan Thiết ra. Ngày ông mới về Hà Đông trông ông có vẻ quắc thước, cương nghị lắm. Ông có mầu nước da ngăm ngăm đen, mầu da thường được nhà văn Lê văn Trương tả là «bánh mật»– mầu da của Trọng Khang trong Trường Đời – mắt ông sáng, tiếng nói ông sang sảng, ông hò hét ra trò.

Nhưng ông huấn luyện huynh trưởng của tôi càng ở lâu ở Hà Đông, trông ông càng yếu đi, ông xanh xao, vàng vọt, gầy ốm ra trông thấy. Những ngày đầu ông ăn ở luôn ở trong trường với các ông giáo khác. Vài tháng sau, ông dọn va-li xuống ở một nhà trong xóm Cô Đầu Bông Đỏ.

Huấn luyện viên thể dục kiêm huynh trưởng Thiếu nhi Học đường mà nằm thường trực trong nhà cô đầu thì nhất rồi. Ít lâu sau, tôi có một tên bạn học – gã này có bà mẹ làm chủ cô đầu xóm Bông Đỏ, gã con một được mẹ chiều ra gì, song có lẽ vì gần với những trò đâm dật, gã mới tí tuổi mà đã ốm yếu xanh lét – tên bạn học này cho chúng tôi biết là ông huynh trưởng, Anh cả của đoàn Jeunesse chúng tôi nghiện thuốc phiện.

Đến những năm phi cơ bay đến thả bom Hà Nội, Bắc Kỳ chấn động. Tiếng bom rền từ Hà Nội vang vào tận Hà Đông, làm cho mặt đất rung chuyển.

Thị xã Hà Đông đột nhiên vui nhộn, đông đảo hẳn lên. Người Hà Nội tản cư về Hà Đông để tránh bom, Hà Đông được dân Hà Nội chiếu cố đến nhiều, vì Hà Đông yên tĩnh, Hà Đông không có nhà máy lớn, không có bến tầu, nhà ga xe hỏa.

Hà Đông tuy có quân Nhật đóng song cũng không có xưởng máy nào của quân đội Nhật. Số quân Nhật đóng ở thị xã Hà Đông cũng tương đối ít hơn các tỉnh khác.

Hà Đông lại gần Hà Nội. Những người có công việc làm ăn phải ở lại Hà Nội buổi tối có thể vào Hà Đông ngủ với vợ, chơi với con, sáng sớm lại ra Hà Nội làm việc.

Hà Đông chưa bao giờ đông thế. Những trường tư thục Thăng Long, Văn Lang cững được dọn vào Hà Đông. Vào những giờ tan học, phố Bóp Kèn đầy học sinh.

Cũng chưa bao giờ học trò lại có dịp đùa chơi nhiều học ít đến như thế. Ngày nào cũng có còi báo động ít nhất là hai, ba lần.

Theo đúng pháp luật, mỗi lần có còi báo động, học trò phải ra khỏi lớp, chạy xuống hầm trú ẩn. Nhưng ở Hà Đông, học trò chúng tôi được thả chạy ra đồng! Còi báo động rú lên là ngoài đồng đầy học trò. Chạy chơi, nô đùa, bắt chim, câu cá, bắt cào cào, châu chấu ở ngoài đồng cho hết buổi là cắp cặp về.

Bom nổ chết không biết bao nhiêu người ở Hà Nội. Nhà Đấu Xảo bị trúng bom... Không khí kinh hoàng bao trùm thủ đô. Người Hà Nội tả lại những trận bom nổ kinh khủng, người đang đi xe đạp bị bom tiện mất đầu, chết ngồi trên xe đạp mà xe vẫn chạy phom phom. Cả gia đình chết trọn vì nhà trúng bom, những xác người chết mà không có một vết thương, người dưới cống, tay chân, giăng mắc lủng lẳng trên cột điện v.v...

Nhưng Hà Đông ở gần sát Hà Nội lại không hề hấn gì. Tôi «hy vọng» được thấy máy bay Mỹ ném vài quả bom con xuống Hà Đông, bom nhỏ cũng được, gọi là có bom nổ cho bằng thiên hạ.

Tôi vẫn ấm ức vì chuyện tỉnh tôi không bị dội bom. Tôi thấy đó là một sự thiếu thốn làm cho tỉnh tôi thua kém các tỉnh khác.

Phi cơ có bay qua tỉnh Hà Đông vài lần. Tôi trông thấy những chiếc phi cơ hai mình xẹt qua. Thời đó, phi cơ hai mình của Mỹ là kiểu phi cơ tối tân nhất. Nhưng phi cơ chỉ xẹt qua tỉnh thôi. Hà Đông bị phi cơ Mỹ chê. Nỗi hy vọng của tôi ngày ấy không thành sự thật.

Hơn hai mươi năm, năm 1967, phi cơ Mỹ tới dội bom lần thứ nhất xuống thị xã Hà Đông. Bản tin Télétype ngoại quốc loan rằng những phản lực cơ F.10 tới dội bom «Trại Quân» Hà Đông.

Tôi tưởng nhớ đến trại lính Hà Đông – trại lính ở sau dinh Tổng Đốc – nơi có vòm tròn lô-cốt cao vút, trên mỗi lô-cốt đặt còi báo động.

Ở trại lính này, Quản Dưỡng đã giết hàng trăm thanh niên Hà Đông trong một buổi chiều, nơi máu Thanh niên Hà Đông chẩy phí phạm chan hòa với mặt nước lụt từ đê Đồng Lao vỡ đổ về tỉnh, nơi tôi suýt chết vì đạn mousqueton của đám lính khố xanh nghe lệnh của Quản Dưỡng.

Hà Đông ... tỉnh cũ của tôi, thành phố êm vắng tôi đã sống những ngày thơ ấu, nơi tôi ra đời lớn lên, nơi kết mộng ước về tương lai . Hà Đông trong hơn hai mươi năm qua, đã chịu nhiều thay đổi, tàn phá.

Lần «tiêu thổ kháng chiến» vào năm 1946 Việt Minh cho phá hết đốt hết nhà cửa trong thị xã Hà Đông...

Hà Đông hôm nay, tháng nầy chắc đã thay đổi nhiều. Bây giờ, nếu trở về đi những bước mới trên những con đường năm xưa tôi đã đi, chắc tôi không còn tìm lại được một hình ảnh nào, sân vận động Yves Chatel chắc đã được cầy lên thành ruộng, bến sỏi sông Nhuệ Giang, nơi tôi được Khê dậy bơi những mùa hè sáng rực ánh nắng , chắc đã được vét hết sỏi...

Nhưng Hà Đông vẫn là tỉnh cũ của tôi, tôi vẫn thương mến, vẫn tưởng nhớ đến Hà Đông như tưởng nhớ, như thương một người tình xưa không được cùng nhau chung sống. Như Bất Bạt, Sài Sơn, Sông Đáy, Phủ Quốc Oai là của Trần Quang Dũng, Hà Đông là của tôi, bom đạn và thời gian không thể làm cho Hà Đông trong lòng tôi thay đổi.


bốn


Paroles du Maréchal Pétain adressé aux jeunes écoliers de France et Indochine.

– Si je désirai vous parler aujourd’hui au moment où vous commencez l’année scolaire, c’est pour que vous sachiez que je compte absolument sur vous pour reconstruire la France.....

Học sinh Bắc Kỳ học thuộc lòng những bài diễn văn như trên của Thống Chế Pétain, do lệnh của Nhà Nước bảo hộ.

Bộ máy tuyên truyền của Toàn Quyền Decoux học được phương pháp suy tôn lãnh tụ trở thành siêu nhân, thành thần tượng của Himmler, người phát động phong trào suy tôn Hitler của Đức Quốc Xã.

Nhưng vào thời này, Pháp Quốc ở quá xa Đông Dương, đường giao thông lại bị cắt đứt, những chuyên viên phụ trách việc suy tôn Pétain ở Đông Dương không có nhiều tài liệu để tuyên truyền.

Thanh niên học sinh Đông Dương không thể thông cảm được những lời kêu gọi của một ông Tây Già nào đó ở tít tận bên trời Âu xa thẳm, một xứ mà những anh trẻ tuổi hay đọc tiểu thuyết được nhìn thoáng thấy qua một cuốn truyện Dưới Rặng Thông của Nguyễn Dân Giám, viết lại mối tình của một thanh niên lính thợ Việt Nam đầu quân sang Pháp và được một cô đầm Pháp yêu thương Yvonne – Tuyết trắng – Nước mắt và da thịt đầm.

Bài diễn văn của Thống Chế Pétain đọc nhân dịp khai trường ở Pháp, suốt bài không có một chữ nào đá động đến Đông Dương,

Chuyên viên tuyên truyền của Toàn Quyền Decoux ghi thêm câu nối đuôi ...et d’indochine. «Paroles du Maréchal Pétain adressé aux jeunes écoliers de France et d’Indochine» để tạo một chút liên lạc dây mơ, rễ muống.

Những buổi sáng chào cờ, học trò xếp hàng trước hình Thống Chế, đồng ca bài «Maréchal, nous voilà....» rồi dơ tay chào và hô to như vẹt:

– Vive le Maréchal....

Đây là lần suy tôn thứ nhất trong thế kỷ 20 ở Việt Nam. Trước đó nhiều thế kỷ nước ta có một lần suy tôn.

Đó là Vua Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn. Quân sư Nguyễn Trãi nghĩ ra cách dùng mật viết những chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần» lên lá cây rừng cho kiến rừng ăn mật đục thủng lá cây thành chữ. Lá rơi xuống, dân chúng lượm được, cho là chữ của Trời viết.

Chưa đầy 5 năm sau ngày đám học sinh thiếu niên đứng phưỡn ngực trước lá cờ ba sắc, giơ tay hô lớn «Vive le Maréchal...» , cũng lại đám thiếu niên ấy, vẫn chưa trưởng thành, chưa thành người lớn, sánh vai nhau bước đều theo nhịp trống ếch, đi diễu trong các phố, cất tiếng hát:

– Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn các. em nhi đồng. ? ?

– Bác chúng em... mắt như sao, râu hơi dài...

Chưa quá 10 năm sau, cũng lại đám trẻ con ấy – những tên sống sót qua chiến tranh, qua những ngày kháng chiến ở hậu phương, đụng chạm với cái chết ở Đường số 5, Đường số 6, bị vi trùng sốt rét tàn phá cơ thể và tinh thần ở Việt Bắc, những tên sống sót trở về thành, lại phải nghe ca hát suy tôn ở miền Nam – «Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống... Ngô Tổng Thống .. Ngô Tổng Thống muôn năm».

Nhưng những tên sống sót ấy – trong số có tôi, kẻ viết truyện dài này – đã chán ngấy vì bị đánh lừa nhiều rồi. Chúng tôi đã trở thành – không phải là chai đá, cũng không phải là chán chường, lại càng không phải là dạn dầy như những người đàn bà làm đĩ đến giai đoạn trở thành đĩ lửa, vì chúng tôi không đánh đĩ, chúng tôi chỉ bị lợi dụng – tôi bắt buộc phải dùng vài chữ tiếng Pháp để diễn tả tình trạng tinh thần của chúng tôi: Chúng tôi đã trở thành «blasé, cynique», chúng tôi đã thấy quá nhiều, đã ngấy đến mang tai những trò suy tôn.



Bom nổ, người chết, nhà đổ... Dân chúng Bắc kỳ, trong số có cha mẹ tôi, than vãn vì chiến tranh. «Bom đạn đến thế này là cùng?»

Các cụ nói đến những câu Sấm «khôn cũng chết, dại cùng chết, biết thì sống...» và «Thế gian chết bẩy, còn ba. Đến khi vua ra, chết hai còn một» để chứng minh rằng thời kỳ này là thời kỳ dân Việt Nam phải chết nhiều nhất.

Bom đạn ấy, người chết ấy chưa thấm thía vào đâu với số bom đạn nổ trên đất nước ta sau đó, với số đồng bào ta chết vì đói và vì hai mươi năm ròng rã chiến tranh.

Nhưng trong cuộc sống thiếu nhi, những giờ báo động ôm cặp sách, bỏ lớp học, chạy ào ra đồng thật là thú vị. Tôi thường tìm vào những bờ ao vắng, những góc đình trang nghiêm có những gốc ngô đồng lớn, mỗi lần gió thổi lá reo ào ào ngồi đọc tiểu thuyết.

Mặc cho bom đạn rơi, cuộc đời nếu kéo mãi như thế này cũng không sao, càng thích.

Vui nhất là nhà tôi lúc nào cũng vui đông như những khi nhà giỗ Tết. Chị tôi đem cháu từ Hà Nội tản cư về. Các bác, các cô tôi cũng từ Hà Nội về tạm trú tại nhà tôi. Bữa ăn nào cũng linh đình như đại tiệc. Ai nấy cười nói vui vẻ. Mọi người đều dễ tính. Khoái nhất là bọn trẻ con chúng tôi, ai cũng chiều, chúng tôi không bị mắng không bị xét nét.

Dân Hà Nội đi đâu, các gánh hát cải lương đi theo đến đó. Hà Đông có một rạp hát và đêm ngủ đường đầu tiên trong cuộc sống giang hồ của tôi xẩy ra vào một đêm cuối hạ, đầu thu, khi gánh Ái Liên lưu diễn tại thị xã Hà Đông.

Rạp hát do Cậu Tư Thiêm làm chủ nằm trên phố Bóp Kèn, cách nhà tôi chừng ba trăm thước. Buổi tối, tôi thường lảng vảng ở khu đèn điện sáng trưng này.

Mới lớn, tôi đã có nhiều đam mê, tôi đã nhiều tưởng tượng. Tôi bị cuộc sống trong những cuốn tiểu thuyết, trên màn ảnh quyến rũ. Và tôi mê say ánh sáng của sân khấu cải lương.

Vì đoàn Ái Liên lưu diễn ở Hà Đông quá lâu, bọn thanh niên du đãng Hà Đông có thì giờ gia nhập đoàn. Một số thanh niên Hà Đông được nhận vào làm gác cửa, xé vé, đưa ghế và đi trên xe kéo, đánh trống, gõ phèng la đi quảng cáo cho những vở tuồng mới.

Tôi nhìn bọn đó bằng đôi mắt thèm thuồng. Tôi muốn được như họ, nhưng bọn thanh niên du đãng ấy đều là con nhà hạ tiện, chúng dễ dàng đi theo cải lương. Còn tôi, tôi muốn nhưng không dám bỏ nhà đi theo gánh.

Những buổi tối cuối hạ, đầu thu, thành phố tỉnh nhỏ có một mầu tím, trước nhạt rồi sẫm dần và sau cùng, trở thành bóng tối.

Mùa hè tôi và các bạn tôi buổi tối quen ra ngồi hóng mát trên thành cầu sông Nhuệ. Cầu ở đầu tỉnh, ngang bến xe điện. Gió mát thổi lồng lộng.

Chúng tôi ngồi trên thành cầu nói chuyện nhìn người qua lại.

Rồi đến những ngày mùa hạ đã tàn. Trời buổi tối không còn nóng bức lắm nữa. Chúng tôi vẫn quen ngồi trên cầu mỗi buổi tối.

Vào một buổi tối không gian mầu tím ấy, ngồi trên thành cầu, tôi trông thấy hai kép hát Huỳnh Thái và Phong Trần Tiến đi ngang. Hai anh từ Hà Nội vào; vừa xuống tầu điện và đi bộ xuống xuống rạp hát.

Hơn hai mươi năm trước, trước cuộc chiến tranh 1946, trước những ngày đi lưu diễn ở Đồng Quan, Cống Thần, Huỳnh Thái đang thời phong độ nhất. Thái bận bộ complet tropical mầu xanh lá non.

Phong Trần Tiến bận bộ complet mầu gris-perle. Hai anh mang trên đầu hai cái «mão» Fléchet. Họ sánh vai thong dong đi ngang mặt tôi. Trước mắt anh con trai mới lớn còn phải xin tiền mẹ để mua mỗi tuần một cái vé xi-nê Troisième, tức là hạng bét, ngồi ghế dài bằng gỗ, cách màn ảnh mười tám thước, hai anh kép hát tối đó là những người ăn diện đẹp nhất, hào hoa nhất.

Tôi nhìn họ bằng đôi mắt tưởng tượng đến hình ảnh của tôi mai sau.

Tối đó, tôi nghĩ : bao giờ minh có tiền để may những bộ complet hách như thế này ?? Cũng như những lần ra Hà Nội, đi lang thang ở Hàng Đào nhìn tủ kính. Thấy những người đàn bà đẹp Hà Nội phây phây, nõn nà đi trong nhung lụa, tôi tưởng tượng da thịt họ mát và thơm như mùi những trái đào Hồng Kông, tôi nghĩ : Mai sau mình sẽ làm gì có tiền để có thể ôm ấp, yêu đương, với những người đàn bà đẹp, thơm như thế này ??

Tôi thèm muốn được gia nhập đoàn hát Ái Liên như bọn thanh niên du đãng Hà Đông thời ấy. Nhưng tôi không dám thoát ly gia đình.

Những buổi trưa, tôi thường vào rạp xem đào kép tập tuồng. Tôi chưa đến tuổi mê đào hát.Tôi chỉ bị cuộc sống náo động, xô bồ ở rạp hát quyến rũ. Tối nào tôi cũng quanh quẩn trong khu đèn đóm sáng trưng, trống chiên ầm ĩ trước cửa rạp hát.

Thấy anh em tôi đi chơi tối hơn nhiều, lại bảo không được, một tối mẹ tôi dặn con sen không mở cửa khi anh em tôi đi chơi về nhà.

Ý bà cũ chỉ định dọa cho sợ thôi. Đứng năn nỉ thì sau đó, bà cụ lại ra mở cửa cho vào ngủ, kèm theo một chầu sỉ vả.

Khuya ấy, chừng 9 giờ tối thôi nhưng tỉnh lỵ 9 giờ tối đã là khuya rồi, tôi từ rạp hát về nhà. Đập cửa, con sen nhà tôi nói qua cửa sổ:

– Cậu đi chơi quá. Bà bảo không được mở cửa. Cậu đi đâu ngủ thì đi.

Anh tôi đứng lại năn nỉ, còn tôi «oai hùng» đáp:

– Không mở cửa, không cần, đi luôn.

Tôi đi trở ra cửa rạp hát. Tôi còn ngây thơ và ngu ngốc đến cái độ tôi yên trí rằng cửa rạp hát, với những hàng phở, hàng nước, cam quít, với cả cái xã hội người ngợm hoạt động linh đình ấy, cứ sống vui nhộn như vậy suốt đêm.

Nếu người ta đông vui như thế, tôi cần gì ngủ. Tôi sẽ sống với họ đến sáng mai. Tôi không ngờ đến giờ tan hát, thiên hạ ra về hết đèn tắt tối om. Đường phố vắng tanh không còn một bóng ma.

Đêm khuya rồi, tôi không dám về nhà đập cửa nữa. Tôi tìm đến hàng hiên một nhà, nằm lên bậc cửa, cố ngủ.

Đêm ngủ «giang hồ vặt» thứ nhất trong đời tôi trôi qua chập chờn.

Quen ngủ ấm, tôi không chiu nổi cái lạnh của trời đêm, nhất là lại nằm lộ thiên không gối. Trời càng về sáng càng lạnh. Tôi không thấy hối hận vì chuyện không năn nỉ để vào nhà. Tôi chỉ chịu không được lạnh.

Vào khoảng 4 giờ sáng – tôi nằm nghe những tiếng chuông đồng hồ quả lắc từ trong các nhà quanh đó theo nhau điểm boong boong – tôi thấy có người hoạt động trong dẫy phố vắng. Có mỗi một người. Và người đó là ông đổ thùng.

Những ông đổ thùng đặc biệt của xã hội Bắc kỳ những năm trước 1946, trừ những nhà Tây lớn có cầu tiêu hầm, nhà nào cũng giải quyết vấn đề tiêu hóa bằng cách đi tiêu vào những thùng sắt tây – thường là sơn đen, có hai tai quai để móc dây vào gánh – mỗi sáng sớm, có người đến đập cửa ầm ầm, kêu «Đổi thùng... Đổi thùng».

Những em Mari Sến ngái ngủ, mắt nhắm mắt mở ra mở cửa. Nhà nào có lối sau hay cửa riêng đi còn đỡ, nhà nào mà nhân vật đổi thùng phải đi qua nhà thì khổ vì uế khí đến năm bẩy phút.

Nghe tiếng gọi «đổi thùng», tôi chợt nghĩ ra một chuyện. Rời chỗ nằm, tôi đi về phía ánh đèn leo lét nơi cuối phố. Đó là ngọn đèn dầu treo trên đầu gánh phân.

Ông đổi thùng đang ngồi phì phèo hút điếu thuốc lá tổ sâu quấn lấy khi tôi đến gần. Tôi chỉ tay về phía nhà tôi và hỏi ngay ông ta:

– Ông có đổi thùng nhà kia không?

Qua ánh đèn dầu leo lét, vàng vọt, tôi thấy người đàn ông gầy gò, gật đầu.

Tôi lại hỏi :

– Thế ông đã đổi thùng nhà đó chưa ?

Ông ta lắc đầu.

Tôi gọi:

– Bây giờ... ông gọi cửa đổ nhà đó đi. Nhà tôi đấy mà. Cho tôi về mấy...

Ông ta bằng lòng ngay, không hỏi han tôi nửa câu. Tôi theo ông đổ thùng về trước cổng nhà tôi.

Ông đập cổng đùng đùng. Chó trong nhà tôi sủa ran. Con Sen nhà tôi mắt nhắm, mắt mở ra mở cửa.

Tôi theo chân ông đổ thùng vào nhà, lẻn lên gác, chui vào giường nằm ngủ một giấc ngon lành.

Trong lúc ngái ngủ con sen nhà tôi cũng không thấy tôi lẻn vào nhà.

Mẹ tôi tưởng rằng tôi lên nhà ông ngoại tôi ngủ. Bà không ngờ tôi có đủ can đảm để nằm ngủ ngoài đường.

Đến sáng, bà cũng không biết là tôi đã lọt vào nhà từ đêm, khi bà lên nhà ông ngoại tôi để tìm, tôi vẫn còn ngủ ngon trên lầu.

Từ ngày đó tôi «nổi danh» trong gia đình là thằng sống ngoài vòng gia pháp, một thứ «du đãng trong gia đình», một thằng mà sau này, «sự bê bối sẽ không biết đến thế nào là cùng». Như để giảm bớt cái «uy danh du thủ, du thực ngủ đường, ngủ chợ» của tôi, mẹ tôi đành hạ giá tôi bằng cách bảo các em gái tôi «gọi nó là thằng đi theo bọn đổ thùng...» Và «... Mày đi theo ai chớ đi theo những thằng đổ thùng thì còn khá làm sao được..»



Và cuộc đời tôi, với đêm ngủ đường đầu tiên không trọn vẹn, để rồi phát lén lút về nhà theo chân ông đổ thùng phân, như sự tiền định báo trước rằng những cuộc ra đi, những chuyến thoát ly mai sau trong đời tôi sẽ không ra gì. Những chuyến thoát ly không trọn vẹn.

Đêm đầu tiên đó, chỉ còn cố gắng một chút nữa thôi, tôi đã sống qua được một đêm ở ngoài đường, tôi đã thành công, tôi đã thắng – 10 phần đường, tôi đã đi hết 8 – 10 giờ đêm, tôi đã ngủ đường được 8 giờ. Chỉ còn một chút nữa là xong, nhưng tôi vẫn thua.

Trở về nhà đêm ấy, lén lút trở về, tôi đã thua. Thua với người không sợ, nhưng tôi đã thua với chính tôi. Đó mới là điều đáng kể.

Trở về như vậy là đầu hàng. Tôi đã đầu hàng trong việc làm liều đầu tiên. Tôi đã đầu hàng nhiều lần, gần như tất cả mọi lần, tôi liền sau đó.

Tôi có máu giang hồ lãng tử từ thuở nhỏ. Tôi có mộng hải hồ, tôi thích phiêu lưu, mạo hiểm, tôi không muốn sống cố định. Nhưng không phải bất cứ việc gì người ta muốn cũng có thể xẩy ra. Con người ta ở cõi đời này cứ 10 việc thì có đến bẩy, tám việc không được như ý – Khổng Phu Tử đã nói như thế –Và đúng –Tôi muốn sống đời giang hồ nhưng không toại nguyện.

Đời tôi bị trói buộc vào gia đình. Đi đâu rồi tôi cũng trở về sống quanh quẩn trong gia đình. Tôi như một cô gái ngoan thời phong kiến : còn nhỏ ở nhà với cha mẹ, trưởng thành lấy vợ , sống theo vợ, theo con.

Tính tôi bông lông, hay thay đổi nhưng khi yêu, tôi lại chỉ yêu, chỉ chung tình với mỗi một người đàn bà. Có điều đáng kể là đến năm này, tháng này, ngoài ba mươi tuổi, tôi hài lòng với sự chung tình ấy, tôi chỉ muốn yêu có một người đàn bà ấy mà thôi.



Thầy tôi thuộc phái cổ, cụ bận y phục ta: đội khăn, áo dài. Mùa hạ áo dài the, mùa đông áo đoạn, áo sa, ngày Tết áo gấm. Thầy tôi thích chơi lan và đồ cổ. Phòng khách của nhà tôi có sa-lông Tầu, hoành phi, câu đối, có đĩa bát cổ, có sập gụ và có cái tủ chè.

Cái tủ chè thời thơ ấu của tôi được kê sát tường, dưới tấm hoành phi sơn son, thếp vàng lớn nhất nhà và sau cái sập gụ. Phần giữa tủ lồng kính, trong cũng bầy bát đĩa, lọ cổ. Hai đầu tủ là hai ngăn tủ gỗ, cánh cửa tủ khảm xa-cừ. Một ngăn là tủ...riêng của thầy tôi, ngăn bên kia là tủ riêng của mẹ tôi .

Tôi có một kỷ niệm thơ ấu với cái tủ chè của ngày tôi còn bé, một kỷ niệm không bao giờ phai mờ. Ba mươi năm sau, khi ngồi viết lại kỷ niệm này, tôi như vẫn thấy hiện ra trước mắt cánh cửa tủ mầu nâu gụ gần là màu đen nhánh, những mảnh xa-cừ nhiều mầu óng ánh xanh hồng. Những tay thợ khảm lành nghề trong khu kỹ nghệ Hà Đông, một cơ sở tiểu công nghệ do cụ Tổng-đốc Hoàng Trọng Phu thành lập có sự giúp công của thầy tôi, đã làm riêng cái cái tủ khảm đó để tỏ lòng biết công của thầy tôi. Những mảnh xa-cừ họp lại trên đó thành một phong cảnh sơn thủy nhỏ, có cành liễu rủ bên hồ nước, có cây cầu gỗ, có đàn ngỗng lội dưới hồ. Tôi nhớ nhất ngăn tủ chè đó vào một chiều cuối mùa thu...

Một buổi chiều cuối mùa thu năm tôi mười hai tuổi. Năm đó, tôi đã nghịch ngợm nhiều trò ra gì. Tôi đã lén đi tắm sông, đã lội được qua sông Nhuệ. Tôi đã có tật mê đọc tiểu thuyết, tôi đã ôm mộng mai sau trở thành văn sĩ, nhạc sĩ, tài tử xi-nê-ma như Gary Cooper, như Clark Gable, và thành thám tử như Đoan Hùng...

