Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Kết Hôn Với Người Chết - Cornell Woolrich 🔒

5 trả lời, 23 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.03.2023 14:48:59 bởi Ct.Ly>
Kết Hôn Với Người Chết
 Cornell Woolrich
Dịch giả: Nguyễn Thành Long
—★—
PHÚC MINH & NXB VĂN HỌC

 
 
 
Mở Đầu
Dễ chịu biết bao những đêm hè ở Caulfield.
Đêm thoảng hương hoa vòi voi, hoa nhài, hoa kim ngân và cỏ ba lá. Những vì sao nơi đây vừa ấm vừa thân thiện, chứ không lạnh lẽo và xa xăm như ở quê tôi; chúng như sà thấp xuống, tiến gần với chúng ta hơn. Làn gió thoảng khẽ lay động tấm màn bên khung cửa sổ để mở, mềm mại và nhẹ nhàng như nụ hôn của em bé. Và nếu chịu khó lắng tai nghe, ta sẽ nhận thấy nó mang theo tiếng xào xạc của những thân cây sum sê cành lá đang trở mình và tiếp tục say ngủ. Ánh đèn từ các ngôi nhà chiếu lên thảm cỏ bên ngoài và lát lên chúng những dải đồng dài. Mọi vật đều chìm trong cái lặng im, tĩnh tại của bình yên và an toàn tuyệt hảo. Ồ, đúng vậy, những đêm hè ở Caulfield rất dễ chịu.
Nhưng không phải với chúng tôi.
Những đêm đông cũng vậy. Cả những đêm thu và đêm xuân.
Không phải với chúng tôi, không phải với chúng tôi. Ngôi nhà của chúng tôi ở Caulfield thật dễ chịu. Thảm cỏ xanh mướt lúc nào trông cũng như vừa được tưới nước, bất kể khi ấy đang là mấy giờ. Những vòng tròn lấp lánh, hút khí của bộ vòi phun nước cứ mãi quay đều, và quay đều; khi quan sát đủ kỹ, ta sẽ thấy chúng vẽ lên những dải cầu vồng ngay trước mắt. Lối đi cho xe vào sạch bóng, uốn vòng. Những cây cột chống hiên rực trắng dưới ánh mặt trời. Bên trong nhà, những thanh lan can trắng cong cong, đối xứng và thanh tao như cây cầu thang sẫm màu, bóng loáng trải từ trên tầng xuống. Những mặt sàn cổ đắt tiền sáng bóng xa-tanh, nếu dừng lại ngửi sẽ thấy thoảng hương sáp và dầu chanh đặc trưng. Và sự mềm mại của tấm thảm. Gần như mỗi phòng đều có một chiếc ghế ưa thích đợi sẵn, để chào đón ta như đón một người bạn lâu năm mỗi khi ta vào phòng, dành chút thời gian bầu bạn với nó. Khách khứa đến thăm nhà sẽ phải thốt lên, “Còn nơi nào hơn nơi này được nữa? Đây là một mái ấm theo đúng chuẩn.” Vâng, ngôi nhà của chúng tôi ở Caulfield thật dễ chịu.
Nhưng không phải với chúng tôi.
Thật hạnh phúc làm sao khi được ngắm nhìn con trai chúng tôi, Hughie của chúng tôi, đứa con của anh và tôi, lớn lên ở Caulfield. Trong ngôi nhà rồi mai đây sẽ là của nó, trong cái thị trấn rồi mai đây cũng sẽ là của nó. Nhìn ngắm nó chập chững những bước đầu tiên, cho thấy rằng bây giờ nó đã biết đi. Được nghe và nâng niu mỗi câu từ mới mẻ, vụng về phát ra từ cặp môi của nó. Mỗi lần nó phát âm thêm một từ mới là lại chứng tỏ rằng giờ nó đã biết nói.
Nhưng chẳng hiểu vì sao, ngay cả điều ấy chúng tôi cũng không được hưởng. Ngay cả điều ấy cũng như bị nẫng mất, bị ăn cắp, theo cái cách mơ hồ nào đó tôi không thể nào diễn tả được. Đó là một thứ chúng tôi không đáng được hưởng, một thứ vốn không thuộc về chúng tôi.
Tôi yêu anh ấy vô cùng. Bây giờ, tôi đang nhắc đến Bill, người đàn ông của đời tôi. Và anh cũng yêu tôi. Tôi biết mình yêu anh, tôi biết anh cũng yêu tôi, tôi không nghi ngờ gì chuyện đó. Ấy nhưng, tôi cũng biết chắc chắn một điều, đó là, một ngày nào đó, có khi trong năm nay, có khi vào năm sau, anh ấy sẽ bất chợt gói ghém đồ đạc, rời đi và bỏ rơi tôi. Mặc dù anh ấy không muốn như vậy. Mặc dù anh ấy sẽ vẫn yêu tôi, yêu chẳng kém gì cái ngày tôi nói lời này.
 
Hoặc nếu như anh không đi, tôi sẽ là người ra đi. Tôi sẽ xách va li lên và bước qua cánh cửa kia, không bao giờ quay lại. Mặc dù tôi sẽ không muốn thế. Mặc dù tôi sẽ vẫn yêu anh ấy, yêu như cái ngày tôi nói lời này. Tôi sẽ bỏ lại đằng sau ngôi nhà của mình. Tôi sẽ bỏ lại đằng sau đứa con của mình, trong căn nhà rồi mai đây sẽ là của nó, và tôi sẽ bỏ lại đằng sau con tim mình, cùng với người đàn ông mà tôi đã trao trái tim đó (làm sao tôi có thể mang nó theo được chứ?), nhưng tôi vẫn sẽ đi và sẽ không bao giờ quay lại.
Chúng tôi đã cố chống lại nó. Chúng tôi đã gồng người lên chống lại, theo mọi cách mà chúng tôi biết. Theo mọi cách trên đời. Chúng tôi đã đẩy lui được nó, cả ngàn lần chúng tôi đã đẩy lui được nó, nhưng rồi với một ánh mắt, một lời nói, một ý nghĩ, nó cứ thế quay lại, cứ ở mãi đó.
Sẽ chẳng ích gì dù tôi có nói với anh, “Anh không làm chuyện ấy. Anh đã một lần bảo với em như vậy. Một lần là đủ rồi. Đã muộn thế này rồi thì không cần phải nhắc lại làm gì nữa. Em biết anh không làm chuyện ấy. Ôi, anh yêu, Bill của em, anh không nói dối. Anh không bao giờ nói dối, dù là chuyện tiền bạc, hay chuyện danh dự, chuyện yêu đương.”
(Có điều đây chẳng phải chuyện liên quan đến tiền bạc, danh dự, hay yêu đương. Đây là một chuyện khác hẳn. Đây là chuyện giết người.)
Chẳng có ích gì, bởi tôi không tin điều đó. Vào lúc anh ấy nói, có thể tôi sẽ tin. Nhưng một thoáng sau, hay một giờ sau, một ngày hay một tuần sau, tôi sẽ lại một lần nữa không tin. Chẳng có ích gì cả, bởi lẽ chúng ta không chỉ sống trong một khoảnh khắc duy nhất, chúng ta không thể sống như vậy. Những khoảnh khắc khác sẽ lại tiếp nối, rồi đến hàng tiếng, hàng tuần, và, ôi Chúa ơi, hàng năm.
Cứ mỗi lần anh ấy nói về chuyện đó, tôi biết mình không phải là thủ phạm. Tôi chỉ biết có vậy. Tôi biết rất rõ, quá rõ. Như vậy tức là chỉ còn...
Và cứ mỗi lần tôi nói về chuyện đó, có thể anh ấy cũng biết mình không phải là thủ phạm (nhưng tôi không thể biết được, tôi không thể, không có cách nào để anh ấy giải thích cho tôi tin). Anh ấy biết rất rõ, quá rõ. Như vậy tức là chỉ còn.
Không ổn, không ổn chút nào hết.
Một đêm nọ, hồi sáu tháng trước, tô khuỵu gối xuống trước mặt anh ấy, thằng bé ngồi giữa chúng tôi, trên cặp đầu gối khuỵu xuống của tôi. Tôi úp tay lên đầu đứa bé, và tôi thề với anh ngay tại đó. Nhỏ giọng lại để thằng bé không hiểu được.
“Nhân danh con em. Bill, em thề với anh trên tính mạng con em là em không làm chuyện ấy. Ôi Bill ơi, em không làm chuyện ấy.”
Anh đỡ tôi dậy, choàng tay ôm lấy tôi và kéo tôi sát vào người anh.
“Anh biết em không làm chuyện ấy. Anh biết mà. Anh còn có thể nói gì nữa đây? Anh biết nói với em thế nào nữa đây? Ra đây, nằm lên tim anh đi, Patrice. Có thể nó sẽ bày tỏ được với em tử tế hơn anh. Lắng nghe tim anh đi, em không cảm nhận được là nó tin em sao?”
Và trong khoảnh khắc, con tim ấy đã tin, trong cái khoảnh khắc đong đầy tình yêu của chúng tôi. Nhưng sau đó, khoảnh khắc khác lại đến, vẫn cái khoảnh khắc luôn đến sau đó. Và anh ấy bắt đầu nghĩ. Nhưng anh biết anh không làm chuyện ấy. Anh biết rất rõ không phải là anh. Như vậy tức là chỉ còn...
Rồi ngay cả khi vòng tay anh siết chặt quanh tôi, và bờ môi anh hôn lên mắt tôi, xua đi giọt lệ nhòa, thì anh đã không tin tôi. Anh ấy đã lại không tin rồi.
 
Không có lối thoát nào cho chúng tôi. Chúng tôi đã bị tóm gọn, bị mắc bẫy. Cái vòng tròn ấy lần nào cũng tàn bạo tự khép kín vòng quay và chúng tôi bị mắc kẹt bên trong, không thể nào mở đường thoát ra ngoài. Bởi nếu anh ấy vô tội, thì thủ phạm phải là tôi. Còn nếu tôi vô tội, thủ phạm sẽ phải là anh ấy. Nhưng tôi biết mình vô tội. (Ấy nhưng, có thể anh ấy cũng nghĩ như thế về bản thân.) Không có lối thoát nào cho chúng tôi.
Đôi khi, quá mệt mỏi với việc phải tìm cách xua đuổi nó, chúng tôi tuyệt vọng bỏ mặc tất cả, nhào về phía nó, thử chấp nhận nó, để giải quyết dứt điểm mọi sự.
Có lần, bởi không thể chịu đựng thêm nữa cái cảm giác suốt ngày bị một bóng ma vô hình nhòm ngó, anh đột nhiên bật dậy khỏi chiếc ghế đang ngồi bấy lâu, mặc dù suốt một giờ vừa qua chẳng ai nói câu gì. Anh ấy quẳng cuốn sách nãy giờ không hề đọc, chỉ vờ cầm lên thôi, quăng ra thật xa như mẩu gạch vụn. Anh đứng bật dậy thô bạo như thể sắp xông lên vật nhau với thứ gì đó mà anh nhìn thấy trước mắt. Và tim tôi dường như cũng điên cuồng bật tung ra ngoài lồng ngực cùng với anh.
Anh tiến ra đầu bên kia căn phòng và dừng lại - đứng im ở đó. Và anh nắm tay lại, giơ cao, và đánh rầm một tiếng như sấm nổ vào cánh cửa, mạnh đến mức nếu mấy tấm kính không đủ dày thì chắc đã vỡ tan thành từng mảnh rồi. Sau đó, anh quay lại và gào lên thách thức trong bất lực.
“Anh không quan tâm! Chuyện ấy chẳng có gì quan trọng! Em có nghe anh nói không? Chuyện ấy không quan trọng! Đã từng có người làm thế rồi. Rất nhiều lần. Và sau đó vẫn sống hạnh phúc. Tại sao chúng ta lại không làm thế? Hắn chẳng phải hạng tử tế gì. Hắn đáng bị như vậy. Hắn không đáng để chúng ta phải bận tâm đến lần thứ hai. Hồi đó cả thế giới này đều nói thế, bây giờ người ta vẫn nói như vậy. Hắn không đáng để chúng ta phải sống trong cái địa ngục này một phút nào cả...”
Và rồi anh rót cho mỗi người một ly, rót rất đầy, rất bất cần và đem chúng quay về phía tôi. Và tôi, khi ấy đã hiểu, đã đồng tình, đã hoàn toàn tán thành với anh, đứng dậy và ra giữa phòng với anh.
“Đây, em cầm lấy đi. uống đi. Ngửa cổ nốc đi. Nốc cho đến khi cạn hết đi. Một trong hai ta đã làm chuyện ấy. Nó không còn quan trọng nữa. Chuyện đã lỡ rồi. Bây giờ chúng ta hãy tiếp tục sống.”
Và anh tự đập tay lên ngực mình, “Được rồi, anh đã làm chuyện ấy. Đây. Anh là thủ phạm. Giờ đã xong hết rồi. Cuối cùng cũng giải quyết xong rồi.”
Và rồi tự nhiên chúng tôi nhìn sâu vào mắt nhau, ly của rượu run rẩy trên không, được hạ xuống, và rồi lại nâng lên.
“Nhưng anh không tin như vậy,” tôi khiếp đảm thì thầm.
“Còn em thì tin,” anh thì thào trong nỗi bàng hoàng.
Ôi, nó là mọi thứ, nó ở khắp mọi nơi.
Chúng tôi đã bỏ đi chơi xa, nhưng nó vẫn tồn tại ở mỗi nơi chúng tôi đến. Nó xuất hiện trong làn nước xanh sâu thẳm của hồ Louise, và trên cao, nơi những tầng mây trắng như lông cừu trên vịnh Biscayne. Nó lăn lộn không ngừng cùng những đợt sóng vỗ tại Santa Barbara, và lẩn khuất giữa những rặng đá san hô vùng Bermuda, dưới dạng một bông hoa thẫm màu hơn những bông còn lại.
Chúng tôi quay về nhà, và nó lại xuất hiện ở nơi chúng tôi vừa quay lại.
Nó nằm giữa những dòng chữ in trên giấy của những cuốn sách mà chúng tôi đã đọc. Nhưng nó thò ra, đen ngòm, và các trang sách trở nên không thể đọc nổi. Anh ấy có đang nghĩ đến chuyện kia trong lúc mình đọc sách không? Giống như mình đang làm bây giờ vậy? Mình sẽ không ngước lên nhìn anh ấy, mình sẽ dán mắt vào cuốn sách này, nhưng... giờ anh ấy có đang nghĩ đến nó không?
Nó là bàn tay chìa tách cà phê sang bên kia bàn lúc ăn sáng, để chờ cái bình rót vào. Trong một thoáng nó đỏ rực như máu, thế rồi lại quay về với vẻ trắng nhợt như bình thường. Hoặc có khi, đối với người còn lại, nó lại xuất hiện trong bàn tay đối diện, cái bàn tay nghiêng bình cà phê; tất cả tùy vào vị trí ngồi bên bàn của người nhìn.
Một ngày nọ, tôi thấy ánh mắt anh nán lại trên tay mình, và tôi biết lúc ấy anh đang nghĩ gì. Bởi vì tôi cũng đã nhìn vào tay anh ấy theo kiểu tương tự vào hôm trước, và khi ấy tôi cũng nghĩ như những gì mà anh ấy đang nghĩ.
Tôi thấy anh ấy thoáng nhắm mắt lại để gạt bỏ ảo ảnh bệnh hoạn kia đi; và tôi cũng nhắm mắt để gạt bỏ những gì mà hành động ấy của anh đã truyền tải cho mình. Thế rồi hai chúng tôi mở mắt ra và mỉm cười, bảo nhau rằng ban nãy chẳng có chuyện gì xảy ra cả.
Nó nằm trong những khung hình mà chúng tôi thấy trên màn ảnh ở rạp chiếu phim. “Ra khỏi đây thôi, anh... chán lắm rồi, còn em thấy thế nào?” (Có ai đó sắp sửa giết ai đó, trên màn ảnh, chuẩn bị diễn ra rồi và anh ấy biết cảnh ấy sắp đến.) Nhưng dù chúng tôi có đứng dậy và bỏ đi thì cũng đã quá muộn, bởi anh ấy biết tại sao chúng tôi lại rời đi, tôi cũng biết điều ấy. Và ngay cả nếu đến tận khi ấy tôi vẫn không biết thì cái việc kia, chính hành động rời đi của chúng tôi, cũng sẽ cho tôi biết. Thế nên rốt cuộc cẩn thận như thế cũng chỉ phí công. Nó lại hiện diện trong tâm trí chúng tôi.
Nhưng kể cả như thế, bỏ đi vẫn khôn ngoan hơn là ở lại.
Tôi nhớ một đêm nọ, cảnh ấy đến quá nhanh, diễn ra bất chợt hơn chúng tôi tưởng, chẳng có gì cảnh báo trước. Chúng tôi không kịp ra ngoài. Chúng tôi vẫn đang bước dọc lối đi, quay lưng với màn hình, thì tự nhiên vang lên một tiếng súng, rồi một giọng nói rên rỉ đầy cáo buộc, “Mày đã... mày đã giết tao.”
Đối với tôi, câu nói đó nghe như giọng của hắn và hắn đang nói với chúng tôi, với một trong hai chúng tôi. Trong khoảnh khắc đó, tôi cảm thấy như tất cả khán giả đều quay đầu lại, nhìn về phía chúng tôi, nhìn chằm chằm chúng tôi, với vẻ tò mò lãnh đạm của một đám đông khi có người bị lọt vào tâm điểm chú ý.
Tôi thoáng thấy đôi chân như không chịu đưa tôi đi thêm bước nào nữa. Tôi luống cuống đứng đó một phút như thể sắp bất lực ngã lăn ra cái hành lang trải thảm. Tôi quay lại nhìn anh và thấy đầu anh đã co rụt lại trong giây lát, thụt xuống giữa đôi vai đầy tự vệ, không lẫn đi đâu được. Trong khi bình thường anh ấy luôn giữ thẳng đầu. Một thoáng sau, nó lại vươn thẳng lên, nhưng trong khoảnh khắc vừa rồi thì nó không thẳng, nó đã co rúm lại.
Thế rồi, như thể cảm thấy lúc đó tôi cần đến anh, bởi vì có thể anh cũng cần đến tôi, anh choàng tay quanh eo, và đỡ tôi đi nốt cái hành lang, giữ cho tôi thăng bằng, hứa rằng sẽ đỡ tôi, mặc dù anh chẳng thể đỡ được tôi là mấy.
Ra đến sảnh chờ, mặt mày hai chúng tôi chẳng khác nào phấn bảng. Chúng tôi biết được điều ấy không phải vì đã nhìn vào nhau, mà nhờ mấy tấm gương treo bên phòng.
Chúng tôi không bao giờ uống rượu. Chúng tôi đủ khôn để hiểu là không nên. Tôi tin rằng chúng tôi linh cảm được rằng thay vì khép cánh cửa nhận thức lại, rượu sẽ chỉ khiến nó mở tung hết ra và để nỗi kinh hoàng tràn hẳn vào trong. Nhưng tôi nhớ vào đêm hôm đó, khi chúng tôi ra ngoài, anh ấy nói, “Em có muốn làm gì không?”
 
Anh ấy không nói đi uống rượu, chỉ nói là 'làm gì'. Nhưng tôi hiểu 'làm gì' tức là sao. “Vâng,” tôi lặng lẽ rùng mình.
Chúng tôi thậm chí không đợi cho tới khi về đến nhà; như vậy thì lâu quá. Chúng tôi vào một chỗ cạnh rạp chiếu phim, tiến lại gần quầy rượu, và nốc thứ gì đó vào họng. Ba phút sau chúng tôi đã lại ra khỏi đó. Thế rồi cả hai lên xe và lái xe về nhà. Và chúng tôi không nói nỗi câu nào suốt chặng đường đi.
Nó ẩn trong tận nụ hôn chúng tôi trao nhau. Bằng cách nào đó, chúng tôi đã để nó kẹt ngay giữa đôi môi mình, lần nào cũng vậy. (Mình hôn anh ấy mãnh liệt quá ư? Liệu việc đó có khiến anh ấy nghĩ là bấy giờ mình đã lại tha thứ cho anh ấy? Mình hôn anh ấy lớt phớt quá à? Liệu việc đó có khiến anh ấy nghĩ là bấy giờ mình đã lại nghĩ đến nó không?)
Nó ở khắp mọi nơi, nó tồn lại khắp mọi lúc, nó chính là chúng tôi.
Tôi không biết trò chơi này là gì. Tôi chỉ biết tên của nó, người ta gọi nó là cuộc đời.
Tôi không chắc mình biết nó cần được chơi theo kiểu nào. Chưa một ai từng nói cho tôi biết cả. Chưa một ai từng nói cho người khác biết cả. Tôi chỉ biết chúng tôi chắc chắn đã chơi sai cách. Chúng tôi đã phá vỡ quy tắc nào đó trong tiến trình chơi, và chẳng hề hay biết.
Tôi không biết mức cược là như thế nào. Tôi chỉ biết chúng tôi đã bỏ cuộc, trò chơi ấy không dành cho chúng tôi.
Chúng tôi đã thua. Tôi chỉ biết có vậy. Chúng tôi đã thua, chúng tôi đã thua.
 
 
 
 
Chương I


Cánh cửa đóng kín lại. Nó chứa đựng vẻ tàn nhẫn đầy dứt điểm, như thể từ nay về sau nó sẽ luôn bị đóng như thế. Như thể chẳng thứ gì trên đời này có thể khiến nó mở ra trở lại. Cửa có thể bộc lộ nhiều điều. Cánh cửa này có khả năng đó. Nó trơ lì, vô hồn; nó không dẫn đi đâu cả: Nó không phải là điểm bắt đầu của thứ gì cả, khác hẳn bản chất của một cánh cửa. Nó là điểm kết thúc của một sự vật.
Bên trên nút nhấn là một cái giá nhỏ hình chữ nhật, làm bằng kim loại, gắn vào mặt gỗ, mục đích là để trưng một cái thẻ tên. Nó hiện đang trống rỗng. Cái thẻ đã bị bỏ đi.
Cô gái đứng im trước cánh cửa. Im như tượng. Cô đứng im theo cái kiểu người đã phải đứng rất lâu; lâu đến mức quên cả cử động vì đã quen với trạng thái bất động. Ngón tay cô đặt trên nút nhấn chuông, nhưng nó không nhấn xuống. Không chút lực nào được tác động lên nó; không âm thanh gì được phát ra từ bộ ắc quy sau khung cửa. Cứ như thể cô giữ tay ở đó lâu quá rồi, thế nên cô quên không rụt nó về.
Cô trạc 19 tuổi. Một cô gái 19 tuổi buồn bã, vô vọng, chứ không phải một thiếu nữ tươi tỉnh, sáng sủa. Cô sở hữu những đường nét thanh nhỏ và yêu kiều, nhưng mặt cô có vẻ hơi hốc hác, màu da cô hơi tái, má cô hơi gầy. Sắc đẹp của cô vẫn ở đó, ẩn mình, sẵn sàng giành lại quyền ngự trị trên gương mặt khi có cơ hội, nhưng có thứ gì đã đẩy lùi, giữ chân nó ở một khoảng xa, không thể ngời lên đúng với bản chất của mình.
Mái tóc cô có màu nâu nhạt, èo uột và bơ phờ, như thể đã một thời gian chẳng ai ngó ngàng gì đến. Gót giày của cô đã hơi mòn vẹt. Thò lên một bên giày là miếng vá dưới gót chiếc tất của cô. Quần áo cô chỉ để cho có, như thể chúng khoác lên người nhằm mục đích che lấy thân chứ không phải để hợp thời trang, hay thậm chí là để tạo sự hấp dẫn. Cô sở hữu một vóc dáng khá cao đối với một cô gái, khoảng một mét bảy hai, bảy ba gì đó. Nhưng cô lại quá gầy gò, ngoại trừ ở một nơi duy nhất.
Đầu cô hơi gục xuống, như thể cô đã quá mệt mỏi vì phải giữ thẳng nó. Hoặc như thể những cú đánh vô hình đã dần khiến nó gục xuống, gục theo từng đòn, từng đòn.
Cuối cùng, cô cũng cử động. Mãi tận bây giờ mới cử động. Tay cô buông xuống từ cái nút nhấn, cứ như bị chính trọng lượng của mình kéo xuống. Nó hạ xuống bên người cô, treo ở nguyên đó, đờ đẫn. Một bên chân xoay lại, như thể chuẩn bị bỏ đi. Đợi một lúc. Thế rồi bên chân còn lại cũng xoay nốt. Lưng cô giờ đã đối diện với cửa. Với cánh cửa không chịu mở. Cái cánh cửa như tấm bia mộ, cái cánh cửa của thời khắc lâm chung.
Cô chậm rãi đưa một bước bỏ đi. Sau đó lại đưa thêm bước nữa. Đầu cô giờ gục xuống sâu hơn hẳn. Cô chầm chậm rời khỏi đó và bỏ cánh cửa lại phía sau. Cái bóng của cô là phần cuối cùng của cô rời đi. Nó chậm rãi bám đằng sau cô, dựng thẳng lên tường. Đầu nó cũng hơi gục xuống; nó cũng quá gầy gò, nó cũng bị ruồng bỏ. Nó nán lại một lát sau khi cô đã biến mất hẳn. Thế rồi nó trườn xuống khỏi tường đuổi theo cô, và nó cũng biến mất nốt.
Ở đó chẳng còn lại gì ngoài cánh cửa. Cánh cửa im lìm, lì lợm, đóng kín.
 
 
 
Chương 2
 
Bên trong bốt điện thoại, cô lại trở nên bất động.
Bất động như ban nãy. Đây là một bốt điện thoại thu phí, cửa được kéo lui lại để lấy không khí mà thở. Nếu ở trong cái bốt như thế này quá vài giây, thì sẽ rất ngột ngạt. Và cô đã đứng trong cái bốt này nhiều hơn vài giây rồi.
Cô cứ như con búp bê được dựng thẳng trong hộp quà, một bên hộp đã được mở để người ta có thể nhìn thấy thứ bên trong. Một con búp bê sờn rách. Một con búp bê ế ẩm, hạ giá, không có nơ tươi màu hay giấy gói. Một con búp bê không ai đem cho, cũng chẳng ai chịu nhận. Một con búp bê không ai buồn sở hữu.
Cô lặng im ngồi trong đó, mặc dù nơi này đáng ra phải là chỗ để trò chuyện. Cô đang đợi được nghe thấy điều gì đó, một điều không bao giờ xuất hiện. Cô giữ ống nghe chĩa về phía tai mình, và chắc hẳn lúc đầu nó đã được đặt sát tai cô, vuông góc với nó, đúng vị trí đặt ống nghe. Nhưng là từ lâu trước đó rồi. Cứ mỗi phút dài dằng dặc, tràn đầy thất vọng trôi qua, nó lại dần hạ xuống, và đến giờ thì đã hạ hẳn xuống vai cô, bám ở đó, héo hắt, ủ rũ, như một bông phong lan xấu xí, đen đúa, làm từ nhựa cứng gài trên ngực áo.
Cuối cùng sự im lặng vô danh cũng trở thành một giọng người. Nhưng không phải cái giọng cô muốn nghe, không phải cái giọng cô đang đợi chờ.
“Tôi rất tiếc, nhưng tôi đã nói với cô rồi. Đợi đường dây này chẳng ích gì đâu. Số máy đó đã bị ngưng sử dụng, và tôi không thể cho cô biết thêm bất cứ thông tin gì.”
Tay cô tuột xuống khỏi vai, kéo cái ống nghe theo cùng, và rơi vào trong lòng cô, chết lặng. Nó rơi xuống và không còn động đậy gì nữa, như thể cho đồng bộ với thứ gì đó mới chết đi trong cô.
Nhưng đôi khi, cuộc đời thậm chí còn không chịu cấp cho ta một tấm văn bia tử tế.
“Cho tôi xin lại đồng năm xu được không?” cô thì thầm. “Làm ơn đi. Tôi không gọi được cho người bên kia, và đó là... đó là đồng xu cuối cùng của tôi rồi.”
 
 
 
 
 
Chương 3
 
Cô leo lên cầu thang trong căn nhà trọ như một con rối treo lủng lẳng dưới những sợi dây đã bị chùng. Ngọn đèn gắn trên tường, úp ngược xuống như một bông uất kim hương khô héo trong lớp kính lồi lõm hình chuông, tỏa ra ánh vàng tù mù. Đặt giữa cầu thang là tấm thảm đã bị mài mòn đến mức trông như rau quả thối, mọi họa tiết, sắc màu đều bị phai đi từ lâu, chẳng khác nào một kiểu phấn hoa hay nấm đóng cặn. Cái mùi cũng thật ăn khớp với hình ảnh. Cô leo ba đợt cầu thang, rồi quay người đi về góc nhà.
Cô dừng lại trước cánh cửa cuối cùng và lấy ra chiếc chìa khóa sắt dài. Thế rồi cô nhìn xuống chân cửa. Có một vật hình tam giác màu trắng nằm cạnh chân cô, thò ra từ khe cửa. Khi cửa mở ra bên trên, nó rộng thành một chiếc phong bì.
Cô vươn tay ra trong bóng tối, lần theo bức tường cạnh cửa và rồi đèn sáng lên. Nhưng nó chẳng chiếu sáng được là bao. Mà trong này cũng chẳng có bao thứ để nó chiếu rọi.
Cô đóng cửa rồi nhặt cái phong bì lên. Nó nằm úp xuống. Cô lật nó lại. Tay cô hơi run một chút. Tim cô cũng run theo.
Bên trên nó, được viết bằng nét bút chì vội vã, không nắn nót là một dòng chữ vỏn vẹn:
“Helen Georgesson.”
Đằng trước không có ‘cô’, cũng chẳng không có ‘bà’ không có tước danh xưng hô gì hết.
Cô như trở nên tràn đầy sinh lực hơn. Chút tuyệt vọng đờ đẫn biến mất khỏi đôi mắt cô. Chút căng thẳng hốc hác biến mất khỏi gương mặt cô. Cô nắm chặt chiếc phong bì, khiến nó hơi nhăn nhúm trong tay. Chưa bao giờ cô di chuyển nhanh nhẹn hơn lúc này. Cô đem nó ra giữa phòng, bên cạnh chiếc giường, nơi ngọn đèn chiếu sáng nhất.
Cô đứng im ở đó và lại nhìn nó, như thể cảm thấy hơi sợ nó. Trên mặt cô hiện lên vẻ háo hức cháy bỏng; trông chẳng lấy gì vui vẻ, thay vào đó là sự hối hả đầy tuyệt vọng.
Cô vội vã xé miếng gập, tay hất mạnh lên trời như thể đang dùng kim chi vô hình đan những mũi khâu dài trên đó.
Tay cô thò vào trong để lôi ra những lời lẽ nó chứa đựng, để đọc những gì nó nhắn nhủ. Bởi vì phong bì chứa đựng ngôn từ, nói được với ta bao điều; đó là tác dụng của phong bì.
Thất vọng làm sao, lúc thò ra, tay cô không cầm theo gì cả. Cô lộn ngược cái phong bì và lắc lắc, để làm rơi ra thứ nó đựng bên trong, thứ mới đầu đã ngoan cố lẩn tránh ngón tay cô.
Không có ngôn từ nào rơi ra, không có bức thư nào cả.
Có hai thứ rơi ra, đáp xuống giường. Chỉ có hai thứ.
Vật thứ nhất là một tờ năm đô la. Chỉ đơn thuần là một tờ năm đô la dửng dưng, vô danh tính, bên trên in hình Lincoln. Và bên cạnh bức hình đó, trong cái con dấu nhỏ gọn mà mọi tờ tiền đều có, là dòng chữ viết hoa cỡ nhỏ: Đồng tiền này là phương thức thanh toán hợp pháp cho mọi khoản nợ, công cũng như tư. Cho mọi khoản nợ, công cũng như tư. Sao mà người thợ in tiền có thể lường trước được rằng vào một ngày nào đó, ở đâu đó, cái câu ấy lại có thể khiến người khác tan nát con tim.
 
Và vật thứ hai là một dải vé tàu, nối tiếp nhau chạy từ điểm bắt đầu cho đến ga cuối, đúng kiểu vé bình thường. Các tấm vé lẻ có thể được xé dần ra trên đường đi. Tấm vé đầu tiên có đề 'New York'; chính là đây, nơi cô đang sống. Và tấm vé cuối cùng có ghi 'San Francisco'; quê nhà của cô, một trăm năm trước - mùa xuân năm ngoái.
Không có vé khứ hồi. Đây là vé một chiều. Đi đến đó và... ở lại.
Vậy là rốt cuộc chiếc phong bì cũng đã nói chuyện với cô, dù nó không chứa đựng con chữ nào. Năm đô la thanh toán nợ nần, mọi khoản nợ, công cũng như tư. San Francisco - và không quay lại nữa.
Chiếc phong bì rơi xuống sàn.
Suốt một lúc lâu, cô gần như không hiểu gì hết. Như thể từ trước đến nay cô chưa bao giờ nhìn thấy một tờ năm đô la. Như thể từ trước đến nay cô chưa bao giờ nhìn thấy một dải vé tàu như thế này. Cô cứ nhìn chúng không chớp mắt.
Thế rồi người cô bắt đầu hơi rung lên. Mới đầu còn không có âm thanh. Mặt cô thỉnh thoảng lại giần giật, dọc theo mắt và quanh khóe miệng, như thể biểu cảm của cô đang chật vật, muốn bùng nổ ra thứ xúc cảm dữ dội nào đó. Trong một, hai giây đó, trông cô mà cứ ngõ thứ tuôn trào ra sẽ phải là tiếng khóc. Nhưng thực tế thì không phải.
Đó là tiếng cười.
Mắt cô nheo lại thành những khe xiên và môi cô giãn ra, những tiếng khàn khàn đứt quãng vang lên. Như tiếng cười khàn. Như tiếng cười bị dầm mưa quá lâu, khiến cho nó mọc đầy nấm mốc và ôi thiu.
Cô vẫn cứ cười lúc mang chiếc va li cũ kĩ ra, đặt nó lên trên giường và hất mở nắp ra. Cô vẫn cứ cười lúc bỏ đầy đồ đạc vào trong và đóng lại.
Có vẻ cô không cách nào ngắt được cơn cười. Nó mãi không chịu dừng. Cô cứ như đang cười trước một câu đùa dông dài nào đó, kéo dài mãi, dài mãi, kể mãi mà không bao giờ dứt được.
Nhưng tiếng cười đáng ra phải nghe vui vẻ, sôi động và tràn trề sinh lực.
Tiếng cười này thì lại không như vậy.
 
 
 
 
 
Chương 4
 
Soát vé xong được mười lăm phút, đoàn tàu đã lăn bánh rất đều, thế mà cô vẫn chưa tìm được ghế ngồi. Các băng ghế đều chật cứng khách du lịch, các lối đi đều đông kín, ngay cả các khoang kín giữa những toa khách cũng chật ních; từ trước đến giờ cô chưa từng thấy con tàu nào như thế này. Ban nãy lúc ở rào chắn, cô đứng quá xa đằng sau, quá chậm chạp và lóng ngóng với chiếc va li cồng kềnh, và lên tàu quá muộn. Vé của cô chỉ cho phép lên tàu, chứ không cho cô chỗ ngồi ưu tiên nào hết.
Vừa bủn rủn, vừa mệt mỏi, vừa kiệt quệ, cô nặng nề lê bước, đi hết lối đi từ toa này đến toa khác, đi ngược hướng đi của con tàu, chao đảo, đong đưa từ bên này sang bên kia, bị chiếc va li nặng trĩu ghì chân lại.
Tất cả đều đông kín người đang đứng và giờ đã là toa cuối cùng rồi. Đằng sau không còn toa nào nữa. Cô đã đi qua tất cả. Không ai nhường chỗ cho cô. Đây là tàu suốt, có khi đi xuyên hết bang vẫn không dừng, và bây giờ mà hành xử lịch thiệp thì sẽ phải trả giá rất đắt. Đây không phải xe điện hay xe buýt, chỉ đi một lúc là xong. Một khi tỏ vẻ ga lăng và đứng dậy, ta sẽ phải đứng suốt hàng trăm, hàng trăm dặm.
Cuối cùng cô cũng dừng lại và ở nguyên nơi vừa dừng chân, bởi cô không thể quay lại nơi ban đầu. Đi tiếp cũng chẳng ích gì. Cô có thể thấy đến tận cuối toa tàu và không còn toa nào nữa.
 
Cô đặt va li xuống, song song với lối đi, thử ngồi lên cái cạnh lật ngang của nó như cô thấy rất nhiều người khác đang làm. Nhưng cô thoáng lảo đảo mạnh, bởi vì phần trên của cô quá nặng, thiếu chút nữa thì ngã nhào lúc ngồi xuống. Thế rồi lúc ngồi xuống, cô ngả đầu vào thành ghế kế bên, và ngồi im như thế. Cô đã quá mệt mỏi, không còn muốn biết, quá mệt mỏi, không còn muốn quan tâm, thậm chí quá mệt mỏi, không thể nhắm mắt lại.
Điều gì khiến chúng ta dừng lại tại đúng thời điểm ấy, đúng nơi ấy? Điều gì đây, điều gì được nhỉ? Liệu có nguyên nhân gì không, hay chẳng có gì cả? Tại sao không dừng lại cách đó một mét, tại sao không dừng lại xa hơn một mét? Tại sao lại dừng đúng nơi này, mà không phải nơi khác?
Một số người nói: Đó chỉ là tình cờ, và nếu ta không dừng lại ở đó, ta sẽ dừng lại tại điểm dừng tiếp theo. Câu chuyện của ta khi ấy sẽ khác. Ta vừa đi vừa tự thêu dệt nên câu chuyện của riêng mình.
Nhưng một số người khác lại cho rằng: Ta không thể nào dừng lại ở bất kỳ chỗ nào khác ngoài chỗ này, ngay cả nếu ta muốn. Ý trời đã định sẵn, đã quyết là ta sẽ phải dừng lại ở đúng chỗ này chứ không phải chỗ nào khác. Câu chuyện của ta đang đợi sẵn ta ở đó, nó đã đợi ta ở đó cả trăm năm rồi, từ trước khi ta ra đời, và ta không thể thay đổi dù chỉ một dấu phẩy trong đó. Mọi việc ta làm đều là những việc ta bắt buộc phải làm. Ta là cành cây, và dòng nước ta trôi trên đó đã đưa đẩy ta đến đây. Ta là chiếc lá và làn gió nâng đỡ ta đã thổi ta tới đây. Đây là câu chuyện của ta và ta không thể trốn thoát khỏi nó, ta chỉ là nhạc sĩ, không phải quản lý sân khấu. Hoặc theo như cách nói của một số người là như vậy.
Trên mặt sàn, phía trước đôi mắt nhìn xuống của cô, sát vành tay ghế, là hai đôi giày dựng thẳng, đặt canh nhau. Phía bên trong, gần cửa sổ, là một đôi giày cao gót nhỏ nhắn, tươi tắn, gợi cảm, không có mặt sau, không có mặt bên, không có mũi giày, thật tình mà nói là gần như chẳng có gì ngoài cặp gót nhọn như dao găm và mấy cái quai buộc. Và ở phía bên ngoài, chỗ gần cô, là một đôi giày brogue [1] của nam, đem so với đôi giày kia thì trông thấp bè, kềnh càng và nặng nề hết sức. Đôi giày này được đặt gác lên nhau, do đôi chân mang chúng chập lại ở đoạn đầu gối.
Cô không nhìn thấy mặt của họ và cũng không muốn nhìn. Cô không muốn nhìn thấy khuôn mặt nào cả. Cô không muốn nhìn thấy gì cả.
Suốt một lúc chẳng có chuyện gì xảy ra. Thế rồi một chiếc giày cao gót kín đáo nhích về phía một chiếc giày brogue, nhẹ nhàng thúc vào nó, như thể đang tế nhị muốn nói điều gì. Chiếc giày brogue vẫn nằm đơ ở đó; nó không hiểu bức thông điệp. Nó đã cảm nhận được cú thúc, nhưng không hiểu cái ý ẩn. Một bàn tay to lớn hạ xuống, ngập ngừng gãi phần tất bên trên chiếc giày brogue, rồi lại rụt lên.
Như thể cảm thấy mất kiên nhẫn trước sự ngờ nghệch ấy, chiếc giày cao gót lại thúc thêm lần nữa. Chỉ có điều lần này nó đâm một cú ra trò, dùng lực rất mạnh, và nhắm vào phần mắt cá không được bảo vệ, bên trên chiếc giày brogue như lớp giáp.
Lần này thì đã hiệu nghiệm. Tờ báo kêu sột soạt đâu đó phía trên, như thể vừa bị hạ xuống để xem sao lại cứ thúc nhau khó chịu như thế.
Bên trên vọng lại một lời thì thầm, nói rất khẽ, ngoài cái tai người cần nghe ra thì không ai khác hiểu được nội dung.
Đáp lại nó là tiếng lầm bầm dò hỏi, nghe có vẻ nam tính.
Hai chiếc giày brogue đặt xuống ngang nhau trên mặt sàn khi cặp chân phía trên tách nhau ra. Thế rồi chúng hơi xoay về phía lối đi, như thể chủ nhân của chúng đã xoay thân trên lại để liếc nhìn về hướng đó.
Ngồi trên chiếc va li, cô mệt mỏi nhắm mắt, để tránh ánh nhìn đang chiếu lên người mình.
Khi cô mở mắt ra, đôi giày brogue đã bước ra ngoài khe ghế, và chủ nhân của chúng đang đứng thẳng người trên lối đi, ở phía bên kia. Con người này khá cao lớn, đến tận gần hai mét.
“Cô ngồi vào chỗ của tôi đây này,” anh ta mời. “Cứ tự nhiên, cứ ngồi chỗ tôi một lúc đi.”
Cô cố gắng tỏ vẻ lưỡng lự với nụ cười yếu ớt và cú lắc đầu do dự. Nhưng cái lưng ghế bọc nhưng trông hấp dẫn kinh khủng.
Cô gái trẻ vẫn đang ngồi trên ghế nài cùng anh ta. “Cô cứ tự nhiên, cứ ngồi đi,” cô thúc giục. “Anh ấy muốn cô ngồi mà. Chúng tôi muốn cô ngồi. Cô không thể cứ ngồi mãi ở cái chỗ kia được.”
Cái lưng ghế bọc nhung trông hấp dẫn kinh khủng. Cô không thể nào rời mắt khỏi nó. Nhưng cô gần như quá mệt mỏi, không thể đứng dậy và chuyển lên ghế ngồi. Anh chàng kia phải thò tay xuống, nắm lấy tay cô, đỡ cô đứng dậy khỏi chiếc va li và dịch sang ghế.
Cô lại thoáng nhắm mắt trong giây lát, tận hưởng cảm giác hạnh phúc khôn tả khi được ngả lưng ra sau.
“Ổn rồi,” anh ta nói đầy nhiệt tình. “Tốt hơn rồi phải không?”
Và cô gái bên cạnh cô, người bạn cùng ghế mới của cô, nói, “Ôi, cô mệt rũ ra rồi. Tôi chưa từng thấy ai kiệt sức đến như vậy.”
Cô mỉm cười để cảm ơn, và vẫn cố thoái thác thêm một chút, mặc dù hành động ấy đã được thực hiện, nhưng cả hai người họ đều gạt phăng lời từ chối của cô.
 
Cô đưa mắt nhìn họ. Giờ thì dù vẫn không muốn nhìn mặt ai, nhưng ít nhất cô muốn được thấy khuôn mặt của họ, mặc dù chỉ vài giây trước, cô chẳng muốn nhìn thấy bất kỳ gương mặt nào, ở bất cứ đâu, thêm bất cứ lần nào nữa. Nhưng lòng hảo tâm chẳng khác nào một liêu thuốc bổ dành cho cô.
Cả hai người này đều còn trẻ. Ừ thì cô cũng trẻ luôn. Nhưng cả hai người trông thật hạnh phúc, tươi vui, chìm đắm trong phước lành của thế giới, đó là điểm khác biệt giữa họ và cô. Nó hiển hiện trên người bọn họ. Bên trong cả hai bọn họ là một thứ ánh sáng nhuộm vàng đang rực cháy, một thứ còn hơn cả tâm trạng vui vẻ, hơn cả may mắn thông thường, và thoạt đầu cô không thể nhận ra nó là gì. Thế rồi chỉ một thoáng sau, ánh mắt của họ, rồi mọi lần quay đầu của họ, và mọi động tác của họ đã để lộ tất cả: họ đang yêu nhau vô cùng sâu đậm. Nó tỏa ra ngời ngời trên người bọn họ, tựa như lửa lân quang.
Đó là tình yêu của tuổi trẻ. Tình yêu còn tươi mới, trinh nguyên. Cái tình yêu đầu đời luôn một lần ghé thăm tất cả, và sau đó không bao giờ quay trở lại nữa.
Nhưng, khi nói chuyện, tình yêu ấy lại được bộc lộ theo kiểu ngược đời, ít nhất là cô gái kia thể hiện như thế, còn chàng trai kia thì không; gần như mọi câu cô ta nói với anh ta đều là một lời xúc phạm thân thiện, một câu sỉ nhục nhẹ nhàng, một câu chê bai hòa nhã. Có vẻ cô gái ấy chẳng dành được cho anh ta dù chỉ một câu dịu dàng, hay thậm chí là cư xử lịch sự như người bình thường với nhau. Nhưng ánh mắt cô ta lại bộc lộ hết tâm can. Và anh ta hiểu. Bất chấp mọi lời xấc láo quá đà, anh ta vẫn dành tặng cô gái ấy một nụ cười đầy tôn thờ, đầy yêu thương, đầy thấu hiểu.
“Nào, anh đi đi,” cô gái nói, kèm theo một cú phẩy tay độc đoán. “Đừng có đứng đó như tên ngốc, hà hơi xuống gáy bọn em như thế.
 
Đi kiếm việc gì đó để làm đi.”
“À, thế thì anh xin phép,” anh ta nói, và giả vờ dựng cổ áo dậy, như thể cảm thấy rét. Anh ta vu vơ nhìn dọc hai bên lối đi. “Chắc anh sẽ ra ngoài toa và hút một điếu xì gà.”
“Anh cứ hút hai điếu đi,” cô nàng nói tỉnh queo. “Xem em có thèm quan tâm không.”
Anh ta quay người và bắt đầu luồn lách qua lối đi chật ních người.
“Anh ấy thật tử tế,” cô gái mới đến nói với giọng khen ngợi, liếc nhìn theo anh ta.
“Ôi, anh ấy cũng tạm chấp nhận được,” người bạn đồng hành của cô nói. “Anh ấy cũng có một số điểm tốt.” Cô ta nhún vai. Nhưng ánh mắt lại làm lộ rõ cô ta chỉ nói như vậy thôi.
Cô ta liếc nhìn ra sau để đảm bảo anh chàng kia đã ra khỏi tầm tai. Thế rồi cô hơi rướn về phía cô gái nọ, hạ giọng xuống đầy bí mật. “Tôi nhận ra ngay,” cô ta nói. “Chính thế mà tôi bắt anh ấy đứng dậy. Ý tôi là về cô ấy.”
Cô gái ban nãy ngồi trên va li thoáng cụp mắt xuống, cảm thấy bối rối, không bằng lòng. Cô không đáp lời.
“Tôi cũng thế. Cô không phải là người duy nhất đâu,” cô nàng vội vã nói tiếp, giọng hơi mang chút tự mãn, như thể không thể đợi thêm nữa, chỉ muốn nhanh chóng khoe ra.
Cô gái nói, “Ồ.” Cô không biết phải nói gì nữa. Nghe câu đáp thật đều đều, hời hợt; như cái kiểu ta hay nói “Thật vậy à?” hay “ừ, biết rồi.” Cô cố rặn ra một nụ cười đồng cảm, nhưng cô làm không được tốt cho lắm. Có thể do đã lâu cô không tập mỉm cười.
“Bảy tháng,” cô gái kia nói thêm.
Cô có thể cảm thấy cô ta đang dán mắt vào người mình, như thể chờ đợi một câu đáp tương tự, kể cả chỉ để nói cho có.
“Tám,” cô nói, gần như không nghe thấy được. Cô không muốn nói, nhưng rồi cô vẫn cứ nói ra.
“Tuyệt vời,” người bạn đồng hành tặng cô câu khen ngợi đó vì đã cung cấp mẩu thông tin đối xứng kia. “Tuyệt diệu.” Cô ta cứ làm như thể cái chuyện này có một hệ thống cấp bậc nào đó, và mình đã tình cờ được tiếp chuyện với một người ở đẳng cấp quyền quý cao hơn: một nữ công tước hay một hầu tước phu nhân, một người chức trọng quyền cao hơn mình ba mươi ngày. Và xung quanh họ là những người phụ nữ thường dân, bị ngó lơ đầy khinh mạn.
Tuyệt vời, tuyệt diệu, cô thầm lặp lại trong lòng, và tim cô bật lên một tiếng khóc hoảng sợ, câm nín.
“Thế chồng cô thì sao?” cô gái kia gặng hỏi. “Cô đi gặp anh ta à?”
“Không,” cô nói, nhìn chăm chăm vào lớp nhung màu xanh lá của phần lưng ghế phía trước. “Không.”
“Ồ. Cô để anh ta ở lại New York ư?”
“Không,” cô nói. “Không.” Cô thấy câu chữ như được nối tiếp nhau viết lên phần lưng ghế, và ngay khi được đọc xong là lại biến mất. “Tôi đã để mất anh ấy.”
“Ôi, tôi xin l...” Người bạn đi tàu hoạt bát của cô trông như lần đầu tiên biết đến mùi buồn đau, không tính những nỗi buồn chỉ như lúc bị hỏng búp bê hay đánh mất tình yêu non trẻ thuở học trò. Nó như một trải nghiệm mới mẻ, lan tỏa trên gương mặt rạng ngời của cô ta. Và ngay cả lúc bấy giờ, nó vẫn chỉ là nỗi buồn của người khác, không phải nỗi buồn của cô ta. Đó là cái ấn tượng mà cô gái ấy mang lại. Cô ta chưa bao giờ tự mình mang nỗi đau buồn nào cả, bây giờ không buồn, và sẽ không bao giờ phải buồn. Cô ta là một trong những trường hợp hiếm hoi được sao may mắn chiếu mệnh, lấp lánh bay xuyên qua thung lũng thẳm đen của thế gian.
Cô ta ngắt ngang cái câu cảm thông nói dở, cắn môi trên; chợt đưa tay ra và đặt lên trên tay người bạn đồng hành của mình một lúc, thế rồi lại rút nó về.
Sau đó, cả hai tế nhị không nói thêm gì về đề tài đó nữa. Cái đề tài rất cơ bản có tên sinh và tử, có thể mang lại cả niềm vui tột cùng lẫn đau thương tột cùng.
Người con gái rám nắng ấy có mái tóc vàng màu ngô. Cô ta buộc tóc tròn quanh đầu như một quầng hào quang bù xù. Cô ta có những đốm tàn nhang trông chẳng khác nào các đốm sơn vàng, do cây cọ của một người họa sĩ bất cẩn nào đó hất văng lên cặp má màu mơ, với một vệt thẫm vắt ngang sống chiếc mũi tí hon, đầy lanh lợi. Phần xinh đẹp nhất của cô ta chính là cái miệng. Và cho dù phần còn lại của gương mặt không thể bì được với vẻ đẹp vô song của nó, chỉ riêng cái miệng kia thôi cũng đã đủ để khiến cô ta trông rất đáng yêu, không cần gì khác điểm tô thêm, tự thân mình thu hút mọi sự chú ý. Chỉ một ngọn đèn duy nhất là đủ khiến một căn phòng tầm thường trở nên rực sáng, mà không nhất thiết phải có nguyên cả ngọn đèn chùm. Khi nó nhoẻn cười, mọi thứ khác cũng nhoẻn cười theo. Mũi cô ta nhăn lại và cặp lông mày cong lên, mắt cô ta nheo đi, và các lúm đồng tiền xuất hiện ở nơi mà mới một phút trước còn chưa có gì. Cô ta trông như thể rất hay mỉm cười. Cô ta trông như thể có rất nhiều điều để khiến mình mỉm cười.
Cô ta không ngừng xoa chiếc nhẫn cưới trên ngón tay thứ ba. Trông như đang vuốt ve nó, mơn trớn nó. Chắc hẳn đến bây giờ cô ta đã không còn ý thức được mình đang làm việc đó; nó hẳn đã trở thành một thói quen không thể lay chuyển. Nhưng ban đầu, mấy tháng trước, khi chiếc nhẫn lần đầu được đeo vào, lúc nó mới xuất hiện ở đó, cô ta hẳn đã hãnh diện đến mức cảm thấy cần liên tục trưng nó ra với toàn thế giới - như thế muốn nói, “Nhìn tôi này! Nhìn xem tôi có gì này!” Cô ta hẳn yêu quý nó đến mức không thể nào rời tay khỏi nó được lâu. Và bây giờ, mặc dù lòng hãnh diện và tình yêu vẫn hoàn toàn chưa hao mòn, hành động này đã trở thành một cái tật không cưỡng lại được. Bất kể tay cô ta có làm động tác gì, hay cử chỉ gì, hành động kia luôn xuất hiện, hiện lên rõ ràng hơn cả trong mắt người quan sát.
Chiếc nhẫn có đính một hàng kim cương và rồi ở mỗi đầu là một viên lam ngọc để đánh dấu điểm dừng. Để ý thấy người bạn đồng hành đang liếc nhìn nó, cô ta xoay thêm nó về phía cô gái kia một chút, để cô có thể quan sát rõ hơn, đưa ngón tay phẩy qua nó, như thể để gạt bỏ hạt bụi giả tưởng cuối cùng nào còn bám lại trên đó. Cô ta phẩy ngón để giả vờ như không quan tâm đến nó lắm. Cũng giống như thái độ của cô nàng đối với anh chàng kia chỉ để giả vờ cô ta không quan tâm chút gì đến anh ta cả. Một cú phẩy dối trá như cuội.
Tầm mười phút sau, lúc anh ta quay lại, cả hai người bọn họ lại mê mẩn trò chuyện theo kiểu những người bạn mới. Anh ta lại gần chỗ họ, hành xử theo kiểu bí bí ẩn ẩn nhưng lại đầy lộ liễu. Anh ta cẩn thận nhìn sang hai bên, như thể mang theo thông tin tuyệt mật gì đó. Thế rồi anh ta lấy cạnh bàn tay che một bên miệng lại. Và cúi xuống thì thầm, “Pat [2], một cậu nhân viên vừa tiết lộ cho anh. Mấy phút nữa họ sẽ mở cửa toa nhà ăn. Đây là thông tin nội bộ đặc biệt, được báo sớm. Em biết với đám đông này thì chuyện gì sẽ xảy ra rồi đó. Anh nghĩ tốt nhất là chúng ta nên di chuyển lên phía cái toa đó nếu muốn có chỗ. Đợi người ta thông báo thì ở đây sẽ loạn lên ngay.”
 
Cô ta lẹ làng nhảy bật dậy.
Anh ta ngay lập tức đưa cả hai tay ghìm cô ta lại, trông nghiêm túc đến nực cười. “Suỵt! Đừng có để lộ! Em định làm gì đấy? Tỏ vẻ thờ ơ vào chứ. Hành xử như thể em chẳng định đi đâu cả, chỉ đứng dậy để duỗi chân thôi.”
Cô ta nín một tiếng cười tinh quái. “Một khi đã ra toa nhà ăn thì em không tài nào hành xử như thể mình chẳng định đi đâu cả được. Nhìn em là lộ hết mà. Nếu anh ghìm được em xuống vận tốc chạy nước rút hai mươi mét là may mắn lắm rồi.” Nhưng để chiều cái ý định thực hiện chiêu trò gian xảo của anh ta, cô ta nhấc chân lên đầy khoa trương và rón rén bước ra ngoài lối đi, như thể lượng tiếng ồn mình gây ra có liên quan đến việc họ đang định làm.
Khi đi ngang qua, cô ta kéo tay áo cô gái bên cạnh mình thúc giục. “Đi nào. Cô sẽ đi với chúng tôi, phải không?” cô ta thì thầm đầy bí ẩn.
“Thế mấy chỗ ngồi này thì sao? Chúng sẽ bị người khác chiếm mất mà, đúng không?”
“Nếu đặt hành lý lên trên thì sẽ không sao đâu. Đây, làm thế này này.” Cô ta nhấc va li của cô gái kia lên, nãy giờ vẫn được đặt ở lối đi, và hai người bọn họ đặt ngang nó lên trên ghế, chặn ngang toàn bộ.
Bị chiếc va li choán chỗ, cô gái đã đứng dậy, nhưng vẫn chần chừ, vẫn còn lưỡng lự chưa muốn đi với họ.
Cô vợ trẻ có vẻ hiểu được sự tình. Riêng khoản này cô ta rất nhạy bén. Cô ta bảo anh chồng đi trước, ra khỏi tầm tai, mở đường cho bọn họ. Thế rồi cô ta quay sang người bạn ngồi cùng ghế của mình, lịch sự trấn an. “Đừng lo về... bất cứ chuyện gì cả; anh ấy sẽ lo liệu mọi thứ.” Và rồi, để giảm thiểu sự xấu hổ của người kia, cô ta bí mật hứa với cô, “Tôi đảm bảo anh ấy sẽ lo liệu cho cô. Đằng nào thì họ tồn tại cũng chỉ để làm việc đó thôi mà.”
Cô gái kia cố ấp úng thốt ra một câu từ chối không thật tâm, nhưng chỉ càng chứng minh phỏng đoán vừa rồi là đúng, “Không, vấn đề không phải vậy... tôi không muốn...”
Nhưng người bạn mới kia đã coi việc cô chấp nhận là điều hiển nhiên rồi, và không phí thêm thời gian vào chuyện này nữa. “Nhanh lên nào, chúng ta sẽ để lạc anh ấy mất,” cô ta thúc giục. “Người ta đang lấp lối đi đằng sau anh ấy kìa.”
Cô ta đẩy cô tiến lên trước mình, nhẹ nhàng đặt bàn tay thân thiện lên hông cô.
“Bây giờ cô không thể lơ là bản thân được,” cô ta thì thầm. “Tôi biết mà. Họ cũng đã bảo với tôi như thế.”
Trong khi ấy, anh chồng đi trước đang dọn quang một con đường cho họ ở chính giữa lối đi đông kín, khiến mọi người phải nghiêng hẳn người vào chỗ mấy cái ghế để tránh lối. Ấy nhưng, không ai nhìn anh ta với vẻ giận dữ cả. Anh ta sở hữu thần thái ôn hòa nhưng vẫn cứng rắn.
“Có một anh chồng từng là thành viên đội bóng bầu dục kể cũng hữu ích,” cô dâu của anh ta bình phẩm đầy tự mãn. “Anh ấy có thể giải quyết mọi khó khăn. Cô hãy nhìn tấm lưng đồ sộ kia mà xem kìa.”
Khi họ ra đến chỗ anh ta, cô ta giận dỗi than phiền, “Anh không đợi em được à? Em có tận hai người cần cho ăn đây này.”
“Cả anh cũng thế,” anh ta buông một câu đáp chẳng mấy ga lăng. “Và cả hai người đó đều là anh.”
Nhờ tài nhìn xa trông rộng của anh ta, họ thuộc số những người đầu tiên được vào toa nhà ăn, nơi chỉ mấy giây sau khi cửa được mở là đã ken đặc người. Họ kiếm được một bàn cho ba người, nằm chéo với một bên cửa sổ. Những người không may mắn phải xếp hàng đợi ở lối đi bên ngoài, cánh cửa khi ấy đã lạnh lùng đóng sập trước mặt họ.
“Giới thiệu qua nhé, kẻo chúng ta ngồi vào bàn rồi mà vẫn chưa biết tên nhau,” cô vợ trẻ vui vẻ mở khăn ăn ra. “Anh ấy là Hugh Hazzard, còn tôi là Patrice Hazzard.” Mấy lúm đồng tiền của cô ta lại xuất hiện với vẻ chế nhạo. “Cái tên buồn cười nhỉ?”
“Em lễ phép chút đi,” người chồng trẻ làu bàu, trán vẫn không ngẩng lên khỏi tờ thực đơn. “Anh mới chỉ đang ướm thử em chứ vẫn chưa quyết định liệu có nên để cho em giữ nó hay không.”
“Giờ nó là của em rồi,” anh ta nhận được câu đáp với tính lô-gích đậm chất đàn bà. “Em vẫn chưa quyết định liệu mình có nên giữ nó hay không.”
“Tên cô là gì?” cô ta hỏi vị khách của mình.
“Georgesson,” cô gái nói. “Helen Georgesson.”
Cô mỉm cười lưỡng lự với hai người bọn họ. Tặng cho anh ta mép ngoài nụ cười, và tặng cho cô vợ phần trung tâm của nụ cười. Không phải là nụ cười tươi tắn cho lắm, nhưng nó vẫn có hồn và lòng biết ơn, dù chỉ là chút ít.
“Hai người tử tế với tôi quá,” cô nói.
Cô nhìn xuống tờ thực đơn đang mở giữa hai tay, để họ không phát hiện ra chút cảm xúc khiến môi cô thoáng run rẩy.
“Được... như cô hẳn phải vui lắm,” cô buồn bã lẩm bẩm.
Chú thích:
[1] Giày brogue: Kiểu giày đế thấp truyền thống có nguồn gốc từ Scotland và Ireland.
[2] Pat: Cách gọi thân mật của Patrice.
 
 
 
Chương 5
 
Khoảng 10 giờ tối, khi mấy ngọn đèn trên trần toa tàu được tắt đi để những hành khách có thể ngủ được, thì hai cô gái đã trở thành những người bạn thân thiết. Họ gọi nhau là ‘Patrice’ và ‘Helen’. Như mọi người có thể đoán, Patrice chính là người đề nghị. Trong bầu không khí du hành ấm nóng, tình bạn nảy nở rất nhanh chóng. Đôi khi, chỉ trong vòng mấy giờ đồng hồ, nó đã phát triển toàn diện rồi. Thế rồi cũng bất chợt chẳng kém, nó bị ngắt ngang tại thời khắc chia ly tất yếu của những người đi đường. Nó gần như chẳng bao giờ tồn tại được lâu sau khi bị ngắt ngang. Đó là lý do mà cả trên tàu biển lẫn tàu hỏa, người ta ít câu nệ với nhau hơn, họ tin tưởng nhau mau chóng hơn, kể lể tất cả về bản thân; họ sẽ không bao giờ phải gặp lại những con người này nữa, và không phải lo về những quan điểm họ có thể đã hình thành trong đầu, bất kể là tốt hay xấu.
Phần lớn mấy ngọn đèn hông nhỏ, có gắn chụp đèn, được lắp riêng cho mỗi ghế, có thể tùy ý bật tắt, vẫn đang bật, nhưng toa tàu đã tối hơn và yên tĩnh hơn, rất dịu nhẹ, và một số người thì đã thiu thiu ngủ. Với chiếc mũ trùm kín mặt, chồng của Patrice đang ở trong trạng thái bất động, trên chiếc va li lại một lần nữa nằm dọc bên chỗ ngồi của mình, cặp chân vắt tréo của anh ta đặt chênh vênh trên đầu băng ghế trước mặt. Tuy nhiên, dựa vào tiếng khò khò thỉnh thoảng phát ra từ dưới mũ, anh ta trông vẫn có vẻ thoải mái. Anh ta đã ngưng chuyện trò với họ từ một tiếng trước, và nhìn vẻ ngoài thì chẳng ai thấy bận lòng cả. Đây chẳng khác nào lời bình phẩm bất nhã về độ cần thiết của đàn ông trong lúc cánh chị em trò chuyện.
Patrice đang đảm đương nhiệm vụ canh chừng, mắt đầy thận trọng và đăm đăm dán chặt vào cánh cửa phía cuối lối đi, đằng sau lưng họ, lờ mờ ở khoảng xa. Để thực hiện nhiệm vụ, cô quỳ thẳng lưng trên ghế, quay người lại, dõi mắt săm soi đằng sau ghế. Mặc dù tư thế này có phần bất thường, nhưng không hề cản trở nhịp trò chuyện của cô. Nó vẫn cứ diễn ra thoải mái và vô tư như trước. Chỉ có điều, vì bây giờ cô đã đứng cao người lên, ngoài ghế của cô thì băng ghế phía sau cũng có thể nghe được phần lớn cuộc trò chuyện. Tuy nhiên, may mắn thay, có hai lý do khiến những người ngồi trên chiếc ghế đó không quan tâm lắm đến câu chuyện của hai cô nàng: họ đều là đàn ông và đang ngủ say.
Bỗng nhiên, một luồng sáng phản chiếu lướt dọc cái khung mạ crôm bóng láng trên cánh cửa Patrice chăm chú theo dõi nãy giờ.
“Cô ta vừa ra ngoài rồi,” Patrice buông ra một tiếng nghe như gió rít, và thực hiện loạt động tác xoay thân, vặn người, và ngồi xuống ghế, như thể đây là sự kiện rất quan trọng, cần được phản ứng ngay lập tức. “Nhanh lên nào! Luôn đi! Giờ là cơ hội của chúng ta. Đi thôi. Trước khi người khác vào đó trước. Cách đây ba hàng ghế có một bà béo, nãy giờ cứ lần lượt lấy đồ ra. Bà ta mà vào được trước thì chúng ta coi như xong!” Bị phấn khích quá đà (và đối với cô ta, mọi thứ trên đời đều mang vẻ phấn khích đầy tuyệt diệu, hứng khởi), cô ta thậm chí còn nhẹ tay đẩy người bạn đồng hành và thúc giục, “Chạy đi! Giữ cửa cho chúng ta. Có khi nếu thấy cô ở đó sẵn rồi, bà ta sẽ thay đổi ý định.”
Rất độc ác và nhẫn tâm, cô ta lập tức chọc vài chỗ trên người của người chồng đang ngủ, thúc cho anh ta tỉnh lại.
“Nhanh lên! Hugh! Cái túi hành lý qua đêm! Bọn em sẽ lỡ cơ hội mất. Trên đó kìa, đồ ngốc. Trên cái giá đó.”
“Được rồi, em bình tĩnh nào,” anh chàng Hugh ngái ngủ làu bàu, mắt vẫn chôn kín dưới vành mũ. “Nói, nói, nói. Buôn, buôn, buôn. Đàn bà sinh ra chỉ để vận động cơ hàm.”
“Đàn ông sinh ra chỉ để ăn một cú thọc vào hàm, nếu anh ta không chịu nhanh cái tay lên.”
Anh ta cuối cùng cũng chịu đẩy mũ ra. “Em muốn anh làm gì nào? Em tự mình lấy nó xuống rồi còn gì.”
“Hãy bỏ cái cặp chân to đùng của anh ra để bọn em đi qua! Anh đang chắn đường.”
Anh ta thực hiện một động tác như rút câu, co gập chân về phía người, ôm lấy chúng, rồi lại dãn ra sau khi họ đã đi qua.
“Hai người đi đâu mà vội thế?” anh ta ngây thơ hỏi.
“Nghe có ngớ ngẩn không cơ chứ?” Patrice bình phẩm với cô bạn đồng hành.
Họ gần như chạy dọc lối đi, không buồn giải thích gì thêm cho anh ta.
“Cái tên kia mặc áo cỡ 36 đấy, thế mà chẳng giúp ích được gì cho tôi lúc xảy ra trường hợp khẩn cấp cả,” cô ta than phiền trên đường đi, tay đong đưa bộ đồ nghề.
Anh ta tò mò quay đầu nhìn theo họ, hoàn toàn không hiểu gì hết. Thế rồi thốt lên, “Ồ.” Giờ anh ta đã hiểu họ đi đâu, mặc dù không rõ sao phải rối lên như thế. Sau đó anh ta lại kéo sụp mũ xuống mũi, tiếp tục giấc ngủ gà gật sau khi bị đám phụ nữ làm loạn lên phá ngang.
Vào lúc này, Patrice đã đóng cánh cửa mạ crôm lại đằng sau, và vặn nhẹ cái khóa bên trong để được riêng tư. Thế rồi cô ta trút ra một hơi thở dài dằng dặc. “Đó. Chúng ta vào được rồi. Và ai đang giữ thì là của người đó. Tôi sẽ ở trong này lâu tùy thích,” cô quả quyết tuyên bố, đặt cái túi hành lý qua đêm xuống và mở nắp ra. “Nếu có ai khác muốn vào đây, họ sẽ phải đợi. Đằng nào thì nơi này cũng chỉ có đủ chỗ cho hai người. Và kể cả nếu có hai người nào khác vào đây, họ phải là bạn thân.”
“Đằng nào chúng ta cũng gần như là những người cuối cùng còn thức rồi,” Helen nói.
“Đây, cô có muốn dùng không?” Patrice chìa ra một tay đầy khăn giấy xốp lau mặt lấy ra từ trong túi; cô chia chúng cho bạn mình.
“Hồi ở bên Anh tôi nhớ mấy thứ này ghê lắm. Có kiếm đằng trời cũng không thể nào tìm được. Tôi cứ hỏi, hỏi suốt, nhưng mà người ta không hiểu ý tôi muốn nói đến thứ gì...”
Cô ta ngừng lại, đưa mắt nhìn người bạn đồng hành.
“À, cô chẳng có gì cần phải lau đi nhỉ? Thế thì đây, bôi một chút này lên; sau đó cô sẽ cần lau nó đi.”
Helen cười phá lên. “Cô làm tôi buồn cười quá,” cô nói với vẻ ngưỡng mộ đầy tiếc nuối.
Patrice gù vai lại và nhăn nhó đầy tinh quái. “Đây giống như lần ăn chơi cuối cùng của tôi. Kể từ đêm mai chắc tôi sẽ phải hành xử thật đúng mực. Phải trầm tính và không say xỉn.” Patrice xị mặt xuống, và đan tay vào nhau, đặt lên trên bụng, giả làm một vị linh mục nghiêm trang.
“À, bởi vì cô phải gặp mặt gia đình nhà chồng,” Helen nhớ lại.
“Hugh nói họ không đến mức như thế đâu; tôi chẳng việc gì phải lo lắng cả. Nhưng tất nhiên có thể anh ấy hơi thiên vị họ. Nếu anh ấy không như vậy thì tôi đã chẳng coi anh ấy ra gì.”
Cô ta bôi lên mỗi bên má một vòng tròn trắng bí hiểm, và thoa chúng ra khắp nơi, miệng há ra suốt lúc bôi trát, mặc dù bản thân cái hành động ấy không liên quan gì đến quy trình kia cả.
“Cô cứ dùng tự nhiên đi,” cô ta mời. “Cho ngón tay vào và lôi lấy một khối ra. Tôi không biết chắc nó có tác dụng gì, nhưng nó có mùi thơm, thế nên chẳng có gì để mà mất cả.”
“Điều cô nói với tôi có thật không vậy?” Helen vừa bắt chước cô ta vừa hỏi chuyện. “Việc cho đến nay họ thậm chí chưa bao giờ thấy mặt cô? Tôi không thể tin được.”
“Thề có Chúa, cả đời họ chưa lần nào thấy mặt tôi hết. Tôi gặp Hugh bên Anh, như đã nói với cô hồi chiều rồi đó, chúng tôi kết hôn và tiếp tục sống bên đó cho đến gần đây. Cha mẹ tôi đã qua đời và tôi thì nhận được học bổng, theo học âm nhạc, còn anh ấy làm việc cho một cơ quan chính phủ; cô biết đấy, một trong số mấy cơ quan có tên viết tắt. Bố mẹ anh ấy thậm chí chẳng biết mặt tôi trông thế nào!”
“Cô thậm chí chưa từng gửi ảnh cho họ sao? Ngay cả sau khi đã kết hôn ư?”
“Chúng tôi chưa bao giờ chụp tấm ảnh cưới nào; cô biết lớp trẻ chúng ta thế nào rồi đấy. Bùm, bùm, bùm! Ào một cái là chúng tôi đã kết hôn xong. Mấy lần tôi định gửi cho họ một bức ảnh, nhưng chẳng có tấm hình nào khiến tôi ưng ý. Tôi hơi bị khớp mà, cô hiểu chứ; tôi muốn tạo ấn tượng ban đầu thật tốt. Thậm chí Hugh đã có lần thu xếp cho tôi chụp cùng một nhiếp ảnh gia, và lúc thấy mấy bản in thử thì tôi nói luôn, ‘Muốn gửi mấy tấm này về thì phải bước qua xác em!’ Bố mấy ông nhiếp ảnh gia Pháp! Tôi biết cuối cùng mình sẽ gặp họ thôi và ảnh chụp thì cứ... cứ... ít nhất là mấy tấm tôi chụp thì như thế. Thế là tôi nói với anh ấy rằng, ‘Em đã đợi lâu đến thế này rồi, giờ em sẽ không gửi tấm nào cho cha mẹ hết. Thay vào đó, em sẽ để dành để tạo sự bất ngờ, để họ được nhìn thấy em bằng xương bằng thịt khi họ được gặp mặt em. Như vậy, họ sẽ không có kỳ vọng sai lệch gì và sẽ không bị thất vọng.’ Hồi trước tôi còn kiếm duyệt toàn bộ thư từ của anh ấy nữa, không để cho anh ấy miêu tả tôi. Cô cứ tưởng tượng mà xem anh ấy tả kiểu gì: ‘Mona Lisa’, ‘thần Vệ Nữ trên mảnh vỏ sò’. Tôi bảo là, ‘Anh không được viết thế!’ và gạch bỏ nó đi mỗi khi phát hiện ra. Chúng tôi hay giành nhau kiểu đó, đuổi nhau chạy quanh phòng, tìm cách lấy lại bức thư hay để bức thư tránh xa tầm tay của tôi.”
Patrice trở nên nghiêm túc một lúc. Hoặc ít nhất là cố giữ vẻ nghiêm túc hết mức có thể.
“Cô biết không, giờ thì tôi lại có phần ước giá mà mình không làm chuyện ấy. Ý tôi là chơi trốn tìm với họ như thế. Giờ tôi lại thấy sợ. Cô có nghĩ là họ sẽ thực sự thích tôi không? Nhỡ mà họ không thích thì sao? Nhỡ mà họ luôn hình dung tôi là một con người khác hẳn, và...”
Cô ta chẳng khác nào cậu nhóc trong vở kịch trên sân khấu, cái cậu nhóc cứ lải nhải về một ông kẹ do chính mình nghĩ ra cho đến khi tự làm mình phát hoảng.
“Làm thế nào để giữ nước lại trong này nhỉ?” cô ta tự ngắt ngang lời mình, tay gõ nhẹ lên cái chặn nước bên trong bồn rửa. “Cứ mỗi lần tôi cho đầy nước bên trong, nó lại chảy tuột hết.”
“Tôi nghĩ là phải vặn nó một chút, sau đó nhấn nó xuống.”
Patrice tháo chiếc nhẫn cưới trước khi thò tay vào. “Giữ giúp tôi cái này, tôi muốn rửa tay. Tôi luôn sợ sẽ làm mất nó. Đã có lần nó bị trôi tuột xuống cái lỗ thoát nước bên Anh, và người ta phải tháo nguyên một phần đường ống ra mới tìm lại được.”
“Trông nó đẹp quá,” Helen buồn bã nói.
“Đẹp thật nhỉ?” Patrice đồng ý. “Cô thấy không? Tên chúng tôi được khắc cạnh nhau, ở mặt trong của chiếc nhẫn. Một ý tưởng dễ thương đấy chứ? Cô đeo nó lên ngón tay giúp tôi một phút nhé, thế cho an toàn.”
“Chẳng phải làm thế sẽ gặp xui xẻo sao? Ý tôi là, cô tháo nó ra và để tôi đeo vào ấy?”
Patrice vênh váo hất đầu. “Tôi không thể gặp xui xẻo được,” cô tuyên bố. Nghe như thể một lời thách thức.
Còn tôi, Helen rầu rĩ nghĩ thầm, thì không thể nào gặp may mắn được.
Cô mê mẩn dõi theo chiếc nhẫn chậm rãi trượt xuống hết chiều dài ngón tay mình, rất dễ dàng, không cần dùng lực. Việc này mang lại cho cô một cảm giác quen thuộc khác thường, như thể đáng ra nó phải được thực hiện từ rất lâu rồi, như thể nó đúng ra phải nằm ở đó, và bấy lâu nay cô cứ bị thiếu thốn.
Vậy ra cảm giác ấy là như thế này! Cô chua chát tự nhủ.
Con tàu vẫn xình xịch lăn bánh, nhưng vì họ đang ở trong này, tiếng gầm rú đầu tàu bị giảm xuống thành tiếng lanh canh khẽ khàng.
Patrice bước lùi lại, cuối cùng cũng đã hoàn tất công việc rửa ráy. “Rồi đó, đây là đêm cuối cùng của tôi,” cô ta thở dài. “Vào giờ này đêm mai, chúng tôi sẽ về đến nơi, và điều tệ hại nhất sẽ trôi qua.” Cô ta nắm chặt lấy tay mình, hơi run rẩy vì sợ. “Tôi hi vọng họ thích người họ sắp sửa đón vào nhà.” Cô lo lắng liếc nhìn hình ảnh mình trong gương, chinh lại mái tóc.
“Cô sẽ ổn thôi, Patrice,” Helen lặng lẽ trấn an. “Làm gì có ai lại không thích cô được chứ.”
Patrice ngoắc ngón tay lại và giơ lên cho cô xem. “Hugh nói bố mẹ anh ấy rất giàu có,” cô ta tiếp tục lan man. “Đôi khi như vậy làm mọi sự tồi tệ hơn hẳn.” Cô ta cười khúc khích khi nhớ lại. “Tôi đoán chắc là họ giàu lắm. Tôi biết họ thậm chí còn gửi cho chúng tôi tiền để trở về nhà. Suốt thời gian ở bên đó, chúng tôi luôn phải thắt lưng buộc bụng. Nhưng chúng tôi được vui ra trò. Tôi nghĩ lúc duy nhất ta có thể vui vẻ được là khi ta phải thắt lưng buộc bụng, cô có nghĩ thế không?”
“Đôi khi... thì không đâu,” Helen nhớ lại, nhưng cô không trả lời.
“Mà thôi,” cô bạn của cô lại tiếp tục nói, “ngay khi họ phát hiện ra tôi sắp sinh em bé, mọi chuyện lập tức được quyết định! Họ không chấp nhận để tôi sinh ở bên kia. Thực ra thì chính tôi cũng không muốn mấy, và Hugh cũng thế. Trẻ con cần được sinh ra ở nước Mỹ tươi đẹp, cô có nghĩ vậy không? Đó là điều tối thiểu ta có thể làm cho chúng.”
Đôi khi đó là tất cả những gì ta có thể làm cho chúng, Helen nhăn nhó nghĩ thầm, ...và cho chúng mười bảy xu nữa.
Giờ đã đến lượt cô xong xuôi.
Patrice thúc giục, “Đằng nào chúng ta cũng đã ở trong này rồi, hãy ở lại đủ lâu để làm một điếu xì gà. Có vẻ chúng ta không giữ chân ai cả. Và nếu chúng ta mà nói chuyện ở ngoài kia, có thể người ta sẽ suỵt cho mình im lặng; tất cả bọn họ đều đang cố ngủ.” Ngọn lửa nhấp nháy bùng lên từ chiếc bật lửa, tạo ra một bóng màu đồng phản chiếu trên gương và lớp crôm sáng loáng xung quanh. Patrice phà một hơi thở dài đầy khoan khoái. “Thật thích khi được nói chuyện với một cô bạn gái trước khi đi ngủ. Đã lâu lắm rồi tôi mới có dịp như thế này. Chắc phải kể từ hồi còn ở trường. Hugh nói rằng trong tâm can, tôi là người đàn bà nữ tính.” Cô ngưng lại giữa chừng và nghĩ về câu đó, đầu hơi nghiêng với vẻ khó hiểu. “Thế là tốt hay xấu nhỉ? Tôi phải hỏi lại anh ấy mới được.”
Helen không thể kiếm chế được nụ cười. “Tôi đoán là tốt. Tôi không muốn phải làm một người đàn bà nam tính đâu.”
“Tôi cũng không!” Patrice vội vã đồng tình. “Nó luôn khiến tôi mường tượng ra cái kiểu người nói năng bỗ bã và phun nước miếng phì phì từ khóe miệng.”
Cả hai cùng cười khúc khích một lúc. Nhưng tâm trí như cánh bướm của Patrice đã lại bay sang chủ đề tiếp theo lúc vẩy tàn thuốc vào trong thùng rác rồi. “Không biết liệu sau khi về nhà tôi có được hút thuốc thoải mái như thế này không nhỉ?” Cô nhún vai. “Mà thôi, vẫn còn có phía sau cái nhà kho.”
Và rồi tự nhiên cô lại nói về tình trạng chung của họ.
“Cô có sợ không? Cô biết đấy, về chuyện đó ấy?” Helen thừa nhận bằng ánh mắt.
“Tôi cũng thế.” Patrice đăm chiêu hút một hơi. “Tôi nghĩ mọi người đều thế, không ít thì nhiều, cô có nghĩ thế không? Đàn ông không nghĩ rằng chúng ta sợ. Tất cả những gì tôi cần làm là nhìn vào Hugh...,” mấy lúm đồng tiền của cô lõm sâu thêm với vẻ bông lơn... “và tôi có thể thấy anh ấy đã sợ hết phần cho cả hai rồi, thế nên tôi không để lộ là mình cũng đang sợ. Và tôi trấn an anh ấy.”
Helen tự hỏi cảm giác có người để cùng đem chuyện ấy ra nói là như thế nào.
“Họ có hài lòng về chuyện này không?”
“Ôi, tất nhiên rồi. Họ sướng run người. Cô biết đấy, đứa cháu đầu tiên mà. Họ thậm chí không buồn hỏi chúng tôi có muốn quay về không. ‘Hai đứa sẽ trở về nhà,’ và đơn giản chỉ thế thôi.”
Cô chĩa phần còn lại của điếu xì gà về phía vòi nước, để dòng nước nhỏ tưới đẫm nó.
“Sẵn sàng chưa? Chúng ta quay lại chỗ ngồi nhé?”
Cả hai người họ đều đang thực hiện những việc lặt vặt. Cuộc đời chỉ có vậy thôi, một chuỗi những việc nho nhỏ không ngừng, kéo dài suốt đời. Và rồi tự nhiên một việc lớn nhảy vào - và những việc lặt vặt biến đi đâu hết rồi, chúng ra sao rồi, chúng là thứ gì vậy nhỉ?
Tay cô đặt lên cửa, kéo ngược cái then cài mà hồi nãy Patrice đã khóa lại, lúc họ bước vào trong này. Patrice đang ở đâu đó đằng sau, bỏ thứ gì đó trong bộ đồ trang điểm mở nắp, chuẩn bị đóng lại và mang theo. Cô có thể lờ mờ nhìn thấy hình ảnh cô ấy trong những tấm crôm lát trên tường trước mặt. Những việc lặt vặt. Những việc lặt vặt đã cấu thành nên cuộc đời. Những việc lặt vặt ngưng lại...
Các giác quan của cô đánh lừa bản thân. Không có thời gian để cho chúng đồng nhất được với việc đang xảy ra. Chúng lừa dối cô. Mới đầu, cô cứ ngờ ngợ rằng mình đã làm hỏng cánh cửa, làm nó bật ra ngoài. Đơn thuần chỉ bằng cách chạm vào cái then cài nhỏ bé. Cứ như thể cô đang khiến toàn bộ cánh cửa đổ ụp vào người mình. Như thể nó bật tung hẳn ra khỏi khung, bản lề và mọi bộ phận khác. Ấy nhưng nó không hề bật ra, không hề tự tách rời, không hề tẽ ra khỏi cái phần tường mà nó gắn bên trong. Thế nên cái cảm giác ngờ ngợ thứ hai, cũng sai lệch không kém và cũng chỉ diễn ra trong vài giây, là toàn bộ bức tường của căn phòng này, bao gồm cửa và mọi thứ khác, đang lật nhào xuống, đe dọa sẽ ụp lên người cô. Ấy nhưng chuyện ấy cũng không hề xảy ra. Thay vào đó, nguyên cả căn phòng như lộn ngược lên trời, di chuyển trên một trục quay điên rồ, khiến cho bức tường trước mặt cô nãy giờ, đã biến thành mái trần trên đầu cô; khiến cho mặt sàn cô đứng trên từ nãy giờ biến thành bức tường thẳng trước mặt cô. Cánh cửa đã tuột hẳn khỏi tầm với; trở thành một cánh cửa sập đóng kín trên đầu, không cách nào với đến.
Mấy ngọn đèn tắt ngấm. Đèn đuốc đều đã biến mất, ấy nhưng những hình ảnh mà các giác quan của cô cảm nhận được, bấy giờ đang quay cuồng trong tâm trí, sinh động đến mức chúng như tự mình phát sáng trong bóng tối; cô phải mất một khoảng thời gian tương đối lâu mới nhận ra được mình đang chìm trong bóng tối kín bưng như hũ nút, không thể nhìn bằng mắt được nữa. Chỉ có thể quan sát sự vật qua dư ảnh của nỗi kinh hoàng tưởng tượng trong đầu.
Cô cảm thấy buồn nôn như thể đường ray thay vì làm từ các thanh thép cứng, đã mềm oặt ra, biến thành các dải ruy băng gọn sóng, còn con tàu thì vẫn cố chạy theo đường cong của chúng. Toa tàu như trồi lên thụp xuống, chẳng khác nào đi trên một đường ray dẫn qua nơi thắng cảnh, đi qua những khoảng trồi lên thụp xuống áp sát nhau, càng lúc càng nối đuôi nhau xuất hiện nhanh hơn, và nhanh hơn. Có tiếng nứt toác, cạ nhau xa xăm, dần tiến lại gần, càng gần càng nghe to. Nó gợi cho cô nhớ đến cái cối xay cà phê mình từng có, hồi còn nhỏ. Nhưng cái cối đó không hút cô vào trong mõm, nghiền nát mọi thứ trong tầm nhìn như cái toa tàu hiện đang làm.
“Hugh!” Cái sàn tàu tách lìa như đang gào lên đằng sau cô. Chỉ đúng một lần.
Sau đó thì sàn nhà trở nên im lặng.
Cô ý thức được vài điều nho nhỏ. Các mối nối tách lìa ra, và các khối kim loại nặng bị ép cong vào nhau trên đầu cô, cho đến khi khoảng không chứa đựng cô không còn là bốn khung vuông nữa, mà đã mang hình dáng chiếc lều. Bất chợt bóng tối thoáng ngập tràn một quầng tái nhợt đầy ma mị, vừa nóng vừa chua lè. Hơi nước thoát ra. Sau đó quầng sáng kia lại nhạt nhòa, và bóng tối đen thẫm một lần nữa ập về. Một ngọn sáng màu cam bé xíu bừng lên đâu đó đằng xa. Thế rồi nó lại yếu ớt, mờ đi, và cũng biến mất.

Giờ không có bất cứ âm thanh nào nữa, không có bất cứ chuyển động nào nữa. Mọi thứ đều tĩnh lặng, mơ màng và chìm trong quên lãng. Đây là trạng thái gì vậy nhỉ? Giấc ngủ à? Hay là cái chết? Cô không nghĩ vậy. Nhưng đây cũng chẳng phải sự sống. Cô vẫn nhớ sự sống; mới vài phút trước vẫn còn sự sống mà. Sự sống chứa đựng rất nhiều ánh sáng, người, chuyển động, và âm thanh.
Đây chắc chắn phải là một thứ gì khác. Một giai đoạn chuyển giao nào đó, một tình trạng nào đó mà cho đến nay chưa ai nói cho cô biết cả. Không phải sự sống, cũng chẳng phải cái chết, mà là thứ gì đó ở trung gian.
Nhưng dù có là gì thì nó cũng chứa đựng đau đớn, chỉ toàn đau đớn, không có gì ngoài đau đớn. Cơn đau mới đầu còn nhỏ, nhưng rồi lớn dần, và lớn dần. Cô thử nhúc nhích, nhưng không thể. Một vật mảnh, tròn tròn, lạnh lẽo và ướt nước, nằm dưới chân đang ghì cô xuống. Nó vắt thẳng qua người cô, như một ống nước bị chệch ra khỏi khớp nối.
Con đau cứ lớn dần, lớn dần. Nếu có thể hét lên được có khi nó đã dịu đi. Nhưng dường như cô không thể làm thế.
Cô đưa tay lên miệng. Trên ngón tay thứ ba, cô đụng phải một vòng tròn kim loại nhỏ, một chiếc nhẫn đã được đeo vào. Cô cắn lên nó. Làm vậy cũng đỡ, giúp giảm đau đớn đi một chút. Cơn đau càng lớn, cô càng cắn mạnh...
Cô nghe thấy tiếng rên rỉ khẽ khàng của chính mình, và cô nhắm mắt. Cơn đau đớn biến mất. Nhưng nó mang mọi thứ khác theo cùng, mang cả suy tư, kiến thức, nhận thức.
Cô lại miễn cưỡng mở mắt ra. Đã được mấy phút chưa? Hay là mấy tiếng? Cô không biết. Cô chỉ muốn ngủ, ngủ thêm chút nữa. Suy tư, kiến thức, nhận thức, tất cả cùng quay lại. Nhưng cơn đau thì không quay lại; có vẻ nó đã biến đi hẳn rồi. Thay vào đó là cái cảm giác chán ngán. Cô nghe thấy tiếng rên khe khẽ ư ử của mình, tựa như chú mèo con. Liệu đó có phải tiếng rên của cô không nhỉ?
Cô chỉ muốn ngủ, muốn được ngủ tiếp. Nhưng người ta lại gây ồn ào quá thể, không cho cô được ngủ. Đó là tiếng gõ leng keng, nện lên những tấm thiếc rời và cậy bỏ vật dụng. Cô hơi ngả đầu sang bên để phản đối...
Một cột ánh sáng yếu ớt từ đâu đó chiếu trên đầu cô. Nó cứ như một ngón tay dài, gầy gò, một nan hoa, thọc xuống tìm cô, chĩa vào người cô, cố tìm ra cô trong bóng tối.
Nó không chiếu trúng đích mà cứ tiếp tục thọc sai chỗ tìm cô, khắp xung quanh cô.
Cô chỉ muốn ngủ. Cô khẽ kêu lên một tiếng phản đối - nhưng có phải cô là người thốt lên không nhỉ? - và chợt mọi thứ nhốn nháo hẳn lên, tiếng nện nhanh hơn, tiếng cạy trở nên hỗn loạn hơn.
Thế rồi tất cả đồng loạt dừng lại, ngưng toàn bộ, và một giọng đàn ông vang lên ngay bên trên đầu cô, nghe trống rỗng và nhòe nhoẹt kỳ lạ, như thể đang nói qua một cái ống.
“Bình tĩnh nhé. Chúng tôi đến cứu cô đây. Chỉ thêm một phút nữa thôi, cô gái. Cô có chịu được không? Cô có bị thương không? Cô có bị đau không? Cô ở dưới đó một mình à?”
“Không,” cô yếu ớt nói. “Tôi. tôi vừa sinh con ở dưới này.”
 
 
 
Chương 6
 
Quá trình phục hồi chẳng khác nào tiến trình cân bằng hóa một giai đoạn chí điểm bị lệch chuẩn rất nghiêm trọng. Mới đầu mọi thời điểm đều là ban đêm, màn đêm địa cực triền miên, với các khoảng thời gian ban ngày ngắn ngủi, mỗi lần chỉ kéo dài tầm một, hai phút. Đêm là lúc cô ngủ và ngày là lúc tỉnh táo. Thế rồi dần dần, ngày dãn dài ra và đêm thu ngắn lại. Bấy giờ, thay vì có nhiều khung thời gian ngày chia nhỏ trong hai mươi bốn tiếng, chỉ còn có một khung ngày dài xuất hiện giữa mỗi chu kỳ, theo cái kiểu đúng chuẩn. Không bao lâu sau, nó thậm chí còn bắt đầu trùng lặp vào với nhau, kéo dài sau khi mặt trời đã lặn và lấn vào một hay hai tiếng đầu của buổi chiều tối. Bây giờ, thay vì trong một đêm xuất hiện nhiều khung thời gian ngày phân mảnh, nó đã trở thành trong một ngày có nhiều khung thời gian đêm phân mảnh. Những lần chợp mắt hay thiu thiu ngủ. Chí điểm đã bị đảo lộn.
Quá trình phục hồi còn tồn tại trên một chiều không gian thứ hai, song song với nó. Đồng hành cùng với thời gian là không gian vật lý. Ngày càng kéo dài thì kích thước của không gian xung quanh cô lại càng dãn nở ra. Ban đầu mỗi lần nhận thức của cô chỉ có thể ghi nhận được một vùng không gian nhỏ; cái gối đằng sau đầu cô, một phần ba phía trên giường, một gương mặt mờ nhạt nằm chếch ở bên mình, cúi nhìn cô, bỏ đi, và rồi quay lại. Và quan trọng hơn tất thảy mọi thứ khác là một hình hài nhỏ nhắn, được phép rúc trong tay cô, mỗi lần chỉ vài giây. Một thứ còn sống, ấm áp và là của cô. Khi ấy cô trở nên tràn trề sinh lực hơn bất cứ lúc nào khác. Nó là đồ ăn, thức uống và ánh nắng mặt trời; nó là sợi dây kéo cô về với cuộc sống. Những thứ còn lại đều nhạt nhòa, chìm trong khoảng xa xám xịt, mờ sương trải rộng xung quanh.
Nhưng ngay cả cái vùng tâm điểm nhìn thấy được này cũng nới rộng ra. Bấy giờ nó đã nới ra đến chân giường. Sau đó nó nhảy vọt qua đó, lan đến cái vùng bao quanh của căn phòng, sàn phòng bị khuất tầm mắt. Thế rồi nó ra đến các bức tường của căn phòng, ở cả ba phía, và tạm không thể đi xa hơn được nữa, bị chúng chặn lại. Nhưng đó không phải do hạn chế hay thiếu hụt khả năng nhận thức nữa, mà là hạn chế của trang thiết bị. Ngay cả mắt người khỏe mạnh cũng không có khả năng nhìn xuyên tường.
Đây là một căn phòng dễ chịu. Một căn phòng vô cùng dễ chịu. Không thể ngẫu nhiên tạo ra được hiệu ứng như thế. Nó hết sức trực tiếp, hết sức ngập tràn; mọi yếu tố trong phòng đều được căn rất chuẩn: bao gồm màu sắc, kích thước, thanh âm, sự thanh thản và khỏe mạnh của cơ thể, và quan trọng hơn cả, cái cảm giác an toàn và được ở nơi thánh địa, cảm giác cuối cùng cũng được thuộc về đâu đó, cảm giác đã tìm được một chốn nương thân, một bến cảng, cảm giác được yên ổn. Bởi vậy, hẳn đây là một nơi ra đời nhờ kĩ năng và kiến thức khoa học, nhờ chúng mà đạt được cái hiệu ứng tích lũy được tâm trí cô đánh giá là dễ chịu.
Cái cảm giác tổng thể nó mang lại là một sắc ngà ấm áp, rực rỡ, chứ không phải màu trắng lạnh lẽo, vô hồn. Ở bên phải cô có một cửa sổ, với một tấm rèm mành. Và khi tấm rèm ấy được kéo lên, ánh mặt trời tràn vào, rắn đặc như phiến đá, chẳng khác nào một khối quặng đồng và vàng. Lúc chúng được buông xuống, các luồng tia xẻ nhỏ nhòe đi và tạo thành màn sương mờ ảo, các mảng đồng pha vàng lốm đốm bám trên toàn bộ cửa sổ như một vầng hào quang. Và có đôi lần họ kéo mấy tấm che áp hẳn vào nhau, tạo ra vùng không gian hoàng hôn xanh dịu bên trong căn phòng, và ngay cả như vậy cũng thật dễ chịu, giúp ta dễ dàng khép mắt và ngủ ngon.
Ngoài ra, lúc nào cũng có hoa đặt ở chỗ cô, ngay gần đầu giường. Màu hoa không bao giờ xuất hiện đến hai lần. Hẳn chúng được thay đổi hàng ngày. Chúng có lặp lại, nhưng không bao giờ lặp lại liền nhau. Vàng, và hôm sau chuyển sang hồng, rồi ngày hôm sau nữa thì sang tím và trắng, và rồi ngày hôm sau lại quay về với vàng. Cô bắt đầu ngóng trông chúng. Chúng khiến cô muốn mở mắt ra để xem lần này sẽ là màu gì. Có khi đó là lý do chúng được đặt ở đó. Gương mặt sẽ mang chúng đến và chìa ra gần để cô ngắm chúng, và sau đó lại đặt về chỗ cũ.
Hàng ngày, những từ đầu tiên cô thốt ra là, “Cho tôi gặp con trai tôi.” Nhưng ngay sau đó, hay gần như ngay sau đó, sẽ luôn là, “Cho tôi ngắm mấy bông hoa của tôi.”
Được một thời gian sau thì bắt đầu có trái cây. Mới đầu thì không có luôn, mà phải đến một lúc sau, lúc cô bắt đầu có cảm giác thèm ăn trở lại. Chúng được đặt ở một chỗ khác, không được gần lắm, ở bên cửa sổ. Trái cây đặt trong một cái giỏ, trên quai xách được buộc một chiếc nơ xa-tanh. Trái cây cũng không bao giờ giống nhau. Nghĩa là chúng không bao giờ được sắp xếp theo cùng một kiểu hay tỉ lệ của các chủng loại giống nhau, và không bao giờ có bất cứ vết thâm hỏng nào dù là nhỏ nhất, thế nên cô biết hẳn mỗi ngày đều có trái cây mới. Cả cái nơ xa-tanh cũng không bao giờ giống nhau, thế nên có lẽ chiếc giỏ cũng thế. Một giỏ đầy trái cây tươi mới mỗi ngày.
Và ngay cả nếu cô không thấy chúng có ý nghĩa ngang với đám hoa, thì cũng bởi hoa là hoa và trái cây là trái cây. Nhìn ngắm chúng cũng vẫn thích theo kiểu riêng. Những trái nho xanh dương và xanh lá, cả mấy trái màu tím nữa, được ánh dương chiếu vào và ban tặng sự bóng lộn chẳng khác nào cửa sổ nhà thờ; những trái lê Bartlett, với phần má vàng mang sắc hồng trông cứ như đáng ra phải là của táo; những trái đào phủ lông vàng mướt; những trái quýt bé nhỏ linh lợi; những trái táo căng đầy máu nóng, trông cứ như ngả hẳn sang tím.
Ngày nào cũng thế, chúng được đặt trong tấm lót xanh thẫm mát rượi, cứng cáp.
Cô không ngờ bệnh viện lại chăm sóc chu đáo đến thế. Cô không biết họ lại chu cấp những thứ như vậy cho bệnh nhân; kể cả những người chỉ có mười bảy xu trong ví - hoặc đáng ra sẽ như thế, nếu họ có ví lúc nhập viện.
Đôi khi cô nghĩ về quá khứ, nhớ lại nó, chiêm nghiệm lại nó, cho dù nó chẳng nhiều nhặn gì. Nhưng nó khiến cho bóng tối tràn vào căn phòng, làm mờ đi các góc phòng sáng rõ, thậm chí khiến những cột nắng dày như xà nhà chiếu vào từ cửa sổ trở nên mỏng manh hơn, khiến cô muốn kéo chăn sát lại quanh vai mình, và thế là cô học cách tránh nghĩ về nó, tránh khơi dậy nó.
Cô nghĩ thầm.
Mình ở trên một đoàn tàu. Mình ở trong phòng vệ sinh với một cô gái trẻ.
Cô có thể nhớ được vẻ sáng bóng của lớp kim loại trên các món đồ trong phòng và các tấm gương. Cô có thể thấy gương mặt của cô gái kia; ba lúm đồng tiền xếp thành hình tam giác, mỗi má có một lúm, một lúm thì ở dưới cằm. Nếu thật sự cố gắng, cô thậm chí còn có thể cảm nhận lại sự lắc lư và rung chuyển, cái cảm giác chân hơi bấp bênh kia. Nhưng làm vậy sẽ khiến cô cảm thấy hơi buồn nôn, bởi vì cô biết tiếp theo, chỉ vài giây sau thôi, chuyện gì sẽ xảy ra. Giờ thì cô biết điều ấy, nhưng hồi đó thì không. Khi đến đoạn đó, cô thường vội vã tắt phụt hình ảnh mình mường tượng ra, như thể nó là chiếc công tắc đèn, để ngăn không cho xuất hiện điều chắc chắn sẽ xảy ra.
Cô nhớ về New York. Cô nhớ về cánh cửa không chịu mở. Cô nhớ về dải vé một chiều rơi ra từ chiếc phong bì. Đó là lúc bóng tối thực sự quây lấy cô, đen đặc và nặng nề. Đó là lúc nhiệt độ căn phòng thực sự tụt xuống. Nó xảy ra mỗi khi cô cho tâm trí lui ra đằng sau chuyến tàu, nhớ đến New York, nhớ đến những gì ở phía bên kia dấu mốc đó.
Cô nhanh chóng nhắm mắt, nghiêng đầu trên gối, và xua đuổi quá khứ...
Hiện tại dịu dàng hơn hẳn. Và bất cứ lúc nào trong ngày, ta cũng có thể được thoải mái. Ta có thể thoải mái mà không cần phải cố gắng. Hãy ở trong hiện tại, hãy để hiện tại được tồn tại. Hiện tại là chốn an toàn. Đừng rời bỏ nó - bất kể theo chiều hướng nào, đi tới hay đi lui. Bởi vì ngoài kia, xung quanh nó chỉ có bóng tối, và ta không biết mình sẽ đụng phải thứ gì. Hãy ngồi im, nằm im, ở nguyên chỗ hiện tại.
Cô mở mắt ra và lại cảm thấy ấm áp. Ánh mặt trời tràn vào, dày, ấm áp và mạnh mẽ đến mức đủ sức đẩy một chiếc xe trượt băng từ khung cửa sổ xuống dưới sàn. Các chùm hoa đa sắc, giỏ trái cây thắt nơ. Sự im lặng êm dịu bao trùm xung quanh. Chẳng bao lâu nữa người ta sẽ lại đưa hình hài bé nhỏ kia vào, để nó rúc vào người cô, và cô sẽ nếm trải niềm hạnh phúc ấy, niềm hạnh phúc của một thứ mới mẻ, khiến ta chỉ muốn ôm lấy nó trong vòng tay và không bao giờ buông ra.
Hãy để cho hiện tại được tồn tại. Hãy để cho hiện tại được kéo dài. Đừng hỏi, đừng tìm kiếm, đừng nghi ngờ, đừng tranh cãi với nó. Hãy dồn toàn sức lực bấu víu lấy nó.
 
 
 
Chương 7

Những đóa hoa cũng chính là sai lầm chết người của cô, khiến cho thực tại kết thúc.
Một ngày nọ, cô muốn lấy một bông hoa. Cô muốn tách một bông ra khỏi đám còn lại, cầm trong tay, và thưởng thức mùi hương ngọt ngào của nó ngay bên dưới mũi mình; chỉ ngắm nhìn vẻ ngoài của chúng thôi, chỉ quan sát chúng theo cấu trúc nhóm đầy trừu tượng thôi không còn đủ nữa.
Lúc bấy giờ chúng đã được đặt lại gần cô hơn. Và bản thân cô cũng có thể cử động thoải mái hơn. Cô nằm ngang người lặng lẽ ngắm chúng được một lúc thì cái thôi thúc kia hình thành.
Có một bông nhỏ, đặt lủng lẳng dưới thấp, cong về phía cô, và cô tính sẽ với lấy bông hoa ấy. Cô quay hẳn sang, để cho người mình được lật hoàn toàn sang bên, và đưa tay về phía nó...
Bàn tay cô nắm lại quanh thân nó, và nó rung lên nhè nhẹ vì bị lực tác động. Cô biết mình sẽ không thể nào bẻ được thân hoa với chỉ một bàn tay, và đằng nào thì cô cũng không muốn làm như thế; không muốn làm tổn hại bông hoa, chỉ muốn mượn một lúc thôi. Thế là cô bắt đầu kéo dọc bông hoa lên khỏi bình, và trong lúc bông hoa dâng dần lên, chừng như mãi không bao giờ lên hết, nó khiến tay cô dâng cao lên, và dần giơ cao lên quá đầu.
Tay cô đập vào phía sau giường, cái chỗ gần cô đến độ có lẽ cô sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy nó nếu không quay hẳn đầu lại, có thứ gì trên đó xóc lên và rung rinh một chút, như thể đe dọa sẽ tách rời ra và rơi xuống.
Cô quay hẳn đầu lại, và thậm chí còn lùi lại khỏi phần sau giường một chút, chuyển sang tư thế nửa ngồi dậy, hành động mà trước giờ cô chưa bao giờ thử, để nhìn nó cho rõ.
Đó là một khung kim loại nhẹ, có hình chữ nhật, một cạnh gắn vào thanh trên cùng của giường, ba bên còn lại thì để không. Bên trong nó là một miếng giấy phẳng, chữ viết nắn nót, trông nhòe nhòe cho đến khi nó ngưng lắc lư sau khi bị cú va của cô thúc phải.
Nó chỉ cách đầu cô có mấy phân, ngay bên trên đầu cô bấy lâu nay, nhưng đến tận bây giờ cô mới nhìn thấy.
Đó là biểu đồ của cô.
Cô chăm chú quan sát nó.
Bất chợt thực tại và bao nhiêu sự an toàn của nó vỡ tan thành từng mảnh, và bông hoa rơi từ bàn tay chìa ra của cô trên mặt sàn.
Ở trên cùng có ba dòng, được viết rất đối xứng. Phần đầu tiên của mỗi dòng được in ra và bỏ trống; phần còn lại thì được viết tay.
Dòng trên cùng ghi, “Khu...”
Và theo sau là, “Thai sản.”
Dòng bên dưới có ghi, “Phòng.”
Và theo sau là, “25.”
Dòng dưới cùng có ghi, “Tên bệnh nhân ...”
Và rồi nó là, “Patrice Hazzard.”
 
 
 
Chương 8

Cô y tá mở cửa và nét mặt cô ta biến sắc. Nụ cười héo đi trên khuôn mặt. Từ tận đằng kia cũng có thể phát hiện ra mặt cô ta đã thay đổi, ngay cả khi cô ta chưa lại gần giường.
Cô ta tiến đến và đo nhiệt độ cho bệnh nhân. Sau đó cô ta vuốt thẳng cái biểu đồ.
Bọn họ chẳng ai nói gì cả.
Nỗi sợ hãi hiện diện trong căn phòng. Bóng tối cũng xuất hiện trong căn phòng. Thực tại không còn ở đây nữa. Tương lai đã thế chỗ nó. Mang theo nỗi sợ, mang theo bóng tối, mang theo sự xa lạ; thậm chí còn tệ hơn những gì quá khứ mang lại.
Cô y tá giơ nhiệt kế ra ánh sáng và nhìn nó. Và rồi lông mày cô ta nhíu lại. Cô ta đặt chiếc nhiệt kế xuống.
Cô ta hỏi thật thận trọng, như thể đã tính toán tông giọng và tốc độ nói trước khi phát ngôn ra. Cô ta hỏi, “Chuyện gì đã xảy ra vậy? Có chuyện gì làm cô thấy khó chịu à? Cô hơi sốt rồi đấy.”
Cô gái trên giường đáp lời bằng cách hỏi ngược lại. Giọng cô đầy sợ hãi, căng thẳng. “Cái thứ đó làm gì trên giường của tôi thế? Tại sao nó lại ở đó?”
“Mỗi bệnh nhân đều có một cái,” cô y tá nhẹ nhàng đáp. “Không sao đâu, chỉ là một...”
“Nhưng nhìn kìa. cái tên. Nó ghi là.”
  “Cô thấy sợ khi nhìn thấy tên mình sao? Cô đừng nhìn vào nó. Đáng ra cô không được nhìn thấy nó. Suỵt, giờ thì đừng nói nữa.”
“Nhưng có chuyện này tôi... Nhưng chị phải nói cho tôi nghe, tôi không hiểu..
Cô y tá bắt mạch cho cô.
Và ngay lúc đó, nữ bệnh nhân bỗng nhìn xuống bàn tay mình, lạnh cứng người, tê liệt vì hoảng sợ. Cô nhìn vào vòng tròn nhỏ đính kim cương, bao lấy ngón tay thứ ba. Nhìn vào chiếc nhẫn cưới. Như thể cô chưa bao giờ nhìn thấy nó, như thể cô không hiểu nó đang làm gì ở đó.
Cô y tá thấy cô hoảng hốt kéo giật, tìm cách tháo bỏ chiếc nhẫn ra. Nhưng nó đâu dễ gì chịu rời ra.
Nét mặt cô y tá lại thay đổi. “Đợi một lát nhé, tôi sẽ quay lại ngay,” cô ta lo lắng nói.
Cô ta đưa bác sĩ vào cùng. Ngay khi họ bước qua bậu cửa, tiếng thì thầm của cô ta ngưng lại.
Ông bác sĩ lại gần giường, áp tay lên trán cô.
Ông ta gật đầu với cô y tá và nói, “Hơi sốt.”
Ông ta nói, “Cô hãy uống cái này đi.”
Nó có vị mằn mặn.
Họ đặt bàn tay cô dưới tấm chăn, để khuất tầm mắt. Đó là bàn tay đeo chiếc nhẫn.
Họ kéo chiếc cốc ra khỏi môi cô. Cô không muốn hỏi bất kỳ câu nào nữa, không muốn hỏi han gì nữa. Dù cô vẫn muốn hỏi, nhưng là vào lúc khác, chứ không phải bây giờ. Có chuyện này cần thông báo cho họ. Mới một phút trước cô vẫn còn nhớ, nhưng giờ nó đã biến mất khỏi đầu cô.
Cô thở dài. Để lúc khác, không phải bây giờ. Bây giờ cô không muốn làm gì ngoài đi ngủ.
Cô quay mặt về phía gối và ngủ thiếp đi.
 
 
 
 
Chương 9

Mọi chuyện lại lập tức ùa về. Nó là thứ đầu tiên cô nhớ đến. Ngay khi liếc thấy mấy bông hoa, ngay khi liếc nhìn thấy mớ trái cây, ngay khi mí mắt cô mở ra và căn phòng xuất hiện. Mọi chuyện lại hồi về ngay tức khắc.
Có thứ gì đó nói với cô rằng: Hành xử dè dặt thôi, nói năng chậm vào. Cẩn thận, cẩn thận. Cô không biết nó là thứ gì hay vì sao nó nói thế, nhưng cô biết mình cần nghe lời dặn đó.
Cô y tá nói với cô, “Cô uống nước cam đi.”
Cô ta nói tiếp, “Từ hôm nay, cô có thể pha chút cà phê uống kèm với sữa. Mỗi ngày pha thêm một chút. Chắc sẽ tuyệt lắm nhỉ?”
Hành xử dè dặt thôi, nói năng cẩn thận vào.
Cô nói, “Chuyện gì đã xảy ra với...?”
Cô nhấp thêm ngụm sữa màu be. Hành xử dè dặt thôi, nói năng chậm vào.
“Với ai?” cuối cùng cô y tá tiếp lời.
Ổi, cẩn thận nào, cẩn thận. “Có một cô gái khác trong phòng vệ sinh trên tàu cùng tôi. Cô ấy có làm sao không?” Cô nhấp một ngụm sữa nữa để dứt câu. Nào, giữ cái cốc cho vững tay; đúng rồi. Đừng để nó bị rung. Đặt nó xuống khay, đều tay và chậm thôi; đúng rồi.
Cô y tá lắc đầu cụt ngủn. Cô ta nói, “Không.”
“Cô ấy chết rồi à?” 
Cô y tá không trả lời. Cô ta cũng đang hành xử dè dặt. Cô ta cũng đang dò dẫm tìm cách nói, cô ta cũng đang không hấp tấp. Cô ta nói, “Cô có thân quen gì với cô gái đó không?”
“Không.”
“Cô mới gặp cô ấy trên tàu à?”
“Chỉ trên tàu thôi.”
Cô y tá giờ đã dọn xong đường. Đã an toàn để đi tiếp. Cô y tá gật đầu. Cô ta muộn màng đáp lại câu hỏi nêu ra trước đó hai câu. “Cô ấy đã chết rồi,” cô ta lặng lẽ nói.
Nữ y tá quan sát mặt cô với vẻ trông đợi. Lớp gạch lót vẫn được giữ nguyên hiện trạng; con đường không bị sụp đổ.
Cô ta đánh liều tiến thêm một bước.
“Có ai khác cô muốn hỏi thăm không?”
“Chuyện gì đã xảy ra với...?”
Cô y tá cất cái khay đi, như thể dọn sẵn hiện trường, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc khủng hoảng.
“Với anh ấy à?”
Đúng là mấy từ ấy rồi. Cô mượn luôn chúng. “Chuyện gì đã xảy ra với anh ấy?”
Nữ y tá nói, “Cô chờ tôi một lát.” Cô ta đi ra mở cửa, và ra dấu với ai đó cô không nhìn thấy.
Ông bác sĩ bước vào, cùng với cô y tá thứ hai. Họ đứng đợi ở đó, như thể chuẩn bị giải quyết một ca cấp cứu.
Y    tá đầu tiên nói, “Nhiệt độ bệnh nhân bình thường. Mạch bình thường.”
Y    tá thứ hai pha thứ gì thứ trong một cái cốc.
Cô y tá đầu tiên, y tá của cô, đứng gần giường. Cô ta nắm lấy tay cô và siết chặt. Cô ta cứ nắm lấy nó như vậy, giữ chặt và rất kiên quyết.
Vị bác sĩ gật đầu.
Liếm đôi môi, cô y tá đầu tiên nói,
“Chồng cô cũng không được cứu, cô Hazzard à.”
Cô cảm thấy mặt mình tái nhợt đi vì sốc. Da cô co khít lại như thể nó quá nhỏ so với người.
Cô nói, “Không, có gì không đúng rồi... Không, mọi người nhầm rồi...”
Vị bác sĩ kín đáo cử động. Ông ta và cô y tá thứ hai nhanh chóng tiến sát chỗ cô.
Có ai đó áp bàn tay mát dịu lên trán cô, ép cô nằm xuống, rất dịu dàng nhưng vẫn dứt khoát; cô không thể xác định được đó là tay ai.
Cô nói, “Không, làm ơn để tôi nói cho mọi người nghe!”
Cô y tá thứ hai ấn thứ gì đó vào môi cô. Cô y tá đầu tiên nắm tay cô, siết chặt và rất ấm áp, như thể muốn nói, “Có tôi đây rồi. Đừng sợ gì cả, có tôi đây rồi.” Bàn tay trên trán cô mát dịu nhưng rất thuần thục. Nó ấn mạnh, nhưng không quá nặng; chỉ vừa đủ lực để giữ cho đầu cô nằm im.
“Làm ơn.,” cô uể oải nói.
Sau đó thì cô không nói thêm gì nữa. Cả bọn họ cũng không nói gì.
Cuối cùng cô nghe tiếng vị bác sĩ thì thầm, như thể để chấm dứt câu chuyện,
“Cô ấy nhận tin tốt đấy chứ.”
 
 
 
Chương 10

Mọi chuyện lại ùa về. Sao mà nó không ùa về được chứ? Ta không thể ngủ liên tục cả ngày, chỉ theo từng giấc nhỏ thôi. Và đi cùng với nó lại là: Hành xử dè dặt thôi, nói năng cẩn thận vào.
Cô y tá, người cô quen nhất ở đây, tên là Allmeyer.
“Chị Allmeyer này, ngày nào bệnh viện cũng cắm hoa cho tất cả mọi người à?”
“Chúng tôi muốn thế lắm, nhưng không đủ chi phí để thực hiện. Mỗi lần cô thấy chỗ hoa này là lại tốn năm đô la đấy. Chúng chỉ dành riêng cho cô thôi.”
“Có phải bệnh viện ngày nào cũng để trái cây vào đây không?”
Nữ y tá mỉm cười nhẹ nhàng. “Chúng tôi cũng muốn làm như thế lắm. Chúng tôi chỉ thèm được làm như thế. Mỗi lần cô thấy giỏ trái cây đó là lại tốn mười đô la. Đây là yêu cầu riêng, chỉ dành cho cô thôi.”
“Thế thì ai...?” Nói năng cẩn thận vào, cô thầm nghĩ.
Cô y tá mỉm cười đầy tươi tắn. “Cô không thể đoán được sao? Chẳng khó lắm đâu.”
“Có điều này tôi muốn nói với chị. Có điều này chị phải để tôi nói chị nghe.” Cô bồn chồn quay đầu trên gối, hết sang bên này rồi đến bên kia, sau đó lại quay về chỗ cũ.
“Nào, cô gái, lại chuẩn bị có một ngày tồi tệ rồi sao? Thế mà tôi cứ tưởng chúng ta sẽ được tận hưởng một ngày tốt lành.”
“Chị tìm hiểu giúp tôi việc này được không?”
“Tôi sẽ cố.”
“Chiếc túi xách; túi xách mà tôi mang vào trong phòng vệ sinh trên tàu. Bên trong có bao nhiêu tiền vậy?”
“Túi xách của cô à?”
“Đúng. Chiếc túi xách mà tôi mang theo khi ở đó.”
Lát sau nữ y tá quay lại và nói, “Nó không sao cả; người ta đang giữ nó hộ cô. Có khoảng năm mươi đô la hay gì đó.”
Đó không phải túi xách của cô, mà là của cái cô gái kia.
“Có hai chiếc túi.”
“Đúng là có một cái túi nữa,” cô y tá thừa nhận. “Giờ nó không thuộc về ai cả.” Cô ta nhìn xuống với vẻ thương hại. “Bên trong chỉ có mười bảy xu,” cô ta thì thầm, gần như không thể nghe thấy.
Chuyện đó thì không cần phải nói. Cô biết quá rõ ấy chứ. Cô nhớ từ trước khi lên con tàu. Cô nhớ từ khi đang ở trên tàu. Mười bảy xu. Hai xu, một đồng năm xu, một đồng mười xu.
“Chị có thể mang mười bảy xu ấy đến đây không? Tôi chỉ nhìn thôi có được không? Tôi để nó ở đây, cạnh giường được chứ?”
Nữ y tá nói, “Tôi không chắc cứ ủ rũ như thế là tốt cho cô đâu. Để tôi xem người ta bảo sao.”
Nhưng rốt cuộc cô ta vẫn mang chúng đến, trong một chiếc phong bì nhỏ.
Chỉ còn mình cô với chúng. Cô dốc bốn đồng xu nhỏ từ chiếc phong bì vào lòng bàn tay. Cô siết chặt tay quanh chúng, giữ nguyên như vậy, nắm rất chắc, tạo thành một khối khó xử.
Năm mươi đô, một món tiền đầy tượng trưng. Tượng trưng cho một khoản còn lớn hơn nữa, không rõ là bao nhiêu.
Mười bảy xu, món tiền theo đúng nghĩa đen. Chẳng tượng trưng cho gì cả, bởi vì chẳng có gì nữa. Mười bảy xu và chẳng có gì khác cả.
Nữ y tá quay lại, mỉm cười với cô. “Nào, ban nãy cô bảo muốn nói với tôi chuyện gì mà?”
Cô mỉm cười đáp lại, nụ cười rất nhạt. “Đợi thêm một thời gian nữa cũng được. Tôi sẽ nói với chị vào dịp khác. Có thể ngày mai, hoặc ngày kia. Nhưng không... không phải hôm nay.”
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Chương 11

Có một bức thư trên khay đồ ăn sáng.
Cô y tá nói, “Thấy chưa? Giờ cô đã bắt đầu nhận được thư rồi đấy, chẳng khác nào người khỏe mạnh cả.”
Bức thư được đặt nghiêng về phía cô, dựa vào cốc sữa. Trên chiếc phong bì có đề:
'Cô Patrice Hazzard'
Cô thấy sợ hãi. Không thể nào rời mắt khỏi nó. Cốc nước cam run lên trong tay cô. Dòng chữ ghi trên đó như đang lớn hơn, lớn hơn, và lớn hơn, trong khi chiếc phong bì thì vẫn nằm im.
'CÔ PATRICE HAZZARD'
“Cô mở ra đi,” nữ y tá khích lệ. “Đừng chỉ nhìn như thế. Nó không cắn cô đâu.”
Đã hai lần cô thử mở bức thư, và cả hai lần nó đều rơi tuột xuống. Đến lần thứ ba thì cô xoay xở xé được một đường dọc bao thư.
Patrice thân yêu!
Mặc dù gia đình chúng ta chưa bao giờ được thấy mặt con, nhưng giờ con đã là con gái của chúng ta rồi, con yêu ạ. Con là tất cả những gì Hugh để lại cho chúng ta. Giờ con là tất cả những gì chúng ta có, con và đứa bé. Ta không thể đến chỗ con, theo lời khuyên của bác sĩ. Ta không chịu nổi cú sốc, và bác sĩ không cho ta đến thăm con. Thay vào đó, con sẽ về với chúng ta. Hãy về sớm nhé, con yêu. Về nhà với chúng ta, nơi chúng ta đang cô đơn và chìm trong mất mát. Như vậy sẽ giúp chúng ta dễ dàng chấp nhận mọi chuyện hơn. Sẽ không còn lâu nữa đâu, con yêu. Chúng ta đã liên tục thư từ với bác sĩ Brett và ông ấy đã gửi những thông tin rất tích cực về quá trình phục hồi của con...
Phần còn lại không quan trọng nữa; cô để nó trôi ra khỏi đầu mình.
Cô cảm thấy như đang có mấy bánh tàu hỏa lăn trong đầu mình.
“Mặc dù gia đình chúng ta chưa bao giờ được thấy mặt con.
Mặc dù gia đình chúng ta chưa bao giờ được thấy mặt con.
Mặc dù gia đình chúng ta chưa bao giờ được thấy mặt con.”
Một lúc sau, cô y tá nhẹ nhàng lấy bức thư ra khỏi mấy ngón tay lơ đễnh của cô, rồi đút nó vào trong phong bì. Cô sợ hãi quan sát trong lúc nữ y tá đi quanh phòng.
“Nếu tôi không phải là cô Hazzard, liệu tôi có được phép ở lại phòng này không?”
Cô y tá vui vẻ cười phá lên. “Bọn tôi sẽ đuổi cô ra, sẽ tống thẳng cô ra ngoài, cho vào một trong những khu kia kìa,” cô ta nói, cúi sát về phía cô với vẻ dọa dẫm giả vờ.
Cô ta nói tiếp, “Nào, đỡ lấy cậu con trai của cô đi nào.”
Cô ôm chặt con trai mình, bao bọc lấy nó, rất mãnh liệt, gần như co quắp cả người lại.
Mười bảy xu. Mười bảy xu chỉ giúp ta trụ được một thời gian ngắn ngủi, chẳng giúp ích được gì nhiều.
Nữ y tá cảm thấy hứng khởi. Cô ta thử tiếp tục cái câu đùa lúc trước. “Sao cô lại hỏi thế? Cô định bảo với tôi rằng mình không phải cô Hazzard ?” cô ta bỡn cợt hỏi.
  Cô ôm ghì lấy thằng bé, áp sát nó vào người mình để che chở.
Mười bảy xu, mười bảy xu.
“Không,” cô nói bằng cái giọng nghèn nghẹt, úp mặt vào đứa bé, “tôi có định nói vậy với chị đâu. Tôi có định bảo như thế đâu.”
 
 
 
Chương 12

Cô mặc một chiếc áo thụng dài, ngồi cạnh cửa sổ, dưới ánh mặt trời. Chiếc áo được may từ lụa xanh. Ngày nào cô cũng mặc nó mỗi khi ra khỏi giường. Trên túi ngực áo là một chữ viết lồng được thêu bằng lụa trắng; hai chữ 'PH' đan xen nhau. Còn có cả dép cùng bộ.
Cô đang đọc một cuốn sách. Trên trang trắng đầu sách, mặc dù cô đã đọc qua chỗ đó từ lâu, là dòng chữ, “Thân gửi Patrice, từ mẹ H.” Có một hàng các cuốn sách khác trên cái kệ cạnh giường. Mười hay mười hai cuốn gì đó; toàn sách có bìa rất sặc sỡ, ngọc lam, đỏ sậm, đỏ son, bạch kim, kèm cả nội dung vui tươi, nhẹ nhàng nữa. Giữa hai tấm bìa của chúng không có chút bóng đen tiêu cực nào.
Trên cái đĩa đặt tại cái bàn thấp cạnh chiếc ghế bành có một mớ vỏ cam và hai hay ba hột gì đó. Có một điếu xì gà đang cháy dở đặt trên một cái đĩa khác, nhỏ hơn, nằm cạnh cái đĩa trước. Điếu xì gà được đặt làm riêng, có một đầu bọc rơm, và hai chữ viết tắt 'PH' viết trên đó vẫn chưa bị hút mất.
Ánh mặt trời, tỏa xuống từ phía sau, trên đầu cô, khiến tóc cô trở nên mờ đục, mơ hồ, khiến nó gần giống như mớ bọt vàng bao quanh đầu cô. Vì bị lưng ghế chặn, nó nhảy vọt lên trước mặt cô, chảy xuống, và lại đọng thành một bể vàng nhỏ bên trên một mu bàn chân trần thò ra, nằm đó như nụ hôn ấm nóng, rực sáng.
Có tiếng gõ nhẹ trên cửa, và vị bác sĩ bước vào.
  Ông ta kéo ghế ra và ngồi đối diện với cô, để cho phần lưng ghế dựng thẳng phía trước để tăng thêm sự thân tình vui vẻ.
“Tôi được biết không bao lâu nữa cô sẽ rời khỏi chỗ chúng tôi.”
Cuốn sách rơi xuống đất, vị bác sĩ nhặt nó lên giúp cô. Ông ta đưa lại cuốn sách cho cô, nhưng thấy cô có vẻ không cầm nổi, ông lại đặt nó lên trên kệ.
“Cô đừng quá lo lắng thế. Mọi thứ đều đã được thu xếp...”
Cô cảm thấy hơi khó thở. “Đi đâu.? Tôi sẽ đi về đâu?”
“Ô, tất nhiên là cô sẽ về nhà.”
Cô đưa tay lên tóc và vuốt phẳng xuống một chút, nhưng rồi chúng lại xù lên ngay, bồng bềnh dưới ánh mặt trời như lúc trước.
“Đây là vé tàu của cô.” Ông ta lôi chiếc phong bì ra khỏi túi áo, định đưa cho cô. Tay cô rụt lại một chút, mỗi tay đặt ở một bên thành ghế phía sau. Cuối cùng, vị bác sĩ nhét chiếc phong bì vào giữa mấy trang của cuốn sách đánh rơi hồi nãy, để nó thò ra ngoài như một cái đánh dấu sách.
Đôi mắt cô mở to. To hơn trước khi ông ta bước vào căn phòng. “Khi nào thì tôi phải đi?” cô hỏi, gần như không còn chút hơi nào.
“Thứ Tư, chuyến tàu đầu giờ chiều.”
Bất chợt cơn hoảng loạn liếm láp khắp người cô, như một ngọn lửa héo hắt, cô đặc, lạnh lẽo.
“Không, tôi không thể! Không! Bác sĩ, ông phải nghe tôi.!” Cô tìm cách tóm lấy tay ông ta bằng cả hai tay mình và bám chặt lấy nó.
Vị bác sĩ vui vẻ nói với cô, như thể nói với một đứa trẻ. “Nào, nào, thôi nào. Sao tự nhiên cô lại thế này? Sao tự nhiên lại thế này?”
“Không, bác sĩ ơi, không. !” Cô kiên quyết lắc đầu.
Ông ta kẹp tay cô vào giữa hai tay mình, giữ im nó đầy an ủi.
  “Tôi hiểu mà,” ông ta nhẹ nhàng nói. “Cô vẫn hơi run, cô chỉ vừa mới quen với mọi thứ. Cô cảm thấy hơi ngại khi phải từ bỏ môi trường quen thuộc để đến một nơi xa lạ. Tất cả chúng ta đều bị như thế; đây là một phản ứng lo lắng thường gặp. Ôi, nhoằng một cái là cô sẽ quen ngay thôi mà.”
“Nhưng tôi không thể làm chuyện này, bác sĩ,” cô thì thầm thiết tha. “Tôi không thể.”
Ông ta khẽ vuốt dưới cằm cô, để giúp cô can đảm hơn. “Chúng tôi sẽ đưa cô lên tàu và việc cô cần làm là ngồi trên đó. Gia đình của cô sẽ đợi ở ga bên kia để đón cô về.”
“Gia đình tôi.”
“Đừng có ủ rũ như vậy,” ông ta vui vẻ trêu.
Vị bác sĩ liếc ra sau, nhìn cái cũi.
“Còn đứa trẻ này thì sao?”
Ông ta ra chỗ nó, bế đứa bé lên; và mang nó đặt nó vào vòng tay của cô.
“Cô muốn đưa thằng bé về nhà mà, phải không? Cô chẳng muốn nó phải lớn lên trong bệnh viện đâu nhỉ?” Ông ta bật cười đùa giỡn với cô. “Cô muốn thằng bé có một mái ấm, đúng không?”
Cô đỡ con trai về phía mình, gục đầu xuống.
“Vâng,” cuối cùng cô ngoan ngoãn nói
“Vâng, tôi muốn thằng bé có một mái ấm.”
 