Và năm đó tôi đã có, nói là tôi đã “mắc” đúng hơn, cái tật ăn cắp hơi nặng. Tôi không nhớ rõ tôi bắt đầu ăn cắp tiền trong trường hợp nào. Chỉ biết rằng thoạt đầu, tôi chờ thầy tôi đi làm về ăn cơm xong, nằm ngủ trưa, tôi mò vào đầu giường , móc trong cái túi đựng cái đồng hồ quả quít Oméga của ông lấy mấy xu ông để sẵn trong đó để tiêu vặt. Tôi lấy tiền trước hết là để ăn quà vặt, rồi sau đó, đi xi-nê, đi ra Hà Nội tới hàng bán sách ở Bờ Hồ mua tiểu thuyết.

Những ngón tay nhón tiền của tôi trở thành thói quen. Thói quen lan đến cả bàn tay. Cái túi nhỏ đựng đồng hồ của thầy tôi không chứa đủ tiền để thỏa mãn nhu cầu ngày một tăng của tôi. Tôi bắt đầu nhòm ngó đến nơi để tiền chợ của mẹ tôi.

Mẹ tôi để tiền chợ trong ngăn tủ chè của bà. Trong đó vài ve nước hoa, vài món nữ trang, một số thư từ , hình ảnh. Và một hộp đựng đồ trang điểm mà mẹ tôi gọi là hộp phấn. Trong hộp phấn đó, bà luôn luôn để chừng năm bẩy chục, một trăm đồng bạc để sáng sáng , bà mở tủ lấy tiền đưa cho người ở đi chợ.

Cái tủ chè của mẹ tôi có khóa, có chìa mở đàng hoàng, nhưng khóa tủ chè là một cái gì dễ mở nhất trần đời. Chỉ cần lựa một cái chìa khóa tủ chè khác, giống giống như nó, hễ cho vào lọt ổ khóa là mở tóach, được liền. Mười hai tuổi tôi đã biết tìm đến hàng bán khóa ở Phố Chợ, hỏi mua cái chìa khóa tủ chè, mở thử. Tôi chỉ cần dùng cái dũa đưa qua, đưa lại vài đường là cái chìa khóa riêng của tôi đã mở được khóa tủ chè của mẹ tôi.

Cánh cửa tủ mở êm. Những tờ giấy hai mươi đồng mầu xanh nằm trong hộp phấn. Tôi bạo tay nhón một tờ hai chục mỗi lần lén mở tủ. Cuộc đời tôi đi vào một chu kỳ tội lỗi, sợ hãi. Từ ngày bắt đầu cuộc ăn cắp tiền của mẹ, lúc nào tôi cũng lo âu sợ mẹ tôi khám phá ra tội trạng. Một cái nhìn, một câu nói rất thường của mẹ tôi nhiều khi cũng làm cho tôi run sợ. Tôi lờ mờ biết rằng cứ ăn cắp thế mãi, thể nào cũng có ngày mẹ tôi bắt gặp , mẹ tôi biết. Tuy được mẹ tôi nuông chiều, tôi cũng không thể tưởng tượng được rằng hình phạt sẽ ra sao.

Nhưng ăn cắp quen tay, tôi cứ ăn cắp mãi. Trong khi hành động chưa bị bại lộ, trung bình mỗi tuần tôi xử dụng chìa khóa giả, mở tủ chè, lấy tiền một lần. Và lần nào cũng vậy, số tiền tôi lấy là hai chục. Có đôi khi tôi lấy kém số tiền đó, nhưng chưa bao giờ tôi dám lấy nhiều hơn.

Sự thực thì tôi có lấy nhiều hơn số bạc hai mươi đồng, tôi cũng chẳng biết mua sắm gì ngoài việc ăn quà và mua tiểu thuyết. Cứ buổi trưa, vào lúc ba, bốn giờ, anh hàng thịt bò khô quen lệ đến đứng bên kia đường trước cửa nhà tôi. Tiếng kéo đập vào nhau lách cách báo cho tôi biết giờ ăn thịt bò khô đã điểm. Tôi nằm trên lầu, bỏ dở cuốn truyện đang xem, đi xuống ăn thịt bò khô. Mỗi ngày tôi ăn chừng bẩy đến mười đĩa thịt bò khô đu đủ xanh. Có lẽ vì húp nhiều dấm quá và vì ăn quà vặt suốt ngày không ăn được cơm nên thời đó, người tôi gầy gò, tay chân khô như que củi.

Sau hoặc trước chầu ăn thịt bò khô, tôi đi ăn phở. Tôi khoái ăn phở áp chảo dòn. Năm hào một bát phở áp chảo, năm xu một đĩa thịt bò khô. Tôi thường có trong túi số bạc những hai mươi đồng, tôi ăn tiêu trong một tuần mới hết.

Tôi còn nhớ một lần, tôi vào nhà bán sách ở Bờ Hồ, Hà-nội. Cả tiệm chỉ có mỗi một quyển Quê Hương của Nguyễn Tuân bầy ở từng cao nhất của giá sách. Cô bán sách phải đứng lên ghế, với tay lên mới lấy được quyển đó xuống. Có lẽ vì ngại, phần vì biết chắc một tên bé con như tôi không thể có đủ tiền để mua quyển sách đó, nên khi tôi bảo cô lấy sách xuống cho tôi, cô trả lời tôi với một nụ cười: “Em không đủ tiền mua quyển đó đâu. Những 5 đồng cơ...”

Cô ta không biết rằng trước đó một tiếng đồng hồ, tôi vừa mở trộm tủ chè của mẹ tôi và lấy cắp một tờ giấy hai chục. Tôi dõng dạc lên tiếng: “Cô cứ lấy xuống cho tôi, tôi mua...”

Nhưng rồi tới một buổi chiều mùa thu, việc phải đến đã đến. Khi yên trí là mẹ tôi vắng nhà, tôi lấy chìa khóa ra mở tủ. Tôi vừa mở xong cánh tủ và vừa rút được tờ giấy bạc thì có tiếng guốc mẹ tôi từ nhà dưới đi lên. Không kịp bỏ bỏ tờ giấy bạc vào túi, tôi vội đóng cửa tủ lại. Nhưng trên con đường đi từ nhà dưới lên phòng khách của nhà tôi có một tấm kiếng lớn. Mẹ tôi đi lên, nhìn vào tấm kiếng ấy và đã thấy ông con trai đang loay hoay đóng vội cánh cửa tủ.

Về sau tôi mới biết mẹ tôi cũng đã nhận thấy việc bị mất tiền trong tủ chè từ lâu rồi, nhưng bà nghi cho bọn người làm ăn cắp. Chưa lần nào bà nghi cho tôi. Bà không ngờ thủ phạm lại là tôi.

Mẹ tôi lên, túm lấy tôi và bắt quả tang cái chìa khóa giả và tờ giấy bạc rớt dưới chân tôi. Tôi chờ đợi một cuộc trừng phạt có roi mây và bêu xấu linh đình nhưng bỗng dưng tôi thấy mẹ tôi buồn. Buồn như chưa từng bao giờ tôi thấy bà buồn đến thế. Sau khi lượm cái chìa khóa và tờ giấy bạc lên, mẹ tôi buông tôi ra. Tôi chờ bà đánh mắng nhưng mẹ tôi không nói một tiếng...

Rồi mẹ tôi ngồi thừ người, rất buồn. Não nề bà ngồi trong bóng chiều mùa thu xám đang đi dần vào tối bên khung cửa sổ...Tôi không bao giờ quên được hình ảnh áo não ấy và cảm nghĩ hối hận, sợ hãi hỗn độn của tôi trong lúc đó. Nếu lúc bắt được tôi phạm tội, mẹ tôi la hét, đánh mắng tôi, có lẽ tôi đã không thấm, không cảm động. Tự dưng, tôi hối hận, tôi đến gần mẹ , tôi lí nhí nói lời xin lỗi và lời hứa từ nay sẽ không bao giờ còn ăn cắp nữa.

Mẹ tôi nói, tôi còn nhớ như in từng tiếng:”Mẹ buồn lắm. Thầy mẹ già rồi, con là trai lớn, các em con đông...Mẹ hy vọng con sau này thành người khá, dẫn dắt các em con. Nay con ăn trộm, ăn cắp thế này...Bây giờ còn nhỏ ở nhà ăn cắp của cha mẹ, mai sau lớn ăn cắp của người ta...Mẹ còn trông mong gì được ở con nữa...?”

Không một ngọn roi, không một lời chửi mắng, nhưng mãnh lực của lời mẹ nói mạnh biết là chừng nào. Từ buổi chiều mùa thu xám đó cho tới nay đã hơn ba mươi năm trời trôi qua, tôi không còn bao giờ tái phạm tội ăn cắp dù chỉ một lần.


năm


Những ngày nghỉ học dài vì phi cơ oanh tạc, sau cùng các trường học được lệnh tạm đóng cửa. Phong trào thanh niên Khỏe, cũng dần dần xẹp đi.. Thống chế Pétain cũng bị bỏ quên – Trận Đại chiến Thế giới đi đến những ngày cuối cùng. Người ta mới bắt đầu nói đến huyện Nhật bại trận, đến chiến tranh kết liễu. Báo hằng ngày đăng những tin chiến sự trên Thái Bình Dương.

Được nhiều người nói đến nhất là tin những chiếc phi cơ Kami-Kazé của Nhật, mang bom bay lao xuống tàu chiến Anh – Mỹ. Hành động oai hùng thật nhưng vẫn là hành động tự tử.

Dân chúng Đông Dương biết rằng Nhật đã kiệt quệ về nhân lực cũng như tài lực. Thầy tôi nói đến những chuyện ông đọc ở trên báo về phi cơ quyết tử Kami-Kazé : phi cơ bay lọt vào ống khói tàu chiến Anh-Mỹ, làm tầu nổ tung, súng cao xạ trên các tàu Anh-Mỹ bắn lên làm cho những chiếc Kami-Kazé lao xuống bị hất tung ra biển. Thầy tôi thán phục những chuyện đó. Nghỉ học, suốt ngày bọn trẻ chúng tôi đi chơi lang thang khắp nơi. Bắn chim bằng súng cao su, đi tắm sông, đi câu cá. Từng nhóm đồng tuổi chơi với nhau. Hà Đông thời đó nổi tiếng nhất là anh Dần, biệt hiệu là Dần Loe, về thành tích du đãng. Dần Loe là một thứ du đãng con nhà đàng hoàng, hay đánh nhau xưng hùng xưng bá ở tỉnh không cho thanh niên tỉnh lạ vào tỉnh minh quấy phá hoặc lơn gái, nhưng không có những hành động cướp giật, ăn quỵt như bọn du đãng khốn nạn hiện nay. Dần Loe hơn tôi chừng năm hoặc sáu tuổi, tôi chơi với em Dần Loe, bọn chúng tôi mỗi thằng có một tên «tục» đi theo tên cúng cơm : Quy Sứt, Phú Cốc, Phú Mò, Liên Vẩu v.v...Thằng nào “cù lần» lắm mới không có hỗn danh. Thằng tên Hải, nhà nuôi bò sữa, có tên Hải bò. Thằng tên Toàn, nhà làm thợ mộc, đóng xe bò có tên là Toàn Xe Bò, Dần Loe vì cái miệng rộng, đôi môi dầy nở lớn như loa kèn. Dần Giò vì nhà làm hàng giò chả thường phải giã giò. Thằng Ngọc da đen được gọi là Ngọc Đen.Thằng Ninh nhà làm đại lý bia và nước đá, được gọi là Ninh Bia. Thằng Sơn nhà bán hàng bát, chén, có tên Sơn Bát. Thằng Phúc nhà làm đại lý thuốc phiện, ngoài cửa treo tấm bảng hai chữ R.O. được gọi là Phúc Ro. Anh Mậu, người làng Cự Đà, được gọi là Mậu Cự. Ngoài ra, còn một vài nhân vật có những cái hỗn danh lạ không rõ xuất xứ và nguyên do như Phúc Bủm hoặc Phúc Tí Bỏm, như Xa Trâu Lăn.

Tôi tên là Hải, mặt mũi không có gì là đặc biệt đáng để ý, tài vặt cũng không có, nên có lẽ vì Hà Đông đã có một Hải Bò – tôi bị gọi là Hải Cẩu.

Buổi sáng nghỉ học, chúng tôi đi chơi. Đi vào sân vận động, trèo tường qua bên kia là những ao nuôi cá. Nơi đó có một cái miểu lớn, chung quanh cây cối um tùm, thường được dùng làm nơi cắm trại của Hướng đạo sinh Hà Đông. Lối đó đi xuống làng Hạ Trì, rồi Cự Đà, Khúc Thủy. Đi mãi là xuống Văn Điển và Phú Lý. Các bạn tôi nói đến chuyện thiếu gạo ăn, dàn sẽ bị đói. Các bạn tôi cùng tuổi với tôi, nhưng chúng nó tinh khôn hơn tôi nhiều. Thằng nào cùng nói là dân mình sắp bị đói đến nơi. Chỉ có mình tôi nói:

– Nhà tao không bao giờ thiếu gạo ăn. Nhà thằng nào bị đói thì bị chứ nhà tao không bao giờ bị đói...

Chúng nó xúm vào chửi tôi, cho là tôi khoe láo, tôi ngu. Tôi bị chửi dữ quá cũng đâm ngượng, nhưng thực tình, tôi chưa hiểu được chuyện thiếu gạo, bị đói ra làm sao. Tôi không thể tưởng tượng được rằng có ngày quanh tôi lại có những người phải chết vì đói.

Mỗi buổi sáng, vào lúc 10 giờ, chiếc xe bò lọc cọc của nhà thương đi vòng các phố lượm xác chết. Một vòng qua khu phố Chợ, sang khu Đầu Cầu xuống phố Bóp Kèn, rồi xe ra Nghĩa địa của thành phố ở bờ sông. Mười giờ nắng bắt đầu im, người nào còn nằm không dậy tức là chết. Không cần phải hỏi han gì lôi thôi, hai bác lao công trông cũng gầy không kém gì những xác ma đói, tiến vào khiêng luôn người nằm và cả cái chiếu vứt lên xe bò. Một xe bò thường mỗi sáng chở đi chừng mười đến mười lăm xác chết. Những ống cẳng xương xẩu thò ra ngoài xe. Người sống gặp xe thường quay mặt đi không dám nhìn.

Nghĩa trang chung của tỉnh lỵ nằm ở cánh đồng sau Nhà thương, tức là ngay sau nhà tôi. Lên gác, nhìn ra cửa sổ đằng sau, qua một cảnh đồng thấy Nghĩa trang. Ban đêm, vùng trời ấy tối om. Tôi sợ ma, sợ bóng tối nhưng lại khoái đứng xa nhìn vào Nghĩa trang, nhìn để mà tưởng tượng, để mà sợ.

«Em yêu dấu, cái tật tưởng tượng có từ thuở nhỏ này của anh làm giầu cho đời anh nhiều, nhưng cũng làm cho anh đau khổ lắm – có lẽ vì đời anh sung sướng, anh đầy đủ, anh có tất cả, nhất là tình yêu, anh có em, có các con – con chúng ta thật đẹp, em đã nói thế một đêm nay em bỏ anh em đi giang hồ rồi lại về với anh, đêm chúng ta yêu nhau trong khách sạn Đồng Khánh, lấy nhau 10 năm, có ba con với nhau, chúng ta lại đưa nhau đi ô-ten như những ngày chúng ta mới gặp nhau. Em nói – “Em đi... em thấy con của những đứa bạn em, con chúng nó kém con chúng mình nhiều. Con chúng mình đẹp lắm...” Anh có đủ cả như thế nhưng anh khốn nạn, anh vẫn cứ cho là anh khổ. Anh cứ tưởng tượng ra những chuyện khốn nạn. Hay là tại cái nguyên chất trong tánh nết của anh là khốn nạn hả em ? Anh có em chung sống, anh sung sướng nhất dời, mà anh cứ tưởng tượng rằng anh khổ, rằng em không chung thủy với anh. Anh đau khổ, anh chết là đáng lắm..»

Có những đêm mưa, từ vùng tối om, dầy đặc của Nghĩa trang đó, có những cập ma trơi hiển hiện, vờn nhau. Tôi đứng ở trên gác, nhìn ra và tưởng tượng ra cái cảnh, những người chết ở đó đang ngồi hội họp. Trời mưa to gió lớn, sấm sét nổ đùng đùng, tôi nằm trong lòng mẹ, nghĩ đến những ngôi mộ mà tôi thấy nằm trơ vơ ngoài đồng. Tôi nghĩ đến ngày mẹ tôi chết, bà cũng phải ra nằm một mình ngoài đồng, cô đơn và lạnh lẽo, tối tăm biết là chừng nào. Tôi nghĩ thế và tôi khóc. Nhất là khi mẹ tôi nói – « Bao giờ mẹ chết, người ta cũng khiêng mẹ ra chôn ở ngoài đồng. Em có thương mẹ không?? » thì tôi khóc nức nở... Bố mẹ thương yêu con thường hay làm cho con khổ, con sợ hãi bằng cách hỏi con có thương mình khi mình chết không. Tôi bây giờ tôi cũng hay hỏi các con tôi – như mẹ tôi vẫn từng hỏi tôi:

– Nếu bố chết.... con có thương bố không ? ?

Trẻ con chưa biết gì về cuộc đời, chưa biết rằng cuộc đời này có chuyện yêu đương mai sau lớn lên mình sẽ gặp người yêu và yêu nhau, ăn ngủ với nhau sướng lắm, lờ mờ biết về cõi chết. Rằng người ta trước sau gì cũng phải chết và chết là phải ra đồng nằm một mình, nằm ở dưới đất, đắp đất lên, và không còn được trò chuyện, âu yếm hôn hít những người thân yêu nữa. Nói đến sự mình chết với con mình là một sự tàn nhẫn. Song khi yêu thương ai, khi biết rằng nếu người ấy mà chết, mình sẽ đau đớn lắm, mình cũng sẽ chết, mình muốn biết rằng nếu mình chết kẻ đó có đau đớn như mình đau đớn hay không: Tình yêu là thế – yêu là khổ và người yêu thường muốn làm cho người mình yêu cũng phải khổ như mình khổ.

Điều đau nhục nhất đáng kể là giữa những người sống chưa bị đói và lớp người bị đói sắp chết, có một sự cách biệt tàn nhẫn, kinh khủng. Người chưa đói coi người bị đói như một quái vật không thể để cho gần mình. Người ta thấy nhau chết đói mà không thương xót, mà dửng dưng, không chia xẻ cho nhau. Bởi vì nhiều quá, bố thí không thấm thía vào đâu. Người ta coi người như súc vật. Xua đuổi nhau, sợ nhau và thù hằn nhau.

Sự thù hằn thường sáng lên trong những đôi mắt sâu hoắm như rực lửa của những người sắp chết.

– Rồi đến lượt chúng mày. Ông bảo cho mầy biết... chúng ông chết trước, chúng mày chết sau...

Tôi đã nhiều lần được nghe những câu tương tự thốt ra từ những đôi môi đen khô vì lâu ngày không được tiếp máu. Những người chết đói đó không phải là ăn mày. Bọn ăn mày chuyên nghiệp mặt mũi ngu si, đần độn. Họ chết đói vì đồng quê mất mùa, vì nhiều nơi hạn hán, nhiều nơi lụt, nhiều nơi quân đội Nhật bắt nhổ lúa, ngô lên lấy đất trồng đay, nói là vì nhu cầu quân sự. Có người nói rằng Nhật trồng đay để đốt lấy than làm thuốc súng, nhiều người khác nói rằng quân Nhật trồng đay may y phục, làm bao tải đựng thóc gạo của dân mình chở đi cung cấp cho quân Nhật ở các mặt trận không trồng trọt ngũ cốc được như Bornéo, Okinawa v.v... Hồi đó, tôi nghe thấy người ta nói như thế. Những người chết đói ở Bắc Việt năm ấy chết vì quân Nhật bắt họ phải nộp thuế gạo. Ở Hà Đông, nhà thầu Trần văn Chi, trước thâu thuế chợ, được thầu thâu thóc cho Tây, Tây nộp thóc cho Nhật.

Thóc do nhà thầu Trần văn Chi thâu được, nhiều không đủ chỗ chứa, phải đem đến gửi nhờ ở nhà tôi. Những vựa thóc cao đến tận mái những căn nhà tranh trong vườn nhà tôi. Những căn nhà tranh này nguyên là xưởng dệt màn của mẹ tôi. Bấy giờ nghĩ dệt, bỏ hoang. Hồi đó xe đạp đang quý. Một chiếc xe đạp Sterling dura-inoxydable hồi ấy quý như xe ô-tô bây giờ. Trong lúc xe ô-tô không có ét-xăng phải mang thùng thật to tổ bố đằng sau để chạy, xe điện, xe hỏa mỗi lần có báo động là nằm chết dí một chỗ, phương tiện di chuyển quý nhất của dân Bắc Việt là xe đạp. Thầy tôi nhờ ông Trần văn Chi mua hộ một chiếc xe đạp cho anh tôi. Ông Chi cho người mang tới một xe đạp Nhật hiệu Rota, mới toanh. Để trả cái nợ gửi thóc, ông không lấy tiền chiếc xe đạp Rota.

Dân đói vào tỉnh Hà Đông mỗi ngày một nhiều. Người sống đem người chết đi chôn không xuể. Ở nhiều phố vắng, có xác chết nằm cả tuần vẫn chưa được mang đi chôn. Người ta tổ chức đoàn cứu đói. Rồi một nghề đặc biệt được ra đời : nghề buôn gạo Nam kỳ, thường được gọi là gạo máy.

Nhà nào có tiền cũng mở tiệm gạo. Mẹ tôi cũng buôn gạo về bán. Cách buôn thật dễ: đem tiền ra Hà Nội mua dăm tạ gạo máy, mướn xe bò chở về Hà Đông, có gạo là có người xách bị đến mua. Bán hết lại ra Hà Nội mua về. Nhưng mẹ tôi buôn gạo máy được vài lần cũng bỏ. Vì bà không phải là dân buôn. Bọn đẩy xe bò ăn cắp gạo mà bà không biết.

Xe bò của họ có hai tấm ván đáy. Những bao gạo đưa lên xe đều bị chọc lỗ, gạo cứ thế chảy xuống đáy dưới của xe. Mỗi tạ bị ăn cắp như thế mất đến tám, chín ký lô mà mẹ tôi không biết. Lại thêm đồng tiền xuống giá. Giá gạo hôm trước 500 đồng, hôm sau đã 600 đồng, rồi 700 đồng. Chỉ có bọn đầu cơ, tích trữ hàng trăm tấn, là có lời. Giới buôn lẻ chết hết.

Nghề thứ hai là nghề bán cơm nắm chấm muối vừng ở đầu đường. Vì nhà còn quá ít gạo, nhiều người không thổi cơm, ra đầu phố ăn cơm nắm chấm muối vừng, hoặc muối hột. Xong bữa. Những hàng cơm nắm, gánh khoai lang luộc ở những đầu phố là những mục tiêu tấn công của dân đói.

Quanh những gánh bán dạo đó, có những cặp mắt hau háu nhìn. Những người đói ngồi chồm hổm chung quanh. Một người nhào tới, vồ nắm cơm, nhét vào mồm. Người mất đấm đá thum thụp– « Mẹ bố mày....ăn cướp của tao hả ? ? Đánh cho mày chết... » Mặc. Người mất cứ đánh, người cướp cứ nhét nắm cơm hay củ khoai cướp được vào mồm, cơm toè ra rớt xuống đất. Đợi cho người ta đánh mỏi tay, người bị đánh bò lê ra đất ngồi dậy, lượm cơm lên ăn. Như thường.

Người mất của có đấm đá bằng tay, chân, có phang bằng đòn gánh, cũng chỉ đấm đá, phang vừa vừa thôi, mắt còn phải nhìn gánh cơm, khoai lang của mình, chân tay còn phải để dành để bảo vệ những gì chưa bị cướp. Vì chung quanh đó, còn có cả chục nhân mạng sắp chết đói khác đang định xô vào vồ cướp. Vồ được củ khoai, bánh cơm, nhét bừa vào mồm có bị đánh, đá mấy cái không sao. Đã có cái ăn sống được một ngày. Mai lại rình vồ món khác. Mỗi trận đòn, một bữa ăn. Còn rẻ.

Những cục cơm rơi vãi nhoe nhoét dưới đất lúc đó mới được bốc lên, ăn ngon lành, có những người chịu đánh để lấy cơm cho con ăn. Cũng có những người chịu nằm chết chớ không chịu ăn xin hay rình cướp.



Buổi trưa, ăn cơm xong, tôi cùng các ban đến tụ tập ở sân trường. Bây giờ tôi đã vào trường Công. Tôi náo nức đi làm việc thiện. Ủy Ban Cứu Đói kêu gọi mỗi nhà mỗi ngày ủng hộ một bát cơm. Thanh niên Cứu Đói mang bị đi thâu cơm từng nhà, mang về Trụ sở, phát phần cho đồng bào đói.

Chúng tôi bận áo sơ-mi trắng, quần xanh Tầu – bộ đồng phục hồi Phong trào Khỏe của ông Ducouroy vẫn còn được giữ gìn. Vải đắt. Một bộ áo trắng vải Chúc bâu, quần soọc vải xanh Tầu, đã là diện lắm rồi, mỗi thằng mang theo một cái bị.

Chúng tôi được chia phố. Bọn đi thâu cơm dẫy nhà số lẽ, bọn đi thâu bên dẫy nhà số chẵn. Tôi phải vất vả, phải khéo léo lắm mới đổi được vào đoàn đi thâu cơm ở phố Đầu Cầu, khu có nhà Ngọc Diệp. Từ ngày chia tay với Ngọc Diệp trong nhà thương, tôi ít khi có dịp gặp nàng.

Một lần tôi gặp nàng trên chuyến xe lửa Hà Đông – Hà Nội, nhưng nàng đi với bà chị. Và tôi ngượng, tôi sợ không dám đến ra mắt bà chị của nàng. Trên chuyến tầu ấy, tôi ra đứng ở đầu toa, để cho Ngọc Diệp không nhìn thấy tôi. Nhưng suốt đoạn đường dài, không lúc nào tôi rời mắt nhìn nàng.

Gần hai năm trời đã trôi qua, hai năm: Khoảng thời gian ấy rất dài, rất quan trọng trong cuộc đời của người con gái đang tuổi dậy thì. Diệp hơn tôi hai tuổi. Nàng nhớn phồng hẳn lên. Khuôn mặt năm xưa đau yếu, xanh nhợt, đôi gò má nhô cao, khuôn mặt trũng sâu và sáng rực, nay trở thành bầu bầu. Đôi má hồng, mới nhìn tôi tưởng là nàng đánh phấn hồng. Nhưng không phải, con gái nhà lành tỉnh nhỏ ngày xưa mười bẩy tuổi vẫn chưa phấn son. Mái tóc nàng dầy hơn, bây giờ cắt vừa chấm vai.

Em... em... hai mươi năm đã trôi qua kể từ buổi chiều mùa xuân, anh cùng đi với em trên chuyến xe điện Hà Nội – Hà Đông ấy, đã bảo anh rằng những sợi tơ vàng giăng trên những dậu cây tươi mởn ven đường xe đường gần Ngã Tư Sở ấy là những giây tơ hồng khi anh hỏi em rằng những dây đó là dây gì. Thời gian trôi qua thật mau và cũng thật chóng.