 
 
Chương 13
 
Lạ một con tàu nữa. Nhưng hỡi ôi, giờ nó khác hẳn. Không còn lối đi chật cứng, không có bóng người xô đẩy, không có dòng thác người kiên nhẫn chịu đựng, lắc lư. Một gian riêng, một cái buồng nhỏ cho riêng cô. Một chiếc bàn nhỏ có dây ngoắc, có thể xếp lên, hạ xuống. Một cái tủ với cửa gắn gương dài ngang thân người, chẳng khác nào những ngôi nhà trên mặt đất. Trên giá là những hành lý được đặt ngay ngắn trong các hốc thụt vào trong, mới tinh, lần đầu được mang ra sử dụng, bọc da bóng loáng, phần kim loại hắt sáng long lanh, hai chữ 'PH' được khắc gọn gàng, đỏ thắm như son ở các góc tù. Có cả một ngọn đèn nhỏ có chụp để đọc sách khi khung cảnh xung quanh trở nên tối đi. Một bình hoa được đặt trong một khoảng chứa, không phải hoa tiễn biệt, mà là hoa chào mừng về nhà - coi như thay mặt tặng từ xa, ở ga khởi hành; kẹo trái cây bóng đựng trong hộp; một, hai tờ tạp chí.
Và bên ngoài hai khung cửa sổ rộng, gần như tạo thành một khung đồng nhất nối giữa hai bên tường, cây cối lặng lẽ trôi qua, xếp thành một hàng ngang ở khoảng xa, lốm đốm ánh dương; một bên xanh sẫm, một bên xanh nhạt như táo. Mây lặng lẽ trôi, có điều chậm rãi hơn đám cây một chút, như thể hai thứ này nằm trên hai băng chuyền tách biệt, ấy nhưng lại chuyển động gần như ăn khớp. Thỉnh thoảng, những bãi cỏ, cánh đồng và các gọn đồi dập dềnh lại xuất hiện ở đằng xa. Nhô lên một chút, rồi lại hạ xuống một chút.
  Con đường tương lai gợn sóng.
Và quan trọng hơn tất cả mọi thứ, trên cái ghế đối diện chỗ cô ngồi, được bao bọc ấm áp trong tấm chăn xanh nhỏ, là một gương mặt nhỏ nhắn, một cặp mắt nhỏ nhắn đang nhắm lại - một thứ để nâng niu, để yêu thương. Thứ duy nhất trên thế giới đáng được thương yêu. Thứ duy nhất đáng để đi tiếp, dọc theo con đường gợn sóng bên ngoài.
Phải, giờ nó thật khác lạ. Và... so với lần này thì cô lại thích lần đi tàu đầu tiên hơn hẳn. Bây giờ, bạn đồng hành của cô là nỗi sợ hãi.
Hồi trước không có nỗi sợ. Không có lấy một chỗ ngồi, không có lấy thứ gì để ăn, chỉ có đúng mười bảy xu. Và ngay đằng trước là tai ương, là nỗi kinh hoàng, là đôi cánh đang vỗ của tử thần, những thứ không ai biết, tiến lại gần theo từng dặm đường trôi qua.
Nhưng không có nỗi sợ. Không có cái cảm giác gặm nhấm ruột gan. Không có áp lực trái chiều, hết kéo theo hướng này rồi lại kéo theo hướng kia. Hồi trước có sự bình lặng, chắc chắn, biết rằng mình đi đúng đường, đi đúng con đường duy nhất.
Các bánh xe kêu lạch cạch, như mọi khi, trên mọi con tàu từng lăn bánh trên đời. Vậy nhưng giờ chúng lại như đang nói cho mình cô nghe:
“Tốt nhất hãy quay lại, tốt nhất hãy quay lại. Lạch cạch, lạch cạch. Hãy dừng lại khi còn có thể, cô vẫn có thể quay lại.”
Một phần rất nhỏ trên người cô động đậy, phần nhỏ nhất trên người cô động đậy. Ngón tay cái của cô nhấc lên, rồi bốn ngón tay còn lại chậm rãi mở ra, và cái túm tái trắng chúng tạo thành suốt mấy tiếng vừa qua biến mất. Lộ ra ở ngay chính giữa là.
Một đồng xu đầu thổ dân [1].
 Một đồng xu đầu Lincoln [2].
|Một đồng năm xu bò bison[3].
Một đồng mười xu đầu Nữ thần Tự do [4].
Mười bảy xu. Bây giờ cô thậm chí còn thuộc lòng ngày tháng ghi trên chúng.
“Lạch cạch. Hãy dừng và quay lại đi. Cô vẫn còn thời gian. Hãy quay lại đi.”
Một lần nữa, các ngón tay cô chậm rãi gập lại, ngón cái lướt tới và khóa chặt chúng vào.
Thế rồi cô đưa nắm đấm lên và lơ đễnh đập lên trán, giữ nguyên nó ở chỗ vừa đập một lúc.
Đột nhiên, cô đứng dậy, kéo chiếc va li hành lý và quay vòng nó lại, để cho cái góc ngoài cùng của nó hướng vào trong. Chữ 'PH' biến mất. Thế rồi cô cũng làm vậy với cái va li bên dưới. Chữ 'PH' thứ hai biến mất.
Nhưng nỗi sợ vẫn không biến mất. Nó không chỉ được in trên một góc người cô, mà còn lan tỏa khắp người.
Có một tiếng gõ nhẹ ngoài cửa, cô đứng bật dậy mạnh mẽ như thể nó là một tiếng đập vang rền.
  “Ai đó?” cô hổn hển hỏi.
Giọng một anh nhân viên đáp lại, “Năm phút nữa sẽ đến Caulfield, thưa cô.”
Cô chồm dậy khỏi ghế và chạy ra cửa, hất nó mở toang. Anh ta đã bắt đầu đi dọc hành lang. “Không, đợi đã! Không thể như thế được...”
“Nhưng thực sự là như vậy, thưa cô.”
“Nhưng mà nhanh quá. Tôi không nghĩ.”
Anh ta mỉm cười hiền lành. “Ga này nằm giữa Clarendon và Hastings. Đó là chỗ của nó. Và chúng ta đã đi qua ga Clarendon rồi, ngay sau đó tàu sẽ đến ga Hastings. Mấy ga này chưa bao giờ thay đổi kể từ ngày tôi làm việc ở tuyến đường này.”
Cô đóng cửa, quay ra sau, và dựa lưng vào nó, như thể đang tìm cách ngăn không cho thảm họa nào xâm nhập.
“Đã quá muộn để quay lại. Đã quá muộn để quay lại.”
Mình vẫn có thể bỏ ga, mình có thể bỏ qua ga này mà không xuống, cô nghĩ thầm. Cô chạy đến bên cửa sổ và nhìn về phía trước, theo góc hẹp, như thể hình ảnh nhà ga đang đến gần sẽ giải quyết được khó khăn cho cô theo cách nào đó.
vẫn chưa thấy gì. Nó đang tiến đến rất từ từ. Một ngôi nhà, chỉ đứng một mình. Thế rồi lại một ngôi nhà nữa, vẫn chỉ đứng một mình. Thế rồi đến ngôi nhà thứ ba. Chúng bắt đầu xuất hiện dày đặc hơn.
Đi qua luôn, không xuống. Người ta không thể bắt mình xuống. Không ai có thể. Giờ chỉ còn thời gian để làm nốt việc này thôi.
Cô chạy đến cánh cửa và vội vã vặn cái khóa tí xíu dưới tay nắm cửa, khóa trái lại.
Các ngôi nhà ngày một nhiều, nhưng chúng đến chậm hơn.
  Chúng không còn lướt vèo qua nữa, cứ đi nhẩn nha. Một trường học trôi ngang; ngay cả từ đằng xa, cô vẫn có thể nhận ra nó là tòa nhà gì. Không tì vết, hiện đại, trông mới tinh, với cấu trúc bê tông đầy tính thiết thực, được chăm sóc cẩn thận, sáng loáng dưới ánh mặt trời; và gắn rất nhiều kính. Cô thậm chí còn có thể nhìn ra những chiếc xích đu nhỏ đong đưa trong sân chơi bên cạnh. Cô liếc sang cái bọc chăn nhỏ trên ghế. Đó là cái kiểu trường cô thích...
Cô không nói gì, nhưng giọng của cô vang lên ồn ã trong tai. “Ai cứu tôi với; tôi không biết phải làm gì!”
Các bánh xe như chết lặng dần, như thể chúng bị hết dầu nhớt. Hoặc như một cái đĩa hát đã hỏng.
“Lạ-ch, cạ-ch, L-ạ-ch, cạ-ạ-ạ-ch.”
Mỗi vòng quay nghe như thể là vòng cuối cùng.
Bất chợt, ngay bên ngoài cửa sổ xuất hiện một gian nhà dài, chạy song song với họ, rồi tấm biển trắng treo trên nó bắt đầu trờ đến, ngược từng chữ một.
“D-L-E-I-”
Nó ra đến chữ F thì kẹt lại ở đó. Không nhúc nhích gì nữa. Cô thiếu điều muốn khóc thét lên. Con tàu đã dừng lại.
Tiếng gõ cửa vang lên ngay sau lưng cô, rung động của nó như đâm xuyên qua ngực cô.
“Đến Caulfield rồi, thưa cô.”
Thế rồi có ai đó vặn tay nắm cửa.
“Để tôi giúp cô khiêng đồ xuống nhé?”
Nắm tay siết chặt của cô càng siết lại quanh mười bảy xu kia, cho đến khi các khớp tay bị lực làm cho trắng dã và tái bợt đi.
Cô chạy ra ghế ngồi và nhấc tấm chăn xanh lên, cùng với thứ quấn bên trong nó.
 
Ngoài kia có người, ngay bên kia khung cửa sổ này thôi. Đầu họ ở dưới thấp, nhưng cô có thể thấy họ, và họ có thể thấy cô. Có một người đàn bà đang nhìn thẳng về phía cô.
Mắt họ giao nhau, mắt họ níu lấy nhau, giữ nguyên ở đó. Cô không thể quay đầu đi, cô không thể rút sâu vào bên trong toa xe. Cặp mắt kia chẳng khác nào đóng đinh cô ở vị trí đang đứng.
Người đàn bà ấy chỉ nhìn thẳng về phía cô. Bà hân hoan thốt lên báo cho ai đó, bấy giờ đang khuất dạng. “Con bé kia rồi! Tôi đã tìm thấy con bé! Đây, chính toa tàu này!”
Bà giơ tay lên vẫy. Bà vẫy tay với cái đầu nhỏ bé, ngái ngủ, đang chớp mắt trong tấm chăn xanh, nghiêm nghị nhìn ra ngoài cửa sổ. Bà để ngón tay múa máy theo kiểu vẫy đặc biệt, dành cho những đứa trẻ nhỏ.
Không thể nào mô tả được vẻ mặt của bà ấy. Trông chẳng khác nào cuộc đời vừa bắt đầu lại sau khi bị gián đoạn, sau một thời gian tạm nghỉ. Nó hệt như khi mặt trời cuối cùng cũng ló dạng sau ngày đông ảm đạm.
Cô gái đang ôm đứa bé, gục đầu xuống gần đầu nó, như thể để tránh không thò đầu ra ngoài cửa sổ. Hoặc như thể họ đang trò chuyện, bí mật trao đổi thông tin gì đó, không để bất kỳ ai biết.
Cô đang làm như vậy.
“Vì con nào,” cô thì thầm. “Vì con nào. Và mong Chúa tha thứ mẹ.” Và rồi cô bế nó bước qua cánh cửa cùng mình, vặn mở khóa để anh nhân viên mệt mỏi bước vào.
  Chú thích:
[1] Đồng xu đầu thổ dân: Đồng một xu Mỹ, một mặt có in hình đầu thổ dân da đỏ, được đúc và lưu hành trong giai đoạn 1859-1909.
2] Đồng xu đầu Lincoln: Đồng một xu Mỹ, một mặt có in hình đầu Tổng thống Abraham Lincoln, được đúc và lưu hành từ năm 1909.
[3] Đồng năm xu bò bison: Đồng năm xu Mỹ, một mặt có in hình bò bison, được đúc và lưu hành trong giai đoạn 1913-1938. 
[4] Đồng mười xu đầu Nữ thần Tự do: Đồng mười xu Mỹ, một mặt có in hình đầu Nữ thần Tự do, được đúc và lưu hành trong giai đoạn 1916-1945.  

 
Chương 14

Đôi khi, trên dòng đời sẽ xuát hiện một dải ngăn cách. Sắc gọn, gần như tồn tại thật, hệt như nét quệt đen từ một cây cọ, hay đường kẻ trắng của một vệt phấn. Đôi khi, nhưng không phải thường xuyên.
Và nó đã xuất hiện trong cuộc đời cô. Nó nằm đâu đó trên hành lang toa tàu dài vài mét, giữa khung cửa sổ gian buồng trên toa tàu và thang xuống, nơi cô được khuất khỏi tầm mắt những người đứng đợi bên ngoài tầm một vài giây. Một cô gái rời khung cửa sổ. Một cô gái khác bước xuống những bậc thang. Một thế giới kết thúc, và một thế giới khác mở ra.
Cô không còn là cô gái ban nãy ôm con đứng cạnh cửa sổ tàu.
Cô là Patrice Hazzard đang bước xuống mấy bậc thang.
Hoảng sợ, run rẩy, mặt tái nhợt đi, nhưng vẫn là Patrice Hazzard.
Cô nhận thức được những điều ấy, nhưng chỉ gián tiếp mà thôi; cô chỉ để tâm đến những cặp mắt đang nhìn vào mắt mình từ cách đó vài phân. Tất cả mọi thứ khác đều là thông tin nền. Sau lưng cô, đoàn tàu tiếp chuyển bánh. Mang theo với nó hàng trăm hành khách đang sống. Và, mặc dù chẳng ai biết, trong một gian buồng trống trên đó, con tàu còn mang theo một bóng ma^ Hai bóng ma, một bóng ma lớn và một bóng ma rất nhỏ.
Giờ họ đã mãi mãi vô gia cư, vĩnh viễn không được ai đón.

Cặp mắt nâu nhạt tiến đến gần chỗ cô. Đôi mắt trông thật tử tế; quanh viền mắt ánh lên nụ cười; chúng rất nhẹ nhàng, dịu dàng. Chúng hơi tổn thương một chút. Và đầy vẻ tin tưởng.
Chủ nhân của cặp mắt ấy đã ngoài năm mươi tuổi. Tóc bà đã bắt đầu bạc đi, chỉ có phần tóc bên dưới là quy trình bạc hóa chưa lan đến. Bà cao ngang Patrice và mảnh mai chẳng kém; và như thế là không ổn, bởi vì đó không phải là nét mảnh mai sành điệu, có được nhờ bỏ công thực hiện, các đường nét trên quần áo của bà cho thấy dáng vóc này mới xuất hiện gần đây, trong khoảng thời gian vài tháng qua.
Nhưng ngay cả những chi tiết ấy cũng chỉ là thông tin nền và người đàn ông trạc tuổi bà, đứng ngay sau vai bà cũng là thông tin nền nốt. Chỉ có gương mặt bà là thứ rõ ràng nhất, và cả cặp mắt trên đó, giờ đã đến rất gần. Nó nói lên rất nhiều điều dù chẳng phát ra âm thanh nào.
Bà nhẹ nhàng đặt tay lên má Patrice, mỗi tay một bên, đóng khung mặt cô vào giữa như thể đang phong tước, đang thực hiện lễ ban ơn thiêng liêng.
Thế rồi bà lặng im hôn lên môi cô và cô có thể cảm nhận được rằng nụ hôn đó chứa đựng cả một kiếp đời. Kiếp đời của một người đàn ông. Trải qua bao năm tháng mới nuôi dưỡng được một người con trai, từ thuở ấu thơ, thời niên thiếu, rồi trở thành một người đàn ông trưởng thành. Trong nụ hôn ấy có vị mất mát đầy cay đắng của một người, bỗng mất hết tất cả chỉ trong khoảnh khắc. Dấu chấm hết cho mọi hi vọng và biết bao tuần lễ đau thương. Nhưng rồi nỗi mất mát ấy cũng được bù đắp, họ đã tìm thấy một cô con gái, và được bắt đầu lại với một cậu con trai khác, cậu trai nhỏ bé hơn. Không, vẫn với chính người con trai ấy; cùng máu mủ, cùng thịt da. Chỉ có điều cậu ấy đã quay về và bắt đầu lại từ đầu, bị nỗi mất mát làm mọi thứ trở nên buồn khổ hơn, mà cũng ngọt ngào hơn. Và có một mầm hi vọng mới đang đâm chồi.
Nó chứa đựng tất cả những điều ấy. Chúng đã được nó nói ra, chúng đã được nó truyền tải, và chúng được lồng vào trong nụ hôn kia để cô cảm nhận được.
Đây không phải là nụ hôn dưới một mái che ga tàu hỏa; đây là một lời thệ ước nhận nuôi.
Thế rồi bà hôn đứa bé. Và mỉm cười như thể đó là con trai của bà. Và một giọt pha lê nhỏ ban nãy không thấy đâu, giờ đang nằm trên bờ má hồng hào, nhỏ nhắn của thằng bé.
Người đàn ông tiến lên phía trước và hôn lên trán cô.
“Ta là cha của con đây, Patrice.”
Ông nghiêng mình tới trước, sau đó lại thẳng người lên, nói, “Để ta mang hành lý của con ra xe.” Ông có phần mừng khi được rời khỏi khoảnh khắc xúc động này, đúng với bản chất đàn ông.
Người đàn bà vẫn chưa nói lời nào. Trong suốt quãng thời gian đứng trước mặt cô, môi bà không thốt ra dù chỉ một chữ. Có thể, bà đã thấy cái vẻ tái nhợt trên mặt cô; đọc được cái vẻ co rúm, lưỡng lự trong mắt cô.
Bà choàng tay quanh cô và kéo cô lại phía mình, chào theo cái kiểu ấm áp hơn, thoải mái hơn, đời thường hơn cái kiểu ban nãy. Bà kéo đầu cô gái lại, để gục lên vai mình một lúc. Và vừa làm như vậy, bà lần đầu mở miệng, thì thầm vào tai cô, để tiếp cho cô can đảm, để cô cảm thấy bình yên.
“Con đã về nhà rồi, Patrice. Chào mừng con trở về nhà, con yêu.”
Và chỉ với vài từ vậy thôi, được nói ra đơn giản vậy thôi, mang ý nghĩa bất biến đến vậy thôi, Patrice Hazzard biết cuối cùng cô cũng đã tìm thấy mọi sự tử tế từng tồn tại trên cõi đời này, từ trước đến nay cũng như mãi mãi về sau.
 
 
 
 
Chương 15

Vậy ra cảm giác được trở về nhà là như thế này đây; cảm giác được ở dưới một mái nhà riêng, trong một căn phòng riêng là như thế này đây.
Bây giờ cô đã thay một chiếc váy khác, sẵn sàng xuống bàn ăn. Cô ngồi đợi trên chiếc ghế bành lưng cao, thế ngồi rất thẳng, trông hơi nhỏ thó trên lưng ghế trải rộng. Lưng cô dựa thẳng vào lưng ghế, chân cô buông xuống dưới sàn rất thẳng, cẩn thận đặt cạnh nhau. Cô đặt tay lên cái cũi mà họ đã mua cho thằng bé, cô đã thấy nó đợi sẵn lúc mới bước vào căn phòng. Thằng bé giờ đang nằm gọn trong cũi. Họ thậm chí đã tính trước đến cả việc này.
Họ để cho cô được ở một mình; cô cần được ở một mình thì mới có thể tận hưởng một cách trọn vẹn như thế này. Vài tiếng sau, cô vẫn còn nhấm nháp, đắm chìm trong nó, hít thở bản chất của nó. Không bút nào có thể tả nổi tác động của nó đối với cô. Đã vài tiếng trôi qua, thế mà thỉnh thoảng đầu cô vẫn chậm rãi quay từ bên này sang bên kia, đầy bao quát, đầy trầm trồ, chiêm ngưỡng bốn bức tường của căn phòng. Và thậm chí còn ngước lên trên, không quên mái trần. Một mái nhà che chở trên đầu. Một mái nhà để ngăn chặn mưa gió, sự lạnh lẽo và cô đơn. Không còn là mái nhà vô danh của căn hộ đi thuê, không phải như vậy. Đây là mái ấm gia đình. Bảo vệ ta, che chở ta, nuôi giữ ta, trông nom ta.
Và đâu đó dưới tầng, loáng thoáng vọng vào cặp tai tinh nhạy của cô, là tiếng nhộn nhịp êm dịu của một bữa cơm tối đang được chuẩn bị. Thỉnh thoảng nó lại khẽ xuất hiện qua tiếng một cánh cửa mở ra, và thêm lần nữa khi nó đóng lại. Tiếng bước chân hối hả băng qua đoạn sàn gỗ không được trải thảm, rồi lại quay lại. Đôi lúc lại có tiếng lanh canh nhẹ của đồ gốm hay sành sứ. Thậm chí còn có giọng của người quản gia da màu, thoáng nghe rõ rệt như tiếng kèn hiệu. “Không, vẫn chưa sẵn sàng đâu, thưa bà Hazzard; cần thêm năm phút nữa.”
Và theo sau là lời khiển trách trêu đùa, nghe cũng rõ ràng chẳng kém, “Khẽ nào, thím Josie. Chúng ta đang có một em bé trong nhà; có thể nó đang ngủ đấy.”
Có ai đó đang bước lên cầu thang. Họ đang lên cầu thang để thông báo với cô. Cô hơi co người trên chiếc ghế. Giờ cô lại hấy hơi hoảng sợ, hơi lo lắng. Giờ cô sẽ không thể trốn tránh khoảnh khắc giáp mặt như lúc ở ga tàu hỏa. Giờ là cuộc gặp mặt thật sự, là lúc hòa nhập thật sự, là lúc được chào đón vào gia đình thật sự. Giờ là bài kiểm tra thật sự.
“Patrice con ơi, cơm chiều đã sẵn sàng rồi, con xuống lúc nào cũng được nhé.”
Khi ta trở về nhà, trong mái ấm của mình, đến tối ta sẽ được ăn 'cơm chiều'. Khi đến nơi công cộng hay đến nhà ai khác, ta có thể ăn bữa tối. Nhưng vào buổi tối, khi ở nhà mình, ta sẽ ăn 'cơm chiều' và không bao giờ ăn bất cứ thứ gì khác nữa. Tim cô mừng rơn lên như thể cái từ giản đơn đó là một lá bùa hộ mệnh. Cô nhớ đến hồi còn nhỏ, những năm tháng ngắn ngủi ấy kết thúc quá lẹ làng... Và tiếng gọi ăn cơm chiều, chỉ có cơm chiều thôi, không bao giờ ăn thứ gì khác.
Cô nhảy khỏi cái ghế và chạy ra mở cửa. “Con sẽ. con sẽ mang thằng bé xuống cùng, hay để nó nằm trong cũi cho đến khi con quay lại ạ?” cô hỏi, nửa háo hức, nửa lưỡng lự. “Con đã cho nó bú lúc năm giờ rồi mẹ ạ.”
Mẹ Hazzard nghiêng đầu thích thú. “Ồ, sao con không đưa thằng bé xuống cùng nhỉ, chỉ tối nay thôi? Hôm nay là buổi tối đầu tiên. Không cần phải vội đâu, con yêu, hãy cứ từ tốn.”
Một lúc sau, khi ra khỏi phòng, tay bồng đứa bé, cô dừng lại mấy giây, nấn ná miết ngón tay bên mép cánh cửa. Chỗ cô vuốt lên vuốt xuống không phải nơi có tay nắm cửa, mà là cái phần mặt liền.
“Canh chừng căn phòng giúp ta nhé,” cô kín đáo thì thầm. “Ta sẽ quay lại ngay. Hãy coi chừng nó. Đừng để ai... Nhé?”
Khi bắt đầu bước xuống cầu thang, cô biết về sau mình sẽ còn leo những bậc cầu thang này hàng trăm lần nữa. Cô rồi sẽ có lúc vội vã bước xuống, cô rồi sẽ có lúc chậm rãi bước xuống. Cô rồi sẽ có lúc bước xuống trong vui vẻ, sung sướng. Và có thể cô rồi sẽ có lúc bước xuống trong sợ hãi, lo âu. Nhưng bây giờ, tối nay, đây là lần đầu tiên cô bước xuống cầu thang này.
Cô ôm chặt thằng bé vào người và dò dẫm bước đi, bởi đối với cô những bậc thang này còn mới lạ, cô vẫn chưa quen với kích thước, với cảm giác mà chúng mang lại và cô không muốn bị sẩy chân.
Họ đứng quanh phòng ăn đợi cô. Không phải kiểu cứng nhắc, nghiêm nghị như mấy ông sĩ quan huấn luyện trong quân đội, mà là theo kiểu thoải mái tự nhiên, như thể không ý thức được mình đang tiếp đón cô trịnh trọng thế nào. Mẹ Hazzard đang rướn người phía trước, chỉnh nốt cái bàn, dịch thứ gì đó lại một tí. Cha Hazzard đang ngước nhìn về phía mấy ngọn đèn qua cặp kính vừa dùng để đọc sách ban nãy và lau sạch nó trước khi cất vào hộp. Còn có một người thứ ba trong phòng, người mà lúc cô bước vào thì đang quay lưng lại phía cô, lén lấy viên đậu phộng muối từ cái đĩa trên bàn.
Lúc nghe tiếng cô bước vào, anh quay về phía trước và trả lại viên đậu phộng. Trông anh có vẻ trẻ trung, cao ráo và thân thiện, và mái tóc thì... Một màn trập máy ảnh kêu đánh tách một tiếng trong tâm trí cô, và cuộn phim lăn lên trước.
“Cháu trai của chúng ta kia rồi!” Mẹ Hazzard vui sướng thốt lên. “Đích thân cậu trẻ xuống kìa! Nào, con hãy đưa thằng bé cho mẹ. Chắc con biết người này là ai rồi chứ?” Và rồi bà nói thêm, như thể ngay cả lời giải thích gọn lỏn như vậy cũng hoàn toàn không cần thiết, “Bill.”
Nhưng đó là ai. Cô băn khoăn. Từ nãy giờ họ vẫn chưa nói gì cả.
Anh tiến lên trước, và cô không biết phải làm gì, bởi anh gần bằng tuổi cô. Cô chìa tay ra nửa chừng, thầm hi vọng nếu cử chỉ này quá nghiêm túc, cũng sẽ không bị ai chú ý.
Anh nắm lấy tay cô, nhưng không phải để bắt tay. Thay vào đó, anh ấp nó trong hai tay mình, ủ ấm nó trong giây lát.
“Chào mừng chị trở về nhà, chị Patrice,” anh nói lặng lẽ. Và lúc nói điều này, ánh mắt nhìn thẳng, không chút dao động của anh mang vẻ gì đó khiến cô cảm tưởng trước giờ mình chưa từng được nghe ai nói điều gì thành thật, đơn giản, và trung thực đến vậy.
Và chỉ vậy thôi.
Mẹ Hazzard nói, “Từ bây giờ con sẽ ngồi ở đây nhé.”
Cha Hazzard nói một câu ngắn gọn, “Chúng ta rất vui, Patrice à,” và ngồi vào đầu bàn.
Còn anh chàng Bill, người không rõ là ai kia, ngồi đối diện cô.
Bà quản gia da màu dành một phút dõi mắt nhìn qua cánh cửa và mỉm cười rạng rỡ. “Trông vậy mới ổn chứ! Đây đúng là điều mà cái bàn này cần bấy lâu nay. Vậy là cái ghế trống đã có ng...”
 
Thế rồi bà ta vội vã ngưng lại, hoảng hốt úp bàn tay lên miệng, và rời đi.
Mẹ Hazzard liếc xuống cái đĩa tầm một giây, rồi ngay lập tức ngước lên và mỉm cười, nỗi đau đã biến mất, nó không được phép nấn ná lưu lại nơi đây.
Họ không nói điều gì đặc biệt. Suốt bữa ăn, không ai nói điều gì đặc biệt. Trái tim mới là thứ phát ngôn chứ không phải bộ não, và nó nói chuyện với những trái tim khác quanh mình. Được một lúc thì cô quên chuyện dè chừng lời lẽ, quên suy xét, cân nhắc. Mái ấm là như vậy đó, mái ấm chính là như vậy. Lời lẽ tuôn ra từ cô dễ dàng như tuôn ra từ bọn họ. Cô biết đó là điều mà họ đang cố giúp cô thực hiện. Và họ đang thành công. Sự lạ lẫm đã cùng với chỗ súp biến mất, không hẹn ngày trở lại. Không một thứ gì có thể đưa nó trở lại được nữa. Có thể sẽ có những vấn đề khác nảy sinh, dù cô hi vọng chúng sẽ không xuất hiện. Nhưng cái cảm giác lạ lẫm, cái sự bất an vì lạ nước lạ cái sẽ không bao giờ xuất hiện nữa. Họ đã thành công.
“Em hi vọng chị không thấy cái cổ trắng trên váy có vấn đề gì, chị Patrice. Em cố ý chọn những bộ ít sắc màu, em không muốn chị bị quá...”
“Ồ, mấy bộ ấy dễ thương lắm. Thực ra thì trước khi bỏ đồ ra khỏi va li, chị còn chưa xem được quá nửa.”
“Thứ duy nhất em lo là kích thước, nhưng cô y tá của chị đã gửi cho em toàn bộ.”
“Giờ chị nhớ ra rồi, có hôm chị ấy đã lấy thước dây ra đo khắp người chị, nhưng không cho chị biết làm thế để làm gì.”
“Chị thích loại nào, chị Patrice? Sáng màu hay sẫm màu?”
“Thực ra thì không.”
“Không, con cứ nói cho nó nghe đi, con yêu; từ nay về sau nó sẽ không phải hỏi lại con nữa.”
“Thế thì chị nghĩ là sẫm màu.”
“Vậy là chị và em giống nhau.”
Anh kiệm lời hơn ba người còn lại. Cô có thể cảm nhận được anh có phần hơi nhút nhát. Không phải là anh bị căng thẳng hay quá ngần ngại gì. Có thể bản tính anh như vậy; bản tính im lặng, không phô trương.
Vấn đề lúc này là, chính xác thì anh chàng này là ai? Giờ thì cô không thể hỏi thẳng ra được. Cô đã lờ đi ngay từ đầu, và đã muộn mất hai mươi phút để hỏi câu đó rồi. Không ai nhắc đến họ của anh chàng này, thế nên chắc hẳn anh là...
Mình sẽ sớm biết thôi, cô tự trấn an bản thân. Chắc chắn là như vậy. Cô không còn sợ nữa.
Có lần, lúc đưa mắt về phía anh ta, cô thấy anh nhìn mình, và cô tự hỏi anh đang nghĩ gì trong đầu. Ấy nhưng sẽ là tự dối mình nếu không thừa nhận rằng cô biết rõ, rằng cô có thể nhận ra thông qua những đường nét còn lưu lại trên khuôn mặt anh. Khi ấy, anh nghĩ rằng cô có một gương mặt ưa nhìn, rằng anh thích nó.
Và rồi một lúc sau anh nói, “Cha à, đưa giúp con cái bánh mì qua đây với nhé.”
Thế là cô đã biết anh là ai.
 
 
 
Chương 16

Nhà thờ Tân giáo St. Bartholomew, nơi tụ họp giao thiệp nổi tiếng nhất trong số tất cả các nhà thờ ở Caulfield, vào một sáng Chủ nhật tháng Tư vàng óng.
Cô đứng cạnh bình đựng nước thánh, tay ôm con trai, người nhà và bạn bè thân thiết của họ đứng ngay bên cạnh.
Họ dứt khoát yêu cầu làm chuyện này. Cô thì chẳng muốn. Cho đến nay, cô đã trì hoãn tận hai lần, suốt hai Chủ nhật liền nhau, mặc dù mọi thứ đều đã được thu xếp. Lần đầu cô viện cớ bị nhiễm cảm mặc dù thực ra thì không. Lần hai thì lấy cớ đứa bé bị cảm nhẹ, và đúng là nó bị cảm thật. Hôm nay cô không thể trì hoãn thêm nữa. Kiểu gì thì cuối cùng họ cũng sẽ nhận thấy cô cố tình nại cớ.
Cô gục đầu xuống, chủ yếu nghe buổi lễ chứ không quan sát gì mấy. Như thể cô sợ phải công khai quan sát nó. Như thể cô sợ mình sẽ lập tức bị sét đánh cho ngã lăn xuống trước mặt tất cả mọi người vì cái tội báng bổ của mình.
Cô đội chiếc mũ rộng vành làm từ lông đuôi ngựa, có thể nhìn xuyên qua được phần nào, và nó đã hỗ trợ cô, giúp che mắt và phần trên khuôn mặt trong lúc cô gục đầu xuống.
Có lẽ mọi người sẽ nghĩ cô đang nhớ lại những ký ức đau thương. Đang buồn khổ.
Nhưng thực ra thì cô cảm thấy tội lỗi. Nhục nhã. Không đủ dày mặt để nghênh ngang theo dõi cái trò nhạo báng này.
Một đôi tay chìa về phía cô, đỡ lấy đứa bé từ cô. Cánh tay của người đỡ đầu. Cô đưa thằng bé cho bà, đỡ lấy cái áo lễ ren dài mà - cô tí nữa thì nói là 'cha thằng bé' - một người lạ mặt có tên Hugh Hazzard đã từng mặc, và cha của anh ta, Donald, đã từng mặc trước anh ta.
Sau đó thì cô cảm thấy tay mình trống rỗng lạ thường. Cô muốn ấp chúng lên ngực để che chắn, như thể cô đang trần như nhộng. Cô gồng người lên để ép mình không làm như vậy. Thứ trần trụi không phải là cơ thể, mà là lương tâm cô. Cô lặng lẽ buông tay, hai tay nắm lấy nhau, mắt nhìn xuống.
“Hugh Donald Hazzard, ta rửa tội cho con...”
Họ đã diễn trò hỏi xem cô thích như thế nào. Đối với cô thì đây là một trò hề; nhưng với họ thì không. Tất nhiên cô muốn đứa bé được lấy tên của Hugh, đúng không? Vâng, cô e dè nói, đặt theo tên của Hugh. Thế còn tên đệm thì sao? Đặt theo tên cha cô à? Hoặc có thể hai tên đệm, mỗi ông một tên? (Thực ra khi ấy cô chẳng thể nào nhớ nổi tên của cha mình. Phải một thời gian sau cô mới nhớ lại được, mà phải rất khó khăn. Mike - một ông phu cất hàng, to lớn, gần như chẳng nhớ nổi dáng hình, bị giết trong một trận ẩu đả say xỉn tại Embarcadero hồi cô mới 10 tuổi).
“Một tên đệm là được rồi ạ. Đặt theo tên cha của Hugh,” cô e dè nói.
Cô cảm thấy mặt mình bỏng rát và biết rằng nó hẳn đang đỏ bừng lên vì xấu hổ. Không thể để cho họ thấy được. Cô cúi ghì đầu xuống.
“... Nhân danh Cha, và Con, và Thánh thần. Amen.”
Vị mục sư nhỏ vài giọt nước lên đầu đứa bé. Cô có thể thấy một, hai giọt bị rơi xuống sàn, thẫm thành những đốm như đồng xu. Một đồng mười xu, một đồng năm xu, hai xu... Mười bảy xu.
Đứa bé bắt đầu gào lên phản đối, hệt như vô số đứa bé khác từ suốt bao đời nay. Đứa bé đến từ một gian nhà thuê có kèm đồ đạc ở New York, giờ đã trở thành người thừa kế của gia đình giàu có nhất Caulfield, giàu có nhất toàn bộ quận, có khi còn toàn bộ bang.
Con không có gì phải khóc lóc đâu, cô buồn rầu nghĩ thầm.
 
 
 
 
Chương 17

Có một chiếc bánh dành cho thằng bé, nhân dịp sinh nhật đầu tiên của nó, với một ngọn nến duy nhất cắm hiên ngang chính giữa, ngọn lửa trông chẳng khác nào con bướm vàng lơ lửng trên một cây cột trắng uốn nếp. Họ cứ làm nhặng xị hết cả lên về những nghi lễ xoay quanh đứa bé. Đứa cháu trai đầu tiên. Cột mốc đầu tiên.
“Nhưng nếu thằng bé không thể ước được,” cô tươi tỉnh hỏi, “thì con ước thay có được không? Hay như thế thì không được tính?”
Thím Josie, người đã làm ra chiếc bánh, người luôn được tất cả quay sang tham vấn trong những chuyện như thế này, gật đầu đầy trang trọng từ cửa bếp. “Con có thể ước thay; thằng bé cũng sẽ được hưởng lời ước đó,” bà ta hứa.
Patrice nhìn xuống và mặt cô thoáng trang nghiêm.
Mong con được bình an suốt đời. Mong con được an toàn như bây giờ. Mong con luôn được người thân vây quanh như bây giờ. Và về phần mẹ thì mong rằng một ngày nào đó sẽ được con tha thứ.
“Con ước xong chưa? Giờ thì thổi nến đi.”
“Thằng bé thổi hay con thổi ạ?”
“Dù là ai thổi thì thằng bé cũng được hưởng hết.”
Cô cúi xuống, áp má mình vào gần má nó và nhẹ nhàng thổi. Con bướm vàng rung rinh dữ dội, tan biến vào thinh không.
“Bây giờ con hãy cắt bánh đi,” nhân vật chủ trì buổi lễ tự phong hướng dẫn cô.
Cô để bàn tay mũm mĩm bé nhỏ của đứa bé nắm quanh cán dao, bao bọc bên ngoài là tay cô, và nhẹ nhàng ấn tay nó. Sau khi thực hiện xong vết cắt thần kỳ, cô chạm ngón tay vào phần kem ngọt lịm, quệt một mẩu tí hon, rồi đặt vào môi thằng bé.
Một tràng những tiếng hò reo và nựng nịu ồn ã rộ lên, như thể bọn họ vừa mới chứng kiến một thiên tài phát tiết tinh hoa trước tuổi.
Có rất nhiều người đến dự. Họ chưa bao giờ có nhiều người trong nhà cùng lúc thế này kể từ hồi cô mới đến đây. Và sau khi vị thượng khách nhỏ tuổi được cho lui khỏi bữa tiệc và được đưa lên trên tầng để ngủ, các hoạt động liên hoan vẫn tiếp tục, thậm chí thêm phần náo nhiệt. Chỉ cần có cái cớ nhỏ nhất thôi, người lớn sẽ chiếm dụng luôn buổi tiệc của một đứa trẻ.
Sau khi cho con ngủ, cô lại đi xuống mấy căn phòng sáng trưng ánh đèn, nhộn nhịp, và qua lại với khách khứa, trò chuyện, mỉm cười, cảm thấy tối nay mình hạnh phúc hơn bao giờ hết. Một tay cô cầm ly rượu punch, tay còn lại cầm chiếc bánh mì kẹp đang cắn dở một miếng, có điều dường như cô chẳng có thời gian cắn thêm miếng thứ hai. Mỗi lần cô đưa nó về miệng thì lại có người nào đó nói gì đó với cô, hay cô nói gì đó với người nào đó. Không thành vấn đề, như thế vui hơn.
Có lần Bill đi ngang qua chỗ cô, mỉm cười. “Chị cảm thấy thế nào khi làm một bà mẹ già?”
“Em cảm thấy thế nào khi trở thành một ông chú già?” cô láu lỉnh buông câu đáp trả.
Một năm trước sao mà xa xôi quá; đến tối hôm nay là tròn một năm đã qua, kể từ cái ngày với bao nỗi kinh hoàng, bóng tối và hoảng loạn. Chuyện đó không xảy đến với cô; không thể như vậy được. Chuyện đó đã xảy ra với một cô gái có tên... Không, cô không muốn nhớ đến cái tên đó, cô thậm chí không muốn khơi dậy nó dù chỉ trong tích tắc. Nó chẳng liên quan gì đến cô cả.
“Thím Josie đang ngồi trên đó với thằng bé. Không, nó sẽ không sao đâu, thằng bé rất ngoan và chuẩn bị đi ngủ.”
“Ý kiến nghe có vẻ tách biệt, công tâm quá nhỉ?”
“Ừ thì, lúc này thì chị đang tách biệt, thế nên chị có quyền nói thế. Nó đang ở tận trên tầng còn chị thì đang ở dưới này.”
Cô đang ở trong căn phòng khách sáng trưng ánh đèn của chính nhà mình, ở đây, với bạn bè cô, bạn bè của gia đình cô, tất cả đang tụ tập quanh cô, cười vang và chuyện trò rôm rả. Một năm trước không chỉ xa xôi. Nó chưa bao giờ xảy ra. Không, nó chưa bao giờ xảy ra. Ít nhất là đối với cô.
Rất nhiều màn giới thiệu trôi qua như một vệt nhòe. Vào một dịp như thế này thì sẽ có rất nhiều cuộc gặp gỡ đầu tiên. Cô nhìn xung quanh, cẩn thận nhẩm lại những nhân vật chủ chốt, làm đúng trách nhiệm của trợ lý chủ tiệc. Edna Harding và Marilyn Bryant, đó là hai cô gái ngồi cạnh Bill, và tranh giành sự chú ý của anh. Cô nín lại một nụ cười tinh nghịch. Trông anh kìa, mặt tỉnh queo như cây cột vật tổ [1]. Ôi, chừng ấy là đủ để khiến anh phải ngoảnh đầu - chỉ có điều, như những gì cô thấy, anh lại sở hữu một cái đầu không cô gái nào đủ sức làm cho ngoảnh lại. Guy Ennis là cái chàng trai trẻ tóc đen đằng kia, bấy giờ đang lấy một ly rượu punch cho ai đó; người này rất dễ nhớ bởi anh ta đến đây một mình. Hiển nhiên đây là bạn lâu năm của Bill. Thật buồn cười là các cô nàng lại không vây lấy anh ta nhiều như anh chàng Bill lạnh lùng kia. Anh trông giống kiểu người hút gái hơn hẳn.  
Grace Henson, cô gái có mái tóc nâu nhạt, dáng hơi mập đằng kia, đang đợi ly rượu punch. Có đúng là cô ta không nhỉ? Không, cô ta là cái cô gầy hơn nhưng cũng mái tóc nâu nhạt, đang ngồi bên chiếc đàn piano, nhẹ nhàng chơi cho chính mình nghe, không có ai khác ngồi gần cả. Một cô đeo kính còn một cô thì không. Chắc hẳn họ là chị em, trông giống nhau quá. Đây là lần đầu tiên bọn họ đến nhà cô.
Cô ra chỗ chiếc đàn piano và đứng cạnh cô gái kia. Có thể cô ta thực sự thích chơi kiểu ấy, biết làm sao được, nhưng ít nhất nên có ai đó đến nghe cô ta.
Cô gái gõ phím đàn mỉm cười với cô. “Giờ đến bản nhạc này.” Cô ta là một nhạc công cừ khôi, giữ cho điệu nhạc rất trầm, như một bản nhạc nền cho các cuộc trò chuyện khắp trong căn phòng.
Nhưng bất chợt mọi tiếng trò chuyện gần đó đều ngưng lại. Điệu nhạc tiếp tục vang lên thêm một, hai nốt nữa, nghe rõ hơn hẳn hồi trước.
Cô gái tóc nâu nhạt thứ hai rời chỗ người đang bầu bạn với mình, bước ra sau lưng cô gái chơi đàn, chạm lên trên vai cô ta chỉ đúng một lần, như thể bí mật khiển trách hay nhắc nhở gì đó. Cô ta chỉ làm có vậy thôi. Thế rồi cô ta lại quay về chỗ ngồi. Màn kịch câm ấy diễn ra kín đáo và nhanh gọn đến mức gần như chẳng ai để ý gì cả.
Cô nhạc công đã ngừng chơi, trở nên lưỡng lự. Có vẻ cô ta hiểu thông điệp của cú chạm đó, nhưng không hiểu ý nghĩa của nó. Bằng chứng chính là cái nhún vai có phần chưng hửng mà cô ta tặng cho cô.
 “Ôi, cô cứ chơi nốt đi,” cô thản nhiên nói. “Bản nhạc hay quá. Tên là gì ấy nhỉ? Tôi không nghĩ mình từng được nghe nó.”
“Đây là bản Barcarolle, trong vở Những câu chuyện của Hoffmann [2],” cô gái kia trả lời ngắn gọn.
Bản thân câu trả lời chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả. Trong lúc đứng cạnh cô nhạc công, cô bắt đầu ý thức được sự im lặng đang đông quánh lại quanh mình, và biết rằng lý do không phải là vì bản nhạc, mà hẳn phải do điều gì ban nãy vừa được nói ra. Lúc cô phát hiện ra thì sự im lặng đã chấm dứt rồi, nhưng nhận thức về nó thì vẫn lưu lại - trong lòng cô. Có chuyện gì đó ban nãy vừa xảy ra.
Mình đã nói sai điều gì đó. Hồi nãy mình vừa nói sai điều gì đó. Nhưng mình không biết nó là cái gì, mình không biết phải làm gì với chuyện ấy nữa.
Vì bấy giờ chẳng có gì khác để làm, cô chạm ly rượu punch lên môi.
Chỉ những người gần mình mới nghe thấy. Bản nhạc đã khiến giọng mình nghe căng thẳng, bởi thế chuyện ấy càng dễ nhận thấy hơn. Nhưng còn ai khác bên trong căn phòng nghe thấy nữa nhỉ? Còn ai khác đã để ý thấy nữa nhỉ? Có khi mặt họ sẽ lộ ra...
Cô chậm rãi quay đi và liếc nhìn từng người, giả vờ như chỉ nhìn ngẫu nhiên. Mẹ Hazzard đang mải nói chuyện say sưa ở đầu bên kia căn phòng, ngước lên nhìn ai đó từ trên ghế ngồi. Bà không nghe thấy. Cô gái tóc nâu nhạt ban nãy đã đến vỗ vai cảnh tỉnh cô nhạc công kia, đang quay lưng lại phía cô; cô ta có thể đã nghe thấy hoặc có thể không. Nhưng nếu đúng là cô ta đã nghe thấy thật thì nó cũng không để lại ấn tượng gì; cô ta không để ý gì đến cô. Guy Ennis đang đưa chiếc bật lửa lên điếu xì gà. Anh ta phải bấm đến hai lần mới làm nó tóe lửa được và đang tập trung toàn bộ sự chú ý vào nó. Anh ta không ngước lên nhìn lúc ánh mắt liếc nhìn của cô nhẹ nhàng lướt ngang qua mặt anh ta. Hai cô gái ngồi cùng Bill không nghe thấy gì cả, chẳng khó gì để nhận ra điều ấy. Họ hoàn toàn không để ý đến bất kỳ thứ gì khác ngoài 'khúc xương' đặt giữa mà mình đang tranh giành.
Không ai nhìn cô. Không mắt ai chạm mắt cô.
Ngoại trừ Bill. Đầu anh hơi cúi xuống, trán anh nhăn lại đầy đăm chiêu, và liếc nhìn cô từ bên dưới cặp lông mày với vẻ khó hiểu kỳ lạ. Mọi chuyện hai người kia nói với anh đều như nước đổ lá khoai. Cô không thể nói chắc được rằng tâm trí anh đang nghĩ về cô, hay đang ở đâu đó cách đây cả ngàn dặm. Nhưng ít nhất thì ánh mắt anh đang chiếu lên người cô.
Cô gục mắt mình xuống.
Và ngay cả sau khi làm vậy, cô biết rằng ánh mắt anh vẫn đang dán vào mình.
  Chú thích:
[1] Cây cột vật tổ: Cột tô-tem, một loại cột gỗ cao, được khắc hoặc vẽ các biểu tượng vật tổ linh thiêng của thổ dân da đỏ.
  [2] Những câu chuyện của Hoffmann: Nguyên bản là Les contes d’Hoffmann, một vở opera do nhạc sĩ người Pháp Jacques Offenbach biên soạn.
 
 
 
 
Chương 18

Sau khi mọi người ra về, trong lúc đi lên cầu thang, Mẹ Hazzard bỗng dưng vòng tay quanh eo cô, ôm chặt cô đầy che chở.
“Con thật dũng cảm,” bà nói. “Điều con làm là đúng đắn đấy; giả vờ không biết cô gái kia chơi bản nhạc gì. Ôi, nhưng con yêu ơi, lúc thoáng thấy con đứng đó, mẹ thương con lắm. Vẻ mặt của con. Mẹ chỉ muốn chạy ra đó và choàng tay ôm lấy con. Nhưng mẹ hiểu ý con và cũng giả vờ không nhận thấy gì hết. Con bé không có ý gì đâu, chỉ là một đứa con gái ngây ngô, cạn nghĩ thôi.”
Patrice chậm rãi bước bên cạnh bà lên cầu thang, cô không đáp lời.
“Nhưng chỉ cần nghe thấy mấy nốt đầu tiên,” Mẹ Hazzard rầu rĩ nói tiếp, “là nó lại như quay về đứng trong phòng cùng với chúng ta. Nó hiện hữu đến mức gần như có thể thấy ngay trước mắt mình. Bản Barcarolle. Bản nhạc nó thích nhất. Nó mà đã ngồi xuống chơi piano là chỉ chơi bài đấy. Bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào nghe thấy cái bài đó vang lên là sẽ biết ngay Hugh đang ở rất gần.”
Bản Barcarolle,” Patrice lẩm bẩm, gần như không thể nghe thấy, như thể đang tự nói với mình. “Bản nhạc anh ấy thích nhất.”
 
 
 
 
Chương 19
 

 Giờ thì khác rồi,” Mẹ Hazzard thoải mái nghĩ ngợi.
“Con biết đấy, mẹ đã từng qua đó một lần, hồi còn trẻ. Ôi, từ bao nhiêu năm trước rồi. Kể mẹ nghe đi, nó có thay đổi gì nhiều kể từ thời đó không?”
Bất chợt bà nhìn thẳng về phía Patrice, tò mò đầy ngây thơ.
“Làm sao con bé trả lời được chứ?” Cha Hazzard lạnh lùng chen ngang. “Patrice đâu có ở đấy hồi em đến, làm sao biết được hồi đó mọi thứ trông ra sao?”
“Ôi, anh hiểu ý em mà,” Mẹ Hazzard hiền lành đáp. “Đừng có bắt bẻ em từng tí một như thế.”
“Con nghĩ nó đã thay đổi nhiều rồi,” Patrice yếu ớt đáp lời, xoay tách nước về phía mình một chút, như thể chuẩn bị nhấc nó lên, nhưng rồi rốt cuộc lại không nhấc lên.
“Con và Hugh đã kết hôn ở đó, đúng không con yêu?” Liền sau đó là đến câu hỏi không liên quan này.
Một lần nữa, Cha Hazzard lại ngắt ngang trước khi cô kịp trả lời, lần này buông một câu phản bác hết sức thảm họa. “Anh tưởng bọn trẻ kết hôn ở London mà. Em không nhớ bức thư thằng bé gửi cho chúng ta hồi đó à? Anh vẫn nhớ nó ghi ‘kết hôn ở đây hôm qua’. Phần in đầu thư là London.”
“Paris,” Mẹ Hazzard nói như đinh đóng cột. “Phải thế không, con yêu? Em vẫn còn giữ thư ở trên tầng, em có thể lên lấy và cho anh xem. Nó có một cái dấu bưu điện ở Paris.” Thế rồi tự nhiên bà hất đầu với ông. “Mà thôi, câu hỏi này Patrice có thể tự trả lời.”
Một bờ vực sâu hoắm, đầy kinh tởm bất chợt xuất hiện, mở ra dưới chân cô, nơi mới một giây trước còn là chỗ để chân vững chãi, và cô không thể quay đầu lại được, ấy nhưng cô cũng không biết làm thế nào để băng qua.
Cô có thể cảm thấy ba đôi mắt của họ đều chĩa về mình, bởi mắt của Bill cũng đã ngước lên, chờ đợi với vẻ tin tưởng mà chỉ chốc nữa thôi, chỉ với một câu trả lời sai, sẽ chuyển thành một thứ khác hẳn.
“London,” cô khẽ khàng nói, chạm vào tay cầm chiếc tách như thể đang hút lấy sự thông tuệ huyền bí từ nó. “Nhưng sau đó bọn con lập tức đi Paris, để hưởng tuần trăng mật. Con nghĩ sự tình là anh ấy bắt đầu viết thư ở London, không có thời gian để viết nốt, và cuối cùng gửi đi từ Paris.”
“Anh thấy chưa,” Mẹ Hazzard ngang ngạnh nói, “em đã nói đúng một phần.”
“Thật đúng là đàn bà,” Cha Hazzard thốt lên với cậu con trai.
Mắt Bill vẫn nhìn chằm chằm Patrice. Bên trong chúng là vẻ gì gần giống với ngưỡng mộ đầy miễn cưỡng; hay chỉ là do cô tưởng tượng thôi nhỉ?
“Cho con xin phép,” cô gượng gạo nói, đẩy ghế lùi lại.
“Hình như con nghe thấy tiếng em bé khóc.”
 
 

 
Chương 20

Và rồi, vài tuần sau, lại thêm một vực thẳm nữa xuất hiện. Hay nói đúng hơn là vẫn cái bờ vực ấy, bờ vực luôn hiện diện, luôn rình rập ma mãnh dưới chân trên con đường cô lựa chọn dấn bước.
Hôm ấy trời mưa, và sương mù bao phủ rất dày đặc. Một chuyện hiếm gặp đối với Caulfield. Cả nhà lúc này đều ở trong phòng, và lúc đi ngang qua cửa sổ, cô dừng một lát để nhìn ra ngoài.
“Trời đất ơi,” cô bất cẩn thốt lên, “con chưa bao giờ thấy mọi thứ trông mờ ảo đến thế kể từ hồi còn nhỏ ở San Francisco. Bọn con vẫn hay nhìn thấy sương mù như thế này m...”
Qua hình ảnh phản chiếu bên trong khung cửa kính sáng đèn, cô thấy Mẹ Hazzard ngẩng đầu lên, và chưa cần quay lại nhìn họ, cô đã biết mình vừa lỡ lời. Cô vừa đưa chân bừa bãi, đạp vào nơi không có chỗ trụ.
“Ở San Francisco ấy hả, con yêu?” giọng Mẹ Hazzard nghe hết sức bối rối. “Nhưng mẹ tưởng con lớn lên ở. Hugh viết thư bảo với chúng ta là con gốc từ.” Và rồi bà không nói nốt, giữ kín manh mối ấy; lần này không có lựa chọn hữu ích thứ hai nào cả. Thay vào đó, theo sau là một câu hỏi thẳng đuột. “Có phải đó là nơi con sinh ra không, con yêu?”
“Không ạ,” Patrice khẳng định rõ, và cô biết chắc chắn câu hỏi tiếp theo sẽ là gì. Một câu hỏi cô không thể trả lời ngay được. 
Bỗng dưng Bill ngẩng đầu lên, quay về phía cầu thang với vẻ tò mò. “Hình như em nghe thấy tiếng đứa nhỏ khóc đấy, chị Patrice.”
“Để chị lên xem thế nào,” cô nói với vẻ biết ơn và rời khỏi căn phòng.
Lúc cô lên đến nơi, thằng bé đang ngủ ngon lành. Nó không phát ra dù chỉ một tiếng ú ớ để cho người nào nghe được. Cô đứng cạnh thằng bé, trên mặt mang vẻ đăm chiêu, chăm chú.
Có đúng là Bill thực sự đã nghe thấy tiếng đứa bé khóc không?
 
 
 
 
Chương 21

Rồi có một hôm, cô thong thả tản bộ dọc đại lộ Congress, ngắm đồ bày bán. Đại lộ Congress là tuyến đường bán lẻ chính. Cô ngắm hết khung cửa sổ bày hàng này sang khung cửa sổ nọ, không định mua gì cả, không cần mua gì cả. Cô chỉ đơn thuần tận hưởng cảm giác tự do. Cô thích thú nhìn đám đông mua hàng ăn mặc lịch lãm, đi lại chật ních vệ đường ngập nắng xung quanh. Giờ đang là trước buổi trưa, thế nên họ hầu hết là phụ nữ. Cô tận hưởng sự nhộn nhịp, tận hưởng các hoạt động duyên dáng của họ. Tận hưởng cái khoảnh khắc vô lo vô nghĩ, cái khoảnh khắc nghỉ ngơi ngắn ngủi này (cô vào quận trung tâm để chạy việc vặt cho Mẹ Hazzard, hứa sẽ lấy giúp bà một món hàng). Cô càng thêm phần thoải mái vì biết mình ra ngoài thế này có lý do chính đáng, chứ không phải lơ là nhiệm vụ, và đứa bé đang được an toàn, được trông nom cẩn thận trong lúc cô vắng mặt. Và cô sẽ càng vui sướng hơn khi được trở về với nó, sau cuộc du ngoạn ngắn ngủi này.
Cô đơn giản chỉ cần bắt chiếc xe buýt ở bến trước mặt, thay vì bắt chiếc gần hơn ở đằng sau, và đi bộ một đoạn giữa hai xe.
Và rồi từ đâu đó đằng sau, cô nghe thấy có người gọi tên mình. Cô nhận ra giọng nói ấy ngay từ âm tiết đầu tiên. Vui vẻ, hớn hở. Đó là Bill. Cô nở sẵn nụ cười chào hỏi thậm chí trước khi quay đầu lại.
Sau hai bước dài, đầy năng lượng, anh đã đến bên cạnh cô.
“Xin chào. Em biết ngay mình nhận ra chị mà.”
 Họ dừng lại một phút, mặt đối mặt.
“Em ra ngoài văn phòng làm gì thế?”
“Em đang trên đường quay lại. Em phải đi gặp mặt một người. Còn chị thì sao?”
“Chị qua đây để lấy cho mẹ cuộn len nhập khẩu từ Anh đang có sẵn tại cửa hàng của Bloom. Chị qua đó và mang về trước khi người ta chuyển nó đi.”
“Em sẽ đi cùng chị,” anh đề nghị. “Có thêm lý do để la cà. Ít nhất là đến góc đường tiếp theo.”
“Đó cũng là chỗ chị sẽ bắt xe buýt,” cô nói với anh.
Họ quay người và bắt đầu đi tiếp, nhưng lần này thì đi với vận tốc rùa bò mà nãy giờ cô vẫn đi.
Anh nhăn mũi và nheo mắt nhìn lên trời đầy hứng khởi. “Thỉnh thoảng được ra ngoài đón ánh nắng mặt trời kể cũng tốt.”
“Tội nghiệp ghê, em bị ngược đãi quá cơ. Mỗi lần em ra khỏi văn phòng trong giờ làm việc mà cho chị được một xu thì giờ chị giàu rồi.”
Anh khúc khích cười không chút xấu hổ. “Nếu cha bắt đi thì em biết làm sao được? Tất nhiên, em luôn tình cờ xuất hiện ngay phía trước mặt lúc ông ấy nhòm ngó xung quanh tìm người đi ra ngoài.”
Họ dừng bước.
“Trông mấy cái kia đẹp quá,” cô tấm tắc khen.
“Ừ,” anh đồng ý. “Nhưng chúng là cái gì thế?”
“Em thừa biết chúng là những chiếc mũ mà. Đừng có ra vẻ trịnh thượng như thế nữa.”
Họ lại đi tiếp, rồi lại dừng bước.
“Người ta gọi thế này là đi ngắm hàng đúng không?”
“Người ta gọi thế này là đi ngắm hàng đấy. Cứ làm như em không biết ấy.”
“Thế này vui thật. Chẳng mua được gì. Nhưng sẽ được ngắm nhìn nhiều thứ.”
“Có thể bây giờ thì em thấy thích, bởi vì nó mang đến sự mới lạ. Nhưng đợi đến khi em kết hôn và phải làm chuyện này thường xuyên. Khi ấy em sẽ không thích nữa đâu.”
Khung cửa tiếp theo trưng ra một loạt bút mực, một tủ bày hẹp, bề ngang không quá hai hay ba mét gì đó.
Cô không dừng lại ở đó. Giờ đến lượt anh là người dừng lại, khiến cô cũng phải dừng theo.
“Đợi một phút. Giờ em mới nhớ. Em cần một cây bút mới. Chị vào trong này cùng em một phút và giúp em chọn nhé?”
“Chị phải về nhà,” cô hững hờ nói.
“Chỉ một phút thôi mà. Em mua hàng nhanh lắm.”
“Chị không biết gì về bút cả,” cô ngần ngại.
“Em cũng có biết gì đâu. vấn đề là thế đó. Hai cái đầu luôn tốt hơn một cái đầu.” Bấy giờ anh đã nhẹ nhàng nắm lấy tay cô, cố gắng dụ dỗ. “Ôi, thôi nào. Em là kiểu người mà cứ đi một mình thì sẽ bị người ta bán cho đủ thứ.”
“Chị không tin nửa lời em nói đâu. Em chỉ muốn có người đi cùng,” cô bật cười, nhưng vẫn đi vào cùng anh.
Anh lấy cho cô một chiếc ghế đặt đối diện quầy thu ngân. Một hộp bút được mang tới và mở ra. Anh và nhân viên bán hàng bàn bạc về chúng, còn cô thì không tham gia gì. Vài chiếc được tháo nắp, bơm mực từ một cái lọ để sẵn trên quầy thu ngân, và thử viết lên một tập giấy nháp, cũng được đặt sẵn sàng để phục vụ mục đích đó.
 
Cô quan sát, cố gắng tỏ ra hứng thú mặc dù mình không thấy vậy.
Bất chợt anh hỏi cô, “Chị thấy cây bút này thế nào?” và đặt một chiếc bút vào giữa các ngón tay của cô, còn tập giấy được luồn xuống dưới tay cô, trước khi cô kịp hiểu chuyện gì vừa xảy ra.
Cô đặt bút lên tập giấy, không chút nghi ngờ, đầu óc chú tâm vào kích cỡ và trọng lượng của phần thân bút trong tay, tập trung chú ý vào việc ngòi bút sẽ để lại đường mực như thế nào, đường đậm dày hay là mỏng manh như sợi tóc. Bất chợt, chữ 'Helen' nằm chình ình trên tờ giấy trên cùng, chẳng khác nào do máy tự động viết ra. Hay nói chính xác hơn, xét theo nghĩa rộng thì đúng là như vậy. Cô ngừng lại vừa kịp lúc để ngăn không cho phần tên thứ hai tuôn ra từ cây bút. Lúc cô giật nó lên thì đã viết đến nét hất của chữ G hoa.
“Nào, để em thử viết một chút.” Anh đột ngột lấy lại cả cây bút lẫn tập giấy trước khi cô kịp làm gì để xóa hay chỉnh sửa thứ được viết trên đó.
Liệu anh có thấy nó hay không, cô không thể đoán được. Anh không cho thấy dấu hiệu gì cả. Nhưng nó nằm ngay dưới mắt anh, thế nên hẳn anh đã thấy rồi, sao lại không thấy được chứ?
Anh vội vã ngoáy một, hai đường gì đó, rồi dừng tay.
“Không được rồi,” anh nói với người bán hàng. “Vui lòng cho tôi xem cây bút kia.”
Trong lúc anh thò tay vào trong hộp bút, cô khéo léo xé bỏ tờ giấy trên cùng chữ 'Helen' tai hại phía trên. Cô lén vo viên nó trong tay, rồi thả rơi xuống sàn.
Và rồi, cô muộn màng nhận ra rằng làm thế có khi còn tệ hơn là để nguyên nó ở chỗ cũ. Bởi lẽ chắc chắn anh cũng đã nhìn thấy nó rồi, giờ cô lại đi nêu bật lên rằng mình không muốn anh đọc nó. Nói cách khác, cô đã tự hại mình đến hai lần; lần đầu là vì nhầm lẫn, lần sau là vì cố tìm cách che đậy.
Trong khi ấy, anh lập tức không còn hứng thú với mấy cây bút nữa. Anh nhìn người bán hàng, chuẩn bị nói, và cô gần như có thể đoán được anh sắp sửa nói gì - đó là nếu anh thực sự nói nó ra - bởi vẻ mặt của anh thể hiện điều ấy rất rõ. “Thôi vậy. Để lần sau tôi ghé qua.” Nhưng thay vào đó, anh lại liếc nhìn cô, và như thể nhớ ra đã giả vờ thì phải giả vờ cho trót, anh vội vã nói với vẻ gần như thờ ơ, “Được rồi, tôi chọn mua cây bút này. Lát nữa hãy gửi đến văn phòng cho tôi.”
Anh gần như chẳng buồn nhìn nó. Xem chừng anh không quan tâm người bán hàng chọn cây nào.
Mặc dù đã làm nhặng xị lên, đòi cô đi cùng để giúp anh chọn lấy một chiếc bút. Cô tự nhủ với mình như vậy.
“Chúng ta đi chứ?” Anh nói, có phần hơi cụt ngủn.
Họ chia tay trong căng thẳng. Cô không biết liệu đó là do anh hay là do bản thân cô. Hoặc chỉ do cô tưởng tượng ra. Nhưng như cô thấy thì màn từ biệt này thiếu đi nét vui vẻ ngẫu hứng như lúc họ gặp nhau vài phút trước.
Anh không cảm ơn cô vì đã giúp mình chọn một chiếc bút, và ít nhất thì việc ấy cũng khiến cô thấy mừng. Nhưng mắt anh tự nhiên trở nên xa cách, lơ đãng, trong khi từ nãy đến giờ, lần nào nói chuyện chúng cũng nhìn về phía cô. Chúng có vẻ như đang nhìn lên trên phía nóc một tòa nhà, nhìn dọc về phía cuối con phố, nhìn khắp mọi nơi, nhưng không còn nhìn vào cô nữa, ngay cả khi anh nói, “Xe buýt của chị kìa,” và đưa tay thúc cô vào trong, và thò vào từ chỗ mình đứng để trả tiền cho cô. “Tạm biệt nhé. về nhà cẩn thận. Tối nay gặp chị sau nhé.” Và anh ngả mũ chào, trông như đã quên hẳn cô đi ngay từ lúc chưa hoàn tất động tác quay người và tiếp tục lo việc của mình. Ấy nhưng không hiểu sao, cô biết rằng ngược lại mới đúng. Rằng cái lúc trông có vẻ không quan tâm gì chính là lúc anh đang nghĩ đến cô nhiều hơn bao giờ hết. Giữa họ đã xuất hiện khoảng cách, chỉ có vậy thôi.
Cô nhìn xuống lòng đường, trong lúc chiếc xe buýt đưa cô đi dọc vệ đường đông kín người. Thật buồn cười là cảnh vật có thể thay đổi nhanh chóng đến thế, dù khung cảnh vẫn y nguyên; mấy bên vệ đường ngập nắng và dòng người nhộn nhịp mua sắm không còn gì thú vị nữa.
Có khi đây là bài kiểm tra được dàn dựng từ trước, một cái bẫy... Nhưng không, không thể nào như vậy được. Ít nhất cô cũng biết chắc điều đó, mặc dù nó không khiến cô thấy hài lòng. Anh không thể nào biết trước được sẽ tình cờ gặp cô ở nơi đó, rằng họ sẽ đi dọc con phố như đã làm, và đi về phía cửa hàng bán bút. Lúc anh rời khỏi nhà sáng nay, cô thậm chí còn chẳng biết mình sẽ vào quận trung tâm như thế này; phải lúc sau mới có việc cần đi. Thế nên không thể có chuyện anh phục sẵn ở đó để tiếp cận cô. Ít nhất thì phần đó là ngẫu nhiên, hoàn toàn tình cờ.
Nhưng có thể trong lúc họ đang đi trên phố, ngẩng lên nhìn thấy tấm biển hiệu cửa hàng, anh đã nảy ra ý định đó, và ứng biến lập tức. Khi ấy hẳn anh đã nhớ đến một chuyện rất hay xảy ra, giống như bây giờ cô mới nhớ đến nó. Đó là thử dùng một cây bút mới, người ta bao giờ cũng viết tên thật của mình. Gần như không thể nào khác được.
Ấy nhưng, ngay cả nếu đó có là một bài kiểm tra không trù liệu trước, xảy ra ngẫu nhiên, chắc hắn anh đã có chút nghi ngờ mơ hồ nào đó về cô, lẩn khuất sẵn trong đầu rồi, không kiểu này thì kiểu khác, không thì làm gì có chuyện nó nảy ra trong đầu anh.
 
Đồ ngốc, cô cay đắng tự nhủ trong lúc kéo sợi dây trên đầu và chuẩn bị xuống xe, sao mày không nghĩ đến chuyện ấy trước khi vào trong đó cùng anh ấy? Giờ mới ngẫm lại thì ích gì nữa?
Một, hai đêm sau, chiếc áo choàng của anh được vắt chỏng chơ tiên ghế, lúc đó anh không ở trong phòng. Cô lấy cớ là đằng nào mình cũng cần một cây bút để làm tí việc. Thế là cô lục túi và lôi cây bút mực gài bên trong ra. Nó có màu vàng và bên trên có khắc chữ cái đầu tên anh, chắc là một món quà sinh nhật hay Giáng sinh có giá trị nào đó do cha mẹ tặng, có thể dùng được lâu. Thêm nữa, nó vẫn viết tốt hoàn hảo, có muốn cũng không thể cải thiện thêm gì, tạo ra một vệt rất rõ, rất sậm, rất thẫm. Và anh không phải là kiểu người mang theo hai cái bút mực cùng lúc.
Rõ ràng chuyện lần trước là một bài kiểm tra. Và cô đã phản ứng rất chuẩn, đúng như anh kỳ vọng.
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.03.2023 22:08:18 bởi Thanh Vân>
Chương 22

Ban nãy, nghe thấy tiếng chuông cửa rung lên, và cả tiếng chào hỏi nhau loáng thoáng dưới sảnh, nhờ đó cô hiểu ra nhà đang có khách và giờ vẫn họ đang ở dưới nhà. Cô không để tâm đến chuyện đó nữa. Hiện tại cô đang cho Hughie ngâm mình trong bồn tắm nhỏ di động, và lúc thằng bé còn ngồi trong đó thì đây là công việc đòi hỏi phải hoàn toàn tập trung chú ý. Khi đã lau khô người, rắc phấn rôm và mặc quần áo cho thằng bé xong, cô cho nó đi ngủ, rồi nấn ná cạnh thằng bé thêm lúc nữa, rình cơ hội để lấy nốt con vịt nhựa đồ chơi ra khỏi bàn tay nắm chặt của nó, đã gần một giờ trôi qua. Cô tin chắc rằng vị khách, dù ông ta là ai, thì đã phải về từ lâu rồi. Cô có thể khẳng định chắc chắn vị khách này là nam giới; bất cứ ai là nữ, từ 6 tuổi cho đến 60 tuổi, đều sẽ được Mẹ Hazzard tự động kéo lên trên tầng để ngắm buổi lễ tắm táp của cháu trai mình. Thật tình mà nói, đây là lần đầu tiên trong suốt mấy tuần liền bà không lên hỗ trợ công việc này, cho dù bà chỉ đứng cầm khăn tắm, nói linh tinh mấy câu khó hiểu với nhân vật nhỏ bé trong bồn tắm, và thường xuyên cản trở người mẹ không chút kêu ca kia. Phải có việc gì quan trọng mới khiến bà không lên đây được.
Lúc sau, cuối cùng cô cũng ra khỏi phòng và đi xuống cầu thang, thấy bên dưới im lặng một cách lạ thường. Chỉ một giọng nói duy nhất, nghe đều đều, trầm trầm vang lên, như thể có ai đó đang đọc to thứ gì đó ra ngoài miệng và không còn tiếng ai khác nữa cả.

Lát sau, cô phát hiện tất cả mọi người đều đang ở trong phòng đọc sách; căn phòng này hiếm khi có người sử dụng vào buổi tối. Và nếu người sử dụng thì cũng không bao giờ là tất cả bọn họ cùng lúc. Cô có thể hai lần nhìn thấy họ trong đó, lần đầu tiên là từ chỗ cầu thang, lúc cô xuống chỗ họ, và sau đó thì nhìn lướt thấy qua khung cửa mở ở khoảng cách gần hơn, lúc cô quay vòng ở chỗ chân cầu thang và băng ngang qua hành lang bên ngoài.
Trong đó có cả ba người họ, cùng một người đàn ông mà cô không quen, mặc dù cô nhận ra mình hẳn đã nhìn thấy ông ta ít nhất một lần, hoặc có thể nhiều hơn, giống như tất cả những người từng đặt chân vào ngôi nhà này. Ông ta đang ngồi bên bàn, ngọn đèn đọc sách được thắp sáng, ê a đọc bằng cái giọng đều đều như tụng kinh. Đó không phải là một cuốn sách; trông nó giống một bản báo cáo được đánh máy. Cứ thỉnh thoảng lại có một tờ giấy loẹt xoẹt được lật ngược ra sau và nằm dưới những tờ còn lại.
Không ai khác nói câu gì. Bọn họ đều ngồi cách ông ta những khoảng khác nhau, mức độ chú ý cũng khác nhau. Cha Hazzard ngồi sát bàn cùng với người đàn ông giọng đều đều kia, lắng nghe kĩ từng lời, và thỉnh thoảng lại gật đầu đồng tình. Mẹ Hazzard ngồi trên ghế bành, trong lòng đặt một chiếc giỏ, đang thêu thứ gì đó và chỉ thỉnh thoảng mới ngước lên nghe lõm bõm. Và Bill, chẳng hiểu sao cũng có mặt, thì ngồi tít bên ngoài rìa buổi họp mặt, một chân gác lủng lẳng trên tay vịn ghế, đầu ngửa hết ra đằng sau, và một cái tẩu thò ra ngoài miệng, chĩa thẳng lên trần, chẳng tỏ vẻ gì là đang lắng nghe. Mắt anh có vẻ vô hồn, như thể tâm trí đang ở đâu đó trong khi cơ thể thì vẫn ngoan ngoãn ngồi trong căn phòng.
Cô cố gắng đi qua mà không để ai nhìn thấy, nhưng đúng lúc Mẹ Hazzard ngước lên nhìn và phát hiện ra bóng cô lướt qua khe cửa. “Con bé kia rồi,” bà nói. Một giây sau, tiếng gọi trễ nải của bà bắt kịp và khiến cô phải dừng bước.
“Patrice, vào đây một lát đi, con yêu. Chúng ta cần con.”
Cô quay người và đi ngược lại, cổ họng chợt co thắt.
Cái giọng ề à đã ngưng lại để chờ đợi. Một thám tử tư à? Không, không, không thể nào như vậy được. Cô đã từng gặp ông ta ở tại nhà, giao thiệp thân tình, cô tin chắc là như vậy. Nhưng mấy xấp giấy tờ dày cộp rải rác phía trước ông ta...
“Patrice, con biết Ty Winthrop rồi đấy.”
“Vâng, con biết. Con đã từng gặp ông ấy rồi.” Cô bước tới và bắt tay với ông ta. Cô cẩn thận giữ cho mắt không nhìn xuống bàn. Và chuyện ấy chẳng dễ dàng chút nào.
“Ty là luật sư của cha,” Mẹ Hazzard nhẹ nhàng nói. Cái kiểu bà mô tả một người bạn lâu năm như vậy thật không ổn chút nào, nhưng để phục vụ mục đích hiện tại thì đó là cách giải thích ngắn nhất.
“Và kỳ phùng địch thủ chơi gôn,” vị khách ngồi bên bàn nói thêm.
“Kỳ phùng địch thủ?” Cha Hazzard khịt mũi với vẻ khinh bỉ. “Với kiểu chơi của ông thì không thể gọi là kỳ phùng địch thủ được đâu. Một kỳ phùng địch thủ phải có trình độ ngang ngửa. Tôi thấy giống đấu giải từ thiện hơn.”
Đầu Bill và cái tẩu lại hạ ngang xuống. “Có trói một tay đằng sau lưng cũng hạ được ông ấy, đúng không cha?” Anh khích tướng người cha.
“Ừ, nếu là trói tay bác,” ông luật sư đáp trả, kèm theo cái nháy mắt riêng cho anh con trai. “Đặc biệt là Chủ nhật vừa rồi.”
“Nào, ba người!” Mẹ Hazzard tươi cười khiển trách. “Tôi có việc phải làm. Và cả Patrice cũng thế. Tôi không thể ngồi đây suốt đêm được đâu.”

Họ lại trở nên nghiêm túc. Bill đứng dậy và kéo một chiếc ghế ra cạnh bàn cho cô. “Ngồi xuống đi, chị Patrice, cùng tham gia buổi họp nào,” anh mời.
“Phải rồi, chúng ta muốn con nghe chuyện này, Patrice à,” Cha Hazzard thúc giục, trong lúc cô đang lưỡng lự. “Chuyện này có liên quan đến con đấy.”
Tay cô định phản chủ và đưa về phía cổ họng mình. Cô phải dốc toàn ý chí ra để ép nó nằm im. Cô ngồi xuống, cảm thấy hơi lo lắng.
Ông luật sư hắng giọng “Rồi, tôi nghĩ thế là xong xuôi cả rồi đó, Donald. Phần còn lại thì vẫn như cũ.”
Cha Hazzard kéo ghế đến gần hơn. “Được rồi. Tôi có thể ký được rồi chứ?”
Mẹ Hazzard cắn đứt một sợi chỉ, sau khi đã khâu xong thứ gì đó. Bà bắt đầu cất hết đồ đạc vào giỏ, chuẩn bị rời đi. “Tốt nhất anh nên nói cho Patrice nghe đây là gì đã, anh yêu. Anh không muốn cho con bé biết à?”
“Tôi sẽ nói thay ông,” ông Winthrop đề nghị. “Tôi có thể giải thích gãy gọn hơn ông.” Ông ta quay về phía cô với một ánh nhìn đầy thân thiện qua vành trên cặp kính đọc sách của mình. “Ông Donald sẽ thay đổi các điều khoản trong di chúc thông qua việc bổ sung thêm một mục nữa. Thế này, trong bản di chúc gốc, sau khi bà Grace nhận được một phần gia sản, phần còn lại sẽ được chia đều giữa Bill và Hugh. Bây giờ thì bọn bác đang sửa lại để cho Bill nhận được một phần tư phần còn lại, còn đâu thì chuyển cho cháu hết.”
Cô cảm thấy mặt mình bắt đầu nóng bừng lên, như thể đang bị một ngọn đèn nóng đỏ rọi vào, và chỉ mình nó bị rọi thôi, để cho tất cả cùng trông thấy. Xâm chiếm lấy cô là cảm giác đầy đau đớn, chỉ muốn lùi ra khỏi bàn và bỏ chạy, nhưng đồng thời cũng bị giữ lại chặt cứng trên ghế ngồi.
Cô cố nói thật lặng lẽ, ghìm giọng xuống bằng cách liếm ướt môi đến hai lần. “Con không muốn mọi người làm thế. Con không muốn được cho thêm vào di chúc.”
“Đừng có nhìn nhận nó theo kiểu ấy,” Bill nói với tiếng cười vui vẻ. “Chị chẳng làm ai bị thiệt gì cả. Em có doanh nghiệp của cha...”
“Đây là đề nghị của Bill đấy,” Mẹ Hazzard cho cô biết.
“Cha đã cho cả hai thằng mỗi đứa một cục tiền để chúng khởi sự, vào cái ngày chúng bước sang tuổi hai mươi mốt.”
Giờ cô đã đứng hẳn dậy, Lần lượt nhìn từng người, gần như quẫn trí vì hoảng loạn. “Làm ơn đừng! Đừng ghi tên con làm gì! Con không muốn tên mình được ghi vào trong ấy!” Cô thiếu điều vung đôi tay siết chặt về phía Cha Hazzard. “Cha! Cha không muốn nghe con sao?”
“Nguyên nhân là vì Hugh đấy, anh yêu ạ,” Mẹ Hazzard lịch sự nói riêng với ông. “Anh có hiểu không?”
“Ừ, anh biết; tất cả chúng ta đều cảm thấy buồn về chuyện của Hugh. Nhưng con bé vẫn phải sống tiếp. Con bé còn phải lo cho một đứa con. Và những chuyện như thế này không nên để hoãn lại vì lý do tình cảm, chúng cần được giải quyết kịp thời.”
Cô quay đầu, bỏ chạy khỏi căn phòng. Họ không đuổi theo cô.
Cô đóng cánh cửa lại phía sau lưng. Cô giậm chân qua lại tới lui, hai, ba lần, giữ cứng đầu trong đôi tay giơ thẳng lên trời. “Đồ lừa đảo!” cái câu ấy nghẹn ngào buông ra từ miệng cô. “Đồ trộm cắp! Chẳng khác nào một kẻ trèo vào đằng cửa sổ và.”
Khoảng nửa giờ sau, có tiếng gõ cửa nhẹ. Cô mở cửa và thấy Bill đứng đó.
“Xin chào,” anh rụt rè nói.
  “Xin chào,” cô nói với vẻ rụt rè không kém.
Cảm giác chẳng khác nào họ chưa gặp nhau đã hai hay ba ngày gì đó rồi, thay vì mới chỉ cách đó nửa giờ.
“Ông ấy đã ký rồi,” anh nói. “Sau khi chị lên nhà. Bác Winthrop đã mang về. Đã có người chứng kiến đầy đủ. Giờ mọi chuyện đã thu xếp xong cả rồi, bất kể chị có muốn hay không.”
Cô không đáp. Trận chiến đã ngã ngũ dưới tầng từ trước và đây chỉ là bản thông cáo cuối cùng.
Anh nhìn cô theo cái cách mà cô không thể xác định được. Trông nó như thể vừa có vẻ đo lường đầy sắc sảo, vừa có vẻ đờ đẫn không hiểu gì, và có thêm cả chút ngưỡng mộ.
“Chị biết không,” anh nói, “em không biết tại sao chị lại hành xử như vậy. Và em không đồng ý với chị, em nghĩ chị làm như thế là sai.” Anh hạ giọng xuống nói với vẻ bí mật. “Nhưng có điều em lấy làm mừng vì chị đã hành xử như thế. Em thấy mến chị hơn vì đã hành xử như thế.” Bỗng dưng anh chìa tay ra cho cô. “Chị có muốn bắt tay chúc ngủ ngon không?”
 
 
 
 
Chương 23

Cô ở nhà một mình. Nói vậy tức là một mình với Hughie, bấy giờ đang nằm trong cũi, trên tầng, và thím Josie, hiện đang ở trong phòng cô, tít tận phía sau. Những người khác đã đi thăm nhà Michaelson, bạn thâm giao của gia đình.
Thỉnh thoảng được ở nhà một mình cũng vui. Không quá thường xuyên, không phải suốt ngày một mình, bởi nếu thế thì sẽ chuyển sang trạng thái cảm thấy cô đơn mất. Và cô biết cảm giác ấy là như thế nào, biết quá rõ, và không muốn phải trải nghiệm thêm lần nào nữa.
Nhưng được ở một mình như thế này cũng vui, ở một mình mà không cô đơn, chỉ khoảng một, hai tiếng đồng hồ, chỉ từ 9 giờ cho đến 11 giờ, bởi cô biết chắc họ sẽ sớm quay về. Cô có nguyên cả căn nhà để tha hồ vơ vẩn; dạo bước từ tầng trên xuống tầng dưới, từ căn phòng này đến căn phòng khác. Thực ra thì bình thường cô vẫn có thể làm thế - nhưng làm điều ấy khi không có ai ở quanh sẽ mang lại một cảm giác đặc biệt. Nó tác động lên cô. Nó bồi bổ cảm giác mình thuộc về nơi đây, tiếp thêm nhựa sống cho nó.
Họ hỏi cô có muốn đi cùng không, nhưng cô từ chối. Có thể bởi vì cô biết rằng nếu ở nhà một mình, cô sẽ được tận hưởng cảm giác này.
Họ không ép cô. Họ không bao giờ nài ép, không bao giờ lặp lại bất kỳ lời mời mọc nào đến mức khiến cô thấy mệt mỏi. Họ tôn trọng tư cách cá nhân của mình, cô ngẫm nghĩ, đây là một trong những điểm tốt của họ. Đó mới chỉ là một điểm thôi, và còn biết bao nhiêu điểm tốt khác nữa.
“Thế để lần sau vậy nhé,” Mẹ Hazzard mỉm cười khi chia tay bên cánh cửa.
“Chắc chắn lần sau con sẽ đi,” cô hứa. “Họ rất tử tế.”
Ban đầu, cô lang thang khắp nhà để 'thấu cảm' nơi đây, đắm chìm trong cái cảm giác 'thuộc về' tuyệt diệu. Chạm vào cái lưng ghế, miết tay trên mặt vải của tấm rèm cửa sổ đằng kia.
Của mình. Nhà của mình. Nhà của cha mẹ mình và của mình. Của mình. Của mình. Nhà của mình. Ghế của mình. Rèm che cửa sổ của mình. Không, phải kéo lùi lại như thế kia, đó mới là kiểu mình muốn.
Ngớ ngẩn? Trẻ con? Ảo tưởng? Chắc chắn là vậy rồi. Nhưng làm gì có ai không có tính trẻ con, không có mơ mộng ảo tưởng? Đời mà không có chúng thì sẽ ra thể thống gì nữa? Không có chúng thì cuộc đời liệu có tồn tại được không?
Cô bước vào trong phòng bếp của thím Josie, mở nắp hộp bánh quy, lôi ra một chiếc bánh, cắn một miếng lớn.
Cô không thấy đói. Mới mấy tiếng trước họ vừa ăn một bữa tối no căng. Nhưng...
Nhà của mình. Mình có thể làm thế này. Mình có quyền ăn chúng. Chúng nằm đó đợi mình, để mình muốn lấy lúc nào thì lấy.
Cô đậy nắp hộp lại, chuẩn bị tắt đèn.
Bỗng dưng cô đổi ý, quay lại, lấy chiếc bánh thứ hai ra.
Nhà của mình. Mình thậm chí có thể lấy hai cái nếu muốn. Rồi, mình sẽ lấy hai cái.
Và mỗi tay cầm một chiếc bánh quy, chiếc nào cũng có một vết cắn lớn đầy khiêu khích, cô ra khỏi phòng bếp. Thực tình mà nói thì đó không phải là đồ ăn cho cái miệng, mà là đồ ăn cho tâm hồn.
Sau khi đã phủi mẩu vụn bánh cuối cùng ra khỏi ngón tay, cô quyết định sẽ đọc một cuốn sách. Giờ cô thấy hoàn toàn thanh thản, một cảm giác bình yên và khỏe khoắn với mức tác động mang ý nghĩa gần như trị liệu. Đây là cảm giác như được chữa lành; được trở thành một khối, trở nên vẹn toàn trở lại. Như thể chút tàn dư cuối cùng của một cơn đau nhức cũ, một phần nhân cách cũ từng bị chẻ ra (và đúng là từng tồn tại một phần nhân cách như thế, theo đúng nghĩa đen), đã bị xóa bỏ. Chuyên gia tâm lý có thể biên soạn cả một bài nghiên cứu dựa trên đề tài này; chỉ cần đi lại vẩn vơ trong một căn nhà, nơi an toàn tuyệt đối, được thư giãn tuyệt đối, trong tầm nửa giờ hay gì đó, lại có thể mang lại hiệu quả như vậy cho cô, vượt xa khả năng của mọi thứ khoa học lạnh lùng trong bệnh viện. Nhưng, con người là con người và khoa học không phải là thứ họ cần; cái họ cần là một mái ấm, một ngôi nhà của riêng mình, không thể bị ai tước đoạt.
Giờ là lúc thích hợp, gần như là duy nhất, để đọc một cuốn sách. Ta có thể hoàn toàn tập trung chú ý vào nó, ta có thể đắm chìm trong đó. Ta với nó sẽ có thời gian được hòa thành thể thống nhất, không có bản ngã riêng.
Bước vào phòng đọc sách, phải mất một lúc cô mới chọn được một cuốn sách. Cô lật giở rất nhiều bên các kệ sách, hai lần dợm quay về ghế để đọc vài đoạn mở đầu gì đó, trước khi quyết định chọn một cuốn sách có vẻ hợp với mình. Marie Antoinette [1] của tác giả Katharine Anthony.
 
Chẳng hiểu sao nhưng cô không bao giờ thích đọc truyện hư cấu. Chúng khiến cô cảm thấy không được thoải mái, có thể vì chúng gợi cô nhớ lại những thăng trầm trong đời mình. Cô thích những thứ (theo cách tâm trí của cô diễn đạt) đã thực sự xảy ra. Thực sự xảy ra, nhưng từ rất lâu và ở nơi nào đó thật xa, xảy ra với ai đó khác hẳn, một ai đó không ai có thể nhầm là cô được. Đối với một nhân vật giả tưởng, ta sẽ chẳng mấy chốc bất giác bắt đầu liên hệ bản thân với anh chàng hay cô nàng đó. Đối với một nhân vật từng là một người còn sống thật sự thì ta sẽ không bị như vậy. Ta có thể đồng cảm khách quan, nhưng chỉ đến thế thôi. Từ đầu đến cuối, đó luôn là một người khác. Bởi vì trong thực tại, nhân vật đó thực sự là một người khác. (Người ta gọi thế này là trốn chạy, mặc dù trường hợp của cô thì ngược lại với những người khác. Thiên hạ chìm đắm trong những kịch tính giả tưởng để trốn chạy những nhạt nhẽo của thực tại. Cô chìm đắm trong một thực tại của quá khứ để trốn chạy những kịch tính cá nhân.)
Nguyên một giờ liền, có khi còn hơn, cô hòa làm một với một người phụ nữ đã chết từ một trăm năm mươi năm trước; cô quên cả
thời gian.
Lờ mờ, với chỉ một phần nhỏ tâm trí, cô nghe thấy tiếng xe phanh lại đâu đó bên ngoài, trong màn đêm im lặng.
"... Axel Fersen vội vã lái qua những con phố tăm tối.” (Cha mẹ về rồi. Mình đọc nốt chương này đã.) “Một tiếng rưỡi sau, chiếc xe băng qua cánh cổng của Saint-Martin.”
Một chiếc chìa khóa vặn trong ổ cửa trước. Cửa mở ra, sau đó đóng lại. Nhưng không có tiếng rì rầm của giọng những người mới về nhà vọng vào. Không ai nói năng gì cả, gần như im lặng hoàn toàn. Có tiếng bước chân mạnh mẽ, đầy nhiệt huyết, một cặp chân duy nhất, vang lên trên khoảng sàn trần ngay trước cửa, rồi nhạt nhòa hơn trên phần thảm lót hành lang. 
“... Cách đó một quãng, họ thấy một chiếc xe chở khách lớn đỗ lại bên lề đường.” (Không, đó là Bill, không phải cha mẹ. Anh vừa về đến nhà. Mình quên mất, cha mẹ không đi xe, nhà Michaelson sống ngay gần đây thôi.) “một chiếc xe chở khách lớn đỗ lại bên lề đường...”
Tiếng chân bước tiến ra sau nhà. Đèn phòng bếp của thím Josie lại bật sáng. Từ chỗ đang ngồi thì cô không thể nào thấy được, nhưng cô biết điều ấy nhờ tiếng công tắc kêu tách. Cô có thể nhận ra mọi ngọn đèn nhờ tiếng công tắc. Cái hướng tiếng ấy vọng lại, và độ sắc hoặc khẽ của thanh âm. Ta có thể biết được những đặc tính ấy của một ngôi nhà.
Cô nghe thấy tiếng nước chảy ra từ vòi, và rồi một chiếc cốc rỗng được đặt xuống. Sau đó tiếng nắp hộp bánh quy được đặt xuống, phát ra tiếng thịch của đồ sứ nặng nề, trống rỗng, ngân vang. Nó nằm ở đó một lúc lâu, không vội vã đậy lại.
“... đỗ lại bên lề đường.” (Thím Josie sẽ nổi cơn tam bành. Thím ấy luôn mắng nhiếc anh ta. Thím chẳng bao giờ mắng mình, dù cũng làm cùng cái việc ấy. Mình đoán là thím đã quen làm như thế hồi anh ấy còn nhỏ, và đã là thói quen thì khó mà bỏ được.) “Cái bà Korff giả mạo và những người tùy tùng bước vào trong xe.”
Mãi một lúc sau thì cái nắp cũng được đậy lại. Tiếng bước chân bắt đầu tiến về phía trước, bước vào phía sau hành lang. Chúng chợt dừng lại, lùi ra sau một bước, khiến sàn khẽ kêu kẽo kẹt vì có chỗ phải chịu trọng lượng gấp đôi.
“...” (Anh làm rơi một mẩu bánh trên mặt sàn, dừng lại nhặt nó lên. Chắc anh không muốn sáng ra thím ấy thấy nó nằm đó và biết anh đã làm gì. Mình cá là sâu thẳm trong tim, anh vẫn còn sợ thím Josie, theo cái kiểu trẻ con.) “...”
 
Nhưng suy tư của cô không đổ dồn về phía anh hay gì cả. Chúng tập trung vào cuốn sách. Dòng suy nghĩ kia chỉ ở bên rìa tâm trí cô, phần dư thừa không được sử dụng, không ngừng tự bình luận với bản thân, trong khi tâm điểm chú ý của cô thì không buồn đoái hoài đến nó.
Tiếng chân anh lặng xuống một lúc, không còn nghe thấy nữa. Chắc hẳn anh đã ngồi đâu đó, ăn nốt mấy cái bánh quy. Có lẽ anh đang gác một chân lên tay ghế, nếu hiện đang ngồi trên chiếc ghế nào đó.
Anh biết rằng cha mẹ đã sang nhà Michaelson, và hẳn đã tưởng rằng cô cũng đi cùng, rằng anh chỉ có một mình trong nhà. Phòng đọc sách nằm bên phải cầu thang và anh đã rẽ sang bên trái, đi vào phòng bếp và quay trở lại, chưa lại gần chỗ này, thế nên anh không thể nào biết được cô đang trong này. Ngọn đèn có chụp bên cạnh cô có bán kính tỏa sáng giới hạn, không chiếu ra quá cửa phòng.
Bất chợt tiếng chân giẫm nhẹ nhàng của anh lại vang lên, tiếp tục đi, khoảng nghỉ ăn vụng đã kết thúc. Chúng lại bước vào hành lang, mỗi lúc một rõ sau khi rời khỏi nơi ban nãy, đi vòng qua chân cầu thang, và tiến sang phía bên này. Chúng đang tiến thẳng về phía nơi đây, về phía căn phòng mà anh không hề biết cô đang có mặt.
Cô tiếp tục đọc, bị sức hấp dẫn khó cưỡng của đoạn văn vừa đọc đến níu lấy, giữ rịt lại. Thậm chí cô còn không nhướn mắt lên.
Tiếng chân anh ra đến bậu cửa. Thế rồi nó dừng phắt tại đó, mang vẻ gì cứ như vừa nảy bật người lại.
Suốt một lúc, anh đứng bất động, nhìn cô.
Và bất chợt, anh ngập ngừng lui một bước, rồi lùi hẳn về đằng sau, quay đầu, một lần nữa bỏ đi.
  Cô gần như ý thức được tất cả những điều này chỉ trong tiềm thức; cô chưa thực sự nhận ra điều đó, ít nhất bấy giờ thì chưa. Nó vẫn nằm đó, đeo bám vào tâm trí của cô, nhưng nó chưa đi sâu vào trong ấy.
(Tại sao anh ấy lại quay đầu bỏ đi như thế, khi thấy mình ngồi đơn độc trong này?) "... và ngồi lên mấy miếng đệm êm ái...” (Anh ấy định vào trong này. Anh ấy đã đi ra đến tận cửa. Thế rồi khi thấy mình ở trong này và có vẻ chưa nhìn thấy anh, anh lùi lại. Tại sao? Tại sao lại như vậy?) “Axel Fersen nắm lấy cương.”
Chậm rãi, sức lôi cuốn đầy ma thuật của cuốn sách biến mất, tan đi. Lần đầu tiên mắt cô rời trang giấy. Cô ngước lên đầy nghi ngờ, cuốn sách vẫn để mở trước mặt.
Tại sao? Tại sao anh ấy lại làm như vậy?
Không phải là anh sợ làm phiền mình. Chúng ta là một gia đình, chúng ta không câu nệ với nhau như thế. Tất cả đều có thể đi vào hết phòng này đến phòng khác tùy thích mà không can hỏi ý kiến ai cả, ngoại trừ các phòng ở tầng trên, và đây không phải là tầng trên, đây là tầng dưới. Anh thậm chí không chào hỏi gì hết. Khi thấy rằng mình chưa phát hiện ra, anh ấy muốn cứ để sự tình y nguyên như thế, cố hết sức giữ cho sự tình được nguyên trạng, tìm cách không làm cho mình để ý. Trước tiên lùi lại một bước, sau đó mới quay người đi.
Cửa trước lại mở ra, nhưng không đóng lại phía đằng sau anh. Anh đã ra trước nhà một lúc để cho xe vào. Cô nghe thấy tiếng cửa đóng thụp lại, nghe thấy tiếng bộ số rồ lên chuyển động.
Anh ấy không thích mình à? Có phải đó là lý do anh ấy không muốn phải ở trong phòng cùng mình, khi không có ai khác ở đó? Anh ấy có thù hằn gì với mình à? Mình cứ tưởng... cứ tưởng... là anh ấy tin tưởng mình từ lâu rồi, nhưng... Tự dưng lại chùn bước như thế, phanh người lại, gần như quay ngoắt đi luôn, ngay bên ngưỡng cửa.
Và rồi bất chợt, hết sức đơn giản, như thể đó là điều hiên nhiên, cô ngộ ra. Nó bừng lên trong tâm trí cô. Một thứ vô định nào đó đã tiết lộ cho cô. Một thứ không lời lẽ nào giải thích nổi. Nó quá mong manh, không thể gánh nổi sức nặng của ngôn từ.
Không, không phải vì không thích mình. Lý do là anh ấy thực sự thích mình, thực sự thích mình, thế nên mới lùi lại như thế, không muốn ngồi cùng mình trong căn phòng đó nếu có thể tránh được. Thích mình quá mức. Đã bắt đầu phải lòng mình rồi. Và. và anh ấy nghĩ là không nên làm thế. Anh ấy đang cưỡng lại nó, đang chiến đấu với cuộc chiến vô vọng, bế tắc mà chẳng ai thắng nổi.
Một cách đầy kiên quyết, nhưng cũng rất từ tốn, cô gập cuốn sách lại, đem nó ra cái khoảng trống ban nãy, đặt nó vào. Cô để đèn sáng nguyên cho anh (bởi vì lúc trước có vẻ anh muốn vào trong này), nhưng bản thân cô thì rời phòng, nhường nó lại cho anh, ra ngoài hành lang, lên cầu thang và vào phòng mình, đóng cửa lại để đi nghỉ.
Cô xõa tóc, chải đầu để chuẩn bị đi ngủ.
Cô nghe thấy tiếng rù rù của cửa gara, nghe thấy tiếng ổ khóa va vào chúng sau khi bị anh buông tay cho rơi về chỗ cũ, nghe thấy tiếng anh quay vào nhà. Anh quay thẳng về phía phòng đọc sách, và bước vào, lần này không chút do dự (phải chăng là để chào cô, để đối mặt với tình cảm, để thổ lộ nỗi lòng, phải chăng anh đã ra quyết định chỉ trong vài phút ngắn ngủi kia?) - nhưng lại chỉ thấy căn phòng trống không. Ngọn đèn vẫn bật, còn người đọc sách thì đã đi mất rồi.
  Mấy giây sau cô nhớ ra rằng mình đã để quên điếu xì gà đang hút dở, trên mặt bàn, dưới ngọn đèn, cạnh nơi cô ngồi nãy giờ. Cô quên không mang nó theo lúc bỏ ra ngoài. Hẳn nó vẫn đang cháy dở, bởi lúc nghe thấy chiếc xe đỗ lại bên ngoài thì cô chỉ vừa mới châm lửa.
Không phải cô sợ nó sẽ gây hư hỏng đồ đạc gì. Anh chỉ cần liếc nhìn là sẽ thấy, và sẽ dập nó đi thay cô.
Nhưng nó sẽ làm 'lộ vở' cho anh. Bởi lẽ, hệt như việc anh bỏ đi dù đã định bước vào, nó sẽ giúp anh nhận ra rằng cô đã đứng dậy rời đi dù không định như thế.
Giờ thì không chỉ mình cô biết rằng anh đã bắt đầu yêu cô, mà, thông qua điếu xì gà hớt lẻo kia, anh cũng biết rằng cô đã nhận ra điều ấy.
  Chú thích:
[1] Marie Antoinette: Hoàng hậu cuối cùng của nước Pháp trước cuộc Cách mạng Pháp giai đoạn 1789-1799.

 
Chương 24

Dưới ánh trăng rằm, vườn hoa sau nhà lúc cô bước vào sáng tỏ chẳng khác gì ban trưa. Mấy con đường rải cát chạy vòng quanh khoảnh sân vuông và cắt ngang qua nó như một chữ X, lấp lánh như tuyết, bóng của cô lướt đi bên trên, nhuốm xanh trên cái nền trắng của chúng. Hố đá nhỏ nằm ở chính giữa lốm đốm những đĩa bạc, chúng tụ vào rồi lại tẽ ra như thể đang chuyển động, mặc dù thực ra thì không phải, chỉ là điểm nhìn của cô không ngừng thay đổi lúc cô đi dạo vòng quanh.
Đêm tháng Sáu nồng đượm mùi hương của các khóm hồng, đám sâu bọ ngái ngủ rộ lên một tràng tiếng o o mơ màng, như thể đang nói mớ trong lúc ngủ.
Cô chưa muốn đi ngủ và cũng chẳng muốn đọc sách, bởi vì bật đèn ngồi trong phòng đọc sách thì ngột ngạt quá. Sau khi Cha và Mẹ Hazzard rời chỗ cô và lên phòng, cô không còn muốn ngồi một mình ở hiên trước nữa. Cô lên trên tầng một lúc để thăm Hughie, để nhìn xem nó có sao không, rồi cô đi ra ngoài này. Ra vườn hoa phía sau nhà, chốn an toàn biệt lập đằng sau hàng giậu cao bao quanh.
Tiếng chuông điểm 11 giờ ngân vang từ một nhà thờ Tân giáo nhỏ trên đường Beechwood, và vọng âm của nó nấn ná trong bầu không khí tĩnh lặng, khiến cô cảm thấy thanh bình và thư thái vô cùng.
Một giọng nói khẽ khàng, như thể vọng lại từ sau vai cô, cất lên,
 “Xin chào! Em biết ngay người ở dưới này là chị mà, Patrice.”
Cô quay người, giật mình và mới đầu không xác định được anh đang ở đâu. Anh bây giờ ở phía bên trên cô, ngồi sát mép bậu cửa sổ mở toang.
“Em xuống dưới đó và hút cùng chị điếu xì gà được chứ?”
“Chị đang định vào nhà,” cô vội vã nói, nhưng anh đã biến mất rồi.
Anh bước xuống hiên sau nhà, ánh trăng đỗ xuống đầu và vai anh như bột phấn rôm khi anh tiến về phía cô. Cô quay người cùng hướng với anh và họ chậm rãi sóng vai nhau bước đi. Đi hết một vòng lối đi bên ngoài và rồi thêm một lần nữa qua phần cắt ngang ở giữa.
Trong khi đi dạo, có lúc cô đưa tay ra và chạm vào một bông hoa; kéo nó lại gần mình một chút, rồi buông ra, để nó đong đưa bật trở lại, không chút hư hại. Đó là bông hồng trắng đã nở bung và trong thoáng chốc, mùi hương của nó chẳng khác nào trái bom dội lên mặt họ.
Anh thậm chí còn không làm nhiều như cô; không làm gì cả. Không nói gì cả. Chỉ bước đi bên cạnh cô. Một bên tay thọc vào trong túi quần. Mắt nhìn xuống, như thể con đường này làm anh thích mê.
“Ở dưới này tuyệt thật, thế nên chị ghét phải rời đi lắm,” cuối cùng cô nói.
“Em chẳng quan tâm tí gì đến khu vườn này cả,” anh đáp lời với giọng khá cộc cằn. “Dù là tản bộ hay là đám hoa ở đây. Chị biết vì sao em xuống dưới này mà. Em có cần phải nói hẳn ra với chị không?”
Anh thô bạo quang điếu xì gà, hất ngược ra sau, động tác trông như thể vừa bị thứ gì làm cho phát cáu.
Bỗng nhiên cô cảm thấy hoảng sợ vô cùng. Cô dừng phắt lại.
“Không, đợi đã, Bill. Bill, đợi đã... Đừng...”
“Đừng gì? Em vẫn chưa nói gì cả. Nhưng chị đã biết sẵn rồi, đúng không? Em xin lỗi, chị Patrice, em phải thổ lộ với chị chuyện này. Chị phải nghe. Nó phải được bộc bạch ra.”
Cô đưa tay đầy phản đối về phía anh, như thể đang tìm cách xua đi thứ gì. Cô lùi ra sau một bước, tạo khoảng cách giữa hai người.
“Em chẳng thích thú gì chuyện này,” anh ngang ngạnh nói. “Nó gây ra cho em những điều mà em chưa từng biết đến. Từ trước đến nay em chưa bao giờ xao xuyến cõi lòng với ai cả. Em thậm chí chưa bao giờ biết đến cái tình yêu tuổi hồng mà ai ai cũng trải nghiệm. Em cứ tưởng mình thuộc kiểu người như vậy. Nhưng nó đã xuất hiện rồi, chị Patrice ạ. Giờ chính là thời khắc ấy.”
“Không, đợi đã. Không phải bây giờ. Chưa được. Giờ không phải lúc.”
“Giờ chính là lúc ấy, đêm nay chính là đêm ấy, và nơi này chính là nơi ấy. Sẽ không bao giờ có thêm đêm nào như thế này nữa, kể cả hai chúng ta có sống đến trăm tuổi. Patrice, anh yêu em và anh muốn em cư.”
“Bill!” Cô van nài, hoảng sợ.
“Em đã nghe anh thổ lộ, và giờ em lại bỏ chạy, Patrice,” anh buồn bã hỏi, “chuyện này khủng khiếp lắm sao?”
Cô đã bước lên bậc thang đầu của hiên nhà, đứng đơ ra đó một lúc. Anh chậm rãi bám theo, dáng điệu chán nản đầy cam chịu, hơn là vội vã đeo đẳng.
“Anh không phải người giỏi chuyện ái tình,” anh nói. “Anh không biết thổ lộ thế nào.”
“Bill,” cô lại nói, nghe đầy đau khổ.
“Patrice, ngày nào anh cũng gặp em và...” Anh dang rộng hai tay đầy bất lực, “Anh biết làm gì đây? Anh đâu muốn chuyện này xảy ra. Anh nghĩ đây là một chuyện tốt lành. Anh nghĩ đây là điều nên xảy ra.”
Cô thoáng ngả đầu lên cột chống hiên, như thể đang rất quẫn trí. “Tại sao anh lại phải nói ra ngay? Tại sao anh không thể. Cho em thêm thời gian. Làm ơn hãy cho em thêm thời gian. Chỉ vài tháng thôi.”
“Em có muốn anh rút lại lời không, Patrice?” anh hỏi rầu rĩ. “Giờ thì anh rút lời kiểu gì? Sao mà anh rút lại được, kể cả nếu ban nãy anh chưa từng nói ra? Patrice, đến nay đã là bao lâu rồi. Là vì Hugh, vẫn là vì Hugh, phải không?”
“Em chưa bao giờ yêu ai c...,” cô dợm nói với vẻ hối lỗi. Bỗng dưng cô ngưng bặt.
Anh nhìn cô với ánh mắt khác thường.
Mình đã nói quá nhiều, dòng suy nghĩ ấy vụt hiện trong tâm trí cô. Quá nhiều, hay không đủ. Và rồi cô buồn bã nhận ra: Không đủ chút nào.
“Em vào trong nhà đây.” Bóng tối của hiên nhà buông xuống giữa hai người như một bức màn xanh chàm.
Anh không đuổi theo cô. Anh đứng im ở nơi bị cô bỏ lại.
“Em sợ anh sẽ hôn em.”
“Không, đó không phải điều em sợ,” cô lẩm bẩm, gần như không thể nghe thấy. “Em sợ mình sẽ muốn anh làm thế.”
Cánh cửa đóng lại sau lưng cô.
Anh đứng ngoài đó, dưới ánh trăng trắng bệch, bất động, rầu rĩ nhìn xuống đất.
 
 
 
Chương 25

Sáng ra. thế giới nhìn từ cửa sổ trông thật ngọt ngào. Cái cảm giác thanh bình, an toàn, ở nơi cô thuộc về, càng lúc càng được thêu dệt dày hơn, bao phủ cô chặt hơn. Chẳng bao lâu sau, chẳng gì có thể xé rách được chất vải ấy ra nữa. Được tỉnh dậy trong căn phòng của riêng cô, trong căn nhà của riêng cô, phía trên đầu là mái nhà của riêng cô. Được nhìn thấy cậu con trai bé nhỏ đã tỉnh dậy trước cô, từ trong cũi nhìn ra đầy kỳ vọng và tặng cho cô nụ cười vui vẻ tươi rói, cái nụ cười đặc biệt mà thằng bé chẳng để ai thấy ngoài cô. Được bế thằng bé lên, ôm nó vào lòng và phải kiềm chế bản thân để không siết thằng bé quá chặt. Sau đó cô đưa thằng bé ra chỗ cửa sổ, kéo rèm lại và nhìn ra thế giới bên ngoài. Cho thằng bé thấy cái thế giới cô đã tìm được cho nó, thế giới cô đã tạo dựng cho nó.
Ánh nắng ban mai nhẹ nhàng phủ lên vỉa hè và con đường trước nhà tựa như phấn hoa cúc. Dưới các tán cây và ở bên hông mọi ngôi nhà là những cái bóng màu xanh nhạt. Cách đây vài nhà có một người đàn ông đang tưới nước cho bãi cỏ, nước phun ra từ mũi vòi phun lấp lánh như kim cương. Ông ta ngước lên, nhìn thấy cô và thân ái vẫy tay chào, mặc dù cô không biết rõ ông ta. Cô nắm lấy cổ tay nhỏ bé của Hughie và vẫy chào đáp lại.
Đúng vậy, sáng ra, thế giới này quả là rất ngọt ngào.
Sau đó cô đi thay đồ, thay cho cả hai mẹ con và xuống dưới nhà, bước vào căn phòng dễ chịu đang đợi cô dưới đó; gặp Mẹ Hazzard, cùng chỗ hoa mới hái và câu chào đầy trìu mến, tươi vui của bà. Hình ảnh phản chiếu trên chiếc bình pha cà phê bóng như gương (thứ luôn khiến thằng bé thích mê), trưng ra trên các mặt bên hình ảnh thấp lùn, mập mạp của những người đang ngồi xung quanh nó: một bà cô luống tuổi, một phụ nữ trẻ hơn hẳn và một cậu nhóc măng tơ ngồi trong chiếc ghế cao, tâm điểm của sự chú ý.
Cô cảm thấy yên ổn, được ở nhà, được ở giữa những người thân yêu.
Thậm chí còn có một bức thư được gửi đến, một bức thư của riêng cô, nằm đợi tại vị trí của cô. Một cảm giác hoàn thiện nho nhỏ đầy dễ chịu dấy lên trong lòng khi cô trông thấy nó. Không có gì thể hiện sự bền lâu, sự thuộc về nơi đây rõ ràng hơn bức thư kia. Thư của riêng cô, được gửi đến nhà cho cô.
“Cô Patrice Hazzard,” và địa chỉ. Đã có thời điểm, cái tên ấy làm cô hoảng sợ. Giờ thì không còn như thế nữa. Chỉ một thời gian nữa thôi, cô thậm chí sẽ chẳng còn nhớ rằng trước kia từng có một cái tên khác tồn tại. Một cái tên cô độc, sợ hãi, vô chủ, không ai công nhận, đang lang thang lưu lạc khắp nơi...
“Nào Hughie, đừng có láu táu thế, ăn hết phần của con đi đã.”
Cô mở bức thư ra và bên trong chẳng có gì. Hay nói đúng hơn là chẳng có gì được viết trong đó. Trong giây lát, cô cứ đinh ninh hẳn đã có nhầm lẫn gì đó. Chỉ có mảnh giấy trắng. Không, đợi đã, ở phía bên kia.
Ba từ nhỏ, gần như chôn kín trong phần nếp gấp khiến tờ giấy gập đôi, tí nữa thì bị bỏ lỡ trong cái khoảng trắng như tuyết bao quanh chúng.
“Cô là ai?”
 
 
 
 
Chương 26

Sáng ra, thế giới nhìn từ cửa sổ trông nửa ngọt ngào, nửa cay đắng. Tỉnh dậy trong một căn phòng chính ra không thuộc về cô. Một căn phòng mà cô biết - và cô biết một người nào đó cũng biết - là cô không có quyền được ở đây. Nắng ban mai chiếu nhợt nhạt và ảm đạm lên mặt đất, dưới các tán cây và ở bên hông mọi ngôi nhà là những mảnh đêm tơi tả còn đọng lại, đã phai nhạt thành màu xanh, nhưng vẫn còn âm u và đáng sợ. Người đàn ông đang tưới bãi cỏ cách đây vài nhà là một người lạ mặt; một người lạ mặt cô thấy quen. Khi ông ta ngước lên, cô vội vã rụt người khỏi cửa sổ, kéo cả thằng bé vào, không để ông ta nhìn thấy mình. Thế rồi một thoáng sau, cô lại thầm ước ban nãy mình không làm thế, nhưng đã quá muộn, đã lỡ làm mất rồi.
Có phải ông ta là người gửi thư không? Có phải ông ta không?
Công việc thay quần áo cho cả hai người không còn vui vẻ gì nữa. Và giờ đây, khi cô đưa Hughie xuống cầu thang, vẫn những bậc cầu thang cô đã đi xuống hàng trăm lần, cuối cùng cô cũng được nếm trải cảm giác bước xuống với tâm trạng buồn bã và lo lắng, hệt như những gì cô đã nói vào cái đêm đầu tiên, rằng có thể một ngày nào đó cô sẽ phải bước đi như vậy. Bấy giờ, cô đang bước xuống cầu thang với tâm trạng như thế.
Mẹ Hazzard đang ngồi bên bàn ăn, khuôn mặt rạng rỡ; và còn cả chỗ hoa; và còn cả những cái hình phản chiếu trông như tượng máng xối trên các mặt của cái bình. Nhưng cô chỉ để tâm đến một thứ duy nhất, lấm lét, căng mắt ra nhìn, ngay khi vừa đến ngưỡng cửa. Thậm chí còn từ chỗ xa hơn thế; từ lúc cái bàn vừa lọt vào tầm mắt cô. Trên đó có thứ gì màu trắng, đặt ở bên bàn của cô không? Có mảng trắng hình chữ nhật nào lộ ra ở đó, đặt cạnh hay gần chỗ ngồi của cô không? Dễ nhận ra lắm, bởi lẽ tấm vải trải bàn có in họa tiết, pha trộn giữa màu đỏ và xanh lá cây.
“Patrice, con ngủ không ngon à, con yêu?” Mẹ Hazzard lo lắng hỏi. “Trông con hơi tiều tụy.”
Mới phút trước, khi ở trên cầu thang, cô trông không tiều tụy. Khi đó cô mới chỉ buồn bã và lo lắng thôi.
Cô đặt Hughie lên ghế, tác phong lâu hơn mức cần thiết. Cô tránh không cho mắt hướng về phía nó. Không nhìn vào nó. Không nghĩ về nó. Không tìm cách kiểm tra xem bên trong nó là gì, không muốn biết bên trong là gì, hãy cứ để nó nằm im cho đến khi ăn xong, sau đó mới xé nó ra thật k...
“Patrice, con làm dây hết ra cằm thằng bé rồi. Đây, để mẹ làm cho.”
Kể từ lúc đó, tay cô chẳng có việc gì để làm nữa. Và cô cảm thấy như thể mình có rất nhiều tay; ít nhất cũng phải bốn, năm cái tay. Cô với tay lấy ấm cà phê và một góc bức thư cản đường. Cô với tay lấy bát đường, và một góc nữa của bức thư cản đường. Cô kéo khăn ăn về phía mình và nó cưỡi trên chiếc khăn, nhích thêm tầm năm hay sáu phân nữa về phía cô. Nó ở xung quanh cô, nó ở khắp mọi nơi!
Cô chỉ muốn gào lên, cô siết chặt tay lại, hạ chúng xuống cạnh ghế. Mình không được làm thế, mình không được làm thế. Hughie ở ngay bên cạnh, còn mẹ thì ở ngay phía bên kia bàn...
  Mở nó ra, mở nó ra nhanh nào. Nhanh lên, trong lúc cô vẫn còn đủ can đảm.
Tờ giấy phát ra tiếng sột soạt, ngón tay cô sao mà thô kệch và lóng ngóng ghê gớm.
Lần này có thêm một câu.
“Cô từ đâu đến?”
Cô lại siết chặt tay, hạ thấp xuống cạnh ghế. Mảnh giấy trắng lọt vào trong, biến mất giữa những kẽ ngón tay.
 
 
 
 
Chương 27

Sáng ra. thế giới nhìn từ cửa sổ trông thật cay đắng. Tỉnh dậy trong một căn phòng xa lạ và trong một ngôi nhà xa lạ. Cô bế đứa con của mình lên - đó là thứ duy nhất thực sự thuộc về cô - và đưa thằng bé nhích ra phía cửa sổ, rón rén đi chéo xiên sang, nhòm ra từ phía xa, gần như không nhấc rèm lên; không bước ra chính giữa và kéo hẳn rèm lại. Chỉ những người đang sống trong nhà mình mới làm được điều ấy, còn cô thì không. Và ngoài kia chẳng có gì cả. Chẳng có gì thuộc về cô hay dành cho cô. Toàn những ngôi nhà thù địch trong một thị trấn đầy thù địch. Vầng mặt trời giá lạnh hắt xuống nền đất sỏi đá. Dưới mỗi tán cây và bên hông mỗi ngôi nhà là những cái bóng tối thẫm như nét cau mày. Hôm nay, người đàn ông tưới nước cho bãi cỏ không quay lại chào cô. Ông ta giờ còn hơn cả một người lạ mặt, mà còn là một kẻ địch tiềm tàng.
Cô bế con xuống dưới tầng và mỗi bước chân đều như hồi chuông đưa đám. Lúc bước vào phòng ăn, mắt cô nhắm chặt. Cô không thể không làm vậy được; cô không thể khiến mình mở chúng ra dù chỉ trong thoáng chốc.
“Patrice, mẹ thấy con không ổn tí nào. Con so màu da của mình với màu da thằng bé đi.”
Cô mở mắt ra.
Chẳng có gì ở đó cả.
  Nhưng rồi nó sẽ đến. Nó sẽ lại đến. Nó đã từng đến một lần, hai lần; rồi nó sẽ lại đến tiếp. Có khi là ngày mai. Ngày hôm sau. Hoặc ngày hôm sau nữa. Chắc chắn nó sẽ lại đến. Chẳng thể làm được gì ngoài chờ đợi. Ngồi đó, hoang mang, bất lực và đợi chờ. Chẳng khác nào chúi đầu dưới cái vòi bị rò nước, đợi giọt nước băng giá tiếp theo tẽ ra và rơi xuống đầu mình.
Sáng ra, thế giới trông thật cay đắng và đến chiều tối thì lại tràn ngập những bóng đen vô hình, lẩn khuất xung quanh, đe dọa sẽ ập đến và nuốt chửng cô, hết giây này đến giây khác.
 
 
 
 
Chương 28

Cô ngủ không được ngon giấc. Đó là điều đầu tiên cô nhận ra sau khi tỉnh dậy. Đi cùng với nó là nguyên nhân, lý do xảy ra chuyện ấy. Đó mới là thứ thực sự quan trọng; không phải việc cô ngủ không ngon giấc, mà là biết nguyên nhân, lý do xảy ra chuyện ấy. Cô biết rất rõ.
Chuyện này chẳng có gì mới. Dạo này, cái việc ngủ không ngon giấc kia lúc nào cũng diễn ra. Nó đã trở thành quy luật rồi, chứ không còn là trường hợp ngoại lệ nữa.
Cơn căng thẳng bắt đầu ảnh hưởng đến cô. Sức kháng cự của cô đang dần bị bào mòn. Thần kinh cô đang chậm rãi căng hết lên, mỗi ngày lại dãn căng thêm một tí. Cô biết mình đang mấp mé điểm bùng nổ. Cô không thể chịu được thêm chút nào nữa. Sợ nhất không phải là lúc chúng được gửi đến; sợ nhất là cái khoảng ở giữa, lúc chờ đợi bức thư tiếp theo xuất hiện. Nó càng nấn ná lâu, cô càng căng thẳng mạnh, thay vì bớt căng thẳng đi. Chẳng khác nào ngồi chờ tai họa tất yếu đổ ập lên đầu, có điều nó lại kéo dài bất tận.
Cô không thể chịu đựng được thêm nữa. Nếu như có thêm một bức thư nữa, cô tự nhủ, chắc chắn mình sẽ mất kiểm soát. Đừng để bức thư nào xuất hiện nữa. Xin đừng.
Cô ngắm mình trong gương. Không phải để thỏa mãn bản chất phù phiếm, tự phụ, mà là để xem nó đã gây tổn hại đến vẻ ngoài của cô thế nào. Để kiểm chứng khách quan những tổn hại nó đang gây ra. Mặt cô tái nhợt và rệu rã. Khuôn mặt ấy lại bắt đầu gầy đi, mất đi vẻ tròn trịa, đang trên đường một lần nữa trở thành cặp má hốc hác như thời còn ở New York. Dưới mắt cô có một quầng thâm hơi đậm và con mắt có phần sáng hơi quá mức. Cô trông mệt mỏi và sợ hãi. Không đến mức quá nghiêm trọng, có điều lại diễn ra thường xuyên. Và nó đã gây hậu quả cho cô như thế này đây.
Cô thay đồ, sau đó thay quần áo cho Hughie, và bế nó xuống nhà. Trong một buổi sáng sớm như thế này, phòng ăn thật dễ chịu. Ánh mặt trời mới lên tràn vào, sắc màu của sâm panh; lớp vải sặc sỡ, sắc nét của những tấm rèm; màu tươi tắn của các thứ đồ sành sứ trên bàn; hương thoang thoảng của ấm cà phê; mùi ngon ngọt của bánh mì mới nướng thẩm thấu qua tấm khăn ăn đang được phủ lên để giữ ấm cho nó. Hoa của Mẹ Hazzard hái từ vườn sau được đặt giữa bàn, và vẫn như mọi lần, chúng chẳng bao giờ cũ quá một tiếng. Mẹ Hazzard mặc bộ váy ngủ in hoa đầy thanh lịch và vui tươi, mỉm cười rạng rỡ với cô. Mái ấm. Thật bình yên.
Hãy để tôi được an lành, cô thầm van nài. Hãy để tôi yên ổn. Hãy để tôi được có những thứ này. Hãy để tôi tận hưởng nó theo đúng cách nó cần được tận hưởng, đúng cách nó đang chờ đợi được tận hưởng. Đừng tước nó khỏi tay tôi, hãy để tôi giữ nó.
Cô đi vòng sang bên kia bàn, ra chỗ Mẹ Hazzard để hôn bà, và cô đưa Hughie về phía bà để bà hôn nó. Thế rồi cô đặt thằng bé vào chiếc ghế cao, ở giữa hai người họ, và cô cũng ngồi xuống.
Thế rồi cô nhìn thấy chúng, nằm đó đợi cô.
Bức thư trên cùng là tờ quảng cáo của một cửa hàng bách hóa, được niêm kín trong một phong bì. Cô có thể nhận diện nó thông qua phần tiêu đề ở góc trên. Nhưng có thứ gì đó bên dưới, một bức thư khác. Các góc của nó hơi ló ra ngoài bức thư trên cùng.
  Cô sợ hãi việc phải nhìn rõ nó hơn, cô trì hoãn việc ấy.
Cô bón ngũ cốc lên miệng Hughie, cứ bón xong một thìa cô lại nhấp một ngụm nước trái cây. Nó đang đầu độc bữa ăn của cô, nó khiến thần kinh của cô vặn xoắn lại.
Chưa biết chừng không phải là bức thư ấy, có khi nó lại là thứ gì khác. Tay cô cà giật cử động và bức thư của cửa hàng bách hóa được đặt sang một bên.
“Cô Patrice Hazzard.”
Nó được viết bằng bút mực, một bức thư cá nhân. Cô chưa bao giờ nhận được thư như thế từ bất cứ ai; làm gì có ai viết thư cho cô, làm gì có ai mà cô quen biết? Đây chắc chắn là một trong những bức thư kia và đúng thế thật. Trong bụng cô dấy lên một cảm giác lạnh buốt. Cô quan sát mọi thứ xung quanh nó, chăm chú như đang bị thôi miên. Con tem ba xu tím, với các đường dấu hủy gọn sóng chạy ngang. Thế rồi đến con dấu bưu điện tròn, đóng lệch sang bên. Nó đã bị gửi muộn, sau 12 giờ đêm qua. Từ đâu? Cô băn khoăn. Là ai gửi? Cô có thể mường tượng ra một bóng người không rõ mặt mũi, lấm lét bước ra một hòm thư trên phố trong đêm tối, một bàn tay vội vã nhét thứ gì đó vào trong khe, và tiếng keng khi nắp hộp thư đóng sập xuống.
Cô muốn mang nó ra khỏi đây, đem lên trên tầng, rồi đóng cửa lại. Nhưng nếu cô mang nó đi khi chưa mở ra, chẳng phải trông sẽ có vẻ bí mật, chẳng phải sẽ làm người ta chú ý ngoài mong muốn sao? Mở nó ra ngay trong căn phòng này vẫn đủ an toàn; ở nhà này chẳng có ai tọc mạch, chẳng có ai hỏi han gì. Cô biết thậm chí nếu để nó nằm hớ hênh sau khi đã đọc xong thì nó vẫn sẽ được an toàn, không ai sờ đến.
Cô thọc dao qua nắp phong bì, rạch mở bức thư.
 
  Mẹ Hazzard đã tiếp quản việc cho Hughie ăn, bà chẳng buồn để tâm đến ai khác ngoài thằng bé. Cứ mỗi lần nó ăn được một mồm đầy là lại có tràng ngợi khen.
Cô đã mở cái tờ giấy để gập bên trong ra. Chỗ hoa được đặt chắn tầm nhìn, giấu đi đôi tay run rẩy của cô. Nó thật trống trải, thật phí phạm, chẳng có mấy chữ. Chỉ có một dòng duy nhất chạy ngang giữa tờ giấy, chỗ có nếp gấp.
“Cô đang làm gì ở đây?”
Cô có thể cảm thấy ngực mình co thắt lại. Cô cố gắng ghìm hơi thở chợt trở nên gấp gáp, bất thường của mình, nếu không sẽ làm lộ hết mọi thứ mất.
Mẹ Hazzard đang chìa đĩa ra cho Hughie xem. “Hết sạch rồi này. Hughie ăn hết rồi! Đi đâu cả rồi nhỉ?”
Cô đã đặt nó vào lòng. Cô xoay xở đút được nó vào trong phong bì, và gập lại, một lần, rồi thêm lần nữa, cho đến khi nó lọt vừa trong lòng bàn tay của cô.
Nếu như có thêm một bức nữa thì chắc chắn mình sẽ mất kiểm soát. Và nó đây rồi, cái bức nữa đây rồi.
Cô có thể cảm thấy sự tự chủ của mình đang dần mất đi và không thể biết được khi nó mất hết rồi thì chuyện kinh khủng gì sẽ xảy ra. Mình phải ra khỏi căn phòng này, cô tự cảnh báo bản thân. Mình phải rời khỏi cái bàn này - ngay lập tức - nhanh chân lên!
Cô bất chợt đứng dậy, hơi loạng choạng vì vấp phải ghế. Cô quay người và rời bàn, không hở lấy nửa lời.
“Patrice, con không muốn uống cà phê à?”
“Con sẽ xuống ngay,” cô nghẹn giọng nói từ phía bên kia cánh cửa. “Con quên mất một thứ.”
Cô lên trên tầng, vào phòng mình và đóng cửa lại.
  Chẳng khác nào vỡ đập. Cô không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Cô cứ ngỡ là sẽ có nước mắt, hay tiếng cười hoang dại chóe tai. Không phải cả hai. Thứ xuất hiện là cơn giận, một cơn thịnh nộ cực điểm, mù quáng, khó hiểu và bất lực.
Cô ra chỗ bức tường và giơ nắm tay đập lia lịa lên nó, cao phía bên trên đầu. Và rồi cô đi sang bức tường tiếp theo, lại một bức tường tiếp theo và bức tường tiếp theo nữa, như một người tìm chỗ xả cơn, quẫn trí gào lên, “Mi là ai cơ chứ? Mi gửi mấy bức thư này từ đâu? Sao mi không chường mặt ra? Sao mi không chường mặt ra giữa thanh thiên bạch nhật? Sao mi không chường mặt ra nơi ta có thể nhìn thấy? Sao mi không chường mặt ra và cho ta cơ hội chống trả?”
Thế rồi cuối cùng cô cũng dừng lại, kiệt quệ và thở hồng hộc vì đã để cảm xúc tuôn trào. Liền sau đó, cô chợt trở nên kiên định. Chỉ có duy nhất một cách để chống trả, chỉ có một cách duy nhất cô có thể làm để các đòn tấn công này không còn khả năng làm hại cô được nữa...
Cô hất mở cửa ra. Cô lại đi xuống cầu thang. Mắt vẫn ráo hoảnh như lúc đã lên trên này. Cô đi rất nhanh, mau chân lướt xuống. Cô vẫn còn nắm nó trong tay. Cô mở nó ra, cho nó về với kích thước cũ và vừa đi vừa vuốt phẳng nó.
Cô quay lại phòng ăn, vẫn với dáng đi như ban nãy đã đi trên cầu thang.
“... uống hết sữa như một cậu bé ngoan,” Mẹ Hazzard đang nựng thằng bé.
Patrice nhanh chóng đi vòng qua bàn về phía bà, dừng lại bên cạnh bà.
“Con muốn cho mẹ xem thứ này,” cô nói gọn lỏn. “Con muốn mẹ xem thứ này.”
Cô đặt nó ngay ngắn xuống bàn, trước mặt bà và đứng đợi.
“Đợi một lát nhé, con yêu; để mẹ tìm kính đã,” Mẹ Hazzard nhẹ nhàng nói. Bà mò tìm giữa những thứ đồ ăn sáng. “Mẹ nhớ có mang chúng theo lúc cha còn ngồi đây mà; hai chúng ta đều đọc báo.” Bà nhìn về cái tủ đựng bát đĩa ở phía bên kia.
Cô đứng đó đợi. Cô nhìn sang Hughie. Thằng bé vẫn đang cầm thìa, toàn bộ nắm tay siết lại đầy tham lam. Thằng bé vui vẻ vẫy thìa về phía cô. Mái ấm. Thật thanh bình.
Bất chợt cô thò ra chỗ mình hay ngồi bên bàn, nhặt lấy tờ rơi quảng cáo cửa hàng bách hóa vẫn đang nằm đó, thế chỗ bức thư.
“Nó đây rồi, dưới khăn ăn của mẹ. Nằm ngay phía trước mặt mẹ nãy giờ.” Mẹ Hazzard chỉnh lại cặp kính, rồi quay về phía cô. “Nào, con yêu, có chuyện gì thế?” Bà mở cái phong bì ra và đọc nó.
Patrice chỉ tay. “Cái mẫu này này, ngay đây. Mẫu đầu tiên ấy. Trông nó... hấp dẫn quá mẹ nhỉ?”
Sau lưng cô, nằm trong một bàn tay, chính là bức thư bị giấu biến. Nó chậm rãi bị bóp nát, xẹp lại, bị ngón tay cô nén cho mất dạng.
 