Hình ảnh rực rỡ của em năm em mười bẩy tuổi còn nguyên ánh sáng trong anh. Nhưng cuộc đời của chúng ta đã qua nhiều thay đổi. Anh chẳng bao giờ hỏi thăm ai về em, mặc dầu em là người yêu đầu tiên của anh. Anh không biết em có gặp tình yêu trong đời em không ? Nghĩa là anh không biết em có yêu chồng em, có đau khổ vì chồng em, em có cho ra đời những đứa con kháu khỉnh, giống em, như anh đã gặp tình yêu, đã yêu vợ anh, đã đau đớn vì vợ anh, đã có những đứa con kháu khỉnh giống vợ chồng anh. Anh cũng chẳng được biết chắc rằng qua hai cuộc chiến tranh thê thảm, em còn sống hay là em đã chết.

Nhưng, nếu năm nay em còn sống, ở một nơi nào đó trên trái đất này, em đã 37 tuổi rồi. Anh dốt về toán pháp, anh không nhớ được những con số nhưng anh nhớ tuổi em, anh nhớ rõ ngày, tháng thời gian và không gian anh gặp tình yêu. Như nhớ lần đầu tiên gặp nhau người anh yêu mặc áo màu gì, có gì cài trên mái tóc dài, nói với anh những lời gì, yêu anh ra làm sao. Những cái nhớ lẩm cẩm đó làm cho đàn bà xúc động và thích lắm phải không em. Đàn bà mà anh nói tới đây là đàn bà đẹp, đàn bà đa tình. Anh không nói đến những người đàn bà xấu...

Năm nay em đã 37 tuổi, và anh 35 tuổi. Anh đang ở vào cái tuổi đẹp nhất của cuộc đời đàn ông. Anh lấy em làm vợ và “em em, anh anh” với em cũng được, mà anh lấy con gái em làm vợ và “má má, con con” với em cũng được, nếu em lấy chồng sớm và bây giờ, em có con gái 17 tuổi. Có điều năm nay anh không còn ngây thơ như ngày em bảo anh rằng những sợi dây vàng đó là dây tơ hồng, bây giờ, anh hối hận vì anh đã không yêu đương xác thịt em ngày đó. Không một cái hôn lên má, không một cái nắm tay... Tình yêu không có đụng chạm xác thịt không đủ để ghi nhớ. Yêu em năm đó, anh đã yêu một cái bóng, yêu một nữ thần, anh không yêu em như yêu một người đàn bà...


sáu


Tôi chọn một cái bị mới, cái bị mới nhất treo trên gác bếp nhà tôi, lẫn với mấy cây cần câu của tôi, bắt khói lên nước vàng óng như ngà. Lẽ ra tôi phải vác bị đi xin cơm ở khu phố nhà tôi là phố Bóp Kèn, nhưng tôi đi sang phố Đầu Cầu. Ngọc Ve – Ngọc có cái ve ở mắt, trùm thiếu niên càn bạt ở khu này – đứng đầu nhóm đi xin cơm ở Đầu Cầu.

Thấy tôi đi trong đội đàn em của hắn, Ngọc Ve quát:

– Thằng này... mày làm gì ở đây ?

Tôi hơi trợn. Ngoe Ve nổi tiếng du đãng, hay đánh nhau và bạo tợn. Chính mắt tôi đã trông thấy hắn thụi những thằng to gấp hai tôi. Tôi trả lời cứng tuy trong bụng chỉ sợ hắn cao hứng thụi tôi vài quả – chỉ cần một quả thôi – cũng mất mặt và thê thảm quá :

– Đi xin cơm.

– Mày khu Bóp Kèn cơ mà ?

Tôi trả lời bừa:

– Bên ấy, đông người quá. Ông Tín bảo tôi qua bên này qua hàng.

Ông Tín là ông Moniteur của tỉnh Hà Đông. Ông đứng đầu bọn Thanh Thiếu Niên Khất Thực chúng tôi.

Tôi may mắn vì Ngọc dịu giọng :

– Ừa... mà đi bên khu tao phải đàng hoàng à.

Mừng quá tôi vội vã:

– Đàng hoàng...!

Nơi tôi muốn đặt chân vào là một tòa nhà vi-la, kiểu cổ. Có mái nhà hình tam giác, trông y như cái mũ của những Mụ Phù Thủy Âu Tây cưỡi chổi bay trên trời. Như cái mũ đen nhọn của Mụ Phù Thủy độc ác trong phim vẽ «Nàng Bạch Tuyết và Bẩy chú lùn ». Cái mũ Phù Thủy ấy úp lấy nàng tiên của tôi. Nàng vừa là một nàng tiên, vừa là công chúa. Cổng sắt chấn song bên trên nhọn hoắt. Bảng sắt tây kẻ chữ Chien Méchant không làm sao kết bạn được với bọn anh em nàng để có thể đặt gót chân du đãng trên ngưỡng cửa sắt ấy. Tôi chỉ đi lang thang bên ngoài, mơ và tưởng tượng ra cảnh nàng sống trong đó, nàng đứng sau cửa sổ, nhìn thấy tôi, biết là tôi yêu nàng và tôi khổ sở đi lên, đi xuống đây là vì nàng, và nàng mỉm cười.

Đi hết dãy phố vắng nhà nàng, kẻ lang thang lãng tử yêu chưa đến tuổi yêu lạc bước vào một vùng tuyệt đẹp. Hết đường nhựa, đi vào đường đất, vùng cây xanh. Có một khu trại có tên là Hoàng Hoa Trang. Không biết của nhà ai. Tôi mê vì dàn cây cao bên ngoài. Cao thật cao. Cành lá của rặng cây, vào những chiều mùa xuân, sáng mùa thu tôi đi qua, xanh tươi. Như bao giờ, mãi mãi cành lá của rặng cây ấy vẫn xanh tươi như thế. Lấm chấm một vài đóa hoa vàng trên nền xanh. Tôi không biết rặng cây đó tên là gì. Mà tơi cũng không cần biết. Tôi yêu rặng cây ngay từ buổi đầu tiên lạc bước vào rặng cây xanh. Ở đó yên tĩnh một cách lạ thường. Yên tĩnh và xanh tươi như chỉ có Thiên Đường mới có thể yên tĩnh và xanh tươi đến thế. Yên tĩnh phải đi đôi với màu xanh, sắc tươi của cỏ cây, hoa lá mới là yên tĩnh sống. Những tòa giáo đường đá trắng cũng yên tĩnh, những tòa nhà lớn «bê-toong ác-mê» cũng yên tĩnh, những căn hầm bằng thép chống bom nguyên tử cũng yên tĩnh, không gian trong những vách tường dầy nhà tù cũng yên tĩnh, nhưng đó là cái yên tĩnh chết. Trong cái yên tĩnh đó, người ta cũng hưởng yên tĩnh nhưng người ta sinh chán đời, muốn có ý nghĩ thoát ra khỏi cuộc đời hỗn tạp này để đi ra, đi ra ngoài. Yên tĩnh xanh tươi của hoa lá cho người ta cảm giác yêu đời tin rằng tình yêu hằng có ở cõi đời này, tin rằng có một ngày đẹp mình sẽ gặp tình yêu cho tình yêu thêm đậm đà, cho ta yêu đời và ham sống.

Trịnh Viết Thành, Hoàng Anh Tuấn – hai thằng hơn tôi ở điểm được bố mẹ có tiền cho sang Pháp học. Cả hai thằng sang đất Pháp thì ăn chơi, không học mót được một tí tài còm nào để về phục vụ cho đất nước, đền ơn cha mẹ. Hai thằng chỉ hơn tôi bây giờ ở điểm có sang Tây và nói phét về những chuyện bên Tây, những chuyên chơi đầm – đầm Pháp và đầm A-Na-Mít – nhưng tôi biết có một chuyện mà chúng nó nói thật. Đó là chuyện trời bên Tây cảnh đẹp lắm, và ở trong cái phong cảnh đẹp ấy, thằng người nào vô tình, khô khan nhất cũng phải yêu, cũng phải trở thành si tình, cảnh đó dễ cho Cung Trầm Tưởng làm thơ – «Quê em có trăng soi... Anh một mình ở lại...» Tên cù lần nhất cũng sốt sắng làm chuyện «Ra xe tiễn em đi... chưa bao giờ buồn thế...»

– Cảnh đó đẹp lắm mày ạ. Ở bên đó, tao chắc thằng nào vô tình nhất, khô khan nhất cũng xúc động, cũng yêu. Có những miền đồng quê của nó cỏ non xanh tận chân trời. Y như cảnh tả trong truyện Kiều. Những cảnh mà ở nước mình, mình cóc thấy bao giờ .Sáng trăng đưa em vào những vườn táo, tuyệt lắm mày ạ. Cho anh cai vườn năm, bẩy franc, mình được phép vào vườn táo, tha hồ ăn nhưng không được hái mang ra. Những cây táo nó thấp đến đầu gối mình. Táo xanh, hái ăn chấm muối ớt. Mình thủ sẵn một gói muối ớt đi. Các em chịu lắm.

Thằng Thành hay thằng Tuấn nói những câu trên đây – có thể là cả hai thằng, mỗi thằng nói một câu, tôi ghép lại – chúng nó – cũng giống như đa số những thằng đi xa về – nói sai nhiều chuyện – song, tôi cảm thấy là chúng nói đúng về điểm sống trong cảnh đẹp, con người trở thành tình cảm, dễ yêu nhau. Vì tôi ngày xưa chỉ mới lạc bước vào một vùng cây xanh nhỏ bé ở tỉnh lỵ Hà Đông – vùng cây xanh đẹp nhất là những ngày mưa bụi, những búp lá non như có linh hồn – tôi đã thấy tình yêu trong lòng tôi rạt rào, dâng lên cao độ – tôi mê cái tên Hoàng Hoa Trang ở đó . Bây giờ , mỗi lần viết tiểu thuyết, tả đến một trang trại đẹp nào trong đó có Tình Yêu, có đàn bà đẹp, tôi đều đặt tên cho nơi đó là Hoàng Hoa Trang.



Hai mươi năm trước, lối tán gái của thanh niên tỉnh lẻ Bắc Việt vẫn còn nguyên cổ điển, không một chút táo bạo nào. Trai gái thời này, nhứt là trai gái ở những thủ đô lớn, có một triệu cơ hội để gần nhau, để đi tới đoạn cuối cùng của yêu đương ngay lập tức. Nhưng 20 năm xưa, trai gái yêu nhau vẫn chỉ là dùng lối chàng đi bộ qua cửa nhà nàng, đi lên đi xuống cả trăm lần, nàng đứng trong cửa sổ nhìn ra, cười tình với nhau, hoặc theo nhau đi học về – Nàng biết là có chàng đi theo, vừa đi nàng vừa làm điệu – Hoặc là «lăng xê lét» viết thư tình cho nhau, lén trao nhau ở cửa trường, góc phố, hoặc nhờ thằng em nàng mang về.

Ngày xưa, trò trao thư tình cho nhau đã là tối tân và táo bạo lắm rồi – Yêu nhau ngày xưa, người ta thường chỉ dùng lối tỏ tình đi bách bộ qua trước cửa nhà nhau – Để Nguyễn Bính đã phải làm thơ: «Chàng qua chiều ấy, qua chiều khác – Góp lại bao nhiêu vạn dặm đường.»

Nhưng chiều nay, tôi có cơ hội đặt chân vào nhà Ngọc Diệp.

Ngày đầu tiên Đoàn Thanh Niên Khất Thực đi xin cơm. Đã có lời dặn cả từ tuần lễ trước, đến hôm nay, nhà nhà mở cửa và thổi cơm sẵn để góp mỗi nhà một bát. Ở tỉnh nhỏ ít chuyện trò giải trí ngoài đường để cho người ta có thể ra xem chỉ là đám ma đi qua hoặc các cuộc diễn binh có đội kèn «bú-dích» đi đầu của lính Khố Xanh hàng tỉnh, cuộc đi thâu cơm hôm nay là một việc làm cho thành phố vui linh động hẳn lên.

Tôi nhập bọn đi xin cơm bên dẫy nhà Ngọc Diệp. Nhưng tôi cứ xách bị, đứng lẻn ở phía ngoài, chờ cho đến gần nhà nàng tôi mới vào thâu cơm.

Nàng thốt ra hai tiếng trong lanh lảnh :

– Lu...Tô..

Mẹ hai anh Lu, Tô ! Hai anh tuân lời cô chủ, rời cánh cổng sắt chạy vào, nhưng vẫn còn cay cú, vẫn hực hực như muốn ăn thua đủ. Hai anh quấn quanh chân cô chủ.

Diệp bước xuống lối sỏi.

Tôi đẩy cửa sắt đi vào.

Khi chúng tôi giáp mặt nhau, tôi run run mở bị, tôi run nhiều, nhưng Diệp vẫn bình tĩnh như không.

Đến lúc giáp mặt nhau, nàng mới nhận ra tôi.

Đôi mắt sáng trong của nàng sáng thêm, môi nàng mỉm cười, để lộ hàm răng trắng.

– Anh đấy à ? – Nàng hỏi.

Tôi gượng cười, gật đầu :

– Anh mà cũng đi xin cơm à ?

Tất cả những ước mơ, trong một giây phút thành hình, khoảnh khắc thời gian như đọng lại thành hình thể. Trong cuộc đời dài sáu mươi năm, có những khoảng khắc thời gian đã xẩy ra như không tan đi, còn mãi, lúc nào và bao giờ cũng là hiện tại, mỗi lần chúng ta hồi tưởng, lại hiện về, như ta đang sống.

Tôi run sợ, hồi hộp và sung sướng. Bao nhiêu cảm giác dồn dập đến làm cho tôi bàng hoàng. Tôi mở bị trước mặt nàng, chỉ để nhận bát cơm trắng từ tay nàng đổ vào đó, rồi quay đi không thể nói được một lời. Hài lòng mãi mãi với giây phút được đứng gần nàng đó, khi nghe nàng hỏi «Anh mà cũng đi xin cơm cơ à ?», tôi nghe rõ nhưng tôi ấp úng, không nói được nên lời.

Nếu buổi trưa đang đi qua, buổi chiều đó – 3 giờ ở một ngày cuối xuân, đầu hạ ở Hà Đông – tôi có đủ tâm trí để trả lời Ngọc Diệp, tôi sẽ nói gi để đáp lại câu hỏi « Anh mà cũng đi xin cơm cơ à ?» của Nàng ? Đến bây giờ, sau bao lần hồi tưởng, tôi vẫn không biết tôi phải trả lời sao – Câu hỏi của nàng là một câu hỏi của đàn bà mà đàn ông không thể trả lời được.

Đó là loại những câu hỏi rất thường mà rất ác, như :

– Anh mà cũng nghiện thuốc phiện à ?

– Anh mà cũng chơi bời ư ?

– Anh mà cũng làm «áp phe» sao ?

– Anh mà cũng đem thân làm tay sai cho thằng đó ư ?

Và :

– Anh mà cũng tàn nhẫn, đểu cáng đến thế này sao ?

Hoặc :

– Anh mà cũng làm cách mạng à ?

Bát cơm nóng bốc hơi lên nghi ngút. Nồi cơm vừa được thổi xong, chắc là được thổi đặc biệt để dành chờ Đoàn Thanh Niên Khất Thực.

Tôi ấp úng nhìn nàng. Ngọc Diệp mỉm cười. Môi nàng mầu hồng tươi như làn da non những cánh hoa hồng phơn phớt phấn nhụy mùa xuân. Hai đứa nhìn nhau. Bát cơm được đổ vào miệng bị thiếu chút nữa thì ra ngoài hết. Những hạt cơm dẻo nóng bám vào ngón tay tên con trai vụng về mở bị.

– Hãy còn. Để lấy thêm bát nữa.

Nàng gật đầu, như để yêu cầu sự đồng ý của gã thiếu niên mặt thộn. Bằng lòng quá rồi. Nàng có thể đổ vào bị cả một tạ cơm, tôi vẫn không một lời phản đối. Nhưng những mõm chó bẹc-dê hực hực đưa sát vào cặp chân cháy nắng dưới hai ống quần soọc vải xanh Tầu, hai mõm chó phì hơi nóng hôi hổi và rờn rợn làm cho tôi trở lại với thực tế – «không có Diệp, hai con chó này chúng nó cắn mình bỏ mẹ», tôi thốt ra một tiếng:

– Chó...

Nàng hiểu tôi muốn nói gì. Nàng quát khẽ – « Lu... Tô... Đi vào... » Hai con chó lớn lảng xa đôi «xăng-đan» da nâu, nhưng không chịu đi vào hẳn.

Nàng quay mặt gọi vào nhà :

– U Tám ơi... mang cơm ra đây...

Thằng bạn chờ bên ngoài cánh cửa dục :

– Xong chưa... đi mày...

Nó không hiểu tình yêu là gì. Nó không biết là thằng bạn của nó đang đứng với tình yêu, đứng trong tình yêu, đang sống những giây phút sung sướng, quý báu nhất đời. Nếu giây phút đó, có sẵn một triệu đồng bạc để ở cách đó một trăm thước, chỉ quay ra là có thể lấy được, tôi cũng không rời chân. Tôi cũng không đi xa nàng.

U Tám là người đã nuôi Ngọc Diệp trong hai tháng nàng đau màng óc nằm với tôi trong nhà thương. Tôi chỉ nghe Diệp gọi bà là U, bằng một giọng nũng nịu thương mến, đây là lần đầu tôi nghe nàng gọi bà là U Tám.

U Tám bưng một bát cơm đầy tú hụ đi ra. Nhận ra tôi bà cười, hàm răng đen nhánh lộ giữa vành môi ăn trầu cắn chỉ :

– A... Cậu Hải... Cậu đi xin cơm đấy à... ? ?

Sư xuất hiện của U Tám làm cho tôi lấy lại được bình tĩnh. Như người đàn bà quê mùa, hiền lành này đã hóa giải được cho một phần lớn uy lực và áp lực của người thiếu nữ trẻ đẹp.

Tôi trả lời U Tám. U hỏi tôi, vồn vã :

– Cậu chịu khó làm việc này, rồi cậu có phúc lắm ạ. Ngày sau... chắc chắn là cậu lấy được vợ vừa đẹp, vừa giầu...

Chắc lúc ấy mặt tôi đỏ lắm. Đỏ tưng bừng, đỏ khé, loại mặt đỏ mà sau này, khi viết phóng sự, tôi thường tả là «đỏ như tĩ gà».

Diệp cười khanh khách. Tiếng cười trong như những hạt ngọc gieo xuống mâm vàng. Người con gái tôi muốn lấy làm vợ đang đứng bên tôi. Lời của U Tám nói đó chính là nói về nàng.

– Cụ Phán vẫn mạnh chớ cậu ?

– Cám ơn U....

– Cậu cho tôi gửi lời hỏi thăm Cụ... Trông cậu dạo này khỏe lắm. Cậu làm gì mà trông đen như Tây đen thế này?

Diệp hỏi tôi :

– Anh hay bơi sông lắm phải không ?

Tôi gật đầu :

– Sao Diệp biết ??

– Cái gì anh làm ở tỉnh này, Diệp cũng biết hết.

Một sự bí mật mà tôi không bao giờ tìm được câu trả lời. Tại sao Ngọc Diệp lại biết là tôi hay bơi dưới sông ? Anh em nàng không chơi với tôi, anh em nàng cũng không ra bơi lội dưới sông Hà Đông. Dòng Nhuệ Giang chẩy qua đầu tỉnh thật thích hợp cho những tên khoái bơi lội mùa Hè. Gần như tất cả bọn thanh thiếu niên thích quấy phá ở tỉnh lỵ, mùa Hè đều gặp nhau trên giòng sông. Ở Bãi Sỏi.

Bãi Sỏi thật sạch. Ở đó có nhiều nhà bán nứa. Thuyền chở sỏi không biết từ đâu tới, đến đổ sỏi xuống đó. Ai cần sỏi đến đó mua. Xuống Bãi Sỏi sạch chân, không có bùn sình. Chúng tôi tập bơi ở Bãi Sỏi. Bắt đầu là bơi chó, rồi dắt díu nhau bơi qua sông. Khi đã bơi kha khá rồi, bon trẻ con bắt đầu được đàn anh chú ý tới. Thời này, những tay bơi cừ nhất Hà Đông là Mậu Cự, Dương Đức Lợi – anh tôi, em của anh Dương Đức Hiền – rồi Khê, bây giờ là Khê Vinh, huấn luyện viên thể dục thể thao, nổi tiếng về mục đấu hót và là cậu của ca sĩ Linh Đa, bọn cùng tuổi với tôi có Phú Cốc, bơi dai phông như rái cá. Mùa Hè, bọn chúng tôi gần như là suốt ngày ở bãi Sì-Tát và ở trên sông Nhuệ.

bẩy


Tôi và hai tên bạn cùng tuổi là Nhân và Lâm, sau khi bơi được ngang sông, được Khê nhận làm học trò dậy bơi. Nhờ Khê, tôi mới biết bơi đúng kiểu, đúng sách: brasse coulée, rồi bơi Crawl. Sau ngày đánh nhau Việt Pháp năm 1946, Khê nổi tiếng khắp Bắc Việt nhờ tài đá banh. Một thời, Khê là thần tượng của thanh niên mê thể thao Bắc Việt.

Buổi chiều hôm đó, từ khu vườn tòa vi-la kiểu cổ có mái nhà nhọn, cao như chóp mụ Mụ Phù Thủy trong phim Nàng Bạch Tuyết và Bẩy Chú Lùn đi ra, tôi như có cánh mọc dưới chân. Thân thể tôi như lâng lâng bay bổng theo với tâm hồn. Cuộc đời thật đẹp, thành phố yêu đương tràn đầy ở mỗi ngọn cây, góc phố, mái nhà. Tôi sung sướng tuyệt vời. Tôi hài lòng như chưa bao giờ có một kẻ nào hài lòng đến thế. Mười sáu tuổi, tôi đã yêu.

Những bị cơm xin được, được tập trung vào một chiếc xe bò. Buổi chiều, chúng tôi đẩy xe về một cái miếu gần Đầu Cầu.

Đồng bào nghèo trong thành phố đã rủ nhau tới chầu chực từ trưa. Cơm trắng, cơm đỏ, cơm gạo máy được đổ vào những thùng sắt Tây. Chúng tôi đứng phát cho mỗi đồng bào đói một bát. Người lớn trẻ con gì cũng được mỗi mạng một bát. Người nào có sẵn đồ đựng, lấy phần cơm của họ về ăn dần. Người nào không có bát phải ăn tại chỗ trả lại bát.

Đồng bào đói xếp hàng, dắt nhau vào sân Miếu lãnh cơm, đi ra bằng một cửa khác. Theo nguyên tắc, người nào đã lãnh cơm rồi không được xếp hàng trở lại lần thứ hai, nhưng có nhiều người vẫn trở lại và chúng tôi vẫn phát cơm cho họ.

Đoàn Khất Thực chia phiên nhau đi xin cơm. Bọn ở nhà nấu cháo. Những nồi cháo gạo đỏ, gạo từ Nam Bộ chở ra tiếp tế, được gọi là gạo máy. Người ta nói ăn gạo này bị phù thủng, vì thiếu sinh tố, gao xay bằng máy quá kỹ, mất hết cám. Tôi thường tranh việc đi xin cơm, để được vào nhà Ngọc Diệp.

Phong trào cứu đói cũng cứu sống được một số đồng bào đau khổ trôi dạt từ những vùng Thái Bình, Phủ Lý vào thị xã Hà Đông. Rồi những biến chuyển chính trị dồn dập tới làm cho bọn thanh niên xao lãng việc cứu đói. Hai nữa, nạn đói lên đến cao độ của nó rồi cũng lắng dần, những người phải chết đều đã chết, những người còn sống phải lo với những tai họa mới.



Nhà tôi ở cuối phố Bóp Kèn. Số nhà 116. Từ nhà tôi, chỉ còn chừng mười nhà nữa là ra tới cánh đồng. Tòa nhà lớn nhất ở khu phố tôi là nhà Cụ Bố Hành. Nhà Cụ Bố làm theo lối biệt thự, có vườn hoa rộng, có hồ nước thả sen.

Trước ngày tôi ra đời, thầy tôi vẫn ở nhà thuê. Ngày mới về làm ở Hà Đông, ông cụ ở một căn nhà trong một phố làng Đơ, có cái tên là phố Đông-Tây-Nam-Bắc.

Ngày tôi ra đời, thầy tôi mới bắt đầu tính chuyện mua đất, xây nhà.Tôi ra đời ở một căn nhà nhỏ cũng nằm trong phố Bóp Kèn, xế cửa rạp hát. Trước cửa nhà này có một cây bàng. Mẹ tôi nói cái nhau của tôi được chôn dưới gốc cây bàng đó.

Thầy tôi vẽ kiểu lấy tòa nhà của chúng tôi. Nhà khá rộng có vườn bao quanh, có lầu. Ngày đó anh em chúng tôi còn nhỏ, tòa nhà đó quá rộng. Hai mươi năm sau, khi anh em chúng tôi có vợ con, thầy mẹ tôi có cháu nội cháu ngoại, căn nhà thầy me tôi sống ở Saigon lại quá chật hẹp. Nhiều ngày chủ nhật, anh em tôi đem con về thăm ông bà, bầy trẻ đùa nghịch la hét làm cho ông mệt nhiều hơn là ông vui.

Ngay cạnh nhà chúng tôi ở số 119 Phố Bóp Kèn là nhà của hai nhân vật đặc biệt.

Hai ông già, tánh nết khác hẳn nhau .

Một ông tên là Đội Dĩnh. Trước kia, ông đi lính trong quân đội Pháp, đóng «lon» Đội. Ông về hưu và hai vợ chồng về ở dưỡng già tại đây. Tôi không nhớ hai ông bà có con cháu gì không. Nếu có, chắc là con cháu ông bà cũng kỵ bố mẹ, ít khi họ về thăm. Bà vợ còn hiền lành, ông cụ thật là ác ôn. Ông ta ích kỷ và ghét trẻ con kinh khủng. Ông không muốn cho bất cứ một đứa trẻ nào tới chơi trên khu đất trước cửa nhà ông.

Nhưng ở đó lại có một cây bàng lớn, tàn tán xum xuê. Mùa hè, bóng cây bàng mát rợp, trẻ con lại thích tụ tập ở đó đánh bi, đánh đáo. Ông Đội Dĩnh dọn đẹp bãi đất trước cửa nhà ông sạch như ly, như lau, không một ngọn cỏ.

Hình ảnh ông Đội Dĩnh cô độc, cô quả hơn hai mươi năm sau, còn hiện rõ trước mắt tôi: ông già chừng 60 tuổi, tóc vừa bạc vừa hói, râu bàn chải ngọn trắng nhiều hơn ngọn đen. Ông đã già, nhưng vì suốt đời sống kỷ luật trong quân ngũ, nên ông còn khỏe mạnh lắm. Đôi mắt sắc thường quắc lên nhìn anh em tôi, không chút cảm tình. Ông thường mặc áo cánh trắng, quần trắng, đi một đôi guốc gỗ vĩ đại. Đôi guốc gỗ của ông thuộc loại lớn, nặng nhất. Đế guốc đã dầy đến nửa gang tay, ông còn đóng thêm hai miếng cao su lốp ô-tô dầy cộm xuống dưới để đi cho lâu mòn, quai guốc được chằng bằng dây thép. Trước đôi mắt thời thơ ấu của tôi, ông có đi đôi guốc đó tới 10 năm cũng chưa mòn. Mùa đông, ông đội mũ ni có hai cái bạt che kín tai, buộc dây dưới cằm, bận áo bành-tô nhà binh còn nguyên dẫy nút áo đồng sáng loáng. Ông chỉ ra khỏi căn nhà lạnh lẽo đóng cửa im ỉm quanh năm để cầm một cái que xiên, đi xiên lá bàng rơi. Ông quý cây cối hơn người, nhất là hơn trẻ con, vì bọn trẻ con thường phá phách. Anh em chúng tôi có một kẻ thù đáng sợ. Kẻ thù đó là ông Đội Dĩnh.