 
 
Chương 29

Lặng lẽ và khéo léo, cô di chuyển quanh căn phòng lờ mờ sáng, hết đi tới lui, rồi lại lui tới, tay ôm đầy đồ đạc lấy từ ngăn tủ. Hughie nằm ngủ trong cũi, còn đồng hồ thì đã chỉ gần 1 giờ sáng.
Chiếc va li đang mở trên ghế. Ngay cả chiếc va li ấy cũng không phải của cô. Chiếc va li này cô lần đầu sử dụng trên chuyến tàu đi đến đây, trông vẫn mới, chính là chiếc va li có chữ 'PH' trên cái góc bo tròn. Cô sẽ phải mượn nó. Giống như cô mượn mấy bộ đồ mình đang chọn bừa, để cho vào va li. Giống như cô mượn chính cái bộ đồ mình đang mặc trên người. Trong số những thứ đang ở cùng cô trong căn phòng này, chỉ có hai thứ thực sự thuộc về cô. Đứa bé đang lặng lẽ ngủ trong cũi. Và số tiền mười bảy xu để rải rác trong một mẩu giấy đặt trên nóc tủ.
Cô chủ yếu mang theo đồ cho thằng bé. Những món đồ thằng bé cần, những món đồ để giữ ấm cho thằng bé. Họ sẽ không phiền đâu, họ sẽ không để bụng chuyện ấy đâu; cũng như mình, họ rất yêu thương thằng bé, cô rầu rĩ lập luận. Động tác của cô trở nên hối hả hơn, như thể nếu nấn ná suy nghĩ về chuyện kia quá lâu thì cô sẽ trở nên nhụt chí.
Cô mang theo rất ít đồ dùng cá nhân, chỉ lấy những thứ hết sức thiết yếu. Đồ lót, vài đôi tất...
Toàn quần áo với quần áo. Nó có nghĩa lý gì, khi toàn bộ thế giới của cô đang vỡ vụn ra và sụp đổ xung quanh cô? Thế giới của cô ư? Đây không phải thế giới của cô, đây là thế giới mà cô không có quyền ở lại.
Cô đóng nắp va li lại, nôn nóng kéo chốt khóa những thứ nó chứa bên trong, không buồn quan tâm bên trong có đủ đồ không, quá nhiều, hay quá ít. Một món đồ bị kẹt lại, tạo thành một cái lưỡi nhỏ màu trắng ló ra ngoài qua mép va li, và cô cứ để mặc nó như thế.
Cô đội mũ và khoác chiếc áo choàng đã vắt sẵn ở cuối giường. Cô đội mũ lên mà không buồn nhìn vào gương ngắm nghía, mặc dù có một chiếc gương ngay cạnh vai cô. Cô nhấc túi xách, thò tay vào trong mò mẫm. Cô lôi ra một chiếc chìa khóa, chìa khóa của căn nhà này và đặt nó lên tủ quần áo. Thế rồi cô lôi ra một ví tiền nhỏ và lắc các thứ bên trong ra. Một cục tiền gấp chồng vào nhau trông như khối bắp cải lặng lẽ rơi ra, cùng một mớ tiền xu. Riêng chỗ tiền xu thì phát tiếng leng keng, có mấy đồng lăn tứ tung. Cô gom chúng lại, rồi đặt trên nóc tủ quần áo. Sau đó cô nhặt mười bảy xu lên và bỏ vào trong cái ví, thay thế mớ tiền kia, rồi đặt vào trong túi xách, kẹp nó xuống dưới tay.
Xong xuôi, cô đến bên chiếc cũi, hạ một bên thành của nó xuống. Cúi xuống ngang tầm gương mặt bé nhỏ đang say ngủ, cô nhẹ nhàng hôn lên mí mắt của nó. “Một phút nữa mẹ sẽ quay lại đón con,” cô thì thầm. “Mẹ phải mang va li này xuống trước, đặt cạnh cửa. Mẹ e là mình không thể xoay xở đưa cả con và va li xuống cầu thang kia được.” Cô đứng thẳng dậy, nấn ná một lúc, nhìn thằng bé. “Con và mẹ sẽ cùng nhau đi một chuyến; chúng ta không biết mình sẽ đi đâu, và cũng không cần quan tâm. Đi thẳng ra khỏi đây, dọc theo đường tàu. Dọc đường chúng ta sẽ tìm được ai đó cho chúng ta ở nhờ...”
Đồng hồ đã báo quá 1 giờ sáng.
  Cô đi ra cửa, nhẹ nhàng mở ra, và đem theo chiếc va li ra ngoài. Cô đẩy cánh cửa đóng lại sau lưng, rồi bắt đầu xuống cầu thang, tay cầm va li, rề rà vô cùng tận, như thể nó nặng khủng khiếp. Ấy nhưng một mình chiếc va li thì không thể kéo trĩu tay cô xuống như thế được, vậy nên chắc hẳn nguyên nhân là do trái tim nặng như cục chì của cô.
Bất chợt cô dừng phắt lại, để chiếc va li nằm im trên bậc thang bên cạnh mình. Họ đang đứng đó, không một tiếng động, dưới chỗ cô, cạnh cửa trước, có hai người. Cha Hazzard và bác sĩ Parker. Từ nãy đến giờ cô chẳng nghe thấy tiếng họ, bởi họ chẳng nói năng gì cả. Hẳn bấy giờ đang là khoảnh khắc im lặng buồn rầu, diễn ra ngay trước khi khách về.
Thế rồi họ phá vỡ im lặng, trong lúc cô đứng đó, không bị ai phát hiện, bên trên khúc quanh của cầu thang.
“Được rồi, chúc ông ngủ ngon, Donald,” cuối cùng vị bác sĩ nói, và cô thấy ông ta đặt tay lên vai của Cha Hazzard an ủi, sau đó lại để nó nặng nề buông xuống. “Ông cố chợp mắt đi. Bà ấy sẽ không sao đâu.” Ông ta mở cửa, rồi nói thêm, “Nhưng từ nay hãy tránh gây phấn khích, tránh gây ra bất cứ căng thẳng nào, ông hiểu điều đó chứ, Donald? Đó sẽ là việc ông phải làm, giữ cho tất cả những thứ ấy tránh thật xa khỏi bà ấy. Tôi có thể trông cậy vào ông chứ?”
“Ông có thể trông cậy vào tôi,” Cha Hazzard buồn bã nói.
Cánh cửa đóng lại, và ông quay đi, bắt đầu đi lên cầu thang, đến nơi cô đang đứng như chôn chân. Cô bước xuống một, hai bậc, vòng qua đoạn quành để gặp ông, để chiếc va li lại đằng sau, mũ và áo choàng đã bị quẳng phủ lên trên.
Ông ngước lên và nhìn thấy cô, không tỏ vẻ gì bất ngờ lắm, không tỏ vẻ gì ngoại trừ nét buồn bã lầm lì.
  “Ô, ra là con, Patrice,” ông đờ đẫn nói. “Con có nghe thấy ông ấy nói gì không? Con có nghe thấy ông ấy vừa nói gì không?”
“Ai vậy cha... Là mẹ sao?”
“Bà ấy lại lên cơn đau tim ngay sau khi chúng ta đi ngủ. Bác sĩ đã ở cùng bà ấy hơn một tiếng rưỡi. Mới đầu ta không thể nào đoán được chuyện gì sẽ xảy ra, trong vài phút liền.”
“Nhưng cha ơi! Tại sao cha không.?”
Ông ảo não ngồi xuống bậc cầu thang. Cô ngồi xuống cạnh ông, quàng tay quanh vai ông.
“Tại sao cha lại phải làm phiền con, hả con? Chẳng có gì con có thể. Con đã chăm đứa bé cả ngày, con cần được nghỉ ngơi. Và ngoài ra, chuyện này chẳng có gì mới cả. Tim bà ấy đã yếu từ xưa rồi. Từ tận cái hồi trước khi sinh hai cậu con trai.”
“Con không hề biết chuyện này. Cha chưa bao giờ nói cho con nghe. Nhưng bệnh tình của mẹ đang xấu đi ạ?”
“Càng già đi thì mấy chuyện kiểu đó càng không khá khẩm lên được,” ông nhẹ nhàng nói.
Cô để đầu nghiêng lên vai ông, cảm thấy áy náy.
Ông vỗ lên tay cô đầy an ủi. “Bà ấy sẽ không sao đâu. Chúng ta sẽ đảm bảo rằng bà ấy được khỏe mạnh, con và cha, hai chúng ta, phải vậy không?”
Nghe đến đó, cô bất giác hơi run rẩy.
“Có điều chúng ta phải che chở không cho bà ấy bị sốc hay buồn khổ gì,” ông nói. “Con và cậu nhóc kia, đối với bà ấy, hai đứa là liều thuốc hữu hiệu nhất trên đời. Chỉ cần hai đứa bọn con ở bên.”
Và nếu sáng ra, bà muốn gặp Patrice, muốn gặp đứa cháu nội của mình, và ông phải báo với bà. Cô trở nên im lặng bất thường, nhìn xuống những bậc thang dưới chân họ, nhưng không còn ý thức được gì về chúng nữa. Nếu như cô ra khỏi phòng chỉ muộn năm phút thôi, vừa suýt soát để lỡ mất ông bác sĩ đúng lúc ông ta rời đi, có khi cô đã rước tử thần vào ngôi nhà này để báo đáp bao yêu thương mình đã được hưởng. Giết người mẹ duy nhất mà cô từng biết.
Ông hiểu nhầm vẻ lơ đễnh của cô, và đưa tay nắm lấy cằm cô. “Nào, con đừng có phản ứng như thế; bà ấy không muốn con như thế đâu, con biết mà. Và Pat này, đừng để bà ấy biết là con đã phát hiện ra chuyện này. Hãy cứ để bà ấy tưởng đây là bí mật giữa bà ấy và cha. Cha biết như vậy bà ấy sẽ thấy hạnh phúc hơn.”
Cô thở dài thườn thượt. Hơi thở dài ấy tượng trưng cho một quyết định, cho sự đầu hàng điều không thể tránh. Cô quay sang, nhẹ hôn lên đầu và vuốt tóc ông vài lần. Thế rồi cô đứng dậy.
“Con lên nhà đây,” cô lặng lẽ nói. “Cha dành ra một phút xuống tắt đèn hành lang bên dưới nhé.”
Ông Hazzard quay xuống dưới. Cô nhấc chiếc va li, áo choàng và chiếc mũ lên, lặng lẽ mở cửa phòng mình.
“Chúc con ngủ ngon nhé, Patrice.”
“Chúc cha ngủ ngon, sáng mai con sẽ gặp lại cha.”
Cô mang chúng theo cùng, đóng cửa lại, và trong khoảng tối bên kia cánh cửa, cô đứng im nguyên một phút. Một lời cầu nguyện im lặng, nghẹn ngào dấy lên trong lòng cô.
Xin hãy ban cho con sức mạnh, bởi vì giờ con đã hiểu là con chẳng thể chạy đi đâu được nữa. Cuộc chiến sẽ phải diễn ra ở đây, ngay tại nơi con đang đứng, và con thậm chí chẳng dám gào lên.
 
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Chương 30

Thế rồi bỗng nhiên chúng ngưng xuất hiện.
Không có thư nữa. Không bức thư nào được gửi đến nữa. Ngày trở thành tuần, tuần trở thành tháng. Một tháng kéo dãn thành hai. Và không có bức thư nào được gửi đến nữa.
Cứ như thể cô đã giành chiến thắng trong trận chiến kia mà không phải ra đòn nào. Không, cô biết sự tình không phải như thế; cứ như thể trận chiến đã bị tạm hoãn, đã bị đình lại, thuận theo ý muốn của kẻ địch gian xảo, lẩn khuất.
Cô vớ bừa lấy mọi manh mối - mọi manh mối có thể giúp cô hiểu được sự tình - và tất cả đều vô dụng.
Mẹ Hazzard nói, “Hôm nay Edna Harding vừa quay về; mấy tuần qua, con bé đi thăm bố mẹ ở Philadelphia.”
Nhưng không có thêm bức thư nào nữa.
Bill nói, “Hôm nay em vừa gặp Tom Bryant; anh ta bảo em là bà chị Marilyn vừa mới ốm liệt giường vì viêm màng phổi; hôm nay là lần đầu tiên chị ấy ra được khỏi giường.”
“Thảo nào chị có cảm tưởng dạo này chẳng thấy chị ấy đâu nữa.”
Nhưng không có thêm bức thư nào nữa.
Caulfield: Dân số 203.000 người, cô nghĩ thầm. Điều này được ghi trong cuốn atlas ở phòng đọc sách. Và mỗi người ở đây đều có hai tay. Một tay để hạ cái nắp hộp thư xuống, ở một góc khuất bí mật tăm tối nào đó; tay còn lại lẹ làng, lén lút bỏ một phong bì qua khe hở.
Không có thêm bức thư nào nữa. Ấy nhưng bí ẩn vẫn còn nguyên. Chuyện đó là sao? Ai đứng đằng sau? Hoặc nói cho chuẩn xác hơn, cái chuyện hồi đó là sao? Ai là kẻ đứng sau?
Ấy nhưng bằng cách nào đó, sâu thẳm trong trái tim mình, cô biết dùng thì hiện tại vẫn là chuẩn, còn các thì khác sẽ không hợp. Những chuyện như thế không tự nhiên xảy ra và sau đó đột ngột dừng lại. Chúng hoặc không bao giờ bắt đầu, hoặc sẽ tiếp diễn cho tới khi đến được hồi kết đầy kinh hoàng, đầy hủy diệt.
Nhưng bất chấp điều ấy, cảm giác an toàn vẫn rón rén quay lại phần nào; nó đã từng bị dọa cho chạy mất và không còn mạnh mẽ như hồi trước nữa, chỉ dám ngập ngừng bò về với cô tí xíu thôi.
Sáng ra, thế giới trông nửa ngọt ngào, nửa cay đắng, và dường như đang nín thở, chờ đợi xem tiếp theo sẽ thế nào...

 
 
 
Chương 31

Mẹ Hazzard gõ cửa ngay khi cô vừa mới cho Hughie ngủ. Chuyện này không có gì bất thường cả, đêm nào cũng diễn ra, chỉ là bà muốn lén hôn bé thêm một cái trước khi đèn đóm tắt hết. Tuy nhiên, tối nay, có vẻ bà muốn nói chuyện với Patrice. Và bà không biết phải mở lời thế nào.
Bà nấn ná ở lại sau khi đã hôn thằng bé và thành bên cái cũi đã được nhấc về vị trí cũ. Bà đứng đó, có phần ngập ngừng, khiến cho cô không thể tắt đèn.
Một khoảnh khắc lúng túng bao trùm.
“Patrice này.”
“Sao thế, mẹ?”
Bất chợt bà nói hết ra. “Bill muốn đưa con đi khiêu vũ ở Câu lạc bộ Đồng quê tối nay. Nó đang đợi con ở dưới kia.”
Patrice bị bất ngờ đến mức mãi một lúc cô không đáp lời được, chỉ đứng đó nhìn bà.
“Nó bảo mẹ lên đây và hỏi xem con có muốn đi cùng không.” Thế rồi bà vội vã nói tiếp, như thể đang tìm cách lấy số lượng từ ngữ nài ép cô, “Con biết đấy, ở đó, người ta chỉ tổ chức mỗi tháng một lần, và Bill sắp đi tham dự, thường thì nó vẫn hay đi, và... sao con không diện đồ vào và đi cùng nó?” Bà chốt lại với giọng nịnh nọt.
“Nhưng con. con,” cô lắp bắp.
  “Patrice, không sớm thì muộn con cũng sẽ phải bắt đầu lại. Không là không tốt cho con đâu. Dạo này trông con không được khỏe. Cả nhà đều lo lắng cho con. Nếu có gì đó làm con buồn phiền... Con cứ nghe lời mẹ nói đi, con yêu.”
Điều này nghe có vẻ như một mệnh lệnh. Hoặc gần với mức mệnh lệnh nhất mà Mẹ Hazzard có thể đưa ra. Trong khi ấy, bà đã mở cửa và nhìn vào trong tủ đồ để giúp cô. “Bộ này thì sao?” Bà lôi thứ gì đó xuống, ướm nó vào người cho cô xem.
“Con không có nhiều.”
“Hợp với con đấy.” Nó bay vèo lên giường. “Người ta không ăn mặc quá nghiêm túc ở đó đâu. Mẹ sẽ bảo Bill mua cho con một bông phong lan hay dành dành trên đường đi, thế là đủ khiến nó đẹp hơn rồi. Tối nay con cứ đi và cảm nhận. Con sẽ dần quen lại thôi.” Bà mỉm cười trấn an cô. “Con sẽ được chăm sóc tử tế.” Bà vỗ lên vai cô và quay ra ngoài. “Thế mới là con ngoan chứ. Mẹ sẽ bảo với Bill là con đang chuẩn bị.”
Một thoáng sau, Patrice nghe thấy bà từ trên cầu thang nói vọng xuống báo cho Bill, không buồn điều chỉnh lại thanh âm giọng nói, “Câu trả lời là có. Mẹ đã dụ nó đồng ý rồi. Và con nhớ tử tế với con bé đấy, chàng trai trẻ, nếu không sẽ không xong với mẹ đâu.”
Lúc cô xuống tầng dưới, anh đã đứng đợi sẵn trong nhà.
“Chị trông ổn chứ?” cô do dự hỏi.
Anh bỗng trở nên lúng túng hẳn. “Ôi, em. em không biết tối đến trông chị lại có thể đẹp đến thế,” anh ngắc ngứ nói.
Mới đầu, trên đường lái xe, hai người họ đều cảm thấy ngượng ngập, cứ như thể tối nay là lần đầu tiên họ gặp nhau. Nó rất khó nhận biết, nhưng vẫn hiện diện trong xe cùng với họ. Anh bật đài lên. Nhạc nhảy ngân vang, dội vào mặt họ. “Để cho chị có hứng,” anh nói.
Anh dừng lại, ra khỏi xe và quay lại cùng với bông phong lan. “Bông to nhất mạn Bắc Venezuela đấy,” anh nói. “Hoặc một nơi nào đó.”
“Đây, gài lên cho chị đi.” Cô chọn lấy một chỗ. “Ngay chỗ này này.”
Bất chợt, vì một lý do lạ thường nào đó, anh chùn tay. Gần như lùi hẳn người lại. “Ồ không, chị tự làm đi,” anh nói, và như cô nhận thấy thì có phần mạnh bạo hơn mức cần thiết.
“Có khi em lại đâm vào tay mình mất,” anh để thêm một câu ngớ ngẩn sau khi cân nhắc. Phần nào hơi quá muộn.
“Ôi, cái đồ nhát chết này nữa.”
Lúc anh mới đặt bàn tay đáng ra sẽ cầm ghim gài cho về lại vô lăng, cô để ý thấy nó có chút run rẩy. Thế rồi nó trấn tĩnh lại.
Họ lái xe đi nốt chặng đường. Phần đường còn lại chủ yếu dẫn qua vùng đồng quê quang đãng. Trên đầu là những vì sao.
“Chị chưa bao giờ nhìn thấy nhiều sao thế này!” Cô trầm trồ.
“Có khi là tại bấy lâu nay chị chưa ngước đầu lên đủ,” anh nhẹ nhàng nói.
Đến cuối chặng đường, ngay trước khi đến nơi, anh thoáng trở nên dịu dàng bất thường. Anh thậm chí còn cho xe chạy chậm lại một chút và quay sang phía cô.
“Em muốn tối nay chị được vui, Patrice à,” anh nói chân thành. “Em muốn chị cảm thấy hết sức vui vẻ.”
Một khoảnh khắc im lặng xuất hiện giữa hai người, thế rồi họ lại tăng tốc.

 
 
 
Chương 32

Và tiếp theo, ngay sau bài vừa rồi, giai điệu được chơi là Ba từ nhỏ bé. Về sau cô nhớ như vậy. Cô nhớ cái điều không mấy quan trọng ấy, cái giai điệu được chơi vào lúc ấy. Cô nhảy điệu này cùng với Bill. Thực ra thì tất cả các điệu cô đều nhảy cùng anh, liên tục như thế, kể từ lúc họ đến đây. Cô không nhìn đi đâu, không ngó nghiêng xung quanh, cô chẳng nghĩ đến điều gì khác ngoài hai người bọn họ.
Vừa mỉm cười đầy mơ màng, cô vừa nhảy. Suy tư của cô cứ như một con lạch nhỏ, chảy vội vã nhưng vẫn nhẹ nhàng trên những viên đá cuội vô hại, đuổi theo tiếng nhạc ngân nga.
Mình thích nhảy với anh ấy. Anh nhảy rất giỏi, mình không phải liên tục dè chừng chân. Anh ấy đang quay mặt về phía mình và nhìn mình; mình có thể cảm nhận được đều ấy. Được rồi, mình sẽ ngước lên nhìn anh, sau đó anh ấy sẽ mỉm cười; nhưng mình sẽ không mỉm cười đáp lại. Xem này. Đó, mình biết ngay mà. Mình sẽ không mỉm cười lại. Mà thôi, nếu cười thì có sao đâu? Miệng mình chợt nhoẻn ra trước khi kịp ngăn nó lại. Sao mình lại không nên mỉm cười với anh ấy cơ chứ. Đấy là tình cảm mình dành cho anh; yêu mến tươi cười.
Từ phía sau, một bàn tay chạm lên vai Bill. Từ phía mình, cô có thể thấy mấy ngón tay trượt xuống trong tích tắc, nhưng không thấy bàn tay hay cánh tay hoặc người sở hữu chúng.
  Một giọng nói vang lên, “Cho phép tôi nhảy điệu này nhé?”
Và họ bất chợt dừng lại. Bill đã dừng lại, cả cô cũng thế.
Tay anh buông cô ra. Xuất hiện một chuyển động tráo đổi, Bill bước sang bên, và thế chỗ của anh là một người khác. Trông cứ như một bức ảnh bị phơi sáng hai lần, khiến cho người này tan biến, hòa vào người kia.
Mắt họ giao nhau, mắt cô và cặp mắt của người mới đến. Mắt của hắn đã đợi mắt cô bấy lâu nay và mắt cô đã ngu xuẩn nhìn vào mắt hắn. Giờ chúng không thể dịch chuyển đi đâu được nữa.
Phần còn lại là nỗi kinh hoàng, đậm đặc và nguyên chất. Một nỗi kinh hoàng cô chưa từng nghĩ mình có thể trải nghiệm. Nỗi kinh hoàng dưới ánh đèn. Tử thần trên sàn nhảy. Người cô vẫn đứng thẳng, nhưng thực chất cô cảm thấy cái chết đang tràn ngập bên trong.
“Tôi là Georgesson,” hắn ta thì thầm với Bill, không chút nao núng. Môi hắn gần như không động đậy. Mắt hắn không dứt ra khỏi mắt cô.
Bill hoàn tất màn chào hỏi lố bịch đầy kinh khủng này. “Đây là cô Hazzard, thưa anh Georgesson.”
“Rất hân hạnh được làm quen với cô.” Hắn nói.
Không hiểu sao câu nói sáo rỗng đó nghe còn kinh dị hơn cuộc gặp mặt ban nãy. Tâm can cô câm nín gào lên đầy hoảng loạn, môi cô khóa kín, thậm chí không nói được tên của Bill và ngăn cuộc chuyển giao này lại.
“Anh cho phép tôi chứ?” Georgesson nói, Bill gật đầu, và cuộc chuyển giao được hoàn tất; đã quá muộn.
Thế rồi trong một khoảnh khắc, cô được trời ban cho chút ân xá. Cô cảm thấy tay hắn ôm lấy mình, mặt cô gục vào cái bóng của bờ vai hắn, và cô lại nhảy tiếp. Cô không còn phải đứng thẳng người, không phải chống trụ. Vậy là đỡ hơn rồi. Một phút để suy nghĩ. Một phút để lấy lại hơi.
Tiếng nhạc lại nổi lên, điệu nhảy của họ lại tiếp tục. Khuôn mặt Bill chìm vào trong đám đông.
“Chúng ta từng gặp nhau rồi, đúng không?”
Đừng để con bất tỉnh, cô cầu khẩn, đừng để con gục ngã.
Hắn chờ đợi câu trả lời.
Đừng nói gì cả, đừng đáp lời hắn.
“Ban nãy anh ta nói cô là ai ấy nhỉ?”
Chân cô loạng choạng, bước hụt.
“Đừng bắt tôi phải tiếp tục nhảy, tôi không thể. Hãy cho tôi... đi đâu đó bên ngoài. không là tôi sẽ.”
“Trong này quá ấm với cô à?” hắn lịch sự hỏi.
Cô không đáp. Tiếng nhạc đã chết lặng đi. Cô đã chết lặng đi.
Hắn nói, “Ban nãy cô vừa bước lệch. Tôi e là do lỗi của tôi.”
“Không.,” cô lí nhí. “Không.”
Tiếng nhạc dừng lại. Họ cũng dừng lại.
Cánh tay hắn rời khỏi lưng cô, nhưng bàn tay hắn vẫn giữ chặt quanh cổ tay cô, giữ cô ở bên mình một lúc.
Hắn nói, “Có một sân hiên bên ngoài. Đằng kia, theo hướng đó.
Tôi sẽ ra đó và đợi cô, chúng ta có thể. bắt đầu trò chuyện.”
Cô gần như chẳng ý thức được mình đang nói gì. “Tôi không thể. Anh không hiểu.” Cổ cô không chịu giữ im; đầu cô cứ tiếp tục tìm cách ngoẹo lả xuống.
“Tôi nghĩ rằng mình hiểu. Tôi nghĩ mình hiểu rất rõ. Tôi hiểu cô, và cô cũng hiểu tôi.” Thế rồi hắn bổ sung thêm, nhấn nhá đầy ghê rợn, khiến cô rét buốt tận cốt tủy, “Tôi cá là chúng ta hiểu nhau rõ hơn bất kỳ cặp đôi nào khác hiện đang có mặt trong phòng này.”
Từ ngoài lề sàn nhảy, Bill đang bước về chỗ họ.
“Tôi sẽ ra chỗ đó trước. Đừng bắt tôi phải đợi quá lâu, không là... tôi buộc phải quay vào đây và tìm cô.” Sắc mặt hắn không biến đổi. Trong giọng hắn không biến đổi. “Cảm ơn đã cho phép tôi nhảy điệu này nhé,” hắn nói lúc Bill đến.
Hắn không buông cổ tay cô ra; hắn chuyển nó sang tay của Bill, như thể cô là thứ đồ vật vô tri vô giác, một con búp bê, và cúi chào, quay đi, rời khỏi chỗ họ.
“Em từng thấy anh ta ở đây vài lần rồi. Em đoán anh ta đến đây một mình.” Bill nhún vai cho qua chuyện. “Chúng ta nhảy thôi nào.”
“Không phải điệu này. Để điệu tiếp theo đi.”
“Chị có sao không? Trông chị tái nhợt kìa.”
“Do ánh sáng đấy. Chị đi dặm phấn đây. Em cứ nhảy với ai khác đi.”
Anh mỉm cười với cô. “Em không muốn nhảy với ai khác.”
“Vậy thì em hãy đi đâu đó và. và lát nữa quay lại sau. Để điệu tiếp theo đi!”
“Thế thì điệu tiếp theo vậy.”
Cô dõi theo anh từ bên ngoài khung cửa. Anh ra phía trước, tiến về quầy rượu. Cô quan sát anh vào trong đó. Cô thấy anh ngồi xuống một chiếc ghế cao. Thế rồi cô quay người và đi về hướng ngược lại.
Cô chậm rãi bước ra chỗ mấy cánh cửa dẫn ra bên ngoài, dẫn vào sân hiên, và đứng bên một cánh cửa, nhìn vào màu xanh như mực bút của màn đêm. Có mấy cái ghế liễu đan, xếp theo những nhóm hai, ba chiếc, cách nhau vài mét, bao quanh các bàn nhỏ.

Một đốm tròn đỏ của điếu xì gà nằm vuông góc trên một chiếc bàn, tít tận cuối sân, hách dịch triệu hồi cô đến. Thế rồi nó bay ngang qua lan can, bị vứt bỏ trong lúc ngóng đợi nôn nóng.
Cô bước chậm ra phía đó, với cái cảm giác kỳ lạ là mình đang dấn thân vào một hành trình mà vĩnh viễn không có đường về. Chân cô như muốn cắm rễ xuống đất, tự ghì cô đứng lại.
Cô dừng lại trước mặt hắn. Hắn tì hông lên lan can và ngồi đó nghiêng mình, tỏ vẻ suồng sã rất bất lịch sự. Hắn lặp lại điều ban nãy đã nói. “Anh ta nói cô là ai ấy nhỉ?”
Những vì sao đang dịch chuyển. Chúng đang quay theo những điệu xoắn ốc khác thường như những chiếc chong chóng nhòe khắp trên bầu trời.
“Anh đã bỏ rơi tôi,” cô nói với vẻ giận dữ cố kìm nén. “Anh đã bỏ rơi tôi, cùng với năm đô la. Giờ thì anh muốn gì đây?”
“Ồ, vậy ra chúng ta đã từng gặp nhau. Tôi cứ ngờ ngợ là mình đã từng gặp nhau mà. Tôi rất vui khi cô đồng ý với tôi như vậy.”
“Thôi cái trò đấy đi. Anh muốn gì?”
“Tôi muốn gì ấy ư? Tôi không muốn gì hết. Tôi hơi bối rối, chỉ vậy thôi. Tôi muốn làm rõ mọi chuyện. Cái anh chàng trong kia giới thiệu về cô bằng một cái tên sai lệch.”
“Anh muốn gì? Anh đang làm gì ở đây?”
“À, nhắc đến chuyện đó,” hắn nói với giọng lịch sự xách mé, “cô cũng đang làm gì ở đây thế?”
Cô lặp lại câu hỏi ấy lần thứ ba. “Anh muốn gì?”
“Chẳng nhẽ tôi không được phép quan tâm đến cô người yêu cũ và đứa con của mình sao? Không có chuyện biến con cái thành đứa con cũ được đâu.”
“Hoặc là anh bị điên, hoặc là...”
  “Cô biết tôi không điên. Cô chỉ cầu mong như vậy thôi,” hắn tàn nhẫn nói.
Cô quay gót lại. Tay hắn lại nắm lấy cổ tay cô, kéo vụt ra sau như một cây roi. Siết đau cũng chẳng kém gì.
“Đừng có vào trong vội. Chúng ta chưa xong việc đâu.”
Cô dừng lại, lưng cô bấy giờ quay về phía hắn. “Tôi tin là chúng ta hết chuyện để nói rồi.”
“Tôi mới là người có quyền quyết định.”
Hắn buông cô ra, nhưng cô vẫn đứng im chỗ cũ. Cô nghe thấy hắn châm thêm điếu xì gà, thấy ánh phản chiếu vụt lóe lên từ sau vai cô.
Cuối cùng hắn nói, giọng nghẹt khói phì phèo.
“Cô vẫn chưa giải thích hết sự tình,” hắn khẽ nói. “Tôi vẫn luôn thắc mắc. Cái tay Hugh Hazzard này kết hôn với... được... cứ cho là với cô đi, vợ hắn, ở Paris, tính từ ngày 15 tháng Sáu vừa rồi thì là một năm trước. Tôi đã phải bỏ ra rất nhiều tiền và công sức để xác minh ngày tháng trên hồ sơ. Nhưng một năm trước tính từ ngày 15 tháng Sáu vừa rồi thì cô và tôi vẫn đang sống trong căn phòng nhỏ bé ở New York. Tôi có hóa đơn trả tiền thuê nhà làm bằng chứng. Làm sao cô có thể cùng lúc xuất hiện tại hai nơi cách xa nhau như thế?” Hắn thở dài ra vẻ triết lý. “Đã có ai đó nhầm ngày. Hoặc là anh ta nhầm. Hoặc là tôi nhầm.” Sau đó, hắn nói rất chậm rãi, “Hay là cô nhầm.”
Nghe đến đó, cô không khỏi nhăn mặt. Đầu cô chậm rãi quay lại, trong khi người cô vẫn quay lưng với hắn. Như một người vừa bị thôi miên, không cưỡng lại được.
“Có phải chính anh đã gửi.”
Hẳn gật đầu với vẻ hòa nhã đầy móc mỉa, như thể đang được tán dương vì điều gì đáng ca ngợi lắm. “Tôi nghĩ nhẹ nhàng báo tin cho cô thì sẽ tử tế hơn.”
Cô hít vào một hơi, rùng mình buốt lạnh vì ghê tởm.
“Tôi tình cờ thấy tên cô trong danh sách thương vong trên tàu lúc đang ở New York.” Hắn dừng lại. “Cô biết đấy, tôi đã phải chạy đến đó để ‘nhận diện’ cô,” hắn nói tiếp với vẻ tỉnh queo. “Ít nhất cô cũng nên biết ơn tôi về việc đó chứ.”
Hắn trầm ngâm hút điếu xì gà.
“Thế rồi tôi nghe ngóng được tin này, tin kia, và ghép nối chúng với nhau. Ban đầu tôi quay về - lấy mấy hóa đơn thuê nhà với mấy thứ linh tinh khác - rồi cuối cùng, vì tò mò, tôi đi đến đây. Tôi đã rất bối rối,” hắn nói với giọng mỉa mai, “khi biết được phần còn lại của câu chuyện.”
Hắn chờ đợi. Cô không nói gì cả. Cuối cùng có vẻ hắn cảm thấy thương hại cô. “Tôi biết,” hắn nói với giọng độ lượng, “đây không phải là nơi hay thời điểm phù hợp để... ôn lại chuyện xưa. Đây là một buổi tiệc, và cô đang nóng lòng muốn quay vào trong để vui chơi.”
Cô run rẩy.
“Liệu tôi có thể gặp cô ở một nơi khác không nhỉ?”
Hắn lấy ra một quyển sổ, bật lửa lên. Cô lầm tưởng hắn đang đợi nghe cô đọc để viết. Môi cô vẫn cứng đơ như đá.
“382 phố Seneca,” hắn đọc từ quyển sổ. Rồi hắn cất nó đi. Tay hắn lười nhác lia một vòng giữa hai người. Sau khoảng im lặng nặng nề, hắn bình thản đề nghị, “Cô dựa vào cái ghế kia cho khỏi ngã; trông cô có vẻ đứng không vững rồi kìa, và tôi thì không muốn phải bế thốc cô vào trong kia, trước mặt bao nhiêu người.”
Cô đặt tay lên đỉnh cái lưng ghế và đứng đó im lặng, đầu gục xuống.
  Cái khoảng lờ mờ màu hồng pha hổ phách ở chỗ khung cửa giữa sân hiên thoáng bị che khuất, và Bill xuất hiện, tìm cô.
“Chị Patrice, đến điệu nhảy của chúng ta rồi.”
Georgesson dợm đứng dậy khỏi lan can, điệu bộ đáng ngờ, rồi lại lập tức ngồi xuống.
Cô tiến về phía anh, không gian xanh như chiếc khăn liệm của mái hiên giúp cô giấu đi bước chân ngập ngừng lảo đảo, và vào bên trong cùng với anh. Đến đây thì tay anh đỡ lấy cô, thế nên cô không cần phải tự mình đi nữa.
“Hai người cứ đứng đó như tượng vậy,” anh nói.
“Cái anh chàng kia chắc chẳng phải người thú vị.”
Cô lảo đảo dựa vào người anh theo điệu xoắn như dây nho của điệu rumba, đầu cô gục trên vai anh.
“Anh ta chẳng có gì thú vị gì cả,” cô đồng ý, cảm thấy muốn phát bệnh.
 
 

 
Chương 33

Cuộc gọi đến vào một thời khắc hết sức bất tiện.
Hắn căn giờ rất chuẩn. Có nhìn xuyên qua tường và quan sát nhất cử nhất động bên trong căn nhà thì hắn cũng không thể nào căn được giờ chuẩn hơn nữa. Hai người đàn ông trong gia đình đều đã đi ra ngoài. Cô vừa cho Hughie đi ngủ. Cả cô và Mẹ Hazzard đều ở trên tầng hai, khác phòng nhau. Vậy nên cô là người duy nhất có thể trả lời điện thoại.
Ngay lúc nghe thấy tiếng chuông, cô đã biết đây là ai, gọi về chuyện gì rồi. Cô cũng biết mình đã chờ đợi nó cả ngày, cô biết nó sẽ xuất hiện, chắc chắn sẽ xuất hiện.
Cô đứng chôn chân ở đó, không thể di chuyển. Có khi nó sẽ ngừng đổ chuông nếu cô không lại gần, có khi hắn sẽ thấy mệt. Nhưng rồi lúc khác nó sẽ lại đổ chuông.
Mẹ Hazzard mở cửa phòng và nhìn ra ngoài.
Cô liền nhanh chóng mở cửa phòng mình, nơi phía đầu cầu thang, trước khi bà ra hẳn bên ngoài.
“Mẹ sẽ nhận điện thoại, con yêu, nếu con đang bận.”
“Không, không cần đâu, thưa mẹ, đằng nào con cũng sắp xuống dưới tầng, thế nên con sẽ trả lời điện thoại ở dưới nhà.”
Cô nhận ra giọng hắn ngay lập tức. Đã hơn hai năm rồi, cho đến tận đêm qua, cô chưa được nghe lại nó, ấy nhưng nghe nó vẫn quen thuộc như thể đã phải nghe mãi suốt mấy tháng qua. Nỗi sợ làm trí nhớ trở nên nhạy bén hơn hẳn.
Mới đầu hắn tỏ vẻ thờ ơ lịch sự như bất cứ vị khách gọi điện thoại nào khác. “Cho hỏi đây có phải là cô Hazzard trẻ không? Đây là cô Patrice Hazzard phải không?”
“Tôi đang nghe đây.”
“Tôi đoán cô đã nhận ra tôi là Georgesson.”
Cô đã nhận ra, nhưng cô không đáp.
“Cô có... ở chỗ cô có dễ bị người khác nghe lén không?”
“Tôi không có thói quen trả lời những câu hỏi như thế. Tôi cúp máy đây.”
Dường như chẳng có gì có thể khiến hắn mất bình tĩnh. “Đừng làm như thế, Patrice,” hắn lịch thiệp nói. “Tôi sẽ gọi lại. Như thế thì mọi chuyện còn tồi tệ hơn. Người ta sẽ bắt đầu băn khoăn không biết ai mà cứ gọi đi gọi lại liên tục như thế. Hoặc, không sớm thì muộn, ai đó sẽ trả lời điện thoại - cô không thể canh điện thoại cả tối được - và tôi sẽ nêu tên mình ra nếu buộc phải làm thế và yêu cầu gặp cô.” Hắn đợi một phút để cho cô ngấm ý. “Cô thấy không, thế này sẽ tốt cho cô hơn.”
Cô khẽ thở dài, kìm nén cơn giận.
“Chúng ta không thể nói nhiều trên điện thoại. Mà tôi nghĩ tốt nhất cũng chẳng nên làm thế. Tôi đang gọi từ hiệu thuốc của McClellan, cách chỗ cô vài dãy nhà. Xe của tôi đỗ ngay góc quanh gần đó, nơi không ai nhìn thấy được. Ở phía lề đường bên trái phố Pomeroy, ngay sau ngã tư. Cô có thể đi bộ qua đó tầm năm hay mười phút được chứ? Tôi sẽ không giữ chân cô lâu đâu.”
Cô cố gắng giữ giọng lịch sự với hắn. “Chắc chắn tôi không thể làm vậy.”
  “Tất nhiên cô có thể chứ. Cô cần mấy viên nang dầu gan cá cho đứa bé, từ chỗ cửa hiệu thuốc của McClellan. Hoặc cô muốn một lon nước ngọt. Tôi đã thấy cô vào đó hơn một lần lúc chiều tối rồi.”
Hắn đợi.
“Lát nữa tôi gọi lại nhé? Cô có muốn suy nghĩ thêm một lúc nữa không?”
Hắn lại đợi.
“Đừng làm thế,” cuối cùng cô miễn cưỡng nói.
Cô biết hắn hiểu rằng cô ngầm đồng ý chứ không phải từ chối.
Cô cúp máy.
Cô lại lên trên tầng.
Mẹ Hazzard không hỏi gì cô. Trong ngôi nhà này người ta không tọc mạch kiểu như thế. Nhưng cửa phòng bà vẫn để mở. Patrice không dám đi vào phòng mình mà không báo lại một câu. Mới thế này mà lương tâm đã cảm thấy tội lỗi rồi sao?, cô cay đắng tự hỏi.
“Vừa rồi có một người tên là Steve Georgesson, mẹ ạ,” cô gọi với vào. “Bill và con đã gặp anh ta đêm qua. Anh ta muốn biết bọn con hôm trước có vui không.”
“Ôi, cậu ta chu đáo đấy chứ?” Thế rồi bà nói thêm, “Cậu ta hẳn phải là người tử tế thì mới làm như vậy.”
Tử tế lắm đấy! Patrice ủ rũ nghĩ thầm, nhẹ đóng cửa lại sau lưng mình.
Khoảng mười phút sau, cô ra khỏi phòng. Cửa phòng của Mẹ Hazzard đã đóng. Cô có thể đi xuống cầu thang mà không bị ai hỏi han gì cả. Nhưng một lần nữa, cô không thể làm thế.
Cô đi qua phòng bà và nhẹ nhàng gõ cửa, thu hút sự chú ý của bà.
  “Mẹ ơi, con ra hiệu thuốc rồi sẽ về ngay. Hughie hết phấn rôm rồi. Và con muốn hít thở không khí trong lành chút xíu. Con sẽ quay trở về trong năm phút thôi.”
“Con cứ đi đi, con yêu. Bây giờ mẹ chúc con ngủ ngon, phòng khi lúc con về thì mẹ ngủ mất rồi.”
Nguyên một phút, cô tì cánh tay lên cửa đầy bất lực. Cô như muốn nói, Mẹ ơi, đừng để con đi. Hãy cấm con đi. Hãy bắt con ở nhà đi.
Cô quay đầu và bước xuống cầu thang. Đây là cuộc chiến của riêng cô, và cô không thể đùn đẩy cho ai được.
Cô dừng lại cạnh chiếc xe, trên con phố Pomeroy tăm tối.
“Ngồi trong này đi, Patrice,” hắn xởi lởi nói. Hắn mở cửa cho cô, ngồi nguyên tại chỗ, và thậm chí còn đưa tay vuốt lớp đệm da với vẻ trịnh thượng.
Cô ngồi xuống mép xa của chiếc ghế. Mắt cô nhắm lại, từ chối điếu xì gà hắn mòi.
“Chúng ta có thể sẽ bị người khác nhìn thấy.”
“Vậy cô quay về hướng này đi, về phía tôi. Sẽ không ai phát hiện ra cô đâu. Quay lưng ra ngoài phố ấy.”
“Chuyện này không thể tiếp diễn nữa. Giờ anh nói dứt điểm đi, một lần cho xong, anh muốn gì ở tôi, chuyện này là thế nào?”
“Nghe này, Patrice, không việc gì phải làm cho sự tình trở nên khó chịu cả. Có vẻ cô đang tự thêu dệt cho câu chuyện thành ra như thế trong đầu. Tôi không hề... Tất cả đều tùy thuộc vào cách nhìn của cô. Tôi thấy không việc gì phải khiến cho mọi thứ không còn được như trước đây. ý tôi là trước đêm hôm qua. Cô là người duy nhất biết về chuyện hồi trước. Giờ thì cô và tôi là những người duy nhất biết được. Chấm dứt ở đó thôi. Đó là nếu cô muốn như thế.”
  “Anh không đưa tôi ra đây chỉ để nói cho tôi nghe điều này chứ.”
Hắn chuyển sang nói lạc đề. Hoặc có vẻ như đang nói lạc đề.
“Tôi chưa bao giờ trở thành... trở thành người như mình mong muốn, có thể nói là như vậy. Ý tôi là, tôi chưa bao giờ tiến xa được đúng với thực lực của mình. Ngang mức tôi từng kỳ vọng. Có rất nhiều người như thế. Thỉnh thoảng tôi lại gặp khó khăn, thỉnh thoảng tôi lại rơi vào thế bí. Làm vài ván bài với mấy ông bạn. Cứ chuyện này rồi lại chuyện nọ. Cô biết nó là như thế nào đấy.” Hắn cười chế giễu. “Đã kéo dài bao năm nay rồi. Chẳng có gì mới cả. Nhưng tôi đang tính là lần này. không biết cô có thể giúp tôi một chút không.”
“Anh đang hỏi xin tiền tôi.”
Cô cảm thấy buồn nôn. Cô quay mặt đi.
“Tôi không nghĩ những người như anh lại có thể tồn tại ở đâu khác ngoài. nhà tù.”
Hắn cười phá lên với vẻ nhẫn nhịn thân thiện. “Tình cảnh của cô đâu phải bình thường. Nó sẽ thu hút ‘những người như tôi’. Nếu cô không lâm vào tình cảnh này, cô sẽ vẫn tưởng là chẳng có ai như thế cả, cô sẽ chẳng khôn lên được.”
“Giả sử bây giờ tôi đi kể với họ về cuộc trò chuyện ban nãy giữa chúng ta thì sao? Em chồng tôi sẽ tìm anh và cho anh một trận nhừ tử.”
“Chúng ta sẽ vẫn giữ nguyên mối quan hệ này. Tôi chẳng hiểu tại sao đàn bà lại tin tưởng vào việc đánh nhau một cách vô cớ như thế? Có lẽ bởi vì bản thân họ không quen với bạo lực. Một trận đòn không có ý nghĩa gì với đàn ông. Nửa tiếng sau khi nó kết thúc, anh ta sẽ lại tươi tỉnh như lúc đầu.”
“Anh thì biết rõ lắm đấy,” cô lẩm bẩm.
Hắn lấy một ngón tay gõ lên đầu ba ngón khác. “Có ba lựa chọn.
 
Cô đi khai thật với họ. Hoặc tôi khai hết với họ. Hoặc chúng ta giữ nguyên tình trạng hiện giờ. Tôi nói thế tức là, cô làm giúp tôi một việc, sau đó chúng ta buông xuôi tất cả, không nói thêm gì nữa. Nhưng không có lựa chọn thứ tư đâu.”
Hắn khẽ lắc đầu với vẻ chê trách đầy nhẫn nại.
“Cô cứ quan trọng hóa tất cả mọi thứ lên, Patrice à. Đó là dấu hiệu điển hình của sự rẻ tiền. Cô là một cô gái rẻ tiền. Đó là điểm khác biệt căn bản giữa chúng ta. Có thể tôi, theo cách nhìn nhận của cô, là kẻ vô liêm sỉ, nhưng tôi có một phong thái nhất định. Như cách cô hình dung thì tôi sẽ xộc vào đó, vung rộng hai tay đầy khoa trương và gào tướng lên rằng, ‘Cô gái này không phải là con dâu các vị!’ Không hề giống thế một chút nào. Với những người kiểu này thì cách ấy sẽ không hiệu quả. Làm thế sẽ quá đà. Tất cả những gì tôi cần làm là để cho cô tự tố giác chính mình. Trước mặt họ. Cô không thể cấm không cho tôi vào nhà. ‘Patrice này, hồi còn ở Paris với Hugh, cô sống ở bên bờ nào ấy nhỉ, Trái hay Phải?’ ‘Tên của cái con tàu cô quay về là gì ấy nhỉ?’ ‘Này, hồi ở bên đây, cái ngày tôi gặp cô cùng với Hugh - ô, cô quên không nhắc đến chuyện chúng ta đã gặp nhau rồi à, Pat? - tại sao trông diện mạo cô khác hẳn so với ngày trước thế nhỉ? Nhìn cô cứ như một người khác hẳn vậy.’ Cho đến khi cô ngã gục và đầu hàng.”
Hắn sẵn sàng làm chuyện ấy. Hắn có vẻ quá lạnh lùng về chuyện này, và đó mới là điều nguy hiểm. Không nôn nóng, không bốc đồng, không bị cảm xúc che mờ mục tiêu. Mọi thứ đã được lên kế hoạch, trù định, vạch sẵn từ trước. Được phác thảo. Được lập sơ đồ. Mọi đường đi nước bước. Ngay cả mấy bức thư cũng thế. Giờ cô đã hiểu mục đích của chúng rồi. Chúng không phải là thư ác ý gì cả. Chúng nắm giữ vai trò quan trọng trong kế hoạch dài hạn. Chiến tranh tâm lý, chiến tranh thần kinh, làm cô suy sụp trước, đánh gục hàng phòng ngự của cô khi mà đòn tấn công chủ lực thậm chí chưa được tung ra. Chuyến đi New York để điều tra khoảng giữa ấy là để đảm bảo hắn có căn cứ rõ ràng, đảm bảo không có thiếu sót nào, không chừa cho cô kẽ hở nào.
Hắn quẹt cạnh bàn tay trên vành vô lăng, như thể đang phủi đi một hạt bụi. “Trong vụ này không có kẻ đại ác nào đâu. Hãy vứt bỏ cái mớ suy nghĩ thời Victoria đó đi. Đây chỉ là một vụ làm ăn. Thực tình mà nói, nó không khác gì đi lấy tiền bảo hiểm.” Hắn quay sang cô, ra vẻ thẳng thắn mà mới nghe thì cứ ngỡ là tử tế lắm. “Cô có muốn giải quyết chuyện này theo cách thực dụng không?”
“Có lẽ vậy. Có lẽ tôi nên nhượng bộ làm theo cái kiểu của anh.” Cô không buồn thể hiện vẻ khinh bỉ; cô biết dù có thử thì hắn cũng chẳng nhận ra đâu.
“Nếu cô gạt bỏ ba cái thứ quan niệm tù túng về đức hạnh và đê hèn, đen và trắng, toàn bộ chuyện này sẽ đơn giản đến mức thậm chí không đáng để chúng ta bỏ ra mười lăm phút ngồi trong xe như thế này.”
“Tôi không có tiền đâu, Georgesson.” Cô đầu hàng. Khuất phục.
“Họ là một trong những gia đình giàu có nhất thị trấn này, ai cũng biết điều đó. Tại sao cứ phải câu chữ cứng nhắc thế nhỉ? Bảo họ mở một tài khoản ngân hàng cho cô. Cô đâu phải đứa trẻ con.”
“Tôi không thể thẳng thừng hỏi xin họ làm một...”
“Cô không cần hỏi xin thẳng thừng. Còn nhiều cách khác. Cô là phụ nữ, phải không? Dễ thôi mà, phụ nữ sẽ biết cách giải quyết những chuyện như thế này.”
“Bây giờ tôi muốn đi về,” cô nói, mò mẫm đưa tay lần tìm nắm cửa xe.
“Chúng ta hiểu ý nhau rồi chứ?” Hắn mở cửa xe cho cô. “Vài hôm nữa tôi sẽ gọi lại.”
Hắn dừng lại một lúc. Lời đe dọa nhẹ nhàng đến mức thậm chí cái giọng lè nhè lười nhác của hắn không đổi âm sắc.
“Đừng quên đấy nhé, Patrice.”
Cô chui ra ngoài. Tiếng cánh cửa đóng sầm lại là cú tát không chạm mặt đầy ghê tởm cô dành cho hắn.
“Chúc cô ngủ ngon, Patrice,” hắn hòa nhã kéo dài giọng chào cô.

 
 
 
Chương 34

“... Trơn hoàn toàn,” cô nói rất hăng say. “Nó có một cái đai lưng làm cùng chất liệu ấy, và có một hàng khuy bấm chạy đến chỗ này.”
Cô cố ý chỉ nói với Mẹ Hazzard, không để tâm gì đến hai người đàn ông của gia đình. Thật ra thì bản thân chủ đề này cũng đủ để hai người kia ra rìa rồi.
“Trời đất ơi, sao không con mua luôn?” Mẹ Hazzard gặng hỏi.
“Con không thể làm thế,” cô ngại ngần nói. Cô dừng lại một lúc, rồi bổ sung thêm, “Không phải... ngay lúc đó.” Cô ngó ngoáy cái dĩa liên hồi. Và cảm thấy mình thật hèn mọn.
Hẳn họ tưởng rằng biểu cảm trên khuôn mặt cô là sự thất vọng vì thèm muốn. Thực ra không phải. Cô đang tự cảm thấy ghê tởm chính mình.
Cô không can hỏi xin thẳng thừng. Còn nhiều cách khác. Cô là phụ nữ, phải không? Dễ thôi mà, phụ nữ sẽ biết cách giải quyết những chuyện như thế này...
Đây là một trong số các cách giải quyết.
Những người thương yêu mình mới bất lực trước mình làm sao, cô cay đắng nghĩ thầm. Thật xấu xa và tội lỗi biết bao khi phải lợi dụng sự bất lực mà họ tự tạo cho mình. Giống như mình đang làm đây. Lừa lọc, giăng bẫy và dùng mánh khóe, đó là những chiêu trò của người dưng nước lã. Những chiêu trò chỉ nên áp dụng với người lạ. Không phải với những người yêu thương mình; với những người không hề đề phòng mà luôn nhắm mắt đầy tin tưởng. Nó khiến cô nổi gai ốc vì ghê tởm. Cô cảm thấy mình thật bất nhã, dơ bẩn, đáng ghê tởm.
Cha Hazzard chen vào cuộc trò chuyện. “Sao con không bảo người ta tính tiền và gửi nó về nhà luôn? Con dùng tài khoản của mẹ cũng được mà. Bà ấy hay mua đồ ở đó lắm.”
Cô cụp mắt xuống. “Con không muốn làm thế,” cô nói cụt ngủn.
“Ngớ ngẩn...” Bỗng dưng ông im bặt. Cứ như thể vừa bị ai đó đạp chân dưới bàn.
Cô bắt gặp ánh mắt Bill liếc nhìn mình. Ánh nhìn của anh xem chừng lâu hơn mức cần thiết mấy giây. Nhưng trước khi cô kịp xác minh điều ấy, anh đã ngưng lại, và tiếp tục đưa cái dĩa găm đầy nhân bánh lơ lửng ở giữa lên miệng.
“Hình như con nghe thấy tiếng Hughie khóc,” cô nói, đặt khăn ăn xuống và chạy ra chỗ cầu thang nghe ngóng.
Nhưng trong lúc hướng tai lên trên nghe, cô không thể không nghe thấy, trong căn phòng ăn sau lưng mình, Mẹ Hazzard đang nhỏ giọng nói, từ nào nghe cũng đầy vẻ nhiếc móc.
“Donald Hazzard, anh hãy tự hổ thẹn về bản thân đi. Phải nói toạc ra thì đám đàn ông các anh mới hiểu à? Anh không có chút tế nhị nào trong đầu à?”
 
 
 
 
Chương 35

Sáng ra, lúc xuống cầu thang, cô để ý thấy Ocha Hazzard nấn ná lại bàn ăn bàn thay vì sớm rời đi cùng Bill. Ông ngồi lặng lẽ đọc báo trong lúc cô uống nốt cà phê. Và cô cảm thấy thái độ của ông hơi mang nét tự mãn bí ẩn nào đó.
Ông đứng dậy cùng lúc với cô. “Lấy mũ và áo choàng đi, Pat, cha muốn con ra xe cùng cha. Cô gái trẻ này và anh có việc phải xuống khu trung tâm,” ông thông báo với Mẹ Hazzard. Bà cố tỏ vẻ ngẩn người ra vì ngạc nhiên, mặc dù không được thuyết phục lắm.
“Nhưng ai sẽ cho Hughie ăn?”
“Mẹ sẽ cho thằng bé ăn,” Mẹ Hazzard dịu dàng nói.
“Con sẽ về kịp giờ cho thằng bé ăn thôi. Cha chỉ nhờ con tí việc thôi.”
Lúc sau, cô vào xe ngồi cạnh ông, và họ bắt đầu khởi hành.
“Bill tội nghiệp sáng nay phải đi bộ đến chỗ làm à cha?” cô hỏi.
“Bill tội nghiệp cơ đấy!” ông chế nhạo. “Như thế sẽ tốt cho cái tên to xác kia. Nếu cha có đôi chân dài như nó, sáng nào cha cũng sẽ tự đi bộ.”
“Cha đang đưa con đi đâu vậy ạ?”
“Nào, con đừng lo. Đừng hỏi han gì cả. Cứ chờ đến lúc chúng ta tới nơi, khi ấy con sẽ hiểu.”
Họ dừng lại phía trước ngân hàng. Ông ra hiệu bảo cô ra ngoài và dẫn cô vào bên trong. Ông nói gì đó với nhân viên bảo vệ đứng bên cửa, và rồi cùng cô ngồi xuống băng ghế đợi.
Họ chỉ phải đợi trong chốc lát. Sau đó người bảo vệ quay lại với vẻ kính cẩn thấy rõ. Anh ta dẫn họ đi về phía một cánh cửa có đề “Quản lý, Phòng riêng.” Trước khi họ đến nơi thì cửa đã mở sẵn và một người đàn ông thân thiện, dáng người hơi mập mạp, đeo kính gọng sừng đứng đó chào đón họ.
“Vào trong này gặp ông bạn già Harve Wheelock của cha đi,” Cha Hazzard nói với cô.
Họ ngồi xuống mấy chiếc ghế da thoải mái trong văn phòng riêng, và hai người đàn ông cùng hút xì gà.
“Harve, tôi có một khách hàng mới cho ông đây. Đây là vợ của thằng Hugh nhà tôi. Chẳng phải vì tôi thấy cái ngân hàng dơ dáy cũ kĩ của ông tử tế gì cho cam, nhưng mà... ôi, ông biết rồi đấy. Chắc là do thói quen khó bỏ.”
Người quản lý cười rung lên, như thể bọn họ vẫn đùa nhau như thế bao nhiêu năm nay rồi. Ông ta nháy mắt để Patrice hiểu. “Tôi đồng ý với ông. Để tôi bán lại cho ông với giá rẻ bèo nhé?”
“Rẻ cỡ nào?”
“Một phần tư triệu.” Trong khi ấy ông ta điền vào những phần cần thiết trên một tờ đơn, như thể mọi thứ thông tin cần thiết ông ta đều nắm giữ hết, không cần phải hỏi han làm gì.
Cha Hazzard lắc đầu. “Quá rẻ. Thế thì cái ngân hàng này vớ vẩn rồi.” Ông gọn ghẽ đặt một tờ giấy chữ nhật xanh nhạt lên mặt bàn, để nó nằm úp mặt xuống.
“Ông cứ nghĩ kĩ rồi cho tôi biết,” ông quản lý đáp gọn. Và rồi ông ta quay ngược cái bút lại, nói với cô, “Ký vào đây đi cháu.”
Đồ giả mạo! Cô nghĩ thầm đầy khinh miệt. Cô đưa trả tờ giấy, mắt nhìn xuống đất. Tờ giấy xanh nhạt được kẹp cùng với nó và nó được chuyển đi. Một cuốn sổ nhỏ màu đen được mang trở lại thế chỗ cho nó.
“Của cháu đây.” Ông quản lý nhẹ nhàng đưa nó sang bên kia bàn cho cô.
Cô mở nó ra và nhìn vào, trong lúc hai người kia tiếp tục hăng say cãi cự đầy thân thiện, không ai để ý. Trông nó thật không tì vết, thật mới mẻ. Ở trên cùng có ghi “Cô Hugh Hazzard.” Và nó chỉ có đúng một mục duy nhất, ghi dưới ngày tháng hôm nay. Một khoản tiền ký gửi.
“5000.”

 
 
 
Chương 36

Cô đứng đó, cầm trong tay cái lọ tròn nhỏ, trân mắt ra nhìn nó như thể không nhận ra nổi bên trong đựng thứ gì. Cô cầm nó như thế rất lâu rồi, nhưng mắt cứ như không thấy. Cuối cùng cô lật nghiêng cái lọ và đổ hết các thứ bên trong vào bồn rửa. Khi ấy nó vẫn còn đầy đến hơn nửa.
Cô ra khỏi phòng, đóng cửa lại, sang bên kia hành lang và nhẹ nhàng gõ cửa.
“Mẹ ơi, con ra ngoài một lúc đây. Hughie vừa làm đổ cả lọ phần rôm vào bồn tắm, và con muốn đi mua lọ mới kẻo quên mất.”
“Được rồi, con yêu. Đi bộ sẽ giúp con khỏe lên đấy. À mà... tiện thể mua cho mẹ chai dầu gội nhé. Mẹ dùng gần hết rồi.”
Cái cảm giác hơi phát bệnh mà cô biết rất rõ lại dấy lên. Lừa gạt những người yêu thương ta mới dễ làm sao. Nhưng thực sự thì cô đang lừa ai - lừa họ hay lừa chính mình?
Tay hắn gác thảnh thơi trên cửa xe, cùi chỏ chĩa ra ngoài. Cánh cửa mở ra. Hắn nhường chỗ cho cô bằng cách thong thả dịch sang ghế bên cạnh, không buồn đứng dậy mời. Sự lười nhác, coi thường cô của hắn là lời sỉ nhục khinh miệt hơn bất cứ hành động thô tục nào.
“Xin lỗi vì phải gọi đến nhà cô. Tôi cứ tưởng cô đã quên cuộc nói chuyện của chúng ta rồi. Đã hơn một tuần trôi qua.”
  “Quên ấy hả?” cô nói cụt ngủn. “Nếu dễ dàng như thế thì tốt quá.”
“Tôi nghe nói cô đã trở thành một người gửi tiền ở ngân hàng Standard Trust sau lần cuối cùng chúng ta gặp nhau.”
Cô bất giác nhìn hắn với vẻ sững sờ, không đáp lời.
“Năm ngàn đô.”
Cô thở gấp.
“Với bọn làm ngân hàng, chỉ cần cho một phần tư điếu xì gà là sẽ khai hết ra ngay.” Hắn mỉm cười. “Thế nào?”
“Tôi không mang theo tiền. Tôi vẫn chưa sử dụng tài khoản ấy. Sáng mai, tôi sẽ đi đổi séc thành tiền mặt và...”
“Người ta cho cô một cuốn séc cùng với mỗi tài khoản, đúng không? Và khả năng cao là cô có mang theo nó.”
Cô nhìn hắn với vẻ bất ngờ không giấu giếm.
“Tôi có một cây bút mực trong túi. Tôi sẽ bật đèn trên bảng đồng hồ trong một phút. Hãy giải quyết dứt điểm đi; cách nhanh nhất là cách tốt nhất. Luôn nào; tôi sẽ nói cho cô biết phải viết gì. Người thụ hưởng là Stephen Georgesson. Không phải đổi thành tiền mặt hay cho người cầm séc. Năm trăm đô.”
“Năm trăm đô ư?”
“Cho đúng luật ấy mà.”
Cô không hiểu ý hắn là gì, và đủ bất cẩn để mặc cho hắn tiếp tục, không bắt hắn dừng lại.
“Chỉ vậy thôi. Cô hãy ký tên vào. Đề ngày tháng nữa, nếu cô muốn.”
Cô dừng lại. “Tôi không thể làm chuyện này.”
“Tôi rất tiếc, nhưng cô sẽ phải làm. Tôi không muốn làm theo bất cứ cách nào khác. Tôi sẽ không nhận tiền mặt.”
“Nhưng tờ séc này sẽ phải được chuyển qua ngân hàng với tên của hai chúng ta trên đó, người trả tiền là tôi, người nhận tiền là anh.”
“Tháng nào séc chẳng tràn vào ngân hàng như lũ, làm gì có chuyện người ta để ý đến nó. Có thể xem đây là món nợ của Hugh, và cô đang thanh toán hộ anh ta.”
“Sao anh lại muốn sở hữu một tờ séc đến vậy?” cô phân vân.
Một nụ cười đểu cáng nhếch bên khóe miệng hắn. “Nếu tôi không phản đối thì cô việc gì phải phản đối? Thế này là có lợi cho cô mà, đúng không? Tôi đang để cô nắm thóp. Sau khi được ngân hàng phê duyệt thì nó sẽ về tay cô. Lúc đó cô sẽ có bằng chứng cụ thể - về vụ tống tiền này - để chống lại tôi nếu cô muốn khởi tố. Và nó là thứ mà cho đến nay cô chưa hề nắm giữ. Hãy nhớ, đến tận thời khắc này, vẫn chỉ là cô cáo buộc suông, và tôi có thể phủ nhận tất cả. Một khi cái tờ séc này được giải quyết, cô sẽ có bằng chứng sờ sờ.”
Hắn nói, giọng phần nào quạu quọ hơn trước, “Chúng ta làm cho xong đi? Cô đang nôn nóng muốn về nhà. Còn tôi thì nôn nóng muốn rời khỏi đây.”
Cô đưa cho hắn tờ séc đã điền đầy đủ và cây bút.
Hắn lại tươi cười. Đợi đến khi cô ra hẳn bên ngoài, còn hắn thì đã khởi động động cơ; hắn nói át tiếng lọc xọc trầm trầm của mô-tơ, “Đầu óc cô suy nghĩ không được thấu đáo, mà cũng chẳng nhanh nhẹn gì, đúng không? Tờ séc này sẽ là bằng chứng chống lại tôi mà cô nắm giữ, nếu nó được ngân hàng duyệt và trả lại cho cô. Nhưng nếu không - nếu nó được giữ nguyên trạng, và không được đem đổi thành tiền - thì nó sẽ trở thành bằng chứng chống lại cô mà tôi đang nắm giữ.”
Chiếc xe lướt đi, bỏ mặc cô đứng đằng sau, nhìn theo với vẻ hãi hùng tan nát.
 
 
 
 
Chương 37

Cô gần như chạy hồng hộc về phía chiếc xe trên con phố bị màn đêm bao phủ, như thể e sợ nó sẽ bất chợt rồ lên chuyển động và rời xa cô, thay vì cô lê bước tiến về phía nó đầy miễn cưỡng như hai lần trước. Đến nơi, cô tóm lấy nóc cửa bằng cả hai tay, như thế cần một thứ giúp trụ vững.
“Tôi không thể chịu được nữa! Anh định làm gì tôi?”
Hắn mang vẻ cười cợt đầy tự mãn. Lông mày hắn nhướn lên. “Làm gì à? Tôi đã làm gì cô đâu. Bấy lâu nay, tôi có lại gần cô đâu. Ba tuần vừa rồi tôi đâu có gặp cô.”
“Tờ séc vẫn chưa được ghi nợ.”
“À, tôi nhận được sao kê ngân hàng rồi. Đúng rồi, hôm qua là ngày đầu tháng. Tôi đoán 24 tiếng vừa qua với cô kinh khủng lắm. Chắc là tôi quên béng đi mất...”
“Không,” cô hung hãn nói, “anh không phải dạng người dễ quên đi một việc như thế, đồ đỉa đói xấu xa! Anh làm thế với tôi chưa đủ à? Anh định làm gì nữa, khiến tôi mất trí hoàn toàn.”
Thái độ của hắn bất chợt thay đổi, trở nên nghiêm trọng hơn. “Vào trong đi,” hắn sắc giọng nói. “Tôi có chuyện muốn nói với cô. Tôi sẽ lái xe đưa cô đi vòng quanh khoảng mười lăm phút hay gì đó.”
“Tôi không thể đi cùng anh. Sao anh lại yêu cầu tôi làm thế?”
  “Chúng ta không thể cứ đứng ở đây mà bàn chuyện được. Thế còn tệ hơn nhiều. Chúng ta đã làm như vậy hai lần rồi. Chúng ta có thể đi vòng quanh hồ một, hai lần gì đó; giờ này không có ai ở đó cả và không có biển báo dừng. Cô dựng cổ áo lên che miệng lại đi.”
“Tại sao anh vẫn giữ tờ séc? Anh định làm gì?”
“Đợi đến khi chúng ta ra đến đó đã,” hắn nói. Thế rồi khi ra đến nơi, hắn trả lời cô, lạnh lùng, vô cảm, như thể nãy giờ không bị ngắt ngang gì hết.
“Tôi không quan tâm đến năm trăm đô la.”
Cô bắt đầu mất tỉnh táo. Việc cô không thể nào hiểu nổi động cơ của hắn chẳng khác nào bùi nhùi châm lên ngọn lửa hoảng loạn trong cô. “Thế thì trả nó lại cho tôi và tôi sẽ cho anh thêm tiền. Tôi sẽ cho anh một ngàn đô la. Chỉ cần anh đưa nó lại cho tôi thôi.”
“Tôi không đòi cô cho thêm tiền. Tôi không muốn được cho thêm khoản nào hết. Cô không hiểu à? Tôi muốn chỗ tiền thuộc về tôi, theo đúng quyền lợi của tôi.”
Mặt cô bỗng dưng trắng bệch đi.
“Tôi không hiểu. Anh đang định nói gì?”
“Trông vẻ mặt cô thì tôi nghĩ cô bắt đầu hiểu ra rồi đấy.” Hắn lục lọi trong túi, lôi ra thứ gì đó. Một chiếc phong bì, đã được niêm phong và dán tem để đem gửi. “Cô vừa hỏi tôi tờ séc đâu rồi. Nó ở trong này này. Đây, đọc xem trên đấy ghi gì đi. Không, cô không thể lấy nó ra khỏi tay tôi. Cứ ngồi ở đó mà đọc.”
“Ông Donald Hazzard
Công ty Hazzard và Loring
Tòa nhà Empire
Caulfield.”
“Không...” Cô không thể thốt nên lời, chỉ biết lắc đầu quầy quậy.
  “Tôi sẽ gửi nó đến văn phòng của ông ta, nơi cô không thể chen vào để lấy được.” Hắn đút nó vào trong túi. “Phiên lấy thư cuối ngày ở Caulfield là vào 9 giờ tối. Có thể cô không biết điều đó, nhưng gần đây tôi đã nghiên cứu kĩ mấy chuyện này. Có một hộp thư trên phố Pomeroy, cách chỗ tôi đỗ xe để gặp cô hồi trước khoảng một vài mét. Khu đó tối tăm và không có ai theo đuổi, cho nên tôi sẽ dùng cái hộp thư ấy. Tuy nhiên, phải đến 9 giờ 15 thì bưu tá mới ra đến chỗ đó; tôi đã căn giờ anh ta mấy đêm liền và tính trung bình.”
Hắn giơ tay ra hiệu cho cô im lặng, rồi nói tiếp, “Nào, nếu cô ra đó trước khi bưu tá xuất hiện, chiếc phong bì này sẽ không bị bỏ vào trong. Nếu lúc anh ta đến mà cô không xuất hiện, tôi sẽ bỏ lá thư vào. Cô có một ngày, cho đến 9 giờ 15 đêm mai.”
“Nhưng anh muốn tôi đến đó để làm gì...? Anh nói mình không muốn thêm.”
“Chúng ta sẽ đi Hastings, thị trấn kế bên. Tôi sẽ đưa cô đến một gặp một thẩm phán ở đó, và ông ta sẽ giúp chúng ta trở thành vợ chồng.”
Hắn cho xe chạy chậm lại khi thấy thoáng đầu cô ngửa oặt ra sau ghế.
“Tôi không nghĩ thời nay còn có người lăn ra bất tỉnh nữa.,” hắn dợm nói. Thế rồi khi thấy cô gắng gượng ngồi thẳng dậy và đưa mu bàn tay ướt nhoét ra trước mắt, hắn nói thêm, “Ồ, vậy ra đúng là không còn ai như thế thật; chỉ hơi xây xẩm mặt mày tí thôi, phải vậy không?”
“Tại sao anh lại làm thế với tôi?” cô nghẹn ngào hỏi.
“Tôi có thể nghĩ ra mấy lý do rất hợp lý. Như tôi thấy, làm thế này sẽ an toàn hơn hẳn những gì chúng ta vẫn đang làm từ trước đến nay. Không có khả năng có chuyện gì gặp vấn đề cả. Theo luật pháp quy định, người vợ không thể làm chứng chống lại chồng. Tức là bất cứ ông luật sư đáng đồng tiền bát gạo nào cũng có thể lôi cô xuống khỏi bục làm chứng trước khi cô kịp mở miệng. Và còn cả những lý do thực tiễn hơn. Chắc cô cũng biết hai ông bà già kia không sống lâu được. Sinh mệnh bà già kia như ngọn đèn trước gió. Sau khi bà ta mất, ông già cũng chẳng sống được lâu hơn. Tôi biết cái kiểu người như họ, chung thủy với nhau lắm. Sau khi họ chết rồi, cô và Bill sẽ chia nhau một khoản không đồng đều... Đừng có làm bộ mặt hoảng sợ như thế; lão luật sư nhà đó chưa mở mồm ra đâu, nhưng đây là một thị trấn nhỏ, những chuyện như thế kiểu gì cũng lộ ra, kể cả nếu người ta không rỉ tai nhau. Tôi có thể đợi một năm, thậm chí hai hay ba năm nếu cần. Luật pháp cho phép chồng được hưởng một phần ba tài sản của vợ mình. Ba phần tư của. có thể là tôi ước tính không đến, nhưng tôi đoán là khoảng chừng bốn trăm ngàn, vậy tức là cô sẽ có ba trăm ngàn. Và một phần ba của cái khoản đó. Đừng có bịt tai lại như thế, Patrice; trông cô cứ như một nhân vật trong tiểu thuyết của Marie Corelli [1] vậy.”
Hắn phanh xe lại. “Cô có thể xuống xe ở đây, Patrice. Thế này là đủ gần rồi.” Và rồi hắn khẽ cười khúc khích khi thấy cô loạng choạng bước lên vệ đường. “Cô có chắc là mình đi vững không đấy? Tôi không muốn người ta tưởng là tôi đã chuốc rượu cho cô.”
Điều cuối cùng hắn nói là, “Nhớ đảm bảo đồng hồ của cô không chạy chậm đấy, Patrice. Bởi vì Bưu điện Hoa Kỳ luôn đúng giờ.”
Chú thích:
[1] Marie Corelli: Tiểu thuyết gia nổi tiếng người Anh giai đoạn cuối thế kỷ 19, đầu thế ký 20.
 
 
 
Chương 38

Ánh đèn pha chiếc xe của hắn cứ như một lưỡi cày, không ngừng bổ xẻ con đường trước mặt, gạt bỏ tầng bóng tối trên cùng sang bên, để lộ ra phần nhân trắng như hàn the, và làm vung vãi hết cả lên mặt đường. Thế rồi đằng sau họ, những luống cày xám ngoét sẽ lại tự chữa lành, quay về với bóng tối mịt mùng.
Họ lái đi như vậy như đã mấy tiếng rồi, hoàn toàn im lặng nhưng vẫn ý thức rất rõ sự hiện diện của nhau. Cây lướt qua, bị ánh đèn pha quẹt ngang của chiếc xe hắt lên trên thân, lờ nhờ chiếu sáng từ phía sau, biến thành một bóng sáng ma quái. Thế rồi thỉnh thoảng không có cây cối gì hết, chúng lui cả lại, và một khoảng đen mềm mại, bằng phẳng thế chỗ chúng - cô đoán là cánh đồng hay bãi cỏ gì đó - thoảng hương ngọt ngào hơn. Cỏ ba lá. Vùng đồng quê quanh đây thật đẹp; đẹp đến mức khó tin nổi rằng có người lọt vào giữa nơi đây mà vẫn thấy đau khổ quằn quại.
Thỉnh thoảng đường cũng rẽ nhánh, nhưng họ không bao giờ quẹo vào nhánh nào cả. Họ cứ tiếp tục đi trên con đường rộng lớn, thẳng băng hiện tại.
Họ băng qua một tấm biển trắng được ánh sáng hắt lên, đặt vuông góc với đường để khi lái đến gần có thế đọc được. Nó ghi “Chào mừng quý khách đến với Hastings,” và bên dưới, “Dân số...” cùng với một con số quá nhỏ, chưa kịp nhìn thấy thì đã lướt qua mất rồi.
  Cô liếc mắt nhìn theo, vừa bất ngờ vừa hoảng sợ.
Có vẻ hắn đã thấy cô làm động tác đó, dù không trực tiếp nhìn cô.
“Vậy là đã băng qua biên giới Tiểu bang rồi đấy,” hắn lạnh lùng nói
“Người ta nói đi đây đi đó sẽ giúp mở mang đầu óc.” Giờ đã là 9 giờ 45, theo đồng hồ đeo tay của cô. Họ chỉ mất nửa giờ đồng hồ là đã lái xe đến nơi.
Chiếc xe băng qua khu quảng trường ở trung tâm thị trấn. Một hiệu thuốc vẫn còn mở cửa, và lúc họ đi ngang thì hai bình nước màu kiểu cổ, thứ ngày trước mọi hiệu thuốc đều trưng ra bên cửa sổ, lấp loáng xanh và tím. Một rạp chiếu phim vẫn còn bóng người hoạt động bên trong, nhưng phía ngoài dường như đã im lìm chết ngắc, bảng chữ tối om, sảnh trước tù mù.
Hắn rẽ sang một con phố nhỏ, một đường hầm dưới những bóng cây um tùm. Mọi ngôi nhà ở đây đều thụt lùi ra sau, khoảng cách ngang một bãi cỏ, thế nên chúng gần như vô hình trong bóng đêm, từ ngoài mặt đường nhìn vào không thể thấy gì. Hắn có vẻ bị thu hút bởi ánh đèn mờ le lói tỏa ra từ khoảng trống của một mái hiên phủ kín dây thường xuân. Hắn bất chợt đỗ xe vào lề đường, lùi lại một chút, và dừng lại phía trước.
Họ ngồi im một hồi.
Thế rồi hắn bước ra, đi vòng sang chỗ cô, và mở cánh cửa xe.
“Vào đi,” hắn nói gọn lỏn.
Cô không nhúc nhích, không đáp lời.
“Vào trong với tôi nào. Người ta đang đợi.”
Cô không đáp lời, không nhúc nhích.
“Đừng có ngồi ngây ra đó như thế. Chúng ta đã bàn bạc tất cả khi ở Caulfield rồi. Đi thôi. Cô nói gì đi chứ?”
Anh muốn tôi nói gì?”
  Hắn nôn nóng nện cửa xe một phát, như thể tạm tha cho cô. “Cô trấn tĩnh lại đi. Tôi sẽ ra đó, báo cho người ta biết là chúng ta đã đến.”
Cô quan sát hắn bỏ đi, đầu óc cứ ngây ra, như thể chuyện này đang xảy ra với một người khác; nghe thấy tiếng chân hắn bước trên con đường lát gỗ dẫn về phía ngôi nhà. Cô thậm chí còn có thể nghe được tiếng chuông cửa vang lên, từ trong ngôi nhà vọng ra, đến tận ngoài này, nơi cô đang ngồi. Chẳng có gì khác thường cả, nghe thật lặng im. Chỉ có tiếng những loài có cánh bé nhỏ kêu vo vo và rù rì trên một cành cây phía trên dâu.
Cô tự hỏi, Sao anh ta biết mình sẽ không bất chợt khởi động và lái xe bỏ đi? Cô tự mình giải đáp câu đó. Anh ta biết mình sẽ không làm thế. Anh ta biết giờ đã quá muộn để làm vậy rồi. Mình cũng biết như vậy. Thời khắc có thể dừng lại, rút lui, bỏ chạy đã trôi qua từ lâu. Từ rất lâu rồi. Từ trước tối nay rất lâu. Từ cái lúc còn ở trên toa tàu đi đến đây, lúc các bánh xe lửa tìm cách cảnh báo mình. Từ lúc bức thư đầu tiên xuất hiện. Từ lúc cuộc gọi đầu tiên xuất hiện, khi lần đầu đi ra hiệu thuốc. Mình bị giữ cứng ở đây như thể đã bị còng tay với anh ta.
Giờ cô có thể nghe thấy giọng của họ. Một người phụ nữ nói, “Không, không có vấn đề gì đâu; anh đến rất đúng lúc. Cứ vào luôn đi.”
Cánh cửa vẫn để mở, sáng ánh đèn. Người ban nãy đứng bên khung cửa giờ đã đi vào trong nhà. Hắn đang quay ra chỗ cô. Tiếng chân hắn rền vang trên lớp gỗ. Cô đưa tay bấu chặt lấy mép ghế xe, thọc chúng sâu vào trong lớp đệm da.
Hắn đã ra đến chỗ cô, và đứng im đó.
“Đi nào, Patrice,” hắn bình thản nói.
  Cái vẻ bình thản của hắn, cái vẻ nghiễm nhiên của hắn, mới thực sự là điều đáng khiếp sợ. Hắn không giả vờ gì hết.
Cô cất giọng cũng bình thản, bình thản như hắn, nhưng giọng cô nghe yếu ớt và nghẹn ngào như một sợi dây rung lên.
“Tôi không thể làm chuyện này. Georgesson, đừng bắt tôi làm chuyện này.”
“Patrice, chúng ta đã bàn hết mọi thứ rồi. Tôi đã nói với cô từ đêm trước, và chúng ta đã thỏa thuận xong xuôi rồi còn gì.”
Cô ụp tay lại che mặt, rồi lại nhanh chóng buông ra. Cô cứ tiếp tục lặp lại sáu cái từ ấy; những từ duy nhất cô có thế nghĩ đến. “Nhưng tôi không thể làm chuyện này.Anh không hiểu ư? Tôi không thể làm chuyện này.”
“Có gì trở ngại đâu. Cô hiện đang không kết hôn với ai hết. Ngay cả dưới danh nghĩa cái người cô đang đóng giả, cô cũng đang không kết hôn với ai hết, chứ đừng nói với danh nghĩa bản thân cô. Tôi đã tìm hiểu từ hồi ở New York rồi.”
“Steve [1]. Nghe này, tôi đang gọi anh là Steve đây.”
“Nói thế cũng không làm tôi mủi lòng đâu,” hắn bỡn cợt khẳng định. “Đó là tên tôi, cô gọi tôi như thế là đúng rồi.” Hắn chớp mắt nhìn cô. “Đó là tên người ta đặt cho tôi, chứ không phải một cái tên tôi tự đặt cho mình - Patrice ạ.”
“Steve, tôi chưa bao giờ van nài anh. Suốt mấy tháng qua, tôi đã chịu đựng nhẫn nhịn như một người phụ nữ. Steve, nếu trong anh còn sót lại chút tính người nào để tôi có thể van lạy...”
“Tôi có nhiều tính người lắm chứ. Chính thế nên tôi mới thích tiền đến vậy. Nhưng cô hiểu sai vấn đề rồi. Bởi vì cái lý do mới nói đó, cái tính người của tôi sẽ khiến cho lời van nài của cô trở nên vô dụng. Đi nào, Patrice.
Cô đang lãng phí thời gian đấy.”Cô co rúm người lại, nhích ra xa dọc theo mép ghế. Hắn nhịp ngón tay trên nóc cửa và cười nhạt.
“Sao cô phải sợ chuyện kết hôn thế nhỉ? Để tôi làm cho rõ nhẽ sự kinh sợ của cô nhé. Có khi tôi sẽ trấn an được cô. Vụ này không liên quan gì đến tình cảm cá nhân; cô không có tình cảm gì với tôi. Tôi thì chỉ thấy khinh thường cô, bởi cô là hạng đàn bà ngu ngốc rẻ tiền, khó bảo. Tôi sẽ đưa cô đến tận bậu cửa của gia đình tràn đầy yêu thương của cô, ngay khi chúng ta quay về Caulfield. Đây chỉ là cuộc hôn nhân trên giấy tờ, theo tất cả mọi ngữ nghĩa. Nhưng nó sẽ có hiệu lực, nó sẽ có hiệu lực bất kể về sau có thế nào. Nào, thế đã đủ để làm nguôi ngoai sự âu lo thời Victoria của cô chưa?”
Cô ấp mu bàn tay lên mắt như thể vừa bị đánh cho một đòn, mù cả mắt.
Hắn kéo văng cửa ra.
“Người ta đang đợi chúng ta trong kia. Đi nào, cô đang làm sự tình tồi tệ thêm đấy.”
Hắn bắt đầu cứng giọng với cô. Thái độ chống đối của cô đã trêu ngươi hắn, khiến hắn bực mình. Hắn bộc lộ điều ấy theo cách ngược hẳn, hết sức lạnh lùng mà đầy chết chóc.
“Nghe này, cô em, tôi sẽ không túm tóc lôi cô vào trong đó. Chuyện này không đáng phải như thế. Tôi chỉ mất một phút vào trong kia và gọi cho gia đình nhà Hazzard, lập tức kể lại cho họ nghe tường tận đầu đuôi câu chuyện. Sau đó tôi sẽ đưa cô về lại nơi tôi đã đón cô. Họ có thể nhận lại cô - nếu họ vẫn muốn chấp nhận cô.” Hắn hơi rướn người qua cửa, tiến sát về phía cô. “Hãy nhìn tôi thật kĩ vào. Trông tôi có giống như đang nói đùa không?”
Hắn nói thật. Đó không phải là một câu dọa suông hay sáo rỗng.
 
  Có thể hắn không muốn thực hiện lời đe dọa này, nhưng đó không phải là câu dọa suông. Cô có thể nhìn ra điều ấy trong mắt hắn, nhìn ra cái vẻ bực tức lạnh lùng, thấy được sự căm ghét hắn dành cho cô.
Hắn quay người, rời chiếc xe và bước đi trên con đường lát ván gỗ, chân đưa mạnh bạo hơn, nhanh chóng hơn lúc nãy.
“Xin lỗi, tôi nhờ cô chuyện này một phút.,” cô nghe thấy hắn mở miệng nói ngay khi bước qua khung cửa mở, phần còn lại thì chẳng nghe rõ được vì hắn đã bước sâu vào bên trong.
Cô luống cuống chui ra ngoài, tóm lấy cánh cửa cong như người mộng du. Thế rồi cô loạng choạng bước trên con đường lót ván và ra đến hiên trước nhà, mớ thường xuân kêu xào xạc khi bị cô chếnh choáng quệt vào. Thế rồi cô tiếp tục lê bước tiến về phía quầng sáng hình chữ nhật hắt ra từ khung cửa, và đi vào trong. Chẳng khác nào chật vật lội qua nước ngập ngang đầu gối.
Một người phụ nữ tuổi trung niên gặp cô ở hành lang.
“Chào cô. Cô là cô Hazzard phải không? Anh ta đang ở trong kia.”
Chị ta đưa cô vào một căn phòng phía bên trái, kéo mở một cặp cửa trượt kiểu xưa. Hắn đứng quay lưng với họ, bên cạnh một máy điện thoại cũ gắn trên tường.
“Cô gái trẻ đã đến rồi đây. Hai người có thể vào trong phòng làm việc khi đã sẵn sàng.”
Patrice khép cửa lại sau lưng mình. “Steve,” cô nói.
Hắn quay vòng ra sau và nhìn cô, rồi lại quay đi.
“Đừng... anh sẽ giết chết bà ấy mất,” cô van nài.
“Cái đám già kia kiểu gì chẳng chết, không sớm thì muộn.”
“Cuộc gọi đã được kết nối chưa?”
  “Người ta đang gọi về Caulfield cho anh.”
Đây không phải chiêu trò lừa lọc gì hết. Ngón tay hắn không để gần chỗ gác ống nghe, giữ cho điện thoại không kết nối. Hắn đang trong quá trình gọi.
Một tiếng tắc nghẹn vang lên trong cô họng cô.
Hắn lại quay ra sau, lần này không quay hẳn người như ban nãy. “Cô đã quyết định dứt điểm chưa?”
Cô không gật đầu, chỉ đơn thuần để cho mí mắt mình cụp xuống một phút.
“Tổng đài,” hắn nói, “hủy cuộc gọi đó đi. Tôi bị nhầm.” Hắn đặt ống nghe xuống.
Cô cảm thấy hơi phát bệnh và choáng váng, như thể khi ta vừa nhìn xuống đất từ chỗ cao chót vót nào đó và rồi lùi người lại.
Hắn đi ra chỗ cánh cửa trượt và mạnh mẽ kéo lùi chúng lại.
“Chúng tôi sẵn sàng rồi,” hắn gọi với vào trong căn phòng làm việc bên kia hành lang.
Hắn ngoắc tay về phía cô, úp ngược lại, khinh khỉnh nhấc cùi chỏ lên để cô nắm lấy, thậm chí không thèm quay lại nhìn cô.
Cô tiến lên phía trước và họ cùng bước ra căn phòng làm việc, tay cô tóm lấy tay hắn. Vào cái nơi có người đang đợi làm lễ cưới cho họ.
  Chú thích:
[1]Steve: Cách gọi thân mật của Stephen Georgesson.

 
 
Chương 39

Trên đường về, cô biết rằng mình sẽ phải giết hắn. Cô biết mình phải làm thế, cô biết bây giờ đó là điều duy nhất mình còn có thể làm. Cô tự nhủ đáng ra mình phải làm từ trước đó. Từ rất lâu rồi; trong cái đêm đầu tiên cô ngồi với hắn trong xe. Như thế thì sẽ đỡ hơn hẳn. Nếu hồi đó làm vậy, ít nhất cô cũng đã tránh được nỗi kinh hoàng và màn lăng nhục cùng cực tối nay. Lúc ấy cô chưa nghĩ đến chuyện này; nó là điều duy nhất cô chưa từng cân nhắc tới. Cô chỉ chăm chăm nghĩ đến chuyện bỏ chạy, tìm cách thoát khỏi hắn theo cách nào đó, chứ chưa bao giờ nghĩ đến chuyện sẽ giành lại sự an toàn cho bản thân theo cách này - cách loại bỏ hắn.
Nhưng cô biết mình sẽ làm điều đó, ngay lập tức. Ngay tối nay.
Đến tận bây giờ, kể từ khi rời nhà viên thẩm phán, họ không nói năng gì, dù chỉ một lời. Tại sao phải nói chứ? Có gì để nói đâu? Có gì để làm nữa đâu - ngoại trừ cái hành động cuối cùng kia, cái hành động đột nhiên nảy ra trong đầu cô khi họ đi đến chỗ đối diện cột điện báo bôi trắng bên dưới, cách Hastings khoảng bốn dặm. Nó xuất hiện rất bất chợt: búng tay đánh tách một cái, thế là nó nằm sẵn ở đó. Như thể cô vừa băng qua một mắt điện gắn trên cái cột điện báo ấy, phóng tia ngang qua đường. Với cây cột làm ranh giới, ở một bên chẳng có gì ngoài cảm giác tuyệt vọng thụ động, tĩnh lặng mà định mệnh đã an bài. Bên còn lại là một quyết định đầy trưởng thành, tàn nhẫn, không thể suy chuyển. Mình sẽ giết hắn. Tối nay.
  Trước khi đêm tàn, trước khi ánh dương ló dạng.
Hai người bọn họ, chẳng ai nói gì cả. Hắn không nói, bởi vì hắn cảm thấy hài lòng. Hắn đã hoàn tất việc muốn làm. Có đúng một lần, chỉ một lúc ngắn ngủi thôi, hắn khẽ huýt sáo, nhưng rồi hắn lại ngưng. Cô không nói gì cả, bởi vì cô đã bị đánh quỵ. Bị tàn hại, theo mọi ngữ nghĩa. Từ trước đến giờ cô chưa từng cảm thấy như thế này. Cô thậm chí không còn cảm thấy đau đớn trong tâm tưởng nữa. Cuộc tranh đấu đã kết thúc. Cô giờ đã tê dại. Bây giờ, thậm chí xúc cảm trong cô còn không bằng khi diễn ra vụ tai nạn tàu hỏa.
Cô nhắm tịt mắt suốt chặng đường. Chẳng khác nào một cô gái vừa đi đám ma về, mọi thứ đáng giữ lại đều đã bị đem đi mai táng, và trên đời chẳng còn gì đáng để ngắm nhìn nữa.
Cuối cùng cũng cô nghe thấy hắn mở miệng.
“Đấy, có đến nỗi nào đâu?” hắn nói.
Cô đáp lời hắn một cách máy móc, mắt không buồn mở ra.
“Anh đang đưa tôi...? Bây giờ anh muốn tôi làm gì nữa đây?”
“Chẳng làm gì hết. Cô cứ tiếp tục sống như hồi trước. Đây là chuyện riêng giữa hai chúng ta. Và tôi muốn nó được giữ nguyên như vậy, cô hiểu chứ? Không được hở ra dù chỉ một lời cho gia đình kia. Phải đợi đến khi tôi đã sẵn sàng. Đây sẽ là bí mật nhỏ của chúng ta, của cô và tôi.”
Cô đoán hắn sợ họ sẽ thay đổi di chúc nếu hắn công khai đưa cô đi cùng. Và sợ rằng nếu hắn để cô ở lại với họ, và nếu để họ biết về chuyện này, họ sẽ hủy bỏ di chúc cho cô.
Phải làm sao để giết hắn đây? Ở đây chẳng có gì cả, không có cách nào hết. Vùng đồng quê rất bằng phẳng, con đường thẳng băng, không chút gập ghềnh. Nếu cô giật lấy vô lăng, tìm cách để chiếc xe mất kiểm soát, thì sẽ chẳng có gì nghiêm trọng xảy ra. Cần phải có những chỗ dốc, những khúc cua sít sao. Và chiếc xe vẫn chậm rãi lăn bánh, không hề đi nhanh. Cùng lắm nó sẽ chỉ chạy lệch vào chỗ đường đất, đâm vào một cột điện báo, khiến cho họ hơi lắc lư một chút.
Ngoài ra, ngay cả nếu đó có là cách khả dĩ, cô cũng không muốn chết cùng hắn. Cô chỉ muốn hắn chết. Cô có một đứa con mà mình hết lòng yêu quý, một người đàn ông cô đem lòng thương mến. Cô muốn sống. Suốt cuộc đời mình, cô luôn sở hữu một quyết tâm sống không thể lay chuyển; đến giờ cô vẫn sở hữu nó. Dù đang tái tê đến vậy, nó vẫn ngang ngạnh âm ỉ trong cô. Không thứ gì có thể dập tắt được, không thì... có khi hồi trước cô đã cân nhắc lựa chọn một con đường khác rồi.
Ổi Chúa ơi, cô gào lên trong tâm trí, giá như mình có một...
Và vào đúng khoảnh khắc ấy, cô biết mình phải ra tay theo cách nào. Biết cô sẽ phải ra tay như thế nào. Bởi lẽ cái từ tiếp theo vụt lóe lên trong nhận thức của cô là “súng,” và ngay khi xuất hiện, nó phúc đáp luôn lời khẩn cầu của cô.
Trong phòng đọc sách, ở nhà cô. Có một khẩu ở đâu đó trong đấy.
Một cảnh ngắn ngủi từ nhiều tháng trước hiện về trong tâm trí. Nó bị chôn vùi bấy lâu nay, thế rồi bỗng dưng tái xuất hiện, rõ ràng như thế mới xảy ra một giây trước. Ngọn đèn đọc sách được bật lên đầy ấm cúng, tươi tắn tỏa sáng. Cha Hazzard ngồi cạnh nó, nấn ná đọc một cuốn sách. Tất cả những người khác đều đã đi ngủ, chỉ trừ mình cô. Cô là người cuối cùng rời chỗ ông. Cô nhẹ hôn lên trán ông.
“Con khóa cửa lại cho cha nhé?”
“Không, con cứ đi đi. Lát nữa cha sẽ khóa cửa.”
  Cha sẽ không quên chứ?”
“Không, cha không quên đâu.” Và rồi ông cười khúc khích theo cái kiểu khô khan đặc trưng, “Đừng lo, cha ở dưới này được bảo vệ an toàn lắm. Có một khẩu súng lục trong ngăn tủ ngay cạnh cha đây. Nhà ta có nó để chống trộm. Đó là ý của mẹ con hồi mấy năm trước - và từ đó đến nay chưa thấy bóng dáng tên trộm nào cả.”
Cô cười phá lên khi nghe câu đùa cường điệu ấy, và chân thành nói với ông, “Thứ con sợ không phải là bọn đào tường khoét vách, mà là trận mưa bất chợt giữa đêm, và mấy tấm rèm cửa đẹp nhất của mẹ.”
Hồi ấy cô cười phá lên. Nhưng giờ thì không.
Giờ cô biết mình có thể kiếm đâu ra một khẩu súng.
Chỉ cần tròng ngón tay qua đó. Kéo cò. Và cô sẽ được thanh thản, cô sẽ được an toàn.
Họ dừng lại, và cô nghe thấy cửa xe bên cạnh mình lách cách mở ra. Cô nhướn mắt nhìn lên. Họ đang đỗ trong một đường hầm làm từ cành lá um tùm của cây cối trên phố. Cô nhận ra cái đội hình đối xứng của đám cây, các dốc cỏ ở hai bên, những đường nét lờ mờ của các căn nhà riêng đằng sau. Họ đang ở trên con phố của cô, nhưng ở nơi xa hơn, cách chỗ cô sống khoảng một dãy nhà. Hắn rất khôn ngoan, để cô xuống xe tại nơi cách đủ xa cửa nhà cô để không bị ai chú ý.
Hắn ngồi im, đợi cô hiểu ý và ra ngoài. Cô nhìn đồng hồ, cứng nhắc như một cái máy. Thậm chí còn chưa đến 11 giờ. Hẳn mọi chuyện diễn ra khoảng lúc 10 giờ. Họ chỉ mất bốn mươi phút để quay lại; lúc về chậm hơn lúc đi.
Hắn nhìn thấy cử chỉ ấy của cô. Hắn mỉm cười với vẻ mỉa mai. “Kết hôn chẳng mất quá nhiều thời gian, phải không?”
  Cũng chẳng mất nhiều thời giờ để chết đâu. Cô bực bội nghĩ thầm.
“Anh không... anh không muốn tôi đi cùng anh à?” cô thì thầm.
“Đi cùng để làm gì?” hắn ngạo ngược hỏi. “Tôi không cần cô. Tôi chỉ cần cái thứ rồi sẽ. đi cùng với cô. Cô cứ lên trên tầng, về với chiếc giường bé nhỏ chưa ai xâm phạm của cô đi. Đó là tôi tin như thế. Có cái anh chàng Bill kia ở trong nhà cơ mà.”
Cô cảm thấy mặt mình nóng bừng lên. Nhưng chẳng có gì quan trọng, chẳng có gì ý nghĩa nữa. Ngoại trừ việc khẩu súng chỉ còn cách một dãy nhà, hắn thì ở ngay đây. Và hai người họ thì đang giáp mặt nhau.
“Cứ ở yên đây nhé,” hắn bảo cô. “Cô không được tự ý ra khỏi thị trấn đâu, Patrice. Trừ khi cô muốn tôi bỗng dưng xuất hiện và tuyên bố mình là cha của đứa bé. Cô biết là bây giờ luật pháp đứng về phía tôi rồi đấy. Tôi sẽ đi thẳng đến chỗ cảnh sát.”
“Thế thì. anh đợi ở đây một phút nhé? Tôi sẽ. tôi sẽ quay ra ngay. Tôi sẽ cho anh ít tiền. Anh sẽ cần ít tiền. cho đến khi. cho đến khi chúng ta gặp lại nhau.”
“Của hồi môn của cô đấy à?” hắn trêu chọc. “Sớm thế sao? Mà thôi, thật tình mà nói, tôi không cần. Cái thị trấn này có nhiều gã chơi bài kém lắm. Với lại, sao phải cho tôi thứ đã là của tôi rồi? Chả bõ công. Tôi có thể đợi. Cô không phải giúp đỡ gì đâu.”
Cô bước xuống đầy miên cưỡng.
“Nếu cần thì tôi có thể tìm anh ở đâu?”
“Tôi sẽ ở quanh đây. Thỉnh thoảng cô sẽ nhận được tin từ tôi. Không sợ lạc mất tôi đâu.”
Không, phải là tối hôm nay, tối hôm nay. Cô cứ tiếp tục ủ ê tự nhủ với bản thân như thế. Trước khi màn đêm chấm dứt và hừng đông bừng lên. Nếu phải chờ đợi, cô sẽ đánh mất lòng can đảm. Việc này cần được thực hiện ngay lập tức, cái khối ung nhọt tàn phá tương lai cô cần phải được loại bỏ.
Cho dù tối nay hắn có chạy đi đâu trong cái thị trấn này, cô thề rằng mình sẽ lần ra hắn, sẽ tìm thấy hắn và kết liễu cuộc đời hắn. Kể cả nếu có phải tự hủy hoại bản thân thì cô cũng sẽ làm. Kể cả nếu cô phải làm việc ấy trước mặt một trăm người.
Cửa xe đóng sập lại. Hắn ngả mũ trêu ngươi.
“Chúc ngủ ngon, Georgesson. Hy vọng cô sẽ có những giấc mơ tuyệt vời. Thử gối lên miếng bánh cưới mà ngủ xem. Nếu cô không có bánh cưới, thử gối lên một ổ bánh mì thiu ấy. Dù có là gì thì cô vẫn rẻ tiền như xưa thôi.”
Chiếc xe lướt qua chỗ cô. Mắt cô dán chặt vào cái biển số đằng đuôi, bấu lấy nó, ghi nhớ nó, ngay cả sau khi nó đã phóng vọt qua. Nó bé dần lại. Ánh đèn đuôi đỏ chạy vòng qua góc quanh và biến mất. Nhưng suốt mấy phút sau, nó như vẫn ở trước mắt cô, như một tấm biển ma, lơ lửng trên nền trời đêm.
NY09231
Thế rồi cái bóng ma ấy cũng mờ đi và biến mất.
Ai đó đang bước đi trên vỉa hè đêm im lặng, rất gần. Cô có thể nghe thấy tiếng cọc cọc của giày cao gót. Người đó chính là cô. Cây cối đang dịch qua chỗ cô, chậm rãi lùi về sau. Có tiếng ai đó leo lên mấy bậc thang đá. Cô có thể nghe thấy tiếng chân loạt soạt bước lên. Người đó chính là cô. Giờ thì có ai đó đang đứng trước cửa nhà. Cô có thể thấy cái bóng phản chiếu tối om trên mặt kính đối diện. Nó di chuyển giống hệt như cô. Người đó chính là cô.
Cô mở túi xách ra và lục tìm chìa khóa cửa. Chìa khóa của cô. Chiếc chìa khóa họ đã đưa cho cô. Nó vẫn nằm đó. Chẳng hiểu sao, chuyện ấy khiến cô cảm thấy bất ngờ. Thật nực cười làm sao khi cô cứ thế về nhà, như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, lục tìm chìa khóa, đút nó vào lỗ khóa, và... và cứ thế đi vào trong nhà. Khi cô vẫn cứ về nhà như thế này, và vẫn cứ đi vào trong nhà.
Mình phải vào trong này! Cô tự biện hộ. Con trai mình đang ngủ trong ngôi nhà này. Ngay lúc này đây, thằng bé đang ngủ ở tầng trên. Đó là nơi mình phải đến; mình không có bất kỳ nơi nào khác để đi nữa.
Nhớ lại chuyện tối nay, cô đã phải giả vờ nhờ Mẹ Hazzard trông Hughie để cô đi thăm một người bạn mới quen. Cha đang có một cuộc họp và Bill thì không có ở nhà.
Cô bật mấy ngọn đèn ở hành lang tầng dưới lên. Cô đóng cửa. Thế rồi cô đứng đó một phút, hết hít vào rồi thở ra, lưng cô uể oải đè vào cửa. Mọi thứ trong ngôi nhà này sao mà tĩnh lặng, tĩnh lặng quá đi thôi. Mọi người đều đang ngủ, những người đã tin tưởng cô. Những người không thể nào ngờ được là cô sẽ mang tai tiếng và chết chóc đến cho họ, để báo đáp bao điều tử tế mà họ đã dành cho cô.
Cô đứng bất động. Hết sức lặng lẽ, hết sức im lìm. Không thể nào đoán được cô quay lại đây vì mục đích gì, cô quay lại đây để làm gì.
Chẳng còn lại gì cả. Chẳng còn gì hết. Chẳng còn nhà, chẳng còn tình yêu, thậm chí còn con trai nữa. Cô thậm chí đã từ bỏ tình yêu tương lai, khiến nó bị nhơ nhuốc, mai này không còn tồn tại nữa. Cô cũng đã để mất thằng bé, thằng bé sẽ quay lưng với cô, khi nó đã đủ lớn để biết về cô.
Hắn đã gây ra cho cô tất cả những tai họa này, chỉ mình hắn. Hắn làm vậy một lần vẫn chưa đủ, mà còn làm tận hai lần. Hắn đã phá hoại hai cuộc đời của cô. Hắn đã tàn phá cô gái ngây ngô mười bảy tuổi tội nghiệp, hiền lành đến từ San Francisco, người đã vô tình, xấu số lạc vào vòng tay hắn. Tàn phá cô, và giẫm đạp lên những giấc mơ của cô, và khạc nhổ lên trên đó. Và bây giờ hắn lại tàn phá cái cô gái giả mạo được gọi tên là Patrice.
Hắn sẽ không còn tàn phá được ai nữa!
Một vẻ nhăn nhó đầy đau đớn khiến mặt cô biến dạng trong tích tắc. Mu cổ tay cô ấp lên trán, giữ nguyên tại đó. Một hơi thở nhẹ nhàng hết sức, ấy nhưng lại kiên định hết sức, khiến người cô rung lên bần bật. Thế rồi cô liêu xiêu tiến về phía cửa phòng đọc sách, như một kẻ say khướt khôi hài không đủ khả năng phối hợp tay chân để nhìn thẳng về hướng mình đang vội bước.
Cô bật ngọn đèn đọc sách lên, đặt vào cái bàn ở giữa phòng.
Cô bình tĩnh bước ra chỗ tủ rượu, mở ra, rót chút brandy và uống cạn. Trên đường chảy xuống, nó như thiêu đốt nội tạng cô, nhưng cô lại chế ngự nó bằng quyết tâm sắt đá.
Ôi, vâng, muốn giết người thì cần phải như thế.
Cô đi tìm khẩu súng. Đầu tiên cô thử lục trong hộc bàn, và không thấy nó nằm trong đó. Chỉ có giấy tờ và các thứ đồ linh tinh. Nhưng đêm hôm đó, ông ấy đã nói là trong này có một khẩu, và chắc chắn nó phải có ở đây, đâu đó bên trong căn phòng này. Họ không bao giờ nói cho cô nghe điều gì không đúng sự thật, dù chỉ là những điều vặt vãnh nhất; cả cha, lẫn mẹ, lẫn... lẫn Bill. Đó là điểm khác biệt lớn giữa họ và cô. Đó là lý do họ được thanh thản - còn cô thì không.
Tiếp theo cô thử lục trong bàn của Cha Hazzard. Nó có nhiều ngăn tủ và hộc hơn, nhưng cô vẫn lục hết từng nơi. Lúc cô dịch một cuốn sổ cái nặng trịch sang bên, có thứ gì đó lấp lánh sáng trong ngăn bàn dưới cùng, và nó kia rồi, bị đẩy vào sâu trong cùng.
Cô lôi nó ra. Mới đầu, trông nó thật vô hại, có thể nói là khá thất vọng. Một vật thật quá nhỏ, nhưng lại có thể thực hiện một chuyện động trời. Có thể tước đi một sinh mạng. Nó làm từ kền bóng và xương. Và cô đoán cái chỗ lồi có khía ở giữa là nơi sức mạnh sinh sát của nó được cất giấu. Vì không quen dùng, cô lấy cườm tay vỗ vào mặt sau của nó, và bẻ vặn nó, tìm cách mở nó ra, đánh liều chấp nhận nguy cơ nó vô tình khai hỏa, chỉ biết thầm hi vọng rằng nếu cô để ngón tay tránh xa cò súng thì chuyện đó sẽ không xảy ra. Bất chợt, nhờ một cú chạm vô tình, nó bổ xuống dưới hết sức nhẹ nhàng, nghiêng mình mở ra. Những ổ đạn đen tròn, trống rỗng.
Cô lục lọi mấy cái ngăn bàn thêm một lúc nữa. Cô mò ra cái hộp các-tông nhỏ mà hồi nãy lúc lục tìm cô có nhìn thấy, dù đã vội vã gạt sang bên. Bên trong được lót xơ bông, như thể dùng để chứa viên thuốc gì rất dễ hỏng. Nhưng thay vào đó, nó chứa những viên đạn bọc thép, mũi tù. Có năm viên tất cả.
Cô cho chúng vào trong ổ, lần lượt từng viên, vào trong cái hố sâu dành cho chúng. Chỉ còn một ô là trống.
Cô chốt khẩu súng lại.
Cô tự hỏi liệu có thể nhét vừa nó trong túi xách của mình không. Cô thử để ngang nó ra, mặt phẳng hướng lên trên, và nó lọt thỏm vào trong túi.
Cô đóng miệng túi xách lại, mang nó theo mình, và đi ra ngoài căn phòng, ra đến tận cuối hành lang.
Cô lấy quyển danh bạ điện thoại chia theo mục ra, tìm dưới mục “Gara.”
Có khả năng hắn cho xe đỗ ngoài đường suốt đêm.
Nhưng cô không nghĩ hắn sẽ làm thế. Hắn là hạng người rất quý trọng xe, mũ và đồng hồ. Hắn là hạng người quý trọng tất cả mọi thứ ngoại trừ phụ nữ.
Các gara được xếp theo thứ tự bảng chữ cái, và cô cũng bắt đầu gọi điện cho họ theo thứ tự đó.
“Chỗ các anh có cho một chiếc xe đến từ New York biển số 09231 gửi lại đêm nay không?”
Đến gara thứ ba, nhân viên trực đêm trả lời rằng, “Vâng, chúng tôi có. Nó vừa được đưa đến vài phút trước thôi.”
“Của anh Georgesson à?”
“Vâng, đúng rồi. Nhưng có chuyện gì thế? Cô muốn gì?”
“Tôi... tôi chỉ vừa xuống khỏi cái xe đó. Cái anh chàng đó lái chiếc xe chở tôi về nhà. Tôi nhớ ra mình đã để quên một thứ ở chỗ anh ta. Tôi phải liên hệ với anh ta. Xin anh giúp cho, nó quan trọng lắm. Anh có thể cho tôi biết liệu tôi có thể tìm gặp anh ta ở đâu được không?”
“Chúng tôi không được phép làm thế, thưa cô.”
“Nhưng tôi không thể vào nhà. Anh ta có chìa khóa nhà tôi, anh không hiểu à?”
“Thế sao cô không bấm chuông cửa nhà mình đi?” cái giọng cộc cằn kia đáp lại.
“Đồ đần độn!” Cô nổi điên, và cơn giận dữ vốn có giúp cô có được giọng điệu hợp lý. “Đáng ra tôi không được phép đi cùng anh ta! Tôi không muốn thu hút sự chú ý. Tôi không thể rung chuông cửa được!”
“Tôi hiểu ý cô rồi,” cái giọng kia vang lên vẻ nhạo báng, mang âm sắc nhừa nhựa mà cô đã đoán kiểu gì mình cũng được nghe thấy, “tôi hiểu ý cô rồi.” Và rồi gã tặc lưỡi hai lần. “Chờ đấy, tôi sẽ đi kiểm tra.”
  Người kia bỏ đi. Thế rồi gã lại trả lời điện thoại, nói, “Tính đến nay anh ta đã gửi xe ở chỗ chúng tôi được một thời gian rồi. Địa chỉ ghi trong sổ của chúng tôi là 110 đường Decatur. Tôi không biết liệu...”
Nhưng cô đã cúp máy mất rồi.
 
 
 
 
Chương 40

Cô dùng chìa khóa riêng để mở cửa gara. Chiếc xe mui trần nhỏ mà Bill vẫn hay dùng đã bị mang đi mất, nhưng chiếc xe lớn, bốn chỗ ngồi, thì vẫn ở trong đó. Cô cho nó lui ra. Thế rồi cô tạm ra ngoài xe một lúc, để quay lại đóng cửa gara.
Vẫn như lúc trước, việc này mang lại cho cô cảm giác phi thực tế; như một giấc mơ huyền ảo, một cuộc mộng du, ấy nhưng vẫn ý thức được hết tất cả mọi chuyện. Tiếng bước chân tạch tạch trên con đường xi măng dẫn vào gara là của ai đó khác, ấy nhưng chúng vẫn cứ là của cô - âm thanh phát ra dưới chân cô. Cứ như thể nhân cách cô vừa mới bị xẻ đôi ra một cách tàn bạo, và một phần bản tính của cô, bấy giờ đang cảm thấy hết sức hãi hùng và bất lực, quan sát một kẻ sát nhân ma quái bước ra từ vệt xẻ kia bắt đầu thực hiện mưu đồ chết người. Cô chỉ có thể bám theo cái thực thể đen tối kia, cái nhân cách xẻ đôi của mình, cái bản chất một khi đã vùng thoát ra thì không thể nào bị tóm lại hay hấp thụ lại. Có lẽ đó chính là lý do khiến tiếng bước chân nghe thật xa cách, và cử động của cô cứ như hình ảnh phản chiếu hắt lại từ gương.
Sau khi quay vào trong xe, cô cho nó lui ra ngoài phố, quay đầu xe, và cài số tiến. Không có gì thô bạo, động tác vẫn hết sức khéo léo, hệt như một tài xế bị nhập hồn. Một bàn tay của ai đó, không phải của cô - rất kiên quyết, rất vững tay, rất thuần khiết - vẫn nhớ cầm một chiếc khăn tay thò ra tóm lấy chốt cửa và đóng chắc nó lại.
  Bên ngoài, đèn đường lướt về phía cô như những quả bóng sáng rực lăn trên một sàn chơi bowling. Nhưng cú lăn nào cũng đều trượt hết, lúc thì lăn quá xa về bên này, lúc lại lăn quá xa về bên kia. Trong khi ấy, cô và chiếc xe, con ky to nhất ở chính giữa, thì chúng mãi chẳng đánh đổ được.
Hẳn kẻ đang ném bóng bowling về phía mình chính là Số Mệnh. Nhưng mình không quan tâm, cứ để cho bóng lăn đến. Cô nghĩ thầm.
Thế rồi một lần nữa, chiếc xe dừng lại. Đi hạ sát một con người sao mà đơn giản quá chừng.
Cô không quan sát kĩ nó, không nhìn ngó xem nó trông như thế nào. Hình dáng của nó không quan trọng; cô sẽ đi vào trong đó, và chuyện ấy sẽ xảy ra ngay tại đó.
Cô lại đạp chân lên bàn ga, đi quá chỗ cánh cửa và ra đến góc đường. Khi ra đến nơi, cô quẹo xe lại, bởi vì cô không được phép qua đường ở chỗ đó, cho chiếc xe quay đầu về hướng ban nãy cô vừa đi đến, để nó tiến lại gần vệ đường, cho nó đỗ ở đó, khuất khỏi tầm mắt.
Cô nhấc chiếc túi để trên ghế bên cạnh, như một người phụ nữ vẫn thường làm khi chuẩn bị rời khỏi xe, kẹp chắc nó dưới cánh tay.
Cô tắt động cơ và bước ra ngoài. Cô bước vòng lại khúc quanh vừa rồi, ra nơi cô vừa mới rời đi, bước chân vội vã, bận bịu như một người phụ nữ về nhà lúc đêm muộn, muốn nhanh chóng ra khỏi con phố. Ai cũng đã thấy họ hành xử như vậy nhiều lần rồi; mải chăm chú lo việc của mình, bởi lẽ họ biết mình dễ có nguy cơ bị người khác đến gạ gẫm cao hơn lúc ban ngày.
Cô chỉ có một mình trên dải vệ đường đêm u ám, phía trước một tòa nhà hai tầng trải dài, kết cấu kiểu lai tạp, nửa là khu thương mại và nửa là nhà dân. Tầng trệt bao gồm một chuỗi các cửa hàng tắt đèn tối om, tầng trên là một hàng cửa sổ dài dằng dặc. Bóng trắng của một chai sữa được đặt trên bậu của khung cửa sổ. Có một cửa thắp sáng đèn, nhưng rèm được kéo kín lại. Không phải cửa có chai sữa.
Lọt thỏm giữa hai cửa hàng là một cánh cửa đơn với hàng loạt những cửa kính nhỏ gắn bên trên theo kiểu lỗ bánh nướng, khó phát hiện đến mức cứ như là một cánh cửa bí mật. Cô nhìn thấy nó do có một ngọn đèn hành lang đang thắp tù mù đâu đó phía sau, ráng sức lấn át bóng tối.
Cô ra chỗ cánh cửa và thử kéo nó, nó mở bung ra, không chút do dự, bởi lẽ nó không có khóa, chỉ đơn thuần là một cánh cửa đóng để làm màu. Bên trong có một cái máy sưởi gỉ sét, một cây cầu thang xi măng dẫn lên trên, và ở bên cạnh nó, ngay chỗ đầu cầu thang, là một hàng hộp thư và nút chuông. Tên của hắn nằm trên cái hộp thứ ba mà cô quan sát, nhưng nó không nằm đó một mình, mà được ghi đè lên thẻ tên người thuê nhà trước đây. Hắn đã lấy bút chì gạch bỏ cái tên đi, và điền tên mình bên dưới. “S. Georgesson.” Hắn viết chữ không được tử tế lắm.
Hắn không làm được gì tử tế cả, ngoại trừ phá hoại cuộc đời của người khác. Hắn làm việc đó rất tử tế, hắn là một chuyên gia.
Cô leo lên cầu thang và đi dọc hành lang. Đây là một nơi được xây dựng cẩu thả, tạm bợ. Trong thời kỳ chiến tranh khan hiếm, hẳn người ta đã lấy phần gác mái hay kho chứa đồ của các cửa hàng bên dưới và biến chúng thành nhà cho người ở.
Thật là một nơi tệ hại để sống! Cô u uẩn nghĩ thầm.
Thật là một nơi tệ hại để chết! Cô tàn nhẫn nghĩ thầm.
Cô có thể thấy cái vệt ánh sáng mỏng tang dưới cửa phòng hắn.
  Cô gõ cửa, và rồi lại gõ thêm lần nữa, vẫn nhẹ nhàng như lần đầu tiên. Bên trong hắn đang bật đài. Cô có thể nghe tiếng đài vọng qua cửa khá rõ ràng.
Trong lúc đứng đợi, cô giơ tay lên và vuốt tóc ra sau. Người ta chỉ vuốt tóc - nếu cần phải vuốt - ngay trước khi sắp đi gặp ai đó, hay ai đó sắp sửa đến gặp mình. Đó là lý do cho hành động hiện giờ của cô.
Người ta bảo rằng những lúc như thế này ta sẽ rất hoảng sợ. Người ta nói rằng ta sẽ cuống đến mức không thể nào kiểm soát nổi. Người ta nói rằng ta sẽ bị cảm xúc âm ỉ làm cho mờ mắt.
Người ta nói như thế. Nhưng mà người ta thì biết cái gì? Cô chẳng cảm thấy gì cả. Không sợ, cũng không cuống mà cũng không giận đến mò mắt. Chỉ có một quyết tâm tẻ ngắt, nhức nhối lan tỏa khắp người.
Hắn không nghe thấy, hoặc hắn không định mở cửa. Cô thử vặn tay nắm cửa, và cũng như cánh cửa bên dưới, cánh cửa này không bị khóa, nó mở từ bên trong. Sao lại phải khóa chứ, cô lập luận, hắn việc gì phải sợ người khác? Không ai lấy được gì của hắn cả, chỉ có hắn mới là người tước đoạt đồ của người khác.
Cô đóng cửa lại sau lưng, để giữ cho chuyện này chỉ hai người bọn họ biết với nhau.
Mắt cô không nhìn thấy hắn. Căn hộ nồng nặc mùi của hắn, nhưng đây là một căn hộ hai phòng, phòng ngủ và phòng sinh hoạt, và hắn chắc hẳn đang ở căn phòng phía trong, chắc hẳn vừa mới bước vào bên trong ngay khi cô đến ngoài cửa. Cô có thể thấy ánh sáng chiếu xiên ra từ khe hở.
Chiếc áo khoác và cái mũ hắn đội trong xe cùng với cô tối nay được vắt trên ghế, áo khoác vắt ngang phần chỗ ngồi, còn cái mũ thì đặt bên trên. Một điếu xì gà mới mấy giây trước hắn chưa dập hết được đặt trong chiếc gạt tàn thủy tinh, ngang ngạnh bốc khói. Ly rượu hắn vừa mới nhấp môi, sau đó bỏ đấy, và bất cứ lúc nào cũng có thể quay lại để uống nốt - ly rượu hắn dùng để uống mừng kế hoạch tối nay thành công mỹ mãn - đang được đặt trên mép bàn. Cái khối đá trắng chưa tan đang quan sát cô từ bên thành ly, nhìn qua lớp whisky màu rơm, nó trôi nổi bên trong.
Hình ảnh này gợi lại ký ức về một căn phòng có nội thất ở New York. Hắn uống rượu loãng; hắn rất thích rượu mạnh, nhưng thường uống loãng mỗi khi dùng whisky hắn tự mua.
“Về sau kiểu gì chẳng có ly tiếp theo,” hắn toàn nói với cô như vậy.
Giờ thì không có nữa rồi. Đây là ly rượu cuối cùng của hắn. Đáng ra anh phải uống rượu mạnh hơn. Cô thầm nhủ đầy bực bội.
Có tiếng chà xát gì đó khiến cô thấy khó chịu. Một tiếng đập rào rạo, một âm thanh lệch nhịp nào đấy. Nó thực ra là âm nhạc, nhưng với cô bây giờ, không thứ nhạc nào lọt vào tai mà vẫn giữ nguyên bản chất là âm nhạc được nữa. Sự căng thẳng của các giác quan đã biến nó trở thành thứ âm thanh nghe như chổi cọ kỳ lên một miếng thiếc có khía. Hoặc, như cô chợt nhận ra, có khi nó phát ra từ bên trong cô chứ không phải từ bất kỳ chỗ nào bên ngoài.
Không, nó vọng ra từ đằng kia. Hắn có một cái đài nhỏ chạy pin đặt sát tường. Cô đi ra chỗ nó.
“Che gelida mannina [1].., một giọng người xa xăm đang ngân nga hát; cô không biết câu ấy nghĩa là gì. Cô chỉ biết rằng phân cảnh bấy giờ không phải là cảnh yêu đương, mà là cảnh chết chóc.
Tay cô hất mạnh một cái, như thể đang vặt cổ một con gà, và bao trùm lên hai căn phòng tồi tàn của hắn là màn sương im lặng. Cả trong căn phòng ngoài lẫn cái căn phòng trong đó.
Giờ hắn sẽ phải bước ra ngoài để xem ai vừa tắt đài.
Cô quay mặt về phía khe hở. Cô nâng chiếc túi xách lên trước ngực mình. Cô mở nó, lấy khẩu súng ra, và nắm tay quanh nó, theo đúng cái kiểu tay cô cần nắm. Không chút lúng túng, không chút run rẩy, mọi động tác đều được phối hợp hết sức hoàn hảo.
Cô chĩa khẩu súng về phía khoảng hở.
“Steve,” cô nói với hắn trong cái tĩnh lặng tuyệt đối, âm lượng không to hơn tông giọng hai người ở hai phòng khác nhau vẫn hay dùng để nói chuyện. “Ra đây đi. Tôi muốn gặp anh.”
Không hãi sợ, không yêu thương, không thù ghét, không có bất kỳ cảm xúc nào.
Hắn không ra. Có phải hắn đã nhìn thấy cô trong một tấm gương không? Hay là hắn đoán được? Hắn hèn nhát đến mức sợ hãi cả một người phụ nữ ư?
Điếu xì gà gãy đôi tiếp tục biến thành những làn chỉ khói. Cục đá vẫn tiếp tục nhìn cô qua ly thủy tinh, vẫn đủ hết các mặt và chưa tan chút nào.
Cô tiến về phía khoảng hở.
“Steve,” cô khàn giọng nói. “Vợ anh đến rồi. Đến để gặp anh đây.”
Hắn không động đậy, hắn không đáp.
Cô đi vòng qua khung cửa, súng quay ngoắt ra trước mặt như một cái bánh lái cụt. Căn phòng thứ hai không song song với căn phòng thứ nhất; nó được thiết kế vuông góc với căn phòng kia. Nó rất nhỏ, chỉ có một cái hốc để nằm ngủ. Bên trên là một bóng đèn, trông như thể một cái mụt ghẻ phát sáng mọc lên trên lớp bề mặt trần quét vôi. Còn có cả một cây đèn cạnh chiếc giường sắt, cũng được bật sáng, nhưng nó lại chúc ngược đầu xuống đất. Nó nằm cắm đầu xuống sàn, phần dây nối móc ngoắc trên không trông hết sức quái đản.
Cô đã đến đúng lúc hắn chuẩn bị lên giường đi ngủ. Áo của hắn nằm vạ vật dưới chân giường. Hắn mới chỉ cởi được có thế. Và bây giờ hắn đang tìm cách trốn cô, nằm đâu đó trên sàn, bên dưới cái giường, ở mé bên trong. Tay hắn vắt lên trên giường - hắn quên mất rằng mình để lộ tay - đang nắm chặt tấm ga, kéo nó thành những đường dài ngoằng, nhăn nhó. Và phần đỉnh đầu của hắn ló ra, rúc sát vào giường - chỉ để lộ một chút xíu thôi - cúi gục lại hòng nấp cho kĩ, nhưng lại không chúc xuống đủ sâu. Và, mặc dù hắn không để lộ bàn tay thứ hai, ở ngay phía bên cạnh, trên tấm ga trải giường lại xuất hiện những đường nhăn chạy dọc xuống mép, như thể nó nằm đâu đó bên dưới, không ai thấy được, nhưng vẫn đang cố bám chặt lấy.
Và khi nhìn xuống dưới sàn, cô có thể thấy thò ra từ phía bên kia giường là phần dưới của một bên chân, duỗi dài ra sau như thể hắn đang lười nhác nằm ườn. Không thấy chân còn lại đâu hết, hẳn là đã bị cọ sát lên người hắn.
“Dậy đi,” cô nhạo báng. “Ít nhất trước đây tôi còn ngỡ mình thấy căm ghét một gã đàn ông. Giờ thì tôi còn không biết anh là cái thứ gì nữa.” Cô đi vòng qua chân giường, và lưng hắn xuất hiện trong tầm mắt cô. Hắn không nhúc nhích, nhưng mọi đường nét cơ thể đều cho thấy hắn đang muốn bỏ chạy.
Túi xách của cô mở bung và cô rút thứ gì đó ra, ném về phía hắn. “Đây là năm đô la anh đã đưa cho tôi. Anh nhớ chứ?” Nó rơi vào giữa hai bên bả vai, và vắt ngang qua xương sống của hắn, bị phần cong của lưng hắn giữ lại, trông cứ như một nhãn hàng hay tem giá quái lạ được dán ẩu lên người.
“Anh yêu tiền đến thế cơ mà,” cô khinh miệt nói.
“Giờ có cả tiền lãi đây này. Quay lại và nhặt lấy đi.”
Cô khai hỏa trước khi kịp nhận ra mình định làm gì. Như thể lẫn trong những lời vừa thốt lên là ám hiệu để khẩu súng tự hành động, không cần đợi cô. Tiếng súng nổ khiến cô giật nảy, cô có thể cảm thấy nó truyền dọc khắp cánh tay, như thể có ai đó đã vỗ một cú tê dại lên xương cổ tay của cô, và cái vệt lửa thoáng được nòng súng phun ra khiến cô phải chớp mắt và bất giác quay đầu sang một bên.
Hắn không cử động. Ngay cả tờ năm đô la cũng không bay ra khỏi người hắn. Một tiếng rên rỉ trầm trầm lạ lùng vang lên từ cái ống trụ tròn đầu giường, như thể đang có một rung động chậm rãi lắng xuống, và trên lớp thạch cao tường là một lỗ thủng đen, nằm lệch hẳn một bên, như thể chỉ vừa mới xuất hiện khi mắt cô nhìn về hướng ấy.
Bàn tay của cô giờ đã đặt lên vai hắn, trong khi tâm trí cô thì cứ lắp bắp, “Tôi không... tôi không...” Hắn èo uột lật người lại, và trôi xuống dưới sàn, trông cứ như là đang chơi đùa, như thể cô vừa mới đe dọa sẽ cù hắn còn hắn thì đang tìm cách tránh né.
Phong thái của hắn xem chừng đầy vẻ biếng nhác cười cợt. Thậm chí miệng hắn còn toét ra, trông như nụ cười nhăn nhở.
Mắt hắn như dán chặt vào người cô, quan sát cô, vẫn với cái ánh nhìn xa cách nhạo báng bấy lâu luôn dành cho cô. Như thể muốn nói, “Giờ cô định làm gì đây?”
Cô gần như không thể nào nhận ra được vấn đề nằm ở đâu. Chỉ có một vết sẫm chạy dọc mé ngoài một bên khóe mắt, trông như được đắp bằng da sơn thay vì băng y tế; như thể hắn đã tự làm mình bị thương ở đó rồi băng nó lại. Và tại cái nơi đầu hắn ban nãy dựa vào, chỗ phần ga giường thòng dọc xuống, có một vết ố hình xoắn ốc dị hợm, mép ngoài trông nhạt hơn phần ở giữa.
Có ai đó hét lên trong căn phòng chật hẹp bé nhỏ ấy. Nghe không chói tai mà lại lào khào, gần giống tiếng sủa của một con chó đang hoảng sợ. Hẳn người hét chính là cô, bởi vì trong này không có ai khác hét được ngoài cô. Thanh quản của cô đau buốt, như thể vì căng quá mà đã bị đứt làm đôi.
“Ôi, Chúa ơi!” cô nghẹn ngào khóc. “Mình không việc gì phải đến...”
Cô lùi xa khỏi hắn, lảo đảo nhích từng bước. Nguyên nhân không phải là cái vệt loang loáng bé nhỏ kia, cái vết hắc ín bẩn, hay cái kiểu hắn nằm ở đó, buông lỏng người uể oải, như thể nãy giờ họ đùa vui đến mức giờ hắn kiệt quệ rồi, và không còn sức đứng dậy để tiễn cô về nữa. Nguyên nhân là cặp mắt của hắn, cặp mắt sắc lẻm cứ liên tục đâm thọc, truyền nỗi sợ vào người cô, cho đến khi sự hoảng loạn trào dâng trong cô, như thể ộc ra từ một cái sàng. Cái kiểu chúng như bám dính lấy cô, cái kiểu chúng như dõi theo bước giật lùi của cô, từng bước, từng bước một. Cô né lệch sang bên, nhưng vẫn không thể thoát khỏi chúng. Cô lại né lệch sang bên ngược lại, nhưng vẫn không thể thoát khỏi chúng. Khinh bỉ, trịnh thượng, nhạo báng cho đến tận phút chót; không chút dịu dàng thật sự nào dành cho cô cả. Chết đi rồi mà hắn vẫn cứ nhìn cô theo kiểu như khi còn sống.
Cô gần như có thể nghe được cái giọng lè nhè đi kèm với ánh nhìn ấy. “Cô định chạy đi đâu thế? Làm gì mà vội vậy? Quay lại đây nào!”
Tâm trí cô gào lên đáp lại, “Rời xa khỏi đây.! Đi ra khỏi đây.! Trước khi có ai khác đến.! Trước khi có ai khác nhìn thấy tôi!”
  Cô quay người và lao qua khoảng hở, chạy xuyên qua căn phòng bên ngoài, tay quơ tới quào lui, như thể căn phòng này là một băng chuyền bất tận đang trôi theo hướng ngược lại, tìm cách kéo cô quay ngược về chỗ hắn, thay vì một khoảng không gian vài mét ngắn ngủi.
Cô ra đến cửa và huých người vào nó. Nhưng rồi, sau cú va đầu tiên, sau khi người cô đã áp vào nó, thay vì trở nên im lặng, cánh cửa cứ tiếp tục kêu thùm thụp, thùm thụp mãi, như thể có hàng chục phiên bản khác của cô đang nối đuôi nhau huých vào nó, mãi không chịu ngừng.
Gỗ không thể nào tự gõ được như thế, gỗ không thể nào tự kêu được như thế. Cô đưa tay lên tai, ấp chặt lấy chúng. Cô gần như sắp hóa điên.
Các cú va đập không còn dãn cách và có khoảng đợi ở giữa. Chúng trở nên thô bạo, dồn dập, liên tiếp. Chúng trở nên giận dữ, và cứ mỗi một giây phải chờ, chúng càng trở nên tức giận hơn. Chúng át đi cả tiếng hét đau đớn thứ hai của cô. Một tiếng hét thậm chí còn mang nhiều nỗi hãi sợ chân thực hơn cả tiếng hét ban đầu, thốt lên trong căn phòng kia. Nỗi sợ của cô bây giờ không còn là sợ thứ gì siêu nhiên nữa, mà là một nỗi sợ rất cá nhân; một nỗi sợ trực tiếp hơn, một nỗi sợ mạnh bạo hơn. Một nỗi sợ đau đớn, một nỗi sợ như giam cầm mà từ trước đến nay cô không hề biết nó tồn tại. Nỗi sợ mất đi thứ mình thương yêu. Nỗi sợ lớn nhất trần đời.
Bởi lẽ cái giọng đang vọng vào qua cửa, đang vang lên bên kia cửa, nghe nghèn nghẹt nhưng đầy nôn nóng bực bội, là giọng của Bill.
Tim cô nhận ra điều ấy trước khi cái giọng kia vang lên, rồi tai cô nhận ra điều ấy khi giọng kia bắt đầu vang lên, và rồi lời lẽ của nó khẳng định với cô điều ấy ngay khi chúng được thốt ra.
  “Patrice! Mở ra. Mở cửa ra. Patrice! Em có nghe anh nói không? Anh biết sẽ tìm thấy em ở đây mà. Mở cánh cửa này ra và cho anh vào đi, nếu không anh sẽ phá cửa đấy!”
Cô muộn màng nghĩ đến cái khóa, và cũng trong đúng tích tắc ấy, anh cũng nghĩ đến điều đó. Rằng cánh cửa suốt từ nãy giờ không được khóa, hệt như lúc cô mở nó hồi nãy. Cô ép bẹp người lên cửa, thốt lên một tiếng rên rỉ tuyệt vọng, nhưng đã quá muộn, vì đúng lúc đó tay nắm cửa vặn tròn và khe cửa bắt đầu nới rộng.
“Không!” cô hổn hển van nài. “Không!” Cô cố gắng sử dụng toàn bộ trọng lượng tấm thân run lẩy bẩy để giữ cho cánh cửa đóng lại.
Cô gần như có thể cảm thấy luồng hơi thở căng thẳng của anh phà vào mặt mình. “Patrice, em^ phải... để... cho... anh... vào... trong... đó!”
Và cứ mỗi từ thốt lên cô lại bị đẩy lui, gót chân cô vô dụng cà ngược ra sau trên mặt sàn.
Giờ anh đã có thể thấy cô, và cô cũng có thể thấy anh, thông qua cái khe hở dao động không ngừng trước lực đẩy ngược nhau của đôi bên, hết nới rộng ra một tí, rồi lại hẹp vào, thế rồi lại rộng ra hơn hẳn trước. Cặp mắt của anh đặt sát mắt cô trông như một lời cáo buộc hết sức khủng khiếp, tệ hơn hẳn cặp mắt của cái xác chết bên trong phòng kia. Đừng nhìn em, đừng nhìn em! Cô thầm van vỉ chúng đầy tuyệt vọng trong tâm trí. ổi, anh hãy nhìn đĩ chỗ khác đĩ, em không thể chịu được đâu!
Cô cứ thế lùi lại, cứ đều đều và không thể nào ngăn chặn được, ấy nhưng cô vẫn cố cản anh, cố đến tận giây phút cuối cùng, kể cả sau khi tay và vai anh đã thò được vào trong, cô điên cuồng gồng toàn thân lên ngăn cản anh, ép bẹp tay lên cửa cho tới khi chúng trắng bệch, không còn một giọt máu.
 