Anh em tôi có một trận xô xát với ông.

Đó là ngày thầy tôi mua về hai cây bàng con để trồng trước cửa nhà.

Hai cây bàng được trồng trên phần đất nhà tôi, không dính líu gì đến ông Đội. Thầy tôi cũng không hề yêu cầu ông Đội trông nom, săn sóc, hay làm cố vấn dùm về việc làm sao cho hai cây bàng đó sống. Nhưng, vốn có tính yêu cây cối hơn người, ông Đội lẳng lặng xâm phạm phần đất nhà tôi, ông tự lãnh trách nhiệm săn sóc hai cây bàng đó.

Anh em tôi phá nghịch cây cối bên nhà chúng tôi, ông Đội Dĩnh cũng không bằng lòng. Một hôm Nguyệt, em gái lớn nhất của tôi, vừa tắm xong, ra đứng chơi trước cửa. Buổi chiều, gió mát, con bé đứng dựa lưng vào thân cây bàng. Không hay biết, không nghi ngờ gì hết. Một lúc sau con bé khóc thét lên. Bộ áo trắng mới thay trắng tinh của nó dính bê bết những...phân người.

Cứt vàng – Con bé khóc mếu chạy vào nhà. Không té ngã mà ngực áo nó, lưng áo nó, hai bàn tay con gái của nó đầy những cứt. Lạ nhỉ ? Tôi phóng ra cửa mở một cuộc điều tra....A... đây rồi! Thì ra trên thân cây bàng con trước của nhà dính đầy phân vàng... Có kẻ nào đã phết phân người lên đó ! ! !

Đứa nào chơi khốn nạn thế này ? Đúng là tên phết cứt vàng lên thân cây là để hại anh em chúng tôi! Vụ này làm cho anh em tôi xúc động và cay cú! Thằng Xe nhà tôi được động viên xách thùng nước ra rửa thân cây. Nhưng chúng tôi cũng không ngờ thủ phạm là Me sừ Đội Dĩnh ác ôn ở ngay bên nhà.

Cả tuần sau, thằng Xe nhà tôi tên là thằng Hướng, rình xem thằng khốn nạn nào nghịch tinh, để nện cho một trận. Thằng Hướng khỏe như trâu, đánh nhau ra trò. Nó chuyên cầm đòn gánh phạng nhau ở máy nước. Vỡ đầu, sẻ tai, vào bót nằm, đi nhà thương là chuyện thường. Nó tuyên bố «Tôi mà bắt được nó, tôi bắt nó ăn... cho cậu xem...»

Nhưng mà nhà thám tử cu-ly xe tay nhà tôi không có dịp bắt được quả tang thủ phạm. Bởi vì, thủ phạm ra tay hành động thần xuất, quỷ nhập. Từ sáng tinh sương, trong lúc nhà thám tử cu-ly-xe-tay-nhà-Omic còn ngủ như chết, ngáy như sấm, thủ phạm mới xuất hiện ra tay phết phân vàng óng vào thân cây. Anh em chúng tôi ngại quá không đứa nào dám lảng vảng, chạm tay vào thân cây bàng bị tẩm độc nữa.

Mãi đến nửa tháng sau, Bà Sính – bà hàng nước mở quán ngay trên phần đất dưới gốc cây bàng lớn nhà ông Đội Dĩnh, mới bí mật tiết lộ cho mẹ tôi biết một vụ động trời. Thủ phạm vụ phết “bơ” vào thân cây bàng nhà tôi, để ngăn không cho trẻ con đến gần, không phải ai xa lạ...

Thủ phạm chính là ông Đội Dĩnh.

Ác ôn chưa! Ai mà ngờ..! Nhưng thầy mẹ tôi cũng không thể giận ông Đội, vì ông ta làm vậy là để cho hai cây bàng mới trồng được sống. Mà quả nhiên hai cây bàng sống mạnh thật. Cây lên mạnh và chẳng bao lâu sau, đã ra mầm non rồi lá xanh và có tàn, có tán.



Mẹ tôi phải có lời nói với ông Đội, tình trạng phết “bơ” vào thân cây bàng mới chấm dứt.

Nhưng anh em tôi căm thù ông Đội Dĩnh ra gì. Tôi trả thù Đội Dĩnh bằng cách «dĩ độc, trị độc». Tôi cũng lấy phân – do chính tôi sản xuất đến phết lên cửa nhà kẻ thù.

Tôi ra tay hành sự vào khoảng 10 giờ một đêm trời đen kịt không trăng, không sao. Tôi run, hồi hộp hơn cả những phút tôi dùng chìa khóa giả mở tủ ăn cắp tiền của bà cụ. Cầm cực “bơ” trong tập báo nhật trình, tôi tiến thẳng tới trước cánh cửa gỗ quanh năm đóng im ỉm, ấn... đầy vào lỗ khóa.

Sáng hôm sau, ông Đội phát giác ra vụ cửa nhà ông có đầy phân người. Ông tỏ ra chịu chơi, xách nước rửa nhưng không chửi lớn tiếng, ông chỉ chửi lầm bầm trong miệng. Chắc ông biết là anh em tôi trả thù.

Từ đó, ông Đội ác ôn có ác cảm với anh em chúng tôi nhiều hơn. Biết thế, tôi lại càng trêu tức ông ta. Muốn trêu ông già không khó, chúng tôi chỉ chờ lúc nào vắng người là sang đập cửa nhà ông ta thùm thụp. Tôi còn ngang nhiên chờ ông ta lọc cọc đôi guốc gỗ đế cao tổ bố ra gần tới cửa mới chạy. Tôi không chạy về nhà tôi. Tôi phóng thẳng lên phố. Nửa giờ sau tôi mới về. Ông ta, có chặn đầu tôi cũng không được.

Tôi có cái tật đùa dai.

Nói cho đúng ra tôi thâm.

Cái gì làm được, khoái cho mình, tôi làm tới mãi. Điển hình nhất là chuyện bắt nạt đàn bà, đòi đàn bà cho yêu tôi tham «số dách». Người đàn bà nào yêu thương tôi, để cho tôi biết là yêu thương tôi, chiều chuộng tôi là bỏ mẹ với tôi. Tôi «hành» nàng không biết đến giới hạn nào là cùng. Tôi thích hành hạ đàn bà, thích làm cho đàn bà khổ sở. Thú lắm. Khoái lắm. Giả vờ như mình bực bội đau khổ để làm cho đàn bà phải sợ, phải năn nỉ, trong khi thực ra mình chẳng đau, chẳng khổ gì hết, là một cái thú mà chỉ có những người đàn ông thanh tao nhất, những bậc «văn-nghệ-sĩ-quân-tử» ở cái cõi đời này mới có. Tình trạng hành hạ mà tôi nói đây, thích thú, thống khoái đây, là sự hành hạ đàn bà về tinh thần. Tôi không đến nỗi « perverts » như mấy anh Tây già, tạo thống khoái bằng cách quất roi mây lên những đồi mông tròn của đàn bà. Mặc dầu, đến tháng này, hôm này, khi trưởng thành, khi sắp giã từ tuổi thanh xuân để bước vào tuổi già, sắp đặt những bước chân đầu tiên đi xuống con đường đời đổ dốc – thăm thẳm, dưới kia là thung lũng mơ hồ của cõi chết – tôi thấy rằng, nghĩ rằng nếu mình có can đảm đánh đập đàn bà, làm cho đàn bà đau đớn về thể xác, da thịt, làm vui, chắc cũng thú lắm.

Tôi tham lam về tình cảm nhưng không tham tiền – Được cái đó kéo lại – Tôi tham lam tình yêu – Khi đang yêu, tôi đã tính đến cuộc ái ân sắp tới – Đang lúc người đàn bà tôi yêu nồng nàn, mê ly nhất, tôi đã ghé tai nàng, đạo đạt lời thỉnh nguyện – «Xong... nữa, em nhá, cho anh nữa nhá!! » Về sau này, tôi tham lam như thế – Hồi còn nhỏ, tật tham lam «chưa ăn đã sợ thiếu, chưa xong đã muốn thêm» ấy được biểu lộ bằng sự đùa dai.

Trả thù ông Đội Dĩnh bằng cách trét phân lên cửa nhà ông ta một lần, tôi chưa bằng lòng – Tôi tái diễn đến ba lần – Mẹ tôi không hay biết gì về chuyện này hết.

Cho đến một buổi chiều – cũng lại là một buổi chiều đẹp trời – cay cú quá, không thể chịu nổi nữa – nhà ông Đội không có người làm, chính ông ta phải thân chinh xách nước rửa cửa – cơn giận của ông Đội bộc phát, ông ta «a la xô» sang tấn công anh em chúng tôi bằng võ lực.

Nguyệt, em gái tôi, đang chơi rải gianh với mấy đứa bạn của nó trước cửa, bỗng bị ông Đội nhào tới, túm tay kéo xềnh xệch về phần đất nhà ông ta. Tôi đang chơi gần đó, nghe tiếng em gái tôi, tôi quay lại thấy con bé đang bị kẻ thù bắt cóc. Tôi cũng cay cú anh già này quá rồi. Tôi giật cây gậy đánh khăng trong tay thằng bạn, nhẩy đến, cứ thế tôi đập túi bụi vào Me Sừ Đội Dĩnh.

Tôi đánh ông ta không đau lắm, nhưng cũng đủ để ông ta phải buông Nguyệt ra. Anh em tôi dắt nhau chạy về nhà, đóng cửa lại – chúng tôi cũng sợ chớ – chúng tôi là con nhà có giáo dục biết là đánh một ông già, dù ông già đó có điên khùng đến mấy đi chăng nữa, cũng là hành động bậy rồi. Vì vậy, anh em tôi cố thủ trong nhà không chửi ra. Tôi chỉ nói lớn cho ông ta nghe rõ.

– Già đàng hoàng để cho trẻ người ta kính trọng – già có làm sao thì người ta mới khinh...

Vụ xung đột ấy rồi cũng đến tai mẹ tôi. Anh em tôi mách mẹ. Câu chuyên, do chúng tôi kể lại, vẽ ra hình ảnh một ông đội lính «đắc kỷ hại nhân» điên dại và ăn người! Nghĩa là bao nhiêu lỗi đều đổ hết lên đầu ông đội. Anh em tôi thật ngoan, chính ông ta ra gây sự. Tôi nhắc lại nguyên do từ vụ ông ta phết phân lên cây bàng.

Trong lúc láu táu, tôi nói hớ mấy câu, mẹ tôi hỏi ngay – bà cụ bắt nọn thật tài.

Tôi không tài nói dối hoặc dấu diếm sự thật. Nói thế không phải là tôi không biết nói dối hoặc không bao giờ dấu chuyện. Có chăng, tôi chỉ nói dối hoặc dấu được đàn ông. Tôi gần như không thể nói dối hoặc dấu chuyện được với đàn bà, nhất là với hai người đàn bà : mẹ tôi và vợ tôi.

Mẹ tôi bắt nọn :

– Chết thật thôi. Thế ra mày đem phân sang bôi vào cửa nhà ông Đội đó hả ?

Tôi tự bào chữa :

– Tại ông ấy đem phân sang bôi vào cây bàng nhà mình... không... ấy lại thì nhà mình thiệt...

Câu chuyện, rồi cũng bỏ qua. Anh em tôi hối hận về vụ xung đột với ông già nên tránh mặt ông ta. Ông Đội chắc cũng ngán anh em tôi nên không gây sự nữa.

Hai ông già nhà ở sát vách nhà tôi những năm tôi thơ ấu đó thật ác ôn. Từ ngày đó tới năm này, tháng này, tôi chưa từng gặp một ông già nào «ích kỷ» cho bằng ông Đội Dĩnh . Ông ta ích kỷ và ghét người chung quanh đến nỗi ông ta không muốn cả người khác đi qua vỉa hè trước cửa nhà ông. Buổi tối, ông đem mấy cây củi ra đóng trên mảnh đất trước cửa nhà, cố ý để cho người đi qua vấp ngã. Bên nhà ông ở một chỗ ẩm nước, bám rêu, ông đem nước tiểu ra đổ lên đấy, cho rêu thêm trơn.

Một hôm, có bà bún ốc gánh đi qua, dẫm đúng chỗ rêu trơn, té chỏng gọng, quăng gánh hàng đổ tung tóe ... Bà này thấy rõ là chủ nhà cố tình làm hại mình nên cay cú cứ đứng trước cửa réo «ba đời thằng khốn nạn, ác nhân ác đức đem nước tiểu ra đổ ở đây cho bà đi bà ngã, sao mày không đem nước tiểu đổ lên bàn thờ ông, thờ cha mày...»

Chửi thế nhưng con người «ích kỷ» Đội Dĩnh vẫn không dám ra mặt.


tám


Nhân vật thứ hai gần nhà tôi nổi tiếng khắp tỉnh. Đó là ông Đồ Điện, tức cụ Phan cha đẻ của hai anh Phan Anh, Phan Mỹ.

Anh em tôi sợ cu Điện lắm. Ông ta chuyên môn dọa trẻ con, thích thú với trò dọa trẻ con. Nhiều nhà dùng ông làm Ngáo ộp để dọa con cái – «Mang nó sang nhà Cụ Điện »... Hoặc – « Kìa cụ Điện cụ ấy đến kìa...» Chỉ nghe đến danh «Cụ Điện », bọn con nít chúng tôi đã sợ đến nín khóc ngay lập tức.

Ông Đồ Điện người thấp, nhưng to ngang, đầu trọc, nói bô bô, oang oang, ông chuyên mặc áo cánh nâu hoặc trắng, quần xắn lá tọa ống thấp ống cao, đi đâu cũng xách cây ba-toong. Gặp bọn trẻ con, ông bắt đứng ở giữa phố, xếp hàng trước mặt ông, khi ông la – « Oong...» cả bọn ngồi thụp xuống, ông la – « Đơ...», cả bọn lại đứng lên. Cứ thế mà ông hành. Thằng bé nào mặt cũng tái xanh, tái xám, đứng lên ngồi xuống theo tiếng hô như những thằng người gỗ.

Ông Đồ Điện người miền Trung, phiêu bạt ra Bắc dạy học. Ông hay uống rượu, mặt thường đó khé, ông ta còn ăn trầu như đàn bà. Những ông Đồ Nghệ đa số đều tánh nết khó chịu, hay dùng lời nói làm cho người khác phải đau đớn. Ông Đồ Điện, ngoài cái tật chung của những ông Đồ xứ Nghệ ngày xưa ấy, còn hơi điên khùng nữa. Có người nói ông điên là vì yêu nước nhưng bất đắc chí. Tôi hồi ấy còn nhỏ nên tôi không có nhận xét gì về nguyên do chứng điên của ông Đồ Điện. Tôi chỉ còn nhớ, tôi sợ ông ta. Đi trong phố, trông thấy ông ta đi đằng xa, lọc cọc chống cây ba-toong, là tôi rẽ sang đường khác. Tôi không ưa bị ông ta «Oong...Đơ», nhưng rủi gặp ông ta để ông ta « Oong...đơ», tôi lại không dám phản đối hay bỏ chạy.

Ông Đồ Điện có mở lớp dạy học ở nhà. Học trò ông là năm bẩy thằng bé con những nhà quen gần đấy và con cháu của ông. Tôi nhớ có lần ông sang nhà tôi, ngồi nói chuyện với thầy tôi và tôi lẩn quẩn gần đó nghe lóm được cái nguyên do tại sao ông đặt tên cho hai con là Phan Anh, Phan Mỹ :

– Ông Phán thấy không ?? Bây giờ nước Mỹ, nước Anh là hai nước mạnh nhất, giầu nhất hoàn cầu. Nước nào cũng sợ chúng...Vì thế tôi đặt tên hai thằng con tôi là thằng Anh, thằng Mỹ... Để tôi có quyền gọi chúng nó bằng thằng...Thằng Anh, thằng Mỹ... Tôi có quyền chửi bố chúng nó... Ha..Ha...

Ông Đồ Điện, lẽ tự nhiên là nghèo. Hình như bà vợ ông mất sau khi sanh ra hai mạng Phan Anh, Phan Mỹ. Ông lại có nhiều cháu. Một hôm, tôi chứng kiến cái cảnh một anh cháu của ông mang rương quần áo ra học ở Trường Bưởi. Trường hợp đặc biệt, anh được ông Đồ gọi một chiếc xe kéo, chở anh và cái rương quần áo, ra bến xe điện. Chính tay ông Đồ khiêng cái rương đặt lên xe cho anh cháu. Rồi xe đi, ông Đồ phanh bụng xắn quần đẩy đằng sau xe trong lúc anh cháu ngồi trèn dở khóc, dở mếu. Ông Đồ đẩy xe cho cháu như vậy suốt từ nhà lên đến bến xe điện ra Hà Nội.

Năm đó Phan Anh, Phan Mỹ bắt đầu nổi tiếng là học giỏi. Thiên hạ đã nghĩ là hai anh đó sẽ làm một cái gì sau này. Họ đã là giáo sư dậy học ở Hà Nội. Nhưng tôi nhận thấy hai anh ít khi nào vào Hà Đông thăm bố già. Dường như suốt mấy năm thanh bình tôi đã lớn, biết ghi nhận và sống ở Hà Đồng, gần sát bên nhà ông Đồ Điện, tôi chỉ thấy Phan Anh, Phan Mỹ về thăm ông cụ có mỗi một lần, vào dịp Tết Nguyên Đán.

Nhà ông Đồ Điện còn ở cuối phố Bóp Kèn hơn nhà tôi. Đi qua nhà ông Đồ là đến tòa biệt thự lớn nhà lầu, vườn hoa, hồ sen mà tôi đã tả. Nhà lớn của ông Bố Hành. Nhân vật Bố Hành là môt thứ «tham quan ô lại» điển hình : trông hệt như nhân vật Bang Bạnh của những báo Phong Hóa, Ngày Nay : bụng phệ, mặt phè phè, cổ bự bằng mặt, da đen sì, môi dầy như đỉa trâu, mặt Quan ngu đần, tham lam ra mặt. Cả khu phố Bóp Kèn qnanh nhà tôi đều ghét ông Bố Hành. Người ghét Quan Bố nhất là ông Đồ Điện. Và ông Bố cũng hận ông Đồ nhiều. Vì ông Đồ hay làm thơ chửi xỏ ông Bố Hành, liệt ông Bố Hành, cũng như ông Thiếu Hoàng, vào loại tham lam tàn dân, hại nước.

Dân Bóp Kèn ghét ông Bố Hành không phải là vì có tinh thần yêu nước hay ghét tham lam, ô lại gì hết. Dân Bóp Kèn, vào thời đó, theo tôi, hiền như đất, cam phận muôn năm không khác gì 10.972.034 người dân tỉnh nhỏ ở xứ Bắc Kỳ. Dân Bóp Kèn ghét ông Bố Hành vì một chuyện bẩn.

Chuyện bẩn đó, lẽ tự nhiên, có dính tới ông Năm Diệm và một chất dính không mấy ai ưa : phân – Chuyện đổ thùng. Số là khu phố nhà tôi đằng sau là đồng. Ruộng lúa hoặc thả rau muống nhờ nước cống trong những nhà gần đó chẩy ra. Từ trước, nhà xí mỗi nhà đều có cái lỗ, để phu đổ thùng đứng ngoài thò cây gậy có móc vào kéo thùng cũ ra, đẩy thùng mới vào. Lối đổi thùng này cho dân khu phố tôi được cái lợi là không cần mở cửa cho phu đổ thùng đi qua nhà. Đỡ phải ngửi mùi thối. Nhưng ông Bố Hành ác ôn, ông mua hết khu ruộng sau khu phố nhà tôi rào lại, lập hàng rào tre làm trại trồng cây ăn trái. Thế là cả khu phố bị bịt kín đằng sau, phu đồ thùng không có lối phải đi vào nhà bằng cửa trước.

Thối om. Dân phố cay cú, chửi ông Bố Hành. Nhưng chỉ chửi trong nhà với nhau, chửi cho vợ con nghe thôi. Vì ông Bố Hành hành động hợp pháp, đúng quyền sở hữu, cóc ai làm gì được. Trong số những nhà bị bịt lối sau đó có nhà tôi, nhà ông Đồ Điện. Ông Đồ bèn làm một bài thơ, dưới ký tên «Vô Danh Thị», đem ra dán ở gốc cây bàng trước cửa ông Đội Dĩnh.

Bà con hàng phố rủ nhau ra đọc, rồi học thuộc lòng và đọc cho nhau nghe, có lẽ thích thú, hả dạ vì trò báo thù vặt nặng mầu sắc dân tộc bị đè nén, áp bức ấy lắm. Ai cũng biết bài thơ đó là tác phẩm của ông Đồ Điện. Chính ông Đồ cũng không chối điều đó. Ông uống rượu say. Mặt đỏ tưng bừng, chờ thầy tôi đi làm về, xách ba-toong sang ngồi trên bộ sa-lông Tầu, rung đùi ngâm loạn lên bài thơ chửi ông Bố Hành. Tôi nhớ bài thơ đó có câu : “Chặn đường lấy cứt quanh hàng xóm...”

Ông Đồ có vẻ khoái chí, thích thú vì câu thơ này lắm “Chặn đường lấy cứt quanh hàng xóm...” có thể hiểu theo hai nghĩa. Một nghĩa như tôi vừa kể trên đây. Nghĩa thứ hai là... «chặn đường lấy cứt của người hàng xóm». Chỉ có loài chó dữ thì mới có hành động «ghê gớm» đến như thế.

Ông Điện còn là tác giả của nhiều bài thơ nặc danh khác xỏ xiên ông Thiếu Hà Đông được truyền tụng trong tỉnh. Trong số có bài – « Cụ Thiếu, ông Thừa » mà tôi vì nhỏ quá, nên không nhớ được lời.

Ông Đồ Điện nhân vật Hà Đông duy nhất đã được vào ngồi trong văn học sử. Trong cuốn Giai Thoại Làng Nho của Đại ca Phùng Tất Đắc có một ‘xa-pít” riêng vẽ nhân vật Phan Điện, tức ông Đồ Điện vậy. Phùng Đại Ca có sưu tầm một chuyện về đời tư Phan Điện có liên can đến ông Thiếu Hoàng Trọng Phu như sau:

Tỉnh lỵ Hà Đông có trại lính Garde Indigène, tên là Lính Khố Xanh. Lính Khố Xanh không «hách» bằng Lính Khố Đỏ, là loại lính Việt Nam nhưng thuộc Quân đội Pháp. Đơn vị Lính Khố Xanh thuộc tỉnh lỵ Hà Đông có một viên Giám Binh người Pháp chỉ huy.

Ngày ngày những Chú Cai, Thầy Đội « răng đen, mã tấu » dẫn những anh lính mới tò te – toàn là nông dân đánh bạc, thiếu nợ, hoặc trốn việc, ra tỉnh đầu quân – tới con đường vắng trước cửa Nhà thương tập đi «ắc, ê». Những anh lính mới này đều đi chân đất, chưa được Nhà nước phát giầy săng-đá, chưa biết cả chân phải là chân nào, chân trái là chân nào, nên phải buộc lá chuổi vào chân trái để nhớ bước đầu sau tiếng hô – « Ăng na văng... mác..» là phải bước chân buộc lá chuối, không thì bị xếp bắt đứng nghiêm, đánh cho hai ba cái bạt tai nổ đom đóm mắt.

Chuyện ông Đồ Điện xem lính Khố Xanh tập đi có thể tin được lắm, vì sau đó, chắc là thấy cái trò tập lính khôi hài quá; ông bầy ra trò «Ắc,Ê» bắt tụi lỏi con chúng tôi đứng lên, ngồi xnống để riễu.



Mới hai mươi năm qua, tôi viết về những ngày thơ ấu của tôi với những hình ảnh còn mới tinh, những chuyện xảy ra từ hai mươi năm mà tôi tưởng như mới xảy ra hôm qua.

Vậy mà tôi đã có nhiều lầm lẫn. Tôi nhớ một vài chuyện, kể lầm một vài tên tuổi người ngợm ngày xira. Lý do : tôi có tật nghệ sĩ, vừa nhớ lâu vừa mau quên, tôi không coi một việc gì là quan trọng, trừ tình yêu, trừ gia đình lớn và gia đình nhỏ của tôi, nghĩa là trừ cha mẹ, vợ con anh em tôi.

Chẳng hạn như nhân vật quan lại khả bỉ ở gần nhà ông Đồ Điện, nạn nhân của ông Đồ thời ấy không phải là ông Bố Hành như tôi vừa kể, mà là ông Tuần Phủ Đ.Q.G.

Ông Bố Hành chỉ là người đến ở thuê tòa nhà của ông Tuần G., một thời gian mà thôi.

Ông Tuần G. mới là người «chặn đường lấy cứt quanh hàng xóm ». Bài vè do ông Đồ Điện làm ra, dán ở gốc cây bàng, để sỉ vả hành động bẩn của ông Tuần gồm 4 câu :

Trăm năm bia miệng Phố Bóp Kèn.

Có thằng Cu lớn dạ đê hèn

Chặn đường lấy cứt quanh hàng xóm

Trăm năm bia miệng Phố Bóp Kèn.

Ổng Tuần G. được gọi là Cu Lớn. Dường như có một lần nào đó, ông hách dịch chửi bọn dân hàng phố thấy ông đi ngang mà không chào bằng câu – «Cụ Lớn đây mà chúng bay không biết sao?». Câu nói này đến tai ông Đồ Điện. Từ đó, ông Đồ chọn Cụ Lớn làm đối tượng và nạn nhân. Mỗi lần gặp Cụ Lớn đi qua phố, ông Đồ nắm ngay lấy một đứa bé – bất cứ là thằng bé nào – và nói bô bô lên, ông Đồ có giọng Xứ Nghệ rất lớn, sang sảng như chuông, bà con đôi bên hàng phố đều nghe rõ :

– Mày biết không... lúc mày còn bé, cái cu của mày còn bé, thì người ta gọi mày là thằng cu bé, đến lúc mày lớn, cái con cu của mày lớn, thì người ta gọi là thằng Cu Lớn...

Lần nào vớ được Cụ Lớn đi qua, ông Đồ cũng biểu diễn trò giải thích về cu lớn, cu bé như thế. Nhiều lần Cụ Lớn Bà cùng đi với Cụ Lớn Ông, Cụ Lớn Bà mặt cứ xám xịt lại vì giận.

Nếu Cụ Lớn đi qua bằng xe tay nhà, thoáng trông thấy, ông Đồ chạy ra cửa, gọi toáng lên :

– Cu Lớn ơi, Cu Lớn... Cu Lớn đi đâu đấy?? Cu lớn đi Hà Nội hầu việc quan đấy à??

Cụ Lớn uất lắm, nhưng uất mà không làm gì được ông Đồ Điện.

Ngày Cụ Thiếu Hà Đông về hưu, từ giã tỉnh Hà Đông để về dưỡng lão ở tòa nhà đường Cột Cờ Hà Nội, nhường ghế Tổng Đốc Hà Đông lại cho ông Vi Văn Định – đến ngày ông Tổng Đốc Hồ Đắc Điềm về thay ông Tổng Đốc Vi là Việt Minh cướp chính quyền – dân Hà Đông nhớ công đức Cụ Thiếu, làm lễ tiễn đưa linh đình. Ông Đồ Điện làm bài thơ tức cảnh:

Cụ Lớn hàm cao tới cột cờ.