Thế rồi anh thúc nốt lần cuối để chấm dứt cuộc đọ sức không cân bằng này, và cô bị đẩy ngược lại cùng với đường vòng cung cửa, như một chiếc lá hay một mảnh giẻ bị mắc kẹt. Và anh đã vào được trong phòng, và anh đứng ngay cạnh cô, ngực hơi phập phồng thở dốc.
“Không, Bill, không!” Cô cứ tiếp tục van lạy như một cái máy, ngay cả sau khi đã không còn nguyên cớ gì để mà van lạy nữa. “Đừng vào đây. Nếu anh yêu em thì đừng vào. Hãy ở ngoài đi.”
“Em đang làm gì ờ đây thế?” Anh nói cụt ngủn. “Sao em lại đến đây?”
“Em muốn anh yêu em,” cô chỉ thì thào được như vậy, chẳng khác nào một đứa trẻ đang xao nhãng. “Đừng vào đây. Em muốn anh yêu em.”
Anh bỗng túm lấy cô, và lắc vai cô thật mạnh. “Anh đã trông thấy em. Em đến đây làm gì? Em đến đây giữa đêm hôm thế này để làm gì?” Anh lại buông cô ra. “Cái gì thế này?” Anh nhặt khẩu súng lên, món đồ mà nãy giờ cô hoàn toàn quên khuấy mất vì còn mải phát hoảng. Hẳn nó đã rơi ra ngoài, hoặc cô đã quăng nó xuống sàn trong lúc tháo chạy từ căn phòng bên trong.
“Em mang nó theo à?” Anh lại tiến về phía cô. “Patrice, trả lời anh đi!” Anh nói với cái giọng hung hãn mà cô không biết anh sở hữu. “Em đến đây làm gì thế?”
Giọng cô cứ tiếp tục nghẹn lại và tắc ứ trong cô họng, như thể không cách nào vọt lên được. Cuối cùng nó tuôn trào ra. “Để... để ... để giết hắn ta.” Cô ủ rũ đổ gục vào người anh, và anh phải vòng tay ôm thật chặt để giữ cho cô đứng vững.
Tay của cô tìm cách men dọc ve áo anh, leo lên phần trước áo anh, đưa về phía mặt anh, như những kẻ ăn xin trắng nhợt ngó ngoáy cầu xin được bố thí.
Anh gạt tay một cái, và chúng lại buông xuống.
“Và em có làm như thế không?”
“Có ai đó... đã làm thế. Có ai đó... đã làm thế từ trước rồi. Trong đó. Hắn ta chết rồi.” Cô rùng mình và ụp mặt vào người anh. Sẽ đến một lúc ta không thể nào ở một mình được nữa. Ta sẽ cần có ai đó để bấu víu lấy. Ta sẽ cần được ai đó ôm ấp, kể cả nếu ta biết rõ rằng chỉ một vài giây nữa thôi người ấy sẽ lại xua đuổi ta.
Bất chợt tay anh buông xuống và anh rời khỏi cô. Phải đơn côi một mình mới kinh khủng làm sao, dù chỉ là trong phút chốc. Cô tự hỏi sao mình lại có thể chịu đựng được nó suốt bao tháng năm qua.
Cuộc đời thật là một thứ điên rồ, cuộc đời thật là một thứ quái đản. Một người đã lăn ra chết. Một tình yêu vừa bị phá tan thành hư vô. Nhưng một điếu xì gà vẫn đang bốc khói trên gạt tàn. Và một cục đá vẫn đang lơ lửng mãi, chưa tan trong cái ly thủy tinh. Những thứ ta muốn được trường tồn thì tan vỡ, còn những thứ không quan trọng thì cứ nấn ná mãi.
Thế rồi từ trong căn phòng kia, anh lại xuất hiện, đứng chỗ khoảng hở nhìn cô. Nhìn cô theo cái kiểu rất khác thường. Có phần hơi lâu quá, có phần hơi im lặng quá - cô không thể nói chính xác mình không thích nó ở điểm nào, nhưng cô không muốn anh nhìn cô như thế. Những người khác có nhìn kiểu đó cũng không sao. Nhưng anh thì không.
Thế rồi anh giơ khẩu súng nãy giờ vẫn đang cầm lên, và đặt nó sát bên mũi.
Cô thấy anh gật đầu đầy nghiêm nghị.
“Không. Không. Em không làm thế. Ôi trời ơi, xin hãy tin em.”
“Súng vừa mới được khai hỏa,” anh lặng lẽ nói.
 
  Giờ mắt anh mang nét gì đó trông thật rầu rĩ, như thể chúng muốn nói với cô rằng, “Sao em lại không muốn nói cho anh nghe? Sao em không nói anh nghe cho mọi chuyện? Và rồi anh sẽ hiểu.” Anh không nói hẳn ra, nhưng ánh mắt anh thì như đang nói thế.
“Không, em không làm chuyện ấy. Em có bắn về phía hắn, nhưng không trúng.”
“Được rồi,” anh lặng lẽ nói với vẻ mệt mỏi mà ta vẫn bộc lộ mỗi khi không tin điều gì đó, nhưng cố lờ nó đi để tha cho người khác.
Bất chợt anh đút nó vào trong túi áo khoác, như thể nó không còn quan trọng nữa, như thể nó chỉ là một tiểu tiết, như thế có những vấn đề quan trọng gấp bội cần phải giải quyết ngay. Anh cài cúc áo lại một cách kiên quyết, tiến về phía cô; động tác của anh giờ mang dáng dấp mạnh bạo đầy linh hoạt, không như ban nãy.
Một thôi thúc, một mục tiêu.
Anh lại choàng tay ôm lấy cô che chở. Nó chính là chốn thánh địa mà cô đã suốt đời tìm kiếm. Và tận bây giờ cô mới tìm thấy, nhưng đã quá muộn màng. Có điều lần này tay anh vội vã thúc cô về phía cánh cửa chứ không chỉ đơn thuần đỡ cô. “Ra khỏi đây, nhanh,” anh nghiêm giọng ra lệnh. “Em hãy xuống phố nhanh hết mức có thể.”
Anh kéo cô đi, đẩy cô vội bước cùng mình, kẹp trong vòng tay che chở của anh. “Nhanh lên nào. Không thể để người khác thấy em ở đây được. Em hẳn phải mất trí rồi mới đến đây như thế này!”
“Em đúng là mất trí thật,” cô khóc. “Em mất trí thật rồi.”
Cô bắt đầu ngọ nguậy kháng cự lại anh một chút, tìm cách không đi ra phía cửa. Cô bất chợt vùng ra khỏi vòng tay anh, và đứng lùi lại, mặt đối mặt với anh. Bàn tay của cô cứ tiếp tục đẩy tay anh ra mỗi lần chúng định tóm lấy cô.
  “Không, đợi đã. Có điều này anh phải nghe em nói trước đã. Có điều này anh phải biết. Em đã cố gắng giữ cho anh nằm ngoài cuộc, nhưng giờ anh ở trong này với em rồi. Em đã làm đến mức này rồi; em sẽ không làm quá thêm nữa.” Và rồi cô nói thêm, “Với cái kiểu như em hồi trước.”
Anh thò tay ra và lắc cô đầy thô bạo vì bực bội. Như thể muốn cô tỉnh táo lại. “Không phải bây giờ! Em không hiểu à? Có một người nằm chết đứ đừ trong căn phòng bên cạnh. Em không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu người ta phát hiện ra em ở đây à? Chắc chắn sẽ có ai đó thò đầu vào đây bất cứ lúc nào.”
“Ôi, đồ ngốc,” cô gào lên với anh đầy vẻ thương hại. “Anh mới là người không hiểu. Chuyện ấy đã xảy ra rồi. Anh không nhận ra sao? Em đã bị phát hiện rồi!” Và cô lẩm bẩm rất khó nghe, “Bị phát hiện bởi người duy nhất quan trọng với em. Bây giờ em bỏ chạy và lẩn trốn làm gì nữa?” Cô mệt mỏi đưa mu bàn tay lên quệt mắt. “Hãy cứ để người ta đến. Hãy cứ cho họ đến đi.”
“Nếu em không muốn nghĩ đến bản thân,” anh gay gắt thúc giục, “thì hãy nghĩ đến mẹ. Anh tưởng em yêu bà ấy, anh tưởng bà ấy có ý nghĩa với em. Em không hiểu một chuyện như thế này sẽ khiến bà ấy ra sao à? Em đang định làm gì thế, giết bà ấy à?”
“Đã có người từng lập luận như thế với em,” cô mập mờ đáp lời anh. “Em không thể nhớ đó là ai, hay là nói ở đâu.”
Anh cẩn thận mở cửa và nhìn ra ngoài. Thế rồi lại khép cửa vào, quay về chỗ cô. “Không thấy bóng dáng của bất kỳ ai cả. Anh không thể hiểu làm sao phát súng vừa rồi lại không bị nghe thấy. Anh không nghĩ mấy phòng kế bên có người.”
Cô dứt khoát không chịu nhúc nhích. “Không, bây giờ chính là lúc cần nói, và đây là nơi cần nói. Em đã đợi quá lâu để nói với anh điều này. Em sẽ không tiến thêm một bước nào nữa, em sẽ không bước qua cái bậu cửa đó...”
Anh siết chặt quai hàm. “Anh sẽ bê em ra khỏi đây nếu anh buộc phải làm thế! Em có chịu nghe lời anh không? Em có định tỉnh táo lại không?”
“Bill, em không đáng được anh bảo vệ. Em không.”
Tay anh bỗng dưng ụp lên miệng cô, bịt kín. Anh nhấc bổng cô lên khỏi sàn, ôm cô trong vòng tay. Bên trên bàn tay bưng bít của anh, mắt cô ngước lên, đầy câm lặng và bất lực.
Thế rồi họ áp sát vào người nhau. Cô không còn kháng cự lại anh.
Anh cứ thế bế cô ra khỏi cửa, bước dọc hành lang, và đi xuống cây cầu thang mà lúc trước cô đã bước lên đầy dửng dưng. Khi ra đến gần cánh cửa dẫn ra phố, anh đặt cô đứng xuống.
“Đứng đây một phút, chờ anh quan sát bên ngoài đã.” Dựa vào cái vẻ thụ động của cô, anh biết giờ cô đã không còn ngoan cố nữa.
Anh rụt đầu vào. “Không có ai ở ngoài đó cả. Em đỗ xe ở mé góc đường, đúng không?” Cô không có thời gian để tự hỏi tại sao anh biết được điều đó. “Đi sát anh, anh sẽ đưa em quay lại chỗ đó.”
Cô xoắn hai tay nắm lấy cánh tay anh, cứ thế bám chặt lấy anh, và họ đi ra ngoài, không bị ai ngăn cản, vội vã bước sát mặt tiền tòa nhà, nơi bóng tối che phủ đen đặc nhất.
Khoảng cách sao mà xa xôi quá. Không ai thấy họ; thậm chí còn tuyệt vời hơn là không có ai ở đó để mà thấy họ. Có lần một con mèo chui ra từ một ống thông trước mặt. Cô chợt ép mình vào sát anh hơn, nhưng không kêu lên tiếng nào. Sau một thoáng giật nảy người, họ lại đi tiếp.
Họ đi vòng qua khúc quanh, và chiếc xe nằm ngay đó, chỉ cách góc đường một khoảng ngang bằng chiều dài của chính nó.
Họ đi chéo đường ra chỗ chiếc xe, anh mở cửa và đẩy cô ngồi vào trong. Thế rồi cánh cửa lại bất chợt đóng sập lại giữa hai người, và anh đứng ở bên ngoài.
“Chìa khóa đây. Giờ em đưa xe về nhà và...”
“Không,” cô hoảng hốt thì thầm. “Không! Không có anh thì em không về đâu! Anh đi đâu vậy? Anh định làm gì thế?”
“Em không hiểu à? Anh đang cố giữ cho em không liên can gì đến vụ này cả. Anh sẽ quay lên trên đó. Anh phải làm thế. Để đảm bảo chẳng có gì trên đó làm liên lụy đến em. Em phải giúp anh. Patrice, hắn đang bắt em làm gì thế? Anh không muốn biết tại sao, bây giờ không có thời gian để nghe chuyện đó, anh chỉ cần biết hắn muốn gì thôi.”
“Tiền,” cô đáp gọn lỏn.
Cô thấy bàn tay anh siết chặt lấy vành cửa, cho đến khi trông anh như thể đang tìm cách bóp bẹp nó. “Em đưa tiền cho hắn theo kiểu gì, tiền mặt hay séc?”
“Một tờ séc,” cô sợ hãi nói. “Chỉ đúng một lần thôi, khoảng một tháng trước.”
Giọng anh có vẻ căng thẳng hơn. “Em đã tiêu hủy nó lúc tờ séc được hồi lại rồi, đúng kh.?”
“Em không bao giờ nhận lại được. Hắn cố tình giữ nó. Hẳn hắn vẫn còn đang giữ nó ở đâu đó.”
Thấy anh cứng người và chậm rãi hít một hơi là cô nhận ra ngay điều này khiến cho anh hãi sợ hơn hẳn bất cứ điều gì cô đã kể với anh từ trước đến nay. “Lạy Chúa,” anh lo lắng nói. “Anh phải lấy lại tờ séc ấy, kể cả phải mất cả đêm nay.” Anh lại gục đầu xuống, chúi về phía cô. “Còn gì nữa không? Có thư từ gì không?”
  “Không có gì cả. Cả đời em chưa bao giờ viết cho hắn một dòng nào hết. Có một tờ năm đô la nằm trong đó, bên cạnh hắn, nhưng em không muốn lấy lại nó.”
“Tốt nhất anh nên thu nó về. Không còn gì nữa à? Em có chắc không? Nào, nghĩ đi, Patrice. Nghĩ cho kĩ vào.”
“Đợi đã, vào hôm đi khiêu vũ... hình như hắn có số điện thoại của em. Của nhà mình. Ghi vào trong một quyên sổ đen nhỏ hắn mang theo.” Cô lưỡng lự. “Và còn một thứ này nữa.”
“Thứ gì thế? Đừng sợ, nói anh nghe đi. Thứ gì thế?”
“Bill. tối nay hắn bắt em kết hôn với hắn. Ở Hastings.”
Lần này anh giơ tay lên, để nó nện rầm xuống vành cửa như một cái búa. “Anh mừng là gã kia đã.,” anh nói với giọng đầy đe dọa. Anh không nói nốt câu. “Em ký tên riêng của em à?”
“Tên của gia đình mình. Em buộc phải làm thế. Đó là lý do khiến hắn làm chuyện này. Thẩm phán sẽ gửi chứng nhận đến địa chỉ này cho hắn trong vòng một, hai ngày nữa.”
“Thế tức là vẫn còn đủ thời gian để giải quyết việc đó. Ngày mai anh sẽ lái xe ra đây và lấy nó. Tiền làm được nhiều việc lắm.”
Bất chợt trông anh như vừa hạ quyết tâm sẽ làm gì. “Về nhà đi, Patrice,” anh ra lệnh. “Quay về nhà đi, Patrice.”
Cô sợ hãi tóm chặt lấy tay anh. “Không. Anh định làm gì thế?”
“Anh sẽ quay lên trên đó. Anh phải làm thế.”
Cô cố giữ anh lại. “Không! Bill, không! Có thể sẽ có người xuất hiện. Họ sẽ thấy anh ở trong đó. Bill,” cô van nài, “vì em đi. đừng quay lại đó nữa.”
“Em không hiểu à, Patrice? Tên em không được dính dáng gì đến vụ này. Có một gã đàn ông đang nằm chết ngắc trên tầng, trong căn phòng đó. Không thể để cho người ta phát hiện thấy bất cứ thứ gì cho thấy em có dính líu với hắn. Em chưa từng biết hắn, em chưa từng nhìn thấy hắn. Anh sẽ phải đi lấy mấy thứ kia - tờ séc, quyển sổ. Anh phải vứt bỏ chúng đi. Nếu anh lôi được hắn ra khỏi đó, bỏ xác hắn ở đâu đó, cách xa nơi này, khiến người ta khó lòng xác định được hắn là ai thì càng tốt. Có khi người ta sẽ chẳng bao giờ xác định được danh tính hắn. Hắn không phải người của thị trấn này, ít có khả năng có người đi hỏi sao hắn lại đột nhiên mất tích như thế. Hắn đến và rồi hắn lại bỏ đi; như một kẻ du thủ du thực. Nếu hắn được phát hiện trong căn phòng kia, ngay lập tức người ta sẽ xác định được hắn là ai, và rồi chuyện đó sẽ dẫn đến hàng loạt chuyện khác.”
Cô thấy anh liếc quan sát chiều dài chiếc xe một cách đầy suy đoán, như thể đang đo lường xem liệu có thể dùng nó làm quan tài được không.
“Em sẽ giúp anh, Bill,” cô đột ngột nói đầy quyết tâm. “Em sẽ giúp anh... làm bất cứ điều gì anh muốn.” Và rồi, khi thấy anh nhìn mình với vẻ hồ nghi, “Để em làm thế đi, Bill. Để em làm thế đi. Đây là cách em. bù đắp phần nào cho việc mình là nguyên cớ làm nảy sinh ra chuyện này.”
“Được rồi,” anh nói. “Đằng nào thì anh cũng không thể làm được chuyện này nếu không có xe. Anh cần nó.” Anh chui vào ngồi bên cạnh cô. “Để anh lái xe một chút. Anh sẽ cho em thấy anh muốn em làm gì.”
Anh cho chiếc xe tiến lên phía trước chỉ một, hai mét, rồi lại cho nó đỗ lại. Chiếc xe dừng lại ở vị trí mà chỉ có phần mui là thò ra khỏi khúc quanh của tòa nhà, phần còn lại thì vẫn bị che khuất đằng sau. Ghế lái xe được xếp thẳng với mặt tiền các cửa hàng tại chỗ khúc quanh.
“Nhìn theo hướng đằng kia mà xem, từ chỗ em ngồi ấy,” anh ra lệnh cho cô. “Em có thấy cái khung cửa kia không?”
“Không. Nhưng em có thể thấy đại khái nó nằm ở đâu.”
“Ý anh là thế đó. Anh sẽ đứng ở đó, châm lửa đốt một điếu xì gà. Khi nào nhìn thấy, em hãy cho chiếc xe tiến ra phía trước chỗ đấy. Cho đến khi ấy thì em cứ ở im chỗ này. Nếu em thấy bất kỳ thứ gì khác, nếu em thấy có chuyện gì bất ổn, đừng ở lại đây. Hãy lái thẳng một mạch, không quành ra chỗ đó làm gì cả. Lái thẳng về nhà.”
Không, cô ngang ngạnh nghĩ thầm, không, em sẽ không làm thế. Em sẽ không bỏ chạy và bỏ mặc anh ở đây. Nhưng cô không nói với anh điều ấy.
Anh lại chui ra ngoài, đứng quay mặt về phía cô, cẩn thận nhìn hai bên xung quanh, cố không để cho đầu quay đi quay lại quá nhiều, giữ cho người thật im, liếc nhìn ra sau vai, lần lượt từng bên một.
“Được rồi,” cuối cùng anh nói. “Giờ ổn rồi đấy. Anh đoán mình có thể đi được rồi.”
Anh chạm lên mu bàn tay cô một lúc để trấn an cô.
“Đừng sợ, Patrice. Có khi chúng ta sẽ gặp may mắn. Chúng ta chỉ là dân nghiệp dư trong mấy chuyện thế này.”
“Có khi chúng ta sẽ gặp may mắn,” cô lặp lại, cảm thấy sợ hãi vô cùng.
Cô nhìn theo anh quay người và đi xa dần khỏi chiếc xe.
Anh bước đi theo cái kiểu vẫn hay bước. Đó là một trong những cái hay của anh. Anh không đi kiểu lấm lét hay rụt rè. Cô tự hỏi tại sao vào thời điểm thế này, cô lại quan tâm đến chuyện ấy. Nhưng chẳng hiểu sao, nó giúp cho cái chuyện anh, cái chuyện họ sắp sửa thực hiện phần nào bớt kinh khủng hơn.
Anh quay đi và vào bên trong tòa nhà nơi cái gã kia đang nằm chết.
 
Chú thích:
[1] Che gelida mannina: Một câu trong vở opera La bohème nổi tiếng của Italia.
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.03.2023 11:01:30 bởi Ct.Ly>
Chương 41

Dường như anh đã ở trên đó cả thiên thu. Cô không hề biết rằng thời gian lại có thể dãn ra lâu đến thế.
Con mèo hồi nãy lại quay trở về, cái con mèo lúc trước đã khiến cô phát hoảng, và cô quan sát hành trình trở về chốn cũ chậm rãi, vòng vèo, đầy thận trọng của nó. Lúc nó còn ở ngoài mặt đường thì cô vẫn có thể nhìn thấy nó, nhưng khi nó tiến sát về phía tòa nhà, những khoảng tối thẫm hơn nuốt chửng nó.
Mày mà giết chết một con chuột, cô thầm ghen tị nói với nó trong tâm trí, thì người ta sẽ ngợi khen mày. Và cái giống chuột của mày chỉ biết cắn, chứ không biết hút máu.
Có thứ gì đó lập lòe sáng, thế rồi lại tắt phụt đi.
Thật đáng ngạc nhiên là cô lại có thể nhìn thấy một đốm lửa rõ ràng đến thế. Cô không ngơ mình có thế làm được như vậy. Nó nhỏ thôi, nhưng trong một khoảnh khắc hiện ra vô cùng sống động. Như một con bướm vàng phát sáng được giữ im trong một giây, cánh dang rộng hết cỡ, trên một bức phông nền lụa đen, sau đó lại được thả cho trốn đi.
Cô lập tức vặn chìa khóa kích hoạt bộ khởi động, đưa xe vòng qua khúc quanh, và cho nó đỗ lại bên anh hết sức kín đáo. Không có gì ngoài một riếng rừ rừ khẽ khàng và tiếng xuýt của bánh xe.
Trước khi cô kịp ra đến nơi, anh đã quay đầu và đi vào bên trong rồi. Điếu xì gà anh dùng để thu hút sự chú ý của cô nằm vứt chỏng chơ dưới đất.
Cô không biết anh muốn... muốn đặt cái thứ sắp mang ra ở đâu. Đằng trước hay đằng sau. Cô với tay ra và mở cửa sau, mạn bên chỗ anh, để im nó như thế, sẵn sàng chờ đợi anh.
Thế rồi cô nhìn thẳng về phía trước, xuyên qua tấm kính chắn gió, cứng ngắc đến bất thường, như thể cô không tài nào nhúc nhích cô được.
Cô nghe thấy tiếng cửa tòa nhà mở ra, và vẫn không thể ngoái cổ lại. Cô gồng người, cố vặn nó, nhưng nó đã bị một nỗi kinh hoàng tột độ nào đó khóa cứng lại, không chịu cho đầu cô quay sang bên kia.
Cô nghe thấy tiếng bước chân chậm rãi, nặng nề đạp trên vệ đường sỏi đá - tiếng chân của anh - và đi cùng nó là một âm thanh nhẹ nhàng hơn, nghe như tiếng cào, như thể có hai chiếc giày đã bị lật úp lại, phần đỉnh thêm chúc xuống, hay đơn thuần là lật ngang ra, và kéo theo cùng, không bị sức nặng toàn thân đè xuống.
Bất chợt giọng anh vang lên, gấp gáp thì thầm nghe như vọng lại từ bên trong tai cô, “Cửa trước. Lên ghế trước.”
Cô không thể quay đầu. Nhưng ít nhất cô vẫn có thể cử động tay. Cô đưa tay ra, mắt vẫn không nhìn, kéo chốt mở cửa cho anh. Cô có thể nghe thấy tiếng hơi thở của mình trong cổ họng, như âm thanh của một cái vòi ấm đun trà lúc đang sùng sục sôi, sắp sửa tuôn trào ra ngoài.
Ai đó ngồi xuống ghế bên cạnh cô. Hệt như cách bao người khác vẫn ngồi, cùng cái kiểu đè cho lớp da kêu lột sột. Người ấy chạm vào cô, người ấy thúc lên mấy chỗ trên người cô.
Cơ cổ không còn bị khóa cứng nữa, và cô quay đầu lại.
  Cô đang nhìn vào mặt hắn. Không phải mặt Bill, không phải mặt Bill. Cặp mắt móc mỉa mở to trong bóng tối. Đầu hắn vừa mới quay về phía cô, hệt như đầu cô vừa mới quay về phía hắn - nó không chịu nằm bất động - khiến cho cuộc gặp mặt đầy ghê tởm này trở nên hoàn toàn trọn vẹn. Ngay cả khi đã chết rồi mà hắn vẫn không chịu để cho cô yên.
Khí quản cô vặn xoắn lại, buông ra một tiếng hét tắc nghẹn.
“Nào, em đừng có hét lên như thế,” giọng Bill vọng lại từ phía bên kia cái xác hắn. “Em ra sau ngồi đi. Anh muốn cầm lái. Anh muốn hắn ngồi cạnh anh.”
Giọng nói của Bill giúp cô bình tĩnh lại.
“Em không cố ý,” cô lí nhí nói. Cô ra ngoài, sau đó lại vào trong xe, tóm lấy thành xe để làm trụ đỡ người trong quãng đường ngắn ngủi. Cô không biết mình làm việc ấy kiểu gì, nhưng cô đã thực hiện được.
Hẳn là anh cũng hiểu cô đang cảm thấy thế nào, mặc dù không nhìn về phía cô.
“Anh đã bảo em về nhà rồi mà,” anh lặng lẽ nhắc cô.
“Em không sao cả,” cô nói. “Em không sao cả. Đi đi.” Lời cô nói nghe cứ khàn khàn, như tiếng một cái đĩa hát cũ kĩ được chơi bởi một cây kim tòe.
Cánh cửa đóng sập lại, và họ bắt đầu di chuyển.
Mấy giây đầu, Bill cho xe lết đi rất lề mề, chỉ đặt một tay lên vô lăng. Cô thấy anh đưa cánh tay còn lại sang bên và kéo sụp vành mũ của kẻ ngồi bên cạnh, che đi gương mặt hắn.
Cảm nhận được sự hiện diện của cô sau lưng mình, anh dành thời gian tặng cô một câu an ủi, mặc dù vẫn không quay lại liếc nhìn cô.
Em nghe anh nói không?” 
“Vâng.”
“Hãy cố đừng hoảng sợ. Cố đừng có nghĩ đến chuyện này. Đến bây giờ chúng ta vẫn đang gặp may mắn. Hắn có mang theo tờ séc và quyển sổ. Chúng ta có thành công hay không thì cũng do số trời thôi. Nhìn nhận theo cái kiểu ấy đi. Giờ chỉ còn nước làm như thế mà thôi. Em làm thế cũng là giúp anh đấy. Nếu em căng thẳng quá thì anh cũng sẽ căng thẳng theo. Em sẽ tác động lên anh.”
“Em không sao cả,” cô nói, giọng vẫn như cái máy. “Em sẽ im lặng. Em sẽ giữ tự chủ. Cứ đi đi.”
Sau đó thì họ không nói năng gì nữa. Trong một chuyến đi như thế này thì còn biết nói gì nữa đây?
Cô hướng mắt nhìn đi chỗ khác. Cô quay nhìn ra ngoài lâu hết mức có thể; thế rồi thấy mỏi quá khi nhìn như thế, cô ngước lên nhìn trần xe một lúc để nghỉ. Hoặc nhìn xuống phần sàn ngay trước mặt mình. Cô nhìn khắp mọi nơi ngoại trừ nhìn thẳng về phía trước, ngoại trừ nhìn thẳng về phía hai cái đầu (mà cô biết chắc) đang nhẹ nhàng đong đưa y hệt nhau theo cùng nhịp rung.
Cô cố làm như những gì anh đã nói. Cô cố không nghĩ đến chuyện này. Bọn mình đang về nhà sau khi đi nhảy, cô nhủ thầm. Anh ấy đang đưa mình từ 'Câu lạc bộ Đồng quê' về nhà, chỉ vậy thôi. Mình đang mặc bộ váy đen với cái đĩa vàng. Đây này, thấy không? Mình đang mặc bộ váy đen với cái đĩa vàng ấy. Bọn mình vừa cãi nhau, thế nên mình... mình ngồi ghế sau, và anh ấy thì ngồi một mình ở ghế trước.
Cô thấy trán hơi lạnh và ẩm. Cô đưa tay quệt nó.
Anh ấy đang đưa mình về sau khi đi xem phim, cô tự nhủ. Bọn mình xem. bọn mình xem. bọn mình xem. Lại thêm một lần chết tắc nữa, lần này là chết tắc trí tưởng tượng; cô không nghĩ ra được gì cả. Bọn mình xem... bọn mình xem... bọn mình xem...
Bất chợt cô nói với anh, nói hẳn thành tiếng, “Tên của bộ phim chúng ta mới xem gần đây là gì nhỉ?”
“Tốt lắm,” anh đáp lời ngay tức khắc. “Đúng rồi. Ý hay đấy. Anh sẽ cho em một cái tên phim. Cứ tiếp tục nghĩ về nó nhé.” Chính anh cũng phải mất một lúc mới nghĩ ra được tên phim. “Mark Stevens trong phim Tôi tự hỏi bây giờ ai đang hôn cô ấy,” anh bất chợt nói. Họ đã cùng nhau xem bộ phim đó, cái hồi mặt trời trông còn tươi sáng, hồi một ngàn năm trước (thực ra là thứ Năm tuần trước). “Bắt đầu kể từ đầu phim đi, và tả cho đến hết. Nếu em bị bí, anh sẽ giúp em nhớ ra.”
Hơi thở của cô bắt đầu dồn dập hơn, và trán cô cứ liên tục nhơm nhớp ẩm trở lại. Anh ta viết mấy bài hát, cô tự nhủ, và anh ta đưa cô em gái nuôi đến một. đến một chương trình biểu diễn tổng hợp, và nghe thấy một người hát trên sân khấu.
Chiếc xe quẹo đi, và hai cái đầu phía trước ngả gần vào nhau, thiếu chút nữa thì ngả hẳn lên vai người còn lại. Ai đó tách đôi bên về như cũ.
Cô vội vã nhắm chặt mắt lại. “Bài... bài tiêu đề bắt đầu hát lúc nào ấy nhỉ?” cô lắp bắp. “Cái bài mở đầu mà họ nghe thấy từ chỗ bao lơn là gì ấy nhỉ?”
Anh đang dừng xe chờ đèn đỏ, và một chiếc xe taxi đã dừng lại bên cạnh, nắp bánh xe đặt sát nhau. “Không, nó là.” Anh nhìn chiếc taxi. “Nó là.” Anh lại nhìn chiếc taxi, nhìn theo cái kiểu vu vơ mà người ta vẫn hay nhìn mỗi khi đang tìm cách nhớ thứ gì đó chẳng liên quan đến vật đang nhìn. “Tên nó là Xin chào, Em yêu. Bài nhạc nhảy ấy, em không nhớ à? Bài tiêu đề phải đến cuối phim mới xuất hiện. Anh ta không thể nghĩ ra được lời, em không nhớ à?”
  Đèn đã chuyển màu. Chiếc taxi đã đi trước họ, nhanh chóng di chuyển tiếp. Cô ấp mu bàn tay vào miệng, cắn ngập răng vào trong đó. Mình không thể, cô thở dài. Mình không thể. Cô muốn gào lên với anh, ổi, mở cửa ra! Cho em ra! Em không đủ dũng cảm! Em tưởng em sẽ làm được, nhưng em không thể... em không quan tâm, cứ cho em ra khỏi đây đi, ngay lập tức, ngay tại chỗ này!
Hoảng loạn, người ta gọi đây là hoảng loạn.
Cô cắn mạnh lên da mình, và cơn điên nóng hổi nguôi ngoai đi.
Bill lái xe đi nhanh hơn một chút. Nhưng không quá nhanh, không đủ nhanh để khiến người ta phải nghi ngờ hay làm ai phải chú ý. Giờ họ đã ra đến khu ngoại ô, chạy dọc con đường chạy trên phần đường ray chìm. Bình thường khi đến đây người ta sẽ phải tăng tốc thêm một chút.
Cô phải mất mây giây mới nhận ra rằng mối nguy chính đã qua rồi. Nhận ra rằng họ đã rời khỏi Caulfield, rời khỏi nó, hay ít nhất là rời xa khỏi trái tim nhiều nhà nhiều cửa của nó. Chẳng có chuyện gì xảy ra. Không có sự việc xui xẻo nào cả. Họ không va quệt với bất kỳ chiếc xe nào khác. Không có viên cảnh sát nào đến gần, hỏi han vì họ phạm luật nào đó, đòi nhìn vào trong xe. Tất cả những điều cô lo sợ đều đã không thành hiện thực. Chuyến đi hoàn toàn không xảy ra biến cố gì. Mức rủi ro hai người bọn họ có thể gặp phải cũng chỉ tương đương khi họ ngồi một mình trong xe - trông bề ngoài thì thấy thế. Nhưng còn trong thâm tâm thì...
Cô cảm thấy ruột gan teo hết lại, và già khọm đi; như thể trên tim cô đã xuất hiện những vết nhăn vĩnh viễn.
Hắn không phải là người duy nhất chết đi tối nay, cô nghĩ thầm. Mình cũng chết rồi, chết đâu đó trên đường đi, chết trong chiếc xe này. Thế nên chuyện này chẳng có tác dụng gì, tất cả chỉ là vô ích.
  Thà rằng ở im tại đó và nhận hết tội lỗi lẫn hình phạt để được sống còn hơn.
Giờ họ đã ra đến vùng đồng quê trống trải. Đến cả nhà máy đóng hộp các-tông cuối cùng, được xây ở một khoảng xa ranh giới thị trấn để đỡ ảnh hưởng đến người dân, và cụm nhà máy bia bỏ hoang cũng đã trôi qua từ lâu. Bờ đê chứa con đường đã bắt đầu dần dâng lên, và nó khiến cho cái dải đường ray rộng như càng lún sâu thêm xuống. Phần mặt lát bê tông gọn gàng, nhẵn nhụi của bờ đê đoạn gần thị trấn không kéo dài đến tận đây. Ở đây chỉ có một con dốc tự nhiên, vô cùng dốc, nhưng có cỏ dại và bụi rậm bám trên.
Đột nhiên anh dừng lại, chẳng rõ tại sao. Anh cho hai bánh xe ngoài cùng chạy lệch khỏi con đường, bên mạn có đường ray, và đỗ ở đó. Khoảng trống chỉ đủ từng ấy chỗ trống, chỉ đủ cho hai bánh xe; và ngay cả như thế cũng đã là hết sức liều lĩnh rồi. Con dốc bắt đầu đâm thẳng xuống gần như ngay bên ngoài cửa xe.
“Tại sao anh lại dừng ở đây?” cô thì thầm.
Anh chỉ tay.
“Nghe đi. Em có nghe thấy không?” Có tiếng gì như tiếng quả hạch bị bóp nát. Như một lớp quả hạch trải dài mênh mông, lăn đi khắp nơi và đập nát vỏ.
“Anh muốn đưa hắn ra khỏi thị trấn này,” anh nói. Anh chui ra ngoài, và leo xuống dốc một đoạn, cho đến khi cô chỉ có thể thấy phần từ eo lưng anh trở lên, và đứng đó nhìn xuống. Thế rồi anh nhặt thứ gì đó lên - có khi là một hòn đá, hay thứ gì đó khác - và cô thấy anh ném nó đi. Thế rồi anh hơi quay đầu, và xem chừng đang dỏng tai nghe ngóng.
Cuối cùng anh lại chật vật leo lên chỗ cô, đâm ngang bàn chân để có điểm tựa đẩy người.
“Đây là một con tàu chở hàng chậm,” anh nói. “Đi ra ngoài thị trấn. Nó đi trên đường ray phía trong, ý anh là cái đường ray ngay bên dưới chúng ta đây này. Anh có thể thấy một ngọn đèn trên nóc một toa lướt qua. Nó dài không thể tả được - anh nghĩ mấy toa tàu đều bỏ trống - và nó đang đi rất chậm, như bò lết. Anh ném thử một hòn đá, và anh nghe thấy tiếng nó va lên trên nóc tàu.”
Cô đã đoán được điều gì sẽ xảy ra, và cảm thấy sởn hết gai ốc lên.
Anh cúi người bên cái hình hài ngồi trên ghế trước, lục lọi các túi của nó. Anh xé thứ gì bên trong túi áo khoác. Một cái mác hay gì đó.
“Tàu kiểu này không phải lúc nào cũng được nhường đường như tàu cao tốc chở hành khách. Có thể nó sẽ phải dừng lại chỗ giao với đại lộ mạn trên, cách đây không xa, em biết cái đoạn nào rồi đó. Đầu tàu chắc gần đến nơi rồi...”
Cô cố kìm hãm sự ghê tởm của mình lại; cô hạ quyết tâm thêm một lần nữa, mặc dù lần này thậm chí sẽ còn tệ hơn lúc ở khung cửa. “Em sẽ. Anh có muốn em.?” Và cô chuẩn bị sẵn sàng ra ngoài cùng anh.
“Không,” anh nói, “không. Em cứ ở im trong ấy và theo dõi đường đi. Con dốc này dốc lắm, thế nên nếu mang theo. bất cứ thứ gì. xuống quá một đoạn thì cái vật đó sẽ tự động nhào nốt xuống. Chân dốc đã bị xẻ hẳn đi rồi, thành một vách thẳng đứng.”
Thế rồi anh mở cửa trước rộng hết mức có thể.
“Tình hình đường sá thế nào?” Anh hỏi.
Đầu tiên cô ngoảnh lại nhìn dọc con đường. Thế rồi lại nhìn lên phía trước. Nhờ kiểu nâng trồi lên của con đường, cô theo dõi mọi thứ dễ hơn hẳn.
“Trống không,” cô nói. “Em chẳng thấy ánh đèn nào di chuyển trên này cả.”
  Anh chúi xuống, đưa tay làm gì đó, rồi hai cái đầu và hai đôi vai cùng trồi lên. Một phút sau, chiếc ghế trước đã trống trơn.
Cô quay đi và quan sát con đường, dồn toàn tâm trí quan sát con đường.
“Mình sẽ không bao giờ ngồi xuống ghế trước chiếc xe này được nữa,” cô nhận ra. “Họ sẽ chẳng hiểu tại sao, nhưng mình sẽ luôn né tránh nó, mình sẽ luôn nghĩ về chuyện đã xảy ra ở đây tối nay.”
Hành trình lôi hắn xuống con dốc của anh rất chật vật, bởi vì anh phải làm trụ đỡ cho cả hai người cùng lúc, và trọng lượng bị nhân lên gấp đôi. Có lần cả hai người bọn họ thoáng vấp chân gục xuống, và tim cô nhảy tọt lên trên cổ họng, như thể móc nối giữa bọn họ và nó là một hệ thống ròng rọc, một trái cân đối trọng nào đó.
Thế rồi anh lấy lại được thăng bằng.
Và khi cô chỉ có thể nhìn thấy từ eo lưng anh trở lên, anh cúi xuống, như thể đang đặt thứ gì đó trước mặt, và lúc đứng thẳng dậy, anh chỉ có một mình, cô chỉ thấy có mỗi anh.
Thế rồi anh cứ đứng đó đợi.
Đây là một ván bài cược, một phỏng đoán. Rất có khả năng tự nhiên toa xe cuối cùng, toa chở nhân viên, sẽ xuất hiện, và thế là không còn tàu để chở món hàng của họ đi nữa. Bên dưới sẽ chỉ còn là cái đường ray, sẵn sàng để lộ thứ nằm chỏng chơ trên đó ngay khi trời sáng.
Nhưng anh đã đoán đúng. Tiếng quả hạch nát bé dần, bắt đầu lịm đi. Từ tít trên đầu xuất hiện một tiếng gỗ rung lên, truyền xuyên qua các toa và ra đến tận toa cuối. Rồi đến tiếng thứ hai. Thế rồi chỉ có im lặng.
Anh lại chúi người xuống.
Tay cô phóng vụt lên tai, nhưng cô làm quá muộn. Cái tiếng kia đã vọng đến trước khi cô kịp bịt tai.
Một tiếng thụp bệnh hoạn, trống rỗng. Như khi một cái bao nặng bị thả xuống. Chỉ có điều một bao hàng mà bị thả xuống từ độ cao như vậy thì sẽ vỡ bục. Cái bao này thì không.
Cô gục thấp đầu vào lòng, và giữ tay bịt chặt mắt.
Lúc cô ngẩng lên nhìn, anh đã đến đứng bên cạnh cô. Anh mang dáng vẻ của một người vẫn đang kiểm soát được bản thân, nhưng không chắc liệu bao lâu nữa sẽ phát bệnh.
“Rơi vào rồi,” anh nói. “Kẹt vào cái lối men hay lối gì đó, nằm giữa mỗi nóc toa. Ngay cả trong bóng tối anh vẫn có thể thấy hắn. Nhưng mũ của hắn thì không. Nó bị tuột và rơi ra ngoài.”
Cô muốn gào lên, “Đừng! Đừng nói với em! Hãy để em không biết! Em đã biết quá nhiều rồi!” Nhưng cô không làm thế. Và đằng nào thì anh cũng đã nói xong rồi.
Anh lại chui vào trong xe và nắm lấy vô lăng, không buồn đợi con tàu tiếp tục chạy.
“Nó sẽ đi tiếp,” anh nói. “Dứt khoát là như thế. Hồi nãy nó đang trên đường đi. Nó sẽ không đứng im ở đó cả đêm.”
Anh cho chiếc xe leo trở lên mép đường, và rồi anh đánh một vòng chữ u, cho nó quay đầu lại, hướng về phía Caulfield. Và vẫn chẳng có ai xuất hiện, chẳng có ai băng qua chỗ họ. Không đêm nào con đường này vắng vẻ như đêm nay.
Anh để ánh đèn pha của xe chiếu về phía trước.
“Em có muốn lên đây ngồi với anh không?” anh lặng lẽ hỏi cô.
“Không!” cô nói với giọng tắc nghẹn. “Em không thể! Đừng bắt em ngồi lên cái ghế đó.”
Anh tỏ vẻ thấu hiểu. “Anh chỉ không muốn em phải ngồi thui thủi một mình,” anh nói với giọng thông cảm.
“Đằng nào thì từ nay em cũng sẽ phải thui thủi một mình, bất kể em có ngồi đâu,” cô lẩm bẩm. “Và cả anh cũng thế. Hai chúng ta sẽ mãi thui thủi một mình, ngay cả khi ngồi cùng nhau.”
 
 

 
Chương 42

Cô nghe thấy tiếng phanh xe giữ bánh lại, và cảm thấy chiếc xe ngưng chuyển động. Anh chui ra ngoài và vào trong ghế sau ngồi cạnh cô. Họ cứ ngồi im như thế một hồi lâu. Cô ép mặt mình vào ngực áo của anh, vùi đầu vào người anh như thể đang tìm cách giấu nó khỏi màn đêm và tất cả những chuyện đã xảy ra trong đêm hôm nay. Anh đưa một tay ấp sau đầu cô, giữ nguyên nó ở đó, đỡ lấy nó.
Mới đầu họ không nhúc nhích hay nói năng gì.
Giờ mình sẽ phải nói với anh ấy. Cô cứ tiếp tục suy nghĩ một cách đầy sợ hãi. Giờ đã đến lúc rồi. Nhưng mà mình phải nói kiểu gì đây?
Cuối cùng cô cũng ngước đầu lên, và mở mắt ra. Anh đã đỗ xe lại ở chỗ góc cua gần nhà. (Nhà anh. Làm sao đây còn là nhà cô được nữa? Làm sao cô có thể đặt chân vào trong đó được nữa, sau những gì đã xảy ra tối nay?) Anh dừng quanh góc cua, khuất khỏi tầm nhìn của nó, chứ không đỗ ngay trước cửa. Anh đang cho cô cơ hội để kể ra mọi chuyện; đó hẳn là lý do anh làm thế này.
Anh lấy ra một điếu xì gà, kẹp vào miệng rồi châm lửa giúp cô, và đưa ra mời cô. Cô lắc đầu. Thế là anh quăng nó ra ngoài xe.
Miệng anh đang gần miệng cô đến mức cô có thể ngửi thấy hơi thuốc lá còn vương lại trong hơi thở anh. Nó sẽ không bao giờ đặt sát mình như thế này nữa, cô nghĩ thầm, không bao giờ, sau những gì mình đã làm tối nay và những gì mình sẽ kể với anh.
“Bill à,” cô thì thầm.
Giọng cô nghe thật yếu ớt, đầy vẻ van xin. Cái giọng mong manh ấy sẽ không đời nào đủ sức giúp cô thực hiện việc này. Và nó còn sắp phải thốt lên bao nhiêu từ đầy gai góc nữa chứ.
“Sao thế, Patrice?” anh lặng lẽ đáp.
“Đừng gọi em như thế.” Cô quay về phía anh, hết sức vội vã, hết sức tuyệt vọng, ép cho giọng mình phải thật bình tĩnh. “Bill, có điều này anh cần phải biết. Em không biết phải bắt đầu từ đâu, em không biết phải làm thế nào... Nhưng, hỡi ôi, anh phải nghe, kể cả nếu từ trước đến nay anh chưa bao giờ nghe lấy một lời em nói!”
“Suỵt, Patrice,” anh nhẹ nhàng nói. “Suỵt, Patrice.” Như thể cô là một đứa trẻ đang giận dỗi. Và tay anh nhẹ nhàng vuốt tóc cô; vuốt xuống, và rồi lại vuốt xuống, và vẫn vuốt xuống tiếp.
Cô rên rỉ, chẳng khác nào đang bị cơn đau hành hạ. “Không. không. không. không!”
“Anh biết,” anh nói với vẻ gần như lơ đễnh. “Anh biết điều mà em đang cố nói với anh. Rằng em không phải là Patrice. Rằng em không phải vợ của Hugh. Có phải thế không?”
Cô nhìn vào mắt anh, còn anh thì lại nhìn vào khoảng xa, nhìn xuyên qua tấm kính chắn gió và nhìn ra phía trước chiếc xe. Ánh nhìn của anh mang nét gì đó thật mơ hồ.
“Anh đã biết điều đó rồi. Anh đã biết từ lâu rồi. Anh nghĩ mình đã biết kể từ mấy tuần đầu, khi em vừa đến đây.”
Một bên mặt của anh nhẹ nhàng ngả vào đầu cô, và đặt im ở đó, như thể đang ngầm âu yếm cô.
“Thế nên em không việc gì phải gắng gượng quá mức như vậy, Patrice à. Đừng tự làm tan nát con tim mình vì chuyện đó. Em không có gì cần phải kể cả.”
Cô nức nở khóc lên một tiếng kiệt quệ. Người cô thoáng run rẩy vì bực bội. “Đến cả cơ hội chuộc lỗi cuối cùng của em cũng bị anh tước đi mất rồi,” cô vô vọng lẩm bẩm. “Ngay cả một thứ nhỏ nhoi như thế.”
“Em không phải chuộc lỗi đâu, Patrice.”
“Mỗi lần anh gọi em bằng cái tên đó, anh lại thốt ra một lời nói dối. Em không thể quay về nhà cùng anh. Em không thể vào trong đó thêm lần nào nữa. Giờ đã quá muộn rồi... muộn mất hai năm rồi, hai năm. nhưng ít nhất hãy để em kể với anh. Ôi Chúa ơi, hãy để em trút hết ra! Patrice Hazzard đã thiệt mạng trên con tàu, cùng với anh trai của anh. Em bị ruồng bỏ bởi một kẻ tên là.”
Một lần nữa, anh đưa tay che miệng cô, hệt như lúc ở chỗ trọ của Georgesson. Nhưng lần này anh làm nhẹ nhàng hơn.
“Anh không muốn biết,” anh bảo với cô. “Anh không muốn nghe. Em không hiểu sao, Patrice?” Thế rồi anh buông tay ra, nhưng giờ cô đã im lặng, bởi vì anh muốn cô như thế. Và giữ im lặng cũng là điều dễ làm hơn. “Em không chịu hiểu tình cảm của anh sao?” Anh liếc nhìn xung quanh một lúc, hết bên này rồi lại sang bên kia, như thể đang bất lực tìm kiếm phương thức thuyết phục cô. Có điều phương thức ấy không có ở đây. Thế rồi anh lại nhìn về phía cô, thử thêm một lần nữa; trầm giọng xuống giãi bày từ con tim.
“Nếu đã từng tồn tại một Patrice khác, một Patrice khác ngoài em, một cô gái anh chưa từng biết, một cô gái tồn tại ở một nơi khác và thời điểm khác thì đã làm sao nào? Giả sử có hai cô thì sao? Có một ngàn Mary, một ngàn Jane; nhưng khi một người đàn ông đem lòng yêu Mary, anh ta sẽ chỉ yêu Mary của mình, và đối với anh ta sẽ chẳng còn cô Mary nào khác trên cõi đời này nữa. Và anh cũng thế.
 
Một ngày nọ, có một cô gái tên Patrice đã bước vào cuộc đời anh. Đối với anh, đó là cô Patrice duy nhất tồn tại trên thế giới này. Anh không yêu cái tên, anh yêu cô gái ấy. Em nghĩ tình yêu của anh là kiểu tình yêu gì thế? Nếu tên cô ấy do một vị linh mục đặt cho thì sẽ yêu; nhưng nếu cô ấy tự lấy tên thì sẽ không yêu nữa à?”
“Nhưng cô ấy đã ăn cắp cái tên kia, tước đoạt nó từ một người chết. Và cô ấy đã rơi vào vòng tay của một kẻ khác, và rồi đặt chân vào nhà anh cùng với đứa con của mình...”
“Không, cô ấy không làm vậy, không,” anh phản bác lời cô với sự cứng đầu dịu dàng. “Em vẫn không hiểu, em sẽ vẫn không hiểu; bởi vì em không phải là người đàn ông đã phải lòng em. Cô ấy không thể làm vậy được; bởi vì cô ấy không hề tồn tại cho đến khi anh gặp cô ấy. Chỉ khi đó, cô ấy mới ra đời, khởi điểm của cô ấy nằm ở đó. Cô ấy chỉ tồn tại khi mắt anh lần đầu nhìn thấy cô ấy, khi tình yêu của anh bắt đầu nảy nở. Trước lúc đó thì cô ấy không hề tồn tại. Tình yêu của anh đã giúp cô ấy ra đời, và khi tình yêu của anh biến mất, cô ấy cũng sẽ biến mất. Chắc chắn là như vậy, bởi vì cô ấy là tình yêu của anh. Trước lúc đó thì chỉ là một khoảng trống mà thôi. Một khoảng không. Bất kỳ tình yêu nào cũng vậy. Nó không thể quay ngược lại khoảng thời gian trước khi nó tồn tại.
“Và em chính là người anh yêu. Cô gái mà anh đã tự tạo ra cho mình. Cô gái mà anh đang ôm trong tay trong chiếc xe này. Cô gái mà anh hôn như thế này, ngay bây giờ. ngay bây giờ. và bây giờ.
“Không phải là cái tên trên tờ giấy khai sinh. Không phải là cái tên trên tờ giấy hôn thú ở Paris. Không phải là một mớ xương chết lôi ra từ toa tàu hỏa và chôn đâu đó cạnh đường ray.
“Với anh, tên tình yêu của anh là Patrice. Tình yêu của anh không biết bất cứ cái tên nào khác, tình yêu của anh không muốn bất cứ cái tên nào khác nữa.”
 
Anh kéo cô lại gần mình, lần này mạnh bạo đến mức cô choáng váng. Và giữa mỗi lần nguyện thề anh nói với cô, môi anh lại chạm lên môi cô.
“Em là Patrice. Em sẽ luôn là Patrice. Em sẽ chỉ là Patrice. Anh trao cho em cái tên đó. Hãy giữ nó cho anh, hãy giữ nó mãi mãi.”
Họ nằm như thế một lúc lâu; giờ đã hòa chung thành một thể, hòa chung hoàn toàn. Được tình yêu giúp cho quyện hòa vào nhau; bị máu và bạo lực làm cho quyện hòa vào nhau.
Thế rồi cô thì thầm, “Thế tức là anh biết, thế tức là anh chưa bao giờ...?”
“Không phải ngay lập tức, không phải ào một cái. Cuộc đời không bao giờ diễn ra như vậy. Nó chậm lắm, từ từ lắm. Anh nghĩ mình bắt đầu nghi ngờ sau khi em đến đây được khoảng một, hai tuần. Anh không biết mình biết chắc từ bao giờ. Anh nghĩ là vào cái ngày anh mua cây bút mực.”
“Hẳn hôm ấy anh ghét em lắm.”
“Ngày hôm ấy anh không ghét em. Anh ghét bản thân vì đã hạ mình sử dụng mánh khóe như thế. Ấy nhưng anh không thể không làm thế được, anh không thể cho dù anh đã rất cố gắng! Và em có biết làm xong thì anh nhận được gì không? Chỉ có sự sợ hãi. Thay vì em là người phải hãi sợ, anh lại là nạn nhân. Anh sợ rằng chuyện ấy sẽ làm em phát hoảng, và anh sẽ để mất em. Anh biết sẽ không bao giờ có chuyện mình làm lộ bí mật của em; anh quá sợ rằng nếu làm vậy, anh sẽ mất em. Đã cả ngàn lần anh muốn nói với em rằng, ‘Anh biết, anh biết hết tất cả rồi’ và anh sợ rằng em sẽ bỏ chạy và sẽ để mất em. Bí mật ấy không nặng đè lên vai em; anh mới là kẻ bị nó đè lên.”
“Nhưng ngay lúc đầu. Tại sao ngay lúc đầu anh không nói gì cả?
 