Ra về thiên hạ khóc như mưa

. . . . . . . . . . .

Quan lại nhiều anh cũng giả vờ

Tiệc rượu chẳng qua bầy để chén

Cổng chào bắt chước lối Tây đưa.

Những người tiễn Cụ, yêu gì Cụ

Yêu Cụ tiền trăm, bạc vạn thừa.

Bài thơ trên dây do mẹ tôi đọc lại, ông Đồ Điện làm được bài thơ nào hay,thường sang nhà đọc cho mẹ tôi nghe. Hai người trò chuyên rất tương đắc, vì mẹ tôi hồi xuân sắc là một phu nữ tương đối tinh anh. Mẹ tôi được ông ngoại tôi dạy chữ Hán, dạy làm thơ phú, biết làm thơ và có tâm hồn nghệ sĩ. Tôi thừa hưởng cái nghệ sĩ tính ấy của mẹ tôi. Hai mươi năm sau, mẹ tôi còn nhớ bài thơ Tiễn Cụ trên đây của ông Đồ, chỉ quên có một câu.

Và, cũng do mẹ tôi nhắc lại cho biết, vụ ông Đồ đẩy xe tay cho cháu đi học không đúng, ông Đồ đẩy xe cho cho con trai, tức là cho Phan Anh.

Một năm nghỉ hè, Phan Anh về sống mùa hè với Bố ở Hà Đông. Đến khi hết hè về Hà Nội, anh có một cái rương quần áo nên gọi xe tay tới đi.

Đợi cho Anh lên xe ngồi đàng hoàng rồi ông Đồ mới ở trong nhà đi ra quát đuổi người phu xe đi và bước vào cầm lấy càng xe để... kéo. Phan Anh vội nhẩy xuống xe – Dân hàng phố kéo nhau ra xem – Phan Anh không dám đi xe nữa, đành phải gọi thằng cháu ra cùng khiêng cái hòm lên đến xe điện Đầu Cầu.



Ông Đồ điện có oai dọa trẻ.

Tôi chỉ thấy có một thằng không sợ. Nó còn chửi ông Điện một trận mà không bị tai hai gì nữa là đằng khác. Thằng đó là thằng em con ông chú ruột tôi – Tên nó là thằng Yên.

Yên hơn tôi năm tuổi.

Chú tôi mất sớm. Nhà chỉ có mình nó là trai. Hai đứa em gái nó có tên rất quê, rất Việt Nam là cái Mơ cái Mận. Nhà nghèo. Nó được sang Hà Đông, ở nhà tôi, để đi học. Nó có vẻ tài hoa, ăn nói có duyên nhất trong bọn anh em chúng tôi.

Một hôm, không hiểu vì lý do gì, Yên bị ông Đồ Điện nắm cổ, lôi vào nhà bắt nằm sấp xuống đất, trụt quần ra lấy roi mày quất cẩn thận. Hình như Yên đang đang đánh bi với một lũ tiểu yêu lau nhau ngoài đường, ông Đồ Điện xách «ba-toong» đi qua, hò « ắc..ê..». Cả bọn tiểu yêu líu ríu vàng lệnh, đứng lên ngồi xuống răm rắp , chỉ có thằng Yên em tôi là cười hô hố và bỏ đi phớt tỉnh như người ngoại cuộc.

Tự nhiên bị một lão không phải là cha chú mình, không liên lạc với gia đình mình, không dây mơ, rễ muống gì với mình, bắt nằm sấp, trụt quần ra đánh cẩn thận, thằng em tôi tức quá. Đến lúc nó bị đánh xong ôm quần chạy về đến cửa nhà tôi, nó đứng đó chửi toáng lên :

– Tiên Sư cha thằng... Cụ Điện... Ông làm gì mà mày đánh ông, Đ.M. thằng... Cụ Điện..!

Anh em tôi sợ xanh mặt.

Hành động của thằng Yên là một hành động nổi loạn – Chúng tôi không thể nào tưởng tượng được rằng ở cái cõi đời này, có thằng trạc tuổi chúng tôi lại dám gọi «Vị hung thần phố Bóp Kèn» bằng thằng và dám chửi lớn cho bà con hàng phố nghe tiếng «tiên sư thằng... Cụ Điện »

Ông Đồ nghe chửi, xách ba-toong huỳnh huỵch chạy sang nhà tôi. Thằng Yên tay ôm quần chạy vào nhà. Trong nhà tôi có một căn phòng xép, dùng để chứa đồ, trong nhà ngang gần bếp – Yên chạy vào đó khoá cửa lại – Ông Đồ dùng vai «a-la-xô» vào cánh cửa rầm rầm – Nhưng cửa chắc quá – ông có huých đến gẩy xương sườn cánh cửa cũng không hề hấn gì – Sau cùng, ông Đồ đành xách ba-toong rút lui.


chín


Với những thằng liều, ông Đồ Điện cũng đành chịu bó tay không làm gì được. Thằng Yên đã thắng. Có lẽ nó là thằng thiếu niên duy nhất ở Hà Đông dám chửi ông Đồ Điện. Sau khi dùng thịt huých vào cảnh cửa không ăn thua gì, ông Đò về uống rượu rồi nằm lăn ra ngủ. Chắc ông không quên vụ bị chửi, nhưng ông giả vờ như quên. Tuy dở điên, dở khùng, ông Đồ cũng còn khôn lắm. Ông chỉ dở điên chửi bọn quan lại làm đầy tớ Tây, hách xằng với dân chúng. Có lẽ ông còn thán phục ngầm tên thiếu niên đã dám chửi ông nữa là khác. Vì từ đó, ông để yên cho thằng em tôi. Ông làm như không biết đến nó, như nó chưa hề chửi ông lần nào.

Yên, em họ tôi, là thằng có tâm hồn nghệ sĩ, yêu gái đẹp. Nó tán gái rất có duyên. Nhưng bọn con gái dễ mê nó, dễ bị nó quyến rũ là bọn gái quê, gái hàng xén bán kim chỉ, giải rút ở các chợ nhà quê. Nếu nó có phương tiện để học cao, đỗ đạt bác sĩ kỹ sư chắc nó sẽ thành công lắm trong đời. Song, như tôi đã nói, Yên là con nhà nghèo. Chú ruột tôi mất sớm. Nó là con trưởng. Cái Mơ, cái Mận cùng vợ Yên phải đi cày, cấy, trồng khoai trồng ngô để sống, để nuôi Yên ăn học. Yên đậu xong bằng Tiểu học – thời đó gọi là bằng Certificat d’Étude Primaire – tắt và quê mùa là Xép-phi-ca – là thôi, để về làng làm Hương Sư dậy bọn con nít làng học từ A,B,C cho đến hết lớp Ba.

Làng tổ của tôi nghèo, ít ruộng. Làng Bụi – tên chữ là Linh Qui – tổng Kim Sơn, phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, gần con sông Đuống. Làng tôi nằm giữa sông Đuống và đường số 5 nên bị tàn phá, hủy hoại tang tóc nặng nề trong cuộc chiến tranh Việt – Pháp vừa qua. Con đường số 5 nối liền Hà Nội – Hải Phòng là đường sinh tử của Hà Nội. Quân đội Viễn Chinh Pháp bảo vệ đường số 5 thật kỹ. Ngày chiến tranh «bùng nổ» – nói theo danh từ thời ấy, người ta thường gọi ngày khởi đầu cuộc chiến tranh Việt Pháp ở Bắc Việt là «ngày bùng nổ» – cuộc hành quân thứ nhất mà quân đội Viễn Chinh Pháp mở ở Bắc Việt là hành quân chiếm đường số 5, cho Hà Nội và Hải Phòng liên lạc dễ dàng. Những làng mạc ven hai bên đường số 5 bị đốt phá trước nhất. Đồng bào ta ở ven đường số 5 bị bắn giết, hãm hiếp trước nhất.

Đường số 5 là con đường nổi tiếng có máu đổ nhiều nhất Bắc Việt. Những người đi kháng chiến chỉ nghe nói đến đường số 5 cũng đã đủ sợ hãi và bồi hồi.

Thầy tôi là con trưởng, ông có hai em trai và một em gái. Chú Ba tôi làm Giáo học. Chú Hai tôi ở nhà làm ruộng. Ồng sinh ra Yên, và vì ở nhà làm ruộng nên cũng chẳng có chức tước gì. Ông chỉ được gọi là ông Buồm.

Có một điều đáng kể là không hiểu đất cát làng tôi ra làm sao, nhà tôi đến thế hệ tôi, đa số là độc đinh. Nghĩa là mỗi nhà chỉ có mỗi một anh con trai. Riêng thầy tôi sanh được hai anh em chúng tôi là trai. Nhà tôi như vậy đáng được kể là «đông đinh » nhất họ.

Chú Buồm tôi sinh được một mình thằng Yên. Chú Giáo tôi sinh được thằng Lễ. Hai ông có vài đứa con gái nữa. Rồi thôi. Bọn thằng Yên, thằng Lễ đều sang Hà Đông ở nhà tôi đi học. Thầy tôi nuôi hết. Các Thím tôi thỉnh thoảng sang thăm con, chỉ phải gánh sang vài thùng gạo ngon đóng góp tượng trưng mà thôi. Trong những năm thanh bình ấy, tôi còn một thằng em nữa ở nhà quê sang ở nhờ đi học. Thằng đó là thằng Châu, con ông Chú họ tôi. Tôi với thằng Châu không gần bằng với hai thằng Yên, thằng Lễ. Tôi lại ghét thằng Châu, vì nó hèn hay nói dối, chơi ăn người.

Nó trắng trẻo theo lối công tử bột. Quần áo lúc nào cũng trắng lốp. Mẹ tôi cũng không ưa thằng Châu vì những trò ti tiện tiểu xảo của nó. Chẳng hạn như nó giặt lấy quần áo của nó. Xà-bông của bà nó lấy sát lên quần áo kịch liệt, dùng không nương tay, phí phạm ra mặt. Xà-bông của mẹ nó mua cho nó thì nó cất đi, dùng rất ít. Những người bần tiện, ăn người như nó khá làm sao được. Tôi ghét thằng Châu thậm tệ.

Có một chuyện xẩy ra làm tôi thêm ghét thằng Châu, thương thằng Yên.

Thằng Châu cũng là con một, bố nó cũng chết sớm.

Ngoài việc chỉ sinh được một thằng con trai, các ông chú tôi còn có cái đặc biệt nữa là chết non. Ông Chú họ tôi mới sinh được có một đứa con trai đã qua đời. Thằng Châu là con một, nó không có cả chị em gái, nên thím tội chiều nó lắm. Nhà nó lại giàu.

Một buổi chiều thứ bẩy, bọn thằng Yên, Châu, Lễ đánh bi với nhau trong vườn. Thầy thôi nghỉ làm, ra vườn cầm kéo xén mấy cây cảnh. Chẳng hiểu có chuyện xích mích sao đó, thằng Châu mách với thầy tôi – «Thưa Bác... anh Yên anh ấy đánh cháu...»Thằng Yên đang ngồi xổm đánh bi. Thầy tôi thuận chân đá nhẹ vào đít nó một cái – « Sao mầy cứ cậy lớn mày đánh nó...»

Vì là con nhà nghèo,Yên có mặc cảm bị khinh, bị coi rẻ không bằng thằng Châu. Nó lẳng lặng bỏ về quê. Nó đi bộ từ Hà Đông ra Hà Nội, đi bộ qua cầu Sông Cái, đi bộ trên đường số 5 về tận quê, trong túi nó không có một xu uống nước.

Ngày xưa, hai mươi nhăm năm trước, đường Hà Nội – Hà Đông chỉ cách có 11 cây số – không bằng Saigon tới Thủ Đức nhưng với tôi, con đường ấy xa vời. Hà Nội thật xa, không đến nỗi như ở tận một thế giới nào khác, nhưng xa, thật xa. Mỗi năm, anh em tôi được ra Hà Nội nhiều lắm là hai lần. Một lần gần Tết, đi may quần áo, mua giầy. Ông cụ tôi ưa đi giầy Bata, giầy da chứ không phải là giầy vải, anh em tôi mỗi thằng có một đôi giầy da cá sấu, đế da đóng gá sắt đi cộp cộp. Thời đó, trẻ con, người lớn toàn đi giầy đế kếp, tên nào đi giầy đế da là hách lắm. Cũng như trong những gia đình đông anh em trai khác, tôi là em nên chuyên phải thừa hưởng quần áo giầy của anh tôi. Cũng may, mỗi năm chúng tôi cũng nhiều lắm là ba, bốn lần diện đồ long trọng, đi giầy Tây, cho nên những bộ đồ do anh tôi mặc chật, được «hạ bệ» cho tôi vẫn gần như mới tinh.

Mỗi năm chừng một lần, cả nhà tôi ra Hà Nội ăn cao lâu. Tôi nhớ lần nào ông cụ cũng cho vào Đông Hưng Viên. Lên lầu. Cầu thang gỗ có hai tay vịn bọc đồng vàng loáng. Hầu sáng Tầu bận đồng phục trắng. Gia đình tôi lấy một phòng riêng. Trong lúc ông bô gọi thức ăn, anh em tôi đùa nghịch, chạy ra, chạy vào, chui xuống dưới gầm bàn.

Khi các món ăn được mang lên, chỉ có hai ông bà ăn. Bọn anh em chúng tôi mỗi đứa đã đớp hai cái bánh rán – bánh rán đặc biệt của Đông Hưng Viên thật vô song, da bánh mầu vàng ngà, vừa dầy, vừa ròn – chúng tôi chỉ ăn thêm được mỗi đứa một bát cơm rang. Thế là xong bữa đi ăn cao lâu. Những món chim quay vịt hầm, vi cá không được chúng tôi chiếu cố đến. Có một sự kiện lần nào đi ăn cao lâu Đông Hưng Viên cũng xẩy ra vất vả cho bà bô tôi nhất là tôi vốn là thằng bụng dạ xấu, bộ tiêu hóa của tôi phản ứng bén nhậy dễ sợ mỗi khi miệng tôi ăn của ngọt. Lần nào cũng vậy, tôi «đớp» xong bánh rán, chất mỡ ngào đường vừa vào đến dạ dầy là tôi chột bụng đòi đi tiêu. Đúng lúc ấy mẹ tôi đang ăn giữa bữa. Bà cũng phải buông đũa bát đưa tôi xuống bếp, cho tôi đi tiêu.

Những tiện nghi phục vụ cho sự tiêu hóa của con người hai mươi năm xưa không được chú ý đến mấy. Dân Tầu, dân Việt long trọng hóa việc ăn uống, nhưng rất coi thường việc bài tiết những món ăn uống đó. Nhà xí Cao lâu Đông Hưng Viên, hàng ăn lớn nhất Bắc Việt, bẩn thỉu, dơ dáy kinh khủng. Nó nằm sau bếp nhà hàng. Mẹ tôi phục vụ tôi xong, đi lên đến phòng ăn, không làm sao ăn được nữa. Bà tởm vì thấy nhà bếp cao lâu quá bẩn, tởm vì những thúng nấm lớn nằm cạnh thùng rác, vì những khối thịt sống nằm ngang trên miệng cống, vì những con chim bồ câu chưa được vặt lông ,nằm chết trong những thùng gỗ xâm xấp nước.

Đó là thời các tuần báo Học sinhCậu Ấm, Cô Chiêu đang được bán chạy ở Bắc Việt. Hai tuần áo dành riêng cho thiếu nhi này được hoan nghênh nhờ những tiểu thuyết như Đầu Xanh, Gió Bụi, phóng tác truyện Sans Famille của Hector Malot, và những trang truyện bằng tranh với những nhân vật nổi tiếng ngang với Lý Toét, Xã Xệ. Bang Bạnh của nhóm Ngày Nay. Những nhân vật vẽ trên Học SinhCậu Ấm, Cô Chiêu là Típ, Tốp, anh Sáu Sụn, Cụ Tư Hùng, Thằng Khỏe v.v...

Những lần đi ăn cao lâu ở Đông Hưng Viên, anh em chúng tôi thường nhắc đến một mẩu chuyện khôi hài trên báo Học Sinh liên can đến kiếm hiệp và cao lâu.

«Típ và Tốp được cụ Tư Hùng cho đi ăn cao lâu. Típ, Tốp nói với nhau về chuyện kiếm hiệp :

– Trong Sơn Đông Hiệp Khách, Cao Hoành Nhân phi hành ghê quá mày nhỉ ??...

Chú hầu sáng đứng sau Típ, Tốp nói xen:

– Thưa cậu, chẳng biết họ phi hành thế nào chớ ở tiệm cháu đây phi hành thơm lắm ạ !...»

Những năm thanh bình, xã hội trật tự, trên Vua, dưới Quan, những ông Tây thực dân chơi riêng, không ra mặt hà hiếp giới quan lại A-Nam, miễn là đừng có làm hội kín, con nhà giầu, nhà có của cho cả họ nhờ, mỗi năm về quê chơi đôi lần, được cả họ chiều chuộng, thật thú.

Mỗi năm thầy tôi về thăm quê nhiều lắm là hai lần. Một lần về giỗ ông nội tôi, một lần về vào Mùng 2 hoặc Mùng 3 Tết.

Gần nhà tôi, ở phố Bóp Kèn, có ông Tài Hót. Ông này là tài xế về sau trở thành chủ nhân xe hàng chạy đường Hà Đông – Vân Đình. Ông Tài Hót có một chiếc xe đít vịt, chắc là xe Citroen mui trần. Trong kỷ niệm của tôi, chiếc xe đó sơn đỏ. Tuy không còn mới lắm, nhưng mỗi lần chiếc xe đó về đậu ở cổng làng Bụi, cả làng phải dắt nhau ra xem.

Thầy tôi mướn một ngày xe. Sáng sớm, có lần đích thân ông Tài Hót cầm lái, chiếc xe đít vịt sơn đỏ đến đậu trước nhà tôi. Xe chạy ra Hà Nội, lên cầu Sông Cái gió thổi lồng lộng, nước đỏ Hồng Hà cuộn sóng mênh mang, xe xuống Gia Lâm, dốc cầu vòng vèo, nhà rượu Gia Lâm ở dưới chân cầu, ống khói xi-măng đồ sộ, phi trường Gia Lâm phi cơ Nhật bay lên như lá tre vào những năm đầu 1940, đường số 5, xe hơi chạy đua với tầu hỏa «Xe mình chạy nhanh hơn tầu hỏa...» Đến đoạn đường vòng. « Xe mình lại thua tầu !!

Nhà ga Phú Thụy kia rồi. Xe tới đường số 5 đi vào con đường đất đỏ – « sắp về đến quê mình rồi... ». « Đây là đâu hở Thầy ? » – « Đây là chợ Phú Thụy! Làng này là làng ông Cao Bá Quát » ..

Có năm tôi theo bố về quê bằng tầu hỏa. Đi xe điện từ Hà Đông ra Hà Nội – Xuống cửa Nam, đi xe tay đến Nhà Ga Hàng Cỏ. Người ta ra vào rối tinh, rối mù. Mua giấy, ra sân ga.

Ông bấm vé đội mũ cát-két trông như đội xếp. Những ông Tây Xếp Tanh mặt đỏ, tay chân lông lá, bận quần soọc, đi bí-tất cao đến đầu gối, xì xồ nghiêm trọng, toa này hạng nhất? toa này hang ba nhiều người hì hục khuân những bao tải lên toa. Lên tàu, hai anh em ngồi yên bên bố. Ông bố ghét chạy ra chạy vào. Ngồi nhìn qua cửa kính ra đồng quê mùa xuân, những cột dây thép dập dình lên xuống.

Đồng quê ven đường số 5 mùa Xuân lất phất mưa Xuân trông thật đẹp. Đẹp như cảnh mùa Xuân tả trong tiểu thuyết Nửa Chừng Xuân, khi Mai gặp Lộc trên chuyến xe hỏa duyên số ấy.

Đó là những lần về quê thời thanh bình. Tức là những năm trước 1943. Từ năm 1943 trở về sau chiến tranh liên miên đói kém và thiếu thốn, thiếu gạo, thiếu vải, thiếu thuốc, thiếu ét-xăng. Xe hơi không còn xăng để chạy, phải mang lò than to tổ bố đằng sau, những chuyến về quê của bố con tôi trở thành vất vả.

Vất vả thôi, nhưng vẫn nên thơ. Không còn hách như về bằng xe hơi đít vịt của ông Tài Hót song vẫn còn hách. Bố con ra Hà Nội bằng tầu điện xuống Bờ Hồ, hỏi mướn một chiếc xích lô đạp đi suốt ngày, về quê bằng xích lô đạp cũng phơi phới ra gì. Đi xích lô đạp chậm chậm, nhìn phong cảnh còn thú hơn là đi tầu hỏa. Nhưng không được hách bằng đi xe hơi, nhất là ở điểm khi qua cầu Sông Cái, đến chỗ cầu mở rộng lại phải lái vào đó, ngừng ở đó, cho xe hơi đi sau mình đi qua trước.

Ôi những con đường thơ ấu cũ, những cảnh vật muôn năm không tàn trong trí nhớ. Ở đời này tất cả đều đổi thay. Cả tình yêu cũng đổi thay. 12 năm trước, em yêu anh nồng nàn, say đắm, 12 năm sau em vẫn còn yêu anh, nhưng tình yêu đó dìu dịu, tình yêu ấy như một dòng sông có chiều sâu nhưng không cuộn sóng. Vẫn là sông, vẫn là nước, nhưng hai dòng sông ấy khác nhau. Vẫn là tình yêu, nhưng tình yêu năm nay em yêu anh không giống như tình em yêu anh 12 năm trước. Tất cả đều qua đi, những mầu xanh phai tàn, những sắc hồng trở thành trắng xám. Người già chết đi. Con trẻ lớn lên. Duy có kỷ niệm là không thay đổi. Duy có những hình ảnh của kỷ niệm là còn nguyên mãi mãi.

Đường xe hỏa Hà Nội – Hải Phòng chạy ven theo đường số 5, nhưng cũng còn nhiều đoạn hai đường chạy xa nhau. Thuở nhỏ, tôi không thể nào hiểu được tại sao những đường dây thép lại cứ trũng xuống, sa xuống ở giữa hai cột sắt.

Đường dây điện giăng bên đường số 5 có nhiều dây điện hơn, trông giầu có, văn minh hơn đường dây diện Hà Nội – Hà Đông chỉ lèo tèo có vài dây. Tôi nhớ những trò chơi hồi nhỏ ven đường xe điện: đặt một lô nút chai bia hay li-mô-nát lên đường sắt tàu điện chạy qua, những nút chai dẹp lép, tròn xoe phẳng lì, trở thành những đồng xèng thật đẹp, đẹp hơn lấy búa đập nhiều. Hoặc đứng áp tai vào cột sắt dây điện, nghe tiếng điện rung o o, vo vo. Chúng tôi phân biệt được cả tiếng điện với tiếng con tầu sắp chạy tới.

Đường về quê đất đỏ. Vùng này nguyên là bãi Sông Đuống. Có thời đê vỡ bị lụt tám chín năm liền, cả làng đói dài, đói dẹp người. Dân làng phải đào củ chuối, nấu rễ cây mà ăn. Bố tôi nói chuyện cụ nội tôi phải ăn cháo thay cơm. Cháo nóng mà lại lỏng, vì ít gạo, chỉ có nước, ông cụ thổi cho nguội để húp, còn nói đùa – «Cháo bà mày nấu tài quá, cháo có thủy ba...» Thủy ba tức là sóng. Cháo mà có sóng thì phải biết là cháo lỏng đến chừng nào.


mười


Làng Bụi nhỏ, nghèo, nhưng dân làng, nhất là các cụ trong dân, cũng xôi thịt và hay ủng-ẳng nhau không kém gì dân quê của một triệu làng khác ở Bắc Việt. Được cái họ Dương tôi lớn nhất làng. Có lẽ đến hai phần ba tổng số dân làng Bụi là người họ Dương, các ông bác, ông chú, các anh tôi chia nhau giữ hết các chức vị kỳ mục, kỳ “nát” trong làng cho nên anh em tôi về làng được trọng nể ra gì. Vậy mà cũng có một vài chuyện lẩm cẩm như bố tôi ngày thi đỗ không chịu cho làng ăn khao. Bố tôi bận y phục đàn ông Việt Nam thế kỷ trước – áo dài, khăn xếp – bảo thủ tôn ti trật tự một cây, nhưng ông lại không ưa những trò cúng bái và chè chén ở chốn hương đảng – làm bà nội tôi rầu rĩ vì dân làng nói – «không có khao, làng không biết...vv». Lại còn một ông chú của bố tôi làm nghề phù thủy, vì đói cho nên ông đi rước hồn ma về làng con ma nó phá làng, phá xóm, để dân làng phải nhờ đến ông cúng, ông trị ma, ông mới có việc làm, có gà, có rượu để «đớp». Theo lời bố tôi kể lại, ông phù thủy ấy rước về làng hai hồn ma. Hai hồn ma này vẫn là 2 chị em, chết vào một giờ thiêng ở đâu đó, được rước về ngự ở Cây Đa đầu làng.

Những làng quê Bắc Việt đa số đều có cây đa và cây nào cũng ở ngoài làng, hoặc ở đầu làng, hoặc ở cuối làng – và cây nào cũng lớn, cũng um tùm cành rễ, và gần như cây đa nào cũng có ma. Hàng trăm cái bình vôi được mang bỏ ở gốc cây đa. Đêm mùa đông trời vừa rét, vừa tối đen, vừa mưa bay, lò mò đi qua đấy sợ đến rủn tỉ, tóc gáy và lông lá trong người có bao nhiêu cái đứng dựng hết cả lên. Bố tôi nói rằng hai hồn ma được đem về cây đa làng tôi là hai chị em. Dân làng tôn kính gọi là Hai Cô Kiều.

Bố tôi không tin có ma quỷ, ông rất ghét lễ bái, cầu cúng vớ vẩn. Ông ghét nhất là trò đàn bà lên đồng. Ông vẫn nói bằng một giọng quả quyết với anh em tôi rằng đời này không có ma, ai nói ma mãnh là láo. Nhưng ông cũng nói những câu mơ hồ chứng thực sự hiện diện của ma mãnh ở trên cõi đời này như người ta không sợ gì hết, ma nó phải sợ người chớ người việc gì mà sợ ma. Cho đến ngày gia đình tôi tản cư về quê, em gái tôi, mẹ tôi bị ma làm.

Ông nội tôi ra làm việc dưới trướng Quận Công Hoàng Cao Khải. Cụ Quận có thời ngồi trị nhậm hạt Kinh Bắc, tức là hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, nơi về sau này có Trung Đoàn Bắc Bắc , khá nổi tiếng trong số những trung đoàn đánh Pháp ở Bắc Việt. Gia Lâm là một phủ của tỉnh Bắc Ninh, cho nên thời ấy, ông tôi hách lắm.

Đám hương lý họ Dương về làng «oai dũng» mở cuộc phản công dân họ Lê. Lại bắt bớ, lại đánh đập, bây giờ đến lượt đàn ông họ Lê trốn chui, trốn nhủi nhục nhã – Ông họ Lê – bồi Tây – thấy rằng mình nhờ thế lực Quan Tây không xong, đành phải cầu hòa.

Ông nội tôi về làng. Ông họ Lê đến nhà ông tôi, mở cuộc thăm xã giao «lãnh tụ Họ Dương» để xin lỗi và điều đình «sống chung hòa bình». Ông tôi cũng tiếp đãi ông họ Lê đàng hoàng, cũng mời ngồi uống nước, nhưng ông cụ đã định sẵn mấy câu chửi độc.

Ông cụ lôi anh con trai – người sau này sanh ra tôi – ra chửi trước mặt khách. Lý do : anh con của cụ bận áo xắn cổ tay áo trông có vẻ «bồi bếp».

– Đồ khốn nạn... Mày có đi làm đầy tớ cho Tây đâu mà mày ăn bận bồi bếp như vậy hả ? ? những thằng bồi bếp... khốn nạn cút đi nơi khác, đừng ở đây bẩn mắt tao... Tao không muốn nhìn mặt những thằng bồi bếp hạng mày... Nghe chưa !!

Buổi hội kiến giữa ông «lãnh tụ Họ Lê » với ông «lãnh tụ Họ Dương » lẽ tất nhiên là có nhiều quan viên hai họ đi theo, chứng kiến.

Ông Họ Lê nghe chửi xám mặt lại. Ông cáo từ ra về. Biết là không thể ở làng được, ông ta bỏ làng đi luôn. Ông đem gia đình vào Nam Kỳ lập nghiệp. Các con ông về sau trở thành kỹ sư, bác sĩ. Họ vào dân Tây. Một ông kỹ sư họ Lê đã nổi tiếng ở Saigon một thời vì làm gián điệp do thám cho Đồng Minh và bị Quân Nhật bắt với máy truyền tin cho Đồng Minh dấu trong nhà riêng.

Họ Lê xuất phát từ làng Bụi đó trung thành với Tây. Họ không còn là người Việt Nam nữa, và họ đã dám chết cho sự trung thành của họ. Ít ra, đó cũng là những người trung thành trong khoảng thời gian 20 năm qua.

Làng Bụi mất họ Lê từ đó.



Mùa Xuân về đồng quê miền Bắc nơi nào cũng đẹp. Kể cả quê tôi, nơi không có một danh lam, thắng cảnh nào đáng để tự hào. Miền Bắc đẹp hơn hai miền ở điểm khí hậu có đủ bốn mùa Xuân. Hạ, Thu, Đông. Mùa Xuân có mưa bụi bay, trời lạnh nhưng dễ chịu, cái lạnh rét buốt của mùa Đông qua đi, nhường chỗ cho cái mát mẻ dễ chịu của mùa Xuân.

Những năm còn nhỏ tôi chỉ mỗi năm về quê nhiều lắm 2 lần. Lần nào cũng sáng về chiều lại lên xe ra Hà Nội để về Hà Đông. Không ngủ lại quê đêm nào.

Đến năm tôi 16 tuổi, một mùa hè, tôi về quê ở hai tháng.

Đó là thời Ngọc Diệp đã rời Hà Đông để ra Hà Nội học. Tôi buồn như một gã thất tình chính hiệu. Nàng chỉ ra Hà Nội học rồi lại về Hà Đông, gia đình nàng vẫn còn ở tỉnh, nhưng tôi quan trọng hóa chuyến đi của nàng. Tôi coi đó như một cuộc sinh ly, như Diệp làm một chuyến đi dài, lâu đến suốt đời tôi không còn bao giờ được gặp lại nàng.

Buổi chiều Ngọc Diệp ra Hà Nội, trời tỉnh nhỏ bỗng dưng u ám. Buồn như chưa bao giờ buồn thế. Tôi ra bến xe điện đưa tiễn nàng. Nàng bận áo nhung xanh nước biển, lên tầu với ông Đốc Phủ. Ông cụ đưa con gái đi, cây ba-toong xách theo, điếu thuốc giả bằng gỗ sơn trắng như cây bút chì ve vẩy trên tay. Tôi ngồi trên chiếc xe đạp ghếch «pê-đan» trên vỉa hè nhìn lên tàu. Một an ủi lớn, một hình ảnh không bao giờ phai tàn . Trong buổi chiều vàng vọt ấy, Nàng nhìn qua khung cửa sổ tầu xuống chỗ tôi, mĩm cười. Khi tầu chuyển bánh, tiếng chuông leng keng, nàng lén giơ tay vẫy tôi. Từ biệt.

Tôi phóng xe đạp đuổi theo tàu điện. Tầu điện ngày xưa chạy không lấy gì làm nhanh lắm.Tốc lực tối đa của tầu điện Hà Nội – Hà Đông chỉ đến 40 cây số một giờ là cùng. Lại có nhiều trạm dừng nên tôi vẫn đạp xe theo kịp.

Tầu ra đến Thanh Xuân – hai cây số, đã xa lắm rồi – tầu dừng. Người trên tầu điện bắt đầu để ý đến gã con trai phóng xe đạp như điên đuổi theo tầu. Chắc họ biết là gã con trai đó theo tiễn một người trên tầu...

Chiều đó, tôi phóng xe đạp theo tầu điện ra đến Ngã tư Sở. Tới đây, địa phận không còn là Hà Đông nữa. Chiêu Quân đã đi vào đất Đại Hàn. Huyền Trân đã tới biên giới Chiêm Thành. Người đuổi theo Tình yêu và Hạnh phúc dừng chân đạp «pê-đan», thẫn thờ nhìn theo chuyến xe chở Tình yêu và Hạnh phúc của mình đi xa dần, xa dần, rồi mất trên hai con đường sắt. Đường về thật buồn. Trời mùa Đông tối xuống thật nhanh. Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy yêu là khổ.

Như một chuyện tiền định, từ đó về sau, trong cuộc đời, tôi đã nhiều lần chạy theo, đuổi theo Tình yêu, nhưng nhiều lần, tôi bỏ cuộc dở chừng, nhiều lần tôi theo không kịp.

Từ buổi chiều buồn đó, trời Hà Đông chiều nào cũng buồn. Mùa Đông không đi bơi sông, không đi câu cá, không đi đá banh được, sân vận động gió thổi lạnh buốt ngực, vắng tanh suốt ngày.

Tôi thấy tôi không còn ham mê bất cứ một thú chơi gì. Trong những buổi chiều nằm một mình trên gác vắng, đắp chăn bông, mở cửa sổ nhưng đóng cửa kính, đọc tiểu thuyết tôi thấy đôi mắt Ngọc Diệp hiện rõ trên những trang sách. Tôi đang ở vào cái tuổi bắt đầu yêu đương, mơ mộng vẩn vơ, muốn làm chuyện ái tình yêu đương nhưng chưa dám, chưa có cơ hội. Đó là tuổi dậy thì của bọn con trai.

Con trai, khi đến số tuổi mười lăm, mười bẩy dậy thì, cơ thể thay đổi, cũng khó chịu hay bẳn gắt, dễ hờn giận, dễ làm thành to chuyện những chuyện không đâu không khác gì bọn con gái. Tôi cũng có nhiều lúc mơ mộng vẩn vơ như thằng mất hồn. Như quen chân tôi đi trở lại con đường vắng trước cửa nhà Ngọc Diệp, đi đến xóm Hoàng Hoa tâm trí mê loạn đến nỗi nhiều buổi chiều tôi yên trí là Ngọc Diệp vẫn còn ở nhà, nếu đi lại vài lần nữa tôi có thể may mắn được nhìn thấy nàng trong khung cửa sổ.

Phi cơ Đồng Minh đến ném bom đều đặn hơn. Chiến cuộc đi gần vào ngày tàn. Phi cơ của Quân đội Thiên Hoàng dường như không còn có mặt ở trên trời Bắc Việt. Có một năm về quê qua cầu Gia Lâm, vào buổi chiều, tôi nhìn lên khung trời trên phi trường Gia Lâm thấy phi cơ bay nhiều như lá tre. Đủ loại. Nhiều hơn cả trong xi-nê. Nhưng đến nay phi cơ Đồng Minh làm chủ vùng trời Bắc Việt. Phi trường Gia Lâm chỉ còn lơ thơ vài chiếc máy bay nhỏ đậu hiền lành sau những hàng rào dây thép gai. Vì những cuộc báo động liên tiếp, mọi ngành sinh hoạt gần như bị tê liệt hoàn toàn. Các trường lại đóng cửa. Tôi chờ đợi Ngọc Diệp trở về Hà Đông, đem mùa Xuân và ánh nắng trở về tỉnh lỵ và tâm hồn tôi.

Nhưng nàng không về. Mỗi buổi sáng, tôi đánh bạo đứng chờ U Già đi chợ, để hỏi thăm về nàng. U cho tôi biết nàng đã lên Sơn Tây, ở với bà chị nàng lấy chồng làm Bác sĩ ở tỉnh đó. Tôi thất vọng đến nỗi về nhà nằm liệt giường, lệt bệt như thằng ốm.

Ba ngày sau, chị tôi về quê thâu thóc, bán thóc gì đó, tôi theo chị về.



Về quê, nhờ thay đổi khung cảnh sống, nhờ được cả họ cưng chiều, tôi quên Ngọc Diệp và tôi yêu đời trở lại.

«Khung cảnh quen thuộc gợi cho con người nhớ nhung nhiều hơn tất cả. Mười hai năm sau khi trở về nơi anh và em đã gần nhau, buổi chiều khi chúng ta mới yêu nhau trong lòng nhưng chưa nói tình yêu ra bằng lời, chưa làm tình yêu, môi em chưa hé nở chờ đợi môi anh tìm đến, em ngồi trên tảng đá ven đường vòng núi Cấp nhìn ra xa khơi, biển xanh trong như mắt em anh tưởng như em vẫn còn ngồi đó và mười hai năm qua chỉ là một thoáng thời gian. Anh lại nghĩ tiếp ý nghĩ mà anh đã nghĩ về em buổi chiều mười hai năm trước đó. “Người đàn bà kia có tâm sự buồn, nếu mình có thể làm cho nàng vui”.»

Trông những phố vắng của tỉnh nhỏ Hà Đông tôi mơ tưởng hình ảnh Ngọc Diệp ở mỗi góc phố mỗi đầu đường. Vì đó là tỉnh của nàng, vì thật sự nàng có sống ở đó. Con đường này đã có gót chân nàng đi qua, mái tóc nàng đã được soi sáng dưới cột điện này. Hàng cây này đã được mắt nàng nhìn tới. Dù người thật bằng xương bằng thịt đã đi xa, vẫn còn bóng dáng thướt tha ở đó. Nhưng quê tôi chưa từng bao giờ có nàng. Những cây đa, sân đình, giếng khơi, những bờ ao, đường gạch này chưa từng bao giờ được có nàng. Vì vậy chúng không gợi cho tôi nhớ đến nàng. Tôi cũng không thể nào tưởng tượng được cảnh Ngọc Diệp sống trong làng quê này.

Dân làng tôi có một vài tiếng địa phương. Chẳng hạn như bọn con trai trong làng đều được gọi là Cò – Thằng Cò, Anh Cò. Thằng con trai nào chưa vợ trong làng cũng đều là Cò. Đến những giờ ăn cơm, tiếng các bà mẹ gọi con ơi ới ở các bờ ao : « Cò ơi... Cò...! ». Con trai lấy vợ sớm. Tảo hôn kịch liệt. Đến năm 1941-1942, tục tảo hôn vẫn còn mạnh trong làng tôi. Thằng Yên, thằng Lễ, hai thằng em con Chú tôi đều được lấy vợ từ những năm chúng mười tuổi. Vợ chúng nó toàn là con nhà làng bên. Nhà giàu lấy con gái nhà giầu, nhà nghèo lấy con nhà nghèo.

Làng tôi có vài cái tên đặc biệt. Ông Bác họ tôi tên là Bác Tún, hai chị gái tôi là chị Tũn, chị Tụn. Đây là tên thật, cam đoan không phải là tên phóng sự bịa đặt. Nhiều khi « la réalité dépasse la fiction», tên người thật ở cõi đời này có âm thanh phóng sự hơn cả phóng sự thời đại. Như ông bán thuốc lào ở đầu ngõ nhà tôi có cô con gái tên là Thỉu. Giữa trưa, đêm tối người làng đến mua thuốc lào lẻ, đứng chõ vào cái lỗ vuông bằng hai cục gạch trên tường, gọi ơi ới – « Thỉu ơi... bán thuốc...»

Ông Chú tôi tên là Ngạch. Hai con em gái tôi tên là cái Ngần, cái Ngại. Như mọi đứa con gái quê chưa chồng, Ngần xứng hợp với cái tên của nó quá. Tên nó hiền lành. Ngần cũng hiền lành. Tiếng Ngần gợi cho người ta nghĩ đến sự trắng : trắng ngần. Da cái Ngân cũng trắng như cái tên nó. Cái Ngại là em nó khác hẳn Ngần. Cũng ngại, ngại như cái tên Ngại của nó, cái Ngại người đen sắc, khô khan, chẳng có tí thịt, tí mỡ mát mẻ nào.

Cũng như hai con gái ông chú Buồm : cái Mơ, cái Mận. Mơ nó mặn mà, gợi cảm như một trái mơ. Cái Mận rắn chắc gợi ý chua chát như trái mận xanh.

Con gái làng tôi đẹp thì không đẹp lắm, nhưng cũng không đến nỗi nào quá xấu. Câu ca dao «Toét mắt là tại hướng đình. Cả làng toét mắt, một mình em đâu» không được dùng để giễu con gái làng Bụi. Gái làng cũng có đứa toét mắt như con gái cả ngàn làng quê khác ở Bắc Việt, những làng có những cái ao tù nông choèn, nước mùa cạn chỉ lên tới đầu gối, dân làng xuống bờ ao làm trăm thứ việc cần dùng đến nước: rửa mặt, giặt, vo gạo, rửa rau, rửa đít. Nhưng số con gái toét mắt ở làng Bụi không quá mười phần trăm.

Con gái trong miền quê tôi cũng không có làng nào đẹp trội. Sàn sàn bằng nhau cả. Làng nào giếng nước không trong, không có sông sâu, núi cao, ruộng đất không mầu mỡ, phong cảnh không đẹp, làm sao có thể nẩy sinh ra con gái đẹp.

Con gái họ Dương ở làng Bụi không đẹp, không xấu, như vì họ quá lớn, nên có nhiều người ế chồng.



Tôi đem về làng một cái Harmonica, Made in Japan, hiệu Caruso. Sau những cây kèn Butterfly còn sót lại, hiệu kèn Caruso của Nhật là kèn hách nhất. Và một cây sáo.

Thoạt đầu, cũng như tất cả những anh bé con tập thổi sáo ở cõi đời này, tôi thổi sáo dọc. Những âm thanh «tò loe» chướng tai, ngang phè phát ra từ ống sáo dọc thô bỉ ấy nghe không khác gì tiếng sáo những bác hoạn heo đi rong. Nhưng anh bé con nào bằng tuổi tôi cũng tập thổi sáo dọc, trước khi mò thổi được vài bài, quen với âm thanh và những cử động của ngón tay, để chuyển sang thổi sáo ngang.

Bọn thiếu niên tỉnh nhỏ, trước những năm 1945 tên nào biết chơi Harmonica và thổi sáo ngang đã là bảnh lắm. Đó là thời «Guitare hawaienne» đang được thanh niên Bắc Việt hâm mộ. Đàn đặt trên lòng, đúng là đàn nằm, năm ngón tay mang móng sắt, phừng phưng những tiếng đàn õng ẹo, nhõng nhẽo, nhủng nhẳng như tiếng mèo gào đực. Vậy mà được hoan nghinh. Có lẽ vì «Guitare hawaienne» dễ chơi, vì nó ồn ào, lèng xèng, chỉ cần học đến ba tháng là đã chơi được bài bản rổn rảng.

Tỉnh Hà Đông đúng là một tỉnh nhỏ điển hình của đồng bằng Bắc Việt. Nghĩa là cái gì cũng có, nhưng có tí ti thôi, không có cái gì nổi bật. Chẳng hạn như đội bóng tròn Hà Đông, có hai đội, đá giầy và đá chân đất. Đội đá giầy đá tạm được, nhưng chẳng lần nào được vào chung kết giải vô địch Bắc Kỳ. Về thi văn, Hà Đông có nữ thi sĩ Anh Thơ.

Nhà thơ đàn bà Anh Thơ có lẽ chỉ được coi là thi sĩ vì là đàn bà. Thơ của Anh Thơ có lẽ dở nhất thế giới. Cô ở một nhà trong làng Đơ. Bọn thanh niên lớn tuổi hơn tôi thường kháo với nhau rằng Nữ thi sĩ Anh Thơ ghẻ Tầu. Tôi không hiểu chuyện này đúng hay không. Tôi chỉ vài lần gặp cô Anh Thơ đi ngoài phố.

Về đàn, thanh niên Hà Đông chỉ có vài người chơi Violon. Còn đa số là «Guitare hawaienne». Người thường đánh đàn Banjo ào ào trong các cuộc «mét-tinh» ở vườn hoa trước Sở Cẩm Hà Đông là Phúc, biệt hiệu Phúc Bỏn hoặc Phúc Tí Bỏm. Người chơi nhạc được chú ý đến thứ hai là Trọng Khương, người về sau là tác giả những bài : Ghen, Bánh Xe Lãng Tử.

Bánh xe quay nhanh nhanh

Chiếc thân xe rung rinh

Chìm trong làn cát trắng...

Hình xe mờ khuất trong đêm thâu.

. . . . . . . . . .

Ta luyến lưu một kiếp giang hồ

Dù rằng đời có ơ thờ...

. . . . . . . . . .

Đêm nay đập vỡ cây đàn...

Giận đời nào ai mắt xanh...

Danh tài thổi Harmonica nổi tiếng nhất Bắc Việt hồi ấy là Le. Tôi nhớ anh một năm đôi kỳ đến trường tôi học thổi kèn cho học sinh nghe. Một mình anh trình diễn. Với cái cặp da trong có hai cây kèn. Anh hay thổi bài Buồn Tàn Thu : «Ai lướt đi ngoài sương gió... Không dừng chân đến em bẽ bàng...». Bài Biệt Ly : «Biệt ly nhớ nhung từ đây... Chiếc lá trôi theo heo may... Người về có hay...» Bài One Day... Bọn học trò nhỏ chúng tôi ngồi ngây, mắt nhìn như bị thôi miên miệng há hốc.

Tôi mê thổi Harmonica nguyên do một phần lớn là vì nghe Le thổi kèn . Phần nữa vì Harmonica dễ thổi , không cần ai dạy , chỉ có cây kèn thổi ti toe mãi cũng thành bài. Với Harmonica, khó là việc đập lưỡi để cho kèn phát ra những tiếng «phập phập». Hai mươi năm đã qua, cho đến hôm nay, tháng này, tôi vẫn còn nhớ nguyên hình ảnh Le thổi kèn.

Người anh hơi thấp. Da đen. Trán hình như có sẹo. Anh để tóc anh hơi quăn. Mái tóc đó chải Brillantine bóng loáng như váy lĩnh. Anh bận áo sơ mi trắng dài tay. Khi thổi kèn, anh xắn tay áo , dùng cả hai tay để nâng cây kèn và đưa đẩy cây kèn trên miệng. Như tất cả những người thổi kèn trên cõi đời này, môi Le dầy và đen, như môi Louis Armstrong. Anh đứng trên bục thầy giáo, trước bảng đen, người cúi xuống, lưng hơi gù, chân đập nhịp.

Những lần ngồi nhìn Le thổi kèn, tôi đã mơ hồ nhìn thấy sự thật đói rách của những nghệ sĩ trong bộ cánh sộp nhất của Le. Tôi đã linh cảm thấy rằng đời nghệ sĩ làm vui cho đời, phục vụ người, trong xã hội ta, không được đài thọ xứng đáng.

Ôi... những cây kèn harmonica đầu tiên trong đời. Khi tôi mê chơi kèn, những cây kèn Butterfly đã hiếm ở Hà Nội . Vì đường giao thông Âu Á bị cắt, hàng Pháp không sang được Đông Dương .Chỉ còn những cây kèn Butterfly cũ, rỉ, truyền tay nhau. Tôi phải thổi những cây kèn Harmonica Made in Japan. Kèn Nhật nặng đến nỗi mỗi lần thổi xong một bài, tôi mệt, hết hơi, mắt hoa, bủn rủn cả chân tay.

Về quê, harmonica là một nhạc khí lạ, nhưng không được hoan nghênh. Về quê, tôi được các anh, các ông chú thích, vì tôi thổi được sáo ngang.

Hướng đạo sinh được dạy hát bài Cổ Bản. Bài này qui tụ gần hết những điệu nhạc cổ. Cạnh nhà tôi ở quê là nhà ông anh họ tôi – Anh có cái tên là anh Dái – Ở quê tôi, con trai ngoài cái tên Cu thông dụng, còn được gọi anh Dái. Đặc biệt nhất là có một anh được gọi là anh Dái Nhờn, vì tên cúng cơm của anh là Nhờn.

Anh Dái kéo đàn cò, tức là kéo nhị. Tôi thổi sáo bài Cổ Bản. Những đêm trăng, trải chiếu trên sân gạch, chúng tôi hòa nhạc. Anh phục tôi lắm. Vì với bài Cổ Bản, tôi có thể thổi sáo tất cả những điệu nhạc mà anh biết.

Ống sáo ngang có 8 lỗ tất cả. Một lỗ để thổi. 6 lỗ phát âm dùng 6 ngón tay chặn lại, mở ra. Một lỗ khi thổi phải dán giấy mỏng, lấy tiếng rung. Tôi vẫn lấy giấy pelure thấm nước miếng dán lấy đấy. Về quê, anh Dái bày cho tôi trò lấy màng tre non dán ống sáo.

Màng tre là cái màng bóc trong ruột cây tre non. Chỉ cây tre non mới có màng, tre già không có. Và một cây tre non được chặt xuống, chẻ đôi ra, chỉ bóc lấy được có một miếng màng, dán ống sáo được một lần, là vứt đi, vì gặp khí trời, chỉ một lúc sau, màng tre trở thành cứng, không dùng được nữa.

Công tử Hà Đông về quê xài sang cứ như là con quan đại phú gia nhà giàu nứt đố, đổ vách. Mỗi buổi chiều, tôi hạ một cây tre non. Cứ mang dao ra bụi tre lựa cây tre nào đẹp nhất là chặt xuống, chẻ đôi ra. Để làm gì ? Để bóc màng tre dán lỗ ống sáo. Chỉ thế thôi. Cả một cây tre được dùng có mỗi một việc : bóc lấy tí màng ruột tre bằng con cò dán thư, dán vào lỗ ống sáo. Chị Thìn – người chị cùng cha, khác mẹ với tôi – chiều em, không cấm cản gì hết. Chị mặc tôi muốn làm gì thì làm, miễn là tôi vui, tôi đừng đòi ra tỉnh.

Anh Dái tỏ ra sốt sắng nhiều trong việc giục tôi chặt tre non lấy màng dán ống sáo. Về sau tôi mới hiểu tại sao. Anh đợi tôi hạ tre bóc lấy màng xong vứt đi là ngỏ lời xin về chẻ tre làm lạt. Tre non phải chẻ ra làm lạt ngay. Để lâu quá nửa ngày, tre cứng lại, chất nước trong lòng tre mất đi tre non cũng trở thành vô dụng.

Những đêm trăng vằng vặc, tôi và anh Dái ngồi thổi sáo, kéo nhị trong sân vườn. Phải ở nhà quê, con người mới có dịp ngắm trăng, mới biết là trời đất này có trăng, có sao và đêm trăng tuyệt đẹp. Dân thành phố không thấy trăng, không được hưởng vẻ đẹp vằng vặc của trời trăng. Vì những ngọn đèn đường hoá giải sự huyền diệu của ánh trăng. Vì những ánh đèn ô-tô giúp cho mắt người đi thấy rõ đường xá, gốc cây, vỉa hè, không cần ánh trăng như người đi trong cảnh đồng lúa mênh mang. Người thành phố không biết có trăng vì những dẫy nhà cao cản mất chân trời. Nếu trăng có sáng, cũng chỉ lọt vào mắt con người ở giữa lòng hai dẫy nhà lâu một thoáng rồi mất. Người thành phố nhìn trăng cũng như những tù nhân nhìn mặt trời và ánh nắng qua ô cửa nhỏ phòng tù.

Con chúng ta ở thành phố không được biết là trời đất này có trăng. Em có bao giờ nghe con chúng ta nói đến trăng sao chưa ? Chẳng bao giờ. Con chúng ta, con những người quanh chúng ta ở thành phố chật hẹp này không biết đến trăng sao. Ánh sáng ban đêm của chúng là những « tuýp» đèn «nê-ông», là ánh sáng hắt ra từ những màn ảnh Ti Vi. Có một ngày, Thanh Nam viết một truyện dài, lấy tên là « Trăng Thành Phố». Thoạt đọc lời giới thiệu tiểu thuyết sắp viết của hắn, anh đã nghĩ – “Thành phố làm gì có trăng, có người thành phố nào ngắm được trăng bao giờ đâu ! ! ”. Còn những người nghèo trong các xóm lao động không đèn điện lại càng không biết là trời có trăng. Vì họ phải đi ngủ sớm lấy lại sức để sớm mai lao động. Anh lại nghĩ đến những đêm trăng sao tuyệt đẹp ngày anh và em mới yêu nhau ở căn nhà đường Mayer. Nhà có sân gác cao. Hồi đó, vùng Tân Định chưa có nhiều tòa nhà mới xây cao như bây giờ. Lên mái nhà chúng ta đã là cao lắm. Ở đó, chúng ta nhìn thấy gác chuông Nhà Thờ Tân Định, thấy gác chuông Nhà Thờ Đức Bà, thấy từng lối đi giữa những ngôi mộ đá trong Nghĩa Trang Tư Bản, được gọi là Đất Thánh Tây. Đêm ấy cách đêm nay đã 1.380 đêm, 12 năm đã qua. Anh vẫn còn nhớ mãi những đêm tình yêu chan chứa ấy, giây phút em nằm mắt nhìn lên trời trăng sao, và anh yêu em. Khi anh cúi mặt nhìn xuống đất mà vẫn trông thấy trăng sao...

Trong bọn thiếu niên ở tỉnh về làng, chỉ có anh Lợi và tôi là sáng nước nhất. Và trong hai anh em tôi, anh Lợi hơn tôi về tất cả mọi mặt. Đáng kể nhất là anh đẹp trai hơn, học cao và giỏi hơn, tư cách hơn, bơi hay hơi, chơi nhạc cừ hơn.

Anh là một hướng đạo sinh gương mẫu trong lúc tôi cũng là hướng đạo sinh, nhưng là một thứ hướng đạo sinh bét nhất thế giới, không bao giờ thuộc hết morse, vụng về khi làm nút, dựng lều, không có duyên kể chuyện, đờn ca không ra gì. Anh Lợi là em con chú, con bác ruột với anh Dương Đức Hiền, nhưng khác chi. Bác Phán Hiệp người sinh ra anh Hiền, làm việc tại Phủ Toàn Quyền Hà Nội, nhưng cũng cư ngụ ở tỉnh lỵ Hà Đông như thầy tôi.

Tôi hiểu rõ sự thua kém của tôi trước anh Lợi khi nghe anh Dái phê bình:

– Chú thổi sáo cũng khá đấy... Nhưng chưa bằng chú Lợi... Chú Lợi thổi sáo tuyệt lắm...