Chắc chắn không có chuyện anh chấp nhận ngay từ đầu, đúng không?”
“Không, không, anh không như thế. Phản ứng đầu tiên của anh là phẫn nộ, ác cảm; đúng như những gì em dự liệu. Nhưng vấn đề là anh không đủ chắc chắn. Và chuyện này liên quan đến cuộc sống của quá nhiều người khác. Chủ yếu là mẹ. Anh không thể liều lĩnh làm thế với bà. Ngay sau khi bà mất Hugh. Ai mà biết được, có khi chuyện ấy sẽ giết bà mất. Và ngay cả đơn thuần gieo rắc mầm mống nghi ngờ thôi thì cũng tệ chẳng kém gì, bởi làm thế là phá hỏng niềm hạnh phúc của bà. Với cả ngoài ra, anh còn muốn xem mục tiêu của em là gì, xem em định chơi trò gì. Anh nghĩ là nếu anh cho em được thoải mái... Ôi, anh đã để cho em được thoải mái tự tung tự tác, nhưng không có trò chơi nào hết. Em vẫn chỉ là em. Mỗi ngày trôi qua, anh càng khó dè chừng em hơn. Mỗi ngày trôi qua, anh lại dễ dàng ngắm nhìn em hơn, nghĩ về em, và thích em. Thế rồi đến cái đêm làm bản di chúc.”
“Anh biết những điều như vậy, ấy nhưng anh vẫn để cho họ tiếp tục.
“Không có gì thật sự nguy hiểm cả. Patrice Hazzard là cái tên họ ghi vào giấy trắng mực đen. Nếu cần thiết, anh tin chẳng khó khăn gì để hủy bỏ nó, hay đúng hơn là diễn giải nó theo đúng nghĩa đen. Chứng minh rằng em và Patrice Hazzard không phải cùng một người, và bởi vậy, em không phải là người được hưởng. Luật không giống như một chàng trai si tình; luật coi trọng tên tuổi. Anh bí mật hỏi bác luật sư nhà mình, tất nhiên không để lộ toan tính, và những gì bác ấy nói đã giúp anh an tâm. Nhưng cái sự kiện đó lại chứng minh cho anh thấy rõ ràng không có trò chơi nào, không có động cơ ngầm nào hết. Ý anh là, tiền không phải là mục đích tối thượng. Patrice à, lúc anh đến cửa phòng em để báo tin cho em, cái vẻ hoảng loạn và chán ghét thành thực anh nhìn thấy trên mặt em đêm đó không thể nào đóng giả được, kể cả nếu em có là nữ diễn viên chuyên nghiệp nhất trần đời. Mặt em trắng bệch như tờ giấy, mắt em liếc ngang liếc dọc như thể muốn chạy thục mạng ra khỏi nhà ngay lập tức; anh đã nắm lấy tay em, và nó lạnh buốt như đá. Có đóng giả cũng chỉ đến được một mức độ nhất định thôi, còn ngoài khoảng đó thì sẽ đến lượt trái tim lên tiếng.
“Và nó đã đưa cho anh câu trả lời. Kể từ đêm hôm đó, anh biết em thực sự muốn gì, biết lý do thúc đẩy em làm chuyện ấy: muốn được an toàn, được bảo vệ. Một khi anh đã nhận ra, anh nhìn thấy nó xuất hiện trên mặt em cả trăm lần mỗi ngày. Anh liên tục được nhìn thấy nó. Mỗi lần em nhìn đứa con mình. Mỗi lần em nói, ‘Chị đi lên phòng mình đây’. Cái kiểu em nói ‘phòng mình.’ Anh nhìn thấy nó trong ánh mắt em, ngay cả khi em chỉ đang nhìn một cặp rèm che cửa sổ, duỗi thẳng chúng ra, vuốt ve chúng. Anh gần như có thể nghe thấy em nói, ‘Chúng là của mình, mình thuộc về nơi đây.’ Và mỗi lần anh nhìn thấy nó, nó lại tác động lên anh. Anh lại yêu em hơn một chút so với hồi trước. Và anh muốn em được có tất cả những điều đó, thực sự, vĩnh viễn, không ai hay thứ gì có thể tước đoạt khỏi tay em thêm lần nữa...”
Anh tiếp tục hạ giọng xuống nhỏ hơn nữa, cho tới khi cô phải cố lắm mới nghe thấy được thông điệp nó truyền tải.
“Ở bên anh. Làm vợ anh. Và anh vẫn muốn như thế. Tối nay anh muốn làm vậy hơn bao giờ hết, hơn lúc trước cả trăm lần. Em giờ có thể trả lời anh luôn không? Liệu em có thể nói cho anh nghe là em có đồng ý để anh làm thế không?”
Mặt anh trôi nổi nhòe nhoẹt trước đôi mắt ngước lên của cô.
“Đưa em về nhà đi, Bill,” cô nói với cái giọng vỡ vụn, hạnh phúc đong đầy. “Đưa Patrice về nhà cùng anh đi, Bill.”
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.05.2023 19:05:46 bởi Thanh Vân>
Chương 43

Trong khoảnh khắc, khi anh phanh xe lại và cô thì quay mặt về phía ngôi nhà, các giác quan rệu rã khiến cô hốt hoang tưởng là nhà đang bị cháy, tưởng toàn bộ phần trong nhà đang bốc lửa ngút trời. Và rồi khi cô giật nảy người lùi về phía anh, cô thấy rằng mặc dù ánh sáng tỏa ra từ trong nhà sáng trưng, sáng rực rõ trên cái nên tù mù của buổi sớm hôm, nó lại sáng rất đều, không bập bùng. Nó tỏa ra từ mọi cửa sổ, cả trên lẫn dưới, và tràn lên bãi cỏ, cường độ giảm dần, và thậm chí còn lan ra đến tận vỉa hè phía trước và mặt đường đằng sau, nhưng đây là thứ ánh sáng tĩnh tại của những căn phòng thắp đèn sáng trưng. Những căn phòng thắp đèn vì vừa có chuyện khẩn xảy ra.
Anh thúc cô, rồi câm lặng chỉ tay, và trên biển sau của một chiếc xe đỗ sẵn mà họ vừa mới tiến đến gần từ đằng sau là dòng chữ 'MD' [1] như một điềm báo gở. Nó được chiếu rọi bên trong vòng sáng ngọn đèn pha của họ, lồi hẳn ra đầy hăm dọa; đập vào mắt như ký hiệu đầu lâu xương chéo trên một lọ thuốc. Và cũng đáng sợ không kém.
Chú thích:[1] MD: Viết tắt của ‘Medical Doctor’, tức 'Bác sĩ nội khoa'.
Bác sĩ Parker, cụm từ ấy vụt lóe lên trong đầu cô.
Anh mở tung cửa và nhảy xuống, và cô bám sát đằng sau anh.
“Thế mà từ nãy đến giờ chúng ta cứ ngồi ở đó nói chuyện,” cô nghe thấy anh thốt lên.
Họ chạy vội trên con đường lót đá, cô đi đằng sau anh, bị cặp chân dài của anh bỏ lại phía sau. Anh còn không kịp dùng chìa khóa của mình. Lúc anh lôi được nó ra và đặt nó vào nơi ban nãy còn là cái lỗ khóa thì nó đã lùi lại, và thế chỗ nó là thím Josie đang hoảng sợ, bấy giờ thím đang mặc một bộ áo choàng tắm cũ in hình hoa lá, khuôn mặt bạc đi chẳng kém gì tóc trên đầu.
Họ không hỏi thím ai là người bệnh; không cần phải hỏi làm gì.
“Từ lúc 11 giờ rưỡi,” thím nói vắn tắt. “Ông ấy đã ngồi với bà từ lúc nửa đêm đến tận bây giờ.”
Thím đóng cửa lại sau lưng họ.
“Hai người còn không chịu gọi điện về cơ,” thím nói với giọng đầy trách móc. “Nếu hai người mà nhắn lại cho tôi biết có thể liên hệ với hai người ở đâu thì đã chẳng đến nỗi.” Và rồi thím nói thêm, nhưng phần nhiều là nói với anh, “Hửng sáng rồi. Tôi hi vọng buổi tiệc ấy xứng đáng. Hẳn là nó phải vui lắm. Tôi chỉ biết một điều thôi, đó là cái giá phải trả cho nó chắc chắn sẽ đắt hơn bất cứ buổi tiệc nào hai người từng đến dự. Hoặc sẽ còn được đi dự trong đời.”
Patrice nhăn mặt, gào lên trong thâm tâm. Thím nói đúng quá! Nó chẳng vui vẻ gì, không, không hề vui vẻ - nhưng hỡi ôi, cái giá của nó thật quá đắt!
Bác sĩ Parker đến gặp họ ở hành lang trên tầng. Có một cô y tá đi cùng. Họ cứ tưởng ông ta sẽ phải ở trong đó với bà.
“Bà ấy đang ngủ ạ?” Patrice thì thầm, cảm thấy hoảng sợ hơn là an tâm với hành động này của ông bác sĩ.
“Suốt nửa giờ vừa qua Ty Winthrop ở trong đó với bà ấy. Bà ấy nằng nặc đòi thế. Thường thì với người ốm nặng, ta sẽ phải bất chấp lời họ; nhưng với người ốm nặng hơn mức ấy thì không làm thế được. Tôi nãy giờ cứ mười phút lại bắt mạch và kiểm tra hô hấp cho bà ấy.”
“Tệ đến vậy sao?” cô sợ hãi thì thầm. Cô nhìn thấy vẻ đau đớn trên mặt Bill, và cảm thấy tội nghiệp anh ngay lúc đưa ra câu hỏi.
“Ngay bây giờ thì không có gì nguy hiểm cả,” ông Parker đáp. “Nhưng sau một hay hai tiếng nữa thì bác không thể cam đoan với hai đứa điều gì.” Và rồi ông ta nhìn thẳng vào mắt hai người và nói, “Lần này tệ lắm. Đây là trận nặng nhất từ trước đến giờ.”
Đây là trận cuối cùng, Patrice biết chắc như vậy.
Cô sụp người xuống, và nấc lên một, hai tiếng thổn thức. Trong khi ấy, ông bác sĩ và Bill dẫn cô ra chỗ một cái ghế đặt ngoài hành lang, cạnh cửa phòng người bệnh, và cho cô ngồi xuống.
“Đừng làm thế,” ông bác sĩ quở trách cô, nghe có phần hơi lãnh đạm - có thể vì ông muốn giữ vẻ chuyên nghiệp, hoặc có thể đó là cảm xúc cá nhân của ông - “Ở giai đoạn này thì không việc gì phải như thế.”
“Chỉ là cháu bị mệt quá,” cô nghẹn ngào giải thích.
Cô gần như có thể đọc được suy nghĩ của ông. Thế thì đáng ra cháu phải về nhà sớm hơn.
Cô y tá đưa lướt một chút amoniac ngang mũi cô, khẽ kéo mũ xuống khỏi đầu cô, nhẹ nhàng vuốt tóc cô.
“Con trai cháu vẫn ổn chứ ạ?” một lúc sau cô hỏi, giọng bình tĩnh hơn.
Thím Josie là người đáp lại, “Tôi biết cách chăm sóc thằng bé,” thím nói có phần cụt ngủn. Thế là Patrice chẳng còn được ai thông cảm.
Cánh cửa mở ra và Ty Winthrop bước ra ngoài. Ông ta đang cất kính đi.
“Hai người kia về chưa...?” ông ta dợm nói. Thế rồi ông thấy bọn họ. “Bà ấy muốn gặp cháu.”
Cả hai người bọn họ cùng đứng dậy.
“Không phải cháu,” ông ta nói với Bill, xua anh đi. “Chỉ mỗi Patrice thôi. Bà ấy muốn gặp một mình con bé, trong phòng không được có ai khác hết. Bà ấy lặp lại như vậy mấy lần liền.”
Parker ra dấu bảo cô đợi. “Để bác kiểm tra mạch bà ấy trước đã.” Cô nhìn sang chỗ Bill trong lúc họ đứng đợi ở đó, xem anh nhận tin này thế nào. Anh mỉm cười không chút áy náy. “Anh hiểu,” anh lẩm bẩm. “Đó là cách bà ấy gặp anh. Và kể ra làm như thế cũng tốt. Cách này là tốt nhất rồi.”
Parker đã lại bước ra khỏi phòng.
“Không được phép quá một, hai phút,” ông ta nói với vẻ không đồng tình, mắt liếc nhìn Winthrop. “Và rồi có lẽ chúng ta sẽ phải tụ lại với nhau để bà ấy được nghỉ một chút.”
Cô bước vào trong phòng. Ai đó đóng cửa lại sau lưng cô.
“Patrice, con yêu,” một giọng nói khe khẽ vang lên.
Cô đến bên chiếc giường.
Do cách họ để ngọn đèn, gương mặt bà chìm trong bóng tối.
“Con nâng cái đèn đó lên một chút cũng được, con yêu à. Mẹ chưa chui vào quan tài đâu.”
Bà vẫn nhìn Patrice với đôi mắt đã từng nhìn cô vào hôm đầu tiên tại ga tàu hỏa. Chúng thật tử tế. Quanh mép chúng ánh lên nụ cười. Chúng trông hơi đau đớn, nhưng đầy vẻ tin tưởng.
“Con không ngờ là.,” cô nghe thấy mình lên tiếng, “Bọn con lái đi xa hơn dự kiến. Đêm nay đẹp quá.”
Hai bàn tay yếu ớt chìa ra cho cô nắm lấy.
  Bỗng dưng cô khuỵu gối xuống và hôn tới tấp lên đôi tay ấy.
“Con yêu mẹ,” cô van nài. “Đó là sự thật. Hỡi ôi, đó là sự thật! Giá mà con có thể khiến cho mẹ tin được điều ấy. Mẹ của con. Mẹ là mẹ của con.”
“Con không phải làm gì hết, con yêu. Mẹ biết điều đó rồi. Mẹ cũng yêu con, và tình yêu của mẹ luôn biết rằng con cũng yêu mẹ. Chính thế nên con là con gái mẹ. Hãy nhớ là mẹ đã bảo với con như vậy: con là con gái của mẹ.”
Và rồi rất nhẹ nhàng, bà nói thêm, “Mẹ tha thứ cho con, con yêu. Mẹ tha thứ cho con gái mẹ.”
Bà an ủi vuốt tay Patrice.
“Con hãy cưới Bill đi. Mẹ sẽ chúc phúc cho hai con. Đây...” Bà yếu ớt ra dấu về phía vai mình. “Dưới gối. Mẹ đã bảo Ty đặt vào dưới đấy một thứ cho con.”
Patrice luồn tay xuống dưới, rút ra một chiếc phong bì dài, có dấu niêm phong, không đề người nhận.
“Giữ lấy nó đi,” Mẹ Hazzard nói, thoáng đưa tay chạm vào mép phong bì. “Đừng đưa nó cho ai xem cả. Nó dành riêng cho con. Đừng mở nó ra cho đến khi. cho đến khi mẹ không còn ở đây nữa. Để đề phòng lúc con có việc cần. Khi con gặp hoàn cảnh thực sự cần kíp, hãy nhớ rằng mẹ đã đưa nó cho con. lúc ấy hãy mở ra.”
Bà thở dài thườn thượt, như thể nỗ lực nãy giờ đã khiến bà mệt mỏi ngoài sức chịu đựng.
“Hôn mẹ đi. Giờ đã muộn rồi. Muộn lắm rồi. Mẹ có thể cảm nhận được điều ấy trong mọi phần của thân xác già cỗi này. Con không thể cảm nhận được giờ đã muộn màng đến cỡ nào đâu, Patrice, nhưng mẹ thì có thể.”
Patrice cúi xuống người bà, chạm môi mình vào môi bà.
  “Tạm biệt, con gái mẹ,” bà thì thầm.
“Chúc mẹ ngủ ngon,” Patrice sửa lại.
“Tạm biệt con,” bà nhẹ nhàng khẳng định. Trên mặt bà xuất hiện một nụ cười mờ nhạt, đầy tự hào, một nụ cười đầy vẻ hiểu biết, như thể nụ cười của một người ý thức được rằng mình là người biết nhiều hơn.

 
 
Chương 44

Cô đơn độc ngồi bên cửa sổ, tận cả sau khi trời đã sáng từ lâu. Cô cứ ngồi đó, trân mắt nhìn, chờ đợi, hy vọng, tuyệt vọng, chết đi một chút. Cô thấy các vì sao biến mất, và bình minh từ phương đông chậm rãi tiến về phía cô, chẳng khác nào một ánh tái xấu xí, xám ngoét. Chưa bao giờ cô thấy ghét rạng đông đến mức này, bởi vì ít nhất thì màn đêm còn như một tấm áo khoác giúp che phủ nỗi u sầu của cô. Nhưng ánh sáng càng mạnh lên thì màn đêm càng loãng đi, cho đến khi nó chạm ngưỡng tan biến, và mất hắn, không còn sót lại chút nào nữa.
Cô bất động như một pho tượng bên khung cửa sổ nhuốm sắc xanh, trán áp vào lớp kính, tạo thành một vành trắng bám dính ở nơi cô đặt trán lên. Mắt cô trân ra nhìn vào hư vô, bởi lẽ ngoài kia chẳng có gì để mà nhìn ngắm cả.
Cuối cùng mình đã tìm thấy tình yêu của đời mình, nhưng rồi lại để mất anh ấy; rồi lại phải vứt bỏ anh ấy. Tại sao tối nay mình lại phát hiện ra mình yêu anh ấy, tại sao mình lại phải biết? Chẳng lẽ đến cái chuyện tối thiểu đó mình cũng không làm được ư?
Giờ thì thế giới không còn chỉ cay đắng nữa. Thế giới đã trở thành tro tàn, nằm khắp xung quanh cô, lạnh lẽo, sụp đổ và đã bị thiêu rụi. Sắc hồng, sắc xanh và sắc vàng, nhũng sắc màu nước nhẹ nhàng phết ra từ một bảng màu vũ trụ, có cố tô điểm cho nó cũng chỉ vô dụng, vô dụng. Nó đã chết rồi. Và cô đang ngồi cạnh cái giá khiêng áo quan của nó.
Và nếu trên cõi đời này tồn tại một thứ gọi là sự sám hối, sự xá tội, đối với những lỗi lầm vĩnh viễn không bao giờ có thể sửa chữa được, chẳng thể làm gì khác ngoài hối tiếc, thì bây giờ, sau cái đêm thức canh áo quan dài dằng dặc ấy, đáng ra cô đã phải có được nó rồi. Nhưng có lẽ nó không tồn tại.
Cơ hội của cô đã chết, hy vọng của cô cũng đã chết, và cô không thể chuộc lỗi thêm được nữa.
Cô quay người và chậm rãi nhìn ra phía sau. Con trai cô đã thức giấc, đang mỉm cười với cô, lần đầu tiên cô không thể nở được nụ cười nào để đáp lại thằng bé. Cô không thể mỉm cười, bởi vì nó sẽ quá kệch cỡm khi nở trên miệng cô.
Cô lại quay mặt đi để không phải nhìn thằng bé quá lâu. Bởi khóc lóc thì được tích sự gì? Khóc lóc với một đứa bé. Con cái có thể khóc lóc với mẹ, nhưng các bà mẹ không nên khóc lóc với con cái.
Ngoài kia, có một người đàn ông bước ra ngoài bãi cỏ, kéo vòi tưới sân vườn đằng sau lưng. Thế rồi sau khi đã kéo nó ra hết, ông ta để nó nằm đó, quay trở lại đầu bên kia, và vặn vòi. Phần cỏ chỗ đầu vòi nằm bất động trở nên lấp loáng, mặc dù ông ta thậm chí còn chưa kịp quay lại và nhấc cái vòi lên. Không thể nào thấy được làn nước phun ra, bởi vì cái đầu vòi đang nằm bẹp dưới mặt đất, nhưng ta sẽ vẫn thấy được một gọn lóng lánh trong bãi cỏ, báo hiệu rằng bên dưới nó có gì đó đang chuyển động.
Thế rồi ông ta thấy cô ngồi bên cửa sổ, và ông ta giơ tay lên vẫy chào cô, vẫn theo cái kiểu như hồi trước, vào cái ngày đầu tiên. Không phải bởi vì cô là người gì đặc biệt, mà bởi vì thế giới của ông ta đang rất bình ổn, và sáng nay trời rất đẹp, và ông ta muốn vẫy chào ai đó để thể hiện mình đang cảm thấy ra sao.
  Cô quay đầu đi. Không phải là để tránh cái vẫy chào thân thiện của ông ta, mà là bởi vì trên cửa phòng cô vừa vang lên tiếng gõ. Ai đó đang gõ cửa.
Cô đờ người đứng dậy, tiến về phía cửa, và mở ra.
Một ông già cô độc, bơ vơ đang đứng bên ngoài, im lặng, khép nép. Cha của Bill đang đứng bên ngoài, vô cùng héo hon, vô cùng tiều tụy. Một người lạ mặt, nhận lầm cô là con gái.
“Bà ấy đã ra đi rồi,” ông thì thầm đầy bất lực. “Mẹ con đã ra đi, con yêu à. Cha không biết phải tìm ai để nói về chuyện này... thế nên cha đến phòng con.” Ông như không thể làm được gì khác ngoài việc đứng im, ủ rũ, bối rối.
Cô cũng đứng bất động ở đó. Cô chỉ có thể làm được như thế. Cô chỉ có thể tương trợ ông được như thế.
 
 

 
Chương 45

Lá cây đang chết đi, hệt như cô đã chết. Tiết trời đang chết đi. Cuộc đời cũ đang chết đi, đã chết. Ban nãy họ vừa mới chôn vùi nó xong.
Thật lạ lùng biết bao, Patrice nghĩ thầm, nếu muốn tiến bước, trước khi ta kịp tiến bước sang một giai đoạn mới, sẽ luôn cần phải có thứ gì chết đi trước đã. Lúc nào cũng thế, đầu tiên cái chết luôn xuất hiện, không dưới dạng này thì sẽ là dạng kia. Hệt như mình từng trải qua.
Đám lá đang rực rỡ chết đi. Tấm mạng che mặt đen như làn sương mù của cô giúp làm nhạt đi sắc đỏ, cam và thô hoàng tươi rói của chúng, hãm chúng thành một sắc màu dịu mắt hơn dưới ánh hoàng hôn rực lửa, trong lúc chiếc xe Limousine đưa tang trang nghiêm băng qua miền đồng quê trở về nhà.
Cô ngồi giữa Bill và cha anh.
Mình giờ là người phụ nữ chính của gia đình rồi, cô nghĩ thầm. Người phụ nữ duy nhất trong gia đình họ và trong cùng ngôi nhà với họ. Đó là lý do mình ngồi giữa họ thế này, tại vị trí trang trọng nhất, chứ không phải ngồi lệch sang mé ngoài.
Và mặc dù cô không biết sẽ phải diễn đạt điều này như thế nào, kể cả là chỉ diễn đạt thầm trong đầu, bản năng vẫn mách bảo cô rằng đất nước và cái xã hội nơi cô đang sống về cơ bản là một xã
hội mẫu hệ. Người phụ nữ thực chất là tâm điểm mỗi mái ấm, người đứng đầu của mỗi nhóm gia đình nhỏ lẻ. Điều ấy không được thể hiện ra một cách rõ rệt, mạnh mẽ, không được thể hiện ra bên ngoài; nhưng nó tồn tại bên trong bốn bức tường, nơi có mái ấm thực sự. Giờ ngôi vị lãnh đạo này được truyền lại cho cô. Cái cô gái lóng ngóng, non trẻ, có thời từng đứng bên ngoài một cánh cửa dứt khoát không chịu mở ra.
Một người sẽ được cô cưới và trở thành vợ anh. Một người sẽ được cô chăm sóc đầy hiếu thảo, cố hết sức giúp ông bớt thấy lẻ loi, và đỡ đần lúc ông suy yếu. Trong các dự định của cô không có chút phản bội, không có chút lừa lọc nào hết; tất cả những điều như thế đều đã kết thúc và trôi vào dĩ vãng.
Một tay cô nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay của Cha Hazzard. Và tay còn lại thì dịu dàng đưa lên và luồn vào trong cánh tay mạnh mẽ của Bill. Hành động ấy cho thấy: Mọi người là của con. Và con là của mọi người.
Chiếc xe Limousine đã dừng lại. Bill chui ra ngoài và đỡ cô xuống. Thế rồi cả hai người đỡ cha anh xuống, và chậm rãi cùng ông bước trên những bậc lát đá quen thuộc, tiến về phía cánh cửa thân quen, mỗi người đi một bên ông.
Bill gõ cửa, và cô phụ tá của thím Josie ra mở cửa đón họ, đầy vẻ sốt sắng của một người mới học việc. Riêng thím Josie thì vì được coi như một thành viên của gia đình, thế nên lẽ dĩ nhiên đã đi dự tang lễ cùng họ, và giờ đang ngồi trong xe nhỏ hơn đi về.
Cô ta lễ phép đóng cửa lại trong im lặng, thế là họ đã về nhà.
Người nhìn thấy họ đầu tiên chính là cô, Patrice. Họ ở trong phòng đọc sách.
Bill lúc ấy đưa tay đỡ cha đi trước, thế nên họ đã bước qua khung cửa mở mà không biết gì cả. Cô thì nán lại đằng sau một lát để khẽ ra mấy lệnh cần thiết.
“Vâng, thưa cô Hazzard,” cô phụ tá của thím Josie ngoan ngoãn nói.
“Vâng, thưa cô Hazzard.” Đó là lần đầu tiên cô được nghe thấy câu này (thím Josie luôn gọi cô là 'cô Pat'), giờ cô sẽ được sở hữu cái tước danh đó trọn đời, bởi đó là quyền của cô. Tâm trí cô cứ lật qua lật lại nó trên đầu lưỡi mình, tận hưởng dư vị của nó. Vâng, thưa cô Hazzard. Địa vị. Sự an toàn. Bất khả xâm phạm. Dấu chấm hết cho một hành trình.
Thế rồi cô tiến tới trước và phát hiện ra họ lúc bước qua khung cửa.
Họ đang ngồi trong đó, cả hai đều quay mặt ra ngoài cửa. Hai người đàn ông. Họ giữ đầu theo một tư thế rất đặc biệt - họ không mang vẻ thương tiếc, họ không có vẻ bận tâm, không hợp ghé thăm nơi đây vào một dịp như thế này. Cô thấy vẻ mặt của họ, và chúng không toát lên vẻ, “Chúng tôi đang đợi cô sẵn sàng đây.” Gương mặt của họ như muốn nói, “Chúng tôi đã săn sàng tiếp cô rồi. Hãy vào đây gặp chúng tôi.”
Nỗi sợ chìa ra một ngón tay dài thuỗn và chạm vào tim cô. Cô dừng bước.
“Hai người kia là ai vậy?” cô thì thầm với cô gái đã mở cửa cho mình. “Họ đang làm gì trong đó thế?”
“Ồ, tôi quên mất. Họ đến đây khoảng tầm hai mươi phút trước, bảo là muốn gặp ông Hazzard. Tôi đã giải thích về đám tang, và đề nghị với họ là lát nữa hẵng quay lại. Nhưng họ bảo không, họ nói sẽ đợi. Tôi không thể thuyết phục họ làm gì khác. Thế nên tôi cứ để mặc họ thôi.”
  Cô tiếp tục bước qua cửa. “Ông ấy hiện không thể nói chuyện được với ai. Cô sẽ phải vào trong đó và...”
“À, không phải ông Hazzard lớn tuổi đâu. Người họ muốn là con trai ông Hazzard.”
Thế là cô biết ngay. Cô đã biết ngay từ lúc bắt gặp gương mặt họ, trông thấy cái cách đáng sợ mà hai người họ đánh giá cô chỉ trong tích tắc cô đứng bên bậu cửa. Nếu là người bình thường thì chẳng ai lại đi nhìn người khác theo kiểu như thế cả. Chỉ những người lãnh trách nhiệm đi trừng phạt mới có ánh mắt ấy. Những người được luật pháp trao quyền đi tìm kiếm, xác định, và thẩm vấn.
Cái ngón tay kia giờ đã trở thành nguyên một bàn tay buốt lạnh, siết lấy tim cô, vặn xoắn và nghiền nát nó.
Thanh tra. Chưa gì đã đến rồi. Sao mà sớm quá, sao mà tàn nhẫn quá, sớm đến chết người. Và lại còn là ngày hôm nay, vào chính cái ngày này.
Mấy cuốn vở tập viết ngày xưa đã ghi đúng, chúng ghi rằng cảnh sát không bao giờ nhầm.
Cô quay đầu và vội vã đi lên cầu thang, đuổi theo Bill và cha anh, bấy giờ đã lên đến gần đỉnh cầu thang, khó nhọc đưa bước, tay vẫn đỡ nhau.
Bill tò mò quay đầu lại khi nghe thấy tiếng bước chân vội vã của cô đằng sau lưng. Còn Cha Hazzard thì không. Tiếng bước chân còn có nghĩa lý gì với ông nữa đâu? Tiếng chân người duy nhất ông muốn nghe sẽ không bao giờ vang lên nữa.
Cô ra dấu với Bill đằng sau lưng cha anh. Ngoắc nhanh ngón tay để cho anh thấy có chuyện hai người họ cần nói riêng. Sau đó cô nói, cố giữ giọng bình thường, “Bill, ngay khi anh đưa cha về phòng xong thì em muốn gặp anh một phút. Anh ra được chứ?”
  Anh vào gặp cô trong phòng của cô, khi ấy đang hạ ly brandy rỗng không từ môi xuống. Anh nhìn cô với vẻ tò mò.
“Em bị sao thế, ban nãy đi ngoài đường bị rét à?”
“Em đang rét thật,” cô nói. “Nhưng không phải là lúc ngoài đường. Bị rét trong này. Vừa ban nãy thôi.”
“Trông em như đang run ấy.”
“Em run thật mà. Đóng cửa lại đi.” Và sau khi anh đã đóng cửa xong, “Cha ngủ chưa?”
“Tầm một, hai phút nữa cha sẽ ngủ. Thím Josie đang cho cha uống thêm chút thuốc an thần mà bác sĩ để lại.”
Cô đan tay vào nhau, như thể đang tìm cách bẻ gãy từng khúc xương. “Họ đến đây rồi, Bill. Đến vì chuyện đêm hôm ấy. Họ đã đến đây rồi.”
Anh không việc gì phải hỏi, anh biết cô bảo 'đêm hôm ấy' tức là sao. Đối với họ, chỉ có duy nhất một đêm hôm ấy, và từ nay sẽ luôn chỉ có một đêm hôm ấy. Khi đã có thêm nhiều đêm trôi qua, có thể nó sẽ trở thành “đêm hôm đó,” đó sẽ là thay đổi duy nhất.
“Làm sao em biết được? Bọn họ nói với em thế à?”
“Họ không cần phải làm thế. Em tự biết.” Cô tóm lấy ve áo khoác của anh, như thể cô đang tìm cách giật phăng chúng ra khỏi người anh. “Chúng ta sẽ làm gì đây?”
“Chúng ta sẽ chẳng làm gì hết,” anh nói đầy ngụ ý. “Anh sẽ làm những gì cần làm.”
“Ai đấy?” cô rùng mình, và nép mình vào người anh. Răng của cô thiếu điều gõ lập cập vào nhau vì lo lắng và căng thẳng.
“Ai đấy?” anh cất cao giọng hỏi.
“Thím Josie đây,” giọng đáp vọng qua cửa.
  “Buông anh ra,” anh hạ giọng khuyên. “Được rồi, thím Josie.”
Thím thò đầu vào và nói, “Hai người ở dưới kia bảo là họ không thể đợi ông Hazzard lâu hơn được nữa.”
Trong một thoáng ngắn ngủi, một tia hi vọng nhỏ xíu len lỏi vào trong con tim đang hãi sợ của cô.
“Họ nói nếu cậu không đi xuống, họ sẽ phải lên trên này.”
“Họ muốn gì? Họ có nói gì với bác không?” anh hỏi thím Josie.
“Tôi đã hỏi họ hai lần rồi, và lần nào họ cũng chỉ nói đúng một câu. ‘Ông Hazzard.’ Thật chẳng hiểu đó là kiểu trả lời gì nữa chứ? Họ thật đúng là trơ trẽn.”
“Được rồi,” anh nói cộc lốc. “Thím đã báo xong với bọn cháu rồi.”
Thím lại đóng cửa vào.
Anh đứng lưỡng lự một hồi, tay ôm lấy gáy. Thế rồi anh đứng thẳng người lên với vẻ quả quyết đầy miễn cưỡng, bành vai ra, kéo cổ tay áo xuống, và quay mặt về phía cửa. “Rồi,” anh nói, “làm cho dứt điểm thôi nào.”
Cô chạy ra đi cùng anh. “Em sẽ đi cùng anh.”
“Em không được làm thế!” Anh nắm lấy bàn tay cô và gõ nó khỏi tay mình, từ chối đầy thô bạo. “Để anh nói luôn cho rõ này. Em sẽ ở lại trên này, và em sẽ không dính líu gì đến vụ này cả. Em nghe anh nói rồi chứ? Bất kể chuyện gì xảy ra, em phải ở ngoài cuộc.”
Từ trước đến nay anh chưa bao giờ nói chuyện với cô theo cái kiểu như vậy cả.
“Em có định lấy anh không?” anh hỏi.
“Có,” cô lí nhí. “Em đã bảo với anh như vậy rồi mà.”
“Thế thì đó sẽ là một mệnh lệnh. Anh hi vọng đây sẽ là mệnh lệnh đầu tiên và cũng là mệnh lệnh cuối cùng mà anh phải đưa ra cho em. Giờ nghe đây, chúng ta không thể khai ra hai chuyện khác nhau được. Chúng ta sẽ chỉ kể một phiên bản câu chuyện duy nhất: phiên bản của anh. Và theo đúng lý thì em không thể biết tí gì về phiên bản ấy. Thế nên em không thể giúp gì được anh đâu, em chỉ có thể hại anh được thôi.”
Cô nắm lấy tay anh và áp môi lên trên đó, thay cho lời chúc may mắn.
“Anh sẽ nói gì với họ?”
“Sự thật.” Anh nhìn cô với ánh mắt hơi khác lạ. “Em nghĩ anh sẽ nói với họ cái gì? Anh chẳng có gì cần nói dối cả, nếu như nó chỉ liên quan đến mình anh.”
Anh đóng cửa và đi ra ngoài.
 
 
 
Chương 46

Trong quá trình được đôi tay dẫn xuống, hết tay này rồi lại đến tay kia đảo lên, nắm lấy tay vịn, còn chân thì đưa theo chúng, chậm rãi hơn, luôn bám theo sau một bước, cô nhận ra phải tuân theo lệnh anh mới bất khả thi thế nào. Ở im trên đó, không hay không biết, không nghe ngóng gì mới bất khả thi thế nào. Anh chẳng thế nào trông đợi cô sẽ nghe cái lệnh ấy được. Đã liên đới đến mức như cô, đã là một người phụ nữ như cô thì không đời nào tuân lệnh anh được. Đây không phải là tọc mạch; không ai lại trở thành tọc mạch khi nghe một chuyện liên quan sát sườn với mình thế này. Đây là quyền được biết của cô.
Tay nối tay trên lan can, trong khi phần thân còn lại rón rén bám theo phía sau, thân người gù xuống. Chẳng khác nào một người tàn phế chật vật leo xuống cầu thang.
Khi cô đi xuống được một phần tư quãng đường, tiếng rì rầm trở thành các giọng riêng lẻ. Đi xuống được nửa đường thì các giọng người trở thành từ ngữ. Cô không xuống thêm nữa.
Họ không lên giọng. Không có gào lên hay phản đối giận dữ gì cả. Họ chỉ là những người đàn ông đang lặng lẽ, lịch sự nói chuyện. Không hiểu sao, điều ấy còn khiến cô thấy khiếp đảm hơn.
Họ đang lặp lại một điều gì đó mà hẳn anh vừa nói ra.
“Vậy tức là anh có biết một người tên là Harry Carter, phải không anh Hazzard?”
Cô không nghe thấy anh nói gì cả. Như thể anh cảm thấy chuyện đó chỉ cần xác nhận một lần là đủ rồi.
“Anh có thể nói cho chúng tôi biết mối quan hệ... sự liên đới... giữa anh và nhân vật Carter này không?”
Lúc đáp lời, cách anh nói nghe có phần hơi mỉa mai. Cô chưa từng nghe thấy anh nói như thế với mình, nhưng cô nhận thấy giọng anh mang sắc thái gì đó mới, và nhận ra đó là sự mỉa mai. “Nào, hai người, các anh đã biết hết cả rồi. Chắc hẳn là các anh đã biết rồi, không thì các anh đến đây làm gì? Các anh chỉ muốn tôi lặp lại cho các anh nghe thôi à?”
“Chúng tôi muốn được trực tiếp nghe anh nói ra, thưa anh Hazzard.”
“Thôi được rồi. Anh ta là một thám tử tư. Như các anh đã biết rồi đó. Tôi đã tuyển chọn và thuê anh ta. Như các anh đã biết rồi đó. Và anh ta được trả một khoản phí, anh ta được thuê để theo dõi, để dè chừng cái anh chàng Georgesson mà các anh đang quan tâm. Như các anh đã biết rồi đấy.”
“Vâng, đúng là chúng tôi đã biết, thưa anh Hazzard. Nhưng điều chúng tôi chưa biết, điều anh ta không thể nói cho chúng tôi nghe, bởi vì chính anh ta cũng không biết, đó là bản chất mối quan tâm của anh đối với anh Georgesson, lý do anh cho người theo dõi anh ta.”
Thế rồi người còn lại nói tiếp phần người kia bỏ lửng, “Anh có thể cho chúng tôi biết điều đó được không, anh Hazzard? Tại sao anh lại cho người theo dõi anh ta? Lý do là gì?”
Phía ngoài cầu thang, tim cô như vừa lật úp lại và nằm bẹp mặt xuống. Lạy Chúa! Một giọng nói bệnh hoạn vang vọng trong tâm trí cô. Giờ đến phấn liên quan tới mình!
“Đây là vấn đề hết sức riêng tư,” anh rắn giọng nói.
“Tôi hiểu rồi; anh không muốn nói cho chúng tôi nghe.”
“Tôi đâu có nói như thế.”
“Nhưng kể cả vậy, anh vẫn không muốn nói với chúng tôi.”
“Các anh đang nhét chữ vào mồm tôi.”
“Bởi vì có vẻ anh không muốn nói cho chúng tôi nghe gì cả.”
“Các anh có nhất thiết phải biết điều này không?”
“Nếu không thì chúng tôi đã không có mặt ở đây, tôi xin cam đoan với anh như vậy. Thám tử của anh, anh Carter, chính là người đã báo cáo với chúng tôi về cái chết của Georgesson.”
“Tôi hiểu rồi.” Cô nghe thấy anh hít một hơi thật sâu. Và cô cũng hít theo cùng anh. Hai nhịp thở, cùng một nỗi sợ.
“Georgesson là một con bạc,” anh nói.
“Chúng tôi biết.”
“Một kẻ lừa đảo, một tên bịp bợm, một gã hết sức mờ ám.”
“Chúng tôi biết.”
“Thế thì đây sẽ là phần các anh không biết. Khoảng tầm... chắc phải bốn năm trước. hay ba năm gì đó, mà thôi. Hugh, anh trai tôi, hồi đó là sinh viên năm cuối tại Đại học Dartmouth. Anh ấy về nhà để nghỉ lễ Giáng sinh. Anh ấy đã đi đến New York, và rồi không đi thêm được nữa. Anh ấy không xuất hiện. Anh ấy không có mặt trên chuyến tàu đáng ra sẽ chở anh về nhà vào ngày hôm sau. Chúng tôi nhận được một cuộc gọi đường dài từ anh ấy, và hóa ra anh ấy đang gặp rắc rối. Về cơ bản là đang bị giam lỏng. Có vẻ đêm hôm trước anh ấy đã tham gia đánh bài, cùng với cái tay Georgesson này và vài người bạn của hắn - tất nhiên, ván bài bị gài - và chúng đã ăn của anh ấy không rõ là bao nhiêu ngàn nữa, và anh ấy không có tiền, chúng đòi thanh toán nợ thì mới thả anh ấy ra. Chúng đã bắt thóp được anh ấy. Vụ này có dấu hiệu lộn xộn kinh khủng. Hugh hồi đó chỉ là một thanh niên ham vui, vốn chỉ quen giao du với người tử tế, các quý ông, không phải phường vô lại như thế, và anh ấy không biết phải hành xử như thế nào. Chúng dành ra cả tối chăn dắt anh ấy, cho anh ấy nốc rượu say xỉn, lôi anh ấy đi đủ mọi nơi và tống cho mấy con bé đàn ca hát xướng ghẻ lở... quay lại đề tài chính, bởi vì mẹ tôi sức khỏe yếu và gia đình tôi cũng cần giữ thanh danh, thế nên chúng tôi không thể nào để cảnh sát vào cuộc được, không thì sẽ um xùm lên mất. Thế là cha tôi đích thân lên đó - tình cờ thì tôi cũng đi cùng - và giải quyết mọi chuyện hộ anh ấy. Trả khoảng nửa trị giá tiền nợ, hay gì đó đại loại thế. Lấy lại được tờ giấy nợ chúng ép anh ấy ký. Và đưa anh ấy về nhà với chúng tôi.
“Tất cả chỉ có thế thôi. Không phải câu chuyện mới mẻ gì, đã bao lần có chuyện tương tự xảy ra rồi. Nhưng lẽ dĩ nhiên, không có chuyện tôi quên khuấy đi tay Georgesson này được. Thế là vài tuần trước, khi tôi biết hắn chường mặt đến Caulfield, tôi không rõ có phải là trùng hợp ngẫu nhiên hay không, nhưng tôi không muốn làm liều. Tôi liên hệ với một văn phòng thám tử ở New York và bảo họ cử Carter đến đây, nhiệm vụ chỉ là tìm hiểu xem hắn định làm gì.
“Chuyện là như vậy đó. Thế đã đủ trả lời câu hỏi của các anh chưa? Các anh hài lòng chưa?”
Cô để ý thấy họ không nói mình đã hài lòng. Cô đợi, nhưng cô không nghe thấy họ nói gì cả.
“Anh ta không tiếp cận anh hay gia đình anh gì hết à? Anh ta không quấy rối anh à?”
“Hắn không đến gần chúng tôi.”
  Xét chuẩn ra thì nói thế cũng không phải là sai, cô nhăn nhó đồng tình; lần nào cô cũng phải qua chỗ hắn.
“Nếu hắn mà làm thế thì các anh đã được biết tin từ lâu rồi,” anh cam đoan với họ. “Không có chuyện tôi đợi các anh đi tìm mình đâu, tôi sẽ tự đi tìm các anh.”
Theo sau là một câu không liên quan, được phát biểu với vẻ bình thản kinh hoàng. Cô bất chợt nghe thấy một người trong số họ hỏi anh, “Anh có muốn mang mũ theo không, anh Hazzard?”
“Nó treo ngay bên ngoài hành lang,” anh đáp gọn lỏn. “Tôi sẽ cầm theo nó.”
Họ bắt đầu ra khỏi phòng. Với một tiếng rên rỉ như trẻ con, chẳng khác nào một bé gái chạy trốn yêu tinh trong bóng tối, cô quay đầu và chạy ngược lên cầu thang, quay về phòng mình.
“Không...! Không...! Không...!” cô cứ rên rỉ liên hồi như người mất trí.
Họ đang bắt giữ anh, họ sẽ buộc tội anh, họ sẽ đưa anh đi cùng họ.

 
 
Chương 47

Cô quẫn trí ngồi gục xuống cái ghế trước bàn trang điểm. Đầu cô èo uột lắc lư quanh vai, trông cứ như người say rượu. Tóc cô rối bù, che khuất một bên mắt.
“Không...! Không...,” cô nói đi nói lại. “Họ không thể... Thế là không công bằng.”
Họ sẽ không thả anh ra. Họ sẽ không bao giờ thả anh ra. Anh sẽ không quay về. Anh sẽ không bao giờ quay về với cô.
“Ôi, lạy Chúa trên cao, xin hãy giúp con! Con không thể chịu đựng thêm nữa!”
Và rồi, như trong những câu chuyện cổ tích, như trong những cuốn truyện xưa, nơi mọi chuyện luôn được giải quyết êm đẹp, nơi người tốt là người tốt và cái xấu là cái xấu, và các bùa ngải phép thuật luôn được phá vỡ kịp lúc để có được kết thúc có hậu, cô thấy nó nằm đó. ngay dưới mắt cô.
Nó nằm đó, chờ đợi. Đang khẩn cầu ai đó nhấc mình lên. Một khối hình chữ nhật màu trắng, một phong bì niêm kín. Một bức thư từ người quá cố.
Như có một giọng nói kẹt từ bên trong thì thầm với cô qua mép bức thư, nghe thật mơ hồ, thật xa xăm, “Khi con gặp hoàn cảnh thực sự cần kíp, và mẹ không còn ở đây nữa, hãy mở nó ra. Khi con gặp hoàn cảnh thực sự cần kíp, và con chỉ có một mình. Tạm biệt, con gái mẹ; con gái mẹ, tạm biệt...”
Tôi, Grace Parmentier Hazzard, vợ của Donald Sedgwick Hazzard, hiện đang nằm hấp hối trên giường, và trước sự có mặt của luật sư và cố vấn lâu năm, Tyrus Winthrop, người sẽ chứng thực chữ ký của tôi trên bức thư này và đứng ra làm chứng nếu có cơ quan lập pháp nào yêu cầu, tôi xin được tự nguyện tuyên bố những điều sau, và cam đoan đây là sự thật:
Khoảng 10 giờ 30 tối ngày 24 tháng Chín, khi chỉ có một mình trong nhà với người bạn kiêm người quản gia trung thành, Josephine Walker*, và cháu nội tôi, tôi nhận được một cuộc gọi đường dài từ Hastings, ở bang bên cạnh. Người gọi là một nhân vật mang tên Harry Carter, quen tôi dưới danh nghĩa một thám tử tư, được gia đình tôi và bản thân tôi thuê để thực hiện công việc thám tử. Anh ta thông báo với tôi rằng chỉ vừa lúc trước, cô con dâu yêu dấu của tôi, Patrice, góa phụ của đứa con trai đã mất của tôi, Hugh, đã bị một người tên là Stephen Georgesson ép phải di đến Hastings, và khi đến nơi đã bị cưỡng ép phải làm lễ cưới với hắn. Và tại thời điểm đó, trong lúc anh ta nói chuyện với tôi, họ đang trên đường về đây, về thị trấn này.
Sau khi nhận được thông tin này, và sau khi lấy được địa chỉ của Stephen Georgesson được anh Carter nhắc đến, tôi thay đồ, gọi Josephine Walker đến, và bảo với thím ấy là tôi sẽ đi ra ngoài, và sẽ chỉ đi một lúc thôi. Thím ấy tìm cách thuyết phục tôi đừng làm thế, đồng thời dụ tôi nói ra mục đích và nơi tôi định đi, nhưng tôi không trả lời. Tôi ra lệnh cho thím ấy là phải đứng ngay cạnh cửa trước đợi tôi, để cho tôi vào nhà ngay sau khi tôi quay về, và từ nay về sau không được phép tiết lộ cho bất cứ ai rằng tôi đã rời nhà vào thời điểm đó hay trong tình cảnh như vậy. Tôi bắt thím ấy phải thề độc nhân danh cuốn Kinh Thánh, và vì biết rõ đức tin tôn giáo cũng như hồi nhỏ thím ấy được nuôi dạy như thế nào, tôi biết thím ấy sẽ không bội thề bất kể chuyện gì xảy ra.
Tôi lấy và mang theo một khẩu súng được cất trong một cái bàn đặt tại phòng đọc sách nhà tôi, sau khi đã nạp đạn vào. Để che giấu nhân dạng hết mức có thể, tôi đeo tấm mạng che mặt để tang dày mình từng đeo hồi cậu con trai lớn của tôi qua đời.
Tôi ra khỏi cửa, đi bộ một quãng ngắn, hoàn toàn chỉ có một mình và không có ai theo cùng, và ngay khi có cơ hội tôi liền bắt một chiếc taxi. Tôi đi xe đến chỗ Stephen Georgesson đang sống để gặp hắn. Lúc đến tôi thấy hắn vẫn chưa về nhà, bởi vậy tôi ngồi đợi trong chiếc taxi cách cửa nhà hắn một đoạn, cho đến khi tôi thấy hắn quay lại và vào trong nhà. Ngay khi hắn vừa vào nhà, tôi lập tức nối đuôi vào luôn, theo sau hắn, và được hắn cho vào nhà. Tôi nhấc mạng che mặt lên để hắn có thể nhìn mặt tôi, và có thể thấy là hắn đã đoán được tôi là ai, mặc dù hắn chưa bao giờ gặp tôi.
Tôi hỏi hắn rằng có phải hắn vừa mới ép vợ cậu con trai đã mất của tôi phải kết hôn với hắn, như anh thám tử đã báo với tôi hay không.
Hắn thản nhiên thừa nhận, nêu ra cả nơi chốn và địa điểm.
Đó là những câu duy nhất chúng tôi trao đổi với nhau. Không ai nói thêm gì cả. Chẳng cần phải nói thêm gì cả.
Tôi ngay lập tức lấy súng ra, gí sát về phía hắn, và khai hỏa trong lúc hắn vẫn đang đứng trước mặt tôi.
Tôi chỉ khai hỏa đúng một phát. Nếu cần thiết thì tôi cũng sẵn sàng bắn nhiều hơn một phát để giết hắn; chủ đích của tôi là giết chết hắn. Nhưng sau khi đợi xem hắn có nhúc nhích gì nữa không, và thấy rằng hắn chẳng làm gì ngoài nằm im tại chỗ vừa ngã xuống, tôi không khai hỏa thêm phát nào nữa và rời khỏi chỗ đó.
  Tôi về nhà vẫn bằng chiếc taxi đã đưa tôi đến đó. Chẳng bao lâu sau, tôi trở bệnh vì cơn phấn khích và sự căng thẳng mà mình vừa phải trải qua. Và bây giờ, vì biết rằng mình đang hấp hối, và vì vẫn còn đầy đủ minh mẫn và ý thức được rất rõ mình đang làm gì, tôi muốn để lại tuyên bố này trước khi mất đi và, nếu xảy ra trường hợp có ai đó bị buộc tội sai, hãy giao nộp nó cho những người có trách nhiệm giải quyết vụ việc. Nhưng chỉ trong trường hợp đó thôi, còn ngoài ra thì không.
(Ký tên)
Grace Parmentier Hazzard.
(Đã được chứng kiến và chứng thực)
Luật sư Tyrus Winthrop.
Josephine Walker: Tên đầy đủ của thím Josie.
Lúc cô mang được nó xuống đến khung cửa dưới tầng thì đã quá muộn. Khi cô ra đến chỗ nó, tay bám lấy nó, vừa bơ phờ vừa bù xù tóc tai, khung cửa đã trống không. Họ đã đi mất, và anh đã đi cùng với họ.
Cô cứ đứng bần thần bên khung cửa. Một con người trống rỗng giữa một khung cửa trống rỗng.
 
 

 
Chương 48

Và rồi, cuối cùng anh cũng xuất hiện. Anh trông rất thật, thật như một bức ảnh, và ngược đời thay, điều ấy lại khiến cho cô không thể tin được mình đang nhìn thấy anh. Đến cả những đường chỉ đan xương cá trên chiếc áo khoác của anh cũng nổi bật lên, như thể đang có một chiếc kính lúp giơ sát vào mẫu đan để cô có thể theo dõi kĩ. Cái vẻ hốc hác trên mặt anh, những chỗ râu hơi tôi tối cần cạo đi, cô có thể thấy được hết sức rõ ràng mọi thứ về anh, như thể anh ở gần hơn hẳn vị trí thực tại. Có khi chính sự mệt mỏi đã gây ra hiệu ứng ấy, thông qua quy trình tập trung ngược nào đó. Hoặc do mắt cô vì căng ra trông ngóng anh quá lâu nên đã dãn nở, và giờ chúng thấy anh một cách sắc nét đến bất thường.
Dù lý do có là gì thì anh cũng kia rồi.
Anh quay người, tiến về phía ngôi nhà. Và trước khi bước nốt cái bước cuối, cái bước sẽ làm anh lấn vào quá xa bên dưới, khiến cô không còn thấy được anh nữa, mắt anh liếc lên chỗ cửa sổ và nhìn thấy cô.
“Bill,” cô lặng lẽ nói qua tấm kính, và hai bàn tay cô áp lên mặt kính, như thể đang biến cái từ không ai nghe thấy kia thành một lời chúc phúc.
“Patrice,” anh lặng lẽ nói từ bên dưới; và mặc dù không nghe thấy tiếng anh, thậm chí còn không thấy môi anh cử động, cô vẫn biết rằng anh vừa nói như thế. Chỉ mình tên cô. Chẳng có gì nhiều, nhưng lại chan chứa biết bao.
Bất chợt cô chạy vọt ra khỏi căn phòng như thể vừa bị bỏng. Tấm rèm che bị hất tung lên hạ trở xuống, và cánh cửa hất ngược đã bật khép lại, nhưng cô thì đã biến mất rồi. Đứa bé tò mò quay đầu nhìn theo cô, quá chậm nên không bắt kịp cô.
Thế rồi cô dừng lại, bên dưới khúc quanh cầu thang, và đợi anh ở đó, không thể đi xa hơn được nữa. Đứng đó đợi anh đến chỗ cô.
Anh bỏ mũ, như thể chẳng khác nào những lần trở về nhà trước đây, và lên chỗ cô đang đứng. Và đầu cô, như thể đã quá mệt mỏi vì phải thui thủi một mình, gục xuống vai anh và ở im tại đó, ấp vào đầu anh.
Mới đầu họ không nói câu gì. Chỉ đúng im đó ôm lấy nhau, đầu sát đầu. Không một lời lẽ nào hết, chỉ có... ở bên nhau.
“Anh về rồi, Patrice,” cuối cùng anh chỉ nói có vậy.
Cô hơi rùng mình và nép người vào gần anh hơn. “Bill, giờ họ sẽ làm.?”
“Chẳng làm gì cả. Mọi chuyện đã kết thúc rồi. Tất cả đã xong xuôi rồi. Ít nhất đối với anh thì xong rồi. Anh lên đó chỉ để nhận dạng thôi. Anh phải đi cùng với họ và nhìn mặt hắn, chỉ vậy thôi.”
“Bill, em mới mở bức thư này. Mẹ nói.”
Cô đưa nó cho anh. Anh đọc nó.
“Em có đưa nó cho ai khác đọc không?”
“Không.”
“Thế thì đừng.” Anh xé đôi nó ra, và nhét hai mảnh giấy vào trong túi.
“Nhưng nhỡ.?”
“Không cần đâu. Mấy tay bạn bài bạc của hắn giờ đã bị ghi vào sổ rồi. Họ bảo với anh là họ đã phát hiện ra bằng chứng cho thấy đêm hôm ấy đã có một ván bài lớn được tổ chức tại đó.”
“Em có thấy bằng chứng nào đâu.”
Anh tặng cô một cái nhìn đầy thuyết phục. “Họ thì thấy. Lúc đến nơi họ thấy thế.”
Cô tròn mắt nhìn anh.
“Họ sẵn sàng chấp nhận lý do đó và cho qua. Thế nên chúng ta hãy cứ chấp nhận lý do đó và cho qua luôn đi, Patrice.” Anh thở dài ảo não. “Anh kiệt sức quá rồi. Cảm giác cứ như anh đã phải đứng nguyên một tuần. Anh chỉ muốn lăn ra ngủ vĩnh viễn thôi.”
“Không vĩnh viễn được đâu, Bill, không vĩnh viễn được đâu. Bởi vì em sẽ ở đây đợi, và như thế thì lâu quá...”
Môi anh lần tìm đến bên má cô, và anh hôn cô theo cái cách đê mê mù quáng.
“Dẫn anh đến chỗ cửa phòng đi, Patrice. Anh muốn ngắm bé con trước khi đi ngủ.”
Tay anh mệt mỏi trượt xuống quanh eo cô.
“Từ nay nó sẽ là bé con của chúng ta,” anh nhẹ nhàng bổ sung.
 
 

 
Chương 49

Hôm qua, anh William Hazzard [1] đã kết hôn với cô Patrice Hazzard, góa phụ của anh Hugh Hazzard quá cố, trong một buổi lễ giản dị tại Nhà thờ Tân giáo St. Bartholomew, tại thị trấn này, chủ trì bởi Mục sư Francis Allgood. Không có người tham dự. Sau khi kết hôn, vợ chồng nhà Hazzard lập tức đi hưởng tuần trăng mật tại dãy núi Rocky của Canada.” - Mọi tờ báo hàng ngày của Caulfield đều đưa tin như vậy.
Chú thích:
[1] William Hazzard: Tên đầy đủ của Bill.
 
 

 
Chương 50

Sau khi kết thúc việc đọc di chúc - hôm đó là thứ Hai, sau khi họ trở về, tức khoảng một tháng sau - Winthrop bảo hai người nán lại một lát sau khi mọi người đã ra khỏi phòng. Ông ta đóng cửa lại sau khi những người khác đã đi hết. Thế rồi ông ta tiến về chỗ bức tường, mở một cái két gắn trên đó và lấy ra một phong bì. Ông ta ngồi xuống bàn.
“Bill và Patrice,” ông ta nói, “đây là thứ dành riêng cho hai cháu.”
Họ nhìn nhau.
“Đây không phải là một phần trong khối tài sản, thế nên nó không liên quan đến bất cứ ai khác ngoài hai cháu. Tất nhiên đây là thư của mẹ các cháu. Nó được ghi lại khi bà ấy nằm hấp hối trên giường, chưa đầy một giờ trước khi bà ấy qua đời.”
“Nhưng bọn cháu đã...” Bill dợm nói.
Winthrop giơ tay lên để anh im lặng. “Có tất cả hai bức thư. Đây là bức thứ hai. Cả hai đều được đọc để bác viết trong cùng đêm hôm đó, hay nói đúng hơn là sáng sớm hôm đó. Bức này được viết sau bức kia. Bức đầu tiên bà ấy đã đích thân đưa lại cho cháu cũng vào đêm hôm ấy, như hai cháu đã biết. Bức còn lại thì bà ấy đưa cho bác. Bác được lệnh phải giữ nó cho đến hôm nay, như bác đã làm. Bà ấy bảo với bác rằng: đây là thư gửi cho cả hai cháu. Không được phép đưa cho một đứa mà không có đứa kia. Sau khi đã đưa,  không được phép để cho một đứa tự mở mà không có đứa còn lại. Và cuối cùng, thư sẽ chỉ được đưa trong trường hợp hai cháu kết hôn. Nếu hai cháu bây giờ chưa kết hôn như bà ấy muốn - và hai cháu biết là bà ấy rất mong chuyện đó xảy ra - thì bác sẽ phải hủy nó, không cho ai mở ra cả. Nếu là hai người riêng lẻ thì chẳng ai trong hai cháu được đọc. Nhưng khi đã kết hôn, đây sẽ là món quà cuối cùng bà ấy gửi tặng hai cháu.
“Tuy nhiên, hai cháu không cần đọc nó nếu không muốn. Hai cháu có thể đem hủy nó mà không cần đọc. Bác đã hứa là sẽ không tiết lộ nội dung bên trong, cho dù lẽ dĩ nhiên bác biết nó là gì, bởi vì bác là người đã ở bên giường ghi lại những lời của bà ấy, làm nhân chứng và chứng thực chữ ký của bà ấy dưới danh nghĩa luật sư của bà ấy. Bởi vậy, hai cháu phải quyết định tự mình đọc hoặc không đọc nó. Và nếu hai cháu đọc nó thì sau khi đọc xong, hai cháu cũng phải tiêu hủy nó.”
Ông ta đợi một lát.
“Nào, hai cháu có muốn bác đưa nó lại cho hai cháu, hay muốn bác tiêu hủy nó?”
“Tất nhiên là bọn cháu muốn nhận nó,” Patrice thì thầm.
“Bọn cháu muốn nhận nó,” Bill lặp lại.
Ông ta chìa nó cho họ theo chiều dọc. “Mời cháu đặt ngón tay lên trên mép của nó. Còn của cháu thì lên mép bên này.” Ông ta rút ngón tay của mình lại, và giờ chỉ có họ cầm lấy nó. “Bác hi vọng nó sẽ mang lại cho hai cháu niềm hạnh phúc mà bà ấy muốn hai cháu được hưởng. Bác biết đó là lý do bà ấy đã làm như vậy. Bà ấy bảo bác là lúc đưa thư thì hãy thay mặt bà ấy chúc phúc cho hai cháu. Và như bác đang làm đây. Thế là trách nhiệm của bác trong việc này đã chấm dứt.”
  
Họ đợi vài tiếng, cho đến khi chỉ còn một mình trong phòng đêm hôm đó. Thế rồi sau khi anh đã mặc áo choàng tắm, và thấy rằng cô đã khoác thêm một món đồ lụa gì đó lên bộ đồ ngủ, anh lôi nó ra khỏi túi áo khoác và nói:
“Nào. Mình đọc nhé? Em muốn đọc nó, đúng không?”
“Tất nhiên rồi. Đây là thư của mẹ. Chúng ta đều muốn đọc nó. Em đã đếm từng phút suốt cả tối nay rồi.”
“Anh biết em sẽ muốn vậy. Ra đây nào. Chúng ta cùng nhau đọc.”
Anh ngồi xuống ghế bành, chỉnh lại ngọn đèn sau một bên vai. Cô ngồi trên tay ghế cạnh anh, choàng một cánh tay quanh vai anh.
Dưới ngón tay anh, miếng sáp niêm phong vỡ vụn và phần nắp phong bì bật mở thẳng dậy.
Trong sự im lặng chăm chú, đầu sát bên nhau, họ đọc:
Các con yêu quý của mẹ!
Lúc bức thư này đến tay các con thì hẳn các con đã kết hôn rồi. Bởi lẽ nếu các con chưa kết hôn, nó sẽ không đến được tay các con; bác Winthrop sẽ giải thích hết cho các con nghe. Các con đang hạnh phúc. Mẹ hi vọng rằng mình đã cho các con cái niềm hạnh phúc ấy. Mẹ thậm chí còn muốn cho các con thêm một chút hạnh phúc nữa. Và mẹ tin cũng như cầu mong rằng với bao hạnh phúc chứa chan như thế, các con sẽ chừa lại phần mẹ một ít, cho dù mẹ đã mất và không còn ở đó với các con nữa. Mẹ không muốn các con phải phiền muộn mỗi lần nghĩ đến mẹ. Mẹ không thể chịu được cái cảnh các con nghĩ xấu về mẹ.
Tất nhiên, mẹ không làm chuyện ấy. Mẹ không phải là người tước đi sinh mạng gã trai trẻ kia. Có thể các con đã đoán được điều ấy rồi. Có thể cả hai con hiểu mẹ đủ rõ để biết rằng mẹ không thể  nào làm được một chuyện động trời như thế.
Mẹ biết rằng hắn đang làm gì đó đe dọa đến hạnh phúc của Patrice, chỉ vậy thôi. Đó là lý do nhà mình đã thuê Carter theo dõi hắn. Nhưng mẹ chưa bao giờ đích thân gặp hắn, mẹ chưa bao giờ nhìn thấy hắn.
Đêm qua mẹ ở nhà một mình, (bởi vì lúc bác Winthrop viết bức thư này giúp mẹ, nó vẫn còn là đêm qua, mặc dù các con sẽ phải lâu nữa mới được đọc nó). Ngay cả cha, người không bao giờ đi đâu mà không có mẹ, đã phải tham dự một cuộc họp cấp bách tại nhà máy. Cuộc họp sẽ giúp giải quyết vụ đình công sớm hơn, và mẹ đã van nài bảo ông ấy đi, mặc dù ông ấy không muốn. Mẹ ở nhà một mình, chỉ có thím Josie, đứa bé và mẹ.
Carter gọi đến lúc 10 giờ 30 và bảo với mẹ là anh ta có tin xấu. Anh ta bảo vừa có một nghi lễ kết hôn được thực hiện để hai người bọn họ lấy nhau tại Hastings. Mẹ nhận cuộc gọi ở diện thoại dưới tầng. Cú sốc khiến mẹ bị lên cơn đau. Vì không muốn làm thím Josie hốt hoảng, mẹ thử leo lên cầu thang để vào phòng mà không cần người giúp. Khi lên đến đầu cầu thang, mẹ trở nên kiệt sức và chỉ còn biết nằm đó, không thể cử động hay gọi được ai.
Trong lúc mẹ nằm bất lực ở đó, mẹ nghe thấy tiếng cửa mở ra bên ngoài và nhận ra tiếng bước chân của Bill bên dưới. Mẹ cố thử thu hút sự chú ý của nó, nhưng giọng mẹ yếu quá, không thể làm nó nghe thấy được. Mẹ nghe thấy nó đi vào phòng đọc sách, ở trong đó mấy giây, rồi lại đi ra. Sau đó thì mẹ nhớ nghe thấy tiếng gì kêu tách giữa tay nó lúc nó đứng cạnh cửa. Và mẹ biết nó không bao giờ dùng bật lửa hút thuốc. Thế rồi nó rời nhà.
Một lúc sau, khi thím Josie ra và phát hiện mẹ đang nằm ở đó, rồi đưa mẹ về giường. Trong lúc bọn ta đợi bác sĩ đến, mẹ bảo thím ấy xuống phòng đọc sách xem khẩu súng dưới đó có còn đây không.
Thím ấy không hiểu tại sao mẹ lại muốn thím làm chuyện này, và mẹ không nói với thím. Nhưng lúc thím quay lại và bảo với mẹ rằng khẩu súng đã biến mất, mẹ rất sợ khi nghĩ đến, như thế tức là sao.
Khi ấy mẹ biết là mình sắp chết rồi. Lúc sắp chết người ta sẽ biết. Trong lúc nằm đó suốt mấy tiếng dài dằng dặc, mẹ có thời gian suy nghĩ. Mẹ có thể suy nghĩ hết sức minh bạch. Mẹ biết rằng có một khả năng Bill hoặc Patrice của mẹ sẽ cần được mẹ bảo vệ, sau khi mẹ không còn ở đó nữa. Nhưng mẹ biết mình sẽ vẫn phải bảo vệ các con hết mức có thể. Mẹ muốn các con được hạnh phúc. Quan trọng nhất, mẹ muốn cháu nội của mẹ được an toàn, được vào đời mà không bị sao cả. Mẹ biết mình có thể bảo vệ các con như thế nào.
Thế nên ngay khi được bác sĩ Parker cho phép, mẹ cho người gọi Ty Winthrop đến bên giường. Mẹ kín đáo đọc riêng cho bác ấy viết lời tuyên thệ mà các con hẳn giờ đã có.
Các con yêu dấu, mẹ hi vọng các con chưa phải dùng đến nó. Mẹ cầu mong là các con chưa phải dùng đến nó, và sẽ không bao giờ phải làm thế.
Nhưng đây là lời phủ nhận cái bản tuyên thệ kia. Đây là sự thật, chỉ dành cho riêng hai con. Vì đây là bản truyền đạt lại sự thật cho những người thân yêu của mẹ, mẹ không phải thề và chứng thực. Mẹ không cảm thấy tội lỗi. Đây là quà cưới mẹ dành cho các con. Để giúp hạnh phúc của các con thậm chí còn vẹn toàn hơn hiện tại.
Hãy đốt nó đi sau khi các con đã đọc nó. Đây là mong ước cuối cùng của một người đã ra đi. Mong Chúa ban phước lành cho cả hai con.
Người mẹ tận tụy của các con.
Que diêm kêu xoẹt một tiếng bé tí. Những sọc đen leo lên tờ giấy, sau đó chập vào nhau, trước khi ngọn lửa xuất hiện. Thế rồi một tiếng phụt câm nín vang lên, và bất chợt ánh sáng vàng bừng lên xung quanh nó.
Và trong lúc bức thư cháy trên cái ngọn sáng vàng kia, họ quay đầu và nhìn nhau. Nhìn nhau với nỗi kinh hoàng khác thường, mới lạ mà từ trước đến nay họ chưa bao giờ trải nghiệm. Như thể thế giới đã trôi tuột đi, và dưới chân chẳng còn lại gì để đặt chân nữa.
“Mẹ không làm chuyện ấy,” anh thì thầm, sợ hãi rụng rời.
“Không phải mẹ,” cô thì thầm, thất kinh hồn vía.
“Thế tức là...?”
“Thế tức là...?”
Và mỗi cặp mắt đều trả lời, “Anh.” “Em.”
Dễ chịu biết bao những đêm hè ở Caulfield. Đêm thoảng hương hoa vòi voi, hoa nhài, và cỏ ba lá. Các vì sao ở đây vừa ấm vừa sà thấp xuống chỗ chúng ta. Làn gió mềm mại như nụ hôn của em bé. Tiếng thì thầm êm dịu của những thân cây sum sê cành lá, ánh đèn chiếu lên thảm cỏ, nét tĩnh tại của sự bình yên và an toàn tuyệt hảo.
Nhưng không phải với chúng tôi.
Ngôi nhà của chúng tôi ở Caulfield thật dễ chịu. Thảm cỏ xanh mướt lúc nào trông cũng như vừa được tưới nước; những cây cột chống hiên nhà rực trắng dưới ánh mặt trời; những thanh lan can cong cong chạy xuống từ trên nhà đối xứng đầy thanh tao; những mặt sàn cổ đắt tiền bóng loáng; sự mềm mại của tấm thảm; trong mọi căn phòng luôn có một chiếc ghế ưa thích đợi chờ như một người bạn lâu năm. Khách khứa đến thăm nhà sẽ nói, “Còn nơi nào hơn nơi này được nữa? Đây là một mái ấm theo đúng chuẩn.”
Nhưng không phải với chúng tôi.
Tôi yêu anh ấy vô cùng. Hơn hẳn hồi trước, không hề suy giảm.
  Tôi yêu anh ấy đến cay đắng cả cõi lòng. Và anh ấy cũng yêu tôi. Ấy tôi biết, vào một ngày nào đó, có khi năm nay, có khi vào năm sau, nhưng chắc chắn sẽ đến, anh ấy sẽ bất chợt gói ghém đồ đạc và rời đi và bỏ rơi tôi. Mặc dù anh ấy sẽ vẫn yêu tôi, và sẽ không bao giờ ngừng yêu tôi, ngay cả sau khi đã đi mất.
Còn nếu anh ấy không đi thì tôi sẽ là người đi. Tôi sẽ xách va li lên và bước qua cánh cửa kia, không bao giờ quay lại. Tôi sẽ lại đằng sau con tim mình lại, và bỏ lại đằng sau đứa con của mình, bỏ lại đằng sau cuộc đời mình, nhưng tôi sẽ không bao giờ quay lại.
Điều ấy là chắc chắn, điều ấy dứt khoát sẽ xảy ra. Yếu tố duy nhất không chắc chắn là: người nào trong số chúng tôi sẽ quỵ ngã đầu tiên.
Chúng tôi đã cố chống lại nó. Theo mọi cách mà chúng tôi biết, theo mọi cách trên đời. Không ổn, không ổn chút nào hết. Không có lối thoát. Chúng tôi đã bị tóm gọn, chúng tôi đã bị mắc bẫy. Bởi nếu anh ấy vô tội, thì thủ phạm phải là tôi. Và nếu tôi vô tội, thủ phạm sẽ phải là anh ấy. Nhưng tôi biết mình vô tội - (Ấy nhưng có thể anh ấy cũng nghĩ như thế về bản thân.) Chúng tôi không thể mở đường thoát ra ngoài, không có lối thoát.
Nó ẩn trong tận nụ hôn chúng tôi trao nhau. Bằng cách nào đó, chúng tôi đã để nó kẹt ngay giữa đôi môi mình, lần nào cũng vậy. Nó ở khắp mọi nơi, nó tồn lại khắp mọi lúc, nó chính là chúng tôi.
Tôi không biết cái trò chơi này là gì. Tôi không chắc mình biết nó cần được chơi theo kiểu nào. Chưa một ai từng nói cho tôi biết cả. Tôi chỉ biết chúng tôi chắc chắn đã chơi sai cách, sai chỗ nào đó trong tiến trình chơi. Tôi không biết mức cược là như thế nào. Tôi chỉ biết trò chơi ấy không dành cho chúng tôi.
Chúng tôi đã thua. Tôi chỉ biết có vậy. Chúng tôi đã thua. Và bây giờ trò chơi đã chấm dứt.
 




0