Anh Dái phê bình tôi như vậy trong một đêm trăng. Tôi đang nằm trên một chiếc chiếu trải ở đầu sân gạch, nhìn lên trời cao xa, vút và trong vắt, trăng quê đang lúc sáng, có nhiều mầu xanh trắng hơn là màu vàng. Tôi công nhận lời so sánh của anh Dái là đúng, mặc dầu tôi cũng nhiều tự ái như ai, dù tôi có thể cãi bướng. Nếu tôi cãi là tôi không kém, anh Dái sẽ chiều tôi, sẽ nói lại. Nhưng tôi không cãi. Từ giây phút đó, tôi đã bằng lòng nhận rằng trong đời, tôi sẽ không bao giờ xuất sắc nhất về bất cứ một môn gì. Tôi có thể tự cho là tôi tài hoa về một vài trò, nhưng nói là nhất, là hơn hết mọi người về trò đó thì không. Vào một đám đông, tôi không đến nỗi chìm trong số những anh không được ai để ý, nhưng tôi cũng không phải là ngôi sao sáng trong đó .

Trên những cánh đồng trồng đậu, ngò xanh rờn bên bờ sông Đuống, tôi yêu lần thứ hai trong đời.

Tôi yêu đúng vào người con gái quê mà anh Lợi đã yêu trong mùa hè năm trước. Anh Lợi đã về quê ở trước tôi một năm, và anh hơn tôi một tuổi, tôi đã nói, tất cả, Lợi đều hơn tôi.



Lại một mối tình hoàn toàn không có sự đụng chạm của xác thịt.

Người gái quê đó đã yêu Lợi thì đúng hơn. Hoặc phải nói, Lợi không yêu người gái quê đó bằng nàng yêu Lợi.

Trong năm ấy, Tú có lẽ là người con gái đẹp nhất trong số những cô gái 17 tuổi của làng Bụi. Chị Tú. Tôi phải gọi là chị, vì nàng có họ với tôi.

Nhưng chi họ Dương nhà nàng với chi họ Dương nhà tôi đã khá xa nhau. Tôi đã nói họ Dương trong làng Bụi quá lớn, chiếm đến 80 phần trăm tổng số dân làng, cho nên trai gái họ Dương khó lấy vợ, lấy chồng. Nhìn quanh, tôi chỉ thấy toàn các em gái, các bà chị.

Một buổi sáng, đang ngồi câu cá ngoài bờ ao, tôi thấy thằng Cò Quay – một thằng bé độ 12 tuổi, con một chú nghèo làm rẽ ruộng nhà tôi – dắt hai mẹ con con bò đi qua vườn.

Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn:

– Mày đem bò đi đâu thế ?

– Em đưa ra đồng cho nó ăn cỏ...

– Tao đi với...

Tôi dựa cần câu vào gốc cây sung, lên đường và dành việc dắt bò. Thằng Cò bẻ cho tôi một cành tre, tôi bảo nó :

– Ngồi lên lưng nó được không mày ?

– Được chứ....

Nó nhẩy phốc lên lưng con bò lớn, nhìn tôi nhe hàm răng sún ra cười.

– Xuống cho tao cưỡi...

Nó nhẩy xuống ngay.

Nhưng tôi ngán quá không dám nhẩy lên lưng bò như nó. Lúc ấy, chúng tôi vẫn còn đi trên đường trong làng. Đường lát gạch, bề ngang chưa bằng một thước tây, một bên lại có bụi tre cành lá xòa ra đường, một bên là ao bèo.

– Sao mày cưỡi được mà tao cưỡi không được...

– Anh cứ nhẩy lên. Không sao đâu. Nó hiền lắm. Để em giữ nó lại cho anh cưỡi...

Thằng Cò bắt bò đứng lại. Tôi nhẩy lên lưng bò. Bò đứng lại thì được, nhưng lúc thằng Cò quất roi cho bò đi, tôi thấy ngồi nhấp nhổm ghê quá. Tôi chỉ chực ngã :

– Cho tao xuống...

Thấy tôi quá nhát, thằng Cò khuyến khích tôi :

– Tại đường hẹp anh sợ... Để ra đồng, anh tha hồ cưỡi...

Từ lưng con bò bay lên mũi tôi một mùi hôi hôi đặc biệt của loài hò. Với tôi, đó là một mùi lạ. Tôi nhớ đến bài «Ai bảo chăn trâu là khổ...? Không, chăn trâu sướng lắm chứ...» trong Quốc Văn Độc Bản. Chăn trâu đã sướng, nhưng chăn bò còn sướng hơn. Bò sạch hơn trâu nhiều. Ở những ruộng chiêm, người dân quê mới dùng đến trâu để cầy bừa. Làng Bụi đất cát, xốp, trồng đậu và ngô nhiều hơn trồng lúa, nên làng chỉ có nhiều bò.

Tôi đi theo Cò Quay dắt bò ra khỏi làng. Làng tôi có 3 cổng : cổng trước, cổng sau và một cổng làng nhìn lên thôn trên nên được gọi là cổng thôn. Chúng tôi đi ra cổng trước, theo con đường men theo bờ tre, ra bãi tha ma ở ngoài làng.

Bọn trẻ con trong làng tụ tập ở đó chừng hai mươi đứa. Trong số có cả những đứa lớn lộc ngộc đến 18 hay 19 tuổi. Chúng thả bò trên bãi, bầy trò chơi làm đình, đánh khăng với nhau. Chúng chỉ canh cho bò đừng xuống ruộng, đừng đi xa lạc mất. Còn thì cả buổi là một cuộc chơi dài.

Tú nổi bật giữa bọn gái quê như một bông hoa hồng giữa một đám hoa nước rẻ tiền. Nàng tương đối là con nhà giầu.

Ông thân của nàng –tôi phải gọi bằng Bác– có khá nhiều ruộng, ông lại làm phụ cái nghề lang thuốc ta. Ông thường đi xem mạch, bốc thuốc cho người trong làng. Đôi khi, ông cũng được mời sang các làng bên để trị bệnh.

Nàng mặc áo cánh màu nâu non, quần đen, chít khăn vuông mỏ quạ. Trước đôi mắt thiếu niên của tôi, đôi mắt mới bắt đầu nhận xét đàn bà, Tú là người thôn nữ đẹp nhất đời, một người mà tôi chỉ mới thấy tả trong tiểu thuyết.

Tôi bị Tú thu hút như một cục sắt chịu sức hấp dẫn của nam châm. Nàng xinh xắn, gọn gàng và vui vẻ, nói cười luôn miêng. Nàng chỉ là gái quê ở làn da hơi đen, bàn tay nàng hơi dầy. Tôi biết chuyện đó vì có lần nàng đưa tôi đi từ bãi tha ma vào chùa chơi, tới đây nàng nắm tay tôi dắt đi, như sợ tôi bị lạc.

Nàng hỏi thăm tôi về Lợi. Năm nay, sao Lợi không về quê nghỉ Hè ? Tôi có gặp Lợi luôn không ? Lợi hiện ở Hà Đông hay Hà Nội ? Nàng gọi tôi bằng cậu !

– Cậu có biết bơi không ? Cậu có bơi giỏi bằng Lợi không ? ? Ở Hà Đông, cậu có hay đi bơi với Lợi không???

Qua lời Tú, tôi được biết mùa Hè năm ngoái, sau những cơn mưa lớn, cái ao lớn nhất trong làng tôi đầy nước, Lợi đã mặc Slip – loai Slip bơi đặc biệt bằng vải dầy, thường là mầu xanh đậm do chúng tôi nhờ cắt và may ở Hà Đông – ra đó biểu diễn « plongeon » và bơi đủ kiểu. Tú mê mải đứng trên bờ ao cả buổi xem Lợi biểu diễn bơi lội. Nhìn xem và thán phục. Tôi biết Tú yêu Lợi. Yêu theo cái lối mà người nhà quê gọi là «phải lòng mặt». Nghĩa là ngày nào cũng phải gặp nhau, không thì nhớ nhung, vẩn vơ. Tôi biết thế nhưng tôi không ghen tức gì cả .Có lẽ vì không có mặt Lợi ở đây. Nếu có anh, khi thấy anh sáng nước hơn tôi về đủ mọi mặt, khi nhận rõ mình chỉ là người số hai có mặt cũng được, vắng mặt cũng được có lẽ tôi đã ghen, tôi đã bỏ đi.

Tôi đã «phải lòng mặt» Tú. Ngày nào tôi cũng dắt bò đi chăn. Vì Tú có nhiệm vụ đem mấy con bò nhà nàng đi chăn. Tôi cần gặp mặt nàng. Tôi đã vẩn vơ nghĩ đến chuyện tôi và Tú lấy nhau, thành vợ chồng, đến những khó khăn, trở ngại mà chúng tôi sẽ gặp khi lấy nhau, vì hai đứa là chị em họ.

Những ngày mùa xuân ở cánh đồng làng Bụi, tuy tên là Bụi nhưng không có một ly ông cụ bụi cát nào, đất đỏ, lá ngô, lá đậu xanh mươn mướt, mưa bụi phơi phới bay, tình yêu đến tâm hồn tôi với tất cả mộng mơ và quan trọng. Người chị họ xinh xinh, nước da ngăm ngăm đen, bận áo cánh nâu non, quần đen, thỉnh thoảng thêm một đường khăn vuông mỏ quạ, nàng bắt đầu tập ăn trầu. Môi nàng cắn chỉ. Tôi quên một điều quan trọng: Tú răng đen. Ba mươi năm nữa đây, khi những bà mẹ Việt Nam như mẹ tôi, rời bỏ con cháu ra đi, nước Việt Nam có tục xâm mình, nhuộm răng, ăn trầu sẽ không còn ai nữa . Sẽ hết, sẽ mất. Con cháu chúng ta sẽ có thể trông thấy những hình vẽ xâm mình trên thân thể những ông thủy thủ Âu Mỹ, nhưng sẽ không có thể tưởng tượng thế nào là một hàm răng nhuộm đen – đen lánh hạt huyền – trầu cau cũng sẽ trở thành vô dụng. Trầu cau có lẽ sẽ còn chỉ được dùng đồ làm một thứ thuốc Nam nào đó. Môi Tú ăn trầu cắn chỉ đôi khi và tôi nghĩ đến chuyện vì hai chúng tôi là chị em, họ hàng sẽ không bao giờ chấp nhận cho chúng tôi trở thành vợ chồng, tôi sẽ cùng nàng đi xa, đi đến một nơi nào xa lắm để yêu nhau, để trở thành chồng vợ.

Ngày mới lớn chúng ta có những vấn đề quan trọng để đến năm ba mươi tuổi, hồi tưởng, ta thấy chúng chỉ là những vấn đề trẻ con. Nhớ chuyện ngày xưa tôi yêu người chị họ và tính chuyện đem nàng đi xa – xa như vào tận Saigon chẳng hạn – để chung sống với nàng, tôi hiểu tại sao vẫn có những người con trai, con gái, mười sáu, mười bẩy tuổi, chết vì những cuộc tình trẻ nít.

Chiến tranh tàn, Nhật Bản bại trận, đầu hàng. Các trường học mở cửa lại. Tôi phải trở ra Hà Đông để đi học, nhưng vì vui chơi ở quê, vì đang «phải lòng mặt» Tú, tôi nhất định không theo chị tôi ra Hà Đông. Dỗ dành, đe dọa mãi không được, chị Thìn ra Hà Đông một mình báo cáo với thầy tôi việc tôi từ chối học hành để ở nhà quê chăn bò. Tôi ở quê một mình. Các cô, bà thím tranh nhau mời tôi đến ăn cơm. Ai cũng chiều chuộng tôi .

Đến một buổi trưa, nằm khểnh trong nhà đọc cuốn truyện vừa mới ra Phú Thụy mượn về được, tôi nghe lẫn trong tiếng kẽo kẹt của bụi tre đầu ngõ có tiếng giầy tây gõ lộp cộp. Tôi nhìn ra sân : thầy tôi về. Ông cụ phải thân hành về quê để bắt tôi ra Hà Đông. Thầy tôi chỉ về có mỗi một việc đó. Ông chỉ vào nhà và ở lại nhà có mười phút, đủ thời gian để hút hai điếu thuốc lào, uống một ly nước trà và đi tiểu. Tôi ngoan ngoãn theo ông ra chiếc xe xích lô chờ ở đầu làng.

Mối tình của tôi với Tú đến đó là chấm dứt. Một năm sau, khi cuộc chiến tranh Việt Pháp (bùng nổ), khi tôi theo gia đình tản cư về làng, gặp lại Tú, tôi thấy nàng quê, trơ khấc và tôi chán nàng như chán cơm nếp nát.



Tôi muốn viết lại cuộc đời tôi từ những ngày thơ ấu cho tới bây giờ. Tôi tạm ngừng ở đây, chờ đợi một ngày nào tới sẽ viết tiếp. Sẽ có một ngày tôi viết tiếp. Tập truyện này có thể được đặt tên là «HÀ ĐÔNG», hoặc « HÀ ĐÔNG VÀ NHỮNG NGÀY MỚI LỚN ». Sẽ có ngày tôi viết về cuộc đời tôi khi tôi đi kháng chiến, những ngày đầu làm báo, những ngày viết văn, tôi hy vọng sẽ có ngày bạn gặp lại tôi trên những trang giấy có những dòng chữ đó.

Có một hôm, có một người Hà Đông nói với tôi : Cậu chỉ mới viết về Hà Đông riêng của cậu. Cậu chưa viết gì về Hà Đông đau thương trong chiến tranh, nghĩa là Hà Đông trong những năm 1946,1947, khi Hà Đông trở thành cửa ngõ của đồng bào hồi cư về Hà Nội, thời gian bọn hung thần Việt Gian không biết từ những nơi nào tới đó gieo rắc kinh hoàng và chết chóc, những tên mật thám đi hỏi vợ bằng một mâm tạc đạn, cưỡng hiếp phụ nữ và dí dao vào ngực, đâm cho chết rúm lại lúc nó khoái lạc... những tên chỉ cần mình đi ngoài đường, nhìn nó là nó đánh mình .

Chứng nhân của Hà Đông đau thương, tang tóc những ngày bi thảm đó vẫn còn sót lại ở Sàigòn. Trong một tiệm thuốc phiện mới đây, tôi có gặp một tên trong bọn hung thần Việt Gian súc vật đó. Bây giờ tên đó hết thời, hết tiền, nghiện hút và vì không có tiền hút nên nằm nhầy nhụa trong tiệm làm bồi tiêm và đi mua vặt cà-phê thuốc lá cho khách lấy tiền bố thí. Có thời tên này nhận tiền của Mật Vụ nhà Ngô, cạo trọc vào chùa tu để dọ thám nên người ta gọi đùa nó là Ông Đạo, là Thượng Tọa. Tôi có thể đến đó tìm nó, cho nó hút và nằm nghe nó kể chuyện Hà Đông trong trí nhớ và mắt thấy, tai nghe, về những thằng Việt Gian chó má đã làm cho Hà Đông yêu dấu của tôi trở thành địa ngục cho tôi nghe. Nhưng chắc tôi sẽ không làm thế. Hoặc nếu có, tôi cũng chỉ viết rất ít về Hà Đông của tôi những ngày đó mà thôi.

Bởi vì tôi không sống ở Hà Đông những ngày đó, tôi không cảm động, và khi đã không sống, không cảm, không ai có thể viết hay được. Hà Đông của tôi vẫn muôn đời là thành phổ nhỏ, hiền lành, êm đềm và thơ mộng nằm ven dòng sông Nhuệ. Hà Đông của riêng tôi, Hà Đông trước mắt tôi, trong tâm trí tôi, trong dĩ vãng tôi, không bao giờ tàn nhẫn.

mười một


Bây giờ đã là mười lăm năm kể từ ngày đất nước ta chia đôi và gần một triệu đồng bào từ miền Bắc đi vào miền Nam. Mười lăm năm, một thế hệ đã trôi qua nhưng chưa từng có một cuộc thống kê nào cho biết con số 900.000 người miền Bắc di cư hiện ra đã sinh sản thành bao nhiêu nhân mạng.

Chắc là đã nhiều. Chỉ có một số nhỏ ông già, bà cả tịch đi, xác tàn nằm lại còn linh hồn bay về quê cha đất tổ, bọn các anh, các chị trẻ tuổi sinh sản đông vui ra trò. Tôi chỉ cần kể ngay gia đình tôi làm tỷ dụ.

Gia đình tôi vào Saigon có 9 người : thầy, mẹ tôi và 7 anh em tôi. Cho đến hôm nay, thầy tôi đã mất nhưng bẩy anh em tôi đều có vợ, có chồng và có con. Thầy mẹ tôi đã có 15 đứa cháu nội, cháu ngoại. Ngày giỗ, ngày Tết, con cháu về đầy nhà, không còn cả chỗ đứng nữa chứ đừng nói gì đến chỗ ngồi.

Ngày giã từ Hà Nội ra đi, ít người nghĩ được rằng cuộc chia ly lại có thể kéo dài tới hơn mười năm. Cho tới ngày hôm nay, mơ ước của một số người miền Bắc – trong đó có tôi – là được trở về quê hương. Không phải về để sống với cộng sản trong một cuộc sống mà mình đã chê bỏ, mà là về để thăm lại quê hương, để sống lại ở nơi mình đã sống. Mơ ước chính đáng và đáng được thực hiện, vì quê hương chúng la không phải là của riêng của bọn cộng sản. Muốn trở về quê hương không có nghĩa là bằng lòng sống dưới chế độ cộng sản. Thầy tôi là người thù ghét cộng sản nhất trước mắt tôi, ông thù ghét họ ngay từ năm 1945 khi Việt Minh mới về Hà Nội, khi tôi mới còn là một anh thiếu nhi cưng cưng chưa biết đời là gì. Ông đưa anh em tôi vào Nam và giấc mộng duy nhất của ông là có một ngày về quê sống những ngày cuối cùng và chết ở quê tôi.

Tôi có số sống xa cha mẹ. Thuở nhỏ, ngày còn dại dột, tôi xung khắc với thầy tôi. Hai cha con không nói với nhau êm ả được hết một câu chuyện. Hai cha con xa nhau như hai cực của một đường thẳng. Nhưng cũng như hai cực của một đường thẳng hai cha con tôi lại rất gần nhau. Khi tôi đã có vợ con, tôi cảm thông cuộc sống của thầy tôi và cha con tôi trở thành rất thân nhau, rất thương và rất thông cảm nhau. Không còn gì sung sướng cho một người con bằng chuyện tìm thấy ở người sinh ra mình một người bạn chí tình, một người bạn thân theo nghĩa bằng hữu sống chết vì nhau của quân tử Tầu. Thầy tôi bao dung, rộng lượng, hy sinh hết cho các con, bao giờ cũng để quyền lợi và hạnh phúc của các con lên trên hết, trên cả quyền lợi và hạnh phúc của chính mình. Không bao giờ thầy tôi phiền trách chúng tôi một điều gì, dù cho anh em tôi có can cái tội thường tình nhưng khốn nạn là trưởng thành, làm được tiền, chỉ biết lo cho thân xác, lo cho vợ con mà bỏ quên bố mẹ.

Sung sướng nhất có lẽ là tôi. Khi đã trưởng thành, đã có vợ, có con rồi, tôi vẫn còn được thầy tôi coi như hãy còn thơ dại. Tuy ở riêng, mỗi lần nghe tôi đau ốm, thầy tôi đi hai ba đường xe buýt, tới nhà tôi, hỏi han, săn sóc đưa tôi đi bác sĩ. Và tới bệnh viện, thầy tôi vẫn kể bệnh tôi với bác sĩ y như ngày tôi còn bé chưa biết diễn tả bệnh trạng của tôi. Thì ra với một người cha yêu thương con, dù đứa con có lớn đến chừng nào, lớn cả về tuổi tác lẫn địa vị trong xã hội, nó vẫn là đứa trẻ thơ cần che chở.

Những gì thầy mẹ tôi đã làm cho tôi, bao nhiêu yêu thương tôi đã được hưởng, tôi muốn đem cho lại các con tôi. Tôi muốn yêu thương các con tôi như tôi đã được thầy mẹ tôi yêu thương vậy. Tôi muốn cái tình yêu ấy cứ di truyền mãi. nếu không được nhiều hơn, ít nhất cũng phải bằng. Tôi muốn tôi là một người bạn của các con tôi, một người bạn mà chúng có thể tin cậy, một người bạn mà chúng chỉ có thể có nhiều lắm là hai người trong suốt một đời.

Bây giờ... có những buổi chiều buồn, tôi ở một mình và tỉnh dậy sau giấc ngủ trưa, tôi bàng hoàng muốn về nhà thăm thầy tôi, như ngày ông còn sống, tôi vẫn làm vậy mỗi lần tôi cảm thấy cô đơn và cần an ủi. Tôi tưởng như thầy tôi vẫn còn đó và tôi chỉ cần phóng xe qua một chặng đường là lại được thấy ông, được cầm bàn tay có những ngón dài của ông, được nhìn nụ cười hiền lành và tự tin của ông và để thấy tâm hồn tôi bình yên trở lại.

Nhưng cũng như Chúa không thể ở mãi với môn đệ, cha mẹ cũng không thể sống mãi với các con. Thầy tôi đã đi vào cõi không cùng, nơi con người từ đó vào đời, sống yêu thương đau đớn, sung sướng và để rồi lại trở về... Giấc mơ cuối của thầy tôi là được trở về nằm trong lòng cánh đồng làng Bụi, tôi đã định có một ngày nào đó mai sau, tôi sẽ đem nắm xương tàn của thầy tôi về mai táng ở quê hương, trong khi chờ đợi ngày mai đó, một ngày mai tươi sáng của dân tộc, tôi tin rằng ít nhất cũng tươi sáng hơn ngày hôm nay, tôi làm những giấc mơ trở về quê hương...

Người nghệ sĩ có thể nghèo hơn người đời về tiền bạc nhưng nhất định không nghèo về tưởng tượng và khả năng mơ mộng, như tôi mơ mộng hôm nay.



Bây giờ là Mùa Xuân, ngoài trời có mưa bụi, một thứ mưa mà chỉ có mùa Xuân ở miền Bắc mới có. Mưa bụi bay bay làm những mái nhà thành phố trắng xóa như có sương mù. Hai vợ chồng tôi dắt ba đứa con đi trong những đường phố mưa bay trắng trắng đó của Hà Nội. Khí trời này được coi là dịu mát, ấm áp với những người vừa chịu đựng một mùa đông giá rét cắt da, cắt thịt của miền Bắc, nhưng đối với những người Việt chào đời ở miền Nam chỉ có hai mùa mưa nắng và sống từ ngày chào đời ở miền Nam như vợ con tôi, thời tiết này có thể là lạnh:

– Có lạnh không em? Lạnh không các con?

– Không, em thấy dễ chịu...

– Đã lạnh gì, bố...

Ba con tôi sinh trưởng ở Saigon nhưng chúng chịu được lạnh, dễ quen với cái lạnh của miền Bắc vì bố mẹ, ông bà là người Bắc. Vợ tôi sinh trưởng ở Nam nhưng ông bà nhạc tôi cũng là người Bắc. Bốn mươi năm về trước, ông cụ bà cụ di cư vào trong Nam lập nghiệp và sanh vợ tôi ở trỏng, năm lên 6 tuổi, Alice được theo mẹ về thăm quê một lần nhưng năm đó nàng còn nhỏ quá. Nhắc lại chuyện về quê này tôi vẫn nói đùa nàng. Năm đó em còn mặc quần thủng đít, em đã biết cái quái gì..? Mà quả thực nàng chẳng nhớ gì về miền Bắc và quê nội, quê ngoại nàng sau chuyến về thăm đó hết.

Thời dậy thì của nàng xẩy ra vào khoảng những năm 1946,1947, nàng đi theo kháng chiến từ Saigon lên Đà Lạt, ra Phan Rang vào một mật khu nằm trong dẫy Trường Sơn có cái tên là Bà Bèo, Đá Trắng. Nàng kể lại ở đó toàn núi cát không trồng trọt gì được thiếu cả nước uống, chỉ ăn với muối trắng và chỉ có nhiều rết. Trong thời gian ấy, tôi say mê dự các cuộc biểu tình ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ tổ chức ở Hà Nội và say mê ước mơ làm cuộc Nam Tiến. Rồi tôi theo kháng chiến ra khỏi thành phố Hà Nội thơ mộng, tôi lên Việt Bắc sống những ngày kham khổ, thiếu thốn nhưng đẹp vô vàn.

Những năm sau đó mỗi khi hồi tưởng tôi như vẫn còn trông thấy tôi, chàng thiếu niên Hà Nội ngày nào ba-lô trên vai tình yêu tràn trề trái tim đi vui trên con đường vào Thái Nguyên cửa ngõ của Việt Bắc. Buổi sáng đầu tiên tôi đi vào Việt Bắc đó là một sáng cuối xuân đầu hạ, trời Thái Nguyên trong, xanh cao và đẹp đến nỗi tôi vừa leo ụ vừa mải nghếch mắt lên nhìn trời hụt chân té xuống hố, các đồng chí anh phải thò gậy xuống cho tôi nắm kéo lên tôi mới lên được mặt đường. Cái sa hố đó làm tôi trầy hai đầu gối và rách mất cái quần nâu mới tinh.

Rồi định mệnh của cả dân tộc chúng lạ đau thương đưa đẩy, dàn xếp cho vợ chồng tôi gặp nhau ở Sàigòn. Đó là năm 1954. Ngày ấy Hà Nội đã treo cờ đỏ, tôi không có điều kiện để đưa Alice về thăm Hà Nội cùng với tôi như tôi muốn. Thật ra ngày đó nếu chúng tôi thực sự muốn về Hà Nội nhất là nếu tiên đoán biết rằng cuộc chia xẻ sẽ kéo dài tới hai mươi năm chúng tôi đã cùng nhau về thăm Hà Nội. Về thăm rồi lại vào Nam, vì ngày đó Hải Phòng vẫn còn chưa mất. Năm đó chỉ có một mình tôi về thăm Hà Nội.

Thế rồi trong suốt hai mươi năm dài kể từ 1954 từ ngày chúng tôi gặp nhau, chúng tôi yêu nhau, tôi vẫn mang một giấc mơ : một ngày nào đó mang vợ con tôi trở về thăm Hà Nội, nơi tôi đã sống những ngày niên thiếu, về thăm Hà Đông, thành phố nhỏ bé, hiền lành, tĩnh mịch ven dòng Nhuệ Giang nơi tôi đã sống những ngày thơ ấu. Tôi vẫn mơ một ngày đưa các con tôi về thăm quê nội, quê ngoại chúng. Cũng như không biết bao nhiêu là đứa trẻ ra đời từ những cặp vợ chồng Bắc Việt di cư, các con tôi không biết thế nào là quê nội, quê ngoại, không có quê nội, quê ngoại.

Tôi vẫn mơ được nói với những người tôi yêu thương những lời : « Đây là con đường năm xưa anh đã đi . Đây là ngôi trường cũ năm xưa anh đã học » – « Đây là nhà ông nội, bà nội. Bố ra đời trong căn nhà này. Năm bố còn nhỏ, chỗ này ông nội trồng cây ổi Tầu. Trái ngon lắm mùa hè là mùa ổi, bố cả ngày ở trên cây. Ổi muốn cho ngon thì không được trèo leo nhiều, ông nội cấm bố không được trèo cây nhưng bố cứ trèo kịch liệt. Chỉ lúc nào ông ở nhà, bố mới ngán chút xíu mà thôi... »

Nhưng chiến tranh kéo dài, kéo dài, kéo dài. Vẫn biết là không có gì có thể dài lâu được mãi mãi nhưng nếu chẳng may có một cái gì đó kéo dài quá dự tính và ước muốn của chúng ta, ngược lại sự ước mơ của ta, ta thất vọng và cho rằng tình trạng đó cứ như thế mãi không bao giờ ngưng hết, không bao giờ thay đổi. Như kẻ lâm vào cảnh khổ kéo dài quá lâu nghĩ và tin rằng đời mình sẽ không còn bao giờ được sung sướng tôi đã, trong những năm cuối của chiến tranh, nghĩ rằng tôi sẽ chẳng bao giờ thực hiện được giấc mộng rất thường : đưa vợ con về thăm Hà Nội.

Nhưng chiến tranh, như cuộc đời, như những công trình, như thù hận, những uy quyền, những danh vọng, những sản nghiệp ở cõi đời này không thể nào tồn tại được mãi. Chiến tranh cũng như tất cả mọi thứ, đều có ngày phải tàn... Buổi sáng mùa xuân này, sau bao nhiêu trận chém giết nhau, sau không biết là bao nhiêu viên đạn bay ra khỏi nòng súng, bao nhiêu là mảnh sắt thép ghim vào da thịt đồng bào tôi, sau không biết bao nhiêu là giọt máu hồng và từng ấy giọt nước mắt rỏ xuống mặt đất quê hương tôi, chiến tranh đã chấm dứt. Mùa xuân này, tôi trở về đây cùng với vợ con tôi, tôi đang đi trong lòng Hà Nội mưa bụi, tôi đang đi trên phố Hàng Đào, Hàng Ngang, sau lưng tôi là chợ Đồng Xuân và trước mặt tôi là Hồ Hoàn Kiếm.

– Đây là sông hay là cái gì mà nhiều nước vậy bố?

– Những cái cây này lạ quá hả bố ? Lá nó nhỏ mà nó cứ rủ xuống nước nầy bố.

– Ngoài kia có cái chùa, phải không bố ?

– Đẹp quá, mình ơi...

– Bố đố vui để học các con một câu rồi bố kể một chuyện cổ tích về cái hồ này cho các con nghe nhá ... Lịch sử nước ta có ông vua nào nổi tiếng họ Lê? Các con nhớ không nào ?

– Dễ ợt, bố. Vua Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, đánh đuổi quân Tàu giành lại quyền độc lập, lập lên nhà Hậu Lê.

– Khi thắng trận rồi, Vua Lê đóng đô ở đâu nào ?

– Vua Lê đóng đô ở thành Thăng Long.

– Đúng. Kiều Giang được 5 điểm. Thế các con có biết thành Thăng Long bây giờ ở đâu không?

– ....?

– Các con đang đứng trên thành Thăng Long đó. Ngày xưa, sau khi đã chiến thắng, Vua Lê đóng đô ở đây. Trước đó, khi mới khởi nghĩa, Vua được Thần dâng một cây kiếm báu...

– Con nhớ chuyện đó rồi. Con có học chuyện đó ở trường. Vua được Thần cho thanh kiếm báu để dẹp giặc. Sau đó khi đã làm vua, một hôm vua đi thuyền chơi trên hồ, thấy một con rùa lớn nổi lên bên thuyền. Vua cầm cây kiếm đó đuổi nó thì nó ngoạm lấy mà lặn đi mất. Vua nhớ lại việc cũ và biết rằng vị Thần ngày xưa sai rùa tới lấy lại cây kiếm nên đặt tên hồ là Hồ Hoàn Kiếm. Phải vậy không bố ?

– Con kể đúng. Hoàn Kiếm là hồ này. Ở giữa hồ kia là cái Tháp. Nó có hai tên gọi, một là Tháp Rùa, hai là Tháp Bút vì nó trông như cái bút. Giống cái bút lông ngày xưa kia chứ không phải giống bút máy bây giờ đâu. Còn kia mới là chùa... ấy không phải chùa, bố cũng quên, kia là đền. Đền Ngọc Sơn. Cái cầu đó là cầu Thê Húc. Bố có cái hình chụp hồi bố còn nhỏ đứng trên cái cầu. Cái hình bố đội mũ nồi mà các con vẫn coi và chê trông bố cù lần đó...Đi vòng quanh hồ lại đó đi các con...Năm bố chụp cái hình mà các con chê là cù lần đó, bố hãy còn đi học. Bà nội mua cho bố cái xe đạp đầm, đáng lẽ phải đi học thì bố cho cặp lên xe, đạp xe đi chơi, đi coi xi-nê, đi ra đây ngồi câu cá...

– Bố ngồi câu ở chỗ nào hả bố ?

– Ở mấy gốc câỵ... Những gốc cây đó... Mùa đông trời rét không có ai ra đây câu nhưng mùa hè hay mùa thu thì nhiều người câu lắm.

– Bố có câu được nhiều cá không bố?

– Ít lắm ! Câu nghịch mà con... có giật được thì cũng là mấy con tép...

– Cây này phải cây liễu không, bố ?

– Liễu đây. Người ta thường nói liễu rũ. Các con có thấy lá nó cứ rũ xuống không ?

– Bố coi này... hai tay áo len của con trông đẹp không ?

– Áo con cùng có này...

– Áo ai cũng có hết... Mưa bụi nó như thế đó. Mưa bụi đọng nước lại trên áo, mưa không đủ làm mình ướt áo, nó chỉ đọng lại được những hạt trắng trắng...

– Áo nhung của mẹ đẹp nhất. Hai tay áo mẹ có kim cương nè, bao nhiêu là kim cương...

– Cái này mà là kim cương hả ?

– Ấy...em đừng xoa đi. Để cho đẹp... Chẳng là kim cương thì là gì? Nó còn quý hơn kim cương nữa...ở Saigon. Em có tiền, em có thể mua được kim cương nhưng có bao nhiêu tiền em cũng chẳng thể mua được những hạt mưa này ở Saigon để trang điểm áo nhung của em..

– Bố con nhà mày văn sĩ có khác. Con gái mới một tí tuổi đã văn hoa rồi...

– Con tập nói văn hoa quen đề lớn lên, con viết tiểu thuyết nối nghiệp bố chứ mẹ ?

Bố mẹ các con tôi nhìn nhau. Tôi thấy Alice mĩm cười và tôi mĩm cười. Tôi nhìn thấy tôi cười trong đôi mắt của nàng. Những người yêu nhau có thể nói với nhau bằng mắt. Chúng tôi yêu nhau nên chúng tôi nói bằng mắt với nhau.,.

Anh yêu em... Anh vẫn nói với em là anh muốn có một ngày đưa em về đây, đưa em tới những nơi ngày xưa anh đã sống. Cuộc đời chúng mình quá đẹp. Không ngờ bây giờ giấc mơ của anh thành sự thực. Anh đang đứng với em ở giữa lòng Hà Nội, ở bên Hồ Hoàn Kiếm. Em có thích không em. Em có sung sướng không em ? Chúng ta yêu nhau hai mươi năm rồi... Hai mươi năm... Hai mươi năm...

– «Hai mươi năm ? Hai mươi năm con số ấy đối với chúng ta, như là một cái gì không có nghĩa. Em thấy không? Vì chúng ta yêu nhau. Anh vẫn yêu em như ngày đầu chúng ta gặp nhau, như ngày đầu chúng ta yêu nhau. Tình Yêu còn nguyên vẹn đó, như là chúng là mới yêu nhau từ ngày hôm qua... Vậy thì làm gì có hai mươi năm đã trôi qua từ ngày chúng ta yêu nhau ? Không. Anh nói thế không rõ, nói thế không được. Không có hai mươi năm đi qua tình yêu của chúng ta nhưng thực sự đã có hai mươi năm đi qua cuộc đời của chúng ta. Bằng cớ sờ mó được là bên chúng ta đã có thêm những ba đứa trẻ con. Em cũng đã già đi nhiều.

Em, có trẻ lâu và trẻ hơn nhiều người đàn bà khác nhưng em cũng có già đi. Vì mỗi sáng khi trở dậy, mỗi buổi tối khi nhắm mắt ngủ, anh nhìn gần nét mặt em – anh nhìn thấy em cả những lúc chúng ta xa nhau, anh thấy em cả trong khi anh ngủ – nên anh không thấy em già đi bao nhiêu, nhưng quả thực là chúng ta có già đi trong khi tình yêu của chúng ta vẫn còn trẻ mãi. Anh tin rằng không phải chỉ riêng tình yêu của chúng ta mới có hiện tượng ấy. Tình yêu của tất cả mọi người cũng thế, cũng trẻ mãi không già. Bản chất của Tình yêu là như thế. Tình yêu vì thế trở nên vô cùng cao quý.

Tất cả những cái gì sống đều phải chết. Riêng TÌNH YÊU thì không. Tình yêu chỉ mỗi ngày một lớn mạnh, một giầu nhiều hơn. Tình yêu không hao mòn theo thời gian. Kỳ diệu không em. Nhưng đó là sự thật. Anh và em đã thực nghiệm thấy Tình Yêu như thế với chính Tình Yêu của chúng ta. Tuổi trẻ của Tình Yêu hai ta vẫn còn nguyên đó nhưng tại sao Tuổi Trẻ của chính chúng ta lại không còn mãi ? Tại sao anh và em lại già ? Tại sao ? Tại sao ? Em có biết không, em?

– Tên họ ông nội là gì nào, Hải Triều.

– Con biết...

– Con lớn thì tự nhiên con phải biết, phải nhớ rồi. Để em Triều nó nói trước đã. Em nói sai thì con nói...

– Ông nội tên là Dương Hoàng Giản

– Quê nội con ở đâu ?

– Ở làng Linh Quy, tổng Kim Sơn, Phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh...

– Quê ngoại con ở làng Tám, tức là làng Hành Thiện, tỉnh Hà Đông.

– Đúng rồi. Thế quê ngoại con là quê ai nào ?

– Quê ngoại con là quê... bà nội...

– Không phải rồi... Không được cười em. . Em còn nhỏ, em nó nhớ thế là giỏi rồi. Ngày hai con bằng tuổi em, chưa chắc hai con đã nhớ được bằng nó. Quê ngoại của bố mới là quê bà nội chứ...

– Quê ngoại của con là quê... của mẹ...

– Đúng rồi. Có gì rắc rối đâu. Này nhé... ông nội con là người làng Linh Quy, tục gọi là làng Vui. Có khi còn gọi là làng Bụi, ở ven sông Đuống. Ông nội là cụ Dương Hoàng Giản, làm Thông Phán Tòa Tổng Đốc Hà Đông. Bà nội các con là bà Nghiêm Thị Lượng, con gái của Đốc Phủ Nghiêm Duy Ninh, ở làng Hòa Xá, phủ Vân Đình, tỉnh Hà Đông. Bố ra đời ở thành phố này.

Trước kia ông nội làm nhà ở đây, nhà hai tầng có vườn cây. Đẹp và rộng lắm. Đến 1946, đánh nhau với Pháp nhà ông nội bị phá đi. Phá sạch bao nhiêu đồ cổ của ông nội chôn ngoài vườn này, bố còn nhớ đúng là chôn chỗ gốc cây nhãn kia kìa. Hôm anh xe đào hố để chôn, bố có đứng coi. Ông nội xưa có mua nhiều đồ cổ lắm. Ông nội thích chơi lan và đồ cổ.

– Đồ cổ là gì hả bố ?

– Là những bát dĩa, lọ cổ làm từ ngày xửa ngày xưa ở bên Tàu. Đồ cổ càng lâu đời càng quý càng đắt tiền... Họ Dương nhà ta ở làng Bụi, bét lắm. Nghĩa là kém lắm, chẳng có ai nổi tiếng, trừ bác Dương Đức Hiền là có chút ít tiếng tăm. Bác Dương Đức Hiền là anh của bố. Các con phải gọi bằng bác. Các con nguyên là họ Dương. Họ Hoàng của bố và các con chỉ là họ rởm. Tức là họ giả. Để rồi bố sẽ làm lại tất cả khai sanh cho các con.

– Tại sao bố đang là họ Dương là thành họ Hoàng hả bố ?

– Năm 1954... năm ấy nước mình mới chia đôi, bố mẹ chưa đẻ các con, bố từ Saigon về chơi Hà Nội. Bố về chơi một mình không có mẹ các con đi theo. Khi trở vào Saigon, bố cùng đi với người di cư thấy được khai lại giấy, bố nghịch chơi mới bỏ thẻ cũ đi lấy thẻ mới toanh với cái tên mới. Không ngờ về sau bố cứ phải giữ mãi cái thẻ giả đó và cái họ Hoàng...

– Ngày đó bố đổi tên, ông nội có mắng bố không ?

– Không, ông nội cưng bố lắm. Bà nội cũng cưng bố nữa. Cũng như bây giờ bố mẹ cưng các con vậy. Mai sau khi các con lớn khôn các con có con, các con cũng cưng con các con như thế. Các con của các con rồi chúng nó cũng sẽ có con, chúng nó cũng sẽ lại cưng chiều, yêu con chúng nó như thế. Cứ thế mãi, không hao giờ họ Dương của chúng mình hết tình yêu cả..

– .....

-... Ngày xưa, ông nội thích chơi đồ cổ nhưng cũng có thú bắn chim bằng súng săn. Bố thường đi theo ông nội đi bắn. Đi xa thì đi xe nhà. Không phải xe ô-tô đâu. Xe nhà của ông nội ngày xưa là xe kéo. Xe tay do người kéo, các con không biết xe kéo vì ngày các con ra đời, nước mình đã hết xe kéo rồi. Xe tay do người kéo như ở bên Hồng Kông hãy còn đó... Ông nội ngày xưa cũng có xe kéo như thế nhưng mua riêng thì gọi là xe nhà. Thỉnh thoảng ông nội đi bộ chơi ở cánh đồng ngoài kia. Nếu nhà mình mà còn, bố sẽ đưa các con lên ban công trên kia, nhìn ra cánh đồng có con đường bố vẫn đi theo ông nội ngày bố còn nhỏ, nhỏ như Triều bây giờ vậy...Năm nhà ta bị phá người ta lúc đó gọi là tiêu thổ, bố mới có mười lăm tuổi



Thầy ơi. Thưa... Thưa... Thầy... Trên con đường đất quê xưa này, hai mươi nhăm năm về trước, thầy đã nhiều lần dắt con đi chơi. Những buổi chiều xuân xưa trời cũng mưa bụi lất phất bay và cũng đẹp như buổi chiều xuân hôm nay. Hôm nay, hơn hai mươi năm sau ngày thầy đi trên con đường này, con một mình trở lại đây, chân con lại bước trên những vết chân xưa cũ của Thầy như chân con năm xưa đã bước. Chiều nay con cho các cháu ở nhà. Vì con muốn một mình con đi lại con đường này với thầy. Buổi chiều này là của riêng hai cha con ta. Dù các cháu có là máu huyết của thầy con cũng không muốn có chúng nó đi theo thầy. Chỉ có mình con được đi theo thầy chiều nay trên con đường quê đất đỏ mịn này thôi.

Vì chiều nay con muốn, con vẫn là đứa con nhỏ được thầy mẹ nuông chiều hơn hai mươi năm về trước. Thầy ạ, có lần con nghe thầy nói: với cha mẹ yêu thương con, đứa con dù 30 tuổi vẫn còn nhỏ dại như ngày nó lên mười tuổi, đúng quá hả thầy ? Con nhớ khi thầy còn, năm con đã ba mươi nhăm tuổi, con đã sinh thằng Triều rồi, con bị đau thầy vẫn đưa con đi bác sĩ Mậu. Tới bệnh viện thầy vẫn kể bệnh con với bác sĩ y hệt ngày con nhỏ dại. Nhưng, thưa thầy, ở đời cũng có những đứa con mặc dầu đã ba bốn mươi tuổi nhưng đối với bố mẹ vẫn còn muốn là đứa con nhỏ bé được nuông chiều như ngày nó còn bé. Con là một đứa con như thế. Vì vậy chiều nay con mới muốn được một mình đi theo thầy trên con đường này.

Hơn hai mươi nhăm năm đã qua, cả ngàn buổi chiều xuân đã tắt trên cánh đồng này, cả ngàn triệu hạt mưa xuân đã rơi trên những luống cầy này, người ta và năm tháng đã làm cho cảnh vật ở đây thay đổi đi khá nhiều nhưng con vẫn còn tìm được nhiều điểm giống với cánh đồng làng Đơ và con đường mà ngày xưa cha con ta đã đi. Đi tới đoạn đường này ta nhìn thấy Chợ Đơ. Chỗ này ngày đó có một cái nhà gạch dùng làm nơi chứa xương bò, xương trâu để làm phân bón. Thầy có nhớ không ạ ? Đây là cái chuôm năm xưa con lén ra tắm bị thầy biết ra tóm cổ về đét cho mấy cái roi mây đau quắn đít... Mộ của mẹ già con trước kia để ở khúc này...

Con không còn thấy ngôi mộ xưa nữa. Người ta đã mang tất cả những quan quách ở đây đi nơi khác, nói là để dành đất sản xuất. Bây giờ cánh đồng phẳng lì những bờ ruộng ngoằn ngoèo chia cánh đồng thành từng ô như bàn cờ không còn nữa. Thầy chắc không thích cảnh đồng đều này. Từ những ngày đầu khi lá cờ đỏ xuất hiện, thầy đã không ưa họ. Ngày đó con mới lớn con bị mê hoặc vì những danh từ đẹp: độc lập, yêu nước, chống xâm lăng, kháng chiến.. Con đã bất mãn vì thái độ của thầy. Ngày đó con nghĩ rằng thầy lạc hậu hủ hóa, phản động nữa., và có một chuyện con làm thời đó mà thầy không hề biết «không hề ngờ».

Đó là việc cán bộ ở thị xã đưa con vào một tổ chức có cái tên đẹp là Tình Báo nhưng thực sự là làm việc mật thám, một bọn mật thám trẻ con rình rập những cử chỉ, những lời nói của bố mẹ để đem tới báo cáo trong những cuộc hội họp. Con và một số các bạn con đều là những thiếu niên mười lăm, mười sáu tuổi, bọn con còn biết ai khác, ngoài bố mẹ để dò xét. Họ tổ chức bọn con thành mật thám cũng chỉ là để bọn con cho họ biết những hành động, ý nghĩ của người trong gia đình bọn con thôi. Con đã nghe lén những cuộc nói chuyện của thầy với các ông bạn thầy để đem lại kể cho họ nghe. May sao chiến tranh tới làm cho cái tổ chức ma bùn đó tan đi. Nếu không con sợ việc làm dại dột, ngu si của con hồi đó đã có hậu quả xấu. Bây giờ mỗi khi nghe nói đến chuyện họ tổ chức cho con cái theo dõi cha mẹ, con đấu tố cha mẹ công khai, con tin ngay chuyện đó có. Trẻ con ngu dại không biết gì, cha mẹ vẫn yêu thương con dù con có ngu dại, cố làm hại mình, nhưng cha mẹ vẫn đau đớn khi nhìn thấy mình mất con chứ. Nói dại như bây giờ bọn thằng Nguyên, thằng Triều chúng nó không yêu con, không tin con là cha chúng nó bằng tin bọn cán bộ – bất cứ là cán bộ nào – con không biết là con sẽ đau đớn đến là chừng nào.

Con đường này chiều xuân xưa cha con ta đã đi... Năm ấy con mười hai mười hai, mười ba tuổi, con bằng thằng Nguyên bây giờ. Con còn nhớ lắm. Mùa xuân cánh đồng làng Đơ hai bên đường trồng toàn rau, đậu. Những cành lá xanh nõn vùng trời không hạt bụi. Đang đi thầy bỗng hỏi con mai lớn lên con làm gì ? Ý thầy muốn con trả lời con muốn mai sau làm tri phủ, tri huyện, làm Tổng Đốc như ông Hồ Đắc Điềm hoặc làm bác sĩ, kỹ sư. Nếu con trả lời như thế chắc thầy vui lắm. Nhưng con lại phăng phăng nói rằng mai sau con muốn làm nhạc sĩ. Kể thì cũng lạ, sinh trưởng trong một gia đình công chức khuôn phép, con lại nẩy ra ước muốn làm nghệ sĩ.

Ông ngoại con hay chữ, làm thơ hay, mẹ con cũng thích thơ phú, chắc con chịu ảnh hưởng bên ngoại. Con thấy quê ta, làng Bụi, làng nhỏ, ruộng nghèo ao tù, nước giếng không lấy gì làm trong lắm, đa số con gái làng mắt toét, chẳng có gì đẹp đẽ có thể sanh ra nghệ sĩ. Nếu có, chỉ là thứ nghệ sĩ dở hơi, tài ít, nghệ sĩ làng bụi như con nếu phải sống một cuộc đời nghệ sĩ bụi bậm, vất vả, đói rách, là đúng quá rồi còn gì. Chắc thầy cho ý muốn đó của con là một ý muốn con nít, chưa chín mùi, nên thầy dịu dàng bảo con nghề đàn hát không nuôi nổi người, đàn hát không phải là một nghề, đó chỉ là một thú vui chơi, con cần phải chịu khó học, thi đỗ, đi làm lấy tiền nuôi thân và vợ con. Con có thể chơi đàn nhưng không thể kiếm tiền với đàn hát.

Quan niệm của thầy về nghệ sĩ và nghề nghiệp đúng với thời đó, nó không đúng với thời con trưởng thành. Nhưng chiều nay, cha con ta đi trở lại con đường năm xưa không phải là để xác định lại quan niệm của ta về nghề ngỗng.

Thầy muốn con làm công chức nhưng con đã không làm được công chức rồi. Con muốn trở thành nhạc sĩ nhưng con đã không thành nhạc sĩ... Cuộc đời con đã được an bài. Chiến tranh đã tới trên quê hương ta hơn hai mươi năm. Con đã tham dự cuộc chiến tranh đó ở cả hai phía và con đã sống sót. Thầy chỉ mong được sống những ngày cuối ở quê ta và thầy đã phảí nằm lại bên những người xa lạ trong một nghĩa trang lạ gần thành phố Saigon. Con không thể mang tất cả hài cốt của thầy về quê ta như thầy muốn, như con muốn... Con đành làm như thế này vậy ...

Ngày mai con sẽ cho vợ con các cháu trở về làng Bụi. Trong hành trang con có một cái bọc gói kỹ. Trong bọc đó là khăn áo của thầy, có cả đôi giầy tây thầy vẫn đi và cái đồng hồ quả quýt của thầy nữa. Ngày mai con sẽ đem chôn khăn áo của thầy ở cánh đồng làng, bên cạnh mộ ông con. Con sẽ thắp hương và con sẽ khóc. Con tin rằng thầy sẽ bằng lòng dù bây giờ âm dương cách trở, thầy không thể cho con biết là con phải làm gì. Thầy suốt đời sống không bao giờ đòi hỏi gì cho bản thân, không cả những đòi hỏi hợp lý như là đời chúng con phải yêu thương, vẫn khuyên chúng con không nên đòi hỏi nhiều trong khi đất nước chiến tranh. Thầy vẫn khuyên con nên sống thanh đạm và hài lòng, vui vẻ với những cái gì mình có. Rất có thể là thầy đã về quê ta từ lâu rồi, nhưng con vẫn đem khăn áo và hơi hướng của thầy về chôn trong lòng đất quê hương. Cũng có thể là con làm việc đó cho lòng con êm ả nhiều hơn là lòng thầy êm ả.



Em yêu, hai mươi nhăm năm rồi anh mới lại được nằm ngủ trong lòng Hà Nội, trong một căn nhà Hà Nội. Đêm vẫn có trăng sao và đêm vẫn không có mặt trời, đêm vẫn yên lặng và đêm vẫn hiếu hòa. Loài người chiến tranh nhưng trời đất đêm ngày không có chiến tranh. Dù chúng ta tàn ác chém giết nhau trong hai mươi năm qua, đêm vẫn tới và ngày mai mặt trời vẫn trở lại. Và đêm tới em vẫn ngủ, các con chúng ta vẫn ngủ. Chỉ mình anh thao thức. Anh không ngủ được vì anh đang sung sướng chứ không phải vì anh lo sợ hay đau đớn. Vì anh đã phải xa Hà Nội trong bao nhiêu năm, đêm này anh muốn thức sáng đêm Hà Nội.

Ngày anh đi khỏi Hà Nội, anh đi có một mình. Bây giờ trở về, anh mang theo em và các con. Anh trở về giàu có quá. Anh không mang tiền bạc về cho quê hương, anh mang về cho quê hương những ba công dân mà anh hy vọng, mà anh tin rằng sẽ là những người công dân tốt.

Con của bố, các con của bố... Mai sau các con đừng làm gì hại cho quê hương nhé. Nếu các con chẳng làm được gì lợi cho quê hương, thì cũng chẳng sao, chỉ cần các con đừng làm hại. Quê hương vẫn yêu thương các con như bố mẹ yêu thương các con, quê hương không đòi hỏi các con phải làm lợi cho quê hương cũng như bố mẹ không bao giờ đòi các con phải phụng dưỡng. Chỉ cần các con đừng làm hại quê hương, đừng chối bỏ quê hương để nhìn nhận và phụng sự một quê hương khác. Các con hãy cố tưởng tượng xem nếu mai sau các con trưởng thành, các con có những đứa con kháu khỉnh, thông minh mà các con hết lòng yêu mến, nếu chúng chối bỏ các con để nhận người khác làm bố mẹ, nếu chúng chỉ mặt các con, chửi mắng các con, các con sẽ đau đớn biết là chừng nào. Quê hương cũng đau đớn như thế nếu các con làm như thế.

Nhưng bố lẩm cẩm mất rồi, bố quá lo xa phải không Triều, Nguyên, Giang ? Các con nhớ nhé: tên các con đều có «nước» ở bên trong. Viết tên chúng ta thành chữ Hán, mỗi tên đều có mang chấm «thủy». Ông nội là suối, bố là biển. Nguyên là nguồn, Giang là sông, Triều là sóng, mẹ con là nước. Bố là biển, nếu bố không có mẹ đời bố sẽ khô khan như biển không có nước, mà cũng chỉ có biển mới có thể chứa hết nước của trời đất. Chỉ có tình yêu của bố mới có thể đủ cho tình yêu của mẹ các con. Bố tin rằng các con sống được nhờ có nước, các con sẽ chẳng bao giờ quên nước, còn chuyện các con sẽ làm gì cho nước, đó là chuyện mai sau của riêng các con.

Em yêu, đêm nay nhìn các con say ngủ, anh đã hiểu tại sao tuổi trẻ của tình yêu lại không bao giờ mất, mà tuổi trẻ của chính đôi ta thì mất. Anh đã hiểu, vì anh đã thấy ... Tuổi trẻ của chúng ta đi đâu? Em đã thấy chưa ? Em hãy nhìn con chúng ta... Tuổi trẻ của đôi ta đấy...



Em và các con yêu dấu,

«Anh viết truyện này với tất cả tình yêu của anh, tình yêu Hà Đông những-ngày-anh-mới-lớn, cũng như sau này anh sẽ viết về em, về các con, về tình yêu của anh với em, về tình yêu của anh với các con. Nếu trên đời này có một người nào yêu mến thành phố cũ của mình đến độ làm ngạc nhiên người khác, anh cũng yêu Hà Đông như thế. Nếu em thấy một người chồng nào yêu vợ, nếu các con thấy một người bố nào yêu con đến cái độ làm cho em, cho các con ngạc nhiên, em và các con có quyền nghĩ rằng em đã được yêu, các con đã được yêu, như thế».

Sàigòn, 1967

Hoàng Hải Thủy




Đăng nhập để trả lời
0